Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên (phần bổ sung)
(nguyên
tác: Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ)
印光法師文鈔三編補
Chuyển ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Đức
Phong và Huệ Trang
Lời giới thiệu
của Hoằng Hóa Xă
Pháp
sư Ấn Quang là vị được
trời, rồng tôn sùng. Ư nghĩa trong ngôn giáo của pháp sư
vốn lấy từ kinh Phật, khế cơ, khế lư
trong biển tự tánh, ân đức nhuần thấm mười
phương. Trước là có các vị đại cư sĩ
như Từ Úy Như v.v… trong thời Dân Quốc, sau là pháp
sư Đức Sâm, [cư sĩ]
La Hồng Đào v.v… muốn báo ân pháp nhũ của pháp
sư Ấn Quang, bèn biên tập thành các bộ Tăng Quảng,
Tục Biên, Tam Biên Văn Sao gồm mười quyển, tổng
cộng hơn một trăm vạn chữ. Từ thời
cận đại tới nay, đấy là trước tác Phật
giáo được lưu thông với số lượng lớn
nhất, rộng khắp nhất.
Năm 2003, vị cư sĩ chấp sự
của bổn xă do được cư sĩ Vũ Diên
Khang gợi ư, “thâu thập những bản văn c̣n bỏ
sót của Ấn Tổ”, bèn sưu tập các di văn của
tổ Ấn Quang từ các tạp chí Phật giáo và các sách
vở Phật giáo thời Dân Quốc. Trước sau, có cư
sĩ Diệu Âm, cư sĩ Dư Hội Tâm v.v… ở Thượng
Hải tham gia công tác chỉnh lư. Năm 2007, Hoa Điển
Đồ Thư đă xuất bản bộ Dân Quốc Phật
Giáo Kỳ San Tập Thành (tổng tập các tạp chí Phật
Giáo xuất bản trong thời Dân Quốc) khiến cho công
tác thâu thập và chỉnh lư hết sức thuận tiện.
Cuối
năm 2008, bổn xă đem bản mục lục
chỉnh lư sơ bộ của cư sĩ Hội Tâm tŕnh lên pháp
sư Minh Học, thượng nhân rất tán thán, trao cho bổn
xă các bản chép tay được trân trọng cất giữ
tại Linh Nham Sơn Tàng Kinh Lâu để làm tài liệu
đối chiếu từng bài. Trong khoảng từ
tháng Sáu tới tháng Tám năm 2009, lại do pháp sư Diệu
Thiền, cư sĩ Văn Ấn tham dự giảo chánh,
đối chiếu, biên soạn bộ sách này. Pháp sư
Minh Học lại đích thân đặt tên cho bộ tổng
tập này là Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ.
Sách này gồm hơn mười vạn chữ, chia thành các
thể loại Thư Tín, Tự, Bạt, Duyên Khởi, Pháp
Ngữ Khai Thị, Luận Văn, Bi Kư, Đề Từ, Kệ
Tụng, Nguyện Văn, Câu Đối, Truyện Kư, Kư Sự,
Văn Tế, Phụ Lục v.v…
Đặc
biệt tỏ ư cảm tạ các liên hữu dưới
đây đă tham gia công tác chỉnh lư, giảo đối,
sao lục bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ: Pháp sư
Diệu Thiện, pháp sư Huệ Minh, cư sĩ Dư Hội
Tâm, cư sĩ Trương Diệu Âm ở Thượng Hải,
cư sĩ Văn Ấn ở Giang Tô, cư sĩ Mă Quư ở
Nội Mông, cư sĩ Chánh Nguyên ở Nam Kinh, cư sĩ
Nhân Chân ở Liêu Ninh v.v… (c̣n nhiều vị cư sĩ khác
nữa, chẳng thể nêu tên từng vị được!)
I. Thư tín
* Bổ khuyết
thư gởi Phật Học Báo Quán (ṭa soạn báo
Phật Học)
(tháng Chạp năm Nhâm Tư, tức
năm Dân Quốc thứ hai - 1913)
Hiện
thời, giấy Tây phổ biến, kẻ in sách hoặc
dùng lối thạch ấn (lithography), hoặc dùng lối in
typo, giá thành chẳng cao, lưu thông tiện lợi nhất.
Nhưng người ta chỉ biết đến điều
lợi ấy, tôi lại sợ cái hại của nó! V́ sao
nói như thế? In bằng lối thạch ấn
hay in typo, đều phải dùng mực in. Nếu dùng mực
và giấy của nước nhà, mực loại nhẹ th́
hơn hai mươi năm sau, nét chữ vẫn rơ. Nếu
dùng mực đậm th́ sau mười mấy năm, nét
chữ sẽ phai nhạt. Nếu dùng giấy Tây, trong ṿng từ
ba năm đến năm năm, [sách đă in] liền trở thành giấy trắng.
Bởi lẽ, giấy Tây làm từ chất
xơ từ vải dơ, dùng chất thuốc
tẩy trắng, cho nên nét chữ dễ bị phai.
Không chỉ là in bằng loại mực nước [của
phương Tây], dẫu in bằng mực Tàu hay chữ son,
cũng đều chẳng lâu sau bị bay nét chữ. Tôi
đă từng thí nghiệm nhiều lượt. Tháng Bảy
năm ngoái, tôi được bạn bè tặng cho bộ
Tam Quốc Phật Giáo Lược Sử[1]
do chùa Long Tuyền ở kinh đô in vào tháng Tư theo lối
thạch ấn. Bộ này [lúc mới nhận được]
nét chữ đă hơi lu mờ; đến nay, chưa
đầy nửa năm, khá nhiều chỗ chỉ c̣n giấy
trắng! Chắc hai năm nữa sẽ thành một quyển
giấy trắng! Hiện thời, sách giáo khoa toàn dùng loại
giấy này in theo lối thạch ấn, trong dăm ba
năm, lại phải mua sách khác. Đối với các sách
như Ngũ Kinh v.v… cũng có người dùng loại giấy
và mực này để in.
Hơn
nữa, dân quê chẳng biết, nếu dùng loại giấy
này để viết các loại khế ước trọng
đại, chẳng quá mười
năm, sẽ trọn chẳng
có bằng chứng nào, chẳng biết sẽ khiến cho
bao nhiêu thường dân bị oan uổng! Lại nữa,
in bằng lối thạch ấn hoặc typo, bản khắc
ván dần dần ít đi. Nếu nhằm
lúc thời cuộc thái b́nh, chẳng ngại in nhiều
lượt. Nếu gặp phải lúc đói kém, loạn lạc,
mấy chục năm sau, chắc là sách vở bị đoạn
diệt. Lại có người in kinh theo kiểu ấy,
chính là do lưu thông mà khiến cho kinh điển bị diệt
vong, ứng với chuyện Như Lai đă thọ kư “thời
Mạt Pháp, kinh điển biến thành giấy trắng”.
Đó chính là cái gốc khiến cho nước nghèo, dân
hèn, diệt thánh giáo của Nho lẫn Thích; sao lại không
có ai v́ dân mà nghiêm cấm in sách bằng loại giấy này?
Sao lại không có một ai v́ đồng bào mà lo lắng hậu
hoạn, luôn đăng báo khắp nơi để nêu rơ
cái họa của loại giấy này?
Phật
Học Tùng Báo vốn nhằm lưu thông Phật pháp, chẳng
giống như các báo khác, hễ xem xong liền trở thành
vật bỏ đi. Cần phải vĩnh viễn không bay
nét chữ th́ mới có lợi ích thật sự. Nếu chỉ
vài năm đă mất sạch chữ, ắt quư vị chỉ
uổng công khổ tâm, chẳng cứu nổi đêm dài hắc
ám! Số báo đầu tiên nét chữ đă mờ, tôi hết
sức lo âu. Muốn sao lại nhưng thị lực chẳng
đủ; muốn để đó, chỉ lo bị ṃn diệt,
to gan dâng lời quê kệch, mong chư quân soi xét. Khẩn cầu
[chư vị hăy] lập riêng một cách thức, dùng giấy
mực của nước nhà để ấn loát, ắt dăm ba năm hoặc
trăm năm, vẫn có thể bảo tồn. Dẫu phí tổn
tốn gấp một hai phần, nhưng lợi ích sẽ
nhiều đến trăm, ngàn, vạn, ức, vô lượng
vô biên lần! Hơn nữa, in chữ trên cả hai mặt
giấy, nếu bị hư rách, sẽ chẳng thể tu
bổ được!
Năm
Quang Tự 31 (1905), tôi đến Kim Lăng Khắc Kinh Xứ[2],
thấy bản Đại Tạng Kinh do người Nhật
in vào thời ấy, bèn hỏi Dương lăo cư sĩ
(cư sĩ Dương Nhân Sơn): “[Bản kinh ấy
in bằng] mực in ngoại quốc, hay mực Tàu?” Ông Dương nói là loại mực dầu của ngoại
quốc. Lại hỏi: “Có bị bay chữ hay không?” Ông
Dương đáp: “Không bay”. Nếu thật sự không bay,
nếu lỡ như chẳng thể in bằng mực Tàu
được, xin hăy dùng loại mực dầu ấy. Vẫn
mong đem những số đă in trước đây, chọn
lấy những bài trọng yếu, so sánh phân loại để
in mộc bản, hoặc dùng cách in bằng lối chữ
rời khác[3]
để ấn hành, lưu thông, ắt văn chương
của các vị có thể tồn tại sánh cùng trời
đất, các hữu t́nh nơi đại địa trong
hiện tại lẫn vị lai sẽ cùng được
lên thuyền từ phổ độ. Nếu có thể
thương xót ḷng ngu thành của tôi, ắt sẽ chẳng
nề xả thân cúng dường.
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ nhất)
Mùa
Đông năm ngoái các hạ đến núi, sai tôi viết
bài bi kư duyên khởi, Quang đang trong Phật Thất, chẳng
muốn suy nghĩ viết lách, bèn ước hẹn trong
tháng Tư sẽ gởi sang Thiểm Tây. Mồng Năm
tháng Giêng năm nay, nhận được thư, biết
ông vẫn c̣n ở phương Nam, cho nên gom góp hơn một ngàn năm trăm chữ
cho xong trách nhiệm! Tiếc là sở học hời hợt,
nông cạn, chẳng thể nêu tỏ tột bậc
được! Hơn nữa, bài kư ghi lại sự thị
hiện ứng tích của Bồ Tát nhằm lúc Ngài trụ
tại Đại Đảnh [của Nam Ngũ Đài tại
Thiểm Tây] vào năm Quang Tự 11 (1885). Tôi thường
nghĩ Đại Sĩ khai sơn, suốt một ngàn mấy
trăm năm, trọn chẳng có bi kư để tham khảo,
đúng là chuyện đáng tiếc nuối bậc nhất.
Một hôm, tôi tới Lưu thôn, tản bộ nơi Tây Tự,
thấy có mấy tấm bia, đều là bia thuộc về
Đài Sơn, nhưng nội dung đều chẳng khẩn
yếu, chẳng cần phải sao lục. Trong số
đó, có một tấm bia, vốn là một tấm đá,
trọn chẳng có một chữ nào! Quang thử lấy
ngói cạo [bỏ rong rêu], th́ ra là tấm bia được
khắc vào năm Chí Nguyên thứ bảy (1341) đời
Nguyên, trần thuật duyên khởi dựa theo bia cổ. Do
đă trải qua hơn sáu trăm năm, bia bị các chất
dơ phong kín, tôi mừng rỡ khôn cùng, sao lại để
dành. Lại nói với ông hội trưởng Lưu Tứ
cho lập bia trên núi.
Năm
sau, lên miền Bắc, tới Hồng Loa, sau đó trở
về phương Nam, tới Phổ Đà, thường
nhớ tới chuyện này. Tới năm Dân Quốc thứ
ba (1914), thầy Định Huệ đến núi, liền dặn thầy ấy
sao lại gởi đi. Một là v́ muốn
đăng trên báo Phật Học, hai là muốn khi tu chỉnh
Phổ Đà Chí, sẽ trần thuật chuyện ấy
để nêu tỏ đầu mối “tầm thanh cứu
khổ” của Đại Sĩ. Nay đại điện
trên núi Nam Ngũ Đài đang trùng tu, mong cư sĩ khi in
bài Tịnh Độ Duyên Khởi Kư, sẽ in kèm theo, ḥng
khơi gợi tín tâm. Tới núi, hăy nên thưa chuyện với
người chủ tŕ công tŕnh trùng tu, khuyên hăy khắc bia
trên núi, ngơ hầu một phen từ bi gia hộ của
Đại Sĩ chẳng đến nỗi lâu ngày bị
tuyệt tích! Bài tán do Quang soạn và
bài tựa ngắn trước bài tán đều cùng khắc.
Bài văn bia bị cỏ lấp và bài văn bia này đều
nên dùng lối chữ thô to [để khắc] cho dễ
đọc, lại c̣n có thể tồn tại lâu ngày. Nếu
dùng vật liệu bằng đá cao to, không chỉ phí tiền,
lại c̣n khó chuyển vận. Có lẽ nên dùng hai tấm
bia ghép lại một chỗ, th́ sẽ đỡ tốn tiền
đá hơn, vận chuyển thuận tiện thỏa
đáng hơn! Chỉ cốt sao thánh tích được nêu
tỏ, chẳng quan tâm h́nh dạng hoa mỹ! Hăy nên đem ư
Quang nói với người chủ tŕ công tŕnh. Hơn nữa,
khi in, ắt cần phải giảo chánh, đối chiếu
cẩn thận, đừng bị sai ngoa, tăng giảm!
Lại cần phải chấm câu rơ ràng để tiện
xem, đọc. Nếu không, kẻ học vấn nông cạn
sẽ khó lănh hội. In xong, hăy nên gởi mấy bản cho
Quang làm kỷ niệm. Chỉ mong ông an trụ trong Thiền
duyệt, những điều khác chẳng nói nữa.
Phụ lục 1: Giải
trừ nghi vấn về Vô Môn Động
Núi
Nam Ngũ Đài chẳng có hang động lớn để
người ta có thể sống trong đó, mà cũng chẳng
có cái hang nào tên là Vô Môn! Cái hang ấy là động
Tương Tử, chắc chắn chẳng c̣n ngờ chi! Ấy
là v́ từ cuối đời Thanh đến nay, pháp đạo
suy vi, bậc thông triết ẩn mất, sách vở thất
lạc. Lại c̣n trải qua nhiều đợt binh lửa,
đă lâu chẳng có ai ở. Tăng tục vô tri, do nghe chuyện
Hàn Tương Tử[4]
đă quen, liền hư vọng đặt ra tên gọi ấy.
Vào đầu thời Quang Tự, các vị như sư
Pháp Nhẫn v.v… mới tới ở nơi đó, nhưng
Tăng chúng trong núi thường hay gây trở ngại,
đến nay đă trở thành lệ thường, ai nấy
đều sống yên ổn.
Vô
Môn tức là lấy cái tâm như lời dạy của
đức Phật trong kinh Lăng Già làm tông. Vô Môn có
nghĩa là “pháp môn”. Cần phải
biết, Vô Môn chính là Phổ Môn. Bởi lẽ,
đối với mọi pháp, mọi sự, hễ mê đều
có thể khởi Hoặc, tạo nghiệp; ngộ th́
đều có thể đoạn Hoặc, chứng Chân. V́ thế,
hai mươi lăm vị thánh trong kinh Lăng Nghiêm, đối
với sáu căn, sáu thức, bảy đại, mỗi pháp
đều chứng Viên Thông. Do vậy, không pháp nào chẳng
phải là diệu lư Tam Đế, cũng chẳng có pháp
nào chẳng kham tiến nhập Niết Bàn. Chỉ v́ các
pháp ấy đều là Môn, cho nên chẳng cần phải lập
riêng một môn, bèn gọi là Vô Môn! Hăy nên đem ư này bảo
cặn kẽ với vị Tăng trụ tŕ nơi lều
tranh, để ông ta biết chuyện của bậc cao nhân, và tên gọi vô thượng
thậm thâm thật sự ở chỗ nào, chẳng đến
nỗi truyền tụng tên gọi hư ngụy của
ngoại đạo, để rồi đánh mất chánh
danh trong Phật pháp.
Phụ lục 2: Biện
định sự sai ngoa đối với danh xưng của
Nhiếp Thân Nham
Nhiếp
Thân Nham (攝身巖) là do núi cao và dốc, thẳng đứng vạn nhận[5].
Kẻ lên tới đỉnh nh́n xuống, khôn ngăn dè dặt,
cẩn trọng, thân tâm run rẩy, vọng tưởng tiêu
diệt, chánh niệm rơ ràng, tức là ư nghĩa “nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” trong
kinh Lăng Nghiêm. Bởi lẽ, Thân là tên gọi chung, sáu
căn thuộc về tên gọi riêng biệt. Dùng Tổng
để thâu nhiếp Biệt, cho nên chỉ nói là Nhiếp
Thân mà thôi! Sau này, bậc thông triết đều ẩn mất,
sách vở thất lạc, kẻ tăng người tục
vô tri bèn ngoa truyền thành Xả Thân. Lại có ma dân tạo
tác ma thuyết, bảo Quán Âm xả thân tại đó th́ mới
thành đạo quả. Lời lẽ bịa đặt vô
căn cứ như thế đă nhuốm bẩn Đại
Sĩ, làm nhục pháp môn, chuốc lấy sự báng bỏ
tà vạy của ngoại đạo, khơi gợi kẻ
ngu nghĩ tưởng ma mị, gây hại quả thật
chẳng cạn! Chuyện này giống như kiến giải
ma mị, biến Quán Âm Thiếu (觀音眺, Quán Âm dơi nh́n) trở
thành Quán Âm Khiêu[6] (觀音跳, Quán Âm nhảy)
ở Phổ Đà, đúng là khiến cho
người khác đáng than, đáng hận, đáng buồn,
đáng thương!
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ hai)
Thư
của ông Trang đă gởi đi, nhưng qua lại giữa
Tô Châu, Vân Cư, và Phổ Đà cũng phải hơn nửa
tháng, sợ rằng đă gởi đến rồi. Nếu
chưa gởi, chưa soạn, Quang sẽ thuật cặn
kẽ nguyên do và lợi ích, ông ta sẽ nhanh chóng gởi
đi, đừng bận tâm. Ước chừng sau Rằm
tháng Tám, Quang sẽ xuống núi. Chắc cuối tháng Tám có
thể đến đất Thân (Thượng Hải).
Mong ông hăy tùy thời điều trị, đừng để
thân tâm bị tổn thương.
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ ba)
Thu
trước vừa qua, tiết Xuân lại đến, quang
âm vùn vụt, thật đáng than thở! Mùa Đông năm
ngoái, bộ Văn Sao hủ bại của Quang được
in ra, ông Vân Lôi tính gởi sang Cửu Hoa, hỏi Quang có biết
ông đang ở chỗ nào hay không? Quang nghĩ cư sĩ
hành tung vô định, bảo ông ta chẳng cần gởi.
Ngày Hai Mươi Bảy tháng Hai, nhận thư từ
Hương Cảng, biết ông đă đến núi Kê Túc
chiêm bái tôn giả Ca Diếp, khôn ngăn ngưỡng vọng,
hâm mộ cùng cực. Hôm nay lại nhận được
thư, biết ông sang Tào Khê lễ yết Lục Tổ, lại
c̣n cùng với ông Chiếu Nam Giản quen thân sâu đậm,
chắc là phải đợi cho Phật
sự viên măn rồi mới khởi hành. Bộ Văn Sao của
Quang đă gởi hết. Mùa Xuân năm nay, Úy Như lại
bảo Thương Vụ Ấn Thư Quán in tiếp. Lại
thỉnh cư sĩ Hoàng Ấu Hy giảo chánh, đối
chiếu cặn kẽ hơn. Hễ chỗ nào biên tập
chẳng hợp quy củ, sẽ sửa đổi ngay. Lại
thêm vào mười mấy bài nữa, vẫn chưa ra sách,
một hai tháng sau chắc sẽ hoàn thành. Sắp chữ ấn
loát lần này, Ấn Thư Quán sẽ tự phát hành,
lưu lại bản thảo để sau này họ sẽ
tiếp tục in không ngớt, ngơ hầu có thể thỉnh
sách bất cứ lúc nào cũng được. Thư này
kèm theo ba tờ giới thiệu [bộ sách Văn Sao], mong
ông hăy báo cho người có tín tâm biết.
Chuyện
trở về Tần Xuyên, quả thật chẳng có sức
ấy. Ngày Hai Mươi Bảy tháng trước, trụ
tŕ chùa Ngọa Long là thầy Hiển An vâng lệnh của
Trần đốc quân thúc giục Quang quay về đất Bắc. Quang viện
cớ tuổi tác lẫn chí hướng đều suy đồi,
mắt vừa quáng vừa yếu để tận lực
từ chối. V́ sách khơi gợi hàng sơ cơ nhập
đạo có đến mấy thứ, hăy bảo những
ai có tín tâm thỉnh về đọc, họ sẽ dần
dần nhập đạo là được rồi. Nếu
chẳng khoan dung, cứ nhất định ép buộc tôi phải quay về, tôi
sẽ lánh xa đến chỗ không có bưu cục cho
đến hết tuổi thừa!
Năm
ngoái, tôi lại nhận được toa thuốc thần
diệu để cai thuốc phiện của ông Trần
Tích Châu, hiệu nghiệm phi thường, bèn lập tức
gởi tới mười mấy chỗ. Cũng có chỗ
in ra, gởi ngược lại cho Quang. Nhà ông Giản
dư dả, lại c̣n nhiệt tâm làm chuyện công tích,
mong ông ta sẽ đem toa thuốc ấy in ra trăm ngàn vạn
bản để lưu truyền rộng khắp, ngơ hầu
kẻ muốn cai nghiện sẽ cai được,
cũng là công đức không chi lớn bằng! Nay tôi gởi
mấy tờ, nhờ vào đạo lực của cư
sĩ, chắc Quang chẳng đến nỗi thất vọng!
Hơn nữa, cơ duyên pháp đạo ở Vân Nam đă
hưng thịnh. Mùa Đông năm ngoái, Đường
đốc quân gọi điện, sai Mậu Diên Diên mời
pháp sư Đế Nhàn và Quang đến đó giảng
kinh. Thầy Đế Nhàn lấy cớ không rảnh để
chối từ, Quang viện cớ mắt kém, học cạn
để từ chối. V́ thế, ông ta mời Âu
Dương Cánh Vô sang đó.
Hôm
nay, ông Trương Chuyết Tiên cũng gởi thư đến,
cho biết ông ta ăn chay trường, niệm Phật
đă lâu. Hiện thời, ông ta đang khôi phục chùa cổ
Viên Thông ở tỉnh lỵ, biến thành thập
phương tùng lâm, kiêm lưu thông kinh Phật, và lập Niệm
Phật Đường làm chỗ tu tŕ cho hàng Tăng, tục,
lập Duyệt Kinh Thất để làm chỗ nghiên cứu.
Tôi đem các kinh mà ông ta và Vương Mộng Cúc muốn thỉnh
đều xếp vào trong bưu kiện để họ
đọc và nghiên cứu. Trong thuở rối loạn cùng
cực, bèn mong mỏi b́nh trị, mọi người đều
có cùng cái tâm ấy. Do đạo “nhân quả ba đời”,
pháp “chúng sanh và Phật chẳng hai” của đức
Phật ta, cùng với các pháp “đoạn Hoặc, chứng
Chân, siêu phàm nhập thánh”, và “nương vào từ lực
của Phật, tín nguyện văng sanh” v.v… cho nên không
căn cơ nào chẳng được tiếp độ,
không căn cơ nào chẳng thâu nhiếp! Nếu lại
được người văn chương lẫn
đức hạnh đều ưu tú đề xướng,
sẽ thấy “một người xướng, trăm
người họa, ngả rạp theo chiều gió”. Sau
mấy chục năm, có thể sánh bằng thuở pháp
đạo hưng thịnh thời Đường - Tống
cũng chưa biết chừng! Chuyết Tiên chất phác,
phẩm đức cực thuần túy. Cư sĩ tới
đất Điền (Vân Nam), hăy nên kết bạn.
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ tư)
Nhận
được liên tiếp hai lá thư trong mùa Xuân, biết
các hạ được mời ở lại nhà ông Giản.
Lại đến Tào Khê để lễ Lục Tổ lần
nữa. Đợi đến khi Phật sự ở chỗ
ông ta viên măn, sẽ cùng sang núi Kê Túc tham lễ Tây Thiên Sơ
Tổ (ngài Ma Ha Ca Diếp). Đó là nhờ ḥa thượng
Liễu Thanh nhận được thư liền cho Quang
xem ngay, lại c̣n giảng giải về núi Kê Túc, biết
các hạ thong dong nơi hang Thiền, thân tâm an lạc, tôi
vui sướng khôn ngằn! Quang sống uổng quang âm, chẳng
có mảy may cảnh giới nào thăng tấn,
hổ thẹn khôn cầm! Năm nay chẳng muốn xuống
núi, nhưng v́ chuyện khắc kinh, chẳng thể nào
không lo liệu. Đợi sang năm khắc xong bộ Pháp
Hoa Nhập Sớ, sẽ lại sang Dương Châu lo liệu
hết thảy. Mùa Xuân năm nay, Từ Úy Như đem bộ
Văn Sao của Quang cậy Thương Vụ Ấn
Thư Quán ở Thượng Hải tái bản lưu thông,
cũng như lưu lại bản in gốc, cho đến
nay vẫn chưa ra sách. Sớm muộn ǵ sách cũng in ra,
sẽ gởi sang Kê Túc một hai gói để kết pháp
duyên.
Hiện
thời, vận nước ngày một cấp bách, dân chúng
lầm than, nếu chẳng gấp cầu văng sanh, chỉ
sợ mười hay hai mươi năm sau, t́nh cảnh sẽ
giống như An Nam hoặc Cao Ly. Nhắc đến bèn
đau ḷng, nghĩ tới mà lệ ứa. Mong ông hăy v́ các
sư ở núi Kê Túc trần thuật hiện tượng vận
mạng trong cơi đời để kích phát chí hướng
thành tâm, đồng tâm nhất ư, ĺa cơi ác trược này, ngơ hầu
từ trong ṭa nhà lửa to lớn vô biên này mà thoát thân ra,
đến thẳng chốn quê nhà vốn sẵn có. Nếu
đời này chẳng thực hiện, chẳng biết
mai sau rốt cuộc c̣n có pháp đạo hay không? Dẫu có
kinh điển, rốt cuộc chẳng biết c̣n có thể
tùy ư tự do nghiên cứu, giở xem, thọ tŕ, đọc
tụng hay không? Tháng Ba năm nay, ḥa thượng Liễu
Thanh đă xin nghỉ hưu (thôi làm Trụ Tŕ), hiện
đang ở Bạn Sơn Am. Có lẽ sau này, Sư sẽ ở
tại Đa Bảo Tháp Viện. Chủ nhân hiện thời
của chùa Pháp Vũ tên là Liễu Minh, có cùng thầy với
sư Liễu Thanh, là người khá trung hậu, lăo thành.
Anh
em ông Giản chưa đến. Hễ họ tới
đây, tôi sẽ đúng pháp chăm sóc, ông chẳng cần
bận ḷng. Người tại gia sự việc đa
đoan, không thể muốn đi bèn lập tức đi
ngay. Thường có người đă phát nguyện nhiều
năm, vẫn chưa thể đến được, rất
nhiều!
* Thư gởi
cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ năm)
Quang từ ngày Hai Mươi Sáu tháng Bảy
vượt biển, ngày Hai Mươi Chín tới đất
Thân (Thượng Hải). Tôi đến Hữu Chánh Thư
Cục, hỏi thăm các hạ, họ nói vẫn chưa
trở về. Lại có thư từ Vân Nam gởi đến.
Nay tôi gởi ở Hữu Chánh Thư Cục để ông
quay về sẽ đọc. Bộ Văn Sao của Quang
đă in ra, c̣n chưa gởi đi cho những người
đặt trước, sợ phải mất nửa tháng
lo liệu. Quang lại đặt trước một
trăm bộ, tiền đă giao xong, chờ tới lúc từ
Dương Châu quay về, sẽ phân phát. Cư sĩ ôm chí
hướng tham bái cảnh thanh lương của Ngũ
Đài, chắc đă nhập thánh cảnh, thù tạc cùng
các vị La Hán, khôn ngăn vui mừng, an ủi.
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ sáu)
Vừa
nhận được thư, như gặp cố nhân.
