Ấn Quang Pháp Sư
Văn Sao Tam Biên (phần bổ sung)
phần 4
(nguyên tác: Ấn
Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ)
印光法師文鈔三編補
Chuyển ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Đức
Phong và Huệ Trang
IV. Luận văn
* Giải trừ nghi hoặc về
chuyện Trầm Hà Sanh sanh Tây (Ấn Quang đại
sư b́nh luận, Trầm Thọ Nhân ghi lại)
Hết
thảy mọi việc trong thế gian và xuất thế
gian đều do nội nhân và ngoại
duyên mà được
thành tựu. Đứa trẻ Hà Sanh đời trước cố nhiên là có thiện
căn. Nếu chẳng nhờ cha nó dạy niệm Phật
cầu sanh Tây Phương, và nghe sẵn lợi ích do trợ
niệm khi lâm chung, chắc chắn nó sẽ khó thể chánh
niệm rạng rỡ, niệm Phật ra đi. Do hễ cảm
thấy đau đớn, khổ sở khó thể chịu
đựng, nếu gặp phải quyến thuộc chẳng
biết nặng nhẹ, ắt sẽ đau đớn, thương tiếc, an ủi,
phá hoại chánh niệm [của
người sắp mất]. Phàm t́nh đă dấy lên, Phật
niệm liền diệt mất. Lúc ấy, tột bậc
khẩn yếu! Người tu Tịnh nghiệp hăy nên nói sẵn
[với quyến thuộc những điều này]. Chắc
là có người cho rằng một đứa trẻ non nớt,
niệm Phật chưa được bao lâu, sao có thể văng
sanh? Cần phải biết: Văng sanh Tây Phương hoàn toàn
cậy vào Phật lực. Nếu có ḷng tin chân thành, nguyện
thiết tha, mười niệm vẫn có thể được
văng sanh; huống hồ Hà Sanh theo đuổi tịnh nghiệp đă hơn
một năm ư?
Bốn mươi
tám nguyện của A Di Đà Phật được chép trong
kinh Vô Lượng Thọ, nguyện thứ mười tám
là: “Nếu có chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về cơi
ta, dẫu chỉ mười niệm, mà nếu chẳng
sanh về, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Nguyện
thứ mười chín là: “Nếu có chúng sanh phát Bồ
Đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn
sanh về nước ta. Khi lâm chung, giả sử ta chẳng
cùng đại chúng vây quanh, hiện ra trước người
ấy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Nguyện
thứ hai mươi là: “Nếu ta thành Phật, mười
phương chúng sanh nghe danh hiệu của ta, hệ niệm
cơi ta, gieo các cội đức, chí tâm hồi hướng,
muốn sanh về cơi ta, nếu chẳng được toại
nguyện, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Dùng ba
nguyện ấy để xét, biết Phật niệm chúng
sanh c̣n hơn chúng sanh niệm Phật! Phàm người lâm
chung nếu trọn đủ ḷng thành “tín nguyện niệm
Phật cầu văng sanh”, lại được sức
trợ niệm đôn đốc, nhắc nhở của quyến
thuộc, ngay trong lúc Phật rủ ḷng Từ tiếp dẫn ấy, nếu
chẳng có quyến thuộc tối tăm, ương bướng,
không hiểu biết phá hoại, chắc chắn có thể
cậy vào Phật lực, đới nghiệp văng sanh. V́
thế, chẳng cần phải luận định tu tŕ lâu
hay mau! Mười niệm c̣n văng sanh, huống hồ [đứa bé ấy đă niệm Phật]
hơn một năm ư? Huống hồ nó được
quyến thuộc và chư Tăng giúp đỡ ư?
Như người
rơi xuống biển, bỗng có thuyền đến cứu.
Có người giúp th́ lên được thuyền; có kẻ
phá hoại, vẫn rơi xuống biển. Sanh tử tồn
vong, chỉ trong khoảng chớp mắt! Đối với
chuyện được giúp hay bị phá hoại khi lên thuyền
đă chẳng nghi, sao lại ngờ vực chuyện được
trợ niệm hay bị phá hoại vậy? Sanh nghi đối
với chuyện này tức là chẳng tin lời Phật; dẫu
có sức tu tŕ sâu xa, vẫn khó văng sanh. V́ lẽ nào vậy?
Do có nghi t́nh ấy, sẽ chẳng tương ứng với
Phật. Đă chẳng tương ứng với Phật,
sao có thể nương vào từ lực của Phật cho
được? Phàm là người tu Tịnh nghiệp, ắt phải hiểu sâu xa nghĩa
này, th́ mới chẳng cô phụ ân Phật, chẳng khiến
cho nguyện của chính ḿnh hư luống vậy!
* Giải thích đại lược
về Tam Chuyển Tứ Đế Pháp Luân
Đầu
tiên là Thị Tướng Chuyển (示相轉, chuyển pháp luân bằng
cách dạy về tướng trạng của Tứ Đế),
tức là nói: “Đây là Khổ, có tánh chất bức bách.
Đây là Tập, có tánh chất chuốc vời. Đây là Diệt,
có tánh chất có thể chứng. Đây là Đạo, có tánh
chất có thể tu”. Hai là Khuyến Tu Chuyển (勸修轉, chuyển pháp luân bằng
cách khuyên tu), nói: “Đây là Khổ, ông hăy nên biết. Đây
là Tập, ông hăy nên đoạn. Đây là Diệt, ông hăy nên
chứng. Đây là Đạo, ông hăy nên tu”. Ba là Tác Chứng
Chuyển (作證轉, chuyển pháp luân bằng cách làm chứng), tức là nói: “Đây
là Khổ, ta đă biết. Đây là Tập, ta đă đoạn.
Đây là Diệt, ta đă chứng. Đây là Đạo, ta
đă tu”.
Khuyên người
niệm Phật cầu sanh Tây Phương, cốt sao đơn
giản, rơ ràng, thẳng chóng, cố nhiên chẳng cần dẫn
tràn lan sang pháp môn Tứ Đế, nhưng muốn chỉ bày
sự khó dễ giữa hai thứ liễu sanh thoát tử cậy
vào tự lực hoặc nương vào Phật
lực, đặc biệt mượn
chuyện này để làm căn cứ so sánh giữa đôi
bên. Đă biết nghĩa này, ai chịu bỏ Phật lực
để chuyên cậy vào tự lực nữa ư? Nay giải
thích đại lược nghĩa ấy, phần văn từ
so sánh sẽ nói kèm thêm vào phần giải thích ư nghĩa ấy.
Tam Chuyển Tứ Đế
Pháp Luân chính là khi đức Phật mới thành Chánh Giác, nơi
Lộc Dă Uyển, v́ những người đă theo Ngài tu đạo
như Kiều Trần Như, Át Bệ, Bạt Đề,
Thập Lực Ca Diếp, Câu Lợi mà nói pháp môn này. Họ
nghe xong, đều đắc
quả A La Hán. Tăng Bảo v́ thế bèn hiện hữu
trong thế gian. Tứ Đế là bốn pháp Khổ, Tập,
Diệt, Đạo đều chân thật, chẳng hư giả, trọn chẳng có ư
nghĩa sai lầm. “Chuyển” có nghĩa là lần lượt
truyền dạy. “Luân” là thí dụ, ví như bánh xe trong cơi đời có
thể nghiền nát, hoặc vận chuyển
các vật. Đức Phật dùng pháp này nói với chúng
sanh, chúng sanh nương theo đó tu tập, sẽ có thể
phá trừ phiền năo Hoặc nghiệp. Đó là ư nghĩa “nghiền
nát”. Hoặc nghiệp đă phá, liền có thể đích
thân chứng đế lư Niết Bàn bất sanh bất diệt,
tức là ư nghĩa “chuyên chở”. Do v́ các nghĩa ấy,
bèn gọi là “pháp luân”.
Đầu
tiên là Thị Tướng Chuyển, tức là trước
hết chỉ dạy tánh tướng ấy như thế
nào, khiến cho [người nghe] biết lẽ lợi, hại,
sẽ quyết định giữ lấy hay bỏ đi. Đấy
là Khổ, có tánh chất bức bách. Chữ “đấy”
là nói đến các khổ quả phải hứng chịu,
nghĩa là sắc thân chánh báo này và y báo quốc độ.
Nay nói theo sắc thân, hễ có sắc thân này, liền có tám loại khổ như
sanh, lăo, bệnh, tử, ái biệt ly (yêu thương mà phải
chia ĺa), oán tăng hội (oán ghét mà cứ phải gặp gỡ),
cầu bất đắc (cầu chẳng được),
Ngũ Ấm xí thịnh khổ (năm ấm lừng lẫy).
Tám loại khổ ấy, phú quư hay nghèo hèn đều cùng có.
Huống hồ ai nấy do nghiệp riêng mà cảm vời
sự khổ riêng biệt. Do các nỗi khổ ấy, bức
bách, năo loạn thân và tâm, khiến cho suốt một đời
người chẳng được tự tại.
Đấy
là Tập, có tánh chất cảm vời. Chữ “đấy”
nhằm nói đến hai
thứ Kiến
Hoặc và Tư Hoặc, chính là căn bản của sanh tử,
danh tướng rất nhiều, chẳng rảnh để
nói tường tận được! Nói ước lược,
tức là gặp cảnh bèn dấy lên tham, sân, si, và tham, sân,
si dấy lên khi không thấy cảnh. Phiền năo tuy nhiều, nhưng ba món
tham, sân, si đă gồm trọn chẳng sót. Tập có nghĩa là “tụ
tập”. Do có hai loại Hoặc ấy, cho nên có thể tụ tập hết
thảy các phiền năo, chuốc vời hết thảy khổ
báo. Do khởi các tâm thiện, ác v.v… sẽ tạo các nghiệp
thiện, ác v.v… Hễ có nghiệp, ắt phải hứng chịu
báo ấy. V́ thế, luân hồi dài lâu trong đường
thiện, nẻo ác của tam đồ lục đạo,
bao kiếp chẳng thể thoát ra.
Đấy
là Diệt, có tánh chất có thể chứng. Tức là diệt
các thứ khổ tập trên đây, sẽ đạt được
lư thể bất sanh bất diệt. Do tu đạo Giới,
Định, Huệ, cho nên đoạn được cái nhân của sanh tử
là tham, sân,
si. Từ đấy, chẳng c̣n hứng chịu khổ quả luân hồi sanh
tử, chứng Niết Bàn bất sanh, bất diệt. V́
thế gọi là Diệt. Diệt có nghĩa là “không có”. Đă
chẳng có sanh, th́ cũng chẳng có diệt.
Bất sanh, bất diệt, cưỡng gọi là Diệt.
Ví như mây mù ngăn chướng hư không, một trận
gió mạnh vừa thổi, mây mù tiêu trừ. Hư không vốn
sẵn có do vậy bèn hiện ra. Khi mây mù ngăn chướng,
hư không vốn chưa từng diệt. Khi mây mù tiêu tan, hư
không vốn chưa từng sanh. Bản thể của hư
không cố nhiên là thường hằng, bất biến, tướng
“sáng, tối, thông, tắc” của nó quả thật khác biệt
một trời, một vực. Hiểu rơ điều này mà
chẳng phát tâm tu Đạo ḥng chứng Diệt, chẳng
có lẽ ấy! Lư này, ai nấy đều có. Nếu chịu
tu Đạo, chẳng có ai không đạt được!
V́ thế nói là “có tánh chất có thể chứng”.
Đấy
là Đạo, có tánh chất có thể tu. Chữ “đấy”
chính là nói về Giới, Định, Huệ. Do Phật pháp
tuy vô lượng, vô biên, nhưng ba môn Giới, Định,
Huệ đă thâu nhiếp không ǵ chẳng tận. “Đạo”
có nghĩa là “có
thể thông”, ư nói: Nương vào đạo
Giới, Định, Huệ để tu, ắt sẽ có
thể đoạn cái nhân của sanh tử là tham, sân, si, chẳng
hứng chịu cái quả sanh tử luân hồi trong tam đồ
lục đạo, đích thân đắc Niết Bàn bất
sanh bất diệt vốn sẵn có trong tự tâm, nhưng
đạo Giới, Định, Huệ ấy cũng sẵn
có trong tự tâm. Chẳng tu th́ trọn chẳng phải là
ta có, tu th́ cố nhiên chẳng do bên ngoài tới. V́ thế nói
là “có tánh chất có thể tu”. Bốn loại pháp ấy
đều là nêu ra cái quả trước, sau đó chỉ
bày cái nhân. Khổ là quả của Tập, Tập là cái nhân
của Khổ. Diệt là cái quả của Đạo, Đạo
là cái nhân của Diệt. Nói như thế khiến cho họ
biết Khổ mà đoạn Tập, hâm mộ Diệt mà
tu Đạo.
Điều
thứ hai Khuyến Tu Chuyển. Đă biết tánh, tướng,
lợi, hại, nếu chẳng chân thật tu tŕ, sẽ chẳng
thể đạt được lợi ích, xa rời họa
hại. V́ thế, khuyên rằng: “Đây là Khổ, ông nên
biết. Đây là Tập, ông nên đoạn. Đây là Diệt,
ông nên chứng. Đây là Đạo, ông nên tu”. Do muốn
ĺa khổ quả, trước hết phải đoạn
cái nhân là Tập, muốn chứng lư Diệt, trước hết
phải tu đạo phẩm.
Điều
thứ ba là Tác Chứng Chuyển. Do trước khi đức
Phật xuất thế, trọn chẳng có nghĩa này; nay
tuy nói ra, sợ c̣n hoài nghi. V́ thế, dẫn sự từng
trải của chính ḿnh để làm chứng cứ, bèn nói
rằng: “Đây là Khổ, ta đă biết. Đây là Tập,
ta đă đoạn. Đây là Diệt, ta chứng. Đây là
Đạo, ta đă tu”. Muốn biết đường
dưới núi, phải hỏi người đă từng đi qua. Đức Phật là người
từng trải, lời của Ngài chắc chắn đáng
nương cậy. V́ thế, năm vị ấy nghe xong, đều
chứng quả A La Hán. Năm vị ấy túc căn đă
chín muồi, lại đuợc oai thần của Phật gia
bị, cho nên có thể được như thế.
Nếu xét
bất cứ sự chứng đắc theo đường
lối thông thường nào, sự khó dễ khác biệt rất
xa! V́ bậc Sơ Quả đă đoạn Kiến Hoặc,
vẫn cần phải bảy lượt sanh lên trời, bảy
lượt trở lại nhân gian mới chứng Tứ Quả.
Nhị Quả th́ một lần sanh trời, một lần
trở lại nhân gian mới chứng Tứ Quả. Tam Quả
th́ trải qua [tất cả các cơi trời] thuộc Ngũ
Bất Hoàn Thiên[1] mới chứng
Tứ Quả. Hoặc có vị trải qua Tứ Không Thiên[2], cố nhiên
chẳng dễ tính nổi số lượng năm tháng ấy!
Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả c̣n phải tốn
thời gian lâu dài như thế, th́ kẻ chưa đoạn
Kiến Hoặc sẽ càng khó khăn gấp bao nhiêu lần! Huống chi quả A La
Hán vẫn thuộc về Tiểu Thừa, cách biệt địa
vị Bồ Tát rất xa! Nếu có thể hồi Tiểu
hướng Đại th́ mới có thể nhập địa
vị Bồ Tát, tiến tu dần dần cho đến khi
thành Phật. Xét theo sự tự lực tu tŕ đạo Giới,
Định, Huệ để liễu sanh tử th́ khó khăn
đúng là như lên trời. Do vậy, Như Lai đặc
biệt mở ra một pháp môn “tín nguyện niệm Phật,
cầu sanh Tịnh Độ” để các vị Bồ
Tát đă chứng Đẳng Giác cũng như phàm phu tạo
ác nghiệp đều cùng văng sanh Tây Phương trong đời
hiện tại. Luận định theo giáo lư thông thường,
phàm phu trọn đủ Hoặc nghiệp, trọn chẳng
có phần liễu sanh tử. Chỉ có pháp môn Tịnh Độ,
nếu có đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha,
kiền thành tŕ Phật hiệu, sẽ có thể nương
vào từ lực của Phật, đới nghiệp văng sanh.
Hễ được văng sanh, ắt Hoặc nghiệp cũng
chẳng thể có, do cảnh duyên của Tây Phương thù
thắng như ḷ luyện to, mảy tuyết chưa đến
nơi, đă tan mất! Cũng như Kiếp Hỏa thiêu đốt
thế giới, tro cũng chẳng c̣n. Phật lực, pháp
lực, chúng sanh tâm lực, ba thứ ấy đều chẳng
thể nghĩ bàn. V́ thế, pháp môn đặc biệt này đă
đem lại lợi ích đặc biệt.
Cần phải
biết pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn vô thượng
để mười phương ba đời hết thảy
chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ
chúng sanh, thành tựu từ lúc tu nhân cho đến khi chứng
quả. Cơi đời lắm kẻ quen thói chẳng quan sát,
cho rằng pháp này v́ kẻ ngu phu ngu phụ mà lập ra, tự
cho rằng chính ḿnh là bậc trí huệ, chẳng chịu tùy
thuận tu tập, nhường cho ngu phu ngu phụ cậy
vào Phật lực, văng sanh Tây Phương, liễu thoát sanh
tử, siêu phàm nhập thánh. Kẻ tự cho ḿnh là bậc trí
huệ, trí lực vẫn chẳng thể đả động
Hoặc nghiệp! Chưa đoạn Hoặc nghiệp, sẽ
chẳng thể không hướng
đến tam đồ
lục đạo thọ sanh. Đă ở trong tam đồ,
lục đạo, ắt sẽ khác biệt người hạ
hạ phẩm văng sanh Tịnh Độ há chỉ một
trời một vực, huống hồ [so với] bậc thượng thượng
phẩm ư? Ngu phu ngu phụ cố nhiên là có thể coi thường,
nhưng ngu phu ngu phụ niệm Phật cầu sanh Tây
Phương, há có thể xem thường ư? Coi thường,
tức là khinh thường pháp để mười
phương chư Phật phổ độ thượng
thánh hạ phàm, tự lầm, lầm người cũng
to tát lắm thay! Chẳng đáng sợ sao? Chẳng đáng
kiêng dè sao? (chép từ bộ Trùng Đính Tây Phương Công
Cứ năm 1930).
* Bài văn phổ khuyến kính
tiếc giấy có chữ và tôn kính kinh sách
Người
sống trong thế gian, cái giúp cho thành đức, đạt tài,
kiến lập công nghiệp, cho đến có một tài, một
nghề để nuôi thân và gia đ́nh, đều là do sức
chủ tŕ của văn tự giúp cho được thành tựu.
