Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 2

Phần 1

金剛般若波羅蜜經講義

Soạn giả: Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)

清信士勝觀江妙煦

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

2. Giải thích ư nghĩa kinh văn

         

          Chia thành ba phần:

          1) Tự Phần.

          2) Chánh Tông Phần.

          3) Lưu Thông Phần

          Nghĩa do kinh văn mà hiển lộ. Hơn nữa, Quán Chiếu Bát Nhă và Thật Tướng Bát Nhă đều do Văn Tự Bát Nhă mà khởi, tức là đối với mỗi chữ, mỗi câu trong kinh văn, đều chẳng thể không khảo sát, đính chánh, xác chứng rơ ràng rất cặn kẽ. Bởi lẽ, kinh này được đọc tụng rộng khắp; do vậy, từ đời Minh tới nay, có quá nhiều dị bản được lưu thông trong cơi đời. Thường là sao chép sai ngoa, hoặc tăng giảm ư nghĩa, ai nấy tự cho là đúng, hầu như khiến cho mọi người chẳng biết dựa vào đâu! Diệu Hú cũng sanh sau đẻ muộn, may là được gặp các bản đời Tấn, Tùy và Đường, như các bản sớ giải kinh của các vị Tăng Triệu, Trí Giả, Huệ Tịnh. Kinh sớ của các vị đại đức đều từ hải ngoại đưa về, nhưng bản chép tay của người đời Đường, như bản của các vị Liễu Thành Huyền[1] viết, cất giấu lâu ngày tại thạch thất Đôn Hoàng cũng được phát hiện trong cơi đời. Diệu Hú nhờ vào đó mà tham khảo, đối chiếu lẫn nhau, khảo sát chỗ chân thật, đính chánh chỗ sai lầm, quả thật là một cơ hội gặp gỡ hiếm có, mà cũng là trách nhiệm của kẻ hậu học. Tôi đă soạn riêng thành một quyển khảo đính, ghép vào sau kinh. Đối với các câu hay chữ khác nhau hay giống nhau, tuy là một chữ sai khác, nhưng có liên quan đến ư nghĩa của kinh rất lớn, nay tôi mỗi mỗi đều thuận theo kinh văn mà chỉ ra, ḥng nêu tỏ nghĩa thú ấy. Đằng nào đúng, đằng nào sai, có thể thấy rơ rành rành, người đọc sẽ biết ngay!

          Kinh văn đại lược chia thành ba khoa: Một là Tự Phần, hai là Chánh Tông Phần, ba là Lưu Thông Phần. Hết thảy các kinh, không kinh nào chẳng như vậy! Cách phân chia, phán định như thế khởi nguồn từ pháp sư Đạo An thời Đông Tấn, tức là thầy của Sơ Tổ Tịnh Độ Tông Lư Sơn Huệ Viễn vậy. Lúc thuyết ấy vừa mới được nêu ra, người nghe ngờ vực. Sau đó, chính nhờ các vị Phạn đức (các vị đại đức người Tây Vực hoặc Thiên Trúc) đến phương Đông [khẳng định], mới biết tại Tây Thổ, hết thảy các kinh cũng đều được chia thành khoa như thế, mọi người đều nhất trí tin phục, [cách phán định kinh Phật thành ba phần như thế] bèn trở thành quy tắc nhất định. Như kinh này từ “như thị ngă văn” cho tới “phu ṭa nhi tọa” (trải tọa cụ mà ngồi) là Tự Phần. Từ “trưởng lăo Tu Bồ Đề” cho tới “thị danh pháp tướng” là Chánh Tông Phần. Từ “Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân dĩ măn vô lượng A-tăng-kỳ thế giới thất bảo tŕ dụng bố thí” (Tu Bồ Đề! Nếu có người dùng bảy báu đầy ắp trong vô lượng A-tăng-kỳ thế giới để bố thí) cho tới “tín thọ phụng hành” (tin nhận, vâng làm) là Lưu Thông Phần.

 

2.1. Tự phần

2.1.1. Chứng Tín Tự

 

          (Kinh) Như thị ngă văn, nhất thời, Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.

          ()如是我聞一時佛在舍衛國祇樹給孤獨園與大比丘眾千二百五十人俱

          (Kinh: Tôi nghe như thế này: Một thời, đức Phật ở nước Xá Vệ, nơi Kỳ Thụ Cấp Cô Độc viên, cùng với các vị đại tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người tụ họp).

 

          Đây là Chứng Tín Tự (證信序), c̣n gọi là Thông Tự (通序, tựa chung), do các kinh đều chung có. Cũng gọi là Kinh Hậu Tự (經後序, phần tự được thêm vào sau khi kinh được kết tập), v́ lúc đầu đức Phật nói kinh, vốn chẳng có phần tự này. Tới khi kết tập mới được thêm vào. Cũng gọi là Di Giáo Tự (遺教序). Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, tôn giả A Nan kính cẩn vâng theo di mạng, đầu hết thảy các kinh đều đặt các câu “như thị ngă văn, nhất thời Phật tại mỗ xứ, dữ mỗ đại chúng nhược can nhân câu” (tôi nghe như thế này: Một thời đức Phật ở tại chỗ nào đó, cùng với đại chúng nào đó chừng ấy người nhóm họp). Đặt các điều như thế [ở đầu kinh] nhằm chứng minh đây là kinh do đức Phật nói để phát khởi ḷng tin. V́ thế, gọi là Chứng Tín Tự.

          Đại Trí Độ Luận gọi phần kinh văn thuộc khoa này là Lục Thành Tựu. Bởi lẽ, phàm kết tập một kinh, ắt có đủ sáu duyên, sẽ quyết được thành tựu. Những ǵ là sáu duyên?

          - Một là Như Thị, tức Tín Thành Tựu.

          - Hai là Ngă Văn, tức Văn Thành Tựu.

          - Ba là Nhất Thời, tức Thời Thành Tựu.

          - Bốn là Phật, tức là Chủ Thành Tựu.

          - Năm là ở nơi nào đó là Xứ Thành Tựu.

          - Sáu là cùng với tỳ-kheo ngần ấy vị nhóm họp là Chúng Thành Tựu.

          Sáu duyên đă đủ, tức là vị thuyết pháp chủ (người chủ tŕ việc thuyết pháp), lúc thuyết pháp, nơi thuyết pháp, đại chúng nghe pháp, và người kết tập phụ trách chứng minh những điều ấy do chính ḿnh được nghe, mỗi mỗi đều đầy đủ. V́ thế nói là Lục Thành Tựu.

          Đầu tiên nói Như Thị. Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Phàm người tin tưởng th́ nói là Như Thị. Chẳng tin, ắt sẽ chẳng nói Như Thị. Nay người kết tập vừa mở miệng liền trịnh trọng nói Như Thị. Do vậy, nêu rơ lời nào cũng đều “đúng như đức Phật đă nói”, từ và nghĩa chẳng sai lầm, ắt đủ để nay tin tưởng rồi truyền cho mai sau vậy! V́ thế nói là Tín Thành Tựu. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tín vi đạo nguyên, công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện pháp” (Tín là nguồn đạo, mẹ công đức, nuôi lớn hết thảy các pháp lành). Tín chính là sơ môn để nhập đạo; do vậy, xếp đầu tiên. Kế đó, nói Ngă Văn (tôi nghe), Ngă là ngài A Nan tự xưng. Đặc biệt xưng là Ngă, tức là từ ngữ [thể hiện ư] “chịu trách nhiệm”. Lại c̣n nhằm nói rơ: Chính tai tôi đích thân nghe, chẳng phải là được kể lại. Trên là nối tiếp ư Như Thị, dưới lại kể ra tường tận cho đại chúng cùng nghe, nhằm lại chứng minh đây cũng chẳng phải là nghe riêng tư. Tức là [với những bằng chứng] như thế đó, ḷng tin có chứng cớ. V́ thế nói là Văn Thành Tựu.

          Ngày đức Thế Tôn thành đạo, ngài A Nan giáng sanh. Tới khi Ngài xuất gia, đức Phật đă thuyết pháp hai mươi năm; do vậy, Ngài thỉnh đức Phật đem những pháp đă nói trước đó đều nói bổ sung. A Nan lại đắc Pháp Tánh Giác Tự Tại tam-muội, có thể ở trong Định, thấu triệt hết thảy các pháp. V́ thế, kết tập pháp tạng, ắt phải suy cử A Nan, mà cũng là do đức Phật đích thân chấp thuận. Như kinh Pháp Hoa chép: “Ngă dữ A Nan ư Không Vương Phật sở, đồng thời phát tâm, ngă hảo tinh tấn, toại trí tác Phật. A Nan thường nhạo đa văn, cố tŕ ngă pháp tạng” (Ta cùng A Nan ở chỗ Không Vương đồng thời phát tâm. Ta chuộng tinh tấn nên được thành Phật. A Nan thường thích đa văn, nên tŕ pháp tạng của ta). Khi kết tập, ngài A Nan lên ṭa, quang minh nơi thân giống như đức Phật. Đại chúng nghi đức Thế Tôn sống dậy thuyết pháp, hoặc ngờ là vị Phật từ phương khác đến, hoặc nghi A Nan đă thành Phật. Ngài A Nan vừa mở miệng liền nói: “Như thị ngă văn…” Ba mối nghi ấy đều nhanh chóng dứt mất. Do đức Thế Tôn biết trước ắt có các mối nghi ấy, nên truyền dạy đầu hết thảy các kinh đều đặt các câu như thế đó!

          Đối với chuyện kết tập, trong các kinh, luật, luận, có đủ loại thuyết. Có người bảo Tiểu Thừa Tam Tạng đều do ngài A Nan kết tập. Có người bảo ngài Ưu Ba Ly kết tập Luật, ngài A Nan chỉ kết tập Kinh và Luận. Có người nói luận là do ngài Đại Ca Diếp (Ma Ha Ca Diếp) tự kết tập. Lại có người bảo luận là do ngài Phú Lâu Na tụng ra. Cái được gọi là “ngũ bách kết tập” (kết tập Tam Tạng bởi năm trăm vị La Hán) c̣n gọi là “kết tập lần thứ nhất”. Khi đó, ngay trong năm đức Thế Tôn nhập diệt, địa điểm là hang Tất Ba La (Pippalī-guha) ngoài thành Vương Xá (Rājagṛha), vua A Xà Thế làm ngoại hộ. Tôn giả Đại Ca Diếp làm thượng thủ. Có người nói đại chúng là năm trăm vị, có người nói là một ngàn vị, có người nói là tám vạn bốn ngàn vị. Lại c̣n gọi là Thượng Tọa Bộ Kết Tập, do ngài Đại Ca Diếp là bậc Thượng Tọa trong hết thảy các vị Tăng. Cuộc kết tập khởi đầu vào ngày Rằm đầu tiên của mùa An Cư năm ấy. Hoặc nói: Sau khi ba tháng an cư kết thúc. Có người nói khi đă hết tháng Tư. Có người nói: Tháng Mười Hai năm ấy, vua chết, ngài Đại Ca Diếp cũng vào núi Lang Tích[2], đại chúng liền giải tán.

          Trong lúc đó (lúc kết tập kinh), lại có mấy trăm ngàn vị Học Vô Học do chẳng thể dự hội, muốn báo ân Phật, bèn ở nơi cách cái hang ấy hai mươi dặm về phía Tây Bắc, riêng kết tập Kinh, Luật, Luận, và Tạp Tập Tạng, Cấm Chú Tạng thành năm tạng. Do phàm thánh cùng tụ tập, nên gọi là Đại Chúng Bộ Kết Tập (các vị này đều là đệ tử đức Phật, chẳng phải là [bộ phái] Đại Chúng Bộ (Mahāsāṃghika) sau khi đức Phật đă nhập diệt năm trăm năm), La Hán Bà Tu Bà Sư làm thượng thủ, cũng do vua A Xà Thế làm đại thí chủ, cúng dường đủ thứ. Chuyện này được chép trong kinh Pháp Tạng, hoặc các sách như Tây Vực Kư v.v… Sau đấy cũng có ba lượt kết tập:

          - Khi đức Phật nhập diệt khoảng một trăm năm, trưởng lăo Da Tư Na (có thuyết nói là Da Xá Đà, hoặc Tu Na Câu) làm thượng thủ, tụ họp bảy trăm vị thánh chúng. Trưởng lăo Ly Bà Đa (Soreyya-Revata) và Tát Bà Già (Sabbakāmi) vấn đáp, luận định, chuyên v́ loại trừ những điều được coi là trái pháp trong Luật Tạng. Đó gọi là Kết Tập Lần Thứ Hai.

          - Sau khi đức Phật đă nhập diệt hai trăm ba mươi lăm năm, nhằm thời vua A Dục (Aśoka Maurya), ngài Mục Kiền Liên Đế Tu (Maudgaliputra Tiśya) làm thượng thủ, nhóm họp sáu vạn người, chọn lựa kỹ càng một ngàn vị. Ngài Đế Tu tạo luận để phá tà thuyết của ngoại đạo. Đó là Kết Tập Lần Thứ Ba.

          - Cuối cùng, trong khoảng bốn năm trăm năm sau, vào thời vua Ca Nị Sắc Ca (Kaniṣka), nhóm họp năm trăm vị La Hán, năm trăm vị Bồ Tát, ngài Ca Chiên Diên Tử (Kātyāyana-putra) làm thượng thủ, Mă Minh Bồ Tát (Aśvaghoṣa) tạo luận, trải qua mười hai năm, hợp thành bộ Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharma-vibhāṣā Śāstra) gồm một trăm vạn bài tụng để giải thích kinh (chỉ được dịch ra tiếng Hán một phần). Có người nói Thế Hữu Bồ Tát (Thế Thân, Vasubandhu) là thượng thủ, tạo luận cho Tam Tạng, mỗi tạng gồm mười vạn bài tụng. Đó là Kết Tập Lần Thứ Tư.

          Thuở đức Phật tại thế đă có kết tập. Như ngài Mục Kiền Liên tạo Pháp Uẩn Túc Luận (Dharmaskandha-śāstra), nhưng đấy bất quá là một phần soạn thuật. Nếu triệu tập đại chúng nhóm họp, thực hiện kết tập đại quy mô th́ thật sự là do ngài Đại Ca Diếp, A Nan và các thánh chúng khởi đầu.

          Kết tập Đại Thừa xét ra có hai thuyết:

          - Một là sau khi đức Phật nhập diệt bảy ngày, ngài Đại Ca Diếp bảo năm trăm vị La Hán, gơ chuông triệu tập các vị A La Hán trọn khắp mười phương thế giới, được tám vạn tám ngàn vị [nhóm đến] nơi Sa La Song Thụ, sai A Nan thăng ṭa [trùng tuyên], chia nhau kết tập Bồ Tát, Thanh Văn, Giới Luật Tam Tạng. Bồ Tát Tạng gồm tám phần: Thai Hóa Tạng là thứ nhất, Trung Ấm Tạng là thứ hai, Ma Ha Diễn Phương Đẳng là thứ ba, Giới Luật Tạng là thứ tư, Thập Trụ Bồ Tát Tạng là thứ năm, Tạp Tạng là thứ sáu, Kim Cang Tạng là thứ bảy, Phật Tạng là thứ tám. Xem [những điều này được chép trong] kinh Bồ Tát Xử Thai.

          - Hai là các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Di Lặc dẫn A Nan đến núi Thiết Vi để kết tập Đại Thừa Tam Tạng. Xem điều này trong Đại Trí Độ Luận.

          C̣n như Mật Bộ, cũng có hai thuyết: Hoặc nói toàn bộ đều do ngài A Nan kết tập, hoặc nói Kim Cang Thủ Bồ Tát là chánh, A Nan giúp đỡ. Thuyết sau dựa theo kinh Lục Ba La Mật. Trong kinh, đức Phật thâu nhiếp các pháp thành năm phần, bảo Từ Thị Bồ Tát (Di Lặc Bồ Tát) rằng: “Ngă diệt độ hậu, lệnh A Nan Đà thọ tŕ sở thuyết Tố Đát Lăm Tạng (thử vân Kinh Tạng), kỳ Ổ Ba Ly (tức Ưu Bà Ly) thọ tŕ sở thuyết Tỳ Nại Da Tạng (thử vân Luật Tạng), Ca Đa Diễn Na thọ tŕ sở thuyết A Tỳ Đạt Ma (thử vân Đối Pháp, tức thị Luận Tạng). Mạn Thù Thất Lợi thọ tŕ sở thuyết Đại Thừa Bát Nhă Ba La Mật Đa. Kỳ Kim Cang Thủ thọ tŕ sở thuyết thậm thâm vi diệu chư pháp Tổng Tŕ môn” (Sau khi ta diệt độ, sai A Nan Đà thọ tŕ Tố Đát Lăm Tạng (phương này nói là Kinh Tạng) do ta đă nói, Ổ Ba Ly (Upāli , tức Ưu Bà Ly) thọ tŕ Tỳ Nại Da Tạng (phương này nói là Luật Tạng) do ta đă nói, Ca Đa Diễn Na (Kātyāyana, Ca Chiên Diên) thọ tŕ A Tỳ Đạt Ma (thử vân Đối Pháp, tức Luận Tạng) do ta đă nói. Mạn Thù Thất Lợi (Mañjuśrī, Văn Thù Sư Lợi) thọ tŕ Đại Thừa Bát Nhă Ba La Mật Đa do ta đă nói. Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi) thọ tŕ các pháp rất sâu vi diệu thuộc Tổng Tŕ Môn do ta đă nói).

          * Sự biểu pháp: Biểu pháp nhằm “tiêu quy tự tánh” (hồi quy, dung hội vào tự tánh). Nghe kinh, thính pháp, chú trọng ở chỗ dung hội trọn vẹn kinh văn, mỗi mỗi đều quy vào sự thấu hiểu nơi bản tánh của chính ḿnh th́ mới đạt được thọ dụng. Đoạn văn này vốn là sự tướng thuộc cảnh duyên, vẫn có thể “tiêu quy tự tánh”. Tức là đối với kinh văn thuộc phần sau, có thể phỏng theo lệ này để biết. Suy ra, nếu đối với hết thảy các cảnh duyên đều có thể lănh hội như thế, sẽ thọ dụng vô cùng! Hăy chú ư, chú ư nhé!

          “Như” là như như bất động, tức là tánh thể vốn sẵn có của mỗi người. “Thị”“đương hạ tức thị” (ngay trong mỗi sát-na hiện tại đều chính là [chân tâm hiện tiền])[3]. Hết thảy phàm phu tuy tánh ngay trong mỗi sát-na đều chính là [chân tánh], nhưng trong mỗi sát-na, lại luôn sanh diệt không ngừng, trọn chẳng như như[4], v́ sao? Do ngă chấp gây chướng. V́ thế, ắt phải phá chấp trước nơi tiểu ngă để hội quy vào Đại Ngă. Đại Ngă chính là một pháp giới, tức “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”, là cái ngă Thường Lạc Ngă Tịnh. Hăy nên hiểu chữ Ngă ở đây như thế đó. “Văn” (nghe) là xoay ngược lại cái Nghe để nghe nơi tự tánh[5]. Khi muốn hội quy, ắt phải “phản văn”, chớ nên hướng ra ngoài rong ruổi, trái nghịch giác, xuôi theo trần lao! “Nhất thời” tức là “thập thế cổ kim”[6] chẳng ĺa một niệm ngay trong hiện tại. Đó là tam tế tâm (三際心, tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai) đều chẳng thể được; hăy nên lănh hội như thế.

          Đối với chữ Ngă trong đoạn chánh kinh trên đây, nếu lănh hội “một pháp giới”, sẽ trừ bỏ chướng ngại đối với không gian. Đối với chữ Nhất Thời, nếu lănh hội “chẳng có ba đời”, chướng ngại về thời gian cũng trừ! Tánh thể vốn sẵn có là như thế đó, hăy nên “phản văn” (xoay cái Nghe ngược lại) như vậy! Phàm phu quên mất cái gốc này đă lâu. Nay muốn phản chiếu, cần phải có phương tiện. Trong sáu căn, chỉ có Nhĩ Căn viên thông nhất. Đó gọi là “thập phương kích cổ, thập phương tề văn” (mười phương đánh trống, mười phương cùng nghe). Nơi tánh vốn chẳng chướng ngại, so ra dễ lănh hội hơn. V́ thế, dạy hăy từ Nhĩ Căn mà nhập. Do nhĩ căn trọn đủ một ngàn hai trăm công đức (“một ngàn hai trăm” bất quá biểu thị sự viên măn vô ngại. Do mười phương xét đến căn bản, chỉ là bốn phương. Bốn góc và trên dưới, đều do Đông, Tây, Nam, Bắc tách ra mà thành giềng mối của sáu phương. V́ thế, sáu phương ấy là nói theo chiều ngang. Ba đời là nói theo chiều dọc. Ngang dọc xen lẫn, [ba nhân bốn] thành mười hai, biểu thị sự vô tận, nên nói là “một ngàn hai trăm”. Bởi lẽ, “bốn phương” nhân với “ba đời” th́ là mười hai. Gấp trăm lần lên[7] sẽ thành một ngàn hai trăm).

          “Phật” là tự tánh thiên chân Phật. Cùng ngăn, cùng chiếu, Trung Đạo viên dung, tự tánh vốn là như thế, [nước Xá Vệ trong chánh kinh] tức là nước Xá Vệ (Śrāvastī) trong tự tánh. Chiến thắng ma Ngũ Ấm, tiếp nối hưng thnh ḍng giống Phật, chính là thái tử Kỳ Đà[8] trong tự tánh. Rừng công đức trang nghiêm phước huệ được gọi là Thụ (, cây cối). Đứa con bỏ cha trốn đi, nay trở lại quê nhà, tiếp nhận cơ nghiệp của cha. Viên minh châu trong chéo áo, chẳng nhọc nhằn mà đạt được, tức là vườn Cấp Cô Độc trong tự tánh. “Đại” là đại bi đại nguyện. Tỳ-kheo là viễn trần ly cấu. “Chúng” () là Lư và Sự ḥa hợp. “Một ngàn hai trăm người”: Viên măn công đức phản văn nơi nhĩ căn. “Năm mươi lăm người” tức Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, và Đẳng Giác, thành năm mươi lăm địa vị. Bởi lẽ nói “bản tánh như như bất động” th́ ngay trong mỗi sát-na đều là [như vậy]. Nếu thật sự có thể ngang hay dọc đều chẳng chướng ngại, “phản văn” như thế th́ vị Phật trong tự tánh thiên chân sẽ là Như Thị hiện diện, cùng với đại bi, đại nguyện, xa ĺa trần cấu, Lư và Sự ḥa hợp, năm mươi lăm địa vị Bồ Tát Ma Ha Tát viên măn công đức phản văn làm bầu bạn. Như thế th́ pháp hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan! Lại có thể nói là “ở ngay Linh Sơn đích thân nghe diệu pháp” cũng được, tức là Linh Sơn ở ngay trong tấc ḷng này. V́ sao vậy? Tự tánh thiên chân Phật cùng với Thích Ca Mâu Ni Phật đă “tâm in vào tâm lẫn nhau”, quang minh chiếu sáng lẫn nhau. Vậy th́ đă thấy cảnh tướng trong Chứng Tín Tự là “phi tướng”, bèn thấy Như Lai. V́ thế, sự Như Thị của các vị thiện tri thức chẳng phải là riêng với kinh này là như thế, cũng chẳng phải là ở nơi ṭa giảng kinh, nghe kinh này bèn là như thế, rời khỏi ṭa sẽ chẳng như thế! Lại chẳng phải là trong pháp hội là như thế, mà ra ngoài pháp hội bèn chẳng như thế, mà sẽ là trong hết thảy mọi lúc, hết thảy mọi chuyện, hết thảy mọi cảnh, sẽ đều thấy các tướng phi tướng, ắt động tĩnh như một, không ǵ chẳng phải là như vậy! Trân trọng! Trân trọng!

 

2.1.2. Phát Khởi Tự

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn thực thời, trước y, tŕ bát, nhập Xá Vệ đại thành khất thực. Ư kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bổn xứ, phạn thực ngật, thâu y bát, tẩy túc dĩ, phu ṭa nhi tọa.

          ()爾時世尊食時著衣持鉢入舍衛大城乞食於其城中次第乞已還至本處飯食訖收衣鉢洗足已敷座而坐

     (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vào giờ ăn, đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá Vệ khất thực. Ở trong thành ấy, theo thứ tự xin xong, trở về chỗ ḿnh, dùng cơm xong, thâu y bát, rửa chân xong, trải tọa cụ mà ngồi).

 

          Đức Phật v́ người xuất gia chế ra ba y (Trīni-cīvarāni):

          - Một là An Đà Hội (Antarvāsa), phương này gọi là Ngũ Điều (cắt vải thành từng miếng vuông, [mỗi miếng ấy gọi là Điều], may giáp mí như thửa ruộng, nên gọi là Phước Điền Y. Năm điều th́ h́nh vuông lớn, chín điều th́ h́nh vuông nhỏ dần). [Y này] cũng gọi là Trước Thể Y (著體衣), mặc khi làm lụng và nằm, ngồi.

          - Hai là Uất Đa La Tăng (Uttarāsavga), phương này gọi là Thất Điều. Giảng kinh, thuyết pháp, lại khoác ra ngoài y Ngũ Điều. Do vậy, c̣n gọi là Thượng Y (Ngũ Điều c̣n gọi là Hạ Phẩm, Thất Điều gọi là Trung Phẩm, Cửu Điều lại gọi là Thượng Phẩm).     

          - Ba, nếu ở chỗ đông người, hoặc vào chốn đại đô hội, cũng như cung vua, bèn mặc y Cửu Điều, tên tiếng Phạn là Tăng Già Lê (Saṁghāti), cũng gọi là Đại Y.

           Ba y đều gọi chung là Ca Sa (Kāṣāya). Ca Sa có nghĩa là Tạp (, nhiều thứ lẫn lộn). Không chỉ v́ màu sắc có xanh, vàng, đỏ, đen, tía là Tạp (đó là nói theo kinh Phạm Vơng). Sách khác có thể chỉ nói [các màu] xanh, đen, đỏ, hoặc chỉ nói màu đỏ. Có người nói rằng: Trên y màu đỏ, thêm chút màu xanh, đen v.v…, chẳng dùng màu đỏ tươi! Hoặc kèm thêm xanh, hoặc thêm màu vàng, hoặc kèm màu đen, cũng chẳng phải là các màu xanh, vàng tươi, đen đậm, màu tím đậm; đó gọi là Tạp (cách nói như thế tức tổng hợp các thuyết để dung hội, ḥng biết là như thế, chứ thời cổ chẳng nói rơ ràng như thế). V́ thế, đỏ mà nhuốm xanh, sẽ giống như màu bùn đen, nên gọi là Phi Truy (披緇, mặc áo thâm). Đỏ mà kèm thêm vàng, tức là màu mộc lan (màu maroon, màu vỏ măng cụt). Màu tía cũng là đỏ có kèm thêm đen mà thành, đều chẳng phải là chánh sắc. V́ thế, lại gọi là Bất Chánh Sắc, Hoại Sắc, hoặc Nhiễm Sắc. Sở dĩ làm như thế để phân biệt với người tại gia, cũng nhằm biểu thị ư nghĩa “chẳng trụ nơi Sắc” (kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Nhiễm tác ca sa y, vị vi ca sa vị” (áo nhuộm màu gọi là áo Ca Sa, vị th́ nói Ca Sa vị [tức nhiều vị lẫn lộn]). V́ thế giải thích Ca Sa là Tạp th́ ổn thỏa nhất). Tức là màu [y ca-sa] như thế ảm đạm, chẳng tươi tắn, rực rỡ, cũng là ư nghĩa “chẳng phô trương”. Đắp y, cầm bát, khất thực v.v… đều do giới luật chế định. Đức Thế Tôn làm như thế tức là dùng thân ḿnh làm gương, dạy người khác tŕ giới. Các thứ [vật dụng của người xuất gia] như bát v.v… đều như [giới luật] thường nói.

          Khất thực có nhiều nghĩa. Nói đại lược th́ v́ hàng phục ngă mạn, do chẳng tham vị ngon (nhà này bố thí vị ngọt, nhà khác có thể bố thí vị mặn. Do vậy gọi là Ca Sa Vị), do chuyên tâm tu đạo (những điều trên đây đều là nói theo phía người xuất gia), khiến cho người khác trông thấy sanh tâm hổ thẹn. Xuất gia vốn là để độ chúng sanh. Muốn độ chúng sanh, cần phải trước hết là đoạn Hoặc. Để đoạn Hoặc, ắt phải khổ hạnh, khiến cho người khác trông thấy đều sanh ḷng hổ thẹn, nói: “Do độ chúng sanh mà tự khổ như thế, bọn ta há nên tham ăn, tục uống, mong cầu an nhàn, buông lung như vậy ư?” [Đối với người xuất gia th́ khất thực để] mong cho đạo tâm tăng trưởng, tục niệm giảm thiểu, tức là khất thực có ích to lớn cho chúng sanh. Há có phải chỉ v́ muốn cho kẻ khác bố thí, gieo phước điền mà thôi! Do vậy, khất thực chính là phước cực lớn để tu của người xuất gia. Cổ đức do lo ngại kẻ tín tâm chẳng nhiều, [tăng sĩ khất thực] ắt bị hủy báng, bất đắc dĩ tậu ruộng, tự trồng trọt, đă trái nghịch chế định của đức Phật, đă tột bậc khổ tâm. Há có nên như người hiện thời nói: “Nếu như tỳ-kheo kiêm kinh doanh nghề khác, vậy th́ cần phải xuất gia để làm ǵ cơ chứ?” [Tỳ-kheo kinh doanh là] phá hoại Phật pháp, muôn vàn chẳng được! Muốn cho Phật pháp hưng thịnh mà [tỳ-kheo] chẳng hành theo quy chế khất thực, sẽ chẳng thể được! Nếu nói “phương Đông chẳng thể được! Hiện thời chẳng thể thực hiện được”, vậy th́ Tiêm La (Thái Lan)[9] cho tới nay vẫn tuân theo chế định của đức Phật để hành, há bảo là hiện thời phương Đông chẳng thể làm được ư? Chỉ cần người tín tâm nhiều, sau đấy sẽ có thể hành.

          “Phu ṭa nhi tọa” (trải tọa cụ mà ngồi) tức là sắp nhập Định. Chiếu theo quy củ, trước khi tĩnh tọa, c̣n có kinh hành, nhưng nay chẳng nói. [Đức Phật làm như thế nhằm] chỉ bày ư nghĩa “dụng công khẩn yếu”, chớ nên giây phút nào mong cầu ăn bám an nhàn vậy!

          Để nói bộ đại kinh này, phát khởi bằng chuyện tầm thường hằng ngày, rất là lạ lùng, đặc biệt! V́ vậy, ngài Thiện Hiện (Tu Bồ Đề) vừa mở miệng liền tán thán hy hữu. Nhưng lạ lùng, đặc biệt mà chẳng khác tầm thường! Do vậy, kế đó, ngài Thiện Hiện thưa: “Thiện hộ niệm, thiện phó chúc” (khéo hộ niệm, khéo giao phó, căn dặn). Đủ thấy đoạn văn này liên quan toàn bộ bản kinh, lư cực sâu kín, vi tế, mà lại thân thiết. Nếu ơ hờ xem lướt qua, há chẳng phải là cô phụ ư? Nay lập ra mười tầng để nêu bày đại lược ư nghĩa ấy. Bốn tầng trước là dựa theo pháp để nói, sáu tầng sau dựa theo sự giáo hóa để nói.

          1) Thị hiện đắp y, khất thực, rong ruổi trong chốn trần lao, nghiễm nhiên giống như phàm phu, tức là đức Phật chẳng trụ trong Phật tướng, chính là nêu bày tướng vô ngă của đức Phật. Tông chỉ của cả bộ kinh này là ở chỗ phá ngă. Nay thị hiện vô ngă, chẳng nói một chữ nào. Đó cũng là nêu bày vô pháp tướng của đức Phật. Tuy chẳng nói một chữ, nhưng thật ra [đức Phật] chỉ bày pháp vô ngă. Lại do đức Phật thị hiện dấu tích mà chẳng phải là không có pháp tướng. Lư Tam Không được nêu bày hoàn toàn triệt để! Đó gọi là “thiện phó chúc”.

          2) Những điều như đă nói trên đây chính là đại trí. Tu Bồ Tát hạnh, ắt phải nên bi lẫn trí trọn đủ. V́ thế, khi nói cặn kẽ, vừa mở miệng liền dạy “hăy nên độ tất cả hết thảy chúng sanh”, nhưng nay thị hiện giống như phàm phu, tức là Đồng Sự Nhiếp trong Tứ Nhiếp. Đó chính là do đức Thế Tôn đại từ, đại bi, chẳng bỏ chúng sanh, lấy bản thân làm gương, nêu gương cho các vị Bồ Tát Ma Ha Tát. Đó gọi là “thiện hộ niệm”. Gộp chung để nh́n, dùng đại trí để hành đại bi, Không mà Bất Không. Do đại bi mà hiển lộ đại trí, tuy Có mà chẳng Có, Không mà Bất Không, đó gọi là Diệu Hữu. Có mà chẳng có, chính là Chân Không. Há chẳng phải là “Không tức là Giả, Giả tức là Không, Nhị Đế quán dung thông”, rành rành là Đệ Nhất Nghĩa Đế trong Trung Đạo hay sao? V́ thế, trong xử sự thường nhật đă hiển lộ ư chỉ trọng yếu “lư Tam Không, quán dung Nhị Đế” của cả bộ kinh, đều được giăi bày trọn hết. Điều ấy được gọi là “hy hữu” vậy!

