Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh Giảng Nghĩa
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả: Thanh
tín sĩ[1] Thắng
Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦遺
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
* Lời tựa của ông Tưởng Duy Kiều
Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa
là di trước[2]
của cư sĩ Giang Vị Nông. Khi cư sĩ sanh tiền, do bệnh
ma luôn quấy nhiễu, bản trước tác này chưa
được hoàn thiện. Sau khi cụ khuất núi, lại
do đủ thứ chướng ngại, gần như bị
thất lạc. Phải chăng là cơ duyên bí mật rất
sâu vô thượng chưa thể dễ dàng tuyên nói, hiển
lộ, hay là v́ chúng sanh bạc phước, chẳng thể
khế hợp đại pháp đấy chăng? Nếu
không, cớ sao ma chướng tầng tầng nặng nề
đến thế! Tôi cùng cư sĩ thâm giao hai mươi
mấy năm, biết cụ suốt đời tŕ tụng
kinh Kim Cang, riêng có tâm đắc. Mùa Hạ năm Giáp Tuất
(1934), tôi đă hướng về cụ khải thỉnh giảng
thuật đại ư. Tôi nhớ được những ǵ
liền trở
về chép lại.
Cư sĩ bùi ngùi bảo: “Trúc vốn rỗng ḷng là thầy
của tôi! Tên tự của ông dùng chữ Trúc[3],
trống ḷng dường ấy, đáng gọi là danh xứng
với thật! Lược giảng chẳng bằng
đàm luận cặn kẽ cùng ông”. Nhưng các đồng
nhân thuộc Tỉnh Tâm Liên Xă nghe biết chuyện này, yêu cầu
[giảng giải] công khai. Cụ bèn dời
sang liên xă, chánh thức tuyên giảng, quy định mỗi
tuần giảng hai buổi. Cụ giảng vào buổi tối,
người nghe luôn có đến mấy chục người.
Tôi cũng ghi lại lời giảng ngay trong mỗi buổi;
hôm sau, tŕnh bản ghi chép cho cụ sửa chữa. Mấy
tháng sau, cụ cho rằng sửa chữa tốn công quá, chẳng
bằng tự viết, bèn hôm trước mỗi buổi
giảng, soạn mấy ngàn chữ cho tôi sao lục. Tôi tuy vẫn có bút kư, nhưng vẫn
chưa rảnh rỗi để chỉnh lư. Pháp hội ấy
bắt đầu từ tháng Bảy năm Giáp Tuất tới
tháng Chín năm Ất Hợi (1935) viên măn. Bản thảo
tích lại dày cả thước, cư sĩ cho rằng vẫn
cần phải nhuận sắc, và lọc ra những chỗ
c̣n thiếu sót để bổ túc rồi mới có thể
tạo
thành sách.
Do cư sĩ ở nhà, các đồng nhân có người
hỏi đạo đông đảo; do vậy, mưu tính
t́m một một gian tĩnh thất tịch mịch để
cúng dường cho cụ chuyên tâm soạn thuật. Ông Lư
Trĩ Liên nghe chuyện ấy, phát nguyện một ḿnh
đảm nhiệm kinh phí, bèn thuê một căn nhà ba gian ở
phía Tây đất Hỗ (Thượng Hải), gian bên phải
làm buồng ngủ, gian giữa làm điện thờ Phật,
gian bên trái làm pḥng giảng để cư sĩ ở, ngơ
hầu trong ṿng một năm, cụ sẽ bổ túc, biên
soạn hoàn thành tác phẩm Giảng Nghĩa này. Nhưng
cư sĩ mỗi năm vào tiết hoàng mai[4]
ắt bị bệnh, hễ bệnh là mấy tháng. Lành bệnh,
cụ
lại
thương xót chúng sanh Nam Bắc tử nạn, tổ chức
Đại Bi Đạo tràng để kiền thành siêu độ. Do vậy, lần lữa,
rốt cuộc chưa thể hoàn thiện bản thảo.
Mỗi khi tôi gặp gỡ, ngẫu nhiên hỏi đến
chuyện ấy, dường như cư sĩ chẳng muốn
bị người khác hối thúc. Tôi biết ư cụ, chẳng
hỏi tới nữa!
Đầu mùa Hạ năm Mậu Dần (1938), cư
sĩ lại ngă bệnh, ăn uống khó tiêu. Cứ cách
hai ba hôm, tôi lại đến thăm, thấy bệnh t́nh
càng nặng hơn năm trước, hết sức lo lắng.
Tháng Năm năm ấy, cụ lặng lẽ văng sanh.
Người nhà đến lo liệu tang lễ, trong lúc rối
ren, gần như chẳng biết di cảo lạc về
đâu. Tôi vội sai người t́m kiếm khắp chốn
mới thấy, đem về kiểm xem, thấy đều
là những tờ ghi chép rời rạc, thứ tự
trước sau đôi chỗ lầm loạn.
Đồng nhân do thấy tôi có bút kư, nhiều lượt
thúc hối tôi biên soạn bổ túc để hoàn thiện.
Nhưng tôi do bận bịu lắm việc, kể từ
sau khi cư sĩ tự soạn Giảng Nghĩa, đối
với các bản ghi chép của chính ḿnh, chưa rảnh
để sửa chữa hoàn chỉnh. Khi ấy, do ghi vội,
lâu ngày xem lại, nét chữ quá nửa chẳng nhận biết!
Hơn nữa, khi cư sĩ c̣n sống, bút kư của tôi
c̣n phải chờ cụ sửa chữa th́ mới chẳng
sai lầm. Nay bộp chộp dùng đó để nối
đuôi, vẫn có điều chưa ổn! Di trước
của cổ đức, dẫu thiếu sót, chưa
được đầy đủ, đă đem ấn
hành, cũng có nhiều trường hợp như thế.
Huống chi sách này mười phần đă hoàn thành
được sáu bảy phần ư!
Nhưng đưa in ắt
phải biên tập, tôi hằng ngày không có lúc rảnh rỗi, gác lại đó mấy
tháng. May có đệ tử của Giang cư sĩ là ông
Châu Thanh Viên phát tâm đảm nhiệm chuyện ấy; do vậy,
tôi giao toàn bộ bản thảo cho ông ta. Ông bèn cân nhắc,
ḍ t́m từng trang, tùy thời ghép kinh văn vào đấy.
Thanh Viên cũng do vậy, đối trước Phật,
phát thệ chịu tội thay cho chúng sanh, thường bị
bệnh, chẳng tránh khỏi lần lữa. Biên chép
được một nửa, lại gặp chuyện trắc
trở ngoài ư muốn, gần như luống công trong gang tấc.
Cho tới mùa Đông năm Kỷ Măo (1939), mới sao lục
hoàn tất cả bộ sách. Ma chướng như thế,
rốt cuộc thành sách, cũng may mắn lắm thay! Một
hôm, trên đường, tôi t́nh cờ gặp ông Lư Trĩ
Liên, biết ông từ Hương Cảng sang Thượng
Hải, chẳng lâu sau sẽ rời đi. Do vậy, tôi nhắc
đến bản thảo ấy đă có thể giao cho nhà
in. Ông Lư vui sướng, bảo tôi tiền in sẽ do ông ta
gánh vác. Nếu có ai tùy hỷ, ông cũng chẳng muốn
độc chiếm công đức này. Số tiền dư
ra sẽ dùng cho Tỉnh Tâm Liên Xă. Khéo sao, cư sĩ Phạm
Cổ Nông do lánh nạn đến đất Hỗ, trú ngụ
tại liên xă, tôi bàn bạc được ông ta đồng
ư, đảm nhận trách nhiệm hiệu đính. Do vậy,
sách được in xong vào tháng Sáu năm nay. Nội dung của
sách tinh thâm, vi diệu, nêu tỏ những điều tiền
nhân chưa nêu bày, tùy thời chỉ dạy người học
chỗ thiết thực để dụng công, đều
là những lời lẽ của bậc từng trải.
Độc giả mở sách ra xem sẽ tự biết, chẳng
cần tôi rườm lời. Tôi chỉ trần thuật
đầu đuôi quá tŕnh khúc chiết của sách này như
thế để thay lời tựa.
Tháng Sáu
năm Dân Quốc 29 (1940), Tưởng Duy Kiều[5]
pháp danh Hiển Giác viết tại Nhân Thị Trai.
* Lời tựa của ông Phạm Cổ Nông[6]
Kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
chính là một quyển trong sáu trăm quyển của bộ
kinh Đại Bát Nhă, văn từ giản ước mà
nghĩa lư tinh vi, ví như chất tinh túy của vàng, thật
đúng như vậy! Kinh văn trong sáu trăm quyển
[Đại Bát Nhă] mênh mông, bát ngát, người đọc
khó thấu hiểu được! Một quyển kinh
văn này nhà nhà tụng đọc, nhận biết;
nghĩa sâu Bát Nhă nhờ đó mà được hoằng
truyền. Từ xưa tới nay, người giải
thích kinh này, chắc cũng hơn trăm, chẳng bàn tới
những kẻ có dị kiến. [Các trước tác] khế
hợp chánh nghĩa của kinh th́ gồm ba bộ luận
của các ngài Vô Trước, Thiên Thân, Thí Công Đức, và
ba bản sớ của Tăng Triệu[7],
Trí Giả, Gia Tường là tuyệt nhất. Nối tiếp
có các tác phẩm luận định của các pháp sư
Tông Lặc[8],
Hám Sơn, Ngẫu Ích, Tục Pháp[9],
mỗi bộ đều có các ư nghĩa tinh vi, nếu chẳng
hay hơn các bản chú giải thời cổ th́ cũng gần
được bằng! Nhưng chưa có tác phẩm nào thù
thắng, uyên bác như bộ Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của
lăo cư sĩ Giang Vị Nông. Sách Giảng Nghĩa phát huy
chỉ yếu Bát Nhă vừa cặn kẽ, vừa trọn
vẹn, lại c̣n kèm thêm dung thông các kinh Đại Thừa.
Sách chỉ dẫn người học quán chiếu pháp môn,
chẳng kém sự hướng thượng của nhà Thiền,
mà ư chỉ nhất tâm của Tịnh Tông cũng đều
được xiển phát! Nhất
là trọn đủ pháp nhăn, nêu tỏ những điều
người xưa chưa nêu bày, tức là tông Thiên Thai phán
định kinh này là Thông, Biệt kiêm Viên, tông Hiền Thủ
phán định kinh này thuộc Thỉ Giáo, riêng ḿnh cư
sĩ phát định kinh này là giáo pháp chí viên cực đốn,
ngơ hầu chẳng trái nghịch điều được
gọi là “lời
dạy tối thượng thừa của Như Lai” được nói
trong kinh này! Đối với các câu chữ trong kinh như
Như Lai, Phật, Thế Tôn, “phất
dă” (chẳng phải vậy), hoặc “Phật
cáo Tu Bồ Đề” v.v… người ta thường
lướt qua, nhưng cư sĩ đều nêu tỏ ư nghĩa thù thắng
của chúng.
Vừa
rồi, Tỉnh Tâm Liên Xă in bộ Giảng Nghĩa này, tôi
giúp hiệu đính, được đọc bản
văn này, khôn ngăn hoan hỷ, hớn hở, than là
chưa từng có! C̣n như đối với chuyện cụ
dựa theo các cổ bản, khảo đính các chữ sai
khác, soạn thành bản hoàn chỉnh, đúng là bậc công
thần của kinh này trong hơn một ngàn năm qua! Khi
xưa, tôi đọc bản Di Đà Kinh Bạch Thoại
Giải của cư sĩ Hoàng Hàm Chi từng tán thán rằng:
“Người đọc bản giảng giải này, không
chỉ biết ư nghĩa của kinh Di Đà, mà c̣n có thể
biết pháp trong hết thảy các kinh”. Nay đối với
bản Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của Giang cư sĩ,
cũng nói giống hệt như thế. Kể từ khi bản
Giảng Nghĩa này được lưu thông, tôi biết
độc giả giở xem bản sách này khác nào đọc
mười hoặc trăm bộ kinh khác. Kinh dạy: “Hết
thảy chư Phật và pháp Bồ Đề của
chư Phật đều phát xuất từ kinh này”, chẳng
phải là càng nêu tỏ điều ấy hay sao? Hiệu
đính đă xong, do tán thán mà viết lời giăi bày.
Đầu mùa Hạ năm Canh Th́n, tức năm Trung
Hoa Dân Quốc 29 (1940), Phạm Cổ Nông kính cẩn đề
tựa.
* Phàm lệ
1. Sách này là di trước
của Giang cư sĩ được in để lưu
truyền trong cơi đời. Do lúc xuất bản lần
đầu, đă dùng bản thảo chưa hoàn thành [của
Giang cư sĩ] được bổ khuyết bằng bản
bút kư của cư sĩ Tưởng Hiển Giác, [do bản
bút kư ấy] đương thời đă từng
được Giang cư sĩ sửa chữa. Năm Trung
Hoa Dân Quốc 31 (1942), khi tái bản, những chỗ thiếu
sót trong sách Giảng Nghĩa đều do cư sĩ Tưởng
Hiển Giác dựa vào bút kư thuở đó, dốc ḷng hiệu
đính, bổ sung, tạo thành bản hoàn chỉnh.
2. Sách này được
chia thành bốn khoa lớn là Tín, Giải, Hành, Chứng, dựa
theo đó mà chia thành quyển. Dùng năm tầng huyền
nghĩa làm quyển đầu, những phần c̣n lại
chia thành bốn quyển, tổng cộng là năm quyển.
Quyển cuối cùng in kèm thêm phần lời kư về sự
giảo định đối với tác phẩm của
cư sĩ và lời bạt.
3. Đầu sách có thêm
phần Khoa Phán để người đọc dễ kiểm
xem[10].
4. Bản biên tập
đầu tiên của sách này do cư sĩ Châu Thanh Viên
đảm trách, cư sĩ Phạm Cổ Nông đảm
trách hiệu đính, cùng với các vị cư sĩ Tưởng
Hiển Giác và cư sĩ Mạnh Định Thường
cùng giúp giảo chánh, đối chiếu.
5. Những chỗ bổ
khuyết trong sách được ghi ở ḍng đầu bằng chữ
Bổ cho rơ ràng.
* Tiểu sử cư
sĩ Giang Vị Nông
Tưởng Duy Kiều soạn
Cư
sĩ họ Giang, tên là
Trung Nghiệp (忠業),
tên tự là Vị Nông (味農),
pháp danh là Diệu Hú (妙煦)[11].
Về già, đổi tên là Đỗ (杜),
hiệu là Định Ông (定翁).
Trong cách sách trước tác, cụ
kư tên là Huyễn Trụ (幻住),
hoặc ghi là Thắng Quán (勝觀),
tùy thời mà dùng, vốn chẳng nhất
định. Tổ tiên cụ vốn sống tại thôn
Lăng Các thuộc Nam Hương, huyện Giang Ninh, tỉnh
Giang Tô. Do ông nội là Nhạc Phong Công làm quan ở tỉnh
Ngạc (Hồ Bắc)[12],
bèn dời nhà sang đó. Thuở bé, cư sĩ đă theo Nhạc
Phong Công tŕ tụng kinh Kim Cang, suốt đời chưa từng
thiếu khuyết. Cha cụ là Nhẫn Ngô Công, là bậc tuần
lại[13]
của nhà Thanh trước kia, có tiếng là liêm khiết.
Năm Nhâm Dần (1902) đời Quang Tự, cư sĩ đỗ
khoa thi Hương, được cử giữ chức
Đạo Đài[14]
dự bị tại Thiểm Tây, nhưng cư sĩ nuôi
chí phụng sự cha mẹ, chẳng thích ra làm quan. Nhẫn
Ngô Công làm quan mấy chục năm, được thuyên
chuyển từ đất Cống (tỉnh Giang Tây) tới
đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên)[15],
cư sĩ đều theo hầu hạ, giúp đỡ cha.
Bất kể chuyện lớn hay nhỏ, ắt đều
cung kính đích thân làm. Cư sĩ trung niên gặp cảnh
chôn vợ, ngộ đời người vô thường,
liền lắng ḷng học Phật. Tuy vâng lệnh cha mẹ,
lại lấy vợ kế, nhưng tuy tại gia mà hạnh
tại xuất gia, ư chí đă sớm dứt khoát.
Mùa
Thu năm Tân Hợi (1911), Nhẫn Ngô Công tuổi già về
hưu. Cư sĩ phụng sự cha mẹ, từ đất
Thục trở về đất Ngạc. Gặp lúc quân
cách mạng (cách mạng Tân Hợi
lật đổ nhà Thanh) dấy lên, gia sản
mất sạch. Lánh nạn về phía Đông, thoạt
đầu sống ở Vũ Lâm (Hàng Châu),
sau tới Thượng Hải. Tuy lênh đênh, vất vả,
nếm trải đủ mọi nỗi gian khổ mà vẫn
phụng dưỡng cha mẹ, vui với đạo, giữ
tâm thản nhiên. Nhẫn Ngô Công trung trinh, tiết tháo, nghiêm
ngặt răn bảo cư sĩ chớ lại dấn
ḿnh vào con đường làm quan. Cư sĩ kính cẩn
vâng theo lời dạy, chẳng dám quên. Năm Đinh Tỵ
(1917), Nhẫn Ngô Công qua đời. Trong cơn đau buồn,
cư sĩ thừa dịp khuyên mẹ là Quách thái phu nhân
ăn chay trường, niệm Phật.
Mùa
Xuân năm Mậu Ngọ (1918), cụ lễ bậc đại
đức trong tông Hiền Thủ là ḥa thượng Vi Quân
làm thầy, thọ Bồ Tát giới. Cụ tận lực
tham cứu, khá được tin tức[16].
Khi đó, năm tỉnh miền Bắc bị hạn hán nặng
nề, thê thảm, cư sĩ nhận lời phó thác của
ông Giản Chiếu Nam, mang tiền cứu
trợ lên miền Bắc trao cho Phật Giáo Trù Chẩn Hội
(hội trù bị cứu trợ tai nạn của Phật
giáo) một khoản tiền mười vạn, cứu sống
rất nhiều người. Khoảng giữa năm Tân
Nhâm (1922-1923), tôi mới được quen biết cư
sĩ tại Thượng Hải. Tới khi đó, lại
gặp nhau ở Bắc Kinh. Đến mùa Hạ năm ấy,
các đạo hữu Từ Văn Úy (Từ Úy Như),
Mai Quang Hy v.v… cung thỉnh pháp sư Đế Nhàn thuộc
chùa Quán Tông lên miền Bắc, khai giảng kinh Viên Giác. Ngài
tự viết Giảng Nghĩa trao cho thính chúng. Pháp sư xứng
tánh đàm luận, phát huy nhiều điều nằm ngoài
phần Giảng Nghĩa. Do vậy, tôi thỉnh cư
sĩ và ông Hoàng Sĩ Hằng mỗi vị tự ghi lại
những điều đă nghe. Bút kư mỗi ngày do cư
sĩ tổng hợp mà thành. Sau khi đă hoàn thành, tŕnh lên
ngài Đế Nhàn, được pháp sư Đế Nhàn ấn
khả, đặt tên là Viên Giác Thân Văn Kư.
Khi
đó, thư viện ở kinh đô đang sưu tập
các bản kinh chép từ động đá Đôn Hoàng
hơn tám ngàn cuốn, trong ấy, có nhiều đầu
sách cần tới chuyên gia giảo duyệt, xử lư. Tôi
bèn kiến nghị bộ Giáo Dục mời cư sĩ
đảm nhậm chức trách giảo duyệt, xử lư.
Từ năm Mậu Ngọ (1918) cho đến năm Kỷ
Mùi (1919), trước sau hai năm, từ trong đám sách tàn
khuyết, rối ren, cư sĩ soạn thành Đại Thừa
Đạo Thiên Kinh Tùy Thính Sớ (một quyển) và Tịnh
Danh Kinh Tập Giải Quan Trung Sớ (hai quyển). Trong lời
bạt cho quyển Đại Thừa Đạo Thiên Kinh
Tùy Thính Sớ, cư sĩ đă viết: “Xưa kia, tôi
nghe nói trong các kinh tại Đôn Hoàng, có Đạo Thiên Kinh
Sớ mười mấy quyển là tác phẩm bị thất
truyền trong Đại Tạng. Đến khi tới
Thư Viện, vội vàng t́m đọc, [thấy sách ấy]
rối ren, sai lạc, thiếu khuyết, gần như chẳng
thể đọc, bèn ṃ mẫm tháo gỡ đầu mối,
xếp đặt, so sánh những chỗ liên quan, thừa
thăi, và cân nhắc các chỗ trùng lặp, đối chiếu
các chỗ tương đồng, khác biệt, cũng
như dựa vào các sách khác để giảo chánh, bổ
sung. Những chỗ chẳng thể tham khảo, đành
để tồn nghi. Dốc sức suốt tám tháng mới
chép thành một quyển, vẫn c̣n thiếu đầu
đuôi. Khéo sao ông Phó Tăng Tương mua được
một quyển sách nát, những phần sớ giải bị
thiếu đều có trong đó. Do vậy, tác phẩm
được giấu kín cả ngàn năm đă trở
thành trước tác hoàn chỉnh”. Bởi đó, cũng
biết nỗi gian nan, nhọc nhằn trong sưu tập,
mà thời tiết, nhân duyên quả là chẳng thể
nghĩ bàn!
Trong
Tịnh Danh Kinh Tập Giải Quan Trung Sớ, cụ giăi
bày: “Từ trong vạn quyển rối ren, tàn khuyết,
tôi chú trọng sưu tập bản sớ này. Trải suốt
một năm, mới khám định, hiệu đính thành
sách, đầy đủ từ đầu đến
đuôi, chỉ thiếu một đoạn nhỏ ở giữa,
nhưng chẳng gây trở ngại cho đại thể.
Đối với Quan Trung Tịnh Danh Kinh Sớ, tới
nay tôi vẫn nghe chỉ có bản chú giải của ngài
Tăng Triệu, nhưng giảo duyệt sách này, thường
thấy sách
này cặn kẽ hơn, mới
biết bản này đă chẳng phải là nguyên bổn. Huống
hồ đối với những trước tác của
các đệ tử ngài La Thập, sách này đều chép
tường tận, lại c̣n chia khoa để giải
thích, biện định những điểm chánh yếu,
đề cập những điều chưa được
đề cập, nói ra những điều người
khác chưa nói. Ví như tụ tập vô thượng diệu
vị, điều ḥa phần tinh túy, chọn lấy những
điểm tinh yếu, vận dụng rộng răi, khiến
cho ư chỉ phong phú, tràn trề. Sách này cũng như thế
đó, trong một tác phẩm, gồm trọn diệu
nghĩa. Nếu lắng ḷng xem đọc, ắt sẽ
dung thông những điểm khác biệt, quán tâm khế hợp
Thể, c̣n có ư chỉ nào của kinh mà chẳng rơ, thần
trí chẳng mở mang ư?”
Có thể thấy là tác phẩm trân quư, bí mật trong các bản
sớ vậy.
Năm
Canh Thân (1920), cư sĩ trở về đất Hỗ
(Thượng Hải)[17].
Bà mẹ là Quách thái phu nhân ngă bệnh, cư sĩ v́ mẹ
tụng chú Đại Bi gia tŕ, cũng bảo người
nhà kiền thành tụng Phật hiệu để trợ lực.
Thái phu nhân lâm chung ngồi dậy, hướng về Tây, chắp
tay, niệm Phật qua đời. Từ đấy, cư
sĩ tín niệm càng thêm kiên cố, thường tiếc nuối
v́ tập khí nhiều đời, bèn cậy vào sức của
thần chú Mật giáo để tiêu trừ. Cụ trở
lại Bắc Kinh, khéo sao gặp ḥa thượng Giác Tùy
người Nhật chuyên tu pháp cúng dường Đại
Thánh Hoan Hỷ Thiên. Cư sĩ bèn ước hẹn mấy
người cùng chí hướng, thỉnh Sư lập
đàn truyền dạy. Tới ngày viên măn, cư sĩ bỗng
nhận thấy ḿnh hiện thân cao lớn, trên là thấu
đến tột cùng chẳng có ngằn mé. Ngài Giác Tùy nói:
“Tu pháp lần này, chỉ có ông được phước
lớn nhất!” Sau đó, ngài Giác Tùy dẫn cư sĩ
sang núi Cao Dă[18]
của Nhật Bản nghiên cứu Đông Mật. Rốt
cuộc v́ chuyện khác gây chướng ngại, cư
sĩ chưa thể quyết chí tiềm tu.
Chẳng
lâu sau, trở về nước, cụ cùng anh em ông Giản
Chiếu Nam và Giản Ngọc Giai, trù tính thành lập Công
Đức Lâm Phật Kinh Lưu Thông Xứ tại Thượng
Hải, sưu tập các kinh sách từ các chỗ in kinh Nam
Bắc và các danh sơn để lưu thông toàn quốc
ḥng hoằng pháp lợi sanh. Cư sĩ thường nói: “Bộ
Đại Thừa Chỉ Quán của Nam Nhạc Huệ
Tư đại sư chính là của báu hy hữu trong các
tác phẩm được soạn thuật tại Đông
Độ. Bộ Ma Ha Chỉ Quán của Trí Giả đại
sư chính là từ đấy mà ra. Người học nếu
trước đó chẳng thông hiểu nghĩa lư của
ngài Nam Nhạc mà học ngay Ma Ha Chỉ Quán, sẽ khó nắm
được yếu lănh”.
Nhưng tâm pháp của ngài Nam Nhạc đă bị ch́m khuất
tại hải ngoại, tuy thời Tống được
truyền nhập trở lại Trung Quốc, nhưng ít
người quan tâm, hết sức đáng tiếc! Do vậy,
mùa Hạ năm Tân Dậu (1921), cư sĩ Nam Viên ở
Thượng Hải phát khởi hội giảng kinh tại
Thượng Hải. Cư sĩ liền đề nghị
khải thỉnh pháp sư Đế Nhàn giảng Đại
Thừa Chỉ Quán. Cư sĩ mỗi ngày bút kư, lại c̣n
đối với các chỗ thẳm sâu, vi diệu, các thí dụ
khúc chiết đều nói rơ, tŕnh pháp sư Đế Nhàn
giảo duyệt đôi ba lượt. Tới năm Quư Hợi
(1922) mới hoàn thành bản thảo, đặt tên là Thuật
Kư. Pháp sư Đế Nhàn tự khiêm bảo: “Sách này
mười phần th́ bảy tám phần do cư sĩ
trước thuật”, không chịu cho cư sĩ đề
tên Ngài. Cư sĩ thưa do ngài Đế Nhàn phát khởi
đầu mối, ắt phải đề tên Ngài trước
tác, cứ khiêm nhường lẫn nhau. Lại sợ trong
sách có những câu điển tích hoặc danh từ chuyên biệt,
sợ người đọc khó hiểu, lại trải
qua nhiều lượt sửa chữa. Thấm thoát tám
năm, mới thành sách, gồm hai mươi quyển,
đưa đi ấn hành. Pháp sư Đế Nhàn cũng
xét thấu ḷng thành cư sĩ, chấp nhận để
tên Ngài là tác giả, nhưng trong thư gởi cho cư
sĩ, Ngài viết: “Lời văn trong bộ Thuật Kư
không chỉ từ ngữ và ư nghĩa lưu loát, mà c̣n đối
với các chỗ quan trọng, khẩn yếu, chỉ thú
uyên áo, kín nhiệm, thảy đều [trần thuật] thấu
triệt, rơ ràng. Đấy đều là do ông lăo Duy Ma dùng
kiến địa tinh diệu để phát huy vậy”.
Mùa
Hạ năm Ất Sửu (1925), tôn giả Bạch Phổ
Nhân[19]
xuống miền Nam, chủ tŕ pháp hội Kim Quang Minh. Các
đồng nhân tại Thượng Hải cùng thỉnh
cư sĩ giúp đỡ tôn giả tuyên dương. Do vậy,
cư sĩ từ đất Hỗ (Thượng Hải)
sang đất Hàng (Hàng Châu), đất Tương (Hồ
Nam), đất Ngạc (Hồ Bắc), đất Tầm
(huyện Cửu Giang thuộc Giang Tây), đất Ninh (Ninh
Ba), qua lại mấy ngàn dặm, cúc cung lo liệu, sắp
đặt mọi việc rạch ṛi. Nhờ vào cơ duyên
ấy, cụ có dịp nghiên cứu Tạng Mật. Mùa Thu
năm Kỷ Tỵ (1929), nhận lời thỉnh của
thiện tín vùng Mân Trung[20],
cư sĩ đến Phước Châu (tỉnh lỵ tỉnh
Phước Kiến), tuyên thuyết Phật pháp suốt ba
tháng mới về. Mùa Thu năm Canh Ngọ (1930), khai giảng
Đại Thừa Chỉ Quán Thuật Kư tại đất
Hỗ. Vừa
qua Tết, Tỉnh Tâm Liên Xă thành lập, cụ bị cử
làm xă trưởng. Từ đấy trở đi, cụ
thường ở trong liên xă, khai giảng kinh điển
Đại Thừa, và suất lănh xă viên niệm Phật, lễ
sám. Tôi biết cư sĩ riêng có tâm đắc nơi kinh
Kim Cang, nên mùa Hạ năm Giáp Tuất (1934), thỉnh cư
sĩ giảng thuật đại ư. Sau đó, các đồng
nhân trong Tỉnh Tâm Liên Xă yêu cầu giảng công khai, cụ
bèn chánh thức khai giảng. Mỗi lần tôi đều
ghi bút kư, ghi xong, đều tŕnh cho cư sĩ sửa chữa.
Sau đó, cư sĩ mỗi lượt tự viết Giảng
Nghĩa cho tôi sao lục. Tới khi pháp hội viên măn, bản
thảo tích lại thành bốn quyển dày. Cư sĩ cho
rằng c̣n phải nhuận sắc, cũng như bổ
túc những phần thiếu sót trong bản thảo đầu
tiên rồi mới in thành sách. Các đồng nhân do thấy
cư sĩ ở nhà, nhiều người hỏi đạo,
chẳng thể chuyên tâm soạn thuật, tính t́m một
căn nhà yên tĩnh khác để cúng dường cho cư
sĩ, tạ tuyệt hết thảy, trong kỳ hạn một
năm sẽ biên soạn, bổ túc hoàn tất bộ Kim
Cang Kinh Giảng Nghĩa.
Nhưng
cư sĩ mỗi năm vào tiết hoàng mai đều bị
bệnh, hễ bệnh liền bệnh mấy tháng. Lại
do nghĩ thương xót chúng sanh tử nạn khắp Nam
Bắc, cụ liền tổ chức Đại Bi Sám để
kiền thành siêu độ. Do vậy lần lữa, rốt
cuộc Giảng Nghĩa chẳng hoàn thành bản thảo,
nhưng sách mười phần đă hoàn tất sáu bảy
phần. Cụ giải thích kinh Kim Cang, phát huy nhiều chỗ
cổ đức chưa phát huy, như khi đức Phật
nói các kinh khác, luôn phóng quang minh to lớn, sáu thứ chấn
động, hiện đủ loại thụy tướng.
Riêng khi nói kinh điển Kim Cang Bát Nhă rất sâu, chỉ
nói những lời như đức Thế Tôn tới giờ
ăn bèn đắp y, cầm bát, vào đại thành Xá Vệ
khất thực v.v… Cư sĩ giải thích: “Đấy
là chỉ thú lớn nhất của kinh, phát huy lư ‘chớ
nên trụ vào tướng’. V́ thế, mở đầu kinh
chép cử động của đức Thế Tôn giống
hệt như các vị tỳ-kheo tầm thường, tức
là thành Phật nhưng chẳng trụ nơi Phật
tướng. Các đệ tử cũng thấy là tầm
thường. Chỉ có ngài Tu Bồ Đề phần nào
biết được ư này, cho nên tán thán là hy hữu. Nếu
không, ôm bát khất thực há đáng khiến cho kẻ khác
kinh ngạc, tán thán ư?” Thông thường, đối
với hai lượt vấn đáp trong kinh Kim Cang, [các vị
chú giải xưa kia] đều
bảo “[nhằm giảng giải] nên trụ như thế
nào?” Riêng cư sĩ dựa theo các bản chú giải thời
cổ và bản kinh được chép tại Đôn Hoàng,
khẳng định lượt đầu là “hăy nên trụ
như thế nào?”, lượt sau tương ứng với
“v́ sao hăy nên trụ?” Ư nghĩa của hai lượt
thưa hỏi trọn chẳng giống nhau. Cụ bảo:
“Lượt hỏi đầu ứng với ‘hăy nên trụ
như thế nào?’ tức là hỏi Bồ Đề tâm nên
an trụ như thế nào để khỏi rong ruổi,
tán loạn, nhằm nói với người mới phát đại
tâm tu hành. Lượt sau là ‘v́ sao hăy nên trụ?’ tức là hỏi:
Đă nên ĺa hết thảy các tướng để phát
tâm, v́ sao lại chỉ nên trụ trong Bồ Đề tâm?
