Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ

Phần 11

大毘盧遮那成佛經疏

Đường sa-môn Nhất Hạnh A-xà-lê kư

沙門一行阿闍梨記

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

12. Phẩm thứ mười hai: Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la (Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la phẩm đệ thập nhị, 入祕密漫荼羅品第十二)

 

          Phẩm Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la nói về tạng bí mật thuộc thân, miệng, ư của Như Lai, chỉ có ngài Chấp Kim Cang [thông đạt] bí mật ấy. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại nói cách nhập đàn pháp bí mật, do ngài Bí Mật Chủ có thể biết, đức Phật lại bảo ban; nhưng vị Chấp Kim Cang này chính là hóa thân của đức Tỳ Lô Giá Na. Do muốn nêu tỏ pháp thâm mật này, thế nhưng pháp này chẳng ai có thể nêu câu hỏi, chỉ có Phật và Phật hỏi nhau mới có thể biết mà thôi, [do vậy, đức Phật mới tự gọi ngài Chấp Kim Cang để tuyên nói]! Như trong phần sau phẩm Phân Biệt Tích của kinh Kim Cang Đảnh, đức Phật đă nhập Tam-ma-địa rồi từ trong thân Phật, xuất hiện h́nh tượng của chữ [chân ngôn], h́nh dạng của ấn thân Bổn Tôn, mỗi thứ đều từ mỗi phương mà xuất hiện, thực hiện Phật sự. Đó gọi là “đại nhân duyên khai Phật tri kiến”. Làm như thế xong, [các thứ như vậy] lại nhập vào thân của Như Lai. Lúc bấy giờ, trong hư không vang ra tiếng hỏi pháp, hỏi đức Phật về một trăm lẻ tám danh hiệu của đức Phật: “Thế nào gọi là Phật? Thế nào là Chánh Biến Tri” v.v… Cho đến hỏi về mười sáu vị đại Bồ Tátchân ngôn, ấn v.v… của các Ngài, như trong kinh ấy đă rộng nói. Lúc bấy giờ, đức Phật liền tự khen ngợi rằng: “Thiện tai! Thiện tai! Năng vấn tư sự” (Lành thay! Lành thay! Có thể hỏi chuyện ấy) cho tới thuận theo lời hỏi mà đáp.

          Lúc đó, đại chúng đạt được điều chưa từng có, nghĩ như thế này: “Kim tùng Phật thân, nhi vấn ư Phật, do như huyễn sự, vô tác, vô sanh giả, nhi thành Phật sự” (nay [các tướng thần biến] từ Phật thân [xuất hiện xong], bèn tự hỏi đức Phật, giống như huyễn sự, vô tác, vô sanh mà thành Phật sự). Nay ở đây, ngài Chấp Kim Cang cũng giống như thế, sanh từ kim cang huệ ấn của Như Lai, lại tŕ kim cang huệ ấn của Như Lai, nên có thể thưa hỏi, đức Phật giải đáp. Do sợ kẻ khác chẳng tin; nếu [đức Phật] tự hỏi, tự nói, [họ sẽ cho rằng pháp ấy] không đáng tôn trọng. V́ thế, dùng thân Phật[1] để hỏi thân Phật. Lại nữa, sở dĩ được gọi là Chấp Kim Cang là do có thể tŕ thân mật, khẩu mật và tâm mật của Như Lai. Bởi thế nói là “tŕ kim cang trí ấn”.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn hựu phục tuyên thuyết nhập Bí Mật Mạn-đồ-la pháp ưu-đà-na viết: - Chân ngôn biến học giả, thông đạt bí mật đàn, như pháp vi đệ tử, thiêu tận nhất thiết tội. Thọ mạng tất phần diệt, linh bỉ bất phục sanh, đồng ư hôi tẫn dĩ, bỉ thọ mạng hoàn phục, vị dĩ tự thiêu tự, nhân tự nhi cánh sanh, nhất thiết thọ cập sanh, thanh tịnh biến vô cấu.

          ()爾時世尊又復宣說入祕密漫荼羅法優陀那曰真言遍學者,通達祕密壇,如法為弟子,燒盡一切罪。壽命悉焚滅,令彼不復生,同於灰燼已,彼壽命還復。謂以字燒字,因字而更生,一切壽及生,清淨遍無垢。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại tuyên nói kệ ưu-đà-na về pháp nhập Bí Mật Mạn-đồ-la rằng: - Người học khắp chân ngôn, thông đạt đàn bí mật, đúng pháp v́ đệ tử, thiêu sạch hết thảy tội. Thọ mạng đều cháy sạch, khiến chẳng c̣n sanh lại, như đă cháy thành tro, thọ mạng sẽ trở lại. Tức dùng chữ thiêu chữ, do chữ được sanh lại. Hết thảy thọ và sanh, thanh tịnh, trọn vô cấu).

 

          Trong phần trước, [đức Phật] đă nói với ngài Kim Cang Thủ về Bí Mật Mạn-đồ-la, nhưng chưa nói cách nhập bí mật. V́ thế, kế đó, Ngài bèn tuyên nói. Người tŕ tụng học trọn khắp Bí Mật Mạn-đồ-la, người hành Chân Ngôn phải nên học trọn khắp (có nghĩa là “cần phải hiểu hết thảy mọi chỗ”). Đàn bí mật của cổ nhân được bậc trí thông đạt. Do chẳng ngờ vực, vướng mắc, nên gọi là “người trí”. Người trí thiêu sạch hết thảy các tội. Pháp của đệ tử là như thế đó. “Người tŕ tụng” tức là người thành tựu, chính là A-xà-lê. [Người hành hạnh Chân Ngôn] đáng nên học trọn khắp, nhưng chỉ có Phật và Phật mới có thể biết trọn hết, học trọn vẹn hết thảy các pháp. Có thể trọn đức ấy th́ mới có thể làm thầy. Nay trong đời Mạt, khó có người như thế, sao có vị thầy truyền pháp cho được? Tuy A-xà-lê chưa được như Phật, nhưng hăy nên biết trọn khắp tông chỉ của kinh này. Đối với thứ tự pháp dụng, mỗi mỗi đều hiểu rơ, và tùy thuận tất cả các pháp trong kinh này, những điều trọng yếu thuộc về Mạn-đồ-la đều phải nên khéo biết. Phải nên tu hạnh Du Già, hiểu rơ các loại căn tánh lợi, độn của chúng sanh, và hữu giá, vô giá[2], cùng với các thứ như chân ngôn, thân ấn của Bổn Tôn th́ mới có thể truyền pháp, v́ đệ tử thực hiện pháp nhập Bí Mật Mạn-đồ-la. V́ lẽ nào vậy? Nay pháp yếu rất sâu, khó hiểu, được chư Phật cùng nhau thủ hộ, chẳng tuyên truyền bừa băi, điều trọng yếu thầm được suy nghĩ đă lâu, chẳng vội vàng tuyên nói!

          Nếu làm thầy của người khác trong đời Mạt, mà chẳng thể biết rơ ma sự và thứ tự trong phương tiện nhập đạo, cứ hư vọng dạy bảo người khác, chắc chắn sẽ dạy sai căn cơ, khiến cho người khác lầm lạc. V́ thế, cần phải học trọn khắp! Nói “người trí” chính là nói về người học trọn khắp ấy. Do có thể biết các thứ nên trao truyền hay không, nên nhập hay không như thế, nên gọi là “trí”. Nếu không, do thiếu phương tiện, chỉ nói suông, chẳng thể khiến cho người khác kiến lập thiện căn vô thượng, nhanh chóng nhập hết thảy các địa vị của Như Lai, lại c̣n chuốc lấy chướng ngại nơi pháp cực lớn, tự tổn, tổn hại người khác, sao gọi là “người trí” cho được?

          “Thiêu đệ tử tội” (đốt cháy tội của đệ tử): Do người ấy (đệ tử) từ vô thỉ đến nay có vô lượng vô biên tội chướng. “Như pháp vi đệ tử” (đúng như pháp mà v́ đệ tử) tức là [A-xà-lê] đúng như pháp mà nhập đàn, tác pháp. Chướng sâu dày nếu chẳng trừ khử, thân khí sẽ chẳng thanh tịnh v́ c̣n có chướng, [đệ tử như vậy] chẳng thích hợp để nói đạo trọn đủ của hết thảy Như Lai. Giống như hàng Thanh Văn có mười ba nạn[3], chẳng thích hợp để truyền giới. “Thọ mạng tất phần diệt, linh bỉ bất phục sanh” (Thọ mạng đều đốt sạch, khiến nó chẳng sanh lại): “Thiêu trừ hôi tẫn” (đốt bỏ khiến cho nó cháy sạch thành tro), há có phải là dùng lửa thế gian để đốt thân người ấy, khiến cho mạng căn chẳng c̣n tiếp tục th́ là hôi tẫn” ư? Nay tự có phương tiện mầu nhiệm là lửa đại huệ để đốt cái thân nghiệp phiền năo của người ấy, khiến cho nó chẳng c̣n sanh lại (chánh kinh gọi thân nghiệp phiền năo”“thọ mạng”). Hết thảy chúng sanh đều do nghiệp phiền năo chất chứa liên tục, khiến cho họ sanh trưởng luân hồi chẳng dứt. V́ thế, gọi [nghiệp phiền năo] là Thọ. Nay liền đốt bỏ [“thọ mạng” ấy], khiến cho hết sạch, chẳng c̣n sót. Nghiệp phiền năo là củi, trí phương tiện là lửa, do nhân duyên ấy mà [thiêu đốt] chẳng c̣n sót. Củi ấy đă hết, cái có thể đối trị (trí phương tiện) cũng bỏ đi. Nói “thiêu” có nghĩa là “chữ” (dùng chữ chân ngôn để làm lửa phương tiện trí huệ ḥng thiêu nghiệp phiền năo). Hăy nên lấy chữ A làm thân của đệ tử, khiến cho chữ A trọn khắp thân người ấy. Kế đó, dùng chữ lửa trí huệ ấy để nung đốt quặng vàng ṛng trong tánh Bồ Đề của người ấy, khiến cho hết sạch cấu uế. Do vậy, dùng chữ Ra làm lửa để nung đốt chữ A. Đă đốt xong, há có như Nhị Thừa đoạn diệt, cháy tan thành tro bụi, chẳng c̣n sanh nữa ư? Chẳng phải là như thế! Củi “các cấu uế” đă hết, vẫn có điều kỳ diệu sanh khởi; đó chính là “Bồ Đề thanh tịnh” chân thật sanh ra. Sự “sanh” ấy chính là tánh thanh tịnh, là chủng tử của Như Lai.

          Thầy dùng phương tiện nào để đốt cháy sạch rồi lại đốt giống như tro ấy, khiến cho nó lại sanh? “Dùng chữ để thiêu chữ”, tức là tưởng chữ A như cái đàn vuông, đệ tử ở trong ấy, dùng chữ Ra để thiêu. Do thiêu, nên có cùng một Thể. Thân giống như chữ A (), c̣n chữ Ra () để tự thiêu trừ hết thảy các tội phiền năo, cho tới thân cũng trừ, Thể giống như kim luân, nẩy mầm kỳ diệu, tức là sanh ra môn chữ Phạ (, Va). Hăy nên quán vầng tṛn sáng nơi tâm, ở trong ṿng tṛn ấy, đặt chữ Phạ. Từ chữ Phạ ấy, sanh ra thủy luân, giống như sữa trắng tưới rót. Dùng phương tiện này để làm sống lại chủng tử của Phật trong Bồ Đề tâm thanh tịnh, sanh ra cái thân thanh tịnh ấy, trong ngoài vô cấu như vàng được tinh luyện trăm lần, càng thêm sáng bóng, dùng để chế tạo thành vật dụng tùy ư. Hăy nên biết: Khi lửa dấy động, liền cùng với gió khởi. Phong luân tức là ư nghĩa của chữ Ha () và Khư (, Kha). Trên chữ Kha, lại thêm cái chấm, cái chấm ấy chính là Đại Không thuộc môn chữ Khiếm (खं, Khaṁ). Pháp thủy vi diệu từ hư không rót xuống để thanh tịnh vật dụng là cái tâm. Hăy nên biết: Đấy chính là ư nghĩa của năm chữ Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không. Đó đều là ư nghĩa bí mật của Như Lai. Không chỉ đọc theo văn tự mà thôi, hăy nên khéo suy nghĩ. Hành giả đă đạt được cái thân vô cấu thanh tịnh trọn khắp như thế, thọ mạng sống lại, thảy đều vô cấu, do ư mà sanh.

 

          (Kinh) Dĩ thập nhị chi cú, nhi tác ư bỉ khí, như thị tam-muội-da, nhất thiết chư Như Lai, Bồ Tát cứu thế giả, cập Phật, Thanh Văn chúng, năi chí chư thế gian, b́nh đẳng bất vi nghịch, giải thử b́nh đẳng thệ, Bí Mật Mạn-đồ-la, nhập nhất thiết pháp giáo, chư đàn đắc tự tại. Ngă thân đẳng đồng bỉ, Chân Ngôn giả diệc nhiên, dĩ bất tương dị cố, thuyết danh tam-muội-da.

          ()以十二支句,而作於彼器,如是三昧耶,一切諸如來,菩薩救世者,及佛聲聞眾,乃至諸世間,平等不違逆。解此平等誓,祕密漫荼羅,入一切法教,諸壇得自在。我身等同彼,真言者亦然,以不相異故,說名三昧耶

          (Kinh: Dùng câu mười hai chi, để làm khí cụ ấy. Tam-muội-da như thế, hết thảy các Như Lai, Bồ Tát đấng cứu thế, và Phật, các Thanh Văn, cho tới các thế gian, b́nh đẳng chẳng trái nghịch. Hiểu b́nh đẳng thệ này, Bí Mật Mạn-đồ-la, vào hết thảy pháp giáo, các đàn được tự tại. Thân ta giống như thế, bậc Chân Ngôn cũng vậy, do chẳng hề khác nhau, nói là tam-muội-da).

 

           Lại v́ muốn kiên cố Ư Sanh Thân như thế, lại có phương tiện, ví như xếp đặt mười hai chữ lại có được mười hai duyên, tức là “câu mười hai chi” vậy. Đấy chính là Chân Ngôn Vương mười hai chữ đă nói trong phần trước. Hăy nên dùng các chữ ấy để xếp trọn khắp thân. Thoạt đầu có bốn chữ xếp ở phần trên, tức là từ đỉnh đầu tới trán: Một chữ là chữ hư không ở trên đỉnh đầu, hai chữ ở tai, một chữ ở trán. Kế đó, đúng như bổn tánh phối ứng mà sanh, từ mắt mà xếp đặt. Có bốn chữ thuộc phần giữa, tức là hai chữ trên vai và [một chữ] ở tim, [và một chữ] ở họng. Kế đó, có bốn chữ thuộc phần dưới, tức là một chữ ở rốn, một chữ ở eo, một chữ ở trên đùi, một chữ ở dưới bàn chân. Nhưng một chân th́ hai chữ đều có (tức chữ ở trên đùi và chữ ở bàn chân), nay chỉ đặt chữ dưới ḷng một bàn chân, tức là kiêm cả hai chân. Hăy nên biết mười hai chỗ ấy thống nhiếp mỗi một thân phần khác, như chữ nơi hai tai liền thống nhiếp hai mắt v.v… Các chữ vừa nói trên đây đều lấy từ Chân Ngôn Vương trong phần trước, từ chữ đầu tiên theo thứ tự mà xếp đặt. Để làm điều này, có ba loại phương tiện:

          - Một là thầy tự xếp đặt.

          - Hai là dùng làm Mạn-đồ-la.

          - Ba là gia tŕ nơi thân đệ tử. Đấy chính là Du Già bí mật gia tŕ.

          Làm như thế xong, [đệ tử] liền có thể trở thành pháp khí. V́ thế nói là “tác bỉ khí” (làm kẻ đó trở thành pháp khí). Làm như thế xong, tức là thành tựu tam-muội-da. Nói “tam-muội-da” có nghĩa là Đẳng, tức là “ta bằng với Phật, Phật bằng ta, chẳng hai, chẳng chia ngăn, rốt ráo đều b́nh đẳng”. A-xà-lê bằng với Phật, tức là Phật bằng với đệ tử. Người đệ tử ấy không chỉ bằng mười phương ba đời hết thảy Như Lai, mà c̣n bằng với hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác, cũng bằng với hết thảy các vị thiên tiên trong thế gian. Nếu bằng với hết thảy như thế, chính là thân Tỳ Lô Giá Na. V́ thế nói “chư thế gian đẳng đồng đẳng, đồng thuận” (các thế gian đều cùng b́nh đẳng, đồng thuận), cũng là như kinh Pháp Hoa nói “đều cùng chẳng trái nghịch Thật Tướng của chúng sanh”. Hăy nên hiểu như thế, sẽ là ư nghĩa “bằng, giống như chư Phật, chẳng trái nghịch”, tương xứng với tam-muội-da Bí Mật Mạn-đồ-la này, vào trong các Mạn-đồ-la tự tại thuộc hết thảy các pháp giáo, bằng với ta như thế đó. Nếu tương xứng với tam-muội-da Bí Mật Mạn-đồ-la này, vào trong các pháp giáo, sẽ được tự tại trong các đàn (tuy chẳng nhập, vẫn được tự tại nhiếp thủ) giống như ta vậy Người tŕ tụng (tức là ta và vị hành giả ấy chẳng khác, hợp thành một. Đó gọi là tam-muội-da) cũng giống như thế. Người tŕ tụng chẳng khác, tam-muội-da gọi là người nói. “Giải” có nghĩa là thấu hiểu, hoặc hiểu biết. Nếu hiểu phương tiện nhập Bí Mật Mạn-đồ-la này, tức là nhập trọn khắp hết thảy các Mạn-đồ-la. Do người đệ tử ấy cùng nhập trọn khắp hết thảy các Mạn-đồ-la, tức là nghiệp tự tại, tu hành hết thảy các pháp môn chẳng bị chướng nạn. Đức Phật dùng các pháp rốt ráo b́nh đẳng để giải thích danh xưng “tam-muội-da”, nên nói “tam-muội-da gọi là Nói”. Như kinh thoạt đầu có các pháp như “nhập Đại Bi Thai Tạng Mạn-đồ-la” v.v…, dùng pháp này để làm pháp vận dụng trọng yếu, nhưng chẳng nói trong các phần trước, tới đây mới nói. Nếu chẳng hiểu pháp này, Mạn-đồ-la đă được thực hiện trước đó trọn chẳng thể thành tựu! Pháp xếp ra trước và sau, chẳng tương ứng theo ngay nhau, há có phải là Phật keo tiếc pháp ư? Chỉ v́ muốn khiến cho người nhập chánh pháp cần phải nương theo thầy mà học, giống như trong kinh Thanh Văn, đức Phật đă quở trách kẻ tặc trụ[4]. Ngài nói: “Đă có đầy đủ ḥa thượng A-xà-lê, hăy đúng như pháp mà thọ giới, quyết chí tu hành phạm hạnh, sao lại như kẻ trộm lén lút trụ [trong Tăng đoàn]?”

          Nay trong đời Mạt, kẻ học pháp cũng thế! Chẳng thân cận thiện tri thức để thưa hỏi, vâng lănh pháp yếu, mà tự vâng theo cái tâm [suy lường hư vọng] của chính ḿnh, mong thành tựu nghiệp tự tại của Như Lai, đúng là vừa giở xem kinh văn liền muốn thực hiện ngay, mong đạt được thành tựu, chẳng hề có lẽ ấy! Không chỉ tự tổn hại, lại c̣n do mong cầu danh lợi, bèn hư vọng làm thầy kẻ khác! Chính ḿnh đă trái pháp mà c̣n muốn kiến lập thiện căn vô thượng cho kẻ khác, há có lẽ ấy hay chăng? Do vậy, chẳng có hiệu nghiệm, lại c̣n chuốc lấy nghiệp báng pháp và duyên phá pháp, tạo thành nghiệp vô gián! Có thể nào do nghiệp nhân vô gián mà diệu quả tự lợi và lợi tha đều được thành tựu hay chăng? V́ thế, người hành pháp này mong cầu, thân cận minh sư, nhất nhất thưa hỏi, ḥng hiểu rơ ư chỉ vi diệu, trước là thành lập [thiện căn cho] chính ḿnh, sau là kham có thể kiến lập thiện căn vô thượng cho người khác. Ví như năm pháp thành tựu trong pháp Thanh Văn, tự thành ngũ phần Pháp Thân, và cũng có thể thành tựu ngũ phần Pháp Thân cho người khác, được ĺa y chỉ, được dự vào địa vị thầy. Lúc đó, mới có thể truyền pháp làm lợi người khác. Nếu chẳng phải vậy, hăy thận trọng, đừng vung vẩy khí cụ sắc bén bừa băi, khiến cho tay ḿnh bị tổn hại. V́ thế, kinh dạy: “Sai cơ thuyết pháp, vi nhân sư oan” (thuyết pháp không đúng căn cơ, sẽ khiến cho người khác bị oan uổng). Nay chẳng khéo học trọn khắp tạng Tŕ Minh Du Già, mà muốn tùy theo bổn duyên của người khác để truyền pháp cho họ th́ cũng giống như vậy đó! Nhập Mạn-đồ-la có tam-muội-da kệ, có khoảng mười bốn hay mười lăm bài kệ, tức là [kệ tụng để] truyền cho đệ tử thọ Cụ Giới của hàng Bồ Tát, và nhữmg lời răn dạy trọng yếu, nhưng [các bài kệ tụng ấy] chưa được truyền tới cơi này!

          Tiếp theo đây là phẩm Trụ Bí Mật Mạn-đồ-la. Phẩm trước nói về phương tiện nhập Bí Mật Mạn-đồ-la, tức là ba loại gia tŕ, nghĩa là dùng chân ngôn để gia tŕ thân thầy, và đàn tràng để nhập, cũng như gia tŕ khiến cho đệ tử trụ kiên cố. Sau đấy, [đệ tử] được an trụ trong bí mật tạng. V́ thế, tiếp theo đây, sẽ nói phẩm trụ và chứng!

 

13. Phẩm thứ mười ba: Nhập địa vị trong Bí Mật Mạn-đồ-la (Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la Vị phẩm đệ thập tam, 入祕密漫荼羅位品第十三)

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Đại Nhật Thế Tôn nhập ư Đẳng Chí tam-muội, quán vị lai thế chư chúng sanh cố, trụ ư Định trung, tức thời chư Phật quốc độ, địa b́nh như chưởng, ngũ bảo gián thác, huyền đại bảo cái, trang nghiêm môn tiêu, chúng sắc lưu tô, kỳ tướng trường quảng. Bảo linh, bạch phất, danh y, phan bội, ỷ huyền, thùy bố nhi hiệu sức chi. Ư bát phương ngung, kiến ma-ni tràng. Bát công đức thủy phân phức doanh măn. Vô lượng chúng điểu: Uyên ương, nga, hộc, xuất ḥa nhă âm. Chủng chủng dục tŕ, thời hoa, tạp thụ phu vinh gián liệt, phương mậu, nghiêm hảo. Bát phương hợp hệ ngũ bảo anh thằng. Kỳ địa nhu nhuyễn do như miên khoáng, xúc tiễn chi giả, giai thọ khoái lạc. Vô lượng nhạc khí tự nhiên hài vận. Kỳ thanh vi diệu, nhân sở nhạo văn. Vô lượng Bồ Tát tùy phước sở cảm, cung thất, điện đường, ư sanh chi ṭa, Như Lai tín giải nguyện lực sở sanh. Pháp giới tiêu xí đại liên hoa vương xuất hiện, Như Lai pháp giới tánh thân an trụ kỳ trung, tùy chư chúng sanh chủng chủng tánh dục, linh đắc hoan hỷ.

          ()爾時大日世尊入於等至三昧觀未來世諸眾生故住於定中即時諸佛國土地平如掌五寶間錯懸大寶蓋莊嚴門標眾色流蘇其相長廣寶鈴白拂名衣幡珮綺絢垂布而校飾之於八方隅建摩尼幢八功德水芬馥盈滿無量眾鳥鴛鴦鵝鵠出和雅音種種浴池時華雜樹敷榮間列芳茂嚴好八方合繫五寶瓔繩其地柔軟猶如綿纊觸踐之者皆受快樂無量樂器自然諧韻其聲微妙人所樂聞無量菩薩隨福所感宮室殿堂意生之座如來信解願力所生法界幖幟大蓮華王出現如來法界性身安住其中隨諸眾生種種性欲令得歡喜

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đại Nhật Thế Tôn nhập Đẳng Chí tam-muội, do quán các chúng sanh trong đời vị lai mà trụ trong Định. Ngay lập tức, trong các quốc độ của chư Phật, đất bằng phẳng như ḷng bàn tay, năm chất báu xen kẽ, treo lọng báu lớn, các cửa được trang nghiêm bằng cờ xí đủ màu, có h́nh dạng dài rộng. Linh báu, phất trần trắng, áo quư đẹp, phan, chuỗi ngọc đẹp đẽ, rực rỡ treo rủ trọn khắp để tô điểm. Nơi tám góc, dựng tràng Ma-ni. Đủ loại ao tắm: Nước tám công đức thơm tho ngập tràn, vô lượng các loài chim [ở trong ấy] như uyên ương, ngỗng, chim hộc, hót tiếng ḥa nhă. Hoa đúng thời, các loại cây khác nhau sum suê, xen kẽ thành hàng, thơm sực nức, tươi tốt, trang nghiêm đẹp đẽ. Tám phương thắt dây kết bằng năm thứ báu. Mặt đất mềm mại như bông, người đụng chạm và giẫm trên đó đều hưởng vui sướng. Vô lượng nhạc khí tự nhiên ḥa điệu du dương. Tiếng nhạc vi diệu khiến cho mọi người thích nghe. Vô lượng Bồ Tát tùy theo phước mà cảm vời cung thất, đền đài, và ṭa ngồi thuận theo ư tưởng mà sanh. Xuất hiện đại liên hoa vương sanh bởi sức nguyện lực tín giải của Như Lai để làm biểu trưng cho pháp giới. Pháp giới tánh thân của Như Lai an trụ trong ấy, thuận theo đủ loại tánh ưa thích của chúng sanh, khiến cho họ đều hoan hỷ).

 

          Ư nghĩa của [danh hiệu] Tỳ Lô Giá Na đă được giải thích trong phần trước, nay giải thích thêm. Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) là Nhật (mặt trời). Như mặt trời trong thế gian có thể trừ hết thảy tối tăm, sanh trưởng hết thảy vạn vật, thành tựu sự nghiệp của hết thảy chúng sanh. Nay Pháp Thân Như Lai cũng lại giống như vậy; v́ thế, dùng [mặt trời] làm thí dụ. Nhưng mặt trời trong thế gian có nơi chốn, phần hạn, hễ chiếu bên ngoài sẽ chẳng thể chiếu bên trong, chiếu sáng ở một bên này sẽ chẳng thể chiếu bên kia, chỉ có thể soi sáng ban ngày, chứ ánh sáng chẳng soi thấu ban đêm. Nay vầng mặt trời Như Lai chẳng phải vậy, chiếu trọn khắp trong, ngoài, chẳng có nơi chốn, phần hạn, phân biệt ngày đêm, viên minh thường trụ. Hết thảy chúng sanh nếu được gặp lúc vầng mặt trời [Như Lai] này xuất hiện, sẽ có thể sanh trưởng hết thảy thiện căn của Như Lai, hành Như Lai sự. Mặt trời thế gian chẳng thể sánh ví, chỉ [có thể tạm sánh ví] chút phần. Do vậy, thêm vào danh xưng [Tỳ Lô Giá Na] chữ Ma Ha.

          Sở dĩ đức Phật nhập tam-muội này là do đức Phật trụ trong pháp tịch diệt vô tướng rốt ráo, do đại bi nên trụ trong tam-muội, khiến cho hết thảy đại hội và vô lượng đại chúng được thấy pháp vi diệu trong đại hội trang nghiêm của Đại Bi Thai Tạng Mạn-đồ-la này, tức là từ trong vô tướng mà hiện hữu tướng. Tuy là hữu tướng, nhưng sanh từ nhân duyên, tức là ư nghĩa “bất sanh”, giống như pháp tánh thanh tịnh. Nhưng khiến cho chúng sanh ai nấy tùy theo bổn duyên mà thấy đủ loại sắc, nghe đủ loại tiếng, đạt được đủ loại pháp. Ai nấy tùy theo tâm khí [của chính ḿnh] mà tu hành đúng như pháp, có nhân duyên to lớn như thế đó. Lại v́ thỏa măn các pháp do ngài Kim Cang Thủ đă hỏi, khiến cho Bồ Tát thấu hiểu rơ chẳng c̣n thừa sót, [đức Phật] bèn nhập tam-muội.

          Đẳng Chí (Samāpatti, tam-ma-bát-để) là tên của tam-muội. Trong phần trên nói “nhĩ thời” (lúc bấy giờ), nay lại nói “bỉ thời, Như Lai nhập ư tam-muội” (khi đó, Như Lai nhập tam-muội), là v́ nhân duyên trước đó mà lại có chuyện này. Do vậy, phân biệt mà nói là “bỉ thời”. Đẳng Chí: Do quá khứ hết thảy chư Như Lai đều nương theo đạo này mà đạt thành Chánh Giác. Như hết thảy các đức Như Lai trong quá khứ, hiện tại và vị lai cũng lại giống như thế, đều do nương vào đạo này và phương tiện này mà thành Chánh Giác. Do vậy, nói là Đẳng Chí. Như tam thế chư Phật đạt thành Chánh Giác, ta cũng giống như thế. Như ta nay nương vào đạo này mà tới đạo tràng, hết thảy chư Phật cũng giống như thế. Phật, Phật đều b́nh đẳng, từ đầu đến cuối đều rốt ráo b́nh đẳng. V́ thế nói là Đẳng Chí.

