Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ

Phần chín

大毘盧遮那成佛經疏

Đường sa-môn Nhất Hạnh A-xà-lê kư

沙門一行阿闍梨記

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, tán kỳ Thủy luân hướng thượng trí chi, danh Đại Giới Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm. Lệ lỗ bổ rị vi củ lệ, sa ha.

          ()即以此印散其水輪向上置之,名大界印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃麗魯補微矩麗莎訶

          (Kinh: Liền dùng ấn ấy, duỗi ngón thủy luân (áp út) hướng lên trên, gọi là Đại Giới Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm. Lệ lỗ bổ rị vi củ lệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, le lu puri vikule svāhā”).

 

          Kế đó, kết Đại Giới Ấn. Chuẩn theo cách kết Như Lai Câu Ấn trong phần trên, nhưng hai tay đều dựng thẳng ngón áp út lên là thành ấn. “Đại giới” ở đây có nghĩa là từ lúc phát đại Bồ Đề tâm cho tới khi thành Phật, trong khoảng đó, chẳng để gián đoạn, chẳng c̣n sanh tử, chẳng lui sụt Bồ Đề, tức là ư nghĩa “đại giới”. Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trong phần trước. “Lệ lỗ bổ rị vi củ lệ” (Le lu puri vikule): Lệ (ly tướng tam-muội), lỗ (tướng của các thừa), bổ (Đệ Nhất Nghĩa, Đệ Nhất Nghĩa bất khả đắc), rị (ly cấu), vi (ĺa trói buộc), củ (làm), lệ (ĺa tướng). Những thứ ấy đều là tam-muội. Như Lai dùng các tam-muội làm trang nghiêm, không chi hơn được. Đấy chính là đại giới của chư Phật.

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, kỳ nhị Hỏa luân câu khuất, tương hợp, tán thư Phong luân, danh Vô Kham Nhẫn Đại Hộ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tát phạ đát tha nghiệt đế tệ. Tát phạ bà dă vi nghiệt đế tệ. Vi thấp phạ mục khế tệ, tát phạ tha hám khiếm, ra cật xoa ma ha ma lệ. Tát phạ đát tha nghiệt đa bôn nật dă nĩnh ra xă đế. Hồng hồng, đát ra trá, đát ra trá. A bát ra để ha đế, sa ha.

          ()即以此印,其二火輪鉤屈相合,散舒風輪,名無堪忍大護印彼真言曰南麼薩怛他蘗帝弊嚩婆也微蘗帝弊微濕嚩目契弊唅欠囉訖叉麼訶麼麗怛他蘗多奔抳也囉社。吽吽。怛囉吒怛囉吒阿鉢囉底訶諦莎訶

          (Kinh: Liền dùng ấy, hai ngón hỏa luân (ngón giữa) đều cong lại, chạm đầu nhau, duỗi ngón Phong luân (ngón trỏ), th́ gọi là Vô Kham Nhẫn Đại Hộ Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tát phạ đát tha nghiệt đế tệ. Tát phạ bà dă vi nghiệt đế tệ. Vi thấp phạ mục khế tệ, tát phạ tha hám khiếm, ra cật xoa ma ha ma lệ. Tát phạ đát tha nghiệt đa bôn nật dă nĩnh ra xă đế. Hồng hồng, đát ra trá, đát ra trá. A bát ra để ha đế, sa ha - Namaḥ sarvatathāgatebhyaḥ sarvabhaya-vigatebhyo viśva-mukhebhyaḥ, sarvathā haṃ khaṃ rakṣa mahābale sarva-tathāgatapuṇyanirjāte hūṃ hūṃ trāṭ trāṭ apratihate svāhā).

 

          Kế đó, kết Đại Hộ Ấn. Chuẩn theo Như Lai Tạng Ấn trong phần trên, duỗi hai ngón áp út, khiến cho đầu của chúng chụm vào nhau như đỉnh núi. Hai ngón giữa cũng chạm đầu nhau, nhưng hơi cong, giống như h́nh mắt xích. Lại tách hai ngón cái ra, sao cho cách nhau hai tấc trở lại là thành ấn! Chân ngôn rằng: “Tát phạ đát tha nghiệt đế tệ (sarvatathāgatebhyaḥ, quy mạng hết thảy các đức Như Lai), “tát phạ bà dă vi nghiệt đế tệ (sarvabhayavigatebhyo, có thể trừ hết thảy các chướng nạn sợ hăi, cũng là tán thán Phật và quy mạng). “Vi thấp-phạ mục khế tệ (viśvamukhebhyaḥ, các loại môn, cũng có nghĩa là “xảo diệu”. Tức chư Phật khéo hiện đủ loại môn công đức). “Tát phạ tha (sarvathā, trọn khắp, nghĩa là hết thảy các thời, hết thảy các chỗ, hết thảy phương sở). “Hám khiếm (haṃ khaṃ, Ha có nghĩa là cái nhân. Khư (, Kha) có nghĩa là Không. Thêm chấm vào (thành Khiếm, खं, tức Kha) lại là Không. Dùng cái Không đó để tịnh hóa hết thảy các nhân. Lại nữa, đối với Không th́ cái Không ấy cũng là không). “Ra cật-xoa (rakṣa, ủng hộ. Không chỉ thủ hộ Nhị Thừa, mà c̣n thủ hộ hết thảy chư Phật. Do v́ lẽ này, chư Phật chẳng xả hữu t́nh, thường làm Phật sự chẳng hề ngưng dứt, chẳng trụ trong tịch diệt). “Ma ha ma lệ (mahābale, đại lực, tức là mười loại trí lực của Như Lai), “tát phạ đát tha nghiệt đa (sarvatathāgata, [hết thảy] Như Lai), “bôn nật-dă ninh ra xă đế (puṇyanirjāte, sanh, ư nói: Sức ấy sanh từ công đức của Như Lai). “Hồng hồng (hūṃ hūṃ, chữ thứ nhất là khủng bố các chướng, chữ thứ hai nghĩa là khiến cho trọn vẹn tam đức của Phật. V́ thế, nói lặp lại, hàm ư tột bậc sợ hăi). “Đát ra trá, đát ra trá (trāṭ trāṭ, nhiếp phục. Chế phục nội ngoại chướng. Lại v́ thành tựu Pháp Thân của Phật, cho nên cũng nói lặp lại). A bát-ra để ha đế (apratihate, vô hại, vô chướng). Đây gọi là Vô Kham Nhẫn Đại Hộ. Do oai quang của ấn chú này mạnh mẽ, hừng hực, như trẻ nhỏ mới sanh chẳng kham nh́n vào ánh sáng mặt trời rực rỡ. Ở đây cũng giống như vậy, hết thảy đều chẳng thể kham nhẫn để tranh sáng được! V́ thế, gọi là Vô Năng Kham Nhẫn Đại Hộ. Dùng ấn chú này để thủ hộ hành giả Chân Ngôn.

 

          (Kinh) Phục dĩ Phong luân nhi tán thư chi, Không luân tịnh nhập kỳ trung, danh Phổ Quang Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, xà phạ la ma lư nễ, đát tha nghiệt đa lật chỉ, sa ha.

          ()復以風輪而散舒之,空輪並入其中,名普光印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃嚩囉摩履儞怛他蘗多莎訶

          (Kinh: Lại duỗi ngón Phong luân (ngón trỏ) ra, ngón Không luân (ngón cái) cùng nhập vào đó, gọi là Phổ Quang Ấn. Chân ngôn ấy như sau: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, xà phạ la ma lư nễ, đát tha nghiệt đa lật chỉ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, jvālāmālini tathāgatārci svāhā”).

 

          Kế đó là Như Lai Phổ Quang Ấn. Hai ngón cái cùng gập vào ḷng bàn tay, hai ngón trỏ dựng thẳng (đều chẳng chạm nhau, đều dựng thẳng lên). Đầu hai ngón giữa chụm vào nhau, hơi cong lóng ngón tay như h́nh linh, chuông nhỏ, các ngón khác giống như trong phần trên là thành ấn. Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trong phần trên. Xét theo chân ngôn, “xà phạ la (jvālā (ज्वाला), Xà là sanh, Phạ là trói buộc, La (ला) là tướng. Bên cạnh đó, có cái chấm A (tức vạch đứng bên cạnh chữ La () có cùng nghĩa với bất sanh, tức “vô tướng bất sanh”). “Ma lư nễ (Mālini, Ma là Ngă, có âm A dài (ā), Lư là tưởng. Tưởng có nghĩa là quán, ĺa hữu quán lẫn vô quán). “Đát tha nghiệt đa (Tathāgata, đấy là Như Lai quang. Như Lai quang sanh từ các nghĩa vô tướng, vô quán v.v…)

 

          (Kinh) Hựu dĩ Định Huệ thủ tác không tâm hiệp chưởng, dĩ nhị Phong luân tŕ Hỏa luân trắc, danh Như Lai Giáp ấn.

          ()又以定慧手作空心合掌, 以二風輪持火輪側, 名如來甲印

            (Kinh: Lại dùng tay Định và Huệ (tay trái và tay phải) để kết không tâm hiệp chưởng, dùng hai ngón trỏ đặt bên cạnh ngón giữa, gọi là ấn Như Lai Giáp).

 

          Kế đó là ấn Như Lai Giáp. Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng (hư tâm hiệp chưởng), dùng hai ngón trỏ đặt bên cạnh lưng hai ngón giữa, sao cho hai đầu ngón ngang nhau là thành ấn. Ấn này khuyết phần chân ngôn, cần phải tra cứu.

 

          (Kinh) Khuất nhị Thủy luân, nhị Không luân hợp nhập chưởng trung, áp nhị Thủy luân giáp thượng, thị Như Lai Thiệt Tướng ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đá tha nghiệt đa thệ ha phạ tát để dă. Đạt ma bát ra để sắt sỉ đa, sa ha.

          ()屈二水輪,二空輪合入掌中押二水輪甲上,是如來舌相印真言曰南麼三曼多勃馱喃怛他蘗多訶嚩薩底也達摩鉢囉瑟恥多莎訶

          (Kinh: Gập hai ngón giữa và hai ngón cái vào ḷng bàn tay, [ngón cái] đè lên móng hai ngón giữa. Đó là ấn Như Lai Thiệt Tướng. Chân ngôn là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa thệ ha phạ tát để dă. Đạt ma bát ra để sắt sỉ đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, tathāgatajihva satya. Dharma-pratiṣṭhita, svāhā).

 

          Phần quy mạng trong chân ngôn của Như Lai Thiệt (lưỡi) giống như trên. “Đát tha nghiệt đa thệ ha-phạ (tathāgatajihva, lưỡi [của Như Lai]), tát đ (satya, chân thật), “đạt ma (dharma, pháp), “bát-ra để sắt-sỉ đa (pratiṣṭhita, tánh). Ví như lưỡi của Như Lai thường nói lời đúng như thật, chẳng nói dối, chẳng nói khác lạ; do chân thật như thế, nên thường trụ.

 

          (Kinh) Dĩ thử ấn, linh Phong, Thủy luân khuất nhi tương niệp, Không luân hướng thượng, nhi thiểu khuất chi, Hỏa luân chánh trực tương hợp, Địa luân diệc như thị, danh Như Lai Ngữ Môn ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa ma ha phạ ca đát ra, vi thấp phạ nhă na, ma ha đà da, sa ha.

          ()以此印,令風水輪屈而相捻,空輪向上而少屈之,火輪正直相合,地輪亦如是,名如來語門印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃怛他蘗多摩訶嚩怛囉微濕嚩若那訶駄耶莎訶

          (Kinh: Dùng ấn này, sao cho các ngón trỏ và ngón áp út gập lại, bấm vào nhau, ngón cái hướng lên trên, hơi cong, ngón giữa dựng thẳng chạm nhau. Ngón út cũng như thế, gọi là ấn Như Lai Ngữ Môn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa, ma ha phạ ca đát ra, vi thấp phạ nhă na, ma ha đà da, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, tathāgatamahāvaktra viśva-jñānamahodaya svāhā”).

 

          Kế đó là ấn Như Lai Ngữ Môn. Chuẩn theo ấn trước đó, tức là kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng (không tâm hiệp chưởng), các ngón áp út và ngón trỏ chạm đầu nhau, gập vào ḷng bàn tay, dùng hai ngón cái cùng đè lên. Kế đó, hai ngón út và ngón giữa dựng thẳng lên, đặt cho đầu ngón ngang nhau nhọn như h́nh ngọn núi là thành ấn. Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trên. “Ma ha phạ ca đát-ra (mahāvaktra, đây chính là Ngữ), “vi thấp-phạ nhă na (viśvajñāna, các thứ trí khéo), “ma ha đà da (mahodaya, rộng lớn). Ư nói ngôn ngữ từ vô lượng môn xảo huệ của Như Lai mà thành, trí ấy rộng lớn vô lượng.

 

          (Kinh) Như tiền ấn, dĩ nhị Phong luân khuất nhập chưởng trung, hướng thượng, danh Như Lai Nha Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa năng sắt trá la. Ra sa ra sa cật ra, tam bát ra bác ca, tát bà đát tha nghiệt đa, vi xa dă tam bà phạ, sa ha.

          ()如前印,以二風輪屈入掌中向上,名如來牙印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃怛他蘗多能瑟吒羅囉娑囉娑釳囉鉢囉博迦薩婆怛他蘗多婆嚩莎訶

            (Kinh: Giống như ấn trước, dùng hai ngón trỏ gập vào ḷng bàn tay, hướng lên trên, gọi là ấn Như Lai Nha (răng của Như Lai). Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa năng sắt trá la. Ra sa ra sa cật ra, tam bát ra bác ca, tát bà đát tha nghiệt đa, vi xa dă tam bà phạ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, tathāgatadaṃṣṭra rasarasāgrasaṃprāpaka sarva-tathāgata viṣayasaṃbhava svāhā”).

 

          Kế đó là ấn Như Lai Nha: Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng, gập hai ngón trỏ vào ḷng bàn tay, sao cho lưng hai ngón ấy đâu nhau là thành ấn. Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trước. “Đát tha nghiệt đa năng sắt trá la (Tathāgata-daṃṣṭra, răng [của Như Lai]). “Ra sa ra sa (Rasarasa là vị. [Do là] vị tốt đẹp nhất trong các vị, cho nên lặp lại, tức pháp vị của Như Lai). “Cật-ra (agra, chữ này nối với câu trước, câu trước không có âm A. Có nghĩa là thắng thượng, tức vị thắng thượng). “Tam bát-ra bác ca (saṃprāpaka, đạt được), [tát bà] đát tha nghiệt đa (sarvatathāgata, [tất cả] Như Lai), “vi xa dă (viṣaya, cảnh giới), “tam bà phạ (saṃbhava, sanh, Ư nói: Vị thắng thượng sanh từ cảnh giới của Như Lai).

 

          (Kinh) Hựu như tiền ấn tướng, dĩ nhị Phong luân hướng thượng trí chi, khuất đệ tam tiết, danh Như Lai Biện Thuyết Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a chn để dă na bộ đa, hạt lỗ bà phạ ca tam mạn đá bát ra bát đa, vi thâu đà tát phạ ra, sa ha.

          ()又如前印相,以二風輪向上置之,屈第三節,名如來辯說印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃阿振底也娜部多曷魯婆曼哆鉢囉鉢多微輸馱嚩囉莎訶

          (Kinh: Lại như ấn trên đây, dùng hai ngón Phong (ngón trỏ) hướng lên trên, gập đốt thứ ba, gọi là ấn Như Lai Biện Thuyết. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a chn để dă na bộ đa, hạt lỗ bà phạ ca tam mạn đá bát ra bát đa, vi thâu đà tát phạ ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, acintyā-dbhutarūpavācaṃ samatāprāpta viśuddhasvara svāhā”).

 

          Kế đó là ấn Như Lai Tứ Biện. Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng, hai ngón trỏ cùng cong lại, đặt trên lưng hai ngón giữa, đừng cho chạm đầu nhau th́ ấn thành. Do bởi ấn này, Như Lai ở trong đại chúng vô úy, v́ người khác diễn nói chánh pháp, thậm chí trong một chữ chứa đựng ư nghĩa vô cùng. Biện tài ấy chẳng thể cùng tận. Phần quy mạng trong chân ngôn giống như trên. “A chn để-dă (Acintyā, chẳng nghĩ bàn), “na-bộ đa (dbhuta, đặc biệt, lạ lùng),hạt-lỗ bà (rūpa, phân đoạn của lời nói. Có ư nghĩa là [lời nói ấy] đặc biệt, lạ lùng), “phạ ca tam mạn đá bát-ra bát-đa (vācaṃ samantaprāpta, tới trọn khắp. Đức Phật dùng một âm thanh thuyết pháp, [âm thanh ấy] tới trọn khắp trước hết thảy chúng sanh. [Khi âm thanh ấy thấu] tới nơi đó, ai nấy đều cho rằng đức Phật dùng cùng âm thanh [giống như ngôn ngữ của tôi] để thuyết pháp cho tôi). “Vi thâu đà (Viśuddha, thanh tịnh), “tát-phạ ra (svara, ngôn âm. Do ngôn âm đă phát ra ĺa các khuyết điểm như thô ác v.v… mà vi diệu thanh tịnh, khiến cho kẻ khác thích nghe. V́ thế nói là “ngôn âm thanh tịnh”).

 

          (Kinh) Phục thứ, dĩ Định Huệ thủ ḥa hợp nhất tướng, tác không tâm hiệp chưởng, nhị Địa luân, Không luân khuất nhập tương hợp. Thử thị Như Lai Tŕ Thập Lực Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đà xá phạ lan già đà la, hồng sâm nhiêm, sa ha.         

          ()復次以定慧手和合一相作空心合掌,二地輪空輪屈入相合, 此是如來持十力印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃馱舍嚩蘭伽陀羅。吽參髯莎訶

          (Kinh: Lại nữa, dùng tay Định và Huệ ḥa hợp thành một tướng, để kết không tâm hiệp chưởng, hai ngón Địa (út) và ngón Không (ngón cái) gập vào trong [ḷng bàn tay], chụm vào nhau. Đó là ấn Như Lai Tŕ Thập Lực. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đà xá phạ lan già đà la, hồng sâm nhiêm, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, daśabalāṅgadhara hūṃ saṃ jaṃ, svāhā”).  

 

          Kế đó là ấn Như Lai Thập Lực. Gập các ngón út và cái vào ḷng bàn tay, khiến cho chúng chụm đầu lại, chống vào nhau. Các ngón khác kết thành Tam-bổ-trá hiệp chưởng (không tâm hiệp chưởng) là ấn thành. Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “Hồng (ba đức. Ma là Không, cái chấm là tam-muội, (Ja) có nghĩa là sanh, lại c̣n là triệu vời. Ấn này có thể tŕ thập lực của Như Lai. Ba chữ này ghép lại ở cuối câu, tức là Hồng Sâm Nhiêm (hūṃ saṃ jaṃ), như trong Đại Bổn có chép), “đà xá phạ lan già (daśabalāṅga, thân phần Thập Lực. Từ chữ Lan trở về trước là Thập Lực, tức là âm A dài trong chữ Lan nối với chữ Ca thành thân phần), “đà la (dhara, tŕ). Tức là do sức của trí ấn này, có thể nắm giữ chi phần Thập Lực của Như Lai.

 

          (Kinh) Hựu như tiền ấn, dĩ nhị Không luân, Phong luân khuất thượng tiết tương hợp, thị Như Lai Niệm Xứ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa tất mật lật để, tát đỏa hệ đá, tệ dữu đà yết đa. Già già na tam ma a tam ma, sa ha.

          ()又如前印,以二空輪風輪屈上節相合,是如來念處印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃怛他蘗多悉密薩埵係哆弊庾馱揭多伽伽那三麼阿三麼莎訶

          (Kinh: Lại như ấn trên, cong hai ngón Không luân (cái) và Phong luân (trỏ) sao cho lóng trên áp vào nhau, đó là ấn Như Lai Niệm Xứ. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa tất mật lật để, tát đỏa hệ đá, tệ dữu đà yết đa. Già già na tam ma a tam ma, sa ha - Namaḥ samanta-buddhānāṃ, tathāgatasmṛti sattvahitābhyudgata gaganasamāsama svāhā”).

 

          Kế đó là ấn Như Lai Niệm Xứ. Kết Tam-bổ-trá (cách chắp tay này giống như hoa sen chưa nở, chắp tay sao cho giữa hai ḷng bàn tay có khoảng trống, hăy kiểm phần kinh văn trước để khỏi làm sai). Dùng hai ngón cái và ngón trỏ chụm lại, bấm vào nhau là ấn thành. Trong cách bấm này, hăy nên sao cho [phần đầu của] móng tay nơi bốn ngón kia đều chạm vào nhau. Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “Đát tha nghiệt đa tất mật-lật-để (Tathāgatasmṛti, Như Lai niệm), tát đỏa hệ đá (sattvahitā, lợi ích chúng sanh), “tệ-dữu đà yết đa (bhyudgata, sanh, khởi), “già già na tam ma (gaganasama, hư không sanh), “a tam ma (asama, vô đẳng). Ư nói: Niệm ấy bằng với hư không, chẳng có hạn lượng. Lại nữa, hư không chẳng thể sánh ví. Do vậy, lại nói là “vô đẳng”. V́ lẽ nào vậy? Hư không tánh vô sở hữu, chẳng thể tạo lợi ích to lớn cho hết thảy chúng sanh.

 

          (Kinh) Hựu như tiền ấn, dĩ nhị Không luân tại Thủy luân thượng, danh Nhất Thiết Pháp B́nh Đẳng Khai Ngộ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ đạt ma tam mạn đa, bát ra bổ đa, đát tha nghiệt đá nô nghiệt đa, sa ha.

          ()又如前印,以二空輪在水輪上,名一切法平等開悟印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃達摩三曼多鉢囉怛他蘗哆蘗多莎訶

          (Kinh: Lại như ấn trước, dùng hai ngón Không luân (cái) đặt trên ngón Thủy luân (áp út), gọi là ấn Hết Thảy Các Pháp B́nh Đẳng Khai Ngộ. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ đạt ma tam mạn đa, bát ra bổ đa, đát tha nghiệt đá nô nghiệt đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, sarva-dharmasamatāprāpta tathāgatānugata, svāhā”).

 

          Kế đó là ấn Nhất Thiết Pháp B́nh Đẳng Khai Ngộ. Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng, dùng hai ngón áp út và ngón cái chụm lại, bấm vào nhau là thành ấn. Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “Tát phạ đạt ma tam mạn đa (sarvadharmasamatā, hết thảy các pháp b́nh đẳng), “bát-ra bổ đa (prāpta, tới, đạt được, [hàm nghĩa] đạt được hết thảy b́nh đẳng), “đát tha nghiệt đa (tathāgatā, Như Lai, nghĩa chủ yếu là Như Khứ). “Nô nghiệt đa (Nugata, tùy thuộc, như. Ư nói: Tùy thuận chư Như Lai, cùng được khai ngộ giống như các Ngài).

 

          (Kinh) Phục dĩ Định Huệ thủ hợp vi nhất, dĩ nhị Phong luân gia Hỏa luân thượng, dư như tiền, thị Phổ Hiền Như Ư Châu Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tam mạn đa nô nghiệt đa, phệ ra xà, đạt ma niết xà đa, ma ha ma ha, sa ha.

          ()復以定慧手合為一,以二風輪加火輪上,餘如前,是普賢如意珠印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃三曼多奴蘗多吠囉闍達摩涅闍多摩訶摩訶莎訶

          (Kinh: Lại dùng tay Định và Huệ hợp nhất, dùng hai ngón Phong luân (trỏ) đặt trên hai ngón Hỏa luân (giữa), các ngón khác như trên; đó là ấn Phổ Hiền Như Ư Châu. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tam mạn đa nô nghiệt đa, phệ ra xà, đạt ma niết xà đa, ma ha ma ha, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, samatānugata virajadharmanirjāta mahāmaha svāhā”).

 

          Kế đó là ấn Như Ư Ma Ni Phổ Hiền (chánh kinh gọi ấn này là Phổ Hiền Như Ư Châu). Sở dĩ gọi là Phổ Hiền, v́ tất cả tam nghiệp của vị Bồ Tát này đều tốt lành, nên được chư Phật, Bồ Tát tán thán. Để kết ấn này th́ kết Tam-bổ-trá (không tâm hiệp chưởng), dùng hai ngón trỏ gác lên sau lưng của hai ngón giữa thành h́nh khuyên th́ thành ấn. Các ngón khác như thường lệ. Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “Tam mạn đa nô nghiệt đa (samatānugata, đạt tới b́nh đẳng), “phệ ra xà (viraja, vô cấu, vô trần). “Đạt ma niết xà đa (dharmanirjāta, pháp sanh. Ư nói vô cấu từ pháp mà sanh), “ma ha ma ha (mahāmaha): Nghĩa này được lặp lại, giống như nói “thiên trung chi thiên” (trời của các vị trời). Các vị Bồ Tát cúng dường đức Phật, đức Phật chuyển sự cúng dường ấy sang ngài Phổ Hiền, do thân ngài Phổ Hiền b́nh đẳng với tam thế Phật. Đây chính là sự to lớn nhất trong các điều to lớn, là cúng dường tối thắng trong các sự cúng dường, cho nên lặp lại [chữ “ma-ha”]).

 

          (Kinh) Tức thử hư tâm hiệp chưởng, dĩ nhị Phong luân khuất tại nhị Hỏa luân hạ, dư như tiền, thị Từ Thị Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a thệ đảm xă da, tát phạ tát đỏa a thế da, nô nghiệt đa, sa ha.

          ()即此虛心合掌,以二風輪屈在二火輪下,餘如前,是慈氏印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃阿誓擔社耶薩埵阿世耶奴蘗多莎訶

          (Kinh: Liền đối với hư không hiệp chưởng ấy, dùng hai ngón Phong luân (ngón trỏ) đặt dưới ngón Hỏa luân (ngón giữa), các ngón khác như trên. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a thệ đảm xă da, tát phạ tát đỏa a thế da, nô nghiệt đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ajitaṃjaya sarva-sattvāśayānugata svāhā”).

 

          Kế đó là Từ Thị Ấn (ấn của ngài Di Lặc). Kết Tam-bổ-trá, gập hai ngón trỏ, sao cho đầu ngón trỏ đặt dưới gốc ngón giữa, hai ngón cái đặt ngang đè lên, các ngón khác như thường. Ấn này h́nh dạng như Tốt-ba (stupa, tháp), do tŕ tháp Pháp Thân của hết thảy các đức Như Lai, giống như ngài Quán Âm tŕ Phật thân. Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “A thệ đam (Ajitaṃ, nói theo lối cổ là A Dật Đa, tức là gọi tên Ngài. [Danh hiệu ấy] có nghĩa là không ai thắng được, hết thảy ái kiến phiền năo cho tới Nhị Thừa v.v… không ai hơn được!) “Xă da (Jaya, đắc thắng, [tức là] trong vô thắng mà đạt được sự toàn thắng). “Tát phạ tát đóa (Sarvasattva, hết thảy chúng sanh). “A thế da (Aśayā, tánh). “Nô nghiệt đa (Nugata, biết tâm khởi lên). “Khởi” có nghĩa là biết, tức là biết tánh của hết thảy chúng sanh. [Thiện Vô Úy] A-xà-lê nói: “Chữ ấy chính là chữ chủng tử của ngài Di Lặc”).

 

          (Kinh) Hựu như tiền ấn, dĩ nhị hư không luân nhập trung, danh Hư Không Tạng Ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a ca xa tam mạn đa nô nghiệt đa. B chất đa lam ma phạ ra đà ra, sa ha.

          ()又如前印,以二虛空輪入中,名虛空藏印真言曰南麼三曼多勃馱喃阿迦奢三曼多奴蘗多髀質哆麼嚩囉莎訶

          (Kinh: Kế đó, giống như ấn trước, dùng hai ngón Hư Không (ngón cái) gập vào ḷng bàn tay, gọi là Hư Không Tạng Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a ca xa tam mạn đa nô nghiệt đế. B chất đá lam ma phạ ra đà ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ākāśasamatānugata vicitrām-baradhara svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của ngài Hư Không Tạng (Ākāśagarbha). Hư tâm hiệp chưởng, dùng hai ngón cái cùng gập vào ḷng bàn tay là thành ấn. Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “A ca xa (ākāśa, hư không), “tam mạn đa (samatā (bằng), tức là bằng với hư không), “nô nghiệt đa (nugata, đạt được. Trong phần trước nói [từ ngữ này] có nghĩa là biết, là dấy lên, ở đây nói là đạt được, cũng dung hội), “b chất đá-lam ma-phạ (vicitrāmba, chữ Ma ở đây chính là cái chấm đặt trên chữ Ra, tức là thành chữ Lam), Ra (Bệ Chất Đa nghĩa là đủ loại, Ma Phạ Ra tức là nghĩa nương cậy). “Đà ra (dhara, mặc, nghĩa là mặc các loại áo. Như hư không vô sắc mà có thể hiện đủ loại h́nh. Vị Bồ Tát này cũng thế, giống như hư không mà có thể thỏa măn đủ loại nguyện, hiện đủ loại h́nh tướng lợi ích chúng sanh).

 

          (Kinh) Như tiền ấn, dĩ nhị Thủy luân, nhị Địa luân khuất nhập chưởng trung, nhị Phong luân, Hỏa luân tương hợp, thị Trừ Nhất Thiết Cái Chướng Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a tát đỏa hệ đa, phiêu dă ốt nghiệt đa. Đát lăm đát lăm, lăm lăm. Sa ha.

          ()如前印,以二水輪二地輪屈入掌中,二風輪火輪相合,是除一切蓋障印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃阿薩埵係哆驃也嗢蘗多怛囕怛囕囕囕莎訶

          (Kinh: Như ấn trước, dùng hai ngón áp út và hai ngón út gập vào ḷng bàn tay, hai ngón trỏ và giữa áp vào nhau, đó là Trừ Nhất Thiết Cái Chướng Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a tát đỏa hệ đa, phiêu dă ốt nghiệt đa. Đát lăm đát lăm, lăm lăm. Sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, āḥ sattvahitābhyudgata traṃ traṃ raṃ raṃ svāhā).

 

          Kế đó là ấn của Trừ Cái Chướng Bồ Tát (Sarvanīvaraṇaviṣkambhin). Tam-bổ-trá hiệp chưởng (không tâm hiệp chưởng), các ngón út và áp út đều gập vào ḷng bàn tay, các ngón khác như thường (đây là ngón út và áp út chạm móng, chống vào nhau). Phần quy mạng của chân ngôn giống như trước. “A tát đỏa hệ đa (āḥ sattvahitā: A nghĩa là “có thể trừ”. “Hệ đa” nghĩa là lợi ích, tức là lợi ích chúng sanh), “phiêu-dă ốt nghiệt-đa đát-lăm đát-lăm lăm lăm (bhyudgata traṃ traṃ raṃ raṃ, nghĩa là Trừ, mà cũng là khai phát thiện tánh ấy, khiến cho nó hiển hiện. Như trong phần trên đă nói là “trừ sự chấp trước”, [ở đây] là trừ chuyện ǵ? Chính là trừ bốn cấu. Phàm phu ái kiến là một loại cấu, Thanh Văn cấu là hai, Duyên Giác cấu là ba, Bồ Tát cấu là bốn. Do trừ chúng sanh cấu, nhập địa vị Thanh Văn. Do trừ Thanh Văn cấu, nhập địa vị Duyên Giác. Cho đến do trừ Bồ Tát cấu, nhập địa vị thanh tịnh).

 

          (Kinh) Như tiền dĩ Định Huệ thủ tương hợp, tán thư ngũ luân do như linh đạc, dĩ Hư Không, Địa luân ḥa hợp, tương tŕ, tác liên hoa h́nh. Thị Quán Tự Tại Ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ đát tha nghiệt đa a phạ lô yết đa, ca lô noa mạt da, ra ra ra, hồng xà, sa ha.

          ()如前以定慧手相合,散舒五輪猶如鈴鐸,以虛空地輪和合相持作蓮華形,是觀自在印真言曰南麼三曼多勃馱喃怛他蘗哆阿嚩盧羯多迦盧拏囉囉囉莎訶

          (Kinh: Giống như trên, tay Định và Huệ chắp li, x̣e các ngón như linh, khánh, các ngón Hư Không (cái) và Địa (út) ḥa hợp, chống vào nhau, thành h́nh hoa sen. Đó là Quán Tự Tại Ấn. Chân ngôn rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ đát tha nghiệt đa a phạ lô yết đa, ca lô noa mạt da, ra ra ra, hồng xà, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, sarvatathāgatāvalokita karuṇāmaya ra ra ra hūṃ jaḥ svāhā”).

 

          Kế đó là Quán Âm (Avalokiteśvara) Ấn. Trước hết, khai phẫu hiệp chưởng (cách chắp tay như búp sen chớm nở). Dùng các ngón cái và ngón út bấm vào nhau, sáu ngón khác x̣e ra. Ngón giữa và ngón trỏ đều cùng chụm vào nhau tương ứng. Ngón áp út đứng đơn lẻ tức là ấn thành. “Tát phạ đát tha nghiệt đa (Sarvatathāgata, [hết thảy] Như Lai), “a phạ lô yết đa (avalokita, quán, tức là phép Quán của Như Lai), “ca lô noa (karuṇā, bi), “mạt da (maya, Thể. Ư nói dùng đại bi làm Thể, thân tâm trong ngoài thuần dùng Bi làm thân). “Ra ra ra (tam cấu). “Hồng xà (hūṃ jaḥ, chữ Hồng này là ba món hành, giải thoát, và Đại Không. Xà (jaḥ) có nghĩa là sanh, tức là pháp sanh từ duyên khởi). Phép Quán của Như Lai ở đây có nghĩa là Bồ Tát tuy chưa thành Phật, nhưng đă thấy giống như Phật. Do thấy tánh của Uẩn, nên đạt được tên gọi của phép Quán như thế. Chỉ lấy Bi làm Thể, tức là ḷng Bi ấy do ĺa ba độc, mà đạt được ba thiện căn như vô tham v.v…, sanh ra ba món giải thoát. V́ thế, có ba chữ Ra.

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ tác không tâm hiệp chưởng, do như vị khai phu liên, thị Đắc Đại Thế Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, chiêm chiêm sa, sa ha.

          ()如前以定慧手作空心合掌,猶如未開敷蓮,是得大勢印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃瞻瞻莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay Định và Huệ để làm không tâm hiệp chưởng, giống như hoa sen chưa nở; đó là Đắc Đại Thế Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, chiêm chiêm sa, sa ha - Namaḥ samanta-buddhānāṃ, jaṃ jaṃ saḥ svāhā”).