Nếu chẳng trụ pháp này, phát tâm lại là như thế
nào? Nếu chẳng nên trụ mà nên hàng phục th́ há chẳng
phải là không phát tâm ư? Như vậy th́ hàng phục cái
tâm bằng cách nào? Đó là nói với người đă phát
đại tâm tu hành vậy”. Diệu nghĩa Kim Cang
được phát huy tinh vi, thấu triệt như thế,
ở đây đặc biệt nêu một, hai đầu mối
đó thôi!
Đầu
mùa Hạ năm Mậu Dần (1938), khí trời ẩm
ướt, cư sĩ y như cũ ngă bệnh, tiêu hóa khó
khăn. Cứ hai ba ngày tôi đều đến thăm hỏi.
Thấy cụ nằm bẹp trên giường chẳng thể
dậy được, so với các năm trước bệnh
t́nh càng nặng hơn, hết sức lo sầu! Cư
sĩ liền bảo: “Hễ qua mùa hoàng mai, bệnh sẽ
biến mất”. Các đệ tử của cụ ở
tại điện thờ Phật cách vách, v́ cụ niệm
Phật, suốt ngày tiếng Phật hiệu chẳng gián
đoạn. Cư sĩ cũng nằm yên, thầm niệm,
nhưng thần chí cụ tột bậc tỉnh táo. Tới
giữa tháng Năm âm lịch, bệnh dần nặng
hơn, thần chí cụ càng sáng suốt. Đạo hữu
Châu Quang Kỳ dùng son viết chữ to, khuyên cụ nhất
tâm văng sanh, đừng lưu luyến trần thế.
Cư sĩ xem kỹ vài lượt, chắp tay cảm tạ
ông Châu, miệng nói lời hoan hỷ tán thán. Ông Châu đi rồi,
cụ liền bảo người chung quanh: “Tôi siêng tu một
đời, há c̣n chẳng hiểu rơ cái ải này ư? Ông
Châu quá lo rồi!” Tới tối hôm Mười Tám, cụ
tự nói: “Kim quang chiếu khắp, Phật đến
tiếp dẫn”. Cụ mời các đạo hữu tụ
họp, ông Thái Tế B́nh do bận việc, tới mười
hai giờ mới đến. Cư sĩ vẫn gọi
đến bảo: “Tu tŕ lấy hạnh nguyện Phổ
Hiền làm lẽ trọng yếu nhất”. Sau đó, cụ
chắp tay, chẳng nói nữa, an nhiên qua đời trong tiếng
niệm Phật của các đạo hữu và gia tộc,
thọ sáu mươi bảy tuổi.
Tôi
quen biết cư sĩ hai mươi mấy năm, thoạt
đầu chỉ biết cư sĩ học rộng khắp
các tông, quy túc nơi Tịnh Độ. Những năm gần
đây, giao t́nh càng thân thiết, nghiên cứu, thảo luận
càng sâu, mới biết cư sĩ suốt một đời
đắc lực nơi Bát Nhă, theo đuổi tham cứu,
sớm đạt được tin tức, đại ngộ
rỗng rang, nhất tâm thường ở trong Định,
đêm ngủ chẳng mộng mị, tới nay đă hơn năm
năm rồi! V́ thế, cụ thường tự nói: “Giáo
th́ hoằng dương Bát Nhă, hạnh tại Di Đà”.
Đó là lời thuyết pháp đàm luận xứng tánh,
thông đạt trọn khắp, tự tại vô ngại.
Đối với các kinh điển khác và công phu tu tŕ, ngẫu
nhiên tôi có hoài nghi mà đem hỏi
cư sĩ, lời giải đáp của cụ đều
cao hơn người khác một bậc! Cụ giới hạnh
tinh nghiêm, tấn tu cẩn mật, đáng làm bậc
gương mẫu cho cả cơi đời. Cư sĩ
đúng là bậc long tượng trong Phật môn vậy
thay!
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh Giảng Nghĩa
Quyển một
Di trước của
thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú tại Trung Hoa
Muốn nói kinh này, trước hết nên lập
khoa phán. Chia thành hai khoa lớn:
1.
Giải thích chung tựa đề kinh.
2.
Giải riêng ư nghĩa của kinh văn.
Khoa
thứ nhất lại chia thành hai:
1.1.
Giải thích tựa đề kinh.
1.2.
Giải thích nhân đề (giải thích đề mục
ghi tên người dịch).
Phần
1.1 lại chia thành ba đoạn: Đoạn đầu
tiên là cương yếu của Bát Nhă.
1.1.1. Cương yếu
của Bát Nhă
Chứa
đựng ba nghĩa:
A) Bát Nhă là
cương yếu của Đại Thừa Phật pháp:
Ư
nghĩa này, trong các kinh luận Đại Thừa và các
trước thuật của cổ đức, chỗ nào
cũng đều có thể thấy. Nếu dẫn chứng
cặn kẽ, sẽ là trùng lặp,
khó thể trọn hết được. Nay bỏ điều
rườm rà, dùng lẽ giản ước để nêu
rơ, chọn lấy điều dễ hiểu. Giáo nghĩa
Đại Thừa sâu rộng như biển, nhưng nhất
loạt lấy tự độ và độ người
khác làm gốc. Pháp môn để tự độ và độ
người vô lượng, nhưng đều nhất loạt
lấy Lục Ba La Mật làm gốc, nhưng năm Độ
Thí, Giới, Nhẫn, Tấn, Định nếu ĺa Bát Nhă,
sẽ chẳng phải là Ba La Mật. Do vậy, đối
với Lục Ba La Mật vừa nói đó, nhất loạt
lấy Bát Nhă Ba La Mật làm gốc. Vậy th́ Bát Nhă là
cương yếu của Đại Thừa Phật pháp
đă rơ rệt lắm rồi! Do đó, Đại Trí Độ
Luận nói: “Bát Nhă Ba La Mật là mẹ của chư Phật.
Chư Phật lấy pháp làm thầy. Pháp chính là Bát Nhă Ba La
Mật”. Kinh Đại Bát Nhă dạy: “Ma Ha Bát Nhă Ba La
Mật thị chư Bồ Tát Ma Ha tát mẫu, năng sanh
chư Phật, nhiếp tŕ Bồ Tát” (Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật
là mẹ của các Bồ Tát Ma Ha Tát, có thể sanh ra chư
Phật, nhiếp tŕ Bồ Tát). Có thể thấy cái
được gọi là “tối thượng thừa
trong Đại Thừa” chỉ là Bát Nhă đó thôi! Ngoài
Bát Nhă ra, sẽ chẳng có Phật pháp. Hăy nên biết: Hết
thảy các giáo nghĩa Đại
Tiểu Thừa đều từ Bát Nhă mà ra. Hết thảy
các giáo nghĩa, may ra có lư luận tối cao của ngoại
đạo như Nho gia và Đạo Gia
c̣n thể tương cận, chỉ riêng Bát Nhă
là chỉ ḿnh đức Phật có thể chứng, chỉ
ḿnh đức Phật có thể nói. Lư luận cao nhất của
ngoại đạo hễ gặp Bát Nhă, sẽ liền
như băng tan, lửa tắt! Do vậy, trong hội Hoa
Nghiêm, các vị đại Bồ Tát tán thán: “Thiên thượng,
thiên hạ vô như Phật, thập phương thế giới
diệc vô tỷ, thế gian sở hữu ngă tận kiến,
nhất thiết vô hữu như Phật giả” (trong
trời đất chẳng ai như Phật, mười
phương thế giới cũng khôn sánh, con thấy trọn
hết các thế gian, hết thảy chẳng ai được
như Phật). Đă biết điều này th́ cái thuyết
“tam giáo đồng nguyên” (Nho, Thích, Đạo cùng một
nguồn) hoang đường, sai lầm, c̣n đợi phải
nói nữa ư?
Biết điều này, nếu người học Phật
chẳng hiểu thấu triệt Bát Nhă, tuy biết trọn
hết đủ mọi giáo nghĩa, học trọn hết
đủ loại pháp môn, đều là bỏ gốc chạy
theo ngọn, truy t́m nơi cành lá đó thôi, há có thể đạt
tới bờ kia ư?
Bát
Nhă chẳng có ǵ khác! Chính là chánh trí vốn sẵn có nơi
Lư Thể. Lư Thể là Thật Tướng Bát Nhă. “Chánh
trí” là Quán Chiếu Bát Nhă. Đều gọi là Bát Nhă, tỏ
rơ “ngoài lư chẳng có trí, ngoài trí chẳng có lư, lư và trí
như một!” Đă nói là “học
Phật”
th́ đầu tiên là phải nên là
“khai Phật tri kiến”.
Tri kiến của Phật là ǵ vậy? Chính là Bát Nhă! Xưa nay ít có người
học pháp này, hoặc hư vọng nẩy
sanh sợ hăi, hoặc vô tri mà bàn xằng. Bởi đó,
người học Phật tuy đông, người chứng
đạo rất hiếm! Há chẳng phải là không chỉ
cô phụ ân Phật, mà c̣n cô phụ tánh linh của chính ḿnh vậy! V́ sao
nói thế?
Như đức Thế Tôn khi thành đạo, đă than rằng:
“Lạ thay! Lạ thay! Chúng sanh trong đại địa
đều có trí huệ và giác tánh của Như Lai, chỉ
v́ vọng tưởng (kiểm giảo: “Sau chữ Tưởng
th́ bản cũ có ghi ‘chấp
trước’,
nhưng bản thảo gốc chẳng có”), nên chẳng thể
chứng đắc. Nếu chẳng có vọng tưởng,
chấp trước th́ vô sư trí, tự nhiên trí sẽ
ngay lập tức hiện tiền”.
Trí huệ và giác tánh của Như Lai chính là Thật Tướng
Bát Nhă. Vọng tưởng chính là tâm phân biệt, là thức
thứ sáu. Chấp trước tức là Ngă Kiến, tức
thức thứ bảy. Quán Chiếu Bát Nhă chính là chuyển
biến hai thức ấy. Hai thức ấy đă
được chuyển, Tạng Thức (A Lại Da Thức) và
năm thức trước (nhăn, nhĩ, tỵ, thiệt,
thân) đều chuyển! V́ thế nói: “Nếu chẳng
có vọng tưởng, chấp trước, th́ vô sư trí, tự
nhiên trí ngay lập tức hiện tiền”.
Hai trí ấy chính là trí huệ và giác tánh của Như Lai. Do
chẳng phải từ bên ngoài đến, cũng chẳng
thể trao cho người khác, nên nói là Vô Sư (không có thầy).
Do tự nhiên vốn sẵn có như thế, ắt cần
phải tự giác, tự chứng, nên nói là “tự nhiên”.
Cũng có thể gọi [hai trí ấy] là Căn Bản Trí
và Hậu Đắc Trí, hoặc nói là Đạo Chủng
Trí và Nhất Thiết Trí. Nói chung, sở dĩ phàm phu là phàm
phu là do vô thỉ vô minh. Vô minh c̣n gọi là “vô trí”. V́ thế,
nay muốn siêu phàm nhập thánh, chỉ cốt sao mở
mang chánh trí đó thôi!
Trong
Phật môn, có người luôn nói “cầu khai trí huệ”.
Lời ấy chính là nói “sẽ mở mang chánh trí Bát Nhă”.
Đó là “khai Phật tri kiến”. Đức Thế
Tôn v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện
trong cơi đời. Đại sự nhân duyên ǵ vậy?
Chính là v́ hết thảy chúng sanh mà khai Phật tri kiến,
thị Phật tri kiến (chỉ bày tri kiến của Phật),
ngơ hầu họ được ngộ nhập tri kiến
của Phật đó thôi!
Hiềm rằng chúng sanh tuy biết “cầu khai trí huệ”,
nhưng chẳng hiểu rơ nguyên do. Người dạy lẫn
người học một mực t́m cành,
kiếm lá, trọn chẳng biết hướng về Bát
Nhă môn để t́m đường lối! Thậm chí c̣n
răn bảo nhau đừng bàn Bát Nhă! Có chuyện nào
đáng buồn hơn lẽ này? C̣n ǵ trái phạm ư chỉ
của Phật hơn chuyện này? Lầm pháp, lầm
người, không chi hơn nổi chuyện này! Từ nay
trở đi, hăy nguyện sâu đậm cùng với các bậc
thiện tri thức hưng thịnh chánh nghĩa, cực lực
hoằng dương!
B) Đối với
cái được
gọi là “cương yếu của
Bát Nhă” th́ chính là từ ngay Bát Nhă mà thấu hiểu điều
cương yếu ấy
Như
trong phần trước đă dẫn Đại Trí Độ
Luận để nói “Phật pháp chính là Bát Nhă”. Có thể
thấy một môn Bát Nhă dung nhiếp vô lượng
nghĩa. Nếu chẳng hiểu rơ điều cương
yếu ấy, sẽ chẳng tránh khỏi tràn lan, không chỗ
quy túc! Người xưa có vị đề cao Đệ
Nhất Nghĩa Không để lập thuyết, có người
đề cao Nhị Đế để lập thuyết,
có người đề cao Bát Bất để lập
thuyết, các thuyết không đồng nhất.
Đệ
Nhất Nghĩa tức là nói tới bản tánh. Tánh là cái Thể
dứt bặt các đối đăi, cho nên nói là Đệ
Nhất Nghĩa. Tánh thể không tịch, nên nói là Đệ
Nhất Nghĩa Không. Nghĩa ấy đă nêu tỏ
cương yếu của Bát Nhă. Trong “phá Ngă, trừ chấp”,
ắt cần phải Ngă và Pháp đều trừ, t́nh chấp
hoàn toàn hết sạch. Đó gọi là “đạt
được vô sở ly” (chẳng c̣n có ǵ để
ĺa) tức là “trừ
các huyễn”;
sau đó, Thật Tướng hiện tiền.
Nhị
Đế là Chân Đế và Tục Đế. Tục (俗)
là “thế
tục”.
Chân (真)
là “chân thật”.
Đế (諦)
có nghĩa là “tinh
vi, chân thật, xác đáng”. Tức
là đối với các sự tướng thế gian, hễ
dùng cách nh́n của thế tục để thẩm định,
xác quyết th́ gọi là Tục Đế. Đối
với lư tánh chân thật, thánh trí mới biết chân thật,
xác đáng, nên gọi là Chân Đế. Nếu nói theo Phật
pháp, phàm những ǵ nói ư nghĩa “các pháp duyên sanh” (các
pháp do duyên mà sanh) th́ gọi là Tục Đế. Do v́ lẽ
nào vậy? Do thế tục chưa ngộ bản tánh, do
rong ruổi theo tướng mà bị xoay chuyển. Do hiểu
hết thảy các pháp chỉ là duyên sanh, Có
chính là chẳng Có,
nghĩa ấy là quyết định. Nếu hiểu
nghĩa “duyên sanh chính là Không” th́ là Chân Đế. V́ sao
vậy? Do thánh trí từ ngay nơi tướng hư vọng
mà thấy tánh chân thật. Do vậy, hiểu rỗng rang hết
thảy các pháp “chẳng phải Có
mà là Có”, bản thể của
chúng chính là Không, đó là nghĩa quyết định. Bồ
Tát Long Thọ nói: “V́ Thế Đế bèn nói có chúng sanh.
V́ Đệ Nhất Nghĩa Đế mà nói chúng sanh vô sở
hữu”. Thế Đế tức là Tục Đế.
Đệ Nhất Nghĩa Đế tức là Chân Đế.
Do vậy có thể biết: Tục Đế nhằm nói
cái Có ngay trong cái Không, Chân Đế nhằm nói cái Không trong
cái Có. Lại nói: “Chư Phật nương vào Nhị
Đế mà v́ chúng sanh thuyết pháp”. Do vậy, Gia
Tường đại sư[21]
nói: “Phật pháp chẳng ra ngoài Nhị Đế. Nhị
Đế nhiếp trọn hết thảy các Phật pháp”.
Bát Nhă vốn nhiếp trọn hết thảy các Phật
pháp, nay nói “Phật nương vào Nhị Đế để
thuyết pháp”, tức là cương yếu của Bát
Nhă chẳng ra ngoài Nhị Đế cũng
đă rơ rồi! Bởi lẽ, yếu chỉ trọng
yếu của Bát Nhă là dạy đừng chấp
trước
Không và Hữu, nhằm ứng hợp
Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa. Chân Tục nhị
đế chính là nói về nghĩa này.
Bát
Bất là “bất
sanh, bất diệt, bất đoạn, bất thường,
bất lai, bất khứ, bất nhất, bất dị” (chẳng sanh, chẳng
diệt, chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng
đến, chẳng đi, chẳng một, chẳng khác).
Do mê đối với Bát Bất cạn hay sâu mà thành lục
đạo! Do ngộ Bát Bất cạn hay sâu mà có tam thừa.
Bởi lẽ, hết thảy chúng sanh so đo, chấp
trước các tướng như “sanh, diệt, đoạn,
thường, một, khác, đến, đi” v.v…, chấp
đó là có, nên gọi là Mê. Người
trong tam thừa, tuy chẳng chấp các
tướng sanh diệt, nhưng lại chấp “bất sanh, bất
diệt”
v.v… vẫn lệch về Không. Do vậy, đức Phật
nói nghĩa Bát Bất chính là để khiến cho chúng sanh
hiểu rơ Nhị Đế. Đă hiểu rơ Nhị Đế
th́ sau đấy Trung Đạo hiển hiện! Mà cũng
khiến cho đối với nghĩa Đệ Nhất
Nghĩa Không, [sẽ thấu hiểu]
Có và Không đều là không; sau đó, sẽ chẳng chấp
trước hết thảy, Trung Đạo viên minh.
Do vậy
mà quán th́ Đệ Nhất Nghĩa Không, Nhị Đế,
Bát Bất tuy nói khác nhau, nhưng đều có cùng ư nghĩa
hiển lộ Trung Đạo như nhau. Vậy th́
cương yếu của Bát Nhă chẳng có chi khác, chỉ
là khiến cho đối
với hai bên Không và Hữu, trừ
sạch t́nh chấp sao cho hết sạch, nhằm hiển
lộ Trung Đạo viên dung mà thôi! Nói cách khác, đức
Phật nói Bát Nhă nhằm khai mở chánh trí vốn sẵn
có
nơi lư thể cho hết thảy
chúng sanh c̣n vướng trong vọng tưởng, chấp
trước để họ
hiểu rơ vô minh, giác điều chưa giác, ngơ hầu [liễu giải] Thật
Tướng “vô tướng, chẳng phải là không có
tướng”, Như Lai Tạng “không, bất không”
hiện tiền, cùng chứng trí huệ và
giác tánh của Như Lai vậy! Đấy
chính là đại sự nhân duyên khiến cho đức Bổn
Sư của chúng ta xuất hiện trong cơi đời! Do vậy,
pháp môn Bát Nhă chính là tối thượng
thừa, khiến cho hết thảy chúng sanh nương
theo mà đạt thẳng tới
Phật địa. Do vậy nói: “Riêng nêu ra các nghĩa khác
biệt ḥng chỉ rơ điều cương yếu” có khác
ǵ nói: “Kinh Kim Cang Bát Nhă thật sự là cương yếu
của cả bộ Đại Bát Nhă, lại càng là lời
lẽ trọng yếu mà chẳng rườm rà!” V́ sao vậy?
Do kinh này không pháp nào chẳng nhiếp, không nghĩa nào chẳng
nêu tỏ.
Trong
phần trên đă nêu ra các nghĩa Nhị Đế, Bát Bất, và Đệ Nhất Nghĩa Không, mỗi
mỗi đều trọn đủ. Như nói: “Vô ngă
tướng, vô pháp tướng, cũng
chẳng phải là không có pháp tướng v.v…”
Đó là ư nghĩa Đệ Nhất Nghĩa Không. “Diệt
độ tất cả hết thảy chúng sanh” là Tục
Đế; nhưng “thật sự chẳng có chúng sanh
được diệt độ” là Chân Đế. Hành
bố thí là Tục Đế; đối với pháp vô trụ
là Chân Đế. Cho đến “chớ nên chấp lấy
pháp, chớ nên chấp lấy phi pháp, chính là, chẳng phải,
th́ gọi là[22]”
v.v… là những điều được nói trong cả bản
kinh, không ǵ chẳng nhằm nói rơ ư nghĩa Nhị Đế.
C̣n như khiến cho Bồ Tát thông đạt “chẳng có ngă và pháp”
th́ thuộc về “khai tri kiến của Phật”. Nói
đến chuyện sau khi đă nhập th́ đều là
các nghĩa “chẳng một, chẳng khác, chẳng đoạn,
chẳng thường, chẳng đến, chẳng đi,
chẳng cấu, chẳng tịnh” v.v… nhằm hiển lộ
tướng Không của các pháp, là pháp b́nh đẳng.
Tướng Không của các pháp chính là pháp b́nh đẳng, tức
là nói “chẳng chấp lấy tướng, như như
bất động”, khiến cho người học diễn
nói như thế, thọ tŕ như thế. Há chẳng phải
là dùng các nghĩa như thế làm cương yếu của
Bát Nhă hay sao? Không chỉ là như vậy! Như trong phần
trước, đă dẫn lời kinh Đại Bát Nhă và
Đại Trí Độ Luận như thế này: “Bát Nhă
có thể sanh ra chư Phật, nhiếp tŕ Bồ Tát. Phật
pháp tức là Bát Nhă” chính là chỉ bày cương lănh trọng
yếu của Phật pháp chẳng ra ngoài Bát Nhă. Kinh này c̣n
nói: “Nhất thiết chư Phật, cập chư Phật
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai
tùng thử kinh xuất” (Hết thảy chư Phật và
pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư
Phật đều từ kinh này mà ra) chẳng phải là chỉ
bày “cương lănh trọng yếu của Bát Nhă hoàn toàn ở
trong kinh này” càng rành rẽ, rơ rệt hơn ư?
Đức
Phật nói Bát Nhă, trước sau tất cả mười
sáu hội[23],
văn lẫn nghĩa đều phong phú, nghe nói dịch
sang tiếng Tây Tạng có tới hơn một ngàn quyển.
Bản tiếng Hán giản lược, khái quát mà cũng gồm
sáu trăm quyển. Trong nội điển, số lượng
quyển nhiều nhất chỉ có Bát Nhă Bộ. Đọc
tụng đă khó, huống hồ luận định, diễn
nói, thọ tŕ! V́ thế, hội thứ chín từ mênh mông
mà giản ước, nên đặc biệt nói kinh này. Thầy
tṛ La Thập đại sư dịch sang tiếng Hán, kể
cả mấy hàng trích từ bản dịch đời Ngụy
thêm vào, chỉ có năm ngàn tám trăm ba mươi bảy
chữ, nhưng ư chỉ cốt lơi của Bát Nhă đă
được chứa đựng trọn hết. Có
được một quyển kinh này, hết thảy Phật
pháp không ǵ chẳng nắm chắc! V́ sao vậy? Quyển
kinh này chính là giềng mối của Bát Nhă, mà Bát Nhă là giềng
mối của hết thảy Phật pháp! V́ thế, ắt
phải thông suốt hết thảy Phật pháp rồi sau
đó mới thông suốt kinh này. V́ lẽ nào vậy? Do cái
lưới mà t́m được mối chính của cái
lưới. Nhưng ắt cũng phải hiểu sâu xa
nghĩa thú của kinh này th́ sau đó đối với hết
thảy Phật pháp, chuyện ǵ cũng đều thấu
hiểu. V́ sao? Hễ nắm lấy mối chính của cái
lưới, các mắt lưới đều căng ra. Hăy
nên biết như thế.
Một
quyển kinh này đă là giềng mối của cả Tam Tạng!
Phải nên biết mối quan hệ trọng yếu này!
Cũng do vậy mà có thể biết chỗ huyền diệu
sâu rộng cũng như đầu mối phức tạp, ẩn
mật của nghĩa uẩn. Lại c̣n dùng đôi chút
văn từ mà thâu nhiếp nhiều nghĩa, may là
được người dịch có văn tài hay khéo mới
đủ để lưu truyền. Do mỗi câu, mỗi
chữ trong kinh này đều liên quan đến ư chỉ to
lớn, tức là mỗi danh xưng, mỗi từ ngữ
được người kết tập nêu ra cũng
đều chứa đựng ư nghĩa tinh vi. Ơ hờ
xem lướt qua, sẽ khó thông hiểu ư nghĩa. Kể từ
sau khi kinh này được dịch và lưu truyền,
Ngũ Tổ và Lục Tổ của Thiền Tông cực lực
hoằng dương. Bởi thế, nhà nhà hay biết,
lưu truyền chẳng dứt. Tuy phần nhiều chẳng
hiểu rơ ư nghĩa, nhưng người học Phật có
ai chẳng từng đọc kinh này! Trong các nước Phật
giáo, chưa từng thấy sánh bằng! Nh́n vào đó, đủ
thấy chúng sanh trong nước ta được Phật
gia hộ sâu xa, hết sức mừng tủi. V́ sao? Kinh này
được lưu truyền bất tuyệt, sẽ là
Phật chủng chẳng dứt. Từ nay trở đi,
hăy nên diễn nói như thế nào, thọ tŕ như thế
nào, càng phải đặc biệt lưu ư, ngơ hầu phần
nào báo ân Phật, báo ân của người phiên dịch,
lưu truyền kinh này, gánh vác gia nghiệp của Như
Lai, sẽ đắc Bồ Đề. Mong các vị hăy cùng
nỗ lực!
C) Kinh Kim Cang Bát Nhă nhằm
nói rơ cương yếu ấy
Cương
yếu của kinh này chẳng có ǵ khác!
Trừ khử vọng tưởng, chấp trước mà
thôi! Bởi lẽ, hết thảy chúng sanh ai nấy đều
sẵn đủ trí huệ và tánh giác của Như Lai, chẳng
ai là không có, chỉ v́ vọng tưởng và chấp trước
ngăn chướng mà chẳng thể chứng đắc!
Đức Phật v́ một đại sự nhân duyên mà xuất
hiện trong cơi đời, tức là v́ chuyện này! Hết
thảy Phật pháp, không ǵ chẳng phải là pháp môn để
phá chấp, trừ chướng, nhưng điều
được nói trong kinh này càng là đường lối
trực tiếp, nhanh chóng, thỏa đáng nhất. Ví
như gươm báu kim cang, nương theo đấy mà
hành, sẽ có thể ngay lập tức đoạn trừ!
Vọng tưởng tức là cái tâm phân biệt. Chấp
trước chia thành hai loại:
- Chấp
sắc thân Ngũ Uẩn là Ngă th́ gọi là Nhân Ngă Chấp;
nói gọn là Ngă Chấp.
- Chấp
trước hết thảy các pháp th́ gọi là Pháp Ngă Chấp;
nói gọn là Pháp Chấp.
Chẳng
trừ Ngă Chấp, sẽ sanh ra Phiền Năo Chướng.
Chẳng trừ Pháp Chấp, sẽ sanh ra Sở Tri Chướng.
Chúng được gọi chung là Hoặc Chướng. Do
Hoặc mà tạo nghiệp, đó là Nghiệp Chướng.
Do nghiệp mà chịu khổ, bèn gọi là Khổ Chướng,
cũng gọi là Báo Chướng. Ngă Chấp và Pháp Chấp,
chia nhỏ ra, sẽ có Phân Biệt và Câu Sanh sai khác. Do khởi
tâm phân biệt, cho nên chấp trước; đó là Phân Biệt
Ngă Chấp và Phân Biệt Pháp Chấp; do vậy, [chấp
trước này] là thô. C̣n chưa cố ư phân biệt, mà phàm
t́nh chấp trước đă theo ư niệm cùng khởi lên,
th́ gọi là Câu Sanh Ngă Chấp và Câu Sanh Pháp Chấp; cho nên
là vi tế. Đấy là chủng tử tập khí từ
nhiều đời tới nay, chất chứa trong ruộng
thức thứ tám. Do đó, chúng thuận theo ư niệm mà khởi
lên, khó trừ bỏ nhất! Hăy nên biết vọng tưởng
và chấp trước là do vô thỉ vô minh, mà Bát Nhă chính là
lư thể chánh trí;
trí khai th́ vô minh bèn sáng suốt. Vô minh
đă hết, vọng tưởng và chấp trước tự
đoạn! V́ vậy, học Phật th́ điều đầu
tiên là “khai, thị, ngộ, nhập” tri kiến của
Phật. Tri kiến của Phật chính là chánh trí Bát Nhă. Bất
luận tu pháp môn ǵ, cũng đều cần phải dốc sức ở
chỗ này. Do vậy, hết thảy các pháp đều chẳng
thể ĺa Bát Nhă.
Tu Tịnh
Độ niệm Phật cũng thế. Kinh dạy: “Tâm
tịnh th́ cơi nước tịnh”. Vọng tưởng,
chấp trước chẳng trừ, tâm do đâu mà tịnh
được? Cổ đức nói: “Ái chẳng nặng,
chẳng sanh Sa Bà”. T́nh chấp ngă kiến thật sự
là cội rễ của
Ái. V́ thế, cầu sanh Tịnh Độ ắt phải
thực hiện từ chỗ này. Nói “thật thà niệm
Phật”, ắt phải chú ư hai chữ “thật thà”.
Cứ nắm níu hết thảy nhiễm duyên trong thế
gian không thôi, sao có thể thật thà cho được? Do vậy
có thể biết: Bát Nhă và Tịnh Độ vốn chẳng
phải là hai chuyện! Kinh này quả thật là giềng mối
lớn để hết thảy người học thoát vọng,
là then chốt của tịnh tâm. Ở đây, bất quá
bàn đại lược ư chỉ trọng yếu, xin xem
luận định cặn kẽ trong phần dùng năm tầng
huyền nghĩa để giải thích tựa đề
kinh.
Cổ
nhân giải thích một kinh th́ trước
hết nói Huyền Nghĩa (玄義),
c̣n gọi là Huyền Đàm (玄談).
“Huyền” là sâu xa, lại c̣n có nghĩa là “xa thẳm”,
tức là đối với các nghĩa sâu trong kinh, lôi ra các
điểm trọng yếu, mấu chốt, huyền nhiệm để bàn luận trước,
khiến cho người nghe biết được những
điểm quan trọng, khi xem đến kinh văn sẽ
biết đầu mối. V́ thế, Huyền Đàm th́
cũng giống như nói “nêu
ra những điểm chủ yếu”
để biết cương yếu của một bộ
kinh ở chỗ nào. Nay tôi phỏng theo thông lệ của
tông Thiên Thai, mở đầu bằng dùng năm tầng
[Huyền Nghĩa] để nói. Trên đây, luận về
cương yếu của Bát Nhă đă xong.
1.1.2.
Dung hội ư kiến của các vị chú giải kinh
Sách
giải thích kinh Phật, mỗi tông đều có, nhưng
các bản [chú giải] ấy đều được
lưu truyền chẳng bị thất lạc th́ không chi
hơn kinh này! [Kinh này] có bài ca tụng của Di Lặc Bồ
Tát, có luận của ba vị Bồ Tát là Vô Trước,
Thiên Thân, và Công Đức Thí, nhưng các bản dịch tối
nghĩa, trúc trắc, khá khó đọc! Mỗi vị tự theo kiến giải mà phát huy, thường là thoạt nh́n th́ dường như tương phản ư nghĩa trong
kinh, nhưng thật ra đều là khiến cho ư kinh
được tỏ lộ hơn. Chỗ tinh diệu ấy,
các bậc hậu hiền chẳng thể đạt
được, cần phải hướng đến chỗ
to lớn, chỗ sâu xa mà lănh ngộ. Nếu chấp chết
cứng vào câu văn, chấp
trước câu nệ văn tự, mỗi mỗi đều câu nệ so đo với kinh văn, sẽ
đâm ra tăng thêm chướng ngại. Luận Sớ Toản
Yếu của ngài Khuê Phong đă phạm phải bệnh này. Ngài Công Đức Thí
đă khéo léo nêu ra luận đề như sau: “Kim Cang phá
chấp giữ, chẳng hoại giả
danh luận”. Ư chỉ trọng yếu
của cả bộ kinh đều được gộp trọn
trong câu ấy. Người chú giải kinh này sớm nhất
tại Trung Hoa là ngài Tăng
Triệu, tức vị đệ tử nhập thất của
ngài La Thập. Ngài viết không nhiều, chỉ giải
thích đại lược một hai ư chỉ trọng yếu
mà thôi, nhưng là một trước tác chẳng thể sửa đổi tí nào được!
