Câu Sanh Ngă Chấp        Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 2

Phần 2

金剛般若波羅蜜經講義

Soạn giả: Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)

清信士勝觀江妙煦

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.2. Giải thích rơ nguyên do

2.2.2.2.2.1.1.1.2.2.1. Trưng thích (nhắc lại nghĩa trước rồi giải thích)

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Nhược Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng.

          ()何以故若菩薩不住相布施其福德不可思量

    (Kinh: V́ sao vậy? Nếu Bồ Tát chẳng trụ vào tướng để bố thí, phước đức ấy chẳng thể suy lường).

 

          (Bổ) “Trưng” () là nêu ra, [tức là] nhắc lại ư nghĩa trước đó để tự hỏi, tự đáp.

          “Phước đức” chính là phước huệ song tu. Phước và huệ như hai bánh của một cái xe, chẳng thể lệch tí nào! Có kẻ nói “đức Phật dạy mọi người chẳng trụ, cớ sao lại dạy người ta tu phước?”, [nói như vậy là] sai lầm mất rồi! Nếu chẳng tu phước, dẫu cho thành Bồ Tát, thành Phật, đến hóa độ chúng sanh, nhưng chúng sanh ương ngạnh, chưa chắc đă có thể độ được! V́ thế, ắt trước hết phải kết duyên với chúng sanh! Do vậy, kinh này chỗ nào cũng nói đến tu phước, nhưng đối với thật hạnh, chỉ nói bố thí, tức là dạy mọi người hăy phước huệ song tu. “Tư” () là thăm ḍ, phỏng đoán. “Lượng” () là đo lường. Ư nói: Chẳng thể dùng tâm suy nghĩ để phỏng đoán, chẳng thể dùng số lượng để tính đếm. “Bất trụ tướng bố thí”: Chẳng trụ vào tướng tức là chẳng trụ vào pháp; cũng chính là chẳng chấp Có. Bố thí chẳng trụ trong phi pháp; cũng chính là chẳng chấp Không. Chẳng trụ tướng mà bố thí, bố thí mà chẳng trụ tướng; như vậy là chẳng chấp vào hai bên. Đó chính là cảnh giới của Phật. Do đó, phước đức to lớn chẳng thể suy lường được! Phước đức ấy chính là nói “thành Phật”. “Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” trong phần kinh văn trước đó chính là [phát khởi] cái tâm thành Phật, đối ứng khít khao với câu này. Có thể thấy: “Chẳng trụ tướng bố thí” chính là pháp môn để thành Phật!

          “Pháp vi diệu rất sâu vô thượng” tức là nói đến Bát Nhă, cực sâu, cực vi tế! V́ thế, từng câu trong kinh này giống như bóc từng lớp nơi thân cây chuối, chẳng dễ liễu giải! Người nói cần phải nhiếp tướng, quán tâm; người nghe cũng phải nhiếp tướng, quán tâm th́ mới được. Kinh văn chỗ nào cũng nói “chẳng trụ tướng”, nhưng lại chỗ nào cũng nói “phước đức”, quả đúng là chẳng rơi vào nghĩa Nhị Biên. Chẳng trụ tướng th́ phước đức ấy chẳng thể suy lường, ắt phải bố thí mà chẳng trụ vào tướng th́ mới là phước đức chẳng thể suy lường!

          Đại Thừa Phật pháp, nói theo vi trần, nói theo cơi nước, nói theo chiều ngang, nói theo chiều dọc, phương diện nào cũng đều viên măn. Điều trọng yếu nhất là phải phá chấp! Hễ có chấp, sẽ rơi ngay vào Nhị Biên: Chẳng chấp Có, sẽ liền chấp Không, chẳng phải là Trung Đạo! Nghe pháp, xem kinh, cũng cần phải xem xét mọi phương diện. Nếu chấp vào một bên, sẽ chẳng được thọ dụng! Đức Phật nói liễu nghĩa, chẳng nói bất liễu nghĩa. Nói triệt để, vẫn sợ người nghe chẳng hiểu rơ. Nếu nói chẳng triệt để, sao có thể khiến cho người nghe liễu giải? Người nghe cũng thế. Nếu không, sẽ chẳng thể liễu giải lư Bát Nhă. V́ thế, cần phải nói từng phương diện. Lại nói mà chẳng nói, lưu lại một chút để người nghe suy tưởng. Nếu đem đạo lư cực sâu, mỗi mỗi đều nói trọn hết, người nghe sẽ chẳng c̣n dụng công nữa! V́ thế, xưa nay tổ sư Thiền Tông khi khai thị cho học nhân, luôn chừa lại nửa câu đợi người nghe tự ngộ. Nếu không, [học tṛ sẽ] chuyên chú trọng sao chép lời giảng nghĩa [của thầy], chính ḿnh chẳng dốc sức vào đó, ngă nhào vào đó (té vào trong ngôn ngữ, văn tự), có tác dụng ǵ đâu?

          Xem kinh văn trong phần trên của kinh này, [đức Phật] đă nói rơ ràng bất trụ lục trần nhi hành bố thí” (chẳng trụ trong lục trần để hành bố thí). Bởi lẽ, hễ trụ trong cảnh, tâm chẳng thanh tịnh; cần phải chẳng trụ vào đâu th́ mới được! Ở đây, nói “phước đức ấy chẳng thể suy lường”, há chẳng phải là mâu thuẫn ư nghĩa với các đoạn kinh văn trước và sau đó hay sao? Phước đức chẳng phải chính là tướng ư? V́ sao chỗ nào cũng đều nói “chẳng trụ”, mà lại nơi nào cũng nhắc tới phước đức vậy? Cần phải biết: Đoạn trước nhằm dạy mọi người đừng trụ trong lục trần, tức là dạy mọi người chớ chấp trước, trọn chẳng phải là diệt sạch lục trần! Đoạn sau lại nói “đối với pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt để có thể chứng”, bởi lẽ, hễ tu hành, sẽ lập tức có cảnh giới, chẳng phải là chẳng cần đến cảnh giới! V́ phải nhờ vào cảnh th́ mới có thể khởi tu. Đối với bố thí mà nói tới phước đức, chính là chỉ dạy mọi người phương pháp để thực hiện. V́ thế, dạy người học Phật ắt phải nhờ vào cảnh th́ mới có thể thực hiện. Chính ḿnh học Phật, cũng ắt phải nhờ vào cảnh th́ mới có thể tu tập.

          Kinh này dạy “chẳng trụ trong lục trần”, thế mà kinh Di Đà toàn là miêu tả lục trần trong thế giới Cực Lạc, thoạt nh́n dường như tương phản, nhưng thật ra, giống hệt nhau. Do vậy, có thể thấy cảnh giới Tịnh Độ cao lắm! Chúng sanh khổ năo, khởi tâm động niệm chẳng ĺa lục trần. Cái mầu nhiệm của pháp môn Tịnh Độ là ở chỗ biến đổi cái tâm của chúng sanh [để họ đừng chấp vào lục trần của Sa Bà], mà quán tưởng lục trần nơi thế giới Cực Lạc, tức là chẳng trụ vào Không. Do vậy, thoát ly lục trần nơi ngũ trược, tức là chẳng trụ vào Hữu. V́ thế, Phật pháp đối trị cái tâm, chẳng chú trọng hàng phục, mà coi trọng chuyển dời, khiến cho cái tâm của chúng sanh chuyển hướng sang lục trần nơi Phật cảnh, liền thoát ĺa lục trần nơi ngũ trược. Phương pháp thực hiện để chẳng chấp vào Nhị Biên ở ngay chỗ này!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.2.2. Nêu thí dụ để minh thị

         

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Đông phương hư không khả tư lượng phủ?” “Phất dă, Thế Tôn!” “Tu Bồ Đề! Nam, Tây, Bắc phương, tứ duy, thượng, hạ hư không khả tư lượng phủ?” “Phất dă, Thế Tôn!”

          ()須菩提於意云何東方虛空可思量不不也世尊須菩提南西北方四維上下虛空可思量不不也世尊

    (Kinh: “Này Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Hư không ở phương Đông có thể suy lường hay chăng?” “Bạch Thế Tôn, không ạ!” “Này Tu Bồ Đề! Hư không ở các phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới có thể suy lường hay chăng?” “Bạch Thế Tôn! Không ạ”).

 

          (Bổ) Đối với chữ Bất () trong câu “bất dă Thế Tôn”, cổ đức chú thích phải đọc thành âm Phất (), nhưng trong tự điển không có cách đọc ấy. Bởi lẽ, cổ nhân dịch kinh, đối với những chữ Phạn không có chữ Hán tương đương, thường là dùng chữ tương cận [để thay thế], nhưng đọc thành âm khác để tách biệt; đó cũng là nỗi khổ tâm trong chuyện dịch kinh. Như trong các kinh, hễ gặp chữ Giải (, Jiě) đều đọc như âm Giải (, Xiè). Do vậy, [điều này] biểu thị: Đối với văn tự, không chỉ nên liễu giải, mà c̣n nên tiêu quy tự tánh, [tức là thấu hiểu] “chẳng chính là văn tự, chẳng ĺa văn tự” th́ mới được! Ở đây, Bất đọc thành Phất, nhằm nêu rơ: Không chỉ hiểu là có nghĩa là “phủ quyết”, mà c̣n chứa đựng “tuy phải mà chẳng phải”. Đại khái là nếu tiếp đó, không có kinh văn giải thích, th́ hiểu là “phủ định”. Nếu tiếp đó có kinh văn giải thích, th́ phải hiểu [chữ Phất ấy] chẳng hoàn toàn có nghĩa là “phủ quyết”.

          Hư không vô tướng, nhưng chẳng cự tuyệt các tướng được nêu bày, tỏ rơ! Cần phải ghi nhớ thật kỹ lời này! Trong cái nh́n b́nh phàm, luôn cho rằng hư không là hết thảy đều chẳng có. Đấy chính là [cách hiểu] Ngoan Không (頑空, cái Không trơ trơ) của Tiểu Thừa vậy! Thật ra, hư không chứa đựng muôn h́nh tượng. Hư không được nói trong kinh điển Đại Thừa chính là nói theo phương diện “chứa đựng muôn h́nh tướng”, có vô số tướng ở trong ấy th́ mới hiển thị hư không to lớn. Đối với Không do đức Phật đă nói, hăy đều nên lănh hội như thế. Cần phải biết: “Không ǵ chẳng chứa đựng” chính là Đệ Nhất Nghĩa Không. Đó gọi là “Không mà chẳng Không”. Nói “bất khả tư lượng” chẳng phải là nói nó vô tướng chẳng thể suy lường, mà chính là nói nó không ǵ chẳng chứa đựng, th́ mới là “bất khả tư lượng”. Nêu lên một phương Đông, lại ắt phải nêu ra Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới, hoàn toàn chẳng phải là nói thừa thăi, mà nhằm hiển lộ: Đức Phật tùy tiện nêu ra một pháp, đều gồm trọn mười phương!

          Đức Phật thuyết pháp, phương diện nào cũng đều trọn vẹn, chớ nên nh́n từ một khía cạnh! Như kinh Hoa Nghiêm chuyên biểu thị ư nghĩa “trùng trùng vô tận”, bởi lẽ, đức Phật thuyết pháp từ vô lượng vô biên tánh hải lưu xuất, cho nên tầng tầng vô tận! Hư không chẳng thể suy lường, nếu cho rằng chỉ dùng nó để sánh ví phước đức, vẫn chỉ là nh́n từ một khía cạnh. Thật ra, đó là để sánh ví “chẳng trụ tướng bố thí” vậy!

          Nhưng đức Phật dùng hư không để sánh ví, chỉ nói phương Đông là [người nghe] cũng đă có thể liễu giải, cớ sao lại nói bốn phương, thượng, hạ? Điều này có năm nghĩa:

          1) Hễ nêu ra một pháp, bản thể của nó chính là Không, đều là “chẳng nên trụ tướng”, dẫu là hư không th́ cũng thế.

          2) Cần phải biết: Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới, đều là giả danh. Do đối ứng với Đông mà thành Tây, so với Nam mà thành Bắc, vốn chẳng nhất định! Có thể biết: Hết thảy các pháp cũng đều là giả danh, chẳng có pháp nhất định để ḥng đạt được! Do vậy, chẳng thể trụ!

          3) Mười phương đă đều là giả danh, mà giả danh là tướng; cho nên chẳng thể trụ. Ta và chúng sanh cũng là giả danh, cũng chẳng thể trụ. Nhưng hết thảy các pháp đều là đồng Thể, nơi tánh thể vốn là một. Lănh hội như thế th́ mới là “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Phước đức như thế chẳng thể suy lường. Chẳng trụ tướng để bố thí như thế chính là cảnh giới Phật, phước đức to lớn, phàm t́nh há có thể suy đoán được chăng?

          4) Mười phương đều ở trong hư không, thật ra, đều thuộc trong một niệm tâm. Tuy nói “mười phương” mà chẳng trở ngại hư không đồng nhất. Tuy hư không đồng nhất mà chẳng trở ngại mười phương pháp giới, khiến cho mọi người lănh hội “nhân quả đồng thời, chẳng trở ngại một pháp giới. Một pháp giới chẳng trở ngại nhân quả”.

          5) Nêu lên mười phương tức là lư “hư không vô tướng, nhưng chẳng cự tuyệt các tướng nêu tỏ” được hiển lộ. Quán chiếu từ nơi ấy, sẽ là Không và Có đồng thời, tuy là Không và Có viên dung tự tại, th́ mới có thể tỏ rơ ư nghĩa “bố thí chẳng trụ tướng, phước đức ‘chẳng trụ tướng’ chẳng thể suy lường” (đoạn văn dưới đây do Giang cư sĩ đích thân viết; do vậy, chẳng ngại trùng lặp, cũng ghép vào đây).

          Dùng hư không làm thí dụ, lại nêu ra Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn góc, trên, dưới để nói, hoàn toàn chẳng phải là văn từ thừa thăi, mà thật sự là ư nghĩa trọng yếu có liên quan, chớ nên xem nhẹ!

          1) Mười phương đều ở trong hư không, [nêu ra mười phương] là để khiến cho [thính chúng] biết mười pháp giới đều ở ngay trong một niệm tâm của mỗi người.

          2) Tùy ư nêu ra một phương, đều là hư không, khiến cho [thính chúng] biết: Tùy ư nêu ra một pháp, bản thể của nó chính là Không.

          3) Vậy th́ Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới, đều là giả danh, khiến cho [thính chúng] biết ta, người, chúng sanh, cho tới hết thảy các pháp, không ǵ chẳng là giả danh.

          4) Đă đều là giả danh; do vậy, hư không vốn là một, khiến cho [thính chúng] biết ta, người, chúng sanh, cho tới Phật, đủ loại sai biệt, đều là nói theo tướng giả danh đó thôi; chứ nói theo tánh thể th́ là một. V́ thế nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Do vậy nói là “một pháp giới”. Cần phải biết: Chúng sanh do chẳng thấu đạt một pháp giới, cho nên bất giác tự động có vô minh!

          5) Tuy có mười phương, nhưng chẳng trở ngại hư không đồng nhất. Tuy hư không đồng nhất, mà chẳng trở ngại mười phương, khiến cho [thính chúng sẽ] biết: Nhân quả trong mười pháp giới dày đặc, nhưng chẳng trở ngại cùng là một tánh Không. Tuy cùng một tánh Không, nhưng chẳng trở ngại nhân quả dày đặc trong mười pháp giới. Đấy chính là tỏ lộ rơ rệt lư “hư không vô tướng, nhưng chẳng cự tuyệt các tướng nêu tỏ”. Như vậy th́ Không và Có đồng thời, tồn tại và diệt mất tự tại. Đấy mới là hư không chẳng thể suy lường, mới đáng dùng để sánh ví “bố thí mà chẳng trụ tướng”. Phước đức do bố thí mà chẳng trụ tướng chẳng thể suy lường! Nếu chỉ nói hư không, sẽ là Thiên Không, há có phải là Đệ Nhất Nghĩa Không trong Bát Nhă, sao đủ để nói “hư không chẳng thể nghĩ bàn suy lường” cho được? Do vậy, hễ nói đến hư không, ắt phải nói kèm Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới, lư nằm ngay nơi đó, hăy nên biết như thế. Biết như thế mới là chánh tri vậy!

 

2.2.2.1.2.1.1.1.2.2.3. Pháp hợp (kết hợp thí dụ với lư vừa nói trong câu trước đó để giải thích lần nữa chủ đề vừa được nêu ra trước đó)

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Bồ Tát vô trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị bất khả tư lượng.

          ()須菩提菩薩無住相布施福德亦復如是不可思量

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Bồ Tát chẳng trụ tướng để bố thí, phước đức cũng lại chẳng thể suy lường như thế).

 

          (Bổ) Mười phương hư không vô tướng, nhưng chẳng trở ngại các tướng tỏ lộ; đúng là giống như bố thí mà chẳng trụ tướng. Bố thí mà chẳng trụ tướng đúng là giống như hư không chẳng thể suy lường. Bồ Tát có thể “có mà chẳng có, không mà chẳng không” như vậy, th́ mới là trái nghịch trần lao, hợp với giác ngộ. Kinh văn trong phần trước nói “chẳng trụ tướng để bố thí”, đoạn này đổi chữ Bất thành Vô, có thâm ư sâu xa. Bởi lẽ, thiện nam tử, thiện nữ nhân đă phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, tức là có tư cách thành Phật. V́ thế, dạy họ chẳng trụ tướng để bố thí. Ở đây là dạy dụng công: Phải có thể thật sự đạt tới vô trụ, chẳng có mảy may nào chẳng tận th́ mới được!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.3. Kết lại lời dạy về chánh trụ

         

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Bồ Tát đản ưng như sở giáo trụ.

          ()須菩提菩薩但應如所教住

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên trụ như đă dạy).

 

          (Bổ) Quy kết vào “vô trụ th́ mới là chánh trụ”, tức là nói “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu). Lại nữa, để đáp [câu hỏi] “ưng vân hà trụ” (hăy nên trụ như thế nào), kinh văn trong các phần trước đều nói “chẳng trụ, vô trụ”; ở đây bỗng dưng nói “như sở giáo trụ” (theo đúng như lời dạy mà trụ), có ư nói: “Hăy nên theo đúng lời ta (Phật Thích Ca) đă dạy mà trụ”, nhằm chỉ rơ trụ mà vô trụ, vô trụ mà trụ”, chẳng phải là đoạn diệt! Nghiền ngẫm hai chữ “đản ưng” (chỉ nên), sẽ có thể thấy: Ngoại trừ nương theo “chẳng trụ, vô trụ” của ta ra, chẳng c̣n có cách trụ nào khác! [Hai chữ ấy] lại c̣n chứa đựng ư nghĩa “hàng phục”. “Hàng phục” tức là hàng phục cái “trụ” ấy. Lại nữa, “đản ưng” có nghĩa là hăy nên theo đúng như lời ta dạy, “chẳng trụ vào Nhị Biên để trụ” th́ mới là chánh trụ. “Trụ” lại có nghĩa là Chủ, [hàm ư] chỉ nên nương vào “chẳng trụ Nhị Biên” như ta đă dạy mà tu hành, vốn coi Bất Trụ là Chủ. Nếu không, sẽ chẳng phải là Đại Thừa Phật pháp.

          Đoạn này nhằm phát khởi hai khoa là “ly tướng tâm’“chẳng trụ vào tướng”, soi tỏ lẫn nhau. Trong phần trước đă nói “hàng phục” chứa đựng ư nghĩa “chẳng trụ vào đâu”. Ở đây nói “chẳng trụ” chứa đựng ư nghĩa “hàng phục”. Do đó, hai chuyện hàng phụcchẳng trụ chính là một! Để thực hiện sự tu hành th́ chính là một chữ Xả! Xả chẳng được là v́ chấp có ngă kiến! Đức Phật dạy Xả, tức là phá ngă chấp. Có thể xả một phần ngă chấp, tức là phá được một phần. Cứ phá vỡ từng tầng một cho đến rốt ráo xả, ngă chấp mới phá hết sạch. Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có một phần Pháp Chấp chưa phá, ắt phải đạt tới Phật quả th́ mới là rốt ráo xả! V́ thế, Phật pháp từ đầu tới cuối, chỉ là một chữ Xả. Xả chính là “chẳng trụ Không, chẳng trụ Hữu”, tức là “ly tướng tâm” (tâm ĺa tướng). Tâm lượng lớn tới mức vô lượng vô biên th́ mới là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Nếu tâm lượng hẹp nhỏ, sao có thể xả cho được? Đức Phật chẳng nói “trụ”, thành Phật c̣n chẳng trụ vào Phật tướng mà! V́ vậy, tổ sư Thiền Tông hoàn toàn dùng phương pháp trong kinh Kim Cang, đối với người học chỉ nói nửa câu, chẳng nói toạc ra để người học tự tư duy: Trái cũng chẳng đúng, mà phải cũng trật luôn! Đánh cho vọng niệm hoa rơi, nước chảy, bỗng dưng rơi mất. Đó chính là diệu trụ.

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.4. Nói rơ nguyên do

 

          Chia làm hai phần:

          1) Vấn đáp để giải thích rơ.

          2) Xiển dương nghĩa lư để ấn chứng, hứa khả.

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1. Vấn đáp để giải thích rơ

2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.1. Hỏi han

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ?

          ()須菩提於意云何可以身相見如來不

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay không?)

 

          (Bổ) Cổ đức nói: “[Cho tới câu] ‘Bồ Tát đản ưng như sở giáo trụ’ (Bồ Tát chỉ nên đúng như lời dạy mà y trụ), ư nghĩa to lớn trong cả bộ kinh Kim Cang đă trọn hết. Tiếp đó là đoạn nghi từng tầng một”. Cố nhiên đúng là đoạn nghi, nhưng ư nghĩa vẫn chưa trọn hết. Nay tôi chia thành từng khoa để giảng rơ thêm nguyên do của bốn chữ; dốc trọn tâm tư cân nhắc. Bởi lẽ, do chẳng hiểu rơ nguyên do nên mới có nghi. Nếu hiểu rơ nguyên do, nghi sẽ tự đoạn!

          Đối với hai chữ “thân tướng”, theo cách giải thích xưa kia th́ là nói về thân ứng hóa có ba mươi hai tướng. Nếu hiểu như vậy th́ “ba mươi hai tướng” trong đoạn sau chẳng phải là trùng lặp ư? Từng chữ, từng câu trong kinh Kim Cang đều có thâm ư, quyết chẳng phải là trùng lặp! Hai chữ “thân tướng” phải nên hiểu là nói về bản thân của chúng sanh, c̣n hai chữ Như Lai là nói về Pháp Thân mà chúng sanh vốn sẵn có. Trong các đoạn kinh văn trước đó, chỗ nào cũng đều nói “chẳng trụ tướng”, nói “chẳng trụ” nhằm khiến cho mọi người thấu hiểu, dung hội tướng về tánh. Cái tâm của chúng sanh được gọi là Như Lai Tạng, tức là nói đến pháp tánh mà chúng sanh vốn sẵn có. Bất quá [tánh ấy] ẩn tàng trong Nhân Ngă và Pháp Ngă. Đức Phật dạy “chẳng trụ tướng” nhằm dạy chúng sanh tự thấy Như Lai được ẩn tàng [trong tâm tánh của họ]. Giải thích như thế so ra thân thiết hơn. Ư của đức Phật là: Chúng sanh các vị có thể từ nơi thân tướng mà thấy được bổn tánh của quư vị hay không?