 

          Kế đó là Đại Thế Chí Ấn (Mahāsthāmaprāpta). Kết Tam-bổ-trá hiệp chưởng, cong mười ngón tay chụm vào nhau cho tṛn trặn, như búp sen chưa nở. Búp sen chưa nở ấy chính là tráp báu của Như Lai, do đă nở rồi khép lại. Xét theo các chữ trong chân ngôn, Chiêm (jaṃ, sanh), Sa (saḥ, trí b́nh đẳng). Đấng ĺa thế gian, lại vượt khỏi Bồ Tát sanh, trụ trong trí b́nh đẳng.

         

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ, ngũ luân nội hướng vi quyền, cử nhị Phong luân do như châm phong, nhị Hư Không luân gia chi, thị Đa La Tôn Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đá lệ, đá rị ni, ca rô noa ốt bà phệ, sa ha.

          ()如前以定慧手,五輪內向為拳,舉二風輪猶如針鋒,二虛空輪加之,是多羅尊印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃哆囇哆迦嚧拏嗢婆吠莎訶

            (Kinh: Như trên, dùng tay Định và Huệ, năm ngón hướng vào trong, nắm thành quyền, giơ hai ngón Phong luân (ngón trỏ) ví như đầu kim, hai ngón Hư Không luân (ngón cái) đè lên; đó là Đa La Tôn Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đá lệ, đá rị ni, ca rô noa ốt bà phệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, tāre tāriṇi karuṇodbhave svāhā”).

 

          Kế đó, kết Đa La Bồ Tát (Tārā) ấn. Trước kết kết Chỉ Hướng Nội Tương Xoa Quyền Hiệp Chưởng (tức là các ngón tay đan vào nhau, gập các ngón tay trong ḷng bàn tay), dựng hai ngón trỏ, chụm vào nhau như cái kim, hai ngón cái dựng thẳng đè lên [hai ngón trỏ] th́ ấn thành. Chân ngôn: “Đa lệ (Tāre, gọi tên vị Bồ Tát ấy, tức Tārā Bồ Tát), đá rị ni (tāriṇi, độ thoát. Giống như giúp người khác vượt qua sông lớn, đặt họ nơi bờ kia). “Ca rô noa (karuṇo, bi). Ốt bà phệ (odbhave, sanh. Do vị Bồ Tát này sanh từ ḷng Bi, cũng độ chúng sanh đạt đến chỗ Bi).

 

          (Kinh) Như tiền ấn, cử nhị Phong luân sâm si tương áp, thị Tỳ Câu Chi Ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ bà dă, đát ra tát nễ, hồng sa phán trá dă, sa ha.

          ()如前印,舉二風輪參差相押,是毘俱胝印彼真言曰麼三曼多勃馱喃嚩婆也怛囉。吽娑泮吒也莎訶      (Kinh: Giống như ấn trên, dựng hai ngón Phong luân (ngón trỏ) so le đè lên nhau. Đó là Tỳ Câu Chi ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ bà dă, đát ra tát nễ, hồng sa phán trá dă, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, sarvabhayatrāsani hūṃ sphoṭaya svāhā”).

 

          Kế đó là Tỳ Câu Chi (Bhṛkuṭī) Ấn. Giống như trên, làm Hướng Nội Chỉ Quyền hiệp chưởng. Hai ngón trỏ cũng dựng lên, nhưng so le áp vào nhau, khiến cho ngón phải đè lên ngón trái là đúng. H́nh thế của ấn này đại để giống ấn Đa La, chỉ có [hai ngón trỏ đè lên nhau] so le là khác biệt. Chân ngôn: “Tát phạ bà dă” (sarvabhaya, hết thảy kinh sợ), “đát-ra tát nễ (trāsani, cũng có nghĩa là khủng bố. Trong hết thảy các nỗi sợ hăi, lại dùng sự khủng bố để đe dọa khiến cho lui tan. Như thấy kẻ chẳng điều phục, lại dùng oai thế cứng cỏi, hung tàn để hàng phục, khiến cho kẻ đó chẳng thể làm quấy). “Hồng (hūṃ, có ba ư nghĩa như trong phần trước [đă nói]). “Sa-phán trá dă (sphoṭaya, nghĩa là phá hoại, khiến cho các sự kinh sợ ấy lui tan). Chân ngôn này là Tỳ Câu Chi Tŕ Tụng Mẫu, giống như mẹ của những kẻ tŕ tụng, công năng tôn quư nhất.

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ không tâm hiệp chưởng, Thủy luân, Không luân giai nhập ư trung, thị Bạch Xứ Tôn Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa ph́ xá da tam bà phệ, bát đàm ma ma lư nễ, sa ha.

          ()如前,以定慧手空心合掌,水輪空輪皆入於中,是白處尊印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃怛他蘗多肥舍耶三婆吠鉢曇摩摩莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay Định và Huệ làm không tâm hiệp chưởng, các ngón Thủy luân (áp út) và Không luân (cái) đều gập vào trong ḷng bàn tay; đó là Bạch Xứ Tôn Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đát tha nghiệt đa ph́ xá da tam bà phệ, bát đàm ma ma lư nễ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, tathāgataviṣayasaṃbhave padmamālini svāhā”).

 

          Kế đến là Bạch Xứ Bồ Tát (Pāṇḍaravāsinī) Ấn. Cùng gập hai ngón áp út vào ḷng bàn tay, hai ngón cái cũng đặt sát nhau, gập vào cho chạm [hai ngón áp út]. Các ngón khác kết thành Tam-bổ-trá hiệp chưởng (không tâm hiệp chưởng). Chân ngôn: “Đát tha nghiệt đa ph́ xá da (tathāgataviṣaya, cảnh giới của Như Lai), “tam bà phệ (saṃbhave, sanh. Ư nói: Sanh từ cảnh giới của Như Lai), “bát đàm ma ma lư nễ (padmamālini, tràng hoa, tức vật để trang nghiêm thân. Đấy là coi cái có thể sanh ra công đức của chư Phật làm trang nghiêm, tức là trang nghiêm Pháp Thân vậy).

 

          (Kinh) Như tiền ấn, khuất nhị Phong luân trí Không luân hạ, tương khứ do như khoáng mạch, thị Hà Da Yết Rị Phạ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, khư đà da, bạn xà tát phá trá dă, sa ha.

          ()如前印,屈二風輪置虛空輪下,相去猶如穬麥,是何耶揭哩嚩印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃馱耶闍薩破吒也莎訶       

          (Kinh: Như ấn trước, gập hai ngón Phong luân (ngón trỏ), đặt dưới ngón Không luân (ngón cái), nhưng cách ngón Không luân chừng bằng hạt lúa mạch. Đó là Hà Da Yết Rị Phạ Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, khư đà da, bạn xà tát phá trá dă, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, khādaya bhañja sphoṭaya svāhā”).

 

          Kế đó là Mă Đầu (Hayagrīva, Hà Da Yết Rị Phạ) Ấn: Kết Tam-bổ-trá, gập hai ngón trỏ cho móng chạm nhau, đặt dưới gốc ngón cái, nhưng [hai đầu ngón trỏ cách ngón cái một khoảng bằng hạt lúa mạch, đừng để chạm nhau. Hai ngón cái dựng thẳng sát nhau, hơi ngửa phần đầu ngón chỗ có móng tay là được. Chân ngôn: “Khư đà da (khādaya, ăn. Ư nói “ăn nuốt các chướng”), “bạn xà (bhañja, đánh nát), “tát-phá trá dă sa ha (sphoṭaya svāhā, đánh gơ chướng ấy khiến cho nó vỡ nát tứ tán).

 

          (Kinh) Đồng tiền ấn, thân nhị Thủy luân, Phong luân, dư như quyền. Thị Địa Tạng Bồ Tát Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ha ha ha. Tô đá nỗ, sa ha.

          ()同前印,申二水輪風輪,餘如拳,是地藏菩薩印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃訶訶訶莎訶

          (Kinh: Giống như ấn trên, duỗi hai ngón Thủy luân (áp út) và Phong luân (trỏ), các ngón khác nắm thành quyền. Đó là ấn của Địa Tạng Bồ Tát. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ha ha ha. Tô đá nỗ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ha ha ha sutanu svāhā”).

 

          Kế đó là Địa Tạng Bồ Tát (Kṣitigarbha) Ấn. Chắp tay bằng cách đan ngón tay vào tay, nắm thành quyền, duỗi ngón út và áp út[1] sao cho đầu chúng chạm nhau (như h́nh ngọn núi), hai ngón cái đặt sát nhau, dựng thẳng. Chân ngôn: “Ha ha ha (ĺa ba cái nhân, tức là cái nhân của Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát. Các chân ngôn ở đây đều là tự nói hạnh đức của Bổn Tôn. [Chân ngôn này] là tổng tŕ công đức của Địa Tạng Bồ Tát vậy). “Tô đá nỗ (Sutanu, diệu thân. Do nội thân cực tịnh, nên gọi là Diệu Thân, tức Pháp Thân). “Sa ha. “Hành giả Du Già trụ” tức là hành giả kết ấn như thế.  

 

          (Kinh) Phục dĩ Định Huệ thủ tác không trung hiệp chưởng, Hỏa luân, Thủy luân giao kết tương tŕ, dĩ nhị Phong luân trí nhị Hư Không luân thượng do như câu h́nh, dư như tiền, thị thánh giả Văn Thù Sư Lợi Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu ma ra, tỳ mục để bát tha tất-thể đa, sa-mạt ra sa-mạt ra, bát-ra để nhiên, sa ha.

          ()復以定慧手作空中合掌,火輪水輪交結相持,以二風輪置二虛空輪上猶如鉤形,餘如前,是聖者文殊師利印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃係係俱摩囉毘目底鉢他悉體多囉娑鉢囉底然莎訶

          (Kinh: Lại dùng tay Định và Huệ để làm không trung hiệp chưởng, các ngón Hỏa (giữa) và Thủy (áp út) đan chéo, vịn nhau, dùng hai ngón Phong (trỏ) đặt trên ngón Hư Không (ngón cái) như h́nh cái móc. Các ngón khác như trước. Đó là ấn của thánh giả Văn Thù Sư Lợi. Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu ma ra, tỳ mục để bát tha tất-thể đa, sa-mạt ra sa-mạt ra, bát-ra để nhiên, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he he kumāra vimuktipathasthita smara smara pratijñāṃ svāhā”).

         

          Kế đó là ấn của ngài Văn Thù (Mañjuśrī). Trước hết, kết Tam-bổ-trá, dùng hai ngón giữa đè ngược lên hai ngón áp út, cong hai ngón trỏ để bấm lấy đầu ngón cái là thành ấn. Chân ngôn: “Hệ hệ (chữ Ha trong ấy là cái nhân, [nói hai chữ Hệ] hàm ư ĺa hai cái nhân, tức là vượt thoát cảnh giới Nhị Thừa. Đó cũng là âm thanh triệu tập). “Câu ma ra (kumāra, đồng tử. Phá hoại các ma th́ cũng gọi là Câu Ma Ra). “Tỳ mục để (vimukti, giải thoát). “Bát tha tất-thể đa (pathasthita, đạo. Ư nói: Trụ nơi nào? Chính là trụ trong đạo giải thoát). “Tát-mạt ra (smara, niệm), “tát-mạt ra (smara, niệm). “Bát-ra để nhiên (pratijñāṃ, sở nguyện xưa kia. Nay nghĩ đến sở nguyện xưa kia. Sở nguyện xưa kia của tôn giả là đều độ hết thảy chúng sanh, khiến cho họ chẳng khác ǵ ta. V́ thế, nay hăy nên nghĩ nhớ lời thề xưa kia).

 

          (Kinh) Dĩ tam-muội thủ vi quyền, nhi cử Phong luân do như câu h́nh. Thị Quang Vơng Câu Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu mạt ra, ma da yết đa sa phạ bà phạ tất thể đa. Sa ha.

          ()以三昧手為拳,而舉風輪猶如鉤形,是光網鉤印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃係係俱末羅摩耶揭多娑嚩婆嚩悉體多莎訶

          (Kinh: Dùng tay tam-muội nắm thành quyền, giơ ngón Phong luân (trỏ) lên ví như h́nh cái móc câu. Đó là Quang Vơng Câu Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu mạt ra, ma da yết đa sa phạ bà phạ tất thể đa. Sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he he kumāra māyagata svabhāva-sthita svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Quang Vơng Bồ Tát (Jālinīprabha). Dùng tay trái nắm thành quyền, duỗi ngón trỏ, hơi cong đốt thứ ba, sao cho giống như h́nh cái móc câu, ngón cái dựng lên, đè lên ngón giữa là thành ấn. “Hệ hệ câu mạt la (he he kumāra, giải thích như trên), “ma da yết đa (māyagata. Ma-da là huyễn, yết-đa là biết, tức biết hết thảy các pháp như huyễn). Sa phạ (sva, tánh). “Bà phạ tất-thể đa (bhāvasthita, trụ, tức là biết rơ các pháp đều như huyễn, liền trụ trong bổn tánh, thật tánh của các pháp).

 

          (Kinh) Tức như tiền ấn, nhất thiết luân tướng giai thiểu khuất chi. Thị Vô Cấu Quang Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ câu ma la, ph́ chất đa ra nghiệt để câu ma ra, ma nỗ sa mạt ra, sa ha.

          ()即如前印,一切輪相皆少屈之,是無垢光印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃俱摩羅肥質多囉蘗底俱摩囉麼弩娑莎訶

          (Kinh: Giống như ấn trước, hết thảy các ngón tay đều hơi cong. Đó là Vô Cấu Quang Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ câu ma la, ph́ chất đa ra nghiệt để câu ma ra, ma nỗ sa mạt ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he kumāra vicitragatikumāra [pratijñā]m anusmara svāhā”).

 

          Kế đến là ấn của ngài Vô Cấu Quang (Vimalaprabha). Duỗi hết thảy các ngón trong tay trái, đều hơi cong đốt thứ ba th́ thành ấn (ngón cái cũng dựng lên, tợ hồ hơi cong mà thôi! Chân ngôn: “Hệ câu ma la (he kumāra, giống như trước). “Ph́ chất đa-la (vicitra, các thứ), “nghiệt để (gati, hạnh. Ư nói các thứ hạnh) “câu ma ra (kumāra, tức là do bổn thệ nguyện sẽ phổ môn thị hiện đủ loại thân. Dùng đủ thứ hạnh để lợi ích hết thảy, hoặc hiện thân đồng tử, hoặc hiện thân tráng niên, hoặc thân người già cả). “Ma nỗ sa-mạt ra ([pratijñā]m anusmara, nhớ lại nguyện xưa kia. Thánh giả xưa kia đă đối trước đức Phật lập nguyện ấy. Đă nguyện như thế, hăy nên nghĩ nhớ).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ trí huệ thủ vi quyền, kỳ Phong, Hỏa luân tương hợp vi nhất thư chi, thị Kế Thất Ni Đao Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu ma lê kê, na da nhă na tát mạt ra, bổ la để nhiên, sa ha.

          ()如前,以智慧手為拳,其風火輪相合為一舒之,是繼室尼刀印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃係係俱摩梨鷄娜耶若那薩末羅補羅底然莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay phải nắm thành quyền. Các ngón Phong (trỏ) và Hỏa (ngón giữa) hợp với nhau thành một, duỗi ra. Đó là Kế Thất Ni Đao Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ hệ câu ma lê kê, na da nhă na tát mạt ra, bổ la để nhiên, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he he kumārike dayājñānaṃ smara pratijñāṃ svāhā”).

 

          Kế đó là Kế Thất Ni (Keśinī) Ấn. Trước hết, dùng tay phải nắm thành quyền, duỗi ngón giữa và ngón trỏ sao nó đứng thẳng, ngón cái cũng dựng lên, đặt ngang [các ngón kia]. Chân ngôn: Hệ hệ (He he, như trên), “câu ma lê kê (kumārike, đồng tử gọi theo giống cái, đây cũng là tam-muội của ngài Văn Thù). “Na da nhă na (dayājñānaṃ, ban cho ước nguyện), “tát-mạt ra (smara, nhớ khi xưa), “bổ-la để nhiên (pratijñāṃ, bổn nguyện. Ư nói: Vị tôn giả này đạt được nguyện thù thắng nơi đức Văn Thù. Diệu nguyện vốn có ấy, nay cũng trao cho tôi).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ trí huệ thủ vi quyền, nhi thân Hỏa luân do như kích h́nh. Thị Ưu Ba Kế Thất Ni Kích Ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tần đà da nhă na. Hệ câu ma rị kê, sa ha.

          ()如前,以智慧手為拳,而申火輪猶如戟形,是優波髻室尼戟印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃頻馱耶若那係俱摩哩鷄莎訶

          (Kinh: Như trên, dùng tay trí huệ nắm thành quyền, duỗi ngón Hỏa (giữa) như h́nh cái kích. Đó là Ưu Ba Kế Thất Ni Kích Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tần đà da nhă na. Hệ câu ma rị kê, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, bhindayājñānaṃ he kumārike svāhā”).

 

          Kế đó là Ưu Ba Kế Thất Ni (Upakeśinī) Ấn. Trước hết, dùng tay phải nắm thành quyền. Duỗi thẳng ngón giữa ra, ngón cái cũng dựng lên. Theo lệ thường, ngón cái đặt nằm ngoài nắm đấm, nhưng duỗi thêm ngón giữa. Chân ngôn: “Tần đà da (Bhindayā, mặc), “nhă na (jñānaṃ, trí. Cuối câu trước có âm A, nối liền với câu này, tức là Vô Trí. Ư nói: Dùng diệu huệ để thấu suốt vô trí, đạt tới Thật Tướng). Hệ (tiếng gọi), câu ma rị kê (kumārike, trẻ gái, cũng là tam-muội, dùng âm thanh giống cái mà gọi tên).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ tam-muội thủ vi quyền, nhi thư Thủy luân, Địa luân, thị Địa Huệ Tràng Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ tát mạt ra nhă na kế đ, sa ha.

          ()如前,以三昧手為拳,而舒水輪地輪,是地慧幢印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃薩末囉若那計覩莎訶

          (Kinh: Như trong phần trên, dùng tay tam-muội (tay trái) nắm thành quyền, duỗi các ngón Thủy (áp út) và Địa (út), đó là Địa Huệ Tràng Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ tát mạt ra nhă na kế đ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he smara jñānaketu svāhā”).

 

          Kế đó là Địa Huệ (Vasumatī) Tràng Ấn. Trước hết, dùng tay trái nắm thành quyền (cũng là ngón cái nằm nên ngoài quyền), duỗi hai ngón út và áp út th́ thành ấn. “H (he, từ ngữ tán thán), “tát-mạt ra (smara, ức niệm), “nhă na (jñāna, trí. Ư nói: Hăy nên nhớ trí ấy). “Kế đổ” (ketu, tràng. Do vậy, Diệu Huệ Tràng dẹp tan các ma, nay hăy nên nghĩ nhớ, khiến cho ta cũng giống như thế).

         

          (Kinh) Dĩ Huệ thủ vi quyền, nhi thư Phong luân do như câu h́nh, thị Thỉnh Triệu Đồng Tử Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a ca rị sái dă tát văm câu rô, a nhiên củ mang ra tả, sa ha.

          ()以慧手為拳,而舒風輪猶如鉤形,是請召童子印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃迦哩灑也薩鑁阿然矩忙囉寫莎訶

          (Kinh: Dùng tay Huệ (tay phải) nắm thành quyền, duỗi ngón Phong (trỏ) như h́nh móc câu. Đó là Thỉnh Triệu Đồng Tử Ấn. Chân ngôn rằng:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a ca rị sái dă tát văm câu rô, a nhiên củ mang ra tả, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ākarṣaya sarvān kuru ājñāṃ kumārasya svāhā”).

 

          Kế đó là Triệu Thỉnh Ấn (Ākarṣaṇī). Năm vị Bồ Tát trên đây đều là sứ giả của đức Văn Thù. Tay phải nắm thành quyền (cũng để ngón cái ra ngoài), gập ngón trỏ như h́nh móc câu, đặt gần đầu ngón cái, nhưng không chạm nhau là thành ấn. Xét theo chân ngôn, “a ca rị-sái dă (ākarṣaya, chiêu vời, triệu thỉnh, nhiếp triệu, đều có nghĩa là “móc đến nơi đây”), “tát văm câu rô (sarvān kuru, làm hết thảy, trao cho hết thảy, tức là như chuyện do tôn giả Văn Thù triệu vời, sẽ đều thực hiện), “a nhiên củ mang ra tả (ājñāṃ kumārasya, chỉ thân của vị thánh giả ấy).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền, thư nhị Phong luân, khuất tiết tương hợp, thị Chư Phụng Giáo Giả Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a vi tam-muội-da nễ duệ, sa ha.

          ()如前以定慧手為拳,舒二風輪屈節相合,是諸奉教者印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃阿微三昧耶儞曳莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền, duỗi hai ngón Phong (trỏ), co đốt ngón tay cho [hai ngón trỏ] châu đầu vào nhau. Đó là ấn của các vị Phụng Giáo. Chân ngôn của ấn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a vi tam-muội-da nễ duệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, āḥ vismayanīye svāhā”).

 

          Kế đó là các vị Phụng Giáo (cũng là người tuân phụng giáo pháp của đức Văn Thù, hơi khác với sứ giả). Trước hết, kết nội tương xoa hiệp chưởng quyền (đan các ngón tay vào nhau, hợp thành quyền, các ngón nằm trong ḷng bàn tay). Duỗi hai ngón trỏ cho chụm đầu ngón, cong lóng thứ ba, hai ngón cái cũng dựng lên đặt ngang nhau. Xét theo chân ngôn, a (āḥ, hành. Bên cạnh có cái chấm, thể hiện h́nh dáng phẫn nộ). “Vi tam-muội-da nễ duệ (vismayanīye, măn nguyện, có thể khiến cho hết thảy các việc hy hữu không ǵ chẳng thành, có thể khiến cho chuyện hy hữu lạ lùng đều được viên măn. Âm Duệ nhằm chỉ vị tôn giả ấy).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền, nhi thư Hỏa luân, khuất đệ tam tiết, thị Trừ Nghi Quái Kim Cang Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ph́ mạt để chế đà ca, sa ha.

          ()如前,以定慧手為拳而舒火輪,屈第三節,是除疑怪金剛印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃肥末底製馱迦莎訶

            (Kinh: Như trên, dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền, duỗi ngón Hỏa, cong đốt thứ ba, đó là Trừ Nghi Quái Kim Cang Ấn. Chân ngôn của ấn ấy là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ph́ mạt để chế đà ca, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, vimaticchedaka svāhā”).

 

          Kế đó là Kiêu Đô Hạt La Bồ Tát (Kautūhala, phương này dịch nghĩa thành Trừ Nghi, hoặc Trừ Cấu. Như mọi người đều có những nỗi ngờ vực chẳng thể giải quyết, vị Bồ Tát này liền có thể đến chỗ họ để đoạn lưới nghi cho họ. Do có thể làm bạn chẳng thỉnh, thường đoạn nghi hoặc cho hết thảy chúng sanh, cho nên Ngài có tên như thế). Ấn này kết bằng cách nội tương xoa quyền hiệp chưởng (các ngón tay đan vào nhau, nắm thành quyền, sao cho các ngón đều nằm trong ḷng bàn tay), duỗi hai đầu ngón giữa sao cho chạm nhau, cong lóng thứ ba th́ thành ấn (hai ngón cái theo lệ thường, dựng thẳng ở bên ngoài quyền). “Ph́ mạt để (Vimati, vô huệ, tức là không ǵ chẳng biết), “chế đà ca (chedaka, cắt đứt. Cắt đứt vô tri, khiến cho trí huệ sanh khởi. Đó cũng là ư nghĩa “cắt đứt”, lại c̣n có nghĩa là “đoạn hoại”, ví như ư nghĩa Kim Cang Bát Nhă có thể đoạn vậy).

 

          (Kinh) Cử Tỳ Bát Xá Na tư, tác TVô Úy thủ, thị Thí Vô Úy Giả Ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a bà diễn đà đà, sa ha.

          ()舉毘鉢舍那臂,作施無畏手,是施無畏者印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃婆演馱馱莎訶

          (Kinh: Nâng cánh tay Tỳ Bát Xá Na (tay trái) để làm tay thí vô úy. Đó là ấn của bậc Thí Vô Úy. Chân ngôn rằng: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a bà diễn đà đà, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, abhayaṃdada svāhā”).

 

          Kế đến là Thí Vô Úy Bồ Tát (Abhayaṃdada) Ấn. Kết Thí Vô Úy Thủ, trong Du Già (giống như ấn của Phật Thích Ca), [tức là] duỗi cánh tay hướng lên trên, sao cho ḷng bàn tay hướng ra ngoài là thành ấn. Ấn này nêu bày hành năm pháp, ngón út là Tín, ngón áp út là Tấn, ngón giữa là Niệm, ngón trỏ là Định, ngón cái là Huệ. Chư Phật, Bồ Tát dùng thân và miệng để thuyết pháp, nay ấn này biểu thị ngũ căn lực vậy. Xét theo chân ngôn, “a bà diễn đà đà (abhayaṃdada) chính là vô úy thí. Dùng pháp ǵ để bố thí sự không sợ hăi [cho chúng sanh]? Chính là trụ trong môn chữ A, ĺa hết thảy sanh. Tôn giả đă măn sở nguyện, chúng con chưa đạt được, nguyện hăy thí cho con và hết thảy chúng sanh.

 

          (Kinh) Như tiền, thư trí thủ nhi thượng cử chi, thị Trừ Ác Thú Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a phiếu đà ra noa, tát đỏa đà đôn, sa ha.

          ()如前,舒智手而上舉之,是除惡趣印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃驃馱薩埵馱敦莎訶

          (Kinh: Giống như trên, duỗi tay trí (tay phải) nhưng nâng lên, đó là Trừ Ác Thú Ấn. Chân ngôn rằng:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a phiếu đà ra noa, tát đỏa đà đôn, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, abhyuddharaṇi sattvadhātuṃ, svāhā”).

 

          Kế đến là Trừ Ác Thú (Apāyaṃjaha) Ấn. Giống như trên, duỗi tay phải, sao cho bàn tay hướng lên phía trên, nhưng giơ cánh tay lên phía trên th́ thành ấn. Xét theo chân ngôn, “a phiếu đà ra noa (abhyuddharaṇi, nâng lên), “tát đỏa đà đôn (sattvadhātuṃ, chúng sanh giới). Điều này có nghĩa là do hết thảy chúng sanh giới từ vô thỉ đến nay, vô minh mà thường ở trong tam ác đạo. Nay bậc thánh đă đắc ngũ lực như thế, nguyện nâng đỡ khiến cho họ đạt lên thanh tịnh. V́ cớ sao vậy? Tôn giả đă tự có thể dẹp trừ, thoát ra, cũng nên nâng nhắc hết thảy chúng sanh giới.

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Huệ thủ yểm tâm, thị Cứu Hộ Huệ Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa ma ra bát ra để nhiên, sa ha.

          ()如前,以慧手掩心,是救護慧印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃係摩訶摩訶娑麼囉鉢囉底然莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay Huệ (tay phải) che tim; đó là Cứu Hộ Huệ Ấn. Chân ngôn rằng:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa ma ra bát ra để nhiên, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he mahāmaha smara pratijñāṃ svāhā).

 

          Kế đến là ấn của Cứu Hộ Huệ Bồ Tát (Paritrāṇāśayamati). Giống như trên, duỗi tay đặt nơi tim, nên dùng ḷng bàn tay hướng về thân ḿnh để che tim, ngón cái hơi dựng lên hướng về phía trước. Xét đến chân ngôn, “h (ĺa nhân, cũng có nghĩa là kêu gọi triệu tập, răn nhắc). “Ma ha ma ha (mahāmaha, lớn nhất trong các thứ lớn, tôn trọng nhất trong các thứ tôn trọng). “Sa-ma ra bát-ra để nhiên (smara pratijñāṃ, bổn nguyện. Bổn nguyện trừ hết thảy khổ. Do trừ khổ, nên nói là “cứu giúp, bảo vệ”. Nay gọi tên Ngài, khiến cho Ngài nhớ tới bổn nguyện mà cứu vớt, thủ hộ hết thảy).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Huệ thủ tác tŕ hoa trạng, thị Đại Từ Sanh Ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ chế đố ốt nghiệt đa, sa ha.

          ()如前,以慧手作持華狀,是大慈生印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃嚩制妬嗢蘗多莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay Huệ (tay phải) làm ra vẻ như đang cầm hoa. Đó là Đại Từ Sanh Ấn. Chân ngôn là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ chế đố ốt nghiệt đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, svacittodgata svāhā”).

 

          Kế đó là Đại Từ Sanh Bồ Tát (Mahāmaitryabhyudgata) Ấn. Giống như trên, làm Vô Úy Thí Thủ, dùng ngón cái và ngón trỏ bấm vào nhau, như dáng vẻ người cầm hoa, ba ngón kia dựng lên hướng về phía trước là thành ấn. Xét theo chân ngôn, “tát phạ (sva, chính ḿnh), “chế đố (citto, tâm), “ốt nghiệt đá (odgata, sanh. Ư nói: Điều này sanh từ tự tâm, chẳng do điều ǵ khác mà đạt được, nên gọi là Đại Từ. Nghĩa là sanh từ cái tâm tự tánh thanh tịnh, chẳng sanh từ cái tâm đại chủng[2], nên gọi là Tự Tâm Sanh).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Huệ thủ phú tâm, sảo khuất Hỏa luân, thị Bi Niệm giả ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ca lô noa mạt lô nật đa, sa ha.

          ()如前,以慧手覆心,稍屈火輪,是悲念者印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃迦盧拏末盧眤多莎訶

            (Kinh: Như trên, dùng tay Huệ (tay phải) che tim, hơi cong ngón Hỏa luân (ngón trỏ), đó là ấn của đấng Bi Niệm. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ca lô noa mạt lô nật đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, karuṇāmṛḍita svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Bi Niệm Bồ Tát (Karuṇāmṛḍita) . Giống như trước, duỗi tay che tim, gập ngón giữa chống vào tim là thành ấn. Xét theo chân ngôn th́ “ca lô noa (karuṇā, bi) “mạt lô (mṛ, giới), “nật đa (ḍita, thượng niệm). Ư nói: Bổn nguyện của vị này là trừ hết thảy các khổ, nay hăy nên nghĩ nhớ. Nhưng danh xưng của vị Bồ Tát này [được dịch] là Bi Niệm, vẫn chưa trọn hết ư. Ư nghĩa nơi tên của Ngài là vị Bồ Tát này thuộc vào ḷng Bi. Như người bị kẻ khác nắm giữ chẳng được tự tại, vị Bồ Tát này thân tâm đều thuộc về Bi, do được ḷng Bi duy tŕ, nên chẳng được tự tại. Lại như kẻ làm lao dịch cho nhà vua, chẳng được tự tại, vị Bồ Tát này cũng thế, thường bị ḷng Bi lôi kéo, chẳng được tự tại. Do ư nghĩa này, hăy nên nghĩ tới bổn nguyện cứu hết thảy chúng sanh.

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Huệ thủ tác Thí Nguyện tướng, thị Trừ Nhất Thiết Nhiệt Năo ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ phạ ra đà, phạ ra bổ ra bổ đa, sa ha.

          ()如前,以慧手作施願相,是除一切熱惱印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃嚩囉馱嚩囉補囉補多莎訶

            (Kinh: Giống như trên, dùng tay Huệ (tay phải) kết Thí Nguyện ấn, đó là ấn của ngài Trừ Nhất Thiết Nhiệt Năo. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ phạ ra đà, phạ ra bổ ra bổ đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he varada varaprāpta svāhā”).

 

            Kế đó là ấn của Trừ Nhất Thiết Nhiệt Năo Bồ Tát (Sarvadāhapraśāmin). Kết Dữ Nguyện Thủ (tay kết ấn Dữ Nguyện) chính là ấn này, tức là duỗi tay phải ngửa lên, rủ tay xuống, như ấn của Bảo Sanh Phật trong Du Già. Xét theo chân ngôn, “h (he, ư nghĩa như trong phần trên), “phạ ra đà (varada, ban cho ước nguyện. Do là pháp ĺa nhân nên có thể thỏa nguyện của hết thảy chúng sanh). “Phạ ra bổ-ra bổ-đa (varaprāpta, trước đó đă đạt được. Nếu chẳng trước đó đă đạt được sở nguyện, sao có thể ban cho người khác ư? Do trước đó điều mong nguyện đă đều vẹn thỏa, nay nhớ tới bổn nguyện, bèn ban cho hết thảy chúng sanh, ḥng trừ hết thảy nhiệt năo. V́ cớ sao vậy? Bổn thệ nguyện của tôn giả là dốc chí cầu Phật đạo, nay Ngài đă đạt được. V́ thế, phải nên nhớ tới bổn nguyện, rộng độ hết thảy chúng sanh, khiến cho họ đều nhập Phật đạo).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Huệ thủ như chấp tŕ Chân Đà Ma Ni bảo h́nh, thị Bất Tư Nghị Huệ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ a xa bả lê bổ ra ca, sa ha.

          ()如前,以智慧手如執持真多摩尼寶形,是不思議慧印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃薩嚩阿奢跛梨補囉迦莎訶

     (Kinh: Như trên, dùng tay Huệ (tay phải) làm ra vẻ như đang cầm nắm báu Chân Đà Ma Ni (Như Ư Bảo Châu). Đó là ấn của ngài Bất Tư Nghị Huệ. Chân ngôn của Ngài là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ a xa bả lê bổ ra ca, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, sarvāśāparipūraka svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Bất Tư Nghị Huệ Bồ Tát (Acintyamati). Dùng tay Thí Vô Úy, các ngón cái và trỏ bấm vào nhau như dáng vẻ đang cầm châu (bàn tay nên nghiêng như người khép các ngón tay để nắm lấy châu. Châu hướng về phía trên. Ngón giữa lại hơi x̣e ra hướng vào trong, hai ngón kia đều dựng lên). “Tát phạ a xa (sarvāśā, hết thảy các nguyện), “bả lê bổ ra ca (paripūraka, thỏa măn, ư nói: Khiến cho thỏa măn các nguyện thù thắng của hết thảy chúng sanh, giống như Như Ư Châu).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền, linh nhị Hỏa luân khai phu, thị Địa Tạng kỳ ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ha ha ha, vi sa ma duệ, sa ha.

          ()如前,以定慧手為拳,令二火輪開敷,是地藏旗印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃訶訶訶微娑麼曳莎訶

    (Kinh: Như trên, dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền, duỗi x̣e hai ngón Hỏa luân (ngón giữa); đó là ấn cờ của đức Địa Tạng. Chân ngôn của Ngài là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ha ha ha, vi sa ma duệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ha ha ha vismaye svāhā”).