Chú
thích thời Lục Triều[24]
đến nay vẫn c̣n th́ có hai bản sớ của ngài
Gia Tường thuộc Tam Luận Tông và Trí Giả đại
sư thuộc Thiên Thai Tông. Ngài Gia Tường suốt
đời dốc hết tinh lực vào Tam Luận, tất
cả các trước thuật của Ngài, không tác phẩm
nào chẳng tinh diệu; nhưng Kim Cang Kinh Nghĩa Sớ
chẳng nêu tỏ ư kinh, có lẽ là
do môn nhân đệ tử của Ngài tùy ư sao lục,
chưa giảo đính cẩn thận cũng chẳng biết
chừng! V́ trong tác phẩm ấy có nhiều đoạn thừa
thăi, văn phong cũng tạp loạn, hết sức khác
biệt so với các trước tác khác của ngài Gia
Tường! Bản chú thích của ngài Trí Giả toàn thể
dựa theo chú giải của ngài Tăng Triệu, ngẫu
nhiên một hai chỗ có chú giải mở rộng thêm. Ngài
Trí Giả dùng Tam Đế
(Không, Giả, Trung) để phát huy hết
thảy các kinh, riêng đối với kinh này, Ngài đề
cao Nhị Đế (Chân Đế và
Tục Đế) để nói,
nhưng đối với các câu “thị danh” (th́ gọi là),
Ngài đều
hiểu là giả danh. Pháp nhăn của tổ
sư khiến cho
kẻ khác khâm phục! Chẳng hiểu
con cháu của tông Thiên Thai v́ sao chẳng tuân theo tổ huấn,
há có phải v́ chưa xem sách này ư? (Bản sớ của
ngài Trí Giả tới đầu đời Thanh mới
được cư sĩ Dương Nhân Sơn thỉnh
từ Nhật về, in ra).
Thời
Đường, ngài Khuy Cơ của Pháp Tướng Tông
cũng có chú thích, phần nhiều trần thuật pháp
tướng. Lại có bản chú giải của ngài Thích Huệ
Tịnh, chỗ tinh vi quả thật chẳng kém ngài
Tăng Triệu. Trong các bản chú giải thời cổ,
hăy nên coi các bản của ngài Tăng Triệu và Huệ Tịnh
là hay nhất. Ngài Khuê Phong thuộc tông Hoa Nghiêm, soạn bộ
Sớ Luận Toản Yếu, tuy dốc ḷng kết tập,
soạn thuật, tiếc là câu nệ, vướng mắc
trong lời luận, khiến cho nghĩa lư trong kinh đâm
ra tối tăm. Thời Tống có ngài Trường Thủy
soạn bộ San Định Kư (Kim Cang Bát Nhă Kinh Sớ Luận
Toản Yếu San Định Kư) để chú thích bộ
Toản Yếu của ngài Khuê Phong, nương theo kinh
văn để giải nghĩa, rất tường tận!
Tổ sư nhà Thiền th́ cũng có vị giảng kinh hoặc
trước tác, như Lục Tổ đời Đường,
Trung Phong đời Nguyên, Hám Sơn đời Minh, nhưng
đều là các tác phẩm ngắn ngủi, sơ sài, chẳng
phát huy cho mấy. Cuối đời Minh, ngài Ngẫu Ích thuộc
tông Thiên Thai viết bộ Kim Cang Phá Không Luận, do có mục đích nhất định
mà soạn thuật, cũng đáng chấp nhận được. Ngoài
ra, vào các thời Tống, Minh, Thanh, có rất nhiều vị
tại gia và xuất gia chú thích kinh này, không tác phẩm nào chẳng
có một hai lời lẽ đáng chú ư, nhưng xét kỹ
th́ đều chưa hợp lư! Đầu đời Thanh
có bộ Tâm Ấn Sớ của ngài Phổ Uyển thuộc
tông Thiên Thai, dùng Tam Đế để giảng kinh, thật
sự có nhiều câu rất trái nghịch ư chỉ của
kinh, chỉ riêng phần Khoa Phán là có thể dùng được!
Lại có Tân Nhăn Sớ của ngài Đạt
Thiên thuộc tông Hoa Nghiêm, có đôi chỗ đạt mức
tinh vi, có thể phát huy những điều người
xưa chưa phát huy. Ngài dùng Tín, Giải, Hạnh, Chứng
để phán định kinh, kiến địa rất
trác tuyệt. C̣n như các tác phẩm khác như Ngũ Thập
Tam Gia Chú (tập hợp lời chú giải Kim
Cang của năm mươi ba vị) v.v…
lộn xộn, chẳng thuần, chẳng đáng ngó tới!
Nay
diễn nói kinh này, tôi chú trọng nơi chỉ thú tinh thâm,
vi diệu của kinh, mỗi mỗi đều mổ xẻ.
Đối với những chỗ xưa nay bị coi là
Đại Thừa sơ môn, mỗi mỗi đều nói
đến mức rốt ráo, quy vào viên dung. Đối với
những chỗ mà các bản chú giải khác chẳng chú ư tới,
sẽ đều xiển phát ư chỉ rộng lớn
nơi đó. Đối với những chỗ bị gọi là “lời
lẽ trùng lặp”,
đều phân tích mức cạn
sâu. Đối với các chỗ ư nghĩa uẩn tàng trước
sau liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi mỗi đều
nêu ra lư do để giải thích thông suốt. Đối với
tất cả các quán môn và hành môn, đều chỉ bày chỗ
dụng công tu hành, chẳng dám xem nhẹ một chữ nào,
cốt sao người nghe sẽ có chỗ lănh hội. Tôi dẫn
nhiều kinh khác để chứng minh lẫn nhau, ḥng dung
thông lẫn nhau. Đối với chỗ tinh yếu dung
thông, quy vào Tịnh Độ, ḥng phá căn bệnh [các
tông] kỳ thị lẫn nhau xưa nay! Tự thẹn học
lực sơ sài, nông cạn, chẳng đủ để
nói rơ bản kinh sâu xa này. Chỉ v́ ôm ấp đại nguyện
thật sự muốn cho ai nấy đều hiểu rơ
nghĩa Bát Nhă chân thật, ngơ hầu không
đến nỗi sợ sệt chẳng đàm luận, hoặc
đàm luận xằng bậy, hoặc đàm luận nông cạn
v.v… Đối với những cách nói tinh yếu trong các luận
sớ của các vị tiền hiền đă nêu trên
đây, đều nhất nhất chọn lấy để
dung nạp, nhưng chẳng cần phải câu nệ diện
mạo, bó buộc trong văn từ mà thôi! Trên đây, phần
dung hội về các vị chú giải đă xong.
1.1.3. Dựa theo năm
tầng huyền nghĩa để giải thích tựa
đề kinh
1.1.3.1. Giải thích
chung ư nghĩa v́ sao phân khoa để giải thích
Năm
tầng là Danh, Thể, Tông, Dụng, Tướng. Tuân theo
cách Trí Giả đại sư khi giảng tựa đề
kinh Pháp Hoa đă dựa trên Danh, Thể, Tông, Dụng, Tướng,
tách ra thành năm tầng để phát huy ư chỉ trọng
yếu của kinh, đơn giản, rơ ràng nhất. Thiếu
một tầng chẳng thể được, nhiều
thêm một tầng cũng chẳng cần thiết! Do vậy,
nay tôi dựa theo đó. Năm tầng ấy sanh khởi
theo thứ tự:
- Một
bộ kinh ắt phải có tên gọi lập riêng cho kinh ấy.
Danh (tên kinh) chính là để nêu điều khái quát trọng
yếu của kinh, nhằm tỏ rơ điểm khác biệt
với các kinh khác. V́ thế, tầng thứ nhất là Thích
Danh (giải thích tên kinh).
-
Danh phản ảnh Thật. Đă nêu ra danh, ắt có Thật, chẳng phải
là lập danh suông. Do vậy, kế đó là Hiển Thể
(nêu rơ cái Thể). Thể tức là thật thể, tức
là chủ thể của tên kinh.
- Do
danh mà khảo sát
cái Thật; nhưng chẳng tu quán hạnh th́ vẫn thuộc
về cái danh rỗng tuếch. Nương vào Thể để
khởi sự tu tập, ắt phải nói rơ Tông Thú. V́ thế,
tầng thứ ba là Minh Tông (nêu rơ cái
Tông). Tông chính cốt lơi của sự tu tập, tức là
chỉ thú (旨趣,tông chỉ
và ư nghĩa hướng đến) trong tu hành.
-
Đă là thật sự tu, ắt
đạt được tác dụng. V́ thế, tầng thứ
tư là Luận Dụng. Dụng có nghĩa là “công hiệu”.
-
Đức Phật thuận theo căn cơ lớn, nhỏ,
lợi, độn của chúng sanh mà nói đủ loại
pháp để giáo hóa. Do vậy, kinh giáo bèn có Đại, Tiểu,
Thiên, Viên, Tiệm, Đốn sai khác. Như tông Hoa Nghiêm phán
định năm loại giáo tướng là Tiểu, Thỉ,
Chung, Đốn, Viên; tông Thiên Thai phán định bốn loại
hóa pháp là Tạng, Thông, Biệt, Viên, và bốn loại hóa
nghi là Đốn, Tiệm, Bí Mật, Bất Định.
Danh, Thể, Tông, Dụng, bốn tầng huyền nghĩa
của kinh đă rơ, th́ kinh này thuộc vào loại giáo tướng
nào, cũng sẽ có thể hiểu rơ rành rành. Do đó, tầng
thứ năm là phán định giáo tướng.
Nay
dựa theo thứ tự của năm tầng mà tách thành
năm khoa.
1.1.3.2. Giải thích từng
khoa
Chia
thành năm khoa:
1)
Thích
Danh.
2)
Hiển
Thể.
3)
Minh
Tông.
4)
Luận
Dụng.
5)
Phán
định giáo tướng.
1.1.3.2.1. Thích Danh
1.1.3.2.1.1. Thông danh
Thông
danh (通名, tên gọi chung) chính
là chữ Kinh trong Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh. Pháp do đức
Phật đă nói đều gọi chung là Kinh. Do vậy, chữ
Kinh chính là tên gọi chung của hết thảy Phật
pháp. Kinh trong tiếng Phạn là Tu Đa La (Sūtra),
c̣n phiên âm là Tố Đát Lăm, hoặc Tu Đố Lộ.
Tu
Đa La có nghĩa gốc là Tuyến (sợi dây), nghĩa rộng
là Quán Xuyên (貫穿, xuyên suốt), Nhiếp Tŕ (攝持, nắm
giữ, thâu nhiếp), Khế Hợp (契合).
Đem pháp do đức Phật đă nói, phân loại, kết
tập thành sách; do vậy, dùng chữ Tu Đa La để
đặt tên. Tức là xuyên suốt
lời Phật, ǵn giữ, thâu nhiếp chẳng mất,
trên khế hợp Phật tâm, dưới khế hợp
căn cơ của chúng sanh. Kể từ khi đại
pháp truyền sang phương Đông, cổ đức bèn
dùng chữ Kinh để dịch từ ngữ Tu Đa La.
Nghĩa gốc của chữ Kinh là “kinh
vĩ” (經緯,
sợi ngang và sợi dọc trong tấm vải), hoặc “tổ chức”, thật sự
tương đương. Hơn nữa, thói quen tại
Trung Quốc, chỉ lời nói của thánh nhân th́ mới được gọi là Kinh, tột bậc
long trọng! Dịch Tu Đa La thành Kinh, tinh vi, thỏa
đáng tột bậc! Nhưng chữ
Kinh trong tiếng Hán chẳng có ư nghĩa “khế hợp”,
so với nguyên nghĩa của chữ Tu Đa La có chút chẳng đầy đủ. Nhưng trừ
chữ Kinh ra, chẳng có chữ nào khác để có thể
dịch được! V́ thế, cổ
nhân bất đắc dĩ gọi sách chép lời Phật
là Khế Kinh ḥng bổ túc nguyên nghĩa [của chữ
Kinh], ḥng tỏ rơ đây là kinh Phật, chẳng
phải kinh của giáo nào khác. Nếu như giải thích
Kinh là Thường, hay Đạo, đó chính là ư nghĩa mở
rộng của chữ Kinh, chứ trong chữ Tu Đa La vốn
chẳng có các nghĩa ấy. Do vậy, hễ giải thích
kinh Phật, chớ nên dẫn dụng các nghĩa ấy.
1.1.3.2.1.2. Biệt danh
Bảy
chữ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật (金剛般若波羅蜜, Vajracchedikā
Prajñāpāramitā) là v́
kinh này mà đặc biệt đặt tên, chẳng thể
dùng chung cho hết thảy các kinh, nên gọi là Biệt Danh
(別名, tên
riêng). Kim Cang là Dụ (喻, thí dụ), Bát Nhă Ba La Mật là Pháp. Đấy
là dùng Pháp và Dụ để đặt tên. Cách đặt
tên cho tựa đề
các kinh, xét theo ư nghĩa, chẳng ngoài bảy loại, tức
là Nhân, Pháp, Dụ, Đơn (chỉ dùng một trong ba loại
Nhân, Pháp, Dụ), Phức (gồm hai loại trong ba loại
trên đây), Cụ (gồm đủ cả ba loại).
Như kinh A Di Đà, A Di Đà là tên của Phật; tức
chọn Nhân để làm tựa đề kinh, tức là chỉ
dùng Nhân để đặt tên. Như kinh Ban Châu Tam Muội,
đó là một loại pháp môn, chỉ dùng Pháp để
đặt tên. Như kinh Đạo Cán, Đạo Cán (稻稈, nhánh lúa) nhằm sánh
ví pháp sanh bởi nhân duyên, tức là chỉ dùng Dụ để
đặt tên. Như kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Diệu Pháp là
Pháp, Liên Hoa là Dụ; có Pháp và Dụ, chẳng phải là
đơn mà là phức, tức là dùng Pháp và Dụ để
đặt tên. Như phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
vừa có Pháp vừa có Nhân, tức là dùng Nhân và Pháp để
đặt tên. Như kinh Như Lai Sư Tử Hống,
Như Lai là Nhân, Sư Tử Hống là Dụ, tức là
dùng Nhân và Dụ để đặt tên. Như kinh Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, th́ Đại
Phương Quảng là Pháp, Phật là Nhân, Hoa Nghiêm là Dụ,
tức là có đủ Nhân, Pháp, Dụ, dùng đó để
đặt tên. Đơn gồm ba loại, Phức gồm
ba loại, Cụ gồm một loại, tổng cộng bảy
loại. Nếu trong một tựa đề có hai thí dụ
mà không có Nhân và Pháp th́ cũng chỉ là [Đơn]
Dụ, chẳng phải là Phức. Nếu
có hai pháp hoặc hai loại người cũng phỏng
theo lệ này để suy ra. V́ thế, tên kinh vô lượng,
nhưng xét theo ư nghĩa, chỉ có bảy loại đó mà
thôi!
Phạ
Nhật Ra (Vajra),
hoặc c̣n phiên âm là Bạt Chiết La trong tiếng Phạn,
dịch nghĩa là kim cang, tên của một loại vật.
Đó là tinh túy của chất vàng, cứng nhất, sắc
bén nhất. Có thể phá tan hết thảy các vật, tức
là Bén. Hết thảy các vật chẳng thể phá hoại
nó, đó là Cứng. Nội điển nói: “Đế
Thích hữu bảo, danh viết kim cang, tŕ chi dữ Tu La chiến.
Kim Cang lực sĩ sở tŕ khí trượng, viết kim
cang chử. Kim Luân Vương hữu kim cang luân bảo,
nhân xưng Kim Luân Vương” (Đế Thích có vật
báu tên là kim cang, cầm để chiến đấu với
A Tu La. Khí giới do Kim Cang lực sĩ cầm th́ gọi
là chày kim cang. Kim Luân Vương (Chuyển Luân Thánh
Vương) có bánh xe báu kim cang, do
vậy gọi là Kim Luân Vương). Đó vốn
là thứ báu trên cơi trời, tuy nhân gian cũng có, nhưng rất
hiếm thấy. Cổ nhân gọi là “kim cang toản” (金剛鑽), màu như thạch
anh tía, trong suốt. Hoặc nói: “Sanh ở dưới
đáy nước, trên đá”. Trong nội điển,
thường dùng [kim cang] để sánh ví pháp hoặc
người, như nói: Kim Cang tam-muội, Kim Cang lực
sĩ, thân kim cang, lưới kim cang, Kim Cang Thủ, tâm kim
cang v.v… Đều là dựa theo ư nghĩ “chất ấy
kiên cố, chẳng thể hoại, mà có thể đập
tan hết thảy ma chướng”.
Nay
dùng [kim cang] để sánh ví Bát Nhă Chánh Trí. Bát Nhă như
đống lửa lớn, bốn phía đều
chẳng thể chạm vào! Hễ chạm
vào, ắt sẽ táng thân, mất mạng! Giống
như kim cang, hết thảy các vật chẳng thể chạm
vào mũi bén của nó. Chánh trí Bát Nhă có thể phá phiền
năo, trọng chướng, giống như kim cang có thể
phá hoại hết thảy các vật. Ngài La Thập nói: “Báu
kim cang vuông vắn một tấc, quang minh có thể chiếu
thấu mấy chục dặm. Trí quang Bát Nhă cũng giống
như thế, thấy thấu triệt hết thảy phàm
t́nh, vọng tưởng mà phá vô minh”. Báu kim cang th́ chỉ
riêng Kim Cang lực sĩ mới có thể cầm. Bát Nhă
cũng thế, chẳng phải là người căn tánh
Đại Thừa sẽ chẳng thể đảm
đương! V́ thế nói: “Nếu là kẻ chuộng
tiểu pháp, chấp vào các kiến ‘ta, người, chúng
sanh, thọ giả’, sẽ chẳng thể nghe, nhận,
đọc tụng kinh này, v́ người khác giải nói”.
Ngài Chân Đế Tam Tạng nói: “Báu kim cang có đủ
loại màu sắc. Màu xanh có thể tiêu trừ tai ách.
Như Bát Nhă Ba La Mật có thể trừ tam chướng,
thành tựu tam thân, vượt ḍng sanh tử, đạt tới
bờ Niết Bàn, độ hết thảy khổ ách. Màu
vàng có thể thỏa măn sở cầu. Như Bát Nhă trang
nghiêm muôn hạnh, thành tựu vô biên công đức. Màu đỏ
[th́ nếu cầm chất kim cang ấy] hướng về
phía mặt trời, sẽ sanh ra lửa. Như Bát Nhă do Thỉ
Giác hợp với Bổn Giác, sanh ra lửa trí huệ đốt
củi phiền năo như ngàn vầng mặt trời, quang
minh chiếu trọn khắp. Màu trắng có thể lắng
trong nước đục, như Bát Nhă có thể trái trần
hợp giác, vượt thoát đời ngũ trược,
đạt tới ao trong mát. Màu biếc có thể tiêu trừ
độc hại. Như Bát Nhă trừ khử Ngă Chấp
và Pháp Chấp, tiêu trừ nỗi khổ do tam độc. Lại
có kim cang không màu, cũng gọi là Không Sắc. Có được
[loại kim cang ấy], sẽ có thể đi đứng
trên hư không. Bát Nhă cũng thế, được gọi
là Đệ Nhất Nghĩa Không. Có trí Tam Không ấy th́ ngă
không, pháp không, mà Không cũng là không. Trong Không chẳng có sắc,
chẳng có thọ, tưởng, hành, thức, cho đến
chẳng có trí mà cũng chẳng có đắc, đạt
được Vô Thượng Bồ Đề, vẫn là
quy về ‘chẳng
có chút pháp nào để có thể đạt được!’
Như như bất động, thành thân kim cang”.
Nói
chung, kim cang cứng chắc, ví như Thật Tướng
Bát Nhă tùy duyên mà bất biến, ở trong triền phược
mà bất hoại. Kim cang sắc bén ví như Quán Chiếu
Bát Nhă, chẳng ngă nào không phá, chẳng Hoặc nào không
đoạn. Kim cang sáng suốt, ví như Văn Tự Bát
Nhă, có thể khai giải huệ, từ vô minh mà đạt
được minh. Kim cang là chất báu vô thượng, giá
trị chẳng thể tính kể, ví như Bát Nhă là pháp bảo
vô thượng, công đức chẳng thể tính kể.
Báu kim cang hiếm có trong thế gian, ví như pháp bảo Bát
Nhă hiếm có, được gọi là “diệu
pháp rất sâu vô thượng”,
trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ!
Chữ
Bát Nhă (Prajñā)
trong tiếng Phạn nghĩa là trí huệ, nhưng chẳng
phải là trí huệ nhỏ nhoi trong trí thế gian, mà là
chánh trí vốn sẵn có nơi lư thể, được gọi
là “tri kiến” của Phật. Lư thể chính là giác
tánh, c̣n gọi là Thật Tướng Bát Nhă. Chánh trí tức
là Quán Chiếu Bát Nhă. Ngoài lư chẳng có trí, ngoài trí chẳng
có lư, lư và trí vốn
như một. V́ thế, đều gọi
là Bát Nhă. Do sợ mọi người lầm tưởng
là trí huệ tầm thường, cho nên trong kinh luận,
đa số chỉ dùng phiên âm là Bát Nhă để nói. Hết
thảy chúng sanh đều sẵn có trí ấy, nhưng do
vô thỉ vô minh ngăn chướng, chẳng thể hiển
hiện! Vả nữa, trí ấy chỉ tự chứng mới
biết, chẳng thể h́nh dung bằng ngôn ngữ hay
văn tự được! V́ sao vậy? Ắt phải dứt
bặt ngôn ngữ, diệt tâm hạnh th́ mới có thể
tự chứng. Nhưng hết thảy chúng sanh mê muội
đă lâu, chẳng nhờ vào phương tiện, sao có thể
khơi thông chướng cho được? Chướng nếu
chẳng khai thông, trí ấy sao có thể hiển hiện cho
nổi? Do vậy, đức Thế Tôn v́ đại sự
này mà xuất hiện trong thế gian. Bất đắc
dĩ, vẫn dùng ngôn ngữ, văn tự để
khơi gợi, chỉ dạy, ḥng khai thị “Phật
tri, Phật kiến” cho chúng sanh, khiến cho họ ngộ
nhập, gọi đó là pháp môn Bát Nhă, cũng gọi là
Văn Tự Bát Nhă, muốn khiến cho chúng sanh do văn tự
mà khởi quán chiếu, chứng Thật Tướng.
Các
pháp môn khác đă nói như Bố Thí, Tŕ Giới v.v… đều
từ tri kiến của Phật mà ra, dạy chúng sanh hành
theo đó, dùng làm trợ hạnh ḥng khai ngộ chánh trí Bát
Nhă. V́ thế nói: “Hết thảy các pháp chẳng ĺa Bát
Nhă. Bát Nhă là cương yếu của hết thảy các
pháp”. Nói cách khác, Bát Nhă là cốt lơi của hết thảy
các pháp, ở trong hết thảy các pháp, chẳng thể
ĺa hết thảy các pháp để riêng tồn tại
được! Nói thật ra, đức Phật xuất
thế v́ thương xót chúng sanh vốn cùng sẵn có giác
tánh của Như Lai, đều đáng nên thành Phật,
nhưng lại chẳng tự biết. Do đó, Ngài nói ra
điều Phật tự chứng để phá trừ sự
ngu si của chúng sanh. Nói đối ứng với ngu si, bèn
giả gọi là “trí
huệ”.
Thật ra, chẳng có trí huệ chi khác, giác mà thôi! Thật
Tướng Bát Nhă là Bổn Giác. Quán Chiếu Bát Nhă là Thỉ
Giác. Do hết thảy chúng sanh trước nay chẳng giác,
bèn nhờ vào Văn Tự Bát Nhă để giác ngộ họ mà thôi! Do bởi
lẽ này, đọc kinh, nghe pháp, phải nên tự cảnh
tỉnh sâu xa, dùng những điều Phật dạy làm
gương để tự soi mọi lúc, mọi nơi.
Chẳng quán, chẳng chiếu, mê do đâu mà giác? Đó gọi
là “nương vào văn tự để khởi quán chiếu”.
Công quán chiếu lâu ngày, bỗng dưng cái tâm răn dè, cảnh
tỉnh tự sanh, đó chính là Thỉ Giác, mà chánh trí vốn
sẵn có nơi lư thể cũng bắt đầu mở
mang. Chẳng thoái thất, chẳng biếng nhác như thế,
công quán chiếu ngày một thêm thuần. Đấy là nói Thỉ
Giác trước tiên như vầng trăng mới mọc,
dần dần sáng nhiều, tối ít. Cho tới khi vầng
trăng tṛn trặn, sáng ngời vằng vặc, tánh thể
hiển hiện, chính là Thỉ Giác hợp với Bổn
Giác, mà cũng chẳng c̣n Bổn Giác và Thỉ Giác tách biệt.
Hăy nên biết “thành Phật” chẳng có ǵ khác, chỉ
là giác tánh viên minh đó thôi! Khai giác tánh mà chẳng cậy
vào sức của Văn Tự Bát Nhă, sẽ chẳng có cách
nào! V́ thế nói: “Hết thảy chư Phật từ
kinh này mà ra”.
Lại nữa, trong nguyên bản tiếng Phạn
của kinh này, trí là Nhă Na (Jñāna), huệ là Bát Nhă (Prajñā ). Chiếu kiến là trí, thấu hiểu là huệ. Quyết đoạn là trí, chọn lựa là
huệ. Biết Tục Đế là trí, chiếu Chân Đế
là huệ. Hiểu thấu triệt Diệu Hữu là trí, khế
ngộ Chân Không là huệ. Kinh Phật thường nói đến
Lục Độ, có lúc cũng tách ra thành Thập Độ.
Độ thứ bảy là Phương Tiện, Độ
thứ tám là Nguyện, Độ thứ chín là Lực,
Độ thứ mười là Trí. Do đối ứng với
Độ thứ sáu [mà chia tách tỉ mỉ ra như thế]. Nhưng Không chính là
Không trong Hữu, Hữu chính là Hữu trong Không.
V́ thế, hai chữ Trí Huệ thật ra tách rời mà chẳng
tách rời được! Kinh này chính là nói đừng chấp
trước Có và Không. Do vậy, chữ Bát Nhă phải nên hiểu
là trí huệ, chớ nên chấp nhặt văn tự,
cưỡng chia làm hai! Bất quá, có khi trong kinh Phật
cũng là chẳng chia ra mà chia: Nêu ra trí để nói về
Tục Đế, nêu ra huệ để nói về Chân
Đế. Do đó, người học cũng chớ nên
chẳng biết nghĩa này!
Kim
cang vốn dùng để sánh ví Bát Nhă, nhưng chỉ trong hội
thứ chín mới nói dùng kim cang để thí dụ chuyện “có thể
đoạn trừ”, há chẳng phải là nghĩa lư
được nói trong kinh này đúng là cứng, bén, lại
sáng suốt, có thể đoạn Hoặc tốt nhất ư? Thí dụ được
nói trong các kinh khác là vàng, c̣n kinh này nói đến chất
tinh túy trong các thứ vàng. V́ thế, kinh này nói: “Phật
và Phật pháp từ kinh này mà ra”. Lại nói: “Kinh này
nghĩa lư chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng
thể nghĩ bàn”, đó là càng đủ để chứng
minh dứt khoát: Cương yếu Bát Nhă hoàn toàn ở trong
kinh này!
Ba
La Mật (Pāramitā)
trong tiếng Phạn, có nghĩa là Bỉ Ngạn Đáo,
thuận theo văn tự của phương này (Trung Hoa),
phải nên nói là “đáo bỉ ngạn” (tới bờ
bên kia). Cổ tục nơi đất Ấn là hễ làm
việc ǵ rốt ráo, đều nói là “đáo bỉ ngạn”,
giống như phương ngôn ở phương này nói là “đáo
gia”. Nếu nói theo Phật pháp, sẽ là “ĺa bờ sanh
tử bên này, vượt qua ḍng phiền năo, đạt
đến bờ kia Niết Bàn”. V́ thế, Ba La Mật
cũng là từ ngữ thí dụ.
Niết
Bàn là bất sanh, bất diệt, tức là nói tới bản
tánh. Bản tánh có nghĩa là “vốn sẵn có”. Nói “vốn
sẵn có” nhằm chỉ rơ “chẳng phải tạo
tác”. Đă chẳng phải là tạo tác, có thể thấy
là nó vốn sẵn là như thế, chẳng phải là từ
không mà có. V́ thế nói là “vốn tự chẳng sanh”.
Nói “vốn sẵn đủ” tức chẳng phải
là mới sanh. Đă vốn chẳng sanh, cho nên nay cũng chẳng
diệt. Nhưng chúng sanh sanh tử chẳng ngớt; đó
là tướng, chẳng phải là tánh. V́ sao sanh tử chẳng
ngớt? V́ cái tâm sanh diệt chẳng ngừng. Hăy nên biết
cái tâm sanh diệt chẳng ngừng được gọi
là “thức tướng”, cũng chẳng phải là
tánh. V́ sao như thế? Do phiền năo. V́ phiền năo mà
đến nỗi tâm có khởi lên, diệt mất, tánh biến
thành thức. Do vậy, tạo nghiệp, hứng chịu nỗi
khổ luân hồi; nhưng chúng sanh chẳng biết trở
về nguồn cội, nhận biết tánh, cứ mê
nơi tướng sanh tử. Bởi đó, luân hồi chẳng
thôi, dẫu chạm mặt bất sanh bất diệt mà
thành vĩnh viễn cách biệt! V́ thế, sánh ví phiền
năo là “giữa ḍng”, coi sanh tử là bờ này, Niết
Bàn ví như bờ kia. Vốn chẳng có bờ này hay bờ
kia, do có “giữa ḍng” ngăn cách mà thành cách biệt lẫn
nhau!
Phiền
năo c̣n gọi là Hoặc, thường nói là Kiến Tư Hoặc.
Kiến Hoặc và Tư Hoặc đều sanh từ ngă kiến.
V́ thế, muốn liễu thoát tướng sanh tử, cần
phải chứng tánh “chẳng sanh diệt”. Nhưng muốn
chứng bản tánh, cần phải chuyển hóa, trừ khử
ngă kiến. Nhưng ngă kiến gốc rễ sâu dày, ắt cần phải
dùng đủ mọi pháp để điều phục,
khai Căn Bản Trí để đoạn tuyệt nó.
Đó gọi là “Lư tuy đốn ngộ, Sự cần phải
tu dần dần”. Giống như chuyển tiếp, từ
bờ này đạt tới bờ kia, phải thực hiện
từ từ, chẳng thể gấp gáp được! V́
thế nói là Ly, là Độ, là Đạt, nhằm tỏ
rơ chẳng thể vừa tiếp xúc liền đạt
ngay được! Lại nói một chữ Lưu (流, ḍng) để chỉ rơ sự nguy hiểm,
muôn vàn chẳng thể nổi gió vô minh. Hễ nổi lên, ắt
sẽ xuôi theo ḍng, thậm chí gặp nỗi hung hiểm
ch́m đắm, há c̣n có thể vượt sang bờ kia
ư? Người tu hành phải thận trọng điều
này! Nhưng những điều vừa nói trên đây, vẫn
là chuyên nói theo
phương diện phàm phu. Nếu nói tỉ mỉ, sanh tử
chứa đựng hai tầng: Phiền Năo cũng bao gồm
Kiến Tư, Trần Sa và Vô Minh để nói. Phàm phu chấp
Có, chấp vào “nhân, ngă”, bèn do Kiến Tư phiền
năo mà đọa vào Phần Đoạn Sanh Tử. Nhị
Thừa và hàng Bồ Tát chấp Không, do chấp vào Pháp Ngă,
bèn từ Trần Sa và Vô Minh Phiền Năo mà có Biến Dịch
Sanh Tử. V́ thế, muốn chứng đắc Vô Dư
Niết Bàn, cần phải là Hữu lẫn Vô đều
không, phá Ngă Chấp và Pháp Chấp, giải quyết hai tầng
sanh tử. Vượt khỏi các ḍng Kiến Tư, Trần
Sa, Vô Minh Phiền Năo, bèn đạt tới bờ kia Niết
Bàn. Do đó, Đại Trí Độ Luận nói: “Hai kiến
Hữu, Vô đều thuộc vào bờ này. Hai thứ chấp
ấy đều không th́ mới đạt tới bờ
kia”. Hai thứ chấp chính là Ngă Chấp và Pháp Chấp.