          Lại c̣n như trong phần trước đă chỉ bày tướng trạng, phương vị của Đại Mạn-đồ-la, đúng như tam-muội do đức Phật đă nhập mà thị hiện. Nếu A-xà-lê trụ trong Định để độ đệ tử, cũng nên xếp đặt h́nh tướng các phương vị giống hệt chẳng khác như thế đó. Mỗi mỗi đều là hành pháp phổ môn của các vị tôn thánh thiện tri thức để nhập pháp giới. Nếu quán như thế để gia tŕ đệ tử, cũng khiến cho [đệ tử] được thấy đại hội như thế, khiến cho điều được quán trong tâm và chuyện được xếp đặt bên ngoài, trong ngoài đều b́nh đẳng chẳng sai biệt. V́ thế gọi là Đẳng Chí tam-muội. Đức Phật do nhập tam-muội này, khiến cho các vị đại Bồ Tát như Kim Cang Thủ v.v… đều được thỏa măn các nghi vấn. Trong tam-muội, đức Phật hiện ra các sự, tức là chỉ bày phương vị, pháp dụng; do vậy, nhập tam-muội này. Khi đức Phật ấy nhập tam-muội, các Phật sự cũng đều giống như thế. “Đẳng” là giống hệt như nhau, giống như ḷng bàn tay phẳng phiu. Nói địa b́nh” (đất bằng phẳng) là nói theo tam-muội, tức là thấy cơi thanh tịnh trang nghiêm, mặt đất phẳng phiu, ngay ngắn, chẳng có ngói, đá, các núi non, và cát, sỏi v.v… Nhưng đấy chính là ư nghĩa “Bồ Đề tâm thanh tịnh”. Do tín lực mà b́nh tâm địa. Trừ khử tất cả những chỗ A Lại Da, bao gồm các loại cát, sỏi, gốc cây chết khô v.v… Chỉ c̣n để lại cơi đất Bồ Đề tâm thể tánh rốt ráo b́nh đẳng, thanh tịnh. Nếu có thể b́nh tịnh nơi đó, sẽ có thể thành tựu Phật hội trang nghiêm trong Đại Bi Thai Tạng.

          “Ngũ bảo gián thác” (năm chất báu xen kẽ) tức là năm thứ báu như vàng, bạc v.v… Chất báu năm sắc xen kẽ nơi đất ấy. “Ngũ hành” là năm thứ báu [có màu] trắng, vàng… tức là năm màu. “Đỏ, xanh, đen” theo thứ tự. Màu trắng xen kẽ là Giới. Vàng là Tín, đỏ là Tinh Tấn, xanh là Định, đen là Huệ. Trong phần trước đă giải thích [khi vẽ Mạn-đồ-la, thứ tự màu sắc sử dụng] đầu tiên là trắng, kế đó là đỏ, rồi đến vàng. Nay [ở đây] dùng cách giải thích này (tức là trắng, vàng, đỏ, xanh, đen) làm chuẩn, chẳng dùng cách giải thích trước đó. Từ đây trở đi, mỗi thứ trang nghiêm đều được giải thích theo nghĩa lư. Điều chưa được giải thích ở đây, trong các chỗ khác [sẽ được giải thích], mỗi mỗi đều đối ứng với pháp môn này. Nhưng nơi ấy không chỉ có năm thứ báu xen kẽ nơi đất để trang nghiêm cửa nẻo mà thôi, lại c̣n có “môn tiêu” (門標, những thứ cờ xí, biểu tượng để trang nghiêm nơi cửa), tức là “môn tiêu” của Đại Bi Thai Tạng, khiến cho [hành nhân] biết tướng phương vị của cửa để vào. Nói “tiêu” (, nêu bày) tức là [được xếp đặt] giống như trong đồ h́nh trong phần trên. Nhưng [trong các thứ môn tiêu ấy], có thứ được vẽ, và có thứ được lập. Thứ được vẽ th́ vẽ vời đúng như đồ h́nh, những tiêu xí được lập th́ cũng nương theo tướng trạng ấy để làm. Nơi cửa có trụ, trên trụ có thanh gỗ đặt ngang để chỉ rơ nơi đó là cửa. Cửa ở bốn phương tức là Tứ Niệm Trụ, c̣n Tiêu là Tứ Phạm Trụ. Niết Dữu Ha (Nirgam) là cửa, Đổ La cũng là cờ, tức là cái để nêu bày (cờ xí, vật biểu trưng).

          “Tạp sắc” (nhiều màu khác nhau): Không chỉ là màu của năm phương, mà c̣n có đủ loại màu sắc khác nhau. Các lá phan đủ loại màu sắc ấy rộng, dài, đặt ở phía trên cửa. Lọng báu lớn cùng che phủ bên trên, giống như đàn pháp. Nhưng lọng ấy có kích thước che trọn khắp các cơi Phật, cho nên nói là “đại”. Trên các thứ trưng bày ấy, lại treo phất trần trắng và linh báu để trang nghiêm. Trước đó là phan nhiều màu, nơi phan có các thứ như linh báu và phất trần để treo xen kẽ với phan báu. Lại có đủ loại dây buộc bằng lụa màu đẹp đẽ để buộc hờ. Các thứ áo đẹp đẽ đủ màu treo rủ trọn khắp. Tôi cho rằng theo như kinh văn th́ có ư nghĩa “mặc áo nhiều màu”. Từ pháp vô tướng bậc nhất mà sanh ra tướng Đại Bi Tạng Sanh như thế, hiện trọn khắp sắc thân, đủ loại phương tiện để nói vô lượng pháp. Đó là ư nghĩa “nhiều màu”. Từ phan nhiều màu trở đi, đều là các thứ trang hoàng nơi cửa. “Kiến” () có nghĩa là đặt phan để trang hoàng.

          Nơi tám góc, lập tràng Ma-ni lớn, tức là tràng làm bằng Ma-ni. “Tràng” [được nói ở đây] chính là tại bốn phương và bốn góc, mỗi nơi đều lập tràng bằng Ma-ni diệu bảo như ư. Ngoài ra, lại c̣n có ao tắm thanh tịnh, đẹp đẽ, chứa nước tám công đức, lặng trong, thanh tịnh. Trong ao, lại c̣n có vô lượng các loài chim sống trong nước nô đùa tự tại, phát ra đủ loại âm thanh vi diệu đẹp ḷng hết thảy. Lại sanh đủ loại “thời hoa”, “thời” tức là hoa trong sáu thời đều hiện ra đúng lúc. Không chỉ là hoa quư, lại c̣n có đủ loại cây báu la liệt, phân bố khắp tám “phương phần”, “phần” tức là phương vậy. Dây kết bằng năm thứ báu buộc quanh. Đấy chính là phía trên tám trụ báu, dây báu buộc quanh giáp ṿng. Chữ Anh [trong “ngũ bảo anh lạc”] được nói ở đây chính là âm tiếng Phạn, có h́nh dạng khác với “anh lạc”[5] được nói trong phần trước, tức là [những chất báu ấy] được làm thành h́nh bán nguyệt ngửa lên, [kết thành chuỗi] treo rủ xuống. Các thứ dây báu như thế treo giáp ṿng, nối tiếp nhau.

          Mặt đất th́ mịn trơn như áo bằng sợi bông, chạm vào vui sướng tột bậc, như phương Tây có áo thuần bằng chất bông. Địa luân (mặt đất) giống như thế đó, cực trơn mịn, đặt chân xuống bèn lún, giở chân lên, nó trở lại như cũ, bằng phẳng như cũ. Cực mịn, sanh cảm giác dễ chịu nhất. Lại có vô lượng nhạc khí đầy ắp hư không. Chúng ở trong hư không, chẳng tấu mà tự phát ra tiếng. Tiếng ấy sâu mầu, khiến cho người ta thích nghe, hoan hỷ, vui sướng. Nơi cuộc đất được xếp đặt trang nghiêm ấy, lại sanh ra vô lượng các thứ thuận theo phước đức của Bồ Tát, cảm vời các ṭa ngồi và cung điện xuất sanh theo ư muốn. [Các thứ ấy] đều sanh từ sự tín giải của Như Lai. Ṭa ấy la liệt, cũng làm thành ba tầng, xếp đặt theo thứ tự như trong Đại Bi Tạng Sanh Mạn-đồ-la [đă nói] trong phần trước. Nhưng tùy thuộc công đức tịnh diệu của mỗi vị Bồ Tát mà sanh ra các vật thỏa thích ngũ trần, đủ thứ sai biệt. Nói tóm lại, nhiều như số lượng vi trần trong mười thế giới, mỗi thứ bất đồng được xếp bày nơi phương vị. Các thứ ấy đều ở trong ṿng [dây báu căng trên] tám trụ tràng báu, và sanh từ sức tín giải của Như Lai. Do sức bổn nguyện của Như Lai mà thị hiện trọn khắp trong Đẳng Chí tam-muội.

          “Pháp giới tiêu”: “Tiêu” (, các vật nêu bày) sanh từ pháp giới, tức là pháp giới đàn tiêu xí (vật biểu trưng cho đàn tràng pháp giới). Trong “tiêu” có ư nghĩa “tánh”. Từ ngữ trong tiếng Phạn bao hàm nghĩa ấy, “tiêu” chính là tánh. Thể tánh của pháp giới vốn sẵn thường tịnh, vô tướng bậc nhất, lại c̣n dùng pháp giới để trang nghiêm. Trong ấy có đại liên hoa vương, hoa ấy giống như pháp giới, tự tánh thanh tịnh trọn khắp hết thảy mọi nơi. Hăy nên biết Như Lai ngự ở trong ấy. Hoa đă có lượng đồng pháp giới. Hăy nên biết thân Phật cũng lại như thế. Ở đây chính là hoa tám cánh ở Trung Đài. Sanh ra hoa sen to, Như Lai trụ trong pháp giới bậc nhất ấy, tùy ư hiểu ḷng vui thích của chúng sanh. “Bậc nhất” ở đây chính là đệ nhất pháp giới thân, thuận theo tín giải của các chúng sanh, khiến cho họ vui sướng. Ư tột bậc vi tế, tánh khó thấy nhất. Do vậy là “cực vi tế”. “Đệ nhất” ở đây nên hiểu ư nghĩa là nói về tánh. “Tùy ư”: Nguyện lực của Phật vốn nhằm độ hết thảy chúng sanh, phổ môn thị hiện, mỗi mỗi thuận theo thân mà họ thích thấy, ứng theo căn cơ của họ mà tạo lợi ích khiến cho họ hoan hỷ.

 

          (Kinh) Thời bỉ Như Lai nhất thiết chi phần vô chướng ngại lực, tùng thập trí lực, tín giải sở sanh, vô lượng h́nh sắc trang nghiêm chi tướng, vô số bách thiên câu-chi na-do-tha kiếp bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, chư độ công đức sở tư trưởng thân, tức thời xuất hiện. Bỉ xuất hiện dĩ, ư chư thế giới đại chúng hội trung, phát đại âm thanh, nhi thuyết kệ ngôn: “Chư Phật thậm kỳ đặc, Quyền Trí bất tư nghị, vô A Lại Da huệ, hàm tàng thuyết chư pháp. Nhược giải vô sở đắc, chư pháp chi pháp tướng, bỉ vô đắc nhi đắc, đắc chư Phật Đạo Sư”. Thuyết như thị âm thanh dĩ, hoàn nhập Như Lai bất tư nghị Pháp Thân.

          ()時彼如來一切支分無障礙力,從十智力信解所生,無量形色莊嚴之相,無數百千俱胝那由他劫布施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧諸度功德所資長身即時出現。彼出現已,於諸世界大眾會中發大音聲說偈言:諸佛甚奇特,權智不思議,無阿賴耶慧,含藏說諸法。若解無所得,諸法之法相,彼無得而得,得諸佛導師。說如是音聲已,還入如來不思議法身。

          (Kinh: Khi đó, do sức vô chướng ngại nơi hết thảy các chi phần của đức Như Lai, sanh từ mười trí lực và tín giải, tướng vô lượng h́nh sắc trang nghiêm, các thân được vun bồi, trưởng dưỡng bởi các công đức do đă hành các Độ bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ trong vô số trăm ngàn câu-chi na-do-tha kiếp ngay lập tức xuất hiện. Các thân ấy đă xuất hiện, liền ở trong đại chúng hội nơi các thế giới, phát ra âm thanh to lớn mà nói kệ rằng: “Chư Phật rất kỳ đặc, Quyền Trí chẳng nghĩ bàn. Không A Lại Da huệ, chứa đựng nói các pháp. Nếu hiểu vô sở đắc, pháp tướng của các pháp, tuy vô đắc mà đắc, đắc chư Phật Đạo Sư”. Nói âm thanh như thế xong, lại vào trong Pháp Thân chẳng nghĩ bàn của Như Lai).

 

          Sức vô ngại nơi các chi phần của Như Lai do từ thập lực tín giải, sanh ra vô lượng thân h́nh sắc trang nghiêm. Chi phần của Như Lai có sức vô ngại, sức vô hoại. Bởi lẽ, sức của hết thảy thiên tiên trong thế gian, và Nhị Thừa, Thanh Văn, Bồ Tát v.v… c̣n có chướng ngại. Do có chướng ngại, người có sức thù thắng hơn sẽ có thể phá hoại [sức ấy]. Nay Phật lực vô ngại, chẳng thể phá hoại, do giống như kim cang; v́ thế nói là “vô ngại lực”. Sức vô ngại ấy sanh từ đâu? Hăy nên biết nó sanh từ mười loại trí lực của Như Lai. Từ các chi phần thượng, trung, hạ nơi thân Phật mà chia thành ba phần, lưu xuất đủ loại h́nh tướng, cho tới mỗi lỗ chân lông thảy đều sanh ra các chủng loại, ngần ấy h́nh sắc, mỗi mỗi khác biệt, hoặc vuông, hoặc tṛn, tam giác, bán nguyệt, hoặc xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tịch tâm, hoan hỷ, phẫn nộ v.v… các thứ h́nh tướng, số tới vô lượng. Tức là các vị Bổn Tôn sẽ đều ngồi nơi ṭa sanh khởi bởi sự cảm vời nơi ư. Nay thập lực lại từ đâu mà sanh? Chính là do Như Lai trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp đă tu hành Lục Độ, Thập Độ, cho tới trăm ngàn vạn ức chẳng thể nói các Độ vạn hạnh, tức là do được công đức của các hạnh ấy vun bồi. Do được công đức vun bồi mà thân xuất hiện, từ Pháp Thân mà hiện ra. Thân ấy đă xuất hiện, ở trong các đại hội nơi các thế giới, “các” là nói tới mười phương. Nhưng chẳng phải chỉ hiện h́nh mà thôi, lại c̣n phát ra đủ loại diệu âm, diễn nói, tuyên bày pháp thường tịch bí mật và hạnh chân ngôn chẳng nghĩ bàn, khiến cho trọn khắp hết thảy [các loài chúng sanh] đều được nghe, biết. Các vị Bồ Tát được sanh ra ấy, mỗi vị đều nói đủ loại âm thanh biểu (các loại biểu thị bằng âm thanh) nói như thế tức là nói kệ. Dùng diệu kệ để tán thán Phật, giống như lời tán thán của [chư Bồ Tát từ] phương dưới vọt lên [trong hội Pháp Hoa].

          Đại Nhật Như Lai trụ trong tam-muội. Đấy chính là các tướng trạng thị hiện từ trong thân phần của đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn ngự trên hoa đài do tam-muội hiện ra. Từ trong đóa hoa sen sanh bởi pháp giới ấy, khi đức Phật lưu xuất đủ loại h́nh tướng, lại từ thân Phật phát ra đủ loại âm thanh để diễn nói diệu pháp. Kinh nói “âm thanh” tức là [nói đến] ngữ biểu (sự biểu thị bằng ngôn ngữ). Âm thanh ấy diễn xướng kệ, đại lược có hai bài kệ. Bài kệ thứ nhất nói: Kỳ tai nhất thiết Phật, phương tiện bất tư nghị, ư vô tạng tánh trung, dĩ huệ linh vi tạng” (Lạ thay! Hết thảy các vị Phật dùng phương tiện chẳng nghĩ bàn, từ trong vô tạng tánh mà dùng huệ để làm tạng). Bài kệ này có ư nghĩa tán thán Phật. Do thấy các chuyện thị hiện chẳng thể nghĩ bàn trên đây, bèn tán thán công đức của Phật hết sức đặc biệt, lạ lùng. Tán thán đức Tỳ Lô Giá Na chính là tán thán hết thảy các đức Như Lai. Do vậy nói là “hết thảy chư Phật”. V́ thế, hăy nên biết tướng kỳ đặc do Như Lai đă hiện chính là nghiệp chẳng thể nghĩ bàn sanh từ đại huệ và phương tiện của Như Lai. Nghiệp chẳng nghĩ bàn là như thế nào? Tức là trụ trong vô tạng tánh mà có thể làm thành hữu tạng. “Tạng” trong tiếng Phạn là A Lại Da (Alaya), phương này dịch là Tạng. Hoặc nói đến ư nghĩa “cung, thất, nhà cửa” như nhà cửa trong thế gian, hết thảy chúng sanh đều tùy theo sức ḿnh mà an trụ trong đó. Đă có “sào huyệt” như thế, tức là có thiện ác bao bọc, chẳng thể tự thoát ra. Như Lai đă ĺa “sào huyệt” A Lại Da như thế, nên nói là “vô tạng tánh” (tức câu “vô A Lại Da huệ” trong chánh kinh). Phật tuy chẳng có hết thảy các tạng, nhưng do huệ phương tiện mà có tạng sanh, tức là từ trong pháp vô tướng mà thị hiện đủ loại tướng, từ trong pháp chẳng có vọng tưởng mà thốt ra đủ loại âm thanh nói năng, tức là dùng tạng ấy khiến cho hết thảy đều đạt tới vô tạng.

          Bài kệ kế tiếp nói: “Nhược giải vô sở đắc, chư pháp chi pháp tướng, bỉ vô đắc nhi đắc, đắc chư Phật Đạo Sư(Nếu hiểu biết vô sở đắc, các pháp tướng của các pháp, sẽ là vô đắc mà đắc, chính là chư Phật đạo sư). Ư nói: Pháp tánh vô đắc, chẳng thể biết. Nếu cho rằng “vô đắc chính là nghĩa Không, nếu đạt được điều ấy th́ chính là Phật”, th́ đó chính là “hữu vọng, hữu tạng”, chẳng phải là trí huệ vô sư của Như Lai! Nếu “có thể biết” th́ đó chính là hành xứ của cái tâm, chẳng phải là nghĩa thù thắng rốt ráo! Sở dĩ tán thán Phật chẳng nghĩ bàn chính là đối với pháp vô đắc, bất khả đắc, mà có thể đắc. Tức là cảnh giới trên đây tuy vô tướng mà có tướng, khiến cho hết thảy chúng sanh do vô sở đắc mà đắc. Ai đắc pháp ấy? Chính là chư Phật đạo sư vậy!

          Lại nữa, bài kệ trước nói “lạ thay” th́ “lạ thay” trong tiếng Phạn chính là khởi đầu bèn có âm A[6]. Bài kệ ấy đă biểu thị pháp, c̣n bài kệ này (tức bài kệ thứ hai) [nói về] ư nghĩa vốn bất sanh” mà có thể sanh ra hết thảy các pháp, tức là Như Lai đích thân chỉ bày: Các thứ h́nh tướng âm thanh được thị hiện bởi thân Như Lai đều sanh từ chữ A. Khi đă xuất hiện các thứ h́nh tướng, âm thanh xong, lại trở vào các chi phần nơi thân đức Phật, lại trở vào trong Pháp Thân chẳng nghĩ bàn của Như Lai, mỗi mỗi đều theo đúng chỗ đă xuất sanh mà trở vào. Do vậy, kinh nói hựu phục nhập Như Lai bí Pháp Thân bất tư nghị” (lại vào trong Pháp Thân bí mật chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai). “Bất tư nghị” trong tiếng Phạn là A Chân Để (Acintya), cũng có âm A, ư nói “từ A mà ra, lại từ A mà vào”. Hai phía trên dưới đều có hai chữ A, ngụ ư: Hết thảy các pháp xuất nhập đều có cùng một Thể với pháp giới.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phục cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Thiện nam tử! Đế thính nội tâm Mạn-đồ-la. Bí Mật Chủ! Bỉ thân địa tức thị pháp giới tự tánh, chân ngôn, mật ấn gia tŕ nhi gia tŕ chi. Dĩ bổn tánh thanh tịnh cố, Yết Ma kim cang sở hộ tŕ cố, tịnh trừ nhất thiết trần cấu, ngă nhân, chúng sanh, thọ giả, ư sanh, nhu đồng, tạo lập giả đẳng chu ngột quá hoạn.

          ()爾時世尊復告執金剛祕密主言:善男子!諦聽內心漫荼羅。祕密主!彼身地即是法界自性,真言密印加持而加持之,以本性清淨故、羯磨金剛所護持故,淨除一切塵垢,我人、眾生、壽者、意生、儒童、造立者等株杌過患。     

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Thiện nam tử! Hăy lắng nghe Mạn-đồ-la trong nội tâm. Bí Mật Chủ! Thân thể ấy chính là pháp giới tự tánh, dùng sự gia tŕ của chân ngôn và mật ấn để gia tŕ, do bổn tánh thanh tịnh, do được Yết Ma kim cang hộ tŕ, trừ sạch hết thảy các gốc cây chết khô lầm lỗi như trần cấu, ngă nhân, chúng sanh, thọ giả, ư sanh, nhu đồng, kẻ tạo lập v.v… ).

         

          [Chánh kinh] nói “bỉ Phật cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ” (đức Phật ấy bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ) th́ có ư nói đức Phật ấy chính là đức Tỳ Lô Giá Na. Lại nên hỏi: Đức Phật ấy do tam-muội hiện ra, hay vốn là [chân thân của] đức Như Lai? Phải nên là bản thân Như Lai! Từ đây trở đi, đức Phật từ Đẳng Chí tam-muội khởi rồi dạy bảo ngài Kim Cang Thủ. Sở dĩ đức Phật trụ trong tam-muội, hiện ra đủ loại tướng hy hữu như trên, tức là đất bằng phẳng như ḷng bàn tay, cho đến xếp đặt các vị tôn thánh, và phương vị của hoa tám cánh v.v… là v́ muốn dạy cảnh Du Già trong nội tâm cho các vị như Chấp Kim Cang v.v… Dùng cảnh bên ngoài để liên tưởng nội tâm, ḥng biểu thị ư nghĩa. V́ thế, nay đức Phật từ Định khởi, lại nói pháp nhập bí mật tạng thuộc Mạn-đồ-la trong nội tâm để chỉ dạy ngài Chấp Kim Cang. Thiện nam tử! Hăy lắng nghe Mạn-đồ-la nơi tâm địa trong tâm. Thân địa của Bí Mật Chủ chính là tự tánh của pháp giới, dùng chân ngôn và ấn để gia tŕ; bởi lẽ, bổn tánh thanh tịnh. Như trong phần trên đă dùng đức Đại Nhật để gia tŕ. Kế đó, dùng Yết Ma Kim Cang Tát Đỏa để gia tŕ ḥng làm sự nghiệp. Như trong Đại Bổn có hai mươi loại tướng khuyên bảo hăy nghe pháp. Đức Phật v́ ngài Chấp Kim Cang trừ hết thảy trần cấu, và do các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh chưa trọn đủ pháp yếu, sẽ chẳng thể nhanh chóng thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, nên nay lại nói cho trọn vẹn các ư nghĩa trước đó, khiến cho pháp yếu được viên măn. Nếu chẳng hiểu biết điều ấy, các pháp trước đó sẽ đều chẳng trọn vẹn. Do nhân duyên này mà khuyên [thính chúng] hăy tŕ chắc thật. Hai mươi nhân duyên như thế sẽ rộng nói. Những điều chỉ bày trước kia là sức tam-muội; v́ thế, chỉ bày ngoại cảnh. Nay dùng nội tâm để quán, do trong tự tâm của hành giả trọn đủ biển cả Phật hội. Mười phương cùng thông với nhau thành một cơi Phật, chỉ tự ḿnh hiểu rơ, người khác chẳng thấy. Do vậy, gọi là Bí Mật Mạn-đồ-la.

          Ví như làm Mạn-đồ-la ở bên ngoài, trước hết là tŕ địa (b́nh trị cơi đất), dẹp yên nhân ngă, chúng sanh, thọ giả, trừ bỏ các thứ như cát, sỏi, gốc cây chết khô v.v… Kế đó, san phẳng, sửa sang, sao cho [cuộc đất ấy] cứng chắc, phẳng phiu, th́ mới có thể kiến lập [đàn tràng] tại đó. Nay cũng giống như thế, muốn kiến lập Đại Mạn-đồ-la ở trong tâm, cũng cần phải trước hết sửa sang cho đất bằng phẳng, trừ bỏ các thứ lỗi họa như gốc cây chết khô v.v… . Ở đây nói “thân địa”, tức là hàm chứa đất, nước, lửa, gió. Trị địa như thế nào? Trước hết, hăy nên kiến lập ṭa Du Già. “Ṭa Du Già” tức là dùng chữ trong câu chân ngôn mà chính ḿnh tŕ tụng để gia tŕ. Lấy chữ đầu tiên nhất của chân ngôn được tŕ tụng ấy, coi đó là chân ngôn tâm. Hăy nên bỏ cái chấm trên chữ ấy, chỉ lấy bản thể, tức là chữ A. Chữ A chính là đất kim cang. Sở dĩ như vậy là v́ ví như lúc đức Thích Ca mới thành Chánh Giác, nhập Kim Cang tam-muội mà thành Chánh Giác, trừ đất kim cang ra, không ǵ có thể chịu đựng nổi [thân của bậc Chánh Đẳng Giác]. Nay ở đây cũng giống như thế, v́ muốn kiến lập hội Đại Mạn-đồ-la của đức Tỳ Lô Giá Na trong nội tâm, nếu chẳng kiến lập tâm địa kim cang trước hết, sẽ chẳng thể an lập! Chữ A là kim cang luân. V́ muốn ngự lên ṭa kim cang; trước hết, quán chữ A làm đầu, lại dùng kim cang để tŕ kim cang. Hăy nên quán chữ ấy có h́nh vuông, nhưng h́nh thể của chữ ấy cũng là vuông. Quán chữ ấy vuông vắn, có màu kim cang, đầy ắp nội thân của hành giả, giống như Địa Đại nơi thân, không đâu chẳng trọn khắp!

          Kế đó, nhập thủy tam-muội, tức là quán chữ Phạ (, Va) ở trong vầng tṛn sáng. Sắc nó trắng ngần, cũng trọn khắp nơi thân, mà h́nh thể của chữ này cũng là tṛn. Trước đó đă quán chữ A trọn khắp thân, nay lại quán [chữ Phạ] trọn khắp thân, ví như Thủy Đại phủ trọn khắp thân chẳng trở ngại Địa Đại. Kế đó, quán chữ Ra () có h́nh tam giác, màu đỏ. Hăy quán chữ này có h́nh tam giác. Chữ Ra cũng trọn khắp hết thảy mọi nơi, giống như Hỏa Đại trong thân. Kế đó, quán chữ Ha () có h́nh như nửa vầng trăng nghiêng, sắc đen. Trong chữ ấy, lại có màu đen sẫm, cũng trọn khắp trong thân như Phong Đại nơi thân. Địa, Thủy, Hỏa, Phong là ngoại cảnh. Từ ngoài chiếu vào trong, tức là các chữ A, Phạ, Ra, Ha để gia tŕ cái thân. Chữ A ấy chính là tánh pháp giới, do hết thảy các pháp vốn bất sanh, tức là giống như pháp giới. Giống như chữ A, hăy nên biết các thứ nước, lửa, gió khác cũng là tánh pháp giới thanh tịnh, từ nhân duyên khởi mà biết vốn bất sanh. Dùng mỗi chữ chân ngôn gia tŕ ấy để gia tŕ, hăy nên biết các chữ ấy bổn tánh thanh tịnh. “Duyên” là do đấy mà được sanh.

          “Nghiệp kim cang gia hộ hữu t́nh, ĺa hết các lỗi họa như gốc cây chết khô của trần, hữu t́nh thọ giả, sanh bởi Măn Nô, Mạt Na Tiên Sanh[7], tác giả…”: Kim cang có hai loại:

          - Một là trí kim cang.

          - Hai là nghiệp kim cang. Loại này trong tiếng Phạn gọi là Yết Ma kim cang (Karmavajra), ư nói tạo tác sự nghiệp.       

          Do dùng kim cang nghiệp để gia tŕ mà tịnh trừ đất ấy. “Ĺa hết thảy các trần”: “Trần” có nghĩa là lỗi họa. Muốn b́nh trị đất ấy, trước hết, hăy nên loại bỏ cát, sỏi, gốc cây chết khô vv… Đó chính là hết thảy các cấu kiến. Kế đó, nói đại lược tướng ấy, tức là các thứ kiến như hữu t́nh, thọ giả v.v… và [kiến chấp] sanh bởi Măn Nô (Mānava, Thắng Ngă), tức một loại kiến chấp của ngoại đạo. Măn Nô là Ngă, ư nói: Hết thảy đều nương vào Ngă mà sanh. “Mạt Na Tiên sanh” có nghĩa “hết thảy đều sanh từ đó” (tương ứng với chữ Ư Sanh trong chánh kinh). Đấy cũng là một loại kiến chấp của ngoại đạo, có tánh chất cấu chướng, bất b́nh. Cũng dùng kim cang tác nghiệp để trừ phá lỗi bất b́nh đó, trừ khử gốc cây chết khô [trần cấu, chấp trước v.v…] th́ mới tịnh kết tâm địa này để kiến lập Bí Mật Đại Mạn-đồ-la được!

 

          (Kinh) Phương đàn tứ môn, Tây hướng thông đạt, châu toàn giới đạo. Nội hiện ư sanh bát diệp đại liên hoa vương, trừu hành phu nhụy, thái huyền đoan diệu. Kỳ trung, Như Lai nhất thiết thế gian tối tôn đặc thân, siêu việt thân ngữ ư địa chí ư tâm địa, đăi đắc thù thắng duyệt ư chi quả. Ư bỉ Đông phương Bảo Tràng Như Lai, Nam phương Khai Phu Hoa Vương Như Lai, Bắc phương Cổ Âm Như Lai, Tây phương Vô Lượng Thọ Như Lai, Đông Nam phương Phổ Hiền Bồ Tát, Đông Bắc phương Quán Tự Tại Bồ Tát, Tây Nam phương Diệu Cát Tường Đồng Tử, Tây Bắc phương Từ Thị Bồ Tát. Nhất thiết nhụy trung, Phật Bồ Tát Mẫu, Lục Ba La Mật, tam-muội quyến thuộc, nhi tự trang nghiêm. Hạ liệt Tŕ Minh chư Phẫn Nộ chúng. Tŕ Kim Cang Chủ Bồ Tát dĩ vi kỳ hành, xử vu vô tận đại hải. Nhất thiết Địa Cư Thiên đẳng, kỳ số vô lượng, nhi hoàn nhiễu chi.