 

          Kế đó là ấn cờ của Địa Tạng Bồ Tát (Kṣitigarbha). Trước hết, các ngón tay đan vào nhau để tạo thành quyền, các ngón gập vào ḷng bàn tay, duỗi hai ngón giữa dựng lên, khiến cho đầu hai ngón cách nhau khoảng một tấc là ấn thành (hai ngón cái cũng dựng sát nhau như thường lệ). Kế Đổ (Ketu) nghĩa là cờ, ấn này giống như lá cờ vậy. Xét theo chân ngôn, “ha ha ha (ĺa ba cái nhân, ư nghĩa như trong phần trên), “vi sa-ma duệ (vismaye, hy hữu. Hết thảy hữu t́nh thường khổ năo v́ ngă tưởng. Cắt đứt sạch ư niệm ấy, ngă tưởng liền trừ. Đó là điều hy hữu, cũng có nghĩa là hiếm lạ).

 

          (Kinh) Huệ thủ vi quyền, nhi thư tam luân, thị Bảo Xứ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa ha.

          ()慧手為拳而舒三輪,是寶處印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃係摩訶摩訶莎訶

     (Kinh: Tay Huệ (tay phải) nắm thành quyền, duỗi ba ngón, đó là ấn của ngài Bảo Xứ. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hệ ma ha ma ha, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, he mahāmaha svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Bảo Xứ Bồ Tát (Ratnākara). Tay phải nắm thành quyền (để ngón cái ra ngoài), liền duỗi các ngón út, áp út, và ngón giữa dựng lên là thành ấn. “H (he, ư nghĩa như trong phần trên như trên), “ma ha ma ha (mahāmaha, lớn nhất trong các thứ to lớn). Sở dĩ Ngài có tên là Bảo Xứ, giống như chất báu sanh trong biển, nên gọi là Bảo Xứ. Như báu ở trong biển, do biển mà có, cho nên gọi tên như thế.

 

          (Kinh) Dĩ thử Huệ thủ thư kỳ Thủy luân, thị Bảo Thủ Bồ Tát ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát nộ ốt bà phạ, sa ha.

          ()以此慧手舒其水輪,是寶手菩薩印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃囉怛怒嗢婆嚩莎訶

    (Kinh: Dùng tay Huệ (tay phải) duỗi ngón Thủy (ngón áp út); đó là ấn của Bảo Thủ Bồ Tát. Chân ngôn của Ngài là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát nộ ốt bà phạ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ratnodbhava svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Bảo Thủ Bồ Tát (Ratnapāṇi). Tay phải nắm thành quyền, dùng ngón cái đè lên các ngón khác, duỗi thẳng ngón áp út là thành ấn. Xét theo chân ngôn, “ra đát nộ (ratno, chất báu), ốt bà phạ (odbhava, sanh ra, [hàm ư] chất báu phát xuất từ tay. Ư nói: Thánh giả sanh từ chất báu, từ chất báu ǵ mà sanh? Chính là từ báu Bồ Đề tâm mà sanh).

 

          (Kinh) Dĩ Định Huệ thủ tác phản tương xoa hiệp chưởng, Định thủ Không luân, Huệ thủ Địa luân tương giao, Bát Nhă ư tam-muội diệc phục như thị. Dư như bạt-chiết-la trạng, thị Tŕ Địa ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đạt ra ni đạt ra, sa ha.

          ()以定慧手作返相叉合掌,定手空輪慧手地輪相交,般若於三昧亦復如是,餘如跋折羅狀,是持地印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃達囉尼達囉莎訶

          (Kinh: Chắp hai tay Định và Huệ đâu lưng, các ngón chéo nhau, ngón Không (ngón cái) của tay Định (tay trái) và ngón Địa (ngón út) của tay Huệ (tay phải) giao nhau, tay Bát Nhă (tay phải) đối với tay tam-muội (tay trái) cũng giống như thế. Các ngón khác như h́nh chày kim cang. Đó là ấn của ngài Tŕ Địa. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đạt ra ni đạt ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, dharaṇiṃdhara svāhā).

 

          Kế đó là ấn của ngài Tŕ Địa (Dharaṇiṃdhara). Đâu hai lưng bàn tay, các ngón chéo nhau, tay phải ngửa, tay trái úp, đầu các ngón đè lên nhau, tức là ngón cái và ngón út áp vào nhau (tức là ngón cái và ngón út của tay trái hướng lên trên, ngón cái và ngón út của tay phải hướng xuống dưới, đè lên tương ứng, tức là ngón cái của tay phải đè lên ngón út của tay trái, ngón út của tay phải đè lên ngón cái của tay trái). Xét theo chân ngôn, “đạt ra ni (dharaṇiṃ là đất. Do đất có thể ǵn giữ hết thảy các vật, nên gọi tên như thế), “đạt ra (dhara là tŕ (nắm giữ, duy tŕ). Tŕ địa vị của chư Phật, gánh vác chúng sanh, nên coi như là đất, cũng khiến cho chúng sanh đều đạt được địa vị ấy mà gọi tên như thế).

 

          (Kinh) Như tiền, tác ngũ cổ kim cang kích h́nh, thị Bảo Ấn Thủ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát na niết thệ đa, sa ha.

          ()如前,作五股金剛戟形,是寶印手印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃囉怛娜涅誓多莎訶

          (Kinh: Như trên, tạo thành h́nh kim cang kích năm nhánh, đó là ấn của ngài Bảo Ấn Thủ. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ra đát na niết thệ đa, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, ratnanirjāta svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Bảo Ấn Thủ Bồ Tát (Ratnamudrāhasta). Trước hết, hai tay đan vào nhau tạo thành quyền, các ngón hướng ra ngoài. Duỗi hai ngón giữa sao cho đầu ngón đều dựng lên. Kế đó, duỗi ngón trỏ và ngón cái, cong hai ngón trỏ hướng về lưng hai ngón giữa, nhưng đừng cho chạm vào lưng ngón giữa, tạo thành h́nh dạng như chày kim cang năm nhánh th́ ấn thành. Xét theo chân ngôn, “ra đát na (ratna, báu), “niết thệ đa (nirjāta, sanh. [Ư nói]: Từ chất báu của chư Như Lai mà sanh).

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, linh nhất thiết luân tướng hợp. Thị Phát Kiên Cố Ư ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, bạt chiết ra tam bà phạ, sa ha.

          ()即以此印令一切輪相合,是發堅固意印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃伐折囉三婆嚩莎訶

          (Kinh: Liền dùng ấn ấy, sao cho hết thảy các ngón đều hợp lại. Đó là ấn của ngài Phát Kiên Cố Ư. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, bạt chiết ra tam bà phạ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, vajrasaṃbhava svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Kiên Cố Ư Bồ Tát (Dṛḍhādhyāśaya). [Kết ấn] như h́nh [chày kim cang] năm nhánh trong phần trước, khiến cho các đầu ngón tay đều chạm nhau th́ ấn thành. Xét theo chân ngôn, “bạt chiết ra tam bà phạ (vajra-saṃbhava, sanh từ kim cang, cũng từ trí ấn kim cang bất khả phá hoại mà sanh, cho nên gọi tên như thế).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ nhị thủ tác Đao, thị Hư Không Vô Cấu Bồ Tát ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, già già na a nan đa, ngu giả ra, sa ha.

          ()如前,以定慧二手作刀,是虛空無垢菩薩印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃伽伽娜難多愚者莎訶

          (Kinh: Giống như trên, dùng hai tay Định và Huệ làm Đao, đó là ấn của Hư Không Vô Cấu Bồ Tát. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, già già na a nan đa, ngu giả ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, gaganā-nantagocara svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Hư Không Vô Cấu Bồ Tát (Gaganāmala). Làm Tam-bổ-trá (hư tâm hiệp chưởng), dùng đầu hai ngón trỏ bấm vào nhau, khiến cho chụm lại là được (giống như Như Lai Đao Ấn). Xét theo chân ngôn, “già già na (gagana, hư không), “a nan đa (ananta, vô lượng), “ngu giả ra (gocara, hạnh. [Ư nói]: Vô lượng hạnh giống như hư không, nên [Bồ Tát] có tên gọi như thế).

         

          (Kinh) Như tiền Chuyển ấn, thị Hư Không Huệ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, chước cật ra phạ lạt để, sa ha.

          ()如前,輪印,是虛空慧印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃斫吃囉嚩喇底莎訶

          (Kinh: Giống như ấn Chuyển [Pháp Luân] trong phần trước, đó là ấn của ngài Hư Không Huệ. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, chước cật ra phạ lạt để, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, cakravarti svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của ngài Hư Không Huệ (Gaganamati), giống như ấn Chuyển Pháp Luân trong phần trước. Xét theo chân ngôn, “chước cật-ra (cakra, luân), “phạ lạt-để (varti, chuyển). Ư nói: Thánh giả do trước đó đă đắc pháp luân này, nguyện v́ hết thảy chúng sanh nên chuyển pháp luân này.

         

          (Kinh) Như tiền Thương Khư Ấn, thị Thanh Tịnh Huệ ấn, bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đạt ma tam bà phạ, sa ha.

          ()如前,商佉印,是清淨慧印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃達磨三婆嚩莎訶

    (Kinh: Giống như ấn Thương Khư (ấn của ngài Kim Cang Tỏa) trong phần trước, đó là ấn của ngài Thanh Tịnh Huệ. Chân ngôn của Ngài là:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, đạt ma tam bà phạ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, dharmasaṃbhava svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát (Viśuddhamati). Kết Tam-bổ-trá, cùng gập hai ngón cái vào ḷng bàn tay, dùng hai ngón trỏ đè trên lưng [hai ngón cái] (ngón trỏ cong thành h́nh khuyên, sao cho móng tay hướng về nhau là được). “Đạt ma (dharma, pháp), “tam bà phạ (saṃbhava, sanh). Ư nói: Bồ Tát đạt được tự tại giống như cảnh giới Phật, từ pháp mà sanh, nên gọi là Pháp Sanh, tức là sanh từ pháp thanh tịnh trong tự tánh vậy.

 

          (Kinh) Như tiền Liên Hoa ấn, thị Hạnh Huệ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, bát đàm ma a lại da, sa ha.

          ()如前,蓮華印,是行慧印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃鉢曇摩阿賴莎訶

     (Kinh: Như Liên Hoa ấn trong phần trước; đó là ấn của ngài Hạnh Huệ. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, bát đàm ma a lại da, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, padmālaya svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của Hạnh Huệ Bồ Tát (Cāritramati), giống như Liên Hoa ấn của đức Quán Âm (ngón út và ngón cái bấm vào nhau, sáu ngón kia [như cánh sen x̣e nở]). Xét theo chân ngôn, “bát đàm ma (padma, hoa sen), “a lại da (alaya, tạng. Tức là Bồ Đề tâm. Từ thai tạng mà sanh ra).

 

          (Kinh) Đồng tiền, thanh liên hoa ấn nhi sảo khai phu, thị An Trụ Huệ ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, nhă na ốt bà phạ, sa ha.

          ()同前,青蓮華印而稍開敷,是安住慧印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃若那嗢婆嚩莎訶

    (Kinh: Giống ấn hoa sen xanh trong phần trước, nhưng hơi nở to hơn. Đó là ấn của ngài An Trụ Huệ. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, nhă na ốt bà phạ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, jñānodbhava svāhā”).

 

          Kế đó là An Huệ Bồ Tát (Sthiramati, hoặc c̣n dịch là Trụ Huệ, cần phải tra cứu thêm). Hai tay đan các ngón vào nhau, tạo thành quyền, sao cho các ngón đều gập vào ḷng bàn tay. Duỗi hai ngón trỏ dựng lên, sao cho đầu ngón cách nhau đôi chút, đừng chạm nhau là thành ấn (hai ngón cái cũng dựng sát nhau). Ấn này tương tự ấn của Đa La Bồ Tát, nhưng tách ra ít hơn (đó là chỗ khác với ấn trước). Xét theo chân ngôn, “nhă na (jñāno, trí), “ốt bà phạ (odbhava, sanh. [Hàm ư]: Từ trí mà sanh).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ nhị thủ tương hợp, nhi khuất Thủy luân tương giao, nhập ư chưởng trung, nhị Hỏa luân, Địa luân hướng thượng, tương tŕ, nhi thư Phong luân khuất đệ tam tiết, linh bất tương trước, do như khoáng mạch. Thị Chấp Kim Cang ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, chiến đồ, ma ha lô sắt noa, hồng.

          ()如前,以二手相合,而屈水輪相交入於掌中,二火輪地輪向上相持,而舒風輪屈第三節令不相著猶如,是執金剛印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞摩訶盧瑟拏

          (Kinh: Như trên, hai tay hợp lại, cong ngón Thủy (áp út) chéo nhau, gập vào ḷng bàn tay, hai ngón Địa (út) và Hỏa (giữa) hướng lên trên, chạm nhau, duỗi hai ngón Phong (trỏ), cong đốt thứ ba, nhưng đầu chúng chẳng chạm nhau, mà cách nhau chừng một hạt lúa mạch. Đó là ấn của ngài Chấp Kim Cang. Chân ngôn của Ngài là: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, chiến đồ, ma ha lô sắt noa, hồng - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, caṇḍamahāroṣaṇa hūṃ).

 

          Kế đó là Chấp Kim Cang (Vajradhara). Giống như ấn Ngũ Cổ trong phần trước, hai ngón trỏ cách đốt trên của ngón giữa chừng một hạt lúa mạch là được. Xét theo chân ngôn, “chiến đồ (caṇḍa. Chữ Chiến có âm Giá (Ca) có nghĩa là sanh tử, ư nói “ĺa sanh tử”. Trên đó, có một cái chấm Đại Không, ngụ ư: Sanh tử giống như Đại Không. “Đồ” có nghĩa là kẻ đối địch. Ví như ĺa sanh tử, bằng với Đại Không; do vậy, chẳng ai có thể đối địch. Hiểu theo ư nghĩa của cả câu th́ Chiến Đồ là “bạo ác”). “Ma ha lô sắt noa (mahāroṣaṇa, đại phẫn nộ. Như trên đă nói, không ai có thể đối địch, cho nên phẫn nộ). “Hồng (hūṃ, đọc âm dài, có cùng ư nghĩa với ba món giải thoát trong phần trên). Dùng pháp như trên để khiến cho chúng sanh sợ hăi, ĺa sanh tử, đạt được ba môn giải thoát.

 

          (Kinh) Như tiền ấn, dĩ nhị Không luân, Địa luân khuất nhập chưởng trung. Thị Mang Măng Kê ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, đát lật trá, đát lật trá, nhă diễn để, sa ha.

          ()如前印,以二空輪地輪屈入掌中,是忙莽雞印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞吒怛若衍底莎訶

    (Kinh: Như ấn trước, dùng hai ngón Không (cái) và Địa (út) gập vào ḷng bàn tay. Đó là ấn của ngài Mang Măng Kê. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, đát lật trá, đát lật trá, nhă diễn để, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, triṭ triṭ jayanti svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của ngài Mang Măng Kê (Māmakī). Giống như Ngũ Cổ Kim Cang (chày kim cang năm nhánh) trong phần trước, hai ngón cái và hai ngón út đều gập vào ḷng bàn tay, cũng là phải đè lên trái. Các ngón đan nhau gập vào ḷng bàn tay giống như trước, nhưng các ngón giữa và trỏ tạo thành h́nh kim cang (vị này là Kim Cang Mẫu). “Đát lật trá đát lật trá (triṭ triṭ, trong ấy có nhiều âm, tức là b́nh đẳng giống như lư Như Như. Đó là tam-muội, là ĺa ngă mạn. Trụ trong Như Như ấy, tất cả ngă mạn tự nhiên chẳng có. Lại nói thêm, từ ngữ này hàm nghĩa “tối cực”). “Nhă diễn để (Jayanti, thù thắng, ư nói: Dùng pháp Như Như vô ngă để hàng phục hết thảy các chướng nạn, khiến cho chúng kinh hoảng mà hàng phục, tức là ư nghĩa “chiến thắng” vậy).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ chư luân phản xoa, tương củ hướng ư tự thể nhi toàn chuyển chi, Bát Nhă không luân gia tam-muội Hư luân, thị Kim Cang Tỏa ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hồng bạn đà bạn đà, mẫu trá dă, mẫu đà dă, phạt chiết rô đà phệ. Tát phạ đát ra bát ra đê ha đê, sa ha.

          ()如前,以定慧手諸輪返叉,相糺向於自體而旋轉之,般若空輪加三昧虛輪,是金剛鎖印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞吽畔陀畔陀母吒也母陀也伐折嚕馱吠薩嚩怛囉鉢囉莎訶

    (Kinh: Giống như trên, đan chéo các ngón của tay Định và Huệ ngược lưng nhau, hướng vào thân ḿnh mà xoay chuyển, [sao cho] ngón Không (ngón cái) của tay Bát Nhă (tay phải) đè lên ngón Hư Không (ngón cái) của tay tam-muội (tay trái). Đấy là ấn của ngài Kim Cang Tỏa. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hồng bạn đà bạn đà, mẫu trá dă, mẫu đà dă, phạt chiết rô đà phệ. Tát phạ đát ra bát ra đê ha đê, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, hūṃ bandha bandha moṭaya moṭaya vajrodbhave sarvatrāpratihate svāhā”).

         

          Kế đó là ấn của ngài Kim Cang Thương Khư La (Vajraśṛṅkhalā), tức là Kim Cang Liên Tỏa (dây xích kim cang, tức dây xích trí huệ). Giống như trên, kết Chuyển Pháp Luân ấn, dùng các ngón út, áp út, giữa và trỏ móc vào nhau, rồi hướng xuống dưới xoay tṛn, hướng vào trong mà chuyển. Kế đó, đặt trước ngực, khiến cho hai ngón trỏ hướng ra ngoài, hai ngón cái cũng là phải đè lên trái, móc vào nhau. Xét theo chân ngôn, “Hồng (hūṃ, đọc ba lần, ư nghĩa như trên), “bạn đà bạn đà (bandha bandha là trói. Ư nói: Hai thứ trói buộc, tức là phiền năo phược và sở tri phược). “Mẫu trá dă mẫu đà dă (moṭaya moṭaya, như tráng sĩ bắt trói kẻ không có sức, thít chặt tới cổ, khiến cho thân phần [kẻ đó] bị phá hoại. [Chân ngôn này] khiến cho hai thứ chướng vỡ nát cũng giống như thế. Do vậy, dùng đó làm ư nghĩa). “Phạt chiết- (vajro, kim cang). “Đà phệ (dbhave, sanh. Từ trí huệ mà sanh ra). “Tát phạ đát-ra (sarvatrā, hết thảy các xứ), “bát-ra đê ha đê” (pratihate, chẳng ai có thể hại được).

 

          (Kinh) Dĩ thử Kim Cang Tỏa ấn, thiểu khuất Hư Không luân dĩ tŕ Phong luân, nhi bất tương chí, thị Phẫn Nộ Nguyệt Yển ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hiệt rị, hồng phán trá, sa ha.

          ()以此金剛鎖印,少屈虛空輪以持風輪而不相至,是忿怒月黶印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞吽泮莎訶

          (Kinh: Dùng ấn Kim Cang Tỏa ấy, hơi gập ngón hư không (ngón cái) để nắm lấy ngón phong luân (ngón trỏ) nhưng không chạm vào nhau; đó là ấn của ngài Phẫn Nộ Nguyệt Yển. Chân ngôn của Ngài là:Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, hiệt rị, hồng phán trá, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, hrīḥ hūṃ phaṭ svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của ngài Kim Cang Nguyệt Yển Phẫn Nộ (Krodhacandratilaka). Vị Kim Cang này sanh từ tướng bạch hào trên trán đức Phật; do vậy, có tên như thế. Hào tướng sáng sạch, ví như trăng tṛn. V́ thế, hiệu là Nguyệt Yển. [Ấn của Nguyệt Yển Phẫn Nộ Kim Cang] giống như ấn “chày kim cang năm nhánh” trong phần trước: Cong hai ngón trỏ như cái móc, bấm lấy hai ngón cái, khiến cho hơi cong, nhưng chẳng chạm vào nhau là được (hơi khác với ấn trước đó). “Hiệt-rị (hrīḥ, ĺa cái nhân vô cấu, bên cạnh có chấm, nghĩa là “cực phẫn nộ”). “Hồng (hūṃ, tương xứng với ba ư nghĩa), “phán trá (phaṭ, trừ khử tột bậc).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền, kiến lập nhị Phong luân nhi dĩ tương tŕ, thị Kim Cang Châm ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, tát bà đạt ma, niết bệ đạt nễ, phạt chiết ra tố chỉ, phạ ra đề, sa ha.

          ()如前,以定慧手為拳,建立二風輪而以相持,是金剛針印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞薩婆達磨涅鞞達儞伐折囉素旨嚩囉莎訶

          (Kinh: Giống như trên, tay Định và Huệ nắm thành quyền, dựng hai ngón Phong (trỏ) chống vào nhau; đó là ấn của ngài Kim Cang Châm. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, tát bà đạt ma, niết bệ đạt nễ, phạt chiết ra tố chỉ, phạ ra đề, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, sarva-dharmanirvedhani vajrasūci varade svāhā”).

 

          Kế đến là ấn của ngài Kim Cang Châm (Vajrasūcī), hai tay đan chéo vào nhau, các ngón gập vào ḷng bàn tay. Dựng hai ngón trỏ sao cho đầu của chúng chạm nhau như h́nh cái kim. Hai ngón cái cùng gập vào ḷng bàn tay. Xét theo chân ngôn, “tát bà đạt ma (sarvadharma, hết thảy các pháp). “Niết bệ đạt nễ (nirvedhani, xuyên qua. [Hàm ư]: Dùng kim cang huệ châm xuyên suốt hết thảy các pháp), “phạt chiết-ra tố chỉ (vajrasūci, Kim Cang Châm. Dùng vật ǵ để xuyên thấu? Tức là dùng kim cang trí châm). “Phạ la đề (varade, ban cho ước nguyện. Do nguyện lực trước kia, nên nay đạt được nguyện này, cũng sẽ khiến cho hết thảy chúng sanh đều thấu đạt các nguồn pháp).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ vi quyền, nhi trí ư tâm. Thị Kim Cang Quyền ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Tát phổ trá dă, phạt chiết ra tam bà phệ, sa ha.

          ()如前,以定慧手為拳而置於心,是金剛拳印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞吒也伐折囉三婆吠莎訶

          (Kinh: Như trên, dùng tay Định và Huệ làm thành quyền, đặt nơi tim. Đó là ấn Kim Cang Quyền. Chân ngôn ấy là:Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Tát phổ trá dă, phạt chiết ra tam bà phệ, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, sphoṭaya vajrasaṃbhave svāhā”).

 

          Kế đó là ấn của ngài Kim Cang Địa Phủng (Vajramuṣṭi). Hai tay đan ngón vào nhau, nắm thành quyền, sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay. Hai ngón cái đều dựng lên phía ngoài quyền, nâng hai khủy tay hơi cao như h́nh cái chùy (nâng hướng về bên phải, như dáng vẻ giận dữ muốn đánh). Xét trong chân ngôn, “tát-phổ trá dă (sphoṭaya, tan tác. Dùng kim cang huệ chùy đập vỡ tam độc, khiến cho nó tan nát, phá hoại). “Tam bà phệ (saṃbhave, sanh. Ai có thể làm chuyện này? Chính là người từ kim cang mà sanh, sẽ có thể làm chuyện này).

 

          (Kinh) Dĩ tam-muội thủ vi quyền, cử dực khai phu, trí huệ thủ diệc tác quyền, nhi thư Phong luân như phẫn nộ tướng nghĩ h́nh. Thị Vô Năng Thắng ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Đỗ đạt lư sa, ma ha rô sắt noa, khư đà da, tát văm đát tha nghiệt đa a duệ nhiên câu lô, sa ha.

          ()以三昧手為拳,舉翼開敷,智慧手亦作拳,而舒風輪如忿怒相擬形,是無能勝印彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞杜達里沙摩訶嚧瑟拏佉陀耶薩鑁怛他蘗多阿曳然俱盧莎訶

    (Kinh: Dùng tay tam-muội (tay trái) nắm thành quyền, nâng cánh tay. Tay trí huệ (tay phải) cũng nắm thành quyền, duỗi ngón Phong (ngón trỏ) như dáng vẻ phẫn nộ. Đó là ấn của ngài Vô Năng Thắng. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Đỗ đạt lư sa, ma ha rô sắt noa, khư đà da, tát văm đát tha nghiệt đa a duệ nhiên câu lô, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, durdharṣa mahāroṣaṇa khādaya sarvāṃ tathāgatājñāṃ kuru svāhā”).

 

                Kế đó là ấn của ngài Nan Thắng Kim Cang (tức Vô Năng Thắng - Aparājita). Tay phải nắm thành quyền, dựng ngón trỏ đặt nơi tim, tay trái kết thành quyền (đều là ngón cái nắm ngoài quyền), duỗi thẳng cánh tay, khiến cho quyền hơi cao ngang với đầu. Do hết thảy các ma chẳng thể nhiễu loạn, chẳng thể thắng được, nên gọi tên như thế. Xét theo chân ngôn, “đỗ đạt lư sa (durdharṣa, trừ nạn, hàng phục), “ma ha rô sắt noa (mahāroṣaṇa, đại phẫn nộ. Dùng pháp ǵ để hàng phục lũ ma? Do có đại phẫn nộ). “Khư đà da (khādaya, ăn, [ư nói] nuốt hết thảy các chướng kết phiền năo), “tát văm đát tha nghiệt đa a duệ-nhiên (sarvāṃ- tathāgatājñāṃ, giáo pháp của hết thảy Như Lai), “câu lô (kuru, vâng theo. Tức là vâng theo lời dạy của hết thảy các đức Như Lai, sẽ thuận theo lời giáo sắc mà làm).

 

          (Kinh) Dĩ Định Huệ thủ vi quyền, tác tương kích thế tŕ chi. Thị A Tỳ Mục Khư ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Hệ a tỳ mục khư, ma ha bát ra chiến đồ. Khư đà dă, khẩn chỉ ra duệ tế. Tam-muội da ma nô tát mạt ra, sa ha.

          ()以定慧手為拳,作相擊勢持之,是阿毘目佉彼真言曰南麼三曼多伐折囉𧹞係阿毘目佉摩訶鉢囉戰荼也緊旨囉拽細三昧耶摩奴薩末莎訶

          (Kinh: Dùng tay Định và Huệ nắm thành quyền, giơ lên như vẻ sắp đánh. Đó là ấn của ngài A Tỳ Mục Khư. Chân ngôn của Ngài là: Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn. Hệ a tỳ mục khư, ma ha bát ra chiến đồ. Khư đà dă, khẩn chỉ ra duệ tế. Tam-muội da ma nô tát mạt ra, sa ha - Namaḥ samantavajrāṇāṃ, he abhimukha mahāpracaṇḍa khādaya kiṃ cirāyasi samayam anusmara svāhā”).

 

          Kế đó là Tương Hướng Kim Cang (A Tỳ Mục Khư, Abhimukha). Do vị này đối diện với Nan Thắng và cùng canh cửa, nên gọi tên như vậy. Ấn này giống như trước (chỉ đổi phải thành trái mà thôi!) “H (He, ư nghĩa như trong phần trước), a tỳ mục khư (abhimukha, đối diện nhau), “ma ha bát ra chiến đồ (mahāpracaṇḍa, cực đại bạo ác), khư đà da (khādaya, ăn), “khẩn chỉ ra duệ tế (kiṃ cirāyasi, sao không nhanh chóng?), “tam-muội da (samayam, bản thệ), “ma nô tát-mạt ra (anusmara, nghĩ nhớ. Vốn đối trước hết thảy Như Lai, lập tam-muội-da thệ, ăn hết thảy phiền năo, nay sao chẳng nhớ bổn nguyện để nhanh chóng thực hiện?)

 

          (Kinh) Như tiền, tŕ bát tướng, thị Thích Ca bát ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ cát lệ thước niết tô đạt nễ, tát phạ đạt ma phạ thỉ đa bát ra bát để, già già na tam mê, sa ha.

          ()如前,持鉢相,是釋迦鉢印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃薩嚩吉隷鑠涅蘇達儞薩嚩達摩嚩始多鉢囉鉢底伽伽那三迷莎訶

    (Kinh: Tướng cầm bát như trong phần trước, đó là ấn bát của Phật Thích Ca. Chân ngôn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tát phạ cát lệ thước niết tô đạt nễ, tát phạ đạt ma phạ thỉ đa bát ra bát để, già già na tam mê, sa ha. Namaḥ samantabuddhānāṃ sarvakleśaniṣūdana sarvadharmavaśitāprāpta gaganasame, svāhā”).

 

          Kế đó, ấn bát của Phật giống như trong phần trước, tức là ấn bát của Phật Thích Ca. Xét theo chân ngôn, “tát phạ cát-lệ thước (sarvakleśa, hết thảy phiền năo), “niết tô đạt nễ (niṣūdana, đào bới, giống như cuốc bén bổ thẳng xuống đào bới triệt để), “tát phạ đạt ma (sarvadharma, hết thảy các pháp), “phạ thỉ đa bát-ra bát-để (vaśitāprāpta, đạt được, tức là được tự tại trong các pháp), “già già na tam mê (gaganasame, bằng với hư không. Do được tự tại trong các pháp nên bằng với hư không, dùng pháp ấy để đào bỏ phiền năo).

 

          (Kinh) Thích Ca hào tướng ấn, như thượng, hựu dĩ Huệ thủ chỉ phong tụ trí đảnh thượng. Thị Nhất Thiết Phật Đảnh ấn. Bỉ chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, văm văm, hồng hồng hồng, phát trá, sa ha.

          ()釋迦毫相印如上,又以慧手指峯聚置頂上,是一切佛頂印彼真言曰南麼三曼多勃馱喃鑁鑁吽吽吽發吒莎訶

          (Kinh: Ấn tướng bạch hào của Phật Thích Ca, như trong phần trước, chụm đầu các ngón của tay Huệ (tay phải), đặt trên đỉnh đầu. Đó là ấn Nhất Thiết Phật Đảnh. Chân ngôn ấy là: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, văm văm, hồng hồng hồng, phát trá, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, vaṃ vaṃ hūṃ hūṃ hūṃ phaṭ svāhā”).

 

          Kế đó, giống như ấn Hào Tướng trong phần trước; đấy chính là ấn hào tướng của Phật Thích Ca. Kế đó, dùng năm ngón tay bên phải chụm lại, đặt trên đỉnh đầu, đấy chính là ấn Nhất Thiết Phật Đảnh. Xét trong chân ngôn, “văm văm (vaṃ vaṃ, chữ Văm đọc âm Phạ, nghĩa là “khiến cho các trói buộc do Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng đều như hư không”). “Hồng hồng hồng (ĺa ba cái nhân, đắc Tam Không, chứng tam-muội).

 

          (Kinh) Dĩ tam-muội thủ vi quyền, thư Hỏa, Phong luân, nhi dĩ Không gia Địa, Thủy luân thượng. Kỳ trí huệ thủ thân Phong, Hỏa luân nhập tam-muội chưởng trung, diệc dĩ Hư Không gia Địa, Thủy, Hỏa luân thượng như tại đao tiêu, thị Bất Động Tôn ấn. Như tiền, Kim Cang huệ ấn, thị Hàng Tam Thế ấn.

          ()以三昧手為拳舒火風輪,而以虛空加地水輪上,其智慧手申風火輪入三昧掌中,亦以虛空加地水輪上如在刀鞘,是不動尊印如前,金剛慧印,是降三世印

     (Kinh: Dùng tay tam-muội (tay trái) nắm thành quyền, duỗi ngón Hỏa (giữa) và Phong (trỏ), dùng ngón Hư Không (ngón cái) đè lên ngón Địa (út) và Thủy (áp út). Tay trí huệ (tay phải) th́ duỗi ngón Phong và Hỏa gập vào ḷng bàn tay tam-muội, cũng dùng ngón Hư Không đè lên các ngón Địa, Thủy, Hỏa như trong vỏ đao. Đó là ấn của ngài Bất Động. Giống như Kim Cang huệ ấn trong phần trên th́ là ấn của ngài Hàng Tam Thế).

 

          Kế đó, tay trái nắm thành quyền, duỗi các ngón trỏ và giữa, dùng ngón cái đè lên móng của các ngón út và áp út. Tay phải cũng làm như thế để tạo thành đao, nhét vào trong vỏ đao. Đấy chính là ấn của ngài Bất Động. Ấn của ngài Hàng Tam Thế th́ giống như ngũ c kim cang ấn (ấn thành h́nh chày kim cang năm nhánh).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ hợp vi nhất tướng, kỳ Địa, Thủy luân giai hướng hạ, nhi thân Hỏa luân nhị phong tương liên, khuất nhị Phong luân trí ư đệ tam tiết thượng, tịnh Hư Không luân như tam mục h́nh. Thị vi Như Lai Đảnh ấn, Phật Bồ Tát mẫu.

          ()如前,以定慧手合為一相,其地水輪皆向下,而申火輪二峯相連,屈二風輪置於第三節上,並虛空輪如三目形如來頂印佛菩薩母

    (Kinh: Giống như trên, dùng tay Định và Huệ hợp thành một tướng (tức là chắp hai tay lại), các ngón Địa (út) và Thủy (áp út) đều hướng xuống dưới, duỗi cho đầu hai ngón Hỏa (giữa) nối nhau, gập đốt thứ ba của ngón Phong (trỏ) cho chạm ngón Hư Không như h́nh ba con mắt. Đó là Như Lai đảnh ấn, [hoặc c̣n gọi là] Phật Bồ Tát Mẫu Ấn).

 

          Kế đó là Phật Nhăn Ấn. Kết Tam-bổ-trá (hư tâm hiệp chưởng), cùng gập hai ngón út và áp út vào ḷng bàn tay, dựng hai ngón giữa như cái kim, hai ngón trỏ gập xuống bấm vào đốt thứ ba của ngón giữa, giống như h́nh con mắt. Hai ngón cái hơi cong, sao cho chúng ở phía dưới ngón giữa, khiến cho đầu ngón khum khum giống như h́nh con mắt. Đấy là tam-muội. Các ngón út và áp út xếp giống như kiểu hướng nội hiệp chưởng (chắp tay sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay) như trong phần trước [đă nói]. Trên đây là Phật Đảnh Ấn, cũng gọi là Phật Bồ Tát Mẫu Ấn.

 

          (Kinh) Phục dĩ tam-muội thủ phú nhi thư chi, huệ thủ vi quyền, nhi cử Phong luân do như cái h́nh. Thị Bạch Tán Phật Đảnh Ấn.

          ()復以三昧手覆而舒之,慧手為拳而舉風輪猶如蓋形,是白傘佛頂印

     (Kinh: Lại dùng tay tam-muội (tay trái) che lên trên mà duỗi ra. Tay huệ (tay phải) nắm thành quyền, ngón Phong (trỏ) dựng lên, tạo thành [h́nh dạng] như cái dù. Đó là ấn của ngài Bạch Tán Phật Đảnh).

