Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú, phần 3
地藏菩薩本願經科注
古鹽匡菴青蓮苾芻靈椉父輯
Cổ Diêm, Khuông Am Thanh Liên bật-sô
Linh Thừa biên soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang
Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản in trong tháng Bảy
năm 2017
của Phật Đà Giáo Dục
Cơ Kim Hội, Đài Loan)
Giảo chánh: Đức Phong và
Huệ Trang
3.2. Chánh Thuyết Phần
Chia thành
bốn đoạn:
- Phẩm
Phân Thân Tập Hội, nói về vị hóa chủ.
- Ba phẩm
Nghiệp Duyên, Nghiệp Cảm, Vấn Ngục nói rơ những
căn cơ được hóa độ.
- Ba phẩm
Như Lai Tán Thán, Lợi Ích Tồn Vong, và Diêm La Tán Thán nói về duyên
độ thoát.
- Hai phẩm
Xưng Danh Hiệu Phật và Giảo Lượng Bố
Thí nói về cái nhân thành Phật.
3.2.1. Phân Thân Tập Hội phẩm
đệ nhị (分身集會品第二)
3.2.1.1. Phẩm văn (kinh văn trong phẩm
này)
3.2.1.1.1. Địa Tạng lai
nghi (Địa
Tạng Bồ Tát đến dự pháp hội)
3.2.1.1.1.1. Tự phân thân Địa
Tạng (trần thuật phân thân của Địa
Tạng Bồ Tát)
(Kinh)
Nhĩ thời bách thiên vạn ức bất khả tư,
bất khả nghị, bất khả lượng, bất
khả thuyết, vô lượng A-tăng-kỳ thế giới,
sở hữu địa ngục xứ, phân thân Địa
Tạng Bồ Tát, câu lai tập tại Đao Lợi thiên
cung.
(經)爾時百千萬億不可思‧不可議‧不可量‧不可說‧無量阿僧祇世界‧所有地獄處‧分身地藏菩薩‧俱來集在忉利天宮。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
phân thân của Địa Tạng Bồ Tát ở tất cả
các chỗ có địa ngục trong trăm ngàn vạn ức
bất khả tư, bất khả nghị, bất khả
lượng, bất khả thuyết[1],
vô lượng A-tăng-kỳ thế giới, đều
nhóm đến cung trời Đao Lợi).
“Nhĩ
thời” (Lúc bấy giờ) chính
là lúc đức Như Lai mỉm cười, phóng quang, mây
quang minh phát ra âm thanh, trời, rồng, quỷ, thần cùng
tụ tập. Bởi lẽ, phân thân của đức
Địa Tạng trong các cơi nước khắp mười
phương nhiều như cát, đă trông thấy quang minh
và nghe âm thanh, liền cùng đại chúng nhóm đến. Chỉ
là không nói rơ ngay, cho nên thành ra nói có trước sau, chẳng
phải là [đức Phật và ngài Văn Thù] hỏi
đáp xong xuôi mới đến. “Trăm ngàn vạn ức”
là số lượng. Theo toán kinh (sách dạy tính toán) của
Chấn Đán (Trung Hoa), bắt nguồn từ thời
Hoàng Đế, số đếm có đến mười
mấy loại: Ức, triệu, kinh, tỷ, cai, nhưỡng,
câu, giản, chánh, tải. Nói theo thói quen th́ từ ngàn sanh ra
vạn (萬), vạn sanh ra ức (億), ức sanh triệu (兆), triệu sanh kinh (京), kinh sanh tỷ (秭), tỷ sanh cai (垓), cai sanh nhưỡng (壤), nhưỡng sanh câu (溝), câu sanh giản (澗), giản sanh chánh (正), chánh sanh tải. Tải
(載) [ngụ ư] “đất chẳng
thể chở nổi!”. Nay nói rơ về bốn con số
đầu tiên. Ức chia thành bốn loại:
1) Mười
vạn là một Ức.
2) Một
trăm vạn là một Ức.
3) Một
ngàn vạn là một Ức.
4) Một
vạn vạn là một Ức.
Ở
đây, Ức được hiểu theo cách thứ tư,
[kinh nói là] “bách thiên vạn ức”. Con số như vậy
c̣n khó thể thấu hiểu cùng tận được, huống
hồ c̣n nói là trong “trăm ngàn vạn ức bất khả
tư, bất khả nghị, bất khả lượng,
bất khả thuyết vô lượng A-tăng-kỳ thế
giới, phàm là tất cả các chỗ có địa ngục,
phân thân trong mỗi ngục đều đến nhóm hội”,
đông đảo lắm thay! Điều này tỏ rơ thế
giới khó lường, càng thấy rơ địa ngục rất
nhiều! Địa ngục đă nhiều, càng tỏ rơ
phân thân khó lường; đấy là cơ sở cho những
lời vấn đáp kế tiếp. Đây chính là chuyện
chẳng thể nghĩ bàn của bậc đại Bồ
Tát, ngay cả Thanh Văn, Duyên Giác c̣n chẳng thể biết,
huống hồ những địa vị thấp hơn và
phàm phu mà có thể suy lường, nhận biết nổi
ư!
Như
sách Quảng Dư[2] ghi chép, vào
niên hiệu Chí Đức (756-758) đời Đường,
xứ Tân La (Silla)[3] có một vị
Tăng, tên là Kim Địa Tạng, vượt biển t́m
đến [Trung Hoa], dừng lại ở núi Cửu Hoa, huyện
Thanh Dương, thuộc Trực Lệ[4] Tŕ Châu Phủ.
Sư thường lấy đất trắng giữa vách
núi trộn lẫn với cơm mà ăn. Mọi người
đều lấy làm lạ. Lúc Ngài chín mươi chín tuổi,
bỗng triệu tập đồ chúng cáo biệt, ngồi trong hộp
qua đời. Ba năm sau, [đồ chúng] lại mở
ra xem, thấy diện mạo như lúc c̣n sống. Nâng [thi
thể của Ngài] lên, các khớp xương vẫn chuyển
động được. Đấy cũng là một
phân thân của Ngài.
“Câu tập
thiên cung” (Cùng nhóm đến cung trời):
Như kinh Tâm Địa Quán nói: “Dĩ thân thường xử
ư địa ngục, phi bất thân cận đại từ
tôn. Dĩ thân thường xử ư luân hồi, phi bất
thân văn vi diệu pháp. Dĩ thị nhân duyên chư Phật
tử, hệ tâm thường niệm Thiên Nhân Sư” (Do
thân thường ở trong địa ngục, chẳng phải
là không thân cận đức đại từ tôn. Do thân
thường ở trong luân hồi, chẳng phải là không
đích thân nghe pháp vi diệu. Do nhân duyên này, chư Phật
tử tâm khăng khăng thường niệm đấng
Thiên Nhân Sư). Do vậy, [phân thân của Bồ Tát cùng
đại chúng] bèn nhóm họp nhiều như mè, tràn ngập
cung trời Đao Lợi; đúng là chuyện hiếm lạ,
đặc biệt, xưa nay chưa từng nghe đến!
3.2.1.1.1.2. Tự nghiệp
đạo chúng cơ (trần thuật căn cơ
của chúng sanh trong các nghiệp đạo)
3.2.1.1.1.2.1. Suất chúng đồng
lai cúng Phật (dẫn đại chúng cùng
đến cúng dường Phật)
(Kinh)
Dĩ Như Lai thần lực cố, các dĩ
phương diện, dữ chư đắc giải thoát
tùng nghiệp đạo xuất giả, diệc các hữu
thiên vạn ức na-do-tha số, cộng tŕ hương
hoa, lai cúng dường Phật.
(經)以如來神力故‧各以方面‧與諸得解脫從業道出者‧亦各有千萬億那由他數‧共持香華‧來供養佛。
(Kinh:
Do thần lực của Như Lai, mỗi phân thân đều
từ mỗi phương, cùng với những người
đă được giải thoát từ nghiệp đạo
thoát ra, số lượng cũng đều là ngàn vạn ức
na-do-tha tại mỗi phương, cùng cầm hương
hoa đến cúng dường đức Phật).
[Trong đoạn kinh
văn trên đây], chữ Dĩ (以) trước nhằm
giới thiệu cái nhân, chữ Dĩ sau nhằm nói đến
những người cùng đi theo các phân thân. Do sức thần
thông trọn khắp từ các vầng mây âm thanh của đức Phật,
cho nên mỗi vị phân thân đều cùng với chúng sanh
được Ngài hóa độ từ bốn phương
nhóm đến. Giải thoát có lớn và nhỏ sai khác. Theo
như trong phần sau là “bất thoái A Nậu Bồ
Đề” th́ hoàn toàn là đại giải
thoát chẳng thể nghĩ bàn! “Tŕ hương hoa cúng
dường” (Cầm hương hoa
cúng dường). Chữ Kiện Đạt (Gandha) trong tiếng
Phạn được cơi này dịch là Hương. Theo
kinh Giới Đức Hương th́ có căn hương
(hương trích từ rễ cây), chi hương (hương
trích từ tinh dầu từ gỗ hay vỏ của cành cây),
và hoa hương (hương phối chế từ tinh dầu
của các loại hoa) khác nhau. Chữ Bố Sắt Ba (Puṣpa)
trong tiếng Phạn, cơi này dịch là Hoa. Theo kinh Đại
Phẩm Bát Nhă, có thiên hoa (hoa trên cơi trời), sanh hoa (hoa trong
nhân gian), và tâm hoa (hoa do tâm vận tưởng, hay hoa do giới
đức) khác nhau. Nay người cầm [hương,
hoa] cúng dường, biểu thị đă trọn đủ
Bồ Tát đạo, nguyện thành tựu Như Lai
hương, trong sạch, lan xa, ngầm thông, quả và nhân
khế hợp nhất trí. Theo kinh Thập Luân, cúng dường
có ba thứ:
1) Một
là lợi ích, tức là dùng tứ sự (thức ăn, quần
áo, đồ trải nằm, thuốc men) v.v…
2) Hai là
kính tâm (tâm tôn kính), dùng hoa để biểu lộ tâm ư.
3) Ba là tu
hành. Nếu có ai vâng giữ, truyền nói [lời Phật dạy]
th́ chính là cúng dường.
[Những
điều ấy] đều nhằm biểu lộ ḷng
thành kính vậy.
3.2.1.1.1.2.2. Nhân hóa bất thoái
Bồ Đề (do được Bồ Tát giáo
hóa mà chẳng thoái chuyển đạo Bồ Đề)
(Kinh)
Bỉ chư đồng lai đẳng bối, giai nhân
Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa, vĩnh bất thoái chuyển
ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(經)彼諸同來等輩‧皆因地藏菩薩教化‧永不退轉於阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh:
Những người cùng đến ấy đều do
Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa mà vĩnh viễn chẳng
thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).
Đây là
nêu ra ư nghĩa cúng dường. Bởi lẽ, những
người cầm hương hoa cúng dường đều
do Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa mà được
vĩnh viễn chẳng thoái chuyển nơi A Nậu Bồ
Đề. Bất Thoái Chuyển sẽ được giải
thích trong phần sau. A dịch là Vô, Nậu Đa La dịch
là Thượng. Tam Miệu dịch là Chánh. Tam là thiên (thiên vị),
hoặc Đẳng (b́nh đẳng). Bồ Đề dịch
là Giác. Ngài Cô Sơn nói: “Do cực quả có cái nhân siêu việt
nên nói là Vô Thượng, Chánh là Chánh Quán Trung Đạo.
Đẳng là cùng chiếu hai bên; đấy chính là ba trí nơi
quả vậy”. Kinh Bi Hoa quyển bốn chép: “Nguyện
ngă đắc Thủ Lăng Nghiêm tam-muội. Dĩ tam-muội
lực cố, hóa tác địa ngục chi thân, nhập
địa ngục trung, dữ địa ngục chúng sanh
thuyết vi diệu pháp, khuyến linh phát Bồ Đề
tâm. Bỉ chúng văn thị pháp dĩ, tầm phát Bồ
Đề chi tâm, tức tiện mạng chung, sanh ư nhân
trung. Tùy sở sanh xứ, thường đắc trị
Phật, thính pháp, tức đắc bất thoái chuyển
địa. Càn Thát Bà, năi chí nhân phi nhân đẳng, thiên,
long, quỷ thần, năi chí súc sanh, ngạ quỷ đẳng
chúng, diệc phục như thị, giai linh phát Bồ Đề
tâm” (Nguyện tôi đắc Thủ Lăng Nghiêm tam-muội.
Do sức của tam-muội, hóa ra thân địa ngục,
vào trong địa ngục để nói pháp vi diệu cho chúng
sanh trong địa ngục, khuyên họ phát Bồ Đề
tâm. Các chúng sanh ấy nghe pháp đó xong, liền phát Bồ Đề
tâm. Họ lập tức mạng chung, sanh trong loài người.
Sanh ở bất cứ nơi đâu, thường được
gặp Phật, nghe pháp, liền đạt được
địa vị Bất Thoái Chuyển. Đối với
Càn Thát Bà cho đến nhân, phi nhân v.v… trời, rồng, quỷ
thần, cho đến các loài súc sanh, ngạ quỷ v.v…
cũng đều như vậy, đều khiến cho họ
phát Bồ Đề tâm). Đấy chính là những chúng
sanh trong nghiệp đạo do được Địa Tạng
Bồ Tát giáo hóa mà chẳng thoái chuyển đạo Bồ
Đề.
3.2.1.1.1.2.3. Chí thiên, tâm hỷ
quán Phật (tới cơi trời, tâm hoan hỷ
quán Phật)
(Kinh)
Thị chư chúng đẳng, cửu viễn kiếp lai,
lưu lăng sanh tử, lục đạo thọ khổ, tạm
vô hưu tức.
(經)是諸眾等‧久遠劫來‧流浪生死‧六道受苦‧暫無休息。
(Kinh:
Các chúng sanh ấy từ kiếp lâu xa đến nay trôi
lăn trong sanh tử, chịu khổ trong sáu đường
chưa từng được tạm ngơi).
Kinh
văn [trong phần này] được chia thành ba tiểu
đoạn:
[Tiểu
đoạn thứ nhất], trước hết, nói về
sự lưu chuyển trong lục đạo là do trái nghịch
cái giác tâm ấy. Bởi lẽ, giác tâm ấy chính là diệu
đạo do chư Phật đă chứng, là cội nguồn
mà chúng sanh đă mê hoặc. Phàm phu từ kiếp lâu xa đến
nay, trôi giạt trong sanh tử là do chẳng phát cái tâm ấy.
Sự lưu chuyển ấy có bốn thứ: Một là Kiến
Lưu (kiến chấp về tam giới), hai là Dục
Lưu (các Hoặc trong Dục Giới, trừ Kiến và
Si), ba là Hữu Lưu (các Hoặc trong hai giới trên, tức
Sắc Giới và Vô Sắc Giới, trừ Kiến và Si), bốn
là Vô Minh Lưu (Si trong tam giới).
Từ ngữ
Xà Đề Xà (Jātika) trong tiếng Phạn được
cơi này dịch là “sanh tử”. Kinh Thắng Man nói: “Sanh
giả tân, chư căn sanh. Tử giả cố, chư
căn diệt” (Sanh là mới v́ các căn được
sanh ra. Chết là cũ v́ các căn đă diệt mất).
Do sóng gió ấy, trồi hụp măi trong sanh tử. V́ thế,
kinh Niết Bàn nói: “Ngă tích dữ nhữ đẳng, bất
kiến Tứ Chân Đế. Thị cố cửu lưu
chuyển, sanh tử đại khổ hải” (Xưa
kia ta và các ngươi do chẳng thấy bốn Chân Đế,
cho nên lưu chuyển đă lâu trong biển khổ sanh tử
lớn). Theo Đại Luận, chúng sanh có ba thứ khổ:
Một là thân khổ, tức già, bệnh, chết. Hai là tâm
khổ, tức tham, sân, si. Ba là hậu khổ (nỗi khổ
trong thân đời sau), tức địa ngục, quỷ,
súc sanh. V́ thế, cầu được tạm ngưng dứt
trong ba sự khổ ấy, há có được chăng?
(Kinh)
Dĩ Địa Tạng Bồ Tát, quảng đại từ
bi, thâm thệ nguyện cố, các hoạch quả chứng.
(經)以地藏菩薩‧廣大慈悲‧深誓願故‧各獲果證。
(Kinh:
Do Địa Tạng Bồ Tát từ bi rộng lớn, thệ
nguyện sâu xa, cho nên ai nấy đều được
chứng quả).
Kế
đó, [trong tiểu đoạn thứ hai, chỉ rơ những
người ấy] do Địa Tạng Bồ Tát mà
được chứng quả. Đấy là nói chúng sanh
trong lục đạo, xưa kia th́ muôn loài trầm mê, trôi
lăn trong ba đường. Nay th́ ngộ giải vượt
hẳn Thập Lực, chứng tam thân viên thông. Đó là
công sức của ai? Đều là do ḷng vô duyên từ bi, sức
thệ nguyện vô tác của đức Địa Tạng
vậy.
(Kinh)
Kư chí Đao Lợi, tâm hoài dũng dược, chiêm ngưỡng
Như Lai, mục bất tạm xả.
(經)既至忉利‧心懷踊躍‧瞻仰如來‧目不暫捨。
(Kinh:
Đă tới trời Đao Lợi, ôm ḷng hớn hở, chiêm
ngưỡng Như Lai, mắt chẳng tạm rời).
Tiểu
đoạn thứ ba, nói rơ [những người ấy] cảm
kích ân sâu của đức Phật. Đă được
nương vào thần lực của Như Lai, nên
được theo ngài Địa Tạng cùng đến.
Trong tâm họ hớn hở sâu xa, bộc lộ ra bên ngoài
thành dáng vẻ chiêm ngưỡng ân cần. “Chiêm” (瞻) là [ngắm nh́n] tướng
hảo vi diệu, xem ngắm chẳng chán! “Ngưỡng”
(仰) là đối với trí huệ
sâu xa bèn ngưỡng mộ, mong mỏi. Đại Luận
nói: “Đức Phật ngồi trên ṭa sư tử, hiện
thân tối thắng, quang minh, sắc tượng, oai đức
ṿi vọi, dùng thần lực ấy cảm động
chúng sanh. Nếu có ai tin tưởng, sẽ đều
đạt tới A Nậu Bồ Đề”. Đấy
là “chiêm ngưỡng, chẳng thể tạm rời”
vậy!
3.2.1.1.2. Thích Ca chiếu cáo (đức Thích Ca truyền
dạy, bảo ban)
3.2.1.1.2.1. Như Lai ma đảnh
phó chúc (Như Lai xoa đầu giao phó, căn dặn)
3.2.1.1.2.1.1. Kinh gia tự thông (người trùng tuyên
kinh tường thuật)
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn thư kim sắc tư, ma bách thiên vạn
ức bất khả tư, bất khả nghị, bất
khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng
A-tăng-kỳ thế giới, chư phân thân Địa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát đảnh.
(經)爾時世尊舒金色臂‧摩百千萬億不可思‧不可議‧不可量‧不可說‧無量阿僧祇世界‧諸分身地藏菩薩摩訶薩頂。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn duỗi cánh tay sắc
vàng, xoa đỉnh đầu của các vị phân thân
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trong trăm ngàn vạn
ức bất khả tư, bất khả nghị, bất
khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng
A-tăng-kỳ thế giới).
Đức
Phật dùng một cánh tay Mẫu Đà La[5], tay Đâu
La Miên mà xoa trọn khắp đỉnh đầu của
vô lượng A-tăng-kỳ phân thân Địa Tạng Bồ
Tát đă vân tập; đấy chính là thần lực chuyển
biến từ Thánh Như Ư Thông. V́ thế, một tay mà có
thể xoa trọn khắp vô lượng đỉnh đầu
để úy lạo, vỗ về. Đại Luận nói: “Trong
tay có chữ Đức, trang nghiêm bằng màng lưới,
sẽ dùng cánh tay ấy để an ủi chúng sanh, khiến
cho họ chẳng sợ hăi” chính là nói về chuyện
này.
3.2.1.1.2.1.2. Phát ngôn phó chúc (thốt lời giao phó,
căn dặn)
3.2.1.1.2.1.2.1. Minh kỷ sở
hóa chúng (nói về chuyện giáo hóa chúng sanh của
chính ḿnh)
3.2.1.1.2.1.2.1.1. Tổng thị
hóa môn điều cơ (dạy chung về cách
giáo hóa, điều phục các căn cơ)
(Kinh)
Nhi tác thị ngôn: - Ngô ư Ngũ Trược ác thế,
giáo hóa như thị cang cường chúng sanh, linh tâm điều
phục, xả tà quy chánh, thập hữu nhất, nhị,
thượng ác tập tại.
(經)而作是言‧吾於五濁惡世‧教化如是剛強眾生‧令心調伏‧捨邪歸正。十有一二‧尚惡習在。
(Kinh:
Mà nói như sau: - Ta ở trong đời ác Ngũ Trược,
giáo hóa chúng sanh ương bướng như thế, khiến
cho tâm họ điều phục, bỏ tà quy chánh, mười
phần th́ có một hai phần vẫn c̣n tập khí ác).
Đấy
là nói đức Phật điều phục các căn
cơ trong đời ác trược. Như trong kinh Hiền
Ngu, người huấn luyện voi tên Tán Xà đă nói: “Phật
Thế Tôn giả, nhị chủng tánh sanh, nhất giả,
trí huệ, nhị giả, đại bi. Cần hành lục
sự, sở vị Lục Ba La Mật. Công đức, trí
huệ tất cụ túc dĩ, hiệu chi vi Phật. Kư tự
năng điều, diệc điều chúng sanh. Cố vân
ngă thị Vô Thượng Điều Ngự Sư, chuyển
chánh pháp luân châu thế giới, hóa độ vô lượng
chư chúng sanh” (Phật Thế Tôn sanh từ hai chủng
tánh: Một là trí huệ, hai là đại bi. Siêng hành sáu sự,
tức là sáu Ba La Mật. Công đức và trí huệ đều
đă trọn đủ, th́ gọi là Phật. Đă có thể
tự điều phục, lại c̣n điều phục
chúng sanh. V́ thế nói: “Ta là Vô Thượng Điều Ngự
Sư, chuyển chánh pháp luân trọn khắp thế giới,
hóa độ vô lượng các chúng sanh”). Hăy nên biết: Do
ngộ tâm địa quán, nên có thể điều phục
chúng sanh ương ngạnh, tức là dùng Tứ Đế
để chỉ, dùng Tam Học để dạy, dùng Giới
điều phục thân họ, dùng Định và Huệ
điều phục tâm họ. Đă tu Tam Học, tự
đoạn hai thứ Hoặc.
Sách Phụ
Hành viết: “Xưa kia do không được lưỡi
câu Tín móc lấy, đến nỗi tạo trọng tội.
Như voi cuồng không có móc sắt [của người luyện
voi], không thể khống chế được. Nay lấy
móc câu Hổ Thẹn để móc con voi ‘tâm không hổ thẹn’.
V́ thế nói là khiến cho cái tâm điều phục”.
“Xả
tà quy chánh”: Kinh Nhất Thiết Pháp Cao Vương nói: “Đại
tỳ-kheo chúng nhất thiên nhị bách ngũ thập nhân, kỳ
tiên tất thị biện phát phạm-chí, chư lậu
dĩ tận, vô phục phiền năo, nhất thiết tâm
đắc tự tại, đáo đệ nhất bỉ
ngạn” (Một ngàn hai trăm năm mươi vị
đại tỳ-kheo trước kia đều là hàng phạm-chí[6] búi tóc,
đă hết các lậu, chẳng c̣n phiền năo, hết thảy
tâm được tự tại, đạt đến bờ
kia bậc nhất). [Những vị theo Địa Tạng
Bồ Tát đến dự pháp hội] đều đă xả
tà quy chánh, đă được thọ kư làm Phật. Điều
này cho thấy những người đă được
điều phục th́ trong mười phần có đến
bảy tám phần. Những kẻ có tập khí ác sâu nặng,
khó thể điều phục, trong mười phần chỉ
có một, hai phần. Như hội Pháp Hoa vừa mới bắt
đầu, năm ngàn người đứng lên bỏ
đi, và các đệ tử của Điều Đạt
(Đề Bà Đạt Đa), phạm vương Loa Kế
v.v… “Tập” (習) là tập khí; chánh sử
(正使, các phiền năo chánh yếu, tức
Thập Sử) tuy đă đoạn, vẫn c̣n sót lại tập
khí. Thân tuy đă điều phục, tâm c̣n chưa điều
phục.
3.2.1.1.2.1.2.1.2. Biệt minh phân
thân độ thoát (nói riêng về sự độ
thoát của các phân thân)
3.2.1.1.2.1.2.1.2.1. Lược
minh (nêu
đại lược)
(Kinh)
Ngô diệc phân thân thiên bách ức, quảng thiết
phương tiện. Hoặc hữu lợi
căn, văn tức tín thọ.
(經)吾亦分身千百億‧廣設方便。或有利根‧聞即信受。
(Kinh:
Ta cũng phân thân trăm ngàn ức, rộng lập
phương tiện. Nếu có kẻ lợi
căn nghe xong liền tin nhận).
Điều
này cũng giống hệt như phương tiện phân
thân độ sanh của Địa Tạng Bồ Tát. V́ thế
nói là “cũng”. Kinh Phạm Động nói: “Như
Lai tự tri sanh tử dĩ tận, sở dĩ hữu
thân, vị dục phước độ chư thiên nhân cố.