Quang tính đầu tháng Tám sẽ đến đất Thân
để lo chuyện in An Sĩ Toàn Thư. Chuyện khắc
ván ở Dương Châu cứ kéo dài, có sang đó hay không vẫn
chưa định, v́ có đi cũng chẳng thể xong
việc!
Đối
với chuyện ở Đông Lâm, các vị Tĩnh Thiền
và Huệ Thiền muốn biến nơi đó thành chốn
cư trú yên vui vạn năm cho con cháu, bất luận thế
nào cũng chẳng chịu đổi thành thập
phương tùng lâm. Lời này do Tĩnh Thiền nói trước
mặt Quang và cư sĩ Thí Tỉnh Chi. Thầy ấy nói:
“Xưa kia, thầy tôi sai
tôi làm Đương Gia, tôi thưa ‘nếu con làm
Đương Gia, sẽ đổi
thành đạo tràng thập phương’. Thầy tôi liền
cúi đầu đau buồn. Không chỉ là thầy tôi hăy
c̣n, chẳng thể đổi thành tùng lâm thập
phương. Dẫu thầy đă qua đời, cũng chẳng
dám đổi thành tùng lâm thập phương v́
sợ thầy thương tâm”. Ông Thí bèn nói:
“Đă chẳng thể làm tùng lâm thập phương, xin
hăy đừng bàn tới nữa”. Ḷng Tĩnh Thiền vui
sướng, trọn chẳng có một ư niệm tiếc
thương! Mười mấy ngày sau khi ông Tỉnh Chi rời đi, Huệ Thiền
hẹn với năm vị cư sĩ như Lư Bảo
Linh ở Vu Hồ v.v… khải thỉnh Quang phục hưng
Đông Lâm. Trong hai ngày liên tiếp, họ hai lượt tới
khải thỉnh. Quang viện cớ già, bệnh để
từ chối, lại c̣n nói đại lược nguyên do
với Lư Bảo Linh. Do ông ta đă từng quy y với Quang,
cho nên không thể kể sự thật. Huệ Thiền
cũng gởi thư đến, Quang bảo thẳng ư của
sư huynh ông ta, bảo ông ta đừng gởi thư tới
nữa! Nay thầy Hoằng Khánh nói như thế đều
là khuôn sáo dỗ ngọt trẻ nít, Quang há vô tri hăm ḿnh vào trận
lốc xoáy ấy ư?
Huống
chi Quang thật sự chẳng có tài lực, lại c̣n hiện
thời đă bắt đầu tu chỉnh Phổ Đà
Sơn Chí. Tuy phần nói về Đại Sĩ đă có
cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh ở Giang Tây đảm
nhiệm, những phần khác th́ trưởng ấp đă
sai các thân sĩ trong ấp biên soạn. Quang vướng tên
trong số đó, thật sự chẳng thể nào không
luôn ra sức xem xét, ngơ hầu ít bị sai ngoa. Bọn họ
(các sư ở Đông Lâm) chẳng chấp thuận lời
thỉnh cầu trước đó, đặc biệt dùng
lời lẽ để che giữ thể diện. Họ
biết Quang chắc chắn không thể đích thân đến
đó, đặc biệt thốt lời ngon ngọt ấy
để khỏi bị tai mắt [người đời]
chê gièm. Loại tăng nhân kiểu đó c̣n có thể
giao thiệp được chăng? Nếu chẳng tự
suy xét, ắt sẽ mắc phải chuyện phiền bực
bất ngờ! Cố nhiên, Quang chẳng tiếc thân mạng,
nhưng chết vô ích cho cả ḿnh lẫn người, sao
bằng cẩn trọng từ đầu đến cuối
chẳng hay hơn ư? Mong cư sĩ cũng đừng
bàn đến nữa. Nếu tổ Huệ Viễn linh
thiêng, chắc sẽ có lúc xoay vần, nhưng Quang nhất
quyết chẳng can dự vào chuyện ấy.
Thiên
tai nhân họa trong năm nay càng thảm hơn trước,
chẳng biết kết quả là nước ta rốt cuộc
sẽ là cảnh tượng như thế nào, há c̣n so
đo một đạo tràng Đông Lâm nữa ư? Tục
nhân muốn hưng thịnh pháp, Tăng muốn diệt
pháp! Cố nhiên họ nương theo nguyện mà đến
để phá hoại tín tâm của thí chủ và đạo
tràng của tổ sư. Do băo lốc gần đây, các
nơi đều bị thiệt hại. Tại Sán Đầu
ở Quảng Đông, thuyền trôi lên nóc nhà, c̣n được
tường vách của căn nhà chống đỡ. Có thể
biết là người ở nơi ấy đều bị
ch́m đắm, trôi giạt. Buồn thay! Sau cơn băo lại
thêm ôn dịch, nhân dân tử vong chẳng biết số
lượng! Trong lúc này, cố nhiên hăy nên giữ yên. Nếu
khởi sự thực hiện, chưa thành công mà tai họa
lại xảy đến,
sẽ uổng công nhọc nhằn mà chẳng đạt
được ǵ! V́ thế, cần phải biết điều
ǵ trọng yếu!
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ bảy)
Đă
lâu chưa gặp gỡ, vẫn luôn tưởng nhớ.
Quang đoán ông đang xây cất Trinh Tiết Viện[7]
tại nhà. Hôm qua, nhận được thư của một
người bạn là cư sĩ Trương Thụy
Tăng, nói cư sĩ đang nghe kinh ở Nam Viên. Lần
này, cư sĩ Thụy Tăng bị dính tới chuyện
mất mát tiền bạc, được cư sĩ từ
ái lo liệu vẹn toàn, chẳng đến nỗi nguy khốn,
cảm kích sâu đậm. Quang nghe tin, cũng cảm thấy
giống như chính ḿnh mắc nạn, cảm tạ khôn ngằn.
Vẫn mong ông thay mặt cư sĩ Thụy Tăng cảm
ơn cư sĩ Quan Biệt Tiều. Cố nhiên là ông Quan
phát tâm Bồ Tát, nhưng ông Trương đă là
người chịu ơn được lo liệu vẹn
toàn, ắt chẳng thể nào không khấu đầu tạ
ơn. Đầu tháng Bảy, Quang sẽ xuống núi, cùng
Thí Tỉnh Chi đi Hàng Châu lo toan chuyện ở chùa Phạm
Thiên. Khi trở về, sẽ lại đến Nam Kinh
để thành lập chùa Pháp Vân. Kế đó, thuận tiện
sẽ đến Dương Châu, một là để gặp
gỡ cư sĩ Thụy Tăng, hai là sắp đặt
chuyện khắc ván bộ Văn Sao. Phỏng chừng sẽ
trở về núi vào cuối tháng Chín. Trong tháng Bảy và
tháng Tám, đừng gởi thư tới.
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ tám)
Từ
biệt vào tháng Tám đến nay đă hơn một
trăm ngày. Khi trước, ở Dương Châu, tôi đă cùng cư sĩ Trương Thụy Tăng
bàn chuyện Trinh Tiết Tịnh Độ Viện, do viện
thiếu tiền chi dụng, yêu cầu ông ta giúp đỡ.
Ông ta nói: Tại Lưu Trang Trường có hơn hai
trăm mẫu đất, có thể giúp lương thực
cho viện ấy. Sau đó, Quang liền gởi một lá
thư nói đến chuyện ấy, đến nay chẳng
thấy hồi âm, chẳng biết ông ta có nhận
được thư ấy hay không? Do chuyện đă lâu,
tôi muốn gởi thư hỏi, nhưng bận bịu quá
nhiều việc, chẳng có ngày nào rảnh rỗi,
đêm đến dưới đèn vẫn
chưa lo liệu xong. Do vậy, chưa thể
rảnh rang để làm được. Trộm nghĩ
Trinh Tiết Viện sắp hoàn tất, trước đó,
lại nghe tin ông bị bệnh, muốn sang chỗ khác
để tĩnh dưỡng. Tôi đoán đến nay bệnh
đă lành rồi, chẳng biết đă quay về Lưu
Trang hay chưa? Nếu thân thể khỏe mạnh, hăy nên
sang Dương Châu bàn bạc với Thụy Tăng, ngơ hầu
chẳng đến nỗi thành chuyện bỏ lửng,
không đâu vào đâu! Mong ông nhận thư này hăy hồi âm.
Cư sĩ Giản Chiếu Nam đă qua
đời ngày Mười Chín tháng Chín. Trước khi ông
ta mạng chung, c̣n có Giang Vị Nông, Triệu Vân Thiều,
Âu Dương Thạch Chi niệm Phật. Tới khi ông ta
tắt thở, con ông ta vừa kêu gào, [thần thức của]
ông ta bèn hôn
mê, đến nỗi loạn mất chánh niệm. Tiếc
thay!
* Thư gởi cư
sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ chín)
Hôm
qua tôi đă bảo gởi mấy gói sách (đă quên bao nhiêu
gói). Sáng nay bèn tom góp một trăm hai mươi chín chữ
để tắc trách hoàn tất chuyện ông sai tôi viết
bài tán thán tượng, nhưng văn từ mộc mạc,
sợ chẳng thể dùng được. Nếu viết
bài ấy lên bức họa tượng, có lẽ đâm ra
chẳng đẹp, mong ông hăy châm chước, ngơ hầu
chẳng đến nỗi do bài tán của Quang khiến cho
bức họa bị suy giảm vẻ mỹ quan. Mong ông
hăy châm chước th́ may mắn lắm thay!
* Thư trả lời
pháp sư Hoằng Nhất
Ngày
hôm qua, tôi nhận được thư và hai bản tán tụng
cũ và mới, [kiểm giảo thấy] không sai lầm,
đừng lo! Trong thư, [thầy có] nhắc đến
t́nh cảnh dụng tâm quá độ, Quang đă sớm
lường được chuyện này, cho nên đă nói chỉ
viết một bản. Do tâm thái của thầy quá tỉ mỉ,
thường đối với chuyện chẳng cần
phải hết sức nghiêm túc, vẫn không chịu chẳng
nghiêm túc, đến nỗi bị thương tổn. Xét
theo sắc lực của thầy, có lẽ nên lắng ḷng
chuyên nhất niệm Phật.
Đối với các giáo điển khác và các sách đang
được truyền bá hiện thời, hăy nhất loạt
chớ xem, để khỏi bị phân tâm, bị tổn hại
vô ích. Người hợp thời th́ cần phải biết
chuyện đương thời. Thầy và tôi đều
chẳng thể lo liệu mọi sự, hơn nữa,
thân ở ngoài thế cục, cố nhiên hăy nên để
đó chẳng hỏi tới, cứ nhất tâm niệm Phật,
mong cho ḿnh lẫn người đều đạt
được lợi ích chân thật. Đó là đường
lối duy nhất không hai vậy! Ngày hôm qua vừa giảo
chánh xong bộ Cao Tăng Truyện, vẫn phải mất
mấy hôm nữa mới có thể gởi đi. V́ chưa
sao chép xong bản lưu lại cho tôi, lại cần phải
châm chước đại lược đối với bản
ghi chép các chỗ nghi vấn. Xong chuyện này, liền cân nhắc
[giảo duyệt Phổ Đà] Sơn Chí. Sơn Chí đă
châm chước xong xuôi, họ mong sẽ in ngay trên núi (Phổ
Đà). Bộ sách ấy sẽ được in theo cách sắp
chữ với số lượng nhỏ. Mỗi lần sắp
chữ, in mấy chục trang. In xong, lại xóa khuôn chữ,
sắp lại các trang khác để tiếp tục in.
Đợi sau này sẽ tiến hành khắc ván. Tôi không sang
Thượng Hải, mong thầy gởi ba quyển sau
đến Phổ Đà.
* Thư trả lời
Siêu Nhất đại sư
Nhận
được thư, biết pháp đạo tại Xuyên Bắc
đă khởi sắc, vui mừng khôn ngằn. Quang thuộc
loại Tăng nhân chỉ biết ăn cơm, húp cháo, chuyện
trong pháp môn hoàn toàn chẳng biết ǵ, chỉ biết học
theo ông già bà cả ăn chay, hằng ngày giữ công khóa niệm
Phật hiệu để cầu văng sanh Tây Phương,
sao kham được tán thán quá mức như thế! Huống
chi thầy c̣n nói “đặc biệt
đích thân đến nghênh tiếp” ư? Văn Sao
được in trước kia tại kinh đô sai ngoa
quá nhiều, do Từ Úy Như lo cư tang mẹ, phải rời khỏi
kinh thành, cậy người khác giảo chánh, đối
chiếu, nhưng người đó chẳng cẩn thận.
V́ thế, mùa Xuân năm nay, Thương Vụ Ấn
Thư Quán sắp chữ in một bản khác, khá đích
xác. Tọa hạ đă chẳng hiềm [văn
chương của tôi] rườm rà, lẩm cẩm, do vậy
bèn gởi năm bộ, và một bản [trần thuật]
duyên khởi khắc Đại Tạng Kinh, một bản
mục lục của kinh tạng vừa mới khắc ở
Bắc Kinh, gộp thành một gói, mong Ngài thâu nhận.
Văn Sao đă cho khắc mộc bản tại
Dương Châu, tới tháng Tư hoặc tháng Năm
năm sau có thể ra sách. Ván in được lưu trữ
tại Dương Châu Tàng Kinh Viện.
Hiện
thời, thế đạo nhân tâm đă bại hoại tới
cực điểm. Hoàng Đạo Doăn[8]
và Hà sư trưởng đặc biệt thỉnh lăo pháp
sư Phật Nguyên giảng kinh ḥng thay đổi, cứu
văn [vận nước] tốt lành hơn, có thể nói là “biết
cội gốc”. Nhưng theo kiến giải ngu tối của
Quang, đối với các thường dân, hăy nên
dùng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi và pháp
môn Tịnh Độ “nương theo từ lực của
Phật, đới nghiệp văng sanh” để giảng
diễn, tợ hồ dễ đạt được lợi
ích hơn! Nếu chuyên nói về Tướng Tông, dẫu
khiến cho ai nấy đều biết nghĩa đó,
nhưng hai loại vô ngă, ai có thể đích thân chứng?
Hai kinh Lăng Nghiêm và Pháp Hoa, một kinh trọn đủ
nhân quả của mười pháp giới, kinh kia th́ trọn
đủ duyên do hiển thị Quyền, Thật, Bổn,
Tích, dường như càng dễ lănh hội để tiến
nhập hơn so với Tướng Tông. Lại nữa, Tịnh
Độ Tam Kinh cùng với phẩm [Phổ Hiền] Hạnh
Nguyện chính là pháp “độ khắp ba căn, thấu
triệt sâu xa cội nguồn và kết quả” của
Như Lai. Chúng sanh đời mạt chẳng có sức
đoạn Hoặc mà nếu chẳng nương theo pháp
này, ai có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời
này? V́ thế, hăy nên thường giảng. Dẫu không
chuyên giảng, cũng nên thường diễn nói kèm theo, ắt
lợi ích sẽ to lớn.
Trước
kia, tôi đă từng thấy bộ An Sĩ Toàn Thư, toan
khắc in lưu hành để giúp cứu đời.
Đă mấy lượt mà cơ duyên chẳng thành, đều
trở thành bánh vẽ. Tới năm Dân Quốc thứ bảy
(1918) mới bắt đầu giao cho thợ khắc.
Năm Dân Quốc thứ tám, sau khi ván in khắc xong, từ
hai năm đó trở đi, đă lưu thông gần ba
ngàn bộ. Nhờ các bạn bè cùng tán trợ, đă cậy
Trung Hoa Thư Cục ở Thượng Hải sắp chữ
theo kiểu sách cỡ nhỏ, tính quyên mộ các thiện
sĩ in tặng mấy ngàn hoặc mấy vạn bộ
để phân phát cho các giới ở bốn phương,
ngơ hầu [mọi người] sẽ nhờ đấy mà
biết nhân quả báo ứng và tâm pháp của Phật, Tổ,
thánh hiền, cùng với pháp môn Tịnh Độ “hoành
siêu tam giới” (vượt thoát tam giới theo chiều
ngang). Mong sao ai nấy đều cảnh tỉnh, chẳng
dám buông thả trong chán nản, thất chí, tâm niệm trở
về cội gốc và cái tâm ban sơ. Nếu hai vị
Hoàng và Hà muốn khiến cho những kẻ b́nh phàm đều
đạt được lợi ích, cho in kèm thêm mấy
ngàn bộ để mọi người đều
được xem th́ lợi ích sẽ to lớn. Mỗi bộ
khoảng chừng bảy cắc; nếu muốn in thêm, xin
hăy gởi thư cho cư sĩ Đinh Phước Bảo
ở số 38 đường chùa Tĩnh An tại Thượng
Hải th́ sẽ chẳng sai. Gởi tiền cũng thế.
Lại nữa, đối với các bài Khuyên Người
Sơ Cơ Niệm Phật, cũng như nơi trang thứ
ba của bài bi kư phóng sanh [trong Văn Sao], chữ Thân trong
câu “sát bỉ thân mạng” (giết thân mạng của
chúng) bị viết sai thành Sanh. Đó là do người sao
chép đă tự tiện sửa chữ!
* Thư trả lời
thầy Siêu Nhất
Nhận
được thư biết Phật Học ở Hồ
Bắc hưng thịnh, hết sức an ủi. Đối với sách Khuyến Thế Bạch Thoại,
tôi đă gởi thư xin sách tới cư sĩ
Hoàng Hàm Chi, gởi thẳng tới dinh thự của quan
đạo doăn Ninh Ba [của ông Hoàng], tùy ḷng ông ta phát tâm bao
nhiêu. Nghe nói [ông Hoàng] chỉ in hai ngàn bản, sợ rằng
đă gởi tặng [gần hết], chẳng c̣n
được mấy! Nếu hăy c̣n, cố nhiên là Hàm Chi sẽ
vui ḷng bố thí trọn khắp. Phàm là đối trước
kẻ tại gia thuyết pháp, trước hết, ắt
cần phải dạy họ ai nấy trọn hết bổn
phận, cha từ, con hiếu, em kính, anh nhường, vợ
chồng ḥa thuận, chủ nhân từ, tôi tớ trung
lương. Có thể như thế th́ sẽ là thiện
nhân trong thế gian. Lại c̣n kèm thêm kiêng giết, phóng sanh,
ăn chay, niệm Phật, sẽ chẳng thẹn là đệ tử Phật. Tôi thường thấy
người tu hành, phần nhiều đáng thẹn về
mặt luân lư, không chỉ chẳng dễ cảm Phật,
mà c̣n dễ chuốc lấy tiếng gièm chê! Người tại
gia là như thế, mà người xuất gia cũng
như thế. Phàm hết thảy mọi người chẳng
trọn hết bổn phận của chính ḿnh, hư vọng
ăn nói lớn lối, đều là phường tà ác bại
hoại lừa ḿnh, dối người, c̣n chẳng
được gọi là “người tốt”, huống hồ
mong liễu thoát sanh tử ư?
* Thư trả lời
Từ Hà đại sư
Nhận
được thư, khôn ngăn hổ thẹn! Quang là hạng
người nào mà dám nói là hoằng pháp! Chẳng qua tôi biết
ư nghĩa đại lược của Tịnh Tông đó
thôi! Hễ có ai chẳng hiềm Quang kém hèn, Quang ắt dùng
chuyện này để thưa tŕnh. Tọa hạ muốn
chuyên tu Tịnh nghiệp, hăy nên xem kỹ bộ Tịnh
Độ Thập Yếu, đó là tinh hoa trong các trước
thuật Tịnh Độ. Các sách khác đều nên xem,
nhưng Tịnh Độ Thánh Hiền Lục trọng yếu
nhất. Đọc sách ấy, sẽ biết biển cả
Tịnh Độ được ngàn kinh vạn luận
tán dương, văng thánh tiền hiền thảy đều
quy hướng, quyết chẳng đến nỗi bị
miệng lưỡi
nhạy bén của tri thức thuộc các
tông khác đoạt mất. Các tông khác càng đả phá, tín
tâm càng kiên cố. Thoạt đầu, cần biết Phật
lực và tự lực lớn, nhỏ, khó, dễ, cùng với
duyên do của Thiền và Tịnh. Nếu chẳng v́ con
người Quang [hèn kém] mà bác bỏ lời thưa thốt,
hăy nên xem trước bộ Văn Sao của Quang
(Thương Vụ Ấn Thư Quán ở Thượng Hải
có bán, chứ ở chỗ Quang chẳng có). Văn từ của
Quang lan man, lẩm cẩm, nhưng đối với duyên
do và giới hạn giữa Thiền và Tịnh thật sự
đă nêu tỏ tường tận, [xem đến] sẽ
dễ hiểu rơ ràng.
Sau
khi đă đọc Văn Sao của Quang, lại đọc
các trước thuật về Tịnh Độ của cổ
nhân, sẽ càng thêm thân thiết. Do cổ nhân phần nhiều
nói đại lược, nếu chẳng đặc biệt
chú ư lănh hội, sẽ ơ hờ đọc lướt
qua. Nhờ vào bộ Văn Sao của Quang mà sẽ biết
duyên do, đối với mỗi lời, mỗi chữ của
cổ nhân, sẽ đều chẳng đến nỗi “ở ngay trước
mặt mà bỏ lỡ”. Pháp Tịnh
Độ lấy ba pháp Tín, Nguyện, Hạnh làm tông. Nếu
[ai giảng giải Tịnh Độ mà] nương theo
điều ấy để nói, sẽ có thể vâng theo lời
lẽ ấy. Nếu chẳng nói thuận theo [ba pháp] ấy,
dẫu nói cao siêu, huyền diệu, có thể khiến cho
người khác ngay lập tức đích thân thấy
được bổn lai diện mục, cũng đều
thuộc về bản lănh của nhà Thiền! Chưa đạt
tới đại triệt đại ngộ mà tinh thông
kinh tạng, cũng có thể hiểu rơ Thiền giáo,
nhưng sẽ cách tuyệt lợi ích văng sanh thù thắng. Điều này trọng yếu tột bậc!
* Thư trả lời
cư sĩ Từ B́nh Hiên (thư thứ nhất)
Quang
thuở bé, bệnh nhiều, thất học, vẫn
chưa biết cách viết văn. Dẫu gặp lúc bắt
buộc, bất đắc dĩ phải viết lách, chỉ
lan man, quẩn quanh cho có lệ, chứ muốn cho văn lư
đạt tới chỗ tinh vi, mở mang tâm mục cho
người khác, chắc chắn là chẳng có văn tài ấy!
Trong mùa Hạ, ông đă cậy
viết bài kư về sự văng sanh của thái phu nhân, tôi uyển chuyển từ
chối. Hôm trước, ra tiền sơn, gặp ông
Phương Vân Lân nói các hạ gởi thư mấy lượt cậy ông ta khẩn cầu
giùm. Quang bất đắc dĩ, bèn dựa theo đại
ư trong Tịnh Độ và thuật đại lược
chuyện của thái phu nhân, ghép thành bài viết gồm một
ngàn một trăm lẻ năm chữ. Trước hết
là kể về sự tích, nhưng chỉ dùng cách trần
thuật sơ lược. Kế đó, đối với
chuyện tu Tịnh nghiệp và chuyện cứu tế dân
chúng bị tai nạn, cùng với các chuyện lúc lâm chung th́
nói hơi tường tận hơn. Do cứu tế nhằm
hiển lộ ḷng Từ, c̣n tất
cả các lời lẽ tu tŕ dành cho lúc lâm chung chính là chuẩn
mực của người học Phật. V́ thế, đặt
tựa đề là Sanh Tây Kư. Nếu ông phiền ḷng v́ những
chuyện được trần thuật trước
đó quá sơ lược, chẳng ngại bổ sung thêm.
C̣n đối với chuyện sau khi cụ mất, tay vẫn
nắm chặt xâu chuỗi th́ phải là thật sự có.
Nếu không, hăy nên bỏ đi, tránh cho người đọc
ngờ vực, bàn tán. Sau khi Phó Đại Sĩ đă mất
bảy ngày, huyện lệnh cùng đại chúng tới dâng
hương. Tới chỗ Đại Sĩ, Đại
Sĩ bèn trở tay nhận hương (“trở tay” nghĩa
là dùng lưng bàn tay chạm vào). Đó là Đương Lai
Thế Tôn thị hiện. Thái phu nhân nắm chặt xâu chuỗi
rất lạ lùng, chắc là do thiện căn đă gieo sâu
từ nhiều đời nhiều kiếp mà ra! Lời
văn trong bài kư mộc mạc, vẫn mong ông cậy bậc
đại thông gia gọt giũa, ngơ hầu có thể
lưu truyền! (Hiện thời, vận nước chẳng
b́nh yên, chưa thể ấn hành Đại Sĩ Tụng; cần phải đợi tới lúc yên ổn th́ mới
có thể sắp đặt được).
* Thư trả lời
cư sĩ Từ B́nh Hiên (thư thứ hai)
Đă
lâu không gặp gỡ, tṛ chuyện, tôi rất nhớ. Ngày
Hai Mươi tháng Tám, Quang xuống núi, tới ngày mồng
Sáu tháng Mười mới trở về. Mồng Bảy đến tiệm Cẩm
Thái, thấy thư ông gởi đến. Hai hôm sau, nhận
được Di Huy Tập của lệnh từ. Đọc
xong, khôn ngăn cảm phục. Như các hạ có thể
nói là khéo phụng sự cha mẹ. Nhưng tôi do công việc
bận bịu, chẳng thể ngay lập tức trút ra ư tứ
khô cằn, tới hôm nay mới tom góp hơn một trăm
chữ cho xong trách nhiệm! Nhưng chữ trong bài đề
từ thô mộc, càng khiến cho người khác xấu hổ
chẳng ngơi! Tuy thế, phận làm con, chuyện thật
sự khiến cho cha mẹ rạng mày nở mặt là ở
chỗ “lập đức, hành đạo”, khiến
cho kẻ khác ngưỡng mộ cha mẹ ḿnh. Nếu thật
sự có thể lập đức, hành đạo, người
khác sẽ kính ngưỡng cha mẹ, sẽ được
gọi là “hiền”. Nếu không, cha mẹ dẫu hiền,
nhưng v́ con cháu chẳng ra ǵ, đến nỗi thiên hạ
ngờ vực cha mẹ đức hạnh khiếm khuyết!
Cố nhiên các hạ có thể lập đức hành đạo,
nhưng Quang vẫn dùng chuyện này để khuyến
khích, do bắt chước đường lối bạn
bè răn nhắc lẫn nhau của cổ nhân, chẳng
như người hiện thời chỉ lo a dua, ca ngợi!
Sách
Quán Thế Âm Tụng đă cho sắp chữ, chắc trong
năm nay có thể ra sách, nhưng Quang tính in trước
hai ngàn bộ để những người góp công in thỏa
ḷng được xem trước. Năm sau sẽ in tiếp,
in một lượt hơn một vạn bộ. Hiện
thời, người đặt in đă tới bốn vạn
bộ, Quang mong mỏi in mấy chục vạn bộ
để phân phát rộng khắp trong và ngoài nước, sợ
rằng Quang chẳng thể cảm ứng được
như thế. Hơn mười vạn bộ chắc là
có thể làm được! Nay gởi kèm cho ông một
trang thuyết minh, mong hăy tùy duyên khuyên người khác đứng
ra in. Đó cũng là một cách giúp đỡ hoằng pháp
lợi sanh.
* Thư trả lời
cư sĩ Vạn Khứ
Nhận thư, biết ông có chí tu tŕ, khôn
ngăn vui mừng, an ủi. Quang là một ông Tăng chỉ
biết cơm cháo, ông lại lầm lẫn muốn tôn tôi
làm thầy. Hăy nên coi tượng Phật bằng đất
đắp, gỗ tạc như Phật sống, cung kính
cúng dường như vị Phật sống, lợi ích sẽ
chẳng thể nghĩ bàn! Nếu bảo “đấy là
đất, gỗ, cần ǵ phải cung kính” th́ không chỉ
vô ích, mà c̣n mắc tội khinh mạn Phật. Ông có thể
tin như thế th́ tôi là thầy của ông. Nếu không, chẳng
cần phải khách sáo hư ngụy! Tôi
với ông vẫn là kẻ ngang hàng mà thôi để ít lầm
lỗi!
Nay
tôi đặt pháp danh cho ông là Tông Nhất (宗一). Tông là “chủ”.
Do ông họ Vạn (萬), Vạn từ một
mà phát hiện. Có thể chuyên chú nơi một th́ càng vạn
càng nhất! Chẳng thể chuyên chú nơi một, vạn
sẽ tản mạn, phồn tạp, chẳng có trật tự!