Chữ viết là của báu cùng tột trong thế gian, có thể
khiến cho kẻ phàm thành thánh, kẻ ngu thành trí, kẻ nghèo
hèn thành phú quư, người bệnh tật được
an khang. Đạo mạch của thánh hiền được
lưu truyền thiên cổ, chính ḿnh và gia đ́nh kinh doanh, truyền lại cho con
cháu, không ǵ chẳng nhờ vào sức của chữ viết.
Giả sử cơi đời chẳng có chữ, ắt hết
thảy sự lư đều chẳng thành lập, mà con người
cũng chẳng khác cầm thú! Chữ đă có công sức
như thế, cố nhiên nên trân trọng, yêu tiếc. Trộm
thấy người hiện thời tùy ư khinh nhờn, đúng
là coi vật chí bảo giống như cặn bă, có lẽ nào
chẳng bị chiết phước, giảm thọ trong đời
hiện tại, đời sau là kẻ vô tri vô thức ư? Lại nữa, không chỉ
chữ hữu h́nh chẳng thể khinh nhờn, vứt bỏ,
mà chữ vô h́nh càng chớ nên khinh nhờn, vứt bỏ! “Hiếu,
đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ”, nếu
không tận lực thực hành, sẽ là đă đánh mất
tám chữ ấy. Đă đánh mất tám chữ ấy th́
sống là loài cầm thú mặc áo, đội mũ, chết
đọa vào tam đồ ác đạo, chẳng đáng buồn
ư?
Hơn nữa,
nhà Nho trong thời cận đại, thảy đều chẳng
biết kính trọng sách, hoặc bỏ nơi giường,
chỗ ngồi, hoặc dùng để
gối đầu, hoặc dùng lời giáo huấn của
thánh nhân để bỡn cợt, hoặc dùng các lời khuôn
phép [của cổ thánh tiên hiền] để chứng minh
chuyện thô bỉ, hoặc giận dữ quăng sách xuống
đất, hoặc tiêu tiểu mà vẫn đọc sách. Đủ
loại khinh nhờn, chẳng thể nêu trọn! Không chỉ
sau khi đại tiểu tiện, nhất loạt chẳng
rửa tay, ngay cả đêm ngủ với vợ cũng chẳng
rửa tay [mà đă cầm sách]. Do vậy, bậc chân Nho ngày
một hiếm hoi, thế đạo ngày một ch́m đắm!
Nếu dùng thói quen ấy để xem kinh Phật, sẽ
chưa đạt được lợi ích, mà đă mắc
họa trước, đáng đau xót sâu xa! Khẩn cầu
nam nữ tín tâm, ai nấy hăy chú ư tôn kính kinh điển.
Ngay như nói đến sách Nho th́ cũng là khuôn mẫu tốt
lành “cách vật trí tri, chánh tâm, thành ư, tu thân, tề gia, trị
quốc, b́nh thiên hạ”, há nên mặc sức khinh nhờn?
Khinh nhờn tức là tự vứt bỏ bản thân ra ngoài
“minh minh đức, chỉ ư chí thiện” (làm sáng tỏ
đức sáng, đạt tới điều tốt lành tột
bậc). Kinh Phật nói về nhân quả ba đời
của chúng sanh và Phật, phàm phu luân hồi lục
đạo, phương pháp để trái nghịch trần
lao, xứng hợp giác ngộ, và đạo siêu phàm nhập
thánh, so với sách Nho chỉ nói tới đời hiện
tại, chẳng nói đến quá khứ và vị lai, chỉ coi trọng thân h́nh, chẳng trọng
tâm tánh, th́ càng thiết yếu hơn trăm ngàn vạn lần.
Cứ theo thói quen mà đọc sách Nho [chẳng hề tôn kính],
c̣n mắc đại tội! Nếu dùng thói quen ấy để
đọc kinh Phật, tội càng chẳng to lớn hơn
ư? Nếu có thể dốc cạn ḷng thành, trọn hết
ḷng kính, th́ tội nghiệp sẽ ngày một tiêu, phước
huệ ngày một tăng. Gần là văng sanh Tây Phương
trong đời hiện tại, xa là trong tương lai viên
thành Phật đạo. Tôi nguyện các đồng nhân tiếp
nhận lời quê kệch này th́ lợi ích trong đời
hiện tại và vị lai, [ai nấy] sẽ đều đích thân nhận lănh!
* Phủ quyết bài luận “Nhất
Tâm Niệm Phật Liền Được Văng Sanh” của pháp
sư Thủ Bồi
Tôi trộm
cho rằng: Trong thế giới thuộc đời Mạt
Pháp, trong Thiền, Giáo, Luật, thật sự khó có ai có thể
đoạn Hoặc, chứng Chân, ngay trong thân hiện tại
mà có thể thoát khỏi sanh tử luân hồi, bởi cậy
vào tự lực. Chỉ có pháp môn Tịnh Độ, bất
luận thượng, trung, hạ căn, chỉ cần trọn
đủ tín nguyện, đều có thể văng sanh, do cậy
vào Phật lực. Nhưng bài luận Nhất Tâm Niệm Phật
Liền Được Văng Sanh của pháp sư Thủ Bồi
thoạt đầu nói “tín, nguyện, niệm như ba chân
của cái đỉnh, khuyết một chẳng thể được
chính là lời nói của cổ nhân nhằm phù hợp căn
cơ một thuở, chẳng phải là lời nói thông thường.
Nhưng người thời nay chấp chặt, tức là
cam lộ ngược ngạo trở thành độc
dược”. Như thế th́ [ông ta đă] coi các ngôn luận
hoằng dương Tịnh Độ của Phật và các
vị đại tổ sư Đông Độ đều
là độc dược! V́ sao vậy? V́ khiến cho người
ta sanh ḷng tin quyết định!
Sau đó
lại nói: “Niệm Phật nhất định phải
sanh ḷng tin, phát nguyện. Chẳng có tín
nguyện, sẽ chẳng thể! Nếu phát khởi tín
nguyện, nhất định phải niệm Phật, chẳng
niệm Phật sẽ không được! Như thế
th́ có khác ǵ dựa theo một toa thuốc nhất định
để chữa bệnh, khó tránh khiến cho người
khác bị lỡ làng! Linh đan, diệu dược th́ người
bệnh nên uống, bệnh đă hết th́ chẳng uống
nữa. Kẻ chẳng bệnh, tuy có diệu dược,
chớ nên uống!” Nếu đúng như ông ta nói,
đức Phật và các vị tổ sư, thiện tri thức
Tây Thiên, Đông Độ đều là hạng lang băm hại
người! Người bệnh th́ uống, người không
bệnh chớ nên uống; thử hỏi ai là người
không bệnh? Ngài Phổ Hiền dùng “mười đại
nguyện vương dẫn về Cực Lạc” để
dạy Thiện Tài là bậc đă chứng bằng với
chư Phật, cũng như [khuyến tấn trọn khắp]
Hoa Tạng hải chúng. Do họ đều chưa ĺa bệnh
hoàn toàn, cho nên dạy họ uống thuốc. Nay pháp
sư Thủ Bồi dạy đức Phật, hay là dạy
chúng sanh trong chín pháp giới vậy? Nếu là dạy Phật
th́ Quang là kẻ ngu độn, kém cỏi, chẳng thể
hiểu được! Nếu dạy chín pháp giới, chẳng
tương phản với đức Phật, Phổ Hiền,
và các vị thiện tri thức ư? Kiểu ăn nói đao
to búa lớn ấy, ông X… c̣n chẳng cho là sai mà c̣n đăng
tải, sợ rằng sẽ chiêu họa chẳng
cạn!
Trong phần
sau, ông ta c̣n nói không có pháp Ngũ Giới, Thập Thiện, không
có đạo cương thường, không duyên chân thật
theo các pháp Lục Độ, vạn hạnh v.v… đúng là ăn
nói chẳng ra ǵ! Ngài Linh Phong (tổ Ngẫu Ích) bảo: “Chẳng
có tín nguyện, dẫu tŕ danh hiệu tới mức gió thổi
chẳng lọt, mưa tạt chẳng ướt, giống
như tường đồng, vách sắt, vẫn chẳng
thể nào văng sanh!” Chẳng có tín nguyện, th́ đều
thuộc về tự lực. Dẫu là công phu tinh thuần, chuyên dốc,
vẫn chưa đạt tới mức nghiệp tận, t́nh
không! Chẳng có tín
nguyện, sẽ không thể cậy vào Phật lực. Chưa
đạt đến mức nghiệp tận t́nh không, do tự
lực, cũng sẽ chẳng thể đạt
tới thế giới Cực Lạc là cảnh giới của
Phật, Bồ Tát. Kiểu nói ấy chính là luận định
chẳng thể sửa đổi được, tam thế
chư Phật đều tán thán. Nay pháp sư Thủ Bồi
chắc là bậc đại thiện tri thức đă đạt
tới lên cao tới đỉnh đầu Tỳ Lô[3]. Nếu không,
sao có thể bác bỏ luận định ấy? Phàm là người tu hành, không ai
chẳng tŕ giới, tu thiện, trọn hết đạo
cương thường luân lư. V́ thế, trong luật Tiểu
Thừa lẫn Đại Thừa, đều có nguyên tắc
chung “đừng làm các điều ác, vâng hành các điều
thiện”. Nay ông ta nói “người nhất tâm niệm Phật
chẳng có đạo hay đức”, chẳng lẽ người
nhất tâm niệm Phật là tượng đất nặn,
gỗ tạc ư? V́ vẫn mặc áo, ăn cơm, chẳng
khác ǵ người đời; nếu đă mặc áo, ăn
cơm, sao có thể chẳng có giới, thiện, cương
thường vậy? Hơn nữa, mặc áo, ăn cơm
đă chẳng trở ngại nhất tâm, vậy th́ sanh ḷng
tin, phát nguyện sao lại là tạp nhiễm, chẳng phải
là nhất tâm vậy? Nói tóm gọn một lời: Chỉ
biết ăn nói đao to, búa lớn, chưa từng thực
hành! Mong hăy phát tâm đại từ bi, phá tà kiến, chấp
trước lầm lạc của tôi, ngơ hầu lời luận
định của pháp sư Thủ Bồi trọn khắp
trong ngoài nước, đấy là điều Quang thơm
thảo mong mỏi. Hoằng pháp kiểu đó, Quang là phường
ngu độn, hèn kém, chẳng thể lănh hội được;
cho nên chẳng thể không thưa tŕnh ḷng ngu thành của chính
ḿnh. Nếu có diệu đế, xin hăy chỉ đích xác chỗ
Ấn Quang nói chẳng phù hợp đạo lư, xin hăy bài bác
để tháo gỡ chỗ vướng mắc, nhưng cần
phải đem nguyên văn lá thư của Quang gởi kèm
theo, ngơ hầu đối ứng với diệu nghĩa của
tọa hạ vậy!
* Phụ lục bài Nhất Tâm Niệm Phật
Liền Được Văng Sanh của pháp sư Thủ Bồi
Hoặc có
kẻ hỏi rằng: “Tín nguyện niệm Phật là ba thứ
tư lương của pháp môn Tịnh Độ, h́nh thế
như ba chân của cái đỉnh, khuyết một chẳng
thể được! Linh Phong Ngẫu Ích đại
sư nói: ‘Niệm Phật nếu chẳng có tín nguyện,
dẫu tŕ danh hiệu tới mức nhất tâm bất loạn,
gió thổi chẳng lọt, mưa tạt không ướt, giống
như tường đồng, vách sắt, cũng chẳng
có lẽ nào được văng sanh’. Cớ sao thầy ta
dạy nhất tâm niệm Phật liền được văng
sanh, khác với cổ nhân?”
Đáp: Phật
pháp chẳng có giống hay khác, do thời cơ mà có lớn
hay nhỏ. Nói đến Tín th́ là tin ngoài mười vạn
ức cơi Phật có Tây Phương Cực Lạc thế
giới A Di Đà Phật, chẳng sanh nghi hoặc. Dẫu
có tín tâm mà chẳng nguyện, chẳng niệm, khác ǵ kể
tên món ăn, đếm của báu ư? V́ thế nói thiếu khuyết nguyện và
niệm, sẽ chẳng thể văng sanh. “Nguyện” là ư
ưa muốn. Tin có Tây Phương Cực Lạc thế
giới, bảy báu trang nghiêm, vi diệu chẳng thể nghĩ
bàn. Nhưng có thể dấy ḷng ưa muốn, mà chẳng
niệm Phật, khác nào kể tên món ăn, chẳng nấu
nướng, mà mong được ăn ư? V́ thế, thiếu
khuyết niệm, cũng chẳng thể văng sanh. “Niệm” chính là nghĩ nhớ Tây
Phương A Di Đà Phật như con nhớ mẹ, niệm
nào cũng chẳng bỏ, lâm chung văng sanh Tây Phương, có
khác ǵ kể tên món ăn, nấu nướng rồi sau đó
ăn ư? V́ vậy, tín, nguyện, niệm như ba chân của
cái đỉnh, thiếu một thứ đều chẳng
thể được! Lời ấy tuy hay khéo, nhưng là lời
bàn luận nhằm phù hợp căn cơ một thuở,
chẳng phải là có thể thường nói như vậy
được! Nếu quyết định
chấp trước, chẳng dung thông, cam lộ ngược ngạo trở thành độc
dược! Tôi nói “nhất tâm niệm Phật liền được
văng sanh” chẳng khác ǵ điều ấy; nhưng đối
với ba pháp tín, nguyện, niệm, đừng nên dấy
ḷng chấp trước! Như nói “niệm Phật nhất
định phải tín nguyện. Chẳng tín nguyện, sẽ
không thể. Nếu tín nguyện th́ nhất định phải
niệm Phật, chẳng niệm Phật sẽ không được”,
có khác ǵ dùng một toa thuốc nhất định để
trị bệnh, há tránh khỏi không hại người? Tuy
linh đan mầu nhiệm, người chẳng có bệnh
sao lại dùng thứ ấy? Người bệnh
th́ nên uống, bệnh hết th́ bỏ đi. Đó là lư nhất
định!
Nếu hỏi:
“Nhưng niệm Phật mà chẳng có tín nguyện, như đỉnh
có hai chân, làm sao có thể đứng vững cho được?”
Đáp: Nếu có tín nguyện mà chẳng niệm Phật mà
có thể nói là “chẳng sanh”, vậy th́ niệm Phật mà
chẳng có tín nguyện, sẽ không thể nói là “chẳng
sanh”! V́ lẽ nào vậy? Nếu ai có thể nhất tâm niệm
Phật, chẳng nguyện sanh về Tây Phương, mà cũng
chẳng nguyện không sanh về Tây Phương, chẳng
nguyện ĺa Đông Độ, mà cũng chẳng nguyện
không ĺa Đông Độ, chẳng muốn sanh lên trời,
chẳng nguyện làm người, chẳng nguyện làm Tu La, chẳng
nguyện thành thần tiên, chẳng nguyện chứng Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chẳng nguyện đọa địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chẳng nguyện sanh vào các
cơi Phật ở Đông, Nam, Bắc, bốn góc, trên, dưới,
chỉ có nhất tâm niệm Phật, không có hết thảy
các niệm khác, gió thổi chẳng lọt, mưa tạt
chẳng ướt, giống như tường đồng,
vách sắt, hăy nói xem người ấy khi lâm chung, sẽ
sanh vào nơi nào! Nếu sanh vào Tứ Không Thiên th́ người
ấy thiếu cái nhân Không Định. Nếu sanh vào Tứ
Thiền Thiên, người ấy thiếu cái duyên ĺa hỷ
lạc. Nếu sanh vào Lục Dục Thiên, người ấy
lại thiếu đức “giới, thiện”. Nếu sanh
vào Tu La, người ấy lại chẳng ôm ḷng sân khuể.
Nếu sanh vào nhân gian, người ấy lại chưa hành các điều thiện
thuộc về cương thường. Nếu đọa
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người ấy
lại chưa hề vướng các tội “mắc nợ,
keo tham, Ngũ Nghịch, Thập Ác”. Nếu chứng Thanh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, người ấy lại chẳng
tu nhân duyên Tứ Đế, các pháp Lục Độ, vạn
hạnh v.v… Nếu sanh vào cơi Phật ở phương Đông,
kẻ ấy lại chưa từng niệm A Súc Phật. Nếu
sanh vào cơi Phật ở phương Nam, người ấy
lại chưa từng niệm Bảo Thắng Phật. Nếu
sanh vào cơi Phật ở phương Bắc, người ấy
lại chưa từng niệm [Bất Không] Thành Tựu Phật.
Bốn góc, trên, dưới cũng giống như thế. Nhưng
đă có cái nhân “nhất tâm thanh tịnh niệm A Di Đà Phật”,
nếu chẳng sanh vào Tây Phương Tịnh Độ, thử
hỏi sẽ sanh vào nơi nào? Chẳng lẽ sanh trong hư
không ư? Hư không lại chẳng phải là chỗ để
sanh. Hơn nữa, người ấy chưa từng niệm
hư không. Nếu chỗ sanh vào chẳng lấy niệm nhân
làm chủ, mà lấy tín nguyện làm chủ, tôi nghe cơi đời
có người tạo cái nhân “giết, trộm, dâm”, chưa từng nghe có ai phát nguyện đọa
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu thật
sự chẳng có nguyện sẽ chẳng sanh, vậy th́
tam đồ lẽ ra trống rỗng v́ chẳng có ai nguyện
[sanh vào đó]. Nếu tam đồ chẳng phải là chỗ
con người sanh vào th́ nhân quả báo ứng lại đặt
vào đâu? Đúng là chẳng biết: Nhất tâm niệm Phật
đă bao hàm hết thảy. Không chỉ tín nguyện được
gộp trong đó, mà Lục Độ, vạn hạnh, hết
thảy vạn pháp thảy đều đầy đủ.
Nhất tâm niệm Phật sẽ ngay lập tức là quốc
độ thanh tịnh, cần ǵ cứ phải chấp chặt
“phải sanh tín nguyện, phát nguyện” nữa ư? Niệm
đă là như thế, th́ nguyện cũng như thế, mà
tín cũng như thế. Pháp môn Tịnh Độ quư ở
nhất tâm. Nhất tâm là chủ, lấy tín, nguyện, niệm làm dụng. Đối với kẻ
hạ căn th́ hoàn toàn nên dùng; đối với người
trung căn, chẳng nhất định phải dùng. Đối
với người thượng căn th́ đơn dụng,
đối với người thượng thượng căn
th́ chẳng dùng mà cũng không chẳng dùng. Nếu ngay trong
khi niệm Phật mà lại xen tạp cái tâm “thích cơi kia, ghét
cơi này”, mà cái tâm ấy có thể nhất tâm bất loạn th́ là chuyện chưa hề có!