          3) Đức Phật nói các kinh khác, thường là phóng quang, chấn động đại địa để phát khởi. Do chỉ bày hết thảy các pháp đều từ chánh trí Bát Nhă mà ra, tức là chẳng có pháp nào không phải là Bát Nhă. Trước đó, trong khi nói Bát Nhă, [đức Phật] cũng phóng quang, chấn động cơi đất; nay trong hội thứ chín nói Kim Cang Bát Nhă, lại chẳng giống như thế! Đấy là chỉ bày “ngay cả pháp tướng Bát Nhă cũng chớ chấp trước!” Do vậy, kinh này chép: “Phật thuyết Bát Nhă Ba La Mật, tắc phi Bát Nhă Ba La Mật” (Phật nói Bát Nhă Ba La Mật tức chẳng phải Bát Nhă Ba La Mật). Cần phải biết: Ngay cả Bát Nhă cũng chẳng chấp trước; đó là Bát Nhă Ba La Mật vậy! Đấy là chỗ cùng tột của “chẳng chấp lấy tướng!”

          4) Trong mấy chục năm trước khi nói kinh này, hằng ngày [đức Phật] thị hiện như vậy. Sau khi đă nói kinh này cho đến khi nhập Niết Bàn, trong mấy chục năm, hằng ngày cũng vẫn thị hiện như thế. Có thể thấy: Nói “thị hiện” là người khác nh́n vào bèn nói như thế, chứ đức Phật chẳng có ư niệm “ta v́ đại chúng mà thị hiện chuyện này!” Bởi lẽ, chẳng trong một sát-na nào, [đức Phật] chẳng trụ trong Đại Không tam-muội viên dung Nhị Đế. Người khác thấy là thị hiện này nọ, đều là từ trong Đại Không tam-muội tự tại lưu xuất đó thôi! Chứ Phật chẳng thực hiện chuyện ǵ, hoàn toàn chẳng bận ḷng! Đấy là Như Như bất động đạt đến tột bậc. Ngàn lời muôn lẽ trong cả bộ kinh, đến chỗ quy kết, bèn nói: “Thọ tŕ, độc tụng, vị nhân diễn thuyết” (thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói). V́ người khác diễn nói như thế nào? Chẳng giữ lấy tướng, như như bất động. Có thể biết tám chữ ấy chính là chỗ then chốt trọng yếu của cả bộ kinh, mà cũng chính là chỗ then chốt trọng yếu để người học thọ tŕ, diễn nói. Nay trong hành vi thường nhật, liền hiển thị điểm cốt lơi trọng yếu của Kim Cang Bát Nhă; há chẳng nên nói là “hy hữu, khéo hộ niệm, khéo phó chúc” ư? Các điều trên đây là xét theo pháp để minh thị ư nghĩa của phần Phát Khởi Tự đă xong.

          5) Hết thảy chúng sanh đều cùng sẵn đủ Phật tánh, tức là ai nấy đều vốn sẵn có Pháp Thân Như Lai. Nhưng Pháp Thân Như Lai ấy ẩn tàng, chẳng hiển lộ, nên chẳng gọi là Như Lai, chỉ gọi là Như Lai Tạng. Do họ bươn bả lo toan cơm áo, trái nghịch giác tánh, xuôi theo trần lao, từ lâu đă quên bẵng cái vốn sẵn có! Nay dùng Pháp Thân Như Lai để thị hiện giống hệt như phàm phu, rong ruổi trong trần lao. Chẳng có ǵ khác! [Chỉ v́] muốn cho hết thảy các chúng sanh trong trần lao, ai nấy hồi quang phản chiếu Như Lai Tạng vốn sẵn có ấy!

          6) Phàm phu lè tè sát đất, chướng sâu, nghiệp nặng, nay muốn quán chiếu ngược lại, nếu chẳng được khéo khơi gợi, dẫn dắt, siêng gắng huân tập, sẽ chẳng thể! Nay nói kinh này, phát khởi bằng các chuyện như khất thực v.v… nhằm chỉ dạy chúng sanh thọ tŕ kinh này, hăy nên xem như chuyện ăn cơm, uống trà thường ngày trong nhà, dẫu một ngày cũng chẳng thể ĺa bỏ! Huân tập lâu ngày như thế, ngơ hầu tín tâm tăng trưởng, sẽ từ trong cái vỏ vô minh sâu dày mà hé lộ quang minh!

          7) Kinh tối thượng thừa rất sâu, vi diệu, nay được thấy, nghe, thọ tŕ, nhưng muốn lănh ngộ, thấu hiểu nghĩa chân thật của Như Lai, nếu chẳng có tư cách tương đương, cũng chẳng thể vào được môn này! Kinh này dạy: “Hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới, tu phước giả, ư thử chương cú, năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật” (Năm trăm năm sau, có kẻ tŕ giới, tu phước, đối với chương cú này mà có thể sanh ḷng tin, coi đó là thật). Tín chính là cửa ngơ để nhập đạo. “Coi đó là thật” tức là hiểu ư nghĩa chân thật ấy; cũng tức là thấu hiểu thật nghĩa, bèn có ḷng tin chân thật (Phần kinh văn trước đó hỏi về chuyện “sanh ḷng tin chân thật”, nay đáp rằng: “Có thể sanh tín tâm, coi đó là thật”, tức là bảo rơ ràng: Có thể sanh khởi tín tâm là do coi đó là thật, cũng tức là thật sự hiểu, đó chính là chân tín. Tín tâm chân thật tức là khác với ḷng tin theo kiểu hời hợt, loáng thoáng!) Nhưng tín tâm chân thật là do tŕ giới, tu phước. Vậy th́ muốn nhập môn này, há chẳng coi trọng tŕ giới, tu phước ư? (V́ sao tŕ giới, tu phước có thể sanh ra tín tâm, coi đó là thật? Mối quan hệ trong ấy, lư hết sức tinh vi, đợi đến phần kinh văn ấy, sẽ nói cặn kẽ). Nay các chuyện như đắp y, cầm bát, khất thực… đều là giới luật do đức Phật đă chế định. Y theo đó để hành, đấy là tŕ giới. Khất thực khiến cho hết thảy những ai trông thấy đều sanh tâm hổ thẹn, tăng trưởng đạo niệm, chứ không chỉ nhằm khiến cho [chúng sanh] hành bố thí, gieo phước điền mà thôi! Đấy chính tu phước. Kim Cang Bát Nhă được phát khởi bằng chuyện tŕ giới, tu phước, chính là chỉ dạy chúng sanh hăy dùng phát khởi tín tâm làm tiền phương tiện để nhập môn vậy!

          8) Các chuyện như khất thực v.v… là tŕ giới. Trải tọa cụ mà ngồi là sắp nhập Định. Do Giới sanh Định, do Định sanh Huệ. V́ thế, trong phần Tự [dùng những chuyện ấy] để phát khởi ḥng nói Kim Cang Bát Nhă, lại kiêm chỉ dạy chúng sanh một tŕnh tự nhất định để vận dụng Vô Lậu Tam Học. Ngài chỉ rơ: Tŕ giới, tu phước có thể sanh ra tín tâm chân thật, dùng đó để nhập môn. Nhưng muốn cho chánh trí Bát Nhă hiện tiền mà lại chẳng tu Định th́ sẽ chẳng thể!

          9) Điều trọng yếu trong tu hành là phải có Lư Sự dung thông lẫn nhau. Từ trong Tĩnh, dưỡng thành đầu mối, lại c̣n trong khi đối trước cảnh tùy duyên, hăy siêng năng khám nghiệm. Cổ nhân nói “lịch sự đoán tâm” (歷事煅心, dùng trải qua sự việc để nung luyện cái tâm). Đấy là chỗ trọng yếu nhất cần phải dốc sức trong tu hành. Lư “chẳng chấp Nhị Biên” ắt phải lănh hội trong lúc mặc áo, ăn cơm, phải làm được trong các hành vi thường nhật, ngơ hầu đạt tới “động tĩnh như nhau” sẽ là vô trụ mà chẳng phải là vô trụ vậy! Đấy lại chính là ư nghĩa vi tế của việc phát khởi Bát Nhă bằng các chuyện như khất thực v.v…

          10) Càng hay khéo hơn nữa, phần Phát Khởi Tự này chính là chỉ ra phương tiện ḥng thực hiện tu tập của người đang ở trong trần lao. Đă bị túc nghiệp lôi dắt, kẹt vào trong cái đăy da hôi thối, ai có thể tránh khỏi bươn bả v́ cơm áo! Do đuổi theo ngọn, quên bẵng cái gốc, cố nhiên là chẳng thể! Nếu do vượt thoát trần lao chẳng được bèn sanh phiền năo, lại c̣n làm thế nào được nữa! Đạo ở chỗ khéo léo lợi dụng hoàn cảnh, sẽ có chỗ nào chẳng phải là đạo tràng ư! Mỗi sáng mặc áo ra ngoài, ai nấy chăm chỉ thực hiện chức vụ khất thực (kiếm cơm). Xong việc liền trở về, những chuyện ứng đối, thù tạc v.v… chẳng liên can, có thể giảm bớt liền giảm bớt. Bốn chữ “hoàn chí bổn xứ” (trở về chỗ ḿnh) ở đây, hăy gấp nên chú trọng! Sau khi trở về, liền dùng bữa, rửa ráy v.v… Tức các chuyện đáng nên lo liệu, cất dọn đều làm xong xuôi, sẽ liền tĩnh tọa, nhiếp niệm quán tâm. Bốn chữ “phu ṭa nhi tọa” ấy càng phải nên chú ư. Người thời nay suốt ngày bận tít mù, thù tạc quá nhiều, sau khi trở về lại chẳng nhiếp tâm tĩnh lự, dẫu niệm Phật, tụng kinh, công khóa chẳng khuyết, nhưng cái tâm ấy chưa hề dùng chút phần nào nơi công phu nhiếp tĩnh. Do vậy, tận lực dốc công niệm tụng mà vọng niệm mặc sức tơi bời, có ích chi chăng?

          Lại c̣n đối với chuyện chẳng chấp tướng, và đạo lư “chẳng chấp tướng chính là chẳng chấp vào hai bên pháp và phi pháp” đều chẳng lưu tâm lănh hội. Do vậy, tu hành nhiều năm, vẫn như cũ, thấy cảnh liền bị động, xoay chuyển theo duyên, gót chân chẳng đặt vững một tí nào cả, chính ḿnh chẳng thọ dụng mảy may! Thậm chí phá tung giới luật, không ǵ chẳng làm, cứ ngỡ chẳng chấp pháp tướng, nào hay đă sớm chấp lấy tướng phi pháp mất rồi! Chính ḿnh đọa lạc, lại dắt theo vô số thiện nam tín nữ đồng loạt đọa lạc! Đấy đều là do chưa từng nhiếp niệm quán tâm, chưa hề chẳng trụ tướng, cũng như chẳng hề liễu giải, thấu hiểu ư nghĩa trọng yếu “chẳng chấp vào nhị biên”. Đến nông nỗi như thế, há chẳng đáng thương lắm ư? V́ thế, tám chữ “hoàn chí bổn xứ, phu ṭa nhi tọa” (trở về chỗ ḿnh, trải tọa cụ mà ngồi) ở đây đúng là cái kim chọc thẳng vào đỉnh đầu, là bài minh[10] ngay cạnh chỗ ngồi của bọn chúng sanh đang bươn bả trong trần lao như chúng ta. Dùng những điều này để phát khởi, chính là nhằm chỉ rơ: “Bát Nhă chẳng phải là nói suông mà ḥng đạt được!” Cần phải nương theo văn tự, dấy khởi quán chiếu, thời thời khắc khắc chẳng lơi lỏng, chuyện ǵ cũng siêng gắng khám nghiệm th́ mới lănh ngộ chút phần!

          Trên đây, dựa theo sự giáo hóa để nói rơ ư nghĩa của phần Phát Khởi Tự đă xong. Gộp chung cả mười nghĩa ấy để phát khởi. Không chỉ là Lư Sự của đại pháp vô thượng được rạng bày trọn vẹn, mà phương cách chuẩn bị của người tu hành, cách thức thực hiện, cũng đều được bao gồm trọn hết trong [tám chữ ấy]. Đúng là hy hữu! Nếu chẳng lănh hội từng điều ấy, chẳng đúng như pháp mà tu, không chỉ cô phụ ân hộ niệm, phó chúc hy hữu của Như Lai, mà c̣n cô phụ phần Phát Khởi Tự hiếm có này lắm thay!

          “Nhĩ thời” (lúc bấy giờ) chính là lúc cơ duyên nói và nghe trọn đủ, chín muồi vậy.

          Đức Thế Tôn riêng có mười hiệu, được gọi chung là Thế Tôn (Lokanātha). Do Ngài có mười đức hiệu, được cơi đời tôn sùng, nên gọi là Thế Tôn. Ở đây, dựa theo Đại Luận, mười hiệu là:

          1) Như Lai (如來, Tathāgata): Các pháp đều như nhau là Như. Chẳng đến mà đến là Lai. Đấy là xét theo tánh thể để biểu thị công đức.

          2) Ứng Cúng (應供, Arhat) Đáng được trời, người cúng dường. Đấy là dựa theo đại bi, đại nguyện để biểu thị công đức.

          3) Chánh Biến Tri (正徧知, Samyaksaṁbuddha): Biết hết thảy các pháp tức Giả, tức Không, không ǵ chẳng phải là Trung Đạo. Một không th́ hết thảy đều không, một giả th́ hết thảy đều giả, một trung th́ hết thảy đều trung, chẳng thiên vị một phương diện nào, tịch chiếu đồng thời. Đó là Chánh. Lư trí Tam Đế viên dung vô ngại, trí trọn khắp các cơi nhiều như cát bụi, soi thấu triệt từng vi trần. Đó là Biến (trọn khắp). Đấy xét theo tịch chiếu đồng thời để biểu thị công đức.

          4) Minh Hạnh Túc (明行足, Vidyācaraṇa-sāṁpanna): Có hai cách nói:

          a. Kinh Đại Niết Bàn giảng: “Minh giả, đắc vô lượng thiện quả (chỉ A Nậu Bồ Đề). Hạnh Túc giả, năng hành chi túc (chỉ giới huệ, thử trung tức nhiếp Định)”, [nghĩa là]: “Minh là đạt được vô lượng quả lành (tức Vô Thượng Bồ Đề). Hạnh Túc là cái chân có thể đi (chỉ Giới và Huệ, trong ấy bao gồm cả Định)”. Ư nói: Đạt được Vô Thượng Bồ Đề là do nhờ vào “chân” Giới và Huệ. Đấy chính là dựa theo tu nhân quyết đạt được quả để biểu thị công đức.

          b. Đại Luận nói: Minh chính là Tam Minh, tức Túc Mạng, Thiên Nhăn và Lậu Tận. Hạnh là ba nghiệp thân, khẩu, ư. Chỉ có Phật trọn đủ hạnh Tam Minh. Ở đây nói theo nghĩa này; đó là dựa theo thần thông để biểu thị công đức.

          5) Thiện Thệ (善逝, Sugata), c̣n gọi là Hảo Khứ (好去), ư nói: Nhập Vô Dư Niết Bàn. Đấy gọi là “sanh diệt đă diệt rồi, tịch diệt hiện tiền”. Đó là dựa theo đoạn chứng để biểu thị công đức.

          6) Thế Gian Giải (世間解, Lokavid): Hết thảy sự tướng hữu t́nh và phi hữu t́nh, không ǵ chẳng thấu hiểu. Đó là dựa theo Hậu Đắc Trí để biểu thị công đức.

          7) Vô Thượng Sĩ (無上士, Anuttara): Trong hết thảy chúng sanh, Phật là vô thượng. Đấy chính là dựa ngay vào địa vị để biểu thị công đức.

          8) Điều Ngự Trượng Phu (御丈夫, Puruṣa-damyasārathi): Hoặc dùng lời lẽ mềm mỏng, hoặc dùng lời lẽ cứng rắn, nặng nề mà khéo có thể điều ngự bậc trượng phu, khiến cho họ nhập thiện đạo (bất luận là nam, nữ, tăng, tục, nếu muốn viễn trần ly cấu, hễ chẳng có khí khái quả quyết, chẳng có cái tâm kiên định của bậc trượng phu, sẽ chẳng thể được. Người như thế, chỉ có Phật là có thể điều phục, uốn nắn). Đấy là dựa theo giáo chủ để biểu thị công đức.

          9) Thiên Nhân Sư (天人師, Śāstādeavamanuṣyānāṁ) Làm gương mẫu cho trời, người. Ví như ánh nắng chiếu trọn khắp, không ǵ chẳng được lợi ích. Đấy là dựa theo sự lợi ích trọn khắp để biểu thị đức.

          10) Phật: Tự giác, giác tha, giác măn, th́ gọi là Phật Đà Da (Buddhayā). Đấy là dựa theo quả giác tột cùng để biểu thị công đức.

          Các kinh luận khác có khi gộp chung Ứng Cúng, Chánh Biến Tri thành một, nói là Ứng Chánh Biến Tri. Hoặc gộp chung Thiện Thệ và Thế Gian Giải thành một. Hoặc gộp chung Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu thành một. Hoặc gộp chung Phật và Thế Tôn thành một, đủ loại khác nhau! Đó là v́ kinh nói “Phật có đủ mười hiệu”, nên gộp chung thành con số mười làm chuẩn. Chỉ có Đại Luận là kể từ [danh hiệu] thứ nhất là Như Lai cho tới [danh hiệu] thứ mười là Phật, chia thành mười danh hiệu, coi Thế Tôn là danh xưng chung của mười hiệu, dường như thỏa đáng nhất!

          “Thực thời”: Theo quy củ nhất định của tam thế chư Phật, qua khỏi giữa trưa một chút, sẽ chẳng được ăn. Nay là nói “sắp đến giờ ăn”, phải nên khất thực trước đă. Đối với giờ ăn, trong Tạng Luật nói nhiều thuyết khác nhau. Nay tôi trần thuật một thuyết: Sửu, Dần, Mẹo là lúc chư thiên ăn, gọi là Sơ Phần (hoặc nói Dần, Măo, Th́n là Sơ Phần. Sách Toản Yếu của ngài Khuê Phong dựa theo cách nói này). Th́n, Tỵ, Ngọ là lúc nhân gian ăn uống, gọi là Trung Phần. Mùi, Thân, Dậu là lúc súc sanh ăn, gọi là Bô Phần (晡分, Bô nghĩa là buổi chiều). Tuất, Hợi, Tư là lúc quỷ thần ăn, gọi là Dạ Phần. Bởi lẽ, chúng sanh trong các đường phần nhiều ăn vào những lúc ấy, hoặc nên ăn vào lúc ấy, chứ không phải là nhất định, chẳng thay đổi được. Chỉ riêng Phật pháp chế định, quá Ngọ không ăn, dụng ư sâu rộng, như trong Luật đă nói: Khi khất thực, nói chung là khoảng chừng giờ Th́n, v́ quá sớm hoặc quá trễ, sẽ chẳng thể xin được, nhằm ngăn ngừa trường hợp thí chủ không có ǵ để thí, gây phiền năo cho họ. Chính ḿnh chẳng xin được ǵ, tự ḿnh lại phiền năo!

          “Đắp y”: Đức Phật chế ba y:

          - Một là An Đà Hội, nghĩa là “y để mặc bên trong”, tức mặc sát vào thân thể. Khi hành đạo (tức khi tu hành), hoặc làm việc, có thể mặc [loại y này], tức là y Ngũ Điều, c̣n gọi là Hạ Phẩm Y.

          - Hai là Uất Đa La Tăng, dịch nghĩa là Thượng Y, cũng gọi là Trung Phẩm Y, tức Thất Điều. Cũng có thể dùng mặc để vào trong làng xóm hoặc thuyết pháp. Nếu gặp đại chúng tập hội, hăy nên mặc Đại Y.

          - Ba là Tăng Già Lê, nghĩa là Chúng Tụ Thời Y (眾聚時衣, y để đắp khi đại chúng nhóm họp), tức là Đại Y, c̣n gọi là Thượng Phẩm Y, hoặc gọi là Phước Điền Y. Tức là y Cửu Điều cho tới Nhị Thập Ngũ Điều Y. Nếu vào vương cung, vương thành, làng xóm, phàm là chỗ đại chúng tụ tập, lúc oai nghi nghiêm túc, hoặc là lúc thọ giới, thuyết pháp, khất thực v.v…, hăy nên đắp y này.

          Từ y năm điều cho tới chín điều đều là cắt vải thành từng miếng vuông, khâu chằm dính lại. Số điều ít th́ miếng vuông sẽ to. Số điều nhiều th́ miếng vuông sẽ nhỏ. Nhỏ th́ kín chặt như ruộng được chia thành từng thửa rơ ràng. V́ thế, chỉ có y chín điều được gọi là Phước Điền Y. Từ mười điều trở lên, nếu người có vóc dáng vạm vỡ th́ kích thước của y cũng thuận theo đó mà to rộng, cho nên số lượng điều tăng lên nhiều hơn! Nơi xứ lạnh ở Thiên Trúc th́ ba y được phép mặc chồng lên nhau. Đông Độ do rét lạnh và thói quen, đa phần là y được khoác trên quần áo thông thường. V́ thế, không theo phong cách đắp y chồng lên nhau, chỉ các lạt-ma là có [kiểu đắp y ấy][11].

          Ba y đều được gọi chung là Ca Sa. Ca Sa (Kāṣāya) là tiếng Phạn, tức tên gọi dựa theo màu sắc, tức chẳng phải là chánh sắc, [do vậy gọi] là “hoại, trược” (hàm nghĩa màu ủ dột, héo úa). V́ thế, mở rộng ra, các vị xen tạp cũng được gọi là Ca Sa Vị. “Bất chánh” có nghĩa là “xen tạp”. “Sắc tạp” tức là màu úa, không tươi tắn. Do vậy, đen th́ phải như bùn, xanh th́ nên giống như teng đồng (màu đồng cũ). Đỏ th́ phải là đỏ nhiều, đen ít, gọi là màu Mộc Lan (vùng Tứ Xuyên có loại cây ấy. Người Nhật gọi là Hương Nhiễm Sắc, do dùng Đinh Tử Hương (clove) để nhuộm), tức là màu được Thiên Trúc gọi là Càn Đà. Hoặc là đỏ và đen xen lẫn như màu tía. Sách Kư Quy Truyện[12] nói: “Hoặc là dùng bột địa hoàng[13], hoặc kinh bách hoàng v.v… nghiền với đất đỏ, nước ngâm đá đỏ để nhuộm”. Tóm lại, chẳng được dùng các màu gốc tươi tắn như xanh, vàng, đỏ, đen, tía, đều cần phải xen lẫn màu khác sao cho thành sắc úa, tối. Tứ Phần Luật nói: “Trong mỗi sắc, tùy ư khiến cho nó mờ úa là được”. Nếu là mạn điều y (縵條衣,y không có điều), tức là y của sa di và sa di ni, chỉ cần màu ủ dột, không có điều là được rồi. Đại tăng (tỳ-kheo) nếu không có ba y, cũng có thể dùng [mạn y]. Hàng ưu-bà-tắc cũng được phép tạm đắp [mạn y] khi lễ Phật, nhưng không được thường khoác. Kể từ khi Phật pháp truyền sang phương Đông, người xuất gia chẳng biết chế định phải cắt xẻ [vải thành các điều để may y], chỉ đắp mạn điều mà thôi! Trải qua một trăm tám mươi bảy năm sau mới biết.

          “Tŕ bát”: Tiếng Phạn là Bát Đa La (Patra), phương này dịch là Ứng Lượng Khí (應量器), tức là [đồ vật để chứa thức] ăn phải nên đúng với hạn lượng, chớ nên quá lớn để ngăn ngừa ḷng tham. Cũng dịch là Thể Sắc Lượng, đều [hàm nghĩa] tương ứng với pháp. Chất liệu của bát chỉ hạn chế bằng sắt, hay gốm v.v… Chẳng được làm bằng gỗ, v́ [bát gỗ] là thứ của ngoại đạo dùng, lại dễ bị nhuốm bẩn. Màu sắc nên chất phác, đơn giản, kích thước như trên đă nói, gọi tắt là Ứng Khí (應器), hàm ư là “vật đựng để hiền thánh tiếp nhận vật cúng”. Khi Phật Thích Ca thành đạo, tứ thiên vương lấy cái bát đá màu cám lưu ly[14] cúng dường cho Phật Duy Vệ (Vipaśyin, Tỳ Bà Thi Phật) trong quá khứ từ cung rồng, hóa thành bốn bát, mỗi vị cầm một cái để dâng cúng. Đức Thế Tôn lại hợp bốn bát thành một, dùng để khất thực.

          “Nhập Xá Vệ đại thành” (vào thành lớn Xá Vệ): Vườn (Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên) ở cách thành sáu dặm về phía Đông Nam. Thành rộng hơn sáu mươi dặm. Trong thành có chín ức nhà, đất rộng, người đông, nên gọi là Đại.

          “Khất thực”: Đức Phật chế định, chẳng cho phép người xuất gia dùng bốn loại phương pháp để kiếm ăn nuôi mạng:

          - Một là trồng trọt, gieo cấy, gọi là Hạ Khẩu Thực (下口食).

          - Hai, quan sát tinh tú, hiện tượng thiên văn để luận cát, hung, gọi là Ngưỡng Khẩu Thực (仰口食).

          - Ba, giao du với người giàu có, quyền quư bốn phương, gọi là Phương Khẩu Thực (方口食).

          - Bốn, bói toán cát hung, gọi là Duy Khẩu Thực (維口食).

          [Bốn loại ấy] gọi chung là Bất Tịnh Thực, hoặc Tà Mạng Thực. Chỉ cho phép [tăng chúng] khất thực, gọi đó là Chánh Mạng Thực, tức là chánh đạo của người xuất gia. “Chánh đạo” là ǵ? Do chiết phục ngă mạn, do chẳng tham ăn uống, do chuyên dốc ư hành đạo, khiến cho hết thảy mọi người phá trừ keo tham, tăng phước. C̣n như đức Phật tự khất thực th́ theo kinh Anh Lạc có nhiều ư nghĩa, như: Khiến cho hết thảy mọi người chẳng sanh kiêu mạn, khiến cho hết thảy chúng sanh bị chướng ngại đều đạt được lợi ích do thấy Phật, lại c̣n chỉ dạy người xuất gia chớ nên tích cóp!

          “Ư kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ” (ở trong thành ấy, theo thứ tự khất thực xong): “Thứ đệ” là theo thứ tự của từng nhà mà xin, chẳng chọn lựa nhà nào. Xin xong, nếu bát đă đầy, hoặc đă xin bảy nhà, chẳng phải là theo thứ tự xin trọn khắp một thành. [Câu này] nối tiếp với câu sau, [ngụ ư] xin xong liền trở về ngay, không nh́n ngó tí nào!

          “Hoàn chí bổn xứ” (trở về chỗ ḿnh): Từ thành trở về vườn (Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên).

          “Phạn thực ngật” (dùng cơm xong): “Phạn” là ăn, như chữ “phạn” trong câu “Phạn sơ thực” (ăn cơm hẩm)[15] của Luận Ngữ. “Ngật” () là xong xuôi. Kinh Bảo Vân nói: Thức ăn xin được, chia thành bốn phần:

          - Một phần dự tính dành cho người có cùng phạm hạnh.

          - Một phần dự tính để thí cho người nghèo, bệnh, hay ăn mày.

          - Một phần thí cho chúng sanh sống trên đất, dưới nước.

          - Một phần lưu lại để tự ăn.

          Trong kinh Thập Nhị Đầu Đà, chẳng nói cho người cùng phạm hạnh, mỗi đằng đều có dụng ư, hăy nên hành theo tương ứng. Không nói là do ai nấy đều tự xin, nay nói là do có thể là v́ duyên khác, chẳng rảnh để khất thực vậy. Nay hai loại người nghèo, bệnh và phạm hạnh đều nói đáng nên thí, nhằm nói rơ “không nhất định”, hễ có [hai hạng người ấy] th́ cho. Nếu là chúng sanh sống trên mặt đất hay dưới nước th́ nhất định phải nên thí. Do vậy, chẳng nói “nghĩ” (, dự tính) vậy!

          “Thâu y bát”: Không thâu cất, sẽ chẳng tránh khỏi bận tâm, chẳng thể an tâm tu đạo.

          “Tẩy túc dĩ” (Rửa chân xong): V́ thủ hộ chúng sanh, đi chân trần khất thực (Xứ Ấn thường đi dép bằng da, dễ tổn thương sanh mạng); sợ dính bụi bẩn, nên cần phải rửa sạch. [Câu này] nối tiếp với câu dưới, xong việc liền tu Quán, do trọng đạo.

          “Phu ṭa nhi tọa” (trải tọa cụ mà ngồi): “Phu ṭa”: Phu () là mở ra. “Ṭa” () là tọa cụ[16]. Trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, th́ đi dễ gây lao chao, đứng sẽ dễ bị mệt mỏi, nằm th́ dễ hôn trầm, người tu hành chỉ ngồi là tốt nhất. V́ thế, người xuất gia nhiều vị chẳng hề nằm xuống giường. Ngồi kết già phu[17] (ngồi xếp bằng, hai ḷng bàn chân ngửa lên) là nghi thức thông thường trong Phật môn, cho nên lược đi chẳng nhắc tới. Ngồi xếp bằng có bốn lợi ích:

          - Một, thân tâm thâu liễm, nhanh chóng phát sanh sự khinh an.

          - Hai, có thể trải qua một thời gian lâu, chẳng nhanh chóng mệt mỏi.

          - Ba, chẳng giống như ngoại đạo, họ chẳng có pháp này.

          - Bốn, h́nh tướng đoan nghiêm, trịnh trọng, khiến cho người khác kính tin.

          Trên đây, từ đắp y cho tới đoan tọa, đều là đức Phật từ bi, rủ ḷng dùng thân làm gương cho đại chúng. Đức Thế Tôn thoạt đầu chẳng cần phải làm như vậy. V́ sao nói thế? Như kinh Anh Lạc Nữ đă nói: “Hóa Phật thân như toàn đoạn kim cang, vô sanh thục nhị tạng” (Thân của hóa Phật hoàn toàn như một khối kim cang, chẳng có sanh tạng và thục tạng)[18]. Kinh Niết Bàn nói: “Như Lai chi thân, phi tạp thực thân’ (Thân Như Lai chẳng phải là thân cần phải ăn mới sống được). Cần ǵ phải khất thực, nhưng Ngài thị hiện khất thực, ngoài ba ư nghĩa khiến cho hết thảy mọi người chẳng sanh kiêu mạn như đă nêu trên, không ǵ chẳng nhằm nêu gương cho mọi người. Đă chẳng cần ăn mà lại nói là “ăn xong”, chẳng biết rốt cuộc Ngài có ăn hay không? Ở đây, có hai ư nghĩa:

          - Một, nếu trọn chẳng ăn, phước của người thí chẳng viên măn. Đức Phật từ bi khiến cho họ được măn nguyện, cũng thường thuận theo đại chúng mà ăn.

          - Hai, có thuyết nói khi đồ ăn sắp đến miệng, có vị trời oai đức ẩn ḿnh ở bên cạnh, nhận lấy đưa sang phương khác để thực hiện Phật sự. Do Phật đă thị hiện ăn, khiến cho phước của người cúng thí được viên măn, lại c̣n dùng thần lực dời đi làm Phật sự.

          Vậy th́ ăn và chẳng ăn, hai nghĩa đều vô ngại! Kinh A Hàm lại nói: “Phật hành ly địa tứ chỉ, liên hoa thừa túc” (Phật bước đi, cách mặt đất bốn ngón tay, hoa sen đỡ chân). Vốn chẳng cần rửa, nhưng nay mỗi mỗi đều thị hiện các sự tướng như vậy, há chẳng phải là thuận theo đại chúng mà nêu khuôn phép ư?

          Đoạn đầu tiên như vừa nói trên đây bất quá là nương theo kinh văn để giải thích ư nghĩa. Đoạn thứ hai là nói làm khuôn mẫu cho mọi người v.v… cũng là ư nghĩa thông thường. Điều quan trọng nhất là phải hiểu rơ v́ sao kinh này trần thuật các sự tướng ấy để phát khởi? Hăy nên biết: Ở đây, có ư nghĩa rất tinh vi. Đấy đúng là chỉ điểm thân thiết, muốn cho mọi người từ trong các hành vi, động tĩnh mà thấu hiểu. Hăy thử nghĩ xem, Như Lai v́ độ chúng sanh, chẳng sanh mà hiện sanh, thị hiện giống như phàm phu, có ngày nào chẳng mặc áo, ăn cơm, tức là có ngày nào chẳng lấy thân làm gương? V́ sao đầu các kinh, phần nhiều trần thuật chuyện phóng quang, chấn động cơi đất? Nay muốn tuyên thuyết Tổng Tŕ của hết thảy các pháp, sanh ra đại pháp Kim Cang Bát Nhă của chư Phật, bèn khăng khăng dùng một đoạn trần thuật chuyện tầm thường hằng ngày để phát khởi? Lạ hay không? Khéo hay không? Kỳ diệu chẳng ở chỗ kỳ diệu, mà là kỳ diệu nơi thô thiển. Phải biết rằng: Chuyện cực b́nh thường và lư cực cao thâm có mối quan hệ mật thiết. Xưa nay các vị chú giải, hoặc thấy là dùng Giới Định để phát khởi, hoặc nêu cảnh tượng như như bất động là phát khởi, hoặc bảo “chẳng thể coi thường chuyện sinh hoạt thường ngày!” Hoặc nói: “Mặc áo, ăn cơm chính là phóng quang, chấn động cơi đất để phát khởi”. Ai nấy có cách thấy riêng, mỗi người đều có sự hay khéo. Nay tôi gạn lọc các thuyết, lại c̣n cân nhắc trên phương diện ư chỉ trọng yếu của kinh văn, dẫn chứng nêu rơ để cho mọi người dễ thấu hiểu hơn! Ư nghĩa chất chứa đă sâu, trong một lúc khó thể nói trọn hết được, đành khái quát thành mười tầng để nói đại lược như sau:

          1) Bát Nhă là pháp trọng yếu để trưởng dưỡng huệ mạng, tiếp nối hưng thịnh ḍng dơi Phật. Ví như cơm áo là chuyện trọng yếu để người đời hộ tŕ sắc thân, nối trước, truyền sau. Nay nêu lên mặc áo, ăn cơm v.v… để phát khởi, chính là v́ khiến cho người đă phát đại tâm hiểu rơ: Chẳng thể ĺa khỏi các thứ pháp thực Bát Nhă ấy trong khoảnh khắc. Do vậy, kinh nói: “Thọ tŕ, độc tụng, quảng vị nhân thuyết, tắc vi hà đảm A Nậu Bồ Đề” (Thọ tŕ, đọc tụng, rộng v́ người khác nói, chính là gánh vác Vô Thượng Bồ Đề). Lại nói: “Đương tri thị nhân thành tựu tối thượng đệ nhất hy hữu chi pháp” (Hăy nên biết người ấy thành tựu pháp tối thượng, hiếm có bậc nhất). Lại nói: “Thị kinh sở tại chi xứ, tức vi hữu Phật, nhược tôn trọng đệ tử” (Chỗ nào có kinh này tức là nơi đó có Phật và các vị đệ tử đáng tôn trọng). Từ mấy câu kinh văn ấy mà nh́n ngược lại, sẽ thấy rơ rành rành là giống hệt như cơm áo có mối quan hệ rất lớn, chẳng thể tạm ĺa được! V́ thế, dùng đó để phát khởi.

