Đại Tỳ Lô Giá
Na Thành Phật Kinh Sớ
Phần chín
大毘盧遮那成佛經疏
Đường sa-môn
Nhất Hạnh A-xà-lê kư
沙門一行阿闍梨記
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn, tán kỳ Thủy
luân hướng thượng trí chi, danh Đại Giới
Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm. Lệ lỗ bổ rị vi củ lệ, sa
ha.
(經)即以此印散其水輪向上置之,名大界印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。麗魯補哩微矩麗。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấn ấy, duỗi ngón thủy luân (áp út)
hướng lên trên, gọi là Đại Giới Ấn.
Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm. Lệ lỗ bổ
rị vi củ lệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
le lu puri vikule svāhā”).
Kế
đó, kết Đại Giới Ấn. Chuẩn theo cách kết Như
Lai Câu Ấn trong phần trên, nhưng hai tay đều dựng
thẳng ngón áp út lên là thành ấn. “Đại giới”
ở đây có nghĩa là từ lúc phát đại Bồ
Đề tâm cho tới khi thành Phật, trong khoảng
đó, chẳng để gián đoạn, chẳng c̣n sanh tử,
chẳng lui sụt Bồ Đề, tức là ư nghĩa “đại
giới”. Phần quy mạng trong chân ngôn giống như
trong phần trước. “Lệ lỗ bổ rị vi củ
lệ” (Le lu puri vikule):
Lệ (ly tướng tam-muội), lỗ (tướng của
các thừa), “bổ”
(Đệ Nhất Nghĩa, Đệ Nhất Nghĩa bất
khả đắc), “rị”
(ly cấu), “vi”
(ĺa trói buộc), “củ”
(làm), “lệ”
(ĺa tướng). Những thứ ấy đều là tam-muội.
Như Lai dùng các tam-muội làm trang nghiêm, không chi hơn
được. Đấy chính là đại giới của
chư Phật.
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn, kỳ nhị Hỏa
luân câu khuất,
tương hợp, tán thư
Phong luân, danh Vô Kham Nhẫn Đại Hộ
Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tát phạ đát tha
nghiệt đế tệ. Tát phạ bà dă vi nghiệt đế
tệ. Vi thấp phạ mục khế tệ, tát phạ
tha hám khiếm, ra cật xoa ma ha ma lệ. Tát phạ đát
tha nghiệt đa bôn nật dă nĩnh ra xă đế. Hồng
hồng, đát ra
trá, đát ra
trá. A bát ra để ha đế, sa ha.
(經)即以此印,其二火輪鉤屈相合,散舒風輪,名無堪忍大護印。彼真言曰:南麼薩嚩怛他蘗帝弊。薩嚩婆也微蘗帝弊。微濕嚩目契弊。薩嚩他。唅欠。囉訖叉麼訶麼麗。薩嚩怛他蘗多奔抳也儜囉社帝。吽吽。怛囉吒怛囉吒。阿鉢囉底訶諦。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấy, hai ngón hỏa luân (ngón giữa) đều
cong lại, chạm đầu nhau, duỗi ngón Phong luân
(ngón trỏ), th́ gọi là Vô Kham Nhẫn Đại Hộ Ấn.
Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tát phạ đát tha nghiệt đế tệ. Tát phạ
bà dă vi nghiệt đế tệ. Vi thấp phạ mục
khế tệ, tát phạ tha hám khiếm, ra cật xoa ma ha
ma lệ. Tát phạ đát tha nghiệt đa bôn nật dă
nĩnh ra xă đế. Hồng hồng, đát ra
trá, đát ra
trá. A bát ra để ha đế, sa ha - Namaḥ
sarvatathāgatebhyaḥ sarvabhaya-vigatebhyo viśva-mukhebhyaḥ,
sarvathā haṃ khaṃ rakṣa mahābale sarva-tathāgatapuṇyanirjāte
hūṃ hūṃ trāṭ trāṭ apratihate
svāhā).
Kế
đó, kết Đại Hộ Ấn. Chuẩn theo Như
Lai Tạng Ấn trong phần trên, duỗi hai ngón áp út, khiến
cho đầu của chúng chụm vào nhau như đỉnh
núi. Hai ngón giữa cũng chạm đầu nhau, nhưng
hơi cong, giống như h́nh mắt xích. Lại tách hai
ngón cái ra, sao cho cách nhau hai tấc trở lại là thành ấn!
Chân ngôn rằng: “Tát
phạ đát tha nghiệt đế tệ” (sarvatathāgatebhyaḥ, quy
mạng hết thảy các đức Như Lai), “tát
phạ bà dă vi nghiệt đế tệ” (sarvabhayavigatebhyo, có
thể trừ hết thảy các chướng nạn sợ
hăi, cũng là tán thán Phật và quy mạng). “Vi
thấp-phạ mục khế tệ” (viśvamukhebhyaḥ, các
loại môn, cũng có nghĩa là “xảo diệu”. Tức
chư Phật khéo hiện đủ loại môn công đức).
“Tát
phạ tha” (sarvathā, trọn
khắp, nghĩa là hết thảy các thời, hết thảy
các chỗ, hết thảy phương sở). “Hám
khiếm” (haṃ khaṃ, Ha
có nghĩa là cái nhân. Khư (ख, Kha)
có nghĩa là Không. Thêm chấm vào (thành Khiếm, खं, tức Khaṃ) lại
là Không. Dùng cái
Không đó để tịnh hóa hết thảy
các nhân. Lại nữa, đối với Không th́ cái Không ấy
cũng là không). “Ra
cật-xoa” (rakṣa, ủng
hộ. Không chỉ thủ hộ Nhị Thừa, mà c̣n thủ
hộ hết thảy chư Phật. Do v́ lẽ này, chư
Phật chẳng xả hữu t́nh, thường làm Phật
sự chẳng hề ngưng dứt, chẳng trụ trong
tịch diệt). “Ma ha ma lệ” (mahābale, đại
lực, tức là mười loại trí lực của
Như Lai), “tát
phạ đát tha nghiệt đa” (sarvatathāgata, [hết thảy] Như Lai), “bôn
nật-dă ninh ra
xă đế” (puṇyanirjāte, sanh,
ư nói: Sức ấy sanh từ công đức của Như
Lai). “Hồng
hồng” (hūṃ hūṃ, chữ
thứ nhất là khủng bố các chướng, chữ
thứ hai nghĩa là khiến cho trọn vẹn tam đức
của Phật. V́ thế, nói lặp lại, hàm ư tột bậc
sợ hăi). “Đát
ra
trá, đát ra
trá” (trāṭ trāṭ, nhiếp
phục. Chế phục nội ngoại chướng. Lại
v́ thành tựu Pháp Thân của Phật, cho nên cũng nói lặp
lại). A bát-ra để ha đế (apratihate, vô
hại, vô chướng). Đây gọi là Vô Kham Nhẫn
Đại Hộ. Do oai quang của ấn chú này mạnh mẽ,
hừng hực, như trẻ nhỏ mới sanh chẳng
kham nh́n vào ánh sáng mặt trời rực rỡ. Ở
đây cũng giống như vậy, hết thảy đều
chẳng thể kham nhẫn để tranh sáng được!
V́ thế, gọi là Vô Năng Kham Nhẫn Đại Hộ.
Dùng ấn chú này để thủ hộ hành giả Chân
Ngôn.
(Kinh)
Phục dĩ Phong luân nhi tán thư chi, Không luân tịnh nhập
kỳ trung, danh Phổ Quang Ấn. Bỉ chân ngôn viết: -
Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, xà phạ la
ma lư nễ, đát tha nghiệt đa lật chỉ, sa ha.
(經)復以風輪而散舒之,空輪並入其中,名普光印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。闍嚩囉摩履儞。怛他蘗多㗚旨。莎訶。
(Kinh:
Lại duỗi ngón Phong luân (ngón trỏ) ra, ngón Không luân (ngón
cái) cùng nhập vào đó, gọi là Phổ Quang Ấn. Chân
ngôn ấy như sau: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, xà phạ la
ma lư nễ, đát tha nghiệt đa lật chỉ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, jvālāmālini
tathāgatārci svāhā”).
Kế
đó là Như Lai Phổ Quang Ấn. Hai ngón cái cùng gập
vào ḷng bàn tay, hai ngón trỏ dựng thẳng (đều chẳng
chạm nhau, đều dựng thẳng lên). Đầu hai
ngón giữa chụm vào nhau, hơi cong lóng ngón tay như h́nh
linh, chuông nhỏ, các ngón khác giống như trong phần
trên là thành ấn.
Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trong phần
trên. Xét theo chân ngôn, “xà phạ
la” (jvālā (ज्वाला), Xà là sanh, Phạ là
trói buộc, La (ला) là
tướng. Bên cạnh đó, có cái chấm A (tức
vạch đứng bên cạnh chữ La (ल)
có cùng nghĩa với bất sanh, tức “vô tướng
bất sanh”). “Ma
lư nễ”
(Mālini, Ma
là Ngă, có âm A dài (ā), Lư là
tưởng. “Tưởng” có nghĩa là quán, ĺa hữu quán lẫn
vô quán). “Đát
tha nghiệt đa” (Tathāgata, đấy
là Như Lai quang. Như Lai quang sanh từ các nghĩa vô
tướng, vô quán v.v…)
(Kinh)
Hựu
dĩ Định Huệ thủ tác không tâm hiệp chưởng,
dĩ nhị Phong luân tŕ Hỏa luân trắc, danh Như Lai
Giáp ấn.
(經)又以定慧手作空心合掌, 以二風輪持火輪側, 名如來甲印。
(Kinh:
Lại
dùng tay Định và Huệ
(tay trái và tay phải) để kết
không tâm hiệp chưởng, dùng hai ngón trỏ đặt
bên cạnh ngón giữa, gọi là
ấn
Như Lai Giáp).
Kế
đó là ấn Như
Lai Giáp. Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng (hư tâm
hiệp chưởng), dùng hai ngón trỏ đặt bên cạnh
lưng hai ngón giữa, sao cho hai đầu ngón ngang nhau là
thành ấn. Ấn này khuyết phần chân ngôn, cần phải
tra cứu.
(Kinh)
Khuất nhị Thủy luân, nhị Không luân hợp nhập
chưởng trung, áp nhị Thủy luân giáp thượng,
thị Như Lai Thiệt Tướng ấn. Chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đá tha nghiệt
đa thệ ha phạ tát để dă. Đạt ma bát ra
để sắt sỉ đa, sa ha.
(經)屈二水輪,二空輪合入掌中押二水輪甲上,是如來舌相印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。怛他蘗多誓訶嚩薩底也。達摩鉢囉底瑟恥多。莎訶。
(Kinh:
Gập hai ngón giữa và hai ngón cái vào ḷng bàn tay, [ngón cái]
đè lên móng hai ngón giữa. Đó là
ấn
Như Lai Thiệt Tướng. Chân ngôn là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt
đa thệ ha phạ tát để dă. Đạt ma bát ra
để sắt sỉ đa, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, tathāgatajihva satya. Dharma-pratiṣṭhita,
svāhā).
Phần
quy mạng trong chân ngôn của Như Lai Thiệt (lưỡi)
giống như trên. “Đát
tha nghiệt đa thệ ha-phạ” (tathāgatajihva, lưỡi [của Như Lai]),
tát để
dă (satya, chân thật), “đạt
ma”
(dharma, pháp), “bát-ra
để sắt-sỉ đa” (pratiṣṭhita, tánh).
Ví như lưỡi của Như Lai thường nói lời
đúng
như thật, chẳng nói dối,
chẳng nói khác lạ; do chân thật như thế, nên
thường trụ.
(Kinh)
Dĩ thử ấn, linh Phong, Thủy luân khuất nhi
tương niệp, Không luân hướng thượng, nhi
thiểu khuất chi, Hỏa luân chánh trực tương hợp,
Địa luân diệc như thị, danh Như Lai Ngữ
Môn ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, đát tha nghiệt đa ma ha phạ ca
đát ra, vi thấp phạ nhă na, ma ha đà da, sa ha.
(經)以此印,令風水輪屈而相捻,空輪向上而少屈之,火輪正直相合,地輪亦如是,名如來語門印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。怛他蘗多摩訶嚩迦怛囉。微濕嚩若那摩訶駄耶。莎訶。
(Kinh:
Dùng ấn này, sao cho các ngón trỏ và ngón áp út gập lại,
bấm vào nhau, ngón cái hướng lên trên, hơi cong, ngón giữa
dựng thẳng chạm nhau. Ngón út cũng như thế, gọi
là ấn Như
Lai Ngữ Môn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt
đa, ma ha phạ ca đát ra, vi thấp phạ nhă na, ma ha
đà da, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
tathāgatamahāvaktra viśva-jñānamahodaya svāhā”).
Kế
đó là ấn Như
Lai Ngữ Môn. Chuẩn theo ấn trước đó, tức
là kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng (không tâm hiệp
chưởng), các ngón áp út và ngón trỏ chạm đầu
nhau, gập vào ḷng bàn tay, dùng hai ngón cái cùng đè lên. Kế
đó, hai ngón út và ngón giữa dựng thẳng lên, đặt cho đầu ngón
ngang nhau nhọn như h́nh ngọn núi
là thành ấn. Phần quy mạng trong chân ngôn giống
như trên. “Ma
ha phạ ca đát-ra” (mahāvaktra, đây
chính là Ngữ), “vi
thấp-phạ nhă na” (viśvajñāna, các
thứ trí khéo), “ma
ha đà da” (mahodaya, rộng
lớn). Ư nói ngôn ngữ từ vô lượng môn xảo huệ
của Như Lai mà thành, trí ấy rộng lớn vô lượng.
(Kinh)
Như tiền ấn, dĩ nhị Phong luân khuất nhập
chưởng trung, hướng thượng, danh Như Lai
Nha Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, đát tha nghiệt đa năng sắt trá
la. Ra sa ra sa cật ra, tam bát ra bác ca, tát bà đát tha nghiệt
đa, vi xa dă tam bà phạ, sa ha.
(經)如前印,以二風輪屈入掌中向上,名如來牙印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。怛他蘗多能瑟吒羅。囉娑囉娑釳囉。三鉢囉博迦。薩婆怛他蘗多。微奢也三婆嚩。莎訶。
(Kinh:
Giống như ấn trước, dùng hai ngón trỏ gập
vào ḷng bàn tay, hướng lên trên, gọi là ấn Như
Lai Nha (răng của Như Lai).
Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt
đa năng sắt trá la. Ra sa ra sa cật ra, tam bát ra bác
ca, tát bà đát tha nghiệt đa, vi xa dă tam bà phạ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, tathāgatadaṃṣṭra
rasarasāgrasaṃprāpaka sarva-tathāgata viṣayasaṃbhava
svāhā”).
Kế
đó là ấn Như
Lai Nha: Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng, gập hai
ngón trỏ vào ḷng bàn tay, sao cho lưng hai
ngón ấy đâu nhau là thành ấn. Phần quy mạng
trong chân ngôn giống như trước. “Đát
tha nghiệt đa năng sắt trá la” (Tathāgata-daṃṣṭra, răng [của Như Lai]).
“Ra
sa ra sa” (Rasarasa là vị.
[Do là] vị tốt đẹp nhất trong các vị, cho
nên lặp lại, tức pháp vị của Như Lai). “Cật-ra”
(agra, chữ này nối với câu trước, câu
trước không có âm A. Có nghĩa là thắng
thượng, tức vị thắng thượng). “Tam
bát-ra bác ca” (saṃprāpaka, đạt
được), “[tát
bà] đát tha nghiệt
đa” (sarvatathāgata, [tất cả] Như
Lai), “vi
xa dă” (viṣaya, cảnh
giới), “tam
bà phạ” (saṃbhava, sanh, Ư nói: Vị thắng
thượng sanh từ cảnh giới của Như Lai).
(Kinh)
Hựu như tiền ấn tướng, dĩ nhị
Phong luân hướng thượng trí chi, khuất đệ tam tiết, danh Như Lai Biện
Thuyết Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, a chấn để dă na bộ đa, hạt lỗ bà phạ
ca tam mạn đá bát ra bát đa, vi thâu đà tát phạ ra,
sa ha.
(經)又如前印相,以二風輪向上置之,屈第三節,名如來辯說印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿振底也娜部多。曷魯婆嚩迦三曼哆鉢囉鉢多。微輸馱薩嚩囉。莎訶。
(Kinh:
Lại như ấn trên đây, dùng hai ngón Phong (ngón trỏ) hướng lên trên, gập đốt thứ ba, gọi
là ấn Như Lai Biện Thuyết. Chân ngôn của ấn ấy
là: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
a chấn để dă na bộ đa, hạt lỗ bà phạ
ca tam mạn đá bát ra bát đa, vi thâu đà tát phạ ra,
sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, acintyā-dbhutarūpavācaṃ
samatāprāpta viśuddhasvara svāhā”).
Kế
đó là ấn Như Lai Tứ Biện. Kết Tam-bổ-trá hiệp
chưởng, hai ngón trỏ cùng cong lại, đặt trên
lưng hai ngón giữa, đừng cho chạm đầu
nhau th́ ấn thành. Do bởi ấn này, Như Lai ở trong
đại chúng vô úy, v́ người khác diễn nói
chánh pháp, thậm chí trong một chữ chứa đựng
ư nghĩa vô cùng. Biện tài ấy chẳng thể cùng tận.
Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trên. “A
chấn để-dă” (Acintyā, chẳng
nghĩ bàn), “na-bộ
đa” (dbhuta, đặc
biệt, lạ lùng), “hạt-lỗ
bà” (rūpa, phân
đoạn của lời nói. Có ư nghĩa là [lời nói ấy]
đặc biệt,
lạ lùng), “phạ
ca tam mạn đá bát-ra bát-đa”
(vācaṃ
samantaprāpta, tới trọn khắp.
Đức Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, [âm thanh ấy]
tới trọn khắp trước hết thảy chúng
sanh. [Khi âm thanh ấy thấu] tới nơi đó, ai nấy
đều cho rằng đức
Phật dùng cùng âm thanh [giống như ngôn ngữ của
tôi] để thuyết pháp cho tôi). “Vi
thâu đà”
(Viśuddha, thanh
tịnh), “tát-phạ
ra”
(svara, ngôn âm. Do ngôn âm đă phát ra ĺa các khuyết điểm
như thô ác v.v… mà vi diệu thanh tịnh, khiến cho kẻ
khác thích nghe. V́ thế nói là “ngôn âm thanh tịnh”).
(Kinh)
Phục thứ, dĩ Định Huệ thủ ḥa hợp
nhất tướng, tác không tâm hiệp chưởng, nhị
Địa luân, Không luân khuất nhập tương hợp.
Thử thị Như Lai Tŕ Thập Lực Ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
đà xá phạ lan già đà la,
hồng sâm
nhiêm, sa ha.
(經)復次以定慧手和合一相作空心合掌,二地輪空輪屈入相合, 此是如來持十力印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。馱舍嚩蘭伽陀羅。吽參髯。莎訶。
(Kinh:
Lại nữa, dùng tay Định và Huệ ḥa hợp thành
một tướng, để kết không tâm hiệp
chưởng, hai ngón Địa
(út)
và ngón Không (ngón
cái) gập vào trong [ḷng bàn tay],
chụm vào nhau. Đó là ấn
Như Lai Tŕ Thập Lực. Chân ngôn của
ấn ấy là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, đà xá phạ lan già đà la, hồng sâm nhiêm,
sa ha
-
Namaḥ
samantabuddhānāṃ, daśabalāṅgadhara hūṃ
saṃ jaṃ, svāhā”).
Kế
đó là ấn Như
Lai Thập Lực. Gập các ngón út và cái vào ḷng bàn tay, khiến
cho chúng chụm đầu lại, chống vào nhau. Các ngón
khác kết thành Tam-bổ-trá hiệp chưởng (không tâm hiệp chưởng)
là ấn thành. Phần quy mạng của chân ngôn giống
như trước. “Hồng” (ba
đức. Ma là Không, cái chấm là tam-muội, “Xà” (Ja) có nghĩa là “sanh”, lại c̣n là “triệu vời”. Ấn này có thể
tŕ thập lực của Như Lai. Ba chữ này ghép lại
ở cuối câu, tức là Hồng
Sâm Nhiêm (hūṃ saṃ jaṃ), như trong Đại
Bổn có chép), “đà
xá phạ lan già” (daśabalāṅga, thân
phần Thập
Lực. Từ
chữ Lan trở về trước là Thập
Lực,
tức là âm A dài trong chữ Lan nối với chữ Ca
thành thân phần), “đà
la”
(dhara, tŕ). Tức là do sức của trí ấn này, có thể
nắm giữ chi phần Thập Lực
của Như Lai.
(Kinh)
Hựu như tiền ấn, dĩ nhị Không luân, Phong
luân khuất thượng
tiết tương hợp, thị Như Lai Niệm Xứ
Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, đát tha nghiệt đa tất mật lật
để, tát đỏa hệ đá, tệ dữu đà
yết đa. Già già na tam ma a tam ma, sa ha.
(經)又如前印,以二空輪風輪屈上節相合,是如來念處印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。怛他蘗多悉密㗚底。薩埵係哆弊庾馱揭多。伽伽那三麼阿三麼。莎訶。
(Kinh:
Lại như ấn trên, cong
hai ngón Không luân (cái) và Phong luân (trỏ) sao cho lóng trên áp vào
nhau, đó là ấn
Như Lai Niệm Xứ. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt
đa tất mật lật
để, tát đỏa hệ đá, tệ dữu đà
yết đa. Già già na tam ma a tam ma, sa ha - Namaḥ
samanta-buddhānāṃ, tathāgatasmṛti
sattvahitābhyudgata gaganasamāsama svāhā”).
Kế
đó là ấn Như
Lai Niệm Xứ. Kết Tam-bổ-trá (cách chắp tay này giống
như hoa sen chưa nở, chắp tay sao cho giữa hai ḷng
bàn tay có khoảng trống, hăy kiểm phần kinh văn
trước để khỏi làm sai). Dùng hai ngón cái và ngón
trỏ chụm lại, bấm vào nhau là ấn thành. Trong
cách bấm này, hăy nên sao cho [phần đầu của] móng
tay nơi bốn ngón kia đều chạm vào nhau. Phần
quy mạng của chân ngôn giống như trước. “Đát
tha nghiệt đa tất mật-lật-để” (Tathāgatasmṛti, Như
Lai niệm), tát đỏa hệ đá (sattvahitā, lợi
ích chúng sanh), “tệ-dữu
đà yết đa” (bhyudgata, sanh, khởi),
“già
già na tam ma” (gaganasama, hư
không sanh), “a
tam ma”
(asama, vô đẳng). Ư nói: Niệm ấy bằng với
hư không, chẳng có hạn lượng. Lại nữa,
hư không chẳng thể sánh ví. Do vậy, lại nói là “vô
đẳng”. V́ lẽ nào vậy? Hư không tánh vô sở
hữu, chẳng thể tạo lợi ích to lớn cho hết
thảy chúng sanh.
(Kinh)
Hựu như tiền ấn, dĩ nhị Không luân tại
Thủy luân thượng, danh Nhất Thiết Pháp B́nh Đẳng
Khai Ngộ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, tát phạ đạt ma tam mạn
đa, bát ra bổ đa, đát tha nghiệt đá nô nghiệt
đa, sa ha.
(經)又如前印,以二空輪在水輪上,名一切法平等開悟印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。薩嚩達摩三曼多鉢囉補多。怛他蘗哆奴蘗多。莎訶。
(Kinh:
Lại như ấn trước, dùng hai ngón Không luân (cái)
đặt trên ngón Thủy luân (áp út), gọi là ấn Hết Thảy Các Pháp B́nh Đẳng
Khai Ngộ. Chân ngôn của ấn ấy
là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ đạt
ma tam mạn đa, bát ra bổ đa, đát tha nghiệt
đá nô nghiệt đa, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, sarva-dharmasamatāprāpta
tathāgatānugata, svāhā”).
Kế
đó là ấn Nhất
Thiết Pháp B́nh Đẳng Khai Ngộ. Kết Tam-bổ-trá
hiệp chưởng, dùng hai ngón áp út
và ngón cái chụm lại, bấm vào nhau là
thành ấn. Phần quy mạng của chân ngôn giống
như trước. “Tát phạ
đạt ma tam mạn đa” (sarvadharmasamatā, hết
thảy các pháp b́nh đẳng), “bát-ra
bổ đa” (prāpta, tới,
đạt được, [hàm nghĩa] đạt
được hết thảy b́nh đẳng), “đát
tha nghiệt đa” (tathāgatā, Như
Lai, nghĩa chủ yếu là Như Khứ). “Nô
nghiệt đa” (Nugata, tùy thuộc,
như. Ư nói: Tùy thuận chư Như Lai, cùng được
khai ngộ giống như các Ngài).
(Kinh)
Phục dĩ Định Huệ thủ hợp vi nhất,
dĩ nhị Phong luân gia Hỏa luân thượng, dư
như tiền, thị Phổ Hiền Như Ư Châu Ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
tam mạn đa nô nghiệt đa, phệ ra xà, đạt
ma niết xà đa, ma ha ma ha, sa ha.
(經)復以定慧手合為一,以二風輪加火輪上,餘如前,是普賢如意珠印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。三曼多奴蘗多。吠囉闍達摩涅闍多。摩訶摩訶。莎訶。
(Kinh:
Lại dùng tay Định và Huệ hợp nhất, dùng hai
ngón Phong luân (trỏ) đặt trên hai ngón Hỏa luân (giữa),
các ngón khác như trên; đó là ấn
Phổ Hiền Như Ư Châu. Chân ngôn của ấn ấy
là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, tam mạn đa nô
nghiệt đa, phệ ra xà, đạt ma niết xà đa,
ma ha ma ha, sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, samatānugata virajadharmanirjāta
mahāmaha svāhā”).
Kế
đó là ấn Như
Ư Ma Ni Phổ Hiền (chánh kinh gọi ấn
này là Phổ Hiền Như Ư Châu).
Sở dĩ gọi là Phổ Hiền, v́ tất cả tam
nghiệp của vị Bồ Tát này đều tốt lành,
nên được chư Phật, Bồ Tát tán thán. Để
kết ấn này th́ kết Tam-bổ-trá (không tâm hiệp
chưởng), dùng hai ngón trỏ gác lên sau lưng của hai
ngón giữa thành h́nh khuyên th́
thành ấn. Các ngón khác như thường lệ.
Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước.
“Tam
mạn đa nô nghiệt đa” (samatānugata, đạt
tới b́nh đẳng), “phệ ra
xà” (viraja, vô cấu,
vô trần). “Đạt
ma niết xà đa” (dharmanirjāta, pháp
sanh. Ư nói vô cấu từ pháp mà sanh), “ma
ha ma ha” (mahāmaha): Nghĩa này được lặp lại,
giống như nói “thiên trung chi thiên” (trời của
các vị trời). Các vị Bồ Tát cúng dường
đức Phật, đức Phật chuyển sự cúng
dường ấy sang ngài Phổ Hiền, do thân ngài Phổ Hiền b́nh đẳng với
tam thế Phật. Đây chính là sự to lớn nhất
trong các điều to lớn, là cúng dường tối thắng
trong các sự cúng dường, cho nên lặp lại [chữ “ma-ha”]).
(Kinh) Tức thử hư tâm hiệp chưởng,
dĩ nhị Phong luân khuất tại
nhị Hỏa luân hạ, dư như tiền, thị Từ
Thị Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, a thệ đảm xă da, tát phạ
tát đỏa a thế da, nô nghiệt đa, sa ha.
(經)即此虛心合掌,以二風輪屈在二火輪下,餘如前,是慈氏印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿誓擔社耶。薩嚩薩埵阿世耶奴蘗多。莎訶。
(Kinh:
Liền đối với hư không hiệp chưởng ấy,
dùng hai ngón Phong luân (ngón trỏ)
đặt dưới ngón Hỏa luân (ngón giữa),
các ngón khác như trên. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, a thệ đảm
xă da, tát phạ tát đỏa a thế da, nô nghiệt
đa, sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ajitaṃjaya sarva-sattvāśayānugata
svāhā”).
Kế
đó là Từ Thị Ấn (ấn của ngài Di Lặc).
Kết Tam-bổ-trá, gập hai ngón trỏ, sao cho đầu
ngón trỏ đặt
dưới gốc ngón giữa, hai ngón cái đặt ngang
đè lên, các ngón khác như thường. Ấn này h́nh dạng
như Tốt-đổ-ba
(stupa, tháp), do tŕ tháp Pháp
Thân của hết thảy các đức Như Lai, giống
như ngài Quán Âm tŕ Phật thân. Phần quy mạng của
chân ngôn giống như trước. “A
thệ đam”
(Ajitaṃ,
nói theo lối cổ là A Dật Đa, tức là gọi tên
Ngài. [Danh hiệu ấy] có nghĩa là “không
ai thắng được”,
hết thảy ái kiến phiền năo cho tới Nhị Thừa
v.v… không ai hơn được!) “Xă
da”
(Jaya, đắc thắng, [tức là] trong
vô thắng mà đạt được sự toàn thắng).
“Tát
phạ tát đóa” (Sarvasattva, hết
thảy chúng sanh). “A thế
da”
(Aśayā, tánh). “Nô nghiệt đa” (Nugata,
biết tâm khởi lên). “Khởi” có nghĩa là biết,
tức là biết tánh của hết thảy chúng sanh. [Thiện
Vô Úy] A-xà-lê nói: “Chữ ấy chính là chữ chủng tử
của ngài Di Lặc”).
(Kinh)
Hựu như tiền ấn, dĩ nhị hư không luân nhập
trung, danh Hư Không Tạng Ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, a ca xa tam mạn
đa nô nghiệt đa. Bễ
chất đa lam ma phạ ra đà ra, sa ha.
(經)又如前印,以二虛空輪入中,名虛空藏印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿迦奢三曼多奴蘗多。髀質哆㘕麼嚩囉馱囉。莎訶。
(Kinh:
Kế đó, giống như ấn trước, dùng hai ngón
Hư Không (ngón cái) gập vào ḷng bàn tay, gọi là Hư Không
Tạng Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, a ca xa tam mạn
đa nô nghiệt đế. Bễ
chất đá lam ma phạ ra đà ra, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ākāśasamatānugata
vicitrām-baradhara svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Hư
Không Tạng (Ākāśagarbha).
Hư tâm hiệp chưởng, dùng hai ngón cái cùng gập vào
ḷng bàn tay là thành ấn. Phần quy mạng của chân ngôn
giống như trước. “A ca
xa” (ākāśa, hư
không), “tam
mạn đa” (samatā (bằng),
tức là bằng với hư không), “nô
nghiệt đa” (nugata, đạt
được. Trong phần trước nói [từ ngữ
này] có nghĩa là “biết”, là “dấy lên”, ở đây nói là “đạt
được”,
cũng dung hội), “bễ
chất đá-lam ma-phạ” (vicitrāmba, chữ
Ma ở đây chính là cái chấm đặt trên chữ Ra, tức
là thành chữ Lam), Ra (Bệ Chất Đa nghĩa là đủ
loại, Ma Phạ Ra tức là nghĩa “nương
cậy”).
“Đà
ra”
(dhara, mặc, nghĩa là mặc các loại áo. Như hư
không vô sắc mà có thể hiện đủ loại h́nh. Vị
Bồ Tát này cũng thế, giống như hư không mà có
thể thỏa măn đủ loại nguyện, hiện
đủ loại h́nh tướng lợi ích chúng sanh).
(Kinh)
Như tiền ấn, dĩ nhị Thủy luân, nhị Địa
luân khuất nhập chưởng trung, nhị Phong luân, Hỏa
luân tương hợp, thị Trừ Nhất Thiết Cái
Chướng Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, a tát đỏa hệ đa,
phiêu dă ốt nghiệt đa. Đát lăm đát lăm, lăm lăm. Sa
ha.
(經)如前印,以二水輪二地輪屈入掌中,二風輪火輪相合,是除一切蓋障印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿薩埵係哆驃也嗢蘗多。怛囕怛囕囕囕。莎訶。
(Kinh:
Như ấn trước, dùng hai ngón áp út và hai ngón út gập
vào ḷng bàn tay, hai ngón trỏ và giữa áp vào nhau, đó là Trừ
Nhất Thiết Cái Chướng Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a tát đỏa
hệ đa, phiêu dă ốt nghiệt đa. Đát lăm đát
lăm, lăm lăm. Sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
āḥ sattvahitābhyudgata traṃ traṃ raṃ raṃ
svāhā).
Kế
đó là ấn của Trừ Cái Chướng Bồ Tát (Sarvanīvaraṇaviṣkambhin).
Tam-bổ-trá hiệp chưởng
(không tâm hiệp chưởng), các
ngón út và áp út đều gập vào ḷng bàn tay, các ngón khác
như thường (đây là ngón út và áp út chạm móng, chống vào nhau).
Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước.
“A
tát đỏa hệ đa” (āḥ sattvahitā: A nghĩa là
“có thể trừ”. “Hệ đa”
nghĩa là lợi ích, tức là lợi ích chúng sanh), “phiêu-dă
ốt nghiệt-đa
đát-lăm
đát-lăm
lăm lăm” (bhyudgata traṃ traṃ raṃ raṃ,
nghĩa là Trừ, mà cũng là khai phát
thiện tánh ấy, khiến cho nó hiển hiện. Như
trong phần trên đă nói là “trừ sự chấp trước”,
[ở đây] là trừ chuyện
ǵ? Chính là trừ bốn cấu. Phàm phu ái kiến là một
loại cấu, Thanh Văn cấu là hai, Duyên Giác cấu là
ba, Bồ Tát cấu là bốn. Do trừ chúng sanh cấu, nhập
địa vị Thanh Văn. Do trừ Thanh Văn cấu,
nhập địa vị Duyên Giác. Cho đến do trừ
Bồ Tát cấu, nhập địa vị thanh tịnh).
(Kinh) Như tiền dĩ Định Huệ
thủ tương hợp, tán thư ngũ luân do như linh đạc, dĩ Hư Không, Địa luân
ḥa hợp, tương tŕ, tác liên hoa h́nh. Thị Quán Tự
Tại Ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, tát phạ đát tha nghiệt đa a phạ
lô yết đa, ca lô noa mạt da, ra ra ra, hồng xà, sa ha.
(經)如前以定慧手相合,散舒五輪猶如鈴鐸,以虛空地輪和合相持作蓮華形,是觀自在印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。薩嚩怛他蘗哆阿嚩盧羯多。迦盧拏末耶。囉囉囉吽闍。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, tay Định và Huệ chắp lại, x̣e các ngón như linh, khánh, các ngón Hư Không (cái) và
Địa (út) ḥa hợp, chống vào nhau, thành h́nh hoa sen.
Đó là Quán Tự Tại Ấn. Chân ngôn rằng: “Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, tát phạ đát tha nghiệt đa a phạ
lô yết đa, ca lô noa mạt da, ra ra ra, hồng xà, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, sarvatathāgatāvalokita karuṇāmaya
ra ra ra hūṃ jaḥ svāhā”).
Kế
đó là Quán Âm (Avalokiteśvara) Ấn.
Trước hết, “khai
phẫu hiệp chưởng”
(cách chắp tay như búp sen chớm nở). Dùng các ngón cái
và ngón út bấm vào nhau, sáu ngón khác x̣e ra. Ngón giữa
và ngón trỏ đều cùng chụm vào nhau tương ứng.
Ngón áp út đứng đơn lẻ tức là ấn thành. “Tát
phạ đát tha nghiệt đa” (Sarvatathāgata, [hết thảy] Như
Lai), “a
phạ lô yết đa”
(avalokita, quán, tức là phép Quán của Như Lai), “ca
lô noa” (karuṇā, bi),
“mạt
da”
(maya, Thể. Ư nói dùng đại bi làm Thể, thân tâm trong
ngoài thuần dùng Bi làm thân). “Ra ra ra”
(tam cấu). “Hồng
xà” (hūṃ jaḥ, chữ
Hồng này là ba món hành, giải thoát, và Đại Không. Xà (jaḥ) có
nghĩa là sanh, tức là “pháp
sanh từ duyên khởi”).
Phép Quán của Như Lai ở đây có nghĩa là Bồ Tát
tuy chưa thành Phật,
nhưng đă thấy giống như Phật. Do thấy
tánh của Uẩn, nên đạt được tên gọi
của phép Quán như thế. Chỉ lấy Bi làm Thể, tức là
ḷng Bi ấy do ĺa ba độc, mà đạt được
ba thiện căn như vô tham v.v…, sanh ra ba món giải thoát.
V́ thế, có ba chữ Ra.