Những
ǵ là cái bè để vượt thoát? Chính là Lục Ba La Mật.
Dùng sáu pháp ấy, sẽ
có thể tới được bờ kia. V́ vậy, sáu
pháp ấy cũng gọi là Lục Độ. Trong Lục
Độ, Bố Thí là trọng yếu, mà Bát Nhă càng trọng
yếu hơn. Bố Thí là xả. Nếu chẳng biết
xả, sao có thể ĺa bên này để vượt sang bên
kia? Nhưng nếu chẳng có trí quán chiếu, sao có thể
chịu xả cho được? V́ thế, Bát Nhă là
cương yếu của năm Độ. Năm Độ
ĺa Bát Nhă, sẽ chẳng phải là Ba La Mật. Lại nữa,
hai chữ Trí Huệ, tách ra để nói, cũng có thể
nói theo địa vị tu nhân th́ gọi là Huệ, nơi
địa vị đắc quả th́ gọi là Trí. Bát Nhă
Ba La Mật nói theo địa vị tu nhân giống như
là quán huệ để đạt tới bờ kia. Nếu
nói theo địa vị đắc quả, Bát Nhă chính là Ba
La Mật. V́ sao vậy? Bát Nhă nơi quả vị chính là Lư
và Trí như một. Lư và Trí như một chính là bất
sanh, bất diệt. Nói theo địa vị tu nhân, kim cang
nhằm sánh ví quán huệ ấy cứng nhất, sắc bén
nhất, sáng suốt nhất, cho nên có thể tới
được bờ kia. Nói theo địa vị đắc
quả, kim cang ví như Pháp Thân của Như Lai, thường
nói là “kim cang bất hoại thân”. Trên đây, giải
thích tên kinh đă xong.
1.1.3.2.2. Hiển Thể
1.1.3.2.2.1. Nêu rơ ư
nghĩa của Thể
Thể
(體) là “chủ thể”. Phàm nói một kinh, chẳng thể
mấy câu là xong, thường là ngàn lời vạn lẽ,
đầu mối rạch ṛi. Người đọc,
người nghe như vào biển cả, chỉ thấy biển
rộng một bầu mênh mông, chẳng biết đâu là bờ
bến, chẳng khỏi đâm ra nh́n biển cả thở
than. Hăy nên biết mỗi bộ kinh, bất luận số
quyển nhiều như thế nào đi nữa, văn lư phức
tạp như thế nào đi nữa, ắt
có chỗ quy hướng. Nói cách khác, mỗi kinh ắt
đều có điểm chủ yếu của kinh ấy.
Ngàn lời vạn lẽ đều nhằm quy vào, nhấn mạnh
điểm ấy. Ngàn điều muôn mối, đều
phát sanh từ điểm ấy! Điểm ấy chính
là điểm chủ yếu của kinh, điều đó
được gọi là Thể. T́m ra điểm chủ yếu
trong muôn ngàn lời lẽ, trong ngàn điều vạn mối
để chỉ rơ ra; đó gọi là Hiển Thể (顯體).
Người đọc, người nghe nếu hiểu rơ
điểm chủ yếu của kinh, ắt nắm vững
cương yếu, chẳng đến nỗi nh́n biển
cả thở than, mà cũng chẳng
đến nỗi vào biển đếm cát, lại càng chẳng
đến nỗi bước lầm vào ngơ rẽ! Biết
điều ấy, sẽ có thể biết tầm quan hệ
hết sức trọng
yếu nơi các điều như Hiển Thể v.v… Biết
điều ấy, sẽ hiểu nỗi khổ tâm [v́ sao]
cổ nhân đối với mỗi kinh đều nói phần
Huyền Đàm trước. Nói chung, cái được gọi
là Thể ở đây chính là Thể của kinh, chẳng phải
là tánh thể!
1.1.3.2.2.2. Biện định
dị đồng
Biện
định dị đồng (khác và giống) có hai
nghĩa. Trước hết, dựa theo kinh thể và tánh
thể để biện định đồng dị.
Kinh thể chẳng phải là tánh thể, đương
nhiên là như vậy, nhưng đức Phật v́ một
đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời.
Đại sự vừa nói đó chính là khai thị “hết
thảy chúng sanh cùng sẵn có trí
huệ và giác tánh của Như Lai”,
khiến cho họ được ngộ nhập, nhất
loạt thành Phật. Thuyết pháp bốn mươi chín
năm chuyên v́ chuyện này. Do vậy nói rằng: “Hết
thảy các kinh, không ǵ chẳng nhằm khai thị Phật
tánh vốn sẵn có”. Đấy chính là chủ thể của
hết thảy các kinh, có thể biết: Đều chẳng
ngoài việc phát huy tánh thể! Nhưng trong phần trên
đă nói: “Điều được hiển lộ ở
đây là kinh thể, chẳng phải là
tánh thể”. Do vậy, chẳng
thể không biện định sự khác biệt, v́ sao?
Hăy nên biết: Các kinh tuy đều chẳng ngoài
nêu tỏ “Phật tánh vốn sẵn có”, nhưng các kinh lập
thuyết, chỉ thú khác nhau. Có kinh chú trọng
trừ chướng, có kinh chú trọng tu phước, có
kinh nói về cái nhân xưa kia, có kinh nói về cái quả mai
sau. Do căn cơ muôn vàn sai khác, thuyết pháp bởi đó
bèn có muôn vàn sai biệt. Chẳng phải mỗi bộ kinh
nào cũng đều chỉ thẳng bản tánh, triệt
để phát huy, há có thể mờ mịt, hồ đồ,
ngây ngốc nói kinh thể chính là tánh thể ư? Hơn nữa,
nói theo chuyện “chỉ thẳng bản tánh” th́ tánh thể
gồm trọn vạn hữu, một danh từ sẽ chẳng
thể nhiếp trọn hết lượng của nó
được! Do vậy, bất đắc dĩ, lập
ra đủ loại danh xưng như là Chân Như, Như
Như, Thật Tướng, pháp giới, Pháp Thân, tánh tịnh
minh thể, viên giác, tự tánh thanh tịnh tâm v.v… Danh đă
là vô lượng, hiển
thị nghĩa cũng vô lượng! Kinh chỉ
thẳng bản tánh có khi nêu danh xưng này, có khi nêu danh
xưng kia,
có khi nói kèm mấy danh xưng. Do đó, nói “chỉ thú của
kinh khác biệt”, tức là: Cùng là kinh chỉ thẳng bản
tánh, nhưng có thể là mỗi kinh hiển lộ một ư
nghĩa khác biệt. Chỗ quy hướng của mỗi
kinh bởi đó mà
cũng mỗi mỗi bất đồng!
Do vậy, kinh thể và tánh thể, xét theo kinh “triệt
để hiển tánh” để nói th́ “tuy hai mà chẳng
hai”, lại c̣n là “chẳng hai mà hai”, chẳng thể nói lẫn
lộn thành một
được! Ắt cần phải biện định
rơ sự dị đồng này chính là v́ lẽ đó.
Kế
đó, xét theo các tông để biện định sự dị
đồng. Bất luận tông nào, hễ nói đến tựa
đề kinh, ắt đều phải thâu nhiếp ư chỉ
trọng yếu của kinh ấy để phát huy th́ mới
là “ngôn trung hữu vật” (trong lời nói có vật)[25].
Phân môn chia loại, lập ra quy cách nhất định, phải
nên đề cao hai tông Thiên Thai và Hiền Thủ. Nhưng
phân biệt thành mười môn (thập huyền môn) như
tông Hiền Thủ có khi chẳng phù hợp cho lắm, chẳng
đơn giản, rơ ràng, thiết yếu như năm tầng
[Huyền Nghĩa] của Thiên Thai. Tức là dùng chuyện
Hiển Thể để nói, hai tông cũng có đường
lối khá khác nhau; v́ tỏ lộ kinh thể như nhau,
nhưng ư nghĩa chủ chốt dùng để hiển lộ
cái Thể của kinh khác nhau rất lớn. Tông Hiền Thủ
đa số dùng chữ Kinh trong tên gọi chung (thông danh)
để hiển Thể. Đó là dựa theo “kinh giáo có thể
diễn nói” để hiển Thể. Các vị đại
đức trong tông ấy thường nói: “Hết thảy
các kinh Đại Thừa lấy Thật Tướng của
các pháp làm Thể”. Trong Kim Cang Kinh Toản Yếu Sớ,
ngài Khuê Phong nói: “Dùng Văn Tự Bát Nhă làm Thể”.
Đó đều là xét theo “kinh giáo có thể diễn nói” mà
luận. Phàm hết thảy các kinh Đại Thừa đều
lấy Thật Tướng của các pháp làm Thể, tức
hết thảy các kinh Đại Thừa không ǵ chẳng phải
là Văn Tự Bát Nhă đă rơ lắm rồi!
Nhưng
nếu chỉ nói riêng theo Bát Nhă Bộ th́ những điều
được nói trong mười sáu hội trước
sau, đều là Văn Tự Bát Nhă, há có phải riêng hội
thứ chín này mới là như thế, há riêng kinh này là
như thế ư? V́ vậy, lời ngài Khuê Phong nói có thể
áp dụng cho các kinh khác. Do đó, bảo: “Dựa theo chữ
Kinh trong tên gọi chung để hiển Thể”.
Nhưng tông Thiên Thai hiển lộ kinh thể chính là dựa
theo chính kinh ấy, chẳng thể dời đổi
được (tức chẳng thể dùng lời Hiển
Thể của kinh này để áp
dụng cho kinh khác được)! Tức là dựa theo bảy
chữ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật trong biệt danh để
hiển lộ cái Thể chủ yếu của kinh này.
Đó là dựa theo Lư và Sự được diễn nói [bởi
một bộ kinh] để hiển Thể. V́ vậy tôi
nói: “Cách thức đă lập của tông Thiên Thai
đơn giản, rơ ràng, thiết yếu!” Đó là sự
khác biệt giữa hai tông trong Hiển Thể.
1.1.3.2.2.3. Hiển Thể
của kinh này
Nay
đă nương theo quy cách của tông Thiên Thai, dựa theo
biệt danh trong tựa đề kinh để nêu rơ chủ
thể được minh định bởi kinh nghĩa,
tức là như các vị đại đức trong tông
Thiên Thai đă nói, chẳng thể không biết điều
này trước. Chú sớ kinh này của cổ đức
trong tông Thiên Thai được lưu truyền tới nay
là do người trước tác đáng làm thầy, và bản
chú giải ấy đáng để lưu truyền, chỉ
có hai loại: Một là bản chú giải của ngài Trí Giả
đời Tùy, hai là bộ Phá Không Luận của ngài Ngẫu Ích thời
Minh. Ngài Trí Giả coi “nhược kiến chư tướng
phi tướng, tức kiến Như Lai” (nếu
thấy các tướng chẳng phải tướng tức
là thấy Như Lai) là Thể của kinh. Ngài Ngẫu Ích coi “Thật
Tướng thường trụ” là Thể của kinh.
Gần đây th́ bậc đại đức trong tông Thiên
Thai là pháp sư Đế Nhàn soạn Kim Cang Kinh Tân Sớ
đă coi Đệ Nhất Nghĩa Không là cái Thể của
kinh. Ba vị mỗi vị nêu bày mỗi khác, sợ rằng
sẽ dẫn đến nghi ngờ, nhưng chẳng cần
phải nghi!
Hăy nên biết: Tuy có ba cách nói, chỉ là văn tự bất
đồng đó thôi, chứ lư chẳng khác! Bởi lẽ,
Thật Tướng chính là Đệ Nhất Nghĩa Không.
Đại Trí Độ Luận viết: “Được
gọi là Đệ Nhất Nghĩa Không chính là Thật
Tướng của các pháp”. Danh xưng Như Lai nhằm
hiển lộ tánh đức, tức là hiển lộ Pháp
Thân đức, nhưng Pháp Thân chẳng có ǵ khác, Thật
Tướng đó thôi! Do vậy cũng biết: Ba cách nói
tuy khác, nhưng thật sự là như nhau.
Nhưng
Đệ Nhất Nghĩa Không như Tân Sớ nói chẳng
phải là văn tự vốn có trong bản kinh này. Cách chú giải của
ngài Trí Giả hay nhất, mà kinh này cũng có câu giản yếu
để lấy đó [làm chứng]. [Đối với lời
hiển Thể của tổ Ngẫu Ích], Thật Tướng
là thiết yếu, nhưng hai chữ “thường trụ”
dường như tạm ghép vào. Nếu chỉ nêu ra hai chữ
Thật Tướng th́ tuy khéo, nhưng hết thảy các
kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng
của các pháp làm Thể, lại hiềm quá rộng! V́ thế,
nay chẳng chấp vào ba thuyết trên, đổi thành
như sau: “Thể của kinh là sanh Thật Tướng”.
Kinh này dạy: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật
Tướng” (tín tâm thanh tịnh bèn sanh ra Thật Tướng).
Thật Tướng là vô tướng, mà chẳng phải
là không có tướng, tức cái được gọi là
Chân Như Pháp Thân, cũng chính là Như Lai Tạng “không, bất
không”. “Sanh” có nghĩa là “hiện tiền”. V́ sao
hiện tiền? Do tâm thanh tịnh. V́ sao thanh tịnh? Do vô
trụ. Vô trụ là ĺa hết thảy các tướng. Ĺa hết
thảy các tướng tức là Không và Hữu đều
chẳng chấp; đó chính là Không đến rốt ráo.
Kinh này dạy: “Ly nhất thiết chư tướng, tắc
danh chư Phật” (ĺa hết thảy các tướng
th́ gọi là chư Phật). V́ sao? Ĺa các tướng chính
là Thật Tướng hiện tiền. Do quán như thế,
ba chữ “sanh Thật Tướng” hiển lộ chỗ
quy hướng của kinh này, không lư nào chẳng nhiếp,
không chuyện nào chẳng nêu tỏ!
Kinh
này tự giải thích ư nghĩa Thật Tướng như
sau: “Thật Tướng giả, tức thị phi tướng”
(Thật Tướng chính là chẳng phải tướng).
Chữ “phi” ở đây [hàm nghĩa]: Hết thảy
đều là “phi”. Chẳng phải có, chẳng phải
không, chẳng phải “cũng có cũng không”, chẳng phải
“chẳng phải có, chẳng phải không”. Phàm các tướng
“không, có, vừa có vừa không, chẳng phải có chẳng
phải không” đều là “chẳng phải có”, mà cái “chẳng
phải” ấy cũng chẳng lập, đó là ĺa hết
thảy các tướng! Tướng trạng tự tánh của
chúng sanh vốn sẵn như thế, chân thật như thế.
Không có ǵ để đặt tên được, cưỡng
gọi là Thật Tướng đó thôi! “Ly” có
nghĩa là “vô trụ”. Vô Trụ tức là chẳng giữ
lấy. Chẳng giữ lấy tướng, lại c̣n
như như bất động. Chẳng lấy
ǵ để đặt tên được, cưỡng gọi
là Sanh đó thôi! Văn Tự Bát Nhă nhằm diễn nói Thật
Tướng ấy. Quán Chiếu Bát Nhă là quán Thật Tướng
ấy. C̣n như Thật Tướng Bát Nhă viên măn hiển
hiện, bèn tới bờ kia. “Giữ lấy tướng”
là do ngă kiến. “Ĺa hết thảy các tướng” tức
là trừ ngă kiến, đoạn phiền năo. Đoạn
được một phần phiền năo, liền sanh một
phần Thật Tướng. Trong Văn Tự Bát Nhă
nơi bản kinh này, Quán Chiếu Bát Nhă được ví
như kim cang chính là v́ nó có thể đoạn phiền năo,
sanh ra Thật Tướng. Vậy th́ ba chữ “sanh Thật
Tướng” chính là cái Thể chủ yếu của Kim
Cang Bát Nhă Ba La Mật, há chẳng phải là rành rành bày ra đấy ư?
1.1.3.2.3. Minh Tông
1.1.3.2.3.1. Nêu ư nghĩa
của Tông
Nói “minh
Tông” tức là nói về tu. “Tông” (宗)
nghĩa là chủ yếu. Minh (明) là nói rơ. Nói rơ sự
tu tập bèn gọi là Minh Tông là v́ lẽ
nào? Tông Thiên Thai lập ra cách nói như thế
có hai tầng ư nghĩa sâu xa: Một là Thông, hai là Biệt.
- Một,
cảnh tỉnh, đốc thúc người học: Phật
pháp coi thật sự hành tŕ là điều chủ yếu.
Đó là Thông nghĩa.
-
Hai, phương pháp tu hành vô lượng, do căn cơ và
mục đích [muôn vàn sai khác] mà có phương pháp khác nhau.
Ví như trường học trong thế gian, do đủ
loại sai khác, mà quyết định có môn học chủ
yếu và môn học tùy ư (nhiệm ư, elective courses). Kinh này có
công đức chẳng thể nghĩ bàn, nhằm nói với
người phát tâm tối thượng thừa trong Đại
Thừa. Cách tu ở đây lấy ǵ làm chủ chốt?
Đó là Biệt nghĩa.
Chẳng
nói Minh Tu mà nói là Minh Tông do dựa theo ư nghĩa này. Minh Tông
được xếp tiếp ngay theo phần Hiển Thể
bởi tuy chủ thể trong các ư nghĩa của kinh đă
được hiển lộ [do
phần Hiển Thể], nhưng không tu sẽ chẳng chứng.
Nếu chỉ biết Hiển Thể, chẳng thuận
theo Thể để khởi tu, sẽ như đếm của
báu của người khác,
chính ḿnh chẳng có nửa đồng! Hiển lộ có lợi
ích ǵ đâu? V́ thế, mỗi khi nói một pháp, trước
khi nói, đức Phật ắt răn bảo “lắng
nghe”. Văn Tư Tu tam huệ đều đầy
đủ chính là “lắng nghe”, mà lời kết của
mỗi kinh đều là “tín thọ phụng hành” (tin
nhận, vâng làm), tức là khai thị, đọc kinh, nghe
pháp, đều lấy chuyện tu hành đúng như lời
dạy làm chủ. Vậy th́ chỗ quy hướng của
kinh này được gọi là chủ thể của các
nghĩa trong kinh, ta đă biết chính là “sanh Thật
Tướng”. Thật Tướng ắt phải như
thế nào th́ mới sanh? Đức Phật thuyết pháp,
câu nào cũng nói về tánh, tức là câu nào cũng nói về
tu. Nay hăy đúng như pháp mà
thực hiện;
trong vô lượng hạnh môn, rốt cuộc ư chỉ của
kinh lấy pháp nào làm chủ? Do bởi lẽ này, sau Hiển
Thể, ắt kế đó phải
là Minh Tông!
1.1.3.2.3.2. Biện định
sự đồng dị
Đối
với Tông trong Minh Tông
như đă nói trong phần trên, và tông trong “các tông,
các phái”, cũng như tông trong “tông phái”, tôn trong “tôn giáo”,
cũng như Tông và Giáo được nói trong Phật môn, và “tôn giáo” như
thế tục đă nói, không chỉ người đời
chẳng hiểu rơ, ngay cả người trong Phật môn
cũng lắm người lẫn lộn! Nay tôi thừa dịp
đối với mỗi điểm giống và khác nhau
đều biện bạch rơ ràng, chắc là các vị muốn
nghe!
Ư
nghĩa tôn giáo như người hiện thời đề
cập vốn nhặt
nhạnh từ tà huệ của người Âu Tây.
Cơi đời có sách vở [phân tích cặn kẽ], ở đây,
cũng không rảnh để nói chi tiết, có thể nói
đơn giản như thế này: “Trong một giáo, thờ
phụng một đấng có quyền uy vô thượng,
coi vị đó là Chúa. Vị Chúa ấy có thể quyết
định sống chết, hết thảy vinh nhục của
con người đều nắm trong tay Ngài. Do vậy,
Ngài được sùng bái”. Đó
chính là cái thuyết “tôn giáo” trong thế tục. V́ vậy,
hễ nói “tôn giáo”, sẽ liền có ư vị “mê tín, dựa
dẫm”. Người đời chỉ thấy Phật môn
chúng ta tôn thờ đức Phật là giáo chủ, lại
nghe nói Phật môn cũng có từ ngữ “tông giáo”, chẳng
hiểu chỗ mầu nhiệm ấy,
bèn nói lẫn lộn với quan điểm “tôn giáo” của
Âu Tây, giẫm theo gót của người khác, chê bai [Phật
giáo] là mê tín, tùy ư hủy báng, tạo nghiệp Vô Gián, thật
đáng thương xót! Lại do Phật môn lễ tượng,
bèn chê trách là thờ ngẫu tượng, có ư cho rằng “Phật
giáo c̣n thua các tôn giáo khác”. Sự ngu muội ấy có thể
nói là cùng cực! Nay cũng chẳng rảnh đàm luận
sâu xa tông thú, dẫn cặn kẽ giáo nghĩa! Chỉ bằng
vài lời cũng có thể phán định sự khác biệt
to lớn giữa Phật giáo và tôn giáo trong cách hiểu của
Âu Tây. Hăy nên biết tượng Phật, kinh quyển, và
người xuất gia được gọi là Trụ Tŕ
Tam Bảo. Cốt ư là khiến cho người ta do tượng
mà quán tưởng Phật, do kinh quyển mà thông đạt
lư ấy, do người xuất gia mà dẫn khởi cái tâm
siêu trần ly cấu. V́ thế nói là Trụ Tŕ. Bởi lẽ,
nhờ vào Trụ Tŕ Tam Bảo mà quán Tự Tánh Tam Bảo,
chứng Thường Trụ Tam Bảo. Sanh tử, vinh nhục
đều do chính ḿnh, quyền
uy vô thượng tự nắm trong tay ḿnh. V́ thế nói “vạn
pháp duy tâm, ngoài tâm chẳng có pháp”. Đó là nguyên do khiến
cho Phật pháp siêu việt, thù thắng hơn hết thảy
các đạo đức và triết lư trong thế gian, các
tôn giáo dẫu nằm mộng cũng chẳng thấy
được! Phật môn nói đến Tông Giáo th́ Tông là
minh tâm kiến tánh, do Phật pháp coi minh tâm kiến tánh là chủ
yếu. Giáo là hết thảy các kinh nghĩa, v́ hết thảy
các kinh nghĩa chính là giáo pháp do đức Phật chỉ dạy.
Do đó, nếu thông đạt tâm tánh th́ gọi là “Tông
thông”. Nếu thông đạt kinh nghĩa th́ gọi là “Giáo
thông”. Tông và Giáo hoàn toàn là hai chuyện, há có thể nói là “tuân phụng một
vị quyền uy vô thượng”,
hay là “chủ nhân ông trong một
giáo” ư? Như vậy
th́ tuy nói đến Tông Giáo, danh xưng như nhau, nhưng
ư nghĩa khác hẳn vời vợi, rành rành như thế
đó!
V́
thế, chữ Tông trong Tông Giáo của Phật môn vốn chẳng phải là
nói đến tông phái, chỉ v́ Thiền Tông chỉ lấy
“tự ngộ tâm tánh” làm chủ, không chú trọng kinh
giáo, được gọi là “giáo
ngoại biệt truyền” (truyền
riêng ngoài giáo),
bèn nói là Tông Hạ, nhằm
nói rơ nó phù hợp với tông chỉ chủ yếu là “minh tâm kiến tánh.” Giáo trong Tông Giáo trọn
chẳng phải là giáo chủ, mà là có thể tinh thông sâu xa
kinh nghĩa, nương vào văn tự để khởi
quán hạnh ḥng
chứng Thật Tướng, nên gọi là Giáo Hạ, nhằm
nói rơ “có thể vâng theo lời dạy để hành”.
Đấy là ư nghĩa hậu khởi, đă hàm ư tông phái
trong đó. Nhưng dù nói là Tông Hạ hay Giáo Hạ, nghĩa
vẫn b́nh đẳng, vốn chẳng cao thấp. Sau đó, hễ
nói tới Tông Hạ th́
không chỉ chuyên nói về Thiền Tông, mà c̣n có nghĩa là “có
thể thật hành”, mang ư nghĩa “trọng yếu”.
Phàm nói
đến Giáo Hạ
là nói chung các tông phái ở ngoài Thiền Môn, có ư nghĩa “chỉ
cầu đa văn, vô ích cho con người”. Tức là
bên trọng,
bên khinh, hàm ư “chẳng thể coi như nhau được”!
Nghĩa này thuộc loại hậu
khởi, bởi trong thuở Thiền Tông cực thịnh
[có những người nẩy sanh ư niệm độc tôn
Thiền Tông, coi rẻ các tông khác, nên đề xướng quan niệm
lệch lạc ấy].
C̣n
như nói các tông, th́ đều là mỗi tông đều có
chủ ư riêng, hoặc chủ yếu là pháp tướng
như Từ Ân Tông, c̣n gọi là Pháp Tướng, hoặc
Duy Thức Tông. Hoặc chủ yếu là pháp tánh, như các
tông Thiền Tông, Tam Luận, Thiên Thai, Hiền Thủ v.v… Cũng do
nương vào giáo hay chẳng nương vào giáo mà tách
biệt Thiền Tông với các tông khác, bèn nói
là “ở ngoài tánh”. Tông Hạ hay Giáo Hạ như nói
trên đây cũng do kinh nghĩa chủ yếu bất đồng
mà lập ra tên gọi của các tông. Như nói Tam Luận
Tông, Pháp Hoa Tông, Hoa Nghiêm Tông, Tịnh Độ Tông, Mật
Tông. Chủ yếu là Luật th́ gọi là Luật Tông. Từ
tông mà lại tách biệt thành các nhóm nhỏ hơn th́ gọi
là Phái. Như Pháp Tướng Tông có cựu phái Chân Đế
và tân phái Huyền Trang. Kinh Hoa Nghiêm cùng nói về tánh và
tướng, nên giáo nghĩa của tông Hoa Nghiêm cùng thông tánh
và tướng; nhưng nếu xét theo pháp tướng để
nói, tông Hiền Thủ cũng có thể gọi là một
phái của Pháp Tướng. Những tông khác như Tịnh
Độ Tông cũng có tác Quán
và Tŕ Danh khác biệt. Thiền Tông chia thành năm “tông” (chi phái)
là Lâm Tế, Quy Ngưỡng, Tào Động, Pháp Nhăn, và Vân
Môn. Tuy gọi là Tông,
nhưng ư nghĩa thật sự là “các phái khác biệt”.
Những điều khác có thể suy ra tương tự.
Nói chung, Tông trong “tông phái” là do lập nghĩa, thực hiện cách giảng dạy mỗi
mỗi khác nhau, bèn lập ra danh xưng các Tông,
không chỉ là phương pháp tu hành sai khác mà thôi!
Nếu
nói đến Tông trong Minh Tông, th́ là chuyên nói theo sự tu tập.
Đại để, Tông trong Tông Giáo nghĩa rộng nhất.
Ư nghĩa của tông phái đă dần dần hẹp
hơn. Tới khi nói Minh Tông, nghĩa càng hẹp
hơn nữa. Đó là chỗ khác biệt! Chữ Tông có
nghĩa là “chủ trương”, là “ư chỉ chủ chốt”,
nên chẳng phải là bất đồng! Tôn giáo như
người phương Tây nói chính là nói theo ư nghĩa “một
vị quyền uy tối thượng là tông chủ của
một giáo”, ư nghĩa khác xa Tông Giáo mà tôi đang nói. Chớ
nên chẳng nhận rơ điều này!
Người thế tục do chẳng hiểu rơ nghĩa
này, vẫn chẳng đáng trách, chứ người trong Phật
môn, cũng do chưa từng biện định rơ ràng sự
khác nhau và giống nhau, chẳng biết chánh nghĩa của
Tông Giáo trong Phật môn để nói cho rành mạch, chỉ
nói “Phật pháp chẳng phải là tôn giáo” để
tranh căi với người đời! Phật pháp rơ ràng là
có Tông, có Giáo, sao lại nói là “phi tôn giáo”? Trong trước
thuật của cổ nhân, có nhiều kiến giải khác
biệt; lập thuyết như thế, há có thể chiết
phục tâm người khác ư? Nếu nói rơ chánh nghĩa,
khiến cho [ai nấy đều biết] tông giáo như
chúng ta nói chẳng phải là “tôn giáo” như họ nói,
ắt sông Kính, sông Vị rạch ṛi[26],
họ cũng chẳng do đâu mà hủy báng được!
Lại
nữa, các tông ngoài tông Thiên Thai cũng từng nói về
Tông, nhưng cách nói của họ chẳng giống cách nói của
tông Thiên Thai. Đối với chỗ giống nhau và khác
nhau ấy, cũng chẳng thể không biện định
một phen! Như Nhị Tổ Trí Nghiễm[27]
của tông Hiền Thủ đă chú giải bản kinh Kim
Cang dịch vào đời Ngụy như sau: “Ba món Văn
Tự, Quán Chiếu và Thật Tướng Bát Nhă chính là Tông
của một kinh”. Như thế th́ cái Tông như Ngài
đă nói đó chẳng phải là chuyên dựa theo công phu tu
tập, mà cũng chẳng phải chỉ chuyên nói về
kinh Kim Cang; chỉ có thể nói là luận định tổng
quát “Bát Nhă là ư chỉ chủ yếu của các kinh” mà
thôi! Bản sớ giải của ngài Khuê Phong cho rằng “Thật
Tướng Bát Nhă và Quán Chiếu Bát Nhă chẳng một, chẳng
hai”
là
Tông, xem ra hay hơn thuyết
trước đôi chút, nhưng cũng chỉ là tổng luận,
chẳng phải nói khít khao về kinh này. Hơn nữa,
đó là nói gộp chung tánh và tu, chẳng phải là chuyên nói
theo sự tu tập. Bộ
Nghĩa Sớ của ngài Gia Tường
trong Tam Luận Tông nói: “Lấy nhân quả
làm Tông; bởi lẽ, tu vô trụ là nhân, thành tựu đạt
được cái vô sở đắc là quả”. Thuyết
này chỉ thẳng vào kinh này, chẳng thể dời đổi
sang bộ kinh nào khác, rất thiết yếu, nhưng
đă lạm dự vào tầng thứ tư là Luận Dụng
(luận định tác dụng) của tông Thiên Thai. V́ sao?
Công dụng thuộc vào quả. Do vậy, có thể biết:
Các tông đều minh Tông như nhau, nhưng cái Tông
được họ nêu ra th́ khác biệt. Do vậy, càng thấy
rơ năm tầng Huyền Nghĩa của tông Thiên Thai
đơn giản, rơ ràng, thiết yếu, các tông khác chẳng
thể sánh bằng!