          2) Kinh dạy: “Hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới, tu phước giả, ư thử chương cú, năng sanh tín tâm” (năm trăm năm sau, có người tŕ giới, tu phước, đối với chương cú này, có thể sanh ḷng tin tưởng). Có thể thấy tŕ giới và tu phước là cửa ngơ để nhập đạo của Bát Nhă. Khất thực là chế định thuộc giới luật. Nay [đức Phật] thị hiện đắp y, cầm bát, theo thứ tự khất thực, nhằm hướng dẫn chúng sanh tŕ giới, cũng khiến cho trọn khắp chúng sanh tu phước. Kệ tụng trong kinh có nói: “Pháp Thân bổn phi thực, ứng hóa diệc như nhiên, vị trưởng nhân thiên phước, từ bi tác phước điền” (Pháp Thân vốn chẳng ăn, do ứng hóa như thế, tăng trưởng phước trời người, là ruộng phước từ bi) như thế đó. Đức Thế Tôn hằng ngày khất thực, tức là hằng ngày phát khởi tín căn cho chúng sanh kham nhập Bát Nhă. Nay trước khi sắp nói Kim Cang Bát Nhă, liền hiện bày như thế để phát khởi, thân thiết chi bằng?

          3) Khuê Phong đại sư nói: “Giới có thể vun bồi Định, Định có thể phát khởi Huệ. V́ thế, dùng Giới và Định để phát khởi. Cần phải biết: Huệ mà chẳng có Giới và Định, sẽ là cuồng huệ, chẳng phải chánh huệ”. Khất thực là Giới, trải tọa cụ để ngồi; do vậy nhập Định. Đă thị hiện sự tướng Giới, Định rồi mới nói Bát Nhă rất sâu, há chẳng phải là thuật bày thứ tự nhất định trong Tam Học, khiến cho mọi người biết [thứ tự] trước sau đó sao? Trong kinh lại c̣n chỉ nói về Huệ, đặc biệt trong phần Phát Khởi bèn bổ túc Giới và Định; Phật, Bồ Tát v́ độ chúng sanh, khẩn thiết, châu đáo như thế đó.

          4) Hết thảy người học rèn luyện trong trần lao nơi áo cơm và cuộc sống thường ngày; đó chính là phương cách hàng phục vọng tâm trọng yếu nhất. Bởi lẽ, do tham cầu cơm áo, chẳng ngại trần lao, cố nhiên là chấp tướng. Chán ghét trần lao, nẩy sanh phiền năo, vẫn là chấp tướng. Ắt cần phải đối cảnh tùy duyên, đă chẳng mê mà cũng chẳng phiền, đó chính là pháp để an tâm. V́ thế, kinh nói: “Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp” (hết thảy các pháp đều là Phật pháp). Lại nữa, trong kinh phần nhiều tập trung vào các Độ như Bố Thí v.v… để nói “hàng phục, an trụ”, cũng là v́ ư này. Hăy thử nghĩ: Lũ phàm phu chúng ta, kẻ nào chẳng cần cơm áo? Đă chẳng thể thoát khỏi, nhưng có tham cũng chẳng tham được. Lại nữa, đă phát đại tâm học Phật, làm các chuyện như bố thí độ sanh v.v… đều ắt cần phải học. Nếu chẳng trong hết thảy [mọi sự việc, mọi hoàn cảnh], đều dụng công như trên, th́ suốt ngày từ sáng tới tối, chẳng phải là chấp Có, sẽ liền chấp Không; có lúc nào, chốn nào kiếm được tự tại? C̣n như một câu Phật hiệu, lại làm thế nào để niệm cho tốt đẹp? Các chuyện như hoằng pháp, lợi sanh, ắt cũng học chẳng ra ǵ! Nay từ ngay nơi chuyện mặc áo, ăn cơm, phát khởi chẳng chấp vào Nhị Biên, hết thảy đều như Bát Nhă rất sâu, khiến cho mọi người lănh hội; đấy chính là dụng công nơi các sự tướng ấy. Đă chẳng thể chấp Có, mê Không, chấp giữ pháp tướng, lại chẳng thể ĺa Có nói Không, chấp vào phi pháp tướng! Đúng là đại từ, đại bi vậy!

          5) Như Lai tùy thuận phàm phu, đắp y, khất thực, nhằm nêu rơ: Chẳng chấp tướng quả vị! Đúng như kinh đă dạy: “Như Lai giả, tức chư pháp Như nghĩa” (Như Lai là nghĩa Như của các pháp). Cần biết quả là Như, th́ nhân cũng là Như. Do vậy, phải nên ĺa hết thảy các tướng, phát tâm A Nậu Bồ Đề, mà đạo “hàng phục” đều được bao gồm trọn hết trong ấy! Dùng chẳng chấp tướng nơi quả đức để phát khởi “chớ nên chấp tướng” nơi nhân hạnh. Thật sự là “nhân bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân”, tuyệt diệu tột bậc!

          6) Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương có nói Ngũ Uẩn chính là Pháp Thân. Ngũ Uẩn chính là huyễn hữu được sanh bởi các duyên. Pháp Thân là Chân Không tịch chiếu. Đấy chính là dạy mọi người hăy từ ngay Huyễn Hữu mà thấy Chân Không, chẳng phải là tướng đoạn diệt. Kinh này đủ mọi cách trừ khử tướng, nhưng chú trọng nơi pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt, cũng là v́ ư này. Hăy nên biết: Đối với cái được gọi là Đệ Nhất Nghĩa Không, chính là cần phải đừng chấp lấy tướng, lại c̣n chẳng đoạn diệt, th́ mới xứng với Đệ Nhất Nghĩa! Đấy là điều khẩn yếu trong học Bát Nhă. Như Lai dùng Pháp Thân để thị hiện huyễn tướng như cơm áo của phàm phu, chính là v́ muốn cho phàm phu ai nấy sẽ từ nơi huyễn tướng mà thấu hiểu, nhận thức Pháp Thân vốn sẵn có. Chỉ đừng đuổi theo vọng, cần ǵ phải hư vọng cầu Chân bên ngoài! Nếu chấp chân, sẽ chính là từ trong chân khởi vọng. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên không trụ vào đâu mà sanh cái tâm), “ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên sanh tâm không trụ vào đâu), “phàm phu chẳng phải là phàm phu, chúng sanh chẳng phải là chúng sanh” v.v… trong kinh không ǵ chẳng nhằm nói rơ các nghĩa “chẳng chấp lấy, chẳng đoạn, chẳng chính là, chẳng rời”. Vậy th́ phần Phát Khởi của kinh này có thể nói là thiết yếu tột bậc!

          7) Như Lai thị hiện khất thực; khất thực xong, liền trở về chỗ ḿnh. Bọn phàm phu chúng ta chỉ biết bận bịu kiếm cơm, quanh năm suốt tháng, hướng ra ngoài rong ruổi truy cầu, trọn chẳng biết quay lại chiếu soi bản tánh. Như Lai c̣n thị hiện ăn xong liền thu dọn hết thảy, nhiếp tĩnh nhập Quán. Lũ phàm phu chúng ta ăn no rửng mỡ, chộn rộn chẳng thôi, chưa từng tĩnh được giây lát, c̣n có thể tu Quán nữa chăng? Cần phải biết: Bát Nhă huệ lực sanh từ nội chiếu, nhưng để nội chiếu, ắt phải nhiếp tĩnh trước đă! Nay dùng các câu này để phát khởi, chính nhằm chỉ dạy chúng ta đối với hết thảy duyên đời, hễ duyên đưa đến th́ ứng phó, xong việc liền thâu thập, ném qua một bên, lại liền phản quán tĩnh chiếu, xoay lưng với trần lao, hợp với giác, th́ mới kham phát khởi đại trí Bát Nhă vốn sẵn có! Hăy chú ư nhé!

          8) Ư chỉ trọng yếu của cả bộ kinh Kim Cang chỉ là “hàng phục như thế nào? Trụ như thế nào?”, nói dễ dàng lắm thay! Pháp sư Đạt Thiên bảo: “Hễ có một thứ để trụ, giác tâm liền mất. Vừa mới thực hiện hàng phục, vọng tâm càng hừng hực”. Do vậy, cần phải chẳng hàng phục mà hàng phục, chẳng trụ mà trụ, thực hiện bằng cách nào đây? Nay quán đức Thế Tôn đắp y, dùng cơm, đi trên đường phố, rửa chân, trải tọa cụ, lụn vụn, lặt vặt, hoàn toàn chẳng phải chỉ là một lúc như thế. Độ sanh suốt bốn mươi chín năm, liền suốt cả bốn mươi chín năm đều như thế. Do thân kim cang chẳng cần ăn uống, chẳng cần rửa chân, chẳng cần học Định, nhưng v́ chúng sanh, mà hằng ngày thực hiện, làm chuyện không cần phải làm, đúng là b́nh đẳng như như. Cảnh tượng nơi bổn địa trong đoạn này chính là gương mẫu lớn lao để [chúng sanh noi theo mà] hàng phục và an trụ cái tâm. Lũ chúng ta ắt phải nên tu học như thế. Phàm khi gặp cảnh duyên đưa tới, đều cần phải đúng như lời dạy mà hành, tuy hành mà chẳng có chuyện để hành, sẽ là chẳng hàng phục mà hàng phục, chẳng trụ mà trụ. Như thế th́ sẽ có thể khế nhập ư chỉ Bát Nhă sâu xa vậy thay!

          9) Trên đây tuy đă nói “chẳng hàng phục mà hàng phục, chẳng trụ mà trụ”, sợ vẫn chưa trọn hết, xin lại nói thêm. Đức Thế Tôn vốn khác xa loài người, v́ sao lại thị hiện cách hành xử của phàm phu, trọn chẳng khác mọi người? Hăy nên biết: Do v́ trọn chẳng khác mọi người, cho nên Ngài khác biệt loài người vời vợi! Lũ chúng ta hăy nên thấu hiểu từ điểm này, lại c̣n từ nơi bản thân mà thấu hiểu. V́ sao vậy? Tuy là phàm phu, nhưng vốn sẵn có Phật tánh Như Như, v́ sao? Do chẳng giữ lấy tướng. Bọn chúng ta học Bát Nhă, cũng hăy nên dụng công nơi “chẳng chấp lấy tướng!” “Chẳng chấp lấy” tức là chẳng ĺa hết thảy tướng, nhưng chẳng chấp. Nếu lệch về phía coi vô tướng là chẳng chấp, tức là lại chấp lấy phi pháp tướng, trở thành đoạn diệt mất rồi! V́ thế, kinh dạy: “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai). “Các tướng chẳng phải tướng” nghĩa là tuy có các tướng mà chẳng chấp vậy! Lại nói: “Bất thủ ư tướng, như như bất động” (chẳng giữ lấy tướng, như như bất động). V́ chẳng lấy, cho nên được thấy hết thảy các pháp tướng và phi pháp tướng. “Chẳng giữ lấy” chính là chẳng hàng phục mà hàng phục, chẳng trụ mà trụ vậy. Đầu kinh này dùng “chẳng giữ lấy tướng” để phát khởi, ư chỉ sâu xa lắm thay!

          10) Gộp chung những điều đă nói trên đây, có thể thấy phần Phát Khởi Tự hoàn toàn hiển lộ Đệ Nhất Nghĩa Không. Quư vị thấy Như Lai thị hiện giống như phàm phu là lợi tha, là chẳng có ngă tướng. Diệu pháp Bát Nhă tùy ư tự tại lưu xuất từ các sự tướng vụn vặt, tức là chẳng có pháp tướng. Chẳng cần ăn mà đi khất thực, cho đến thị hiện rửa chân, trải tọa cụ v.v…, dùng cách dạy vô ngôn để hộ niệm, phó chúc hết thảy người phát đại tâm, cũng là không có phi pháp tướng. Hiểu được như thế, lư trí Chân Không sẽ rành rành nơi tâm mục. Phát khởi tinh vi không chi hơn được lẽ này!

          Các vị cần biết: Sở dĩ tôi đối với phần Phát Khởi Tự nói đi, nói lại, chẳng dám ngại phiền, chẳng v́ lẽ nào khác! Muốn cho các vị thiện tri thức biết phát khởi ḷng tin như thế nào, cũng như hiểu rơ lư trí Tam Không, đối với mỗi sự đều có thể thấy, khéo hướng về lúc mặc áo, ăn cơm, đi, đứng, động tĩnh, luôn tùy thời quán chiếu như thế, sẽ ngay trong khi đó mà được thọ dụng. Sau đấy mới biết bộ kinh Kim Cang này chính là phương thuốc hay để trừ khổ ách, là đường tắt để nhập Phật trí. Hăy tôn trọng nhé!

 

2.2. Phần Chánh Tông

 

          Chia thành hai phần:

          1) Bậc đương cơ tán thán, thỉnh pháp.

          2) Như Lai tán thán, hứa khả.

 

2.2.1. Bậc đương cơ tán thán, thỉnh cầu

 

          Lại chia thành hai phần:

          1) Lễ bái, tán thán.

          2) Thỉnh pháp.

 

2.2.1.1. Lễ bái, tán thán

2.2.1.1.1. Trọn đủ oai nghi

 

          (Kinh) Thời trưởng lăo Tu Bồ Đề, tại đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung kính, nhi bạch Phật ngôn.

          ()時長老須菩提在大眾中即從座起偏袒右肩右膝著地合掌恭敬而白佛言

          (Kinh: Khi ấy, trưởng lăo Tu Bồ Đề, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo vai hữu, gối phải đặt sát đất, chắp tay cung kính, mà bạch với đức Phật rằng).

 

          (Bổ)[19] “Thời” chính là lúc đức Thế Tôn khất thực xong, trở về Kỳ Viên. Chữ Thời này đáng chú ư nhất. Lời tán thán “hy hữu” trong phần sau nhằm tiếp nối đoạn văn “đắp y, cầm bát” trên đây mà có. Người kết tập kinh đặt một chữ Thời, chứa đựng nỗi cảm khái vô cùng trong ấy. Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát, khất thực hằng ngày như thế, đại chúng thấy mà như không thấy. Lần này, do cơ duyên chín muồi, bèn được ngài Tu Bồ Đề vừa nh́n bèn thấy rơ. Đại pháp Bát Nhă đức Thế Tôn chẳng thường nói. Dẫu nói, ắt cũng phải đợi cơ duyên chín muồi mới được. Đây thật đúng là hiếm có, khó gặp, đáng gọi là “ngàn năm một thuở” vậy!

          “Trưởng lăo” (Sthavira) là từ ngữ để xưng hô bậc tuổi tác và đức hạnh đều đáng tôn trọng. Bản dịch đời Đường ghi là Cụ Thọ (具壽), chỉ nêu rơ [ư nghĩa] tuổi già. Bản dịch đời Ngụy ghi“huệ mạng” chỉ tỏ rơ đức dày. Ngài La Thập thuận theo văn nghĩa của phương này dịch “trưởng lăo” đă chứa đủ cả hai nghĩa.

          Tu Bồ Đề (Subhūti) c̣n dịch là Không Sanh (空生), hoặc dịch là Thiện Hiện (善現), hay Thiện Cát (善吉). Gia đ́nh Ngài giàu có lắm của; khi Ngài sanh ra, kho tàng, vàng, bạc trong nhà đều trống rỗng; do vậy đặt tên là Không Sanh. Ngài sanh được bảy ngày, của cải trong nhà lại hiện ra. V́ thế gọi là Thiện Hiện. Thầy xem tướng lại đoán rằng: “Đứa trẻ này thiện cát (tốt lành, cát tường), chẳng cần phải lo ngại”. V́ thế, đặt tên là Thiện Cát. Mới sanh ra, kho tàng trống rỗng nhằm biểu thị, hiển lộ lư Không. Sau đó, của cải lại hiện, biểu thị, hiển lộ “Không chẳng phải là Thiên Không”. Tây Vực Kư ghi chép: “Ngài Tu Bồ Đề vốn là Thanh Long Đà Phật ở phương Đông, hiện bóng trong hội của Phật Thích Ca, thị hiện với h́nh tích là A La Hán, phụ trợ Thích Ca Mâu Ni Phật thực hiện sự giáo hóa. Trong Phật môn, Ngài giải Không (hiểu lư Không) bậc nhất”. Không mà chẳng Không mới là Chân Không, mới là Đệ Nhất Nghĩa Không. Các vị đệ tử đều chẳng lănh hội [nghĩa Không] sâu đậm nhất như ngài Tu Bồ Đề. Do vậy, trong hội Bát Nhă, ắt lấy ngài Tu Bồ Đề làm bậc đương cơ, thay mặt đại chúng thưa hỏi.

          Ngài Tu Bồ Đề v́ đại chúng khải thỉnh, [điều này] chứa đựng bốn nghĩa trọng yếu:

          1) Đại chúng thông thường hằng ngày thấy đức Thế Tôn đắp y, cầm bát, giống hệt như các vị tỳ-kheo khất thực b́nh thường, đều mờ mịt, chẳng biết dụng ư ở chỗ nào. V́ thế, ắt phải cậy bậc thị hiện dấu tích Thanh Văn là ngài Tu Bồ Đề v́ họ khải thỉnh.

          2) Nay đă tới hội thứ chín, đức Thế Tôn trong lúc đắp y, dùng cơm b́nh thường, đă khéo hộ niệm, khéo phó chúc đại pháp Bát Nhă, giăi bày trọn hết lư Đệ Nhất Nghĩa Không sâu nhất. Đại chúng đương nhiên chẳng thể hiểu rơ, chẳng do ngài Tu Bồ Đề th́ cũng không ai có thể v́ họ khải thỉnh.

          3) Trưởng lăo trong Phật môn không phải chỉ có ḿnh ngài Tu Bồ Đề, nhưng giải Không th́ chẳng ai bằng ngài Tu Bồ Đề. V́ thế, bậc đương cơ thỉnh pháp, chẳng phải ngài Tu Bồ Đề th́ chẳng có ai!

          4) Trong hội c̣n có các Bồ Tát Ma Ha Tát, sao không khải thỉnh, mà lại nhường cho ngài Tu Bồ Đề một ḿnh thỉnh vấn? Đó là v́ đức Phật nói Bát Nhă chính v́ bậc A La Hán, kiêm v́ Bồ Tát. Nếu Bồ Tát khải thỉnh, A La Hán chắc sẽ ngờ vực đấy là pháp Bồ Tát, chẳng liên quan ǵ đến chúng ta! Nay để cho ngài Tu Bồ Đề khải thỉnh, sẽ ngừa được nỗi nghi ấy.

          Ngài Tu Bồ Đề khải thỉnh, hoàn toàn v́ đại chúng mà làm, nên [kinh văn trong] phần sau vừa mở miệng liền nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân”. V́ thế, trong từ ngữ “đại chúng” chứa đựng đủ loại ư nghĩa trong đó.

          “Tức” () là “liền”, cũng có ư nghĩa “khẩn cấp’. Đức Thế Tôn trải tọa cụ để ngồi, đại chúng cũng thế. V́ thế, ngài Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng lên. Nói theo h́nh tích là như thế, chứ nếu nói theo cái gốc, ngài Tu Bồ Đề đă sớm thành Phật, đức Thế Tôn đă nói Bát Nhă tám hội, v́ lẽ ǵ phải đợi tới hội thứ chín khi đức Phật nói Kim Cang Bát Nhă th́ mới từ chỗ ngồi mà đứng dậy? Có thể thấy: Mọi chuyện ắt cần phải có “nhân, duyên, thời, tiết bốn thứ đều trọn vẹn th́ mới có thể khéo phù hợp. Khi đức Thế Tôn nói Bát Nhă là Thời, nói Kim Cang Bát Nhă là Tiết, có đủ loại nhân, có đủ loại duyên; tới đây, nhân duyên đă trọn đủ, ngài Tu Bồ Đề bèn làm bậc đương cơ thưa hỏi đại pháp này.

          Ca-sa được đắp che vai trái; v́ thế, vai phải có thể để hở ra. Theo chế định của đức Phật, lúc b́nh thường, ca sa chẳng để lộ vai, khi ắt phải cung kính th́ mới để lộ một bên vai. Phàm người làm việc, ắt cần dùng tay phải, đi th́ chân phải bước trước; đấy là biểu thị ư nghĩa “hễ có chuyện th́ đệ tử phục vụ”. Kinh này chú trọng tại gánh vác Bồ Đề, đệ tử đúng là phải nên ghé vai gánh vác trách nhiệm ấy. Khi lễ bái th́ hai gối đặt sát đất. Như sám hối th́ quỳ gối phải, [chân kia đặt vuông góc với mặt đất], cổ nhân gọi đó là “hồ quỳ” (胡跪).

          “Trước địa” (chấm đất, đặt sát đất): Chân dẫm lên Thật Địa, theo ư nghĩa biểu thị pháp th́ là Thật Tế lư địa, tức Thật Tướng, khiến cho mọi người chứng đắc bản tánh. “Hiệp chưởng” (chắp tay): Hai tay hợp lại, chẳng cầm vật bên ngoài. Hai tay chúng ta Đông buông, Tây bắt, toàn là trần cấu. Nay hợp lại, tức là xoay lưng với trần lao, hợp cùng giác ngộ. Từ hở vai cho tới chắp tay là thân nghiệp thanh tịnh. Vẻ ngoài đoan trang, nghiêm túc là Cung, trong tâm kiền thành là Kính, tức ư nghiệp thanh tịnh. “Nhi bạch Phật ngôn” (mà bạch với đức Phật rằng): Bạch là thổ lộ, thổ lộ ư nghĩ của chính ḿnh. Đó là ngữ nghiệp thanh tịnh. Trên đây đều là các từ ngữ của người kết tập kinh.

 

2.2.1.1.2. Tán thán

 

          (Kinh) Hy hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát.

          ()希有世尊如來善護念諸菩薩善付囑諸菩薩

          (Kinh: Hy hữu Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm các Bồ Tát, khéo phó chúc các Bồ Tát).

 

          (Bổ) Thông thường nói “hy hữu” th́ quy nạp lại, có bốn nghĩa:

          1) Thời hy hữu: Như Lai xuất thế, trải bao kiếp lâu xa khó gặp.

          2) Xứ hy hữu: Trong tam thiên đại thiên thế giới, chỉ có một vị Phật.

          3) Đức hy hữu: Phước huệ thù thắng chẳng thể sánh bằng.

          4) Sự hy hữu: Phương tiện từ bi có tác dụng thiện xảo nhất.

          Bốn điều trên đây đều là nói thông thường. Nay nói “hy hữu” chính là nói đến Bát Nhă Ba La Mật. Thế Tôn là danh hiệu chung, khi xưng hô bèn dùng. Gọi là Phật nhằm biểu thị quả đức, gọi Như Lai nhằm biểu thị tánh đức. Từ những việc như đức Phật đắp y, dùng cơm v.v… ngài Tu Bồ Đề trông thấy “các tướng phi tướng, chính là thấy Như Lai”. V́ thế, vừa mở miệng liền gọi Như Lai. Lăo nhân gia dùng Pháp Thân Như Lai để thị hiện thành phàm phu, chính là qua đó, biểu thị “chẳng trụ vào hết thảy các tướng”. V́ sao Pháp Thân Như Lai lại thị hiện giống như phàm phu? Chính là chẳng xả chúng sanh; đó tức là hộ niệm. Chẳng xả chúng sanh chính là đại bi, c̣n dùng Pháp Thân Như Lai để thị hiện, tức là đại trí. Ḷng đại bi ấy sanh từ đại trí, tức là Có mà chẳng có. Có mà chẳng có th́ mới là Diệu Hữu, mới là Diệu Hữu chẳng trở ngại Chân Không. Dùng Diệu Hữu chẳng trở ngại Chân Không để hộ niệm, há chẳng phải là “khéo” ư? Thể hiện h́nh tích giống hệt phàm phu, chính là để biểu thị Pháp Thân Như Lai chẳng trụ trong hết thảy các tướng. Nghĩa lư tinh diệu của Kim Cang Bát Nhă hoàn toàn bộc lộ, đấy chính là dùng lời dạy vô ngôn để phó chúc. Lời dạy vô ngôn chính là đại trí. Đại trí ấy sanh từ đại bi, là Không mà chẳng Không. “Không mà chẳng Không” mới là Chân Không, mới là Chân Không chẳng trở ngại Diệu Hữu. Dùng Chân Không chẳng trở ngại Diệu Hữu để phó chúc, không điều hay nào có thể hay khéo hơn được! Bất luận hộ niệm hay phó chúc, không ǵ chẳng cùng tỏ lộ Không và Hữu. Cả bản kinh nêu tỏ lư tinh vi Chân Không Diệu Hữu chỗ nào cũng đều có thể trông thấy. Hiểu rơ điều này, sẽ thông suốt lớp lang. Lời tán thán “hy hữu”, do vậy mang ư nghĩa “bao kiếp lâu xa khó gặp gỡ”, mà cũng hàm ư “khó thể lănh hội” trong ấy.

          Trong kinh văn thuộc phần sau, [có nói] “ngă tùng tích lai sở đắc huệ nhăn, vị tằng đắc văn như thị chi kinh” (con từ lúc xưa kia đă đạt được huệ nhăn, nhưng chưa từng được nghe kinh như thế) và “ngă kim đắc văn như thị kinh điển, tín giải, thọ tŕ, bất túc vi nan. Nhược đương lai thế, hậu ngũ bách tuế, kỳ hữu chúng sanh, đắc văn thị kinh, tín giải, thọ tŕ, thị nhân tắc vi đệ nhất hy hữu” (con nay được nghe kinh điển như thế, tin hiểu, thọ tŕ, chẳng có ǵ khó khăn. Nhưng trong đời tương lai, năm trăm năm sau, có chúng sanh nào được nghe kinh này mà tin hiểu, thọ tŕ, người ấy chính là hiếm có bậc nhất). Nh́n vào những lời ấy, đều có thể chứng minh “chẳng dễ ǵ tin hiểu!” Ư của ngài Tu Bồ Đề là con từ xưa cho tới hiện thời, mới thấy được sự hộ niệm và phó chúc của Như Lai. Dẫu đại chúng chẳng thể lănh hội, đức Thế Tôn luôn thị hiện như thế, càng hiếm có hơn! Do vậy đối với sự hộ niệm và phó chúc ấy, đều nói là “thiện”. Hộ niệm thuộc về tâm, phó chúc thuộc về miệng. Nếu đợi khởi tâm hộ niệm th́ lúc khởi tâm mới hộ niệm, khi chẳng khởi tâm sẽ không hộ niệm. Nếu đợi thốt lời phó chúc, th́ khi thốt lời mới phó chúc, khi chẳng nói ra lời sẽ chẳng phó chúc, đều chẳng thể gọi là Thiện được!

          Nay do đức Như Lai vào thành, trở lại Kỳ Viên, như như bất động, ngầm chỉ bày “trụ tâm”, dùng thân làm gương, đúng là gia hộ, ức niệm. Lại c̣n ăn xong, ngồi yên, chẳng sanh một niệm, ngầm chỉ bày sự hàng phục cái tâm, khiến cho mọi chúng phỏng theo. Đúng là ra rả răn bảo. Trong động hay tĩnh, dùng thân để dạy, chẳng dạy bằng lời. Bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, không ǵ chẳng nhằm nêu khuôn phép cho hàng Bồ Tát. Đấy thật sự là Thiện. Ngài Tu Bồ Đề thốt lời tán thán “hy hữu” thật đúng lắm thay!

 

2.2.1.2. Thỉnh pháp

 

          (Kinh) Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, ưng vân hà trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?

          ()世尊善男子善女人發阿耨多羅三藐三菩提心應云何住云何降伏其心

     (Kinh: Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, hăy nên như thế nào trụ? Hàng phục cái tâm như thế nào?)

 

          (Bổ) Bản kinh Kim Cang lưu hành thường ghi là “vân hà ưng trụ” (nên trụ như thế nào), nay dựa theo bản chép kinh của người đời Đường, ghi thành “ưng vân hà trụ” (nên như thế nào trụ).

          “Chư Bồ Tát” trong câu trên (tức câu “thiện hộ niệm chư Bồ Tát…”) là nói về các vị thiện nam tử, thiện nữ nhân này. Do họ phát tâm vô thượng, liền có tư cách thành Phật, đáng gọi là Bồ Tát. “Thiện” là thiện căn. Phát tâm vô thượng, mà nếu chẳng có đại thiện căn, sẽ chẳng thể! Ai nấy đều có thiện căn. Nếu chẳng có thiện căn, sẽ không thể sanh làm loài người, mà cũng chẳng thể nghe đại pháp này. Nhưng nếu chẳng phát tâm, tức luống uổng thiện căn ấy, há chẳng phải là cô phụ ư? Trong kinh, đức Phật thường quở trách nữ nhân, lại thường nói “nữ nhân chướng nặng, chẳng thể thành Phật, ắt trước hết phải chuyển thành thân nam th́ mới được!” Có kẻ ngờ vực sự b́nh đẳng trong Phật pháp: “Nếu nữ nhân ắt phải chuyển thành thân nam trước th́ là bất b́nh đẳng”. Đấy là v́ chẳng hiểu Phật lư, nên phê b́nh Phật pháp như trên, hết sức chẳng nên! Nói tóm gọn, nữ nhân đích xác là chướng nặng. Một là có chướng ngại phải sanh nở. Hai là thường lầm tưởng ái là từ bi. Từ bi là b́nh đẳng, trọn chẳng có thân sơ, nồng hậu, hay lợt lạt. Ái là con sông sanh tử, hễ lầm lẫn liền đọa nhập luân hồi. Trong cái nh́n của đức Phật, chẳng có tướng nam hay nữ. Sở dĩ nói “nữ nhân chướng nặng” là muốn họ đặc biệt chú ư, chẳng cần phải hứng chịu chướng ngại ấy. Chỉ cần phát đại tâm, sẽ thành Phật giống hệt như nhau! Ở đây, do vậy, ngài Tu Bồ Đề hỏi cả hai đằng.

          “Phát” là sanh, là khởi lên. Tức là phát khởi cái tâm “trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, mong chứng cái quả vô thượng”. Chữ Phát xuyên suốt các đoạn kinh văn trên và dưới, nghĩa thông chủ thể và khách thể. Đoạn văn trên là thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể phát [cái tâm ấy. Đó là “chủ thể”], đoạn văn dưới nói là cái tâm A Nậu Bồ Đề sẽ được phát, [đó là khách thể].

          A Nậu Đa La (Anuttarā) trong tiếng Phạn được phương này dịch là Vô Thượng. Tam Miệu (Samyak) được phương này dịch là Chánh Đẳng. Tam Bồ Đề (Saṃbodhi) được dịch là Chánh Giác. Nói gộp lại là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chánh Giác [nhằm chỉ rơ] khác với ngoại đạo, phàm phu bất chánh. Do phàm phu có Ngă, chẳng thể tự giác. Ngoại đạo có giác, nhưng thuộc loại tà vạy, lệch lạc, chẳng phải là Chánh Giác. Chánh Đẳng là nhằm chỉ rơ khác với Nhị Thừa chẳng b́nh đẳng. A La Hán đều đắc Chánh Giác, nhưng sợ sanh tử như tù ngục, gấp rút tự độ, thiếu khuyết tâm từ bi. Chẳng thể tu thiện, độ sanh, do chẳng có tâm b́nh đẳng. Tam Miệu chính là nói về bậc Bồ Tát. Chánh Đẳng là đối với tự giác và giác tha (giác ngộ người khác), Ngài đều cân bằng. Vô Thượng là khác với hàng Bồ Tát c̣n có bậc cao hơn! Bồ Tát tuy là Chánh Đẳng, nhưng vẫn chẳng bằng Phật là bậc giác hạnh viên măn. Vô Thượng chính là nói về Phật.

          Cái tâm do các thiện nam tử, thiện nữ nhân đă phát chính là tâm Vô Thượng Giác của Phật. Tâm là cái Thể linh minh giác chiếu, nơi tác dụng th́ là phân định chân, vọng, nhiễm, tịnh. Nay nương vào Bồ Đề để phát, sẽ thấy rơ là chân, là tịnh, chẳng phải là vọng nhiễm. Đại Luận (Đại Trí Độ Luận) nói: “Từ nhân tới quả, có năm loại Bồ Đề. Một là phát tâm Bồ Đề, tức địa vị Thập Tín. Hai là phục tâm Bồ Đề, tức địa vị Tam Hiền. Ba là minh tâm Bồ Đề, tức là từ Sơ Địa cho tới Thất Địa. Bốn là xuất đáo Bồ Đề, tức là từ Bát Địa cho đến Thập Địa. Năm là vô thượng Bồ Đề, tức quả vị Như Lai”. Nay xét theo phương diện có thể phát tâm (năng phát tâm), th́ phải là loại thứ nhất. Xét theo phương diện cái tâm được phát (sở phát tâm), phải là loại thứ năm. Năng và Sở gộp chung để luận, sẽ là xuyên suốt từ trước tới sau. V́ thế biết: Vô Thượng thuộc về quả, c̣n Chánh Đẳng Chánh Giác thuộc về nhân. Cái tâm được phát bao gồm cả nhân lẫn quả.