          Khoa này lại nhằm nêu rơ nguyên do của cái lư được diễn tả trước đó. Trong đủ loại đạo lư được nói trong các đoạn kinh văn trước đó, điều khẩn yếu nhất là nhiều lượt trần thuật “chẳng trụ vào tướng”, đều được quy kết vào một câu “có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay không?” Trong đoạn văn trước đó, [đức Phật đă dạy] Bồ Tát chẳng trụ vào tướng để bố thí, th́ phước đức ấy sẽ chẳng thể suy lường. Đức Phật đă nói rơ điều ấy, nhưng chưa giảng rơ nguyên do. Bởi lẽ, chẳng trụ vào tướng, điều quan trọng chính là chứng tánh. Hết thảy phàm phu từ vô thỉ tới nay, chỉ nhận biết tướng. Do vậy, họ hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu, trái nghịch giác, xuôi theo trần lao, quên bẵng diện mục sẵn có! Kinh văn trong phần trước nói “chẳng trụ pháp tướng, chẳng trụ phi pháp tướng”. “Pháp” là nói đến hết thảy mọi sự, mọi vật. Cái túi da thối hoắc của chúng ta chính là vật bị chấp trước nặng nhất trong hết thảy các sự vật! Từ vô thỉ tới nay, cứ chấp nó chính là thân tướng, coi giả là thật, nào có biết đấy là vô thường sanh diệt! Dẫu người kiến giải hơi cao, biết thân này như huyễn, nhưng vẫn cứ chấp các thứ “mừng, giận, buồn, vui” đă phát ra là t́nh, coi [những cảm xúc] “chưa phát, bất động” là tánh. Họ cho rằng chức năng chủ yếu của tâm là suy nghĩ, hễ suy nghĩ sẽ có cái được bẩm thọ. Do suy t́m cội nguồn của cái tâm chẳng được, bèn ngỡ những điều ấy được nhận lănh từ trời! V́ thế nói: “Mạng trời được gọi là Tánh”. Thế gian đều có kiến giải như thế, hoàn toàn bất đồng với Phật pháp. Cái “vô động tác” như họ đă nói chính là cái được Phật pháp gọi là Tướng. Phật pháp nói “bất động” th́ bất luận thức thứ bảy và thức thứ tám luôn thẩm định, suy lường, nh́n bề ngoài hoàn toàn là vận hành dấy lên, diệt mất, nhưng tánh th́ bất động, tức là “mừng, giận, buồn, vui” vẫn là vận hành dấy lên rồi diệt mất. Nếu lầm lẫn coi các [thứ t́nh cảm] chưa phát khởi là tánh, ắt sẽ bị trói buộc. Thế gian th́ từ trên là thánh nhân cho đến [dưới là] ngu phu, hoàn toàn có chấp trước loại này; nói chung, chẳng ra ngoài sanh diệt! V́ thế, cần phải nhận rơ vị chủ nhân ông bất sanh bất diệt th́ mới có thể chẳng bị tướng chuyển, mà tướng là do ngă chuyển. Chẳng thuận theo sanh diệt, vô thường để rong ruổi, sẽ có thể liễu sanh tử.

          Đức Phật dạy mọi người “chẳng trụ tướng”, khăng khăng dụng công tại chỗ này. Phật pháp ngàn lời vạn lẽ, vẫn chẳng nói ngoài điều này! Kinh này vừa khởi đầu liền nói “chẳng trụ tướng” nhằm dạy chúng ta nhận rơ điểm này! Chấp tướng tức là chấp Có, chẳng chấp tướng tức liền chấp Không; đấy là bệnh chung của hết thảy phàm phu. Tiểu Thừa tương phản với phàm phu, biết rơ thân tướng là huyễn, ngay cả “mừng, giận, buồn, vui” chưa phát cũng là tướng, chứng đắc Thiên Không, liễu sanh tử, thoát khỏi tam giới. Nhưng họ lại mắc phải một bệnh, tức là bệnh Chấp Không. Cái Không ấy vẫn là tướng! Đại Thừa Khởi Tín Luận nói: “Không là rỗng không vọng niệm, ắt phải ngay cả khởi tâm động niệm, mừng, giận, buồn, vui chưa phát cũng rỗng không; đó chính là trụ trong vô tướng. Do coi Thiên Không là liễu sanh tử, chẳng biết chấp Không th́ lại trụ trong phi pháp tướng. Do vậy, đức Phật quở trách, bảo đó chẳng phù hợp”. Cần phải biết: “Hễ có Thể, ắt có Dụng. Có Tánh, ắt có Tướng”. Trước nay nói “phàm phu chấp trước”, chẳng ngoài thuận theo tướng mà truy cầu, chỉ cần biết tướng hư vọng là được rồi! Nếu lại chấp trước Không, tức là đọa vào Đoạn Diệt. Tánh và tướng chẳng phải là một. Tánh là tánh, tướng là tướng, Thể là Thể, Dụng là Dụng. Do vậy, chẳng thể diệt tướng. Diệt tướng tức là như một vật có đáy mà chẳng có mặt. Tánh và tướng lại chẳng khác. Tướng chính là biểu hiện của tánh, tánh tức là căn bản của tướng. Có căn bản mà chẳng có biểu hiện, tức là có Thể mà không có Dụng. V́ thế, Phật chẳng trụ Niết Bàn. V́ sao vậy? Hết thảy chúng sanh chính v́ chấp trước tướng ấy, nếu đức Phật chẳng biểu hiện tướng ấy, sẽ chẳng thể độ họ. Do vậy, chứng tánh thể vốn là để khởi hạnh. Như đối với Tiểu Thừa, sở dĩ đức Phật quở trách là mầm cháy, hạt lép, đọa vào hầm vô vi [là họ vẫn chấp Không]. Kinh văn thuộc khoa này chính là để nêu tỏ lư này, ngơ hầu [mọi người] biết nguyên do đức Phật dạy ai nấy đừng trụ vào pháp tướng, mà cũng chẳng trụ vào phi pháp tướng.

          Đức Phật dạy mọi người tu hành, vốn v́ độ chúng sanh. Nếu họ đọa vào hầm vô vi, làm sao có thể độ được? Do vậy, Bát Nhă cốt yếu chẳng trụ trong Nhị Biên, ắt chẳng trụ Hữu, chẳng trụ Không, th́ mới có thể xứng tánh. Lại nữa, tánh là “vô tướng, vô bất tướng”. Do vô tướng, chớ nên chấp Có, chẳng thể trụ vào pháp. Do vô bất tướng, chẳng thể chấp Không, chẳng thể trụ phi pháp, chính là chỉ có tánh là “vô tướng, vô bất tướng”. Do vậy, phàm phu chấp vào bên Hữu, chẳng thấy tánh. Tiểu Thừa chấp vào bên Vô, cũng chẳng thấy tánh. Ngàn kinh vạn luận, không ǵ chẳng nhằm nói rơ lư ấy. Đại đức chú sớ, cũng không ǵ chẳng nhằm nêu rơ lư ấy.

          V́ vậy, chớ nên hiểu “thân tướng” ở đây là thân Phật, mà phải hiểu là nói theo thể tướng nơi bản thân chúng sanh. Trên đến Phật, dưới tới hết thảy chúng sanh, đều là tướng ấy. Đức Phật chứng đắc Pháp Thân, nên gọi là Như Lai. Hết thảy chúng sanh mừng, giận, buồn, vui, khởi tâm động niệm, vốn là bất giác; nhưng có thể thành Phật th́ cũng chính do cái tâm chúng sanh này! Bởi lẽ, tâm này chính là Như Lai, bất quá bị vô minh phủ lấp, nên gọi là Như Lai Tạng. Đức Phật hỏi lời này là thử xem Tu Bồ Đề và đại chúng, cho tới chúng sanh trong đời vị lai, rốt cuộc đối với “chẳng trụ tướng” như ta đă nói trong phần trước, [có hiểu] như thế nào th́ có thể dùng tướng để thấy tánh hay không? Nếu đáp “có thể thấy Như Lai”, tức là trụ trong pháp tướng, là phàm phu. Nếu đáp “chẳng thể thấy Như Lai” tức là trụ trong phi pháp tướng, chính là Tiểu Thừa!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.2. Trả lời

2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.2.1. Cùng nêu ra

 

          (Kinh) Phất dă, Thế Tôn! Bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai.

          ()不也世尊不可以身相得見如來

          (Kinh: Bạch Thế Tôn, không ạ! Chẳng thể dùng thân tướng để được thấy Như Lai).

 

          (Bổ) Trước nay, khi đọc kinh Kim Cang, đối với câu “bất khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai” (chẳng thể dùng thân tướng để được thấy Như Lai) [đa số mọi người] thường đọc như một câu. Diệu Hú tŕ tụng kinh này hơn bốn mươi năm, tới mười bốn năm trước mới ngẫu nhiên ngộ rằng “phải nên đọc thành hai câu”, nhưng vẫn chưa dám quyết! Về sau, đọc lời giảng kinh Pháp Hoa của Nam Nhạc đại sư có nói đối với đoạn kinh duy Phật dữ Phật năi năng cứu tận chư pháp Thật Tướng, sở vị chư pháp như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh đẳng” (chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu suốt tột cùng Thật Tướng của các pháp, tức là các pháp tướng như thế, tánh như thế, thể như thế, lực như thế, tác như thế, nhân như thế, duyên như thế, quả như thế, báo như thế, đầu đuôi rốt ráo như thế) có ba cách chấm câu, mới dám quyết định chia đoạn này thành hai câu. Nhưng phương pháp này chỉ có thể áp dụng cho kinh của Không Tông và các bản dịch của La Thập đại sư.

          Các bản chú giải cũ coi thân tướng đương nhiên là Không. Nói theo Pháp Thân, Ứng Hóa Thân cũng là huyễn tướng, cho nên nói “chẳng thể thấy Như Lai”. Nhưng nghĩa chưa trọn hết, chiếu theo cách giải thích ấy, sẽ là trụ trong phi pháp tướng. Cần phải biết: Chữ Phất trong “phất dă, Thế Tôn” [hàm nghĩa] “là phải, mà chẳng phải”, chẳng thể hoàn toàn hiểu là “phủ quyết” được! Đă đáp là chẳng thể, lại nói là “có thể”; do vậy là “cùng nói”. Hơn nữa, nếu thật sự toàn là “phủ quyết”, sao câu kế đó lại thêm chữ “đắc”? Ngài Tu Bồ Đề có ư nói: Chẳng thể coi tướng là tánh, dựa theo thân tướng để thấy Như Lai; nhưng tướng do tánh hiện, nên cũng có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai. V́ thế, trong câu kinh tiếp theo lại giảng rơ “thân tướng” do Như Lai vừa nói đó.

          Đọc đoạn này thành một câu th́ xét theo sự thật, theo đạo lư, theo văn tự, sẽ có đủ mọi lẽ nói chẳng suông! Nếu hiểu lời đáp như thế là “chẳng thể dùng thân tướng để thấy Như Lai”, [hóa ra] ngài Tu Bồ Đề vẫn chỉ ngộ “tướng là tướng, tánh là tánh”, vẫn là kiến giải của Tiểu Thừa, rơi vào Thiên Không, chẳng phải là Đệ Nhất Nghĩa Không, sao có thể gọi là “giải Không đệ nhất” cho được? Huống chi, trong tám hội trước, ngài Tu Bồ Đề đều là đương cơ, lại c̣n từng thay mặt đức Thế Tôn nói lư “chẳng chấp Nhị Biên”, v́ sao tới đây lại đâm ra chẳng hiểu rơ? Đấy là chẳng phù hợp sự thật. Trong phần Phát Khởi Tự của kinh này, đức Thế Tôn mặc áo, dùng cơm, thị hiện Đại Không tam-muội, mọi người đều chẳng biết, [chỉ riêng] ngài Tu Bồ Đề đă ngộ lư ấy, vừa mở miệng liền tán thán đức Thế Tôn hy hữu, Như Lai khéo hộ niệm các Bồ Tát, khéo phó chúc các Bồ Tát. Rơ ràng là đă thấy Như Lai thị hiện tướng phàm phu, thấy rơ tướng chẳng chướng ngại tánh. Lẽ nào sau khi đức Thế Tôn đă hai phen khai thị, Ngài vẫn chỉ thấy một bên, tánh và tướng chẳng dung hội? Như thế th́ hai chữ “hy hữu” trong phần trước chẳng có lai lịch! Hai câu Như Lai thiện hộ niệm, [thiện phó chúc] cũng trọn chẳng có ư vị chi hết! Đấy là chẳng phù hợp đạo lư. Lại xét theo cách đọc ấy, [nếu hiểu là] hoàn toàn là phủ quyết, tức một câu “phất dă Thế Tôn” (bạch Thế Tôn, chẳng phải vậy) là được rồi, cần ǵ phải rườm lời “dĩ thân tướng kiến Như Lai” (dùng thân tướng để thấy Như Lai), cần ǵ phải chèn thêm chữ Đắc? Đó là xét theo văn tự th́ chẳng phù hợp!

 

2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.2.2. Giải thích và tiểu kết

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết thân tướng, tức phi thân tướng.

          ()何以故如來所說身即非身相

          (Kinh: V́ sao vậy? Như Lai nói thân tướng, tức chẳng phải là thân tướng).

         

          (Bổ) “Như Lai sở thuyết thân tướng, tức phi thân tướng” (Như Lai nói thân tướng, tức chẳng phải là thân tướng) chính là cùng chiếu Nhị Biên. Tánh chính là cái Thể của tướng, tướng chính là Dụng của tánh. Tướng mà chẳng có tánh, sẽ chẳng dung thông. Tánh mà chẳng có tướng, sẽ chẳng hiển lộ. Ĺa tướng sẽ chẳng có cái ǵ gọi là tánh. Ĺa tánh sẽ không có ǵ để gọi là tướng, chỉ tùy thuộc chấp trước hay không! Hễ chấp tướng, tướng liền thành chướng ngại, chẳng thể thấy tánh. V́ thế đáp rằng “chẳng thể”. Nếu chẳng chấp trước, sẽ có thể từ tướng mà thấy được tánh. Tướng như bề ngoài của một vật. Nếu bề ngoài của một vật như pha lê trong suốt, sẽ có thể thấy bên trong. V́ thế đáp rằng: “Dùng thân tướng để thấy Như Lai”. Bởi lẽ, chẳng chấp trước, sẽ chẳng rơi vào Nhị Biên, sẽ chẳng cần như Tiểu Thừa diệt Sắc để hiển lộ Không, diệt tướng để thấy tánh, tức là như phần sau của chánh kinh chẳng nói “đoạn diệt tướng”. Lư Bát Nhă hoàn toàn ở chỗ này, cần phải quán chiếu, cẩn thận dụng công.

          Nói theo tướng th́ là thân tướng. Nói theo tánh, bản thể chính là Không, tánh vốn chẳng có tướng. Nói theo tướng, th́ “tướng là tướng, tánh là tánh”, tướng là hư vọng, tánh là chân thật, cho nên nói “chẳng thể”. Nói theo tánh, bản thể của tướng vốn là Không, tánh có thể dung thông tướng, lư chân thật liền hiển lộ, cần ǵ phải ĺa tướng hư vọng để thấy được tánh chân thật? Do vậy nói “đắc kiến Như Lai” (được thấy Như Lai). Có thể biết: Hễ tướng là Không, liền được thấy tánh. Giải thích như thế th́ mới phù hợp với ngài Tu Bồ Đề là bậc đương cơ thỉnh pháp. Mọi người thấy đức Phật mặc áo, dùng cơm, thị hiện tướng phàm phu, liền chấp tướng phàm phu, chẳng thấy Như Lai. Ngài Tu Bồ Đề do tướng mà thấy tánh, biết Phật chẳng trụ tướng, liền thấy Như Lai. V́ vậy, đây chính là cùng nêu lên cả hai đằng [tánh và tướng] để giải thích nhằm kết lại.

 

2.2.2.1.2.1.1.1.2.4.2. Xiển dương ư nghĩa, ấn chứng, hứa khả

2.2.2.1.2.1.1.1.2.4.2.1. Nói rơ tánh vốn chẳng phải là tướng

 

          (Kinh) Phật cáo Tu Bồ Đề: - Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.

          ()佛告須菩提凡所有相皆是虛妄

    (Kinh: Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: - Phàm tất cả các tướng đều là hư vọng).

 

          (Bổ) Người kết tập kinh chèn câu “Phật cáo Tu Bồ Đề” (đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề) nhằm minh thị đoạn văn tiếp theo đó là đạo lư trọng yếu. Câu này chính là ấn chứng, hứa khả, sau đó mới nói rộng ra. Một phen hỏi đáp vừa rồi chỉ nói tới thân tướng. Thật ra, tất cả các tướng đều là hư vọng. Ông nói “chẳng thể” rất đúng! Bởi tánh vốn chẳng phải là tướng. Chữ Vọng () ở đây hiểu theo nghĩa rộng. “Hư vọng” giống như nói “hư giả” vậy. Đă biết là hư giả, hăy nên hồi quang phản chiếu, chớ nên hướng ra ngoài rong ruổi cầu tướng, hăy mau quay về tánh. Tánh vốn chân thật, há có thể dùng cái hư giả để thấy cái chân thật ư? Biết đấy là căn bệnh của phàm phu, hăy nên tránh để khỏi đến nỗi đọa nhập luân hồi!

 

2.2.2.1.2.1.1.1.2.4.2.2. Từ ngay nơi tướng mà thấy tánh

 

          (Kinh) Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai.

          ()若見諸相非相則見如來

          (Kinh: Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, sẽ thấy Như Lai).

 

          (Bổ) “Chư tướng” tức là hết thảy các tướng, tức là “phàm tất cả các tướng. Chỉ cần triệt để hiểu rơ hết thảy các tướng đều là hư vọng, sẽ chẳng đuổi theo vọng, tức là biết có Chân. V́ thế, thấy các tướng chẳng phải là tướng, tướng sẽ chẳng thể chướng ngại tánh, liền thấy Như Lai, cần ǵ phải diệt tướng, do sẽ từ ngay nơi tướng mà có thể thấy tánh. Ông đáp “được thấy Như Lai” hết sức đúng! Chữ “tắc” () trong các bản lưu thông ghi là Tức (); ở đây, tôi dựa theo bản chép tay của người đời Đường mà sửa thành Tắc. Tắc và Tức vốn có thể dùng lẫn cho nhau, chỉ hiểu là Tiện (便, liền, bèn là) th́ hợp lư, nếu hiểu là Tựu (, tùy thuộc) th́ chẳng thể thông suốt!

          Phàm tất cả các tướng đă là hư vọng, đều chớ nên trụ. V́ thế, phần trên nói “pháp tướng” hay nói “phi pháp tướng” liền bao quát hết thảy các tướng. Đức Phật nói “chẳng trụ tướng”, tức là dạy mọi người thấy Như Lai. Nếu chấp vào thân Ứng Hóa, sẽ chẳng thể thấy Pháp Thân. Do đó, “chẳng trụ tướng” nhằm khiến cho mọi người kiến tánh. Lại nữa, “chẳng trụ tướng” chính là chẳng chấp trước. Chẳng chấp trước chính là chẳng bị tướng chuyển, hoàn toàn tương phản với vị ngă sở chuyển” (bị ngă xoay chuyển). V́ vậy, chỉ cần biết rơ là hư vọng, chẳng cần phải đoạn diệt, mà cũng chẳng thể đoạn diệt! Bởi lẽ, tướng vốn do tánh hiện. Đức Phật dạy mọi người chớ nên chấp trước pháp thế gian, cũng chớ nên ghét bỏ. Phàm phu chấp tướng tức là trụ trong tướng của pháp rồi nẩy sanh phiền năo. Người tu hành chán ghét pháp thế gian, lại trụ trong phi pháp tướng mà nẩy sanh phiền năo. Cần phải biết: Tánh vốn “vô tướng, vô bất tướng”, chẳng thể đoạn diệt.

          Chúng ta dụng công, trước hết, cần phải quán chiếu, lâu ngày rồi mới có thể chiếu trụ, cuối cùng là có thể chiếu kiến. Nương theo lời đức Phật dạy, chẳng chấp Nhị Biên để tu hành, hành tới, hành lui, cho tới khi công phu thuần thục, đă sâu lại càng sâu hơn, th́ mới là Bát Nhă Ba La Mật, mới thật sự thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là như Tâm Kinh nói “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” (soi thấy Ngũ Uẩn đều là Không, vượt khỏi hết thảy các khổ ách). Sắc trong Tâm Kinh chính là Tướng trong kinh này. Thọ, Tưởng, Hành, Thức chính là “mừng, giận, buồn, vui, khởi tâm động niệm”. Chiếu soi chúng đều là Không th́ mới là “các tướng chẳng phải là tướng”. “Giai không” (đều là Không) tức là Tam Không (ngă không, pháp không, ngă pháp câu không), chẳng phải là Đản Không[1] của Tiểu Thừa. V́ thế lại nói “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc” (Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc). Nói như thế th́ Sắc và Không vẫn là hai thứ, cho nên lại nói: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” (Sắc tức là Không, Không tức là Sắc). Đấy chính là Không và Hữu đồng thời; điều này thông với cả bốn câuphàm sở hữu tướng” (phàm tất cả các tướng). Phàm tất cả tướng đều là hư vọng, thông với câu “Không tức thị Sắc”. Hết thảy giả danh, bản thể của chúng chính là Không. “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền thấy Như Lai) thông với câu “Sắc tức thị Không”. Do Sắc tức là Không, có thể thấy Không chẳng ở ngoài Sắc, cần ǵ phải diệt Sắc để nói rơ Không? V́ thế nói là “tắc kiến Như Lai” (liền thấy Như Lai). “Kiến Như Lai” chính là kiến tánh. Chẳng chấp trước tướng, liền có thể độ hết thảy các khổ ách!

          Khổ ách vô lượng, nêu ra điều to lớn, th́ là Phần Đoạn sanh tử của phàm phu và Biến Dịch sanh tử của Tiểu Thừa. Thân phàm phu có cao, thấp, mạng có thọ, yểu, lưu chuyển sanh tử; đó gọi là Phần Đoạn sanh tử. Tiểu Thừa chứng đắc tánh vô tướng, đă đạt được cái Thể, vốn có thể hiện tướng, nhưng họ sợ khổ, chẳng chịu nhập thế độ sanh, trong tâm dấy lên sanh diệt vi tế. Đức Phật gọi đó là Biến Dịch sanh tử. Nếu thấy Như Lai, liền có thể vượt thoát các khổ ách ấy. Vượt thoát khổ ách do thấy Như Lai. Thấy Như Lai do chiếu kiến; do vậy, điều khẩn yếu nhất trong dụng công là tác quán. Kinh văn trong khoa này nếu tiêu quy tự tánh, chính là khi gặp hết thảy các tướng, bước công phu đầu tiên chính là quán “phàm tất cả tướng đều là hư vọng”, c̣n đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, bèn quán các tướng chẳng phải tướng.

          Chắc có người nghi ở trong trần lao, chẳng dễ tác quán. Xin hăy lấy ngay Thượng Hải để nói, chúng ta suốt ngày nghe tiếng xe, tiếng người, đủ loại tiếng ồn quấy nhiễu. Cần phải biết: Các âm thanh ấy dấy lên, diệt mất chẳng ngừng. Các chúng sanh tất bật đến đi, đều bươn bả v́ cơm áo, chẳng do chính ḿnh làm chủ. Nhưng thật ra chẳng phải là tiếng xe, tiếng người, hay đủ loại tiếng ồn quấy nhiễu, mà chính là âm thanh vô thường, khổ, không, vô ngă, bản thể của chúng là Không. Rơ ràng là tiếng động, nhưng tác quán như thế, liền chẳng chấp Có, chẳng chấp Không, chúng sẽ là âm thanh Bát Nhă Ba La Mật Đa. Do vậy, đối với bất luận câu nào trong kinh văn, cũng đều có thể tác quán, đi, đứng, ngồi, nằm, đều chẳng ĺa điều ấy, sẽ thọ dụng vô cùng. Nương vào văn tự mà khởi quán chiếu như thế, trước hết, ta cần phải đọc kinh, đó là kinh chuyển ta. C̣n tác quán tức là ta chuyển kinh. “Kinh chuyển ta” tức là dùng kinh để chuyển dời phàm t́nh. “Ta chuyển kinh” lại là công phu càng trọng yếu hơn. Kinh văn trong khoa này nhằm nói rơ nguyên do của câu trên, tức là tổng kết “hàng phục cái tâm này, hăy nên chẳng trụ vào đâu”. V́ thế, nương theo kinh văn này để quán chiếu, sẽ chẳng khác quán chiếu đoạn văn trước đó.