Một là ǵ? Chính là Phật tánh thiên chân vốn có của
chúng ta. Do vốn có Phật tánh thiên chân ấy, chẳng thể
nào không niệm Phật, trọn chẳng
thể “trái nghịch giác, xuôi theo trần lao”, dấy lên
tham, sân, si, tạo giết, trộm, dâm để rồi vĩnh
viễn đọa trong tam đồ ác đạo. Vợ ông
có pháp danh là Tông Trinh (宗貞). Trinh là “chánh”,
là “chủ chốt”. Vạn mà có thể chú trọng nơi
điều chủ chốt, tức là mọi pháp, mọi
chuyện chẳng rời tự tánh, tự tánh thường
luôn hiện tiền, há đối với nữ đức
có điều hổ thẹn, chẳng thể giúp chồng
dạy con để cùng đạt đến địa vị
thánh, cùng thoát khỏi đường mê ư?
E
rằng ông chẳng có Văn Sao bản mới in, đợi
tới tháng Giêng hay tháng Hai sách in xong, sẽ bảo Vân Lôi gởi
cho vợ chồng ông mỗi người một bộ.
Trong ấy, có nhiều đoạn nêu rơ ư nghĩa chánh yếu
về đạo nữ nhân giúp chồng, dạy con. Biết
điều ấy, sẽ làm gương cho vợ ḿnh rồi
ảnh hưởng đến anh em. Sau đó, lan ra khắp
cả gia tộc, đất nước. Chẳng riêng ǵ
Văn Vương là như thế, mà đạo nghĩa hiền
thục nội trợ của hậu phi cũng giống
như thế. Người
hiện thời cũng không một ai chẳng phải
là như thế. Có chồng là người tốt đẹp,
dẫu vợ chẳng hiền, cũng có thể cảm hóa
trở thành hiền! Có vợ tốt đẹp, dẫu chồng
chẳng hiền, cũng có thể cảm hóa thành hiền.
Nếu vợ lẫn chồng đều tốt, sẽ
như ao chuôm giúp ích lẫn nhau[9],
hai tay giúp đỡ lẫn nhau, có thể chẳng mấy
chốc mà dần dần tiến nhập địa vị
thánh hiền đó ư? Con ông năm tuổi, hăy nên dạy
bảo nghiêm ngặt, ngơ hầu đứa có thiên tư sẽ
có thể thực hiện sự nghiệp “chính ḿnh tốt
lành, c̣n khiến cho kẻ khác tốt lành”. Đứa chẳng
có thiên tư cũng sẽ thành dân lành chẳng hề
không tuân thủ quy củ. Quang bận bịu lắm việc,
chẳng có ngày nào rảnh rỗi! Do vậy, viết đại
lược mấy câu, nhưng văn chương chẳng
ra hồn, mong ông hăy nhận biết ư nghĩa th́ sẽ
được lợi ích vậy!
* Thư trả lời
cư sĩ Thái Cát Đường
Người
sống trong thế gian, hiểm nạn quá nhiều: Dâm dục,
tà kiến là những điều chánh yếu. Gia cảnh
ông khá dư dả, lại c̣n chẳng có cha anh, nếu chẳng
cực lực tự khích lệ, khó tránh rơi vào hố
sâu dâm dục muôn trượng! Hễ rớt vào trong ấy,
chẳng thể thoát ra, chẳng thể nào không chôn thân trong
chốn ôn nhu, khiến cho gia nghiệp tan nát, con cháu đoạn
tuyệt, đức hạnh của tiền nhân bị chôn
sạch, linh tánh của chính ḿnh chẳng bị mai một sẽ
chẳng thôi! Hăy nên coi nữ sắc như rắn độc,
như la-sát. Dẫu là thê thiếp của chính ḿnh, c̣n phải
nên tiết dục để giữ thân, mong sao quyết kế
thừa đức hạnh của tiền nhân, khiến cho
con cháu măi măi hưng thịnh. Đối với chuyện tà dâm,
đừng nói là chẳng thể xâm phạm phụ nữ
nhà lành, dẫu đối với bọn gái bán phấn buôn
hương cũng chớ nên phạm. V́ trong số ấy,
có kẻ tốt lành hay hạ tiện bất đồng,
mà ta cứ luôn dùng cái tâm hạnh tà ác để đối
xử.
Kẻ
ngu trong cơi đời chẳng biết chánh pháp, phần nhiều thuộc loại tà kiến, ngược
ngạo nói chính ḿnh là chánh pháp, bảo chánh pháp là tà
pháp! Hết thảy ngoại đạo, chẳng có kẻ
nào không trộm cắt xén Phật pháp để khuếch
trương to lớn môn đ́nh của chúng, nhưng những
điều chúng nó trộm cắt xén chỉ là da lông. Chứ
đối với lư tinh vi trong Phật pháp, chúng nó như kẻ
mù ngó mặt trời, trọn chẳng thể thấy. Những
kẻ bị chúng ngu hoặc toàn là phường ngu phu, ngu
phụ! Người có chánh tri kiến sẽ chẳng tự
bị mê hoặc. Như đem phân người làm thành h́nh
dạng hương chiên đàn, chỉ có thể lừa kẻ
chẳng biết thơm thối! Nếu là người biết
thơm thối, chẳng đợi trông thấy đă bịt
mũi, há bị bọn chúng mê hoặc ư? Những lời
lẽ trong sách của chúng chẳng đáng bàn tới, hèn
kém tột bậc, hăy nên tránh xa!
Đức
Phật dạy kiêng giết, ḷng Từ thấu tới
vô h́nh, sao lại nói do trâu cày ruộng, bèn chẳng
được giết ư? [Kẻ viết sách đó] lại
cho rằng chùa miếu dùng trống đều do da trâu làm
thành, cũng là do sát sanh mà có, chẳng biết ông muốn
dùng trâu để làm món ăn hằng ngày, đến nỗi
vô lượng vô biên trâu đều thành vật thỏa
thích bụng miệng, c̣n chùa miếu dùng da của trâu
đă bị giết [để bịt trống], lại
ngược ngạo quở là chẳng từ bi! Đó gọi
là “bất năng tam niên chi tang, nhi tư tiểu công chi
sát” (chẳng thể cung kính để tang ba năm, cứ
soi mói chuyện mặc tang phục vặt vănh). Cần phải
biết trống là thuận theo t́nh kiến thế tục
mà sử dụng, chẳng phải do đức Phật chế
định phải sử dụng! Nếu chẳng dùng,
cũng chẳng phải là không được! Nhưng do
thế gian tấu nhạc, đă có chuông, trống; pháp khí
trong Phật môn, chuông là bậc nhất, chứ trống chẳng
thuộc loại khẩn yếu. Dùng da trâu đă bị
giết để bịt trống, có lợi rất lớn
cho con trâu ấy. Bởi lẽ, trong Ngũ Đài Sơn
Chí, có câu chuyện cái trống bịt bằng da người.
Một vị Tăng giám viện, lén trộm tiền bạc
của thường trụ, để tậu ruộng
đất cho chùa ḿnh. Sau đấy, ông Tăng chết, biến
thành trâu cày ruộng đất ấy. Tới khi trâu già,
người quản lư điền trang muốn bán trâu cho
đồ tể. Trâu báo mộng cho đồ đệ của
ḿnh, cho biết khi ông ta c̣n sống, trộm cắp của
thường trụ, mua ruộng đất riêng, cho nên biến
thành trâu. Nay chủ điền muốn bán trâu cho đồ
tể, tội ấy bao kiếp vĩnh viễn khó chuộc,
“mong rằng sau khi ta chết, hăy lột da bịt trống,
viết chuyện này lên đó, tặng cho điện
Văn Thù, ngơ hầu khi [Tăng chúng] làm Phật sự,
đánh trống th́ tội ta sẽ có thể nhanh chóng diệt
trừ”. Nói xong, húc đầu vào gốc cây chết mất.
Ngày hôm sau, chủ điền trang báo tin con trâu già húc đầu
vào cây mà chết. Đồ đệ bèn lấy da nó làm trống,
tặng cho điện Văn Thù. Do vậy, người thuở
ấy gọi là “cái trống da người”. Xem chuyện
đó, biết trâu được bịt trống để
làm pháp khí sẽ có thể diệt tội, tăng phước,
siêu sanh thiện đạo.
Kẻ
đó lại nói cứu hổ hay chim ưng, chẳng bằng
giết ưng, hổ th́ ḷng từ bi sẽ to lớn
hơn! Đó là lời lẽ của kẻ may mắn
được làm người! Nếu kẻ đó đời
sau sanh làm ưng, hổ, sẽ trọn chẳng chịu thốt
lời ấy. Hơn nữa, Phật hành từ bi, oán thân
b́nh đẳng. Nếu bảo có thứ ǵ tổn
thương con người, tổn thương loài vật
bèn giết sạch mới là từ bi, thế th́ hăy nên giết
người trước. Trong đời một người,
chẳng bàn tới kẻ ác, dẫu là thiện nhân trong thế
gian, từ bé tới già, chẳng biết đă ăn bao
nhiêu thịt? Vậy th́ giết một người, sẽ
có thể bớt giết bao nhiêu sanh mạng! Loại tà thuyết
ấy chẳng cần phải nhắc tới! Kẻ
đó may mắn được làm người đó thôi,
chẳng lâu sau sẽ lại sanh trong địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, ngay cả danh từ “trời đất,
cha mẹ” đều chẳng được nghe, huống
hồ ḷng đại từ b́nh đẳng, ḷng vô duyên
đại bi của Như Lai ư? Những lời lẽ
ấy khác ǵ ngậm phân phun lên trời. Trời chưa bị
bẩn, mà thân và miệng của kẻ ấy đă bị
phân nhuốm bẩn. Thế mà vẫn nhơn nhơn đắc
ư nói: “Ta đă dùng phân phun lên trời”. Chẳng đáng buồn
ư?
* Thư trả
lời cư sĩ Phật Tâm
Hôm qua từ Thương Vụ Ấn
Thư Quán ở Thượng Hải chuyển đến
thư ông, biết ông đang độ tuổi dốc chí học
hành, lại hâm mộ Phật đạo, khôn ngăn vui mừng,
an tâm. Tôi liền bảo ông Nhậm Tâm Bạch ở
Thương Vụ Ấn Thư Quán gởi cho ông một
gói Văn Sao để thuận tiện xem đọc. Số
c̣n lại để tặng cho người có thiện
căn. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh,
nhưng do mê muội, chẳng biết, ngược ngạo
nương vào sức công đức của Phật tánh
để dấy lên tham, sân, si, tạo giết, trộm,
dâm. Do vậy, trầm luân trong tam đồ lục đạo,
vĩnh viễn chẳng thể thoát ra. Như Lai
thương xót, dạy tu Giới, Định, Huệ ḥng
đoạn tham, sân, si do hư vọng dấy lên. Tham, sân,
si đă hết, sẽ có thể liễu sanh thoát tử,
siêu phàm nhập thánh. Đó là pháp môn tự lực, muốn
liễu thoát ngay trong đời này th́ vạn người
chẳng được một. V́ thế, dạy “sanh khởi
tín nguyện, tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây
Phương”. Nếu có thể tín nguyện chân thật,
thiết tha, sẽ có thể nương vào từ lực của
Phật, đới nghiệp văng sanh. So với kẻ cậy
vào tự lực, sự khó dễ khác biệt
vời vợi như trời với đất!
Ông
đă muốn quy y Phật pháp, làm đệ tử đức
Phật, ắt cần phải y giáo phụng
hành th́ mới có thể danh xứng với thật. Trong gia
đ́nh, ắt phải trọn hết hiếu đễ.
Đối với bạn bè, phải khuyến thiện, sửa
lỗi. Tâm ắt phải lấy thành kính làm chủ, làm việc
ắt phải đặt thận trọng hàng đầu.
Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện.
Tâm khởi một niệm bất chánh, tức là ác. Ắt
cần phải gột sạch làu, chẳng phải đă
làm chuyện ác th́ mới là ác. Phàm các ư niệm đều
chú trọng ḷng kính, tuân giữ ḷng thành, mong thành thánh, thành
hiền, đó là thiện. Ắt cần phải khuếch
trương sao cho từ bên trong mà thấu lộ
ra ngoài, viên măn chẳng thiếu sót. Điều đại
ác trong cơi đời không ǵ bằng sát sanh, ăn thịt! Nếu
có thể tự do, hăy nên thôi ăn mặn. Nếu không, hăy
nên sanh tâm thương xót, chớ tham muốn ăn nhiều.
Điều đại thiện trong thế gian, không chi bằng
tự ḿnh niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Lại
dùng đủ mọi phương tiện khuyên nhủ cha mẹ,
anh em, vợ con, quyến thuộc, làng xóm, láng giềng, thân
thích, bằng hữu, và hết thảy kẻ hữu duyên
cùng niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Ông hăy nên
lượng sức mà hành, ngơ hầu chẳng thẹn với
cái tên Phật Tâm. Theo lệ thường, hễ quy y, ắt
đặt pháp danh. Tôi lấy ngay tên ông làm pháp danh. Ông nh́n
vào tên bèn nghĩ đến nghĩa, gắng sức thực
hiện, sẽ chẳng phụ một phen thành tâm này. Xem kỹ
Văn Sao, ắt sẽ biết phương pháp tu tŕ. Chớ
nên thường gởi thư tới, khiến cho đôi
bên phiền ḷng!
* Thư trả lời
cư sĩ Vương Chửng Bang
Ngày
mồng Hai tháng Ba, nhận được thư, biết
cư sĩ phát đại Bồ Đề tâm, hoằng
dương Tịnh Độ, hướng dẫn trọn
khắp những người cùng hàng đều cùng
được văng sanh, khôn ngăn vui mừng, an tâm.
Nhưng Quang từ ngày Mười Một tháng Hai, túc nghiệp
phát ra đến nỗi bị bệnh mắt. Tới nay,
tuy đă khỏi hẳn, vẫn chẳng dám dùng mắt nhiều.
Thư từ trong hơn hai mươi ngày chất đống,
cần phải chọn ra thư chẳng thể trả lời
chậm trễ để phúc đáp trước. Do đó,
lần khân đến nay [mới hồi âm cho ông], khôn
ngăn hổ thẹn! [Tôi viết] lời tựa gồm
hơn bảy trăm sáu mươi chữ ghép lại,
đại ư vẫn có thể chấp nhận, nhưng câu
chữ mộc mạc, chẳng khỏi khiến cho bậc
thông sáng chê cười. Tinh xá đặt tên là Quy Tông (歸宗), chữ Tông ấy
chẳng phải là Tông trong Tông Môn (宗門, Thiền Tông), mà
có nghĩa là “chú trọng giữ lấy cội gốc”.
Tôi đặt hai câu đối, chẳng cần phải viết
theo lối liễn mừng kiểu “tàng đầu quán
danh”[10],
hoặc dùng các chữ trong đó để làm kệ truyền
pháp. Đấy chính là khuôn sáo của kẻ chẳng thông suốt
trong đời Mạt. Quang hoàn toàn chẳng thích câu đối
làm theo kiểu “quán danh” ấy. Nay tôi đem câu đối
đă nghĩ viết theo lối chữ Khải, nếu
dùng được th́ dùng. Nếu không, hiện thời Hạ
Phụ[11]
có bậc thông sáng ở đó, hăy thỉnh người ấy
làm câu khác để khỏi gai mắt phiền ḷng kẻ
khác. Quang vốn chẳng quen viết lách; hơn nữa, gần
đây bận bịu tột bậc, chẳng dám khơi ra
chuyện đó. Hễ khơi ra, sẽ chẳng có ngày nào
được rảnh rỗi.
“Nhất
siêu trực nhập Như Lai địa, đương niệm
viên chương tịch chiếu tâm” (vượt thoát thẳng
vào Như Lai địa, một niệm toàn bày tịch chiếu
tâm).“Di Đà thệ nguyện hoằng thâm, nhân tư cửu
giới đồng quy, thập phương cộng tán. Tịnh
Độ pháp môn quảng đại, cố đắc
thiên kinh câu xiển, vạn luận quân tuyên” (Thệ nguyện
Di Đà rộng sâu, do vậy, chín giới đều hướng
về, mười phương cùng xưng tán. Pháp môn Tịnh
Độ rộng lớn, nên được ngàn kinh đều
xiển dương, vạn luận cùng tuyên thuyết). Hai
câu đối ấy, hai chữ Quy Tông và lời tựa, ắt
có chỗ tương ứng.
Nói
đến chuyện khóa tụng niệm Phật, Quang chẳng
thể lập. Chuyện này cần phải do chính ông tự
ḿnh dựa theo thân phận của mỗi người và
thân phận của mọi người để lập. Nếu
muốn mô phỏng, có thể tham khảo các sách Tịnh
Độ và Ấn Quang Văn Sao. Phàm muốn lợi lạc
người khác, chính ḿnh cần phải chân thật tu tŕ
là chánh yếu. Nếu chỉ
nói suông, chẳng tận lực thực hành, hoặc đối
với luân thường, hoặc đối với bằng
hữu, suy nghĩ, hành xử có điều chẳng hợp
lẽ, sẽ khó thể cảm ứng được! Thế
gian và xuất thế gian đều lấy thân làm gốc.
Thân đă chánh th́ không cần phải ép buộc mà người
khác làm theo. Thân bất chánh, dẫu ép buộc, kẻ khác chẳng
nghe theo. Lời dạy ấy của Khổng Tử chính là
thánh huấn ngàn đời chẳng thay đổi. Nêu
gương cho vợ ḿnh, ảnh hưởng đến
anh em, sau đó lan truyền đến gia tộc, nước
nhà, đó chính là căn bản pháp luân của Chửng Bang vậy.
Ngày
Hai Mươi Lăm hoặc Hai Mươi Sáu tháng này, Quang
sẽ xuống núi, sợ sẽ phải lần khân hai ba
tháng [mới trở về Phổ Đà được]. Do
Văn Sao bản sắp chữ mới sắp được
xuất bản, hễ sách in ra, phải lo liệu gởi tới
những người bỏ tiền đứng in ở các nơi. Lần này,
người phát tâm quyên tiền in sách đă tṛn hai vạn,
sợ là chưa thể đạt tới
con số ba vạn. Nếu muốn lợi lạc người
khác, hăy tùy ư nhận chịu tiền in bao nhiêu bản. Nếu
chịu bỏ tiền in, hăy chuyển khoản cho Tổng
Vụ Xứ của Thương Vụ Ấn Thư Quán ở
số 45 đường Bảo Sơn, Thượng Hải,
giao cho cư sĩ Nhậm Tâm Bạch thâu nhận. Ông ta sẽ
gởi lại biên nhận. Đợi tới khi sách in ra, sẽ
lập tức gởi đến. Dựa theo giá của hai
vạn bộ th́ một bộ chẳng hơn bốn cắc,
không tính bưu phí (cước phí của bưu điện).
Dựa theo số tiền mà gởi sách, ắt chẳng lầm
lẫn. Nếu qua khỏi thời hạn này, sau đó sẽ
chẳng có giá này nữa, v́ giá ấy dựa theo giá in hai vạn
bộ để ấn định. Sau đó, [Thương
Vụ Ấn Thư Quán] sẽ tính theo giá phát hành. Tôi lại
c̣n có các chuyện như Pháp Vân Tự, Từ Ấu Viện,
và Quán Âm Đại Sĩ Cảm Ứng Tụng phải
đưa đi sắp chữ v.v… Đại Sĩ Tụng
(Quán Âm Đại Sĩ Bổn Tích Cảm Ứng Tụng)
khoảng mười vạn chữ do một vị đại
cư sĩ ở Giang Tây biên soạn, v́ trước kia
Quang đă nhờ cậy. Bút lực của người ấy
vượt xa văn nhân tầm thường cả trăm
lần!
* Thư trả lời
cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh (thư thứ nhất)
Đối
với chuyện thọ giới, nếu đối trước
Phật tự thọ th́ chỉ dùng ḷng chí thành, sám hối
mấy ngày, liền hướng về Phật, bạch rằng:
“Đệ tử con tên là…. thề giữ Ưu Bà Tắc
ngũ giới, và mười giới trọng, bốn
mươi tám giới khinh của Bồ Tát” là được.
Nếu nói “phải thấy hảo tướng” th́
người thời nay rất khó cảm
thông. Đó chính là bị hảo tướng gây chướng
ngại, chẳng thể tùy phần tùy sức tiếp nhận
pháp ích. Sát nghiệp vi tế, kẻ chưa chứng Sơ
Quả đều khó thanh tịnh [sát nghiệp] được,
chỉ nên lưu tâm bảo vệ sanh mạng [của chúng
sanh] là được rồi, há có nên viện dẫn chuyện
vô ư tổn thương [chúng sanh] và chẳng có sức cứu
vớt [để lo ngại]. Nếu nói như trong thư
ông viết, ắt khó thể làm người được!
Ngoại
đạo cho rằng do hít thở có loài trùng nhỏ tí lọt
vào miệng, dẫu ăn chay cũng khó tránh khỏi sát nghiệp.
Quang cho rằng loại tri kiến ấy giống như thấy
muỗi bám vào thân ḿnh, bèn cho rằng thân giống như nhà
xí, liền muốn cho hết thảy mọi người
cùng gieo ḿnh vào nhà xí để hưởng niềm vui ấy,
cùng một loại tà kiến. Sao lại dùng chuyện
đó để vấn nạn? Đức Phật dạy
bậc La Hán có thiên nhăn chẳng được dùng Thiên Nhăn để nh́n vào
nước. V́ dùng Thiên Nhăn để nh́n, sẽ
thấy không có nước nào chẳng có trùng!
Đối
trước pháp sư thọ giới, chẳng cần phải
thấy hảo tướng; đối
trước Phật tự thọ giới, cần phải
thấy hảo tướng. [Lời dạy] ấy nhằm
đối trị cái tâm khinh Tăng. Nay đă chẳng tiện
thọ giới trước Tăng th́ đối trước
Phật thọ giới cũng có thể coi như đối
trước Tăng thọ giới. Nếu ắt muốn
thọ giới từ Tăng, hăy chọn vị nào có đức
hạnh là được, không bắt buộc phải
đợi đến khi có dịp truyền giới tùy hỷ nhiều ngày (tức
là khi có giới đàn). Người xuất gia ắt phải
vào trong điện đường tập tành oai nghi để
mong sau khi thọ giới,
nhập chúng sẽ được an trụ. Kẻ tại
gia thọ giới bất cứ lúc nào cũng đều
được, chỉ cần nghe truyền giới một
buổi là được rồi!
Đối
với chuyện trong tháng mùa Đông, ông sợ lạnh, chẳng
có áo cừu[12] sẽ
chẳng đủ ấm, cũng có thể ṭng quyền,
nhưng tâm phải mang ư niệm cầu siêu [cho các con thú bị
lấy da làm áo ấy] để khỏi phạm lỗi.
Người đời chẳng chịu phát tâm kiêng giết,
thường hay đem chuyện chẳng thể kiêng phạm
giới ra bắt bẻ. Đó chính là tà kiến ngăn trở
kẻ khác tiến cao hơn! Chúng ta nương theo lời
Phật dạy để hành, hăy nên từ cạn tới
sâu, từ thô đến tế. Nếu thoạt đầu
đă lập tức toan nương theo ư nghĩa trọn vẹn
để thực hiện mọi sự rốt ráo, sẽ
trở thành tự tổn thương chính ḿnh. Thêm nữa,
các hạ kiến giải rất cao, chỉ đối với
chuyện ăn chay tới nay mới thanh tịnh, nhưng
phu nhân là người b́nh phàm chẳng thể tùy hỷ, tức
là thường ngày ông trọn chẳng hướng dẫn,
giảng giải cho bà ta. Nếu không, chắc chắn chẳng
thể không cảm ứng!
Tháng
Tám năm Dân Quốc thứ mười (1921), ông Ngụy
Mai Tôn gặp Quang, nói chính ḿnh chẳng thể ăn chay.
Quang bảo ông ta đọc kỹ bài Sớ Ao Phóng Sanh ở
Nam Tầm, tới tháng Mười, ông ta bèn ăn chay
trường. Năm kế đó, ở Nam Kinh mở đạo
tràng phóng sanh tại chùa Pháp Vân, ông
Mai Tôn dốc sức lo liệu nhiều nhất. Cả nhà
ông Đặng Phác Quân ngay cả người hầu
cũng đều ăn chay, mỗi ngày ba thời đều
đến Phật đường niệm Phật. Thuốc,
rượu đều chẳng lọt vào cửa nhà ấy
được! Bà Phương Huệ Uyên do được
anh bà ta gởi cho một bộ Văn Sao của Quang, bèn
phát tâm niệm Phật. Trong nhà, trẻ nhỏ lẫn tôi tớ
đều ăn chay. Chồng bà ta thoạt đầu chẳng
tin cho lắm, nay cũng ăn chay hai bữa, cơm tối
mới dùng chút đồ mặn, nhưng trong nhà tuyệt
đối chẳng sát sanh. Bà ta là phụ nữ chỉ biết
chữ đôi chút mà c̣n có sức cảm hóa, hướng dẫn
như thế, nếu các hạ dốc chí lợi ích quyến
thuộc, hăy thường bàn nói nỗi họa hại do
ăn thịt, họ sẽ có thể dần dần thuận
theo, quyết chẳng đến nỗi nẩy sanh chống
trái!
* Thư trả lời
cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh (thư thứ hai)
Quang tinh thần chẳng đủ, dễ
quên mọi việc. Trong thư trước, ông hỏi phụ
nữ trong khi có kinh nguyệt có được lễ Phật
hay không mà tôi quên trả lời. Kế đó, tôi nghĩ tuy
đây là chuyện nhỏ, nhưng nếu chẳng bàn đến,
sẽ khiến cho công phu lễ tụng của phụ nữ
vào mỗi tháng v́ chuyện này mà bị gián đoạn,
cũng rất có can hệ, cho nên trả lời thêm. Phàm mọi
việc đều cần phải xét theo t́nh lư th́ mới hợp
lẽ. Chấp kinh mà thông đạt quyền th́ mới
thích đáng. Quan tâm đến Kinh, [Kinh] là đạo lư nhất
định chẳng thay đổi, nhưng t́nh cảnh th́
muôn vàn biến hóa. Cố nhiên phải gộp chung cái chẳng
đổi và cái biến hóa để định luận
th́ t́nh lư, kinh và quyền hai đằng
đều đạt được! Nếu chấp chết
cứng nơi kinh mà gọi là “thủ
kinh” (giữ vững kinh), [kẻ như thế]
mà chẳng đến nỗi trái lư, nghịch kinh th́ hiếm
lắm! Con hiếu phụng sự cha mẹ, chẳng dám dấy
lên một niệm trái nghịch. Nếu thân thể cha mẹ
có nhọt độc, chẳng ngại đâm kim vàng để
chọc bỏ mủ, máu. Tuy cha mẹ kêu đau, vẫn chẳng
màng, bởi chẳng làm như thế, sẽ không thể
khiến cho cha mẹ an vui. Không làm như thế, sẽ là
bất hiếu. Nếu là kẻ chẳng hiểu chuyện,
thấy người khác làm như thế được gọi
là “hành hiếu”, kẻ đó cũng làm như thế
đối với cha mẹ chẳng bị
ung nhọt, bèn trở thành đại nghịch! V́ thế
biết t́nh lư phù hợp th́ mới là “thủ kinh”.
Như chuyện Đoản Cô được chép trong Phổ
Đà Sơn Chí, [do cô ta đang có kinh nguyệt], chị dâu
không cho phép cùng lên núi dâng hương, Bồ Tát thương
xót bèn tặng thức ăn. Do Bồ Tát xét ḷng thành của
cô, chẳng màng đến h́nh tích (tuy chuyện này
được lưu truyền đă lâu, nhưng xét kỹ
chuyện ấy, là do đời sau thêm vào. Ở đây, chỉ
luận theo t́nh lư, chẳng cần biết đó là chuyện
thật hay giả).