          “Ưng” là “phải nên”. Chữ này thông cả hai câu sau đó. “Trụ” là ở lại một chỗ. “Hàng phục” là khắc chế, thâu nhiếp ǵn giữ. Chữ Tâm trong “kỳ tâm” nhằm nói tới vọng nhiễm.

          Lời hỏi gồm ba ư:

          1) Phàm là Bồ Tát, cần phải phát Bồ Đề tâm. V́ thế, trước hết hỏi về phát tâm.

          2) Thoạt đầu phát cái tâm ấy, chẳng thể như Phật tùy duyên an trụ. V́ thế, kế đó hỏi về chuyện trụ tâm. Ngụ ư cầu Phật chỉ dạy phương pháp ḥng có thể khiến cho cái tâm ấy tương ứng mà trụ.

          3) Lại do vọng tâm nhiều lượt dấy lên, chẳng thể tự nhiên hàng phục giống như Phật được. V́ thế, kế đó hỏi cách hàng phục. Ngụ ư cầu đức Phật chỉ dạy phương pháp, ḥng có thể khiến cho vọng tâm tự nhiên bị hàng phục.

          Phát tâm là điều đầu tiên, nhưng ắt phải phát đại tâm th́ mới có thể tu đại hạnh, đắc đại quả. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Vong thất Bồ Đề tâm, tu chư thiện quả, ma sở nhiếp tŕ cố” (Quên mất tâm Bồ Đề, tu các thiện quả, sẽ bị ma nhiếp tŕ). Thiện nam, thiện nữ khi sơ phát tâm, hăy nên lấy chuyện thành Phật làm điều mong mỏi của chính ḿnh, tức là phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm. “Vô thượng” chính là điều mong cầu. Muốn cầu vô thượng, ắt phải tu phước, độ sanh. V́ thế, kế đó nói Chánh Đẳng. Muốn độ chúng sanh, phải nên tự độ trước đă.

V́ thế, kế đó nói Chánh Giác. Nói ngược lại, tức là tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn. Luận nói: “Sơ phát tâm và rốt ráo chẳng hai, chẳng khác. Trong hai tâm như thế, tâm trước là khó”. Phát tâm Bồ Đề, đạt tới Vô Thượng Bồ Đề, tức là nhất tâm, chẳng phải là nhị tâm. Nhưng sơ phát tâm th́ khó khăn; v́ vậy, ngài Tu Bồ Đề hỏi trước về chuyện phát tâm. Trụ và hàng phục là chuyện sau đó. Cũng có người trước đó từng phát tâm, về sau quên mất. Đấy là do chẳng biết an trụ nơi chân tâm như thế nào, đến nỗi chẳng thể hàng phục vọng tâm. V́ thế, Thiện Tài đồng tử mỗi lần gặp thiện hữu, đều khải thỉnh rằng: “Ngă dĩ tiên phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, nhi vị tri vân hà học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo? (Con trước đây đă phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nhưng chưa biết học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo như thế nào?) Do vậy biết: Người phát đại tâm, ắt tu đại hạnh. Trụ và hàng phục chính là chỗ thiết thực để dụng công trong tu hành. V́ thế, kế đó hỏi về trụ và hàng phục. Nhưng hai lời hỏi ấy, thật sự bổ trợ cho nhau. Dùng giác tâm để trụ th́ vọng tâm chẳng cần hàng phục mà tự hàng phục. Vọng tâm đă bị hàng phục, giác tâm sẽ chẳng trụ mà trụ.

 

2.2.2. Như Lai tán thán, hứa khả

2.2.2.1. Tán thán, ấn chứng

 

          (Kinh) Phật ngôn: - Thiện tai, thiện tai. Tu Bồ Đề! Như nhữ sở thuyết, Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện phó chúc chư Bồ Tát.

          ()佛言善哉善哉須菩提如汝所如來善護念諸菩薩善付囑諸菩薩

          (Kinh: Đức Phật nói: - Lành thay, lành thay! Tu Bồ Đề! Đúng như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các Bồ Tát, khéo phó chúc các Bồ Tát).

 

          (Bổ) Ở đây, người kết tập kinh đặt chữ Phật là có thâm ư. Phật là quả giác rốt ráo. Đoạn văn trong phần trước nói về người phát tâm, tức là tu nhân. Muốn biết đường dưới núi, phải hỏi người từng trải. Đặt chữ Phật ở đây, [ngụ ư]: Nhân như thế nào th́ quả như thế ấy. Ngược lại, quả như thế nào th́ cái nhân là như thế đó. “Thiện tai! Thiện tai!” (lành thay, lành thay) là tán thán. “Như nhữ sở thuyết’ (đúng như ông nói) là ấn chứng. Câu “thiện tai” thứ nhất nhằm ca ngợi Tu Bồ Đề khéo khế hợp bản tâm của Như Lai. Mấy chục năm [đức Phật] thị hiện trần lao, thầm lặng hộ niệm, phó chúc, trọn chẳng nói năng, nay riêng ḿnh Tu Bồ Đề có thể thấy rơ, cho nên tán thán. Câu “thiện tai” thứ hai là tán thán Ngài đă thay đại chúng khải thỉnh. Nỗi khổ tâm của đức Phật tức là muốn cho thiện nam, thiện nữ phát tâm học, nhưng chẳng người nào có thể thỉnh. Nay riêng ḿnh ngài Tu Bồ Đề có thể thưa hỏi, hoàn thành bổn nguyện của Như Lai. V́ thế, đức Phật lại tán thán. Kẻ khác chẳng thể hỏi, riêng ông có thể hỏi, cho nên câu “thiện tai” thứ nhất chính là tán thán đại trí của Ngài (Tu Bồ Đề). Hỏi pháp chẳng v́ chính ḿnh, mà v́ đại chúng, cho nên câu “thiện tai” thứ hai là tán thán ḷng đại bi của Ngài. Ông có thể thật sự thấy ta chẳng trụ trong Phật tướng, mà hộ niệm, phó chúc, nên nói “như nhữ sở thuyết” (đúng như ông đă nói). Bởi lẽ, hộ niệm và phó chúc như thế, đại chúng chẳng hiểu, chỉ có ḿnh Tu Bồ Đề có thể chỉ ra; do vậy, [đức Phật] ấn khả lời tôn giả nói. Hai câu Như Lai vốn là lời ngài Tu Bồ Đề tán thán đức Phật. Nay đức Phật cực lực thừa nhận, tức là Như Lai hộ niệm và phó chúc đúng như ông đă nói, chẳng sai tí nào! Đó là v́ muốn khiến cho chúng sanh đối với chuyện đắp y, tŕ bát, đi lại, động tĩnh của Như Lai, sẽ lănh hội ư nghĩa hộ niệm và phó chúc.

 

2.2.2.2. Hứa sẽ giảng nói

 

          Chia thành hai phần:

          1) Chỉ dạy chung.

          2) Nói cặn kẽ.

 

2.2.2.2.1. Chỉ dạy chung

2.2.2.2.1.1. Răn hăy lắng nghe, nêu ra điều cốt lơi

 

          (Kinh) Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết. Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm.

          ()汝今諦聽當為汝善男子善女人發阿耨多羅三藐三菩提心應如是住如是降伏其心

          (Kinh: Nay ông hăy lắng nghe, ta sẽ v́ ông mà nói. Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hăy nên trụ như thế, hàng phục cái tâm như thế).

 

          (Bổ) Tu Bồ Đề há lẽ nào chẳng hề lắng nghe? Đức Phật răn dạy là v́ đại chúng, và bọn chúng sanh chúng ta trong hiện thời! “Đế” () là chân thật, chánh xác. Một là chớ nên kiêu căng, hai là chớ nên thấp hèn! Nếu phạm hai bệnh ấy, sẽ chẳng thể “lắng nghe”; dẫu nghe cũng chẳng thể chánh xác! Có người hơi nghiên cứu, t́m ṭi kinh luận, liền ngỡ chính ḿnh đă thông hiểu Phật học. Đó là phạm phải căn bệnh kiêu căng! Có người đề cao thánh cảnh, cho rằng đại pháp như thế, chúng ta sao có thể hiểu được; đấy là phạm vào bệnh thấp hèn. Kiêu căng là mạn, thấp hèn cũng là ty mạn. Nghe kinh như thế, sẽ chẳng thể chân thật, chánh xác. Do đó, người học Phật cần phải chú trọng miễn trừ hai căn bệnh trên đây, trống ḷng lănh nhận, nên nói là “đế thính”.

          Đă có thể lắng nghe, há lẽ đâu chẳng nói? V́ thế bảo “đương vị nhữ thuyết” (sẽ v́ ông nói), hàm ư: “Nếu chẳng lắng nghe, ta sẽ chẳng v́ ông mà nói”. Đây chính là răn nhắc chúng ta: Trong khi nghe kinh, những tri kiến trước kia ắt cần phải hết thảy vứt sạch, chớ nên đặt để trong tâm. Ba câu từ “thiện nam tử, thiện nữ nhân” trở đi, quả thật đă nêu ra tông chỉ tu hành. Người xưa có nói hai chữ “như thị” là nói tới ư “diệt độ hết thảy chúng sanh” trong đoạn văn sau đó. Nếu hiểu như vậy th́ mạch lạc trước sau chẳng nhất quán, huống hồ kế đó lại có câu “ưng như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên hàng phục cái tâm như thế) ư? Lại có người bảo hai chữ Như Thị chỉ đoạn văn đức Thế Tôn đắp y, cầm bát cho tới trải tọa cụ mà ngồi trong phần Tự, [hiểu như thế] tợ hồ cũng chẳng chánh xác! Nay tôi nói hai chữ Như Thị nhất quyết là nói tới hai câu “thiện hộ niệm, thiện phó chúc” trong đoạn kinh văn trước đó! Có ư nghĩa “chỉ điểm trong hiện tiền, đương hạ tức thị”. Đoạn văn “đắp y, cầm bát” là mạch văn xa, c̣n hai câu “thiện hộ niệm” là mạch văn gần. Đă biết là mạch văn gần, sẽ tự thông suốt mạch văn xa. Dùng Pháp Thân Như Lai để thị hiện tướng phàm phu trong trần lao, là tướng vô ngă, vô pháp tướng, mà cũng là vô phi pháp tướng. V́ thế, thiện nam, thiện nữ cũng nên như ta chẳng trụ vào tướng mà trụ.

          Phàm phu chẳng trụ nơi tướng, sẽ trụ trong phi pháp tướng. Hễ trụ là sai mất rồi! Vọng tâm sanh diệt chẳng thể hàng phục được! V́ thế, thiện nam, thiện nữ hăy nên từ những chuyện đắp y, dùng cơm của Như Lai thấu hiểu lư “chẳng chấp vào Nhị Biên” để hàng phục như thế. Đáng thương chúng sanh khổ năo, bất luận giàu hay nghèo, suốt đời luôn bận bịu v́ cơm áo. Bất luận làm nghề nghiệp ǵ, đều nhằm kiếm ăn! Buổi sáng thức dậy, bươn bả vào đô thị đi làm chính là “vào thành khất thực”. Xét theo thời gian vào làm việc cho đến khi tan sở, tức là “thứ đệ khất dĩ” (theo thứ tự khất thực xong). Khất thực cố nhiên là chuyện khẩn yếu, nhưng phải nên xong việc liền trở về chỗ ḿnh. Cái bệnh của phàm phu chính là v́ cơm áo, chẳng thể nào không luôn hướng ra ngoài truy cầu. Kết quả quên khuấy chủ nhân ông, chẳng trở về chỗ ḿnh nữa. Do vậy, làm xong công việc, phải nhanh chóng quay đầu, tĩnh lặng cơi ḷng, hồi quang phản chiếu, chẳng cần làm những chuyện chẳng liên quan! Đấy chính là học theo đức Phật trải tọa cụ mà ngồi. Chúng ta có thể đem câu kinh, từ ngữ trong kinh văn để áp dụng vào thân ḿnh, sẽ tự có sự thọ dụng. Nếu có thể trong cuộc sống tầm thường, luôn luôn phản chiếu; đó tức là hàng phục, tức là chẳng chấp vào hai bên, tức là tương xứng với thể tánh mà khởi tu. Ngay như niệm Phật cũng là niệm tốt đẹp.

 

2.2.2.2.1.2. Khế hợp yếu chỉ, xin chỉ dạy tường tận

 

          (Kinh) Dụy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn.

          ()唯然世尊願樂欲聞

          (Kinh: Thưa vâng bạch Thế Tôn! Con nguyện ưa thích muốn nghe).

 

          (Bổ) “Dụy” là từ ngữ vâng dạ. Tiếng lọt vào, tâm thông suốt, đối với lư trụ và hàng phục như thế đă triệt để hiểu rơ. Như Lai hộ niệm, phó chúc, người khác chẳng thể thấy, riêng ngài Tu Bồ Đề có thể thấy được, thay mặt đại chúng khải thỉnh chuyện trụ tâm và hàng phục, quả nhiên được đức Phật tán thán, hứa khả. Người kết tập kinh sau chữ Dụy, đặt thêm một chữ Nhiên, nhằm miêu tả t́nh cảnh ngài Tu Bồ Đề vui sướng, thỏa thích, tự vui mừng lănh hội. Nhưng do đại chúng chẳng thể liễu giải, cho nên Ngài lại thưa hỏi. “Nguyện” là nguyện vọng. “Nhạo” là yêu thích. “Dục” là mong cầu. Nếu chỉ có tâm nguyện mà chẳng yêu thích, dẫu nghe mà có thể là chẳng thiết tha. Lại c̣n có thể yêu thích mà chẳng mong cầu, chắc là nghe mà chẳng sâu đậm. Ba chữ ấy (“nguyện nhạo dục”) mỗi tầng một cao hơn, biểu thị ḷng khát ngưỡng của đại chúng, mà cũng có thể v́ chúng sanh khổ năo đời Mạt Pháp biểu thị sự khát ngưỡng. Chữ Văn (nghe) [trong câu kinh ở đây] tương ứng với chữ Văn trong Như Thị Ngă Văn ở đầu kinh. Nếu ngài Tu Bồ Đề chẳng nguyện ưa thích mong được nghe, sao ngài A Nan có thể nghe cho được?

          “Nghe” có ba loại:

          - Một là nghe lời nói, nhĩ căn sanh khởi thức, chỉ nghe được lời nói.

          - Hai là nghe nghĩa, ư thức đặt nơi ngôn từ, thâu thập ư nghĩa.

          - Ba là nghe ư, tâm thần ngưng lặng, t́m ṭi, nhận biết ư nghĩa.

          Nay nghe nói đạo “trụ tâm, hàng phục” như thế, ắt sẽ thấu hiểu ư, quên nghĩa, bỏ lời, có thể biết là tiêu quy tự tánh! Ai nấy đều sẵn có tánh như như bất động, nhưng do vô minh gây chướng, đến nỗi vọng tâm sanh diệt chẳng ngừng. V́ thế, người học hăy nên dụng công nơi chữ Văn (nghe), xoay tánh Nghe trở lại nghe nơi tự tánh, luôn luôn chiếu, luôn luôn nghe, sẽ biết “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Do vậy, đối với chữ Văn này, nếu thực hiện công phu “phản văn”, sẽ có thể tiêu quy tự tánh.

 

2.2.2.2.2. Nói cặn kẽ

 

          Chia thành hai phần:

          - Một, dựa theo cảnh để giảng vô trụ nhằm tỏ rơ chánh trí Bát Nhă.

          - Hai, dựa theo tâm để giảng vô trụ nhằm hiển lộ lư thể Bát Nhă.

          Phần thứ nhất lại chia thành hai đoạn:

          - Một, chỉ bày vô trụ để sanh khởi ḷng tin.

          - Hai, đề cao, xiển dương vô trụ để mở mang sự thấu hiểu.

          Đoạn thứ nhất lại chia thành ba tiết:

          - Minh thị.

          - Sanh khởi tín tâm.

          - So sánh sự thù thắng.

          Tiết thứ nhất lại chia thành hai ư:

          - Nói rơ phát tâm ly tướng chính là hàng phục.

          - Nói rơ “chẳng trụ tướng” chính là chánh trụ.

 

2.2.2.2.2.1. Dựa theo cảnh để giảng vô trụ nhằm tỏ rơ chánh trí Bát Nhă

2.2.2.2.2.1.1. Chỉ bày vô trụ để sanh khởi ḷng tin

2.2.2.2.2.1.1.1. Minh thị

2.2.2.2.2.1.1.1.1. Chỉ rơ phát tâm ly tướng chính là hàng phục

2.2.2.2.2.1.1.1.1.1. Nêu bày

 

          (Kinh) Phật cáo Tu Bồ Đề: - Chư Bồ Tát Ma Ha Tát, ưng như thị hàng phục kỳ tâm.

          ()佛告須菩提諸菩薩摩訶薩應如是降伏其心

          (Kinh: Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: - Các Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục cái tâm như thế).

 

          Câu “Phật cáo” (đức Phật bảo) là do người kết tập kinh thêm vào. Hễ thêm vào câu này, đều nhằm chỉ bảo mọi người điều được nói trong ấy có mối quan hệ rất khẩn yếu, chớ nên xem thường, đọc lướt qua. Câu “chư Bồ Tát” chính là nói tới các thiện nam tử, thiện nữ nhân đă phát đại tâm. Phàm nói Bồ Tát Ma Ha Tát th́ có hai nghĩa:

          - Một là vị đại Bồ Tát trong các vị Bồ Tát. Như xưng Quán Thế Âm Bồ Tát là Bồ Tát Ma Ha Tát, tức là nói theo một vị.

          - Hai là nói chung nhiều vị, tức là nói tới các vị Bồ Tát hoặc đại Bồ Tát. Người phát tâm chẳng phải chỉ một người; v́ thế nói là “chư”. “Chư” có nghĩa là “hết thảy”. Ở đây, do nói tới nhiều người, bèn là từ ngữ phiếm chỉ.

          Cần phải biết kinh này vốn là tối thượng thừa, vậy th́ người phát tâm học pháp này đều là bậc đại Bồ Tát, nhưng căn tánh bất đồng. Tuy cùng phát đại tâm, có vị phát tâm viên măn rốt ráo, trở thành bậc đại Bồ Tát. Người chẳng phát tâm viên măn rốt ráo, chỉ có thể thành Bồ Tát. Đức Phật nói pháp này, cũng hy vọng ai nấy sẽ đều phát tâm viên măn rốt ráo. Viên măn rốt ráo là ǵ? Như phát tâm “trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh” th́ là Bồ Tát. Nếu biết phát tâm “trên thành, dưới hóa” như thế, mà lại biết tuy là “trên thành” nhưng thật sự chẳng có ǵ để thành, tuy là dưới hóa độ, nhưng thật sự chẳng có ai được hóa độ, chính là chẳng có ǵ để thành mà trên là thành, tuy chẳng có ai được độ mà dưới hóa độ, đó tức là tánh đức rốt ráo, Thể và Dụng viên măn, là bậc đại Bồ Tát.

          Trong thế gian, loại này rất nhiều, tuy sở học là vô thượng đại pháp, nhưng thành tựu rất ư nhỏ bé! Đều là do chẳng biết đúng như pháp mà tu, phát tâm quá ư nhỏ bé vậy! Như pháp môn Niệm Phật vốn là vô thượng diệu pháp tột bậc viên đốn, nhưng [người tu] chỉ biết tự giải thoát cho chính ḿnh, thế th́ pháp tối thượng thừa không chỉ chẳng đủ là Đại Thừa, mà c̣n trở thành Tiểu Thừa nữa kia! Do vậy, chỉ có thể văng sanh hạ phẩm, trong nhiều kiếp chẳng thể “hoa nở thấy Phật”. Do trái nghịch bi nguyện của Phật, chẳng biết xứng tánh khởi tu! Thậm chí ngay cả hạ phẩm cũng chẳng đủ, chỉ có thể sanh vào Nghi Thành. Lại c̣n phải tu hành dài lâu th́ mới có thể ĺa Nghi Thành để sanh về An Dưỡng, há chẳng phải trên là cô phụ ân Phật, dưới là phụ bạc linh tánh của chính ḿnh ư? Sao lại đến nỗi như vậy? Đều là do chẳng hiểu rơ nguyên do của vô thượng đại pháp.

          V́ thế, học Phật th́ điều đầu tiên là phải khai trí huệ. Khai trí huệ nói theo bước đầu tiên nhất th́ chính là hiểu rơ lư. Nếu chẳng hiểu rơ nghĩa lư chân thật, phát tâm sẽ chẳng thể đạt tới vô thượng! Hiểu rơ lư chẳng phải là chuyên mổ xẻ nơi văn tự, ắt cần phải tu Quán. Tu môn Quán ǵ vậy? Cần phải đọc nhiều kinh điển Đại Thừa, lại c̣n phải gạt bỏ ngoại duyên, thâu nhiếp thân tâm. Nếu chẳng trước là nhiếp cái tâm này một chỗ, sao có thể nương vào văn tự để khởi quán chiếu? V́ thế nói là “Giới sanh Định, Định sanh Huệ”. Giới nhằm gạt bỏ ngoại duyên. Chữ Định có cạn và sâu. Lúc mới thực hiện, ắt phải nên miễn cưỡng nhiếp tâm một chỗ, khiến cho tâm ngưng tĩnh, chẳng rong ruổi tán loạn, bèn có thể khởi quán. Cho tới khi quán huệ sanh, đại định sẽ liền ở trong ấy, chẳng cần phải miễn cưỡng. V́ thế, sách Chỉ Quán nói: “Chỉ do Quán mà có, Quán thành sẽ tự Chỉ”. V́ sao? Quán thành tựu th́ vọng tưởng đều trừ, đấy chính là Chỉ, chẳng phải là đè nén, ngầm chứng th́ mới là Chỉ. Nói chung, hai chữ Định Huệ sanh khởi lẫn nhau, chẳng thể ngây ngốc chấp chặt là hai thứ tách biệt. V́ thế nói: “Như hai bánh của cái xe”. Lại nói: “Quán nơi Chỉ chính là Chỉ nơi Quán”. Chỉ Quán là công phu khẩn yếu trong học Phật; những điều vừa nói trên đây lại là đạo lư khẩn yếu trong Chỉ Quán, chớ nên không biết!

          Người sơ phát tâm do v́ lẽ nào liền gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát? Do họ có thể phát đại tâm, có tư cách trở thành Bồ Tát Ma Ha Tát; do vậy, gọi họ như thế. Đó là một điều. Đức Phật gọi họ như thế, nhằm khiến cho họ thẳng thừng gánh vác, đừng tự đánh mất lợi ích thù thắng. Đó là hai điều. Đức Thế Tôn b́nh đẳng, xem chúng sanh vốn giống như Phật, nên gọi người phát Bồ Đề tâm là Bồ Tát Ma Ha Tát, có ǵ là lạ? Đấy là ba điều.

          Chữ “như thị” nhằm chỉ phần kinh văn giảng rơ [ư nghĩa “hàng phục”] trong đoạn sau. Hàng phục cái tâm tức là khiến cho vọng tưởng chẳng dấy lên, cũng là khiến cho kẻ bất giác sẽ giác. Trong đoạn kinh văn trước đó, trước hết là hỏi “trụ như thế nào?” Trong phần nêu chung, đức Phật cũng trước là nói “hăy nên trụ như thế”, cớ sao khi giảng cặn kẽ, Ngài lại nói hàng phục trước? Ư nghĩa trọng yếu trong ấy, sẽ chia thành ba tầng để nói rơ:

          1) Hết thảy chúng sanh trước nay chẳng giác, nay tuy phát vô thượng giác tâm, cũng bất quá là phát cái sơ tâm đó thôi! Tập khí hư vọng bất giác chưa trừ mảy may, há có chân tâm để có thể trụ? Nếu cho rằng khi vừa phát tâm giác ngộ liền thấy chân tâm, một niệm ấy vẫn chính là vọng tưởng y như cũ! V́ thế, người sơ phát tâm để thực hiện th́ chỉ có hàng phục. Cổ nhân nói “chỉ cầu dứt vọng, đừng t́m kiếm chân” chính là ư này. Cần phải biết cái tâm của chúng ta tuy hoàn toàn bất giác, nhưng thật ra toàn là do Bổn Giác biến hiện. Đó gọi là “chân vọng ḥa hợp”, cái được gọi là Thức chính là nó đấy. Chỉ cần trừ từng phần vọng tâm, chân tâm sẽ từng phần hiển lộ. Cho tới khi vọng tận, t́nh không, tức là đem Thỉ Giác hợp với Bổn Giác. Thoạt đầu, chẳng cần phải nói “trụ” hay “chẳng trụ”. Do vậy, chẳng nói “trụ” trước mà nói “hàng phục” trước. Đó là lẽ đầu tiên.

          2) Không chỉ lúc mới phát tâm phải nên thực hiện từ hàng phục, mà từ đầu tới cuối, cũng chỉ có công năng hàng phục. Cho đến thành Phật, cũng là “vô sở trụ”. Cần phải biết: Đối với vọng tưởng vô minh (vô minh chính là vọng tưởng), lấy sự phá trừ chúng làm cái đích. Tu hành đạt tới địa vị Thập Tín, chỉ có thể chế phục, vẫn chưa thể phá. Từ Thập Tín tiến nhập Sơ Trụ, mới phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân (tức là mới thấy một phần chân tâm); mười phần chỉ đạt được một phần, sao có thể trụ cho được? Nói là “trụ”, tức là nói “chẳng thoái chuyển A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” đó thôi! Từ đấy trở đi, từng bước tăng tấn, từ Thập Trụ, tiến lên Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, sau đó đăng địa (chứng Sơ Địa) cho đến Bát Địa, mới xưng là Vô Học, sắp hết sạch vô minh. Nhưng mười phương chư Phật vẫn ân cần khuyên lơn, sách tấn [bậc Bồ Tát như vậy] hăy nên viên măn bổn nguyện, rộng độ chúng sanh, chớ nên trụ trong “nhập Niết Bàn”. Do vậy, trải qua Cửu Địa, Thập Địa, cho tới Đẳng Giác rốt ráo, hăy c̣n có một phần vô minh tối hậu (có thể thấy là đạt tới Đẳng Giác mới phá chín phần [vô minh]), vẫn nên dùng trí kim cang để phá, bèn thành tựu sự giác ngộ rốt ráo, nhưng vẫn chẳng trụ trong sanh tử, cũng chẳng trụ trong Niết Bàn. Có thể biết: Đạt tới địa vị thành Phật, vẫn là trụ mà chẳng trụ, chẳng trụ mà trụ. Như đức Thế Tôn thị hiện giống như phàm phu, đấy chẳng phải là tấm gương “trụ mà chẳng trụ” hay sao? Nhưng từ đầu đến cuối đều là vô sở trụ, chỉ có hàng phục, đă rơ lắm thay! Đây là lẽ thứ hai vậy!

          3) Ngài Thiện Hiện (Tu Bồ Đề) tuy hỏi về “trụ” trước, nhưng ánh mắt thật ra chú trọng nơi hàng phục. Bởi lẽ, do muốn trụ mà chẳng được, nên kế đó hỏi về hàng phục. Nếu không, chỉ hỏi nên trụ như thế nào là đủ rồi, cần ǵ phải thừa thăi thêm một từ nữa? Nhưng trong lời chỉ bày chung, đă nói “nên trụ như thế”, lại nói “hàng phục như thế”, ư cũng như thế. Đó là nói năng th́ có trước sau, nhưng ư th́ thật sự nhất quán. Trừ hàng phục ra, chẳng c̣n có phương pháp tấn tu nào khác. Đó là lẽ thứ ba.

 

2.2.2.2.2.1.1.1.1.2. Giảng thẳng vào vấn đề

 

          (Kinh) Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại, nhược noăn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngă giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả.

          ()所有一切眾生之類若卵生若胎生若濕生若化生若有色若無色若有想若無想若非有想非無想我皆令入無餘涅槃而滅度之如是滅度無量無數無邊眾生實無眾生得滅度者

    (Kinh: Tất cả hết thảy các loài chúng sanh, hoặc là sanh bằng trứng, hoặc sanh bằng thai, hoặc sanh từ nơi ẩm ướt, hoặc là hóa sanh, hoặc hữu sắc, hoặc vô sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng, hoặc chẳng phải hữu tưởng mà cũng chẳng phải vô tưởng, ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh như thế, thật ra chẳng có chúng sanh được diệt độ).

 

          Tứ Đại, Ngũ Uẩn, các duyên ḥa hợp mà hiện ra tướng Sanh, nên gọi là “chúng sanh”. Đấy là nghĩa gốc của danh từ Chúng Sanh. Trong ư nghĩa mở rộng th́ số nhiều, loại đông, sẽ gọi là Chúng Sanh. Người thời nay chỉ biết nghĩa mở rộng, bỏ sót nghĩa gốc. Chẳng biết nghĩa gốc cực diệu, chính là dạy quán chiếu cái vốn bất sanhcái ngay nơi bản thể chính là Không. V́ sao nói vậy? Do các duyên ḥa hợp mà gọi là Sanh đó thôi! Tánh thể có khi nào từng sanh? V́ thế nói “vốn bất sanh”. Vốn đă là vô sanh, nay cũng sẽ vô diệt. Đă là duyên ḥa hợp mà hiện sanh, cho nên hễ duyên tán liền diệt, há chẳng phải bản thể ấy chính là Không ư? Đó là nói theo tướng. Nếu xét theo tánh để nói, tánh vốn chẳng do vậy mà sanh! Tuy tướng sanh diệt tưng bừng, chẳng dính dáng ǵ đến Thể! V́ thế nói “ngay nơi bản thể chính là Không”. Trọn hết tất cả chúng sanh th́ số lượng sẽ nhiều, nên nói là “nhất thiết” (hết thảy). Chúng sanh các loài đông đảo, nên lại nói là “chi loại”. Các loại ấy như thế nào? Chính là từ noăn sanh cho tới phi hữu tưởng phi vô tưởng vậy!

          Trong kinh Phật nói về các loài chúng sanh khác nhau, có khi dùng Lục Đạo để phân định, nhằm muốn cho con người hiểu rơ lư luân hồi. Có khi chia thành mười hai loại chúng sanh[20] (như quyển tám kinh Lăng Nghiêm đă nói) nhằm muốn cho con người hiểu rơ lư “mười tập nhân[21] và sáu giao báo[22]”. Có khi chia thành tam giới nhằm muốn cho con người biết chỗ y chỉ cao thấp và lư “chẳng thoát khỏi phạm vi của hai sự sắc dục”. Nay cũng dùng tam giới để phân loại, nhưng không nói tới Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới, do Vô Sắc Giới c̣n có lư sanh thành đặc thù, cần phải đặc biệt nêu rơ ra th́ mới là triệt để, cũng nhằm khiến cho mọi người hiểu rơ sở dĩ chúng sanh chẳng thể thoát khỏi tam giới, không chỉ v́ bị chấp sắc, vướng dục gây chướng, mà c̣n có chướng ngại căn bản, ắt cần phải nên hiểu rơ triệt để ḥng đối trị, th́ mới có thể nhập Vô Dư Niết Bàn, mới có thể diệt độ.

          Trước hết, nói về Dục Giới. Dục Giới có hai loại:

          1) Thượng giới, tức Lục Dục Thiên (Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên). Do phước đức hơn người, cho nên sanh lên trời. Do c̣n có dâm dục, nên sống trong Dục Giới. Do dục niệm khá mỏng, cho nên chỉ hóa sanh, không có ba loại noăn sanh, thai sanh, và thấp sanh.

          2) Hạ giới, bao gồm người, súc vật, quỷ, địa ngục. Tu La một phần thuộc về thiên chúng, là hóa sanh. Người là thai sanh (sanh nở bằng bào thai, từ trời đọa xuống). Súc sanh (trong đó, thấp sanh kém cỏi nhất, sanh ở đáy biển cả, sáng bơi lên không trung, chiều quay về nước). Quỷ (sanh bằng trứng, do sức hộ pháp, nương thần thông bay lên không trung). Xem [những điều ấy] trong quyển chín kinh Lăng Nghiêm. Địa ngục là hóa sanh. Quỷ có hai loại hóa sanh và thai sanh, c̣n loài người và súc sanh th́ có đủ cả bốn loại sanh. Những loài này đều do dâm dục mà có tánh mạng.

          Tội nặng, t́nh kiến nhiều, sẽ càng đọa xuống dưới, cho đến đọa địa ngục. Kế đó, nhẹ dần th́ sống trong loài người. Từ Sắc Giới Thiên trở lên (Sắc Giới gồm mười tám tầng trời, chia thành Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, mỗi cơi có ba tầng trời. Tứ Thiền gồm chín tầng trời). Sắc Giới c̣n có Vô Tưởng Thiên, do đă có Sắc nên chẳng thuộc vào Vô Sắc Giới) đều là hóa sanh. V́ thế, chỉ nêu ra noăn, thai, thấp, hóa là đă bao gồm trọn hết tam giới. Nhưng do từ Sắc Giới trở lên, đặc thù sinh lư không hiển lộ, [đức Phật] lại nêu ra “nhược hữu sắc, nhược vô sắc” để nói. Do vô dục, v́ định lực mà hóa sanh trong Sắc Giới; đấy là điều khác biệt với Dục Giới. Do có thể chẳng chấp trước tướng sắc thân, do định lực mà hóa sanh trong Vô Sắc Giới, điều này khác với Sắc Giới. Nhưng nói “hữu sắc, vô sắc” th́ cũng nhiếp trọn tam giới. Từ Dục Giới trở xuống, không ai chẳng riêng có sắc thân. Nhưng ở dưới Dục Thiên, không chỉ là hóa thân; v́ thế, ắt phải nêu ra noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh để nói th́ sinh lư trong hạ giới mới hoàn bị. Lại nữa, trong Vô Sắc Giới, do định lực sâu hay cạn, lại có sinh lư đặc thù, chẳng thể không biểu lộ ra. V́ thế lại nói “nhược hữu tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng”.