(Kinh)
Như tiền,
dĩ Định Huệ thủ tác không tâm hiệp chưởng,
do như vị khai phu liên, thị Đắc Đại Thế
Ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
chiêm chiêm sa, sa ha.
(經)如前以定慧手作空心合掌,猶如未開敷蓮,是得大勢印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。瞻瞻娑。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay Định và Huệ để
làm không tâm hiệp chưởng, giống như hoa sen
chưa nở; đó
là Đắc Đại Thế Ấn. Chân ngôn
của ấn ấy là: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, chiêm chiêm sa, sa ha - Namaḥ
samanta-buddhānāṃ, jaṃ jaṃ saḥ
svāhā”).
Kế
đó là Đại Thế Chí Ấn (Mahāsthāmaprāpta).
Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng, cong mười
ngón tay chụm vào nhau cho tṛn trặn, như búp sen chưa nở.
Búp sen chưa nở ấy chính là tráp báu của Như Lai,
do đă nở rồi khép lại. Xét theo các chữ trong chân
ngôn, Chiêm (jaṃ,
sanh), Sa (saḥ, trí
b́nh đẳng). Đấng ĺa thế gian, lại vượt
khỏi Bồ Tát sanh, trụ trong trí b́nh đẳng.
(Kinh)
Như tiền,
dĩ Định Huệ thủ, ngũ luân nội hướng
vi quyền, cử nhị Phong luân do như châm phong, nhị
Hư Không luân gia chi, thị Đa La Tôn Ấn. Bỉ chân
ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
đá lệ, đá rị ni, ca rô noa ốt bà phệ, sa ha.
(經)如前以定慧手,五輪內向為拳,舉二風輪猶如針鋒,二虛空輪加之,是多羅尊印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。哆囇哆哩抳。迦嚧拏嗢婆吠。莎訶。
(Kinh:
Như trên, dùng tay Định và Huệ, năm ngón hướng
vào trong, nắm
thành quyền, giơ hai ngón Phong luân (ngón trỏ) ví như
đầu kim, hai ngón Hư Không luân (ngón cái) đè lên; đó
là Đa La Tôn Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, đá lệ, đá
rị ni, ca rô noa ốt bà phệ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, tāre tāriṇi karuṇodbhave
svāhā”).
Kế
đó, kết Đa La Bồ Tát (Tārā) ấn.
Trước kết kết Chỉ Hướng Nội
Tương Xoa Quyền Hiệp Chưởng (tức là các
ngón tay đan vào nhau, gập các ngón tay trong ḷng bàn tay), dựng
hai ngón trỏ, chụm vào nhau như cái kim, hai ngón cái dựng
thẳng đè lên [hai ngón trỏ] th́ ấn thành. Chân ngôn: “Đa
lệ”
(Tāre, gọi tên vị
Bồ Tát ấy, tức Tārā Bồ Tát), “đá rị ni” (tāriṇi, độ thoát. Giống
như giúp người khác vượt qua sông lớn, đặt họ nơi bờ kia). “Ca rô noa” (karuṇo, bi). “Ốt bà
phệ” (odbhave, sanh. Do
vị Bồ Tát này sanh từ ḷng Bi, cũng độ chúng
sanh đạt đến chỗ Bi).
(Kinh)
Như tiền ấn, cử nhị
Phong luân sâm si tương áp, thị Tỳ Câu Chi Ấn, bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
tát phạ bà dă, đát ra tát nễ, hồng sa phán trá dă, sa
ha.
(經)如前印,舉二風輪參差相押,是毘俱胝印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。薩嚩婆也怛囉薩儞。吽娑泮吒也。莎訶。 (Kinh:
Giống như ấn trên, dựng hai ngón Phong luân (ngón trỏ)
so le đè lên nhau. Đó là Tỳ Câu Chi ấn. Chân ngôn của
ấn ấy là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, tát phạ bà dă, đát ra tát nễ,
hồng sa phán trá dă, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, sarvabhayatrāsani hūṃ sphoṭaya
svāhā”).
Kế
đó là Tỳ Câu Chi (Bhṛkuṭī) Ấn. Giống
như trên, làm Hướng Nội Chỉ Quyền hiệp
chưởng. Hai ngón trỏ cũng dựng lên, nhưng so
le áp vào nhau, khiến cho ngón phải đè lên ngón trái là
đúng. H́nh thế của ấn này đại để
giống ấn Đa La, chỉ có [hai ngón trỏ đè lên
nhau] so le là khác biệt. Chân ngôn: “Tát
phạ bà dă”
(sarvabhaya, hết thảy kinh sợ), “đát-ra
tát nễ” (trāsani, cũng
có nghĩa là khủng bố. Trong hết thảy các nỗi
sợ hăi, lại dùng sự khủng bố để
đe dọa khiến cho lui tan. Như thấy kẻ chẳng
điều phục, lại dùng oai thế cứng cỏi,
hung tàn để hàng phục, khiến cho kẻ đó chẳng
thể làm quấy). “Hồng” (hūṃ, có
ba ư nghĩa như trong phần trước [đă nói]).
“Sa-phán
trá dă” (sphoṭaya, nghĩa
là phá hoại, khiến cho các sự kinh sợ ấy lui
tan). Chân ngôn này là Tỳ Câu Chi Tŕ Tụng Mẫu, giống
như mẹ của những kẻ tŕ tụng, công năng
tôn quư nhất.
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ không tâm hiệp
chưởng, Thủy
luân, Không luân giai nhập
ư trung, thị Bạch Xứ Tôn Ấn. Bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt
đa ph́ xá da tam bà phệ, bát đàm ma ma lư nễ, sa ha.
(經)如前,以定慧手空心合掌,水輪空輪皆入於中,是白處尊印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。怛他蘗多肥舍耶三婆吠。鉢曇摩摩哩儞。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay Định và Huệ làm không tâm
hiệp chưởng, các ngón Thủy luân (áp út)
và Không luân (cái) đều gập vào trong ḷng bàn tay; đó là Bạch Xứ
Tôn Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt
đa ph́ xá da tam bà phệ, bát đàm ma ma lư nễ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, tathāgataviṣayasaṃbhave
padmamālini svāhā”).
Kế
đến là Bạch Xứ Bồ Tát (Pāṇḍaravāsinī) Ấn.
Cùng gập hai ngón áp út vào ḷng bàn tay, hai ngón cái cũng đặt
sát nhau, gập vào cho chạm [hai ngón áp út]. Các ngón khác kết
thành Tam-bổ-trá hiệp chưởng
(không tâm hiệp chưởng). Chân
ngôn: “Đát
tha nghiệt đa ph́ xá da” (tathāgataviṣaya, cảnh
giới của Như Lai), “tam bà phệ” (saṃbhave, sanh.
Ư nói: Sanh từ cảnh giới của Như Lai), “bát
đàm ma ma lư nễ” (padmamālini, tràng
hoa, tức vật để trang nghiêm thân. Đấy là coi
cái có thể sanh ra công đức của chư Phật làm
trang nghiêm, tức là trang nghiêm Pháp Thân vậy).
(Kinh)
Như tiền ấn, khuất nhị Phong luân trí Hư Không
luân hạ, tương khứ do như khoáng mạch, thị Hà Da Yết Rị Phạ Ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, khư đà da, bạn xà tát phá trá dă, sa ha.
(經)如前印,屈二風輪置虛空輪下,相去猶如穬麥,是何耶揭哩嚩印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。佉馱耶畔闍薩破吒也。莎訶。
(Kinh:
Như ấn trước, gập hai ngón Phong luân (ngón trỏ), đặt dưới ngón Hư Không
luân (ngón cái),
nhưng cách ngón Hư Không
luân chừng bằng hạt lúa mạch. Đó là Hà Da Yết
Rị Phạ Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, khư đà da, bạn
xà tát phá trá dă, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
khādaya bhañja sphoṭaya svāhā”).
Kế
đó là Mă Đầu (Hayagrīva,
Hà Da Yết Rị Phạ) Ấn: Kết Tam-bổ-trá, gập
hai ngón trỏ cho móng chạm nhau, đặt dưới gốc
ngón cái, nhưng [hai đầu ngón trỏ cách ngón cái một
khoảng bằng hạt lúa mạch, đừng để
chạm nhau. Hai ngón cái dựng thẳng sát nhau, hơi ngửa
phần đầu ngón chỗ có móng tay là được.
Chân ngôn: “Khư
đà da”
(khādaya, ăn.
Ư nói “ăn nuốt các chướng”), “bạn
xà” (bhañja, đánh
nát), “tát-phá
trá dă sa ha” (sphoṭaya svāhā, đánh
gơ chướng ấy khiến cho nó vỡ nát tứ tán).
(Kinh)
Đồng tiền ấn, thân nhị Thủy luân, Phong
luân, dư như quyền.
Thị Địa Tạng Bồ Tát Ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, ha ha ha. Tô đá nỗ, sa ha.
(經)同前印,申二水輪風輪,餘如拳,是地藏菩薩印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。訶訶訶。蘇哆弩。莎訶。
(Kinh:
Giống như ấn trên, duỗi hai ngón Thủy luân (áp út)
và Phong luân (trỏ), các ngón khác nắm thành quyền. Đó
là ấn của Địa Tạng Bồ Tát. Chân ngôn của
ấn ấy là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, ha ha ha. Tô đá nỗ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ha ha ha sutanu svāhā”).
Kế
đó là Địa Tạng Bồ Tát (Kṣitigarbha) Ấn.
Chắp tay bằng cách đan ngón tay vào tay, nắm thành quyền,
duỗi ngón út và áp út[1]
sao cho đầu chúng chạm nhau (như h́nh ngọn núi),
hai ngón cái đặt sát nhau, dựng thẳng.
Chân ngôn: “Ha
ha ha”
(ĺa ba cái nhân, tức là cái nhân của Thanh Văn, Duyên Giác,
và Bồ Tát. Các chân ngôn ở đây đều là tự nói
hạnh đức của Bổn Tôn. [Chân ngôn này] là tổng
tŕ công đức của Địa Tạng Bồ Tát vậy). “Tô
đá nỗ”
(Sutanu, diệu thân. Do nội thân cực tịnh, nên gọi
là Diệu Thân, tức Pháp Thân). “Sa
ha”.
“Hành giả Du Già trụ” tức là hành giả kết ấn
như thế.
(Kinh) Phục dĩ Định
Huệ thủ tác không trung hiệp chưởng, Hỏa
luân, Thủy luân giao kết tương tŕ, dĩ nhị
Phong luân trí nhị Hư
Không
luân thượng do như câu h́nh, dư như tiền, thị
thánh giả Văn Thù Sư Lợi Ấn. Bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ
câu ma ra, tỳ mục để bát tha tất-thể
đa, sa-mạt
ra sa-mạt
ra, bát-ra
để nhiên, sa ha.
(經)復以定慧手作空中合掌,火輪水輪交結相持,以二風輪置二虛空輪上猶如鉤形,餘如前,是聖者文殊師利印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係係俱摩囉。毘目底鉢他悉體多。娑末囉娑末囉。鉢囉底然。莎訶。
(Kinh:
Lại dùng tay Định và Huệ để làm không trung
hiệp chưởng, các ngón Hỏa (giữa) và Thủy (áp
út) đan chéo, vịn nhau, dùng hai ngón Phong (trỏ) đặt
trên ngón Hư Không (ngón cái) như h́nh cái móc. Các ngón khác
như trước. Đó là ấn của thánh
giả Văn Thù Sư Lợi. Chân ngôn của ấn ấy
là:
“Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
hệ hệ câu ma ra, tỳ mục để bát tha tất-thể
đa, sa-mạt
ra sa-mạt
ra, bát-ra
để nhiên, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
he he kumāra vimuktipathasthita smara smara pratijñāṃ
svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Văn Thù (Mañjuśrī).
Trước hết, kết Tam-bổ-trá, dùng hai ngón giữa
đè ngược lên hai ngón áp út, cong hai ngón trỏ để
bấm lấy đầu ngón cái là thành ấn. Chân ngôn: “Hệ
hệ”
(chữ Ha trong ấy là cái nhân, [nói hai chữ Hệ] hàm ư “ĺa
hai cái nhân”,
tức là vượt thoát cảnh giới Nhị Thừa.
Đó cũng là âm thanh triệu tập). “Câu
ma ra” (kumāra, đồng
tử. Phá hoại các ma th́ cũng gọi là Câu Ma Ra). “Tỳ
mục để” (vimukti, giải
thoát). “Bát
tha tất-thể đa” (pathasthita, đạo.
Ư nói: Trụ nơi nào? Chính là trụ trong đạo giải
thoát). “Tát-mạt
ra” (smara, niệm),
“tát-mạt
ra”
(smara, niệm). “Bát-ra
để nhiên” (pratijñāṃ, sở
nguyện xưa kia. Nay nghĩ đến sở nguyện
xưa kia. Sở nguyện xưa kia của tôn giả là
đều độ hết thảy chúng sanh, khiến cho họ
chẳng khác ǵ ta. V́ thế, nay hăy nên nghĩ nhớ lời
thề xưa kia).
(Kinh)
Dĩ tam-muội thủ vi quyền, nhi cử Phong luân do
như câu h́nh. Thị Quang Vơng Câu Ấn. Bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ
câu mạt ra, ma da yết đa sa phạ bà phạ tất
thể đa. Sa ha.
(經)以三昧手為拳,而舉風輪猶如鉤形,是光網鉤印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係係俱末羅。摩耶揭多娑嚩婆嚩悉體多。莎訶。
(Kinh:
Dùng tay tam-muội nắm thành quyền, giơ ngón Phong luân
(trỏ) lên ví như h́nh cái móc câu. Đó là Quang Vơng Câu Ấn.
Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu mạt
ra, ma da yết đa sa phạ bà phạ tất thể
đa. Sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he he kumāra māyagata svabhāva-sthita
svāhā”).
Kế
đó là
ấn
của Quang Vơng Bồ Tát (Jālinīprabha).
Dùng tay trái nắm thành quyền, duỗi ngón trỏ, hơi
cong đốt thứ ba, sao cho giống như h́nh cái móc
câu, ngón cái dựng lên, đè lên ngón giữa là thành
ấn. “Hệ
hệ câu mạt la” (he he kumāra, giải thích như
trên), “ma
da yết đa” (māyagata. Ma-da là huyễn, yết-đa là biết,
tức “biết hết thảy
các pháp như huyễn”).
“Sa
phạ” (sva, tánh). “Bà
phạ tất-thể đa” (bhāvasthita, trụ,
tức là “biết rơ các pháp
đều như huyễn, liền trụ trong bổn tánh,
thật tánh của các pháp”).
(Kinh)
Tức như tiền ấn, nhất thiết luân tướng
giai thiểu khuất chi.
Thị Vô Cấu Quang Ấn. Bỉ chân
ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ
câu ma la, ph́ chất đa ra nghiệt để câu ma ra, ma nỗ
sa mạt ra, sa ha.
(經)即如前印,一切輪相皆少屈之,是無垢光印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係俱摩羅。肥質多囉蘗底俱摩囉。麼弩娑末囉。莎訶。
(Kinh:
Giống như ấn trước, hết thảy các ngón
tay đều hơi cong. Đó là Vô Cấu Quang Ấn. Chân
ngôn của ấn ấy là: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, hệ câu ma la, ph́ chất
đa ra nghiệt để câu ma ra, ma nỗ sa mạt ra,
sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he kumāra vicitragatikumāra [pratijñā]m
anusmara svāhā”).
Kế
đến là ấn của ngài Vô
Cấu Quang (Vimalaprabha).
Duỗi hết thảy các ngón trong tay trái, đều
hơi cong đốt thứ ba th́ thành ấn (ngón cái
cũng dựng lên, tợ hồ hơi cong mà thôi! Chân ngôn: “Hệ
câu ma la” (he kumāra, giống như trước).
“Ph́ chất đa-la” (vicitra, các thứ), “nghiệt để” (gati, hạnh. Ư nói các
thứ hạnh) “câu ma ra” (kumāra, tức là do bổn thệ nguyện sẽ phổ
môn thị hiện đủ loại thân. Dùng đủ thứ
hạnh để lợi ích hết thảy, hoặc hiện
thân đồng tử, hoặc hiện thân tráng niên, hoặc
thân người già cả). “Ma
nỗ sa-mạt ra” ([pratijñā]m anusmara, nhớ lại
nguyện xưa kia. Thánh giả xưa kia đă đối
trước đức
Phật lập nguyện
ấy. Đă nguyện như thế, hăy nên nghĩ nhớ).
(Kinh)
Như tiền, dĩ trí huệ thủ vi quyền, kỳ
Phong, Hỏa luân tương hợp vi nhất thư chi, thị
Kế Thất Ni Đao Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu ma
lê kê, na da nhă na tát mạt ra, bổ la để nhiên, sa ha.
(經)如前,以智慧手為拳,其風火輪相合為一舒之,是繼室尼刀印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係係俱摩梨鷄。娜耶若那薩末羅。補羅底然。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay phải nắm thành quyền. Các
ngón Phong (trỏ) và Hỏa (ngón giữa) hợp với nhau
thành một, duỗi ra. Đó là Kế Thất Ni Đao Ấn.
Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu ma
lê kê, na da nhă na tát mạt ra, bổ la để nhiên, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he he kumārike dayājñānaṃ
smara pratijñāṃ svāhā”).
Kế
đó là Kế Thất Ni (Keśinī) Ấn. Trước
hết, dùng tay phải nắm thành quyền, duỗi ngón giữa
và ngón trỏ sao nó đứng thẳng, ngón cái cũng dựng
lên, đặt ngang [các ngón kia]. Chân ngôn: “Hệ
hệ”
(He he, như trên), “câu ma lê
kê” (kumārike, đồng
tử gọi theo giống cái, đây cũng là tam-muội của
ngài Văn Thù). “Na
da nhă na” (dayājñānaṃ, ban cho ước
nguyện), “tát-mạt
ra”
(smara, nhớ khi xưa), “bổ-la
để nhiên” (pratijñāṃ, bổn
nguyện. Ư nói: Vị tôn giả này đạt được
nguyện thù thắng nơi đức Văn
Thù. Diệu nguyện vốn có ấy, nay cũng trao cho
tôi).
(Kinh)
Như tiền, dĩ trí huệ thủ vi quyền, nhi thân Hỏa
luân do như kích h́nh.
Thị Ưu Ba Kế Thất Ni Kích Ấn,
bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, tần đà da nhă na. Hệ câu ma rị kê, sa ha.
(經)如前,以智慧手為拳,而申火輪猶如戟形,是優波髻室尼戟印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。頻馱耶若那。係俱摩哩鷄。莎訶。
(Kinh:
Như trên, dùng tay trí huệ nắm thành quyền, duỗi
ngón Hỏa (giữa) như h́nh cái kích. Đó là Ưu Ba Kế
Thất Ni Kích Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, tần đà da nhă
na. Hệ câu ma rị kê, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, bhindayājñānaṃ he
kumārike svāhā”).
Kế
đó là Ưu Ba Kế Thất Ni (Upakeśinī) Ấn.
Trước hết, dùng tay phải nắm thành quyền. Duỗi
thẳng ngón giữa
ra, ngón cái cũng dựng lên. Theo lệ thường, ngón
cái đặt nằm ngoài nắm đấm, nhưng duỗi
thêm ngón giữa. Chân ngôn: “Tần
đà da”
(Bhindayā, mặc),
“nhă
na” (jñānaṃ, trí.
Cuối câu trước có âm A, nối liền với câu
này, tức là Vô Trí. Ư nói: Dùng diệu huệ để thấu suốt vô trí, đạt
tới Thật Tướng). “Hệ”
(tiếng gọi), “câu ma rị kê” (kumārike, trẻ
gái, cũng là tam-muội, dùng âm thanh giống cái mà gọi
tên).
(Kinh)
Như tiền, dĩ tam-muội thủ vi quyền, nhi
thư Thủy luân, Địa luân, thị Địa Huệ
Tràng Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, hệ tát mạt ra nhă na kế đổ,
sa ha.
(經)如前,以三昧手為拳,而舒水輪地輪,是地慧幢印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係薩末囉若那計覩。莎訶。
(Kinh:
Như trong phần trên, dùng tay tam-muội (tay trái) nắm
thành quyền, duỗi các ngón Thủy (áp út) và Địa
(út), đó là Địa Huệ Tràng Ấn. Chân ngôn của ấn
ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ tát mạt ra
nhă na kế đổ,
sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he smara jñānaketu svāhā”).
Kế
đó là Địa Huệ (Vasumatī) Tràng Ấn. Trước
hết, dùng tay trái nắm thành quyền (cũng là ngón cái nằm
nên ngoài quyền), duỗi hai ngón út và áp út th́ thành ấn. “Hệ”
(he, từ ngữ tán thán), “tát-mạt
ra”
(smara, ức niệm), “nhă na” (jñāna, trí.
Ư nói: “Hăy nên nhớ trí ấy”). “Kế
đổ” (ketu,
tràng. Do vậy, Diệu Huệ Tràng dẹp tan các ma, nay hăy
nên nghĩ nhớ, khiến cho ta cũng giống như thế).
(Kinh)
Dĩ Huệ thủ vi quyền, nhi thư Phong luân do như
câu h́nh, thị Thỉnh Triệu Đồng Tử Ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, a ca rị sái dă tát văm câu rô, a nhiên củ mang ra tả,
sa ha.
(經)以慧手為拳,而舒風輪猶如鉤形,是請召童子印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿迦哩灑也薩鑁俱嚕。阿然矩忙囉寫。莎訶。
(Kinh:
Dùng tay Huệ (tay phải) nắm thành quyền, duỗi
ngón Phong (trỏ) như h́nh móc câu. Đó là Thỉnh Triệu
Đồng Tử Ấn. Chân ngôn rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, a ca rị sái dă tát
văm câu rô, a nhiên củ mang ra tả, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ākarṣaya sarvān kuru
ājñāṃ kumārasya svāhā”).
Kế
đó là Triệu Thỉnh Ấn (Ākarṣaṇī).
Năm vị Bồ Tát trên đây đều là sứ giả
của đức Văn Thù. Tay phải nắm thành quyền
(cũng để ngón cái ra ngoài), gập ngón trỏ như
h́nh móc câu, đặt gần đầu ngón cái, nhưng
không chạm nhau là thành ấn. Xét theo chân ngôn, “a ca
rị-sái dă” (ākarṣaya, chiêu
vời, triệu thỉnh, nhiếp triệu, đều có
nghĩa là “móc đến nơi đây”), “tát
văm câu rô” (sarvān kuru, làm
hết thảy, trao cho hết thảy, tức là như chuyện
do tôn giả Văn Thù triệu vời, sẽ đều thực
hiện), “a
nhiên củ mang ra tả” (ājñāṃ kumārasya, chỉ
thân của vị thánh giả ấy).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền,
thư nhị Phong luân, khuất tiết tương hợp,
thị Chư Phụng Giáo Giả Ấn. Bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a vi tam-muội-da
nễ duệ, sa ha.
(經)如前以定慧手為拳,舒二風輪屈節相合,是諸奉教者印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿微三昧耶儞曳。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay Định và Huệ nắm
thành quyền, duỗi hai ngón Phong (trỏ), co đốt
ngón tay cho [hai ngón trỏ] châu đầu vào nhau. Đó là ấn
của các vị Phụng Giáo. Chân ngôn của ấn ấy
là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, a vi tam-muội-da nễ duệ, sa
ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, āḥ vismayanīye
svāhā”).
Kế
đó là các vị Phụng Giáo (cũng là người tuân phụng
giáo pháp của đức Văn Thù, hơi khác với sứ
giả). Trước hết, kết nội tương xoa
hiệp chưởng quyền (đan các ngón tay vào nhau, hợp
thành quyền, các ngón nằm trong ḷng bàn tay). Duỗi hai ngón
trỏ cho chụm đầu ngón, cong lóng thứ ba, hai ngón
cái cũng dựng lên đặt ngang nhau. Xét theo chân ngôn, “a” (āḥ, hành.
Bên cạnh có cái chấm, thể hiện h́nh dáng phẫn nộ).
“Vi
tam-muội-da
nễ duệ” (vismayanīye, măn
nguyện, có thể khiến cho hết thảy các việc
hy hữu
không ǵ chẳng thành, có thể khiến cho chuyện hy hữu lạ
lùng đều được viên măn. Âm Duệ nhằm chỉ
vị tôn giả ấy).
(Kinh) Như tiền,
dĩ Định Huệ thủ vi quyền, nhi thư Hỏa
luân, khuất đệ tam tiết, thị Trừ Nghi Quái
Kim Cang Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, ph́ mạt để chế
đà ca, sa ha.
(經)如前,以定慧手為拳而舒火輪,屈第三節,是除疑怪金剛印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。肥末底製馱迦。莎訶。
(Kinh:
Như trên, dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền,
duỗi ngón Hỏa, cong đốt thứ ba, đó là Trừ
Nghi Quái Kim Cang Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, ph́ mạt để
chế đà ca, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
vimaticchedaka svāhā”).
Kế
đó là Kiêu Đô Hạt La Bồ Tát (Kautūhala, phương
này dịch nghĩa thành Trừ Nghi, hoặc Trừ Cấu.
Như mọi người đều có những nỗi ngờ
vực chẳng thể giải quyết, vị Bồ Tát
này liền có thể đến chỗ họ để
đoạn lưới nghi cho họ.
Do có thể làm bạn chẳng thỉnh, thường
đoạn nghi hoặc cho hết thảy chúng sanh, cho nên
Ngài có tên như thế). Ấn này kết bằng cách nội
tương xoa quyền hiệp chưởng (các ngón tay
đan vào nhau, nắm
thành quyền, sao cho các ngón đều nằm trong ḷng bàn
tay), duỗi hai đầu ngón giữa sao cho chạm nhau, cong
lóng thứ ba th́ thành ấn (hai ngón cái theo lệ thường, dựng
thẳng ở bên ngoài quyền). “Ph́
mạt để” (Vimati, vô huệ, tức
là “không
ǵ chẳng biết”),
“chế
đà ca”
(chedaka, cắt đứt. Cắt đứt vô tri, khiến
cho trí huệ sanh khởi. Đó cũng là ư nghĩa “cắt
đứt”, lại c̣n có nghĩa là “đoạn hoại”,
ví như ư nghĩa “Kim
Cang Bát Nhă có thể đoạn” vậy).
(Kinh)
Cử Tỳ Bát Xá Na tư, tác Thí
Vô Úy
thủ, thị Thí Vô Úy Giả Ấn, bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a bà diễn
đà đà, sa ha.
(經)舉毘鉢舍那臂,作施無畏手,是施無畏者印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿婆演馱馱。莎訶。
(Kinh:
Nâng cánh tay Tỳ Bát Xá Na (tay trái)
để làm tay thí vô úy. Đó là ấn của bậc Thí Vô
Úy. Chân ngôn rằng: “Nam ma tam
mạn đa bột đà nẫm, a bà diễn đà đà,
sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, abhayaṃdada svāhā”).
Kế
đến là Thí Vô Úy Bồ Tát (Abhayaṃdada) Ấn.
Kết Thí Vô Úy Thủ, trong Du Già (giống như ấn của
Phật Thích Ca), [tức là] duỗi
cánh tay hướng lên trên, sao cho ḷng bàn tay hướng ra
ngoài là thành ấn. Ấn này nêu bày hành năm pháp, ngón út là
Tín, ngón áp út là Tấn, ngón giữa là Niệm, ngón trỏ là
Định, ngón cái là Huệ. Chư Phật, Bồ Tát dùng
thân và miệng để thuyết pháp, nay ấn này biểu
thị ngũ căn lực vậy. Xét theo chân ngôn, “a
bà diễn đà đà” (abhayaṃdada)
chính là vô úy thí. Dùng pháp ǵ để bố thí sự không sợ
hăi [cho chúng sanh]? Chính
là trụ trong môn chữ A, ĺa hết thảy sanh. Tôn giả
đă măn sở nguyện, chúng con chưa đạt
được, nguyện hăy thí cho con và hết thảy
chúng sanh.
(Kinh)
Như tiền, thư trí thủ nhi thượng cử chi,
thị Trừ Ác Thú Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, a phiếu đà ra
noa, tát đỏa đà đôn, sa ha.
(經)如前,舒智手而上舉之,是除惡趣印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。阿驃馱囉拏薩埵馱敦。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, duỗi tay trí (tay
phải) nhưng nâng lên, đó
là Trừ Ác Thú Ấn. Chân ngôn rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, a phiếu đà ra
noa, tát đỏa đà đôn, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, abhyuddharaṇi sattvadhātuṃ,
svāhā”).
Kế
đến là Trừ Ác Thú (Apāyaṃjaha) Ấn. Giống
như trên, duỗi tay phải, sao cho bàn tay hướng lên
phía trên, nhưng giơ cánh tay
lên phía trên th́ thành ấn. Xét theo chân ngôn, “a
phiếu đà ra noa” (abhyuddharaṇi, nâng lên), “tát
đỏa đà đôn” (sattvadhātuṃ, chúng
sanh giới). Điều này có nghĩa là do hết thảy
chúng sanh giới từ vô thỉ đến nay, v́ vô minh mà thường
ở trong tam ác đạo. Nay bậc thánh đă đắc
ngũ lực như thế, nguyện nâng đỡ khiến
cho họ đạt lên thanh tịnh. V́ cớ sao vậy?
Tôn giả đă tự có thể dẹp trừ, thoát ra,
cũng nên nâng nhắc hết thảy chúng sanh giới.
(Kinh)
Như tiền, dĩ Huệ thủ yểm tâm, thị Cứu
Hộ Huệ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa ma ra bát ra
để nhiên, sa ha.
(經)如前,以慧手掩心,是救護慧印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係摩訶摩訶。娑麼囉鉢囉底然。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay Huệ (tay phải) che tim; đó
là Cứu Hộ Huệ Ấn. Chân ngôn rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa
ma ra bát ra để nhiên, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he mahāmaha smara pratijñāṃ
svāhā”).
Kế đến là ấn của Cứu Hộ
Huệ Bồ Tát (Paritrāṇāśayamati). Giống như trên, duỗi tay đặt nơi tim,
nên dùng ḷng bàn tay hướng về thân ḿnh để che
tim, ngón cái hơi dựng lên hướng về phía trước.
Xét đến chân ngôn, “hệ” (ĺa nhân, cũng có nghĩa là “kêu gọi
triệu tập, răn nhắc”). “Ma ha ma ha” (mahāmaha, lớn nhất trong các thứ lớn, tôn trọng nhất
trong các thứ tôn trọng). “Sa-ma ra bát-ra để nhiên” (smara
pratijñāṃ, bổn nguyện. Bổn
nguyện trừ hết thảy khổ. Do trừ khổ,
nên nói là “cứu giúp, bảo vệ”. Nay gọi tên Ngài, khiến cho Ngài nhớ tới bổn nguyện mà cứu
vớt, thủ hộ hết thảy).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Huệ thủ tác tŕ hoa trạng, thị
Đại Từ Sanh Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ chế
đố ốt nghiệt đa, sa ha.
(經)如前,以慧手作持華狀,是大慈生印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。薩嚩制妬嗢蘗多。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay Huệ (tay phải) làm ra vẻ
như đang cầm hoa. Đó là Đại Từ Sanh Ấn.
Chân ngôn là:
“Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
tát phạ chế đố ốt nghiệt đa, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, svacittodgata svāhā”).
Kế
đó là Đại Từ Sanh Bồ Tát (Mahāmaitryabhyudgata) Ấn.
Giống như trên, làm Vô Úy Thí Thủ, dùng ngón cái và ngón trỏ
bấm vào nhau, như dáng vẻ người cầm hoa, ba
ngón kia dựng lên hướng về phía trước là thành ấn.
Xét theo chân ngôn, “tát
phạ”
(sva, chính ḿnh), “chế
đố”
(citto, tâm), “ốt
nghiệt đá” (odgata, sanh. Ư nói:
Điều này sanh từ tự tâm, chẳng do điều
ǵ khác mà đạt được, nên gọi là Đại
Từ. Nghĩa là sanh từ cái
tâm tự tánh thanh tịnh, chẳng sanh từ
cái tâm đại chủng[2],
nên gọi là Tự Tâm Sanh).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Huệ thủ phú tâm, sảo khuất
Hỏa luân, thị Bi Niệm giả ấn. Bỉ chân ngôn
viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ca lô
noa mạt lô nật đa, sa ha.
(經)如前,以慧手覆心,稍屈火輪,是悲念者印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。迦盧拏末盧眤多。莎訶。
(Kinh:
Như trên, dùng tay Huệ (tay phải) che tim, hơi cong ngón
Hỏa luân (ngón trỏ), đó là ấn của đấng
Bi Niệm. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, ca lô noa mạt lô nật
đa, sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, karuṇāmṛḍita
svāhā”).
Kế
đó là ấn của Bi Niệm Bồ Tát (Karuṇāmṛḍita)
. Giống như trước, duỗi tay che tim, gập ngón
giữa chống vào tim là thành ấn.
Xét theo chân ngôn th́ “ca lô noa” (karuṇā, bi) “mạt
lô” (mṛ, giới),
“nật
đa” (ḍita, thượng
niệm). Ư nói: Bổn nguyện của vị này là trừ
hết thảy các khổ, nay hăy nên nghĩ nhớ. Nhưng
danh xưng của vị Bồ Tát này [được dịch]
là Bi Niệm, vẫn chưa trọn hết ư. Ư nghĩa
nơi tên của Ngài là vị Bồ Tát này thuộc vào ḷng
Bi. Như người bị kẻ khác nắm giữ chẳng
được tự tại, vị Bồ Tát này thân tâm
đều thuộc về Bi, do được ḷng Bi duy
tŕ, nên chẳng được tự tại. Lại
như kẻ làm lao dịch cho nhà vua, chẳng được
tự tại, vị Bồ Tát này cũng thế, thường
bị ḷng Bi lôi kéo, chẳng được tự tại.
Do ư nghĩa này, hăy nên nghĩ tới bổn nguyện cứu
hết thảy chúng sanh.
(Kinh)
Như tiền, dĩ Huệ thủ tác Thí Nguyện tướng,
thị Trừ Nhất Thiết Nhiệt Năo ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
hệ phạ ra đà, phạ ra bổ ra bổ đa, sa
ha.
(經)如前,以慧手作施願相,是除一切熱惱印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係嚩囉馱。嚩囉補囉補多。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay Huệ (tay phải) kết Thí
Nguyện ấn, đó là ấn của ngài Trừ Nhất
Thiết Nhiệt Năo. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ phạ ra
đà, phạ ra bổ ra bổ đa, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he varada varaprāpta svāhā”).
Kế đó là ấn của Trừ Nhất Thiết
Nhiệt Năo Bồ Tát (Sarvadāhapraśāmin). Kết Dữ Nguyện Thủ
(tay kết ấn Dữ Nguyện) chính là ấn này, tức
là duỗi tay phải ngửa lên, rủ tay xuống, như
ấn của Bảo Sanh Phật trong Du Già. Xét theo chân ngôn, “hệ” (he,
ư nghĩa như trong phần trên), “phạ
ra
đà”
(varada, ban cho ước nguyện. Do là pháp ĺa nhân nên có thể
thỏa nguyện của hết thảy chúng sanh). “Phạ
ra bổ-ra bổ-đa” (varaprāpta, trước đó
đă đạt được. Nếu chẳng trước
đó đă đạt được sở nguyện, sao
có thể ban cho người khác ư? Do trước đó
điều mong nguyện đă đều vẹn thỏa,
nay nhớ tới bổn nguyện, bèn ban cho hết
thảy chúng sanh, ḥng trừ hết thảy nhiệt năo. V́
cớ sao vậy? Bổn thệ nguyện của tôn giả
là dốc chí cầu Phật đạo, nay Ngài đă đạt
được. V́ thế, phải nên nhớ tới bổn
nguyện, rộng độ hết thảy chúng sanh, khiến
cho họ đều nhập Phật đạo).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Huệ thủ như chấp tŕ Chân
Đà Ma Ni bảo h́nh, thị Bất Tư Nghị Huệ ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, tát phạ a xa bả
lê bổ ra ca, sa ha.
(經)如前,以智慧手如執持真多摩尼寶形,是不思議慧印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。薩嚩阿奢跛梨補囉迦。莎訶。
(Kinh:
Như trên, dùng tay Huệ (tay
phải) làm ra vẻ như
đang cầm nắm báu Chân Đà Ma Ni (Như Ư Bảo Châu).
Đó là ấn của ngài Bất Tư Nghị Huệ. Chân
ngôn của Ngài là: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ a xa bả lê bổ ra
ca, sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, sarvāśāparipūraka
svāhā”).
Kế
đó là ấn của Bất Tư Nghị Huệ Bồ
Tát (Acintyamati).
