Đại Tỳ Lô Giá
Na Thành Phật Kinh Sớ
Phần 11
大毘盧遮那成佛經疏
Đường sa-môn
Nhất Hạnh A-xà-lê kư
沙門一行阿闍梨記
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
12. Phẩm thứ
mười hai: Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la (Nhập
Bí Mật Mạn-đồ-la phẩm đệ thập nhị,
入祕密漫荼羅品第十二)
Phẩm
Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la nói về tạng bí mật
thuộc thân, miệng, ư của Như Lai, chỉ có ngài Chấp Kim Cang [thông
đạt] bí mật ấy. Lúc bấy giờ, đức
Thế Tôn lại nói cách nhập đàn pháp bí mật, do ngài
Bí Mật Chủ có thể biết, đức Phật lại
bảo ban;
nhưng vị Chấp Kim Cang này chính là
hóa thân của đức Tỳ Lô Giá Na. Do
muốn nêu tỏ pháp thâm mật này, thế nhưng
pháp này chẳng ai có thể
nêu câu hỏi, chỉ có Phật và Phật hỏi nhau mới
có thể biết mà thôi, [do vậy, đức
Phật mới tự gọi ngài Chấp Kim Cang để
tuyên nói]! Như trong phần sau phẩm Phân Biệt Tích của
kinh Kim Cang Đảnh, đức Phật đă nhập
Tam-ma-địa rồi từ
trong thân Phật, xuất hiện h́nh tượng của chữ
[chân ngôn], h́nh dạng của ấn
và thân Bổn Tôn, mỗi thứ đều
từ mỗi phương mà xuất hiện, thực hiện
Phật sự. Đó gọi là “đại nhân duyên khai Phật
tri kiến”. Làm như thế xong, [các thứ như vậy]
lại nhập vào thân của Như Lai. Lúc bấy giờ,
trong hư không vang ra tiếng hỏi pháp, hỏi đức
Phật về một trăm lẻ tám danh hiệu của
đức Phật: “Thế nào gọi là Phật? Thế
nào là Chánh Biến Tri” v.v… Cho
đến hỏi về
mười sáu vị đại Bồ
Tát và chân ngôn, ấn
v.v… của các Ngài,
như trong kinh ấy đă rộng nói. Lúc bấy giờ,
đức Phật liền tự khen ngợi rằng: “Thiện
tai! Thiện tai! Năng vấn tư sự” (Lành thay!
Lành thay! Có thể hỏi chuyện ấy) cho tới thuận
theo lời hỏi mà đáp.
Lúc
đó, đại chúng đạt được điều
chưa từng có, nghĩ như thế này: “Kim tùng Phật
thân, nhi vấn ư Phật, do như huyễn sự, vô
tác, vô sanh giả,
nhi thành Phật sự” (nay [các tướng
thần biến] từ Phật thân [xuất hiện xong], bèn tự hỏi
đức Phật, giống như huyễn sự, vô tác,
vô sanh mà thành Phật sự). Nay ở đây, ngài Chấp
Kim Cang cũng giống như thế, sanh từ kim cang huệ
ấn của Như Lai, lại tŕ kim cang huệ ấn của
Như Lai, nên có thể thưa hỏi, đức Phật
giải đáp. Do sợ kẻ khác chẳng tin; nếu [đức Phật] tự
hỏi, tự nói, [họ sẽ cho rằng pháp ấy] không
đáng tôn trọng. V́ thế, dùng thân Phật[1]
để hỏi thân Phật. Lại nữa, sở dĩ
được gọi là Chấp Kim Cang là do có thể tŕ
thân mật, khẩu mật và tâm mật của Như Lai. Bởi
thế nói là “tŕ kim cang trí ấn”.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn hựu phục tuyên thuyết nhập Bí
Mật Mạn-đồ-la pháp ưu-đà-na viết: - Chân
ngôn biến học giả, thông đạt bí mật
đàn, như pháp vi đệ tử, thiêu tận nhất
thiết tội. Thọ mạng tất phần diệt,
linh bỉ bất phục sanh, đồng ư hôi tẫn
dĩ, bỉ thọ mạng hoàn phục, vị dĩ tự
thiêu tự, nhân tự nhi cánh sanh, nhất thiết thọ cập
sanh, thanh tịnh biến vô cấu.
(經)爾時世尊又復宣說入祕密漫荼羅法優陀那曰:真言遍學者,通達祕密壇,如法為弟子,燒盡一切罪。壽命悉焚滅,令彼不復生,同於灰燼已,彼壽命還復。謂以字燒字,因字而更生,一切壽及生,清淨遍無垢。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại tuyên nói kệ
ưu-đà-na về pháp
nhập Bí Mật Mạn-đồ-la rằng:
- Người học khắp chân ngôn, thông đạt
đàn bí mật, đúng pháp v́ đệ tử, thiêu sạch
hết thảy tội. Thọ mạng đều cháy sạch,
khiến chẳng c̣n sanh lại, như đă cháy thành tro, thọ
mạng sẽ trở lại. Tức dùng chữ thiêu chữ,
do chữ được sanh lại. Hết thảy thọ
và sanh, thanh tịnh, trọn vô cấu).
Trong
phần trước, [đức Phật] đă nói với
ngài Kim Cang Thủ về Bí Mật Mạn-đồ-la,
nhưng chưa nói cách nhập bí mật. V́ thế, kế
đó, Ngài bèn tuyên nói. Người tŕ tụng học trọn
khắp Bí Mật Mạn-đồ-la, người hành Chân
Ngôn phải nên học trọn khắp (có nghĩa là “cần
phải hiểu hết thảy mọi chỗ”). Đàn bí mật
của cổ nhân được bậc trí thông đạt.
Do chẳng ngờ vực, vướng
mắc, nên gọi là “người trí”. Người trí
thiêu sạch hết thảy các tội. Pháp của đệ
tử là như thế đó. “Người tŕ tụng”
tức là người thành tựu, chính là A-xà-lê. [Người
hành hạnh Chân Ngôn] đáng nên học trọn khắp,
nhưng chỉ có Phật và Phật mới có thể biết trọn hết, học trọn
vẹn hết thảy các pháp. Có thể trọn đức ấy th́ mới
có thể làm thầy. Nay trong đời
Mạt, khó có người như thế, sao có vị thầy
truyền pháp cho được? Tuy A-xà-lê chưa được
như Phật, nhưng hăy nên biết rơ
trọn khắp tông chỉ của kinh
này. Đối với thứ tự pháp dụng, mỗi mỗi
đều hiểu rơ, và tùy thuận tất cả các pháp
trong kinh này, những điều trọng yếu thuộc về
Mạn-đồ-la đều phải nên khéo biết. Phải
nên tu hạnh Du Già, hiểu rơ các loại căn tánh lợi,
độn của chúng sanh, và hữu giá, vô giá[2],
cùng với các thứ như chân
ngôn, thân ấn của Bổn Tôn th́
mới có thể truyền pháp, v́ đệ tử thực
hiện pháp nhập Bí Mật Mạn-đồ-la. V́ lẽ
nào vậy? Nay pháp yếu rất sâu, khó hiểu, được
chư Phật cùng nhau thủ hộ, chẳng tuyên truyền
bừa băi, điều trọng yếu thầm được
suy nghĩ đă lâu, chẳng vội vàng tuyên nói!
Nếu
làm thầy của người khác trong đời Mạt,
mà chẳng thể biết rơ ma sự và thứ tự trong
phương tiện nhập đạo,
cứ hư vọng dạy bảo người khác, chắc
chắn sẽ dạy sai căn cơ, khiến cho người
khác lầm lạc. V́ thế, cần phải học trọn
khắp! Nói “người trí” chính là nói về người
học trọn khắp ấy. Do có thể biết các thứ
nên trao truyền hay không, nên nhập hay
không như thế, nên gọi là “trí”.
Nếu không, do thiếu phương tiện, chỉ nói
suông, chẳng thể khiến cho người khác kiến lập
thiện căn vô thượng, nhanh chóng nhập hết thảy
các địa vị của Như Lai, lại c̣n chuốc lấy
chướng ngại nơi pháp cực lớn, tự tổn,
tổn hại người khác, sao gọi là “người
trí” cho được?
“Thiêu
đệ tử tội” (đốt cháy tội của
đệ tử): Do người ấy (đệ tử)
từ vô thỉ đến nay có vô lượng vô biên tội
chướng. “Như pháp vi đệ tử” (đúng
như pháp mà v́ đệ tử) tức là [A-xà-lê] đúng
như pháp mà nhập đàn, tác pháp. Chướng sâu dày nếu
chẳng trừ khử, thân khí sẽ chẳng thanh tịnh
v́ c̣n có chướng,
[đệ tử như vậy] chẳng thích hợp để
nói đạo trọn đủ của hết thảy
Như Lai. Giống như hàng Thanh Văn có mười ba nạn[3],
chẳng thích hợp để truyền giới. “Thọ
mạng tất phần diệt, linh bỉ bất phục
sanh” (Thọ mạng đều đốt sạch, khiến
nó chẳng sanh lại): “Thiêu trừ hôi tẫn” (đốt
bỏ khiến cho nó cháy sạch thành tro), há có phải là
dùng lửa thế gian để đốt thân người
ấy, khiến cho mạng căn chẳng c̣n tiếp tục
th́ là “hôi
tẫn”
ư? Nay tự có phương tiện mầu nhiệm là lửa
đại huệ để đốt cái thân nghiệp phiền
năo của người ấy, khiến cho nó chẳng c̣n
sanh lại (chánh kinh gọi “thân
nghiệp phiền năo”
là “thọ mạng”). Hết thảy chúng sanh đều
do nghiệp phiền năo chất chứa liên tục, khiến cho họ
sanh trưởng luân hồi chẳng dứt. V́ thế, gọi
[nghiệp phiền năo] là Thọ. Nay liền đốt bỏ
[“thọ mạng” ấy], khiến cho nó hết sạch, chẳng
c̣n sót. Nghiệp phiền năo là củi, trí phương tiện
là lửa, do nhân duyên ấy mà [thiêu đốt] chẳng c̣n
sót. Củi ấy đă hết, cái có thể đối trị
(trí phương tiện) cũng bỏ đi. Nói “thiêu”
có nghĩa là “chữ” (dùng chữ chân ngôn để làm
lửa phương tiện trí huệ ḥng
thiêu nghiệp phiền năo). Hăy nên lấy chữ A làm thân của
đệ tử, khiến cho chữ A trọn khắp thân
người ấy. Kế đó, dùng chữ lửa trí huệ
ấy để nung đốt quặng vàng ṛng trong tánh Bồ
Đề của người ấy,
khiến cho hết sạch cấu uế. Do vậy, dùng chữ
Ra làm lửa để nung đốt chữ A. Đă đốt
xong, há có như Nhị Thừa đoạn diệt, cháy tan
thành tro bụi, chẳng c̣n sanh nữa ư? Chẳng phải
là như thế! Củi “các cấu uế” đă hết,
vẫn có điều kỳ diệu sanh khởi; đó chính
là “Bồ Đề thanh tịnh” chân thật sanh ra. Sự
“sanh” ấy chính là tánh thanh tịnh, là chủng tử
của Như Lai.
Thầy
dùng phương tiện nào để đốt cháy sạch
rồi lại đốt giống như tro ấy, khiến
cho nó lại sanh? “Dùng chữ để thiêu chữ”, tức
là tưởng chữ A như cái đàn vuông, đệ tử
ở trong ấy, dùng chữ Ra để thiêu. Do thiêu, nên có cùng một Thể.
Thân giống như chữ A (अ),
c̣n chữ Ra (र) để tự
thiêu trừ hết thảy các tội phiền năo, cho tới
thân cũng trừ, Thể giống như kim luân, nẩy mầm
kỳ diệu, tức là sanh ra môn chữ Phạ (व,
Va). Hăy nên quán vầng tṛn sáng nơi tâm, ở trong ṿng tṛn ấy,
đặt chữ Phạ. Từ chữ Phạ ấy, sanh
ra thủy luân, giống như sữa trắng tưới
rót. Dùng phương tiện này để làm sống lại
chủng tử của Phật trong Bồ
Đề tâm thanh tịnh, sanh ra cái thân thanh tịnh ấy,
trong ngoài vô cấu như vàng được tinh luyện
trăm lần, càng thêm sáng bóng, dùng để
chế tạo thành vật dụng tùy ư. Hăy nên biết: Khi lửa dấy
động, liền cùng với gió khởi. Phong luân tức
là ư nghĩa của chữ Ha (ह) và Khư (ख, Kha). Trên chữ Kha, lại thêm cái chấm, cái chấm ấy
chính là Đại Không thuộc môn chữ Khiếm (खं, Khaṁ). Pháp thủy vi diệu từ hư không rót xuống
để thanh tịnh vật dụng là cái tâm. Hăy nên biết: Đấy chính là ư nghĩa của năm chữ Địa,
Thủy, Hỏa, Phong, Không. Đó đều là ư nghĩa bí mật của
Như Lai. Không chỉ đọc theo
văn tự mà thôi, hăy nên khéo suy nghĩ. Hành giả đă
đạt được cái thân vô cấu thanh tịnh trọn
khắp như thế, thọ mạng sống lại, thảy
đều vô cấu, do ư mà sanh.
(Kinh)
Dĩ thập nhị chi cú, nhi tác ư bỉ khí, như thị
tam-muội-da, nhất thiết chư Như Lai, Bồ Tát cứu
thế giả, cập Phật, Thanh Văn chúng, năi chí
chư thế gian, b́nh đẳng bất vi nghịch, giải
thử b́nh đẳng thệ, Bí Mật Mạn-đồ-la,
nhập nhất thiết pháp giáo, chư đàn đắc tự
tại. Ngă thân đẳng đồng bỉ, Chân Ngôn giả
diệc nhiên, dĩ bất tương dị cố, thuyết
danh tam-muội-da.
(經)以十二支句,而作於彼器,如是三昧耶,一切諸如來,菩薩救世者,及佛聲聞眾,乃至諸世間,平等不違逆。解此平等誓,祕密漫荼羅,入一切法教,諸壇得自在。我身等同彼,真言者亦然,以不相異故,說名三昧耶。
(Kinh:
Dùng câu mười hai chi,
để làm khí cụ ấy. Tam-muội-da như thế,
hết thảy các Như Lai, Bồ Tát đấng cứu
thế, và Phật, các Thanh Văn, cho tới các thế gian,
b́nh đẳng chẳng trái nghịch. Hiểu b́nh đẳng
thệ này, Bí Mật Mạn-đồ-la, vào hết thảy
pháp giáo, các đàn được tự tại. Thân ta giống
như thế, bậc Chân Ngôn cũng vậy, do chẳng hề
khác nhau, nói là tam-muội-da).
Lại v́ muốn kiên cố Ư Sanh
Thân như thế, lại có phương tiện, ví như xếp đặt mười
hai chữ lại có được mười hai duyên, tức
là “câu mười hai chi” vậy.
Đấy chính là Chân Ngôn Vương mười hai chữ
đă nói trong phần trước. Hăy nên dùng các chữ ấy
để xếp
trọn khắp thân. Thoạt đầu có bốn chữ xếp
ở phần trên, tức là từ đỉnh đầu tới
trán: Một chữ là chữ hư không ở trên đỉnh
đầu, hai chữ ở tai, một chữ ở trán. Kế
đó, đúng như bổn tánh phối ứng mà sanh, từ
mắt mà xếp đặt. Có bốn chữ thuộc phần
giữa, tức là hai chữ trên vai và [một chữ] ở
tim, [và một chữ] ở họng. Kế đó, có bốn
chữ thuộc phần dưới, tức là một chữ
ở rốn, một chữ ở eo, một chữ ở
trên đùi, một chữ ở dưới bàn chân. Nhưng
một chân th́ hai chữ đều có
(tức chữ ở trên đùi và chữ ở bàn chân),
nay chỉ đặt chữ dưới
ḷng một bàn chân, tức là kiêm cả hai chân. Hăy nên biết
mười hai chỗ ấy thống nhiếp mỗi một
thân phần khác, như chữ nơi hai
tai liền thống nhiếp hai mắt v.v… Các chữ vừa
nói trên đây đều lấy từ Chân Ngôn Vương
trong phần trước, từ chữ đầu tiên theo
thứ tự mà xếp đặt. Để làm điều
này, có ba loại phương tiện:
- Một
là thầy tự xếp đặt.
-
Hai là dùng làm Mạn-đồ-la.
- Ba
là gia tŕ nơi thân đệ tử. Đấy chính là Du Già
bí mật gia tŕ.
Làm
như thế xong, [đệ tử]
liền có thể trở thành pháp khí. V́ thế nói là “tác bỉ
khí”
(làm
kẻ đó trở thành pháp khí).
Làm như thế xong, tức là thành tựu tam-muội-da.
Nói “tam-muội-da” có nghĩa là Đẳng, tức là “ta
bằng với Phật, Phật bằng ta, chẳng hai, chẳng
chia ngăn, rốt ráo đều b́nh đẳng”. A-xà-lê
bằng
với Phật, tức là Phật bằng với đệ
tử. Người đệ tử ấy không chỉ bằng
mười phương ba đời hết thảy
Như Lai, mà c̣n bằng với hết
thảy Thanh Văn, Duyên Giác, cũng bằng với hết
thảy các vị thiên tiên trong thế gian. Nếu bằng với
hết thảy như thế, chính là thân Tỳ Lô Giá Na. V́
thế nói “chư thế gian đẳng đồng
đẳng, đồng thuận” (các thế gian đều
cùng b́nh đẳng, đồng thuận), cũng là như
kinh Pháp Hoa nói “đều cùng chẳng trái nghịch Thật
Tướng của chúng sanh”. Hăy nên hiểu như thế,
sẽ là ư nghĩa “bằng, giống như chư Phật,
chẳng trái nghịch”, tương xứng với tam-muội-da
Bí Mật Mạn-đồ-la này, vào trong các Mạn-đồ-la
tự tại thuộc hết
thảy các pháp giáo, bằng với ta như thế đó. Nếu
tương xứng với tam-muội-da Bí Mật Mạn-đồ-la
này, vào trong các pháp giáo, sẽ được tự tại
trong các đàn (tuy chẳng nhập, vẫn được
tự tại nhiếp thủ) giống
như ta vậy
Người tŕ tụng (tức là ta và vị
hành giả ấy chẳng khác, hợp
thành một. Đó gọi
là tam-muội-da) cũng giống như
thế. Người tŕ tụng chẳng khác, tam-muội-da
gọi là “người
nói”. “Giải”
có nghĩa là thấu hiểu, hoặc hiểu biết. Nếu
hiểu phương tiện nhập Bí Mật Mạn-đồ-la
này, tức là nhập trọn khắp hết thảy các Mạn-đồ-la.
Do người đệ tử ấy cùng nhập trọn
khắp hết thảy các Mạn-đồ-la, tức là
nghiệp tự tại, tu hành hết thảy các pháp môn chẳng
bị chướng nạn. Đức
Phật dùng các pháp rốt ráo b́nh đẳng
để giải thích danh xưng “tam-muội-da”, nên
nói “tam-muội-da gọi là Nói”.
Như kinh thoạt đầu có các pháp như “nhập
Đại Bi Thai Tạng Mạn-đồ-la” v.v…, dùng
pháp này để làm pháp vận dụng trọng yếu,
nhưng chẳng nói trong các phần trước, tới
đây mới nói. Nếu chẳng hiểu pháp này, Mạn-đồ-la
đă được thực hiện trước
đó trọn chẳng thể thành tựu!
Pháp xếp ra trước và sau, chẳng tương ứng
theo ngay nhau, há có phải là Phật keo tiếc pháp ư? Chỉ
v́ muốn khiến cho người nhập chánh pháp cần
phải nương theo thầy mà học, giống như
trong kinh Thanh Văn, đức Phật đă quở trách kẻ
tặc trụ[4].
Ngài nói: “Đă có đầy đủ ḥa thượng
A-xà-lê, hăy đúng như pháp
mà thọ giới, quyết chí tu hành phạm hạnh, sao lại
như kẻ trộm lén lút trụ [trong Tăng đoàn]?”
Nay trong đời Mạt,
kẻ học pháp cũng thế! Chẳng thân cận thiện
tri thức để thưa hỏi, vâng lănh pháp yếu, mà
tự vâng theo cái tâm [suy lường hư vọng] của
chính ḿnh, mong thành tựu nghiệp tự tại của
Như Lai, đúng là vừa giở xem kinh văn liền muốn thực
hiện ngay, mong đạt được thành tựu, chẳng
hề có lẽ ấy! Không chỉ tự tổn hại, lại
c̣n do mong cầu danh lợi,
bèn hư vọng làm thầy kẻ khác! Chính ḿnh đă trái
pháp mà c̣n muốn kiến lập thiện căn vô thượng
cho kẻ khác, há có lẽ ấy hay chăng? Do vậy, chẳng
có hiệu nghiệm, lại c̣n chuốc lấy nghiệp
báng pháp và duyên phá pháp, tạo thành nghiệp vô gián! Có thể
nào do nghiệp nhân vô gián mà diệu quả tự lợi và
lợi tha đều được thành tựu hay
chăng? V́ thế, người hành pháp này mong cầu, thân cận
minh sư, nhất nhất thưa hỏi, ḥng hiểu rơ ư
chỉ vi diệu, trước là thành lập [thiện
căn cho] chính ḿnh, sau là kham có thể kiến lập thiện
căn vô thượng
cho người khác. Ví như năm pháp thành tựu trong pháp
Thanh Văn, tự thành ngũ phần Pháp Thân, và cũng có
thể thành tựu ngũ phần Pháp Thân cho người
khác, được ĺa y chỉ, được dự vào
địa vị thầy. Lúc đó, mới có thể truyền
pháp làm lợi người khác. Nếu chẳng phải vậy,
hăy thận trọng, đừng vung vẩy khí cụ sắc
bén bừa băi, khiến cho tay ḿnh bị tổn hại. V́ thế,
kinh dạy: “Sai cơ thuyết pháp, vi nhân sư oan”
(thuyết pháp không đúng căn cơ, sẽ khiến cho
người khác bị oan uổng). Nay chẳng khéo học
trọn khắp tạng Tŕ Minh Du Già, mà muốn tùy theo bổn
duyên của người khác để truyền pháp cho họ
th́ cũng giống như vậy đó!
Nhập Mạn-đồ-la có tam-muội-da kệ, có khoảng
mười bốn hay mười lăm bài kệ, tức
là [kệ tụng để] truyền cho đệ tử
thọ Cụ Giới của hàng Bồ Tát, và nhữmg lời
răn dạy trọng yếu, nhưng [các bài kệ tụng
ấy] chưa được truyền tới cơi này!
Tiếp
theo đây là phẩm Trụ Bí Mật Mạn-đồ-la.
Phẩm trước nói về phương tiện nhập
Bí Mật Mạn-đồ-la, tức là ba loại gia tŕ,
nghĩa là dùng chân ngôn để gia tŕ thân thầy,
và đàn tràng để nhập, cũng như gia tŕ khiến
cho đệ tử trụ kiên cố. Sau đấy, [đệ
tử] được an trụ trong bí mật tạng. V́
thế, tiếp theo đây, sẽ nói phẩm trụ và chứng!
13. Phẩm thứ
mười ba: Nhập địa vị trong Bí Mật Mạn-đồ-la
(Nhập Bí Mật Mạn-đồ-la Vị
phẩm đệ thập tam, 入祕密漫荼羅位品第十三)
(Kinh)
Nhĩ thời, Đại Nhật Thế Tôn nhập ư
Đẳng Chí tam-muội, quán vị lai thế chư chúng
sanh cố, trụ ư Định trung, tức thời
chư Phật quốc độ, địa b́nh như
chưởng, ngũ bảo gián thác, huyền đại bảo
cái, trang nghiêm môn tiêu, chúng sắc lưu tô, kỳ tướng
trường quảng. Bảo linh, bạch phất, danh y,
phan bội, ỷ huyền, thùy bố nhi hiệu sức
chi. Ư bát phương ngung, kiến ma-ni tràng. Bát công đức
thủy phân phức doanh măn. Vô lượng chúng điểu:
Uyên ương, nga, hộc, xuất ḥa nhă âm. Chủng chủng
dục tŕ, thời hoa, tạp thụ phu vinh gián liệt,
phương mậu, nghiêm hảo. Bát phương hợp hệ
ngũ bảo anh thằng. Kỳ địa nhu nhuyễn do
như miên khoáng, xúc tiễn chi giả, giai thọ khoái lạc.
Vô lượng nhạc khí tự nhiên hài vận. Kỳ thanh
vi diệu, nhân sở nhạo
văn. Vô lượng Bồ Tát tùy phước sở cảm,
cung thất, điện đường, ư sanh chi ṭa,
Như Lai tín giải nguyện lực sở sanh. Pháp giới
tiêu xí đại liên hoa vương xuất hiện, Như
Lai pháp giới tánh thân an trụ kỳ trung, tùy chư chúng
sanh chủng chủng tánh dục, linh đắc hoan hỷ.
(經)爾時大日世尊入於等至三昧,觀未來世諸眾生故,住於定中。即時諸佛國土地平如掌,五寶間錯,懸大寶蓋,莊嚴門標,眾色流蘇其相長廣,寶鈴、白拂、名衣、幡珮綺絢垂布而校飾之,於八方隅建摩尼幢。八功德水芬馥盈滿,無量眾鳥鴛鴦鵝鵠出和雅音。種種浴池時華雜樹敷榮間列芳茂嚴好。八方合繫五寶瓔繩。其地柔軟猶如綿纊,觸踐之者皆受快樂。無量樂器自然諧韻,其聲微妙人所樂聞。無量菩薩隨福所感宮室殿堂意生之座,如來信解願力所生。法界幖幟大蓮華王出現,如來法界性身安住其中,隨諸眾生種種性欲令得歡喜。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Đại Nhật Thế Tôn nhập Đẳng
Chí tam-muội, do quán các chúng sanh trong đời vị lai mà
trụ trong Định. Ngay lập tức, trong các quốc
độ của chư Phật, đất bằng phẳng
như ḷng bàn tay, năm chất báu xen kẽ, treo lọng
báu lớn, các cửa được trang nghiêm bằng cờ
xí đủ màu, có h́nh dạng dài rộng. Linh báu, phất
trần trắng, áo quư đẹp, phan, chuỗi ngọc
đẹp đẽ, rực rỡ treo rủ trọn khắp
để tô điểm. Nơi tám góc, dựng tràng Ma-ni.
Đủ loại ao tắm: Nước tám công đức
thơm tho ngập tràn, vô lượng các loài chim [ở trong
ấy] như uyên ương, ngỗng, chim hộc, hót tiếng
ḥa nhă. Hoa đúng thời, các loại cây khác nhau sum suê, xen kẽ
thành hàng, thơm sực nức,
tươi tốt, trang nghiêm đẹp đẽ. Tám
phương thắt dây kết bằng năm thứ báu. Mặt
đất mềm mại như bông, người đụng
chạm và giẫm trên đó đều hưởng vui
sướng. Vô lượng nhạc khí tự nhiên ḥa điệu du dương.
Tiếng nhạc vi diệu khiến
cho mọi người thích nghe. Vô lượng
Bồ Tát tùy theo phước mà cảm vời cung thất,
đền đài, và ṭa ngồi thuận theo ư tưởng
mà sanh. Xuất hiện đại liên hoa vương sanh bởi
sức nguyện lực tín giải của Như Lai để
làm biểu trưng cho pháp giới. Pháp giới tánh thân của
Như Lai an trụ trong ấy, thuận theo đủ loại
tánh ưa thích của chúng sanh, khiến cho họ đều
hoan hỷ).
Ư
nghĩa của [danh hiệu] Tỳ Lô Giá Na đă được
giải thích trong phần trước, nay giải thích thêm.
Tỳ Lô Giá Na (Vairocana) là Nhật (mặt trời). Như mặt
trời trong thế gian có thể trừ hết thảy tối
tăm, sanh trưởng hết thảy vạn vật,
thành tựu sự nghiệp của hết thảy chúng
sanh. Nay Pháp Thân Như Lai cũng lại giống như vậy;
v́ thế, dùng [mặt trời] làm thí dụ. Nhưng mặt
trời trong thế gian có nơi chốn, phần hạn, hễ
chiếu bên ngoài sẽ chẳng thể chiếu bên trong, chiếu sáng ở
một bên
này sẽ chẳng thể chiếu bên
kia, chỉ có thể soi sáng ban ngày, chứ ánh sáng chẳng
soi thấu ban đêm. Nay vầng mặt trời Như Lai
chẳng phải vậy, chiếu trọn khắp trong,
ngoài, chẳng có nơi chốn, phần hạn, phân biệt ngày đêm, viên minh thường
trụ. Hết thảy chúng sanh nếu được gặp
lúc vầng mặt trời [Như Lai] này
xuất hiện, sẽ có thể sanh trưởng hết
thảy thiện căn của Như Lai, hành Như Lai sự.
Mặt trời thế gian chẳng thể sánh ví, chỉ
[có thể tạm sánh ví] chút phần. Do vậy, thêm vào danh
xưng [Tỳ Lô Giá Na] chữ Ma Ha.
Sở
dĩ đức Phật nhập tam-muội này là do đức
Phật trụ trong pháp tịch diệt vô tướng rốt
ráo, do đại bi nên trụ trong tam-muội, khiến cho hết
thảy đại hội và vô lượng đại chúng
được thấy pháp vi diệu trong đại hội
trang nghiêm của Đại Bi Thai Tạng Mạn-đồ-la
này, tức là từ trong vô tướng mà hiện hữu
tướng. Tuy là hữu tướng, nhưng sanh từ
nhân duyên, tức là ư nghĩa “bất sanh”, giống
như pháp tánh thanh tịnh. Nhưng khiến cho chúng sanh ai nấy
tùy theo bổn duyên mà thấy đủ loại sắc, nghe
đủ loại tiếng, đạt được
đủ loại pháp. Ai nấy tùy theo tâm khí [của chính
ḿnh] mà tu hành đúng như pháp, có nhân duyên to lớn như
thế đó. Lại v́ thỏa măn các pháp do ngài Kim Cang Thủ
đă hỏi, khiến cho Bồ Tát thấu hiểu rơ
chẳng c̣n thừa sót, [đức Phật] bèn nhập
tam-muội.
Đẳng Chí (Samāpatti, tam-ma-bát-để) là tên của
tam-muội. Trong phần trên nói “nhĩ thời” (lúc bấy
giờ), nay lại nói “bỉ thời, Như Lai nhập
ư tam-muội” (khi đó, Như
Lai nhập tam-muội), là v́ nhân duyên trước đó mà lại
có chuyện này. Do vậy, phân biệt mà nói là “bỉ thời”.
Đẳng Chí: Do quá khứ hết thảy chư Như
Lai đều nương theo đạo này mà đạt thành
Chánh Giác. Như hết thảy các đức Như Lai trong quá khứ, hiện
tại và vị lai cũng lại giống như thế,
đều do nương vào đạo này và phương tiện
này mà thành Chánh Giác. Do vậy, nói là Đẳng Chí. Như tam
thế chư Phật đạt thành Chánh Giác, ta cũng giống
như thế. Như ta nay nương vào đạo này mà tới
đạo tràng, hết thảy chư Phật cũng giống
như thế. Phật, Phật đều b́nh đẳng,
từ đầu đến cuối đều rốt ráo
b́nh đẳng. V́ thế nói là Đẳng Chí.