Niệm chẳng nhất, chẳng sanh Cực Lạc, nghe tên,
thấy h́nh, đều được văng sanh, há có phải
là hư huyễn ư?
* Lâm chung châu tiếp (臨終舟楫, mái chèo lâm chung)
Đức
Phật chế định hỏa thiêu vị Tăng đă
mất, vốn là khiến cho họ ĺa h́nh tướng phần
đoạn hư giả, chứng Pháp Thân chân thường.
V́ thế, từ khi đức Phật lập chế định
tới nay, Tăng chúng tuân phụng
thành quy củ thường lệ. Hiềm rằng pháp đạo
suy bại, lâu ngày nẩy sanh thói tệ! Hiện thời, Thích
Tử đều coi chuyện hỏa
thiêu cho xong chuyện, chẳng tuân theo quy chế. Thường
có chuyện lúc người bệnh
sắp mất, thở hắt ra, bèn thay áo, dời động
người ấy, và nhập khám[4] trong một
hai ngày,
liền cử hành hỏa thiêu. Có thể là trái nghịch chế
định của Phật rất lớn! Đức Phật
nói con người có tám thức, tức là sự hay biết.
Năm thức đầu tức là Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt,
Thân, Ư, thức thứ sáu là Ư Thức, thứ bảy là Mạt Na, c̣n gọi
là Truyền Tống Thức, thức thứ tám là A Lại Da,
c̣n gọi là Hàm Tàng Thức. Phàm người sanh ra, chỉ
có thức thứ tám đến trước nhất. Các thức thứ bảy, thứ sáu và
năm thức trước lần lượt đến
sau. Tới
khi chết, cũng là thức thứ tám ấy rời đi
sau cùng. Các thức khác lần lượt đi trước,
bởi thức thứ tám chính là linh thức của con người,
thế tục nói đến “linh hồn”, chính là nó vậy.
Nhưng cái thức ấy đă linh, cho nên con người thoạt
đầu vào trong thai mẹ, nó bèn đến trước
tiên. V́ thế, con ở trong thai mẹ chính là vật sống.
Cho tới khi người chết tắt hơi, nó chẳng
rời đi ngay, ắt phải đợi tới khi toàn thân
đều lạnh, chẳng c̣n một chút hơi ấm nào,
thức ấy mới rời đi. Thức rời đi,
thân thể chẳng c̣n mảy
may hay biết
nữa. Nếu c̣n chút hơi ấm, tức là thức ấy
chưa từng rời đi. Động
chạm vẫn biết đau khổ. Lúc ấy, phải tránh
các chuyện thay quần áo, xếp chân cho ngồi xếp bằng
v.v… Nếu hơi đụng chạm, ắt [người chết]
sẽ đau khổ khó thể chịu đựng nổi nhất, bất quá miệng chẳng
thể nói, thân chẳng thể động mà thôi! Xét ra, kinh
dạy: Thọ mạng, hơi ấm và thức, ba thứ
thường chẳng tách
ĺa. Như
người có hơi ấm, bèn có thức tồn tại. Thức
c̣n th́ thọ mạng vẫn chưa chấm dứt. Xưa
kia, có nhiều người đă chết dăm ba ngày bèn sống
lại, chép tường tận trong sách vở, rành rành có thể
khảo chứng được. Nho giáo cũng có lễ chế
“ba ngày mới đại liệm[5]”, v́ t́nh
quyến thuộc yêu thương, vẫn mong biết đâu
người ấy sống lại. C̣n như Tăng chúng bọn
ta, tuy chẳng mong người ấy sống lại, nhưng
cũng chớ nên không thấu hiểu nỗi thống khổ
của người đă chết, cứ lập tức dời
động và đưa đi hỏa thiêu, tâm từ bi tồn
tại ở chỗ nào vậy? Cổ
nhân nói: “Thố tử, hồ bi, vật thương kỳ
loại” (Thỏ chết, cáo buồn, loài vật thương
xót đồng loại). Loài vật c̣n như thế, huống
hồ cùng là nhân loại ư? Huống
nữa lại c̣n đều là Phật tử ư?
Hơn nữa,
con người khi tâm t́nh đau khổ cùng cực, dễ nẩy
sanh sân tâm. Do v́ sân tâm, dễ bị đọa lạc nhất!
Như kinh dạy, vua A Kỳ Đạt lập chùa tháp thờ
Phật công đức ṿi vọi. Khi lâm chung, thị thần
(người hầu)
cầm
quạt, lỡ tay làm rơi trúng mặt nhà vua. Vua bị đau,
dấy ḷng sân, chết đọa làm thân rắn. Nhờ có công đức, sau đó,
gặp sa-môn v́ nhà vua thuyết pháp. Do được
nghe pháp, bèn thoát thân rắn, được sanh lên trời. Xét
điều này, có thể biết khi thần thức của
người chết chưa rời đi, mà ngay lập tức
làm các chuyện như thay quần áo, dời động, và
lập tức hỏa thiêu, sẽ khiến cho người ấy
do đau đớn mà nổi sân, càng thêm đọa lạc.
Há chẳng phải là nhẫn tâm hại lư, cố t́nh làm
chuyện thảm độc ư? Hăy nên nghĩ ta và người
chết có cừu hận ǵ, mà do hảo tâm bèn tạo ác duyên?
Nếu nói là chuyện mơ hồ, chẳng thể khảo
cứu được, những điều ghi chép trong kinh
điển há chẳng đáng tin ư? Gần đây, đủ
thứ thói tệ lưu hành, nói chung là v́ người
c̣n sống chẳng thương xót nỗi khổ của người
chết, chỉ mong sao nhanh chóng cho xong chuyện, cho nên chẳng
hơi đâu mà xét kỹ ấm lạnh. Do vậy, quen thói
cho là chuyện thường! Dẫu có người chỉ
bảo, đâm ra chê cười là viễn vông, đến nỗi
khiến cho người chết có nỗi khổ nạn kéo
dài. Than ôi! Điều khổ nhất trong cơi đời không
ǵ hơn sanh tử. Sanh th́ như con rùa c̣n sống bị bóc
mai, chết th́ như con cua rơi vào nước sôi. Tám nỗi
khổ nung nấu, đau đớn chẳng thể nói nổi!
Nguyện những ai chăm sóc người bệnh, hăy chú tâm, cẩn thận, đừng
nói chuyện tạp nhạp với người bệnh khiến
tâm họ tán loạn, cũng chớ nên bi ai, ồn ào! Hăy nên
khuyên người bệnh buông xuống thân tâm, nhất tâm niệm
Phật để cầu văng sanh. Lại hăy nên trợ niệm,
khiến cho người bệnh nương theo tiếng niệm
Phật của ḿnh, trong tâm tưởng Phật. Nếu có
tiền tài, hăy nên thỉnh Tăng chúng chia ban trợ niệm
Phật hiệu, khiến cho tiếng niệm Phật ngày đêm
chẳng dứt, khiến cho tai người bệnh thường
nghe thấy tiếng Phật hiệu, trong tâm thường
niệm Phật hiệu, chắc chắn sẽ có thể nương
theo từ lực của Phật, văng sanh Tây Phương. Dẫu
chẳng có tiền bạc, mọi người cũng nên
phát tâm trợ niệm để kết duyên cuối cùng.
Đối
với chuyện sắp đặt hậu sự, đừng
bàn bạc trước mặt người bệnh. Chỉ
nên gơ dẫn khánh, cao giọng niệm Phật, ắt khiến
cho câu nào cũng đều lọt vào tai người bệnh,
khiến cho tâm người ấy thường chẳng rời
Phật. Tiếng mơ đục, khi lâm chung trợ niệm,
quyết chớ nên dùng. Tùy ư để cho người ấy
ngồi hoặc nằm, chớ nên dời động, mọi
người cứ chuyên tâm niệm Phật. Chờ tới
khi toàn thân đă lạnh buốt, tức là thần thức
đă rời đi. Lại để qua hai thời (bốn
tiếng đồng hồ), mới có thể tắm rửa,
thay quần áo. Nếu thân lạnh, trở thành cứng c̣ng,
hăy nên dùng nước ấm lau rửa, dùng vải ấm đắp
lên khủy tay, đầu gối, chừng ít khắc sẽ
có thể chuyển động. Sau đó, xếp bằng để
vào khám. Tới khi sắp đặt mọi việc xong xuôi,
càng cần phải chú trọng niệm Phật. Tất cả
chuyện tụng kinh, bái sám, đều chẳng có lợi ích
rộng lớn bằng niệm Phật. Phàm hết thảy
quyến thuộc tại gia và xuất gia đều nên nương
theo đó mà hành, th́ kẻ c̣n lẫn người mất đều
được lợi ích to lớn.
Hơn nữa,
đức Phật nhập Niết Bàn, vốn nằm bên hông
phải. Do vậy, [các đệ tử của Ngài để
nguyên tư thế nằm mà] nhập quan trà tỳ. Người
đời nay nếu thuận theo tự nhiên, ngồi mà mất
cũng nhập quan; nằm mà mất cũng nhập quan, sẽ
là thỏa đáng nhất. Nhưng người đời
nay đă thành thói quen, sợ chẳng nghĩ như vậy
là đúng, cũng chỉ thuận theo [họ thích xếp đặt
như thế nào để nhập quan] mà thôi. C̣n như cảnh
tướng thiện hay ác sau khi người ấy đă
chết, vốn có chứng cứ thật sự. Người
sanh vào thiện đạo, hơi nóng từ dưới dồn lên trên.
Kẻ sanh vào ác đạo, [hơi nóng sẽ] từ bên trên
giáng xuống dưới. Như toàn thân đều lạnh,
mà hơi nóng tụ về đỉnh đầu th́ sanh vào
thánh đạo. Tụ về mắt th́ sanh vào thiên đạo.
Tụ vào tim th́ là sanh trong nhân đạo. Tụ về bụng
th́ vào ngạ quỷ đạo. Tụ vào đầu gối
th́ đọa vào súc sanh đạo. Tụ vào bàn chân th́ đọa
địa ngục đạo. V́ thế, có kệ rằng:
“Đảnh thánh, nhăn thiên sanh. Tâm nhân, ngạ quỷ phúc.
Súc sanh tất cái ly. Địa ngục cước bàn xuất” (Đỉnh: Thánh; mắt:
Sanh thiên. Tim: Người. Ngạ quỷ: Bụng. Súc sanh: Đầu
gối ĺa. Địa ngục: Bàn chân ra). Sanh tử là chuyện
lớn, chẳng ai tránh được. Đối với
chuyện này, phải nên thận trọng bậc
nhất. Người chăm sóc bệnh nhân, hăy nên dùng bi tâm
đồng thể để giúp thành tựu đại sự
văng sanh. Cổ nhân nói: “Ngă kiến tha nhân tử, ngă tâm nhiệt
như hỏa. Bất thị nhiệt tha nhân, khán khán luân đáo
ngă” (ta thấy người khác chết, ḷng ta nóng như
lửa. Chẳng nóng ḷng ai khác, mà thấy đến lượt
ḿnh). Nhân duyên quả báo, cảm ứng chẳng sai. Muốn
cầu tự lợi, ắt phải lợi người khác
trước. Viết những điều này để bảo
khắp đồng bào, mong cầu ai nấy đều chú ư!
V. Bi kư
* Bi kư về chuyện công đức
quyên mộ mua ruộng để có chi dụng vĩnh viễn
của Long Thọ Am
Phổ
Đà là đạo tràng ứng hóa của Quán Âm Đại
Sĩ, Long Thọ chính là chốn Lan Nhă để tứ chúng
cầu phước thường trụ. Xét ra, từ vô
lượng kiếp trước, Đại Sĩ đă sớm
thành Phật đạo, do thệ nguyện từ bi, trọn
chẳng cùng tận, cho nên trong mười phương vô tận
thế giới hải, hiện khắp các sắc thân. Hoặc
hiện thân Phật, hoặc thân tam thừa, hoặc thân lục
đạo, hoặc núi, sông, cầu, bến, ao, giếng, nhà
cửa v.v... tức các thứ thân vô t́nh để độ
thoát chúng sanh. Kinh Pháp Hoa nói: “Đáng nên hiện thân ǵ để
đắc độ, liền hiện thân ấy thuyết
pháp”. Do Đại Sĩ chẳng có tâm, chẳng có thân,
cho nên tâm có thể rủ ḷng ứng theo các căn cơ mà
hiện thân. Một vầng trăng in bóng trọn khắp
ngàn sông, một trận mưa tưới tắm muôn cây cỏ.
Lại như rồng ẩn, hiện khó lường, giăng
mây từ rộng khắp, tưới trọn mưa pháp cho
đến hết đời vị lai, chẳng có lúc nào hết,
cho nên đặt tên am là Long Thọ (龍壽). Am được sáng
lập vào đời Minh, trải mấy trăm năm qua,
sửa cũ, xây mới, đă chẳng phải là một
hai lượt.
Từ mùa
Đông năm Tuyên Thống thứ hai (1910), Trụ Tŕ Viên
Thông Am là Liên Thiền đă sai đồ điệt[6] là Hóa Năng đến
tiếp nhận am ấy, tính chuyện hưng phục. Mười
mấy năm qua, điện đường, liêu thất,
thảy đều xây cất hoàn bị, nhưng do chẳng
có hằng sản, sau này chẳng có lương thực, chi
dụng, làm sao có căn cứ để có thể chuyên tâm
dốc chí tu Tịnh nghiệp, báo đền mười
phương thí chủ và tứ ân tam hữu? Cư sĩ Hoàng
Kim Vinh dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, một mực là bậc hộ pháp của
am, bèn khẳng khái bỏ tiền để làm chi phí tậu
ruộng, lựa đúng dịp mà tậu thượng đẳng
điền chừng đó mẫu để cho cấy rẽ
thâu tô, vĩnh viễn dùng làm lương thực, chi dụng.
Ư ấy sâu xa, lợi ích rộng lớn. Hóa Năng muốn
cho con cháu sau này ăn tô lợi, dốc ḷng tu đạo
nghiệp. Nay điện vũ, điền sản, các thí
chủ đều được nhờ sức từ bi của
Đại Sĩ và công tu tŕ của đại chúng trong am,
khiến cho mỗi vị thí chủ đều trong hiện
đời phước sâu, thọ dài, vĩnh viễn hưởng
ngàn điều tốt lành. Khi lâm chung, nghiệp tận t́nh
không, cao đăng chín phẩm. Sư cậy tôi soạn bài
kư để khắc vào bia đá, hộ pháp tín sĩ Hoàng
Kim Vinh giúp khoản tiền một ngàn đồng, Đỗ
Nguyệt Sanh cúng một ngàn đồng, hộ pháp tín nữ
Châu Hóa Dẫn, Lâm Hóa Nhân, mỗi vị đều giúp một
ngàn đồng. Điền sản tại trang viên Động
Ngao và Lô Hoa, tổng cộng là hai mươi chín mẫu.
* Bi kư tu bổ bến tàu Phổ
Đà Sơn
Phổ
Đà là đạo tràng của Quán Âm đại sĩ, thiện
tín triều bái quanh năm không dứt, nhưng gần bờ
nước cạn, thuyền chẳng thể cập sát bờ
được. Nếu không nhờ vào người khác cơng,
chẳng có cách nào lên bờ được. Hơn nữa, đá
lổn nhổn trong bùn, trơn trợt khó thể đặt
chân, hơi chẳng cẩn thận, sẽ ngă chỏng gọng!
Bạn tôi là Liễu Dư vào năm Quang Tự 30 (1904) đă
quyên mộ, xây bến tàu bằng đá, khá tiện lợi.
Nhưng khi gặp thủy triều rút xuống, vẫn có
khoảng lầy rộng hơn cả trượng. Khi nước
cạn, vẫn cần có người cơng. Gần như mỗi
tháng có mười ngày như thế. Cho nên trong các ngày ấy,
v́ mực nước [quá cạn], chẳng tiện sắp
xếp, trở thành chuyện đáng tiếc nuối. Đồ
đệ của Sư là Minh Giác phát tâm tu bổ thêm, xây một
kè đá rộng một thước năm tấc, dài một trượng
tám, mỗi phía đều có ba bậc, mở rộng bến
đá cũ thêm hai trượng nữa. Chỗ thấp th́ xây
thêm một hai bậc, dài hai trượng hai thước.
Phía ngoài, đóng xuống hơn một trăm cọc gỗ
tùng để bảo vệ. Công vận chuyển, lát đá
khá tốn tâm lực. Mỗi lần gặp lúc thủy triều
rút sạch th́ mới có thể thi công, nhưng chẳng thể
lâu hơn hai tiếng đồng hồ được. Thầy
Minh Giác đích thân đốc thúc chuyện này, hơn năm
mươi ngày mới hoàn tất. Từ nay, vĩnh viễn
chẳng cần phải có người cơng [từ thuyền
lên bờ], công sức so với [lần xây dựng] khi trước
đỡ tốn hơn, nhưng lao tâm nhọc trí gấp bội!
Thoạt đầu, lăo ḥa thượng Khai Như đề
xướng quyên tặng hai trăm đồng, thầy Liên
Phương cũng quyên tặng hai trăm đồng. Gặp
dịp lăo ḥa thượng Minh Ấn dẫn các đệ tử
đến núi, ở tại Tích Lân Đường, nghe chuyện
bèn tùy hỷ, nguyện đảm nhiệm toàn bộ chi phí,
quyên tặng một ngàn sáu trăm ba mươi đồng,
mong cho chuyện ấy thành tựu, khiến cho công tác chẳng
thể thực hiện của Liễu Dư được
hoàn thành chẳng khiếm khuyết. Quả thật nhờ
vào sức thành toàn của Minh Ấn lăo nhân, công đức ấy
thật chẳng cạn nhỏ vậy. C̣n như ông Chí X… đă
lập biện pháp, kế hoạch, tấm ḷng ấy quả
thật càng đáng ca ngợi! Nguyện những vị đề
xướng, bỏ tiền của, sẽ đều nghiệp
tiêu, chí rạng, chướng tận, phước cao. C̣n sống
th́ các duyên thuận thảo, vừa ư, mất th́ sẽ cao đăng
liên bang. V́ thế, bèn ghi lại.