Nhược kỳ vô thân, tắc chư thiên, thế nhân, vô sở thị hỗ. Do
như Đa La thụ, đoạn kỳ đầu giả,
tắc bất phục sanh. Phật diệc như thị,
dĩ đoạn sanh tử, vĩnh bất phục sanh” (Như Lai tự biết
sanh tử đă tận, cho nên có thân là v́ muốn tạo
phước để độ hàng trời, người.
Nếu chẳng có thân th́ chư thiên, người đời
sẽ không có ai để
nương cậy! Ví như cây Đa La, hễ chặt ngọn
của nó, nó sẽ chẳng mọc lại được.
Phật cũng giống như thế, do đă đoạn
sanh tử, vĩnh viễn chẳng sanh nữa). Nay sở
dĩ phân thân chính là v́ hiển thị Như Lai do pháp mà rủ
ḷng ứng hiện, ứng với các căn cơ lớn
hay nhỏ mà hiện thân thù thắng hay kém cỏi. Từ một
thân mà phát xuất thành vô lượng thân; gom Dụng về
Thể, chẳng ĺa một tánh. Đại Luận quyển
ba mươi nói: “Nếu nương theo Thiền Định,
đắc Tứ Vô Lượng, Bội Xả, Thắng Xứ,
thần thông, biện tài v.v… các công đức rất sâu thảy
đều trọn đủ, tùy ư mà hành, không ǵ chẳng thể
làm, hóa thành đủ loại thân cầm thú, nhưng chẳng
nhận lấy các pháp của chúng nó. Hoặc có lúc thân đầy
chật hư không, hoặc có lúc thân như vi trần, hoặc
nhẹ như lông hồng, hoặc nặng như Thái
Sơn. Sức thần thông biến hóa như thế đều
do Thiền mà đạt được”. Đấy là từ
Thân Luân mà hiện thần thông.
“Quảng
thiết phương tiện” (rộng lập phương tiện) tức
là Ư Luân soi xét căn cơ, thực hiện tác dụng hay
khéo mà không cần mưu tính, quán tánh và tướng của
mười pháp giới, và dùng Khẩu Luân để tuyên
nói các thứ pháp, khiến cho người căn cơ
đă chín muồi sẽ giải thoát, người [căn
cơ] chưa chín muồi sẽ chín muồi, người chưa
gieo [thiện căn] sẽ gieo. V́ thế, Đại Luận
nói: “Thích Ca Mâu Ni Phật hóa ra các thứ thân trong một
thế giới, dùng đủ mọi phương tiện
để độ chúng sanh”.
Đấy
là chỉ bày tổng quát về phương tiện phân
thân, dưới đây là nói riêng về chuyện điều
phục các căn cơ khó hay dễ. “Căn’ là “căn
tánh” thuộc về quá khứ. Đời này, căn tánh
lợi hay độn, nói chung là do túc chướng
nặng hay nhẹ. Nếu xét theo tứ sanh để luận
định lợi hay độn th́ như trong kinh Xử
Thai, đức Phật bảo Hỷ Kiến Bồ Tát: “Như
ngă kim nhật tại mẫu thai trung, dữ chư thập
phương thần thông Bồ Tát, thuyết bất thoái
chuyển nan hữu chi pháp, diệc dĩ thần thông, nhập
thiên tứ sanh, địa ngục tứ sanh, ngạ quỷ
tứ sanh, súc sanh tứ sanh. Ư tứ sanh trung, thai hóa nhị
sanh tận lậu đắc tật, thấp noăn nhị
sanh tận lậu sảo tŕ. Hóa sanh, thai sanh thị lợi
căn nhân, thấp sanh, noăn sanh thị độn căn
nhân” (Như ta ngày nay ở trong thai mẹ, cùng các vị
thần thông Bồ Tát trong mười phương nói pháp bất
thoái chuyển khó có, cũng dùng thần thông vào trong thiên tứ
sanh, địa ngục tứ sanh, ngạ quỷ tứ
sanh, và súc sanh tứ sanh. Ở trong tứ sanh, thai sanh và hóa
sanh, đạt được Lậu Tận nhanh chóng, thấp
sanh và noăn sanh th́ Lậu Tận chậm hơn. Hóa sanh và thai
sanh là người lợi căn; thấp sanh và hóa sanh là kẻ
độn căn). V́ thế, Đại Luận nói: “Chư
Phật trước hết đă quan sát, biết có kẻ
hết thảy phương tiện đều chẳng thể
độ được; hoặc là có kẻ khó độ,
hoặc dễ giáo hóa; hoặc lại có kẻ [tiếp nhận
sự giáo hóa] chậm chạp hay nhanh chóng. Hoặc dùng quang
minh, hoặc dùng thần túc, đủ mọi nhân duyên để
độ chúng sanh” chính là nói về điều này. Nếu
xét theo bốn châu để luận định lợi
độn th́ như thiên nhân Phí Thị đă nói: “Châu ở
phía Bắc ít có Phật pháp, Phật pháp hoằng
dương rộng lớn ở ba châu kia. Đông thiên hạ
và Tây thiên hạ ít có kẻ trí huệ sắc sảo, phiền
năo khó hóa độ. Một châu ở phương Nam (Nam
Diêm Phù Đề) tuy có lắm kẻ phạm tội,
nhưng [có thể] giáo hóa khiến cho họ tuân theo điều
lành, tâm dễ điều phục” là nói về chuyện
này. Theo sách Ma Ha Chỉ Quán, lợi căn là căn cơ pháp
hạnh, độn căn là căn cơ tín hạnh.
Như nghe nói “hết thảy chúng sanh vốn có Phật
tánh”, họ bèn tin lập tức. Đă tin, bèn lập tức
tu; Tam Huệ (Văn, Tư, Tu) nhanh chóng thành tựu, đó
là hạng lợi căn!
(Kinh)
Hoặc hữu thiện quả, cần khuyến thành tựu.
(經)或有善果‧勤勸成就。
(Kinh:
Hoặc là kẻ có thiện quả, bèn siêng gắng khuyên
lơn khiến họ thành tựu).
“Hoặc
hữu thiện quả, cần khuyến thành tựu” tức
là có kẻ ngưỡng mộ, tin tưởng lư ấy, tư duy, tu tập, Tam Huệ tiến dần dần
th́ là phường độn căn. Đại Luận
nói: “Nếu chúng sanh toan tạo trọng tội, dạy
bảo bằng cách tốt lành họ chẳng nghe theo, bèn
dùng lời cay đắng để can gián. Tuy họ khởi sân hận, nhưng
về sau sẽ được an ổn.
Đấy chính là cách để dạy kẻ độn
căn”. “Thiện
quả” là nói đến Bồ Đề tâm. Các vị
như Thân Tử (Xá Lợi Phất) v.v… là kẻ độn
căn tột bậc, trải qua trọn đủ năm
thời (Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, và
Pháp Hoa) mới nhanh chóng phát khởi ba cái nhân, được
thọ kư vậy!
(Kinh)
Hoặc hữu ám độn, cửu hóa phương quy; hoặc
hữu nghiệp trọng, bất sanh kính ngưỡng.
(經)或有暗鈍‧久化方歸。或有業重‧不生敬仰。
(Kinh:
Hoặc có kẻ ám độn giáo hóa lâu ngày th́ mới quy
hướng; hoặc có kẻ nghiệp nặng, chẳng
sanh ḷng kính ngưỡng).
“Ám
độn cửu hóa phương quy” (Ám độn, giáo hóa lâu ngày th́ mới
quy hướng) là như ngài Sa Già Đà (Sāgata, cơi này dịch
là Tiểu Lộ Biên Sanh). “Nghiệp nặng chẳng kính
ngưỡng” là như Điều Đạt (Đề
Bà Đạt Đa, Devadatta) v.v… Đại Luận, quyển
thứ hai mươi sáu nói: “Như người chết
th́ các thứ trang nghiêm dần dần chuyển thành hư
nát, trọn chẳng thể khiến cho sống lại.
Đề Bà Đạt Đa cũng như thế; Phật
hằng ngày giáo hóa đủ mọi cách, ác tâm [của ông
ta] càng chuyển thành dữ dội hơn. Ác bất thiện
pháp mỗi ngày một tăng thêm, thậm chí tạo tam nghịch
tội”. Lại nói: “Thành Xá Vệ có chín ức nhà, có
ba ức nhà mắt thấy Phật, ba ức nhà tai nghe nói
có Phật, ba ức nhà chẳng thấy, chẳng nghe!”
Đức Phật ở tại Xá Vệ (Śrāvastī)
hai mươi lăm năm, mà những chúng sanh ấy
chẳng nghe, chẳng thấy, huống hồ kẻ ở
xa! Lại như bà lăo nghèo không có nhân duyên được hóa
độ, chẳng được thấy Phật! Nếu
có nhiều ḷng tin, lợi ích sẽ vô cùng. Đức Phật
giáo hóa, điều phục căn cơ c̣n như thế,
cho nên biết đức Địa Tạng phân thân chẳng
dễ dàng! Do vậy, [đức Phật] đặc biệt
dùng hành vi của chính ḿnh để hiển thị thần
lực khó thể nghĩ tưởng của Bồ Tát!
3.2.1.1.2.1.2.1.2.2. Quảng thị
(chỉ
bày chi tiết)
3.2.1.1.2.1.2.1.2.2.1. Kết tiền
khởi hậu (kết lại phần trước
để phát khởi phần sau)
“Đấy là do căn
cơ của chúng sanh lợi độn khác nhau, tin tưởng
hay hủy báng chẳng giống như nhau; cho nên ta phân thân
độ thoát”, [đức Phật nói những lời ấy]
nhằm kết lại đoạn kinh văn trên đây.
Cũng do chúng sanh mỗi mỗi sai khác, cho nên ta phân thân hóa
hiện thành nam, nữ v.v… nhằm phát khởi đoạn
kinh văn tiếp theo.
(Kinh)
Như thị đẳng bối chúng sanh, các các sai biệt,
phân thân độ thoát. (經)如是等輩眾生‧各各差別‧分身度脫。
(Kinh:
Các loại chúng sanh như thế ấy,
mỗi mỗi sai biệt, [ta đều] phân thân độ
thoát).
“Phân
thân độ thoát” là như trong kinh Xử Thai, đức
Phật bảo Trí Tích Bồ Tát: “Ngă túc mạng sở
hành, giới đức cứu cụ, đắc thành Phật
thân, biến hóa tự tại, vô sở bất nhập; diệc
nhập ư Kim Xí Điểu, diệc nhập ư long tử,
diệc nhập ư ngư miết, ngoan, đà, sở hóa
như thị” (Trong đời trước, ta do đă
hành giới đức rốt ráo trọn đủ,
được thành thân Phật, biến hóa tự tại,
không ǵ chẳng vào, cũng vào trong loài Kim Xí Điểu,
cũng vào trong các loài rồng, cũng vào trong các loài cá, ba
ba, đồi mồi, cá sấu, những loài được
giáo hóa như thế đó). V́ thế, đức Phật hỏi
ngài Di Lặc: “Tâm hữu sở niệm, kỷ niệm,
kỷ tướng thức da?” (Tâm có ư niệm th́ là bao
nhiêu niệm, bao nhiêu thức có h́nh tướng vậy?)
Ngài Di Lặc thưa: “Cử thủ đàn chỉ chi khoảnh,
tam thập nhị ức bách thiên niệm. Niệm niệm
thành h́nh, h́nh h́nh giai hữu thức” (Trong khoảng giơ tay lên khảy
ngón tay, có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm. Mỗi
niệm thành h́nh, mỗi h́nh đều có thức). Thức
niệm tột bậc vi tế, chẳng thể chấp
tŕ. Do oai thần của đức Phật mà vào trong thức
ấy, đều khiến cho đắc độ. Do thức
ấy mà giáo hóa, chẳng phải là không có thức. V́ thế
nói: “Đạo sư xuất hiện trong cơi đời,
chẳng có duyên, sẽ không giáng thần (hạ sanh trong nhân
gian). Do muốn độ kẻ chưa độ, bèn thị
hiện ṭa thành vô vi”. Như Lai phân thân có thể nghĩ
bàn nổi chăng?
3.2.1.1.2.1.2.1.2.2.2. Phổ hiện
sắc thân (hiện khắp các sắc
thân)
(Kinh)
Hoặc hiện nam tử thân, hoặc hiện nữ nhân
thân, hoặc hiện thiên long thân, hoặc hiện thần
quỷ thân, hoặc hiện sơn, lâm, xuyên, nguyên, hà, tŕ,
tuyền, tỉnh, lợi cập ư nhân, tất giai độ
thoát.
(經)或現男子身‧或現女人身。或現天龍身‧或現神鬼身。或現山林川原‧河池泉井‧利及於人‧悉皆度脫。
(Kinh:
Hoặc hiện thân nam tử, hoặc hiện thân nữ
nhân, hoặc thân trời, rồng, hoặc hiện thân thần,
quỷ, hoặc hiện núi, rừng, sông, đồng bằng,
rạch, ao, suối, giếng để lợi lạc cho mọi
người đều được độ thoát).
Đây là
nêu ra các căn cơ liên quan đến ḷng từ bi của
đức Phật. Do sức của Vương tam-muội,
tuy pháp tánh bất động mà đến ứng hiện.
Như trong kinh Xử Thai, đức Phật bảo những
người đến dự hội rằng: “Ngô tùng vô
số A-tăng-kỳ kiếp, năng đại, năng
tiểu, nhập tế vô ngại, hoặc tại thiên
thượng, kiếp số giáo hóa. Hoặc tại nhân
trung, đại bỉ thọ khổ. Hoặc tại súc
sanh, ngạ quỷ, địa ngục giáo hóa, vô sở bất
nhập” (Ta từ vô số A-tăng-kỳ kiếp, có thể
lớn, có thể nhỏ, vào những chỗ nhỏ nhặt
vô ngại, hoặc ở trên trời giáo hóa bao kiếp. Hoặc
ở trong nhân gian, thay họ chịu khổ. Hoặc ở
trong súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục để
giáo hóa, không đâu chẳng vào). Điều này đă hiển
lộ diệu dụng hóa thân của Như Lai.
Trước
hết là hiện thân nam tử. Nam là đại trượng
phu khỏe mạnh, có gia đ́nh. Người sống trên
đời chẳng thể không theo đuổi việc ǵ.
Do vậy, ghép Lực (力, sức mạnh) và
Điền (田, ruộng) thành chữ Nam
(男), hàm ư [đó là] chức phận
phải đảm đương [của nam nhân]. “Tử”
(子) là cành nhánh thân thiết. Tử
có nghĩa là “sanh”, “thiên khai ư Tư” (trời mở
mang từ Tư)[7],
tĩnh đến tột bậc mà lại động.
Kế
đó là hiện làm trời, rồng. Kinh Bi Hoa nói: “Nhược
hữu chúng sanh, sự Ma Hê Thủ La thiên, ngă nguyện hóa
thân như Ma Hê Thủ La. Sự bát tư giả, hóa vi bát tư
thiên thân. Sự nhật, nguyệt, Phạm Thiên, diệc hóa
vi nhật, nguyệt, Phạm Thiên nhi giáo hóa chi, linh trụ
thiện pháp” (Nếu có chúng sanh thờ trời Ma Hê Thủ
La (Maheśvara), ta nguyện hóa thân như
Ma Hê Thủ La. Có kẻ thờ thần tám tay[8], ta bèn hóa thành
thân trời tám tay. Đối với kẻ thờ mặt
trời, mặt trăng, Phạm Thiên, ta cũng hóa làm mặt
trời, mặt trăng, Phạm Thiên để giáo hóa, khiến
cho họ trụ trong thiện pháp). Đại Trí Độ
Luận nói: “Như đích thân Bồ Tát từng làm đại
lực độc long. Lại làm long vương tên là Mă
Kiên, là do đại Bồ Tát v́ bổn nguyện mà sanh trong
loài rồng”.
Kế
đó, hiện thân thần quỷ. Như Uế Tích Đại
Quyền Thần Vương (Vajra Krodha Mahābala Ucchuṣma, Ô Sô Sắt
Ma Minh Vương), Đại Lực Minh Vương (Mahābala Vidyārāja)
v.v… hoặc như hiện làm đại quỷ để
hàng phục quỷ Khoáng Dă v.v… Núi, rừng, sông, đồng
bằng, rạch, ao, suối, giếng, đấy là hiện
làm y báo để độ người. Như kinh Bi Hoa
nói: “Phật nhân trung vị cứu Diêm Phù Đề nhân
dân cơ ngạ, tư duy xả thân thể huyết nhục.
Trung lộ hữu sơn, danh Thủy Ái Hộ, tự đầu
kỳ thân, tức thành nhục sơn, cao nhất do-tuần,
năi chí cao thiên do-tuần” (Trong lúc tu nhân, v́ cứu nhân dân trong Diêm Phù
Đề bị đói kém, Bồ Tát suy nghĩ xả thân
thể huyết nhục. Giữa đường có một
quả núi tên là Thủy Ái Hộ, Ngài bèn tự gieo ḿnh, liền
trở thành một núi thịt, cao một do-tuần cho
đến cao một ngàn do-tuần).
(Kinh)
Hoặc hiện thiên đế thân, hoặc hiện Phạm
vương thân, hoặc hiện Chuyển Luân Vương
thân, hoặc hiện cư sĩ thân, hoặc hiện quốc
vương thân, hoặc hiện tể phụ thân, hoặc
hiện quan thuộc thân.
(經)或現天帝身。或現梵王身。或現轉輪王身。或現居士身。或現國王身。或現宰輔身。或現官屬身。
(Kinh:
Hoặc hiện thân thiên đế, hoặc hiện thân Phạm
vương, hoặc hiện thân Chuyển Luân Vương,
hoặc hiện thân cư sĩ, hoặc hiện thân quốc
vương, hoặc hiện thân tể phụ, hoặc hiện
thân quan lại).
“Thiên
đế” là như xưa kia Đế Thích cùng với
a-tu-la La Ha giao chiến, do sức từ nhẫn mà Đế
Thích chiến thắng. Xưa kia [đức Phật] làm Phạm
vương ngồi dưới gốc cây Trú Độ (Pāracitra, Ba Lợi Chất Đa La) thành đạo. Từ ngữ Chước
Ca La Phạt Lạt Để Hạt La Xà (Chakravartin-rājah)
trong tiếng Phạn, được cơi này dịch là Chuyển
Luân Vương. Thi Thiết Túc Luận[9] nói phải
nên phân biệt có kim, ngân, đồng, thiết luân
vương theo thứ tự. Tính ngược theo thứ tự
trên đây th́ các vua ấy sẽ lần lượt thống
lănh một, hai, ba, bốn đại châu (theo kinh Xử
Thai, trong vô số A-tăng-kỳ kiếp, [Bồ Tát] lần
lượt làm Đại Phạm Thiên, Đế Thích, Luân
Vương, mỗi địa vị là ba mươi sáu lần,
độ chúng sanh chẳng đọa vào Nhị Thừa
hay đường ác).
Ca La Việt
(Kulapati) [trong tiếng Phạn] được dịch là
Cư Sĩ, tức là người thích nói những lời
danh ngôn, trụ trong hạnh thanh tịnh. Phàm là người
tích chứa nhiều của cải, hàng hóa, sản nghiệp
sung túc th́ đều được gọi bằng danh
xưng này. “Quốc vương” chính là Túc Tán
Vương[10].
Đất phong của chư hầu gọi là Quốc, từ
chữ Vi (囗) bỏ Hoặc (或) vào trong [th́ thành chữ
Quốc (國)] nhằm minh thị mỗi
vị [chư hầu] có lănh thổ được phân
phong, hăy đời đời ǵn giữ, đừng xâm phạm
lẫn nhau. “Vương” là người đứng
đầu Tam Tài. Từ chữ Cổn (丨) xuyên thấu chữ
Tam (三) [thành Vương (王)], lập thành đạo
“thiên, địa, nhân”. Như vua Đại Quang Minh xả đầu, vua Nguyệt Quang xả mắt, vua Ca Thi phá ngực moi tim, vua Kiên Ư xả tay v.v…
“Tể”
(宰) là chủ, là nấu nướng.
Đó là danh xưng chỉ sự nêm nếm các món ăn
ngon. Theo Châu Lễ, Trủng Tể (冢宰)[11] có thể
điều ḥa các quan, nên gọi là Tể. Phụ (輔) có nghĩa gốc là
hai thanh gỗ kẹp hai bên thành xe. Trong triều đ́nh có bốn
vị “phụ quan” (quan phù tá) gọi là Tả Phụ,
Hữu Bật, Tiền Điện, và Hậu Thừa. Do vậy,
vị chủ tể quần tịch (群辟, chư hầu bốn
phương và trăm quan), giúp đỡ cho sự giáo hóa của
vua, như trong quan chế của nhà Châu, Thái Sư, Thái Phó,
và Thái Bảo là Tam Công. Kinh Thư chép: “Duy tư tam công, luận
đạo kinh bang” (Chỉ có ba vị thuộc
ngôi tam công ấy nghiên cứu đạo trị quốc,
giúp cho việc cai trị, phát triển nước nhà).
Đức Phật từng làm đại thần Cù Tần,
chia Diêm Phù Đề thành bảy phần để chấm
dứt sự tranh chấp.
“Quan”
(官) là “hoạn” (宦, [nghĩa gốc là] bầy
tôi, tôi tớ trong một gia đ́nh. Người làm quan là
tôi tớ của vua nên làm quan gọi là “hoạn”. Thái
giám là người hầu phục dịch vua, nên cũng gọi
là “hoạn quan”), hoặc là “công” (公). “Thuộc” (屬) là quan liêu, bộ khúc[12]. Chức vị
của các chư hầu và trăm quan đều thuộc
quyền cai quản của Tam Công. Từ thời Hán - Ngụy
đến nay, Tam Sư (Tam Công) đều mở phủ,
đặt ra các liêu thuộc. Trên đây đều là những
người chưa tiếp nhận đạo. Dưới
đây toàn là những địa vị đă tiếp nhận
đạo.
(Kinh)
Hoặc hiện tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di thân, năi chí Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật, Bồ
Tát đẳng thân nhi dĩ hóa độ.
(經)或現比丘‧比丘尼‧優婆塞‧優婆夷身。乃至聲聞‧羅漢‧辟支佛‧菩薩等身‧而以化度。
(Kinh:
Hoặc hiện thân tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, cho đến thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật,
Bồ Tát v.v… để hóa độ).
Tỳ-kheo
(Bhikṣu) gọi là Khất Sĩ, sống cuộc đời thanh tịnh. Kinh Tịnh
Danh dịch tỳ-kheo thành Trừ Cẩn (除饉, trừ khử đói
kém), tức bậc xuất gia có giới hạnh, là ruộng
phước tốt, có thể sanh ra vật tốt lành, trừ
sự đói kém, thiếu hụt về nhân quả! “Ni”
(尼) là nữ. Đại Luận
nói: “Ni đắc vô lượng luật nghi, kém hơn tỳ-kheo”.
“Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di”: Tây Vực Kư[13] phiên âm là Ổ
Ba Sách Ca (Upāsaka), dịch sang tiếng Hán là Cận
Sự Nam (近事男). Ồ Ba Tư Ca (Upāsikā)
là Cận Sự Nữ (近事女), ư nói họ thân cận,
thừa sự pháp của chư Phật.
A La Hán
(Arhat) dịch là Sát Tặc, Ứng Cúng, hay Bất Sanh. Như trong kinh A Bạt
th́ dịch là Ứng Chân (應真), kinh Thụy Ứng dịch
là Chân Nhân (真人), toàn là dùng ư nghĩa Vô
Sanh để giải thích từ ngữ A La Hán. Thanh Văn
là như trong phần trước [đă giải thích]. Câu “nhi
dĩ hóa độ” (để hóa độ) xuyên suốt
cả những câu kinh văn trước đó.
(Kinh)
Phi đản Phật thân, độc hiện kỳ tiền.
(經)非但佛身‧獨現其前。
(Kinh:
Không chỉ là riêng một thân Phật hiện trước
mặt họ).
Câu “phi
đản Phật thân” (chẳng phải chỉ có thân
Phật) nhằm chỉ rơ không chỉ có một thân tướng hiển hiện, tức
là: Há có phải chỉ hiện riêng một thân Phật hiện trước các căn cơ,
mà là thuận theo sự cơ cảm của chúng sanh để
hiện khắp các sắc thân. Kinh Bảo Vũ nói: “Như
Lai thành tựu vô lượng sắc thân, nhược
chư hữu t́nh ưng dĩ Như Lai sắc thân nhi giáo hóa
giả, Như Lai tức năng ư nhất sát-na (danh cực
thiểu, thời cực thiểu), hoặc nhất Lạp
Phược (tức Ca La, nhất thiên lục bách sát-na danh
nhất Ca La), nhất Mâu Hô Lật Đa (lục thập Ca
La danh Mâu Hô Lật Đa), các các ư bỉ hữu t́nh chi sở,
thị hiện Như Lai sắc thân chi tướng. Nhược
ưng kiến chủng chủng biệt loại hữu
t́nh thân tướng, Như Lai tức ư nhất sát-na,
năi chí thị hiện chủng chủng biệt loại hữu
t́nh sắc thân chi tướng” (Như Lai thành tựu vô
lượng sắc thân. Nếu các hữu t́nh đáng nên
dùng sắc thân Như Lai để giáo hóa, Như Lai liền
có thể trong một sát-na (kṣaṇa, tức là ít nhất, trong
khoảng thời gian ít nhất), hoặc một Lạp
Phược (Lava, tức Ca La (Kala), một ngàn sáu trăm
sát-na gọi là một Ca La), hoặc một Mâu Hô Lật
Đa (Muhūrta, sáu mươi Ca La gọi là
Mâu Hô Lật Đa), mỗi mỗi đều ở chỗ
hữu t́nh ấy, thị hiện tướng sắc thân của
Như Lai. Nếu đáng nên thấy các thứ thân tướng
của các loại hữu t́nh khác biệt, Như Lai sẽ
liền trong một sát-na, cho đến thị hiện
đủ mọi tướng sắc thân của các loại
hữu t́nh khác nhau), đấy chính là ư được nói
trong đoạn kinh [Địa Tạng Bổn Nguyện]
này, đều là do thần trí của chư Phật cảm
vời.