          Phàm tất cả tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền thấy Như Lai. Thấy Như Lai tức là thấy tánh. Thấy tánh là do chẳng trụ vào tướng. Thấy tánh một phần tức là Sơ Địa Bồ Tát, tức chẳng thoái chuyển tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thấy rốt ráo, liền thành Phật; đó chính là nguyên do của phước đức chẳng thể suy lường trong đoạn kinh văn trước đó. Thành Phật thấy tánh, Pháp Thân hiển hiện trọn khắp hư không; đó chính là nguyên do dùng hư không để tỷ dụ trong đoạn kinh văn trước đó. Cần phải biết: Kinh này nói đi, nói lại, đều nhằm nói vô trụ. Kinh văn trong phần trước nói “chẳng trụ vào tướng” chính là để giải thích “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu). Do đó, vừa mở miệng, liền nói “hàng phục cái tâm” trước, “khiến cho hết thảy chúng sanh đều nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”; đấy chính là dạy chúng ta chẳng trụ. “Diệt độ vô lượng chúng sanh thành Phật”, chính là chỉ dạy chúng ta pháp môn để phát tâm. “Thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ” lại là quét sạch pháp này, đấy chính là chỉ dạy chúng ta đừng trụ vào pháp tướng. Sau đó nói “Bồ Tát hăy nên chẳng trụ vào đâu”, cũng là dạy mọi người chớ trụ vào pháp tướng. “Hành bố thí” là dạy mọi người đừng trụ vào phi pháp tướng. Tuy lại nói “đản ưng như sở giáo trụ” (chỉ nên trụ đúng như lời dạy), vẫn nhằm ư nghĩa dạy mọi người trụ trong vô trụ, chính là như cổ đức bảo “chỉ cầu dứt vọng, đừng nên t́m chân”. “Chân” tức là chân tâm, lại chính là Chân Như. “Ưng” (hăy nên) là Như Như b́nh đẳng. V́ sao Như Như b́nh đẳng? Tánh thể vốn sẵn như thế! Có tánh thể ấy, liền có thể hiện tướng. V́ thế, người chứng đắc sẽ chẳng thể tồn tại cái chân tâm ấy! Nếu t́m kiếm chân, sẽ chính là thức thứ sáu và thứ bảy, liền trở thành vọng. Cổ đức nói “chấp dị”, chấp dị tức là phán định chân và vọng thành hai thứ, chẳng phải b́nh đẳng. Do đó nói “ưng như ngă sở giáo trụ” (hăy nên đúng như lời ta đă dạy mà trụ) nhằm hàng phục vọng tâm. Phàm phu toàn là vọng tâm, ắt vọng tâm trừ từng phần, chân tâm sẽ hiện ra từng phần. “Chỉ cầu dứt vọng, đừng t́m kiếm chân” chính là ư này vậy!

Phàm tất cả các tướng đều là hư vọng, hễ trụ th́ là vọng. V́ thế, kinh văn trong phần trước vừa mở đầu liền nói “hàng phục” mà chẳng nói “trụ”. Cớ sao lại nói “nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền thấy Như Lai”? Đấy là nói tới lợi ích do chẳng trụ. Nếu có thể thấy “các tướng chẳng phải là tướng” chính là thấy chân tánh. Đó chính là tổng kết ư nghĩa “chẳng nói trụ mà nói hàng phục, chỉ nên trụ như ta đă dạy” trong kinh văn thuộc phần trước. Từ chỗ này, có thể biết cách hành văn trong kinh Kim Cang như ngựa trời chạy trên hư không, nói lư th́ kín kẽ chẳng lọt, mở ra ở chỗ nào th́ sẽ kết lại ở chỗ đó. Đọc kinh văn thuộc khoa này, như ngọn núi lạ chợt nổi lên. Thoạt nh́n tưởng như chẳng thừa tiếp ư đoạn trước; nhưng thật ra, nó là tổng kết của đoạn trước. Đúng là như nước non trùng điệp, tầng tầng bao quanh. Chỗ nào cũng đều có long mạch vây bủa, chỗ nào cũng có nơi kết huyệt! Nói theo phương diện văn tự, sẽ là vừa nói, vừa quét sạch, đúng là “chẳng trụ vào pháp tướng, chẳng trụ phi pháp tướng”, thật sự đủ làm Văn Tự Bát Nhă. Khi đọc kinh này, giảng kinh này, phần kinh văn trước cần phải nhiếp nhập phần kinh văn sau, từ phần kinh văn sau mà nh́n lại phần kinh văn trước. Như “phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm tất cả các tướng đều là hư vọng) chiếu ứng với bốn câu kệ “nhược dĩ sắc kiến ngă, dĩ âm thanh cầu ngă” (nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta) trong phần sau. “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai) cũng là từng hơi thở liền mạch với “ư pháp, bất thuyết đoạn diệt tướng” (nơi pháp chẳng nói tướng đoạn diệt) thuộc kinh văn trong phần sau (đoạn văn dưới đây do Giang lăo cư sĩ đích thân viết).

Để giảng rơ đoạn nêu nguyên do này, có bốn ư nghĩa trọng yếu:

          1) Trên đây, chỉ dùng hư không để sánh ví phước đức chẳng thể suy lường, nhằm giải thích lư do “chớ nên trụ tướng mà hành bố thí”. Ở đây lại nói “nếu chẳng trụ tướng, sẽ có thể thấy tánh thể của Như Lai”. Đấy chính là nguyên do của phước đức như hư không chẳng thể suy lường vậy.

          2) Trên đây nói “chẳng trụ tướng” để ngăn ngừa kẻ chẳng hiểu, sẽ ngờ là diệt tướng. Ở đây càng nói rơ hơn là “chẳng giữ lấy tướng” hoàn toàn chẳng phải là đoạn diệt tướng ấy. Đó gọi là “nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, sẽ thấy Như Lai”. Đó là nguyên do chẳng trụ tướng vậy!

          3) Trên đây, nói về nhân hạnh th́ [dạy hành nhân] chớ nên trụ vào tướng để ngăn ngừa nỗi nghi “không chỉ hết thảy chúng sanh đều thân tướng khổ quả thuộc Tứ Đại, Ngũ Uẩn, mà ngay cả đối với thân tướng ba mươi hai tướng hảo, cao một trượng sáu thước nơi cực quả của đức Thế Tôn, cũng v́ sao chẳng trụ?” (cổ nhân chỉ nêu ra thân tướng thuộc quả đức của Như Lai, nay cũng thể nói là “chung cho hết thảy chúng sanh” th́ ư nghĩa viên măn hơn. Bởi lẽ, kinh văn trong phần sau đó nói “phàm tất cả các tướng”. Lại trong phần sau nữa, cũng có câu hỏi “có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai hay không?” Chính là chuyên chỉ quả đức vậy). Nay nói rơ “đều chẳng thể trụ”. Nói theo quả đức, hễ trụ, sẽ chẳng thể thấy Như Lai. Nói theo khổ quả, hễ trụ, sẽ chẳng thể thấy Như Lai Tạng vốn sẵn có. Đấy chính là nguyên do đản ưng như sở giáo trụ” (chỉ nên trụ đúng như lời dạy), mà cũng chính nguyên do “ưng bất trụ tướng” (hăy nên chẳng trụ tướng).

          4) Tiểu Thừa th́ tánh và tướng chẳng dung hội, đă coi âm thanh và sắc tướng là Phật, sự tự tu của họ lại đọa vào chấp vô vi. Nay nói rơ: Cúng Phật, cần phải đừng chấp trước sắc tướng để thấy Như Lai; tự tu cũng đừng nên Thiên Không. Chỉ cần chẳng chấp vào tướng, Sắc sẽ chính là Không, tướng chính là tánh, tánh và tướng viên dung, vô ngại tự tại. Đó chính là nguyên do đức Thế Tôn nói pháp Bát Nhă khiến cho [mọi căn cơ Tiểu Thừa] hồi Tiểu hướng Đại vậy.

 

2.2.2.2.2.1.1.2. Sanh ḷng tin

 

          Chia thành bốn đoạn:

          1. Chỉ bày phân biệt căn cơ.

          2. Nêu rơ phước đức.

          3. Kết lại để hiển thị Trung Đạo.

          4. Gạn hỏi, giải thích, chứng minh để kết lại.

 

2.2.2.2.2.1.1.2.1. Chỉ bày, phân biệt căn cơ

2.2.2.2.2.1.1.2.1.1. Thưa hỏi

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh đắc văn như thị ngôn thuyết chương cú, sanh thật tín phủ?

          ()須菩提白佛言世尊頗有眾生得聞如是言說章生實信不

          (Kinh: Ngài Tu Bồ Đề bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch đức Thế Tôn! Há có chúng sanh nào được nghe chương cú ngôn thuyết như thế mà sanh ḷng tin chân thật hay không?)

 

          (Bổ) Kinh này hễ [chỗ nào] có câu “Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn” đều nhằm trịnh trọng [nhấn mạnh] chuyện sẽ nói, v́ những điều sẽ nói đều là đạo lư khẩn yếu nhất. “Phả” () là nhiều. “Như thị” chỉ điều vừa được minh thị trong đoạn kinh văn trên đây. “Ngôn thuyết” là pháp vừa được nói trong đoạn kinh văn trước đó. “Chương cú” chẳng phải là một chương (chapter), hay một câu. La Thập đại sư tùy thuận thành ngữ ở phương này (Trung Hoa). Người Hán khi giải nói kinh điển, phần nhiều gọi đó là “chương cú”. Hai chữ này chỉ những đạo lư được nói trong phần kinh văn trước đó. “Thật tín”: Chẳng phải là nói về ḷng tin hời hợt, vu vơ, mà là có thể liễu giải ư nghĩa chân thật trong chương cú, ngôn thuyết như thế. Lời hỏi này của ngài Tu Bồ Đề chú trọng nơi thật tín, tức là khai thị bọn chúng ta: Đối với ngôn thuyết chương cú như thế, ắt phải sanh ḷng tin chân thật th́ mới được! Những điều đức Thế Tôn đă nói trên đây quá ư sâu xa, hết thảy chúng sanh nghe rồi đương nhiên là sanh ḷng tin; nhưng người có thể sanh ḷng tin chân thật có nhiều hay không? Sợ rằng chẳng nhiều lắm! Đạo lư sâu như thế, người sanh ḷng tin chân thật, nếu chẳng phải là bậc thượng căn lợi trí sẽ không làm nổi, nhưng căn khí như thế ấy chẳng gặp được nhiều! Rốt cuộc cần phải là bậc thượng căn lợi trí ư? Hay chẳng bắt buộc phải là bậc thượng căn lợi trí?

 

2.2.2.2.2.1.1.2.1.2. Giải đáp

2.2.2.2.2.1.1.2.1.2.1. Phân biệt các căn cơ có thể sanh ḷng tin

 

          (Kinh) Phật cáo Tu Bồ Đề: - Mạc tác thị thuyết. Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới, tu phước giả, ư thử chương cú, năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật.

          ()佛告須菩提莫作是如來滅後後五百有持戒修福者於此章句能生信心以此為實

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: - Đừng nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người tŕ giới, tu phước, đối với chương cú này có thể sanh tín tâm, coi đấy là thật).

 

          (Bổ) Người kết tập kinh đặt thêm câu “Phật cáo Tu Bồ Đề” với dụng ư chỉ rơ: Lời dạy này là trọng yếu. Bằng câu “mạc tác thị thuyết” (đừng nói như vậy), đức Thế Tôn chặn họng ngài Tu Bồ Đề, bảo tôn giả chẳng thể nói như thế được! Không chỉ là đại chúng trong hiện tại có thể sanh ḷng tin chân thật, mà kể cả sau khi đức Như Lai diệt độ, tới năm trăm năm sau, vẫn có người có thể tŕ giới, tu phước sanh khởi tín tâm đối với chương cú này. Người ấy có thể sanh tín tâm, liền coi chương cú này là nghĩa chân thật. Chỉ có hai loại người tŕ giới và tu phước là có thể sanh ḷng tin đối với chương cú này, chứ những kẻ khác sẽ chẳng thể! Chữ Thử trong “dĩ thử” cũng nhằm nói đến “ngôn thuyết chương cú”. “Vi thật” (coi là thật) nghĩa là có thể hiểu rơ đạo lư trong kinh này. Từ đấy dụng công, cho nên có thể sanh tín tâm, hoàn toàn nhờ vào “dĩ thử vi thật” (coi đó là thật). Xưa nay, có khá nhiều bậc đại văn nhân từng xem Tam Tạng, không chỉ là một lượt, nhưng hỏi đến tu hành th́ chẳng hề có mảy may, chính là do căn bệnh “chẳng coi đấy là thật”! “Coi đấy là thật” chính là lời giải đáp cho câu hỏi về sanh ḷng tin chân thật của ngài Tu Bồ Đề.

          Dụng ư trong lời hỏi của ngài Tu Bồ Đề, một đằng là mong cho mọi người sẽ sanh ḷng tin chân thật, đằng khác là lo ngại lư quá sâu, chẳng phải là bậc đại căn khí, sẽ chẳng thể tin tưởng chân thật; dụng ư là như thế đó. V́ sao đức Phật chặn họng tôn giả [Tu Bồ Đề]? Trong ấy, chứa đựng ba ư nghĩa trọng yếu, từ các câu kinh văn sau đó, sẽ có thể thấy:

          1) Chớ nên coi thường chúng sanh! Năm trăm năm sau mà vẫn có người như thế, huống hồ hiện tại ư?

          2) Đừng nên ngăn trở thiện niệm của kẻ khác, khiến cho họ sanh tâm thoái khuất! Cứ xem câu kinh văn trong phần sau nói [người như vậy] đă gieo các thứ thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn chư Phật th́ biết ngay.

          3) Chẳng bắt buộc là bậc thượng căn, lợi trí! Chỉ cần là hai loại người tŕ giới và tu phước, th́ sẽ có thể sanh ḷng tin.

          Nghĩa thứ nhất và thứ hai sanh từ nghĩa thứ ba. Bởi lẽ, hai loại người tŕ giới và tu phước, trí huệ đều chẳng cao. Tŕ giới, tu phước đều là người cầu phước báo. Họ đối với pháp môn rất sâu này vốn có ư thoái thất; v́ thế, đức Phật răn đừng nói lời ấy!

          Trên đây là nói nông cạn; trong đó, c̣n chứa đựng thâm ư. Câu “mạc tác thị thuyết” (đừng nói lời ấy) chính là nói với người hoằng dương Đại Thừa Phật pháp. Không chỉ đối với người trong thuở ấy, mà c̣n là nói với người hoằng dương Đại Thừa Phật pháp trong mai sau. Không chỉ răn ngài Tu Bồ Đề chớ nên nói như thế, mà hiện thời chúng ta cũng chớ nên nói như thế. Bổn ư của đức Phật là mong [các đệ tử Phật hăy] dốc cạn sức lực hoằng dương pháp môn Bát Nhă. Kinh này do ngài Tu Bồ Đề khải thỉnh, trong tám hội trước, Ngài đă thay mặt đức Phật tuyên nói; có thể thấy ngài Tu Bồ Đề là người hoằng dương Bát Nhă. Trong phần sau, [chánh kinh] nhiều lượt nói “thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác nói”, có thể thấy niềm mong mỏi hoằng dương Bát Nhă của đức Phật từ chỗ này! Nếu nói như vậy, há có phải là bổn ư hoằng dương ư? Nhưng hoằng dương Bát Nhă, đúng là chẳng dễ! Như Trung Hoa từ đời Tống nay, các cổ đức thấy pháp môn Bát Nhă khó tu, phần nhiều chẳng muốn giảng, cho rằng chúng sanh nghiệp sâu, chướng nặng, chấp tướng đủ thứ, chẳng dễ ǵ lănh hội. Lại sợ người nghe pháp môn này, đâm ra đọa vào Thiên Không, thậm chí trở thành ác thủ không[2], chẳng thà không giảng! Đức Thế Tôn đă sớm thấy điều này. V́ thế, răn “đừng nói lời ấy”. Các chứng bệnh như do giảng Bát Nhă mà đâm ra đọa vào Thiên Không, chính là v́ người giảng chẳng khéo hoằng dương, chẳng phải là lỗi của người nghe! Cần phải biết: Bát Nhă chính là Phật chủng. Kinh này nói: “Nhất thiết chư Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra). Nếu chẳng giảng, đạo lư Bát Nhă vĩnh viễn chẳng thể tỏa rạng, há chẳng phải là đoạn Phật chủng ư? V́ vậy, chẳng thể không dốc cạn sức lực hoằng dương! Phần sau có nói “hà đảm Như Lai Tam Miệu Tam Bồ Đề” (gánh vác Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai) vậy!

          Các vị đại đức cận đại phần lớn chẳng giảng Bát Nhă, mà giảng Tam Đế viên dung; thật ra, [Tam Đế] chẳng dễ liễu giải! Đức Phật nói Tam Đế trong hội Pháp Hoa, chính là sau khi đă tuyên nói Bát Nhă. V́ thế, đức Phật răn trước “mạc tác thị thuyết” (đừng nói lời ấy) v́ muốn ngài Tu Bồ Đề hoằng dương pháp môn này. Ư nói: Ông chẳng hoằng dương, sao có thể khiến cho người khác liễu giải, sanh ḷng tin chân thật? Ông chỉ lo chúng sanh chẳng dễ sanh ḷng tin, quên bẵng đại sự hoằng dương Bát Nhă, há có nên chăng? Không chỉ như vậy! Ông chẳng hoằng dương, chính là ngăn trở thiện niệm của kẻ khác! V́ thế, hăy nên dốc cạn sức hoằng dương. Nhưng hoằng dương mà nếu chẳng thận trọng, lại càng chớ nên! Đức Phật giảng Bát Nhă đă nhằm lúc tuổi già. Khi Ngài mới thành đạo, trước hết nói kinh Hoa Nghiêm. V́ trong Hiền Kiếp, Thích Ca Mâu Ni đă là vị Phật thứ tư, cách [quá khứ] Phật đă lâu xa, chẳng thể không hoàn toàn nói ra cảnh giới Phật. Ngài quay lại giảng A Hàm; đó là khiến cho mọi người tự tận lực thực hành thực tiễn. Đợi cho căn cơ của mọi người dần dần chín muồi, liền giảng Phương Đẳng, nói rơ lư Đại Thừa, khiến cho họ hồi Tiểu hướng Đại. Kế đó mới giảng Bát Nhă. Có thể thấy: Cần phải thận trọng đối với pháp môn này! Đă cần phải hoằng dương, lại c̣n phải thận trọng. Do đó, ắt phải chọn lấy căn cơ tŕ giới và tu phước. Ư đức Phật là: Ông sợ người ta chẳng dễ sanh ḷng tin chân thật, lại sợ người sanh ḷng tin chân thật chẳng nhiều. Chỉ cần vâng theo lời ta nói mà hoằng dương, từ thực tiễn mà dụng công, người nghe sẽ chẳng đến nỗi mắc sai lầm! Chỉ tùy thuộc phương pháp hoằng dương như thế nào, há lo chẳng sanh ḷng tin chân thật ư? “Mạc tác thị thuyết” là một câu khẩn yếu nhất, cho đến tột cùng đời vị lai, người hoằng dương Phật pháp đều nên như thế!

          “Như Lai diệt hậu” (Sau khi Như Lai diệt độ): “Diệt” là diệt độ. Diệt độ có hai nghĩa:

          - Ư nghĩa căn bản là nói đến cái tâm chẳng sanh diệt, thường nói “sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền”, được gọi là Niết Bàn.

          - Sau này, từ ngữ này được mượn dùng, phàm hết thảy Phật, Bồ Tát viên tịch cũng gọi là “nhập diệt”.

          “Diệt hậu” là nói sau khi hết thảy các tướng sanh diệt của Phật đă diệt; đấy là thân Ứng Hóa diệt. Như Lai là Pháp Thân, v́ sao nói diệt? Trong ấy, có đạo lư tinh áo, đức Phật mong chúng ta liễu giải, đặc biệt nói “Như Lai diệt”, có ba ư nghĩa trọng yếu [như sau]:

          1) Báo Thân và Ứng Hóa Thân đều là tướng. “Diệt” là Báo Thân và Ứng Thân diệt. Như đức Thế Tôn mặc áo, dùng cơm, thị hiện tướng phàm phu bị diệt; đó là Ứng Hóa Thân diệt. Báo Thân cũng từ Pháp Thân hiển hiện. Đă có hiển hiện th́ cũng có diệt. Ở đây, chẳng nói Ứng Thân và Báo Thân diệt; tức là nói rơ Như Lai chẳng c̣n hiện Ứng Thân và Báo Thân v́ muốn cho chúng ta cảnh giác. Cần phải biết: Báo Thân và Ứng Thân do Như Lai hiển hiện vẫn là sanh diệt. Đó gọi là “phàm tất cả các tướng đều là hư vọng”, huống hồ cái túi da hôi thối của chúng ta! Hơn nữa, thân tướng của chúng ta sanh th́ chẳng biết v́ sao mà sanh, diệt th́ chẳng biết cớ sao lại diệt, hoàn toàn bị nghiệp lực lôi kéo, chính ḿnh chẳng thể làm chủ. Phật th́ chẳng phải vậy, tuy Ứng Thân và Báo Thân là sanh diệt, nhưng Như Lai tự ḿnh làm chủ, muốn sanh liền sanh, muốn diệt liền diệt. Chúng ta đều có Như Lai Tạng, phải nên nhanh chóng trở về diện mục vốn sẵn có.

          2) Chứng đắc bản tánh th́ gọi là Như Lai, nhưng Pháp Thân vô tướng, có thể thấy bằng cách nào? Cái có thể thấy chính là tướng, tức là thân mà Bồ Tát trông thấy bất quá là Báo Thân do Pháp Thân hiện khởi, thân mà phàm phu trông thấy chính là thân Ứng Hóa do Pháp Thân hiện khởi. Nếu có thể thấy Ứng Thân và Báo Thân chẳng phải tướng, tức là thấy Như Lai. Do vậy, muốn kiến tánh, tức là từ “chẳng phải tướng” mà thấy, chớ nên nhập vào đoạn diệt. V́ thế, cảnh cáo chúng ta: Thấy Như Lai chẳng dễ dàng! Cần phải dũng mănh, tinh tấn để chứng đắc. Chúng ta muốn thấy Như Lai, phải cầu từ nơi tánh. Nói đến tánh th́ ta và Như Lai tự và tha chẳng hai, có thể từ tánh thể của chính ḿnh mà lănh hội đôi chút. Đó chính là cơ duyên để thấy Như Lai.

          3) Báo Thân và Ứng Thân của Như Lai c̣n phải nhập diệt, do vẫn là tướng; nhưng chẳng phải là vĩnh viễn diệt, c̣n sẽ thị hiện. Cần phải biết: Báo Thân và Ứng Thân chính là h́nh bóng của Pháp Thân. Chúng ta biết Pháp Thân chẳng diệt, tức là Báo Thân và Ứng Thân lại có cơ hội thị hiện. Xưa nay, có người thấy kim thân một trượng sáu thước. Có người dũng mănh, tinh tấn, như La Hán thấy thân Phật cao ngàn thước. Có người thấy thân Phật to như núi Tu Di. Đó chính là Báo Thân được thấy bởi Bồ Tát. Lại như Trí Giả đại sư chú giải kinh Pháp Hoa xong, đích thân thấy hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan, đều là các chứng minh cho điều này.

          V́ vậy, nghĩa thứ nhất là nói “Như Lai chẳng c̣n thị hiện Báo Thân và Ứng Thân nữa”, ḥng cảnh tỉnh chúng ta. Nghĩa thứ hai là khiến cho mọi người biết: “Muốn thấy Như Lai, cần phải dụng công nơi tự thân”. Nghĩa thứ ba là nói “Như Lai bất diệt, chỉ cần dụng công, vẫn có thể trông thấy”.

          Câu hậu ngũ bách tuế” có ba cách giải thích:

          1) Dùng ư nghĩa “về sau” để giảng chữ Hậu trong câu “Như Lai diệt hậu”, tức là năm trăm năm sau khi Như Lai diệt độ.

          2) Coi năm trăm năm thứ nhất sau khi Như Lai diệt độ là Tiền, coi năm trăm năm thứ hai là Trung, coi năm trăm năm thứ ba là Hậu.

