Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 2
Phần 1
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả: Thanh
tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
2. Giải thích ư nghĩa kinh văn
Chia thành ba phần:
1) Tự Phần.
2) Chánh Tông Phần.
3) Lưu Thông Phần
Nghĩa do kinh văn mà hiển
lộ. Hơn nữa, Quán Chiếu Bát Nhă và Thật Tướng
Bát Nhă đều do Văn Tự Bát Nhă mà khởi, tức là
đối với mỗi chữ, mỗi câu trong kinh
văn, đều chẳng thể không khảo sát, đính
chánh, xác chứng rơ ràng rất cặn kẽ. Bởi lẽ,
kinh này được đọc tụng rộng khắp;
do vậy, từ đời Minh tới nay, có quá nhiều dị
bản được lưu thông trong cơi đời.
Thường là sao chép sai ngoa, hoặc tăng giảm ư
nghĩa, ai nấy tự cho là đúng, hầu như khiến
cho mọi người chẳng biết dựa vào đâu!
Diệu Hú cũng sanh sau đẻ muộn, may là được
gặp các bản đời Tấn, Tùy và Đường,
như các bản sớ giải kinh của các vị
Tăng Triệu, Trí Giả, Huệ Tịnh. Kinh sớ của
các vị đại đức đều từ hải
ngoại đưa về, nhưng bản chép tay của
người đời Đường, như bản của
các vị Liễu Thành Huyền[1]
viết, cất giấu lâu ngày tại thạch thất
Đôn Hoàng cũng được phát hiện trong cơi đời.
Diệu Hú nhờ vào đó mà tham khảo, đối chiếu
lẫn nhau, khảo sát chỗ
chân thật, đính chánh chỗ sai lầm, quả thật là
một cơ hội gặp gỡ hiếm có, mà
cũng là trách nhiệm của kẻ hậu học. Tôi
đă soạn riêng thành một quyển khảo đính, ghép vào sau kinh. Đối
với các câu hay chữ khác nhau hay giống nhau, tuy là một
chữ sai khác, nhưng có liên quan đến ư nghĩa của
kinh rất lớn, nay tôi mỗi mỗi đều thuận
theo kinh văn mà chỉ ra, ḥng nêu
tỏ nghĩa thú ấy. Đằng nào đúng, đằng
nào sai, có thể thấy rơ rành rành, người đọc
sẽ biết ngay!
Kinh văn đại lược
chia thành ba khoa: Một là Tự Phần, hai là Chánh Tông Phần,
ba là Lưu Thông Phần. Hết thảy các kinh, không kinh nào
chẳng như vậy! Cách phân chia, phán định như
thế khởi nguồn từ pháp sư Đạo An thời
Đông Tấn, tức là thầy của Sơ Tổ Tịnh
Độ Tông Lư Sơn Huệ Viễn vậy. Lúc thuyết
ấy vừa mới được nêu ra, người nghe
ngờ vực. Sau đó, chính nhờ các vị Phạn
đức (các vị đại đức người Tây
Vực hoặc Thiên Trúc) đến phương Đông [khẳng
định], mới biết tại Tây Thổ, hết thảy
các kinh cũng đều được chia thành khoa như
thế, mọi người đều nhất trí tin phục,
[cách phán định kinh Phật thành ba phần như thế]
bèn trở thành quy tắc nhất định. Như kinh này
từ “như thị ngă văn” cho tới “phu ṭa nhi
tọa” (trải tọa cụ mà ngồi) là Tự Phần.
Từ “trưởng lăo Tu Bồ Đề” cho tới
“thị danh pháp tướng” là Chánh Tông Phần. Từ
“Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân dĩ măn vô
lượng A-tăng-kỳ thế giới thất bảo
tŕ dụng bố thí” (Tu Bồ Đề! Nếu có
người dùng bảy báu đầy ắp trong vô lượng
A-tăng-kỳ thế giới để bố thí) cho tới
“tín thọ phụng hành” (tin nhận, vâng làm) là Lưu
Thông Phần.
2.1. Tự phần
2.1.1. Chứng Tín Tự
(Kinh) Như thị ngă
văn, nhất thời, Phật tại Xá Vệ quốc, Kỳ
Thụ Cấp Cô Độc viên, dữ đại tỳ-kheo
chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu.
(經)如是我聞。一時,佛在舍衛國祇樹給孤獨園。與大比丘眾千二百五十人俱。
(Kinh: Tôi nghe
như thế này: Một thời, đức Phật ở
nước Xá Vệ, nơi Kỳ Thụ Cấp Cô Độc
viên, cùng với các vị đại tỳ-kheo một ngàn
hai trăm năm mươi người tụ họp).
Đây
là Chứng Tín Tự (證信序),
c̣n gọi là Thông Tự (通序, tựa chung), do các
kinh đều chung có. Cũng gọi là Kinh Hậu Tự (經後序, phần tự được thêm vào sau khi kinh
được kết tập), v́ lúc
đầu đức
Phật nói kinh, vốn chẳng có phần tự này. Tới
khi kết tập mới được thêm vào. Cũng gọi
là Di Giáo Tự (遺教序). Đức Phật
sắp nhập Niết Bàn, tôn giả A Nan kính cẩn vâng
theo di mạng, đầu hết thảy các kinh đều
đặt các câu “như thị ngă văn, nhất thời
Phật tại mỗ xứ, dữ mỗ đại chúng
nhược can nhân câu” (tôi nghe như thế này: Một
thời đức Phật ở tại chỗ nào đó, cùng với đại chúng nào đó
chừng ấy người nhóm họp). Đặt các
điều như thế [ở đầu kinh] nhằm chứng
minh đây là kinh do đức Phật nói để phát khởi
ḷng tin. V́ thế, gọi là Chứng Tín Tự.
Đại Trí Độ Luận
gọi phần kinh văn thuộc khoa này là Lục Thành Tựu.
Bởi lẽ, phàm kết tập một kinh, ắt có đủ
sáu duyên, sẽ quyết
được thành tựu. Những ǵ là sáu duyên?
- Một là Như Thị, tức
Tín Thành Tựu.
- Hai là Ngă Văn, tức
Văn Thành Tựu.
- Ba là Nhất Thời, tức
Thời Thành Tựu.
- Bốn là Phật, tức
là Chủ Thành Tựu.
- Năm là ở nơi nào
đó là Xứ Thành Tựu.
- Sáu là cùng với tỳ-kheo
ngần ấy vị nhóm họp là Chúng Thành Tựu.
Sáu duyên đă đủ, tức
là vị thuyết pháp chủ (người chủ tŕ việc
thuyết pháp), lúc thuyết pháp, nơi thuyết pháp, đại
chúng nghe pháp, và người kết tập phụ trách chứng
minh những điều ấy do chính ḿnh được
nghe, mỗi mỗi đều đầy đủ. V́ thế
nói là Lục Thành Tựu.
Đầu tiên nói Như Thị.
Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Phàm
người tin tưởng th́ nói là Như Thị.
Chẳng tin, ắt sẽ chẳng nói Như Thị. Nay
người kết tập vừa mở miệng liền
trịnh trọng nói Như Thị. Do vậy, nêu rơ lời
nào cũng đều “đúng như đức Phật
đă nói”, từ và nghĩa chẳng sai lầm, ắt
đủ để nay tin tưởng rồi truyền cho
mai sau vậy! V́ thế nói là Tín Thành
Tựu. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tín vi đạo nguyên, công
đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết
chư thiện pháp” (Tín là nguồn đạo, mẹ
công đức, nuôi lớn hết thảy các pháp lành). Tín
chính là sơ môn để nhập đạo; do vậy, xếp
đầu tiên. Kế đó, nói Ngă Văn (tôi nghe), Ngă
là ngài A Nan tự xưng. Đặc biệt xưng là Ngă, tức
là từ ngữ [thể hiện ư] “chịu trách nhiệm”.
Lại c̣n nhằm nói rơ: Chính tai tôi đích thân nghe, chẳng
phải là được kể lại. Trên là nối tiếp
ư Như Thị, dưới lại kể ra tường tận
cho
đại chúng cùng nghe, nhằm lại
chứng minh đây cũng chẳng
phải là nghe riêng tư. Tức là [với những bằng
chứng] như thế đó, ḷng tin có chứng cớ. V́
thế nói là Văn Thành Tựu.
Ngày
đức Thế Tôn thành đạo, ngài A Nan giáng sanh. Tới
khi Ngài xuất gia, đức Phật đă thuyết pháp
hai mươi năm; do vậy, Ngài thỉnh đức Phật
đem những pháp đă nói trước đó đều
nói bổ sung. A Nan lại đắc Pháp Tánh Giác Tự Tại
tam-muội, có thể ở trong Định, thấu triệt
hết thảy các pháp. V́ thế, kết tập pháp tạng,
ắt phải suy cử A Nan, mà cũng là do đức Phật
đích thân chấp thuận. Như kinh Pháp Hoa chép: “Ngă dữ
A Nan ư Không Vương Phật sở, đồng thời
phát tâm, ngă hảo tinh tấn, toại trí tác Phật. A Nan
thường nhạo đa văn, cố tŕ ngă pháp tạng”
(Ta cùng A Nan ở chỗ Không Vương đồng thời
phát tâm. Ta chuộng tinh tấn nên được thành Phật.
A Nan thường thích đa văn, nên tŕ pháp tạng của
ta). Khi kết tập, ngài A Nan lên ṭa, quang minh nơi thân giống
như đức Phật. Đại chúng nghi đức Thế
Tôn sống dậy thuyết pháp, hoặc ngờ là vị Phật
từ phương khác đến, hoặc nghi A Nan đă
thành Phật. Ngài A Nan vừa mở miệng liền nói: “Như
thị ngă văn…” Ba mối nghi ấy đều nhanh
chóng dứt mất. Do đức Thế Tôn biết trước
ắt có các mối nghi ấy, nên truyền dạy đầu
hết thảy các kinh đều đặt các câu như thế
đó!
Đối
với chuyện kết tập, trong các kinh, luật, luận,
có đủ loại thuyết. Có người bảo Tiểu
Thừa Tam Tạng đều do ngài A Nan kết tập. Có
người bảo ngài Ưu Ba Ly kết tập Luật,
ngài A Nan chỉ kết tập Kinh và Luận. Có người
nói luận là do ngài Đại Ca Diếp (Ma Ha Ca Diếp) tự kết tập. Lại có
người bảo luận là do ngài Phú Lâu Na tụng ra. Cái
được gọi là “ngũ bách kết tập” (kết
tập Tam Tạng bởi năm trăm vị La Hán) c̣n gọi
là “kết tập lần thứ nhất”. Khi đó,
ngay trong năm đức Thế Tôn nhập diệt, địa
điểm là hang Tất Ba La (Pippalī-guha)
ngoài thành Vương Xá (Rājagṛha), vua A Xà Thế làm ngoại hộ. Tôn giả Đại
Ca Diếp làm thượng thủ. Có người nói đại
chúng là năm trăm vị, có người nói là một ngàn
vị, có người nói là tám vạn bốn ngàn vị. Lại
c̣n gọi là Thượng Tọa Bộ Kết Tập, do
ngài Đại Ca Diếp là bậc
Thượng Tọa trong hết thảy các vị Tăng.
Cuộc kết tập khởi đầu vào ngày Rằm
đầu tiên
của mùa An Cư năm ấy. Hoặc nói:
Sau khi ba tháng an cư kết thúc. Có người nói khi đă
hết tháng Tư. Có người nói: Tháng Mười Hai
năm ấy, vua chết, ngài Đại Ca Diếp cũng
vào núi Lang Tích[2],
đại chúng liền giải tán.
Trong
lúc đó (lúc kết tập kinh), lại có mấy trăm
ngàn vị Học
và Vô Học do chẳng thể dự hội,
muốn báo ân Phật, bèn ở nơi cách cái hang ấy hai
mươi dặm về phía Tây Bắc, riêng kết tập
Kinh, Luật, Luận, và Tạp Tập
Tạng, Cấm Chú Tạng thành năm tạng. Do phàm thánh
cùng tụ tập, nên gọi là Đại Chúng Bộ Kết
Tập (các vị này đều là đệ tử đức
Phật, chẳng phải là [bộ phái] Đại Chúng Bộ
(Mahāsāṃghika) sau
khi đức Phật đă nhập diệt năm trăm
năm), La Hán Bà Tu Bà Sư làm thượng thủ, cũng
do vua A Xà Thế làm đại thí chủ, cúng dường
đủ thứ. Chuyện này được chép trong kinh
Pháp Tạng, hoặc các sách như Tây Vực Kư v.v… Sau đấy
cũng có ba lượt kết tập:
-
Khi đức Phật nhập diệt khoảng một
trăm năm, trưởng lăo Da Tư Na (có thuyết nói là
Da Xá Đà, hoặc Tu Na Câu) làm thượng thủ, tụ
họp bảy trăm vị thánh chúng. Trưởng lăo Ly Bà
Đa (Soreyya-Revata)
và Tát Bà Già (Sabbakāmi)
vấn đáp, luận định,
chuyên v́ loại trừ những điều được
coi là trái pháp trong Luật Tạng. Đó gọi là Kết Tập
Lần Thứ Hai.
-
Sau khi đức Phật đă nhập diệt hai trăm
ba mươi lăm năm, nhằm thời vua A Dục (Aśoka
Maurya), ngài Mục
Kiền Liên Đế Tu (Maudgaliputra
Tiśya) làm thượng thủ, nhóm họp
sáu vạn người, chọn lựa kỹ càng một
ngàn vị. Ngài Đế Tu tạo luận để phá tà
thuyết của ngoại đạo. Đó là Kết Tập
Lần Thứ Ba.
-
Cuối cùng, trong khoảng bốn năm trăm năm sau,
vào thời vua Ca Nị Sắc Ca (Kaniṣka), nhóm họp năm trăm vị La Hán, năm trăm
vị Bồ Tát, ngài Ca Chiên Diên Tử (Kātyāyana-putra) làm thượng thủ, Mă Minh Bồ Tát (Aśvaghoṣa) tạo luận, trải qua mười hai năm, hợp thành bộ Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharma-vibhāṣā Śāstra) gồm một trăm vạn bài tụng để giải thích kinh (chỉ được dịch ra tiếng Hán một phần). Có người nói Thế
Hữu Bồ Tát (Thế Thân, Vasubandhu) là thượng thủ,
tạo luận cho Tam Tạng, mỗi tạng gồm mười
vạn bài tụng. Đó là Kết Tập Lần Thứ
Tư.
Thuở đức Phật tại thế
đă có kết tập. Như ngài Mục Kiền Liên tạo
Pháp Uẩn Túc Luận (Dharmaskandha-śāstra), nhưng đấy bất quá là một phần soạn
thuật. Nếu triệu tập đại chúng nhóm họp,
thực hiện kết tập đại quy mô th́ thật
sự là do ngài Đại Ca Diếp, A Nan và các thánh chúng khởi
đầu.
Kết
tập Đại Thừa xét ra có hai thuyết:
- Một
là sau khi đức Phật nhập diệt bảy ngày, ngài
Đại Ca Diếp bảo năm trăm vị La Hán, gơ
chuông triệu tập các vị A La Hán trọn khắp
mười phương thế giới, được tám
vạn tám ngàn vị [nhóm đến] nơi Sa La Song Thụ,
sai A Nan thăng ṭa [trùng tuyên], chia nhau kết tập Bồ
Tát, Thanh Văn, Giới Luật Tam Tạng. Bồ Tát Tạng
gồm tám phần: Thai Hóa Tạng là thứ nhất, Trung Ấm
Tạng là thứ hai, Ma Ha Diễn Phương Đẳng
là thứ ba, Giới Luật Tạng là thứ tư, Thập
Trụ Bồ Tát Tạng là thứ năm, Tạp Tạng
là thứ sáu, Kim Cang Tạng là thứ bảy, Phật Tạng
là thứ tám. Xem [những điều này được
chép trong] kinh Bồ Tát Xử Thai.
-
Hai là các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Di Lặc
dẫn A Nan đến núi Thiết Vi để kết tập
Đại Thừa Tam Tạng. Xem điều này trong Đại
Trí Độ Luận.
C̣n
như Mật Bộ, cũng có hai thuyết: Hoặc nói toàn
bộ đều do ngài A Nan kết tập, hoặc nói Kim
Cang Thủ Bồ Tát là chánh, A Nan giúp đỡ. Thuyết
sau dựa theo kinh Lục Ba La Mật. Trong kinh, đức
Phật thâu nhiếp các pháp thành năm phần, bảo Từ
Thị Bồ Tát (Di Lặc Bồ Tát) rằng: “Ngă diệt
độ hậu, lệnh A Nan Đà thọ tŕ sở thuyết
Tố Đát Lăm Tạng (thử vân Kinh Tạng), kỳ Ổ
Ba Ly (tức Ưu Bà Ly) thọ tŕ sở thuyết Tỳ Nại
Da Tạng (thử vân Luật Tạng), Ca Đa Diễn Na
thọ tŕ sở thuyết A Tỳ Đạt Ma (thử vân
Đối Pháp, tức thị Luận Tạng). Mạn Thù
Thất Lợi thọ tŕ sở thuyết Đại Thừa
Bát Nhă Ba La Mật Đa. Kỳ Kim Cang Thủ thọ tŕ sở
thuyết thậm thâm vi diệu chư pháp Tổng Tŕ môn”
(Sau khi ta diệt độ, sai A Nan Đà
thọ tŕ Tố Đát Lăm Tạng (phương này nói là
Kinh Tạng) do ta đă nói, Ổ Ba Ly (Upāli , tức
Ưu Bà Ly) thọ tŕ Tỳ Nại Da Tạng (phương
này nói là Luật Tạng) do ta đă nói, Ca Đa Diễn Na (Kātyāyana,
Ca Chiên Diên) thọ tŕ A Tỳ Đạt Ma (thử vân Đối
Pháp, tức là
Luận Tạng) do ta đă nói. Mạn Thù Thất Lợi (Mañjuśrī,
Văn Thù Sư Lợi) thọ tŕ
Đại Thừa Bát Nhă Ba La Mật Đa do ta đă nói.
Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi)
thọ tŕ các pháp rất sâu vi diệu thuộc Tổng Tŕ
Môn do ta đă nói).
* Sự
biểu pháp: Biểu pháp nhằm “tiêu quy tự tánh” (hồi
quy, dung hội vào tự tánh). Nghe kinh, thính pháp, chú trọng ở
chỗ dung hội trọn vẹn kinh văn, mỗi mỗi
đều quy vào sự thấu hiểu nơi bản tánh của
chính ḿnh th́ mới đạt được thọ dụng.
Đoạn văn này vốn là sự tướng thuộc
cảnh duyên, vẫn có thể “tiêu quy tự tánh”. Tức
là đối với kinh văn thuộc phần sau, có thể
phỏng theo lệ này để biết. Suy ra, nếu
đối với hết thảy các cảnh duyên đều
có thể lănh hội như thế, sẽ thọ dụng
vô cùng! Hăy chú ư, chú ư nhé!
“Như”
là như như bất động, tức là tánh thể vốn
sẵn có của mỗi người. “Thị” là “đương
hạ tức thị” (ngay trong mỗi sát-na hiện tại
đều chính là [chân tâm hiện tiền])[3].
Hết thảy phàm phu tuy tánh ngay trong mỗi sát-na đều
chính là [chân tánh], nhưng trong mỗi sát-na, lại luôn sanh diệt
không ngừng, trọn chẳng như như[4],
v́ sao? Do ngă chấp gây chướng. V́ thế, ắt phải
phá chấp trước nơi tiểu ngă để hội
quy vào Đại Ngă. Đại Ngă chính là một pháp giới,
tức “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”,
là cái ngă Thường Lạc Ngă Tịnh. Hăy nên hiểu chữ
Ngă ở đây như thế đó. “Văn” (nghe) là
xoay ngược lại cái Nghe
để nghe nơi tự tánh[5].
Khi muốn hội quy, ắt phải “phản văn”,
chớ nên hướng ra ngoài rong ruổi, trái nghịch
giác, xuôi theo trần lao! “Nhất thời” tức là “thập
thế cổ kim”[6]
chẳng ĺa một niệm ngay trong hiện tại. Đó
là tam tế tâm (三際心, tâm quá khứ, tâm hiện
tại, tâm vị lai) đều chẳng thể được;
hăy nên lănh hội như thế.
Đối
với chữ Ngă trong đoạn chánh kinh trên đây, nếu
lănh hội “một pháp giới”, sẽ trừ bỏ
chướng ngại đối với không gian. Đối
với chữ Nhất Thời, nếu
lănh hội “chẳng có ba đời”, chướng ngại
về thời gian cũng trừ! Tánh thể vốn sẵn
có là như thế đó, hăy nên “phản văn” (xoay cái Nghe ngược
lại) như vậy! Phàm phu quên mất cái gốc
này đă lâu. Nay
muốn phản chiếu, cần phải có phương tiện.
Trong sáu căn, chỉ có Nhĩ Căn viên thông nhất.
Đó gọi là “thập phương kích cổ, thập
phương tề văn” (mười phương
đánh trống, mười phương cùng nghe). Nơi
tánh vốn chẳng chướng ngại, so ra dễ lănh hội
hơn. V́ thế, dạy hăy từ Nhĩ Căn
mà nhập. Do nhĩ căn trọn đủ một ngàn hai
trăm công đức (“một ngàn hai trăm” bất
quá biểu thị sự viên măn vô ngại. Do mười
phương xét đến căn bản, chỉ là bốn
phương. Bốn góc và trên dưới, đều do
Đông, Tây, Nam, Bắc tách ra mà thành giềng mối của sáu
phương. V́ thế, sáu phương ấy là
nói theo chiều ngang. Ba đời là nói theo chiều dọc.
Ngang dọc xen lẫn, [ba nhân bốn] thành mười hai,
biểu thị sự vô tận, nên nói là “một ngàn hai
trăm”. Bởi lẽ, “bốn phương” nhân với
“ba đời” th́ là mười hai. Gấp trăm lần
lên[7]
sẽ thành một ngàn hai trăm).
“Phật” là tự
tánh thiên chân Phật. Cùng ngăn, cùng chiếu, Trung Đạo
viên dung, tự tánh vốn là như thế, [nước Xá Vệ
trong chánh kinh] tức là nước Xá Vệ (Śrāvastī) trong tự tánh. Chiến thắng ma Ngũ Ấm, tiếp
nối hưng thịnh ḍng giống Phật, chính là thái tử Kỳ Đà[8]
trong tự tánh. Rừng công đức trang nghiêm
phước huệ được gọi là Thụ (樹, cây cối). Đứa con bỏ cha
trốn đi, nay trở lại quê nhà, tiếp nhận
cơ nghiệp của cha. Viên minh châu trong chéo áo, chẳng
nhọc nhằn mà đạt được, tức là
vườn Cấp Cô Độc trong tự tánh. “Đại”
là đại bi đại nguyện. Tỳ-kheo là viễn
trần ly cấu. “Chúng” (眾)
là Lư và Sự ḥa hợp. “Một ngàn hai trăm người”:
Viên măn công đức phản văn nơi nhĩ căn. “Năm
mươi lăm người” tức Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ
Gia Hạnh, Thập Địa, và Đẳng Giác, thành
năm mươi lăm địa vị. Bởi lẽ
nói “bản tánh như như bất động” th́
ngay trong mỗi sát-na đều là [như vậy]. Nếu thật sự có thể
ngang hay dọc đều chẳng chướng ngại, “phản
văn” như thế th́ vị Phật trong tự tánh
thiên chân sẽ là Như Thị hiện diện, cùng với
đại bi, đại nguyện, xa ĺa trần cấu, Lư
và Sự ḥa hợp, năm mươi lăm địa vị
Bồ Tát Ma Ha Tát viên măn công đức phản văn làm bầu
bạn. Như thế th́ pháp hội Linh Sơn nghiễm
nhiên chưa tan! Lại có thể nói là “ở ngay Linh
Sơn đích thân nghe diệu pháp” cũng được,
tức là Linh Sơn ở ngay trong tấc ḷng này. V́ sao vậy?
Tự tánh thiên chân Phật cùng với Thích Ca Mâu Ni Phật
đă “tâm in vào tâm lẫn nhau”, quang minh chiếu sáng lẫn
nhau. Vậy th́ đă thấy cảnh tướng trong Chứng
Tín Tự là “phi tướng”, bèn thấy Như Lai. V́
thế, sự Như Thị của các vị thiện tri
thức chẳng phải là riêng với kinh này là như thế,
cũng chẳng phải là ở nơi ṭa giảng kinh, nghe
kinh này bèn là như thế, rời khỏi ṭa sẽ chẳng
như thế! Lại chẳng phải là trong pháp hội là
như thế, mà ra ngoài pháp hội bèn chẳng như thế, mà sẽ là trong hết
thảy mọi lúc, hết thảy mọi chuyện, hết
thảy mọi cảnh, sẽ đều thấy các tướng
phi tướng, ắt
động tĩnh như một, không
ǵ chẳng phải là như vậy! Trân
trọng! Trân trọng!
2.1.2. Phát Khởi Tự
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn thực thời, trước y,
tŕ bát, nhập Xá Vệ đại thành khất thực.
Ư kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ, hoàn
chí bổn xứ, phạn thực ngật, thâu y bát, tẩy
túc dĩ, phu ṭa nhi tọa.
(經)爾時,世尊食時,著衣持鉢,入舍衛大城乞食。於其城中,次第乞已,還至本處。飯食訖,收衣鉢,洗足已,敷座而坐。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vào giờ ăn,
đắp y, cầm bát, vào thành lớn Xá Vệ khất thực.
Ở trong thành ấy, theo thứ tự xin xong, trở về
chỗ ḿnh, dùng cơm xong, thâu y bát, rửa chân xong, trải
tọa cụ mà ngồi).
Đức
Phật v́ người xuất gia chế ra ba y (Trīni-cīvarāni):
- Một
là An Đà Hội (Antarvāsa),
phương này gọi là Ngũ Điều (cắt vải
thành từng miếng vuông, [mỗi miếng ấy gọi
là Điều], may giáp mí như thửa ruộng, nên gọi
là Phước Điền Y. Năm điều th́ h́nh vuông
lớn, chín điều th́ h́nh vuông nhỏ
dần). [Y này] cũng gọi là Trước Thể Y (著體衣), mặc
khi làm lụng và nằm, ngồi.
-
Hai là Uất Đa La Tăng (Uttarāsavga), phương này gọi là Thất Điều. Giảng
kinh, thuyết pháp, lại khoác ra ngoài y Ngũ Điều.
Do vậy, c̣n gọi là Thượng Y (Ngũ Điều
c̣n gọi là Hạ Phẩm, Thất Điều gọi là
Trung Phẩm, Cửu Điều lại gọi là Thượng
Phẩm).
-
Ba, nếu ở chỗ đông người, hoặc vào chốn
đại đô hội, cũng như cung vua, bèn mặc y
Cửu Điều, tên tiếng Phạn là Tăng Già Lê (Saṁghāti), cũng gọi là Đại Y.
Ba y đều gọi chung là Ca Sa (Kāṣāya). Ca Sa có nghĩa là Tạp (雜, nhiều
thứ lẫn lộn). Không chỉ v́ màu sắc có xanh, vàng,
đỏ, đen, tía là Tạp (đó là nói theo kinh Phạm
Vơng). Sách khác có thể chỉ nói [các màu] xanh, đen, đỏ,
hoặc chỉ nói màu đỏ. Có người nói rằng:
Trên y màu đỏ, thêm chút màu xanh, đen v.v…, chẳng dùng
màu đỏ tươi! Hoặc kèm thêm xanh, hoặc thêm màu
vàng, hoặc kèm màu đen, cũng chẳng phải là các
màu xanh, vàng tươi, đen đậm, màu tím đậm; đó gọi là Tạp
(cách nói như thế tức tổng hợp các thuyết
để dung hội,
ḥng biết là như thế, chứ thời cổ chẳng
nói rơ ràng như thế). V́ thế,
đỏ mà nhuốm xanh, sẽ giống như màu bùn
đen, nên gọi là Phi Truy
(披緇,
mặc áo thâm). Đỏ mà kèm thêm vàng, tức là màu mộc
lan (màu maroon, màu vỏ măng cụt). Màu tía
cũng là đỏ có kèm thêm đen mà thành, đều chẳng
phải là chánh sắc. V́ thế, lại gọi là Bất
Chánh Sắc, Hoại Sắc, hoặc Nhiễm Sắc. Sở
dĩ làm như thế là
để phân biệt với người tại gia,
cũng nhằm biểu thị ư nghĩa “chẳng trụ
nơi Sắc”
(kinh Tăng Nhất A Hàm nói: “Nhiễm tác ca sa y, vị vi
ca sa vị” (áo nhuộm màu gọi là áo Ca Sa, vị th́ nói
Ca Sa vị [tức nhiều vị lẫn lộn]). V́ thế
giải thích Ca Sa là Tạp th́ ổn thỏa nhất). Tức
là màu [y
ca-sa] như
thế ảm đạm, chẳng tươi
tắn, rực rỡ,
cũng là ư nghĩa “chẳng phô trương”. Đắp y,
cầm bát, khất thực v.v… đều do giới luật
chế định. Đức Thế Tôn làm như thế
tức là dùng thân ḿnh làm gương, dạy người
khác tŕ giới. Các thứ [vật dụng của người
xuất gia] như bát v.v… đều như [giới luật]
thường nói.
Khất
thực có nhiều nghĩa. Nói đại lược th́ v́
hàng phục ngă mạn,
do chẳng tham vị
ngon (nhà này bố thí vị ngọt, nhà khác có thể bố
thí vị mặn. Do vậy gọi là Ca Sa Vị), do chuyên
tâm tu đạo (những điều trên đây đều
là nói theo phía người xuất gia), khiến cho người
khác trông thấy sanh tâm hổ thẹn. Xuất gia vốn là
để độ chúng sanh. Muốn độ chúng sanh, cần
phải trước hết là đoạn Hoặc. Để
đoạn Hoặc, ắt phải khổ
hạnh, khiến cho người khác trông thấy đều
sanh ḷng hổ thẹn, nói: “Do độ chúng sanh mà tự khổ
như thế, bọn ta há nên tham ăn, tục
uống, mong cầu an nhàn, buông lung
như vậy ư?” [Đối với
người xuất gia th́ khất thực để] mong
cho đạo tâm tăng trưởng, tục niệm giảm
thiểu, tức là khất thực có ích to lớn cho chúng
sanh. Há có phải chỉ v́ muốn cho kẻ khác bố thí,
gieo phước điền mà thôi! Do vậy, khất thực
chính là phước cực lớn để tu của
người xuất gia. Cổ đức do lo ngại kẻ
tín tâm chẳng nhiều, [tăng sĩ khất thực] ắt
bị hủy báng, bất đắc dĩ tậu ruộng,
tự trồng trọt, đă trái nghịch chế định
của đức Phật, đă tột bậc khổ tâm.
Há có nên như người hiện thời nói: “Nếu
như tỳ-kheo kiêm kinh doanh nghề khác, vậy th́ cần
phải xuất gia để làm ǵ cơ chứ?” [Tỳ-kheo
kinh doanh là] phá hoại Phật pháp, muôn vàn chẳng
được! Muốn cho Phật pháp hưng thịnh mà
[tỳ-kheo] chẳng hành theo quy chế khất thực, sẽ
chẳng thể được! Nếu nói “phương
Đông chẳng thể được! Hiện thời chẳng
thể thực hiện được”, vậy th́ Tiêm La
(Thái Lan)[9]
cho tới nay vẫn tuân theo chế định của
đức Phật để hành, há bảo là hiện thời
phương Đông chẳng thể làm được
ư? Chỉ cần người tín tâm nhiều, sau đấy
sẽ có thể hành.
“Phu
ṭa nhi tọa” (trải tọa cụ
mà ngồi) tức là sắp nhập Định. Chiếu
theo quy củ, trước khi tĩnh tọa, c̣n có kinh hành,
nhưng nay chẳng nói. [Đức Phật làm như thế
nhằm] chỉ bày ư nghĩa “dụng công khẩn yếu”,
chớ nên giây phút nào mong cầu ăn bám an nhàn vậy!
Để
nói bộ đại kinh này, phát khởi bằng chuyện tầm
thường hằng ngày, rất là lạ lùng, đặc
biệt! V́ vậy, ngài Thiện Hiện (Tu Bồ Đề)
vừa mở miệng liền tán thán hy hữu. Nhưng lạ
lùng, đặc biệt mà chẳng khác tầm thường!
Do vậy, kế đó, ngài Thiện Hiện
thưa: “Thiện hộ niệm, thiện phó chúc” (khéo
hộ niệm, khéo giao phó, căn dặn). Đủ thấy
đoạn văn này liên quan toàn bộ bản kinh, lư cực
sâu kín, vi tế, mà lại thân thiết.
Nếu ơ hờ xem lướt qua, há chẳng phải là
cô phụ ư? Nay lập ra mười tầng để
nêu bày đại lược ư nghĩa ấy. Bốn tầng
trước là dựa theo pháp để nói, sáu tầng sau là dựa theo sự
giáo hóa để nói.
1)
Thị hiện đắp y, khất thực, rong ruổi
trong chốn trần lao, nghiễm nhiên giống như phàm
phu, tức là đức Phật chẳng trụ trong Phật
tướng, chính là nêu bày tướng vô ngă của đức
Phật. Tông chỉ của cả bộ kinh này là ở chỗ
“phá
ngă”.
Nay thị hiện vô ngă, chẳng nói một chữ nào.
Đó cũng là nêu bày vô pháp tướng của đức
Phật. Tuy chẳng nói một chữ, nhưng thật ra
[đức Phật] chỉ bày pháp vô ngă. Lại do đức
Phật thị hiện dấu tích mà chẳng phải là
không có pháp tướng. Lư Tam Không được nêu bày hoàn
toàn triệt để! Đó gọi là “thiện phó chúc”.
2)
Những điều như đă nói trên đây chính là đại
trí. Tu Bồ Tát hạnh, ắt phải nên bi lẫn trí trọn
đủ. V́ thế, khi nói cặn kẽ, vừa mở miệng
liền dạy “hăy nên độ tất cả hết thảy
chúng sanh”, nhưng nay thị hiện giống như phàm
phu, tức là Đồng Sự Nhiếp trong Tứ Nhiếp.
Đó chính là do đức Thế Tôn đại từ, đại bi, chẳng
bỏ chúng sanh, lấy bản thân làm
gương, nêu gương cho các vị Bồ Tát Ma Ha Tát.
Đó gọi là “thiện hộ niệm”. Gộp chung để nh́n,
dùng đại trí để hành đại bi, Không mà Bất
Không. Do đại bi mà hiển lộ đại trí, tuy Có
mà chẳng Có, Không
mà Bất Không, đó
gọi là Diệu Hữu. Có mà chẳng có,
chính là Chân Không. Há chẳng phải là “Không tức là Giả,
Giả tức là Không, Nhị Đế quán dung thông”,
rành rành là Đệ Nhất Nghĩa Đế trong Trung
Đạo hay sao? V́ thế, trong xử sự thường
nhật đă hiển lộ ư chỉ trọng yếu “lư
Tam Không, quán dung Nhị Đế” của cả bộ
kinh, đều được giăi bày trọn hết.
Điều ấy được gọi là “hy hữu”
vậy!
3)
Đức Phật nói các kinh khác, thường là phóng quang,
chấn động đại địa để phát khởi.
Do chỉ bày hết thảy các pháp đều từ chánh
trí Bát Nhă mà ra, tức là chẳng có pháp nào không phải là Bát
Nhă. Trước đó, trong khi nói Bát Nhă, [đức Phật]
cũng phóng quang, chấn động cơi đất; nay trong
hội thứ chín nói Kim Cang Bát Nhă, lại chẳng giống
như thế! Đấy là chỉ bày “ngay cả pháp
tướng Bát Nhă cũng chớ chấp trước!”