V́
thế, biết phụ nữ khi có kinh nguyệt, vẫn lễ
Phật, tụng kinh chẳng trở ngại ǵ. Nhưng hăy
nên giảm bớt lễ tiết, phần nhiều ở
trong pḥng của ḿnh niệm Phật. Nếu đang thọ
tŕ kinh điển, vẫn đọc tụng như cũ
cũng chẳng trở ngại ǵ, chỉ nên tắm rửa
sạch sẽ th́ tốt hơn. Nếu lâm vào t́nh thế chẳng
thể, chỉ nên gắng sức giữ cho sạch sẽ,
đừng để tay bị nhuốm bẩn bởi máu
kinh nguyệt th́ chẳng trở ngại ǵ. Trước
kia, Quang từng bị sanh nhọt ở móng tay, nhiều
ngày chẳng dám rửa ngón tay ấy, nhưng vẫn lễ tụng y như cũ, chẳng
coi đó là tội, v́ đấy là bệnh. Nếu ngón không
mọc nhọt [mà chẳng rửa tay], sẽ chẳng thể
trốn tránh tội lỗi được!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ nhất)
Ngày
hôm qua, do Giang Vị Nông chuyển thư đến, biết
lệnh phu nhân đă chánh niệm văng sanh, khôn ngăn cảm
thán! Các hạ và phu nhân đă có nhân duyên từ xưa, giúp nhau nhập
đạo, thật đáng gọi là “đức phối”.
Xét theo tướng trạng khi lâm chung, chắc là bà ta
đă quyết định văng sanh, cố nhiên chẳng cần
phải bi thương. Điều đáng tiếc là các hạ
mất đi một người bạn trên đường
đạo, có bạn mà chẳng thể thường
đích thân vỗ về, dạy bảo. Nói đến chuyện
chuyển tiền th́ ở Phổ Đà chẳng tiện,
do bưu cục nhỏ chẳng có chuyện chuyển khoản. Hăy gởi thẳng
sang chùa Thái B́nh tại Trần Gia Tân ở Thượng Hải,
giao cho ḥa thượng Chân Đạt, mong thầy thay Quang
nhận lấy là được. Hôm qua, tôi đă
đưa thư của các hạ cho chủ nhân chùa Pháp
Vũ xem, mong hăy dùng hết món tiền ấy làm Phật sự.
Sư bèn sai Tăng chúng mở một Phật thất, làm một
lễ Thí Diệm Khẩu. Chùa Pháp Vũ đặc biệt
lập một Niệm Phật Đường, hiện thời
chỉ có mười sáu người, phần nhiều là
hai mươi hai người, đều là người có
đạo tâm. Chiều hôm qua, Quang đặc biệt đến
Niệm Phật Đường, nói rơ ư này và lợi ích do
niệm Phật v.v… khoảng hơn một tiếng. Bọn
họ nghe xong đều hoan hỷ. Lệnh phu nhân đă được
văng sanh, nương theo Phật lực, pháp lực, và sức
niệm Phật của đại chúng, ắt sẽ cao
thăng phẩm vị, thấy Phật càng nhanh! Nhưng
Quang do t́nh bạn với các hạ, cũng trong lúc khóa tụng sáng tối,
đều đọc tên hồi hướng cho các hạ
và phu nhân nhằm giăi bày tấc ḷng. Tính đến
nay, niệm Phật bắt đầu từ hôm thánh đản
của Phật Di Đà cho tới ngày Hai Mươi Ba sẽ
viên măn. Quang hồi hướng cũng lấy bảy ngày
làm hạn.
Người
cầm quyền hiện thời phần nhiều chẳng
biết nhân quả báo ứng, chỉ lo danh vọng quyền
thế lừng lẫy trước mắt, chẳng màng
đầu mặt trong đời sau, đến nỗi chẳng
v́ nước, chẳng v́ dân, chỉ v́ quyền thế và lợi
ích của chính ḿnh, đấu đá lẫn nhau, khiến
cho đất nước tổn thương nguyên khí, dân
chúng lầm than. Trong khoảng tháng Tám, ông Ngụy Mai Tôn ở
Nam Kinh sang Thượng Hải lánh nạn, đă đem ba
mươi sáu điều nói về chuyện hiếu sát và
chẳng giết trong sách Địch Cát Lục[13]
sao ra, muốn ấn loát để
lưu truyền. Quang cho rằng tai họa hiện thời
đă h́nh thành, hết thuốc cứu chữa.
Muốn dứt họa hại trong tương lai, hăy nên thâu
thập rộng răi các chuyện trong lịch sử, ngơ hầu
hết thảy mọi người đều cùng biết
nhân quả, bèn đem sao lục những chuyện cảm ứng
trong hai mươi hai bộ sử gởi sang, ông ta hoan hỷ
tột bậc. Quang lại bảo ông ta hăy sưu tầm rộng
răi để soạn thành một bộ sách tổng quan, hạn
định trong một năm biên soạn xong, sẽ
đem sắp chữ và in ra mấy vạn bộ để
lưu thông rộng khắp cả nước, chắc sẽ
có thể nhờ đó mà văn hồi [vận nước].
Chuyện này vẫn mong các hạ đề xướng,
ngơ hầu người có sức sẽ đảm nhiệm
chi phí ấn loát ḥng thí tặng th́ mới có thể phổ
biến lưu thông.
Thêm
nữa, đối với người lâm chung, chỉ nên
niệm Phật, chớ nên tŕ chú. Bởi lẽ, niệm Phật
để cho người ấy nghe. Người ấy tuy chẳng
thể niệm, nhưng nghe tiếng niệm Phật, tâm liền
thanh tịnh. Nếu tŕ chú, chỉ có sức gia tŕ, người
ấy chẳng có cách nào tụng theo. Đó là lề lối
đă ấn định từ xưa tới nay. Trợ niệm
lúc người ấy sắp mất là khẩn yếu nhất,
há có nên tŕ chú xong rồi mới dùng niệm Phật để
hồi hướng ư? Trong Văn Sao của Quang cũng
có nói đến chuyện này. Phàm hết thảy mọi
người dù là niệm Phật hay không, lúc lâm chung đều
nên dùng niệm Phật để giúp đỡ, đừng
tụng các loại kinh chú khác, [v́ các loại kinh chú ấy]
sẽ chẳng thể khiến cho người sắp mất
ấy thầm niệm theo trong tâm. Chuyện này có mối
quan hệ chẳng nhỏ, cho nên tôi sẽ viết thêm vào
sau. Lại nữa, niệm Phật giúp cho người lâm
chung văng sanh, chỉ nên gơ dẫn khánh, chớ nên đánh mơ.
Tiếng mơ đục, tiếng dẫn khánh thanh. Trong khi niệm
Phật sáng tối, các hạ cứ thử lắng ḷng nghe
kỹ, sẽ tự biết ưu khuyết.
Cơi
đời hiện thời, chẳng có cách nào cứu văn; may là có nhân quả th́
c̣n có thể văn hồi. Đối với chuyện nhân quả,
kẻ cao minh thường chán nghe. Cao minh kiểu đó quả
thật là hèn kém, tối tăm. Như Lai thành chánh giác, chúng
sanh đọa tam đồ, đều chẳng ra ngoài nhân
quả. Do kẻ cao minh chuyên bàn lư tánh, chẳng nói nhân quả,
thói tệ ấy đă tạo thành cảnh
tượng hiện thời. Khi gặp hết thảy mọi
người, mong hăy đều nên dùng
nhân quả để khuyên bảo, hướng dẫn, sẽ
có lợi ích to lớn!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ hai)
Nhận
được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn.
Nay tôi gởi một gói Tịch Tà Tập và Tam Đại
Sĩ Thực Lục, xin hăy kiểm nhận. Trong Phó Đại
Sĩ Lục có nhiều thiền cơ, kẻ sơ tâm chẳng
thể hiểu ư, hoặc hiểu lầm, nếu chẳng
phải là bậc thông gia, chớ nên bảo xem. Tịch Tà Tập[14]
chỉ có thể tự biết, chớ nên dựa vào đó
để tranh biện với kẻ khác, mà cũng chẳng
cần nói với hàng học giả, do họ có thế mạnh,
có thể sẽ dấy lên chuyện dă man! Sách Tứ Thư
Ngẫu Ích Giải nay đă khắc ván xong, c̣n chưa gởi
tới. Đợi Quang duyệt xong, sẽ cho đúc bản
kẽm sẽ có thể in thành sách. Mấy năm trước,
trường học Tân Đường
đă vài lượt gởi thư hỏi, hiện thời
có thể tùy ư thỉnh. Họ tính giá bảy cắc một
bộ, bao gồm bưu phí. Sách ấy do Ca Âm Xă ở số
bốn mươi hai ngơ chùa Kim Cang tỉnh thành Chiết Giang xuất bản. V́ bản gốc do Quang
lưu giữ, họ cậy Quang giảo chánh, đă gởi
đi sáu bảy năm, tới nay mới xong việc.
Lệnh
từ[15] hằng
ngày tŕ danh hai vạn câu, hết sức đáng mừng. Ông
hăy nên thường tuyên nói những nghĩa trọng yếu
của Tịnh Độ để tín nguyện của cụ
chân thật, thiết tha, quyết định văng sanh, ḥng
thỏa ư thiết tha khuyên dụ mẹ hướng về
đạo của các hạ. Muốn sửa đổi
tượng La Hán và chư thiên, cần phải có thợ
khéo. Trong lúc này, tuy có thợ khéo, nhưng đường sá
xa xôi, chẳng tiện đến xem có thể sửa hay
không? Nhị Thập Tứ Sử Cảm Ứng Lục
chưa thành sách. Tôi vốn muốn in, chưa thể dự
định. Nếu có ai muốn in, chẳng ngại ấn
định trước sẽ chịu tiền in bao nhiêu bộ.
Đợi cho đến khi giá cả ước định
xong xuôi, sẽ dựa theo giá cả mà giao tiền, cho nên chẳng
trở ngại.
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ ba)
Ngày
Hai Mươi nhận được thư, không ngăn cảm
kích và hổ thẹn. Lệnh phu nhân túc căn sâu dày, lại
c̣n chí tâm niệm Phật, lại được cả nhà
các hạ niệm Phật cho bà ta, cho nên có các thứ thụy
tướng có thể chứng tỏ đă văng sanh. Trong
ngày viên măn Phật Thất tại Pháp Vũ, có bằng hữu
nằm mộng thấy [tướng tốt lành] chính là do
ḷng thành của lệnh từ và cả nhà các hạ cảm
vời Tam Bảo gia bị nên được thấy
tướng lành ấy, quả thật là do ḷng chí thành của
cả nhà các hạ cảm ứng. Nếu cả nhà các hạ
chẳng có ḷng thành ấy, dẫu Tăng chúng Pháp Vũ chí
thành tột bậc, cũng khó thể có thụy tướng
ấy! V́ sao? Do cội gốc chẳng lành, làm sao cành nhánh
sum suê cho được? Tất cả các thụy tướng
trùng điệp đều có thể chứng minh văng sanh,
chẳng cần phải cầu kim luân để quyết
đoán. Đối với pháp kim luân, Quang chẳng nghĩ
là đúng cho lắm, v́ nó khá giống với cách cầu
cơ! Chẳng phải là không có chân tiên, nhưng [cầu
cơ hay hỏi han bằng pháp kim luân], phần nhiều là
linh quỷ [giáng đàn]. Người hiểu rơ lư phải
nên suy xét theo lư, dùng kinh để chứng thực, có chuyện
ǵ mà chẳng quyết đoán được, huống hồ
toan quyết đoán chuyện này ư? Lịch Sử Cảm
Ứng Lục thích hợp nhất cho học đường,
bởi toàn là chuyện được biên chép trong sử
sách. Nếu có thể khiến cho ai nấy đều nhận
lănh một quyển, hằng ngày xem đọc, sẽ bất
tri bất giác tự sanh ḷng dè dặt, gắng sức, so với
các thứ thiện thư khác c̣n đạt được
lợi ích nhiều hơn!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ tư)
Đầu
tháng Ba, nhận được thư từ bạn bè cho biết,
lệnh nghiêm[16]
vừa mất, các hạ đau buồn thân thể chẳng
khỏe, chẳng thể cầm bút, sai tôi viết thay, khôn
ngăn buồn bă, xót xa chẳng thôi! Nhưng lệnh nghiêm
tuổi thọ bảy mươi lăm, con, dâu, cháu, chắt
đầy đủ, chẳng bệnh nặng mà mất.
Đă thế, cả nhà niệm Phật suốt ngày, tiếng
niệm Phật không ngừng, cụ ắt nhờ vào ḷng
thành của hiếu quyến, được Phật tiếp
dẫn văng sanh. Như thế th́ có ǵ tiếc nuối? Tuy
con hiếu chẳng nỡ ḷng ĺa cha mẹ, nhưng tướng
thế gian vô thường, quyết chẳng có lẽ “ở
măi trong thế gian”. Nhưng hăy nên dùng Phật pháp để
vun bồi thần thức của cụ, cố nhiên chẳng
cần chấp trước lễ nghi thế tục để
rồi quá mức đau buồn. Đạo thờ cha mẹ,
ắt phải giữ lấy điều chánh yếu. Kẻ
chẳng biết Phật pháp, chỉ biết buồn
đau là hiếu, rốt cuộc vô ích cho cha mẹ, tổn
hại cho chính ḿnh. Sao bằng chuyển cái tâm đau buồn
thành niệm Phật, lợi ích há chỉ khác biệt vời
vợi như trời với đất? Các hạ hiểu
rơ lư, chắc sẽ chẳng nghĩ Quang nói sai lầm! Quang
nghèo túng chẳng có ǵ, hễ bạn bè gặp cảnh buồn
đau v́ cha mẹ khuất bóng, đều vào lúc hồi
hướng trong khóa tụng sáng tối, đọc tên
người đă khuất để hồi hướng.
Nay tôi v́ lệnh nghiêm hồi hướng ba thất (hai
mươi mốt ngày) ḥng trọn hết t́nh bạn.
C̣n
như ông bảo lệnh điệt (cháu) Tri Nguyên gởi
hai trăm đồng, sẽ dùng một
trăm để cúng dường
Tam Bảo, và một trăm để phóng sanh. Trộm nghĩ năm
xưa, trong lúc có tang lệnh phu nhân, đă dùng một
trăm đồng để mở một khóa Phật Thất, nay cũng làm như thế. Vừa khéo Niệm
Phật Đường chỉ có mười hai người,
cho nên chẳng thỉnh thêm. [Cúng dường các vị ấy]
hết chín mươi đồng, mười đồng
dùng để cúng dường sắm thức ăn cho
đại chúng trong bữa trưa suốt mười ngày,
như thế th́ tâm nguyện cúng dường Tam Bảo của
các hạ đă măn, mà chuyện niệm Phật cũng chẳng
khuyết, hai đằng đều thích đáng.
Tiền
phóng sanh theo ngu kiến của Quang, hăy nên chọn dùng vào chỗ
có lợi ích to lớn. Hiện thời, trong tháng Chín sẽ đưa bộ Quán Âm Tụng đi sắp chữ,
ước chừng vào tháng Giêng hay tháng Hai trong mùa Xuân năm sau sẽ in ra. Có lẽ
nên đem món tiền này in ba trăm bộ Đại Sĩ
Tụng để truyền bá, khiến cho hết thảy
mọi người đều hưởng từ ân của
Đại Sĩ, cùng biết “kiêng giết, bảo vệ
sanh mạng” th́ sẽ thù thắng hơn hẳn! Nếu
như ông cứ muốn phóng sanh, xin hăy bảo cho biết.
Chẳng thể phóng sanh ở Phổ Đà, v́ ở giữa
biển cả, các sanh vật phần đông không có chỗ nương về
(nước biển mặn, thả cá nước ngọt
xuống, nó sẽ chết liền). [Tiền phóng sanh] sẽ
gởi sang chùa Pháp Vân ở Nam Kinh. Hiện thời, đấy
là đạo tràng phóng sanh bậc nhất ở
phương Nam.
Quán
Âm Tụng, Quang muốn quyên mộ in hơn mấy chục
vạn bộ để lưu truyền trọn khắp
trong ngoài nước. V́ thế, sai làm bốn Chỉ Bản[17]
để chuẩn bị sẵn; nhưng do tôi là người
đức mỏng, sợ chẳng cảm ứng
được chuyện ấy. Hơn mười vạn bộ
th́ chắc có thể
làm được. Hiện thời, đă có người nhận
chịu tiền in năm sáu vạn bộ. Một cư
sĩ dùng năm ngàn đồng để cầu nguyện
cho mẹ: “Tuổi thọ chưa hết bèn lành bệnh, tuổi
thọ đă hết sẽ văng sanh”. Quang cho in một vạn
bộ Đại Sĩ Tụng hết ba ngàn ba trăm
đồng, c̣n lại một ngàn bảy trăm đồng
th́ in Bất Khả Lục, ông ta đă chấp thuận.
Món tiền hai trăm đồng này, chẳng biết ông muốn
gởi về chỗ nào? Phổ Đà bất tiện, hăy
nên gởi sang Thượng Hải là tiện lợi, ổn
thỏa nhất. Mong ông hăy dứt buồn niệm Phật,
và suất lănh cả nhà niệm Phật để trọn
hết ḷng báo đáp cha mẹ, tận hiếu. Đừng
câu nệ lễ tục thế gian th́ mới là phải lẽ
vậy!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ năm)
Từ
mùa Đông năm ngoái, do bận bịu, chưa gởi
thư, hết sức có lỗi! Trong tháng Năm, Quang bảo
Trung Hoa Thư Cục gởi chín trăm bộ Quán Âm Tụng
cho cư sĩ Ngô Điệp Khanh. Có người tiện
đường về đất Vụ[18],
bèn cậy người ấy giao bốn
trăm bộ cho các hạ, giao năm trăm bộ cho Tân
Đường Thôn Hiệu (trường học của
thôn Tân Hiệu) để học sinh nào có tín tâm sẽ
đều được thọ tŕ. Hiện thời,
Văn Sao ấn bản mới và Thọ Khang Bảo Giám
đều in ở Hàng Châu. Nay in An Sĩ Toàn Thư trước,
khoảng Trung Thu sẽ có thể ra sách. Văn Sao và Thọ
Khang Bảo Giám chắc tháng Mười hay Mười Một
có thể ra sách. Hễ sách in ra, cũng cậy ông Ngô chuyển
cho ông chừng đó bộ.
Hôm
qua từ chùa Thái B́nh ở Thượng Hải chuyển
đến thư của ông Du Hữu Phương nói về
chuyện của lệnh thân, cho biết các hạ đă
giao hai trăm đồng, bảo gởi đến để
làm công đức phóng sanh. Thứ nhất là cầu cho lệnh
phu nhân tăng cao phẩm sen, thứ hai là cầu cho lệnh
tức (con dâu) sanh nở thuận lợi. Chùa Thái B́nh tạm
nhận lấy khoản ấy, chờ Quang sang Thượng
Hải sẽ lại giao cho chùa Pháp Vân, đừng lo. Trộm
nghĩ: Người sanh nở chẳng thuận lợi là
do sát nghiệp đời trước tạo thành. Nếu
có thể thường xuyên niệm Phật, dẫu lúc sắp
sanh vẫn chí thành niệm Phật, chắc chắn chẳng
có chuyện khó sanh! Người đời thường
dùng cái tâm phàm phu để hư vọng suy lường, bảo
“sắp sanh chẳng được niệm Phật!” Chẳng
biết Phật ôm ḷng cứu độ chúng sanh, trong lúc
quan yếu sanh tử, chính là lúc Phật ân che chở, chẳng
thể lư luận theo lúc b́nh thường được!
Như con cái bệnh không thể dậy nổi, cha mẹ
c̣n chịu tự tay đút mớm thức ăn, đích
thân hầu tiêu tiểu. Đó là t́nh thân khi bệnh tật.
Nếu chẳng bệnh tật mà bắt cha mẹ phục
dịch như thế, đáng bị sét đánh! Lư có nhất
định, Sự chẳng nhất định! Mong hăy dựa
theo Sự để luận định Lư ḥng được
viên thông. Quang thường nói nghĩa này với mọi
người, những người vâng làm theo, đều chẳng
bị khổ nạn. Do các hạ đă biết, cho nên nói
nguyên do, cũng mong các hạ bảo khắp mọi người
trong xă, ngơ hầu hết thảy sản phụ đều
được ĺa sản nạn. Mong lắm thay!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ sáu)
Đă
lâu chưa gởi thư, hết sức có lỗi! Năm
ngoái, ông gởi hai trăm đồng, do Tây Hồ quyên mộ
tiền mua cá, tôi bảo thầy Chân Đạt thay ông giao
cho họ, chắc là ông
đă nhận được biên lai rồi. Hai trăm đồng [ông gởi] năm nay cùng với một
trăm của Tào Thạch Như từ hồi năm ngoái
đều dùng làm chi phí nuôi chó. Chắc là biên lai cũng
đều nhận được rồi. Chánh quyền
thành phố Hàng Châu đem tất cả chó hoang giết sạch.
V́ thế, hội Phật giáo thỉnh cầu họ hễ
bắt được [con chó hoang nào], đều
đưa sang hội Phật giáo. Hiện đă thâu nhận
gần hai ngàn con. [Chó hoang trong
thành phố Hàng Châu] vẫn chưa bắt xong! Thức
ăn đạm bạc của hai ngàn con chó ấy, mỗi
con mỗi ngày tốn một xu năm chinh. Hai ngàn con chó mỗi
ngày cần đến ba mươi đồng, lại cần
phải có người chăm sóc, cho ăn. Chi phí cho việc
này rất lớn. V́ thế, đem khoản tiền của
các hạ chuyển sang dùng vào việc này. Tháng Chạp
năm ngoái, công ty ấn loát ở Chiết Giang bị hỏa
hoạn, đến nỗi các sách như Văn Sao v.v… chưa
thể gởi nhiều được. Hiện thời,
cho in ở Thượng Hải. Đến tháng Tư, các
sách in ra, sẽ gởi cho ông chừng đó để kết
tịnh duyên. Tiền đồ của Phật giáo rất
nguy hiểm. Quang tính khi chuyện in sách năm nay hoàn tất,
giao phó bộ Phổ Đà Sơn Chí xong, sẽ ẩn
cư ở nơi chẳng có bưu cục cho tới hết
tuổi thừa. Nếu không, suốt ngày bận bịu v́
người khác, sanh tử xảy đến, tay chân rối
loạn, chẳng biết làm như thế nào!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ bảy)
Đă lâu chưa gởi thư, luôn nhớ
nghĩ! Tháng trước, tiên sinh Uông Lăng Châu cậy người
gởi tới một trăm mười đồng, cho biết
có người bạn gởi thư bảo ông ta đem
đồ đạc trong nhà bằng
hồng mộc (rosewood) bán đi, tiền thu được
th́ một nửa gởi cho Cư Sĩ Lâm, một nửa
giao cho Quang. Do bận bịu, Quang chưa thể viết
thư nói rơ nguyên do, v́ sách đă in vẫn chưa gởi
xong, cho nên đợi nhiều ngày. Nay đem các sách đóng
thành sáu gói, số lượng được viết rơ
trong một tờ phiếu khác, chẳng nói chi tiết trong
thư này. Hai ba năm qua, loạn lạc cùng cực, phế
kinh điển, phế luân thường, phế bỏ ḷng
hiếu, vứt bỏ liêm sỉ, giết cha, giết mẹ.
Các đại học đều lấy vẽ tranh nam nữ
lơa thể làm môn học. Thượng Hải th́ lập các
vũ trường cho nam nữ khiêu vũ khắp nơi!
Đúng là một thế giới cầm thú, đó là hiện
tượng từ xưa tới nay chưa hề nghe thấy!
Văn minh tiến hóa lạ lùng như thế đó!
Truy đến
căn nguyên, loại họa căn ấy đều do Hàn,
Âu, Tŕnh, Châu[19]
đả phá, bài xích nhân quả báo ứng và sanh tử luân
hồi, chỉ mong dùng “trọn hết bổn
phận, chánh tâm, thành ư” làm căn bản
của giáo dục. Chẳng biết kẻ không nói đến
nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi, mà có thể tận
nghĩa, tận phận, quả thật chẳng được
mấy ai! Kẻ căn cơ trung hạ, do có sự lư nhân
quả luân hồi, mới có thể gắng sức làm
người lương thiện. Nếu không, họ sẽ
nghĩ “chết rồi, vĩnh viễn diệt mất”,
cớ ǵ phải chịu sự ràng buộc ấy? Đă là
Nghiêu hay Kiệt đều cùng chết sạch, sao chẳng
mặc sức tự tung tự tác cho sướng một
đời ư? Lư Học bài xích nhân quả báo ứng, sanh
tử luân hồi, ư mong chống đỡ thánh đạo
(đạo Nho) ḥng chẳng đến nỗi ai nấy
đều học Phật, chẳng biết nỗi độc
hại do phế kinh điển, phế luân thường
quả thật đă tiềm ẩn từ ngàn trăm
năm trước chưa phát ra. Tới khi gió Âu thổi qua,
chất độc ấy bộc phát mạnh mẽ! Nếu
hơn một ngàn năm qua, ai nấy đều đề
xướng các đạo lư như thế, dẫu gió Âu mạnh
bạo, ai chịu thuận theo? Ví như người trung hậu,
chân thật, chẳng thể bị nhiễm tà. Người
thể lực tráng kiện, chẳng sợ gió lùa!
Trước
kia, Quang từng trúng chất độc ấy quá sâu, may
đời trước có một tí điều lành, rốt
cuộc chẳng bị mê hoặc. Nay xem vận đời, xác thực biết
khởi nguồn của mối loạn, và thịnh trị
sẽ do đâu mà hưng khởi. V́ thế, thường
nói với những người quen biết: “Cần phải
chú trọng đề xướng hai pháp giáo dục trong
gia đ́nh và nhân quả báo ứng. [Hai pháp ấy] bổ trợ
lẫn nhau, xen kết lẫn nhau, th́ thế đạo sẽ
có ngày được thấy thái b́nh. Nếu chẳng thực
hiện từ chỗ này, dẫu thánh hiền, Bồ Tát cùng
xuất hiện trong cơi đời, cũng chẳng làm
như thế nào được!”
Hơn
mười năm qua, Quang khá mắc hại bởi hư
danh, đến nỗi quanh năm suốt ngày bận bịu
khôn nguôi. Nay đă sáu mươi chín tuổi, ngày tháng c̣n lại
chẳng nhiều, chẳng thể không tạo phương
tiện khác. Tháng Chạp năm ngoái, đă bảo khắp
những người quen biết, quyết định vào
tháng Chín sẽ giấu tung tích, ẩn cư lâu dài để
mong chuyên tu Tịnh nghiệp, ḥng chẳng đến nỗi
thường v́ kẻ khác bận bịu mà lầm lỡ
đại sự của chính ḿnh. Nghe nói Hàng Châu mở hội
chợ, mời thanh niên, thanh nữ đều đến khiêu
vũ. Đối với các thanh niên, thanh nữ không biết
khiêu vũ, sẽ mở trường dạy khiêu vũ, ngơ
hầu ai nấy đều giỏi khiêu vũ. Đề
xướng như thế, đúng là lừa người
khác xông vào loài thú, phá tan đê đập, khiến cho nước
lũ ùa chảy. Thế giới trược ác như thế,
quả thật chẳng thể ở thêm buổi nào. Các hạ
vốn sẵn có đức từ trước, hăy nói chỗ
cội nguồn trị loạn cùng hết thảy mọi
người, ngơ hầu ai nấy đều biết đâu
là quyền biến, đâu là cội gốc, khiến cho gia
đ́nh của chính ḿnh và bản thân trong tương lai
đều chẳng đến nỗi ch́m đắm lâu dài
vậy!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ tám)
Hôm
trước nhận được thư, biết lệnh
từ niệm Phật văng sanh, khôn ngăn mừng rỡ
cho lệnh từ, xót thương cho các hạ. Tuy vậy,
lệnh từ đă siêu phàm nhập thánh, cố nhiên chớ
nên bắt chước thế tục đau buồn, làm
chuyện vô ích suông! Các hạ đề xướng Tịnh
Độ, thoạt đầu là khiến cho lệnh phu
nhân văng sanh, nay th́ lệnh từ văng sanh, đủ thấy
“hết thảy
chúng sanh đều có Phật tánh”. Đạo do người
hoằng dương, hễ xướng ắt có họa.