 

          Kế đó là ấn của ngài Bạch Tán Phật Đảnh (Sitātapatroṣṇīṣa). Duỗi tay trái, khiến cho các ngón cách nhau khoảng một tấc, coi đó là phần dù. Tay phải nắm thành quyền, dựng ngón trỏ làm cán dù. Dùng cán chống vào ḷng bàn tay trái là thành ấn (hễ nói “nắm thành quyền” đều là ngón cái ở ngoài các ngón kia, các ấn khác đều phỏng theo lệ này). Chân ngôn giống như trong phần trên.

 

          (Kinh) Như tiền, đao ấn, thị Thắng Phật Đảnh ấn.

          ()如前,刀印,是勝佛頂印

    (Kinh: Giống như Đao Ấn trong phần trước, đó là ấn của ngài Thắng Phật Đảnh).

 

          Kế đó, kết ấn của ngài Thắng Phật Đảnh (Jayoṣṇīṣa), giống như Đao Ấn trong phần trước. Tức là kết Tam-bổ-trá (hư tâm hiệp chưởng), ngón giữa dựng lên, chụm vào nhau, ngón trỏ và cái bấm vào nhau là thành ấn.

 

          (Kinh) Như tiền Luân ấn, thị Tối Thắng Phật Đảnh ấn.

          ()如前,輪印,是最勝佛頂印

          (Kinh: Giống như Luân ấn trong phần trên, đó là ấn của ngài Tối Thắng Phật Đảnh).

 

          Kế đó là ấn của Tối Thắng Phật Đảnh (Vijayoṣṇīṣa), giống như ấn Chuyển Pháp Luân trong phần trước.

 

          (Kinh) Như tiền Câu Ấn, Huệ thủ vi quyền, cử kỳ Phong luân nhi thiểu khuất chi. Thị Trừ Nghiệp Phật Đảnh ấn.

          ()如前鉤印,慧手為拳舉其風輪而少屈之,是除業佛頂印

    (Kinh: Giống như Câu Ấn trong phần trước, tay Huệ nắm thành quyền, dựng ngón Phong lên, nhưng hơi cong. Đó là ấn của Trừ Nghiệp Phật Đảnh).

 

          Kế đó là ấn của Trừ Nghiệp Phật Đảnh (Vikiraṇoṣṇīṣa), giống như Câu Ấn trong phần trước. Tức là chắp hai tay, sao cho các ngón đan vào nhau trong ḷng bàn tay, cong ngón trỏ trong tay phải như h́nh cái móc câu. Hai ngón cái chéo nhau, sao cho phải đè lên trái. Nay chỉ có một tay, tức là tay phải nắm thành quyền, dựng ngón trỏ, hơi cong đốt trên cùng của ngón trỏ.

 

          (Kinh) Như tiền Phật Đảnh ấn, thị Hỏa Tụ Phật Đảnh ấn.

          ()如前佛頂印,是火聚佛頂印

     (Kinh: Giống như ấn Phật Đảnh trong phần trước th́ là ấn của ngài Hỏa Tụ Phật Đảnh).

 

          Kế đến là ấn của ngài Hỏa Tụ Phật Đảnh (Tejorāśyuṣṇīṣa), giống như ấn Phật Đảnh trong phần trước.

         

          (Kinh) Như tiền Liên Hoa Ấn, thị Phát Sanh Phật Đảnh ấn.

          ()如前蓮華印,是發生佛頂印

     (Kinh: Giống như ấn Liên Hoa trong phần trước th́ là ấn của ngài Phát Sanh Phật Đảnh).

 

          Ấn của ngài Quảng Sanh Phật Đảnh (Abhyudgatosnīsa, chánh kinh không đề cập vị này) giống như ấn ngũ cổ kim cang trong phần trước. Kế đó là ấn của ngài Phát Sanh Phật Đảnh (Abhyudgatoṣṇīṣa): Kết ấn Liên Hoa (tức Quán Âm Ấn trong phần trước).

 

          (Kinh) Như tiền thương-khư ấn, thị Vô Lượng Âm Thanh Phật Đảnh ấn.

          ()如前商佉印,是無量音聲佛頂印

          (Kinh: Như ấn thương-khư trong phần trước là ấn của ngài Vô Lượng Âm Thanh Phật Đảnh).

 

          Ấn của ngài Vô Lượng Âm Thanh Phật Đảnh (Anantasvaraghoṣoṣṇīṣa) th́ kết Thương Khư ấn như đă nói trong phần trước (tức là kết Tam-bổ-trá, cùng gập hai ngón cái, dùng hai ngón trỏ cùng đè lên).

 

          (Kinh) Dĩ trí huệ thủ vi quyền, trí ư mi gian, thị Chân Đà Ma Ni Hào Tướng ấn.

          ()以智慧手為拳置在眉間,是真多摩尼毫相印

    (Kinh: Dùng tay trí huệ (tay phải) nắm thành quyền, đặt giữa hai mày. Đó là ấn Chân Đà Ma Ni Hào Tướng).

 

          Kế đó là ấn Hào Tướng (Ūrṇā). Tay phải nắm thành quyền rồi chống ngón trỏ vào giữa hai mày, gọi là Chân Đà Ma Ni (Cintāmaṇi, Như Ư Bảo Châu). Đấy chính là ấn Hào Tướng.

 

          (Kinh) Như tiền Phật Đảnh ấn, thị Phật Nhăn ấn. Phục hữu thiểu dị, sở vị kim cang tiêu tướng.

          ()如前佛頂印,是佛眼印復有少異,所謂金剛標相

    (Kinh: Ấn Phật Nhăn giống ấn Phật Đảnh trong phần trước. Lại có chút khác biệt, tức là thể hiện h́nh tướng biểu trưng của chày kim cang).

 

          Ấn Phật Nhăn (Buddhalocanā) giống như ấn Phật Mẫu trong phần trước. Trong ấy có chút khác biệt là để ngón cái và ngón giữa cách nhau chừng bằng một hạt lúa mạch, đừng cho chúng chạm nhau, giống như h́nh [chày kim cang] năm nhánh là được!

 

          (Kinh) Trí huệ thủ tại tâm, như chấp liên hoa tượng, trực thân Xa-ma-tha tư, ngũ luân thượng thư, nhi ngoại hướng cự chi, thị Vô Năng Thắng ấn.

          ()智慧手在心,如執蓮華像,直申奢摩他臂,五輪上舒而外向距之,是無能勝印

    (Kinh: Đặt tay trí huệ (tay phải) nơi tim, giống như cầm hoa sen, duỗi tay Xa-ma-tha (tay trái), năm ngón hướng lên trên, duỗi ra phía ngoài cách nhau. Đó là ấn của ngài Vô Năng Thắng).      

 

          Kế đó là ấn của Vô Năng Thắng (Aparājita) Minh Vương. Tay phải như ấn Chấp Liên Hoa (tức đầu ngón trỏ và ngón cái bấm vào nhau, ngón giữa cong gập đặt vào giữa, hai ngón út và áp út dựng thẳng là được). Duỗi thẳng tay trái, năm ngón hướng lên trên nhưng ngả ra phía ngoài (các đầu ngón tay tách nhau). Tay ấy hơi cao hơn đầu là thành ấn. Ấn này kết khi đứng th́ giống như Bát Lật Để Rị trong phần trước!

 

          (Kinh) Định Huệ thủ hướng nội vi quyền, nhị Hư Không luân thượng hướng, khuất chi như khẩu, thị Vô Năng Thắng Minh Phi ấn.

          ()定慧手向為拳,二虛空輪上向屈之如口,是無能勝明妃印

          (Kinh: Hai tay Định và Huệ hướng vào trong nắm thành quyền, hai ngón Hư Không (ngón cái) hướng lên trên, cong như cái miệng. Đó là ấn của Vô Năng Thắng Minh Phi).

 

          Kế đó các ngón đan vào nhau, gập trong ḷng bàn tay, nắm thành quyền. Hai ngón cái đặt sát nhau ở ngoài quyền, cong lóng ngón tay như cái móc câu. Đó gọi là “khẩu trạng” (h́nh dạng cái miệng), chính là ấn của Vô Năng Thắng Minh Phi.

 

          (Kinh) Dĩ trí huệ thủ thừa giáp, thị Tự Tại Thiên ấn.

          ()以智慧手承頰,是自在天印

     (Kinh: Dùng tay trí huệ đỡ má, đó là ấn của Tự Tại Thiên).

 

          Kế đó, duỗi tay phải đỡ má phải, hơi nghiêng đầu tựa lên tay, má hơi cách tay một chút. Đó là ấn ca Tịnh Cư Thiên (đó là tay tư duy, c̣n có tên là Tự Tại Thiên).

         

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn linh Phong, Hỏa luân sai lệ thân chi, thị Phổ Hoa Thiên Tử ấn.

          ()即以此印令風火輪差戾申之,是普華天子印

    (Kinh: Liền dùng ấn ấy sao các ngón Phong (trỏ) và Hỏa (giữa) chéo nhau, duỗi ra. Đó là ấn của Phổ Hoa Thiên Tử).

 

          Kế đó, giống như ấn của Tự Tại Thiên trên đây, duỗi tay phải, sao cho ngón giữa hơi nghiêng đầu hướng vào trong, hơi tách biệt với ngón trỏ; đấy chính là ấn của Phổ Hoa Thiên Tử (Samantakusuma). Tay nên đặt nghiêng trước ngực. Đoạn kế [trong lời sớ] bỏ sót một vị thiên tử, tức Quang Man Thiên Tử.

 

          (Kinh) Đồng tiền ấn, dĩ Hư Không luân tại ư chưởng trung. Thị Quang Man Thiên Tử ấn. Đồng tiền ấn, dĩ Hư Không, Phong luân tác tŕ hoa tướng, thị Măn Ư Thiên Tử ấn. Dĩ trí huệ thủ Hư Không, Thủy luân tương gia, kỳ Phong, Hỏa luân, Địa luân giai tán thư chi, dĩ yểm kỳ nhĩ, thị Biến Âm Thanh Thiên ấn.

          ()同前印,以虛空輪在於掌中,是光鬘天子印同前印,以虛空風輪作持華相,是滿意天子印以智慧手虛空水輪相加,其風火輪地輪皆散舒之以掩其耳,是遍音聲天印

     (Kinh: Giống như ấn trên đây, gập ngón Hư Không (ngón cái) vào ḷng bàn tay. Đó là ấn của Quang Man Thiên Tử (Raśmimālin). Giống như ấn trên đây, dùng ngón Hư Không (ngón cái) và Phong (ngón trỏ) làm như tư thế cầm hoa. Đó là ấn của Măn Ư Thiên Tử (Manojava). Trong tay phải, dùng ngón cái và ngón áp út chạm đầu nhau, các ngón Phong (trỏ), Hỏa (ngón giữa) và Địa (út) thảy đều x̣e ra để che tai. Đó là ấn của Biến Âm Thanh Thiên - Svaraviśruti.).

 

     Kế đó, cũng giống như trên duỗi tay phải, ngón trỏ và ngón cái bấm vào nhau như dáng vẻ cầm hoa. Đó là ấn của Măn Ư Thiên Tử (ba ngón kia cùng đặt khít ngang nhau). [Lời sớ khuyết phần giải thích ấn của Biến Âm Thanh Thiên ở đây, lại dời ra sau mấy vị, có lẽ là lỗi khắc ván hay sao chép]. Trên đây đều là các vị Tịnh Cư Thiên Tử.

 

          (Kinh) Định Huệ tương hợp, nhị Hư Không luân viên khuất, kỳ dư tứ luân diệc như thị, thị danh Địa Thần ấn.

          ()定慧相合,二虛空輪圓屈,其餘四輪亦如是,是名地神印

          (Kinh: Tay Định và Huệ chắp lại, hai ngón Hư Không (cái) cong gập, bốn ngón kia cũng như thế. Đó gọi là ấn của Địa Thần).

 

          Kế đó là ấn của Địa Thiên (Pṛthivī). Trước hết, chắp tay sao cho mười đầu ngón tay sát vào nhau, cùng gập lại sao cho bấm lấy nhau, cùng ôm lấy ngón cái gập vào ḷng bàn tay, h́nh như cái b́nh là thành ấn.

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ trí huệ thủ tác Thí Vô Úy tướng, dĩ Không luân tại ư chưởng trung, thị Thỉnh Triệu Hỏa Thiên ấn.

          ()如前,以智慧手作施無畏相,以空輪在於掌中,是請召火天印

          (Kinh: Giống như trên, dùng tay trí huệ (tay phải) để kết ấn Thí Vô Úy, đặt ngón Không (ngón cái) trong ḷng bàn tay. Đó là ấn thỉnh vời Hỏa Thiên).

 

          Kế đó, giống như trên kết ấn Thí Vô Úy, nhưng cong gập ngón cái vào ḷng bàn tay, đấy chính là ấn thỉnh vời Hỏa Thiên (Agni).

 

          (Kinh) Tức dĩ Thí Vô Úy h́nh, dĩ Hư Không luân tŕ Thủy luân đệ nhị tiết, thị Nhất Thiết Chư Tiên ấn. Tùy kỳ thứ đệ, tương ứng dụng chi.

          ()即以施無畏形,以虛空輪持水輪第二節,是一切諸仙印隨其次第,相應用之

    (Kinh: Liền dùng ấn Thí Vô Úy, dùng ngón Hư Không (ngón cái) bấm vào lóng thứ hai của ngón Thủy (ngón áp út); đó là ấn của hết thảy các vị tiên. Tùy theo thứ tự mà dùng tương ứng).

 

          Kế đó, hai tay đều dùng ngón cái bấm đầu ngón áp út. Các ngón khác dựng lên cùng che hai tai. Đó là ấn của Biến Thanh Âm Thiên. Dùng đầu hai ngón áp út và trỏ để che tai (Phần lời Sớ này đáng lẽ phải đặt trước phần nói về Địa Thiên). Đó là âm thanh ấy khiến cho mọi người đều trọn biết. Vị này (tức Biến Âm Thiên) cũng là Tịnh Cư Thiên. Cùng với [các vị được liệt kê trong phần nói về] ấn của Tịnh Cư Thiên trong phần trước, hợp thành Ngũ Thiên.

          [Ở đây], kết ấn Thí Vô Úy. Dùng ngón cái bấm lấy lóng thứ hai của ngón út[3], sẽ thành ấn của hết thảy các vị tiên. Từ chỗ này trở đi, kinh lại liệt kê [ấn của hết thảy chư tiên] lần thứ hai, đó chính là [ấn chung của] trọn khắp hết thảy các vị tiên. Trước hết, dùng ngón cái bấm vào lóng thứ hai của ngón út. Ba ngón kia đều dựng lên. Theo thứ tự, trước hết tách ngón trỏ ra, kế đến là ngón giữa, rồi ngón áp út, hơi cách biệt ngón áp út. Kế đó, tách biệt năm ngón. Đấy chính là năm vị Đại Địa Tiên, vâng theo thứ tự nói trong kinh.

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ tương hợp, Phong luân, Địa luân nhập ư chưởng trung, dư giai thượng hướng, thị Diễm Ma Đản Trà ấn.

          ()如前以定慧手相合,風輪地輪入於掌中,餘皆上向,是焰摩但茶印

          (Kinh: Giống như trên, dùng hai tay Định và Huệ chắp lại, ngón Phong (trỏ) và Địa (út) gập vào ḷng bàn tay, các ngón kia đều hướng lên trên. Đó là ấn Diễm Ma Đản Trà).

 

          Kế đó là ấn Diêm La. Kết Tam-bổ-trá, hai ngón trỏ và út gập vào ḷng bàn tay, khiến cho đầu chúng áp vào nhau, dùng hai ngón cái bấm vào lưng ngón trỏ (Nên bấm vào khoảng giữa lóng thứ hai và lóng thứ ba), đầu ngón cái hơi cong lại sao cho chạm nhau, hai ngón cái đè lên ngón giữa là được (Đó là Đàn Trà (Daṇḍa) ấn).

 

          (Kinh) Huệ thủ hướng hạ do như Kiện Trá, thị Diễm Ma Phi Đạc ấn.

          ()慧手向下猶如健吒,是焰摩妃鐸印

          (Kinh: Tay Huệ hướng xuống dưới ví như Kiện Trá (ghaṇṭā: cái chuông). Đó là đạc ấn của Diễm Ma Phi).

 

          Kế đó, tay phải duỗi các ngón tay sao cho như h́nh cái chuông, rủ tay hướng xuống dưới. Đó là ấn của Diêm La Phi (Yamī, vợ của Diêm Vương).

 

          (Kinh) Dĩ tam-muội thủ vi quyền, thư Phong, Hỏa luân, thị Ám Dạ Thiên ấn.

          ()以三昧手為拳,舒風火輪,是暗夜天印

     (Kinh: Nắm tay tam-muội thành quyền, duỗi các ngón Phong và Hỏa; đó là ấn của Ám Dạ Thiên).

 

          Kế đó, tay trái nắm lại, các ngón út và áp út gập vào ḷng tay, ngón giữa và trỏ cùng duỗi ra. Ngón cái theo lệ thưng khi nắm tay (tức là đặt ra ngoài hai ngón bị gập lại). Đây là ấn của Hắc Dạ Thiên (Kālarātri, chánh kinh gọi vị này là Ám Dạ Thiên), cũng là vợ của vua Diêm La.

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, hựu khuất Phong luân, thị Rô Đạt Ra Kích ấn.

          ()即以此印又屈風輪,是嚕達羅戟印

    (Kinh: Liền dùng ấn ấy, lại gập ngón Phong (ngón trỏ); đó là Kích ấn của Rô Đạt Ra).

 

          Kế đó, ấn tướng giống như trước, nhưng gập ngón trỏ. Dùng đầu ngón cái bấm vào lóng thứ hai của ngón trỏ. Đó là ấn của Rô Nại Ra (Rudra, chánh kinh phiên âm là Rô Đạt Ra, tức Ma Hê Thủ La) ấn của Tự Tại Thiên Hậu (Rudrāṇī).

         

          (Kinh) Như tiền ấn, tác tŕ liên hoa h́nh, thị Phạm Thiên Minh Phi ấn.

          ()如前印,作持蓮華形,是梵天明妃印

     (Kinh: Như ấn trước, làm như vẻ cầm hoa sen; đó là ấn của Phạm Thiên Minh Phi).

 

          Kế đó, dùng tay trái làm giống như đang cầm hoa sen. Đấy là ấn của Phạm Thiên Hậu (tức là x̣e bàn tay, dùng ngón cái và trỏ bấm vào nhau, gập ngón giữa vào ḷng bàn tay. Trong h́nh vẽ th́ vẽ ngón ấy duỗi thẳng). Phạm Thiên vô dục, há giống như thân người, sao lại nói là Hậu vậy? Đây là ấn tướng của Phạm Vương Minh Phi (Brahmāṇī), hàm nghĩa Minh Phi vậy.

 

          (Kinh) Như tiền ấn, khuất kỳ Phong luân gia Hỏa luân bối đệ tam tiết, thị Kiều Mạt Ly Thước Để ấn.

          ()如前印,屈其風輪加火輪背第三節,是嬌末離爍底印

     (Kinh: Như ấn trước, gập ngón Phong (trỏ) gác lên lưng lóng thứ ba của ngón Hỏa (ngón giữa); đó là ấn Thước Để của Kiều Mạt Ly).

 

          Kế đó, duỗi bàn tay trái ra, gập hai ngón út và áp út vào ḷng bàn tay, co ngón trỏ bấm lấy lưng ngón giữa. Ngón cái cũng hơi cong. Đó chính là ấn Thước Để của Kiều Mạt Ly (Kaumārīśakti). Thước Để (Śakti) là ấn thuộc về đồ vật, giống như trong h́nh vẽ. Vị này là con của Tự Tại Thiên, tên là Yết Để Ca (Kārttika), Kiều Mạt Ly là tên của vợ ông ta.

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, linh Phong luân gia Hư Không thượng, thị Na La Diên Hậu Luân ấn.

          ()即以此印,令風輪加虛空上,是那羅延后輪印

     (Kinh: Liền dùng ấn ấy, sao cho ngón Phong đè trên ngón Hư Không; đó là Luân ấn của Na La Diên Hậu).

 

          Kế đó, duỗi ba ngón út, áp út, và giữa của tay trái, sao cho chúng đều x̣e ra, dùng ngón trỏ bấm lấy đầu ngón cái. Đó là ấn của Na La Diên Hậu (Nārāyaṇī). Ấn Tŕ Hoa th́ che trước ngực, nay ấn này hướng ra ngoài, gập lại.

 

          (Kinh) Tam-muội thủ vi quyền, linh Hư Không luân trực thượng, thị Diễm Ma Thất Mẫu Chùy ấn.

          ()三昧手為拳,令虛空輪直上,是焰魔七母鎚印

     (Kinh: Tay tam-muội (tay trái) nắm thành quyền, sao cho ngón Hư Không (ngón cái) duỗi thẳng lên trên. Đó là Chùy ấn của Diễm Ma Thất Mẫu).

 

          Kế đó, dùng tay trái nắm thành quyền, duỗi thẳng ngón cái hướng về lên trên. Đó là ấn của Diêm Vương Thất Mẫu (cả bảy vị đều dùng chung).

 

          (Kinh) Ngưỡng kỳ Định thủ như tŕ Kiếp-bát-la tướng, thị Giá Văn Trà ấn.

          ()仰其定手如持劫鉢羅相,是遮文茶印

          (Kinh: Ngửa tay Định (tay trái) như dáng vẻ cầm Kiếp-bát-la[4]. Đó là ấn của Giá Văn Trà).

 

          Kế đó, duỗi tay trái, cong [các ngón] như cầm đầu lâu, hăy nên đặt ngửa trước ngực. Đó là ấn của Giá Văn Trà (Cāmuṇḍā)[5].

 

          (Kinh) Như tiền Khiết-già ấn, thị Niết Rị Để Đao ấn.

          ()如前朅伽印,是涅哩底刀印

          (Kinh: Giống như ấn Khiết-già trong phần trước th́ là Đao Ấn của Niết Rị Để).

 

          Tay trái dùng ngón cái bấm vào móng của ngón út và áp út, duỗi ngón giữa và trỏ để cùng dựng lên, tức là Đao Ấn của Niết Rị Để (Nairṛti).

 

          (Kinh) Như tiền Luân ấn, dĩ tam-muội thủ vi chi, thị Na La Diên Luân ấn.

          ()如前輪印,以三昧手為之,是那羅延輪印

     (Kinh: Giống như Luân ấn trong phần trước, nhưng dùng tay tam-muội (tay trái) để kết th́ là Luân ấn của Na La Diên).

 

          Kế đó, chỉ duỗi tay trái x̣e ra để kết Chuyển Pháp Luân Ấn trong phần trước, nhưng có điểm khác là chỉ dùng một tay, không móc hai tay vào nhau. Đó là ấn của Na La Diên Thiên (Nārāyaṇa).

 

          (Kinh) Dĩ chuyển Định Huệ thủ, tả hữu tương gia, thị Nan Đồ Bạt Nan Đà Nhị Vân ấn.

          ()以轉定慧手左右相加,是難徒拔難陀二雲印

     (Kinh: Chuyển tay Định và Huệ sao cho trái và phải đè lên nhau. Đó là ấn Nhị Vân của Nan Đồ Bạt Nan Đà).

 

          Kế đó, x̣e mười ngón để che lên, dùng hai ngón cái đặt chéo nhau, tức là ấn của hết thảy các rồng. Nếu dùng tay phải đè lên tay trái th́ là ấn của rồng Nan Đà. Xoay tay trái đè lên tay phải th́ là rồng Tiểu Nan Đà (Ưu Bạt Nan Đà). Giống như ấn rồng chín đầu trong phần trước, duỗi thẳng bốn ngón, tách ra làm cánh. Đó là Kim Xí Ấn. Phàm là địa cư thiên th́ phần nhiều dùng một tay để kết ấn.

 

          (Kinh) Như tiền, thân tam-muội thủ, Hư Không, Địa luân tương gia, thị Thương Yết La Tam Kích ấn. Như tiền, thân tam-muội thủ, Hư Không, Địa luân tương tŕ, thị Thương Yết La Hậu ấn. Tức dĩ thử ấn, trực thư tam luân, thị Thương Yết La Phi ấn.

          ()如前申三昧手,虛空地輪相加,是商羯羅三戟印如前,伸三昧手,虛空地輪相持,是商羯羅后印即以此印直舒三輪,是商羯羅妃印

    (Kinh: Giống như trên, duỗi tay tam-muội, các ngón Hư Không (cái) và Địa (út) đè lên nhau; đó là ấn kích ba nhánh của Thương Yết La. Giống như trên, duỗi tay tam-muội, ngón Hư Không và Địa chống vào nhau, đó là ấn của Thương Yết La Hậu. Liền dùng ấn này, duỗi thẳng ba ngón th́ là ấn của Thương Yết La Phi).

 

          Kế đó, duỗi tay trái nâng lên, chớ để đầu các ngón tay chạm vào nhau, liền dùng ngón cái và út bấm vào nhau, [đầu ngón cái] bấm trên móng ngón út. Đó là ấn Thương Yết La (Śaṃkara, tức Cốt Tỏa Thiên, danh xưng khác của thần Śiva). Giống như ấn trên, nhưng cùng khép ba ngón lại. Đấy chính là ấn của Ô Mang Na (Umā). Đó là Thương Yết La Hậu (Śaṃkarī). Hai ấn tương tự, ấn trước th́ ngón trỏ hơi cong, ấn này th́ [ngón trỏ] để thẳng, nhưng [đầu hai ngón] tơe ra.

 

          (Kinh) Dĩ tam-muội thủ tác Liên Hoa tướng, thị Phạm Thiên ấn.

          ()以三昧手作蓮華相,是梵天印

     (Kinh: Dùng tay tam-muội (tay trái) tạo h́nh hoa sen, đó là ấn của Phạm Thiên).

 

           Tay trái kết ấn Bán Liên Hoa, cách kết ấn giống như ấn Quán Âm. Chỗ khác biệt ở đây là chỉ dùng một tay để làm. Đó là ấn của Phạm Thiên (Brahmā).

 

          (Kinh) Nhân tác khiết bạch quán, thị Nguyệt Thiên ấn. Dĩ Định Huệ thủ hiển hiện hiệp chưởng, khuất Hư Không luân trí Thủy luân trắc, thị Nhật Thiên Dư Lộ ấn.

          ()因作潔白觀,是月天印以定慧手顯現合掌,屈虛空輪置水輪側,是日天輿輅印

     (Kinh: Nhân đó, quán [ấn trên đây] trắng sạch, sẽ là ấn của Nguyệt Thiên. Dùng tay Định và Huệ để hiển hiện hiệp chưởng, cong ngón Hư Không (ngón cái) đặt bên cạnh ngón Thủy (áp út). Đó là ấn cỗ xe của Nhật Thiên).

 

          Kế đó là Hiển Lộ hiệp chưởng (chánh kinh ghi là “hiển hiện hiệp chưởng”, tức là mở hai ḷng bàn tay, đặt sát nhau, sao cho ngón út sát nhau, ḷng bàn tay ngửa lên hướng về thân người kết ấn). Co hai ngón trỏ bấm lấy lưng đốt thứ ba của ngón giữa, sao cho đầu hai ngón áp út chạm nhau. Hai ngón áp út cũng đặt trên lưng lóng thứ ba của ngón giữa. Đấy là ấn Nguyệt Thiên (Candra), giống như ấn Phạm Vương chẳng khác, chỉ quán tưởng ấn ấy trắng sạch là khác biệt (Sớ không giải thích ấn của Nhật Thiên).

 

          (Kinh) Hợp Bát Nhă tam-muội thủ, Địa luân, Phong luân nội hướng, kỳ Thủy Hỏa luân tương tŕ như cung, thị Xă Da Tỳ Xă Da ấn.

          ()合般若三昧手,地輪風輪,其水火輪相持如弓,是社耶毘社耶印

     (Kinh: Chắp hai tay Bát Nhă và tam-muội lại, ngón Địa (út) và ngón Phong (trỏ) hướng vào trong, ngón Thủy (áp út) và Hỏa (giữa) vịn vào nhau như cái cung. Đó là ấn của Xă Da (Jayā) và Tỳ Xă Da - Vijayā).

 

          Kế đó, chắp tay, gập ngón trỏ và út vào ḷng bàn tay, cong các ngón giữa và áp út như cánh cung. Đó là ấn Nhật Hậu (vợ của Nhật Thiên) là Xă Da [và Tỳ Xă Da].

 

          (Kinh) Như tiền Tràng ấn, thị Phong Thiên ấn.

          ()如前幢印,是風天印

    (Kinh: Giống như Tràng Ấn trong phần trước, đó là ấn của Phong Thiên).

         

          Ấn của Phong Thiên (Vāyu) giống như trong phần trên, cần phải duỗi tay trái, nghiêng bàn tay, co hai ngón út và áp út là được. Đấy là Phong Tràng Ấn.

 

          (Kinh) Ngưỡng tam-muội thủ tại ư tề luân, trí huệ thủ Không, Phong tương tŕ, hướng thân vận động như tấu âm nhạc, thị Diệu Âm Thiên Phí Noa ấn.

          ()仰三昧手在於臍輪,智慧手空風相持,向身運動如奏音樂, 是妙音天費拏印

          (Kinh: Ngửa tay tam-muội đặt tại rốn. Các ngón Không (cái) và Phong (trỏ) trong tay trí huệ (tay phải) hướng về thân di chuyển như đang tấu âm nhạc. Đó là ấn Phí Noa (Vīṇā)[6] của Diệu Âm Thiên).

 

          Trước hết, ngửa tay trái đặt ngang rốn, giống như dáng vẻ ôm đàn sắt[7]. Tay phải th́ ngón trỏ bấm vào ngón cái, các ngón khác x̣e ra, hướng vào thân như dáng vẻ đang gảy đàn. Đó là ấn của Diệu Âm Thiên (Sarasvatī). Vị này thâu nhiếp loài Càn Thát Bà, Ngài là thiên hậu, cũng có thể nói là thuộc loài Càn Thát Bà.

 

          (Kinh) Như tiền Quyến Sách ấn, thị chư long ấn.

          ()如前,羂索印,是諸龍印

     (Kinh: Giống như ấn Quyến Sách trong phần trước chính là ấn của các rồng).

 

          Giống như ấn Quyến Sách trong phần trước (tức là hai bàn tay đan ngón vào nhau, sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay, duỗi ngón trỏ sao cho đều cùng cong, bấm vào nhau là thành ấn), nhưng chỉ làm bằng tay trái, đó chính là ấn của long vương Phạ Noa (Varuna).

 

          (Kinh) Như tiền, Diệu Âm Thiên ấn, nhi khuất Phong luân giao Không luân thượng, thị nhất thiết A Tu La ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, già ra la diễn, sa ha.

          ()如前妙音天印,而屈風輪交空輪上,是一切阿脩羅印真言曰南麼三曼多勃馱喃伽囉邏演莎訶

          (Kinh: Giống như ấn của Diệu Âm Thiên trong phần trên, nhưng gập ngón Phong (ngón trỏ) gác chéo lên ngón Không (ngón cái). Đó là ấn của hết thảy các A Tu La. Chân ngôn rằng:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, già ra la diễn, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, garalayaṃ svāhā”).

 

          Kế đó, dùng tay trái kết ấn Âm Nhạc Thiên (Diệu Âm Thiên). Theo đồ h́nh th́ cong ngón trỏ trong tay phải đè lên móng của ngón cái, các ngón khác duỗi ra che trên tay trái. Đó là ấn của A Tu La. Xét đến chân ngôn, “già ra la diễn (garalayaṃ): Già là hành, do hành bất khả đắc. Ra là vô cấu. La là ly tướng. Diễn là vô sở đắc. Trên đó có cái chấm, tức là Đại Không.

 

          (Kinh) Nội hướng vi quyền, nhi thư Thủy luân, thị Càn Thát Bà ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, vi thâu đà, tát phạ ra, phạ hệ nễ. Sa ha.

          ()內向為拳而舒水輪,是乾闥婆印真言曰南麼三曼多勃馱喃微輸馱薩嚩囉嚩係儞莎訶

          (Kinh: Nắm tay thành quyền, sao cho các ngón gập vào ḷng bàn tay, duỗi ngón Thủy (áp út); đó là ấn Càn Thát Bà. Chân ngôn rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, vi thâu đà, tát phạ ra, phạ hệ nễ. Sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, viśuddhasvaravāhini svāhā).

 

          Đối với Càn Thát Bà th́ [hai tay] kết nội chưởng quyền (nắm thành quyền, sao cho các ngón nằm trong ḷng bàn tay), duỗi ngón áp út sao cho đầu của chúng chạm nhau. Đó là Bổn Bộ tam-muội-da. Nếu là sự nghiệp ấn th́ kết ấn bằng một tay, tức là ngón cái đè lên móng của ba ngón kia, duỗi thẳng ngón áp út. Đó là ấn Càn Thát Bà. Xét theo chân ngôn, “vi thâu đà (viśuddha, thanh tịnh), “tát-phạ ra (svara, âm thanh), “phạ hệ nễ (vāhini, vang ra, có nghĩa là phát ra âm thanh thanh tịnh, đều là thế gian tam-muội).

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn nhi khuất Phong luân, thị nhất thiết Dược Xoa ấn, chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, dược khất thoa thấp phạ ra, sa ha.

          ()即以此印而屈風輪,是一切藥叉印真言曰南麼三曼多勃馱喃藥乞釵濕嚩囉莎訶

          (Kinh: Liền dùng ấn ấy, cong ngón Phong (trỏ), đó là ấn của hết thảy Dược Xoa. Chân ngôn rằng: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, dược khất thoa thấp phạ ra, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, yakṣeśvara svāhā”).

 

          Kế đó, tay trái nắm thành quyền, cong ngón trỏ như cái móc, cách đầu ngón cái đôi chút, đừng cho chạm nhau. Đó là ấn của hết thảy Dạ Xoa. Xét theo chân ngôn, “dược khất-thoa (yakṣe, dược là thừa, ư nghĩa của câu này là “ăn nuốt”), “thấp-phạ ra (śvara, tự tại. Do ăn nuốt hết thảy phiền năo mà được tự tại; do vậy, dùng [chuyện ấy] làm tên).

         

          (Kinh) Hựu dĩ thử ấn, Hư Không luân, Địa luân tương tŕ, nhi thân Hỏa, Phong. Thị Dược Xoa Nữ ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, dược khất xoa vĩ nễ da đạt rị, sa ha.

          ()又以此印,虛空輪地輪相持而申火風,是藥叉女印真言曰南麼三曼多勃馱喃藥乞叉尾儞耶達莎訶

          (Kinh: Lại dùng ấn này, ngón Hư Không (cái) và ngón Địa (út) tựa đầu nhau, duỗi ngón Hỏa (giữa) và Phong (trỏ). Đó là ấn của Dược Xoa Nữ. Chân ngôn rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, dược khất xoa vĩ nễ da đạt rị, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, yakṣavidyādhari svāhā”).