* Bi kư công đức dựng Như Ư Liêu, mở Niệm
Phật Đường của chùa Phổ Tế
Danh sơn
Phổ Đà chính là cuộc đất thù thắng thị hiện
dấu tích của Đại Sĩ. Phổ Tế Thiền
Tự thật sự là đạo tràng cầu phước
của tứ chúng. V́ thế, các đời đều khâm
phục, tôn kính, cả cơi đời tôn sùng. Hết thảy
thiện tín, nhân dân trong ngoài nước, ai nấy đều
muốn lễ bái để gieo ḷng thành, chẳng sợ trèo
núi, vượt biển. Mười phương Tăng chúng
đến triều bái mỗi năm thường có mấy
ngàn vị. Tuy là chia thành ba ngôi chùa[7] để ở,
nhưng Phổ Tế thật sự chiếm quá nửa. Số
người đă đông, không thể nào chẳng có người
bệnh tật, tử vong. Như Ư liêu xá vốn được lập ở phía
dưới lầu trống, hiềm rằng pḥng ốc quá
sâu, cửa sổ quá ít, tối tăm, ảm đạm, có
trở ngại về vấn đề vệ sinh. Các vị Trụ Tŕ trước kia và hiện thời đều muốn xây dựng
mới, nhưng các hạng mục quá nhiều, chưa thể
lo xuể!
Đương
gia của Tích Lân Đường là thầy Minh Giác ôm ấp
chí ấy đă lâu, nhưng cơ duyên quá ít. Nay có bà Tôn Dung Tinh
ở Thọ Châu, tỉnh An Huy, vốn là hậu duệ của
Tôn Trung Đường, cũng là bậc ngoại hộ của
pháp môn, mùa Hạ năm nay đến núi, ngụ tại Tích
Lân Đường. Thầy Minh Giác nói chuyện với bà,
bà ta liền khảng khái quyên tặng hai ngàn đồng để
phát khởi. Do vậy, các vị tăng tục, ai nấy đều
giúp đỡ tịnh tài để mong thành tựu chuyện
ấy. Lại do mười tám vị đại đức
trong núi này, khởi xướng một hội Niệm Phật,
lo liệu Niệm Phật Đường, hết thảy
quy tắc và kinh phí. Do vậy, bèn ở phía Nam của lầu
trống, dựng một ṭa nhà lầu có mười gian để
làm chỗ dưỡng bệnh. Phía dưới lầu trống,
chính giữa làm Niệm Phật Đường. Hai bên th́ dựng
sáu gian pḥng để làm chỗ ở cho sư tăng. Phía
trên trổ cửa sổ trời để cho ánh nắng mặt
trời soi thấu, pḥng ốc thanh tịnh, bàn sạch sẽ,
khá tiện tụng tŕ. Thỉnh vị cao tăng phát Bồ
Đề tâm làm quản đường, và sáu vị sư
tăng tu hành chân thật, mỗi ngày hai thời công khóa, ba
thời niệm Phật tại Niệm Phật Đường.
Các chuyện thù tạc trong các điện đường của
chùa nhất loạt chẳng dính líu, để mong bệnh
nhân thường được nghe Phật hiệu, tâm niệm
quy nhất, ngơ hầu dễ được lành bệnh. Nếu
[bệnh nhân] sắp mất, sẽ trợ niệm, khiến
cho người ấy chánh niệm rơ ràng, theo Phật văng
sanh.
Cho tới
khi đă mất, bèn dời sang Niết Bàn Đường ở
bên cạnh để tiện khâm liệm, chuyển đi, chẳng
gây trở ngại. Người săn sóc bệnh nhân, quản
đường trông coi tổng quát, c̣n các vị hương
đăng, tư thủy (người trông coi nước
nôi) sẽ lo liệu
mọi việc chi tiết. Di quan, đưa đi hỏa
thiêu, đều có trợ niệm. Chỉ riêng một chuyện
này, đă có nhiều lợi ích, khiến cho người niệm
Phật biết thân là cội khổ, nỗ lực siêng tu.
Nếu người bệnh nặng, chẳng thể tự
niệm, do nghe tiếng niệm Phật trong Niệm Phật
Đường, trong tâm người ấy niệm nào cũng
đều có Phật hiển hiện. Nếu sắp qua đời,
do sức trợ niệm của mọi người, chẳng
đến nỗi tâm hiện trần cảnh, theo nghiệp
duyên mà đi. Đức Phật coi chăm sóc người
bệnh là phước bậc nhất trong tám thứ phước
điền! Nguyện những ai ở trong Niệm Phật
Đường sau này đều phát tâm “tự lợi, lợi người,
tu ṛng tịnh nghiệp”, quyết định
trong hiện đời, phiền hoặc tiêu trừ, thiện
căn tăng trưởng, lâm chung cảm ứng đạo
giao, Phật thánh tới đón.
Lại c̣n
các khoản đă quyên mộ, ngoài tu bổ Niệm Phật
Đường, xây cất Như Ư Liêu và Niết Bàn
Đường ra, lại c̣n tu bổ cửa rào quanh Ngự
Bi Đ́nh, tạo Hóa Thân Quật[8], dời hơn
bảy mươi cỗ quan tài đă quàn lâu ngày[9] đem cải
táng ở vùng đất cát sau hậu sơn của Phạm
Âm Động, trùng tu bến tàu bằng đá, dựng nhà vệ
sinh nam nữ ở mỗi đầu bến tàu, đều
do thầy Minh Giác và Giám Viện chùa Phổ Tế là Dung Thông,
thầy tri khách là Bổn Lập quyên mộ. Trộm nghĩ trong Như Ư Liêu lập Niệm Phật
Đường là hợp lẽ nhất, do người c̣n,
kẻ mất, người khỏe, kẻ bệnh sẽ đều
được lợi ích. Tùng lâm các nơi hăy nên nối tiếp
nhau thành lập, nguyện những người cùng sắc áo với tôi đều cùng đề
xướng.
* Bi kư về chuyện xây vườn
phóng sanh mới của chùa Dũng Tuyền tại Cổ Sơn
Đức
to lớn của trời đất gọi là Sanh; v́ thế,
vạn vật cùng sanh trưởng, chẳng làm hại lẫn
nhau. Đức Phật coi hết thảy chúng sanh giống
như con một. V́ thế, cắt thịt [của chính
ḿnh] cho chim ưng ăn, xả thân nuôi hổ, đủ loại
thuyết pháp khiến cho chúng sanh được độ
thoát. Ấy là v́ hết thảy chúng sanh đều có Phật
tánh, đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật
trong vị lai. Huống hồ ham sống sợ chết, muôn
vật và ta đều như nhau. Ta đă tham sống, loài
vật há muốn chết? Không ǵ chẳng v́ kẻ tham ăn
tục uống, hằng ngày cần phải ăn thịt, đến
nỗi bọn đồ tể chuyên hành nghề giết chóc.
Mỗi ngày [các con vật bị] giết chóc số lượng nhiều hơn cát sông Hằng.
Tích lũy lâu ngày, bèn thành sát kiếp. Người có ḷng nhân,
có trí, biết cái nhân gây nên kiếp nạn là do sát sanh, ăn
thịt, muốn phát khởi từ tâm cho kẻ sát sanh, ăn
thịt, cho nên đặc biệt mua loài vật phóng sanh để
hướng dẫn, mong mọi người sẽ giữ
ḷng trung hậu, khoan dung, có ư niệm nhân từ, ngơ hầu
chim, thú, cá, rùa đều được sống
yên vui. Như thế th́ sát kiếp ngập trời sẽ có
thể mau chóng ngưng dứt.
Vườn
phóng sanh ở Cổ Sơn vốn được thành lập
trong chùa, nhỏ hẹp, chẳng thể chứa đựng
rộng răi. Đă đề xướng, bàn bạc xây cái
khác, nhưng do cơ duyên chưa chín muồi, phải ngưng
lại. Ḥa thượng Hư Vân đă đến núi, bao
nhiêu chuyện phế bỏ đều được tiến
hành. Sang năm kế đó, các bậc kỳ túc trong cả
núi và các đàn tín, sau mấy lượt suy xét, tham khảo
rộng răi các kế sách, bèn ở trước đài La Hán
ngoài chùa, lập một cái ao có tường vây quanh, dựa
vào núi, nh́n ra sông. Dựng một ngôi lầu thờ Phật,
cắt đặt bốn vị tăng phát Bồ Đề
tâm trông nom đèn nhang. Sáng chiều tụng niệm thanh tịnh,
khiến cho các loài trong hiện tiền đều được
nghe kinh pháp, khơi gợi linh giác. Năm gian pḥng dưới
lầu th́ pḥng chính ngay sau cửa vào dùng làm pḥng tiếp khách,
làm tăng pḥng, làm khách đường, và người lo
trai soạn ngủ đêm. Trước lầu, đào cái ao
h́nh vuông. Ṿng chung quanh sân có bậc cấp bằng đá thấp
dần xuống. Thế đất dần dần rộng
hơn phía trên. Nơi cuộc đất trong ấy, ba mặt
dựng nhà. Tầng trên và dưới lầu gồm sáu mươi gian, cao ráo, rộng răi. Phía
trên cất các loại lương thảo, các loại hạt,
phía dưới là chuồng ngựa, chuồng trâu, chuồng
dê, chuồng gà, chuồng lợn và chỗ cho vịt ngỗng,
chia riêng từng loại, chẳng để cho đực
cái lẫn lộn. Theo đúng giờ sẽ lùa về chuồng,
hay chăn thả, mỗi loài đều có
chỗ nhất định. Có cây che bóng mát, có suối để
uống, chia cỏ và lương thực. Quét dọn phân tiểu
bèn có người làm công. Đôn đốc, quản lư, ghi
chép, tính toán số lượng [các con vật] sống chết
th́ do Tăng sĩ đốc thúc. Vừa mới khởi đầu
mà quy mô đều đủ. Tính ra bắt đầu từ
giữa Thu năm Nhâm Thân (1932) cho đến giữa Hạ
năm Quư Dậu (1933), tốn đến hơn một vạn
đồng, công tŕnh
to lớn
mới hoàn thành.
Xem khắp
thần châu (Trung Hoa), đao binh dây dưa đă nhiều năm,
xót thay dân ta gặp tai ương, gan óc lầy đất,
tan tác, lênh đênh, khổ khôn kể xiết! C̣n may chỗ
này an ổn không việc ǵ, cái vườn ấy chắc chắn sẽ hoàn thành, chưa hề
chẳng phải do một niệm hiếu sanh cảm vời
ư? Nhưng họa phước dựa dẫm lẫn nhau,
sao có thể tự buông thả, chẳng bàn đến đạo
đức, vẫn cứ xa xỉ! Đấy quả thật
là điều đáng lo
trong phong tục, ḷng người! Trộm mong các vị thiện
tín đang lo liệu và các vị quân tử, vốn do ḷng từ
bi yêu thương muôn vật, sẽ nhân từ với dân chúng, tôn kính
cha mẹ, giữ vẹn ḷng nhân, tận tánh, khôi phục sự
thuần phác, trừ sạch kiến chấp nhân ngă, sám hối
tham sân độc, đoan chánh chính ḿnh để cảm hóa
người khác, trái trần, hợp giác, thỏa măn nguyện
độ sanh của Như Lai, sanh về cơi Cực Lạc
thanh tịnh, sẽ thấy sự thái ḥa cuồn cuộn,
muôn vật và ta cùng khởi sắc. Do vậy, công đức
của vườn sẽ ngày càng
phong phú hơn, tạo tác dụng xướng suất, chỉ
đạo, há cũng chẳng đẹp đẽ lắm
ư? (Tháng Năm nhuận năm Quư Dậu - 1933).
VI. Đề từ[10]
* Đề từ cho An Sĩ
Toàn Thư
Sách này tuy
gọi là thiện thư, thật ra giống như kinh Phật,
do trong ấy không chỉ trích dẫn kinh Phật, mà c̣n dựa
theo ư nghĩa trong kinh Phật. Độc giả hăy nên xem sách
này giống như kinh Phật. Theo đúng lư, phải nên khiết
tịnh, cung kính, chớ nên ô uế, khinh nhờn. Như kẻ
hèn mọn truyền đạt, tuyên bố sắc lệnh
của vua, hàng công khanh và dân chúng đều phải dốc
ḷng cung kính, chẳng phải là kính trọng người ấy,
mà là kính trọng sắc lệnh của vua. Sách này cũng
thế, mượn nhân quả thế gian để chỉ
bày cơ mưu độ sanh huyền diệu, quả thật
là đạo trọng yếu để Như Lai tùy cơ
lợi sanh, là chân thuyên[11] để
chúng sanh ĺa khổ, được vui. Nếu có thể tín
kính, tai chướng sẽ băng tiêu, cát khánh tập hợp
như mây nhóm, thân tâm khỏe mạnh, vui sướng, gia đ́nh
êm ấm vẫn là chuyện nhỏ!
Nói đến công năng tột bậc th́ sẽ là nghiệp
tận, t́nh không, siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử
trong đời hiện tại, chứng giác đạo
trong tương lai. Nếu khinh nhờn, tội sẽ chẳng
nhỏ! Kính mong các độc giả đều cùng chấp
thuận lời lẽ quê mùa này th́ may mắn lắm thay!
* Đề từ nơi
trang đầu tiên của sách Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao
bản in lần
thứ ba
Hết
thảy kinh Phật và các sách xiển dương Phật pháp,
không ǵ chẳng nhằm khiến cho con người hướng
lành, tránh dữ, sửa lỗi, đổi thành tốt lành.
Hiểu nhân quả ba đời, biết Phật tánh vốn
sẵn có, ra khỏi biển khổ sanh tử, sanh vào Cực
Lạc liên bang. Độc giả ắt phải nên sanh tâm cảm
ơn, sanh ư tưởng khó gặp gỡ. Tay sạch, bàn sạch,
giữ ḷng kính, ǵn ḷng thành, như đối diện trước
Phật, trời, như đối trước thầy dạy,
sẽ đích thân đạt được lợi ích vô biên.
Nếu phóng túng chẳng kiêng dè, mặc sức khinh nhờn,
và cố chấp, thiên kiến hẹp ḥi, lầm lạc sanh
ḷng hủy báng, tội lỗi
sẽ
ngập trời, khổ báo vô tận. Nếu xét soi ḷng ngu
thành th́ may mắn lắm thay!
* Đề từ cho Văng Sanh Truyện
của Kỷ mẫu Châu thái phu nhân ở Tượng Sơn
Đời
có mẹ hiền th́ mới có con hiền. Đời có người
chân thiện th́ mới có thể là đệ tử đức Phật. Kỷ
mẫu túc căn sâu dày, hiện hạnh tinh thuần. Lại
được con khéo phụ trợ, cho nên được
chánh niệm rạng rỡ, theo Phật
văng sanh, liễu sanh thoát tử. Tôi nguyện người làm
mẹ trong thiên hạ đều như Kỷ mẫu, người
làm con đều như Tử Canh, ngơ hầu thiên hạ
thái b́nh, nhân dân an lạc, sống dự vào địa vị
thánh hiền, mất lên cơi Cực Lạc.
* Đề từ cho
quyển Dục Hải Hồi Cuồng (lời đề
từ thứ nhất)
Sách Dục
Hải Hồi Cuồng do tiên sinh Châu An Sĩ v́ ḷng đại
từ bi muốn cứu vớt con em trong lứa tuổi thanh niên [đang ch́m nổi]
trong biển dục, ngơ hầu họ sẽ có thể vượt
lên bờ giác. V́ thế, xếp đặt từ ngữ, lập
luận, thiết tha, chu đáo. Không chỉ hiển lộ rơ
rệt cái họa sắc dục khiến cho kẻ khác nhận
biết để kiêng dè, thận trọng, lại c̣n nêu rơ
chuyện chánh tâm, tu thân, trị gia, dạy con, độ vật,
ứng duyên, giúp nước, yên đời,
cũng
như pháp cùng lư tận tánh, đoạn Hoặc, chứng
Chân, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, không ǵ chẳng
chỉ dạy tường tận, uyển chuyển tột
khéo, há chỉ răn dâm mà thôi ư? Nếu [ông Châu An Sĩ]
chẳng đạt được tâm pháp của thánh nhân
Nho, Thích, sao có thể như thế được? Mong những
ai thấy sách này, thảy đều thọ tŕ, tuân hành, sẽ
có thể sống th́ dự vào địa vị thánh hiền,
lâm chung vào thẳng cơi Cực Lạc. Lại mong [các độc
giả] sẽ phát Bồ Đề tâm, lần lượt
lưu thông, khiến cho khắp các đồng nhân đều
được thấy nghe, mở rộng chí hướng
tự lập, lập người, tự hành, dạy người;
đấy là điều tôi thơm thảo cầu chúc vậy!
* Đề từ cho
quyển Dục Hải Hồi Cuồng (lời đề
từ thứ hai)
Con người
từ sắc dục mà sanh, v́ thế, tập khí này đặc
biệt sâu dày. Hễ chẳng kiêng dè, thận trọng, thường
sẽ do vậy mà đến nỗi chết mất. Cổ
thánh vương do v́ yêu dân, đối với chuyện pḥng
the giữa vợ chồng, chẳng tiếc công sai người
truyền lệnh dùng mơ gỗ đi khắp các nẻo đường
để bảo ban, răn nhắc, mong cho dân chúng vô tri chẳng
lầm lẫn đánh mất tánh mạng. Ḷng từ ái ấy
kể sao cho xiết? Cho đến đời sau, không chỉ
chánh lệnh của quốc gia chẳng c̣n nhắc tới,
ngay cả cha mẹ cũng không nhắc nhở con cái. V́ thế,
đại đa số thiếu niên do vậy mà mất mạng,
đau xót quá đỗi! Tiên sinh
An Sĩ thương xót sâu đậm, đặc biệt trước
tác sách này. Tuy là v́ răn dâm mà soạn ra, thật sự là hết
thảy các thiện pháp thế gian và xuất
thế gian đều được bao gồm chẳng sót.
Đúng là sách hiếm có trong ṿng trời đất. Cư sĩ Ngô Tử Tường
muốn đề xướng, kính in một ngàn bản để
tặng kẻ hữu duyên, mong cho thiện tín thấy, nghe,
sẽ lần lượt lưu thông, ngơ hầu hết thảy
những người cùng nghiệp ắt đều được
sống thọ, cùng lên bờ giác vậy!