          ()方壇四門,西向通達,周旋界道。內現意生八葉大蓮華王,抽莖敷𧄜綵絢端妙。其中如來一切世間最尊特身,超越身語意地至於心地逮得殊勝悅意之果。於彼東方寶幢如來、南方開敷華王如來、北方鼓音如來、西方無量壽如來,東南方普賢菩薩、東北方觀自在菩薩、西南方妙吉祥童子。西北方慈氏菩薩。一切𧄜中,佛菩薩母六波羅蜜三昧眷屬而自莊嚴。下列持明諸忿怒眾、持金剛主菩薩以為其莖,處于無盡大海。一切地居天等,其數無量而環繞之。

          (Kinh: Đàn h́nh vuông, mở bốn cửa. [Cửa ở] phương Tây mở thông suốt. Các đường đi lại sát đường ranh đều trọn khắp. Trong ấy, hiện ra đại liên hoa vương tám cánh sanh bởi ư, có cuống và tua nhụy tỏa ra, nhiều màu rực rỡ, đoan nghiêm, đẹp đẽ. Trong ấy, thân tôn quư đặc biệt nhất trong thế gian của Như Lai, siêu việt thân ngữ ư địa, cho tới tâm địa, đạt được cái quả thù thắng đẹp ư. Ở phương Đông của đàn ấy là Bảo Tràng Như Lai, phương Nam là Khai Phu Hoa Vương Như Lai, phương Bắc là Cổ Âm Như Lai, phương Tây là Vô Lượng Thọ Như Lai, phương Đông Nam là Phổ Hiền Bồ Tát, phương Đông Bắc là Quán Tự Tại Bồ Tát, phương Tây Nam là Diệu Cát Tường Đồng Tử, phương Tây Bắc là Từ Thị Bồ Tát. Trong hết thảy các nhụy, là mẹ của Phật, Bồ Tát, Lục Ba La Mật, tam-muội quyến thuộc để tự trang nghiêm. Phía dưới, xếp bày các vị Tŕ Minh Phẫn Nộ. Tŕ Kim Cang Chủ Bồ Tát làm cuống của đóa hoa ấy, ở trong biển cả vô tận. Hết thảy các Địa Cư Thiên số đến vô lượng vây quanh).

 

          [Đàn tràng có] bốn cạnh, bốn cửa. Cửa hướng về phương Tây thường mở để làm cửa ra vào. Trọn khắp theo các cạnh, giống như trong phần trước đă chỉ bày về ngoại tướng: Cờ xí, các dấu hiệu biểu trưng được đặt trên các cửa, và tám cây cột báu lớn xếp quanh. Trên trụ, treo các thứ trang nghiêm như chuỗi ngọc báu, phất trần trắng v.v… [Hăy quán tưởng] khiến cho [đàn tràng trong] nội tâm Du Già cũng chẳng khác với các điều ấy. Nhưng mỗi mỗi thứ đều là pháp môn trong nội tâm, hăy nên hỏi về danh nghĩa vậy. Trong ấy, có đại liên hoa vương sanh bởi ư, tám cánh, có tua nhị, màu sắc vẽ vời đẹp đẽ trọn khắp. Đức Như Lai ngự trong đó là đấng tôn quư trong hết thảy mọi người. Ngữ và ư siêu việt, thân tâm địa ngự lên đó, trao truyền cái quả vui sướng thù thắng tột bậc đạt được trong tâm địa. Tức là ở nơi cuộc đất bằng phẳng, trang nghiêm to lớn trong nội tâm, có ṭa đại liên hoa vương đặt trên đó. Hoa vương to lớn hiển hiện như trong phần trên [đă nói], bản thể tịnh diệu, lượng đồng pháp giới. Nay [đại liên hoa vương] được quán bởi nội tâm cũng giống như thế. Do vậy, được gọi là “đại hoa vương”. Hoa ấy có cọng, có nhụy, các màu sắc đẹp đẽ xen lẫn nhau, đều do nội tâm quán thành. Như người thợ vẽ vận dụng, sắp xếp các màu để vẽ các h́nh sắc, tuy chúng do duyên mà ḥa hợp, chẳng có tự tánh, nhưng tướng mạo rành rành. Trên ấy, có đấng tôn quư trong hết thảy mọi người, tức là Tỳ Lô Giá Na Phật. Đấy chính là Đại Tỳ Lô Giá Na Phật trong tự tánh vô sư trí của hành giả, chẳng phải từ bên ngoài mà tới. Thân, ngữ, ư của Ngài siêu việt. Thân, ngữ, ư tâm địa đạt tới tâm địa thanh tịnh, đạt được cái quả thù thắng đẹp ḷng, vượt ngoài tâm địa ô nhiễm, đạt tới quả địa nơi tịnh tâm.

          “Thân tâm địa đăng thăng”: Như hết thảy người đời chưa đạt được ba thứ thân, khẩu, ư b́nh đẳng; v́ vậy, chẳng thể nhập pháp môn tâm địa này. Các lỗi nơi ba nghiệp Như Lai đều ĺa, đạt được tam b́nh đẳng (thân, khẩu, ư b́nh đẳng), đạt tới địa vị của hết thảy chư Phật, tức là đạt được tâm địa vui sướng của Tỳ Lô Giá Na Phật nơi Bồ Đề tâm thanh tịnh, tôn quư nhất trong hết thảy. Lại nữa, hết thảy chúng sanh đều cùng có tánh này, Như Lai bí tạng cũng trọn đủ chẳng thiếu, nhưng [do họ] chẳng thể tự tin, chẳng tự biết rơ! Chỉ có Như Lai hiểu rơ, tự chứng, đều v́ hết thảy mà giác ngộ trọn khắp, khiến cho họ cũng đều cùng đạt được điều ấy [tức Như Lai bí tạng]. Do vậy, Ngài được gọi là “nhất thiết chúng sanh trung tôn” (đấng tôn quư trong hết thảy chúng sanh).

          “Duyệt ư quả” (Cái quả đẹp ḷng) tức là cái quả tối hậu. Hăy nên biết: Đạt được tâm địa ấy, sẽ chính là Tỳ Lô Giá Na Như Lai. “Thọ dữ” (trao cho) tức là có người truyền trao. Lại do tự quán sát tu hành mà đạt được cái quả ấy, dường như được người khác trao cho, nhưng thật ra là tự ngộ, chẳng do người khác mà đạt được. Giống như trong phần trên, đức Tỳ Lô Giá Na ngự trên hoa đài. Nơi tám cánh, theo thứ tự, ở phương Đông, quán Bảo Tràng Phật (Ratnaketu), Ngài cũng có tên là Bảo Tinh Phật. Phương Nam là Khai Phu Hoa Vương Phật (Saṃkusumita-rāja). Nhân Đà La cũng có nghĩa là Vương. Nếu lập lại hai chữ Vương th́ không tiện, nên giữ nguyên âm tiếng Phạn. Phương Bắc là Cổ Âm Phật (Dundubhisvara). Trong phần trước là đặt Phật A Súc, nay sửa thành danh xưng này. Phương Tây là A Di Đà Phật (Amitābha). Nơi các cánh sen ở bốn góc, phương Đông Nam là Phổ Hiền (Samantabhadra), Đông Bắc là Quán Tự Tại (Avalokiteśvara), Tây Bắc là Di Lặc (Maitreya), Tây Nam là Văn Thù (Mañjuśrī-kumārabhūta). Trong các nhụy hoa, đặt Phật Mẫu, các Ba La Mật, tam-muội v.v… Phật Mẫu tức là Hư Không Nhăn (Gagana-locanī) v.v… Phía dưới cánh hoa, đặt các vị Tŕ Minh Phẫn Nộ v.v… đều ở dưới cánh hoa. Cọng hoa ấy do Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ cầm, coi đó là cọng hoa. Lại có vô biên đại hải chúng, tức các vị kim cang. Cũng có đủ loại vật cúng như hoa, hương v.v… Nay chỉ nói đại lược. Trong phần sau, sẽ có phương tiện xếp đặt. Phía dưới cọng hoa ấy, quán nước trong biển cả. Phía ngoài bờ biển, do trở thành tam-muội-da, cần phải chuẩn bị hoa v.v… v́ muốn cho hết thảy đều vào đàn tràng, tâm nghĩ tới hoa mà cho họ tiến nhập. Các vị Địa Cư Thiên đều y theo phương vị của họ để quán tưởng ḥng xếp đặt.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, hành giả vị thành tam-muội-da cố, ưng dĩ ư sanh hương, hoa, đăng minh, đồ hương, chủng chủng hào thiện, nhất thiết giai dĩ hiến chi. Ưu-đà-na viết: - Chân ngôn giả thành đế, đồ họa Mạn-đồ-la, tự thân vi đại ngă. Ra tự tịnh chư cấu, an trụ Du Già ṭa. Tầm niệm chư Như Lai, đảnh thọ chư đệ tử. A tự đại không điểm. Trí giả truyền diệu hoa, linh tán ư tự thân, vị thuyết nội sở kiến. Hành nhân tông phụng xứ, thử tối thượng đàn cố, ưng dữ tam-muội-da.

          ()爾時行者為成三昧耶故,應以意生香華燈明塗香種種餚膳,一切皆以獻之。優陀那曰:真言者誠諦,圖畫漫荼羅,自身為大我,囉字淨諸垢。安住瑜伽座,尋念諸如來,頂授諸弟子,阿字大空點,智者傳妙花,令散於自身,為說內所見,行人宗奉處,此最上壇故,應與三昧耶。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, hành giả v́ để thành tựu tam-muội-da, hăy nên dùng hương, hoa, đèn sáng, hương bôi, các thứ thức ăn ngon sanh bởi ư, hết thảy đều đem dâng hiến. Kệ Ưu-đà-na rằng: - Bậc chân ngôn chân thành, vẽ vời Mạn-đồ-la, tự thân là Đại Ngă. Chữ Ra sạch các cấu, an trụ ṭa Du Già. Nghĩ nhớ các Như Lai, chữ A, chấm đại không, đặt đỉnh đầu đệ tử. Bậc trí truyền hoa đẹp, bảo rải nơi thân ḿnh, nói điều thấy trong thân. Chỗ hành nhân tôn phụng, chính là đàn tối thượng, nên trao tam-muội-da).

 

          Lại nữa, từ “[ư sanh hương] hoa” trở đi là lời kệ. “Ư sanh” tức là các thứ hương, hoa v.v… [để dâng cúng] đều sanh từ tâm. “Họa chi ân cần” (vẽ ân cần) tức là người tŕ tụng xếp đặt [các thứ ấy] trong thân tâm giống như vẽ vời tỉ mỉ. Trên tâm Mạn-đồ-la ấy (Mạn-đồ-la được quán tưởng trong tâm), có Phật ngự trong đó, nên nói là Đại Ngă. Đại Ngă chính là tên gọi khác của Phật. “Tự tác” tức là do nội quán tạo ra rành rẽ, phân minh. [Tức là] Bí Mật Mạn-đồ-la do thầy quán thấy đệ tử thật đúng là pháp khí, tâm đệ tử] chân thành, nguyện cầu [được lănh nhận, tu học Mật pháp], nhưng sức chẳng đủ các duyên như trong phần trước để thực hiện [đàn tràng Mạn-đồ-la] rộng răi, thầy bèn làm pháp này để độ. Ngoài [trường hợp này] ra, đều phải nên có đủ các duyên, chẳng được dùng theo kiểu này; nhưng nếu đệ tử đă đắc Du Già, thầy muốn khiến cho tṛ nhập Phật hội bí mật, cũng làm theo kiểu này.

          “Chữ Ra tịnh trừ”: Trước đó, đă dùng chữ A và chữ Ra để tịnh trừ, cũng giống như pháp trong phần trước để tịnh trừ cho đệ tử. Tức là như trong phần trước, dùng phương tiện quán lửa nơi chữ Ra để thiêu trừ nghiệp tích tụ chướng ngại pháp của người ấy, khiến cho đều hết sạch. Lại dùng pháp thủy cam lộ tưới ry, khiến cho từ tro tàn, sanh ra mầm đạo. V́ thế, kế đó, thầy trao truyền cho tṛ chữ Ám (अं). Thầy hăy nên trụ trong ṭa Du Già, quán chữ A có thêm một chấm, đặt trên chỗ giáp mí xương chữ thập nơi đỉnh đầu của đệ tử. Hăy nên biết: Trên chữ ấy có chấm, tức là pháp thủy cam lộ dùng để rưới đỉnh đầu người ấy. “Tầm niệm Như Lai” (liền nghĩ tới Như Lai), tức là do thầy sắp độ đệ tử nhập tạng bí mật, liền nghĩ tới phương tiện do tam thế chư Phật đă hành, muốn khiến cho [đệ tử] cùng chứng, cùng hộ tŕ. Thầy đă tự trụ trong ṭa Du Già, dùng thân tâm của chính ḿnh để làm hải hội của Phật, chỉ riêng ḿnh biết rơ, người khác chẳng thấy. Kế đó, trao hoa cho đệ tử, dạy đệ tử gieo hoa trên người thầy để cúng dường vị Phật trong nội tâm, quán bổn duyên, tùy theo bổn duyên của người ấy mà quán pháp này. Nếu Bổn Tôn nhiếp thọ hoa, ở trong ấy (ở trong nội tâm của thầy), thầy đều quán thấy chẳng sai, nhưng đệ tử chưa đắc Du Già, chỉ thấy hoa rơi trên thân thầy. Chỗ hoa rơi xuống, đại lược tim là vị trí của hoa tám cánh, từ rốn đến tim là kim cang đài, rốn là biển cả. Từ rốn tới chân là tôn vị của các vị Địa Cư. Điều này có nghĩa là ǵ? Chính là từ biển đại bi của chư Phật sanh ra kim cang trí. Từ kim cang trí, sanh ra hết thảy các Phật hội. Trong hết thảy các Mạn-đồ-la, đấy là tối thượng, không chi sánh bằng!

          Tự thấy xong, thầy bèn hướng đến tṛ bảo ban, tức là nói chỗ thầy thấy hoa rơi trong tâm. Kinh văn trong phần trước đă nói người tŕ tụng quán nội tâm trong nhục thân chia thành tám phần, tạo thành tám cánh hoa nở x̣e, và đặt chữ Ra nơi mắt v.v… Nếu hành nhân chẳng tu thành tựu như thế, mà có thể thực hiện pháp bí mật này để độ người, chẳng có lẽ ấy! Phải nên tự thành tựu trước đă, kham trụ trong địa vị Du Già làm thầy, lại c̣n được A-xà-lê hứa khả th́ mới có thể thực hiện pháp này. Nay thực hiện pháp này tuy là phương tiện để độ người khác, nhưng nếu lúc hành giả đối với pháp này mà tự tŕ tụng, quán chiếu, cũng hăy nên đúng như pháp mà tu tập. Dùng pháp trong cách quán đảnh này để tự xối rưới, nhằm trừ hết thảy các chướng, nhanh chóng nhập Phật hội. Phẩm trước có tên là Nhập Bí Mật, phẩm này cũng nói là Nhập. Đấy là Nhập trong Chứng Nhập, giống như người đă vào nhà, mỗi thứ [trong nhà] đều phân biệt, biết rơ cặn kẽ, ra vào tự tại, tất cả các thứ trong nhà đều biết rành, khác hẳn kẻ mới vào cửa!

 

14. Phẩm thứ mười bốn: Tám ấn bí mật (Bí mật bát ấn phẩm đệ thập tứ, 祕密八印品第十四)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn phục quán chư đại chúng hội, cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Phật tử! Hữu bí mật bát ấn, tối vi bí mật. Thánh thiên chi vị, oai thần sở đồng, tự Chân Ngôn đạo dĩ vi tiêu xí, đồ cụ Mạn-đồ-la như Bổn Tôn tương ứng. Nhược y pháp giáo, ư Chân Ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát ưng như thị tri, tự thân trụ Bổn Tôn h́nh, kiên cố bất động. Tri Bổn Tôn dĩ, như Bổn Tôn trụ, nhi đắc Tất Địa.

          ()爾時毘盧遮那世尊復觀諸大眾會,告執金剛祕密主言:佛子!有祕密八印,最為祕密。聖天之位威神所同,自真言道以為幖幟,圖具漫荼羅如本尊相應。若依法教,於真言門修菩薩行諸菩薩應如是知,自身住本尊形堅固不動。知本尊已,如本尊住而得悉地。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn lại quán các đại chúng hội, bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Phật tử! Có tám ấn bí mật là bí mật nhất. Các địa vị tôn thánh, chư thiên sẽ có oai thần như nhau [nếu vận dụng tám ấn này], tự dùng đạo Chân Ngôn để biểu lộ, vẽ Mạn-đồ-la trọn đủ tương ứng như Bổn Tôn [của các ấn ấy]. Nếu vâng theo pháp giáo, đối với các vị Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong Chân Ngôn môn, hăy nên biết như thế, tự thân trụ trong h́nh tượng của Bổn Tôn, kiên cố bất động. Đă biết Bổn Tôn rồi sẽ trụ như Bổn Tôn, đạt được Tất Địa).

 

          Lúc bấy giờ, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn quán sát đại chúng hội, bảo ngài Kim Cang Thủ rằng: “Này Bí Mật Chủ! Có tám ấn bí mật, tột bậc bí mật”. Trong phẩm trước, đức Như Lai đă nói pháp tiến nhập, trụ trong Bí Mật Mạn-đồ-la xong. Lúc ấy, các đại chúng trong hội lại nghĩ như thế này: “Pháp bí mật, cực khó hiểu như thế, lại có phương tiện nào để trọn đủ các tướng, khiến cho hành giả Chân Ngôn được thành tựu mau chóng hay không?” Khi đó, đức Như Lai biết tâm niệm của đại chúng: “Trong pháp bí mật này cũng có pháp hết sức bí mật ư? Hay là bằng với pháp này?” Do chẳng thể lường, nên họ chẳng thể thốt lời thưa hỏi. V́ thế, đức Phật chẳng đợi họ hỏi, chỉ là không hỏi mà tự nói. Cái gọi là “có hiệu nghiệm thần diệu”, [tức là] nếu lúc hành giả dù trong (quán tưởng thực hiện Mạn-đồ-la trong tâm như trong hai phẩm trước đă dạy) hay ngoài (thật sự chọn lựa cuộc đất, tô vẽ Mạn-đồ-la), xếp đặt tọa vị của các vị Bổn Tôn trong Mạn-đồ-la rồi dùng tám ấn ấy và chân ngôn của chúng để gia tŕ, các vị tôn thánh ấy sẽ tự nhiên giáng phó đạo tràng, thỏa măn các nguyện sự thuộc về chánh hạnh của họ. Lại c̣n xếp đặt tọa vị của Bổn Tôn, sẽ có cùng một hiệu nghiệm thần diệu. “Cùng” tức là bằng với oai thần của Bổn Tôn vậy. Đấy chính là tánh cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn, giống như mặt trời, mặt trăng ứng hiện trong nước, lửa, gương c̣n chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ sự cảm ứng trong pháp giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai! Đấy là ấn để A-xà-lê hành, chớ nên tự tiện tu tập. Dẫu là người đă nhập Mạn-đồ-la, cũng chớ nên tự tiện mà kết, huống hồ người khác ư?

          Không chỉ lấy đường hướng tiến nhập bổn chân ngôn làm đặc trưng, “đường hướng” là như lục đạo v.v…; ở đây là “chân ngôn thú” (真言趣, đường hướng để tiến nhập chân ngôn). Lại c̣n có Mạn-đồ-la tương ứng với Bổn Tôn, như Bổn Tôn có pháp như thế, ta cũng có. V́ thế, trọn đủ (“chuyện như thế” tức là giống như Bổn Tôn trong phần trên, nghĩa là nói đến h́nh sắc, tọa vị, [dáng vẻ] hoan hỷ cũng thế). Tự thân [hành giả] trụ trong h́nh tướng của Bổn Tôn, hăy nên biết như thế này: Do hiểu biết giống như địa vị Bổn Tôn mà đạt được Tất Địa. Nếu hành giả nương theo tám ấn, chân ngôn và Mạn-đồ-la tương ứng để phối ứng với trụ vị (tọa vị an trụ của Bổn Tôn trong Mạn-đồ-la), nếu có thể biết điều ấy, sẽ gần với Tất Địa, chẳng lâu sau sẽ đạt được.

          “Như Bổn Tôn trụ” (trụ trong [Mạn-đồ-la] giống như Bổn Tôn): Trong phần trước, tuy phối ứng với Bí Mật Mạn-đồ-la, nhưng nếu thỉnh Bổn Tôn, cần phải thực hiện phương pháp này th́ mới được. Nếu chẳng làm pháp này, sẽ chưa viên măn! Kinh này luôn là trước sau thành tựu lẫn nhau, văn tự cùng v́ một sự mà khéo léo liên kết lẫn nhau, hành giả cần phải hết sức [chú tâm] đối chiếu và xem xét th́ mới biết được! Nếu lúc hành giả tŕ tụng, cũng cần phải làm pháp này, tức là thỉnh Bổn Tôn và mong nguyện v.v… th́ [Tất Địa] sẽ tự mau chóng kiến lập.

 

 

          (Kinh) Vân hà bát ấn? Vị dĩ trí huệ tam-muội thủ tác không tâm hiệp chưởng, nhi tán Phong luân, Địa luân như phóng quang diễm. Thị Thế Tôn bổn oai đức sanh ấn. Kỳ Mạn-đồ-la tam giác, nhi cụ quang minh. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, lam lạc, sa ha.

          ()何八印?謂以智慧三昧手作空心合掌,而散風輪地輪如放光焰,是世尊本威德生印。其漫荼羅三角而具光明,彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。𡀩。莎訶。

          (Kinh: Thế nào là tám ấn? Chính là dùng tay trí huệ và tam-muội (tay phải và tay trái) kết không tâm hiệp chưởng. Duỗi các ngón Phong (ngón trỏ) và Địa (ngón út) như ngọn lửa quang minh túa ra. Đó là ấn Bổn Oai Đức Sanh của đức Thế Tôn. Mạn-đồ-la của ấn ấy có h́nh tam giác, trọn đủ quang minh. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, lam lạc, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, raṃ raḥ svāhā”).

 

          Đây là ấn thứ nhất. Kết Tam Bổ Trá hiệp chưởng (Saṁpuṭa: Không tâm hiệp chưởng), hai ngón trỏ và ngón út dựng thẳng, tách nhau ra, các ngón khác như cũ (vẫn áp vào nhau trong tư thế chắp tay) là thành ấn. Đấy là ấn Đại Oai Đức Sanh của Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Từ trong ấy, đại oai đức của Như Lai sanh ra. Đó là quang minh của trí Nhất Thiết Trí. Mạn-đồ-la của ấn ấy có h́nh tam giác. Bốn phía lại có bốn tam giác vây quanh, cho nên nói là “châu” (, giáp ṿng). Hăy nên quán Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn ngự ở trong ấy. Trong tam giác Mạn-đồ-la, hăy nên quán hoa tám cánh. Trên đài hoa là Mạn-đồ-la tam giác, tức là ṭa Du Già [được nói] trong phần trên. Tưởng đầu nhọn của h́nh tam giác hướng xuống dưới, có màu đỏ. [Trong khi đó], phần trước nói đầu nhọn của tam giác [trong Nhất Thiết Trí Ấn] hướng lên, nay [trong Mạn-đồ-la của ấn này, đầu nhọn của h́nh tam giác] hướng xuống dưới, do nghĩa dụng khác biệt! Tưởng đức Phật ngự trong đàn ấy để kết ấn Oai Quang. Chân ngôn là Lam Lạc (रंरः, raṃ raḥ).

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, nhi khuất Phong luân tại Hư Không luân thượng, như Phạ tự h́nh, thị Thế Tôn Kim Cang Bất Hoại ấn. Kỳ Mạn-đồ-la như Phạ tự tướng, hữu kim cang quang. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, văm phạ, sa ha.

          ()即以此印,而屈風輪在虛空輪上如嚩字形,是世尊金剛不壞印。其漫荼羅如嚩字相,有金剛光。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。鑁嚩。莎訶。

          (Kinh: Liền dùng ấn ấy, gập ngón Phong (ngón trỏ) ở trên ngón Hư Không (ngón cái) như h́nh chữ Phạ, chính là ấn Kim Cang Bất Hoại của đức Thế Tôn. Mạn-đồ-la như h́nh chữ Phạ, có quang minh màu kim cang. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, văm phạ, sa ha - Namaḥ samanta-buddhānāṃ, vaṃ vaḥ svāhā”).

 

          Ấn thứ hai th́ kết ấn như trước, nhưng cùng gập hai ngón trỏ chỉ vào đầu hai ngón cái, hợp lại như h́nh chữ Phạ (, Va). Đấy là ấn Kim Cang Bất Hoại. Kim Cang là Như Lai trí, chẳng sanh từ các duyên, nên chẳng thể phá hoại. Do vậy, gọi là Kim Cang Bất Hoại. Mạn-đồ-la có h́nh tṛn, giống như chữ Phạ, dùng chày kim cang vây quanh (hăy nên là chày kim cang có quang minh như h́nh ngọn lửa). Các chày kim cang ấy cũng xếp quanh bốn phía của Mạn-đồ-la, giống như trong phần trước. Nói [Mạn-đồ-la có h́nh] chữ Phạ, nghĩa là Mạn-đồ-la ấy tṛn trặn, sắc trắng, cũng ở phía trên đài hoa. Trong ấy, có Đại Nhật Như Lai, những phần sau đều phỏng theo lệ này. Nhưng tám ấn này, người tŕ tụng tùy ư chọn lấy một ấn để tùy theo từng sự mà sử dụng. Chân ngôn là “văm phạ” (वं वः, vaṃ vaḥ).

 

          (Kinh) Phục dĩ sơ ấn, nhi tán Thủy luân, Hỏa luân. Thị danh Liên Hoa Tạng ấn. Kỳ Mạn-đồ-la như nguyệt luân tướng, dĩ Ba Đầu Ma hoa nhi vi nhiễu chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tảm sách, sa ha.

          ()復以初印,而散水輪火輪,是名蓮華藏印。其漫荼羅如月輪相,以波頭摩華而圍繞之。彼真言曰。南麼三曼多勃馱喃。糝索。莎訶。

    (Kinh: Lại dùng ấn đầu tiên, tách ngón Thủy (áp út) và Hỏa (giữa). Đó gọi là ấn Liên Hoa Tạng. Mạn-đồ-la như h́nh vầng trăng, dùng hoa Ba Đầu Ma (padma) vây quanh. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tảm sách, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, saṃ saḥ svāhā”).

 

          Ấn thứ ba, làm như trước, tức là Tam Bổ Trá hiệp chưởng. Hai ngón áp út và ngón giữa tách ra. Hai ngón út và trỏ trước đó đă tách ra, giống như đóa hoa mới cắt. Đấy là ấn Như Lai Tạng, cũng gọi là ấn Liên Hoa Tạng. Mạn-đồ-la làm thành h́nh trăng tṛn giống như trên, nhưng bốn phía được bao quanh bởi hoa sen, đó là điểm khác biệt. Trong ấy, cũng quán Đại Nhật Như Lai. Chân ngôn là “tảm sách” (सं सः, saṃ saḥ).

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, khuất nhị Địa luân nhập ư chưởng trung, thị Như Lai vạn đức trang nghiêm ấn. Kỳ Mạn-đồ-la do như bán nguyệt h́nh, dĩ Đại Không điểm vi chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hàm hạc, sa ha.

          ()即以此印,屈二地輪入於掌中,是如來萬德莊嚴印。其漫荼羅猶如半月形,以大空點圍之。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。含鶴。莎訶。

    (Kinh: Liền dùng ấn ấy, gập hai ngón Địa (út) vào ḷng bàn tay, tức là ấn vạn đức trang nghiêm của Như Lai. Mạn-đồ-la của ấn ấy giống như h́nh bán nguyệt, có cái chấm Đại Không vây quanh. Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hàm hạc, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, haṃ haḥ svāhā”).

 

          Ấn thứ tư giống như ấn thứ ba trước đó, hai ngón út cùng gập vào ḷng bàn tay. Đây là ấn Phật Âm Trang Nghiêm, cũng là ấn Vạn Đức Trang Nghiêm, cũng nói là Nội Ngoại Trang Nghiêm. Như người thế gian có đủ loại nhà cửa, y phục, sự việc, nơi chốn v.v… Các thứ vật báu, không ǵ chẳng có để trang nghiêm, nên gọi là Vạn Đức Đều Đủ. Nay ở đây, dù trong hay ngoài, các đức trang nghiêm của Như Lai đều trọn vẹn. Mạn-đồ-la của ấn ấy có h́nh bán nguyệt, bên cạnh dùng các chấm để vây quanh. Các điều khác đều tưởng giống như trên. Chân ngôn là “hàm hạc” (हं हः, haṃ haḥ).

 

          (Kinh) Phục dĩ Định Huệ thủ, tác vị khai phu hoa hiệp chưởng, kiến lập nhị Hư Không luân, nhi sảo khuất chi, thị Như Lai Nhất Thiết Chi Phần Sanh ấn. Kỳ Mạn-đồ-la như Ca La Xả măn nguyệt chi h́nh, kim cang vi chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ám á, sa ha.

          ()復以定慧手作未開敷華合掌,建立二虛空輪而稍屈之,是如來一切支分生印。其漫荼羅如迦羅捨滿月之形,金剛圍之。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。暗噁。莎訶。

          (Kinh: Lại dùng tay Định (trái) và Huệ (phải), chắp lại như h́nh đóa hoa chưa nở. Dựng hai ngón cái lên, nhưng hơi cong. Đấy là ấn Như Lai Nhất Thiết Chi Phần Sanh. Mạn-đồ-la của ấn ấy như h́nh cái b́nh gốm [bụng căng phồng] như trăng tṛn, chày kim cang vây quanh. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ám á, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, aṃ aḥ svāhā”).

 

          [Ấn] thứ năm, giống như trên, kết Tam Bổ Trá hiệp chưởng, nhưng [các ngón tay] hơi tách ra, cong các ngón. Hai ngón cái tách rời ra (hơi cong, hướng vào trong), tách hai ḷng bàn tay ra như đang vốc nước. Ấn này được gọi là ấn Tùng Phật Chi Phần Sanh, ư nói “sanh từ hết thảy các chi phần của Như Lai”. Mạn-đồ-la của ấn này như h́nh cái b́nh, hàm ư phần bụng của cái b́nh có h́nh tṛn (tức là Mạn-đồ-la có h́nh tṛn xoe). Bốn phía dùng chày kim cang vây quanh. Những điều khác giống như trên. Chân ngôn là “ám á” (अं अः, aṃ aḥ).

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, khuất kỳ Hỏa luân, dư tướng như tiền. Thị Thế Tôn Đà La Ni ấn. Kỳ Mạn-đồ-la do như thái hồng, nhi biến vi chi thùy kim cang phan. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, bột đà đà la ni, sa một lật để mạt la đà na yết rị, đà ra dă tát văm, bạc già phạ để, a ca ra phạ để, tam ma duệ, sa ha.