Chỉ v́ Quang bận bịu cùng cực, chẳng thể soạn
thuật ngay lập tức, thật cảm thấy có lỗi
cùng cực. Bộ Tam Tự Kính (三字鏡)[20]
đă sửa chữa đại lược, hôm
trước Tuyết Tinh đến đây đă đem
đi. Ông ta tính sao lại, bèn giao cho ông ta gởi giùm. Truyện
của lệnh từ có khá nhiều chỗ sơ sót, nay
đem nguyên cảo (bản gốc) gởi trả lại
kèm theo thư, mong ông hăy thêm thắt, gọt giũa để
được hoàn bị. Do gần đây Quang bận rộn
khá nhiều, chẳng thể châm chước tường tận
được! Biết ông đă nhận được
tám gói sách gởi trước kia, rất an tâm! Quang dự
định vào cuối tháng Chín sẽ ẩn giấu tung
tích, ẩn cư lâu dài. Do xă giao ngày càng nhiều, tinh thần
ngày một giảm. Nếu không ẩn cư lâu dài, ắt sẽ
quanh năm suốt tháng bận bịu v́ kẻ khác, trọn
chẳng khi nào dứt. Tất cả bản in của các
sách đă in gần đây đều giao cho Cư Sĩ Lâm.
Họ tính mở Phật Học Thư Cục để
lưu truyền rộng răi, bất quá họ kèm theo tánh chất
buôn bán, so với Quang chỉ tính giá thành th́ [giá sách của họ]
đắt hơn gấp rưỡi!
* Thư trả lời
cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ chín)
Thư
viết tường tận, khôn ngăn vui mừng, an tâm!
Quang vốn muốn chuyên tu Tịnh nghiệp, do Phổ
Đà Sơn Chí chưa hoàn thành, chẳng thể không lo liệu.
Sau đó, do Hứa Chỉ Tịnh bổ sung, tu chỉnh bộ
Lịch Sử Thống Kỷ đến nỗi phải nhọc nhằn lo liệu ấn hành mấy
loại, thật sự chẳng phải là ư tôi muốn.
Nguyên bản Tịnh Độ Thập Yếu quả thật
là sách hữu ích, sắp xếp (chỉnh lư) đă
được ba phần năm, nhưng chiến sự nổ
ra đă kéo dài đôi ba tháng, may mà chiến tranh chấm dứt
bèn hoàn tất công tŕnh, đúng là may mắn
muôn vàn! Lại c̣n Phật Học Cứu Kiếp Biên sắp
in. Tịnh Độ Thánh Hiền Lục cũng sắp
được in. Tôi tính in xong hai loại sách ấy trong
năm nay; sang năm sẽ rời chùa Báo Quốc, đến chỗ
không có ai biết để sống hết kiếp tàn này. Cư sĩ
hăng hái đề xướng, quả thật hiếm
thấy, cũng là do có thể tự tu tập mà ra. Cổ
nhân nói: “Dĩ ngôn giáo giả tụng, dĩ thân giáo giả
tùng” (dạy dỗ bằng lời nói sẽ có tranh căi, dạy
dỗ bằng hành động người khác sẽ thuận
theo). Do dùng chính bản thân xướng suất chúng sanh, cho
nên ai nấy đều noi theo làm lành.
Bản
giảo duyệt đă gởi tới, tôi đọc từng
bản, trừ một hai chữ bị sai quá mức, chẳng
thể nào không sửa, th́ sẽ cho thợ sửa lại.
Nếu chữ trong nguyên văn xét theo tiêu chuẩn hiện
thời vẫn chấp được th́ cố nhiên chẳng
cần sửa. Nếu sửa văn, thêm văn th́ trọn
chẳng thể làm như thế được! Nếu sửa
đổi như thế, ắt cần phải đem hai
trang ấy sắp chữ riêng để đúc bản kẽm.
Thế rồi giảo duyệt, đối chiếu qua lại,
cần phải mất thủ tục bốn năm lượt
mới được, há có công sức ấy hay chăng?
Thầy Đức Sâm thận trọng, mỗi chỗ
đều ghi ra, tôi sẽ bảo Viên Tịnh gởi cho ông
xem. Lần này đă in năm ngàn bản, không phải chỉ
in một bản. Giảo chánh xong, sẽ cho in [với số lượng lớn]. Tận lực in theo lối
Chỉ Bản th́ dẫu mười
vạn hay hai mươi vạn bản đều có thể in được.
Sau này muốn in, cứ báo tin cho Viên Tịnh, ông ta ắt sẽ
có thể lo liệu. Gần đây, Quang cảm thấy khá suy yếu.
Trước kia, Viên Tịnh c̣n đem các bộ sơn chí của
Ngũ Đài, Cửu Hoa, Nga Mi xin tôi giảo chánh để
ấn hành. Nay tôi nóng ḷng muốn rời Báo Quốc, cho nên
nhất loạt khước từ, ngơ hầu chẳng
đến nỗi năm sau rồi lại năm sau, vẫn
cứ bận bịu không ngớt! Nếu một mai vô
thường xảy đến, bận bịu như thế
có thể giúp nổi tôi hay chăng? Do vậy, tôi đă lập
chủ ư quyết liệt, trong năm nay sẽ hoàn tất
hết thảy thủ tục!
* Thư trả lời
cư sĩ Ôn Quang Hy
Cớ
ǵ ông chấp chết cứng phương diện danh lợi
đến nỗi như thế ấy? Ông chẳng đọc
Luận Ngữ, “bang hữu đạo cốc, bang vô
đạo cốc, sỉ dă” (đất nước có
đạo, làm quan hưởng bổng lộc [là chuyện dĩ nhiên]. Nước chẳng
có đạo mà kẻ làm quan vẫn ăn bổng lộc, đó
là nhục)[21]
ư? Dẫu đất nước b́nh trị, chỉ
hưởng bổng lộc mà chẳng ra sức phục vụ
th́ chính là điều đáng thẹn! Huống hồ hiện
thời giới quân nhân chuyên chú trọng tàn sát, cướp
đoạt ư? Chí hướng của ông đúng là hèn kém
đến cực điểm, coi chuyện liên lụy cửu
huyền thất tổ[22]
đọa vào A Tỳ địa ngục là vẻ vang, lại
c̣n đêm ngày toan tính. Mưu tính chẳng được,
nguyện liều tấm thân! Đúng là gịi ở trong nhà xí,
cho là mùi vị ấy thật tuyệt, chỗ ấy rất
an ổn! Dấy vọng tưởng chẳng được
bèn muốn chết; đă chết rồi, há c̣n làm quỷ an vui được ư? Thử hỏi
cái tâm của chính Ôn Quang Hy mong mỏi điều ǵ vậy?
Chịu nghe lời tôi, toàn thân buông xuống, làm một
người dân thường an phận, tuân giữ trách nhiệm,
chỉ cần có đức sẽ vẻ vang trong xóm giềng,
há chẳng thể rạng mày nở mặt tổ tiên
ư? Ông chỉ biết phát tài, làm quan là rạng mày nở
mặt tổ tiên, chẳng biết do “phát tài, làm quan” đă khiến cho chẳng
biết bao nhiêu tổ tông vĩnh viễn đọa trong ác
đạo! Huống chi cha ông c̣n muốn ông trở về
Thành Đô[23] an phận giữ
vững sự nghiệp ư?
* Thư trả lời
cư sĩ Bích Vân
Nhận
được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn.
Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, Viên
Văn Thuần đồn thổi sai ngoa, các hạ cũng
chẳng xét kỹ, chỉ thuận theo thông lệ “một
người đồn đại hư huyễn, đến
khi vạn người đồn đă trở thành sự thật” mà tán thán, thật
khiến cho kẻ khác hổ thẹn không chốn dung thân!
Tuy Phật pháp vô lượng vô biên, chẳng ngại thuận
theo căn cơ mà tu. Ví như biển cả, ai có thể một
hơi uống cạn? Nhưng Tu La,
hương tượng, cho đến muỗi ṃng, uống
nước biển cả, mỗi loài đều được
no nê đó thôi. Các hạ thân vướng trong lưới
đời, chí hâm mộ Phật thừa. V́ thế, hăy nên
nương theo pháp môn Tịnh Độ “tín nguyện niệm
Phật” ngơ hầu đạt được lợi ích
thực tế “tự lợi, lợi người”. Nếu
bỏ pháp này, đừng nói chẳng thể thông suốt
Phật pháp rộng khắp, dẫu thông suốt Phật
pháp rộng khắp, sợ vẫn khó đạt
được lợi ích chân thật! Nay tôi gởi cho các hạ
một gói gồm các sách như Văn Sao v.v… để một
là tự xem, hai là tặng cho người có tín tâm, cung kính.
Ông
nói sẽ đến núi Phổ Đà, trộm nghĩ chẳng
cần. Do đường xa nẻo thẳm, chẳng đủ
lộ phí. Huống hồ Quang thật sự là một ông
Tăng chỉ biết cơm cháo, chẳng có sở đắc ǵ, dẫu gặp gỡ, há có ích lợi ǵ? Dẫu
ông bảo “xuất gia nhiều năm, ắt có bao nhiêu
điều ngộ nhập, lănh hội”, những điều
đă nói trong Văn Sao toàn là những thứ cỏ rơm
chứa đầy trong bụng đă phun sạch hết rồi. Nếu gặp gỡ, há c̣n có diệu pháp ǵ để “miệng truyền, tâm
trao” nữa ư? Nếu
có diệu pháp để “miệng truyền, tâm trao” chi đó, tức là ngoại
đạo, cố nhiên nên tránh xa hạng người
đó, huống hồ cầu kiến ư?
Nhưng
các hạ nghe lầm lời đồn sai truyền nhảm,
ngỡ là chân thật, sợ rằng những điều
Quang đă nói trên đây vẫn chẳng thể dứt
được nghi tâm [của các hạ]. Quang cũng chẳng
ngại đem lầm đáp lỗi, thuận theo kiểu của
Đại Viên Văn Thuần, đặt cho ông một pháp
danh là Huệ Vân (慧雲). Các hạ nếu
có thể thật sự dùng mây trí huệ để tuôn
mưa pháp, trong là gia đ́nh, ngoài là bằng hữu, và hết thảy mọi người, tùy theo căn
cơ của mỗi người mà khuyên bảo, lợi ích
ấy lớn lắm! Thư viết tới đây, th́
thư của ông Viên Văn Thuần và chương tŕnh
đơn giản của Vũ Cương Phật Giáo Hội
đều gởi đến. Cư sĩ đảm nhiệm
chức vụ văn thư, cố nhiên là có thể dùng bút
mực để tuyên nói pháp tự lợi và lợi tha. E rằng
ông sẽ nói: “Tuy đọc văn và đă được
xem thư, nhưng chưa gặp mặt, sẽ trọn chẳng
thỏa ḷng”. Chẳng biết Quang là một gă phàm phu nghiệp
lực, thấy mặt [mới biết] chẳng bằng
nghe danh. Do danh c̣n có thể đồn giả, chứ mặt
chẳng thể giả vờ được! Nay đem
h́nh ảnh xấu xí của Quang gởi cho ông một tấm
để dứt cái ḷng mong tưởng đến núi của
ông, cạn sức tùy cơ hóa độ kẻ hữu
duyên. Lại gởi một trang thuyết minh biện pháp
[chịu xuất tiền đứng in] bộ Quán Âm Tụng
mà Quang sắp in để ông biết đại khái. Tôi c̣n
muốn in bộ Bất Khả Lục để cứu vớt
cơi đời đang ch́m đắm trong biển dục.
Mùa Xuân năm sau sẽ ra sách, tôi sẽ gởi cho ông chừng
đó sách!
* Thư trả lời
cư sĩ Lưu Thọ Dân
Vừa
nhận được bốn bức thư của cư
sĩ Đặng Hán Quân và Ngụy Mai Tôn, cho biết tâm niệm
của lệnh nghiêm khi lâm chung, và tin tức khi cụ mất
và sau khi cụ đă mất, chẳng khỏi khiến cho kẻ
khác cảm thán! Lệnh nghiêm chính là người đầu
tiên trong số bạn bè tại Nam Kinh, tuy chưa thường
ở chung với Quang, nhưng chí hướng và đạo hạnh hết sức khế hợp. Quy
y hay không, đều thuộc về sự tướng mà thôi, nhưng cụ
vẫn tận lực thỉnh người
khác thọ giới thay, cũng có thể nói là “chánh niệm
rạng ngời”. Lại may mắn là ông có thể thừa
kế chí hướng của lệnh nghiêm, dặn người
nhà nhất tâm niệm Phật, chẳng rời đi lo toan [hậu sự] và khóc lóc, chuyện ấy
hết sức hữu ích. Người tới lúc lâm chung,
hoàn toàn phải giữ sao cho cái tâm chẳng dấy lên ư niệm
khác. Nếu bị dời động và khóc lóc, sẽ
đánh mất cái tâm thanh tịnh niệm Phật. Cũng
do cái tâm yêu luyến và bị dời chuyển khó chịu
đựng mà sanh ḷng sân hận! Hành vi kiểu đó gọi
là “ném đá [người đă rớt] xuống giếng”,
nhưng kẻ ngu chẳng biết, cho đó là “hành hiếu” (thể hiện ḷng hiếu), đúng là đáng đau
tiếc! Trong lúc ấy, ông có thể thành tựu chánh niệm
cho cha ḿnh, có thể nói là “khéo phụng sự cha mẹ”.
Trong
lúc tang ma, cũng nên giữ chí ấy, nhất loạt chẳng
dùng đồ mặn, đừng coi chuyện đẹp mắt
vui tai người đời là vinh. Chỉ nên khiến cho
người mất lẫn kẻ c̣n đều được
lợi ích thật sự. Người ta phần nhiều
v́ tang cha mẹ mà đau buồn, suy sụp. Đấy cố
nhiên là t́nh kiến của người đời. Tuy chẳng
thể không đau buồn, nhưng cũng đừng nên
chấp trước. Mong hăy chú trọng dứt buồn
đau để niệm Phật, khiến cho cha ông chưa
văng sanh liền được văng sanh. Đă văng sanh, sẽ
tăng cao phẩm vị. Thực hành như thế, và cũng hướng dẫn người
nhà, quyến thuộc cùng làm theo, ắt người mất,
kẻ c̣n đều hưởng đại lợi ích.
Về
chuyện làm Phật sự, chớ bắt chước thế
tục mưu cầu đẹp mắt, hoặc niệm
kinh, bái sám, làm đàn Thủy Lục. Chỉ nên chuyên nhất
niệm Phật, lợi ích sẽ khác biệt một trời
một vực! Đó là lời lẽ phát xuất từ
kinh nghiệm từng trải hơn mấy chục năm của
Quang, cho nên nói với bạn bè của tôi, chẳng phải
là thốt ra lời hư vọng đoán ṃ! Nếu chẳng
nghĩ đó là lời lẽ vớ vẩn, hủ bại
th́ may mắn lắm thay! C̣n đối với các chuyện
chôn cất, tang ma v.v… xin đừng bắt chước
thói ác trong đời gần đây, phô trương xa xỉ.
Đúng là dùng chuyện tang ma của cha mẹ làm công cụ
[để khoe khoang giàu sang]. Nếu chẳng nỡ làm
đám tang cha mẹ đơn sơ, hăy nên tiết kiệm
chi tiêu để dùng [khoản tiền tiết kiệm ấy]
cứu tế, công đức sẽ to lớn. Đối với
bạn bè thân thiết mà có tang, Quang đều chẳng làm
các chuyện phúng điếu rỗng tuếch màu mè, mà đều
vào lúc hồi hướng trong khóa tụng sáng tối, đọc
tên để hồi hướng cho người đó. Nếu
là kẻ giao hảo thân thiết lúc thường ngày,
cũng đều đọc tên hồi hướng, huống
hồ người đă qua đời ư? Nay tôi sẽ
v́ lệnh nghiêm hồi hướng hai mươi mốt
ngày nhằm biểu lộ t́nh bạn hữu. Mong ông hăy dứt
buồn niệm Phật, hành đúng theo lời Quang. [Làm
như thế], há chỉ có thể an ủi hương linh
của cha ông, mà c̣n khiến cho quyến thuộc trong nhà
đều gieo thiện căn tối thắng. Thân thích bằng
hữu cũng do trông thấy mà được chuyển
hóa. Từ ḷng hiếu thảo ấy mà lợi lạc khắp hết thảy, có thể nói là khéo vận dụng
ḷng hiếu. Mong ông xét hiểu th́ may mắn lắm thay!
* Thư
gởi cư sĩ Trịnh Minh Chi
Ấn Quang thuộc loại tăng nhân chỉ
biết cơm cháo, suốt đời mê mờ, nào dám xằng
bậy gởi thư nói lan man, để tự chuốc nhục
ư? Chỉ v́ tháng Tư tới đất Thân (Thượng
Hải), lo liệu chuyện ấn loát Quán Âm Tụng,
Văn Sao, Thọ Khang Bảo Giám v.v…, người cùng quê là
cư sĩ Vương Ấu Nông nhiều lượt
đến tṛ chuyện, thường khen ngợi các hạ
do thấy thời thế bất lợi, đặc biệt
phát Bồ Đề tâm, ăn chay trường, niệm Phật
ḥng cầu xuất thế. Lại khuyên Quang gởi thư cho các hạ
để kết tịnh duyên. Quang nghe nói, khôn ngăn vui mừng,
đẹp dạ, chỉ v́ bận
bịu, khó được như nguyện ngay. Đầu
tháng Sáu về tới núi, t́m dịp rảnh rỗi, [viết
thư cho các hạ ḥng] giăi bày đại lược kiến
giải thô lậu, chỉ mong tạo phương tiện
để giúp tự lợi, lợi tha, văng sanh thượng
phẩm. Chắc các hạ sẽ chẳng v́ mạo muội,
nông cạn, sơ sài mà bỏ xó.
Thế
gian hiện thời lầm loạn đến mức cùng cực,
phế bỏ kinh điển, phế bỏ luân thường,
hết thuốc chữa rồi! Dùng con mắt đạo
để nh́n, dường như đó chính là sự cảnh
tỉnh to lớn nhằm thúc giục mọi người
thoát khỏi cơi Sa Bà này, sanh về cơi Cực Lạc kia. Nếu
chẳng có cái tâm xuất thế, ắt trong đời
tương lai, đúng là chẳng có ǵ để có thể làm cha mẹ của ta! Những
người nghiên cứu Phật học trong thời gần
đây đúng là đông đảo, nhưng người thiên
tư cao thường có tri kiến chủ quan, thiên trọng
lư tánh, chẳng chú trọng sự tu (tu tập nơi mặt
Sự). Hoặc cho rằng tín nguyện là chấp tướng,
hoặc coi tham cứu là thân thiết. Dẫu tu Tịnh nghiệp,
chẳng nương theo tông chỉ của pháp môn Tịnh
Độ, đến nỗi biến pháp “cảm ứng
đạo giao, liễu thoát ngay trong hiện đời” trở
thành cái nhân đắc độ trong vị lai, khiến cho
kẻ thiên tư thượng đẳng đâm ra chẳng
bằng phường ngu phu, ngu phụ cắm cúi niệm Phật
lại có thể đạt được lợi ích thật
sự. Chẳng phải là đáng tiếc lắm ư?
Các
hạ đă phát tâm niệm Phật, cố nhiên nên
nương theo tông chỉ Tịnh Độ. Phàm đối
với các kiểu khai thị
“ĺa khỏi tín nguyện” đều chớ nên màng tới. V́ đó là phương pháp thuộc kiểu
“chỉ tham cứu tự tâm” của Thiền Tông, chẳng
phải là khuôn phép “nương theo từ lực của
Phật để cầu văng sanh” của Tịnh Tông. Những
điều Quang vừa nói chính là lời chân thành của cổ
đức trong Tịnh Tông, chẳng phải là luận
định ức đoán bịa đặt lệch lạc!
Xin hăy đọc kỹ Tịnh Độ Thập Yếu, ắt
sẽ tự biết rơ. Ấn Quang Văn Sao, tuy văn chương
nông cạn, thô kệch, nhưng đối với giới
hạn giữa Thiền và Tịnh, duyên do của pháp môn
thông thường và đặc biệt, lẽ được
mất, lớn nhỏ, giữa Phật lực và tự lực,
đều nói khá tường tận. Nếu chịu đọc
kỹ, cũng chưa phải là trọn chẳng được
lợi ích.
Xưa
kia, cư sĩ Trầm Tử Bồi tự coi ḿnh là Bồ
Tát, chẳng nguyện văng sanh. Quang cực lực phá trừ,
ông ta mới hồi tâm Tịnh Độ. Lúc đó là
năm Dân Quốc thứ mười (1921), nhưng do ông ta
tuổi cao, danh lớn, chẳng có người thường
đàm luận, khích lệ, nhắc nhở, đến nỗi
khi mạng chung, vẫn chẳng nhắc tới chuyện
văng sanh. Ông Trương Quư Trực ở Thông Châu, do môn nhân
là Giang Dịch Viên khuyên nhắc, cũng khá chú ư đạo
này, từng gởi thư thăm hỏi Quang. Khi đó là
năm Dân Quốc 14 (1925). Chỉ v́ cái tâm kinh doanh sâu nặng,
chẳng thể ngay lập tức đảm
đương [Tịnh nghiệp], đáng tiếc quá! Chỉ
có ông Sa Kiện Am ở Như Cao là có thể nương
theo tông chỉ Tín, Nguyện, Hạnh để tu tŕ nghiêm mật.
Mấy ngày trước khi lâm chung, liền bảo kẻ
khác trợ niệm, đạt được lợi ích
văng sanh thật sự. Trong Tăng Quảng Văn Sao bản
mới, có bài kư về chuyện văng sanh của ông ta, khoảng
tháng Tám, tháng Chín có thể ra sách. Khi sách in ra, sẽ gởi
cho ông duyệt.
Do
vậy biết người thiên tư cao, nếu có thể
toàn thân buông xuống th́ lợi ích sẽ vượt xa những
người cùng hàng. Nếu không, đâm ra chẳng bằng
ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật
mà đạt được lợi ích thật sự.
Nhưng các hạ đức cao vọng trọng, dùng thân
hướng dẫn chúng sanh, phàm có ai t́m đến, cố nhiên hăy nên dùng “đề xướng
nhân quả báo ứng, tín nguyện niệm Phật” làm
phương tiện cứu đời, độ người.
Trong cơi đời hiện thời, nếu chẳng đề
xướng nhân quả báo ứng, dẫu thánh hiền, Phật,
Bồ Tát cùng xuất hiện trong cơi đời, cũng chẳng thể làm như thế
nào được! Quang thường nói: “Nhân quả là
phương tiện to lớn để thánh nhân thế
gian và xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, độ
thoát chúng sanh”. Có kẻ miệt thị nhân quả, cho là
Tiểu Thừa, toàn là kẻ chỉ phô bày cuồng huệ,
là bè lũ của ma, chẳng chú trọng chân tu. Nếu có
thể đề xướng rộng răi phong cách ấy, ắt
kẻ chỉ biết lợi ḿnh, chẳng màng có hại cho
người khác ắt sẽ sanh tâm sợ
hăi, ém bớt thói bạo ngược của họ, để
mong chính ḿnh đạt được lợi ích thật sự,
mà cũng chú trọng lợi lạc người khác. Quang nói “đề
xướng nhân quả báo ứng chính là diệu pháp có một
không hai để cứu đời trong hiện tại”,
mà tu tŕ Tịnh nghiệp cũng cần dùng cái đạo
thành tựu từ thuở phát tâm cho đến khi chứng
quả ấy. Kiến giải thô lậu như thế, chẳng
biết các hạ có cho là đúng hay không?
* Thư trả lời
cư sĩ Từ Úy Như hỏi về sách Tự Tri Lục
Nhận
được thư, khôn ngăn cảm khái! Trong thời
Mạt Pháp, con người phần nhiều làm chuyện dối
trá, thường xuyên cầu tiếng tăm, lợi dưỡng,
mong sao đời sau tôn xưng chính ḿnh là bậc Pháp Thân
đại sĩ, luôn bịa đặt, ngụy tạo
đủ thứ chuyện để huyễn hoặc kẻ
vô tri, hoại loạn Phật pháp, khiến cho chúng sanh ngờ
vực, lầm lẫn. Sao lại khổ sở v́ cái danh
hư huyễn mà mắc lấy tai họa thật sự,
đến nỗi trầm luân bao kiếp? Sách Tự Tri Lục[24]
thật sự do Lưu Lữ Thanh biên soạn; trong khi in
sách, thường bênh vực người ấy (bà Hồ).
Trước kia, ông La Tế Đồng có được
sách ấy, bèn cho in theo lối thạch ấn một ngàn bản.
Ông Đinh Quế Tiều bảo ông La gởi cho Quang một
gói. Quế Tiều gởi thư cho Quang, bảo hăy duyệt
kỹ, viết lời tựa ḥng lưu truyền rộng
khắp. Ngay trong hôm nhận được, Quang liền
xem qua, ngay hôm ấy gởi trả về, bảo sách ấy
chính là sách dẫn người sơ cơ nhập ma!
Đối
với công phu của bà Hồ, Quang chẳng dám nói bà ta
chưa đạt tới cảnh giới ấy, do Quang chẳng
có Tha Tâm Thông, mà cũng chẳng dám bảo bà ta thật sự
đạt tới cảnh giới ấy. V́ nếu bà ta thật
sự đạt tới mức đó, trọn chẳng
đến nỗi không biết sách ấy có khuyết điểm
lầm lạc người khác vô cùng. Trước nay, bậc
thiện tri thức Tịnh Độ khai thị cho người
khác, chỉ bàn nói theo hành tướng trong pháp môn, trọn
chẳng lôi ra cảnh giới của chính ḿnh để làm
khuôn phép cho người khác. Bà ta đă chẳng biết điều
lợi hại ấy, vậy th́ công phu của bà ta phần
nhiều là giả vờ. Tôi nói đại ư như thế
mà thôi, bảo đừng chia ra gởi tặng. Nếu
đă gởi th́ thôi, chưa gởi th́ hăy nên đốt
đi để tránh ươm mầm tai họa! La Tế
Đồng nhận được thư của Quang,
đem các sách c̣n lại đốt sạch. Mấy tháng sau,
cư sĩ Vương Mưu Phượng ở Hàng Châu
trông thấy [sách ấy], cũng muốn đem thạch ấn
để lưu thông, gởi sách ấy để xin Quang
quyết đoán. Quang liền nói với ông ta đại ư
đă nói với Đinh Quế Tiều. Mùa Xuân năm ngoái,
một cư sĩ ở Dư Diêu cũng muốn thạch
ấn [sách ấy], Quang lại ngăn cản. Lá thư ấy
được đăng trên báo Ca Âm.
Tới
tháng Sáu, kẻ thường hộ tŕ “đứa ma con” (tức Lưu Lữ
Thanh) đọc báo Ca Âm, bèn viết thư cho Quang, tranh biện,
đả kích lời Quang, hết sức tâng bốc bà Hồ,
bảo bà ta là “thiên mă hành không, thần long bất trắc”
(ngựa cơi trời bay lượn trên không chẳng chướng
ngại, rồng thần chẳng thể biết được
hành tung). Kẻ đó mô tả bà Hồ đúng là người
trên trời dưới thế đáng tôn sùng, có một
không hai! Lại c̣n gởi cho Quang truyện kư của bà Hồ,
phê chú từng đoạn, lại c̣n sai Quang chuyển sách
và truyện kư về bà Hồ tới báo Ca Âm. Trong truyện
kư có nói khi bà Hồ sắp chết, nhiều lượt hiển
lộ thần thông. Lúc lâm chung, một phụ nữ tại
gia, thấy bà Hồ đến, bỗng thấy bà ta hiện
thân vô lượng; sau đấy, mới biết đó là
lúc [bà ta] lâm chung. Quang đọc đến đó bật
cười, bảo bà ta có thần thông to cỡ đó,
cũng nên hiển lộ cho Quang. Nếu rơ ràng là kẻ
đáng được suy tôn, Quang vẫn chẳng tán thành
lưu thông Tự Tri Lục, v́ sẽ khiến cho người
khác bị lầm lạc!
Năm
trước, một vị cư sĩ ở Hồ Nam quy y
với thầy Bảo Nhất, đến núi có nhắc tới
bà Hồ. Ông ta nói bà Hồ tập khí khá nặng, hễ
động đến là đùng đùng nổi giận, tới
mức chửi rủa người khác. V́ thế, đến
nỗi thổ huyết, sau đó mạng chung. Năm ngoái,
một vị cư sĩ tên là Dương Hồng Phạm,
nhậm chức trường tá (trông coi công tŕnh khai thác muối)
ở Cù Sơn, cùng với vợ đến núi. Hai người
cùng quy y với thầy Bảo Nhất. Quang đem thư
và truyện của kẻ thường hộ tŕ bà Hồ
cho họ xem, cả hai vợ chồng đều bảo chẳng
phải là sự thật. Vợ ông ta từng thấy lúc bà
ta chết, Phật c̣n chẳng thể niệm được,
huống hồ có thể hiện thần
thông ư? Sách ấy đừng cho người khác xem,
đừng lưu thông là được rồi. Nếu phê
b́nh, truyền bá, bọn chúng sẽ thường bảo vệ,
có thể dẫn đến xung đột, đâm ra chẳng
hay! Thư này cũng ngàn vạn phần đừng
đăng báo, ngơ hầu chẳng đến nỗi khiến
cho những ai muốn thành Phật ngay lại đâm ra chậm
trễ nhiều kiếp mới thoát khỏi địa ngục!