* Lời đề từ đầu
sách Cảm Ứng Thiên Trực Giảng
Lư nhân quả
báo ứng được Ngũ Kinh nhiều lần nhắc
tới. Kinh Dịch chép: “Tích thiện chi gia, tất hữu
dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương”
(Nhà tích thiện ắt điều vui có thừa. Nhà tích tụ
điều bất thiện, tai ương có thừa). Kinh
Thư chép: “Huệ địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh
hưởng” (Thuận theo điều thiện sẽ dẫn
đến chuyện tốt lành, trái nghịch điều
thiện sẽ bị hung hiểm, giống hệt như bóng
theo h́nh). Kinh Thi chép: “Vĩnh ngôn phối mạng, tự cầu
đa phước” (thường suy nghĩ hành vi của
chính ḿnh có phù hợp với thiên mạng (đạo lư chánh
đáng) để mong cuộc sống được hưởng
nhiều điều tốt đẹp). Khổng Tử nói:
“Thỉ tác dũng giả, kỳ vô hậu hồ?” (Kẻ
khởi xướng làm tượng để bồi táng,
chẳng phải là không có hậu duệ ư)[12]. Đó đều
là [những lời lẽ] nêu tỏ lư nhân quả báo ứng.
C̣n như Tả Truyện[13] và hai mươi
hai bộ sử, những chuyện [nhân quả báo ứng]
như thế nhiều chẳng thể kể xiết! Nho sĩ
trong cơi đời chẳng lấy thánh nhân làm khuôn phép, cho nên
chẳng tin nhân quả. Bọn cuồng đồ học Phật
coi nhân quả là Tiểu Thừa. Những kẻ đó là tội
nhân của cả hai giáo Nho và Thích. Như Lai thành Chánh Giác, chúng
sanh đọa tam đồ, đều chẳng ra ngoài nhân
quả! Kẻ xằng bậy bảo chẳng có [nhân quả],
chê là Tiểu Thừa, v́ ghét nhân quả sẽ gây trở ngại
cho các hành vi phóng túng, tà vạy, xa xỉ của chính ḿnh. V́
che giấu sự xấu ác của chính ḿnh, chẳng sợ
vô lượng vô biên người sẽ do đó mà tạo ác
nghiệp, đọa vào ác đạo, có thể nói là “gă đui
dẫn một lũ mù, kéo nhau vào hầm lửa!” Tội
ác cực đại, không ǵ bằng tội này được!
Cơi đời muốn văn hồi thế đạo nhân tâm,
và cầu siêu tiên vong, yên ổn hậu duệ, tiêu tai chướng,
nhận lănh cát tường, và cầu mưa ḥa gió thuận,
dân chúng an ổn, tài vật phong phú, vận nước hưng
thịnh, thiên hạ thái b́nh, mong ai nấy đều nương
theo sách này mà tu tập, lại c̣n lần lượt lưu
truyền rộng khắp cả nước th́ các điều
mong cầu không ǵ chẳng đạt được!
* Lời đề từ đầu sách Khuê Phạm
Nơi khuê
khổn chính là chỗ sanh ra hiền tài, mẹ dạy bảo
chính là cái gốc khiến cho thiên hạ thái b́nh. Muốn cho hiền tài bừng
bừng nẩy sanh, thiên hạ thái b́nh, mà chẳng có khuôn mẫu
cao đẹp để khơi gợi, dẫn dắt, sẽ
chẳng có cách nào toại nguyện. Trong sách Khuê Phạm[14] chép sự
tích của các hiền nữ, hiền phụ (賢婦, vợ hiền), hiền mẫu, đều đáng
giữ yên đạo hạnh của nữ giới, văn hồi
thế đạo, chấn chỉnh thói đời bạc
bẽo, uốn nắn cho ḷng người ngay thẳng. Nếu
kẻ làm con gái, làm vợ, làm mẹ của người khác
trong cơi đời thảy đều như thế, sự
giáo dục đức hạnh của gia đ́nh sẽ hưng
khởi, tai ương, họa hại của nhân dân sẽ
chấm dứt. Mong rằng những ai có được
quyển sách này, ai nấy sẽ đều là trong nhà th́ v́
quyến thuộc diễn nói, ra ngoài bèn đề xướng
với đại chúng, khiến cho người thấy
nghe đều lần lượt lưu truyền, khiến
cho hết thảy nữ giới trong chốn khuê các đều
được thọ tŕ, phỏng theo pháp tắc ấy,
ngơ hầu chẳng phụ công tiền nhân khổ tâm trước
thuật và chí hướng thanh sạch của các vị lưu
truyền. Nguyện những người có cùng nghiệp với
tôi đều cùng xét soi ḷng ngu thành!
* Đề từ cho sách Tân Biên
Quán Âm Linh Cảm Lục
Quán Thế
Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, từ bi rộng lớn,
tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu khổ. Người
đời hễ gặp lúc bệnh tật, hoạn nạn,
nếu có thể sửa lỗi, hướng thiện, tâm cung
kính chí thành, thường niệm danh hiệu của Bồ
Tát, không ai chẳng do ḷng thành lớn hay nhỏ mà được
Bồ Tát rủ ḷng gia bị. Nhỏ th́ gặp chuyện
hung hiểm bèn hóa thành tốt lành, gặp nạn thành hên. Lớn
th́ nghiệp tiêu, trí rạng, chướng tận, phước
cao, cho đến siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử!
Tiếc rằng cơi đời lắm kẻ chẳng biết!
V́ thế, đặc biệt biên soạn, tập hợp các
sự tích linh cảm được ghi chép trong sử cách
trải các đời, chia thành từng loại để
biên tập, trích lục, ghép vào sau phần kinh chú, ngơ hầu
cả cơi đời đều biết Bồ Tát quả thật
là thuốc chữa lành cố tật, là thóc gạo trong năm
đói kém, là người chỉ đường nơi lối
hiểm, là chiếc bè báu nơi bến mê. Lại nguyện
người thấy nghe sách này, ai nấy đều tùy theo
sức ḿnh mà lần lượt khuyên dạy, ấn thí lưu
truyền, khiến cho hết thảy những người
cùng nghiệp đều được tắm gội từ
ân, cùng thấm nhuần pháp hóa, ngơ hầu chẳng phụ
bi tâm độ sanh của Bồ Tát vậy.
* Viết cuối sách Hành Trạng
Của Tiên Sinh Tề Sắc Khanh
Khi trước
tôi đọc Dương Phục Trai Thi Kệ Tập, biết
ông Tề Sắc Khanh là bậc quân tử
ẩn dật ở Vụ Nguyên, tâm hết sức khâm kính,
bội phục. Gần đây, nhận được tác phẩm
do con trai ông là Triều Chương viết về hành trạng
của ông, được biết rơ phẩm hạnh, đạo
nghĩa của ông, cũng như biết ông dốc ḷng tu Tịnh
nghiệp, lâm chung hiện tướng lành, khi sống th́ đă
dự vào địa vị thánh hiền cao cả, mất bèn
cao đăng cơi Cực Lạc, chẳng khiến cho người
sanh ra ḿnh hổ thẹn, măi măi nêu khuôn phép cho cơi đời.
Do chẳng đủ mục lực, bèn viết đại
lược, mong con cháu đời đời đều tuân
thủ vậy!
VII. Kệ tụng, nguyện văn,
đối liễn
* Kệ niệm Phật măi ĺa
kiếp đao binh, văng sanh Tây Phương
Đường
đời gió sương, là cảnh luyện tâm. T́nh đời
ấm lạnh, là cảnh luyện nhẫn. Thế sự điên
đảo, là vốn tu hành. Số kiếp tuần hoàn đáng bi thương nhất. Thoát khổ
không chi hơn Cực Lạc. Chuyên niệm Di Đà, ĺa cơi này. Siêng tŕ Phật hiệu, nhập liên bang. Cơi trần hiện
bóng nghiệp đời trước, đau xót đời
sau gánh họa ương. Thề quyết đời này về
Tịnh Độ, măi ĺa chinh chiến tới Tây Phương.
* Bài ca tụng Châu Mẫu Nhậm
Thái Cung Nhân[15] văng
sanh Tây Phương
Đức
cao đẹp Châu Mẫu, xưa đă sẵn linh căn. Từ
bé đă thờ Phật, ôn nhu và cung kính, bụng dạ sẵn
nhân từ. Bố mẹ chồng, thân sanh[16], đều
trọn ḷng hiếu thảo. Giúp chồng dạy dỗ con,
đều đúng lư thích đáng. Bẩm tánh bà nghiêm chánh, đối đăi với người khác, khoan
dung và ôn ḥa. Tuổi
sắp được sáu mươi, nhanh chóng ghét Sa Bà, muôn
duyên thảy buông xuống, một ḷng niệm Phật thôi!
Thân sống trong Sa Bà, tâm gởi chốn Cực Lạc. Con
ngoan là Điều Sanh, cùng với Châu Cát Sanh, trong ba bốn
năm qua, cũng hâm mộ về Tây. Hằng ngày cùng Cung Nhân,
sách tấn cổ vũ nhau. Do vậy được tịnh
nghiệp, công huân đều thuần khiết. Cho tới lúc
lâm chung, mộng nghe thấy giải thoát, bệnh ngặt đă
nhiều năm, liền khỏi, chẳng cần thuốc.
Biết trước lúc ra đi, lại nghe mùi hương
lạ. Mất rồi, sau mấy ngày, đỉnh đầu
mới dần lạnh. Hỏa thiêu, sổ công cứ, tro giấy
chẳng tan đi. Tăng đứng trên hoa sen, nét vẽ vẫn
thấy rơ. Thệ nguyện đức Di Đà, độ
khắp các hữu t́nh. Kẻ nghịch ác mười niệm,
vẫn c̣n được văng sanh. Huống hồ là Cung Nhân,
suốt một đời tu tŕ. Lên thẳng chín phẩm sen,
c̣n ngờ vực chi nữa? Hai bà phi Hữu Ngu[17], ba bà Thái đời Châu. Dấu thơm của đức
đẹp, tồn tại đến muôn đời!
* Tán thán h́nh tượng của
Từ mẫu Dương thái phu nhân
Người
sống trong thế gian, ai nấy đều có phần. Thiên
chức được phú bẩm, phải hoàn toàn gánh vác.
Nay có mẹ ông Từ, đức chói ḷa nữ giới, giúp
chồng dạy dỗ con, thảy đúng lẽ thích đáng.
Bẩm tánh vốn nhân từ, thương xót kẻ khốn
cùng. Thí pháp lẫn thí tài, hai đằng chẳng keo tiếc. Cảm vời
các con bà, đều tôn trọng chuyện nghĩa, nhiều
lượt lo cứu tế, tiếng tăm càng vang rền.
Điều lạ lùng bậc
nhất, dốc
ḷng tin Phật Thừa, chuyên tâm tu Tịnh nghiệp, quyết
chí sanh về Tây. Con thứ ba Quốc
Trị, giữ
phép tắc nghiêm cẩn. Sách tấn mẹ nhất tâm, sắt son quyết một
ḷng. Tướng lành đều đă hiện, vinh dự nhiều
lượt ban. Gom tiền, lập miếu thờ, để
nhân dân chiêm ngưỡng. Nguyện cho khắp người
đời, ai nấy đều như thế, để làm
con chân thật, của chư Phật, trời đất.
* Kệ tụng hồi hướng
sách Thọ Khang Bảo Giám
V́ khắp
những vị thiện sĩ ấn loát, thí tặng, lần
lượt lưu truyền, tán dương, khuyên đọc
Thọ Khang Bảo Giám, viết kệ tụng hồi
hướng như sau:
Hết
thảy sự nghiệp, lấy thân làm gốc. Nếu thân hao
tổn, sự đều tiêu mất. Chuyện thương
tổn thân, đủ loại, chẳng một. Nhưng khốc
liệt nhất, chẳng qua dâm dục. Do vậy quân tử,
giữ thân như ngọc, dứt tà, giữ thành, ngày đêm
dè dặt. Chế tâm như thế, dục niệm chẳng
dấy, huống hồ tà dâm, khinh vượt luân lư. Đời
có kẻ ngu, chẳng biết nghĩa này, thường cứ
buông thả, chẳng tuân lễ chế, ham vui chốc lát, chịu
khổ cả kiếp, giảm thọ, tổn phước,
vẫn là chuyện nhỏ. V́ thế tiền hiền, kính
soạn sách này, mong người cùng hàng, cùng vui tánh thiên. Bất
Huệ cảm khái, tăng đính, lưu truyền, treo cao
gương răn, ḥng cứu thanh niên. Cư sĩ Đức
Quảng, quyên sáu ngàn đồng, in tặng các giới, mong
đều sống thọ. Lại có thiện sĩ, tùy duyên
in kèm, mong cho sách này, truyền khắp gần xa. Nguyện các
người đọc, mở rộng tâm ấy, lần lượt
lưu truyền, thấy nghe trọn khắp, ngơ hầu đồng
nhân, đều thọ và khỏe, con cháu hiền thiện, tăng
trưởng điều lành. Phàm người quyên tiền,
và người tán trợ, tai chướng tiêu diệt, phước
thọ to mạnh, tổ tiên đă khuất, siêu sanh Tịnh
Độ. Con cháu hậu duệ, cát khánh chẳng tận. Vận
đời tốt dần, phong tục càng đẹp. Hạnh
đẹp tiên hiền, đều được kế thừa.
Lời lẽ sách này, quê kệch chất phác, biểu lộ
ḷng thành, mong phát đại từ, tự lợi, lợi người.
* Bài văn phát nguyện dành
cho các ủy viên nhậm chức trong Chỉnh Lư Tăng Già Ủy Viên Hội
Đại
pháp Như Lai, chân tướng làm Thể, theo chiều dọc, chẳng có
trước sau, theo chiều ngang, dứt
bặt ngằn mé! Đă chẳng có sanh, há nào có diệt? Phàm,
thánh, chúng sanh, Phật đều được hun đúc.
Nếu luận theo Thế Đế, hết thảy tùy duyên, mất ḷng người th́ tŕ
trệ, được ḷng người th́ sẽ lưu
truyền. Kể từ khi đức Phật lập giáo, [đến
nay] đă gần ba ngàn năm, pháp đạo lưu truyền, phổ biến
trong cơi trần. Xét từ xa xưa, cao nhân liên tiếp, tự lợi, lợi
người, ai nấy nêu cao dấu tích lạ lùng. V́ thế
bèn được cả cơi đời tôn sùng; chùa miếu
san sát, tông phong rạng rỡ. Cho đến cuối đời
Thanh, nhiều phen đao binh, đói kém, bậc thông triết
ngày một hiếm hoi, vườn pháp ngày một tiêu điều.
Pháp môn chẳng có người, kẻ ngoài thường
khinh lấn, biến chùa thành trường học, là chuyện
luôn thường nghe nói. Cho đến hiện thời, nguy
ngập tột bậc! Nếu chẳng chỉnh đốn,
sẽ lập tức thấy khuynh đảo, sụp đổ.
Do vậy, nhóm họp pháp lữ, châm chước lập ra
chương tŕnh, tự tu hoằng pháp, kiệt lực tiến
hành, tận lực tu Định, Huệ, mong nối tiếp
huệ mạng, kiêm tu điều lành trong thế gian để
lợi ích quần luân, khuếch trương ḷng Từ của Phật, lợi ích
rộng khắp ta lẫn người, hiển thị Phật
đạo tối cao không chi hơn được! Nguyện
đức Thế Tôn và các thánh hiền, cùng rủ ḷng gia bị,
tháo gỡ khắp các sự khổ treo ngược; bởi lẽ, Phật pháp chính
là pháp nơi tự tâm. Tất cả sóng gió, đều
là v́ chưa suy xét. Nguyện đem công đức này, giúp khắp
các ân và các cơi, sống th́ được trường thọ,
mạnh khỏe, mất th́ về Tịnh Độ. Pháp chẳng
có tướng nhất định, hết thảy duy tâm, đồng
phát Bồ Đề, đạo xuyên suốt xưa nay!
* Bài ca tụng Long Thái Huệ
Huy văng sanh
Người
sống trong trời đất, ai nấy chức phận riêng,
nam lo việc bên ngoài, nữ lo việc bên trong. Nếu đôn
đốc luân lư, do thân giáo ảnh hưởng, con cháu ắt
hành theo. Do vậy, lũ con cái, khiến cha mẹ chẳng
thẹn. Đẹp thay, Thái Huệ Huy, bẩm tánh thật
thuần phác, thờ cha mẹ, giúp chồng, thảy dốc
cạn thành kính. Dạy con khá nghiêm túc, từ bi giúp người,
vật. Niệm Phật mấy chục năm, tấm ḷng đă
rỗng rang, tuổi già càng gắng sức, cảm ứng đạo
phù hợp. Nương sức Phật từ bi, lâm chung lên Cực
Lạc. Tự ḿnh trọn chánh niệm, lại được
siêng trợ niệm. Tuy thuộc hàng phàm phu, đă chứng
diệu nhân ấy! Con bà tên Ân Lộc, mẹ khéo dạy từ
xưa. Tới khi mẹ bệnh ngặt, cắt bắp tay
làm thuốc, nào biết Tịnh nghiệp chín, sao có thể
chậm trễ? Viết lại ḷng thành khẩn, mong truyền
cho hậu duệ.
* Kệ hồi hướng
cho sách Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ
V́ khắp
những vị thiện tín thí tiền, lưu truyền, và lần lượt truyền
bá, xem đọc, viết
kệ hồi hướng như sau:
Tam giới
hết thảy pháp, chỉ do nhất tâm tạo. Thuận đạo
ắt tốt lành, nghịch lư ắt hung ác. Hay thay, cổ đại
nhân, ôm ḷng đồng thiên địa. Dùng sức tài trí ḿnh,
tham tán[18]
sự hóa dục. Mọi chuyện
mong lợi khắp, thiên hạ và đời sau, bác ái, giúp
chúng sanh, trọn chẳng chấp đức đẹp. Công
cao, tiếng tăm nổi. Đức lớn, cát khánh tới.
Sống hưởng trọn ngũ phước, dư khánh
truyền hậu duệ. Nếu
thói này thịnh hành, thế giới tự yên vững. Mọi
người giữ lễ kính, đều cùng nhân nhượng
nhau, đều mong trọn t́nh nghĩa. Buồn thay, lũ
tiểu nhân, chỉ biết đến chính ḿnh, suy nghĩ
và xử sự, trọn chẳng theo thiên lư. Hăm người để tự an,
tổn người để lợi ḿnh. Cốt sao lợi
trước mắt, chẳng hiểu tổn túc phước.
Tới khi kết thành quả, khổ báo chẳng cùng cực!
Chỉ khiến người thương xót, tội nghiệp
chẳng dứt được! Trên từ thuở Đường
Ngu[19], dưới
đến tận đời Minh. Các sự tích thiện ác,
sử sách chép đầy đủ. Nay thế đạo
ch́m đắm, người hiểu biết lo sợ! Bạn tôi Nhiếp Vân Đài,
nghĩ cách toan cứu tế. Riêng thỉnh Hứa Chỉ Tịnh,
soạn Cảm Ứng Thống Kỷ, ấn loát, lưu truyền
rộng, mong tự giữ giới pháp. May được các
thiện sĩ, bỏ tiền hơn vạn đồng. Kính
in hai vạn bộ, để kết trọn thiện duyên.