 

          Kế đó, trong tay trái, dùng ngón cái bấm lấy đầu móng ngón út, duỗi ngón áp út và giữa, dùng ngón trỏ bấm lấy đốt đầu của ngón cái. Đó là ấn của hết thảy Dược Xoa Nữ (Yakṣiṇī). Xét đến chân ngôn, “dược khất-xoa (yakṣa, ăn), “vĩ nễ-da đạt rị (vidyādhari, sáng suốt. Câu này nói đến Dược Xoa Tŕ Minh, cũng có nghĩa là “trói buộc”, tức là “ăn nuốt các trói buộc”).

 

          (Kinh) Nội hướng vi quyền, nhi thư Hỏa luân. Thị chư Tỳ Xá Giá ấn. Chân ngôn viết: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tỳ xá giá nghiệt để, sa ha”. Cải khuất Hỏa luân, thị chư Tỳ Xá Chi ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tỷ chỉ, tỷ chỉ, sa ha.

          ()內向為拳而舒火輪,是諸毘舍遮印真言曰南麼三曼多勃馱喃毘舍遮蘖底莎訶改屈火輪,是諸毘舍支印真言曰麼三曼多勃馱喃比旨比旨莎訶

          (Kinh: Nắm tay thành quyền, sao cho các ngón hướng vào trong, duỗi ngón Hỏa (ngón giữa). Đó là ấn của Tỳ Xá Giá. Chân ngôn rằng: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tỳ xá giá nghiệt để, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, piśācagati svāhā”. Đổi thành cong ngón giữa. Đó là ấn của các Tỳ Xá Chi. Chân ngôn rằng:Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tỷ chỉ, tỷ chỉ, sa ha - Namaḥ samanta-buddhānāṃ, pici pici svāhā”).   

 

          Kế đó, trong tay trái, dùng ngón cái bấm lấy móng ba ngón kia, chỉ duỗi ngón giữa ra, đó là ấn của hết thảy Tỳ Xá Xà (Piśācas, Tỳ Xá Giá). Cũng có thể chỉ nắm tay thành quyền, nhưng duỗi ngón giữa là thành ấn). Xét tới chân ngôn, “tỳ xá giá nghiệt để (piśācagati, nghiệt để là tiến nhập, [hàm ư] tiến nhập Đệ Nhất Nghĩa chẳng thể được). Kế đó, cũng giống như thế, nhưng hơi cong ngón giữa, đó là ấn của Tỳ Xá Xà nữ (Piśācī, Tỳ Xá Chi). Xét theo chân ngôn, “tỷ chỉ, tỷ chỉ (Pici, pici, Tỳ là Đệ Nhất Nghĩa, Giá nghĩa là ĺa sanh tử. Lặp lại [hai chữ Tỷ Chỉ], ư nói: Tột bậc ĺa khỏi sanh tử).

 

          (Kinh) Như tiền, dĩ Định Huệ thủ tương hợp, tịnh Hư Không luân nhi kiến lập chi, thị nhất thiết chấp diệu ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, nghiệt ra hê thấp phạ rị dă, bát ra bổ đa, nhụ để ma dă, sa ha.

          ()如前以定慧手相合,並虛空輪而建立之,是一切執曜印真言曰南麼三曼多勃馱喃蘖囉醯濕嚩鉢囉補多孺底麼也莎訶

          (Kinh: Như trên, chắp hai tay Định và Huệ lại, cùng dựng ngón Hư Không (ngón cái) lên, đặt sát nhau; đó là ấn của hết thảy các chấp diệu. Chân ngôn rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, nghiệt ra hê thấp phạ rị dă, bát ra bổ đa, nhụ để ma dă, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, grahaiśvaryaprāpta jyotirmaya, svāhā”).

 

          Kế đó, hai tay chắp lại, hai ngón cái cũng đặt ngang nhau, nhưng tách biệt nhau, giữ cho các ngón khác tách rời nhau. Đó là ấn của Ngật Lật Hà (Graha[8]. Loại này được xếp riêng thành một đường, chẳng phải người, chẳng phải quỷ. Chúng có thể dọa dẫm con người, khiến cho họ bị phi nhân nắm giữ. Nay chẳng nói đến loài ấy, mà là nói các tinh tú). Nếu nói về các ngôi sao gần gũi, th́ gom chung chín ngôi sao để nói. Xét theo chân ngôn, “nghiệt-ra hệ (grahai, hành, cấu, nhân), “thấp-phạ rị dă (śvarya, tự tại), “bát-ra bổ-đa (prāpta, đạt được), “nhụ để (jyotir, sáng suốt. Do là các ngôi sao nên sáng sủa), “ma dă (maya, nghĩa là tánh. Đạt được tự tại trong tánh. Do gọi tên của chúng mà được tự tại trong ấy).

 

          (Kinh) Phục dĩ thử ấn, Hư Không, Hỏa luân tương giao, thị nhất thiết tú ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, na khất xoa đá ra, niết na đạt nễ duệ, sa ha.

          ()復以此印,虛空火輪相交,是一切宿印真言曰南麼三曼多勃馱喃乞叉哆囉涅那達儞曳莎訶

    (Kinh: Lại dùng ấn này, ngón Hư Không (cái) và ngón Hỏa (giữa) chéo nhau. Đó là ấn của hết thảy các tinh tú. Chân ngôn rằng: “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, na khất xoa đá ra, niết na đạt nễ duệ, sa ha - Namaḥ samanta-buddhānāṃ, nakṣatranirnādaniye svāhā”).

 

          Kế đó, trước hết kết Tam-bổ-trá, hai ngón giữa và hai ngón cái chéo nhau, phải đè lên trái. Đó là ấn của hết thảy các tinh tú. Xét theo chân ngôn, “na khất-xoa đá-ra (nakṣatra, các tinh tú), “niết na (nirnā, nghĩa là âm thanh), “đạt nễ duệ (daniye, ăn, tức là nuốt các âm thanh). Na nghĩa là Không, khất-xoa duệ nghĩa là hết, tức là hết thảy đều trừ sạch. Đá-ra nghĩa là cấu v.v… Chuẩn theo đó để nói, tức là “ăn nuốt các chướng cấu. Tức là dùng tiếng thanh tịnh để truyền bá trọn khắp, đó gọi là “vô cấu thanh”. Phàm các chân ngôn như đă nói trên đều dùng ngôn từ ư nghĩa để xưng tán Thật đức của họ, cảnh tỉnh họ, khiến cho họ hoan hỷ.

 

          (Kinh) Tức dĩ thử ấn, khuất nhị Thủy luân nhập ư chưởng trung. Thị chư La Sát Sa ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, la ngật sát sa địa bát đa duệ, sa ha.

          ()即以此印,屈二水輪入於掌中,是諸羅剎娑印真言曰南麼三曼多勃馱喃羅吃剎娑地鉢多曳莎訶

          (Kinh: Liền dùng ấn y, gập hai ngón Thủy vào ḷng bàn tay. Đó là ấn La Sát Sa. Chân ngôn rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, la ngật sát sa địa bát đa duệ, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, rākṣasādhipataye svāhā”).

 

          Kế đó, kết Tam-bổ-trá, cùng gập hai ngón áp út vào ḷng bàn tay, các ngón khác như thường, đấy chính là ấn La Sát Sa (Rākṣasas). Phàm các ấn của các loài Địa Cư Thiên vừa nói trên đây, dùng hai tay hay một tay để kết ấn đều được. Nếu tŕ tụng, do nhân duyên phải làm này nọ, không rảnh cả hai tay để kết ấn, chỉ dùng tay trái để kết ấn cũng thành (trên đây, kinh chỉ nói tay trái, nhưng đồ h́nh vẽ cả hai tay, hăy nên dùng theo cách ở đây). Xét theo chân ngôn, “la ngật sát sa (rākṣasā, La là cấu, bên cạnh có chấm diễn tả âm A, tức là hành. Ngật-sát-sa là đi trên hư không), “địa bát đa duệ (dhipataye, vua, chỉ đức của họ. Khiến cho họ nghe xong hoan hỷ, thỏa nguyện của chúng sanh).

 

          (Kinh) Thân tam-muội thủ dĩ phú diện môn, nhĩ hạ phạ xúc chi, thị chư Đồ Cát Ni ấn. Chân ngôn viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hiệt rị, sa ha.

          ()申三昧手以覆面門,爾賀嚩觸之,是諸荼吉尼印真言曰南麼三曼多勃馱喃莎訶

    (Kinh: Duỗi tay tam-muội che mặt, dùng lưỡi (nhĩ-phạ-hạ (jihva) là lưỡi) chạm tay, tức là ấn của các Đồ Cát Ni. Chân ngôn rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, hiệt rị, sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ, hrīḥ ha[9]).

 

          Kế đó, dùng tay trái che miệng, dùng lưỡi chạm tay, tức là ấn của Đồ Cát Ni (ḍākinī). Chữ Hiệt-rị (hrīḥ, ह्रीः) nghĩa là ĺa nhân vô cấu. Trên đó, có vạch tam-muội, bên cạnh có chấm biểu thị phẫn nộ. Ha (haḥ) có nghĩa là cái nhân, bên trên có chấm cũng là phẫn nộ. Những vị ấy (những vị được nói đến mật ấn trong phẩm này) là những vị đứng đầu. Các ấn như đă nói trên đây, cho đến ấn Đồ Cát Ni cuối cùng, nếu nói cặn kẽ bộ loại, quyến thuộc, sẽ là vô biên chủng loại, như Đại Bổn có đến mười vạn kệ để diễn tả. Nay điều được nói trong phẩm này chính là nêu ra đại lược các vị thượng thủ, như nắm cái lưới, mắt lưới căng ra, nêu đại lược một số mắt lưới trong các mắt lưới đó thôi!

 

          (Kinh) Bí Mật Chủ! Như thị thượng thủ chư Như Lai ấn, tùng Như Lai tín giải sanh, tức đồng Bồ Tát chi tiêu xí, kỳ số vô lượng. Hựu Bí Mật Chủ! Năi chí thân phần cử động, trụ chỉ, ưng tri giai thị mật ấn, thiệt tướng sở chuyển chúng đa ngôn thuyết, ưng tri giai thị chân ngôn. Thị cố, Bí Mật Chủ! Chân ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát dĩ phát Bồ Đề tâm, ưng đương trụ Như Lai địa, họa Mạn-đồ-la. Nhược dị thử giả, đồng báng chư Phật, Bồ Tát, việt tam-muội-da, quyết định đọa ư ác thú.

          ()祕密主如是上首諸如來印,從如來信解生,即同菩薩之幖幟,其數無量又祕密主乃至身分舉動住止,應知皆是密印舌相所轉眾多言,應知皆是真言是故祕密主真言門修菩薩行諸菩薩已發菩提心,應當住如來地,畫漫荼羅若異此者,同謗諸佛菩薩, 越三昧耶,決定墮於惡趣

    (Kinh: Bí Mật Chủ! Các ấn thượng thủ của Như Lai như thế đều sanh từ tín giải của Như Lai, giống như các biểu trưng của Bồ Tát, số nhiều vô lượng. Lại này Bí Mật Chủ! Hăy nên biết: Cho đến cử động, hành xử nơi thân phần [của Như Lai] đều là mật ấn. Rất nhiều ngôn thuyết do tướng lưỡi phát ra, hăy nên biết đều là chân ngôn. Do vậy, Bí Mật Chủ! Các Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong Chân Ngôn môn đă phát Bồ Đề tâm, hăy nên trụ nơi Như Lai địa, vẽ Mạn-đồ-la. Nếu khác với điều này, sẽ giống như là báng bổ chư Phật, Bồ Tát, trái vượt tam-muội-da, quyết định đọa vào đường ác).

 

          Như Lai đă chứng pháp giới b́nh đẳng, do sức đại bi nơi bổn nguyện, dùng thần lực gia tŕ mà hiện ra môn phương tiện Thân Mật này, v́ khiến cho hết thảy chúng sanh đều được tin hiểu, cùng nhập hết thảy các trí địa. Do đó, hăy nên biết các ấn như thế đều sanh từ sự tín giải của Phật. Hăy nên biết các ấn như thế là biểu trưng của các vị Bồ Tát, tức là dùng phương tiện này để chỉ bày các đức nội chứng của Như Lai. V́ thế nói “tiêu biểu”. Các ấn rất nhiều, thậm chí các cử động, hành vi nơi thân thể đều là ấn. Nếu A-xà-lê hiểu rơ Du Già, thấu đạt sâu xa đường lối bí mật, có thể tịnh hóa cái tâm Bồ Đề, do tâm tịnh bèn thông đạt pháp bí mật. Phàm làm ǵ cũng đều nhằm tạo lợi ích điều phục chúng sanh; hễ làm bất cứ điều ǵ, không ǵ chẳng tùy thuận oai nghi của Phật. V́ thế, hết thảy tất cả cử động, tạo tác nơi thân, không ǵ chẳng phải là ấn, há chỉ thân nghiệp mà thôi ư? Cho đến hết thảy tất cả ngôn ngữ cũng lại đều là chân ngôn.

          “Thị cố, Bí Mật Chủ! Chân ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát dĩ phát Bồ Đề tâm, ưng đương trụ Như Lai địa, họa Mạn-đồ-la” (V́ thế, Bí Mật Chủ! Các Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát trong Chân Ngôn môn, hăy nên trụ nơi địa vị Như Lai, vẽ Mạn-đồ-la): Nếu nói “các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh trong đời hiện tại và vị lai mà cùng phạm tội vượt tam-muội-da, quyết định đọa vào đường ác”, th́ có nghĩa là nói: “Các vị Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh trong đời hiện tại và vị lai đă phát đại tâm, hăy nên trụ trong Phật địa; sau đấy, tạo lập Mạn-đồ-la. Nếu chẳng làm đàn tràng như thế, sẽ chính là báng Phật!” V́ thế, đối với những điều đă nói trên đây, bậc A-xà-lê phải nên biết các pháp thuộc về ấn khế và chân ngôn v.v… Đối với mỗi điều, đều khéo thông đạt quy cách, pháp tắc. Lại c̣n nên tu hạnh Du Già lâu ngày, tịnh hóa thân khẩu, ư, nghiệp, thấu hiểu hạnh thuộc pháp môn tam nghiệp b́nh đẳng, do được gia tŕ bởi phép Du Già, chân ngôn, và thân ấn v.v…, sẽ liền có thân giống như chư Phật, Bồ Tát, cùng thuộc vào địa vị Phật. Do tương ứng với tam-muội, chẳng trái nghịch sự lư, kiến lập cái đàn h́nh tṛn, cho đến nơi chốn, phương vị, màu sắc, h́nh tượng v.v… mỗi mỗi đều xứng lư, lại chẳng sai sót, khéo biết thứ tự; hăy nên biết người ấy ắt sẽ đạt được lợi ích to lớn, chẳng hư dối. Nếu chẳng như vậy, sẽ mắc tội “vượt tam-muội-da”. Tam-muội-da là tự thệ. Thệ nguyện vốn có của hết thảy Như Lai chính là “v́ khắp hết thảy chúng sanh mà khai tri kiến Phật, khiến cho họ đều giống như ta”. Do phương tiện mà lập ra pháp này. V́ thế, giống như mạng lệnh, sắc chỉ của đại vương trong thế gian chẳng thể vượt qua. Kẻ trái vượt ắt sẽ mắc tội nặng nề! V́ thế, phải nên tương ứng với Bồ Đề tâm, trụ trong Phật địa mà làm. Kẻ nào chẳng thuận theo lời dạy, sẽ phí uổng công phu, bỏ lỡ hoàn cảnh thuận tiện, trọn chẳng thành tựu, chỉ chuốc lấy tội vạ, chẳng có lợi ích ǵ! V́ thế, hành giả ắt phải nên suy xét, t́m cầu kinh pháp, lại c̣n thưa hỏi bậc thầy sáng suốt khai thị để đừng tự sai lầm. Phẩm nói rộng về các ấn đă xong!

 

10. Phẩm thứ mười: Tự luân (Tự luân phẩm đệ thập, 字輪品第十)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na cáo Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: - Đế thính, Bí Mật Chủ! Hữu Biến Nhất Thiết Xứ pháp môn. Bí Mật Chủ! Nhược Bồ Tát trụ thử tự môn, nhất thiết sự nghiệp giai tất thành tựu.

          ()爾時薄伽梵毘盧遮那告持金剛祕密主言諦聽祕密主有遍一切處法門祕密主若菩薩住此字門,一切事業皆悉成就

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na bảo Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: - Lắng nghe, này Bí Mật Chủ! Có pháp môn trọn khắp hết thảy mọi nơi. Bí Mật Chủ! Nếu Bồ Tát trụ trong tự môn này, hết thảy các sự nghiệp thảy đều thành tựu).

 

          Đức Phật lại bảo ngài Kim Cang Thủ v́ trước đó ngài Kim Cang Thủ thưa hỏi, đức Phật đă giải đáp theo thứ tự. Nhưng kinh văn trong phần trước chưa nói trọn hết, nay lại nói thêm; v́ thế, răn hăy lắng nghe!” Có pháp môn tên là Biến Nhất Thiết Xứ (trọn khắp hết thảy mọi nơi), khi Bồ Tát trụ trong vị trí của các chữ, hết thảy các việc làm sẽ đều được thành tựu, tức là pháp môn tự luân này chính là pháp môn trọn khắp hết thảy mọi nơi. Nếu Bồ Tát trụ trong pháp môn tự luân này, khởi đầu từ phát diệu Bồ Đề tâm cho tới khi thành Phật, trong khoảng ấy, tất cả hết thảy các loại sự nghiệp tự lợi và lợi ích người khác đều do nhập pháp môn này mà hết thảy đều được thành tựu, chẳng hề vướng mắc, ngăn ngại. Lại nữa, đối với những điều đă nói trước đó, đối với chuyện A-xà-lê trụ trong Phật địa, ư nghĩa vẫn chưa trọn hết, sẽ được nói trong tự môn này.

 

          (Kinh) Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, sa. Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, phạ. Ca khư nga già, giá xa nhă xă, trá trá noa đồ, đa tha na đà, ba phả ma bà, dă ra la phạ, xa sa sa ha, cật-sái. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, a. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, sa. Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, phạ. Ca khư nga già, giá xa nặc xă, trá trá noa đồ, đa tha na đà, ba phả ma bà, dă ra la phạ, xa sa sa ha, cật-sái. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, ám. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, tảm. Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, văm. Kiếm khiếm nghiễm kiệm. Chiêm xiêm nhiễm chiêm. Chiếm siểm nẫm trạm. Đảm thám nạm đạm. Biêm phiếm văm phạm, diêm ram lam văm, thiểm sam sâm hàm, cật-sam. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, á. Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm, sách. Nam ma tam mạn đa phạt chiết ra nạn, mạc. Kiêu khước ngược cự, chước xước nhược thược, trách sách nạch trạch, đát thác nặc đạc, bác bạc mạc bạc, dược lạc lạc mạc, thước sách sách hoắc, cật-sách. Y ải ổ ô, rị lư lư ly, ế ái ô áo, ngưỡng nhưỡng noa nẵng măng, ngưỡng nhưỡng nĩnh nang mang, nghiễm nhiêm nẫm nam văm, ngược nhược nạch nặc mạc.

          ()南麼三曼多勃馱喃阿南麼三曼多勃馱喃娑南麼三曼多伐折囉𧹞迦佉哦伽遮車若社吒咤拏荼多他娜馱波頗麼婆野囉邏嚩奢沙娑訶吃灑南麼三曼多勃馱喃阿南麼三曼多勃馱喃娑南麼三曼多伐折囉𧹞迦佉誐伽遮車惹社吒咤拏荼多他娜馱波頗麼婆野囉邏嚩奢沙娑訶吃灑南麼三曼多勃馱喃暗南麼三曼多勃馱喃糝南麼三曼多伐折囉𧹞劍欠儼儉占襜染瞻𪗦𭌂喃湛擔探腩淡𠷖𭈠𭍊𭊃𭍊睒衫參頷吃衫南麼三曼多勃馱喃噁南麼三曼多勃馱喃索南麼三曼多伐折囉𧹞𭕷却虐噱灼綽弱杓磔坼搦擇託諾鐸博泊漠簿藥𡀩鑠嗦索臛吃索伊縊塢烏𭉜里狸翳藹汙奧仰壤𠸎曩莽𠵫穰儜囊忙噞髯喃南鑁虐弱搦諾莫

          (Kinh: Namaḥ samantabuddhānāṃ, a. Namaḥ samantabuddhānāṃ, sa. Namaḥ samantavajrāṇāṃ, va. Ka kha ga gha, ca cha ja jha, ṭa ṭha ḍa ḍha, ta tha da dha, pa pha ba bha, ya ra la va, śa ṣa sa ha, kṣa. Namaḥ samantabuddhānāṃ, ā. Namaḥ samantabuddhānāṃ, sā. Namaḥ samantavajrāṇāṃ, vā. Kā khā gā ghā, cā chā jā jhā, ṭā ṭhā ḍā ḍhā, tā thā dā dhā, pā phā bā bhā, yā rā lā vā, śā ṣā sā hā, kṣā. Namaḥ samantabuddhānāṃ, aṃ. Namaḥ samantabuddhānāṃ, saṃ. Namaḥ samantavajrāṇāṃ, vaṃ. Kaṃ khaṃ gaṃ ghaṃ, caṃ chaṃ jaṃ jhaṃ, ṭaṃ ṭhaṃ ḍaṃ ḍhaṃ, taṃ thaṃ daṃ dhaṃ, paṃ phaṃ baṃ bhaṃ, yaṃ raṃ laṃ vaṃ, śaṃ ṣaṃ saṃ haṃ, kṣaṃ. Namaḥ samantabuddhānāṃ, aḥ. Namaḥ samantabuddhānāṃ, saḥ. Namaḥ samantavajrāṇāṃ, vaḥ. Kaḥ khaḥ gaḥ ghaḥ, caḥ chaḥ jaḥ jhaḥ, ṭaḥ ṭhaḥ ḍaḥ ḍhaḥ, taḥ thaḥ daḥ dhaḥ, paḥ phaḥ baḥ bhaḥ, yaḥ raḥ laḥ vaḥ, śaḥ ṣaḥ saḥ haḥ, kṣaḥ. I ī u ū ṛ ṝ ḷ ḹ e ai o au. Ṅa ña ṇa na ma, ṅā ñā ṇā nā mā, ṅaṃ ñaṃ ṇaṃ naṃ maṃ, ṅaḥ ñaḥ ṇaḥ naḥ maḥ).

 

          Chữ A đầu tiên chính là Bồ Đề tâm. Nếu quán chữ này mà được tương ứng, sẽ giống như cái Thể nơi Pháp Thân của Tỳ Lô Giá Na Phật. Tức là quán luân chữ A này, sẽ giống như đuôi chim công có quang minh nhiễu quanh; hành giả trụ trong đó, tức là trụ trong địa vị Phật. Tự luân này được chia thành ba tầng, các chữ khác là quyến thuộc bên ngoài. Chữ A lại có năm loại, [tức là]: A, a âm dài, ám, á, á âm dài (a, ā, aṃ, aḥ, āḥ). Trước mỗi tự luân, lại có chân ngôn tâm ba tầng quy mạng Tam Bảo, tức là chữ A, chữ Sa, và chữ Phạ (Va), nghĩa là ba chữ ấy hiển lộ ư nghĩa của ba bộ. Chữ A là Như Lai bộ, chữ Sa là Liên Hoa bộ, chữ Phạ là Kim Cang bộ. Mỗi bộ trong ba bộ đều thuận theo năm tự luân (a, ā, aṃ, aḥ, āḥ) mà chuyển, có tướng tương ứng thuận theo nghĩa. Trong phần trước gọi là Mạn-đồ-la, nay gọi là Luân, tức là nói theo ư nghĩa của chữ Mạn-đồ-la[10]. Trong phần trước, trung tâm của đàn pháp là Đại Nhật Như Lai, tức là giống với chữ A ở đây. Phía Bắc [của Mạn-đồ-la] đặt Liên Hoa (tức Bộ Chủ của Liên Hoa Bộ là Quán Thế Âm Bồ Tát) và các quyến thuộc đều ở cùng một chỗ, tức là chữ Sa ở đây. Phía Nam [của Mạn-đồ-la] đặt Chấp Kim Cang và các quyến thuộc, tức là chữ Phạ ở đây. Nay từ chữ A mà sanh ra bốn chữ (a, ā, aṃ, aḥ) tức là “lá” của Đại Bi Thai Tạng vậy! Từ một chữ Phạ, chuyển sanh nhiều chữ; v́ thế gọi là Luân. Chữ A thứ nhất chính là cái Thể của Bồ Đề tâm. Kế đó có năm âm là Ca, Khư, Nga, Già (ka, kha, ga, gha, कखगघ), đều dùng bốn chữ (a, ā, aṃ, aḥ) [để tạo thành bốn tầng tự luân], trừ chữ thứ năm (āḥ). Lại nữa, từ chữ Ra () cho đến Khất-xoa (क्ष​, kṣa) đều là nam thanh (các tiếng thuộc giống đực), đều nhập trong A tự luân. Hành giả đă phát Bồ Đề tâm, hăy nên tấn tu Như Lai hạnh. V́ thế kế đó, nói tự luân Ā. Đó là hạnh, ba bộ (Phật bộ, Liên Hoa bộ, Kim Cang bộ) của chữ ấy chính là ba chữ A, Sa, Phạ (Ā, Sā, Vā). Kế đó, từ chữ Ca (, Ka), cho đến Khất-xoa, cũng đều thêm cái vạch bên cạnh để tạo thành tự luân có âm dài (tức là का - Kā). Đă trọn đủ Như Lai hạnh, sẽ thành Bồ Đề. V́ thế, kế đó nói các tự luân Ám, Tảm, Văm (Aṃ, Saṃ, Vaṃ - अं, सं, वं); đó là ba bộ. Trên chữ A () có chấm (अं), tức là nghĩa Đại Không. Do Bồ Đề tâm ấy, ĺa hết thảy các tướng, liền gọi là chư Phật, tức là thành Bồ Đề.

          Kế đó, từ chữ Ca cho đến Khất-xoa, đều thêm một chấm, tức là Ám tự luân. Đă thành Bồ Đề, sẽ tới chỗ nào? Tức là Đại Niết Bàn; v́ thế, kế đó nói các tự luân ác, sách, mạc (aḥ, saḥ, vaḥ, अः, सः, वः) v.v… trong ấy là ba bộ. Như từ chữ Ca cho đến Khất-xoa, bên cạnh đều thêm hai chấm, tức là Niết Bàn luân. Một chữ Á (āḥ, âm dài) là phương tiện luân; do vậy, không có ở đây (không được nói đến ở đây). Đó là Thích Ca Phật luân (Yết Ma Bộ[11] vào trong hết thảy các luân; do vậy, chẳng có đàn riêng. Du Già nói như vậy).

          Phàm tự luân đại lược chia thành ba phần:

          - Chữ A đầu tiên chính là một phần.

          - Kế đó, từ chữ Ca (Ka) trở đi, gồm hai mươi chữ (ka, kha, ga, gha, ca, cha, ja, jha, ṭa, ṭha, ḍa, ḍha, ta, tha, da, dha, pa, pha, ba, bha - ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​) là phần thứ hai.

          - Kế đó, từ chữ Dă (Ya) cho đến chữ Ha là phần thứ ba (tức ya, ra, la, va, śa, ṣa, sa, ha - ​, ​, ​, ​, ​, ​, ​, ). Ngoại trừ chữ Khất-xoa (kṣa), do chữ này đă là trùng âm (tức là có hai âm Ca và Sa ghép lại, nên nói là trùng âm).

          Trên đây đều là các chữ trí huệ. Kế đó, có tám chữ Y, Y, Ổ, Ô, Ế, Ái, , Áo (i, ī, u, ū, e, ai, o, au - , , , , , , , ). Thêm tám chữ này, tức là thành tựu tam-muội, đều âm thanh tam-muội. Cũng thuận theo năm luân mà luôn luôn chuyển, ư nghĩa dễ thấy.

          Kế đó có các chữ Nga, Nhă, Trá, Nang, Mạc (ṅa, ña, ṇa, na, ma) trọn khắp hết thảy các xứ, tức là trọn khắp trong Định Huệ. Nhưng năm chữ này cũng tùy theo năm luân mà chuyển, tức là thêm cái chấm bên cạnh, hoặc thêm cái chấm tṛn phía trên, hoặc thêm hai chấm bên cạnh, th́ năm chữ ấy đều thành năm chữ. Được gọi là “tự luân”, tức là từ các luân ấy sanh ra các chữ. “Luân” có nghĩa là “sanh”, như từ một chữ A sanh ra bốn chữ, tức A là Bồ Đề tâm, A (ā) là hành, Ám (aṃ) là thành tựu Bồ Đề, Á (aḥ) là Đại Tịch Niết Bàn, Á (âm dài, tức āḥ) là phương tiện.

          Giống như chữ A, hăy nên biết chữ Ca (Ka) cũng có năm chữ (tức ka, kā, ka, ka, ka, kāḥ), cho đến hai mươi chữ như Khư (Kha), cũng nên biết là giống như vậy. Kế đó, có mười hai chữ, tức là Ư, Y, Ổ, Ô, Rô, Lưu, Lô, Lưu, Ế, Ái, Ô, Áo (I, ī, u, ū, ṛ, ṝ, ḷ, ḹ, e, ai, o, au (, , उ, ऊ, ऋ, ॠ, ऌ, ॡ, ए, ऐ, ओ, औ) chánh kinh phiên âm là Y, ải, ổ, ô, rị, lư, lư, ly, ế, ái, ô, áo”) là các chữ phía trên cùng có cái chấm, được gọi là tam-muội. Ngưỡng, nhưỡng, noa, nẵng, măng (ṅa, ña, ṇa, na, ma, ​, ​, ​, ​, ​) cũng có năm chữ, tức là giống như trên, phía trên đều có chấm. Tám chữ như Dă, Ra (ya, raḥ - यः, रः) v.v… đều là các chữ bên cạnh có hai chấm, có nghĩa là “trừ khử”. Hăy nên biết các tự luân này trọn khắp trong hết thảy các chân ngôn.

          Nếu thấy chữ A, hăy nên biết nghĩa là Bồ Đề tâm. Nếu thấy chữ A âm dài (ā, ), hăy nên biết là tu Như Lai hạnh. Nếu thấy chữ Ám (aṃ, अं), hăy nên biết thành Tam Bồ Đề. Nếu thấy chữ Á (aḥ, अः), hăy nên biết là chứng Đại Niết Bàn. Nếu thấy chữ Á âm dài (āḥ, आः), hăy nên biết là sức phương tiện. Nếu thấy hai mươi chữ như Ca v.v…, cũng tùy theo từng loại mà diễn nói. Hăy nên biết các chữ ấy đều là huệ. Nếu thấy tám chữ như Ra v.v… hăy nên biết là cùng có cái chấm bên cạnh, cũng tùy loại tương ứng (tức Ra là vô cấu v.v…) Nếu thấy các chữ như Y () v.v… hăy nên biết là hiển thị tam-muội. Nếu thấy năm chữ như Ngưỡng (ङ, ṅa) v.v… hăy nên biết chính là cái chấm Đại Không. Đại Không ĺa hết thảy các tướng, tức là nghĩa “thành Phật”. Nếu hành giả liễu đạt như thế, liền có thể nhập hết thảy các nghĩa Đà-la-ni, xoay chuyển vô ngại. Do vậy, gọi là “tự luân”!

 

          (Kinh) Bí Mật Chủ! Như thị tự môn đạo, thiện xảo pháp môn thứ đệ trụ Chân Ngôn đạo, nhất thiết Như Lai thần lực chi sở gia tŕ, thiện giải Chánh Biến Tri đạo Bồ Tát hành vũ, quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật Thế Tôn dĩ thuyết, kim thuyết, đương thuyết. Bí Mật Chủ! Ngă kim phổ quán chư Phật sát độ, vô bất kiến thử Biến Nhất Thiết Xứ pháp môn, bỉ chư Như Lai vô hữu bất tuyên thuyết giả. Thị cố, Bí Mật Chủ! Nhược dục liễu tri Chân Ngôn môn tu Bồ Tát hạnh chư Bồ Tát, ư thử Biến Nhất Thiết Xứ pháp môn, ưng cần tu học.

          ()祕密主如是字門道善巧法門次第住真言道,一切如來神力之所加持,善解正遍知道菩薩行舞,過去未來現在諸佛世尊已說今說祕密主我今普觀諸佛,無不見此遍一切處法門,彼諸如來無有不宣是故祕密主若欲了知真言門修菩薩行諸菩薩,於此遍一切處法門應勤修學

    (Kinh: Bí Mật Chủ! Tự môn đạo như thế, pháp môn thiện xảo theo thứ tự trụ trong đạo Chân Ngôn, được thần lực của hết thảy Như Lai gia tŕ, Bồ Tát khéo hiểu đạo Chánh Biến Tri hóa hiện thần biến, quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật Thế Tôn đă nói, nay nói, sẽ nói. Bí Mật Chủ! Nay ta quán trọn khắp các cơi Phật, không đâu chẳng thấy pháp môn Trọn Khắp Hết Thảy Các Chỗ này, các đức Như Lai ấy, không vị nào chẳng tuyên nói. V́ thế, này Bí Mật Chủ! Nếu muốn biết rơ các Bồ Tát tu Bồ Tát hạnh trong Chân Ngôn môn, hăy nên ở trong pháp môn Biến Nhất Thiết Xứ này mà siêng năng tu học).

 

          Kinh nói như thế chính là nói về tự luân trên đây. Như phần trên đă nói Định, Huệ, Không v.v… Đó chính là cửa nẻo trong Phật đạo, là đạo có thể thành Chánh Giác. Nếu hiểu rơ ư nghĩa của chữ, sẽ có thể trụ trong đạo Chân Ngôn, và cũng đều hiểu rơ thứ tự pháp tắc, tướng trạng chứng nhập, giai vị sai khác, thấu hiểu thông tắc, chẳng bị ngờ vực, trầm trệ. Nhưng các tự mẫu Tất Đàm này, thậm chí các đứa trẻ trong thế gian cũng thường tu tập[12], sao lại có thể nhanh chóng hoàn thành chuyện như thế? Các chữ ấy đều được thần lực gia tŕ, lưu xuất từ thể tánh nội chứng của Như Lai, cho nên có thể có nghiệp dụng chẳng thể nghĩ bàn ấy. Nếu ai hiểu rơ ư thú và phương tiện trong ấy, tức là thông đạt đạo Tam Bồ Đề.