          ()即以此印屈其火輪,餘相如前,是世尊陀羅尼印。其漫荼羅猶如彩虹,而遍圍之垂金剛幡。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。勃馱陀羅尼。娑沒底沫羅馱那羯。馱囉也薩鑁。薄伽嚩底。阿迦囉嚩底。三麼曳。莎訶。

          (Kinh: Liền dùng ấn ấy, gập hai ngón Hỏa (ngón giữa), các ngón khác giống như trên. Đó là ấn Đà La Ni của đức Thế Tôn. Mạn-đồ-la giống như cầu vồng, rủ kim cang phan trọn khắp. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, bột đà đà la ni, sa một lật để mạt la đà na yết rị, đà ra dă tát văm, bạc già phạ để, a ca ra phạ để, tam ma duệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, buddhadhāraṇi smṛtibaladhānakari dharaya sarvaṃ bhagavaty ākāravati samaye svāhā”).

 

          Ấn thứ sáu giống như trên, hai ngón giữa hơi cong, đều cùng cong gập vào ḷng bàn tay. Cong ngón sao cho lưng chúng chạm nhau, tức là ngón giữa tựa vào nhau, các ngón khác như cũ, tức là giống như ấn thứ năm. Đấy chính là ấn Pháp Trụ. Mạn-đồ-la của ấn này như h́nh cầu vồng, có các màu xen kẽ, giống như màu sắc nơi cầu vồng vậy. H́nh dạng [Mạn-đồ-la] như cầu vồng úp xuống, phía dưới phẳng. Phía trên có lá phan kim cang. Các Mạn-đồ-la từ trên tới đây, có hoa sen, có chày kim cang, có chấm v.v… [để bao quanh]. Nay Mạn-đồ-la này mỗi mỗi đều dùng sự trang nghiêm để vây quanh, xen kẽ lẫn nhau. Chân ngôn th́ chữ đầu tiên là chủng tử, tức chữ Phạ, chính là “chẳng trói buộc”. Bột đà đà la ni (Buddhadhāraṇi) là tổng tŕ của Phật. Sa một lật để (smṛti) là niệm. Mạt la đà na yết rị (baladhānakari). Yết rị (kari) là tạo lợi ích. Đà ra da (dharaya): Chữ trước là tự tŕ, tức tŕ ngă. Kế đó là tŕ tha (giữ ǵn kẻ khác), tŕ nhất thiết (“nhất thiết” (tát văm, sarvaṃ) ở đây thuộc vào câu trên). Bạc già phạ để (Bhagavaty) là Thế Tôn, kêu gọi Bổn Tôn nhằm tán thán pháp. A ca ra phạ để (ākāravati) là “trọn đủ các h́nh tướng”. Tam ma duệ (samaye) giải thích như trong phần trước), sa ha (svāhā). Ở đây sợ chưa cặn kẽ, cần phải đối chiếu với bản tiếng Phạn.

 

          (Kinh) Phục dĩ hư tâm hiệp chưởng, khai tán Hỏa luân. Kỳ Địa luân, Không luân ḥa hợp tương tŕ, thị vị Như Lai pháp trụ ấn. Kỳ Mạn-đồ-la do như hư không, dĩ tạp sắc vi chi, hữu nhị Không điểm. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a phệ na vĩ nê, sa ha.

          ()復以虛心合掌,開散火輪,其地輪空輪和合相持,是謂如來法住印。其漫荼羅猶如虛空,以雜色圍之,有二空點。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿吠娜尾泥。莎訶。

          (Kinh: Lại dùng hư tâm hiệp chưởng, tách các ngón Hỏa (ngón giữa). Các ngón Địa (út) và Không (cái) ḥa hợp, chụm vào nhau. Đó là ấn Pháp Trụ của Như Lai. Mạn-đồ-la của ấn ấy giống như hư không, dùng nhiều màu vây quanh, có hai chấm Đại Không. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a phệ na vĩ nê, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ā vedavide svāhā”).

 

          Ấn thứ bảy, kết Tam Bổ Trá giống như trên. Dùng các ngón út và ngón cái của hai tay cùng bấm vào nhau, gập vào ḷng bàn tay, tách ngón giữa ra. Đầu các ngón áp út và ngón trỏ chụm vào nhau. Hai ngón út đặt phía trên ngón giữa. Mạn-đồ-la có h́nh như hư không (tức là làm thành h́nh vuông), nhiều màu xen kẽ. Đó là màu của hư không; như không trung chứa đựng hết thảy các h́nh sắc. Đại Không Trí của Như Lai chứa đựng hết thảy các pháp. Hai bên đều dùng một cái chấm kẹp sát bên. Chân ngôn th́ A (ā) là chủng tử. Chữ này là hạnh. A Phệ Naveda) tức là trọn đủ Nhất Thiết Trí, tức trí do chính ḿnh đă chứng. Vĩ Nê (vide) chính là dùng trí huệ vốn sẵn đủ ấy để rộng tŕ người khác. Sa ha!

 

          (Kinh) Đồng tiền hư tâm hiệp chưởng, dĩ trí huệ tam-muội thủ hỗ tương gia tŕ, nhi tự toàn chuyển, thị vị Thế Tôn Tấn Tật Tŕ ấn. Kỳ Mạn-đồ-la diệc như hư không, nhi dụng thanh điểm nghiêm chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ma ha du già du nghĩ ninh, du nghệ thuyết rị, khiếm xà lỵ kế, sa ha.

          ()同前虛心合掌,以智慧三昧手互相加持而自旋轉,是謂世尊迅疾持印。其漫荼羅亦如虛空,而用青點嚴之。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。摩訶瑜伽瑜擬寧。瑜詣哩。欠唎計。莎訶。

    (Kinh: Hư tâm hiệp chưởng giống như trên, dùng tay trí huệ và tam-muội gia tŕ lẫn nhau để tự xoay ṿng. Đó là ấn Tấn Tật Tŕ của đức Thế Tôn. Mạn-đồ-la cũng như hư không, nhưng dùng các chấm xanh để trang nghiêm. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ma ha du già du nghĩ ninh, du nghệ thuyết rị, khiếm lỵ kế, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, mahāyoga-yogini yogeśvari khāñjalike svāhā”).

 

          Ấn thứ tám: Chắp tay (ḷng bàn tay áp vào nhau), trước là chuyển sang bên trái (khi chuyển th́ tay phải úp xuống, tay trái ngửa lên, áp sát nhau như cũ), kế đó chuyển sang phải (khi chuyển th́ tay trái úp xuống, tay phải ngửa lên, nhưng vẫn áp vào nhau chẳng tách rời). Đấy là ấn Tấn Tật Tŕ của Như Lai, tức là sức thần thông bí mật của Như Lai, có ư nghĩa “tận lực nhanh chóng giữ ǵn”. Mạn-đồ-la giống như hư không trong phần trên, chỉ đổi thành màu xanh [thay v́ nhiều màu như trong ấn thứ bảy], dùng nhiều chấm màu xanh vây quanh. Chân ngôn: Chữ Khi (खि) [là chữ Kha (​)] thêm vạch tam-muội [I (​ि)] là chủng tử. Đại Du Già (mahāyoga), tức là Du Già của chư Phật. Ma ha du kn (mahāyogini) chính là Chân Ngôn Chủ trụ trong Đại Du Già, khiến cho người chưa đắc Du Già sẽ đạt được, tức là có thể thỏa nguyện cho người tu hành, được tự tại trong Du Già. Du nghệ thuyết rị (Yogeśvari) “khiếm (khāñ) là không. “Xà lỵ (Jali) là sanh, tức là Không Sanh. Ca (Ka) là làm, [biến âm thành Ke (tức là chữ Kế trong phần tiếng Hán), hàm nghĩa] “khiến cho các thứ sanh ấy giống như Không”.

 

          (Kinh) Bí Mật Chủ! Thị danh Như Lai bí mật ấn, tối thắng bí mật, bất ưng triếp thọ dữ nhân, trừ dĩ quán đảnh, kỳ tánh điều nhu, tinh cần kiên cố, phát thù thắng nguyện, cung kính sư trưởng, niệm ân đức giả, nội ngoại thanh tịnh, xả tự thân mạng nhi cầu pháp giả.

          ()祕密主是名如來祕密印最勝祕密不應輒授與人除已灌頂其性調柔精勤堅固發殊勝願恭敬師長念恩德者內外清淨捨自身命而求法者

    (Kinh: Bí Mật Chủ! Đó gọi là ấn bí mật của Như Lai, bí mật tối thắng, chớ nên tự tiện trao cho người khác, trừ người đă được quán đảnh, tánh t́nh điều nhu, siêng ṛng, kiên cố, phát nguyện thù thắng, cung kính sư trưởng, nghĩ nhớ ân đức, trong ngoài thanh tịnh, người bỏ thân mạng của chính ḿnh để cầu pháp).

 

          Lại nữa, thứ nhất là phương Đông Bảo Tràng Phật, thứ hai là phương Nam Khai Phu Hoa Vương Phật, thứ ba là phương Tây A Di Đà Phật, thứ tư là phương Bắc Cổ Âm Phật, thứ năm là Đông Nam Phổ Hiền Bồ Tát, thứ sáu là Tây Nam Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, thứ bảy là Tây Bắc Di Lặc Bồ Tát, thứ tám là Đông Bắc Quán Tự Tại Bồ Tát. Hăy nên biết tám ấn ấy đều là ấn của đức Tỳ Lô Giá Na, nhưng ấn ở phương Đông là ấn của Bảo Tràng Phật, mà cũng là ấn của Đại Nhật Như Lai. Những điều khác hăy phỏng theo đó (tức là kế đó, hăy nương theo đó mà phối ứng tám ấn với bốn vị Phật và bốn vị Bồ Tát).

          Kế đó, chánh kinh răn dạy A-xà-lê cách thức nên truyền trao [tám ấn bí mật này như thế nào]. Nếu là kẻ chưa quán đảnh, hết thảy đều không được chỉ dạy [các ấn này]. Kế đó, nếu là người điều nhu (tức là người nhu ḥa, thiện thuận, chẳng bộp chộp, hung bạo v.v…). Kế đó là người siêng năng, tinh tấn, có ư nguyện kiên cố, thù thắng, tức là có thể phát khởi tinh tấn, siêng năng, tự có thể phát ra vô lượng đại nguyện hoằng thệ. Kế đó là người cung kính sư trưởng (tức là A-xà-lê), giống như kinh Pháp Hoa nói “dùng thân [của chính ḿnh] làm giường, ṭa [cho sư trưởng]”. Lại là người nghĩ nhớ ân đức (mong báo ân Phật), người thanh tịnh (trong ngoài đều tịnh), người xả tự thân (nếu cầu pháp, sẽ chẳng tiếc thân mạng, giống như Tuyết Sơn đại sĩ v.v…). Tuy là [người đă] nhập Mạn-đồ-la, nhưng phải có đức như thế th́ mới có thể nói! Chẳng được dạy bảo người khác bừa băi! V́ cớ sao vậy? Đấy là pháp trọng yếu trong bí tạng của Như Lai, chẳng thể đi đến đâu cũng tuyên truyền bừa băi. Đây cũng là đức Phật dạy hàng A-xà-lê. Nếu thuộc địa vị đệ tử, sẽ chẳng được phép, cố nhiên chẳng nói ngằn hạn, há có nên nói bừa băi, khiến cho kẻ khác khinh báng, tự chuốc lấy tội trong đại địa ngục Vô Gián ư? “Sáu tháng” là nêu ra con số [ḥng định ngằn hạn để sách tấn chính ḿnh tinh tấn]. Sáu tháng đầu chẳng thành, làm thêm sáu tháng nữa, lần lượt cho đến khi đạt được thành tựu mới thôi. Nếu nói “ba tháng” th́ cũng phỏng theo đó mà hiểu. Trước là tŕ tụng suốt sáu tháng, nếu chẳng có tướng [thành tựu], lại trải qua sáu tháng nữa. Nếu đă có tướng th́ mới là thực hiện thành tựu. Nếu giải thích theo cách bí mật, “sáu tháng” chính là tịnh hóa sáu căn. Nói “ba tháng” tức là tịnh hóa thân, miệng, ư.

 

15. Phẩm thứ mười lăm: Giới cấm của bậc tŕ minh (Tŕ minh cấm giới phẩm đệ thập ngũ, 持明禁戒品第十五)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kim Cang Thủ phục dĩ kệ tụng, thỉnh vấn Đại Nhật Thế Tôn tŕ minh cấm giới, vị Chân Ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát cố: - Vân hà thành cấm giới? Vân hà trụ Thi La? Vân hà tùy sở trụ, tu hành ly chư trước? Tu hành kỷ thời nguyệt, cấm giới đắc chung cánh? Trụ ư hà pháp giáo, nhi tri bỉ oai đức? Ly thời phương tác nghiệp, cập pháp, phi pháp đẳng, vân hà nhi tốc thành? Nguyện Phật thuyết kỳ lượng, tiên Phật sở tuyên thuyết, linh đắc ư Tất Địa. Ngă vấn Nhất Thiết Trí, Chánh Giác Lưỡng Túc Tôn, vị vị lai chúng sanh, Nhân Trung Tôn chứng tri.

          ()爾時金剛手復以偈頌請問大日世尊持明禁戒,為真言門修菩薩行諸菩薩故。云何成禁戒?云何住尸羅?云何隨所住,修行離諸著?修行幾時月,禁戒得終竟?住於何法教,而知彼威德?離時方作業,及法非法等,云何而速成?願佛說其量。先佛所宣,令得於悉地,我問一切智,正覺兩足尊,為未來眾生中尊證知。

    (Kinh: Lúc bấy giờ, ngài Kim Cang Thủ lại dùng kệ tụng thưa hỏi Đại Nhật Thế Tôn về giới cấm của hàng tŕ minh, v́ các Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong Chân Ngôn môn [mà nói kệ rằng]: - Thế nào thành cấm giới? Trụ Thi La ra sao? Thế nào tùy chỗ trụ, tu hành ĺa chấp trước? Tu hành chừng mấy tháng, giới cấm được trọn thành? Trụ trong pháp giáo nào, mà biết oai đức đó? Ĺa “thời, phương” tạo nghiệp, và pháp, phi pháp thảy, làm sao để chóng thành? Nguyện Phật nói lượng ấy. Cổ Phật đă tuyên nói, khiến đạt được Tất Địa. Con hỏi Nhất Thiết Trí, Chánh Giác Lưỡng Túc Tôn, v́ chúng sanh mai sau. Nhân Trung Tôn chứng biết).    

 

          Khi đó, ngài Kim Cang Thủ v́ các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh phải nên có pháp giới cấm tŕ minh”, do [đức Phật] c̣n chưa nói nhân duyên ấy. vậy, kế đó, Ngài lại dùng kệ để hỏi đức Phật. Do vậy, Ngài nói bài phúng tụng. Đối với Giới, phương Tây (Ấn Độ) có hai loại:

          - Một, đấy là giới để tu hành, tức là để thân thanh tịnh th́ cần phải hành tŕ, tiếng Phạn là Thi La (Śīla).

          - Hai là Một Lật Đa Thi La (Vrataśīla, cấm giới).

          Giới có hai loại, tức là bổn tánh giới và chế giới. [Bổn] tánh giới tức là [các giới điều] nhằm thanh tịnh các căn. Nay đối với Một Lật Đa, th́ cần phải thành tựu; cho nên chế định. Riêng trong phần sau, như “phục phong” (uống gió)[8] v.v… là như các giới luật do có chuyện [trái phạm hay cần thiết] mà đặt ra. Nay giới được nói ở đây chính là “cấm giới”, hoặc c̣n gọi là “chế giới”, đều là Một Lật Đa. Thi La tức là giới phải giữ lâu dài, c̣n Một Lật Đa là giới nguyện giữ trong một thời gian nhất định, tức là khi hành giả tŕ tụng, có thể phát tâm [giữ giới ấy] trong một tháng, cho đến nhiều năm. Khi xong việc ấy, cấm giới đó cũng gác lại. V́ thế, chẳng gọi là “đại giới”. Nay trong lời hỏi này, [ngài Kim Cang Thủ] hỏi đủ cả hai ư nghĩa ấy. Trước tiên hỏi thế nào là chế giới? Tức là hai loại “như thế nào để phát khởi” trong phần trước. Kế đó hỏi “tu hành như thế nào?” Tức là đă biết giới ấy rồi, đă tu tại nơi chốn nào đó, vậy th́ phải tu hành thế nào để đừng chấp trước, trụ ở một nơi mà tu hành? Lời hỏi ngụ ư: Các pháp tịch diệt, vô tướng, chẳng có tướng người tu và pháp được tu. Nếu có giới được tŕ tức là có chấp trước, nay làm thế nào để chẳng chấp trước trong tu hành, được thành tựu đại quả? Kế đó, hỏi tu hành có thời tiết[9] hay không? Như các giới thế gian bèn có thời hạn, thậm chí Thanh Văn thọ Cụ Túc Giới th́ là suốt một đời. Nay [giới cấm trong] TMinh có ngằn hạn hay không? Đó là ư muốn hỏi: Giới này đă do duyên mà đạt được, tức là có khởi đầu và kết thúc, nhưng pháp tịch diệt chẳng có khởi đầu hay kết thúc sai khác, làm thế nào để tương ứng? Giả sử có trí, lấy ǵ làm hạn lượng?     

          Lại nữa, tŕ giới như thế nào để tăng trưởng oai đức? Tức là nay y chỉ vào chỗ nào, tu hành như thế nào, dùng pháp ǵ để khiến cho oai đức ấy tăng trưởng, thành tựu hết thảy các oai đức giống như Như Lai? Lại hỏi thời gian và nơi chốn tŕ giới này, hỏi khi nào sẽ được phép ĺa giới ấy v.v… Trong thời điểm và nơi chốn như thế nào mà tác nghiệp đúng pháp, phi pháp v.v… Vào lúc nào th́ sẽ được ĺa (xả giới)? Phật giới chính là trí huệ tự nhiên của Như Lai, chẳng phải thời, chẳng phải nơi chốn, ĺa khỏi pháp và các tác nghiệp. Nay [ngài Kim Cang Thủ] hỏi khi nào sẽ ĺa các sự y để nhập “nhất tướng”? “Thời” tức là thời hạn một tháng, một năm, một ngày, một lúc v.v… “Phương” là chỗ cư trụ. Chỗ nào có thể tu? Hăy nên [tu tập] tại chỗ nào? Làm thế nào để mau chóng được thành tựu (tức các chuyện vừa nói trên đây), nguyện Phật nói hạn lượng ấy, tức là định lượng của sự nhanh chóng. Đă hỏi về khởi đầu và kết thúc; kế đó hỏi về lượng. Hỏi giới ly tướng ấy có hạn lượng [tu tập] cỡ nào để có thể đạt được?

          Ngài Kim Cang Thủ thưa: “Trong quá khứ, con ở nơi cổ Phật, đă biết rơ pháp này. Nay v́ người tu Chân Ngôn hạnh, khiến cho họ trong đời vị lai sẽ được nhanh chóng thành tựu giới của Như Lai, nên thốt lên lời hỏi này, chẳng phải v́ có điều cầu mong nào khác, hoặc do danh lợi v.v… Nay con thốt lời chân thành, tâm ấy sẽ được ai chứng biết? Chỉ mong Như Lai chứng giám, nhưng thâm tâm của con chỉ ḿnh đức Phật tự biết rơ. Đă được đấng Lưỡng Túc Tôn làm chứng, cho nên con thỉnh đấng Nhân Trung Tôn hăy v́ con mà nói. Đấy là v́ chúng sanh đời vị lai vậy”. Người chứng là Nhân Trung Tôn; đó chính là nói đến đức Phật. Đúng như pháp tướng mà chứng, cho nên nói “như sở chứng”.

 

          (Kinh) Thị thời, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na ai mẫn chúng sanh cố, nhi thuyết kệ ngôn: - Thiện tai Cần Dũng Sĩ, đại đức Tŕ Kim Cang! Sở thuyết thù thắng giới, cổ Phật sở khai diễn, duyên minh sở khởi giới, trụ giới như Chánh Giác, linh đắc thành Tất Địa. Vị lợi thế gian cố, đẳng khởi tự chân thật, bất sanh nghi lự tâm, thường trụ ư Đẳng Dẫn, tu hành giới đương cánh. Bồ Đề tâm cập pháp, cập tu học nghiệp quả, ḥa hợp vi nhất tướng, viễn ly chư tạo tác, cụ giới như Phật trí. Dị thử, phi cụ giới, đắc chư pháp tự tại, thông đạt lợi chúng sanh. Thường tu vô trước hạnh, đẳng lịch, thạch, chúng bảo. Năi chí măn lạc-xoa, sở thuyết Chân Ngôn giáo, tất ư thời nguyệt đẳng, cấm giới lượng chung cánh.

          ()是時薄伽梵毘盧遮那哀愍眾生故而說偈言:善哉勤勇士,大德持金剛!所說殊勝戒,古佛所開演。緣明所起戒,住戒如正覺,令得成悉地,為利世間故。等起自真實,不生疑慮心,常住於等引,修行戒當竟。菩提心及法,及修學業果,和合為一相,遠離諸造作,具戒如佛智,此非具戒。得諸法自在,通達利眾生,常修無著行,等礫石眾寶。乃至滿落叉,所真言教,畢於時月等,禁戒量終竟。

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na v́ thương xót chúng sanh, bèn nói kệ rằng: - Lành thay! Bậc Cần Dũng, đại đức Tŕ Kim Cang! Nói tới giới thù thắng, do cổ Phật khai diễn. Giới khởi theo minh chú, trụ giới như Chánh Giác, khiến đạt thành Tất Địa. V́ lợi ích thế gian, b́nh đẳng khởi chân thật, chẳng sanh tâm lo ngờ, thường trụ trong Đẳng Dẫn, sẽ trọn tu hành giới. Bồ Đề tâm và pháp, cùng tu học nghiệp quả, ḥa hợp thành một tướng, xa ĺa các tạo tác, đủ giới như Phật trí. Nếu khác các điều ấy, chẳng phải giới trọn vẹn. Tự tại trong các pháp, thông đạt lợi chúng sanh. Thường tu hạnh chẳng chấp, sỏi, đá như các báu. Trọn đủ một lạc-xoa, Chân Ngôn giáo đă nói, hoàn tất một thời, tháng. Lượng cấm giới đă xong).

 

           [Phần chánh kinh] trên đây gồm năm bài tụng, đều là [giải đáp các] câu hỏi. Khi đó, đức Đại Nhật Như Lai nghe ngài Kim Cang Thủ thưa hỏi về tŕ minh giới của chư Phật, cho nên tán thán rằng: “Lành thay! Lành thay! Bậc đại dũng mănh”. Nay đức Phật thấy Bồ Tát v́ hết thảy chúng sanh mà hỏi; do vậy, đức Phật lại v́ hết thảy chúng sanh mà tán thán. “Dũng” là có thể trừ hết thảy các chướng của ḿnh lẫn người. Lại c̣n siêng năng, tinh tấn, tự tâm chẳng ngưng nghỉ, ở trong sanh tử mà chẳng chán mệt, có thể trừ hết thảy các oán đối vô minh. Do có nhiều nghĩa như thế ấy, nên gọi là Đại Dũng Mănh. Do hành đại nguyện, cầu đại pháp, khởi đại hạnh, thành đại sự; đó gọi là “khiến cho trọn khắp hết thảy chúng sanh đều nhập tri kiến của Phật”, nên gọi là Đại Sĩ. Vị hữu t́nh ấy nói theo âm tiếng Phạn là Sách Đá (Sattva), có nghĩa là “vướng mắc”. Giống như người thế gian, chấp sâu đậm thân tâm, chẳng thể tạm ĺa. Nay Bồ Đề Sách Đá (Boddhisattva, Bồ Tát) cũng thế, chấp hạnh Đại Bồ Đề này, cho đến chẳng có một niệm tâm ngưng nghỉ, buông bỏ. V́ thế gọi là Sách Đá. Lại c̣n phiên âm là Tát Đỏa, có nghĩa là “hữu t́nh”. Do ở trong các hữu t́nh mà có thể tu vô thượng đạo, có thể gánh vác hết thảy các chúng sanh khác, tức là bậc vô thượng trong chúng sanh, nên gọi là Đại Hữu T́nh. Đối với các nghĩa mà chúng sanh chấp trước, nay Ngài có thể tự thoát, lại c̣n có thể khiến cho người khác thoát ra. V́ thế gọi là Đại Hữu T́nh. Do có thể nắm giữ bí mật của Như Lai, nên gọi là Kim Cang Thủ. Lại c̣n gọi là bậc Đại Phước Đức. Đấy là đức Phật tán thán công đức của ngài Kim Cang Thủ, đó là tên gọi khác của ngài [Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ]. [Đức Phật] tán thán Bồ Tát là bậc có phước đức, [phước đức ấy] chính là tích tập công đức của Như Lai vậy.

          Từ đây trở đi, đức Phật cũng dùng kệ để đáp. “Sở thuyết thù thắng giới, cổ Phật sở khai diễn” (Giới thù thắng như đă nói, đă được cổ Phật khai diễn), [hàm ư]: Giới thù thắng được chế định do cổ Phật đă tuyên nói. Đức Phật lại dẫn chư Phật để làm chứng. Giới này do quá khứ Phật đă nói, nay ta cũng nói như thế. Pháp rốt ráo của cổ Phật đều có cùng một đạo. V́ thế, dẫn điều này để làm chứng, ḥng nêu tỏ: “Chẳng có hai đạo”. Nói “duyên minh sở khởi giới, trụ giới như Chánh Giác” (giới do nương theo minh chú mà phát khởi, trụ trong giới ấy giống như bậc Chánh Giác), hàm ư: Nhằm khai phát trí huệ mà chế giới, bậc Chánh Giác trụ trong giới đă được chế định ấy. Do tŕ giới này, sẽ phát khởi hạnh Chân Ngôn, đạt được Tất Địa. Tức là do trụ trong Tŕ Minh Giới này, nên [hành nhân sẽ] giống như bậc Chánh Giác. Chánh Giác là danh xưng khác của đức Phật. Do hành đạo mà Như Lai đă hành, nên giống như Phật. Do sự tu hành ấy, người trong đời hiện tại đạt được cái quả Tất Địa. Đấy chính là trả lời [câu hỏi] “trụ giới như thế nào?” Đức Phật có ư nói: Đúng như giới do Phật đă trụ, hành nhân cũng nên trụ như thế, tức là tam b́nh đẳng (thân, khẩu, ư b́nh đẳng), phước trí tăng trưởng, được thành tựu Tất Địa. “Vị lợi thế gian cố, đẳng khởi tự chân thật, bất sanh nghi lự tâm, thường trụ ư Đẳng Dẫn” (V́ lợi lạc thế gian, b́nh đẳng dấy lên sự tự chân thật, chẳng sanh tâm lo ngờ, thường trụ trong Đẳng Dẫn): “Tự chân thật” tức là tự tŕ chân ngôn, thủ ấn, và quán tưởng Bổn Tôn. Do chuyên niệm nên có thể thấy Bổn Tôn. Bổn Tôn chính là lư chân thật. Không chỉ thấy Bổn Tôn mà thôi, lại c̣n như thật quán thân của chính ḿnh giống như Bổn Tôn. V́ thế gọi là “chân thật”. Ở đây có phương tiện tam b́nh đẳng, thân tức là ấn, ngữ tức là chân ngôn, tâm tức là Bổn Tôn. Quán ba sự ấy đến mức chân thật rốt ráo th́ đều bằng với ta; ba sự b́nh đẳng ấy chẳng khác ba b́nh đẳng của hết thảy các đức Như Lai. V́ thế là chân thật. Khi hành giả tu hành, quyết định tin tưởng, được vào trong đại hội của Phật hải. Nếu có ngờ lo, hạnh Chân Ngôn sẽ trọn chẳng thành tựu. V́ thế, lại khuyên răn lần nữa “chớ sanh nghi”. Do chẳng ngờ vực, bèn đạt được Đẳng Dẫn. Đẳng Dẫn, tiếng Phạn là Tam-ma-hế-đa (Samāhita), tức là dùng pháp tam b́nh đẳng để dẫn khởi, thâu nhiếp hết thảy các công đức, thâu tóm vào tự thân. V́ thế nói là Đẳng Dẫn. Nêu ra ba món b́nh đẳng ấy, tức là thâu nhiếp trọn khắp hết thảy các công đức. Xét rơ ba sự ấy rốt ráo đều b́nh đẳng nhiếp nhập tự thân, bèn gọi là Đẳng Dẫn. Lại nữa, Định và Huệ kết hợp thành một, th́ gọi là Đẳng Dẫn. Có thể trụ trong chân thật như thế cho tới Đẳng Dẫn, chính là trụ trong Phật giới. Bồ Đề tâm pháp, tu học nghiệp quả, nếu ḥa hợp thành một tướng, tác nghiệp ly giới, sẽ chẳng khác ǵ trí do Phật đă đạt được!

          “Giới hết thảy pháp được tự tại”: Bồ Đề tâm chính là chánh nhân của Như Lai (tức là tâm vương). “Pháp” là tâm pháp, tức là sức tự tại của Ba La Mật nơi hết thảy các địa vị. Nói tóm lại, hết thảy các pháp công đức đều là nó. Các pháp ấy đều là quyến thuộc của Phật, mà cũng là quyến thuộc của Bồ Đề tâm, như hoa đài có cánh hoa và nhụy. Diệu quả ấy giống như Phật. Cái được gọi là “nghiệp” một mực là thiện nghiệp; tôi cho rằng đó là diệu nghiệp của Như Lai. Do sự tu hành ấy bằng với Phật, từ sơ phát tâm cho tới khi giới và nghiệp đều bằng với Phật. Phật ĺa hết thảy các tướng, nhưng trụ trong tịnh giới. Đó gọi là “ĺa các tướng, hết thảy có cùng một vị”. Nếu có thể ĺa hết thảy các tướng như thế mà trụ trong giới, giới ấy chính là Phật giới, nghiệp đă tạo tác ấy chính là Phật nghiệp. Cái quả đạt được chính là Phật quả, do nhất tướng, vô tướng, ĺa tác nghiệp. Nếu hành giả phân biệt “đây là giới, đây là người tŕ, đây là pháp được tŕ”, do những điều ấy chẳng chân thật, do có sở đắc, sẽ chẳng phải là tŕ Phật giới!  