Do vậy, kinh này chép: “Phật thuyết Bát Nhă Ba La Mật,
tắc phi Bát Nhă Ba La Mật” (Phật nói Bát Nhă Ba La Mật tức chẳng
phải Bát Nhă Ba La Mật). Cần phải biết: Ngay cả
Bát Nhă cũng chẳng chấp trước; đó là Bát Nhă
Ba La Mật vậy! Đấy là chỗ cùng tột của
“chẳng chấp lấy tướng!”
4)
Trong mấy chục năm trước khi nói kinh này, hằng
ngày [đức Phật] thị hiện như vậy. Sau
khi đă nói kinh này cho đến khi nhập
Niết Bàn, trong
mấy chục năm, hằng
ngày cũng vẫn thị hiện như thế. Có thể
thấy: Nói “thị hiện” là người khác nh́n vào
bèn nói như thế, chứ đức Phật chẳng có
ư niệm “ta v́ đại chúng mà thị hiện chuyện
này!” Bởi lẽ, chẳng trong một sát-na nào, [đức
Phật] chẳng trụ trong Đại
Không tam-muội viên dung Nhị Đế. Người khác
thấy là thị hiện này nọ, đều là từ
trong Đại Không tam-muội tự
tại lưu xuất
đó thôi! Chứ Phật chẳng thực hiện
chuyện ǵ, hoàn toàn chẳng bận ḷng! Đấy là
Như Như bất động đạt đến tột
bậc. Ngàn lời muôn lẽ trong
cả bộ kinh, đến chỗ quy kết, bèn nói: “Thọ
tŕ, độc tụng, vị nhân diễn thuyết” (thọ
tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói). V́
người khác diễn nói như thế nào? Chẳng giữ lấy
tướng, như như bất động. Có thể biết
tám chữ ấy chính là chỗ then
chốt trọng yếu của cả bộ kinh, mà cũng
chính là chỗ then
chốt trọng yếu để người học thọ
tŕ, diễn nói. Nay trong hành vi thường nhật, liền
hiển thị điểm cốt lơi trọng yếu của
Kim Cang Bát Nhă; há chẳng nên nói là “hy hữu, khéo hộ niệm,
khéo phó chúc” ư? Các điều trên đây là xét theo pháp
để minh thị ư nghĩa của phần Phát Khởi
Tự đă xong.
5) Hết
thảy chúng sanh đều cùng sẵn đủ Phật
tánh, tức là ai nấy đều vốn sẵn có Pháp Thân
Như Lai. Nhưng Pháp Thân Như Lai ấy ẩn tàng, chẳng
hiển lộ, nên chẳng gọi là Như Lai, chỉ gọi
là Như Lai Tạng. Do họ bươn bả lo toan
cơm áo, trái nghịch giác tánh, xuôi theo trần lao, từ
lâu đă quên bẵng cái vốn sẵn có! Nay dùng Pháp Thân
Như Lai để thị hiện giống hệt như phàm
phu, rong ruổi trong trần lao. Chẳng có ǵ khác! [Chỉ
v́] muốn cho hết thảy các chúng sanh trong trần lao, ai
nấy hồi quang phản chiếu Như Lai Tạng vốn
sẵn có ấy!
6)
Phàm phu lè tè sát đất, chướng sâu, nghiệp nặng,
nay muốn quán chiếu ngược lại, nếu chẳng
được khéo khơi gợi, dẫn dắt, siêng gắng
huân tập, sẽ chẳng thể! Nay nói kinh này, phát khởi
bằng các chuyện như khất thực v.v… nhằm chỉ
dạy chúng sanh thọ tŕ kinh này, hăy nên xem như chuyện
ăn cơm, uống trà thường ngày trong nhà, dẫu một
ngày cũng chẳng thể ĺa bỏ! Huân tập lâu ngày
như thế, ngơ hầu tín tâm tăng trưởng, sẽ
từ trong cái vỏ vô minh sâu dày mà hé lộ quang minh!
7)
Kinh tối thượng thừa rất sâu, vi diệu, nay
được thấy, nghe, thọ tŕ, nhưng muốn
lănh ngộ, thấu hiểu nghĩa chân thật của
Như Lai, nếu chẳng có tư cách tương
đương, cũng chẳng thể vào được
môn này! Kinh này dạy: “Hậu ngũ bách tuế, hữu
tŕ giới, tu phước giả, ư thử
chương cú, năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật”
(Năm trăm năm sau, có kẻ tŕ giới, tu phước,
đối với chương cú này mà có thể sanh ḷng tin,
coi đó là thật). Tín chính là cửa ngơ để nhập
đạo. “Coi đó là thật” tức là hiểu ư
nghĩa chân thật ấy; cũng tức là thấu hiểu thật
nghĩa, bèn có ḷng tin chân thật (Phần kinh văn
trước đó hỏi về chuyện “sanh ḷng tin chân thật”,
nay đáp rằng: “Có thể sanh tín tâm, coi đó là thật”,
tức là bảo rơ ràng: Có
thể sanh khởi tín tâm là do coi đó là thật, cũng tức là thật
sự hiểu, đó chính
là chân tín. Tín tâm chân thật tức là khác với ḷng tin theo
kiểu hời hợt, loáng thoáng!) Nhưng tín tâm chân thật
là do tŕ giới, tu phước. Vậy th́ muốn nhập
môn này, há chẳng coi trọng tŕ giới, tu phước ư? (V́ sao
tŕ giới, tu phước có thể sanh ra tín tâm, coi đó
là thật? Mối quan hệ trong ấy, lư hết sức
tinh vi, đợi đến phần kinh văn ấy, sẽ
nói cặn kẽ). Nay các chuyện như đắp y, cầm
bát, khất thực… đều là giới luật do đức
Phật đă chế định. Y theo đó để
hành, đấy là tŕ giới. Khất thực khiến cho hết
thảy những ai trông thấy đều sanh tâm hổ thẹn,
tăng trưởng đạo niệm, chứ không chỉ
nhằm khiến cho [chúng sanh] hành bố thí, gieo phước
điền mà thôi! Đấy chính tu phước. Kim Cang Bát
Nhă được phát khởi bằng chuyện tŕ giới,
tu phước, chính là chỉ dạy chúng sanh hăy dùng phát khởi
tín tâm làm tiền phương tiện để nhập môn
vậy!
8)
Các chuyện như khất thực v.v… là tŕ giới. Trải
tọa cụ mà ngồi là sắp nhập Định. Do Giới
sanh Định, do Định sanh Huệ. V́ thế, trong phần
Tự [dùng những chuyện ấy] để phát khởi
ḥng nói Kim Cang Bát Nhă, lại kiêm chỉ dạy chúng sanh một tŕnh tự
nhất định để vận dụng Vô Lậu Tam
Học. Ngài chỉ rơ: Tŕ giới, tu phước có thể
sanh ra tín tâm chân thật, dùng đó để nhập môn.
Nhưng muốn cho chánh trí Bát Nhă hiện tiền mà lại chẳng
tu Định th́ sẽ chẳng thể!
9)
Điều trọng yếu trong tu hành là phải có Lư và Sự dung thông lẫn
nhau. Từ trong Tĩnh, dưỡng thành đầu mối,
lại c̣n trong khi đối trước cảnh tùy duyên,
hăy siêng năng khám nghiệm. Cổ nhân nói “lịch sự
đoán
tâm” (歷事煅心, dùng
trải qua sự việc để nung luyện cái tâm).
Đấy là chỗ trọng yếu nhất cần phải
dốc sức trong tu hành. Lư “chẳng chấp Nhị
Biên” ắt phải
lănh hội trong lúc mặc áo, ăn cơm, phải làm
được trong các hành vi thường nhật, ngơ hầu
đạt tới “động tĩnh như nhau” sẽ
là vô trụ mà chẳng phải là vô trụ vậy! Đấy
lại
chính là ư nghĩa vi tế của việc
phát khởi Bát Nhă bằng các chuyện như khất thực
v.v…
10)
Càng hay khéo hơn nữa, phần Phát Khởi Tự này chính là chỉ ra phương
tiện ḥng
thực hiện tu tập của người đang ở
trong trần lao. Đă bị túc nghiệp lôi dắt,
kẹt vào trong cái đăy
da hôi thối, ai có thể tránh khỏi bươn bả v́
cơm áo! Do đuổi theo ngọn, quên bẵng cái gốc,
cố nhiên là chẳng thể! Nếu do vượt thoát trần
lao chẳng được bèn sanh phiền năo, lại c̣n
làm thế nào được nữa! Đạo ở chỗ
khéo léo lợi dụng hoàn cảnh, sẽ có chỗ nào chẳng
phải là đạo tràng ư! Mỗi sáng mặc áo
ra ngoài, ai nấy chăm chỉ thực hiện chức vụ
“khất
thực” (kiếm cơm).
Xong việc liền trở về, những chuyện ứng
đối, thù tạc v.v… chẳng liên can, có thể giảm
bớt liền giảm bớt. Bốn chữ “hoàn chí bổn
xứ” (trở về chỗ ḿnh) ở đây, hăy gấp
nên chú trọng! Sau khi trở về, liền dùng bữa, rửa
ráy v.v… Tức là các
chuyện đáng nên lo liệu, cất dọn đều
làm xong xuôi, sẽ liền tĩnh tọa, nhiếp niệm
quán tâm. Bốn chữ “phu ṭa nhi tọa” ấy càng phải
nên chú ư. Người thời nay suốt ngày bận tít mù, thù tạc quá nhiều,
sau khi trở về lại
chẳng nhiếp tâm tĩnh lự, dẫu niệm Phật,
tụng kinh, công khóa chẳng khuyết, nhưng cái tâm ấy
chưa hề dùng chút phần nào nơi công phu nhiếp
tĩnh. Do vậy, tận lực dốc
công niệm tụng mà vọng niệm mặc sức
tơi bời, có ích chi chăng?
Lại
c̣n đối với chuyện chẳng chấp tướng,
và đạo lư “chẳng chấp tướng chính là chẳng
chấp vào hai bên pháp và phi pháp” đều chẳng
lưu tâm lănh hội. Do vậy, tu hành nhiều năm, vẫn
như cũ, thấy cảnh liền bị động,
xoay chuyển theo duyên, gót chân chẳng đặt vững một
tí nào cả, chính ḿnh chẳng thọ dụng mảy may! Thậm
chí phá tung giới luật, không ǵ chẳng làm, cứ ngỡ
chẳng chấp pháp tướng, nào hay đă sớm chấp
lấy tướng phi pháp mất rồi! Chính ḿnh đọa
lạc, lại dắt theo vô số thiện nam tín nữ
đồng loạt đọa lạc! Đấy đều
là do chưa từng nhiếp niệm quán tâm, chưa hề
chẳng trụ tướng, cũng như chẳng hề
liễu giải, thấu hiểu ư nghĩa trọng yếu
“chẳng chấp vào nhị biên”. Đến nông nỗi
như thế, há chẳng đáng thương lắm ư?
V́ thế, tám chữ “hoàn chí bổn xứ, phu ṭa nhi tọa”
(trở về chỗ ḿnh, trải tọa
cụ mà ngồi) ở đây đúng
là cái kim chọc thẳng vào đỉnh đầu, là bài
minh[10]
ngay cạnh chỗ ngồi của bọn chúng sanh đang
bươn bả trong trần lao như chúng ta. Dùng những
điều này để phát khởi, chính là nhằm chỉ
rơ: “Bát Nhă chẳng phải là nói suông mà ḥng đạt
được!” Cần phải nương theo văn tự,
dấy khởi quán chiếu, thời thời khắc khắc
chẳng lơi lỏng, chuyện ǵ cũng siêng gắng
khám nghiệm th́ mới lănh ngộ chút phần!
Trên
đây, dựa theo sự giáo hóa để
nói rơ ư nghĩa của phần Phát Khởi Tự đă
xong. Gộp chung cả mười nghĩa ấy để phát khởi. Không
chỉ là Lư và
Sự của đại pháp vô thượng
được rạng bày trọn vẹn, mà phương
cách chuẩn bị của người tu hành, cách thức thực hiện,
cũng đều được bao gồm trọn hết
trong [tám chữ ấy]. Đúng là hy hữu! Nếu chẳng
lănh hội từng điều ấy, chẳng đúng
như pháp mà tu, không chỉ cô phụ ân hộ niệm, phó
chúc hy hữu của Như Lai, mà c̣n cô phụ phần Phát
Khởi Tự hiếm có này lắm thay!
“Nhĩ
thời” (lúc bấy giờ) chính là lúc cơ
duyên nói và nghe trọn đủ, chín muồi
vậy.
Đức
Thế Tôn riêng có mười hiệu, được gọi
chung là Thế Tôn (Lokanātha). Do Ngài có mười đức hiệu,
được cơi đời tôn sùng, nên gọi là Thế
Tôn. Ở đây, dựa theo Đại Luận, mười
hiệu là:
1)
Như Lai (如來, Tathāgata): Các pháp đều như nhau là Như. Chẳng đến
mà đến là Lai. Đấy là xét theo tánh thể để
biểu thị công đức.
2)
Ứng Cúng (應供, Arhat) Đáng được trời, người
cúng dường. Đấy là dựa theo đại bi,
đại nguyện để biểu thị công đức.
3)
Chánh Biến Tri (正徧知, Samyaksaṁbuddha): Biết hết thảy các pháp tức Giả, tức
Không, không ǵ chẳng phải là Trung Đạo. Một không
th́ hết thảy đều không, một giả th́ hết
thảy đều giả, một trung th́ hết thảy
đều trung, chẳng thiên vị một phương diện
nào, tịch chiếu đồng thời. Đó là Chánh. Lư
trí Tam Đế viên dung vô ngại, trí trọn khắp các
cơi nhiều như cát bụi, soi thấu triệt từng
vi trần. Đó là Biến (trọn khắp). Đấy
xét theo tịch chiếu đồng thời để biểu
thị công đức.
4)
Minh Hạnh Túc (明行足, Vidyācaraṇa-sāṁpanna): Có hai cách nói:
a.
Kinh Đại Niết Bàn giảng: “Minh giả, đắc
vô lượng thiện quả (chỉ A Nậu Bồ
Đề). Hạnh Túc giả, năng hành chi túc (chỉ giới
huệ, thử trung tức nhiếp Định)”,
[nghĩa là]: “Minh là đạt được vô lượng
quả lành (tức Vô Thượng Bồ Đề). Hạnh
Túc là cái chân có thể đi (chỉ Giới và Huệ, trong ấy
bao gồm cả Định)”. Ư nói: Đạt được
Vô Thượng Bồ Đề là do nhờ vào “chân” Giới
và Huệ. Đấy chính là dựa theo “tu nhân quyết đạt được
quả” để biểu thị công đức.
b.
Đại Luận nói: Minh chính là Tam Minh, tức Túc Mạng,
Thiên Nhăn và Lậu Tận. Hạnh là ba nghiệp thân, khẩu,
ư. Chỉ có Phật trọn đủ hạnh Tam Minh. Ở
đây nói theo nghĩa này; đó là dựa theo thần thông
để biểu thị công đức.
5)
Thiện Thệ (善逝, Sugata), c̣n gọi là Hảo Khứ (好去), ư nói: Nhập Vô Dư Niết Bàn. Đấy gọi
là “sanh diệt đă diệt rồi, tịch diệt hiện
tiền”. Đó là dựa theo đoạn chứng để
biểu thị công đức.
6)
Thế Gian Giải (世間解, Lokavid): Hết thảy sự tướng hữu
t́nh và phi hữu t́nh, không ǵ chẳng thấu hiểu. Đó
là dựa theo Hậu Đắc Trí để biểu thị
công đức.
7)
Vô Thượng Sĩ (無上士, Anuttara): Trong hết thảy chúng
sanh, Phật là vô thượng. Đấy chính là dựa
ngay vào địa vị để biểu thị công đức.
8)
Điều Ngự Trượng Phu (御丈夫, Puruṣa-damyasārathi): Hoặc dùng lời lẽ mềm mỏng, hoặc
dùng lời lẽ cứng rắn, nặng nề mà khéo có thể
điều ngự bậc trượng phu, khiến cho họ nhập thiện đạo (bất
luận là nam, nữ, tăng, tục, nếu muốn viễn
trần ly cấu, hễ chẳng có khí khái quả quyết,
chẳng có cái tâm
kiên định của bậc trượng phu, sẽ chẳng
thể được. Người như thế, chỉ
có Phật là có thể điều phục, uốn nắn).
Đấy là dựa theo giáo chủ để biểu thị
công đức.
9)
Thiên Nhân Sư (天人師, Śāstādeavamanuṣyānāṁ) Làm gương mẫu cho trời, người. Ví
như ánh nắng chiếu trọn khắp, không ǵ chẳng
được lợi ích. Đấy là dựa theo sự lợi
ích trọn khắp để biểu thị đức.
10)
Phật: Tự giác, giác tha, giác măn, th́ gọi là Phật
Đà Da (Buddhayā). Đấy
là dựa theo quả giác tột cùng để biểu thị
công đức.
Các
kinh luận khác có khi gộp chung Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri thành một, nói là Ứng Chánh Biến Tri. Hoặc gộp
chung Thiện Thệ và Thế Gian Giải thành một. Hoặc
gộp chung Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự
Trượng Phu thành một. Hoặc gộp chung Phật và
Thế Tôn thành một, đủ loại khác nhau! Đó là
v́ kinh nói “Phật có đủ mười hiệu”,
nên gộp chung thành con số mười làm chuẩn. Chỉ
có Đại Luận là kể từ
[danh hiệu] thứ nhất là Như Lai cho tới [danh hiệu]
thứ mười là Phật, chia thành mười danh hiệu,
coi Thế Tôn là danh xưng chung của mười hiệu,
dường như thỏa đáng nhất!
“Thực
thời”: Theo quy củ nhất định của tam thế
chư Phật, qua khỏi giữa trưa một chút, sẽ
chẳng được ăn. Nay là nói “sắp đến
giờ ăn”, phải nên khất thực trước
đă. Đối với giờ ăn, trong Tạng Luật
nói nhiều thuyết khác nhau. Nay tôi trần thuật một thuyết:
Sửu, Dần, Mẹo là lúc chư thiên ăn, gọi là
Sơ Phần (hoặc nói Dần, Măo, Th́n là Sơ Phần.
Sách Toản Yếu của ngài Khuê Phong dựa theo cách nói
này). Th́n, Tỵ, Ngọ là lúc nhân gian ăn uống, gọi
là Trung Phần. Mùi, Thân, Dậu là lúc súc sanh ăn, gọi là
Bô Phần (晡分, Bô
nghĩa là buổi chiều). Tuất, Hợi, Tư là lúc quỷ
thần ăn, gọi là Dạ Phần. Bởi lẽ, chúng
sanh trong các đường phần nhiều ăn vào những
lúc ấy, hoặc nên ăn vào lúc ấy, chứ không phải
là nhất định, chẳng thay đổi được.
Chỉ riêng Phật pháp chế định, quá Ngọ không
ăn, dụng ư sâu rộng, như trong Luật đă nói:
Khi khất thực, nói chung là khoảng chừng giờ
Th́n, v́ quá sớm hoặc quá trễ, sẽ chẳng thể
xin được, nhằm ngăn ngừa trường hợp
thí chủ không có ǵ để thí, gây phiền năo cho họ.
Chính ḿnh chẳng xin được ǵ, tự ḿnh lại phiền
năo!
“Đắp
y”: Đức Phật chế ba y:
- Một
là An Đà Hội, nghĩa là “y để mặc bên trong”, tức mặc
sát vào thân thể. Khi hành đạo (tức
khi tu hành), hoặc làm việc, có thể mặc
[loại y này], tức là y Ngũ Điều, c̣n gọi là Hạ
Phẩm Y.
-
Hai là Uất Đa La Tăng, dịch nghĩa là Thượng
Y, cũng gọi là Trung Phẩm Y, tức Thất Điều.
Cũng có thể dùng mặc để vào trong làng xóm hoặc
thuyết pháp. Nếu gặp đại chúng tập hội,
hăy nên mặc Đại Y.
- Ba
là Tăng Già Lê, nghĩa là Chúng Tụ Thời Y (眾聚時衣, y
để đắp khi đại chúng nhóm họp), tức
là Đại Y, c̣n gọi là Thượng Phẩm Y, hoặc
gọi là Phước Điền Y. Tức là y Cửu
Điều cho tới Nhị Thập Ngũ Điều Y.
Nếu vào vương cung, vương thành, làng xóm, phàm là chỗ
đại chúng tụ tập, lúc oai nghi nghiêm túc, hoặc là
lúc thọ giới, thuyết pháp, khất thực v.v…, hăy
nên đắp y này.
Từ
y năm điều cho tới chín điều đều là
cắt vải thành từng miếng vuông, khâu chằm dính lại.
Số điều ít th́ miếng vuông sẽ to. Số điều
nhiều th́ miếng vuông sẽ nhỏ. Nhỏ th́ kín chặt
như ruộng được chia thành từng thửa rơ
ràng. V́ thế, chỉ có y chín điều được gọi
là Phước Điền Y. Từ mười điều
trở lên, nếu người có vóc dáng vạm vỡ th́
kích thước của y cũng thuận theo đó mà to rộng,
cho nên số lượng điều tăng lên nhiều
hơn! Nơi xứ lạnh ở Thiên Trúc th́ ba y được
phép mặc chồng lên nhau. Đông Độ do rét lạnh
và thói quen, đa phần là y được khoác trên quần
áo thông thường. V́ thế, không theo phong cách đắp
y chồng lên nhau,
chỉ các lạt-ma là có [kiểu đắp y ấy][11].
Ba y
đều được gọi chung là Ca Sa. Ca Sa (Kāṣāya) là tiếng Phạn,
tức tên gọi dựa theo màu sắc, tức chẳng phải
là chánh sắc, [do vậy gọi] là “hoại, trược”
(hàm nghĩa màu ủ dột, héo úa). V́ thế, mở rộng
ra, các vị xen tạp cũng
được gọi là Ca Sa Vị. “Bất chánh” có
nghĩa là “xen tạp”. “Sắc tạp” tức là màu
úa, không tươi tắn. Do vậy, đen th́ phải
như bùn, xanh th́ nên giống như teng đồng (màu
đồng cũ). Đỏ th́ phải là đỏ nhiều,
đen ít, gọi là màu Mộc Lan (vùng Tứ Xuyên có loại
cây ấy. Người Nhật gọi là Hương Nhiễm
Sắc, do dùng Đinh Tử Hương
(clove) để nhuộm), tức là màu
được Thiên Trúc gọi là Càn Đà. Hoặc là đỏ
và đen xen lẫn như màu tía. Sách Kư Quy Truyện[12]
nói: “Hoặc là dùng bột địa hoàng[13],
hoặc kinh bách hoàng v.v… nghiền với đất đỏ,
nước ngâm đá đỏ để nhuộm”. Tóm
lại, chẳng được dùng các màu gốc
tươi tắn như xanh, vàng, đỏ, đen, tía, đều cần
phải xen lẫn màu khác sao cho thành sắc úa, tối. Tứ
Phần Luật nói: “Trong mỗi sắc, tùy ư khiến cho
nó mờ úa là được”. Nếu là mạn
điều y (縵條衣,y không có điều),
tức là y của sa di và sa di ni, chỉ cần màu ủ dột,
không có điều là được rồi. Đại
tăng (tỳ-kheo) nếu không có ba y, cũng có thể dùng
[mạn y]. Hàng ưu-bà-tắc cũng được phép tạm
đắp [mạn y] khi lễ Phật, nhưng không
được thường khoác. Kể từ khi Phật
pháp truyền sang phương Đông, người xuất
gia chẳng biết chế định phải cắt xẻ
[vải thành các điều để may y], chỉ đắp
mạn điều mà thôi! Trải qua một trăm tám
mươi bảy năm sau mới biết.
“Tŕ
bát”: Tiếng Phạn là Bát Đa La (Patra), phương
này dịch là Ứng Lượng Khí
(應量器),
tức là [đồ vật để chứa
thức] ăn phải nên
đúng với hạn lượng, chớ nên quá lớn để
ngăn ngừa ḷng tham. Cũng dịch là Thể Sắc
Lượng, đều [hàm nghĩa] tương ứng với
pháp. Chất liệu của bát chỉ hạn chế bằng
sắt, hay gốm v.v… Chẳng được làm bằng gỗ,
v́ [bát gỗ] là thứ của ngoại đạo dùng, lại
dễ bị nhuốm bẩn. Màu sắc nên chất phác,
đơn giản, kích thước như trên đă nói, gọi
tắt là Ứng Khí (應器), hàm ư là “vật
đựng để hiền thánh tiếp nhận vật
cúng”. Khi Phật Thích Ca thành đạo,
tứ thiên vương lấy cái bát đá màu cám lưu ly[14]
cúng dường cho Phật Duy Vệ (Vipaśyin,
Tỳ Bà Thi Phật) trong
quá khứ từ cung rồng, hóa thành bốn bát, mỗi vị
cầm một cái để dâng cúng. Đức Thế Tôn lại
hợp bốn bát thành một, dùng để khất thực.
“Nhập
Xá Vệ đại thành” (vào thành lớn Xá Vệ):
Vườn (Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên) ở
cách thành sáu dặm về phía Đông Nam. Thành rộng hơn
sáu mươi dặm. Trong thành có chín ức nhà, đất
rộng, người đông, nên gọi là Đại.
“Khất
thực”: Đức Phật chế định, chẳng
cho phép người xuất gia dùng bốn loại
phương pháp để kiếm
ăn nuôi mạng:
- Một là trồng trọt, gieo cấy, gọi là Hạ
Khẩu Thực (下口食).
-
Hai, quan sát tinh tú, hiện tượng thiên văn để
luận cát, hung, gọi là Ngưỡng Khẩu Thực (仰口食).
-
Ba, giao du với người giàu có, quyền quư bốn
phương, gọi là Phương Khẩu Thực (方口食).
-
Bốn, bói toán cát hung, gọi là Duy Khẩu Thực (維口食).
[Bốn
loại ấy] gọi chung là Bất Tịnh Thực, hoặc
Tà Mạng Thực. Chỉ cho phép [tăng chúng] khất thực, gọi
đó là Chánh Mạng Thực, tức là chánh đạo của
người xuất gia. “Chánh đạo” là ǵ? Do chiết
phục ngă mạn, do chẳng tham ăn uống, do chuyên dốc
ư hành đạo, khiến cho hết thảy mọi người
phá trừ keo tham, tăng phước. C̣n như đức
Phật tự khất thực th́ theo kinh Anh Lạc có nhiều
ư nghĩa, như: Khiến
cho hết thảy mọi người chẳng sanh kiêu mạn,
khiến cho hết thảy chúng sanh bị chướng ngại
đều đạt được lợi ích do thấy
Phật, lại c̣n chỉ dạy người xuất gia
chớ nên tích cóp!
“Ư
kỳ thành trung, thứ đệ khất dĩ” (ở
trong thành ấy, theo thứ tự khất thực xong): “Thứ
đệ” là theo thứ tự của từng nhà mà xin,
chẳng chọn lựa nhà nào. Xin xong, nếu bát đă
đầy, hoặc đă xin bảy nhà, chẳng phải là
theo thứ tự xin trọn khắp một thành. [Câu này] nối
tiếp với câu sau, [ngụ ư] xin xong liền trở về
ngay, không nh́n ngó tí nào!
“Hoàn
chí bổn xứ” (trở về chỗ ḿnh): Từ thành
trở về vườn (Kỳ Thụ Cấp Cô Độc
Viên).
“Phạn
thực ngật” (dùng cơm xong): “Phạn” là
ăn, như chữ “phạn” trong câu “Phạn
sơ thực” (ăn cơm hẩm)[15]
của Luận Ngữ. “Ngật” (訖)
là xong xuôi. Kinh Bảo Vân nói: Thức ăn xin được,
chia thành bốn phần:
- Một
phần dự tính dành cho người có cùng phạm hạnh.
- Một
phần dự tính để thí cho người nghèo, bệnh,
hay ăn mày.
- Một
phần thí cho chúng sanh sống trên đất, dưới
nước.
- Một
phần lưu lại để tự ăn.
Trong
kinh Thập Nhị Đầu Đà, chẳng nói cho người
cùng phạm hạnh, mỗi đằng đều có dụng
ư, hăy nên hành theo tương ứng. “Không
nói” là do ai nấy đều
tự xin, nay nói là do có thể là v́ duyên khác, chẳng rảnh
để khất thực vậy. Nay hai loại người
nghèo, bệnh và phạm hạnh đều nói đáng nên
thí, nhằm nói rơ “không nhất định”, hễ có [hai hạng
người ấy] th́ cho. Nếu là chúng sanh sống trên mặt
đất hay dưới nước th́ nhất định
phải nên thí. Do vậy, chẳng nói “nghĩ” (擬, dự tính) vậy!
“Thâu
y bát”: Không thâu cất, sẽ chẳng tránh khỏi
bận tâm, chẳng thể an tâm tu đạo.
“Tẩy
túc dĩ” (Rửa chân xong): V́ thủ hộ chúng sanh,
đi chân trần khất thực (Xứ Ấn thường
đi dép bằng da, dễ tổn thương sanh mạng);
sợ dính bụi bẩn, nên cần phải rửa sạch.
[Câu này] nối tiếp với câu dưới, xong việc
liền tu Quán, do trọng đạo.
“Phu
ṭa nhi tọa” (trải tọa cụ mà ngồi): “Phu
ṭa”: Phu (敷) là mở
ra. “Ṭa” (座)
là tọa cụ[16].
Trong bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, th́
đi dễ gây lao chao, đứng sẽ
dễ bị mệt mỏi, nằm th́ dễ hôn trầm,
người tu hành chỉ ngồi là tốt nhất. V́ thế,
người xuất gia có nhiều vị chẳng
hề nằm xuống giường. Ngồi kết già phu[17]
(ngồi xếp bằng, hai ḷng bàn chân ngửa lên) là nghi thức
thông thường trong Phật môn, cho nên lược đi
chẳng nhắc tới. Ngồi xếp bằng có bốn
lợi ích:
- Một,
thân tâm thâu liễm, nhanh chóng phát sanh sự khinh an.
-
Hai, có thể trải qua một thời gian lâu, chẳng
nhanh chóng mệt mỏi.
-
Ba, chẳng giống như ngoại đạo, họ chẳng
có pháp này.
- Bốn,
h́nh tướng đoan nghiêm, trịnh trọng, khiến
cho người khác kính tin.
Trên
đây, từ
đắp y cho tới đoan tọa, đều là đức
Phật từ bi, rủ ḷng dùng
thân làm gương cho đại chúng.
Đức Thế Tôn thoạt đầu chẳng cần
phải làm như vậy. V́ sao nói thế? Như kinh Anh Lạc
Nữ đă nói: “Hóa Phật thân như toàn đoạn kim
cang, vô sanh thục nhị tạng” (Thân của hóa Phật
hoàn toàn như một
khối kim cang, chẳng có sanh tạng và thục
tạng)[18].
Kinh Niết Bàn nói: “Như Lai chi thân, phi tạp thực
thân’ (Thân Như Lai chẳng phải là thân cần phải
ăn mới sống được). Cần ǵ phải khất thực,
nhưng Ngài thị hiện khất thực, ngoài ba ư
nghĩa khiến cho hết thảy mọi người chẳng
sanh kiêu mạn như đă nêu trên, không ǵ chẳng nhằm
nêu gương cho mọi người. Đă chẳng cần
ăn mà lại nói là “ăn xong”, chẳng biết rốt
cuộc Ngài có ăn hay không? Ở đây,
có hai ư nghĩa:
- Một,
nếu trọn chẳng ăn, phước của người
thí chẳng viên măn. Đức Phật từ bi khiến cho
họ được măn nguyện, cũng thường thuận
theo đại chúng mà ăn.
-
Hai, có thuyết nói khi đồ ăn sắp đến miệng,
có vị trời oai đức ẩn ḿnh ở bên cạnh,
nhận lấy đưa sang phương khác để thực
hiện Phật sự. Do Phật đă thị hiện
ăn, khiến cho phước của người cúng thí
được viên măn, lại c̣n dùng thần lực dời
đi làm Phật sự.
Vậy
th́ ăn và chẳng ăn, hai nghĩa đều vô ngại!
Kinh A Hàm lại nói: “Phật hành ly địa tứ chỉ,
liên hoa thừa túc” (Phật bước đi, cách mặt
đất bốn ngón tay, hoa sen đỡ chân). Vốn chẳng
cần rửa, nhưng nay mỗi mỗi đều thị
hiện các sự tướng như vậy, há chẳng phải
là thuận theo đại chúng mà nêu khuôn phép ư?
Đoạn
đầu tiên như vừa nói trên đây bất quá là
nương theo kinh văn để giải thích ư nghĩa.
Đoạn thứ hai là nói làm khuôn mẫu cho mọi người
v.v… cũng là ư nghĩa thông thường. Điều quan trọng
nhất là phải hiểu rơ v́ sao kinh này trần thuật
các sự tướng ấy để phát khởi? Hăy nên
biết: Ở đây, có ư nghĩa rất
tinh vi. Đấy đúng là chỉ điểm thân thiết,
muốn cho mọi người từ trong các hành vi, động
tĩnh mà thấu hiểu. Hăy thử nghĩ xem, Như Lai
v́ độ chúng sanh, chẳng sanh mà hiện sanh, thị hiện
giống như phàm phu, có ngày nào chẳng mặc áo, ăn
cơm, tức là có ngày nào chẳng lấy thân làm
gương? V́ sao đầu các kinh, phần nhiều trần
thuật chuyện phóng quang, chấn động cơi đất?
Nay muốn tuyên thuyết Tổng Tŕ của hết thảy
các pháp, sanh ra đại pháp Kim Cang Bát Nhă của chư Phật,
bèn khăng khăng dùng một đoạn trần thuật
chuyện tầm
thường hằng ngày
để phát khởi? Lạ hay không? Khéo hay không? Kỳ diệu
chẳng ở chỗ kỳ diệu, mà là kỳ diệu
nơi thô thiển. Phải biết rằng: Chuyện cực
b́nh thường và lư cực cao thâm có mối quan hệ mật
thiết. Xưa nay các vị chú giải, hoặc thấy là
dùng Giới Định
để phát khởi,
hoặc nêu cảnh tượng như như bất động
là phát khởi, hoặc bảo “chẳng thể coi thường
chuyện sinh hoạt thường ngày!” Hoặc nói: “Mặc
áo, ăn cơm chính là phóng quang, chấn động cơi
đất để phát khởi”. Ai nấy có cách thấy
riêng, mỗi người đều có sự hay khéo. Nay tôi
gạn lọc các thuyết, lại c̣n cân nhắc trên
phương diện ư chỉ trọng yếu của kinh
văn, dẫn chứng nêu rơ để cho mọi người
dễ thấu hiểu hơn! Ư
nghĩa chất chứa đă sâu, trong một lúc khó thể
nói trọn hết được, đành khái quát thành
mười tầng để nói đại lược
như sau:
1)
Bát Nhă là pháp trọng yếu để trưởng dưỡng
huệ mạng, tiếp nối hưng thịnh ḍng dơi Phật.
Ví như cơm áo là chuyện trọng yếu để
người đời hộ tŕ sắc thân, nối trước,
truyền sau. Nay nêu lên mặc áo, ăn cơm v.v… để
phát khởi, chính là v́ khiến cho người đă phát
đại tâm hiểu rơ: Chẳng
thể ĺa khỏi các thứ pháp thực Bát Nhă ấy trong
khoảnh khắc. Do vậy, kinh nói: “Thọ tŕ, độc
tụng, quảng vị nhân thuyết, tắc vi hà đảm
A Nậu Bồ Đề” (Thọ tŕ, đọc tụng,
rộng v́ người khác nói, chính là gánh vác Vô Thượng
Bồ Đề). Lại nói: “Đương tri thị
nhân thành tựu tối thượng đệ nhất hy hữu
chi pháp” (Hăy nên biết người ấy thành tựu
pháp tối thượng, hiếm có bậc nhất). Lại
nói: “Thị kinh sở tại chi xứ, tức vi hữu
Phật, nhược tôn trọng đệ tử” (Chỗ
nào có kinh này tức là nơi đó có Phật và các vị đệ tử đáng
tôn trọng). Từ mấy câu kinh
văn ấy mà nh́n ngược lại, sẽ thấy rơ
rành rành là giống hệt như cơm áo có mối quan hệ
rất lớn, chẳng thể tạm ĺa được!