Khoản tịnh tài c̣n dư, cho in bản giấy thường.
Chữ nhỏ, giá rẻ hơn, cho thanh niên học tập.
Nguyện khắp người thấy nghe, lập cách lưu
truyền rộng, để ngưng dứt cạnh tranh,
tiến thẳng đến đại đồng. Nguyện
những người phát khởi, cùng với người biên
tập, các thiện sĩ giúp in, xem đọc rồi bắt
chước. Hiện tại và tương lai, hết thảy
các thiện nhân, cùng tiêu các ác nghiệp, tăng trưởng
thắng thiện căn. Sống th́ hưởng ngũ phước,
chết lên chín phẩm sen. Tiên vong sanh Tịnh Độ, hậu
duệ gương cơi đời. Mưa gió thuận, đúng
thời. Dân yên, tài vật thịnh, ngơ hầu người bốn
phương, đều ngưỡng mộ nước nhà!
* Bài kệ hồi hướng
nhân dịp xây xong tường
vây quanh ao phóng sanh ở Di Sơn
Sát kiếp
thời cận đại, xưa nay chưa hề có, suy cùng
tột cội nguồn, quả thật v́ tham ăn. Xây tường
chung quanh ao, rộng hành chuyện phóng sanh, mong nhờ đó
cứu văn. Nguyện khắp người thấy
nghe, kiêng thịt, đều ăn chay. Ăn chay rất vệ
sinh, chẳng hại mạng loài vật. Khiến tâm ta nhân
từ, gần bằng như cổ thánh. Sát nghiệp đă
chẳng kết, thế đạo tự thái b́nh. Cách cứu
loài vật này, lợi măi các quần manh[20]. Hồi hướng
thắng công đức, văng sanh Phật Tịnh Độ,
thấy Phật, chứng vô sanh, để lục đạo
nương cậy.
* Ca tụng bà Lâm Tánh Ngộ văng
sanh, và răn dạy những kẻ ham cao chuộng xa coi thường
Tịnh Độ
Phật tánh
trong hàm thức, b́nh đẳng chẳng hề hai. Do mê ngộ khác nhau, khổ
vui cách biệt một trời một vực. Hay thay, Lâm Tánh
Ngộ, đă đủ đại thiện căn từ xưa,
tuy mang thân ngũ lậu, thật sự uẩn tàng tâm Nhất
Thừa. Vừa được nghe Phật pháp, chặt đứt ngay tập khí của
nữ nhân, chuyên tâm tu Tịnh nghiệp. Do có con gái làm bạn
lành, c̣n thơ ngây mà đă hiện Tăng tướng. Không lâu sau, cháu liền sanh Tây. Ấy là v́ muốn
cho cái tâm xuất ly của cha mẹ được quyết
định. Bà cùng chồng bái ngài Đế Nhàn làm thầy,
lại được quán đảnh, nhất tâm cùng khế
nhập, lănh hội hai nghĩa Tịnh và Mật. Thường
ngày, sức tŕ tụng cực chuyên, cực khẩn thiết,
mộ đạo như đói khát, cái tâm càng kiên quyết, son sắt. Cho tới khi lâm chung, được
thấy Phật đến nghênh tiếp, tướng lành
hiện hoa sen, chân bước lên Lạc Bang. Đáng tiếc
người trong thế gian phần nhiều tự phụ
tự lực! Nếu chưa đoạn hết Kiến Tư
Hoặc, chẳng thể nào thoát khỏi tù ngục tam giới.
Ngục ấy tường rất cao, chưa thể tùy ư được.
Nếu chỉ nói đến lư tánh, rốt cuộc sẽ hăm
vào chuyện nói suông! Thật tuy ít vẫn hơn giả nhiều,
khéo quá chẳng bằng vụng. Vụng về mà nếu đạt
đến chỗ cùng cực th́ kẻ hay khéo đều phải
nhường bước! Ngài Liên Tŕ dạy thật thà, ngài
Thiện Đạo dạy chuyên tu. Kẻ ham cao chuộng
xa phần nhiều làm tù nhân của Diêm lăo! Buồn thay, lại
thảm thay! Sao lại vướng lấy tội lệ ấy,
chỉ v́ chẳng chú trọng thực hành, sẽ biến
thành tṛ đùa trẻ nít!
* Câu đối ghi trên lan can vây quanh sân
của Thánh Thủy Tỉnh chùa Tịnh Cư ở Tế
Nam
Tiểu
nhi đọa tỉnh phục ngọa gia, mạc danh kỳ
diệu.
Thánh thủy
phái lâm hựu khử dịch, duy tại hồ thành.
(Trẻ
nhỏ té giếng, lại nằm ở nhà, diệu kỳ
khôn diễn tả,
Nước
thánh tràn trề, c̣n trừ tật dịch, chỉ v́ ḷng thành
kính).
* Câu đối trước bàn
Phật trong nhà
Phật
đức hồng thâm, độ chúng sanh ưng độ
ngă.
Thế t́nh
nguy hiểm, bất niệm Di Dà cánh niệm thùy?
(Phật
đức rộng sâu, độ chúng sanh hăy nên độ con,
Thói đời
nguy hiểm, chẳng niệm Di Đà lại niệm ai?)
* Khích lệ Đức Chấn
Tri Phật
tánh thường, phấn khắc chứng chí.
Tư
địa ngục khổ, phát Bồ Đề tâm.
(Biết
Phật tánh chân thường, dũng mănh quyết chứng,
Nghĩ địa ngục khổ sở, phát
Bồ Đề tâm).
IX. Truyện kư, kư sự, tế
văn
* Bé gái Tra Lục Khánh ở Cửu Giang
(văng sanh năm Dân Quốc 14 - 1925)
Thầy
Quảng Ấn ở am Song Tuyền nói: - Bé gái Tra Lục Khánh là con gái của
cư sĩ Tra Tân Thần ở
Cửu Giang. Lúc bé sanh ra, nhằm đúng lúc sanh nhật sáu mươi
tuổi của bà nội, nên đặt tên là Lục Khánh. Tân
Thần và vợ đều quy y Phật pháp. Bé gái cũng
quy y Phật pháp, pháp danh là Hựu Hỷ. Năm nay mới
sáu tuổi, trong khoảng tháng Năm và tháng Sáu, thường
nói: “Nhà cửa này của ta hết sức chật hẹp”.
Cha mẹ chẳng để ư. Ngày Hai Mươi Ba tháng Bảy,
mẹ bé sắp đến Niệm Phật Lâm để niệm
Phật, bé nhất định muốn đi theo. Ngày hôm sau
liền mắc bệnh nhẹ, suốt ngày tự kết
thủ ấn, cha mẹ cũng chẳng hiểu v́ sao bé biết
pháp ấy. Sau đó, bệnh chuyển nặng, cha mẹ cầu
khẩn Quán Thế Âm ba ngày, cầu gia bị cho con lành bệnh.
Trong ba ngày ấy, bé thường nói: “Con phải đi”. Cha
mẹ thấy bé quyết định muốn đi, liền
hỏi: “Con đi đến chỗ nào?” Bé liền lấy
tay chỉ về hướng Tây. Cha bé nói: “Con đi được
rồi”. Bé liền nhắm mắt, qua đời. Ôi! Cô bé ấy
nếu chẳng phải là Bồ Tát hiện thân, th́ là do túc
căn đă chín muồi, cho nên nêu gương hướng
dẫn trong thế giới trược ác này. Phàm người
thấy nghe, ai nấy hăy nên phát tâm chân tín, tu tŕ Tịnh nghiệp
để mong lâm chung nương vào từ lực của Phật,
văng sanh Tây Phương, thường cùng các vị thượng
thiện nhân tụ hội một chỗ, đến tột
cùng đời vị lai thường hưởng pháp lạc.
* Bài kư về chuyện con gái ông
Mă Kỳ Sưởng ở An Huy nghe kinh Kim Cang lành bệnh,
tọa thoát
Ông Mă Kỳ
Sưởng ở An Huy, tự là Thông Bạch, chính là một
bậc đại văn học gia trong hiện thời, trước
tác hết sức phong phú. Thoạt đầu, ông chỉ nghiên
cứu Nho tông, chẳng biết Phật pháp. Mười mấy
năm gần đây, mới biết Phật là đại
thánh nhân, giáo pháp của Ngài có các chuyện chẳng thể nghĩ
bàn. Do vậy, hằng ngày tụng kinh Kim Cang, kiêm tŕ Phật
hiệu, cầu sanh Tây Phương. Cô con gái thứ ba của
ông tên là Quân Can, gả cho họ Phương, khá thông minh, thông
văn lư, có phong phạm của bậc liệt nữ thời
cổ, Thông Bạch hết sức yêu mến. Cô ta đề
xướng giáo dục cho nữ giới, chẳng tiếc
sức thừa. Thoạt đầu, cô ta tốt nghiệp
trường nữ sinh Vụ Bổn tại Thượng
Hải; kế đó,
nhận lời mời của Bắc Dương đại
thần là ông Viên (Viên Thế Khải), mở trường
Sư Phạm dành cho nữ giới tại Thiên Tân. Sau đó,
lại sang Nhật du học để mở rộng kiến
thức. Chỉ có điều đối với Phật pháp,
trọn chẳng tin tưởng.
Tháng Năm
năm Dân Quốc 15 (1926), cô ta do sản hậu thành bệnh,
khổ nạn khó thể chịu đựng. Thông Bạch
thương xót, đối trước cô ta niệm kinh Kim
Cang. Cô ta vừa nghe tiếng tụng kinh, thân tâm an lạc. Cho
đến khi kinh hết, lại cảm thấy đau khổ.
Thông Bạch bèn thức trắng đêm niệm kinh. Bỗng
cô ta ngồi dậy, nói cha ngưng niệm, giống như
người khỏe mạnh. Lại nói: “Con đối với
đạo lư nói trong kinh Kim Cang thảy đều ngộ được”.
Cô ta liền muốn hiện tướng đại nhân, nói
pháp Vô Sanh, ngơ hầu hết thảy những ai thấy nghe
đều gieo thiện căn, giả vờ nói nhà cửa
chật hẹp, muốn đến bệnh viện để
dưỡng bệnh. Do ông Thông Bạch và con rể là Phương
Thời Giản cùng ngụ tại kinh đô, thuê nhà ở
chung, cho nên chỗ ở chẳng thể rộng răi, thanh nhàn,
u nhă được. Thông Bạch thấy cô ta quyết chí, bèn
bảo chồng cô ta đưa đến bệnh viện
của người Đức, chọn pḥng bệnh tốt
nhất cho cô ta nằm. Cô ta bảo chồng và những người
chăm sóc đi khỏi, bèn chắp tay, ngồi qua đời.
Ôi lạ lùng thay! Cô này giống như cô Linh Chiếu con gái
của Bàng cư sĩ (Bàng Long Uẩn), dùng chuyện nhật
thực để dụ cha rời khỏi chỗ ngồi,
cô ta liền ngồi nơi ấy mà thoát hóa, có khác ǵ đâu?
Ông Lư Mộc trọn chẳng tin Phật, nghe Thông Bạch kể
lại nhân duyên này (ông Mộc là môn sinh của Thông Bạch,
mùa Thu năm Dân Quốc thứ mười (1921)[21], Thông Bạch
trở về An Huy, qua đất Hỗ, đến nhà ông
Mộc, nói chuyện này), cả nhà [ông Mộc] bèn quy y Tam Bảo.
Phổ Môn phẩm nói “đáng nên hiện thân ǵ để
đắc độ, bèn hiện thân ấy thuyết pháp”,
ai chẳng tin vậy thay? Nhưng chồng cô ta là
Thời Giản đối với hành trạng đă thực hiện
của cô ta lại ngược ngạo vùi lấp, tội
lỗi ấy quả
thật chẳng
nhỏ cạn!
* Vị tăng tên Liên X… ở
Úy Châu
Năm
Quang Tự thứ 23 (1897) đời Thanh, mấy tỉnh ở
phương Bắc bị đại hạn. Có vị tăng
tên Liên X… trụ trong một ngôi chùa nhỏ ở ngoài thôn. Có
mấy tên dân đói từ Sơn Đông bỗng t́m đến,
kêu gào đói bụng, muốn xin cơm. Tăng nói: “Cơm
tôi đă ăn hết rồi, chẳng c̣n sót ǵ”. Mấy kẻ
đó đ̣i hỏi càng gấp. Vị tăng nói: “Ta sẽ
nấu nồi cơm khác cho các ngươi”. Vị tăng ấy
hằng ngày giữ khóa tụng là sáu vạn câu Phật hiệu,
tuy miệng hứa nói sẽ nấu, muốn lần tràng hạt cho xong một chuỗi
trước đă. Bọn họ cho
rằng sư chẳng cho họ ăn, bèn cầm búa từ phía sau đập vào
đầu sư, sư ngă lăn quay. Bọn họ dùng cái
th́a sắt dùng để múc dầu, khoét hai muỗng máu thịt
trên đầu Sư đổ vào dầu rồi mới bỏ đi. Vị
tăng ấy choáng váng, chẳng biết ǵ nữa,
bèn lần đến trước cái chuông, vội vàng giộng
chuông mấy chục tiếng. Trong thôn, hễ có việc quan,
đều giộng chuông để làm hiệu lệnh. [Nghe
tiếng chuông, mọi người] đều kéo đến
chùa, thấy chỗ Tăng ngă xuống do bị
đánh chảy máu tung tóe, nhưng từ trong nhà cho đến
trước chỗ để chuông, tới lui đều có
vết máu tuôn. Sờ thử, thấy sư vẫn c̣n thở,
do vậy nâng dậy, lay tỉnh. Sư nói: “Bị dân đói
đánh”. Họ bèn sai mấy chục người đi bốn
phía truy lùng. Những gă đó bị bắt, đều xin đền
mạng. Lôi bọn chúng về chùa, vị Tăng nói: “Chắc
chắn là đời trước tôi và họ có oán thù. Nay họ
đánh tôi, các vị lại làm khó họ, há chẳng phải
là khiến cho tôi bị đánh uổng công, không chỉ là túc
oán chẳng thể tháo gỡ, mà c̣n kết thêm oán mới. Tôi
chịu không nổi mối nợ này! Tôi hăy c̣n hơn một
ngàn đồng, hăy cho họ cầm đi”. Đỉnh đầu
vị sư ấy dần dần lành sẹo, vẫn cứng
rắn như người b́nh phàm, chỉ là trên đỉnh
đầu chẳng có cọng tóc nào, quanh đó đều
có vết thương, cũng lạ lùng thay! Năm Quang Tự
13 (1787)[22],
Quang và sư đệ của thầy ấy là Liên Như từ
núi Hồng Loa đến triều bái Ngũ Đài. Lúc trở
về, đến chùa của vị Tăng ấy, lúc đó,
Sư đă hơn sáu mươi tuổi, mặt mũi rạng rỡ, sáng láng,
vừa nh́n liền biết là bậc có đạo đức.
Liên Như chỉ vào đỉnh đầu của Sư, kể
lại chuyện ấy. V́ thế, ghép vào đây để
giúp khơi gợi ḷng tin.
* Văn tế cư sĩ Giản
Chiếu Nam
Khi
Ngũ Uẩn hừng hực kiến lập, thật thể
rốt cuộc chẳng thể được. Gặp lúc Tứ
Đại chia ĺa này, hễ chiếu sẽ ngay lập tức
thoát khổ ách. Đáng khen thay cư sĩ Giản Chiếu
Nam, túc căn sâu dày, bẩm tánh hiền lành. Tay trắng lập
nghiệp, chẳng khác ngày nay! Đào Châu[23] ḷng son
hộ pháp, đúng là Tu Đạt Đa trong hiện thời.
Lại c̣n tu trọn các điều lành trong thế gian, nghiêm
túc giữ Tam Quy, Ngũ Giới. Tịnh nghiệp nhờ vào
phước lực mà viên thành, cố nhiên đáng cao siêu Cực
Lạc. Lâm chung do quyến thuộc đau buồn, quyến
luyến, sợ sẽ vướng mắc trong Sa Bà! Cần
phải biết Phật chẳng nguyện suông, chính ḿnh
đă có Phật
tâm, chỉ cần có thể phá tan cửa ải t́nh kiến,
tự nhiên chân tâm hiển hiện thấu triệt. Vẫn
mong ông phát trọn ba tâm, chỉ khởi lên nhất niệm,
sẽ lập tức nhanh chóng lên chín phẩm. Ôi! Đường
Tây Phương rộng thênh thang, ngay lập tức trở
về nhà há cần hỏi lối. Tự chẳng quay về,
về liền được; gió trăng quê cũ có ai giành?
* Điếu Đế Nhàn đại
sư
Than ôi Đế
công, nương nguyện thị hiện giáng sanh. Giương rộng lưới
giáo, tôi sao diễn nói trọn nổi? Nguyện được
Phật thọ kư, mau trở lại Sa Bà, phổ độ
hàm thức, cùng sanh Cực Lạc.
* Thôi sanh tử (trường sanh oa)
Thôi sanh tử
(催生子, vật giúp cho dễ sanh) c̣n gọi là “trường sanh oa” (長生蝸, ốc trường sanh), sống
trong cát biển. Ở Phổ Đà Sơn chẳng có mấy,
thổ dân ở các nơi khác bắt về, đem bán tại các tiệm ở
Phổ Đà. Khách đến hành hương mua về, để
dùng cho phụ nữ khi sanh nở, cất trong rương hoặc
tráp sạch, vĩnh viễn chẳng hư, chẳng chết.
V́ thế, có cái tên là ốc Trường Sanh. Nếu có người
khó sanh, chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, dùng nước
đun sôi hơi ấm (nước nóng sợ bỏng chết
vật ấy. Nước lạnh sợ gây trở ngại
cho sản phụ), nuốt xuống một con, trẻ liền
sanh ra ngay, liền có thể kiếm thấy con ốc ấy
được nắm trong tay đứa trẻ. Nam bên tay trái,
nữ bên tay phải. Rửa sạch cất đi, có thể
sử dụng nhiều
lần. Vật
ấy nếu không chuyển đến Phổ Đà Sơn
sẽ chẳng linh; cho nên, chỗ khác chẳng bán. Thoạt
đầu, tôi nghe nói nuốt nó sẽ giúp sanh mau, lại
theo tay trẻ thoát ra, ngờ rằng trọn chẳng có lư ấy!