Dùng tay Thí Vô Úy, các ngón cái và trỏ bấm vào nhau như dáng
vẻ đang cầm châu (bàn tay nên nghiêng như người
khép các ngón tay để nắm lấy châu. Châu hướng
về phía trên. Ngón giữa lại hơi x̣e ra hướng
vào trong, hai ngón kia đều dựng lên). “Tát
phạ a xa” (sarvāśā, hết
thảy các nguyện), “bả
lê bổ ra ca” (paripūraka, thỏa măn, ư nói: Khiến
cho thỏa măn các nguyện thù thắng của hết thảy
chúng sanh, giống như Như Ư Châu).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền,
linh nhị Hỏa luân khai phu, thị Địa Tạng kỳ
ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, ha ha ha, vi sa ma duệ, sa ha.
(經)如前,以定慧手為拳,令二火輪開敷,是地藏旗印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。訶訶訶微娑麼曳。莎訶。
(Kinh: Như
trên, dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền, duỗi
x̣e hai ngón Hỏa luân (ngón giữa); đó là ấn cờ của
đức Địa Tạng. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, ha ha ha, vi sa ma duệ,
sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ha ha ha vismaye svāhā”).
Kế
đó là ấn cờ của Địa Tạng Bồ Tát (Kṣitigarbha).
Trước hết, các ngón tay đan vào nhau để tạo
thành quyền, các ngón gập vào ḷng bàn tay, duỗi hai ngón giữa
dựng lên, khiến cho đầu hai ngón cách nhau khoảng
một tấc là ấn thành (hai ngón cái cũng dựng sát
nhau như thường lệ). Kế Đổ (Ketu)
nghĩa là “cờ”, ấn
này giống như lá cờ vậy. Xét theo chân ngôn, “ha
ha ha”
(ĺa ba cái nhân, ư nghĩa như trong phần trên), “vi
sa-ma duệ”
(vismaye, hy hữu. Hết thảy hữu t́nh thường
khổ năo v́ ngă tưởng. Cắt
đứt sạch ư niệm ấy, ngă tưởng liền
trừ. Đó là điều hy hữu, cũng có nghĩa là
hiếm lạ).
(Kinh)
Huệ thủ
vi quyền, nhi thư tam luân, thị Bảo Xứ ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
hệ ma ha ma ha, sa ha.
(經)慧手為拳而舒三輪,是寶處印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。係摩訶摩訶。莎訶。
(Kinh:
Tay Huệ (tay phải) nắm
thành quyền, duỗi ba ngón, đó là ấn của ngài Bảo
Xứ. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa
ha
-
Namaḥ
samantabuddhānāṃ, he mahāmaha svāhā”).
Kế đó là ấn của Bảo Xứ Bồ Tát (Ratnākara). Tay phải nắm thành quyền
(để ngón cái ra ngoài), liền duỗi các ngón út, áp út, và
ngón giữa dựng lên là thành ấn. “Hệ” (he, ư nghĩa như trong phần
trên như trên), “ma ha ma ha” (mahāmaha, lớn nhất trong các thứ to lớn). Sở dĩ
Ngài có tên là Bảo Xứ, giống như chất báu sanh
trong biển, nên gọi là Bảo Xứ. Như báu ở
trong biển, do biển mà có, cho nên gọi tên như thế.
(Kinh)
Dĩ thử Huệ thủ thư kỳ Thủy luân, thị
Bảo Thủ Bồ Tát ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát nộ ốt
bà phạ, sa ha.
(經)以此慧手舒其水輪,是寶手菩薩印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。囉怛怒嗢婆嚩。莎訶。
(Kinh: Dùng tay Huệ (tay phải) duỗi
ngón Thủy (ngón áp út); đó là ấn của Bảo Thủ Bồ Tát. Chân
ngôn của Ngài là: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát nộ
ốt bà phạ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, ratnodbhava svāhā”).
Kế
đó là ấn của Bảo Thủ Bồ Tát (Ratnapāṇi).
Tay phải nắm thành quyền, dùng ngón cái đè lên các ngón
khác, duỗi thẳng ngón áp út là thành ấn. Xét theo chân ngôn, “ra
đát nộ” (ratno, chất
báu), “ốt
bà phạ”
(odbhava, sanh ra, [hàm ư] “chất
báu phát xuất từ tay”. Ư
nói: Thánh giả sanh từ chất báu, từ chất báu ǵ
mà sanh? Chính là từ báu Bồ Đề tâm mà sanh).
(Kinh)
Dĩ Định Huệ thủ tác phản tương xoa
hiệp chưởng, Định thủ Không luân, Huệ
thủ Địa luân tương giao, Bát Nhă ư tam-muội
diệc phục như thị. Dư như bạt-chiết-la
trạng, thị Tŕ Địa ấn. Bỉ chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đạt ra
ni đạt ra, sa ha.
(經)以定慧手作返相叉合掌,定手空輪、慧手地輪相交,般若於三昧亦復如是,餘如跋折羅狀,是持地印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。達囉尼達囉。莎訶。
(Kinh:
Chắp hai tay Định và Huệ đâu lưng, các ngón
chéo nhau, ngón Không (ngón cái) của tay Định (tay trái) và
ngón Địa (ngón út) của tay Huệ (tay phải) giao
nhau, tay Bát Nhă (tay phải) đối với tay tam-muội
(tay trái) cũng giống như thế. Các ngón khác như
h́nh chày kim cang. Đó là ấn của ngài Tŕ Địa. Chân
ngôn của Ngài là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, đạt ra ni đạt ra, sa
ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, dharaṇiṃdhara svāhā).
Kế
đó là ấn của ngài Tŕ Địa (Dharaṇiṃdhara). Đâu hai
lưng bàn tay, các ngón chéo nhau, tay phải ngửa, tay trái úp,
đầu các ngón đè lên nhau, tức là ngón cái và ngón út áp
vào nhau (tức là ngón cái và ngón út của tay trái hướng
lên trên, ngón cái và ngón út của tay phải hướng xuống
dưới, đè lên tương ứng, tức là ngón cái của
tay phải đè lên ngón út của tay trái, ngón út của tay phải
đè lên ngón cái của tay trái). Xét theo chân ngôn, “đạt
ra ni” (dharaṇiṃ là đất. Do đất có thể ǵn giữ hết thảy các vật, nên gọi
tên như thế), “đạt ra”
(dhara là “tŕ’ (nắm giữ,
duy tŕ). Tŕ địa vị của chư Phật,
gánh vác chúng sanh, nên coi như là đất, cũng khiến
cho chúng sanh đều đạt được địa
vị ấy mà gọi tên như thế).
(Kinh)
Như tiền, tác ngũ cổ kim cang kích h́nh, thị Bảo
Ấn Thủ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, ra đát na niết thệ
đa, sa ha.
(經)如前,作五股金剛戟形,是寶印手印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。囉怛娜涅誓多。莎訶。
(Kinh:
Như trên, tạo thành h́nh kim cang kích năm nhánh, đó là ấn
của ngài Bảo Ấn Thủ. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát na niết
thệ đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
ratnanirjāta svāhā”).
Kế
đó là ấn của Bảo Ấn Thủ Bồ Tát (Ratnamudrāhasta).
Trước hết, hai tay đan vào nhau tạo thành quyền,
các ngón hướng ra ngoài. Duỗi hai ngón giữa sao cho
đầu ngón đều dựng lên. Kế đó, duỗi
ngón trỏ và ngón cái, cong hai ngón trỏ hướng về
lưng hai ngón giữa, nhưng đừng cho chạm vào
lưng ngón giữa, tạo thành h́nh dạng như chày kim
cang năm nhánh th́ ấn thành. Xét theo chân ngôn, “ra
đát na” (ratna,
báu), “niết
thệ đa” (nirjāta, sanh.
[Ư nói]: Từ chất báu của chư Như Lai mà sanh).
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn,
linh nhất thiết luân tướng hợp. Thị
Phát Kiên Cố Ư ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, bạt chiết ra tam bà phạ,
sa ha.
(經)即以此印令一切輪相合,是發堅固意印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。伐折囉三婆嚩。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấn ấy, sao cho hết thảy các ngón đều
hợp lại. Đó là ấn của ngài Phát Kiên Cố Ư.
Chân ngôn của Ngài là: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, bạt chiết ra tam
bà phạ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
vajrasaṃbhava svāhā”).
Kế
đó là ấn của Kiên Cố Ư Bồ Tát (Dṛḍhādhyāśaya). [Kết ấn] như h́nh [chày kim cang] năm nhánh trong phần trước, khiến cho các đầu ngón tay
đều chạm nhau th́ ấn thành. Xét theo chân
ngôn, “bạt
chiết ra tam bà phạ” (vajra-saṃbhava, sanh từ kim
cang, cũng từ trí ấn kim cang bất khả phá hoại
mà sanh, cho nên gọi tên như thế).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ nhị thủ tác
Đao, thị Hư Không Vô Cấu Bồ Tát ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
già già na a nan đa, ngu giả ra, sa ha.
(經)如前,以定慧二手作刀,是虛空無垢菩薩印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。伽伽娜阿難多愚者囉。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, dùng hai tay Định và Huệ làm
Đao, đó là ấn của Hư Không Vô Cấu Bồ
Tát. Chân ngôn của Ngài là: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, già già na a nan đa,
ngu giả ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
gaganā-nantagocara svāhā”).
Kế
đó là ấn của Hư Không Vô Cấu Bồ Tát (Gaganāmala).
Làm Tam-bổ-trá (hư tâm hiệp chưởng), dùng đầu
hai ngón trỏ bấm vào nhau, khiến cho chụm lại là
được (giống như Như Lai Đao Ấn). Xét
theo chân ngôn, “già
già na”
(gagana, hư không), “a nan
đa”
(ananta, vô lượng), “ngu giả
ra”
(gocara, hạnh. [Ư nói]: Vô lượng hạnh giống
như hư không, nên [Bồ Tát] có tên gọi như thế).
(Kinh)
Như tiền Chuyển ấn, thị Hư Không Huệ ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, chước cật ra phạ lạt để, sa
ha.
(經)如前,輪印,是虛空慧印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。斫吃囉嚩喇底。莎訶。
(Kinh:
Giống như ấn Chuyển [Pháp Luân] trong phần
trước, đó là ấn của ngài Hư Không Huệ.
Chân ngôn của Ngài là: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, chước cật
ra phạ lạt để, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, cakravarti svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Hư Không Huệ (Gaganamati), giống như ấn
Chuyển Pháp Luân trong phần trước. Xét theo chân ngôn, “chước
cật-ra”
(cakra, luân), “phạ
lạt-để” (varti, chuyển). Ư
nói: Thánh giả do trước đó đă đắc pháp
luân
này, nguyện v́ hết thảy chúng sanh
nên chuyển pháp luân này.
(Kinh)
Như tiền Thương Khư Ấn, thị Thanh Tịnh
Huệ ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, đạt ma tam bà phạ, sa ha.
(經)如前,商佉印,是清淨慧印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。達磨三婆嚩。莎訶。
(Kinh: Giống
như ấn Thương Khư
(ấn của ngài Kim Cang Tỏa)
trong phần trước, đó là ấn của ngài Thanh Tịnh
Huệ. Chân ngôn của Ngài
là:
“Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
đạt ma tam bà phạ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, dharmasaṃbhava svāhā”).
Kế
đó là ấn của Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát (Viśuddhamati). Kết Tam-bổ-trá,
cùng gập hai ngón cái vào ḷng bàn tay, dùng hai ngón trỏ đè
trên lưng [hai ngón cái] (ngón trỏ cong thành h́nh khuyên, sao cho
móng tay hướng về nhau là được). “Đạt
ma”
(dharma, pháp), “tam
bà phạ” (saṃbhava, sanh).
Ư nói: Bồ Tát đạt được tự tại giống
như cảnh giới Phật, từ pháp mà sanh, nên gọi
là Pháp Sanh, tức là sanh từ pháp thanh
tịnh trong tự tánh vậy.
(Kinh)
Như tiền Liên Hoa ấn, thị Hạnh Huệ ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà
nẫm, bát đàm ma a lại da, sa ha.
(經)如前,蓮華印,是行慧印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。鉢曇摩阿賴耶。莎訶。
(Kinh:
Như Liên Hoa ấn trong phần trước; đó là ấn
của ngài Hạnh Huệ. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, bát đàm ma a lại
da, sa ha
-
Namaḥ
samantabuddhānāṃ, padmālaya svāhā”).
Kế
đó là ấn của Hạnh Huệ Bồ Tát (Cāritramati), giống như Liên Hoa
ấn của đức Quán Âm (ngón út và ngón cái bấm vào nhau, sáu
ngón kia [như cánh sen x̣e nở]). Xét theo chân
ngôn, “bát
đàm ma” (padma, hoa sen),
“a lại
da”
(alaya, tạng. Tức là Bồ Đề tâm. Từ thai tạng
mà sanh ra).
(Kinh)
Đồng tiền, thanh liên hoa ấn nhi sảo khai phu, thị
An Trụ Huệ ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, nhă na ốt bà phạ, sa ha.
(經)同前,青蓮華印而稍開敷,是安住慧印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。若那嗢婆嚩。莎訶。
(Kinh: Giống ấn
hoa sen xanh trong phần trước, nhưng hơi nở to
hơn. Đó là ấn của ngài An Trụ Huệ. Chân ngôn
của Ngài là: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, nhă na ốt bà phạ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, jñānodbhava svāhā”).
Kế
đó là An Huệ Bồ Tát (Sthiramati, hoặc c̣n dịch là
Trụ Huệ, cần phải tra cứu thêm). Hai tay đan
các ngón vào nhau, tạo
thành quyền, sao cho các ngón đều gập vào ḷng bàn tay.
Duỗi hai ngón trỏ dựng lên, sao cho đầu ngón cách
nhau đôi chút, đừng chạm nhau là thành ấn (hai
ngón cái cũng dựng sát nhau). Ấn này tương tự ấn
của Đa La Bồ Tát, nhưng tách ra ít hơn (đó là
chỗ khác với ấn trước). Xét theo chân ngôn, “nhă
na” (jñāno, trí),
“ốt
bà phạ”
(odbhava, sanh. [Hàm ư]: Từ
trí mà sanh).
(Kinh)
Như tiền, dĩ nhị thủ tương hợp, nhi
khuất Thủy luân tương giao, nhập ư chưởng
trung, nhị Hỏa luân, Địa luân hướng thượng,
tương tŕ, nhi thư Phong luân khuất đệ tam tiết,
linh bất tương trước, do như khoáng mạch. Thị
Chấp Kim Cang ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa phạt chiết ra nạn, chiến đồ, ma ha
lô sắt noa, hồng.
(經)如前,以二手相合,而屈水輪相交入於掌中,二火輪地輪向上相持,而舒風輪屈第三節令不相著猶如穬麥,是執金剛印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。戰荼摩訶盧瑟拏吽。
(Kinh:
Như trên, hai tay hợp lại, cong ngón Thủy (áp út) chéo
nhau, gập vào ḷng bàn tay, hai ngón Địa (út) và Hỏa (giữa)
hướng lên trên, chạm nhau, duỗi hai ngón Phong (trỏ),
cong đốt thứ ba, nhưng đầu chúng chẳng
chạm nhau, mà cách nhau chừng một hạt lúa mạch.
Đó là ấn của ngài Chấp Kim Cang. Chân ngôn của
Ngài là: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn,
chiến đồ, ma ha lô sắt noa, hồng - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, caṇḍamahāroṣaṇa
hūṃ).
Kế
đó là Chấp Kim Cang (Vajradhara). Giống như ấn
Ngũ Cổ trong phần trước, hai ngón trỏ cách
đốt trên của ngón giữa chừng một hạt
lúa mạch là được. Xét theo chân ngôn, “chiến
đồ”
(caṇḍa. Chữ
Chiến có âm Giá (Ca) có nghĩa là sanh tử, ư nói “ĺa sanh tử”.
Trên đó, có một cái chấm Đại
Không, ngụ ư: Sanh tử giống như Đại
Không. “Đồ” có nghĩa là kẻ đối địch.
Ví như ĺa sanh tử, bằng với Đại Không; do vậy, chẳng ai có thể
đối địch. Hiểu theo ư nghĩa của cả
câu th́ Chiến Đồ là “bạo ác”). “Ma
ha lô sắt noa” (mahāroṣaṇa, đại phẫn
nộ. Như trên đă nói, không ai có thể đối
địch, cho nên phẫn nộ). “Hồng” (hūṃ, đọc âm dài, có cùng ư
nghĩa với ba món giải thoát trong phần trên). Dùng pháp
như trên để khiến cho chúng sanh sợ hăi, ĺa sanh tử, đạt
được ba môn giải thoát.
(Kinh)
Như tiền ấn, dĩ nhị Không luân, Địa luân
khuất nhập chưởng trung. Thị
Mang Măng Kê ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa phạt chiết ra nạn, đát lật trá, đát lật
trá, nhă diễn để, sa ha.
(經)如前印,以二空輪地輪屈入掌中,是忙莽雞印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。怛㗚吒怛㗚吒。若衍底。莎訶。
(Kinh: Như ấn
trước, dùng hai ngón Không (cái) và Địa (út) gập
vào ḷng bàn tay. Đó là ấn của ngài Mang Măng Kê. Chân ngôn của
Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, đát lật
trá, đát lật trá, nhă diễn để, sa ha - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, triṭ triṭ jayanti
svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Mang Măng Kê (Māmakī). Giống như Ngũ
Cổ Kim Cang (chày kim cang năm nhánh) trong phần trước, hai ngón cái
và hai ngón út đều gập vào ḷng bàn tay, cũng là phải
đè lên trái. Các ngón đan nhau gập vào ḷng bàn tay giống như
trước, nhưng các ngón giữa và trỏ tạo thành
h́nh kim cang (vị này là Kim Cang Mẫu). “Đát
lật trá đát lật trá” (triṭ triṭ, trong ấy có nhiều
âm, tức là b́nh đẳng giống
như lư Như Như. Đó là tam-muội, là ĺa ngă mạn.
Trụ trong Như Như ấy, tất cả ngă mạn
tự nhiên chẳng có. Lại nói thêm, từ ngữ này hàm
nghĩa “tối cực”). “Nhă
diễn để” (Jayanti, thù thắng, ư nói: Dùng pháp
Như Như vô ngă để hàng phục
hết thảy các chướng nạn, khiến cho chúng
kinh hoảng mà hàng phục, tức là ư nghĩa “chiến
thắng” vậy).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ chư luân
phản xoa, tương củ hướng ư tự thể
nhi toàn chuyển chi, Bát Nhă không luân gia tam-muội Hư luân,
thị Kim Cang Tỏa ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma
tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hồng bạn
đà bạn đà, mẫu trá dă, mẫu đà dă, phạt
chiết rô đà phệ. Tát phạ đát ra bát ra đê
ha đê,
sa ha.
(經)如前,以定慧手諸輪返叉,相糺向於自體而旋轉之,般若空輪加三昧虛輪,是金剛鎖印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。吽畔陀畔陀。母吒也母陀也。伐折嚕馱吠。薩嚩怛囉鉢囉低訶低。莎訶。
(Kinh: Giống
như trên, đan chéo các ngón của tay Định và Huệ
ngược lưng nhau, hướng vào thân ḿnh mà xoay chuyển,
[sao cho] ngón Không (ngón cái) của tay Bát Nhă (tay phải) đè
lên ngón Hư
Không (ngón cái) của
tay tam-muội (tay trái). Đấy là ấn của ngài Kim
Cang Tỏa. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hồng bạn
đà bạn đà, mẫu trá dă, mẫu đà dă, phạt
chiết rô đà phệ. Tát phạ đát ra bát ra đê ha đê, sa ha - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, hūṃ bandha bandha moṭaya
moṭaya vajrodbhave sarvatrāpratihate svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Kim Cang Thương Khư La (Vajraśṛṅkhalā),
tức là Kim Cang Liên Tỏa (dây xích kim cang, tức dây xích trí
huệ). Giống như trên, kết Chuyển Pháp Luân ấn,
dùng các ngón út, áp út, giữa và trỏ móc vào nhau, rồi hướng xuống dưới
xoay tṛn, hướng vào trong mà chuyển. Kế đó, đặt trước
ngực, khiến cho hai ngón trỏ hướng ra ngoài, hai
ngón cái cũng là phải đè lên trái, móc vào nhau. Xét theo chân ngôn, “Hồng” (hūṃ, đọc ba lần, ư
nghĩa như trên), “bạn
đà bạn đà” (bandha
bandha là trói. Ư nói: Hai
thứ trói buộc, tức là phiền năo phược và sở
tri phược). “Mẫu
trá dă mẫu đà dă” (moṭaya moṭaya, như
tráng sĩ bắt trói kẻ không có sức, thít chặt tới
cổ, khiến cho thân phần [kẻ đó] bị phá hoại.
[Chân ngôn này] khiến cho hai thứ chướng vỡ nát
cũng giống như thế. Do vậy,
dùng đó làm ư nghĩa). “Phạt
chiết-rô” (vajro, kim cang).
“Đà
phệ” (dbhave, sanh. Từ trí huệ mà sanh
ra). “Tát phạ đát-ra” (sarvatrā, hết thảy các xứ),
“bát-ra đê ha đê” (pratihate, chẳng ai có thể hại
được).
(Kinh)
Dĩ thử Kim Cang Tỏa ấn, thiểu khuất Hư
Không
luân dĩ tŕ Phong luân, nhi bất tương chí, thị Phẫn
Nộ Nguyệt Yển ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam
ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hiệt rị,
hồng phán trá, sa ha.
(經)以此金剛鎖印,少屈虛空輪以持風輪而不相至,是忿怒月黶印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。頡唎。吽泮吒。莎訶。
(Kinh:
Dùng ấn Kim Cang Tỏa ấy, hơi gập ngón hư
không (ngón cái) để nắm lấy ngón phong luân (ngón trỏ)
nhưng không chạm vào nhau;
đó là ấn của ngài Phẫn Nộ Nguyệt Yển.
Chân ngôn của Ngài là: “Nam ma
tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hiệt rị,
hồng phán trá, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ,
hrīḥ hūṃ phaṭ svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Kim Cang Nguyệt Yển Phẫn Nộ
(Krodhacandratilaka).
Vị Kim Cang này sanh từ tướng bạch hào trên trán
đức Phật; do vậy,
có tên như thế. Hào tướng sáng sạch, ví như trăng
tṛn. V́ thế, hiệu là Nguyệt Yển. [Ấn của Nguyệt Yển Phẫn
Nộ Kim Cang] giống như ấn “chày
kim cang năm nhánh” trong phần trước: Cong hai ngón trỏ
như cái móc, bấm
lấy hai ngón cái, khiến cho hơi cong, nhưng chẳng
chạm vào nhau là được (hơi khác với ấn
trước đó). “Hiệt-rị”
(hrīḥ, ĺa cái nhân
vô cấu, bên cạnh có chấm, nghĩa là “cực phẫn
nộ”). “Hồng” (hūṃ, tương xứng với ba ư nghĩa),
“phán
trá” (phaṭ, trừ khử tột bậc).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền,
kiến lập nhị Phong luân nhi dĩ tương tŕ, thị
Kim Cang Châm ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa phạt chiết ra nạn, tát bà đạt ma, niết
bệ đạt nễ, phạt chiết ra tố chỉ,
phạ ra đề, sa ha.
(經)如前,以定慧手為拳,建立二風輪而以相持,是金剛針印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。薩婆達磨涅鞞達儞。伐折囉素旨嚩囉提。莎訶。
(Kinh:
Giống như trên, tay Định và Huệ nắm thành quyền,
dựng hai ngón Phong (trỏ) chống vào nhau; đó là ấn của
ngài Kim Cang Châm. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, tát bà đạt
ma, niết bệ đạt nễ, phạt chiết ra tố
chỉ, phạ ra đề, sa ha - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, sarva-dharmanirvedhani vajrasūci
varade svāhā”).
Kế
đến là ấn của ngài Kim Cang Châm (Vajrasūcī), hai tay đan chéo vào
nhau, các ngón gập vào ḷng bàn tay. Dựng hai ngón trỏ sao
cho đầu của
chúng chạm nhau như
h́nh cái kim. Hai ngón cái cùng gập vào ḷng bàn tay. Xét theo chân
ngôn, “tát
bà đạt ma” (sarvadharma, hết
thảy các pháp). “Niết
bệ đạt nễ” (nirvedhani, xuyên qua. [Hàm ư]: Dùng kim cang huệ
châm xuyên suốt hết thảy các pháp), “phạt
chiết-ra tố chỉ” (vajrasūci, Kim Cang Châm. Dùng vật ǵ
để xuyên thấu? Tức là dùng kim cang trí châm). “Phạ
la đề”
(varade, ban cho ước nguyện. Do nguyện lực
trước kia, nên nay đạt được nguyện
này, cũng sẽ khiến cho hết thảy chúng sanh đều
thấu đạt các nguồn pháp).
(Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ
thủ vi quyền, nhi trí ư tâm. Thị Kim Cang Quyền ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết
ra nạn. Tát phổ trá dă, phạt chiết ra tam bà phệ,
sa ha.
(經)如前,以定慧手為拳而置於心,是金剛拳印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。薩普吒也伐折囉三婆吠。莎訶。
(Kinh:
Như trên, dùng tay Định và Huệ làm thành quyền,
đặt nơi tim. Đó là ấn Kim Cang Quyền. Chân
ngôn ấy là: “Nam ma tam mạn đa phạt chiết
ra nạn. Tát phổ trá dă, phạt chiết ra tam bà phệ,
sa ha - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, sphoṭaya vajrasaṃbhave
svāhā”).
Kế
đó là ấn của ngài Kim Cang Địa Phủng (Vajramuṣṭi). Hai
tay đan ngón vào nhau, nắm thành quyền, sao cho các ngón gập
vào ḷng bàn tay. Hai ngón cái đều dựng lên phía ngoài quyền, nâng hai khủy tay hơi cao như
h́nh cái chùy (nâng hướng về bên phải, như dáng vẻ
giận dữ muốn đánh). Xét trong chân ngôn, “tát-phổ trá dă” (sphoṭaya, tan tác. Dùng kim cang huệ
chùy đập vỡ tam độc, khiến cho nó tan nát,
phá hoại). “Tam bà phệ” (saṃbhave, sanh. Ai có thể làm chuyện
này? Chính là người từ kim cang mà sanh, sẽ có thể
làm chuyện này).
(Kinh)
Dĩ tam-muội thủ vi quyền, cử dực khai phu,
trí huệ thủ diệc tác quyền, nhi thư Phong luân
như phẫn nộ tướng nghĩ h́nh. Thị
Vô Năng Thắng ấn.
Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa phạt chiết ra nạn. Đỗ đạt lư
sa, ma ha rô sắt noa, khư đà da, tát văm
đát tha nghiệt đa a duệ nhiên câu lô, sa ha.
(經)以三昧手為拳,舉翼開敷,智慧手亦作拳,而舒風輪如忿怒相擬形,是無能勝印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。杜達里沙摩訶嚧瑟拏。佉陀耶薩鑁怛他蘗多阿曳然俱盧。莎訶。
(Kinh: Dùng tay
tam-muội (tay trái) nắm thành quyền, nâng cánh tay. Tay trí
huệ (tay phải) cũng nắm thành quyền, duỗi
ngón Phong (ngón trỏ) như dáng vẻ phẫn nộ. Đó
là ấn của ngài Vô Năng Thắng. Chân ngôn của Ngài
là: “Nam
ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Đỗ
đạt lư sa, ma ha rô sắt noa, khư đà da, tát văm đát
tha nghiệt đa a duệ nhiên câu lô, sa ha - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, durdharṣa mahāroṣaṇa
khādaya sarvāṃ tathāgatājñāṃ kuru
svāhā”).
Kế đó là ấn của ngài Nan Thắng Kim Cang
(tức Vô Năng Thắng - Aparājita).
Tay phải nắm thành quyền, dựng ngón trỏ đặt
nơi tim, tay trái kết thành quyền (đều là ngón cái
nắm ngoài quyền), duỗi thẳng cánh tay, khiến cho
quyền hơi cao ngang với đầu. Do hết thảy
các ma chẳng thể nhiễu loạn, chẳng thể thắng
được, nên gọi tên như thế. Xét theo chân ngôn,
“đỗ
đạt lư sa” (durdharṣa, trừ nạn, hàng phục),
“ma
ha rô
sắt noa” (mahāroṣaṇa, đại phẫn
nộ. Dùng pháp ǵ để hàng phục lũ ma? Do
có đại phẫn nộ). “Khư
đà da” (khādaya, ăn, [ư nói] nuốt hết
thảy các chướng kết phiền năo), “tát văm đát tha nghiệt đa a duệ-nhiên” (sarvāṃ- tathāgatājñāṃ, giáo pháp của hết thảy
Như Lai), “câu lô” (kuru, vâng theo. Tức là vâng theo lời dạy
của hết thảy các đức Như Lai, sẽ thuận
theo lời giáo sắc mà làm).
(Kinh)
Dĩ Định Huệ thủ vi quyền, tác tương
kích thế tŕ chi. Thị A Tỳ Mục Khư ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra
nạn. Hệ a tỳ mục khư,
ma ha bát ra chiến đồ. Khư đà dă, khẩn chỉ
ra duệ tế. Tam-muội da ma nô tát mạt ra, sa ha.
(經)以定慧手為拳,作相擊勢持之,是阿毘目佉印。彼真言曰:南麼三曼多伐折囉𧹞。係阿毘目佉摩訶鉢囉戰荼。佉馱也緊旨囉拽細。三昧耶摩奴薩末囉。莎訶。
(Kinh:
Dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền, giơ lên
như vẻ sắp đánh. Đó là ấn của ngài A Tỳ
Mục Khư. Chân ngôn của Ngài là: “Nam
ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Hệ a tỳ
mục khư,
ma ha bát ra chiến đồ. Khư đà dă, khẩn chỉ
ra duệ tế. Tam-muội da ma nô tát mạt ra, sa ha - Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, he abhimukha mahāpracaṇḍa
khādaya kiṃ cirāyasi samayam anusmara svāhā”).
Kế
đó là Tương Hướng Kim Cang (A Tỳ Mục
Khư, Abhimukha).
Do vị này đối diện với Nan Thắng và cùng
canh cửa, nên gọi tên như vậy. Ấn này giống
như trước
(chỉ đổi phải thành trái mà
thôi!) “Hệ”
(He, ư nghĩa như trong phần trước), “a
tỳ mục khư” (abhimukha, đối diện nhau), “ma ha
bát
ra chiến đồ” (mahāpracaṇḍa, cực
đại bạo ác), “khư
đà da” (khādaya, ăn), “khẩn chỉ ra duệ
tế” (kiṃ cirāyasi, sao không nhanh chóng?), “tam-muội
da”
(samayam, bản thệ), “ma nô
tát-mạt ra”
(anusmara, nghĩ nhớ. Vốn đối trước hết thảy Như
Lai, lập tam-muội-da thệ, ăn hết thảy phiền
năo, nay sao chẳng nhớ bổn nguyện để nhanh
chóng thực hiện?)
(Kinh)
Như tiền, tŕ bát tướng, thị Thích Ca bát ấn. Bỉ
chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
tát phạ cát lệ thước niết tô đạt nễ,
tát phạ đạt ma phạ thỉ đa bát ra bát để,
già già na tam mê, sa ha.
(經)如前,持鉢相,是釋迦鉢印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。薩嚩吉隷鑠涅蘇達儞。薩嚩達摩嚩始多鉢囉鉢底。伽伽那三迷。莎訶。
(Kinh:
Tướng cầm bát như trong phần trước,
đó là ấn bát của Phật Thích Ca. Chân ngôn ấy là: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ
cát lệ thước niết tô đạt nễ, tát phạ
đạt ma phạ thỉ
đa bát ra bát để,
già già na tam mê, sa ha. Namaḥ samantabuddhānāṃ
sarvakleśaniṣūdana sarvadharmavaśitāprāpta
gaganasame, svāhā”).
Kế
đó, ấn bát của Phật giống như trong phần
trước, tức là ấn bát của Phật Thích Ca. Xét
theo chân ngôn, “tát
phạ cát-lệ thước” (sarvakleśa, hết thảy phiền
năo), “niết
tô đạt nễ” (niṣūdana, đào bới, giống
như cuốc bén bổ thẳng xuống đào bới triệt
để), “tát phạ đạt ma” (sarvadharma, hết thảy các pháp), “phạ thỉ đa bát-ra
bát-để” (vaśitāprāpta, đạt
được, tức là được tự tại
trong các pháp), “già già na
tam mê” (gaganasame, bằng với hư không.
Do được tự tại trong các pháp nên bằng với
hư không, dùng pháp ấy để đào bỏ phiền
năo).
(Kinh) Thích Ca hào tướng ấn, như
thượng, hựu dĩ Huệ thủ chỉ phong tụ
trí đảnh thượng. Thị Nhất Thiết Phật Đảnh ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, văm văm, hồng hồng hồng, phát trá, sa ha.
(經)釋迦毫相印。如上,又以慧手指峯聚置頂上,是一切佛頂印。彼真言曰:南麼三曼多勃馱喃。鑁鑁。吽吽吽。發吒。莎訶。
(Kinh:
Ấn tướng bạch hào của Phật Thích Ca,
như trong phần trước, chụm đầu các ngón
của tay Huệ (tay
phải), đặt trên
đỉnh đầu. Đó là ấn Nhất Thiết Phật
Đảnh. Chân ngôn ấy là: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, văm văm, hồng
hồng hồng, phát trá, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, vaṃ vaṃ hūṃ hūṃ
hūṃ phaṭ svāhā”).
Kế
đó, giống như ấn Hào Tướng trong phần
trước; đấy chính là ấn hào tướng của
Phật Thích Ca. Kế đó, dùng năm ngón tay bên phải chụm
lại, đặt trên đỉnh đầu, đấy
chính là ấn Nhất Thiết Phật Đảnh. Xét trong
chân ngôn, “văm văm” (vaṃ vaṃ,
chữ Văm đọc âm Phạ,
nghĩa là “khiến cho các trói buộc do Phiền Năo Chướng
và Sở Tri Chướng đều như hư không”). “Hồng
hồng hồng” (ĺa ba cái nhân, đắc
Tam Không, chứng tam-muội).
(Kinh)
Dĩ tam-muội thủ vi quyền, thư Hỏa, Phong
luân, nhi dĩ Hư Không
gia Địa, Thủy luân thượng. Kỳ trí huệ
thủ thân Phong, Hỏa luân nhập tam-muội chưởng
trung, diệc dĩ Hư
Không
gia Địa,
Thủy,
Hỏa
luân thượng như tại đao tiêu, thị Bất
Động Tôn ấn. Như tiền, Kim Cang huệ ấn,
thị Hàng Tam Thế ấn.
(經)以三昧手為拳舒火風輪,而以虛空加地水輪上,其智慧手申風火輪入三昧掌中,亦以虛空加地水輪上如在刀鞘,是不動尊印。如前,金剛慧印,是降三世印。
(Kinh:
Dùng tay tam-muội (tay trái) nắm thành quyền, duỗi ngón
Hỏa (giữa) và Phong (trỏ), dùng ngón Hư Không (ngón cái) đè
lên ngón Địa (út) và Thủy (áp út). Tay trí huệ (tay phải)
th́ duỗi ngón Phong và Hỏa gập vào ḷng bàn tay tam-muội,
cũng dùng ngón Hư
Không đè lên các ngón Địa,
Thủy, Hỏa như ở trong
vỏ đao. Đó là ấn
của ngài Bất Động. Giống
như Kim Cang huệ ấn trong phần trên th́ là ấn của ngài Hàng
Tam Thế).
Kế
đó, tay trái nắm thành quyền, duỗi các ngón trỏ và
giữa, dùng ngón cái đè lên móng của các ngón út và áp út. Tay
phải cũng làm như thế để tạo thành
đao, nhét vào trong vỏ đao. Đấy chính là ấn của
ngài Bất Động. Ấn của ngài Hàng Tam Thế th́
giống như ngũ cổ
kim cang ấn (ấn thành h́nh chày kim cang năm nhánh).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ hợp vi
nhất tướng, kỳ Địa, Thủy luân giai
hướng hạ, nhi thân Hỏa luân nhị phong
tương liên, khuất nhị Phong luân trí ư đệ
tam tiết thượng, tịnh Hư Không luân như tam mục
h́nh. Thị vi Như Lai Đảnh
ấn, Phật Bồ Tát mẫu.