V́ thế, dùng đó để phát khởi.
2)
Kinh dạy: “Hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới,
tu phước giả, ư thử chương cú, năng
sanh tín tâm” (năm trăm năm sau, có người tŕ giới,
tu phước, đối với chương cú này, có thể
sanh ḷng tin tưởng). Có thể thấy tŕ giới và tu
phước là cửa ngơ để nhập đạo của
Bát Nhă. Khất thực là chế định thuộc giới
luật. Nay [đức Phật]
thị hiện đắp y, cầm bát, theo thứ tự
khất thực, nhằm hướng dẫn chúng sanh tŕ giới,
cũng khiến cho trọn khắp chúng sanh tu phước.
Kệ tụng trong kinh có nói: “Pháp Thân bổn phi thực, ứng
hóa diệc như nhiên, vị trưởng nhân thiên phước,
từ bi tác phước điền” (Pháp Thân vốn chẳng
ăn, do ứng hóa như thế, tăng trưởng
phước trời người, là ruộng phước từ
bi) là
như thế đó. Đức Thế
Tôn hằng ngày khất thực, tức là hằng ngày phát khởi
tín căn cho chúng sanh kham nhập Bát Nhă. Nay trước khi sắp
nói Kim Cang Bát Nhă, liền hiện bày như thế để
phát khởi, thân thiết chi bằng?
3)
Khuê Phong đại sư nói: “Giới có thể vun bồi
Định, Định có thể phát khởi Huệ. V́ thế,
dùng Giới và Định để phát khởi. Cần phải
biết: Huệ mà chẳng có Giới và Định, sẽ
là cuồng huệ, chẳng phải chánh huệ”. Khất
thực là Giới,
trải tọa cụ để ngồi; do vậy nhập
Định. Đă thị hiện sự tướng Giới,
Định rồi mới nói Bát Nhă rất sâu, há chẳng
phải là thuật bày thứ tự nhất định
trong Tam Học, khiến cho mọi người biết [thứ
tự] trước sau đó sao? Trong kinh lại c̣n chỉ
nói về Huệ, đặc biệt trong phần Phát
Khởi
bèn bổ túc Giới và Định; Phật, Bồ Tát v́
độ chúng sanh, khẩn thiết, châu đáo như thế
đó.
4) Hết
thảy người học rèn luyện trong trần lao
nơi áo
cơm và cuộc sống thường ngày; đó chính là
phương cách hàng phục vọng tâm trọng yếu nhất.
Bởi lẽ, do tham cầu cơm áo, chẳng ngại trần
lao, cố nhiên là
chấp tướng. Chán ghét trần lao, nẩy
sanh phiền năo, vẫn là chấp tướng. Ắt cần
phải đối cảnh tùy duyên, đă chẳng mê mà
cũng chẳng phiền, đó chính là pháp để an tâm.
V́ thế, kinh nói: “Nhất thiết pháp giai thị Phật
pháp” (hết thảy các pháp đều là Phật pháp). Lại
nữa, trong kinh phần nhiều tập trung vào các Độ
như Bố Thí v.v… để nói “hàng phục, an trụ”,
cũng là v́ ư này. Hăy thử nghĩ: Lũ phàm phu chúng ta, kẻ
nào chẳng cần cơm áo? Đă chẳng thể thoát khỏi,
nhưng có tham cũng chẳng
tham được. Lại nữa,
đă phát đại tâm học Phật, làm
các chuyện như bố thí độ sanh v.v… đều ắt
cần phải học. Nếu chẳng trong hết thảy
[mọi sự việc, mọi hoàn cảnh], đều dụng
công như trên, th́ suốt ngày từ sáng tới tối, chẳng
phải là chấp
Có, sẽ liền chấp Không; có lúc nào, chốn nào kiếm
được tự tại? C̣n như một câu Phật
hiệu, lại
làm thế nào để niệm cho tốt
đẹp? Các chuyện như hoằng pháp, lợi sanh, ắt
cũng học chẳng ra ǵ! Nay từ ngay nơi chuyện
mặc áo, ăn cơm, mà phát khởi chẳng
chấp vào Nhị Biên, hết thảy đều như Bát
Nhă rất sâu, khiến cho mọi người lănh hội;
đấy chính là dụng công nơi các sự tướng ấy.
Đă chẳng thể chấp Có, mê Không, chấp giữ
pháp tướng, lại chẳng thể ĺa Có nói Không, chấp
vào phi pháp tướng! Đúng là đại từ, đại
bi vậy!
5)
Như Lai tùy thuận phàm phu, đắp y, khất thực,
nhằm nêu rơ: Chẳng chấp tướng quả vị!
Đúng như kinh đă dạy: “Như Lai giả, tức
chư pháp Như
nghĩa” (Như Lai là nghĩa Như của các
pháp). Cần biết quả là Như,
th́ nhân cũng là Như. Do vậy, phải nên ĺa hết thảy
các tướng, phát tâm A Nậu Bồ Đề, mà đạo
“hàng phục” đều được bao gồm trọn
hết trong ấy! Dùng chẳng chấp tướng nơi
quả đức để phát khởi “chớ nên chấp
tướng” nơi nhân hạnh. Thật sự là “nhân
bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn
nhân”, tuyệt diệu tột bậc!
6) Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương có nói Ngũ Uẩn chính là Pháp Thân. Ngũ Uẩn chính là huyễn hữu
được sanh bởi các duyên. Pháp Thân là Chân Không tịch
chiếu. Đấy chính là dạy mọi người hăy từ ngay Huyễn Hữu mà thấy Chân Không, chẳng
phải là tướng đoạn diệt. Kinh này đủ
mọi cách trừ khử tướng, nhưng chú trọng
nơi pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt,
cũng là v́ ư này. Hăy nên biết: Đối với cái
được gọi là Đệ Nhất Nghĩa Không,
chính là cần phải đừng chấp lấy tướng,
lại c̣n chẳng đoạn diệt, th́ mới xứng với Đệ
Nhất Nghĩa! Đấy là điều khẩn yếu
trong học Bát Nhă. Như Lai dùng Pháp Thân để thị hiện
huyễn tướng như
cơm áo của phàm phu, chính là v́ muốn
cho phàm phu ai nấy sẽ từ nơi huyễn tướng
mà thấu hiểu, nhận thức “Pháp Thân vốn sẵn có”. Chỉ đừng đuổi theo vọng, cần
ǵ phải hư vọng cầu Chân bên ngoài!
Nếu chấp chân, sẽ chính
là từ trong chân mà
khởi vọng. “Ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên không trụ vào đâu mà sanh cái
tâm), “ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên sanh tâm không
trụ vào đâu), “phàm phu chẳng phải là phàm phu, chúng
sanh chẳng phải là chúng sanh” v.v… trong kinh không ǵ chẳng
nhằm nói rơ các nghĩa “chẳng chấp lấy, chẳng
đoạn, chẳng chính là, chẳng rời”. Vậy
th́ phần Phát Khởi của kinh này có thể nói là thiết
yếu tột bậc!
7)
Như Lai thị hiện khất thực; khất thực
xong, liền trở về chỗ ḿnh. Bọn phàm phu chúng ta
chỉ biết bận bịu kiếm cơm, quanh năm suốt
tháng, hướng ra ngoài rong ruổi truy cầu, trọn chẳng
biết quay lại chiếu soi bản tánh. Như Lai c̣n thị
hiện ăn xong liền thu dọn hết thảy, nhiếp
tĩnh nhập Quán. Lũ phàm phu chúng ta ăn no rửng mỡ,
chộn rộn chẳng thôi, chưa từng tĩnh
được giây lát, c̣n có thể tu Quán nữa chăng? Cần
phải biết: Bát Nhă huệ lực sanh
từ nội chiếu, nhưng để
nội chiếu, ắt phải nhiếp tĩnh trước
đă! Nay dùng các câu này để phát khởi, chính nhằm
chỉ dạy chúng ta đối với hết thảy
duyên đời, hễ duyên đưa đến th́ ứng
phó, xong việc liền thâu thập, ném qua một bên, lại
liền phản quán tĩnh chiếu, xoay lưng với trần
lao, hợp với giác, th́ mới kham phát khởi đại
trí Bát Nhă vốn sẵn có! Hăy chú ư nhé!
8) Ư
chỉ trọng yếu của cả bộ kinh Kim Cang chỉ
là “hàng phục như thế nào? Trụ như thế
nào?”, nói dễ dàng lắm thay! Pháp sư Đạt Thiên
bảo: “Hễ có một thứ để trụ, giác
tâm liền mất. Vừa mới thực hiện hàng phục,
vọng tâm càng hừng hực”. Do vậy, cần phải
chẳng hàng phục mà hàng phục, chẳng trụ mà trụ,
thực hiện bằng cách nào đây? Nay quán đức Thế
Tôn đắp y, dùng cơm, đi trên đường phố,
rửa chân, trải tọa cụ, lụn vụn, lặt vặt,
hoàn toàn chẳng phải chỉ là một lúc như thế.
Độ sanh suốt bốn mươi chín năm, liền
suốt cả bốn mươi chín năm đều
như thế. Do thân kim cang chẳng cần ăn uống,
chẳng cần rửa chân, chẳng cần học Định,
nhưng v́ chúng sanh, mà hằng ngày thực hiện, làm chuyện
không cần phải làm, đúng là b́nh đẳng như
như. Cảnh tượng nơi bổn địa trong
đoạn này chính là gương mẫu lớn lao để
[chúng sanh noi theo mà] hàng phục và an trụ cái tâm. Lũ chúng
ta ắt phải nên tu học như thế. Phàm khi gặp
cảnh duyên đưa tới, đều cần phải
đúng như lời dạy mà hành, tuy hành mà chẳng có chuyện
để hành, sẽ là chẳng hàng phục mà hàng phục,
chẳng trụ mà trụ. Như thế th́ sẽ có thể
khế nhập ư chỉ Bát Nhă sâu xa vậy thay!
9)
Trên đây tuy đă nói “chẳng hàng phục mà hàng phục,
chẳng trụ mà trụ”, sợ vẫn chưa trọn
hết, xin lại nói thêm. Đức Thế Tôn vốn khác
xa loài người, v́ sao lại thị hiện cách hành xử
của phàm phu, trọn chẳng khác mọi người? Hăy
nên biết: Do v́ trọn chẳng khác mọi người,
cho nên Ngài khác biệt loài người vời vợi! Lũ
chúng ta hăy nên thấu hiểu từ điểm này, lại
c̣n từ nơi bản thân mà thấu hiểu. V́ sao vậy?
Tuy là phàm phu, nhưng vốn sẵn có Phật tánh Như
Như, v́ sao? Do chẳng giữ lấy tướng. Bọn
chúng ta học Bát Nhă, cũng hăy nên dụng công nơi “chẳng
chấp lấy tướng!” “Chẳng chấp lấy”
tức là chẳng ĺa hết thảy tướng, nhưng
chẳng chấp. Nếu lệch về phía coi vô tướng
là chẳng chấp, tức là lại chấp lấy phi pháp
tướng, trở thành đoạn diệt mất rồi!
V́ thế, kinh dạy: “Nhược kiến chư tướng
phi tướng, tức kiến Như Lai” (nếu thấy
các tướng chẳng phải là tướng, tức là
thấy Như Lai). “Các tướng chẳng phải
tướng” nghĩa là tuy có các
tướng mà chẳng chấp vậy! Lại nói: “Bất
thủ ư tướng, như như bất động”
(chẳng giữ lấy tướng, như như bất
động). V́ chẳng lấy, cho nên
được thấy hết thảy
các pháp tướng và phi pháp tướng. “Chẳng giữ
lấy” chính là chẳng hàng phục mà hàng phục, chẳng
trụ mà trụ vậy. Đầu kinh này dùng “chẳng
giữ lấy tướng” để phát khởi, ư chỉ
sâu xa lắm thay!
10)
Gộp chung những điều đă nói trên đây, có thể
thấy phần
Phát Khởi Tự hoàn toàn hiển lộ Đệ Nhất
Nghĩa Không. Quư vị thấy Như Lai thị hiện giống
như phàm phu là lợi tha, là chẳng
có ngă tướng. Diệu pháp Bát Nhă tùy
ư tự tại lưu xuất từ các sự tướng
vụn vặt, tức là chẳng có pháp tướng. Chẳng
cần ăn mà đi khất thực, cho đến thị
hiện rửa chân, trải tọa cụ v.v…, dùng cách dạy vô
ngôn để hộ niệm, phó chúc hết thảy người
phát đại tâm, cũng là không có phi pháp tướng. Hiểu
được như thế, lư trí Chân
Không sẽ rành rành nơi
tâm mục. Phát khởi tinh vi không chi hơn được
lẽ này!
Các
vị cần biết: Sở dĩ tôi đối với phần
Phát Khởi Tự nói đi, nói lại, chẳng dám ngại
phiền, chẳng v́ lẽ nào khác! Muốn cho các vị thiện
tri thức biết phát khởi ḷng tin như thế nào,
cũng như hiểu rơ lư trí Tam Không, đối với mỗi
sự đều có thể thấy, khéo hướng về
lúc mặc áo, ăn cơm, đi,
đứng, động tĩnh, luôn tùy thời
quán chiếu như thế, sẽ ngay trong khi đó mà
được thọ dụng. Sau đấy mới biết
bộ kinh Kim Cang này chính là phương thuốc hay để
trừ khổ ách, là đường tắt để nhập
Phật trí. Hăy tôn trọng nhé!
2.2. Phần Chánh Tông
Chia thành hai phần:
1) Bậc
đương cơ tán thán, thỉnh pháp.
2)
Như Lai tán thán, hứa khả.
2.2.1. Bậc
đương cơ tán thán, thỉnh cầu
Lại chia thành hai
phần:
1) Lễ
bái, tán thán.
2)
Thỉnh pháp.
2.2.1.1. Lễ bái, tán
thán
2.2.1.1.1. Trọn đủ oai nghi
(Kinh)
Thời trưởng lăo Tu Bồ Đề, tại đại
chúng trung, tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu
kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng
cung kính, nhi bạch Phật ngôn.
(經)時長老須菩提,在大眾中,即從座起。偏袒右肩。右膝著地。合掌恭敬而白佛言:
(Kinh:
Khi ấy, trưởng lăo Tu Bồ Đề, ở trong
đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, trật áo vai hữu, gối phải đặt sát
đất, chắp tay cung kính, mà bạch với đức
Phật rằng).
(Bổ)[19]
“Thời” chính là lúc đức Thế Tôn khất thực
xong, trở về Kỳ Viên. Chữ Thời này đáng chú
ư nhất. Lời tán thán “hy hữu” trong phần sau nhằm
tiếp nối đoạn văn “đắp y, cầm
bát” trên đây mà có. Người kết tập kinh đặt
một chữ Thời, chứa đựng nỗi cảm
khái vô cùng trong ấy. Đức Thế Tôn đắp y, cầm
bát, khất thực hằng ngày như thế, đại
chúng thấy mà như không thấy. Lần này, do cơ duyên
chín muồi, bèn được ngài Tu Bồ Đề vừa
nh́n bèn thấy rơ. Đại pháp Bát Nhă đức Thế
Tôn chẳng thường nói. Dẫu nói, ắt cũng phải
đợi cơ duyên chín muồi mới được.
Đây thật đúng là hiếm có, khó gặp, đáng gọi
là “ngàn năm một thuở” vậy!
“Trưởng
lăo” (Sthavira) là
từ ngữ để xưng hô bậc tuổi tác và
đức hạnh đều đáng tôn trọng. Bản dịch
đời Đường ghi là Cụ Thọ (具壽), chỉ nêu rơ [ư
nghĩa] tuổi già. Bản dịch đời Ngụy ghi là “huệ mạng”
chỉ tỏ rơ đức dày. Ngài La Thập thuận theo
văn nghĩa của phương này dịch
“trưởng lăo” đă chứa đủ cả hai
nghĩa.
Tu
Bồ Đề (Subhūti) c̣n dịch
là Không Sanh (空生), hoặc
dịch là Thiện Hiện (善現), hay
Thiện Cát (善吉). Gia đ́nh Ngài giàu có lắm của; khi Ngài sanh ra, kho tàng, vàng, bạc trong nhà đều trống
rỗng; do vậy đặt tên là Không Sanh. Ngài sanh được bảy ngày, của cải
trong nhà lại hiện ra. V́ thế gọi là Thiện Hiện.
Thầy xem tướng lại đoán rằng:
“Đứa trẻ này thiện cát (tốt lành, cát tường),
chẳng cần phải lo ngại”. V́ thế, đặt
tên là Thiện Cát. Mới sanh ra, kho
tàng trống rỗng nhằm biểu thị, hiển lộ
lư Không. Sau đó, của cải lại hiện, biểu thị,
hiển lộ “Không chẳng phải là Thiên Không”. Tây Vực
Kư ghi chép: “Ngài Tu Bồ Đề vốn là Thanh Long Đà
Phật ở phương Đông, hiện bóng trong hội
của Phật Thích Ca, thị hiện với h́nh tích là A La
Hán, phụ trợ Thích Ca Mâu Ni Phật thực hiện sự
giáo hóa. Trong Phật môn, Ngài giải Không (hiểu lư Không) bậc
nhất”. Không mà chẳng Không mới là Chân
Không, mới là Đệ Nhất Nghĩa Không. Các vị
đệ tử đều chẳng lănh hội [nghĩa
Không] sâu đậm nhất như ngài Tu Bồ Đề.
Do vậy, trong hội Bát Nhă, ắt lấy ngài Tu Bồ
Đề làm bậc đương cơ, thay mặt đại
chúng thưa hỏi.
Ngài
Tu Bồ Đề v́ đại chúng khải thỉnh,
[điều này] chứa đựng bốn nghĩa trọng
yếu:
1)
Đại chúng thông thường hằng ngày thấy đức
Thế Tôn đắp y, cầm bát, giống hệt như
các vị tỳ-kheo khất thực b́nh thường, đều
mờ mịt, chẳng biết dụng ư ở chỗ nào.
V́ thế, ắt phải cậy bậc thị hiện dấu
tích Thanh Văn là ngài Tu Bồ Đề v́ họ khải thỉnh.
2)
Nay đă tới hội thứ chín, đức Thế Tôn
trong lúc đắp y, dùng cơm b́nh thường, đă khéo
hộ niệm, khéo phó chúc đại pháp Bát Nhă, giăi bày trọn
hết lư Đệ Nhất Nghĩa Không sâu nhất. Đại
chúng đương nhiên chẳng thể hiểu rơ, chẳng
do ngài Tu Bồ Đề th́ cũng không ai có thể v́ họ
khải thỉnh.
3)
Trưởng lăo trong Phật môn không phải chỉ có ḿnh
ngài Tu Bồ Đề, nhưng giải Không th́ chẳng ai
bằng ngài Tu Bồ Đề. V́ thế, bậc
đương cơ thỉnh pháp, chẳng phải ngài Tu Bồ
Đề th́ chẳng có ai!
4)
Trong hội c̣n
có các Bồ Tát Ma Ha Tát, sao không khải thỉnh, mà lại
nhường cho ngài Tu Bồ Đề một ḿnh thỉnh
vấn? Đó là v́ đức Phật nói Bát Nhă chính v́ bậc
A La Hán, kiêm v́ Bồ Tát. Nếu Bồ Tát khải thỉnh,
A La Hán chắc sẽ ngờ vực đấy là pháp Bồ
Tát, chẳng liên quan ǵ đến
chúng ta! Nay để cho ngài Tu Bồ Đề khải thỉnh,
sẽ ngừa được nỗi nghi ấy.
Ngài
Tu Bồ Đề khải thỉnh, hoàn toàn v́ đại
chúng mà làm, nên [kinh văn trong] phần sau
vừa mở miệng liền nói “thiện
nam tử, thiện nữ nhân”. V́ thế, trong từ ngữ
“đại chúng” chứa đựng đủ loại
ư nghĩa trong đó.
“Tức”
(即) là “liền”,
cũng có ư nghĩa “khẩn cấp’. Đức Thế Tôn
trải tọa cụ để ngồi, đại chúng
cũng thế. V́ thế, ngài Tu Bồ Đề liền từ
chỗ ngồi đứng lên. Nói theo h́nh tích là như thế,
chứ nếu nói theo cái gốc, ngài Tu Bồ Đề
đă sớm thành Phật, đức Thế Tôn đă nói
Bát Nhă tám hội, v́ lẽ ǵ phải đợi tới hội
thứ chín khi đức Phật nói Kim Cang Bát Nhă th́ mới
từ chỗ ngồi mà đứng dậy? Có thể thấy:
Mọi chuyện ắt cần phải có “nhân,
duyên, thời, tiết” bốn thứ
đều trọn vẹn th́ mới có thể khéo phù hợp.
Khi đức Thế Tôn nói Bát Nhă là Thời, nói Kim Cang Bát
Nhă là Tiết, có đủ loại nhân, có đủ loại
duyên; tới đây,
nhân duyên đă trọn đủ, ngài Tu Bồ Đề bèn
làm bậc đương cơ thưa hỏi đại
pháp này.
Ca-sa
được đắp che vai trái; v́ thế, vai phải
có thể để hở ra. Theo chế định của
đức Phật, lúc b́nh thường, ca sa chẳng để
lộ vai, khi ắt phải cung kính th́ mới để lộ
một bên vai. Phàm người làm việc, ắt cần
dùng tay phải, đi th́ chân phải bước trước;
đấy là biểu thị ư nghĩa “hễ
có chuyện th́
đệ tử phục vụ”. Kinh này
chú trọng tại gánh vác Bồ Đề, đệ tử
đúng là phải nên ghé vai gánh vác trách nhiệm ấy. Khi lễ
bái th́ hai gối đặt sát đất. Như sám hối
th́ quỳ gối phải, [chân kia đặt vuông góc với
mặt đất], cổ nhân gọi đó là “hồ quỳ” (胡跪).
“Trước
địa” (chấm đất, đặt sát đất):
Chân dẫm lên Thật Địa, theo ư nghĩa biểu thị
pháp th́ là Thật Tế lư địa, tức Thật Tướng,
khiến cho mọi người chứng đắc bản
tánh. “Hiệp chưởng” (chắp tay): Hai tay hợp
lại, chẳng cầm
vật bên ngoài. Hai tay chúng ta Đông
buông, Tây bắt, toàn là trần cấu. Nay hợp lại, tức
là xoay lưng với trần lao, hợp cùng giác ngộ. Từ
“hở
vai”
cho tới “chắp
tay”
là thân nghiệp thanh tịnh. Vẻ ngoài đoan trang, nghiêm
túc là Cung, trong tâm kiền thành là Kính, tức ư nghiệp thanh
tịnh. “Nhi bạch Phật ngôn” (mà bạch với
đức Phật rằng): “Bạch” là thổ lộ, thổ
lộ ư nghĩ của chính ḿnh. Đó là ngữ nghiệp
thanh tịnh. Trên đây đều là các từ ngữ của
người kết tập kinh.
2.2.1.1.2. Tán thán
(Kinh) Hy hữu Thế
Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện
phó chúc chư Bồ Tát.
(經)希有,世尊!如來善護念諸菩薩,善付囑諸菩薩。
(Kinh: Hy hữu
Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm các Bồ Tát, khéo phó
chúc các Bồ Tát).
(Bổ) Thông
thường nói “hy hữu” th́ quy nạp lại, có bốn
nghĩa:
1) Thời hy hữu: Như
Lai xuất thế, trải bao kiếp lâu xa khó gặp.
2) Xứ hy hữu: Trong tam
thiên đại thiên thế giới, chỉ có một vị
Phật.
3) Đức hy hữu: Phước
huệ thù thắng chẳng thể sánh bằng.
4) Sự
hy hữu: Phương tiện từ bi có tác dụng thiện
xảo nhất.
Bốn
điều trên đây đều là nói thông thường.
Nay nói “hy hữu” chính là nói đến Bát Nhă Ba La Mật.
Thế Tôn là danh hiệu chung, khi xưng hô bèn dùng. Gọi là
Phật nhằm biểu thị quả đức, gọi
Như Lai nhằm biểu thị tánh đức. Từ những
việc như đức Phật đắp y, dùng cơm
v.v… ngài Tu Bồ Đề trông thấy “các tướng
phi tướng, chính là thấy Như Lai”. V́ thế, vừa
mở miệng liền gọi Như Lai. Lăo nhân gia dùng Pháp
Thân Như Lai để
thị hiện thành phàm phu, chính là qua đó, biểu thị
“chẳng trụ vào hết thảy các tướng”.
V́ sao Pháp Thân Như Lai lại thị hiện giống
như phàm phu? Chính là chẳng xả chúng sanh; đó tức
là hộ niệm. Chẳng xả chúng sanh chính là đại
bi, c̣n dùng Pháp Thân Như Lai để thị hiện, tức
là đại trí. Ḷng đại bi ấy sanh từ đại
trí, tức là Có mà chẳng có. Có mà chẳng có th́ mới là
Diệu Hữu, mới là Diệu Hữu chẳng trở
ngại Chân Không. Dùng Diệu Hữu chẳng trở ngại
Chân Không để hộ niệm, há chẳng phải là “khéo”
ư? Thể hiện h́nh tích giống hệt phàm phu, chính là
để biểu thị Pháp Thân Như Lai chẳng trụ
trong hết thảy các tướng. Nghĩa lư tinh diệu
của Kim Cang Bát Nhă hoàn toàn bộc lộ, đấy chính
là dùng lời dạy vô ngôn để phó chúc. Lời dạy
vô ngôn chính là đại trí. Đại trí ấy sanh từ
đại bi, là Không mà chẳng Không. “Không mà chẳng
Không” mới là Chân Không, mới
là Chân Không chẳng trở ngại Diệu Hữu.
Dùng Chân Không chẳng trở ngại Diệu Hữu để
phó chúc, không điều hay nào có thể hay khéo hơn
được! Bất luận hộ niệm hay phó chúc,
không ǵ chẳng cùng tỏ lộ Không và Hữu. Cả bản
kinh nêu tỏ lư tinh vi Chân Không Diệu Hữu chỗ nào
cũng đều có thể trông thấy. Hiểu rơ điều
này, sẽ thông suốt lớp lang. Lời tán thán “hy hữu”,
do vậy mang ư nghĩa “bao kiếp lâu xa khó gặp gỡ”,
mà cũng hàm ư “khó thể lănh hội” trong ấy.
Trong
kinh
văn thuộc phần sau, [có nói] “ngă
tùng tích lai sở đắc huệ nhăn, vị tằng
đắc văn như thị chi kinh”
(con từ lúc xưa kia đă đạt
được huệ nhăn, nhưng chưa
từng được nghe kinh như thế) và “ngă kim
đắc văn như thị kinh điển, tín giải,
thọ tŕ, bất túc vi nan. Nhược đương lai
thế, hậu ngũ bách tuế, kỳ hữu chúng sanh,
đắc văn thị kinh, tín giải, thọ tŕ, thị
nhân tắc vi đệ nhất hy hữu” (con nay
được nghe kinh điển như thế, tin hiểu,
thọ tŕ, chẳng có ǵ khó khăn. Nhưng trong đời
tương lai, năm trăm năm sau, có chúng sanh nào
được nghe kinh này mà tin hiểu, thọ tŕ, người
ấy chính là hiếm có bậc nhất). Nh́n vào những lời
ấy, đều có thể chứng minh “chẳng dễ ǵ
tin hiểu!” Ư của ngài Tu Bồ Đề là con từ
xưa cho tới hiện thời, mới thấy được
sự hộ niệm và phó chúc của Như Lai. Dẫu
đại chúng chẳng thể lănh hội, đức Thế
Tôn luôn thị hiện như thế, càng hiếm có hơn!
Do vậy đối với sự hộ niệm và phó chúc ấy,
đều nói là “thiện”. Hộ niệm thuộc về
tâm, phó chúc thuộc về miệng. Nếu đợi khởi
tâm hộ niệm th́ lúc khởi tâm mới hộ niệm,
khi chẳng khởi tâm sẽ không hộ niệm. Nếu
đợi thốt lời phó chúc, th́ khi thốt lời mới
phó chúc, khi chẳng nói ra lời sẽ chẳng phó chúc,
đều chẳng thể gọi là Thiện được!
Nay
do đức Như Lai vào thành, trở lại Kỳ Viên,
như như bất động, ngầm chỉ bày “trụ
tâm”, dùng thân làm gương,
đúng là gia hộ, ức niệm. Lại c̣n ăn xong, ngồi
yên, chẳng sanh một niệm, ngầm chỉ bày sự
hàng phục cái tâm, khiến cho mọi chúng phỏng theo.
Đúng là ra rả răn bảo. Trong động hay tĩnh, dùng thân
để dạy, chẳng dạy bằng lời. Bất
cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, không ǵ chẳng nhằm
nêu khuôn phép cho hàng Bồ Tát. Đấy thật sự là Thiện.
Ngài Tu Bồ Đề thốt lời tán thán “hy hữu”
thật đúng lắm thay!
2.2.1.2. Thỉnh pháp
(Kinh)
Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, ưng vân hà trụ?
Vân hà hàng phục kỳ tâm?
(經)世尊!善男子、善女人,發阿耨多羅三藐三菩提心,應云何住?云何降伏其心?
(Kinh:
Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện
nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
tâm, hăy
nên như thế nào trụ? Hàng phục
cái tâm như thế nào?)
(Bổ)
Bản kinh Kim Cang lưu hành thường ghi là “vân hà
ưng trụ” (nên trụ như thế nào), nay dựa
theo bản chép kinh của người đời Đường,
ghi thành “ưng vân hà trụ” (nên như thế nào trụ).
“Chư
Bồ Tát” trong câu trên (tức câu “thiện hộ niệm
chư Bồ Tát…”) là nói về các vị thiện nam tử,
thiện nữ nhân này. Do họ phát tâm vô thượng, liền
có tư cách thành Phật, đáng gọi là Bồ Tát. “Thiện”
là thiện căn. Phát tâm vô thượng, mà nếu chẳng
có đại thiện căn, sẽ chẳng thể! Ai nấy
đều có thiện căn. Nếu chẳng có thiện
căn, sẽ không thể sanh làm loài người, mà cũng
chẳng thể nghe đại pháp này. Nhưng nếu chẳng
phát tâm, tức
là luống uổng thiện căn ấy,
há chẳng phải là cô phụ ư? Trong kinh, đức Phật
thường quở trách nữ nhân, lại thường
nói “nữ nhân chướng nặng, chẳng thể thành Phật,
ắt trước hết phải chuyển thành thân nam th́
mới được!” Có kẻ ngờ vực sự b́nh
đẳng trong Phật pháp: “Nếu nữ nhân ắt phải
chuyển thành thân nam trước th́ là bất b́nh đẳng”.
Đấy là v́ chẳng hiểu Phật lư, nên phê b́nh Phật
pháp như trên, hết sức chẳng
nên! Nói tóm gọn, nữ nhân đích xác là chướng nặng.
Một là có chướng ngại phải sanh nở. Hai là
thường lầm tưởng ái là từ bi. Từ bi là
b́nh đẳng, trọn chẳng có thân sơ, nồng hậu,
hay lợt lạt. Ái là con sông sanh tử, hễ lầm lẫn
liền đọa nhập luân hồi. Trong cái nh́n của
đức Phật, chẳng có tướng nam hay nữ. Sở
dĩ nói “nữ nhân chướng nặng” là muốn họ
đặc biệt chú ư, chẳng cần phải hứng chịu
chướng ngại ấy. Chỉ cần phát đại
tâm, sẽ thành Phật giống hệt như nhau! Ở
đây, do vậy, ngài Tu Bồ Đề hỏi cả hai
đằng.
“Phát”
là sanh, là khởi lên. Tức là phát khởi cái tâm “trên cầu
Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, mong chứng cái quả vô thượng”.
Chữ Phát xuyên suốt các đoạn kinh văn trên và
dưới, nghĩa thông chủ thể và khách thể.
Đoạn văn trên là thiện nam tử, thiện nữ
nhân có thể phát [cái tâm ấy. Đó là
“chủ thể”], đoạn văn dưới nói là cái tâm
A Nậu Bồ Đề sẽ được phát, [đó
là “khách thể”].
A
Nậu Đa La (Anuttarā) trong
tiếng Phạn được phương này dịch là
Vô Thượng. Tam Miệu (Samyak) được
phương này dịch là Chánh Đẳng. Tam Bồ Đề
(Saṃbodhi) được dịch là Chánh Giác. Nói gộp lại
là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chánh Giác [nhằm
chỉ rơ] khác với ngoại đạo, phàm phu bất
chánh. Do phàm phu có Ngă, chẳng thể tự giác. Ngoại
đạo có giác, nhưng thuộc loại tà vạy, lệch
lạc, chẳng phải là Chánh Giác. Chánh Đẳng là nhằm
chỉ rơ khác với Nhị Thừa chẳng b́nh đẳng.
A La Hán đều đắc Chánh Giác, nhưng sợ sanh tử
như tù ngục, gấp rút tự độ, thiếu khuyết
tâm từ bi. Chẳng thể tu thiện, độ sanh, do
chẳng có tâm b́nh đẳng. Tam Miệu chính là nói về bậc
Bồ Tát. Chánh Đẳng là đối với tự giác
và giác tha (giác ngộ người khác), Ngài đều cân bằng.
Vô Thượng là khác với hàng Bồ Tát c̣n có bậc cao
hơn! Bồ Tát tuy là Chánh Đẳng, nhưng vẫn chẳng
bằng Phật là bậc giác
hạnh viên măn. Vô Thượng chính là nói về Phật.
Cái
tâm do các thiện nam tử, thiện nữ nhân đă phát
chính là tâm Vô Thượng Giác của Phật. Tâm là cái Thể
linh minh giác chiếu, nơi tác dụng th́ là phân định
chân, vọng, nhiễm, tịnh. Nay nương vào Bồ
Đề để phát, sẽ thấy rơ là chân, là tịnh,
chẳng phải là vọng nhiễm. Đại Luận
(Đại Trí Độ Luận) nói: “Từ nhân tới
quả, có năm loại Bồ Đề. Một là phát tâm
Bồ Đề, tức địa vị Thập Tín. Hai
là phục tâm Bồ Đề, tức địa vị Tam
Hiền. Ba là minh tâm Bồ Đề, tức là từ
Sơ Địa cho tới Thất Địa. Bốn là xuất
đáo Bồ Đề, tức là từ Bát Địa cho
đến Thập Địa. Năm là vô thượng Bồ
Đề, tức quả vị Như Lai”. Nay xét theo
phương diện có thể phát tâm (năng phát tâm), th́ phải
là loại thứ nhất. Xét theo phương diện cái
tâm được phát (sở phát tâm), phải là loại thứ
năm. Năng và Sở gộp chung để luận, sẽ
là xuyên suốt từ trước tới sau. V́ thế biết:
Vô Thượng thuộc về quả, c̣n Chánh Đẳng
Chánh Giác thuộc về nhân. Cái tâm được phát bao gồm
cả nhân lẫn quả.
“Ưng”
là “phải nên”. Chữ này thông cả hai câu sau đó. “Trụ”
là ở lại một chỗ. “Hàng phục” là khắc
chế, thâu nhiếp ǵn giữ. Chữ Tâm trong “kỳ
tâm” nhằm nói tới vọng nhiễm.
Lời
hỏi gồm ba ư:
1)
Phàm là Bồ Tát, cần phải phát Bồ Đề tâm. V́
thế,
trước hết hỏi về phát tâm.