Lại
c̣n như trong phần trước đă chỉ bày tướng
trạng, phương vị của Đại Mạn-đồ-la,
đúng như tam-muội do đức Phật đă nhập
mà thị hiện. Nếu
A-xà-lê trụ trong Định để độ đệ
tử, cũng nên xếp đặt h́nh tướng các
phương vị giống hệt chẳng khác như thế
đó. Mỗi mỗi đều là hành pháp phổ môn của
các vị tôn thánh thiện tri thức để nhập pháp
giới. Nếu quán như thế để gia tŕ đệ
tử, cũng khiến cho [đệ tử] được
thấy đại hội như thế, khiến cho điều
được quán trong tâm và chuyện được xếp
đặt bên ngoài, trong ngoài đều b́nh đẳng chẳng sai
biệt. V́ thế gọi là Đẳng Chí tam-muội. Đức
Phật
do nhập tam-muội này, khiến cho các
vị đại Bồ Tát như Kim Cang Thủ v.v… đều
được thỏa măn các
nghi vấn. Trong tam-muội, đức Phật hiện ra
các sự, tức là chỉ bày phương vị, pháp dụng;
do vậy, nhập tam-muội này. Khi đức Phật ấy nhập
tam-muội, các Phật sự cũng đều giống
như thế. “Đẳng” là giống hệt như
nhau, giống như ḷng bàn tay phẳng phiu. Nói “địa b́nh”
(đất bằng phẳng) là nói theo tam-muội, tức
là thấy cơi thanh tịnh trang nghiêm, mặt đất phẳng
phiu, ngay ngắn, chẳng có ngói, đá, các núi non, và cát, sỏi
v.v… Nhưng đấy chính là ư nghĩa “Bồ Đề
tâm thanh tịnh”. Do tín lực mà b́nh tâm địa.
Trừ khử tất cả những chỗ A Lại Da,
bao gồm các loại cát, sỏi, gốc cây chết khô v.v…
Chỉ c̣n để lại cơi đất Bồ Đề
tâm thể tánh rốt ráo b́nh đẳng, thanh tịnh. Nếu
có thể b́nh tịnh nơi đó, sẽ có thể thành tựu
Phật hội trang nghiêm trong Đại Bi Thai Tạng.
“Ngũ
bảo gián thác” (năm chất báu xen kẽ) tức là
năm thứ báu như vàng, bạc v.v… Chất báu năm sắc
xen kẽ nơi đất ấy. “Ngũ hành” là
năm thứ báu [có màu] trắng, vàng… tức là năm màu.
“Đỏ, xanh, đen” theo thứ tự. Màu trắng xen kẽ
là Giới. Vàng là Tín, đỏ là Tinh Tấn, xanh là Định,
đen là Huệ. Trong phần trước đă giải
thích [khi vẽ Mạn-đồ-la, thứ tự màu sắc
sử dụng] đầu tiên là trắng, kế đó là
đỏ, rồi đến vàng. Nay [ở đây] dùng cách
giải thích này (tức là trắng, vàng, đỏ, xanh,
đen) làm chuẩn, chẳng
dùng cách giải thích trước
đó. Từ đây trở đi, mỗi thứ
trang nghiêm đều được giải
thích theo nghĩa lư. Điều chưa được giải
thích ở đây, trong các chỗ khác [sẽ được
giải thích], mỗi mỗi đều đối ứng
với pháp môn này. Nhưng nơi ấy không chỉ có
năm thứ báu xen kẽ nơi đất để trang
nghiêm cửa nẻo mà thôi, lại c̣n có “môn tiêu” (門標, những
thứ cờ xí, biểu tượng để trang nghiêm
nơi cửa), tức là “môn tiêu” của Đại Bi
Thai Tạng, khiến cho [hành nhân] biết tướng
phương vị của cửa để vào. Nói “tiêu”
(標,
nêu bày) tức là [được xếp đặt] giống
như trong đồ h́nh trong phần trên.
Nhưng [trong các thứ môn tiêu ấy], có thứ được
vẽ, và có thứ được lập. Thứ
được vẽ th́ vẽ vời đúng như đồ
h́nh, những tiêu xí được lập th́ cũng
nương theo tướng trạng ấy để làm.
Nơi cửa có trụ, trên trụ có thanh gỗ đặt
ngang để chỉ rơ nơi đó là cửa. Cửa ở
bốn phương tức là Tứ Niệm Trụ, c̣n Tiêu
là Tứ Phạm Trụ. Niết Dữu Ha (Nirgam) là cửa,
Đổ La cũng là cờ, tức là cái để nêu bày
(cờ xí, vật biểu trưng).
“Tạp
sắc” (nhiều màu khác nhau): Không chỉ là màu của
năm phương, mà c̣n có đủ loại màu sắc
khác nhau. Các lá phan đủ loại màu sắc ấy rộng,
dài, đặt ở phía trên cửa. Lọng báu lớn cùng
che phủ bên trên, giống như đàn pháp. Nhưng lọng
ấy có kích thước che trọn khắp các cơi Phật,
cho nên nói là “đại”. Trên các thứ trưng bày ấy,
lại treo phất trần trắng và linh báu để
trang nghiêm. Trước đó là phan nhiều màu, nơi phan
có các thứ như linh báu và phất trần để treo
xen kẽ với phan báu. Lại có đủ loại dây buộc
bằng lụa màu đẹp đẽ để buộc
hờ. Các thứ áo đẹp đẽ đủ màu treo
rủ trọn khắp. Tôi cho rằng theo như kinh văn
th́ có ư nghĩa “mặc áo nhiều màu”. Từ pháp vô
tướng bậc nhất mà sanh ra tướng Đại
Bi Tạng Sanh như thế, hiện trọn khắp sắc
thân, đủ loại phương tiện để nói vô
lượng pháp. Đó là ư nghĩa “nhiều màu”. Từ
phan nhiều màu trở đi, đều là các thứ trang
hoàng nơi cửa. “Kiến” (建)
có nghĩa là đặt phan để
trang hoàng.
Nơi
tám góc, lập tràng Ma-ni lớn, tức là tràng làm bằng
Ma-ni. “Tràng” [được nói ở đây] chính là tại
bốn phương và bốn góc, mỗi nơi đều
lập tràng bằng Ma-ni diệu bảo như ư. Ngoài ra, lại
c̣n có ao tắm thanh tịnh, đẹp đẽ, chứa
nước tám công đức, lặng trong, thanh tịnh.
Trong ao, lại c̣n có vô lượng các loài chim sống trong
nước nô đùa tự tại, phát ra đủ loại
âm thanh vi diệu đẹp ḷng hết thảy. Lại sanh
đủ loại “thời hoa”, “thời” tức
là hoa trong sáu thời đều hiện ra đúng lúc. Không
chỉ là hoa quư, lại c̣n có đủ loại cây báu la liệt,
phân bố khắp tám “phương phần”, “phần”
tức là “phương” vậy.
Dây kết bằng năm thứ báu buộc quanh. Đấy
chính là phía trên tám trụ báu, dây báu buộc quanh giáp ṿng. Chữ
Anh [trong “ngũ bảo anh lạc”] được nói ở
đây chính là âm tiếng Phạn, có h́nh dạng khác với “anh
lạc”[5]
được nói trong phần trước, tức là [những
chất báu ấy] được làm thành h́nh bán nguyệt
ngửa lên, [kết thành chuỗi] treo rủ xuống. Các thứ
dây báu như thế treo giáp ṿng, nối tiếp nhau.
Mặt
đất th́ mịn trơn như áo bằng sợi bông,
chạm vào vui sướng tột bậc, như
phương Tây có áo thuần bằng chất bông. Địa
luân (mặt đất) giống như thế đó, cực
trơn mịn, đặt chân xuống bèn lún, giở chân
lên, nó trở lại như cũ, bằng phẳng như
cũ. Cực mịn, sanh cảm giác dễ chịu nhất.
Lại có vô lượng nhạc khí đầy ắp hư
không. Chúng ở trong hư không, chẳng tấu mà tự
phát ra tiếng. Tiếng ấy sâu mầu, khiến cho
người ta thích nghe, hoan hỷ, vui sướng. Nơi cuộc
đất được xếp đặt trang nghiêm ấy,
lại sanh ra vô lượng các thứ thuận theo phước
đức của Bồ Tát, cảm
vời các ṭa ngồi và cung điện xuất
sanh theo ư muốn. [Các thứ ấy] đều sanh từ sự
tín giải của Như Lai. Ṭa ấy la liệt, cũng
làm thành ba tầng, xếp đặt theo thứ tự
như trong Đại Bi Tạng Sanh Mạn-đồ-la
[đă nói] trong phần trước. Nhưng tùy thuộc
công đức tịnh diệu của mỗi vị Bồ
Tát mà sanh ra các vật thỏa
thích ngũ trần,
đủ thứ sai biệt. Nói tóm lại, nhiều như
số lượng vi trần trong mười thế giới,
mỗi thứ bất đồng được xếp
bày nơi phương vị. Các thứ ấy đều ở
trong ṿng [dây báu căng trên] tám trụ tràng
báu, và sanh từ sức tín giải của
Như Lai. Do sức bổn nguyện của Như Lai mà thị
hiện trọn khắp trong Đẳng Chí tam-muội.
“Pháp
giới tiêu”: “Tiêu” (標, các
vật nêu bày) sanh từ pháp giới, tức là “pháp
giới đàn tiêu xí” (vật
biểu trưng cho đàn tràng pháp giới). Trong “tiêu”
có ư nghĩa “tánh”. Từ ngữ trong tiếng Phạn
bao hàm nghĩa ấy, “tiêu” chính là tánh. Thể tánh của
pháp giới vốn sẵn thường tịnh, vô tướng
bậc nhất, lại c̣n dùng pháp giới để trang
nghiêm. Trong ấy có đại liên hoa vương, hoa ấy
giống như pháp giới, tự tánh thanh tịnh trọn
khắp hết thảy mọi nơi. Hăy nên biết Như
Lai ngự ở trong ấy. Hoa đă có lượng đồng
pháp giới. Hăy nên biết thân Phật cũng lại
như thế. Ở đây chính là hoa tám cánh ở Trung Đài. Sanh ra hoa sen to,
Như Lai trụ trong pháp giới bậc nhất ấy, tùy
ư hiểu ḷng vui thích của chúng sanh. “Bậc nhất” ở
đây chính là đệ nhất pháp giới thân, thuận
theo tín giải của các chúng sanh, khiến cho họ
vui sướng. Ư tột bậc vi tế, tánh khó thấy nhất.
Do vậy là “cực vi tế”. “Đệ nhất”
ở đây nên hiểu ư nghĩa là nói về tánh. “Tùy ư”:
Nguyện lực của Phật vốn nhằm độ
hết thảy chúng sanh, phổ môn thị hiện, mỗi
mỗi thuận theo thân mà họ thích thấy, ứng theo
căn cơ của họ mà tạo lợi ích khiến cho
họ hoan hỷ.
(Kinh)
Thời bỉ Như Lai nhất thiết chi phần vô
chướng ngại lực, tùng thập trí lực, tín giải
sở sanh, vô lượng h́nh sắc trang nghiêm chi tướng,
vô số bách thiên câu-chi na-do-tha kiếp bố thí, tŕ giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ,
chư độ công đức sở tư trưởng
thân, tức thời xuất hiện. Bỉ xuất hiện
dĩ, ư chư thế giới đại chúng hội
trung, phát đại âm thanh, nhi thuyết kệ ngôn: “Chư
Phật thậm kỳ đặc, Quyền Trí bất
tư nghị, vô A Lại Da huệ, hàm tàng thuyết chư
pháp. Nhược giải vô sở đắc, chư pháp chi
pháp tướng, bỉ vô đắc nhi đắc, đắc
chư Phật Đạo Sư”. Thuyết như thị âm
thanh dĩ, hoàn nhập Như Lai bất tư nghị Pháp
Thân.
(經)時彼如來一切支分無障礙力,從十智力信解所生,無量形色莊嚴之相,無數百千俱胝那由他劫布施、持戒、忍辱、精進、禪定、智慧諸度功德所資長身即時出現。彼出現已,於諸世界大眾會中發大音聲而說偈言:諸佛甚奇特,權智不思議,無阿賴耶慧,含藏說諸法。若解無所得,諸法之法相,彼無得而得,得諸佛導師。說如是音聲已,還入如來不思議法身。
(Kinh:
Khi đó, do sức vô chướng ngại nơi hết thảy
các chi phần của đức Như Lai, sanh từ mười
trí lực và tín giải, tướng vô lượng h́nh sắc
trang nghiêm, các
thân được vun bồi, trưởng
dưỡng bởi các công đức
do đă hành các Độ bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí huệ trong vô số
trăm ngàn câu-chi na-do-tha kiếp ngay lập tức xuất
hiện. Các
thân ấy đă xuất hiện, liền
ở trong đại chúng hội nơi các thế giới,
phát ra âm thanh to lớn mà nói kệ rằng: “Chư Phật
rất kỳ đặc, Quyền Trí chẳng nghĩ bàn.
Không A Lại Da huệ, chứa đựng nói các pháp. Nếu
hiểu vô sở đắc, pháp tướng của các
pháp, tuy vô đắc mà đắc, đắc chư Phật
Đạo Sư”. Nói âm thanh như thế xong, lại vào
trong Pháp Thân chẳng nghĩ bàn của Như Lai).
Sức
vô ngại nơi các chi phần của Như Lai do từ thập
lực tín giải, sanh ra vô lượng thân h́nh sắc trang
nghiêm. Chi phần của Như Lai có sức vô ngại, sức
vô hoại. Bởi lẽ, sức của hết thảy
thiên tiên trong thế gian, và Nhị Thừa, Thanh Văn, Bồ
Tát v.v… c̣n có chướng ngại. Do có chướng ngại,
người có sức thù thắng hơn sẽ có thể
phá hoại [sức ấy]. Nay Phật lực vô ngại, chẳng
thể phá hoại, do giống như kim cang; v́ thế nói là
“vô ngại lực”. Sức vô ngại ấy sanh từ
đâu? Hăy nên biết nó sanh từ mười loại trí lực
của Như Lai. Từ các chi phần thượng, trung, hạ
nơi thân Phật mà chia thành ba phần, lưu xuất
đủ loại h́nh tướng, cho tới mỗi lỗ
chân lông thảy đều sanh ra các chủng loại, ngần
ấy h́nh sắc, mỗi mỗi khác biệt, hoặc vuông,
hoặc tṛn, tam giác, bán nguyệt, hoặc xanh, vàng, đỏ,
trắng, đen, tịch tâm, hoan hỷ, phẫn nộ v.v…
các thứ h́nh tướng, số tới vô lượng. Tức
là các vị Bổn Tôn sẽ đều ngồi nơi ṭa
sanh khởi bởi sự cảm vời nơi ư. Nay thập
lực lại từ đâu mà sanh? Chính là do Như Lai trong
vô lượng A-tăng-kỳ kiếp đă tu hành Lục
Độ, Thập Độ, cho tới trăm ngàn vạn
ức chẳng thể nói
các Độ và vạn
hạnh, tức là do được công đức của
các hạnh ấy vun bồi. Do được công đức
vun bồi mà thân xuất hiện, từ Pháp Thân mà hiện
ra. Thân ấy đă
xuất hiện, ở trong các đại hội nơi các
thế giới, “các” là nói tới mười
phương. Nhưng chẳng phải chỉ hiện h́nh
mà thôi, lại c̣n phát ra đủ loại diệu âm, diễn
nói, tuyên bày pháp thường tịch bí mật và hạnh
chân ngôn chẳng nghĩ bàn, khiến cho trọn khắp hết
thảy [các loài chúng sanh] đều được nghe, biết.
Các vị Bồ Tát được sanh ra ấy, mỗi vị
đều nói đủ loại “âm
thanh biểu” (các loại biểu
thị bằng âm thanh) nói như thế tức
là nói kệ. Dùng diệu kệ để tán thán Phật, giống
như lời tán thán của [chư Bồ Tát từ]
phương dưới vọt lên [trong hội Pháp Hoa].
Đại
Nhật Như Lai trụ trong tam-muội. Đấy chính là
các tướng trạng thị hiện từ trong thân phần
của đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn ngự trên hoa
đài do tam-muội hiện ra. Từ trong đóa hoa sen sanh
bởi pháp giới ấy, khi đức Phật lưu xuất
đủ loại h́nh tướng, lại từ thân Phật
phát ra đủ loại âm thanh để diễn nói diệu
pháp. Kinh nói “âm thanh” tức là [nói đến] ngữ biểu (sự biểu
thị bằng ngôn ngữ). Âm thanh ấy diễn
xướng kệ, đại lược có hai bài kệ.
Bài kệ thứ nhất nói: “Kỳ
tai nhất thiết Phật, phương tiện bất
tư nghị, ư vô tạng tánh trung, dĩ huệ linh vi
tạng” (Lạ
thay! Hết thảy các vị Phật dùng phương tiện
chẳng nghĩ bàn, từ trong vô tạng tánh mà dùng huệ
để làm tạng).
Bài kệ này có ư nghĩa tán thán Phật. Do thấy các chuyện
thị hiện chẳng thể nghĩ bàn trên đây, bèn tán thán công đức của Phật
hết sức đặc biệt, lạ lùng. Tán thán đức
Tỳ Lô Giá Na chính là tán thán hết thảy các đức
Như Lai. Do vậy nói là “hết thảy chư Phật”.
V́ thế, hăy nên biết tướng kỳ đặc do
Như Lai đă hiện chính là nghiệp chẳng thể
nghĩ bàn sanh từ đại huệ và phương tiện
của Như Lai. Nghiệp chẳng nghĩ bàn là như thế
nào? Tức là trụ trong vô tạng tánh mà có thể làm thành
hữu tạng. “Tạng” trong tiếng Phạn là A Lại
Da (Alaya), phương này dịch là Tạng. Hoặc nói
đến ư nghĩa “cung, thất, nhà cửa” như
nhà cửa trong thế gian, hết thảy chúng sanh đều
tùy theo sức ḿnh mà an trụ trong đó. Đă có “sào huyệt”
như thế, tức là có thiện ác bao bọc, chẳng
thể tự
thoát ra. Như Lai đă ĺa “sào huyệt”
A Lại Da như thế, nên nói là “vô tạng tánh” (tức
câu “vô A Lại Da huệ” trong chánh kinh). Phật tuy chẳng
có hết thảy các tạng, nhưng do huệ
phương tiện mà có tạng sanh, tức là từ trong
pháp vô tướng mà thị hiện đủ loại
tướng, từ trong pháp chẳng có vọng tưởng
mà thốt ra đủ loại âm thanh nói năng, tức là
dùng tạng ấy khiến cho hết thảy đều
đạt tới vô tạng.
Bài
kệ kế tiếp nói: “Nhược giải vô sở
đắc, chư pháp chi pháp tướng, bỉ vô đắc
nhi đắc, đắc chư Phật Đạo Sư” (Nếu
hiểu biết vô sở đắc, các pháp tướng của
các pháp, sẽ là vô đắc
mà đắc, chính là chư Phật đạo sư). Ư nói: Pháp tánh vô
đắc, chẳng thể biết. Nếu cho rằng “vô
đắc chính là nghĩa
Không, nếu
đạt được điều
ấy th́ chính là Phật”, th́ đó chính là “hữu vọng,
hữu tạng”,
chẳng phải là trí huệ vô sư của Như Lai! Nếu
“có thể biết” th́ đó chính là hành xứ của
cái tâm, chẳng phải là nghĩa thù thắng rốt ráo! Sở
dĩ tán thán Phật chẳng nghĩ bàn chính là đối với
pháp vô đắc, bất khả đắc, mà có thể
đắc. Tức là cảnh giới trên đây tuy vô tướng
mà có tướng, khiến cho hết thảy chúng sanh do vô sở
đắc mà đắc. Ai đắc pháp ấy? Chính là
chư Phật đạo sư vậy!
Lại
nữa, bài kệ trước nói “lạ thay” th́ “lạ
thay” trong tiếng Phạn chính là khởi đầu bèn
có âm A[6].
Bài kệ ấy đă biểu thị pháp, c̣n bài kệ này
(tức bài kệ thứ hai) [nói về] ư nghĩa “vốn bất
sanh” mà có thể sanh ra hết thảy các
pháp, tức là Như Lai đích thân chỉ bày: Các thứ
h́nh tướng và
âm thanh
được thị hiện bởi thân Như Lai
đều sanh từ chữ A. Khi đă xuất hiện các
thứ h́nh tướng, âm thanh xong, lại trở vào các chi
phần nơi thân đức Phật, lại trở vào
trong Pháp Thân chẳng nghĩ bàn của Như Lai, mỗi mỗi
đều theo đúng chỗ đă xuất sanh mà trở
vào. Do vậy, kinh nói “hựu
phục nhập Như Lai bí Pháp Thân bất
tư nghị” (lại vào trong Pháp
Thân bí mật chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai). “Bất
tư nghị” trong tiếng Phạn là A Chân Để
(Acintya), cũng có âm A, ư nói “từ A mà ra, lại từ A
mà vào”. Hai phía trên dưới đều có hai chữ A,
ngụ ư: Hết thảy các pháp xuất nhập đều
có cùng một Thể với pháp giới.
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phục cáo Chấp
Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Thiện nam tử! Đế
thính nội tâm Mạn-đồ-la. Bí Mật Chủ! Bỉ
thân địa tức thị pháp giới tự tánh, chân
ngôn, mật ấn gia tŕ nhi gia tŕ chi. Dĩ bổn tánh thanh
tịnh cố, Yết Ma kim cang sở hộ tŕ cố, tịnh
trừ nhất thiết trần cấu, ngă nhân, chúng sanh, thọ
giả, ư sanh, nhu đồng, tạo lập giả đẳng
chu ngột quá hoạn.
(經)爾時世尊復告執金剛祕密主言:善男子!諦聽內心漫荼羅。祕密主!彼身地即是法界自性,真言密印加持而加持之,以本性清淨故、羯磨金剛所護持故,淨除一切塵垢,我人、眾生、壽者、意生、儒童、造立者等株杌過患。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn lại bảo Chấp
Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Thiện nam tử! Hăy lắng
nghe Mạn-đồ-la trong nội tâm. Bí Mật Chủ!
Thân thể ấy chính là pháp giới tự tánh, dùng sự
gia tŕ của chân ngôn và mật ấn để gia tŕ, do bổn
tánh thanh tịnh, do được Yết Ma kim cang hộ
tŕ, trừ sạch hết thảy các “gốc cây chết khô” lầm lỗi như trần cấu,
ngă nhân, chúng sanh, thọ giả, ư
sanh, nhu đồng, kẻ tạo lập v.v… ).
[Chánh kinh] nói “bỉ Phật
cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ” (đức Phật ấy
bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ) th́ có ư nói đức
Phật ấy chính là đức Tỳ Lô Giá Na. Lại nên hỏi:
“Đức Phật ấy
do tam-muội hiện ra, hay vốn là [chân thân của] đức
Như Lai?” Phải nên là bản
thân Như Lai! Từ đây trở đi, đức Phật
từ Đẳng Chí tam-muội khởi rồi dạy bảo
ngài Kim Cang Thủ. Sở dĩ đức Phật trụ
trong tam-muội, hiện ra đủ loại tướng
hy hữu như trên, tức là đất bằng phẳng
như ḷng bàn tay, cho đến xếp đặt các vị
tôn thánh, và phương vị của hoa tám cánh v.v… là v́ muốn
dạy cảnh Du Già trong nội
tâm cho các vị như Chấp Kim Cang v.v… Dùng cảnh bên
ngoài để liên tưởng nội tâm, ḥng biểu thị
ư nghĩa. V́ thế, nay đức Phật từ Định
khởi, lại nói pháp nhập bí mật tạng thuộc Mạn-đồ-la
trong
nội tâm để chỉ dạy ngài Chấp
Kim Cang. Thiện nam tử! Hăy lắng nghe Mạn-đồ-la
nơi tâm địa trong tâm. Thân địa của Bí Mật
Chủ chính là tự tánh của pháp giới, dùng chân ngôn và ấn
để gia tŕ; bởi lẽ, bổn tánh thanh tịnh.
Như trong phần trên đă dùng đức Đại Nhật
để gia tŕ. Kế
đó, dùng Yết Ma Kim Cang Tát Đỏa để gia tŕ
ḥng làm sự nghiệp. Như trong Đại Bổn có hai mươi loại tướng
khuyên bảo hăy nghe
pháp. Đức Phật v́ ngài Chấp Kim Cang trừ hết
thảy trần cấu, và do các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh
chưa trọn đủ pháp yếu, sẽ chẳng thể
nhanh chóng thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, nên nay lại nói cho trọn
vẹn các ư nghĩa trước đó, khiến cho pháp yếu
được viên măn. Nếu chẳng hiểu biết
điều ấy, các pháp trước đó sẽ đều
chẳng trọn vẹn. Do nhân duyên này mà khuyên [thính chúng] hăy
tŕ chắc thật. Hai mươi nhân duyên như thế sẽ
rộng nói. Những điều chỉ bày trước kia
là sức tam-muội; v́ thế, chỉ bày ngoại cảnh.
Nay dùng nội tâm để quán, do trong tự tâm của hành
giả trọn đủ biển cả Phật hội.
Mười phương cùng thông với nhau thành một cơi
Phật, chỉ tự ḿnh hiểu rơ, người khác chẳng
thấy. Do vậy, gọi là Bí Mật Mạn-đồ-la.
Ví như làm Mạn-đồ-la
ở bên ngoài, trước hết là tŕ địa (b́nh trị cơi đất),
dẹp yên nhân ngă, chúng sanh, thọ giả, trừ bỏ các
thứ như cát, sỏi, gốc cây chết khô v.v… Kế
đó, san phẳng, sửa sang, sao cho [cuộc đất ấy]
cứng chắc, phẳng
phiu, th́ mới có thể kiến lập
[đàn tràng] tại
đó. Nay cũng giống như thế, muốn kiến lập
Đại Mạn-đồ-la ở trong tâm, cũng cần
phải trước hết sửa sang cho đất bằng
phẳng, trừ bỏ các thứ lỗi họa như gốc
cây chết khô v.v… . Ở đây nói “thân địa”, tức
là hàm chứa đất, nước, lửa, gió. Trị
địa như thế nào? Trước hết, hăy nên kiến
lập ṭa Du Già. “Ṭa Du Già” tức là dùng chữ trong câu
chân ngôn mà chính ḿnh tŕ tụng để gia tŕ. Lấy chữ
đầu tiên nhất của chân ngôn được tŕ tụng
ấy, coi đó là chân ngôn tâm. Hăy nên
bỏ cái chấm trên chữ ấy, chỉ lấy bản
thể, tức là chữ A. Chữ A chính là đất kim
cang. Sở dĩ như vậy là v́ ví như lúc đức
Thích Ca mới thành Chánh Giác, nhập Kim Cang tam-muội mà
thành Chánh Giác,
trừ đất kim cang ra, không ǵ có thể
chịu đựng nổi [thân của bậc Chánh Đẳng
Giác]. Nay ở đây cũng giống như thế, v́ muốn
kiến lập hội Đại Mạn-đồ-la của
đức Tỳ Lô Giá Na trong nội tâm, nếu chẳng kiến
lập tâm địa kim cang trước hết, sẽ chẳng
thể an lập!
Chữ A là kim cang luân. V́ muốn ngự lên ṭa kim cang; trước hết,
quán chữ A làm đầu, lại dùng kim cang để tŕ
kim cang. Hăy nên quán chữ
ấy có h́nh vuông, nhưng h́nh thể của chữ ấy
cũng là vuông. Quán chữ ấy vuông vắn, có màu kim cang,
đầy ắp nội thân của hành giả, giống
như Địa Đại nơi thân,
không đâu chẳng trọn khắp!
Kế đó, nhập thủy
tam-muội, tức là quán chữ Phạ (व,
Va) ở trong vầng tṛn sáng. Sắc
nó trắng ngần, cũng trọn khắp nơi thân, mà
h́nh thể của chữ này cũng là tṛn. Trước
đó đă quán
chữ A trọn khắp thân, nay lại quán [chữ
Phạ] trọn khắp thân, ví như Thủy Đại phủ
trọn khắp thân mà chẳng
trở ngại Địa Đại. Kế đó, quán chữ
Ra (र) có h́nh tam giác, màu đỏ.
Hăy quán chữ này có h́nh tam giác. Chữ Ra cũng trọn khắp
hết thảy mọi nơi, giống như Hỏa Đại
trong thân. Kế đó, quán chữ Ha (ह)
có h́nh như nửa vầng trăng nghiêng, sắc đen.
Trong chữ ấy, lại có màu đen sẫm,
cũng trọn khắp trong thân như Phong Đại
nơi thân. Địa, Thủy, Hỏa, Phong là ngoại cảnh.
Từ ngoài chiếu vào trong, tức
là các chữ A, Phạ, Ra, Ha để gia tŕ cái thân. Chữ
A ấy chính là tánh pháp giới, do hết thảy các pháp vốn
bất sanh, tức là giống như pháp giới. Giống
như chữ A, hăy nên biết các thứ nước, lửa,
gió khác cũng là tánh pháp giới thanh tịnh, từ nhân
duyên khởi mà biết vốn bất sanh. Dùng mỗi chữ
chân ngôn gia tŕ ấy để gia tŕ, hăy nên biết các chữ ấy bổn
tánh thanh tịnh. “Duyên” là do đấy mà được
sanh.
“Nghiệp
kim cang gia hộ hữu t́nh, ĺa hết các lỗi họa
như gốc cây chết khô của trần, hữu t́nh thọ
giả, sanh bởi Măn Nô, Mạt Na Tiên Sanh[7],
tác giả…”: Kim cang có hai loại:
- Một
là trí kim cang.
-
Hai là nghiệp kim cang. Loại này trong tiếng Phạn gọi là Yết
Ma kim cang (Karmavajra), ư nói “tạo
tác sự nghiệp”.
Do
dùng kim cang nghiệp để gia tŕ mà tịnh trừ đất
ấy. “Ĺa hết thảy các trần”: “Trần” có
nghĩa là “lỗi
họa”.
Muốn b́nh trị đất ấy, trước hết,
hăy nên loại bỏ cát, sỏi, gốc cây chết khô vv… Đó chính là
hết thảy các cấu kiến. Kế đó, nói đại
lược tướng ấy, tức là các thứ kiến
như hữu t́nh, thọ giả v.v… và [kiến chấp]
sanh bởi Măn Nô (Mānava, Thắng
Ngă), tức một loại kiến chấp của ngoại
đạo. Măn Nô là Ngă, ư nói: Hết thảy đều
nương vào Ngă mà sanh. “Mạt Na Tiên sanh” có nghĩa “hết
thảy đều sanh từ đó” (tương ứng
với chữ Ư Sanh trong chánh kinh). Đấy cũng là một
loại kiến chấp của ngoại đạo, có tánh chất cấu chướng, bất
b́nh. Cũng dùng kim cang tác nghiệp để trừ phá lỗi
bất b́nh đó, trừ khử gốc cây chết khô [trần
cấu, chấp trước v.v…] th́ mới tịnh kết
tâm địa này để kiến lập Bí Mật Đại
Mạn-đồ-la được!
(Kinh)
Phương đàn tứ môn, Tây hướng thông đạt,
châu toàn giới đạo. Nội hiện ư sanh bát diệp
đại liên hoa vương, trừu hành phu nhụy, thái
huyền đoan diệu. Kỳ trung, Như Lai nhất thiết
thế gian tối tôn đặc thân, siêu việt thân ngữ
ư địa chí ư tâm địa, đăi đắc thù thắng
duyệt ư chi quả. Ư bỉ Đông phương Bảo
Tràng Như Lai, Nam phương Khai Phu Hoa Vương Như
Lai, Bắc phương Cổ Âm Như Lai, Tây phương
Vô Lượng Thọ Như Lai, Đông Nam phương Phổ
Hiền Bồ Tát, Đông Bắc phương Quán Tự Tại
Bồ Tát, Tây Nam phương Diệu Cát Tường Đồng
Tử, Tây Bắc phương Từ Thị Bồ Tát. Nhất
thiết nhụy trung, Phật Bồ Tát Mẫu, Lục Ba
La Mật, tam-muội quyến thuộc,
nhi tự trang nghiêm. Hạ liệt Tŕ Minh chư Phẫn Nộ
chúng. Tŕ Kim Cang Chủ Bồ Tát dĩ vi kỳ hành, xử
vu vô tận đại hải. Nhất thiết Địa
Cư Thiên đẳng, kỳ số vô lượng,
nhi hoàn nhiễu chi.