Niết
Bàn Kinh Sớ đă có, do sư Đế Nhàn biếu tặng.
Quang hằng ngày bận bịu chẳng rảnh rỗi,
cũng chỉ đặt lên gác cao đó thôi. Cách tĩnh tọa của ông Trần vốn chẳng phải
là tĩnh tọa theo đường lối “chân thật
tham cứu, chân thật niệm”, mà đèo thêm tánh chất
luyện đan của Đạo gia. Đă thế, gần
đây người có tín tâm thường mê mệt thần
thông, cho nên có cảnh ấy. Nếu chân thật tham cứu
bổn lai diện mục, và chân thật chí thành niệm Phật,
chẳng có ư niệm cầu đắc thần thông, sẽ
trọn chẳng đến nỗi có ma cảnh ấy. Nếu
buông toàn thể ư niệm kiểu ấy xuống, dùng cái tâm
thanh tịnh, tŕ danh hiệu Phật, sẽ có thể tiêu diệt,
cho nên chẳng cần lo ngại! Điều đáng lo ngại
là tâm địa xen tạp ngoại tông (đường lối
tu tập của ngoại đạo), và muốn đắc
thần thông ngay lập tức
v.v… Trước giờ Ngọ chẳng phát, sau giờ Ngọ
sẽ phát, đó là do khí ban đêm trấn định, khí
ban ngày rối ren mà ra. Nhưng đối với công phu Thiền
Định, Quang trọn chẳng thật sự tu, đối
với nguyên do của cảnh giới [trong khi tĩnh tọa],
cũng chẳng thể biết tường tận. Đấy
chẳng qua là dựa theo lư để phán định đó
thôi!
* Thư trả lời
hai vị cư sĩ Khang Kư Dao và Trịnh Tử B́nh
Ngày
mồng Mười, nhận được thư của
Vương Nhất Đ́nh, nói trong ngày mồng Sáu đă đem ba
ngàn đồng do Quang trích ra; sau đó, quyên mộ
được thêm năm trăm đồng, hai trăm đồng của thầy Chân Đạt,
ba trăm đồng của Tôn Nguyệt Tam, bản thân ông
Vương Nhất Đ́nh và Hoàng Hàm Chi mỗi người
quyên năm trăm đồng, tổng cộng là năm
ngàn đồng, chuyển khoản cho ông Tống Tử Tài
của Nghĩa Nguyên Hậu. Lại c̣n năm tiệm thuốc
như Nghĩa Nguyên Hậu v.v… Mỗi
tiệm bỏ ra một trăm đồng, tổng cộng
là năm ngàn năm trăm đồng đem chuyển
đi để cứu tai nạn gấp cháy mày. Khoản tiền
của Hoa Dương Nghĩa Chẩn[25]
th́ đợi cho tới khi phân hội ở Thiểm
Tây gởi điện tín tới, sẽ lại bàn bạc.
Trên đây đều là lời của
Nhất Đ́nh. Do năm trước, Vương Nhất
Đ́nh nhận được thư của Quang, không
đầy mấy bữa sau, Hoa Dương Nghĩa Chẩn
Hội mở cuộc họp, Nhất Đ́nh đem thư
Quang gởi tới và thư của Tử B́nh cho mọi
người tham dự hội nghị xem. Mọi người
trù tính [khoản tiền cứu tế là] mười vạn. Sau đó, Hoa Dương Thị
đến đất Hỗ (Thượng Hải), cho biết
đă trích ra năm vạn từ tiền thuế quan. Do vậy,
năm vạn [c̣n lại] vẫn chưa thể định.
Do vậy, họ cần gửi điện tín hỏi
thăm t́nh h́nh. Đợi cho tới khi nhận được
điện tín trả lời, sẽ bàn bạc quyết
định.
Hôm
trước, nhận được thư của thầy
Chân Đạt, cho biết đối với ba trăm
đồng của Tôn Nguyệt Tam, sẽ lập biên lai
riêng v́ ngại ông ta có lẽ nghi tiền bị lạc mất.
Có lẽ nên viết một lá thư cảm tạ th́
đúng lẽ hơn. Đối với ba ngàn năm
trăm đồng của Quang, hăy viết một lá thư
gởi cho Quang, để tiện gởi cho các cư sĩ
đă quyên tặng. Tuy họ chẳng ngờ vực Quang,
nhưng nhận được thư cảm tạ ấy, họ sẽ càng sanh
ḷng hoan hỷ. Trong thư chỉ viết cư sĩ Diệp
Đức Quảng ba trăm đồng, Trinh Tịnh Am Chủ
một trăm đồng, cư sĩ Hương Đào
ba trăm đồng, Bị Khứ Hiên một trăm
đồng. Đối với thầy Chân Đạt và Tôn
Nguyệt Tam, nên viết hai thư, một phong thư gởi
sang chùa Thái B́nh ở Trần Gia Tân, Thượng Hải,
giao cho ḥa thượng Chân Đạt. Thư cho Nhất
Đ́nh th́ gởi đến nhà ông ta. Quang vốn chẳng
muốn dùng loại thủ tục này, nhưng do thầy
Chân Đạt gởi thư có nhắc đến, tợ hồ
làm như thế th́ mới là thỏa đáng! Do người
ta đă giúp nhiều tiền, kẻ lo liệu công việc
há tiếc công bút mực ư? Nếu đă nhận
được tiền, đă gởi biên lai đi, chẳng
ngại lại gởi thư cảm tạ.
Đối
với chỗ ông Vương Nhất Đ́nh, hăy nên dùng lời
lẽ cảm kích, tán thán. Huống chi ông ta lại c̣n đề
nghị, trù tính. Dẫu có thể trù tính hay không, chẳng thể
quyết định; nhưng một niệm từ tâm của
ông, đáng khiến cho kẻ khác cảm phục chẳng
quên! Các ông trọn chẳng hiểu chuyện! Trong lúc nạn
gấp, cầu cạnh người khác, viết thư cho
người ta, chẳng đề tên, chỉ dùng danh
nghĩa các hội viên của hội Phật giáo để
thỉnh cầu. Nếu chẳng cầu cạnh người
ta, sẽ dùng cách viết ngạo mạn đến cỡ
nào? Quang gởi thư cho Nhất Đ́nh, c̣n dùng chữ “khấu
đầu”, do cầu người ta gấp rút cứu tế,
họ lại phải tốn hao tâm tư. V́ chuyện này,
Nhất Đ́nh đă qua lại giúp đỡ mấy lượt,
gởi thư cho Quang năm sáu lần. Thư của hai
ông, Nhất Đ́nh đều gởi cho Quang xem, thấy [hai
ông] nhất loạt chỉ kư tên là Phật giáo hội. Nhất
Đ́nh hỏi đang giao tiếp với ai, Quang bèn nói với
ông ta là Kư Dao và Tử B́nh, đều là người lo việc
cho hội Phật giáo.
* Thư trả lời
cư sĩ Kim Huệ Sướng
Nhập
đạo có nhiều môn, chỉ Tịnh Độ là bậc
nhất. Tông yếu Tịnh Độ chỉ có ba pháp Tín,
Nguyện, Hạnh mà thôi. Tổ Liên Tŕ dạy người
khác tham cứu (tức tham cứu câu “người niệm
Phật là ai?”) v́ thuở ấy, Tông Môn quá thịnh. Chẳng
làm như thế, sợ người ta sẽ cho là một
tông khác lạ, chẳng chịu tu. Lại cũng do Ngài muốn
dẫn dắt, khuyên dụ người trong Tông Môn đều
tu Niệm Phật tam-muội. V́ dẫn dắt ai nấy
đều tu Niệm Phật tam muội, ngài Ngẫu Ích
[đề xướng] “chẳng cần tham cứu”,
do pháp Niệm Phật chẳng chú trọng khai ngộ. Nếu
cầu khai ngộ, có thể sẽ gác bỏ Tín và Nguyện
ra ngoài. Nhưng niệm đến mức cùng cực,
cũng có thể khai ngộ. Dẫu chẳng ngộ,
cũng chẳng trở ngại. Dù ngộ đến mức
cùng cực mà nếu chẳng có tín nguyện, chắc chắn
khó văng sanh! V́ thế, đại sư sợ mọi người
mắc phải khuyết điểm ấy, bèn dạy cứ
thẳng thừng niệm.
Trước
kia, ông nghiên cứu Lư Học, chưa hiểu rơ lời nói của
các Nho gia thuộc về Thế Đế, cho nên coi đó
là pháp tắc. Đối với việc phát huy tâm tánh đến
mức cùng cực, vẫn c̣n mờ mịt. Họ (Tống
Nho) vay mượn Phật pháp, lại muốn lập dị
với Phật pháp, đến nỗi trở thành tự
mâu thuẫn. Đấy đều là v́ tri kiến môn
đ́nh nặng nề, bị lầm lạc bởi t́nh kiến hư vọng mong được
đời sau thờ phụng trong thánh miếu (miếu thờ
Khổng Tử)!
Người
hiện thời phần nhiều tôn sùng ngoại đạo,
do ngoại đạo đều có pháp bí truyền. Thật
ra, tuy ngoại đạo có trăm ngàn vạn loại,
nhưng chỉ có một đạo “luyện đan, vận
khí” mà thôi! Đấy
là pháp thuộc loại bảo dưỡng sắc thân, chẳng
phải là đạo liễu sanh thoát tử! Huống hồ
các danh tự [do các phái ngoại đạo sử dụng],
phần nhiều tương tự với chuyện dâm dục.
Kẻ hư vọng bèn do đó mà tạo thành nghiệp Vô Gián, đáng đau xót
thay!
Kinh
Kim Cang và Lăng Nghiêm được chú giải rất nhiều,
mỗi vị chú giải đều có sở trường,
nhưng xét theo phía người sơ cơ, bản chú giải
của ngài Tông Lặc khá đơn giản, rơ ràng. Nghĩa
lư Lăng Nghiêm được chú giải thấu triệt
nhất, chỉ có bản Văn Cú[26].
Văn từ rơ ràng nhất chỉ có bộ Chỉ Chưởng[27].
Trộm nghĩ pháp Tịnh Độ là chỗ quy túc của
các pháp, chúng ta nương theo để lợi ḿnh, lợi
người khác, sao trước hết chẳng nghiên cứu
đến mức cùng cực, chẳng c̣n ngờ vực nữa,
th́ sẽ chẳng bị dao động bởi hết thảy kinh giáo hoặc lời lẽ của
bậc tri thức? Cứ hời hợt nghiên cứu các kinh
điển khác th́ càng nghiên cứu sẽ càng coi Tịnh
Độ là tầm thường. Nếu trước hết
hiểu biết nguồn cội của Tịnh Độ,
rồi nghiên cứu các kinh luận khác, sẽ càng nghiên cứu,
càng thấy Tịnh Độ cao sâu!
Đối với chuyện nữ sắc, người
tại gia cố nhiên chẳng chú trọng đoạn dục,
nhưng cần phải tiết giảm. Nếu coi chuyện
ấy như chuyện cơm nước b́nh thường
th́ cũng phạm lỗi, nhưng nhẹ hơn so với
tà dâm một chút. Nếu có thể tiết dục th́ đối
với chính ḿnh, đối với vợ, đối với
con cái, đều có lợi ích to lớn chẳng thể nghĩ
bàn! Hoặc mỗi năm, hoặc mỗi quư (ba tháng), hoặc
một tháng, hành pḥng một lần, dựa theo tánh t́nh của
chính ḿnh và vợ để hạn chế, th́ đối
với chuyện tu đạo, thờ phụng tổ tông, đều
có lợi ích to lớn. Bởi người ít dục sẽ
có nhiều con, con cái mập mạp, ít bệnh, tánh t́nh thuần
thục.
Văn Sao bản mới và Thọ Khang Bảo
Giám sẽ đều trong tháng Mười hoặc Mười
Một có thể ra sách. An Sĩ Toàn Thư có thể ra sách vào
dịp Trung Thu. Hễ có sách, sẽ gởi cho ông mấy phần.
Quang bận bịu cùng cực, chớ nên thường gởi
thư tới. Ông chỉ cần đọc kỹ Văn
Sao, sẽ đối với giới hạn, duyên do giữa
Thiền và Tịnh, Phật lực và tự lực to nhỏ,
khó dễ, cũng như đạo tiết dục, bảo
vệ thân thể, trị gia, yên đời, đều có
pháp để tuân theo, ngay cả tâm sự (những điều
mong mỏi) của các vị Tống Nho cũng có thể
nêu tỏ.
* Thư gởi cư
sĩ Lư Khổ Thật
Ngày
Mười Bảy tháng Bảy, Quang xuống
núi, ngày Hai Mươi Tám tới Hàng Châu. Ngày Ba Mươi
tháng Tám từ Hàng Châu sang đất Hỗ (Thượng Hải).
Thấy thư ông gởi ngày mồng Hai tháng Tám, khôn ngăn
hổ thẹn. Chỉ v́ thư từ hơn một tháng và
sự việc được sai phái phải làm chồng chất,
chẳng rảnh rỗi để trả lời. Ông đă
xem Văn Sao, sao chẳng nương theo những ǵ Văn
Sao đă nói để vâng giữ luân thường, trọn
hết bổn phận, tín nguyện niệm Phật, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện để
hành tŕ, cứ muốn đến Phổ Đà xin xuống
tóc với tôi? Ông có biết tôi là kẻ như thế nào hay
không? Tôi chính là khách Tăng từ phương xa, sống
bám vào chùa của người ta, sao có thể thâu đồ
đệ? Ông đă từng đọc thư tôi gởi cho
Châu Quần Tranh trong Văn Sao rồi chứ?
Ông
biết thời cuộc hiện nay là thời như thế
nào không? Các chốn đều muốn xua đuổi tăng
ni, tịch thu tài sản của chùa chiền (sợ đă
trở thành chuyện giống như ở Quảng Châu
trước kia, nguy hiểm tột bậc), hiện thời
đă nguy ngập cùng cực! Ông muốn đến núi xuống
tóc là đă bỏ sanh lộ, t́m đường chết
để đi. Đó là ngu muội tới mức như
thế ấy. Ngàn vạn lần chớ đến núi! Hễ
đến núi, Quang quyết chẳng tiếp xúc với ông.
V́ lẽ nào vậy? Do ông chẳng biết tốt xấu,
chẳng nghe theo lời khuyên trung thực, tṛ chuyện với
nhau chẳng có giá trị ǵ hết! Ông hăy buông xuống cái
tâm cuồng vọng, hành xử theo thực tiễn, chiếu
theo những điều tôi nói trong phần trước mà
hành. Dùng đó để tự lợi, lại c̣n nhờ
đó mà lợi ích người khác, chắc chắn có thể
đới nghiệp văng sanh. Ông chẳng thấy kinh Quán Vô
Lượng Thọ Phật dạy “hiếu dưỡng
phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ
tâm chẳng giết, tu mười thiện nghiệp”
chính là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật
ư? Ông cho rằng “xuất gia sẽ dễ tu hành”, đấy
chính là cái tâm né tránh. Giả sử ông thật sự xuất
gia, lại phát hiện có các loại phiền năo khác, vẫn
chẳng dễ tu hành. Hễ buông xuống được,
sẽ thông suốt. Chẳng buông xuống được,
sẽ chẳng thông! Ông có biết hay chăng?
* Thư trả lời
pháp sư Giới Trần
Nhận
được thư, khôn ngăn đau ḷng than thở. Phật
giáo bị diệt đều do người có chức trách
với pháp đạo tham danh lợi, chuộng quyến thuộc
[đông đảo]. Toàn thể những chuyện hoằng
pháp đều là nền tảng ngấm ngầm khiến
cho pháp bị diệt. Như cho xuống tóc tràn lan, truyền
giới tràn lan, cho nhập chúng tu học tràn lan. Họ cho rằng
ba chuyện đó là hành đạo, là hoằng pháp, chẳng
biết đều là lạm dụng, đến nỗi
chân Tăng ngày càng ít, tăng sĩ bại hoại ngày càng
đông! Hiện thời, những loại tăng sĩ hổ mang, phường hạ lưu, không ai
chẳng là tỳ-kheo đă thọ đại giới! Huống
hồ Phật pháp ở Hà Nam chỉ có chùa miếu và kẻ
nam người nữ trọc đầu! V́ thế, hạng
người như thế mắc phải ương họa
bất ngờ ấy cũng là do t́nh thế khiến thành
ra như vậy. Bài văn của Thượng Phùng thật
là thiết thực, xác đáng, hăy đem gởi qua bưu
điện. Dẫu họ chẳng nghe theo, cũng có thể
biểu lộ cái tâm hộ pháp của các vị. Không chỉ
Hà Nam là như thế, mà Hoàng Nham, Vĩnh Khang và huyện X….
cũng như tại Thái Thuận của tỉnh Chiết
Giang, [chánh quyền] đă nhất trí tổ chức tiến
hành tịch thâu Tăng sản, phá hủy thần tượng.
Hơn mười ngày trước, thầy Thâm Nghi tại
chùa Tam Phong thuộc thành Thái Thuận đă sao lục các
công văn của họ đem gởi tới. Quang cho là
đại kiếp đă xảy đến, không có cách nào,
đem các công văn của họ gởi trả lại. Nếu như các vị thâm tâm
hộ pháp, chẳng ngại đem thư này tŕnh lên chánh phủ.
* Thư trả lời
nhân sĩ ở Thiên Tân
Nhận
được thư, được các vị đại
cư sĩ ưu ái, mong Quang đến Thiên Tân, khôn ngăn
cảm kích, hổ thẹn. Cảm tạ [các vị],
nhưng Quang trọn chẳng thể đến Thiên Tân, v́
Quán Âm Tụng chưa hoàn tất, Văn Sao, Thọ Khang Bảo
Giám c̣n chưa sắp xếp
xong. Trong khoảng giữa tháng Tư, tôi sẽ đến
đất Thân (Thượng Hải) lo liệu, hiện thời
so với hồi tháng Hai đă ổn thỏa hơn đôi
chút. Trong tháng Hai, nguy ngập gần
như lật nhào. Nay các tỉnh đều lập Phật
hóa hội, tạm thời vẫn c̣n có thể duy tŕ,
nhưng cảnh tượng trong tương lai vẫn chẳng
thể dự định. Mong hăy nói với các vị cư
sĩ trong và ngoài liên xă: Hăy nên sốt sắng niệm Phật,
niệm Quán Thế Âm để có sự chuyển dời
ngấm ngầm. Trừ niệm Phật cầu gia bị
ra, chẳng c̣n có cách tốt lành nào nữa!
* Thư trả lời
cư sĩ Mă Hương Thụy
Mấy
hôm trước, nhận được thư, biết
cư sĩ gần đây đạo tâm chân thật, thiết
tha, khôn ngăn hoan hỷ. Nói đến chuyện tu Tịnh
nghiệp th́ chỉ là nhất tâm cầu sanh Tây
Phương, chẳng mong hết thảy phước báo
nhân thiên trong đời này hay trong đời sau. Phàm các kinh
chú tŕ tụng, cũng như hết thảy các loại công
đức, bất luận lớn nhỏ, đều dùng
công đức ấy hồi hướng văng sanh th́ tâm chẳng
có hai niệm. Phàm hết thảy đọc tụng, lễ
bái, và các thiện hạnh, đều trở thành trợ hạnh
cho Tịnh Độ. Chánh hạnh Niệm Phật cộng
thêm các thứ công đức bổ trợ, sẽ như thuyền
gặp gió thuận, lại căng cao buồm, một ngày đi ngàn dặm, mau chóng đến
bờ kia. Điều đáng tránh là tâm và miệng chẳng
tương ứng, [nếu tâm và miệng chẳng
tương ứng], hết thảy thiện hạnh chỉ
đạt được hư danh trong hiện thời,
chẳng có cái quả liễu sanh thoát tử thật sự.
Dẫu đạt được phước lạc nhân
thiên trong đời sau, do hưởng phước, nhất
định sẽ tạo đại ác nghiệp. Tới
khi mạng chung, sẽ vĩnh viễn đọa vào địa
ngục, vạn kiếp khó thoát ra! Buồn thay! Do v́ lẽ ấy,
chư Phật, chư tổ đều khuyên chúng sanh cầu
sanh Tây Phương.
Lại
nữa, cư sĩ khá tôn trọng pháp luyện đan, cực
lực tu tập. Nếu muốn chuyên tu Tịnh nghiệp
và dạy người khác, ắt cần phải bỏ loại
công phu ấy đi, tận t́nh vứt bỏ. Nếu vẫn
c̣n bị lời lẽ của bọn luyện đan mê hoặc,
nói là “tánh mạng song tu” th́ mới có thể thành đạo
như kiểu Huệ Mạng Kinh[28]
v.v… coi Phật pháp là tà pháp, coi tà pháp là Phật pháp, tức
là cùng uống đề hồ cam lộ và tỳ
sương trấm độc, muốn đạt
được Pháp Thân huệ mạng chẳng bị
vĩnh viễn chết mất, chôn vùi, sẽ chẳng thể
được! Đă đề xướng Tịnh Độ,
khuyên khắp đại chúng, ắt phải hiểu tà chánh
rơ ràng, ngơ hầu chẳng cô phụ tâm ư hướng về
của chính ḿnh lẫn người khác. Pháp Niệm Phật
ai nấy đều có thể tu tŕ tại gia, chẳng bắt
buộc phải tham dự liên xă. Chỉ mong khắp v́
đại chúng, nương theo giáo nghĩa của pháp môn Tịnh
Độ để khéo léo khơi gợi, hướng dẫn,
khiến cho hết thảy nam nữ ai nấy trọn hết
chức trách, giữ vẹn luân thường, vâng giữ bổn
phận, kèm thêm niệm Phật cầu sanh Tây Phương.
Có thể như thế, sẽ sống là lương dân, mất
rồi sẽ dự vào hải hội. Há có phải chỉ
riêng người xuất gia có thể đề xướng,
c̣n người khác chẳng thể đề xướng
ư? Nếu chẳng thể chú trọng giữ vẹn
luân thường, trọn hết bổn phận, cư xử
thực tiễn, siêng ṛng tu tập Tịnh nghiệp, dẫu
cho hội viên vượt quá trăm ngàn vạn người,
cũng chỉ là quyến thuộc của ma tung hoành,
đúng là gây phiền lụy cho Phật pháp!
Pháp
do hai vị cư sĩ Âu Dương Tiệm (Âu
Dương Cánh Vô) và Mă Nhất Phù đă lập, người b́nh phàm trọn
chẳng thể học được! Dẫu học mà có
sở đắc, vẫn chẳng phải là pháp liễu
thoát ngay trong một đời, v́ là pháp tự lực tu Giới,
Định, Huệ, đoạn Hoặc, chứng Chân ḥng
liễu sanh thoát tử, thuộc về pháp tu chứng theo
đường lối thông thường trong Phật giáo,
chẳng phải là pháp giúp cho bọn phàm phu đầy dẫy
triền phược nương theo từ lực của
Phật để thoát khỏi tam giới theo chiều
ngang. Chỉ nên nương theo kinh luận, ngữ lục
Tịnh Độ, để thực hành tu tŕ pháp “tín
nguyện niệm Phật” là được rồi! Các
pháp môn khác chẳng thích hợp căn cơ, chẳng cần
phải bàn đến.
Trong
cơi đời, có kẻ tin sâu Phật pháp, lại muốn
văng sanh, nhưng đối với chuyện ăn thịt,
vẫn chưa thể hoàn toàn buông xuống, chính là v́ chẳng
thấu hiểu sâu xa lời Phật, cũng như do chẳng
thấu hiểu sâu xa duyên do của tự tâm và chúng sanh tâm.
Nếu đối với lời Phật, tự tâm, và chúng
sanh tâm, mỗi mỗi đều thấu hiểu, sẽ
không chỉ chẳng chịu ăn, mà tôi sợ rằng dẫu
[kẻ khác] dùng dao sắc bức ép người ấy
ăn, cũng chẳng
thể ăn được! Bài sớ tu bổ ao phóng sanh ở
Nam Tầm của Quang đă nói về lư ấy khá cùng tận.
Nếu có thể hằng ngày đọc mấy lượt,
và suy nghĩ kỹ càng từng ư nghĩa, mà vẫn cứ
coi trọng ăn thịt th́ chẳng có lẽ ấy! Bốn
lượt Sa Bà Ha cuối chú Đại Bi là lời truyền
tụng sai ngoa bởi tri kiến thế tục, chớ nên
tuân theo!
* Thư trả lời
cư sĩ Lư Huệ Thật (thư thứ nhất)
Tánh
t́nh của ông là hoàn toàn chẳng chịu
lo toan nơi bổn phận. Các điều ông lo toan đều
vượt ngoài lư, cho nên đến nỗi điên đảo,
lầm loạn, lại c̣n lôi kéo người khác điên
đảo, lầm loạn theo. Nếu Quang chẳng hiểu
lư, tán thành chuyện của ông, sau này ông có chửi bới dữ
dội Quang là “hạng tri thức mắt mù” hay không? Từ
nay về sau, hễ làm việc ǵ chẳng được,
đều bỏ mặc đó th́ sẽ không ǵ chẳng an
lạc. Trần Thành đă phát tâm quy y, hăy nên bảo ông ta thực
hành chuyện thuộc luân thường, cũng như tín
nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, ngơ hầu
chẳng uổng đời này, chẳng phí hoài gặp gỡ
lần này. Nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Thành (慧誠). Đă chân thành th́ sẽ có trí huệ, ḷng thành ấy
cũng to lớn vậy. Phàm khởi tâm động niệm,
hễ có ǵ chẳng đúng pháp, đều chẳng phải
là chân thành, huống huệ thành ư? Nói theo nghĩa nông cạn,
gần gũi, Huệ Thành chính là “dứt vọng,
sáng tỏ lẽ chân”. Nói sâu xa
hơn, nếu chẳng đoạn vọng, chứng chân, chắc chắn chẳng phải là huệ
thành rốt ráo! Mà pháp đoạn vọng chứng chân chỉ
có Tịnh Độ là hữu ích nhất! V́ thế, hăy nên
sốt sắng tu tŕ. Mong hăy nói với ông ta th́ may mắn lắm
thay!
* Thư trả lời
cư sĩ Lư Huệ Thật (thư thứ hai)
Nhận
được thư, do mới tới Thượng Hải,
mọi chuyện đều cần phải lo liệu, chẳng
rảnh rang để phúc đáp ngay. Ngày hôm qua, tôi mới
viết xong bài tựa cho bộ Học Phật Cương
Yếu của cư sĩ. Do danh xưng ấy quá cao, xét
theo ư của cư sĩ, bèn đổi tên thành Sơ Cơ
Học Phật Trích Yếu, đem tên gọi trước
đó ghi chú phía dưới tựa đề. Trong lời tựa,
tôi có nêu bày đại lược để người
đọc biết sách ấy là tác phẩm do ông Tiểu Thuyên biên tập. Lệnh huynh là
Vân Giai đă sanh ḷng tin, muốn quy y, nay đặt pháp danh
cho ông ta là Huệ Chân (慧真), ngụ ư: Dùng
trí huệ chân thật để tu tŕ Tịnh nghiệp ḥng
lợi ḿnh, lợi người. Vương Trường
Lâm có pháp danh là Huệ Lâm (慧林), ngụ ư: Trí huệ
sum suê như rừng rậm, sẽ có thể che rợp cả
ḿnh lẫn người cùng đạt được cái quả
chân thật. Tôi gởi kèm lời tựa theo thư, mong hăy
sao lại cẩn thận, đừng để sai ngoa.
Ước chừng tháng Mười, Quang mới về núi,
ông muốn đến đất Hỗ sẽ có thể gặp
gỡ. Nếu muốn cùng tới Phổ Đà, chỉ sợ
khó gặp dịp thuận tiện, do Quang bận
chuyện in sách, cần phải xong việc mới trở
về được, chẳng thể tùy ư đi lại.