2)
Thoạt đầu phát cái tâm ấy, chẳng thể
như Phật tùy duyên an trụ. V́ thế, kế đó hỏi
về chuyện trụ tâm. Ngụ ư cầu Phật chỉ
dạy phương pháp ḥng có thể khiến cho cái tâm ấy
tương ứng mà trụ.
3) Lại
do vọng tâm nhiều lượt dấy lên, chẳng thể
tự nhiên hàng phục giống như Phật được.
V́ thế, kế đó hỏi cách hàng phục. Ngụ ư cầu
đức Phật chỉ dạy phương pháp, ḥng có thể
khiến cho vọng tâm tự nhiên bị hàng phục.
Phát
tâm là điều đầu tiên, nhưng ắt phải phát
đại tâm th́ mới có thể tu đại hạnh,
đắc đại quả. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Vong thất
Bồ Đề tâm, tu chư thiện quả, ma sở nhiếp
tŕ cố” (Quên mất tâm Bồ Đề, tu các thiện
quả, sẽ bị ma nhiếp tŕ). Thiện nam, thiện
nữ khi sơ phát tâm, hăy nên lấy chuyện thành Phật
làm điều mong mỏi của chính ḿnh, tức là phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm. “Vô thượng”
chính là điều mong cầu. Muốn cầu vô thượng,
ắt phải tu phước, độ sanh. V́ thế, kế
đó nói Chánh Đẳng. Muốn độ chúng sanh, phải
nên tự độ trước đă.
V́ thế, kế đó nói Chánh Giác. Nói
ngược lại, tức là tự giác, giác tha, giác hạnh
viên măn. Luận nói: “Sơ phát tâm và rốt ráo chẳng
hai, chẳng khác. Trong hai tâm như thế, tâm trước
là khó”. Phát tâm Bồ Đề, đạt tới Vô
Thượng Bồ Đề, tức là nhất tâm, chẳng
phải là nhị tâm. Nhưng sơ phát tâm th́ khó khăn; v́
vậy, ngài Tu Bồ Đề hỏi trước về
chuyện phát tâm. Trụ và hàng phục là chuyện sau
đó. Cũng có người
trước đó từng phát tâm, về
sau quên mất. Đấy là do chẳng biết an trụ
nơi chân tâm như thế nào, đến nỗi chẳng
thể hàng phục vọng tâm. V́ thế, Thiện Tài đồng
tử mỗi lần gặp thiện hữu, đều khải
thỉnh rằng: “Ngă dĩ tiên phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tâm, nhi vị tri vân hà học Bồ Tát
hạnh, tu Bồ Tát đạo?”
(Con trước đây đă phát tâm Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, nhưng chưa biết học Bồ
Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo như thế nào?) Do vậy
biết: Người phát đại tâm, ắt tu đại
hạnh. Trụ và hàng phục chính là chỗ thiết thực
để dụng công trong tu hành. V́ thế, kế đó hỏi
về trụ và hàng phục. Nhưng hai lời hỏi ấy,
thật sự bổ trợ cho nhau. Dùng giác tâm để trụ
th́ vọng tâm chẳng cần hàng phục mà tự hàng phục.
Vọng tâm đă bị hàng phục, giác tâm sẽ chẳng
trụ mà trụ.
2.2.2. Như Lai tán thán,
hứa khả
2.2.2.1. Tán thán, ấn chứng
(Kinh) Phật ngôn: - Thiện tai,
thiện tai. Tu Bồ Đề! Như nhữ sở thuyết,
Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ Tát, thiện
phó chúc chư Bồ Tát.
(經)佛言:善哉善哉。須菩提,如汝所說,如來善護念諸菩薩,善付囑諸菩薩。
(Kinh:
Đức Phật nói: - Lành thay, lành thay! Tu Bồ Đề!
Đúng như lời ông nói, Như Lai
khéo hộ niệm các Bồ Tát, khéo phó chúc các Bồ Tát).
(Bổ)
Ở đây, người kết tập kinh đặt chữ
Phật là có thâm ư. Phật là quả giác rốt ráo. Đoạn
văn trong phần trước nói về người phát
tâm, tức là tu nhân. Muốn biết đường dưới
núi, phải hỏi người từng trải. Đặt
chữ Phật ở đây, [ngụ ư]: Nhân như thế nào th́
quả như thế ấy.
Ngược lại, quả như thế nào th́
cái nhân là như thế đó. “Thiện tai! Thiện
tai!” (lành thay, lành thay) là tán thán. “Như nhữ sở
thuyết’ (đúng như ông nói) là ấn chứng. Câu “thiện
tai” thứ nhất nhằm ca ngợi Tu Bồ Đề
khéo khế hợp bản tâm của Như Lai. Mấy chục
năm [đức
Phật] thị hiện trần lao, thầm lặng
hộ niệm, phó chúc, trọn chẳng nói năng, nay riêng ḿnh Tu Bồ Đề có thể thấy rơ, cho nên tán thán. Câu “thiện
tai” thứ hai là tán thán Ngài đă thay đại chúng khải
thỉnh. Nỗi khổ tâm của đức Phật
tức là muốn cho thiện nam, thiện nữ phát tâm học,
nhưng chẳng người nào có thể thỉnh. Nay riêng
ḿnh ngài Tu Bồ Đề có thể thưa hỏi, hoàn thành bổn nguyện
của Như Lai. V́ thế, đức Phật lại tán
thán. Kẻ khác chẳng thể hỏi, riêng ông có thể hỏi,
cho nên câu “thiện tai” thứ nhất chính là tán thán
đại trí của Ngài (Tu Bồ Đề).
Hỏi pháp chẳng v́ chính ḿnh, mà v́ đại chúng, cho nên
câu “thiện tai” thứ hai là tán thán ḷng đại bi của
Ngài. Ông có thể thật sự thấy ta chẳng trụ
trong Phật tướng, mà hộ niệm, phó chúc, nên nói “như
nhữ sở thuyết” (đúng như ông đă nói). Bởi
lẽ, hộ niệm và phó chúc như thế, đại
chúng chẳng hiểu, chỉ có ḿnh Tu Bồ Đề có thể
chỉ ra; do vậy, [đức Phật] ấn khả lời tôn giả nói. Hai câu Như Lai vốn là lời ngài Tu Bồ
Đề tán thán đức Phật. Nay đức Phật
cực lực thừa nhận, tức là Như Lai hộ
niệm và phó chúc đúng như ông đă nói, chẳng sai tí
nào! Đó là v́ muốn khiến cho chúng sanh đối với
chuyện đắp y, tŕ bát, đi lại, động
tĩnh của Như Lai, sẽ lănh hội ư nghĩa hộ
niệm và phó chúc.
2.2.2.2. Hứa sẽ giảng
nói
Chia thành hai phần:
1)
Chỉ dạy chung.
2)
Nói cặn kẽ.
2.2.2.2.1. Chỉ dạy
chung
2.2.2.2.1.1.
Răn hăy lắng nghe, nêu ra điều cốt lơi
(Kinh)
Nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết.
Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, ưng như thị trụ,
như thị hàng phục kỳ tâm.
(經)汝今諦聽,當為汝說。善男子、善女人,發阿耨多羅三藐三菩提心,應如是住,如是降伏其心。
(Kinh:
Nay ông hăy lắng nghe, ta sẽ v́ ông mà nói. Thiện nam tử,
thiện nữ nhân phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, hăy nên trụ như thế, hàng phục cái tâm
như thế).
(Bổ)
Tu Bồ Đề há lẽ nào chẳng hề lắng nghe?
Đức Phật răn dạy là v́ đại chúng, và bọn
chúng sanh chúng ta trong hiện thời! “Đế” (諦) là chân thật, chánh
xác. Một là chớ nên kiêu căng, hai là chớ nên thấp
hèn! Nếu phạm hai bệnh ấy, sẽ chẳng thể
“lắng nghe”; dẫu nghe cũng chẳng thể chánh xác! Có
người hơi nghiên cứu, t́m ṭi kinh luận, liền
ngỡ chính ḿnh đă thông hiểu Phật học. Đó là
phạm phải căn bệnh kiêu căng! Có người
đề cao thánh cảnh, cho rằng đại pháp như
thế, chúng ta sao có thể hiểu được; đấy
là phạm vào bệnh thấp hèn. Kiêu căng là mạn, thấp
hèn cũng là ty mạn. Nghe kinh như thế, sẽ chẳng
thể chân thật, chánh xác. Do đó, người học Phật
cần phải chú trọng miễn trừ hai căn bệnh
trên đây, trống ḷng lănh nhận, nên nói là “đế
thính”.
Đă
có thể lắng nghe, há lẽ đâu chẳng nói? V́ thế
bảo “đương vị nhữ thuyết” (sẽ
v́ ông nói), hàm ư: “Nếu chẳng lắng nghe, ta sẽ chẳng
v́ ông mà nói”. Đây chính là răn nhắc chúng ta: Trong khi nghe
kinh, những tri kiến trước kia ắt cần phải
hết thảy vứt
sạch, chớ nên đặt để trong tâm. Ba câu từ
“thiện nam tử, thiện nữ nhân” trở đi,
quả thật đă nêu ra tông chỉ tu hành. Người
xưa có nói hai chữ “như thị” là nói tới ư “diệt
độ hết thảy chúng sanh” trong đoạn
văn sau đó. Nếu hiểu như vậy th́ mạch lạc
trước sau chẳng nhất quán, huống hồ kế
đó lại có câu “ưng như thị hàng phục kỳ
tâm” (hăy nên hàng phục cái tâm như thế) ư? Lại
có người bảo hai chữ Như Thị chỉ
đoạn văn đức Thế Tôn đắp y, cầm
bát cho tới trải tọa cụ mà ngồi trong phần
Tự, [hiểu như thế] tợ hồ cũng chẳng
chánh xác! Nay tôi nói hai chữ Như Thị nhất quyết
là nói tới hai câu “thiện hộ niệm, thiện phó
chúc” trong đoạn kinh văn trước
đó! Có ư nghĩa “chỉ điểm trong hiện tiền,
đương hạ tức thị”. Đoạn
văn “đắp y, cầm bát” là mạch văn xa,
c̣n hai câu “thiện hộ niệm” là mạch văn gần.
Đă biết là mạch văn gần, sẽ tự thông suốt
mạch văn xa. Dùng Pháp Thân Như Lai để
thị hiện tướng phàm phu
trong trần lao, là tướng vô ngă, vô pháp tướng, mà
cũng là vô phi pháp tướng. V́ thế, thiện nam, thiện
nữ cũng nên như ta chẳng trụ vào tướng
mà trụ.
Phàm
phu chẳng trụ nơi tướng, sẽ trụ trong
phi pháp tướng. Hễ trụ là sai mất rồi! Vọng tâm sanh diệt
chẳng thể hàng phục được! V́ thế, thiện
nam, thiện nữ hăy nên từ những chuyện đắp
y, dùng cơm của Như Lai mà thấu hiểu lư “chẳng
chấp vào Nhị Biên” để hàng phục như thế.
Đáng thương chúng sanh khổ năo, bất luận giàu
hay nghèo, suốt đời luôn bận bịu v́ cơm áo. Bất
luận làm nghề nghiệp ǵ, đều nhằm kiếm
ăn! Buổi sáng thức dậy, bươn
bả vào đô thị đi làm chính là “vào thành khất thực”.
Xét theo thời gian vào làm việc cho đến khi tan sở,
tức là “thứ đệ
khất dĩ” (theo thứ tự khất
thực xong). Khất thực cố nhiên là chuyện khẩn
yếu, nhưng phải nên xong việc liền trở về
chỗ ḿnh. Cái bệnh của phàm phu chính là v́ cơm áo, chẳng
thể nào không luôn hướng ra ngoài truy cầu. Kết quả
quên khuấy chủ nhân ông, chẳng trở về chỗ
ḿnh nữa. Do vậy, làm xong công việc, phải nhanh chóng
quay đầu, tĩnh lặng cơi ḷng, hồi quang phản
chiếu, chẳng cần làm những chuyện chẳng
liên quan! Đấy chính là học theo đức Phật trải
tọa cụ mà ngồi. Chúng ta có thể đem câu kinh, từ
ngữ trong kinh văn để áp dụng vào thân ḿnh, sẽ
tự có sự thọ dụng. Nếu có thể trong cuộc
sống tầm thường, luôn luôn phản chiếu; đó tức là hàng phục,
tức là chẳng chấp vào hai bên, tức là tương xứng
với thể tánh mà khởi tu. Ngay như niệm Phật
cũng là niệm tốt đẹp.
2.2.2.2.1.2.
Khế hợp yếu chỉ, xin chỉ dạy tường
tận
(Kinh)
Dụy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn.
(經)唯然,世尊!願樂欲聞。
(Kinh:
Thưa vâng bạch Thế Tôn! Con nguyện ưa thích muốn
nghe).
(Bổ)
“Dụy” là từ ngữ vâng dạ. Tiếng lọt
vào, tâm thông suốt, đối với lư trụ và hàng phục
như thế đă triệt để hiểu rơ. Như
Lai hộ niệm, phó chúc, người khác chẳng thể
thấy, riêng ngài Tu Bồ Đề có thể thấy
được, thay mặt đại chúng khải thỉnh
chuyện trụ tâm và hàng phục, quả nhiên được
đức Phật tán thán, hứa khả. Người kết
tập kinh sau chữ Dụy, đặt thêm một chữ
Nhiên, nhằm miêu tả t́nh cảnh ngài Tu Bồ Đề
vui sướng, thỏa thích, tự vui mừng lănh hội.
Nhưng do đại chúng chẳng thể liễu giải,
cho nên Ngài lại thưa hỏi. “Nguyện” là nguyện
vọng. “Nhạo” là yêu thích. “Dục” là mong cầu.
Nếu chỉ có tâm nguyện mà chẳng yêu thích, dẫu
nghe mà có thể là chẳng thiết tha. Lại c̣n có thể
yêu thích mà chẳng mong cầu, chắc là nghe mà chẳng sâu
đậm. Ba chữ ấy (“nguyện nhạo dục”)
mỗi tầng một cao hơn, biểu thị ḷng khát
ngưỡng của đại chúng, mà cũng
có thể v́ chúng sanh khổ năo đời Mạt Pháp biểu
thị sự khát ngưỡng. Chữ Văn (nghe) [trong câu kinh ở
đây] tương ứng với chữ Văn trong Như
Thị Ngă Văn ở đầu kinh. Nếu ngài Tu Bồ
Đề chẳng nguyện ưa thích mong được
nghe, sao ngài A Nan có thể nghe cho được?
“Nghe”
có ba loại:
- Một
là nghe lời
nói, nhĩ căn sanh khởi thức,
chỉ nghe được lời nói.
-
Hai là nghe nghĩa, ư thức đặt nơi ngôn từ,
thâu thập ư nghĩa.
- Ba
là nghe ư, tâm thần ngưng
lặng, t́m ṭi, nhận biết ư nghĩa.
Nay
nghe nói đạo “trụ tâm, hàng phục” như thế,
ắt sẽ thấu hiểu ư, quên nghĩa, bỏ lời,
có
thể biết là tiêu quy tự tánh! Ai
nấy đều sẵn có tánh như như bất động,
nhưng do vô minh gây chướng,
đến nỗi vọng tâm sanh diệt chẳng ngừng.
V́ thế, người học hăy nên dụng công nơi chữ Văn
(nghe), xoay tánh Nghe trở lại nghe nơi
tự tánh, luôn luôn chiếu, luôn luôn nghe, sẽ biết “tâm,
Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Do vậy,
đối với chữ
Văn này, nếu thực hiện công phu “phản
văn”, sẽ có thể tiêu quy tự tánh.
2.2.2.2.2. Nói
cặn kẽ
Chia thành hai phần:
- Một,
dựa theo cảnh để giảng vô trụ nhằm tỏ
rơ chánh trí Bát Nhă.
-
Hai, dựa theo tâm để giảng vô trụ nhằm hiển
lộ lư thể Bát Nhă.
Phần
thứ nhất lại chia thành hai đoạn:
- Một,
chỉ bày vô trụ để sanh khởi ḷng tin.
-
Hai, đề cao, xiển dương vô trụ để mở
mang sự thấu hiểu.
Đoạn
thứ nhất lại chia thành ba tiết:
- Minh thị.
-
Sanh khởi tín tâm.
- So
sánh sự thù thắng.
Tiết
thứ nhất lại chia thành hai ư:
-
Nói rơ phát tâm ly tướng chính là hàng phục.
-
Nói rơ “chẳng trụ tướng” chính là chánh trụ.
2.2.2.2.2.1. Dựa
theo cảnh để giảng vô trụ nhằm tỏ rơ
chánh trí Bát Nhă
2.2.2.2.2.1.1.
Chỉ bày vô trụ để sanh khởi ḷng tin
2.2.2.2.2.1.1.1.
Minh thị
2.2.2.2.2.1.1.1.1.
Chỉ rơ phát tâm ly tướng chính là hàng phục
2.2.2.2.2.1.1.1.1.1.
Nêu bày
(Kinh)
Phật cáo Tu Bồ Đề: - Chư Bồ Tát Ma Ha Tát,
ưng như thị hàng phục kỳ tâm.
(經)佛告須菩提:諸菩薩摩訶薩,應如是降伏其心。
(Kinh:
Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: - Các Bồ
Tát Ma Ha Tát nên hàng phục cái tâm như thế).
Câu “Phật
cáo” (đức Phật bảo) là do người kết
tập kinh thêm vào. Hễ thêm vào câu này, đều nhằm
chỉ bảo mọi người điều được
nói trong ấy có mối quan hệ rất khẩn yếu,
chớ nên xem thường, đọc
lướt qua. Câu “chư Bồ Tát”
chính là nói tới các thiện nam tử, thiện nữ nhân
đă phát đại tâm. Phàm nói Bồ Tát Ma Ha Tát th́ có hai
nghĩa:
- Một
là vị đại Bồ Tát trong các vị Bồ Tát.
Như xưng Quán Thế Âm Bồ Tát là Bồ Tát Ma Ha Tát, tức
là nói theo một vị.
-
Hai là nói chung nhiều vị, tức là nói tới các vị
Bồ Tát hoặc đại Bồ Tát. Người phát tâm
chẳng phải chỉ một người; v́ thế nói
là “chư”. “Chư” có nghĩa là “hết thảy”. Ở
đây, do nói tới nhiều
người, bèn là từ ngữ phiếm chỉ.
Cần
phải biết kinh này vốn là tối thượng thừa,
vậy th́ người phát tâm học pháp này đều là bậc
đại Bồ Tát, nhưng căn tánh bất đồng.
Tuy cùng phát đại tâm, có vị phát tâm viên măn rốt ráo,
trở thành bậc đại Bồ Tát. Người chẳng
phát tâm viên măn rốt ráo, chỉ có thể thành Bồ Tát.
Đức Phật nói pháp này, cũng hy vọng ai nấy sẽ
đều phát tâm viên măn rốt ráo. Viên măn rốt ráo là ǵ?
Như phát tâm “trên thành Phật đạo, dưới hóa
độ chúng sanh” th́ là Bồ Tát. Nếu biết phát
tâm “trên thành, dưới hóa” như thế, mà lại
biết tuy là “trên thành” nhưng thật sự chẳng có ǵ
để thành, tuy là dưới hóa độ, nhưng thật
sự chẳng có ai được hóa độ, chính là chẳng
có ǵ để thành mà trên là thành, tuy chẳng có ai được
độ mà dưới hóa độ,
đó tức là tánh đức rốt ráo, Thể
và Dụng viên măn, là bậc đại Bồ Tát.
Trong
thế gian, loại này rất nhiều, tuy sở học là
vô thượng đại pháp, nhưng thành tựu rất
ư nhỏ bé! Đều là do chẳng biết đúng
như pháp mà tu, phát tâm quá ư nhỏ
bé vậy! Như pháp môn Niệm Phật vốn
là vô thượng diệu pháp tột bậc viên đốn,
nhưng [người tu] chỉ biết tự giải thoát
cho chính ḿnh, thế th́ pháp tối thượng thừa không
chỉ chẳng đủ là Đại Thừa, mà c̣n trở
thành Tiểu Thừa nữa kia! Do vậy, chỉ có thể
văng sanh hạ phẩm, trong nhiều kiếp chẳng thể
“hoa nở thấy Phật”. Do trái nghịch bi nguyện
của Phật, chẳng biết xứng tánh khởi tu! Thậm
chí ngay cả hạ phẩm cũng chẳng đủ, chỉ
có thể sanh vào Nghi Thành. Lại c̣n phải tu hành dài lâu th́
mới có thể ĺa Nghi Thành
để sanh về An Dưỡng, há chẳng phải trên
là cô phụ ân Phật, dưới là phụ bạc linh tánh
của chính ḿnh ư? Sao lại đến nỗi như vậy?
Đều là do chẳng hiểu rơ nguyên do của vô thượng
đại pháp.
V́
thế, học Phật th́ điều đầu tiên là phải
khai trí huệ. Khai trí huệ nói theo bước đầu
tiên nhất th́ chính là hiểu rơ lư. Nếu chẳng hiểu
rơ nghĩa lư chân thật, phát tâm sẽ chẳng thể
đạt tới vô thượng! Hiểu rơ lư chẳng phải
là chuyên mổ xẻ nơi văn tự, ắt cần phải
tu Quán. Tu môn Quán ǵ vậy? Cần phải đọc nhiều
kinh điển Đại Thừa, lại c̣n phải gạt
bỏ ngoại duyên, thâu nhiếp thân tâm. Nếu chẳng
trước là nhiếp cái tâm này một chỗ, sao có thể
nương vào văn tự để khởi quán chiếu?
V́ thế nói là “Giới sanh Định, Định sanh
Huệ”. Giới nhằm gạt bỏ ngoại duyên. Chữ
Định có cạn và sâu. Lúc mới thực hiện, ắt
phải nên miễn cưỡng nhiếp tâm một chỗ,
khiến cho tâm ngưng tĩnh, chẳng rong ruổi tán loạn,
bèn có thể khởi quán. Cho tới khi quán huệ sanh, đại
định sẽ liền ở trong ấy, chẳng cần
phải miễn cưỡng. V́ thế, sách Chỉ Quán nói: “Chỉ
do Quán mà có, Quán thành sẽ tự Chỉ”. V́ sao? Quán thành
tựu th́ vọng tưởng đều trừ, đấy
chính là Chỉ, chẳng phải là đè nén, ngầm chứng
th́ mới là Chỉ. Nói chung, hai chữ Định và Huệ sanh khởi
lẫn nhau, chẳng thể ngây ngốc chấp chặt là
hai thứ tách biệt. V́ thế nói: “Như hai bánh của
cái xe”. Lại nói: “Quán nơi Chỉ chính là Chỉ
nơi Quán”. Chỉ Quán là công phu khẩn yếu trong học
Phật; những điều vừa nói trên đây lại
là đạo lư khẩn yếu trong Chỉ Quán, chớ nên
không biết!
Người
sơ phát tâm do v́ lẽ nào liền gọi là Bồ Tát Ma Ha
Tát? Do họ có thể phát đại tâm, có
tư cách trở thành Bồ
Tát Ma Ha Tát; do vậy, gọi họ như thế. Đó là
một điều. Đức Phật
gọi họ như thế, nhằm khiến cho họ thẳng
thừng gánh vác,
đừng tự đánh mất lợi ích thù thắng.
Đó là hai điều. Đức Thế Tôn b́nh đẳng,
xem chúng sanh vốn giống như Phật, nên gọi
người phát Bồ Đề tâm là Bồ Tát Ma Ha Tát, có
ǵ là lạ? Đấy là ba điều.
Chữ
“như thị” nhằm chỉ phần kinh văn giảng
rơ [ư nghĩa “hàng phục”] trong đoạn sau. Hàng phục
cái tâm tức là khiến cho vọng tưởng chẳng dấy
lên, cũng là khiến cho kẻ bất giác sẽ giác. Trong
đoạn kinh văn trước đó, trước hết
là hỏi “trụ như thế nào?” Trong phần nêu
chung, đức Phật cũng trước là nói “hăy nên
trụ như thế”, cớ sao khi giảng cặn kẽ,
Ngài lại nói hàng phục trước? Ư nghĩa trọng yếu
trong ấy, sẽ
chia thành ba tầng để nói rơ:
1) Hết
thảy chúng sanh trước nay chẳng giác, nay tuy phát vô
thượng giác tâm, cũng bất quá là phát cái sơ tâm
đó thôi! Tập khí hư vọng bất giác chưa trừ
mảy may, há có chân tâm để có thể trụ? Nếu
cho rằng khi vừa phát tâm giác ngộ liền thấy chân
tâm, một niệm ấy vẫn chính là vọng tưởng
y như cũ! V́ thế, người sơ phát tâm để
thực hiện th́
chỉ có hàng phục. Cổ nhân nói “chỉ
cầu dứt vọng, đừng t́m kiếm chân” chính
là ư này. Cần phải biết cái tâm của chúng ta tuy hoàn
toàn bất giác, nhưng thật ra toàn là do Bổn Giác biến
hiện. Đó gọi là “chân vọng ḥa hợp”, cái
được gọi là Thức chính là nó đấy. Chỉ
cần trừ từng phần vọng tâm, chân tâm sẽ từng
phần hiển lộ. Cho tới khi vọng tận, t́nh
không, tức là đem Thỉ Giác hợp với Bổn Giác.
Thoạt đầu,
chẳng cần phải nói “trụ” hay “chẳng trụ”.
Do vậy, chẳng nói “trụ” trước mà nói “hàng phục”
trước. Đó là lẽ đầu tiên.
2)
Không chỉ lúc mới phát tâm phải nên thực hiện từ
hàng phục, mà từ đầu tới cuối, cũng chỉ
có công năng hàng phục. Cho đến thành Phật,
cũng là “vô sở trụ”. Cần phải biết:
Đối với vọng tưởng vô minh (vô minh chính là
vọng tưởng), lấy sự phá trừ chúng làm cái
đích. Tu hành đạt tới địa vị Thập
Tín, chỉ có thể chế phục, vẫn chưa thể
phá. Từ Thập Tín tiến nhập Sơ Trụ, mới
phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân (tức
là mới thấy một phần
chân tâm);
mười phần chỉ đạt được một
phần, sao có thể trụ cho được? Nói là “trụ”,
tức là nói “chẳng thoái chuyển A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề”
đó thôi! Từ đấy trở đi, từng
bước tăng tấn, từ Thập Trụ, tiến
lên Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia
Hạnh, sau đó đăng địa (chứng Sơ
Địa) cho đến Bát Địa, mới xưng là
Vô Học, sắp hết sạch vô minh. Nhưng mười
phương chư Phật vẫn ân cần khuyên lơn,
sách tấn [bậc Bồ Tát như vậy] hăy nên viên măn bổn
nguyện, rộng độ chúng sanh, chớ nên trụ
trong “nhập Niết Bàn”. Do vậy, trải qua Cửu
Địa, Thập Địa, cho tới Đẳng Giác rốt
ráo, hăy c̣n có một phần vô minh tối hậu (có thể
thấy là đạt tới Đẳng Giác mới phá chín
phần
[vô minh]), vẫn nên dùng trí kim cang để
phá, bèn thành tựu sự giác ngộ rốt ráo, nhưng vẫn
là chẳng trụ
trong sanh tử, cũng chẳng trụ trong Niết Bàn. Có
thể biết: Đạt tới địa vị thành Phật,
vẫn là “trụ
mà chẳng trụ, chẳng trụ mà trụ”.
Như đức Thế Tôn thị hiện giống như
phàm phu, đấy chẳng phải là tấm gương “trụ
mà chẳng trụ” hay sao? Nhưng từ đầu
đến cuối đều là vô sở trụ, chỉ có
hàng phục, đă rơ lắm thay! Đây là lẽ thứ hai
vậy!
3)
Ngài Thiện Hiện (Tu Bồ Đề) tuy hỏi về
“trụ” trước, nhưng ánh mắt thật ra chú trọng
nơi hàng phục. Bởi lẽ, do muốn trụ mà chẳng
được, nên kế đó hỏi về hàng phục.
Nếu không, chỉ hỏi nên trụ như thế nào là
đủ rồi, cần ǵ phải thừa thăi thêm một
từ nữa? Nhưng trong lời chỉ bày chung, đă nói
“nên trụ như thế”, lại nói “hàng phục
như thế”, ư cũng như thế. Đó là nói
năng th́ có trước sau, nhưng ư th́ thật sự nhất
quán. Trừ hàng phục ra, chẳng c̣n có phương pháp tấn
tu nào khác. Đó là lẽ thứ ba.
2.2.2.2.2.1.1.1.1.2.
Giảng thẳng vào vấn đề
(Kinh)
Sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại, nhược
noăn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh,
nhược hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược
vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô
tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô
tưởng, ngă giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt
độ chi. Như thị diệt độ vô lượng
vô số vô biên chúng sanh, thật vô chúng sanh đắc diệt
độ giả.
(經)所有一切眾生之類,若卵生、若胎生、若濕生、若化生,若有色、若無色、若有想、若無想、若非有想非無想,我皆令入無餘涅槃而滅度之。如是滅度無量無數無邊眾生,實無眾生得滅度者。
(Kinh: Tất cả
hết thảy các loài chúng sanh, hoặc là sanh bằng trứng,
hoặc sanh bằng thai, hoặc sanh từ nơi ẩm
ướt, hoặc là hóa sanh, hoặc hữu sắc, hoặc
vô sắc, hoặc hữu tưởng, hoặc vô tưởng,
hoặc chẳng phải hữu tưởng mà cũng chẳng
phải vô tưởng, ta đều khiến cho họ nhập
Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Diệt độ
vô lượng vô số vô biên chúng sanh như thế, thật
ra chẳng có chúng sanh được diệt độ).
Tứ
Đại, Ngũ Uẩn, các duyên ḥa hợp mà hiện ra
tướng Sanh, nên gọi là “chúng sanh”. Đấy là
nghĩa gốc của danh từ Chúng Sanh. Trong ư nghĩa mở
rộng th́ số nhiều, loại đông, sẽ gọi
là Chúng Sanh. Người thời nay chỉ biết nghĩa
mở rộng, bỏ sót nghĩa gốc. Chẳng biết
nghĩa gốc cực diệu, chính là dạy quán chiếu
cái “vốn bất sanh” và cái lư “ngay nơi bản thể
chính là Không”.
V́ sao nói vậy? Do các duyên ḥa hợp mà gọi là Sanh đó thôi!
Tánh thể có khi nào từng sanh? V́ thế nói “vốn bất
sanh”. Vốn đă là vô sanh, nay cũng sẽ vô diệt.
Đă là duyên ḥa hợp mà hiện sanh, cho nên hễ duyên tán
liền diệt, há chẳng phải bản thể ấy
chính là Không ư? Đó là nói theo tướng. Nếu xét theo
tánh để nói, tánh vốn chẳng do vậy mà sanh! Tuy
tướng sanh diệt tưng bừng, chẳng dính dáng ǵ
đến Thể! V́ thế nói “ngay nơi bản thể
chính là Không”. Trọn hết tất cả chúng sanh th́ số
lượng sẽ nhiều, nên nói là “nhất thiết”
(hết thảy). Chúng sanh các loài đông đảo, nên lại
nói là “chi loại”. Các loại ấy như thế nào?
Chính là từ noăn sanh cho tới phi hữu tưởng phi vô
tưởng vậy!
Trong
kinh Phật nói về các loài chúng sanh khác nhau, có khi dùng Lục
Đạo để phân định, nhằm muốn cho
con người hiểu rơ lư luân hồi. Có khi chia thành mười
hai loại chúng sanh[20]
(như quyển tám kinh Lăng Nghiêm đă nói) nhằm muốn
cho con người hiểu rơ lư “mười tập nhân[21]
và sáu giao báo[22]”.
Có khi chia thành tam giới nhằm muốn cho con người
biết chỗ y chỉ cao thấp và lư “chẳng thoát khỏi
phạm vi của hai sự sắc dục”. Nay cũng dùng
tam giới để phân loại, nhưng không nói tới Dục
Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới, do Vô Sắc Giới
c̣n có lư sanh thành đặc thù, cần phải đặc biệt
nêu rơ ra th́ mới là triệt để, cũng nhằm khiến
cho mọi người hiểu rơ sở dĩ chúng sanh chẳng
thể thoát khỏi tam giới, không chỉ v́ bị chấp
sắc, vướng dục gây chướng, mà c̣n có chướng
ngại căn bản, ắt cần phải nên hiểu rơ
triệt để ḥng đối trị, th́ mới có thể
nhập Vô Dư Niết Bàn, mới có thể diệt độ.
Trước
hết,
nói về Dục Giới. Dục Giới
có hai loại:
1)
Thượng giới, tức Lục Dục Thiên (Tứ
Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên,
Đâu Suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại
Thiên). Do phước đức hơn người, cho nên
sanh lên trời. Do c̣n có dâm dục, nên sống trong Dục Giới.
Do dục niệm khá mỏng, cho nên chỉ hóa sanh, không có ba
loại noăn sanh, thai sanh, và thấp sanh.
2) Hạ
giới, bao gồm người, súc vật, quỷ, địa
ngục. Tu La một phần thuộc về thiên chúng, là hóa
sanh. Người là thai sanh (sanh nở bằng bào thai, từ
trời đọa xuống). Súc sanh (trong đó, thấp
sanh kém cỏi nhất, sanh ở đáy biển cả, sáng
bơi lên không trung, chiều quay về nước). Quỷ
(sanh bằng trứng, do sức hộ pháp, nương thần
thông bay lên không trung). Xem [những điều ấy] trong
quyển chín kinh Lăng Nghiêm. Địa ngục là hóa sanh.
Quỷ có hai loại hóa sanh và thai sanh, c̣n loài người và
súc sanh th́ có đủ cả bốn loại sanh. Những
loài này đều do dâm dục mà có tánh mạng.
Tội
nặng, t́nh kiến nhiều, sẽ càng đọa xuống
dưới, cho đến đọa địa ngục. Kế
đó, nhẹ dần th́ sống trong loài người. Từ
Sắc Giới Thiên trở lên (Sắc Giới gồm
mười tám tầng trời, chia thành Sơ Thiền, Nhị
Thiền, Tam Thiền, mỗi cơi có ba tầng trời. Tứ
Thiền gồm chín tầng trời). Sắc Giới c̣n có
Vô Tưởng Thiên, do đă có Sắc nên chẳng thuộc
vào Vô Sắc Giới) đều là hóa sanh. V́ thế, chỉ
nêu ra “noăn, thai, thấp,
hóa” là đă bao gồm
trọn hết tam giới. Nhưng do từ Sắc Giới
trở lên, đặc thù sinh lư không hiển lộ, [đức
Phật] lại nêu ra “nhược hữu sắc, nhược
vô sắc” để nói. Do vô dục, v́ định lực
mà hóa sanh trong Sắc Giới; đấy là điều khác
biệt với Dục Giới. Do có thể chẳng chấp
trước tướng sắc thân, do định lực
mà hóa sanh trong Vô Sắc Giới, điều này khác với Sắc
Giới. Nhưng nói “hữu sắc, vô sắc” th́
cũng nhiếp trọn tam giới. Từ Dục Giới
trở xuống, không ai chẳng riêng có sắc thân. Nhưng
ở dưới Dục Thiên, không chỉ là hóa thân; v́ thế,
ắt phải nêu ra noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh
để nói th́ sinh lư trong hạ giới mới hoàn bị.
Lại nữa, trong Vô Sắc Giới, do định lực
sâu hay cạn, lại có sinh lư đặc thù, chẳng thể
không biểu lộ ra. V́ thế lại nói “nhược hữu
tưởng, nhược vô tưởng, nhược phi hữu
tưởng phi vô tưởng”.