(經)方壇四門,西向通達,周旋界道。內現意生八葉大蓮華王,抽莖敷𧄜綵絢端妙。其中如來一切世間最尊特身,超越身語意地至於心地逮得殊勝悅意之果。於彼東方寶幢如來、南方開敷華王如來、北方鼓音如來、西方無量壽如來,東南方普賢菩薩、東北方觀自在菩薩、西南方妙吉祥童子。西北方慈氏菩薩。一切𧄜中,佛菩薩母六波羅蜜三昧眷屬而自莊嚴。下列持明諸忿怒眾、持金剛主菩薩以為其莖,處于無盡大海。一切地居天等,其數無量而環繞之。
(Kinh:
Đàn h́nh vuông, mở bốn cửa. [Cửa ở]
phương Tây mở thông suốt. Các đường
đi lại sát đường ranh đều trọn khắp.
Trong ấy, hiện ra đại liên hoa vương tám cánh
sanh bởi ư, có cuống và tua nhụy tỏa ra, nhiều
màu rực rỡ, đoan nghiêm, đẹp đẽ. Trong ấy,
thân tôn quư đặc biệt nhất trong thế gian của
Như Lai, siêu việt thân ngữ ư địa, cho tới
tâm địa, đạt được cái quả thù thắng
đẹp ư. Ở phương Đông của đàn ấy
là Bảo Tràng Như Lai, phương Nam là Khai Phu Hoa Vương Như
Lai, phương Bắc là Cổ Âm Như Lai, phương
Tây là Vô Lượng Thọ Như Lai, phương Đông
Nam là Phổ Hiền Bồ Tát, phương Đông Bắc
là Quán Tự Tại Bồ Tát, phương Tây Nam là Diệu
Cát Tường Đồng Tử, phương Tây Bắc
là Từ Thị Bồ Tát. Trong hết thảy các nhụy,
là mẹ của Phật, Bồ Tát, Lục Ba La Mật, và tam-muội
quyến thuộc để tự trang nghiêm. Phía dưới, xếp bày các vị
Tŕ Minh Phẫn Nộ.
Tŕ Kim Cang Chủ Bồ Tát làm cuống của đóa hoa ấy,
ở trong biển cả vô tận. Hết thảy các Địa
Cư Thiên số đến vô lượng vây quanh).
[Đàn tràng có] bốn cạnh,
bốn cửa. Cửa
hướng về phương Tây thường mở
để làm cửa ra vào. Trọn khắp theo các cạnh,
giống như trong phần trước đă chỉ bày về
ngoại tướng: Cờ xí, các dấu hiệu biểu
trưng được đặt trên các cửa, và tám cây cột
báu lớn xếp quanh. Trên trụ, treo các thứ trang nghiêm
như chuỗi ngọc báu, phất trần trắng v.v… [Hăy quán tưởng] khiến
cho [đàn tràng trong] nội tâm Du Già cũng chẳng khác với
các điều ấy. Nhưng mỗi mỗi thứ đều
là pháp môn trong nội tâm, hăy nên hỏi về danh nghĩa vậy.
Trong ấy, có đại liên hoa vương sanh bởi ư,
tám cánh, có tua nhị, màu sắc vẽ vời đẹp
đẽ trọn khắp. Đức Như Lai ngự
trong đó là đấng tôn quư trong hết thảy mọi
người. Ngữ và ư siêu việt, thân tâm địa ngự
lên đó, trao truyền cái quả vui sướng thù thắng
tột bậc đạt được trong tâm địa. Tức là ở
nơi cuộc đất bằng phẳng, trang nghiêm to lớn
trong nội tâm, có ṭa đại liên hoa vương đặt
trên đó. Hoa vương to lớn hiển hiện như
trong phần trên [đă nói], bản thể tịnh diệu,
lượng đồng pháp giới. Nay [đại liên hoa
vương] được quán bởi nội tâm cũng giống
như thế. Do vậy, được gọi là “đại
hoa vương”. Hoa ấy có cọng, có nhụy, các màu sắc
đẹp đẽ xen lẫn nhau, đều do nội
tâm quán thành. Như người thợ vẽ vận dụng,
sắp xếp các màu để vẽ các h́nh sắc, tuy
chúng do duyên mà ḥa hợp, chẳng có tự tánh, nhưng
tướng mạo rành rành. Trên ấy, có đấng tôn quư
trong hết thảy mọi người, tức là Tỳ Lô
Giá Na Phật. Đấy chính là Đại Tỳ Lô Giá Na Phật
trong tự tánh vô sư trí của hành giả, chẳng phải
từ bên ngoài mà tới. Thân, ngữ, ư của
Ngài siêu việt. Thân, ngữ, ư tâm địa
đạt tới tâm địa thanh tịnh, đạt
được cái quả thù thắng đẹp ḷng, vượt ngoài tâm
địa ô nhiễm, đạt tới quả địa
nơi tịnh tâm.
“Thân
tâm địa đăng thăng”: Như hết thảy
người đời chưa đạt
được ba thứ thân, khẩu, ư b́nh đẳng; v́
vậy, chẳng thể nhập pháp môn tâm địa này.
Các lỗi nơi ba nghiệp Như Lai đều ĺa, đạt
được tam b́nh đẳng
(thân, khẩu, ư b́nh đẳng),
đạt tới địa vị của hết thảy
chư Phật, tức là đạt được tâm
địa vui sướng của Tỳ Lô Giá Na Phật
nơi Bồ Đề tâm thanh tịnh, tôn quư nhất trong
hết thảy. Lại nữa, hết thảy chúng sanh
đều cùng có tánh này, Như Lai bí tạng cũng trọn
đủ chẳng thiếu, nhưng [do họ] chẳng thể
tự tin, chẳng tự biết rơ! Chỉ có Như Lai hiểu
rơ, tự chứng, đều v́ hết thảy mà giác ngộ
trọn khắp, khiến cho họ cũng đều cùng
đạt được điều ấy [tức Như
Lai bí tạng]. Do vậy, Ngài được gọi là “nhất
thiết chúng sanh trung tôn” (đấng tôn quư trong hết
thảy chúng sanh).
“Duyệt
ư quả” (Cái quả đẹp
ḷng) tức là cái quả tối hậu. Hăy
nên biết: Đạt được tâm địa ấy,
sẽ chính là Tỳ Lô Giá Na Như Lai. “Thọ dữ”
(trao cho) tức là có người truyền trao. Lại do tự
quán sát tu hành mà đạt được cái quả ấy,
dường như được người khác trao cho,
nhưng thật ra là tự ngộ, chẳng do người
khác mà đạt được. Giống như trong phần
trên, đức Tỳ Lô Giá Na ngự trên hoa đài. Nơi
tám cánh, theo thứ tự, ở phương Đông, quán Bảo Tràng Phật (Ratnaketu), Ngài cũng có tên là Bảo Tinh Phật. Phương Nam là
Khai Phu Hoa Vương Phật (Saṃkusumita-rāja). Nhân Đà La cũng có nghĩa là Vương. Nếu
lập lại hai chữ Vương th́ không tiện, nên giữ
nguyên âm tiếng Phạn. Phương Bắc là Cổ Âm Phật
(Dundubhisvara). Trong phần trước là đặt Phật A Súc, nay
sửa thành danh xưng này. Phương Tây là A Di Đà Phật
(Amitābha). Nơi các cánh sen ở bốn góc,
phương Đông Nam là Phổ Hiền
(Samantabhadra), Đông Bắc là Quán Tự Tại (Avalokiteśvara), Tây Bắc là Di Lặc (Maitreya),
Tây Nam là Văn Thù
(Mañjuśrī-kumārabhūta).
Trong các nhụy hoa, đặt Phật Mẫu,
các Ba La Mật, tam-muội v.v… Phật Mẫu tức
là Hư Không Nhăn (Gagana-locanī) v.v… Phía dưới cánh hoa, đặt các vị Tŕ
Minh Phẫn Nộ v.v… đều ở dưới cánh hoa.
Cọng hoa ấy do Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ cầm,
coi đó là cọng hoa. Lại có vô biên đại hải
chúng, tức các vị kim cang. Cũng có
đủ loại vật cúng như hoa, hương v.v… Nay
chỉ nói đại lược. Trong phần sau, sẽ có
phương tiện xếp đặt. Phía dưới cọng
hoa ấy, quán nước trong biển cả. Phía ngoài bờ
biển, do trở thành tam-muội-da, cần phải chuẩn
bị hoa v.v… v́ muốn cho hết thảy đều vào
đàn tràng, tâm nghĩ tới hoa mà cho họ tiến nhập.
Các vị Địa Cư Thiên đều y theo
phương vị của họ để quán tưởng
ḥng xếp đặt.
(Kinh)
Nhĩ thời, hành giả vị thành tam-muội-da cố,
ưng dĩ ư sanh hương, hoa, đăng minh, đồ
hương, chủng chủng hào thiện, nhất thiết
giai dĩ hiến chi. Ưu-đà-na viết: - Chân ngôn giả
thành đế, đồ họa Mạn-đồ-la, tự
thân vi đại ngă. Ra tự tịnh chư cấu, an trụ
Du Già ṭa. Tầm niệm chư Như Lai, đảnh thọ
chư đệ tử. A tự đại không điểm.
Trí giả truyền diệu hoa, linh tán ư tự thân, vị
thuyết nội sở kiến. Hành nhân tông phụng xứ,
thử tối thượng đàn cố, ưng dữ
tam-muội-da.
(經)爾時行者為成三昧耶故,應以意生香華燈明塗香種種餚膳,一切皆以獻之。優陀那曰:真言者誠諦,圖畫漫荼羅,自身為大我,囉字淨諸垢。安住瑜伽座,尋念諸如來,頂授諸弟子,阿字大空點,智者傳妙花,令散於自身,為說內所見,行人宗奉處,此最上壇故,應與三昧耶。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, hành giả v́ để thành tựu tam-muội-da,
hăy nên dùng hương, hoa, đèn sáng, hương bôi, các thứ
thức ăn ngon sanh bởi ư, hết thảy đều
đem dâng hiến. Kệ Ưu-đà-na rằng: - Bậc
chân ngôn chân thành, vẽ vời Mạn-đồ-la, tự
thân là Đại Ngă. Chữ Ra sạch các cấu, an trụ
ṭa Du Già. Nghĩ nhớ các Như Lai, chữ A, chấm
đại không, đặt đỉnh
đầu đệ tử. Bậc trí truyền hoa đẹp,
bảo rải nơi thân ḿnh, nói điều thấy trong
thân. Chỗ hành nhân tôn phụng, chính là đàn tối thượng,
nên trao tam-muội-da).
Lại nữa, từ “[ư
sanh hương] hoa” trở đi là lời kệ. “Ư
sanh” tức là các thứ hương, hoa v.v… [để
dâng cúng] đều sanh từ tâm. “Họa chi ân cần”
(vẽ ân cần) tức là người tŕ tụng xếp
đặt [các thứ ấy] trong thân tâm giống như vẽ
vời tỉ mỉ. Trên tâm Mạn-đồ-la ấy (Mạn-đồ-la
được quán tưởng trong tâm),
có Phật ngự trong đó, nên nói là Đại Ngă. Đại
Ngă chính là tên gọi khác của Phật. “Tự tác” tức
là do nội quán tạo ra rành rẽ, phân minh. [Tức là] Bí Mật
Mạn-đồ-la do thầy quán thấy đệ tử
thật đúng là pháp khí, tâm đệ tử] chân thành, nguyện
cầu [được lănh nhận, tu học Mật pháp],
nhưng sức chẳng đủ các duyên như trong phần
trước để thực hiện [đàn tràng Mạn-đồ-la]
rộng răi, thầy bèn làm pháp này để độ. Ngoài
[trường hợp này] ra, đều phải nên có đủ
các duyên, chẳng được dùng theo kiểu này;
nhưng nếu đệ tử đă đắc Du Già, thầy
muốn khiến cho tṛ nhập Phật hội bí mật,
cũng làm theo kiểu này.
“Chữ
Ra tịnh trừ”: Trước đó, đă dùng chữ
A và chữ Ra để tịnh trừ, cũng giống
như pháp trong phần trước để tịnh trừ
cho đệ tử. Tức là như trong phần trước,
dùng phương tiện quán lửa nơi chữ Ra để
thiêu trừ nghiệp tích tụ chướng ngại pháp của
người ấy,
khiến cho đều hết sạch. Lại dùng pháp thủy
cam lộ tưới rảy,
khiến cho từ tro tàn, sanh ra mầm đạo. V́ thế,
kế đó, thầy trao truyền cho tṛ chữ Ám (अं). Thầy hăy nên trụ
trong ṭa Du Già, quán chữ A có thêm một chấm, đặt
trên chỗ giáp mí xương chữ thập nơi đỉnh
đầu của đệ tử. Hăy nên biết: Trên chữ
ấy có chấm, tức là pháp thủy cam lộ dùng để
rưới đỉnh đầu người ấy. “Tầm
niệm Như Lai” (liền nghĩ tới Như Lai), tức
là do thầy sắp độ đệ tử nhập tạng
bí mật, liền nghĩ tới phương tiện do tam
thế chư Phật đă hành, muốn khiến cho [đệ
tử] cùng chứng, cùng hộ tŕ. Thầy đă tự trụ
trong ṭa Du Già, dùng thân tâm của chính ḿnh để làm hải
hội của Phật, chỉ riêng ḿnh biết rơ, người
khác chẳng thấy. Kế đó, trao hoa cho đệ tử,
dạy đệ tử gieo hoa trên người thầy
để cúng dường vị Phật trong nội tâm,
quán bổn duyên, tùy theo bổn duyên của người ấy
mà quán pháp này. Nếu Bổn Tôn nhiếp thọ hoa, ở
trong ấy (ở trong nội tâm của thầy), thầy
đều quán thấy chẳng sai, nhưng
đệ tử chưa đắc Du Già, chỉ thấy
hoa rơi trên thân thầy. Chỗ hoa rơi xuống, đại
lược tim là vị trí của hoa tám cánh, từ rốn
đến tim là kim cang đài, rốn là biển cả. Từ
rốn tới chân là tôn vị của các vị Địa
Cư. Điều này có nghĩa là ǵ? Chính là từ biển
đại bi của chư Phật sanh ra kim cang trí. Từ
kim cang trí, sanh ra hết thảy các Phật hội. Trong hết
thảy các Mạn-đồ-la, đấy là tối thượng,
không chi sánh bằng!
Tự
thấy xong, thầy bèn hướng đến tṛ bảo
ban, tức là nói chỗ thầy thấy hoa rơi trong tâm.
Kinh văn trong phần trước đă nói người
tŕ tụng quán nội tâm trong nhục thân chia thành tám phần,
tạo thành tám cánh hoa nở x̣e, và đặt chữ Ra
nơi mắt v.v… Nếu hành nhân chẳng tu thành tựu
như thế, mà có thể thực hiện pháp bí mật này
để độ người, chẳng có lẽ ấy!
Phải nên tự thành tựu trước đă, kham trụ
trong địa vị Du Già làm thầy, lại c̣n được
A-xà-lê hứa khả th́ mới có thể thực hiện
pháp này. Nay thực hiện pháp này tuy là phương tiện
để độ người khác, nhưng nếu lúc
hành giả đối với pháp này mà tự tŕ tụng,
quán chiếu, cũng hăy nên đúng như pháp mà tu tập.
Dùng pháp trong cách quán đảnh này để tự xối
rưới, nhằm trừ hết thảy các chướng,
nhanh chóng nhập Phật hội. Phẩm trước có tên
là Nhập Bí Mật, phẩm này cũng nói là Nhập. Đấy
là Nhập trong Chứng Nhập, giống như người
đă vào nhà, mỗi thứ [trong nhà] đều phân biệt, biết rơ cặn kẽ,
ra vào tự tại, tất cả các thứ trong nhà đều
biết rành, khác hẳn kẻ mới vào cửa!
14. Phẩm thứ mười bốn:
Tám ấn bí mật (Bí mật bát ấn phẩm đệ
thập tứ, 祕密八印品第十四)
(Kinh) Nhĩ thời, Tỳ
Lô Giá Na Thế Tôn phục quán chư đại chúng hội,
cáo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Phật tử! Hữu
bí mật bát ấn, tối vi bí mật. Thánh thiên chi vị, oai thần sở
đồng, tự Chân Ngôn đạo dĩ vi tiêu xí, đồ
cụ Mạn-đồ-la như Bổn Tôn tương ứng.
Nhược y pháp giáo, ư Chân Ngôn môn tu Bồ Tát hạnh
chư Bồ Tát ưng như thị tri, tự thân trụ
Bổn Tôn h́nh, kiên cố bất động. Tri Bổn Tôn
dĩ, như Bổn Tôn trụ, nhi đắc Tất
Địa.
(經)爾時毘盧遮那世尊復觀諸大眾會,告執金剛祕密主言:佛子!有祕密八印,最為祕密。聖天之位威神所同,自真言道以為幖幟,圖具漫荼羅如本尊相應。若依法教,於真言門修菩薩行諸菩薩應如是知,自身住本尊形堅固不動。知本尊已,如本尊住而得悉地。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn lại quán các đại chúng hội,
bảo Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Phật tử!
Có tám ấn bí mật là bí mật nhất. Các địa vị
tôn thánh, chư thiên sẽ có oai thần như nhau [nếu
vận dụng tám ấn này], tự dùng đạo Chân Ngôn
để biểu lộ, vẽ Mạn-đồ-la trọn
đủ tương ứng như Bổn Tôn [của các ấn
ấy]. Nếu vâng theo pháp giáo, đối với các vị
Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong Chân Ngôn môn, hăy nên biết
như thế, tự thân trụ trong h́nh tượng của
Bổn Tôn, kiên cố bất động. Đă biết Bổn
Tôn rồi sẽ trụ như Bổn Tôn,
đạt được Tất Địa).
Lúc bấy giờ, Tỳ Lô
Giá Na Thế Tôn quán sát đại chúng hội, bảo ngài
Kim Cang Thủ rằng: “Này Bí Mật Chủ! Có tám ấn
bí mật, tột bậc bí mật”. Trong phẩm trước,
đức Như Lai đă nói pháp tiến nhập, trụ trong Bí Mật
Mạn-đồ-la xong. Lúc ấy, các đại chúng trong hội
lại nghĩ như thế này: “Pháp bí mật, cực khó
hiểu như thế, lại có phương tiện nào để
trọn
đủ các tướng, khiến cho hành giả Chân Ngôn
được thành tựu mau chóng hay không?” Khi đó, đức
Như Lai biết tâm niệm của đại chúng: “Trong
pháp bí mật này cũng có pháp hết sức bí mật
ư? Hay là bằng với pháp này?” Do chẳng thể lường,
nên họ
chẳng
thể thốt lời thưa hỏi. V́ thế, đức
Phật chẳng đợi họ hỏi, chỉ là không hỏi
mà tự nói. Cái gọi là “có hiệu nghiệm thần diệu”,
[tức là] nếu lúc hành giả dù “trong” (quán tưởng thực
hiện Mạn-đồ-la trong tâm như trong hai phẩm
trước đă dạy) hay “ngoài” (thật sự chọn
lựa cuộc đất, tô vẽ Mạn-đồ-la), xếp
đặt tọa vị của các vị Bổn Tôn trong Mạn-đồ-la
rồi dùng tám ấn ấy và chân ngôn của chúng để
gia tŕ, các vị tôn thánh ấy sẽ tự nhiên giáng phó đạo
tràng, thỏa măn các nguyện sự thuộc về chánh hạnh
của họ. Lại c̣n xếp đặt tọa vị của
Bổn Tôn, sẽ có cùng một hiệu nghiệm thần
diệu. “Cùng” tức là bằng với oai thần của
Bổn Tôn vậy. Đấy chính là tánh cảm ứng chẳng
thể nghĩ bàn, giống như mặt trời, mặt
trăng ứng hiện trong nước, lửa,
gương c̣n chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ sự
cảm ứng trong pháp giới chẳng thể nghĩ bàn của
Như Lai! Đấy là ấn để A-xà-lê hành, chớ
nên tự tiện tu tập. Dẫu là người đă nhập
Mạn-đồ-la, cũng chớ nên tự tiện mà kết,
huống hồ người khác ư?
Không chỉ lấy đường
hướng tiến nhập bổn chân ngôn làm đặc
trưng, “đường hướng” là như lục
đạo v.v…; ở đây là “chân ngôn thú” (真言趣, đường hướng để
tiến nhập chân ngôn). Lại c̣n có Mạn-đồ-la
tương ứng với Bổn Tôn, như Bổn Tôn có
pháp như thế, ta cũng có. V́ thế, trọn đủ
(“chuyện như thế” tức là giống như Bổn
Tôn trong phần trên, nghĩa là nói đến h́nh sắc, tọa
vị, [dáng vẻ] hoan hỷ cũng thế). Tự thân [hành
giả] trụ
trong h́nh tướng của Bổn Tôn, hăy nên biết
như thế này: Do hiểu biết giống như địa
vị Bổn Tôn mà đạt được Tất Địa.
Nếu hành giả nương theo tám ấn, chân ngôn và Mạn-đồ-la
tương ứng để phối ứng với trụ
vị (tọa vị an trụ của Bổn Tôn trong Mạn-đồ-la), nếu
có thể
biết điều ấy, sẽ gần với
Tất Địa, chẳng lâu sau sẽ đạt
được.
“Như Bổn Tôn trụ” (trụ trong [Mạn-đồ-la]
giống như Bổn Tôn): Trong phần trước, tuy phối
ứng với Bí Mật Mạn-đồ-la, nhưng
nếu
thỉnh Bổn Tôn, cần phải thực hiện
phương pháp này th́ mới được. Nếu chẳng
làm pháp này, sẽ chưa viên măn! Kinh này luôn
là trước sau thành tựu lẫn nhau, văn tự cùng
v́ một sự mà khéo léo liên kết lẫn nhau, hành giả
cần phải hết sức [chú tâm] đối chiếu
và xem xét th́ mới biết được! Nếu lúc hành giả
tŕ tụng, cũng cần phải làm pháp này, tức là thỉnh
Bổn Tôn và mong nguyện v.v… th́ [Tất Địa] sẽ
tự mau chóng kiến lập.
(Kinh) Vân hà bát ấn? Vị
dĩ trí huệ tam-muội thủ tác không tâm hiệp
chưởng, nhi tán Phong luân, Địa luân như phóng quang
diễm. Thị Thế Tôn bổn oai đức sanh ấn.
Kỳ Mạn-đồ-la tam giác, nhi cụ quang minh.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, lam lạc, sa ha.
(經)云何八印?謂以智慧三昧手作空心合掌,而散風輪地輪如放光焰,是世尊本威德生印。其漫荼羅三角而具光明,彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。㘕𡀩。莎訶。
(Kinh: Thế
nào là tám ấn? Chính là dùng tay trí huệ và tam-muội (tay phải
và tay trái) kết không tâm hiệp chưởng. Duỗi các
ngón Phong (ngón trỏ) và Địa (ngón út) như
ngọn lửa quang minh túa ra. Đó là ấn Bổn Oai Đức Sanh của đức
Thế Tôn. Mạn-đồ-la của ấn ấy có h́nh
tam giác, trọn đủ quang minh. Chân ngôn của ấn ấy
là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, lam lạc, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
raṃ raḥ svāhā”).
Đây là ấn thứ
nhất. Kết Tam Bổ Trá hiệp chưởng (Saṁpuṭa: Không tâm hiệp chưởng), hai
ngón trỏ và ngón út dựng thẳng,
tách nhau ra, các ngón khác như cũ (vẫn áp vào nhau trong
tư thế chắp tay) là thành ấn. Đấy là ấn
Đại Oai Đức Sanh của Tỳ Lô Giá Na Như Lai. Từ trong ấy,
đại oai đức của Như Lai sanh ra. Đó là
quang minh của trí Nhất Thiết Trí. Mạn-đồ-la
của ấn ấy có h́nh tam giác. Bốn phía lại có bốn
tam giác vây quanh, cho nên nói là “châu” (周, giáp ṿng). Hăy nên quán Tỳ Lô Giá Na Thế
Tôn ngự ở trong ấy. Trong tam giác Mạn-đồ-la,
hăy nên quán hoa tám cánh. Trên đài hoa là Mạn-đồ-la tam
giác, tức là ṭa Du Già [được nói] trong phần trên.
Tưởng
đầu
nhọn của h́nh tam giác hướng xuống dưới,
có màu đỏ. [Trong khi đó], phần trước nói
đầu nhọn của tam giác [trong Nhất Thiết Trí Ấn]
hướng lên, nay [trong Mạn-đồ-la của ấn
này, đầu nhọn của h́nh tam giác] hướng xuống
dưới, do nghĩa dụng khác biệt! Tưởng đức Phật ngự
trong đàn ấy để kết ấn Oai Quang. Chân ngôn
là Lam Lạc (रंरः, raṃ raḥ).
(Kinh) Tức dĩ thử
ấn, nhi khuất Phong luân tại Hư Không luân thượng,
như Phạ tự h́nh, thị Thế Tôn Kim Cang Bất Hoại ấn. Kỳ
Mạn-đồ-la như Phạ tự tướng, hữu
kim cang quang. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, văm phạ, sa ha.
(經)即以此印,而屈風輪在虛空輪上如嚩字形,是世尊金剛不壞印。其漫荼羅如嚩字相,有金剛光。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。鑁嚩。莎訶。
(Kinh: Liền dùng ấn
ấy, gập ngón Phong (ngón trỏ) ở trên ngón Hư Không
(ngón cái) như h́nh chữ Phạ, chính là ấn Kim Cang Bất
Hoại của đức Thế Tôn. Mạn-đồ-la
như h́nh chữ Phạ, có quang minh màu kim cang. Chân ngôn của
ấn ấy là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, văm phạ, sa ha - Namaḥ samanta-buddhānāṃ,
vaṃ vaḥ svāhā”).
Ấn thứ hai th́ kết ấn
như trước, nhưng cùng gập hai ngón trỏ chỉ
vào đầu hai ngón cái, hợp lại như h́nh chữ Phạ
(व, Va). Đấy là ấn
Kim Cang Bất Hoại. Kim Cang là Như Lai trí, chẳng sanh từ
các duyên, nên chẳng thể phá hoại.
Do vậy, gọi là Kim Cang Bất Hoại. Mạn-đồ-la
có h́nh tṛn, giống như chữ Phạ, dùng chày kim cang vây
quanh (hăy nên là chày kim cang có quang minh như h́nh ngọn lửa).
Các chày kim cang ấy cũng xếp quanh bốn phía của Mạn-đồ-la,
giống như trong phần trước. Nói [Mạn-đồ-la
có h́nh] chữ Phạ, nghĩa
là Mạn-đồ-la ấy tṛn trặn, sắc trắng,
cũng ở phía trên đài hoa. Trong ấy, có Đại Nhật
Như Lai, những phần sau đều phỏng theo lệ
này. Nhưng tám ấn này, người tŕ tụng tùy ư chọn
lấy một ấn để tùy theo từng sự mà sử
dụng. Chân ngôn là “văm phạ” (वं वः,
vaṃ vaḥ).
(Kinh)
Phục dĩ sơ ấn, nhi tán Thủy luân, Hỏa luân.
Thị danh Liên Hoa Tạng ấn. Kỳ Mạn-đồ-la
như nguyệt luân tướng, dĩ Ba Đầu Ma hoa
nhi vi nhiễu chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, tảm sách, sa ha.
(經)復以初印,而散水輪火輪,是名蓮華藏印。其漫荼羅如月輪相,以波頭摩華而圍繞之。彼真言曰。南麼三曼多勃馱喃。糝索。莎訶。
(Kinh:
Lại dùng ấn đầu tiên, tách ngón Thủy (áp út) và Hỏa
(giữa). Đó gọi là ấn Liên Hoa Tạng. Mạn-đồ-la
như h́nh vầng trăng, dùng hoa Ba Đầu Ma (padma) vây
quanh. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, tảm sách, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, saṃ saḥ svāhā”).
Ấn
thứ ba, làm như trước, tức là Tam Bổ Trá hiệp
chưởng. Hai ngón áp út và ngón giữa tách ra. Hai ngón út và trỏ
trước đó đă tách ra, giống như đóa hoa mới
cắt. Đấy là ấn Như Lai Tạng, cũng gọi
là ấn Liên Hoa Tạng. Mạn-đồ-la làm thành h́nh
trăng tṛn giống như trên, nhưng bốn phía
được bao quanh bởi hoa sen, đó là
điểm khác biệt. Trong ấy, cũng quán Đại
Nhật Như Lai. Chân ngôn là “tảm sách” (सं सः,
saṃ saḥ).
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn, khuất nhị Địa luân
nhập ư chưởng trung, thị Như Lai vạn
đức trang nghiêm ấn. Kỳ Mạn-đồ-la do
như bán nguyệt h́nh, dĩ Đại Không điểm vi
chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, hàm hạc, sa ha.
(經)即以此印,屈二地輪入於掌中,是如來萬德莊嚴印。其漫荼羅猶如半月形,以大空點圍之。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。含鶴。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấn ấy, gập hai ngón Địa (út) vào
ḷng bàn tay, tức là ấn vạn đức trang nghiêm của
Như Lai. Mạn-đồ-la của ấn ấy giống
như h́nh bán nguyệt, có cái chấm Đại Không vây
quanh. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hàm hạc, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, haṃ haḥ svāhā”).
Ấn
thứ tư giống như ấn thứ ba trước
đó, hai ngón út cùng gập vào ḷng bàn tay. Đây là ấn Phật
Âm Trang Nghiêm, cũng là ấn Vạn Đức Trang Nghiêm,
cũng nói là Nội Ngoại Trang Nghiêm. Như người
thế gian có đủ loại nhà cửa, y phục, sự
việc, nơi chốn v.v… Các thứ vật báu, không ǵ chẳng
có để trang nghiêm, nên gọi là Vạn Đức Đều
Đủ. Nay ở đây,
dù trong hay ngoài, các đức trang nghiêm của Như Lai
đều trọn vẹn. Mạn-đồ-la của ấn ấy
có h́nh bán nguyệt, bên cạnh dùng các chấm
để vây quanh. Các điều khác đều tưởng
giống như trên. Chân ngôn là “hàm hạc” (हं हः,
haṃ haḥ).
(Kinh)
Phục dĩ Định Huệ thủ, tác vị khai phu
hoa hiệp chưởng, kiến lập nhị Hư Không
luân, nhi sảo khuất chi, thị Như Lai Nhất Thiết
Chi Phần Sanh ấn. Kỳ Mạn-đồ-la như Ca
La Xả măn nguyệt chi h́nh, kim cang vi chi. Bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ám á, sa ha.
(經)復以定慧手作未開敷華合掌,建立二虛空輪而稍屈之,是如來一切支分生印。其漫荼羅如迦羅捨滿月之形,金剛圍之。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。暗噁。莎訶。
(Kinh:
Lại dùng tay Định
(trái) và Huệ
(phải), chắp lại
như h́nh đóa hoa chưa nở. Dựng hai ngón cái lên,
nhưng hơi cong. Đấy là ấn Như Lai Nhất
Thiết Chi Phần Sanh. Mạn-đồ-la của ấn ấy
như h́nh cái b́nh gốm [bụng căng phồng] như
trăng tṛn, chày kim cang vây quanh. Chân ngôn của ấn ấy
là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, ám á, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, aṃ aḥ svāhā”).
[Ấn] thứ
năm, giống như trên, kết Tam Bổ Trá hiệp
chưởng, nhưng [các ngón tay] hơi tách ra, cong các ngón.
Hai ngón cái tách rời ra (hơi cong, hướng vào trong),
tách hai ḷng bàn tay ra như đang vốc nước. Ấn
này được gọi là ấn Tùng Phật Chi Phần
Sanh, ư nói “sanh từ hết thảy các chi phần của
Như Lai”. Mạn-đồ-la của ấn này như
h́nh cái b́nh, hàm ư phần bụng của cái b́nh có h́nh tṛn (tức
là Mạn-đồ-la có h́nh tṛn xoe). Bốn phía dùng chày kim
cang vây quanh. Những điều khác giống như trên.
Chân ngôn là “ám á” (अं अः,
aṃ aḥ).
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn, khuất kỳ Hỏa luân,
dư tướng như tiền. Thị Thế Tôn Đà
La Ni ấn. Kỳ Mạn-đồ-la do như thái hồng,
nhi biến vi chi thùy kim cang phan. Bỉ chân ngôn viết: - Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, bột đà đà
la ni, sa một lật để mạt la đà na yết rị,
đà ra dă tát văm, bạc già phạ để, a ca ra phạ
để, tam ma duệ, sa ha.