(經)如前,以定慧手合為一相,其地水輪皆向下,而申火輪二峯相連,屈二風輪置於第三節上,並虛空輪如三目形。是為如來頂印佛菩薩母。
(Kinh: Giống
như trên, dùng tay Định và Huệ hợp thành một
tướng (tức là chắp hai tay lại), các ngón Địa
(út) và Thủy (áp út) đều hướng xuống dưới,
duỗi cho đầu
hai ngón Hỏa (giữa) nối nhau, gập đốt thứ
ba của ngón Phong (trỏ) cho chạm ngón Hư Không như
h́nh ba con mắt. Đó là Như Lai đảnh ấn, [hoặc
c̣n gọi là] Phật Bồ Tát Mẫu Ấn).
Kế
đó là Phật Nhăn Ấn. Kết Tam-bổ-trá (hư tâm hiệp
chưởng), cùng gập hai ngón út và áp út vào ḷng bàn tay, dựng
hai ngón giữa như cái kim, hai ngón trỏ gập xuống
bấm vào đốt thứ ba của ngón giữa, giống
như h́nh con mắt. Hai ngón cái hơi cong, sao cho chúng ở
phía dưới ngón giữa, khiến cho đầu ngón khum
khum giống như h́nh con mắt. Đấy là tam-muội.
Các ngón út và áp út xếp giống như
kiểu “hướng
nội hiệp chưởng”
(chắp tay sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay) như trong phần
trước [đă nói]. Trên đây là Phật Đảnh Ấn,
cũng gọi là Phật Bồ Tát Mẫu Ấn.
(Kinh)
Phục dĩ tam-muội thủ phú nhi thư chi, huệ thủ
vi quyền,
nhi cử Phong luân do như cái h́nh. Thị Bạch Tán Phật
Đảnh Ấn.
(經)復以三昧手覆而舒之,慧手為拳而舉風輪猶如蓋形,是白傘佛頂印。
(Kinh:
Lại dùng tay tam-muội (tay trái) che lên trên mà duỗi ra. Tay
huệ (tay phải) nắm thành quyền, ngón Phong (trỏ) dựng
lên, tạo thành [h́nh dạng] như cái dù. Đó là ấn của
ngài Bạch Tán Phật Đảnh).
Kế
đó là ấn của ngài Bạch Tán Phật Đảnh (Sitātapatroṣṇīṣa).
Duỗi tay trái, khiến cho các ngón cách nhau khoảng một
tấc, coi đó là phần dù. Tay phải nắm thành quyền,
dựng ngón trỏ làm cán dù. Dùng cán chống vào ḷng bàn tay
trái là thành ấn (hễ nói “nắm thành quyền”
đều là ngón cái ở ngoài các ngón kia, các ấn khác đều
phỏng theo lệ này). Chân ngôn giống như trong phần
trên.
(Kinh)
Như tiền, đao ấn, thị Thắng Phật Đảnh
ấn.
(經)如前,刀印,是勝佛頂印。
(Kinh: Giống
như Đao Ấn trong phần trước, đó là ấn
của ngài Thắng Phật Đảnh).
Kế
đó, kết ấn của ngài Thắng Phật Đảnh
(Jayoṣṇīṣa),
giống như Đao Ấn trong phần trước. Tức
là kết Tam-bổ-trá (hư tâm hiệp
chưởng), ngón giữa dựng
lên, chụm vào nhau, ngón
trỏ và cái bấm vào nhau là thành ấn.
(Kinh)
Như tiền Luân ấn, thị Tối Thắng Phật
Đảnh ấn.
(經)如前,輪印,是最勝佛頂印。
(Kinh:
Giống như Luân ấn trong phần trên, đó là ấn của
ngài Tối Thắng Phật Đảnh).
Kế
đó là ấn của Tối Thắng Phật Đảnh (Vijayoṣṇīṣa),
giống như ấn Chuyển Pháp Luân trong phần trước.
(Kinh)
Như tiền Câu Ấn, Huệ thủ vi quyền, cử
kỳ Phong luân nhi thiểu khuất chi. Thị
Trừ Nghiệp Phật Đảnh ấn.
(經)如前鉤印,慧手為拳舉其風輪而少屈之,是除業佛頂印。
(Kinh: Giống
như Câu Ấn trong phần trước, tay Huệ nắm
thành quyền, dựng ngón Phong lên,
nhưng hơi cong. Đó là ấn của Trừ Nghiệp
Phật Đảnh).
Kế
đó là ấn của Trừ Nghiệp Phật Đảnh
(Vikiraṇoṣṇīṣa),
giống như Câu Ấn trong phần trước. Tức
là chắp hai tay,
sao cho các ngón đan vào nhau trong ḷng bàn tay, cong ngón trỏ
trong tay phải như h́nh cái móc câu.
Hai ngón cái chéo nhau,
sao cho phải đè lên trái. Nay chỉ
có một tay, tức là tay phải nắm thành quyền, dựng
ngón trỏ, hơi cong đốt trên cùng của ngón trỏ.
(Kinh)
Như tiền Phật Đảnh ấn, thị Hỏa Tụ
Phật Đảnh ấn.
(經)如前佛頂印,是火聚佛頂印。
(Kinh:
Giống như ấn Phật Đảnh
trong phần trước th́ là ấn của ngài Hỏa Tụ
Phật Đảnh).
Kế
đến là ấn của ngài Hỏa
Tụ Phật Đảnh (Tejorāśyuṣṇīṣa), giống như ấn
Phật Đảnh trong phần trước.
(Kinh)
Như tiền Liên Hoa Ấn,
thị Phát Sanh Phật Đảnh ấn.
(經)如前蓮華印,是發生佛頂印。
(Kinh:
Giống như ấn Liên Hoa trong phần trước th́ là
ấn của ngài Phát Sanh Phật Đảnh).
Ấn
của ngài Quảng Sanh Phật Đảnh
(Abhyudgatosnīsa, chánh kinh không đề cập vị này) giống
như ấn ngũ cổ kim cang trong phần trước.
Kế đó là ấn của ngài Phát Sanh Phật Đảnh
(Abhyudgatoṣṇīṣa):
Kết ấn Liên Hoa (tức Quán Âm Ấn
trong phần trước).
(Kinh)
Như tiền thương-khư ấn, thị Vô Lượng
Âm Thanh Phật Đảnh ấn.
(經)如前商佉印,是無量音聲佛頂印。
(Kinh:
Như ấn thương-khư trong phần trước
là ấn của ngài Vô Lượng Âm Thanh Phật Đảnh).
Ấn
của ngài Vô Lượng Âm Thanh Phật Đảnh (Anantasvaraghoṣoṣṇīṣa)
th́ kết Thương Khư ấn như đă nói trong phần
trước (tức là kết Tam-bổ-trá, cùng gập hai
ngón cái, dùng hai ngón trỏ cùng đè lên).
(Kinh)
Dĩ trí huệ thủ vi quyền, trí ư mi gian, thị
Chân Đà Ma Ni Hào Tướng ấn.
(經)以智慧手為拳置在眉間,是真多摩尼毫相印。
(Kinh: Dùng tay trí
huệ (tay phải) nắm
thành quyền, đặt giữa hai mày. Đó là ấn Chân
Đà Ma Ni Hào Tướng).
Kế
đó là ấn Hào Tướng (Ūrṇā).
Tay phải nắm thành quyền rồi chống ngón trỏ
vào giữa hai mày, gọi là Chân Đà Ma Ni (Cintāmaṇi, Như Ư Bảo Châu).
Đấy chính là ấn Hào Tướng.
(Kinh)
Như tiền Phật Đảnh ấn, thị Phật
Nhăn ấn. Phục hữu thiểu dị, sở vị kim
cang tiêu tướng.
(經)如前佛頂印,是佛眼印。復有少異,所謂金剛標相。
(Kinh:
Ấn Phật Nhăn giống ấn Phật Đảnh trong
phần trước. Lại có chút khác biệt, tức là thể
hiện h́nh tướng biểu trưng của chày kim
cang).
Ấn
Phật Nhăn (Buddhalocanā) giống
như ấn Phật Mẫu trong phần trước. Trong
ấy có chút khác biệt là để ngón cái và ngón giữa
cách nhau chừng bằng một hạt lúa mạch, đừng
cho chúng chạm nhau, giống như h́nh [chày kim cang] năm
nhánh là được!
(Kinh)
Trí huệ thủ tại tâm, như chấp liên hoa tượng,
trực thân Xa-ma-tha tư, ngũ luân thượng thư, nhi ngoại
hướng cự chi, thị Vô Năng Thắng ấn.
(經)智慧手在心,如執蓮華像,直申奢摩他臂,五輪上舒而外向距之,是無能勝印。
(Kinh: Đặt
tay trí huệ (tay phải) nơi tim, giống như cầm
hoa sen, duỗi tay Xa-ma-tha (tay trái), năm ngón hướng
lên trên, duỗi ra phía ngoài cách nhau. Đó là ấn của
ngài Vô Năng Thắng).
Kế
đó là ấn của Vô Năng Thắng (Aparājita)
Minh Vương. Tay phải như ấn Chấp Liên Hoa (tức
đầu ngón trỏ và ngón cái bấm vào nhau, ngón giữa
cong gập đặt vào giữa, hai ngón út và áp út dựng
thẳng là được). Duỗi thẳng tay trái, năm
ngón hướng lên trên nhưng ngả ra phía ngoài (các đầu
ngón tay tách nhau). Tay ấy hơi cao hơn đầu là thành
ấn. Ấn này kết khi đứng th́ giống như
Bát Lật Để Rị trong phần trước!
(Kinh)
Định Huệ thủ hướng nội vi quyền,
nhị Hư Không luân thượng hướng, khuất
chi như khẩu, thị Vô Năng Thắng Minh Phi ấn.
(經)定慧手向內為拳,二虛空輪上向屈之如口,是無能勝明妃印。
(Kinh:
Hai tay Định và Huệ hướng vào trong nắm thành
quyền, hai ngón Hư Không (ngón cái) hướng lên trên, cong
như cái miệng. Đó là ấn của Vô Năng Thắng
Minh Phi).
Kế
đó các ngón đan vào nhau, gập
trong ḷng bàn tay, nắm thành quyền. Hai ngón cái đặt sát nhau ở
ngoài quyền, cong lóng ngón tay như
cái móc câu. Đó gọi là “khẩu trạng” (h́nh dạng
cái miệng), chính là ấn của Vô Năng Thắng Minh
Phi.
(Kinh)
Dĩ trí huệ thủ thừa giáp, thị Tự Tại
Thiên ấn.
(經)以智慧手承頰,是自在天印。
(Kinh:
Dùng tay trí huệ đỡ má, đó là ấn của Tự
Tại Thiên).
Kế
đó, duỗi tay phải đỡ má phải, hơi
nghiêng đầu tựa lên tay, má hơi cách tay một chút.
Đó là ấn của
Tịnh Cư Thiên (đó là tay tư duy, c̣n có tên là Tự Tại
Thiên).
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn linh Phong,
Hỏa
luân sai lệ thân chi, thị Phổ Hoa Thiên Tử ấn.
(經)即以此印令風火輪差戾申之,是普華天子印。
(Kinh: Liền
dùng ấn ấy sao các ngón Phong
(trỏ) và Hỏa (giữa) chéo
nhau, duỗi ra. Đó là ấn của Phổ Hoa Thiên Tử).
Kế
đó, giống như ấn của Tự Tại Thiên trên
đây, duỗi tay phải, sao cho ngón giữa hơi nghiêng
đầu hướng vào trong, hơi tách biệt với
ngón trỏ; đấy chính là ấn của Phổ Hoa Thiên
Tử (Samantakusuma). Tay
nên đặt nghiêng trước ngực. Đoạn kế
[trong lời sớ] bỏ sót một vị thiên tử, tức
Quang Man Thiên Tử.
(Kinh)
Đồng tiền ấn, dĩ Hư Không luân tại
ư chưởng trung. Thị Quang Man Thiên Tử ấn.
Đồng tiền ấn, dĩ Hư Không, Phong luân
tác tŕ hoa tướng, thị Măn Ư Thiên Tử ấn. Dĩ
trí huệ thủ Hư Không, Thủy luân tương gia, kỳ
Phong, Hỏa
luân, Địa luân giai tán thư chi, dĩ yểm kỳ
nhĩ, thị Biến Âm Thanh Thiên ấn.
(經)同前印,以虛空輪在於掌中,是光鬘天子印。同前印,以虛空風輪作持華相,是滿意天子印。以智慧手虛空水輪相加,其風火輪地輪皆散舒之以掩其耳,是遍音聲天印。
(Kinh:
Giống như ấn trên đây, gập ngón Hư Không (ngón
cái) vào ḷng bàn tay. Đó
là ấn của Quang Man Thiên Tử (Raśmimālin).
Giống như ấn trên đây, dùng ngón Hư Không (ngón cái) và Phong (ngón trỏ)
làm như tư thế cầm hoa. Đó là ấn của Măn
Ư Thiên Tử (Manojava). Trong tay phải, dùng
ngón cái và ngón áp út chạm đầu nhau, các ngón Phong (trỏ),
Hỏa (ngón giữa) và Địa (út) thảy đều
x̣e ra để che tai. Đó là ấn của Biến Âm Thanh
Thiên - Svaraviśruti.).
Kế đó, cũng giống như trên duỗi tay phải,
ngón trỏ và ngón cái bấm vào nhau như dáng vẻ cầm
hoa. Đó là ấn của Măn Ư Thiên Tử (ba ngón kia cùng
đặt khít ngang nhau). [Lời sớ khuyết phần giải
thích ấn của Biến Âm Thanh Thiên ở đây, lại dời ra sau mấy vị, có lẽ
là lỗi khắc ván hay sao chép]. Trên
đây đều là các vị Tịnh Cư Thiên Tử.
(Kinh)
Định Huệ tương hợp, nhị Hư Không
luân viên khuất, kỳ dư tứ luân diệc như thị,
thị danh Địa Thần ấn.
(經)定慧相合,二虛空輪圓屈,其餘四輪亦如是,是名地神印。
(Kinh:
Tay Định và Huệ chắp lại, hai ngón Hư Không
(cái) cong gập, bốn ngón kia cũng như thế. Đó
gọi là ấn của Địa Thần).
Kế
đó là ấn của Địa Thiên (Pṛthivī).
Trước hết, chắp tay sao cho mười đầu
ngón tay sát vào nhau, cùng gập lại sao cho bấm lấy
nhau, cùng ôm lấy ngón
cái gập vào ḷng bàn tay, h́nh như cái b́nh là thành ấn.
(Kinh)
Như tiền, dĩ trí huệ thủ tác Thí Vô Úy tướng,
dĩ Không luân tại ư chưởng trung, thị Thỉnh
Triệu Hỏa Thiên ấn.
(經)如前,以智慧手作施無畏相,以空輪在於掌中,是請召火天印。
(Kinh:
Giống như trên, dùng tay trí huệ (tay phải) để
kết ấn Thí Vô Úy, đặt ngón Không (ngón cái) trong ḷng
bàn tay. Đó là ấn thỉnh vời Hỏa Thiên).
Kế
đó, giống như trên kết ấn Thí Vô Úy, nhưng
cong gập ngón cái vào ḷng bàn tay, đấy chính là ấn thỉnh
vời Hỏa Thiên (Agni).
(Kinh)
Tức dĩ Thí Vô Úy h́nh, dĩ Hư Không luân tŕ Thủy
luân đệ nhị tiết, thị Nhất Thiết
Chư Tiên ấn. Tùy kỳ thứ đệ, tương ứng
dụng chi.
(經)即以施無畏形,以虛空輪持水輪第二節,是一切諸仙印。隨其次第,相應用之。
(Kinh: Liền
dùng ấn Thí Vô Úy, dùng ngón Hư Không
(ngón cái) bấm vào lóng thứ hai của
ngón Thủy (ngón áp út); đó
là ấn của hết thảy các vị tiên. Tùy theo thứ
tự mà dùng tương ứng).
Kế
đó, hai tay đều dùng ngón cái bấm đầu ngón áp
út. Các ngón khác dựng lên cùng che hai tai. Đó là ấn của
Biến Thanh Âm Thiên. Dùng đầu hai ngón áp út và trỏ
để che tai (Phần lời Sớ này đáng lẽ phải
đặt trước phần nói về Địa Thiên).
Đó là âm thanh ấy khiến cho mọi người đều
trọn biết. Vị này (tức Biến Âm Thiên) cũng
là Tịnh Cư Thiên. Cùng với [các vị được
liệt kê trong phần nói về] ấn của Tịnh
Cư Thiên trong phần trước, hợp thành Ngũ
Thiên.
[Ở
đây], kết ấn Thí Vô Úy. Dùng ngón cái bấm lấy lóng
thứ hai của ngón út[3],
sẽ thành ấn của hết thảy các vị tiên. Từ
chỗ này trở đi, kinh lại liệt kê [ấn của
hết thảy chư tiên] lần thứ hai, đó chính là [ấn
chung của] trọn khắp hết thảy các vị tiên.
Trước hết, dùng ngón cái bấm vào lóng thứ hai của
ngón út. Ba ngón kia đều dựng lên. Theo thứ tự,
trước hết tách ngón trỏ ra, kế đến là
ngón giữa, rồi ngón áp út, hơi cách biệt ngón áp út. Kế
đó, tách biệt năm ngón. Đấy chính là năm vị
Đại Địa Tiên, vâng theo thứ tự nói trong
kinh.
(Kinh)
Như tiền,
dĩ Định Huệ thủ tương hợp, Phong
luân, Địa luân nhập ư chưởng trung, dư
giai thượng hướng, thị Diễm Ma Đản
Trà ấn.
(經)如前以定慧手相合,風輪地輪入於掌中,餘皆上向,是焰摩但茶印。
(Kinh:
Giống như trên, dùng hai tay Định và Huệ chắp
lại, ngón Phong (trỏ) và Địa (út) gập vào ḷng bàn
tay, các ngón kia đều hướng lên trên. Đó là ấn
Diễm Ma Đản Trà).
Kế
đó là ấn Diêm La. Kết Tam-bổ-trá, hai ngón trỏ và
út gập vào ḷng bàn tay, khiến cho đầu chúng áp vào
nhau, dùng hai ngón cái bấm vào lưng ngón trỏ (Nên bấm
vào khoảng giữa lóng thứ hai và lóng thứ ba), đầu
ngón cái hơi cong lại sao cho chạm nhau, hai ngón cái đè lên
ngón giữa là được (Đó là Đàn Trà (Daṇḍa) ấn).
(Kinh)
Huệ thủ hướng hạ do như Kiện Trá, thị
Diễm Ma Phi Đạc ấn.
(經)慧手向下猶如健吒,是焰摩妃鐸印。
(Kinh:
Tay Huệ hướng xuống dưới ví như Kiện
Trá (ghaṇṭā: cái
chuông). Đó là đạc ấn của Diễm Ma Phi).
Kế đó, tay phải
duỗi các ngón tay sao cho như h́nh cái chuông, rủ tay hướng
xuống dưới. Đó là ấn của Diêm La Phi (Yamī, vợ của Diêm
Vương).
(Kinh) Dĩ tam-muội thủ
vi quyền, thư Phong, Hỏa luân, thị Ám Dạ Thiên ấn.
(經)以三昧手為拳,舒風火輪,是暗夜天印。
(Kinh: Nắm
tay tam-muội thành quyền, duỗi các ngón Phong và Hỏa;
đó là ấn của Ám Dạ Thiên).
Kế đó, tay trái
nắm lại, các ngón út và áp út gập vào ḷng tay, ngón giữa
và trỏ cùng duỗi ra. Ngón cái theo lệ thường khi nắm tay (tức
là đặt ra ngoài hai ngón bị gập lại). Đây là ấn
của Hắc Dạ Thiên (Kālarātri, chánh kinh gọi vị này là Ám Dạ
Thiên), cũng là vợ của vua Diêm La.
(Kinh) Tức dĩ thử
ấn, hựu khuất Phong luân, thị
Rô Đạt Ra Kích ấn.
(經)即以此印又屈風輪,是嚕達羅戟印。
(Kinh: Liền dùng ấn ấy,
lại gập ngón Phong (ngón trỏ); đó là Kích ấn của
Rô Đạt Ra).
Kế đó, ấn
tướng giống như trước, nhưng gập
ngón trỏ. Dùng đầu ngón
cái bấm vào lóng thứ hai của ngón trỏ. Đó là ấn
của Rô Nại Ra (Rudra, chánh kinh phiên âm là Rô Đạt Ra, tức Ma Hê Thủ
La) và là ấn của Tự
Tại Thiên Hậu (Rudrāṇī).
(Kinh) Như tiền ấn,
tác tŕ liên hoa h́nh, thị Phạm Thiên Minh Phi ấn.
(經)如前印,作持蓮華形,是梵天明妃印。
(Kinh: Như ấn
trước, làm như vẻ cầm hoa sen;
đó là ấn
của Phạm Thiên Minh Phi).
Kế đó, dùng tay
trái làm giống như đang cầm hoa sen. Đấy là ấn
của Phạm Thiên Hậu (tức là x̣e bàn tay, dùng ngón cái
và trỏ bấm vào nhau, gập ngón giữa vào ḷng bàn tay. Trong h́nh vẽ th́ vẽ
ngón ấy duỗi thẳng). Phạm Thiên vô dục, há giống
như thân người, sao lại nói là Hậu vậy?
Đây là ấn tướng của Phạm
Vương Minh Phi (Brahmāṇī), hàm nghĩa Minh Phi vậy.
(Kinh) Như tiền ấn,
khuất kỳ Phong luân gia Hỏa luân bối đệ tam
tiết, thị Kiều Mạt Ly Thước Để ấn.
(經)如前印,屈其風輪加火輪背第三節,是嬌末離爍底印。
(Kinh: Như ấn
trước, gập ngón Phong (trỏ) gác lên lưng lóng thứ
ba của ngón Hỏa (ngón giữa); đó là ấn Thước
Để của Kiều Mạt Ly).
Kế đó, duỗi
bàn tay trái ra, gập hai ngón út và áp út vào ḷng bàn tay, co ngón trỏ
bấm lấy lưng ngón giữa. Ngón cái cũng hơi
cong. Đó chính là ấn Thước Để của Kiều Mạt Ly (Kaumārīśakti). Thước Để (Śakti) là ấn thuộc về đồ
vật, giống như trong h́nh vẽ. Vị này là con của
Tự Tại Thiên, tên là Yết Để Ca (Kārttika), Kiều Mạt Ly
là tên của vợ ông ta.
(Kinh) Tức dĩ thử
ấn, linh Phong luân gia Hư Không thượng, thị Na La
Diên Hậu Luân ấn.
(經)即以此印,令風輪加虛空上,是那羅延后輪印。
(Kinh: Liền
dùng ấn ấy, sao cho ngón Phong đè trên ngón Hư Không;
đó là Luân
ấn của Na La Diên Hậu).
Kế
đó, duỗi ba ngón út, áp út, và giữa của tay trái, sao cho chúng đều
x̣e ra, dùng ngón trỏ bấm lấy đầu ngón cái.
Đó là ấn của Na La Diên Hậu (Nārāyaṇī). Ấn
Tŕ Hoa th́ che trước ngực, nay ấn này hướng
ra ngoài, gập lại.
(Kinh) Tam-muội thủ
vi quyền, linh Hư Không luân trực thượng, thị
Diễm Ma Thất Mẫu Chùy ấn.
(經)三昧手為拳,令虛空輪直上,是焰魔七母鎚印。
(Kinh: Tay tam-muội
(tay trái) nắm thành quyền, sao cho ngón Hư Không (ngón cái)
duỗi thẳng lên trên. Đó là Chùy ấn
của Diễm Ma Thất Mẫu).
Kế đó, dùng tay
trái nắm thành quyền, duỗi thẳng ngón cái hướng
về lên
trên. Đó
là ấn của Diêm Vương Thất Mẫu (cả bảy
vị đều dùng chung).
(Kinh) Ngưỡng kỳ
Định thủ như tŕ Kiếp-bát-la tướng, thị
Giá Văn Trà ấn.
(經)仰其定手如持劫鉢羅相,是遮文茶印。
(Kinh: Ngửa tay Định
(tay trái) như dáng vẻ cầm Kiếp-bát-la[4].
Đó là ấn của Giá Văn Trà).
Kế đó, duỗi
tay trái, cong [các ngón] như cầm đầu
lâu, hăy nên đặt ngửa trước ngực. Đó là ấn
của Giá Văn Trà (Cāmuṇḍā)[5].
(Kinh) Như tiền Khiết-già
ấn, thị Niết Rị Để Đao ấn.
(經)如前朅伽印,是涅哩底刀印。
(Kinh: Giống như ấn
Khiết-già trong phần trước th́ là Đao Ấn của
Niết Rị Để).
Tay trái dùng ngón cái bấm vào
móng của ngón út và áp út, duỗi ngón giữa và trỏ để
cùng dựng lên, tức là Đao Ấn của Niết Rị
Để (Nairṛti).
(Kinh) Như tiền Luân ấn,
dĩ tam-muội thủ vi chi, thị Na La Diên Luân ấn.
(經)如前輪印,以三昧手為之,是那羅延輪印。
(Kinh: Giống
như Luân ấn trong phần trước, nhưng dùng tay
tam-muội (tay trái) để kết
th́ là Luân ấn của Na La Diên).
Kế đó, chỉ duỗi
tay trái x̣e ra để kết Chuyển Pháp Luân Ấn trong
phần trước, nhưng có điểm khác
là chỉ dùng một tay, không móc hai tay vào nhau. Đó là ấn
của Na La Diên Thiên (Nārāyaṇa).
(Kinh) Dĩ chuyển
Định Huệ thủ, tả hữu tương gia, thị
Nan Đồ Bạt Nan Đà Nhị Vân ấn.
(經)以轉定慧手左右相加,是難徒拔難陀二雲印。
(Kinh: Chuyển
tay Định và Huệ sao cho trái và phải đè lên nhau.
Đó là ấn Nhị Vân của Nan Đồ Bạt Nan
Đà).
Kế đó, x̣e
mười ngón để che lên, dùng hai ngón cái đặt
chéo
nhau, tức là ấn của hết thảy các rồng. Nếu
dùng tay phải đè lên tay trái th́ là ấn của rồng
Nan Đà. Xoay tay trái đè lên
tay phải th́ là rồng Tiểu Nan Đà (Ưu Bạt Nan
Đà). Giống như ấn rồng chín đầu trong phần
trước, duỗi thẳng bốn ngón, tách ra làm cánh. Đó là Kim
Xí Ấn. Phàm là địa cư thiên th́ phần nhiều
dùng một tay để kết ấn.
(Kinh) Như tiền, thân
tam-muội thủ, Hư Không, Địa luân tương
gia, thị Thương Yết La Tam Kích ấn. Như tiền,
thân tam-muội thủ, Hư Không, Địa luân
tương tŕ, thị Thương Yết La Hậu ấn.
Tức dĩ thử ấn, trực thư tam
luân, thị Thương Yết La Phi ấn.
(經)如前申三昧手,虛空地輪相加,是商羯羅三戟印。如前,伸三昧手,虛空地輪相持,是商羯羅后印。即以此印直舒三輪,是商羯羅妃印。
(Kinh: Giống như trên, duỗi
tay tam-muội, các ngón Hư Không (cái) và Địa (út) đè
lên nhau; đó là ấn kích ba nhánh của Thương Yết
La. Giống như trên, duỗi tay tam-muội, ngón Hư
Không và Địa chống vào nhau, đó là ấn của
Thương Yết La Hậu. Liền dùng ấn này, duỗi
thẳng ba ngón th́ là ấn của Thương Yết La
Phi).
Kế đó, duỗi tay trái
nâng lên, chớ để đầu các ngón tay chạm vào
nhau, liền dùng ngón cái và út bấm vào nhau, [đầu ngón
cái] bấm trên móng ngón út. Đó là ấn Thương Yết
La (Śaṃkara, tức Cốt Tỏa
Thiên, danh
xưng khác của thần Śiva). Giống
như ấn
trên, nhưng cùng khép ba ngón lại. Đấy chính là ấn
của Ô Mang Na (Umā). Đó là
Thương Yết La Hậu (Śaṃkarī). Hai ấn tương tự, ấn
trước th́ ngón trỏ hơi cong, ấn này th́ [ngón trỏ]
để thẳng, nhưng [đầu hai ngón] tơe ra.
(Kinh) Dĩ tam-muội thủ
tác Liên Hoa tướng, thị Phạm Thiên ấn.
(經)以三昧手作蓮華相,是梵天印。
(Kinh: Dùng tay
tam-muội (tay trái) tạo h́nh hoa sen, đó là ấn của
Phạm Thiên).
Tay trái kết ấn Bán Liên Hoa, cách
kết ấn giống như ấn Quán Âm. Chỗ khác biệt
ở đây là chỉ dùng một tay để làm. Đó là ấn
của Phạm Thiên (Brahmā).
(Kinh) Nhân tác khiết bạch
quán, thị Nguyệt Thiên ấn. Dĩ Định Huệ
thủ hiển hiện hiệp chưởng, khuất
Hư Không luân trí Thủy luân trắc, thị Nhật Thiên
Dư Lộ ấn.
(經)因作潔白觀,是月天印。以定慧手顯現合掌,屈虛空輪置水輪側,是日天輿輅印。
(Kinh: Nhân
đó, quán [ấn trên đây] trắng sạch, sẽ là ấn
của Nguyệt Thiên. Dùng tay Định và Huệ để
hiển hiện hiệp chưởng, cong ngón Hư Không
(ngón cái) đặt bên cạnh ngón Thủy (áp út). Đó là ấn
cỗ xe của Nhật
Thiên).
Kế đó là Hiển
Lộ hiệp chưởng (chánh kinh ghi là “hiển
hiện hiệp chưởng”, tức là mở hai
ḷng bàn tay, đặt sát nhau, sao cho ngón út sát nhau, ḷng bàn tay
ngửa lên hướng về thân người kết ấn).
Co hai ngón trỏ bấm lấy lưng đốt thứ ba
của ngón giữa, sao cho đầu hai ngón áp út chạm
nhau. Hai ngón áp út cũng đặt trên lưng lóng thứ ba
của ngón giữa. Đấy là ấn Nguyệt Thiên
(Candra), giống như ấn Phạm Vương chẳng
khác, chỉ quán tưởng ấn ấy trắng sạch
là khác biệt (Sớ không giải thích ấn của Nhật
Thiên).
(Kinh) Hợp Bát Nhă tam-muội
thủ, Địa luân, Phong luân nội hướng, kỳ
Thủy Hỏa luân tương tŕ như cung, thị Xă Da Tỳ
Xă Da ấn.
(經)合般若三昧手,地輪風輪內向,其水火輪相持如弓,是社耶毘社耶印。
(Kinh: Chắp
hai tay Bát Nhă và tam-muội lại, ngón Địa (út) và ngón
Phong (trỏ) hướng vào trong, ngón Thủy (áp út) và Hỏa
(giữa) vịn vào nhau như cái cung.
Đó là ấn của Xă Da (Jayā) và Tỳ Xă Da - Vijayā).
Kế đó, chắp
tay, gập ngón trỏ và út vào ḷng bàn tay, cong các ngón giữa
và áp út như cánh cung. Đó là ấn Nhật Hậu (vợ
của Nhật Thiên) là Xă Da [và Tỳ Xă Da].
(Kinh) Như tiền Tràng
ấn, thị Phong Thiên ấn.
(經)如前幢印,是風天印。
(Kinh: Giống như Tràng Ấn
trong phần trước, đó là ấn của Phong Thiên).
Ấn của Phong Thiên (Vāyu) giống như trong phần trên, cần
phải duỗi tay trái, nghiêng bàn tay, co hai ngón út và áp út là
được. Đấy là Phong Tràng Ấn.
(Kinh) Ngưỡng tam-muội
thủ tại ư tề luân, trí huệ thủ Không, Phong
tương tŕ, hướng thân vận động như tấu
âm nhạc, thị Diệu Âm Thiên Phí Noa ấn.
(經)仰三昧手在於臍輪,智慧手空風相持,向身運動如奏音樂, 是妙音天費拏印。
(Kinh: Ngửa tay tam-muội
đặt tại rốn. Các ngón Không (cái) và Phong (trỏ)
trong tay trí huệ (tay phải) hướng về thân di chuyển
như đang tấu âm nhạc. Đó là ấn Phí Noa (Vīṇā)[6] của Diệu Âm
Thiên).
Trước hết, ngửa
tay trái đặt ngang rốn, giống như dáng vẻ ôm
đàn sắt[7].
Tay phải th́ ngón trỏ bấm vào ngón cái, các ngón
khác x̣e ra, hướng vào thân như dáng vẻ đang gảy
đàn. Đó là ấn của Diệu Âm Thiên (Sarasvatī). Vị này thâu nhiếp
loài Càn Thát Bà, Ngài là thiên hậu, cũng có thể nói là thuộc
loài Càn Thát Bà.
(Kinh) Như tiền Quyến
Sách ấn, thị chư long ấn.
(經)如前,羂索印,是諸龍印。
(Kinh: Giống
như ấn Quyến Sách trong phần trước chính là ấn
của các rồng).
Giống như ấn
Quyến Sách trong phần trước (tức là hai bàn tay
đan ngón vào nhau, sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay, duỗi
ngón trỏ sao cho đều cùng cong, bấm vào nhau là thành ấn),
nhưng chỉ làm bằng tay trái, đó chính là ấn của
long vương Phạ Rô Noa (Varuna).
(Kinh)
Như tiền, Diệu Âm Thiên ấn, nhi khuất Phong luân
giao Không luân thượng, thị nhất thiết A Tu La ấn.
Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
già ra la diễn, sa ha.
(經)如前妙音天印,而屈風輪交空輪上,是一切阿脩羅印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。伽囉邏演。莎訶。
(Kinh:
Giống như ấn của Diệu Âm Thiên trong phần
trên, nhưng gập ngón Phong (ngón trỏ) gác chéo lên ngón Không
(ngón cái). Đó là ấn của hết thảy các A Tu La.
Chân ngôn rằng: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, già ra la diễn, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, garalayaṃ svāhā”).
Kế
đó, dùng tay trái kết ấn Âm Nhạc Thiên (Diệu Âm
Thiên). Theo đồ h́nh th́ cong ngón trỏ
trong tay phải đè lên móng của ngón cái, các ngón khác duỗi
ra che trên tay trái. Đó là ấn của A Tu La. Xét đến
chân ngôn, “già
ra la diễn” (garalayaṃ):
Già là “hành”, do hành bất khả
đắc. Ra là vô cấu. La là ly tướng. Diễn là vô
sở đắc. Trên đó có cái chấm, tức là Đại
Không.
(Kinh)
Nội hướng vi quyền, nhi thư Thủy luân, thị
Càn Thát Bà ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, vi thâu đà, tát phạ ra, phạ hệ nễ.
Sa ha.
(經)內向為拳而舒水輪,是乾闥婆印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。微輸馱薩嚩囉嚩係儞。莎訶。
(Kinh:
Nắm tay thành quyền, sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay,
duỗi ngón Thủy (áp út); đó là ấn Càn Thát Bà. Chân ngôn
rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, vi thâu đà, tát phạ
ra, phạ hệ nễ. Sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, viśuddhasvaravāhini svāhā”).
Đối
với Càn Thát Bà th́ [hai tay] kết nội chưởng quyền
(nắm thành quyền, sao cho các ngón nằm trong ḷng bàn tay),
duỗi ngón áp út sao cho đầu của chúng chạm nhau.
Đó là Bổn Bộ tam-muội-da. Nếu là sự nghiệp
ấn th́ kết ấn bằng một tay, tức là ngón cái
đè lên móng của ba ngón kia, duỗi thẳng ngón áp út.
Đó là ấn Càn Thát Bà. Xét theo chân ngôn, “vi
thâu đà” (viśuddha, thanh
tịnh), “tát-phạ
ra” (svara, âm
thanh), “phạ
hệ nễ” (vāhini, vang
ra, có nghĩa là “phát
ra âm thanh thanh tịnh”,
đều là thế gian tam-muội).
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn nhi khuất Phong luân, thị nhất
thiết Dược Xoa ấn, chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, dược khất thoa thấp
phạ ra, sa ha.
(經)即以此印而屈風輪,是一切藥叉印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。藥乞釵濕嚩囉。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấn ấy, cong ngón Phong (trỏ), đó là ấn
của hết thảy Dược Xoa. Chân ngôn rằng: - Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, dược khất
thoa thấp phạ ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
yakṣeśvara svāhā”).
Kế
đó, tay trái nắm thành quyền, cong ngón trỏ như cái
móc, cách đầu ngón cái đôi chút, đừng cho chạm
nhau. Đó là ấn của hết thảy
Dạ Xoa. Xét theo chân ngôn, “dược
khất-thoa” (yakṣe, “dược” là thừa, ư nghĩa của câu
này là “ăn nuốt”), “thấp-phạ
ra” (śvara, tự
tại. Do ăn nuốt hết thảy phiền năo mà
được tự tại; do vậy, dùng [chuyện ấy]
làm tên).