          “Thiện năng thông đạt” (có thể khéo thông đạt) nghĩa là liễu đạt các căn và tánh t́nh ham muốn của hết thảy chúng sanh, nên dùng pháp ǵ để họ được nhập đạo, sẽ nên dùng môn ǵ để họ được hiểu ngộ, vô lượng vô biên như thế đều có thể biết rơ, tùy thuận chúng sanh mà trao cho diệu pháp, đều khiến cho họ đạt đến địa vị Như Lai. “Vũ” là như người đời nhảy múa; nhưng ở trong đại chúng, các thứ thân nghiệp cử động như co, duỗi, cúi, ngửa, [đều gọi là “vũ”], lại phát ra đủ loại âm khúc phương tiện vi diệu. Thuận theo sự ưa muốn của chúng sanh, đại chúng sẽ hoặc hoan hỷ, hoặc suy nghĩ buồn bă, hoặc hoảng sợ. Dùng cùng một phương tiện do thân và miệng phát ra, mà các chúng sanh đạt được lợi ích bất đồng, do khéo biết phù hợp với họ, do có thể thuận theo cái tâm của chúng sanh. Bồ Tát cũng thế, hiện ra đủ loại oai nghi, không ǵ chẳng trở thành ấn, thốt ra đủ loại pháp âm mầu nhiệm đều là chân ngôn, ứng hợp trọn vẹn không ngằn mé, đều đạt được lợi ích to lớn. Do vậy gọi là “Bồ Tát vũ”. “Tam thế Như Lai đều nói như thế, đă nói, nay nói, sẽ nói tự môn chân ngôn tịnh đạo như thế: Mười phương chư Phật đạo giống nhau, đều hiện trọn khắp các sắc thân như thế, dùng đủ loại môn để khai thị Phật đạo, giống như khúc múa ấy thuận theo t́nh cảm của con người.

          “Chẳng có ta và người khác”: Ta dùng Phật nhăn để quán trọn khắp hết thảy các cơi Phật trong ba đời, [chư Phật đều] cùng nói môn này, hết thảy chư Phật chẳng khác ta. Hết thảy chư Phật và các đức Như Lai ấy cũng giống như thế, chẳng nói khác biệt. V́ thế nói là “không có ta hay người khác”. Đấy chính giáo pháp của hết thảy chư Phật, hăy nên tu như thế. Nếu khác với điều ấy, tức là phương tiện chẳng trọn đủ. Do bởi điều này, Như Lai kết thành nghĩa ấy để bảo ngài Kim Cang Thủ. Nếu bảo với ngài Kim Cang Thủ, hăy nên biết chính là bảo hết thảy các đại hội, tức là Bồ Tát tu Chân Ngôn hạnh nếu muốn nhanh chóng đạt được pháp của cổ Phật, hăy nên tu học pháp môn Biến Nhất Thiết Xứ như thế, tâm siêng năng lắng nghe tư duy, tu tập. Do bởi lẽ ấy, trong một đời mà sẽ đạt được các thứ múa may, ca vịnh của hết thảy Như Lai, khiến cho chúng sanh vui thích.

         

          (Kinh) Ư Khả Giá Trá Đa Ba, sơ, trung, hậu tương gia, dĩ Đẳng Tŕ phẩm loại tương nhập, tự nhiên hoạch đắc Bồ Đề tâm hạnh, thành Đẳng Chánh Giác, cập bát Niết Bàn. Hữu thử đẳng sở thuyết tự môn tưng dữ ḥa hợp Chân Ngôn giáo pháp sơ, trung, hậu cụ. Chân Ngôn giả nhược như thị tri, tùy kỳ tự tâm nhi đắc tự tại, ư thử nhất nhất cú, quyết định ư dụng chi, dĩ huệ giác tri, đương thọ vô thượng thù thắng cú. Như thị nhất luân, luân chuyển tự luân, Chân Ngôn giả liễu tri thử cố, thường chiếu thế gian, như Đại Nhật Thế Tôn nhi chuyển pháp luân.

          ()於舸遮吒多波初中後相加,以等持品類相入,自然獲得菩提心行,成等正覺及般涅槃有此等所說字門相與和合真言法教初中後俱,真言者若如是知,隨其自心而得自在,於此一一句決定意用之,以慧覺知,當授無上殊勝句如是一輪,輪轉字輪真言者了知此故,常照世間,如大日世尊而轉法輪

          (Kinh: Đối với các chữ Khả, Giá, Trá, Đa, Ba (ka, ca, ṭa, ta, pa), thêm vào sơ phần, trung phần, hậu phần, dùng các phẩm loại của Đẳng Tŕ để nhập, tự nhiên sẽ đạt được Bồ Đề tâm hạnh, thành Đẳng Chánh Giác, và nhập Niết Bàn. Có các tướng tự môn như đă nói ấy ḥa hợp với giáo pháp Chân Ngôn, trọn đủ sơ phần, hậu phần, trung phần, nếu người hành Chân Ngôn biết như thế, sẽ thuận theo tự tâm mà đạt được tự tại. Đối với mỗi câu ấy, sẽ dùng ư quyết định để vận dụng, dùng huệ để nhận biết, sẽ trao truyền câu thù thắng vô thượng. Một luân như thế xoay chuyển tự luân, người hành Chân Ngôn do biết rơ điều này, sẽ thường chiếu thế gian, giống như Đại Nhật Thế Tôn mà chuyển pháp luân).

 

          “Sơ trung hậu tương gia” (thêm vào sơ phần, trung phần, hậu phần): Năm chữ như A v.v… là Sơ. Hai mươi chữ như Ca v.v… là Trung. Tám chữ như Ra v.v… đều có cái chấm bên cạnh, các chữ ấy đều giúp hoàn thành ư nghĩa của các chữ [trước đó], nên thuộc về hậu phần. Phàm các chữ như Ca, Giá, Trá, Đa, Ba (ka, ca, ṭa, ta, pa) v.v… đều thuộc vào môn chữ A. Chữ A là Bồ Đề tâm, “thêm vào đó sơ, trung, hậu” tức là riêng chữ A () th́ là Bồ Đề tâm. Nếu thêm một vạch ở bên góc, [sẽ thành A âm dài (ā, )]. Đấy chính là Bồ Đề tâm và hành. Nếu thêm cái chấm (thành aṃ, अं), tức là Bồ Đề tâm và Đại Không ĺa hết thảy các tướng, thành Bồ Đề. Nếu chữ A thêm hai chấm vào bên cạnh (tức là aḥ, अः) th́ chính là Bồ Đề tâm và trừ hết thảy các chướng, đắc Niết Bàn. Các chữ khác đều phỏng theo đây mà lần lượt thêm vào, hoặc chỉ một nghĩa, hoặc hai, hoặc ba nghĩa, đều đáng nên biết. Hoặc có khi trên chữ A tuy không có chấm, nhưng chữ kế đó là trọng tự, tức là có các âm ngưỡng, nhưỡng, noa, nẵng, măng (ṅa, ña, ṇa, na, ma) v.v… th́ sẽ nối với chữ trước đó thành âm Ám. V́ cớ sao vậy? Do các chữ như Ngưỡng có chấm, thêm vào chữ trước đó, chữ A liền thành âm Ám. Hoặc chữ A không có chấm, nhưng chữ tiếp theo là trọng tự lại có, như thêm trọng tự vào các chữ Ca, Khư, Nga, Già (ka, kha, ga, gha), dùng chữ Ngưỡng làm cái chấm. Giá, Xa, Xà, Xă (ca, cha, ja, jha) dùng chữ Nhưỡng (ña) làm chấm. Các chữ khác phỏng theo lệ này. Các thanh như Ra v.v… đều phối ứng với chữ trước đó, liền thành chữ Á. V́ cớ sao vậy? Các chữ như Ra v.v… đều có hai điểm bên cạnh, nay nối liền [chữ sau] với chữ trước, A liền thành âm Á. Pháp thể vô ngôn, ĺa các phân biệt, hư luận, lại được hết thảy Như Lai dùng thần lực tự tại gia tŕ, nên thành tự luân này. Do vậy, có thể hành Như Lai sự để lợi ích các phẩm. Ca, Giá, Trá, Đá, Bả (Ka, Ca, Ṭa, Ta, Pa) [chính là] chứng Bồ Đề tâm hạnh do Phật truyền trao và Niết Bàn trong phẩm, Tam Muội (tức phẩm Vô Tướng Tam Muội trong phần sau). Thêm vào tướng các chữ đă nói ấy, bèn có Chân Ngôn giáo sơ, trung, hậu trọn đủ (đây là phần kinh văn đă được giải thích xong). Người biết tùy ư tŕ tụng như thế, quyết ư thấu hiểu tác dụng của mỗi câu.

          “Đương thọ dữ vô thượng thù thắng cú” (Sẽ trao truyền câu vô thượng thù thắng): Biết như thế th́ chính là tên gọi khác của trí Nhất Thiết Trí. Nếu hành giả biết rơ nghĩa tự luân như thế, những điều mong muốn đều được thành tựu. Nói tóm lại, nói “hết thảy đều tùy ư thành tựu” tức là thành tựu hết thảy các sự nghiệp của Như Lai. Nếu thành tựu điều ấy, sẽ giống như đấng pháp vương có thể tự tại trong hết thảy các pháp, cũng thuận theo bổn nguyện mà v́ hết thảy chúng sanh khơi mở tri kiến thanh tịnh, khiến cho họ đạt được Phật huệ. Ai sẽ đạt được lợi ích ấy? Chính là người đúng như lư, trọn đủ duyên, khéo tŕ tụng. V́ thế, kế đó nói đến người tŕ tụng. Ai đạt được ư quyết định ấy? Chính là người có huệ. Do khéo nhận biết ư nghĩa của tự luân, thuận theo các chữ như A v.v… mà tu hành từng tự môn một, quyết định đều đạt được thành tựu cái quả Bồ Đề, chớ sanh nghi hoặc!

          Nhận biết pháp ǵ trong ấy? Chính là như chữ A là Bồ Đề tâm, thêm cái chấm tức là Bồ Đề hạnh. Thêm Đại Không tức là thành Phật. Nếu Bồ Đề tâm thanh tịnh, trừ hết thảy cái chướng, th́ chính là Đại Bát Niết Bàn, chẳng c̣n ư nghĩa nào khác. Mỗi mỗi đều thông đạt, biết rơ như thế đó, tức là nhận được câu thù thắng vô thượng. “Câu vô thượng” chính là thành Bồ Đề. Cái tâm Vô Thượng Bồ Đề ấy chính là TNhiên Trí của chư Phật, thật sự chẳng thể truyền trao, nhưng hành giả trọn đủ phương tiện, khéo biết ư nghĩa của tự luân, sẽ tự nhiên đạt được, đó chính là “truyền trao Vô Thượng Bồ Đề”. Mỗi tự luân chuyển một tự luân như thế, người biết tŕ tụng thường hiểu rơ thế gian, giống như đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na.

          “Luân chuyển”: Giống như bánh xe trong thế gian, nếu lúc nó xoay chuyển, sẽ chẳng thể biết đâu là đầu, đâu là cuối, chẳng có ngằn mé, chẳng thể cùng tận. Hăy nên biết mỗi tự luân ấy cũng lại giống như thế: Từ chữ A xoay chuyển, sanh ra hết thảy các chữ. Tự luân ấy gồm trọn danh tự của hết thảy các chân ngôn trong đó, xoay chuyển tổng tŕ chẳng có ngằn mé, chẳng thể tận cùng nguồn cội, trọn hết thảy các nơi, tức là trăm ngàn vạn ức Toàn Đà La Ni. Nếu hành giả có thể biết rơ ư nghĩa của tự luân như thế, sẽ có thể thường sáng suốt chiếu thế gian. Sự sáng suốt thường trụ chính là cái thể của Đại Nhật Như Lai, giống như đức Tỳ Lô Giá Na chuyển pháp luân. Sự thường sáng suốt trong ấy chính là đại huệ nhật; vầng mặt trời ấy chính là cái Thể của chữ A trong Bồ Đề tâm, vô sanh, vô tác, chẳng hề biến đổi, chẳng do tạo thành. Do trí huệ Thật Tướng thường trụ như thế, nên gọi là “thường sáng suốt”.

           Nếu hành giả siêng năng tu lâu ngày, chẳng biếng nhác, lui sụt, chắc chắn sẽ đạt được. Nhưng đối với phương quỹ và pháp dụng của Mạn-đồ-la như đă nói trên đây, dùng rải hoa, quán đảnh, cho đến trao cho gương sáng, như dùng đũa vàng nạo màng mộng trong mắt, các thứ như thế đều nhằm khai sáng, phát khởi Bồ Đề tâm, dùng pháp dụng để phương tiện gia tŕ theo thứ tự nhằm thành tựu cái tâm kiên cố cho học nhân, tạo thành thềm bậc để họ dần dần tiến nhập Phật pháp, nhưng bí chỉ (ư chỉ bí mật) trong ấy vốn nằm trong tự luân. V́ lẽ nào vậy? Nếu hành giả làm A-xà-lê cho người khác, muốn tạo lập Mạn-đồ-la, trước hết trụ trong địa vị Thế Tôn, chính là dùng các tự môn này để kết hợp thành thân, tức là thân giống như chư Phật. Đó gọi là Du Già A-xà-lê quán hạnh thành tựu, tùy tâm vận dụng, đều được tùy ư thành tựu. Quán các tự luân ấy trải khắp thân phần giống như thấy rơ. V́ thế, giống như Phật và Phật có cùng địa vị.

          Nhưng khi sắp xếp các chữ, hăy nên chia thành bốn phần, tức là bốn tầng Mạn-đồ-la:

          - Đầu là sơ phần, là vị trí của chữ A Bồ Đề tâm. Từ Ca, Khư, Nga, Già, Ngưỡng v.v… cho đến Xa, Sa, Ha, hễ là thanh âm thứ nhất đều thuộc về Bồ Đề tâm. Từ tướng bạch hào giữa mày của hành giả, hăy quán chữ Ca, từ chữ Khư trở đi, hăy nên xoay theo chiều phải, chuyển theo hướng mặt trời, trọn hết một ṿng, khiến cho [các chữ ấy] xoay chuyển theo một ṿng tṛn khép kín.

          - Kế đó, từ yết hầu trở xuống là phần thứ hai, thuộc môn chữ A âm dài (ā), cũng nên trên dưới nối liền với tướng bạch hào, xoay theo chiều phải, sắp xếp nối tiếp thành một ṿng. Đấy chính là Bồ Đề hạnh.

          - Kế đó, từ tim trở xuống là phần thứ ba, thuộc vào môn chữ Ám. Từ nơi tim, bèn xếp chữ Khiếm, lần lượt xoay theo chiều phải nối tiếp nhau trọn hết một ṿng.

          - Kế đó, từ rốn trở xuống, thuộc vào môn chữ Á, là Đại Niết Bàn, cũng từ đó mà đặt chữ Ca, xoay theo chiều phải nối tiếp nhau trọn một ṿng.

          Đầu là thượng phần, từ cổ họng đến tim là trung phần, rốn là hậu phần (tôi cho rằng phát Bồ Đề tâm là Sơ, hành quả là Trung, Đại Tịch (Đại Niết Bàn)Hậu). Chữ thứ năm là Á (âm dài, āḥ) trọn khắp hết thảy mọi nơi, tùy ư thực hiện đều đạt được. Chữ ấy ở ngoài thân, như quang minh nơi thân Phật, tùy ư sử dụng, chẳng thuộc vào vị trí sắp xếp các chữ trong thân. Chữ Ám cũng thế, giống như chữ Á. Thầy đă thành tựu thân như thế, Mạn-đồ-la này cũng sắp xếp như thế, cũng nghĩ sẽ khiến cho đệ tử làm như thế, ba sự đều thành, đó là Bí Mật Mạn-đồ-la. Nếu chẳng liễu đạt ư nghĩa trong ấy, tuy nương theo các sự pháp trên đây để làm, chẳng gọi là “thiện tác” (khéo làm), uổng phí công phu, trọn chẳng thành tựu ǵ! Lại nữa, cách sắp chữ này chính là Bí Mật Mạn-đồ-la, nếu chính ḿnh là người có hạnh tu tập đă lâu, thật sự hiểu rơ, kham truyền trao th́ mới dùng ư để truyền dạy, chẳng thể dùng văn tự để ghi chép được. V́ thế, thầy tṛ khẩu truyền, chứ kinh chẳng nói, chỉ nói “như Tỳ Lô Giá Na luân chuyển”.

          Lại nữa, hành giả cần biết màu sắc của các chữ. Tức là từ chữ đầu tiên là chữ A và hai mươi lăm chữ như Ca v.v…. cùng với Dă, Ra cho đến chữ Ha, đều thuộc về môn chữ A, đều có màu vàng. Đó gọi là màu kim cang. Chữ A thứ hai (A âm dài, ) chuyển thành màu vàng pha trắng, đó gọi là Tịch Tĩnh Sắc. Thể của chữ A () màu vàng, vạch tam-muội (cái vạch thẳng đứng bên phải chữ A) là màu trắng. Do hai màu hợp lại, nên có sắc vàng pha trắng. Chữ thứ ba là thêm chấm trên đầu, cũng là vàng và trắng, tức chữ Ám. Chữ A màu vàng, [cái chấm] Đại Không màu trắng. V́ thế, nên là vàng và trắng. Kế đó, chữ thứ tư là Á chuyển thành màu vàng pha đen, chữ A màu vàng, hai chấm Niết Bàn màu đen, cho nên là vàng và đen. Cũng có thể hiểu hai chấm có nghĩa là “hàng phục”, giống như Niết Bàn hoại diệt, phá tan hết thảy các pháp gây chướng ngại. Chữ này cũng giống như thế; do đó, hai chấm có màu đen. Chữ thứ năm là Á (âm dài), chữ A màu vàng, chấm trên đó màu trắng, cái vạch bên cạnh màu đen, hăy nên biết là [chữ này] có nhiều màu.

          Phàm sắp xếp Mạn-đồ-la cũng là ba tầng:

          - Tầng thứ nhất là từ chữ Ca cho đến chữ Ha, giáp ṿng trong tầng đó, gọi là kim cang luân. Kim cang luân ấy nắm giữ hết thảy các pháp, giống như trong thế giới, kim cang luân duy tŕ thế giới, tức là Bồ Đề tâm luân tối sơ của hành giả. Ư nói: Muốn kiên cố Bồ Đề tâm, trước hết, vẽ tầng bên trong.

          - Luân thứ hai kế đó là A và Ám. Đấy chính là hai luân A âm dài (ā) và Ám, cùng là trung phần. Nếu dùng chữ Ca làm luân, th́ chẳng cần dùng luân chữ Khiếm (Tôi cho rằng Ca là cái nhân của hành giả, Khiếm là chứng cái quả ấy).

          - Luân thứ ba sử dụng tự luân Á, cũng theo đúng như trên mà sắp xếp, sao cho thành một ṿng khép kín. Mười hai chữ như Y v.v… xếp rải rác bên ngoài, giống như quang minh h́nh ngọn lửa.

          Đấy chính là ư nghĩa “tam chuyển pháp luân”. Sắp xếp như thế xong, người tŕ tụng chính là thân Tŕ Minh, giống hệt như được thần lực của Đại Nhật Như Lai gia tŕ, chẳng có ǵ khác! Luân ấy cũng gọi là “nhân duyên luân”. Thầy và đệ tử cùng với Mạn-đồ-la đều là luân bí mật như thế. Lại nữa, các chữ ấy chính là chân ngôn luân, cho nên có bốn loại luân. Lại nữa, tự luân trong tiếng Phạn là Á Sát Ra Luân (Aksaracakra), Á Sát Ra nghĩa là bất động. “Bất động” được gọi là Bồ Đề tâm chữ A. Như đức Tỳ Lô Giá Na trụ trong thể tánh của Bồ Đề tâm, thị hiện đủ loại phổ môn lợi ích, biến hiện đủ loại vô lượng vô biên. Tuy thị hiện dấu tích chẳng cùng tận như thế, mà có thể thật sự thường trụ bất động, cũng chẳng có tướng khởi diệt (dấy lên hay diệt mất). Giống như bánh xe tuy vận chuyển vô cùng, nhưng chính giữa bánh xe chưa hề dao động. Do bất động, nên có thể tạo thành các thứ chuyển động chẳng có cùng cực! Chữ A ở đây cũng lại giống như thế, do vô sanh nên chẳng động, chẳng thoái, sanh ra hết thảy tự luân xoay chuyển vô cùng. Do đó, gọi là “bất động luân”. Nếu hành giả có thể liễu đạt cái luân bất động như thế, sắp xếp các Minh (thần chú), tức là dùng cái Thể tự nhiên, những điều biểu thị bởi thân sẽ không ǵ chẳng phải là mật ấn, những điều miệng nói đều là chân ngôn. Hễ có ai thấy, nghe, tiếp xúc, nhận biết, nhất định sẽ đều thành tựu phước lợi nơi Vô Thượng Bồ Đề, chân thật chẳng dối. Nếu có thể làm như thế, sẽ giống như đức Tỳ Lô Giá Na thực hiện Phật sự, thường chiếu thế gian.

          Khi hành giả tŕ tụng, hăy nên quán tự luân, hoặc là cú luân. Cái được gọi là “cú luân” chính là quán nơi tâm Bổn Tôn có vầng tṛn sáng, trong ấy sắp xếp các chữ chân ngôn luân chuyển, tiếp nối, khiến cho [các chữ ấy] rành rẽ hiện tiền. Khi tŕ tụng, quán các chữ ấy giống như sữa trắng, theo thứ tự chảy rót vào miệng hành giả, hoặc xối vào đỉnh đầu, liên tục chẳng dứt, trọn khắp thân thể, cho đến trọn khắp các chi phần. Chữ trong vầng tṛn sáng ấy thường rơ rệt, như nước thường chảy, chẳng có cùng tận. Tŕ tụng như thế đă mệt rồi, liền chỉ trụ trong tâm tịch tĩnh, tức là quán các chữ chủng tử. Cách quán đă được nói đầy đủ trong phần trước. Nếu đă được thấy chữ chủng tử, sẽ từ chữ chủng tử mà trông thấy Bổn Tôn. Đă thành như thế xong, liền có thể sắp đặt trọn khắp các tự luân, tạo thành cái thể Tŕ Minh, mới có thể kham làm các sự nghiệp. Chữ A như thế nghĩa là “bất động”, là kim cang thể. Phàm muốn cho sự việc kiên cố bất động, hoặc khiến cho đạo tâm của ḿnh lẫn người đều bất động v.v… đều dùng chữ A để gia tŕ. Hết thảy các chữ khác cũng tùy theo từng sự tương ứng mà dùng!

 

11. Phẩm thứ mười một: Bí Mật Mạn-đồ-la (Bí mật Mạn-đồ-la phẩm đệ thập nhất, 祕密漫荼羅品第十一)

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na dĩ Như Lai nhăn quán sát nhất thiết pháp giới, nhập ư pháp giới câu-xá, dĩ Như Lai Phấn Tấn B́nh Đẳng Trang Nghiêm Tạng tam-muội, dĩ hiện pháp giới vô tận nghiêm cố, dĩ thị Chân Ngôn hạnh môn độ vô dư chúng sanh giới, măn túc bổn nguyện cố.   

          ()爾時薄伽梵毘盧遮那以如來眼觀察一切法界,入於法界俱舍,以如來奮迅平等莊嚴藏三昧,以現法界無盡嚴故,以是真言行門度無餘眾生界,滿足本願故

     (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Bạc Già Phạm Tỳ Lô Giá Na dùng Như Lai nhăn quán sát hết thảy pháp giới, nhập trong pháp giới câu-xá, dùng Như Lai Phấn Tấn B́nh Đẳng Trang Nghiêm Tạng tam-muội để hiện ra sự trang nghiêm vô tận của pháp giới, dùng hạnh môn Chân Ngôn này để độ chúng sanh giới chẳng thừa sót, ḥng thỏa măn bổn nguyện).

 

          Lúc bấy giờ, đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn lại nhập trong Nhất Thiết Pháp Giới Như Lai Nhăn Giới Quán, Pháp Giới Tạng Phấn Tấn Như Lai B́nh Đẳng Nghiêm Tạng tam-ma-địa chứng (hiện chứng). Do pháp giới trang nghiêm hiển hiện vô tận, dùng hạnh môn Chân Ngôn ấy để độ chúng sanh giới chẳng thừa sót ḥng thỏa măn bổn nguyện. Trên đây, nói phẩm Tự Luân đă xong; kế đó, nói về phẩm Bí Mật Mạn-đồ-la. Do là bí mật, phàm những điều nói ra đều do thần lực của Như Lai gia tŕ, chẳng thể biểu thị, nên gọi là phẩm Thần Lực Gia Tŕ Tự Luân (hết thảy các phẩm khác đều giải thích như thế). Đă nói phẩm Tự Luân xong; kế đó, muốn thành tựu tự luân như vậy, lại nhập tam-muội. Điều được kinh nói ở đây là nêu ra tên của tam-muội. “Hết thảy pháp giới” chính là pháp giới vô tướng. Đă là pháp giới vô tướng, bèn dùng Phật nhăn b́nh đẳng để quán pháp giới như thế.

          Lại giải thích theo kiểu bí mật th́ tự luân như trên chính là pháp giới của chư Phật, dùng Phật nhăn để quán pháp giới ấy. Hăy nên biết “Phật nhăn quán” chính là sức gia tŕ của Như Lai; nếu ĺa gia tŕ, sẽ chẳng thể nói! “Pháp giới tạng”: Chữ Tạng này trong tiếng Phạn được gọi là Câu Xá (Kośa), vốn có nghĩa là “cái vỏ”, giống như đao trong thế gian nằm trong vỏ đao. Tạng này cũng thế; do vậy, dùng nghĩa này để phiên dịch. V́ thế, kinh nói “pháp giới tạng” tức là chỗ Như Lai xuất hiện, hàm nghĩa “hết thảy Như Lai ngự ở trong đó”. “Phấn tấn” (奮迅) có nghĩa là lưu xuất, có nghĩa “tuôn chảy tràn trề”. Như sư tử chúa ở trong hang sâu, an trụ bất động, có khi ra khỏi hang duỗi ḿnh, cử động, tức là thân vốn bất động, nay bèn ĺa chỗ thường ở mà động vậy. Phật cũng như thế, an trụ trong mật tạng rất sâu như thế, nếu chẳng có thần lực của Như Lai gia tŕ, sẽ là vi diệu tịch tuyệt, chẳng thể thị hiện. Nay bèn thị hiện vô tận các thứ h́nh tướng và âm thanh từ thân, miệng, ư, trọn khắp pháp giới, tức là “chư Phật phấn tấn”. Thị hiện tạng b́nh đẳng trang nghiêm của Như Lai; đó là “tạng” trong “thai tạng” vậy. Do nhập pháp môn này, thân, miệng, ư của mười phương ba đời hết thảy Như Lai thảy đều b́nh đẳng, Phật, Phật đạo đồng; do vậy, gọi là Đẳng. “Nghiêm” là trang nghiêm cái thân này, tức là dùng vô lượng môn trong Phật đạo để trang nghiêm Pháp Thân, ḥng độ chúng sanh. Chính là dùng pháp giới b́nh đẳng để trang nghiêm Pháp Thân; do vậy gọi là Nghiêm. Giống như ở chỗ các đội quân trong thế gian có đại tràng tướng, [đại tràng tướng ấy] được gọi là Nghiêm. Tam-muội này cũng thế. Do tam-muội này có thể biểu thị chuyện bí mật của Như Lai; do vậy, gọi tên như thế. Trong cái tạng ấy, tiếng Phạn gọi là Yết Ha (Garbha), tức là lưu xuất vô tận trang nghiêm, phấn tấn thị hiện chẳng thể cùng tận, cạn kiệt, giống như kho báu to lớn. Tạng pháp giới b́nh đẳng ấy chính là ư nghĩa của Như Lai Tạng vậy. Do pháp giới trang nghiêm chẳng thể cùng tận, giống như tự luân xoay tṛn chẳng thể cùng tận, mà gọi là “vô tận tạng”.

          V́ sao Như Lai ngự trong tam-muội ấy? Cũng chẳng phải là không có nhân duyên! Chính v́ khai thị chuyện bí yếu rất sâu của Như Lai. V́ thế, kế đó kinh nói: “Dĩ thị chân ngôn môn, độ vô dư chúng sanh giới, măn túc bổn nguyện cố” (Dùng môn Chân Ngôn này để độ chúng sanh giới chẳng sót nhằm thỏa măn bổn nguyện). Khi đức Phật vốn hành Bồ Tát đạo, lập đại thệ nguyện, đều khiến cho hết thảy chúng sanh cùng nhập tạng pháp giới của Như Lai. Nay sở nguyện được thỏa, do ḷng đại bi, phấn tấn thị hiện để độ chúng sanh. Như pháp giới nghiêm tạng chẳng thể cùng tận, chúng sanh giới cũng thế, chẳng thể cùng tận. Nay muốn dùng trọn khắp hạnh môn Chân Ngôn để b́nh đẳng lợi ích, khiến cho đều được khai tri kiến rốt ráo chẳng thừa sót, tức là sở nguyện được thỏa măn; cho nên nói là “măn bổn nguyện”. Lại nữa, do tác pháp chưa được thành tựu, hành giả tu Chân Ngôn chẳng thể mau chóng thành đạo vô thượng. Nay lại quyết trạch, khiến cho đều hiển hiện, nhập môn Định này.

 

          (Kinh) Thời, Phật tại tam-muội trung, ư như thị vô tận chúng sanh giới, tùng chúng thanh môn, xuất tùy loại âm thanh, như kỳ bổn tánh, nghiệp sanh thành thục, thọ dụng quả báo, hiển h́nh chư sắc, chủng chủng ngữ ngôn, tâm sở tư niệm, nhi vị thuyết pháp, linh nhất thiết chúng sanh giai đắc hoan hỷ. Phục ư nhất nhất mao khổng, pháp giới tăng thân xuất hiện, xuất dĩ đẳng đồng hư không, ư vô lượng thế giới trung, dĩ nhất âm thanh pháp giới ngữ biểu diễn thuyết Như Lai phát sanh kệ.

          ()時佛在三昧中,於如是無盡眾生界,從眾聲門出隨類音聲, 如其本性業生成熟受用果報,顯形諸色種種語言心所思念而為,令一切眾生皆得歡喜復於一一毛孔,法界增身出現,出已等同虛空,於無量世界中以一音聲法界語表演說如來發生

    (Kinh: Khi đó, đức Phật ở trong tam-muội, nơi chúng sanh giới vô tận như thế, từ các môn âm thanh, phát ra âm thanh tùy theo từng loài, đúng như bổn tánh của họ, do nghiệp sanh khởi [các quả báo] đă chín muồi, bèn thọ dụng quả báo, hiển lộ h́nh tượng, các màu sắc, đủ loại ngôn ngữ, những điều suy nghĩ trong tâm mà v́ họ thuyết pháp, khiến cho hết thảy chúng sanh đều được hoan hỷ. Lại từ trong mỗi lỗ chân lông, xuất hiện thêm thân pháp giới. Đă xuất hiện nhiều như hư không rồi, bèn ở trong vô lượng thế giới, dùng một âm thanh pháp giới ngữ để biểu lộ, diễn nói bài kệ phát sanh của Như Lai).

 

          Kế đó là ở trong Định, tức là đức Phật trụ trong môn tam-muội này, hiện việc hy hữu, ḥng lợi lạc trọn khắp quần sanh. Ở trong Định ấy, Ngài hiện các chuyện hy hữu nào? Chính là từ trong chúng sanh giới chẳng thừa sót, các môn âm thanh v.v…, bèn đúng như ư nghiệp của họ mà sanh khởi thành tựu, thọ các quả báo, sắc tướng, h́nh tượng, âm thanh, thuận theo tâm tưởng [của từng loại chúng sanh] mà nói đủ loại pháp, khiến cho hết thảy chúng sanh hoan hỷ. “Nhất nhất mao khổng pháp giới tăng thân xuất (từ trong mỗi lchân lông, xuất hiện thêm thân pháp giới): Tiếng ấy [nói theo ư nghĩa] trong tiếng Phạn cũng là Hống (rống), Ví như rồng lớn xuất hiện, tiếng sấm vang rền, hết thảy đều nghe thấy, không đâu chẳng trọn khắp. Như Lai Hống cũng giống như thế, trọn khắp hữu t́nh giới chẳng thừa sót. Vô lượng âm thanh trong giới ấy cũng đều nghe trọn khắp, chẳng phải là có hạn lượng như rồng trong thế gian. Thượng, trung, hạ phẩm trong chúng sanh giới tùy thuộc nghiệp nào mà có quả báo ấy. V́ thế nói là “nghiệp sanh thành tựu”. Ví như người đời nhận được thức ăn mà chẳng ăn; do duyên cớ ấy, chưa thể gọi là Thọ (tiếp nhận). Nếu nhận lănh bèn ăn ngay, bèn gọi là “tiếp nhận [thức ăn] được cung cấp”. Nay nhận lănh quả báo dị thục cũng giống như thế, mỗi mỗi đều xứng với cái nhân trước đó mà thọ quả báo ấy. H́nh tướng, hiển sắc v.v… sai biệt, muôn vàn âm thanh khác biệt, tuyên nói bất đồng, ư nhạo (tâm ưa thích), tín giải [của chúng sanh] mỗi mỗi đều sai khác. Đức Phật dùng một diệu âm b́nh đẳng, ứng với tâm họ, đúng với ư chí của họ, tùy theo ngôn ngữ của họ mà dạy họ giác ngộ, phát khởi họ suy nghĩ, nhận biết phương tiện, khơi mở, dẫn dụ [khiến cho] họ đều được hoan hỷ, tức là tướng lành chưa từng có trong tam-muội. Ở trong ấy, “nói đủ loại” [âm thanh] là như các ư nghĩa trong Thanh Luận: Giả sử ba âm ḥa hợp để cùng biểu thị một nghĩa; nếu ư nghĩa chưa trọn vẹn, bèn thêm một chữ cho trọn vẹn. Nếu bốn âm cùng biểu thị một nghĩa, nhưng nay dùng ba âm mà ư nghĩa đă trọn đủ, th́ bớt đi một chữ. Tùy nghi mà tăng giảm như thế; nay ở đây cũng thế: Do một môn chữ A có trọn đủ hết thảy các nghĩa, không chuyện ǵ chẳng trọn vẹn! Do vậy bèn nói là “thuyết”, không giống chữ Thuyết trong “thuyết pháp”. [Nếu xét theo] tiếng Phạn, [chữ Thuyết ở đây] khác [với chữ “thuyết” trong “thuyết pháp”], nên cần phải khảo sát thêm.