(經)即以此印屈其火輪,餘相如前,是世尊陀羅尼印。其漫荼羅猶如彩虹,而遍圍之垂金剛幡。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。勃馱陀羅尼。娑沒㗚底沫羅馱那羯哩。馱囉也薩鑁。薄伽嚩底。阿迦囉嚩底。三麼曳。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấn ấy, gập hai ngón Hỏa (ngón giữa),
các ngón khác giống như trên. Đó là ấn Đà La Ni của
đức Thế Tôn. Mạn-đồ-la giống như cầu
vồng, rủ kim cang phan trọn khắp. Chân ngôn của ấn
ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, bột đà đà
la ni, sa một lật để mạt la đà na yết rị,
đà ra dă tát văm, bạc già phạ để, a ca ra phạ
để, tam ma duệ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, buddhadhāraṇi smṛtibaladhānakari
dharaya sarvaṃ bhagavaty ākāravati samaye svāhā”).
Ấn
thứ sáu giống như trên, hai ngón giữa hơi cong,
đều cùng cong gập vào ḷng bàn tay. Cong ngón sao cho
lưng chúng chạm nhau, tức là ngón giữa tựa vào
nhau, các ngón khác như cũ, tức là giống như ấn
thứ năm. Đấy chính là ấn Pháp Trụ. Mạn-đồ-la của ấn này
như h́nh cầu vồng, có các màu xen kẽ, giống
như màu sắc nơi cầu vồng vậy. H́nh dạng
[Mạn-đồ-la] như cầu vồng úp xuống, phía
dưới phẳng. Phía trên có lá phan kim cang. Các Mạn-đồ-la
từ trên tới đây, có hoa sen, có chày kim cang, có chấm
v.v… [để bao quanh]. Nay Mạn-đồ-la này mỗi mỗi
đều dùng sự trang nghiêm để vây quanh, xen kẽ
lẫn nhau. Chân ngôn th́ chữ đầu tiên là chủng tử,
tức chữ Phạ, chính là “chẳng trói buộc”. “Bột
đà đà la ni” (Buddhadhāraṇi) là
tổng tŕ của Phật. “Sa
một lật
để” (smṛti) là niệm. “Mạt
la đà na yết rị” (baladhānakari). “Yết rị” (kari) là tạo lợi
ích. “Đà ra da” (dharaya): Chữ
trước là tự tŕ, tức “tŕ
ngă”. Kế
đó là “tŕ tha” (giữ ǵn kẻ
khác), “tŕ nhất
thiết” (“nhất
thiết” (tát văm, sarvaṃ) ở đây thuộc
vào câu trên). “Bạc già phạ để” (Bhagavaty) là Thế Tôn,
kêu gọi Bổn Tôn nhằm tán
thán pháp. “A ca ra phạ để” (ākāravati) là
“trọn đủ các h́nh tướng”. “Tam
ma duệ”
(samaye) giải thích như trong phần trước), “sa
ha” (svāhā). Ở
đây sợ chưa cặn kẽ, cần phải đối
chiếu với bản tiếng Phạn.
(Kinh)
Phục dĩ hư tâm hiệp chưởng, khai tán Hỏa
luân. Kỳ Địa luân, Không luân ḥa hợp tương
tŕ, thị vị Như Lai pháp trụ ấn. Kỳ Mạn-đồ-la
do như hư không, dĩ tạp sắc vi chi, hữu nhị
Không điểm. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, a phệ na vĩ nê, sa ha.
(經)復以虛心合掌,開散火輪,其地輪空輪和合相持,是謂如來法住印。其漫荼羅猶如虛空,以雜色圍之,有二空點。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿吠娜尾泥。莎訶。
(Kinh:
Lại dùng hư tâm hiệp chưởng, tách các ngón Hỏa
(ngón giữa). Các ngón Địa (út) và Không (cái) ḥa hợp,
chụm vào nhau. Đó là ấn Pháp Trụ của Như Lai.
Mạn-đồ-la của ấn ấy giống
như hư không, dùng nhiều màu vây quanh, có hai chấm
Đại Không. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, a phệ na vĩ
nê, sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ā vedavide svāhā”).
Ấn
thứ bảy, kết Tam Bổ Trá giống như trên. Dùng
các ngón út và ngón
cái của hai tay cùng bấm vào nhau, gập
vào ḷng bàn tay, tách ngón giữa ra. Đầu các ngón áp út và ngón trỏ
chụm vào nhau. Hai ngón út đặt phía trên ngón giữa. Mạn-đồ-la
có h́nh như hư không (tức là làm thành h́nh vuông), nhiều
màu xen kẽ. Đó là màu của hư không; như không trung
chứa đựng hết thảy các h́nh sắc.
Đại Không Trí của Như Lai chứa đựng hết
thảy các pháp. Hai bên đều dùng một cái chấm kẹp
sát bên. Chân ngôn th́ A (ā) là chủng tử. Chữ này là hạnh.
A Phệ Na (ā veda) tức là trọn
đủ Nhất Thiết Trí, tức trí do chính ḿnh đă
chứng. Vĩ Nê (vide) chính là dùng trí huệ vốn sẵn
đủ ấy để rộng tŕ người khác. Sa
ha!
(Kinh)
Đồng tiền hư tâm hiệp chưởng, dĩ
trí huệ tam-muội thủ hỗ tương gia tŕ, nhi tự
toàn chuyển, thị vị Thế Tôn Tấn Tật Tŕ ấn.
Kỳ Mạn-đồ-la diệc như hư không, nhi dụng
thanh điểm nghiêm chi. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, ma ha du già du nghĩ ninh, du nghệ
thuyết rị, khiếm xà lỵ kế,
sa ha.
(經)同前虛心合掌,以智慧三昧手互相加持而自旋轉,是謂世尊迅疾持印。其漫荼羅亦如虛空,而用青點嚴之。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。摩訶瑜伽瑜擬寧。瑜詣說哩。欠闍唎計。莎訶。
(Kinh:
Hư tâm hiệp chưởng giống như trên, dùng tay
trí huệ và tam-muội gia tŕ lẫn nhau để tự
xoay ṿng. Đó là ấn Tấn Tật Tŕ của đức
Thế Tôn. Mạn-đồ-la cũng như hư không,
nhưng dùng các chấm xanh để trang nghiêm. Chân ngôn của
ấn ấy là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, ma ha du già du nghĩ ninh, du nghệ
thuyết rị, khiếm xà lỵ kế,
sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, mahāyoga-yogini yogeśvari
khāñjalike svāhā”).
Ấn
thứ tám: Chắp tay (ḷng bàn tay áp vào nhau), trước là
chuyển sang bên trái (khi chuyển th́ tay phải úp xuống,
tay trái ngửa lên, áp sát nhau như cũ), kế đó chuyển
sang phải (khi chuyển th́ tay trái úp xuống, tay phải
ngửa lên, nhưng vẫn áp vào nhau chẳng tách rời).
Đấy là ấn Tấn Tật Tŕ của Như Lai, tức
là sức thần thông bí mật của Như Lai, có ư
nghĩa “tận lực nhanh chóng giữ ǵn”. Mạn-đồ-la
giống như hư không trong phần trên, chỉ đổi
thành màu xanh [thay v́ nhiều màu như trong ấn thứ bảy],
dùng nhiều chấm màu xanh vây quanh. Chân ngôn: Chữ “Khi” (खि) [là chữ Kha (ख)] thêm
vạch
tam-muội [I (ि)] là chủng tử.
Đại Du Già (mahāyoga),
tức là Du Già của chư Phật. “Ma
ha du kỳ
nễ” (mahāyogini)
chính là Chân Ngôn Chủ trụ trong Đại Du
Già, khiến cho người chưa đắc Du Già sẽ
đạt được, tức là có thể thỏa nguyện
cho người tu hành, được tự tại trong Du
Già. “Du
nghệ thuyết rị” (Yogeśvari) “khiếm” (khāñ) là không.
“Xà lỵ”
(Jali) là sanh, tức là Không Sanh. “Ca” (Ka) là làm, [biến âm
thành Ke (tức là chữ Kế trong phần tiếng Hán),
hàm nghĩa] “khiến cho các thứ sanh ấy giống
như Không”.
(Kinh)
Bí Mật Chủ! Thị danh Như Lai bí mật ấn, tối
thắng bí mật, bất ưng triếp thọ dữ
nhân, trừ dĩ quán đảnh, kỳ tánh điều
nhu, tinh cần kiên cố, phát thù thắng nguyện, cung kính
sư trưởng, niệm ân đức giả, nội
ngoại thanh tịnh, xả tự thân mạng nhi cầu
pháp giả.
(經)祕密主!是名如來祕密印,最勝祕密,不應輒授與人,除已灌頂,其性調柔、精勤堅固、發殊勝願、恭敬師長、念恩德者、內外清淨、捨自身命而求法者。
(Kinh: Bí Mật
Chủ! Đó gọi là ấn bí mật của Như Lai,
bí mật tối thắng, chớ nên tự tiện trao cho
người khác, trừ người đă được
quán đảnh, tánh t́nh điều nhu, siêng ṛng, kiên cố,
phát nguyện thù thắng, cung kính sư trưởng,
nghĩ nhớ ân đức, trong ngoài thanh tịnh, người
bỏ thân mạng của chính ḿnh để cầu pháp).
Lại
nữa, thứ nhất là phương Đông Bảo Tràng
Phật, thứ hai là phương Nam Khai Phu Hoa Vương
Phật, thứ ba là phương Tây A Di Đà Phật, thứ
tư là phương Bắc Cổ Âm Phật, thứ
năm là Đông Nam Phổ Hiền Bồ Tát, thứ sáu là
Tây Nam Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, thứ bảy là Tây
Bắc Di Lặc Bồ Tát, thứ tám là Đông Bắc Quán
Tự Tại Bồ Tát. Hăy nên biết tám ấn ấy
đều là ấn của đức Tỳ Lô Giá Na,
nhưng ấn ở phương Đông là ấn của Bảo
Tràng Phật, mà
cũng là ấn của Đại Nhật Như Lai. Những
điều khác hăy phỏng theo đó (tức là kế
đó, hăy nương theo đó mà phối ứng tám ấn
với bốn vị Phật và bốn vị Bồ Tát).
Kế
đó, chánh kinh răn dạy A-xà-lê cách thức nên truyền
trao [tám ấn bí mật này như thế nào]. Nếu là kẻ
chưa quán đảnh, hết thảy đều không
được chỉ dạy [các ấn này].
Kế đó, nếu là người điều nhu (tức
là người nhu ḥa, thiện thuận, chẳng bộp chộp,
hung bạo v.v…).
Kế đó là người siêng
năng, tinh tấn, có ư nguyện kiên cố, thù thắng, tức
là có thể phát khởi tinh tấn, siêng năng, tự có thể
phát ra vô lượng đại nguyện hoằng thệ.
Kế đó là người cung kính sư trưởng (tức
là A-xà-lê), giống như kinh Pháp Hoa nói “dùng thân [của
chính ḿnh] làm giường, ṭa [cho sư trưởng]”. Lại
là người nghĩ nhớ ân đức (mong báo ân Phật),
người thanh tịnh (trong ngoài đều tịnh),
người xả tự thân (nếu cầu pháp, sẽ chẳng
tiếc thân mạng, giống như Tuyết Sơn đại
sĩ v.v…). Tuy là [người
đă] nhập Mạn-đồ-la, nhưng phải
có đức như thế th́ mới có thể nói! Chẳng
được dạy bảo người khác bừa băi!
V́ cớ sao vậy? Đấy là pháp trọng yếu trong
bí tạng của Như Lai, chẳng thể đi đến
đâu cũng tuyên truyền bừa băi. Đây cũng là
đức Phật dạy hàng A-xà-lê. Nếu thuộc địa
vị đệ tử, sẽ chẳng được
phép, cố nhiên
chẳng nói ngằn hạn, há có nên nói bừa băi, khiến
cho kẻ khác khinh báng, tự chuốc lấy tội trong đại
địa ngục Vô Gián ư?
“Sáu tháng” là nêu ra con số [ḥng định ngằn hạn
để sách tấn chính ḿnh tinh tấn]. Sáu tháng đầu
chẳng thành, làm thêm sáu tháng nữa, lần lượt cho
đến khi đạt được
thành tựu mới thôi. Nếu nói “ba tháng” th́ cũng phỏng
theo đó mà hiểu. Trước là tŕ tụng suốt sáu
tháng, nếu chẳng có tướng [thành tựu], lại
trải qua sáu tháng nữa. Nếu đă có tướng th́ mới
là thực hiện thành tựu. Nếu giải thích theo cách
bí mật, “sáu tháng” chính là tịnh hóa sáu căn. Nói “ba
tháng” tức là tịnh hóa thân, miệng, ư.
15. Phẩm thứ
mười lăm: Giới cấm của bậc tŕ minh (Tŕ minh cấm
giới phẩm đệ thập ngũ, 持明禁戒品第十五)
(Kinh)
Nhĩ thời, Kim Cang Thủ phục dĩ kệ tụng,
thỉnh vấn Đại Nhật Thế Tôn tŕ minh cấm
giới, vị Chân Ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ
Tát cố: - Vân hà thành cấm giới? Vân hà trụ Thi La? Vân
hà tùy sở trụ, tu hành ly chư trước? Tu hành kỷ
thời nguyệt, cấm giới đắc chung cánh? Trụ
ư hà pháp giáo, nhi tri bỉ oai đức? Ly thời
phương tác nghiệp, cập pháp, phi pháp đẳng, vân hà nhi tốc thành? Nguyện Phật thuyết kỳ lượng, tiên
Phật sở tuyên thuyết, linh đắc ư Tất
Địa. Ngă vấn Nhất Thiết Trí, Chánh Giác Lưỡng
Túc Tôn, vị vị lai chúng sanh, Nhân Trung Tôn chứng tri.
(經)爾時金剛手復以偈頌請問大日世尊持明禁戒,為真言門修菩薩行諸菩薩故。云何成禁戒?云何住尸羅?云何隨所住,修行離諸著?修行幾時月,禁戒得終竟?住於何法教,而知彼威德?離時方作業,及法非法等,云何而速成?願佛說其量。先佛所宣說,令得於悉地,我問一切智,正覺兩足尊,為未來眾生,人中尊證知。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, ngài Kim Cang Thủ lại dùng kệ tụng thưa
hỏi Đại Nhật Thế Tôn về giới cấm
của hàng tŕ minh, v́ các Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong
Chân Ngôn môn [mà nói kệ rằng]: - Thế nào thành cấm giới? Trụ Thi La ra sao?
Thế nào tùy chỗ trụ, tu hành ĺa chấp trước? Tu hành chừng
mấy tháng, giới cấm được trọn thành? Trụ
trong pháp giáo nào, mà biết oai đức đó? Ĺa “thời,
phương” tạo nghiệp, và pháp, phi pháp thảy, làm sao để chóng thành? Nguyện Phật nói lượng ấy. Cổ Phật
đă tuyên nói, khiến đạt được Tất
Địa. Con hỏi Nhất Thiết Trí, Chánh Giác Lưỡng
Túc Tôn, v́ chúng sanh mai sau. Nhân Trung Tôn chứng biết).
Khi
đó, ngài Kim Cang Thủ v́ các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh
phải nên có pháp “giới cấm tŕ
minh”, do [đức Phật] c̣n
chưa nói nhân duyên ấy. V́ vậy, kế đó, Ngài lại
dùng kệ để hỏi đức Phật. Do vậy, Ngài nói bài phúng tụng. Đối với Giới,
phương Tây (Ấn Độ) có hai loại:
-
Một, đấy là giới để tu hành, tức là
để thân thanh tịnh th́ cần phải hành tŕ, tiếng
Phạn là Thi La (Śīla).
-
Hai là Một Lật Đa Thi La (Vrataśīla,
cấm giới).
Giới
có hai loại, tức là bổn tánh giới và chế giới.
[Bổn] tánh giới tức là [các giới điều] nhằm
thanh tịnh các căn. Nay đối với Một Lật
Đa, th́ cần phải thành tựu; cho nên chế định.
Riêng trong phần sau, như “phục phong” (uống gió)[8]
v.v… là như các giới luật do có chuyện [trái phạm hay cần thiết]
mà đặt ra. Nay giới được nói ở đây
chính là “cấm giới”, hoặc c̣n gọi là “chế
giới”, đều là Một Lật Đa. Thi La tức
là giới phải giữ lâu dài, c̣n Một Lật Đa là
giới nguyện giữ trong một thời gian nhất
định, tức là khi hành giả tŕ tụng, có thể phát tâm
[giữ giới ấy] trong một tháng, cho đến nhiều
năm. Khi xong việc ấy, cấm giới đó cũng
gác lại. V́ thế, chẳng gọi là “đại giới”.
Nay trong lời hỏi này, [ngài Kim Cang Thủ] hỏi đủ
cả hai ư nghĩa ấy. Trước tiên hỏi “thế nào là chế
giới?” Tức là hai loại
“như thế nào để phát khởi” trong phần
trước. Kế đó hỏi “tu hành như thế
nào?” Tức là đă biết giới ấy rồi,
đă tu tại nơi chốn nào đó, vậy
th́ phải tu hành thế nào để đừng chấp
trước, trụ ở một
nơi mà tu hành? Lời hỏi ngụ ư: Các
pháp tịch diệt, vô tướng, chẳng có tướng
người tu và pháp được tu. Nếu có giới
được tŕ tức là có chấp trước, nay làm
thế nào để chẳng chấp trước trong tu
hành, được thành tựu đại quả? Kế
đó, hỏi tu hành có thời tiết[9]
hay không? Như các giới thế gian bèn có thời hạn,
thậm chí Thanh Văn thọ Cụ Túc Giới th́ là suốt
một đời. Nay [giới cấm trong] Tŕ Minh có ngằn hạn
hay không? Đó là ư muốn hỏi: Giới này đă do duyên
mà đạt được, tức là có khởi đầu
và kết thúc, nhưng pháp tịch diệt chẳng có khởi
đầu hay kết thúc sai khác, làm thế nào để
tương ứng? Giả sử có trí, lấy ǵ làm hạn
lượng?
Lại
nữa, tŕ giới như thế nào để tăng
trưởng oai đức? Tức là nay y chỉ vào chỗ
nào, tu hành như thế nào, dùng pháp ǵ để khiến cho
oai đức ấy tăng trưởng,
thành tựu hết thảy các oai đức giống
như Như Lai? Lại hỏi thời gian và nơi chốn
tŕ giới này, hỏi khi nào sẽ được phép ĺa giới ấy
v.v… Trong thời điểm và nơi chốn
như thế nào mà tác nghiệp đúng pháp, phi pháp v.v… Vào
lúc nào th́ sẽ được ĺa (xả giới)? Phật
giới chính là trí huệ tự nhiên của Như Lai, chẳng
phải thời, chẳng phải nơi chốn, ĺa khỏi
pháp và các tác nghiệp. Nay
[ngài Kim Cang Thủ] hỏi khi nào sẽ ĺa các sự ấy
để nhập “nhất tướng”? “Thời”
tức là thời hạn một tháng, một năm, một
ngày, một lúc v.v… “Phương” là chỗ cư trụ.
Chỗ nào có thể tu? Hăy nên [tu tập] tại chỗ nào?
Làm thế nào để mau chóng được thành tựu
(tức các chuyện vừa nói trên đây), nguyện Phật
nói hạn lượng ấy, tức là định lượng
của sự nhanh chóng. Đă hỏi về khởi đầu
và kết thúc; kế đó hỏi về lượng. Hỏi
giới ly tướng ấy có hạn lượng [tu tập] cỡ
nào để có thể đạt được?
Ngài
Kim Cang Thủ thưa: “Trong
quá khứ, con ở nơi cổ
Phật, đă biết rơ pháp này. Nay v́ người tu Chân
Ngôn hạnh, khiến cho họ trong đời vị lai sẽ
được nhanh chóng thành tựu giới của Như
Lai, nên thốt lên lời hỏi này, chẳng phải v́ có
điều cầu mong nào khác, hoặc do danh lợi v.v… Nay
con thốt lời chân thành, tâm ấy sẽ được
ai chứng biết? Chỉ mong Như Lai chứng giám,
nhưng thâm tâm của con chỉ ḿnh đức
Phật tự biết rơ. Đă
được đấng Lưỡng Túc Tôn làm chứng,
cho nên con thỉnh đấng Nhân Trung Tôn hăy v́ con mà nói.
Đấy là v́ chúng sanh đời vị lai vậy”.
Người chứng là Nhân Trung Tôn;
đó chính là nói đến
đức Phật. Đúng như pháp tướng mà chứng,
cho nên nói “như sở chứng”.
(Kinh) Thị thời, Bạc Già Phạm Tỳ
Lô Giá Na ai mẫn chúng sanh cố, nhi thuyết kệ ngôn: -
Thiện tai Cần Dũng Sĩ, đại đức Tŕ
Kim Cang! Sở thuyết thù thắng giới, cổ Phật
sở khai diễn, duyên minh sở khởi giới, trụ
giới như Chánh Giác, linh đắc thành Tất Địa.
Vị lợi thế gian cố, đẳng khởi tự
chân thật, bất sanh nghi lự tâm, thường trụ
ư Đẳng Dẫn, tu hành giới đương cánh.
Bồ Đề tâm cập pháp, cập tu học nghiệp
quả, ḥa hợp vi nhất tướng, viễn ly chư
tạo tác, cụ giới như Phật trí. Dị thử,
phi cụ giới, đắc chư pháp tự tại, thông
đạt lợi chúng sanh. Thường tu vô trước hạnh,
đẳng lịch, thạch, chúng bảo. Năi chí măn lạc-xoa,
sở thuyết Chân Ngôn giáo, tất ư thời nguyệt
đẳng, cấm giới lượng chung cánh.
(經)是時薄伽梵毘盧遮那哀愍眾生故而說偈言:善哉勤勇士,大德持金剛!所說殊勝戒,古佛所開演。緣明所起戒,住戒如正覺,令得成悉地,為利世間故。等起自真實,不生疑慮心,常住於等引,修行戒當竟。菩提心及法,及修學業果,和合為一相,遠離諸造作,具戒如佛智,異此非具戒。得諸法自在,通達利眾生,常修無著行,等礫石眾寶。乃至滿落叉,所說真言教,畢於時月等,禁戒量終竟。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Bạc
Già Phạm Tỳ Lô Giá Na v́ thương xót chúng sanh, bèn nói kệ
rằng: - Lành thay! Bậc Cần Dũng, đại đức
Tŕ Kim Cang! Nói tới giới thù thắng, do cổ
Phật khai diễn. Giới
khởi theo minh chú, trụ giới như Chánh Giác, khiến
đạt thành Tất Địa. V́ lợi ích thế gian,
b́nh đẳng khởi chân thật, chẳng sanh tâm lo ngờ,
thường trụ trong Đẳng Dẫn, sẽ trọn
tu hành giới. Bồ Đề tâm và pháp, cùng tu học nghiệp
quả, ḥa hợp thành một tướng, xa ĺa các tạo
tác, đủ giới như Phật trí. Nếu khác các
điều ấy, chẳng phải giới trọn vẹn.
Tự tại trong các pháp, thông đạt lợi chúng sanh.
Thường tu hạnh chẳng chấp, sỏi,
đá như các báu. Trọn đủ một lạc-xoa,
Chân Ngôn giáo đă nói, hoàn tất một thời, tháng. Lượng
cấm giới đă xong).
[Phần chánh kinh] trên đây gồm
năm bài tụng, đều là [giải đáp các] câu hỏi.
Khi đó, đức Đại Nhật Như Lai nghe ngài Kim Cang Thủ
thưa hỏi về tŕ minh giới của chư Phật,
cho nên tán thán rằng: “Lành thay! Lành thay! Bậc đại
dũng mănh”. Nay đức Phật thấy Bồ Tát v́ hết
thảy chúng sanh mà hỏi; do vậy, đức Phật lại
v́ hết thảy chúng sanh mà tán thán. “Dũng” là có thể
trừ hết thảy các chướng của ḿnh lẫn
người. Lại c̣n siêng năng, tinh tấn, tự tâm
chẳng ngưng nghỉ, ở trong sanh tử mà chẳng
chán mệt, có thể trừ hết thảy các oán đối
vô minh. Do có nhiều nghĩa như thế ấy, nên gọi
là Đại Dũng Mănh. Do hành đại nguyện, cầu
đại pháp, khởi đại hạnh, thành đại
sự; đó gọi là “khiến cho trọn khắp hết
thảy chúng sanh đều nhập tri kiến của Phật”,
nên gọi là Đại Sĩ. Vị hữu t́nh ấy nói
theo âm tiếng Phạn là Sách Đá (Sattva), có nghĩa là “vướng
mắc”. Giống như người thế gian, chấp
sâu đậm thân tâm, chẳng thể tạm ĺa. Nay Bồ
Đề Sách Đá (Boddhisattva, Bồ Tát) cũng thế, chấp
hạnh Đại Bồ Đề này, cho đến chẳng
có một niệm tâm ngưng nghỉ, buông bỏ. V́ thế
gọi là Sách Đá. Lại c̣n phiên âm là Tát Đỏa, có
nghĩa là “hữu t́nh”. Do ở trong các hữu t́nh mà
có thể tu vô thượng đạo, có thể gánh vác hết
thảy các chúng sanh khác, tức là bậc vô thượng
trong chúng sanh, nên gọi là Đại Hữu T́nh. Đối
với các nghĩa mà chúng sanh chấp trước, nay Ngài có thể tự
thoát, lại c̣n có thể khiến cho người khác thoát
ra. V́ thế gọi là Đại Hữu T́nh. Do có thể nắm
giữ bí mật của Như Lai, nên gọi là Kim Cang Thủ.
Lại c̣n gọi là bậc Đại Phước Đức.
Đấy là đức Phật tán thán công đức của
ngài Kim Cang Thủ, đó là tên gọi khác của ngài [Chấp
Kim Cang Bí Mật Chủ]. [Đức
Phật] tán thán Bồ Tát là bậc có phước
đức, [phước đức ấy] chính là tích tập
công đức của Như Lai vậy.
Từ
đây trở đi, đức Phật cũng dùng kệ
để đáp. “Sở thuyết thù thắng giới, cổ
Phật sở khai diễn” (Giới thù thắng như
đă nói, đă được cổ Phật khai diễn),
[hàm ư]:
Giới thù thắng được chế định do cổ
Phật đă tuyên nói. Đức Phật lại dẫn
chư Phật để làm chứng. Giới này do quá khứ
Phật đă nói, nay ta cũng nói như thế. Pháp rốt
ráo của cổ Phật đều có cùng một đạo.
V́ thế, dẫn điều này để làm chứng, ḥng
nêu tỏ: “Chẳng có hai đạo”. Nói “duyên minh sở
khởi giới, trụ giới như Chánh Giác” (giới
do nương theo minh chú mà phát khởi, trụ trong giới
ấy giống như bậc Chánh Giác),
hàm ư: Nhằm
khai phát trí huệ mà chế giới, bậc Chánh Giác trụ
trong giới đă được chế định ấy.
Do tŕ giới này, sẽ phát khởi hạnh Chân Ngôn, đạt
được Tất Địa. Tức là do trụ trong
Tŕ Minh Giới này, nên [hành nhân sẽ] giống như bậc
Chánh Giác. Chánh Giác là danh xưng khác của đức Phật.
Do hành đạo mà Như Lai đă hành, nên giống như
Phật. Do sự tu hành ấy, người trong đời
hiện tại đạt được cái quả Tất
Địa. Đấy chính là trả lời [câu hỏi] “trụ
giới như thế nào?” Đức Phật có ư nói:
Đúng như giới do Phật đă trụ, hành nhân
cũng nên trụ như thế, tức là tam b́nh đẳng
(thân, khẩu, ư b́nh đẳng), phước trí tăng
trưởng, được thành tựu Tất Địa.
“Vị lợi thế gian cố, đẳng khởi tự
chân thật, bất sanh nghi lự tâm, thường trụ
ư Đẳng Dẫn” (V́ lợi lạc thế gian,
b́nh đẳng dấy lên sự tự chân thật, chẳng
sanh tâm lo ngờ, thường trụ trong Đẳng Dẫn):
“Tự chân thật” tức là tự tŕ chân ngôn, thủ
ấn, và quán tưởng Bổn Tôn. Do chuyên niệm nên có
thể thấy Bổn Tôn. Bổn Tôn chính là lư chân thật.
Không chỉ thấy Bổn Tôn mà thôi, lại c̣n như thật
quán thân của chính ḿnh giống
như Bổn Tôn. V́ thế gọi là “chân thật”. Ở
đây có phương tiện tam b́nh đẳng, thân tức
là ấn, ngữ tức là chân ngôn, tâm tức là Bổn Tôn.
Quán ba sự ấy đến mức chân thật rốt
ráo th́ đều bằng với ta; ba sự b́nh đẳng
ấy chẳng khác ba b́nh đẳng của hết thảy
các đức Như Lai. V́ thế là chân thật. Khi hành giả
tu hành, quyết định tin tưởng,
được vào trong đại hội của Phật hải.
Nếu có ngờ lo, hạnh Chân Ngôn sẽ trọn chẳng
thành tựu. V́ thế, lại khuyên răn lần nữa “chớ
sanh nghi”. Do chẳng ngờ vực, bèn đạt
được Đẳng Dẫn. Đẳng Dẫn, tiếng
Phạn là Tam-ma-hế-đa (Samāhita), tức là dùng pháp tam b́nh đẳng để dẫn
khởi, thâu nhiếp hết thảy các công đức,
thâu tóm vào tự thân. V́ thế nói là Đẳng Dẫn. Nêu
ra ba món b́nh đẳng ấy, tức là thâu nhiếp trọn
khắp hết thảy các công đức. Xét rơ ba sự ấy
rốt ráo đều b́nh đẳng nhiếp nhập tự
thân, bèn gọi là Đẳng Dẫn. Lại nữa, Định
và Huệ kết hợp thành một, th́ gọi là Đẳng
Dẫn. Có thể trụ trong chân thật như thế cho
tới Đẳng Dẫn, chính là trụ trong Phật giới.
Bồ Đề tâm pháp, tu học nghiệp quả, nếu
ḥa hợp thành một tướng, tác nghiệp ly giới,
sẽ chẳng khác ǵ trí do Phật đă đạt
được!
“Giới
hết thảy pháp được tự tại”:
Bồ Đề tâm chính là chánh nhân của Như Lai (tức
là tâm vương). “Pháp” là tâm pháp, tức là sức tự
tại của Ba La Mật nơi hết thảy các địa
vị. Nói tóm lại, hết thảy các pháp công đức
đều là nó. Các pháp
ấy đều là quyến thuộc của Phật, mà
cũng là quyến thuộc của Bồ Đề tâm,
như hoa đài có cánh hoa và nhụy. Diệu quả ấy
giống như Phật. Cái được gọi là “nghiệp”
một mực là thiện nghiệp; tôi cho rằng đó là
diệu nghiệp của Như Lai. Do sự tu hành ấy bằng
với Phật, từ sơ phát tâm cho tới khi giới và
nghiệp đều bằng với Phật. Phật ĺa hết
thảy các tướng, nhưng trụ trong tịnh giới.
Đó gọi là “ĺa các tướng, hết thảy có cùng
một vị”. Nếu có thể ĺa hết thảy các
tướng như thế mà trụ trong giới, giới ấy
chính là Phật giới, nghiệp đă tạo
tác ấy chính là Phật
nghiệp. Cái quả đạt được chính là Phật
quả, do nhất tướng, vô tướng, ĺa tác nghiệp.
Nếu hành giả phân biệt “đây là giới, đây
là người tŕ, đây là pháp được tŕ”, do những
điều ấy chẳng chân thật, do có sở đắc,
sẽ chẳng phải là tŕ Phật giới!