(Kinh)
Hựu dĩ thử ấn, Hư Không luân, Địa luân
tương tŕ, nhi thân Hỏa, Phong. Thị Dược Xoa Nữ
ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột
đà nẫm, dược khất xoa vĩ nễ da đạt
rị, sa ha.
(經)又以此印,虛空輪地輪相持而申火風,是藥叉女印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。藥乞叉尾儞耶達唎。莎訶。
(Kinh:
Lại dùng ấn này, ngón Hư Không
(cái) và ngón Địa (út) tựa đầu nhau, duỗi
ngón Hỏa (giữa) và Phong (trỏ). Đó là ấn của
Dược Xoa Nữ. Chân ngôn rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, dược khất
xoa vĩ nễ da đạt rị, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, yakṣavidyādhari svāhā”).
Kế
đó, trong tay trái, dùng ngón cái bấm lấy đầu móng
ngón út, duỗi ngón áp út và giữa, dùng ngón trỏ bấm lấy
đốt đầu của ngón cái. Đó là ấn của
hết thảy Dược Xoa Nữ (Yakṣiṇī). Xét đến chân
ngôn, “dược
khất-xoa” (yakṣa, ăn),
“vĩ
nễ-da đạt rị” (vidyādhari, sáng
suốt. Câu này nói đến Dược Xoa Tŕ Minh, cũng
có nghĩa là “trói buộc”, tức là “ăn nuốt các trói
buộc”).
(Kinh)
Nội hướng vi quyền, nhi thư Hỏa luân. Thị
chư Tỳ Xá Giá ấn. Chân ngôn viết: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, tỳ xá giá nghiệt để,
sa ha”. Cải khuất Hỏa luân, thị chư Tỳ Xá
Chi ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
tỷ chỉ, tỷ chỉ, sa ha.
(經)內向為拳而舒火輪,是諸毘舍遮印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。毘舍遮蘖底。莎訶。改屈火輪,是諸毘舍支印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。比旨比旨。莎訶。
(Kinh:
Nắm tay thành quyền, sao cho các ngón hướng vào trong, duỗi
ngón Hỏa (ngón giữa).
Đó là ấn của Tỳ Xá Giá. Chân ngôn rằng: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, tỳ xá giá nghiệt
để, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ,
piśācagati svāhā”.
Đổi thành cong ngón giữa. Đó là ấn của các Tỳ
Xá Chi. Chân ngôn rằng: “Nam ma
tam mạn đa bột đà nẫm, tỷ chỉ, tỷ chỉ, sa ha - Namaḥ
samanta-buddhānāṃ, pici pici svāhā”).
Kế
đó, trong tay trái, dùng ngón cái bấm lấy móng ba ngón kia, chỉ
duỗi ngón giữa ra, đó là ấn của hết thảy
Tỳ Xá Xà (Piśācas, Tỳ Xá Giá). Cũng
có thể chỉ nắm tay thành quyền, nhưng duỗi
ngón giữa là thành
ấn). Xét tới chân ngôn, “tỳ
xá giá nghiệt để” (piśācagati, “nghiệt
để”
là tiến nhập, [hàm ư] tiến nhập Đệ Nhất
Nghĩa chẳng thể được). Kế đó,
cũng giống như thế, nhưng hơi cong ngón giữa,
đó là ấn của Tỳ Xá Xà nữ
(Piśācī, Tỳ Xá Chi). Xét theo chân ngôn, “tỷ chỉ, tỷ chỉ” (Pici, pici, Tỳ là Đệ Nhất Nghĩa,
Giá nghĩa là ĺa sanh tử. Lặp lại [hai chữ Tỷ
Chỉ], ư nói: Tột bậc ĺa khỏi sanh tử).
(Kinh)
Như tiền, dĩ Định Huệ thủ
tương hợp, tịnh Hư Không luân nhi kiến lập
chi, thị nhất thiết chấp diệu ấn. Chân ngôn
viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, nghiệt
ra hê thấp phạ rị dă, bát ra bổ đa, nhụ
để ma dă, sa ha.
(經)如前以定慧手相合,並虛空輪而建立之,是一切執曜印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。蘖囉醯濕嚩唎也。鉢囉補多。孺底麼也。莎訶。
(Kinh:
Như trên, chắp hai tay Định và Huệ lại, cùng
dựng ngón Hư Không (ngón cái) lên, đặt sát nhau; đó
là ấn của hết thảy các chấp diệu. Chân ngôn
rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, nghiệt ra hê thấp
phạ rị dă, bát ra bổ đa, nhụ để ma dă,
sa ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, grahaiśvaryaprāpta jyotirmaya,
svāhā”).
Kế
đó, hai tay chắp lại, hai ngón cái cũng đặt ngang nhau, nhưng tách biệt
nhau, giữ cho các
ngón khác tách rời nhau. Đó là ấn của Ngật Lật
Hà (Graha[8].
Loại này được xếp riêng thành một
đường, chẳng phải người, chẳng phải
quỷ. Chúng có thể dọa dẫm con người, khiến cho họ bị phi nhân
nắm giữ. Nay chẳng nói đến loài ấy, mà là
nói các tinh tú). Nếu nói về các ngôi sao gần gũi, th́
gom chung chín ngôi sao để nói. Xét theo chân ngôn, “nghiệt-ra
hệ” (grahai, hành, cấu,
nhân), “thấp-phạ
rị dă” (śvarya, tự
tại), “bát-ra
bổ-đa” (prāpta, đạt
được), “nhụ
để” (jyotir, sáng suốt.
Do là các ngôi sao nên sáng sủa), “ma
dă”
(maya, nghĩa là tánh. Đạt được tự tại
trong tánh. Do gọi tên của chúng mà được tự tại
trong ấy).
(Kinh)
Phục dĩ thử ấn, Hư Không, Hỏa luân
tương giao, thị nhất thiết tú ấn. Chân
ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, na
khất xoa đá ra, niết na đạt nễ duệ, sa
ha.
(經)復以此印,虛空火輪相交,是一切宿印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。娜乞叉哆囉。涅那達儞曳。莎訶。
(Kinh: Lại
dùng ấn này, ngón Hư Không (cái) và ngón Hỏa (giữa) chéo
nhau. Đó là ấn của hết thảy các tinh tú. Chân ngôn
rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, na khất xoa đá
ra, niết na đạt nễ duệ, sa ha - Namaḥ
samanta-buddhānāṃ, nakṣatranirnādaniye
svāhā”).
Kế
đó, trước hết kết Tam-bổ-trá, hai ngón giữa
và hai ngón cái chéo nhau, phải đè lên trái. Đó là ấn của
hết thảy các tinh tú. Xét theo chân ngôn, “na
khất-xoa đá-ra” (nakṣatra, các
tinh tú), “niết
na” (nirnā, nghĩa
là âm thanh), “đạt
nễ duệ” (daniye, ăn,
tức là “nuốt các âm thanh”). “Na”
nghĩa là Không, “khất-xoa
duệ”
nghĩa là “hết”, tức là hết
thảy đều trừ sạch. “Đá-ra”
nghĩa là cấu v.v… Chuẩn theo đó để nói, tức
là “ăn nuốt các chướng cấu”. Tức
là dùng tiếng thanh tịnh để truyền bá trọn
khắp, đó gọi là “vô cấu thanh”. Phàm các chân
ngôn như đă nói trên đều dùng ngôn từ ư nghĩa
để xưng tán Thật đức của họ, cảnh
tỉnh họ, khiến cho họ hoan hỷ.
(Kinh)
Tức dĩ thử ấn, khuất nhị Thủy luân nhập
ư chưởng trung.
Thị chư La Sát Sa ấn. Chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, la ngật sát sa
địa bát đa duệ, sa ha.
(經)即以此印,屈二水輪入於掌中,是諸羅剎娑印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。羅吃剎娑地鉢多曳。莎訶。
(Kinh:
Liền dùng ấn ấy,
gập hai ngón Thủy vào ḷng bàn tay. Đó là ấn La Sát Sa.
Chân ngôn rằng: “Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm, la ngật sát
sa địa
bát đa duệ, sa ha - Namaḥ
samantabuddhānāṃ, rākṣasādhipataye
svāhā”).
Kế
đó, kết Tam-bổ-trá, cùng gập hai ngón áp út vào ḷng bàn
tay, các ngón khác như thường, đấy chính là ấn
La Sát Sa (Rākṣasas).
Phàm các ấn của các loài Địa Cư Thiên vừa nói
trên đây, dùng hai tay hay một tay để kết ấn
đều được. Nếu tŕ tụng, do nhân duyên phải
làm này nọ, không rảnh cả hai tay để kết
ấn, chỉ dùng tay trái
để kết ấn cũng thành (trên đây, kinh chỉ
nói tay trái, nhưng đồ h́nh vẽ cả hai tay, hăy nên
dùng theo cách ở đây). Xét theo chân ngôn, “la
ngật sát sa” (rākṣasā, La
là cấu, bên cạnh có chấm diễn tả âm A, tức
là “hành”. “Ngật-sát-sa”
là đi trên hư không), “địa
bát đa duệ” (dhipataye, vua,
chỉ đức của họ. Khiến cho họ nghe xong
hoan hỷ, thỏa nguyện của chúng sanh).
(Kinh)
Thân tam-muội thủ dĩ phú diện môn, nhĩ hạ phạ
xúc chi, thị chư Đồ Cát Ni ấn. Chân ngôn viết:
- Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hiệt rị,
sa ha.
(經)申三昧手以覆面門,爾賀嚩觸之,是諸荼吉尼印。真言曰:南麼三曼多勃馱喃。頡唎。莎訶。
(Kinh: Duỗi
tay tam-muội che mặt, dùng lưỡi (nhĩ-phạ-hạ (jihva) là lưỡi)
chạm tay, tức là ấn của các Đồ Cát Ni. Chân
ngôn rằng: “Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm, hiệt rị, sa
ha
- Namaḥ
samantabuddhānāṃ, hrīḥ haḥ[9]).
Kế
đó, dùng tay trái che miệng, dùng lưỡi
chạm tay, tức là ấn của Đồ Cát Ni (ḍākinī). Chữ Hiệt-rị (hrīḥ, ह्रीः) nghĩa là “ĺa nhân vô cấu”. Trên
đó, có vạch tam-muội, bên cạnh có chấm biểu
thị phẫn nộ. Ha (haḥ) có nghĩa là cái nhân, bên trên có chấm cũng là phẫn
nộ. Những vị ấy (những vị được
nói đến mật ấn trong phẩm này) là những vị
đứng đầu. Các ấn như đă nói trên
đây, cho đến ấn Đồ Cát Ni cuối cùng, nếu
nói cặn kẽ bộ loại, quyến thuộc, sẽ
là vô biên chủng loại, như Đại Bổn có đến
mười vạn kệ để diễn tả. Nay
điều được nói trong phẩm này chính là nêu ra
đại lược các vị thượng thủ,
như nắm cái lưới, mắt lưới căng ra,
nêu đại lược một số mắt lưới
trong các mắt lưới đó thôi!
(Kinh) Bí Mật Chủ! Như thị thượng
thủ chư Như Lai ấn, tùng Như Lai tín giải
sanh, tức đồng Bồ Tát chi tiêu xí, kỳ số vô
lượng. Hựu Bí Mật Chủ! Năi chí thân phần cử
động, trụ chỉ, ưng tri giai thị mật ấn,
thiệt tướng sở chuyển chúng đa ngôn thuyết,
ưng tri giai thị chân ngôn. Thị cố, Bí Mật Chủ!
Chân ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát dĩ phát Bồ
Đề tâm, ưng đương trụ Như Lai địa,
họa Mạn-đồ-la. Nhược dị thử giả,
đồng báng chư Phật, Bồ Tát, việt tam-muội-da,
quyết định đọa ư ác thú.
(經)祕密主!如是上首諸如來印,從如來信解生,即同菩薩之幖幟,其數無量。又祕密主!乃至身分舉動住止,應知皆是密印;舌相所轉眾多言說,應知皆是真言。是故祕密主!真言門修菩薩行諸菩薩已發菩提心,應當住如來地,畫漫荼羅。若異此者,同謗諸佛菩薩, 越三昧耶,決定墮於惡趣。
(Kinh: Bí Mật
Chủ! Các ấn thượng thủ của Như Lai
như thế đều sanh từ tín giải của
Như Lai, giống như các biểu trưng của Bồ
Tát, số nhiều vô lượng. Lại này Bí Mật Chủ!
Hăy nên biết: Cho đến cử động, hành xử
nơi thân phần [của Như Lai] đều là mật ấn.
Rất nhiều ngôn thuyết do tướng lưỡi
phát ra, hăy nên biết đều là chân ngôn. Do vậy, Bí Mật
Chủ! Các Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong Chân Ngôn môn
đă phát Bồ Đề tâm, hăy nên trụ nơi Như
Lai địa, vẽ Mạn-đồ-la. Nếu khác với
điều này, sẽ giống như là báng bổ chư Phật,
Bồ Tát, trái vượt tam-muội-da, quyết định
đọa vào đường ác).
Như
Lai đă chứng pháp giới b́nh đẳng, do sức
đại bi nơi bổn nguyện, dùng thần lực
gia tŕ mà hiện ra môn phương tiện Thân Mật này, v́
khiến cho hết thảy chúng sanh đều được
tin hiểu, cùng nhập hết thảy các trí địa. Do
đó, hăy nên biết các ấn như thế đều sanh
từ sự tín giải của Phật. Hăy nên biết các ấn
như thế là biểu trưng của các vị Bồ
Tát, tức là dùng phương tiện này để chỉ
bày các đức nội chứng của Như Lai. V́ thế
nói “tiêu biểu”. Các ấn rất nhiều, thậm
chí các cử động, hành vi nơi thân thể đều
là ấn. Nếu A-xà-lê hiểu rơ Du Già, thấu đạt
sâu xa đường lối bí mật, có thể tịnh
hóa cái tâm Bồ Đề, do tâm tịnh bèn thông đạt
pháp bí mật. Phàm làm ǵ cũng đều nhằm tạo lợi
ích điều phục chúng sanh; hễ làm bất cứ
điều ǵ, không ǵ chẳng tùy thuận oai nghi của Phật.
V́ thế, hết thảy tất cả cử động,
tạo tác nơi thân, không ǵ chẳng phải là ấn, há chỉ thân nghiệp
mà thôi ư? Cho đến hết thảy tất cả ngôn
ngữ cũng lại đều là chân ngôn.
“Thị
cố, Bí Mật Chủ! Chân ngôn môn tu Bồ Tát hạnh
chư Bồ Tát dĩ phát Bồ Đề tâm, ưng
đương trụ Như Lai địa, họa Mạn-đồ-la”
(V́ thế, Bí Mật Chủ! Các Bồ Tát tu hạnh Bồ
Tát trong Chân Ngôn môn, hăy nên trụ nơi địa vị
Như Lai, vẽ Mạn-đồ-la): Nếu nói “các vị
Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh trong đời hiện tại
và vị lai mà cùng phạm tội vượt tam-muội-da,
quyết định đọa vào đường ác”,
th́ có nghĩa là nói: “Các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh
trong đời hiện tại và vị lai đă phát đại
tâm, hăy nên trụ trong Phật địa; sau đấy, tạo
lập Mạn-đồ-la. Nếu chẳng làm đàn tràng
như thế, sẽ chính là báng Phật!” V́ thế, đối
với những điều đă nói trên đây, bậc
A-xà-lê phải nên biết các pháp thuộc về ấn khế
và chân ngôn v.v… Đối với mỗi điều, đều
khéo thông đạt quy cách, pháp tắc. Lại c̣n nên tu hạnh
Du Già lâu ngày, tịnh hóa thân khẩu, ư, nghiệp, thấu hiểu
hạnh thuộc pháp môn tam nghiệp b́nh đẳng, do
được gia tŕ bởi phép Du Già, chân ngôn, và thân ấn
v.v…, sẽ liền có thân giống như chư Phật, Bồ
Tát, cùng thuộc vào địa vị Phật. Do
tương ứng với tam-muội, chẳng trái nghịch
sự lư, kiến lập cái đàn h́nh tṛn, cho đến
nơi chốn, phương vị, màu sắc, h́nh tượng
v.v… mỗi mỗi đều xứng lư, lại chẳng
sai sót, khéo biết thứ tự; hăy nên biết người
ấy ắt sẽ đạt được lợi ích to
lớn, chẳng hư dối. Nếu chẳng như vậy,
sẽ mắc tội “vượt tam-muội-da”. Tam-muội-da
là tự thệ. Thệ nguyện vốn có của hết
thảy Như Lai chính là “v́ khắp hết thảy chúng
sanh mà khai tri kiến Phật, khiến cho họ đều
giống như ta”. Do phương tiện mà lập ra
pháp này. V́ thế, giống như mạng lệnh, sắc
chỉ của đại vương trong thế gian chẳng
thể vượt qua. Kẻ trái vượt ắt sẽ
mắc tội nặng nề! V́ thế, phải nên
tương ứng với Bồ Đề tâm, trụ trong
Phật địa mà làm. Kẻ nào chẳng thuận theo lời
dạy, sẽ phí uổng công phu, bỏ lỡ hoàn cảnh
thuận tiện, trọn chẳng thành tựu, chỉ chuốc
lấy tội vạ, chẳng có lợi ích ǵ! V́ thế,
hành giả ắt phải nên suy xét, t́m cầu kinh pháp, lại
c̣n thưa hỏi bậc thầy sáng suốt khai thị
để đừng tự sai lầm. Phẩm nói rộng
về các ấn đă xong!
10. Phẩm thứ
mười: Tự luân (Tự luân phẩm đệ thập,
字輪品第十)
(Kinh)
Nhĩ thời, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na cáo Tŕ Kim
Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Đế thính, Bí Mật Chủ!
Hữu Biến
Nhất
Thiết
Xứ
pháp môn. Bí Mật Chủ! Nhược Bồ Tát trụ thử
tự môn, nhất thiết sự nghiệp giai tất thành
tựu.
(經)爾時薄伽梵毘盧遮那告持金剛祕密主言:諦聽。祕密主!有遍一切處法門。祕密主!若菩薩住此字門,一切事業皆悉成就。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na bảo Tŕ Kim Cang
Bí Mật Chủ rằng: - Lắng nghe, này Bí Mật Chủ!
Có pháp môn trọn khắp hết thảy mọi nơi. Bí Mật
Chủ! Nếu Bồ Tát trụ trong
tự môn này, hết thảy các sự
nghiệp thảy đều thành tựu).
Đức
Phật lại bảo ngài Kim Cang Thủ v́ trước
đó ngài Kim Cang Thủ thưa hỏi, đức Phật
đă giải đáp theo thứ tự. Nhưng kinh văn
trong phần trước chưa nói trọn hết, nay lại
nói thêm; v́ thế, răn “hăy
lắng nghe!”
Có pháp môn tên là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp
hết thảy mọi nơi), khi Bồ Tát trụ trong vị
trí của các chữ, hết thảy các việc làm sẽ
đều được thành tựu, tức là pháp môn tự
luân này chính là pháp môn trọn khắp hết thảy mọi
nơi. Nếu Bồ Tát trụ trong pháp môn tự
luân này, khởi đầu từ phát diệu Bồ Đề
tâm cho tới khi thành Phật, trong khoảng ấy, tất
cả hết
thảy các loại sự nghiệp tự lợi
và lợi ích người khác đều do nhập pháp môn
này mà hết thảy đều được thành tựu,
chẳng hề vướng mắc, ngăn ngại. Lại
nữa, đối với những điều đă nói
trước đó, đối với chuyện A-xà-lê trụ
trong Phật địa, ư nghĩa vẫn chưa trọn hết,
sẽ được nói trong tự môn này.
(Kinh)
Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
a. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
sa. Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn,
phạ. Ca khư nga già, giá xa nhă xă, trá trá noa đồ,
đa tha na đà, ba
phả ma bà, dă ra la phạ, xa sa sa ha, cật-sái. Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm,
a. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm,
sa. Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn,
phạ. Ca khư nga già, giá xa nặc xă, trá trá noa đồ,
đa tha na đà, ba
phả ma bà, dă ra la phạ, xa sa sa ha, cật-sái. Nam ma tam mạn
đa bột đà nẫm,
ám. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tảm.
Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn,
văm. Kiếm khiếm nghiễm kiệm. Chiêm xiêm nhiễm
chiêm. Chiếm siểm nẫm trạm. Đảm thám nạm
đạm. Biêm phiếm văm phạm, diêm ram lam văm, thiểm
sam sâm hàm, cật-sam. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, á. Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm,
sách.
Nam ma tam mạn đa phạt chiết
ra nạn, mạc.
Kiêu khước ngược cự, chước xước
nhược thược, trách sách nạch trạch, đát
thác nặc đạc, bác bạc mạc bạc, dược
lạc lạc mạc, thước sách sách hoắc, cật-sách.
Y ải ổ ô, rị lư lư ly, ế ái ô
áo, ngưỡng nhưỡng noa nẵng măng, ngưỡng
nhưỡng nĩnh
nang mang, nghiễm nhiêm nẫm nam văm, ngược nhược
nạch nặc mạc.
(經)南麼三曼多勃馱喃阿。南麼三曼多勃馱喃娑。南麼三曼多伐折囉𧹞嚩。迦佉哦伽。遮車若社。吒咤拏荼。多他娜馱。波頗麼婆。野囉邏嚩。奢沙娑訶。吃灑。南麼三曼多勃馱喃阿。南麼三曼多勃馱喃娑。南麼三曼多伐折囉𧹞嚩。迦佉誐伽。遮車惹社。吒咤拏荼。多他娜馱。波頗麼婆。野囉邏嚩。奢沙娑訶。吃灑。南麼三曼多勃馱喃暗。南麼三曼多勃馱喃糝。南麼三曼多伐折囉𧹞鑁。劍欠儼儉。占襜染瞻。𪗦𭌂喃湛。擔探腩淡。𠷖𭈠𭍊𭊃。閻㘕藍𭍊。睒衫參頷吃衫。南麼三曼多勃馱喃噁。南麼三曼多勃馱喃索。南麼三曼多伐折囉𧹞莫。𭕷却虐噱。灼綽弱杓。磔坼搦擇。呾託諾鐸。博泊漠簿藥𡀩落嗼。鑠嗦索臛吃索。伊縊塢烏。哩𭉜里狸。翳藹汙奧。仰壤𠸎曩莽。𠵫穰儜囊忙。噞髯喃南鑁虐弱搦諾莫。
(Kinh: Namaḥ samantabuddhānāṃ, a. Namaḥ samantabuddhānāṃ, sa. Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, va. Ka kha ga gha, ca cha ja jha, ṭa
ṭha ḍa ḍha, ta tha da dha, pa pha ba bha, ya ra la va,
śa ṣa sa ha, kṣa. Namaḥ samantabuddhānāṃ,
ā. Namaḥ samantabuddhānāṃ, sā. Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, vā. Kā khā gā
ghā, cā chā jā jhā, ṭā ṭhā ḍā
ḍhā, tā thā dā dhā, pā phā bā
bhā, yā rā lā vā, śā ṣā sā
hā, kṣā. Namaḥ samantabuddhānāṃ, aṃ.
Namaḥ samantabuddhānāṃ, saṃ. Namaḥ
samantavajrāṇāṃ, vaṃ. Kaṃ khaṃ gaṃ
ghaṃ, caṃ chaṃ jaṃ jhaṃ, ṭaṃ ṭhaṃ
ḍaṃ ḍhaṃ, taṃ thaṃ daṃ dhaṃ, paṃ
phaṃ baṃ bhaṃ, yaṃ raṃ laṃ vaṃ,
śaṃ ṣaṃ saṃ haṃ, kṣaṃ. Namaḥ
samantabuddhānāṃ, aḥ. Namaḥ
samantabuddhānāṃ, saḥ. Namaḥ samantavajrāṇāṃ,
vaḥ. Kaḥ khaḥ gaḥ ghaḥ, caḥ chaḥ jaḥ
jhaḥ, ṭaḥ ṭhaḥ ḍaḥ ḍhaḥ,
taḥ thaḥ daḥ dhaḥ, paḥ phaḥ baḥ bhaḥ,
yaḥ raḥ laḥ vaḥ, śaḥ ṣaḥ saḥ
haḥ, kṣaḥ. I ī u ū ṛ ṝ ḷ ḹ
e ai o au. Ṅa ña ṇa na ma, ṅā ñā ṇā
nā mā, ṅaṃ ñaṃ ṇaṃ naṃ maṃ,
ṅaḥ ñaḥ ṇaḥ naḥ maḥ).
Chữ
A đầu tiên chính là Bồ Đề tâm. Nếu quán chữ
này mà được tương ứng, sẽ giống
như cái Thể nơi Pháp Thân của Tỳ Lô Giá Na Phật.
Tức là quán luân chữ A này, sẽ giống như đuôi
chim công có quang minh nhiễu quanh; hành giả trụ trong
đó, tức là trụ trong địa vị Phật. Tự
luân này được chia thành
ba tầng, các chữ khác là quyến thuộc bên ngoài. Chữ
A lại có năm loại, [tức là]: A, a âm dài, ám, á, á âm
dài (a, ā, aṃ, aḥ, āḥ).
Trước mỗi tự luân, lại có chân ngôn tâm ba tầng
quy mạng Tam Bảo, tức là chữ A, chữ Sa,
và chữ Phạ (Va),
nghĩa là ba chữ ấy hiển lộ ư nghĩa của
ba bộ. Chữ A là Như Lai bộ, chữ Sa là Liên Hoa bộ,
chữ Phạ là Kim Cang bộ. Mỗi bộ
trong ba bộ đều thuận theo
năm tự luân (a,
ā, aṃ, aḥ, āḥ)
mà chuyển, có tướng tương ứng thuận theo
nghĩa. Trong phần trước gọi là Mạn-đồ-la,
nay gọi là Luân, tức là nói theo ư nghĩa của chữ Mạn-đồ-la[10].
Trong phần trước, trung tâm của đàn pháp là Đại
Nhật Như Lai, tức là giống với chữ A ở
đây. Phía Bắc [của Mạn-đồ-la] đặt
Liên Hoa (tức Bộ Chủ của Liên Hoa Bộ là Quán Thế
Âm Bồ Tát) và các quyến thuộc đều ở cùng một
chỗ, tức là chữ Sa ở đây.
Phía Nam [của Mạn-đồ-la] đặt Chấp Kim
Cang và các quyến thuộc, tức là chữ
Phạ ở đây. Nay từ chữ A
mà sanh ra bốn chữ (a, ā, aṃ, aḥ) tức là “lá” của Đại
Bi Thai Tạng vậy! Từ một chữ Phạ, chuyển sanh nhiều
chữ; v́ thế gọi là Luân. Chữ A thứ nhất
chính là cái Thể của Bồ Đề tâm. Kế đó
có năm âm là Ca, Khư, Nga, Già (ka, kha, ga, gha, कखगघ), đều dùng bốn
chữ (a, ā, aṃ, aḥ) [để tạo thành bốn
tầng tự luân], trừ chữ thứ
năm (āḥ).
Lại nữa, từ chữ Ra (र)
cho đến Khất-xoa (क्ष,
kṣa)
đều là nam thanh (các tiếng thuộc giống đực),
đều nhập trong A tự luân. Hành giả đă phát Bồ
Đề tâm, hăy nên tấn tu Như Lai hạnh. V́ thế kế
đó, nói tự luân Ā. Đó là hạnh, ba bộ (Phật bộ, Liên Hoa bộ, Kim Cang
bộ) của chữ ấy chính là ba chữ
A, Sa, Phạ (Ā,
Sā, Vā). Kế đó, từ chữ Ca (क, Ka),
cho đến Khất-xoa, cũng đều thêm cái vạch bên cạnh
để tạo thành tự luân có âm dài (tức là का -
Kā).
Đă trọn đủ Như Lai hạnh, sẽ thành Bồ
Đề. V́ thế, kế đó nói các tự luân Ám, Tảm,
Văm (Aṃ, Saṃ, Vaṃ - अं, सं, वं);
đó là ba bộ. Trên chữ A (अ) có chấm (अं),
tức là nghĩa Đại Không. Do Bồ Đề tâm ấy,
ĺa hết thảy các tướng, liền gọi là “chư
Phật”, tức
là thành Bồ Đề.
Kế
đó, từ chữ Ca cho đến Khất-xoa, đều
thêm một chấm, tức là Ám tự luân. Đă thành Bồ
Đề, sẽ tới chỗ nào? Tức là Đại Niết
Bàn; v́ thế, kế đó nói các tự luân ác, sách, mạc (aḥ, saḥ, vaḥ, अः, सः, वः)
v.v… trong
ấy là ba bộ. Như từ chữ Ca cho
đến Khất-xoa, bên cạnh đều thêm hai chấm,
tức là Niết Bàn luân. Một chữ Á (āḥ, âm
dài) là phương tiện luân;
do vậy, không có ở đây
(không được nói đến ở đây). Đó là
Thích Ca Phật luân (Yết Ma Bộ[11]
vào trong hết thảy các luân; do vậy, chẳng có đàn
riêng. Du Già nói như vậy).
Phàm
tự luân đại lược chia thành ba phần:
- Chữ
A đầu tiên chính là một phần.
- Kế
đó, từ chữ Ca (Ka) trở đi, gồm hai
mươi chữ (ka, kha, ga, gha, ca, cha, ja, jha, ṭa, ṭha, ḍa, ḍha,
ta, tha, da, dha, pa, pha, ba, bha - क, ख, ग, घ, च, छ, ज, झ, ट, ठ, ड, ढ, त, थ, द, ध, प, फ, ब, भ) là phần thứ hai.
- Kế
đó, từ chữ Dă (Ya) cho đến chữ Ha là phần
thứ ba (tức ya, ra, la, va, śa, ṣa, sa, ha - य, र, ल, व, श, ष, स, ह). Ngoại trừ chữ
Khất-xoa (kṣa),
do chữ này đă là trùng âm (tức là có hai âm Ca và Sa ghép lại,
nên nói là trùng âm).
Trên
đây đều là các chữ trí huệ. Kế đó, có tám chữ Y, Y, Ổ,
Ô, Ế, Ái,
Ố,
Áo (i, ī, u, ū, e, ai, o,
au - इ, ई, उ, ऊ, ए, ऐ, ओ, औ).
Thêm tám chữ này, tức là thành tựu tam-muội, đều
là âm thanh tam-muội.
Cũng thuận theo năm luân mà luôn
luôn chuyển, ư nghĩa dễ thấy.
Kế
đó có các chữ Nga, Nhă, Trá, Nang, Mạc (ṅa, ña, ṇa, na, ma)
trọn khắp hết thảy các xứ, tức là trọn
khắp trong Định Huệ. Nhưng năm chữ này
cũng tùy theo năm luân mà chuyển, tức là thêm cái chấm
bên cạnh, hoặc thêm cái chấm tṛn
phía trên, hoặc thêm hai chấm bên cạnh,
th́ năm chữ ấy đều thành năm chữ.
Được gọi là “tự luân”, tức là từ các
luân ấy sanh ra các chữ. “Luân” có nghĩa là “sanh”,
như từ một chữ A sanh ra bốn chữ, tức
A là Bồ Đề tâm, A (ā) là hành, Ám (aṃ) là
thành tựu Bồ Đề, Á (aḥ) là Đại
Tịch Niết Bàn, Á (âm dài, tức āḥ)
là phương tiện.
Giống
như chữ A, hăy nên biết chữ Ca (Ka) cũng có
năm chữ
(tức ka, kā, ka, kaṃ, kaḥ, kāḥ), cho đến hai
mươi chữ như Khư (Kha), cũng nên biết là
giống như vậy. Kế đó, có mười hai chữ,
tức là Ư, Y, Ổ, Ô, Rô, Lưu, Lô, Lưu, Ế, Ái, Ô, Áo (I, ī, u, ū, ṛ, ṝ, ḷ,
ḹ, e, ai, o, au (इ, ई, उ, ऊ, ऋ, ॠ, ऌ, ॡ, ए, ऐ, ओ, औ) chánh kinh phiên âm là “Y,
ải, ổ, ô, rị, lư, lư, ly, ế, ái, ô,
áo”)
là các chữ phía trên cùng có cái chấm, được gọi
là tam-muội. Ngưỡng, nhưỡng, noa, nẵng, măng
(ṅa, ña, ṇa, na,
ma, ङ, ञ, ण, न, म)
cũng có năm chữ, tức là giống như trên, phía
trên đều có chấm. Tám chữ như Dă, Ra (yaḥ, raḥ - यः, रः)
v.v… đều là các chữ bên cạnh có hai chấm, có
nghĩa là “trừ khử”. Hăy nên biết các tự
luân này trọn khắp trong hết thảy các chân ngôn.
Nếu
thấy chữ A, hăy nên biết nghĩa là Bồ Đề
tâm. Nếu thấy chữ A âm dài (ā, आ),
hăy nên biết là “tu
Như Lai hạnh”.
Nếu thấy chữ Ám (aṃ, अं),
hăy nên biết là “thành Tam Bồ Đề”. Nếu thấy chữ
Á (aḥ, अः), hăy nên biết là “chứng Đại
Niết Bàn”. Nếu thấy chữ
Á âm dài (āḥ, आः),
hăy nên biết là “sức
phương tiện”.
Nếu thấy hai mươi chữ như Ca v.v…,
cũng tùy theo từng loại mà diễn nói. Hăy nên biết
các chữ ấy đều là huệ. Nếu thấy tám chữ
như Ra v.v… hăy nên biết là cùng có cái chấm bên cạnh,
cũng tùy loại tương ứng (tức Ra là “vô cấu” v.v…) Nếu thấy
các chữ như Y (इ)
v.v… hăy nên biết là hiển thị tam-muội. Nếu thấy
năm chữ như Ngưỡng (ङ, ṅa) v.v… hăy nên biết chính là cái chấm
Đại Không. Đại Không ĺa hết thảy các tướng,
tức là nghĩa “thành Phật”. Nếu hành giả liễu
đạt như thế, liền có thể nhập hết
thảy các nghĩa Đà-la-ni, xoay chuyển vô ngại. Do vậy, gọi là “tự
luân”!
(Kinh)
Bí Mật Chủ! Như thị tự môn đạo, thiện
xảo pháp môn thứ đệ trụ Chân Ngôn đạo,
nhất thiết Như Lai thần lực chi sở gia tŕ,
thiện giải Chánh Biến Tri đạo Bồ Tát hành
vũ, quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật
Thế Tôn dĩ thuyết, kim thuyết, đương thuyết.
Bí Mật Chủ! Ngă kim phổ quán chư Phật sát độ,
vô bất kiến thử Biến Nhất Thiết Xứ
pháp môn, bỉ chư Như Lai vô hữu bất tuyên thuyết
giả. Thị cố, Bí Mật Chủ! Nhược dục
liễu tri Chân Ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát,
ư thử Biến Nhất Thiết Xứ pháp môn, ưng
cần tu học.
(經)祕密主!如是字門道、善巧法門次第住真言道,一切如來神力之所加持,善解正遍知道菩薩行舞,過去未來現在諸佛世尊已說當說今說。祕密主!我今普觀諸佛剎土,無不見此遍一切處法門,彼諸如來無有不宣說者。是故祕密主!若欲了知真言門修菩薩行諸菩薩,於此遍一切處法門應勤修學。
(Kinh: Bí Mật
Chủ! Tự môn đạo như thế, pháp môn thiện
xảo theo thứ tự trụ trong đạo Chân Ngôn, được
thần lực của hết thảy Như Lai gia tŕ, Bồ
Tát khéo hiểu đạo Chánh Biến Tri hóa hiện
thần biến, quá khứ, vị lai, hiện tại
chư Phật Thế Tôn đă nói, nay nói, sẽ nói. Bí Mật
Chủ! Nay ta quán trọn khắp các cơi Phật, không đâu
chẳng thấy pháp môn Trọn
Khắp Hết Thảy Các Chỗ
này, các đức Như Lai ấy, không vị nào chẳng
tuyên nói. V́ thế, này Bí Mật Chủ! Nếu muốn
biết rơ các Bồ Tát tu Bồ
Tát hạnh trong Chân Ngôn môn, hăy nên ở trong pháp môn Biến
Nhất Thiết Xứ này mà siêng năng tu học).
Kinh
nói như thế chính là nói về tự luân trên đây.