Bởi lẽ, nuốt vào bụng, phải xuống ruột
già, sao lại có thể vào trong tử cung? Huống hồ
trẻ ở trong bụng mẹ, phía ngoài có nhau thai, chân tay
trẻ cong queo như bị nhiều lớp quần áo bó chặt,
sao có thể duỗi tay bắt lấy vật ấy?
Năm Dân
Quốc thứ bảy (1918), có đồng hương ở
Triều Ấp tỉnh Thiểm Tây là Lưu Cần Phố
đến thăm (nhà Cần Phố nhiều đời thư
hương, là bậc quân tử đức dày), nghe tôi nhắc
đến chuyện ấy, bèn nói: “Chuyện trong thiên hạ,
có chuyện chẳng thể dùng phàm t́nh để suy đoán
được. Lư như thầy đă nói đúng là như
thế, nhưng sự th́ thầy chưa thấy. Nhà tôi tổ
truyền có một hạt [trường sanh oa]. Thường
mỗi khi phụ nữ trong nhà và thân bằng sanh nở thường
dùng đến. Sử dụng nhiều lượt chẳng
thể đếm nổi số. Về sau, bị người
khác mượn đi, nghe nói là đă mất rồi! Chẳng biết có thật sự
bị mất hay là giấu nhẹm đi, hết sức
đáng tiếc”. Năm sau, tôi đến Dương Châu, kể
lại với cư sĩ Trương Thụy Tăng lời
đối đáp của Cần Phố. Ông ta nói: “Nhà tôi vốn
có một viên lôi chấn tử (雷震子). Hễ phụ nữ sanh nở, nuốt vào
liền sanh. Vật ấy được
nắm trong tay đứa trẻ. Nhặt lấy rửa sạch,
cất đi để dành. Đă sử dụng khá nhiều
lần rồi. Về sau, bị kẻ khác mượn không
trả, nói là đă đánh mất”. Trời đất to lớn,
sự vật đông đảo, dẫu là thánh nhân vẫn
có điều không biết! Chuyện trong thế gian này c̣n
chẳng thể dùng phàm t́nh để suy lường, huống
hồ cảnh giới của Phật, Bồ Tát ư?
Điều
đáng giận là các cửa tiệm sợ người khác
chẳng tin tưởng, bảo vật ấy gọi là “thố miết”
(醋鱉, ba ba trong giấm), có thể giục
cho mau sanh, bỏ vào trong giấm nó sẽ cử động.
Ngẫu nhiên dùng giấm thử, quả nhiên thật vậy,
nhưng chẳng biết, hễ bị thả vào giấm
chua, nó sẽ chết, chẳng thể dùng được nữa.
Các văn nhân do thấy nghe lời ấy, chẳng suy xét sâu
xa, bèn nói hùa theo, cho là đúng như vậy. Như Châu Tự
Tăng soạn sách Xương Quốc Điển Vịnh
bảo: “Vật ấy gặp giấm bèn sống. V́ vậy,
dùng giấm để thử, quả thật giống như
viên châu ḅ trên cái khay”. Châu Công Cẩn cũng nói: “Ốc
trường sanh thả vào giấm chua sẽ sống động”.
Sách Chánh Tự Thông[24] chép: “Loài
ấy có đực cái, bỏ vào trong giấm, con cái và con đực
sẽ đuổi theo nhau, quanh quẩn kết hợp, liền đẻ trứng nhỏ
như hạt kê”. Loại lời lẽ thêu dệt
vô căn cứ ấy, thật đáng thống hận! Chẳng
biết đă khiến cho bao nhiêu người dấy ḷng thử
xem mà hại mạng của loài vật. Nếu vẫn dùng
con ốc Trường Sanh đă bị thử [bằng giấm]
để giúp cho người ta dễ sanh, sẽ gây hỏng
chuyện, hoặc hại mạng người. Bọn văn
nhân kiểu đó, đời sau ắt khó tránh khỏi cái họa
không duyên cớ ǵ mà bị người khác hăm hại, chẳng
biết nguyên do là v́ đời trước đă tự hào
v́ tài văn chương, hư vọng bịa chuyện mà
nên nỗi, cũng chẳng đáng buồn ư?
Nói nó có
thể giúp dễ sanh th́ đúng như vậy. Vật ấy
phía trên khum khum tṛn, phía dưới th́ bằng phẳng, dưới
đáy có mấy chục đường vằn, càng hướng
vào giữa càng dày đặc. Để lâu ngày, ở chính
giữa, sẽ lọt ra một con nhỏ hơn, tức là
nó sanh con. Con lớn th́ phần chính giữa lơm vào, chẳng
bằng phẳng như trước. V́ thế, cất càng
lâu, sẽ thấy có nhiều. Cần phải xét kỹ coi
nó c̣n sống hay đă chết. Đă chết th́ chẳng thể
dùng. Nếu toàn thân nó ôn nhuận, hơi ửng đỏ
như màu thịt th́ c̣n sống. Nếu toàn thân khô trắng,
chẳng có chút ôn nhuận ửng hồng như màu thịt
th́ là đă chết.
Lại nữa,
vật này khéo trị chứng mắt sưng đỏ. Mắt
con người, bất cứ vật ǵ đều chẳng
bỏ vào mắt được. Nếu vật ấy (ốc
Trường Sanh) c̣n sống, dẫu to một hai phân, vạch
mí mắt, để vào trong mắt, trọn chẳng có mảy
may khó chịu nào. Nếu mắt khỏe mạnh, nó sẽ
chẳng chịu khảm vào. Vừa bỏ tay ra, nó sẽ rơi
ra ngay. Nếu mắt bị sưng phù đỏ, bỏ vào,
tùy tiện ấn nhẹ, nó sẽ tự dính chặt. Không chỉ
chẳng cảm thấy cồm cộm, mà c̣n chẳng thấy
mí mắt có chỗ nào phồng lên, chẳng khác ǵ chẳng
bỏ vật nào vào! Sau đó liền chẳng cảm thấy
chi hết; đợi đến khi mắt đă lành bệnh,
nó sẽ tự rớt ra, nhưng người ta không hay biết,
mười trường hợp th́ chín bị thất lạc.
Nếu đă bỏ vào mắt, phải thường luôn lưu
tâm th́ chắc chẳng bị mất, nhưng khó lắm, do
nó ở trong mắt, người ta tuyệt chẳng cảm
nhận được! Đấy cũng là chuyện chẳng
thể dùng lư thường để phán đoán được.
“Lôi chấn tử” tức là quả màu hồng
do cây vạn niên thanh kết thành, khi sét đánh, nó sẽ liền
rơi xuống đất. Nếu trước hoặc sau đó,
sẽ đều chẳng có hiệu nghiệm. Thôi sanh tử
c̣n dễ có, chứ lôi chấn tử càng khó có. Nhưng có thứ
so với hai vật ấy càng hữu ích hơn, mà cầu th́
không ǵ chẳng đạt được, tiếc là lắm
kẻ chẳng biết. Nếu ai nấy đều biết
th́ hai vật ấy cũng đều chẳng dùng đến.
Phụ nữ khó sanh, nói chung là do sát nghiệp trong đời
trước hoặc đời này mà ra. Nếu thường
ngày luôn yêu tiếc sanh mạng loài vật, kiêng giết, bảo
vệ sanh vật, thường niệm thánh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát, ắt nghiệp chướng tiêu trừ, tự
sanh sản dễ dàng. Dẫu xưa nay chẳng biết niệm
Bồ Tát, tới lúc sắp sanh mà có thể chí thành khẩn
thiết niệm, và quyến thuộc chăm sóc đều
cùng niệm cho người ấy, th́ cũng có thể b́nh
an, sanh nở mau chóng, mẹ tṛn con vuông. Lại c̣n gieo thiện
căn to lớn, lợi ích ấy há có hạn lượng?
Có kẻ
nói khi sanh nở, lơa lồ, bất tịnh, niệm danh hiệu
Bồ Tát sợ mắc tội lỗi. Chẳng biết Phật,
Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh như con cái do chính ḿnh
sanh ra. Nếu con ngă vào chỗ lửa nước, cầu cứu
cha mẹ, cha mẹ ắt chẳng v́ con áo mũ không chỉnh
tề, thân thể chẳng sạch sẽ mà vứt bỏ
chẳng cứu! Lại như mặt trời, mặt trăng
chiếu sáng giữa trời, tịnh hay uế đều b́nh
đẳng chiếu, trọn chẳng phân biệt. Nhưng
xét về phần chúng ta, cố nhiên nên dốc hết ḷng
thành, cạn hết ḷng kính th́ mới có thể ngưỡng
mong Ngài rủ ḷng ứng hiện. Người có sức ắt
cần phải thân lẫn tâm đều dốc hết ḷng
cung kính. Kẻ chẳng có sức, cần phải nhất
tâm cung kính, đối với thân h́nh, cố nhiên chẳng thể
chấp chết cứng được! Có hạng người
ăn chay, niệm Phật, nhưng là kẻ chẳng biết
lẽ biến thông, do trong nhà có phụ nữ sắp sanh nở,
bèn bỏ ra ngoài ở tạm hơn một tháng mới quay
về, nói là “hễ bị huyết xông nhằm, kinh chú đă
tụng niệm trước kia đều vô hiệu!” Tri
kiến chấp trước hẹp ḥi đến nỗi trái
t́nh nghịch lư như thế đó! V́ thế, tôi nêu bày điều này, để mong cho hết
thảy mọi người đều an b́nh mà sanh, mẹ
con đều tốt lành. Đứa con sanh ra sẽ đều
hiếu, hữu, nhân từ, phước thọ an khang. Chưa
ra làm quan th́ là gương mẫu cho làng ấp, gia đ́nh êm
đẹp. Hễ cầm quyền bèn b́nh trị thiên hạ,
hộ quốc, cứu dân. Tuy chúng ta mong sớm sanh về Tây
Phương, cũng phải nguyện trong cơi đời có
hiền nhân, thiện sĩ, làm người đề xướng,
hướng dẫn trong quốc gia, xă hội. Đấy
chính là điều tôi sáng tối thơm thảo cầu chúc
vậy, mong cho mỗi mỗi đều được như
nguyện.
X. Phụ lục
* Tưởng nhớ pháp ngữ
của pháp sư Ấn Quang
(Vân Tuyền Tử ghi)
Pháp sư
Ấn Quang tự chôn sống trong quan pḥng tại chùa Pháp Vũ
ở Nam Hải, chuyên tu Tịnh nghiệp, hết sức khẩn
thiết hơn người. Một hôm, Vân Tuyền Tử đến
thăm, tṛ chuyện hồi lâu. Lúc sắp từ biệt, Ấn
công nắm tay căn dặn:
- Trước
nay, các vị tổ Thiền và Giáo thường nói “nếu
Thiên Thai Giáo Quán Tông chẳng có người truyền thừa,
giảng giải, sẽ là lúc Phật pháp sắp diệt mất”.
Thời này chẳng phải như thế.
Vân Tuyền
Tử ân cần hỏi duyên cớ, Ấn công bùi ngùi bảo:
- Hiện
thời, thánh giáo ngày càng đi xuống, căn cơ con người
nông cạn. Do pháp Chỉ Quán mà được xuất sanh
tử th́ vạn người chẳng được một,
hai! Chỉ có Tịnh Độ là có thể nương cậy!
Nếu hiện thời, tông Tịnh Độ chẳng có
ai nói, truyền, hành, Phật pháp đúng là sắp diệt tận
vậy. Chúng ta là đệ tử đức Phật, càng phải
nên cố gắng.
Vân Tuyền
Tử lại lễ bái, tiếp nhận, lui ra. Do lời lẽ
ấy tuy nói rất b́nh thường, thật ra có liên quan đến
chỗ ẩn tàng sâu xa trong Tịnh Độ, v́ thế, ghi
lại dành cho người thông sáng trong mai sau!
* Bái yết Ấn Quang đại
sư kư
(Cư sĩ Tạ Huệ Lâm viết)
1. Ngày
Mười Chín
Ngày Mười
Chín, tức ngày Quư Mùi, bảy giờ sáng, cùng Minh Đạo
thượng nhân đáp chuyến xe lửa tuyến Bắc Kinh -
Thượng Hải đến Tô Châu. Chín giờ sáng tới
nơi. Khi vào thành, bỗng ngộ “một câu danh hiệu
Phật buông xuống hết thảy, miên mật tŕ niệm,
sẽ liền bao gồm hàm dưỡng, quan sát, nhận biết,
hết thảy công phu trong ấy chẳng cần phải
nghiêm ngặt dụng tâm”. Minh Đạo thượng nhân
dẫn tôi đến đường Hộ Long ở phía
Nam con phố chính để vào chùa Báo Quốc, yết kiến
thầy tôi là Ấn Quang lăo nhân, liền ở lại trong
chùa. Lăo nhân đă bảy mươi ba tuổi, tinh thần nội
liễm, ngôn từ khẩn thiết, bàn đến Lư Học
đời Tống, Minh, Sư cho rằng họ lập luận
thái quá, chẳng đáng để tiếp dẫn kẻ sơ
cơ. Họ chẳng tin nhân quả luân hồi th́ càng sai lầm!
Hiện thời, nhân tâm phóng túng, chẳng kiêng dè, ươm
thành hạo kiếp, không ǵ chẳng
do kiểu ăn nói ấy làm cơ sở khởi xướng.
Bởi lẽ, nhân quả là lư tột cùng được chỉ bày để thánh nhân
thế gian và xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, cứu
độ chúng sanh, như trồng dưa được dưa,
trồng đậu được đậu, quyết chẳng
có mảy may sai lầm! Cơi đời trị hay loạn, an
hay nguy, chuyện cát, hung, lợi, hại, Nhất Thừa do
Như Lai đă chứng, chúng sanh đọa lạc tam đồ,
đều khởi nguồn từ cái nhân ban đầu, kết
thành cái quả về sau. Lắm kẻ coi thường, chẳng
suy xét sâu xa. V́ thế, nhân tâm ngày một bại hoại, thế
giới ngày một loạn, chẳng
đáng sợ ư?
Tôi hỏi:
“Bọn Lư Học chẳng tin vào khai ngộ, cũng tự
có cảnh tượng vắng lặng, bất động,
hư linh, chẳng tối tăm. Sợ rằng họ
vẫn thuộc vào căn bản vô minh trụ địa,
chưa thể triệt để trở ḿnh đấy chăng?” Sư dạy: “E là
bọn Lư Học chưa đoạn Kiến Tư Hoặc,
c̣n bàn ǵ đến Trần Sa, Vô Minh nữa! Nếu họ thật
sự đại công vô tư, chẳng chấp vào kiến
giải môn đ́nh, thành tựu sẽ chẳng chỉ có chừng
ấy. C̣n như nói ‘ta không có tâm luân hồi, tự chẳng
có chuyện luân hồi’, đó là cảnh giới của Phật,
Bồ Tát, học nhân chưa dễ ǵ đạt được.
Chỉ cần giữ ḷng từ bi niệm Phật, hết
thảy dụng công tự có sẵn trong ấy”. Lăo nhân từ
bi sâu đậm, thiết tha, cảnh giới cực cao, kẻ
học cạn chẳng thể suy lường được!
2. Ngày
Hai Mươi
Tám giờ
sáng ngày Hai Mươi, tức ngày Giáp Thân, Ấu Am (em vợ
của Tạ cư sĩ) và ông Trương Lộc Minh quy
y với Ấn công, tôi cũng đi theo cùng làm lễ. Lăo nhân
dùng chuyện Tam Quy niệm Phật thiết tha căn dặn.
Kế đó, lại luận định bọn Lư Học
không hiểu rơ lư nhân quả tinh vi, ngược ngạo mặc
sức phỉ báng. Họa hoạn cho thế đạo, nhân
tâm trong hiện thời đều do các thứ nghị luận
ấy dẫn khởi. Bản lănh của họ chẳng thể
sâu sắc, chánh tâm thành ư chẳng thể chuyên dốc, chân
thật, cũng v́ lẽ này! Ai nấy đều cần phải
lấy đó để răn dè!
3. Ngày
Hai Mươi Mốt
Sáng sớm
ngày Hai Mươi Mốt, tức ngày Ất Dậu, Ấn
lăo (tổ Ấn Quang) bảo Minh Đạo thượng
nhân dẫn tôi và Ấu Am đến chùa Khai Nguyên lễ bái tượng hai vị
Thế Tôn Ca Diếp và Duy Vệ (tức Tỳ Bà Thi Phật,
Vipaśyin), bảo tượng ấy vào đời Tấn
từ ngoài biển trôi vào, bèn đón về thờ trong chùa,
tột bậc linh dị. Chuyện ấy được
chép tường tận trong sách vở của huyện. Tăng
nhân Nhật Bản nhiều người đến chiêm lễ,
thế mà nhân sĩ Tô Châu ngược lại phần nhiều
chẳng biết. Sau đó, chúng tôi từ tạ Ấn lăo, đáp
xe lửa trở về Vô Tích.
Ấn Quang Pháp Sư Văn
Sao Tam Biên Bổ hết
[1] Ngũ Bất
Hoàn Thiên (Śuddhāvāsa) c̣n
gọi là Ngũ Bộ Tịnh Cư Thiên, bao gồm năm
tầng trời cao nhất của Sắc Giới Thiên, tức
Vô Phiền Thiên (Avṛha), Vô Nhiệt Thiên (Atapa), Thiện Kiến Thiên (Sudṛśa), Thiện Hiện Thiên (Sudarśana), và Sắc Cứu Cánh
Thiên (Akaniṣṭha).
Đây là nơi cư ngụ của các vị thánh nhân Nhị
Thừa đă đoạn chín phẩm Tư Hoặc trong Dục
Giới, chứng Tam Quả trở lên.
[2]
Tứ Không Thiên (c̣n gọi là Tứ Vô Sắc Xứ) là các cơi
trời thuộc Vô Sắc Giới, bao gồm:
1) Không Vô Biên Xứ
Thiên (Ākāśānantyāyatana):
Đây là trụ xứ của người chứng Vô Sắc
Định do tu Vô Biên Vô Tế Không Quán.
2) Thức Vô
Biên Xứ Thiên (Vijñānānantyāyatana):
Trụ xứ của người tu vô biên vô tế tâm thức
quán, chán ĺa vật chất ngăn ngại của cảnh
giới bên ngoài.
3) Vô Sở Hữu
Xứ Thiên (Ākiṃcanyāyatana): Đă phủ định cảnh giới bên ngoài, lại
c̣n phủ định tâm thức trong nội tâm, tư duy hết
thảy các thứ trong ngoài đều vô sở hữu, tu Vô
Sở Hữu Quán.
4) Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (Naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana):
Đây là cảnh giới cực tịnh cực diệu của
người tu Không Thiền. Do chẳng có hết thảy các
thứ thô tưởng nên gọi là Phi Tưởng. Do vẫn
c̣n có tế tưởng, nên gọi là Phi Phi Tưởng.
[3] Đây là một công án trong Bích
Nham Lục, công án chín mươi chín: “Túc Tông hoàng đế
hỏi Trung quốc sư: ‘Mười thân điều ngự
là như thế nào?’ Quốc sư nói: ‘Đàn việt đạp
lên đỉnh đầu Tỳ Lô mà đi’. Vua nói: ‘Quả
nhân chẳng hiểu’. Quốc sư đáp: ‘Đừng chấp
nhận Pháp Thân thanh tịnh của chính ḿnh”. Tỳ Lô tức
là Tỳ Lô Giá Na Phật, tức thanh tịnh Pháp Thân của
mười phương chư Phật. Lời của Huệ
Trung quốc sư nhằm khuyên nhà vua trực tiếp thấy
Pháp Thân thanh tịnh của chính ḿnh, đừng chấp trước
vào danh tướng. Sau này, từ ngữ “Tỳ Lô đảnh”
thường dùng để chỉ người đă chứng
nhập Pháp Thân nơi tự tánh. Như trong Đại Huệ
Phổ Thuyết có viết: “Cao bộ Tỳ Lô đảnh,
bất bẩm Thích Ca Văn” (bước cao lên đỉnh
Tỳ Lô, chẳng noi theo lối của ngài Thích Ca).
[4] “Nhập khám” (入龕) chính là nghi thức khâm liệm, đặt
xác chết vào trong quan tài.
[5] Gọi là “đại liệm”
(大殮) nhằm phân biệt với “tiểu
liệm”. Theo cổ tục, tùy theo thân phận mà thời
gian từ khi chết đến khi cử hành tiểu liệm
sẽ dài ngắn khác nhau. B́nh dân th́ qua hôm sau sẽ tiểu
liệm, quư tộc th́ sau khi chết năm ngày mới tiểu
liệm, hoàng đế th́ chờ bảy ngày. Khi tiểu liệm
th́ dùng vải liệm bọc kín thân thể, phải bọc
đầu trước, sau đó mới đặt vào trong
quan tài. Khi đặt vào quan tài, con cả nâng đầu, phải
đưa chân vào quan tài trước. Sau khi đặt vào quan
tài, sẽ bỏ các h́nh nhân bằng giấy làm người
hầu, đặt kính hộ tâm, bảy đóa hoa sen, đắp
mền liệm, các thứ bùa trừ tà, bùa trấn ếm trùng
tang v.v… Sau đó, đậy nắp quan tài, nhưng chưa đóng
đinh. Đại Liệm tức là nghi thức hoàn toàn đóng
đinh phong kín quan tài. Nghi thức này chỉ cử hành khi con
cháu về đủ, gia quyến và thân hữu nh́n mặt người
chết lần cuối trước khi đóng đinh. Có một
số vùng tại Trung Hoa, gia quyến c̣n mời người
đức cao trọng vọng hay trưởng bối trong
họ đến đóng tượng trưng một hai cái
đinh trước khi âm công (đạo tỳ) thật sự
đóng đinh. Theo diễn biến thời gian, hiện thời,
Tiểu Liệm được hiểu là tắm rửa,
thay áo, đắp khăn che mặt người chết, đeo
bao tay và bao chân, bó chặt ống quần của người
chết, c̣n Đại Liệm chính là đặt xác vào trong
quan tài và phong kín ngay trong ngày hôm ấy. Tại Hoa Lục, vẫn
c̣n cử hành nghi thức mời người đức cao
trọng vọng đóng đinh trước khi đưa đi
chôn hay hỏa táng, nhưng chuyện đóng đinh khi đó
chỉ mang tính cách tượng trưng.
[6] Đồ điệt
(徒侄):
Học tṛ của sư huynh hay sư đệ của một
vị thầy.
[7] Phổ Đà có ba ngôi chùa chính là
Phổ Tế, Pháp Vũ, và Huệ Tế. Phổ Tế được
gọi là Tiền Tự (chùa trước), được
xây dựng trong niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085) đời Tống,
là ngôi chùa lớn nhất, có quy mô rất lớn. Thường
được mô tả là “ngũ bộ nhất lâu, thập
bộ nhất các” (năm bước là một lầu,
mười bước là một gác). Điện Đại
Viên Thông là chánh điện của chùa này, trong điện
thờ tượng Tỳ Lô Quán Âm cao 8,8 mét, hai bên là tượng
ba mươi ứng thân của Quán Âm đại sĩ. Chùa
Pháp Vũ gọi là Hậu Tự, thoạt đầu có tên
là Hải Triều Am, xây dựng vào năm 38 đời
Khang Hy (1699), được triều đ́nh ban biển ngạch
là Thiên Hoa Pháp Vũ, điện Phật là do toàn thể điện
thờ từ cố cung nhà Minh ở Nam Kinh chuyển sang.
Chùa Huệ Tế ở cao nhất trên Phổ Đà Sơn,
c̣n có tên gọi là Phật Đảnh Sơn Tự. Kiến
trúc của chùa khác hẳn quy củ của các tùng lâm v́ sau điện
Thiên Vương, các ṭa Đại Hùng Bảo Điện, Đại
Bi Điện, Ngọc Hoàng Điện, Phương Trượng
Thất v.v… đều nằm thành một hàng. Chánh điện
là Đại Hùng Bảo Điện thờ Phật Thích Ca,
Đại Bi Điện ở bên trái thờ tượng
Quán Âm có từ đời Đường (đây là bức
tượng cổ nhất ở Phổ Đà Sơn).
[8][8] Hóa Thân Quật ở đây
là cái hang núi dùng để tạm
chứa quan tài, chờ hỏa thiêu.
[9] Nguyên văn là “thố quan” (厝棺), tức là quan tài chưa chôn, c̣n để
quàn tại đó. Tục lệ xưa của Trung Hoa là quan
tài của người đă chết thường phải đưa
về cố hương an táng. Nếu do chưa
đủ chi phí, hoặc v́ một lư do nào đó chưa thể
đưa về chôn tại quê nhà (chẳng hạn chưa
t́m được cuộc đất tốt đẹp,
hay mẹ góa, con thơ không thể tự ḿnh đưa quan
tài về quê, hay gặp lúc loạn lạc), người ta
sẽ lập một gian nhà tạm (thường gọi là
“thố ốc” tức nhà tạm) quàn quan tài tại đó, chờ đến khi thuận tiện
sẽ đưa về quê chôn. Đôi khi họ gởi vào các
chùa chiền hay đạo quán để quàn tại đó. Riêng
tại tỉnh Sơn Đông, có tục lệ không cho chôn
ngay, phải quàn quan tài ba năm rồi mới chánh thức
cử hành chôn cất.
[10] Đề từ (題辭) là một thể loại
văn chương thời cổ, nhằm mục đích nhắn
nhủ độc giả ư nghĩa chánh yếu trong một tác phẩm
và tán dương tác dụng của sách ấy. Đề từ
thường đặt ở đầu sách, trước
lời tựa vừa có tác dụng giới thiệu, vừa
nâng cao giá trị của tác phẩm.
[11] Chân thuyên (真詮): Lời nói, lời giảng
giải chân thật.
[12] Đây là một câu nói gây
khá nhiều tranh căi, thậm chí có người c̣n đi quá
xa, cho rằng Khổng Tử tán thành phong tục tuẫn táng
(chôn người sống bồi táng người đă chết).
“Dũng” (俑) chính là tượng người
bằng đất nung, hoặc khắc bằng đá, thường
dùng để chôn theo trong mộ các quư tộc. Như trong mộ
Tần Thủy Hoàng có mấy ngàn tượng bằng đất
nung, to bằng người thật, mặc giáp trụ để
tượng trưng quân sĩ của nhà vua. Đa số các
nhà chú giải cho rằng khi nói lời này Khổng Tử có
dụng ư phê phán thói xa xỉ khi chết, hàng quư tộc thường
tạo lăng mộ xa hoa, làm rất nhiều tượng
thế thân cho người hầu, gia nô, quân sĩ chôn theo,
lăng phí vô ích. Khổng Tử nói kẻ đề ra cái thói tuẫn
táng hoặc dùng tượng h́nh người để bồi
táng đều chẳng thể tốt lành được,
gia tộc đó sẽ suy bại!
[13] Tả Truyện có tên gọi
đầy đủ là Xuân Thu Tả Thị Truyện, hoặc
Xuân Thu Nội Truyện. Đây là một bộ sử chép theo
lối biên niên, ghi chép lịch sử các nước tại
Trung Nguyên (phần b́nh nguyên rộng lớn nằm trong lưu
vực Hoàng Hà, thuộc mạn Bắc của sông Dương
Tử) trong thời Xuân Thu. Sách này được xếp vào
Thập Tam Kinh bắt buộc phải học của Nho sĩ.
Sách này được coi là tác phẩm do Tả Khâu Minh biên soạn (tuy
vẫn có nhiều ư kiến tranh luận ai mới là tác giả
thật sự) nhằm chú giải kinh Xuân Thu.
[14] Khuê Phạm là do Lữ Khôn biên soạn
vào đời Minh, bao gồm các lời dạy về nữ
đức của các bậc tiên triết và các tấm gương
hiền phụ, hiền nữ, hiền mẫu, kèm thêm các h́nh
vẽ minh họa, cho nên c̣n gọi là Khuê Phạm Đồ
Thuyết. Năm Vạn Lịch 22 (1595), Trịnh quư phi đọc
sách này, bèn nhờ bác là Trịnh Thừa Ân và anh là Trịnh
Quốc Thái soạn thêm phần Hậu Phi, cộng thêm mười
bảy tấm gương phụ nữ hiền thục
trong chốn hậu cung.
[15] Cung Nhân (恭人) có nghĩa là người có đức hạnh
khiêm cung. Đây là một danh vị được triều
đ́nh sắc phong cho chánh thất (vợ cả) của các
quan. Vào đời Minh – Thanh, đă có quy định cáo phong
(cáo mạng sắc phong, 誥命敕葑) cho vợ các quan có công
trạng hoặc hiền lương theo quy chế sau: Quan
nhất phẩm th́ vợ được phong là phu nhân (夫人, thường gọi là nhất phẩm phu nhân), nhị phẩm cũng
là phu nhân, tam phẩm là thục nhân (淑人), tứ phẩm là cung nhân, ngũ phẩm là
nghi nhân (宜人), lục phẩm là an nhân (安人), từ thất phẩm trở xuống đều
gọi là nhụ nhân (孺人). Các bà đă được
phong danh tước như vậy đều gọi là “mạng phụ” (命婦, mệnh phụ). Theo lệ xưa,
khi nói về tên họ của phụ nữ, thường gọi
tên họ chồng trước họ của ḿnh. Ở đây,
bà Nhậm là vợ của ông Châu, mẹ của Châu Điều
Sanh và Châu Cát Sanh, nên gọi là Châu mẫu Nhậm thái cung nhân,
tức là chồng bà ta đă từng làm quan tứ phẩm
dưới đời Thanh.
[16] Bố mẹ ruột.
[17] Hai
bà phi Hữu Ngu tức là hai người con gái của vua Nghiêu,
chị tên là Nga Hoàng, em tên Nữ Anh. Hai bà lấy vua Thuấn,
cùng được tôn xưng là bậc hiền thục giúp
chồng trị quốc. Hữu Ngu tức là vua Thuấn, v́
vua Thuấn thuộc bộ tộc Hữu Ngu Thị, sống
ở đất Ngu (nay là huyện Ngu Thành, thành phố Thương
Khâu, tỉnh Hà Nam). V́ thế, vua Thuấn thường gọi
là Ngu Thuấn.
[18] Tham tán (參贊): Tham gia
giúp cho thành
tựu. Ở đây ư nói bậc hiền nhân đă góp phần
khiến cho sự dưỡng dục của trời đất
đối với nhân loại và muôn vật được
thành tựu.
[19] Đường Ngu tức
là thời Nghiêu Thuấn. Do vua Nghiêu thuộc bộ tộc Đào
Đường Thị nên thường gọi là Đường
Nghiêu (Đạo giáo tôn xưng vị vua này là Thiên Quan Đại
Đế, và lấy ngày Rằm tháng Giêng làm khánh đản,
c̣n gọi là lễ Thượng Nguyên), c̣n vua Thuấn thuộc
bộ tộc Hữu Ngu Thị nên thường gọi là
Ngu Thuấn. Vị vua này được Đạo giáo tôn
xưng là Địa Quan Đại Đế, chưởng
quản Ngũ Nhạc Đại Đế (khánh đản
là ngày Rằm tháng Bảy, c̣n gọi là lễ Trung Nguyên), c̣n
vua Đại Vũ th́ được tôn xưng là Thủy
Quan Đại Đế (khánh đản vào Rằm tháng Mười,
tức lễ Hạ Nguyên). Tuy thế, có thuyết lại nói
ba vị này do là Tam Thanh (Nguyên Thủy Thượng Thanh, Linh
Bảo Ngọc Thanh, và Đạo Đức Thái Thanh tức
Lăo Tử) hóa ra. Vào các ngày lễ này,
theo cổ tục, nhất là ngày Trung Nguyên, người Hoa sát
sanh cúng tế tổ tiên rất nhiều. Nhằm khuyến
thiện và hạn chế người dân sát sanh, cũng như
căn cứ theo thời tiết tại Trung Hoa, chư Tổ
đă đổi ngày Trung Nguyên thành ngày Giải Hạ (sau ba
tháng An Cư Kết Hạ) và biến ngày Rằm Trung Nguyên
thành ngày Vu Lan Thắng Hội để chúng sanh kiêng giết,
phóng sanh, gieo phước, tụng niệm ḥng siêu độ
tổ tiên. Trong khi đó, Phật giáo Nam Truyền tuân theo
quy chế tại Ấn Độ, sẽ kết hạ vào
tháng Sáu và giải hạ vào tháng Chín (tức ngày dâng y Kathina).
[20]
Quần manh (羣萌, bahu-jana)
chỉ dân chúng, trăm họ. Hiểu theo nghĩa rộng
là tất cả chúng sanh, c̣n gọi là quần sanh, tức
chúng sanh. “Manh” là mầm mộng. Gọi chúng sanh là “quần
manh” nhằm diễn tả ư nghĩa: Tất cả chúng
sanh đều có chủng tử đạo tâm, nhưng bị
vô minh che lấp, giống như cái mầm ẩn kín trong tạng
thức.
[21] Chỗ này chắc người
biên tập viết nhầm. V́ đoạn trên nói rơ cô Quân
Can ngă bệnh, tọa thoát trong khoảng tháng Năm năm
Dân Quốc 15 th́ làm sao ông Mă Kỳ Sưởng kể chuyện
này cho ông Lư Mộc nghe vào năm Dân Quốc thứ mười
được!
[22] Ở đây, thời
gian cũng bị nhầm lẫn v́ lỗi của người
biên tập. Theo niên phổ của Ấn Quang đại
sư, sau khi thọ Cụ Túc Giới với Ấn Hải
Định Luật Sư vào năm 1882, tức năm Quang
Tự thứ tám, Tổ tiềm tu tại Thái Ất Sơn
măi cho đến năm Quang Tự 12 (1886) mới đến
chùa Tư Phước núi Hồng Loa. Năm Quang Tự 16
(1890), Ngài đến chùa Long Tuyền ở Bắc Kinh quải
đơn, và gặp ḥa thượng Hóa Văn lên Bắc
Kinh thỉnh Đại Tạng, được ngài Hóa Văn
tin tưởng, giao phó trông coi chuyện ấn hành Đại
Tạng cho chùa Pháp Vũ. Năm Quang Tự 19 (1893), Tổ theo
ngài Hóa Văn về ẩn cư tại Tàng Kinh Các chùa Pháp Vũ
ở Phổ Đà. Như vậy chuyện Ngài đến
triều bái Ngũ Đài không thể nào xảy ra vào năm
Quang Tự thứ mười được, chỉ có thể
sớm nhất là vào năm Quang Tự 12 và trễ nhất
là đầu năm Quang Tự 16, trước khi đứng
trông coi ấn loát Đại Tạng Kinh! Cũng như chuyện
vị Sư bị dân đói đập đầu không thể
xảy ra vào năm Quang Tự 23 (1897) được, phải
sớm hơn trước đó rất nhiều.
[23] Đào Châu tức là Đào
Châu Công. Phạm Lăi sau khi giúp Câu Tiễn diệt Ngô khôi phục nước Việt thành công, thấy
Câu Tiễn là kẻ tướng cổ dài, miệng chúm như
mỏ chim, tức là người hẹp ḥi, đa nghi, bạc
ác, không thể cùng hưởng vinh quang, ông bèn lén gởi thư
nhắn đại phu Văn Chủng hăy từ quan bỏ nước
ra đi, rồi đem Tây Thi trốn sang nước Tề.
Văn Chủng không nghe, quả nhiên về sau bị Câu Tiễn
kiếm cớ gán tội, bắt tự tử chết. Đến
đất Tề, Phạm Lăi đổi tên là Chi Di Tử B́,
sống ở vùng đất hoang ven biển, tận lực
canh tác và buôn bán, trở thành một người giàu nhất
thời ấy. Do bị vua Tề ép làm Tướng Quốc,
Phạm Lăi bèn từ chối, lại đem chia hết tài sản
cho người khác và những người trong vùng, trốn
sang đất Đào (nay thuộc huyện Định Đào,
tỉnh Sơn Tây), tự xưng là Đào Châu Công, kinh doanh
lần nữa, trở thành bậc cự phú. Do vậy, người
Hoa thờ ông làm thần Tài, gọi là Văn Tài Thần, c̣n
Vơ Tài Thần là Triệu Công Minh hoặc Quan Công. Tuy thế,
trong niềm tin dân gian của Trung Hoa, có rất nhiều vị
Văn Tài Thần, chẳng hạn như Tỷ Can (chú Trụ
Vương) được Đạo giáo tôn là Thủ Tài
Chân Quân, Lư Quỷ Tổ được tôn là Tăng Phước
Chân Quân, Đoan Mộc Tứ (tức Tử Cống, học
tṛ của Khổng Tử) do khéo kinh doanh cũng được
tôn là Tài Thần v.v…
[24] Chánh Tự Thông là tác phẩm
do Trương Tự Liệt soạn vào cuối đời
Minh, thuộc thể loại từ điển, thâu thập
hơn ba vạn chữ Hán, giải thích ư nghĩa cặn kẽ
từng từ, trích dẫn
nhiều tài liệu để chứng minh ư nghĩa.