Hơn
nữa, giới ấy chính
là vô sư huệ (trí huệ không do thầy dạy) của
Như
Lai. Do trụ trong Như Lai trí, liền được
tự tại trong hết thảy các pháp. Do tự tại
trong pháp, chiếu soi tánh chân thật của hết thảy
chúng sanh, cũng có thể tạo lợi ích đúng như
thật, khiến cho hết thảy các chúng sanh đều
giống như ta. Do trụ trong giới này, nhiếp hết
thảy các pháp, nên gọi là “tự tại”. “Tự tại”
có nghĩa là “nhiếp thủ”, tức là tự đạt
được pháp, lại có thể lợi ích người
khác. V́ vậy, kế đó, kinh nói ‘hữu tánh nghĩa
trung thông đạt” (thông đạt nơi nghĩa “hữu
tánh”)
là nói tới ư này. “Nghĩa” là thiện lợi, tức
là cái được gọi là “nghĩa lợi”. Tu hành
thường chẳng chấp trước, th́ ngói sỏi
và các báu đều b́nh đẳng, đó gọi là “được
tự tại trong hết thảy các pháp”, cũng là lợi
ích chúng sanh, ĺa khỏi đủ loại kiến chấp
đối với sự sai biệt giữa pháp, phi pháp v.v…
như thế, tâm chẳng trụ
vào đâu! Do vô trụ, vật thô ác và của báu
trân diệu đều b́nh đẳng, tâm chẳng tăng
giảm. Lúc bấy giờ, hành giả quán ngũ nghịch
Xiển Đề và Như Lai công đức b́nh đẳng,
chẳng khác biệt, chẳng sanh tăng giảm, huống
hồ những điều khác ư? Nếu quán tới mức,
sẽ đối với hết thảy các phiền năo ác
nghiệp và công đức của Như Lai chẳng sanh tâm
lấy, bỏ, huống hồ [so đo giữa] ngói, sỏi
và vàng báu ư?
Kế
đó, đáp về phân lượng của tŕ giới.
Đă có lúc khởi đầu, sẽ có lúc kết thúc. V́ thế,
đức Phật đáp rằng “cho đến thấy
một lạc-xoa”. Thông thường, số lượng
tụng niệm chân ngôn phải là hạn định thời
gian, hay [bao nhiêu] tháng nhất định phải tŕ tụng
xong. Nếu nói sơ sài, đại lược, tŕ chân ngôn
hoặc tŕ giới th́ phải tŕ giới trong bao lâu, số
lượng lần tŕ tụng hạn định là bao
nhiêu, tức là từ một lần, mười lần,
cho đến lạc-xoa lần v.v… Hoặc một đêm,
một tháng, cho đến nhiều năm. V́ thế, ở
đây, đức Phật dạy “hăy nên [tŕ tụng] cho
đủ một lạc-xoa mới xong”. Nếu nói đại
lược, sơ sài th́ một lạc-xoa (laksa) là một
trăm ngàn lần. Ở đây, chẳng phải vậy
(chẳng hiểu theo ư nghĩa đó), [phải hiểu] “lạc-xoa”
là “thấy”, nghĩa là: Nếu lúc đă thật sự
thấy [tướng thành tựu], hạnh Chân Ngôn ấy mới
hoàn tất. Nếu không, chẳng ngưng nghỉ giữa
chừng. Chẳng phải như người tŕ tụng
trong thế gian có ngằn hạn. Có ngằn hạn tức
là cầu sự hiệu nghiệm nông cạn, thấp kém!
Nhưng trong sự tŕ tụng này, hăy nên giống như
trước, thực hiện ba tầng phương tiện,
tức là chân ngôn, thân ấn, và quán Bổn Tôn. Khi thấy Bổn
Tôn, cái tâm tương ứng
mà trụ, chẳng thứ ǵ
có thể động loạn được! Lại quán
chân ngôn đă tŕ tụng, từ trong tâm Bổn Tôn, tưới
rót vào miệng [hành giả], giống như tràng hoa, chẳng
gián đoạn. Liền dùng công đức của Phật
như thế để chứa đầy ắp thân ḿnh,
cũng chẳng từ thân lưu xuất. Khi sắp thành tựu
viên măn, sẽ dần dần có tướng [thành tựu] hiện,
hoặc như tướng thành tựu được nói
trong bổn bộ, hoặc thân chính ḿnh
có đủ loại bệnh khổ mà được chữa
khỏi, hoặc có các loại tiểu trùng chẳng ở
trong thân, [thân thể] vui sướng, trắng sạch,
thanh tịnh, không có cấu uế. Hoặc là trước
kia độn căn, huệ kém, mà nay đạt được
Tổng Tŕ chẳng quên. Đối với bất cứ chữ
nào, cũng đều có thể diễn nhiều nghĩa,
cho đến kết thành kệ phúng
tụng, tâm không ngăn ngại. Đấy
là “tiền tướng” (tướng trước khi
đạt thành tựu). V́ thế, đức Phật nói “nếu lúc thấy” th́ mới hoàn tất.
“Lạc-xoa” nghĩa là “thấy”, cũng có
nghĩa là “thành tựu”.
Hành
giả tâm trụ trong tam-muội, được thấy Bổn
Tôn, lặng lẽ trụ trong Chánh Định. Giả sử núi chúa
Diệu Cao nứt lở, chấn động, vẫn chẳng
thể gián đoạn, lay động cái tâm ấy. Hoặc
là đủ loại tướng lạ, như các loại ma
sự đáng sợ nơi Bồ Đề đạo
tràng, [hành giả] vẫn có thể an tâm, không sợ hăi. Thậm
chí thể nữ đẹp đẽ mỹ lệ trong
cung ma cũng chẳng thể khuynh động ư chí, khiến cho
[hành giả] nẩy sanh tạp niệm. V́ lẽ nào vậy?
Do trụ trong chân thật giới [mà được chân thật
giới] duy tŕ. Hăy nên biết khi đó, sẽ cách “thấy
đạo” chẳng xa. Hoặc là có
lúc, đối với mùi vị của hết
thảy các thức ăn, thậm chí thứ đắng
rít, đều như cam lộ. Do duyên ấy, thân thể
vui sướng, chẳng bị
lay động bởi vị ngũ
dục thô tệ. Đó
là tướng dứt tham. Tướng dứt sân là sáu
căn của hành nhân dần dần thanh tịnh, giống
như khi đi trong đồng hoang rộng lớn, nóng bức,
ánh mặt trời nung đốt cát, đá, bỗng gặp
con suối trong để tự xối rửa. Lúc bấy
giờ, các thứ phẫn hại chẳng thể quấy
nhiễu được! Lại nữa, “vàng đá b́nh
đẳng” tức là tam b́nh đẳng! “Số lượng
tháng hoặc thời”
đều là kỳ hạn tŕ tụng. Lạc-xoa lại có
nghĩa là “cái đích”,
như bắn trúng hồng tâm. Như ư nghĩa “tập bắn”
trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, hoặc kinh Văn Thù[10].
Nếu trụ trong đế lư, tùy ư tương ứng;
đó là ư nghĩa của “lạc-xoa” vậy.
(Kinh)
Tối sơ kim luân quán, trụ Đại Nhân Đà La,
đương kết Kim Cang ấn, ẩm nhũ dĩ
tư thân, hành giả nhất nguyệt măn, năng điều
xuất nhập tức.
(經)最初金輪觀,住大因陀羅,當結金剛印,飲乳以資身。行者一月滿,能調出入息。
(Kinh:
Đầu tiên, quán kim luân. Trụ Đại Nhân Đà La,
nên kết ấn Kim Cang, uống sữa để nuôi thân.
Hành giả tṛn một tháng, điều ḥa hơi thở
ḿnh).
Lại
nữa, như trong phần trên đă nói, cái
Thấy “chân thật một vị” khó tin, khó hiểu,
Như Lai lại dùng phương tiện khác với cách tŕ
tụng của thế gian để giúp [hành giả] thấy
chân thật. V́ thế, Ngài nói ra cách tŕ tụng trong sáu tháng,
nhưng [cách này cũng] đều là bí mật rốt ráo,
chẳng khác các phần trước. Trong tháng thứ nhất,
hăy nên quán kim cang, tức là Mạn-đồ-la h́nh vuông (Mạn-đồ-la
ấy c̣n gọi là Đại Nhân Đà La), sắc vàng. Quán
thân của chính ḿnh ngồi trong ấy, liền tưởng
thân ḿnh là chữ A (अ).
Chữ A ấy vuông vức, màu vàng, sao cho nội thân sung
măn, chẳng thiếu khuyết, toàn thể đều là chữ
A ấy. Hăy nên kết ấn chày kim cang năm nhánh, chẳng
cần cầm xâu chuỗi. Ấn ấy kết hư tâm hiệp
chưởng, cùng gập hai ngón áp út, dùng ngón phải đè
lên ngón trái, móc vào nhau trong ḷng bàn tay. Hai ngón
cái cùng duỗi ra, hai ngón trỏ cùng cong,
hướng vào lưng ngón giữa. Đó chính là ấn Kim
Cang Thủ. Hăy nên trong một tháng, chỉ ăn sữa,
không ăn vật nào khác. Chỉ quán chân ngôn được
tŕ từ rốn thoát ra, từ mũi hít vào, như điều
ḥa hơi thở chẳng khác. Lúc bấy giờ, chỉ
quán chân ngôn này để hít thở, [quán tưởng] màu của
hơi thở cũng là vàng. Nếu quán chân ngôn, cứ lấy
mỗi câu là một hơi thở. Nếu quán chữ chủng
tử, chỉ quán chẳng
gián đoạn theo hơi thở. Tuy nói là “một tháng”,
nhưng mười, một trăm cho tới một lạc-xoa
tháng v.v… phải lấy “thấy” [tướng thành tựu]
làm hạn. Lại nữa, “một” chính là ư nghĩa “một
tướng, một vị”. Thấy điều đó
th́ gọi là “trọn một tháng”.
(Kinh)
Thứ ư đệ nhị nguyệt, nghiêm chánh thủy
luân trung, ưng dĩ Liên Hoa ấn, nhi phục thuần tịnh
thủy.
(經)次於第二月,嚴正水輪中,應以蓮華印,而服醇淨水。
(Kinh:
Kế đó, tháng thứ hai, trong thủy luân nghiêm chánh, hăy
dùng ấn Liên Hoa, lại uống thuần nước sạch).
Lại
nữa, tháng thứ hai, trụ trong thủy luân. Luân ấy
tṛn trặn, sắc trắng. Tự tưởng thân ở
trong ấy. Giống như trên,
dùng tay phương tiện kết ấn Liên Hoa, [tức
là] hai ngón út và ngón cái chụm lại làm đài, ba ngón khác x̣e
ra, khiến cho ngón giữa và ngón trỏ hơi hợp lại,
đặt ngang nhau, tức là ấn Quán Âm trong phần
trước. Quán thân thể như chữ Phạ (Va) màu trắng,
cũng dùng chân ngôn màu trắng để làm hơi thở
ra vào.
Hỏi:
Quán Bổn Tôn bằng chữ Va ư? Quán chủng tử của
chân ngôn được tŕ tụng là sắc trắng ư?
[Đáp]: Trong
tháng ấy, kết ấn Liên Hoa. Trong hai tháng, chỉ uống
nước mà thôi, những thứ khác đều không
ăn. Nói “uống nước” chính là chỉ dùng
nước [được gia tŕ bởi] chân ngôn. Khi hít
vào, tưởng chữ có màu trắng như sữa để
làm thức ăn. Nếu lúc hành giả tương ứng,
sẽ được pháp vị gia tŕ, chẳng c̣n mong
ăn các thứ khác, chỉ dùng vị
pháp hỷ để thân
thể được sung măn mà
thôi! “Nghiêm bị” tức là ngồi trong ấy. Lúc bấy
giờ, chỉ quán chữ này, chẳng quán h́nh tượng
Bổn Tôn.
(Kinh)
Thứ ư đệ tam nguyệt, thắng diệu hỏa
luân quán, đạm bất cầu chi thực, tức dĩ
đại huệ lực, thiêu diệt nhất thiết tội,
nhi sanh thân ư ngữ.
(經)次於第三月,勝妙火輪觀,噉不求之食,即以大慧力,燒滅一切罪,而生身意語。
(Kinh:
Kế đó, tháng thứ ba, quán hỏa luân thắng diệu,
ăn thực phẩm chẳng cầu, liền dùng sức
đại huệ, đốt diệt hết thảy tội,
để sanh thân ư ngữ).
Tháng
thứ ba ở trong hỏa luân, tức là Mạn-đồ-la
h́nh tam giác, màu đỏ, trụ trong hỏa luân thắng
thượng. Quán ở trong đó, dùng chữ Ra (र)
này làm thân. Kết Huệ
Đao ấn, tức là
Tam Bổ Trá hiệp chưởng, gập hai ngón trỏ bấm
vào hai ngón cái, quán hơi thở
ra vào có màu đỏ. “Ba tháng” có ư nghĩa như trên, tức
là trong ba tháng, ba mươi ngày, hoặc ba ngàn ngày v.v… lấy
“thấy” [tướng thành tựu] làm kỳ hạn.
Trong ba tháng ấy, chẳng cầu hết thảy các thức
ăn, tức là “chẳng được khất thực”
v.v… Nếu có người đến thí, th́ được
phép tùy ư ăn. Không có người thí th́ không ăn, chỉ
dùng chữ Ra làm thức ăn. Do phương tiện này,
đốt cháy hết thảy tội chướng chẳng
c̣n sót. Do nghĩa này, hết thảy tối tăm hết sạch, tức là Phật huệ sáng soi. “Bị” tức
là sắp đặt đầy đủ, dùng ấn này.
(Kinh)
Đệ tứ nguyệt phong luân, hành giả thường
phục phong, kết Chuyển Pháp Luân ấn, nhiếp tâm
dĩ tŕ tụng, kim
cang thủy luân quán, y trụ
ư Du Già.
(經)第四月風輪,行者常服風,結轉法輪印,攝心以持誦。金
剛水輪觀,依住於瑜伽。
(Kinh:
Tháng thứ tư, phong luân, hành giả thường uống
gió, kết ấn Chuyển Pháp Luân, nhiếp tâm để
tŕ tụng, quán kim cang thủy
luân, y trụ trong Du Già).
Tháng
thứ tư trụ trong phong luân, có h́nh nửa vầng
trăng (giống như trong phần trước), trong ấy
là màu đen. Dùng chữ Ha (ह)
làm thân, hơi thở ra vào giống như trong phần trên đă nói. Trong một
tháng ấy, chỉ uống gió để sống, chẳng
ăn hết thảy các thức ăn. Khi uống gió,
cũng dùng chữ Ha theo hơi thở ra vào làm thức
ăn, chẳng như ngoại đạo hít khí mà sống.
Hăy nên kết ấn Chuyển Pháp Luân, tức là hai tay
đâu lưng vào nhau,
đan chéo các ngón vào nhau, làm giống như ấn trong phần
trước. Cách này khó thực hiện.
(Kinh)
Thị vi đệ ngũ nguyệt, viễn ly đắc,
phi đắc, hành giả vô sở trước, đẳng
đồng Tam Bồ Đề.
(經)是為第五月,遠離得非得。行者無所著,等同三菩提。
(Kinh:
Đó là tháng thứ năm, xa ĺa đắc, phi đắc,
hành giả chẳng chấp trước, giống
như Tam Bồ Đề).
Tháng
thứ năm, từ kim luân tới thủy luân, giống
như chư Phật trụ trong Kim Cang Thủy Luân, tức
là làm Mạn-đồ-la h́nh vuông, màu vàng, trong đó có Mạn-đồ-la
tṛn màu trắng, thân ngồi trong đó. Phía dưới rốn
là vàng, từ phần giữa lên trên là trắng. Chẳng kết
ấn, dùng hai chữ A và Phạ, những điều khác
giống như trên. Trong tháng thứ năm ấy, không
được ăn, tận lực chẳng ăn, tức
là đoạn trừ hết thảy các thức ăn, chỉ
dùng hai chân ngôn điều ḥa hơi thở ra vào làm thức
ăn. Từ tháng thứ năm trở đi, tu hạnh chẳng
chấp trước, ĺa Ngă, giống như nhất tướng
tịch diệt, tức là giống như chư Phật.
(Kinh)
Ḥa hợp Phong, Hỏa luân, xuất quá chúng quá hoạn. Phục
nhất nguyệt tŕ tụng, diệc xả lợi, phi lợi.
Phạm, Thích đẳng, thiên chúng, Ma Hầu, Tỳ Xá Giá,
viễn trụ nhi kính lễ, nhất thiết vi thủ hộ,
giai tất phụng giáo mạng. Bỉ thường đắc
như thị, nhân, thiên, Dược Xoa thần, Tŕ Minh,
chư linh tiên, dực thị kỳ tả hữu, tùy sở
mạng đương tác. Bất thiện vi chướng
giả, La Sát, Thất Mẫu đẳng, kiến tŕ chân
ngôn giả, cung kính nhi viễn chi. Kiến thị xứ
quang minh, tŕ tán như mănh hỏa, tùy sở trụ pháp giáo,
giai y minh cấm cố. Đẳng Chánh Giác chân tử, nhất
thiết đắc tự tại, điều phục nan
hàng giả, như Đại Chấp Kim Cang, nhiêu ích chư
quần sanh, đồng ư Quán Thế Âm. Kinh
du lục nguyệt dĩ, tùy sở nguyện thành quả.
Thường đương ư tự tha, bi mẫn nhi cứu
hộ.
(經)和合風火輪,出過眾過患。復一月持誦,亦捨利非利,梵釋等天眾,摩睺毘舍遮,遠住而敬禮,一切為守護,皆悉奉教命。彼常得如是,人天藥叉神,持明諸靈仙,翊侍其左右,隨所命當作。不善為障者,羅剎七母等,見持真言者,恭敬而遠之。見是處光明,馳散如猛火。隨所住法教,皆依明禁故,等正覺真子,一切得自在。調伏難降者,如大執金剛,饒益諸群生,同於觀世音。經逾六月已,隨所願成果,常當於自他,悲愍而救護。
(Kinh:
Ḥa hợp Phong, Hỏa luân, vượt khỏi các lỗi họa.
Lại tŕ tụng một tháng, cũng xả lợi, chẳng
lợi. Phạm, Thích, các vị trời, Ma Hầu, Tỳ
Xá Giá, đều kính lễ từ xa. Hết thảy đều
thủ hộ, đều tuân phụng giáo mạng. Người
ấy sẽ thường được, người, trời,
thần Dược Xoa,
Tŕ Minh, các linh tiên, chầu hầu quanh hai bên, vâng làm theo mạng
lệnh. Kẻ bất thiện gây chướng, La Sát, Thất
Mẫu thảy, thấy người tŕ chân ngôn, cung kính
mà lánh xa.
Thấy nơi ấy quang minh, tỏa ra như lửa hừng.
Theo pháp giáo đă trụ, đều tuân minh cấm giới.
Chân tử Đẳng Chánh Giác, hết thảy được
tự tại, điều phục kẻ khó hàng, như
Đại Chấp Kim Cang, lợi ích các quần sanh, giống
như Quán Thế Âm, trải qua sáu tháng rồi, thành quả
như ư nguyện. Sẽ thường v́ ḿnh, người,
xót thương mà cứu hộ).
Theo
thứ tự, tới tháng thứ sáu, ở trong Phong Hỏa
Luân, trừ hết thảy các chướng, cũng là trong
Phong luân có Hỏa luân. Chuẩn theo sự tướng trong
phần trên để biết, phía dưới là Phong, ngang
rốn; trên đó là Hỏa. Dùng chữ Ha và Ra làm thức
ăn. Dù được thí thức ăn, cũng không
được ăn, cũng như hết thảy các thức ăn đều chẳng
ăn, xả hẳn lợi dưỡng.
Kế
đó, đức Phật nói về công đức của
tŕ minh cấm giới. Hành giả do hạnh phương tiện
này, hết thảy Đế Thích,
Phạm
vương, rồng, quỷ tám bộ, đều
từ xa hướng về [hành giả] kính lễ, cùng nhau
thủ hộ, đều tới trước mặt, tuân
phụng giáo mạng. Cho đến thần Dược Xoa
v.v… cũng đến hỏi [hành giả] cần ǵ để
dâng cấp. Các tŕ minh tiên ở bên cạnh, hết thảy
ác quỷ, La Sát, Thất Mẫu v.v… là kẻ hại người
cũng từ xa kính lễ, thấy thân người ấy
như lửa lúc đại kiếp, oai quang mạnh mẽ,
hừng hực. [Do hành giả] thuận
theo hết thảy các thiện nguyện, tự tại
thành tựu, các kẻ gây chướng đều chẳng
có cơ hội [làm hại], [oai đức] giống như
Đại Cát Tường Kim Cang, Quán Âm, Văn Thù v.v… chẳng
khác!
16. Phẩm thứ
mười sáu: Trí chân thật của A-xà-lê (A-xà-lê chân thật
trí phẩm đệ thập lục, 阿闍梨真實智品第十六)
(Kinh)
Nhĩ thời, Tŕ Kim Cang Giả thứ phục thỉnh vấn
Đại Nhật Thế Tôn chư Mạn-đồ-la
chân ngôn chi tâm, nhi thuyết kệ ngôn: - Vân hà vi nhất thiết,
chân ngôn thật ngữ tâm? Vân hà nhi giải liễu, thuyết
danh A-xà-lê?
(經)爾時持金剛者次復請問大日世尊諸漫荼羅真言之心,而說偈言:云何為一切,真言實語心?云何而解了,說名阿闍梨?
(Kinh:
Lúc bấy giờ, ngài Tŕ Kim Cang kế đó lại thưa hỏi Đại
Nhật Thế Tôn về chân ngôn tâm của các Mạn-đồ-la,
mà nói kệ rằng: - Thế nào là hết thảy, chân ngôn
thật ngữ tâm? Làm thế nào thông hiểu, gọi là
A-xà-lê?)
Trong
phần trên đă nói rộng về tướng đệ
tử của A-xà-lê và các phương tiện tạo Mạn-đồ-la
để độ đệ tử v.v... Lúc bấy giờ,
ngài Chấp Kim Cang tiếp đó lại thưa hỏi
Đại Nhật Thế Tôn về chân ngôn tâm của các mạn-đồ-la.
Do tướng chân thật của A-xà-lê vẫn chưa
được rộng nói, nay ngài Kim Cang Thủ v́ trọn
vẹn nghĩa vị ấy, tiếp đó, lại thưa
hỏi: “Thế nào là tâm của hết thảy các chân
ngôn? Do tŕ pháp nào, hành phương tiện nào mà được
gọi là A-xà-lê? Lại do tụng tŕ các tâm chân
ngôn nào mà được gọi là A-xà-lê?”
(Kinh)
Nhĩ thời, Bạc Già Phạm Đại Tỳ Lô Giá Na
ủy dụ Kim Cang Thủ: “Thiện tai, Ma Ha Tát!” Linh bỉ
tâm hoan hỷ, phục cáo như thị ngôn: - Giải bí
trung tối bí, chân ngôn trí đại tâm, kim vị nhữ
tuyên thuyết, nhất tâm ưng đế thính.
(經)爾時薄伽梵,大毘盧遮那,慰喻金剛手,善哉摩訶薩,令彼心歡喜。復告如是言:解祕中最祕,真言智大心,今為汝宣說,一心應諦聽。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
đức Bạc Già Phạm Đại Tỳ Lô Giá Na an ủi,
khuyên nhủ ngài Kim Cang Thủ: “Lành thay, Ma Ha Tát”. Để
khiến cho tâm Bồ Tát hoan hỷ, lại bảo như thế
này: - Hiểu điều bí mật nhất, chân ngôn trí đại
tâm, nay v́ ông tuyên nói, hăy nhất tâm lắng nghe).
Kế
đó, do ngài Kim Cang Thủ có thể kiến lập thiện
căn cho hết thảy chúng sanh, do viên măn Chân Ngôn hạnh
mà quán điều này rồi thốt
lời thưa hỏi, vui đẹp Phật
tâm, nên đức Phật tán thán. [Ngài Kim Cang Thủ] biết
tâm đại chúng muốn nghe pháp mà thưa hỏi; do
đó, đức Phật khiến cho họ
hoan hỷ [mà giải đáp]. Vĩ Phù (Vibhu,
विभु)[11] là
danh xưng khác của đức
Phật, cũng có nghĩa là Pháp Vương,
do âm thanh thuận tiện, nên dùng danh xưng này để
nói.
Lại
nữa, trong [từ ngữ] Chân Ngôn Tâm ở đây, chữ
Tâm trong tiếng Phạn là Hăn Lật
Đà (Hṛdaya), tức là cái
tâm chân thật. Từ trước đến đây, đều
dùng kệ để vấn đáp, nay cũng dùng kệ
[để giải đáp]. Kế đó, giải
đáp “bí mật trung tối” (điều bí mật nhất
trong các bí mật). “Chân ngôn trí” là trí vô thượng,
không chi hơn trong các trí. Nay ta sắp nói pháp này, ông hăy nên nhất
tâm lắng nghe. Kế đó nói: “Lành thay! Lành thay! Phật
tử đại hữu t́nh” tức là đức Phật
tán thán Kim Cang Thủ v́ muốn cho đại chúng sanh tâm hoan
hỷ; tức là thuận theo lời hỏi mà đáp.
Tướng bí yếu là tướng bí mật nhất.
(Kinh) Sở vị
A tự giả, nhất thiết chân ngôn tâm, tùng thử biến
lưu xuất, vô lượng chư chân ngôn. Nhất thiết
hư luận tức, năng sanh xảo trí huệ. Bí Mật
Chủ hà đẳng, nhất thiết chân ngữ tâm? Phật
Lưỡng Túc Tôn thuyết, A tự danh chủng tử, cố
nhất thiết như thị. An trụ chư chi phần,
như tương ứng bố dĩ, y pháp giai biến thọ.
Do bỉ bổn sơ tự, biến tại tăng gia tự,
chúng tự dĩ thành âm. Chi thể do thị sanh, cố thử
biến nhất thiết, thân sanh chủng chủng đức.
(經)所謂阿字者,一切真言心,從此遍流出,無量諸真言,一切戲論息,能生巧智慧。祕密主何等,一切真語心?佛兩足尊說,阿字名種子,故一切如是,安住諸支分,如相應布已,依法皆遍授。由彼本初字,遍在增加字,眾字以成音,支體由是生,故此遍一切,身生種種德。
(Kinh: Đó là nói chữ
A, tâm hết thảy chân ngôn. Từ đấy
lưu xuất trọn, vô lượng các chân ngôn. Dứt hết
thảy hư luận, hay sanh trí huệ khéo. Bí Mật Chủ!
Những ǵ, tâm hết thảy chân ngôn? Phật Lưỡng
Túc Tôn nói: Chữ A là chủng
tử, nên hết thảy
như thế. An trụ các chi phần, tương ứng
xếp đặt xong, y pháp đều trao khắp. Do chữ
bổn sơ ấy, trọn khắp chữ tăng thêm. Các
chữ do thành âm, chi thể do đấy sanh. V́ thế, trọn
hết thảy, thân sanh đủ loại đức).
Trí
được sanh từ tâm chân ngôn lớn nhất. Cái
được gọi là “tâm của hết thảy”
chính là chữ A, do hết thảy các ngôn âm đều lấy
chữ này làm đầu. Nếu không có âm A này, sẽ ĺa khỏi
hết thảy các từ ngữ, chẳng thể nói
được! Hăy nên biết: Chỉ cần mở miệng
phát ra tiếng, tức là âm thanh của chữ A này. Trong
kinh văn thuộc phần trước, tuy nói các âm Nga, Nhă,
Noa, Na, Ma (ग,ज,ड,द,ब,
ga, ja, ḍa,
da, ba, đều là âm thượng thanh) đều ĺa âm A,
nhưng A có trong và ngoài. Nếu âm ở ngoài tuy chẳng
có, vẫn chẳng ĺa âm A bên trong được. Âm bên trong
chính là âm A trong họng. Hăy nên biết chữ A này chính là ư
nghĩa “hết thảy các pháp vốn bất sanh”. Nếu
có thể chiếu liễu bản thể “bất sanh, ĺa nhân quả” như thế, liền
đạt được thường trụ bất sanh.
Cái tâm chân ngôn này chính là vô lượng nghĩa xứ, sanh ra
trọn khắp hết thảy các pháp thế gian và xuất
thế gian. Ĺa hết thảy hư luận, vĩnh viễn dứt
bặt các hư luận, sanh ra trí xảo diệu. Trí ấy
chính là trí Xa Ma Tha và Tỳ Bát Xá Na. Từ trí ấy, có vô
lượng phương tiện huệ sanh khởi, do ĺa
phân biệt, hư luận, nên trọn khắp hết thảy
mọi nơi. “Trí xảo diệu” chính là tên gọi
khác của trí
Nhất Thiết Trí. “Này Bí Mật Chủ!
V́ sao chữ A là tâm của hết thảy các chân ngôn?”
Đối với tâm của hết thảy các chân ngôn,
đức Phật tự gạn hỏi rồi tự
đáp. Chữ A này giống như chủng tử. Như
trong thế gian, đức Phật Lưỡng Túc Tôn nói chữ
A là “chủng tử”. Chủng tử có thể sanh ra
nhiều quả, mỗi chủng tử lại sanh ra [cái quả]
số nhiều trăm ngàn vạn, cho đến lần
lượt là vô lượng chẳng thể nói được!
Thấy hạt liền biết quả. Cái nhân đă là
như thế, hăy nên biết cái quả ắt cũng là
như thế! Nay chữ A này cũng như thế, từ
căn bản “vô
sư tự
nhiên trí” (trí tự nhiên, chẳng cần thầy
chỉ dạy), hết thảy các trí
nghiệp từ đó mà sanh.
(Kinh)
Kim thuyết sở phân bố, Phật tử nhất tâm
thính, dĩ tâm nhi tác tâm, dư dĩ bố chi phần, nhất
thiết như thị tác, tức đồng ư ngă thể.
(經)今說所分布,佛子一心聽。以心而作心,餘以布支分,一切如是作,即同於我體。
(Kinh:
Nay nói cách phân bố, Phật
tử nhất tâm nghe! Dùng tâm để làm tâm, chữ khác th́ xếp đặt,
nơi các chi phần khác. Hết thảy làm như thế,
liền giống bản thể ta).
“Xếp
đặt nơi các chi phần”: “Chi phần” chính là tự
tâm.
Do cái tâm ấy thâu nhiếp hết thảy
các thân phần. Ĺa tâm sẽ chẳng
có thân, ĺa thân sẽ chẳng
có tâm, cũng giống như chữ A. V́ thế, kinh văn
nói hỗ tương. Nếu xếp đặt [các chữ
chủng tử] như thế, sẽ giống như
chư Phật, tức là từ chữ mà có quả, quả
chính là Phật, có thể Chánh Biến Tri, nên gọi là Chánh
Giác. Do biết lư tánh của chữ ấy, được
gọi là Như Lai. Lư tánh của chữ ấy chính là ư
nghĩa “tâm vốn bất sanh”. Do vậy, hết thảy
là như thế, tức là đều giống như chữ
A, đều là các chân ngôn. Và “an trụ chi phần”
chính là tuy thêm các chữ, vẫn có chữ A ở trong ấy.
Lại nữa, trụ trong khắp các chi phần, chữ A
là tâm, như người có tâm có thể trọn khắp các
chi phần. Cái tâm ấy cũng đều lănh nhận khổ
hay vui. Chữ A cũng trọn khắp hết thảy các
chi phần; nhưng đấy chính là ư nghĩa “tâm này vốn
bất sanh”, [như] Phật Lưỡng
Túc Tôn đă nói. Do vậy, [các chữ của chân ngôn] an trụ
trong hết thảy các chi phần, xếp đặt
nơi các chi phần. Tương ứng theo đúng pháp mà
trao truyền trọn khắp hết thảy.
Kế
đó, khuyên hành giả hăy nên xếp đặt [các chữ
chân ngôn] nơi các chi phần, tức là xếp đặt
nơi tâm. Từ ngữ A Già La trong tiếng Phạn, chữ
A trọn khắp hết thảy các chữ. Nếu chẳng
có chữ A, sẽ chẳng có chữ nào được
thành. Phải có chữ A, nếu chữ không có đầu[12],
sẽ chẳng thành chữ! A chính là “đầu” vậy.