3.2.1.1.2.1.2.2. Phó chúc vị
điều chúng sanh (phó chúc [Bồ Tát hăy độ thoát những] chúng
sanh chưa được điều phục)
3.2.1.1.2.1.2.2.1. Sắc quán
lũy kiếp độ sanh (sắc truyền hăy
quán chuyện đức Phật độ sanh trong bao kiếp)
(Kinh)
Nhữ quán ngô lũy kiếp cần khổ, độ thoát
như thị đẳng nan hóa cang cường tội khổ
chúng sanh.
(經)汝觀吾累劫勤苦‧度脫如是等難化剛強罪苦眾生。
(Kinh:
Ông hăy xem ta bao kiếp siêng khổ, độ thoát bọn chúng
sanh tội khổ ương ngạnh khó giáo hóa như thế
đó).
Đây là
đức Phật tự nói khi Ngài c̣n thuộc địa
vị Bồ Tát, trong ba đại A-tăng-kỳ kiếp,
đă siêng khổ vô lượng. Đại Kinh nói: “Ngă
ư văng tích chủng chủng khổ hạnh, kim đắc
như thị vô thượng phương tiện, vị
nhữ đẳng cố, vô lượng kiếp trung xả
thân, thủ, túc, đầu, mục, tủy, năo” (Ta trong
quá khứ đă tu tập đủ mọi khổ hạnh,
nay đạt được phương tiện vô thượng
như thế, đă v́ các ngươi mà trong vô lượng
kiếp xả thân, chân, tay, đầu, mắt, tủy, óc).
Lời Sớ viết: “Thân mạng th́ có ai mà chẳng coi
trọng. Ta coi nhẹ sống chết, dẫu so với
núi, với đất th́ hài cốt [đă thí xả] vẫn
nhiều gấp bội. Dẫu so với sông, với biển,
th́ tủy, năo [đă thí xả]
chẳng thể sánh ví nổi. Huống hồ vợ, con, quốc
thành đă buông bỏ vô số. Ân đức
như thế chỉ v́ các ngươi buông lung, chẳng thẹn,
bị giam chặt trong nhà tù, chẳng được giải
thoát!” Há chẳng
phải là đă bao kiếp siêng khổ chỉ nhằm
độ thoát bọn chúng sanh tội khổ ương ngạnh
khó giáo hóa như thế ư? Như Ương
Quật Ma La (Angulimala) nghe theo lời dạy của tà
sư [mà giết chết bao người, cắt lấy xương
ngón tay làm chuỗi đeo], đức Phật bèn dùng thần
lực hóa độ, ông ta liền bỏ tà đạo,
[theo Phật] xuất gia. Phạm vương tán thán: “Lạ
thay, đấng Điều Ngự Thiên Nhân Sư, đức
Như Lai khéo điều phục Ương Quật Ma La,
ví như rắn độc thấy vị thầy giỏi
chú thuật bèn phun khí nhả độc [mà vị thầy
giỏi chú thuật] chẳng sợ hăi”.
Đối
với tội khổ, Đại Luận chỉ ra hai thứ:
- Gậy
gộc đánh đập, lạnh, nóng… là thân khổ.
- Sót thừa,
tàn tạ là tâm khổ.
Các vị
thánh nhân do sức trí huệ, chẳng có những nỗi khổ
trong tâm như ưu sầu, ganh tỵ, sân hận v.v…,
nhưng có những nỗi khổ nơi thân như già, bệnh,
đói khát, nóng, lạnh v.v… (ngài Xá Lợi Phất khổ v́
bệnh phong nhiệt, ngài Tất Lăng Già Bà Tha (Pilinda-vatsa) khổ v́ chứng đau mắt, ngài La Bà
Na Bạt Đề (Lakuņţaka
Bhaddiya) khổ
v́ bệnh trĩ). Nhưng nỗi khổ nơi thân cũng
nhẹ, ít; như người biết ḿnh mắc nợ người
khác th́ phải trả, chẳng thấy đó là khổ. Kẻ
phàm phu chẳng nhớ đă mang nợ. V́ thế, thân tâm
đều chịu nỗi khổ trong hiện tại, thân
sau lại có nỗi khổ trong tam đồ. Do vậy nói
là “tội khổ chúng sanh”.
3.2.1.1.2.1.2.2.2. Linh ức thiên cung
phó chúc (dạy hăy nhớ sự phó chúc trên cung trời)
(Kinh)
Kỳ hữu vị điều phục giả, tùy nghiệp
báo ứng. Nhược đọa ác thú, thọ đại
khổ thời.
(經)其有未調伏者‧隨業報應。若墮惡趣‧受大苦時。
(Kinh:
Có những kẻ chưa điều phục theo nghiệp
báo ứng. Nếu khi họ đọa vào đường
ác, chịu khổ to lớn).
Bốn
câu đầu nói đến bọn nghiệp nặng trên
đây. “Tùy nghiệp” (Theo nghiệp) là như kinh Ngũ Mẫu Tử
nói: “Thế gian nhân bất tri hữu hậu thế sanh,
đản ngôn tử nhĩ. Tác thiện tự đắc
phước, tác ác tự đắc ương, nhập ác
đạo trung, hối vô sở cập, hồn thần
không khứ. Tùy kỳ thi hành, nghiệp báo thọ khổ,
như ảnh tùy h́nh” (Người thế gian chẳng biết có
đời sau, chỉ nói chết [là hết]. Làm lành tự
được phước, làm ác mắc ương họa,
vào trong đường ác, hối hận chẳng kịp,
hồn thần trơ trọi. Tùy theo những ǵ ḿnh đă
làm mà chịu khổ bởi nghiệp báo như bóng theo h́nh)
là nói về ư này.
(Kinh)
Nhữ đương ức niệm ngô tại Đao Lợi
thiên cung, ân cần phó chúc, linh Sa Bà thế giới, chí Di Lặc
xuất thế dĩ lai chúng sanh, tất sử giải
thoát, vĩnh ly chư khổ, ngộ Phật thọ kư.
(經)汝當憶念吾在忉利天宮‧殷勤付囑。令娑婆世界‧至彌勒出世已來眾生‧悉使解脫‧永離諸苦‧遇佛授記。
(Kinh:
Ông hăy nên nghĩ nhớ ta ở tại cung trời Đao Lợi
đă ân cần phó chúc khiến cho chúng sanh trong thế giới
Sa Bà cho đến khi Di Lặc xuất thế đều
được giải thoát, vĩnh viễn ĺa các khổ,
gặp Phật thọ kư).
Từ “nhữ
đương” (ông hăy nên) trở đi là đức Phật
căn dặn, giao phó: Sau khi ta diệt độ, khi hạng
người ấy đọa lạc, chịu khổ, ông
hăy nên nghĩ nhớ, tưởng niệm: “Xưa kia, ta ở tại cung
trời Đao Lợi, đích thân được đức
Thế Tôn ân cần ra rả căn dặn, giao phó: Trong tiểu
kiếp thứ mười nơi thế giới Sa Bà, cho
đến khi ngài Di Lặc xuất thế thành đạo,
trong khoảng ấy, đối với những kẻ
đă từng được giáo hóa, hoặc chưa giáo
hóa, hăy đều khiến cho họ được giải
thoát khỏi ác đạo, vĩnh viễn ĺa khỏi các nỗi
khổ trong tam đồ, bát nạn. [Đối với những
kẻ] cơ duyên chín muồi, gặp Phật thọ kư, hăy
[giúp cho họ] tự nên khăng khăng vâng giữ, chẳng
để đến nỗi mất đi, đọa lạc”. Sách Tây Vực Kư nói Di Lặc[14] [trong tiếng
Phạn, chánh âm là] Mai Lư Lệ Da (Maitreya), Hán dịch là Từ
Thị. Trong quá khứ, Ngài làm vua tên là Đàm Ma Lưu Chi
(Dharmaruci, cơi này dịch là Pháp Hy (法希), cũng dịch là Pháp
Lạc), dùng ḷng Từ nuôi dưỡng dân trong nước.
Từ ấy đến nay, Ngài thường có tên là Từ
Thị.
Kinh Di Lặc
Hạ Sanh nói: “Di Lặc thành đạo dĩ (chuẩn Xứ
Xứ kinh vân: “Di Lặc vị hạ, nhược
đương lai hạ, dư hữu ngũ thập ức
thất thiên lục bách vạn tuế”), vô lượng
thiên vạn ức chúng sanh kiến thế khổ năo, giai
ư Phật pháp trung xuất gia. Di Lặc kiến chư
đại chúng, tác thị niệm ngôn: ‘Thị chư chúng
sanh giai ư Phật pháp trung chủng chư thiện
căn, Thích Ca Mâu Ni Phật khiển lai phó ngă, ngă kim thọ
chi. Thiện tai Thích Ca Mâu Ni Phật, năng thiện giáo hóa
như thị đẳng bách thiên vạn ức chúng sanh, kim
chí ngă sở’. Như thị tam xưng tán Thích Ca Mâu Ni Phật,
nhiên hậu vị thuyết Tứ Đế, văn giả
đồng thời đắc đạo. Thời hoa lâm
viên, sơ hội thuyết pháp, cửu thập lục ức
nhân đắc A La Hán. Đệ nhị hội thuyết
pháp, cửu thập tứ ức nhân đắc A La Hán.
Đệ tam hội thuyết pháp, cửu thập nhị ức
nhân đắc A La Hán” (Di Lặc đă thành đạo (theo
kinh Xứ Xứ nói: “Di Lặc chưa giáng thế. Nếu
trong tương lai, Ngài giáng thế th́ cách hiện tại năm
mươi ức bảy ngàn sáu trăm vạn năm”), vô
lượng ngàn vạn ức chúng sanh thấy cơi đời
khổ năo, đều xuất gia trong Phật pháp. Ngài Di Lặc
thấy các đại chúng, bèn nghĩ như thế này: ‘Các
chúng sanh này đều gieo các thiện căn trong Phật
pháp, Thích Ca Mâu Ni Phật giao phó họ cho ta, ta đều tiếp
nhận. Lành thay Thích Ca Mâu Ni Phật! Có thể khéo giáo hóa
trăm ngàn vạn ức chúng sanh như thế đó, nay
đến chỗ ta’. Ba lượt xưng dương, tán
thán Thích Ca Mâu Ni Phật như thế. Sau đó, v́ họ
nói Tứ Đế, những người nghe đều đồng
thời đắc đạo. Khi ấy, ở trong vườn
Hoa Lâm, hội thuyết pháp đầu tiên, chín mươi sáu
ức người đắc A La Hán. Hội thuyết pháp
thứ hai, chín mươi bốn ức người đắc
A La Hán. Hội thuyết pháp thứ ba, chín mươi hai ức
người đắc A La Hán). V́ thế, trong kinh Xử
Thai, đức Phật bảo ngài Di Lặc rằng: “Nhữ
sở tam hội nhân, thị ngô tiên sở hóa. Cửu thập
lục ức nhân, thọ ngô Ngũ Giới giả. Thứ
thị Tam Quy nhân, cửu thập nhị ức giả, nhất
xưng Nam-mô Phật, giai đắc thành Phật đạo”
(Người trong ba hội [thuyết pháp] của ông là
những người được ta hóa độ trước
kia. Chín mươi sáu ức người thọ Ngũ Giới
của ta; kế đó là chín mươi hai ức người
thọ Tam Quy, xưng Nam-mô Phật một lần, đều
được thành Phật đạo) chính là nói về ư này.
Ḥa Già Na (Vyākaraṇa) trong tiếng Phạn được
cơi này dịch là Thọ Kư (授記). Ngôn thuyết của
bậc thánh là Thọ, quả và tâm phù hợp th́ gọi là Kư;
tức là được huyền kư sẽ đắc Sơ
Trụ vậy. Đấy đều là những người
được đức Phật ở tại cung trời
phó chúc ngài Địa Tạng [hóa độ] cho đến
khi ngài Di Lặc xuất thế.
3.2.1.1.2.2. Địa Tạng hợp
thân lănh giáo (ngài Địa Tạng hợp
các phân thân lại, vâng nhận lời Phật dạy)
3.2.1.1.2.2.1. Địa Tạng
chánh lănh (Địa Tạng vâng nhận)
3.2.1.1.2.2.1.1. Tự hợp thân
tông bổn (trần thuật chuyện hợp
các phân thân lại để tỏ rơ cái gốc)
(Kinh)
Nhĩ thời chư thế giới, phân thân Địa Tạng
Bồ Tát, cộng phục nhất h́nh, thế lệ ai luyến.
(經)爾時諸世界‧分身地藏菩薩‧共復一形‧涕淚哀戀‧
(Kinh:
Lúc bấy giờ, phân thân của Địa Tạng Bồ
Tát trong các thế giới cùng hợp thành một thân, ứa
nước mắt, buồn thương, quyến luyến).
Kinh Thập
Luân nói: “An nhẫn bất động, do như đại
địa” (An trụ, nhẫn nhục
bất động ví như đại địa). Nay
Địa Tạng đại sĩ từ kiếp số
xưa kia nhiều như cát, bụi, đă phát nguyện tiếp
nhận lời phó chúc cho đến khi ngài Di Lặc thành
đạo, sẽ nhẫn nại ở trong chốn trược
uế để hóa độ [chúng sanh trong] Nê Lê, [hạnh
an nhẫn ấy] khác nào đại địa?
“Hợp
các phân thân làm một thân”, một thân chính là gốc của
các thân. V́ thế, hợp các “ngọn” (phân thân) lại để đề cao cái
“gốc” (chân thân). Đấy là do khi
ngài Địa Tạng hành Bát Nhă, tu thần thông, Ba La Mật,
thọ các chuyện như ư, biến một thân thành vô số
thân, vô số thân lại trở thành một thân, ẩn hiển
tự tại! Nhưng cũng chẳng chấp trước
môn Như Ư Thần Thông ấy, do tự tánh là Không, do ĺa, do
vô sanh, chẳng có “trụ xứ, trong, ngoài, lớn, nhỏ”.
Do sức Thiền Định, nhanh chóng [biến ra] trọn
khắp các thân, các thân cũng
nhanh
chóng trở lại [thành một thân]. Trong kinh Trường
A Hàm, quyển thứ mười hai, ngài Xá Lợi Phất
nói: “Thần Túc chứng giả, tùy tam-muội tâm, tác vô số
thần lực, biến nhất thân vi vô số thân, dĩ
vô số thân hợp vi nhất thân. Xưng thị thần lực
giả, ty lậu hạ liệt phàm phu sở hành, phi thị
hiền thánh chi sở tu tập. Ư chư thế gian, ái
sắc, bất ái sắc, nhị câu xả dĩ, tu b́nh
đẳng hộ, chuyên niệm bất vong. Tư năi danh viết
hiền thánh thần túc” (Người chứng Thần
Túc do tùy tâm tam-muội mà hiện vô số thần lực,
biến một thân thành vô số thân, đem vô số thân hợp
thành một thân. Gọi đấy là “thần lực” th́ [chuyện
ấy chỉ] là chuyện làm của hạng phàm phu thô lậu,
hèn kém, chẳng phải là chuyện tu tập của bậc
hiền thánh. Ở trong các thế gian, yêu sắc, chẳng
yêu sắc, hai đằng đều đă bỏ, tu hộ
tŕ b́nh đẳng, chuyên niệm chẳng quên. Đấy gọi
là Thần Túc của bậc hiền thánh). Tiểu Thừa
c̣n như thế, huống hồ bậc đại Bồ Tát
ư? Một vầng trăng in bóng trong hết thảy các
chỗ có nước. Hết thảy bóng trăng trong
nước gom về một vầng trăng, đấy
chính là ư chỉ “hợp các phân thân thành một thân”.
“Ứa
lệ, đau buồn, quyến luyến” có bốn ư:
1) Buồn
v́ lục đạo tạo nghiệp chẳng hối cải.
2) Buồn
v́ chúng sanh ương ngạnh khó giáo hóa.
3) Buồn
v́ vầng mặt trời Như Lai trí huệ sắp lặn.
4) Buồn
v́ phó chúc trên cung trời là chuyện lớn.
Do vậy,
ứa nước mắt, đau buồn, quyến luyến,
quả thật là chuyện không thể nào tránh khỏi!
3.2.1.1.2.2.1.2. Thân hóa sự thọ
chỉ (thưa tŕnh sự giáo hóa của chính ḿnh,
vâng nhận ư chỉ của Phật)
3.2.1.1.2.2.1.2.1. Phật dẫn
sử hoạch thông huệ (do được Phật
tiếp dẫn mà đạt được thần thông,
trí huệ)
(Kinh)
Bạch kỳ Phật ngôn: - Ngă tùng cửu viễn kiếp
lai, mông Phật tiếp dẫn, sử hoạch bất khả
tư nghị thần lực, cụ đại trí huệ.
(經)白其佛言‧我從久遠劫來‧蒙佛接引‧使獲不可思議神力‧具大智慧。
(Kinh:
Bạch cùng đức Phật rằng: - Con từ kiếp
lâu xa đến nay, được Phật tiếp dẫn,
khiến cho con đạt được thần lực chẳng
thể nghĩ bàn, trọn đủ đại trí huệ).
Ở
đây, ngài Địa Tạng tự thuật chính Ngài đạt
được thần thông và trí huệ giống như thần
thông và trí huệ của Phật. Ngài nói: “Từ nhiều kiếp
lâu xa đến nay, con được Phật tiếp dẫn,
tế độ, giáo dưỡng, khiến cho con đạt
được thần thông và trí huệ như Phật. Nay
Phật giao phó chúng sanh đời Mạt cho con, con tự
biết đáng nên dùng sự tiếp dẫn giống
như Phật để tiếp dẫn họ, khiến
cho họ cũng đạt được thần thông và
trí huệ ấy. Đấy chính là chuyện thuộc về
bổn phận của con. Con phải tự nên nắm vững
căn cội huyền nhiệm để d́u dắt những
kẻ yếu đuối đang ch́m đắm vậy!”
3.2.1.1.2.2.1.2.2. Hóa thân sa giới
lợi sanh (hóa thân trong các cơi nhiều
như cát để lợi lạc chúng sanh)
3.2.1.1.2.2.1.2.2.1. Phân thân độ
nhân (phân
thân độ người khác)
(Kinh)
Ngă sở phân thân, biến măn bách thiên vạn ức Hằng
hà sa thế giới. Mỗi nhất thế giới, hóa bách
thiên vạn ức thân. Mỗi nhất thân, độ bách
thiên vạn ức nhân, linh quy kính Tam Bảo, vĩnh ly sanh tử,
chí Niết Bàn lạc.
(經)我所分身‧遍滿百千萬億恆河沙世界。每一世界‧化百千萬億身。每一身‧度百千萬億人。令歸敬三寶‧永離生死‧至涅槃樂。
(Kinh:
Phân thân của con đầy khắp trăm ngàn vạn ức
Hằng hà sa thế giới. Trong mỗi thế giới,
hóa hiện trăm ngàn vạn ức thân. Mỗi thân độ
trăm ngàn vạn ức người, khiến cho họ quy
y, kính ngưỡng Tam Bảo, vĩnh viễn ĺa khỏi
sanh tử, đạt tới niềm vui Niết Bàn).
Kinh
văn trong đoạn này bao gồm hai ư:
- Phân thân
trong các cơi nhiều như cát, cho thấy thần lực chẳng
thể nghĩ bàn.
- Độ
người khác chứng quả, cho thấy trí huệ chẳng
thể nghĩ bàn.
Thần
lực và trí huệ là căn bản để phân thân độ
người khác. Kinh Thập Luân nói đại lược
như sau: “Thử thiện nam tử thành tựu bất
khả tư nghị chư công đức pháp, kiên cố
thệ nguyện, dũng mănh, tinh tấn, vị dục
thành tựu chư hữu t́nh cố. Ư thập
phương giới, hoặc thời hiện tác Đại
Phạm Vương thân, năi chí hoặc tác địa ngục
ngục tốt, chư hữu t́nh thân. Hiện tác thị
đẳng vô lượng vô số dị loại chi thân, vị
chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Tùy kỳ sở
ưng, an trí tam thừa bất thoái chuyển vị” (Vị thiện nam tử
này thành tựu các pháp công đức chẳng thể
nghĩ bàn, thệ nguyện kiên cố, dũng mănh, tinh tấn,
v́ muốn thành tựu các hữu t́nh. Trong các cơi ở khắp
mười phương, [vị thiện nam tử ấy]
hoặc có lúc hiện làm thân Đại Phạm
Vương, cho đến hoặc làm ngục tốt hay
thân các hữu t́nh trong địa ngục. Hiện làm vô
lượng vô số thân dị loại như thế, v́
các hữu t́nh mà thuyết pháp đúng lẽ. Tùy theo căn
cơ của họ đáng nên độ như thế nào
mà đặt yên họ trong địa vị chẳng thoái
chuyển của tam thừa). V́ thế, Đại Luận
nói: “Bậc trọn đủ thần thông ở trong các
thế giới nhiều như cát sông Hằng khắp mười
phương, trong một lúc có thể biến hóa vô lượng
thân để cúng dường chư Phật, nghe pháp, thuyết
pháp, độ chúng sanh. Những vị như vậy, trừ
Phật ra, không ai có thể sánh bằng. Đó là thân cuối
cùng của Bồ Tát. V́ thế, có thể rộng độ
người ngoài”.
“Quy kính
Tam Bảo”: Quy (歸) có nghĩa là “quay trở về”; khiến cho họ phản tà
quy chánh. “Kính” (敬) có
nghĩa là “chuyên thành” (專誠, chuyên ṛng chân thành), khiến
cho họ bỏ vọng trở về với chân. Tam Bảo
chính là trận đầu tiên để trừ ác, là
chương đầu tiên để nhập đạo,
là tàu thuyền để vượt biển khổ, là
đạo trọng yếu để đạt tới Niết
Bàn. V́ thế, cần phải quy y. “Vĩnh ly” (永離,vĩnh viễn ĺa khỏi)
tức là hai thứ sanh tử đều đoạn,
ngũ trụ phiền năo mất sạch, Tam Đức bí
tạng cùng chứng trọn vẹn. Kinh Ngũ Mẫu Tử
nói: “Bạt kỳ căn châu, tiện khả đắc
thoát. Như nhân bất chủng, đản đương
Nê Hoàn, Nê Hoàn khoái lạc” (Nhổ trừ gốc cội, sẽ
được giải thoát. Như người chẳng
gieo mà đạt được Niết Bàn, hưởng sự
vui sướng của Niết Bàn) chính là nói về ư này.
3.2.1.1.2.2.1.2.2.2. Tiểu thiện
hoạch lợi (do điều lợi nhỏ
mà đạt được lợi ích)
(Kinh)
Đản ư Phật pháp trung, sở vi thiện sự,
nhất mao, nhất đế, nhất sa, nhất trần,
hoặc hào phát hứa, ngă tiệm độ thoát, sử hoạch
đại lợi.
(經)但於佛法中‧所為善事‧一毛一渧‧一沙一塵‧或毫髮許。我漸度脫‧使獲大利。
(Kinh:
Chỉ cần là họ ở trong Phật pháp làm thiện sự
như một sợi lông, một giọt nước, một
hạt cát, một hạt bụi, hoặc chừng bằng
một mảy tóc, con sẽ dần dần độ thoát,
khiến cho họ đạt được lợi ích to lớn).
Làm lành
trong Phật pháp có thù thắng và kém cỏi khác nhau. Nay người
làm thiện sự kém cỏi, một sợi lông rất nhẹ,
một giọt nước cực ít, một hạt cát rất
bé, một hạt bụi cực nhỏ, chừng bằng mảy
tóc, điều thiện càng ít ỏi hơn. Nhưng con
cũng khiến cho [người đă làm điều thiện
nhỏ nhoi ấy] thoát khỏi sanh tử, đạt
được lợi ích to lớn. Trong kinh Hiền Ngu,
đức Phật bảo ngài A Nan: “Nhược hữu
chúng sanh, ư Tam Bảo phước điền trung, chủng
thiểu thiểu chi thiện, đắc vô cực quả”
(Nếu có chúng sanh từ trong ruộng phước Tam Bảo
mà gieo chút ít điều thiện, sẽ đạt
được cái quả chẳng có cùng cực). Đấy
chính là gom những điều lành nhỏ nhoi của trời,
người về Nhất Thừa rộng lớn, tức
là giống như kinh Pháp Hoa mở rộng khắp sáu
đường, [những ai đối trước Tam Bảo
mà] cúi đầu, giơ tay, khảy ngón tay, rải
hoa [đều tạo là cái nhân để thành Phật]. Vốn
là phước thuộc đường trời người,
nay mở rộng ra thành duyên nhân[15] Phật chủng,
khiến cho họ đạt được lợi ích to lớn,
há c̣n nghi nữa chăng?
3.2.1.1.2.2.1.3. Ủy Thế Tôn vật
lự (an ủi đức Thế Tôn đừng
lo lắng)
(Kinh)
“Duy nguyện Thế Tôn, bất dĩ hậu thế ác nghiệp
chúng sanh vi lự”. Như thị tam bạch Phật ngôn:
“Duy nguyện Thế Tôn, bất dĩ hậu thế ác nghiệp
chúng sanh vi lự”.