1.1.3.2.3.3. Minh Tông kinh
này
Đối
với phần Minh Tông, các vị đại đức
trong tông Thiên Thai nói như thế nào? Bản chú giải của
ngài Trí Giả bảo “dùng trí huệ Thật Tướng
để tu Đàn vô tướng”. Bát Nhă là chánh trí vốn
sẵn có trong lư thể, cho nên gọi là “trí huệ Thật
Tướng”. “Đàn” (Dāna) là bố
thí, tức là chọn lấy ư nghĩa “Bồ Tát phải
nên chẳng trụ vào pháp để hành bố thí” trong
kinh. Trong Phá Không Luận, ngài Ngẫu Ích coi “quán chiếu
khế lư” là Tông. “Khế lư” là khế hợp lư thể,
tức là ư nghĩa “trí huệ Thật Tướng” trong
bản chú giải của tổ Trí Giả. Trong Tân Sớ,
pháp sư Đế Nhàn coi “phát Bồ Đề tâm” là
Tông. Trong ba thuyết, tôi cho rằng thuyết trong bản
chú giải của ngài Trí Giả tinh vi nhất. Hai thuyết
kia chưa tránh khỏi quá rộng! Nay tôi dựa theo ư
nghĩa của những câu sẵn có trong kinh này như “ưng
ly nhất thiết tướng, phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tâm” (hăy nên ĺa hết thảy các
tướng để phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác), “ly nhất thiết tướng, tắc danh
chư Phật” (ĺa hết thảy các tướng th́ gọi
là chư Phật), “dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ
giả, tu nhất thiết thiện pháp, tắc đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (dùng
không có ta, không có người, không có chúng sanh, không có thọ
giả để tu hết thảy các thiện pháp, liền
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác), gom gọn
thành hai câu như sau: “Ĺa hết thảy các tướng,
tu hết thảy các thiện” chính là diệu tông để
nương
vào Thể mà khởi tu của kinh này! Ư chánh yếu
vẫn giống như lời
chú giải của tổ Trí Giả, nhưng là lời lẽ
sẵn có trong kinh, rơ ràng, dễ hiểu hơn! V́ thế,
đổi thành [như
vậy]. V́ sao nói là giống như lời chú giải của
tổ Trí Giả? Kinh này nêu ra một
Độ là Bố Thí để thâu nhiếp Lục Độ
vạn hạnh. Hành bố thí được gọi là “tu
hết thảy các điều thiện”, nhưng “ĺa hết
thảy các tướng” chính là trí huệ Thật Tướng.
Bởi lẽ, đối với pháp và phi pháp, hai đằng
đều chẳng giữ lấy, tức là ĺa hết thảy
các tướng, đúng là tương ứng với Thật
Tướng “chẳng có tướng, chẳng phải là
không có tướng”, tức là ĺa hết thảy các
tướng mà nếu chẳng do trí huệ Thật Tướng
th́ làm sao thực hiện được? Hăy nên biết: Cái
Tông duy nhất để tu trong kinh này chỉ là hai chữ “vô
trụ” mà thôi! Chỉ nêu ra “vô trụ” để
nói rơ Tông của kinh này th́ quán môn và hạnh môn của cả
bộ kinh đă gồm trọn trong ấy! Nhưng sợ
[chỉ nói hai chữ “vô trụ” là Tông th́ người
đọc] chẳng dễ lănh hội, chẳng bằng
dùng hai câu “ĺa hết thảy các tướng để tu
hết thảy các điều thiện” để nói th́
ư chỉ vô trụ sẽ minh bạch rạng ngời!
V́
sao nói vậy? Vô trụ là hai bên đều chẳng trụ,
cũng tức là Không đến tột cùng. Kinh có các câu “bất
ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp. Phi pháp, phi
phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ
lấy phi pháp. Chẳng phải
pháp, chẳng phải không là pháp),
cùng với “tức phi, thị danh” (tức chẳng phải,
th́ gọi là). Kinh lại nói: “Vô ngă tướng, vô pháp
tướng, diệc vô phi pháp tướng” (chẳng có
tướng ta, chẳng có tướng pháp, cũng chẳng
có tướng phi pháp). Bất luận là dựa theo Nhị
Biên để nói hay chú trọng Không để nói, đều
gọi là “ĺa hết thảy các tướng”, tức
là thật sự diễn tả sự vô trụ vậy!
Nhưng tiếp ngay theo câu “ư pháp ưng vô sở trụ”
(đối với pháp chớ nên trụ) là “hành ư bố
thí” (thực hiện bố thí), đấy chính
là ư “tu hết thảy các điều thiện”, cũng chính
là ư nghĩa “ngay cả Không cũng chẳng trụ”.
Quán môn và hạnh môn được nói trong cả bộ
kinh đều nhất loạt lấy “ĺa hết thảy
các tướng để tu hết thảy các điều
thiện” làm gốc. Chính là nói “Diệu Hữu chẳng
có, Chân Không chẳng không, ngăn và chiếu[28]
đồng thời, khéo hợp Trung Đạo Đệ
Nhất Nghĩa”. Đại Trí Độ Luận nói: “Ư
chỉ trọng yếu của Bát Nhă là ĺa hết thảy
các pháp mà chính là hết thảy các pháp”. “Ĺa hết thảy
các pháp” tức là ĺa hết thảy các tướng. “Chính
là hết thảy các pháp” tức là tu hết thảy điều
thiện. Nắm được hai câu “ĺa hết thảy
các tướng, tu hết thảy các điều thiện”
th́ ư chỉ trọng yếu của Bát Nhă sẽ nhờ
đó mà rạng ngời, sẽ có chỗ để thực
hiện tu tập. Do vậy, kinh này là cương yếu của
Bát Nhă.
Hơn
nữa, “ĺa hết thảy các tướng” th́ mới
là phát Vô Thượng Bồ Đề, mà đắc Vô
Thượng Bồ Đề cũng chẳng ngoài “ĺa hết
thảy các tướng”. V́ lẽ nào vậy? Do chẳng
có các tướng ‘nhân, ngă, chúng sanh, thọ giả’, tức
là ĺa hết thảy các tướng. Nhưng để ĺa
hết thảy các tướng, hăy nên thực hiện từ
tu hết thảy các điều thiện. Đấy chính
là ư nghĩa “vô thật phát xuất từ vô hư, vô vi
phát xuất từ hữu vi”. Do vậy, hai câu “ĺa hết
thảy tướng, tu hết thảy thiện” đă
bao quát chẳng sót hành tŕnh dùng Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
để từ bờ này vượt khỏi giữa ḍng,
đạt tới bờ kia. V́ thế nói: Đó là diệu
tông để nương vào Thể ḥng khởi tu vậy.
Nói chung, Minh Tông ắt tương ứng với Hiển Thể.
Thể của kinh đă là “sanh Thật Tướng”,
nhưng “ĺa hết thảy tướng” vốn là trí
huệ Thật Tướng. V́ thế, ĺa hết thảy
tướng, tu hết thảy thiện, Thật Tướng
sẽ từ đấy mà sanh. Do vậy, nói: “Ly nhất
thiết chư tướng, tắc danh chư Phật”
(ĺa hết thảy các tướng th́ gọi là chư Phật).
Cho nên nói: “Dĩ vô ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả, tu nhất
thiết thiện pháp, tắc đắc A Nậu Bồ
Đề” (dùng chẳng có “nhân, ngă, chúng sanh, thọ giả”
để tu hết thảy thiện pháp sẽ đắc
Vô Thượng Bồ Đề). Bởi lẽ, được
gọi là “chư
Phật”
là do [các Ngài] đă
đắc A Nậu Bồ Đề. A Nậu Bồ Đề
chính là Thật Tướng Bát Nhă. Ĺa hết thảy tướng,
tu hết thảy thiện là Quán Chiếu Bát Nhă. Do quán chiếu
mà chứng Thật Tướng. Nêu ra hai câu kinh văn này
để nói rơ cái Tông. Nếu đă nắm được
mối chính của cái lưới th́ sẽ có lớp lang,
chẳng rối ren vậy!
1.1.3.2.4. Biện Dụng
(biện định tác dụng)
Dụng
(用) là công dụng, lực
dụng, tức là nói tới hiệu quả thành tựu.
Tu ắt phải đạt được
Tông, v́ nếu chẳng như thế, sẽ chẳng thể
mong thành tựu hiệu quả. Đă hiểu rơ Tông trong sự
tu
hành rồi th́ hiệu quả thành tựu là như thế nào vậy? Hơn nữa, hiệu
quả thành tựu
vốn không chỉ là một mối, hăy nên biện
định hiệu quả nào lớn nhất. “Lớn nhất”
nghĩa là sao? Hiệu quả thành
tựu ấy tương ứng với cái Thể
của kinh. Hễ có cái Thể ấy, ắt có cái Dụng ấy. Nếu
Dụng chẳng phù hợp Thể, tức là công tu vẫn chưa
tới mức, cũng chẳng thể nói là thành tựu hiệu
quả được! V́ thế, chẳng nói Hiển Dụng
hoặc Minh Dụng, mà ắt phải nói là Biện Dụng
là v́ lẽ này!
Không
chỉ là như thế, Dụng từ Tông mà ra. Cái Tông
để tu thuộc về nhân, công dụng thuộc về
quả. Nhân như thế, th́ cái quả sau đó sẽ là
như thế. Nói Biện (辨) tức
là biện định cái hiệu quả ấy có phù hợp
với cái Thể của kinh hay không?
Tức là biện định tu cái nhân ấy
có phù hợp cái Thể của kinh hay không? Hăy nên biết:
Nói rơ cách tu th́ gọi là Minh Tông, tức nói rơ tông chỉ
để tu nhân ắt chẳng ĺa cái Thể của kinh.
Nói cách khác, pháp tu chủ yếu là cốt sao lấy cái Thể
của kinh làm Tông. Do vậy, phương pháp tu hành cần
phải ứng hợp với cái Thể của kinh đă
rơ ràng rồi! Nhưng nhân quả trước nay như một.
V́ thế, nói theo phía người học, hăy nên biện
định hiệu quả sẽ đạt được
có phù hợp với cái Thể của kinh hay không; liền
biết cái nhân để tu ấy có phù hợp cái Thể của
kinh hay không? Xét theo ư nghĩa của
kinh để nói, hăy nên từ trong kinh, biện định
cái nào là công dụng tương ứng với cái Thể của
kinh th́ mới là hiệu quả thành tựu giống như
cái Tông để tu tập. Tóm lại, Thể, Tông, Dụng
ắt phải nhất quán; nhưng danh xưng Thể, Tông,
Dụng là dựa theo đối tượng được
diễn đạt mà nói, tức là xét theo ư nghĩa trong kinh
để nói. Bởi lẽ, Hiển Thể
tức hiển lộ chỗ quy hướng của các ư
nghĩa trong kinh, tức là [nêu
bày] cái Thể chủ yếu của một
kinh. Minh Tông là nói rơ pháp tu chủ yếu do nương vào Thể
mà dấy khởi. Biện Dụng tức là biện định
công dụng lớn nhất đạt được do tu
cái nhân như kinh đă dạy. Nếu dựa theo người
tu để nói th́ Minh Tông chính là nói rơ sự tu tập
nơi nhân vị (địa vị tu nhân),
Biện Dụng là biện định sự chứng đắc
nơi quả địa. Hiển Thể là nêu rơ mục
đích nhân quả. Minh Tông là nói rơ khi thuộc nhân địa,
ắt phải
nên tu hành như thế đó, tức
là hướng theo mục đích mà hành. Biện Dụng là
biện định cái quả chứng được ắt
phải có công dụng như thế, tức là đạt
được mục đích. Hăy nên biết như thế!
Các
tông khác đối với tầng Biện Dụng này, hoặc
lược đi chẳng bàn tới, hoặc thay bằng một
cách nói khác. Như trong mười môn của tông Hiền Thủ,
có một môn là Giáo Khởi Nhân Duyên, Từ Ân Tông (Pháp Tướng
Duy Thức) cũng nói là Giáo Khởi Nhân Duyên,
đều là luận định công dụng của một
bộ kinh, nhưng điều được luận
định chưa tránh khỏi quá rườm rà! Nói theo
tông Thiên Thai, ngài Trí Giả chú giải kinh này, lấy hai chữ
“phá chấp” làm đại dụng của bản kinh
này. Phá Không Luận th́ nói: “Tác dụng của kinh là đoạn
nghi”. Tân Sớ th́ viết: “Dụng của kinh là vô trụ
sanh tâm”, lại quá giản lược, không gồm trọn
hết cái lượng của công dụng
được nói bởi kinh nghĩa. Hăy nên
biết: Sở dĩ đối với ba thứ Thể,
Tông, Dụng, ắt phải chú trọng
hiển lộ, nói rơ, biện luận, khiến cho người
nghe pháp có được phương châm, lại c̣n giúp
răn nhắc họ. Cố nhiên, không chỉ dùng vài chữ
để bao quát trọn hết ư chỉ được,
khiến cho họ hiểu rành rẽ cương yếu của
một kinh ở chỗ nào; [phần
Biện Dụng của một kinh] ắt
cần phải rơ ràng, dễ hiểu, khiến cho mắt
nh́n vào, tâm sẽ chấn động, có chỗ để
thực hiện tu tập. Quá rườm rà hay quá đại
lược, đều không thích hợp! Nay muốn biện
định tường tận đại dụng của
kinh này, hăy nên trước hết nói rơ cái gốc bệnh
khiến cho họ biến thành chúng sanh và chẳng thể
thoát khổ là ở chỗ nào.
Đức
Phật nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ
và giác tánh của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng,
chấp trước ngăn chướng mà chẳng thể
chứng đắc”. Mấy câu ấy đă nói tột bậc
triệt để. Ư Ngài là “chúng sanh đều có thể
thành Phật”. V́ sao vậy? Đều có trí huệ và
giác tánh của Như Lai, nhưng chẳng thể thành Phật
là v́ sao? Trí huệ và giác tánh Như Lai sẵn có bị vật
ngăn chướng. Đấy là nói rơ nguyên do trở thành
chúng sanh. Hết thảy chúng sanh đều có tánh ấy mà
chẳng tự biết. Dẫu biết, nhưng nếu Sở
Tri Chướng chưa trừ sạch, vẫn
chẳng thể chứng đắc.
Đấy là nói nguyên do [v́ sao] chẳng thể thoát khổ!
Vật gây chướng là ǵ vậy? Chính là vọng tưởng,
chấp trước. Đó là nói rơ cái gốc bệnh khiến
họ trở thành chúng sanh chịu khổ! Vài lời ngắn
ngủi đă nói nhất
loạt nói trọn hết! Vọng tưởng là tâm phân biệt,
chấp trước là Ngă Chấp và Pháp Chấp, tức cái
được gọi là Ngă Kiến. Thô là chấp trước
sắc thân, chính là Nhân Ngă Kiến, cho nên
chẳng thể thoát khỏi nỗi khổ
Phần Đoạn Sanh Tử. Tế là chấp trước
hết thảy các pháp, tức là Pháp Ngă Kiến, nên chẳng thể
thoát khỏi nỗi khổ Biến Dịch Sanh Tử. Không
chỉ là như thế, do ngă kiến chấp, khởi lên
phân biệt hư vọng. Do vậy, thuận theo ta th́ tham,
trái nghịch ta th́ sân, chẳng biết “vốn
chẳng có cái ǵ là Ngă”.
V́ thế gọi là Si, cũng gọi là “bất
giác”, bèn tạo đủ loại tội nghiệp, bị
chúng nó trói buộc, lôi dắt.
Nỗi khổ ấy càng quá mức, càng chẳng thể
thoát! Do đó, vọng tưởng và chấp trước
cũng càng ngày càng sâu, càng nặng, trí
huệ và giác tánh Như Lai vốn sẵn có càng ngày càng mê,
càng xa cách!
Vậy
th́ ngă kiến do ǵ mà dấy lên? Do chẳng thấu đạt
Nhất Chân pháp giới. Pháp giới chính là tứ thánh lục
phàm [hợp thành] mười pháp giới. Tướng của
mười pháp giới tuy sai biệt vô lượng,
nhưng tánh của mười pháp giới đều là
cùng một Chân Như. “Chẳng thấu đạt” là
chẳng biết. V́ thế, Khởi Tín Luận nói: “Do chẳng
thấu đạt một pháp giới mà ư niệm bất
giác dấy lên, bèn có vô minh”. Do chẳng thấu đạt,
nên gọi là “bất giác vô minh”. “Niệm
khởi” tức
là vọng tưởng, chấp trước. Chẳng thấu
đạt Nhất Chân pháp giới là cũng giống
như nói “chẳng biết [chúng
sanh ai nấy] đều cùng sẵn
đủ trí huệ và giác tánh của Như Lai”. V́
chẳng biết tánh thể vốn đồng, bèn dấy
lên ư niệm phân biệt nhân ngă; do vậy mà tạo tác nghiệp
lực, do vậy mà chuốc lấy khổ báo. Vậy th́
muốn thoát khổ báo, hăy nên tiêu trừ tội nghiệp.
Muốn tiêu tội nghiệp, phải nên trừ ngă kiến
đă rơ lắm rồi! Đức Phật v́ một đại
sự mà xuất thế; do vậy, Ngài thuyết pháp trong bốn
mươi chín năm chỉ v́ nói chuyện này. Kinh này là
cương yếu của hết thảy các pháp, ví như
kim cang có thể đoạn trừ. Tác dụng to lớn của
kinh cũng ở chỗ này!
Kinh có tên là Bát Nhă Ba La Mật, tức kinh này
có thể mở mang trí huệ “đưa đến bờ
kia” cho chúng sanh, ngơ hầu họ cùng đến bờ
kia. Trí ấy vốn sẵn đủ trong lư thể của
hết thảy chúng sanh, tức là chúng sanh ai nấy đều
có trí huệ và giác tánh của Như Lai, cho nên nói là “trí huệ
đạt tới bờ kia”. V́ vậy, hễ trí khai, liền
có thể đạt tới bờ kia. V́ sao vậy? Nếu trí ấy khai, tức
là kẻ bất giác đă giác, kẻ vô minh đă sáng suốt;
đấy chính là thông đạt Nhất Chân pháp giới.
Đó là từ căn bản mà phá ngă kiến, sẽ không Hoặc
nào chẳng đoạn! Bởi thế, dùng kim cang để
sánh ví. Vậy th́ khai trí ấy bằng cách nào? Hăy nên biết:
Phát đại bi tâm chính là khai trí ấy. V́ sao vậy? Do biết
hết thảy chúng sanh đều trọn đủ trí huệ
và giác tánh của Như Lai, chỉ v́ có chướng mà chưa chứng,
tức là biết tánh thể của chúng sanh đều
tương đồng. V́ vậy, trông thấy chúng sanh chịu khổ tức là chính
ḿnh đang chịu khổ! Thấy chúng sanh được
vui tức là chính ḿnh hưởng vui. Hễ có một chúng
sanh nào chưa chứng Như Lai, tức là tánh thể c̣n
thiếu khuyết. V́ thế, ắt phát tâm dẹp nỗi khổ ấy
cho người đó, ắt ban cho người ấy niềm
vui, ắt độ người đó thành Phật. Đấy
gọi là tâm đại bi, thường nói là “đồng
thể đại bi”. Có thể phát cái tâm ấy th́ gọi
là Thỉ Giác. Tuy nói là Thỉ Giác, nhưng cũng là Chánh
Giác. V́ thế, phát tâm đồng thể đại bi tức
là phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
có nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. V́ thế,
ĺa hết thảy các tướng th́ mới là phát tâm ấy.
Ĺa
hết thảy tướng là nói “cùng quy vào một tánh
Chân Như đồng nhất”. V́ sao nói vậy? Do thấy
chúng sanh có thể thành Phật, ắt sẽ độ họ,
tức là chẳng chấp lấy phi pháp, mà cũng chẳng
phải là không có
chúng sanh. Có Vô Thượng Bồ
Đề để đạt được, chính là ĺa vô
tướng, tức là lại biết chúng sanh vốn sẵn
đủ trí huệ và giác tánh của Như Lai, cho nên tuy
độ mà thật ra không ai được độ. Tuy
thành, mà thật sự chẳng có ǵ để thành, tức
là chẳng giữ lấy pháp, mà chẳng phải là chúng
sanh, đạt được Vô Thượng Bồ Đề
mà không ǵ để đạt được, đó là ĺa hữu
tướng! Tướng Hữu và Vô đều ĺa, tức
là hội quy vào tánh Chân Như, do khế hợp Thật
Tướng “vô tướng, vô bất tướng” (chẳng phải là tướng, chẳng
phải là không có tướng). Tức là khi vừa mới phát
tâm, cái tâm phân biệt đă tiêu tan, ngă kiến thô và tế
đều ngầm tiêu. V́ thế, sánh ví ư nghĩa của
kinh này với kim cang.
Thử
xem kinh này, vừa mở miệng liền dạy phát Vô
Thượng Bồ Đề tâm, diệt độ tất
cả chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn, nhưng thật
sự chẳng có chúng sanh diệt độ. Những
điều nói sau đó đều nhằm phát huy nghĩa
này, và quên hẳn nó là Bồ
Đề tâm, lại
chỉ thẳng nguồn tâm, khiến
cho [người nghe đều] hướng đến chỗ
“một niệm chẳng sanh” để khế nhập.
Như nửa sau bộ kinh này, vừa mở đầu liền
trừ khử sự chấp trước đối với việc phát Bồ
Đề tâm. Thậm chí nói: “Chẳng phải là ngă kiến
th́ mới gọi là ngă kiến”, tức là tung tích và bóng
dáng của ngă kiến hoàn toàn chẳng c̣n. V́ vậy, công dụng
cực đại đứng đầu của kinh này là
phá ngă.
Hết
thảy chúng sanh do chẳng hay biết mười pháp giới
có cùng một Pháp
Thân Chân Như, cứ chấp
có ta và người khác, dấy lên kiến chấp phân biệt,
bèn sanh ra Tam Độc, tạo vô lượng tội, hứng
chịu nỗi khổ ràng buộc bởi nghiệp, đọa
lạc luân hồi. Càng mê càng khổ, càng khổ lại càng
mê. Dẫu xưa kia có thiện căn, gặp thiện tri
thức truyền
dạy phát tâm, quy y Tam Bảo, nhưng v́ tội
nghiệp đời trước,
thường có chướng duyên trong ngoài, trùng điệp
xoay vần dấy lên, muốn tu cũng chẳng được,
dẫu tu cũng khó thành!
V́ thế, người tu hành sám hối nghiệp chướng
là điều tột bậc khẩn yếu. Các vị
đại Bồ Tát trong hội Hoa Nghiêm c̣n xếp môn này
vào hạnh nguyện, huống hồ phàm phu! Nhưng tội
nghiệp có tội có thể sám hối và cũng có cái chẳng
thể sám hối. Nếu là tội cực nặng, đă
trở thành định nghiệp, sám hối càng khó! Kinh dạy:
“Đoan tọa niệm Thật Tướng, thị danh
chân sám hối. Trọng tội nhược sương lộ,
huệ nhật năng tiêu trừ” (ngồi ngay, niệm
Thật Tướng. Đó là thật sám hối. Tội nặng
như sương móc, mặt trời huệ tiêu trừ).
Đấy là nói muốn tiêu trừ trọng tội, chỉ
niệm Thật Tướng là được, chẳng có
pháp nào khác để có thể sám hối. Nếu chỉ
nh́n theo kinh này, th́ dạy quán Không vẫn c̣n là cách nói nông cạn,
thiên kiến! Hăy nên biết kinh văn dạy “đừng
chấp Có và Không, cùng chiếu cả hai bên”,
đó gọi là niệm Thật Tướng. V́ lẽ nào vậy?
Thật Tướng là chẳng phải tướng, chẳng
phải không có tướng. Nếu chỉ quán Không tức
là chỉ quán vô tướng, chẳng quán “chẳng phải
không có tướng”, há có phải là niệm Thật Tướng
ư? Kinh sánh ví trí huệ niệm Thật Tướng như
vầng mặt trời, tức là dùng chuyện mặt trời
xoay chuyển trên
không, nhưng chẳng trụ vào hư không. Do đó, phẩm
[Phổ Hiền Bồ Tát] Hạnh
Nguyện dạy: “Diệc như nhật nguyệt bất
trụ không” (cũng như mặt trời, mặt
trăng chẳng trụ vào hư không). Nếu chỉ quán
Không tức là trụ vào Không, há có phải là ư nghĩa dùng mặt
trời làm thí dụ ư?
Hăy
nên biết trí huệ Thật Tướng sanh từ đại
bi. Do đại bi mà rộng tu Lục Độ, vạn hạnh,
đạt được vô lượng phước đức.
V́ thế, Huệ trong kinh văn có bao gồm phước
th́ mới tương ứng với niệm Thật Tướng.
Phước huệ song tu, quán Không mà chẳng trụ vào Không, sẽ như mặt
trời chói lọi, có thể trừ tối tăm, có thể
sanh thành vạn vật. Do
quán hạnh ấy có thể tiêu trừ tội nặng
như sương móc. Hăy nên biết như thế. Biết như
thế th́ là chánh tri. Công dụng của kinh này
cũng lại như thế. Thể của kinh đă là “sanh
Thật Tướng”, được gọi là Thật
Tướng Bát Nhă. Cái Tông trong sự tu
tập là “ĺa hết thảy các tướng, tu hết thảy
các thiện”, đó gọi là Quán Chiếu Bát Nhă, tức là niệm Thật Tướng
vậy! Bởi lẽ,“ĺa hết thảy tướng” chính là quán Không, tu huệ. “Tu hết thảy thiện”, chẳng
trụ Không, đó là tu phước. Quán niệm Thật
Tướng, phước huệ song tu, là sám hối chân thật.
Do vậy, có thể tiêu trừ trọng tội và định nghiệp th́ chướng duyên trong ngoài nhất
loạt tiêu sạch, có ai tu mà chẳng thành ư? Như kinh này dạy: “Thị
nhân tiên thế tội nghiệp, ưng đọa ác đạo,
dĩ kim thế nhân khinh tiện
cố, tiên thế tội nghiệp tắc vi tiêu diệt,
đương đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề” (người ấy do
tội nghiệp đời trước, đáng đọa
trong đường ác, do đời này bị người
đời khinh rẻ, tội nghiệp đời trước
tiêu diệt, sẽ đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác). Nói “ác đạo” tức là trọng tội.
Nói “ưng đọa” (đáng đọa) tức là
định nghiệp. May có thiện căn, đời này
chưa đọa, được nghe kinh này, hiểu sâu xa
nghĩa thú, có thể biết
cái Tông trong tu hành, phước và huệ cùng tiến. Do vậy,
có thể mắc tội nặng mà chịu báo nhẹ, túc
nghiệp tiêu diệt. V́ sao vậy? Nói theo phương diện
đối trị, do phước có thể diệt tội.
Nói theo Đệ Nhất Nghĩa, huệ có thể dẹp
trừ nghiệp. “Sẽ đắc Bồ Đề”
là nói hễ tu ắt thành! Do bởi lẽ ấy, kinh này lại
có công dụng cực đại, tức là “diệt tội
nghiệp”.
Hàng
Nhị Thừa có thể quán Không mà tự giác, phá Nhân Ngă Kiến,
nhưng Pháp Ngă Kiến vẫn c̣n. Do trí nông cạn, phá trừ
chẳng hết. Cái quả tột bậc nơi hiệu quả
ấy là chỉ có thể thành tựu A La Hán, hoặc Bích Chi
Phật. Trong những người Đại Thừa, tuy
có phá Không và Hữu mà chẳng trụ, không chỉ tự
giác, mà c̣n hành Lục Độ để giác ngộ người
khác, nhưng do
chưa thể phá sạch vô minh, tức là pháp ngă vi tế vẫn
chưa thể chuyển hóa, trừ khử, v́ chưa đắc
kim cang trí. Do vậy, chỉ là phần chứng Pháp Thân, vẫn
chưa rốt ráo. Kinh này nói là “thành tựu bậc nhất
hy hữu”, v́ gần
thành Chánh Đẳng Chánh Giác, chưa đạt tới Vô
Thượng! Nếu có thể thấu hiểu sâu xa
nghĩa thú của kinh này, tâm tin tưởng chẳng trái
nghịch, có thể tận lực thọ tŕ, v́ người
khác giải nói, đó chính là gánh vác Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác của Như Lai. Hăy nên biết đó
là người thành tựu pháp tối thượng hiếm
có bậc nhất, thậm chí sanh phước, diệt tội,
sẽ đắc Vô Thượng Bồ Đề. Do vậy,
công dụng cực đại của kinh này là có thể rốt
ráo thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác!
Gộp chung ba
đầu mối được biện
định, liệt kê trên đây, ước
lược thành tám chữ, tức là “phá ngă, diệt tội,
thành tựu Như Lai”. Đó là đại dụng của
kinh này, ngơ hầu có thể tương ứng với
đoạn văn nói kinh này có công đức vô
biên chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể tính kể!
Kinh dạy: “Cuồng tâm bất hiết, hiết tức
Bồ Đề” (tâm cuồng chẳng dứt, hễ dứt
th́ là Bồ Đề). Cổ đức cũng nói: “Chỉ
hết sạch phàm t́nh, chẳng
có sự hiểu biết của
bậc thánh nào khác”.
Cuồng tâm và
phàm t́nh chính là ngă kiến vọng tưởng, chấp
trước. Hăy nên biết chúng sanh vốn sẵn có trí huệ
và giác tánh của Như Lai, bất quá bị ngă kiến gây
chướng. Nếu trừ chướng ấy, giác tánh sẽ
vốn sẵn viên thành, trí huệ sẽ tự tại viên
minh, Như Lai cũng chính là thoát khỏi vỏ chứa vô
minh, viên măn hiển hiện đó thôi! V́ thế nói: “Cuồng
tâm chẳng dứt, hễ dứt tức là Bồ Đề”, chỉ
là hết sạch phàm t́nh, chẳng có sự hiểu biết của
bậc thánh nào khác. Do vậy, có vô lượng
pháp môn tu hành, nhưng
tông chỉ duy nhất là “trừ chướng” mà thôi! Nói thiết
thực, đại dụng của kinh này cũng chỉ là
trừ chướng mà thôi!
Nhưng
hễ
nói đến chướng th́ chúng vốn
sẵn có ba thứ; nói tới sự thành tựu th́ cũng
có thể tách thành ba:
- Một
là Hoặc Chướng, c̣n gọi là Phiền Năo Chướng,
tức Kiến Tư
Hoặc. Ngă kiến, biên kiến, tà kiến, Giới Thủ Kiến,
Kiến Thủ Kiến, tham, sân, si, mạn,
nghi, số lượng tới mười thứ, nhất
loạt là cái gốc của ngă kiến. V́ thế, phá Ngă th́
Hoặc Chướng trừ, trở thành Bát Nhă đức.
- Hai
là Nghiệp Chướng. Kinh này dạy: “Tiên thế tội
nghiệp, tắc vi tiêu diệt” (tội nghiệp đời
trước sẽ tiêu diệt). Do vậy, diệt tội
bèn trừ Nghiệp Chướng, trở thành Giải Thoát
đức.
- Ba
là Báo Chướng, Báo tức là báo thân khổ sở. Thành tựu
Như Lai tức là trừ Báo Chướng, trở thành Pháp
Thân đức.
V́
thế, tác dụng to lớn của kinh này là trừ tam
chướng, thành tựu tam đức. Nay
nêu ra “phá ngă, diệt tội, thành tựu Như Lai”
để nói [về đại dụng của kinh này] th́ sẽ
dễ hiểu, mà ư nghĩa “trừ ba chướng, thành
tựu ba đức” cũng được bao gồm
trong ấy.
Trong phần trước đă nói
ba điều là Thể, Tông, Dụng, ư
nghĩa nhất quán. V́ sao nhất quán?
Nay lại nói tổng hợp:
Phàm xét theo ư nghĩa được nói trong kinh, nhằm hiển lộ
sự quy hướng vào chủ thể, chính là “sanh Thật
Tướng”. Đấy là muốn
phát khởi người [có căn cơ] tối thượng
thừa trong Đại Thừa, chỉ bày mục đích
tu nhân chứng quả. Nếu tu theo cái Tông “ĺa hết thảy
tướng, tu hết thảy thiện”; xét theo ư
nghĩa trong kinh để nói, “ĺa hết thảy tướng”
th́ gọi là “vô tướng”. “Tu hết thảy thiện”
được gọi là “vô bất tướng”;
nhưng thiện pháp chính là phi thiện pháp, bèn gọi là thiện
pháp. V́ thế, nói rốt ráo: “Tu hết thảy thiện”
sẽ thâu nhiếp ư nghĩa “vô tướng, vô bất
tướng”; c̣n “ĺa hết thảy tướng” tức
là nghĩa “tướng và bất tướng đều
là không”, đúng là tương ứng với cái Thể “sanh ra Thật
Tướng” của
kinh. Bởi lẽ, ư nghĩa “sanh Thật Tướng”
rốt ráo cũng là “tướng và bất tướng
đều là không”, mà “sanh chính là vô sanh”. Nói theo phía người có thể tu tập, th́ chẳng
chấp vào hai bên, Không
đến tột cùng, tấn tu hướng tới mục
đích rốt ráo “sanh Thật Tướng”.