“Biến” (遍)
là trọn khắp hết thảy. Hết thảy đều
có Sự, có Lư, tức ngôn thuyết lư chứng, lư chân ngôn
đều trọn khắp. V́ thế, nhắc lại “hết
thảy”. Chữ A ấy giống như chi phần và nội
tâm nơi thân người. Chữ A ấy trọn khắp
hết thảy. Nếu xếp đặt hết thảy
các chữ, mà chẳng có thân tâm, tức là chi phần chẳng
trọn đủ. Chi phần nơi thân này theo đúng pháp
như lư, được xếp đặt hết thảy
mọi chỗ. “Biến” (遍)
là xếp đặt trọn khắp. Tuy chẳng thể xếp
đặt trọn khắp hết thảy các chữ [trong
văn tự chữ Phạn], dùng chữ A này làm khởi
đầu, sẽ chính là xếp đặt trọn khắp
hết thảy các chữ. Nhưng chữ A ấy có thể
nói hết thảy các ngôn ngữ thế gian, lại do ngôn
ngữ ấy mà hiểu hết thảy lư xuất thế.
V́ lẽ nào vậy? Do chữ A này sanh ra hết thảy các
ngôn ngữ trong thế gian, nhưng các ngôn ngữ ấy chẳng
ĺa chữ A. Do chẳng ĺa chữ A, liền biết là chẳng
ĺa pháp thể bất sanh. V́ thế, do môn chữ A bèn có hết
thảy các pháp thế gian. Do hết thảy các pháp trong thế
gian mà được ngộ môn chữ A. Lại do cái tâm
này trọn khắp hết thảy các thân phần, cho nên hễ
xếp đặt ở chi phần nào nơi thân, cũng
chính là y theo pháp, đúng như lư mà
xếp đặt nơi các chi phần.
Do vậy, trọn khắp hết thảy các chữ, mà
cũng trọn khắp hết thảy trong
và ngoài thân.
V́ thế, nay tương ứng trọn
khắp với lư, chính là ư nghĩa “ḥa hợp”. Do chữ
A ấy trọn khắp hết thảy các chữ, tức
là ḥa hợp, tức là chữ Rị Bỉ thêm vào chữ
A.
Nhưng
đối với các chữ như Ca (क,
ka) v.v… nếu miệng chẳng có âm A, sẽ chẳng thành
chữ. Hăy nên biết các chữ
ấy (các chữ
cái trong văn tự Tất Đàm)
vốn là không, do nói theo
đức (tác dụng, nội dung được diễn
đạt bởi chữ ấy) mà gọi là Chữ; do chữ A mà có.
Như người không có đầu, hết thảy các chi
phần đều chết. Các chữ như Ca v.v…
cũng giống như thế: Nếu chẳng dùng chữ
A làm đầu, sẽ chẳng thành, mà cũng chẳng gọi
là Chữ. V́ thế, lấy chữ A làm “mạng”. Các
âm tam-muội như Rị, Tỷ, Đắc, Y, Y v.v… cũng do Định mà phát khởi.
Giả sử chữ Ca không có âm A, chỉ ở trong họng
phát ra âm Kích ngắn (tức âm K), chữ Ca sẽ chẳng
thành. Nếu thêm chữ A, sẽ thành Ca. Hăy nên biết chữ
A vốn bất sanh, Ca là vô tác, ư nghĩa chính là “do tương
ứng ḥa hợp mà thành”.
Những chữ khác cứ phỏng theo lệ này mà suy ra. Do
vậy, kinh văn có thể trọn khắp các thân, có thể
sanh ra đủ loại. “Đủ loại” là Tỳ
Thấp Phược (Viśva),
tức là Xảo, [hàm nghĩa] “có thể sanh ra đủ
loại pháp chẳng thể nghĩ bàn, có thể trọn khắp
hết thảy các thân
phần”.
Đối
với Chữ, tiếng Phạn có hai âm: Một là A Sát Ra (Akṣara),
tức là chữ căn bản. Hai là Lị Tỷ Bệ
(Lipi), tức là chữ tăng thêm. “Căn bản” tức
là các chữ gốc, như hai âm đầu tiên của chữ
A (tức a và ā chính là căn bản.
Kế đó từ Y, Y (I, ī) cho
đến Ô, Áo (o, au) gồm mười hai chữ đều
là chữ do sanh khởi mà tăng thêm, đều thuộc về
âm giống cái, c̣n chữ căn bản thuộc về âm giống
đực. Âm giống đực (grammatical masculine gender) có
nghĩa là trí huệ, âm giống cái (grammatical feminine gender)
có nghĩa là Định. Chữ căn bản trọn khắp
hết thảy mọi nơi; kế đó, các chữ
tăng thêm cũng trọn khắp hết thảy mọi
nơi. “Căn
bản”
và “tăng
thêm”
chẳng khác nhau, [các chữ tăng thêm] đều là từ
bản thể của chữ căn bản,
thêm chấm hay vạch mà
thành chữ tăng thêm, cho nên chúng
chẳng một, chẳng khác. Giống
như nước được chứa trong đồ
đựng, do đồ đựng giữ nước,
nước chẳng ĺa đồ đựng. Ở đây
cũng giống như thế, [chữ căn bản và chữ
tăng thêm] nương tựa, duy tŕ lẫn nhau, có thể
trọn khắp trong và ngoài.
“Tương
ứng” trong tiếng Phạn là Du Kỳ
(Yogi), tức là nghĩa của chữ A. “Tương ứng”
chính là ư nghĩa của Du Kỳ. Không chỉ riêng chữ A
trọn khắp hết thảy mọi nơi, từ chữ
Ca (क, Ka), chữ Khư
(ख, Kha) v.v… cho đến
chữ Sa (स), Ha (ह)
cũng là trọn khắp hết thảy mọi nơi. V́
sao vậy? Các chữ ấy đều là âm căn bản.
Các âm căn bản ấy giống như chữ A. Các chữ
như Ca v.v… mỗi mỗi đều có chữ được
sanh khởi tăng thêm. Như trong chữ Ca (क),
liền có các âm Kế (कि,
ki), Kê (की,
kī),
Củ (कु,
ku), Câu (कू,
kū),
Kê (के,
ke), Cái (कै,
kai), đều là âm thuộc giống cái, chỉ là bản
thể của chữ Ca được thêm nét vạch, sẽ
trở thành chữ tăng thêm. Thể là Huệ, chữ
tăng thêm là Định. Định và Huệ nương
tựa, duy tŕ lẫn nhau, hợp thành một Thể chẳng
mất. Chỉ Quán song hành cũng là trọn hết thảy
các địa vị. Tăng thêm trọn khắp căn bản,
căn bản trọn khắp tăng thêm. Vun bồi trọn
khắp chủng tử, chủng tử cũng trọn khắp
sự vun bồi.
Lại
nữa, các chữ như A v.v… từ chữ mà có âm thanh.
Như từ một chữ A, phàm trong hết
thảy các âm thanh nói năng đều có thanh A, chẳng
ĺa được chữ ấy. Do chữ biểu thị
mà có âm thanh sanh ra. Do có âm thanh, nên sanh nơi chi phần, có thể
biểu thị hết thảy các pháp xuất thế gian. Nếu
chỉ có chữ, sẽ chẳng thể diễn tả, biểu
đạt lư; phải do âm thanh và ngôn ngữ th́ mới có
cái để biểu thị, như đỏ, xanh, vàng, trắng,
Đông, Tây, Nam, Bắc, lớn, nhỏ, vuông, tṛn, cao, thấp,
tôn, ty v.v… Hết thảy các sự loại mới có thể
lănh nhận, hiểu rơ. Từ A sanh ra hết thảy các âm
thanh ngôn ngữ, hăy nên biết các âm thanh ấy biểu thị
đủ loại sai biệt. Đă từ ư nghĩa “vốn
bất sanh” mà sanh, khi thấy sự sanh ấy được
biểu thị, liền hiểu “vốn bất sanh”.
Do vậy, khi thấy âm thanh phát ra, lư tánh liền hiển lộ,
“vốn bất sanh” và hết thảy các pháp sanh từ duyên sẽ
lần lượt sanh ra nhau, biểu thị thấu hiểu
lẫn nhau. Nhưng chữ A ấy không chỉ trọn khắp
các thân phần, mà cũng trọn khắp hết thảy
các thứ chẳng phải là thân. V́ thế, từ tâm chú chữ
A
này
sanh ra đủ loại công đức. Nay muốn nói pháp
môn “xếp
đặt chữ” này,
v́ muốn khiến cho hết thảy hành giả từ ngay
nơi tự thân mà sanh trọn hết thảy các loại
công đức của Như Lai. Giống như hạt giống
đă gieo xuống, vô
lượng quả hạt lần lượt sanh ra. Do
đó, lại khuyên hành nhân hăy nên nghe rơ, lănh nhận chắc
thật!
Kinh
nói “Phật tử đế thính” (Phật tử hăy lắng
nghe), tức là Phật tử hăy nên nghe kỹ ta nay nói kinh
văn về cách xếp đặt “tự tâm” (字心).
“Xếp đặt” là nói đến các
“tự” (字, chữ).
“Tâm” là nội tâm. Từ ngữ Tô La Đa (Surata) trong tiếng
Phạn có nghĩa là “mặc”. Mặc lấy pháp vi diệu,
nên gọi là Tô La Đa. Đó là ư nghĩa “cộng trụ
an lạc”, tức là “cùng trụ trong diệu lư, tiếp
nhận hiện pháp lạc”. Lại nữa, vui thích giữ
lấy sự nghiệp mầu nhiệm, nên gọi là Tô La
Đa. Lại c̣n có nghĩa là “bỏ tà, hướng theo
chánh”, nên gọi là Tô La Đa. Lại c̣n có nghĩa là “mong
t́m cầu trọn khắp” nên gọi là Tô La Đa.
(Kinh)
An trụ Du Già ṭa, tầm niệm chư Như Lai. Nhược
ư thử giáo pháp, giải tư quảng đại trí,
Chánh Giác đại công đức, thuyết vi A-xà-lê, thị
tức vi Như Lai, diệc tức danh vi Phật. Bồ
Tát cập Phạm Thiên, Tỳ Nữu, Ma Hê La, Nhật, Nguyệt
Thiên, Thủy Thiên, Đế Thích thế gian chủ, Hắc
Dạ, Diễm Ma đẳng, địa thần dữ Diệu
Âm. Phạm Chí cập Thường Dục, diệc danh phạm
hạnh giả, lậu tận tỳ-kheo chúng, Cát Tường
Tŕ Bí Mật, Nhất Thiết Trí, Kiến giả, Pháp Tự
Tại, Tài Phú. Nhược trụ Bồ Đề tâm, cập
dữ thanh trí tánh, bất trước nhất thiết
pháp, thuyết danh Biến Nhất Thiết. Tức thị
chân ngữ giả, tŕ cát tường chân ngôn, chân thật
ngữ chi vương, tŕ Chấp Kim Cang ấn.
(經)安住瑜伽座,尋念諸如來,若於此教法,解斯廣大智,正覺大功德,說為阿闍梨,是即為如來,亦即名為佛。菩薩及梵天,毘紐摩醯羅,日月天水天,帝釋世間主,黑夜焰摩等,地神與妙音,梵志及常浴,亦名梵行者,漏盡比丘眾,吉祥持祕密,一切智見者,法自在財富。若住菩提心,及與聲智性,不著一切法,說名遍一切。即是真語者,持吉祥真言,真實語之王,持執金剛印。
(Kinh:
An trụ ṭa Du Già, nghĩ nhớ các Như Lai. Nếu với
giáo pháp này, hiểu trí rộng lớn ấy, Chánh Giác công
đức lớn, nói là A-xà-lê. Đó tức là Như Lai,
cũng sẽ gọi là Phật. Bồ Tát và Phạm Thiên, Tỳ
Nữu, Ma Hê La, Nhật, Nguyệt Thiên, Thủy Thiên, Đế
Thích chủ thế gian, Hắc Dạ, Diễm Ma thảy,
địa thần và Diệu Âm. Phạm Chí và Thường
Dục, cũng gọi bậc phạm hạnh. Các tỳ-kheo
lậu tận, Cát Tường Tŕ Bí Mật. Trời Nhất
Thiết Trí Kiến. Tài Phú, Pháp Tự Tại. Nếu trụ
Bồ Đề tâm, cùng với tánh thanh trí, chẳng chấp
hết thảy pháp, gọi là Biến Nhất Thiết. Tức
là bậc chân ngữ, tŕ cát tường chân ngôn, là vua chân thật
ngữ, tŕ ấn Chấp Kim Cang).
Kế
đó, trong lời đáp của đức Phật, tâm tâm
xếp đặt [các chữ chân ngôn] nơi các chi phần
khác. Hết thảy đều làm như thế. Đức
Phật tự trụ trong ṭa Du Già, dùng tâm đặt
nơi tâm, những thứ khác th́ xếp đặt nơi
các chi phần khác. Làm hết thảy như thế, tức
là sẽ giống như thân của chính ta. “Tác” có
nghĩa là “đặt” (tưởng chữ chân ngôn tại tâm và chi
phần), tức là “làm như thế”. Do đặt tại
tâm, nên nói là “tâm tâm”. Thông thường nói “tâm tâm”,
tức là nói tới Ư và Mạt
Na. Nay ở đây, [“tâm tâm”] có ư nghĩa khác, tức là
dùng chữ A để đặt nơi tâm của hành giả.
A là tâm của hết thảy các pháp, do đặt [chữ
A] tại tâm; nên gọi là “tâm tâm”. Do chữ ấy là
tối sơ, nên đặt nơi tâm trước hết.
Tâm là chủ của hết thảy các chi phần. Chữ A
cũng thế, đứng đầu hết thảy các
chân ngôn. Đă xếp đặt xong chữ ấy (chữ
A), bèn xếp đặt các chữ khác nơi hết thảy
các chi phần như trong phẩm sau sẽ nói. Nhưng cách
xếp đặt chữ A này đă được nói trong
phần kinh văn trước đó. Trước hết,
quán tưởng: Xếp đặt chữ A này trên [đóa
hoa sen] tám cánh nở x̣e trong tâm. Chữ A này bèn liền có tác
dụng chiếu sáng viên minh. Ḥa hợp cái tâm nhiễm dục
của hành giả với tâm chân thật huệ, sẽ liền
giống như chân thật, có cùng một vị.
Quán như thế tức là Như Lai; cho nên nói “nhược
như thị tác giả, tức thị ngă” (nếu làm
như thế th́ chính là ta). “Ta” tức là đức Phật
tự nói về ḿnh.
Lại
nữa, Đại Ngă chính là Như Lai;
v́ thế nói là “tức thị ngă”.
“Tức thị ngă” (tức là ta) chính
là A-xà-lê. Không chỉ do Du Già mà được là A-xà-lê,
cũng do dùng pháp ấy
mà thành tựu đệ tử [nên gọi là A-xà-lê]. “Trụ
nơi ṭa Du Già” tức là [ngồi nơi ṭa]
bốn cạnh vuông vắn, nghĩa là ngồi nơi ṭa
Đại Nhân Đà La, tức ṭa kim cang luân. Trụ trên chữ
A, lấy đó làm ṭa, tương ứng với chân lư, ṭa
ấy được gọi
là ṭa Du Già. Người ngồi trên ṭa kim cang Du Già ấy
chính là Như Lai. “Tầm niệm Như Lai” (liền nghĩ
nhớ Như Lai) tức là quán chư Phật. V́ thế, gọi
điều này
là “trí rộng lớn”, hễ gọi liền biết
ngay. Nếu có thể nương theo giáo mà biết, bậc
đại đức chánh giác nói người như vậy
là A-xà-lê. Người xứng với điều ấy tức
là Như Lai. Như Lai chính là người ấy, nghĩa là
danh hiệu như thế cũng là chính là thân ấy. Nếu
trọn đủ pháp ấy, tức là thành tựu tâm trí huệ
rộng lớn. Do có thể
thành tựu trí rộng lớn, được gọi là
A-xà-lê. Nếu là A-xà-lê, hăy nên biết [người ấy]
chính là Phật, tức là “địa”, nghĩa là có thể
tŕ hết thảy tất cả các loại thóc giống thuộc
về báo thọ (quả báo sẽ nhận lănh) trong thế
gian. Ta cũng có thể tŕ quả báo của hết thảy
chúng sanh, nhưng vô phân biệt.
Diệu
Âm (Sarasvatī, Đại
Biện Tài Thiên) là tên một vị trời.
Kinh Kim Quang Minh gọi [vị trời này là] Đại Biện
thiên nữ. Đại Biện là nói đến cái lưỡi. Ta phát
ra âm thanh thù thắng hơn âm thanh của trăm ngàn vị
Phạm Thiên; do vậy, có tên gọi đó. “Phạm”
là Niết Bàn. Đại Phạm trong các phần trước
là “giải thoát”. Đại Phạm
ở đây chính là bậc Phạm Chí, hàm ư “chưa chứng”.
“Phạm hạnh” là nói tới người
tu phạm hạnh. Hăy nên biết [khi nói “phạm hạnh
giả” (bậc hành
phạm hạnh)] th́ chính là bậc Bồ Tát. Hăy nên biết
[khi nói “phạm hạnh giả” (người hành phạm
hạnh) cũng] chính
là Phạm Thiên, hăy nên biết [nói
như vậy] th́
cũng chính Tỳ Nữu Thiên. [Tỳ Nữu] là
tên riêng của Tự Tại Thiên, nói chánh xác phải là Tỳ
Sắt Nữu (Viṣṇu).
Hăy nên biết [người hành phạm hạnh cũng]
chính là Nhật Thiên (Āditya). Hăy nên biết
[người hành phạm hạnh cũng]
chính là Phong Thiên (Vāyu), Nguyệt
Thiên (Candra). “Phạm” là [nói gộp chung] Đế
Thích và Đại Phạm. Hăy nên biết [người hành
phạm hạnh
cũng] chính là Hắc Dạ Thiên (Kālarātri),
hoặc là Diễm La
(Yamarājah,
Diễm Ma La Vương, tức Diêm Vương).
Trọn đủ Đại Niết Bàn th́ gọi là Phạm.
Vĩ (tức
chữ Vi trong Viṣṇu) là Không, Sắt Nữu (Ṣṇu)
là Định. Định là Tứ Thần Túc[13]
của Phật. Tự Tại tức là “được tự
tại nơi pháp”,
như sáu nghĩa của chữ Bạc Già [trong danh xưng
Bạc Già Phạm
- Bhagavān].
Có thể trừ hết thảy các u ám th́ gọi là Đại
Bi Nhật (mặt trời đại bi).
Lại
nữa, Phạ Rô Noa (Varuṇa) là Thủy Long (chánh kinh gọi vị này là Thủy
Thiên) do [vị này] chủ
tŕ nước, tức là “trọn
đủ nước đại bi có thể rưới khắp
hết thảy”. Như
mặt trăng trưởng dưỡng hết thảy
các vật trong thế gian, Phật cũng có thể trưởng dưỡng Bồ
Đề tâm của hết thảy chúng sanh. Đế
Thích do bố thí một trăm lần mà được
thành tựu, tức là một trăm lần mở bốn
cửa thành để bố thí rộng răi. [Trong danh
xưng Đế Thích (Śakra, Thích Ca Lạc)], Thích
là “một trăm”,
Ca Lạc là “dũng
mănh bố thí”.
Phật trọn đủ vô lượng trăm lần bố
thí, nên cũng gọi
là Đế Thích. Vị chủ tạo
lập thế giới, tức ngũ đại thiên, ngoại
đạo trong thế gian gọi họ là “tạo lập thế giới chủ” (Prajāpati, vị chúa tể sáng tạo thế giới). Cũng
là Tỳ Thủ Yết Ma (Viśvakarman), Ngă cũng sanh hết thảy tâm, tâm chủ, cho nên có tên gọi như
thế. Ca La thời[14],
ba thời chính là ngă, tức là Diễm Ma đem tất cả
đi, tức là đưa đến thiện, hoặc đưa đến ác. Đưa tới chỗ sát
hại th́ gọi là Diễm Ma La; nhưng ta đưa tới
chỗ lành để sát hại phiền năo. [Trong danh
xưng Diễm Ma (Yāma)], “Dă” (yāna) là cỗ xe tam thừa, “Ma” tức là Ngă. Tức là khi Ngă được thành lập, vượt
khỏi ba thời, đều là Ngă, thảy đều là tâm, đối
ứng với ngoại đạo khi đó.
“Dục”
(浴: tắm gội) [trong
Thường Dục (Āśrava)] là nói
đến tên của một vị trời, tức thân khẩu
ư thanh tịnh là sự tắm gội bậc nhất. “Thuyết”
là nói ngoại đạo, tên của kẻ đó chính là
Ngă. [Người hành phạm hạnh] chính là tỳ-kheo, tức
là bậc lậu tận, [mà cũng] tức là bậc Cát
Tường, cũng
chính là Công Đức Thiên (Śrī Devi, Lakṣmī).
Ngă cũng trọn
đủ hết thảy các pháp, tức “tŕ bí mật”
là Tam Mật. Nhất Thiết Trí th́ ngoại đạo
cũng có danh xưng ấy, Ngă tức
là “như
thật”.
Do tự chứng, chẳng phải là chỉ có cái danh suông.
Nhất Thiết Kiến (Sarvajñānadarśana)
cũng là tên một vị trời. Nhất
Thiết Pháp Tự Tại (Sarvadharmeśvara):
Thế gian cũng truyền tụng có vị trời này. Ngă chính là như thật.
Tài Phú (Vasudhāra) cũng là tên một
vị trời, tức là “tự
tại”, hễ
cần cho liền cho. Phật chính là như thế đó. Nếu
trụ trong Bồ Đề tâm và dùng “thanh
trí tánh” (trí tánh của âm thanh),
chẳng chấp trước hết thảy các pháp, th́ gọi
là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết
thảy mọi nơi). Đó chính là tên gọi khác của
Nhất Thiết Chủng Trí, tức là “trọn đủ
hết thảy các trí”.
Nói “Bồ
Đề tâm chính là Định”, [hàm nghĩa] từ chữ
mà có âm thanh phát ra; do trí chia ra, nên [“chữ” trong chân
ngôn] tức là trí, [mà cũng] tức
là người tŕ tụng. Do chân ngôn sanh từ Ngă, Ngă chính
là người tŕ tụng. Cũng là người tŕ chân ngôn
do sanh từ Ngă, nên chính là Ngă tŕ [chân ngôn]. Do các chữ trong
chân ngôn sanh từ Ngă, Ngă chính là người tŕ [chân ngôn]. “Cụ
đại cát tường” (trọn đủ sự tốt
lành to lớn) cũng là chân ngôn vương, tức là Ngă, tức
là Chấp Kim Cang, tức là tŕ mật huệ ấy.
Kế
đó, tất cả tự luân nếu [được
đặt] ở các chi phần, [chữ ứng với] vị
trí nơi tâm (tức chữ A) th́ đặt nơi tâm, [các
chữ khác] thuận theo sự thuận tiện mà xếp
đặt. [Chữ của chân ngôn] trụ nơi vị trí
nào, vị trí ấy chính là đối tượng
được trụ [bởi chân ngôn ấy]. [Vị tôn
thánh tương ứng vị trí ấy] tức là Địa
Thiên, hoặc tức là Diệu Âm Thiên, hoặc tức là
Thường Dục, và bậc Thường Phạm Hạnh,
mà cũng chính là Bổn Tôn của Thường Dục ngoại
đạo. Bát La nghĩa là “giải thoát”, tức Phạm
Thiên. [Người hành phạm hạnh] cũng chính là tỳ-kheo,
tức là “bậc lậu
tận”, hoặc tức là Diệu Cát Tường,
hoặc tức là người tŕ bí mật, hoặc tức
là bậc Nhất Thiết Trí. Nhất Thiết Kiến
chính là vị vua tự tại trong hết thảy các pháp, tức
là người trụ trong Bồ Đề tâm, tức là
trí tánh, tức là người chẳng chấp trước
trong hết thảy các pháp, tức là hết thảy đều
nói trọn khắp, tức là tŕ cát tường, tức là
chân ngôn vương, tức là Tŕ Kim Cang. Nói tóm lại, chính
là hết thảy các thứ được xếp đặt
trong Đại Mạn-đồ-la và một trăm lẻ
tám danh hiệu của Như Lai[15]
v.v… không ǵ chẳng phải là [người hành phạm hạnh].
V́ sao vậy? Do pháp thể của chữ A này thường
trọn khắp hết thảy mọi nơi. Nếu có thể
tương ứng như thế, chính là giống như
đức Tỳ Lô Giá Na trọn khắp hết thảy mọi
nơi. V́ thế, trong kinh, đức Phật nói như thế.
Từ trên đến đây, nói về cái tâm đă xong.
(Kinh) Sở hữu chư tự luân, nhược
tại ư chi phần, đương tri trụ my gian, Hồng
tự kim cang cú. Sa tự tại thần hạ, thị vị
liên hoa cú. Ngă tức đồng tâm vị, nhất thiết xứ
tự tại, phổ biến ư chủng chủng, hữu
t́nh cập phi t́nh. A tự đệ nhất mạng. Phạ
tự danh vi Thủy. Ra tự danh vi Hỏa. Hồng tự
danh Phẫn Nộ. Khư tự đồng hư không. Sở
vị cực không điểm, tri thử tối chân thật,
thuyết danh A-xà-lê. Cố ưng cụ phương tiện,
liễu tri Phật sở thuyết, thường tác tinh cần
tu, đương đắc bất tử cú.
(經)所有諸字輪,若在於支分,當知住眉間,吽字金剛句,娑字在脣下,是謂蓮華句。我即同心位,一切處自在,普遍於種種,有情及非情。阿字第一命,嚩字名為水,囉字名為火,吽字名忿怒,佉字同虛空,所謂極空點,知此最真實,說名阿闍梨。故應具方便,了知佛所說,常作精勤修,當得不死句。
(Kinh:
Tất cả các tự luân, nếu ở nơi chi phần,
nên biết trụ giữa mày. Chữ Hồng: Câu kim cang. Chữ
Sa ở dưới môi, đó là câu Liên Hoa. Ngă cùng chỗ với
tim, tự tại hết thảy chỗ,
trọn khắp nơi các thứ, hữu
t́nh và phi t́nh. Chữ A: Mạng bậc nhất. Chữ Phạ gọi
là nước. Chữ Ra gọi là lửa. Chữ Hồng
là Phẫn Nộ. Chữ Khư như hư không. Nó có chấm
Cực
Không. Bậc biết chân thật
nhất, gọi là A-xà-lê. Hăy nên đủ
phương tiện, biết rơ lời Phật dạy.
Thường siêng ṛng tu tập, sẽ đắc câu bất
tử).
Kế
đó, xếp đặt [chữ chân ngôn căn bản]
nơi thân phần. Tức là ở giữa hai mày, nên đặt chữ
Hồng (हूं, Hūṃ), đấy
chỗ nắm giữ của
hết thảy các vị kim cang. Kế đó, ở
phía trên tim bốn tấc, quán tưởng đặt chữ
Sa (स), tức là chỗ
trụ của hết thảy [chư tôn thuộc] Liên Hoa Thủ
bộ. Tâm ta trụ trong hết thảy tự tại trọn
khắp, ta đều trọn khắp các loại hữu
t́nh và phi hữu t́nh. Chữ A chính
là đệ nhất mạng, tức là dùng chữ A làm tâm,
cho nên trọn khắp tự tại trong hết thảy mà
được thành tựu. Ư nói: Chữ A ấy chẳng
khác ta, ta chẳng khác chữ A, đều trọn khắp
trong hết thảy các pháp hữu t́nh và phi hữu t́nh. Các
pháp ấy lấy chữ A làm mạng bậc nhất. Giống
như người có hơi thở ra vào, lấy đó làm mạng.
Hễ [hơi thở] dứt bặt, mạng liền chẳng
tiếp tục [tồn tại được nữa]. Chữ
A này cũng giống như thế, hết thảy các pháp hữu
t́nh lấy chữ này làm mạng.
Kế
đó, chữ Phạ (व,
Va) được gọi là Thủy (nghĩa là tưởng
chữ Phạ giống như nước). Kế đó,
tưởng chữ Ra (र)
giống như lửa. Tiếp đó, tưởng chữ
Hồng (हूं,
hūṃ) chính là hết thảy các vị Phẫn Nộ
Tŕ Minh. Lại tưởng chữ Khư (ख,
kha) giống như hư không (phải nên có chữ Ha (ह),
tức là gió, nay [kinh văn] chẳng nói, phải nên tra cứu).
Sở dĩ quán như vậy, muốn xếp đặt hết
thảy các chữ nơi thân phần này, tức là pháp trong
pháp giới của hết thảy Như Lai, vạn
đức đều trọn đủ. Giống như
khi ngồi đạo tràng, chẳng phải ṭa kim cang, sẽ
chẳng thể chịu đựng được [thân thể
của bậc sắp thành Chánh Giác]! Nay cũng giống
như thế, muốn trọn đủ công đức của
hết thảy các đức
Như Lai; trước hết, cần
phải dùng bốn luân đất, nước, lửa, gió
và hư không, sau đấy, tác pháp đầy
đủ. Do có thể chân thật bậc nhất như thế,
nếu người thấu hiểu
th́ được gọi là A-xà-lê. Danh tự trong đàn tuy
khác nhau, nhưng đều là công đức của chư
Phật, v́ độ người khác nên nói ra. Do đó,
chư Phật nói hết thảy những điều cần
phải biết, người thường siêng năng tu [những
điều ấy], sẽ có thể đạt được
câu bất tử. Do A-xà-lê dùng chữ A để gia tŕ thân,
cho nên [chữ A ấy] chính là chư thiên v.v… trong hết thảy
đại hội của Mạn-đồ-la. Liễu
đạt ư nghĩa này, sẽ chính là bậc A-xà-lê chân thật.
Kế đó, khuyên [hành nhân] thường
nên tu hành như thế, sẽ
đạt được câu bất tử. Đó là ư nghĩa “thường
trụ”, “thường trụ” chính là Phật.
17. Phẩm mười
bảy: Xếp đặt chữ (Bố tự phẩm
đệ thập thất, 布字品第十七)
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn phục cáo Kim Cang Thủ ngôn: - Phục
thứ, Bí Mật Chủ! Chư Phật sở tuyên thuyết,
an bố chư tự môn, Phật tử nhất tâm thính. Ca
tự tại yết hạ, Khư tự tại ngạc
thượng, Nga tự dĩ vi cảnh, Già tự tại hầu
trung, Giá tự vi thiệt căn, Xa tự tại thiệt
trung, Nhă tự vi thiệt đoan, Xă tự thiệt sanh xứ,
Trá tự dĩ vi hĩnh, Trá tự ưng tri bễ, Noa tự
thuyết vi yêu, Đồ tự dĩ an tọa, Đa tự
tối hậu phần. Tha tự ưng tri phúc, Na tự vi
nhị thủ, Đà tự danh vi hiếp, Ba tự dĩ
vi bối, Phả tự ưng tri hung, Ma tự vi nhị trửu,
Bà tự thứ tư hạ. Măng tự trụ ư tâm, Da tự
âm tạng tướng, Ra tự danh vi nhăn, La tự vi quảng
ngạch, Ải, Y tại nhị tư, Ổ, Ô vi nhị thần,
Ế, Ái vi nhị nhĩ, Ô, Áo vi nhị giáp, Ám tự Bồ
Đề cú, Á tự Bát Niết Bàn. Tri thị nhất thiết
pháp, hành giả thành Chánh Giác. Nhất Thiết Trí tư tài,
thường tại ư kỳ tâm, thế hiệu Nhất
Thiết Trí, thị vị Tát Bà Nhă.
(經)爾時世尊復告金剛手言:復次祕密主!諸佛所宣說,安布諸字門,佛子一心聽。迦字在咽下,佉字在齶上,誐字以為頸,伽字在喉中,遮字為舌根,車字在舌中,若字為舌端,社字舌生處,吒字以為脛,咤字應知髀,拏字說為腰,荼字以安坐,多字最後分,他字應知腹,娜字為二手,馱字名為脇,波字以為背,頗字應知胸,麼字為二肘,婆字次臂下,莽字住於心,耶字陰藏相,囉字名為眼,𡆗字為廣額,縊伊在二眥,塢烏為二脣,翳藹為二耳,污奧為二頰,暗字菩提句,噁字般涅槃,知是一切法,行者成正覺,一切智資財,常在於其心,世號一切智,是謂薩婆若。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Kim
Cang Thủ rằng: - Lại này, Bí Mật Chủ! Xếp
đặt các tự môn, do chư Phật tuyên nói. Phật tử
nhất tâm nghe. Chữ Ca dưới yết hầu. Chữ
Khư trên ṿm họng. Chữ Nga ở nơi cổ. Chữ
Già ở trong họng. Chữ Giá ở trên lưỡi. Chữ
Xa ở giữa lưỡi. Chữ Nhă nơi chót lưỡi.