(經)唯願世尊‧不以後世惡業眾生為慮。如是三白佛言‧唯願世尊‧不以後世惡業眾生為慮。
(Kinh:
“Kính mong đức Thế Tôn chớ nên v́ chúng sanh ác nghiệp
đời sau mà lo lắng”. Bồ Tát bạch cùng đức
Phật ba lần như thế này: “Kính mong đức Thế
Tôn chớ nên v́ chúng sanh ác nghiệp đời sau mà lo lắng”).
“Ủy
vật lự” (An ủi đừng lo)
nhằm nói rơ: Đấy là chuyện thuộc về trách
nhiệm của chính ḿnh. Bởi lẽ, những cái gọi
là “hết thảy phiền năo, sáu mươi hai kiến”
v.v… đều là chủng tử của Như Lai, tức
là kẻ Nhất Xiển Đề cũng chẳng đoạn
tánh thiện. Nếu gặp pháp duyên, thiện căn lại
phát khởi. Một điều thiện
nếu dấy lên, muôn điều
ác sẽ hoàn toàn tiêu! Ví như một đốm lửa
đốt rụi củi chất vạn khoảnh, thất
độc[16]
khiến nhiều người mất mạng! Như kinh Thập
Luân nói: “Tùy sở trụ xứ, nhược chư hữu
t́nh, tham, sân, si đẳng giai mănh lợi cố, tạo tác
thập ác nghiệp đạo, hữu năng chí tâm xưng
danh niệm tụng, quy kính cúng dường Địa Tạng
Bồ Tát giả, nhất thiết phiền năo tất giai
tiêu diệt, viễn ly Thập Ác, thành tựu Thập Thiện.
Ư chư chúng sanh, khởi từ bi tâm, cập lợi ích
tâm. Thử thiện nam tử thành tựu như thị công
đức diệu định oai thần chi lực,
dũng mănh, tinh tấn. Ư nhất thực khoảnh,
năng ư vô lượng vô số Phật độ, nhất
nhất độ trung, dĩ nhất thực khoảnh,
giai năng độ thoát vô lượng vô số Căng
Già sa đẳng sở hóa hữu t́nh, linh ly chúng khổ,
giai đắc an lạc. Tùy kỳ sở ưng, an trí sanh
thiên Niết Bàn chi đạo” (Ở bất cứ
nơi đâu, nếu các hữu t́nh tham, sân, si v.v… mạnh mẽ,
sắc bén, tạo tác thập ác nghiệp đạo, mà có kẻ
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy y, kính ngưỡng, cúng dường Địa Tạng
Bồ Tát th́ hết thảy phiền năo thảy đều
tiêu diệt, xa ĺa Thập Ác, thành tựu Thập Thiện. Đối
với các chúng sanh, dấy tâm từ bi và tâm lợi ích, thiện
nam tử ấy sẽ thành tựu sức công đức diệu
định oai thần, dũng mănh, tinh tấn. Trong khoảng
một bữa ăn, có thể trong vô lượng vô số
cơi Phật, trong mỗi cơi, dùng khoảng thời gian chừng
một bữa ăn, đều có thể độ thoát vô
lượng Hằng hà sa các hữu t́nh đáng hóa độ,
khiến cho họ ĺa các nỗi khổ, đều
được an vui. Tùy theo căn cơ đáng nên độ
mà đặt yên họ nơi đường sanh lên trời
hoặc Niết Bàn). V́ thế, chẳng c̣n phải lo sầu
cho chúng sanh ác nghiệp trong đời mai sau nữa!
3.2.1.1.2.2.2. Như Lai tán hỷ
(Như
Lai tán thán, hoan hỷ)
(Kinh)
Nhĩ thời, Phật tán Địa Tạng Bồ Tát
ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Ngô trợ nhữ hỷ, nhữ
năng thành tựu cửu viễn kiếp lai, phát hoằng
thệ nguyện, quảng độ tương tất, tức
chứng Bồ Đề”.
(經)爾時佛讚地藏菩薩言‧善哉‧善哉‧吾助汝喜。汝能成就久遠劫來‧發弘誓願。廣度將畢‧即證菩提。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật tán thán Địa Tạng
Bồ Tát rằng: “Lành thay! Lành thay! Ta giúp cho ông được
toại nguyện. Ông có thể từ nhiều kiếp lâu
xa đến nay, đă phát thệ nguyện rộng lớn,
khi độ xong tất cả chúng sanh, ông sẽ liền chứng
Bồ Đề”).
Ngài Địa
Tạng đă vâng lănh lời phó chúc và an ủi đức
Phật, đức Như Lai liền tán
thán, hoan hỷ phụ trợ. Tán thán “thiện tai” hai
lượt là v́:
1) Bồ
Tát có thể thấu hiểu Phật tâm, kính cẩn, vâng
theo mệnh lệnh nghiêm cẩn.
2) Bồ
Tát dùng phân thân lợi lạc chúng sanh, chẳng bỏ sót mảy
may phước nào.
V́ thế,
đức Phật hoan hỷ, “ông khiến cho tâm ta được toại,
nguyện của ông được măn”. Từ hai chữ “quảng
độ” trở đi, chính là lời hứa khả của
đức Phật, mà cũng là tự biết đúng thời
vậy. Như kinh Phổ Diệu nói: “Bất xử sanh
tử, bất trụ Nê Hoàn, tiện thọ Bồ Đề
quyết” (Chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ
trong Niết Bàn, liền được thọ kư Bồ
Đề). Như vậy là ngài Địa Tạng đă chứng
đại Bồ Đề từ lâu, cần ǵ phải chờ
rộng độ chúng sanh xong xuôi nữa ư?
3.2.2. Minh sở hóa chi cơ (nói rơ căn cơ
được Bồ Tát hóa độ)
Nói chung
[những căn cơ được hóa độ] là lục
đạo, nói riêng th́ chỉ có tam đồ, đích xác là
nói tới địa ngục. Tức là do ba nghiệp thân,
miệng, ư, tạo trọn đủ thượng phẩm
Thập Ác, cho nên chuốc lấy nỗi khổ địa
ngục! Kinh văn chia làm ba phần:
1) Chỉ
dạy nghiệp duyên sai khác.
2) Chỉ
dạy nghiệp cảm sai khác.
3) Chỉ
dạy nghiệp báo sai khác.
Đấy
là theo thứ tự đối ứng với ba đường
Hoặc, Nghiệp, Khổ mà luận định căn
cơ được giáo hóa.
3.2.2.1. Thị nghiệp duyên sai
biệt (dạy về nghiệp duyên sai biệt)
3.2.2.1.1. Phẩm đề (tên gọi của phẩm
kinh)
Quán
chúng sanh nghiệp duyên phẩm đệ tam.
(Phẩm
thứ ba: Quán chúng sanh nghiệp duyên).
3.2.2.1.2. Phẩm văn (kinh văn trong phẩm
này)
3.2.2.1.2.1. Thánh mẫu khải
vấn (thánh mẫu thưa hỏi)
(Kinh)
Nhĩ thời, Phật mẫu Ma Da phu nhân, cung kính hiệp
chưởng, vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn:
“Thánh giả! Diêm Phù chúng sanh tạo nghiệp sai biệt, sở
thọ báo ứng, kỳ sự vân hà?”
(經)爾時佛母摩耶夫人‧恭敬合掌‧問地藏菩薩言。聖者‧閻浮眾生造業差別‧所受報應‧其事云何。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Phật mẫu Ma Da phu nhân chắp tay
cung kính, hỏi Địa Tạng Bồ Tát rằng:
“Thưa thánh giả! Chúng sanh trong Diêm Phù tạo nghiệp
sai khác, hứng chịu báo ứng, chuyện ấy là
như thế nào?”)
Thánh mẫu nghe nói “chúng sanh mỗi
người mỗi khác, cho nên đức Như Lai phân thân
độ thoát”. Lại nghe ngài Địa Tạng thưa “[kính
mong Thế Tôn] đừng lo nghĩ v́ chúng sanh ác nghiệp
đời sau”, cho nên mới thừa cơ thưa hỏi.
Nhưng thánh mẫu đứng ra hỏi đầu tiên là
v́ Như Lai lên cung trời chính là v́ thánh mẫu [thuyết
pháp]. Huống hồ mẹ của đức Phật th́
càng đáng nên đứng đầu đại chúng. Chữ
A Ly Dă (Ārya) trong tiếng Phạn
được cơi này dịch là Thánh Giả. Không chuyện
ǵ chẳng thông suốt th́ gọi là Thánh. Khổng Tử
nói với Lỗ Ai Công[17]: “Được
gọi là thánh nhân là do trí thông suốt đại đạo,
ứng biến không cùng tận, suy lường được
t́nh và tánh của muôn loài”. Nay ngài Địa Tạng dùng
phương tiện chẳng thể nghĩ bàn, ứng biến
không ngằn mé, cho nên được gọi là “thánh giả”.
Từ “Diêm Phù chúng sanh” trở đi chính là lời lẽ
tŕnh bày mối nghi: Hết thảy chúng sanh do tự chuyển
theo nghiệp mà có thượng, trung, hạ sai khác. Trong kinh
Chiêm Sát, Địa Tạng Bồ Tát đă nói: “Sở
quán tam thế quả báo thiện ác chi tướng, hữu
nhất bách bát thập cửu tướng” (Quán tướng thiện
ác của quả báo ba đời th́ có một trăm tám
mươi chín tướng). Người tu hăy nên tự tra
cứu!
3.2.2.1.2.2. Địa Tạng
kính đáp (Địa Tạng kính cẩn
đáp)
3.2.2.1.2.2.1. Thông thị chư
giới nghiệp duyên (chỉ dạy chung về nghiệp
duyên của các giới)
(Kinh)
Địa Tạng đáp ngôn: “Thiên vạn thế giới,
năi cập quốc độ, hoặc hữu địa ngục,
hoặc vô địa ngục. Hoặc hữu nữ nhân, hoặc
vô nữ nhân. Hoặc hữu Phật pháp, hoặc vô Phật
pháp. Năi chí Thanh Văn, Bích Chi Phật, diệc phục
như thị, phi đản địa ngục tội báo
nhất đẳng”.
(經)地藏答言‧千萬世界‧乃及國土‧或有地獄‧或無地獄。或有女人‧或無女人。或有佛法‧或無佛法。乃至聲聞辟支佛‧亦復如是。非但地獄罪報一等。
(Kinh:
Địa Tạng đáp rằng: - Ngàn vạn thế giới
cho đến quốc độ, hoặc có địa ngục,
hoặc không có địa ngục. Hoặc có nữ nhân, hoặc
không có nữ nhân. Hoặc có Phật pháp, hoặc không có Phật
pháp. Cho đến Thanh Văn, Bích Chi Phật cũng [sai biệt]
giống như thế, không chỉ riêng tội báo trong địa
ngục sai khác mà thôi).
Phàm chủ
khách xướng họa, như đe và búa đập vào
nhau, nay hỏi và đáp chẳng phù hợp, là v́ lẽ nào? Ấy
là v́ lời hỏi của thánh mẫu có chỗ chưa thấu
triệt. Bởi lẽ, thế giới vô biên, quốc
độ vô lượng, chúng sanh vô tận, nghiệp quả
không ngằn mé. Nay chỉ hỏi nghiệp báo sai biệt của
chúng sanh trong Diêm Phù, chẳng phải là quá hạn cuộc
ư? Trước tiên, Bồ Tát trả lời [bằng
cách nói đến] ngàn vạn thế giới, dụng ư ấy
suy ra sẽ biết ngay. Có địa ngục là như Sa
Bà; không có địa ngục là như Cực Lạc. Cơi A
Súc Phật tuy có nữ nhân, nhưng chẳng có ư tưởng
tà dục. Quốc độ Cực Lạc và [như các]
kinh Bát Dương Thần Chú, kinh Bát Cát Tường, kinh
Bát Phật Danh Hiệu, [đều nói trong quốc độ]
của tám vị Phật ở phương Đông, trong mỗi
cơi đều chẳng có nữ nhân. Trong cơi nước
không có nữ nhân, sẽ là thanh tịnh
nhất. Đại Trí Độ Luận nói: “Bồ Tát
quán dục có đủ mọi thứ bất tịnh. Trong
các thứ suy bại, suy bại v́ nữ nhân là nặng nhất.
[Sánh ví nữ nhân như] dao đánh lửa, sấm chớp,
sét đánh, oán gia, rắn độc th́ vẫn là tạm gần
giống. Nữ nhân keo kiệt, đố kỵ, sân hận,
siểm khúc, lẳng lơ, uế ác, tranh chấp, tham lam,
ghen ghét, chớ nên thân cận”.
“Có Phật
pháp, không có Phật pháp”: Đại Luận viết: “Hỏi:
V́ sao coi trọng thế giới có Phật, coi thường
cơi nước không có Phật? Đáp: Phật là trang nghiêm
thế giới chủ. Nếu chư Phật chẳng xuất
thế, ắt chẳng có đạo tam thừa Niết
Bàn. Nếu cơi đời có Phật, chúng sanh thường
thoát khỏi lao ngục tam giới. Chúng sanh biết có tội
phước, thọ Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Trai, và có
năm chúng xuất gia v.v… các thứ thiện pháp. Nếu một
cơi nước chẳng có Phật, th́ ngay cả trời, người
cũng chẳng thể tu thiện”.
“Năi chí
Thanh Văn” (Cho đến Thanh Văn)
là từ ngữ nói giản lược. Theo kinh Bi Hoa, hoặc
là có thế giới thuần là các Bồ Tát, chẳng có danh
xưng Thanh Văn, Duyên Giác, hoặc là có Thanh Văn và Bích
Chi Phật Thừa, hay là có hoặc không có Phật, Bồ
Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, hoặc là Ngũ Trược tệ
ác, hoặc là thanh tịnh vi diệu, hoặc là hèn tệ,
thô lậu, bất tịnh, hoặc trang nghiêm thanh tịnh
diệu hảo, hoặc thọ mạng vô lượng, hoặc
thọ mạng ngắn ngủi, đủ mọi thứ
sai khác. V́ thế nói là “năi chí”. Do đó, biết lời
hỏi của thánh mẫu chưa trọn vẹn cho mấy!
3.2.2.1.2.2.2. Đích thị Diêm
Phù ác thú (dạy đích xác về đường ác
trong Diêm Phù)
3.2.2.1.2.2.2.1. Thánh mẫu trùng bạch
(thánh
mẫu lại thưa bày)
(Kinh)
Ma Da phu nhân trùng bạch Bồ Tát: “Thả nguyện văn
ư Diêm Phù tội báo, sở cảm ác thú”.
(經)摩耶夫人重白菩薩‧且願聞於閻浮罪報‧所感惡趣。
(Kinh:
Ma Da phu nhân lại thưa cùng Bồ Tát: “Vẫn mong nghe về
tội báo trong Diêm Phù chiêu cảm đường ác”).
“Thả”
(且) là từ ngữ diễn
tả sự tŕnh bày thô thiển, đại lược,
chưa rốt ráo. Ư nói: “Không phải là tôi chẳng muốn
nghe chuyện trong các quốc độ. Tôi nay đă nghe về
tội báo của chúng sanh trong Diêm Phù, bèn hỏi Nam Châu cảm
vời đường ác như thế nào đó thôi!”
3.2.2.1.2.2.2.2. Địa Tạng
tái đáp (ngài Địa Tạng lại
trả lời)
3.2.2.1.2.2.2.2.1. Bỉ thử
khiêm cung (đôi bên khiêm cung lẫn nhau)
(Kinh)
Địa Tạng đáp ngôn: “Thánh mẫu! Duy nguyện
thính thọ, ngă thô thuyết chi”. Phật mẫu bạch
ngôn: “Nguyện thánh giả thuyết”.
(經)地藏答言‧聖母‧唯願聽受‧我麤說之。佛母白言‧願聖者說。
(Kinh:
Ngài Địa Tạng đáp rằng: “Thưa thánh mẫu!
Xin hăy nghe nhận, tôi sẽ nói thô thiển về chuyện
đó”. Phật mẫu bạch rằng: “Mong thánh giả hăy
nói”).
“Nguyện
thính thọ”: Mong thánh mẫu hăy đại diện cho các
chúng sanh [mà lắng nghe]. “Thô thuyết” có hai ư:
1) Một
là danh hiệu địa ngục quá nhiều, chuyện khổ
vấn vít. Nếu muốn nói cặn kẽ, dẫu suốt
một kiếp vẫn chẳng thể hết được.
2) Hai là
nói Không, Vô Tướng v.v… th́ gọi là từ ngữ mềm
mỏng, dịu dàng; nói những chuyện trong địa
ngục th́ gọi là từ ngữ thô tháp.
“Nguyện
thuyết”: V́ tôi thật sự mong mỏi Ngài nói về
chuyện này, xin đừng cố sức khiêm tốn nữa!
3.2.2.1.2.2.2.2.2. Đáp minh tội
báo (đáp
rơ về tội báo)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1. Địa Tạng
tường thị (ngài Địa Tạng dạy
rơ)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.1. Tổng thị
(chỉ
dạy tổng quát)
(Kinh)
Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát bạch thánh mẫu
ngôn: - Nam Diêm Phù Đề tội báo, danh hiệu như thị.
(經)爾時地藏菩薩白聖母言‧南閻浮提罪報‧名號如是。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát bạch cùng
thánh mẫu: - Danh hiệu của tội báo trong Nam Diêm Phù
Đề là như thế này).
Ư nghĩa đă rơ.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2. Biệt minh (nói riêng)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1. Chánh đáp
Diêm Phù tội báo (đáp thẳng vào tội báo
của Diêm Phù)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.1. Biệt
minh tội báo (nói riêng từng tội báo)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1. Bất
hiếu nhị thân (bất hiếu với song
thân)
(Kinh)
Nhược hữu chúng sanh, bất hiếu phụ mẫu,
hoặc chí sát hại, đương đọa Vô Gián
địa ngục, thiên vạn ức kiếp, cầu xuất
vô kỳ.
(經)若有眾生‧不孝父母‧或至殺害‧當墮無間地獄。千萬億劫‧求出無期。
(Kinh:
Nếu có chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ,
hoặc c̣n đến nỗi giết hại, sẽ đọa
trong địa ngục Vô Gián ngàn vạn ức kiếp, chẳng
có thuở nào mong thoát ra được).
Trước
tiên, nêu ra tội đă tạo. Từ “đương
đọa” (sẽ đọa) trở đi là nói đến
quả báo cảm vời. Những đoạn sau đều
phỏng theo lệ này. Trước hết, nêu lên tội bất
hiếu cha mẹ, v́ thấy tội ấy cực lớn,
cực nặng. Đó là v́ cha mẹ ví như trời đất.
Kinh Ân Trọng nói: “Nhân sanh tại thế, phụ mẫu
vi thân, phi phụ bất sanh, phi mẫu bất dục” (Người sống trên cơi
đời, cha mẹ là chí thân. Không có cha, sẽ chẳng
sanh ra ta, không có mẹ, không người nuôi nấng ta). Do vậy,
kinh Nan Báo nói: “Tả kiên tŕ phụ, hữu kiên tŕ mẫu,
kinh lịch thiên niên, tiện lợi bối thượng,
do bất năng báo phụ mẫu chi ân” (Vai trái cơng cha, vai phải cơng mẹ,
trải suốt ngàn năm, cha mẹ tiêu tiểu trên
lưng, vẫn chẳng thể báo được ân cha mẹ).
Hơn nữa, làm con tận hiếu là thiên lư thường
hằng, là cội rễ của nhân luân. Nếu làm con mà bất
hiếu, ắt cha mẹ chẳng c̣n mong đợi ǵ nơi con được nữa, chẳng
bằng loài cầm thú, mọi rợ, sao đáng gọi là
người ư? Do đó, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Hữu
tứ chủng ân, thậm vi nan báo! Nhất mẫu, nhị
phụ, tam Như Lai, tứ thuyết pháp sư. Nhược
hữu cúng dường thử tứ chủng nhân, đắc
vô lượng phước. Hiện tại vị nhân tán
thán, vị lai năng đắc Bồ Đề” (Có bốn
thứ ân khó báo đáp nhất. Một là mẹ, hai là cha, ba
là Như Lai, bốn là thầy thuyết pháp. Nếu có
người cúng dường bốn loại người ấy,
sẽ được vô lượng phước. Hiện
tại được người khác tán thán, trong
tương lai sẽ đắc Bồ Đề).
Nay đă
chẳng thể cúng dường, báo ân, tức là đă
đánh mất trách nhiệm của kẻ làm con, huống hồ
dám làm chuyện đại nghịch đến nỗi giết
hại ư? Than ôi! Cha mẹ là người như thế
nào? Giết hại họ, đáng gọi là ǵ đây? Sát (殺) là tru diệt. Có tội
mà bị hành h́nh giết chết th́ là theo đúng pháp. “Hại”
(害) là tổn thương. Có oán ắt
báo, xét về t́nh c̣n chưa nên! Nay cha mẹ có tội ǵ, có
oán ǵ, mà đến nỗi giết hại vậy? Theo kinh Vị
Sanh Oán, vua A Xà Thế muốn hại cha. Vua cha nói: “Mỗi
khi ngươi bị bệnh, ta lo lắng cháy ḷng, muốn
dùng thân mạng để cứu nguy thay cho ngươi”.
Ân nhân từ của cha mẹ, chỉ có trời là hơn!
Ngươi ôm cái tâm ǵ mà nỡ ḷng ác nghịch? Những kẻ
giết cha mẹ, chết rồi sẽ vào Thái Sơn [chịu
tội][18].
V́ thế kinh nói: “Bất hiếu chi tội, chúng tội
chi thượng. Tự ưng đọa Vô Gián ngục
trung, thọ khổ thiên vạn ức kiếp, cầu xuất
vô kỳ dă” (Tội bất hiếu cao hơn các tội,
đáng đọa vào địa ngục Vô Giác, chịu khổ
ngàn vạn ức kiếp, chẳng mong có thuở thoát ra).
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2. Bất kính
Tam Bảo
(Kinh)
Nhược hữu chúng sanh xuất Phật thân huyết, hủy
báng Tam Bảo, bất kính tôn kinh, diệc đương
đọa ư Vô Gián địa ngục, thiên vạn ức
kiếp, cầu xuất vô kỳ.
(經)若有眾生‧出佛身血‧毀謗三寶‧不敬尊經‧亦當墮於無間地獄。千萬億劫‧求出無期。
(Kinh:
Nếu có chúng sanh làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam
Bảo, chẳng kính trọng kinh điển, cũng sẽ
đọa trong địa ngục Vô Gián ngàn vạn ức
kiếp, chẳng mong có thuở thoát ra).
“Xuất
Phật thân huyết” (Làm thân Phật chảy máu) là như Đề
Bà Đạt Đa đẩy núi toan đè chết Phật.
Kim Cang Lực Sĩ (tức thần núi Kỳ Xà Quật,
tên là Tỳ La) dùng chày Kim Cang từ xa quăng tới,
đá vỡ nát văng ra, làm tổn thương ngón chân của
Phật. Xe bốc lửa đến đón [Đề Bà
Đạt Đa] đọa địa ngục ngay trong khi
c̣n sống. Nếu người đời thiêu đốt
kinh, tượng, sẽ bị phán cùng một tội. Hủy
báng Tam Bảo là do không có ḷng tin. Kinh Thập Luân, quyển bốn
nói: “Hữu Sát-đế-lợi Chiên Đồ La
vương, tể quan, cư sĩ, trưởng giả,
sa-môn, Bà-la-môn đẳng, tùy ác hữu hành, thiện căn vi
thiểu, siểm khúc, ngu si, hoài thông minh mạn, ư Tam Bảo
sở vô thuần tịnh tâm, bất kiến, bất úy hậu
thế ác quả. Tự vị thông mẫn, ư ngă sở
thuyết Thanh Văn, Duyên Giác, cập Đại Thừa
pháp, hủy tư phỉ báng, bất thính chúng sanh thọ
tŕ, độc tụng, hạ chí nhất tụng. Như thị
đẳng nhân, danh vi hủy báng Phật chánh pháp giả,
khiêu hoại vô lượng chúng sanh pháp nhăn. Thị nhân bất
cửu, tiện đương chi thể phế khuyết,
kết thiệt bất ngôn, thọ chư khổ độc,
thống thiết nan nhẫn. Mạng chung định sanh
Vô Gián đại ngục” (Có loại vua Chiên-đồ-la
trong gịng Sát-đế-lợi, tể quan, cư sĩ,
trưởng giả, sa-môn, Bà-la-môn v.v… làm theo bạn ác, thiện
căn kém ít, siểm khúc, ngu si, ôm ḷng ngạo mạn, tự
cho là thông minh, đối với Tam Bảo chẳng có tâm
thuần tịnh, chẳng thấy, chẳng sợ ác quả
đời sau, tự cho là thông thái, mẫn tiệp, đối
với các pháp Thanh Văn, Duyên Giác và Đại Thừa do
ta đă nói bèn hủy báng, chê bai, phỉ báng, chẳng cho
phép chúng sanh thọ tŕ, đọc tụng, dẫu chỉ một
bài kệ. Hạng người như thế gọi là kẻ
hủy báng chánh pháp của Phật, chọc mù pháp nhăn của
vô lượng chúng sanh. Kẻ ấy chẳng bao lâu, các chi
thể sẽ bị hư hoại, sứt thiếu, cứng
lưỡi chẳng nói được, chịu đựng
các thứ khổ độc, đau đớn cùng cực, khó thể chịu đựng
nổi! Mạng chung nhất định sẽ sanh vào ngục
lớn Vô Gián).