C̣n như biện định Dụng
là “phá ngă, diệt tội, thành tựu Như Lai”, nói
theo ư nghĩa của kinh sẽ là:
Do phá ngă mà đạt được
công dụng “ĺa
hết thảy các tướng”
do vọng tận,
t́nh không. “Diệt
tội”
là công dụng đạt được do tu hết thảy
các thiện,
do phước huệ tăng trưởng. Cũng có thể
hiểu “phá ngă, diệt tội” chính là công dụng
đáng nên đạt được do “ĺa tướng,
tu thiện”. Do công tu tập
Quán Chiếu Bát Nhă, tín tâm thanh tịnh, bèn sanh Thật Tướng.
Do chẳng chấp hai bên, tâm tương ứng với sự
thanh tịnh dứt bặt đối
đăi, sẽ phá một phần vô minh, chứng
một phần Pháp Thân. Tội nghiệp ngă kiến sanh từ
vô minh. Vô minh đă phá, ắt Hoặc Chướng và Nghiệp
Chướng dần tiêu, sẽ có thể chứng Pháp Thân.
Sơ chứng Pháp Thân chính là sanh Thật Tướng. C̣n như thành tựu
Như Lai, ắt là do công quán chiếu đă thuần, Thật
Tướng Bát Nhă viên măn hiện tiền, há có phải chỉ
như mặt trăng mới mọc ư? Nói theo người
tu, th́ là nhân viên quả măn, đă đạt được
mục đích, đạt tới bờ kia Niết Bàn.
Trên
đây là phần Biện Dụng, cũng lại nêu ra các ư
nghĩa chưa trọn hết trong Hiển Thể và Minh
Tông, và tổng hợp xuyên suốt Thể, Tông, Dụng,
phân biệt thành chủ thể và khách thể để
tŕnh bày nghĩa ấy đă xong!
1.1.3.2.5. Phán định
giáo tướng
Chia làm hai phần:
Tổng luận và phán giáo
1.1.3.2.5.1. Tổng luận
1.1.3.2.5.1.1. Giải
thích danh nghĩa
Chữ
Phán (判)
ở đây có hai nghĩa là “phân phán” (分判)
mang ư nghĩa “phân
biệt”, và “b́nh
phán” (評判)
tức là ư nghĩa “luận
định”.
“Phán giáo
tướng”
là phân biện luận, phân biệt chỉ
thú trong kinh, lại c̣n luận định thêm [chỉ thú ấy]
đáng thuộc vào loại nào? “Giáo” tức
là giáo hóa, tức nói đến lời lẽ trong kinh. Đức
Phật v́ giáo hóa chúng sanh mà thuyết pháp, các pháp do Ngài
đă nói được kết tập thành sách, gọi là
Kinh. V́ thế, gọi Kinh là Giáo. Đức Phật xuất
thế thí giáo, khiến cho chúng sanh trừ vô minh ngă kiến
chướng, chứng trí huệ và giác tánh Như Lai sẵn
có. Nói đơn giản, hết thảy Phật pháp chẳng
ngoài minh tâm kiến tánh mà thôi, nhưng tâm tánh cốt yếu
là tự chứng. Do [điều ấy] vốn chẳng thể
dùng ngôn thuyết để diễn tả được,
cho nên nói: “Thuyết pháp giả, vô pháp khả thuyết”
(thuyết pháp là không có pháp để có thể nói được).
Nhưng chúng sanh đă chẳng tự biết, nay muốn dạy
bảo, lại chẳng thể không nói. Chướng
có sâu và cạn, hễ nói ra lại chẳng
thể không ứng hợp “cơ”. V́ thế nói “đối
cơ tắc thuyết” (đúng cơ bèn nói). Do nói chẳng
đúng “cơ”, [người nghe] sẽ chẳng thể
liễu giải, dẫu nói mà có lợi ích ǵ đâu?
“Cơ”
(機) có hai nghĩa là
căn cơ và thời cơ. “Căn cơ” là nói tới
căn tánh, tức căn tánh của chúng sanh mỗi mỗi
bất đồng. V́ sao bất đồng? Chướng
có cạn, sâu, dày, mỏng! “Thời cơ” là nói tới
thời tiết. Lúc nào đó nói A Hàm, lúc nào đó nói
Phương Đẳng, trước Tiểu, sau Đại,
trước cạn,
sau sâu, khéo dẫn dụ dần dần, dẫn người
tiến nhập chỗ thù thắng, như thường nói
là “ba thời” hoặc “năm thời” vậy. Do đó, gọi
các pháp được nói trong bốn mươi chín năm
là “nhất đại thời giáo” (一代時教, các giáo pháp đúng thời
được nói trong một đời đức Phật).
“Nhất đại” là cuộc đời đức
Phật. “Thời giáo” có nghĩa là tùy từng thời
điểm mà thí giáo. Đă nói đúng với căn cơ,
đúng thời mà thí giáo; do vậy, kinh giáo bèn có Bán, Măn, Quyền,
Thật, Tiệm, Đốn, Thiên, Viên sai khác. Do vậy,
trong kinh Đại Niết Bàn, đă sánh ví tướng trạng
của nhất đại thời giáo hoặc là giống
như sữa, hoặc như lạc, hoặc như sanh tô,
thục tô, cũng như đề hồ! Đó gọi là “giáo
tướng”. Ví như sữa, lạc v.v… danh tướng tuy khác, nhưng diệu
dụng bổ thân, có ích cho con người là một. Kinh
giáo cũng thế. Tuy không ǵ chẳng có các danh tướng
Bán, Măn, Thiên, Viên v.v… sai khác, nhưng tông chỉ cốt sao
minh tâm kiến tánh là một. Đấy là dùng tướng
để nêu ra ư sâu, nhằm nói rơ “chớ
nên chấp chặt, câu nệ tướng chẳng đồng
nhất”, mà phải nên quy
vào tánh chẳng khác! Nhưng đă có đủ loại
tướng chẳng đồng nhất, cố nhiên là chớ
nên câu nệ, chấp trước, nhưng cũng chẳng
thể luông tuồng! V́ thế, cổ đức đối
với giáo tướng của hết thảy các kinh giáo,
chẳng nề hà nhọc nhằn, đều phân loại
để định luận. Tuy thấy cạn, thấy
sâu, mỗi vị đều do kiến địa mà nói khác
nhau, nhưng đều cốt ư tạo thuận tiện
cho người học, ngơ hầu họ cảm nhận
rành rành cương lănh, điều mục, thứ tự cạn
sâu trong nhất đại
thời giáo, sẽ có thể tuần tự tấn tu.
Đó là nỗi khổ tâm ban ân huệ tốt lành cho phường
hậu học, rất đáng bội phục! Đó chính là
“phán giáo tướng”.
Trên đây, giải thích danh nghĩa “phán giáo tướng”
đă xong!
1.1.3.2.5.1.2. Luận
chung về giáo tướng
Đại
pháp sau khi được truyền sang phương Đông,
cho đến cuối đời Tấn, đối với
chuyện phán biệt nhất đại thời giáo có
hơn mười tám thuyết, nhưng đều chẳng
truyền lại. Trong các trước thuật của cổ
đức, đôi khi có trích dẫn những thuyết ấy,
nhưng đều vụn vặt, chưa thấy
được toàn bộ. Tạm nh́n theo những điều
được trích dẫn, đại để là thô luận
đại cương mà thôi. Từ đời Đường
trở đi, [cách phán giáo] cùng được mọi
người tuân hành, khá hoàn bị là hai cách phán giáo của
tông Thiên Thai và tông Hiền Thủ. Tông Thiên Thai phán định
nhất đại thời giáo thành bốn loại là Tạng,
Thông, Biệt, Viên, người học gọi đó là Tứ
Giáo. Tông Hiền Thủ phán thành
năm loại là Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên,
người học gọi đó là Ngũ Giáo.
Tiểu (小) trong tông Hiền Thủ chính là Tạng (藏) trong tông Thiên Thai, tức là Tiểu Thừa
giáo. Ở đây không gọi là Tiểu v́ đối với
Tam Tạng Kinh, Luật, Luận Tiểu Thừa tuy
nghĩa lư chẳng viên măn bằng Đại Thừa,
nhưng Tam Tạng trọn đủ. Nếu gọi là Tiểu,
sợ người ta sẽ nghi Tam Tạng của họ
thiếu khuyết, chẳng đầy đủ. Do vậy,
chẳng gọi là Tiểu, mà nói là Tạng. Trong kinh Đại
Niết Bàn, đức Phật gọi Tiểu Thừa là
Bán Tự Giáo (半字教), Đại Thừa là Măn Tự Giáo (滿字教), do hàng
Tiểu Thừa chỉ hiểu Nhân Không, c̣n Đại Thừa
th́ Nhân lẫn Pháp đều không. Do vậy, dùng Bán và Măn
để phân biệt.
Thông
Giáo (通教) trong tông Thiên Thai chính là Thỉ Giáo (始教) trong tông Hiền Thủ. Từ giáo này
trở đi, đều là nói tới Đại Thừa. Gọi
là Thông, tức là nghĩa lư trong các kinh ấy dưới là
có thể thông với Tiểu Thừa, trên là có thể thông
với Viên và Biệt. Nói chung, [các kinh pháp ấy] nói các
nghĩa lư mà cả tam thừa đều
cùng có thể hành; do vậy, gọi là Thông, giống như
nói “phổ thông” vậy. Phàm những kinh nào chỉ nói
lư “Nhân và Pháp đều
là Không” th́ đều thuộc Thông Giáo. Quán
Không là sơ môn của Đại Thừa; do vậy, có tên
là Thỉ Giáo (Thỉ là khởi
đầu).
Đối
với cái được gọi là
Biệt Giáo, th́ Biệt (別) có
nghĩa là “đặc biệt”. Thỉ Giáo chỉ quán
Không, giống như Nhị Thừa. V́ thế nói là “tam
thừa cùng hành; do vậy gọi là Thông”. Nay th́ chẳng
chỉ quán Không, mà c̣n quán Giả Hữu, đó chẳng phải
là điều Nhị Thừa cùng hành. Do vậy, gọi là
Biệt. Hiền Thủ gọi [giáo pháp loại này] là Chung
Giáo (終教), nhằm chỉ rơ
người hành Bồ Tát đạo thoạt đầu
tuy quán Không, nhưng rốt cuộc chẳng trụ Không! Nói chung, hạnh môn
Đại Thừa từ đầu đến cuối chẳng
ĺa “sanh tử và Niết Bàn, hai đằng đều chẳng
trụ” đó thôi! Lại c̣n trước là tu từ Giả
nhập Không, kế đó từ Không ra khỏi Giả, mỗi
đằng tu hành riêng, chẳng như Viên Giáo “tu một
là tu hết thảy”. Do vậy, đều khác biệt với
Thông Giáo và Viên Giáo. Đó gọi là “dưới khác với
Thông Giáo, trên khác với Viên Giáo”; v́ thế được
gọi là Biệt Giáo.
Viên Giáo (圓教) chính
là như tông Thiên Thai nói “tức Không, tức Giả, tức
Trung, Tam Đế viên dung”. Tông Hiền Thủ nói là “Lư
Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại, một chính là hết
thảy, hết thảy chính là một”. Tóm lại, phàm
trong ư nghĩa của các kinh, thảy đều thâu nhiếp
những cái gọi là Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, tức
là bao gồm ư nghĩa của Tạng, Thông, Biệt, th́ là
Viên Giáo.
Tông
Hiền Thủ trong khoảng giữa Chung Giáo và Viên Giáo,
thêm vào Đốn Giáo (頓教).
Hễ kinh nghĩa nói “một niệm chẳng sanh, ngay
nơi bản thể chính là Phật”, chẳng theo thứ
tự th́ đều thuộc về Đốn Giáo. Chẳng
phải là tông Thiên Thai bỏ sót tầng này! Hăy nên biết
tông Thiên Thai phán giáo, chia thành hai loại là hóa pháp và hóa nghi. Hóa
pháp (化法) là pháp môn để giáo hóa, tức là Tạng,
Thông, Biệt, Viên, tức là nói đến nghĩa
thú được nói trong khi giáo hóa. Hóa nghi (化儀) là nghi thức giáo hóa, tức là Đốn,
Tiệm, Bí Mật, Bất Định. Nói theo
phía Phật, cùng lúc nói trọn hết là Đốn. Chia
thành thứ tự để nói là Tiệm (漸,
dần dần). Phóng quang để biểu
thị pháp là Bí Mật. Chẳng phải là nói quyết
định, đó là Bất Định. Nói theo
phương diện nghe pháp th́ hễ nghe liền chứng
triệt để; đó là Đốn. Nếu chẳng phải
vậy th́ là Tiệm. Tùy theo [căn cơ] từng loại
mà lănh ngộ th́ là Bất Định. Ai nấy chẳng biết
[sự lănh giải của nhau] th́ là Bí Mật.
Lại
c̣n khi nói nghĩa Đốn th́ cũng có nghĩa Tiệm.
Khi nói nghĩa Tiệm th́ cũng có nghĩa Đốn.
Người này nghe, coi đó là Đốn, người khác
cho là Tiệm. Vốn là nghĩa Đốn, [nhưng người
nghe] chỉ đạt được lợi ích thuộc
Tiệm. Tuy nói Thông Giáo, trong ấy gồm thâu Biệt và
Viên, cho đến khi nói Tạng Giáo cũng thế. Suy ra
các giáo khác, không ǵ chẳng đều như thế; đều
được gọi là Bí Mật hay Bất Định.
Tóm lại, tông Thiên Thai cho rằng trong tứ giáo Tạng,
Thông, Biệt, Viên, không ǵ chẳng có Đốn và Tiệm. V́ thế,
chẳng lập riêng một môn! V́
vậy, [tông Thiên Thai] dùng hóa pháp và hóa nghi, lại
c̣n thêm thông ngũ thời, biệt ngũ thời[29]
xen lẫn, kết hợp để phán định nhất
đại thời giáo. Do bởi lẽ này, phán giáo tỉ mỉ,
chặt chẽ, viên dung, không chi hơn tông Thiên Thai! Nhưng
nghĩa lư và sự tướng trong nhất đại thời
giáo [dẫu dùng cách phán giáo của tông Thiên Thai], vẫn có chỗ
thâu nhiếp chẳng trọn hết. Hăy nên biết việc
này chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu
rốt ráo. Tổ sư các tông chưa đạt tới
địa vị Phật, há có thể giống ngay như
Phật! Người đời sau chỉ nên chọn cách
hay khéo để tuân theo là được rồi! Trên
đây là luận định chung các giáo tướng đă
xong, tức là phần Tổng Luận đă xong! Tiếp
theo đây là chánh thức phán định giáo tướng của
kinh này.
1.1.3.2.5.2. Phán định
giáo tướng của kinh này
Tông Thiên Thai phán định kinh này là Thông, Biệt,
kiêm Viên. Tông Hiền Thủ th́ phán thuộc Thỉ Giáo,
cũng thông với Viên, đều chẳng tránh khỏi câu
nệ danh tướng, ngôn từ, chưa hoàn toàn phù hợp
khít khao nghĩa thú trong kinh. Nay muốn phán định giáo
tướng của kinh này như thế nào, chẳng thể
không trước hết nêu lên nghĩa thú của kinh này!
Đức
Phật nói kinh này nhằm khơi mở trí huệ và giác
tánh vốn sẵn có của chúng sanh, khôi phục “bản
lai diện mục”. Đúng là pháp bảo vô thượng
rất sâu để tiếp nối hưng thịnh ḍng giống
Phật, truyền thụ tâm ấn. Chỉ ngay một
điểm này, đă đủ chứng minh kinh này là giáo
pháp chí viên, cực
đốn. Do chí viên, cực đốn, nên những nghĩa được
gọi là Thông, Biệt, Thỉ, Chung, không ǵ chẳng gồm
thâu trọn vẹn, há nên thấy kinh có các nghĩa Thông, Thỉ v.v… để rồi chấp
chặt, câu nệ văn tự nói năng điên đảo,
bảo là kiêm Viên hay thông Viên ư?
Ư
chỉ chủ yếu trong kinh này chỉ là vô trụ. Vô trụ
tức là chẳng chấp trước. Do chẳng
chấp trước nên phá ngă kiến. V́ sao vậy? Do ngă kiến
chính là vọng tưởng, chấp trước, do trí huệ
và giác tánh của Như Lai bị ngă kiến gây chướng.
Nay muốn hiển tánh, ắt phải
trừ chướng này. V́ thế, ư chỉ
chủ yếu duy nhất chính là “dùng vô trụ để
phá ngă”. Trí và chướng chẳng cùng tồn tại. Do
muốn khai hiển trí huệ và giác tánh, cố
nhiên là phá trừ ngă kiến
chướng, nhưng khai và phá là nhất quán: Có thể phá
sẽ có thể khai; có thể khai sẽ có thể phá. Vậy
th́ khai cái trí ấy như thế nào? Trong phần trước
đă nói rồi đó: Chính là phát tâm đồng thể
đại bi. Bi và trí cùng đủ, đó chính là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm. Tâm ấy là
đồng thể bi; do vậy, rộng tu bố thí Lục
Độ nhằm diệt độ tất cả chúng
sanh, cùng chứng trí huệ và giác tánh của Như Lai,
nhưng chẳng chấp Không. Chứng trí huệ và giác tánh
của Như Lai tức là nhập Vô Dư Niết Bàn. Tâm ấy
chính là cái trí nơi Lư thể. V́ thế, tuy độ chúng
sanh nhập Vô Dư Niết Bàn, nhưng thật sự chẳng
có chúng sanh diệt độ, chẳng chấp trước
Có. Chẳng chấp trước Có th́ là vô tướng. Chẳng
chấp trước Không, tức là vô bất tướng. “Vô
tướng, vô bất tướng” chính là tướng
chân thật nơi trí huệ và giác tánh của Như Lai. V́
thế, kinh này vừa mở đầu liền nói rơ
nghĩa này. Lại c̣n dạy rơ ràng rằng: “Bất
ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ
nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp).
Đó là nói
theo phương diện “chẳng
chấp trước hai bên Có và Không”. Hễ
có chấp trước, ngă kiến tồn tại. Chẳng
chấp trước điều ǵ, ngă kiến liền phá.
Bởi lẽ, diệt độ vô lượng vô số vô
biên chúng sanh, nhưng thật ra chẳng có chúng sanh
được diệt độ; đó là không có các tướng
ta,
người v.v… Thật sự chẳng có diệt
độ, tuy rộng
hành pháp Lục Độ, nhưng chẳng nghĩ tới
pháp, tức là chẳng có pháp tướng. Tuy thật sự
chẳng diệt độ, nhưng độ chẳng ngớt,
tức cũng chẳng phải là “không
có pháp tướng”.
Không có các tướng ngă, nhân v.v… tức là chẳng có Nhân
Ngă
Kiến.
Pháp và phi pháp đều không, chính là chẳng có Pháp
Ngă
Kiến.
Nói
cách khác, chẳng có các tướng ngă, nhân v.v… “Không có các
tướng ngă, nhân” v.v… tức là Ngă Không. “Không có pháp tướng”
th́ gọi là Pháp Không. Cũng chẳng phải là phi pháp
tướng th́ gọi là Không Không, cũng gọi là Trùng
Không. Đấy là nói Không đến tột cùng. Do vậy,
xem ra Không trong kinh này chính là Không mà “ngay cả cái Không
cũng là Không”, tức là Không tới tột cùng. “Không
tới tột cùng” tức là ngăn che cả hai bên,
[đồng thời] chiếu cả hai bên. Đó gọi là
Có và Không đều chẳng chấp, viên tới mức tột
bậc! Há có nên luận định [kinh này] giống như
Thỉ Giáo chỉ quán Không ư?
Lại
xem lời mở đầu của kinh này th́ nghĩa Tam
Không đồng thời đều trọn đủ.
Đó là “một tu, hết thảy tu”. Lại há có phải
là nghĩa “trước là tu từ Giả nhập Không. Kế
đó, tu từ Không xuất Giả, cách biệt chẳng
dung thông” của Biệt Giáo ư? Lại c̣n là hễ Không th́ đạt tới
tột cùng, chẳng chấp vào hai bên, được gọi
là “ĺa hết thảy tướng”. Ắt phải ĺa
hết thảy tướng th́ mới là phát Bồ Đề
tâm, nhưng ĺa hết thảy tướng bèn gọi là
chư Phật! Do hết thảy tướng Không và Hữu
đă ĺa, cái tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh bèn sanh Thật
Tướng. Thật Tướng sanh tức là vô minh ngă kiến
bị
phá, Chân Như Pháp Thân hiển hiện.
V́ thế gọi là “chư Phật”. Do vậy nói “nhược
kiến chư tướng phi tướng, tức kiến
Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải
là tướng, tức thấy Như Lai). Không chỉ là
viên tột bậc, mà cũng là đốn cùng cực!
Ĺa
hết thảy tướng là phát vô thượng Bồ
Đề tâm. Do “che,
chiếu”
đồng thời, phù hợp khít khao Trung Đạo. Thậm
chí Bồ Đề tâm cũng chẳng chấp, tức là
Trung cũng chẳng lập! Cho tới nói: “Hết thảy
các pháp đều là Phật pháp”. Cái gọi là “hết
thảy các pháp” cũng lại “tức phi” (chẳng
phải) mà là “thị danh” (th́ gọi là). Đấy
chính là như tông Thiên Thai nói: “Một không th́ hết thảy
không. Một giả th́ hết thảy giả. Một trung
th́ hết thảy trung”, đạt tới ư nghĩa cực
viên dung. Nói Như Lai có nghĩa là “các pháp Như”. Lại
nói: “Thị pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ”
(pháp ấy b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp), tức
là ư nghĩa “Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại,
một tức hết thảy, hết thảy tức một”
của tông Hiền Thủ đạt tới mức tột
bậc viên dung. Toàn thể những điều được
nói trong kinh đều là ư nghĩa chí cực viên đốn,
thế mà lại phán là “kiêm Viên”,
hoặc “thông
với Viên”,
vậy nếu kinh có chỗ chưa viên trọn vẹn th́
là chỗ nào vậy?
Tóm
lại, ư nghĩa của cả kinh không ǵ chẳng nhằm
xiển phát vô trụ viên
đốn, nhưng nửa đầu phần nhiều dựa
theo sự trừ khử chấp trước đối với
cảnh. “Cảnh” là hết thảy các tướng. Lục
trần, lục căn, lục thức, cho đến Có,
Không, cũng Có cũng Không, chẳng Có chẳng Không đều
được gồm thâu trong ấy. V́ vậy, đối
với ư nghĩa của nửa đầu bản kinh, có thể
nói giản lược, khái quát như thế này: “Hết
thảy đều phủ định, chẳng giữ lấy
tướng”. Do chẳng giữ lấy, cho nên hết thảy
đều “chẳng phải”. “Đều chẳng phải,
không giữ lấy” th́ vô minh, ngă kiến bị phá, chánh
trí Quán Chiếu Bát Nhă sáng vằng vặc vậy. Nửa sau
[của kinh Kim Cang] xét theo phương diện chấp
trước đối với tâm. “Tâm” là Bồ Đề
tâm, tam tế tâm (tâm quá khứ, hiện tại, vị lai),
các tâm có cái để phát, để đắc, hết thảy
phân biệt, chấp trước v.v… sẽ
đều thâu nhiếp trong ấy. V́
thế, ư nghĩa của nửa sau kinh có thể nói giản
lược, khái quát như thế này: “Hết thảy
đều là, nơi tướng chẳng sanh”. Do chẳng
sanh, nên đều là! “Đều là” nhưng chẳng
sanh th́ vô minh, ngă kiến phá sạch, lư thể Thật
Tướng Bát Nhă toàn thể hiển hiện rạng ngời.
V́ thế, chỉ dạy diễn nói như thế nào, kết
lại bằng hai câu rằng: “Bất thủ ư tướng,
như như bất động” (chẳng giữ lấy
tướng, như như bất động).
Thoạt
nh́n th́ dường như do không giữ lấy, cho
nên sau đó bất động; thật ra, ắt phải
là có thể quán bất động th́ mới có thể chẳng
giữ lấy! Nghĩa này đă từng được nêu
tỏ trong nửa bộ trước, như nói: “Nhược
tâm thủ tướng, tắc vi trước ngă, nhân,
chúng sanh, thọ giả” (nếu
tâm giữ lấy tướng, sẽ vướng mắc
ta, người, chúng sanh, thọ giả) chính là nói về
nghĩa này. Bởi lẽ, tâm động bèn giữ lấy,
giữ lấy sẽ chấp tướng. V́ thế, muốn
cho chẳng chấp, ắt phải nên chẳng giữ lấy.
Muốn chẳng giữ lấy, tâm hăy nên bất động.
Có thể thấy nghĩa trước sau nhất trí, bất
quá xét theo tướng văn tự, chẳng có thứ tự
cạn hay sâu, chỉ nhằm thuận tiện cho người
nghe pháp thấy cạn hay thấy sâu đó thôi!
Trong
phần trước đă nói, kinh này là pháp bảo vô thượng
để tiếp nối hưng thịnh Phật chủng,
truyền thụ tâm ấn. Chỉ ngay một điểm
này, đă chứng tỏ kinh này là giáo pháp chí viên cực
đốn. Nói như vậy chẳng phải là vô căn cứ!
Do kinh này đă nhiều lượt nói như thế.
Như nói: “Nhất thiết chư Phật, cập
chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
pháp, giai tùng thử kinh xuất” (Hết thảy chư
Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của
chư Phật đều từ kinh này mà ra). Lại nói: “Thị
kinh hữu bất khả tư nghị, bất khả
xưng lượng, vô biên công đức. Như Lai vị
phát Đại Thừa giả thuyết, vị phát tối
thượng thừa giả thuyết. Nhược hữu
nhân năng thọ tŕ, độc tụng, quảng vị
nhân thuyết,
Như Lai tất tri thị nhân, tất kiến thị nhân
giai thành tựu bất khả lượng, bất khả
xưng, vô hữu biên, bất khả tư nghị công
đức. Như thị nhân đẳng tắc vi hà đảm
Như Lai A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”
(Kinh này có công đức chẳng
thể nghĩ bàn, chẳng thể tính kể, vô biên. Như
Lai v́ người phát Đại Thừa mà nói, v́ người
phát tối thượng thừa mà nói. Nếu có ai thọ
tŕ, đọc tụng, rộng v́ kẻ khác nói, Như Lai ắt
biết người ấy, ắt thấy người ấy
đều thành tựu chẳng thể lường, chẳng
thể nói, chẳng có bờ mé, chẳng thể nghĩ bàn
công đức. Những người như thế gánh vác
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai).
Lại nói: “Tiên thế tội nghiệp, tắc vi tiêu diệt,
đương đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề” (tội nghiệp đời trước sẽ
bị tiêu diệt, sẽ đắc Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác). Lại nói: “Đương tri thị
nhân thành tựu tối thượng đệ nhất hy hữu
chi pháp” (Hăy nên biết người ấy thành tựu
pháp tối thượng hy hữu bậc nhất). Lại
nói: “Thị kinh nghĩa bất khả tư nghị, quả
báo diệc bất khả tư nghị” (Ư nghĩa của
kinh này chẳng thể nghĩ bàn, quả báo cũng chẳng
thể nghĩ bàn)!
Nói “chư Phật từ
kinh này mà ra”,
nói “gánh vác Như Lai, sẽ
đắc Bồ Đề”,
mà chẳng phải là tiếp nối hưng thịnh ḍng giống
Phật ư? Nói “Như
Lai v́ người phát Đại Thừa tối thượng
thừa mà nói”,
chẳng phải là truyền trao tâm ấn ư? Nói “kinh nghĩa, quả
báo, công đức, thành tựu, đều chẳng thể
nghĩ bàn”,
chẳng phải là vô thượng pháp bảo ư? Chẳng
phải là chí cực viên đốn, há đáng nói như vậy
ư? Lại
c̣n nói rơ ràng “pháp Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật
đều từ kinh này mà ra”, tức
là các kinh giáo viên đốn đều được thâu
nhiếp trong kinh này. Kinh này có thể thâu nhiếp hết thảy
các kinh giáo, hết thảy kinh giáo chẳng thể nhiếp
lời dạy trong kinh này. Vậy th́ chí viên cực đốn,
kinh nào có thể vượt trội kinh này? Hăy nên tin lời
Phật chẳng hề lừa dối.
V́ thế, nay kính cẩn tuân lời Phật chỉ dạy,
phán định kinh này là đại giáo tâm lẫn cảnh
đều cùng sâu kín, ngăn và chiếu đồng thời,
huệ thấu triệt Tam Không, công trọn
vẹn vạn hạnh, chí viên cực đốn.
Hết thảy các loại giáo nghĩa Tạng, Thông, Biệt,
Viên [như trong cách phán giáo của tông Thiên Thai], Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên [theo cách
phán định của tông Hiền Thủ] đều nhất loạt thâu nhiếp trọn hết.
Tướng của kinh quả thật như vô thượng
đề hồ, tức là sữa, lạc, sanh tô, thục
tô đều chẳng sánh bằng!
1.2. Giải thích nhân
đề (giải thích về người dịch kinh)
Diêu
Tần Tam Tạng pháp sư Cưu Ma La Thập dịch.
姚秦三藏法師鳩摩羅什譯。
Thời
Tấn, trong th́ có các vương tranh giành quyền lực[30],
ngoài th́ có Ngũ Hồ Loạn Hoa[31].
Do vậy, quần hùng cát cứ[32],
cả nước nhiễu loạn. Suy bại đến nỗi
cuối đời Đông Tấn, phương Bắc từ
lâu đă ch́m đắm thành dị vực (異域, quốc
gia của các dân tộc khác), trọn chẳng có ngày an ổn.
Trước sau có mười sáu nước. Diêu Tần
chính là một trong mười sáu nước ấy. Cho tới
khi Lưu Dụ diệt nhà Tấn, xưng quốc hiệu
là Tống, các nhà Tề, Lương, Trần kế tiếp,
gọi là thời Nam Bắc Triều. Sau đó, nhà Tùy thống
nhất đất nước, quy vào nhà Đường,
dân chúng mới được thảnh thơi đôi chút!
Nhà
Diêu Tần đóng đô tại Trường An, quốc hiệu
là Tần. Nhằm phân biệt với nhà Tiền Tần của
họ Phù trước đó, nên gọi là Hậu Tần,
c̣n gọi là Diêu Tần, v́ quốc chúa họ Diêu. Thuở
đó, vào năm Kiến Nguyên thứ chín (370, cũng có sách
nói là năm thứ mười ba) dưới đời
Phù Kiên nhà Tiền Tần, có sao lạ xuất hiện thuộc
phận dă[33]
Tây Vực. Quan Thái Sử[34]
tâu rằng: “Sẽ có bậc đại đức trí huệ
vào giúp Trung Quốc”. Phù Kiên nói: “Trẫm nghe nói xứ
Quy Tư[35]
có ngài La Thập, Tương Dương có Đạo An, há
chẳng phải là hai người ấy ư?” Do vậy,
trước là lễ thỉnh ngài Đạo An. Lại sai
Kiêu Kỵ Tướng Quân[36]
Lữ Quang dẫn bảy vạn binh chinh phạt Quy Tư,
ư mong có được ngài La Thập. Quy Tư thua trận,
Lữ Quang bắt được ngài La Thập, về tới
Tây Lương[37]
th́ nghe Phù Kiên đă bị Diêu Trành[38]
sát hại. Lữ Quang bèn chiếm đất Lương,
xưng là Tam Hà Vương, và giữ ngài La Thập lại.