Tôi viết điều này để mong ông xét kỹ. Mong
ông nói với anh ḿnh và Vương Trường Lâm hăy tận
lực dựa theo Văn Sao để tu tŕ, những điều
khác chẳng cần phải nói nữa!
* Thư trả lời
cư sĩ Lư Huệ Thật (thư thứ ba)
Thư
ông và hối phiếu ba mươi đồng đều
đă nhận được, đừng lo! Sơ Cơ Học
Phật Trích Yếu nay đă sắp xếp xong, chẳng
lâu sau sẽ ấn hành, [sách in xong sẽ] gởi đến.
Bản này dùng phông chữ số ba[29]
để sắp chữ. Tôi lại muốn sắp chữ bộ Học
Phật Thiển Thuyết theo phông chữ số ba, trong
tương lai sẽ ghép thành một bộ. Sách Văn Sao
chẳng c̣n mấy (tôi đă sớm bảo Chiết Giang Ấn
Loát Công Ty ở Hàng Châu in ra, nhưng họ do có nhiều
chuyện vụn vặt, tuy bản kẽm đă đúc xong từ lâu, tới nay vẫn chưa thể in).
An Sĩ Toàn Thư đă chẳng c̣n, Gia Ngôn Lục chưa
in ra. Nay tôi gởi Quán Âm Tụng, Thọ Khang Bảo Giám, Cảm
Ứng Thiên Trực Giảng, Di Đà Kinh Bạch Thoại
Giải, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam, tam thánh
kinh (Tịnh Độ Tam Kinh), Giới Sát Phóng Sanh Bạch
Thoại Văn, Long Thư Tịnh Độ Văn, Nh́n Thấu
Suốt Thế Giới, Niệm Phật Trực Chỉ Phật
v.v... bao nhiêu bộ đó. Ngày mai, ông chủ Hoàng sẽ
đến, nếu có thể chuyên chở, sẽ thừa dịp
gởi nhiều hơn một chút để làm tài liệu
cho chỗ duyệt kinh và tùy duyên thí tặng. Các anh họ của
ông như Liên Phủ v.v… muốn quy y, tôi sẽ đặt
pháp danh cho mỗi người, mong hăy chuyển lời
đến họ. Liên Phủ pháp danh là Huệ Triệt (慧徹), Hoạn Tử Ngọc pháp danh là Huệ Ôn (慧溫), vợ ông Trần Huệ Thành pháp danh là Huệ Cung (慧恭), chị dâu của ông ta là bà Mă có pháp danh là Huệ Thục (慧淑), Lục Bí Thị pháp danh là Huệ Chương (慧章). Hăy nên nói với họ: Ai nấy đều
phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn
phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các
điều ác, vâng làm các điều lành th́ mới là đệ
tử thật sự của đức Phật. Các điều khác được nói tường tận
trong Văn Sao, chẳng cần phải viết cặn kẽ
ở đây!
* Thư trả lời
cư sĩ Quách Giới Mai
Thư
nhận được đầy đủ. Quang vốn
là tăng nhân chỉ biết cơm cháo, vô tri vô thức.
Nếu muốn chuyên tu Tịnh nghiệp, vẫn có thể
dùng những điều cổ nhân đă đề xướng
để tuyên nói. Nếu muốn thông suốt rộng khắp
Tông lẫn Giáo, sẽ chẳng biết chi hết, chỉ sợ
cô phụ ḷng mong mỏi của ông! Nhưng ông cùng với lệnh
thê đă muốn quy y, chẳng ngại tạm dùng lầm
đáp lỗi, đợi cho tới khi [vợ chồng ông]
gặp gỡ bậc cao tăng, sẽ vứt bỏ kẻ
ngu theo về bậc trí. Nay đặt pháp danh cho cư
sĩ là Huệ Chấn (慧震), ư nói: Sẽ v́
mọi người mà tuyên nói nhân quả, luân lư, và pháp môn Tịnh
Độ. Ví như đang ngủ say mê mệt, bỗng
nhanh chóng tỉnh giấc, từ trong đường mê mà
biết nẻo về, để tương xứng với
cư sĩ lúc sống đă được trống pháp
vang rền thức tỉnh. Lệnh thê có pháp danh là Huệ Ư (慧懿), nghĩa là
đức hạnh hiếu thảo, ḥa thuận, từ bi,
hiền ḥa, giúp chồng dạy con. Lại dùng pháp môn tín
nguyện niệm Phật để tự hành, dạy
người khác, trở thành bậc thầy gương mẫu
cho nữ giới, là bậc mẫu nghi trong chốn khuê khổn (閨閫)[30]. Dùng huệ
để phù tá đức, cho nên là Huệ Ư. Xin hăy nh́n vào
danh mà nghĩ tới nghĩa, sẽ có thể đích thân
được lợi ích thật sự trong Phật pháp.
Những điều khác được nói tường tận
trong Văn Sao, ở đây chẳng ghi cặn kẽ!
* Thư gởi cư
sĩ Tiền Thành Thiện
Nay
có cư sĩ Lư Trí Chương ghi danh mua báo Hải Triều
Âm, mong ṭa soạn dựa theo thời hạn mà gởi báo. Tất
cả [các điều khoản về] chi phí mua báo, xin trực
tiếp liên lạc với ông ta, chẳng cần Quang phải
dính vào. Thư tôi gởi kèm theo xin đăng trên tờ Hải
Triều Âm để khơi gợi, phát khởi tín tâm của
người niệm Phật. Hiện thời, thiên tai nhân họa
ngày càng nhiều. Nếu có thể chí thành tŕ niệm Phật
hiệu và danh hiệu Quán Âm, không ai chẳng liền
được cảm ứng. Chuyện ấy rất nhiều,
Quang một mực lười viết lách. Nếu mỗi
chuyện đều chép ra, sẽ thành một quyển sách
to.
* Thư gởi pháp
sư Nhân Sơn
Hôm
qua nhận được công văn từ các tự viện
ở Dương Châu, khôn ngăn hoảng sợ! Quang suốt
đời sống nhờ tự viện của người
khác, nay đă sắp chết chẳng lâu, nào dám đảm
nhận trách nhiệm nặng nề ấy. Pháp sư Tường
Thụy đă có thể hoằng dương, diễn giảng tông
Hiền Thủ, há chẳng thể hoằng dương Tịnh
Độ ư? [Pháp môn Tịnh Độ] lư cực sâu mầu,
uyên áo, sự cực b́nh thường, chỉ cần
nương theo sự tướng để nghiêm túc tu tŕ, cho đến khi nghiệp tiêu, trí rạng, chướng
hết, phước cao, lư sâu chẳng cầu
mà tự đạt được. Nếu chẳng dốc
sức nơi sự tu, dẫu nói đến mức trời
trút xuống bốn loại hoa[31], đất sáu thứ
chấn động, vẫn là nói suông, chẳng có lợi
ích thực tế cho mấy. Chuyện này chỉ cần chịu
phát tâm là có thể hoằng dương, chẳng cần sai
khiến Quang là kẻ chất phác, ăn nói vụng về,
bất tài xen vào đó ư? Mong các hạ phát ḷng từ bi
to lớn, khéo từ tạ giùm tôi. Nếu không, tôi sẽ trốn
ra ngoài biển khơi để khỏi lầm lạc
đại sự của người khác. Mong thầy hăy
nói cặn kẽ nguyên do với các vị tại các chùa ở
Dương Châu th́ tôi sẽ cảm kích suốt đời!
* Thư trả lời
cư sĩ Lạc Quư Ḥa
Quân
tử đối với thiên hạ chẳng thân, chẳng
sơ, chỉ chú trọng cân nhắc điều nghĩa.
Đem tiền phóng sanh để giúp cứu trợ tai nạn,
tức là chuyển khoản tiền tài cứu giúp chỗ
“sơ, nhẹ” để cứu vớt chỗ thân thiết,
quan trọng, cấp bách. Nhân quả cố
nhiên là có, nhưng chẳng đến nỗi
do vậy mà bị tội. Năm Dân Quốc 13 (1924), Hoàng
Hàm Chi nhận chức đạo doăn, quyên mộ để
lập vườn phóng sanh. Sau khi vùng Giang Chiết (Giang Tô - Chiết Giang) nổ
ra cuộc chiến, ông ta bèn thôi làm chuyện ấy. Ông Phùng
Mộng Hoa biết ông ta c̣n có khoảng tiền lập
vườn phóng sanh mấy ngàn đồng, bèn gởi
thư cho Quang, bảo Quang khuyên ông ta dùng khoản tiền ấy
để cứu trợ dân chúng gặp tai nạn. Quang cực
lực khuyên ông ta chuyển món tiền ấy sang cứu trợ.
Ông ta gởi thư cho pháp sư Đế Nhàn, nêu nguyên do.
Sư Đế Nhàn trách ông ta lầm lạc nhân quả, ông
ta bèn gởi thư của thầy Đế Nhàn cho tôi.
Quang biện luận nhân quả cố nhiên là có, nếu nói
là “Diêm La lăo tử giáng tội trừng phạt”, Quang
nguyện chịu thay. Chuyện ấy mới chẳng
đến nỗi bỏ lửng giữa chừng.
Người
phóng sanh gần đây, phần nhiều chẳng hiểu
đạo lư phóng sanh, mang tiếng là “phóng sanh”, thật sự
chẳng đạt được lợi ích do phóng sanh. Do
công bố rầm rộ chuyện phóng sanh, khiến cho kẻ
bắt các sanh vật càng bắt nhiều hơn. V́ vậy,
Quang chẳng tán thành định kỳ phóng sanh. Đối
với Tây Hồ, nếu chẳng phải do kẻ chẳng
thông hiểu sự vụ đề xướng khôi phục
ao phóng sanh, sao đến nỗi tiêu phí oan uổng một vạn
mấy ngàn đồng tịnh tài, nhưng vẫn khiến cho bao nhiêu sanh mạng mắc
phải tai ương chẳng được cứu vớt!
Thiết tha mong ông hăy sốt sắng khuyên mọi người
kiêng giết, ăn chay, so với khuyên kẻ khác gom góp tiền bạc phóng sanh
mà vẫn cứ ăn thịt như cũ, trọn chẳng
giảm bớt, th́ lợi ích sẽ nhiều hơn! Quang
đă sáu mươi chín tuổi, việc thù tạc ngày càng
nhiều, tinh thần ngày càng giảm. Nếu chẳng ẩn
cư lâu dài, sẽ tổn hại cho chính ḿnh, vô ích cho kẻ
khác, há có thể nói v́ nguyên do “pháp yếu, ma mạnh” ư?
Đó là thân phận của bậc dựng cao pháp tràng, Quang
nào dám tiếm phận, trộm lấy
danh nghĩa ấy?
* Thư gởi Tông Nguyệt
và Hiển Lượng
Quang
thuộc loại tăng nhân chỉ biết cơm cháo; v́ thế, ăn nói tầm thường, nhạt nhẽo,
chẳng có ǵ lạ lùng. Nhưng hai vị muốn bảo khắp
những người cùng hàng để họ sanh khởi
chánh tín, dùng lời lẽ nông cạn để khế
cơ, khế pháp, quả thật khéo hợp thời
cơ, lợi ích rất sâu. Hiện thời, cơi đời
đă loạn đến cùng cực, do mọi người
đều nghĩ chẳng có chuyện nhân quả báo ứng,
sanh tử luân hồi. Do vậy, tổn người, lợi
ḿnh, thương thiên hại lư, giết cha, giết mẹ,
các tà thuyết phế bỏ kinh điển, phế trừ
luân thường đều được đề
xướng, chỉ sợ con người khác biệt cầm
thú, mong cho ai nấy đều nhất loạt giống hệt
[cầm thú]. Ngay trong lúc này, chỉ có đề xướng
“nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi” là phù hợp
cơ nghi nhất. Nếu đàm luận những chuyện
huyền diệu, sợ rằng [thính giả] chẳng hiểu.
Nếu hiểu lầm th́ sẽ là tổn hại vô ích vậy!
* Thư gởi cư
sĩ Từ Úy Như
Chắc
thư tôi gởi lần trước, ông đă nhận
được. Mong hăy chuyển cho các vị Trương,
Trần, Triệu v.v… Trong tháng Chạp năm ngoái, Quang bị
bệnh hơn mười ngày; do vậy, hủy chuyến
đi Hương Cảng. Hiện thời, bệnh đă
lành, chẳng bao lâu sẽ sang Tô Châu tự chôn sống (ẩn cư). Ngày hôm qua, đă nhận
được món tiền mười một đồng
do bà Trương Huệ Khoách quyên góp in sách thay cho con gái là
Sư Chiêu; xin hăy nhắn tin cho bà ta giùm. C̣n đối với
Tích Châu, hễ tiện dịp gặp mặt, cũng xin ông
nói giùm. Tất cả các chuyện bế quan, nhất loạt
do ḥa thượng Chân Đạt và đồ đệ của
Sư là thầy Minh Đạo lo liệu, ông chẳng
cần phải bận tâm. Quang năm nay đă tṛn bảy
mươi, cũng chẳng mong sống lâu trên đời.
Nếu mấy năm nữa vẫn chưa chết, và có sở
đắc to lớn, có thể sẽ xuất quan. Nếu
không, cho đến hết đời này, cũng chẳng
xuất quan, để tránh tự lầm, lầm người.
Hiện thời, muốn cho hết thảy mọi người
được lợi ích, trừ phi đề xướng
giáo dục gia đ́nh và nhân quả báo ứng, quyết chẳng
có hiệu quả to lớn. Phật pháp và pháp thế gian muốn
được tiến hóa, đều chẳng ra ngoài hai
pháp ấy. Những kẻ tuy đàm luận huyền diệu,
bác bỏ sự tu, đúng là sẽ tăng trưởng tà
kiến “chấp Không”, không chỉ vô ích mà
c̣n gây hại!
Thượng
Hải có xà pḥng chay[32]
do Quang đặt làm. Tôi đă bảo gởi mấy
rương cho Tích Châu để chia ra tặng cho những
người cùng chí hướng. Lại mong sẽ đề
xướng tiến hành; đó cũng là đầu mối
để ngăn cản giết chóc vậy!
* Thư gởi về
quê nhà
Thưa
bảo trưởng thôn Đông và Tây, các vị hương
lăo, và các vị bác, chú, anh, em.
Từ
bé, Ấn Quang khá chẳng biết tự lượng, muốn
làm kẻ sĩ trong phái Lư Học, bèn lậm sâu chất
độc Tŕnh, Châu, Hàn, Âu; may là có túc nhân, đến nỗi
bệnh tật nhiều năm. Tuy chẳng phải
nằm mọp trên giường không dậy nổi,
nhưng gây trở ngại to lớn cho học vấn. Về
sau, bỗng tự biết trước đó sai trái, bèn
trong năm Quang Tự thứ bảy (1881) xuất gia làm
Tăng mong tiêu ác nghiệp, báo đền ân của lịch
đại tổ tông và cha mẹ. Năm Quang Tự 12
(1886), từ Trường An đến núi Hồng Loa ở
Bắc Kinh. Năm Quang Tự 19 (1893), sang chùa Pháp Vũ ở
Nam Hải Phổ Đà Sơn. Chủ nhân [chùa ấy] do thấy
Quang thích yên tĩnh, chẳng tham duyên đời, bèn cho ở
trong nhàn liêu, trừ hai thời lên chánh điện tụng
niệm ra, trọn chẳng làm một chuyện ǵ, tùy ư xem
kinh, niệm Phật. Trên núi có người biết Quang có
thể viết lách, bèn đem việc này nọ nhờ vả.
[Viết xong], trọn chẳng dùng tên ḿnh, mà đề tên
người ấy, hoặc dùng tên giả. V́ thế, suốt
hai mươi năm qua rất yên vui. Suốt năm chẳng
có ai đến gặp, chẳng có ai gởi thư.
Tới
năm Dân Quốc thứ sáu (1917), Vương Ấu
Nông ở huyện Tam Nguyên (tỉnh Thiểm Tây) đem một
lá thư in ra mấy ngàn bản, Từ Úy Như đem ba lá
thư in ra mấy ngàn bản, dần dần lâm vào cảnh
khổ! Năm sau, Từ Úy Như lại ấn hành Văn
Sao. Từ đấy về sau, một người đồn
đăi hư huyễn, vạn người truyền nhau thành
thật, thư từ qua lại, mỗi tháng trên cả
trăm lá. Lại do Quang chẳng tự lượng, chí
mong lợi lạc mọi người, sắp đặt,
khắc in các loại kinh sách, suốt nhiều năm trọn
chẳng có lúc nào rảnh rỗi. Năm Dân Quốc 17 (1928),
các đệ tử ở Hương Cảng thỉnh Quang
sang sống tại Hương Cảng, tính năm kế
đó sẽ đi. V́ thế, rời khỏi
Phổ Đà, tạm ngụ trong chùa của bạn bè tại
Thượng Hải. Năm Dân Quốc 18 (1929), do chỉnh
lư bộ Lịch Sử Thống Kư, chẳng thể đi.
Trong mùa Đông, do mệt nhọc quá sức, bị bệnh
nhẹ, bạn bè ngăn trở không cho sang Hương Cảng,
bảo hăy bế quan tại chùa Báo Quốc ở Tô Châu. Tháng
Tư năm Dân Quốc 19 (1930), vào quan pḥng (bế quan).
Do
nghe quê ta hạn hán, đói kém, đem một ngàn sáu trăm
đồng, giao cho cán sự của Hoa Dương Nghĩa
Chẩn Hội, tức là Dương Huệ
Mậu, đệ tử quy y của tôi, đích thân tặng
cho thôn ta. Ông ta quay về huyện Phù Phong, cũng có thưa tŕnh
đôi chút, chưa biết làm như thế nào. Quang cũng
chẳng hỏi đến chuyện ấy. Tháng Giêng
năm nay, Phước Vân và Vĩnh Quư đến Tô Châu, [nhờ
họ, tôi] biết thôn ta điêu linh khó chịu đựng
nổi, khôn ngăn đau ḷng. Hỏi tới Tam Phân Từ
Đường, họ cho biết trong từ đường
đă lập trường học, đặt tên là Ấn
Quang Học Hiệu. Học sinh trong thôn Đông và thôn Tây
đều học tại đó, Trí Kiệt làm thầy dạy.
Họ
lại cho biết ngoài cửa [từ đường], dựng ba gian nhà mới, đặt tên là Thánh Lượng
Hội. Hạ bảo trưởng của thôn đặt mấy
cái bàn để người khác ăn tiệc tại
đó. V́ căn nhà ấy do người của hai thôn
Đông và thôn Tây bỏ tiền ra dựng, cho nên Hạ bảo
trưởng của hai thôn Đông và thôn Tây, hễ có công việc
phải bàn bạc, đều đến Thánh Lượng
Hội. Quang hỏi: “Sao hai thôn Đông và Tây mỗi nhà đều
bỏ tiền để dựng công quán trong Tam Phân Từ
Đường của gịng họ nhà tôi, ăn thịt, uống
rượu, bàn công việc, mà lại đặt tên là Thánh
Lượng Hội?” Họ nói: “Khoản tiền cứu trợ
một ngàn sáu trăm đồng trong năm Dân Quốc 19 (1930),
chia đều cho các gia đ́nh ở hai thôn, chừa lại
một phần mười, tức là một trăm sáu
mươi đồng, lập một căn nhà trước
từ đường của thầy để làm pḥng làm
việc cho hai thôn Đông và Tây. V́ món tiền ấy do pháp
sư cứu tế mà có, cho nên dùng pháp danh của pháp sư
để đặt tên”. Quang nghe xong, khôn ngăn thở
dài, bảo: “Sao thôn ta lại nẩy sanh cách làm như thế?
Tôi dùng một ngàn sáu trăm đồng để cứu tế
hai thôn. Hai thôn rút ra một phần mười tiền cứu
tế để dựng nhà trong từ đường của
gịng họ tôi, dùng làm nơi tiệc tùng, bàn việc, bảo
là họ tự lập, lại c̣n đặt tên là Thánh
Lượng Hội! Tức là một ngàn sáu trăm đồng
của Thánh Lượng tôi đă dẫn đến chuyện
hai thôn Đông Tây chiếm đất từ đường
của gịng họ tôi. Tội của tôi quá lớn!”
Nhưng
tôi là người học Phật, chẳng chịu tranh chấp
với người khác. Do vậy, chuẩn bị chi phiếu
hai trăm đồng, giao cho các vị Phước Vân v.v…
cầm về. Đến nhà liền thông tri cho mọi
người ở hai thôn, đến miếu Thành Hoàng bàn chuyện,
giao cho bảo trưởng, các vị hương lăo v.v…
để hoàn lại tiền xây cất, lập tức xóa
bỏ danh mục Thánh Lượng Hội. Ngoại trừ
chỗ để học tṛ hai thôn học hành ra, những
thứ khác đều chẳng chấp thuận. Trường
học do người Tam Phân chịu làm việc công ích mà lập
ra, chẳng thể nói ngôi từ đường ấy thuộc
về cuộc đất của trường học hai
thôn được! Biện pháp như thế, nếu
hương lăo hai thôn chấp thuận, may mắn nào bằng! Nếu cố chấp, chẳng thay
đổi, tôi sẽ mời hai vị lăo tiên sinh rất có
thể diện gởi thư uyển chuyển khuyên nhủ, mong họ xem xét kiến nghị
của Quang. Chắc các vị chẳng thể
không nể mặt hai vị lăo tiên sinh. Chuyện đă ắt phải là như thế,
dường như có lẽ nên bớt việc th́ hay
hơn, chẳng cần phải kinh động hai vị ấy,
giảm bớt chuyện nhọc nhằn đôi bên thư từ
qua lại với nhau. Bất luận quư vị có đồng
ư hay không, Phước Vân, Vĩnh Quư v.v… chẳng được
tranh chấp với mọi người, chỉ gởi
thư thông báo t́nh h́nh cho tôi. Cách vừa nói trên đây chính là
cách để duy tŕ thế đạo. Nếu có thể thực
hiện phương cách duy tŕ thế đạo th́ tốt
lắm. Nếu không, tôi liền hành theo pháp “Bồ Tát xả
thân mạng để thỏa măn ư nguyện của chúng
sanh”, sẽ hướng về đại chúng hai thôn
đảnh lễ, sám hối, thưa: “Thánh Lượng tội
lỗi, xin hăy rủ ḷng tha thứ, đem chuyện này vứt
ra ngoài biển Đông, nhất loạt chẳng hỏi
đến nữa”. Viết ra điều này, xin quư vị hăy xét soi!
* Thư trả lời
cư sĩ Triệu Trí Vân (thư thứ
nhất)
Trước
hôm ông gởi thư đến ba ngày, bảo trưởng
và hương lăo đă gởi thư đến, cho biết
họ đă dẹp Thánh Lượng Hội, hai trăm
đồng dùng làm quỹ cho trường học, ba gian
pḥng ngoài cửa đă giao cho từ đường. Chuyện
này nếu không có ông đến, sẽ vĩnh viễn là chốn
công sở để uống rượu, ăn thịt!
Ḷng người quá xấu, đến nỗi tai họa
liên tiếp. Nay ruộng lúa mạch không mong thâu hoạch
được, vẫn cần mọi người cùng niệm
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu mưa ngọt
mau tuôn xuống. Nếu không, nước ao đă không có,
nước giếng cũng giảm, sẽ chết khát. Nếu
thật sự chí thành, sẽ có mưa để mong sớm
gieo trồng vụ mùa Thu, vẫn chưa đến nỗi
vụ mùa Thu chẳng trông mong được! Nếu không,
đă hai năm mất mùa, người ta dựa vào đâu
để sống sót?
Trong
ngày Mười Ba, tôi đă bảo Hoằng Hóa Xă gởi
mười gói Văn Sao. Mỗi gói gồm hai bộ, vẫn
chưa đủ một bưu kiện, do vậy kèm thêm một
quyển Liễu Phàm Tứ Huấn. Sách ấy văn lẫn
lư viên măn tột bậc chu đáo, là sách mà hết thảy mọi
người đều nên đọc kỹ. Hôm trước,
Trí Tuấn cũng gởi thư đến, nói cha ông ta từng
tu tập theo ngoại đạo, trước kia, ông ta
cũng học theo. Về sau đọc các kinh sách do tôi gởi,
bèn chẳng học pháp ấy nữa, nhưng hăy c̣n qua lại,
hăy nên dần dần xa ĺa. Hiện thời, giá giấy
đắt tột bậc. Giấy in sách báo lúc rẻ nhất
là hai đồng ba cắc một xấp (một xấp gồm
năm trăm lẻ sáu tờ), nay đă
hơn năm đồng, mà giá mỗi ngày một tăng vọt
lên. Hăy nên quư trọng ǵn giữ kinh sách. Nếu không, mai sau
sợ chẳng đủ sức có được nữa.
Đối với người được tặng sách,
hăy nên nói lời này, lại cần phải cung kính chớ
nên khinh nhờn!
* Thư trả lời
cư sĩ Triệu Trí Vân (thư thứ
hai)
Gởi
sách là do Quốc Quang Thư Cục, sao lại nói là Phật
Học Thư Cục? Quốc Quang là chỗ ấn loát, nhận
gởi sách cho người nhận là chức trách chánh yếu
của tiệm họ, chẳng phải chịu ơn, sao lại
cảm tạ họ? Ông đă quy y, hăy nên xưng là “đệ
tử”. “Hậu học” là từ ngữ xưng hô
thông thường, chẳng phải là không dùng được,
nhưng đó là từ ngữ chung chung, chẳng thiết thực, không
đúng chuẩn mực. Thời sự ngày càng sai lệch,
hăy siêng niệm Phật. Nếu chẳng có chuyện tột
bậc quan trọng, chớ nên gởi thư. Chẳng lâu
sau nữa sẽ có Viễn Công Văn Sao, sẽ gởi cho
mỗi vị một gói. Do sách ấy người b́nh phàm
chẳng thể đọc, cho nên chỉ gởi cho hai thôn,
mỗi thôn một gói. Người học
Phật tâm phải chất trực. Lời ông đă nói trước
đây gần như chẳng thật. Nếu phạm lỗi
ấy, hăy nên sửa đổi; nếu không, càng thêm cố
gắng!
* Thư trả lời
cư sĩ Triệu Trí Vân (thư thứ
ba)
Các
thư ông đă gởi, tôi đều nhận
được, hết sức an ủi! Làm người nên
tri túc, mọi việc chớ nên toan tính quá phận. Ông nói
muốn dựng Tam Thánh Đường để làm chỗ
căn bản ḥng tự hành, giáo hóa người khác. Chẳng
biết dân quê ta, mười nhà th́ chín nhà trống rỗng,
khuyên ai bỏ tiền công đức để thành tựu
chuyện ấy được ư? Một là ông chẳng
biết thời cuộc gian nan, hai là chẳng biết Quang
là người như thế nào. Ư ông muốn Quang đứng
ra quyên mộ, chẳng biết từ trước tới
nay, Quang chưa hề mở miệng kêu gọi quyên góp. Do
vậy, chẳng trụ tŕ chùa miếu, chẳng thâu đồ
đệ. Nếu ai có tín tâm cúng thí khoản tiền nào, th́
hoặc là in sách, hoặc cứu trợ tai nạn, trọn
chẳng tích cóp, để mong khi chết, ngoại trừ
quần áo, chăn mền thường dùng, chẳng có vật
ǵ đáng giá. Chẳng mong khiến cho kẻ sử
dụng tài vật mà tôi đă tích lũy,
chửi tôi là con quỷ tham lam! Vốn biết quê tôi và người
nhà tôi, chẳng biết Phật pháp và Tăng hành xử
như thế nào, cho nên chẳng dám thư từ qua lại.
Sợ chẳng biết t́nh đời, họ đường
xa t́m đến, chẳng biết đối xử như
thế nào? Đi về phải tốn mấy chục
đồng. Dẫu hoàn lại lộ phí cho họ, họ
đă chịu thiệt tḥi lớn, mà tôi cũng chẳng có
sức làm chuyện ấy! Quang là một tăng nhân nghèo
nàn, sao có thể bày ra chuyện đó để tự hại,
hại người!