Chữ Xă nơi gốc lưỡi. Chữ Trá nơi bắp
chân. Chữ Trá tức là đùi. Chữ Noa nói là eo. Chữ
Đồ dùng để ngồi (tức chữ Đồ
đặt nơi mông). Chữ Đa nơi hậu môn. Chữ
Tha biết là bụng. Chữ Na là hai tay. Chữ Đà chính
là hông. Chữ Ba dùng làm lưng. Chữ Phả nên là ngực.
Chữ Ma: Hai khủy
tay. Chữ Bà: Hai bắp tay. Chữ Măng trụ nơi tâm. Chữ
Da: Tướng âm tạng. Chữ Ra tức là mắt. Chữ
La: Vầng trán rộng.
Ải, Y: Hai khóe mắt. Ổ, Ô là hai môi. Ế, Ái là hai tai. Ô, Áo là hai
má. Chữ Ám: Câu Bồ Đề. Chữ Á: Bát Niết Bàn.
Biết hết thảy pháp đó, hành giả thành Chánh Giác.
Của cải Nhất Thiết Trí, thường ở ngay
nơi tâm. Đời gọi Nhất Thiết Trí, đó là
Tát Bà Nhă).
Ư
nghĩa liên quan đến phẩm trước, cũng nhằm
nói rơ “cổ Phật có
cùng một đạo [với Phật
hiện tại]”, bèn dẫn chứng hết thảy chư Phật cùng nói [pháp này]. Chữ Ca (क, Ka): Dưới yết hầu. Chữ Khư (ख, Kha): Trên ṿm họng), chữ Nga (ग, Ga) nơi cổ. Chữ Già (घ, Gha) nơi má, tức là khoảng giữa từ phần
[xương sọ giáp mí nhau thành] h́nh chữ thập trên
đỉnh đầu xuống tới họng.
Giá (च, Ca)
ở nơi lưỡi. Xa (छ, Cha) là giữa lưỡi.
Nhă (ज, Ja):
Đầu lưỡi. Xă (झ, Jha): Chỗ phát sanh của
lưỡi (cuống lưỡi).
Trá (ट, Ṭa): “Hĩnh”
(藹) là
hai bắp chân (tức phần từ
đầu gối cho đến cổ chân).
Trá (ठ, Ṭha): Bắp
đùi. Noa (ड, Ḍa): Thắt lưng,
tức chỗ ṿng quanh eo. Đồ
(ढ, Ḍaha): Chỗ
hai mông. Đa (ट, Ta): Chỗ đại
tiện. Tha (थ, Tha):
Bụng. Na (द, Da):
Hai tay. Đà (ध, Dha): Hai hông. Ba (प, Pa): Trọn khắp
lưng. Phả (फ, Pha): Ngực. Ma (ब, Ba): Từ hai khủy
tay trở lên cho tới dưới vai. Bà (भ, Bha): Cánh tay (từ khủy
tay trở xuống). Măng (म, Ma): Tim. Dă (य, Ya): Âm tạng (bộ
phận sinh dục). Ra (र, Ra): Hai mắt. La (ल, La): Trọn khắp
trán. Y (इ, i), Y (ई,
ī): Tṛng mắt, hoặc khóe mắt. Hai chữ này
tương xứng với trước là mắt phải,
sau là mắt trái. Phàm hết thảy đối ứng với
trái và phải th́ đều là phải trước, trái sau.
Ổ (उ, U), ô (ऊ,
ū) là hai môi, trước là môi trên, sau là môi dưới. Ế
(ए, e), Ái (ऐ,
ai): Hai tai, cũng trước phải, sau trái. Ô (ओ,
O), Áo (औ, au): Má phải
trước, kế đó là má trái. Ám (अं,
aṃ): Câu thành Phật, cũng ở chỗ chữ thập
trên đỉnh đầu. Á (अः,
aḥ) là nghĩa Niết Bàn, không chỗ nào chẳng trọn
khắp, phối ứng mọi chi phần. Nếu có thể
làm như thế, tức là Phật, tức là Nhất Thiết
Trí, tức là “tư tài” (của cải, [hàm nghĩa]
trọn đủ hết thảy các pháp tài), tức là Phật
tử. [Do vậy] bảo cho biết!
18. Phẩm thứ
mười tám: Bồ Tát Giới Phẩm Thọ
Phương Tiện Học Xứ (Bồ Tát Giới Phẩm
Thọ Phương Tiện Học Xứ Phẩm đệ
thập bát, 菩薩戒品受方便學處
品第十八)[16]
(Kinh)
Nhĩ thời, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Nguyện thuyết chư Bồ Tát Ma Ha
Tát đẳng cụ trí huệ phương tiện sở
tu học cú, linh quy y giả ư chư Bồ Tát Ma Ha Tát,
vô hữu nhị ư, ly nghi hoặc tâm, ư sanh tử lưu
chuyển trung,
thường bất khả hoại.
(經)爾時執金剛祕密主白佛言:世尊!願說諸菩薩摩訶薩等具智慧方便所修學句,令歸依者於諸菩薩摩訶薩無有二意、離疑惑心,於生死流轉中常不可壞。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Xin hăy nói câu tu học trọn đủ
phương tiện trí huệ của các Bồ Tát Ma Ha Tát,
khiến cho người quy y đối với các vị Bồ
Tát Ma Ha Tát chẳng có hai ư, ĺa tâm ngờ vực, ở trong
sanh tử lưu chuyển thường chẳng thể hoại).
Đầu
kinh, ngài Kim Cang Thủ đă hỏi Phật về ư
nghĩa của giới Bồ Tát. Trước đó, đức
Phật đă nói khi [A-xà-lê] nhập
Mạn-đồ-la, truyền giới cho đệ tử,
hăy nên nói pháp yếu của giới ấy. Trước hết,
[đệ tử] đă
được thọ giới ấy xong, trụ trong Học
Xứ ấy, sau đó mới thích hợp nghe hạnh bí mật
của Như Lai. Trước khi chưa tạo Mạn-đồ-la,
phải nên nói giới ấy. Trong phần trước, khi
đức Phật giảng về
chuyện nhập Mạn-đồ-la, liền nói ngay vào
phương tiện của Mạn-đồ-la, nên chưa
nói tới giới. V́ thế, ngài Kim Cang Thủ nhắc lại
chuyện trước để hỏi lần nữa. Do vậy,
kinh nói: “Lúc bấy giờ, Kim Cang Thủ Bí Mật Chủ
bạch Phật rằng: - Nguyện đức Thế Tôn
nói câu [tu học trọn đủ phương tiện] của
hàng Bồ Tát Đại Hữu T́nh…” trọn đủ
các ư nghĩa [thị hiện] dấu tích, trụ xứ, tức
là Học Xứ. “Câu tu học trọn đủ
phương tiện trí huệ” tức là chỗ để
các đức quy hướng, tiến nhập. Người
đó trọn đủ giới ấy, tức là các thứ
như phương tiện v.v… đạt được
ngay nơi thân, có ư nghĩa “tới trọn khắp”.
Huệ phương tiện v.v… đều tiến nhập
thân này; đó là dịch sát nghĩa. “Ly nghi hoặc”
(ĺa ngờ vực), tức là [ĺa khỏi] “nhị ư”,
[nhị ư] giống như ở nơi ngơ rẽ, chẳng
thể tiến tới được. Ĺa ác ư, ngờ lo,
khiến cho lưu chuyển trong sanh tử mà bất hoại.
Trên đây đều là kinh văn. Do vị Bồ Tát này trụ
trong Học Xứ, có thể khiến cho [vị ấy] chẳng
xả đại bi, ĺa ác ư. “Ác ư” tức là nghi hoặc.
Tức là do dùng giới này, dẫu ở trong sanh tử lưu
chuyển mà chẳng thể hoại. “Bất hoại”
tức là thường trụ, chẳng thể hại. Ư của
lời hỏi là: Làm thế nào để đạt
được giới ấy, dẫu ở trong
lưu chuyển sanh tử mà thường chẳng
hủy hoại, chẳng thể phá hoại?
(Kinh)
Như thị thuyết dĩ, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn
dĩ Như Lai nhăn quán nhất thiết pháp giới, cáo Chấp
Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Đế thính, Kim Cang Thủ!
Kim thuyết thiện xảo tu hành đạo. Nhược
Bồ Tát Ma Ha Tát trụ ư thử giả,
đương ư Đại Thừa nhi đắc thông
đạt. Bí Mật Chủ! Bồ Tát tŕ bất đoạt
sanh mạng giới sở bất ưng vi, tŕ bất dữ
thủ, cập dục tà hạnh, hư cuống ngữ,
thô ác ngữ, lưỡng thiệt ngữ, vô nghĩa ngữ
giới, tham dục, sân khuể,
tà kiến đẳng, giai bất ưng tác. Bí Mật Chủ!
Như thị sở tu học cú, Bồ Tát tùy sở tu học,
tắc dữ Chánh Giác
Thế Tôn cập chư Bồ Tát đồng hạnh,
ưng như thị học!
(經)如是說已,毘盧遮那世尊以如來眼觀一切法界,告執金剛祕密主言:諦聽。金剛手!今說善巧修行道。若菩薩摩訶薩住於此者,當於大乘而得通達。祕密主!菩薩持不奪生命戒所不應為,持不與取及欲邪行、虛誑語、麁惡語、兩舌語、無義語戒,貪欲、瞋恚、邪見等皆不應作。祕密主!如是所修學句,菩薩隨所修學,則與正覺世尊及諸菩薩同行,應如是學。
(Kinh:
Nói như thế xong, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn dùng Như Lai
nhăn quán hết thảy các pháp giới, bảo Chấp Kim
Cang Bí Mật Chủ rằng: - Lắng nghe, Kim Cang Thủ!
Nay nói đạo tu hành thiện xảo. Nếu Bồ Tát Ma
Ha Tát trụ trong đạo này, sẽ được thông
đạt Đại Thừa. Này Bí Mật Chủ! Bồ
Tát tŕ giới chớ nên đoạt sanh mạng, tŕ giới
chẳng cho mà lấy, giới chẳng làm hạnh dục
tà, nói lời hư dối, lời thô ác, lời đôi chiều,
lời vô nghĩa, tham dục, sân khuể, tà kiến đều
chớ nên làm. Bí Mật Chủ! Đối với câu để
tu học như thế, Bồ Tát thuận theo tu học th́
chính là có cùng hạnh với
đức Chánh Giác Thế Tôn và các Bồ
Tát. Hăy nên học như thế).
Khi đó, Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn
ngự trong hết thảy, dùng Phật nhăn quán hết thảy
pháp giới, bảo ngài
Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: “Lắng nghe!”
[Đó là răn truyền] ngài Kim Cang Thủ vậy. Đức
Phật dùng Phật nhăn quán pháp giới rồi bảo Kim
Cang Bí Mật Chủ “lắng nghe” là v́ đại
sĩ đă thỉnh Phật nói hạnh căn bản của
hết thảy Bồ Tát, đức Phật sắp giải
đáp, trước tiên,
Ngài dùng Như Lai nhăn quán trọn khắp đại hội.
Đấy chính là quán trọn khắp pháp giới. Nói “các
pháp giới” ở đây chính là quán Phật giới, pháp
giới, và chúng sanh giới. Quán ba pháp giới ấy, nên nói
là “các pháp giới”. Quán pháp giới tức là hết thảy
cảnh giới của Như Lai. Chúng sanh giới chính là
nhân duyên của hết thảy chúng sanh đáng nên độ,
đều là pháp giới. Đă quán trọn khắp xong, biết
có kẻ kham nghe giới hạnh sâu xa này; do vậy, trả
lời ngài Kim Cang Thủ.
Kế
đó, đức Phật bảo: -
Kim Cang Thủ, hăy lắng nghe! Nay ta nói
đạo tu hành thiện xảo. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
trụ trong đạo này, tức là đă thông đạt
đạo tu hành thiện xảo trong Đại Thừa.
Đạo tu hành ấy chính là Bồ Tát Giới. Tam thế
chư Phật đều do đạo này mà đạt tới
Bồ Đề, nên gọi là “tu hành đạo”. Do trụ
trong “đạo tu hành” này của chư Phật,
chư Bồ Tát lập tức có thể thông đạt
Đại Thừa. V́ sao vậy? Nay giới này chính là giới
cội nguồn trong tự tánh của hết thảy chúng
sanh. Nếu trụ trong kim cang giới thanh tịnh nơi
tánh này, tự nhiên sẽ thông đạt hết thảy các
pháp. “Tŕ bất sát sanh giới sở bất ưng vi”
(tŕ giới chẳng sát sanh chẳng đáng nên làm) tức
là tŕ giới “chẳng sát hại sanh mạng”. Thêm vào chữ “chư sanh mạng” tức là chẳng
được đoạn mạng. Kế
đó, đức Phật dạy bảo giới tướng,
tức là chẳng sát hại sanh mạng, chớ nên không cho
mà lấy, chớ nên hành hạnh tà dục, chớ thốt
lời dối gạt, thô ác, nói đôi chiều, nói thêu dệt,
và tham, sân, tà kiến thảy; đó chính là Bồ Tát giới.
Trong ấy, “chẳng sát sanh” tức là đối với
các loài có sanh mạng, thậm chí chẳng sanh một niệm
sát tâm. Do chẳng có sát tâm, nên gọi là “giới bất
sát”. Những giới khác cứ phỏng theo đây mà
nói.
Khi
mới truyền trao giới này, trước đó, A-xà-lê
nên truyền
trao Tam Quy. Tam Quy ở đây chính là [quy y]
Tam Bảo thường trụ bí mật, chẳng phải
là Pháp, Tăng biệt trụ giống như trong các kinh chẳng
liễu nghĩa khác. [Ư nghĩa Tam Bảo
thường trụ bí mật ấy] như
trong kinh Niết Bàn, Ương Quật v.v… [đă giảng giải], hăy
nên trích dẫn để rộng nói. Lại như kinh
văn trong phần trên [đă nói],
thầy truyền trao pháp Tam Quy. Đă truyền Tam Quy xong; kế đó, A-xà-lê
hăy nên khuyên họ phát tâm, khiến cho họ sanh đại
thệ quyết định, thọ mười vô tận tạng
rồi mới ba lượt trao truyền. Thọ xong, dạy
họ tự thưa bày: “Con tên là… nay nương theo
mười phương chư Phật và A-xà-lê đă
được thọ giới. Ngày nay, giờ này, con là…
đă được gọi là Bồ Tát”. Giới ấy
chẳng có thời tiết, thọ cho đến khi hết
thọ mạng, cho đến cùng tột đời vị
lai, chẳng có ư nghĩa “xả
ĺa”. Nếu đối
với giới vừa nói trên đây, khi nhập đạo
tràng mà hành phương tiện này trong một tháng, một
năm v.v… Xong chuyện bèn thôi [chẳng giữ
giới ấy nữa], tức là có thời
hạn. Nhưng nói theo nghĩa sâu, cũng là đạt tới
“kiến chân” (thấy được lẽ chân, kiến
đạo) rồi mới ngưng nghỉ (ngưng giữ
giới). Bồ Tát Giới
đại lược có hai loại: Một là tại gia,
hai là xuất gia. Trong hai chúng ấy, lại có hai loại giới:
Một là tự tánh tu hành, hai là chế giới.
[Thứ
nhất], nay mười giới này chính là giới để
tu hành của Bồ Tát. Do là thiện tánh, hết thảy
các Bồ Tát phải nên hành, tức là “tánh tự năng
tŕ giới” (giới mà tánh có thể tự tŕ) như
kinh Niết Bàn đă dạy, hoặc gọi là “tự
tánh giới”. Sở dĩ nói là “tŕ, là
v́ [để ngăn ngừa hành nhân] sanh tâm phỉ báng, cần
phải thủ hộ ư của họ.
Lại cần phải thuận theo ư họ, lại cần
phải tŕ. V́ cớ sao vậy? Hết thảy chư thiên
và Luân Vương trong thế gian cũng có pháp Thập Thiện,
hết thảy ngoại đạo cũng có mười
thiện giới, hết thảy Nhị Thừa cũng có
giới Thập Thiện. Nếu Bồ Tát chẳng thọ
tŕ như thế, bọn họ liền sanh tâm khinh mạn,
hủy báng: “Chúng ta đều có thiện pháp như thế.
Nay kẻ này tự nói là Đại Sĩ, hành hạnh tôn
quư, mầu nhiệm, mà chẳng có giới thanh tịnh, liền
biết sở học của hắn chẳng thật!” Do
sanh tâm nghi hoặc, bất thiện cho họ, tức là làm
chuyện chẳng có nghĩa lợi cho những người
trên đây, chẳng phải là bậc thiện tri thức!
V́ thế, cần phải giữ giới này.
Thứ
hai, giới do đức Phật chế, chính là tự trọn
đủ
phương tiện. Như trong pháp
Thanh Văn, v́ muốn tu phạm hạnh để dứt
hết nguồn khổ, đức Phật lập ra
phương tiện này để ngăn ngừa, thủ hộ!
Do vậy, được mau thành tựu cái quả. Nay trong
Đại Thừa cũng có chế giới, đó gọi
là “trọn đủ phương tiện trí thiện xảo”.
Do có phương tiện thiện xảo, nay pháp Thập
Thiện này trở thành giới bất cộng, chẳng
cùng chung với Thanh Văn, ngoại đạo v.v… V́ thế,
kinh nói là “thiện xảo tu hành”. Đại Bổn của
kinh này gồm mười vạn bài kệ, có các
phương tiện truyền giới này v.v… Tuy vậy, [bản
kinh ấy] chưa truyền sang cơi này (Trung Hoa); nhưng trong kinh Kim
Cang Đảnh có pháp truyền trao, chẳng khác với
Đại Bổn của kinh này. Hăy nên t́m xem. Như Thanh
Văn có bốn trọng cấm (giết, trộm, dâm, dối),
c̣n trong kinh này, các tội ấy là Thâu Lan Giá[17],
chẳng phải là trọng cấm. V́ lẽ nào vậy? Thập
Thiện Giới này chính là tùy thuận, thủ hộ Nhị
Thừa, ngoại đạo, dùng phương tiện thiện
xảo để tŕ trọn vẹn. Nhưng Bồ Tát luôn
có trọng cấm căn bản, ở đây, các tội “giết,
trộm, dâm, dối” chỉ là Thâu Lan Giá, chẳng phải
là tội cực trọng của Bồ Tát. Như trong phần
giới tam thế vô
chướng ngại thuộc phần trước, trước hết dạy chẳng
xả Tam Bảo, lại dạy chẳng
xả tâm Bồ Đề.
Đấy chính là bốn trọng cấm
thật sự của hàng Bồ Tát. Nếu Bồ Tát sanh
tâm như thế, xả ĺa Phật, bèn gọi là “phá trọng
cấm”. V́ sao vậy? Như Lai là
chỗ để hết thảy các thiện
pháp sanh khởi.
Bồ Tát do tự quy y Phật, mới có vạn hạnh
thành tựu nơi các Ba La Mật trong hết
thảy các địa, giống như do chủng
tử th́ mới sanh thành cái
quả. Nếu bỏ trí chữ A vốn sẵn tự
nhiên, hết thảy các điều thiện sẽ chẳng
sanh. Do vậy, bỏ Phật tức là đoạn mạng
của hết thảy các vị Bồ Tát, dứt bặt cội
rễ thành Phật của họ. Nếu hành “giết, trộm,
dâm, dối”, tuy gây trở ngại nơi đạo,
nhưng chẳng dứt tuyệt căn bản thành Phật. Do đó, chỉ thành
tội Thâu Lan Giá.
Do
Phật chẳng thể xả, Pháp và Tăng cũng thế.
Như trong kinh Thanh Văn c̣n nói: “Bỏ một quyển
kinh giới, bỏ một người trong bảy loại
chúng sanh, tức là đoạn nghĩa ḥa hợp, chẳng
thành Cụ Giới”. Huống hồ hết thảy Bồ
Tát cùng nương theo một đạo để tới
đạo tràng, Phật Phật chẳng sai, chẳng khác!
V́ thế, hăy nên biết: “Hễ xả th́ chính là đoạn
hết thảy các mạng!” Bồ Đề tâm cũng thế,
là cội gốc của hết thảy các hạnh. Nếu
ĺa Bồ Đề tâm, sẽ chẳng có hết thảy
các pháp Bồ Tát. V́ thế, bỏ [Bồ Đề tâm]
cũng là phạm trọng giới! Như kinh Thanh Văn
[đă dạy] “phạm
trọng giới, sẽ
chẳng phải là sa-môn, chẳng phải là Thích tử, chẳng
dự vào tăng chúng!”
Nay ở đây, nếu xả Phật, Pháp, Tăng, và Bồ
Đề tâm, tức là chẳng thuộc đại chúng,
giống như hàng Nhị
Thừa hủy phạm bốn giới trọng. Nhưng
hành giả tự biết phạm giới, phải nên gột
rửa cái tâm, rồi thọ lại, sẽ lại có giới,
chẳng giống như giới Nhị Thừa: [Hễ
phạm bốn giới trọng] sẽ là đá vỡ, hoặc
đứt
đầu, chẳng c̣n có nghĩa “lại đạt
được” nữa!
Lại
nữa, Bồ Tát tự
có mười giới trọng, các tội như chẳng
giết v.v… trong phần trước chẳng thuộc vào số
ấy (mười giới trọng của Bồ Tát), mà là
tội Thâu Lan Giá. Những ǵ là mười? Bốn tội
như vừa nói trên đây, lại có sáu giới trọng,
cùng hợp thành mười. Giới trọng thứ năm
chính là “chẳng báng hết
thảy kinh pháp tam thừa”. Nếu
hủy báng, sẽ chính là báng Phật, Pháp, Tăng, báng đại
Bồ Đề tâm. V́ thế, phạm giới trọng. Do
hết thảy các phương tiện trong tạng bí mật
đều là phương tiện của Phật; v́ lẽ đó, hủy
báng mỗi pháp chính là hủy báng hết thảy các pháp! Cho
đến đối với hết thảy các chuyện
thuộc về phương diện mưu sinh, sản xuất,
nghệ thuật v.v… trong thế gian, nếu
tùy thuận chánh lư th́ đều là điều Phật dạy,
cũng chẳng được hủy báng, huống hồ
các pháp thuộc tam thừa ư?
Giới
thứ sáu là “chớ
nên sanh tâm keo tiếc đối với hết thảy các
pháp”. Nếu
phạm, chính là hủy báng giới trọng. Do Bồ Tát tu
tập hết thảy các pháp, vốn v́ hết thảy
chúng sanh. Nếu có giấu diếm, tiếc nuối chút nào,
chính là xả Bồ Đề, cho nên phạm giới trọng!
Giới
thứ bảy là “không
được tà kiến”, tức
là các tà kiến báng bổ “chẳng có nhân quả, chẳng
có Phật, chẳng có người thấy đạo” v.v…
Nếu sanh tà kiến, tự nhiên là xả Phật, Pháp,
Tăng và Bồ Đề, cho nên phạm giới cấm.
Nhưng [giới trọng của] Thanh Văn chỉ là Thâu
Lan Giá [nếu xét theo giới của hàng Bồ Tát]. Do vậy
biết là [trong giới Thanh Văn], phương tiện
không trọn đủ, chỉ nói theo một lối.
Giới
thứ tám là “đối
với người phát đại tâm, phải đón
trước mà khuyên họ phát tâm, khiến cho họ chẳng thoái thất,
ngưng dứt”. Nếu
thấy người giải đăi, thoái thất, mà chẳng
khuyên răn, phát khởi, hoặc ngăn trở cái tâm ấy,
hoặc khiến cho người ấy ĺa đạo Vô
Thượng Bồ Đề, tức là trái nghịch hết
thảy chuyện đáng nên làm của hết thảy các
đức Như Lai. Do vậy, phạm trọng tội.
Điều
thứ chín là “đối
với người Tiểu Thừa, chẳng quán căn
cơ của họ trước mà cứ nói đại
pháp, hoặc đối với người đại
căn, chẳng quán căn cơ, cứ nói tiểu pháp hạnh”, [làm như vậy]
bèn phạm giới trọng. Đấy chính là phương
tiện không đầy đủ! Do trái nghịch
phương tiện của Như Lai, thuyết pháp sai
căn cơ, trở thành kẻ oán của trời,
người, cho nên phạm trọng tội.
Thứ
mười là “Bồ
Tát thường nên hành bố thí, nhưng chẳng
được đem vật dụng gây hại cho chúng sanh
để thí cho người khác”, tức
là thí rượu, thí thuốc độc, đao, trượng,
hết thảy các vật chẳng lợi ích cho người
khác. [Hễ bố thí các thứ gây hại], tức là phạm
giới trọng. Do Bồ Tát thường hành hạnh lợi
tha, nay trái nghịch, cho nên phạm giới trọng. Hăy nên
biết các giới như chẳng giết v.v… là thuận
theo ư người khác, lại là giới để người
mới nhập pháp vâng giữ. Mười chuyện
được nói ở đây chính là giới chánh hạnh
của hết thảy các Bồ Tát. Nếu Bồ Tát thật
sự thuận theo mười giới sau (tức mười
giới của Bồ Tát), dẫu hành mười chuyện
trước kia, vẫn chẳng là phạm giới!
Kế
đó, đức Phật nói: “Bí Mật Chủ! Câu tu học
như thế, nếu Bồ Tát thuận theo đó để
tu học, sẽ có cùng hạnh với chư Phật, Bồ
Tát. Hăy nên học như thế”. Thanh Văn do gần với
Phật giới, nên gọi là “cận đồng” (gần
giống), nay [Bồ Tát giới] này bằng với chư
Phật. Bồ Tát tu học thuận theo “câu tu học”,
chư Phật Thế Tôn và Bồ Tát đồng sự, hăy
nên học theo. Thân ba điều, miệng bốn điều,
ư ba điều, chính là “câu tu học” của hết thảy
các Bồ Tát, là Học Xứ của hết thảy Bồ
Tát. Đây chính là hết thảy các
Bồ Tát tùy thuận chúng sanh giới, “tùy thuận” tức
là đồng sự. Lại nữa, hết thảy Phật,
Bồ Tát đều hành như thế, do pháp của hết
thảy các Bồ Tát vốn sẵn nên
hành như thế, nay ta cũng hành
như thế, tức là có cùng sự nghiệp với hết
thảy Phật, Bồ Tát. Do hành xử
tự nhiên ứng
hợp với bản tánh giới, nên
kinh Niết Bàn bảo “tự tánh có thể tŕ giới”.
(Kinh)
Nhĩ thời, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Bạc Già Phạm ư Thanh Văn thừa
diệc thuyết như thị thập thiện nghiệp
đạo, thế gian nhân dân, cập
chư ngoại đạo diệc ư thập thiện
nghiệp đạo,
thường nguyện tu hành. Thế Tôn! Bỉ hữu hà
sai biệt? Vân hà chủng chủng thù dị?
(經)爾時執金剛祕密主白佛言:世尊!薄伽梵於聲聞乘亦說如是十善業道,世間人民及諸外道亦於十善業道常願修行。世尊!彼有何差別?云何種種殊異?
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Trong Thanh Văn Thừa,
đức Bạc Già Phạm cũng nói mười thiện
nghiệp đạo như thế, nhân dân và các ngoại
đạo trong thế gian cũng thường nguyện tu
hành mười thiện nghiệp đạo. Bạch Thế
Tôn! Giới ấy có sai biệt ǵ? Các thứ khác biệt là
như thế nào?)
Kế
đó là ư hỏi của ngài Kim Cang Thủ. Lúc bấy giờ,
Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ bạch cùng đức Phật
rằng: “Trong Thanh Văn Thừa, đức Thế Tôn
cũng nói mười thiện nghiệp đạo này. Bạch Thế Tôn! Nhân
dân và các ngoại đạo trong thế gian cũng thường
nguyện tu học mười thiện nghiệp đạo
này”. “Thường nguyện” tức
là tâm phải thường tŕ. Đó là danh xưng khác của
thọ giới. “Chuyển cụ”: “Cụ” tức là
trọn đủ giới này, “chuyển” nghĩa là
đều. [Chuyển cụ] tức là “đều hành trọn
đủ”. Thưa Thế Tôn! Giới
ở đây có ǵ sai khác? Có các thứ khác biệt
như thế nào? Thanh Văn và Duyên Giác cũng có giới Thập
Thiện, cũng nói v́ dứt sự chê bai trong thế gian
và do tánh thiện mà tŕ. Hết thảy các ngoại đạo
và chư thiên trong thế gian cũng có giới Thập Thiện.
Nay đức Phật lại nói Bồ Tát Giới, nhưng chỉ
là Thập Thiện, như vậy th́ có khác ǵ đâu?
(Kinh)
Như thị thuyết dĩ, Phật cáo Chấp Kim Cang Bí
Mật Chủ ngôn: - Thiện tai, thiện tai! Bí Mật Chủ!
Nhữ phục thiện tai, năng vấn Như Lai như
thị nghĩa. Bí Mật Chủ! Ưng đương
đế thính, ngô kim diễn thuyết sai biệt đạo
nhất đạo pháp môn. Bí Mật Chủ! Nhược
Thanh Văn Thừa Học Xứ, ngă thuyết ly huệ
phương tiện, giáo linh thành tựu, khai phát biên trí, phi
đẳng hành Thập Thiện Nghiệp Đạo. Bỉ
chư thế gian phục ly chấp trước ngă cố,
tha nhân sở chuyển. Bồ Tát tu hành Đại Thừa,
nhập nhất thiết pháp b́nh đẳng, nhiếp thọ
trí huệ phương tiện, tự tha câu cố, chư
sở tác chuyển. Thị cố, Bí Mật Chủ! Bồ
Tát ư thử nhiếp trí phương tiện, nhập nhất
thiết pháp b́nh đẳng, đương cần tu học.
(經)如是說已,佛告執金剛祕密主言:善哉善哉!祕密主!汝復善哉,能問如來如是義。祕密主!應當諦聽,吾今演說差別道一道法門。祕密主!若聲聞乘學處,我說離慧方便,教令成就開發邊智,非等行十善業道,彼諸世間復離執著我故,他因所轉。菩薩修行大乘入一切法平等,攝受智慧方便,自他俱故,諸所作轉。是故祕密主!菩薩於此攝智方便入一切法平等,當勤修學。
(Kinh: Nói như
thế xong, đức Phật bảo Chấp Kim Cang Bí Mật
Chủ rằng: - Lành thay, lành thay! Bí Mật Chủ! Ông lại
có thể lành thay, có thể hỏi Như Lai nghĩa như
thế đó. Bí Mật Chủ! Hăy nên lắng nghe, ta nay diễn
thuyết pháp môn sai biệt đạo, nhất đạo.
Bí Mật Chủ! Như trong Học Xứ của Thanh
Văn Thừa, ta nói phương tiện ly huệ, dạy
họ thành tựu, khai phát biên trí
(trí chấp vào một bên), chẳng
phải là b́nh đẳng hành Thập Thiện Nghiệp
Đạo. Các thế gian kia dẫu ĺa chấp ngă, lại
bị các nhân
khác xoay chuyển. Bồ Tát tu hành Đại Thừa, nhập
hết thảy các pháp b́nh đẳng, nhiếp thọ
phương tiện trí huệ, thực hiện các sự đều nhằm
chuyển biến cho ḿnh lẫn người. V́ thế, Bí Mật
Chủ! Bồ Tát do phương tiện nhiếp trí này, nhập
hết thảy các pháp b́nh đẳng, hăy nên siêng tu học).