          3) Nói tới năm trăm năm thứ năm sau khi Như Lai diệt độ (tức hai ngàn năm trăm năm sau khi đức Phật nhập Niết Bàn). Bởi lẽ, Chánh Pháp và Tượng Pháp mỗi thời là một ngàn năm, Mạt Pháp một vạn năm. “Hậu ngũ bách tuế” là nói đến năm trăm năm đầu tiên trong thời Mạt Pháp. Sau khi Như Lai diệt độ, Chánh Pháp một ngàn năm, năm trăm năm đầu là giải thoát kiên cố, năm trăm năm kế tiếp là Thiền Định kiên cố. Nói “giải thoát” tức là chứng đắc Bát Nhă Ba La Mật, độ hết thảy các khổ ách. “Kiên cố” tức là căn khí của chúng sanh vững vàng. Năm trăm năm kế đó, căn khí kém hơn, nhưng vẫn có thể trụ trong Thiền Định. Giải thoát và Thiền Định chính là Định, Huệ, nên gọi là Chánh Pháp. Năm trăm năm đầu trong một ngàn năm của thời Tượng Pháp, tuy vẫn có giải thoát và Thiền Định, nhưng đă rất ít, [đệ tử Phật] chuyên chú trọng nói Lư, chẳng đặt nặng thực hành. V́ thế nói là Đa Văn Kiên Cố. Cần phải biết: Xem kinh trọng tại tác Quán. Nếu chỉ chú trọng đa văn, sẽ như đếm vật báu của người khác, chính ḿnh chẳng có nửa phần, c̣n gọi là “nói chuyện ăn sẽ chẳng no”. Đức Thế Tôn bảo ngài A Nan: Nhiều kiếp trước kia, ông cùng ta đồng tu, tới nay ông vẫn làm thị giả của đức Phật, căn bệnh là do chuyên chú trọng đa văn. Năm trăm năm kế tiếp, ngay cả người đa văn cũng ít, chúng sanh chỉ biết dựng chùa, tạo tháp; nên gọi là Tháp Tự Kiên Cố. Trong một ngàn năm ấy, Phật pháp chỉ c̣n h́nh thức, đă đánh mất bổn ư của đức Phật, bất quá gần giống mà thôi, nên gọi là Tượng Pháp. Tới năm trăm năm đầu thời Mạt Pháp, Phật pháp càng suy, chúng sanh chỉ biết đấu tranh, nói theo danh từ mới là “phấn đấu”. Phật pháp tại Ấn Độ đă sớm diệt, nguyên nhân là do trong thời Tượng Pháp đă có nhiều đấu tranh. Ở Trung Hoa cũng thế, vào giữa đời Đường, Thiền Tông, Tịnh Tông, Tướng Tông đều dấy lên sự tranh chấp môn hộ. V́ thế, gọi là Đấu Tranh Kiên Cố. “Hậu ngũ bách tuế” trong kinh này chính là chỉ lúc ấy. Hiện thời, lại là sau “năm trăm năm” trong thời Mạt Pháp. V́ thế, đức Phật nói lúc này mà nếu có người có thể xem kinh, đúng là chẳng nhiều cho mấy!

          “Dĩ thử vi thật” (coi đó là thật) chính là người có thể tŕ giới, tu phước; ở đây có bốn nghĩa:

          1) Bát Nhă là chánh trí huệ, Huệ sanh từ Định, Định sanh từ Giới. V́ thế, muốn khởi chánh trí Bát Nhă, cần phải dụng công từ Giới. Nếu không, sẽ chẳng thể do đâu mà sanh Định và Trí được! Phàm phu có thể tŕ giới th́ mới có thể ĺa ô nhiễm từ bên ngoài. Nếu chẳng tŕ giới, tâm chẳng thanh tịnh, chẳng thể nhiếp tâm một chỗ, chẳng thể tác quán, sao có thể sanh ra Bát Nhă? Nếu chẳng do tŕ giới mà muốn sanh trí, ắt đọa nhập Ác Thủ Không cũng chưa biết chừng! V́ thế, phước huệ song tu như hai bánh của cái xe, khuyết một chẳng thể được! Người tu hành có thể như thế th́ mới có thể thành Lưỡng Túc Tôn. Hơn nữa, hai đằng cần phải b́nh đẳng, chẳng thể nặng nhẹ. Có người nói chỉ cần trí huệ; trọn chẳng biết trọng huệ, khinh phước tức là thiếu khuyết đại bi, muôn vàn chớ nên! V́ thế, chư Phật dạy mọi người phát tâm đại bi. Kinh này hễ mở miệng ra là nói tới bố thí, đủ thấy tu huệ chẳng thể nào không tu phước! Nếu chẳng tu phước, sẽ vô duyên với chúng sanh. Không chỉ là vô duyên, ngay cả tướng hảo của người tu hành cũng chẳng thể đầy đủ! Đối với người hoằng dương Phật pháp, tướng hảo cũng trọng yếu. V́ thế, trong kinh Phật, chỗ nào cũng đều nói đến tướng hảo của Phật, Bồ Tát. Tướng của La Hán chẳng bằng Phật, điều ấy có đạo lư! Trong phần trước đă nói: Sau khi chứng Thể, phải hiện tướng, đều v́ chúng sanh. Chúng sanh trông thấy người tướng hảo, sẽ dễ thân cận. Pháp môn Bát Nhă chính là dạy mọi người thành Phật. Tŕ giới, tu phước chính là căn bản để thành Phật.

          2) Cần phải biết người tŕ giới, ắt thiểu dục, biết đủ, tham dục ít hơn! Loại người này tu Bát Nhă mới chẳng nẩy sanh khuyết điểm. Bởi lẽ, tu Bát Nhă cần phải ĺa tướng. Kẻ tham dục nhiều, quyết chẳng thể ĺa được! Người tu phước ắt tin sâu nhân quả. Người đời mong được danh lợi, chiếu theo pháp thế gian để cầu, c̣n hạng người này chiếu theo Phật pháp để cầu. Do vậy, người tin sâu nhân quả sẽ chẳng đến nỗi lệch về phía tướng đoạn diệt. Chẳng trụ nơi tướng th́ người tŕ giới thích đáng nhất. Chẳng nhập tướng đoạn diệt th́ người tu phước thích hợp nhất. Như kẻ lắm tham dục, vừa nghe Bát Nhă, sẽ phạm các lỗi lầm rất nhiều. Có kẻ hiểu “chẳng trụ tướng” cong vạy, cho rằng làm ác chẳng trở ngại, thốt lời cao luận bừa băi, không chuyện ǵ chẳng làm, cứ ngược ngạo tự cho ḿnh đă hiểu sâu xa lư Bát Nhă, thậm chí sát sanh, dâm loạn, mà luôn cho là “chẳng trụ tướng”. Do vậy, đức Phật chẳng chọn loại người này, mà ắt chọn lựa người thiểu dục, tri túc.

          3) Trong kinh văn thuộc phần trên đă nói phát tâm hành Bát Nhă, hăy nên hành bố thí. Bố thí tức là Xả. Hai loại người này chính là người có thể Xả: Tŕ giới có thể bỏ thế gian dục, người tu phước bèn bỏ tài sản, tinh thần của chính ḿnh, dùng tài, pháp, vô úy để thí cho người khác, hết sức phù hợp đạo lư Bát Nhă.

          4) Tu pháp môn này, trước hết, hăy nên lấp bít một môn “phi pháp tướng”. Tŕ giới, tu phước chính là lấp bít phi pháp tướng. Chỉ cần lại đối với pháp tướng, quán chiếu lâu ngày, chẳng chấp trước pháp tướng, sẽ có thể thành tựu. V́ thế, đức Phật chọn lấy hai loại người ấy, có thể thấy tŕ giới, tu phước chẳng khác ǵ nói đến người học pháp môn Bát Nhă. Lại chính là nói với chúng ta: Nếu muốn học Bát Nhă, cần phải “đừng làm các điều ác, vâng hành các điều thiện”. Chẳng làm ác là giới, hành thiện là phước, thiết thật thực hiện, củng cố cơ sở ấy th́ mới được. Hai loại người ấy sẽ cẩn thận trong mọi điều nhỏ nhặt, có thể buông xả hết thảy. Nếu không, sẽ chẳng thể nhập Bát Nhă. Người có thể sanh tín tâm, dùng Tín làm cửa nẻo để nhập đạo. Ắt phải thật hành như thế th́ mới có thể nhập môn. Nếu không, chỉ là giảng thuyết, chẳng thể nhập môn.

          Có người nói tŕ giới và tu phước là căn bản của tu Bát Nhă. Trước là ngăn chặn Thiên Không, chuyện này là cố nhiên, nhưng vẫn c̣n nghi. Trong kinh đă nói rơ “dĩ thử vi thật” (coi đó là thật), hai loại người này rốt cuộc trí thức chẳng đủ, sao có thể hiểu rơ nghĩa chân thật trọng yếu của kinh này? Ở đây có một đạo lư khẩn yếu. V́ sao? Do được Phật gia bị. Loại người này là căn cơ được đức Phật chọn lựa quyết định. Nếu có thể vâng theo lời đức Phật dạy, tŕ giới, tu phước mà hành, ắt được Phật gia bị, liền có thể coi đó là thật. Người học Phật nhất định cần phải đi, đứng, ngồi, nằm, thời thời khắc khắc cầu Tam Bảo gia bị. Bất luận tu môn công phu nào, cũng đều là như thế. Ngay cả khi giảng kinh, cũng cần phải quăng bỏ tri kiến lúc b́nh thời, cầu Tam Bảo gia bị. Nếu ĺa sự quán niệm ấy, tức là chưa khởi tín tâm. Như niệm Phật th́ trong lúc niệm nếu chẳng vứt bỏ hết thảy tri kiến lúc b́nh thường, trong tâm chẳng có ǵ để chuyên dốc ư cầu Phật Di Đà gia bị th́ sẽ chẳng thể!

          Nhưng lại có người nói: “Như thế th́ học theo bọn ngu phu ngu phụ là được rồi, sao đức Phật lại nói cần phải đọc tụng kinh điển Đại Thừa vậy?” Điều này có hai nghĩa:

          1) Hiểu rơ kinh điển, công phu sẽ càng thêm thù thắng. Chất chứa đạo lư trong ruộng thức thứ tám, một khi tương ứng, Tam Minh và Lục Thông sẽ có thể đồng thời phát sanh.

          2) Người thật sự có thể tin, hăy nên học theo ngu phu, ngu phụ tín tâm kiên định. Hiềm rằng hạng người bậc trung trong thế gian đông lắm, chẳng tự chấp nhận ḿnh là ngu. Do vậy, cần phải buộc họ hiểu lư!

          Cổ đức soạn sách, mở đầu phần nhiều có lời cầu Tam Bảo gia bị. Đại Bồ Tát soạn luận, đầu bộ luận cũng có câu “nương vào sức oai thần của Phật”. Điều này chân thật, chẳng dối, chẳng phải là có tánh chất dựa dẫm, mà cũng chẳng phải là mê tín. Nếu không có quan niệm như vậy, tức là có một cái ngă kiến tồn tại, khiến cho tánh linh của chính ḿnh bị chướng trụ, [hễ bị ngăn chướng th́] soạn sách, tạo luận sao có thể triệt để cho nổi? V́ thế, chẳng hoàn toàn quăng vứt ngă kiến, sẽ không thể được! Pháp thế gian như Khổng Tử, hễ hở ra là quy vào trời, cũng do thấu hiểu ư này. Người học Nho từ đời Hán trở về sau chẳng biết điều này!

 

2.2.2.1.2.1.1.2.1.2.2. Chỉ bày túc căn sâu dày

         

          (Kinh) Đương tri thị nhân, bất ư nhất Phật, nhị Phật, tam, tứ, ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở, chủng chư thiện căn.

          ()當知是人不於一佛二佛三四五佛而種善根已於無量千萬佛所種諸善根

    (Kinh: Hăy nên biết người ấy chẳng phải là gieo thiện căn nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật, mà là đă gieo thiện căn nơi vô lượng hết thảy chư Phật).

 

          (Bổ) Khoa trước là “tŕ giới, tu phước” cho tới “coi đó là thật”, c̣n khoa này chính là để chú giải cho khoa ấy. “Thị nhân” (Người ấy) tức là người tŕ giới, tu phước, chỉ rơ người như thế, chẳng nói “nhân đẳng” (những người), cho thấy tŕ giới và tu phước, tuy nói thành hai sự, nhưng thật ra là một chuyện. Hai đằng đều chẳng thể thiếu khuyết! Từ một vị Phật cho tới vị Phật thứ hai, thời gian đă tột bậc dài lâu, chẳng biết là bao nhiêu kiếp số, huống hồ ba, bốn, năm vị Phật! Có thể thấy là người ấy đă gieo thiện căn cực xa, nhưng đức Thế Tôn lại chẳng chỉ nói như vậy, mà nói là “đă gieo thiện căn nơi ngàn vạn chư Phật”. Đă vượt ngoài ngàn vạn, lại thêm hai chữ Vô Lượng, tức là thời gian dài lâu chẳng thể nói, chẳng thể diễn tả được! Người ấy không chỉ tu một điều thiện, mà c̣n tu các điều thiện. “Chư thiện” chỉ Lục Độ, vạn hạnh, có thể thấy người ấy đă tu Bát Nhă tột bậc lâu dài! “Chủng căn” (gieo căn) chính là nói đối ứng với tŕ giới, tu phước. Người ấy đă gieo căn cội cực sâu, tức là các điều thiện hợp thành cội rễ, đúng là “khó thực hiện, đáng quư”.

          Đối với vô lượng chuyện trong quá khứ, đức Thế Tôn đều biết, lời này là chân thật chẳng dối! Trong cái nh́n của lũ phàm phu chúng ta, người ấy tŕ giới, tu phước đă hợp đạo diệu; v́ sao vậy? Trong kinh văn thuộc phần trước, đức Thế Tôn vừa mở miệng, đă bảo ngài Tu Bồ Đề, liền nói “đều khiến cho hết thảy tất cả các loài chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Diệt độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế, nhưng thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ”. Đó là phát đại tâm. Trước hết, hăy nên độ sanh, tức chẳng rớt vào Không. Kế đó, thật sự không có chúng sanh đắc độ, tức chẳng trụ vào tướng. Kế đó là nói đại hạnh “hăy nên chẳng trụ vào đâu”. Trước là nói chẳng trụ tướng, kế đó nói hành bố thí. Nếu trụ mà chẳng hành, tức là rơi vào Không. Trong hai đoạn kinh văn ấy, đức Thế Tôn ra rả bảo ban, răn nhắc, “ắt đừng rơi vào Không” th́ mới có thể phát tâm tu hành. Người ấy thực hiện tŕ giới, tu phước, há chẳng phải là ngầm phù hợp lời dạy “trước hết chẳng rơi vào Không” của đức Thế Tôn ư? Hơn nữa, trong phần Phát Khởi Tự, lúc sắp nói Bát Nhă, đức Thế Tôn trước hết thị hiện giống như phàm phu, đắp y, cầm bát v.v… Đó tức là tŕ giới. Lại c̣n khiến cho chúng sanh sanh tâm hổ thẹn, tức là tu phước! Người ấy tŕ giới, tu phước, há chẳng phải lại ngầm hợp bổn ư của đức Thế Tôn ư? Có thể thấy: Chẳng phải là bậc đă gieo thiện căn từ lâu xa, sẽ chẳng thể ngầm hợp diệu đạo như thế được! Nh́n vào ngữ khí của đức Thế Tôn, tựa hồ Ngài cực lực tán thán hạng người như thế; thật ra là Ngài cổ vũ, khích lệ chúng ta, khiến cho người nghe ngôn thuyết, chương cú ấy, sẽ liền thật hành. V́ thế, Ngài mới có lời răn ngài Tu Bồ Đề “đừng nói như thế”. Bởi lẽ, nếu đúng như ngài Tu Bồ Đề nói, người đời sau ắt sẽ nghĩ Bát Nhă khó tu, thậm chí đề cao thánh cảnh, [cho là chính ḿnh chẳng có phần]. Thật ra, chẳng khó! Chính là thực hiện ngay trong tŕ giới và tu phước. Đấy là đức Thế Tôn đại từ, đại bi. Há ngài Tu Bồ Đề chẳng biết phát tâm tu hành, tu sao cho chẳng rơi vào Không ư? Bất quá, Ngài thưa hỏi thay cho chúng sanh, cũng là ḷng đại từ đại bi vậy!

          Bọn chúng sanh khổ năo chúng ta nay được nghe ngôn thuyết, chương cú ấy, cũng là hy hữu, cũng là đă gieo các thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn chư Phật. Nếu không như vậy, sẽ chẳng thể được nghe Bát Nhă vi diệu rất sâu này. Dẫu được nghe th́ cũng như chẳng nghe. Lũ chúng ta lại ở trong năm trăm năm sau, đấu tranh càng kiên cố, có thể tới đây đọc tụng, thọ tŕ, ắt là người chẳng mong tranh giành, ít ham muốn, biết đủ, có tư cách tŕ giới. Như vậy th́ bọn chúng ta đừng nên lầm lạc coi rẻ chính ḿnh. Người đă tŕ giới, hăy càng nên dụng công, lại cầu kiên cố. Người chưa tŕ giới, hăy nên chiếu theo lời đức Phật dạy để hành tŕ, ắt chư Phật sẽ hết sức hoan hỷ. Dùng điều ấy khiến cho thiện căn đă gieo được nẩy mầm. Bọn chúng ta đă có tư cách ấy, lại được đức Thế Tôn gia bị, há chẳng nên tự gắng công ư?   

          “Dĩ thử vi thật” (coi đó là thật) tức là đă hiểu rơ nghĩa chân thật, lại c̣n có thể tu hành. Trong Lục Độ, bất luận Độ nào, đều quy vào tu phước. Bố thí chẳng cần nhất định phải bỏ sạch tài sản, chỉ cần lượng sức bỏ ra một ít tài vật, hễ có ích cho người khác, tức là Tài Thí. V́ người khác thuyết pháp, hoặc tặng kinh điển cho người ta, tức là Pháp Thí, hoàn toàn chẳng phải là chuyện khó! Lại khuyên người khác học Phật, ắt khuyên họ tŕ giới, tu phước. Thấy người chẳng tŕ giới, lại càng phải khuyên. Lại thấy người đă tŕ giới, nhưng c̣n chưa biết Bát Nhă, càng phải khuyên sao cho họ hiểu Bát Nhă. Phước đức ấy to lớn, chẳng thể suy lường; v́ sao vậy? Do chính là tiếp nối hưng thịnh ḍng giống Phật. Lại c̣n phải khuyên người ta mau chóng tu tập Tịnh Độ, cầu sanh Tây Phương. Cần phải biết: Bát Nhă và Tịnh Độ có mối quan hệ sâu xa vô cùng. Phần trước đă nói: Để học Bát Nhă th́ trước hết cần phải chẳng trụ tướng. Chẳng trụ tướng th́ mới có thể từ Văn Tự Bát Nhă mà khởi Quán Chiếu. Công quán chiếu đă sâu, bèn hiện Thật Tướng Bát Nhă. Đấy chính là tánh. Tu hành th́ trước là thực hiện quán chiếu, cuối cùng là phải hiện Thật Tướng, điều này rất khó! Trong thế giới Sa Bà, đủ loại sự ác dụ dỗ, sao có thể liền hiện Thật Tướng cho được? V́ thế, đại Bồ Tát tu hành, phát nguyện tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp, chẳng biết trải qua bao nhiêu lượt luân hồi! Người ấy thiện căn vững dày, nhưng cho tới thời gian dài lâu vô lượng kiếp của ngàn vạn vị Phật, vẫn chỉ là có thể sanh tín tâm. Có thể thấy nghiệp chướng sâu nặng! Do vậy, ắt phải phát nguyện cầu sanh Tây Phương th́ mới được. Lại như phát đại tâm đă nói trong các phần kinh văn trước đó: Khiến cho hết thảy các loài chúng sanh đều nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Các chúng sanh được độ ấy, trên là tới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiên, dưới là tới địa ngục, dẫu chúng ta phát đại tâm ấy, làm thế nào để có thể độ họ được? Đấy thật ra nhằm dạy chúng ta: Trước hết, hăy quán chiếu lư “duyên sanh b́nh đẳng”. Nếu muốn măn nguyện, chẳng chứng tánh trước đă, th́ sẽ không thể! Muốn chứng tánh, trước hết phải cầu sanh Tây Phương. Sanh Tây chẳng phải v́ để chính ḿnh giải thoát, mà vốn v́ độ chúng sanh th́ mới ứng hợp bổn nguyện của Phật Di Đà, mới măn đại nguyện, có thể chứng tánh. V́ thế, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói: “Hư không vô tận, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, ngă nguyện vô tận” (Hư không vô tận, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nguyện của tôi vô tận). Đấy chẳng phải là hoàn toàn giống như nguyện “quảng độ chúng sanh” trong kinh này ư? Có thể thấy pháp môn Bát Nhă và pháp môn Tịnh Độ là một, chẳng hai. Ắt phải có đại nguyện ấy, Phật Di Đà mới đến tiếp dẫn. Văng sanh chẳng v́ để chính ḿnh liễu thoát. Có pháp môn văng sanh th́ mới có thể thành tựu pháp môn Bát Nhă!

          Người ấy tŕ giới, tu phước cũng cực khó, [tuy trong đời quá khứ] đă thân cận nhiều vị Phật ngần ấy, [thế mà] chỉ gieo thiện căn! Có thể thấy: Để thành tựu pháp môn Bát Nhă, phải nên thân cận Phật Di Đà th́ Thật Tướng Bát Nhă mới có thể hiện tiền. Thiền sư Vĩnh Minh nói: “Chỉ được thấy Di Đà, lo chi chẳng khai ngộ”. Do vậy, người học Bát Nhă phải nên mau tu pháp môn Niệm Phật. Người tu Tịnh Độ cũng nên mau tu pháp môn Bát Nhă. Nếu chẳng hiểu rơ nghĩa bậc nhất này, chỉ niệm Phật suông, sợ rằng chỉ sanh trong hạ phẩm. V́ thế, đề xướng pháp môn Tịnh Độ, không thể chỉ nói niệm Phật mà thôi! Cần phải biết: Tu Tịnh Độ chính là để măn đại nguyện, chỉ niệm Phật sanh trong hạ phẩm th́ chẳng thể măn nguyện được! Thiền sư Vĩnh Minh dạy: “Chẳng Thiền, có Tịnh Độ, vạn người tu vạn đến; chỉ được thấy Di Đà, lo chi chẳng khai ngộ?” Lời kệ ấy chỉ có thể khuyên kẻ ngu, chẳng thể khuyên người lợi căn. Người đời coi thường câu “được thấy”, ngỡ chẳng cần tu Quán theo Thập Lục Quán Kinh; đấy là sai lầm! Nghĩa bậc nhất được nói trong Quán Kinh chính là Bát Nhă. Nếu chỉ sanh hạ phẩm, sẽ chẳng thể thấy Phật.

 

2.2.2.2.2.1.1.2.2. Nói về phước đức

2.2.2.2.2.1.1.2.2.1. Giảng rơ về phước ấy

 

          (Kinh) Văn thị chương cú, năi chí nhất niệm sanh tịnh tín giả, Tu Bồ Đề! Như Lai tất tri tất kiến thị chư chúng sanh đắc như thị vô lượng phước đức.

          ()聞是章句乃至一念生淨信者須菩提如來悉知悉見是諸眾生得如是無量福德

          (Kinh: Nghe chương cú này, thậm chí một niệm sanh tín tâm thanh tịnh th́ Tu Bồ Đề, Như Lai đều thấy, đều biết các chúng sanh ấy sẽ đạt được vô lượng phước đức như thế ấy).