“Bất
kính tôn kinh” là như kinh Vấn Sự Phật Cát Hung
đă nói: “Hữu nhân sự Phật, bất kính Phật
kinh, tŕ trước tệ khiếp, y phục bất tịnh
chi trung, hoặc trước thê tử sàng thượng, bất
tịnh chi xứ, hoặc tŕ quải bích thượng, vô hữu
ṭa tịch cung kính chi tâm, dữ thế gian phàm thư vô dị”
(Có kẻ thờ Phật mà chẳng tôn kính kinh Phật,
để kinh trong rương nát, quần áo chẳng sạch,
hoặc bỏ trên giường của vợ con là chỗ
bất tịnh, hoặc treo móc trên vách, chẳng tôn trọng,
cung kính, chẳng khác sách vở tầm thường trong thế
gian). A Nan Thỉnh Giới Luật Luận nói: “Hàng
tăng ni, bạch y (tại gia cư sĩ) v.v… đọc
kinh, luật, luận, đang trong lúc đi và nói mà tay cầm
[quyển kinh] lật mở, sẽ tính theo số năm
trên trời Đao Lợi [để kết tội kẻ ấy]
phạm tội Đột Cát La[19],
bàng báo (báo ứng kèm theo) là hai ức năm, đọa làm
loài cheo, nai, luôn bị cong gập xương sống,
đau khổ khó thể chịu đựng nổi. Vô tâm
nói đùa, cầm nắm kinh luật luận [để
đùa bỡn], cũng chuốc lấy báo ứng như
trên. Hoặc để kinh, tượng ở dưới
mái thềm nhà cửa hoặc điện đường,
tính theo kiếp số nơi trời Đao Lợi, phạm
trọng tội Đột Cát La
tám trăm năm, bàng báo hai ức năm, đọa trong
loài lợn, chó. Nếu được làm thân người,
trong một ức năm, sẽ làm thân ăn nhờ ở
đậu lênh đênh, chẳng được tự tại”. Do vậy, nói là “cũng
sẽ đọa vào địa ngục Vô Gián” v.v…
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.1.3. Xâm tổn
dâm ô
(Kinh)
Nhược hữu chúng sanh, xâm tổn thường trụ,
điểm ô tăng ni. Hoặc già lam nội, tứ hành dâm
dục, hoặc sát, hoặc hại. Như thị đẳng
bối, đương đọa Vô Gián địa ngục,
thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.
(經)若有眾生‧侵損常住‧點污僧尼。或伽藍內‧恣行婬欲‧或殺或害。如是等輩‧當墮無間地獄。千萬億劫‧求出無期。
(Kinh:
Nếu có chúng sanh xâm phạm, tổn hại thường
trụ, làm ô uế tăng ni, hoặc ở trong chốn
chùa chiền, phóng túng làm chuyện dâm dục, hoặc giết,
hoặc hại, hạng người như thế sẽ
đọa vào địa ngục Vô Gián ngàn vạn ức kiếp,
chẳng mong có thuở thoát ra).
“Thường
trụ”: Tiếng Phạn là Tăng-kỳ (Sāṃghika), cơi này dịch là Tứ Phương
Tăng Vật (vật dụng của tăng chúng bốn
phương). Luật Sao[20] nói có bốn
loại Thường Trụ:
1) Thường
trụ thường trụ (tức là tự xá, cây cối,
ruộng, vườn, nô bộc, thú nuôi của tăng chúng,
chỉ hạn cuộc trong chỗ chùa chiền ấy, chẳng
thông với những nơi khác. [Tăng chúng ở ngôi già-lam ấy] chỉ được
thọ dụng, không được chia chác để bán
đi. V́ thế, nói trịnh trọng là “thường trụ”).
2) Thập
phương thường trụ (những thứ thường
ăn để dâng cho chúng tăng trong nhà chùa, áp dụng
chung cho mười phương, [quyền sở hữu] chỉ
hạn cuộc nơi ấy). Hai thứ này được
gọi là Tăng Kỳ Vật.
3) Hiện
tiền hiện tiền (những vật được bố
thí, chỉ thí cho những tăng chúng đang hiện tiền
ở nơi ấy).
4) Thập
phương hiện tiền (vật dụng của năm
loại tăng chúng đă mất. Nếu chưa bạch Yết
Ma [mà tự tiện chiếm dụng] th́ mắc tội với
thập phương Tăng; đă bạch Yết Ma th́ [tự
tiện chiếm dụng], sẽ mắc tội với hiện tiền
Tăng).
Hai thứ
này được gọi là Hiện Tiền Tăng Vật.
Kinh Thập Luân nói: “Nhược hữu tứ
phương Tăng vật, tư sanh, tạp vật đẳng,
tŕ giới, phá giới, như thị nhân đẳng tất
bất dữ chi, mạng chung dĩ hậu, giai đọa
A Tỳ địa ngục” (Nếu có vật dụng,
đồ dùng cần cho cuộc sống, các vật dụng
thông thường v.v… thuộc về tăng chúng bốn
phương mà đối với người tŕ giới
hay phá giới đều không chia cho họ, sẽ đều
đọa vào địa ngục A Tỳ).
“Điểm
ô tăng ni”: Chữ Điểm (點) ở đây giống như
Điếm (玷), tức là bôi đen. Tỳ-kheo-ni,
thức-xoa-ma-na (học pháp nữ), sa-di-ni chính là hậu
duệ của di mẫu đức Phật, kẻ tham dục
chẳng biết tội phước, cưỡng bức họ
làm chuyện ô nhục, dẫu ngàn đức Phật ra
đời, cũng chẳng thể sám hối được!
“Tăng-già-lam”
(Sam̐ghārāma) trong tiếng Phạn được
dịch là Chúng Viên (眾園, vườn của đại chúng). Tăng
Sử Lược[21] nói: “Làm
chỗ vườn tược cho mọi người, là chỗ
gieo trồng”. Đệ tử Phật chính là [những người
đang] gieo trồng mầm đạo, thánh quả. Luật
Tứ Phần nói: “Vân hà ư thanh tịnh pháp trung, hành bất
tịnh da? Thân hoại, mạng chung, đọa tam ác đạo”
(V́ lẽ nào mà ở trong
pháp thanh tịnh lại làm chuyện bất tịnh? Thân
hư, mạng chết, đọa trong ba đường
ác). Trong kinh Ngạ Quỷ Báo Ứng, một con quỷ hỏi
ngài Mục Liên rằng: “Nam căn của tôi thường bị
lở loét, hư nát, do tội ǵ mà đến nỗi ấy?”
Ngài đáp: “Khi ngươi làm người, đă hành dâm
nơi chỗ tháp miếu. Nay chịu hoa báo, quả báo là
trong địa ngục”. Xem đó, há nên phóng túng làm ác ư?
“Hoặc
là sát hại”: Hoặc là do tham đắm dâm dục mà
đến nỗi giết người, hại mạng, sát
hại sanh linh. Như vào đời Đường, tại
chùa Cảnh Đức ở Lạc Châu, tỳ-kheo-ni Nhậm
Ngũ Nương chết đi, em bà ta thường nghe
nơi linh ṭa (chỗ thờ vong linh bà ta) có tiếng rên siết,
bèn hỏi han. Hồn ma nói: “Lúc ta c̣n sống, đă làm chuyện
sai trái trong nhà, ham ăn thịt, sát hại chúng sanh. Lại
c̣n bắt cá sống làm chả, do những chúng sanh bị
sát hại đ̣i mạng, phải thọ thân trong địa
ngục Đao Kiếm. Trên thân có bảy chiếc đao
găy, đau thấu xương tủy. Mong em hăy đem bán sạch
đồ đạc trong nhà [mà ta sở hữu] khi c̣n sống,
để cầu đại sư Bảo Hiến chùa Tịnh
Độ chép bảy quyển kinh Kim Cang, đối trước
Phật sám hối”. Em bà ta vâng lời, bán đồ đạc, chép một
quyển kinh, đao bèn rút bớt một chiếc. Chép kinh viên
măn, đao bèn rút hết, các sanh linh [bị Ngũ
Nương sát hại] bèn thoát sanh vào thiện đạo,
Ngũ Nương cũng ĺa địa ngục. Xem chuyện
này, há có nên v́ dâm dục mà sát hại ư? Trong phần sau là
nói về quả báo.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.1.4. Phá giới
cuống nhân (phá giới, lừa gạt
người khác)
(Kinh)
Nhược hữu chúng sanh, ngụy tác sa-môn, tâm phi sa-môn,
phá dụng thường trụ, khi cuống bạch y, vi bội
giới luật, chủng chủng tạo ác; như thị
đẳng bối, đương đọa Vô Gián địa
ngục thiên vạn ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.
(經)若有眾生‧偽作沙門。心非沙門‧破用常住。欺誑白衣‧違背 戒律‧種種造惡。如是等輩‧當墮無間地獄。千萬億劫‧求出無期。
(Kinh:
Nếu có chúng sanh giả vờ làm sa-môn, tâm chẳng phải
là sa-môn, tiêu xài phung phí của thường trụ, gạt
gẫm hàng tại gia, trái nghịch giới luật, làm ác
đủ thứ; hạng người như thế sẽ
đọa vào địa ngục Vô Gián ngàn vạn ức kiếp,
chẳng mong có thuở thoát ra).
Sa-môn (Śramaṇa),
theo Du Già Sư Địa Luận, có bốn loại: Một
thắng đạo sa-môn, tức Phật v.v… Hai là thuyết
đạo sa-môn, tức là người nói chánh pháp. Ba là hoạt
đạo sa-môn, tức người tu các thiện phẩm.
Bốn là ô đạo sa-môn, tức là kẻ có hành vi bất
chánh.
“Ngụy”
(偽) là quỷ quyệt, dối
trá. Bề ngoài ra vẻ tu hành, trong tâm chất chứa những
ư tưởng nhơ nhuốc, tức hạng ô đạo
sa-môn vậy. Bốn câu kế đó nhằm giải thích “ngụy”
là như thế nào: Lạm dụng vật dụng của thường
trụ v.v… Đấy là luật nghi giới. Đại Luận
nói: “Luật nghi giới có thể khiến cho các ác chẳng
được tự tại, v́ dùng giới cấm để
ước thúc”.
Tỳ Ni
(Vinaya) dịch là Luật Luật (律律), tức là khuôn phép. Phán quyết
nặng, nhẹ, khai, giá, tŕ, phạm, phi pháp, bất định.
[Giới luật] là chỗ nương tựa của hết
thảy người xuất gia, là nhân duyên đầu tiên
để đạt đến Niết Bàn. V́ thế,
đức Phật bảo tỳ-kheo Tăng Hộ rằng:
“Tŕ giới tối vi lạc, thân bất thọ chư
năo, thùy miên đắc an ổn, ngụ tắc tâm hoan hỷ” (Tŕ giới vui sướng nhất, thân chẳng
chịu các năo, ngủ nghê được an ổn, tỉnh
giấc tâm hoan hỷ). Nay đă trái nghịch, ắt con
đường nhân thiên chấm dứt, cửa địa
ngục mở ra, v́ thế nói là “sẽ vào trong Vô Gián” v.v…
Nhưng thiên nhân Phí Thị nói: “Một châu ở
phương Nam tuy có nhiều kẻ phạm tội,
nhưng theo thiện, dễ điều phục”. Đức
Phật sắp nhập Niết Bàn, [Địa Tạng Bồ
Tát] đích thân nhận lănh phó chúc, lại c̣n thủ hộ,
chẳng để cho ma quấy nhiễu [các đệ tử Phật]. Nếu chẳng thủ
hộ kẻ phá giới như thế, có ai hành giáo pháp của
ta? Tuy thấy [những kẻ ấy] hủy hoại giới
cấm, vẫn xót thương, bảo vệ. Thấy họ
có một điều thiện, bèn đối với muôn
điều lầm lỗi của họ chẳng quở trách,
coi như quên mất tỳ vết, chẳng nghĩ đến
lỗi đă qua. Trong ba mươi hai vị tướng [của
Tứ Thiên Vương], Vi Tướng Quân (ngài Vi Đà Hộ
Pháp) hoằng dương, hộ tŕ nhiều nhất. Có nhiều
ma tử và ma nữ khinh giỡn hàng tỳ-kheo, những
người đạo lực yếu ớt hoàn toàn bị
chúng nó rối loạn, mê hoặc. Tướng quân (ngài Vi
Đà) hoảng hốt xông tới, ứng theo căn cơ
mà trừ dẹp, dùng hạnh Đồng Chân bảo vệ
chánh pháp.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.1.5. Thâu
thường trụ vật (ăn cắp đồ
đạc của thường trụ)
(Kinh)
Nhược hữu chúng sanh, thâu thiết thường trụ
tài vật, cốc mễ, ẩm thực, y phục, năi chí
nhất vật bất dữ thủ giả,
đương đọa Vô Gián địa ngục, thiên vạn
ức kiếp, cầu xuất vô kỳ.
(經)若有眾生‧偷竊常住財物穀米‧飲食衣服‧乃至一物不與取者‧當墮無間地獄。千萬億劫‧求出無期。
(Kinh:
Nếu có chúng sanh trộm cắp tài vật, thóc gạo, thức
ăn, quần áo của thường trụ, cho đến
một vật chẳng cho mà lấy, sẽ đọa vào
địa ngục Vô Gián ngàn vạn ức năm chẳng
mong có thuở thoát ra).
“Thâu”
(偷) và “thiết” (竊) đều là trộm
cắp (Chữ Đạo (盜, trộm cắp) là do
chữ Thứ (次, thời cổ có
nghĩa là nước miếng) và chữ Mănh (皿, bát đựng) ghép lại,
thể hiện ư nghĩa “con chuột chảy nước răi trên đồ
đựng”), ư nói: Không cho mà lấy.
Công khai không cho mà lấy th́ gọi là Kiếp (劫, cướp), không cho
mà cứ ngấm ngầm trộm lấy th́ gọi là Đạo
(盜). “Vật” (物) là các đồ dùng cần
thiết cho cuộc sống, các món vật dụng thông
thường. Phàm sống trong ṿng trời đất, có
h́nh mạo, thanh sắc th́ đều là “vật”. Nay
tài vật là những món để cho Tăng sử dụng. Thóc gạo, đồ ăn
thức uống chính là thứ để nuôi sống
Tăng. Y phục là để cho Tăng che phủ thân thể.
Hoặc là công khai cướp đoạt, hoặc ngấm
ngầm lấy trộm, tội này nặng lắm!
Theo kinh
Quán Phật Tam Muội, trộm đồ vật của
Tăng Kỳ (thường trụ) c̣n nặng hơn giết
tám vạn bốn ngàn cha mẹ! Hoa Tụ Bồ Tát nói: “Ngũ
Nghịch, Tứ Trọng, ngă diệc năng cứu. Đạo
tăng vật giả, ngă bất năng cứu” (Tội
Ngũ Nghịch, Tứ Trọng ta vẫn có thể cứu
được; nhưng trộm cắp vật dụng của
Tăng, ta chẳng thể cứu được). Bởi
lẽ, lấy trộm bất cứ vật nào đều
là [trộm cắp] của mười phương phàm
thánh, thuận theo cảnh mà thành vô biên, kết thành tội
lỗi vô biên. Đối với những thứ vi tế
như vi trần c̣n biết nổi số, chứ tội
này chẳng thể đo lường, suy tính nổi! Cho nên
đặc biệt nặng nề!
Phần
kế tiếp là chỉ dạy về quả báo. Như
trong phẩm Tế Long (phẩm Cứu Rồng của kinh Quán Phật Tam Muội),
các con rồng tự nghĩ đến nghiệp của chính
ḿnh trong quá khứ: Ở trong Phật pháp, hoặc làm kẻ
thế tục, hoặc do nhân duyên nghe pháp mà lui tới [tự
viện], đối với tất cả các thứ hoa, quả,
thức ăn do người có tín tâm xả thí dâng cho các vị
tỳ-kheo, [những con rồng ấy tuy là thân phận tại
gia] cứ theo thứ tự mà ăn, ăn hoa, quả, thức ăn của
tăng chúng bốn phương v.v… Do nhân duyên của nghiệp
ấy, trải vô lượng kiếp trong địa ngục,
bị lửa dữ nung đốt, uống nước
đồng nung, nuốt ḥn sắt. Từ địa ngục
thoát ra, đọa vào súc sanh hay ngạ quỷ. Do ác nghiệp
chưa hết, sanh vào loài rồng, thường hứng chịu
khổ năo. Đức Phật bảo các con rồng: “Ác
nghiệp ấy chẳng khác ǵ ác nghiệp trộm cắp
đồ vật của Phật”. Than ôi! Cơn sóng cuồng
này cuồn cuộn quá đỗi, ai có thể chế ngự
được nổi!
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.2. Kết hiển
đọa khổ (kết lại để chỉ
rơ nỗi khổ v́ đọa lạc)
(Kinh)
Địa Tạng bạch ngôn: - Thánh mẫu! Nhược
hữu chúng sanh tác như thị tội, đương
đọa Ngũ Vô Gián địa ngục, cầu tạm
đ́nh khổ, nhất niệm bất đắc.
(經)地藏白言‧聖母‧若有眾生作如是罪‧當墮五無間地獄。求暫停苦‧一念不得。
(Kinh:
Địa Tạng bạch rằng: “Thánh mẫu! Nếu có
chúng sanh tạo tội như thế, sẽ đọa vào
địa ngục Ngũ Vô Gián cầu tạm ngưng khổ
trong một niệm cũng chẳng được”).
Năm thứ
nghiệp trên đây nói chung là thượng phẩm Thập
Ác! V́ thế, kinh Địa Tŕ nói rộng về nghiệp
Thập Ác, ắt đọa vào địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Được sanh trong loài người, ai
nấy đều có quả báo của hai thứ dư nghiệp.
Đối với mỗi điều ác, kinh đều nói
rơ năm thứ báo. V́ thế, Địa Tạng Bồ Tát
trả lời thánh mẫu rằng: “Nếu có chúng sanh
trong cơi Diêm Phù Đề mà tạo những tội như
đă nói trên đây, sẽ đều đọa vào địa
ngục Vô Gián. Trong ngàn vạn kiếp, cầu mong tạm
ngưng nỗi chua xót, khổ sở, dẫu chỉ trong một
niệm tột bậc ngắn ngủi, há có
được hay chăng?” Đại Luận dẫn lời
đức Phật dạy: “Ngă thế thế tằng tác
tiểu trùng, ác nhân, tiệm tiệm tập chư thiện
bổn, đắc đại trí huệ. Kim tự trí tác Phật,
thần lực vô lượng, tối thượng, tối
đại, Nhất thiết chúng sanh diệc khả đắc
nhĩ, vân hà không thọ cần khổ nhi đọa tiểu
xứ, tự ưng nỗ lực cần tu, các cầu xuất
ly dă” (Ta đă đời đời từng làm tiểu
trùng, kẻ ác, dần dần gom góp các cội lành, đạt
được đại trí huệ. Nay tự đạt
đến mức làm Phật, thần lực vô lượng,
tối thượng, tối đại. Hết thảy chúng
sanh cũng có thể đạt được, sao lại
uổng công siêng khổ để rồi đọa trong chỗ
nhỏ hẹp. Hăy tự nên nỗ lực siêng tu, ai nấy
cầu xuất ly).
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2. Trùng vấn
Vô Gián ngục danh (hỏi lại tên của
địa ngục Vô Gián)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.1. Thánh mẫu
vấn (thánh mẫu thưa hỏi)
(Kinh)
Ma Da phu nhân trùng bạch Địa Tạng Bồ Tát ngôn: “Vân
hà danh vi Vô Gián địa ngục?”
(經)摩耶夫人‧重白地藏菩薩言‧云何名為無間地獄。
(Kinh:
Ma Da phu nhân lại bạch cùng Địa Tạng Bồ Tát
rằng: - V́ sao gọi là địa ngục Vô Gián?)
Do trong
các đoạn kinh văn trên đây nhiều lần nói “sẽ
đọa vào địa ngục Vô Gián”, chẳng biết
tên gọi Vô Gián do dựa theo nghĩa nào mà thành lập?
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2. Địa
Tạng thích (đức Địa Tạng
giải thích)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.1. Tổng
thị chư ngục (dạy chung về các ngục)
(Kinh)
Địa Tạng bạch ngôn: - Thánh mẫu! Chư hữu
địa ngục tại Đại Thiết Vi sơn chi
nội. Kỳ đại địa ngục, hữu nhất
thập bát sở, thứ hữu ngũ bách, danh hiệu các
biệt. Thứ hữu thiên bách, danh hiệu diệc biệt.
(經)地藏白言‧聖母‧諸有地獄在大鐵圍山之內。其大地獄‧有一十八所。次有五百‧名號各別。次有千百‧名號亦別。
(Kinh: Đức
Địa Tạng bạch rằng: - Thưa thánh mẫu!
Địa ngục trong các Hữu th́ đều ở trong
núi Đại Thiết Vi. Đại địa ngục th́
có mười tám chỗ, kế đó là có năm trăm chỗ,
danh hiệu mỗi ngục mỗi khác. Kế đó có ngàn
trăm ngục, danh hiệu cũng khác).
“Chư
hữu” là nói chung tất cả các Hữu, nói đích xác
là hai mươi lăm Hữu, nhân quả chẳng mất!
Kinh Pháp Cú nói: “Sở tác thiện ác, giai hữu nhân quả,
kinh cửu bất vong” (Thiện ác đă làm, đều có nhân quả,
lâu ngày chẳng mất). Có bài tụng [để dễ ghi
nhớ] hai mươi lăm Hữu như sau: “Tứ
châu, tứ ác thú, lục dục tịnh Phạm Thiên, Tứ
Thiền, Tứ Không Xứ, Vô Tưởng, Ngũ Na Hàm”
(Bốn châu, bốn
đường ác, lục dục và Phạm Thiên, Tứ Thiền,
Tứ Không Xứ, Vô Tưởng, Ngũ Bất Hoàn). V́ thế,
trong phần sau có nói: “Bất vấn nam tử nữ
nhân, năi chí tội hạnh nghiệp cảm, tất đồng
thọ chi” (Chẳng cần biết là đàn ông hay
đàn bà, cho đến do tội hạnh nghiệp cảm,
ắt sẽ cùng hứng chịu [giống như nhau]). V́
thế, trong hai mươi lăm Hữu, hễ tạo tội
liền có địa ngục, [địa ngục] đều
ở trong núi Thiết Vi. Những điều khác như
đă giải thích trong phần trên.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2. Biệt
minh Vô Gián (nói riêng về Vô Gián)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1. Chánh
minh nghiệp báo (nói thẳng vào nghiệp báo)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1. Chánh
khai (nói thẳng
vào vấn đề)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.1. Thị
ngục thành danh xuất (dạy về thành quách
trong địa ngục, nêu ra danh hiệu)
(Kinh)
Vô Gián ngục giả, kỳ ngục thành châu táp bát vạn
dư lư, kỳ thành thuần thiết, cao nhất vạn
lư. Thành thượng hỏa tụ, thiểu hữu không
khuyết. Kỳ ngục thành trung, chư ngục
tương liên, danh hiệu các biệt. Độc hữu
nhất ngục, danh viết Vô Gián.
(經)無間獄者‧其獄城周匝八萬餘里。其城純鐵‧高一萬里。城上火聚‧少有空缺。其獄城中‧諸獄相連‧名號各別。獨有一獄‧名曰無間。
(Kinh:
Địa ngục Vô Gián, thành ngục giáp ṿng hơn tám vạn
dặm. Thành ấy thuần bằng sắt, cao một vạn
dặm. Lửa trùm trên thành ít có chỗ nào chừa sót. Trong
thành địa ngục, các ngục kề nhau, danh hiệu
mỗi ngục mỗi khác. Chỉ có một ngục tên là
Vô Gián).
Theo kinh Vấn
Địa Ngục, bốn phía thành của vua Diêm La đặt
các địa ngục. Khi một người mạng chung,
đă bỏ Tử Ấm (thân trước khi chết), chưa có Sanh Ấm (thân trong đời sau), mang thân Trung Ấm vào
thành Nê Lê (Hán dịch là Kư Điều Thành (寄條城), c̣n gọi là Bế
Thành, 閉城). Trong khi chưa thọ
tội, [Trung Ấm thân] cùng tụ tập tại chỗ ấy.
Xảo phong thổi qua, tùy theo nghiệp nhẹ hay nặng
mà thọ thân lớn hay nhỏ. Gió thối thổi qua, thành
tựu h́nh dạng tội nhân thô kệch, xấu xí. Gió thơm
thổi qua, thành tựu thân thể vi tế của của
người có phước. Dựa theo đó, kẻ chịu
khổ trong thành đều có h́nh tướng thô kệch, xấu
xí. Kẻ sanh lên trời, thân thể đều thanh tịnh
vi tế.
“Chư
ngục tương liên” (Các ngục liên tiếp) tức là bảy ngục
lớn như Đẳng Hoạt v.v… và ngục thứ tám
là ngục Vô Gián, được gọi là “tám địa
ngục nóng”. Mỗi ngục đều có những
ngục phụ thuộc liên tiếp. “Độc hữu
nhất ngục” (Chỉ có một ngục)
là nói thẳng vào ngục Vô Gián. Do vậy, luận Câu Xá nói:
“Do ở trong ấy thọ khổ chẳng gián đoạn,
chẳng giống như bảy đại Nại Lạc
Ca[22]
kia không luôn luôn thọ khổ. V́ thế, gọi là Vô Gián”.