Như phần trên đă nói Định, Huệ, Không v.v…
Đó chính là cửa nẻo trong Phật đạo, là đạo
có thể thành Chánh Giác. Nếu hiểu rơ ư nghĩa của
chữ, sẽ có thể trụ trong đạo Chân Ngôn, và
cũng đều hiểu rơ thứ tự pháp tắc,
tướng trạng chứng nhập, giai vị sai khác, thấu
hiểu thông tắc, chẳng bị ngờ vực, trầm
trệ. Nhưng các tự mẫu Tất Đàm này, thậm
chí các đứa trẻ trong thế gian cũng thường
tu tập[12],
sao lại có thể nhanh chóng hoàn thành chuyện như thế?
Các chữ ấy đều được
thần lực gia tŕ, lưu xuất từ thể tánh nội
chứng của Như Lai, cho nên có thể có nghiệp dụng
chẳng thể nghĩ bàn ấy. Nếu ai hiểu rơ ư thú
và phương tiện trong ấy, tức là thông đạt
đạo Tam Bồ Đề.
“Thiện
năng thông đạt” (có thể khéo thông
đạt) nghĩa là liễu đạt các căn và tánh
t́nh ham muốn của hết thảy chúng sanh, nên dùng pháp ǵ
để họ được nhập đạo, sẽ
nên dùng môn ǵ để họ được hiểu ngộ,
vô lượng vô biên như thế đều có thể biết
rơ, tùy thuận chúng sanh mà trao cho diệu pháp, đều khiến
cho họ đạt đến địa vị Như
Lai. “Vũ” là như người đời nhảy
múa; nhưng ở trong đại chúng, các thứ thân nghiệp
cử động như co, duỗi, cúi, ngửa, [đều gọi
là “vũ”], lại phát ra đủ loại âm khúc
phương tiện vi diệu. Thuận theo sự ưa muốn
của chúng sanh, đại chúng sẽ hoặc hoan hỷ,
hoặc suy nghĩ buồn bă, hoặc hoảng sợ. Dùng
cùng một phương tiện do thân và miệng phát ra, mà
các chúng sanh đạt được lợi ích bất
đồng, do khéo biết phù hợp với họ, do có
thể thuận theo cái tâm của chúng sanh. Bồ Tát cũng
thế, hiện ra đủ loại oai nghi, không ǵ chẳng
trở thành ấn, thốt ra đủ loại pháp âm mầu
nhiệm đều là chân ngôn, ứng hợp trọn vẹn
không ngằn mé, đều đạt được lợi
ích to lớn. Do vậy gọi là “Bồ Tát vũ”. “Tam
thế Như Lai đều nói như thế, đă nói, nay
nói, sẽ nói
tự môn chân ngôn tịnh đạo như thế”:
Mười phương chư Phật đạo giống
nhau, đều hiện trọn khắp các sắc
thân như thế, dùng đủ loại môn để khai
thị Phật đạo, giống như khúc múa ấy thuận
theo t́nh cảm của con người.
“Chẳng
có ta và người khác”: Ta dùng Phật nhăn để
quán trọn khắp hết thảy các cơi Phật trong ba
đời, [chư Phật đều] cùng nói môn này, hết
thảy chư Phật chẳng khác ta. Hết thảy
chư Phật và các đức Như Lai ấy cũng giống
như thế, chẳng nói khác biệt. V́ thế nói là “không
có ta hay người khác”. Đấy chính giáo pháp của
hết thảy chư Phật, hăy nên tu như thế. Nếu
khác với điều ấy, tức là phương tiện
chẳng trọn đủ. Do bởi điều này,
Như Lai kết thành nghĩa ấy để bảo ngài
Kim Cang Thủ. Nếu bảo với ngài Kim Cang Thủ, hăy
nên biết chính là bảo hết thảy các đại hội,
tức là Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh nếu muốn nhanh
chóng đạt được pháp của cổ Phật,
hăy nên tu học pháp môn Biến Nhất Thiết Xứ
như thế, tâm siêng năng lắng nghe tư duy, tu tập.
Do bởi lẽ ấy, trong một đời mà sẽ
đạt được các thứ múa may, ca vịnh của
hết thảy Như Lai, khiến cho chúng sanh vui thích.
(Kinh)
Ư Khả Giá Trá Đa Ba, sơ, trung, hậu tương
gia, dĩ Đẳng Tŕ phẩm loại tương nhập,
tự nhiên hoạch đắc Bồ Đề tâm hạnh,
thành Đẳng Chánh Giác, cập bát Niết Bàn. Hữu thử
đẳng sở thuyết tự môn tướng
dữ ḥa hợp Chân Ngôn giáo pháp sơ, trung, hậu cụ. Chân
Ngôn
giả nhược như thị tri, tùy kỳ tự tâm
nhi đắc tự tại, ư thử nhất nhất
cú, quyết định ư dụng chi, dĩ huệ giác tri,
đương thọ vô thượng thù thắng cú.
Như thị nhất luân, luân chuyển tự luân, Chân
Ngôn
giả liễu tri thử cố, thường chiếu thế
gian, như Đại Nhật Thế Tôn nhi chuyển pháp
luân.
(經)於舸遮吒多波初中後相加,以等持品類相入,自然獲得菩提心行,成等正覺及般涅槃。有此等所說字門相與和合真言法教初中後俱,真言者若如是知,隨其自心而得自在,於此一一句決定意用之,以慧覺知,當授無上殊勝句。如是一輪,輪轉字輪。真言者了知此故,常照世間,如大日世尊而轉法輪。
(Kinh:
Đối với các chữ Khả, Giá, Trá, Đa, Ba (ka, ca, ṭa, ta, pa), thêm vào sơ phần,
trung phần, hậu phần, dùng các phẩm loại của
Đẳng Tŕ để nhập, tự nhiên sẽ đạt
được Bồ Đề tâm hạnh, thành
Đẳng Chánh Giác, và nhập Niết Bàn. Có các tướng tự
môn như đă nói ấy ḥa hợp với giáo pháp Chân Ngôn,
trọn đủ sơ phần, hậu phần, trung phần,
nếu người hành Chân Ngôn biết như thế, sẽ
thuận theo tự tâm mà đạt được tự tại.
Đối với mỗi câu ấy, sẽ dùng ư quyết
định để vận dụng, dùng huệ để
nhận biết, sẽ trao
truyền câu thù thắng vô
thượng. Một luân như thế xoay chuyển tự
luân, người hành Chân Ngôn do biết rơ điều này, sẽ
thường chiếu thế gian, giống như Đại
Nhật Thế Tôn mà chuyển pháp luân).
“Sơ
trung hậu tương gia” (thêm vào sơ phần, trung phần,
hậu phần): Năm chữ như A v.v… là Sơ. Hai
mươi chữ như Ca v.v… là Trung. Tám chữ như Ra
v.v… đều có cái chấm bên cạnh, các chữ ấy
đều giúp hoàn thành ư nghĩa của các chữ [trước
đó], nên thuộc về hậu phần. Phàm các chữ
như Ca, Giá, Trá, Đa, Ba (ka, ca, ṭa, ta, pa) v.v… đều thuộc
vào môn chữ A. Chữ A là Bồ Đề tâm, “thêm vào
đó sơ, trung, hậu” tức là riêng chữ A (अ) th́ là Bồ Đề
tâm. Nếu thêm một vạch ở bên góc, [sẽ thành A âm
dài (ā, आ)]. Đấy chính là Bồ Đề tâm và hành. Nếu thêm cái chấm
(thành aṃ, अं), tức là Bồ
Đề tâm và Đại Không ĺa hết thảy các tướng,
thành Bồ Đề. Nếu chữ A thêm hai chấm vào bên
cạnh (tức là aḥ, अः) th́ chính là Bồ
Đề tâm và trừ hết thảy các chướng,
đắc Niết Bàn. Các chữ khác đều phỏng
theo đây mà lần lượt thêm vào, hoặc chỉ một
nghĩa, hoặc hai, hoặc ba nghĩa, đều đáng
nên biết. Hoặc có khi trên chữ A tuy không có chấm,
nhưng chữ kế đó
là trọng tự, tức là có các âm ngưỡng, nhưỡng,
noa, nẵng, măng (ṅa,
ña, ṇa, na, ma) v.v… th́ sẽ nối
với chữ trước đó thành âm Ám. V́ cớ sao vậy?
Do các chữ như Ngưỡng có chấm, thêm vào chữ
trước đó, chữ A liền thành âm Ám. Hoặc chữ
A không có chấm, nhưng chữ tiếp theo là trọng tự
lại có, như thêm trọng tự vào các chữ Ca,
Khư, Nga, Già (ka, kha, ga, gha), dùng chữ Ngưỡng làm cái chấm. Giá, Xa,
Xà, Xă (ca, cha, ja, jha)
dùng chữ Nhưỡng (ña) làm chấm. Các chữ khác phỏng
theo lệ này. Các thanh như Ra v.v… đều phối ứng
với chữ trước đó, liền thành chữ Á. V́
cớ sao vậy? Các chữ như Ra v.v… đều có hai
điểm bên cạnh, nay nối liền [chữ sau] với
chữ trước, A liền thành âm Á. Pháp thể vô ngôn,
ĺa các phân biệt, hư luận, lại được hết
thảy Như Lai dùng thần lực tự
tại gia tŕ, nên thành tự luân này. Do vậy,
có thể hành Như Lai sự để lợi ích các phẩm.
Ca, Giá, Trá, Đá, Bả (Ka, Ca, Ṭa, Ta, Pa) [chính là] chứng Bồ Đề
tâm hạnh do Phật truyền trao và Niết Bàn trong phẩm, Tam
Muội (tức phẩm Vô Tướng Tam Muội trong phần
sau). Thêm vào tướng các
chữ đă nói ấy, bèn có Chân Ngôn giáo sơ, trung, hậu
trọn đủ (đây là phần kinh văn đă
được giải thích xong). Người biết tùy ư
tŕ tụng như thế, quyết ư thấu hiểu tác dụng
của mỗi câu.
“Đương
thọ dữ vô
thượng thù thắng cú” (Sẽ
trao truyền
câu vô thượng thù
thắng): Biết như thế th́ chính là tên gọi khác của
trí Nhất Thiết Trí. Nếu hành giả biết rơ
nghĩa tự luân như thế, những điều mong
muốn đều được thành tựu. Nói tóm lại,
nói “hết thảy đều tùy ư thành tựu” tức
là thành tựu hết thảy các
sự nghiệp của Như Lai. Nếu thành tựu điều ấy,
sẽ giống như đấng pháp vương có thể
tự tại trong hết thảy các pháp, cũng thuận
theo bổn nguyện mà v́ hết thảy chúng sanh khơi mở
tri kiến thanh tịnh, khiến cho họ đạt
được Phật huệ. Ai sẽ đạt
được lợi ích ấy? Chính là người
đúng như lư, trọn đủ duyên, khéo tŕ tụng. V́
thế, kế đó nói đến người tŕ tụng.
Ai đạt được ư quyết định ấy?
Chính là người có huệ. Do khéo nhận biết ư
nghĩa của tự luân, thuận theo các chữ như A
v.v… mà tu hành từng tự môn một, quyết định
đều đạt được thành tựu cái
quả Bồ Đề, chớ sanh nghi hoặc!
Nhận
biết pháp ǵ trong ấy? Chính là như chữ A là Bồ
Đề tâm, thêm cái chấm tức là Bồ Đề hạnh. Thêm Đại Không tức
là thành Phật. Nếu Bồ Đề tâm thanh tịnh, trừ
hết thảy cái chướng, th́ chính là Đại Bát Niết Bàn, chẳng
c̣n ư nghĩa nào khác. Mỗi mỗi đều thông đạt, biết rơ như thế đó, tức là nhận
được câu thù thắng vô thượng. “Câu vô
thượng” chính là “thành
Bồ Đề”.
Cái tâm Vô Thượng Bồ Đề ấy chính là Tự Nhiên Trí của chư Phật,
thật sự chẳng thể truyền trao, nhưng hành giả
trọn đủ phương tiện, khéo biết ư
nghĩa của tự luân, sẽ tự nhiên đạt
được, đó chính là “truyền trao Vô Thượng
Bồ Đề”. Mỗi tự luân chuyển một tự
luân như thế, người biết tŕ tụng thường
hiểu rơ thế gian, giống như đức Thế Tôn
Tỳ Lô Giá Na.
“Luân
chuyển”: Giống như bánh xe trong thế
gian, nếu lúc nó xoay chuyển, sẽ chẳng thể biết
đâu là đầu, đâu là cuối, chẳng có ngằn
mé, chẳng thể cùng tận. Hăy nên biết mỗi tự
luân ấy cũng lại giống như thế: Từ chữ A xoay
chuyển, sanh ra hết thảy các chữ. Tự luân ấy
gồm trọn danh tự của hết thảy các chân ngôn
trong đó, xoay chuyển tổng tŕ chẳng có ngằn mé,
chẳng thể tận cùng nguồn cội, trọn hết
thảy các nơi, tức là trăm ngàn vạn ức Toàn
Đà La Ni. Nếu hành giả có thể biết rơ ư nghĩa của tự
luân như thế, sẽ có thể thường sáng suốt
chiếu thế gian. Sự sáng suốt thường trụ
chính là cái thể của Đại Nhật Như Lai, giống
như đức Tỳ Lô Giá Na mà chuyển pháp luân. Sự
thường sáng suốt trong ấy chính là đại huệ
nhật; vầng mặt trời
ấy chính là cái Thể của chữ A trong Bồ Đề tâm,
vô sanh, vô tác, chẳng hề biến đổi, chẳng do
tạo thành. Do trí huệ Thật Tướng thường
trụ như thế, nên gọi là “thường sáng suốt”.
Nếu hành giả siêng năng tu
lâu ngày, chẳng biếng nhác, lui sụt, chắc chắn sẽ
đạt được. Nhưng đối với
phương quỹ và pháp dụng của Mạn-đồ-la
như đă nói trên đây, dùng rải hoa, quán đảnh,
cho đến trao cho gương sáng, như dùng đũa
vàng nạo màng mộng trong mắt, các
thứ như thế đều nhằm khai sáng, phát khởi
Bồ Đề tâm, dùng pháp dụng
để phương tiện gia tŕ
theo thứ tự nhằm thành tựu cái tâm kiên cố cho học
nhân, tạo thành thềm bậc để họ dần dần
tiến nhập Phật pháp, nhưng bí chỉ (ư chỉ bí
mật) trong ấy vốn nằm
trong tự luân. V́ lẽ nào vậy? Nếu hành giả làm
A-xà-lê cho người khác, muốn
tạo lập Mạn-đồ-la, trước hết
trụ trong địa vị Thế Tôn, chính là dùng các tự
môn này để kết hợp thành thân, tức là thân giống
như chư Phật. Đó gọi là Du
Già A-xà-lê quán hạnh thành tựu, tùy tâm vận dụng,
đều được tùy ư thành tựu. Quán các tự
luân ấy trải khắp thân phần giống như thấy
rơ. V́ thế, giống như Phật và Phật có cùng địa
vị.
Nhưng
khi sắp xếp các chữ, hăy nên chia thành bốn phần,
tức là bốn tầng Mạn-đồ-la:
-
Đầu là sơ phần, là vị trí của chữ A Bồ
Đề tâm. Từ Ca, Khư, Nga, Già, Ngưỡng v.v… cho
đến Xa, Sa, Ha, hễ là thanh âm thứ nhất đều
thuộc về Bồ Đề tâm. Từ tướng bạch
hào giữa mày của hành giả, hăy quán chữ Ca, từ chữ
Khư trở đi, hăy nên xoay theo chiều phải, chuyển
theo hướng mặt trời, trọn hết một
ṿng, khiến cho [các chữ ấy] xoay chuyển theo một
ṿng tṛn khép kín.
- Kế
đó, từ yết hầu trở xuống là phần thứ
hai, thuộc môn chữ A âm dài (ā), cũng nên trên dưới nối liền
với tướng bạch hào, xoay theo chiều phải, sắp
xếp nối
tiếp thành một ṿng. Đấy chính là Bồ
Đề hạnh.
- Kế
đó, từ tim trở xuống là phần thứ ba, thuộc
vào môn chữ Ám. Từ nơi tim, bèn xếp chữ Khiếm,
lần lượt xoay theo chiều phải nối tiếp
nhau trọn hết một ṿng.
- Kế
đó, từ rốn trở xuống, thuộc vào môn chữ
Á, là Đại Niết Bàn, cũng từ đó mà đặt
chữ Ca, xoay theo chiều phải nối tiếp nhau trọn
một ṿng.
Đầu
là thượng phần, từ cổ họng đến tim
là trung phần, rốn là hậu phần (tôi cho rằng phát
Bồ Đề tâm là Sơ, hành quả là Trung, Đại
Tịch (Đại Niết Bàn)
là Hậu).
Chữ thứ năm là Á (âm dài, āḥ)
trọn khắp hết thảy mọi nơi, tùy ư thực
hiện đều đạt được. Chữ ấy
ở ngoài thân, như quang minh nơi thân Phật, tùy ư sử
dụng, chẳng thuộc vào vị trí sắp xếp các chữ
trong thân. Chữ Ám cũng thế, giống như chữ Á.
Thầy đă thành tựu thân như thế, Mạn-đồ-la
này cũng sắp xếp như thế, cũng nghĩ sẽ
khiến
cho đệ tử làm như thế, ba sự
đều thành, đó là Bí Mật Mạn-đồ-la. Nếu
chẳng liễu đạt ư nghĩa trong ấy, tuy
nương theo các sự pháp trên đây để làm, chẳng
gọi là “thiện tác” (khéo làm), uổng phí công phu, trọn
chẳng thành tựu ǵ! Lại nữa, cách sắp chữ
này chính là Bí Mật Mạn-đồ-la, nếu chính ḿnh là
người có hạnh tu tập đă lâu, thật sự hiểu
rơ, kham truyền trao th́ mới dùng ư để truyền dạy,
chẳng thể dùng văn tự để ghi chép
được. V́ thế, thầy tṛ khẩu truyền, chứ
kinh chẳng nói, chỉ nói “như Tỳ Lô Giá Na luân chuyển”.
Lại
nữa, hành giả cần biết màu sắc của các chữ.
Tức là từ chữ đầu tiên là chữ A và hai
mươi lăm chữ như Ca v.v…. cùng với Dă, Ra cho
đến chữ Ha, đều thuộc về môn chữ
A, đều có màu vàng. Đó gọi là màu kim cang. Chữ A
thứ hai (A âm dài, आ)
chuyển thành màu vàng pha
trắng, đó gọi là Tịch Tĩnh Sắc. Thể của
chữ A (अ) màu vàng, vạch
tam-muội (cái vạch thẳng đứng bên phải chữ
A) là màu trắng. Do hai màu hợp lại, nên có sắc vàng
pha trắng. Chữ thứ ba là thêm chấm trên đầu,
cũng là vàng và trắng, tức chữ Ám. Chữ A màu vàng,
[cái chấm] Đại Không màu trắng.
V́ thế,
nên là vàng và trắng. Kế đó, chữ thứ tư là Á
chuyển thành màu vàng pha đen,
chữ A màu vàng, hai chấm Niết Bàn màu đen, cho nên là
vàng và đen. Cũng có thể hiểu hai chấm có
nghĩa là “hàng phục”, giống như Niết Bàn hoại
diệt, phá tan hết thảy các pháp gây chướng ngại.
Chữ này cũng giống như thế; do đó, hai chấm
có màu đen. Chữ thứ năm là Á (âm dài), chữ A màu
vàng, chấm trên đó màu trắng, cái vạch bên cạnh
màu đen, hăy nên biết là [chữ này] có
nhiều màu.
Phàm
sắp xếp Mạn-đồ-la cũng là ba tầng:
- Tầng
thứ nhất là từ chữ Ca cho đến chữ Ha,
giáp ṿng trong tầng đó, gọi là kim cang luân. Kim cang luân ấy
nắm giữ hết thảy các pháp, giống như trong
thế giới, kim cang luân duy tŕ thế giới, tức là
Bồ Đề tâm luân tối sơ của hành giả. Ư
nói: Muốn kiên cố Bồ Đề tâm, trước hết,
vẽ tầng bên trong.
-
Luân thứ hai kế đó là A và Ám. Đấy chính là hai
luân A âm dài
(ā)
và Ám, cùng là trung phần. Nếu dùng chữ Ca làm luân, th́ chẳng
cần dùng luân chữ Khiếm (Tôi cho rằng Ca là cái nhân của
hành giả, Khiếm là chứng cái quả ấy).
-
Luân thứ ba sử dụng tự
luân Á, cũng theo đúng như trên mà sắp
xếp, sao cho thành một ṿng khép kín. Mười hai chữ
như Y v.v… xếp rải rác bên ngoài, giống như quang
minh h́nh ngọn lửa.
Đấy
chính là ư nghĩa “tam chuyển pháp luân”. Sắp xếp
như thế xong, người tŕ tụng chính là thân Tŕ
Minh, giống hệt như được thần lực
của Đại Nhật Như Lai
gia tŕ, chẳng có ǵ khác! Luân ấy cũng gọi là “nhân
duyên luân”. Thầy và đệ tử cùng với Mạn-đồ-la
đều là luân bí mật như thế. Lại nữa,
các chữ ấy chính là chân ngôn luân, cho nên có bốn loại
luân. Lại nữa, tự luân trong tiếng Phạn là Á Sát
Ra Luân (Aksaracakra), Á Sát Ra
nghĩa là bất động. “Bất động”
được gọi là “Bồ
Đề tâm chữ A”.
Như đức Tỳ Lô Giá Na trụ trong thể tánh của
Bồ Đề tâm, thị hiện đủ loại phổ
môn lợi ích, biến hiện đủ loại vô lượng
vô biên. Tuy thị hiện dấu tích chẳng cùng tận
như thế, mà có thể thật sự thường trụ
bất động, cũng chẳng có tướng khởi
diệt (dấy lên hay diệt mất). Giống như bánh
xe tuy vận chuyển vô cùng, nhưng chính giữa bánh xe
chưa hề dao động. Do bất động, nên có thể tạo
thành các thứ chuyển động chẳng có cùng cực!
Chữ A ở đây cũng lại giống như thế,
do vô sanh nên chẳng động, chẳng thoái, sanh ra hết
thảy tự luân xoay chuyển vô cùng. Do đó, gọi là “bất
động luân”. Nếu hành giả có thể liễu
đạt cái luân bất động như thế, sắp
xếp các Minh
(thần chú), tức là dùng cái Thể tự nhiên, những
điều biểu thị bởi thân sẽ không ǵ chẳng
phải là mật ấn, những điều miệng nói
đều là chân ngôn. Hễ có ai thấy, nghe, tiếp xúc,
nhận biết, nhất định sẽ đều thành
tựu phước lợi nơi Vô Thượng Bồ
Đề, chân thật chẳng dối. Nếu có thể
làm như thế, sẽ giống như đức Tỳ
Lô Giá Na thực hiện Phật sự, thường chiếu
thế gian.
Khi
hành giả tŕ tụng, hăy nên quán tự luân, hoặc là cú
luân. Cái được gọi là “cú luân” chính là quán
nơi tâm Bổn Tôn có vầng tṛn sáng, trong ấy sắp xếp
các chữ chân ngôn luân chuyển, tiếp nối, khiến
cho [các chữ ấy] rành rẽ hiện tiền. Khi tŕ tụng,
quán các chữ ấy giống như sữa trắng, theo thứ
tự chảy rót vào miệng hành giả, hoặc xối
vào đỉnh đầu, liên tục chẳng dứt, trọn
khắp thân thể, cho đến trọn khắp các chi phần.
Chữ trong vầng tṛn sáng ấy thường rơ rệt,
như nước thường chảy, chẳng có cùng tận.
Tŕ tụng như thế đă mệt rồi, liền chỉ trụ
trong tâm tịch tĩnh, tức là quán các chữ chủng tử.
Cách quán đă được nói đầy
đủ trong phần trước. Nếu đă được
thấy chữ chủng tử, sẽ từ chữ chủng
tử mà trông thấy Bổn Tôn. Đă
thành như thế xong, liền có thể sắp đặt
trọn khắp các tự luân, tạo thành cái thể Tŕ
Minh, mới có thể kham làm các sự nghiệp. Chữ A
như thế nghĩa là “bất động”, là kim
cang thể. Phàm muốn cho sự việc kiên cố bất
động, hoặc khiến cho đạo tâm của ḿnh lẫn
người đều bất động v.v… đều
dùng chữ A để gia tŕ. Hết thảy các chữ khác
cũng tùy theo từng sự tương ứng mà dùng!
11. Phẩm thứ
mười một: Bí Mật Mạn-đồ-la (Bí mật
Mạn-đồ-la phẩm đệ thập nhất, 祕密漫荼羅品第十一)
(Kinh)
Nhĩ thời, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na dĩ
Như Lai nhăn quán sát nhất thiết pháp giới, nhập
ư pháp giới câu-xá, dĩ Như Lai Phấn Tấn B́nh
Đẳng Trang Nghiêm
Tạng tam-muội, dĩ
hiện pháp giới vô tận nghiêm cố, dĩ thị Chân
Ngôn hạnh môn độ vô dư chúng sanh giới, măn túc bổn
nguyện cố.
(經)爾時薄伽梵毘盧遮那以如來眼觀察一切法界,入於法界俱舍,以如來奮迅平等莊嚴藏三昧,以現法界無盡嚴故,以是真言行門度無餘眾生界,滿足本願故。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
đức Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na dùng Như Lai nhăn quán
sát hết thảy pháp giới, nhập trong pháp giới
câu-xá, dùng Như Lai Phấn Tấn B́nh Đẳng Trang
Nghiêm Tạng tam-muội để hiện ra sự trang nghiêm vô tận
của pháp giới, dùng hạnh môn Chân Ngôn này để độ chúng sanh giới chẳng thừa
sót, ḥng thỏa măn bổn nguyện).
Lúc
bấy giờ, đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn lại
nhập trong Nhất Thiết Pháp Giới Như Lai Nhăn Giới
Quán, Pháp Giới Tạng Phấn Tấn Như Lai B́nh Đẳng
Nghiêm Tạng tam-ma-địa chứng (hiện chứng).
Do pháp giới trang nghiêm hiển
hiện vô tận, dùng hạnh môn Chân Ngôn ấy
để độ chúng sanh giới chẳng thừa sót
ḥng thỏa măn bổn nguyện. Trên đây, nói phẩm Tự
Luân đă xong; kế đó, nói về phẩm Bí Mật Mạn-đồ-la.
Do là bí mật, phàm những điều nói ra đều do
thần lực của Như Lai gia tŕ, chẳng thể biểu
thị, nên gọi là phẩm Thần Lực Gia Tŕ Tự
Luân (hết thảy các phẩm khác đều giải thích
như thế). Đă nói phẩm Tự Luân xong; kế đó, muốn thành tựu tự luân như vậy,
lại nhập tam-muội. Điều được kinh nói ở đây là nêu ra tên của tam-muội. “Hết thảy pháp
giới” chính là pháp giới vô tướng.
Đă là pháp giới vô tướng, bèn dùng Phật nhăn b́nh
đẳng để quán
pháp giới như thế.
Lại
giải thích theo kiểu bí mật th́ tự luân như trên
chính là pháp giới của chư Phật, dùng Phật nhăn
để quán pháp giới ấy. Hăy nên biết “Phật
nhăn quán” chính là sức gia tŕ của Như Lai; nếu ĺa gia tŕ, sẽ chẳng thể
nói! “Pháp giới tạng”: Chữ Tạng
này trong tiếng Phạn được gọi là Câu Xá (Kośa), vốn có nghĩa là “cái vỏ”,
giống như đao trong thế gian nằm trong vỏ
đao. Tạng này cũng thế; do vậy, dùng nghĩa này
để phiên dịch. V́ thế, kinh nói “pháp giới tạng”
tức là chỗ Như Lai xuất hiện, hàm nghĩa “hết
thảy Như Lai ngự ở trong đó”. “Phấn tấn”
(奮迅) có nghĩa là “lưu xuất”,
có nghĩa “tuôn chảy tràn trề”. Như sư tử
chúa ở trong hang sâu, an trụ bất động, có khi ra
khỏi hang duỗi ḿnh, cử động, tức là thân vốn
bất động, nay bèn ĺa chỗ thường ở mà
động vậy. Phật cũng như thế, an trụ
trong mật tạng rất sâu như thế, nếu chẳng
có thần lực của Như Lai gia tŕ, sẽ là vi diệu
tịch tuyệt, chẳng thể thị hiện. Nay bèn thị
hiện vô tận các thứ h́nh tướng và âm thanh từ
thân, miệng, ư, trọn khắp pháp giới, tức là “chư
Phật phấn tấn”. Thị hiện tạng b́nh
đẳng trang nghiêm của Như Lai;
đó là “tạng” trong “thai tạng” vậy. Do nhập
pháp môn này, thân, miệng,
ư của mười phương ba đời hết thảy
Như Lai thảy đều b́nh đẳng, Phật, Phật
đạo đồng; do vậy, gọi
là Đẳng. “Nghiêm” là trang nghiêm cái thân này, tức là
dùng vô lượng môn trong Phật đạo để
trang nghiêm Pháp Thân, ḥng độ chúng sanh. Chính là dùng pháp giới
b́nh đẳng để trang nghiêm Pháp Thân; do vậy gọi
là Nghiêm. Giống như ở chỗ các đội quân trong
thế gian có đại tràng tướng, [đại tràng
tướng ấy] được gọi là Nghiêm. Tam-muội
này cũng thế. Do tam-muội này có thể biểu thị
chuyện bí mật của Như Lai; do vậy, gọi tên
như thế. Trong cái tạng ấy, tiếng Phạn gọi
là Yết Ha
(Garbha), tức là lưu xuất vô tận
trang nghiêm, phấn tấn thị hiện chẳng thể
cùng tận, cạn kiệt, giống
như kho báu to lớn. Tạng pháp giới
b́nh đẳng ấy chính là ư nghĩa của Như Lai Tạng
vậy. Do pháp giới trang nghiêm chẳng thể cùng tận,
giống như tự luân xoay tṛn chẳng thể cùng tận,
mà gọi là “vô tận tạng”.
V́
sao Như Lai ngự trong tam-muội ấy? Cũng chẳng
phải là không có nhân duyên! Chính v́ khai thị chuyện bí yếu
rất sâu của Như Lai. V́ thế, kế đó kinh nói: “Dĩ
thị chân ngôn môn, độ vô dư chúng sanh giới, măn
túc bổn nguyện cố” (Dùng môn Chân Ngôn này để
độ chúng sanh giới chẳng
sót
nhằm thỏa măn bổn nguyện). Khi đức
Phật vốn hành Bồ Tát đạo, lập đại
thệ nguyện, đều khiến cho hết thảy
chúng sanh cùng nhập tạng pháp giới của Như Lai.
Nay sở nguyện được thỏa, do ḷng đại
bi, phấn tấn thị hiện để độ chúng
sanh. Như pháp giới nghiêm tạng chẳng thể cùng tận,
chúng sanh giới cũng thế, chẳng thể cùng tận.
Nay muốn dùng trọn khắp hạnh môn Chân Ngôn để
b́nh đẳng lợi ích, khiến cho đều được
khai tri kiến rốt ráo chẳng thừa sót, tức là sở
nguyện được thỏa măn; cho nên nói là “măn bổn
nguyện”. Lại nữa, do tác pháp chưa được
thành tựu, hành giả tu Chân Ngôn chẳng thể mau chóng
thành đạo vô thượng. Nay lại quyết trạch,
khiến cho đều hiển hiện, nhập môn Định
này.
(Kinh)
Thời, Phật tại tam-muội trung, ư như thị
vô tận chúng sanh giới, tùng chúng thanh môn,
xuất tùy loại âm thanh, như kỳ bổn tánh, nghiệp
sanh thành thục, thọ dụng quả báo, hiển h́nh
chư sắc, chủng chủng ngữ ngôn, tâm sở
tư niệm, nhi vị thuyết pháp, linh nhất thiết
chúng sanh giai đắc hoan hỷ. Phục ư nhất nhất
mao khổng, pháp giới tăng thân xuất hiện, xuất
dĩ đẳng đồng hư không, ư vô lượng
thế giới trung, dĩ nhất âm thanh pháp giới ngữ
biểu diễn thuyết Như Lai phát sanh kệ.
(經)時佛在三昧中,於如是無盡眾生界,從眾聲門出隨類音聲, 如其本性、業生成熟、受用果報,顯形諸色、種種語言、心所思念而為說法,令一切眾生皆得歡喜。復於一一毛孔,法界增身出現,出已等同虛空,於無量世界中以一音聲法界語表演說如來發生偈:
(Kinh: Khi đó,
đức Phật ở trong tam-muội, nơi chúng sanh giới
vô tận như thế, từ các môn âm thanh, phát ra âm thanh tùy theo
từng loài, đúng như bổn tánh của họ,
do nghiệp sanh khởi [các quả báo] đă chín muồi,
bèn thọ dụng quả báo, hiển lộ h́nh tượng,
các màu sắc, đủ loại ngôn ngữ, những điều
suy nghĩ trong tâm mà v́ họ thuyết
pháp, khiến cho hết thảy chúng sanh
đều được hoan hỷ. Lại từ trong mỗi
lỗ chân lông, xuất hiện thêm thân pháp giới. Đă xuất
hiện nhiều như hư không
rồi, bèn ở trong vô lượng thế
giới, dùng một âm thanh pháp giới ngữ để biểu
lộ, diễn nói bài kệ phát sanh của Như Lai).
Kế
đó là ở trong Định, tức là đức Phật
trụ trong môn tam-muội này, hiện việc hy hữu, ḥng lợi lạc
trọn khắp quần sanh. Ở trong Định ấy,
Ngài hiện các chuyện hy hữu nào? Chính là từ trong chúng
sanh giới chẳng thừa sót, các môn âm thanh v.v…, bèn đúng
như ư nghiệp của họ mà
sanh khởi thành tựu, thọ các quả báo, sắc tướng,
h́nh tượng, âm thanh, thuận theo tâm tưởng [của
từng loại chúng sanh] mà nói đủ loại pháp, khiến
cho hết thảy chúng sanh hoan hỷ. “Nhất nhất
mao khổng pháp giới tăng thân xuất (từ trong mỗi
lỗ chân lông, xuất hiện
thêm thân pháp giới): Tiếng ấy [nói theo ư nghĩa] trong
tiếng Phạn cũng là Hống (rống), Ví
như rồng lớn xuất hiện, tiếng sấm vang
rền, hết thảy đều nghe thấy, không đâu
chẳng trọn khắp. Như Lai Hống cũng giống
như thế, trọn khắp hữu t́nh giới chẳng
thừa sót. Vô lượng âm thanh trong giới ấy
cũng đều nghe trọn khắp, chẳng phải là
có hạn lượng như rồng trong thế gian.
Thượng, trung, hạ phẩm trong chúng sanh giới tùy
thuộc nghiệp nào mà có quả báo ấy. V́ thế nói là “nghiệp
sanh thành tựu”. Ví như người đời nhận
được thức ăn mà chẳng ăn; do duyên cớ
ấy, chưa thể gọi là Thọ (tiếp nhận). Nếu
nhận lănh bèn ăn ngay, bèn gọi là “tiếp nhận [thức
ăn] được cung cấp”. Nay nhận lănh quả
báo dị thục cũng giống như thế, mỗi mỗi
đều xứng với cái nhân trước đó mà thọ
quả báo ấy. H́nh tướng, hiển sắc v.v… sai biệt,
muôn vàn âm thanh khác biệt, tuyên nói bất đồng, ư nhạo (tâm ưa thích),
tín giải [của chúng sanh] mỗi mỗi đều sai
khác. Đức Phật dùng một diệu âm b́nh đẳng,
ứng với tâm họ, đúng với ư chí của họ,
tùy theo ngôn ngữ của họ mà dạy họ giác ngộ,
phát khởi họ suy nghĩ, nhận biết phương
tiện, khơi
mở, dẫn dụ [khiến cho] họ
đều được hoan hỷ, tức là tướng
lành chưa từng có trong tam-muội. Ở trong ấy, “nói
đủ loại” [âm thanh] là như các ư nghĩa trong
Thanh Luận:
Giả sử ba âm ḥa hợp để cùng biểu thị
một nghĩa; nếu ư nghĩa
chưa trọn vẹn, bèn thêm một chữ cho trọn vẹn.
Nếu bốn âm cùng biểu thị một nghĩa,
nhưng nay dùng ba âm mà ư nghĩa đă trọn đủ, th́
bớt đi một chữ. Tùy nghi mà tăng giảm
như thế; nay ở đây cũng thế: Do một môn
chữ A có trọn đủ hết thảy các nghĩa,
không chuyện ǵ chẳng trọn vẹn! Do vậy bèn nói là
“thuyết”, không giống chữ Thuyết trong “thuyết
pháp”. [Nếu xét theo] tiếng Phạn, [chữ Thuyết
ở đây] khác [với chữ “thuyết”
trong “thuyết pháp”], nên cần phải khảo
sát thêm.