 

          (Bổ) “Văn thị chương cú” (nghe chương cú này) là nói tới người tŕ giới, tu phước. Chữ Văn này tương ứng với chữ Văn trong câu đắc văn như thị ngôn thuyết, chương cú” (được nghe ngôn thuyết, chương cú như thế) trong phần trước. Được nghe ngôn thuyết, chương cú như thế, coi đấy là thật, th́ mới có thể sanh ḷng tin. Hai chữ “tịnh tín” chính là nói đến “thật tín”. “Tịnh” là ǵ? Chính là như kinh văn trong phần sau nói tín tâm thanh tịnh tắc sanh Thật Tướng” (tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật Tướng). Người ấy thiết thực dụng công quán chiếu, tu hành như thế đă lâu, chẳng chấp trước tí nào! Tịnh tín liền sanh, cũng chính là Thật Tướng. Chữ Tịnh này chẳng phải là nói tương phản với nhiễm, mà là thanh tịnh tuyệt đối. Hai bên Không và Hữu đều chẳng chấp trước, cho nên là Thật Tướng. “Năi chí” chính là từ ngữ để giản lược. Sanh tịnh tín, có tịnh niệm tiếp nối, có nhiều niệm, nhưng mức độ tối thiểu là một niệm sanh tịnh tín, chưa thể có nhiều niệm, vẫn chưa thể là niệm niệm tiếp nối. Hai chữ “năi chí” ở đây bao gồm nhiều loại người [có mức độ] công phu sai khác. V́ thế, tiếp đó bèn nói “chư chúng sanh”. Bất luận công phu cạn hay sâu, Như Lai đều thấy, đều biết. Nhất niệm tức là khởi tâm động niệm. “Sanh” là như Long Thọ Bồ Tát đă nói “hết thảy các pháp bất sanh mà Bát Nhă sanh”. Có thể thấy: Nếu chẳng mười phần dụng công, sẽ chẳng thể sanh được!

Hơn nữa, một niệm tương ứng chính là cái gốc của tịnh niệm tiếp nối. Tịnh niệm tiếp nối do một niệm tương ứng mà có! Một niệm thanh tịnh ấy, không ai biết được, chỉ có Như Lai là có thể thấy, có thể biết, bởi lẽ tịnh tâm vô tướng, nhục nhăn và thiên nhăn đều chẳng thể thấy. Nhưng nói như vậy vẫn chưa phải là ư nghĩa căn bản! Cần phải biết câu này chính là chú giải của “sanh tịnh tín”. Như Lai là Pháp Thân, người ấy hễ một niệm tương ứng sẽ cùng với Như Lai tâm in vào tâm, quang minh chiếu lẫn nhau. V́ thế, Như Lai đều biết tức là cái biết nơi tánh, chính là triệt ngộ Phật tánh. Như Lai đều thấy chính là quang minh nơi tánh chiếu soi, chính là vừa mới mở bừng Phật nhăn. Công phu ấy cao tuyệt, cho nên cổ nhân nói: “Một niệm tương ứng th́ một niệm là Phật”. Đă là Phật, phước đức há có thể suy lường được chăng?

          Hai khoa nhỏ này chính là chú giải cho câu năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật” (có thể sanh tín tâm, coi đó là thật). Hăy nên biết: Bắt đầu từ chữ “thị nhân” (người ấy) cho tới “dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở chủng chư thiện căn” (đă gieo các thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn đức Phật) nhằm nói rơ cái nhân tŕ giới, tu phước. Khởi đầu từ “văn thị chương cú” (nghe chương cú này) cho tới “đắc như thị vô lượng phước đức” (đạt được vô lượng phước đức như thế) là nói rơ cái quả của tŕ giới, tu phước. Đức Thế Tôn cực lực tán thán người ấy, chính là để cổ vũ, khích lệ chúng ta phát vô thượng tâm, phát đại nguyện, hành đại hạnh, ḥng đạt được vô lượng phước đức.

          Lại nữa, khởi đầu từ “Tu Bồ Đề! Mạc tác thị thuyết” (Tu Bồ Đề! Đừng nói lời ấy) cho tới “đắc như thị vô lượng phước đức” (đạt được vô lượng phước đức như thế) chính là chú giải minh thị cho đoạn “ưng như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên hàng phục cái tâm như thế) cho tới “tắc kiến Như Lai” (liền thấy Như Lai) trong phần trước. Phần trước nhằm nêu ra cái lư này, ở đây bèn nêu ra “người ấy” để chứng thực. Cần phải biết: Chỉ có người tŕ giới, tu phước th́ mới có thể sanh ḷng tin như thế. Sanh tịnh tín như thế, sẽ đạt được vô lượng phước đức như thế. Văn nghĩa trong kinh này chỗ nào cũng tương ứng, mạch lạc nhất quán như thế đó!

 

2.2.2.2.2.1.1.2.2.2. Giải thích và nêu rơ nguyên do

2.2.2.2.2.1.1.2.2.2.1. Chánh thích (trực tiếp giải thích)   

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, vô phục ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, vô pháp tướng, diệc vô phi pháp tướng.

          ()何以故是諸眾生無復我相人相眾生相壽者相無法相亦無非法相

          (Kinh: V́ sao vậy? Các chúng sanh ấy chẳng c̣n tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, chẳng có tướng pháp, mà cũng chẳng có tướng không phải pháp).

 

          (Bổ) Đây là trực diện giải thích nguyên do “sanh tín, đắc phước”. Làm thế nào để có thể sanh tín tâm thanh tịnh? Làm thế nào để có thể đạt được vô lượng phước đức? Cần phải trừ khử cái tâm phân biệt th́ mới được! Đă trừ phân biệt th́ chánh tín tự hiện, tức là như ngài Long Thọ đă nói “hết thảy các pháp bất sanh, chỉ có Bát Nhă sanh”. Tuy người ấy chưa thể hoàn toàn hiện tiền Bát Nhă, nhưng đă sanh tín tâm thanh tịnh, đă “tâm in vào tâm, quang minh chiếu lẫn nhau” với Như Lai, liền đạt được vô lượng phước đức. Điều này thật sự chẳng dễ dàng! Do phân biệt, vọng tưởng đă trừ, bèn có thể chẳng c̣n có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Câu “thị chư chúng sanh” (các chúng sanh ấy) bao quát rất rộng. “Nhất niệm sanh tịnh tín” trong đoạn kinh văn trước đó là nói theo mức độ thấp nhất. Hăy c̣n có các trường hợp như nhiều niệm tương ứng, tịnh niệm tiếp nối… cho nên nói là “chư chúng sanh”. Phải nên chú ư chữ Phục trong hai chữ “vô phục” (chẳng c̣n), ư nói người ấy ngă chấp đă không, chẳng c̣n lại có [ngă chấp] nữa! Hai câu “vô pháp tướng…” ngụ ư: Người ấy chẳng có pháp chấp.

          Tứ tướng đều do chấp ngă tướng mà khởi. Trong kinh, đức Phật nói về tứ tướng có rất nhiều ư nghĩa, nay nêu ra các ư nghĩa phù hợp với kinh này, bèn có hai nghĩa rộng và hẹp:

          - Nghĩa hẹp tức là nói về chấp trước sắc thân Ngũ Uẩn. Đấy chính là ngă tướng. Phàm phu đều cùng phạm lỗi chấp trước này, hết thảy đều quên chẳng được! Không chỉ trong hiện tại, mà c̣n so đo tới vị lai. Chết đi, dù sanh lên trời, hoặc sanh lên Phạm Thiên, thường gọi [cái ngă chấp ấy] là Bổ Đặc Già La (Pudgala). Do vậy, dấy lên đủ loại vọng tưởng. Tướng Tông gọi đó là Biến Kế Sở Chấp (徧計所執). Vị lai và hiện tại là đối đăi. Nh́n từ phương diện đối đăi th́ là tướng người. Do cái thân này, khởi lên đủ thứ như thịnh, suy, sướng, khổ v.v… Đó là tướng chúng sanh. Lại chấp trước sắc thân Ngũ Uẩn, mạng căn chẳng đoạn, đó là tướng thọ giả. Đấy đều là đủ thứ so đo, phân biệt đối với Ngũ Uẩn của chính ḿnh.

          - Nghĩa rộng: Đủ loại phân biệt do so đo cái ngă. Đối đăi th́ là Nhân. Không chỉ một người th́ chính là chúng sanh. Sự so đo chấp tướng ấy liên tục chẳng ngừng, chính là thọ giả. Hễ dấy lên chấp trước, liền có năng chấp (người chấp trước) và sở chấp (cái bị chấp trước). Năng chính là ta, Sở tức là người khác. Đủ loại phân biệt tức là chúng sanh tướng. Năng chấp và sở chấp chẳng dứt chính là thọ giả tướng. Phải biết tứ tướng chính là từ ngă kiến mà tách ra. Tách ra thành tứ tướng, hợp lại chính là ngă tướng. V́ sao đức Thế Tôn tách ra để nói? Có diệu nghĩa trong ấy. Ngă kiến tức là phân biệt. Chấp ngă tức là thức thứ bảy, dấy lên phân biệt chính là thức thứ sáu, Bát Nhă là chánh trí. Nếu muốn Thật Tướng Bát Nhă hiện tiền, nếu chẳng chuyển dời thức thứ sáu và thứ bảy, sẽ chẳng thể! Thức thứ sáu và thứ bảy đă chuyển, năm thức trước và thức thứ tám cũng chuyển. V́ vậy, đức Thế Tôn nhiều lượt nói tứ tướng. Tứ tướng đă không, tức là Ngă Chấp không, c̣n gọi là Nhân Không.

          Ngă tướng là chấp trước dấy từ nơi thân. Pháp tướng là chấp trước khởi từ ngă. “Vô pháp tướng” tức là Pháp Chấp rỗng không, c̣n gọi là Pháp Không. Phi pháp tức là vô, tức là không, cũng chẳng có tướng “chẳng phải pháp”. Cái Không ấy cũng là Không, nên gọi là Trùng Không (重空), c̣n gọi là Câu Không (俱空, đều là không). Bát Nhă hiển lộ lư Tam Không, chủ yếu nhằm trừ chấp. Sau khi Nhân Ngă đă không, lại chấp Pháp Không, vẫn chưa được! V́ thế, ắt phải trừ khử từng tầng một, ngay cả Không cũng phải không! Cổ nhân nói là “Không tột bậc đến tận cùng”, khác biệt rất lớn với Thiên Không, cho nên gọi là Thắng Nghĩa Không, c̣n gọi là Đệ Nhất Nghĩa Không.

          Đây là giải thích “dĩ sanh tịnh tín” (đă sanh ḷng tin thanh tịnh) trong khoa trước, tức là có thể đạt tới Tam Không. Tam Không chứa đựng khá nhiều đạo lư, rộng vô lượng, sâu không đáy. Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói là “thậm thâm giáo hải” (biển giáo rất sâu). Nương vào Tam Không để nói “chẳng có tứ tướng”, tức là Ngă Không, chẳng có pháp tướng là Pháp Không, chẳng có tướng phi pháp tức là Không Không. Thật ra, đó chính là trừ Ngă Chấp và Pháp Chấp. Chẳng có pháp tướng là không Pháp Chấp, chẳng có tướng phi pháp cũng là trừ Pháp Chấp. Phi pháp vốn chẳng có pháp, nhưng chấp vào đó th́ chẳng được! Hễ chấp th́ cũng trở thành chấp vào phi pháp. V́ thế, Pháp Chấp đối với “không có pháp tướng” cũng không có; đó là tầng thứ nhất. Chấp trước đối với “chẳng có tướng phi pháp” cũng không; đó là tầng thứ hai. Gộp cả hai lại, đều là Pháp Chấp. Cùng với tứ tướng được nói trong kinh văn trước đó, sẽ là nói đối ứng với Ngă Chấp và Pháp Chấp. Người ấy sanh ḷng tin thanh tịnh, tức là Ngă Chấp và Pháp Chấp đều dứt trừ, nhưng Ngă Chấp và Pháp Chấp do phân biệt mà dấy lên, chỉ là thô chấp. Hăy c̣n có tế chấp là Câu Sanh Ngă Chấp và Câu Sanh Pháp Chấp do khởi tâm động niệm mà có. Chúng được gọi là Tùy Miên (隨眠), lại c̣n gọi là Trụ Địa Vô Minh. Người ấy chỉ có thể trừ phân biệt Ngă Chấp và Pháp Chấp, chưa thể trừ Câu Sanh Ngă Chấp và Câu Sanh Pháp Chấp.

          Lại c̣n chứa đựng một nghĩa trọng yếu. Nói tách ra thành Tam Không, nói gộp lại th́ là Ngă Chấp và Pháp Chấp. Nhưng lại có thể nói theo hai bên Không và Hữu, tướng phi pháp chính là Không, thuộc về bên Không. Có thể nói Ngă và Pháp cùng thuộc vào bên Có. Người ấy sanh ḷng tin thanh tịnh, lại có thể chẳng chấp vào Nhị Biên. Bên Hữu gọi là Tục Đế, bên Không gọi là Chân Đế. Trong ấy lại chứa đựng Nhị Đế. Trong các kinh khác, đức Phật nói Tam Đế, có Đệ Nhất Nghĩa Đế. Do Bát Nhă trừ chấp, chỉ nói Nhị Đế. Phải nên biết: Ngăn và chiếu đồng thời, tức là hợp với Trung Đạo. Nói Nhị Đế, thật ra chứa đựng Tam Đế. Trừ khử Nhị Biên chính là Song Giá (雙遮, cùng ngăn cả hai). Ngăn cả hai chính là cùng chiếu cả hai (雙照, song chiếu), lại c̣n cần phải “giá, chiếu đồng thời”. Người ấy chưa đạt tới mức độ này, chỉ có thể chẳng chấp Nhị Biên, nghiền ngẫm kỹ kinh văn cũng có thể biết. Phàm lời đức Phật nói đều là thông triệt từ đầu đến đuôi, thấu triệt từ đầu tới cuối, chẳng thể xem lướt qua. Tức là trong đoạn kinh văn trước đó, “sanh tịnh tín đắc vô lượng phước đức” (sanh ḷng tin thanh tịnh, đạt được phước đức vô lượng) cũng có sâu và cạn. Nói tóm lại, người ấy chỉ trừ thô chấp, chưa trừ tế chấp. V́ thế, đức Phật càng nói càng sâu, nhằm nêu rơ: Người ấy trừ chấp vẫn mới là bước đầu, cần phải dụng công hơn; nhưng người ấy đạt tới mức độ này, đă chẳng dễ dàng! Chỉ một niệm tương ứng là đă tuyệt diệu rồi! Phàm người dụng công sẽ thường có loại cảnh giới như sau: Cảm thấy trong tâm rỗng rang, sạch sành sanh, có lúc tới nửa tháng, hoặc nửa năm, đều là loại cảnh tượng này. Cần phải biết loại công phu này c̣n kém rất xa, chớ nên tự măn! Nếu không, sẽ sanh ra hai loại bệnh:

          1) Đối với các ư nghĩa trong kinh, sẽ coi sâu là cạn.

          2) Đối với chính ḿnh, lại coi cạn là sâu, trọn chẳng biết c̣n cách xa lắm!

          Như “người ấy” được nói trong kinh, đă trừ phân biệt Ngă Chấp, tuy chưa khử trừ hết sạch tham, sân, si, nhưng chúng đă rất mỏng, vẫn cần phải dụng công thêm. Chúng ta dụng công, có thể tự ḿnh thẩm định, cân nhắc, rốt cuộc có ứng hợp với những điều kinh đă dạy hay không. Nói tới chỗ này, tôi bỗng nhớ tới một đoạn nhân duyên thời cổ. Vào thời cha con Đường Túc Tông và Đường Đại Tông, sau khi dẹp yên loạn An Lộc Sơn, Đại Tông cực lực hoằng dương Phật pháp. Ngài Bất Không Tam Tạng của Mật Tông cũng đến Trung Hoa vào thời này. Phật giáo hưng thịnh cùng cực nhất thời. Có một hôm, Đại Tông cùng Tông quốc sư[3] đàm luận Phật pháp, Ngư Triều Ân[4] ở bên cạnh, liền chen miệng hỏi: “Đức Phật nói hết thảy chúng sanh đều là Phật, vậy th́ vô minh dấy lên như thế nào?” Quốc sư liền nói: “Ngươi không xứng để hỏi câu này!” Triều Ân hết sức tức giận; nhưng do Đại Tông đang có mặt tại đó, chẳng dám quát tháo, chỉ lộ vẻ căm giận. Tông quốc sư liền nói: “Vô minh từ đó mà khởi”. Từ chuyện này, chúng ta có thể thí nghiệm. Nếu gặp kẻ khác tới hủy báng ḿnh, có thể chẳng nổi sân hay chăng? Nếu gặp sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp v.v… có thể chẳng khởi niệm hay chăng? Như gặp lúc bần hàn, túng thiếu, hôm nay cũng chẳng có cơm mà ăn, trong ḷng có thể chẳng buồn sầu hay chăng? Ắt phải là như không có chuyện ǵ th́ mới được! Nếu không, liền chấp tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Chỉ cần rỗng rang, cố nhiên cũng rất tốt, nhưng chẳng ngừng ở đó, hăy nên hành bố thí. Lục Độ vạn hạnh đều phải thực hiện. Nếu coi rỗng rang là xong việc, tức là chấp tướng phi pháp. Nếu tâm nghĩ chính ḿnh đang độ sanh, chính là chấp pháp tướng. V́ thế biết người ấy sanh ḷng tin thanh tịnh, trừ khử cái tâm phân biệt, đúng là chẳng dễ! Do vậy, Như Lai đều thấy, đều biết, cho thấy người ấy có tâm giống như Phật, đă mở mang Phật nhăn, đạt được vô lượng phước đức như thế đó.

          Phần này không chỉ nhằm giải thích khoa trước, lại c̣n phải nên hiểu là nó dạy rơ cả một khoa lớn do kinh văn trong các phần trước chưa nói rơ. Ở đây chính là chỉ điểm nhằm cảnh tỉnh! Từ “sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại” (tất cả hết thảy các loài chúng sanh) cho tới “ngă giai linh nhập Niết Bàn nhi diệt độ chi” (ta đều khiến cho nhập Niết Bàn để diệt độ), hoàn toàn phù hợp pháp tướng. “Thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả” (thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ) chính là ứng hợp tướng phi pháp. Nếu Bồ Tát có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, th́ chẳng phải là Bồ Tát, tức là [Bồ Tát] chẳng c̣n có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. “Bồ Tát ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (Bồ Tát hăy nên chẳng trụ vào đâu để hành bố thí) tức là xả, tức phá ngă, mong cho chúng ta trước hết rỗng không ngă tướng. Chẳng trụ vào tướng, tức là chẳng trụ vào đủ loại tướng, tức là chẳng có pháp tướng. Lại dùng hư không, bốn phương, trên, dưới làm thí dụ, tức là không có phi pháp tướng. “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, sẽ thấy Như Lai); đó chính là cùng dung hội Nhị Biên. Bởi lẽ, chỉ thấy các tướng chính là chấp Có, chỉ thấy phi tướng chính là chấp Không. Thấy các tướng chẳng phải là tướng tức là cùng dung thông Nhị Biên, tức là vô tướng, vô bất tướng, được thấy Thật Tướng, nên nói là “tắc kiến Như Lai” (tức là thấy Như Lai). Do thấy Như Lai, đạt được vô lượng phước đức như thế, tức là “phước đức bất khả tư lượng” (phước đức chẳng thể suy lường) trong đoạn kinh văn trước đó. Đức Phật có ư nói: Người ấy có thể hiểu rơ pháp do ta nói trong đoạn kinh văn trước đó, tŕ giới, tu phước, có thể sanh ḷng tin thanh tịnh, lại c̣n coi đó là thật, đương nhiên chẳng có bốn tướng như tướng ta, người v.v… Do vậy, đạt được vô lượng phước đức như thế. Đây cũng là nhằm cổ vũ, khích lệ chúng ta: Nếu như muốn tu Bát Nhă, hăy nên thực hiện như thế, chớ nên rơi vào Không. Trước hết, phải đóng lấp nơi phương diện phi pháp, chân đặt vững trên Thật Địa, đích thân thực hiện. Pháp tướng lẫn phi pháp tướng đều chẳng chấp, đó là yếu quyết để dụng công vậy! (phần dưới đây do Giang cư sĩ đích thân viết).

 

2.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2. Phản hiển (dùng cách nói tương phản để giảng rơ)

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, nhược tâm thủ tướng, tắc vi trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ pháp tướng, tức trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược thủ phi pháp tướng, tức trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả.

          ()何以故是諸眾生若心取相則為著我人眾生壽者若取法相即著我人眾生壽者何以故若取非法相即著我人眾生壽者

          (Kinh: V́ sao vậy? Các chúng sanh ấy nếu tâm giữ lấy tướng tức là vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ giả. Nếu giữ lấy pháp tướng, tức là vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ giả. V́ sao vậy? Nếu giữ lấy phi pháp tướng, tức là vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ giả).

 

          Khoa trước được gọi là Chánh Thích, tức là nói theo phương diện thuận để giải thích như thế nào là tịnh tín, và v́ sao đạt được vô lượng phước đức, do người ấy đă thấy lư Tam Không. Không có các tướng ta, người v.v… chính là Nhân Không (c̣n gọi là Ngă Chấp Không). Chẳng có pháp tướng là Pháp Không (c̣n gọi là Pháp Chấp Không). Không có tướng phi pháp, lại là ngay cả cái Không ấy cũng là Không (c̣n gọi là Câu Không); đó là Tam Không. Do thấy Tam Không, từ đấy mà tinh tấn, tịnh niệm tiếp nối, bèn chứng Pháp Thân thanh tịnh, nên nói là “đắc vô lượng phước đức”.

          Khoa này được gọi là Phản Hiển (反顯), nghĩa là từ phương diện trái ngược để hiển thị lẽ “ắt phải do Tam Không” nhằm nói rơ: Hễ có mảy may chấp tướng, sẽ là cái tâm phân biệt, sẽ chẳng phải là tánh thanh tịnh. V́ sao vậy? Phàm tất cả các tướng đều là hư vọng. Do vậy, chấp tướng là đuổi theo vọng. Hễ đuổi theo vọng, sẽ mê chân tánh. Chân tánh đă mê, vẫn là phàm phu luân hồi khởi Hoặc tạo nghiệp, hứng chịu khổ báo y như cũ, há có thể đạt được vô lượng phước đức ư?

          Do vậy có thể biết dụng ư “đă chánh thích rồi lại phản hiển thêm”, không ǵ chẳng nhằm khiến cho chúng sanh mau chóng giác ngộ, nương theo ư chỉ vô trụ của kinh này để một mặt là siêng hành Lục Độ, mặt khác là quán chiếu vô tướng, phát sanh tịnh tín, ḥng chứng đắc tánh thể của Tam Không, siêu phàm nhập thánh. Đấy là ư nghĩa chung của chuyện ắt cần phải phản hiển vậy.

          C̣n có một nghĩa riêng, tức là ngăn ngừa người đọc đoạn kinh văn trước đó mà sanh ḷng nghi. Khởi nghi ǵ vậy?

          1) Các tướng ta, người v.v… từ Thân Kiến mà sanh khởi. Thân là cái gốc của sự khổ, chớ nên chấp tướng, lư này dễ hiểu. Pháp th́ chẳng vậy, tự độ và độ người khác th́ ắt phải có pháp. Như Bố Thí, Lục Độ, há chẳng phải là rành rành có pháp? Hễ có pháp, liền có tướng của pháp ấy. Nay nói “chẳng có pháp tướng”, pháp mà chẳng có tướng, tức là pháp cũng ở trong khoảng “dường như có, dường như không”. Nếu vậy th́ pháp tướng sao có thể là Không cho được?

          2) Nếu có Thân Kiến, bắt buộc sẽ phân biệt ta, người. Hễ có phân biệt, ắt phải tạo nghiệp, thọ báo. V́ thế, chớ nên có Thân Kiến, chớ nên phân biệt ta và người. Nhưng pháp vốn chẳng phải thân, trong đó há có ta, người ư? Nếu khởi phân biệt nơi pháp, sẽ là phân biệt ta và người. C̣n như hai chữ “phi pháp” chẳng khác ǵ tên gọi khác của Không mà? Đă gọi là Không, há có tướng ư? Vậy th́ tại sao lại đánh đồng “pháp, phi pháp” với bốn tướng “ta, người” do Thân Kiến dấy lên để cùng luận định rồi một mực nói là “không có” vậy?