          Bốn tầng trời thuộc Vô Sắc Giới là: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ [Vô Sở Hữu Xứ, và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Hai tầng trời đầu] chính là “nhược hữu tưởng” ở đây. Sắc tướng đă không, nên nói là Không Vô Biên Xứ (Vô Sắc Giới chỉ là không có sắc thân thuộc nghiệp quả, do đă đoạn dục, chẳng chấp tướng sắc thân, nhưng họ có định quả sắc. Sắc ấy vi diệu, từ Sắc Giới trở xuống chẳng thể thấy. V́ thế nói là Vô Sắc Giới. Sắc thân thô (tức Sắc Giới), trược (tức Dục Giới) đă không, cho nên chẳng có cái thức tham lam, keo kiệt đối với sắc thân. V́ thế nói là Thức Vô Biên Xứ. “Thức” tức tám thức ([ở đây là] nói chung tám thức, chẳng phải chuyên nói về thức thứ tám là A Lê Da Thức). Chân vọng ḥa hợp, gọi là Thức. Do thức nên có tưởng. Tưởng là thức thứ bảy, luôn thẩm định, cân nhắc để rồi chấp ngă, và thức thứ sáu phân biệt, so đo lệch lạc. Hai chữ “hữu tưởng” thống nhiếp Sắc Giới và Dục Giới. Chúng sanh trong Sắc Giới và Dục Giới, không ai chẳng có thức. Do thức thứ sáu và thứ bảy, nên chấp sắc thân là ta. Do chấp sắc thân, dấy lên đủ loại suy tưởng tham dục. Nhưng phía dưới Sắc Giới, không chỉ có thức, mà c̣n kiêm có sắc và dục. V́ thế, ắt trước hết phải nêu noăn, thai, thấp, hóa là thứ có sắc để nói, nhằm chỉ rơ khác với Vô Sắc Giới.

          Nếu là Vô Tưởng trở lên, tức là sinh lư đặc thù của Vô Sắc Giới. V́ thế, ắt phải biểu lộ ra, nhằm vạch rơ không chỉ do họ không có nghiệp quả sắc, khác với Dục Giới và Sắc Giới. Đó chính là Vô Sở Hữu Xứ Thiên thuộc Vô Sắc Giới, tức là thức thứ sáu phân biệt vọng tưởng vô sở hữu, v́ thường ở trong Định. Thức thứ bảy chấp ngă cũng là vô sở hữu, do ở trong Định chẳng suy lường, lại c̣n chẳng chấp có sắc thân Thức Vô Biên Xứ. V́ thế, định lực càng sâu hơn trước. Nếu chẳng phải là hữu tưởng, chẳng phải là vô tưởng, th́ chính là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên trong Vô Sắc Giới. Tới đây, định lực càng sâu, thức thứ tám là A Lại Da dường ẩn, dường hiện, nhưng chưa thể chuyển thức thành trí. Nói “phi hữu tưởng” tức là “vô tưởng cũng chẳng có”. Nào có biết như trước đó đă nói “vô sở hữu”, nhưng chẳng thật sự có thể “vô sở hữu”! Bất quá thức thứ sáu và thứ bảy tạm thời bị chế phục, người ấy tự cho là đă không có [vọng tưởng và phân biệt]. V́ sao? Hễ thức thứ sáu và thứ bảy mà chuyển, th́ thức thứ tám và năm thức trước đó (nhăn thức, nhĩ thức…) sẽ chuyển theo, sao đến nỗi vẫn c̣n như ẩn, như hiện ư? Đó là sai lầm! Tám thức vốn do chân tâm biến hiện, sao có thể vô sở hữu, chỉ có thể chuyển mà thôi! Thức thứ sáu hễ chuyển bèn là Diệu Quán Sát Trí, thức thứ bảy chuyển thành B́nh Đẳng Tánh Trí, thức thứ tám bèn chuyển theo thành Đại Viên Kính Trí. Năm thức trước cũng chuyển theo, liền thành Thành Sở Tác Trí. Sau đó, Thể và Dụng đều hoàn toàn tỏ lộ, sao lại có thể là “không” cho được? Nói chung là do chẳng biết Phật lư, hoàn toàn dùng sự chứng biết mê muội, chẳng có thiện xảo. V́ thế, [chư thiên trong] Phi Tưởng Phi Phi Tưởng dẫu trải qua tám vạn kiếp trường thọ, [khi thọ mạng trong cơi trời ấy đă hết], vẫn cứ sẽ đọa lạc y như cũ!

          (Ngoại đạo đều chẳng biết tánh. Nho gia cũng thế, họ coi “thiên mạng” là tánh, nhưng tánh chẳng do thiên mạng. Hoặc nói rằng: “Thiên mạng chính là pháp vốn sẵn có như thế”. Điều ấy trái nghịch ư của Khổng Tử. Kinh Dịch chép: “Lập thiên chi đạo, viết Âm, viết Dương” (Đạo lập ra trời đất là Âm và Dương). Lại chép: “Nhất Âm nhất Dương chi vị đạo, kế chi giả thiện, thành chi giả tánh” (Một Âm, một Dương được gọi là Đạo. Kế thừa cái đạo ấy th́ tốt lành, thành tựu cái Đạo ấy th́ gọi là tánh của muôn vật)[23]. Đấy là cội nguồn của [quan niệm trong Nho gia coi] “thiên mạng là tánh”, sao lại bảo [tánh là] pháp sẵn có như vậy? Mạnh Tử nói: “Thực sắc, tánh dă” (Ăn uống và sắc dục là bản tánh [của con người]). Trong tánh, há có ăn uống và sắc dục ư? Đấy chính là chủng tử tập khí từ vô lượng kiếp đến nay khiến thành ra như thế. Đó chính là lầm tưởng thức là tánh vậy. C̣n Tống Nho như Châu, Tŕnh, Trương, Châu[24] là lén lút trộm lấy những lời lẽ bề ngoài của nhà Thiền (c̣n chưa đủ để nói da lông) rồi lớn lối bàn về tánh lư. Đă chẳng phải là Phật, lại chẳng phải là Khổng, lầm pháp, lầm người, không chi to hơn được nữa! Phàm những ai trước đó đă tiếp nhận lời lẽ của họ, đối với Phật lư sẽ tuyệt chẳng thể hiểu rơ, mà lẽ chân của Khổng Tử cũng bị chướng lấp, chẳng hiển hiện được! Cần phải biết: Khổng Tử đối với chuyện ở ngoài lục hợp[25], đều im lặng chẳng bàn tới. V́ thế, chuyên xét theo trời giáng thiên mạng để nói, tuy chẳng triệt để, nhưng có thể khiến cho con người kính nể thiên mạng, sợ oai trời, xác lập đạo làm người tột bậc. V́ thế, Khổng Tử đúng là bậc đại thánh nhân trong thế gian, đáng bội phục, đáng kính ngưỡng! Mạnh Tử, Tuân Tử[26] đều chẳng thể khế hội sâu xa. Hán Nho th́ chuyên trọng huấn hỗ (giải thích các từ ngữ, câu văn trong kinh điển của Nho gia), tuy mù mờ đối với nghĩa lư to lớn, nhưng vẫn c̣n có công. Các kinh điển được họ giải thích từ ngữ, nếu chẳng nhờ sức của Hán Nho khảo cứu, hiệu đính, sưu tập, người đời sau sẽ dựa vào đâu để hiểu, lại nhờ vào đâu để thấy được? Người đời Tống lại bày vẽ một kiểu riêng, tự cho là “trực tiếp truyền tâm”, chẳng biết Khổng học do vậy mà thật sự bị tối tăm, cái tội ấy lớn lắm! Cách mạng[27] phế Khổng, do thật sự là lầm tưởng Tống học là Khổng học, đâu phải chỉ là cái tội hủy báng Phật pháp mà thôi! Đáng than thở thay!)

          Đối với noăn, thai, thấp, hóa, nói noăn sanh trước, v́ trong noăn có đủ thai, thấp, hóa, cho nên nói trước. Ở trong thai mẹ, tức là thuộc về Thai Sanh. Do dùng máu mẹ để dưỡng, đó là Thấp Sanh. Vốn là không, mà nay là có; đó là Hóa Sanh. Thai Sanh chẳng kiêm Noăn mà có đủ Thấp và Hóa, nên [Thai được] nói kế tiếp. Thấp Sanh kiêm hóa mà chẳng có Noăn và Thai, nên lại nói sau đó (Thấp Sanh là ở nơi ẩm ướt, hấp thụ khí Âm Dương mà hóa sanh. Do kiểu sanh này ắt ở nơi ẩm ướt, nên nói là Thấp Sanh). Hóa Sanh đang là không mà chợt có, chẳng có Noăn, Thai, Thấp, nên lại nói kế tiếp. Đấy là xét theo cách sanh phức tạp hay đơn giản mà nói.

          [Chánh kinh lại nói] noăn, thai, thấp, hóa đứng đầu các loại sanh là do nó kiêm dục, sắc, thức. Nếu là hữu sắc, do chẳng có dục, nhưng có thức, nên nói sau đó. Nếu là vô sắc th́ không có sắc, dục, nhưng có thức, nên nói kế đó. Do vậy, sắc và vô sắc là nói theo sắc tướng thô hay diệu! Nếu là hữu tưởng th́ chính là nói loại này tuy vô sắc mà c̣n có thức tưởng hiện khởi, nên lại nói kế đó. Nếu là vô tưởng, tức là thức thứ sáu và thứ bảy đă bị chế phục, và tưởng chẳng đầy đủ, cho nên lại nói sau đó nữa. Nếu là phi hữu tưởng phi vô tưởng, tức là không chỉ chẳng có thức thứ sáu và thức thứ bảy, mà thức thứ tám cũng bị chế phục phần nào, coi đó là đă vững vàng rồi. Đấy là xét theo t́nh thức dấy lên hay đă bị chế phục mà nói. Bởi lẽ các loại trước ắt đều gồm trọn loại sau, loại sau chẳng bao gồm loại trước. Noăn, thai, thấp, hóa tuy chẳng trọn hết để phán định sự hơn kém, trước sau, nhưng đă gồm trọn ba thứ dục, sắc, thức để nói, tức là loại trước lại kém hơn loại sau, loại sau lại trội hơn loại trước!

          Đức Phật phân loại tỉ mỉ, chẳng ngại rườm rà, hoàn toàn chẳng phải là lời lẽ thừa thăi. Ư Ngài là khiến cho [thính chúng] biết hết thảy các loại chúng sanh tuy nhiều, nhưng chẳng ngoài ba chuyện là sắc, dục, thức; do những thứ ấy mà thành chúng sanh. Nay phát vô thượng giác tâm, muốn khiến cho hết thảy chúng sanh thành vô thượng giác, mà chẳng đoạn dâm dục, chẳng chấp sắc tướng, chuyển thức thành trí, th́ sẽ chẳng thể! Vọng tận, t́nh không, nghiệp thức đă chuyển th́ cái tâm sanh diệt đă diệt, thoát khỏi biển sanh tử, chứng nhập tánh hải viên minh bất sanh diệt. Đó gọi là “nhập Vô Dư Niết Bàn”, được gọi là “diệt độ”. Đại Thừa Niết Bàn có hai loại:

          - Một, Hữu Dư, tức đă đoạn Chi Mạt Vô Minh (tức Kiến Tư Hoặc), hăy c̣n Căn Bản Vô Minh chưa đoạn ([Căn Bản Vô Minh] chính là nghiệp thức, tức là sự bất giác tối sơ, tự động, c̣n gọi là Sanh Tướng Vô Minh, lại c̣n gọi là Trụ Địa Vô Minh). Do vậy, gọi là Hữu Dư (c̣n sót thừa).

          - Hai, Vô Dư tức là nghiệp lẫn thức đều không (tức là đă chuyển thức thành trí), chẳng c̣n sót thừa vô minh nữa (điều này khác với Hữu Dư và Vô Dư của Tiểu Thừa. Tiểu Thừa cho rằng những điều phải học đă xong, c̣n có cái thân khổ báo chưa tận th́ là Hữu Dư Y Niết Bàn. Đó gọi là thoát khỏi Phiền Năo Chướng, có cái thân khổ y (cái thân nương vào sự khổ mà tồn tại). Khi đă hết cái báo thân ấy, bèn gọi là Vô Dư Y Niết Bàn, thường nói là “hôi thân diệt trí”). Vô Dư Niết Bàn chính là danh xưng để gọi giác quả rốt ráo, do bậc Đẳng Giác hăy c̣n có một phần vô minh cuối cùng chưa tận (đó tức là nghiệp thức vi tế, thường gọi là Sanh Tướng Vô Minh vậy).

          Niết Bàn nói đầy đủ theo âm tiếng Phạn là Bát Niết Bàn (Parinirvāṇa), hàm ư bất sanh, bất diệt, tức là nói tới tánh thể, c̣n dịch là Diệt Độ, hoặc dịch là Vô Vi (nh́n vào điều này, có thể biết là nội điển (kinh Phật) mượn dùng danh từ có sẵn, nhưng ư nghĩa khác xa hai nhà Nho và Đạo, mà cũng có [nội dung] khác biệt rất lớn! Vô Vi của Lăo Tử là do thuận theo t́nh thế dẫn dắt, chẳng mưu cầu công lao hiển hách, chẳng chấp lấy danh vọng hiển hách. Do trọn chẳng có dấu tích hiển hiện “có thực hiện”, nên gọi là Vô Vi, cũng bảo là Thanh Tĩnh. Do Tào Tham[28] tưởng lầm thanh tĩnh vô vi là “chẳng chú trọng mọi sự”, dẫn đến Nho gia chê trách. Thời Tào Tham, vốn phải nên dưỡng sức dân, giảm thuế má, lao dịch, tuy ông ta hiểu lầm [vô vi là chẳng chú trọng mọi sự], nhưng c̣n hữu ích. Thanh Đàm[29] đời Tấn đă gây lầm to lớn cho đất nước. Chẳng hiểu rơ chân nghĩa gây họa dữ dội lắm thay! Vô Vi của Khổng Tử là h́nh dung Nghiêu - Thuấn biết người hiền, khéo bổ nhiệm quần thần, bèn có thể khoanh tay ngồi yên mà cai trị, và [như Khổng Tử đă ca ngợi] “đăng đăng, dân vô năng danh”)[30]. “Nhập” là chứng nhập, có ư nghĩa “khiến cho chúng sanh chứng nhập giác quả rốt ráo”. “Diệt” tức là: Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền. “Độ” có nghĩa là [vượt thoát] hai thứ sanh tử Phần Đoạn và Biến Dịch. Ở đây, [chánh kinh] không nêu ra âm tiếng Phạn (tức Niết Bàn), chỉ nêu ra ư nghĩa để nói:

          - Một, nhằm chỉ rơ cái được gọi là Vô Dư Niết Bàn chẳng có ǵ khác! Hễ diệt trừ cái tâm sanh diệt “thức, sắc, dục”, liền vượt thoát biển sanh tử, đạt tới bờ kia Niết Bàn.

          - Hai, nhằm nói cho thuận tiện. Như kinh văn trong đoạn sau “diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh”, nếu đổi chữ “diệt độ” thành Niết Bàn, sẽ chẳng rơ ràng. Đấy là bút pháp hay khéo của người dịch vậy.

          Tông Pháp Tướng dịch Vô Dư Niết Bàn thành Vô Trụ Xứ Niết Bàn, chỉ rơ: Vừa chẳng trụ trong sanh tử, vừa chẳng trụ Niết Bàn. Cách dịch này so với cách dịch của ngài La Thập, mỗi đằng đều có ư nghĩa, đều hay khéo. C̣n như nói người qua đời là Niết Bàn hay nhập diệt, chỉ là mượn từ ngữ này để nói “chẳng trụ tướng mà nhập vào sự tịch tĩnh” đó thôi! Người đời phần nhiều hiểu lầm “Niết Bàn nhập diệt” là danh từ để chuyên gọi cái chết, Tống Nho lầm tưởng tịch diệt là “chuyện ǵ cũng không làm”, càng sai quá xa!

          Theo tông Pháp Tướng, ba phần rưỡi chúng sanh chẳng được thành Phật, tức là Định Tánh La Hán, Định Tánh Bồ Tát, và Nhất Xiển Đề (chẳng có tín căn) là ba phần, lại thêm Bất Định Tánh là nửa phần. Cớ sao [nay kinh này nói] đều được thành Phật vậy? Cần phải biết kinh dạy: “Phật chủng tùng duyên khởi” (chủng tử Phật sanh khởi từ các duyên). Lại nói (kinh Niết Bàn): “Phàm thị hữu tâm, định đương tác Phật” (phàm là người có tâm, nhất định sẽ thành Phật). Lại nói (kinh Viên Giác): “Hữu tánh vô tánh, tề thành Phật đạo” (Có tánh hay không có tánh, đều thành Phật đạo). V́ sao chẳng được thành Phật? Là v́ chúng sanh tuy sẵn có Phật tánh, nhưng Phật chủng phải đợi duyên sanh. Pháp Tướng Tông nói “chẳng được thành” tức là nói “chẳng có chủng tử, ắt sẽ chẳng thành”, chẳng phải là nói định tánh Nhất Xiển Đề không có Phật tánh! V́ thế, hai chữ “chủng tánh” ắt chẳng thể lẫn lộn được! Người học Tánh tông thường chấp tánh, mê mất “chủng tử”, như chấp tánh phế tu. Kẻ học Tướng Tông lại thường chấp chủng tử nên mê muội tánh, đều là do phạm lỗi không hiểu rơ ư chỉ của kinh!

          “Như thị” [trong câu “như thị diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh”] là nói tới câu “linh nhập Vô Dư Niết Bàn” (khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn) trong phần trên. “Vô lượng” tức là chủng loại không có hạn lượng, bất luận căn tánh thù thắng hay kém cỏi, đều độ thoát. “Vô số” là nhiều đến nỗi chẳng thể đếm được. Nhưng hoặc chỉ độ một thế giới, độ một thế giới trong một kiếp hoặc mười kiếp, cũng có thể nói là “vô lượng vô số”. Nhưng nay chẳng phải vậy, mà là chẳng có ngằn mé! “Vô biên” là theo chiều ngang trọn khắp mười phương, theo chiều dọc tột cùng ba đời. V́ thế, vô biên là tổng, vô lượng vô số là biệt. Do diệt độ vô biên, bèn đạt được vô lượng vô số.

          “Thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả” (Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ): Quán chiếu lư “vô sanh, vô đắc”, thật sự chẳng có, chẳng phải là giả tưởng không có. Cổ đức dùng năm nghĩa để quán rất vi diệu:

          1) Duyên sanh: Hết thảy chúng sanh không ai chẳng do Tứ Đại và Ngũ Uẩn giả hợp, bản thể chính là Không, há có chúng sanh!         

          2) Đồng thể: Ta và chúng sanh tướng tuy khác biệt, mà tánh thật sự đồng. Đó gọi là “nhất pháp giới”. Vậy th́ thấy có chúng sanh tức là tự tâm giữ lấy tự tâm, chẳng phải là huyễn thành, huyễn pháp!

          3) Vốn tịch: Được gọi là “chúng sanh” chính là do duyên giả hợp, hiện ra tướng Sanh, chứ tánh vốn vô sanh. Vốn vô sanh nên vô diệt, há có cái được gọi là “đắc Niết Bàn” ư?

          4) Vô niệm: Dùng ba nghĩa như trên để quán, có thể biết là thấy có chúng sanh, và thấy có chúng sanh đắc Niết Bàn, toàn là vọng niệm phân biệt. Nếu chẳng có niệm th́ chúng sanh chẳng có, mà “đắc” cũng chẳng có!

          5) B́nh đẳng: Nói như trên th́ có thể thấy hết thảy chúng sanh vốn là Phật, hoàn toàn b́nh đẳng. V́ thế nói: “B́nh đẳng chân pháp giới, Phật chẳng độ chúng sanh”. Nếu thấy có chúng sanh được diệt độ, sẽ là trái nghịch pháp giới b́nh đẳng. Nói chung, tánh chân thật, tướng hư vọng. Muốn thành vô thượng giác, phải nên chứng tánh chân thật. Tức là trong hết thảy các cảnh giới, hăy nên chẳng chấp tướng mà quy vào tánh. Hễ quy vào tánh, sẽ là chân thật. V́ thế, nói theo tánh, “chúng sanh đắc Niết Bàn” là thật sự chẳng có, chẳng phải là giả tưởng có, đă rơ lắm rồi!

          Có người nói: Đối với câu văn “ưng như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên hàng phục cái tâm như thế) trong đoạn trên, hai chữ Như Thị chính là nói về khoa này, nhưng đọc rồi thật sự chẳng hiểu cái được gọi là “hàng phục” chính là hàng phục vật ǵ vậy? Chỉ phát cái tâm rộng lớn ĺa tướng là đă đủ để hàng phục ư? Đáp: Nghĩa này hết sức tinh vi, nay sẽ v́ người hỏi mà nói phân tích như sau.

          Nói “hàng phục” chính là hàng phục vọng tâm. Vọng tâm là tâm phân biệt, nhưng phân biệt là do chấp Ngă mà khởi. Do vậy, ngă kiến là cội gốc của phân biệt. Nay phải hướng về căn bản mà trừ khử. Ngă kiến đă trừ th́ phân biệt, vọng tưởng tự tiêu mất. Lại nữa, đối với chánh kinh trong khoa này, hăy chú trọng nơi câu cuối cùng. Những câu trước đó đều nhằm dẫn khởi cho câu này xuất hiện. Do muốn nói “thật sự không có chúng sanh đắc độ”, nên trước đó nói “độ vô biên chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn”. Do muốn nói “khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn”, nên trước đó nói đủ loại chúng sanh không ngoài thức, sắc, dục. Do biết lư do trở thành chúng sanh, sẽ biết nguyên do độ chúng sanh. Biết vô biên chúng sanh không ai chẳng phải là tướng hư huyễn do thức, sắc, dục huyễn hiện thành, sẽ biết diệt tướng “thức, sắc, dục” sanh diệt ấy, khiến cho chẳng lọt vào trong sanh diệt, sẽ thật sự chẳng có chúng sanh, thật sự chẳng có chúng sanh đắc độ. Cớ sao chúng sanh chỉ v́ “thức, sắc, dục” mà bị chướng ngại? Bản tánh của họ vốn là bất sanh, bất diệt. Đă là đồng Thể với ta, thứ ǵ được gọi là “chúng sanh”, thứ ǵ là “đắc” vậy? Quán chiếu thuần thục như thế, th́ kiến giải chấp ngă bất giác tự biến mất. V́ sao vậy? Do biết ta cũng là chúng sanh, do biết bản thể chính là Không, biết khởi niệm th́ có. Nếu chẳng có niệm, hết thảy đều là Không, do biết vốn sẵn b́nh đẳng. Sở dĩ pháp Đại Thừa này thiện xảo chính là v́ chẳng hàng phục mà hàng phục vậy.

          Ở đây, có ư nghĩa c̣n trọng yếu hơn, lại cần phải nói:

          1) Vọng tưởng rễ sâu, nay do mới bắt đầu giác, đạo lực mỏng ít, há có thể chống lại ư? Hơn nữa, chân tâm và vọng tâm vốn là đồng thể. Khởi tâm động niệm th́ toàn thể chân thành vọng. Tâm khai, niệm dứt, tức là toàn thể vọng thành chân, c̣n cần phải trừ ư? Do hai thứ nguyên nhân ấy, nói “trừ vọng” chính là giả danh trừ, chứ thật sự chẳng có ǵ để có thể trừ. Nói “hàng phục” chính là thiện xảo chuyển dời, khiến cho quy hướng, biến đổi, trọn chẳng phải là nói do đối địch mà trừ vậy. Nay dạy họ phát khởi cái tâm ĺa tướng, thật sự là phương tiện thiện xảo ḥng thực hiện sự giáo hóa to lớn đó thôi!

          2) V́ sao phát đại tâm lại có thể chuyển hóa? Cần phải biết: Phàm phu tâm lượng hẹp nhỏ, cho nên chấp ngă, càng chấp càng hẹp ḥi. Nếu phát tâm rộng độ vô biên, lâu ngày quán thuần thục, sẽ bất tri bất giác, chấp t́nh tiêu diệt!

          3) Phàm phu chỉ biết có chính ḿnh. Nếu dạy họ quán ngay vào tự thân vô ngă, ắt họ chẳng thể nhập. Nay dạy họ theo chỗ rộng răi thuộc phương hướng đối diện, quán chẳng có chúng sanh, ắt tâm lượng đă mở rộng, trong khoảng đối chiếu ấy, [sẽ nhận biết] chính ḿnh cũng là duyên sanh, là vốn tịch, sẽ liền rỗng rang, dễ thấu hiểu. Đấy đều là pháp môn thiện xảo dùng để giáo hóa to lớn.

          4) Căn bản của Kiến Tư Hoặc là ngă kiến. Nay dùng phương pháp chuyển dời ngấm ngầm để đoạn trừ mà chẳng hay biết, đúng là kim cang cứng chắc nhất, sắc bén nhất.

          5) Chấp ngă là Mạt Na Thức (Manas-vijñāna, Ư Căn). Hễ có ta liền có các phân biệt như “người, chúng sanh, thọ giả”. Phân biệt là thức thứ sáu. Nay chẳng chấp hết thảy, tức là chuyển biến thức thứ sáu và thứ bảy. Thức thứ sáu và thứ bảy đă chuyển, năm thức trước và thức thứ tám đều liền thuận theo mà chuyển thành trí. Đó gọi là Bát Nhă Ba La Mật.

          6) Độ tất cả chúng sanh thành Phật là ngăn Không, thật sự chẳng có chúng sanh thành Phật là ngăn Có; tức là ngăn cả hai bên. Tuy rộng độ mà thật sự chẳng có, tuy thật sự chẳng có mà rộng độ; đó là cùng chiếu cả hai bên. Dùng quán Ngăn và Chiếu đồng thời để làm nhân, bèn đạt được cái quả Tịch Chiếu đồng thời.

          7) Phát tâm rộng độ là đại bi. Quán lư “thật sự không có” chính là đại trí. Bi và trí trọn đủ, lại chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ trong Niết Bàn là cái nhân.

          8) Xét theo phương diện đại bi như trên đây để nói, th́ chính là tu phước. Nói theo phương diện đại trí th́ chính là tu huệ. Phước huệ song tu lại là cái nhân để thành bậc Lưỡng Túc Tôn. Có thể biết hết thảy các pháp Đại Thừa đều được gồm trọn trong ấy, lại c̣n là pháp dẫn thẳng tới chỗ có của báu. V́ thế, kinh này dạy: “Nhất thiết chư Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật và hết thảy các pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra).

          9) Chưa thể độ ḿnh mà muốn độ người khác trước, đó là Bồ Tát phát tâm, được gọi là “đại bi”. Nay xem ư nghĩa trong khoa này mới biết độ người khác chính là độ ḿnh. Vậy th́ trong đại bi có đại trí, thật sự thiện xảo!

          10) Khoa này nhằm dạy phát nguyện. Trước nay, người học thường khổ v́ đại nguyện chẳng phát khởi, có thể dựa vào những ǵ đă nói trên đây từ điều một cho tới điều chín để quan sát, đại nguyện bi trí trọn đủ sẽ nẩy sanh tràn trề.

          Lại nữa, khoa trên đây nói về “hàng phục” cũng chứa đựng ư nghĩa riêng. Bởi lẽ, dạy phát đại nguyện th́ phải nên lập chí kiên cường, đừng sanh ḷng khiếp nhược. Đấy chính là “hàng phục cái tâm” vậy.

          Sự nêu bày, chỉ dạy, giảng giải trong hai khoa này chính là nhằm chỉ dạy chúng ta chỗ dụng công tu tập, tột bậc thân thiết, tột bậc khẩn yếu. Xét ra, những điều đă nói có tám nghĩa trọng yếu:

          1) Ngài Không Sanh (Tu Bồ Đề) trước hết hỏi về “trụ”, kế đó hỏi về “hàng phục”. Lời đáp lại nói hàng phục trước rồi đến trụ; nhưng trong lời đáp về “trụ”, lại bảo “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu). Có thể thấy là chúng ta dụng công, chỉ cần trừ vọng. V́ sao vậy? Chân tâm chẳng hiện, hoàn toàn do vọng gây chướng. Vọng chẳng trừ sạch, mà nói “an trụ nơi Như Như chân thật” th́ một niệm ấy vẫn là vọng tưởng y như cũ. Huống hồ đức Phật đă chứng đắc rốt ráo, cũng chẳng trụ trong Niết Bàn, khi tu nhân sao có thể nói là “trụ” cho được? Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhân minh chiếu sanh sở, sở lập chiếu tánh vong” (từ nơi chân tánh vốn sáng suốt, bỗng xuất hiện tác dụng chiếu hư vọng. Hễ có tác dụng chiếu th́ sẽ có cái bị chiếu thành lập. Khi đă có chiếu và cái bị chiếu th́ chân tánh bị mất đi)[31]. Lại nói: “Tri kiến lập tri, thị vô minh bổn” (từ trên sự thấy biết [vốn sẵn có chân tánh], lại lập ra một cái thấy (tức là chấp có tác dụng thấy); đó là cội gốc của vô minh). Do vậy biết hễ có trụ liền có “sở” (đối tượng của trụ, tức đối tượng chấp trước); hễ có sở liền có lập (tức là có sự đối đăi giữa vọng tâm trụ (chấp trước) và đối tượng bị chấp trước). Có sở, có lập, tức là nơi Đại Viên Kính Trí tự dính bụi nhơ, quang minh sao có thể chiếu trọn khắp cho được? V́ thế nói: “Vô minh bổn, chiếu tánh vong” (Hễ có cái gốc của vô minh th́ tánh của Chiếu sẽ bị mất đi). Do vậy, tổ sư Thiền Tông bảo: “Chỉ cầu dứt vọng, chẳng cần t́m chân”. Cổ đức cũng nói: “Chỉ sạch hết phàm t́nh, chứ chẳng có sự hiểu biết của thánh nhân nào khác”. Đó chính là nói: Hễ sạch hết phàm t́nh th́ đấy chính là thánh giải (sự hiểu biết của bậc thánh). Kinh cũng có nói: “Cuồng tâm bất hiết, hiết tức Bồ Đề” (cuồng tâm chẳng dứt, hễ dứt th́ là Bồ Đề), đều nhằm nói rơ lư “dụng công chỉ cần hàng phục vọng tâm”. Do vậy, có thể ngộ “quét sạch tri kiến sai biệt” chính là công phu thấu triệt từ đầu tới đuôi, há có phải chỉ là phương pháp để thực hiện tu tập mà thôi ư?

          2) Hàng phục cần phải có phương tiện. Nếu chẳng có phương tiện, vọng tâm càng lừng lẫy. Nay gởi gắm sự hàng phục nơi phát tâm rộng lớn. Nói cách khác: Phát tâm rộng lớn chính là hàng phục; đó là nói tới sự giáo hóa rộng lớn. Chẳng có ǵ là hàng phục, mà tự nhiên hàng phục, thuận tiện tột bậc!

          3) “Hàng phục” là hàng phục vọng tâm. Cần phải biết: Vọng tâm sanh từ phân biệt. Cái gốc của phân biệt là do chấp ngă. V́ thế, nay dùng tâm rộng lớn để hàng phục bốn tướng là ta, người v.v… Lại c̣n độ hết vô lượng vô số vô biên chúng sanh. Đại từ, đại bi như thế, tức là trừ khử hai độc Tham và Sân. Lại c̣n tuy độ sanh, nhưng thật sự chẳng có ai được độ, tức là chẳng có Thường Kiến (đó cũng chính là chẳng chấp Có). Tuy không có ai được độ, nhưng độ chẳng ngừng, tức là chẳng có Đoạn Kiến (cũng chính là chẳng chấp Không). Chẳng đoạn, chẳng thường, trọn đủ diệu huệ ấy, Si Độc cũng trừ. Đấy là v́ hết thảy phàm phu là kẻ ngă kiến nặng nề, Tam Độc sâu đậm, cái gốc bệnh thật sự là do tâm lượng quá hẹp ḥi. Cần phải dùng cái tâm rộng lớn để trị gốc bệnh, giải quyết từ gốc bệnh, các bệnh tự nhiên dễ trừ.

          4) Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ tới nay, chưa hề giác. Nói “bất giác” tức là nói chẳng hay biết sự phân biệt “ta, người” đều do giữ lấy tướng. Ĺa tướng, dung hội tánh, vốn là đồng thể, há có phân biệt! Do chẳng biết mà chấp tướng; v́ thế, càng chấp, càng mê. Mê chính là Si. Do v́ ngă mà lập ra ngă sở, tham và sân đua nhau dấy lên, tạo nghiệp vô cùng. Lại cũng chẳng hiểu cái được gọi là “ngă sở” (cái thuộc về ta) không ǵ chẳng phải là huyễn hữu do duyên sanh. Bất luận pháp (có) và phi pháp (không), chỉ cần có cái bị chấp trước là không được rồi. Tướng của pháp và phi pháp đều do tánh khởi. Hơn nữa, dùng tánh để dung hội, tướng vốn chẳng phải là tướng, có ǵ là ngă sở? Có ǵ là ta, người? Do chẳng hiểu rơ, đến nỗi khổ sở v́ nghiệp ràng buộc, chẳng có cách nào giải thoát! Nay dùng tâm rộng lớn để độ sanh, chẳng chấp giữ, sẽ là khiến cho ĺa hết thảy tướng của pháp và phi pháp (tức là ĺa hai bên Có và Không), đều cùng quy vào cái tánh “đồng thể”. Nếu quy hội vào tánh, há c̣n có các tướng “ta, người” sai khác! Đấy chẳng phải độ người khác chính là độ chính ḿnh hay sao? Có pháp nào thiện xảo hơn pháp này!