          “Pháp giới tăng thân xuất”: Pháp giới b́nh đẳng rốt ráo tịch diệt, chẳng có tướng xuất nhập. Do thần lực của Như Lai gia tŕ, mà hiện ra vô tận sắc thân, tức là từ trong mỗi lỗ chân lông của Phật, thuận theo đó hiện ra tiếng rống như trong phần trước. Lại hiện ra đủ loại h́nh tướng, cho nên nói là “pháp giới tăng thân”. Thật ra, từ duyên mà khởi, nhưng bản tánh là vô sanh! Thật Tướng như thế liền có cùng một Thể với pháp giới, há có tăng thêm hay sanh diệt ư? Tuy là pháp duyên khởi, nhưng Thể của nó là “tướng thường như” (tuy có các h́nh tướng khác biệt, nhưng cái Thể là Như Như). Do sức gia tŕ của Như Lai, từ mỗi lỗ chân lông đều hiện ra tiếng rống, hoặc dùng âm thanh nhu nhuyễn, hoặc dùng lời thô tháp, hoặc sâu xa, hoặc nông cạn, tương ứng với tâm cơ của họ, như thủy triều nơi biển cả chẳng quá lệ thường! Thân này cũng thế, hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc mang h́nh tướng phẫn nộ, hoặc hành Lục Độ, hoặc dùng oai thế để chế phục, sai biệt muôn vàn, nhưng hữu t́nh được độ chẳng hề sai lầm!

          Trong phần trước đă dạy tự luân, nay từ trong pháp giới luân mà hiện h́nh tướng và âm thanh. Đă phát ra trong hư không, giống như một âm thanh pháp giới trong thế giới nói bài kệ Như Lai Sanh cũng như hư không chẳng có ngằn mé. Âm thanh này cũng thế, giống như hư không. “Biểu” là biểu thị, tức là nghiệp được biểu thị bằng lời nói của Như Lai, tức là biểu hiện cho hết thảy chúng sanh, khiến cho họ đều tương xứng, ngộ pháp giới b́nh đẳng. Dùng diệu âm ấy để biểu thị pháp giới, cho nên nói pháp giới là tâm. “Nhất âm” tức là môn chữ A luân chuyển vô cùng, giống như hư không trọn khắp pháp giới. Tam thế chư Phật đều sanh từ diệu kệ như thế; v́ thế gọi là “Như Lai sanh”. Nay đức Phật từ môn “nhất âm” ấy mà nói diệu kệ, khiến cho trọn khắp chẳng sót các thế giới đều b́nh đẳng nghe biết, tùy theo từng loài mà được hiểu. Do vậy gọi tên như thế. Nói ra tự luân như trên đây là v́ muốn biểu thị công đức của Như Lai. V́ thế, từ trong mỗi lỗ chân lông, đức Phật phát ra âm thanh mầu nhiệm, trọn khắp pháp giới này, nói nghĩa rất sâu của tự luân này, tức là nói bài kệ “sanh ra chư Phật”. Nếu có chúng sanh biết rơ ư nghĩa của tự luân như thế, liền thành Bồ Đề. V́ thế nói “hết thảy chư Phật sanh từ đó”.

          Như Pháp Thân của chư Phật ĺa sanh diệt; nếu Như Lai có sanh, tức là chấp tướng. Hễ chấp trước tướng th́ c̣n chẳng thể ĺa sanh tử, huống hồ có thể thành đại Bồ Đề ư? Nay nói “sanh” tức là cái sanh chân thật, ĺa tướng. Bởi lẽ, Pháp Thân thanh tịnh, ĺa hết thảy các tướng, nhưng do Phật dùng sức gia tŕ, dùng tự luân này để khai thị đức nội chứng bí mật của Như Lai. Do được thần lực tự tại của Phật gia tŕ, do phương tiện hữu tướng ấy, có thể sanh ra cái tướng “vô tướng”. Ví như khi họ chưa giác, bèn dùng tự luân này làm phương tiện, [khiến cho họ] dần dần có thể liễu đạt, quán sát môn chữ A. Do nhập môn chữ A, sẽ có thể thấu hiểu Pháp Thân rốt ráo tự tại.

 

          (Kinh) Năng sanh tùy loại h́nh, chư pháp chi pháp tướng, chư Phật dữ Thanh Văn, cứu thế nhân duyên giác, cần dũng Bồ Tát chúng, cập nhân tôn diệc nhiên. Chúng sanh, khí thế giới, thứ đệ nhi thành lập, sanh trụ đẳng chư pháp, thường hằng như thị sanh. Do cụ trí phương tiện, ly ư vô huệ nghi, nhi quán thử đạo cố, chư Chánh Biến Tri thuyết.

          ()能生隨類形,諸法之法相,諸佛與聲聞,救世因緣覺,勤勇菩薩眾,及仁尊亦然。眾生器世界,次第而成立,生住等諸法,常恒如是生。由具智方便,離於無慧疑,而觀此道故,諸正遍知

    (Kinh: Sanh h́nh tướng tùy loại, pháp tướng của các pháp, chư Phật và Thanh Văn, bậc Duyên Giác cứu đời, Bồ Tát siêng, dũng mănh, và Nhân Tôn cũng thế. Chúng sanh, khí thế giới, thành lập theo thứ tự. Các pháp như sanh, trụ… Thường hằng sanh như thế. Do đủ trí phương tiện, ĺa khỏi vô huệ, nghi, do quán sát đạo này, các Chánh Biến Tri nói).

   

          Kệ nói: “Năng sanh tùy loại h́nh, chư pháp chi pháp tướng” (Có thể sanh ra các h́nh tướng tùy theo từng loại. Đó là pháp tướng của các pháp), tức là do nhập môn chữ A th́ chính là Pháp Thân b́nh đẳng. Do Pháp Thân ấy vô tướng, có thể tùy duyên cảm ứng, hiện trọn khắp các sắc thân, tùy theo h́nh tướng của mọi loài, dùng thân mà họ thích thấy để khai thị trí huệ của Như Lai cho họ. Kệ nói: “Chư Phật dữ Thanh Văn, cứu thế nhân duyên giác” (Chư Phật và Thanh Văn, bậc giác ngộ nhân duyên cứu đời [tức là các vị Duyên Giác]), Bồ Tát cứu đời cũng dũng mănh tinh tấn giống như Phật, do cái thân vô tướng vô thượng này, hết thảy chư Phật đều sanh từ đó. Không chỉ chư Phật sanh từ đó, mà hết thảy các thứ hạnh vị của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, cho đến địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ, đều sanh từ lư chữ A này. Không chỉ hết thảy các quả thánh hiền, mà cho đến hết thảy hữu t́nh thế gian và khí thế gian, đủ loại tăng trưởng sai khác theo thứ tự, cũng đều do nghĩa chữ A này mà sanh. V́ thế, “sanh” ở đây đại lược có ba loại:

          - Thượng phẩm sanh là sanh ra cái quả thể Pháp Thân chân tịnh thường trụ của Như Lai.

          - Kế đó là sanh ra chư Phật, Bồ Tát, Nhị Thừa (tức trung phẩm sanh), tùy thuộc địa vị nào mà trừ chướng ấy.

          - Hạ phẩm sanh chính là hữu t́nh và khí thế gian, cũng đều do pháp môn này mà được thành lập.

          “Sanh trụ đẳng chư pháp, thường hằng như thị sanh” (Các pháp như sanh, trụ v.v… đều thường hằng mà sanh ra như thế): Các điều được nói ở đây khác với Đoạn Kiến và Thường Kiến của ngoại đạo. Các pháp tuy sanh từ nhân, nhưng sanh nhân (cái nhân của sự sanh khởi ấy) vô tướng. Tuy sanh từ duyên, nhưng duyên ấy vô tướng. Tuy từ duyên khởi [mà sanh], nhưng pháp vốn chẳng sanh. Tuy do duyên khởi mà diệt, nhưng chẳng có tướng sanh hay trụ. V́ thế là thường, chẳng giống cái thấy của ngoại đạo, nên nói “sanh diệt là thường”.

          Kệ nói: “Do cụ trí phương tiện, ly ư vô huệ nghi” (do trọn đủ trí phương tiện, ĺa vô huệ, ngờ vực), đă liễu đạt luân chữ A, [thấu hiểu] bản thể của các pháp là rốt ráo không, vô sở hữu, tịch diệt, vô tướng, vốn sẵn vô sanh; đó là huệ. Thân ấn, Du Già v.v… trong Chân Ngôn có thể thực hiện lợi ích to lớn, nhập Phật huệ. Đó là phương tiện. Nếu nương theo phương tiện mà không có huệ, hoặc chỉ có huệ mà chẳng có phương tiện, sẽ trọn chẳng thể thành tác dụng tự nhiên chẳng thể nghĩ bàn! Phải do phương tiện và trí huệ trọn đủ, phương tiện sẽ được nhập trong bí tạng của tự luân. “Ly huệ nghi”: Nếu ĺa hai pháp như thế (tức là ĺa phương tiện và trí huệ), hăy nên biết đó là kẻ không có huệ. Do chẳng có huệ, nơi nào cũng sanh nghi, chẳng thể tiến nhập. Lại nữa, nếu hành giả cùng trọn đủ trí huệ và phương tiện, sẽ tự nhiên ĺa vô huệ, chẳng sanh tà nghi.

          Kệ nói: “Nhi quán thử đạo cố, chư Chánh Biến Tri thuyết” (thấy đạo ấy do các đấng Chánh Biến Tri nói): Quán đạo này do chư Phật đă nói, chẳng phải chỉ ḿnh ta nói như thế. Do hết thảy các đấng Đẳng Chánh Giác đều nói như thế, chẳng có phân biệt. Do mười phương ba đời chư Phật cùng đắc đạo này chẳng sai biệt, một tướng, một vị, chẳng nói khác biệt!

 

          (Kinh) Nhĩ thời, pháp giới sanh Như Lai thân, nhất thiết pháp giới tự thân biểu hóa vân biến măn Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, tài sanh tâm khoảnh, chư mao khổng trung xuất vô lượng Phật, triển chuyển gia tŕ dĩ, hoàn nhập pháp giới cung trung. Ư thị, Đại Nhật Thế Tôn phục cáo Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: “Bí Mật Chủ! Hữu tạo Mạn-đồ-la thánh tôn phần vị, chủng tử, tiêu xí, nhữ đương đế thính, thiện tư niệm chi, ngô kim diễn thuyết”. Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ ngôn: “Như thị, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn”.

          ()爾時法界生如來身一切法界自身表化雲遍滿毘盧遮那世尊纔生心頃諸毛孔中出無量佛展轉加持已還入法界宮中於是大日世尊復告持金剛祕密主言祕密主有造漫荼羅聖尊分位種子幖幟汝當諦聽善思念之吾今演持金剛祕密主言如是世尊願樂欲聞

          (Kinh: Lúc bấy giờ, thân của đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn là thân Như Lai do pháp giới sanh, là tự thân Như Lai biểu lộ, hiện hóa trong trọn khắp hết thảy các pháp giới như mây, trong khoảng vừa mới sanh tâm, từ trong các lỗ chân lông, hiện ra vô lượng Phật, xoay vần gia tŕ xong, lại trở vào trong cung pháp giới. Khi đó, Đại Nhật Thế Tôn lại bảo Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ rằng: “Bí Mật Chủ! Có [pháp dạy về cách] tạo phần vị, các vật biểu trưng, và chủng tử của chư tôn thánh trong Mạn-đồ-la. Ông hăy nên lắng nghe, khéo suy nghĩ lấy. Ta nay diễn nói”. Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ thưa: “Đúng như thế, bạch Thế Tôn! Con nguyện ưa thích muốn nghe”).

 

          “Pháp giới sanh thân” ở đây chính là Tỳ Lô Giá Na Pháp Thân. Do sanh từ pháp giới chân thật, nên gọi là “pháp giới sanh”. “Nhất thiết pháp giới tự thân biểu”: “Biểu” nghĩa là có thể khiến cho hết thảy đều thấy biết. Nói “ư nhất thiết pháp giới trung, tự thân biểu hóa vân giai biến măn”, tức là thân Như Lai biểu hiện trọn khắp các sắc thân, giống như mây to trọn khắp pháp giới. “Vân” (mây) có nghĩa là “trọn khắp”. Ư nói: Mây hóa thân ấy trọn khắp, đầy ắp thế giới, trọn khắp mười phương thế giới, chẳng thể hạn lượng! “Tâm tự tại” ở đây được dịch theo ư nghĩa, nếu dịch sát th́ là “tâm tài” (心纔, tâm vừa mới), tức khi tâm vừa dấy lên ư niệm, chẳng dùng công sức mà có thể trọn khắp, đầy ắp rộng lớn như thế, tức là tâm có thể đạt được tự tại. “Chư mao khổng trung, Phật sanh triển chuyển gia tŕ” (Trong các lỗ chân lông [nơi thân đức Tỳ Lô Giá Na], sanh ra chư Phật, xoay vần gia tŕ): Ví như Như Lai vừa mới nhập tam-muội; ngay lập tức liền hiện chuyện hy hữu trọn khắp như thế. Đấy là thần lực gia tŕ của Như Lai. “Triển chuyển” [ở đây] nghĩa là nhập vào lẫn nhau. Từ lỗ chân lông của đức Phật, lưu xuất bản thân của Như Lai, [các thân ấy] xoay vần nhập vào lẫn nhau. Mỗi thân đều hiện thần lực như trên, đă biến hóa rồi lại biến hóa, chẳng có cùng tận. Các nghĩa như thế càng phải nên nói tường tận. “Triển chuyển gia tŕ” tức là dùng thần lực tự tại của Phật để gia tŕ. Đấy chính sự gia tŕ từ tự luân thuộc pháp giới tánh như đă nói trong phần trên. Từ mỗi lỗ chân lông nơi thân đức Phật, hiện ra đủ loại thân vân (thân nhiều như mây), chia thành thượng, trung, hạ phần, tức: Đầu là nội thai (trung thai bát diệp của Đại Bi Thai Tạng Sanh Mạn-đồ-la). Từ tim trở lên là viện thứ nhất, từ rốn trở lên là viện thứ hai, từ rốn trở xuống là viện thứ ba. Phối hợp [các phần ấy với] bốn vị trí trong cái đàn h́nh tṛn ở phần trước, tùy theo các phần thượng, trung, hạ, trái, phải, sau, trước mà hiển hiện thân Bổn Tôn, đều dựa theo bổn vị (vị trí đáng nên an lập trong Mạn-đồ-la) mà xuất hiện, thực hiện Phật sự trong thế giới. Từ mỗi mỗi thân mà lần lượt xuất hiện, thực hiện các Phật sự. Do vậy nói là “triển chuyển”.

          Khi đó, ngài Chấp Kim Cang cũng hiểu ư Phật. Nay đức Phật Thế Tôn hiện chuyện hy hữu chưa từng có, chẳng phải là không có nhân duyên, chắc chắn Ngài sẽ nói pháp sâu xa, bí mật, tức là trong phần trên nếu có điều ǵ nói chưa trọn vẹn, c̣n thiếu sót, ắt Ngài sẽ nói [vào lúc này], [do vậy, ngài Kim Cang Thủ] bèn chí thành chiêm ngưỡng, mong mỏi mà trụ. Do vậy, đức Phật lại bảo: “Bí Mật Chủ! Hữu tạo Mạn-đồ-la thánh tôn phần vị, chủng tử, tiêu xí, nhữ đương đế thính, thiện tư niệm chi, ngô kim diễn thuyết” (Bí Mật Chủ! Có cách tạo các phần vị, chủng tử, vật biểu trưng của các tôn thánh trong Mạn-đồ-la, ông hăy nên lắng nghe, khéo suy nghĩ, ta nay sẽ diễn nói), tức là khi đó đức Phật đă v́ các vị như Chấp Kim Cang v.v… hiện ra các thứ phần vị như trên đây. Khi ấy, chư tôn đă thực hiện đủ loại Phật sự, lại từ bổn vị nhập vào thân của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, cũng đúng với các vị trí khi đă xuất hiện, chẳng khác ǵ. Do đó, kinh nói: “Phục nhập pháp giới cung” (lại vào trong pháp giới cung). Phần vị và chủng tử của chư tôn, các vị tôn thánh trên đây đều là đức nội chứng của Như Lai, đều từ mỗi mỗi [điều ấy] mà biểu lộ đường lối rất sâu nơi pháp giới do Như Lai hiển thị. Nay nếu có A-xà-lê muốn làm đàn, trước hết, hăy trụ trong môn Du Già này, theo đúng thứ tự, từ mỗi vị trí nơi thân Phật để quán h́nh tượng, màu sắc xong, nơi tâm mỗi vị tôn thánh, quán vầng tṛn sáng. Quán chủng tử của vị ấy trong vầng tṛn sáng, mỗi mỗi xếp đặt như thế rồi mới tác pháp. Nếu chẳng như thế, sẽ trọn chẳng thể gia tŕ, kiến lập các đệ tử, mà cũng chẳng thể gọi là A-xà-lê!

          Như trong phần trước đă nói, đoạn chủng tử phiền năo xong; kế đó, sanh khởi chủng tử của pháp giới tánh, tức là chủng tử b́nh đẳng của hết thảy hữu t́nh. Chủng tử pháp giới tánh b́nh đẳng ấy được sanh trưởng bởi đất Nhất Thiết Trí của Như Lai. Như đủ loại thảo mộc trong thế gian, tùy theo tánh phận của từng loài mà mỗi mỗi đều sai biệt, đều nương vào đại địa mà được sanh trưởng, nhưng rễ, thân, cành, lá, đủ thứ bất đồng, tánh phần tăng trưởng lớn nhỏ mỗi thứ mỗi khác, nhưng đều là nương vào tánh của đại địa, do đất mà sanh trưởng. Tuy rốt ráo đều quy vào đất, chỉ do nhân duyên hội hợp mà có sanh trưởng, chứ thật ra, chẳng có tự tánh, vô sanh, vô khởi! Nếu chúng sanh đă được an lập chủng tử như thế, tức là giống như địa vị Như Lai. Do chủng tử ấy sanh từ pháp giới tánh, có thể sanh ra pháp giới, nên gọi là “pháp giới sanh chủng tử”. “Pháp giới sanh” tức là thân tự tánh của Như Lai. “Tiêu xí” (các vật biểu trưng, các đặc điểm đặc trưng) là như chủng tử thế gian, mỗi mỗi sai biệt. Như đối với chủng tử của cỏ nhỏ, tuy nó chưa mọc lớn, nhưng người có trí nh́n vào, đă biết tánh phận cùng cực lớn nhỏ ắt có của nó. [Cũng giống như vậy], nếu thấy chúng sanh hành chủng tử thuộc nhân vị như thế, cũng sẽ [đạt được quả địa] như thế. Nhưng nay do chủng tử chính là chủng tử thuộc pháp giới tánh, hăy nên biết tánh của nó nhất định có thể sanh ra thân pháp trí b́nh đẳng của Như Lai. V́ thế, gọi là “tiêu xí”.

          Lại nữa, mỗi phần vị trong Mạn-đồ-la ấy đều có chủng tử dùng để ghi nhớ các môn pháp giới sai biệt. Hăy nên biết mỗi mỗi đều vào trong chữ A. Hễ thấy, hễ thấy tiêu kư (dấu hiệu đặc trưng để ghi nhớ) của nội chứng, sẽ biết đức nội chứng của Như Lai. V́ thế gọi là “tiêu kư”. Tùy theo bốn tầng phần vị mà lưu xuất từ từng vị trí, tức là từ tiêu xí của Phật, hoặc từ các phần vị của Bồ Tát mà xuất hiện, hoặc từ phần vị Nhị Thừa mà xuất hiện, hoặc từ phần vị thiên long bát bộ mà xuất hiện. Hăy nên biết các địa vị sai biệt mỗi mỗi đều được biểu thị bằng các chữ chủng tử bất đồng. Khi ấy, đức Phật bảo ngài Bí Mật Chủ xong, ngài Kim Cang Thủ liền bạch Phật rằng: “Nguyện nhạo dục văn”, tức là con v́ muốn lợi ích trọn khắp hết thảy chúng sanh mà lưu truyền, diễn nói, phổ biến, v́ trọn hết thảy chúng sanh trong đời vị lai, cũng như nhằm lợi ích các đại chúng hội mà thỉnh Phật diễn nói. Trong phần trước, tuy đă nói pháp Mạn-đồ-la, nhưng chưa nhắc tới màu sắc, chủng tử và tạng bí yếu. Do vậy, con sẽ nhất tâm lắng nghe, nguyện Phật diễn nói.

 

          (Kinh) Thời, Bạc Già Phạm dĩ kệ tụng viết: - Chân Ngôn giả viên đàn, tiên trí ư tự thể, tự túc nhi chí tề, thành đại kim cang luân. Tùng thử nhi chí tâm, đương tư duy thủy luân. Thủy luân thượng hỏa luân. Hỏa luân thượng phong luân. Thứ ưng niệm tŕ địa, nhi đồ chúng h́nh tượng.                   ()時薄伽梵以偈頌曰:真言者圓壇,先置於自體,自足而至臍,成大金剛輪,從此而至心,當思惟水輪,水輪上火輪,火輪上風輪,次應念持地,而圖眾形像。

          (Kinh: Khi đó, đức Bạc Già Phạm dùng kệ tụng để nói: - Đàn tṛn bậc Chân Ngôn, trước đặt nơi thân ḿnh, từ chân cho đến rốn, thành đại kim cang luân. Từ đó cho đến tim, nên tư duy thủy luân. Hỏa luân trên thủy luân. Phong luân trên hỏa luân. Kế nên niệm tŕ đất, để vẽ các h́nh tượng).

         

          Kế đó, đức Phật có ư bảo: Hễ A-xà-lê muốn kiến lập Đại Bi Thai Tạng để kiến lập đệ tử, hăy nên trước hết trụ trong Du Già để quán tự thân. Tưởng từ rốn trở xuống là kim cang luân, màu vàng, cứng chắc. Kế đó, từ rốn trở lên tới tim, tưởng như thủy luân, sắc trắng. Kế đó, từ tim trở lên tới họng, tưởng như hỏa luân, màu đỏ. Kế đó, từ họng trở lên tới đỉnh đầu, tưởng như phong luân, màu đen.

          Lại nữa, địa luân vuông vắn, thủy luân tṛn, hỏa luân tam giác, phong luân h́nh bán nguyệt, hư không ở trên cùng, thành một điểm. Các thứ màu ấy đặt ở trên h́nh chữ thập chỗ các miếng xương sọ giáp mí trên đỉnh đầu. Chấm tṛn, bán nguyệt, tam giác, tṛn, vuông là h́nh dạng của các luân, hoàn toàn tương xứng với thân phần. Năm vị trí ấy chính là năm chữ đă nói trong phần trước. Trong h́nh vuông đặt chữ A (), trong h́nh tṛn đặt chữ Phạ (Va, ), trong h́nh tam giác đặt chữ Ra (), trong h́nh bán nguyệt đặt chữ Hám (haṃ, हं), nơi cái chấm th́ đặt chữ Khiếm (khaṃ, खं). Hăy nên kiểm trong quyển trước. Thầy đă tự quán phương vị và màu sắc nơi thân ḿnh theo thứ tự, gia tŕ tự thân như thế và quán để xếp đặt chữ chủng tử xong; kế đó, quán đất nơi đàn tràng, liền xếp [thứ tự các luân] đảo ngược lại: Trên cùng là kim cang luân. Dưới kim cang luân là thủy luân. Dưới thủy luân là hỏa luân. Dưới hỏa luân là phong luân. Dưới phong luân chính là hư không luân. V́ lẽ nào vậy? Do hết thảy các thế giới đều nương tựa vào năm luân để duy tŕ. Khi thế giới h́nh thành th́ trước là từ hư không khởi lên phong, trên phong dấy lên hỏa, trên hỏa dấy lên thủy, trên thủy dấy lên đất, tức là thứ tự an lập Mạn-đồ-la vậy. Khi hoại, địa luân hoại trước hết, cho đến chỉ có hư không tồn tại; đó tức là thứ tự để thầy tự gia tŕ. Nay hành nhân tu đạo cũng tương tự như thế: Đầu tiên là phát tín tâm, kế đó là Bồ Đề tâm, cho đến Đại Không.

          A-xà-lê đă gia tŕ như thế xong, liền xếp đặt chư tôn, theo thứ tự, phương vị. Đối với mỗi vị trí, đều dùng Du Già để quán, đúng như phương vị, màu sắc, h́nh tướng, nơi tâm mỗi vị đều đặt một vầng tṛn sáng. Trong vầng tṛn sáng có chữ chủng tử, mỗi mỗi đều rành rẽ, chẳng có chướng ngại. Có thể làm như thế, tức là phần vị trong Pháp Giới Thai Tạng Mạn-đồ-la, sẽ có thể được hết thảy Như Lai cùng nhau gia tŕ, hết thảy các vị tôn thánh thảy đều nhóm họp, cùng gia tŕ hành nhân kiến lập đệ tử, rốt ráo chẳng thoái thất Chánh Đẳng Bồ Đề. Nếu không, sẽ uổng phí công sức, vô ích!

          Lại nữa, nơi ṭa Du Già ấy, luân kim cang vuông màu vàng chính là ṭa kim cang. Vuông là Tức Tai, tṛn là Tăng Ích, tam giác là Hàng Phục, bán nguyệt là Nhiếp Triệu; cái chấm là hoàn thành hết thảy các sự. Trong đàn hư không luân ấy, chỉ dùng tâm niệm để làm, do chẳng dùng h́nh tưng. Khi thế giới hoại, cũng là trước hết từ phong luân hoại địa luân mà sanh ra lửa, lửa xong đến gió, phải xem xét! Làm ngũ luân như thế, hăy nên biết trên dưới đều có hư không luân. Do từ không luân mà sanh ra phong, hỏa, thủy, địa. Lại từ địa luân dần dần lên cao cho tới hư không. V́ thế, trên dưới đều có hư không. Khi làm Mạn-đồ-la, thầy hăy nên tự quán thân ḿnh và đất, lại quán các đệ tử được độ cũng giống như thế, an lập họ chuẩn theo cách [quán của] thầy. Nếu chẳng như vậy, sẽ chẳng gọi là “như pháp” được!

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kim Cang Thủ thăng ư Đại Nhật Thế Tôn thân, ngữ, ư địa pháp b́nh đẳng quán, niệm bỉ vị lai chúng sanh, vị đoạn nhất thiết nghi cố, thuyết Đại Chân Ngôn Vương viết: - Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm. A sa ma bổ đa, đạt ma đà đô, nghiệt đăng nghiệt đá nẫm. Tát phạ tha, ám khiếm ám á, tảm sách, hàm hạc, lam lạc, văm phạ, sa ha hồng, lam lạc ha ra hạc. Sa ha lam lạc. Sa ha.

          ()爾時金剛手昇於大日世尊身語意地法平等觀念彼未來眾生為斷一切疑故說大真言王曰南麼三曼多勃馱喃阿娑摩補多達摩馱蘖登蘖哆喃暗欠暗噁糝索含鶴𡀩鑁嚩莎訶吽𡀩訶囉鶴莎訶𡀩莎訶

          (Kinh: Lúc bấy giờ, ngài Kim Cang Thủ thăng lên pháp b́nh đẳng quán nơi thân, ngữ, ư địa của Đại Nhật Thế Tôn, nghĩ tới vị lai chúng sanh, v́ đoạn hết thảy các mối nghi [của họ], bèn nói Đại Chân Ngôn Vương rằng: Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm. A sa ma bổ đa, đạt ma đà đô, nghiệt đăng nghiệt đá nẫm. Tát phạ tha, ám khiếm ám á, tảm sách, hàm hạc, lam lạc, văm phạ, sa ha hồng, lam lạc ha ra hạc. Sa ha lam lạc. Sa ha - Namaḥ samantabuddhānāṃ asamāptadharma-dhātugatiṃ gatānāṃ, sarvathā āṃ khāṃ aṃ aḥ saṃ saḥ haṃ haḥ raṃ raḥ vaṃ vaḥ svāhā hūṃ, raṃ raḥ hra haḥ svāhā, raṃ raḥ svāhā”).

 

          Khi đó, [chánh kinh nói] ngài Kim Cang Thủ thăng lên pháp giới b́nh đẳng quán đối với thân, ngữ, ư địa của Tỳ Lô Giá Na Như Lai, có nghĩa là: Ví như vị Bồ Tát ấy có thể biết thân, khẩu, ư mật của Như Lai, nên gọi là Bí Mật Chủ. Pháp ư mật của Như Lai chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu rốt ráo. Giống như ư, hăy nên biết thân và khẩu cũng giống hệt như thế. Nay vị Bồ Tát này cũng có thể biết, hăy nên biết là địa vị của Ngài giống như bậc đại giác, v́ muốn độ chúng sanh mà thị hiện làm Bồ Tát để khởi phát. “Thân mật” được nói ở đây chính là các ấn, như trong Đại Mạn-đồ-la bốn tầng, mỗi vị Bổn Tôn đều có mật ấn. Nếu quán thân ấn ấy, sẽ biết đức bí mật được biểu thị bởi vị tôn thánh ấy, tùy loại thượng, trung, hạ sai biệt mà có vô lượng loại. “Ngữ mật” tức là tất cả chân ngôn của chư tôn thánh. Nghe chân ngôn ấy, liền biết đức nội chứng của vị tôn thánh ấy. “Ư mật” tức là phép quán Bổn Tôn Du Già, cũng tùy theo phương vị trong bốn tầng [của Mạn-đồ-la] mà mỗi mỗi bất đồng, hễ tương ứng với điều này, sẽ nhập tạng bí mật trong Như Lai ư. Thân, ngữ, ư mật ở đây, trên là từ địa vị Phật, Bồ Tát và Nhị Thừa, [dưới là đến] chư thiên tám bộ, vô lượng sai biệt. Luận định rộng hơn, thậm chí như số vi trần trong mười thế giới, mỗi mỗi đều bất đồng. Nói đại lược, các địa vị được biểu thị trong kinh như thế đều nhằm biểu thị đức bí mật nơi thân, khẩu, ư của Như Lai. Nếu có thể biết rơ như thật, sẽ giống như Bí Mật Chủ. Nay Bí Mật Chủ Bồ Tát trụ trong pháp giới b́nh đẳng quán, v́ nghĩ tới chúng sanh trong đời vị lai, muốn khiến cho trọn khắp hết thảy [các chúng sanh ấy] đều xé toạc lưới nghi lớn, cho nên Ngài đối trước đức Phật mà nói Đại Chân Ngôn Vương. Phần kinh văn này dễ hiểu!

          “Nam ma tam mạn đa bột đà nẫm (Namaḥ samantabuddhānāṃ, quy mạng trọn khắp chư Phật), a sa ma bổ-đa (asamāpta, vô tận), đạt ma đà đô (dharmadhātu, pháp giới), nghiệt đăng nghiệt đá nẫm (gatiṃ gatānāṃ, siêu việt vô tận pháp giới. “Siêu việt” chính là tán thán đức nơi thân, khẩu, ư bí mật của Như Lai). “Tát phạ tha (sarvathā, trong hết thảy các thời thuộc mười phương ba đời, hết thảy nơi chốn, siêu việt vô tận pháp giới, mà có thể lợi ích trọn khắp hết thảy). Bốn chữ Ám Khiếm Ám Á (āṃ khāṃ aṃ aḥ) chính là bốn luân. Chữ thứ nhất là địa kim cang luân. Chữ thứ hai là thủy luân. Chữ thứ ba là hỏa luân. Chữ thứ tư là phong luân. Bản thể của chữ Ám (āṃ, आं) là kim cang giới thể, lại có âm dài là hạnh, hạnh tức là hỏa luân. Phía trên có cái chấm tức là Không luân, dùng để trang nghiêm. Kế đó, chữ Khiếm (khāṃ, खां) là thủy luân. Khư (kha - खा có nghĩa là Không, cũng có âm dài là hạnh, có cái chấm là Không, tức Đại Không. Chữ Ám (aṃ) kế tiếp là lửa. Trong tiếng Phạn, A-kiệt-nam (Agni) là lửa. Á (aḥ) là tánh Niết Bàn, màu đen tức là gió.

          Lại nữa, hư không vô sắc, mà có thể chứa đựng hết thảy các sắc tượng. Nay chữ Khư có hành, có chấm, tức là hết thảy các sắc tượng. Đại Không là cũng như hư không trọn đủ màu sắc, h́nh tượng của hết thảy các pháp. Cái Không ấy hoàn thành hết thảy các sự. V́ thế, chữ Khiếm được coi là nước. Sản sách (saṃ saḥ, đất), hám hạc (haṃ haḥ, gió), lam lạc (raṃ raḥ, lửa), văm phạ (nước). Như trong phần trên [đă nói] A () có bốn chữ, tức là [chữ A] âm dài (, ā), phía trên có chấm (अं, aṃ), và bên cạnh có hai chấm, [chữ A] âm ngắn cũng có chấm phía trên và hai chấm bên cạnh (अः, aḥ), hai âm ấy thành ra bốn chữ. Nay hăy nên biết các chữ như Sa () v.v… cũng giống như thế, đều có bốn chữ. Nay ở đây chỉ nêu ra âm ngắn, kết hợp hai chữ âm dài với hai chữ âm ngắn trước đó, chuẩn theo trên đây mà nói. Tảm sách hám hạc (saṃ saḥ haṃ haḥ) cũng như thế, các chữ khác đều phỏng theo lệ này).

          Lại luận định chung, chữ A là Phật Bộ, chữ Sa là Liên Hoa Bộ, chữ Phạ là Kim Cang Bộ, Phong và Hỏa dùng khắp ba bộ. Như trong Liên Hoa Bộ đều có đất, nước, lửa, gió. Nếu Tức Tai th́ cần kim cang luân h́nh vuông, nếu Tăng Ích th́ cần thủy luân, Hàng Phục cũng cần dùng hỏa luân v.v…, tùy loại mà dùng. Năm môn A, Sa, Ha, Ra, Phạ (, , , , ) này giống như năm tự luân trong phần trên, trong luân nào cũng đều có bốn luân kia. Như chữ Phạ trong Kim Cang Bộ đều có bốn luân, tùy thuộc làm các chuyện Tức Tai, Tăng Ích, Hàng Phục mà dùng theo từng loại. Nếu đọc các chân ngôn khác, tùy thuộc bộ loại có các chữ ấy, sẽ biết chỗ dùng của nó, mỗi chân ngôn đều có tác dụng chủ yếu nhất. Đoạn cuối c̣n chưa rơ, phải hỏi lại! Cũng có ba đạo chân ngôn: Hồng lam lạc (hūṃ, raṃ, raḥ - हूं, रं, रः) là thân chân ngôn. “Ha ra hạc (hraḥ haḥ - ह्रःहः) là ngữ chân ngôn. Lam lạc (raṃ raḥ - रं, रः) là ư chân ngôn.