          Hơn nữa, giới ấy chính là vô sư huệ (trí huệ không do thầy dạy) của Như Lai. Do trụ trong Như Lai trí, liền được tự tại trong hết thảy các pháp. Do tự tại trong pháp, chiếu soi tánh chân thật của hết thảy chúng sanh, cũng có thể tạo lợi ích đúng như thật, khiến cho hết thảy các chúng sanh đều giống như ta. Do trụ trong giới này, nhiếp hết thảy các pháp, nên gọi là “tự tại”. “Tự tại” có nghĩa là “nhiếp thủ”, tức là tự đạt được pháp, lại có thể lợi ích người khác. V́ vậy, kế đó, kinh nói ‘hữu tánh nghĩa trung thông đạt” (thông đạt nơi nghĩa hữu tánh) là nói tới ư này. “Nghĩa” là thiện lợi, tức là cái được gọi là “nghĩa lợi”. Tu hành thường chẳng chấp trước, th́ ngói sỏi và các báu đều b́nh đẳng, đó gọi là “được tự tại trong hết thảy các pháp”, cũng là lợi ích chúng sanh, ĺa khỏi đủ loại kiến chấp đối với sự sai biệt giữa pháp, phi pháp v.v… như thế, tâm chẳng trụ vào đâu! Do vô trụ, vật thô ác và của báu trân diệu đều b́nh đẳng, tâm chẳng tăng giảm. Lúc bấy giờ, hành giả quán ngũ nghịch Xiển Đề và Như Lai công đức b́nh đẳng, chẳng khác biệt, chẳng sanh tăng giảm, huống hồ những điều khác ư? Nếu quán tới mức, sẽ đối với hết thảy các phiền năo ác nghiệp và công đức của Như Lai chẳng sanh tâm lấy, bỏ, huống hồ [so đo giữa] ngói, sỏi và vàng báu ư?

          Kế đó, đáp về phân lượng của tŕ giới. Đă có lúc khởi đầu, sẽ có lúc kết thúc. V́ thế, đức Phật đáp rằng “cho đến thấy một lạc-xoa”. Thông thường, số lượng tụng niệm chân ngôn phải là hạn định thời gian, hay [bao nhiêu] tháng nhất định phải tŕ tụng xong. Nếu nói sơ sài, đại lược, tŕ chân ngôn hoặc tŕ giới th́ phải tŕ giới trong bao lâu, số lượng lần tŕ tụng hạn định là bao nhiêu, tức là từ một lần, mười lần, cho đến lạc-xoa lần v.v… Hoặc một đêm, một tháng, cho đến nhiều năm. V́ thế, ở đây, đức Phật dạy “hăy nên [tŕ tụng] cho đủ một lạc-xoa mới xong”. Nếu nói đại lược, sơ sài th́ một lạc-xoa (laksa) là một trăm ngàn lần. Ở đây, chẳng phải vậy (chẳng hiểu theo ư nghĩa đó), [phải hiểu] “lạc-xoa”“thấy”, nghĩa là: Nếu lúc đă thật sự thấy [tướng thành tựu], hạnh Chân Ngôn ấy mới hoàn tất. Nếu không, chẳng ngưng nghỉ giữa chừng. Chẳng phải như người tŕ tụng trong thế gian có ngằn hạn. Có ngằn hạn tức là cầu sự hiệu nghiệm nông cạn, thấp kém! Nhưng trong sự tŕ tụng này, hăy nên giống như trước, thực hiện ba tầng phương tiện, tức là chân ngôn, thân ấn, và quán Bổn Tôn. Khi thấy Bổn Tôn, cái tâm tương ứng mà trụ, chẳng thứ ǵ có thể động loạn được! Lại quán chân ngôn đă tŕ tụng, từ trong tâm Bổn Tôn, tưới rót vào miệng [hành giả], giống như tràng hoa, chẳng gián đoạn. Liền dùng công đức của Phật như thế để chứa đầy ắp thân ḿnh, cũng chẳng từ thân lưu xuất. Khi sắp thành tựu viên măn, sẽ dần dần có tướng [thành tựu] hiện, hoặc như tướng thành tựu được nói trong bổn bộ, hoặc thân chính ḿnh có đủ loại bệnh khổ mà được chữa khỏi, hoặc có các loại tiểu trùng chẳng ở trong thân, [thân thể] vui sướng, trắng sạch, thanh tịnh, không có cấu uế. Hoặc là trước kia độn căn, huệ kém, mà nay đạt được Tổng Tŕ chẳng quên. Đối với bất cứ chữ nào, cũng đều có thể diễn nhiều nghĩa, cho đến kết thành kệ phúng tụng, tâm không ngăn ngại. Đấy là “tiền tướng” (tướng trước khi đạt thành tựu). V́ thế, đức Phật nói nếu lúc thấy th́ mới hoàn tất. “Lạc-xoa” nghĩa là “thấy”, cũng có nghĩa là “thành tựu”.

          Hành giả tâm trụ trong tam-muội, được thấy Bổn Tôn, lặng lẽ trụ trong Chánh Định. Giả sử núi chúa Diệu Cao nứt lở, chấn động, vẫn chẳng thể gián đoạn, lay động cái tâm ấy. Hoặc là đủ loại tướng lạ, như các loại ma sự đáng sợ nơi Bồ Đề đạo tràng, [hành giả] vẫn có thể an tâm, không sợ hăi. Thậm chí thể nữ đẹp đẽ mỹ lệ trong cung ma cũng chẳng thể khuynh động ư chí, khiến cho [hành giả] nẩy sanh tạp niệm. V́ lẽ nào vậy? Do trụ trong chân thật giới [mà được chân thật giới] duy tŕ. Hăy nên biết khi đó, sẽ cách “thấy đạo” chẳng xa. Hoặc là có lúc, đối với mùi vị của hết thảy các thức ăn, thậm chí thứ đắng rít, đều như cam lộ. Do duyên ấy, thân thể vui sướng, chẳng bị lay động bởi vị ngũ dục thô tệ. Đó là tướng dứt tham. Tướng dứt sân là sáu căn của hành nhân dần dần thanh tịnh, giống như khi đi trong đồng hoang rộng lớn, nóng bức, ánh mặt trời nung đốt cát, đá, bỗng gặp con suối trong để tự xối rửa. Lúc bấy giờ, các thứ phẫn hại chẳng thể quấy nhiễu được! Lại nữa, “vàng đá b́nh đẳng” tức là tam b́nh đẳng! Số lượng tháng hoặc thời đều là kỳ hạn tŕ tụng. Lạc-xoa lại có nghĩa là cái đích”, như bắn trúng hồng tâm. Như ư nghĩa “tập bắn” trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, hoặc kinh Văn Thù[10]. Nếu trụ trong đế lư, tùy ư tương ứng; đó là ư nghĩa của “lạc-xoa” vậy.

          (Kinh) Tối sơ kim luân quán, trụ Đại Nhân Đà La, đương kết Kim Cang ấn, ẩm nhũ dĩ tư thân, hành giả nhất nguyệt măn, năng điều xuất nhập tức.

          ()最初金輪觀,住大因陀羅,當結金剛印,飲乳以資身。行者一月滿,能調出入息。

    (Kinh: Đầu tiên, quán kim luân. Trụ Đại Nhân Đà La, nên kết ấn Kim Cang, uống sữa để nuôi thân. Hành giả tṛn một tháng, điều ḥa hơi thở ḿnh).

 

          Lại nữa, như trong phần trên đă nói, cái Thấy chân thật một vị khó tin, khó hiểu, Như Lai lại dùng phương tiện khác với cách tŕ tụng của thế gian để giúp [hành giả] thấy chân thật. V́ thế, Ngài nói ra cách tŕ tụng trong sáu tháng, nhưng [cách này cũng] đều là bí mật rốt ráo, chẳng khác các phần trước. Trong tháng thứ nhất, hăy nên quán kim cang, tức là Mạn-đồ-la h́nh vuông (Mạn-đồ-la ấy c̣n gọi là Đại Nhân Đà La), sắc vàng. Quán thân của chính ḿnh ngồi trong ấy, liền tưởng thân ḿnh là chữ A (). Chữ A ấy vuông vức, màu vàng, sao cho nội thân sung măn, chẳng thiếu khuyết, toàn thể đều là chữ A ấy. Hăy nên kết ấn chày kim cang năm nhánh, chẳng cần cầm xâu chuỗi. Ấn ấy kết hư tâm hiệp chưởng, cùng gập hai ngón áp út, dùng ngón phải đè lên ngón trái, móc vào nhau trong ḷng bàn tay. Hai ngón cái cùng duỗi ra, hai ngón trỏ cùng cong, hướng vào lưng ngón giữa. Đó chính là ấn Kim Cang Thủ. Hăy nên trong một tháng, chỉ ăn sữa, không ăn vật nào khác. Chỉ quán chân ngôn được tŕ từ rốn thoát ra, từ mũi hít vào, như điều ḥa hơi thở chẳng khác. Lúc bấy giờ, chỉ quán chân ngôn này để hít thở, [quán tưởng] màu của hơi thở cũng là vàng. Nếu quán chân ngôn, cứ lấy mỗi câu là một hơi thở. Nếu quán chữ chủng tử, chỉ quán chẳng gián đoạn theo hơi thở. Tuy nói là “một tháng”, nhưng mười, một trăm cho tới một lạc-xoa tháng v.v… phải lấy “thấy” [tướng thành tựu] làm hạn. Lại nữa, “một” chính là ư nghĩa “một tướng, một vị”. Thấy điều đó th́ gọi là “trọn một tháng”.

 

          (Kinh) Thứ ư đệ nhị nguyệt, nghiêm chánh thủy luân trung, ưng dĩ Liên Hoa ấn, nhi phục thuần tịnh thủy.

          ()次於第二月,嚴正水輪中,應以蓮華印,而服醇淨水。

    (Kinh: Kế đó, tháng thứ hai, trong thủy luân nghiêm chánh, hăy dùng ấn Liên Hoa, lại uống thuần nước sạch).

 

          Lại nữa, tháng thứ hai, trụ trong thủy luân. Luân ấy tṛn trặn, sắc trắng. Tự tưởng thân ở trong ấy. Giống như trên, dùng tay phương tiện kết ấn Liên Hoa, [tức là] hai ngón út và ngón cái chụm lại làm đài, ba ngón khác x̣e ra, khiến cho ngón giữa và ngón trỏ hơi hợp lại, đặt ngang nhau, tức là ấn Quán Âm trong phần trước. Quán thân thể như chữ Phạ (Va) màu trắng, cũng dùng chân ngôn màu trắng để làm hơi thở ra vào.

          Hỏi: Quán Bổn Tôn bằng chữ Va ư? Quán chủng tử của chân ngôn được tŕ tụng là sắc trắng ư?

          [Đáp]: Trong tháng ấy, kết ấn Liên Hoa. Trong hai tháng, chỉ uống nước mà thôi, những thứ khác đều không ăn. Nói “uống nước” chính là chỉ dùng nước [được gia tŕ bởi] chân ngôn. Khi hít vào, tưởng chữ có màu trắng như sữa để làm thức ăn. Nếu lúc hành giả tương ứng, sẽ được pháp vị gia tŕ, chẳng c̣n mong ăn các thứ khác, chỉ dùng vị pháp hỷ để thân thể được sung măn mà thôi! “Nghiêm bị” tức là ngồi trong ấy. Lúc bấy giờ, chỉ quán chữ này, chẳng quán h́nh tượng Bổn Tôn.

 

          (Kinh) Thứ ư đệ tam nguyệt, thắng diệu hỏa luân quán, đạm bất cầu chi thực, tức dĩ đại huệ lực, thiêu diệt nhất thiết tội, nhi sanh thân ư ngữ.

          ()次於第三月,勝妙火輪觀,噉不求之食,即以大慧力,燒滅一切罪,而生身意語。

    (Kinh: Kế đó, tháng thứ ba, quán hỏa luân thắng diệu, ăn thực phẩm chẳng cầu, liền dùng sức đại huệ, đốt diệt hết thảy tội, để sanh thân ư ngữ).

 

          Tháng thứ ba ở trong hỏa luân, tức là Mạn-đồ-la h́nh tam giác, màu đỏ, trụ trong hỏa luân thắng thượng. Quán ở trong đó, dùng chữ Ra (​) này làm thân. Kết Huệ Đao ấn, tức là Tam Bổ Trá hiệp chưởng, gập hai ngón trỏ bấm vào hai ngón cái, quán hơi thở ra vào có màu đỏ. “Ba tháng” có ư nghĩa như trên, tức là trong ba tháng, ba mươi ngày, hoặc ba ngàn ngày v.v… lấy “thấy” [tướng thành tựu] làm kỳ hạn. Trong ba tháng ấy, chẳng cầu hết thảy các thức ăn, tức là “chẳng được khất thực” v.v… Nếu có người đến thí, th́ được phép tùy ư ăn. Không có người thí th́ không ăn, chỉ dùng chữ Ra làm thức ăn. Do phương tiện này, đốt cháy hết thảy tội chướng chẳng c̣n sót. Do nghĩa này, hết thảy tối tăm hết sạch, tức là Phật huệ sáng soi. “Bị” tức là sắp đặt đầy đủ, dùng ấn này.

 

          (Kinh) Đệ tứ nguyệt phong luân, hành giả thường phục phong, kết Chuyển Pháp Luân ấn, nhiếp tâm dĩ tŕ tụng, kim cang thủy luân quán, y trụ ư Du Già.

          ()第四月風輪,行者常服風,結轉法輪印,攝心以持誦。金

剛水輪觀,依住於瑜伽。

    (Kinh: Tháng thứ tư, phong luân, hành giả thường uống gió, kết ấn Chuyển Pháp Luân, nhiếp tâm để tŕ tụng, quán kim cang thủy luân, y trụ trong Du Già).

 

          Tháng thứ tư trụ trong phong luân, có h́nh nửa vầng trăng (giống như trong phần trước), trong ấy là màu đen. Dùng chữ Ha (​) làm thân, hơi thở ra vào giống như trong phần trên đă nói. Trong một tháng ấy, chỉ uống gió để sống, chẳng ăn hết thảy các thức ăn. Khi uống gió, cũng dùng chữ Ha theo hơi thở ra vào làm thức ăn, chẳng như ngoại đạo hít khí mà sống. Hăy nên kết ấn Chuyển Pháp Luân, tức là hai tay đâu lưng vào nhau, đan chéo các ngón vào nhau, làm giống như ấn trong phần trước. Cách này khó thực hiện.

 

          (Kinh) Thị vi đệ ngũ nguyệt, viễn ly đắc, phi đắc, hành giả vô sở trước, đẳng đồng Tam Bồ Đề.

          ()是為第五月,遠離得非得。行者無所著,等同三菩提。

          (Kinh: Đó là tháng thứ năm, xa ĺa đắc, phi đắc, hành giả chẳng chấp trước, giống như Tam Bồ Đề).

 

          Tháng thứ năm, từ kim luân tới thủy luân, giống như chư Phật trụ trong Kim Cang Thủy Luân, tức là làm Mạn-đồ-la h́nh vuông, màu vàng, trong đó có Mạn-đồ-la tṛn màu trắng, thân ngồi trong đó. Phía dưới rốn là vàng, từ phần giữa lên trên là trắng. Chẳng kết ấn, dùng hai chữ A và Phạ, những điều khác giống như trên. Trong tháng thứ năm ấy, không được ăn, tận lực chẳng ăn, tức là đoạn trừ hết thảy các thức ăn, chỉ dùng hai chân ngôn điều ḥa hơi thở ra vào làm thức ăn. Từ tháng thứ năm trở đi, tu hạnh chẳng chấp trước, ĺa Ngă, giống như nhất tướng tịch diệt, tức là giống như chư Phật.

 

          (Kinh) Ḥa hợp Phong, Hỏa luân, xuất quá chúng quá hoạn. Phục nhất nguyệt tŕ tụng, diệc xả lợi, phi lợi. Phạm, Thích đẳng, thiên chúng, Ma Hầu, Tỳ Xá Giá, viễn trụ nhi kính lễ, nhất thiết vi thủ hộ, giai tất phụng giáo mạng. Bỉ thường đắc như thị, nhân, thiên, Dược Xoa thần, Tŕ Minh, chư linh tiên, dực thị kỳ tả hữu, tùy sở mạng đương tác. Bất thiện vi chướng giả, La Sát, Thất Mẫu đẳng, kiến tŕ chân ngôn giả, cung kính nhi viễn chi. Kiến thị xứ quang minh, tŕ tán như mănh hỏa, tùy sở trụ pháp giáo, giai y minh cấm cố. Đẳng Chánh Giác chân tử, nhất thiết đắc tự tại, điều phục nan hàng giả, như Đại Chấp Kim Cang, nhiêu ích chư quần sanh, đồng ư Quán Thế Âm. Kinh du lục nguyệt dĩ, tùy sở nguyện thành quả. Thường đương ư tự tha, bi mẫn nhi cứu hộ.

          ()和合風火輪,出過眾過患。復一月持誦,亦捨利非利,梵釋等天眾,摩睺毘舍遮,遠住而敬禮,一切為守護,皆悉奉教命。彼常得如是,人天藥叉神,持明諸靈仙,翊侍其左右,隨所命當作。不善為障者,羅剎七母等,見持真言者,恭敬而遠之。見是處光明,馳散如猛火。隨所住法教,皆依明禁故,等正覺真子,一切得自在。調伏難降者,如大執金剛,饒益諸群生,同於觀世音。經逾六月已,隨所願成果,常當於自他,悲愍而救護。

    (Kinh: Ḥa hợp Phong, Hỏa luân, vượt khỏi các lỗi họa. Lại tŕ tụng một tháng, cũng xả lợi, chẳng lợi. Phạm, Thích, các vị trời, Ma Hầu, Tỳ Xá Giá, đều kính lễ từ xa. Hết thảy đều thủ hộ, đều tuân phụng giáo mạng. Người ấy sẽ thường được, người, trời, thần Dược Xoa, Tŕ Minh, các linh tiên, chầu hầu quanh hai bên, vâng làm theo mạng lệnh. Kẻ bất thiện gây chướng, La Sát, Thất Mẫu thảy, thấy người tŕ chân ngôn, cung kính mà lánh xa. Thấy nơi ấy quang minh, tỏa ra như lửa hừng. Theo pháp giáo đă trụ, đều tuân minh cấm giới. Chân tử Đẳng Chánh Giác, hết thảy được tự tại, điều phục kẻ khó hàng, như Đại Chấp Kim Cang, lợi ích các quần sanh, giống như Quán Thế Âm, trải qua sáu tháng rồi, thành quả như ư nguyện. Sẽ thường v́ ḿnh, người, xót thương mà cứu hộ).

 

          Theo thứ tự, tới tháng thứ sáu, ở trong Phong Hỏa Luân, trừ hết thảy các chướng, cũng là trong Phong luân có Hỏa luân. Chuẩn theo sự tướng trong phần trên để biết, phía dưới là Phong, ngang rốn; trên đó là Hỏa. Dùng chữ Ha và Ra làm thức ăn. Dù được thí thức ăn, cũng không được ăn, cũng như hết thảy các thức ăn đều chẳng ăn, xả hẳn lợi dưỡng.

          Kế đó, đức Phật nói về công đức của tŕ minh cấm giới. Hành giả do hạnh phương tiện này, hết thảy Đế Thích, Phạm vương, rồng, quỷ tám bộ, đều từ xa hướng về [hành giả] kính lễ, cùng nhau thủ hộ, đều tới trước mặt, tuân phụng giáo mạng. Cho đến thần Dược Xoa v.v… cũng đến hỏi [hành giả] cần ǵ để dâng cấp. Các tŕ minh tiên ở bên cạnh, hết thảy ác quỷ, La Sát, Thất Mẫu v.v… là kẻ hại người cũng từ xa kính lễ, thấy thân người ấy như lửa lúc đại kiếp, oai quang mạnh mẽ, hừng hực. [Do hành giả] thuận theo hết thảy các thiện nguyện, tự tại thành tựu, các kẻ gây chướng đều chẳng có cơ hội [làm hại], [oai đức] giống như Đại Cát Tường Kim Cang, Quán Âm, Văn Thù v.v… chẳng khác!

 

16. Phẩm thứ mười sáu: Trí chân thật của A-xà-lê (A-xà-lê chân thật trí phẩm đệ thập lục, 阿闍梨真實智品第十六)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tŕ Kim Cang Giả thứ phục thỉnh vấn Đại Nhật Thế Tôn chư Mạn-đồ-la chân ngôn chi tâm, nhi thuyết kệ ngôn: - Vân hà vi nhất thiết, chân ngôn thật ngữ tâm? Vân hà nhi giải liễu, thuyết danh A-xà-lê?

          ()爾時持金剛者次復請問大日世尊諸漫荼羅真言之心,而說偈言:云何為一切,真言實語心?云何而解了,說名阿闍梨

          (Kinh: Lúc bấy giờ, ngài Tŕ Kim Cang kế đó lại thưa hỏi Đại Nhật Thế Tôn về chân ngôn tâm của các Mạn-đồ-la, mà nói kệ rằng: - Thế nào là hết thảy, chân ngôn thật ngữ tâm? Làm thế nào thông hiểu, gọi là A-xà-lê?)

 

          Trong phần trên đă nói rộng về tướng đệ tử của A-xà-lê và các phương tiện tạo Mạn-đồ-la để độ đệ tử v.v... Lúc bấy giờ, ngài Chấp Kim Cang tiếp đó lại thưa hỏi Đại Nhật Thế Tôn về chân ngôn tâm của các mạn-đồ-la. Do tướng chân thật của A-xà-lê vẫn chưa được rộng nói, nay ngài Kim Cang Thủ v́ trọn vẹn nghĩa vị ấy, tiếp đó, lại thưa hỏi: “Thế nào là tâm của hết thảy các chân ngôn? Do tŕ pháp nào, hành phương tiện nào mà được gọi là A-xà-lê? Lại do tụng tŕ các tâm chân ngôn nào mà được gọi là A-xà-lê?”

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Bạc Già Phạm Đại Tỳ Lô Giá Na ủy dụ Kim Cang Thủ: “Thiện tai, Ma Ha Tát!” Linh bỉ tâm hoan hỷ, phục cáo như thị ngôn: - Giải bí trung tối bí, chân ngôn trí đại tâm, kim vị nhữ tuyên thuyết, nhất tâm ưng đế thính.

          ()爾時薄伽梵,大毘盧遮那,慰喻金剛手,善哉摩訶薩,令彼心歡喜。復告如是言:解祕中最祕,真言智大心,今為汝宣說,一心應諦聽。

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Bạc Già Phạm Đại Tỳ Lô Giá Na an ủi, khuyên nhủ ngài Kim Cang Thủ: “Lành thay, Ma Ha Tát”. Để khiến cho tâm Bồ Tát hoan hỷ, lại bảo như thế này: - Hiểu điều bí mật nhất, chân ngôn trí đại tâm, nay v́ ông tuyên nói, hăy nhất tâm lắng nghe).

 

           Kế đó, do ngài Kim Cang Thủ có thể kiến lập thiện căn cho hết thảy chúng sanh, do viên măn Chân Ngôn hạnh mà quán điều này rồi thốt lời thưa hỏi, vui đẹp Phật tâm, nên đức Phật tán thán. [Ngài Kim Cang Thủ] biết tâm đại chúng muốn nghe pháp mà thưa hỏi; do đó, đức Phật khiến cho họ hoan hỷ [mà giải đáp]. Vĩ Phù (Vibhu, विभु)[11] là danh xưng khác của đức Phật, cũng có nghĩa là Pháp Vương, do âm thanh thuận tiện, nên dùng danh xưng này để nói.

          Lại nữa, trong [từ ngữ] Chân Ngôn Tâm ở đây, chữ Tâm trong tiếng Phạn là Hăn Lật Đà (Hdaya), tức là cái tâm chân thật. Từ trước đến đây, đều dùng kệ để vấn đáp, nay cũng dùng kệ [để giải đáp]. Kế đó, giải đáp “bí mật trung tối” (điều bí mật nhất trong các bí mật). “Chân ngôn trí” là trí vô thượng, không chi hơn trong các trí. Nay ta sắp nói pháp này, ông hăy nên nhất tâm lắng nghe. Kế đó nói: “Lành thay! Lành thay! Phật tử đại hữu t́nh” tức là đức Phật tán thán Kim Cang Thủ v́ muốn cho đại chúng sanh tâm hoan hỷ; tức là thuận theo lời hỏi mà đáp. Tướng bí yếu là tướng bí mật nhất.

 

          (Kinh) Sở vị A tự giả, nhất thiết chân ngôn tâm, tùng thử biến lưu xuất, vô lượng chư chân ngôn. Nhất thiết hư luận tức, năng sanh xảo trí huệ. Bí Mật Chủ hà đẳng, nhất thiết chân ngữ tâm? Phật Lưỡng Túc Tôn thuyết, A tự danh chủng tử, cố nhất thiết như thị. An trụ chư chi phần, như tương ứng bố dĩ, y pháp giai biến thọ. Do bỉ bổn sơ tự, biến tại tăng gia tự, chúng tự dĩ thành âm. Chi thể do thị sanh, cố thử biến nhất thiết, thân sanh chủng chủng đức.

          ()所謂阿字者,一切真言心,從此遍流出,無量諸真言,一切戲論息,能生巧智慧。祕密主何等,一切真語心?佛兩足尊說,阿字名種子,故一切如是,安住諸支分,如相應布已,依法皆遍授。由彼本初字,遍在增加字,眾字以成音,支體由是生,故此遍一切,身生種種德。

          (Kinh: Đó là nói chữ A, tâm hết thảy chân ngôn. Từ đấy lưu xuất trọn, vô lượng các chân ngôn. Dứt hết thảy hư luận, hay sanh trí huệ khéo. Bí Mật Chủ! Những ǵ, tâm hết thảy chân ngôn? Phật Lưỡng Túc Tôn nói: Chữ A là chủng tử, nên hết thảy như thế. An trụ các chi phần, tương ứng xếp đặt xong, y pháp đều trao khắp. Do chữ bổn sơ ấy, trọn khắp chữ tăng thêm. Các chữ do thành âm, chi thể do đấy sanh. V́ thế, trọn hết thảy, thân sanh đủ loại đức).

         

          Trí được sanh từ tâm chân ngôn lớn nhất. Cái được gọi là “tâm của hết thảy” chính là chữ A, do hết thảy các ngôn âm đều lấy chữ này làm đầu. Nếu không có âm A này, sẽ ĺa khỏi hết thảy các từ ngữ, chẳng thể nói được! Hăy nên biết: Chỉ cần mở miệng phát ra tiếng, tức là âm thanh của chữ A này. Trong kinh văn thuộc phần trước, tuy nói các âm Nga, Nhă, Noa, Na, Ma (,,,,, ga, ja, ḍa, da, ba, đều là âm thượng thanh) đều ĺa âm A, nhưng A có trong và ngoài. Nếu âm ở ngoài tuy chẳng có, vẫn chẳng ĺa âm A bên trong được. Âm bên trong chính là âm A trong họng. Hăy nên biết chữ A này chính là ư nghĩa “hết thảy các pháp vốn bất sanh”. Nếu có thể chiếu liễu bản thể bất sanh, ĺa nhân quả như thế, liền đạt được thường trụ bất sanh. Cái tâm chân ngôn này chính là vô lượng nghĩa xứ, sanh ra trọn khắp hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Ĺa hết thảy hư luận, vĩnh viễn dứt bặt các hư luận, sanh ra trí xảo diệu. Trí ấy chính là trí Xa Ma Tha và Tỳ Bát Xá Na. Từ trí ấy, có vô lượng phương tiện huệ sanh khởi, do ĺa phân biệt, hư luận, nên trọn khắp hết thảy mọi nơi. “Trí xảo diệu” chính là tên gọi khác của trí Nhất Thiết Trí. “Này Bí Mật Chủ! V́ sao chữ A là tâm của hết thảy các chân ngôn?” Đối với tâm của hết thảy các chân ngôn, đức Phật tự gạn hỏi rồi tự đáp. Chữ A này giống như chủng tử. Như trong thế gian, đức Phật Lưỡng Túc Tôn nói chữ A là “chủng tử”. Chủng tử có thể sanh ra nhiều quả, mỗi chủng tử lại sanh ra [cái quả] số nhiều trăm ngàn vạn, cho đến lần lượt là vô lượng chẳng thể nói được! Thấy hạt liền biết quả. Cái nhân đă là như thế, hăy nên biết cái quả ắt cũng là như thế! Nay chữ A này cũng như thế, từ căn bản tự nhiên trí (trí tự nhiên, chẳng cần thầy chỉ dạy), hết thảy các trí nghiệp từ đó mà sanh.

 

          (Kinh) Kim thuyết sở phân bố, Phật tử nhất tâm thính, dĩ tâm nhi tác tâm, dư dĩ bố chi phần, nhất thiết như thị tác, tức đồng ư ngă thể.

          ()說所分布,佛子一心聽。以心而作心,餘以布支分,一切如是作,即同於我體。

          (Kinh: Nay nói cách phân bố, Phật tử nhất tâm nghe! Dùng tâm để làm tâm, chữ khác th́ xếp đặt, nơi các chi phần khác. Hết thảy làm như thế, liền giống bản thể ta).

 

          “Xếp đặt nơi các chi phần”: “Chi phần” chính là tự tâm. Do cái tâm ấy thâu nhiếp hết thảy các thân phần. Ĺa tâm sẽ chẳng có thân, ĺa thân sẽ chẳng có tâm, cũng giống như chữ A. V́ thế, kinh văn nói hỗ tương. Nếu xếp đặt [các chữ chủng tử] như thế, sẽ giống như chư Phật, tức là từ chữ mà có quả, quả chính là Phật, có thể Chánh Biến Tri, nên gọi là Chánh Giác. Do biết lư tánh của chữ ấy, được gọi là Như Lai. Lư tánh của chữ ấy chính là ư nghĩa “tâm vốn bất sanh”. Do vậy, hết thảy là như thế, tức là đều giống như chữ A, đều là các chân ngôn. Và “an trụ chi phần” chính là tuy thêm các chữ, vẫn có chữ A ở trong ấy. Lại nữa, trụ trong khắp các chi phần, chữ A là tâm, như người có tâm có thể trọn khắp các chi phần. Cái tâm ấy cũng đều lănh nhận khổ hay vui. Chữ A cũng trọn khắp hết thảy các chi phần; nhưng đấy chính là ư nghĩa “tâm này vốn bất sanh”, [như] Phật Lưỡng Túc Tôn đă nói. Do vậy, [các chữ của chân ngôn] an trụ trong hết thảy các chi phần, xếp đặt nơi các chi phần. Tương ứng theo đúng pháp mà trao truyền trọn khắp hết thảy.