Do vậy, dùng “độc hữu nhất ngục”
để chỉ bày.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2. Minh
ngục tướng, hiển báo (nói rơ tướng địa
ngục, hiển thị quả báo)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.1. Thị
Tướng (chỉ bày tướng trạng)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.1.1.
Thị (chỉ bày)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.1.1.1.
Ngục hỏa tướng (tướng lửa
trong ngục)
(Kinh)
Kỳ ngục châu táp vạn bát thiên lư, ngục tường
cao nhất thiên lư, tất thị thiết vi. Thượng
hỏa triệt hạ, hạ hỏa triệt thượng.
Thiết xà, thiết cẩu, thổ hỏa tŕ trục. Ngục
tường chi thượng, đông tây nhi tẩu.
(經)其獄周匝萬八千里‧獄牆高一千里‧悉是鐵為。上火徹下‧下火徹上。鐵蛇鐵狗‧吐火馳逐。獄牆之上‧東西而走。
(Kinh:
Ngục ấy giáp ṿng một vạn tám ngàn dặm, tường
ngục cao một ngàn dặm, đều là bằng sắt.
Lửa từ trên lan xuống dưới, lửa từ
dưới bốc lên trên. Rắn sắt, chó sắt phun lửa
chạy đuổi nhau trên tường ngục, rảo chạy
đông tây).
Sắt
được gọi là “hắc kim”, tánh chất cứng
mà lạnh, biểu thị kẻ ác tàn nhẫn, tánh cứng
cỏi, tâm lạnh lùng. Cho nên chỗ cảm báo đều
thuần bằng sắt. “Lửa bốc lên cao, lan xuống
thấp”: Kinh Khởi Thế nói: “Dĩ bất thiện
báo cố, Đông phương hữu đại hỏa tụ
xuất sanh. Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng
hạ, các các như thị. Tùng Đông bích xuất đại
hỏa diễm, trực xạ Tây bích, đáo dĩ nhi trụ.
Tây bích xuất hỏa, xạ Bắc bích. Bắc bích xuất
hỏa, xạ Nam bích. Tùng hạ ư thượng, tự
thượng ư hạ, tung hoành tương tiếp,
thượng hạ giao xạ. Cố triệt hạ, triệt thượng dă” (Do quả báo bất
thiện, phương Đông sanh ra đống lửa.
Phương Nam, Tây, Bắc, bốn phương, trên, dưới,
mỗi phương đều như thế. Từ vách
phía Đông sanh ra ngọn lửa lớn bắn thẳng vào
vách phía Tây, bắn đến nơi, bèn ngưng ở
đó. Vách phía Tây xẹt lửa, bắn vào vách phía Bắc.
Vách phía Bắc xẹt lửa, bắn vào vách phía Nam. Từ
dưới lên trên, từ trên xuống dưới, ngang dọc
tiếp giáp, trên dưới bắn lẫn nhau. V́ thế, lửa
từ trên lan xuống dưới, từ dưới bốc
lên trên).
“Rắn
sắt, chó sắt”: Kinh Quán Phật Tam Muội Hải
nói: “Thiết thành nhị cách gian, hữu bát vạn tứ
thiên thiết măng đại xà, thổ độc hỏa
trung, thân măn thành nội. Kỳ xà hào hống, như thiên chấn
lôi, vũ đại thiết hoàn. Tứ giác hữu tứ
đại đồng cẩu, quảng trường tứ
thập do-tuần. Mục như xế điện, nha
như kiếm thụ, xỉ như đao sơn, thiệt
như thiết thích. Nhất thiết thân mao giai nhiên mănh hỏa,
kỳ yên xú ác. Kư thổ độc hỏa, phục tranh tŕ
tương trục ư ngục tường chi thượng,
Đông Tây cấp tẩu, sử chư tội nhân, úy tỵ
vô sở” (Thành sắt có hai ngăn, có tám vạn bốn
ngàn đại măng xà sắt, phun lửa độc, thân đầy
chật cả thành. Những con rắn ấy gào thét như
tiếng trời nổi sấm, tuôn ra những ḥn sắt
to. Bốn góc thành có bốn con chó lớn bằng đồng,
cao rộng bốn mươi do-tuần. Mắt như chớp
xẹt, nanh như cây cối đầy gươm, răng
như núi đao, lưỡi như dùi sắt. Hết thảy
lông trên thân đều cháy bừng lửa mạnh, mùi khói
hôi thối. Đă phun ra lửa độc, lại c̣n giành
nhau đuổi chạy trên tường ngục, rảo chạy
đông tây, khiến cho các tội nhân sợ hăi mà không có chỗ
tránh né).
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.1.1.2.
Ngục sàng tướng (tướng trạng của
giường trong địa ngục)
(Kinh)
Ngục trung hữu sàng, biến măn vạn lư. Nhất nhân
thọ tội, tự kiến kỳ thân, biến ngọa
măn sàng. Thiên vạn nhân thọ tội, diệc các tự kiến, thân măn sàng thượng.
(經)獄中有牀‧遍滿萬里。一人受罪‧自見其身‧遍臥滿牀。千萬人受罪‧亦各自見‧身滿牀上。
(Kinh:
Trong ngục có giường trọn khắp vạn dặm.
Một người chịu tội tự thấy thân ḿnh nằm
chật cả giường. Ngàn vạn người chịu
tội, ai nấy cũng tự thấy thân chật cả
giường).
Như trong
phần Thiết Sàng ở đoạn sau sẽ nói.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.1.2. Kết
(tiểu
kết)
(Kinh)
Chúng nghiệp sở cảm, hoạch báo như thị.
(經)眾業所感‧獲報如是。
(Kinh:
Do các nghiệp cảm vời mà đạt được
báo như thế).
Kinh Thập
Luân nói: “Hữu Ngũ Nghịch tội, vi tối cực
ác. Cố tâm sát phụ mẫu, sát A La Hán, phá hoại Thanh
Văn ḥa hợp tăng sự, năi chí ác tâm xuất Phật
thân huyết, thị danh Ngũ Nghịch. Phục hữu tứ
chủng đại tội, đồng ư Tứ Nghịch,
phạm căn bản tội. Sát Bích Chi Phật, thị danh
sát sanh, phạm căn bản tội. Dâm A La Hán tỳ-kheo-ni,
thị danh tà dâm, phạm căn bản tội. Nhược
nhân xả tài dữ Phật, Pháp, Tăng, chủ chưởng
thử vật nhi triếp dụng chi, thị danh đạo,
phạm căn bản tội. Nhược nhân đảo
kiến, phá hoại tỳ-kheo tăng, thị danh phá
tăng, phạm căn bản tội. Kỳ nhân kư phạm
nghịch tội, hựu phạm căn bản tội, thí
như thiết hoàn, tuy trịch không trung, chung bất tạm
trụ, tốc tật đầu địa. Như thị
Ngũ Nghịch, phạm tứ trọng cấm, cập nhị
chủng chúng sanh, hủy hoại chánh pháp, phỉ báng hiền
thánh. Như thị đẳng thập nhất chủng
nhân, phạm nhất nhất tội giả, thân hoại mạng
chung, giai đọa Vô Gián ngục trung” (Có tội Ngũ
Nghịch là nặng nề nhất. Cố ư giết cha mẹ,
giết A La Hán, phá hoại sự ḥa hợp của Thanh Văn
Tăng, cho đến ác tâm làm thân Phật chảy máu, th́ gọi
là tội Ngũ Nghịch. Lại có bốn loại đại
tội, giống như Tứ Nghịch, phạm căn bản
tội: Giết Bích Chi Phật, th́ gọi là sát sanh, phạm
căn bản tội. Dâm ô A La Hán, tỳ-kheo-ni th́ gọi là
tà dâm, phạm căn bản tội. Nếu có người
xả tiền của để cúng cho Phật, Pháp, Tăng,
những kẻ trông nom những vật ấy
bèn tùy tiện sử dụng, th́ gọi là Trộm, phạm
căn bản tội. Nếu kẻ nào kiến giải
điên đảo, phá hoại tỳ-kheo tăng, th́ gọi
là phá tăng, phạm căn bản tội. Kẻ ấy đă
phạm tội nghịch, lại phạm tội căn bản,
ví như ḥn sắt, dẫu quăng lên không trung, trọn chẳng
ngừng chút nào mà sẽ nhanh chóng rơi xuống đất.
Phạm Ngũ Nghịch, bốn trọng cấm, và hai loại
chúng sanh hủy hoại chánh pháp, phỉ báng hết thảy
hiền thánh như thế. Mười một loại
người như thế đó, phạm mỗi một tội
th́ khi thân hoại, mạng chung, đều đọa vào
địa ngục Vô Gián). Há chẳng phải là do các nghiệp
cảm vời mà mắc phải quả báo như thế
hay chăng?
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2. Hiển
báo
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2.1.
Tiêu (nêu
ra)
(Kinh)
Hựu chư tội nhân, bị thọ chúng khổ.
(經)又諸罪人‧備受眾苦。
(Kinh:
Lại nữa, các tội nhân chịu đủ các nỗi khổ).
Kinh
Trường A Hàm nói: “Kỳ trung tội nhân, cử mục
sở kiến, đản kiến ác sắc, nhĩ văn
ác thanh, tỵ văn xú khí, thiệt thường ác vị,
thân xúc khổ thống, ư niệm ác pháp, đàn chỉ chi
khoảnh, vô bất khổ thời, danh Vô Gián địa ngục”
(Tội nhân trong ấy, ngước mắt mà nh́n, chỉ
thấy sắc ác, tai nghe tiếng ác,
mũi ngửi mùi hôi thối, lưỡi nếm vị xấu
ác, thân tiếp xúc đau khổ, ư nghĩ đến pháp ác, trong khoảng khảy ngón tay,
không có lúc nào chẳng khổ, gọi là địa ngục
Vô Gián). V́ thế, tội nhân đến đó, chẳng ai không
vướng vào đủ các nỗi khổ!
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2.2.
Thích (giải
thích)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2.2.1.
Dạ Xoa ác quỷ báo khổ (khổ báo v́ Dạ Xoa,
ác quỷ)
(Kinh)
Thiên bách Dạ Xoa, cập dĩ ác quỷ, khẩu nha
như kiếm, nhăn như điện quang, thủ phục
đồng trảo, đà duệ tội nhân. Phục hữu
Dạ Xoa, chấp đại thiết kích, trúng tội nhân
thân, hoặc trúng khẩu, tỵ, hoặc trúng phúc bối,
phao không phiên tiếp, hoặc trí sàng thượng.
(經)千百夜叉‧及以惡鬼‧口牙如劍‧眼如電光。手復銅爪‧拖拽罪人。復有夜叉‧執大鐵戟‧中罪人身‧或中口鼻‧或中腹背。拋空翻接‧或置牀上。
(Kinh:
Ngàn trăm Dạ Xoa cùng với ác quỷ, miệng nhe nanh như kiếm, mắt
như tia chớp, tay lại có móng đồng, lôi tóm tội
nhân. Lại có Dạ Xoa cầm kích sắt lớn đâm vào
thân tội nhân, hoặc trúng vào miệng, mũi, hoặc
trúng bụng, lưng, quăng nhồi trên không rồi đỡ
lấy, hoặc đặt lên giường).
Dạ
Xoa chính là quỷ, lại nói đến Ác Quỷ là v́ những
con quỷ càng ác hơn Dạ Xoa quá đỗi. Kinh Nê Lê gọi
[những con quỷ ấy] là Thú Quỷ (獸鬼). Sách Ngũ Khổ
Chương Cú gọi chúng là A Bàng (阿旁), đầu trâu, tay người,
hai chân có móng trâu, có sức mạnh lật núi, cầm
chĩa ba bằng thép. Kinh Quán Phật Tam Muội nói: “Ngục
tốt bát đầu, lục thập tứ giác, giác đầu
hỏa nhiên, hóa thành đao luân, tại hỏa diễm gian,
măn A Tỳ thành” (Ngục tốt tám đầu, sáu
mươi bốn sừng, chót sừng bốc lửa, hóa
thành vầng đao ở trong các ngọn lửa đầy
khắp thành A Tỳ). “Miệng nhe nanh”: Miêu tả tướng
trạng hung ác. “Móng tay bằng đồng” là nói thân lực
mạnh mẽ. Do nghiệp lực mà sanh ra điều này.
Đại đức Pháp Thiện Hiện nói: “Thường
ôm ḷng phẫn nộ, độc ác, quen thói thích làm các ác nghiệp,
thấy kẻ khác khổ sở liền sanh ḷng vui sướng,
chết đi sẽ là ngục tốt của Diêm Ma”. Luận
Tân Tỳ Bà Sa nói: “Hỏi: Các ngục trong địa ngục
thuộc về hữu t́nh hay là vô t́nh? Đáp: Nếu dùng xiềng
sắt để trói buộc, mới sanh vào địa ngục,
đến chỗ Diêm Ma th́ thuộc loài hữu t́nh. Nếu
dùng đủ mọi dụng cụ hành h́nh, ở trong
địa ngục hại các hữu t́nh th́ là chẳng thuộc
về hữu t́nh”. Diệu Lạc nói: “Hữu t́nh và phi
t́nh đều là do cộng nghiệp cảm vời, do tâm
biến ra”. Đấy chính là như kinh Lăng Nghiêm nói:
“Xúc báo chiêu cảm, dẫn khởi ác quả”. Thần
thức tự thấy ngục tốt đầu trâu, La Sát
đầu ngựa, tay cầm giáo, mác, lùa [tội nhân] vào Vô
Gián.
“Móng tay
đồng lôi, tóm”: Móng tay bằng đồng lôi tóm
chưa đủ làm khổ tội nhân; lại lấy kích
bằng sắt đâm vào thân khiến họ chịu khổ
cùng cực. “Kích” là một thứ binh khí. [Vũ khí cán
dài có] một nhánh th́ gọi là Qua (戈, giáo), hai nhánh th́ gọi
là Kích (戟). “Kích” [nghĩa gốc]
là “có nhánh”, v́ hai bên [lưỡi Kích] có phân nhánh (hai bên đầu
cây kích có lưỡi nhọn bè ngang ra, dài sáu tấc. Lưỡi
nhọn chính giữa dài bảy tấc rưỡi. Lưỡi
kích bè ngang, chỗ giáp với cán kích dài bốn tấc
rưỡi, rộng một tấc rưỡi). Ở
đây là nói tới cái kích sắt lớn, to, dài, nung đỏ,
kích trong thế gian chẳng thể sánh bằng! Chỗ bị
kích đâm trúng, đau đớn khó chịu đựng nổi.
Lại đem tội nhân quăng ném lên không trung, lật tay
đón lấy, bỏ lên giường sắt. Theo kinh
Lăng Nghiêm, “do ư oán tập giao hiềm, phát ư hàm
hận, nhị tập tương thôn, cố hữu đầu
trịch cầm tróc kích xạ phao toát chư sự, tuần
nghiệp phát hiện nhĩ” (do tập khí oán hận hiện
hành, giao xen với tập khí trong hiện tại, tạo
thành sự ghét bỏ, phát sanh thành hận thù trong nội
tâm. Do hai thứ tập khí ấy va chạm nhau, cho nên có các
chuyện quăng, ném, nắm bắt,
đập, bắn, tung, chụp, theo nghiệp mà phát khởi)[23].
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.
Thiết ưng, thiết xà báo khổ (quả báo khổ sở
v́ chim ưng sắt, rắn sắt)
(Kinh) Phục hữu thiết ưng, đạm
tội nhân mục. Phục hữu thiết xà, kiểu tội
nhân cảnh. Bách chi tiết nội, tất hạ
trường đinh. Bạt thiệt
canh lê, trừu trường tỏa trảm, dương
đồng quán khẩu, nhiệt thiết triền thân.
(經)復有鐵鷹‧啗罪人目。復有鐵蛇‧繳罪人頸。百肢節內‧悉下長釘。拔舌耕犂‧抽腸剉斬‧烊銅灌口‧熱鐵纏身。
(Kinh:
Lại có chim ưng sắt ăn mắt tội nhân. Lại
có rắn sắt, xiết cổ tội nhân. Nơi các đốt
xương đều đóng đinh dài. Kéo lưỡi ra
để cày bừa. Rút ruột bằm chặt. Nước
đồng sôi rót vào miệng, sắt nóng quấn thân).
“Ưng”
(鷹) là một loài chim dữ; tên gọi
khác là Sảng Cưu (鷞鳩). Kinh Nê Lê nói: “Nê Lê hữu
điểu, uế như thiết sanh, trác nhân đầu,
đạm nhân năo, độc thống bất khả nhẫn”
(Trong Nê Lê có chim mỏ bằng sắt, mổ đầu
người để ăn óc người, đau đớn
chẳng thể chịu đựng nổi). “Rắn sắt”
như đă nói trong phần trước. Kinh Quán Phật
Tam Muội nói: “Thử do ngu si chúng sanh, hủy nhục bố
thí, ngôn thí vô báo, khuyến nhân tàng tích; hướng quốc
vương, đại thần, nhất thiết chúng sanh,
thuyết thí vô nhân, diệc vô quả báo. Cố cảm sanh
thử ngục” (Đấy là do chúng sanh, hủy báng, nhục
mạ chuyện bố thí, khuyên người khác tom góp, chất
chứa, hướng về quốc vương, đại
thần, và hết thảy chúng sanh nói bố thí chẳng có
nhân [sanh quả lành], mà cũng chẳng có quả báo, cho nên
cảm vời sanh trong ngục này).
Như
Minh Báo Kư[24]
chép, đời Đường, tại thành Tào Châu, một
binh sĩ tên là Phương Sơn Khai thuở trẻ thích
săn bắn, giết chóc vô số. Năm Trinh Quán thứ
mười một (637), chết qua một đêm. Lúc sống
lại, ông ta nói: “Lúc mới chết, có hai người dẫn
lên một quả núi, trèo từng bậc lên tới đỉnh.
Chợt có một con chim ưng trắng lớn, mỏ và vuốt
bằng sắt, bay tới quặp sứt má trái [của ông
ta] bay đi. Lại có một con chim ưng đen, quặp
sứt vai phải bay đi. Hai người ấy liền
dẫn ông ta đi về phương Nam, tới một cái
thành, hết sức hiểm trở, chênh vênh. Hai người
gơ cửa thành, cửa Bắc liền mở. Trong thành luôn
có lửa cháy dữ dội. Bên cửa có mấy con rắn
độc, đều dài mười mấy trượng,
đầu to bằng năm cái đấu, trong miệng
phun lửa bắn vào người. Sơn Khai hoảng sợ,
chỉ dập đầu niệm Phật, cửa liền
tự đóng lại. Thấy có một vị quan toan bắt
ông ta chịu tội. Người hầu can gián: ‘Gă này chưa đáng chết,
chỉ sợ hễ vào thành này, chẳng thể ra
được! Chẳng bằng thả ra, cho hắn tu
công đức’. Viên quan thả đi, trong khoảnh khắc,
bèn sống lại”. [Trên thân ông ta c̣n hằn] dấu vuốt
chim rất sâu, suốt đời chẳng mất. Về
sau, ông ta bỏ vợ con xuất gia, biến nhà thành chùa,
thường xuyên đọc tụng.
Nhưng
ưng mổ, rắn quấn, chịu khổ cùng cực.
Tiếp đó, các nỗi khổ đua nhau tụ tập, bức
bách khó kham! “Nơi các đốt xương đều
đóng đinh dài”: Kinh Trường A Hàm nói: “Thiết
đinh địa ngục, ngục tốt phác chi, yển nhiệt
thiết thượng, thư quyển kỳ thân, dĩ
đinh đinh thủ túc, châu biến thân thể, tận
ngũ bách đinh, khổ độc hào ngâm, do bất phục
tử” (Địa ngục đinh sắt: Ngục tốt
quăng tội nhân đè lên sắt nóng, kéo giăn, cuộn tṛn
thân họ. Dùng đinh đóng xuống chân, tay, trọn khắp
thân thể đóng hết năm trăm cây đinh. [Tội
nhân] đau đớn khổ sở rên xiết mà vẫn chẳng
chết).
“Bạt
thiệt canh lê” (Kéo lưỡi ra để
cày bừa trên đó) như trong phần sau [sẽ nói]. “Trừu trường
tỏa trảm” (Rút ruột bằm chặt): Đấy
chính là địa ngục Rút Ruột Rứt Phổi, đó
gọi là “chĩa ba dài đè xương sườn, nghiền
giă tim, gan, xé mật, rút ruột, xẻ thân, bằm thịt, băm vằm,
[khiến cho] h́nh dạng [của tội nhân] nát vụn
như bột”. Đấy đều là do vọng ngữ
gây ra, và do các ác nghiệp khác cảm vời. “Dương
đồng quán khẩu” (Nước đồng sôi rót vào miệng)
như trong phần sau [sẽ giải thích]. “Nhiệt thiết
triền thân” (Sắt nóng quấn thân)
tức Thiết Bề địa ngục (địa ngục
lược sắt). Lược sắt nung đỏ trong
ngoài xuyên thấu, ghim chặt thân tội nhân. Trong th́ rót
nước đồng sôi, ngoài th́ là sắt nóng, các nghiệp
khác chưa hết th́ vẫn chưa chết được!
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2.3.1.
Sanh tử vạn thiên (ngàn muôn lần sống chết)
(Kinh)
Vạn tử thiên sanh, nghiệp cảm như thị.
(經)萬死千生‧業感如是。
(Kinh:
Vạn lần sống, ngàn lần chết, nghiệp cảm
như thế đó).
Tội
nhân trong địa ngục hoặc bị ác quỷ nung nấu,
chặt, chém mà chết, hoặc tội nhân tự sanh móng
tay bằng sắt cấu xé thịt lẫn nhau cho rơi rớt
mà chết. Hoặc ngục tốt gọi “sống lại”,
hoặc gió lạnh thổi qua mà sống lại. Sanh tử
như thế, ngàn vạn lần chẳng cùng tận. V́ thế,
kinh Khởi Thế nói: “Nhược nhân thân, khẩu, ư tạo
nghiệp, tác dĩ nhập ư ác đạo trung, kinh lịch
vô số thiên ức tuế. Tử dĩ, tu du hoàn phục
hoạt. Oán thù các các tương báo đối, do thử
chúng sanh cánh tương sát. Nhiên kỳ trung thọ khổ
giả, tùy kỳ tác nghiệp, các hữu khinh trọng, kinh
kiếp số đẳng. Kỳ tối trọng xứ,
nhất nhật, nhất dạ, bát vạn tứ thiên sanh tử,
kinh kiếp vô lượng. Tác thượng phẩm Ngũ
Nghịch Thập Ác giả, cảm thử đạo thân”
(Nếu kẻ nào do thân, miệng, ư tạo nghiệp, đă
tạo rồi, sẽ vào trong đường ác, trải
qua vô số ngàn ức năm. Chết rồi, trong khoảnh
khắc sống lại. Mỗi kẻ oán thù đều báo
trả nhau. Do vậy, chúng sanh giết chóc lẫn nhau.
Nhưng kẻ chịu khổ trong ấy tùy theo tạo nghiệp
nặng hay nhẹ mà trải qua kiếp số tương ứng.
Chỗ nặng nề nhất th́ trong một ngày một
đêm, tám vạn bốn ngàn lần sống chết, trải
qua vô lượng kiếp. Kẻ tạo Ngũ Nghịch Thập
Ác thượng phẩm sẽ cảm thân trong đường
này).
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.1.2.2.3.2.
Khổ báo ức kiếp (khổ báo ức kiếp)
(Kinh)
Động kinh ức kiếp, cầu xuất vô kỳ. Thử
giới hoại thời, kư sanh tha giới. Tha giới thứ
hoại, chuyển kư tha phương. Tha phương hoại
thời, triển chuyển tương kư. Thử giới
thành hậu, hoàn phục nhi lai.
(經)動經億劫‧求出無期。此界壞時‧寄生他界。他界次壞‧轉寄他方。他方壞時‧展轉相寄。此界成後‧還復而來。
(Kinh:
Trải qua ức kiếp, chẳng mong có thuở thoát ra.
Khi cơi này hoại, gởi nhờ sang cơi khác. Đến phiên
cơi khác hoại, lại gởi nhờ sang cơi khác. Khi cơi khác
hoại, sẽ lần lượt gởi nhờ những cơi
khác. Sau khi cơi này h́nh thành, bèn quay trở lại).
Động
đối lập với tĩnh; tâm thể vốn
tĩnh, người tự lay động. Luận Khởi
Tín nói: “Chẳng biết pháp Chân Như là một nên động.
Hễ động bèn có khổ, do quả chẳng ĺa nhân.
Nghiệp tướng vừa động, sẽ dần dần
dẫn đến khởi Hoặc, tạo nghiệp, thọ
báo”. Tự Thư[25] nói: “Lực
nặng là động. Phàm phu nghiệp lực quá sâu, cho nên
động thành tuổi thọ ức kiếp trong địa
ngục!” Trong kinh Khởi Thế, đức Phật dạy:
“Như Kiều Tát La quốc hộc lượng hồ
ma, măn nhị thập hộc, cao thịnh bất khái. Hữu
nhất trượng phu, măn bách nhiên dĩ, thủ nhất hồ
ma. Như thị thứ đệ, măn bách niên dĩ, phục
thủ nhất lạp, trịch trước dư xứ.