Bốn tầng trời thuộc Vô Sắc Giới
là: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ [Vô Sở Hữu
Xứ, và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Hai tầng trời đầu] chính là “nhược
hữu tưởng” ở đây. Sắc tướng
đă không, nên nói là Không Vô Biên Xứ (Vô Sắc Giới chỉ
là không có sắc thân thuộc nghiệp quả, do đă
đoạn dục, chẳng chấp tướng sắc
thân, nhưng họ có định quả
sắc. Sắc ấy vi diệu, từ Sắc Giới trở
xuống chẳng thể thấy. V́ thế nói là Vô Sắc
Giới. Sắc thân thô (tức Sắc Giới), trược
(tức Dục Giới) đă không, cho nên chẳng có cái thức
tham lam, keo kiệt đối với
sắc thân. V́ thế nói là Thức
Vô Biên Xứ. “Thức” tức tám thức ([ở
đây là] nói chung tám thức, chẳng phải chuyên nói về
thức thứ tám là A Lê Da Thức). Chân vọng ḥa hợp,
gọi là Thức. Do thức nên có tưởng. Tưởng
là thức thứ bảy, luôn thẩm định, cân nhắc
để rồi chấp ngă, và thức thứ sáu phân biệt,
so đo lệch lạc. Hai chữ “hữu tưởng”
thống nhiếp Sắc Giới và Dục Giới. Chúng
sanh trong Sắc Giới và Dục Giới,
không ai chẳng có thức. Do thức thứ sáu và thứ bảy,
nên chấp sắc thân là ta. Do chấp sắc thân, dấy
lên đủ loại suy tưởng tham dục. Nhưng
phía dưới Sắc Giới, không chỉ có thức, mà
c̣n kiêm có sắc và dục. V́ thế, ắt trước hết
phải nêu “noăn,
thai, thấp, hóa”
là thứ có sắc để nói, nhằm chỉ rơ khác với
Vô Sắc Giới.
Nếu
là Vô Tưởng trở lên, tức là sinh lư đặc thù của
Vô Sắc Giới. V́ thế, ắt phải biểu lộ
ra, nhằm vạch rơ không chỉ do họ không có nghiệp
quả sắc, khác với Dục Giới và Sắc Giới.
Đó chính là Vô Sở Hữu Xứ Thiên thuộc Vô Sắc
Giới, tức là thức thứ sáu phân biệt vọng
tưởng vô sở hữu, v́ thường ở trong
Định. Thức thứ bảy chấp ngă cũng là vô
sở hữu, do ở trong Định chẳng suy lường,
lại c̣n chẳng chấp có sắc thân Thức Vô Biên Xứ.
V́ thế, định lực càng sâu hơn trước. Nếu
chẳng phải là hữu tưởng, chẳng phải là
vô tưởng, th́ chính là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Thiên trong Vô Sắc Giới. Tới đây, định
lực càng sâu, thức thứ tám là A Lại Da dường
ẩn, dường hiện, nhưng chưa thể chuyển
thức thành trí. Nói “phi hữu tưởng” tức là “vô
tưởng cũng chẳng có”. Nào có biết như trước
đó đă nói “vô sở hữu”, nhưng chẳng thật
sự có thể “vô sở hữu”! Bất quá thức thứ
sáu và thứ bảy tạm thời bị chế phục,
người ấy tự cho là đă không có [vọng tưởng
và phân biệt]. V́ sao? Hễ thức thứ sáu và thứ bảy
mà chuyển, th́ thức thứ tám và năm thức trước
đó (nhăn thức, nhĩ thức…) sẽ chuyển theo, sao
đến nỗi vẫn c̣n như ẩn, như hiện
ư? Đó là sai lầm! Tám
thức vốn do chân tâm biến hiện, sao có thể vô sở
hữu, chỉ có thể chuyển mà thôi! Thức thứ
sáu hễ chuyển bèn là Diệu Quán Sát Trí, thức thứ
bảy chuyển thành B́nh Đẳng Tánh Trí, thức thứ
tám bèn chuyển theo
thành Đại Viên Kính Trí. Năm thức trước cũng chuyển theo,
liền thành Thành Sở Tác Trí. Sau đó, Thể
và Dụng đều hoàn
toàn tỏ lộ, sao lại có thể là
“không” cho được? Nói chung là do chẳng biết Phật
lư, hoàn toàn dùng sự chứng biết mê muội, chẳng
có thiện xảo. V́ thế, [chư thiên trong] Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng dẫu trải qua tám vạn kiếp
trường thọ, [khi thọ mạng trong cơi trời ấy
đă hết], vẫn cứ sẽ
đọa lạc y như cũ!
(Ngoại
đạo đều chẳng biết tánh. Nho gia cũng thế,
họ coi “thiên mạng” là tánh, nhưng tánh chẳng do
thiên mạng. Hoặc nói rằng: “Thiên mạng chính là pháp
vốn sẵn có như thế”. Điều ấy trái
nghịch ư của Khổng Tử. Kinh Dịch chép: “Lập
thiên chi đạo, viết Âm, viết Dương”
(Đạo lập ra trời đất là Âm và
Dương). Lại chép: “Nhất Âm nhất Dương
chi vị đạo, kế chi giả thiện, thành chi giả
tánh” (Một Âm, một Dương được gọi
là Đạo. Kế thừa cái đạo ấy th́ tốt
lành, thành tựu cái Đạo ấy th́ gọi là tánh của
muôn vật)[23].
Đấy là cội nguồn của [quan niệm trong Nho
gia coi] “thiên mạng là tánh”, sao
lại bảo [tánh là] pháp sẵn có
như vậy? Mạnh Tử nói: “Thực sắc, tánh dă”
(Ăn uống và sắc dục là bản tánh [của con
người]). Trong tánh,
há có ăn uống và sắc dục ư? Đấy chính là
chủng tử tập khí từ vô lượng kiếp
đến nay khiến thành ra như thế. Đó chính là lầm
tưởng thức
là tánh vậy. C̣n Tống Nho như Châu, Tŕnh, Trương,
Châu[24]
là lén lút trộm lấy những lời lẽ bề ngoài của
nhà Thiền (c̣n chưa đủ để nói da lông) rồi
lớn lối bàn về tánh lư. Đă chẳng phải là Phật,
lại chẳng phải là Khổng, lầm pháp, lầm
người, không chi to hơn được nữa! Phàm những
ai trước đó đă tiếp nhận lời lẽ của
họ, đối với Phật lư sẽ tuyệt
chẳng thể hiểu rơ, mà lẽ chân của Khổng Tử
cũng bị chướng lấp, chẳng hiển hiện
được! Cần phải biết: Khổng Tử
đối với chuyện ở ngoài lục hợp[25],
đều im lặng chẳng bàn tới. V́ thế, chuyên
xét theo “trời
giáng thiên mạng” để nói, tuy chẳng
triệt để, nhưng có thể khiến cho con người
kính nể thiên mạng, sợ oai trời, xác lập đạo
làm người tột bậc. V́ thế, Khổng Tử
đúng là bậc đại thánh nhân trong thế gian,
đáng bội phục, đáng kính ngưỡng! Mạnh Tử,
Tuân Tử[26]
đều chẳng thể khế hội sâu xa. Hán Nho th́
chuyên trọng huấn hỗ (giải thích các từ ngữ,
câu văn trong kinh điển của Nho gia), tuy mù mờ
đối với nghĩa lư to lớn, nhưng vẫn c̣n
có công. Các kinh điển được họ giải
thích từ ngữ, nếu chẳng nhờ sức của
Hán Nho khảo cứu, hiệu đính, sưu tập,
người đời sau sẽ dựa vào đâu để
hiểu, lại nhờ vào đâu để thấy
được? Người đời Tống lại bày
vẽ một kiểu riêng, tự cho là “trực tiếp
truyền tâm”, chẳng biết Khổng học do vậy
mà thật sự bị tối tăm, cái tội ấy lớn
lắm! Cách mạng[27]
phế Khổng, do thật sự là lầm tưởng Tống
học là Khổng học, đâu phải chỉ là cái tội
hủy báng Phật pháp mà thôi! Đáng than thở thay!)
Đối với “noăn, thai, thấp, hóa”, nói
noăn sanh trước, v́ trong noăn có đủ thai, thấp,
hóa, cho nên nói trước. Ở trong thai mẹ, tức là
thuộc về Thai Sanh. Do dùng máu mẹ để dưỡng,
đó là Thấp Sanh. Vốn là không, mà nay là có; đó là Hóa Sanh. Thai Sanh chẳng
kiêm Noăn mà có đủ Thấp và Hóa, nên [Thai được]
nói kế tiếp. Thấp Sanh kiêm hóa mà chẳng có Noăn và
Thai, nên lại nói sau đó (Thấp Sanh là ở nơi ẩm
ướt, hấp thụ khí Âm Dương mà hóa sanh. Do kiểu
sanh này ắt ở nơi ẩm ướt, nên nói là Thấp
Sanh). Hóa Sanh đang là không mà chợt có, chẳng có Noăn, Thai,
Thấp, nên lại nói kế tiếp. Đấy là xét theo
cách sanh phức tạp hay đơn giản mà nói.
[Chánh kinh lại nói] noăn, thai, thấp, hóa đứng
đầu các loại sanh là do nó kiêm dục, sắc, thức.
Nếu là hữu sắc, do chẳng có dục, nhưng có thức,
nên nói sau đó. Nếu là vô sắc th́ không có sắc, dục,
nhưng có thức, nên nói kế đó. Do vậy, sắc
và vô sắc là nói theo sắc tướng thô hay diệu! Nếu
là hữu tưởng th́ chính là nói loại này tuy vô sắc
mà c̣n có thức tưởng hiện khởi, nên lại nói
kế đó. Nếu là vô tưởng, tức là thức thứ
sáu và thứ bảy đă bị chế phục, và tưởng
chẳng đầy đủ, cho nên lại nói sau đó nữa. Nếu là phi hữu
tưởng phi vô tưởng, tức là không chỉ chẳng
có thức thứ sáu và thức thứ bảy, mà thức thứ
tám cũng bị chế phục phần nào, coi đó là
đă vững vàng rồi. Đấy là xét theo t́nh thức dấy
lên hay đă bị chế phục mà nói. Bởi lẽ các loại
trước ắt đều
gồm trọn loại sau, loại sau chẳng bao gồm
loại trước. Noăn, thai, thấp, hóa tuy chẳng trọn
hết để phán định sự hơn kém, trước
sau, nhưng đă gồm trọn ba thứ dục, sắc,
thức để nói, tức là loại trước lại
kém hơn loại sau, loại sau lại trội hơn loại
trước!
Đức
Phật phân loại tỉ mỉ, chẳng ngại rườm
rà, hoàn toàn chẳng phải là lời lẽ thừa thăi. Ư
Ngài là khiến cho [thính chúng] biết hết thảy các loại
chúng sanh tuy nhiều, nhưng chẳng ngoài ba chuyện là sắc,
dục, thức; do những thứ ấy mà thành chúng sanh.
Nay phát vô thượng giác tâm, muốn khiến cho hết thảy
chúng sanh thành vô thượng giác, mà chẳng đoạn dâm
dục, chẳng chấp sắc tướng, chuyển thức
thành trí,
th́ sẽ chẳng thể! Vọng tận,
t́nh không, nghiệp thức đă chuyển th́ cái tâm sanh diệt
đă diệt, thoát khỏi biển sanh tử, chứng nhập
tánh hải viên minh bất sanh diệt. Đó gọi là “nhập
Vô Dư Niết Bàn”, được gọi là “diệt
độ”. Đại Thừa Niết Bàn có hai loại:
- Một,
Hữu Dư, tức đă đoạn Chi Mạt Vô Minh (tức
Kiến Tư Hoặc), hăy c̣n Căn Bản Vô Minh chưa
đoạn ([Căn Bản Vô Minh] chính là nghiệp thức,
tức là sự bất giác tối sơ, tự động,
c̣n gọi là Sanh Tướng Vô Minh, lại c̣n gọi là Trụ
Địa Vô Minh). Do vậy, gọi là Hữu Dư (c̣n sót thừa).
-
Hai, Vô Dư tức là nghiệp lẫn thức đều
không (tức là đă chuyển thức thành trí), chẳng c̣n
sót thừa vô minh nữa (điều này khác với Hữu
Dư và Vô Dư của Tiểu Thừa. Tiểu Thừa
cho rằng những điều phải học đă xong,
c̣n có cái thân khổ báo chưa tận th́ là Hữu Dư Y Niết
Bàn. Đó gọi là thoát khỏi Phiền Năo Chướng,
có cái thân khổ y (cái thân nương vào sự khổ mà tồn
tại). Khi đă hết cái báo thân ấy, bèn gọi là Vô
Dư Y Niết Bàn, thường nói là “hôi thân diệt trí”).
Vô Dư Niết Bàn chính là danh xưng để gọi giác
quả rốt ráo, do bậc Đẳng Giác hăy c̣n có một
phần vô minh cuối cùng chưa tận (đó tức là
nghiệp thức vi tế, thường gọi là Sanh
Tướng Vô Minh vậy).
Niết
Bàn nói đầy đủ theo âm tiếng Phạn là Bát Niết
Bàn (Parinirvāṇa),
hàm ư “bất sanh, bất diệt”, tức là nói tới
tánh thể, c̣n dịch là Diệt Độ, hoặc dịch
là Vô Vi (nh́n vào điều này, có thể biết là nội
điển (kinh Phật) mượn dùng danh từ có sẵn,
nhưng ư nghĩa khác xa hai nhà Nho và Đạo, mà cũng có
[nội dung] khác biệt rất lớn! Vô Vi của Lăo Tử
là do thuận theo t́nh thế dẫn
dắt, chẳng mưu cầu công lao hiển
hách, chẳng chấp lấy danh vọng hiển hách. Do trọn
chẳng có dấu tích hiển hiện “có thực hiện”,
nên gọi là Vô Vi, cũng bảo là Thanh Tĩnh. Do Tào Tham[28]
tưởng lầm thanh tĩnh vô vi là “chẳng chú trọng
mọi sự”, dẫn đến Nho gia chê trách. Thời
Tào Tham, vốn phải nên dưỡng sức dân, giảm
thuế má, lao dịch, tuy ông ta hiểu lầm [vô vi là chẳng
chú trọng mọi sự], nhưng c̣n hữu ích. Thanh
Đàm[29]
đời Tấn đă gây lầm to lớn cho đất
nước. Chẳng hiểu rơ chân nghĩa gây họa dữ dội lắm
thay! Vô Vi của Khổng Tử là h́nh dung Nghiêu - Thuấn biết
người hiền, khéo bổ nhiệm quần thần,
bèn có thể khoanh tay ngồi yên mà cai trị, và [như Khổng
Tử đă ca ngợi] “đăng đăng, dân vô năng danh”)[30].
“Nhập” là chứng nhập, có ư nghĩa “khiến cho
chúng sanh chứng nhập giác quả rốt ráo”. “Diệt”
tức là: Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện
tiền. “Độ” có nghĩa là [vượt thoát] hai
thứ sanh tử Phần Đoạn và Biến Dịch. Ở
đây, [chánh kinh] không nêu
ra âm tiếng Phạn (tức Niết
Bàn), chỉ nêu ra ư nghĩa để nói:
- Một,
nhằm chỉ rơ cái được gọi là Vô Dư Niết
Bàn chẳng có ǵ khác! Hễ diệt trừ cái tâm sanh diệt
“thức, sắc, dục”, liền vượt thoát biển
sanh tử, đạt tới bờ kia Niết Bàn.
-
Hai, nhằm nói cho thuận tiện. Như kinh văn trong
đoạn sau “diệt độ vô lượng vô số
vô biên chúng sanh”, nếu đổi chữ “diệt
độ” thành Niết Bàn, sẽ
chẳng rơ ràng. Đấy là bút pháp hay khéo của người
dịch vậy.
Tông
Pháp Tướng dịch Vô Dư Niết Bàn thành Vô Trụ Xứ
Niết Bàn, chỉ rơ: Vừa chẳng trụ trong sanh tử,
vừa chẳng trụ Niết Bàn. Cách dịch này so với
cách dịch của ngài La Thập, mỗi đằng đều
có ư nghĩa, đều hay khéo. C̣n như nói người qua
đời là Niết Bàn hay nhập diệt, chỉ là
mượn từ ngữ này để nói “chẳng trụ
tướng mà nhập vào sự tịch tĩnh” đó
thôi! Người đời phần nhiều hiểu lầm
“Niết Bàn nhập diệt” là danh từ để
chuyên gọi cái chết, Tống Nho lầm tưởng tịch
diệt là “chuyện ǵ cũng không làm”, càng sai quá xa!
Theo
tông Pháp Tướng, ba phần rưỡi chúng sanh chẳng
được thành Phật, tức là Định Tánh La
Hán, Định Tánh Bồ Tát, và Nhất Xiển Đề
(chẳng có tín căn) là ba phần, lại thêm Bất Định
Tánh là nửa phần. Cớ sao [nay kinh này nói] “đều
được thành Phật” vậy? Cần phải
biết kinh dạy: “Phật chủng tùng duyên khởi”
(chủng tử Phật sanh khởi từ các duyên). Lại
nói (kinh Niết Bàn): “Phàm thị hữu tâm, định
đương tác Phật” (phàm là người có tâm, nhất
định sẽ thành Phật). Lại nói (kinh Viên Giác): “Hữu
tánh vô tánh, tề thành Phật đạo” (Có tánh hay không
có tánh, đều thành Phật đạo). V́ sao chẳng
được thành Phật? Là v́ chúng sanh tuy sẵn có Phật
tánh, nhưng Phật chủng phải đợi duyên sanh.
Pháp Tướng Tông nói “chẳng được thành”
tức là nói “chẳng có chủng tử, ắt sẽ chẳng
thành”, chẳng phải là nói định tánh Nhất Xiển
Đề không có Phật tánh! V́ thế, hai chữ “chủng
tánh” ắt chẳng
thể lẫn lộn được! Người học
Tánh tông thường chấp tánh, mê mất “chủng tử”,
như chấp tánh phế tu. Kẻ học Tướng Tông
lại thường chấp chủng tử nên mê muội tánh,
đều là do phạm lỗi không hiểu rơ ư chỉ của
kinh!
“Như
thị” [trong câu “như thị diệt độ vô
lượng vô số vô biên chúng sanh”] là nói tới
câu “linh nhập Vô Dư Niết Bàn” (khiến cho nhập
Vô Dư Niết Bàn) trong phần trên. “Vô lượng”
tức là chủng loại không có hạn lượng, bất
luận căn tánh thù thắng hay kém cỏi, đều
độ thoát. “Vô số” là nhiều đến nỗi
chẳng thể đếm được. Nhưng hoặc
chỉ độ một thế giới, độ một
thế giới trong một kiếp hoặc mười kiếp, cũng có thể
nói là “vô lượng vô số”. Nhưng nay chẳng phải
vậy, mà là chẳng có ngằn mé! “Vô biên”
là theo chiều ngang trọn khắp mười
phương, theo chiều dọc tột cùng ba đời.
V́ thế, vô biên là tổng, vô lượng vô số là biệt.
Do diệt độ vô biên, bèn đạt được vô
lượng vô số.
“Thật
vô chúng sanh đắc diệt độ giả” (Thật
sự chẳng có chúng sanh được diệt độ):
Quán chiếu lư “vô sanh, vô đắc”, thật sự chẳng
có, chẳng phải là giả tưởng không có. Cổ
đức dùng năm nghĩa để quán rất vi diệu:
1)
Duyên sanh: Hết thảy chúng sanh không ai chẳng do Tứ
Đại và Ngũ Uẩn giả hợp, bản thể
chính là Không, há có chúng sanh!
2)
Đồng thể: Ta và chúng sanh tướng tuy khác biệt,
mà tánh thật sự đồng. Đó gọi là “nhất
pháp giới”. Vậy th́ thấy có chúng sanh tức là tự
tâm giữ lấy tự tâm, chẳng phải là huyễn
thành, huyễn pháp!
3) Vốn
tịch: Được gọi là “chúng sanh” chính là do
duyên giả hợp, hiện ra tướng Sanh, chứ tánh
vốn vô sanh. Vốn vô sanh nên vô diệt, há có cái được
gọi là “đắc Niết Bàn” ư?
4)
Vô niệm: Dùng ba nghĩa như trên để quán, có thể
biết là thấy có chúng sanh, và thấy có chúng sanh đắc
Niết Bàn, toàn là vọng niệm phân biệt. Nếu chẳng
có niệm th́ chúng sanh chẳng có,
mà “đắc” cũng chẳng có!
5)
B́nh đẳng: Nói như trên th́ có thể thấy hết
thảy chúng sanh vốn là Phật, hoàn toàn b́nh đẳng.
V́ thế nói: “B́nh đẳng chân pháp giới, Phật chẳng
độ chúng sanh”. Nếu thấy có chúng sanh được
diệt độ, sẽ là trái nghịch pháp giới b́nh
đẳng. Nói chung, tánh chân thật, tướng hư vọng.
Muốn thành vô thượng giác, phải nên chứng tánh
chân thật. Tức là trong hết thảy các cảnh giới,
hăy nên chẳng chấp tướng mà quy vào tánh. Hễ quy
vào tánh, sẽ là chân thật. V́ thế, nói theo tánh, “chúng
sanh đắc Niết Bàn” là thật sự chẳng có,
chẳng phải là giả tưởng có, đă rơ lắm rồi!
Có
người nói: Đối với câu văn “ưng
như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên hàng phục
cái tâm như thế) trong đoạn trên, hai chữ Như
Thị chính là nói về khoa này, nhưng đọc rồi
thật sự chẳng hiểu cái được gọi
là “hàng phục” chính là hàng phục vật ǵ vậy? Chỉ
phát cái tâm rộng lớn ĺa tướng là đă đủ
để hàng phục ư? Đáp: Nghĩa này hết sức
tinh vi, nay sẽ v́ người hỏi mà nói phân tích như
sau.
Nói “hàng
phục” chính là hàng phục vọng tâm. Vọng tâm là tâm
phân biệt, nhưng phân biệt là
do chấp Ngă
mà khởi. Do vậy, ngă kiến là cội gốc
của phân biệt. Nay phải hướng về căn bản
mà trừ khử. Ngă kiến đă trừ th́ phân biệt, vọng
tưởng tự tiêu mất. Lại nữa, đối với
chánh kinh trong khoa này, hăy chú trọng nơi câu cuối cùng. Những
câu trước đó đều nhằm dẫn khởi cho
câu này xuất hiện. Do muốn nói “thật sự không
có chúng sanh đắc độ”, nên trước đó
nói “độ vô biên chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn”.
Do muốn nói “khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn”,
nên trước đó nói đủ loại chúng sanh không
ngoài thức, sắc, dục. Do biết lư do trở thành
chúng sanh, sẽ biết nguyên do
độ chúng sanh. Biết vô biên chúng sanh không ai chẳng phải
là tướng hư huyễn do thức, sắc, dục huyễn
hiện thành, sẽ biết diệt tướng “thức,
sắc, dục” sanh diệt ấy, khiến cho chẳng lọt
vào trong sanh diệt, sẽ thật sự chẳng có chúng
sanh, thật sự chẳng có chúng sanh đắc độ.
Cớ sao chúng sanh chỉ v́ “thức, sắc, dục” mà bị
chướng ngại? Bản tánh
của họ vốn là bất sanh, bất
diệt. Đă là đồng Thể với ta, thứ ǵ
được gọi là “chúng sanh”, thứ ǵ là “đắc”
vậy? Quán chiếu thuần thục như thế, th́ kiến
giải chấp ngă bất giác tự biến mất. V́ sao
vậy? Do biết ta cũng là chúng sanh, do biết bản thể
chính là Không, biết khởi niệm th́ có. Nếu chẳng
có niệm, hết thảy đều là Không, do biết vốn
sẵn b́nh đẳng. Sở dĩ
pháp Đại Thừa này thiện xảo chính là v́ chẳng
hàng phục mà hàng phục vậy.
Ở
đây, có ư nghĩa c̣n trọng yếu hơn, lại cần
phải nói:
1) Vọng
tưởng rễ sâu, nay do mới bắt đầu
giác, đạo lực mỏng ít, há có thể chống lại
ư? Hơn nữa, chân tâm và vọng tâm vốn là đồng
thể. Khởi tâm động niệm th́ toàn thể chân
thành vọng. Tâm khai, niệm dứt, tức là toàn thể vọng
thành chân, c̣n cần phải trừ ư? Do hai thứ nguyên
nhân ấy, nói “trừ vọng” chính là giả danh trừ,
chứ thật sự chẳng có ǵ để có thể trừ.
Nói “hàng phục” chính là thiện xảo chuyển dời,
khiến cho quy hướng, biến đổi, trọn chẳng
phải là nói
do đối địch mà trừ vậy. Nay dạy họ
phát
khởi cái tâm ĺa tướng, thật sự là
phương tiện thiện xảo ḥng thực hiện sự
giáo hóa to lớn đó thôi!
2)
V́ sao phát đại tâm lại có thể chuyển hóa? Cần
phải biết: Phàm
phu tâm lượng hẹp nhỏ, cho nên chấp ngă, càng chấp
càng hẹp ḥi. Nếu phát tâm rộng độ vô biên, lâu
ngày quán thuần thục, sẽ bất tri bất giác, chấp
t́nh tiêu diệt!
3)
Phàm phu chỉ biết có chính ḿnh. Nếu
dạy họ quán ngay vào tự thân vô ngă, ắt họ chẳng
thể nhập. Nay dạy họ theo chỗ rộng răi thuộc
phương hướng đối diện, quán chẳng
có chúng sanh, ắt tâm lượng đă mở rộng, trong
khoảng đối chiếu ấy, [sẽ nhận biết]
chính ḿnh cũng là duyên sanh, là vốn tịch, sẽ liền
rỗng rang, dễ thấu hiểu. Đấy đều
là pháp môn thiện xảo dùng để giáo hóa to lớn.
4)
Căn bản của Kiến Tư Hoặc là ngă kiến. Nay dùng phương pháp
chuyển dời
ngấm ngầm để đoạn trừ mà chẳng
hay biết, đúng là kim cang cứng chắc nhất, sắc bén nhất.
5)
Chấp ngă là Mạt Na Thức (Manas-vijñāna,
Ư Căn). Hễ có ta liền có các phân biệt
như “người, chúng sanh, thọ giả”. Phân biệt là thức thứ sáu. Nay chẳng chấp
hết thảy, tức là chuyển biến thức
thứ sáu và thứ bảy. Thức thứ sáu và thứ bảy
đă chuyển, năm thức trước và thức thứ
tám đều liền thuận theo mà chuyển thành trí.
Đó gọi là Bát Nhă Ba La Mật.
6)
Độ tất cả chúng sanh thành Phật là ngăn
Không, thật sự chẳng có chúng sanh thành Phật là
ngăn Có; tức là ngăn cả hai bên. Tuy rộng độ
mà thật sự chẳng có, tuy thật sự chẳng có
mà rộng độ; đó là cùng chiếu cả hai bên. Dùng
quán Ngăn và Chiếu đồng thời để làm
nhân, bèn đạt được cái quả Tịch Chiếu
đồng thời.
7)
Phát tâm rộng độ là đại bi. Quán lư “thật sự
không có” chính là đại trí. Bi và trí trọn đủ, lại
chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ trong Niết
Bàn là cái nhân.
8)
Xét theo phương diện đại bi như trên đây
để nói, th́ chính là tu phước. Nói theo phương
diện đại trí th́ chính là tu huệ. Phước huệ
song tu lại là cái nhân để thành bậc Lưỡng
Túc Tôn. Có
thể biết
là hết thảy các pháp Đại Thừa
đều được gồm trọn trong ấy, lại
c̣n là pháp dẫn thẳng tới chỗ có của báu. V́ thế,
kinh này dạy: “Nhất thiết chư Phật, cập
chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
pháp giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật
và hết thảy các pháp Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà
ra).
9)
Chưa thể độ ḿnh mà muốn độ người
khác trước, đó là Bồ Tát phát tâm, được gọi
là “đại bi”. Nay xem ư nghĩa trong khoa này mới biết
độ người khác chính là độ ḿnh. Vậy th́
trong đại bi có đại trí, thật sự thiện
xảo!
10)
Khoa này nhằm dạy phát nguyện. Trước nay, người học
thường khổ v́ đại nguyện chẳng phát khởi,
có thể dựa vào những ǵ đă nói
trên đây từ điều một cho tới
điều chín để quan sát, đại nguyện bi trí
trọn đủ sẽ nẩy sanh tràn trề.
Lại
nữa, khoa trên đây nói về “hàng phục” cũng
chứa đựng ư nghĩa riêng. Bởi lẽ, dạy
phát đại nguyện th́ phải nên lập chí kiên cường,
đừng sanh ḷng khiếp nhược.
Đấy chính là “hàng phục cái tâm” vậy.
Sự
nêu bày, chỉ dạy, giảng giải trong hai khoa này chính là nhằm
chỉ dạy chúng ta chỗ dụng công tu tập, tột
bậc thân thiết, tột bậc khẩn yếu. Xét ra,
những điều đă nói có tám nghĩa trọng yếu:
1)
Ngài Không Sanh (Tu Bồ Đề) trước hết hỏi
về “trụ”, kế đó hỏi về “hàng phục”.
Lời đáp lại nói hàng phục trước rồi đến trụ; nhưng
trong lời đáp về “trụ”, lại bảo “ưng
vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu). Có thể
thấy là chúng ta dụng công, chỉ cần trừ vọng.
V́ sao vậy? Chân tâm chẳng hiện, hoàn toàn do vọng gây
chướng. Vọng chẳng trừ sạch, mà nói “an
trụ nơi Như Như chân thật” th́ một niệm
ấy vẫn là vọng tưởng y như cũ. Huống
hồ đức Phật đă chứng đắc rốt
ráo, cũng chẳng trụ trong Niết Bàn, khi tu nhân sao có
thể nói là “trụ” cho được? Kinh Lăng
Nghiêm dạy: “Nhân minh chiếu
sanh sở, sở lập chiếu tánh vong” (từ
nơi chân tánh vốn sáng suốt, bỗng xuất hiện
tác dụng chiếu hư vọng. Hễ có tác dụng chiếu
th́ sẽ có cái bị chiếu thành lập. Khi đă có chiếu
và cái bị chiếu th́ chân tánh bị
mất đi)[31].
Lại nói: “Tri kiến lập tri, thị vô minh bổn”
(từ trên sự thấy biết [vốn sẵn có chân
tánh], lại lập ra một
cái thấy (tức là chấp có tác dụng thấy); đó
là cội gốc của vô minh). Do vậy biết hễ có
trụ liền có “sở” (đối tượng của
trụ, tức đối tượng chấp trước); hễ
có sở liền có lập (tức là có sự đối
đăi giữa vọng tâm trụ (chấp trước) và
đối tượng bị chấp trước). Có sở,
có lập, tức là nơi Đại Viên Kính Trí tự dính
bụi nhơ, quang minh sao có thể chiếu trọn khắp
cho được? V́ thế nói: “Vô minh bổn, chiếu
tánh vong” (Hễ có cái gốc của vô minh th́ tánh của
Chiếu sẽ bị mất đi). Do vậy, tổ
sư Thiền Tông bảo: “Chỉ cầu dứt vọng,
chẳng cần t́m chân”. Cổ đức cũng nói: “Chỉ
sạch hết phàm t́nh, chứ chẳng có sự hiểu biết
của thánh nhân nào khác”. Đó chính là nói: Hễ sạch hết
phàm t́nh th́ đấy chính là thánh giải (sự hiểu biết
của bậc thánh). Kinh cũng có nói: “Cuồng tâm bất
hiết, hiết tức Bồ Đề” (cuồng tâm
chẳng dứt, hễ dứt th́ là Bồ Đề),
đều nhằm nói rơ lư “dụng công chỉ cần
hàng phục vọng tâm”. Do vậy, có thể ngộ “quét
sạch tri kiến sai biệt” chính là công phu thấu triệt
từ đầu tới đuôi, há có phải chỉ là
phương pháp để thực hiện tu tập mà thôi
ư?
2)
Hàng phục cần phải có phương tiện. Nếu
chẳng có phương tiện, vọng tâm càng lừng lẫy.
Nay gởi gắm sự hàng phục nơi phát tâm rộng lớn.
Nói cách khác: Phát tâm rộng lớn chính là hàng phục; đó
là nói tới sự giáo hóa rộng lớn. Chẳng có ǵ là “hàng
phục”,
mà tự nhiên hàng phục, thuận tiện tột bậc!
3) “Hàng
phục” là hàng phục vọng tâm.
Cần phải biết: Vọng tâm sanh từ
phân biệt. Cái gốc của phân biệt là do chấp ngă.
V́ thế, nay dùng tâm rộng lớn để hàng phục bốn
tướng là ta, người v.v… Lại c̣n độ hết
vô lượng vô số vô biên chúng sanh. Đại từ, đại bi
như thế, tức là trừ khử hai độc Tham và
Sân. Lại c̣n tuy độ sanh, nhưng thật sự chẳng
có ai được độ, tức là chẳng có Thường
Kiến (đó cũng chính là
chẳng chấp Có). Tuy không có ai được độ,
nhưng độ chẳng ngừng, tức là chẳng có
Đoạn Kiến (cũng chính
là chẳng chấp Không). Chẳng đoạn,
chẳng thường, trọn đủ diệu huệ ấy,
Si Độc cũng trừ. Đấy là v́ hết thảy
phàm phu là kẻ ngă kiến nặng nề, Tam Độc sâu
đậm, cái gốc bệnh thật sự là do tâm lượng
quá hẹp ḥi. Cần phải dùng cái tâm rộng lớn
để trị gốc bệnh, giải quyết từ gốc
bệnh, các bệnh tự nhiên dễ trừ.
4) Hết
thảy chúng sanh từ vô thỉ tới nay, chưa hề
giác. Nói “bất giác” tức là nói chẳng hay biết sự
phân biệt “ta, người” đều do giữ lấy
tướng. Ĺa tướng, dung hội tánh, vốn là
đồng thể, há có phân biệt! Do chẳng biết mà
chấp tướng; v́ thế, càng chấp, càng mê. Mê chính là Si.
Do v́ ngă mà lập ra ngă sở,
tham và sân đua nhau dấy lên, tạo nghiệp vô cùng. Lại
cũng chẳng hiểu cái được gọi là “ngă sở”
(cái thuộc về ta) không ǵ chẳng phải là huyễn hữu
do duyên sanh. Bất luận pháp (có) và phi pháp (không), chỉ cần
có cái bị chấp trước là không được rồi.
Tướng của pháp và phi pháp đều do tánh khởi.
Hơn nữa, dùng tánh để dung hội, tướng vốn
chẳng phải là tướng, có ǵ là ngă sở? Có ǵ là ta,
người? Do chẳng hiểu rơ, đến nỗi khổ
sở v́ nghiệp ràng buộc, chẳng có cách nào giải
thoát! Nay dùng tâm rộng lớn để độ sanh, chẳng
chấp giữ,
sẽ là khiến cho ĺa hết thảy tướng
của pháp và phi pháp (tức là ĺa hai bên Có và Không), đều
cùng quy vào cái tánh “đồng thể”. Nếu quy hội vào
tánh, há c̣n có các tướng “ta, người” sai khác! Đấy
chẳng phải độ người khác chính là độ
chính ḿnh hay sao? Có pháp nào thiện xảo hơn pháp này!
5)
Phàm phu dễ bị cảnh chuyển (cảnh tức là ngă
sở), chẳng có ǵ khác, do chấp trước cảnh
đó thôi! Dẫu phát đại tâm tu hành, vẫn không ǵ chẳng
phải là cảnh để duyên vào. Ví như độ
sanh, đó chính cảnh để duyên vào của bậc hành
nhân đại tâm. Đă chẳng thể không có cảnh
để duyên theo (“không có cảnh” tức là chấp không;
cũng không thể do đâu khởi tu được), lại
chẳng thể chấp giữ cảnh
(chấp cảnh tức là chấp Có). V́ thế, nay đầu
tiên là dùng “độ sanh mà thật sự không có ai
được độ” để dạy họ đừng
chấp vào hai bên, hội quy Trung Đạo, phù hợp tánh
thể, đích thị là phương pháp để tiến
nhập thân thiết chi bằng?