          V́ muốn đoạn các loại nghi hoặc này, cho nên từ phương diện tương phản mà nói rơ thêm vậy! “Thị chư chúng sanh” (các chúng sanh ấy) tức là nói tới các chúng sanh đă sanh tịnh tín, thấy Tam Không trong đoạn trước. Chữ Tâm trong “nhược tâm thủ tướng” (nếu tâm giữ lấy tướng) quan trọng lắm! Cần phải biết: Tâm vốn vô tướng. Chữ Tướng không nhất thiết để chuyên chỉ sắc thân, mà là chỉ chung hết thảy các tướng cảnh giới. Tâm vốn vô tướng, nếu có một loại tướng, sẽ là chấp giữ cảnh giới. Nếu chấp giữ tướng cảnh giới, há chẳng phải đă mê cái tâm của chính ḿnh ư? Đó chính là tướng trạng trái nghịch giác, xuôi theo trần lao! V́ vậy, trở thành phàm phu. Do vậy, cần phải biết chấp trước tướng cảnh giới là ai giữ lấy vậy? Hoàn toàn chẳng phải là ai khác, chính là ḿnh! Có thể thấy: Nếu cái tâm giữ lấy tướng, liền thành ngă tướng. Cái tướng bị giữ lấy chính là do cái ngă có thể chấp giữ (năng thủ ngă) mà có. Ví như tướng người là do ngă tướng mà sanh. V́ thế, cái cảnh bị giữ lấy liền trở thành tướng người khác. Cái tướng bị chấp lấy lại trùng điệp sanh khởi tưng bừng, liền thành tướng chúng sanh. Tướng ấy chẳng đoạn, liền thành tướng thọ giả. Do vậy nói: Bất luận chấp tướng ǵ, bèn có cái có thể chấp giữ (năng thủ) cái bị chấp giữ (sở thủ) sanh khởi đông đảo chẳng ngừng! V́ thế nói: Nếu tâm giữ lấy tướng, sẽ là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả. Tắc vi” (則為) cũng giống như nói “tiện thị” (便是, chính là). Ư nói: Hễ giữ lấy, liền trở thành vướng mắc. Do vậy, nếu giữ lấy pháp tướng, cũng chính là vướng vào bốn tướng ta, người, chúng sanh, thọ giả. Sao lại nói pháp chẳng giống như thân, trong ấy vô ngă? Hễ giữ lấy, sẽ có Năng (cái chấp giữ) và Sở (cái bị chấp giữ) phân biệt, sao có thể nói phân biệt nơi pháp chẳng phải là phân biệt ta, người ư?

          Do vậy có thể biết, khoa trước nói “chẳng có pháp tướng” tức là nói “đừng chấp giữ”, chẳng phải là rốt ráo không có pháp, không có tướng. Nếu rốt ráo chẳng có, chính là tướng đoạn diệt! C̣n như phi pháp cố nhiên là tên gọi khác của Không, Không vốn chẳng phải là tướng, nhưng hễ chấp giữ, sẽ liền có cái ta để chấp giữ [cái Không ấy], có cái bị chấp giữ (tức là chính cái Không ấy), đó là “người”, sanh khởi ồ ạt chẳng ngừng, bốn tướng rành rành tồn tại. V́ thế nói: “Nếu giữ lấy tướng phi pháp, tức là chấp vào ta, người, chúng sanh, thọ giả”.

          Tôi từng thấy một loại bản in [của kinh này], chẳng biết bị ai gạt bỏ ba chữ “hà dĩ cố” trước câu “nhược thủ phi pháp tướng” (nếu giữ lấy tướng phi pháp) v́ cho rằng đây vốn là một câu nói thẳng thừng từ trên xuống dưới, nghĩa và ư đă rơ ràng. Hễ có ba chữ ấy (“hà dĩ cố”), sẽ đâm ra khiến cho ngữ khí bị đứt đoạn, ư nghĩa chẳng rơ. Trong thời Gia Khánh (1796-1820) [nhà Thanh], có một bản khắc, tuy chẳng dám loại bỏ [ba chữ ấy], nhưng phía dưới có ghi chú rằng: “Trong bản chú giải của các vị X, Y… và các chánh bản, đều phán định là lời văn bị thừa thăi v.v…” Nói “các vị X, Y…” th́ phần lớn là người thuộc thời Minh - Thanh. Do vậy, có thể chứng tỏ câu chữ trong kinh này đa phần khác với cổ bản. Tuy không ǵ chẳng do sai sót trong việc truyền tụng, sao chép, nhưng thật ra cũng chẳng tránh khỏi là do bị kẻ thiển kiến hư vọng sửa chữa tăng giảm, đúng là đáng than thở! May là kinh bổn gần đây lại được bậc sáng mắt bổ sung câu ấy, chỉ riêng kinh bổn ở nơi xa xôi vẫn c̣n bị gạt bỏ mất câu ấy, muôn phần chẳng thể tuân theo!

          Bởi lẽ, sử dụng ba chữ ấy chứa đựng ư nghĩa tinh vi, quan hệ khẩn yếu, muôn phần chẳng thể thiếu được! Có người nói: “Ba chữ “hà dĩ cố” nhằm nhắc lại ư nghĩa trước đó, khiến cho [thính chúng] biết nếu giữ lấy phi pháp, vẫn là vướng mắc tứ tướng, huống hồ giữ lấy pháp!” [Hiểu theo kiểu đó th́] ư nghĩa ấy vẫn nông cạn! V́ nếu tâm giữ lấy tướng th́ chính là này nọ (tức là vướng mắc trong tứ tướng) đă được giải thích rơ nguyên do rồi, cần ǵ cứ phải nhắc lại? Vậy th́ do ư nào? Nhằm pḥng ngừa kẻ chẳng hiểu rơ ư, dẫu nghe “nếu giữ lấy pháp tướng liền vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ giả”, vẫn chưa hiểu như thế nào mới là “chẳng giữ lấy”? Do kiến địa chưa chân thật, có thể sẽ đến nỗi lầm lạc chấp giữ phi pháp, mà vẫn cứ ngỡ chính ḿnh chẳng giữ lấy pháp. Do vậy, dùng ba chữ “hà dĩ cố” để hỏi nhằm cảnh tỉnh họ, khiến cho họ suy nghĩ sâu xa nguyên do, chẳng bị hiểu lầm. Liền nói tiếp rằng nhược thủ phi pháp tướng, tức trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả” (nếu giữ lấy tướng phi pháp, tức là vướng mắc ta, người, chúng sanh, th giả), ngơ hầu khiến cho họ biết: Nếu giữ lấy phi pháp, vẫn là chấp tướng như cũ, chẳng khác giữ lấy pháp! Đừng cho rằng nói “chẳng giữ lấy pháp” trọn chẳng phải là “rốt ráo không giữ lấy” ư? Chẳng phải là không giữ lấy, nhưng giữ lấy th́ lại là chấp tướng! Có thể thấy “chẳng giữ lấy” chính là dạy “đừng chấp vào tướng, hăy hội quy vào tánh”. Ư ấy như thế nào? Chính là hăy rộng tu Lục Độ, vạn hạnh, nhưng trong tâm dường như chẳng có chuyện ấy (tức là chẳng thấy ḿnh đang rộng hành các Độ, các hạnh), lặng trong, tịch tĩnh, chẳng bị lay động. Đó chính là ư nghĩa chân thật của “chẳng giữ lấy pháp”. Hành như thế, vừa chẳng chấp trước pháp, vừa chẳng chấp trước phi pháp. Đó là chẳng vướng vào Nhị Biên, phù hợp Trung Đạo. Vậy th́ do có câu “hà dĩ cố” này, hai câu “nhược thủ phi pháp tướng…” kế đó sẽ được chú giải chẳng khác ǵ hai câu “nhược thủ pháp tướng…” trước đó. Thuyết pháp hay khéo như thế ấy! Nếu gạt bỏ ba chữ ấy đi, ngữ khí phẳng ĺ, sẽ chẳng thể hiển lộ ư nghĩa này được!

          Cần phải biết: Hữu chính là từ ngay nơi Không mà Hữu, Không chẳng phải là cái Không do ĺa Hữu. V́ thế, Tâm Kinh dạy: “Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc” (Sắc chính là Không, Không chính là Sắc). Bởi đó, kinh này chỗ nào cũng nói “đừng chấp giữ”, nhưng chỗ nào cũng nói “chẳng đoạn diệt”. Nói “chẳng đoạn diệt” tuy đến cuối cùng mới được chỉ ra, nhưng thật ra, vừa mới nói mở đầu, đă là không ǵ chẳng chứa đựng ư nghĩa “chớ nên đoạn diệt” trong ấy. Như độ chúng sanh mà chẳng có tướng độ, chẳng phải chỉ là nói một câu “thật sự không có chúng sanh được diệt độ”. Nói “ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà hành bố thí), ư ấy càng rơ rệt. “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền thấy Như Lai) càng là lời kết tinh. “Các tướng chẳng phải tướng” tức là nói rơ “chẳng giữ lấy”. Hễ giữ lấy, sẽ là chỉ thấy tướng mà chẳng thấy tánh. Do chẳng giữ lấy, nên thấy tướng chính là chẳng phải tướng, hội quy Như Lai Tạng tánh, cho nên nói là “thấy Như Lai”. Tóm lại, tướng vốn không có lỗi, lỗi v́ giữ lấy!

          Do vậy, nếu xả tướng để giữ lấy vô tướng, xả vô tướng để giữ lấy cái Vô “có thể vô” ấy, th́ “giữ lấy” sẽ trở thành tướng, sẽ chướng ngại tự tánh. Có thể biết là chỉ nên “chẳng giữ lấy”, dẫu có tướng vẫn chẳng trở ngại. Nếu có giữ lấy, dẫu vô tướng mà lại thành chướng, cần ǵ phải diệt tướng để thấy tánh ư? Do bởi lẽ này, sở dĩ chỉ chọn lấy tŕ giới và tu phước là căn cơ có thể tin tưởng, là v́ tŕ giới và tu phước do đă chẳng chấp Không, lại được Bát Nhă huân tập, hễ huệ giải mở mang, sẽ chẳng chấp pháp, tự nhiên có thể chẳng chấp Có, lại c̣n chẳng chấp Không, dễ ứng hợp Trung Đạo, so với kẻ cuồng huệ, cách biệt một trời, một vực! V́ thế, kinh luận có nói: “Thà chấp Có như núi Tu Di, chớ nên chấp Không chừng bằng hạt cải”. Đấy là nói rơ: Người chấp Có sẽ dễ dụng công, kẻ chấp Không khó thể cứu vớt!

          Chữ Thủ ở đây, đối ứng chặt chẽ với chữ Xả trong phần sau. Đoạn này nhằm nói rơ “chẳng giữ lấy pháp chẳng phải là “có thể giữ lấy phi pháp” (dựa theo ư mà nói). Đoạn sau nhằm nói rơ “hăy nên xả pháp chẳng phải là nói “phi pháp chẳng nên xả”. Lời lẽ trước sau đều cùng một ư, đều chứa đựng ư nghĩa “chẳng thể ĺa Hữu để nói Không” được! Nói chung, Nhị Biên đều chẳng nên giữ lấy, tức là đều nên xả. V́ thế, trong phần sau, liền kết lại bằng câu “dĩ thị cố, bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (do lẽ ấy, chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp) vẫn nhằm chỉ về Trung Đạo.

          Lại nữa, dùng ba chữ “hà dĩ cố” ấy cũng có một nghĩa nữa. Do khoa trước “vô phục ngă tướng” (chẳng c̣n có tướng ta) cho đến “diệc vô phi pháp tướng” (cũng chẳng có tướng phi pháp) đều nhằm một mực giảng rơ Tam Không như đă nói trong phần trên. Trong khoa này, nếu ở giữa “nhược thủ pháp”“nhược thủ phi pháp” dùng “hà dĩ cố” để ngăn cách, sẽ thành nói riêng ư nghĩa “hai bên Có và Không đều chẳng chấp” nhằm dẫn khởi hai câu “thị cố” (v́ thế) sau đó. Hai câu “nhược tâm thủ tướng” (nếu tâm giữ lấy tướng) vốn là tổng luận. “Bất khả thủ tướng” (chẳng thể giữ lấy tướng) chính là nói kèm cả thân tướng, nhưng thân tướng thuộc về bên Hữu, giống như pháp tướng, c̣n phi pháp tướng thuộc về bên Không. Trong khoảng đó, nếu chẳng ngăn cách [bằng ba chữ “hà dĩ cố”], sẽ thành nói một lèo giống như trên, nghĩa ấy sẽ chẳng hiển lộ, mà hai chữ Thị Cố (do vậy) trong đoạn kinh kế tiếp sẽ thành lơ lửng, chẳng thể tiếp nối đoạn trước được. Đủ thấy tài hay khéo trong bản dịch đời Tần vậy!

 

2.2.2.2.2.1.1.2.3. Kết lại để hiển thị Trung Đạo

2.2.2.2.2.1.1.2.3.1. Dùng ĺa cả đôi bên để kết lại

 

          (Kinh) Thị cố, bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp.

          ()是故不應取法不應取非法

          (Kinh: Do vậy, chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp).

         

          Chữ Cố () trong “thị cố” nhằm thừa tiếp đoạn văn trước đó. V́ nếu giữ lấy tướng pháp và phi pháp, tức là chấp tướng ta, người, chúng sanh, thọ giả; do vậy, cả hai bên đều chớ nên giữ lấy, mà cũng tương ứng với những điều “vô phục” (chẳng c̣n) vừa nói trên đây. Do “chẳng giữ lấy” tức là vô tướng. Vô tướng th́ mới sanh ra tịnh tín, là tri kiến của Như Lai, đạt được vô lượng phước đức. Nói chung, đức Phật nói điều này chính là chỉ dạy phương pháp để thực hiện, trước là dạy chẳng giữ lấy Nhị Biên, dần dần có thể rỗng không tướng, tâm địa thanh tịnh. Do vậy, tín rồi giải rồi hành đạt tới rốt ráo, cũng chẳng ngoài “chẳng chấp vào hai bên” mà thôi! Bởi lẽ, do Quán Chiếu Bát Nhă mà chứng Thật Tướng Bát Nhă. Thật Tướng là vô tướng, vô bất tướng, chẳng phải là “không chấp vào hai bên” ư? Đấy được gọi là “nhân bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân”.

 

2.2.2.2.2.1.1.2.3.2. Dùng thí dụ cái bè để nói rơ ư nghĩa

 

          (Kinh) Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết: - Nhữ đẳng tỳ-kheo, tri ngă thuyết pháp, như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.

          ()以是義故如來常汝等比丘知我如筏法尚應捨何況非法

          (Kinh: Do bởi nghĩa này, Như Lai thường nói: - Tỳ-kheo các ông hăy biết pháp do ta nói ví như cái bè. Pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp).

 

          Chữ Thị () trong “dĩ thị” (以是, do điều này) nhằm thừa tiếp hai câu “bất ưng” (不應, chớ nên) trong đoạn trên, và cũng hô ứng với câu “dĩ vô pháp tướng” (do chẳng có pháp tướng) trong phần sau nữa.

          “Phiệt dụ” (, thí dụ về cái bè) là pháp mà Như Lai thường nói. Bởi lẽ, thuyền bè vốn là vật để vượt qua [sông, hồ, biển cả], đă vượt qua bèn bỏ bè. Dùng điều này để sánh ví dùng Phật pháp vượt khỏi sanh tử. Sanh tử chưa vượt thoát, chẳng thể nào không có pháp. Đă đạt tới bờ bên kia, pháp cũng chẳng cần nữa! Dùng chuyện này để biểu thị ư nghĩa “chớ nên chấp vào pháp”, do trong kinh A Hàm, [đức Phật] thường v́ các đệ tử mà nói [thí dụ này].

          Câu “pháp thượng ưng xả” (pháp c̣n nên xả) nối liền ngay sau câu “phiệt dụ”, cũng nhằm kiêm chỉ “bất ưng thủ pháp” (chớ nên giữ lấy pháp) trong kinh văn thuộc đoạn trước, tức là dùng để dẫn khởi câu “hà huống phi pháp” (huống hồ phi pháp) thuộc đoạn sau. “Hà huống phi pháp” là chỉ rơ phi pháp càng phải nên xả. Xả tức là chẳng giữ lấy. Nhưng Xả có ư nghĩa sâu hơn, không chỉ là chẳng giữ lấy! Trước đó đă giữ lấy, nay cũng cần phải xả. Nói rốt ráo, tức là hai chữ “bất thủ” (chẳng giữ lấy) cũng phải nên xả!

          Sở dĩ dẫn thí dụ cái bè thường nói chính là một mặt dùng nghĩa hiện thời để tỏ rơ [các ư nghĩa] thường nói. Mặt khác, lại mượn ư nghĩa thường nói để nêu rơ ư nghĩa hiện thời. Đấy tức là do nghĩa “pháp và phi pháp đều chẳng nên lấy” [trong hiện thời], cho nên Như Lai thường v́ các tỳ-kheo mà nói thí dụ cái bè. Tuy chỉ nói “xả pháp”, cần phải biết là ngay cả phi pháp cũng phải x luôn! V́ sao vậy? Pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp! Há c̣n đợi phải nói nữa ư? Đấy là hiển thị “chẳng có cái nào nhỏ nhoi chẳng phải là cái to lớn”, đều là pháp b́nh đẳng, tức là dùng nghĩa hiện thời để nêu rơ điều thường nói. Lại do làm sáng tỏ nghĩa “chẳng giữ lấy hai bên” trong hiện thời, tuy dùng lời lẽ diễn tả cùng mức độ như nhau, nhưng cần phải biết: Đối với phi pháp, phải nên chẳng giữ lấy th́ mới chẳng đến nỗi chấp Không. Đấy là mượn nghĩa thường nói để làm sáng tỏ nghĩa hiện thời.

          Đoạn kinh văn này, ư nghĩa uẩn tàng sâu xa, tinh vi, không chỉ là những điều vừa nói trên đây. Hăy nên biết nghĩa hiện thời và nghĩa thường nói có một điểm xung đột nhất, ắt phải nên hiểu rơ. Bởi lẽ, nghĩa thường nói nhằm dạy [hành nhân] “nếu một pháp chẳng cần thiết nữa bèn xả”; nhưng nay v́ nói với người vừa mới phát đại tâm, vẫn là dạy họ khi cần thiết th́ phải xả pháp. Do có sự xung đột to lớn[5] ấy, đức Thế Tôn ngăn ngừa có kẻ sẽ chấp vào nghĩa thường nói mà nghi nghĩa trong hiện thời, hoặc chấp vào nghĩa hiện thời mà nghi pháp thường nói, cho nên chẳng thể không dẫn [thí dụ cái bè], khiến cho người học nhờ vào đó mà hiểu rơ hai cách nói ấy tuy khác biệt, nhưng thật ra tương đồng!

          Nghi như thế nào vậy? Nghi rằng: Ngay trong lúc cần phải xả pháp, pháp đă bị xả th́ há chẳng phải là không có pháp? Không có pháp th́ dùng ǵ để độ? Đấy chẳng phải là tương phản với nghĩa thường nói ư? Lại nói rằng “chẳng nên giữ lấy phi pháp”, rốt cuộc là có pháp hay là không có pháp? Kẻ chưa được độ cần có pháp, hay chẳng cần có pháp? Hăy nên biết nghĩa được nói hiện thời chính là “đối với hai bên Có và Không, đều chớ nên chấp trước”. Đó gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa. Hăy nên biết “chẳng chấp Nhị Biên” tức là Nhị Biên song chiếu. Do chẳng chấp Nhị Biên, cố nhiên chẳng có cái gọi là “có pháp”, mà do Nhị Biên song chiếu, cũng chẳng có cái được gọi là “không có pháp”. Hơn nữa, chẳng chấp th́ là Song Chiếu, nên có thể biết: Ngay trong lúc chẳng có cái được gọi là Hữu, cũng chẳng có cái ǵ được gọi là Vô. Ngay trong lúc chẳng có cái được gọi là Vô th́ nào ngại chẳng có cái được gọi là Hữu? Quư vị hăy nghĩ xem, rốt cuộc là có pháp hay không có pháp? Hay là có tức là không, không tức là có vậy? Hễ biết điều này, sẽ hiểu nghĩa hiện thời và nghĩa thường nói tuy khác nhau, nhưng thật ra là như nhau!

          Tuy vậy, đức Phật dẫn thí dụ cái bè để chuyên nhằm giải trừ mối nghi về sự giống nhau hay khác nhau giữa nghĩa hiện thời và nghĩa thường nói ư? Chẳng phải vậy! Thâm ư thật sự là v́ ngăn ngừa người ta chấp nghĩa hiện thời rồi nghi nghĩa hiện thời. Nghi như thế nào vậy? Quư vị có nh́n ra hay không? Xin hăy xem hai câu “thị cố, bất ưng thủ pháp, [bất ưng thủ phi pháp]” (v́ thế, chớ nên giữ lấy pháp, [chớ nên giữ lấy phi pháp]). Tuy [hai câu ấy] nhằm kết thúc đoạn kinh văn trước đó, nhưng so với đoạn văn trước đó, mức độ cạn sâu khác biệt to lớn. Đức Thế Tôn sợ người ta chẳng hiểu, nẩy sanh chướng ngại, cho nên Ngài dẫn thí dụ cái bè thường nói để chỉ rơ. Nếu không, hai câu “thị cố [bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp]” đă kết thúc, vốn chẳng cần thiết, cần ǵ lại dẫn thí dụ về cái bè? C̣n như những điều đă nói trong phần trước đó thuộc đoạn từ “chẳng chấp vào Nhị Biên” cho đến “rốt cuộc có pháp ư? Không có pháp ư?” chính là mượn ư nghĩa thường nói để hiển lộ ư nghĩa hiện thời, ḥng tránh cho [học nhân] đối với mức độ cạn hay sâu của nghĩa hiện thời mà khởi nghi, nẩy sanh chướng ngại! Vậy th́ trước tiên hăy hiểu cạn hay sâu ở chỗ nào?

          Xin hăy xem điều được nói trong đoạn thứ nhất, “vô phục ngă tướng” (chẳng c̣n có tướng ta) cho đến “diệc vô phi pháp tướng” (cũng chẳng có tướng phi pháp); đó là nói về vô tướng. Đoạn thứ hai, “nhược tâm thủ tướng” (nếu tâm giữ lấy tướng) cho đến “nhược thủ phi pháp tướng” (nếu giữ lấy tướng phi pháp) cũng là nói đừng chấp giữ tướng. Tới đoạn thứ ba, hai câu “thị cố” chính là đối với pháp và phi pháp đều nhất loạt chẳng giữ lấy, không chỉ là chẳng giữ lấy tướng! Đấy chính là chỗ bất đồng rất lớn so với hai đoạn trước, [đức Phật phải nói thêm thí dụ cái bè để] ngăn ngừa người nghe có thể nẩy nghi, sanh chướng chính là v́ lẽ này!

          Quư vị thấy đoạn thứ nhất đă nói về vô tướng. V́ muốn đoạn mối nghi “tướng người và pháp chẳng thể là không có”“phi pháp vốn vô tướng”, cho nên nói đoạn thứ hai “hễ giữ lấy th́ chính là chấp tướng” khiến cho họ biết: Nói là Vô chính là để họ đừng giữ lấy, hoàn toàn chẳng phải là không có pháp, không có tướng! Hơn nữa, hễ giữ lấy, sẽ liền có tướng. Do vậy, tướng phi pháp cũng chớ nên giữ lấy! Lại c̣n chỉ điểm, cảnh tỉnh: Chớ nên giữ lấy pháp tướng. Đó là dùng “chẳng giữ lấy phi pháp tướng” làm giới hạn, ngơ hầu [thính chúng] hiểu rơ: Chẳng phải là tuyệt đối không giữ lấy pháp, mà là tuy giữ lấy các pháp như Lục Độ v.v… để tu hành, nhưng tâm không có các tướng ấy! Như vậy th́ người học mới chẳng đến nỗi hoặc lệch về bên Không, hoặc lệch sang bên Hữu, mới có chỗ chánh xác để tu tập.