          5) Phàm phu dễ bị cảnh chuyển (cảnh tức là ngă sở), chẳng có ǵ khác, do chấp trước cảnh đó thôi! Dẫu phát đại tâm tu hành, vẫn không ǵ chẳng phải là cảnh để duyên vào. Ví như độ sanh, đó chính cảnh để duyên vào của bậc hành nhân đại tâm. Đă chẳng thể không có cảnh để duyên theo (“không có cảnh” tức là chấp không; cũng không thể do đâu khởi tu được), lại chẳng thể chấp giữ cảnh (chấp cảnh tức là chấp Có). V́ thế, nay đầu tiên là dùng “độ sanh mà thật sự không có ai được độ” để dạy họ đừng chấp vào hai bên, hội quy Trung Đạo, phù hợp tánh thể, đích thị là phương pháp để tiến nhập thân thiết chi bằng?

          6) Ở đây tuy nói “hàng phục”, chưa nói “trụ”, nhưng ư nghĩa trụ đă thật sự ngầm ở trong ấy. Phát đại tâm th́ đầu tiên là nên độ sanh, há chẳng phải là minh thị pháp an tâm hay sao? Nhưng “độ người mà chẳng có người được độ” cũng chính là dạy hăy nên trụ mà chẳng trụ vào đâu. Đó chính là kệ tụng của ngài Di Lặc, cho nên nói “lợi ích thâm tâm trụ”. Nói chất phác, tức là dạy trụ trong chánh trí Bát Nhă. Nói “quán chiếu Bát Nhă” là quán chiếu Không và Giả, chẳng ĺa Không và Giả, đồng thời là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế. Do chúng sanh vốn có căn bệnh chấp trước, cho nên chẳng nói rơ, khiến cho mọi người chẳng trụ tướng mà tự lănh hội vậy!

          7) Trong cái nh́n thông thường, [mọi người] hay cho rằng Bát Nhă thuộc loại đàm luận lư sâu xa, thậm chí sợ Bát Nhă lệch về Không; người tu Tịnh Độ lại càng không dám nhắc tới [Bát Nhă]. Nhưng người học Bát Nhă lại thường là chấp Lư, phế Sự, tạo thành cái cớ cho kẻ khác chê bai! Nay xem [kinh này], đầu tiên là nói về hàng phục, có thể thấy: Chẳng trừ chướng ngại do tập khí hư vọng gây nên, sao có thể mở mang chánh trí Bát Nhă cho được? Lại c̣n trước hết nói về chuyện độ sanh, có thể thấy là trải qua sự việc để rèn luyện cái tâm, đó chính là chỗ để tiến nhập Bát Nhă, há có chuyện đàm luận lư ở ngoài Sự ư? Lại c̣n “hai bên Có và Không đều chẳng thể chấp”, há lệch về Không ư? Đối với các chỗ như thế này, cần phải càng thêm chú ư suy xét kỹ càng vậy.

          8) Hàng phục cái tâm phân biệt ở đây chính là chuyển biến thức thứ sáu. Hàng phục ngă tướng chính là chuyển thức thứ bảy. Cần phải biết: Chúng sanh vô thỉ bất giác, tự tánh thanh tịnh tâm chẳng hiển lộ, mà hiện ra thức. Các thức có tác dụng lớn nhất chỉ là thức thứ sáu và thứ bảy; do vậy, phải nên thực hiện từ chỗ này. Khi đó, toàn bộ là thức, nào có chân tâm để có thể trụ? Đó là lư do v́ sao chỉ nói “hàng phục”, chẳng nói “trụ”. Cái được gọi là chánh trí Quán Chiếu Bát Nhă vẫn là thức. Cần phải biết thức là vật ǵ? Nó vốn do tự tánh biến hiện. Do dùng phân biệt chấp ngă mà trở thành thức, được gọi là Vọng. Nếu vận dụng hàng phục phân biệt ngă chấp, tức là dẫn nó trở về chánh đạo, th́ gọi là “chánh trí”. Đấy chính là dùng cái mâu của ông để đâm cái thuẫn của ông, cũng là như tục ngữ nói “để cởi chuông vẫn phải cậy vào người buộc chuông”. Điều ấy có cùng một ư vị như Thiền Tông nói “ĺa tâm ư thức để tham cứu”. Do chưa ĺa, cho nên dạy ĺa. Cần phải biết ư niệm “có thể ĺa” cũng là thức, bởi chẳng thực hiện từ chỗ này, đúng là chẳng có cách nào cả! Nhưng nhà Thiền chẳng nói rơ đó là thức, giống như “chẳng nói trụ” ở đây, có dụng ư như nhau, được gọi là “có cùng một ư vị”. Có thể là nhà Thiền v́ lẽ này xem nhẹ các pháp môn khác, bảo “dụng công trong nhà Thiền là ĺa tâm ư thức”. Đấy chẳng phải là đă uống linh dược mà chẳng biết cội nguồn của linh dược ư?

          Pháp môn Niệm Phật cũng thế, hễ nói tới “niệm” th́ đó là tâm thức. Chẳng biết “nhất tâm chánh niệm” chính là để hàng phục vọng niệm rối bời! Nếu nói: “Do họ chưa thể ĺa niệm, trọn chẳng cao thượng bằng trực chỉ của nhà Thiền”. Trọn chẳng biết chỗ khác biệt to lớn giữa vọng niệm và tịnh niệm! Vọng niệm càng niệm th́ ư niệm càng dấy lên; tịnh niệm sẽ có thể do niệm niệm đạt tới vô niệm. Ví như dùng bùn khuấy nước, nước càng đục ngầu. Dùng phèn quấy vào nước, nước liền trong lắng. Nếu nói “trực chỉ hướng thượng” th́ nh́n vào trực chỉ hướng thượng của nhà Thiền vẫn phải là [dụng công miên mật] cho tới khi đạt được an ổn, đạt được thiện xảo. “Trực” có nghĩa là do đất vấp ngă th́ phải từ đất mà ḅ dậy; đấy chẳng phải là thẳng chóng, thỏa đáng ư? V́ thế, phương pháp thực hiện trong pháp môn Tịnh Độ là chuyển thức thành trí. Đó chính là hàng phục, đó là chánh trí Quán Chiếu Bát Nhă, đó là từ ngay nơi niệm mà ly niệm, chẳng chấp vào hai bên. Hơn nữa, người niệm Phật c̣n phải phát đại tâm, nguyện trọn khắp pháp giới chúng sanh đều cùng sanh Cực Lạc. Đó chính là dùng chánh niệm ấy để ngầm xông pháp giới, rộng độ hàm linh. Đấy chẳng phải là giống hệt những điều đang được nói ở đây ư? Nếu có thể dung hội một điểm đạo lư này, há c̣n chẳng càng thêm khẩn thiết niệm Phật ư? C̣n sợ niệm Phật chẳng đắc lực ư? Hết sức khẩn yếu!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.1.3. Trưng thích (gạn hỏi để giải thích)

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ Tát.

          ()何以故須菩提若菩薩有我相人相眾生相壽者相即非菩薩

          (Kinh: V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả sẽ chẳng phải là Bồ Tát).

 

          “Trưng” () là nêu ra, tức là nêu ư nghĩa trong đoạn văn nói trước đó để giải thích cho rơ, gọi là Trưng Thích (徵釋), tức là ư nghĩa “tự hỏi, tự đáp”.

          Người, chúng sanh, thọ giả, đều do chính ḿnh bày ra. Hễ có ngă tướng (tướng ta), bèn có cái đối đăi với nó là tướng người. Người không chỉ là một, bèn là tướng chúng sanh. Kiến chấp chấp ngă cứ nối tiếp chẳng ngừng, tức là tướng thọ giả[32]. Bốn tướng chẳng ra ngoài một ngă tướng. Nay tách ra để nói, nhằm nêu rơ: Chấp ngă là có tâm phân biệt, khiến cho [thính chúng] biết sáu thức sanh từ Mạt Na. Hễ có Mạt Na, bèn có sáu thức, chẳng tách ĺa. Chấp ngă phân biệt như thế chính là bệnh chung của phàm phu, há có phải là Bồ Tát, nên nói “tức phi” (tức chẳng phải). Do vậy, [câu kinh này là lời] răn nhắc người phát đại tâm tột bậc sâu đậm, thiết tha vậy!

          Ngă tướng do ngă kiến sanh khởi; ngă kiến dùng ngă tướng để hiển lộ. Một trong, một ngoài, chưa hề tách rời! Phá ngă tướng tức là phá ngă kiến. Tướng có thô và tế. Thô th́ chấp cảnh, c̣n tế th́ chấp tâm. Trong đoạn [vấn đáp] thuộc phần sau cũng nói ngă tướng tức là dựa theo tâm để nói, [hay nói cách khác] chính là dựa theo thức để nói. Bởi lẽ, tám thức chính là các tướng do tâm Chân Như biến hiện. V́ thế, Duy Thức Tông c̣n được gọi là Tướng Tông.

          Khoa này vốn nhằm giải thích ư nghĩa “khiến [cho vô lượng người học Phật] phát đại nguyện” trong khoa trước. Sao không nói: “V́ sao vậy? Do giáo hóa rộng lớn, do đoạn Hoặc, do chuyển thức”, cho đến “độ ḿnh trước rồi mới độ người khác”? Như thế há chẳng phải là nghĩa lư trong khoa trước càng rơ ràng, mà cứ ắt phải nói theo phương diện tương phản vậy? Bởi lẽ, đoạn Hoặc, chuyển thức v.v… đều là pháp, đều là chẳng thể chấp lấy. Hễ chấp lấy, sẽ thành ngă tướng, lại trở thành phân biệt. V́ thế, chẳng cần biểu đạt, diễn tả, mà dùng cách nói phủ định để nhất loạt trừ sạch. Đấy là ư vi tế của đức Thế Tôn, mà cũng là chánh tông của Bát Nhă vậy!

          (Bổ) Tứ tướng chỉ là một ngă tướng. Hễ có ta, liền có tướng đối đăi người khác. Đối đăi không chỉ là một người, tức chúng sanh tướng. Ngă tướng trong vọng tâm, tiếp nối trong mỗi niệm chẳng quên mất, tức là tướng thọ giả. Nếu Bồ Tát thấy có chúng sanh đắc độ, do chính ta độ, tức là có ngă tướng. V́ thế, bốn tướng cùng dấy lên. Có bốn tướng tức là có tâm phân biệt. Có tâm phân biệt th́ là phàm phu, chẳng phải là Bồ Tát. Tu hành th́ điều thứ nhất là phải nên xóa bỏ chữ Ngă, phát tâm v́ hết thảy chúng sanh. Đấy chính là hàng phục ngă tướng. Ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ, nhưng chúng sanh ương ngạnh, khiến cho họ tu hành đă chẳng dễ, huống hồ liễu sanh tử. Nhưng đều chẳng màng, bất luận nhân hay phi nhân, đều độ họ thành Phật, cũng v́ họ vốn sẵn là Phật. Đấy chính là hàng phục tướng người. Diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, trong tâm chẳng dấy lên ư niệm làm thế nào để có thể độ hết. Đấy chính là hàng phục tướng thọ giả. Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ, đấy chính là hàng phục tướng chúng sanh. V́ sao phải hàng phục như thế? Do phát tâm vô thượng th́ phải hành Bồ Tát hạnh, Phổ Hiền hạnh. Nếu có bốn tướng, sao có thể gọi là Bồ Tát cho được?

          Đức Phật muốn người tu hành từ văn tự mà khởi quán chiếu. Chẳng dùng công phu quán chiếu, sẽ chẳng thể chuyển phàm t́nh. V́ thế, người học cần phải thực hiện tu tập từ chỗ này. Nay đoạn kinh văn như thế này trần thuật cặn kẽ phương pháp quán chiếu. Đối với quán chiếu, cổ nhân chưa nói cặn kẽ. Quán () là quan sát (thoạt đầu dịch là Tư (), tức trong tâm suy nghĩ). Thiền Tông [quan niệm] “chẳng thể dùng tâm ư thức để tham cứu”, tức là rơ ràng dạy mọi người chớ nên suy nghĩ; nhưng lại nói “chớ nên đọa vào không suy nghĩ”, tức là lại phải sử dụng tư duy. Như vậy th́ do phàm phu lắm tri kiến, ắt phải “đơn đao trực nhập” (một ḿnh vác đao tiến thẳng vào) th́ trước hết phải chặt sạch cành lá. Thiền Tông khán thoại đầu, cần phải khởi nghi t́nh! Nếu chẳng suy nghĩ, nghi t́nh do đâu mà dấy lên? Quán là tư duy, nhưng chỉ tư duy th́ chẳng được! V́ thế, lại dùng chiếu. Chiếu () chính là Khán () trong nhà Thiền. Như dựa theo văn tự để khởi quán chiếu, hễ ĺa văn tự, trở về nơi tâm; sau đấy mới có thể chiếu trụ. Khi chiếu trụ, nói “có tư duy”, nhưng chẳng tư duy. Nói “chẳng tư duy”, lại chẳng phải là không có tư duy. Khi ấy, trong tâm tự nhiên mở mang trí huệ, mở như thế nào? Tức là vọng tưởng ngưng lặng, trụ trong Bổn Giác.         

          Bát Nhă có Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, và Thật Tướng Bát Nhă. Văn Tự là nói tới kinh văn. Thật Tướng là nói cái tánh mà ai nấy đều sẵn có. Đức Phật nói Bát Nhă, tức là hy vọng người học sẽ chứng cái tánh vốn sẵn có ấy. Như thế nào th́ có thể chứng? Tức là hăy nên dựa theo văn tự để khởi quán chiếu. Nếu chẳng quán chiếu, văn tự là văn tự, chẳng thể tiêu quy tự tánh, chẳng thể thọ dụng! Chúng ta đọc tụng kinh Kim Cang, vốn là mong tiêu quy tự tánh. Đức Phật cũng v́ thế mà nói kinh này. Vậy th́ đạo lư quán chiếu, phương pháp quán chiếu, chẳng thể không biết. Không chỉ Bát Nhă là phải quán chiếu, mà hết thảy Phật pháp, hễ nói đến sự tu tŕ, hết thảy các pháp môn đều chẳng ra ngoài quán chiếu.

          Ba điều kiện trong học Phật là Giới, Định, Huệ. Chẳng có Giới, ba nghiệp thân miệng ư chẳng thể thanh tịnh. V́ thế, Giới là cơ sở tu học, là độc lập. Hai chữ Định và Huệ sanh khởi lẫn nhau. Nói theo cái quả, sẽ là Định Huệ. Nói theo cái nhân, sẽ là Chỉ Quán. Chỉ () là dừng vọng niệm. Quán tức là quán chiếu chân tâm. Do Chỉ có thể sanh ra Định, do Quán có thể sanh Huệ. Đấy là cách nói phối ứng. Thật ra, công phu Chỉ Quán chỉ có một chữ Quán. Hai điều ấy thuộc về cùng một sự kiện. “Chỉ” là lúc mới thực hiện, phải nhiếp tâm một chỗ, tức là Định như cổ nhân đă nói. Thật ra, lúc mới thực hiện, chẳng đáng để nói là Định, nhưng Định do đó mà sanh. Lâu ngày, sẽ do Định mà sanh ra Huệ. V́ sao vậy? Do sau khi đă quán thành tựu một loại pháp môn, trí huệ liền phát sanh, vọng tưởng liền rơi mất. V́ thế, có Huệ th́ mới có thể thành tựu môn Định ấy. Lại nữa, thoạt đầu thực hiện th́ nhiếp tâm một chỗ, ắt phải mười phần vận tâm th́ mới có thể nhiếp được; có thể thấy là trong ấy có Quán. Do vậy, nói đi, nói lại, chỉ có một chữ Quán. Bởi lẽ đó, Bát Nhă chẳng nói Chỉ mà nói là Quán Chiếu.      

          Quán chiếu có nhiều loại phương pháp. Chẳng có phương pháp, sẽ chẳng thể khởi quán chiếu. Tuy các tông phương pháp bất đồng, nhưng chỉ quy[33] chỉ là một. Như tông Thiên Thai dùng Tam Quán Không, Giả, Trung. Hoa Nghiêm Tông th́ là Tứ Vô Ngại Quán (Lư Vô Ngại, Sự Vô Ngại, Lư Sự Vô Ngại, Sự Sự Vô Ngại). Pháp Tướng Tông th́ Ngũ Trùng Duy Thức Quán. Mật Tông th́ Đạo Tràng Quán, A Tự Quán[34]. Thiền Tông bèn khán thoại đầu. Tịnh Độ Tông bèn quán Vô Lượng Thọ Phật. Có kẻ nói “niệm Phật chẳng phải là Quán”. Lời ấy chẳng đúng! Cần phải biết niệm chính là Quán. Nếu vọng tưởng tơi bời, tán tâm niệm Phật, sẽ chẳng được thọ dụng. Ắt phải miệng niệm Phật hiệu, tâm tưởng Phật Di Đà như ở ngay trước mắt, niệm Phật như thế, vọng tưởng sẽ không do đâu mà khởi! Đấy tức là Quán. V́ thế, dụng công không ǵ trọng yếu bằng tu Quán. Tu Quán là thâu nhiếp ư căn. Ư căn đă nhiếp trụ, hai nghiệp thân và khẩu cũng sẽ thâu nhiếp vào một chỗ. V́ thế, Tịnh Tông tâm tưởng Phật, miệng niệm Phật, tay cầm xâu chuỗi. Mật Tông th́ tâm tác quán, miệng niệm chú, tay kết ấn. Có thể thấy bất luận dụng công như thế nào, đều là chẳng tác Quán[35] th́ sẽ không thể được! Trong Giáo Hạ, Tam Quán Không, Giả, Trung và Tứ Vô Ngại Quán tợ hồ các cách quán bất đồng, nhưng lư là một, chớ nên không biết! Nếu không, đối với kinh điển của các tông do chẳng thể dung hội, sẽ có mâu thuẫn!

          Phương pháp để tác quán từ đời Đường trở về sau, trừ Thiền Tông ra, các tông khác nói đến điều này ngày càng ít dần. Như tông Thiên Thai khi giảng giáo nghĩa th́ đối với lư Không, Giả, Trung phát huy khá tường tận, nhưng khi dụng công, chẳng nhất định sẽ dùng pháp ấy. Chỉ có Thiền Tông từ xưa tới nay, luôn nói “hướng thượng nhất trước”[36], lại c̣n “chẳng được dùng tâm ư thức để tham cứu”. Do vậy, có người sáng lập các pháp môn khác vẫn dùng Tư, chỉ riêng Thiền Tông nói không cần dùng Tư, lại c̣n dẫn kinh “chẳng thể dùng cái tâm sanh diệt làm cái gốc để tu nhân” ḥng chứng thực. [Người học Thiền cho rằng không cần dùng tư duy] là v́ chẳng biết [cổ đức] nói “không được dùng tâm ư thức để tham cứu” chính là chẳng cho phép dùng phàm t́nh để suy đoán! Hễ dùng đôi chút ư thức, tức là phàm t́nh. Dùng tâm t́nh phàm phu để suy đoán lời Phật, quyết chẳng có lẽ ấy! V́ thế, chẳng cho phép. Xưa nay lại có người nói “Quán tức là Chiếu, Chiếu là chiếu trụ”, nhưng cổ nhân đối với cách nói này đă phê b́nh: Do coi như thế là chiếu trụ th́ chính ám chứng[37]. Do đă chẳng chấp thuận dùng phàm t́nh để suy đoán, Chiếu lại là ám chứng, nhưng nghĩa gốc của Quán lại là Tư Duy. Do vậy, người học chẳng có chỗ nào để noi theo.

          Như vậy th́ rốt cuộc nên thực hiện tu Quán như thế nào? Ở chỗ này, bỉ nhân đă tham cứu trải qua nhiều năm, do sách Đại Thừa Chỉ Quán của Nam Nhạc đại sư mà ngộ được lư ấy. Cổ nhân nói “chẳng dùng cái tâm ư thức để tham cứu”, tức là “đừng lấy cái tâm sanh diệt làm gốc để tu nhân”. Ư Phật thật sự chẳng phải là như vậy, mà là nói người học Phật thoạt đầu phát tâm, chẳng thể dùng cái tâm sanh diệt làm cái nhân để tu tập. Như kinh này nói “thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” chính là ư đó. Tới khi dụng công trong thực tế, cần phải dùng tư duy. Như kinh này nói “tất cả hết thảy các loài chúng sanh, ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”; đó tức là tư duy. Thoạt đầu, phát Vô Thượng Bồ Đề chính là xứng tánh mà khởi tu, tức là nói “chẳng lấy cái tâm sanh diệt làm cái nhân để tu”. C̣n như khi tu hành, ắt dùng quán chiếu, tức là tư duy. Thiền Tông nói “chẳng thể dùng tâm ư thức để tham cứu”; đấy chính là nỗi khổ tâm của tổ sư. Thật ra, vẫn cần phải tư duy. Chẳng tư duy sẽ chẳng thể khởi nghi t́nh! C̣n như chẳng dùng phàm t́nh suy đoán, lại là một chuyện khác!

          V́ sao biết từ sau đời Đường, các tông khác phần nhiều chẳng tác quán? Chuyện này có thể dùng lời của Thiện Đạo đại sư trong Thập Lục Quán Kinh Sớ để làm chứng. Ngài nói: “Người hiện thời độn căn, tu Quán chẳng thể thành. V́ thế, chỉ đề xướng niệm Phật”. Đó là nói pháp Quán trong Quán Kinh rộng lớn, tâm lượng phàm phu chẳng thể tương ứng. Chẳng thể do Thiện Đạo đại sư có lời ấy, gạt bỏ quán pháp, chẳng nói tới nữa! Từ sau giữa đời Đường, Mật Tông cực thịnh một thời, chẳng lâu sau tiêu diệt. Hoa Nghiêm Tông cũng thế. Thiên Thai Tông giữa chừng   cũng suy vi. Trải qua sự đề xướng của hai vị đại sư Tứ Minh và Từ Vân, các kinh sớ lại từ Nhật Bản được đưa về, có thể trung hưng. Nhưng hai vị ấy thực tế dụng công cũng dùng Tịnh Độ, chẳng phải là Chỉ Quán! Sau đời Tống, trong Tịnh Độ Tông c̣n có mấy vị đại sư, nhưng phần nhiều cũng chẳng nói tới phương pháp tác quán. V́ thế, chỉ có Thiền Tông vẫn c̣n có Quán môn, người đời sau tu hành [Thiền Tông] chưa từng chẳng nhiều, nhưng người đắc lực rất ít. Điều ấy cũng khá có quan hệ với chuyện chẳng giảng phương pháp tác quán.

          Lại nữa, người tu hành thường là lúc mới tu th́ rất đắc lực, về sau biến đổi. Đấy cũng là do chẳng biết tác quán, [sẽ cảm thấy tác quán] khô khan vô vị đến nỗi như thế đó. Lại có người đọc tụng kinh điển Đại Thừa, có thể hiểu rơ lư ấy, kết quả là ngược ngạo nẩy sanh tà kiến, cũng là do không biết tác quán. Lại có người đọc tụng kinh điển rất nhiều, nhưng đạo lư là đạo lư, chẳng ăn nhập ǵ với thân tâm, tham, sân, si phiền năo chẳng thể trừ mảy may, cũng là do chẳng biết tác quán. Quán tức là tư duy. Chiếu có hai nghĩa: Một là chiếu trụ, hai là chiếu kiến. Chiếu kiến tức là nói về lúc công phu đă tu thành, như “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không” trong Tâm Kinh vậy. Đại để, chiếu kiến do chiếu trụ mà có. Chiếu trụ là do tư duy mà có. Chẳng tư duy, sẽ chẳng thể chiếu trụ. Chẳng chiếu trụ, sẽ chẳng thể chiếu kiến. Tư duy lâu ngày, tâm đă gởi gắm một chỗ, tức là chiếu trụ. Khi đó, khá nhiều vọng niệm tạm thời đ́nh chỉ, chẳng nổi lên quấy rối. Nếu quấy rối tức là chẳng thể đ́nh chỉ. Một niệm hiện tiền chân tâm th́ ai nấy đều vốn sẵn có, chỉ do vọng tưởng quấy rối, cho nên chẳng giác. Hễ vọng tưởng ngừng lại, quang minh vốn có sẽ tự nhiên phát lộ. Đấy chính là trí huệ. Quán chiếu th́ cần phải quán tâm tánh của chúng ta. Đó gọi là “tiêu quy tự tánh”. Nhưng phàm phu quán chiếu chẳng đến mức, hoàn toàn là một cái thùng sơn đen kịt, hoàn toàn là vọng tâm, sao có thể thực hiện được? Chỉ có chiếu theo lời đức Phật dạy để quán, tức là trước hết hăy dụng công nơi văn tự trong kinh Phật.

          Đức Phật nói phương pháp quán chiếu, chẳng chấp thuận chúng ta dùng phàm t́nh để suy đoán. Như trong đoạn kinh văn này, nếu dùng phàm t́nh để suy đoán, mà chẳng dùng Quán, sẽ chẳng thể hiểu rơ. Người đời đọc kinh chuyên cầu nơi văn tự, ngỡ là đă hiểu ư nghĩa, đúng là muôn vàn chẳng thể! Như đối với câu “ưng như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên hàng phục cái tâm như thế), dùng phàm t́nh để suy lường, đương nhiên sẽ có nhiều cách giải thích. Làm như thế chẳng được, hăy nên trừ bỏ đi. Nếu tưởng lại có cảnh giới khác, lại cần phải trừ bỏ đi. Tưởng rồi lại tưởng, đều là chẳng được. Càng tưởng càng tiến, lâu dần như ngây ngốc. Chỗ hay khéo là ở chữ Ngốc này! Cổ nhân nói: “Cần phải một phen chết ngất”, tức là chết mất cái vọng tâm ấy. Dụng công như thế, hoặc nửa năm, hoặc một năm, bỗng dưng khai ngộ. Phải thỉnh cầu thiện tri thức chứng minh điều ấy có phù hợp hay không? Nếu chẳng có thiện tri thức, hăy lấy kinh Phật để chứng minh. Nếu kinh Phật chẳng có cách nói ấy, tức [sự “khai ngộ” ấy] vẫn là phàm t́nh suy đoán. Như thế th́ vọng tưởng trong cái tâm này đă đoạn chẳng ít. Tuy chẳng thể ngay lập tức tiêu quy tự tánh, nhưng đă tiêu quy chẳng ít. V́ thế, cần phải đọc tụng kinh điển Đại Thừa cho nhiều. Kinh này chỗ nào cũng đều nói “đọc tụng, thọ tŕ”, tức là quán chiếu vậy!

          Lại “quán tất cả hết thảy chúng sanh” cho tới “thật sự không có chúng sanh được diệt độ”, kinh văn trong phần trước nói về hàng phục, đoạn này sao chẳng nói tới hàng phục là do ư nghĩa nào vậy? Đấy chính là dạy chúng ta hăy mở rộng tâm lượng tới mức to lớn vô lượng vô biên. Do cái gốc bệnh to lớn của chúng sanh chính là tâm lượng nhỏ hẹp. Do nhỏ hẹp, nên chấp ngă. V́ thế, đức Phật dạy mở rộng cái tâm ấy, ngấm ngầm chuyển đổi. Đó gọi là “đại nhi hóa chi” (dung hội quán thông đạo đức, đạt tới cảnh giới siêu phàm). Nếu trong sinh hoạt thường nhật, luôn luôn quán chiếu như vậy, đem tâm lượng đă được rộng mở như đức Phật đă nói chuyển thành [tâm lượng của] chính ḿnh; đấy chính là diệu pháp để trừ ngă kiến, khử phiền năo.

          Lại xem đoạn văn tự này, chỗ kết quy thật sự là câu “thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ”; đấy chính là dạy chúng ta trừ ngă kiến, nhưng hoàn toàn chẳng nói thẳng là ngă kiến, chỉ riêng chú trọng hướng về phía chúng sanh để tác quán. V́ phàm phu chấp ngă, một khắc cũng chẳng lơi lỏng. Nếu chú trọng nơi ta để tác quán, sẽ chẳng thể đắc lực. V́ thế, quán theo phía chúng sanh, quán nhân duyên tụ hợp, [nhận biết] cái Thể của nó là Không. Lại nữa, do chúng sanh đồng Thể, quán chiếu như thế, sẽ bất tri bất giác tự nhiên trừ khử, tiêu mất ngă chấp. Đấy chính là phương pháp thiện xảo để tiêu quy tự tánh. Lại quán hoặc là noăn sanh cho đến Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng, có thể thấy hết thảy chúng sanh, chẳng ai không có dục, sắc, thức. Chẳng chuyển dời ba thứ ấy, sẽ vĩnh viễn luân hồi trong tam giới. Do biết dục chẳng thể không đoạn, sắc tướng chớ nên chấp trước, t́nh thức ắt cần phải chuyển dời; quán chiếu như thế, sẽ có thể bất tri bất giác trừ bỏ ba thứ dục, sắc, thức.

          Lại quán đều nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Chúng sanh đă nhiều như thế, nhưng loài noăn sanh ngu xuẩn, tánh cố định khó giáo hóa; Hữu Tưởng và Vô Tưởng th́ kiêu căng, làm sao để có thể diệt độ trọn hết? Nhưng Phật là bậc vô duyên đại từ, chỉ cần [chúng sanh] tiếp cận ta đều sẽ đắc độ. Hăy quán chiếu như thế này: Chính ḿnh lạm dự làm nhân loại, trên là c̣n chưa tu đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, dưới th́ so ra cao minh hơn loài noăn sanh và thấp sanh, hăy nên học theo Phật mà thành Phật, cái tâm vô thượng sẽ có thể tự nhiên khởi lên, vọng tâm sẽ tự có thể chuyển.

          Lại quán câu “thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ” tiếp ngay theo câu “vô lượng vô số vô biên chúng sanh”, có thể thấy là hễ có một chúng sanh chưa đắc độ, nguyện của ta chẳng tận. Quán sát lời Phật như thế, Lư chẳng ĺa Sự, Sự chẳng ĺa Lư, tức là Lư và Sự cùng dung hội. “Ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ” tức là trừ khử chấp Không. “Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ” là trừ khử chấp Có. Hai bên đều trừ, tức là Song Giá (cùng ngăn cả hai bên, tức là cùng trừ khử cả hai bên). Hai bên lại cùng thực hiện, tức là Song Chiếu. Đấy chính là “Giá Chiếu đồng thời”. Do tu Quán như thế đó, sẽ có thể chứng cái quả “tịch chiếu đồng thời”. Hết thảy chúng sanh đều diệt độ là đại bi. “Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ” là đại trí. Đấy là bi và trí cùng dung thông, sẽ có thể đạt được Phật quả chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn. “Ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ” là tu phước, “thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ” là tu huệ. Đó là phước huệ song tu, có thể chứng quả Lưỡng Túc Tôn.

          Hai chữ Kim Cang chính là đoạn Hoặc. Hoặc chẳng ngoài Kiến Tư, Kiến Tư chính là ngă tướng. Kinh này đúng là có tác dụng đoạn ngă tướng cực lớn. Tiêu trừ ngă kiến chính chuyển thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí. “Đều nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”, chẳng dấy lên phân biệt, tức là chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí. “Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ” tức là chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí. Do vậy, trong đoạn sau có câu nói: “Nhất thiết chư Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra), há chẳng phải thành Phật ở ngay trong đoạn kinh văn này hay chăng?

          Hết thảy kinh điển Đại Thừa, hễ nói tới người phát đại tâm Đại Thừa, [luôn nói] “chưa thể tự độ mà mong độ người trước đă”. Đó chính là đại bi. Nhưng độ người khác chính là tự độ! Đối với loại đạo lư này, nếu quán chiếu rành rẽ, th́ Phật pháp thoạt nh́n dường như rộng lớn vô biên, thật ra là đậm vị thân thiết! Thoạt nh́n dường như cao sâu, vốn thật ra b́nh dị, chất phác. Gởi tâm nơi đoạn kinh văn này để luôn luôn quán chiếu, tâm gởi vào một chỗ, vọng tưởng liền dần dần tiêu trừ. Tức là do mấy câu này mà thành Phật có thừa vậy! Lại thấy đoạn kinh văn này chẳng nói hàng phục mà chính là hàng phục. Đó là muốn cho chúng ta phát khởi nguyện ấy, kiên cường ư chí, ngă chấp, ngă kiến hết thảy đều quét sạch, hàng phục liền ở ngay trong đó, tự nhiên thọ dụng. Hằng ngày hăy đặt đoạn kinh văn này trong tâm, sẽ thọ dụng vô cùng. V́ vậy, cần phải quán chiếu!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2. Nêu rơ chẳng trụ nơi tướng chính là chánh trụ

 

          Chia thành bốn đoạn:

          1) Giảng thẳng vào vô trụ.

          2) Giải thích nguyên do.

          3) Kết lại lời dạy về chánh trụ.

          4) Lại nêu rơ nguyên do.

          Đoạn thứ nhất lại chia thành ba tiểu tiết.

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.1. Giảng thẳng vào vô trụ

2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.1. Nêu bày

         

          (Kinh) Phục thứ, Tu Bồ Đề! Bồ Tát ư pháp, ưng vô sở trụ, hành ư bố thí.

          ()復次須菩提菩薩於法應無所住行於布施

     (Kinh: Lại này Tu Bồ Đề! Bồ Tát đối với pháp hăy nên đừng trụ vào đâu để hành bố thí).