6) Ở
đây tuy nói “hàng phục”, chưa nói “trụ”,
nhưng ư nghĩa trụ đă thật sự ngầm ở
trong ấy. Phát đại tâm th́ đầu tiên là nên độ
sanh, há chẳng phải là minh thị pháp an tâm hay sao?
Nhưng “độ người mà chẳng có người được
độ” cũng chính là dạy hăy nên trụ mà chẳng trụ
vào đâu. Đó chính là kệ tụng của ngài Di Lặc,
cho nên nói “lợi ích thâm tâm trụ”. Nói chất phác,
tức là dạy trụ trong chánh trí Bát Nhă. Nói “quán chiếu
Bát Nhă” là quán chiếu Không và Giả, chẳng ĺa Không và
Giả, đồng thời là Trung Đạo Đệ Nhất
Nghĩa Đế. Do chúng sanh vốn có căn bệnh chấp
trước, cho nên chẳng nói rơ, khiến cho mọi người
chẳng trụ tướng mà tự lănh hội vậy!
7)
Trong cái nh́n thông thường, [mọi người] hay cho rằng
Bát Nhă thuộc loại đàm luận lư sâu xa, thậm chí sợ
Bát Nhă lệch về Không; người tu Tịnh Độ
lại càng không dám nhắc tới [Bát Nhă]. Nhưng người
học Bát Nhă lại thường là chấp Lư, phế Sự,
tạo thành cái cớ cho kẻ khác chê bai! Nay xem [kinh này], đầu tiên là
nói về hàng phục, có thể thấy: Chẳng trừ
chướng ngại do tập khí hư vọng gây nên, sao
có thể mở mang
chánh trí Bát Nhă cho được? Lại
c̣n trước hết nói về chuyện độ sanh, có
thể thấy là trải qua sự việc để rèn
luyện cái tâm, đó chính là chỗ để tiến nhập
Bát Nhă, há có chuyện đàm luận lư ở ngoài Sự
ư? Lại c̣n “hai bên Có và Không đều chẳng thể
chấp”, há lệch về Không ư? Đối với các
chỗ như thế này, cần phải càng thêm
chú ư suy xét kỹ càng vậy.
8)
Hàng phục cái tâm phân biệt ở đây chính là chuyển
biến thức thứ sáu.
Hàng phục ngă tướng chính là chuyển thức thứ
bảy. Cần phải biết: Chúng sanh vô thỉ bất
giác, tự tánh thanh tịnh tâm chẳng hiển lộ, mà hiện
ra thức. Các thức có tác dụng lớn nhất chỉ
là thức thứ sáu và thứ bảy; do vậy, phải
nên thực hiện từ chỗ này. Khi đó, toàn bộ là
thức, nào có chân tâm để có thể trụ? Đó là lư do v́ sao
chỉ nói “hàng phục”, chẳng nói “trụ”. Cái được
gọi là chánh trí Quán Chiếu Bát Nhă vẫn là thức. Cần
phải biết thức là vật ǵ?
Nó vốn do tự tánh biến hiện.
Do dùng
phân biệt chấp ngă mà trở thành
thức, được gọi
là Vọng. Nếu vận
dụng hàng phục phân biệt ngă chấp, tức
là dẫn nó trở về chánh đạo, th́ gọi là “chánh
trí”. Đấy chính là dùng cái mâu của ông để
đâm cái thuẫn của ông, cũng là như tục ngữ
nói “để cởi chuông vẫn
phải cậy vào
người buộc chuông”. Điều
ấy có cùng một ư vị như Thiền Tông nói “ĺa tâm
ư thức để tham cứu”. Do chưa ĺa, cho nên dạy
ĺa. Cần phải biết ư niệm “có thể ĺa” cũng
là thức, bởi chẳng thực hiện từ chỗ
này, đúng là chẳng có cách nào cả! Nhưng nhà Thiền
chẳng nói rơ đó là thức, giống như “chẳng nói
trụ” ở đây, có dụng ư như nhau, được
gọi là “có cùng một ư vị”. Có thể là nhà Thiền
v́ lẽ này xem nhẹ các pháp môn khác, bảo “dụng công
trong nhà Thiền là ĺa tâm ư thức”. Đấy chẳng phải
là đă uống linh dược mà chẳng biết cội
nguồn của linh dược ư?
Pháp
môn Niệm Phật cũng thế, hễ nói tới “niệm”
th́ đó là tâm thức. Chẳng biết “nhất tâm chánh
niệm” chính là để hàng phục vọng niệm rối
bời! Nếu nói: “Do họ chưa thể ĺa niệm,
trọn chẳng cao thượng bằng trực chỉ của
nhà Thiền”. Trọn chẳng
biết chỗ khác biệt to lớn giữa vọng niệm
và tịnh niệm! Vọng niệm càng niệm th́ ư niệm
càng dấy lên; tịnh niệm sẽ có thể do niệm niệm
đạt tới vô niệm. Ví như dùng bùn khuấy nước,
nước càng đục ngầu. Dùng phèn quấy vào
nước, nước liền trong lắng. Nếu nói “trực
chỉ hướng thượng” th́ nh́n vào trực chỉ
hướng thượng của nhà Thiền vẫn phải
là [dụng công miên mật] cho tới khi đạt
được an ổn, đạt được thiện
xảo. “Trực” có nghĩa là do đất vấp ngă
th́ phải từ đất mà ḅ dậy;
đấy chẳng phải là thẳng chóng, thỏa
đáng ư? V́ thế, phương pháp thực hiện
trong pháp môn Tịnh Độ là chuyển thức thành trí.
Đó chính là hàng phục, đó là chánh trí Quán Chiếu Bát
Nhă, đó là từ ngay nơi niệm mà ly niệm, chẳng
chấp vào hai bên. Hơn nữa, người niệm Phật
c̣n phải phát đại tâm, nguyện trọn khắp pháp
giới chúng sanh đều cùng sanh Cực Lạc. Đó
chính là dùng chánh niệm ấy để ngầm xông pháp giới,
rộng độ hàm linh. Đấy chẳng phải là giống
hệt những điều đang được nói ở
đây ư? Nếu có thể dung hội một điểm
đạo lư này, há c̣n chẳng càng thêm khẩn thiết niệm
Phật ư? C̣n sợ niệm Phật chẳng đắc
lực ư? Hết sức khẩn yếu!
2.2.2.2.2.1.1.1.1.3. Trưng thích (gạn hỏi để giải
thích)
(Kinh) Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề!
Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức
phi Bồ Tát.
(經)何以故?須菩提!若菩薩有我相人相眾生相壽者相,即非菩薩。
(Kinh:
V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát
có tướng ta, tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả sẽ chẳng phải
là Bồ Tát).
“Trưng”
(徵) là nêu ra, tức là nêu ư nghĩa trong đoạn
văn nói trước đó để giải thích cho rơ, gọi
là Trưng Thích (徵釋), tức là ư nghĩa “tự hỏi, tự đáp”.
Người,
chúng sanh, thọ giả, đều do chính ḿnh bày ra. Hễ có ngă tướng
(tướng ta), bèn có cái đối đăi với nó là
tướng người. Người không chỉ là một,
bèn là tướng chúng sanh. Kiến chấp chấp ngă cứ
nối tiếp chẳng ngừng, tức là
tướng thọ giả[32].
Bốn tướng chẳng ra ngoài một ngă tướng.
Nay tách ra để nói, nhằm nêu rơ: Chấp ngă là có tâm phân
biệt, khiến cho [thính chúng] biết sáu thức sanh từ
Mạt Na. Hễ có Mạt Na, bèn có sáu thức, chẳng
tách ĺa. Chấp ngă phân biệt như thế chính là bệnh
chung của phàm phu, há có phải là Bồ Tát, nên nói “tức
phi” (tức chẳng phải). Do vậy, [câu kinh này là lời]
răn nhắc người phát đại tâm tột bậc
sâu đậm, thiết tha vậy!
Ngă
tướng do ngă kiến sanh khởi; ngă kiến dùng ngă
tướng để hiển lộ. Một trong, một
ngoài, chưa hề tách rời! Phá ngă tướng tức là
phá ngă kiến. Tướng có thô và tế. Thô th́ chấp cảnh,
c̣n tế th́ chấp tâm. Trong đoạn [vấn đáp] thuộc
phần sau cũng nói ngă tướng tức là dựa theo
tâm để nói, [hay nói cách khác] chính là dựa theo thức
để nói. Bởi lẽ, tám thức chính là các tướng
do tâm Chân Như biến hiện. V́ thế, Duy Thức Tông
c̣n được gọi là Tướng Tông.
Khoa
này vốn nhằm giải thích ư nghĩa
“khiến [cho vô lượng người
học Phật] phát đại nguyện”
trong khoa trước. Sao không nói: “V́ sao vậy? Do giáo hóa rộng
lớn, do đoạn Hoặc, do chuyển thức”, cho
đến “độ ḿnh trước rồi mới độ
người khác”? Như thế há chẳng phải là
nghĩa lư trong khoa trước càng rơ ràng, mà cứ ắt phải
nói theo phương diện tương phản vậy? Bởi
lẽ, đoạn Hoặc, chuyển thức v.v… đều
là pháp, đều là chẳng thể chấp lấy. Hễ
chấp lấy, sẽ thành ngă tướng, lại trở
thành phân biệt. V́ thế, chẳng cần biểu đạt,
diễn tả, mà dùng cách nói phủ định để
nhất loạt trừ sạch. Đấy là ư vi tế của
đức Thế Tôn, mà cũng là chánh tông của Bát Nhă vậy!
(Bổ)
Tứ tướng chỉ là một ngă tướng. Hễ
có ta, liền có tướng đối đăi người
khác. Đối đăi không chỉ là một người, tức
chúng sanh tướng. Ngă tướng trong vọng tâm, tiếp
nối trong mỗi niệm chẳng quên mất, tức là
tướng thọ giả. Nếu Bồ Tát thấy có
chúng sanh đắc độ, do chính ta độ, tức
là có ngă tướng. V́ thế, bốn tướng cùng dấy
lên. Có bốn tướng tức là có tâm phân biệt. Có tâm
phân biệt th́ là phàm phu, chẳng phải là Bồ Tát. Tu hành th́ điều
thứ nhất
là phải nên xóa bỏ chữ Ngă, phát tâm v́ hết
thảy chúng sanh. Đấy chính là hàng phục ngă tướng.
Ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn
mà diệt độ, nhưng chúng sanh ương ngạnh,
khiến cho họ tu hành đă chẳng dễ, huống hồ
liễu sanh tử. Nhưng đều chẳng màng,
bất luận nhân hay phi nhân, đều độ họ
thành Phật, cũng v́ họ vốn sẵn là Phật.
Đấy chính là hàng phục tướng người. Diệt
độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, trong tâm chẳng
dấy lên ư niệm làm thế nào để có thể độ
hết. Đấy chính là hàng phục tướng thọ
giả. Thật sự chẳng có chúng sanh được
diệt độ, đấy chính là hàng phục tướng
chúng sanh. V́ sao phải hàng phục như thế? Do phát tâm
vô thượng
th́ phải hành Bồ Tát hạnh, Phổ
Hiền hạnh. Nếu có bốn tướng, sao có thể
gọi là Bồ Tát cho được?
Đức
Phật muốn người tu hành từ văn tự mà khởi
quán chiếu. Chẳng dùng công phu quán chiếu, sẽ chẳng
thể chuyển phàm t́nh. V́ thế, người học cần phải
thực hiện tu tập từ chỗ này. Nay đoạn
kinh văn như thế này trần thuật cặn kẽ
phương pháp quán chiếu. Đối với quán chiếu,
cổ nhân chưa nói cặn
kẽ. Quán (觀)
là quan sát (thoạt đầu dịch là Tư (思),
tức trong tâm suy nghĩ). Thiền Tông [quan niệm]
“chẳng thể dùng tâm ư thức để tham cứu”, tức
là rơ ràng dạy mọi người chớ nên suy nghĩ;
nhưng lại nói “chớ nên đọa vào không suy
nghĩ”, tức là lại phải sử dụng tư duy.
Như vậy th́ do phàm phu lắm tri kiến, ắt phải
“đơn đao trực nhập” (một ḿnh vác
đao tiến thẳng vào) th́ trước hết phải
chặt sạch cành lá. Thiền Tông khán thoại
đầu, cần phải khởi nghi t́nh! Nếu chẳng
suy nghĩ, nghi t́nh do đâu mà dấy lên? Quán là tư duy,
nhưng chỉ tư duy th́ chẳng được! V́ thế,
lại dùng chiếu. Chiếu (照)
chính là Khán (看)
trong nhà Thiền. Như dựa theo văn
tự để khởi quán chiếu, hễ ĺa văn tự,
trở về nơi tâm; sau đấy mới có thể chiếu
trụ. Khi chiếu trụ, nói “có tư duy”, nhưng
chẳng tư duy. Nói “chẳng tư duy”, lại chẳng
phải là không có tư duy. Khi ấy, trong tâm tự nhiên mở
mang trí huệ, mở như thế nào? Tức là vọng
tưởng ngưng lặng, trụ trong Bổn Giác.
Bát
Nhă có Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, và Thật
Tướng Bát Nhă. Văn Tự là nói tới kinh văn. Thật
Tướng là nói cái tánh mà ai nấy đều sẵn có.
Đức Phật nói Bát Nhă, tức là hy vọng người
học sẽ chứng cái tánh vốn sẵn có ấy.
Như thế nào th́ có thể chứng? Tức là hăy nên dựa
theo văn tự để khởi quán chiếu. Nếu chẳng
quán chiếu, văn tự là văn tự, chẳng thể
tiêu quy tự tánh, chẳng thể thọ dụng! Chúng ta
đọc tụng kinh Kim Cang, vốn là mong tiêu quy tự
tánh. Đức Phật cũng v́ thế mà nói kinh này. Vậy
th́ đạo lư quán chiếu, phương pháp quán chiếu,
chẳng thể không biết. Không chỉ Bát Nhă là phải
quán chiếu, mà hết thảy Phật pháp, hễ nói đến
sự tu tŕ, hết thảy các pháp môn đều chẳng
ra ngoài quán chiếu.
Ba
điều kiện trong học Phật là Giới, Định,
Huệ. Chẳng có Giới, ba nghiệp thân miệng ư chẳng
thể thanh tịnh. V́ thế, Giới là cơ sở tu học,
là độc lập. Hai chữ Định và Huệ sanh khởi lẫn nhau.
Nói theo cái quả, sẽ là Định Huệ. Nói theo cái
nhân, sẽ là Chỉ Quán. Chỉ (止)
là dừng vọng niệm. Quán tức là quán chiếu chân
tâm. Do Chỉ có thể sanh ra Định, do Quán có thể
sanh Huệ. Đấy là cách nói phối ứng. Thật ra,
công phu Chỉ Quán chỉ có một chữ Quán. Hai điều
ấy thuộc về cùng một sự kiện. “Chỉ”
là lúc mới thực hiện, phải nhiếp tâm một chỗ,
tức là Định như cổ nhân đă nói. Thật ra,
lúc mới thực hiện, chẳng đáng để nói là
Định, nhưng Định do đó mà sanh. Lâu ngày, sẽ
do Định mà sanh ra Huệ. V́ sao vậy? Do sau khi đă
quán thành tựu một loại pháp môn, trí huệ liền
phát sanh, vọng tưởng liền rơi mất. V́ thế,
có Huệ th́ mới có thể thành tựu môn Định ấy.
Lại nữa, thoạt đầu thực hiện th́ nhiếp
tâm một chỗ, ắt phải mười phần vận
tâm th́ mới có thể nhiếp được; có thể
thấy là trong ấy có Quán. Do vậy, nói đi, nói lại,
chỉ có một chữ Quán. Bởi lẽ đó,
Bát Nhă chẳng nói Chỉ mà nói là Quán Chiếu.
Quán
chiếu có nhiều loại phương pháp. Chẳng có
phương pháp, sẽ chẳng thể khởi quán chiếu.
Tuy các tông phương pháp bất đồng, nhưng chỉ
quy[33]
chỉ là một. Như tông Thiên Thai dùng Tam Quán Không, Giả,
Trung. Hoa Nghiêm Tông th́ là Tứ Vô Ngại Quán (Lư Vô Ngại, Sự
Vô Ngại, Lư Sự Vô Ngại, Sự Sự Vô Ngại).
Pháp Tướng Tông th́ Ngũ Trùng Duy Thức Quán. Mật
Tông th́ Đạo Tràng Quán, A Tự Quán[34].
Thiền Tông bèn khán thoại đầu. Tịnh Độ
Tông bèn quán Vô Lượng Thọ Phật. Có kẻ nói “niệm
Phật chẳng phải là Quán”. Lời ấy chẳng
đúng! Cần phải biết
niệm chính là Quán. Nếu vọng tưởng tơi bời,
tán tâm niệm Phật, sẽ chẳng được thọ
dụng. Ắt phải
miệng niệm Phật hiệu, tâm tưởng Phật
Di Đà như ở ngay trước mắt, niệm Phật
như thế, vọng tưởng sẽ
không do đâu mà khởi! Đấy tức là Quán. V́ thế,
dụng công không ǵ trọng yếu bằng tu Quán. Tu Quán là thâu nhiếp
ư căn. Ư căn đă nhiếp trụ, hai nghiệp thân và
khẩu cũng sẽ thâu nhiếp vào một chỗ. V́ thế,
Tịnh Tông tâm tưởng Phật, miệng niệm Phật,
tay cầm xâu chuỗi. Mật Tông th́ tâm tác quán, miệng niệm
chú, tay kết ấn. Có thể thấy bất luận dụng
công như thế nào, đều là chẳng tác Quán[35]
th́ sẽ không thể được! Trong Giáo Hạ, Tam
Quán Không, Giả, Trung và Tứ Vô Ngại Quán tợ hồ là các cách
quán bất đồng, nhưng lư là một,
chớ nên không biết! Nếu không, đối với kinh
điển của các tông do chẳng thể dung hội, sẽ
có mâu thuẫn!
Phương
pháp để tác
quán từ đời Đường
trở về sau, trừ Thiền Tông ra, các tông khác nói đến
điều này ngày càng ít dần. Như tông Thiên Thai khi giảng
giáo nghĩa th́ đối với lư Không, Giả, Trung phát
huy khá tường tận, nhưng khi dụng công, chẳng
nhất định sẽ dùng pháp ấy. Chỉ có Thiền
Tông từ xưa tới nay, luôn nói “hướng thượng
nhất trước”[36],
lại c̣n “chẳng được dùng tâm ư thức để
tham cứu”. Do vậy, có người sáng lập các pháp
môn khác vẫn dùng Tư, chỉ riêng Thiền Tông nói không cần
dùng Tư, lại c̣n dẫn kinh “chẳng thể dùng cái
tâm sanh diệt làm cái gốc
để tu nhân” ḥng chứng thực.
[Người học Thiền cho rằng không cần dùng
tư duy] là v́ chẳng biết [cổ đức] nói “không
được dùng tâm ư thức để tham cứu”
chính là chẳng cho phép dùng phàm t́nh để suy đoán! Hễ
dùng đôi chút ư thức, tức là phàm t́nh. Dùng tâm t́nh phàm phu
để suy đoán lời Phật, quyết chẳng có lẽ
ấy! V́ thế, chẳng cho phép. Xưa nay lại có
người nói “Quán tức là Chiếu, Chiếu là chiếu
trụ”, nhưng cổ nhân đối với cách nói này
đă phê b́nh: Do coi như thế là chiếu trụ th́ chính là
ám chứng[37].
Do đă chẳng chấp thuận dùng phàm t́nh để suy
đoán, Chiếu lại là ám chứng, nhưng nghĩa gốc
của Quán lại là Tư Duy. Do vậy, người học
chẳng có chỗ nào để noi theo.
Như
vậy th́ rốt cuộc nên thực hiện tu Quán như
thế nào? Ở chỗ này, bỉ nhân đă tham cứu trải
qua nhiều năm, do sách Đại Thừa Chỉ Quán của
Nam Nhạc đại sư mà ngộ được lư ấy.
Cổ nhân nói “chẳng dùng cái tâm ư thức để tham
cứu”, tức là “đừng lấy cái tâm sanh diệt
làm gốc để tu nhân”. Ư Phật thật sự chẳng
phải là như vậy, mà là nói người học Phật
thoạt đầu phát tâm, chẳng thể dùng cái tâm sanh diệt
làm cái nhân để tu tập. Như kinh này nói “thiện
nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tâm” chính là ư đó. Tới khi dụng
công trong thực tế, cần phải dùng tư duy. Như
kinh này nói “tất cả hết thảy các loài chúng sanh,
ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn
mà diệt độ”; đó tức là tư duy. Thoạt
đầu, phát Vô Thượng Bồ Đề chính là xứng
tánh mà khởi tu, tức là nói “chẳng lấy cái tâm sanh
diệt làm cái nhân để tu”. C̣n như khi tu hành, ắt
dùng quán chiếu, tức là tư duy. Thiền Tông nói “chẳng
thể dùng tâm ư thức để tham cứu”; đấy
chính là nỗi khổ tâm của tổ
sư. Thật ra, vẫn cần
phải tư duy. Chẳng tư duy sẽ
chẳng thể khởi nghi t́nh! C̣n như chẳng dùng phàm
t́nh suy đoán, lại là một chuyện khác!
V́
sao biết từ sau đời
Đường, các tông khác phần nhiều chẳng
tác quán? Chuyện này có thể dùng lời của Thiện
Đạo đại
sư trong Thập Lục Quán Kinh Sớ để
làm chứng. Ngài nói: “Người hiện thời độn
căn, tu Quán chẳng thể thành. V́ thế,
chỉ đề xướng niệm Phật”.
Đó là nói pháp Quán trong Quán Kinh rộng lớn, tâm lượng
phàm phu chẳng thể tương ứng. Chẳng thể
do Thiện Đạo đại sư có lời ấy, mà gạt bỏ quán
pháp, chẳng nói tới nữa! Từ sau giữa đời
Đường, Mật Tông cực thịnh một thời,
chẳng lâu sau tiêu diệt. Hoa Nghiêm Tông cũng thế. Thiên
Thai Tông
giữa chừng
cũng suy vi. Trải qua sự đề xướng của
hai vị đại sư Tứ Minh và Từ Vân, các kinh sớ
lại từ Nhật Bản được đưa về,
có thể trung hưng. Nhưng hai vị ấy thực tế
dụng công cũng dùng Tịnh Độ, chẳng phải
là Chỉ Quán! Sau đời Tống, trong Tịnh Độ
Tông c̣n có mấy vị đại sư, nhưng phần
nhiều cũng chẳng nói tới phương pháp tác quán.
V́ thế, chỉ có Thiền Tông vẫn c̣n có Quán môn, người
đời sau tu hành [Thiền Tông]
chưa từng chẳng nhiều,
nhưng người đắc lực rất ít. Điều
ấy cũng khá có quan hệ với chuyện chẳng giảng
phương pháp tác quán.
Lại
nữa, người tu hành thường là lúc mới tu th́ rất
đắc lực, về sau biến đổi. Đấy
cũng là do chẳng biết tác quán, [sẽ cảm thấy
tác quán] khô khan vô vị đến nỗi như thế
đó. Lại có người đọc tụng kinh điển
Đại Thừa, có thể hiểu rơ lư ấy, kết quả
là ngược ngạo nẩy sanh tà kiến, cũng là do
không biết tác quán. Lại có người đọc tụng
kinh điển rất nhiều, nhưng đạo lư là
đạo lư, chẳng ăn nhập ǵ với thân tâm, tham,
sân, si phiền năo chẳng thể trừ mảy may,
cũng là do chẳng biết tác quán. Quán tức là tư duy.
Chiếu có hai nghĩa: Một là chiếu trụ, hai là chiếu
kiến. Chiếu kiến tức là nói về lúc công phu đă tu thành, như “chiếu kiến
Ngũ Uẩn giai Không” trong Tâm Kinh vậy. Đại
để, chiếu kiến do chiếu trụ mà có. Chiếu
trụ là do tư duy mà có. Chẳng tư duy, sẽ chẳng
thể chiếu trụ. Chẳng chiếu trụ, sẽ chẳng
thể chiếu kiến. Tư duy lâu ngày, tâm đă gởi gắm
một chỗ, tức là chiếu trụ. Khi đó, khá nhiều
vọng niệm tạm thời đ́nh chỉ, chẳng nổi
lên quấy rối. Nếu quấy rối tức là chẳng
thể đ́nh chỉ. Một niệm hiện tiền chân
tâm th́ ai nấy đều vốn sẵn có, chỉ do vọng tưởng quấy
rối, cho nên chẳng giác. Hễ vọng tưởng ngừng
lại, quang minh vốn có sẽ tự nhiên phát lộ.
Đấy chính là trí huệ. Quán chiếu th́ cần phải
quán tâm tánh của chúng ta. Đó gọi là “tiêu quy tự
tánh”. Nhưng phàm phu quán chiếu chẳng đến mức,
hoàn toàn là một cái thùng sơn đen kịt, hoàn toàn là vọng
tâm, sao có thể thực hiện được? Chỉ có
chiếu theo lời đức Phật dạy để
quán, tức là trước hết hăy dụng công nơi
văn tự trong kinh Phật.
Đức
Phật nói phương pháp quán chiếu, chẳng chấp
thuận chúng ta dùng phàm t́nh để suy đoán. Như trong
đoạn kinh văn này, nếu dùng phàm t́nh để suy
đoán, mà chẳng dùng Quán, sẽ chẳng thể hiểu
rơ. Người đời đọc kinh chuyên cầu
nơi văn tự, ngỡ là đă hiểu ư nghĩa,
đúng là muôn vàn chẳng thể! Như đối với
câu “ưng như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên
hàng phục cái tâm như thế), dùng phàm t́nh để suy
lường, đương nhiên sẽ có nhiều cách giải
thích. Làm như thế chẳng được, hăy nên trừ
bỏ đi. Nếu tưởng
lại có cảnh
giới khác, lại cần phải trừ bỏ đi.
Tưởng rồi lại tưởng, đều là chẳng
được. Càng tưởng càng tiến, lâu dần
như ngây ngốc. Chỗ hay khéo là ở chữ Ngốc
này! Cổ nhân nói: “Cần phải một phen chết ngất”,
tức là chết mất cái vọng tâm ấy. Dụng công
như thế, hoặc nửa năm, hoặc một
năm, bỗng dưng khai ngộ. Phải thỉnh cầu
thiện tri thức chứng minh điều ấy có phù hợp
hay không? Nếu chẳng có thiện tri thức, hăy lấy
kinh Phật để chứng minh. Nếu kinh Phật chẳng
có cách nói ấy, tức [sự “khai ngộ”
ấy] vẫn là phàm t́nh suy đoán. Như thế
th́ vọng tưởng trong cái tâm này đă đoạn chẳng
ít. Tuy chẳng thể ngay lập tức tiêu quy tự tánh,
nhưng đă tiêu quy chẳng ít. V́ thế, cần phải
đọc tụng kinh điển Đại Thừa cho
nhiều. Kinh này chỗ nào cũng đều nói “đọc
tụng, thọ tŕ”, tức là quán chiếu vậy!
Lại
“quán tất cả hết thảy chúng sanh” cho tới “thật
sự không có chúng sanh được diệt độ”,
kinh văn trong phần trước nói về hàng phục,
đoạn này sao chẳng nói tới hàng phục là do ư
nghĩa nào vậy? Đấy chính là dạy chúng ta hăy
mở rộng tâm lượng tới mức to lớn vô
lượng vô biên. Do cái gốc bệnh to lớn của
chúng sanh chính là tâm lượng nhỏ hẹp. Do nhỏ hẹp,
nên chấp ngă. V́ thế, đức Phật dạy mở
rộng cái tâm ấy, ngấm ngầm chuyển đổi.
Đó gọi là “đại nhi hóa
chi” (dung hội quán thông đạo đức,
đạt tới cảnh giới siêu phàm).
Nếu trong sinh hoạt thường nhật, luôn luôn quán
chiếu như vậy, đem tâm lượng đă
được rộng mở như đức Phật
đă nói chuyển thành [tâm lượng của] chính ḿnh;
đấy chính là diệu pháp để trừ ngă kiến,
khử phiền năo.
Lại
xem đoạn văn tự này, chỗ kết quy thật sự
là câu “thật sự chẳng có chúng sanh được
diệt độ”; đấy chính là dạy chúng ta trừ
ngă kiến, nhưng hoàn toàn chẳng nói thẳng là ngă kiến,
chỉ riêng chú trọng hướng về phía chúng sanh
để tác quán. V́ phàm phu chấp ngă, một khắc
cũng chẳng lơi lỏng. Nếu chú trọng nơi
ta để tác quán, sẽ chẳng thể đắc lực.
V́ thế, quán theo phía chúng sanh, quán nhân duyên tụ hợp,
[nhận biết] cái Thể của nó là Không. Lại nữa,
do
chúng sanh đồng Thể, quán chiếu
như thế, sẽ bất tri bất giác tự nhiên trừ
khử, tiêu mất ngă chấp. Đấy chính là
phương pháp thiện xảo để tiêu quy tự
tánh. Lại quán hoặc là noăn sanh cho đến Phi Hữu
Tưởng Phi Vô Tưởng, có thể thấy hết thảy
chúng sanh, chẳng ai không có dục, sắc, thức. Chẳng
chuyển dời ba thứ ấy, sẽ vĩnh viễn
luân hồi trong tam giới. Do biết dục chẳng thể
không đoạn, sắc tướng chớ nên chấp
trước, t́nh thức ắt cần phải chuyển dời;
quán chiếu như thế, sẽ có thể bất tri bất
giác trừ bỏ ba thứ dục, sắc, thức.
Lại
quán đều nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ.
Chúng sanh đă nhiều như thế, nhưng loài noăn sanh
ngu xuẩn, tánh cố định khó giáo hóa; Hữu Tưởng
và Vô Tưởng th́ kiêu căng, làm sao để có thể
diệt độ trọn hết? Nhưng Phật là bậc
vô duyên đại từ, chỉ cần [chúng sanh] tiếp
cận ta
đều sẽ đắc độ. Hăy quán chiếu
như thế này: Chính ḿnh lạm dự làm nhân loại, trên
là c̣n chưa tu đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Thiên, dưới th́ so ra cao minh hơn loài noăn sanh và thấp
sanh, hăy nên học theo Phật mà thành Phật, cái tâm vô
thượng sẽ có thể tự nhiên khởi lên, vọng
tâm sẽ tự có thể chuyển.
Lại
quán câu “thật sự chẳng có chúng sanh được
diệt độ” tiếp ngay theo câu “vô lượng
vô số vô biên chúng sanh”, có thể thấy là hễ có một
chúng sanh chưa đắc độ, nguyện của ta chẳng
tận. Quán sát lời Phật như thế, Lư chẳng ĺa
Sự, Sự chẳng ĺa Lư, tức là Lư và Sự cùng dung hội.
“Ta đều khiến cho họ nhập Vô Dư Niết
Bàn mà diệt độ” tức là trừ khử chấp
Không. “Thật sự chẳng có chúng sanh được
diệt độ” là trừ khử chấp Có. Hai bên
đều trừ, tức là Song Giá (cùng ngăn cả hai
bên, tức là cùng trừ khử cả hai bên). Hai bên lại
cùng thực hiện, tức là Song Chiếu. Đấy chính
là “Giá Chiếu đồng thời”. Do tu Quán như thế
đó, sẽ có thể chứng cái quả “tịch chiếu
đồng thời”. “Hết
thảy chúng sanh đều diệt độ”
là đại bi. “Thật sự chẳng có chúng sanh
được diệt độ” là đại trí.
Đấy là bi và trí cùng dung thông, sẽ có thể đạt
được Phật quả chẳng trụ sanh tử,
chẳng trụ Niết Bàn. “Ta đều khiến cho họ
nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ” là tu
phước, “thật sự chẳng có chúng sanh
được diệt độ” là tu huệ. Đó là
phước huệ song tu, có thể chứng quả Lưỡng
Túc Tôn.
Hai
chữ Kim Cang chính là đoạn Hoặc. “Hoặc” chẳng ngoài Kiến
Tư, Kiến Tư chính
là ngă tướng. Kinh này đúng là có tác dụng đoạn
ngă tướng cực lớn. Tiêu trừ ngă kiến chính là chuyển thức thứ
bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí. “Đều nhập Vô
Dư Niết Bàn mà diệt độ”, chẳng dấy
lên phân biệt, tức là chuyển thức thứ sáu thành
Diệu Quán Sát Trí. “Thật sự chẳng có chúng sanh
được diệt độ” tức là chuyển thức
thứ tám thành Đại Viên Kính Trí. Do vậy, trong đoạn
sau có câu nói: “Nhất thiết chư Phật, cập
chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
pháp, giai tùng thử kinh xuất”
(hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ
kinh này mà ra), há chẳng phải thành Phật ở ngay trong
đoạn kinh văn này hay chăng?
Hết
thảy kinh điển Đại Thừa, hễ nói tới
người phát đại tâm Đại Thừa, [luôn nói] “chưa
thể tự độ mà mong độ người
trước đă”. Đó chính là đại bi. Nhưng
độ người khác chính là tự độ! Đối
với loại đạo lư này, nếu quán chiếu rành rẽ,
th́ Phật pháp thoạt nh́n dường như rộng lớn
vô biên, thật ra là đậm vị thân thiết! Thoạt
nh́n dường như cao sâu, vốn thật ra b́nh dị,
chất phác. Gởi tâm nơi đoạn kinh văn này
để luôn luôn quán chiếu, tâm gởi vào một chỗ,
vọng tưởng liền dần dần tiêu trừ. Tức
là do mấy câu này mà thành Phật có thừa vậy! Lại
thấy đoạn kinh văn này chẳng nói hàng phục mà
chính là hàng phục. Đó là muốn cho chúng ta phát khởi
nguyện ấy, kiên cường ư chí, ngă chấp, ngă kiến
hết thảy đều quét sạch, hàng phục liền
ở ngay trong đó, tự nhiên thọ dụng. Hằng
ngày hăy đặt đoạn kinh văn này trong tâm, sẽ
thọ dụng vô cùng. V́ vậy, cần phải quán chiếu!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.
Nêu rơ chẳng trụ nơi tướng chính là chánh trụ
Chia thành bốn
đoạn:
1)
Giảng thẳng vào vô trụ.
2)
Giải thích rơ
nguyên do.
3) Kết
lại lời dạy về chánh trụ.
4) Lại
nêu rơ nguyên do.
Đoạn
thứ nhất lại chia thành ba tiểu tiết.
2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.
Giảng thẳng vào vô trụ
2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.1.
Nêu bày
(Kinh)
Phục thứ, Tu Bồ Đề! Bồ Tát ư pháp,
ưng vô sở trụ, hành ư bố thí.
(經)復次,須菩提!菩薩於法,應無所住,行於布施。
(Kinh: Lại này Tu Bồ Đề! Bồ Tát
đối với pháp hăy nên đừng trụ vào đâu
để hành bố thí).
(Bổ)
“Phục” là lại. “Thứ” là thứ tự. Chữ
Pháp bao gồm muôn h́nh tượng, hết thảy mọi sự,
mọi vật, bất luận mắt thấy, tai nghe, dẫu
chẳng thể thấy, chẳng thể nghe mà hễ tâm
tưởng đến, cũng gọi là Pháp. Phàm là pháp thế gian và pháp xuất thế gian đều
được bao gồm trong ấy. V́ thế, nói là “nhất
thiết pháp” (hết thảy các pháp). “Ưng vô sở
trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu) chính là giải
đáp [cho câu hỏi] “ưng vân hà trụ” (hăy nên trụ
như thế nào). “Trụ” là chấp trước.