Diêu Trành đă giết Phù Kiên, xưng đế, nhiều
lượt xin đón ngài La Thập, nhưng Lữ Quang chẳng
chấp thuận. Diêu Trành tuất[39],
con ông ta là Diêu Hưng nối ngôi, lại thỉnh, [Lữ
Quang] vẫn chẳng chấp thuận. Sau khi Lữ Quang chết,
truyền ngôi cho Lữ Long. Diêu Hưng chinh phạt Tam Hà,
bèn đón ngài La Thập về Trường An, tôn làm quốc
sư, sai các sa-môn như Tăng Lược, Tăng Duệ,
Tăng Triệu v.v… hơn tám trăm người tụ tập
làm môn hạ của ngài La Thập, hưng khởi chuyện
dịch kinh to lớn. Khi đó, nhằm năm Hoằng Thỉ
thứ ba (401) nhà Diêu Tần. Pháp vận ở Trung Hoa nhờ
đó mà hưng thịnh. Trong Phật giáo, mối quan hệ
to lớn không ǵ hơn được chuyện này. Khi
Sư ở Tây Lương, Lữ Quang chỉ coi ngài La Thập
là bậc đa mưu túc kế nên coi trọng, thoạt
đầu chẳng hoằng đạo. Diêu Trành cũng v́
nghe tiếng ngài La Thập giỏi mưu kế mà thỉnh
vời, c̣n Diêu Hưng là người tín
phụng Tam Bảo.
Phàm
người có thể hoằng dương Phật pháp th́ gọi
là pháp sư. Tam Tạng Kinh, Luật, Luận đều
thông, gọi là Tam Tạng pháp sư, thanh danh càng long trọng.
Ngài Cưu Ma La Thập, nói đủ
theo âm tiếng Phạn là Cưu Ma La Thập Bà (Kumārajīva), Thập Bà c̣n phiên âm là Kỳ Bà. Cha Ngài tên Cưu Ma La
Viêm (Kumārāyana), người xứ Thiên Trúc. Gia tộc nhiều đời
làm tướng quốc, [Cưu
Ma La Viêm] sắp kế vị làm tướng quốc, bèn tạ
tuyệt, lánh ḿnh xuất gia, sang phương
Đông, đến vùng Thông Lănh (Pamir). Quốc vương Quy
Tư nghe Ngài vứt bỏ vinh hoa, bèn
nghênh đón, thỉnh làm quốc sư, cưỡng ép lấy
em gái vua tên là Kỳ Bà (Jīvaka)
làm vợ, sanh ra ngài La Thập. Do ghép tên cả cha lẫn mẹ,
nên tên là Cưu Ma La Kỳ Bà. Tập tục Thiên Trúc vẫn
c̣n như thế. Sau đó, mẹ
Ngài lại sanh một trai tên là Phất Sa Đề
Bà, do mộ đạo khổ hạnh bèn xuất gia. Khi
đó, ngài La Thập bảy tuổi, cũng theo mẹ xuất
gia. Cưu Ma La Thập có nghĩa là Đồng Thọ (童壽), ư nói tuổi c̣n
thơ ấu mà có đức hạnh của một bậc lăo
thành. Mỗi ngày, Sư tụng một ngàn bài kệ gồm
ba vạn hai ngàn chữ (mỗi bài kệ
có ba mươi tám chữ), tự thông hiểu ư nghĩa.
Sư theo mẹ tới nước Kế Tân (Kaśmīra), lễ ngài Bàn Đầu Đạt Đa (Bandhudatta)
làm thầy. Ngoại đạo công
kích, vấn nạn, Sư đều có thể chiết phục
họ. Quốc vương hằng ngày dâng cúng đồ
thượng diệu, Tăng chúng trong chùa nơi Ngài ở hầu như là đại tăng năm vị,
Sa-di mười vị để lo quét dọn giống
như đệ tử. Đủ thấy Ngài được
tôn sùng như thế đó. Năm Ngài mười hai tuổi,
lại theo mẹ trở về Quy Tư, sang chơi xứ
Sa Lặc (Shule)[40],
giáo nghĩa Tiểu Thừa không ǵ chẳng thông đạt.
Vua Sa Lặc thỉnh Sư thăng ṭa thuyết pháp. Hễ
rảnh rang, Sư xem khắp các kinh luận ngoại đạo,
tứ Vi Đà, ngũ minh, âm dương, tinh tú, toán số,
không ǵ chẳng đều thông thạo trọn vẹn.
Sư khéo thấu đạt cát, hung, lời lẽ như sấm
truyền, nhưng tánh t́nh phóng khoáng, chẳng câu nệ những
điều vụn vặt. Người tu hành rất ngờ vực, nhưng ngài La Thập học vấn khéo dung thông nơi
tâm, chưa từng để ư. Khi
đó, có ngài Tu Da Lợi Tô Ma (Sūryasoma) chuyên
hoằng truyền Đại Thừa, ngài La Thập
cũng tôn sùng, tuân phụng, bèn chuyên chú trọng nơi
Phương Đẳng, học tập hai bộ luận
là Trung Luận và Bách Luận, cũng như Thập Nhị
Môn Luận v.v… Vua Quy Tư nghênh thỉnh Sư trở về
nước giảng kinh. Tuổi hai mươi, Sư thọ
giới, theo ngài Ty Ma La Xoa (Vimalākṣa) học
Thập Tụng Luật. Khi đó, mẹ Ngài từ biệt
vua Quy Tư
để sang Thiên Trúc, bà đă chứng Tam Quả.
Lúc sắp rời đi, bà bảo ngài La Thập: “Giáo pháp
Phương Đẳng sâu thẳm hăy nên xiển
dương to lớn tại Chấn Đán (Trung Hoa), truyền
sang Đông Độ chỉ do sức của con. Nhưng sẽ
chẳng có lợi cho bản thân, biết làm thế nào đây?”
Ngài La Thập thưa: “Đạo của bậc Đại
Sĩ lợi lạc mọi người mà quên thân, ắt sẽ
khiến cho sự giáo hóa to lớn được lưu
truyền, gột tẩy cho kẻ ngu muội phàm tục
giác ngộ. Dẫu thân con rơi vào ḷ than, vạc dầu,
khổ sở vẫn chẳng hối hận!” Sư bèn ở
lại Quy Tư.
Về
sau, Sư ở
nơi cung điện cũ bên cạnh chùa, đầu tiên
t́m được bản kinh Phóng Quang, bèn đọc. Ma
đến che chữ, chỉ thấy giấy trắng. Tâm
Ngài càng kiên cố, ma rời đi, chữ hiển hiện,
Sư bèn tụng đọc rộng răi kinh luận Đại
Thừa, thấu hiểu chỗ bí áo. Vua Quy Tư v́ Sư tạo
ṭa sư tử bằng vàng, dùng gấm
Đại Tần phủ lên, thỉnh ngài La Thập ngự
lên đó thuyết pháp. Ngài Bàn Đầu Đạt Đa chẳng ngại đường xa, t́m tới.
Khi đó ngài La Thập đang muốn t́m thầy để
thưa bảo Đại Thừa. Do vậy, cùng ngài Đạt
Đa biện luận giáo nghĩa Tiểu Thừa và Đại
Thừa để đền đáp thầy khổ công t́m
tới. Suốt hơn một tháng, thầy mới tin phục.
Thầy tôn ngược ngài La Thập làm thầy,
bảo: “Ta là thầy dạy Tiểu Thừa của ḥa
thượng, ḥa thượng là thầy dạy Đại
Thừa của ta”.
Mỗi
lần ngài La Thập tới các nước giảng nói, các
vua đều quỳ rạp bên ṭa để ngài La Thập
giẫm lên mà thăng ṭa. Trọng vọng như thế
đó! Đạo của ngài La Thập lưu truyền tại
Tây Vực, mà danh tiếng lan khắp Đông Độ. Do vậy,
Phù Kiên nhà Tiền Tần ắt mong có được
Sư. Nhưng Lữ Quang vốn chẳng tin Phật, tuy có
được ngài La Thập, đối xử tàn ngược
đủ mọi cách, Sư đều chịu đựng.
Sau đó, do lời Ngài nói ra không ǵ chẳng ứng nghiệm,
Lữ Quang mới lấy làm lạ.
Diêu
Hưng sùng mộ Tam Bảo từ bé, đă đón
được Sư tới Trường An, bèn thỉnh
Sư trụ tại vườn Tiêu Dao
để dịch kinh, và sai các vị danh
tăng như Tăng Duệ, Tăng Triệu v.v… học hỏi
đạo của ngài La Thập. Từ thời Hán Minh
Đế, trải qua các triều đại Ngụy, Tấn,
kinh luận dịch ra thường là văn tự lủng
củng, nghĩa lư trúc trắc. Ngài La Thập xem qua, thấy
phần nhiều chẳng tương ứng với bản
tiếng Phạn, bèn sai Tăng Lược, Tăng Thiên,
Đạo Hằng, Đạo Tiêu, Tăng Duệ, Tăng
Triệu v.v… dịch trước bộ Đại Phẩm
[Bát Nhă]. Diêu Hưng cũng tự cầm kinh đối chiếu.
Bản dịch mới khác với bản dịch cũ,
nghĩa lư đều viên thông. Tâm mọi người khiếp
phục, không ai chẳng
hân hoan khen ngợi. Diêu Hưng lại tự soạn Thông
Tam Thế Luận để chỉ bày lư nhân quả. Từ
hàng vương công trở xuống, ai nấy đều
khen ngợi đạo phong của Ngài. Họ nhiều
lượt thỉnh ngài La Thập giảng nói các bản dịch
mới tại Đại Tự ở Trường An. Do
ngài La Thập thông thạo tiếng Hán, dịch các kinh luận
hơn ba trăm quyển.
Danh tăng Đạo Sanh huệ giải đă thâm nhập
chỗ tinh vi, đặc biệt vào Quan Trung, thỉnh ngài
La Thập xác quyết. Cao tăng Huệ Viễn ở
Lư Sơn cũng thường gởi thư cho ngài La Thập
thưa hỏi những chỗ nghi vấn đối với
ư nghĩa trong kinh. Ngài La Thập thường bảo
Tăng Duệ: “Phương Tây chú trọng văn tự
sao cho vần điệu thánh thót, coi có thể phổ thành
nhạc là khéo. Hễ yết kiến quốc vương, ắt
có lời
tán thán đức. Nghi thức yết kiến Phật th́
chú trọng ca ngợi, tán thán. Kệ tụng trong kinh đều
theo thể lệ ấy. Đổi từ Phạn sang Hán,
đă đánh mất văn từ đẹp đẽ ấy.
Tuy nêu được đại ư, nhưng văn thể rất
khác biệt. Giống như nhai cơm trao cho người
khác, không chỉ đánh mất mùi vị, mà c̣n khiến
người khác buồn nôn!”
Diêu
Hưng lo pháp chủng không có người kế tục,
đem mười kỹ nữ, ép Sư tiếp nhận. Từ
đấy, Sư chẳng ở trong tăng phường,
lập nhà riêng để ở. Mỗi khi đến giảng
nói, thường tự nói trước: “Ví như trong bùn thối
sanh ra hoa sen,
chỉ nhận lấy hoa sen, đừng lấy bùn thối”.
Hoặc có người thấy Sư ở chung với nữ
nhân, chẳng biết rốt cuộc là như thế nào, [đem ḷng ngờ
vực]. Sư bốc một nắm kim, bảo
rằng: “Có thể nuốt mớ kim này hay không? Nếu
chẳng thể, sao có thể kham học theo tôi!” Do vậy
biết ngài La Thập v́ hoằng dương đại
pháp, bất đắc dĩ tạm thị hiện tùy
duyên, chứ thật ra Ngài ở trong bùn lầy mà chẳng
nhiễm, há có thể do h́nh tích mà ngờ vực Ngài ư?
Ngài mất vào ngày Hai Mươi tháng Tám năm Hoằng Thỉ
11 (409). Lúc sắp nhập diệt, bảo đại chúng rằng:
“Chính ḿnh c̣n tối tăm, mà
lầm lạc dấn ḿnh phiên dịch.
Nếu truyền dịch chẳng sai, sẽ khiến cho sau
khi thiêu thân, cái lưỡi chẳng nát”.
Trà-tỳ, quả là như vậy!
Ngài
dịch tất cả chín mươi tám bộ kinh luận,
hơn ba trăm chín mươi quyển. Về sau, có
người xứ Thiên Trúc đến nói: “Chỗ ngài La
Thập am hiểu, mười phần chẳng lộ
ra một phần”. Kinh này do Ngài dịch.
Về sau, trải qua các đời Nguyên Ngụy, Trần,
Tùy, lại được dịch lần nữa. Đời
Đường lại có hai bản dịch. Trước
sau gồm sáu bản dịch[41].
Nhưng xưa nay được lưu thông, chỉ có bản
Tần dịch (bản dịch của ngài La Thập).
Đối với các sự thực trong cuộc đời
ngài La Thập, trong trước tác của cổ nhân thường
có nhắc tới, nhưng khá nhiều lời lẽ lạ
lùng trái ngược với các ghi chép trong Cao Tăng Truyện.
Ở đây, tôi lược thuật, chẳng khảo sát
tường tận.
Chúng
ta nh́n vào chuyện dịch kinh của ngài La Thập, có hai
chuyện đáng chú trọng:
1) Dịch
kinh có hai trường phái lớn. Một tức là trường
phái của ngài La Thập, dung hội ư nghĩa của cả
bộ kinh, dùng thể tài của Hán văn để diễn
đạt. V́ thế, cách dịch này thường là câu, chữ,
chương, tiết, chẳng hoàn toàn khớp với bản
tiếng Phạn, nhưng không chỗ u thâm nào chẳng hiển,
không chỗ vi tế nào chẳng nêu bày. Người
phương Đông đọc càng ứng hợp căn
cơ, cảm thấy dễ lănh ngộ, thấu hiểu
hơn, v́ nương theo nghĩa, chẳng dựa theo
văn. Tức hiện thời gọi là lối “ư dịch”
(dịch theo ư). Phái kia là trường phái của ngài Huyền
Trang, tuân thủ chặt chẽ phương thức của
tiếng Phạn, chẳng thuận theo cách viết trong Hán
văn. Người phương Đông đọc thấy
rất trúc trắc, nghĩa cũng khó thông. Đấy có phải
là cách “trực dịch” được nói trong hiện
thời đấy chăng? Phàm hoằng dương Phật
pháp, chú trọng nơi tuyên thông ư nghĩa, chẳng phải
là nghiên cứu tiếng Phạn. Do đó, dịch kinh Phật
nên coi phái này là hay khéo, cũng chẳng cần phải
rườm lời giải thích vậy!
2)
Trước ngài La Thập, do các bản dịch không khéo,
không chỉ ư nghĩa sâu xa, vi tế chưa đạt, ngay
cả những lời lẽ đơn giản, gần
gũi cũng phần nhiều chẳng thể nói viên măn.
V́ vậy, hàng sĩ phu tin Phật ít ỏi. Từ khi, các bản
dịch kinh luận mới của ngài La Thập ra đời,
Viễn Công ở Lư Sơn lại dốc sức tuyên
nói, truyền bá. Do vậy, văn nhân, người thông hiểu
mới dần dần thông hiểu Phật lư. Quang minh của
Phật pháp mới như mặt trời vừa mọc, tới
đời Đường bèn như mặt trời giữa
Ngọ. Do vậy, kể từ sau Phật pháp được
truyền sang phương Đông, măi
cho tới thời ngài La Thập mới
được hiển dương rộng lớn. Nếu
không, dẫu thuở ấy trước là có ngài Đạo
An, sau là có ngài Huệ Viễn là
hai vị cao tăng, cũng chẳng
nhất định có thể khiến cho [Phật pháp]
hưng thịnh rực rỡ như sau này. V́ sao vậy?
Kinh luận để dựa vào [mà nghiên cứu, tham khảo]
chưa đầy đủ số lượng, mà cũng
chưa đủ nêu rơ ư nghĩa. Ngài La Thập đă là Bồ Tát tái lai,
và các môn hạ đệ tử như ngài Tăng Duệ,
Tăng Triệu v.v… đều là bậc văn lư sâu thẳm,
đối với các thứ cựu học tại Trung Hoa
như Lăo Trang, lục kinh [của
Nho gia], không ǵ chẳng thông hiểu. Thầy
lẫn tṛ đều chẳng phải là phàm nhân. V́ thế,
các bản dịch của họ, không lư nào chẳng thấu
đạt, có thể thâm nhập ḷng người.
Kể
từ đời Tống trở đi, Phật pháp từ
thịnh mà dần suy, cho tới ngày nay là cùng cực. Nước
loạn, người khổ, chẳng khác đời Tấn!
Thuở ấy có thầy tṛ ngài La Thập hoằng
dương, Phật pháp nhờ vậy mà hưng khởi to
lớn, ḷng người nhờ vậy mà biến đổi
thành tốt lành, quốc chánh cũng nhờ vậy mà dần
dần đạt được thái b́nh. Nhưng muốn
cho thế sự thái b́nh, ḷng người phải tốt
lành trước đă! Muốn cho ḷng người tốt
lành, phải hoằng dương, hưng khởi Phật
pháp trước, [chuyện này] đă rơ lắm thay! Nh́n vào
t́nh thế hiện thời, là như thế nào vậy?
Không chỉ
là thế sự rối ren mà thôi, ngay
trong Phật pháp cũng rối bời tột bậc! Không
có chi khác, chỉ v́ chưa hiểu rơ nghĩa chân thật
trong Phật pháp vậy! V́ thế, muốn hưng khởi
Phật pháp lớn lao, trước hết phải liễu
giải nghĩa chân thật trong Phật pháp. Muốn liễu
giải nghĩa chân thật, trước hết phải hoằng
dương, tuyên truyền kinh tiếp nối hưng thịnh
ḍng giống Phật là Kim Cang Bát Nhă! Đấy là trách nhiệm
mà lũ chúng ta phải gánh vác vậy!
Ngài
La Thập dịch kinh, đầu tiên bắt đầu bằng
kinh Đại Phẩm Bát Nhă, tức là muốn gánh vác pháp
Vô Thượng Bồ Đề, [vậy th́ nay muốn phục
hưng Phật pháp], hăy khởi đầu bằng Kim Cang
Bát Nhă, chẳng phải là càng rơ rệt hơn ư? Kính dùng
nguyện ấy để hồi hướng trọn khắp
(xét ra, phần Huyền Đàm trên đây thuộc phần
giảng bổ sung. Lúc mới giảng chưa nói phần
Huyền Đàm, mà trước hết là nói yếu chỉ.
Tuy dường như trùng lặp, nhưng đây là do Giang
lăo cư sĩ đích thân viết,
nên ghép vào sau, chắc là người
chuộng giản lược sẽ thích nghe).
Kim
Cang Bát Nhă do chưa nói phần Huyền Đàm, là v́ người
nghe c̣n mờ mịt, nhưng ư
chỉ trọng yếu chẳng thể
không nói. Khái quát bằng tám chữ là “Lư hiển tam Không,
Quán dung nhị đế”.
Trước
hết, nói từ Khổ, tức là nói đến tam khổ,
hoặc bát khổ. Khổ do nghiệp mà có, nghiệp do Hoặc
mà sanh, tức là Kiến Tư Hoặc. Do vậy, nói tường
tận th́ cái gốc của Hoặc
chính là ngă kiến. Trừ ngă kiến, các Hoặc sẽ chẳng
sanh. Chẳng sanh, sẽ chẳng có nỗi khổ do nghiệp
trói buộc. Đó gọi là “liễu sanh tử”. Kim cang cứng bén,
ví như Bát Nhă có thể đoạn Hoặc. Tông chỉ của
kinh này chỉ ở phá Ngă. Ngă Chấp thô là Tứ Đại,
Ngũ Ấm, c̣n tế là chấp lấy pháp, hoặc chấp
vào phi pháp. Hễ có cái bị chấp
giữ, tức là Ngă Chấp chưa tận. V́ thế, cần
phải tầng tầng khử đi, tức là không có ngă
tướng, không có pháp tướng, mà cũng chẳng phải
là phi pháp tướng. Đó gọi là Tam Không.
Chữ
Pháp có ư nghĩa rất rộng, mọi sự mọi vật
đều được gộp trong ấy. Tứ Đại,
Ngũ Ấm cũng là một sự vật. Nếu nói theo sự phân định giữa
thô và tế th́ sẽ là nhân ngă tướng
và pháp ngă tướng. Dựa theo hữu tướng để
nói, th́ đều cùng thuộc vào pháp. V́ thế, nhân ngă và
pháp ngă có thể hợp thành một. Trong nhăn quang của thế
tục, không ai chẳng cho rằng hết thảy các sự
vật hữu tướng là chân thật, nên gọi là Tục
Đế. Đế (諦)
có nghĩa là chân thật. Trọn chẳng
biết tất cả các
tướng đều là hư vọng; ư nói: Tuy có mà trống
rỗng (có mà chẳng có). Quán điều ấy th́ gọi là Giả
Quán. “Phi pháp tướng” là nói theo tánh của hết
thảy các pháp, tướng giả mà tánh thật. Do tướng
sanh từ các duyên, tánh chẳng biến đổi. V́ thế,
biết là thật, nên gọi là Chân Đế. Quán điều
này th́ gọi là Không Quán.
Do tánh vốn vô tướng, nên gọi là Không. Nhưng nếu
giữ lấy tướng Không ấy, sẽ là Thiên Không (偏空,
cái không lệch lạc, chấp vào
Không, chẳng biết đến diệu hữu), chẳng
phải là Đệ Nhất Nghĩa Không của Đại
Thừa (c̣n gọi là Thắng Nghĩa Không) sao được?
Ví như hư không tuy vốn vô tướng,
nhưng muôn tướng trạng la liệt, lại c̣n ắt
phải là muôn vàn tướng trạng la liệt th́ mới thành hư
không. Cần phải biết: Tánh là Thể, Tướng là
Dụng. Có Thể, ắt có Dụng. V́ thế, có tánh ắt
hiện tướng, nhưng chớ nên chấp tướng.
Hễ chấp, sẽ đuổi theo tướng, mê muội
tánh, đuổi theo Dụng mà mê muội cái Thể!
Nhưng cũng chẳng thể đoạn
diệt tướng. Đoạn diệt tướng th́ tuy chứng Thể, có ích chi đâu? Lại
cũng chẳng thành Thể, do quyết chẳng có cái Thể
vô tướng. V́ vậy, theo ư
nghĩa Đại Thừa, ắt phải quán
như thế, đó gọi là Không Quán (Không mà bất Không).
Như thế th́ quán Nhị Đế dung thông. Dung thông bèn
là Đệ Nhất Nghĩa Đế thuộc Trung Đạo
quán. Chẳng phải là ngoài Nhị Đế, riêng có Đệ
Nhất Nghĩa Đế. Cũng chẳng phải ngoài hai
phép quán Giả và Không, lại riêng có Trung Đạo quán.
Kinh nói như thế đó th́ gọi là “giá thuyên” (遮詮, nói theo kiểu phủ
định để ngăn
ngừa chấp trước vào nhị biên) v́
dùng ngăn trở,
phủ định để nói.
Như Tam Đế (Không, Giả, Trung) được nói
trong các kinh như Pháp Hoa v.v… th́ là “biểu thuyên” (表詮, cách nói biểu lộ chẳng chấp trước),
tức là biểu hiện chẳng chấp vào Nhị Biên
nơi Tánh Đức, cùng chiếu cả hai bên để
nói. Giá thuyên tức là nói chấp Hữu th́ chẳng
đúng, chấp Không cũng chẳng đúng, v́ thế nói
là “hai bên đều cùng trừ” th́ hai bên dung hội.
Bát Nhă chính là lấy “trừ
chấp” làm Tông; do vậy,
chỉ nói Nhị Đế. Cần phải biết căn
bệnh của phàm phu là chỗ nào cũng chấp, cho nên lắm
vọng tưởng. Ắt phải nên trước hết
dùng công phu trừ sạch th́ sau đó Tánh Đức mới
có thể hiển hiện rơ ràng. V́ vậy, đức Thế
Tôn trước là nói Bát Nhă, sau là nói Pháp Hoa, phải nên hết
sức chú ư nghĩa này! Lại nữa, Đại Thừa
Phật pháp thông trên thấu dưới. Chớ nên nâng thánh
cảnh lên quá cao, coi đó là chuyện xuất thế, chẳng
mảy may dính
líu tới pháp thế gian. [Nghĩ như thế] chính là cô
phụ ân Phật. Hăy nên biết: Chẳng hiểu Tam Không,
Nhị Đế, tức là làm người cũng chẳng
làm được vẹn
toàn! Do vậy, diễn giảng thông suốt lư này. Phần
trên đây đă chia thành ba buổi giảng để nói!
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh Giảng Nghĩa quyển một hết
[1] Thanh tín sĩ là cách gọi khác của
cư sĩ, hoặc đúng hơn là dịch nghĩa của
chữ Ưu Bà Tắc.
[2] Tác phẩm chưa được
xuất bản của một người đă mất th́
gọi là “di trước”.
[3] Cư sĩ Tưởng Duy Kiều
có tên tự là Trúc Trang.
[4] Vùng Giang Nam, vào tháng Năm, mưa
phùn rả rích liên miên chẳng ngừng, là lúc quả mơ
chín vàng, nên gọi là Hoàng Mai Thời Tiết.
[5] Tưởng Duy Kiều (1873-1958), tự
là Trúc Trang, hiệu là Nhân Thị Tử, pháp danh Hiển
Giác, người huyện Vũ Tấn, tỉnh Giang Tô, là một
triết gia, kiêm giáo dục gia, Phật học gia, và dưỡng sinh học
gia đầu thời Dân Quốc. Ông đậu Tú Tài
năm 20 tuổi, sau đó do đọc các sách Tây học
do Giang Nam Chế Tạo Cục xuất bản, bèn bắt đầu chuyên nghiên cứu
Tây học. Năm Quang Tự 21 (1895), ông vào học tại
Nam Tinh Thư Viện tại Giang Nam, bạn đồng học
là Đinh Phước Bảo. Năm Quang Tự 22 (1896), ông
lại gia nhập Trí Dụng Tinh Xá ở Thường Châu.
Từ đó, cho đến năm 29 tuổi, dụng công học
tập cả hai nơi. Trong số các giáo sư, người
có sức ảnh hưởng mạnh nhất đến
ông Tưởng là cụ Chung Quán Quang. Sau khi tốt nghiệp,
ông sang Thượng Hải vào năm Quang
Tự 28 (1902), tham gia tổ chức Trung Quốc Giáo Dục
Hội do nhóm Thái Nguyên Bồi sáng lập. Thuở đó, khi
Trung Hoa sôi nổi phong trào đề cao tinh thần thượng
vơ, ông cùng các đồng chí sáng lập các cơ sở chuyên
tập thể dục, và tích cực tham gia phong trào “miếu
sản hưng học” (tịch thu tài sản của chùa
miếu để biến thành trường học).
Năm 1903, nhận lời mời của Thái Nguyên Bồi,
ông chuyển gia đ́nh lên Thượng Hải, dạy học
tại Ái Quốc Học Xă và Ái Quốc Nữ Học cho nữ
sinh (hai trường này do ông Thái Nguyên Bồi sáng lập).
Ông c̣n viết lách cho Tô Báo (nhật báo của tỉnh Giang
Tô) để duy tŕ sinh hoạt phí. Năm 1903, ông đảm
nhiệm chức vụ biên dịch cho Thương Vụ Ấn
Thư Quán. Ông c̣n cùng Thái Nguyên Bồi, Trương Nguyên Tế,
Trang Du v.v… biên soạn sách giáo khoa cho bậc tiểu học,
đặt tên là Tối Tân Giáo Khoa Thư, gồm mười
tám quyển. Một công tŕnh lớn của ông là bộ từ
điển Từ Nguyên (giải thích nghĩa gốc của
các từ ngữ trong chữ Hán). Ông c̣n làm chủ biên cho tờ
Đông Phương Tạp Chí. Ông c̣n đảm nhiệm
các lớp bồi huấn cho giáo viên tiểu học,
cũng như trường dạy học ban đêm cho công
nhân. Khi Dân Quốc thành lập, ông làm phụ tá cho bộ
trưởng giáo dục Thái Nguyên Bồi. Đến năm
1913, ông lại trở về Thượng Hải làm việc
tại Thương Vụ Ấn Thư Quán. Cơ duyên học
Phật đến với ông khi quen biết ông Từ Úy
Như tại Bắc Kinh khi ông Từ giữ chức ty
trưởng kế toán thuộc bộ Tài Chánh. Dưới
ảnh hưởng của ông Từ, ông Tưởng bắt
đầu nghiên cứu Phật học, và tin Phật. Sau
đó, khi nghe Trương Khắc Thành giảng Duy Thức
tại chùa Quảng Tế ở Bắc Kinh, cũng như
do quen biết các nhân sĩ Phật giáo như Mai Quang Hy, Diệp
Cung Xước, Khoái Nhă Mộc, Hoàng Ấu Hy v.v… ông sang Ninh
Ba nghe pháp sư Đế Nhàn giảng kinh tại chùa Quán
Tông. Nhất là khi được nghe pháp sư Đế
Nhàn giảng kinh Viên Giác tại Giang Tây Hội Quán ở Bắc
Kinh, do có dịp cùng biên tập, chỉnh lư bút kư với các
vị Giang Vị Nông, Hoàng Ấu Hy v.v… ông càng tin Phật
sâu đậm hơn và quyết định quy y với ngài
Đế Nhàn. Sau đó, ông c̣n theo học Nhân Minh với
Thái Hư đại sư. Ông để lại khá nhiều
trước tác ngoài sách giáo khoa và tự điển như
Nhân Thị Tử Tĩnh Tọa Pháp Chánh Tục Biên, Nhân Thị
Tử Tĩnh Tọa Vệ Sanh Thật Nghiệm Đàm,
Trung Quốc Cận Tam Bách Niên Triết Học Sử, Phật
Học Khái Luận, Phật Học Cương Yếu,
Trung Quốc Phật Giáo Sử (dịch và bổ sung bộ
Chi Na Phật Giáo Sử Cương của Cảnh Dă Triết
người Nhật), Trung Quốc Triết Học Sử
Cương Yếu, Tống Minh Lư Học Cương Yếu
v.v…
[6] Phạm Cổ Nông (1881-1951), tên thật
là Vận Xu, tên tự là Củng Vi. Do chán ngán đế chế,
nên đổi tên là Cổ Nông, đặt tên tự là Mộng
Canh, pháp danh Huyễn Tu, hiệu là Kư Đông, lại c̣n có hiệu
là Huyễn Am, quê ở huyện Tú Thủy, tỉnh Chiết
Giang, là một cư sĩ và Phật học gia nổi tiếng.
Sau khi thi đậu, ông đă vào trường huyện học
và nghiên cứu kinh Phật khá sớm. Ông đă từng sang
Nhật du học. Sau khi về nước, làm hiệu trưởng
trường trung học quốc lập số hai tại tỉnh
Chiết Giang. Năm 1917, ông quy y và thọ Bồ Tát Giới
với pháp sư Đế Nhàn. Năm 1927, trở thành ủy
viên thường vụ hội Phật giáo tỉnh Chiết
Giang, và ủy viên chấp hành hội Phật giáo Trung Quốc.
Năm 1931, ông làm tổng biên tập cho Phật Học
Thư Cục ở Thượng Hải, đảm trách
biên tập Hải Triều Âm Văn Khố, Phật Học
Bách Khoa Tùng Thư, chủ tŕ việc ấn loát Đại Tạng Kinh theo bản
đời Tống. Năm 1935, làm chủ bút Phật Giáo Nhật
Báo. Năm 1951, từng đảm nhiệm lâm trưởng
của Thế Giới Phật Giáo Cư Sĩ Lâm tại
Thượng Hải. Ông thường viết nhiều bài
ngắn đăng trên các tạp chí Phật giáo như Hải
Triều Âm, Phật Học Bán Nguyệt San, Giác Hữu T́nh,
Hoằng Hóa Nguyệt San; về sau được ghép thành
Huyễn Am Văn Tập và Cổ Nông Phật Học
Vấn Đáp. Ngoài ra c̣n trước tác một số tác phẩm
giá trị như Đại Thừa Khởi Tín Luận Giảng
Nghĩa, Đại Thừa Phật Giáo Sử Luận, và dịch
phẩm Phát Thú Luận. Trong Văn Sao, tổ Ấn Quang
cũng hay nhắc đến ông Phạm.