          Cần phải biết diệu pháp Bát Nhă hễ thực hiện th́ phải nên triệt để. Triệt để như thế nào? Cốt sao cho pháp và phi pháp, ngay cả bóng dáng cũng chẳng lưu lại th́ mới là đúng. Bởi lẽ, được gọi là pháp tướng và phi pháp tướng, có thể biết cái này là tướng của pháp, cái kia là tướng của phi pháp. Nếu giữ lấy pháp hay giữ lấy phi pháp, hễ giữ bèn có tướng, c̣n có thể nóichẳng giữ lấy tướng” ư? Do vậy, những điều được nói trước hay sau, về lư vốn nhất trí, chỉ là lời lẽ có thứ tự sâu hay cạn đó thôi! V́ thế, ắt phải nói đoạn thứ ba gồm hai câu “thị cố [bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp], hàm ư: Hăy nên triệt để “chẳng giữ lấy” như thế th́ mới là chẳng giữ lấy tướng. Sau đó, do cái tâm thanh tịnh th́ mới có thể chứng nhập cái quả Pháp Thân thanh tịnh.

          Hỏi: Nói như thế th́ pháp phải nên xả. Lại c̣n nói một câu “chớ nên giữ lấy phi pháp”, tôi cũng hiểu rồi. Đó cũng là dùng để làm giới hạn cho chuyện “chớ nên giữ lấy pháp”, khiến cho người học biết tuy chẳng giữ lấy pháp, quyết chớ nên giữ lấy phi pháp. Nhưng nói như thế th́ biện pháp “nương theo pháp Lục Độ để tu hành, nhưng trong tâm không có tướng của các pháp ấy” sẽ chẳng thể thích hợp để vận dụng! V́ sao vậy? Trong ấy chẳng phải là nói “chẳng giữ lấy pháp tướng”, mà rơ ràng là nói “chớ nên giữ lấy pháp”, như vậy th́ từ chỗ nào mà thực hiện đây?

          Đáp: Đức Thế Tôn chính v́ lẽ ấy mà phải nói câu thứ tư nhằm chỉ rơ một biện pháp tuyệt diệu vậy! Quư vị hăy xem lời lẽ yếu khẩn trong hai câu thuộc đoạn thứ tư: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp). Hai câu này chẳng khác nào lời chú giải cho hai câu “thị cố”. Đây chính là chỉ dạy người học rằng: Không phải là ta bảo các vị chỉ “chẳng giữ lấy pháp”, mà là bảo quư vị “ngay cả phi pháp cũng nhất loạt chẳng giữ lấy!” Nếu chỉ “chẳng giữ lấy pháp”, sẽ biến thành “không có pháp”. Không có pháp th́ làm sao tu hành đắc độ cho được? Nếu pháp và phi pháp nhất loạt chẳng giữ lấy, đó là diệu pháp đấy nhé! Bởi lẽ, [đức Phật] dẫn thí dụ cái bè để nói, v́ thí dụ cái bè chính là pháp! Do đó, một mặt khiến cho mọi người lănh hội “xả pháp” như thường nói, nhưng ngay cả “xả phi pháp” cũng được gộp vào đó, khiến cho [người học] biết [pháp và phi pháp đều] nhất loạt xả hết. Đó là pháp ví như cái bè mà Như Lai thường nói. Nay nói rơ ràng “pháp lẫn phi pháp đều nhất loạt chẳng lấy”, há chẳng phải chính là pháp đang được nói ư? Mặt khác, lại bảo mọi người “hăy lănh hội thí dụ cái bè thường nói”, tức là nói về lúc [hành nhân] chưa đắc độ, chớ nên không có pháp! Đă độ rồi th́ bỏ nó đi! [Nói như vậy], khiến cho mọi người biết: “Khi chưa đắc độ, sao có thể không có pháp cho được?” Sẽ chẳng đến nỗi hiểu lầm “chớ nên giữ lấy pháp” là “không có pháp”! Huống hồ lại nói rơ ràng rằng “chớ nên giữ lấy phi pháp”, tức là càng đủ để chứng minh “pháp và phi pháp đều nhất loạt chẳng giữ lấy” chính là khai thị diệu pháp cho chúng ta. Do vậy, dẫn thí dụ cái bè chính là để nêu rơ chuyện này.

          Hỏi: V́ sao “nhất loạt chẳng giữ lấy” chính là diệu pháp? Điều này lại càng khiến cho mọi người hồ đồ! Như thế nào mới là diệu pháp?

          Đáp: Hăy nên biết trong Đệ Nhất Nghĩa, pháp và phi pháp vốn chẳng thể nói. Lại chẳng có ǵ gọi là sanh tử, chẳng có ǵ gọi là Niết Bàn, càng chẳng có ǵ để gọi là “độ”! Tức là “chẳng chấp vào hai bên, cùng chiếu cả hai bên” đều thành lời lẽ thừa thăi! Cần phải thẳng thừng quét sạch t́nh thức, chặt đứt dây leo. Ngay trong lúc quét sạch, chặt đứt, hô lên một tiếng, ngay lập tức ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt, tức là sanh diệt đă diệt, trọn khắp hư không đều thành đạo tràng bất động, trọn khắp hư không đều là lưới quang minh thanh tịnh, liền cùng diện kiến mười phương chư Phật. Đến đấy, tuy nói không có ǵ gọi là “độ”, mà đă được độ không dấu vết bay chạy như thế rồi! Sau đấy, bỗng dưng từ ngay một câu “chẳng có ǵ gọi là độ” ấy cũng là diệu pháp dẫn dắt người khác đắc độ. Dám hỏi công phu quét sạch, chặt đứt ấy, dẫu muốn chẳng gọi nó là “pháp”, há có được chăng? Nhưng pháp và phi pháp đều chẳng giữ lấy, chẳng phải chính là quét sạch, chặt đứt ư? Hai đằng bức bách chặt chẽ, khởi tâm động niệm nếu chẳng chấp cái này sẽ liền chấp cái kia. Nếu khiến cho vọng tưởng, phân biệt không có chỗ náu ḿnh, ví như tiễu trừ giặc cướp, bao vây hai mặt, bức cho giặc không chỗ đặt chân, chúng nó tự nhiên đầu hàng! Đấy chính là thủ đoạn “dùng đao bén chặt phăng gai rối”, nên nói là “quét sạch t́nh thức, chém đứt dây leo”. Đó chính là như Long Thọ Bồ Tát nói “hết thảy các pháp bất sanh, nhưng Bát Nhă sanh”. Điều cốt lơi chánh yếu của Bát Nhă là vô trụ, nhưng “chẳng giữ lấy hai bên” chính là lời chú giải đanh thép của vô trụ. Đấy chính là pháp vô thượng rất sâu vi diệu, tức là pháp A Nậu Bồ Đề như trong kinh đă nói. Dùng điều này làm cái gốc để tu nhân, sẽ chứng cái quả là A Nậu Bồ Đề. Do đột nhiên giác ngộ, chính là giống hệt như thí dụ cái bè[6]. Chẳng phải là không có pháp nào để có thể độ, lại chẳng phải là chưa độ đă xả pháp vậy. Quư vị vẫn nghi là độ như thế nào ư? Khi đă rốt ráo độ, [mà c̣n cật vấn] có pháp hay không có pháp, há chẳng phải là nằm mộng nói mớ ư?

          Hỏi: V́ sao đức Phật chẳng nói rơ “chẳng giữ lấy chính là pháp” mà lại để cho mọi người tự lănh hội vậy?

          Đáp: Điều này cũng có ư chỉ sâu xa:

          1) “Chẳng giữ lấy” vốn chẳng phải là pháp, chẳng thể đặt tên được, giả danh là pháp “vô pháp” mà thôi. Như Bố Thí, Bát Nhă v.v… đều là giả danh. Do chẳng có ǵ để đặt tên được, đành gọi là Pháp. Há có phải là thật sự có vật ấy ư? Pháp thế gian và xuất thế gian, không ǵ chẳng phải đều là như vậy!

          2) Chính v́ chúng sanh chỗ nào cũng chấp trước, cho nên nói “chẳng giữ lấy hai bên” để trị căn bệnh ấy. Nếu coi đấy chính là diệu pháp, tức là lại trụ chấp! Đây lại là nỗi khổ tâm [v́ sao] chẳng nói rơ. Nhưng đức Thế Tôn vẫn sợ người học khởi tâm động niệm, bất tri bất giác trụ chấp vào đấy, dấy lên phân biệt, tức là vô minh vẫn c̣n, lại cần phải trừ khử. Do đó, lại nói lượt thứ hai (tức nửa sau bộ kinh này) chính v́ chuyện này!

          3) Tuy chẳng nói rơ để ngừa mọi người bàng hoàng chẳng biết làm thế nào; do vậy, dẫn thí dụ về cái bè để tỏ lộ tin tức, ngơ hầu người chân tu cũng nhờ vào đó mà tự lănh hội. Hăy nên biết: Phàm mọi chuyện do chính ḿnh lănh ngộ th́ sẽ được thọ dụng. V́ sao? Khi chính ḿnh lănh ngộ, chính là lúc được thọ dụng, so với thấy nghe từ bên ngoài sẽ hữu ích hơn! Do vậy, cổ nhân thuyết pháp thường chẳng tận t́nh thổ lộ là v́ lẽ này, do ngăn ngừa chẳng đóng lấp ngộ môn của người khác!

          Nay bỉ nhân nói toạc ra, chẳng khỏi trái nghịch cổ huấn, biết tội sâu xa, nhưng chẳng thể không nói là cũng có chút ư khăng khăng. Do Phật pháp suy vi đă lâu, mọi người sợ nghe Bát Nhă. Thông thường bàn đến Bát Nhă, thường là đi vào ngơ rẽ, nhưng các vị lại nhiệt tâm cầu pháp như vậy, nếu tuyệt đối chẳng nhắc nhở đôi chút, cũng lại chẳng thể khơi gợi ngộ môn chân thật cho mọi người được! Hơn nữa, do cũng có chỗ để dựa dẫm mà chẳng sợ, chính là do có nửa sau của bộ kinh đối trị căn bệnh này rất sâu sắc, ắt chẳng sợ [đại chúng] nghe rồi sẽ trụ vào đó! (Tôi nhắc nhở đôi chút ở chỗ này, khi nói đến nửa sau bộ kinh mới nói cặn kẽ. Từ nay khuyên quư vị hăy nên đừng vắng mặt buổi giảng nào, để khỏi [cảm thấy] trước sau chẳng liên tục).

          Nói đến chỗ này, c̣n có một chuyện chẳng thể không kính dâng [lên thính chúng]. Phàm muốn lănh ngộ nghĩa chân thật trong kinh, chỉ do chí thành, cung kính mà đọc. Đọc nhuần nhuyễn, thường xuyên quán chiếu một hai đoạn, hoặc một hai câu. Quán chiếu chính là tư duy, nhưng sự tư duy này khác biệt rất lớn cách thường gọi là “nghiên cứu”. Thông thường, nghiên cứu một loại học vấn th́ chính là chuyên dùng phàm t́nh để suy đoán, “tư duy” ở đây chẳng phải vậy. Tuy cũng chẳng ĺa văn tự, nhưng nhất quyết chớ nên mày ṃ nơi văn tự, dẫu ṃ mẫm cũng ṃ chẳng ra! Ắt cần phải quét sạch hết thảy tạp niệm, lắng ḷng lặng lẽ suy tưởng, hoàn toàn dốc hết tâm vào đó. Chẳng vần ṿ nơi văn tự; đó là “chẳng giữ lấy pháp”. Dốc toàn bộ tinh thần chuyên chú nơi kinh này, chính là “chẳng giữ lấy phi pháp”. Đấy chính là tu Định. Lâu ngày chầy tháng, bỗng trong lúc một niệm chẳng sanh, tánh quang phát hiện, đạo lư chân thật trong kinh tự nhiên trào vọt ra. Đó là do tư duy tu th́ mới là thọ tŕ, mới có thể lănh ngộ. Do vậy, nói “lúc lănh ngộ, chính là lúc được thọ dụng”. Đọc kinh th́ phải đọc theo cách như vậy, Định học và Huệ học sẽ nhất loạt cùng tu. Lại c̣n phải sám hối cho nhiều, cầu Tam Bảo gia bị. Nếu không, sợ rằng chướng nặng, không chỉ chẳng thể lănh ngộ, mà quán chiếu cũng chẳng thể thực hiện tốt đẹp được (dưới đây cần phải nói về “chẳng chấp hai bên”, chẳng phải là không hành các Độ như Bố Thí v.v…)

          Hỏi: “Chẳng giữ lấy hai bên” chính là pháp môn Bát Nhă, vậy th́ các pháp như bố thí v.v… sẽ có thể chẳng hành ư?

          Đáp: Lầm mất rồi! Chẳng hành các pháp như bố thí v.v… tức là giữ lấy phi pháp! Cần phải biết: Bát Nhă là mẹ của năm Độ kia. Bát Nhă sanh th́ năm Độ sẽ thuận theo mà sanh khởi dạt dào. Hạnh ấy cũng lại càng mầu nhiệm hơn! Dùng Bát Nhă quán trí để hành năm Độ, năm Độ sẽ đều là Ba La Mật vậy!

          Hễ nêu lên một pháp, đều có bốn câu sai biệt. Có người nói rằng Hữu, có người nói rằng Vô (tức là không), hoặc nói vừa Hữu vừa Vô, hoặc nói chẳng phải Hữu chẳng phải Vô. [Đó là “bốn câu”]. Bát Nhă rất sâu, cả bốn câu đều trừ bỏ. Đó gọi là “ly tứ cú, tuyệt bách phi” vậy (Bách phi[7] chẳng ngoài bốn câu). Do tự tánh thanh tịnh, chẳng nhuốm mảy trần, cho nên phải là “hết thảy đều chẳng phải”, mà bốn đoạn [chánh kinh] ở đây chính là ĺa bốn câu!

          Đoạn thứ nhất dùng Vô để trừ Hữu (chấp Có th́ thành phàm phu, cho nên cần phải dùng Vô để trừ). Đoạn thứ hai là nói “vừa Hữu vừa Vô” để trừ Thiên Vô (thiên chấp lệch lạc, chỉ chấp nhận Vô. Hành pháp Lục Độ tức là Hữu tồn tại. Tâm không có tướng ấy, cho nên Vô tồn tại. [Ngăn ngừa] Thiên Vô nhằm ngăn ngừa tướng đoạn diệt). Đoạn thứ ba là “nói chẳng Hữu, chẳng Vô” nhằm trừ khử “vừa Hữu vừa Vô”. Do vừa Hữu vừa Vô, chẳng tránh khỏi hai bên Hữu và Vô. V́ thế, dùng “hai bên đều chẳng nên lấy”, tức là giữ lấy Hữu cũng chẳng phải, mà giữ Vô cũng chẳng phải. Như vậy th́ chẳng đến nỗi Nhị Biên cách biệt, mà sẽ là dung thông. Tới đoạn thứ tư, chữ Pháp trong “pháp thượng ưng xả” (pháp c̣n nên xả) chỉ các pháp như Lục Độ v.v… Chữ Phi Pháp trong câu “hà huống phi pháp” chỉ pháp “chẳng phải Hữu, chẳng phải Vô”. Do ư nghĩa “hết thảy các pháp bất sanh mà Bát Nhă sanh” mà cái được gọi là “chẳng giữ lấy Nhị Biên” được quán triệt đến tột cùng. V́ thế, ngay trong khi đang độ, trước là từ “cũng Hữu cũng Vô” để thực hiện, ḥng đạt tới “chẳng phải Hữu, chẳng phải Vô”. Đă được diệt độ, tức là không chỉ là đă xả pháp “vừa Hữu vừa Vô”, mà đương nhiên là pháp “chẳng phải Hữu chẳng phải Vô” cũng nhất loạt xả trừ, th́ mới thành Như Lai “các pháp như nhau”. Đấy chính là điều chư Phật Như Lai thường nói. Như đức Thế Tôn mặc áo, ăn cơm, thị hiện giống như phàm phu, âm thanh, tướng hảo, nghiễm nhiên trọn đủ. Đạt tới mức độ ấy th́ sanh tử và Niết Bàn, cả hai đều chẳng trụ. Hữu ư? Vô ư? Vừa Hữu vừa Vô ư? Chẳng phải Hữu chẳng phải Vô ư? Bốn câu đều chẳng thể nói được!

          Hai câu “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp) là lời trọng yếu nhất. Những điều đă nói trước đó đều là “chẳng giữ lấy hai bên”. V́ thế, hai câu này chẳng khác lời tổng kết cho đoạn kinh văn trước đó. Đoạn thí dụ về cái bè cũng nhằm nêu rơ: Hai câu ấy chính là diệu pháp; được gọi là pháp A Nậu Bồ Đề (hăy nên nói tường tận).

          Như trên đă nói, đối với cái được gọi là “không có pháp nào để có thể nói” bèn nói phương tiện, đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn. Những điều được nói trong kinh này đều là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn. V́ thế, người giảng cũng chẳng thể không nói như thế. Nhưng viên âm của đức Phật vừa diễn, không nghĩa nào chẳng bao gồm. Bất luận nói theo kiểu nào, cũng đều được! Những điều nói trên đây rất cao, cũng chẳng ngại nương vào Vị Nhân Tất Đàn để nói. Vị Nhân là nói đối ứng với căn cơ. Kinh dạy: “Thử kinh vị phát Đại Thừa giả thuyết, vị phát tối thượng thừa giả thuyết” (Kinh này v́ người phát Đại Thừa mà nói, v́ người phát tối thượng thừa mà nói). Do căn cơ như thế, bènhọ mà đốn thuyết (nói pháp thuộc Đốn giáo), như nói: “Không có bốn tướng ta, người…” Đó là nói Ngă Pháp Không nhằm độ Ngă Chấp. Lại nói: “Chẳng có pháp tướng, chớ nên giữ lấy pháp, pháp c̣n nên xả”. Đó là pháp Pháp Không nhằm độ Pháp Chấp. Lại nói: “Cũng chẳng có tướng phi pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp, huống hồ phi pháp”, đó là nói pháp Không Không để độ chấp Không. Nói rất nhiều pháp, sao lại nghi “không có pháp sao có thể độ?” Cần phải biết rằng: Đó là nói “không có tướng ta, người” v.v… Chẳng phải là “không có ta, người” v.v… Đó là nói “không có tướng pháp, không có tướng phi pháp”, chứ chẳng phải là rốt ráo không có pháp và không có phi pháp! Nói chung, bảo là Vô, tức là “chẳng giữ lấy”; nói là Xả, chỉ nhằm trừ chấp, chẳng phải là xả các pháp ấy! Ba thứ chấp đă trừ th́ Tam Không cùng rạng, tam chướng tiêu tan trọn vẹn, mới là “sanh tử và Niết Bàn, hai đằng đều chẳng trụ”. Há c̣n chẳng vượt khỏi bờ này, chẳng lên bờ kia ư?

          Lại c̣n nương theo Đối Trị Tất Đàn để nói. Đối Trị tức là đúng chứng bệnh mà cắt thuốc, chữa trị căn bệnh ấy. Kinh dạy: “Chúng sanh bệnh tại xứ xứ trước” (chúng sanh bệnh là do chỗ nào cũng chấp trước). V́ thế, đức Phật đối Hữu nói Không, đối Không nói Hữu, không ǵ chẳng nhằm đối trị căn bệnh chấp trước lệch lạc của chúng sanh. Hễ có chấp trước lệch lạc, sẽ chẳng tương ứng với tánh thể. Đó là trái nghịch giác, xuôi theo trần lao, khiến cho nghiệp chướng tưng bừng sanh khởi, chịu khổ vô tận. V́ thế, cần phải đối trị. Như ở đây nói “hăy nên xả pháp”, lại nói “lại nên xả phi pháp” (Xả là chẳng giữ lấy, cũng chính là vô tướng. Hăy hiểu theo ư, đừng hoàn toàn chấp vào văn tự), th́ biết cái được gọi là “xả pháp” chính là xả căn bệnh chấp Hữu vậy. Lại như nói “xả phi pháp” và cũng nói “xả pháp” th́ cũng biết cái được gọi là “xả phi pháp” cũng là xả căn bệnh chấp Không này vậy. Bệnh trừ, Hữu sẽ thành Diệu Hữu, Không là Chân Không.

Cần phải biết: Nói Diệu Hữu tức là nói Hữu mà bất Hữu; do vậy, Diệu Hữu tức là Chân Không. Nói Chân Không là nói Không mà chẳng Không; do đó, Chân Không chính là Diệu Hữu. Do vậy, bèn có thể biết: Hễ thực hiện (tu tập), liền khiến cho chẳng giữ lấy hai bên, chính là v́ khiến cho hai bên song chiếu. Song Chiếu tức là “tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh” (luôn nhạy bén nhận biết rơ ràng mọi sự mà tâm luôn vắng lặng, tuy vắng lặng mà không ǵ chẳng nhận biết rơ ràng), tức là Tịch Chiếu[8] đồng thời. Đồng thời tức là Tịch mà thường Chiếu, Chiếu mà thường Tịch, chính là Tịch Chiếu Chân Như tam-muội, là cảnh giới của Phật. Đạt tới địa vị ấy, há chỉ diệt Phiền Năo Chướng, mà c̣n diệt Sở Tri Chướng, há chỉ độ Phần Đoạn Sanh Tử, mà cũng độ Biến Dịch Sanh Tử. Đấy gọi là giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn nhi diệt độ chi” (đều khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ). Có thể biết những điều được nói ở đây đều là cực viên, cực đốn, đúng là vô thượng diệu pháp để thành Phật. Bất luận tu hạnh môn nào, nếu có thể lănh hội ư nghĩa ở đây để hành, ắt sẽ thành tựu vừa nhanh vừa cao. Hơn nữa, pháp này thẳng thừng, nhanh chóng, thỏa đáng, nói khó th́ cũng trọn chẳng khó. Các vị thiện tri thức ơi! Phật pháp khó nghe mà lại được nghe, ơn Phật khó báo, rốt cuộc vẫn cần phải báo, chỉ do chúng ta lập tức gánh vác đó thôi!

 

2.2.2.2.2.1.1.2.4. Gạn hỏi, giải thích sự chứng thành

2.2.2.2.2.1.1.2.4.1. Nêu ra quả đức của Như Lai để hỏi

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề da? Như Lai hữu sở thuyết pháp da?

          ()須菩提於意云何如來得阿耨多羅三藐三菩提耶如來有所說法

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Ư ông thế nào? Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề hay chăng? Như Lai có thuyết pháp hay chăng?)

         

          Đoạn hỏi đáp, giải thích sự chứng thành nhằm giảng rơ nguyên do của hai câu “bất ưng thủ” (v́ sao chẳng giữ lấy hai bên? V́ sao cần phải chẳng giữ lấy hai bên?), nêu ra quả địa để chứng thành nhân địa, ḥng chỉ rơ: Cần phải nhân quả nhất trí. Do vậy, đức Thế Tôn nêu ra cực quả để hỏi ngài Tu Bồ Đề. Sau khi đă giảng rơ, lại nêu ra hết thảy các vị hiền thánh để chứng minh. Hết thảy các vị hiền thánh so với cực quả th́ các Ngài là nhân, so với những người sơ phát tâm th́ các Ngài là quả ([khoa này được] chia thành ba đoạn ngắn). Câu chữ trong kinh thường là nói tại đây mà ư nơi kia. Nhăn quang xẹt bốn phía, tám mặt lung linh. Như trong lời hỏi này, nh́n vào hai chữ Da (, phải chăng), rơ ràng trong lời lẽ đă hàm ư “vô đắc, vô thuyết”. Nhưng nếu nói “vô đắc, vô thuyết”, sẽ thành giữ lấy phi pháp mất rồi! Nếu nói “có đắc, có thuyết”, lại là giữ lấy pháp! Nay nêu ra lời hỏi này, chính là khảo nghiệm người nghe pháp rốt cuộc có thể lănh hội, thấu hiểu ư nghĩa chân thật của “chẳng giữ lấy hai bên” hay không!