Chúng sanh chỗ nào cũng chấp trước, chẳng phải
chấp Đông th́ sẽ chấp Tây. Lời đáp này của
đức Thế Tôn chính là một gậy gơ thẳng vào
đầu! Bố Thí là một môn trong Lục Độ. [Lục
Độ] c̣n gọi là Lục Ba La Mật. Kinh Đại
Bát Nhă đối với Lục Ba La Mật, mỗi mỗi
đều nêu ra. Kinh này chỉ nói tới Bố Thí. Nói theo
mặt văn tự th́ chính là tránh rườm rà, hướng đến chỗ giản lược. Bố Thí có thể bao gồm hết
thảy các pháp, Phật pháp phải hành, đừng nên “trụ”.
Hai câu này c̣n có thể nói là “ưng đương vô sở
trụ, nhi hành nhất thiết pháp” (hăy nên chẳng
trụ vào đâu để hành hết thảy các pháp).
Phàm
trong kinh, hễ để hai chữ “phục thứ”,
ắt là đoạn kinh văn ấy có mối quan hệ mật
thiết với đoạn kinh văn trước đó.
Trong ấy, có hai nghĩa: Một là bổ túc nghĩa
trước; hai là nói rộng thêm
nghĩa trước. Phần kinh văn trước đó
giải đáp “hàng phục”, phần này đáp về “trụ”.
Thoạt nh́n dường như là một nghĩa khác,
nhưng thật ra là cùng một sự kiện. Bởi lẽ, trước
đó nói “hàng phục” tức là đă chứa đựng
ư nghĩa “trụ mà chẳng trụ”. Ở đây nói “vô
trụ mà trụ” cũng chứa đựng ư “hàng phục”,
soi sáng lẫn nhau! Lại nữa, phần trên là phát đại
nguyện, ở đây là khởi đại hạnh. Nguyện
và hạnh chẳng thể tách rời. Có nguyện ắt có
hạnh, có hạnh ắt có nguyện. Lại c̣n chẳng
phân biệt trước sau, phải thực hiện bằng
hạnh th́ mới chẳng phải là nguyện suông! V́ thế,
có mối quan hệ mật thiết. Đấy là bổ
túc ư được nói trong phần kinh văn trước
đó. Lại nữa, phần trước là phát đại
tâm diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng
sanh, mà chưa nói phương pháp độ sanh. Phần này
chính là nói pháp độ sanh, nói rơ hơn một tầng. “Ưng
vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu) tức
là chẳng chấp Hữu. “Hành Bố Thí” là lại chẳng
chấp Không. Đấy chính là Trung Đạo, chẳng
rơi vào hai bên!
Đối
với ư nghĩa của Lục Độ, phải nên biết
đại lược. Lục Độ là Bố Thí, Tŕ Giới,
Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, và Bát Nhă.
Lục Độ chẳng ngoài Giới, Định, Huệ,
nhằm đối trị tham, sân, si.
1) Bố
Thí có ba loại là Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí. Dùng các vật dụng
sinh hoạt thường nhật như thức ăn, y phục,
thuốc thang v.v… để thí cho người khác, ắt cần
phải dùng tiền bạc, nên gọi là Tài Thí. V́ người
khác giảng kinh, thuyết pháp, hoặc in tặng kinh điển.
Cho đến các sách vở thế gian, chỉ cần hữu
ích cho người khác,
đều dùng để bố thí, đó là Pháp Thí. Vô Úy Thí
tức là cứu khổ, cứu nạn.
Chúng sanh trong tai nạn, ắt có nỗi kinh hoảng, ta
đến cứu họ, khiến cho họ chẳng sợ
hăi. Chỉ cần có thể cứu, dẫu xả thân mạng
cũng chẳng đoái hoài; đó là Vô Úy Thí. Ba
tức là một, một tức là ba. Như cứu người
khổ nạn, khiến cho họ không sợ hăi, chẳng
ngoài dùng Tài Thí và Pháp Thí. Có thể thấy là khi Tài Thí th́ Pháp
Thí và Vô Úy Thí cũng ở trong đó. Lại nữa, v́
người khác thuyết pháp, đó là pháp tài. Trao cho người
khác kinh điển, khiến cho họ tăng trưởng
phước huệ, tức là Vô Úy Thí. Lại tách ra th́ có nội
thí và ngoại thí, cho đến cứu cánh thí (bố thí rốt
ráo). Như trong kinh Hoa Nghiêm đă nói các danh mục [bố
thí] cực nhiều, gộp lại th́ là một. Tu bố
thí nhằm phá tâm keo tham. Tham ắt keo, keo ắt tham. Điều
này gây tạo đủ loại nghiệp, ở măi trong biển
khổ sanh tử.
V́ thế, ắt phải phá trừ!
2)
Giới là giới luật. Chữ Tŕ
(持)
khác với chữ Thủ (守).
Khăng khăng vâng giữ, chẳng lơi lỏng
một khắc nào là Tŕ. Giới có tại gia và xuất gia
khác biệt. Tại gia có Tam Quy, Ngũ Giới, Bồ Tát Giới,
và Tam-muội-da giới của Mật Tông. Xuất gia có Tam
Quy, Sa Di Giới, Tỳ-kheo Giới, Bồ Tát Giới. Tuy
Ngũ Giới chỉ là năm điều “giết, trộm,
dâm, dối, uống rượu”, nhưng là căn bản của
hết thảy các giới. Ngay như giới xuất gia
cũng dựa trên năm điều ấy, chỉ là chia
chẻ đặc biệt tỉ mỉ mà thôi! Bồ Tát Giới
của người xuất gia gồm mười giới
trọng và bốn mươi tám giới khinh (đó là Phạm
Vơng Bồ Tát Giới), đức Phật v́ hàng xuất gia
mà chế định, cũng chấp thuận cho người
tại gia thọ giới ấy, bất quá chính ḿnh cần
phải cân nhắc có thể thọ được th́ mới
nên! Nếu không, đức Phật v́ hàng ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di mà chế giới Bồ Tát (Ưu Bà Tắc Giới
Kinh), giản đơn hơn người xuất gia, gồm
sáu giới trọng và mười hai giới khinh. V́ thế,
hàng tại gia nên thọ giới này th́ tốt
hơn.
Tŕ
giới là cơ sở trọng yếu nhất trong học
Phật. Như xây nhà, chẳng đắp nền móng kiên cố
trước, sẽ chẳng được! Nếu không,
nhà ắt sụp đổ. V́ vậy, kinh này nói người
tŕ giới, tu phước có thể sanh ḷng tin đối với
chương cú này, coi đó là thật, có thể thấy hết
thảy Phật pháp đều được xây dựng
trên giới luật. Giới điều tuy nhiều, chẳng
ngoài hai môn: Một là Chỉ Tŕ, hai là Tác Tŕ.
a)
Chỉ Tŕ là dụng công nơi phương diện tiêu cực.
b)
Tác Tŕ là dụng công nơi phương diện tích cực.
Chỉ
Tŕ tức là các điều ác đừng làm. Tác Tŕ tức
là vâng làm các điều thiện. Hai từ ngữ này bị thế gian lạm
dụng, thật sự phát xuất từ kinh Phật.
Người học trước hết phải tŕ nơi
phương diện Chỉ, lại tiến cao hơn là tŕ
nơi phương diện Tác. Như “chẳng giết” cố
nhiên là tốt đẹp, nhưng chỉ là Chỉ Tŕ. Tiến
hơn nữa là khuyên người khác cũng kiêng giết, tức là Tác Tŕ.
Không chỉ kiêng giết, c̣n phải
phóng sanh, sẽ là Tác Tŕ. Có người nói: “Tôi có thể
kiêng giết, kiêng trộm”. Chuyện này há dễ dàng ư?
Như kiêng giết th́ đối với muỗi, ruồi,
nhặng cũng chẳng hại sanh mạng của chúng th́
mới được! Giả sử có chuyện ǵ chưa
từng nói rơ với người khác, mà cứ cho là [vật
dụng] thuộc về ḿnh [để tự tiện sử
dụng] th́ chính là phạm giới trộm cắp. Lại
như ở cơ quan công cộng, do việc riêng tư mà lạm
dụng một bao thư, một tờ giấy viết
thư của công sở, cũng là phạm
giới trộm cắp! Đối với giới dâm,
đức Phật chỉ chế định người
tại gia chẳng tà dâm, cũng là pháp môn phương tiện.
Thật ra là ắt phải đoạn dâm, do nó là căn bản
của sanh tử! Giới vọng ngữ, cộng thêm ác khẩu,
nói đôi chiều, nói thêu dệt, mà tách ra thành bốn điều.
Dùng lời ác để chửi bới là ác khẩu. Khuấy
động thị phi là nói đôi chiều. Miêu tả t́nh cảm
nam nữ là ỷ ngữ (nói thêu dệt), văn nhân dễ
phạm nhất. Thoạt đầu, đức Phật chế
căn bản đại giới, vốn chỉ có bốn
điều là giết, trộm, dâm, dối. Về sau, do
rượu có thể loạn tánh, lại thêm giới ấy.
Bốn
điều đầu là tánh giới, điều cuối
là giá giới (遮戒, giới mang tánh chất
pḥng hộ, giúp cho hành nhân chẳng phạm tánh giới). V́
thế, đối với giới uống rượu, có
khi “khai” (tạm thời cho phép) như khi do bệnh mà
cần phải dùng rượu, đức Phật cũng
cho phép. Tŕ giới cần phải hiểu lư “khai, giá”.
“Khai” là chẳng ngăn cấm, “Giá” là không cho phép.
Có khi cho phép khai, hễ khai th́ chẳng phạm. V́ thế, cần
phải biện định rơ ràng chuyện “khai, giá”.
Nếu không, chẳng thể tŕ giới viên măn! Đức
Phật chế định giới luật, càng nghiêm mật
hơn pháp thế gian. Như người chỉ thọ giới
thuộc bước đầu, chẳng được
xem giới luật thuộc bước cao hơn. Hễ
xem th́ là trộm pháp! Nói theo người xuất gia, sa-di chẳng
được phép xem giới tỳ-kheo, tỳ-kheo cũng
chẳng được xem Bồ Tát giới, v́ tŕ pháp sai
khác, cho nên chẳng thọ th́ chẳng được xem!
Người tại gia chẳng được xem giới
luật của người xuất gia, v́ giới xuất
gia rắc rối, nặng nề tột bậc. Như tỳ-kheo
có hai trăm năm mươi giới, tỳ-kheo-ni có ba
trăm tám mươi bốn giới. V́ sao người tại
gia không được xem? Đấy chính là nỗi khổ
tâm của đức Phật, sợ kẻ tại gia do vậy
mà tạo ác nghiệp. Bởi lẽ, chúng sanh thường
phạm một loại bệnh lớn: Trách người
khác th́ chi ly, trách chính ḿnh th́ khoan dung. Giới tỳ-kheo thật
sự khó tŕ, hở ra là phạm giới. Sợ
cư sĩ xem giới bổn tỳ-kheo, chính ḿnh trọn
chẳng thọ, mà chỉ trích người xuất gia
đâm ra sâu nặng hơn! Hơn nữa, đức Phật
chế giới luật, chẳng giống như pháp thế
gian chỉ có các điều khoản, như nói một giới
điều nào đó, ắt trước đó đem lư đáng nên
tŕ và sự thật nói cặn kẽ
trước rồi mới ấn định điều ấy.
Thuở ấy, trong Phật môn có nhiều vị đệ
tử tŕnh độ đă cao, vẫn
chẳng tránh khỏi phạm giới, sợ người học
nghĩ rằng “họ c̣n vi phạm, bọn ta có thể
khoan thứ”. Do vậy, chẳng cho phép xem! Tŕ
giới th́ tham, sân, si đều bị phá trừ. Nếu
nói phân biệt, giới sát nhằm đối trị kẻ
nhiều sân, giới trộm nhằm đối trị kẻ
nhiều tham, giới dâm nhằm đối trị kẻ
nhiều tham và si. Giới nói dối cũng nhằm đối
trị kẻ nhiều tham và si. Giới kiêng rượu nhằm
đối trị tham, sân, si. Thoạt đầu tŕ giới,
chú trọng nơi sự. Nếu sau khi đă thọ Bồ
Tát giới, hễ dấy niệm trong tâm th́ chính là phạm
giới.
3)
Nhẫn Nhục c̣n dịch là An Nhẫn. Nhẫn Nhục là
một trong các thứ An Nhẫn. Nhẫn (忍) đừng hiểu
là chịu đựng, mà nên hiểu là ư “thuận thọ”
(順受,
thuận theo để tiếp nhận). V́ thế,
An Nhẫn là an tâm tùy thuận tiếp nhận. Kẻ khác
vũ nhục ta, khó thể nhẫn nhất. Nhục mà có thể
nhẫn th́ không chuyện ǵ chẳng
thể nhẫn. V́ thế, nói Nhẫn Nhục để
khái quát những điều khác. Lại nữa, Nhẫn
không chỉ nói đối ứng với nhục; trong kinh Phật c̣n
có Pháp Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn. Như đức Phật
thuyết pháp, chúng ta có thể tuân theo thật hành, chẳng
sai lệch mảy may, đó là Pháp Nhẫn. Lại đối
với lư “sanh vốn vô sanh”, chúng ta có thể hiểu
rơ, có thể thật hành chẳng sai lệch mảy may;
đó là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Nhẫn nhục nhằm phá trừ
sân tâm.
4)
Tinh Tấn là tiến lên trước, có hai nghĩa là tinh tế
và tinh mật. Tuy tiến lên trước mà trọn chẳng
tuân theo mù quáng, đó là tinh mật. Noi theo từng bước,
tiến lên trước nhưng không vượt bỏ thứ
tự; đó là tinh mật. Tinh tấn là phá trừ giải
đăi.
5)
Thiền Định là tiếng Phạn và tiếng Hán cùng
dùng. Tiếng Phạn là Thiền Na (Dhyāna, Jhāna), tiếng Hán là Định, cho nên cùng nêu cả hai
để kẻ khác biết là Định trong Phật môn
chẳng phải là Định của ngoại đạo. Giống
như sám hối, Sám là Sám-ma (kṣama) trong tiếng Phạn, Hối (悔) là tiếng Hán. V́ vậy, cùng nêu lên, nhằm nói rơ sự sám hối trong nhà Phật, có
đủ loại phương pháp như lễ bái v.v… chẳng
giống như sự hối lỗi b́nh phàm. Gởi tâm một
chỗ, lâu sau đắc Định, đắc Định
th́ gọi là tam-muội. Thiền Định nhằm đối
trị tán loạn, hôn trầm, điệu cử (掉舉, lao chao chẳng yên) v.v…
6)
Bát Nhă (Prajñā) là
phiên âm, nhằm nói chánh trí phát sanh từ tánh thể, chẳng giống
như Thế Trí Biện Thông. Thế Trí Biện Thông là một
trong tám nạn. Sợ lẫn lộn với trí huệ thế
gian; do vậy, chẳng dịch là Trí
Huệ, mà dùng Bát Nhă. Bát Nhă nhằm đối
trị ngu si.
Nói
Lục Độ, nhưng thật ra là Giới, Định,
Huệ, ba Độ kia bổ trợ
cho Tam Học. Tuy nói Lục Độ, nhưng chủ
chốt là Bát Nhă. V́ thế, nếu Bát Nhă chẳng phát sanh,
năm Độ kia cũng chẳng thể gọi là Ba La Mật.
Ở đây, đức Phật nói năm Độ là chân,
Bát Nhă là mắt. Từ Bố Thí cho đến Thiền
Định th́ pháp thế gian cũng có. Phật pháp tinh vi rộng
lớn, có thể phổ độ chúng sanh thoát khỏi hết
thảy các nỗi khổ, giải quyết hai tầng sanh
tử
(Biến Dịch và Phần Đoạn),
cho tới “chẳng trụ trong sanh tử, chẳng trụ
trong Niết Bàn”, không ǵ chẳng phải là công sức của
chánh trí Bát Nhă. V́ thế, chẳng hiểu rơ Bát Nhă, sẽ chẳng
thể nhập Phật môn.
Trong
kinh, đối với Lục Độ,
chỉ nêu một Độ là Bố Thí, do Lục Độ
có thể nhiếp vạn hạnh, Bố Thí lại có thể
nhiếp năm Độ kia. Bố Thí ngoại trừ Tài
Thí ra, như Pháp Thí có thể nhiếp Tinh Tấn, Thiền
Định, Bát Nhă. Bởi lẽ, Phật pháp chú trọng
Định và Huệ nhất, nơi nhân là Chỉ Quán,
nơi quả là Định Huệ. Người thuyết
pháp ắt có Chỉ Quán, có công phu tinh tấn th́ mới có thể
v́ người khác nói. Như Vô Úy Thí có thể nhiếp Tŕ
Giới và Nhẫn Nhục. Tŕ giới là đừng làm các
điều ác, vâng làm các điều thiện, quyết
định chẳng xâm phạm người khác, an nhẫn
thuận thọ, người khác chẳng sợ hăi ta, tức
là Vô Úy Thí.
Cổ
đức giảng giải đoạn kinh văn này, đều
cùng nói “Bố Thí có thể nhiếp Lục Độ, vạn
hạnh”, nên đức Phật nói Bố Thí là đă nhiếp
trọn hết thảy các pháp. Nhưng nói “Bố Thí tức
là hết thảy các pháp” th́ cũng được! Ví
như Pháp Thí, khiến cho người khác biết Tŕ Giới,
Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhă, tức
là năm Độ kia. Vô Úy Thí khiến cho người ta liễu
sanh tử, có thể chẳng sợ hăi, mà để liễu
sanh tử, ắt
cũng phải hành năm Độ kia. Không riêng ǵ Bố
Thí là như thế, hễ tùy ư nêu ra một Độ nào,
cũng đều có thể trọn khắp các Độ.
Như Tŕ Giới ắt cần phải thực hiện
năm Độ kia như Bố Thí v.v… Nhẫn Nhục,
Tinh Tấn, Thiền Định cũng thế, đều
có thể nhiếp hết thảy các pháp. Lại nữa, nếu
năm Độ rời khỏi Bát Nhă, đều chẳng
thể thấy các thật hạnh. Có thể thấy Bát Nhă
là tối cao bậc nhất, là cội gốc của các
Độ. Nhưng v́ sao đức Phật chẳng nêu Bát
Nhă, lại riêng nêu Bố Thí? Đại Trí Độ Luận
nói: “Hết thảy các pháp không ǵ chẳng sanh từ Bát
Nhă”. Do vậy biết: Công phu thật hạnh
hết
thảy các pháp mà có thể chẳng chấp tướng,
đấy chính là Bát Nhă. Do vậy, chẳng nêu ra Bố Thí, sẽ chẳng
được! Bố Thí là thật hạnh. Có thể thấy người tu
Phật pháp, không chỉ hiểu lư mà thôi, ắt cần phải
thực hành th́ mới được! Xét theo sự thực
hành, chỉ có Bố Thí là có thể thâu nhiếp hết thảy
các pháp. Chẳng tu hành hết thảy các pháp, sao có thể
độ hết thảy chúng sanh? Tu hành hết thảy các
pháp mà lại chấp tướng th́ cũng chẳng thể
độ chúng sanh được!
“Chưa thể tự độ,
mà mong độ người khác trước”, đấy là lời
nói thường xuyên của người học Đại
Thừa, nhưng ắt cần phải
trước hết tự vấn: “Chính
ḿnh thật sự có tư cách ấy hay không?” Nếu chẳng thể thiết thực
dụng công, chuyên làm chuyện độ sanh, tức là chẳng
khỏi hướng ra ngoài rong ruổi mong cầu! V́ thế,
Đại Luận nói: “Nếu Bồ Tát phát tâm mà liền hành độ
sanh, chẳng có lẽ ấy!” Vậy th́ như thế
nào mới được? Chính là phải nên phát đại
tâm trước đă, tu hành hết thảy các pháp, rốt
cuộc từ chỗ nào khởi tu? Chính là trước hết
hành bố thí. Bố Thí không chỉ đứng đầu
Lục Độ, mà cũng đứng đầu Tứ
Nhiếp Pháp, tức là Bố Thí, Ái Ngữ, Lợi Hành, và
Đồng Sự. Đức Phật đắp y, dùng
cơm, chỗ nào cũng giống như chúng sanh, chẳng
ra ngoài Tứ Nhiếp. Chúng sanh tánh t́nh ương ngạnh,
chẳng dễ nghe theo. V́ thế, ắt trước hết
cần phải bố thí. Lại dùng lời lẽ khả
ái khiến cho họ thích nghe (đó là ái ngữ). Lại nữa, bất luận là
pháp thế gian, nếu họ muốn hành, cũng phải là lợi hành (làm
chuyện có lợi cho chúng sanh), như cầu con được
con, cầu tài được tài v.v… Lại c̣n làm việc
cùng họ (đồng sự), sau đấy, chúng sanh mới có
thể chịu cho ta nhiếp thọ. V́ vậy, tiết này
chính là tiếp nối khít khao đoạn văn “độ sanh” trước đó,
chỉ bày phương pháp thực hiện vậy.
Hơn nữa, bố thí chính
là hết thảy Phật pháp. Phật pháp từ đầu
tới cuối chẳng ngoài một chữ Xả. Bố
thí chính là Xả. Suy ra, tŕ giới xả tham,
sân, si, nhẫn nhục xả sân, tinh tấn xả giải
đăi, hôn trầm, điệu cử, thiền định
xả tán loạn, hôn trầm, Bát Nhă xả Nhị Biên và ngă
chấp, pháp chấp. Lục Độ không
ǵ chẳng xả! Do vậy biết: Bố thí tuy một
mà là hết thảy. Tu hành Phật pháp từ đầu tới
đuôi, nhất quán đến tột cùng. Kinh văn đối
với việc độ sanh trong phần sau chỉ nói bố
thí, đúng là điều cốt lơi, trọng yếu. Tiểu
Thừa cũng có công phu hành xả, nói “hễ hành liền xả”. Sau chữ Hành trong
đoạn kinh văn này thêm một chữ Ư (tức
câu “hành ư bố thí”), chính là để nhấn mạnh bố thí.
Trong phần trước nói “bố
thí chẳng ngoài một chữ Xả” là nói theo chiều
ngang. Thật ra, dưới là học, trên thấu đạt.
Nói theo chiều dọc, cũng chẳng ngoài một chữ
Xả. Như người nghe kinh, bỏ sự vui sướng
thế gian để học Phật, chư thiên bỏ Dục
Giới liền thăng lên Sắc Giới, bỏ Sắc
Giới liền thăng lên Vô Sắc Giới, bỏ ngă chấp
liền chứng La Hán, bỏ pháp chấp tức là Bồ
Tát, ngay cả Xả cũng xả, liền
thành Phật. V́ thế, nói theo chiều dọc, bố thí
cũng là công phu triệt để.
Đức Phật thuyết
pháp là viên âm, phương diện nào cũng đề cập.
Hành bố thí, nh́n từ bề ngoài th́ chính là “chẳng giữ
lấy phi pháp”. Nhưng bố thí là xả, tức chẳng
giữ lấy pháp. V́ thế, nêu ra một môn Bố Thí,
chính là chẳng chấp hai bên. Trong kinh này, bất luận
câu nào cũng đều là như thế. Có kẻ nghi rằng
đă không chấp lấy pháp, lại c̣n chẳng giữ lấy
phi pháp, người học hở ra là phạm lỗi, tu tập
bằng cách nào đây? Thật ra, chẳng khó! Cần phải
biết: Chúng ta thực hiện bố thí, liền có thể
chẳng chấp vào hai bên. Khi hành, trước hết chẳng
trụ Không, đó là hành nơi pháp. Đức Phật bảo
rằng: “Ninh khả trước Hữu như Tu Di
sơn, bất khả trước Vô như giới tử
hử” (Thà chấp Có như núi Tu Di, đừng chấp
Không chừng bằng hạt cải). V́ thế, trước
hết cần phải lấp kín “trụ trong Không môn”.
Chuyên tâm tu pháp, dốc sức nơi pháp, tức là chẳng
có tướng đoạn diệt. Chỉ cần vừa
hành, vừa chẳng bận tâm tại đó, tức là hai
bên đều chẳng chấp. Nhưng hễ bố thí mà
thấy có làm, tức là trụ, tức là chấp, bất
quá công đức hữu lậu, không phải là chẳng có
công đức! Có người do so đo điều này mà
đọa lạc. Dùng danh từ mới để nói chữ
Xả th́ là Hy Sinh. Làm người trong cơi đời, nếu
v́ xă hội hy sinh, sẽ nhất định có thể chí
công vô tư, v́ nước quên nhà. Có thể biết: Một pháp Bố Thí bao quát hết
thảy! Do vậy, Phật pháp không chỉ là người
xuất thế gian phải nên học, ngay cả kẻ làm
người trong thế gian cũng chớ nên không biết!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.2.
Chỉ bày, giải thích
(Kinh) Sở vị bất
trụ sắc bố thí, bất trụ thanh, hương, vị,
xúc, pháp bố thí.
(經)所謂不住色布施,不住聲香味觸法布施。
(Kinh: Tức là nói chẳng
trụ vào sắc để bố thí, chẳng trụ vào
thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí).
(Bổ) “Sở
vị” là chỉ những điều vừa nói trong phần
trước. Sợ người khác hoài nghi, rốt cuộc
như thế nào là “chẳng trụ mà tu hết thảy các
pháp” vậy? Đức Phật bảo: Đó chính là ta
như trước kia đă nói, chẳng trụ vào Ngũ Uẩn,
mười hai xứ, mười tám
giới, cho đến A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề v.v… Nay nói vắn tắt, bèn nêu ra lục trần
là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Lục trần
là Cảnh trong Cảnh Hạnh Quả của tu hành. Nêu lên
những điều này, sẽ có thể gồm trọn hết
thảy các pháp. Muôn h́nh tượng được thấy
bởi mắt đều là Sắc. Những ǵ tai nghe
được là Thanh. Những ǵ mũi ngửi thấy là
Hương. Những ǵ lưỡi nếm là Vị. Những
ǵ thân căn tiếp
nhận là Xúc. Sự phân biệt do ư căn khởi tâm động
niệm, có khi đối ứng với sắc, thanh,
hương, vị, xúc mà dấy lên, có khi đối ứng
với cái chẳng phải là sắc, thanh, hương, vị,
xúc mà dấy lên, chủng loại cực nhiều, chẳng
thể nêu trọn, bèn gọi là Pháp. Danh xưng Lục Trần
có hai nghĩa:
- Một
là có ư nói chúng vô lượng vô biên, nhiều như vi trần.
-
Hai là có ư nghĩa “nhuốm bẩn”. Chúng ta hễ có bị
thứ ǵ dính vào, liền bị bẩn.
“Bất
trụ” (chẳng trụ) chính là “chẳng chấp
trước”. Hễ có chấp trước, tức là tâm chẳng
thanh tịnh. Như nói theo bố thí, nếu làm mà thấy
chính ḿnh đang thực hiện, tranh lấy thể diện
cho chính ḿnh, tức là trụ vào sắc. Lại muốn kẻ
khác biết tới, tức là trụ nơi thanh. Lại muốn
cho ai nấy nghe biết tiếng thơm ấy, tức là
trụ nơi hương. Muốn cho ai nấy đều
khen ngợi,
tức là trụ nơi vị. V́ để đạt
được quả báo mai sau, tức là trụ nơi
xúc. Nếu hữu tâm mà làm, tức là trụ nơi pháp. V́
thế, ắt phải nên “trong tâm chẳng trụ
vào đâu”,
th́ mới là Ba La Mật. Trong tiếng Ấn Độ, chữ
Ba La Mật dùng khắp chốn, giống như
phương này nói hai chữ “đáo gia” vậy!
Trong
câu kinh văn trên đây, “Bồ Tát ư pháp” th́ Pháp chỉ
hết thảy các pháp. Ở đây, riêng nêu lên lục trần,
có khá nhiều diệu nghĩa trong ấy. Ở đây, cần
phải vận dụng quán chiếu, tác quán từng bước
một, từ ngoài vào trong, từ thô vào tế:
1)
Đức Phật chẳng nói hết thảy các pháp, mà chỉ
nói lục trần, thật sự là muốn cho chúng ta biết
chớ nên trụ trong hết thảy các pháp.
2)
V́ sao chẳng nên trụ trong hết thảy các pháp? Hăy nên
biết, hễ trụ liền bị nhuốm bẩn.
3)
Đức Phật nêu ra lục trần, lư ấy sâu tột
cùng. V́ sao vậy? Nói sắc tức là có nhăn căn trong ấy.
Nói thanh bèn có nhĩ căn, cho đến nói pháp bèn có ư
căn. Căn và cảnh đối ứng. Nêu ra lục trần
đă hàm chứa lục căn. Kẻ nông cạn thấy
nông cạn, chỉ là chẳng trụ cảnh. Người
sâu xa thấy sâu, liền có thể chẳng trụ tâm!
4)
Căn là căn, trần là trần, cớ sao lại giao
thoa với nhau? Cái làm môi giới trung gian chính là lục thức.
Thức chẳng sanh, căn và cảnh sẽ chẳng giao
thoa với nhau. Ư nói tâm chẳng đặt vào đó, nh́n mà
chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, ăn mà chẳng biết
vị. Ư Phật không chỉ là chớ nên trụ trong cảnh
giới, mà ngay cả thức cũng chớ nên trụ. Dạy
người học biết cái gốc họa của “trụ
trong cảnh” chính là thức, tức là cái tâm phân biệt,
hăy nên tu tập trong
khi khởi tâm động niệm,
đừng trụ vào thức. Tiến từng bước
một như thế, sẽ có thể tiêu quy tự tánh. Khởi
tâm động niệm, lưu ư như thế nào? Nói theo bố
thí, hễ khởi tâm động niệm, chẳng ra ngoài
ba loại: Một là v́ bản thân, hai là mong người
khác báo ân, ba là mong đạt được quả báo. Bố
thí chẳng ngoài Tài Thí và Pháp Thí (Vô Úy Thí được
gộp trong Pháp Thí), thường là chính ḿnh
trước hết cảm thấy chẳng nỡ xả,
tức là có một cái
Ngă tồn tại. Cần phải biết: Tài
và Pháp chẳng ngoài lục trần, chẳng thể trụ
nơi đó. Khi khởi niệm bèn dụng công, gạt bỏ
bản thân, ngơ hầu có thể phá ngă chấp. Sau khi bố
thí, mong mỏi người ta báo ân. Cần phải biết
báo đáp không ǵ chẳng phải là lục trần, chẳng
thể trụ vào đó, hăy gạt bỏ ư niệm mong
được báo đáp. Bố thí mong mỏi
đắc quả báo. Quả báo cũng chẳng ngoài lục
trần, chớ nên trụ vào đó, hăy
gạt bỏ ư niệm quả báo!
5)
Nhiều phen quán chiếu, nhưng ngă kiến vẫn c̣n th́
như thế nào? Hăy nên tiến hơn nữa là quán chiếu
đạo “tam luân thể không”. Bố thí th́ có người
thí (năng thí), người nhận (sở thí), và vật
để bố thí. Ta nay quán chiếu bản thể của
người thí và người nhận chính là Không. V́ sao vậy?
Đều do nhân duyên sanh ra. Thí và nhận đă là không, vật
để bố thí cũng là không; đó gọi là “tam
luân thể không”. Có thể khăng khăng dụng công
vào đó, phá hai thức thứ sáu và thứ bảy, ngă kiến
sẽ tự tiêu, chứng đắc tự tánh. Có người
nói: Bố thí cả ba mặt đều trọn đủ,
sao gọi là Luân? Chẳng biết điều này thật sự
có thâm ư: Một là vận hành. Đức Phật nói bố
thí là muốn độ người. Luân có ư nghĩa “độ”.
Người tu hành tùy thời bố thí, có thể nghiền
nát phiền năo, luân có ư nghĩa “nghiền
nát”.
Ở
đây nói “chẳng trụ vào sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp mà hành bố thí”, tức là dạy chúng ta hiểu
rơ đạo “tam luân thể Không”. Tài Thí chính là lục
trần, Pháp Thí chính là Pháp Trần, đều là các pháp sanh
bởi duyên. Đă biết bản thể của chúng là
Không, cần ǵ phải trụ vào đó? Đă
quán chiếu tam luân thể Không,
đương nhiên là chẳng trụ!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.1.3.
Tiểu kết
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Bồ Tát ưng như thị bố
thí, bất trụ ư tướng.
(經)須菩提!菩薩應如是布施,不住於相。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Bồ Tát hăy nên bố thí như thế,
chẳng trụ nơi tướng).
(Bổ)
Hai chữ Như Thị tức là chỉ điều đă
nói trong đoạn trên: “Chẳng trụ vào sắc để
bố thí, chẳng trụ trong thanh, hương, vị,
xúc, pháp để bố thí”. Chẳng trụ vào tướng,
hoàn toàn chẳng phải là đoạn diệt. “Chẳng
trụ” tức là Xả; nhưng Xả có thể đến
mức rốt ráo
hay không, chẳng trụ mảy may, cũng chẳng
phải là chuyện dễ dàng! V́ thế, kinh Hoa Nghiêm chia Xả
thành nhiều loại, cuối cùng nói Cứu Cánh Xả (xả
rốt ráo). Cần phải trong tâm chẳng chấp mảy
may, chẳng rơi vào hai bên, th́ mới là Cứu Cánh. Ở
đây nói “chẳng trụ vào tướng” tức là
đă bao hàm Nhị Biên. Đă nói “chẳng trụ vào pháp
tướng” th́ cũng chẳng trụ vào phi pháp tướng.
V́ sao biết chữ Tướng ấy đă bao gồm cả
phi tướng? Có thể dùng ngay đoạn văn trên
đây để chứng minh! “Ưng vô sở trụ”
là chẳng trụ vào pháp tướng, “hành ư bố
thí” là chẳng trụ vào phi pháp tướng. Nói “chẳng
trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để
bố thí” tức là chẳng trụ Có. “Bồ Tát
ưng như thị bố thí” (Bồ Tát hăy nên bố
thí như thế) là chẳng trụ Không. Cần phải biết
“chẳng trụ” không phải là đoạn diệt,
Chẳng trụ chính là hành, hễ Trụ sẽ chẳng thể
hành, Hành chính là chẳng thể trụ. Tu Bồ Tát đạo, cố nhiên chẳng
thể trụ trong lục trần; nhưng nếu đoạn
diệt, sẽ chẳng thể độ chúng sanh. Chúng sanh
trụ ngay trong cảnh giới sáu trần; do vậy, phải
nên độ họ từ chỗ này!
Đoạn trước nói “ưng vô sở
trụ hành ư bố thí” (hăy nên chẳng trụ vào
đâu mà hành bố thí), đoạn sau liền nói “ưng
như thị bố thí, bất trụ ư tướng”
(hăy nên bố thí như thế, chẳng trụ nơi
tướng), ư đức Phật là Bồ Tát hăy nên
đúng như lời ta đă nói: Chẳng chấp vào hai bên, hành nơi
Trung Đạo. Có thể thấy “chẳng trụ vào
đâu” hoàn toàn chẳng phải là không làm. “Chẳng trụ
tướng” chẳng phải là nói suông, phải là từ
trong thực hành mà chẳng chấp Có, chẳng chấp
Không th́ mới phù hợp. Toàn thể bộ kinh nhằm phá
tướng, chỉ ra điểm này. Ư đức Phật
là như thế đó, chẳng phải là dạy quư vị
chẳng trụ vào pháp, mà là chẳng trụ vào pháp tướng!
Tu
hành cố nhiên phải ĺa trần cảnh, nhưng chẳng
trụ trong lục trần, há dễ dàng ư? V́ thế, ư
chỉ căn bản của tu hành là “chẳng trụ”,
nhưng khi tu tập lại chẳng thể diệt cảnh.