V́
thế, tiếp đó đức Phật lại v́ ngài Kim
Cang Thủ mà phân biệt, Ngài tán thán: - Lành thay, lành thay Bí Mật
Chủ! Ông lại có thể tốt lành hỏi Như Lai
nghĩa như thế. Hăy nên lắng nghe, nay ta sẽ v́ ông
phân biệt. Phân biệt th́ có vô lượng điều,
nay kết hợp thành một, bèn nói pháp môn này. Do ông có thể
hỏi Như Lai nghĩa như thế, ta sẽ theo thứ
tự của từng chuyện mà giải đáp. Hăy nên lắng
nghe “phân biệt đạo, nhất đạo thuyết
pháp môn” tức là hết thảy các pháp chẳng ra ngoài
môn chữ A; đó chính là “nhất đạo”. “Đạo”
có nghĩa là “dựa
trên pháp này th́ sẽ có thể đạt tới”. “Nhất đạo”
chính là đạo khiến cho hết thảy mọi người
vô ngại, cùng thoát khỏi sanh tử, tiến thẳng tới
đạo tràng. Nói là “nhất” tức là đạo
Như Như, là pháp giới độc nhất, cho nên nói là
Nhất. Trong một đạo ấy, phân biệt đủ
thứ sai khác. Ví như vô lượng ngơ rẽ đều
dẫn tới chỗ có của báu, tuy khác lối mà cùng về
một chỗ!
Lại
như dùng một môn chữ A để phân biệt hết
thảy các chữ, hăy nên biết:
Tuy sai biệt mà chẳng khác môn chữ
A. Nay Thập Thiện cũng thế, thuận theo trí quán
thượng, trung, hạ mà tự thành đủ loại,
chẳng phải là giới nguồn cội của hết
thảy chúng sanh có sai biệt! Nhưng đức Phật
v́ phá nỗi nghi của đại chúng, trả lời câu hỏi
của ngài Kim Cang Thủ, cũng là từ trong một đạo
mà phân biệt, giải đáp tướng sai biệt. Ư phân
biệt ấy là như thế nào? Đức Phật nói
đồng nhất: Như ta đă nói phương tiện
ly huệ trong Học Xứ của Thanh Văn, dạy họ
thành tựu, khai phát Biên Trí[18],
nhưng chẳng phải là b́nh đẳng hành Thập Thiện
Nghiệp Đạo, chứ chẳng có ǵ khác! V́ thế, kế
đó Ngài nói: Nếu là Học Xứ của Thanh Văn Thừa,
ta nói ra phương tiện ấy,
nhằm dạy họ thành tựu, khai phát Biên Trí, chẳng
phải là hạnh Thập Thiện Nghiệp Đạo
b́nh đẳng. Đó là giải đáp chỗ khác biệt
[giữa Tiểu Thừa] và Đại Thừa. Thập Thiện
của Thanh Văn chỉ nhằm dạy bảo khiến
cho [hành nhân] thành tựu,
giống như các mạng lệnh ước định,
sắc truyền của quốc vương: Từ nay trở
đi, nếu kẻ nào làm các chuyện như thế
đó, sẽ có tội giống như thế. Bọn họ
do sợ tội, sẽ vâng theo,
chẳng dám
đối nghịch, chẳng dám trái
vượt. Thanh
Văn cũng thế. Do giáo mạng Ba La Đề Mộc
Xoa oai đức được chế định bởi
đức Phật, do được
đấng pháp vương đáng tôn trọng chế định,
[các đệ tử và tín chúng] chẳng
dám hủy phạm. Đó chẳng phải là phương tiện
trọn đủ “tự tánh có thể tŕ”. Lại chỉ
là tự tŕ, chẳng phải là tùy thuận trọn khắp
hết thảy chúng sanh. Do vậy, chỉ là trí một bên,
chẳng phải giới thuộc Trung Đạo Thật
Tướng. Đó là sự sai biệt.
[Chánh
kinh nói] các ngoại đạo chấp ngă, chẳng chấp
vào cái nhân nào khác. Lại nữa, thế gian do ĺa chấp
trước vào Ngă,
nên bị xoay chuyển. Tức
là kế đó, đức Phật nói về sự khác biệt
so với ngoại đạo. Bọn họ chấp trước
Ngă hoặc Thần sanh ra hết thảy. [ Họ cho rằng] nay
thân này của ta chẳng phải là ta,
mà là do Đại Ngă sanh ra. Nếu sanh bởi Ngă th́ thiện
ác nhân quả đều do đó mà ra, [vậy th́] thân tâm này
tự vô ngă, cái quả của tŕ giới sẽ v́ ai mà chuyển
tu? Ai tiếp nhận quả báo ấy? Hăy nên biết [v́ chấp
trước như vậy], nghĩa nhân quả chẳng
thành. Giống như hoa, quả không có chủng tử, và đứa con của
thạch nữ[19],
có thể dùng hoa đốm trên hư không làm tràng hoa, chẳng
hề có lẽ ấy! Đối với thí dụ về
thạch nữ, hăy kiểm trong Phật Tánh Luận[20]
có trọn đủ ư nghĩa. Lại có kẻ do chấp
Đoạn hay Thường mà hành pháp Thập Thiện. Nếu
là thường th́ chẳng có quả báo, nay tŕ Thập Thiện, nương vào ǵ mà
trụ? Nếu là đoạn th́ cũng chẳng có quả
báo, cũng là nương vào ǵ vậy? V́ thế, tuy cùng là một
danh xưng Thập Thiện, nhưng [Thập
Thiện của thế gian và ngoại đạo] như
trùng đục gỗ ngẫu nhiên thành chữ, chẳng thể
so sánh được!
Kế
đó, nói đến tướng sai biệt của Thập
Thiện trong Đại Thừa. Nếu là Bồ Tát giới,
sẽ dùng trí phương tiện để nhiếp hết
thảy các pháp b́nh đẳng mà nhập, hăy nên siêng tu tập; tức là nói
giới này nhập hết thảy các pháp b́nh đẳng,
ĺa khỏi tự và tha, nhưng trọn khắp tự và
tha. Tự mở mang hết thảy tri kiến của
Như Lai cũng thế, hết thảy đều bằng
với ta, và do nhập hết thảy các pháp b́nh đẳng
mà tu giới này, bất cộng với hết thảy.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn phục dĩ đại từ
bi nhăn quán chư chúng sanh giới, cáo Kim Cang Thủ Bồ
Tát ngôn: - Bí Mật Chủ! Bỉ chư Bồ Tát tận
h́nh thọ tŕ bất đoạt sanh mạng giới,
ưng xả đao, trượng, ly sát hại ư, hộ tha
thọ mạng do như kỷ thân. Hữu dư
phương tiện, ư chư chúng sanh loại trung, tùy kỳ
sự nghiệp, vị giải thoát bỉ ác nghiệp báo cố,
hữu sở thi tác, phi oán hại tâm.
(經)爾時世尊復以大慈悲眼觀諸眾生界,告金剛手菩薩言:祕密主!彼諸菩薩盡形壽持不奪生命戒,應捨刀杖、離殺害意,護他壽命猶如己身。有餘方便,於諸眾生類中隨其事業,為解脫彼惡業報故,有所施作非怨害心。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn lại dùng mắt đại
từ bi quán các chúng sanh giới, bảo Kim Cang Thủ Bồ
Tát rằng: - Bí Mật Chủ! Các Bồ Tát ấy cho đến
hết tuổi thọ, tŕ giới chẳng đoạt sanh
mạng, hăy nên bỏ đao, gậy, ĺa ư giết hại,
thủ hộ mạng của kẻ khác giống hệt
như thân ḿnh. Đối với các loài chúng sanh, tùy theo sự
nghiệp, v́ để giải thoát các ác nghiệp báo cho họ,
hễ có thực hiện điều ǵ, đều chẳng
có tâm oán hại).
Kế
đó, đức Phật lại muốn rộng nói giới
tướng Thập Thiện của Bồ Tát, khiến cho
Chân Ngôn hạnh Bồ Tát chẳng nghi hoặc. Do vậy,
dùng mắt đại từ đại bi để quán sát
chúng sanh giới rồi bảo ban Kim Cang Thủ. Do mắt
trong tiếng Phạn có hai âm (tức Netra),
nay đều giữ đầy đủ. Do mắt từ
và mắt bi, mà nhắc lại cả hai tên. Trước hết,
nói về tướng “bất
sát”, tức là [hành nhân] cho đến
hết tuổi thọ, thậm chí bỏ hết thảy
dao, gậy. Cách giết, duyên giết, cái nhân gây nên giết,
nghiệp giết v.v… Phàm những ǵ tương ứng với
sát hại tánh mạng đều xa ĺa. Quán cái tâm oán hận
bên trong hết thảy chúng sanh, đều
giống như chính ḿnh, thậm chí đối với loài hữu
h́nh, đều vĩnh
viễn chẳng có ư gây hại, chứ không phải chỉ
là chẳng giết mới
thành tŕ giới. Tức là nói do phương tiện huệ,
quán người ấy ắt tạo các duyên Ngũ Vô Gián,
báng pháp v.v… sẽ tăng thêm trọng chướng, chẳng
do đâu mà được thoát ĺa. [Bồ
Tát] dùng tâm đại bi để suy tính, nếu
hại người ấy mà có thể tạo lợi ích cho
nhiều người, hoặc khiến cho kẻ đó có
nhân duyên thoát ĺa, [sẽ quyết
định] thà chính ḿnh vào ác đạo, nhằm thủ
hộ người ấy mà dùng đại bi tâm để
gia hại [người ấy].
Đấy chính là phương tiện bất cộng với
Nhị Thừa.
(Kinh)
Phục thứ, Bí Mật Chủ! Bồ Tát tŕ bất dữ
thủ giới, nhược tha sở nhiếp chư thọ
dụng vật, bất khởi xúc thủ chi tâm, huống
phục dư vật bất dữ nhi thủ. Hữu
dư phương tiện, kiến chư chúng sanh xan lận
tích tụ, bất tu thí phước, tùy kỳ tượng
loại, hại bỉ
xan cố, ly ư tự tha, vị
bỉ hành thí, nhân tán thời thí,
hoạch diệu sắc đẳng. Bí Mật Chủ!
Nhược Bồ Tát phát khởi tham tâm nhi xúc thủ chi,
thị Bồ Tát thoái Bồ Đề phần, việt vô
vi Tỳ Nại Da pháp.
(經)復次祕密主!菩薩持不與取戒,若他所攝諸受用物,不起觸取之心,況復餘物不與而取。有餘方便,見諸眾生慳悋積聚不修施福,隨其像類害彼慳故,離於自他為彼行施,因讚時施獲妙色等。祕密主!若菩薩發起貪心而觸取之,是菩薩退菩提分,越無為毘奈耶法。
(Kinh:
Lại này, Bí Mật Chủ! Bồ Tát giữ giới “chẳng
cho mà lấy”, đối với các vật thọ dụng
thuộc về người khác, chẳng dấy tâm chạm
vào hay lấy, huống hồ đối với các vật
khác, chẳng cho mà lấy ư? Lại có phương tiện
khác, [tức là]
thấy các chúng sanh keo kiệt, cứ tom góp, chẳng tu
phước bố thí, bèn tùy theo từng loại, do phá keo
tham, mà ĺa khỏi [chấp trước] ta và người,
v́ người đó mà hành bố thí, do đó, tán thán “bố thí đúng thời
sẽ đạt được sắc tướng mầu
nhiệm”
v.v… Bí Mật Chủ! Nếu Bồ Tát phát khởi cái tâm đụng
chạm, hoặc lấy [vật của người
khác], Bồ Tát ấy thoái thất Bồ Đề phần,
trái vượt pháp Tỳ Nại Da vô vi).
Kế
đó, đối với trộm cắp cũng thế.
Đối với hết thảy các thứ, dẫu một
lá cỏ cũng chẳng lấy, đó cũng là nhân duyên
để phá trừ túng thiếu. Quán kẻ tích tụ chẳng
chán, do vậy tự tổn, tạo thành nghiệp ngăn
chướng to lớn, thậm chí
do phương tiện mà lấy [vật của người
khác] để tu
đủ loại công đức. Sau đấy, bảo họ
tùy hỷ. Các thứ phương tiện như thế do chỉ tùy thuận
hạnh hành mười giới
sâu xa, dùng đại Bồ
Đề tâm để dẫn dắt,
[do vậy] hết
thảy chẳng phạm. Đấy là tướng tŕ phạm.
Phần trên đă lược nói
sát giới; kế đó, nhắc
lại để nói cặn kẽ: “Bí Mật Chủ! Bồ
Tát cho tới hết thọ mạng, giữ giới chẳng
giết, hăy nên bỏ đao, gậy, ư sát hại, thủ hộ
mạng của người khác như mạng của chính
ḿnh”. Ngoài ra, nói đến “dị phương tiện”
tức là các phương tiện khác. Tùy theo các loại
chúng sanh, tùy theo sự nghiệp mà khích lệ họ. V́ thế nói “tùy bỉ
nghiệp nhi tác chi” (thuận theo nghiệp của họ
mà làm). Ân cần tu tập, khiến cho họ tránh khỏi
báo ứng, ĺa ư oán hại. “H́nh loại” nghĩa là “nhiều
thứ”, như những kẻ tạo chuyện cực
ác, tạo nghiệp cực nặng, v́ muốn khiến cho
họ tránh khỏi [gây tạo những nghiệp đó], giả
sử dùng đao, trượng v.v.. [để ngăn chặn
họ, Bồ Tát vẫn] chẳng phạm lỗi! Giới
Thanh Văn cũng dùng chuyện chấp nhận tội nhỏ
để trừ tội lớn, dùng nhẹ đổi nặng.
V́ vậy, nay [Bồ Tát giới] cũng thế, như cứu
người nữ [bị ch́m] trong nước[21]
v.v… mà suy ra. Bồ Tát giới chuẩn theo đó mà biết.
Trọn hết tuổi thọ, giữ giới “không giết
hại mạng sống”. Hăy nên bỏ đao, trượng,
sát hại. Thủ hộ sanh mạng của người
khác giống như [thủ hộ sanh mạng] của chính
ḿnh. Hăy nên ĺa ư oán ác, đấy là giới tướng bậc
nhất.
“Tận
h́nh” nghĩa là chẳng phải [tŕ giới] trong một
giai đoạn mà thôi! Bồ Tát từ sơ phát tâm cho đến
khi thành Bồ Đề, đối với hết thảy
các loài có mạng sống,
đều chẳng sanh một tâm niệm sát hại, huống
hồ khởi thân, miệng [để thực hiện hành
vi sát hại] ư? Đối với tất cả các vật
dụng để tùy duyên sát hại, như trong giới sát
đă nói cặn kẽ các tướng, cũng chẳng cất
chứa, dẫu chỉ trong
một niệm, huống hồ thực hiện
phương tiện giết chóc ư? Tâm năo hại đại
lược có chín loại, tức là ghen ghét thân ta, và ghét bạn
lành của ta, thích kẻ oán của ta, [ba điều ấy
ghép tương ứng với] quá khứ, vị lai, hiện
tại, tạo thành
chín điều. Lại có một loại, [tức là] đối
với thứ chẳng phải là hữu t́nh mà sanh sân.
Như trong thời Phật Ca Diếp, có một tỳ-kheo
đi kinh hành, vấp phải gốc cây cụt mà ngă, hết
sức giận dữ, vác cuốc đào nó lên, bị cạnh
sắc gây bị thương đến nỗi chết mất,
liền trong khoảnh khắc,
thọ thân làm rắn độc. Khi đó, các đệ tử,
đồng học vừa mới thiêu thân ông ta. Thân sau [của
ông ta] là rắn độc, gặp Phật ở chỗ
thiêu xác, do sanh tâm ác, toan hại Phật. Lúc đó, đức
Phật răn nhắc ông ta: “Ông trong đời trước
do phẫn hận đối với thứ chẳng phải
hữu t́nh mà đến nỗi tự thọ báo này. Nay lại
quá đáng hơn nữa, sẽ lại thọ thân ác”. Chẳng
lâu sau, có các trẻ nhỏ, do thấy rắn hại người,
liền cùng nhau giết chết, đem đốt xác. Ông ta
lại do thấy bị hại mà phẫn nộ, và do nhân
duyên muốn làm hại, liền vào
trong đại địa ngục. Tức là trong lúc thân
cũ chưa thiêu xong, hai thân thọ báo sau đó đồng
thời bị thiêu đốt. Hăy nên biết đấy
chính là do đối với chẳng phải hữu t́nh mà
sanh sân, phải thọ lấy quả báo ấy.
Lại
như trong Luật có chép chuyện một vị tỳ-kheo
đi kinh hành, bị gai cây Y Lan đâm vào trán chảy máu, tức
giận nói: “V́ sao đức Phật chế giới này, có
nghĩa lợi ǵ đâu?” Do nẩy sanh dị kiến, v́ duyên ấy, sanh làm
thân măng xà hết sức khổ sở. Năm trăm
thương nhân v́ thủ hộ ông ra, dùng ḷng đại từ
bi hại rắn, khiến cho rắn thoát tội, sanh lên trời,
các thương nhân thảy đều chẳng mắc tội.
Sự phán định như thế như trong đại
luật của Hữu Bộ (Nhất Thiết Hữu Bộ)
đă nói. Đối với thứ chẳng phải hữu
t́nh c̣n như thế, huống hồ là hữu t́nh ư? Bồ
Tát do quán chuyện này, tự chẳng sanh tâm, mà cũng
khuyên người khác ĺa bỏ. Những điều khác
như trong phần trước đă nói. Cái duyên ngọn
thương vàng[22]
như đă nói rộng. Lại như nhân duyên sư tử
do cứu người lái buôn mà hại rắn được
nói trong các kinh Bảo Tạng, kinh Đại Phương
Tiện v.v…
Lại
nữa, Bồ Tát tŕ giới “chẳng cho mà lấy”,
đối với vật thuộc về người khác
c̣n chẳng dấy tâm muốn lấy, huống hồ đối
với vật khác chẳng cho mà lấy ư? Nhưng có các
hữu t́nh khác keo kiệt,
chẳng bố thí, chẳng làm phước, [tức là]
chúng sanh bị keo tham làm hại, đă xa ĺa bố thí.
[Đối với các hữu t́nh như thế], bèn có các
phương tiện khác (tuy chẳng nói phương tiện,
nhưng có ư nghĩa ấy), do thấy các hữu t́nh tột
bậc keo kiệt, cứ tích tụ mà chẳng bố thí,
chẳng tạo phước, bèn tùy theo loại chúng sanh, nhằm
phá trừ ḷng keo tham của họ, tâm ĺa khỏi quan niệm
chấp trước ḿnh lẫn người, v́ họ mà
hành bố thí, [khi bố thí lại tán thán do công đức
của sự bố thí mà] đạt được diệu
sắc v.v.. (tức là khuyên lơn, [dùng công đức của
sự bố thí] để phát khởi người ấy
hăy bố thí).
Đại Tỳ Lô Giá
Na Thành Phật Kinh Sớ
Phần 11 hết
[1] Do ngài Chấp
Kim Cang lưu xuất từ Phật, nên thân ngài Chấp Kim
Cang cũng là thân Phật.
[2] Tức những điều không nên
làm, những điều có thể làm trong khi hành pháp.
[3] Khi thọ giới Cụ Túc, vị
thầy Giáo Thọ sẽ gạn hỏi nhằm chắc chắn
giới tử có đủ tư cách để thọ giới.
Tiêu chuẩn để loại trừ người không
đủ tư cách thọ giới gồm mười ba
điều nạn và mười điều giá (ngăn trở),
gọi chung là Giá Nạn. “Mười điều
giá” là tên gọi của người thọ
giới (tức người
thọ giới phải có tên gọi đầy đủ,
biết rơ gốc tích, quê quán, là tên gọi thật sự,
không phải là bí danh, hay tên tự đặt), danh xưng của ḥa thượng
thế độ, đă đủ hai
mươi tuổi hay chưa, y bát có đầy đủ
hay không, cha mẹ có cho phép xuất gia hay không, có thiếu nợ
hay không, có phải là nô tỳ hay không, có phải là người
đang làm quan hay không, có phải là trượng phu (người
thân căn hoàn bị, không phải là lưỡng tính, hay thiếu
nam căn v.v…), có mắc mười thứ bệnh hay
không? Nếu người thọ giới không trả lời
được mười câu hỏi ấy, hay phạm vào một trong các điều
ấy, sẽ bị loại
“Mười ba nạn” như sau:
1) Biên tội nạn: Trước
kia đă thọ giới Cụ Túc, sau đó, do phạm bốn giới trọng phải
xả giới, sau đó lại đến cầu thọ
giới.
2) Phạm tỳ-kheo-ni: Tức là khi
c̣n làm cư sĩ tại gia đă xâm phạm tỳ-kheo-ni tịnh
giới.
3) Tặc tâm nhập đạo: V́ lợi
dưỡng nuôi thân, hoặc v́ trộm pháp mà xuất gia.
4) Phá nội ngoại đạo: Vốn
là ngoại đạo, vào trong Phật pháp, thọ giới
xong lại khôi phục thành ngoại đạo, lại xả
ngoại đạo nhập nội đạo.
5) Hoàng môn: Tức năm loại
người chẳng phải là đàn ông thật sự.
6) Giết cha.
7) Giết mẹ.
8) Giết A La Hán.
9) Phá tăng, phá pháp luân thân.
10) Làm thân Phật chảy máu.
11) Là phi nhân, tức là tám bộ quỷ
thần biến hiện thành h́nh người.
12) Súc sanh nạn: Tức là súc sanh biến
thành h́nh người.
13) Nhị h́nh nạn, tức người
có đủ cả nam căn và nữ căn.
[4] Tặc trụ (Steya-sajvāsika), có ư nghĩa là kẻ mang tâm trộm
cướp mà trụ trong Tăng đoàn. Từ ngữ này
hàm ư quở trách kẻ v́ mưu cầu lợi dưỡng,
ăn bám, hoặc mưu toan trộm cắp các giáo nghĩa trong Phật pháp để xây dựng dị thuyết cho
ḿnh mà xuất gia. Đôi khi từ ngữ này c̣n chỉ kẻ
chưa đủ tuổi quy định là hai mươi tuổi
đă khai man để thọ giới Cụ Túc.
[5] Thông thường, anh lạc là các thứ báu, thường là ngọc (có thể gồm nhiều
h́nh dạng khác nhau), được xâu lại thành chuỗi,
kết thành chùm để treo rủ xuống nhằm trang
hoàng. Ư ngài Nhất Hạnh
nới ở đây, “anh lạc” phải hiểu là các
thứ báu có h́nh bán nguyệt ngửa lên, được kết
thành chuỗi, treo rủ xuống.
[6] Chữ “kỳ
lạ” trong tiếng Phạn là Aparichitah.
[7] Ở đây,
lời sớ trích dẫn chánh kinh hơi khác với bản
chánh kinh được tồn lưu hiện thời. Măn
Nô là Thắng Ngă tức là Ngă, nhưng trong chánh kinh, Măn Nô được
dịch thành Nhu Đồng (đứa trẻ) v́ Măn Nô (Mānava) bị chép lầm thành Mānavaka (Nhu Đồng)
như trong phần trước, ngài Nhất Hạnh đă
biện định. Cũng như chữ “tác giả” (kẻ
tạo tác) trong chánh kinh được lời Sớ ghi là
“tạo lập giả”.
[8] Tức là như trong phần sau nói:
Trong tháng thứ tư, không ăn ǵ, chỉ uống gió (tức
là hít gió, không ăn vật ǵ khác), trụ trong phong luân, quán chữ Ha v.v…
[9] “Thời tiết” ở đây
có nghĩa là thời hạn, thời điểm.
[10] Tức kinh Văn Thù Sở Thuyết
Bát Nhă Ba La Mật (do ngài Tăng Già Bà La xứ Phù Nam dịch
sang tiếng Hán), có một đoạn như sau: “Thế
Tôn! Như sơ học xạ, tiên tác thử ư, ngă
đương xạ bằng. Xạ bằng thành dĩ, hậu
tác thị niệm: ‘Ngă đương xạ b́’. Xạ b́
thành dĩ, phục tác thị niệm: “Ngă đương xạ
mộc’. Xạ mộc thành dĩ, phục tác thị niệm:
‘Ngă đương xạ thiết’. Xạ thiết thành
dĩ, vô phục tiền niệm, tùy kỳ tiễn trúng,
giai năng triệt quá. Ngă diệc như thị, tích sơ
phát ư, cầu nhập bất khả tư nghị định.
Ngă ư kim nhật, vô phục thử ư, đương nhập
bất khả tư nghị định, hà dĩ cố? Thử
định bất khả tư nghị cố” (Bạch
Thế Tôn! Như lúc mới học bắn, trước hết,
nghĩ như thế này: “Ta sẽ bắn vào bia”. Bắn
bia thành công rồi, sau đó, nghĩ thế này: “Ta sẽ bắn
vào da”. Bắn vào da thành công rồi, lại nghĩ thế
này: “Ta sẽ bắn vào gỗ”. Bắn vào gỗ thành công rồi,
lại nghĩ thế này: “Ta sẽ bắn vào sắt”. Bắn
vào sắt thành công rồi, chẳng c̣n có ư niệm như
trước, hễ bắn tên vào đâu cũng đều có thể xuyên qua. Con
cũng như thế, xưa kia lúc mới phát ư, cầu nhập
định chẳng thể nghĩ bàn. Nay con chẳng c̣n có
ư niệm sẽ nhập định chẳng thể
nghĩ bàn ấy nữa, v́ sao vậy? Do môn định ấy
chẳng thể nghĩ bàn).
[11] Vibhu bao hàm các
ư nghĩa “cường đại, kiệt xuất, chí cao
vô thượng, đầy năng lực, kiên định,
tự chế, vĩnh hằng, không đâu chẳng tồn
tại, phổ biến trong vạn hữu”.
[12] Do trong tiếng Phạn, các nguyên âm
đều có chứa thành tố cơ bản là chữ A,
nên chữ A được coi là đầu của các chữ.
Hơn nữa, bất cứ phụ âm nào gọi tên đều
kèm theo âm A (chẳng hạn Ka, Ga, Gha v.v…
tương ứng với các phụ âm K, G, Gh v.v... Do vậy, chữ A được
coi là “đầu” của các chữ.
[13] Tứ Thần Túc (Catvāra-ṛddhipāda) tức là Tứ Như Ư Túc, bao gồm
Dục Như Ư Túc, Cần Thần Túc (Tinh Tấn Như Ư
Túc), Tâm Thần Túc (Nhất Tâm Như Ư Túc), và Quán Thần
Túc (Quán Như Ư Túc).
[14] Ca La Thời (Kāla) tức là thời phần thông
thường, tức thời gian phân chia theo quan niệm thế
gian. Gọi là Ca La Thời để phân biệt với Tam
Muội Da Thời (sanh diệt theo từng sát-na, c̣n gọi
là Giả Thời, hàm ư thời gian chỉ là khái niệm do
vọng tưởng so đo kiến lập, chẳng phải
là thật pháp).
[15] Một
trăm lẻ tám danh hiệu của Như Lai xuất phát từ
bài Phật Nhất Bách Bát Danh Tán (Buddha Ashtottara Shatanmavali).
Bài tán này đă được ngài Tây Thiên Dịch Kinh Tam Tạng
Triêu Tán Đại Phu Thí Hồng Lô Tự Khanh Truyền Giáo
đại sư Pháp Hộ dịch sang tiếng Hán dưới
đời Tống, nhưng không ghi rơ ai là tác giả của
bài tán này. Bài tán này nêu ra các danh hiệu Nhất Thiết
Nghĩa Thành Tựu, Chánh Đẳng Giác, Nhất Thiết
Trí, Đại Thích Tử, Nhất Thiết Pháp Tự Tại
Vô Úy, Đại Kim Tiên, Công Đức Hải, Như Lai, Ứng
Cúng, Ly Nhất Thiết Cấu Nhiễm, Vô Thượng
Pháp Đăng, Vô Úy Tịnh Phạn Vương Tử, Cam
Giá Vương Chủng, Cù Đàm, Nhật Tộc, Cát Tường
Đại Mâu Ni, Thập Lực Hàng Ma Quân v.v…
[16] Chánh kinh chỉ ghi tên phẩm này là
phẩm Thọ Phương Tiện Học Xứ.
[17] Thâu Lan Giá (Sthūlātyayas) có nghĩa là Đại
Chướng Thiện Đạo, Đại Tội, Thô Ác
Tội v.v… Tức các tội chẳng thuộc vào năm loại
kia (Ba La Di, Tăng Tàn, Bất Định, Xả Đọa,
Đơn Đọa). Do các điều này thuộc về
giới luật của Tăng Sĩ, nên không ghi chi tiết!
[18] Trí giải thoát hăy c̣n có chấp
trước một bên, chẳng hạn như bậc Thanh
Văn biết các pháp khổ, không, vô thường, vô ngă,
bèn chấp vào đó, chứng Thiên Chân Niết Bàn, chưa giải
ngộ Chân Không Diệu Hữu, thường, lạc, ngă, tịnh,
nên gọi là Biên Trí.
[19] Thạch nữ: Người đàn
bà không có khả năng sanh nở.
[20] Phật Tánh
Luận là một bộ luận do Thiên Thân Bồ Tát soạn,
được ngài Chân Đế dịch
sang tiếng Hán dưới đời Trần. Luận này
nhằm giải thích cặn kẽ từ phẩm năm
đến phẩm bảy của Cứu Cánh Nhất Thừa
Bảo Tánh Luận, xiển minh ư chỉ “hết thảy
chúng sanh đều có Phật tánh”, cũng như luận
định tỉ mỉ thể tướng của Phật
tánh, phân định Phật tánh gồm ba loại, tức:
- Trụ tự
tánh tánh, tức là Phật tánh sẵn có của hết thảy
phàm phu.
- Dẫn xuất tánh, tức
Phật tánh được hiển hiện bởi sự
tu hành.
- Chí đắc tánh, tức
Phật tánh trọn đủ khi đă đắc Phật
quả.
[21] Đây là nêu một thí dụ,
như cứu người chết đuối, tuy tỳ-kheo
không được va chạm, tiếp xúc thân người
nữ, nhưng v́ để cứu lên, có thể ôm, ẵm
người ấy đem ra khỏi nước.
[22] Đây là câu chuyện về nghiệp
báo tiền thân của đức Phật. Khi đức Phật
đi vào rừng giáng hương, có một cái gai nhọn
(có bản chép là mũi thương bằng gỗ hay vàng)
đuổi theo toan đâm đức Phật, cho đến
khi đức Phật duỗi chân cho mũi thương
(mũi gai) ấy đâm vào thân Phật chảy máu, nó mới
biến mất. Nhân đó, đức Phật kể chuyện
tiền kiếp: Trong vô số A-tăng-kỳ kiếp
trước, có hai thương chủ (người cầm
đầu các lái buôn), mỗi người dẫn theo
năm trăm thương nhân vào biển t́m của báu. Sau
khi đến được ḥn đảo chứa nhiều
của báu, thu nhặt của báu xong, một thương chủ
muốn quay về, thương chủ kia không chịu. Khi
đó, có thiên nữ hiện ra bảo họ hăy rời
đi, v́ sau bảy ngày, ḥn đảo sẽ hoàn toàn bị
nhấn ch́m dưới sóng biển. Lại có một ma nữ
hiện ra bảo họ: “Nơi này hết sức vui sướng,
thứ ǵ cũng đều có, sao bị ch́m đắm cho
được? Thiên nữ nói bịa đấy”. Vị
thương chủ muốn quay về, nghe lời thiên nữ,
thu thập hành lư, chuẩn bị giong buồm trở về.
Bảy ngày sau, quả nhiên ḥn đảo bị nhấn
ch́m. Mọi người đều phải lên thuyền. Vị
thương chủ trước đó không muốn đi,
do thiếu chuẩn bị, mất sạch các thứ của
báu đă thâu nhặt, muốn giành thuyền và của báu của
vị thương chủ muốn rời đi trước
đó. Trong khi tranh chấp, người đó bị vị
thương chủ đă chuẩn bị vô ư giết chết.
Vị thương chủ đă chuẩn bị chính là tiền
thân đức Phật. Do oán hận, kẻ bị giết
chết cứ đuổi theo thân Phật từ kiếp
này sang kiếp khác để t́m cơ hội báo thù.