          Kế đó, khuyên hành giả hăy nên xếp đặt [các chữ chân ngôn] nơi các chi phần, tức là xếp đặt nơi tâm. Từ ngữ A Già La trong tiếng Phạn, chữ A trọn khắp hết thảy các chữ. Nếu chẳng có chữ A, sẽ chẳng có chữ nào được thành. Phải có chữ A, nếu chữ không có đầu[12], sẽ chẳng thành chữ! A chính là “đầu” vậy. “Biến” () là trọn khắp hết thảy. Hết thảy đều có Sự, có Lư, tức ngôn thuyết lư chứng, lư chân ngôn đều trọn khắp. V́ thế, nhắc lại “hết thảy”. Chữ A ấy giống như chi phần và nội tâm nơi thân người. Chữ A ấy trọn khắp hết thảy. Nếu xếp đặt hết thảy các chữ, mà chẳng có thân tâm, tức là chi phần chẳng trọn đủ. Chi phần nơi thân này theo đúng pháp như lư, được xếp đặt hết thảy mọi chỗ. “Biến” () là xếp đặt trọn khắp. Tuy chẳng thể xếp đặt trọn khắp hết thảy các chữ [trong văn tự chữ Phạn], dùng chữ A này làm khởi đầu, sẽ chính là xếp đặt trọn khắp hết thảy các chữ. Nhưng chữ A ấy có thể nói hết thảy các ngôn ngữ thế gian, lại do ngôn ngữ ấy mà hiểu hết thảy lư xuất thế. V́ lẽ nào vậy? Do chữ A này sanh ra hết thảy các ngôn ngữ trong thế gian, nhưng các ngôn ngữ ấy chẳng ĺa chữ A. Do chẳng ĺa chữ A, liền biết là chẳng ĺa pháp thể bất sanh. V́ thế, do môn chữ A bèn có hết thảy các pháp thế gian. Do hết thảy các pháp trong thế gian mà được ngộ môn chữ A. Lại do cái tâm này trọn khắp hết thảy các thân phần, cho nên hễ xếp đặt ở chi phần nào nơi thân, cũng chính là y theo pháp, đúng như lư xếp đặt nơi các chi phần. Do vậy, trọn khắp hết thảy các chữ, mà cũng trọn khắp hết thảy trong và ngoài thân. V́ thế, nay tương ứng trọn khắp với lư, chính là ư nghĩa “ḥa hợp”. Do chữ A ấy trọn khắp hết thảy các chữ, tức là ḥa hợp, tức là chữ Rị Bỉ thêm vào chữ A.

          Nhưng đối với các chữ như Ca (, ka) v.v… nếu miệng chẳng có âm A, sẽ chẳng thành chữ. Hăy nên biết các chữ ấy (các chữ cái trong văn tự Tất Đàm) vốn là không, do nói theo đức (tác dụng, nội dung được diễn đạt bởi chữ ấy) mà gọi là Chữ; do chữ A mà có. Như người không có đầu, hết thảy các chi phần đều chết. Các chữ như Ca v.v… cũng giống như thế: Nếu chẳng dùng chữ A làm đầu, sẽ chẳng thành, mà cũng chẳng gọi là Chữ. V́ thế, lấy chữ A làm “mạng”. Các âm tam-muội như Rị, Tỷ, Đắc, Y, Y v.v… cũng do Định mà phát khởi. Giả sử chữ Ca không có âm A, chỉ ở trong họng phát ra âm Kích ngắn (tức âm K), chữ Ca sẽ chẳng thành. Nếu thêm chữ A, sẽ thành Ca. Hăy nên biết chữ A vốn bất sanh, Ca là vô tác, ư nghĩa chính là do tương ứng ḥa hợp mà thành. Những chữ khác cứ phỏng theo lệ này mà suy ra. Do vậy, kinh văn có thể trọn khắp các thân, có thể sanh ra đủ loại. “Đủ loại” là Tỳ Thấp Phược (Viśva), tức là Xảo, [hàm nghĩa] “có thể sanh ra đủ loại pháp chẳng thể nghĩ bàn, có thể trọn khắp hết thảy các thân phần”.

          Đối với Chữ, tiếng Phạn có hai âm: Một là A Sát Ra (Akara), tức là chữ căn bản. Hai là Lị Tỷ Bệ (Lipi), tức là chữ tăng thêm. “Căn bản” tức là các chữ gốc, như hai âm đầu tiên của chữ A (tức a và ā chính là căn bản. Kế đó từ Y, Y (I, ī) cho đến Ô, Áo (o, au) gồm mười hai chữ đều là chữ do sanh khởi mà tăng thêm, đều thuộc về âm giống cái, c̣n chữ căn bản thuộc về âm giống đực. Âm giống đực (grammatical masculine gender) có nghĩa là trí huệ, âm giống cái (grammatical feminine gender) có nghĩa là Định. Chữ căn bản trọn khắp hết thảy mọi nơi; kế đó, các chữ tăng thêm cũng trọn khắp hết thảy mọi nơi. Căn bảntăng thêm chẳng khác nhau, [các chữ tăng thêm] đều là từ bản thể của chữ căn bản, thêm chấm hay vạch thành chữ tăng thêm, cho nên chúng chẳng một, chẳng khác. Giống như nước được chứa trong đồ đựng, do đồ đựng giữ nước, nước chẳng ĺa đồ đựng. Ở đây cũng giống như thế, [chữ căn bản và chữ tăng thêm] nương tựa, duy tŕ lẫn nhau, có thể trọn khắp trong và ngoài.

          “Tương ứng” trong tiếng Phạn là Du Kỳ (Yogi), tức là nghĩa của chữ A. “Tương ứng” chính là ư nghĩa của Du Kỳ. Không chỉ riêng chữ A trọn khắp hết thảy mọi nơi, từ chữ Ca (, Ka), chữ Khư (, Kha) v.v… cho đến chữ Sa (), Ha () cũng là trọn khắp hết thảy mọi nơi. V́ sao vậy? Các chữ ấy đều là âm căn bản. Các âm căn bản ấy giống như chữ A. Các chữ như Ca v.v… mỗi mỗi đều có chữ được sanh khởi tăng thêm. Như trong chữ Ca (​), liền có các âm Kế (कि, ki), Kê (की, kī), Củ (कु, ku), Câu (कू, kū), Kê (के, ke), Cái (कै, kai), đều là âm thuộc giống cái, chỉ là bản thể của chữ Ca được thêm nét vạch, sẽ trở thành chữ tăng thêm. Thể là Huệ, chữ tăng thêm là Định. Định và Huệ nương tựa, duy tŕ lẫn nhau, hợp thành một Thể chẳng mất. Chỉ Quán song hành cũng là trọn hết thảy các địa vị. Tăng thêm trọn khắp căn bản, căn bản trọn khắp tăng thêm. Vun bồi trọn khắp chủng tử, chủng tử cũng trọn khắp sự vun bồi.

          Lại nữa, các chữ như A v.v… từ chữ mà có âm thanh. Như từ một chữ A, phàm trong hết thảy các âm thanh nói năng đều có thanh A, chẳng ĺa được chữ ấy. Do chữ biểu thị mà có âm thanh sanh ra. Do có âm thanh, nên sanh nơi chi phần, có thể biểu thị hết thảy các pháp xuất thế gian. Nếu chỉ có chữ, sẽ chẳng thể diễn tả, biểu đạt lư; phải do âm thanh và ngôn ngữ th́ mới có cái để biểu thị, như đỏ, xanh, vàng, trắng, Đông, Tây, Nam, Bắc, lớn, nhỏ, vuông, tṛn, cao, thấp, tôn, ty v.v… Hết thảy các sự loại mới có thể lănh nhận, hiểu rơ. Từ A sanh ra hết thảy các âm thanh ngôn ngữ, hăy nên biết các âm thanh ấy biểu thị đủ loại sai biệt. Đă từ ư nghĩa “vốn bất sanh” mà sanh, khi thấy sự sanh ấy được biểu thị, liền hiểu “vốn bất sanh”. Do vậy, khi thấy âm thanh phát ra, lư tánh liền hiển lộ, “vốn bất sanh” và hết thảy các pháp sanh từ duyên sẽ lần lượt sanh ra nhau, biểu thị thấu hiểu lẫn nhau. Nhưng chữ A ấy không chỉ trọn khắp các thân phần, mà cũng trọn khắp hết thảy các thứ chẳng phải là thân. V́ thế, từ tâm chú chữ A này sanh ra đủ loại công đức. Nay muốn nói pháp môn xếp đặt chữ này, v́ muốn khiến cho hết thảy hành giả từ ngay nơi tự thân mà sanh trọn hết thảy các loại công đức của Như Lai. Giống như hạt giống đă gieo xuống, vô lượng quả hạt lần lượt sanh ra. Do đó, lại khuyên hành nhân hăy nên nghe rơ, lănh nhận chắc thật!

          Kinh nói “Phật tử đế thính” (Phật tử hăy lắng nghe), tức là Phật tử hăy nên nghe kỹ ta nay nói kinh văn về cách xếp đặt “tự tâm” (字心). “Xếp đặt” là nói đến các “tự” (, chữ). “Tâm” là nội tâm. Từ ngữ Tô La Đa (Surata) trong tiếng Phạn có nghĩa là “mặc”. Mặc lấy pháp vi diệu, nên gọi là Tô La Đa. Đó là ư nghĩa “cộng trụ an lạc”, tức là “cùng trụ trong diệu lư, tiếp nhận hiện pháp lạc”. Lại nữa, vui thích giữ lấy sự nghiệp mầu nhiệm, nên gọi là Tô La Đa. Lại c̣n có nghĩa là “bỏ tà, hướng theo chánh”, nên gọi là Tô La Đa. Lại c̣n có nghĩa là “mong t́m cầu trọn khắp” nên gọi là Tô La Đa.

 

          (Kinh) An trụ Du Già ṭa, tầm niệm chư Như Lai. Nhược ư thử giáo pháp, giải tư quảng đại trí, Chánh Giác đại công đức, thuyết vi A-xà-lê, thị tức vi Như Lai, diệc tức danh vi Phật. Bồ Tát cập Phạm Thiên, Tỳ Nữu, Ma Hê La, Nhật, Nguyệt Thiên, Thủy Thiên, Đế Thích thế gian chủ, Hắc Dạ, Diễm Ma đẳng, địa thần dữ Diệu Âm. Phạm Chí cập Thường Dục, diệc danh phạm hạnh giả, lậu tận tỳ-kheo chúng, Cát Tường Tŕ Bí Mật, Nhất Thiết Trí, Kiến giả, Pháp Tự Tại, Tài Phú. Nhược trụ Bồ Đề tâm, cập dữ thanh trí tánh, bất trước nhất thiết pháp, thuyết danh Biến Nhất Thiết. Tức thị chân ngữ giả, tŕ cát tường chân ngôn, chân thật ngữ chi vương, tŕ Chấp Kim Cang ấn.

          ()安住瑜伽座,尋念諸如來,若於此教法,解斯廣大智,正覺大功德,為阿闍梨,是即為如來,亦即名為佛。菩薩及梵天,毘紐摩醯羅,日月天水天,帝釋世間主,黑夜焰摩等,地神與妙音,梵志及常浴,亦名梵行者,漏盡比丘眾,吉祥持祕密,一切智見者,法自在財富。若住菩提心,及與聲智性,不著一切法,說名遍一切。即是真語者,持吉祥真言,真實語之王,持執金剛印。

          (Kinh: An trụ ṭa Du Già, nghĩ nhớ các Như Lai. Nếu với giáo pháp này, hiểu trí rộng lớn ấy, Chánh Giác công đức lớn, nói là A-xà-lê. Đó tức là Như Lai, cũng sẽ gọi là Phật. Bồ Tát và Phạm Thiên, Tỳ Nữu, Ma Hê La, Nhật, Nguyệt Thiên, Thủy Thiên, Đế Thích chủ thế gian, Hắc Dạ, Diễm Ma thảy, địa thần và Diệu Âm. Phạm Chí và Thường Dục, cũng gọi bậc phạm hạnh. Các tỳ-kheo lậu tận, Cát Tường Tŕ Bí Mật. Trời Nhất Thiết Trí Kiến. Tài Phú, Pháp Tự Tại. Nếu trụ Bồ Đề tâm, cùng với tánh thanh trí, chẳng chấp hết thảy pháp, gọi là Biến Nhất Thiết. Tức là bậc chân ngữ, tŕ cát tường chân ngôn, là vua chân thật ngữ, tŕ ấn Chấp Kim Cang).

 

          Kế đó, trong lời đáp của đức Phật, tâm tâm xếp đặt [các chữ chân ngôn] nơi các chi phần khác. Hết thảy đều làm như thế. Đức Phật tự trụ trong ṭa Du Già, dùng tâm đặt nơi tâm, những thứ khác th́ xếp đặt nơi các chi phần khác. Làm hết thảy như thế, tức là sẽ giống như thân của chính ta. “Tác” có nghĩa là “đặt” (tưởng chữ chân ngôn tại tâm và chi phần), tức là “làm như thế”. Do đặt tại tâm, nên nói là “tâm tâm”. Thông thường nói “tâm tâm”, tức là nói tới Ư và Mạt Na. Nay ở đây, [“tâm tâm”] có ư nghĩa khác, tức là dùng chữ A để đặt nơi tâm của hành giả. A là tâm của hết thảy các pháp, do đặt [chữ A] tại tâm; nên gọi là “tâm tâm”. Do chữ ấy là tối sơ, nên đặt nơi tâm trước hết. Tâm là chủ của hết thảy các chi phần. Chữ A cũng thế, đứng đầu hết thảy các chân ngôn. Đă xếp đặt xong chữ ấy (chữ A), bèn xếp đặt các chữ khác nơi hết thảy các chi phần như trong phẩm sau sẽ nói. Nhưng cách xếp đặt chữ A này đă được nói trong phần kinh văn trước đó. Trước hết, quán tưởng: Xếp đặt chữ A này trên [đóa hoa sen] tám cánh nở x̣e trong tâm. Chữ A này bèn liền có tác dụng chiếu sáng viên minh. Ḥa hợp cái tâm nhiễm dục của hành giả với tâm chân thật huệ, sẽ liền giống như chân thật, cùng một vị. Quán như thế tức là Như Lai; cho nên nói “nhược như thị tác giả, tức thị ngă” (nếu làm như thế th́ chính là ta). “Ta” tức là đức Phật tự nói về ḿnh.

          Lại nữa, Đại Ngă chính là Như Lai; v́ thế nói là tức thị ngă”. “Tức thị ngă” (tức là ta) chính là A-xà-lê. Không chỉ do Du Già mà được là A-xà-lê, cũng do dùng pháp y mà thành tựu đệ tử [nên gọi là A-xà-lê]. “Trụ nơi ṭa Du Già” tức là [ngồi nơi ṭa] bốn cạnh vuông vắn, nghĩa là ngồi nơi ṭa Đại Nhân Đà La, tức ṭa kim cang luân. Trụ trên chữ A, lấy đó làm ṭa, tương ứng với chân lư, ṭa ấy được gọi là ṭa Du Già. Người ngồi trên ṭa kim cang Du Già ấy chính là Như Lai. “Tầm niệm Như Lai” (liền nghĩ nhớ Như Lai) tức là quán chư Phật. V́ thế, gọi điều này“trí rộng lớn”, hễ gọi liền biết ngay. Nếu có thể nương theo giáo mà biết, bậc đại đức chánh giác nói người như vậy là A-xà-lê. Người xứng với điều ấy tức là Như Lai. Như Lai chính là người ấy, nghĩa là danh hiệu như thế cũng là chính là thân ấy. Nếu trọn đủ pháp ấy, tức là thành tựu tâm trí huệ rộng lớn. Do có thể thành tựu trí rộng lớn, được gọi là A-xà-lê. Nếu là A-xà-lê, hăy nên biết [người ấy] chính là Phật, tức là “địa”, nghĩa là có thể tŕ hết thảy tất cả các loại thóc giống thuộc về báo thọ (quả báo sẽ nhận lănh) trong thế gian. Ta cũng có thể tŕ quả báo của hết thảy chúng sanh, nhưng vô phân biệt.

          Diệu Âm (Sarasvatī, Đại Biện Tài Thiên) là tên một vị trời. Kinh Kim Quang Minh gọi [vị trời này là] Đại Biện thiên nữ. Đại Biện là nói đến cái lưỡi. Ta phát ra âm thanh thù thắng hơn âm thanh của trăm ngàn vị Phạm Thiên; do vậy, có tên gọi đó. “Phạm” là Niết Bàn. Đại Phạm trong các phần trước là giải thoát”. Đại Phạm ở đây chính là bậc Phạm Chí, hàm ư “chưa chứng”. “Phạm hạnh”nói tới người tu phạm hạnh. Hăy nên biết [khi nói “phạm hạnh giả” (bậc hành phạm hạnh)] th́ chính là bậc Bồ Tát. Hăy nên biết [khi nói “phạm hạnh giả” (người hành phạm hạnh) cũng] chính là Phạm Thiên, hăy nên biết [nói như vậy] th́ cũng chính Tỳ Nữu Thiên. [Tỳ Nữu] là tên riêng của Tự Tại Thiên, nói chánh xác phải là Tỳ Sắt Nữu (Viṣṇu). Hăy nên biết [người hành phạm hạnh cũng] chính là Nhật Thiên (Āditya). Hăy nên biết [người hành phạm hạnh cũng] chính là Phong Thiên (Vāyu), Nguyệt Thiên (Candra). “Phạm” là [nói gộp chung] Đế Thích và Đại Phạm. Hăy nên biết [người hành phạm hạnh cũng] chính là Hắc Dạ Thiên (Kālarātri), hoặc là Diễm La (Yamarājah, Diễm Ma La Vương, tức Diêm Vương). Trọn đủ Đại Niết Bàn th́ gọi là Phạm. Vĩ (tức chữ Vi trong Viṣṇu) là Không, Sắt Nữu (Ṣṇu) là Định. Định là Tứ Thần Túc[13] của Phật. Tự Tại tức là được tự tại nơi pháp, như sáu nghĩa của chữ Bạc Già [trong danh xưng Bạc Già Phạm - Bhagavān]. Có thể trừ hết thảy các u ám th́ gọi là Đại Bi Nhật (mặt trời đại bi).

          Lại nữa, Phạ Rô Noa (Varuṇa) là Thủy Long (chánh kinh gọi vị này là Thủy Thiên) do [vị này] chủ tŕ nước, tức là trọn đủ nước đại bi có thể rưới khắp hết thảy. Như mặt trăng trưởng dưỡng hết thảy các vật trong thế gian, Phật cũng có thể trưởng dưỡng Bồ Đề tâm của hết thảy chúng sanh. Đế Thích do bố thí một trăm lần mà được thành tựu, tức là một trăm lần mở bốn cửa thành để bố thí rộng răi. [Trong danh xưng Đế Thích (Śakra, Thích Ca Lạc)], Thích là “một trăm”, Ca Lạc là dũng mănh bố thí. Phật trọn đủ vô lượng trăm lần bố thí, nên cũng gọi là Đế Thích. Vị chủ tạo lập thế giới, tức ngũ đại thiên, ngoại đạo trong thế gian gọi họ là tạo lập thế giới chủ” (Prajāpati, vị chúa tể sáng tạo thế giới). Cũng là Tỳ Thủ Yết Ma (Viśvakarman), Ngă cũng sanh hết thảy tâm, tâm chủ, cho nên có tên gọi như thế. Ca La thời[14], ba thời chính là ngă, tức là Diễm Ma đem tất cả đi, tức là đưa đến thiện, hoặc đưa đến ác. Đưa tới chỗ sát hại th́ gọi là Diễm Ma La; nhưng ta đưa tới chỗ lành để sát hại phiền năo. [Trong danh xưng Diễm Ma (Yāma)], “Dă” (yāna) là cỗ xe tam thừa, “Ma” tức là Ngă. Tức là khi Ngă được thành lập, vượt khỏi ba thời, đều là Ngă, thảy đều là tâm, đối ứng với ngoại đạo khi đó.

          “Dục” (: tắm gội) [trong Thường Dục (Āśrava)] là nói đến tên của một vị trời, tức thân khẩu ư thanh tịnh là sự tắm gội bậc nhất. “Thuyết” là nói ngoại đạo, tên của kẻ đó chính là Ngă. [Người hành phạm hạnh] chính là tỳ-kheo, tức là bậc lậu tận, [mà cũng] tức là bậc Cát Tường, cũng chính là Công Đức Thiên (Śrī Devi, Lakṣmī). Ngă cũng trọn đủ hết thảy các pháp, tức “tŕ bí mật” là Tam Mật. Nhất Thiết Trí th́ ngoại đạo cũng có danh xưng ấy, Ngă tức là như thật. Do tự chứng, chẳng phải là chỉ có cái danh suông. Nhất Thiết Kiến (Sarvajñānadarśana) cũng là tên một vị trời. Nhất Thiết Pháp Tự Tại (Sarvadharmeśvara): Thế gian cũng truyền tụng có vị trời này. Ngă chính là như thật. Tài Phú (Vasudhāra) cũng là tên một vị trời, tức là tự tại, hễ cần cho liền cho. Phật chính là như thế đó. Nếu trụ trong Bồ Đề tâm và dùng thanh trí tánh (trí tánh của âm thanh), chẳng chấp trước hết thảy các pháp, th́ gọi là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy mọi nơi). Đó chính là tên gọi khác của Nhất Thiết Chủng Trí, tức là “trọn đủ hết thảy các trí”.

          Nói “Bồ Đề tâm chính là Định”, [hàm nghĩa] từ chữ mà có âm thanh phát ra; do trí chia ra, nên [“chữ” trong chân ngôn] tức là trí, [mà cũng] tức là người tŕ tụng. Do chân ngôn sanh từ Ngă, Ngă chính là người tŕ tụng. Cũng là người tŕ chân ngôn do sanh từ Ngă, nên chính là Ngă tŕ [chân ngôn]. Do các chữ trong chân ngôn sanh từ Ngă, Ngă chính là người tŕ [chân ngôn]. “Cụ đại cát tường” (trọn đủ sự tốt lành to lớn) cũng là chân ngôn vương, tức là Ngă, tức là Chấp Kim Cang, tức là tŕ mật huệ ấy.

          Kế đó, tất cả tự luân nếu [được đặt] ở các chi phần, [chữ ứng với] vị trí nơi tâm (tức chữ A) th́ đặt nơi tâm, [các chữ khác] thuận theo sự thuận tiện mà xếp đặt. [Chữ của chân ngôn] trụ nơi vị trí nào, vị trí ấy chính là đối tượng được trụ [bởi chân ngôn ấy]. [Vị tôn thánh tương ứng vị trí ấy] tức là Địa Thiên, hoặc tức là Diệu Âm Thiên, hoặc tức là Thường Dục, và bậc Thường Phạm Hạnh, mà cũng chính là Bổn Tôn của Thường Dục ngoại đạo. Bát La nghĩa là “giải thoát”, tức Phạm Thiên. [Người hành phạm hạnh] cũng chính là tỳ-kheo, tức là bậc lậu tận”, hoặc tức là Diệu Cát Tường, hoặc tức là người tŕ bí mật, hoặc tức là bậc Nhất Thiết Trí. Nhất Thiết Kiến chính là vị vua tự tại trong hết thảy các pháp, tức là người trụ trong Bồ Đề tâm, tức là trí tánh, tức là người chẳng chấp trước trong hết thảy các pháp, tức là hết thảy đều nói trọn khắp, tức là tŕ cát tường, tức là chân ngôn vương, tức là Tŕ Kim Cang. Nói tóm lại, chính là hết thảy các thứ được xếp đặt trong Đại Mạn-đồ-la và một trăm lẻ tám danh hiệu của Như Lai[15] v.v… không ǵ chẳng phải là [người hành phạm hạnh]. V́ sao vậy? Do pháp thể của chữ A này thường trọn khắp hết thảy mọi nơi. Nếu có thể tương ứng như thế, chính là giống như đức Tỳ Lô Giá Na trọn khắp hết thảy mọi nơi. V́ thế, trong kinh, đức Phật nói như thế. Từ trên đến đây, nói về cái tâm đă xong.

 

          (Kinh) Sở hữu chư tự luân, nhược tại ư chi phần, đương tri trụ my gian, Hồng tự kim cang cú. Sa tự tại thần hạ, thị vị liên hoa cú. Ngă tức đồng tâm vị, nhất thiết xứ tự tại, phổ biến ư chủng chủng, hữu t́nh cập phi t́nh. A tự đệ nhất mạng. Phạ tự danh vi Thủy. Ra tự danh vi Hỏa. Hồng tự danh Phẫn Nộ. Khư tự đồng hư không. Sở vị cực không điểm, tri thử tối chân thật, thuyết danh A-xà-lê. Cố ưng cụ phương tiện, liễu tri Phật sở thuyết, thường tác tinh cần tu, đương đắc bất tử cú.

          ()所有諸字輪,若在於支分,當知住眉間,吽字金剛句,娑字在脣下,是謂蓮華句。我即同心位,一切處自在,普遍於種種,有情及非情。阿字第一命,嚩字名為水,囉字名為火,吽字名忿怒,佉字同虛空,所謂極空點,知此最真實,說名阿闍梨。故應具方便,了知佛所,常作精勤修,當得不死句。

          (Kinh: Tất cả các tự luân, nếu ở nơi chi phần, nên biết trụ giữa mày. Chữ Hồng: Câu kim cang. Chữ Sa ở dưới môi, đó là câu Liên Hoa. Ngă cùng chỗ với tim, tự tại hết thảy chỗ, trọn khắp nơi các thứ, hữu t́nh và phi t́nh. Chữ A: Mạng bậc nhất. Chữ Ph gọi là nước. Chữ Ra gọi là lửa. Chữ Hồng là Phẫn Nộ. Chữ Khư như hư không. Nó có chấm Cực Không. Bậc biết chân thật nhất, gọi là A-xà-lê. Hăy nên đủ phương tiện, biết rơ lời Phật dạy. Thường siêng ṛng tu tập, sẽ đắc câu bất tử).

 

          Kế đó, xếp đặt [chữ chân ngôn căn bản] nơi thân phần. Tức là ở giữa hai mày, nên đặt chữ Hồng (हूं, Hūṃ), đấy chỗ nắm giữ của hết thảy các vị kim cang. Kế đó, ở phía trên tim bốn tấc, quán tưởng đặt chữ Sa (​), tức là chỗ trụ của hết thảy [chư tôn thuộc] Liên Hoa Thủ bộ. Tâm ta trụ trong hết thảy tự tại trọn khắp, ta đều trọn khắp các loại hữu t́nh và phi hữu t́nh. Chữ A chính là đệ nhất mạng, tức là dùng chữ A làm tâm, cho nên trọn khắp tự tại trong hết thảy mà được thành tựu. Ư nói: Chữ A ấy chẳng khác ta, ta chẳng khác chữ A, đều trọn khắp trong hết thảy các pháp hữu t́nh và phi hữu t́nh. Các pháp ấy lấy chữ A làm mạng bậc nhất. Giống như người có hơi thở ra vào, lấy đó làm mạng. Hễ [hơi thở] dứt bặt, mạng liền chẳng tiếp tục [tồn tại được nữa]. Chữ A này cũng giống như thế, hết thảy các pháp hữu t́nh lấy chữ này làm mạng.

          Kế đó, chữ Phạ (, Va) được gọi là Thủy (nghĩa là tưởng chữ Phạ giống như nước). Kế đó, tưởng chữ Ra (​) giống như lửa. Tiếp đó, tưởng chữ Hồng (हूं, hūṃ) chính là hết thảy các vị Phẫn Nộ Tŕ Minh. Lại tưởng chữ Khư (, kha) giống như hư không (phải nên có chữ Ha (), tức là gió, nay [kinh văn] chẳng nói, phải nên tra cứu). Sở dĩ quán như vậy, muốn xếp đặt hết thảy các chữ nơi thân phần này, tức là pháp trong pháp giới của hết thảy Như Lai, vạn đức đều trọn đủ. Giống như khi ngồi đạo tràng, chẳng phải ṭa kim cang, sẽ chẳng thể chịu đựng được [thân thể của bậc sắp thành Chánh Giác]! Nay cũng giống như thế, muốn trọn đủ công đức của hết thảy các đức Như Lai; trước hết, cần phải dùng bốn luân đất, nước, lửa, gió và hư không, sau đấy, tác pháp đầy đủ. Do có thể chân thật bậc nhất như thế, nếu người thấu hiểu th́ được gọi là A-xà-lê. Danh tự trong đàn tuy khác nhau, nhưng đều là công đức của chư Phật, v́ độ người khác nên nói ra. Do đó, chư Phật nói hết thảy những điều cần phải biết, người thường siêng năng tu [những điều ấy], sẽ có thể đạt được câu bất tử. Do A-xà-lê dùng chữ A để gia tŕ thân, cho nên [chữ A ấy] chính là chư thiên v.v… trong hết thảy đại hội của Mạn-đồ-la. Liễu đạt ư nghĩa này, sẽ chính là bậc A-xà-lê chân thật. Kế đó, khuyên [hành nhân] thường nên tu hành như thế, sẽ đạt được câu bất tử. Đó là ư nghĩa “thường trụ”, “thường trụ” chính là Phật.

 

17. Phẩm mười bảy: Xếp đặt chữ (Bố tự phẩm đệ thập thất, 布字品第十七)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phục cáo Kim Cang Thủ ngôn: - Phục thứ, Bí Mật Chủ! Chư Phật sở tuyên thuyết, an bố chư tự môn, Phật tử nhất tâm thính. Ca tự tại yết hạ, Khư tự tại ngạc thượng, Nga tự dĩ vi cảnh, Già tự tại hầu trung, Giá tự vi thiệt căn, Xa tự tại thiệt trung, Nhă tự vi thiệt đoan, Xă tự thiệt sanh xứ, Trá tự dĩ vi hĩnh, Trá tự ưng tri bễ, Noa tự thuyết vi yêu, Đồ tự dĩ an tọa, Đa tự tối hậu phần. Tha tự ưng tri phúc, Na tự vi nhị thủ, Đà tự danh vi hiếp, Ba tự dĩ vi bối, Phả tự ưng tri hung, Ma tự vi nhị trửu, Bà tự thứ tư hạ. Măng tự trụ ư tâm, Da tự âm tạng tướng, Ra tự danh vi nhăn, La tự vi quảng ngạch, Ải, Y tại nhị tư, Ổ, Ô vi nhị thần, Ế, Ái vi nhị nhĩ, Ô, Áo vi nhị giáp, Ám tự Bồ Đề cú, Á tự Bát Niết Bàn. Tri thị nhất thiết pháp, hành giả thành Chánh Giác. Nhất Thiết Trí tư tài, thường tại ư kỳ tâm, thế hiệu Nhất Thiết Trí, thị vị Tát Bà Nhă.