Trịch măn nhị thập hộc hồ ma, tận dĩ,
ngă thuyết kỳ thọ do vị tất tận. Như
thị nhị thập ngạch phù đà thọ, vi nhất
nê la phù đà thọ, năi chí nhị thập tam ba đầu
ma thọ, vi nhất trung kiếp” (Như dùng cái hộc
của nước Kiều Tát La để đong mè
đen, trọn hai mươi hộc, [số lượng mè
chứa lại] cao và nhiều chẳng thể ước
lượng được. Có một trượng phu cứ
hết một trăm năm, lấy một hạt mè. Theo
thứ tự như thế, cứ đủ một
trăm năm, lại lấy một hạt, quăng sang chỗ
khác. Quăng hết sạch hai mươi hộc mè đen,
đă hết rồi, ta nói tuổi thọ của kẻ ấy
vẫn c̣n chưa hết. Tuổi thọ trải qua hai mươi
địa ngục Ngạch Phù Đà (Arbuda) như thế
là một thọ mạng trong địa ngục Nê La Phù
Đà (Nirarbuda), cho đến tuổi thọ
trong hai mươi ba ngục Bát Đầu Ma (Padma) là một
trung kiếp).
Từ chữ
“thử giới” (cơi này) trở đi nhằm giải
trừ nghi hoặc, ư nói: Địa ngục đă ở
phía dưới châu Diêm Phù, khi kiếp hỏa cháy tan trời
Sơ Thiền, địa ngục bị hoại trước,
lại chứa tội nhân ở nơi đâu? Giải rằng:
Khi hỏa tai xảy ra, kẻ chưa hết tội nghiệp
sẽ gởi thân chịu tội trong cơi khác. Lại nghi:
Cơi khác cũng có hỏa tai dấy lên, chẳng biết lại
đặt [những kẻ ấy] nơi đâu? Lại giải
thích: Nếu cơi khác theo thứ tự mà hoại, lại lần
lượt gởi họ sang địa ngục trong cơi
chưa hoại. Lại nữa, cơi họ được gởi
sang đó lại bị hỏa tai dấy lên, sẽ gởi
nơi đâu? Lại giải thích: Nếu phương khác
hỏa tai cũng dấy lên, th́ vẫn giống như trên
mà gởi họ sang cơi chưa hư hoại. Lại vặn
hỏi ngược lại: Nếu thế giới ở
phương này lại h́nh thành, những tội nhân đă
được gởi đi có trở lại thế gian
này hay không? Lại giải thích: Thế giới này đă
h́nh thành, tự nhiên [những tội nhân ấy] trở lại
địa ngục to lớn trong cơi này để chịu
khổ. Đấy là nói theo phía những kẻ chưa thọ
hết tội.
C̣n
như kinh Trường A Hàm nói: “Hỏa tai khởi thời, tùng
địa ngục tử, giai sanh nhân trung, tu đệ nhị
Thiền. Tùng nhân trung tử, giai sanh Quang Âm Thiên. Thủy
phong nhị tai diệc nhiên” (Khi hỏa tai dấy lên, từ địa ngục
chết đi, đều sanh trong loài người, tu đệ
nhị Thiền. Từ trong loài người chết đi,
đều sanh vào Quang Âm Thiên. Thủy tai và phong tai cũng
thế). Đấy là nói theo phía những người
đă chịu tội xong. V́ thế, kinh Đại Phẩm
Bát Nhă nói: “Thị nhân hủy tư tam thế chư Phật
Nhất Thiết Trí, khởi phá pháp nghiệp nhân duyên cố,
tập vô lượng bách thiên vạn ức tuế, đọa
đại địa ngục trung, tùng nhất đại
địa ngục, chí nhất đại địa ngục.
Nhược hỏa kiếp khởi thời, chí tha
phương đại địa ngục trung. Như thị
biến thập phương ngục, năi chí hoàn lai thị gian
đại địa ngục trung” (Người ấy
do hủy báng, chê bai Nhất Thiết Trí của ba đời
chư Phật, dấy lên nhân duyên tạo nghiệp phá pháp,
tích tập vô lượng trăm ngàn vạn ức năm,
đọa trong đại địa ngục, từ một
đại địa ngục này sang một đại địa
ngục khác. Nếu khi hỏa kiếp dấy lên, sẽ
đến đại địa ngục ở
phương khác. Trọn khắp các ngục trong mười
phương như thế, cho đến trở lại
đại địa ngục trong thế gian này). Do từ
một đại địa ngục này đến một
đại địa ngục khác, cho nên nói là “động
kinh ức kiếp”. Dẫu mong thoát khỏi, chỉ sợ
chẳng có thuở nào được ân xá!
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.2. Kết
thị (kết lại lời dạy)
(Kinh)
Vô Gián tội báo, kỳ sự như thị.
(經)無間罪報‧其事如是。
(Kinh:
Tội báo trong Vô Gián là như thế đó).
Hai chữ
“như thị” (như thế) diễn tả ư thảm
đạm! Cho nên kết lại lời dạy, mong sao mọi
người sẽ sớm sợ hăi mà tu thiện.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2. Trùng thị
nghiệp cảm (lại dạy về nghiệp
cảm)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.1. Tiêu cử
(nêu
bày)
(Kinh)
Hựu ngũ sự nghiệp cảm, cố xưng Vô Gián.
(經)又五事業感‧故稱無間。
(Kinh:
Lại do có năm sự nghiệp cảm, nên gọi là Vô
Gián).
“Ngũ
Vô Gián nghiệp” như đă nói trong phần trước.
Vô Gián ở tầng thấp nhất trong tám ngục nóng.
Theo Tát Bà Đa Bộ (Sarvāsti-vāda, Thuyết Nhất Thiết
Hữu Bộ) có tám đại địa ngục. Một là
Đẳng Hoạt (等活, Sañjīva, chết đi sống lại), hai là Hắc
Thằng (黑繩, Kālasūtra, dây đen), ba là Chúng Hợp (眾合, Saṃghāta, các thứ ép lại), bốn
là Khiếu Hoán (叫喚, Raurava, kêu
gào), năm là Đại Khiếu Hoán (大叫喚, Mahāraurava, gào to), sáu là Nhiệt (熱, Tapana, nóng),
bảy là Chúng Nhiệt (眾熱, Pratāpana, các thứ nóng bức), tám là Vô Trạch (無擇, Avīci, không
chọn lựa), c̣n gọi là Vô Gián. Hễ gieo ḿnh vào lửa
khổ, vĩnh viễn chẳng có lúc nào an vui. Đă khổ
sở chẳng gián đoạn, có chỗ nào để có thể chọn lựa? Tám địa
ngục này ở phía dưới châu Diêm Phù, chồng chất
lên nhau mà trụ. Theo Tam Pháp Độ Luận, hai ngục
đầu tiên có người chưởng quản, ba ngục
kế đó có ít người chưởng quản, ba ngục
cuối không có người chưởng quản.
Theo Tân Tỳ
Bà Sa Luận: “Hỏi: Ngục lớn ở dưới
cùng v́ sao gọi là Vô Gián? Đáp: Trong chỗ ấy luôn chịu
Khổ Thọ, chẳng có lúc nào hỷ lạc, nên gọi
là Vô Gián. Hỏi: Trong các địa ngục khác, há có ca, múa,
ăn uống, tiếp nhận sự hỷ lạc dị
thục gián ư? Đáp: Trong các địa ngục khác, tuy
chẳng có dị thục hỷ lạc, nhưng có đẳng
lưu hỷ lạc. Như trong địa ngục Đẳng
Hoạt, có lúc gió mát thổi qua, huyết nhục bèn sanh trở
lại. Có lúc [ngục tốt] xướng “sống lại”,
[tội nhân đă chết] bèn sống lại. Khi huyết
nhục sanh trở lại và lúc được sống lại,
sẽ là tạm thời hỷ lạc trong khi đang hứng
chịu Khổ Thọ, cho nên chẳng gọi là Vô Gián”.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.
Trưng thích (gạn hỏi và giải
thích)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.1. Trưng
(gạn
hỏi)
(Kinh)
Hà đẳng vi ngũ?
(經)何等為五。
(Kinh:
Những ǵ là năm?)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2. Thích
(giải
thích)
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2.1. Thời
vô gián (thời gian chẳng gián đoạn)
(Kinh)
Nhất giả, nhật dạ thọ tội, dĩ chí kiếp
số, vô thời gián tuyệt, cố xưng Vô Gián.
(經)一者‧日夜受罪‧以至劫數‧無時間絕‧故稱無間。
(Kinh:
Một là ngày đêm chịu tội cho đến nhiều
kiếp, chẳng có lúc nào gián đoạn, chấm dứt,
nên gọi là Vô Gián).
Chịu
khổ luôn trọn khắp, chẳng hề có lúc tạm vui.
Cựa quậy chẳng được, quấn trói rất
nghiêm ngặt. Đông, Tây chằng chéo, cao thấp thông thấu.
Trải qua vô lượng kiếp như thế, cho nên gọi
là Thời Vô Gián.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2.2.
H́nh vô gián (h́nh hài chẳng gián đoạn)
(Kinh)
Nhị giả, nhất nhân diệc măn, đa nhân diệc
măn, cố xưng Vô Gián.
(經)二者‧一人亦滿‧多人亦滿‧故稱無間。
(Kinh:
Hai là một người cũng chật cả ngục, nhiều
người cũng chật cả ngục. V́ thế gọi
là Vô Gián).
Kinh Quán
Phật Tam Muội nói: “Phục hữu chúng sanh, phạm
tứ trọng cấm, hư thực tín thí, phỉ báng, tà
kiến, bất thức nhân quả, đoạn học Bát
Nhă, hủy thập phương Phật, thâu Tăng-kỳ
vật, dâm dật vô đạo, bức lược tịnh
giới ni, tỷ, muội, thân thích, tạo chúng ác sự.
Thử nhân tội báo, kinh bát vạn tứ thiên đại
kiếp. Phục nhập Đông phương thập bát
cách trung, như tiền thọ khổ. Nam, Tây, Bắc
phương, diệc phục như thị. Thân măn A Tỳ
ngục, tứ chi phục măn thập bát cách trung. Địa
ngục bất đại, thử thân bất tiểu” (Lại có chúng sanh phạm
bốn trọng cấm, luống ăn của tín thí, phỉ
báng, tà kiến, chẳng biết nhân quả, không học Bát
Nhă, hủy báng mười phương Phật, trộm cắp
vật dụng của thường trụ, dâm dật vô
đạo, cưỡng bức tỳ-kheo giữ giới
thanh tịnh và chị, em, thân thích, gây tạo
các chuyện ác. Tội báo của người ấy trải
qua tám vạn bốn ngàn đại kiếp. Lại vào trong
mười tám ngục[26] ở
phương Đông chịu khổ như trên. Phương
Nam, Tây, Bắc cũng giống như thế. Thân đầy
chật trong ngục A Tỳ, tứ chi cũng đầy ắp
trong mười tám ngục. Địa ngục chẳng lớn,
thân ấy chẳng nhỏ).
Theo kinh
Chánh Pháp Niệm Xứ: “Kỳ thân trường đại,
ngũ bách do-tuần, tạo tứ nghịch nhân, tứ
bách do-tuần. Năi chí tạo nhất nghịch nhân, nhất
bách do-tuần. Nhất nhân kư nhĩ, đa nhân diệc nhiên,
các kiến thân h́nh vô gián đoạn xứ, danh h́nh vô gián
dă” (Thân [của người tạo tội Ngũ Nghịch]
cao to năm trăm do-tuần. Kẻ tạo bốn tội
nghịch [cao to] bốn trăm do-tuần. Cho đến kẻ
tạo một tội nghịch [thân h́nh cao] một trăm
do-tuần. Một người đă là như vậy, nhiều
người cũng thế, mỗi người đều
thấy thân h́nh chẳng có chỗ gián đoạn, cho nên gọi
là “h́nh vô gián”).
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2.3. Khổ
vô gián (khổ sở chẳng gián đoạn)
(Kinh)
Tam giả, tội khí xoa, bổng, ưng, xà, lang, khuyển,
đối, ma, cứ, tạc, tỏa chước, hoạch
thang, thiết vơng, thiết thằng, thiết lư, thiết
mă.
(經)三者‧罪器叉棒‧鷹蛇狼犬‧碓磨鋸鑿‧剉斫鑊湯。鐵網鐵繩‧鐵驢鐵馬。
(Kinh:
Ba là dụng cụ để trị tội như chĩa
ba, gậy, chim ưng, rắn, sói, chó, cối giă, cối xay, cưa, đục,
chém, chặt, vạc nấu sôi, lưới sắt, dây sắt,
lừa sắt, ngựa sắt).
Đây là
nói đến những món dụng cụ dùng để hành
h́nh, không vật ǵ chẳng sẵn đủ. V́ thế, Nê Lê
được dịch là Khổ Cụ (苦具, dụng
cụ để trị tội, hành h́nh). Kinh Lăng Nghiêm
nói: “Trá tập giao dụ, phát ư tương điều,
dẫn khởi bất trụ. Cố hữu nữu, giới,
già, tỏa, tiên, trượng, trá, bổng chư sự”
(Do tập khí gian trá trong quá khứ nay lại phát khởi hiện
hành, giao xen dẫn dụ tập khí trong hiện tại mà
phát khởi. Cho nên có các chuyện gông, cùm, xiềng, xích, roi,
trượng, đ̣n vọt). Chim ưng, sói, chó, lừa sắt,
ngựa sắt, những thứ ấy do xúc báo chiêu cảm,
dẫn khởi như trong phần trước và phần
sau có giải thích.
Giă, xay,
cưa, đục là do tập khí gây oan uổng và tập
khí sân hận cảm vời. “Đối” (cối giă) tức địa ngục
Đảo Đối (搗碓, nghiền giă). Lập
Thế A Tỳ Đàm Luận nói: “Khi ấy, ngục tốt
nói với đồng bạn: ‘Ta nay cùng với
ngươi, trong một cái khảy ngón tay, giă, nghiền tội
nhân’. Liền bắt các tội nhân, bỏ vào trong thuyền
sắt nóng, dùng chày sắt nóng nghiền nát thân họ trong
khoảng một cái khảy ngón tay. Người ấy thọ
năm trăm năm”. Xay, cưa, chặt, chém đều
như trong phần sau [sẽ giải thích]. Trong kinh Tội
Nghiệp Báo Ứng, Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật
rằng: “Kim hữu thọ tội chúng sanh, vị chư
ngục tốt tỏa chước trảm thân, tùng đầu
chí túc, năi chí kỳ đảnh. Trảm chi dĩ ngật, xảo
phong xuy hoạt, nhi phục trảm chi, hà tội sở trí?
Phật ngôn: - Dĩ tiền thế thời, sanh bất tín
tam tôn, bất hiếu phụ mẫu, đồ nhi khôi
khoái, trảm tiệt chúng sanh, cố hoạch tư tội”
(“Nay có chúng sanh thọ tội, bị các ngục tốt
băm, vằm, chém thân, từ đầu đến chân,
cho đến đỉnh đầu. Chém xong rồi, xảo
phong thổi cho sống lại, rồi lại bị chém.
Do tội ǵ mà đến nỗi như thế?” Đức
Phật dạy: “Do trong đời trước, lúc sống
chẳng tin Tam Bảo, chẳng hiếu thảo với cha
mẹ, làm đồ tể, đao phủ cắt, chặt chúng sanh, cho nên mắc
phải tội ấy”).
“Hoạch
thang” (鑊湯, vạc sôi) sẽ giải
thích trong phần sau. “Thiết vơng” (鐵網, lưới sắt):
Trong ngục có bảy tầng lưới sắt giăng
phủ bên trên. Ngục tốt lấy lưới sắt
nóng quấn chặt thân tội nhân, đốt nóng [khiến
cho thân thể tội nhân] bị đốt cháy tan nát. “Thiết
thằng” (鐵繩, dây sắt): Kinh Trường
A Hàm nói: “Ngục tốt tróc bỉ tội nhân, phác nhiệt
thiết thượng, dĩ nhiệt thiết thằng,
bính chi sử trực. Dĩ nhiệt thiết phủ, trục
thằng đạo, chước tội nhân tác bách
thiên đoạn. Phục dĩ thiết thằng, bính cứ
cứ chi. Phục huyền nhiệt thiết thằng, giao
hoành vô số, khu bách tội nhân, sử hành thằng gian. Ác
phong bạo khởi, xuy chư thiết thằng lịch lạc
kỳ thân, thiêu b́, triệt nhục, tiêu cốt, phí tủy” (Ngục tốt bắt
tội nhân, quăng lên sắt nóng, dùng dây sắt nóng buộc
cho thẳng. Dùng búa sắt nóng, căn theo đường
dây mà chặt tội nhân làm trăm ngàn khúc. Lại dùng dây sắt,
buộc vào cưa để cưa. Lại treo dây sắt
nóng, giăng ngang dọc vô số, xua ép tội nhân chạy
vào khoảng giữa các dây. Gió dữ nổi lốc, thổi
các dây sắt chằng néo thân họ, đốt da, thấu
thịt, tiêu xương, sôi tủy).
(Kinh)
Sanh cách lạc thủ, nhiệt thiết kiêu thân. Cơ thôn
thiết hoàn, khát ẩm thiết trấp. Tùng niên cánh kiếp,
số na-do-tha. Khổ sở tương liên, cánh vô gián
đoạn, cố xưng Vô Gián.
(經)生革絡首‧熱鐵澆身。饑吞鐵丸‧渴飲鐵汁。從年竟劫‧數那由他。苦楚相連‧更無間斷‧故稱無間。
(Kinh:
Da sống niềng đầu, sắt nóng rưới thân.
Đói nuốt ḥn sắt, khát uống nước sắt. Từ
năm đến kiếp, số đến na-do-tha. Khổ
sở liên tiếp, trọn chẳng gián đoạn, nên gọi
là Vô Gián).
“Sanh
cách lạc thủ” (Da sống niềng đầu):
Kinh Trường A Hàm nói: “Ngục tốt tróc tội nhân,
bác thủ kỳ b́, triền tội nhân thân, trước hỏa
xa thượng, luân triển nhiệt địa, châu hồi
văng phản. Thân thể toái lạn, b́ nhục đọa lạc.
Kư dĩ sanh cách lạc thủ, phục dĩ thiết trấp
kiêu thân, sử linh tật tŕ” (Ngục tốt bắt tội
nhân, lột lấy da họ để bó chặt thân họ,
bỏ lên xe bốc lửa, bánh xe nghiền họ trên đất
nóng, xoay vần qua lại. Thân thể tan nát, da thịt
rơi rụng. Đă dùng da sống niềng đầu, lại
dùng nước sắt nung chảy để rưới
lên thân khiến cho họ rảo chạy).
“Đói
nuốt hoàn sắt”: Theo như kinh Khởi Thế nói: “Tùng
Ngũ Xoa tiểu địa ngục xuất, nghệ
hướng Cơ Ngạ địa ngục trung. Thủ
ngục giả tức vấn: ‘Nhữ đẳng hà dục?’
Đáp ngôn: ‘Ngă đẳng cơ ngạ’. Thủ ngục giả
tức tiện thủ địa ngục chúng sanh, phác trước
xí nhiên nhiệt thiết địa thượng, linh kỳ
ngưỡng ngọa. Tiện dĩ thiết kiềm, khai
trương kỳ khẩu. Dụng nhiệt thiết hoàn,
trịch trước khẩu trung, thần khẩu ứng thời
thiêu nhiên. Thứ đệ thiêu thiệt, thiêu ngạc, năi
chí kinh quá tiểu tràng, hướng hạ nhi xuất, kỳ
hoàn thượng xích. Tùng Cơ Ngạ địa ngục
xuất, nghệ hướng Tiêu Khát địa ngục
trung, thủ ngục giả vấn ngôn: ‘Nhữ đẳng
kim hà sở tu?’ Đáp ngôn: ‘Ngă kim thậm khát’, tức thủ
phác trước nhiệt thiết địa thượng,
tại mănh diễm trung, ngưỡng nhi ngọa chi, tiện
thủ thiết kiềm, khai trương kỳ khẩu,
dung xích đồng trấp, quán kỳ khẩu trung. Thần
khẩu tức tiện tiêu lạn. Năi chí thiêu tràng, thiêu vị,
trực phá tiểu tràng, hướng hạ nhi xuất. Do
văng tích sở tạo nhược nhân phi nhân thân trung nhất
thiết ác nghiệp, ư ngục trung thứ đệ
nhi thọ, độc thống bất khả nhẫn. Nê Lê
trung như thị cần khổ, kinh na-do-tha kiếp,
lược vô ty hào lạc gian, danh Vô Gián dă” (Từ tiểu
địa ngục Ngũ Xoa thoát ra, đi vào trong địa
ngục Cơ Ngạ (đói). Kẻ giữ ngục liền
hỏi: “Các ngươi muốn ǵ?” Đáp: “Chúng tôi đói bụng”.
Kẻ giữ ngục bèn bắt lấy chúng sanh trong địa
ngục, quăng lên chỗ đất bằng sắt nóng
đang cháy bừng bừng, ép họ nằm ngửa, liền
dùng ḱm sắt banh miệng họ ra. Dùng ḥn sắt nóng,
quăng vào trong miệng, miệng, môi ngay lập tức
cháy xém. Lần lượt đốt lưỡi, đốt
ṿm họng, cho đến đi qua ruột non, theo phía
dưới thoát ra, ḥn sắt ấy vẫn
c̣n nóng đỏ. Từ địa ngục Cơ Ngạ
thoát ra, đi vào trong địa ngục Tiêu Khát (khát khô cổ),
kẻ giữ ngục hỏi: “Nay các ngươi cần ǵ?”
Đáp rằng: “Chúng tôi khát quá!” [Ngục tốt] liền bắt
họ quăng lên chỗ đất bằng sắt nóng, ở
trong lửa dữ, nằm ngửa ra, liền lấy ḱm sắt
banh miệng họ ra, nước đồng chảy nóng
đỏ rót vào trong miệng họ. Môi, miệng liền
cháy nát, cho đến đốt trụi ruột, đốt
dạ dày, phá toang ruột non, theo phía dưới thoát ra. Do
hết thảy các ác nghiệp đă tạo trước kia
khi làm thân người hoặc chẳng phải người
mà lần lượt thọ tội trong các ngục, đau
đớn chẳng thể chịu đựng được.
Ở trong Nê Lê khổ sở như thế, trọn chẳng
có mảy may vui sướng nào, nên gọi là Vô Gián).
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2.4. Quả
vô gián (quả báo chẳng gián đoạn)
(Kinh)
Tứ giả, bất vấn nam tử, nữ nhân,
khương, hồ, di, địch, lăo, ấu, quư, tiện,
hoặc long, hoặc thần, hoặc thiên, hoặc quỷ,
tội hạnh nghiệp cảm, tất đồng thọ
chi, cố xưng Vô Gián.
(經)四者‧不問男子女人‧羌胡夷狄‧老幼貴賤‧或龍或神‧或天或鬼。罪行業感‧悉同受之‧故稱無間。
(Kinh:
Bốn là chẳng cần biết là nam, nữ, khương,
hồ, di, địch[27],
già, trẻ, sang, hèn, hoặc rồng, hoặc thần, hoặc
trời, hoặc quỷ, do hạnh nghiệp tội lỗi
chiêu cảm, đều cùng thọ tội. V́ thế gọi
là Vô Gián).
“Lăo” là
người tuổi cao, suy yếu. Bảy mươi th́ gọi
là Lăo; [dùng chữ này làm] cái gốc để chế chữ
ḥng [diễn tả ḷng] yêu thương cha mẹ. V́ thế,
[chữ Lăo (老)] dùng chữ Hiếu (孝) và Chủy (匕, đây
là chữ Hóa thời cổ) để tạo thành. Đă
lo v́ [cha mẹ] suy yếu, lại lo họ bị chết,
thật sự tiếc nuối ngày tháng, há có nguôi ḷng? “Ấu”
(幼) là đă trẻ lại càng non
nớt hơn. Huyết khí chưa đầy đủ, v́
thế [chữ Ấu] do Lực (力) và Yêu (幺, ít ỏi) ghép lại,
[diễn tả] ư “đă nhỏ lại c̣n non nớt”.
Mười năm đầu trong đời người
là Ấu, chính là lúc được cha mẹ yêu
thương nhất. “Quư” (貴) là địa vị
cao, được tôn trọng. “Tiện” (賤, hèn), tương phản
với Quư. [Cả hai chữ Quư và Tiện] đều có bộ
Bối (貝, vỏ ṣ, được
dùng làm tiền trong thời cổ) là thứ mọi người
đều coi là quư. Chữ Quư do Trung (中) [và Bối ghép lại],
lại có chữ Nhất (一) ở chính giữa,
như h́nh dạng người đang gồng gánh, [thể
hiện ư] nắm giữ, gồng gánh tiền, mọi
người đều tôn trọng; cho nên tôn quư, cao vời.
Nếu phải cầm Giáo (tức chữ Qua, 戈) để tranh Bối
(tiền bạc) [tức là chữ Tiện (賤) gồm Bối và hai chữ
Qua ghép lại] th́ mọi người đều ghét, cho nên
bị coi rẻ.
“Long,
quỷ, thần” vốn thuộc bốn đường,
đọa vào địa ngục chẳng có ǵ là lạ!