Chẳng hạn như niệm Phật, quán tưởng
tượng Phật, đó là sắc cảnh. Nhạc trời,
các loài chim sống trong nước, đó là thanh cảnh.
Hoa sen thơm sạch, đó là hương cảnh. Ăn
cơm xong kinh hành, đó là vị cảnh. Chỉ hưởng
các niềm vui, đó là xúc cảnh. Ức niệm Di Đà là
pháp cảnh. V́ thế, cần phải nhận thức rơ
ràng hai chữ Bất Trụ, quyết chẳng phải là
đoạn diệt. Đoạn diệt tức là Không,
đó là phi pháp. Bố thí nhiếp hết thảy các pháp
tướng, mà cũng nhiếp phi pháp tướng. V́ thế,
nói “chẳng trụ” tức là chẳng trụ pháp, chẳng
trụ phi pháp.
Người
đời xả mạng cũng là Xả, bất quá trụ
vào tướng. Như tận trung báo quốc, sát thân thành nhân[38],
tối đa bất quá thành thần. Nếu khi xả mạng,
lại có cái tâm vị kỷ, tâm sân hận, có thể sẽ
đến nỗi đọa lạc! Thanh niên nam nữ v́
ái t́nh mà bỏ mạng, cũng dễ bị đọa lạc;
hoặc kèm theo sân hận mà xả thân, lại c̣n đến
nỗi đọa địa ngục. Địa ngục
có đủ mọi quả báo thảm khốc như
giường sắt, cột đồng; chính là v́ ḷng từ
bi đối với chúng sanh mà lập ra. Những trường
hợp ấy đều là trụ tướng. Nếu giữ
ư tưởng đoạn diệt mà xả mạng như bọn
tiêu cực cảm thấy thế gian chẳng đáng
lưu luyến, liền tự vứt bỏ sanh mạng,
trầm trệ nơi Không, chẳng thà không xả! Đoạn
diệt ch́m đắm trong Không, cũng có thể đến
nỗi bị đọa lạc. V́ thế, chớ nên trụ
vào pháp, mà cũng chớ nên trụ vào phi pháp.
Cũng
có khi Bồ Tát v́ chúng sanh mà xả mạng,
nhưng nếu trụ vào tướng độ sanh th́
cũng chẳng thể thành Phật. V́ thế, kinh văn thuộc phần
sau của kinh này có nói so sánh: Dùng thân mạng nhiều
như cát sông Hằng để bố thí, chẳng bằng
thọ tŕ bốn câu kệ. Dùng thân mạng nhiều như
cát sông Hằng để bố thí, chẳng
phải là Bồ Tát sẽ không thể làm được!
Phàm phu chẳng có thân mạng nhiều ngần ấy.
Nhưng phước vẫn chẳng nhiều bằng thọ
tŕ bốn câu kệ, v́ người khác nói; v́ thọ tŕ, tụng,
nói, sẽ có thể thành Phật.
Tu
hành chẳng được thọ dụng, không ngoài hai chứng
bệnh:
- Một,
chẳng nắm được cốt lơi trọng yếu.
-
Hai, chẳng hiểu rơ đạo lư.
Nếu
có thể hiểu điều cốt lơi trọng yếu, hiểu
lư, sẽ có thể tự
thọ dụng. Chẳng thể ĺa tu hành mà nói tánh
được! Nếu không, sẽ là nói suông! Chẳng thể
ĺa tánh mà tu hành; nếu không, sẽ là mù quáng thực hiện.
Kinh này chỗ nào cũng là nói về tánh, chỗ nào cũng
chứa đựng thực hành!
Phát
đại nguyện, hành đại hạnh th́ mới có thể
nhập Phật môn. “Hàng
phục” trong khoa trước
tức là phát đại nguyện. Khoa này “hành bố thí” tức là hành đại
hạnh. Ắt phải “chẳng trụ vào đâu” mà hành bố
thí th́ mới là đại hạnh. Có nguyện mà thiếu
hạnh, nguyện ấy là nguyện rỗng tuếch! Có
nguyện và hạnh, nguyện là trọng yếu, hạnh càng quan trọng
hơn. Chẳng có đại nguyện th́ đại hạnh
chẳng thể khởi, dẫu
có hạnh th́ cũng là hạnh mù quáng! Như thế
nào mới là đại nguyện?
Như thế nào mới là đại hạnh?
Ắt phải là đại bi đại trí th́ mới
được! Tất cả hết thảy các loài chúng
sanh, đều khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt
độ; chính là đại bi. Diệt độ vô lượng
vô số vô biên chúng sanh như thế, mà thật sự chẳng
có chúng sanh được diệt độ, tức là biết
chúng sanh đồng thể, không có ǵ gọi là Phật,
không có ǵ gọi là chúng sanh. Đó là đại trí. Bi trí trọn
đủ th́ mới có thể phát đại nguyện, hành
đại hạnh. Bồ Tát đối với pháp phải
nên chẳng trụ vào đâu, căn bệnh của phàm phu
là chỗ nào cũng chấp trước!
Có thể chẳng chấp trước chính là đại
trí. Hành bố thí tức là
đại bi. Chẳng có bi th́ đại nguyện chẳng
thể phát. Chẳng có trí th́ đại hạnh chẳng thể
hành. Bi,
trí, nguyện, hạnh,
không ǵ chẳng to lớn, th́ mới là Bồ Tát Ma Ha Tát. Ắt
phải viên măn trọn đủ như thế th́ mới
là Vô Thượng Bồ Đề. Đoạn văn
trước đó đối với đại nguyện,
bèn nói đại bi trước, tức là chẳng trụ
Không. Trụ vào Không sẽ chẳng thể phát đại
nguyện. Đoạn văn này đối với đại
hạnh bèn nói đại trí trước, tức là chẳng
trụ vào Có. Hễ trụ Có, sẽ
chẳng thể hành đại hạnh.
Đối
với hết thảy các sự, phàm phu nói chung chẳng thể buông
xuống được! V́ sao không buông xuống được?
Chính là v́ có ngă tồn tại. Đức Phật chỉ nói
bố thí, hễ thực hiện bèn phá ngă. Lại tiến
thêm bước nữa, phá nơi cảnh giới. Tiến
hơn nữa, bèn phá nơi khởi tâm động niệm.
Khoa trước nói phát đại tâm, chỗ nào cũng chẳng
trụ. Đó là ngấm ngầm chuyển đổi, hóa trừ
ngă kiến. Phàm phu có ư niệm v́ ḿnh nặng nhất, nay v́
chúng sanh, gạt bỏ cái ta. Bất luận noăn sanh cực
ngu, hay vô tưởng cực cao, thảy đều khiến
cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ.
Đó chính là tiêu trừ cái tâm phân biệt, chính là đối
với thức thứ sáu và thứ bảy mà bốc thuốc.
Sở dĩ phàm phu luân hồi lục đạo, chẳng
thể xuất ly, cũng do thức thứ sáu và thứ bảy
sai khiến, nay chuyển dời chúng, liền thành Ba La Mật.
Phát
tâm phải rộng lớn; chẳng rộng lớn
sẽ chẳng thể hóa trừ ngă kiến. Tu hành th́ phải
tế mật, trước là phát tâm rộng lớn rồi
mới có thể tu hạnh tế mật. V́ thế, ắt
trước hết phải quán hết thảy chúng sanh là
duyên sanh, lại c̣n vốn là tịch
và đồng thể, trước là biết chính ḿnh tập
khí nặng mà ngầm chuyển dời th́ mới có thể
tu hành.
Phát
đại tâm, v́ sao dựa theo hàng phục cái tâm để
nói? Khởi đại hạnh v́ sao dựa theo “chẳng trụ
vào đâu” để nói? Đấy chính là muốn hàng phục
th́ phải nên trước hết biết gốc bệnh ở
đâu. Biết chúng sanh sở dĩ trở
thành chúng sanh là v́ có dục, sắc, thức;
v́ thế, trong phần phát tâm nói lời này. Do vậy dụng
công, tự nhiên có thể chuyển hóa thức thứ sáu và
thứ bảy. Nói đến tu hành tế mật, tức là tha thiết nói đừng
trụ vào đâu, cũng cần phải biết tu hành
đương nhiên là phải hành mà đừng nên trụ.
Thực hiện công phu này, chính là khiến cho thức thứ
sáu và thứ bảy chẳng c̣n tồn tại ở chỗ nào khác, chân
tâm tự nhiên hiển lộ. Đấy là chẳng trụ
mà trụ; v́ thế, tiếp đó
nói “ưng như sở giáo trụ” (hăy nên trụ
đúng như lời dạy).
Đức
Phật dạy người “tất
cả hết thảy chúng sanh đều khiến cho nhập
Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”. Vị
Bồ Tát ấy phát tâm, chưa thể tự độ mà
trước đă độ người khác. “Thật sự chẳng
có chúng sanh được diệt độ” là khiến cho mọi
người biết duyên sanh, b́nh đẳng, đồng
thể v.v… Độ người khác chính là độ chính
ḿnh. Đúng là “ta
và người cùng độ”.
Nhưng đức Phật trọn chẳng nói độ
chính ḿnh, v́ chúng ta ngă chấp nặng nề, cho nên Ngài chẳng
nói. Độ chúng sanh th́ độ như thế nào? Phải
khởi hạnh. Bố thí chính là phá trừ thức thứ bảy chấp ngă, phá thức thứ
sáu phân biệt, đấy rơ ràng là độ chính ḿnh! V́ thế,
phát tâm phải lớn, độ ḿnh th́ trước hết
phải độ người, độ người chính
là độ ḿnh. Nói đến tu hành, trước là
trừ gốc bệnh của chính ḿnh. Độ người
th́ trước phải độ chính ḿnh, độ chính
ḿnh tức là độ người khác. Nhưng
phương diện “độ chính ḿnh” của bố thí
thật ra là độ người khác; ở đây, đức
Phật chỉ nói ư nghĩa tinh vi của việc hành bố
thí mà thôi! Cổ nhân nói một
câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng
trụ vào đâu mà sanh tâm) có thể xuyên suốt toàn bản
kinh. Thật ra, bất luận câu nào cũng đều có
thể xuyên suốt.
Như câu “chẳng trụ vào tướng” bao gồm
phi tướng, chẳng rơi vào Nhị Biên, hành Trung
Đạo, há có bao giờ chẳng thể xuyên suốt cả
bản kinh? Sự xảo diệu trong Đại Thừa
Phật pháp có thể tùy thuận mỗi người lănh hội
theo từng khía cạnh, do vậy gọi là “viên
dung”.
Không chỉ là thấy sâu hay thấy cạn, mỗi người
khác nhau, dẫu ngay trong những người thấy sâu,
cũng lại là thấy khác nhau!
Chữ
Tướng trong đoạn văn trước đó là nói
theo ngă tướng. C̣n chữ Tướng trong đoạn
này là nói theo phi pháp tướng. Kinh này thường là phần
sau không ǵ chẳng phải là để chú giải cho phần
trước. Như “ưng vô sở trụ hành ư bố
thí” (hăy nên chẳng trụ vào đâu để hành bố
thí) chính là chú giải cho “độ sanh” trong phần
trước. “Chẳng trụ sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp để bố thí” tức là chú giải
cho “chẳng nên trụ vào đâu”. “Chẳng trụ vào
tướng” lại là chú giải cho “chẳng trụ
vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố
thí”. Có người nghi kinh Kim Cang ư nghĩa trước
sau trùng lặp tức là chẳng khéo đọc
kinh Kim Cang! Nếu biết mối quan hệ giữa kinh
văn trong phần sau và phần trước, sẽ thấy
không chỉ là chẳng trùng lặp, lại c̣n thấy thông
suốt mạch lạc của kinh.
Đọc
đoạn kinh văn này, lại cần phải dụng
công nơi quán chiếu. Phật pháp chỗ nào cũng đều
chẳng ĺa quán chiếu, ắt phải thời thời khắc
khắc tư duy th́ mới được! Cần phải
biết “chẳng trụ tướng” là triệt
để. Từ thoạt đầu tu tập cho tới
khi thành Phật mới thôi, đều là “chẳng
trụ vào tướng”. Nếu trong khi bố
thí, hễ c̣n đôi chút cái tâm mong thấy
tốt đẹp, sẽ bất tri bất
giác trụ trong lục trần. V́ thế, chẳng tác quán sẽ
không thể được! Nếu chẳng giữ cái tâm
mong thấy tốt
đẹp, chỉ nhận biết có sự
bố thí ấy, tức là trụ
nơi pháp. V́ thế, chẳng tác quán sẽ là trụ mà chẳng
tự nhận biết vậy!
Lại
nữa, quán hành bố thí, tức là dạy
chúng ta thành Phật. Nếu chẳng quán chiếu, sao có thể
thành cho được? “Ưng như thị bố thí” (Hăy
nên bố thí như thế), cũng chính là
đức Phật nói một câu pháp:
Như khi hành bố thí, trong tâm [có ư niệm] “hăy nên bố
thí như thế,” cũng tức là trụ nơi pháp. Chúng
ta mọi chuyện đều chiếu theo lời Phật
dạy để hành, nhưng trong tâm chẳng có chuyện ấy
th́ mới là chẳng trụ nơi pháp tướng. Trong
tâm tuy chẳng có chuyện ấy, vẫn y
như cũ tinh tấn mà hành th́ mới là chẳng trụ
nơi phi pháp tướng. Hăy nên bố thí như thế, vẫn
là bề ngoài. “Chẳng trụ vào tướng” là
hướng vào trong truy cầu. Đấy chính là chỗ dụng
công khẩn yếu. Lại nữa, quán “chẳng trụ vào
tướng”, tuy trong tâm chẳng có chuyện ǵ, nhưng hễ giữ
cái tâm ấy, lại là trụ tướng! V́ thế, khi
tác quán, trong tâm nhập từng tầng sâu hơn. Cảnh
và tâm, pháp và phi pháp, chẳng chấp vào hai bên, cùng chiếu
cả hai bên. Tâm tuy tiến nhập vi tế hơn, vẫn thuộc đối đăi. Cần
phải biết: Hễ cái thấy đối đăi
chưa mất th́ vẫn chưa thể xuất thế gian! Hết thảy cảnh
giới thế gian, không ǵ chẳng
là đối đăi, như sống, chết,
già, trẻ, cao, thấp, dài, ngắn, lớn, nhỏ v.v…
Không ǵ chẳng phải là tâm phân biệt. V́ thế, pháp xuất
thế gian ắt cần phải tách rời tâm phân biệt,
tác quán nơi tuyệt đối. Chuyển quan niệm phàm
phu đạt đến cảnh giới tuyệt đối
chính là chứng tánh. Chứng tánh th́ cần
phải vô niệm. “Niệm” là cái tâm phân
biệt. Hễ có tâm phân biệt, sẽ rơi vào đối
đăi. Rơi vào đối đăi, sẽ là thời thời
khắc khắc phân biệt, bị nhốt trong cái lồng
ư thức. Ắt phải quán tới mức vô niệm th́ mới
được. Nhưng trong tâm vẫn c̣n có hai chữ “vô
niệm” th́ vẫn là “trụ tướng”. Ắt
ngay cả ư niệm “vô niệm” cũng chẳng có, tác
quán khít khao, ngơ hầu tánh đức viên minh th́ mới là thật
sự chẳng trụ tướng. Đức Phật nói
người có thể quán vô niệm tức là hướng
tới Phật trí. Do vậy, biết quán vô niệm chẳng
phải là nhất thời mà có thể đạt được,
chỉ nên hướng theo đó mà tấn tu. V́ thế nói
là “hướng theo Phật trí”
Niệm
chính là quán, quán chính là niệm, có thể quán vô niệm th́
nói cách khác, chính là dạy chúng ta niệm mà
vô niệm. Niệm mà
vô niệm, ắt phải dùng tư
duy, tư duy sẽ có thể chuyển cái tâm phân biệt.
Tâm phân biệt là hướng ra ngoài rong ruổi truy cầu.
Tư duy là hướng vào trong truy cầu cảnh giới
thù thắng mầu nhiệm. Trong khi khởi tâm động
niệm, trừ khử
cái tâm phân biệt, lại nương theo phương pháp của
đức Phật, hướng vào trong tư duy, đấy
là niệm mà vô niệm. Như niệm
Phật cũng thế, lâu ngày tương ứng, sẽ có
thể vô niệm.
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 2
Phần 1 hết
[1] Liễu Thành Huyền
(778-865), tên thật là Liễu Công Quyền, tên tự là Thành Huyền, là một đại thư pháp gia
đời Đường. Ông từng giữ chức Thị
Thư (giáo sư dạy thư pháp của triều
đ́nh), làm quan tới chức Thái Tử Thiếu Bảo,
được phong hàm Hà Đông Quận Công. Chữ của
ông được coi là khuôn mẫu cho lối chữ Khải,
được gọi là Liễu Thể, rất được
hâm mộ. Do vậy, bản chép kinh Kim Cang của Liễu
Thành Huyền được coi là bản có tính chân xác cao nhất.
[2] Núi Lang Tích là tên gọi
khác của núi Kê Túc (Kukkutapāda-giri),
c̣n gọi là núi Kê Cước, Tôn Túc, Lang Túc, thuộc xứ
Magadha ở Ấn Độ, cách thành phố Già Da (Gayā) hơn mươi lăm dặm
về phía Đông Bắc.
[3] “Đương hạ”
(當下) vốn có nghĩa là
ngay trong hiện tại, cụ thể là ngay trong thời khắc
hiện tại, ngay trước mắt đây. Ngay trong mỗi
giây phút, mỗi sát-na hiện tại, ta khởi tâm động
niệm, cái vọng niệm ấy vẫn chẳng ĺa khỏi
Chân Như, chân tánh v.v… cho nên nói “đương hạ tức
thị”.
[4] Như Như là từ
ngữ diễn tả lư thể của pháp tánh. Tánh của
các pháp vốn bất nhị b́nh đẳng, chẳng khởi
vọng tưởng điên đảo, đó là Như. Do
các pháp đều là Như, nên nói là Như Như.
[5] Theo pháp sư Thánh
Nghiêm, “phản văn” là buông bỏ sự rong ruổi
theo thanh trần để bên ngoài, chú tâm nghe nơi tự
tánh. Ngài cũng nhấn mạnh, đừng lầm tưởng
xoay lại tánh nghe là nghe tiếng động của các nội
tạng, v́ khi người nhập Thiền ở một mức
độ cao, có thể nghe âm thanh của các nội tạng,
hoặc các mô trong cơ thể
vận hành. Ngài nhấn mạnh tự tánh vô thanh. Triệt
để buông xuống những âm thanh bên ngoài, triệt
để buông xuống hữu h́nh, vô h́nh để chú tâm
nhận biết tánh Không vốn sẵn có nơi tâm, vượt
khỏi mọi chấp trước nhị biên, chấp
trước về không gian, thời gian v.v…, vượt ngoài sự
chấp ngă để nhận biết chân ngă.
[6] “Thập thế cổ
kim” là từ ngữ nhằm
diễn tả ba đời quá khứ, hiện tại, vị
lai, cũng nhằm chỉ rơ thời gian chỉ là khái niệm
giả lập do quan niệm chấp trước của
con người. Do ước định thời gian, chúng
ta có ba đời là quá khứ, hiện tại, vị lai.
Nhưng trong hiện tại, mỗi sát-na đều có
sát-na trước đó, đó chính là quá khứ, sát-na ngay
sau đó là vị lai. Như vậy trong hiện tại
đă bao gồm cả quá khứ và vị lai. Do đó, quá
khứ, hiện tại, vị lai, mỗi giai đoạn
đều có chứa đựng ba giai đoạn là quá khứ,
hiện tại, vị lai. V́ thế, ba nhân ba thành chín, cộng
thêm với một niệm đương hạ (ngay trong một
niệm hiện tại) thành mười đời. Do vậy
nói là “thập thế cổ kim”.
[7] Ở đây, cụ
Giang vẫn chưa nói rơ “một trăm lần” do đâu mà có. Theo tông Thiên Thai, đối
với Nhất Chân Pháp Giới, các hữu t́nh do vọng niệm
nhiều hay ít mà thấy mười pháp giới là Phật,
Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người… Trong mỗi
pháp giới lại đều có đủ mười pháp
giới, nên 10x10 thành một trăm
pháp giới.
[8] Kỳ Đà (Jeta) là
con của vua Ba Tư Nặc (Prasenajit). Do vua thắng trận,
lại nghe tin thái tử vừa sanh, nên đặt tên con
như vậy.
[9] Tiêm La là danh xưng thời
cổ của Thái Lan. Tiêm là phiên âm của chữ Siam (ta
thường gọi là Xiêm). Người Thái đơn giản
giải thích chữ Siam có nghĩa là “người tự
do”, nhưng các nhà khảo cứu cho rằng từ ngữ
này bắt nguồn từ chữ śyāma
(sẫm màu), tức là liên quan đến tín ngưỡng
tôn sùng thần Shiva (có da màu đen sậm) thời cổ.
Người Hoa cho rằng tên gọi Tiêm La là do gọi gộp
chung hai tiểu quốc tại Thái Lan thời cổ, tức
Tiêm và La Hộc (Lavo). Quốc hiệu này được
sử dụng măi cho đến ngày 23 tháng Sáu năm 1939 mới
đổi danh xưng thành vương quốc Thái
(Ratcha-anachak Thai), người dân trong ngôn ngữ thường
ngày chỉ
gọi đất nước của ḿnh là Prathet Thai, hoặc Mueang Thai
(mường Thái).
[10] Minh (銘) ở đây là một
h́nh thức văn chương, thường là viết theo
văn vần, nhằm thuật bày chí hướng, sự
tích, hoặc răn nhắc chính ḿnh hoặc người
khác. Do thể loại văn chương này thường
được khắc trên đồng, đá, nên gọi là
Minh.
[11] Thông thường,
tăng sĩ Tây Tạng đắp y ra ngoài áo ngắn (loại
áo ngắn không tay, cài chéo) là y màu đỏ sậm,
không có điều. Khi làm lễ, tụng kinh sẽ đắp
y vàng có điều ra ngoài tấm
y đỏ ấy, hoặc các loại y gấm hay lụa
có điều.
[12] Tác phẩm này có tên gọi
đầy đủ là Nam Hải Kư Quy Nội Pháp Truyện
do ngài Nghĩa Tịnh viết. Đây là một loại sách
gần như nhật kư hành tŕnh trên đường vượt
biển cầu pháp từ vương quốc Thất Lợi
Phật Thệ (Sri Vijaya thuộc đảo Sumatra) tới Ấn
Độ, cũng như trong thời gian ngài cầu đạo tại
Ấn Độ. Sách ghi chép phong tục, tập quán tại
Ấn Độ và Sri Vijaya, cũng như mười xứ
thuộc vùng biển Nam Thái B́nh Dương mà Ngài đă
đi qua. Ngài chỉ chú trọng mô tả phong tục, quy
định và các quy chế của Phật giáo tại các xứ
ấy.
[13] Địa hoàng c̣n gọi
là Sinh Địa, tên khoa học là Rehmannia Glutinosa thuộc họ
Cỏ Chổi (Broomrape), thường được dùng
làm thuốc. Địa hoàng tươi sao chế, chín lần
đem hấp và phơi khô được gọi là Thục
Địa Hoàng. Không rơ Kinh Bách Hoàng (荊蘗黃) là ǵ, chưa tra cứu
được. Chỉ thấy trong Đông Y
nói có vị thuốc Hoàng Bá (Hoàng Bách, 黃蘗).
[14] Cám (紺) có nghĩa là sắc
xanh biếc, hơi ửng sắc hồng.
[15] Đây là một câu
trong Luận Ngữ, thiên Thuật Nhi: “Phạn sơ thực,
ẩm thủy, khúc quăng nhi chẩm chi. Lạc diệc tại
kỳ trung hỹ. Bất nghĩa nhi phú thả quư, ư ngă
như phù vân” (ăn cơm hẩm, uống nước
lă, co tay để gối đầu, cuộc sống
như thế cũng vui sướng lắm! Bất nghĩa mà giàu có, quư hiển, đối với
ta như mây nổi).
[16] Tọa cụ (Niṣīdana), c̣n gọi theo cách phiên âm là Ni Sư
Đàn, c̣n dịch nghĩa là Tùy Tọa Y, hoặc Tọa Ngọa Cụ. Đây là một tấm vải
may dày để trải ra khi nằm ngồi, hay lễ bái, để khỏi làm bẩn y, đồng thời
ngăn ngừa các loài trùng ḅ lên quấy nhiễu khi tĩnh
tọa. Khi đi th́ vắt lên vai buộc chéo. Hiện thời,
tọa cụ là vật tùy thân chỉ thấy trong các nước
theo Phật giáo Nam Truyền. Phật giáo Bắc Truyền
th́ chỉ thấy nghi
thức “triển cụ” (trải tọa cụ ra) dành cho các vị chủ lễ
trong các trai đàn lớn hay pháp hội lớn như Thủy
Lục, Diệm Khẩu.
[17] Già Phu (跏趺) là hai ḷng bàn chân. Kết
già phu tọa tức là ngồi xếp bằng, hai cổ
chân chéo nhau, hai ḷng bàn chân ngửa lên. Ta quen gọi là “ngồi kiết già”, tuy không đúng nghĩa lắm.
[18] Sanh tạng và thục
tạng là cách phân chia ước lược hai phần của
bộ máy tiêu hóa trong cơ thể con người. Sanh tạng
tức là phần chứa đựng các thức ăn vừa
nuốt xuống, c̣n chưa tiêu hóa trọn hết. Thục
tạng là phần chứa đựng thức ăn đă
tiêu hóa, sắp biến thành phân.
[19] Đây là những
đoạn được ông Tưởng Duy Kiều và Phạm
Cổ Nông thêm vào do đối chiếu với bản bút kư
của ông Tưởng sau khi tác phẩm này được ấn
hành lần thứ nhất.
[20] Mười hai loại
chúng sanh theo kinh Lăng Nghiêm là noăn sanh, thai sanh, thấp sanh,
hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô
tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu
tưởng, phi vô tưởng.
[21] Mười tập
nhân là mười cái nhân thuộc về tập khí dẫn
đến sự chiêu cảm quả báo trong địa ngục:
Dâm, tham, mạn, sân, trá (dối trá), cuống (lừa dối),
oán, kiến (chấp trước vào tà kiến của chính
ḿnh), uổng (gieo tiếng oan cho người khác, hăm hại
người lương thiện), tụng (tranh căi, hơn
thua đủ với người khác).
[22] Sáu thứ quả báo
ác sanh khởi từ sáu thức gồm:
1) Kiến báo: Do ác nghiệp
đă tạo bởi nhăn căn mà chiêu cảm, khi lâm chung thấy
lửa dữ trọn khắp mười phương.
2) Văn báo: Do ác nghiệp
nơi nhĩ căn chiêu cảm, khi lâm chung cảm nhận
sóng gió ngập trời, thần thức lưu nhập
địa ngục Vô Gián, hoặc nghe đủ loại âm
thanh đấu đá khiến cho thần thức mê loạn,
hoặc lặng ngắt không tiếng động khiến
cho u hồn ch́m đắm.
3) Khứu báo: Do ác nghiệp
nơi tỵ căn chiêu cảm. Khi lâm chung, thấy khí
độc ngút ngàn, thần thức đọa nhập Vô
Gián địa ngục, hoặc bị ác khí xông hun quấy
nhiễu cái tâm đến nỗi mê muội.
4) Vị báo: Do ác nghiệp
nơi thiệt căn chiêu cảm. Khi lâm chung thấy lưới
sắt lửa cháy rừng rực, thần thức bị mắc
vào lưới, nhập Vô Gián đương nhiên, hoặc
bị rét cóng nứt da toác thịt, hoặc bị lửa mạnh
nung đốt thấu tận cốt tủy.
5) Xúc báo: Do ác nghiệp
nơi thân căn chiêu cảm. Khi lâm chung, thấy các quả
núi to ép lại, thần thức liền lọt vào Vô Gián
địa ngục, hoặc thấy núi ép lại, khiến cho thân thể bị lay lắc, hoặc thấy
đao kiếm xuyên thân.
6) Tư báo: Do ác nghiệp
nơi ư căn chiêu cảm. Khi lâm chung thấy gió ác thổi
tan cơi nước, thần thức bị gió cuốn vào Vô
Gián địa ngục, hoặc cảm thấy các thứ thiêu đốt,
đau khổ cùng cực khó nhẫn.
[23] Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách giải thích của Khổng Dĩnh Đạt
(574-648). Ông Khổng Dĩnh
Đạt là một nhà
Khổng học sống vào thời Tùy-Đường. Tác
phẩm Ngũ Kinh Chánh Nghĩa của ông được
coi là giáo tŕnh căn bản bắt buộc phải học trong Nho Gia để hiểu nội
hàm của các kinh điển Nho Gia.
[24] Chính là năm người
được coi là lănh tụ cự
phách của phái Tống
Nho: Châu Đôn Di, Tŕnh Di, Tŕnh Hạo, Trương
Tải, và Châu Hy.
[25] Lục hợp là từ
ngữ chỉ sáu phương, tức Đông, Tây, Nam, Bắc
và trên, dưới. Khi nói Lục Hợp, hàm ư nói về thế giới hữu
h́nh (chỉ gói gọn trong quả đất) mà ta có thể
nhận biết bằng sáu căn.
[26] Tuân Tử (316-237
trước Công Nguyên) tên thật là Tuân Huống, tự là
Khanh, nên đôi khi c̣n gọi là Tuân Khanh, người nước
Triệu thời Chiến Quốc. Tuy là người nghiên cứu,
đề xướng Nho Gia, nhưng khác với Khổng Tử
chủ trương dùng nhân để trị quốc, ông chủ
trương dùng Lễ và H́nh (h́nh phạt, pháp luật)
để trị quốc, đề xướng “tánh con
người vốn là ác”. V́ thế, cụ Giang chê Tuân Tử
chẳng khế hội sâu xa Nho học.
[27] Cách Mạng ở
đây là nói tới chính quyền Trung Hoa Dân Quốc sau cuộc
Cách Mạng Tân Hợi (1911) lật đổ nhà Thanh, đă
cho rằng tam giáo là nguyên nhân khiến cho Trung Hoa suy yếu,
lạc hậu. V́ vậy, họ chủ trương phế
bỏ Khổng học với khẩu hiệu “đả
đảo Khổng gia điếm” (đả đảo
tiệm buôn họ Khổng), miếu sản hưng học (chiếm
đoạt các cơ sở của chùa, miếu để
làm trường học).
[28] Tào Tham, tên tự là
Kính Tu, người huyện Bái, kế nhiệm Tiêu Hà làm thừa
tướng của nhà Tây Hán. Ông này có chiến công lỗi lạc,
được phong làm B́nh Dương Hầu, nhưng luận
công th́ vẫn kém tướng
quốc Tiêu Hà. Do Tiêu Hà nhiệt liệt đề cử,
khi Tiêu Hà xin về hưu, Tào Tham được Hán Cao Tổ
(Lưu Bang) phong làm Tướng
Quốc. Ông chủ trương vô vi chánh trị, tức là
giữ nguyên đường lối, chính sách của Tiêu Hà,
suốt ngày ăn thịt, uống rượu, tức là
cho rằng không cần phải làm ǵ để mọi việc
tự vận hành.
[29] Thanh Đàm c̣n gọi
là Thanh Ngôn, là một trường phái triết học kéo
dài từ cuối đời Tào Ngụy sang triều đại Tây Tấn. Do loạn lạc
liên tiếp, chính quyền trung ương bất lực,
quân phiệt nổi lên cát cứ khắp nơi, kinh điển
Nho Gia bị mất dần ảnh
hưởng thống lănh, tư tưởng Lăo Trang trồi lên
chiếm ưu thế. Các văn nhân và giới tri thức say đắm trong chuyện bàn luận
suông học thuyết Lăo Trang, coi đó là thanh tĩnh, vô vi,
thích bàn những lẽ huyền diệu, xa vời, không bận
tâm quốc kế, dân sinh. Họ thường tụ tập
bàn luận, trước tác giảng giải Tam Huyền
(Châu Dịch, Đạo Đức Kinh và sách Trang Tử).
Những lănh tụ tiêu biểu là Hà Yến, Vương Bật,
Hạ Hầu Huyền, Vương Diễn, Quách Tượng
v.v… chủ trương vạn vật trong thiên địa đều
lấy Vô Vi làm gốc, hoàn toàn thoát ly thực tế, đâm ra
trốn tránh trách nhiệm,
chỉ cốt cầu an vui chính ḿnh, không cần biết
đến sự an nguy của nước nhà.
[30] Đây là một câu nói
trong thiên Thái Bá sách Luận Ngữ: “Đại tai! Nghiêu
chi vi quân dă, nguy nguy hồ, duy thiên vi đại, duy Thuấn tắc chi. Đăng
đăng hồ! Dân vô năng danh yên”. Câu này được
Khổng Dĩnh Đạt chú giải là: “Nghiêu làm vua,
vĩ đại, cao cả, có thể ví như trời. Ân
đức của ông ta chỉ có vua Thuấn là sánh
được. Ân đức ấy mênh mông, dân chúng không có
cách nào diễn tả được”).
[31] Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách diễn giải của ḥa thượng Tuyên
Hóa trong bài giảng Đại Phật Đảnh Thủ
Lăng Nghiêm Kinh do Phương Quả Ngộ bút kư.
[32] “Thọ giả” trong nghĩa gốc là
những ǵ có sự tồn tại trong một khoảng thời
gian nhất định. Ở đây nói “chấp ngă nối tiếp
không ngừng là thọ giả” là nói theo ư nghĩa do sự
chấp ngă tồn tại trong một khoảng thời gian
(cho tới khi đă phá ngă tướng, ngă chấp, th́ cái chấp ấy mới
thôi tồn tại), nên gọi là thọ giả.
Hơn nữa, thọ giả c̣n là danh xưng của một trong ba
mươi sáu loại ngoại đạo. Thọ giả
ngoại đạo chấp trước hết thảy các
pháp, cho đến cho rằng Tứ Đại, cỏ
cây đất đá đều có thọ mạng.
[33] Chỉ Quy: Chỉ là
tông chỉ chánh yếu, Quy là hướng về. Có thể
hiểu thô thiển Chỉ Quy là tông chỉ chính yếu mà một
giáo nghĩa muốn hướng đến, hay là mục
đích cuối cùng của giáo nghĩa ấy.
[34] Tức là phương
pháp quán chữ A. Pháp Quán này chính là nội dung chủ yếu
của kinh Đại Nhật. Xin xem chi tiết trong bộ
Đại Nhật Kinh Sớ của pháp sư Nhất Hạnh
đời Đường.
[35] Tác Quán là thực hiện
sự quán tưởng. Do Quán có thể dùng như danh từ
để chỉ một phép Quán nào đó như quán hơi
thở, quán bất tịnh, quán cảnh giới Cực Lạc,
quán chủng tử của thần chú v.v…, khi muốn nhấn
mạnh hành vi thực hiện sự quán tưởng, cổ
nhân dùng chữ “tác Quán”.
[36] Nhất Trước (一著) là dụng ngữ
trong nhà Thiền để chỉ “một sự kiện”.
Nói theo nghĩa rộng, Nhất Trước là từ ngữ
để chỉ một giáo lư hoặc phương pháp tu
hành nào đó. Hướng Thượng Nhất Trước
có thể hiểu thô thiển là chú trọng tu tập để
nội tâm tăng tấn, đạt tới cảnh giới
cao sâu nơi chân tánh.
[37] Ám chứng tức là
chỉ chú trọng công phu tọa Thiền, chẳng thông hiểu
hay chỉ hiểu lơ mơ đối
với nghĩa lư trong kinh giáo,
thậm chí tọa Thiền đạt được sự
ngưng lặng, nhưng chẳng biết mục đích
đạt được ngưng dứt vọng niệm
để làm ǵ.
[38] V́
thành tựu điều nhân nghĩa mà hy sinh tánh mạng.