          ()爾時世尊復告金剛手言:復次祕密主!諸佛所宣,安布諸字門,佛子一心聽。迦字在咽下,佉字在齶上,誐字以為頸,伽字在喉中,遮字為舌根,車字在舌中,若字為舌端,社字舌生處,吒字以為脛,咤字應知髀,拏字為腰,荼字以安坐,多字最後分,他字應知腹,娜字為二手,馱字名為脇,波字以為背,頗字應知胸,麼字為二肘,婆字次臂下,莽字住於心,耶字陰藏相,囉字名為眼,𡆗字為廣額,縊伊在二眥,塢烏為二脣,翳藹為二耳,污奧為二頰,暗字菩提句,噁字般涅槃,知是一切法,行者成正覺,一切智資財,常在於其心,世號一切智,是謂薩婆若

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Kim Cang Thủ rằng: - Lại này, Bí Mật Chủ! Xếp đặt các tự môn, do chư Phật tuyên nói. Phật tử nhất tâm nghe. Chữ Ca dưới yết hầu. Chữ Khư trên ṿm họng. Chữ Nga ở nơi cổ. Chữ Già ở trong họng. Chữ Giá ở trên lưỡi. Chữ Xa ở giữa lưỡi. Chữ Nhă nơi chót lưỡi. Chữ Xă nơi gốc lưỡi. Chữ Trá nơi bắp chân. Chữ Trá tức là đùi. Chữ Noa nói là eo. Chữ Đồ dùng để ngồi (tức chữ Đồ đặt nơi mông). Chữ Đa nơi hậu môn. Chữ Tha biết là bụng. Chữ Na là hai tay. Chữ Đà chính là hông. Chữ Ba dùng làm lưng. Chữ Phả nên là ngực. Chữ Ma: Hai khủy tay. Chữ Bà: Hai bắp tay. Chữ Măng trụ nơi tâm. Chữ Da: Tướng âm tạng. Chữ Ra tức là mắt. Chữ La: Vầng trán rộng. Ải, Y: Hai khóe mắt. Ổ, Ô là hai môi. Ế, Ái là hai tai. Ô, Áo là hai má. Chữ Ám: Câu Bồ Đề. Chữ Á: Bát Niết Bàn. Biết hết thảy pháp đó, hành giả thành Chánh Giác. Của cải Nhất Thiết Trí, thường ở ngay nơi tâm. Đời gọi Nhất Thiết Trí, đó là Tát Bà Nhă).

 

          Ư nghĩa liên quan đến phẩm trước, cũng nhằm nói rơ cổ Phật có cùng một đạo [với Phật hiện tại], bèn dẫn chứng hết thảy chư Phật cùng nói [pháp này]. Chữ Ca (, Ka): Dưới yết hầu. Chữ Khư (, Kha): Trên ṿm họng), chữ Nga (, Ga) nơi cổ. Chữ Già (, Gha) nơi má, tức là khoảng giữa từ phần [xương sọ giáp mí nhau thành] h́nh chữ thập trên đỉnh đầu xuống tới họng. Giá (, Ca) ở nơi lưỡi. Xa (, Cha) là giữa lưỡi. Nhă (, Ja): Đầu lưỡi. Xă (, Jha): Chỗ phát sanh của lưỡi (cuống lưỡi). Trá (, Ṭa): “Hĩnh” () là hai bắp chân (tức phần từ đầu gối cho đến cổ chân). Trá (, Ṭha): Bắp đùi. Noa (, Ḍa): Thắt lưng, tức chỗ ṿng quanh eo. Đồ (, Ḍaha): Chỗ hai mông. Đa (, Ta): Chỗ đại tiện. Tha (, Tha): Bụng. Na (, Da): Hai tay. Đà (, Dha): Hai hông. Ba (, Pa): Trọn khắp lưng. Phả (, Pha): Ngực. Ma (, Ba): Từ hai khủy tay trở lên cho tới dưới vai. Bà (, Bha): Cánh tay (từ khủy tay trở xuống). Măng (, Ma): Tim. Dă (, Ya): Âm tạng (bộ phận sinh dục). Ra (, Ra): Hai mắt. La (, La): Trọn khắp trán. Y (, i), Y (, ī): Tṛng mắt, hoặc khóe mắt. Hai chữ này tương xứng với trước là mắt phải, sau là mắt trái. Phàm hết thảy đối ứng với trái và phải th́ đều là phải trước, trái sau. Ổ (, U), ô (, ū) là hai môi, trước là môi trên, sau là môi dưới. Ế (, e), Ái (, ai): Hai tai, cũng trước phải, sau trái. Ô (, O), Áo (, au): Má phải trước, kế đó là má trái. Ám (अं, aṃ): Câu thành Phật, cũng ở chỗ chữ thập trên đỉnh đầu. Á (अः, aḥ) là nghĩa Niết Bàn, không chỗ nào chẳng trọn khắp, phối ứng mọi chi phần. Nếu có thể làm như thế, tức là Phật, tức là Nhất Thiết Trí, tức là “tư tài” (của cải, [hàm nghĩa] trọn đủ hết thảy các pháp tài), tức là Phật tử. [Do vậy] bảo cho biết!

 

18. Phẩm thứ mười tám: Bồ Tát Giới Phẩm Thọ Phương Tiện Học Xứ (Bồ Tát Giới Phẩm Thọ Phương Tiện Học Xứ Phẩm đệ thập bát, 菩薩戒品受方便學處

品第十八)[16]

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nguyện thuyết chư Bồ Tát Ma Ha Tát đẳng cụ trí huệ phương tiện sở tu học cú, linh quy y giả ư chư Bồ Tát Ma Ha Tát, vô hữu nhị ư, ly nghi hoặc tâm, ư sanh tử lưu chuyển trung, thường bất khả hoại.

          ()爾時執金剛祕密主白佛言世尊說諸菩薩摩訶薩等具智慧方便所修學句令歸依者於諸菩薩摩訶薩無有二意離疑惑心於生死流轉中常不可壞

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Xin hăy nói câu tu học trọn đủ phương tiện trí huệ của các Bồ Tát Ma Ha Tát, khiến cho người quy y đối với các vị Bồ Tát Ma Ha Tát chẳng có hai ư, ĺa tâm ngờ vực, ở trong sanh tử lưu chuyển thường chẳng thể hoại).

 

          Đầu kinh, ngài Kim Cang Thủ đă hỏi Phật về ư nghĩa của giới Bồ Tát. Trước đó, đức Phật đă nói khi [A-xà-lê] nhập Mạn-đồ-la, truyền giới cho đệ tử, hăy nên nói pháp yếu của giới ấy. Trước hết, [đệ tử] đă được thọ giới ấy xong, trụ trong Học Xứ ấy, sau đó mới thích hợp nghe hạnh bí mật của Như Lai. Trước khi chưa tạo Mạn-đồ-la, phải nên nói giới ấy. Trong phần trước, khi đức Phật giảng về chuyện nhập Mạn-đồ-la, liền nói ngay vào phương tiện của Mạn-đồ-la, nên chưa nói tới giới. V́ thế, ngài Kim Cang Thủ nhắc lại chuyện trước để hỏi lần nữa. Do vậy, kinh nói: “Lúc bấy giờ, Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ bạch Phật rằng: - Nguyện đức Thế Tôn nói câu [tu học trọn đủ phương tiện] của hàng Bồ Tát Đại Hữu T́nh…” trọn đủ các ư nghĩa [thị hiện] dấu tích, trụ xứ, tức là Học Xứ. “Câu tu học trọn đủ phương tiện trí huệ” tức là chỗ để các đức quy hướng, tiến nhập. Người đó trọn đủ giới ấy, tức là các thứ như phương tiện v.v… đạt được ngay nơi thân, có ư nghĩa “tới trọn khắp”. Huệ phương tiện v.v… đều tiến nhập thân này; đó là dịch sát nghĩa. “Ly nghi hoặc” (ĺa ngờ vực), tức là [ĺa khỏi] “nhị ư”, [nhị ư] giống như ở nơi ngơ rẽ, chẳng thể tiến tới được. Ĺa ác ư, ngờ lo, khiến cho lưu chuyển trong sanh tử mà bất hoại. Trên đây đều là kinh văn. Do vị Bồ Tát này trụ trong Học Xứ, có thể khiến cho [vị ấy] chẳng xả đại bi, ĺa ác ư. “Ác ư” tức là nghi hoặc. Tức là do dùng giới này, dẫu ở trong sanh tử lưu chuyển mà chẳng thể hoại. “Bất hoại” tức là thường trụ, chẳng thể hại. Ư của lời hỏi là: Làm thế nào để đạt được giới ấy, dẫu ở trong lưu chuyển sanh tử thường chẳng hủy hoại, chẳng thể phá hoại?

         

          (Kinh) Như thị thuyết dĩ, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn dĩ Như Lai nhăn quán nhất thiết pháp giới, cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Đế thính, Kim Cang Thủ! Kim thuyết thiện xảo tu hành đạo. Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát trụ ư thử giả, đương ư Đại Thừa nhi đắc thông đạt. Bí Mật Chủ! Bồ Tát tŕ bất đoạt sanh mạng giới sở bất ưng vi, tŕ bất dữ thủ, cập dục tà hạnh, hư cuống ngữ, thô ác ngữ, lưỡng thiệt ngữ, vô nghĩa ngữ giới, tham dục, sân khuể, tà kiến đẳng, giai bất ưng tác. Bí Mật Chủ! Như thị sở tu học cú, Bồ Tát tùy sở tu học, tắc dữ Chánh Giác Thế Tôn cập chư Bồ Tát đồng hạnh, ưng như thị học!

          ()如是說已,毘盧遮那世尊以如來眼觀一切法界,告執金剛祕密主言:諦聽。金剛手!今說善巧修行道。若菩薩摩訶薩住於此者,當於大乘而得通達。祕密主!菩薩持不奪生命戒所不應為,持不與取及欲邪行、虛誑語、麁惡語、兩舌語、無義語戒,貪欲、瞋恚、邪見等皆不應作。祕密主!如是所修學句,菩薩隨所修學,則與正覺世尊及諸菩薩同行,應如是學。

          (Kinh: Nói như thế xong, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn dùng Như Lai nhăn quán hết thảy các pháp giới, bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Lắng nghe, Kim Cang Thủ! Nay nói đạo tu hành thiện xảo. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát trụ trong đạo này, sẽ được thông đạt Đại Thừa. Này Bí Mật Chủ! Bồ Tát tŕ giới chớ nên đoạt sanh mạng, tŕ giới chẳng cho mà lấy, giới chẳng làm hạnh dục tà, nói lời hư dối, lời thô ác, lời đôi chiều, lời vô nghĩa, tham dục, sân khuể, tà kiến đều chớ nên làm. Bí Mật Chủ! Đối với câu để tu học như thế, Bồ Tát thuận theo tu học th́ chính là có cùng hạnh với đức Chánh Giác Thế Tôncác Bồ Tát. Hăy nên học như thế).

 

           Khi đó, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn ngự trong hết thảy, dùng Phật nhăn quán hết thảy pháp giới, bảo ngài Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: “Lắng nghe!” [Đó là răn truyền] ngài Kim Cang Thủ vậy. Đức Phật dùng Phật nhăn quán pháp giới rồi bảo Kim Cang Bí Mật Chủ “lắng nghe” là v́ đại sĩ đă thỉnh Phật nói hạnh căn bản của hết thảy Bồ Tát, đức Phật sắp giải đáp, trước tiên, Ngài dùng Như Lai nhăn quán trọn khắp đại hội. Đấy chính là quán trọn khắp pháp giới. Nói “các pháp giới” ở đây chính là quán Phật giới, pháp giới, và chúng sanh giới. Quán ba pháp giới ấy, nên nói là “các pháp giới”. Quán pháp giới tức là hết thảy cảnh giới của Như Lai. Chúng sanh giới chính là nhân duyên của hết thảy chúng sanh đáng nên độ, đều là pháp giới. Đă quán trọn khắp xong, biết có kẻ kham nghe giới hạnh sâu xa này; do vậy, trả lời ngài Kim Cang Thủ.

          Kế đó, đức Phật bảo: - Kim Cang Thủ, hăy lắng nghe! Nay ta nói đạo tu hành thiện xảo. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát trụ trong đạo này, tức là đă thông đạt đạo tu hành thiện xảo trong Đại Thừa. Đạo tu hành ấy chính là Bồ Tát Giới. Tam thế chư Phật đều do đạo này mà đạt tới Bồ Đề, nên gọi là “tu hành đạo”. Do trụ trong “đạo tu hành” này của chư Phật, chư Bồ Tát lập tức có thể thông đạt Đại Thừa. V́ sao vậy? Nay giới này chính là giới cội nguồn trong tự tánh của hết thảy chúng sanh. Nếu trụ trong kim cang giới thanh tịnh nơi tánh này, tự nhiên sẽ thông đạt hết thảy các pháp. “Tŕ bất sát sanh giới sở bất ưng vi” (tŕ giới chẳng sát sanh chẳng đáng nên làm) tức là tŕ giới “chẳng sát hại sanh mạng”. Thêm vào chữ “chư sanh mạng” tức là chẳng được đoạn mạng.   Kế đó, đức Phật dạy bảo giới tướng, tức là chẳng sát hại sanh mạng, chớ nên không cho mà lấy, chớ nên hành hạnh tà dục, chớ thốt lời dối gạt, thô ác, nói đôi chiều, nói thêu dệt, và tham, sân, tà kiến thảy; đó chính là Bồ Tát giới. Trong ấy, “chẳng sát sanh” tức là đối với các loài có sanh mạng, thậm chí chẳng sanh một niệm sát tâm. Do chẳng có sát tâm, nên gọi là “giới bất sát”. Những giới khác cứ phỏng theo đây mà nói.

          Khi mới truyền trao giới này, trước đó, A-xà-lê nên truyền trao Tam Quy. Tam Quy ở đây chính là [quy y] Tam Bảo thường trụ bí mật, chẳng phải là Pháp, Tăng biệt trụ giống như trong các kinh chẳng liễu nghĩa khác. [Ư nghĩa Tam Bảo thường trụ bí mật ấy] như trong kinh Niết Bàn, Ương Quật v.v… [đă giảng giải], hăy nên trích dẫn để rộng nói. Lại như kinh văn trong phần trên [đă nói], thầy truyền trao pháp Tam Quy. Đă truyền Tam Quy xong; kế đó, A-xà-lê hăy nên khuyên họ phát tâm, khiến cho họ sanh đại thệ quyết định, thọ mười vô tận tạng rồi mới ba lượt trao truyền. Thọ xong, dạy họ tự thưa bày: “Con tên là… nay nương theo mười phương chư Phật và A-xà-lê đă được thọ giới. Ngày nay, giờ này, con là… đă được gọi là Bồ Tát”. Giới ấy chẳng có thời tiết, thọ cho đến khi hết thọ mạng, cho đến cùng tột đời vị lai, chẳng có ư nghĩa xả ĺa. Nếu đối với giới vừa nói trên đây, khi nhập đạo tràng mà hành phương tiện này trong một tháng, một năm v.v… Xong chuyện bèn thôi [chẳng giữ giới ấy nữa], tức là có thời hạn. Nhưng nói theo nghĩa sâu, cũng là đạt tới “kiến chân” (thấy được lẽ chân, kiến đạo) rồi mới ngưng nghỉ (ngưng giữ giới). Bồ Tát Giới đại lược có hai loại: Một là tại gia, hai là xuất gia. Trong hai chúng ấy, lại có hai loại giới: Một là tự tánh tu hành, hai là chế giới.

          [Thứ nhất], nay mười giới này chính là giới để tu hành của Bồ Tát. Do là thiện tánh, hết thảy các Bồ Tát phải nên hành, tức là “tánh tự năng tŕ giới” (giới mà tánh có thể tự tŕ) như kinh Niết Bàn đă dạy, hoặc gọi là “tự tánh giới”. Sở dĩ nói là “tŕ, v́ [để ngăn ngừa hành nhân] sanh tâm phỉ báng, cần phải thủ hộ ư của họ. Lại cần phải thuận theo ư họ, lại cần phải tŕ. V́ cớ sao vậy? Hết thảy chư thiên và Luân Vương trong thế gian cũng có pháp Thập Thiện, hết thảy ngoại đạo cũng có mười thiện giới, hết thảy Nhị Thừa cũng có giới Thập Thiện. Nếu Bồ Tát chẳng thọ tŕ như thế, bọn họ liền sanh tâm khinh mạn, hủy báng: “Chúng ta đều có thiện pháp như thế. Nay kẻ này tự nói là Đại Sĩ, hành hạnh tôn quư, mầu nhiệm, mà chẳng có giới thanh tịnh, liền biết sở học của hắn chẳng thật!” Do sanh tâm nghi hoặc, bất thiện cho họ, tức là làm chuyện chẳng có nghĩa lợi cho những người trên đây, chẳng phải là bậc thiện tri thức! V́ thế, cần phải giữ giới này.

          Thứ hai, giới do đức Phật chế, chính là tự trọn đủ phương tiện. Như trong pháp Thanh Văn, v́ muốn tu phạm hạnh để dứt hết nguồn khổ, đức Phật lập ra phương tiện này để ngăn ngừa, thủ hộ! Do vậy, được mau thành tựu cái quả. Nay trong Đại Thừa cũng có chế giới, đó gọi là “trọn đủ phương tiện trí thiện xảo”. Do có phương tiện thiện xảo, nay pháp Thập Thiện này trở thành giới bất cộng, chẳng cùng chung với Thanh Văn, ngoại đạo v.v… V́ thế, kinh nói là “thiện xảo tu hành”. Đại Bổn của kinh này gồm mười vạn bài kệ, có các phương tiện truyền giới này v.v… Tuy vậy, [bản kinh ấy] chưa truyền sang cơi này (Trung Hoa); nhưng trong kinh Kim Cang Đảnh có pháp truyền trao, chẳng khác với Đại Bổn của kinh này. Hăy nên t́m xem. Như Thanh Văn có bốn trọng cấm (giết, trộm, dâm, dối), c̣n trong kinh này, các tội ấy là Thâu Lan Giá[17], chẳng phải là trọng cấm. V́ lẽ nào vậy? Thập Thiện Giới này chính là tùy thuận, thủ hộ Nhị Thừa, ngoại đạo, dùng phương tiện thiện xảo để tŕ trọn vẹn. Nhưng Bồ Tát luôn có trọng cấm căn bản, ở đây, các tội “giết, trộm, dâm, dối” chỉ là Thâu Lan Giá, chẳng phải là tội cực trọng của Bồ Tát. Như trong phần giới tam thế vô chướng ngại thuộc phần trước, trước hết dạy chẳng xả Tam Bảo, lại dạy chẳng xả tâm Bồ Đề. Đấy chính là bốn trọng cấm thật sự của hàng Bồ Tát. Nếu Bồ Tát sanh tâm như thế, xả ĺa Phật, bèn gọi là “phá trọng cấm”. V́ sao vậy? Như Lai là chỗ để hết thảy các thiện pháp sanh khởi. Bồ Tát do tự quy y Phật, mới có vạn hạnh thành tựu nơi các Ba La Mật trong hết thảy các địa, giống như do chủng tử th́ mới sanh thành cái quả. Nếu bỏ trí chữ A vốn sẵn tự nhiên, hết thảy các điều thiện sẽ chẳng sanh. Do vậy, bỏ Phật tức là đoạn mạng của hết thảy các vị Bồ Tát, dứt bặt cội rễ thành Phật của họ. Nếu hành “giết, trộm, dâm, dối”, tuy gây trở ngại nơi đạo, nhưng chẳng dứt tuyệt căn bản thành Phật. Do đó, chỉ thành tội Thâu Lan Giá.

          Do Phật chẳng thể xả, Pháp và Tăng cũng thế. Như trong kinh Thanh Văn c̣n nói: “Bỏ một quyển kinh giới, bỏ một người trong bảy loại chúng sanh, tức là đoạn nghĩa ḥa hợp, chẳng thành Cụ Giới”. Huống hồ hết thảy Bồ Tát cùng nương theo một đạo để tới đạo tràng, Phật Phật chẳng sai, chẳng khác! V́ thế, hăy nên biết: “Hễ xả th́ chính là đoạn hết thảy các mạng!” Bồ Đề tâm cũng thế, là cội gốc của hết thảy các hạnh. Nếu ĺa Bồ Đề tâm, sẽ chẳng có hết thảy các pháp Bồ Tát. V́ thế, bỏ [Bồ Đề tâm] cũng là phạm trọng giới! Như kinh Thanh Văn [đă dạy] phạm trọng giới, sẽ chẳng phải là sa-môn, chẳng phải là Thích tử, chẳng dự vào tăng chúng! Nay ở đây, nếu xả Phật, Pháp, Tăng, Bồ Đề tâm, tức là chẳng thuộc đại chúng, giống như hàng Nhị Thừa hủy phạm bốn giới trọng. Nhưng hành giả tự biết phạm giới, phải nên gột rửa cái tâm, rồi thọ lại, sẽ lại có giới, chẳng giống như giới Nhị Thừa: [Hễ phạm bốn giới trọng] sẽ là đá vỡ, hoặc đứt đầu, chẳng c̣n có nghĩa “lại đạt được” nữa!

          Lại nữa, Bồ Tát tự có mười giới trọng, các tội như chẳng giết v.v… trong phần trước chẳng thuộc vào số ấy (mười giới trọng của Bồ Tát), mà là tội Thâu Lan Giá. Những ǵ là mười? Bốn tội như vừa nói trên đây, lại có sáu giới trọng, cùng hợp thành mười. Giới trọng thứ năm chính là chẳng báng hết thảy kinh pháp tam thừa. Nếu hủy báng, sẽ chính là báng Phật, Pháp, Tăng, báng đại Bồ Đề tâm. V́ thế, phạm giới trọng. Do hết thảy các phương tiện trong tạng bí mật đều là phương tiện của Phật; v́ lẽ đó, hủy báng mỗi pháp chính là hủy báng hết thảy các pháp! Cho đến đối với hết thảy các chuyện thuộc về phương diện mưu sinh, sản xuất, nghệ thuật v.v… trong thế gian, nếu tùy thuận chánh lư th́ đều là điều Phật dạy, cũng chẳng được hủy báng, huống hồ các pháp thuộc tam thừa ư?

          Giới thứ sáu là chớ nên sanh tâm keo tiếc đối với hết thảy các pháp. Nếu phạm, chính là hủy báng giới trọng. Do Bồ Tát tu tập hết thảy các pháp, vốn v́ hết thảy chúng sanh. Nếu có giấu diếm, tiếc nuối chút nào, chính là xả Bồ Đề, cho nên phạm giới trọng!

          Giới thứ bảy là không được tà kiến, tức là các tà kiến báng bổ “chẳng có nhân quả, chẳng có Phật, chẳng có người thấy đạo” v.v… Nếu sanh tà kiến, tự nhiên là xả Phật, Pháp, Tăng và Bồ Đề, cho nên phạm giới cấm. Nhưng [giới trọng của] Thanh Văn chỉ là Thâu Lan Giá [nếu xét theo giới của hàng Bồ Tát]. Do vậy biết là [trong giới Thanh Văn], phương tiện không trọn đủ, chỉ nói theo một lối.

          Giới thứ tám là đối với người phát đại tâm, phải đón trước mà khuyên họ phát tâm, khiến cho họ chẳng thoái thất, ngưng dứt. Nếu thấy người giải đăi, thoái thất, mà chẳng khuyên răn, phát khởi, hoặc ngăn trở cái tâm ấy, hoặc khiến cho người ấy ĺa đạo Vô Thượng Bồ Đề, tức là trái nghịch hết thảy chuyện đáng nên làm của hết thảy các đức Như Lai. Do vậy, phạm trọng tội.

          Điều thứ chín là đối với người Tiểu Thừa, chẳng quán căn cơ của họ trước mà cứ nói đại pháp, hoặc đối với người đại căn, chẳng quán căn cơ, cứ nói tiểu pháp hạnh, [làm như vậy] bèn phạm giới trọng. Đấy chính là phương tiện không đầy đủ! Do trái nghịch phương tiện của Như Lai, thuyết pháp sai căn cơ, trở thành kẻ oán của trời, người, cho nên phạm trọng tội.

          Thứ mười là Bồ Tát thường nên hành bố thí, nhưng chẳng được đem vật dụng gây hại cho chúng sanh để thí cho người khác, tức là thí rượu, thí thuốc độc, đao, trượng, hết thảy các vật chẳng lợi ích cho người khác. [Hễ bố thí các thứ gây hại], tức là phạm giới trọng. Do Bồ Tát thường hành hạnh lợi tha, nay trái nghịch, cho nên phạm giới trọng. Hăy nên biết các giới như chẳng giết v.v… là thuận theo ư người khác, lại là giới để người mới nhập pháp vâng giữ. Mười chuyện được nói ở đây chính là giới chánh hạnh của hết thảy các Bồ Tát. Nếu Bồ Tát thật sự thuận theo mười giới sau (tức mười giới của Bồ Tát), dẫu hành mười chuyện trước kia, vẫn chẳng là phạm giới!

          Kế đó, đức Phật nói: “Bí Mật Chủ! Câu tu học như thế, nếu Bồ Tát thuận theo đó để tu học, sẽ có cùng hạnh với chư Phật, Bồ Tát. Hăy nên học như thế”. Thanh Văn do gần với Phật giới, nên gọi là “cận đồng” (gần giống), nay [Bồ Tát giới] này bằng với chư Phật. Bồ Tát tu học thuận theo “câu tu học”, chư Phật Thế Tôn và Bồ Tát đồng sự, hăy nên học theo. Thân ba điều, miệng bốn điều, ư ba điều, chính là “câu tu học” của hết thảy các Bồ Tát, là Học Xứ của hết thảy Bồ Tát. Đây chính là hết thảy các Bồ Tát tùy thuận chúng sanh giới, “tùy thuận” tức là đồng sự. Lại nữa, hết thảy Phật, Bồ Tát đều hành như thế, do pháp của hết thảy các Bồ Tát vốn sẵn nên hành như thế, nay ta cũng hành như thế, tức là có cùng sự nghiệp với hết thảy Phật, Bồ Tát. Do hành xử tự nhiên ứng hợp với bản tánh giới, nên kinh Niết Bàn bảo “tự tánh có thể tŕ giới”.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Bạc Già Phạm ư Thanh Văn thừa diệc thuyết như thị thập thiện nghiệp đạo, thế gian nhân dân, cập chư ngoại đạo diệc ư thập thiện nghiệp đạo, thường nguyện tu hành. Thế Tôn! Bỉ hữu hà sai biệt? Vân hà chủng chủng thù dị?

          ()爾時執金剛祕密主白佛言世尊薄伽梵於聲聞乘亦說如是十善業世間人民及諸外道亦於十善業道常願修行世尊彼有何差別云何種種殊異

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật rằng: - Bạch đức Thế Tôn! Trong Thanh Văn Thừa, đức Bạc Già Phạm cũng nói mười thiện nghiệp đạo như thế, nhân dân và các ngoại đạo trong thế gian cũng thường nguyện tu hành mười thiện nghiệp đạo. Bạch Thế Tôn! Giới ấy có sai biệt ǵ? Các thứ khác biệt là như thế nào?)

 

          Kế đó là ư hỏi của ngài Kim Cang Thủ. Lúc bấy giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch cùng đức Phật rằng: “Trong Thanh Văn Thừa, đức Thế Tôn cũng nói mười thiện nghiệp đạo này. Bạch Thế Tôn! Nhân dân và các ngoại đạo trong thế gian cũng thường nguyện tu học mười thiện nghiệp đạo này”. “Thường nguyện” tức là tâm phải thường tŕ. Đó là danh xưng khác của thọ giới. “Chuyển cụ”: “Cụ” tức là trọn đủ giới này, “chuyển” nghĩa là đều. [Chuyển cụ] tức là “đều hành trọn đủ”. Thưa Thế Tôn! Giới ở đây có ǵ sai khác? Có các thứ khác biệt như thế nào? Thanh Văn và Duyên Giác cũng có giới Thập Thiện, cũng nói v́ dứt sự chê bai trong thế gian và do tánh thiện mà tŕ. Hết thảy các ngoại đạo và chư thiên trong thế gian cũng có giới Thập Thiện. Nay đức Phật lại nói Bồ Tát Giới, nhưng chỉ là Thập Thiện, như vậy th́ có khác ǵ đâu?

 

          (Kinh) Như thị thuyết dĩ, Phật cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Thiện tai, thiện tai! Bí Mật Chủ! Nhữ phục thiện tai, năng vấn Như Lai như thị nghĩa. Bí Mật Chủ! Ưng đương đế thính, ngô kim diễn thuyết sai biệt đạo nhất đạo pháp môn. Bí Mật Chủ! Nhược Thanh Văn Thừa Học Xứ, ngă thuyết ly huệ phương tiện, giáo linh thành tựu, khai phát biên trí, phi đẳng hành Thập Thiện Nghiệp Đạo. Bỉ chư thế gian phục ly chấp trước ngă cố, tha nhân sở chuyển. Bồ Tát tu hành Đại Thừa, nhập nhất thiết pháp b́nh đẳng, nhiếp thọ trí huệ phương tiện, tự tha câu cố, chư sở tác chuyển. Thị cố, Bí Mật Chủ! Bồ Tát ư thử nhiếp trí phương tiện, nhập nhất thiết pháp b́nh đẳng, đương cần tu học.

          ()如是佛告執金剛祕密主言善哉善哉祕密主汝復善哉能問如來如是義祕密主應當諦聽吾今演差別道一道法門祕密主若聲聞乘學處離慧方便教令成就開發邊智非等行十善業道彼諸世間復離執著我故他因所轉菩薩修行大乘入一切法平等攝受智慧方便自他俱故諸所作轉是故祕密主菩薩於此攝智方便入一切法平等當勤修學

    (Kinh: Nói như thế xong, đức Phật bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Lành thay, lành thay! Bí Mật Chủ! Ông lại có thể lành thay, có thể hỏi Như Lai nghĩa như thế đó. Bí Mật Chủ! Hăy nên lắng nghe, ta nay diễn thuyết pháp môn sai biệt đạo, nhất đạo. Bí Mật Chủ! Như trong Học Xứ của Thanh Văn Thừa, ta nói phương tiện ly huệ, dạy họ thành tựu, khai phát biên trí (trí chấp vào một bên), chẳng phải là b́nh đẳng hành Thập Thiện Nghiệp Đạo. Các thế gian kia dẫu ĺa chấp ngă, lại bị các nhân khác xoay chuyển. Bồ Tát tu hành Đại Thừa, nhập hết thảy các pháp b́nh đẳng, nhiếp thọ phương tiện trí huệ, thực hiện các sự đều nhằm chuyển biến cho ḿnh lẫn người. V́ thế, Bí Mật Chủ! Bồ Tát do phương tiện nhiếp trí này, nhập hết thảy các pháp b́nh đẳng, hăy nên siêng tu học).