“Pháp
giới tăng thân xuất”: Pháp giới b́nh đẳng
rốt ráo tịch diệt, chẳng có tướng xuất
nhập. Do thần lực của Như Lai gia tŕ, mà hiện
ra vô tận sắc thân, tức là từ trong mỗi lỗ
chân lông của Phật, thuận theo đó hiện ra tiếng
rống như trong phần trước. Lại hiện ra
đủ loại h́nh tướng, cho nên nói là “pháp giới
tăng thân”. Thật ra, từ duyên mà khởi, nhưng bản
tánh là vô sanh! Thật Tướng như thế liền có
cùng một Thể với pháp giới, há có tăng thêm hay
sanh diệt ư? Tuy là pháp duyên khởi, nhưng Thể của
nó là “tướng thường như” (tuy có các h́nh
tướng khác biệt, nhưng cái Thể là Như
Như). Do sức gia tŕ của Như Lai, từ mỗi lỗ
chân lông đều hiện ra tiếng rống, hoặc dùng
âm thanh nhu nhuyễn, hoặc dùng lời thô tháp, hoặc sâu
xa, hoặc nông cạn, tương ứng với tâm cơ
của họ, như thủy triều nơi biển cả
chẳng quá lệ thường! Thân này cũng thế, hoặc
lớn, hoặc nhỏ, hoặc mang h́nh tướng phẫn
nộ, hoặc hành Lục Độ, hoặc dùng oai thế
để chế phục, sai biệt muôn vàn, nhưng hữu
t́nh được độ chẳng hề sai lầm!
Trong
phần trước đă dạy tự luân, nay từ trong
pháp giới luân mà hiện h́nh tướng và âm thanh. Đă
phát ra trong hư không, giống như một âm thanh pháp giới
trong thế giới nói bài kệ Như Lai Sanh cũng
như hư không chẳng có ngằn mé. Âm thanh này cũng thế,
giống như hư không. “Biểu” là biểu thị,
tức là nghiệp được biểu thị bằng
lời nói của Như Lai, tức là biểu hiện cho hết
thảy chúng sanh, khiến cho họ đều tương
xứng, ngộ pháp giới b́nh đẳng. Dùng diệu âm ấy
để biểu thị pháp giới, cho nên nói “pháp
giới là tâm”. “Nhất
âm” tức là môn chữ A luân chuyển vô cùng, giống
như hư không trọn khắp pháp giới. Tam thế
chư Phật đều sanh từ diệu kệ như
thế; v́ thế gọi là “Như Lai sanh”. Nay đức
Phật từ môn “nhất âm” ấy mà nói diệu kệ,
khiến cho trọn khắp chẳng sót
các thế giới đều b́nh đẳng nghe biết,
tùy theo từng loài mà được hiểu. Do vậy gọi
tên như thế. Nói ra tự luân như trên đây là v́ muốn
biểu thị công đức của Như Lai. V́ thế,
từ trong mỗi lỗ chân lông, đức Phật phát ra
âm thanh mầu nhiệm, trọn khắp pháp giới này, nói
nghĩa rất sâu của tự luân này, tức là nói bài kệ
“sanh ra chư Phật”. Nếu có chúng sanh biết rơ ư
nghĩa của tự luân như thế, liền thành Bồ
Đề. V́ thế nói “hết thảy chư Phật
sanh từ đó”.
Như
Pháp Thân của chư Phật ĺa sanh diệt; nếu Như
Lai có sanh, tức là chấp tướng. Hễ chấp
trước tướng th́ c̣n chẳng thể ĺa sanh tử,
huống hồ có thể thành đại Bồ Đề
ư? Nay nói “sanh” tức là cái sanh chân thật, ĺa
tướng. Bởi lẽ, Pháp Thân thanh tịnh, ĺa hết
thảy các tướng, nhưng do Phật dùng sức gia
tŕ, dùng tự luân này để khai thị đức nội
chứng bí mật của Như Lai. Do được thần
lực tự tại của Phật gia tŕ, do phương
tiện hữu tướng ấy, có thể sanh ra cái
tướng “vô tướng”. Ví như khi họ
chưa giác, bèn dùng tự luân này làm phương tiện,
[khiến cho họ] dần dần có thể liễu đạt,
quán sát môn chữ A. Do nhập môn chữ A, sẽ
có thể thấu hiểu Pháp
Thân rốt ráo tự tại.
(Kinh)
Năng sanh tùy loại h́nh, chư pháp chi pháp tướng,
chư Phật dữ Thanh Văn, cứu thế nhân duyên
giác, cần dũng Bồ Tát chúng, cập nhân tôn diệc
nhiên. Chúng sanh,
khí thế giới, thứ đệ nhi thành lập, sanh trụ
đẳng chư pháp, thường hằng như thị
sanh. Do cụ trí phương tiện, ly ư vô huệ nghi,
nhi quán thử đạo cố, chư Chánh Biến Tri thuyết.
(經)能生隨類形,諸法之法相,諸佛與聲聞,救世因緣覺,勤勇菩薩眾,及仁尊亦然。眾生器世界,次第而成立,生住等諸法,常恒如是生。由具智方便,離於無慧疑,而觀此道故,諸正遍知說。
(Kinh:
Sanh h́nh tướng tùy loại, pháp tướng của các
pháp, chư Phật và Thanh Văn, bậc Duyên Giác cứu
đời, Bồ Tát siêng, dũng mănh, và Nhân Tôn cũng thế.
Chúng sanh, khí thế giới, thành lập theo thứ tự.
Các pháp như sanh, trụ… Thường hằng sanh như
thế. Do đủ trí phương tiện, ĺa khỏi vô
huệ, nghi, do quán sát đạo này, các Chánh Biến Tri nói).
Kệ
nói: “Năng sanh tùy loại h́nh, chư pháp chi pháp tướng”
(Có thể sanh ra các h́nh tướng tùy theo từng loại.
Đó là pháp tướng của các pháp), tức là do nhập
môn chữ A th́ chính là Pháp Thân b́nh đẳng. Do Pháp Thân
ấy vô tướng, có
thể tùy duyên cảm ứng, hiện trọn khắp các sắc
thân, tùy theo h́nh tướng của mọi loài, dùng thân mà họ
thích thấy để khai thị trí huệ của Như
Lai cho họ. Kệ nói: “Chư Phật dữ Thanh
Văn, cứu thế nhân duyên giác” (Chư Phật và
Thanh Văn, bậc giác ngộ
nhân duyên cứu đời [tức là các vị Duyên Giác]),
Bồ Tát cứu đời cũng dũng mănh tinh tấn
giống như Phật, do cái thân vô tướng vô thượng
này, hết thảy chư Phật đều sanh từ
đó. Không chỉ chư Phật sanh từ đó, mà hết
thảy các thứ hạnh vị của Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát, cho đến địa vị Nhất Sanh
Bổ Xứ,
đều sanh từ lư
chữ A này. Không chỉ hết thảy các quả thánh hiền,
mà cho đến hết thảy hữu t́nh thế gian và khí
thế gian, đủ loại tăng trưởng sai khác
theo thứ tự, cũng đều do nghĩa chữ A này
mà sanh. V́ thế, “sanh” ở đây đại lược
có ba loại:
-
Thượng phẩm sanh là sanh ra cái quả thể
Pháp Thân chân tịnh thường trụ của Như Lai.
- Kế
đó là sanh ra
chư Phật, Bồ Tát, Nhị Thừa
(tức trung phẩm sanh), tùy thuộc địa vị nào
mà trừ chướng ấy.
- Hạ
phẩm sanh chính là hữu t́nh và khí thế gian, cũng đều
do pháp môn này mà được thành lập.
“Sanh
trụ đẳng chư pháp, thường hằng như
thị sanh” (Các pháp như sanh, trụ v.v… đều
thường hằng mà sanh ra như thế): Các điều
được nói ở đây khác với Đoạn Kiến
và Thường Kiến của ngoại đạo. Các pháp
tuy sanh từ nhân, nhưng “sanh
nhân” (cái nhân của sự
sanh khởi ấy) vô tướng. Tuy sanh từ duyên,
nhưng duyên ấy vô tướng. Tuy từ duyên khởi
[mà sanh], nhưng pháp vốn chẳng sanh. Tuy do duyên khởi
mà diệt, nhưng chẳng có tướng sanh hay trụ.
V́ thế là thường, chẳng giống cái thấy của
ngoại đạo, nên nói “sanh diệt là thường”.
Kệ
nói: “Do cụ trí phương tiện, ly ư vô huệ
nghi” (do trọn đủ trí phương tiện, ĺa vô
huệ, ngờ vực), đă liễu đạt luân
chữ A, [thấu hiểu] bản
thể của các pháp là rốt ráo không, vô sở hữu, tịch
diệt, vô tướng, vốn sẵn vô sanh; đó là huệ.
Thân ấn, Du Già v.v… trong Chân Ngôn có thể thực hiện lợi
ích to lớn, nhập Phật huệ. Đó là phương
tiện. Nếu nương theo phương tiện mà không
có huệ, hoặc chỉ có huệ mà chẳng có
phương tiện, sẽ trọn chẳng thể thành
tác dụng tự nhiên chẳng thể nghĩ bàn! Phải
do phương tiện và trí huệ trọn đủ,
phương tiện sẽ
được nhập trong bí tạng của tự luân. “Ly
vô
huệ nghi”: Nếu ĺa hai pháp
như thế (tức là ĺa phương tiện và trí huệ),
hăy nên biết đó là kẻ không có huệ. Do chẳng có huệ,
nơi nào cũng sanh nghi, chẳng thể tiến nhập.
Lại nữa, nếu hành giả cùng trọn đủ trí
huệ và phương tiện, sẽ tự nhiên ĺa vô huệ,
chẳng sanh tà nghi.
Kệ
nói: “Nhi quán thử đạo cố, chư Chánh Biến
Tri thuyết” (thấy đạo ấy do các đấng
Chánh Biến Tri nói): Quán đạo này do chư Phật
đă nói, chẳng phải chỉ ḿnh ta nói như thế.
Do hết thảy các đấng Đẳng Chánh Giác đều
nói như thế, chẳng có phân
biệt. Do mười phương ba đời chư Phật
cùng đắc đạo này chẳng sai biệt, một
tướng, một vị, chẳng nói khác biệt!
(Kinh)
Nhĩ thời, pháp giới sanh Như Lai thân, nhất thiết
pháp giới tự thân biểu hóa vân biến măn Tỳ Lô Giá
Na Thế Tôn, tài sanh tâm khoảnh, chư mao khổng trung xuất
vô lượng Phật, triển chuyển gia tŕ dĩ, hoàn
nhập pháp giới cung trung. Ư thị, Đại Nhật
Thế Tôn phục cáo Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: “Bí Mật
Chủ! Hữu tạo Mạn-đồ-la thánh tôn phần
vị, chủng tử, tiêu xí, nhữ đương đế
thính, thiện tư niệm chi, ngô kim diễn thuyết”.
Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: “Như thị, Thế Tôn!
Nguyện nhạo dục văn”.
(經)爾時法界生如來身,一切法界自身表化雲遍滿毘盧遮那世尊,纔生心頃,諸毛孔中出無量佛,展轉加持已還入法界宮中。於是大日世尊復告持金剛祕密主言:祕密主!有造漫荼羅聖尊分位種子幖幟。汝當諦聽,善思念之,吾今演說。持金剛祕密主言:如是。世尊!願樂欲聞。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, thân của đức Tỳ Lô Giá Na Thế
Tôn là thân Như Lai do pháp giới sanh, là tự thân
Như Lai biểu lộ, hiện hóa trong trọn khắp hết
thảy các pháp giới như mây, trong khoảng vừa mới
sanh tâm, từ trong các lỗ chân lông,
hiện ra vô lượng Phật, xoay vần gia tŕ xong, lại
trở vào trong cung pháp giới. Khi đó, Đại Nhật
Thế Tôn lại bảo Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ rằng:
“Bí Mật Chủ! Có [pháp dạy về cách] tạo phần
vị, các vật biểu trưng,
và chủng tử của chư tôn thánh trong Mạn-đồ-la.
Ông hăy nên lắng nghe, khéo suy nghĩ lấy. Ta nay diễn
nói”. Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ thưa: “Đúng như thế,
bạch Thế Tôn! Con nguyện ưa thích muốn nghe”).
“Pháp
giới sanh thân” ở đây chính là Tỳ Lô Giá Na Pháp
Thân. Do sanh từ pháp giới chân thật, nên gọi là “pháp
giới sanh”. “Nhất thiết pháp giới tự thân biểu”:
“Biểu” nghĩa là có thể khiến cho hết thảy
đều thấy biết. Nói “ư nhất thiết
pháp giới trung, tự thân biểu hóa vân giai biến măn”,
tức là thân Như Lai biểu hiện trọn khắp các sắc
thân, giống như
mây to trọn khắp pháp giới. “Vân” (mây) có
nghĩa là “trọn khắp”. Ư nói:
Mây hóa thân ấy trọn khắp, đầy ắp
thế giới, trọn khắp mười phương thế
giới,
chẳng thể hạn lượng! “Tâm tự tại” ở đây
được dịch theo ư nghĩa, nếu dịch sát th́
là “tâm tài” (心纔, tâm
vừa mới), tức khi tâm vừa dấy lên ư niệm,
chẳng dùng công sức mà có thể trọn khắp, đầy
ắp rộng lớn như thế, tức là tâm có thể
đạt được tự tại. “Chư mao khổng
trung, Phật sanh triển chuyển gia tŕ” (Trong các lỗ
chân lông [nơi thân đức Tỳ Lô Giá Na], sanh ra chư
Phật, xoay vần gia tŕ): Ví như Như Lai vừa mới nhập
tam-muội; ngay lập tức liền hiện chuyện hy
hữu trọn khắp như thế. Đấy là thần
lực gia tŕ của Như Lai. “Triển chuyển” [ở
đây] nghĩa là “nhập
vào lẫn nhau”. Từ
lỗ chân lông của đức Phật,
lưu xuất bản thân của Như Lai, [các thân ấy]
xoay vần nhập vào lẫn nhau. Mỗi thân đều hiện
thần lực như trên, đă biến hóa rồi lại
biến hóa, chẳng có cùng tận. Các nghĩa như thế
càng phải nên nói tường tận. “Triển chuyển
gia tŕ” tức là dùng thần lực tự tại của
Phật để gia tŕ. Đấy chính sự gia tŕ từ
tự luân thuộc pháp giới tánh như đă nói trong phần
trên. Từ mỗi lỗ chân lông nơi thân đức Phật,
hiện ra đủ loại “thân
vân” (thân nhiều
như mây), chia thành thượng, trung, hạ phần, tức:
Đầu là nội thai (trung thai bát diệp của Đại
Bi Thai Tạng Sanh Mạn-đồ-la). Từ tim trở lên
là viện thứ nhất, từ rốn
trở lên là viện thứ hai, từ rốn trở xuống
là viện thứ ba. Phối hợp [các phần ấy với]
bốn vị trí trong cái đàn h́nh tṛn ở
phần trước, tùy theo các phần thượng, trung,
hạ, trái, phải, sau, trước mà hiển hiện thân
Bổn Tôn, đều dựa theo bổn vị (vị trí
đáng nên an lập trong Mạn-đồ-la) mà xuất hiện,
thực hiện Phật
sự trong thế giới. Từ mỗi mỗi thân mà lần
lượt xuất hiện, thực hiện các Phật sự.
Do vậy nói là “triển chuyển”.
Khi
đó, ngài Chấp Kim Cang cũng hiểu ư Phật. Nay đức
Phật Thế Tôn hiện chuyện hy hữu chưa từng
có, chẳng phải là không có nhân duyên, chắc chắn Ngài sẽ
nói pháp sâu xa, bí mật, tức là trong phần trên nếu có
điều ǵ nói chưa trọn vẹn, c̣n thiếu sót, ắt
Ngài sẽ nói [vào lúc này], [do vậy, ngài
Kim Cang Thủ] bèn chí thành chiêm ngưỡng, mong mỏi mà trụ.
Do vậy, đức Phật lại bảo: “Bí Mật
Chủ! Hữu tạo Mạn-đồ-la thánh tôn phần
vị, chủng tử, tiêu xí, nhữ đương đế
thính, thiện tư niệm chi, ngô kim diễn thuyết” (Bí Mật Chủ! Có cách tạo các phần
vị, chủng tử, vật biểu trưng của các
tôn thánh trong Mạn-đồ-la, ông hăy nên lắng nghe, khéo
suy nghĩ, ta nay sẽ diễn nói), tức
là khi đó đức Phật đă v́ các vị như Chấp
Kim Cang v.v… hiện ra các thứ phần vị như trên
đây. Khi ấy, chư tôn đă thực hiện đủ loại
Phật sự, lại từ bổn vị nhập vào thân
của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, cũng đúng với các vị
trí khi đă xuất hiện, chẳng khác ǵ. Do đó, kinh
nói: “Phục nhập pháp giới cung” (lại vào trong
pháp giới cung). Phần vị và chủng tử của
chư tôn, các vị tôn thánh trên đây đều là đức
nội chứng của Như Lai, đều từ mỗi
mỗi [điều ấy] mà biểu lộ đường
lối rất sâu nơi pháp giới do Như Lai hiển thị.
Nay nếu có A-xà-lê muốn làm đàn, trước hết,
hăy trụ trong môn Du Già này, theo đúng thứ tự, từ mỗi vị
trí nơi thân Phật để quán h́nh tượng, màu sắc
xong, nơi tâm mỗi vị tôn thánh, quán vầng tṛn sáng.
Quán chủng tử của vị ấy trong vầng tṛn
sáng, mỗi mỗi xếp đặt như thế rồi
mới tác pháp. Nếu chẳng như thế, sẽ trọn
chẳng thể gia tŕ, kiến lập các đệ tử,
mà cũng chẳng thể gọi là A-xà-lê!
Như
trong phần trước đă nói, đoạn chủng tử
phiền năo xong; kế đó, sanh khởi chủng tử của
pháp giới tánh, tức là chủng tử b́nh đẳng của
hết thảy hữu t́nh. Chủng tử pháp giới tánh
b́nh đẳng ấy được sanh trưởng bởi
đất Nhất Thiết Trí của Như Lai. Như
đủ loại thảo mộc trong thế gian, tùy theo
tánh phận của từng loài mà mỗi mỗi đều
sai biệt, đều nương vào đại địa
mà được sanh trưởng, nhưng rễ, thân,
cành, lá,
đủ thứ bất đồng, tánh phần tăng
trưởng lớn nhỏ mỗi thứ mỗi khác,
nhưng đều là nương vào tánh của đại
địa, do đất mà sanh trưởng. Tuy rốt ráo
đều quy vào đất, chỉ do nhân duyên hội hợp
mà có sanh trưởng, chứ thật ra, chẳng có tự
tánh, vô sanh, vô khởi! Nếu chúng sanh đă được
an lập chủng tử như thế, tức là giống
như địa vị Như Lai. Do chủng tử ấy
sanh từ pháp giới tánh, có thể sanh ra pháp giới, nên gọi
là “pháp giới sanh chủng tử”. “Pháp giới sanh” tức
là thân tự tánh của Như Lai. “Tiêu xí” (các vật
biểu trưng, các đặc điểm đặc
trưng) là như chủng tử thế gian, mỗi mỗi
sai biệt. Như đối với chủng tử của
cỏ nhỏ, tuy nó chưa mọc lớn, nhưng người
có trí nh́n vào, đă biết tánh phận cùng cực lớn nhỏ
ắt có của nó. [Cũng giống như vậy], nếu
thấy chúng sanh hành chủng tử thuộc nhân vị
như thế, cũng sẽ [đạt được quả
địa] như thế. Nhưng nay do chủng tử
chính là chủng tử thuộc pháp giới tánh, hăy nên biết
tánh của nó nhất định có thể sanh ra thân pháp trí
b́nh đẳng của Như Lai. V́ thế, gọi là “tiêu
xí”.
Lại
nữa, mỗi phần vị trong Mạn-đồ-la ấy
đều có chủng tử dùng để ghi nhớ các môn
pháp giới sai biệt. Hăy nên biết mỗi mỗi đều
vào trong chữ A. Hễ thấy, hễ thấy tiêu kư (dấu
hiệu đặc trưng để ghi nhớ) của nội
chứng, sẽ biết đức nội chứng của
Như Lai. V́ thế gọi là “tiêu kư”. Tùy theo bốn tầng
phần vị mà lưu xuất từ từng vị trí, tức
là từ tiêu xí của Phật, hoặc từ các phần vị
của Bồ Tát mà xuất hiện, hoặc từ phần
vị Nhị Thừa mà xuất hiện, hoặc từ phần
vị thiên long bát bộ mà xuất hiện. Hăy nên biết
các địa vị sai biệt mỗi mỗi đều
được biểu thị bằng các
chữ chủng tử bất đồng.
Khi ấy, đức Phật bảo ngài Bí Mật Chủ
xong, ngài Kim Cang Thủ liền bạch Phật rằng: “Nguyện
nhạo dục văn”, tức là con v́ muốn lợi
ích trọn khắp hết thảy chúng sanh mà lưu truyền,
diễn nói, phổ biến, v́ trọn hết thảy chúng
sanh trong đời vị lai, cũng như nhằm lợi
ích các đại chúng hội mà thỉnh Phật diễn
nói. Trong phần trước, tuy đă nói pháp Mạn-đồ-la,
nhưng chưa nhắc tới màu sắc, chủng tử
và tạng bí yếu. Do vậy, con sẽ nhất tâm lắng
nghe, nguyện Phật diễn nói.
(Kinh)
Thời, Bạc Già Phạm dĩ kệ tụng viết: -
Chân Ngôn giả viên đàn, tiên trí ư tự thể, tự
túc nhi chí tề, thành đại kim cang
luân. Tùng thử nhi chí tâm, đương tư duy thủy
luân. Thủy luân thượng hỏa luân. Hỏa luân thượng
phong luân. Thứ ưng niệm tŕ địa, nhi đồ
chúng h́nh tượng. (經)時薄伽梵以偈頌曰:真言者圓壇,先置於自體,自足而至臍,成大金剛輪,從此而至心,當思惟水輪,水輪上火輪,火輪上風輪,次應念持地,而圖眾形像。
(Kinh:
Khi đó, đức Bạc Già Phạm dùng kệ tụng
để nói: - Đàn tṛn bậc Chân
Ngôn, trước
đặt nơi thân ḿnh, từ chân cho đến rốn,
thành đại kim cang luân. Từ đó cho đến tim,
nên tư duy thủy luân. Hỏa luân trên thủy luân. Phong
luân trên hỏa luân. Kế nên niệm tŕ đất, để
vẽ các h́nh tượng).
Kế
đó, đức Phật có ư bảo: Hễ A-xà-lê muốn
kiến lập Đại Bi Thai Tạng để kiến
lập đệ tử, hăy nên trước hết trụ
trong Du Già để quán tự thân. Tưởng từ rốn
trở xuống là kim cang luân, màu vàng, cứng chắc. Kế
đó, từ rốn trở lên tới tim, tưởng
như thủy luân, sắc trắng. Kế đó, từ tim
trở lên tới họng, tưởng như hỏa luân,
màu đỏ. Kế đó, từ họng trở lên tới
đỉnh đầu, tưởng như phong luân, màu
đen.
Lại
nữa, địa luân vuông vắn,
thủy luân tṛn, hỏa luân tam giác, phong luân h́nh bán nguyệt,
hư không ở trên cùng, thành một điểm. Các thứ
màu ấy đặt ở trên h́nh chữ thập chỗ
các miếng xương sọ giáp mí trên đỉnh đầu.
Chấm tṛn, bán nguyệt, tam giác, tṛn, vuông là h́nh dạng của
các luân, hoàn toàn tương xứng với thân phần.
Năm vị trí ấy chính là năm chữ đă nói trong phần
trước. Trong h́nh vuông đặt chữ A (अ),
trong h́nh tṛn đặt chữ Phạ (Va, व),
trong h́nh tam giác đặt chữ Ra (र),
trong h́nh bán nguyệt đặt chữ Hám (haṃ, हं), nơi cái chấm th́
đặt chữ Khiếm (khaṃ, खं).
Hăy nên kiểm trong quyển trước.
Thầy đă tự quán phương vị và
màu sắc nơi thân ḿnh theo thứ tự, gia tŕ tự thân
như thế và quán để xếp đặt chữ chủng
tử xong; kế đó, quán đất nơi đàn tràng,
liền xếp [thứ tự các luân] đảo ngược
lại: Trên cùng là kim cang luân. Dưới kim cang luân là thủy
luân. Dưới thủy luân là hỏa luân. Dưới hỏa
luân là phong luân. Dưới phong luân chính là hư không luân. V́
lẽ nào vậy? Do hết thảy các thế giới đều
nương tựa vào năm luân để duy tŕ. Khi thế
giới h́nh thành th́ trước là từ hư không khởi
lên phong, trên phong dấy lên hỏa, trên hỏa dấy lên thủy,
trên thủy dấy lên đất, tức là thứ tự
an lập Mạn-đồ-la vậy. Khi hoại, địa
luân hoại trước hết, cho đến chỉ có
hư không tồn tại; đó tức là thứ tự để thầy
tự gia tŕ. Nay hành nhân tu đạo cũng
tương tự như thế: Đầu tiên là phát tín
tâm, kế đó là Bồ Đề tâm, cho đến Đại
Không.
A-xà-lê
đă gia tŕ như thế xong, liền xếp đặt
chư tôn, theo thứ tự, phương vị. Đối
với mỗi vị trí,
đều dùng Du Già để quán, đúng
như phương vị, màu sắc,
h́nh tướng, nơi tâm mỗi vị đều
đặt
một vầng tṛn sáng. Trong vầng tṛn sáng
có chữ chủng tử, mỗi mỗi đều rành rẽ,
chẳng có chướng ngại. Có thể làm như thế,
tức là phần vị trong Pháp Giới Thai Tạng Mạn-đồ-la, sẽ có thể
được hết thảy Như Lai cùng nhau gia tŕ, hết
thảy các vị tôn thánh thảy đều nhóm họp,
cùng gia tŕ hành nhân kiến lập đệ tử, rốt
ráo chẳng thoái thất Chánh Đẳng Bồ Đề.
Nếu không, sẽ uổng phí công sức, vô ích!
Lại
nữa, nơi ṭa Du Già ấy, luân kim cang vuông màu vàng chính là
ṭa kim cang. Vuông là Tức Tai, tṛn là Tăng Ích, tam giác là Hàng
Phục, bán nguyệt là Nhiếp Triệu; cái chấm là hoàn
thành hết thảy các sự. Trong đàn hư không luân ấy,
chỉ dùng tâm niệm để làm, do chẳng dùng h́nh
tướng. Khi thế giới
hoại, cũng là trước hết từ phong luân hoại
địa luân mà sanh ra lửa, lửa xong đến gió, phải
xem xét! Làm ngũ luân như thế, hăy nên biết trên dưới
đều có hư không luân. Do từ không luân mà sanh ra phong,
hỏa, thủy, địa. Lại từ địa luân dần
dần lên cao cho tới hư không. V́ thế, trên dưới
đều có hư không. Khi làm Mạn-đồ-la, thầy
hăy nên tự
quán thân ḿnh và đất, lại quán
các đệ tử được độ cũng giống
như thế, an lập họ chuẩn
theo cách [quán của] thầy. Nếu chẳng như vậy,
sẽ chẳng gọi là “như pháp” được!
(Kinh)
Nhĩ thời, Kim Cang Thủ thăng ư Đại Nhật
Thế Tôn thân, ngữ, ư địa pháp b́nh đẳng quán,
niệm bỉ vị lai chúng sanh, vị đoạn nhất
thiết nghi cố, thuyết Đại Chân Ngôn
Vương viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm.
A sa ma bổ đa, đạt ma đà đô, nghiệt
đăng nghiệt đá nẫm. Tát phạ tha, ám khiếm
ám á, tảm sách, hàm hạc, lam lạc, văm phạ, sa ha hồng,
lam lạc ha
ra hạc. Sa ha lam lạc. Sa ha.
(經)爾時金剛手昇於大日世尊身語意地法平等觀,念彼未來眾生,為斷一切疑故,說大真言王曰:南麼三曼多勃馱喃。阿娑摩補多達摩馱都。蘖登蘖哆喃。薩嚩他。暗欠暗噁。糝索。含鶴。㘕𡀩。鑁嚩。莎訶吽。㘕𡀩訶囉鶴。莎訶㘕𡀩。莎訶。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, ngài Kim Cang Thủ thăng lên pháp b́nh
đẳng quán nơi thân, ngữ, ư địa của
Đại Nhật Thế Tôn, nghĩ tới vị lai chúng
sanh, v́ đoạn hết thảy các mối
nghi [của họ], bèn nói Đại Chân Ngôn Vương rằng:
“Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm.
A sa ma bổ đa, đạt ma đà đô, nghiệt
đăng nghiệt đá nẫm. Tát phạ tha, ám khiếm
ám á, tảm sách, hàm hạc, lam lạc, văm phạ, sa ha hồng,
lam lạc ha ra hạc. Sa ha lam lạc. Sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ
asamāptadharma-dhātugatiṃ gatānāṃ,
sarvathā āṃ khāṃ aṃ aḥ saṃ saḥ
haṃ haḥ raṃ raḥ vaṃ vaḥ svāhā
hūṃ, raṃ raḥ hra haḥ svāhā, raṃ raḥ
svāhā”).
Khi
đó, [chánh kinh nói] ngài Kim Cang Thủ thăng lên pháp giới
b́nh đẳng quán đối với
thân, ngữ, ư địa của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, có
nghĩa là: Ví như vị Bồ Tát ấy có thể biết
thân, khẩu, ư mật của Như Lai, nên gọi là Bí Mật
Chủ. Pháp ư mật của Như Lai chỉ có Phật và
Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo. Giống
như ư, hăy nên biết thân và khẩu cũng giống hệt
như thế. Nay vị Bồ Tát này cũng có thể biết,
hăy nên biết là địa vị của Ngài giống
như bậc đại giác, v́
muốn độ chúng sanh mà thị hiện làm Bồ Tát
để khởi phát. “Thân mật” được nói
ở đây chính là các ấn, như trong Đại Mạn-đồ-la
bốn tầng, mỗi vị Bổn Tôn đều có mật
ấn. Nếu quán thân ấn ấy, sẽ biết đức
bí mật được biểu thị bởi vị tôn
thánh ấy, tùy loại thượng, trung, hạ sai biệt
mà có vô lượng loại. “Ngữ mật” tức là
tất cả chân ngôn của chư tôn thánh. Nghe chân ngôn ấy,
liền biết đức nội chứng của vị
tôn thánh ấy. “Ư mật” tức là phép quán Bổn Tôn
Du Già, cũng tùy theo phương vị trong bốn tầng
[của Mạn-đồ-la] mà mỗi mỗi bất đồng,
hễ tương ứng với điều này, sẽ nhập
tạng bí mật trong Như Lai ư. Thân, ngữ, ư mật ở
đây, trên là
từ địa vị Phật, Bồ Tát và Nhị Thừa,
[dưới là đến] chư thiên tám bộ, vô lượng sai biệt. Luận
định rộng hơn, thậm chí như số vi trần
trong mười thế giới, mỗi
mỗi đều bất đồng. Nói đại lược,
các địa vị được biểu thị trong
kinh như thế đều nhằm biểu thị đức
bí mật nơi thân, khẩu, ư của Như Lai. Nếu có
thể biết rơ như thật, sẽ giống như Bí Mật
Chủ. Nay Bí Mật Chủ Bồ Tát trụ trong pháp giới
b́nh đẳng quán, v́ nghĩ tới chúng sanh trong đời
vị lai, muốn khiến cho trọn khắp hết thảy
[các chúng sanh ấy] đều xé toạc lưới nghi lớn,
cho nên Ngài đối trước đức Phật mà nói
Đại Chân Ngôn Vương.
Phần kinh văn này dễ hiểu!
“Nam
ma tam mạn đa bột đà nẫm” (Namaḥ samantabuddhānāṃ, quy
mạng trọn khắp chư Phật),
“a sa ma bổ-đa” (asamāpta, vô tận), “đạt ma đà đô” (dharmadhātu, pháp giới), “nghiệt đăng nghiệt đá nẫm” (gatiṃ gatānāṃ, siêu việt vô tận pháp giới. “Siêu việt” chính
là tán thán đức nơi thân, khẩu,
ư bí mật của Như Lai). “Tát phạ
tha”
(sarvathā,
trong hết thảy các thời thuộc mười
phương ba đời, hết thảy nơi chốn,
siêu việt vô tận pháp giới, mà có thể lợi
ích trọn khắp hết thảy). Bốn chữ Ám Khiếm
Ám Á (āṃ khāṃ
aṃ aḥ) chính là bốn luân. Chữ
thứ nhất là địa kim cang luân. Chữ thứ hai
là thủy luân. Chữ thứ ba là hỏa luân. Chữ thứ
tư là phong luân. Bản thể của chữ Ám (āṃ, आं)
là kim cang giới thể, lại có âm dài là hạnh, hạnh
tức là hỏa luân. Phía trên có cái chấm tức là Không
luân, dùng để trang nghiêm. Kế đó, chữ Khiếm
(khāṃ, खां)
là thủy luân. Khư (kha - खा
có nghĩa là Không, cũng có âm dài là hạnh, có cái chấm là
Không, tức Đại Không. Chữ Ám (aṃ) kế
tiếp là lửa. Trong
tiếng Phạn, A-kiệt-nam (Agni) là lửa. Á (aḥ) là tánh Niết Bàn, màu đen tức là
gió.
Lại
nữa, hư không vô sắc, mà có thể chứa đựng
hết thảy các sắc tượng. Nay chữ Khư có
hành, có chấm, tức là “hết
thảy các sắc tượng”.
Đại Không là cũng như hư không trọn đủ
màu sắc, h́nh tượng của hết thảy các pháp.
Cái Không ấy hoàn thành hết thảy các sự. V́ thế,
chữ Khiếm được coi là nước. Sản
sách (saṃ saḥ, đất),
hám hạc (haṃ
haḥ, gió), lam lạc (raṃ raḥ, lửa),
văm phạ (nước). Như trong phần trên [đă
nói] A (अ) có bốn chữ, tức
là [chữ A] âm dài (आ, ā),
phía trên có chấm (अं,
aṃ), và bên cạnh có hai
chấm, [chữ A] âm ngắn cũng có chấm phía trên và
hai chấm bên cạnh (अः,
aḥ), hai âm ấy thành ra
bốn chữ. Nay hăy nên biết các chữ như Sa (स) v.v… cũng giống
như thế, đều có bốn chữ. Nay ở đây
chỉ nêu ra âm ngắn, kết hợp hai chữ âm dài với
hai chữ âm ngắn trước đó, chuẩn theo trên
đây mà nói. Tảm sách hám hạc (saṃ saḥ haṃ haḥ) cũng
như thế, các chữ khác đều phỏng theo lệ
này).
Lại
luận định chung, chữ A là Phật Bộ, chữ
Sa là Liên Hoa Bộ, chữ Phạ là Kim Cang Bộ, Phong và Hỏa
dùng khắp ba bộ. Như trong Liên Hoa Bộ đều có
đất, nước, lửa, gió. Nếu Tức Tai th́ cần
kim cang luân h́nh vuông, nếu Tăng Ích th́ cần thủy
luân, Hàng Phục cũng cần dùng hỏa
luân v.v…,
tùy loại mà dùng. Năm môn A, Sa,
Ha, Ra, Phạ (अ, स, ह, र, व) này giống như
năm tự luân trong phần trên, trong luân nào cũng đều
có bốn luân kia. Như chữ Phạ trong Kim Cang Bộ
đều có bốn luân, tùy thuộc làm các chuyện Tức
Tai, Tăng Ích, Hàng Phục mà dùng theo từng loại. Nếu
đọc các chân ngôn khác, tùy thuộc bộ loại có các
chữ ấy, sẽ biết chỗ dùng của nó, mỗi
chân ngôn đều có tác dụng chủ yếu nhất.
Đoạn cuối c̣n chưa rơ, phải hỏi lại!
Cũng có ba đạo chân ngôn: Hồng lam lạc
(hūṃ, raṃ, raḥ - हूं, रं, रः)
là thân chân ngôn. “Ha
ra hạc”
(hraḥ haḥ - ह्रःहः)
là ngữ chân ngôn. “Lam lạc”
(raṃ raḥ - रं, रः)
là ư chân ngôn.