 

          (Bổ) “Phục” là lại. “Thứ” là thứ tự. Chữ Pháp bao gồm muôn h́nh tượng, hết thảy mọi sự, mọi vật, bất luận mắt thấy, tai nghe, dẫu chẳng thể thấy, chẳng thể nghe mà hễ tâm tưởng đến, cũng gọi là Pháp. Phàm pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều được bao gồm trong ấy. V́ thế, nói là “nhất thiết pháp” (hết thảy các pháp). “Ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu) chính là giải đáp [cho câu hỏi] “ưng vân hà trụ” (hăy nên trụ như thế nào). “Trụ” là chấp trước. Chúng sanh chỗ nào cũng chấp trước, chẳng phải chấp Đông th́ sẽ chấp Tây. Lời đáp này của đức Thế Tôn chính là một gậy gơ thẳng vào đầu! Bố Thí là một môn trong Lục Độ. [Lục Độ] c̣n gọi là Lục Ba La Mật. Kinh Đại Bát Nhă đối với Lục Ba La Mật, mỗi mỗi đều nêu ra. Kinh này chỉ nói tới Bố Thí. Nói theo mặt văn tự th́ chính là tránh rườm rà, hướng đến chỗ giản lược. Bố Thí có thể bao gồm hết thảy các pháp, Phật pháp phải hành, đừng nên “trụ”. Hai câu này c̣n có thể nói là “ưng đương vô sở trụ, nhi hành nhất thiết pháp” (hăy nên chẳng trụ vào đâu để hành hết thảy các pháp).

          Phàm trong kinh, hễ để hai chữ “phục thứ”, ắt là đoạn kinh văn ấy có mối quan hệ mật thiết với đoạn kinh văn trước đó. Trong ấy, có hai nghĩa: Một là bổ túc nghĩa trước; hai là nói rộng thêm nghĩa trước. Phần kinh văn trước đó giải đáp “hàng phục”, phần này đáp về “trụ”. Thoạt nh́n dường như là một nghĩa khác, nhưng thật ra là cùng một sự kiện. Bởi lẽ, trước đó nói “hàng phục” tức là đă chứa đựng ư nghĩa “trụ mà chẳng trụ”. Ở đây nói “vô trụ mà trụ” cũng chứa đựng ư “hàng phục”, soi sáng lẫn nhau! Lại nữa, phần trên là phát đại nguyện, ở đây là khởi đại hạnh. Nguyện và hạnh chẳng thể tách rời. Có nguyện ắt có hạnh, có hạnh ắt có nguyện. Lại c̣n chẳng phân biệt trước sau, phải thực hiện bằng hạnh th́ mới chẳng phải là nguyện suông! V́ thế, có mối quan hệ mật thiết. Đấy là bổ túc ư được nói trong phần kinh văn trước đó. Lại nữa, phần trước là phát đại tâm diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, mà chưa nói phương pháp độ sanh. Phần này chính là nói pháp độ sanh, nói rơ hơn một tầng. “Ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu) tức là chẳng chấp Hữu. “Hành Bố Thí” là lại chẳng chấp Không. Đấy chính là Trung Đạo, chẳng rơi vào hai bên!

          Đối với ư nghĩa của Lục Độ, phải nên biết đại lược. Lục Độ là Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, và Bát Nhă. Lục Độ chẳng ngoài Giới, Định, Huệ, nhằm đối trị tham, sân, si.

          1) Bố Thí có ba loại là Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí. Dùng các vật dụng sinh hoạt thường nhật như thức ăn, y phục, thuốc thang v.v… để thí cho người khác, ắt cần phải dùng tiền bạc, nên gọi là Tài Thí. V́ người khác giảng kinh, thuyết pháp, hoặc in tặng kinh điển. Cho đến các sách vở thế gian, chỉ cần hữu ích cho người khác, đều dùng để bố thí, đó là Pháp Thí. Vô Úy Thí tức là cứu khổ, cứu nạn. Chúng sanh trong tai nạn, ắt có nỗi kinh hoảng, ta đến cứu họ, khiến cho họ chẳng sợ hăi. Chỉ cần có thể cứu, dẫu xả thân mạng cũng chẳng đoái hoài; đó là Vô Úy Thí. Ba tức là một, một tức là ba. Như cứu người khổ nạn, khiến cho họ không sợ hăi, chẳng ngoài dùng Tài Thí và Pháp Thí. Có thể thấy là khi Tài Thí th́ Pháp Thí và Vô Úy Thí cũng ở trong đó. Lại nữa, v́ người khác thuyết pháp, đó là pháp tài. Trao cho người khác kinh điển, khiến cho họ tăng trưởng phước huệ, tức là Vô Úy Thí. Lại tách ra th́ có nội thí và ngoại thí, cho đến cứu cánh thí (bố thí rốt ráo). Như trong kinh Hoa Nghiêm đă nói các danh mục [bố thí] cực nhiều, gộp lại th́ là một. Tu bố thí nhằm phá tâm keo tham. Tham ắt keo, keo ắt tham. Điều này gây tạo đủ loại nghiệp, ở măi trong biển khổ sanh tử. V́ thế, ắt phải phá trừ!

          2) Giới là giới luật. Chữ Tŕ () khác với chữ Thủ (). Khăng khăng vâng giữ, chẳng lơi lỏng một khắc nào là Tŕ. Giới có tại gia và xuất gia khác biệt. Tại gia có Tam Quy, Ngũ Giới, Bồ Tát Giới, và Tam-muội-da giới của Mật Tông. Xuất gia có Tam Quy, Sa Di Giới, Tỳ-kheo Giới, Bồ Tát Giới. Tuy Ngũ Giới chỉ là năm điều “giết, trộm, dâm, dối, uống rượu”, nhưng là căn bản của hết thảy các giới. Ngay như giới xuất gia cũng dựa trên năm điều ấy, chỉ là chia chẻ đặc biệt tỉ mỉ mà thôi! Bồ Tát Giới của người xuất gia gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh (đó là Phạm Vơng Bồ Tát Giới), đức Phật v́ hàng xuất gia mà chế định, cũng chấp thuận cho người tại gia thọ giới ấy, bất quá chính ḿnh cần phải cân nhắc có thể thọ được th́ mới nên! Nếu không, đức Phật v́ hàng ưu-bà-tắc, ưu-bà-di mà chế giới Bồ Tát (Ưu Bà Tắc Giới Kinh), giản đơn hơn người xuất gia, gồm sáu giới trọng và mười hai giới khinh. V́ thế, hàng tại gia nên thọ giới này th́ tốt hơn.

          Tŕ giới là cơ sở trọng yếu nhất trong học Phật. Như xây nhà, chẳng đắp nền móng kiên cố trước, sẽ chẳng được! Nếu không, nhà ắt sụp đổ. V́ vậy, kinh này nói người tŕ giới, tu phước có thể sanh ḷng tin đối với chương cú này, coi đó là thật, có thể thấy hết thảy Phật pháp đều được xây dựng trên giới luật. Giới điều tuy nhiều, chẳng ngoài hai môn: Một là Chỉ Tŕ, hai là Tác Tŕ.

          a) Chỉ Tŕ là dụng công nơi phương diện tiêu cực.

          b) Tác Tŕ là dụng công nơi phương diện tích cực.

          Chỉ Tŕ tức là các điều ác đừng làm. Tác Tŕ tức là vâng làm các điều thiện. Hai từ ngữ này bị thế gian lạm dụng, thật sự phát xuất từ kinh Phật. Người học trước hết phải tŕ nơi phương diện Chỉ, lại tiến cao hơn là tŕ nơi phương diện Tác. Như “chẳng giết” cố nhiên là tốt đẹp, nhưng chỉ là Chỉ Tŕ. Tiến hơn nữa là khuyên người khác cũng kiêng giết, tức là Tác Tŕ. Không chỉ kiêng giết, c̣n phải phóng sanh, sẽ là Tác Tŕ. Có người nói: “Tôi có thể kiêng giết, kiêng trộm”. Chuyện này há dễ dàng ư? Như kiêng giết th́ đối với muỗi, ruồi, nhặng cũng chẳng hại sanh mạng của chúng th́ mới được! Giả sử có chuyện ǵ chưa từng nói rơ với người khác, mà cứ cho là [vật dụng] thuộc về ḿnh [để tự tiện sử dụng] th́ chính là phạm giới trộm cắp. Lại như ở cơ quan công cộng, do việc riêng tư mà lạm dụng một bao thư, một tờ giấy viết thư của công sở, cũng là phạm giới trộm cắp! Đối với giới dâm, đức Phật chỉ chế định người tại gia chẳng tà dâm, cũng là pháp môn phương tiện. Thật ra là ắt phải đoạn dâm, do nó là căn bản của sanh tử! Giới vọng ngữ, cộng thêm ác khẩu, nói đôi chiều, nói thêu dệt, mà tách ra thành bốn điều. Dùng lời ác để chửi bới là ác khẩu. Khuấy động thị phi là nói đôi chiều. Miêu tả t́nh cảm nam nữ là ỷ ngữ (nói thêu dệt), văn nhân dễ phạm nhất. Thoạt đầu, đức Phật chế căn bản đại giới, vốn chỉ có bốn điều là giết, trộm, dâm, dối. Về sau, do rượu có thể loạn tánh, lại thêm giới ấy.

          Bốn điều đầu là tánh giới, điều cuối là giá giới (遮戒, giới mang tánh chất pḥng hộ, giúp cho hành nhân chẳng phạm tánh giới). V́ thế, đối với giới uống rượu, có khi “khai” (tạm thời cho phép) như khi do bệnh mà cần phải dùng rượu, đức Phật cũng cho phép. Tŕ giới cần phải hiểu lư “khai, giá”. “Khai” là chẳng ngăn cấm, “Giá” là không cho phép. Có khi cho phép khai, hễ khai th́ chẳng phạm. V́ thế, cần phải biện định rơ ràng chuyện “khai, giá”. Nếu không, chẳng thể tŕ giới viên măn! Đức Phật chế định giới luật, càng nghiêm mật hơn pháp thế gian. Như người chỉ thọ giới thuộc bước đầu, chẳng được xem giới luật thuộc bước cao hơn. Hễ xem th́ là trộm pháp! Nói theo người xuất gia, sa-di chẳng được phép xem giới tỳ-kheo, tỳ-kheo cũng chẳng được xem Bồ Tát giới, v́ tŕ pháp sai khác, cho nên chẳng thọ th́ chẳng được xem! Người tại gia chẳng được xem giới luật của người xuất gia, v́ giới xuất gia rắc rối, nặng nề tột bậc. Như tỳ-kheo có hai trăm năm mươi giới, tỳ-kheo-ni có ba trăm tám mươi bốn giới. V́ sao người tại gia không được xem? Đấy chính là nỗi khổ tâm của đức Phật, sợ kẻ tại gia do vậy mà tạo ác nghiệp. Bởi lẽ, chúng sanh thường phạm một loại bệnh lớn: Trách người khác th́ chi ly, trách chính ḿnh th́ khoan dung. Giới tỳ-kheo thật sự khó tŕ, hở ra là phạm giới. Sợ cư sĩ xem giới bổn tỳ-kheo, chính ḿnh trọn chẳng thọ, mà chỉ trích người xuất gia đâm ra sâu nặng hơn! Hơn nữa, đức Phật chế giới luật, chẳng giống như pháp thế gian chỉ có các điều khoản, như nói một giới điều nào đó, ắt trước đó đem lư đáng nên tŕ và sự thật nói cặn kẽ trước rồi mới ấn định điều ấy. Thuở ấy, trong Phật môn có nhiều vị đệ tử tŕnh độ đă cao, vẫn chẳng tránh khỏi phạm giới, sợ người học nghĩ rằng “họ c̣n vi phạm, bọn ta có thể khoan thứ”. Do vậy, chẳng cho phép xem! Tŕ giới th́ tham, sân, si đều bị phá trừ. Nếu nói phân biệt, giới sát nhằm đối trị kẻ nhiều sân, giới trộm nhằm đối trị kẻ nhiều tham, giới dâm nhằm đối trị kẻ nhiều tham và si. Giới nói dối cũng nhằm đối trị kẻ nhiều tham và si. Giới kiêng rượu nhằm đối trị tham, sân, si. Thoạt đầu tŕ giới, chú trọng nơi sự. Nếu sau khi đă thọ Bồ Tát giới, hễ dấy niệm trong tâm th́ chính là phạm giới.

          3) Nhẫn Nhục c̣n dịch là An Nhẫn. Nhẫn Nhục là một trong các thứ An Nhẫn. Nhẫn () đừng hiểu là chịu đựng, mà nên hiểu là ư “thuận thọ” (順受, thuận theo để tiếp nhận). V́ thế, An Nhẫn là an tâm tùy thuận tiếp nhận. Kẻ khác vũ nhục ta, khó thể nhẫn nhất. Nhục mà có thể nhẫn th́ không chuyện ǵ chẳng thể nhẫn. V́ thế, nói Nhẫn Nhục để khái quát những điều khác. Lại nữa, Nhẫn không chỉ nói đối ứng với nhục; trong kinh Phật c̣n có Pháp Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Như đức Phật thuyết pháp, chúng ta có thể tuân theo thật hành, chẳng sai lệch mảy may, đó là Pháp Nhẫn. Lại đối với lư “sanh vốn vô sanh”, chúng ta có thể hiểu rơ, có thể thật hành chẳng sai lệch mảy may; đó là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nhẫn nhục nhằm phá trừ sân tâm.

          4) Tinh Tấn là tiến lên trước, có hai nghĩa là tinh tế và tinh mật. Tuy tiến lên trước mà trọn chẳng tuân theo mù quáng, đó là tinh mật. Noi theo từng bước, tiến lên trước nhưng không vượt bỏ thứ tự; đó là tinh mật. Tinh tấn là phá trừ giải đăi.

          5) Thiền Định là tiếng Phạn và tiếng Hán cùng dùng. Tiếng Phạn là Thiền Na (Dhyāna, Jhāna), tiếng Hán là Định, cho nên cùng nêu cả hai để kẻ khác biết là Định trong Phật môn chẳng phải Định của ngoại đạo. Giống như sám hối, Sám là Sám-ma (kṣama) trong tiếng Phạn, Hối () là tiếng Hán. V́ vậy, cùng nêu lên, nhằm nói rơ sự sám hối trong nhà Phật, có đủ loại phương pháp như lễ bái v.v… chẳng giống như sự hối lỗi b́nh phàm. Gởi tâm một chỗ, lâu sau đắc Định, đắc Định th́ gọi là tam-muội. Thiền Định nhằm đối trị tán loạn, hôn trầm, điệu cử (掉舉, lao chao chẳng yên) v.v…

          6) Bát Nhă (Prajñā) là phiên âm, nhằm nói chánh trí phát sanh từ tánh thể, chẳng giống như Thế Trí Biện Thông. Thế Trí Biện Thông là một trong tám nạn. Sợ lẫn lộn với trí huệ thế gian; do vậy, chẳng dịch là Trí Huệ, mà dùng Bát Nhă. Bát Nhă nhằm đối trị ngu si.

          Nói Lục Độ, nhưng thật ra là Giới, Định, Huệ, ba Độ kia bổ trợ cho Tam Học. Tuy nói Lục Độ, nhưng chủ chốt là Bát Nhă. V́ thế, nếu Bát Nhă chẳng phát sanh, năm Độ kia cũng chẳng thể gọi là Ba La Mật. Ở đây, đức Phật nói năm Độ là chân, Bát Nhă là mắt. Từ Bố Thí cho đến Thiền Định th́ pháp thế gian cũng có. Phật pháp tinh vi rộng lớn, có thể phổ độ chúng sanh thoát khỏi hết thảy các nỗi khổ, giải quyết hai tầng sanh tử (Biến Dịch và Phần Đoạn), cho tới “chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ trong Niết Bàn”, không ǵ chẳng phải là công sức của chánh trí Bát Nhă. V́ thế, chẳng hiểu rơ Bát Nhă, sẽ chẳng thể nhập Phật môn.

          Trong kinh, đối với Lục Độ, chỉ nêu một Độ là Bố Thí, do Lục Độ có thể nhiếp vạn hạnh, Bố Thí lại có thể nhiếp năm Độ kia. Bố Thí ngoại trừ Tài Thí ra, như Pháp Thí có thể nhiếp Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă. Bởi lẽ, Phật pháp chú trọng Định và Huệ nhất, nơi nhân là Chỉ Quán, nơi quả là Định Huệ. Người thuyết pháp ắt có Chỉ Quán, có công phu tinh tấn th́ mới có thể v́ người khác nói. Như Vô Úy Thí có thể nhiếp Tŕ Giới và Nhẫn Nhục. Tŕ giới là đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, quyết định chẳng xâm phạm người khác, an nhẫn thuận thọ, người khác chẳng sợ hăi ta, tức là Vô Úy Thí.

          Cổ đức giảng giải đoạn kinh văn này, đều cùng nói “Bố Thí có thể nhiếp Lục Độ, vạn hạnh”, nên đức Phật nói Bố Thí là đă nhiếp trọn hết thảy các pháp. Nhưng nói “Bố Thí tức là hết thảy các pháp” th́ cũng được! Ví như Pháp Thí, khiến cho người khác biết Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă, tức là năm Độ kia. Vô Úy Thí khiến cho người ta liễu sanh tử, có thể chẳng sợ hăi, mà để liễu sanh tử, ắt cũng phải hành năm Độ kia. Không riêng ǵ Bố Thí là như thế, hễ tùy ư nêu ra một Độ nào, cũng đều có thể trọn khắp các Độ. Như Tŕ Giới ắt cần phải thực hiện năm Độ kia như Bố Thí v.v… Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định cũng thế, đều có thể nhiếp hết thảy các pháp. Lại nữa, nếu năm Độ rời khỏi Bát Nhă, đều chẳng thể thấy các thật hạnh. Có thể thấy Bát Nhă là tối cao bậc nhất, là cội gốc của các Độ. Nhưng v́ sao đức Phật chẳng nêu Bát Nhă, lại riêng nêu Bố Thí? Đại Trí Độ Luận nói: “Hết thảy các pháp không ǵ chẳng sanh từ Bát Nhă”. Do vậy biết: Công phu thật hnh hết thảy các pháp mà có thể chẳng chấp tướng, đấy chính là Bát Nhă. Do vậy, chẳng nêu ra Bố Thí, sẽ chẳng được! Bố Thí là thật hnh. Có thể thấy người tu Phật pháp, không chỉ hiểu lư mà thôi, ắt cần phải thực hành th́ mới được! Xét theo sự thực hành, chỉ có Bố Thí là có thể thâu nhiếp hết thảy các pháp. Chẳng tu hành hết thảy các pháp, sao có thể độ hết thảy chúng sanh? Tu hành hết thảy các pháp mà lại chấp tướng th́ cũng chẳng thể độ chúng sanh được!

          “Chưa thể tự độ, mà mong độ người khác trước”, đấy là lời nói thường xuyên của người học Đại Thừa, nhưng ắt cần phải trước hết tự vấn: Chính ḿnh thật sự có tư cách ấy hay không? Nếu chẳng thể thiết thực dụng công, chuyên làm chuyện độ sanh, tức là chẳng khỏi hướng ra ngoài rong ruổi mong cầu! V́ thế, Đại Luận nói: “Nếu Bồ Tát phát tâm liền hành độ sanh, chẳng có lẽ ấy!” Vậy th́ như thế nào mới được? Chính là phải nên phát đại tâm trước đă, tu hành hết thảy các pháp, rốt cuộc từ chỗ nào khởi tu? Chính là trước hết hành bố thí. Bố Thí không chỉ đứng đầu Lục Độ, mà cũng đứng đầu Tứ Nhiếp Pháp, tức là Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, và Đồng Sự. Đức Phật đắp y, dùng cơm, chỗ nào cũng giống như chúng sanh, chẳng ra ngoài Tứ Nhiếp. Chúng sanh tánh t́nh ương ngạnh, chẳng dễ nghe theo. V́ thế, ắt trước hết cần phải bố thí. Lại dùng lời lẽ khả ái khiến cho họ thích nghe (đó là ái ngữ). Lại nữa, bất luận là pháp thế gian, nếu họ muốn hành, cũng phải lợi hành (làm chuyện có lợi cho chúng sanh), như cầu con được con, cầu tài được tài v.v… Lại c̣n làm việc cùng họ (đồng sự), sau đấy, chúng sanh mới có thể chịu cho ta nhiếp thọ. V́ vậy, tiết này chính là tiếp nối khít khao đoạn văn độ sanh trước đó, chỉ bày phương pháp thực hiện vậy.

          Hơn nữa, bố thí chính là hết thảy Phật pháp. Phật pháp từ đầu tới cuối chẳng ngoài một chữ Xả. Bố thí chính là Xả. Suy ra, tŕ giới xả tham, sân, si, nhẫn nhục xả sân, tinh tấn xả giải đăi, hôn trầm, điệu cử, thiền định xả tán loạn, hôn trầm, Bát Nhă xả Nhị Biên và ngă chấp, pháp chấp. Lục Độ không ǵ chẳng xả! Do vậy biết: Bố thí tuy một mà là hết thảy. Tu hành Phật pháp từ đầu tới đuôi, nhất quán đến tột cùng. Kinh văn đối với việc độ sanh trong phần sau chỉ nói bố thí, đúng là điều cốt lơi, trọng yếu. Tiểu Thừa cũng có công phu hành xả, nói hễ hành liền xả. Sau chữ Hành trong đoạn kinh văn này thêm một chữ Ư (tức câu “hành ư bố thí”), chính là để nhấn mạnh bố thí.  

          Trong phần trước nói “bố thí chẳng ngoài một chữ Xả” là nói theo chiều ngang. Thật ra, dưới là học, trên thấu đạt. Nói theo chiều dọc, cũng chẳng ngoài một chữ Xả. Như người nghe kinh, bỏ sự vui sướng thế gian để học Phật, chư thiên bỏ Dục Giới liền thăng lên Sắc Giới, bỏ Sắc Giới liền thăng lên Vô Sắc Giới, bỏ ngă chấp liền chứng La Hán, bỏ pháp chấp tức là Bồ Tát, ngay cả Xả cũng xả, liền thành Phật. V́ thế, nói theo chiều dọc, bố thí cũng là công phu triệt để.

          Đức Phật thuyết pháp là viên âm, phương diện nào cũng đề cập. Hành bố thí, nh́n từ bề ngoài th́ chính là “chẳng giữ lấy phi pháp”. Nhưng bố thí là xả, tức chẳng giữ lấy pháp. V́ thế, nêu ra một môn Bố Thí, chính là chẳng chấp hai bên. Trong kinh này, bất luận câu nào cũng đều là như thế. Có kẻ nghi rằng đă không chấp lấy pháp, lại c̣n chẳng giữ lấy phi pháp, người học hở ra là phạm lỗi, tu tập bằng cách nào đây? Thật ra, chẳng khó! Cần phải biết: Chúng ta thực hiện bố thí, liền có thể chẳng chấp vào hai bên. Khi hành, trước hết chẳng trụ Không, đó là hành nơi pháp. Đức Phật bảo rằng: “Ninh khả trước Hữu như Tu Di sơn, bất khả trước Vô như giới tử hử” (Thà chấp Có như núi Tu Di, đừng chấp Không chừng bằng hạt cải). V́ thế, trước hết cần phải lấp kín “trụ trong Không môn”. Chuyên tâm tu pháp, dốc sức nơi pháp, tức là chẳng có tướng đoạn diệt. Chỉ cần vừa hành, vừa chẳng bận tâm tại đó, tức là hai bên đều chẳng chấp. Nhưng hễ bố thí mà thấy có làm, tức là trụ, tức là chấp, bất quá công đức hữu lậu, không phải là chẳng có công đức! Có người do so đo điều này mà đọa lạc. Dùng danh từ mới để nói chữ Xả th́ là Hy Sinh. Làm người trong cơi đời, nếu v́ xă hội hy sinh, sẽ nhất định có thể chí công vô tư, v́ nước quên nhà. Có thể biết: Một pháp Bố Thí bao quát hết thảy! Do vậy, Phật pháp không chỉ là người xuất thế gian phải nên học, ngay cả kẻ làm người trong thế gian cũng chớ nên không biết!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.2. Chỉ bày, giải thích

 

          (Kinh) Sở vị bất trụ sắc bố thí, bất trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí.

          ()所謂不住色布施不住聲香味觸法布施

          (Kinh: Tức là nói chẳng trụ vào sắc để bố thí, chẳng trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí).

 

          (Bổ) “Sở vị” là chỉ những điều vừa nói trong phần trước. Sợ người khác hoài nghi, rốt cuộc như thế nào là “chẳng trụ mà tu hết thảy các pháp” vậy? Đức Phật bảo: Đó chính là ta như trước kia đă nói, chẳng trụ vào Ngũ Uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, cho đến A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề v.v… Nay nói vắn tắt, bèn nêu ra lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Lục trần là Cảnh trong Cảnh Hạnh Quả của tu hành. Nêu lên những điều này, sẽ có thể gồm trọn hết thảy các pháp. Muôn h́nh tượng được thấy bởi mắt đều là Sắc. Những ǵ tai nghe được là Thanh. Những ǵ mũi ngửi thấy là Hương. Những ǵ lưỡi nếm là Vị. Những ǵ thân căn tiếp nhận là Xúc. Sự phân biệt do ư căn khởi tâm động niệm, có khi đối ứng với sắc, thanh, hương, vị, xúc mà dấy lên, có khi đối ứng với cái chẳng phải là sắc, thanh, hương, vị, xúc mà dấy lên, chủng loại cực nhiều, chẳng thể nêu trọn, bèn gọi là Pháp. Danh xưng Lục Trần có hai nghĩa:

          - Một là có ư nói chúng vô lượng vô biên, nhiều như vi trần.

          - Hai là có ư nghĩa “nhuốm bẩn”. Chúng ta hễ có bị thứ ǵ dính vào, liền bị bẩn.

          “Bất trụ” (chẳng trụ) chính là “chẳng chấp trước”. Hễ có chấp trước, tức là tâm chẳng thanh tịnh. Như nói theo bố thí, nếu làm mà thấy chính ḿnh đang thực hiện, tranh lấy thể diện cho chính ḿnh, tức là trụ vào sắc. Lại muốn kẻ khác biết tới, tức là trụ nơi thanh. Lại muốn cho ai nấy nghe biết tiếng thơm ấy, tức là trụ nơi hương. Muốn cho ai nấy đều khen ngợi, tức là trụ nơi vị. V́ để đạt được quả báo mai sau, tức là trụ nơi xúc. Nếu hữu tâm mà làm, tức là trụ nơi pháp. V́ thế, ắt phải nên trong tâm chẳng trụ vào đâu, th́ mới là Ba La Mật. Trong tiếng Ấn Độ, chữ Ba La Mật dùng khắp chốn, giống như phương này nói hai chữ “đáo gia” vậy!

          Trong câu kinh văn trên đây, “Bồ Tát ư pháp” th́ Pháp chỉ hết thảy các pháp. Ở đây, riêng nêu lên lục trần, có khá nhiều diệu nghĩa trong ấy. Ở đây, cần phải vận dụng quán chiếu, tác quán từng bước một, từ ngoài vào trong, từ thô vào tế:

          1) Đức Phật chẳng nói hết thảy các pháp, mà chỉ nói lục trần, thật sự là muốn cho chúng ta biết chớ nên trụ trong hết thảy các pháp.

          2) V́ sao chẳng nên trụ trong hết thảy các pháp? Hăy nên biết, hễ trụ liền bị nhuốm bẩn.

          3) Đức Phật nêu ra lục trần, lư ấy sâu tột cùng. V́ sao vậy? Nói sắc tức là có nhăn căn trong ấy. Nói thanh bèn có nhĩ căn, cho đến nói pháp bèn có ư căn. Căn và cảnh đối ứng. Nêu ra lục trần đă hàm chứa lục căn. Kẻ nông cạn thấy nông cạn, chỉ là chẳng trụ cảnh. Người sâu xa thấy sâu, liền có thể chẳng trụ tâm!

          4) Căn là căn, trần là trần, cớ sao lại giao thoa với nhau? Cái làm môi giới trung gian chính là lục thức. Thức chẳng sanh, căn và cảnh sẽ chẳng giao thoa với nhau. Ư nói tâm chẳng đặt vào đó, nh́n mà chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, ăn mà chẳng biết vị. Ư Phật không chỉ là chớ nên trụ trong cảnh giới, mà ngay cả thức cũng chớ nên trụ. Dạy người học biết cái gốc họa của “trụ trong cảnh” chính là thức, tức là cái tâm phân biệt, hăy nên tu tập trong khi khởi tâm động niệm, đừng trụ vào thức. Tiến từng bước một như thế, sẽ có thể tiêu quy tự tánh. Khởi tâm động niệm, lưu ư như thế nào? Nói theo bố thí, hễ khởi tâm động niệm, chẳng ra ngoài ba loại: Một là v́ bản thân, hai là mong người khác báo ân, ba là mong đạt được quả báo. Bố thí chẳng ngoài Tài Thí và Pháp Thí (Vô Úy Thí được gộp trong Pháp Thí), thường là chính ḿnh trước hết cảm thấy chẳng nỡ xả, tức là có một cái Ngă tồn tại. Cần phải biết: Tài và Pháp chẳng ngoài lục trần, chẳng thể trụ nơi đó. Khi khởi niệm bèn dụng công, gạt bỏ bản thân, ngơ hầu có thể phá ngă chấp. Sau khi bố thí, mong mỏi người ta báo ân. Cần phải biết báo đáp không ǵ chẳng phải là lục trần, chẳng thể trụ vào đó, hăy gạt bỏ ư niệm mong được báo đáp. Bố thí mong mỏi đắc quả báo. Quả báo cũng chẳng ngoài lục trần, chớ nên trụ vào đó, hăy gạt bỏ ư niệm quả báo!

          5) Nhiều phen quán chiếu, nhưng ngă kiến vẫn c̣n th́ như thế nào? Hăy nên tiến hơn nữa là quán chiếu đạo “tam luân thể không”. Bố thí th́ có người thí (năng thí), người nhận (sở thí), và vật để bố thí. Ta nay quán chiếu bản thể của người thí và người nhận chính là Không. V́ sao vậy? Đều do nhân duyên sanh ra. Thí và nhận đă là không, vật để bố thí cũng là không; đó gọi là “tam luân thể không”. Có thể khăng khăng dụng công vào đó, phá hai thức thứ sáu và thứ bảy, ngă kiến sẽ tự tiêu, chứng đắc tự tánh. Có người nói: Bố thí cả ba mặt đều trọn đủ, sao gọi là Luân? Chẳng biết điều này thật sự có thâm ư: Một là vận hành. Đức Phật nói bố thí là muốn độ người. Luân có ư nghĩa độ. Người tu hành tùy thời bố thí, có thể nghiền nát phiền năo, luân có ư nghĩa nghiền nát.

          Ở đây nói “chẳng trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà hành bố thí”, tức là dạy chúng ta hiểu rơ đạo “tam luân thể Không”. Tài Thí chính là lục trần, Pháp Thí chính là Pháp Trần, đều là các pháp sanh bởi duyên. Đă biết bản thể của chúng là Không, cần ǵ phải trụ vào đó? Đă quán chiếu tam luân thể Không, đương nhiên là chẳng trụ!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.3. Tiểu kết

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Bồ Tát ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng.

          ()須菩提菩薩應如是布施不住於相

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Bồ Tát hăy nên bố thí như thế, chẳng trụ nơi tướng).

 

          (Bổ) Hai chữ Như Thị tức là chỉ điều đă nói trong đoạn trên: “Chẳng trụ vào sắc để bố thí, chẳng trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí”. Chẳng trụ vào tướng, hoàn toàn chẳng phải là đoạn diệt. “Chẳng trụ” tức là Xả; nhưng Xả có thể đến mức rốt ráo hay không, chẳng trụ mảy may, cũng chẳng phải là chuyện dễ dàng! V́ thế, kinh Hoa Nghiêm chia Xả thành nhiều loại, cuối cùng nói Cứu Cánh Xả (xả rốt ráo). Cần phải trong tâm chẳng chấp mảy may, chẳng rơi vào hai bên, th́ mới là Cứu Cánh. Ở đây nói “chẳng trụ vào tướng” tức là đă bao hàm Nhị Biên. Đă nói “chẳng trụ vào pháp tướng” th́ cũng chẳng trụ vào phi pháp tướng. V́ sao biết chữ Tướng ấy đă bao gồm cả phi tướng? Có thể dùng ngay đoạn văn trên đây để chứng minh! “Ưng vô sở trụ” là chẳng trụ vào pháp tướng, “hành ư bố thí” là chẳng trụ vào phi pháp tướng. Nói “chẳng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí” tức là chẳng trụ Có. “Bồ Tát ưng như thị bố thí” (Bồ Tát hăy nên bố thí như thế) là chẳng trụ Không. Cần phải biết “chẳng trụ” không phải là đoạn diệt, Chẳng trụ chính là hành, hễ Trụ sẽ chẳng thể hành, Hành chính là chẳng thể trụ. Tu Bồ Tát đạo, cố nhiên chẳng thể trụ trong lục trần; nhưng nếu đoạn diệt, sẽ chẳng thể độ chúng sanh. Chúng sanh trụ ngay trong cảnh giới sáu trần; do vậy, phải nên độ họ từ chỗ này!

          Đoạn trước nói “ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà hành bố thí), đoạn sau liền nói “ưng như thị bố thí, bất trụ ư tướng” (hăy nên bố thí như thế, chẳng trụ nơi tướng), ư đức Phật là Bồ Tát hăy nên đúng như lời ta đă nói: Chẳng chấp vào hai bên, hành nơi Trung Đạo. Có thể thấy “chẳng trụ vào đâu” hoàn toàn chẳng phải là không làm. “Chẳng trụ tướng” chẳng phải là nói suông, phải là từ trong thực hành mà chẳng chấp Có, chẳng chấp Không th́ mới phù hợp. Toàn thể bộ kinh nhằm phá tướng, chỉ ra điểm này. Ư đức Phật là như thế đó, chẳng phải là dạy quư vị chẳng trụ vào pháp, mà là chẳng trụ vào pháp tướng!