Năm
ngoái, do Trương Trí Giáp cho biết đă mở Niệm
Phật Xă, cho nên gởi sách, ngơ hầu họ biết lợi
ích chân thật của Phật pháp, chẳng đến nỗi
xen lẫn ngoại đạo vào Phật pháp. Chuyện gởi
sách có lẽ có thể tiếp tục gởi, c̣n bất cứ
chuyện nào khác đều chẳng thể giúp tiền hay
tán trợ được! Tăng nhân chẳng biết pháp,
thường dùng tiền bạc của thập phương
thí chủ để nuôi nấng kẻ tục gia. Đó là
hành vi của hạng người thô tục trọc đầu,
là chủng tử địa ngục! Nếu mong mỏi
Quang làm chuyện ấy, c̣n quá đáng hơn xem Quang là kẻ
chẳng đáng nửa đồng!
Niệm
Phật Đường là chỗ đề xướng.
B́nh thường niệm Phật, hăy nên ai ở nhà nấy.
Không chỉ chẳng phải bôn ba, mà c̣n chẳng lỡ làng
công việc. Nếu không có chỗ kha khá, th́ miếu Quan
Đế ở ngoài cửa Đông, hoặc miếu Thành
Hoàng trong thôn, hoặc từ đường của gịng họ,
hoặc từ đường của chi họ, mỗi
tháng một hoặc hai lần, tuyên nói đại lược
đề xướng. Ngoài ra, ai nấy tự niệm Phật
tại nhà ḿnh sẽ tốt hơn nhiều! Cứ ắt
muốn dựng đền miếu rồi mới siêng
năng tu hành, tức là chẳng biết lẽ thật
trong tu hành, chính là hành vi của kẻ chỉ cốt phô
trương cái danh. Huống hồ hiện thời là lúc khẩn
bách, nhận được tiền công đức, gặp
chuyện khó khăn riêng, chẳng thể không dùng. Dùng rồi
chẳng có cách nào hoàn lại, sẽ trở thành lỗi lầm
to lớn.
Tôi
từng nghe người già cả nói: Trong tộc họ của
tôi, có ông X… trong thuở thái b́nh thời Đạo Quang - Hàm Phong, đă quyên mộ người giàu có trong Triều
Ấp để xây cất Ngọc Cục Quán gồm chừng
đó ṭa điện đường, lại c̣n dựng
Khôi Tinh Lâu. [Rốt cuộc], Ngọc Cục Quán chỉ là một
ngôi miếu nhỏ, Khôi Tinh Lâu chính là nơi đầu
tường phía Đông của sân khấu bèn xếp mấy
mảnh ngói thành Khôi Tinh Đường! Khoản tiền
đóng góp ấy đều dành cho chính ḿnh sử dụng.
Về sau, cả nhà ấy chết sạch. Tiền tài của
mười phương, chỉ có người đạo
đức có thể nắm giữ. Nếu không, khó tránh khỏi
gây nên thói tệ, chuốc lấy
tai họa.
Quán
Âm Đường ở phía Đông xă ta, bị giặc Hồi
Hồi[33]
đốt trụi. Mấy năm sau, mọi người
đề xướng trùng tu. Thầy phong thủy nói: “Xây
cao th́ chẳng có lợi phương Đông, nhưng có lợi
cho phương Tây”. Mời cha tôi và một vị lăo nhân ở
thôn Tây trông coi chuyện ấy. Ông ta nghe lời thầy
phong thủy, cực lực muốn xây cao. Chẳng đầy
một năm, ba đứa con của ông ta chết mất
một. Đă thế, con dâu trong nhà nhảy xuống giếng tự tử. Muốn
lợi cho phương Tây mà đâm ra phương Tây mắc
họa, bất lợi cho phương Đông mà rốt cuộc
phương Đông chẳng sao! Do vậy, biết mọi
sự đều phải tuân theo lẽ công, chớ nên xen tạp
ư riêng tư. Xen tạp ư riêng, sẽ khó đạt
được kết quả tốt.
Năm
Quang Tự 23 (1897), gặp trận đói lớn, ở Hợp
Dương, phàm là người đọc sách lo liệu việc
cứu tế, không ai chẳng vướng thói tệ! Sau trận
đói năm ấy, người tố
cáo có đến hơn bốn mươi hai chỗ. Thôn ta
cũng thế (mọi người ồn ào, nhưng
chưa tố cáo). Chỉ có ở thôn Tây chẳng mời
người đọc sách lo liệu. Một ông lái buôn già
họ Ngỗ đă nghỉ hưu lâu ngày tại nhà,
[đảm nhiệm việc cứu tế], trọn chẳng
có mảy may thói tệ nào. Hễ nhận được gạo
cứu trợ liền chia ngay, trọn chẳng giữ lại.
Triều Ấp cũng thế, chẳng có người
đọc sách nào không vướng thói tệ. Một
người buôn bán [lo liệu cứu tế] cũng giống
như ông Ngỗ ở thôn Tây. Có thể thấy là thói đời,
hễ hơi có quyền thế, sẽ cậy thế hiếp
đáp người khác. Hai người không vướng
thói tệ ấy, chẳng phải là thật sự hiểu
biết nhân quả, biết tội phước, mà là do
không có quyền thế cho nên chẳng dám làm. Hễ làm, sẽ
bị kẻ khác công kích, cho nên đạt được
tiếng thơm! Do ông trẻ tuổi, có sức lực, sau
này chắc sẽ được giao phó chuyện này nọ,
cho nên tôi nói sẵn lẽ lợi hại vậy!
Ấn Quang Pháp
Sư Văn Sao Tam Biên Bổ, phần 1 hết
[1]
Đây là tác phẩm ghi lại những nét chánh yếu về
lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ, Trung Hoa,
và Nhật Bản. Sách do hai pháp sư thuộc Tịnh Độ
Chân Tông của Nhật Bản là Ô Địa Mặc Lôi
(Shimaji Mokurai) và Sanh Điền Đắc Năng (Oda Tokuno)
biên soạn bằng tiếng Nhật. Tác phẩm này được
các vị pháp sư Thích Thính Vân và Thích Hải Thu dịch
sang tiếng Hán, in lần đầu vào năm Tuyên Thống
thứ ba (1911) đời Thanh.
[2]
Kim Lăng Khắc Kinh Xứ là cơ sở văn hóa Phật
giáo nổi danh của Trung Hoa. Cơ sở này do cư sĩ
Dương Nhân Sơn sáng lập vào năm Đồng Trị
thứ năm (1866) tại Nam Kinh (do tên cổ của thành Nam
Kinh là Kim Lăng cho nên gọi tên như thế). Cư sĩ
Dương Nhân Sơn dạy học tại đó và chủ
tŕ ấn loát hơn bốn mươi năm, ấn hành hơn
trăm vạn bộ sách, và mười mấy vạn h́nh Phật.
Tại đây, cụ Dương c̣n sáng lập các cơ sở
giáo dục như Kỳ Hoàn Tinh Xá, Phật Học Nghiên Cứu
Hội v.v… Các vị đại đức Phật giáo nổi
tiếng thời đó như Thái Hư đại sư, Âu
Dương Cánh Vô, Chương Thái Viêm, Tạ Vô Lượng,
Mai Quang Hy v.v… đều từng tham học tại đây.
Năm 1922, Âu Dương Cánh Vô và Lữ Trừng thành lập
Chi Na Nội Học Viện tại đây để nghiên cứu
Pháp Tướng. Trong số các học viên, có những người
nổi tiếng như Lương Khải Siêu, Lương
Sấu Minh, Vương Ân Tường, Hùng Thập Lực.
Sang thời Mao Trạch Đông, cơ sở này ngừng hoạt
động. Măi đến năm 1980, do chánh sách tôn giáo được
nới lỏng, cụ Triệu Phác Sơ mới phục hưng
cơ sở này.
[3] Nguyên văn là “tụ trân” (聚珍). Tức là cách dùng các con chữ rời
bằng kim loại sắp vào khuôn, in thành từng trang. Do vào năm 1773 (tức năm Càn Long 38), sau khi Tứ
Khố Toàn Thư hoàn thành, muốn in ra, nếu dùng lối
in khắc ván truyền
thống sẽ tốn công rất
lớn, chi phí rất cao, lại khó thể hoàn thành đúng
kỳ hạn. Hơn nữa, khả năng bị khắc sai sót rất lớn. Đại thần Kim Giản bèn kiến nghị cho thợ
khắc từng chữ rời bằng gỗ táo rồi xếp
vào khuôn theo từng trang để in. Sau khi
in thử, duyệt lại, hễ thấy lỗi ở
trang nào, chỉ cần sắp chữ lại trang đó, không
cần phải khắc lại từ đầu. Công tŕnh này cần đến 25.000
chữ rời để ấn loát. Vua Càn Long rất thích
thú với kiến nghị này, đă đổi tên gọi Hoạt
Tự (chữ rời) thành Tụ Trân (chất chứa của
báu). Sau này, Trung Hoa Thư Cục dùng kim loại đúc thành
chữ rời, font chữ theo lối Phỏng
Tống. Các bản in bằng lối này được gọi
là Tụ Trân Phỏng Tống Bản, hay chỉ gọi tắt
là Tụ Trân.
[4]
Hàn Tương Tử, tự Thanh Phu, là một trong Bát Tiên
theo tín ngưỡng của Đạo giáo. Theo truyền
thuyết, ông này sống vào đời Đường, theo
học đạo với Lữ Động
Tân, giỏi âm nhạc. Tương truyền, khúc nhạc
Thiên Hoa Dẫn của Đạo giáo do ông chế ra. Ông
thường được vẽ h́nh như một chàng
trai trẻ, tay cầm ống sáo. Hậu nhân cho rằng ông ta
tên thật là Hàn Tương, là cháu trai của văn hào Hàn
Dũ, nhưng các nhà khảo cứu cho rằng đây chỉ
là sự gán ghép trong truyền thuyết dân gian, v́ Hàn
Tương làm quan tới chức Đại Lư Thừa, chẳng
hề tu tiên.
[5]
Nhận (仞) là một đơn vị đo
độ dài thời cổ. Thông thường Nhận được
hiểu là chiều dài của cánh tay một người
đàn ông trưởng thành. Đời Châu, một Nhận
là tám thước, đời Hán coi bảy thước là một
Nhận, nhưng về sau, thường coi tám thước
là một Nhận. Thước ở đây là thước Tàu
(Xích) khoảng 33 cm.
[6] Trong âm Phổ Thông, cả hai chữ này (眺 và 跳) đều đọc
là Tiào nên mới có sự lầm lẫn như thế. Cũng
giống như thế, do Nhiếp (攝, Shè) và Xả (舍, Shě) có âm đọc gần
giống nhau nên bị sai ngoa. Thậm chí, họ
c̣n bịa truyện gọi là Quán Âm Khiêu v́ Quán Âm thị hiện
thần lực nhảy ra đứng giữa biển
cả để dằn mặt
các thần thánh muốn tranh giành đạo tràng Phổ
Đà của Ngài.
[7] Trinh Tiết Tịnh Độ Viện
chính là nhà của ông Cao Hạc Niên. Tính ông Cao Hạc Niên
thích du lịch, thường đi khắp các thánh tích chiêm
bái. Tuy có vợ, nhưng hai vợ chồng đối với
nhau tương kính như khách, chưa bao giờ ân ái.
Năm Dân Quốc thứ mười (1921), ông về
thăm nhà, thấy vợ đă già, không có con cái nương tựa, cảm
mộ vợ thủ tiết, hiếu thuận với bố
mẹ chồng như cha mẹ ruột, bèn sửa nhà ḿnh
thành Trinh Tiết Tịnh Độ Viện cho vợ ḿnh và
các phụ nữ góa chồng, hoặc các cô trinh nữ thề
không lấy chồng sống ở đó chuyên tu Tịnh
nghiệp. Xem chi tiết trong bài kư Giang Tô Hưng Hóa Lưu
Trang Trường Trinh Tiết Tịnh Độ Viện Bi
Kư trong Ấn Quang Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên.
[8] Đạo Doăn là một chức vụ
thời Dân Quốc. Năm Dân Quốc thứ ba (1914), chính
quyền Viên Thế Khải quy định mỗi tỉnh
được chia thành nhiều đạo, mỗi đạo
gồm nhiều huyện. Cả nước có tất cả
chín mươi ba đạo, đổi chức vụ Quan
Sát Sứ của mỗi tỉnh thành Đạo Doăn, có trách
nhiệm quản trị sự vụ của các huyện
thuộc về Đạo ấy.
[9] Nguyên văn “lệ trạch chi hỗ
ích”. Lệ Trạch là thành ngữ miêu tả t́nh bạn
thân thiết rèn giũa, giúp nhau tốt đẹp hơn.
Đây là một điển cố rút từ kinh Dịch khi
giảng về quẻ Đoài: “Lệ trạch đoài, quân
tử dĩ bằng hữu giảng tập”. Câu này
được chú giải là phần trên và phần dưới
của quẻ Đoài đều có h́nh dạng giống
như hai cái ao. Hai ao nước thông nhau, nước sẽ
lưu chuyển, không tù đọng nên đều đẹp
đẽ. Quân tử cũng giống như thế, cùng với
những người cùng chí hướng, tụ tập để bàn luận, răn nhắc nhau tập tành đạo
nghĩa.
[10] “Tàng đầu” có nhiều thể
loại, thông thường nhất là bài thơ có các chữ
đầu và cuối câu ghép thành một câu hoàn chỉnh, hoặc
chữ cuối trong câu sau phải chứa một phần của
chữ đầu trong câu cuối. Đối với thể
loại thứ nhất, bài thơ tiêu biểu thường
được nhắc tới là bài Tuyết Lôi của Liễu
Tông Nguyên: “Thiên sơn điểu phi tuyệt, vạn
kính nhân tung diệt, cô châu thoa lạp ông, độc
điếu hành giang tuyết” (Ngàn núi chim bay hết, muôn nẻo chẳng bóng người,
thuyền lẻ đội nón trúc, tuyết lạnh câu trên
sông). Bốn chữ đầu ghép thành “thiên vạn cô
độc” (muôn ngàn cô độc). Lối này thường dùng nhất, gọi
là “tàng đầu quán danh”. Cách này thường sử
dụng khi viết câu đối đề tên một công tŕnh hoặc
đền đài. Chẳng hạn như câu đối ở
chùa Khánh Sơn: “Khánh trị u thâm, mộ cổ thần
chung vong lũy kiếp. Sơn cư khoái hoạt, nhàn
hoa dă thảo liễu tam sanh”. Một cách phức tạp
hơn là bài Du Tử Tiêu Cung của Bạch Cư Dị,
như sau: “Thủy tẩy trần ai đạo vị
thường, cam ư danh lợi lưỡng tương
vong, tâm hoài lục động đan hà khách” (水洗塵埃道未甞, 甘於名利兩相忘, 心懷六洞丹霞客). Chữ
Thường (甞) trong
câu đầu có chứa chữ Cam (甘) trong câu
thứ hai. Chữ Vong (忘) cuối
câu thứ hai có chữ chứa Tâm (心) ở
đầu câu thứ ba v.v…
[11] Hạ Phụ là một hương
trấn thuộc khu Nguyệt Hồ, thành phố Ưng
Đàm, tỉnh Giang Tây.
[12] Cừu (裘) là danh xưng chung
để gọi các loại áo khoác chống lạnh làm bằng
da thú, thường là loại có lông dày.
[13] Địch Cát Lục là tác phẩm
do Nhan Mậu Do biên soạn vào đời
Minh, ghi chép những chuyện nhân quả báo
ứng trong lịch sử, nhằm khuyên những ai đang cầm
quyền hăy hành theo thiện đạo. Tên sách được
dựa theo một câu nói trong thiên sách Đại Vũ Mô của
sách Thượng Thư (kinh Thư): “Huệ địch
cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng”. Câu này
được chú giải là nếu thuận theo đạo
lư sẽ tốt lành, trái nghịch sẽ bị hung hiểm,
giống như bóng theo h́nh, tiếng vọng vang theo âm thanh.
[14] Tịch Tà Tập là tác phẩm phản
bác những luận điệu bôi nhọ Phật giáo của
giáo sĩ Công giáo Lợi Mă Đậu (Matteo Ricci). Tổ Ngẫu
Ích chỉ ra những quan điểm thiển cận, thiếu
hiểu biết đối với văn hóa Trung Hoa nói
riêng, cũng như kiến thức sai sót,
lệch lạc về
Phật giáo của Lợi Mă Đậu. Đồng
thời vạch ra những sai
lầm cơ bản của giáo sĩ Lợi Mă Đậu trong lập luận khi phê phán Nho gia và Phật giáo. Để lôi kéo Nho
sĩ chống đối Phật giáo, Lợi Mă Đậu tự
xưng ḿnh là Tây Thái Nho sĩ, và nghiên cứu đạo Nho,
nhưng do hiểu biết không đến nơi đến
chốn, ông ta bị các danh Nho thời ấy
chê là “thiết Nho hại
Nho” (trộm lấy đạo Nho để hại
đạo Nho).
[15] Danh xưng để biểu thị
sự tôn kính đối với mẹ người khác.
[16] Danh xưng biểu thị sự
tôn kính đối với cha của người khác.
[17] Theo từ điển
Từ Hải, Chỉ Bản là một lối in xưa,
người ta sắp bản in với các chữ in rời
bằng kẽm (tức là mỗi chữ đều
được đúc riêng biệt bằng kim loại, rồi
sắp vào khuôn gỗ thành trang), đưa vào máy in nén mạnh
trên giấy cứng cho lơm xuống. Khi cần in, sẽ chụp
những trang đó, không cần phải sắp chữ lại
[18] Vụ có thể hiểu hai
nghĩa:
1. Vụ là Vụ Châu, tức Ngô Châu
đời Tùy, lỵ sở tại thành phố Kim Hoa thuộc
tỉnh Chiết Giang.
2. Vụ là huyện Vụ Nguyên thuộc
Huy Châu (tỉnh Giang Tây).
[19]
Tức Hàn Dũ, Âu Dương Tu, Tŕnh
Di, Châu Hy là các lănh tụ của Tống Nho.
[20] Chúng
tôi chưa t́m được tài liệu về sách Tam Tự
Kính, nhưng căn cứ theo chữ Hán trong nguyên văn lá
thư của Tổ, sách này chẳng phải là Tam Tự
Kinh (三字經).
[21] Đây là một câu nói trong thiên Hiến
Vấn của sách Luận Ngữ. Các nhà chú giải giảng:
Cốc (轂) phải hiểu là bổng lộc.
“Đạo” ở đây là b́nh trị, hoặc chánh
sách sáng suốt, dân chúng an lạc. Theo các nhà
chú giải, câu này có ư nói: Kẻ làm quan khi đất nước b́nh trị
hưởng thụ bổng lộc là lẽ đương nhiên; nhưng
khi đất nước rối ren, vẫn thản nhiên
hưởng thụ bổng lộc th́ là điều
đáng nhục nhă.
[22] Cửu huyền thất tổ (九玄七祖) là danh xưng chỉ chung tổ
tiên bảy đời và con cháu chín đời thuộc nam
giới tính từ bản thân ḿnh. Cửu huyền là con cháu
nam giới trực hệ chín đời của chính ḿnh, thất
tổ là tổ tiên bảy đời tính từ chính ḿnh trở
lên. Do vậy, cửu huyền thất tổ chỉ có
nghĩa là tổ tiên và con cháu nhiều đời của
ḿnh, hay nói rộng hơn là toàn thể gịng họ nhiều
đời của chính ḿnh. Khi nói “siêu độ cửu huyền thất
tổ” tức là tu tập để trên
báo đáp tổ tiên, dưới cứu vớt con cháu. Không
hiểu v́ lư do ǵ, tại Việt Nam, nhất là miền Nam,
chữ Cửu Huyền Thất Tổ trở thành ư
nghĩa tổ tiên. Thậm chí một tông phái Phật giáo ở
Việt Nam c̣n gọi chỗ thờ vong sau chánh điện
là nhà Cửu Huyền, đến nỗi đă có người
phải thốt lên: “Cháu chắt nó chưa sinh ra mà cầu siêu sao được?” Thất
Tổ là phụ (cha), tổ (ông), tằng tổ (cố),
cao tổ (ông sơ), thái tổ (ông sờ), huyền tổ (ông sẩm) và hiển
tổ (đừng lầm với “hiển khảo” là từ ngữ để
gọi cha đă chết và “hiển tỷ” là từ ngữ để gọi mẹ đă chết). Cửu huyền là
con cháu tức tử (con), tôn (cháu), tằng tôn (chắt), huyền
tôn (chút), lai tôn (chít), côn tôn, nhưng tôn, vân tôn, và nhĩ tôn.
Do vậy, không bao giờ thấy bài vị thờ “cửu
huyền thất tổ” trong nhà người Hoa hay các từ đường,
chùa miếu.
Để thờ tổ
tiên, họ chỉ ghi “X… thị lịch đại tổ
tông chi linh/liên vị” (bài vị tổ tiên các đời
trong họ X….). Trong các chùa miền Bắc Việt Nam,
cũng không bao giờ thấy có cách đọc cầu siêu
cho cửu huyền thất tổ; có lẽ thói quen hiểu
“cửu huyền thất tổ là tổ tiên” chính là do một người truyền
sai, vạn người cùng dùng như vậy th́ dẫu sai cũng trở thành
đúng đó chăng?
[23]
Thành Đô c̣n gọi là Dung Thành, Cẩm Quan Thành, hay gọi
tắt là Dung, là tỉnh lỵ của tỉnh Tứ Xuyên,
là thành phố thương nghiệp, tài chánh, kỹ thuật,
văn hóa và giáo dục lớn nhất tại miền Tây
Trung Hoa. Nơi này chính là kinh đô thời cổ của chín
vương triều Cổ Thục, Thành Gia, Thục Hán (vương
triều của Lưu Bị), Thành Hán, Tiêu Thục, Tiền
Thục, Hậu Thục, Lư Thục và Đại Tây.
[24] Xin đừng lầm lẫn sách
này với tác phẩm Tự Tri Lục của tổ Liên
Tŕ. Tổ viết về chuyện hằng ngày xét ḿnh để
thanh tịnh tam nghiệp ḥng hành tŕ niệm Phật dựa
theo Công Quá Cách. Tự
Tri Lục nói ở đây là cuốn sách do Lưu Lữ
Thanh được bà Hồ nhờ cậy hắn viết
ra. Nguyên lai, Lưu Lữ Thanh quy y với pháp sư Bảo
Nhất trụ tŕ chùa Tư Phước ở núi Hồng
Loa. Vị này cũng là trụ tŕ chùa Cực Lạc ở Bắc
Kinh, có một nữ cư sĩ họ Hồ ở Hồ
Nam là đệ tử quy y. Bà này muốn phô trương
thanh thế cho thầy ḿnh cũng như
khoe khoang bản thân, bèn bàn bạc với Lưu Lữ Thanh, mua chuộc ông ta, vay mượn,
cắt xén các cảnh giới của bậc đại Bồ
Tát được mô tả trong kinh điển Đại
Thừa rồi mô tả như là cảnh giới tự
chứng của bà Hồ, viết thành Tự Tri Lục. Thầy
bà ta (pháp sư Bảo Nhất) do háo danh cũng viết
lời b́nh chú tán thán, khuyến khích đại chúng
lưu thông.
[25]
Đây là một tổ chức từ thiện khá lớn đầu thời Dân Quốc, có tên gọi
đầy đủ là Trung Quốc Hoa Dương Nghĩa
Chẩn Cứu Tai Tổng Hội (China International Famine
Relief Commission), có thành viên là người Hoa lẫn người
Âu Tây. Tổ chức này tồn tại đến năm
1949. Nguyên khởi là sau trận hạn hán dữ dội vào
năm 1920 tại Hoa Bắc, các tổ chức từ thiện
ráo riết hoạt động, kết hợp với tổ
chức Hồng Thập Tự Quốc Tế. Nhận thấy
cần có một sự hoạt động chung để
hoạt động cứu tế hiệu quả hơn,
Hoa Dương Nghĩa Chẩn Hội đă ra đời
vào tháng 11 năm 1921 tại Thượng Hải. Thành viên
đa số là người ngoại quốc, người Mỹ
chiếm đa số. Các thành viên người Hoa là những
người đă tiếp thụ nền giáo dục Âu Tây.
Trên cơ sở đó, năm 1928, đă thành lập Mỹ
Quốc Hoa Tai Hiệp Tế Hội (China Famine Relief USA Inc)
có trụ sở đặt tại Nữu Ước để
làm quỹ từ thiện vận động quyên mộ tại
Hoa Kỳ. Các hoạt động của hội rất
đáng nể, họ đă góp phần kiến thiết
đường xá và các công tŕnh thủy lợi, như công
tŕnh chống lũ tại Hoàng Hà. Năm 1922, họ
đă chi ra hơn năm mươi vạn
Mỹ kim để cứu trợ nạn đói tại Thiểm
Tây, đảo kinh Kính Huệ tại Thiểm Tây để
dẫn thủy nhập điền và chống lũ, giúp
cho việc tưới tiêu hơn 50 vạn mẫu đất
tại vùng Quan Trung. Người có công lớn nhất
là ông Oliver J. Todd (thường được người
Hoa gọi là Tháp Đức tiên sinh). Ông này là tổng công tŕnh
sư của các công tŕnh thủy lợi của hội.
[26] Tức sách Đại Phật Đảnh
Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ
Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Văn Cú của
tổ Ngẫu Ích gồm mười quyển.
[27] Tức Thủ Lăng Nghiêm Chỉ
Chưởng Sớ (c̣n gọi là Lăng Nghiêm Tân Sớ) do ngài Phật Điển sớ
giải, ngài Thông Lư giảng giải thêm. Sách được viết
vào đời Thanh, do ngài Phật Điển bất đồng ư kiến với Giao Quang đại
sư khi duyệt đọc bộ Lăng Nghiêm Chánh Mạch.
[28] Huệ Mạng Kinh là sách dạy về
thuật luyện nội đan, tức dùng vận khí, hô hấp
và tĩnh tọa để đả thông kinh mạch, thành
tựu nội đan với ước vọng trở
thành tiên. Sách do Liễu Hoa Dương biên soạn, tự
xưng là thâu thập tinh hoa của tam giáo, nhưng những
điều nói trong đó toàn là xuyên tạc danh từ Phật
giáo để chỉ các cách luyện đan. Chẳng hạn
họ gọi đỉnh đầu là Nê Hoàn cung, tức là
dùng danh xưng Nê Hoàn (Niết Bàn) để chỉ một
bộ vị trên thân thể.
[29] Nguyên văn “tam hiệu tự”, tương đương với
font size 16 trong Microsoft Word.
[30]
Khuê khổn là từ ngữ chỉ nơi ở của nữ
giới. Từ ngữ này cũng được dùng để
chỉ nữ giới.
[31] Tức bốn loại hoa do chư thiên tuôn xuống
để cúng dường người thuyết pháp như
kinh Pháp Hoa đă nói: Mạn đà la, ma ha mạn đà la, mạn
thù sa, ma ha mạn thù sa.
[32] Tức là loại xà pḥng nấu bằng
dầu thực vật. Thuở đó, tại Trung Hoa,
đa số xà pḥng nấu bằng mỡ động vật.
[33]
Hồi Hồi là một sắc dân thiểu số ở
Trung Hoa. Sắc dân này từ thời Đường vốn
có tên là Hồi Hột (tức là cách phiên âm của chữ
Uighur, nay phiên âm là Duy Ngô Nhĩ). Họ sống ở lưu
vực Tây Bắc Hoàng Hà cho đến Sơn Tây, nhưng tập
trung đông nhất tại Cam Túc, Thiểm Tây và Tân Cương.
Họ vốn là hậu duệ của sắc dân Đột
Quyết (Türklär) hỗn
huyết với các sắc dân Mông Cổ, Ả Rập v.v… Họ
theo đạo Hồi, nên gọi là Hồi tộc, hay Hồi
Hồi. Điểm phân biệt là tuy theo đạo Hồi,
họ sử dụng tiếng Hán, và phần lớn tuân theo
truyền thống văn hóa Hán tộc ngoại trừ các
truyền thống của đạo Hồi (như không ăn
thịt lợn, phục sức theo kiểu Hồi giáo). Thậm
chí phụ nữ Hồi Hồi cũng bó chân giống như
người Hán cho đến năm 1948 mới thôi. Trong khi
đó, người Uighur tuy cũng theo đạo Hồi, nhưng
có ngôn ngữ riêng cũng như tập tục văn hóa khác
biệt, cho nên không được xếp vào tộc người
Hồi Hồi. Loạn Hồi Hồi là cuộc khởi loạn
người Hồi tại vùng Cam Túc và Thanh Hải vào năm
1895 do sự tranh chấp giữa hai giáo phái Sufi của đạo
Hồi.