Ba
đạo chân ngôn ấy thâu nhiếp pháp môn “thân, ngữ,
ư b́nh đẳng” của Như Lai; nhưng
đối với ba chân ngôn, nếu chú trọng chữ Sa
Ha th́ cũng được, chẳng chú trọng cũng
được. Khi hành giả đă hiểu ư, bèn tự xem
xét phương tiện. Lại nữa, do chân ngôn này tối
thắng nên gọi là Vương. Như trên đă nói, tuy mỗi
chữ chân ngôn đều có bốn chữ, đều cùng
chứa đựng trong đây, nhưng chỉ gọi
mười hai chữ chân ngôn là Vương. Bốn thứ
luân trong ấy, đều tùy thuộc địa, thủy,
hỏa, phong luân mà gia tŕ thân A-xà-lê,
ḥng đạt được tác dụng tự tại.
Chân ngôn thân khẩu ư cũng cùng gia tŕ thân, khẩu, ư nghiệp.
Chuyện này chưa rơ, cần phải hỏi thêm (Lại
như cách sắp xếp chữ trong phần trước,
nay ở đây dùng cách kết hợp riêng biệt, tức
là thuận theo chữ tương ứng với năm sự
mà liền thâu nhiếp để sử dụng, cũng cần
phải thưa hỏi thêm).
(Kinh)
Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ thuyết thử Chân Ngôn Vương
dĩ, thời nhất thiết Như Lai trụ thập
phương thế giới, các thư hữu thủ, ma Chấp
Kim Cang đảnh, dĩ “thiện tai” thanh, nhi xưng tán
ngôn: - Thiện tai, thiện tai, Phật tử! Nhữ
dĩ siêu thăng Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn thân ngữ ư
địa, vị dục chiếu minh nhất thiết
phương sở, trụ b́nh đẳng Chân
Ngôn
đạo chư Bồ Tát cố, thuyết thử Chân Ngôn Vương.
Hà dĩ cố? Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, Ứng, Chánh Đẳng
Giác tọa Bồ Đề ṭa, quán thập nhị cú pháp giới,
hàng phục tứ ma, thử pháp giới sanh, tam xứ
lưu xuất, phá hoại thiên ma quân chúng. Thứ đắc
Thế Tôn thân ngữ ư b́nh đẳng, thân lượng
đẳng đồng hư không, ngữ ư lượng diệc
như thị, đăi đắc vô biên trí sanh, ư nhất
thiết pháp tự tại nhi diễn thuyết pháp, sở
vị thử thập nhị cú chân ngôn chi vương. Phật
tử! Nhữ kim hiện chứng Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn
b́nh đẳng thân ngữ ư cố, chúng sở tri thức,
đồng ư Chánh Biến Tri giả.
(經)持金剛祕密主說此真言王已,時一切如來住十方世界,各舒右手摩執金剛頂,以善哉聲而稱歎言:善哉善哉佛子!汝已超昇毘盧遮那世尊身語意地,為欲照明一切方所,住平等真言道諸菩薩故說此真言王。何以故?毘盧遮那世尊、應、正等覺坐菩提座,觀十二句法界,降伏四魔,此法界生,三處流出,破壞天魔軍眾;次得世尊身語意平等,身量等同虛空,語意量亦如是;逮得無邊智生,於一切法自在而演說法,所謂此十二句真言之王。佛子!汝今現證毘盧遮那世尊平等身語意故,眾所知識,同於正遍知者。
(Kinh: Ngài Tŕ Kim
Cang Bí Mật Chủ nói Chân Ngôn Vương ấy xong, khi
đó, hết thảy Như Lai trụ trong mười
phương thế giới, đều duỗi tay phải
xoa đỉnh đầu Chấp Kim Cang, dùng tiếng “lành
thay” để khen ngợi rằng: - Lành thay! Lành thay! Phật
tử! Ông đă siêu thăng địa vị thân, ngữ,
ư của Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, v́ muốn chiếu sáng
các vị Bồ Tát trụ trong đạo Chân Ngôn b́nh đẳng
thuộc hết thảy các phương sở mà nói Chân Ngôn
Vương này. V́ lẽ nào? Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, Ứng,
Chánh Đẳng Giác ngồi ṭa Bồ Đề, quán mười
hai câu pháp giới, hàng phục tứ ma. Pháp giới này sanh,
ba chỗ lưu xuất, phá hoại bè lũ binh lính thiên ma.
Kế đó, đạt được thân ngữ ư b́nh
đẳng của Thế Tôn, thân lượng bằng với
hư không, ngữ lượng và ư lượng cũng
như thế, đạt được vô biên trí sanh, tự
tại trong hết thảy các pháp để diễn nói
pháp, tức là vua của mười hai câu chân ngôn này. Phật
tử! Do ông nay đă hiện chứng “thân
ngữ ư b́nh đẳng” của
Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, được mọi người
hay biết, bèn đồng hàng với bậc Chánh Biến
Tri).
“Xoa
đỉnh đầu” ở đây không phải là
mười phương chư Phật đều duỗi
tay sang
cơi này để xoa đỉnh đầu Bồ Tát. Khi Bí Mật
Chủ đối trước đức Phật nói Chân
Ngôn Vương này, liền do [thần lực của] Chân
Ngôn Vương mà hiện thân trước mỗi
đức Như Lai trong hết thảy
các thế giới khắp
mười phương, dùng âm
thanh b́nh đẳng trọn khắp để cùng lúc nói. V́
thế, hết thảy Như Lai, mỗi vị đều duỗi tay xoa đỉnh
đầu Ngài. “Việt” có nghĩa là “siêu nhập”. Như đức Tỳ Lô Giá Na ngồi
đạo tràng trên A Ca Ni Trá Thiên (Akaniṣṭha, Sắc Cứu Cánh Thiên), do Chân Ngôn Vương này,
đạt được tác dụng thân khẩu ư rốt
ráo b́nh đẳng tự tại. Ông nay cũng được
siêu nhập địa vị thuộc pháp
“thân khẩu ư b́nh
đẳng”
như thế, bằng với đức Tỳ Lô Giá Na.
Đấy chính là hết thảy các đức Như Lai
tán thán đức chân thật của Bồ Tát. Nói “ông
đă đạt được địa vị b́nh đẳng
như thế, v́ muốn lợi ích trọn khắp hết
thảy chúng sanh, v́ muốn soi sáng cho các Bồ Tát tu chân ngôn hạnh,
trừ tối tăm cho họ. V́ thế, nói Chân Ngôn
Vương này”, [hàm
ư]: Chân Ngôn Vương có thể xé toạc
lưới nghi trong hết thảy pháp giới. “Nghi”
tức là tối tăm. Có thể đoạn hết thảy
nghi hoặc tức là đă chiếu sáng. V́ sao vậy? Nay
đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, Ứng, Chánh Đẳng
Giác ngồi ṭa Bồ Đề, quán chân ngôn mười hai
chữ, hàng phục tứ ma. Pháp giới ấy hiện
sanh ba xứ, lưu xuất bậc hàng phục thiên ma, tức
là khi Đại Nhật Như Lai ngồi đạo tràng,
b́nh đẳng quán pháp giới, nói mười hai câu Chân
Ngôn Vương này, liền do sức ấy, có thể đánh
bại tứ ma, trừ tội cấu cho họ. Nhưng
trong bốn loại ma, ba loại ma (phiền năo ma, tử
ma, ngũ ấm ma) là vô sắc, khi đức Phật ở
A Ca Ni Trá Thiên đă hàng phục rồi. Chỉ có thiên ma hữu
tướng, v́ muốn cho thế giới biết đến
sức tự tại, lại ở trong cơi này mà thị hiện
hàng phục thiên ma.
“Ba
chỗ” là như trong phần trước
đă nói: Phần trên của thân Phật lưu xuất hết
thảy chư Như Lai, phần giữa từ tim tới
rốn, lưu xuất hết thảy Bồ Tát, phần
dưới từ rốn tới chân lưu xuất hết
thảy các thiên thần thuộc tám bộ. Đều là phổ
môn thị hiện từ tam nghiệp b́nh đẳng của
Như Lai, phơi bày các phần vị trang nghiêm trong Đại Mạn-đồ-la
Thai Tạng, tức là
chân ngôn và ấn của Bổn Tôn. Hăy nên biết: Khi
đức Phật từ đức nội chứng mà hiện
ra chuyện như thế, ngay lập tức, hàng phục tứ
ma trọn khắp, chẳng c̣n thừa sót. Nay khi A-xà-lê muốn
tạo Mạn-đồ-la, cũng cần phải nghĩ
bản thân giống như đức Tỳ Lô Giá Na, liền
đạt được sức tự tại, cũng giống
như đức Phật ấy có thể hàng phục tứ
ma.
Kế
đó, đức Thế Tôn thân, ngữ, ư b́nh đẳng,
đạt được lượng bằng hư không.
Ngài đạt được thân ngữ ư như thế,
đắc trí như thế, tự tại trong hết thảy
các pháp, tức là đức Phật ngồi nơi đạo
tràng kim cang, vừa mới nghĩ tới ba đạo chân
ngôn ấy, tức là ba chân ngôn thân, khẩu, ư như vừa
mới nói. Trong khi nghĩ như thế, liền đạt
được địa vị thân, khẩu, ư b́nh đẳng,
thân và ngữ ư đều là cái Thể của pháp giới,
chẳng có ngằn mé như hư không. Ngài liền dùng sức
như thế để hàng phục tứ ma. Trong phần
trước đă nói ba đạo, có một cách giải
thích như sau: Ba đạo chân ngôn ấy, tức sức
b́nh đẳng tự tại nơi thân, khẩu, ư, đều từ
Phật mà ra. Do ba đạo chân ngôn thân, khẩu, ư ấy,
Như Lai siêu nhập địa vị tam b́nh đẳng,
thuận theo các loại thượng, trung, hạ mà phổ
môn thị hiện đủ loại thân Bổn Tôn, đủ
loại chân ngôn, đủ loại ấn pháp, giống
như hư không chẳng có ngằn mé, trọn khắp pháp
giới độ quần sanh, rốt ráo đều khiến
cho họ được siêu nhập địa vị tam
b́nh đẳng như thế. Thân trọn đủ vô
lượng công đức, giống như hư không chẳng
thể biết hạn lượng, ngữ và ư cũng thế.
Do quán chân ngôn này, đạt được công đức
như thế, giống như Như Lai. Do tam nghiệp vô tận,
nếu đáng nên dùng thân để độ người
khác, liền hiện trọn khắp đủ loại sắc
thân. Nếu đáng nên dùng ngữ để độ
người khác, liền phổ môn thị hiện đủ
loại ngôn ngữ, tùy theo cơ nghi mà chỉ dạy, khiến
cho họ được nhập tri kiến của Phật.
Nếu đáng nên dùng ư để độ người
khác, cũng đủ loại cảm thông như thế,
chẳng thể cùng tận!
Không
chỉ thân, ngữ, ư chẳng có hạn lượng, trọn
đủ hết thảy các công đức đều giống
như hư không. Hăy nên biết trí huệ cũng đạt
được giống như thế, chẳng có hạn
lượng giống như hư không. Nếu đạt
được diệu trí vô ngại như thế, tức
là đạt được tự tại trong hết thảy
các pháp, giống như đức Thế Tôn. Nói “tự tại”
tức là trong hết thảy, không chuyện ǵ chẳng tự
tại! Hết thảy các loài chúng sanh do chưa thấu hiểu
rốt ráo pháp giới thanh tịnh, đều thuộc
trong lồng rọ của nghiệp phiền năo, hệ thuộc
sanh tử, chẳng thể đạt được sức
tự tại. Nay đức Như Lai ở trong biển cả
sanh tử, dùng đủ loại pháp môn để tuyên nói,
chỉ bày pháp yếu bí mật của Như Lai, v́ một
đại sự nhân duyên mà dùng đủ loại
phương tiện để thành tựu, đều khiến
cho họ đạt đến địa vị Nhất
Thiết Trí. Đó chính là ư nghĩa “tự tại trong hết thảy các
pháp”. Do chứng pháp như thế, được tự
tại trong các
pháp. Do tự tại, bèn có thể diễn
nói vô ngại, khéo léo tùy thuận các căn cơ. Sở
dĩ Như Lai đạt được lực dụng tự
tại như thế, đều do quán pháp môn “mười
hai tự luân” này. Hăy nên biết pháp môn mười
hai chữ này chính là thể tánh của pháp giới!
(Kinh)
Nhi thuyết kệ ngôn: - Nhữ vấn Nhất Thiết
Trí, Đại Nhật Chánh Giác tôn, tối thắng Chân Ngôn hạnh, đương diễn thuyết
pháp giáo. Ngă văng tích do thị, phát giác diệu Bồ Đề,
khai thị nhất thiết pháp, linh chí ư diệt độ.
Hiện tại thập phương giới, chư Phật
hàm chứng tri.
(經)而說偈言:汝問一切智,大日正覺尊,最勝真言行,當演說法教。我往昔由是,發覺妙菩提,開示一切法,令至於滅度,現在十方界,諸佛咸證知。
(Kinh:
Bèn nói kệ rằng: - Ông hỏi Nhất Thiết Trí, đấng
Đại Nhật Chánh Giác, hạnh Chân Ngôn tối thắng,
sẽ diễn nói pháp giáo. Ta xưa kia do vậy, giác ngộ
diệu Bồ Đề, khai thị hết thảy pháp,
khiến đạt tới diệt độ. Mười
phương cơi hiện thời, chư Phật đều
chứng biết).
Khi
đó, mười phương chư Phật thấy ngài
Kim Cang Thủ nói chân ngôn ấy, giống như đạo
của cổ Phật. Hết thảy các Như Lai chúng ta
cũng do quán mười hai tự môn này mà thành thân mầu
nhiệm rốt ráo tột bậc, các đức Thế Tôn
trong vị lai cũng sẽ giống như thế. V́ thế,
[chư Phật] đại hoan hỷ, xoa đỉnh đầu
Bồ Tát, mà bảo như thế này: “Hết
thảy chư Phật do tự tại trong các pháp, v́ một
đại sự nhân duyên mà dùng thân, miệng, ư b́nh đẳng
để nói pháp môn này. Ông nay cũng lại có thể nói giống
như thế, tức là cũng chứng pháp này giống
như Như Lai!” Ngài
Kim Cang Tạng tuy chưa lập tức thấu hiểu rốt
ráo Nhất Thiết Chủng Trí, nhưng giống như diệu
giác Thế Tôn, chỉ v́ được thần lực của
mười phương chư Phật cùng nhau gia tŕ, cho nên
ở trong đại hội cũng có sở chứng bằng
với Như Lai. Nếu ĺa thần lực gia tŕ, cũng sẽ
chẳng thể rốt ráo bằng với Như Lai
được! V́ thế, thiện nam tử! Tỳ Lô Giá
Na Phật chứng thân ngữ ư b́nh đẳng, hết thảy
chư Phật biết như thế. “Biết” là danh
xưng khác của “giác”. Do biết hạnh phổ môn
vô tận của các Như Lai, chứng ba thứ b́nh đẳng
của Như Lai, tức là biết tạng Thân Mật của
Như Lai, cũng biết tạng bí mật vi diệu ngữ
và ư. Nếu chứng biết pháp này tức là bằng với
Như Lai. Tán thán, ấn khả như thế xong, lại
thỉnh cầu Như Lai. V́ lẽ nào vậy? Tạng sâu mầu
như thế, chỉ có Phật và Phật mới có thể
thấu hiểu cùng tận. V́ thế, hết thảy các Bồ
Tát, không ai có thể nêu câu hỏi!
Nay
mười phương Phật cùng dùng thần lực gia
tŕ ngài Kim Cang Thủ, v́ lợi ích hết thảy chúng sanh,
nay nương vào thần lực của chư Phật mà
thưa hỏi Đại Nhật Như Lai. Hỏi chuyện
ǵ ở đây? Hàm ư những chuyện đă nói trước
đó vốn có ư nghĩa sâu xa, bí mật, do vẫn
chưa [được giảng nói] trọn vẹn (lại
phải hỏi chỗ tột bậc trọng yếu). “Nhất
Thiết Trí thành” chính là Đại Nhật Như Lai. Ư
nghĩa của chữ Bạc Già Phạm gồm có sáu ư
nghĩa, trong phần trước đă giải thích. Đức
Tỳ Lô Giá Na như mặt trời xuất hiện trong
cơi đời, có thể trừ khử tối tăm, có thể
thành tựu tất cả sự nghiệp của hết thảy
chúng sanh, các loài sống trên đại địa không ǵ chẳng
được lợi ích. Vầng mặt trời đại
huệ Thật Tướng tự nhiên ấy cũng lại
như thế, nếu có chúng sanh biết rơ, tự chứng,
như gió mạnh lùa mây, mặt trời, mặt trăng xuất
hiện, [Phật] cũng có công sức giống như thế,
tạo lợi ích to lớn trong khắp pháp giới, như
ánh sáng mặt trời chiếu thế gian. “Chủ” là
do được tự tại trong các pháp, nên gọi là Chủ.
Nay chư Phật dạy ngài Kim Cang Thủ hỏi Đại
Nhật Như Lai chuyện bí mật thuộc
về hạnh
cú Chân Ngôn. Nói theo phương diện thù
thắng th́ tự giáo rộng lớn, do pháp môn “một chữ”
mà thấu đạt hết thảy các pháp, chứng đắc
“thân, khẩu, ư b́nh đẳng” chẳng thể cùng tận
của mười phương ba đời Như Lai. V́
thế, gọi là Thắng. “Giáo” tức là tên gọi
khác của pháp tắc. “Pháp” có nghĩa là “quỹ tắc” (軌則:
khuôn khổ, đường lối). Do vậy, khi xưa
ta phát Bồ Đề tâm, [chứng
đắc] Vô Thượng
Bồ Đề, tuyên nói hết thảy pháp Niết Bàn của
ta, cho tới chư Phật Thế Tôn trong các thế giới
hiện thời, cũng nói “chúng ta khi xưa lúc hành Bồ
Tát đạo, cũng do Chân Ngôn môn như thế mà thành tựu
trí tự nhiên, lại v́ hết thảy chúng sanh diễn nói
như thế, đều khiến cho họ đạt tới
Đại Niết Bàn”. Duyên khởi của câu nói “ta
nay” rất sâu, hết thảy những ai có tâm c̣n chẳng
thể nêu câu hỏi, huống hồ
có thể tin hiểu ư? Chỉ có mười
phương hết thảy các đức Như Lai cùng
đạt tới pháp này, có thể chứng đắc trọn
chẳng hư dối! Ông nay đă đạt được
hạnh mà chúng ta đă từng thực hiện; do vậy,
hăy nên thưa hỏi Như Lai.
(Kinh)
Nhĩ thời, cụ đức Kim Cang Thủ tâm đại
hoan hỷ, chư Phật oai thần sở gia tŕ cố,
nhi thuyết kệ ngôn: “Thị pháp vô hữu tận, vô tự
tánh, vô trụ, ư nghiệp sanh giải thoát, đồng
ư Chánh Biến Tri, chư cứu thế phương tiện,
tùy ư bi nguyện chuyển, khai ngộ Vô Sanh Trí. Chư
pháp như thị tướng”. Thời, Chấp Kim Cang Bí Mật
Chủ phục thuyết ưu-đà-na kệ, thỉnh vấn
Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, ư thử Đại
Bi Tạng Sanh Đại Mạn-đồ-la, quyết
đoạn sở nghi, vị vị lai thế chư chúng
sanh cố: - Dĩ đoạn nhất thiết nghi, Chủng
Trí ly nhiệt năo, ngă vị chúng sanh cố, thỉnh vấn
ư đạo sư. (經)爾時具德金剛手心大歡喜,諸佛威神所加持故,而說偈言:是法無有盡,無自性無住,於業生解脫,同於正遍知。諸救世方便,隨於悲願轉,開悟無生智,諸法如是相。時執金剛祕密主復說優陀那偈,請問毘盧遮那世尊,於此大悲藏生大漫荼羅決斷所疑,為未來世諸眾生故。已斷一切疑,種智離熱惱,我為眾生故,請問於導師。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, bậc trọn đức Kim Cang Thủ
tâm hoan hỷ to lớn, do được oai thần của
chư Phật gia tŕ, bèn nói kệ rằng: “Pháp này chẳng
cùng tận, vô
tự tánh, vô trụ. Nơi nghiệp sanh giải thoát, cùng
nơi Chánh Biến Tri, các phương tiện cứu đời,
tùy theo bi nguyện chuyển, khai ngộ Vô Sanh Trí. Tướng
các pháp như thế”. Khi đó, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ
lại nói kệ ưu-đà-na, thưa hỏi đức Tỳ
Lô Giá Na Thế Tôn để quyết
đoạn nghi vấn trong Đại Bi Tạng Sanh Mạn-đồ-la
này, v́ các chúng sanh trong vị lai [mà nói]: - Đă đoạn hết
thảy nghi, Chủng Trí ĺa nhiệt năo. Con do v́
chúng sanh, thưa hỏi đấng đạo sư).
Khi
đó, ngài Chấp Kim Cang là bậc trọn đức, do
đă nắm giữ trí ấn của Như Lai, tức là
trọn đủ các thứ công đức của hết thảy
chư Phật, đều có cùng một
vị, thường gọi là “vị giải thoát của
Như Lai”. Do trí ấn ấy giống như Như Lai,
cho nên nói là “trọn đức”. Khi đó, vị Bồ
Tát ấy do được các
đức Như Lai cùng gia tŕ, do đại hoan hỷ, liền
biết sâu xa lời nói của Như Lai, cũng biết
tâm của Như Lai. Trước đó, do chưa thấu
đạt nên chẳng thể hỏi, nay đều do tự
tại, nên có thể thưa
hỏi Như Lai, chẳng có nghi nan. Nay muốn hỏi
Như Lai, bèn trước đó tán thán đức của
pháp giới, bèn nói kệ rằng: “Pháp
ấy vô tận, mà cũng chẳng có tự tánh”. “Tận”
là có khởi đầu và kết thúc, có sanh, có diệt. Do
có sanh diệt, tức là có pháp khởi lên và tận diệt.
Nhưng nay tánh của pháp giới b́nh đẳng ĺa các lỗi
như thế, chẳng có khởi đầu hay kết
thúc. Do chẳng sanh diệt, có nghĩa là “chẳng thể
tận”. “Vô tận” là tên gọi khác của vô tướng.
Do vô tận,
nên hết thảy các pháp đều chẳng có tự tánh,
chẳng lay động, chẳng có thay đổi, mà
cũng chẳng có trụ xứ. A Lại Da có nghĩa là “pḥng”,
hoặc “chứa
đựng”.
Nay trong pháp giới b́nh đẳng chẳng có tướng
nhận lấy, chứa đựng như thế; do đó
chẳng có trụ xứ. Nếu hết thảy các pháp
đều vô tự tánh, tức là vô tác. Do vô tác nên chẳng
có quả báo sanh diệt v.v… vốn sẵn tịch diệt,
là tướng thường tự tịch diệt, tức
là cùng giải thoát chẳng thể nghĩ bàn.
Chư
Phật có cùng một địa vị, pháp tịch diệt
rất sâu như thế, hết thảy danh từ, lời
lẽ đều chẳng thể diễn tả được,
chẳng có ǵ để có thể thí dụ được,
chỉ có Phật cùng chứng biết là có thể thí dụ.
V́ thế nói là “đồng ư Chánh Giác”. Nhưng hết
thảy các pháp rốt ráo là vô sanh, vô tác. Nói “rốt ráo”
tức là chẳng có các thừa phân biệt sai khác, hết
thảy các địa vị thánh nhân liền đọa
trong đoạn diệt mà chứng nơi thật chứng,
do chẳng thể lợi ích hết thảy. Kế đó,
nói “phương tiện Phật” v.v… do bi nguyện mà
chuyển vô tướng giáo để khơi gợi, phát
khởi sự giác ngộ đối
với tướng như thế. Do trọn
đủ phương tiện, có thể thỏa măn hết
thảy các sở
nguyện. Phương tiện ấy
chính là đại bi nguyện. Do đại bi nguyện ấy,
sẽ có thể chuyển. Ở trong pháp vô tướng ấy,
không ai có thể nói, không ai có thể biểu thị,
nhưng có thể khiến cho hết thảy đạt
được và cũng tự chứng đắc. Hăy nên
biết đó là sức đại phương tiện vậy.
Pháp này không ai có thể dạy bảo, chẳng do người
khác giác ngộ mà là tự chứng
đắc, tức là trí tự
giác vô sư, tự nhiên thành Phật đạo, nơi
đạo tràng hiện tịch
tĩnh, giác ngộ pháp Thật Tướng
như thế. Đấy đều là lời kệ, phần
sau sẽ nói rơ thêm!
Lại
nữa, nếu nói “pháp giới vô tận, chẳng có khởi
đầu hay kết thúc”, tức là đoạn diệt,
chẳng thể tạo lợi ích cho chúng sanh! V́ sao vậy?
Đă tạo phần hạn trong sanh tử, tức là thuộc
về trần lao. Đối với Như Lai chủng, nếu
hết thảy vô sanh, vô tánh,
th́ cũng chẳng có trụ xứ, sao có thể v́ khắp
thế gian
làm các Phật sự cho được? Nhưng các vị Bồ
Tát có hai sự, nên
chẳng đọa trong đoạn diệt, tức là
đại bi và phương tiện. Do có hai sự ấy,
có thể tự khai phát. “Khai phát”
được nói ở đây chính là
Bồ Đề tâm tự nhiên khai phát. Nếu do ngôn thuyết
và biểu thị ấy, do người khác dạy cho giác
ngộ mà có thể đạt được trí huệ vô
sư tự nhiên như thế, chẳng có lẽ ấy! V́
cớ sao vậy? Chỉ v́ hành giả tự giác như thật,
tự quán pháp giới vô tận đúng như thật, cho
nên đạt được trí huệ Thật Tướng
ấy, chẳng do người khác mà ngộ. Kinh có ư nói “pháp
tướng là như thế”, cho nên nói “như thị
tướng”. Đă đạt được pháp Thật
Tướng như thế, liền dùng pháp đại bi
phương tiện này mà v́ chúng sanh khai thị, diễn
nói, nhưng thật ra [người được giáo hóa]
chẳng do ai khác mà ngộ, chẳng do người khác truyền
dạy mà đạt được. Như người mù
hỏi sữa có màu sắc giống như ǵ, thậm chí
nghe nói màu sữa giống như tuyết, liền nghĩ
là sữa lạnh. Lại nghe nói giống như hạc, bèn
nghĩ là sữa sinh
động. Thậm chí dùng đủ loại thí dụ,
phương tiện để biểu thị mà [người
mù ấy] trọn chẳng thể hiểu [màu sắc của
sữa là như thế nào], chỉ tăng thêm so đo
hư vọng mà thôi. V́ lẽ nào vậy? Do mắt người
ấy chẳng sáng.
Đệ
Nhất Nghĩa Đế cũng thế, nếu chẳng
như thật tự biết rơ, dẫu người khác
khơi gợi, hướng dẫn đủ mọi cách,
trọn chẳng đắc lư! Nếu ai chẳng tự
khai phát pháp nội chứng như thế, mà v́ người
khác nói, muốn làm cho kẻ ấy ngộ, cũng chẳng
có lẽ ấy! V́ cớ sao vậy? Như kẻ chẳng
có chân, ḥ hét nói với mọi người như thế
này: “Ta sẽ v́ các ngươi mà lên núi Diệu Cao”. Hăy nên biết
kẻ đó ắt bị người trí chê cười. V́
lẽ nào vậy? Nếu chính ḿnh chẳng có chân, c̣n chẳng
thể tự lên chỗ kém cao hơn núi chúa Diệu
Cao, huống hồ có thể lên được chỗ cao tột
trong hết thảy ư? Lại như có kẻ chưa thể
vượt qua sóng gió nơi biển cả, mà bảo
người khác rằng: “Ta sẽ độ quư vị
vượt qua bờ kia”. Hăy nên biết chuyện đó
cũng chẳng thể được! Hành nhân cũng
như thế, nếu chưa tự giác trí huệ vô sư,
mà muốn khiến cho người khác nghe pháp đắc ngộ,
ắt chẳng có lẽ ấy!
Khi
đó, ngài Kim Cang Chủ dùng bài kệ ấy để tán
thán Như Lai xong; kế đó, nói kệ ưu-đà-na
để thưa hỏi đức Phật. Ưu-đà-na
(Udana) nghĩa là Tổng Nhiếp. Do dùng nghĩa lư trong một
bài kệ để
thâu nhiếp các pháp ly tướng, vô
lượng pháp nghĩa trong vô tận pháp giới. V́ thế
nói là Nhiếp. Tán thán, nói kệ xong, nghĩ tới các chúng
sanh tu Chân Ngôn hạnh trong vị lai, đối với
Đại Bi Tạng Sanh Mạn-đồ-la này do thiếu
khuyết, họ sẽ chẳng thể nhanh chóng thành Vô
Thượng Bồ Đề. Do vậy, kế đó, Ngài
hỏi đức
Phật về phương tiện bí
yếu. “Đoạn hết thảy nghi”: Nếu chẳng
thể đoạn trọn khắp các thứ lưới
nghi của chúng sanh, sẽ chẳng gọi là bậc Nhất
Thiết Trí. Bởi lẽ, trong hết thảy các pháp, tự
ḿnh đă ĺa lưới nghi, th́ mới có thể đoạn
lưới nghi cho người khác. Nay Phật đă tự
đoạn hết thảy lưới nghi. V́ thế, con
nay thưa hỏi, nguyện Phật v́ con đoạn nghi. “Ĺa
nhiệt năo” tức là vĩnh viễn đoạn trừ
gốc rễ Tam Độc. Nay con v́ hết thảy chúng
sanh, thưa hỏi đấng Đạo Sư, do trong hết
thảy các pháp có thể hướng dẫn khiến cho
đạt được Phật huệ, nên gọi là “đại
đạo sư”.
Đại Tỳ Lô Giá
Na Thành Phật Kinh Sớ
Phần chín hết
[1] Ở đây lời chú giải nói
duỗi hai ngón út và áp út, dựng thẳng ngón cái, tức là
cả ba ngón duỗi ra, trong khi chánh kinh chỉ nói duỗi
hai ngón út và trỏ, các ngón khác gập vào ḷng bàn tay. Không biết
đây là có phải là lỗi sai sót do khắc ván hay không?
[2] Tâm đại chủng tức là tâm
sanh từ Tứ Đại, tức cái tâm vật chất.
[3] Chánh kinh nói “dĩ
Hư Không luân tŕ Thủy luân đệ nhị tiết”
(dùng ngón cái bấm vào lóng thứ hai của ngón áp út), lời
Sớ lại nói: “Dĩ Không niếp Địa chỉ
đệ nhị tiết” (bấm ngón cái vào lóng thứ
hai của ngón út). Đây có lẽ là sai sót trong khi sao chép hay
khắc ván, không rơ ngón nào mới là đúng, nhưng lời
Sớ nhiều lượt nhắc tới ngón út trong khi giải
thích ấn này, có lẽ ngón út mới là đúng.
[4] Kiếp Bát La (Kapāla)
có nghĩa là cái chén làm bằng nửa trên của
xương sọ. Các vị tôn thánh phẫn nộ trong Mật
giáo thường được miêu tả cầm cái chén
này, đựng
đầy máu tươi. Hiện thời, chén Kiếp
Bát La được dùng như vật phẩm để
đựng các thứ cúng dường trong Mật
giáo Tây Tạng, nhưng thường làm bằng
đồng.
[5] Giá
Văn Trà c̣n được ghi là Chamundi, Charchika, hoặc
Chamundeshwari, là một trong bảy vị Matrika (Thất Mẫu).
Theo truyền thống Mật Giáo Tây Tạng, vị này là thủ
lănh của sáu mươi bốn (có thuyết nói là tám
mươi mốt) Du Già Nữ (Yoginis). Họ là tùy tùng của
Tuyết Sơn Thần Nữ (Parvati, tức Ô Ma Thiên Phi, vợ
của Đại Tự Tại Thiên). Ấn Độ giáo
coi vị này là thân hóa hiện của Parvati, hoặc Hắc
Thiên Nữ (Kali), hoặc Nan Cận Mẫu (Durga) tùy thuộc
quan niệm của từng bộ phái.
[6] Vīṇā là một loại
đàn của Ấn Độ (thường được
viết là Veena, Vina, Bina, hay Beena, tùy theo khẩu âm của
từng vùng). Đây là một loại nhạc khí rất lâu
đời, hiện thời vẫn sử dụng rất
phổ biến tại Ấn Độ (nhất là trong các
đền thờ Ấn giáo). Thần thoại Ấn Độ
nói loại đàn này do thần Shiva sáng chế. Loại
đàn này khá cồng kềnh, cán dài từ 1 đến 2 m,
chia thành hai mươi bốn phím đàn. Đầu cán
đàn uốn cong, có trục để lên dây, đầu
cán đàn và bầu đàn thường là hai quả bầu
rất to, thân đàn có h́nh thuôn thuôn như quả lê. Đàn
có bốn dây chính và ba dây phụ. Người chơi đàn
đeo vuốt bằng kim loại ở hai ngón cái và ngón trỏ
để khảy, vuốt dây đàn. Các dây phụ có âm trầm
thấp, rền rĩ, thường được búng bằng
ngón út. Loại đàn này có rất nhiều biến thể
như Rudra veena, Sarawasti veena, Vichitra veena, sitar, surbahar v.v… tùy
thuộc cách cấu tạo bầu cộng hưởng, số
dây, có phím hay không phím v.v…
[7] Đàn sắt
(瑟) là một loại đàn thời cổ, có
h́nh chữ nhật dài (to thô hơn đàn cầm, đàn cầm
mảnh mai hơn nhiều), gồm hai mươi lăm
dây. Dưới các dây đàn có các con nhạn (tức các khối
gỗ đỡ h́nh tam giác tù có thể di chuyển để
điều chỉnh độ căng của dây đàn). Loại
đàn này phải đánh hai tay bằng cách búng dây, phổ
biến nhất vào đời Hàn và thường dùng để
ḥa tấu với đàn Cổ Cầm. Sang đời Tần,
loại đàn này bị không được sử dụng
nữa, và bị thay thế bởi đàn Tranh.
[8] Graha vừa có nghĩa
là chấp diệu (chín ngôi sao, tức mặt trời, mặt
trăng, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, La Hầu, Kế
Đô), vừa là tên một loại quỷ chuyên bám vào con người khiến
cho họ khủng hoảng.
[9] Trong bản dịch
của Rolf W. Giebel, chữ cuối trong tiếng Phạn của
chú này chỉ ghi là Ha, trong khi bản Hán ghi là Sa Ha.
[10] Mạn-đồ-la
(Maṇḍala) có nghĩa gốc
là “ṿng tṛn”.
[11] Yết Ma Bộ
chính là một trong năm bộ của Kim Cang (tức Phật
Bộ, Liên Hoa Bộ, Bảo Bộ, Kim Cang Bộ và Yết
Ma Bộ). “Bộ” có nghĩa là tập hợp các vị
tôn thánh thể hiện các khía cạnh thuộc về công
đức, phẩm chất, thuộc tánh của một
trong ngũ trí của Như Lai. Yết Ma Bộ biểu thị
phẩm đức nghiệp dụng hóa độ người
khác, tức là Phật v́ độ chúng sanh mà rủ ḷng bi mẫn,
thành tựu hết thảy các sự nghiệp. Bộ này lấy
Bất Không Thành Tựu Phật làm Bộ Chủ, Bộ Mẫu
là Nghiệp Ba La Mật Bồ Tát, thể hiện lực dụng
của Thành Sở Tác Trí. Bộ này bao gốm các vị Bồ
Tát như Kim Cang Câu, Kim Cang Tỏa, Kim Cang Sách, Kim Cang Linh
v.v… Do trong Thai Tạng Giới chỉ có ba bộ (Phật Bộ,
Liên Hoa Bộ, và Kim Cang Bộ) nên không nói đến Bảo
Bộ và Yết Ma Bộ. Tuy chỉ có ba bộ, nhưng vẫn
trọn đủ ư nghĩa của ngũ bộ.
[12] Ư nói: Khi chữ Tất Đàm c̣n
thông dụng, đứa trẻ đi học đều phải
học các tự mẫu này. Để ghi nhớ, chúng nó
cũng phải xướng bốn mươi hai chữ
cái và ghép với bốn âm a,
ā, aṃ, aḥ để nhớ cách đọc,
giống như phần tự luân ở đây. Có một số vùng
tại Ấn Độ khi dạy mẫu tự Hindi cho trẻ
vẫn áp dụng cách này.