          Tu hành cố nhiên phải ĺa trần cảnh, nhưng chẳng trụ trong lục trần, há dễ dàng ư? V́ thế, ư chỉ căn bản của tu hành là “chẳng trụ”, nhưng khi tu tập lại chẳng thể diệt cảnh. Chẳng hạn như niệm Phật, quán tưởng tượng Phật, đó là sắc cảnh. Nhạc trời, các loài chim sống trong nước, đó là thanh cảnh. Hoa sen thơm sạch, đó là hương cảnh. Ăn cơm xong kinh hành, đó là vị cảnh. Chỉ hưởng các niềm vui, đó là xúc cảnh. Ức niệm Di Đà là pháp cảnh. V́ thế, cần phải nhận thức rơ ràng hai chữ Bất Trụ, quyết chẳng phải là đoạn diệt. Đoạn diệt tức là Không, đó là phi pháp. Bố thí nhiếp hết thảy các pháp tướng, mà cũng nhiếp phi pháp tướng. V́ thế, nói “chẳng trụ” tức là chẳng trụ pháp, chẳng trụ phi pháp.

          Người đời xả mạng cũng là Xả, bất quá trụ vào tướng. Như tận trung báo quốc, sát thân thành nhân[38], tối đa bất quá thành thần. Nếu khi xả mạng, lại có cái tâm vị kỷ, tâm sân hận, có thể sẽ đến nỗi đọa lạc! Thanh niên nam nữ v́ ái t́nh mà bỏ mạng, cũng dễ bị đọa lạc; hoặc kèm theo sân hận mà xả thân, lại c̣n đến nỗi đọa địa ngục. Địa ngục có đủ mọi quả báo thảm khốc như giường sắt, cột đồng; chính là v́ ḷng từ bi đối với chúng sanh mà lập ra. Những trường hợp ấy đều là trụ tướng. Nếu giữ ư tưởng đoạn diệt mà xả mạng như bọn tiêu cực cảm thấy thế gian chẳng đáng lưu luyến, liền tự vứt bỏ sanh mạng, trầm trệ nơi Không, chẳng thà không xả! Đoạn diệt ch́m đắm trong Không, cũng có thể đến nỗi bị đọa lạc. V́ thế, chớ nên trụ vào pháp, mà cũng chớ nên trụ vào phi pháp.

          Cũng có khi Bồ Tát v́ chúng sanh mà xả mạng, nhưng nếu trụ vào tướng độ sanh th́ cũng chẳng thể thành Phật. V́ thế, kinh văn thuộc phần sau của kinh này có nói so sánh: Dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng để bố thí, chẳng bằng thọ tŕ bốn câu kệ. Dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng để bố thí, chẳng phải là Bồ Tát sẽ không thể làm được! Phàm phu chẳng có thân mạng nhiều ngần ấy. Nhưng phước vẫn chẳng nhiều bằng thọ tŕ bốn câu kệ, v́ người khác nói; v́ thọ tŕ, tụng, nói, sẽ có thể thành Phật.

          Tu hành chẳng được thọ dụng, không ngoài hai chứng bệnh:

          - Một, chẳng nắm được cốt lơi trọng yếu.

          - Hai, chẳng hiểu rơ đạo lư.

          Nếu có thể hiểu điều cốt lơi trọng yếu, hiểu lư, sẽ có thể tự thọ dụng. Chẳng thể ĺa tu hành mà nói tánh được! Nếu không, sẽ là nói suông! Chẳng thể ĺa tánh mà tu hành; nếu không, sẽ là mù quáng thực hiện. Kinh này chỗ nào cũng là nói về tánh, chỗ nào cũng chứa đựng thực hành!

          Phát đại nguyện, hành đại hạnh th́ mới có thể nhập Phật môn. Hàng phục trong khoa trước tức là phát đại nguyện. Khoa này hành bố thítức là hành đại hạnh. Ắt phải “chẳng trụ vào đâu” mà hành bố thí th́ mới là đại hạnh. Có nguyện mà thiếu hạnh, nguyện ấy là nguyện rỗng tuếch! Có nguyện và hạnh, nguyện là trọng yếu, hnh càng quan trọng hơn. Chẳng có đại nguyện th́ đại hạnh chẳng thể khởi, dẫu có hạnh th́ cũng là hạnh mù quáng! Như thế nào mới là đại nguyện? Như thế nào mới là đại hạnh? Ắt phải là đại bi đại trí th́ mới được! Tất cả hết thảy các loài chúng sanh, đều khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ; chính là đại bi. Diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh như thế, thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ, tức là biết chúng sanh đồng thể, không có ǵ gọi là Phật, không có ǵ gọi là chúng sanh. Đó là đại trí. Bi trí trọn đủ th́ mới có thể phát đại nguyện, hành đại hạnh. Bồ Tát đối với pháp phải nên chẳng trụ vào đâu, căn bệnh của phàm phu là chỗ nào cũng chấp trước! Có thể chẳng chấp trước chính là đại trí. Hành bố thí tức đại bi. Chẳng có bi th́ đại nguyện chẳng thể phát. Chẳng có trí th́ đại hạnh chẳng thể hành. Bi, trí, nguyện, hạnh, không ǵ chẳng to lớn, th́ mới là Bồ Tát Ma Ha Tát. Ắt phải viên măn trọn đủ như thế th́ mới là Vô Thượng Bồ Đề. Đoạn văn trước đó đối với đại nguyện, bèn nói đại bi trước, tức là chẳng trụ Không. Trụ vào Không sẽ chẳng thể phát đại nguyện. Đoạn văn này đối với đại hạnh bèn nói đại trí trước, tức là chẳng trụ vào Có. Hễ trụ Có, sẽ chẳng thể hành đại hạnh.

          Đối với hết thảy các sự, phàm phu nói chung chẳng thể buông xuống được! V́ sao không buông xuống được? Chính là v́ có ngă tồn tại. Đức Phật chỉ nói bố thí, hễ thực hiện bèn phá ngă. Lại tiến thêm bước nữa, phá nơi cảnh giới. Tiến hơn nữa, bèn phá nơi khởi tâm động niệm. Khoa trước nói phát đại tâm, chỗ nào cũng chẳng trụ. Đó là ngấm ngầm chuyển đổi, hóa trừ ngă kiến. Phàm phu có ư niệm v́ ḿnh nặng nhất, nay v́ chúng sanh, gạt bỏ cái ta. Bất luận noăn sanh cực ngu, hay vô tưởng cực cao, thảy đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Đó chính là tiêu trừ cái tâm phân biệt, chính là đối với thức thứ sáu và thứ bảy mà bốc thuốc. Sở dĩ phàm phu luân hồi lục đạo, chẳng thể xuất ly, cũng do thức thứ sáu và thứ bảy sai khiến, nay chuyển dời chúng, liền thành Ba La Mật.

          Phát tâm phải rộng lớn; chẳng rộng lớn sẽ chẳng thể hóa trừ ngă kiến. Tu hành th́ phải tế mật, trước là phát tâm rộng lớn rồi mới có thể tu hạnh tế mật. V́ thế, ắt trước hết phải quán hết thảy chúng sanh là duyên sanh, lại c̣n vốn tịch và đồng thể, trước là biết chính ḿnh tập khí nặng mà ngầm chuyển dời th́ mới có thể tu hành.

          Phát đại tâm, v́ sao dựa theo hàng phục cái tâm để nói? Khởi đại hạnh v́ sao dựa theo “chẳng trụ vào đâu” để nói? Đấy chính là muốn hàng phục th́ phải nên trước hết biết gốc bệnh ở đâu. Biết chúng sanh sở dĩ trở thành chúng sanh là v́ có dục, sắc, thức; v́ thế, trong phần phát tâm nói lời này. Do vậy dụng công, tự nhiên có thể chuyển hóa thức thứ sáu và thứ bảy. Nói đến tu hành tế mật, tức là tha thiết nói đừng trụ vào đâu, cũng cần phải biết tu hành đương nhiên là phải hành mà đừng nên trụ. Thực hiện công phu này, chính là khiến cho thức thứ sáu và thứ bảy chẳng c̣n tồn tại chỗ nào khác, chân tâm tự nhiên hiển lộ. Đấy là chẳng trụ mà trụ; v́ thế, tiếp đó nói “ưng như sở giáo trụ” (hăy nên trụ đúng như lời dạy).

          Đức Phật dạy người tất cả hết thảy chúng sanh đều khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Vị Bồ Tát ấy phát tâm, chưa thể tự độ mà trước đă độ người khác. Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ là khiến cho mọi người biết duyên sanh, b́nh đẳng, đồng thể v.v… Độ người khác chính là độ chính ḿnh. Đúng là ta và người cùng độ. Nhưng đức Phật trọn chẳng nói độ chính ḿnh, v́ chúng ta ngă chấp nặng nề, cho nên Ngài chẳng nói. Độ chúng sanh th́ độ như thế nào? Phải khởi hạnh. Bố thí chính là phá trừ thức thứ bảy chấp ngă, phá thức thứ sáu phân biệt, đấy rơ ràng là độ chính ḿnh! V́ thế, phát tâm phải lớn, độ ḿnh th́ trước hết phải độ người, độ người chính là độ ḿnh. Nói đến tu hành, trước là trừ gốc bệnh của chính ḿnh. Độ người th́ trước phải độ chính ḿnh, độ chính ḿnh tức là độ người khác. Nhưng phương diện “độ chính ḿnh” của bố thí thật ra là độ người khác; ở đây, đức Phật chỉ nói ư nghĩa tinh vi của việc hành bố thí mà thôi!    Cổ nhân nói một câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm) có thể xuyên suốt toàn bản kinh. Thật ra, bất luận câu nào cũng đều có thể xuyên suốt. Như câu “chẳng trụ vào tướng” bao gồm phi tướng, chẳng rơi vào Nhị Biên, hành Trung Đạo, há có bao giờ chẳng thể xuyên suốt cả bản kinh? Sự xảo diệu trong Đại Thừa Phật pháp có thể tùy thuận mỗi người lănh hội theo từng khía cạnh, do vậy gọi là viên dung. Không chỉ là thấy sâu hay thấy cạn, mỗi người khác nhau, dẫu ngay trong những người thấy sâu, cũng lại là thấy khác nhau!

          Chữ Tướng trong đoạn văn trước đó là nói theo ngă tướng. C̣n chữ Tướng trong đoạn này là nói theo phi pháp tướng. Kinh này thường là phần sau không ǵ chẳng phải là để chú giải cho phần trước. Như “ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (hăy nên chẳng trụ vào đâu để hành bố thí) chính là chú giải cho “độ sanh” trong phần trước. “Chẳng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí” tức là chú giải cho “chẳng nên trụ vào đâu”. “Chẳng trụ vào tướng” lại là chú giải cho “chẳng trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí”. Có người nghi kinh Kim Cang ư nghĩa trước sau trùng lặp tức là chẳng khéo đọc kinh Kim Cang! Nếu biết mối quan hệ giữa kinh văn trong phần sau và phần trước, sẽ thấy không chỉ là chẳng trùng lặp, lại c̣n thấy thông suốt mạch lạc của kinh.

          Đọc đoạn kinh văn này, lại cần phải dụng công nơi quán chiếu. Phật pháp chỗ nào cũng đều chẳng ĺa quán chiếu, ắt phải thời thời khắc khắc tư duy th́ mới được! Cần phải biết “chẳng trụ tướng” là triệt để. Từ thoạt đầu tu tập cho tới khi thành Phật mới thôi, đều là chẳng trụ vào tướng. Nếu trong khi bố thí, hễ c̣n đôi chút cái tâm mong thấy tốt đẹp, sẽ bất tri bất giác trụ trong lục trần. V́ thế, chẳng tác quán sẽ không thể được! Nếu chẳng giữ cái tâm mong thấy tốt đẹp, chỉ nhận biết có sự bố thí ấy, tức là trụ nơi pháp. V́ thế, chẳng tác quán sẽ là trụ mà chẳng tự nhận biết vậy!

          Lại nữa, quán hành bố thí, tức là dạy chúng ta thành Phật. Nếu chẳng quán chiếu, sao có thể thành cho được? “Ưng như thị bố thí” (Hăy nên bố thí như thế), cũng chính là đức Phật nói một câu pháp: Như khi hành bố thí, trong tâm [có ư niệm] “hăy nên bố thí như thế,” cũng tức là trụ nơi pháp. Chúng ta mọi chuyện đều chiếu theo lời Phật dạy để hành, nhưng trong tâm chẳng có chuyện ấy th́ mới là chẳng trụ nơi pháp tướng. Trong tâm tuy chẳng có chuyện ấy, vẫn y như cũ tinh tấn mà hành th́ mới là chẳng trụ nơi phi pháp tướng. Hăy nên bố thí như thế, vẫn là bề ngoài. “Chẳng trụ vào tướng” là hướng vào trong truy cầu. Đấy chính là chỗ dụng công khẩn yếu. Lại nữa, quán “chẳng trụ vào tướng”, tuy trong tâm chẳng có chuyện ǵ, nhưng hễ giữ cái tâm ấy, lại là trụ tướng! V́ thế, khi tác quán, trong tâm nhập từng tầng sâu hơn. Cảnh và tâm, pháp và phi pháp, chẳng chấp vào hai bên, cùng chiếu cả hai bên. Tâm tuy tiến nhập vi tế hơn, vẫn thuộc đối đăi. Cần phải biết: Hễ cái thấy đối đăi chưa mất th́ vẫn chưa thể xuất thế gian! Hết thảy cảnh giới thế gian, không ǵ chẳng là đối đăi, như sống, chết, già, trẻ, cao, thấp, dài, ngắn, lớn, nhỏ v.v… Không ǵ chẳng phải là tâm phân biệt. V́ thế, pháp xuất thế gian ắt cần phải tách rời tâm phân biệt, tác quán nơi tuyệt đối. Chuyển quan niệm phàm phu đạt đến cảnh giới tuyệt đối chính là chứng tánh. Chứng tánh th́ cần phải vô niệm. “Niệm” là cái tâm phân biệt. Hễ có tâm phân biệt, sẽ rơi vào đối đăi. Rơi vào đối đăi, sẽ là thời thời khắc khắc phân biệt, bị nhốt trong cái lồng ư thức. Ắt phải quán tới mức vô niệm th́ mới được. Nhưng trong tâm vẫn c̣n có hai chữ “vô niệm” th́ vẫn là “trụ tướng”. Ắt ngay cả ư niệm “vô niệm” cũng chẳng có, tác quán khít khao, ngơ hầu tánh đức viên minh th́ mới là thật sự chẳng trụ tướng. Đức Phật nói người có thể quán vô niệm tức là hướng tới Phật trí. Do vậy, biết quán vô niệm chẳng phải là nhất thời mà có thể đạt được, chỉ nên hướng theo đó mà tấn tu. V́ thế nói là “hướng theo Phật trí”

          Niệm chính là quán, quán chính là niệm, có thể quán vô niệm th́ nói cách khác, chính là dạy chúng ta niệm vô niệm. Niệm vô niệm, ắt phải dùng tư duy, tư duy sẽ có thể chuyển cái tâm phân biệt. Tâm phân biệt là hướng ra ngoài rong ruổi truy cầu. Tư duy là hướng vào trong truy cầu cảnh giới thù thắng mầu nhiệm. Trong khi khởi tâm động niệm, trừ khử cái tâm phân biệt, lại nương theo phương pháp của đức Phật, hướng vào trong tư duy, đấy là niệm vô niệm. Như niệm Phật cũng thế, lâu ngày tương ứng, sẽ có thể vô niệm.

Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 2

Phần 1 hết



[1] Liễu Thành Huyền (778-865), tên thật là Liễu Công Quyền, tên tự là Thành Huyền, là một đại thư pháp gia đời Đường. Ông từng giữ chức Thị Thư (giáo sư dạy thư pháp của triều đ́nh), làm quan tới chức Thái Tử Thiếu Bảo, được phong hàm Hà Đông Quận Công. Chữ của ông được coi là khuôn mẫu cho lối chữ Khải, được gọi là Liễu Thể, rất được hâm mộ. Do vậy, bản chép kinh Kim Cang của Liễu Thành Huyền được coi là bản có tính chân xác cao nhất.

[2] Núi Lang Tích là tên gọi khác của núi Kê Túc (Kukkutapāda-giri), c̣n gọi là núi Kê Cước, Tôn Túc, Lang Túc, thuộc xứ Magadha ở Ấn Độ, cách thành phố Già Da (Gayā) hơn mươi lăm dặm về phía Đông Bắc.

[3] “Đương hạ” (當下) vốn có nghĩa là ngay trong hiện tại, cụ thể là ngay trong thời khắc hiện tại, ngay trước mắt đây. Ngay trong mỗi giây phút, mỗi sát-na hiện tại, ta khởi tâm động niệm, cái vọng niệm ấy vẫn chẳng ĺa khỏi Chân Như, chân tánh v.v… cho nên nói “đương hạ tức thị”.

[4] Như Như là từ ngữ diễn tả lư thể của pháp tánh. Tánh của các pháp vốn bất nhị b́nh đẳng, chẳng khởi vọng tưởng điên đảo, đó là Như. Do các pháp đều là Như, nên nói là Như Như.

[5] Theo pháp sư Thánh Nghiêm, “phản văn” là buông bỏ sự rong ruổi theo thanh trần để bên ngoài, chú tâm nghe nơi tự tánh. Ngài cũng nhấn mạnh, đừng lầm tưởng xoay lại tánh nghe là nghe tiếng động của các nội tạng, v́ khi người nhập Thiền ở một mức độ cao, có thể nghe âm thanh của các nội tạng, hoặc các mô trong cơ thể vận hành. Ngài nhấn mạnh tự tánh vô thanh. Triệt để buông xuống những âm thanh bên ngoài, triệt để buông xuống hữu h́nh, vô h́nh để chú tâm nhận biết tánh Không vốn sẵn có nơi tâm, vượt khỏi mọi chấp trước nhị biên, chấp trước về không gian, thời gian v.v…, vượt ngoài sự chấp ngă để nhận biết chân ngă.

[6] Thập thế cổ kim là từ ngữ nhằm diễn tả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng nhằm chỉ rơ thời gian chỉ là khái niệm giả lập do quan niệm chấp trước của con người. Do ước định thời gian, chúng ta có ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng trong hiện tại, mỗi sát-na đều có sát-na trước đó, đó chính là quá khứ, sát-na ngay sau đó là vị lai. Như vậy trong hiện tại đă bao gồm cả quá khứ và vị lai. Do đó, quá khứ, hiện tại, vị lai, mỗi giai đoạn đều có chứa đựng ba giai đoạn là quá khứ, hiện tại, vị lai. V́ thế, ba nhân ba thành chín, cộng thêm với một niệm đương hạ (ngay trong một niệm hiện tại) thành mười đời. Do vậy nói là “thập thế cổ kim”.

[7] Ở đây, cụ Giang vẫn chưa nói rơ một trăm lần do đâu mà có. Theo tông Thiên Thai, đối với Nhất Chân Pháp Giới, các hữu t́nh do vọng niệm nhiều hay ít mà thấy mười pháp giới là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người… Trong mỗi pháp giới lại đều có đủ mười pháp giới, nên 10x10 thành một trăm pháp giới.

[8] Kỳ Đà (Jeta) là con của vua Ba Tư Nặc (Prasenajit). Do vua thắng trận, lại nghe tin thái tử vừa sanh, nên đặt tên con như vậy.

[9] Tiêm La là danh xưng thời cổ của Thái Lan. Tiêm là phiên âm của chữ Siam (ta thường gọi là Xiêm). Người Thái đơn giản giải thích chữ Siam có nghĩa là “người tự do”, nhưng các nhà khảo cứu cho rằng từ ngữ này bắt nguồn từ chữ śyāma (sẫm màu), tức là liên quan đến tín ngưỡng tôn sùng thần Shiva (có da màu đen sậm) thời cổ. Người Hoa cho rằng tên gọi Tiêm La là do gọi gộp chung hai tiểu quốc tại Thái Lan thời cổ, tức Tiêm và La Hộc (Lavo). Quốc hiệu này được sử dụng măi cho đến ngày 23 tháng Sáu năm 1939 mới đổi danh xưng thành vương quốc Thái (Ratcha-anachak Thai), người dân trong ngôn ngữ thường ngày chỉ gọi đất nước của ḿnh là Prathet Thai, hoặc Mueang Thai (mường Thái).

[10] Minh () ở đây là một h́nh thức văn chương, thường là viết theo văn vần, nhằm thuật bày chí hướng, sự tích, hoặc răn nhắc chính ḿnh hoặc người khác. Do thể loại văn chương này thường được khắc trên đồng, đá, nên gọi là Minh.

[11] Thông thường, tăng sĩ Tây Tạng đắp y ra ngoài áo ngắn (loại áo ngắn không tay, cài chéo) là y màu đỏ sậm, không có điều. Khi làm lễ, tụng kinh sẽ đắp y vàng có điều ra ngoài tấm y đỏ ấy, hoặc các loại y gấm hay lụa có điều.

[12] Tác phẩm này có tên gọi đầy đủ là Nam Hải Kư Quy Nội Pháp Truyện do ngài Nghĩa Tịnh viết. Đây là một loại sách gần như nhật kư hành tŕnh trên đường vượt biển cầu pháp từ vương quốc Thất Lợi Phật Thệ (Sri Vijaya thuộc đảo Sumatra) tới Ấn Độ, cũng như trong thời gian ngài cầu đạo tại Ấn Độ. Sách ghi chép phong tục, tập quán tại Ấn Độ và Sri Vijaya, cũng như mười xứ thuộc vùng biển Nam Thái B́nh Dương mà Ngài đă đi qua. Ngài chỉ chú trọng mô tả phong tục, quy định và các quy chế của Phật giáo tại các xứ ấy.

[13] Địa hoàng c̣n gọi là Sinh Địa, tên khoa học là Rehmannia Glutinosa thuộc họ Cỏ Chổi (Broomrape), thường được dùng làm thuốc. Địa hoàng tươi sao chế, chín lần đem hấp và phơi khô được gọi là Thục Địa Hoàng. Không rơ Kinh Bách Hoàng (荊蘗黃) là ǵ, chưa tra cứu được. Chỉ thấy trong Đông Y nói có vị thuốc Hoàng Bá (Hoàng Bách, 黃蘗).

[14] Cám () có nghĩa là sắc xanh biếc, hơi ửng sắc hồng.

[15] Đây là một câu trong Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi: “Phạn sơ thực, ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi. Lạc diệc tại kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú thả quư, ư ngă như phù vân” (ăn cơm hẩm, uống nước lă, co tay để gối đầu, cuộc sống như thế cũng vui sướng lắm! Bất nghĩa mà giàu có, quư hiển, đối với ta như mây nổi).

[16] Tọa cụ (Niṣīdana), c̣n gọi theo cách phiên âm là Ni Sư Đàn, c̣n dịch nghĩa là Tùy Tọa Y, hoặc Tọa Ngọa Cụ. Đây là một tấm vải may dày để trải ra khi nằm ngồi, hay lễ bái, để khỏi làm bẩn y, đồng thời ngăn ngừa các loài trùng ḅ lên quấy nhiễu khi tĩnh tọa. Khi đi th́ vắt lên vai buộc chéo. Hiện thời, tọa cụ là vật tùy thân chỉ thấy trong các nước theo Phật giáo Nam Truyền. Phật giáo Bắc Truyền th́ chỉ thấy nghi thức “triển cụ” (trải tọa cụ ra) dành cho các vị chủ lễ trong các trai đàn lớn hay pháp hội lớn như Thủy Lục, Diệm Khẩu.

[17] Già Phu (跏趺) là hai ḷng bàn chân. Kết già phu tọa tức là ngồi xếp bằng, hai cổ chân chéo nhau, hai ḷng bàn chân ngửa lên. Ta quen gọi là ngồi kiết già, tuy không đúng nghĩa lắm.

[18] Sanh tạng và thục tạng là cách phân chia ước lược hai phần của bộ máy tiêu hóa trong cơ thể con người. Sanh tạng tức là phần chứa đựng các thức ăn vừa nuốt xuống, c̣n chưa tiêu hóa trọn hết. Thục tạng là phần chứa đựng thức ăn đă tiêu hóa, sắp biến thành phân.

[19] Đây là những đoạn được ông Tưởng Duy Kiều và Phạm Cổ Nông thêm vào do đối chiếu với bản bút kư của ông Tưng sau khi tác phẩm này được ấn hành lần thứ nhất.

[20] Mười hai loại chúng sanh theo kinh Lăng Nghiêm là noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng.

[21] Mười tập nhân là mười cái nhân thuộc về tập khí dẫn đến sự chiêu cảm quả báo trong địa ngục: Dâm, tham, mạn, sân, trá (dối trá), cuống (lừa dối), oán, kiến (chấp trước vào tà kiến của chính ḿnh), uổng (gieo tiếng oan cho người khác, hăm hại người lương thiện), tụng (tranh căi, hơn thua đủ với người khác).

[22] Sáu thứ quả báo ác sanh khởi từ sáu thức gồm:

1) Kiến báo: Do ác nghiệp đă tạo bởi nhăn căn mà chiêu cảm, khi lâm chung thấy lửa dữ trọn khắp mười phương.

2) Văn báo: Do ác nghiệp nơi nhĩ căn chiêu cảm, khi lâm chung cảm nhận sóng gió ngập trời, thần thức lưu nhập địa ngục Vô Gián, hoặc nghe đủ loại âm thanh đấu đá khiến cho thần thức mê loạn, hoặc lặng ngắt không tiếng động khiến cho u hồn ch́m đắm.

3) Khứu báo: Do ác nghiệp nơi tỵ căn chiêu cảm. Khi lâm chung, thấy khí độc ngút ngàn, thần thức đọa nhập Vô Gián địa ngục, hoặc bị ác khí xông hun quấy nhiễu cái tâm đến nỗi mê muội.

4) Vị báo: Do ác nghiệp nơi thiệt căn chiêu cảm. Khi lâm chung thấy lưới sắt lửa cháy rừng rực, thần thức bị mắc vào lưới, nhập Vô Gián đương nhiên, hoặc bị rét cóng nứt da toác thịt, hoặc bị lửa mạnh nung đốt thấu tận cốt tủy.

5) Xúc báo: Do ác nghiệp nơi thân căn chiêu cảm. Khi lâm chung, thấy các quả núi to ép lại, thần thức liền lọt vào Vô Gián địa ngục, hoặc thấy núi ép lại, khiến cho thân thể bị lay lắc, hoặc thấy đao kiếm xuyên thân.

6) Tư báo: Do ác nghiệp nơi ư căn chiêu cảm. Khi lâm chung thấy gió ác thổi tan cơi nước, thần thức bị gió cuốn vào Vô Gián địa ngục, hoặc cảm thấy các thứ thiêu đốt, đau khổ cùng cực khó nhẫn.

[23] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích của Khổng Dĩnh Đạt (574-648). Ông Khổng Dĩnh Đạt là một nhà Khổng học sống vào thời Tùy-Đường. Tác phẩm Ngũ Kinh Chánh Nghĩa của ông được coi là giáo tŕnh căn bản bắt buộc phải học trong Nho Gia để hiểu nội hàm của các kinh điển Nho Gia.

[24] Chính là năm người được coi là lănh tụ cự phách của phái Tống Nho: Châu Đôn Di, Tŕnh Di, Tŕnh Hạo, Trương Tải, và Châu Hy.

[25] Lục hợp là từ ngữ chỉ sáu phương, tức Đông, Tây, Nam, Bắc và trên, dưới. Khi nói Lục Hợp, hàm ư nói về thế giới hữu h́nh (chỉ gói gọn trong quả đất) mà ta có thể nhận biết bằng sáu căn.

[26] Tuân Tử (316-237 trước Công Nguyên) tên thật là Tuân Huống, tự là Khanh, nên đôi khi c̣n gọi là Tuân Khanh, người nước Triệu thời Chiến Quốc. Tuy là người nghiên cứu, đề xướng Nho Gia, nhưng khác với Khổng Tử chủ trương dùng nhân để trị quốc, ông chủ trương dùng Lễ và H́nh (h́nh phạt, pháp luật) để trị quốc, đề xướng “tánh con người vốn là ác”. V́ thế, cụ Giang chê Tuân Tử chẳng khế hội sâu xa Nho học.

[27] Cách Mạng ở đây là nói tới chính quyền Trung Hoa Dân Quốc sau cuộc Cách Mạng Tân Hợi (1911) lật đổ nhà Thanh, đă cho rằng tam giáo là nguyên nhân khiến cho Trung Hoa suy yếu, lạc hậu. V́ vậy, họ chủ trương phế bỏ Khổng học với khẩu hiệu “đả đảo Khổng gia điếm” (đả đảo tiệm buôn họ Khổng), miếu sản hưng học (chiếm đoạt các cơ sở của chùa, miếu để làm trường học).

[28] Tào Tham, tên tự là Kính Tu, người huyện Bái, kế nhiệm Tiêu Hà làm thừa tướng của nhà Tây Hán. Ông này có chiến công lỗi lạc, được phong làm B́nh Dương Hầu, nhưng luận công th́ vẫn kém tướng quốc Tiêu Hà. Do Tiêu Hà nhiệt liệt đề cử, khi Tiêu Hà xin về hưu, Tào Tham được Hán Cao Tổ (Lưu Bang) phong làm Tướng Quốc. Ông chủ trương vô vi chánh trị, tức là giữ nguyên đường lối, chính sách của Tiêu Hà, suốt ngày ăn thịt, uống rượu, tức là cho rằng không cần phải làm ǵ để mọi việc tự vận hành.

[29] Thanh Đàm c̣n gọi là Thanh Ngôn, là một trường phái triết học kéo dài từ cuối đời Tào Ngụy sang triều đại Tây Tấn. Do loạn lạc liên tiếp, chính quyền trung ương bất lực, quân phiệt nổi lên cát cứ khắp nơi, kinh điển Nho Gia bị mất dần ảnh hưởng thống lănh, tư tưởng Lăo Trang trồi lên chiếm ưu thế. Các văn nhân và giới tri thức say đắm trong chuyện bàn luận suông học thuyết Lăo Trang, coi đó là thanh tĩnh, vô vi, thích bàn những lẽ huyền diệu, xa vời, không bận tâm quốc kế, dân sinh. Họ thường tụ tập bàn luận, trước tác giảng giải Tam Huyền (Châu Dịch, Đạo Đức Kinh và sách Trang Tử). Những lănh tụ tiêu biểu là Hà Yến, Vương Bật, Hạ Hầu Huyền, Vương Diễn, Quách Tượng v.v… chủ trương vạn vật trong thiên địa đều lấy Vô Vi làm gốc, hoàn toàn thoát ly thực tế, đâm ra trốn tránh trách nhiệm, chỉ cốt cầu an vui chính ḿnh, không cần biết đến sự an nguy của nước nhà.

[30] Đây là một câu nói trong thiên Thái Bá sách Luận Ngữ: “Đại tai! Nghiêu chi vi quân dă, nguy nguy hồ, duy thiên vi đại, duy Thuấn tắc chi. Đăng đăng hồ! Dân vô năng danh yên”. Câu này được Khổng Dĩnh Đạt chú giải là: “Nghiêu làm vua, vĩ đại, cao cả, có thể ví như trời. Ân đức của ông ta chỉ có vua Thuấn là sánh được. Ân đức ấy mênh mông, dân chúng không có cách nào diễn tả được).

[31] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải của ḥa thượng Tuyên Hóa trong bài giảng Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh do Phương Quả Ngộ bút kư.

[32] Thọ giả trong nghĩa gốc là những ǵ có sự tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Ở đây nói chấp ngă nối tiếp không ngừng là thọ giả là nói theo ư nghĩa do sự chấp ngă tồn tại trong một khoảng thời gian (cho tới khi đă phá ngă tướng, ngă chấp, th́ cái chấp ấy mới thôi tồn tại), nên gọi là thọ giả. Hơn nữa, thọ giả c̣n là danh xưng của một trong ba mươi sáu loại ngoại đạo. Thọ giả ngoại đạo chấp trước hết thảy các pháp, cho đến cho rằng Tứ Đại, cỏ cây đất đá đều có thọ mạng.

[33] Chỉ Quy: Chỉ là tông chỉ chánh yếu, Quy là hướng về. Có thể hiểu thô thiển Chỉ Quy là tông chỉ chính yếu mà một giáo nghĩa muốn hướng đến, hay là mục đích cuối cùng của giáo nghĩa ấy.

[34] Tức là phương pháp quán chữ A. Pháp Quán này chính là nội dung chủ yếu của kinh Đại Nhật. Xin xem chi tiết trong bộ Đại Nhật Kinh Sớ của pháp sư Nhất Hạnh đời Đường.

[35] Tác Quán là thực hiện sự quán tưởng. Do Quán có thể dùng như danh từ để chỉ một phép Quán nào đó như quán hơi thở, quán bất tịnh, quán cảnh giới Cực Lạc, quán chủng tử của thần chú v.v…, khi muốn nhấn mạnh hành vi thực hiện sự quán tưởng, cổ nhân dùng chữ “tác Quán”.

[36] Nhất Trước (一著) là dụng ngữ trong nhà Thiền để chỉ “một sự kiện”. Nói theo nghĩa rộng, Nhất Trước là từ ngữ để chỉ một giáo lư hoặc phương pháp tu hành nào đó. Hướng Thượng Nhất Trước có thể hiểu thô thiển là chú trọng tu tập để nội tâm tăng tấn, đạt tới cảnh giới cao sâu nơi chân tánh.

[37] Ám chứng tức là chỉ chú trọng công phu tọa Thiền, chẳng thông hiểu hay chỉ hiểu lơ mơ đối với nghĩa lư trong kinh giáo, thậm chí tọa Thiền đạt được sự ngưng lặng, nhưng chẳng biết mục đích đạt được ngưng dứt vọng niệm để làm ǵ.

[38] V́ thành tựu điều nhân nghĩa mà hy sinh tánh mạng.