Thiên cũng đọa là v́ lẽ nào? Đại Luận nói:
“Chư thiên từ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Thiên chết đi, sẽ đọa vào trong địa ngục
A Tỳ”. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói: “Đế
Thích phục quán nghiệp quả ư điện trung, Khiếu
Hoán đại địa ngục thập bát cách xứ, sát
sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngữ nghiệp, đọa
thử địa ngục, cụ thọ chúng khổ”
(Đế Thích lại quán nghiệp quả [sau khi mất của
chư thiên] trong cung điện, [thấy tội nhân trong]
mười tám ngục thuộc đại địa ngục
là do các nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối mà
đọa vào địa ngục ấy, thọ đủ
các khổ). V́ thế, [địa ngục] chẳng bỏ
sót chư thiên! Thành Thật Luận viết: “Hỏi:
Người sanh lên trời ĺa ác, tích thiện, sau khi báo hết,
sao lại vào ngay trong tam đồ? Đáp: Phàm phu từ vô
thỉ đến nay, ác nghiệp vô cùng. Một ngày tham,
sân, c̣n chịu tội nơi ngàn thân. Huống hồ ác
đă nhiều, tạm chế phục nghiệp kết mà
sanh [trong đường lành]. Khi phước do thiện
báo đă hết, nghiệp cũ đă đến lúc chín muồi,
vẫn đọa vào tam đồ, có ǵ đáng ngờ?”
Kinh Niết Bàn dạy: “Tuy phục đắc Phạm
Thiên chi thân, năi chí Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Thiên, mạng chung chi hậu, hoàn đọa tam ác đạo
trung” (Tuy được làm thân Phạm Thiên, thậm chí
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên, sau khi mạng
chung, vẫn đọa trong ba ác đạo). Do quả báo
chẳng gián đoạn, cho nên gọi là Vô Gián.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2.5. Mạng
vô gián (mạng chẳng gián đoạn)
(Kinh)
Ngũ giả, nhược đọa thử ngục, tùng
sơ nhập thời, chí bách thiên kiếp, nhất nhật,
nhất dạ, vạn tử, vạn sanh, cầu nhất
niệm gian, tạm trụ bất đắc, trừ phi
nghiệp tận, phương đắc thọ sanh, dĩ
thử liên miên, cố xưng Vô Gián. (經)五者‧若墮此獄‧從初入時‧至百千劫‧一日一夜‧萬死萬生。求一念間‧暫住不得。除非業盡‧方得受生。以此連綿‧故稱無間。
(Kinh:
Năm là nếu đọa vào ngục này, từ lúc mới
vào cho tới trăm ngàn kiếp, một ngày, một
đêm, vạn lần chết, vạn lần sống, cầu
tạm ngừng trong một niệm chẳng được,
trừ phi nghiệp hết mới được thọ
sanh, do thọ khổ liên miên, nên gọi là Vô Gián).
Kinh Quán
Phật Tam Muội nói: “Địa ngục nhất nhật
nhất dạ thọ tội, như Diêm Phù Đề lục
thập tiểu kiếp, như thị nhất đại
kiếp. Thử đẳng tội nhân, kinh bát vạn tứ
thiên đại kiếp” (Thọ tội trong địa
ngục một ngày một đêm giống như sáu
mươi tiểu kiếp trong Diêm Phù Đề, tức là
một đại kiếp như thế. Những tội
nhân ấy [chịu tội] trải qua tám vạn bốn ngàn đại kiếp). Kinh
Trường A Hàm nói: “Cửu thọ khổ dĩ, tùng Vô
Gián xuất, năi chí Hàn Băng địa ngục, nhĩ năi
mạng chung. Vi trọng tội hành, sanh ác thú nghiệp, cố
đọa Vô Gián địa ngục, thọ khổ bất
khả xưng kế” (Chịu khổ đă lâu, từ
Vô Gián thoát ra, [sanh vào địa ngục khác, lần lượt
như thế] cho đến [sanh vào] địa ngục Hàn
Băng th́ mới mạng chung. Do đă gây tội nặng,
tạo nghiệp sanh vào đường ác, cho nên đọa
vào địa ngục Vô Gián, chịu khổ chẳng thể
tính kể).
Theo kinh
Lăng Nghiêm: “Do tư báo chiêu dẫn ác quả, kết
xúc, tắc vi nhất nhật trung vạn tử vạn sanh.
Ư nhất thiết thời, vô hữu tu du tạm thọ
an lạc như đàn chỉ khoảnh” (Do ư thức tạo nghiệp, chiêu cảm, dẫn khởi
ác quả, kết thành Xúc báo, cho nên trong một ngày vạn lần
sống, vạn lần chết. Trong hết thảy các thời,
chẳng hề được tạm hưởng an vui
trong khoảnh khắc chừng bằng một cái khảy
ngón tay). V́ thế nói: “Nhất niệm tạm trụ bất
đắc” (Chẳng tạm ngưng
trong một niệm được).
“Nghiệp
tận thọ sanh” là từ ngữ nói theo thời gian xa
xôi. Theo kinh Thiết Thành Nê Lê, từ Nê Lê thứ nhất
thoát ra, cho đến lần lượt vào trong Nê Lê thứ
tám. Lại từ Nê Lê thứ tám, trở ngược lại
Nê Lê thứ bảy, cho đến ngục thứ nhất
là A Tỳ Ma Nê Lê. Đến đó, người ta thấy
thành sắt từ xa, đều hoan hỷ hô to “vạn tuế”.
Vua Diêm La liền gọi tội nhân đến trước
mặt, [phán quyết] “nếu chẳng có oán đối, sẽ
cho ngươi đi”. [Người ấy] sẽ lại
sanh làm người, sẽ hiếu thuận, sẽ phụng
sự lâu năm, sẽ sợ điều răn cấm của
đế vương, sẽ thừa sự sa-môn đạo
nhân, tâm, miệng, thân đều đoan chánh. Người
đắc A La Hán th́ các đường Nê Lê đều
đóng lấp. Do vậy, từ Nê Lê thoát ra, đều sanh
trong đường lành. V́ thế nói là “nghiệp tận
thọ sanh”. Do từ thuở đầu cho đến
khi nghiệp hết sạch, cứ sanh tử liên miên, cho
nên gọi là Vô Gián.
3.2.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.3. Quảng
thuyết bất tận (nói chi tiết th́ sẽ
chẳng thể nói trọn hết được)
(Kinh)
Địa Tạng Bồ Tát bạch thánh mẫu ngôn: “Vô Gián
địa ngục thô thuyết như thị. Nhược
quảng thuyết địa ngục tội khí đẳng
danh, cập chư khổ sự, nhất kiếp chi trung, cầu
thuyết bất tận.
(經)地藏菩薩白聖母言‧無間地獄麤說如是。若廣說地獄罪器等名‧及諸苦事‧一劫之中‧求說不盡。
(Kinh:
Địa Tạng Bồ Tát bạch thánh mẫu rằng:
“Nói thô thiển về địa ngục Vô Gián như thế
đó. Nếu nói cặn kẽ về tên gọi của những
dụng cụ hành tội và các sự khổ trong địa
ngục th́ suốt cả một kiếp, chẳng mong nói
trọn hết được”).
V́ sao những
chuyện như tên gọi của các dụng cụ hành tội
nói suốt một kiếp chẳng tận? Do các tội
nhân lúc sống, ác tâm trọn khắp, ngày đêm liên tục,
đến nỗi đọa vào địa ngục, sẽ
theo nghiệp mà [các chuyện đày đọa] hiện ra,
tự nhiên những dụng cụ để hành tội và
các chuyện khổ sẽ rộng nhiều, khó thể trọn
hết được! Than ôi! Người sa vào Nê Lê, khổ
sở, cay đắng muôn mối. Ai nấy hăy tự suy
nghĩ, cũng đều nên làm lành vậy thay!
3.2.2.1.2.2.2.2.2.2. Thánh mẫu lễ
thoái (thánh mẫu
làm lễ, lui ra)
(Kinh)
Ma Da phu nhân văn dĩ, sầu ưu hiệp chưởng,
đảnh lễ nhi thoái. (經)摩耶夫人聞已‧愁憂合掌‧頂禮而退。
(Kinh:
Ma Da phu nhân nghe xong, lo sầu, chắp tay, đảnh lễ,
lui ra).
Đây là
người trùng tuyên kinh điển trần thuật thánh
mẫu nghe xong, lui ra, buồn v́ tội nhân chịu khổ
chẳng cùng tận, lo v́ sức ḿnh cứu giúp chẳng xuể.
“Chắp tay” biểu thị tự tâm chẳng tán loạn.
“Đảnh lễ” là bái tạ Địa Tạng Bồ
Tát [là đấng] có thể tuyên thuyết.
Lại c̣n lui khỏi chỗ ngồi để âm thầm
suy nghĩ, vẫn mong do duyên sau sẽ lại diễn nói.
Địa Tạng Bồ
Tát Bổn Nguyện Kinh Khoa Chú, phần 3 hết
[1] Đây đều là những
con số lớn. Theo phẩm A Tăng Kỳ trong kinh Hoa
Nghiêm, một trăm lạc-xoa (một trăm ngàn) là một
câu-chi. Câu-chi lần câu-chi là một A-du-đa. A-du-đa lần
A-du-đa là một Na-do-tha, lần lượt
như thế cho đến Chí lần Chí là một A
Tăng Kỳ. A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ là một
A Tăng Kỳ Chuyển. A Tăng Kỳ Chuyển lần
A Tăng Kỳ Chuyển là một Vô Lượng. Vô Lượng
lần Vô Lượng là một Vô Lượng Chuyển. Vô
Lượng Chuyển lần Vô Lượng Chuyển là một
Vô Biên. Vô Biên lần Vô Biên là một Vô Biên Chuyển, Vô Biên
Chuyển lần Vô Biên Chuyển là một Vô Đẳng. Vô
Đẳng lần Vô Đẳng là một Vô Đẳng
Chuyển. Vô Đẳng Chuyển lần Vô Đẳng Chuyển
là một Bất Khả Số. Bất Khả Số lần
Bất Khả Số là một Bất Khả Số Chuyển.
Bất Khả Số Chuyển lần Bất Khả Số
Chuyển là một Bất Khả Xưng. Lần lượt
tính lên như vậy, ta có các con số Bất Khả
Xưng Chuyển, Bất Khả Tư Chuyển, Bất Khả
Tư, Bất Khả Tư Chuyển, Bất Khả Lượng,
Bất Khả Lượng Chuyển, Bất Khả Thuyết,
Bất Khả Thuyết Chuyển.
[2] Sách này có tên gọi
đầy đủ là Quảng Dư Kư do Thái Phương
Bỉnh biên soạn dưới đời Thanh, hoàn tất
bản cảo vào năm Khang Hy 25 (1686), nội dung ghi chép
ranh giới, địa h́nh, sông núi, thổ sản, chùa miếu,
các bậc danh thần, nhân vật, liệt nữ v.v… của
mười lăm tỉnh và đặc khu: Trực Lệ,
Giang Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Phước Kiến v.v… Chí Đức
là niên hiệu của Đường Túc Tông (Lư Tự Thăng)
từ năm 756 đến năm 758.
[3]
Tân La là một vương triều tồn tại từ năm
57 trước Công Nguyên cho đến năm 950 công nguyên, có
địa bàn thuộc miền Nam và Trung phần của bán
đảo Đại Hàn. Cùng với Bách Tế (Baekje) và Cao
Câu Ly (Goguryeo), h́nh thành Tam Hàn (Tam Quốc) trong cổ sử Đại
Hàn. Vương triều này do Phác Hách Cư Thế (Park
Hyeokgeose) sáng lập. Phật giáo được truyền vào
Tân La vào năm 528. Cho đến thế kỷ thứ 7, tại
Tân La đă có các tông phái Niết Bàn, Pháp Tướng, Hoa
Nghiêm, Pháp Tánh. Cuối thế kỷ thứ chín, Thiền Tông
Tân La đă h́nh thành chín phái (thường gọi là Cửu Sơn).
Ngài Kim Kiều Giác (696-794) thuộc hoàng thất Tân La.
[4] Trực Lệ là một
đơn vị hành chánh đặc biệt đặt ra
dưới đời Minh, có ư nghĩa “trực thuộc
quyền quản trị trực tiếp của trung
ương”, không thiết lập chức Thừa Tuyên Bố
Chánh Sứ Ty như các tỉnh khác. Dưới thời
Minh, Trực Lệ Tŕ Châu Phủ có phạm vi bao gồm các
huyện Tŕ Châu, Đồng Lăng, Thanh Dương, Thạch
Đài, Đông Chí…
[5] Mẫu Đà La (Mudra)
là thủ ấn. “Cánh tay Mẫu Đà La” là cánh tay kết
ấn. Đâu La Miên là sợi tơ từ Đâu La (Tūla), tức Dương
Hoa, hoặc sợi tơ mịn của một loại tằm.
Cả hai từ ngữ đều nhằm ca ngợi cánh tay
đẹp đẽ luôn ban bố ân đức, mềm mịn
của đức Phật.
[6] Phạm Chí (梵志, Brahmacharin) thường
được giải thích là “chí hướng Phạm Thiên”
tức là những người tu theo đạo Bà La Môn,
mong sanh lên trời Phạm Thiên. Đây cũng là từ ngữ
chỉ chung các ngoại đạo.
[7] Tử (con) và Tư trong
Thiên Can (Tư, Sửu, Dần….) là cùng một chữ “子”.
[8] Bát Tư Thiên (Nārāyaṇa) c̣n gọi
là Na La Diên, hoặc Đại Lực Thiên Thần, là một
danh xưng khác của Tỳ Nữu Thiên (Vishnu).
[9] Thi Thiết Túc Luận
(施設足論) là một bộ luận
do ngài Huyền Trang dịch vào đời
Đường, chia thành bảy quyển. Tương truyền
tác giả của bộ luận này là tôn giả Ca Chiên Diên,
nhưng lại có thuyết khác cho rằng tác giả
phải là tôn giả Mục Kiền Liên. Bộ luận này chú
thích kinh Lâu Thán trong Trường A Hàm.
[10] Túc Tán Vương (粟散王) là những vị vua
hay hoàng đế không phải là Chuyển Luân Vương.
Do thế gian có nhiều quốc gia, thậm chí tù trưởng
một số bộ tộc hay thị tộc cũng
xưng vương. Nhất là trong các quốc
gia như Ấn Độ hay Trung Hoa, số lượng
vương gia, thân vương, tiểu vương quá nhiều, giống như
gạo rải rắc khắp nơi, nên được gọi
là Túc Tán Vương.
[11] Trủng Tể là chức
quan được đặt ra từ thời Tây Châu, thấp
hơn Tam Công (Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo), đứng
đầu Lục Khanh (Thái Tể, Thái Tông, Thái Sử, Thái
Chúc, Thái Sĩ, Thái Bốc), tức là người đứng
đầu các quan. Nói cách khác, đây là người thay thiên
tử xử lư thường vụ mọi việc triều
chính. Về sau, danh xưng này chuyên chỉ Lại Bộ
Thượng Thư và vai tṛ của Lại Bộ Thượng
Thư hoàn toàn chỉ giới hạn trong việc bổ nhiệm,
thăng thưởng, cách chức các quan…
[12] Bộ Khúc (部曲) là danh từ có từ
thời Ngụy Tấn, c̣n gọi là Khách, để chỉ
những thuộc hạ, chủ yếu là gia binh (binh lính
riêng, dũng sĩ hộ vệ riêng của các đại
quan, đại gia).
[13] Sách này có tên là Đại Đường Tây
Vực Kư gồm 12 quyển do ngài Huyền Trang biên soạn.
Sách được hoàn thành vào năm Trinh Quán 20 (646), ghi chép
những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc thỉnh
kinh kéo dài 19 năm của ngài Huyền Trang, bao gồm địa
lư, khí hậu, sản vật, văn hóa, tín ngưỡng, phong
tục, tập quán v.v… của hơn một trăm bốn
mươi quốc gia từ Tân Cương cho đến
Nam Ấn Độ. Tương truyền, do Đường
Thái Tông thường đến đạo tràng dịch kinh
của Ngài hỏi han đủ thứ về phong tục Tây
Vực, khiến Ngài không thể chuyên tâm dịch kinh được,
nên Ngài bèn soạn sách này để nhà vua đọc. Đây
là một sử liệu hết sức giá trị đă được
các triều đại khắc in rất nhiều lần và
đă được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Nhật.
[14] Theo tiên sinh Quư Dĩ Lâm, chữ Di Lặc (彌勒) được phiên âm dựa theo từ ngữ
Metrak trong ngôn ngữ Tocharian, tức là cách đọc trại
chữ Maitreya. Tocharian (Tokharian, Thổ Hỏa La ngữ) là
ngôn ngữ chánh yếu của các xứ thuộc Tây Vực
quanh bồn địa (vùng đất
trũng) Tháp Lư Mộc (Tarim Basin thuộc Tân Cương)
như Cao Sương (Turpan, Thổ Lỗ Phồn), Quy
Tư (Kuche, quê hương của ngài Cưu Ma La Thập) v.v…
Đa số các vị cao tăng dịch kinh thời đầu
xuất phát từ những xứ này, cho nên mới h́nh thành
cách phiên âm như thế. Sau khi người Uighurs (Duy Ngô
Nhĩ, thuộc hệ ngôn ngữ Turkic) và các sắc dân theo
Hồi giáo tiến nhập vùng Tân Cương, cùng với sự
diệt vong của các quốc gia tại Tây Vực, cũng
như dưới sự xâm lấn mạnh
mẽ của các sắc dân Hồi giáo, những kẻ thống trị mới cưỡng ép không khoan nhượng dân chúng địa
phương cải đạo sang Hồi giáo, ngôn ngữ Tocharian dần dần
suy vi và hoàn toàn mất hẳn.
[15] “Duyên nhân” là cái nhân để giúp cho
cái nhân chủ yếu (chánh nhân) được thành tựu.
Như hạt lúa giống là chánh nhân để sinh ra cây lúa
mới, các yếu tố phụ trợ như đất,
nước, phân bón, ánh sáng mặt trời, công sức của
nông dân v.v… là duyên nhân.
[16] “Thất
độc” là bảy thứ
phiền năo, tức tham, sân, si, mạn, nghi, tật đố
(ganh ghét), và dâm dục.
[17] Lỗ Ai Công (508-468) tên thật là Cơ Tương,
là vua thứ hai mươi sáu của nước Lỗ (quê
hương Khổng Tử). Trong giai đoạn này, nhà vua
chỉ có hư vị v́ quyền cai trị nước Lỗ
nằm trong ba ḍng quư tộc (Sử gọi là Tam Hoàn, tức
là hậu duệ của ba con trai Lỗ Hoàn Công). Nhà vua cố
gắng khôi phục quyền lực, nhưng bị họ
tấn công đến nỗi phải lưu vong sang nước
Triệu, rồi cuối trốn sang nước Việt
rồi chết tại đó.
[18] Theo niềm tin truyền thống của
Trung Hoa, Đông Nhạc Đại Đế là thần núi
Thái Sơn chưởng quản sanh tử. Tất cả
các thành hoàng đều trực thuộc quyền cai quản
của Đông Nhạc Đại Đế.
[19] Đột Cát La (Duṣkṛta), c̣n phiên âm là Đột Sắt
Nhi Lư Đa, hoặc Đột Thắng Kiết Lật Đa,
hoặc Độc Kha Đa, tức là các tội nhẹ thuộc
về làm ác và nói lời ác ngoài Tứ Trọng (giết, trộm,
dâm, dối).
[20] Luật Sao là gọi tắt của bộ
Tứ Phần Luật Hành Sự Sao do sơ tổ của
Nam Sơn Luật Tông là đại sư Đạo Tuyên biên soạn,
nhằm giải thích bộ luật Tứ Phần. Bộ
sách này lại được rất nhiều người
chú thích như Tứ Phần Luật Sao Phê của Đại
Giác soạn vào đời Đường, Tứ Phần
Luật Hành Sự Sao Sưu Huyền Lục của Chí Hồng
soạn vào đời Đường, Tứ Phần Luật
Hành Sự Sao Giản Chánh Kư của Cảnh Tiêu soạn, Tứ
Phần Luật Hành Sự Sao Tư Tŕ Kư do Nguyên Chiếu soạn
dưới đời Tống…
[21]
Bộ sách này có tên gọi đầy đủ là Đại
Tống Tăng Sử Lược, do ngài Tán Ninh (930-1001) biên
soạn vào đời Tống trong niên hiệu Thái B́nh Hưng
Quốc thời Tống Thái Tông, nay được đưa
vào tập năm mươi ba của bộ Đại Chánh
Đại Tạng Kinh. Theo lời tựa, do ngài Tán Ninh không
tán đồng cách biên soạn của các bộ sử Phật
giáo như Hoằng Minh Tập và Cao Tăng Truyện, nên đă
soạn ra bộ sách này, nhằm ghi chép rơ ràng chế độ
giáo đoàn, tăng lễ, giới luật, sám pháp, cũng
như các chi tiết lịch sử về việc truyền
tŕ Phật giáo từ Thiên Trúc sang Đông Độ, việc
phiên dịch kinh luận, quy chế xuất gia, các thể
chế cai quản tăng đoàn tại Trung Hoa, tăng phục,
quy củ giới đàn, kết xă (các h́nh thức hiệp
hội cộng tu)…
[22] Nại Lạc Ca là phiên âm khác của chữ
Nê Lê (Nāraka).
[23] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải
của pháp sư Viên Anh trong bộ Lăng Nghiêm Kinh Giảng
Nghĩa.
[24]
Minh Báo Kư là tác phẩm ghi lại những câu chuyện thật
về tội phước báo ứng do Đường Lâm
biên soạn trong niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường
Cao Tông.
[25] Tự Thư ở đây chính là bộ Can
Lộc Tự Thư do Nhan Nguyên Tôn soạn vào đời Đường.
Đây là một loại tiểu tự điển nhằm
giúp các sĩ tử nhận biết chữ viết như
thế nào là đúng quy cách trong các văn bản chính thức của triều
đ́nh và học viện. Do trong đời Đường,
mỗi chữ viết thường có ba loại: Chánh (chữ
viết đúng quy cách, mẫu mực, dùng cho chiếu, biểu,
thông cáo, sắc phong, gia phả, sử liệu,
bài thi), Thông (chữ viết theo lối
thông dụng để tiện ghi chép, không dùng cho các văn
bản chính thức. Đôi khi được sử dụng
khi ghi chép, thư từ cho những người cùng hàng, hoặc
các bằng khoán, giấy nợ), và Tục (những chữ
chỉ dùng trong dân gian, không được phép
dùng trong sách vở, ghi chép chính
thức). Can Lộc Tự Thư được h́nh thành nhằm
tiêu chuẩn hóa cách viết cho các chữ thông dụng thời bấy
giờ.
[26] Mười tám ngục là tám địa ngục
nóng (như đă nói trong phần trên, tức Đẳng Hoạt,
Hắc Thằng v.v…) và mười địa ngục lạnh:
Cụ Pháo (Arbuda, Át Phụ Đà, Ngạch Phù Đà, Hậu
Vân), Pháo Liệt (Nirarbuda, Nê La Phù Đà, Vô Vân), A Tra Tra (Aṭaṭa), A Ba Ba (Apapa
hoặc Hahava), A Hầu Hầu (Huhuva, hoặc Hahadhara), Thanh
Liên (Utpala, Ưu Bát La), Hồng Liên (Padma, Ba Đầu Ma), Đại
Hồng Liên (Mahapadma), Bạch Liên (Pundarīka), và Tô Kiện Đà Cố
(Soghandhika). Kinh Thập Bát Nê Lê nêu tên mười ngục lạnh
hơi khác, tức là Ô Cánh Đô, Nê Lô Đô, Ô Lược, Ô
Măn, Ô Tạ, Ô Hô, Tu Kiện Cù, Mạt Đầu Càn Trực
Hộ, Âu Bô Đồ, Thẩm Mạc. Có kinh, luận lại
cho rằng chỉ có tám địa ngục nóng và tám địa
ngục lạnh. Ngu ư cho rằng do nói tách ra, hay gộp vào bèn
có sai khác, tức là như trong phần trước đă nói,
có thể kể gộp chung các loại du tăng địa
ngục và cô độc địa ngục vào đó mà thành
ra mười tám, năm trăm, hoặc trăm ngàn địa ngục.
[27] Khương, Hồ, Di, Địch là các sắc
dân thiểu số. Khương (c̣n gọi là Nhĩ Mă) là sắc
dân thiểu số sống ở vùng Tây Nam Trung Hoa. Ngôn ngữ
của họ thuộc hệ Hán - Tạng, nhưng văn tự
đă thất truyền. Họ theo ngả Tây Bắc di
cư vào Trung Hoa dưới đời Tần. Trong lịch
sử, một lănh tụ người Khương là Diêu
Trành đă sáng lập vương triều Hậu Tần (sử
thường gọi là nhà Diêu Tần). Hồ là tiếng chỉ
chung các sắc dân ngoại lai tại Trung Á và Tây Á. Do vậy,
trong lịch sử, các sử gia Trung Hoa đă phân biệt
người Hồ thành Sơn Nhung, Khuyển Nhung, Đông Hồ,
Nhục Chi, Ô Hoàn, Tiên Ty, Hung Nô, Đê, Yết, Đột
Quyết, Hồi Hột v.v… Di là những người thiểu
số ở phía Đông Trung Hoa. Vua khai sáng nhà Châu là Châu Văn
Vương thuộc tộc Đông Di. Từ đời Hán
trở đi, chữ Di dùng để chỉ người
Đại Hàn, Oa nhân (người Nhật), Ốc Thư
(Okjeo, một sắc dân tại Đại Hàn), dân cư trên
đảo Lưu Cầu (Ryukyu), và thổ dân tại Đài
Loan. Địch là từ ngữ chỉ các sắc dân sống
ở phía Bắc Trung Hoa mà không phải là người Hán.
Thời Xuân Thu, người Địch chia thành Bạch
Địch, Xích Định, và Trường Địch.