          Ba đạo chân ngôn ấy thâu nhiếp pháp môn “thân, ngữ, ư b́nh đẳng” của Như Lai; nhưng đối với ba chân ngôn, nếu chú trọng chữ Sa Ha th́ cũng được, chẳng chú trọng cũng được. Khi hành giả đă hiểu ư, bèn tự xem xét phương tiện. Lại nữa, do chân ngôn này tối thắng nên gọi là Vương. Như trên đă nói, tuy mỗi chữ chân ngôn đều có bốn chữ, đều cùng chứa đựng trong đây, nhưng chỉ gọi mười hai chữ chân ngôn là Vương. Bốn thứ luân trong ấy, đều tùy thuộc địa, thủy, hỏa, phong luân mà gia tŕ thân A-xà-lê, ḥng đạt được tác dụng tự tại. Chân ngôn thân khẩu ư cũng cùng gia tŕ thân, khẩu, ư nghiệp. Chuyện này chưa rơ, cần phải hỏi thêm (Lại như cách sắp xếp chữ trong phần trước, nay ở đây dùng cách kết hợp riêng biệt, tức là thuận theo chữ tương ứng với năm sự mà liền thâu nhiếp để sử dụng, cũng cần phải thưa hỏi thêm).

 

          (Kinh) Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ thuyết thử Chân Ngôn Vương dĩ, thời nhất thiết Như Lai trụ thập phương thế giới, các thư hữu thủ, ma Chấp Kim Cang đảnh, dĩ “thiện tai” thanh, nhi xưng tán ngôn: - Thiện tai, thiện tai, Phật tử! Nhữ dĩ siêu thăng Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn thân ngữ ư địa, vị dục chiếu minh nhất thiết phương sở, trụ b́nh đẳng Chân Ngôn đạo chư Bồ Tát cố, thuyết thử Chân Ngôn Vương. Hà dĩ cố? Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, Ứng, Chánh Đẳng Giác tọa Bồ Đề ṭa, quán thập nhị cú pháp giới, hàng phục tứ ma, thử pháp giới sanh, tam xứ lưu xuất, phá hoại thiên ma quân chúng. Thứ đắc Thế Tôn thân ngữ ư b́nh đẳng, thân lượng đẳng đồng hư không, ngữ ư lượng diệc như thị, đăi đắc vô biên trí sanh, ư nhất thiết pháp tự tại nhi diễn thuyết pháp, sở vị thử thập nhị cú chân ngôn chi vương. Phật tử! Nhữ kim hiện chứng Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn b́nh đẳng thân ngữ ư cố, chúng sở tri thức, đồng ư Chánh Biến Tri giả.

          ()持金剛祕密主說此真言王已時一切如來住十方世界各舒右手摩執金剛頂以善哉聲而稱歎言善哉善哉佛子汝已超昇毘盧遮那世尊身語意地為欲照明一切方所住平等真言道諸菩薩故說此真言王何以故毘盧遮那世尊正等覺坐菩提座觀十二句法界降伏四魔此法界生三處流出破壞天魔軍眾次得世尊身語意平等身量等同虛空語意量亦如是逮得無邊智生於一切法自在而演所謂此十二句真言之王佛子汝今現證毘盧遮那世尊平等身語意故眾所知識同於正遍知者

    (Kinh: Ngài Tŕ Kim Cang Bí Mật Chủ nói Chân Ngôn Vương ấy xong, khi đó, hết thảy Như Lai trụ trong mười phương thế giới, đều duỗi tay phải xoa đỉnh đầu Chấp Kim Cang, dùng tiếng “lành thay” để khen ngợi rằng: - Lành thay! Lành thay! Phật tử! Ông đă siêu thăng địa vị thân, ngữ, ư của Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, v́ muốn chiếu sáng các vị Bồ Tát trụ trong đạo Chân Ngôn b́nh đẳng thuộc hết thảy các phương sở mà nói Chân Ngôn Vương này. V́ lẽ nào? Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, Ứng, Chánh Đẳng Giác ngồi ṭa Bồ Đề, quán mười hai câu pháp giới, hàng phục tứ ma. Pháp giới này sanh, ba chỗ lưu xuất, phá hoại bè lũ binh lính thiên ma. Kế đó, đạt được thân ngữ ư b́nh đẳng của Thế Tôn, thân lượng bằng với hư không, ngữ lượng và ư lượng cũng như thế, đạt được vô biên trí sanh, tự tại trong hết thảy các pháp để diễn nói pháp, tức là vua của mười hai câu chân ngôn này. Phật tử! Do ông nay đă hiện chứngthân ngữ ư b́nh đẳng của Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, được mọi người hay biết, bèn đồng hàng với bậc Chánh Biến Tri).

 

          “Xoa đỉnh đầu” ở đây không phải là mười phương chư Phật đều duỗi tay sang cơi này để xoa đỉnh đầu Bồ Tát. Khi Bí Mật Chủ đối trước đức Phật nói Chân Ngôn Vương này, liền do [thần lực của] Chân Ngôn Vương mà hiện thân trước mỗi đức Như Lai trong hết thảy các thế giới khắp mười phương, dùng âm thanh b́nh đẳng trọn khắp để cùng lúc nói. V́ thế, hết thảy Như Lai, mỗi vị đều duỗi tay xoa đỉnh đầu Ngài. “Việt” có nghĩa là siêu nhập. Như đức Tỳ Lô Giá Na ngồi đạo tràng trên A Ca Ni Trá Thiên (Akaniṣṭha, Sắc Cứu Cánh Thiên), do Chân Ngôn Vương này, đạt được tác dụng thân khẩu ư rốt ráo b́nh đẳng tự tại. Ông nay cũng được siêu nhập địa vị thuộc pháp thân khẩu ư b́nh đẳng như thế, bằng với đức Tỳ Lô Giá Na. Đấy chính là hết thảy các đức Như Lai tán thán đức chân thật của Bồ Tát. Nói “ông đă đạt được địa vị b́nh đẳng như thế, v́ muốn lợi ích trọn khắp hết thảy chúng sanh, v́ muốn soi sáng cho các Bồ Tát tu chân ngôn hạnh, trừ tối tăm cho họ. V́ thế, nói Chân Ngôn Vương này”, [hàm ư]: Chân Ngôn Vương có thể xé toạc lưới nghi trong hết thảy pháp giới. “Nghi” tức là tối tăm. Có thể đoạn hết thảy nghi hoặc tức là đă chiếu sáng. V́ sao vậy? Nay đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, Ứng, Chánh Đẳng Giác ngồi ṭa Bồ Đề, quán chân ngôn mười hai chữ, hàng phục tứ ma. Pháp giới ấy hiện sanh ba xứ, lưu xuất bậc hàng phục thiên ma, tức là khi Đại Nhật Như Lai ngồi đạo tràng, b́nh đẳng quán pháp giới, nói mười hai câu Chân Ngôn Vương này, liền do sức ấy, có thể đánh bại tứ ma, trừ tội cấu cho họ. Nhưng trong bốn loại ma, ba loại ma (phiền năo ma, tử ma, ngũ ấm ma) là vô sắc, khi đức Phật ở A Ca Ni Trá Thiên đă hàng phục rồi. Chỉ có thiên ma hữu tướng, v́ muốn cho thế giới biết đến sức tự tại, lại ở trong cơi này mà thị hiện hàng phục thiên ma.

          “Ba chỗ” là như trong phần trước đă nói: Phần trên của thân Phật lưu xuất hết thảy chư Như Lai, phần giữa từ tim tới rốn, lưu xuất hết thảy Bồ Tát, phần dưới từ rốn tới chân lưu xuất hết thảy các thiên thần thuộc tám bộ. Đều là phổ môn thị hiện từ tam nghiệp b́nh đẳng của Như Lai, phơi bày các phần vị trang nghiêm trong Đại Mạn-đồ-la Thai Tạng, tức là chân ngôn và ấn của Bổn Tôn. Hăy nên biết: Khi đức Phật từ đức nội chứng mà hiện ra chuyện như thế, ngay lập tức, hàng phục tứ ma trọn khắp, chẳng c̣n thừa sót. Nay khi A-xà-lê muốn tạo Mạn-đồ-la, cũng cần phải nghĩ bản thân giống như đức Tỳ Lô Giá Na, liền đạt được sức tự tại, cũng giống như đức Phật ấy có thể hàng phục tứ ma.

          Kế đó, đức Thế Tôn thân, ngữ, ư b́nh đẳng, đạt được lượng bằng hư không. Ngài đạt được thân ngữ ư như thế, đắc trí như thế, tự tại trong hết thảy các pháp, tức là đức Phật ngồi nơi đạo tràng kim cang, vừa mới nghĩ tới ba đạo chân ngôn ấy, tức là ba chân ngôn thân, khẩu, ư như vừa mới nói. Trong khi nghĩ như thế, liền đạt được địa vị thân, khẩu, ư b́nh đẳng, thân và ngữ ư đều là cái Thể của pháp giới, chẳng có ngằn mé như hư không. Ngài liền dùng sức như thế để hàng phục tứ ma. Trong phần trước đă nói ba đạo, có một cách giải thích như sau: Ba đạo chân ngôn ấy, tức sức b́nh đẳng tự tại nơi thân, khẩu, ư, đều từ Phật mà ra. Do ba đạo chân ngôn thân, khẩu, ư ấy, Như Lai siêu nhập địa vị tam b́nh đẳng, thuận theo các loại thượng, trung, hạ mà phổ môn thị hiện đủ loại thân Bổn Tôn, đủ loại chân ngôn, đủ loại ấn pháp, giống như hư không chẳng có ngằn mé, trọn khắp pháp giới độ quần sanh, rốt ráo đều khiến cho họ được siêu nhập địa vị tam b́nh đẳng như thế. Thân trọn đủ vô lượng công đức, giống như hư không chẳng thể biết hạn lượng, ngữ và ư cũng thế. Do quán chân ngôn này, đạt được công đức như thế, giống như Như Lai. Do tam nghiệp vô tận, nếu đáng nên dùng thân để độ người khác, liền hiện trọn khắp đủ loại sắc thân. Nếu đáng nên dùng ngữ để độ người khác, liền phổ môn thị hiện đủ loại ngôn ngữ, tùy theo cơ nghi mà chỉ dạy, khiến cho họ được nhập tri kiến của Phật. Nếu đáng nên dùng ư để độ người khác, cũng đủ loại cảm thông như thế, chẳng thể cùng tận!

          Không chỉ thân, ngữ, ư chẳng có hạn lượng, trọn đủ hết thảy các công đức đều giống như hư không. Hăy nên biết trí huệ cũng đạt được giống như thế, chẳng có hạn lượng giống như hư không. Nếu đạt được diệu trí vô ngại như thế, tức là đạt được tự tại trong hết thảy các pháp, giống như đức Thế Tôn. Nói “tự tại” tức là trong hết thảy, không chuyện ǵ chẳng tự tại! Hết thảy các loài chúng sanh do chưa thấu hiểu rốt ráo pháp giới thanh tịnh, đều thuộc trong lồng rọ của nghiệp phiền năo, hệ thuộc sanh tử, chẳng thể đạt được sức tự tại. Nay đức Như Lai ở trong biển cả sanh tử, dùng đủ loại pháp môn để tuyên nói, chỉ bày pháp yếu bí mật của Như Lai, v́ một đại sự nhân duyên mà dùng đủ loại phương tiện để thành tựu, đều khiến cho họ đạt đến địa vị Nhất Thiết Trí. Đó chính là ư nghĩa “tự tại trong hết thảy các pháp”. Do chứng pháp như thế, được tự tại trong các pháp. Do tự tại, bèn có thể diễn nói vô ngại, khéo léo tùy thuận các căn cơ. Sở dĩ Như Lai đạt được lực dụng tự tại như thế, đều do quán pháp môn “mười hai tự luân” này. Hăy nên biết pháp môn mười hai chữ này chính là thể tánh của pháp giới!

 

          (Kinh) Nhi thuyết kệ ngôn: - Nhữ vấn Nhất Thiết Trí, Đại Nhật Chánh Giác tôn, tối thắng Chân Ngôn hạnh, đương diễn thuyết pháp giáo. Ngă văng tích do thị, phát giác diệu Bồ Đề, khai thị nhất thiết pháp, linh chí ư diệt độ. Hiện tại thập phương giới, chư Phật hàm chứng tri.             

          ()說偈汝問一切智,大日正覺尊,最勝真言行,當演說法教。我往昔由是,發覺妙菩提,開示一切法,令至於滅度,現在十方界,諸佛咸證知。

          (Kinh: Bèn nói kệ rằng: - Ông hỏi Nhất Thiết Trí, đấng Đại Nhật Chánh Giác, hạnh Chân Ngôn tối thắng, sẽ diễn nói pháp giáo. Ta xưa kia do vậy, giác ngộ diệu Bồ Đề, khai thị hết thảy pháp, khiến đạt tới diệt độ. Mười phương cơi hiện thời, chư Phật đều chứng biết).

 

          Khi đó, mười phương chư Phật thấy ngài Kim Cang Thủ nói chân ngôn ấy, giống như đạo của cổ Phật. Hết thảy các Như Lai chúng ta cũng do quán mười hai tự môn này mà thành thân mầu nhiệm rốt ráo tột bậc, các đức Thế Tôn trong vị lai cũng sẽ giống như thế. V́ thế, [chư Phật] đại hoan hỷ, xoa đỉnh đầu Bồ Tát, mà bảo như thế này: Hết thảy chư Phật do tự tại trong các pháp, v́ một đại sự nhân duyên mà dùng thân, miệng, ư b́nh đẳng để nói pháp môn này. Ông nay cũng lại có thể nói giống như thế, tức là cũng chứng pháp này giống như Như Lai! Ngài Kim Cang Tạng tuy chưa lập tức thấu hiểu rốt ráo Nhất Thiết Chủng Trí, nhưng giống như diệu giác Thế Tôn, chỉ v́ được thần lực của mười phương chư Phật cùng nhau gia tŕ, cho nên ở trong đại hội cũng có sở chứng bằng với Như Lai. Nếu ĺa thần lực gia tŕ, cũng sẽ chẳng thể rốt ráo bằng với Như Lai được! V́ thế, thiện nam tử! Tỳ Lô Giá Na Phật chứng thân ngữ ư b́nh đẳng, hết thảy chư Phật biết như thế. “Biết” là danh xưng khác của “giác”. Do biết hạnh phổ môn vô tận của các Như Lai, chứng ba thứ b́nh đẳng của Như Lai, tức là biết tạng Thân Mật của Như Lai, cũng biết tạng bí mật vi diệu ngữ và ư. Nếu chứng biết pháp này tức là bằng với Như Lai. Tán thán, ấn khả như thế xong, lại thỉnh cầu Như Lai. V́ lẽ nào vậy? Tạng sâu mầu như thế, chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu cùng tận. V́ thế, hết thảy các Bồ Tát, không ai có thể nêu câu hỏi!

          Nay mười phương Phật cùng dùng thần lực gia tŕ ngài Kim Cang Thủ, v́ lợi ích hết thảy chúng sanh, nay nương vào thần lực của chư Phật mà thưa hỏi Đại Nhật Như Lai. Hỏi chuyện ǵ ở đây? Hàm ư những chuyện đă nói trước đó vốn có ư nghĩa sâu xa, bí mật, do vẫn chưa [được giảng nói] trọn vẹn (lại phải hỏi chỗ tột bậc trọng yếu). “Nhất Thiết Trí thành” chính là Đại Nhật Như Lai. Ư nghĩa của chữ Bạc Già Phạm gồm có sáu ư nghĩa, trong phần trước đă giải thích. Đức Tỳ Lô Giá Na như mặt trời xuất hiện trong cơi đời, có thể trừ khử tối tăm, có thể thành tựu tất cả sự nghiệp của hết thảy chúng sanh, các loài sống trên đại địa không ǵ chẳng được lợi ích. Vầng mặt trời đại huệ Thật Tướng tự nhiên ấy cũng lại như thế, nếu có chúng sanh biết rơ, tự chứng, như gió mạnh lùa mây, mặt trời, mặt trăng xuất hiện, [Phật] cũng có công sức giống như thế, tạo lợi ích to lớn trong khắp pháp giới, như ánh sáng mặt trời chiếu thế gian. “Chủ” là do được tự tại trong các pháp, nên gọi là Chủ. Nay chư Phật dạy ngài Kim Cang Thủ hỏi Đại Nhật Như Lai chuyện bí mật thuộc về hạnh cú Chân Ngôn. Nói theo phương diện thù thắng th́ tự giáo rộng lớn, do pháp môn “một chữ” mà thấu đạt hết thảy các pháp, chứng đắc “thân, khẩu, ư b́nh đẳng” chẳng thể cùng tận của mười phương ba đời Như Lai. V́ thế, gọi là Thắng. “Giáo” tức là tên gọi khác của pháp tắc. “Pháp” có nghĩa quỹ tắc (軌則: khuôn khổ, đường lối). Do vậy, khi xưa ta phát Bồ Đề tâm, [chứng đắc] Vô Thượng Bồ Đề, tuyên nói hết thảy pháp Niết Bàn của ta, cho tới chư Phật Thế Tôn trong các thế giới hiện thời, cũng nói “chúng ta khi xưa lúc hành Bồ Tát đạo, cũng do Chân Ngôn môn như thế mà thành tựu trí tự nhiên, lại v́ hết thảy chúng sanh diễn nói như thế, đều khiến cho họ đạt tới Đại Niết Bàn”. Duyên khởi của câu nói “ta nay” rất sâu, hết thảy những ai có tâm c̣n chẳng thể nêu câu hỏi, huống hồ có thể tin hiểu ư? Chỉ có mười phương hết thảy các đức Như Lai cùng đạt tới pháp này, có thể chứng đắc trọn chẳng hư dối! Ông nay đă đạt được hạnh mà chúng ta đă từng thực hiện; do vậy, hăy nên thưa hỏi Như Lai.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, cụ đức Kim Cang Thủ tâm đại hoan hỷ, chư Phật oai thần sở gia tŕ cố, nhi thuyết kệ ngôn: “Thị pháp vô hữu tận, vô tự tánh, vô trụ, ư nghiệp sanh giải thoát, đồng ư Chánh Biến Tri, chư cứu thế phương tiện, tùy ư bi nguyện chuyển, khai ngộ Vô Sanh Trí. Chư pháp như thị tướng”. Thời, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ phục thuyết ưu-đà-na kệ, thỉnh vấn Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn, ư thử Đại Bi Tạng Sanh Đại Mạn-đồ-la, quyết đoạn sở nghi, vị vị lai thế chư chúng sanh cố: - Dĩ đoạn nhất thiết nghi, Chủng Trí ly nhiệt năo, ngă vị chúng sanh cố, thỉnh vấn ư đạo sư.                   ()爾時具德金剛手心大歡喜諸佛威神所加持故說偈是法無有盡,無自性無住,於業生解,同於正遍知。諸救世方便,隨於悲願轉,開悟無生智,諸法如是相。時執金剛祕密主復說優陀那請問毘盧遮那世尊於此大悲藏生大漫荼羅決斷所疑為未來世諸眾生故已斷一切疑,種智離熱惱,我為眾生故,請問於導師。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, bậc trọn đức Kim Cang Thủ tâm hoan hỷ to lớn, do được oai thần của chư Phật gia tŕ, bèn nói kệ rằng: “Pháp này chẳng cùng tận, vô tự tánh, vô trụ. Nơi nghiệp sanh giải thoát, cùng nơi Chánh Biến Tri, các phương tiện cứu đời, tùy theo bi nguyện chuyển, khai ngộ Vô Sanh Trí. Tướng các pháp như thế”. Khi đó, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ lại nói kệ ưu-đà-na, thưa hỏi đức Tỳ Lô Giá Na Thế Tôn để quyết đoạn nghi vấn trong Đại Bi Tạng Sanh Mạn-đồ-la này, v́ các chúng sanh trong vị lai [mà nói]: - Đă đoạn hết thảy nghi, Chủng Trí ĺa nhiệt năo. Con do v́ chúng sanh, thưa hỏi đấng đạo sư).

         

          Khi đó, ngài Chấp Kim Cang là bậc trọn đức, do đă nắm giữ trí ấn của Như Lai, tức là trọn đủ các thứ công đức của hết thảy chư Phật, đều có cùng một vị, thường gọi là “vị giải thoát của Như Lai”. Do trí ấn ấy giống như Như Lai, cho nên nói là “trọn đức”. Khi đó, vị Bồ Tát ấy do được các đức Như Lai cùng gia tŕ, do đại hoan hỷ, liền biết sâu xa lời nói của Như Lai, cũng biết tâm của Như Lai. Trước đó, do chưa thấu đạt nên chẳng thể hỏi, nay đều do tự tại, nên có thể thưa hỏi Như Lai, chẳng có nghi nan. Nay muốn hỏi Như Lai, bèn trước đó tán thán đức của pháp giới, bèn nói kệ rằng: Pháp ấy vô tận, mà cũng chẳng có tự tánh. “Tận” là có khởi đầu và kết thúc, có sanh, có diệt. Do có sanh diệt, tức là có pháp khởi lên và tận diệt. Nhưng nay tánh của pháp giới b́nh đẳng ĺa các lỗi như thế, chẳng có khởi đầu hay kết thúc. Do chẳng sanh diệt, có nghĩa là “chẳng thể tận”. “Vô tận” là tên gọi khác của vô tướng. Do vô tận, nên hết thảy các pháp đều chẳng có tự tánh, chẳng lay động, chẳng có thay đổi, mà cũng chẳng có trụ xứ. A Lại Da có nghĩa là pḥng, hoặc chứa đựng. Nay trong pháp giới b́nh đẳng chẳng có tướng nhận lấy, chứa đựng như thế; do đó chẳng có trụ xứ. Nếu hết thảy các pháp đều vô tự tánh, tức là vô tác. Do vô tác nên chẳng có quả báo sanh diệt v.v… vốn sẵn tịch diệt, là tướng thường tự tịch diệt, tức là cùng giải thoát chẳng thể nghĩ bàn.

          Chư Phật có cùng một địa vị, pháp tịch diệt rất sâu như thế, hết thảy danh từ, lời lẽ đều chẳng thể diễn tả được, chẳng có ǵ để có thể thí dụ được, chỉ có Phật cùng chứng biết là có thể thí dụ. V́ thế nói là “đồng ư Chánh Giác”. Nhưng hết thảy các pháp rốt ráo là vô sanh, vô tác. Nói “rốt ráo” tức là chẳng có các thừa phân biệt sai khác, hết thảy các địa vị thánh nhân liền đọa trong đoạn diệt mà chứng nơi thật chứng, do chẳng thể lợi ích hết thảy. Kế đó, nói “phương tiện Phật” v.v… do bi nguyện mà chuyển vô tướng giáo để khơi gợi, phát khởi sự giác ngộ đối với tướng như thế. Do trọn đủ phương tiện, có thể thỏa măn hết thảy các sở nguyện. Phương tiện ấy chính là đại bi nguyện. Do đại bi nguyện ấy, sẽ có thể chuyển. Ở trong pháp vô tướng ấy, không ai có thể nói, không ai có thể biểu thị, nhưng có thể khiến cho hết thảy đạt được và cũng tự chứng đắc. Hăy nên biết đó là sức đại phương tiện vậy. Pháp này không ai có thể dạy bảo, chẳng do người khác giác ngộ mà là tự chứng đắc, tức là trí tự giác vô sư, tự nhiên thành Phật đạo, nơi đạo tràng hiện tịch tĩnh, giác ngộ pháp Thật Tướng như thế. Đấy đều là lời kệ, phần sau sẽ nói thêm!

          Lại nữa, nếu nói “pháp giới vô tận, chẳng có khởi đầu hay kết thúc”, tức là đoạn diệt, chẳng thể tạo lợi ích cho chúng sanh! V́ sao vậy? Đă tạo phần hạn trong sanh tử, tức là thuộc về trần lao. Đối với Như Lai chủng, nếu hết thảy vô sanh, vô tánh, th́ cũng chẳng có trụ xứ, sao có thể v́ khắp thế gian làm các Phật sự cho được? Nhưng các vị Bồ Tát có hai sự, nên chẳng đọa trong đoạn diệt, tức là đại bi và phương tiện. Do có hai sự ấy, có thể tự khai phát. “Khai phát” được nói ở đây chính là Bồ Đề tâm tự nhiên khai phát. Nếu do ngôn thuyết và biểu thị ấy, do người khác dạy cho giác ngộ mà có thể đạt được trí huệ vô sư tự nhiên như thế, chẳng có lẽ ấy! V́ cớ sao vậy? Chỉ v́ hành giả tự giác như thật, tự quán pháp giới vô tận đúng như thật, cho nên đạt được trí huệ Thật Tướng ấy, chẳng do người khác mà ngộ. Kinh có ư nói “pháp tướng là như thế”, cho nên nói “như thị tướng”. Đă đạt được pháp Thật Tướng như thế, liền dùng pháp đại bi phương tiện này mà v́ chúng sanh khai thị, diễn nói, nhưng thật ra [người được giáo hóa] chẳng do ai khác mà ngộ, chẳng do người khác truyền dạy mà đạt được. Như người mù hỏi sữa có màu sắc giống như ǵ, thậm chí nghe nói màu sữa giống như tuyết, liền nghĩ là sữa lạnh. Lại nghe nói giống như hạc, bèn nghĩ là sữa sinh động. Thậm chí dùng đủ loại thí dụ, phương tiện để biểu thị mà [người mù ấy] trọn chẳng thể hiểu [màu sắc của sữa là như thế nào], chỉ tăng thêm so đo hư vọng mà thôi. V́ lẽ nào vậy? Do mắt người ấy chẳng sáng.

          Đệ Nhất Nghĩa Đế cũng thế, nếu chẳng như thật tự biết rơ, dẫu người khác khơi gợi, hướng dẫn đủ mọi cách, trọn chẳng đắc lư! Nếu ai chẳng tự khai phát pháp nội chứng như thế, mà v́ người khác nói, muốn làm cho kẻ ấy ngộ, cũng chẳng có lẽ ấy! V́ cớ sao vậy? Như kẻ chẳng có chân, ḥ hét nói với mọi người như thế này: “Ta sẽ v́ các ngươi mà lên núi Diệu Cao”. Hăy nên biết kẻ đó ắt bị người trí chê cười. V́ lẽ nào vậy? Nếu chính ḿnh chẳng có chân, c̣n chẳng thể tự lên chỗ kém cao hơn núi chúa Diệu Cao, huống hồ có thể lên được chỗ cao tột trong hết thảy ư? Lại như có kẻ chưa thể vượt qua sóng gió nơi biển cả, mà bảo người khác rằng: “Ta sẽ độ quư vị vượt qua bờ kia”. Hăy nên biết chuyện đó cũng chẳng thể được! Hành nhân cũng như thế, nếu chưa tự giác trí huệ vô sư, mà muốn khiến cho người khác nghe pháp đắc ngộ, ắt chẳng có lẽ ấy!

          Khi đó, ngài Kim Cang Chủ dùng bài kệ ấy để tán thán Như Lai xong; kế đó, nói kệ ưu-đà-na để thưa hỏi đức Phật. Ưu-đà-na (Udana) nghĩa là Tổng Nhiếp. Do dùng nghĩa lư trong một bài kệ để thâu nhiếp các pháp ly tướng, vô lượng pháp nghĩa trong vô tận pháp giới. V́ thế nói là Nhiếp. Tán thán, nói kệ xong, nghĩ tới các chúng sanh tu Chân Ngôn hạnh trong vị lai, đối với Đại Bi Tạng Sanh Mạn-đồ-la này do thiếu khuyết, họ sẽ chẳng thể nhanh chóng thành Vô Thượng Bồ Đề. Do vậy, kế đó, Ngài hỏi đức Phật về phương tiện bí yếu. “Đoạn hết thảy nghi”: Nếu chẳng thể đoạn trọn khắp các thứ lưới nghi của chúng sanh, sẽ chẳng gọi là bậc Nhất Thiết Trí. Bởi lẽ, trong hết thảy các pháp, tự ḿnh đă ĺa lưới nghi, th́ mới có thể đoạn lưới nghi cho người khác. Nay Phật đă tự đoạn hết thảy lưới nghi. V́ thế, con nay thưa hỏi, nguyện Phật v́ con đoạn nghi. “Ĺa nhiệt năo” tức là vĩnh viễn đoạn trừ gốc rễ Tam Độc. Nay con v́ hết thảy chúng sanh, thưa hỏi đấng Đạo Sư, do trong hết thảy các pháp có thể hướng dẫn khiến cho đạt được Phật huệ, nên gọi là “đại đạo sư”.

          Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Kinh Sớ

Phần chín hết

 

 

 

 

 

 

 



[1] Ở đây lời chú giải nói duỗi hai ngón út và áp út, dựng thẳng ngón cái, tức là cả ba ngón duỗi ra, trong khi chánh kinh chỉ nói duỗi hai ngón út và trỏ, các ngón khác gập vào ḷng bàn tay. Không biết đây là có phải là lỗi sai sót do khắc ván hay không?

[2] Tâm đại chủng tức là tâm sanh từ Tứ Đại, tức cái tâm vật chất.

[3] Chánh kinh nói “dĩ Hư Không luân tŕ Thủy luân đệ nhị tiết” (dùng ngón cái bấm vào lóng thứ hai của ngón áp út), lời Sớ lại nói: “Dĩ Không niếp Địa chỉ đệ nhị tiết” (bấm ngón cái vào lóng thứ hai của ngón út). Đây có lẽ là sai sót trong khi sao chép hay khắc ván, không rơ ngón nào mới là đúng, nhưng lời Sớ nhiều lượt nhắc tới ngón út trong khi giải thích ấn này, có lẽ ngón út mới là đúng.



[4] Kiếp Bát La (Kapāla) có nghĩa là cái chén làm bằng nửa trên của xương sọ. Các vị tôn thánh phẫn nộ trong Mật giáo thường được miêu tả cầm cái chén này, đựng đầy máu tươi. Hiện thời, chén Kiếp Bát La được dùng như vật phẩm để đựng các thứ cúng dường trong Mật giáo Tây Tạng, nhưng thường làm bằng đồng.

[5] Giá Văn Trà c̣n được ghi là Chamundi, Charchika, hoặc Chamundeshwari, là một trong bảy vị Matrika (Thất Mẫu). Theo truyền thống Mật Giáo Tây Tạng, vị này là thủ lănh của sáu mươi bốn (có thuyết nói là tám mươi mốt) Du Già Nữ (Yoginis). Họ là tùy tùng của Tuyết Sơn Thần Nữ (Parvati, tức Ô Ma Thiên Phi, vợ của Đại Tự Tại Thiên). Ấn Độ giáo coi vị này là thân hóa hiện của Parvati, hoặc Hắc Thiên Nữ (Kali), hoặc Nan Cận Mẫu (Durga) tùy thuộc quan niệm của từng bộ phái.

[6] Vīṇā là một loại đàn của Ấn Độ (thường được viết là Veena, Vina, Bina, hay Beena, tùy theo khẩu âm của từng vùng). Đây là một loại nhạc khí rất lâu đời, hiện thời vẫn sử dụng rất phổ biến tại Ấn Độ (nhất là trong các đền thờ Ấn giáo). Thần thoại Ấn Độ nói loại đàn này do thần Shiva sáng chế. Loại đàn này khá cồng kềnh, cán dài từ 1 đến 2 m, chia thành hai mươi bốn phím đàn. Đầu cán đàn uốn cong, có trục để lên dây, đầu cán đàn và bầu đàn thường là hai quả bầu rất to, thân đàn có h́nh thuôn thuôn như quả lê. Đàn có bốn dây chính và ba dây phụ. Người chơi đàn đeo vuốt bằng kim loại ở hai ngón cái và ngón trỏ để khảy, vuốt dây đàn. Các dây phụ có âm trầm thấp, rền rĩ, thường được búng bằng ngón út. Loại đàn này có rất nhiều biến thể như Rudra veena, Sarawasti veena, Vichitra veena, sitar, surbahar v.v… tùy thuộc cách cấu tạo bầu cộng hưởng, số dây, có phím hay không phím v.v…

[7] Đàn sắt () là một loại đàn thời cổ, có h́nh chữ nhật dài (to thô hơn đàn cầm, đàn cầm mảnh mai hơn nhiều), gồm hai mươi lăm dây. Dưới các dây đàn có các con nhạn (tức các khối gỗ đỡ h́nh tam giác tù có thể di chuyển để điều chỉnh độ căng của dây đàn). Loại đàn này phải đánh hai tay bằng cách búng dây, phổ biến nhất vào đời Hàn và thường dùng để ḥa tấu với đàn Cổ Cầm. Sang đời Tần, loại đàn này bị không được sử dụng nữa, và bị thay thế bởi đàn Tranh.

[8] Graha vừa có nghĩa là chấp diệu (chín ngôi sao, tức mặt trời, mặt trăng, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, La Hầu, Kế Đô), vừa là tên một loại quỷ chuyên bám vào con người khiến cho họ khủng hoảng.

[9] Trong bản dịch của Rolf W. Giebel, chữ cuối trong tiếng Phạn của chú này chỉ ghi là Ha, trong khi bản Hán ghi là Sa Ha.

[10] Mạn-đồ-la (Maṇḍala) có nghĩa gốc là “ṿng tṛn”.

[11] Yết Ma Bộ chính là một trong năm bộ của Kim Cang (tức Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, Bảo Bộ, Kim Cang Bộ và Yết Ma Bộ). “Bộ” có nghĩa là tập hợp các vị tôn thánh thể hiện các khía cạnh thuộc về công đức, phẩm chất, thuộc tánh của một trong ngũ trí của Như Lai. Yết Ma Bộ biểu thị phẩm đức nghiệp dụng hóa độ người khác, tức là Phật v́ độ chúng sanh mà rủ ḷng bi mẫn, thành tựu hết thảy các sự nghiệp. Bộ này lấy Bất Không Thành Tựu Phật làm Bộ Chủ, Bộ Mẫu là Nghiệp Ba La Mật Bồ Tát, thể hiện lực dụng của Thành Sở Tác Trí. Bộ này bao gốm các vị Bồ Tát như Kim Cang Câu, Kim Cang Tỏa, Kim Cang Sách, Kim Cang Linh v.v… Do trong Thai Tạng Giới chỉ có ba bộ (Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, và Kim Cang Bộ) nên không nói đến Bảo Bộ và Yết Ma Bộ. Tuy chỉ có ba bộ, nhưng vẫn trọn đủ ư nghĩa của ngũ bộ.

[12] Ư nói: Khi chữ Tất Đàm c̣n thông dụng, đứa trẻ đi học đều phải học các tự mẫu này. Để ghi nhớ, chúng nó cũng phải xướng bốn mươi hai chữ cái và ghép với bốn âm a, ā, aṃ, aḥ để nhớ cách đọc, giống như phần tự luân ở đây. Có một số vùng tại Ấn Độ khi dạy mẫu tự Hindi cho trẻ vẫn áp dụng cách này.