[7] Tăng Triệu
(384-414) là một vị danh tăng thời Đông Tấn,
người Trường An, họ ngoài đời là
Trương. Sư nhà nghèo, phải làm nghề chép sách để
sinh nhai; do vậy, có cơ hội đọc rộng rất
nhiều kinh sách. Thoạt đầu, Sư ưa chuộng
Lăo Trang. Tới khi đọc kinh Duy Ma Cật bèn cảm ngộ,
liền xuất gia. Sau khi xuất gia, Sư học thông thạo
kinh Phương Đẳng, thông suốt Tam Tạng. Tuổi
hai mươi, Sư đă nổi danh học rộng khắp
miền Quan Trung. Tới khi ngài La Thập tới Trường
An, vâng lệnh Diêu Hưng, Sư theo học với ngài La Thập,
giải ngộ càng sâu, được ngài La Thập khen là
bậc giải Không đệ nhất. Năm Hoằng Thỉ
thứ sáu (404), khi ngài La Thập dịch kinh Đại Bát
Nhă, Sư học xong, soạn Bát Nhă Vô Tri Luận dâng lên,
được thầy hết sức tán thưởng. Sau
đó, Sư soạn các tác phẩm Bất Chân Không Luận,
Vật Bất Thiên Luận, Niết Bàn Vô Danh Luận, Chú
Duy Ma Cật Kinh v.v… đều được người
học Phật đánh giá rất cao. Tiếc rằng Ngài thị
tịch rất sớm, khi mất, Ngài chỉ mới 31 tuổi.
Hậu nhân ghép các trước tác của Ngài thành sách, đặt
tựa là Triệu Luận.
[8] Tông Lặc
(1318-1391) là một vị danh tăng thuộc tông Lâm Tế
đời Minh. Sư tên tự là Quư Đàm, hiệu Toàn Thất.
Lúc tám tuổi, Sư đă có chí xuất trần, theo học
pháp với ngài Tiếu Ẩn Đại Hân chùa Tịnh Từ
ở Hàng Châu, mười tuổi xuống tóc, hai
mươi tuổi thọ Cụ Túc Giới. Năm Hồng
Vũ thứ 10 (1377), Sư sang Tây Vực cầu pháp, thỉnh
được Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh, Văn Thù
Kinh v.v… Năm năm sau mới quay về Trung Hoa, được
cử giữ chức Hữu Thiện Thế của
Tăng Lục Ty. Do chán ngán trước cảnh kèn cựa
của triều thần, Ngài sáng lập Viên Thông Am để
quy ẩn. Ngài để lại các tác phẩm Lăng Già
Kinh Chú Giải, Bát Nhă Tâm Kinh Chú Giải, Kim Cang Bát Nhă Kinh Chú
Giải, Tán Phật Nhạc Chương, Toàn Thất Ngoại
Tập, Toàn Thất Cảo v.v…
[9] Tục Pháp
(1641-1728) là một vị cao tăng đời Thanh, người
xứ Nhân Ḥa, tỉnh Chiết Giang. Sư tự là Bá
Đ́nh, hiệu Quán Đảnh, c̣n có hiệu là Thành Pháp.
Sư có chí xuất trần từ bé, lúc chín tuổi đă
theo học với ngài Minh Nguyện chùa Từ Vân tại núi
Thiên Trúc, Hàng Châu, mười chín tuổi thọ Cụ Túc
Giới, hai mươi tuổi đă giảng kinh,
được ngài Minh Nguyện phó chúc làm pháp tôn đời
thứ năm của tổ Liên Tŕ Châu Hoằng. Sư nghiên
cứu kinh luận rộng khắp, dung hội các thuyết.
Về sau, mỗi khi Sư giảng pháp, đại chúng vân
tập rất đông. Sư thị tịch vào năm Ung
Chánh thứ sáu (1728), có hơn hai mươi đệ tử
truyền pháp lỗi lạc như Bội Phong, Từ Duệ,
Chánh Trung, Thiên Hoài v.v…. Ngài để lại các tác phẩm
Hiền Thủ Ngũ Giáo Nghi, Viên Giác Chiết Nghĩa Sớ,
Hoa Nghiêm Tông Phật Tổ Truyện v.v…
[10] Bản điện
tử của CBETA không có phần khoa phán này.
[11] Hú có nghĩa là khí ấm, hoặc ấm
áp.
[12] Hồ Bắc
thuộc lănh địa nước Sở thời chiến
Quốc nên đôi khi c̣n gọi là Sở, hoặc Kinh Sở,
tỉnh lỵ là Vũ Hán. Sở dĩ có
tên gọi là Ngạc (鄂) là v́ bốn ngàn năm trước, vùng Hoàng Hà và
Trường Giang có rất nhiều loại cá sấu gọi
là Dương Tử Ngạc (扬子鳄, Chinese Alligator), c̣n được gọi
là Đà Long, Đà Ngư, hoặc Thổ Long. Loại cá sấu
này ở vùng Hồ Bắc đặc biệt nhiều,
đến đêm tiếng chúng kêu vang như sấm, cho
đến đời Tống hăy c̣n rất nhiều. Do vậy,
vùng này thường được gọi là Ngạc Quốc.
Do các chữ Ngạc (鄂) và Ngạc (鳄) thường được
dùng lẫn cho nhau trong cách viết giả tá thời cổ,
nên Hồ Bắc có tên gọi thông tục là Ngạc tỉnh
(鄂省).
[13] Tuần lại (循吏) là từ ngữ được dùng để tôn xưng các quan lại vâng
giữ pháp tắc, thanh liêm, hiền năng, không phải là
một chức quan.
[14] Theo quan chế đời Thanh,
Đạo Đài là các chức quan đứng
đầu một tỉnh. Các phó quan của tỉnh
trưởng (thường gọi là Phiên Đài, coi về tiền lương), hoặc
chức Án Sát Sứ (coi về h́nh pháp, c̣n gọi
là Niết Đài). Các chức vụ này được gọi
chung là Đạo Viên. Cụ Giang Vị Nông được
cử làm Bổ Dụng Đạo, tức là được
cử giữ chức Đạo Viên Dự Bị.
[15] Cám (贛,c̣n đọc là Cống),
do gọi theo con sông lớn nhất tại tỉnh Giang Tây
là Cám Giang. Tứ Xuyên được gọi tắt là Thục
v́ tỉnh này xưa kia thuộc địa bàn của
vương quốc cổ Ba Thục.
[16] Ư nói cụ có điều lănh ngộ
trong khi tham cứu.
[17] Thượng Hải được gọi là đất
Hỗ v́ thời cổ dân cư đa số sống bằng
ngư nghiệp. Họ dùng tre đan thành dụn cụ bắt
cá, gọi đó là Hỗ (扈). Tục
lệ địa phương gọi phần sông đổ
vào biển là Độc (瀆). V́ thế, toàn thể phần hạ lưu sông
Tùng Giang được gọi là Hỗ Độc Giang. Về
sau, chữ Hỗ (扈) đổi
thành Hỗ (滬). V́ thế,
thường gọi Thượng Hải là đất Hỗ.
Hơn nữa, đây là vùng đất được phong
làm thái ấp của Xuân Thân Quân (春申君, tức Hoàng Yết) nước Sở thời Chiến
Quốc, nên Thượng Hải c̣n được gọi
là đất Thân. Do vậy, sông Tùng Giang (c̣n gọi là Ngô
Tùng Giang) ngoài tên Hỗ Độc, c̣n được gọi là
Xuân Thân Giang. Sông này có một chi lưu tên là Thượng Hải
Phố, nên khi thành lập thương cảng, người
ta đă dùng tên Thượng Hải để gọi thành
phố mới ấy.
[18] Cao Dă Sơn (Kōyasan) là một quả núi thuộc
huyện Wakayama (Ḥa Ca Sơn) nằm ở phía Nam thành phố
Osaka (Đại Bản). Đây là chỗ sơ tổ Mật Tông (thường gọi là Chân
Ngôn Tông - Shingon) của Nhật Bản là Không Hải đại
sư (Kukai) sáng lập tông phái sau khi đi tham học ở
Trung Hoa trở về. Nếu nói nghiêm ngặt hơn, Cao Dă
Sơn chính là nơi đặt tổ đ́nh Kim Cang Phong Tự
(Kongōbu-ji), tức đạo
tràng đầu tiên của tổ Không Hải. Sau đời
Đường, Mật Tông Trung Hoa gần như thất
truyền. Do vậy, sau này, để học Mật Tông,
các cư sĩ Trung Hoa thường phải
sang
Nhật Bản tham học.
[19] Bạch Phổ Nhân (1870-1927), tên thật
là Quang Pháp, tự là Phổ Nhân, là người Mông Cổ,
quê ở Nhiệt Hà, là một lạt-ma theo truyền thống
Phật giáo Tây Tạng, tu tập tại Ung Ḥa Cung ở Bắc
Kinh. Người Mông Cổ tin ông ta đă được gặp
Văn Thù Bồ Tát, được Ngài
điểm hóa tại Ngũ Đài Sơn. Năm 1914, do Bắc
Kinh bị lụt lớn. Ông ta tuyên bố trận lụt này do một con rồng gây ra, bèn tập hợp năm sáu vị
lạt-ma làm pháp hội hàng phục rồng. Theo truyền
thuyết, ông ta nhập Định, thấy rồng, bèn
dùng cái tháp để cúng Phật đập lên đầu
nó, rồng sợ hăi lui mất. Hôm sau, lụt lội rút mất.
Sau pháp hội ấy, các vị lạt-ma đó đều bị
tàn tật, què quặt, đui mù, bệnh nặng, chỉ
riêng Bạch Phổ Nhân vô sự, nhưng sau đó bị tù
một năm. Bạch Phổ Nhân chuyên tu pháp Dạ Xoa
Đại Tướng, chuyên chủ tŕ pháp hội Kim Quang
Minh Tối Thắng Vương Kinh. Khi Ban Thiền Lạt
Ma đời thứ chín do tranh chấp với Đại
Lai Lạt Ma đời thứ mười ba, đă bỏ
Tây Tạng chạy sang Bắc Kinh. Bạch Phổ Nhân
đă đến bái phỏng, xin làm đệ tử,
được tặng danh hiệu Kham Bố (Khenpo) mà không
cần qua sát hạch theo truyền thống. Năm 1925, Bạch
Phổ Nhân đến Thượng Hải tổ chức
pháp hội Kim Quang Minh tại Tịnh
Nghiệp Xă chùa Giác Viên. Ông Phạm Cổ Nông rất tin
sùng, theo Bạch Phổ Nhân đi tổ chức pháp hội
khắp vùng Hàng Châu, Gia Hưng, Trường Sa, Vũ
Hán….
[20] Mân Trung có thể
hiểu theo nhiều nghĩa:
- Quận Mân Trung là một
quận quốc thời Tần, địa bàn bao gồm
toàn bộ tỉnh Phước Kiến, và các huyện Ninh Hải,
Linh Giang, Âu Giang, Phi Vân Giang của tỉnh Chiết Giang.
- Danh từ phiếm chỉ
tỉnh Phước Kiến (do Phước Kiến thuộc
địa bàn nước Mân Việt thời cổ).
- Thành phố Phước
Châu.
- Miền trung tỉnh
Phước Kiến gồm các huyện Bồ Điền,
Phước Châu, Tam Minh.
[21] Gia Tường đại sư
chính là ngài Thích Cát Tạng (594-623). Ngài là vị luận sư nổi tiếng
của Tam Luận Tông sống vào thời Tùy - Đường.
Do tổ tiên Sư là người xứ An Tức (tức một
vương quốc cổ ở Iran hiện thời), về sau chuyển sang sống tại
Kim Lăng (Nam Kinh hiện thời), người thuở ấy
c̣n gọi Ngài là Hồ Cát Tạng. Do Ngài trụ nhiều
năm tại chùa Gia Tường ở Cối Kê (huyện
Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang hiện thời), nên thường gọi
là Gia Tường đại sư, hay Gia Tường Cát Tạng.
Sư cùng hai vị Tịnh Ảnh Huệ Viễn (thuộc
Địa Luận Tông) và Thiên Thai Trí Giả đại
sư được tôn xưng là Tùy Đại Tam Đại Sư (ba vị đại
sư đời Tùy). Cha Ngài là một tín đồ Phật
giáo thuần thành, sau khi sinh Ngài, đă xuất gia, pháp hiệu là Đạo Lượng.
Ngài theo cha đến bái yết pháp sư Chân Đế,
được ban pháp danh là Cát Tạng. Tới năm bảy
tuổi, ngài Cát Tạng xuất gia. Sư bản tánh thông
minh tuyệt luân, mười bốn tuổi học Bách Luận
với ngài Pháp Lăng, tới năm mười chín tuổi
đă có thể lên giảng ṭa
trùng tuyên pháp ngữ của thầy không sai chạy. Ngài viết
khá nhiều bản chú sớ như Tịnh Danh Huyền Luận,
Pháp Hoa Nghĩa Sớ, Pháp Hoa Du Ư, Pháp Hoa Thống Lược,
Pháp Hoa Tân Soạn Sớ, Pháp Hoa Huyền Đàm, Pháp Hoa Khoa
Văn, Niết Bàn Kinh Nghĩa Sớ, Niết Bàn Kinh Du Ư,
Duy Ma Kinh Lược Sớ, Duy Ma Kinh Quảng Sớ, Thắng
Man Kinh Bảo Quật, Kim Cang Bát Nhă Sớ, Đại Phẩm
Bát Nhă Lược Sớ, Vu Lan Bồn Kinh Sớ, Di Lặc
Kinh Du Ư, Nhân Vương Lược Sớ, Vô Lượng
Thọ Kinh Nghĩa Sớ, Nhập Lăng Già Nghĩa Tâm,
Trung Luận Sớ, Bách Luận Sớ, Thập Nhị Môn
Luận Sớ… Từ các bản sớ giải của Ngài mà tăng sĩ Trung Hoa nẩy
sanh hứng thú sâu đậm với học thuyết Bát
Nhă, h́nh thành học phái Tam Luận Tông (tức tông phái chuyên
nghiên cứu ba bộ luận Trung Luận, Bách Luận và Thập
Nhị Môn Luận). Đặc biệt trong Đại Thừa
Huyền Luận, Ngài đề ra khái niệm năm loại
Phật độ, tức tịnh độ, bất tịnh
độ, tịnh bất tịnh độ, bất tịnh
tịnh độ, và tạp độ. Trong Tịnh Độ, lại có bốn loại chúng sanh là
phàm thánh đồng cư độ, Đại Tiểu
đồng trụ độ, độc Bồ Tát sở
trụ độ, và chư Phật độc sở cư
độ, rất gần với bốn loại Tịnh
Độ của tông Thiên Thai. Sách Đại Thừa Huyền
Luận của Ngài được coi là sách nhập môn
để học Trung Quán.
[22] Đấy là các cách nói trong kinh Kim
Cang, chẳng hạn như câu “Phật thuyết Bát Nhă Ba
La Mật, tức phi Bát Nhă Ba La Mật, thị danh Bát Nhă Ba
La Mật” (Phật nói Bát Nhă Ba La Mật, tức chẳng
phải là Bát Nhă Ba La Mật, th́ gọi là Bát Nhă Ba La Mật).
[23] Bộ Đại Bát Nhă do ngài Huyền
Trang dịch có thể nói là tập hợp tất cả các
kinh Bát Nhă, được chia làm chín phần như sau:
1) Thượng Phẩm Bát Nhă gồm
hội thứ nhất, gồm 79 phẩm, 400 quyển,
132.600 bài tụng, giảng tại núi Linh Thứu.
2) Trung Phẩm Bát Nhă gồm hội
thứ hai và hội thứ ba, từ quyển 401 đến
quyển 537, 116 phẩm, 43.000 bài tụng, giảng tại
núi Linh Thứu.
3) Hạ Phẩm Bát Nhă, gồm hội
thứ tư và hội thứ năm, từ quyển 538 đến quyển 565,
12.000 bài tụng, chia thành 53 phẩm, cũng giảng tại
Linh Thứu.
4) Thiên Vương Bát Nhă, gồm hội
thứ sáu, 17 phẩm, từ quyển 566 đến 573, gồm
2.500 bài tụng, vẫn giảng tại Linh Thứu.
5) Văn Thù Bát Nhă gồm hội thứ
bảy, 800 bài tụng, từ quyển 574 đến 575, giảng
tại Cấp Cô Độc Viên.
6) Na Già Thất Lợi Bát Nhă, gồm
hội thứ tám, chỉ chép trong quyển 576, gồm 400 bài tụng, giảng tại Cấp
Cô Độc viên.
7) Kim Cang Bát Nhă, tức hội thứ
chín, gọi là Năng Đoạn Kim Cang Phần, chỉ
chép trong một quyển 577, gồm 300 bài tụng, giảng
tại Cấp Cô Độc viên.
8) Lư Thú Bát Nhă, gồm hội thứ
bảy, chỉ chép trong quyển 578, gồm 300 bài tụng,
giảng tại Tha Hóa Tự Tại Thiên.
9) Lục Phần Bát Nhă, gồm các hội
mười một, mười hai, mười ba, mười
bốn, mười lăm, mười sáu, từ quyển
579 đến quyển 600, tổng cộng 8.100 bài tụng.
Từ hội mười một đến hội mười
bốn, giảng tại Cấp Cô Độc Viên, hội
mười lăm tại núi Linh Thứu, hội mười
sáu tại Trúc Lâm Tinh Xá.
Nói “bài tụng” ở đây tức
là cứ tính bốn câu (bất kể dài hay ngắn) là một
kệ, c̣n gọi là “tụng”.
[24] Lục Triều là từ ngữ chỉ
chung sáu triều đại ở phương Nam Trung Hoa
trong thời Nam Bắc Triều. Lục Triều là Tôn Ngô
(224-280, tức nhà Ngô của Tôn Quyền thời Tam Quốc),
Đông Tấn (317-420 của Tư Mă Duệ sau khi miền
Bắc bị các sắc dân du mục chiếm đóng, triều đ́nh nhà
Tấn phải dời đô về phương Nam), Lưu Tống (420-479 do Lưu Dụ
sáng lập), Nam Triều Tề (479-502, do Tiêu Đạo
Thành sáng lập), Lương (502-557, do Tiêu Diễn, tức Lương
Vũ Đế sáng lập), Trần (557-589, do Trần Bá
Tiên sáng lập). Các triều đại này đều chọn Kiến Khang (Nam Kinh) làm kinh đô.
[25] Đây là một thành ngữ hàm ư viết
lách hoặc nói năng có một nội dung cụ thể,
đầy ắp ư nghĩa, chẳng phải là hư luống,
phù phiếm!
[26] Sông Kính tức là Kính Thủy hay Kính
Hà, và sông Vị đều bắt nguồn từ tỉnh
Cam Túc. Khi hai sông này chảy vào tỉnh Thiểm
Tây th́ hợp lưu tại huyện Cao Lăng, nhưng một
ḍng trong, một ḍng đục rạch ṛi,
không lẫn lộn.
[27] Trí Nghiễm (602-668) là vị cao
tăng vào đời Tùy Đường, quê ở Thiên Thủy
(tỉnh Cam Túc), họ ngoài đời là Triệu. Ngài có hiệu
là Chí Tướng đại sư, hoặc Vân Hoa Tôn Giả. Sư có chí xuất trần từ bé. Khi
chơi đùa, thường chất đá làm tháp
miếu, hoặc bảo bạn bè giả làm thính chúng, c̣n ḿnh làm pháp sư giảng kinh.
Năm 12 tuổi, Sư theo ngài Đỗ Thuận tới
chùa Chí Tướng ở núi Chung Nam, theo học với
đệ tử của ngài Đỗ Thuận là Đạt
pháp sư. Mười bốn tuổi xuống tóc; về
sau, theo ngài Pháp Thường nghe Nhiếp
Đại Thừa Luận. Hai mươi tuổi thọ Cụ
Túc Giới, học Tứ Phần Luật, Tỳ Đàm,
Thành Thật Luận, Thập Địa, Địa Tŕ, Niết
Bàn v.v… Sau đó, dốc chí chuyên học Hoa Nghiêm, xem khắp
các kinh luận, lănh hội sâu xa ư chỉ “lục tướng
viên dung”. Năm 27 tuổi, Ngài soạn Hoa Nghiêm Sưu Huyền
Kư, sách ấy trở thành khuôn phép cho cả tông
Hoa Nghiêm. Sư thường giảng Hoa Nghiêm hóa độ
chúng sanh không biết mệt. Do Sư trụ tại chùa Chí Tướng, người thuở ấy gọi Ngài là Chí Tướng đại
sư. Về già, Sư trụ tại chùa Vân Hoa, nên được gọi là Vân Hoa Tôn Giả. Đệ tử của
Ngài rất đông, các vị lỗi lạc là Hoài Tề, Pháp Tạng, Nguyên Hiểu,
Nghĩa Tương, Bạc Trần, Huệ Hiểu, Đạo
Thành… Trong đó, ngài Hiền Thủ Pháp Tạng lỗi lạc nhất, là người thật
sự sáng lập tông Hoa Nghiêm. Sau khi tông Hoa Nghiêm được
thành lập, môn nhân mới tôn ngài Đỗ Thuận làm
sơ tổ, Trí Nghiễm làm nhị tổ. Ngài Trí Nghiễm
để lại nhiều tác phẩm được coi là
đặt cơ sở cho tông Hoa Nghiêm như Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sư Huyền
Phân Tề Thông Trí Phương Quỹ, Hoa Nghiêm Kinh Nội
Chương Môn Đẳng Tạp Khổng Mục, Hoa
Nghiêm Ngũ Thập Yếu Vấn Đáp, Hoa Nghiêm Nhất
Thừa Thập Huyền Môn, Vô Tánh Nhiếp Luận Sớ…
Ở đây, cư sĩ Giang Vị Nông nhắc tới bản
sớ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Lược Sớ của
tổ.
[28] “Ngăn” (giá) tức là phủ định,
Chiếu là phủ định điều vừa phủ
định. Như nói “chẳng Có, chẳng Không”, đó là
Song Giá Nhị Biên (cùng ngăn che cả hai bên). “Cũng chẳng
có, cũng chẳng không” tức là Song Chiếu Nhị Biên.
[29] Ngũ Thời là cách chia nhất
đại thời giáo thành năm thời kỳ, tức Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng,
Bát Nhă và Pháp Hoa - Niết Bàn nhằm diễn tả tŕnh tự
giáo hóa dần dần của đức Phật để
đưa chúng sanh thâm nhập chân tánh từ cạn tới
sâu. Từ đấy, lại h́nh thành hai khái niệm là Thông
Ngũ Thời và Biệt Ngũ Thời.
Biệt Ngũ Thời là trong
phương pháp giáo hóa của đức Phật,
nương theo thứ tự mà chia thành năm thời kỳ
nhằm chỉ rơ thứ tự thuyết pháp, tức là
Ngũ Thời theo cách hiểu vừa nói trên đây.
Thông Ngũ Thời là trong mỗi thời
kỳ ấy, đức Phật sẽ tương ứng
với năng lực lănh ngộ của người nghe
pháp mà nói pháp tương ứng khiến cho ai nấy đều
được hưởng lợi ích bất đồng,
hoặc trong cùng một pháp hội cùng nghe giáo pháp như
nhau mà chúng sanh đạt được pháp ích khác nhau, hiển
thị sự dung thông của giáo pháp.
[30] Sau khi soán đoạt ngôi vua của
Tào Hoán (Ngụy Nguyên
Đế) nhà Tào Ngụy, Tư Mă
Viêm (Tấn Vũ Đế) chủ trương tạo lập
vây cánh cho hoàng thất ở các địa phương bằng
cách phong cho người trong hoàng tộc làm các phiên
vương, cho họ có binh quyền riêng, dẫn đến
các phiên vương hay gây chiến lẫn nhau để
giành quyền bính, mà loạn bát vương là điển
h́nh. Do con của Tư Mă Viêm là Tư Mă Trung (Tấn Huệ
Đế) đần độn, quyền hành rơi hết
vào tay hoàng hậu Giả Nam Phong. Để củng cố
quyền lực, bà ta tận lực đâm thọc khiến cho các phiên vương xung đột để loại bớt những người
không cùng vây cánh. Về sau,
Tư Mă Luân (một hoàng thân) giết chết Giả Hậu,
ép Huệ Đế nhường ngôi. Trong giai đoạn
đó, tám vị phiên vương đánh nhau để giành
quyền bính là Sở Vương Tư Mă Vĩ, Nhữ Nam
Vương Tư Mă Lượng, Triệu Vương
Tư Mă Luân, Tề Vương Tư Mă Quưnh, Thường
Sơn Vương Tư Mă Nghệ, Thành Đô Vương
Tư Mă Dĩnh, Hà Gian Vương Tư Mă Ngung, Đông Hải
Vương Tư Mă Việt. Tư Mă Luân cầm quyền ba
tháng th́ bị các phiên vương khác giết chết. Do loạn
bát vương, tướng lănh thiếu hụt, họ phải
trọng dụng các tướng lănh người Hồ, khiến
cho các tướng
lănh người Hồ binh quyền ngày càng lớn mạnh. Lư Đặc
thuộc bộ tộc người Tung đă làm phản, chiếm cứ
Tây Xuyên, và cháu ông ta là Lư Hùng đă lập ra nhà Thành Hán. Một
tướng khác là Lưu Uyên (gốc người Hung Nô) chiếm
trọn các tỉnh Bắc Trung Hoa lập ra nhà Tiền Triệu
(Lưu Triệu), mở đầu cho giai đoạn
Ngũ Hồ Loạn Hoa.
[31] Ngũ Hồ Loạn Hoa c̣n gọi
là Ngũ Hồ Thập Lục Quốc kéo dài từ năm
304 đến 439 do năm sắc dân du mục (người Hoa thường gọi chung các sắc
dân ấy là Hồ) thừa dịp nhà Tấn suy yếu, đă xâm chiếm miền Bắc Trung Hoa, lập ra các tiểu
quốc gồm mười sáu nước. Các sắc dân ấy
là Hung Nô, Yết, Tiên Ty, Đê, Khương. Mười sáu
nước là Thành Hán, Hán Triệu, Hậu Triệu, Tiền
Lương, Tiền Yên, Tiền Tần, Hậu Tần, Hậu
Yên, Tây Tần, Hậu Lương, Nam Lương, Nam Yên,
Tây Lương, Bắc Lương, Hạ, Bắc Yên.
Đó là không kể những nước nhỏ như Cừu
Tŕ, Đoàn, Vũ Văn, Đại, Nhiễm Ngụy, Tây
Yên, Địch Ngụy, Tây Thục. Giai đoạn này chấm
dứt khi Thác Bạt Khuê thống nhất miền Bắc
Trung Hoa, lập ra nhà Bắc Ngụy, h́nh thành thế cục
Nam Bắc Triều. Trong mười sáu quốc gia ấy,
Tiền Tần của Phù Kiên là người thuộc dân tộc
Đê, c̣n Diêu Trành là người Khương.
[32] Quân phiệt chiếm đóng một
vùng, nắm quyền bính, đánh thuế dân chúng, củng cố
thế lực th́ gọi là “cát cứ” (割據, hàm ư chia cắt và chiếm
đóng lănh thổ của vương triều để
xây dựng thế lực riêng).
[33] Phận dă (分野) là một quan niệm của thiên văn học
của Cổ Trung Hoa. Họ chia các tinh tú trên bầu trời
thành từng khu vực, và cho rằng mỗi khu vực ấy
tương ứng với một khu vực trên mặt
đất. Mỗi khu vực ấy được gọi
là Phận Dă. Theo đó, họ chia quỹ đạo của
Tuế Tinh (Mộc Tinh), tức đường hoàng đạo,
thành mười hai cung, gọi là Thập Nhị Thứ. Dựa
theo sự chuyển dịch của tinh tú trong mười hai cung ấy mà bói toán cát hung sẽ xảy ra thuộc khu vực nào.
[34] Thái
Sử là chức quan lập ra từ thời Tây Châu, chuyên
chưởng quản và khởi thảo văn thư sắc
phong các chư hầu và đại phu cho hoàng đế,
đồng thời đảm nhiệm việc chép sử,
cũng như quản lư sách vở của hoàng gia, coi sóc lịch
pháp, chọn ngày tế tự, và giám sát các hoạt động
tế tự cho đúng nghi lễ. Từ đời Tần
- Hán trở đi, chức quan này càng thấp dần, chỉ
c̣n gói gọn trong việc trông coi lịch pháp và thiên văn
để dự báo các điềm bất tường.
Cơ cấu hành chính trực thuộc quan Thái Sử
cũng lần lượt đổi tên thành Thái Sử
Liêu, Thái Sử Tự, Thái Sử Thự, Thái Sử Tào, Thái
Sử Giám, Tư Thiên Giám, Thiên Văn Cục, Thái Sử Viện.
Sau đó, lịch pháp do Tư Thiên Giám trông coi, thiên văn
th́ do Khâm Thiên Giám, sử sách th́ giao cho Hàn Lâm Viện, không
c̣n chức Thái Sử nữa, nhưng vị quan đứng
đầu Hàn Lâm Viện vẫn thường được
gọi là Thái Sử. Tới đời Khang Hy thành lập
Quốc Sử Quán để chuyên biên soạn sử, danh
xưng Thái Sử mất hẳn.
[35] Quy Tư (Kutsi, Kuci) c̣n phiên âm là Khúc
Tẩy, Khưu Từ, Khuất Chi, Khâu Tư, Câu Di, Khuất
Từ, Khố Triệt, Cưu Ty, thuộc địa phận khu A Khắc
Tô (Aqsu) của Tân Cương hiện thời, nay là huyện
Khố Xa (Kuche). Đây là một quốc gia hùng mạnh
nằm trên con đường tơ lụa, tồn tại
từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên cho
đến năm 648 th́ bị nhà Đường diệt
quốc.
[36] Kiêu Kỵ Tướng Quân là người
cầm đầu quân cấm vệ bảo vệ hoàng
thành. Đời Tây Tấn lập ra Kiêu Kỵ Doanh là lực
lượng bảo vệ kinh thành và cung điện của
vua.
[37] Tây
Lương c̣n gọi là Lương Châu thuộc tỉnh
Cam Túc, bao gồm vùng Hà Tây (phía Tây sông Hoàng Hà). Tùy theo từng
thời mà lănh thổ của Tây Lương rộng hẹp
khác nhau. Vào thời cực thịnh, Tây Lương là danh
xưng chỉ chung toàn bộ tỉnh Cam Túc. Thời Tấn,
Tây Lương của Lữ Quang bao gồm nhiều huyện
như Cô Tạng, Vũ Oai, Xương Tùng, Hiển Mỹ,
Ly Kiền v.v… Lữ Quang xưng đế, đặt niên
hiệu là Thái An, đóng đô tại Cô Tạng, chia vùng này
thành 26 quận.
[38] Chữ “萇” này theo Khang Hy Tự Điển phải đọc
là âm Trường, nhưng xưa nay các bản dịch cổ
đều ghi là Trành, nên chúng tôi vẫn tuân theo thói quen
trước nay mà ghi là Diêu Trành.
[39] Tuất (卒) là danh
xưng thời Xuân Thu Chiến Quốc dùng để nói
quan đại phu chết. Vua chư hầu chết th́ gọi
là “hoăng” (薨), hoàng đế chết là “băng” (崩).
Sau
này “tuất” trở thành từ ngữ chỉ chung một
người bị chết.
[40] Xứ này c̣n
gọi là Sớ Lặc, là một vương quốc cổ
ở Tây Vực, thuộc một ốc đảo trong vùng
sa mạc Taklamarkan, nay thuộc tỉnh Tân Cương của
Trung Hoa. Tuy là chư hầu của nhà Đường,
nhưng đến cuối thứ tám, Sớ Lặc bị
vương quốc Cổ Tây Tạng xâm đoạt, diệt
quốc, và sau đó bị sát nhập vào khả hăn quốc
Kara-Khanid của người Thổ Nhĩ Kỳ trong giai
đoạn họ Hồi giáo hóa vùng Tân Cương.
[41] Sáu bản dịch
tức là ngoài bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập,
c̣n có năm bản dịch như sau:
1. Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh (do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời
Nguyên Ngụy).
2. Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh (do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần).
3. Kim Cang Năng Đoạn
Bát Nhă Ba La Mật Kinh (do ngài Đạt Ma Cấp Đa dịch
vào đời Tùy).
4. Năng Đoạn Kim
Cang Phần tức hội thứ chín trong kinh Đại
Bát Nhă Ba La Mật Kinh (do ngài Huyền Trang dịch vào đời
Đường).
5. Năng Đoạn Kim
Cang Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh (do ngài Nghĩa Tịnh dịch
vào đời Đường).