 

          V́ thế, tiếp đó đức Phật lại v́ ngài Kim Cang Thủ mà phân biệt, Ngài tán thán: - Lành thay, lành thay Bí Mật Chủ! Ông lại có thể tốt lành hỏi Như Lai nghĩa như thế. Hăy nên lắng nghe, nay ta sẽ v́ ông phân biệt. Phân biệt th́ có vô lượng điều, nay kết hợp thành một, bèn nói pháp môn này. Do ông có thể hỏi Như Lai nghĩa như thế, ta sẽ theo thứ tự của từng chuyện mà giải đáp. Hăy nên lắng nghe “phân biệt đạo, nhất đạo thuyết pháp môn” tức là hết thảy các pháp chẳng ra ngoài môn chữ A; đó chính là “nhất đạo”. “Đạo” có nghĩa là dựa trên pháp này th́ sẽ có thể đạt tới. “Nhất đạo” chính là đạo khiến cho hết thảy mọi người vô ngại, cùng thoát khỏi sanh tử, tiến thẳng tới đạo tràng. Nói là “nhất” tức là đạo Như Như, là pháp giới độc nhất, cho nên nói là Nhất. Trong một đạo ấy, phân biệt đủ thứ sai khác. Ví như vô lượng ngơ rẽ đều dẫn tới chỗ có của báu, tuy khác lối mà cùng về một chỗ!

          Lại như dùng một môn chữ A để phân biệt hết thảy các chữ, hăy nên biết: Tuy sai biệt mà chẳng khác môn chữ A. Nay Thập Thiện cũng thế, thuận theo trí quán thượng, trung, hạ mà tự thành đủ loại, chẳng phải là giới nguồn cội của hết thảy chúng sanh có sai biệt! Nhưng đức Phật v́ phá nỗi nghi của đại chúng, trả lời câu hỏi của ngài Kim Cang Thủ, cũng là từ trong một đạo mà phân biệt, giải đáp tướng sai biệt. Ư phân biệt ấy là như thế nào? Đức Phật nói đồng nhất: Như ta đă nói phương tiện ly huệ trong Học Xứ của Thanh Văn, dạy họ thành tựu, khai phát Biên Trí[18], nhưng chẳng phải là b́nh đẳng hành Thập Thiện Nghiệp Đạo, chứ chẳng có ǵ khác! V́ thế, kế đó Ngài nói: Nếu là Học Xứ của Thanh Văn Thừa, ta nói ra phương tiện ấy, nhằm dạy họ thành tựu, khai phát Biên Trí, chẳng phải là hạnh Thập Thiện Nghiệp Đạo b́nh đẳng. Đó là giải đáp chỗ khác biệt [giữa Tiểu Thừa] và Đại Thừa. Thập Thiện của Thanh Văn chỉ nhằm dạy bảo khiến cho [hành nhân] thành tựu, giống như các mạng lệnh ước định, sắc truyền của quốc vương: Từ nay trở đi, nếu kẻ nào làm các chuyện như thế đó, sẽ có tội giống như thế. Bọn họ do sợ tội, sẽ vâng theo, chẳng dám đối nghịch, chẳng dám trái vượt. Thanh Văn cũng thế. Do giáo mạng Ba La Đề Mộc Xoa oai đức được chế định bởi đức Phật, do được đấng pháp vương đáng tôn trọng chế định, [các đệ tử và tín chúng] chẳng dám hủy phạm. Đó chẳng phải là phương tiện trọn đủ “tự tánh có thể tŕ”. Lại chỉ là tự tŕ, chẳng phải là tùy thuận trọn khắp hết thảy chúng sanh. Do vậy, chỉ là trí một bên, chẳng phải giới thuộc Trung Đạo Thật Tướng. Đó là sự sai biệt.

          [Chánh kinh nói] các ngoại đạo chấp ngă, chẳng chấp vào cái nhân nào khác. Lại nữa, thế gian do ĺa chấp trước vào Ngă, nên bị xoay chuyển. Tức là kế đó, đức Phật nói về sự khác biệt so với ngoại đạo. Bọn họ chấp trước Ngă hoặc Thần sanh ra hết thảy. [ Họ cho rằng] nay thân này của ta chẳng phải là ta, mà là do Đại Ngă sanh ra. Nếu sanh bởi Ngă th́ thiện ác nhân quả đều do đó mà ra, [vậy th́] thân tâm này tự vô ngă, cái quả của tŕ giới sẽ v́ ai mà chuyển tu? Ai tiếp nhận quả báo ấy? Hăy nên biết [v́ chấp trước như vậy], nghĩa nhân quả chẳng thành. Giống như hoa, quả không có chủng tử, và đứa con của thạch nữ[19], có thể dùng hoa đốm trên hư không làm tràng hoa, chẳng hề có lẽ ấy! Đối với thí dụ về thạch nữ, hăy kiểm trong Phật Tánh Luận[20] có trọn đủ ư nghĩa. Lại có kẻ do chấp Đoạn hay Thường mà hành pháp Thập Thiện. Nếu là thường th́ chẳng có quả báo, nay tŕ Thập Thiện, nương vào ǵ mà trụ? Nếu là đoạn th́ cũng chẳng có quả báo, cũng là nương vào ǵ vậy? V́ thế, tuy cùng là một danh xưng Thập Thiện, nhưng [Thập Thiện của thế gian và ngoại đạo] như trùng đục gỗ ngẫu nhiên thành chữ, chẳng thể so sánh được!

          Kế đó, nói đến tướng sai biệt của Thập Thiện trong Đại Thừa. Nếu là Bồ Tát giới, sẽ dùng trí phương tiện để nhiếp hết thảy các pháp b́nh đẳng mà nhập, hăy nên siêng tu tập; tức là nói giới này nhập hết thảy các pháp b́nh đẳng, ĺa khỏi tự và tha, nhưng trọn khắp tự và tha. Tự mở mang hết thảy tri kiến của Như Lai cũng thế, hết thảy đều bằng với ta, và do nhập hết thảy các pháp b́nh đẳng mà tu giới này, bất cộng với hết thảy.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phục dĩ đại từ bi nhăn quán chư chúng sanh giới, cáo Kim Cang Thủ Bồ Tát ngôn: - Bí Mật Chủ! Bỉ chư Bồ Tát tận h́nh thọ tŕ bất đoạt sanh mạng giới, ưng xả đao, trượng, ly sát hại ư, hộ tha thọ mạng do như kỷ thân. Hữu dư phương tiện, ư chư chúng sanh loại trung, tùy kỳ sự nghiệp, vị giải thoát bỉ ác nghiệp báo cố, hữu sở thi tác, phi oán hại tâm.

          ()爾時世尊復以大慈悲眼觀諸眾生界告金剛手菩薩言祕密主彼諸菩薩盡形壽持不奪生命戒應捨刀杖離殺害意護他壽命猶如己身有餘方便於諸眾生類中隨其事業為解脫彼惡業報有所施作非怨害心

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại dùng mắt đại từ bi quán các chúng sanh giới, bảo Kim Cang Thủ Bồ Tát rằng: - Bí Mật Chủ! Các Bồ Tát ấy cho đến hết tuổi thọ, tŕ giới chẳng đoạt sanh mạng, hăy nên bỏ đao, gậy, ĺa ư giết hại, thủ hộ mạng của kẻ khác giống hệt như thân ḿnh. Đối với các loài chúng sanh, tùy theo sự nghiệp, v́ để giải thoát các ác nghiệp báo cho họ, hễ có thực hiện điều ǵ, đều chẳng có tâm oán hại).

 

          Kế đó, đức Phật lại muốn rộng nói giới tướng Thập Thiện của Bồ Tát, khiến cho Chân Ngôn hạnh Bồ Tát chẳng nghi hoặc. Do vậy, dùng mắt đại từ đại bi để quán sát chúng sanh giới rồi bảo ban Kim Cang Thủ. Do mắt trong tiếng Phạn có hai âm (tức Netra), nay đều giữ đầy đủ. Do mắt từ và mắt bi, mà nhắc lại cả hai tên. Trước hết, nói về tướng bất sát, tức [hành nhân] cho đến hết tuổi thọ, thậm chí bỏ hết thảy dao, gậy. Cách giết, duyên giết, cái nhân gây nên giết, nghiệp giết v.v… Phàm những ǵ tương ứng với sát hại tánh mạng đều xa ĺa. Quán cái tâm oán hận bên trong hết thảy chúng sanh, đều giống như chính ḿnh, thậm chí đối với loài hữu h́nh, đều vĩnh viễn chẳng có ư gây hại, chứ không phải chỉ chẳng giết mới thành tŕ giới. Tức là nói do phương tiện huệ, quán người ấy ắt tạo các duyên Ngũ Vô Gián, báng pháp v.v… sẽ tăng thêm trọng chướng, chẳng do đâu mà được thoát ĺa. [Bồ Tát] dùng tâm đại bi để suy tính, nếu hại người ấy mà có thể tạo lợi ích cho nhiều người, hoặc khiến cho kẻ đó có nhân duyên thoát ĺa, [sẽ quyết định] thà chính ḿnh vào ác đạo, nhằm thủ hộ người ấy mà dùng đại bi tâm để gia hại [người ấy]. Đấy chính là phương tiện bất cộng với Nhị Thừa.

 

          (Kinh) Phục thứ, Bí Mật Chủ! Bồ Tát tŕ bất dữ thủ giới, nhược tha sở nhiếp chư thọ dụng vật, bất khởi xúc thủ chi tâm, huống phục dư vật bất dữ nhi thủ. Hữu dư phương tiện, kiến chư chúng sanh xan lận tích tụ, bất tu thí phước, tùy kỳ tượng loại, hại bỉ xan cố, ly ư tự tha, vị bỉ hành thí, nhân tán thời thí, hoạch diệu sắc đẳng. Bí Mật Chủ! Nhược Bồ Tát phát khởi tham tâm nhi xúc thủ chi, thị Bồ Tát thoái Bồ Đề phần, việt vô vi Tỳ Nại Da pháp.

          ()次祕密主菩薩持不與取戒若他所攝諸受用物不起觸取之心況復餘物不與而取有餘方便見諸眾生慳悋積聚不修施福隨其像類害彼慳故離於自他為彼行施因讚時施獲妙色等祕密主若菩薩發起貪心而觸取之是菩薩退菩提分越無為毘奈耶法 

    (Kinh: Lại này, Bí Mật Chủ! Bồ Tát giữ giới “chẳng cho mà lấy”, đối với các vật thọ dụng thuộc về người khác, chẳng dấy tâm chạm vào hay lấy, huống hồ đối với các vật khác, chẳng cho mà lấy ư? Lại có phương tiện khác, [tức là] thấy các chúng sanh keo kiệt, cứ tom góp, chẳng tu phước bố thí, bèn tùy theo từng loại, do phá keo tham, mà ĺa khỏi [chấp trước] ta và người, v́ người đó mà hành bố thí, do đó, tán thán bố thí đúng thời sẽ đạt được sắc tướng mầu nhiệm v.v… Bí Mật Chủ! Nếu Bồ Tát phát khởi cái tâm đụng chạm, hoặc lấy [vật của người khác], Bồ Tát ấy thoái thất Bồ Đề phần, trái vượt pháp Tỳ Nại Da vô vi).

 

          Kế đó, đối với trộm cắp cũng thế. Đối với hết thảy các thứ, dẫu một lá cỏ cũng chẳng lấy, đó cũng là nhân duyên để phá trừ túng thiếu. Quán kẻ tích tụ chẳng chán, do vậy tự tổn, tạo thành nghiệp ngăn chướng to lớn, thậm chí do phương tiện mà lấy [vật của người khác] để tu đủ loại công đức. Sau đấy, bảo họ tùy hỷ. Các thứ phương tiện như thế do chỉ tùy thuận hạnh hành mười giới sâu xa, dùng đại Bồ Đề tâm để dẫn dắt, [do vậy] hết thảy chẳng phạm. Đấy là tướng tŕ phạm. Phần trên đă lược nói sát giới; kế đó, nhắc lại để nói cặn kẽ: “Bí Mật Chủ! Bồ Tát cho tới hết thọ mạng, giữ giới chẳng giết, hăy nên bỏ đao, gậy, ư sát hại, thủ hộ mạng của người khác như mạng của chính ḿnh”. Ngoài ra, nói đến “dị phương tiện” tức là các phương tiện khác. Tùy theo các loại chúng sanh, tùy theo sự nghiệp mà khích lệ họ. V́ thế nói “tùy bỉ nghiệp nhi tác chi” (thuận theo nghiệp của họ mà làm). Ân cần tu tập, khiến cho họ tránh khỏi báo ứng, ĺa ư oán hại. “H́nh loại” nghĩa là “nhiều thứ”, như những kẻ tạo chuyện cực ác, tạo nghiệp cực nặng, v́ muốn khiến cho họ tránh khỏi [gây tạo những nghiệp đó], giả sử dùng đao, trượng v.v.. [để ngăn chặn họ, Bồ Tát vẫn] chẳng phạm lỗi! Giới Thanh Văn cũng dùng chuyện chấp nhận tội nhỏ để trừ tội lớn, dùng nhẹ đổi nặng. V́ vậy, nay [Bồ Tát giới] cũng thế, như cứu người nữ [bị ch́m] trong nước[21] v.v… mà suy ra. Bồ Tát giới chuẩn theo đó mà biết. Trọn hết tuổi thọ, giữ giới “không giết hại mạng sống”. Hăy nên bỏ đao, trượng, sát hại. Thủ hộ sanh mạng của người khác giống như [thủ hộ sanh mạng] của chính ḿnh. Hăy nên ĺa ư oán ác, đấy là giới tướng bậc nhất.

          “Tận h́nh” nghĩa là chẳng phải [tŕ giới] trong một giai đoạn mà thôi! Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến khi thành Bồ Đề, đối với hết thảy các loài có mạng sống, đều chẳng sanh một tâm niệm sát hại, huống hồ khởi thân, miệng [để thực hiện hành vi sát hại] ư? Đối với tất cả các vật dụng để tùy duyên sát hại, như trong giới sát đă nói cặn kẽ các tướng, cũng chẳng cất chứa, dẫu chỉ trong một niệm, huống hồ thực hiện phương tiện giết chóc ư? Tâm năo hại đại lược có chín loại, tức là ghen ghét thân ta, và ghét bạn lành của ta, thích kẻ oán của ta, [ba điều ấy ghép tương ứng với] quá khứ, vị lai, hiện tại, tạo thành chín điều. Lại có một loại, [tức là] đối với thứ chẳng phải là hữu t́nh mà sanh sân. Như trong thời Phật Ca Diếp, có một tỳ-kheo đi kinh hành, vấp phải gốc cây cụt mà ngă, hết sức giận dữ, vác cuốc đào nó lên, bị cạnh sắc gây bị thương đến nỗi chết mất, liền trong khoảnh khắc, thọ thân làm rắn độc. Khi đó, các đệ tử, đồng học vừa mới thiêu thân ông ta. Thân sau [của ông ta] là rắn độc, gặp Phật ở chỗ thiêu xác, do sanh tâm ác, toan hại Phật. Lúc đó, đức Phật răn nhắc ông ta: “Ông trong đời trước do phẫn hận đối với thứ chẳng phải hữu t́nh mà đến nỗi tự thọ báo này. Nay lại quá đáng hơn nữa, sẽ lại thọ thân ác”. Chẳng lâu sau, có các trẻ nhỏ, do thấy rắn hại người, liền cùng nhau giết chết, đem đốt xác. Ông ta lại do thấy bị hại mà phẫn nộ, và do nhân duyên muốn làm hại, liền vào trong đại địa ngục. Tức là trong lúc thân cũ chưa thiêu xong, hai thân thọ báo sau đó đồng thời bị thiêu đốt. Hăy nên biết đấy chính là do đối với chẳng phải hữu t́nh mà sanh sân, phải thọ lấy quả báo ấy.

          Lại như trong Luật có chép chuyện một vị tỳ-kheo đi kinh hành, bị gai cây Y Lan đâm vào trán chảy máu, tức giận nói: “V́ sao đức Phật chế giới này, có nghĩa lợi ǵ đâu?” Do nẩy sanh dị kiến, duyên ấy, sanh làm thân măng xà hết sức khổ sở. Năm trăm thương nhân v́ thủ hộ ông ra, dùng ḷng đại từ bi hại rắn, khiến cho rắn thoát tội, sanh lên trời, các thương nhân thảy đều chẳng mắc tội. Sự phán định như thế như trong đại luật của Hữu Bộ (Nhất Thiết Hữu Bộ) đă nói. Đối với thứ chẳng phải hữu t́nh c̣n như thế, huống hồ là hữu t́nh ư? Bồ Tát do quán chuyện này, tự chẳng sanh tâm, mà cũng khuyên người khác ĺa bỏ. Những điều khác như trong phần trước đă nói. Cái duyên ngọn thương vàng[22] như đă nói rộng. Lại như nhân duyên sư tử do cứu người lái buôn mà hại rắn được nói trong các kinh Bảo Tạng, kinh Đại Phương Tiện v.v…

          Lại nữa, Bồ Tát tŕ giới “chẳng cho mà lấy”, đối với vật thuộc về người khác c̣n chẳng dấy tâm muốn lấy, huống hồ đối với vật khác chẳng cho mà lấy ư? Nhưng có các hữu t́nh khác keo kiệt, chẳng bố thí, chẳng làm phước, [tức là] chúng sanh bị keo tham làm hại, đă xa ĺa bố thí. [Đối với các hữu t́nh như thế], bèn có các phương tiện khác (tuy chẳng nói phương tiện, nhưng có ư nghĩa ấy), do thấy các hữu t́nh tột bậc keo kiệt, cứ tích tụ mà chẳng bố thí, chẳng tạo phước, bèn tùy theo loại chúng sanh, nhằm phá trừ ḷng keo tham của họ, tâm ĺa khỏi quan niệm chấp trước ḿnh lẫn người, v́ họ mà hành bố thí, [khi bố thí lại tán thán do công đức của sự bố thí mà] đạt được diệu sắc v.v.. (tức là khuyên lơn, [dùng công đức của sự bố thí] để phát khởi người ấy hăy bố thí).

          Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ

Phần 11 hết

 

 

 

 

 

 

 



[1] Do ngài Chấp Kim Cang lưu xuất từ Phật, nên thân ngài Chấp Kim Cang cũng là thân Phật.

[2] Tức những điều không nên làm, những điều có thể làm trong khi hành pháp.

[3] Khi thọ giới Cụ Túc, vị thầy Giáo Thọ sẽ gạn hỏi nhằm chắc chắn giới tử có đủ tư cách để thọ giới. Tiêu chuẩn để loại trừ người không đủ tư cách thọ giới gồm mười ba điều nạn và mười điều giá (ngăn trở), gọi chung là Giá Nạn. Mười điều giá là tên gọi của người thọ giới (tức người thọ giới phải có tên gọi đầy đủ, biết rơ gốc tích, quê quán, là tên gọi thật sự, không phải là bí danh, hay tên tự đặt), danh xưng của ḥa thượng thế độ, đă đủ hai mươi tuổi hay chưa, y bát có đầy đủ hay không, cha mẹ có cho phép xuất gia hay không, có thiếu nợ hay không, có phải là nô tỳ hay không, có phải là người đang làm quan hay không, có phải là trượng phu (người thân căn hoàn bị, không phải là lưỡng tính, hay thiếu nam căn v.v…), có mắc mười thứ bệnh hay không? Nếu người thọ giới không trả lời được mười câu hỏi ấy, hay phạm vào một trong các điều ấy, sẽ bị loại

Mười ba nạn như sau:

1) Biên tội nạn: Trước kia đă thọ giới Cụ Túc, sau đó, do phạm bốn giới trọng phải xả giới, sau đó lại đến cầu thọ giới.

2) Phạm tỳ-kheo-ni: Tức là khi c̣n làm cư sĩ tại gia đă xâm phạm tỳ-kheo-ni tịnh giới.

3) Tặc tâm nhập đạo: V́ lợi dưỡng nuôi thân, hoặc v́ trộm pháp mà xuất gia.

4) Phá nội ngoại đạo: Vốn là ngoại đạo, vào trong Phật pháp, thọ giới xong lại khôi phục thành ngoại đạo, lại xả ngoại đạo nhập nội đạo.

5) Hoàng môn: Tức năm loại người chẳng phải là đàn ông thật sự.

6) Giết cha.

7) Giết mẹ.

8) Giết A La Hán.

9) Phá tăng, phá pháp luân thân.

10) Làm thân Phật chảy máu.

11) Là phi nhân, tức là tám bộ quỷ thần biến hiện thành h́nh người.

12) Súc sanh nạn: Tức là súc sanh biến thành h́nh người.

13) Nhị h́nh nạn, tức người có đủ cả nam căn và nữ căn.

 

[4] Tặc trụ (Steya-sajvāsika), có ư nghĩa là kẻ mang tâm trộm cướp mà trụ trong Tăng đoàn. Từ ngữ này hàm ư quở trách kẻ v́ mưu cầu lợi dưỡng, ăn bám, hoặc mưu toan trộm cắp các giáo nghĩa trong Phật pháp để xây dựng dị thuyết cho ḿnh mà xuất gia. Đôi khi từ ngữ này c̣n chỉ kẻ chưa đủ tuổi quy định là hai mươi tuổi đă khai man để thọ giới Cụ Túc.

[5] Thông thường, anh lạc là các thứ báu, thường là ngọc (có thể gồm nhiều h́nh dạng khác nhau), được xâu lại thành chuỗi, kết thành chùm để treo rủ xuống nhằm trang hoàng. Ư ngài Nhất Hạnh nới ở đây, “anh lạc” phải hiểu là các thứ báu có h́nh bán nguyệt ngửa lên, được kết thành chuỗi, treo rủ xuống.

[6] Chữ “kỳ lạ” trong tiếng Phạn là Aparichitah.

[7] Ở đây, lời sớ trích dẫn chánh kinh hơi khác với bản chánh kinh được tồn lưu hiện thời. Măn Nô là Thắng Ngă tức là Ngă, nhưng trong chánh kinh, Măn Nô được dịch thành Nhu Đồng (đứa trẻ) v́ Măn Nô (Mānava) bị chép lầm thành Mānavaka (Nhu Đồng) như trong phần trước, ngài Nhất Hạnh đă biện định. Cũng như chữ “tác giả” (kẻ tạo tác) trong chánh kinh được lời Sớ ghi là “tạo lập giả”.

[8] Tức là như trong phần sau nói: Trong tháng thứ tư, không ăn ǵ, chỉ uống gió (tức là hít gió, không ăn vật ǵ khác), trụ trong phong luân, quán chữ Ha v.v…

[9] “Thời tiết” ở đây có nghĩa là thời hạn, thời điểm.

[10] Tức kinh Văn Thù Sở Thuyết Bát Nhă Ba La Mật (do ngài Tăng Già Bà La xứ Phù Nam dịch sang tiếng Hán), có một đoạn như sau: “Thế Tôn! Như sơ học xạ, tiên tác thử ư, ngă đương xạ bằng. Xạ bằng thành dĩ, hậu tác thị niệm: ‘Ngă đương xạ b́’. Xạ b́ thành dĩ, phục tác thị niệm: “Ngă đương xạ mộc’. Xạ mộc thành dĩ, phục tác thị niệm: ‘Ngă đương xạ thiết’. Xạ thiết thành dĩ, vô phục tiền niệm, tùy kỳ tiễn trúng, giai năng triệt quá. Ngă diệc như thị, tích sơ phát ư, cầu nhập bất khả tư nghị định. Ngă ư kim nhật, vô phục thử ư, đương nhập bất khả tư nghị định, hà dĩ cố? Thử định bất khả tư nghị cố” (Bạch Thế Tôn! Như lúc mới học bắn, trước hết, nghĩ như thế này: “Ta sẽ bắn vào bia”. Bắn bia thành công rồi, sau đó, nghĩ thế này: “Ta sẽ bắn vào da”. Bắn vào da thành công rồi, lại nghĩ thế này: “Ta sẽ bắn vào gỗ”. Bắn vào gỗ thành công rồi, lại nghĩ thế này: “Ta sẽ bắn vào sắt”. Bắn vào sắt thành công rồi, chẳng c̣n có ư niệm như trước, hễ bắn tên vào đâu cũng đều có thể xuyên qua. Con cũng như thế, xưa kia lúc mới phát ư, cầu nhập định chẳng thể nghĩ bàn. Nay con chẳng c̣n có ư niệm sẽ nhập định chẳng thể nghĩ bàn ấy nữa, v́ sao vậy? Do môn định ấy chẳng thể nghĩ bàn).

[11] Vibhu bao hàm các ư nghĩa “cường đại, kiệt xuất, chí cao vô thượng, đầy năng lực, kiên định, tự chế, vĩnh hằng, không đâu chẳng tồn tại, phổ biến trong vạn hữu”.

[12] Do trong tiếng Phạn, các nguyên âm đều có chứa thành tố cơ bản là chữ A, nên chữ A được coi là đầu của các chữ. Hơn nữa, bất cứ phụ âm nào gọi tên đều kèm theo âm A (chẳng hạn Ka, Ga, Gha v.v… tương ứng với các phụ âm K, G, Gh v.v... Do vậy, chữ A được coi là “đầu” của các chữ.

[13] Tứ Thần Túc (Catvāra-ṛddhipāda) tức là Tứ Như Ư Túc, bao gồm Dục Như Ư Túc, Cần Thần Túc (Tinh Tấn Như Ư Túc), Tâm Thần Túc (Nhất Tâm Như Ư Túc), và Quán Thần Túc (Quán Như Ư Túc).

[14] Ca La Thời (Kāla) tức là thời phần thông thường, tức thời gian phân chia theo quan niệm thế gian. Gọi là Ca La Thời để phân biệt với Tam Muội Da Thời (sanh diệt theo từng sát-na, c̣n gọi là Giả Thời, hàm ư thời gian chỉ là khái niệm do vọng tưởng so đo kiến lập, chẳng phải là thật pháp).

[15] Một trăm lẻ tám danh hiệu của Như Lai xuất phát từ bài Phật Nhất Bách Bát Danh Tán (Buddha Ashtottara Shatanmavali). Bài tán này đă được ngài Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng Triêu Tán Đại Phu Thí Hồng Lô Tự Khanh Truyền Giáo đại sư Pháp Hộ dịch sang tiếng Hán dưới đời Tống, nhưng không ghi rơ ai là tác giả của bài tán này. Bài tán này nêu ra các danh hiệu Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu, Chánh Đẳng Giác, Nhất Thiết Trí, Đại Thích Tử, Nhất Thiết Pháp Tự Tại Vô Úy, Đại Kim Tiên, Công Đức Hải, Như Lai, Ứng Cúng, Ly Nhất Thiết Cấu Nhiễm, Vô Thượng Pháp Đăng, Vô Úy Tịnh Phạn Vương Tử, Cam Giá Vương Chủng, Cù Đàm, Nhật Tộc, Cát Tường Đại Mâu Ni, Thập Lực Hàng Ma Quân v.v…

[16] Chánh kinh chỉ ghi tên phẩm này là phẩm Thọ Phương Tiện Học Xứ.

[17] Thâu Lan Giá (Sthūlātyayas) có nghĩa là Đại Chướng Thiện Đạo, Đại Tội, Thô Ác Tội v.v… Tức các tội chẳng thuộc vào năm loại kia (Ba La Di, Tăng Tàn, Bất Định, Xả Đọa, Đơn Đọa). Do các điều này thuộc về giới luật của Tăng Sĩ, nên không ghi chi tiết!

[18] Trí giải thoát hăy c̣n có chấp trước một bên, chẳng hạn như bậc Thanh Văn biết các pháp khổ, không, vô thường, vô ngă, bèn chấp vào đó, chứng Thiên Chân Niết Bàn, chưa giải ngộ Chân Không Diệu Hữu, thường, lạc, ngă, tịnh, nên gọi là Biên Trí.

[19] Thạch nữ: Người đàn bà không có khả năng sanh nở.

[20] Phật Tánh Luận là một bộ luận do Thiên Thân Bồ Tát soạn, được ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán dưới đời Trần. Luận này nhằm giải thích cặn kẽ từ phẩm năm đến phẩm bảy của Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận, xiển minh ư chỉ “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh”, cũng như luận định tỉ mỉ thể tướng của Phật tánh, phân định Phật tánh gồm ba loại, tức:

- Trụ tự tánh tánh, tức là Phật tánh sẵn có của hết thảy phàm phu.

- Dẫn xuất tánh, tức Phật tánh được hiển hiện bởi sự tu hành.

- Chí đắc tánh, tức Phật tánh trọn đủ khi đă đắc Phật quả.

[21] Đây là nêu một thí dụ, như cứu người chết đuối, tuy tỳ-kheo không được va chạm, tiếp xúc thân người nữ, nhưng v́ để cứu lên, có thể ôm, ẵm người ấy đem ra khỏi nước.

[22] Đây là câu chuyện về nghiệp báo tiền thân của đức Phật. Khi đức Phật đi vào rừng giáng hương, có một cái gai nhọn (có bản chép là mũi thương bằng gỗ hay vàng) đuổi theo toan đâm đức Phật, cho đến khi đức Phật duỗi chân cho mũi thương (mũi gai) ấy đâm vào thân Phật chảy máu, nó mới biến mất. Nhân đó, đức Phật kể chuyện tiền kiếp: Trong vô số A-tăng-kỳ kiếp trước, có hai thương chủ (người cầm đầu các lái buôn), mỗi người dẫn theo năm trăm thương nhân vào biển t́m của báu. Sau khi đến được ḥn đảo chứa nhiều của báu, thu nhặt của báu xong, một thương chủ muốn quay về, thương chủ kia không chịu. Khi đó, có thiên nữ hiện ra bảo họ hăy rời đi, v́ sau bảy ngày, ḥn đảo sẽ hoàn toàn bị nhấn ch́m dưới sóng biển. Lại có một ma nữ hiện ra bảo họ: “Nơi này hết sức vui sướng, thứ ǵ cũng đều có, sao bị ch́m đắm cho được? Thiên nữ nói bịa đấy”. Vị thương chủ muốn quay về, nghe lời thiên nữ, thu thập hành lư, chuẩn bị giong buồm trở về. Bảy ngày sau, quả nhiên ḥn đảo bị nhấn ch́m. Mọi người đều phải lên thuyền. Vị thương chủ trước đó không muốn đi, do thiếu chuẩn bị, mất sạch các thứ của báu đă thâu nhặt, muốn giành thuyền và của báu của vị thương chủ muốn rời đi trước đó. Trong khi tranh chấp, người đó bị vị thương chủ đă chuẩn bị vô ư giết chết. Vị thương chủ đă chuẩn bị chính là tiền thân đức Phật. Do oán hận, kẻ bị giết chết cứ đuổi theo thân Phật từ kiếp này sang kiếp khác để t́m cơ hội báo thù.