          (Bổ) Kinh này hễ đặt bốn chữ “ư ư vân hà?” (ư ông nghĩ sao), nếu nói nông cạn sẽ là thăm ḍ người nghe pháp đối với những điều vừa nói trước đó có thể hiểu rơ hay không? Nói sâu hơn th́ chính là chỉ dạy chúng ta là những kẻ đọc tụng, đừng hiểu lầm ư Phật! Đối với các lời lẽ sẽ nói tiếp theo đó, phải nên thấu hiểu sâu xa th́ mới là chánh tri, chánh kiến. Nếu không, chẳng hợp ư Phật! Trong lời hỏi, đức Phật xưng là Như Lai; trong lời đáp, ngài Tu Bồ Đề nói “hết thảy các thánh hiền”, có thể thấy “chẳng nên giữ lấy pháp, chẳng nên giữ lấy phi pháp”, bất luận thành hiền, thành thánh, hay thành Như Lai, đều là “nếu chẳng từ pháp môn này, sẽ chẳng thể! Hai câu Như Lai [trong đoạn chánh kinh trên đây] tiếp ngay theo hai câu “bất ưng thủ pháp” (chẳng nên giữ lấy pháp), thoạt nh́n đối với chữ Đắc tợ hồ có Đắc, đối với có pháp để nói th́ tợ hồ có nói. Ư Phật nhằm bảo rơ ràng: Như Lai đối với các pháp do Ngài đă nói, trong tâm có pháp được nói hay không? “Pháp” ấy chính là nói tới A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. V́ sao Như Lai thuyết pháp? Chính là v́ khiến cho hết thảy chúng sanh chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, nên Ngài mới thành Như Lai, đương nhiên là “có đắc”. Hai chữ Da trong lời hỏi, mặt ngoài là pháp, nhưng trong ấy chứa đựng phi pháp, v́ sợ kẻ thô tâm bị hiểu lầm, phải cần ngài Tu Bồ Đề giải thích. Không chỉ là thăm ḍ thính chúng có hiểu rơ nghĩa “chẳng chấp vào Nhị Biên” hay không, mà c̣n nhằm chỉ dạy chúng ta dụng công mà nếu chẳng thực hiện từ “chẳng chấp vào Nhị Biên”, sẽ chẳng thể được!

          Kẻ thô tâm sẽ ngờ đức Phật thành đạo dưới cội Bồ Đề, há chẳng phải là “đắc quả” ư? Bốn mươi chín năm thuyết pháp, há chẳng phải là pháp đó sao? V́ sao lại bảo bọn sơ phát tâm chúng ta “chớ nên giữ lấy pháp?” Qua lời giải thích của ngài Tu Bồ Đề: “Thế Tôn chẳng đắc mà đắc, chẳng nói mà nói”, mối nghi ấy liền được tháo gỡ. Nói cao hơn một bậc nữa, chẳng nói đức Thế Tôn đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cũng chẳng nói Phật, mà nói Như Lai. Như Lai là Pháp Thân, là tánh đức. Phật tánh ai nấy đều có, đặc biệt là phàm phu cất chứa [Phật tánh ấy] trong cái vỏ vô minh. V́ thế, nói hai câu này, nhằm bảo chúng ta hăy chứng tánh. Nơi tánh há có cái để đắc ư? Há có pháp để nói ư?

 

2.2.2.2.2.1.1.2.4.2. Dùng “chẳng thể chấp pháp” để giải thích

2.2.2.2.2.1.1.2.4.2.1. Nói rơ chẳng có pháp nhất định

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề ngôn: - Như ngă giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu định pháp danh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; diệc vô hữu định pháp, Như Lai khả thuyết.

          ()須菩提言如我解佛所無有定法名阿耨多羅三藐三菩提亦無有定法如來可

          (Kinh: Tu Bồ Đề nói: - Như con hiểu nghĩa do đức Phật nói, chẳng có pháp nhất định để gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; cũng chẳng có pháp nhất định để Như Lai có thể nói).

 

          (Bổ) Lời đáp này cực viên, cực diệu. Thoạt nh́n dường như chẳng đáp đúng lời hỏi. Thế Tôn là người có thể đắc, là người có thể nói, đó là bên hỏi. C̣n bên đáp th́ trưởng lăo [Tu Bồ Đề] dựa theo pháp để đắc, để nói [mà trả lời]. Hỏi một đằng, đáp một nẻo, viên diệu bậc nhất! Có nghĩa là lăo nhân gia (đức Phật) hỏi “Như Lai có cái để đắc, để nói hay không?”, con c̣n chưa thành Phật, sao biết được? Do vậy, con bất quá dựa theo bên pháp được nói, lại dựa theo sự hiểu biết đại lược đối với các nghĩa do đức Phật đă nói trước nay. Dùng cách thức giữ lấy thân phận như thế này: Con đă chưa chứng đắc [quả vị] Phật, đương nhiên là chẳng thể biết, nhưng xét theo đạo lư do đức Thế Tôn chỉ dạy để lănh hội, sẽ chẳng đến nỗi lầm lẫn. Trưởng lăo nói lời ấy một mặt là v́ chính ḿnh mà suy nghĩ, mặt khác nhằm khai thị chúng ta. Đức Thế Tôn nói hai câu ấy tột bậc yếu khẩn, hăy nên chiếu theo ư chỉ của trưởng lăo để lănh hội.

          Trong lời đáp của trưởng lăo, chẳng nói Như Lai mà nói Phật, hết sức có thâm ư! Bởi lẽ, các thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn chứng Vô Thượng Bồ Đề, hăy nên chiếu theo đức Phật là vị đă chứng đắc quả vị để tu tập. “Vô hữu định pháp” tức là pháp chẳng có nhất định. Nói đơn giản, tức là chớ nên chấp trước pháp, mà cũng chẳng có pháp nhất định. Đó tức là chú giải của “pháp bất khả chấp” (chẳng thể chấp pháp).

          Dùng “A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề c̣n chẳng có pháp nhất định để có thể gọi tên” để đáp câu hỏi “có pháp để đắc, để nói” trong phần trước đă rơ thấy rồi. Pháp c̣n chẳng có cái tên nhất định, huống là có đắc ư? Huống hồ c̣n có cái để nói nữa ư? Đối với các thiện nam tử, thiện nữ nhân đă phát Bồ Đề tâm, v́ sao [đức Phật] chẳng nói Vô Thượng Bồ Đề, mà nói “hăy nên hành bố thí”? Đủ thấy: Ngoài hết thảy các pháp ra, chẳng có A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho nên chẳng có pháp nhất định. Thuyết pháp [nào đi nữa cũng] đều là phương tiện; do vậy, cũng chẳng có pháp nhất định để có thể nói!

 

2.2.2.1.2.1.1.2.4.2.2. Giải thích hăy nên “đôi bên đều chẳng phải”

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ, bất khả thuyết, phi pháp, phi phi pháp.

          ()何以故如來所皆不可取不可非法非非法

          (Kinh: V́ sao vậy? Pháp do Như Lai đă nói đều chẳng thể giữ lấy, chẳng thể nói, chẳng phải là pháp, chẳng phải không là pháp).

 

          (Bổ) Song Phi (雙非, phủ định cả hai bên) tức là “phi pháp, phi phi pháp” (chẳng phải pháp, chẳng phải không là pháp), tức Song Ly (雙離, ĺa cả hai bên), đó là Song Giá (雙遮, ngăn chặn cả hai bên), nghĩa là “cả hai đều chẳng phải”. Mấy câu này của trưởng lăo viên diệu tột bậc, có thể giải thích bằng nhiều cách. Đối với mỗi câu văn trong kinh Phật, phải nên xem xét mọi mặt. Đức Phật tự nói: “Ta thuyết pháp dẫu cùng tận kiếp số vẫn chẳng tận, huống hồ bọn phàm phu chúng ta há chẳng nên từ nhiều phương diện để lănh hội ư? “Vô định pháp” cũng là chẳng có pháp nhất định để có thể nói, tức là ngộ được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề trong đoạn văn trước đó. Trưởng lăo tự nói: “V́ sao con có thể ngộ pháp vô định, cũng chẳng có pháp nhất định để có thể nói ư? V́ pháp do Như Lai đă nói chính là vô thượng giác, chính là cứu cánh giác. Cứu cánh giác chính là vô niệm”. V́ sao vậy? Kinh nói: Do ĺa niệm vi tế, chiếu kiến tâm tánh, nên gọi là Cứu Cánh Giác (giác ngộ rốt ráo). Có thể thấy Cứu Cánh Giác chính là vô niệm. Vô niệm th́ làm sao có thể giữ lấy cho được? Trong tâm hễ có động (dấy khởi ư niệm) th́ mới có thể giữ lấy. Cái có thể giữ (năng thủ) và cái bị giữ lấy (sở thủ) đều chẳng thể được; v́ thế nói “đều chớ nên giữ lấy”. Đức Thế Tôn muốn chỉ dạy chúng ta tu hành, cho nên Ngài nói gián tiếp, miễn cưỡng mà nói. Nhưng tâm tánh Bát Nhă ĺa tướng ngôn thuyết, trọn chẳng có người nói và pháp được nói. V́ thế bảo là “đều chẳng thể nói”. Nếu chúng ta chấp là thật sự có A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề để có thể chứng, th́ sai mất rồi! Do vậy, bảo là “phi pháp”. Nhưng nếu chấp chẳng có A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề th́ lại sai mất rồi, cho nên nói “phi phi pháp” (chẳng phải là không có pháp).

          Lại nữa, chữ Pháp trong “Như Lai sở thuyết pháp” (pháp do Như Lai đă nói) chính là nói đến hết thảy các pháp, v́ hết thảy các pháp chính là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Như Lai nói các pháp, dạy chúng ta “chớ nên giữ lấy”, nhưng rơ ràng là Ngài lại nói rất nhiều pháp, [tức là] bảo chúng ta “chớ nên giữ lấy phi pháp!” Do đó, bọn chúng ta nghe pháp, đối với pháp và phi pháp, đều chớ nên giữ lấy. V́ vậy biết: Người thuyết pháp cũng là bất đắc dĩ mà nói, đối ứng căn cơ mà nói, nhưng pháp chẳng có nhất định, có thể thấy: Hễ chấp pháp th́ chẳng đúng; nhưng rơ ràng là thuyết pháp! Có thể thấy: Chấp phi pháp cũng chẳng đúng! Hai câu “phi pháp, phi phi pháp” chính là chú giải của “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp). V́ sao chẳng nên giữ lấy pháp? Do chẳng phải là pháp. V́ sao chẳng nên giữ lấy phi pháp? Do chẳng phải là phi pháp. Phi pháp và phi phi pháp lại có thể xoay ngược lại để quán, sẽ nói là phi pháp phi phi pháp do Như Lai đă nói đều chẳng thể giữ lấy, chẳng thể nói.

          Trưởng lăo nói cũng chẳng có pháp nhất định để Như Lai có thể nói. Đặc biệt nêu ra hai chữ Như Lai! Như Lai là Pháp Thân. Pháp Thân vô tướng, há có thể nói? [Điều này] hàm ư: Thân Ứng Hóa có tướng, có thể nói. V́ thế nói là “vô hữu định pháp” (chẳng có pháp nhất định). “Vô hữu định pháp”: Chẳng thể chấp nhất định có pháp để có thể nói, mà cũng chớ nên chấp nhất định không có pháp để có thể nói. Pháp Thân là tánh, tánh là biển đại viên giác vô lượng, vô biên. Nói theo tánh, hết thảy chúng sanh và các Bồ Tát sẽ đều là Nhất Chân pháp giới. V́ thế, đức Thế Tôn thuyết pháp tự tại lưu xuất từ trong biển đại viên giác. Chúng ta muốn chứng biển đại viên giác, trước hết, hăy nên ĺa tâm duyên tướng, sao có thể giữ lấy cho được? Lại nữa, nếu ĺa tướng ngôn thuyết, sao có thể nói cho được? Ĺa tướng ngôn thuyết chính là ngôn ngữ dứt bặt. Ĺa tướng tâm duyên, chính là tâm hạnh xứ diệt. Đă là tâm hạnh xứ diệt, ngôn ngữ dứt bặt, sao có thể phân biệt cho được? V́ thế nói là “phi pháp, phi phi pháp”.

          Trong phần trước đă nói “vô niệm” chính là v́ muốn ĺa tâm phân biệt. V́ thế nói “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp). Đức Thế Tôn chứng đắc Pháp Thân Như Lai, tuy có cái để đắc, nhưng hoàn toàn chẳng có ǵ để đắc. Tuy có cái để nói, nhưng hoàn toàn chẳng có ǵ được nói. Muốn song chiếu th́ trước hết phải song ly. Hai câu hỏi của đức Thế Tôn chứa đựng ư nghĩa này, tức là như nói: “Pháp Thân mà c̣n có cái để đắc ư? Pháp Thân c̣n có cái để nói ư?” Như Lai sở dĩ được gọi là Như Lai là v́ Ngài trước đó đă ĺa phân biệt. Quư vị thuộc địa vị tu nhân, đang tu hành, cũng phải nên trước hết ĺa phân biệt, thấy có ǵ tồn tại để có thể đạt được ư? Có ǵ để nói ư?

 

2.2.2.2.2.1.1.2.4.3. Dẫn hết thảy vô vi để làm chứng

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà? Nhất thiết hiền thánh, giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt.

          ()所以者何一切賢聖皆以無為法而有差別

    (Kinh: V́ lẽ nào vậy? Hết thảy hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt).

 

          (Bổ) “Sở dĩ giả hà?” (v́ lẽ nào vậy?) tức là chỉ ra lư do v́ sao hai bên đều sai! Hết thảy hiền thánh đều dùng pháp Song Phi này, lũ phàm phu chúng ta há nên chẳng dùng! Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh là Hiền. Từ Sơ Địa cho tới Đẳng Giác là Thánh. Như Lai là Cực Thánh. Do vậy nói “hết thảy”. Vô Vi tức là Niết Bàn. Niết Bàn, nói đầy đủ theo âm tiếng Phạn là Bát Niết Bàn (Paranirvāṇa), dịch là Tịch Diệt, hoặc Bất Sanh Bất Diệt. Ngài La Thập dùng danh xưng cũ của Trung Hoa để dịch nghĩa, tức là [dùng danh xưng] Vô Vi. Huyền Trang Tam Tạng đời Đường không tán thành chuyện sử dụng danh xưng cũ ấy. Ngài cho rằng các danh xưng cũ không hoàn toàn tương ứng khít khao với ư nghĩa gốc trong tiếng Phạn. Do vậy, các từ ngữ Ngài dùng để dịch đều là tạo mới để người đọc khỏi hiểu lầm. Vô Vi ở đây chính là Bất Sanh Bất Diệt, khác hẳn với cái Vô Vi “thuần thuận theo tự nhiên, chẳng tạo tác” của Lăo Tử. Cố nhiên là nên dùng từ ngữ theo cách dịch mới, nhưng ngài Huyền Trang v́ [khiến cho người đọc] chẳng đến nỗi hiểu lầm mà tạo quá nhiều danh từ mới, chúng ta cũng chẳng tán thành.

          Vô Vi chỉ cái tâm thanh tịnh nơi tự tánh, vốn sẵn trọn đủ, chẳng có tướng tạo tác. Vô Tu Vô Chứng trong kinh Phật là nói tới điều này. Chỉ cần diệt hết cái tâm sanh diệt, sự tịch diệt ấy liền hiện tiền. C̣n như để thực hiện tu hành th́ chính là “phi pháp, phi phi pháp, chẳng giữ lấy hai bên” trong phần trước. Ắt phải chẳng giữ lấy hai bên để trừ sạch phân biệt và vọng tưởng th́ mới được. V́ thế, thành hiền, thành thánh, đều dùng pháp này! Hiền và thánh có sai biệt to lớn, nhưng so với Như Lai th́ là nhân địa (địa vị tu nhân), so với phàm phu th́ là quả vị (địa vị đă chứng quả). Lại mỗi địa vị sau so với địa vị trước th́ đều là quả, các địa vị trước so với các địa vị sau th́ đều là nhân. Do vậy nói “hết thảy”. Hiền thánh do chứng lấy pháp vô vi này, nên nói “giai dĩ” (đều do). Như Lai cũng thế. Như Lai hễ nói ra điều ǵ, đều nương vào Vô Vi do Ngài tự chứng, chẳng thể nói đó là phi pháp. Nhưng hiền thánh có sai biệt, tức địa vị cạn hay sâu khác nhau; do vậy biết rằng: Như Lai hễ nói ra điều ǵ đều tùy thuận cơ nghi, là phương tiện, chẳng chân thật, chẳng thể bảo đó chẳng phải là phi pháp.

          Pháp do đức Thế Tôn đă nói không pháp nào cạn mà chẳng sâu, không pháp sâu nào mà chẳng cạn. V́ thế, dạy người tu tập th́ bước đầu là phải dụng công nơi “chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp”. Tới khi cảm quả, công đă đạt tới mức cực sâu, vẫn là pháp này! Chúng ta hăy nên vận dụng nơi khởi tâm động niệm, trước là quán vô niệm. Có thể sao cho khi mới vừa dấy niệm liền biết ngay, lập tức phản quán, th́ sẽ có thể chiếu trụ, niệm liền chẳng c̣n. Nhưng chuyện này chẳng do dụng công lâu ngày, sẽ chẳng thể được! V́ thế, bước đầu cần phải quan sát, quan sát th́ chẳng thể không suy nghĩ sâu xa. Suy nghĩ sâu xa bèn quán khá nhiều ư niệm ấy từ nơi đâu mà dấy lên? Hễ quán, sẽ thấy [niệm ấy] khởi lên từ chỗ không có ǵ để khởi, nó vốn hư vọng. Niệm lại dấy lên, lại quán. Dụng công tới lui nhiều lượt, sẽ liền có thể chiếu trụ, liền có thể vô niệm. Pháp sư Đạt Thiên phán định khoa này là “sanh tín”, hết sức xác đáng! Bởi trong kinh văn có nói “có thể sanh tín tâm, coi đó là thật”“một niệm sanh tịnh tín”, rơ ràng là nói về Tín. Như Lai nương vào pháp ấy mà thành Như Lai, hết thảy hiền thánh đều nương vào pháp ấy mà thành tựu. Vậy th́ chúng ta chẳng sanh tín tâm, chẳng coi đó là thật như thế, sẽ chẳng thể được!

 

2.2.2.2.2.1.1.3. Giảo thắng (so sánh sự thù thắng)

2.2.2.2.2.1.1.3.1. Bố thí nhiều phước

2.2.2.2.1.1.3.1.1. Nêu ra sự để gạn hỏi

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Nhược nhân măn tam thiên đại thiên thế giới thất bảo dĩ dụng bố thí, thị nhân sở đắc phước đức, ninh vi đa phủ?

          ()須菩提於意云何若人滿三千大千世界七寶以用布施是人所得福德寧為多不

    (Kinh: Này Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy đạt được phước đức, há có nhiều chăng?)

 

          (Bổ) Giảo () là tỷ giảo (比校, so sánh), Thắng () là thù thắng, tức là đối với phước đức, bèn dùng trí huệ để so sánh. Có người nói: “Trong kinh này, đức Phật dạy mọi người chẳng trụ tướng, cớ sao chỗ nào cũng so sánh phước đức vậy?” Trong ấy, có bốn loại ư nghĩa trọng yếu:

          1) Muốn cho mọi người hiểu rơ “phước và huệ phải nên song tu! Chuyên tu huệ, chẳng tu phước, sẽ không thể. Như giảng kinh, thuyết pháp vốn v́ độ sanh, nhưng chúng sanh một mực chẳng thích nghe quư vị nói, tức là do [quư vị] thiếu khuyết phước đức. Do vậy, phước đức hết sức khẩn yếu. Phước huệ song tu tức là muốn cho mọi người bi trí trọn đủ. Trí tức huệ, bi tức phước. Chư Phật Như Lai đều dùng tâm đại bi làm Thể. Do chúng sanh mà dấy ḷng đại bi; v́ thế, Đại Thừa Phật pháp được kiến lập nơi chúng sanh. Xem phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, sẽ biết nguyện của ngài Phổ Hiền do ḷng đại bi phát khởi. Trong ấy có đoạn nói: “Hoặc phục hữu nhân, dĩ thâm tín tâm, ư thử đại nguyện, thọ tŕ, độc tụng, năi chí thư tả nhất tứ cú kệ, tốc năng diệt trừ Ngũ Vô Gián nghiệp” (Nếu lại có người, dùng tâm tin sâu, thọ tŕ, đọc tụng đại nguyện này, cho đến biên chép một bài kệ bốn câu, sẽ có thể nhanh chóng diệt trừ nghiệp Ngũ Vô Gián). Lại nói “tốc đắc thành tựu vi diệu sắc thân, cụ tam thập nhị đại trượng phu tướng” (lại được mau chóng thành tựu sắc thân vi diệu, trọn đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu). Do vậy biết: Nếu chúng sanh có thể viên măn công đức của Phổ Hiền như thế, sẽ có thể diệt tội, đắc phước, nhưng tu hạnh nguyện Phổ Hiền th́ cần phải phát tâm đại bi trước đă. V́ thế, Bi chính là phước. Phước đức được nói trong kinh này đều do đại bi mà phát khởi, hoàn toàn chẳng nhằm dạy mọi người cầu phước báo nhân thiên vậy!

          2) Phước đức trọng yếu như thế, hăy nên phát tâm đại bi. Nhưng nếu chẳng có trí huệ, sẽ chẳng thể hành Bồ Tát đạo. Do vậy, đại trí càng trọng yếu. Cổ nhân nói: “Phước huệ nhị luân” (phước và huệ như hai bánh xe). Có thể thấy: Như Lai ắt có hai luân th́ mới có thể hành hóa, nhưng đối với sức của hai bánh xe giống như tay phải và tay trái, coi trọng bên phải, phước đức cố nhiên là quan trọng, nhưng trí huệ càng quan trọng hơn. V́ thế, dùng bảy báu đầy ắp tam thiên đại thiên để bố thí chẳng bằng thọ tŕ bốn câu kệ, v́ người khác nói!

          3) Nhờ vào sự so sánh thù thắng này để thâu kết các phần kinh văn trước đó. Đức Phật thuyết pháp tuy là một mực nói, nhưng trong ấy, có nhiều chỗ thâu kết lại. Chỗ so sánh thù thắng trong kinh này chính là chỗ chương cú thâu kết vậy.

          4) Kinh này nhiều lượt so sánh sự thù thắng, mỗi lượt sau ắt càng thù thắng hơn. Càng so sánh, càng thù thắng! Hoàn toàn chẳng phải là kinh văn trong phần sau sâu hơn phần trước mà có sai biệt vời vợi như thế! Đấy chính là xét theo phía chúng sanh mà nói, chỉ ra: Công hạnh càng thù thắng, phước đức càng nhiều!

          “Nhược” () là từ ngữ giả thiết để hỏi, không bắt buộc phải thật sự có chuyện ấy, hoặc có người ấy. Theo kinh, dùng bảy báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí chính là chuyện trong lúc tu nhân của Đại Phạm Thiên Vương đă từng bố thí như vậy. Chẳng phải là một đời, mà là nhiều đời nhiều kiếp bố thí, tích tụ lại mà có nhiều như thế. Đức Phật nói “nếu có người” như thế, tức là có thể biết: Trong lúc ấy, hoàn toàn không có người như vậy!

          Kinh Phật nói núi to nhất trên thế giới là núi Tu Di, c̣n gọi là Tu Di Lâu (Sumeru) dịch nghĩa là Diệu Cao (妙高). [Phần đáy của] núi này ngập sâu trong biển tới tám vạn do-tuần, cao vượt khỏi mặt biển tám vạn do-tuần (một do-tuần (yojanā) ứng với bốn mươi dặm[9] Tàu), cho nên cực cao. Núi này chẳng do đất, đá hợp thành, mà do vàng, bạc, lưu ly, pha lê, bốn thứ báu hợp thành, nên nói là Diệu. Vây quanh núi này có biển cả, gọi là Hương Thủy Hải (biển nước thơm). Chung quanh lại có biển, có núi, tổng cộng bảy tầng, tức là bảy biển thơm, bảy núi vàng. Phía ngoài lại có đại dương, gọi là Hàm Thủy Hải (biển nước mặn). Vây quanh phía ngoài [biển nước mặn] có rặng núi lớn, tên là Đại Thiết Vi Sơn (Cakravāda-parvata). Ngoài núi, cũng có bốn đại châu. Một châu trong trong bốn đại châu ấy chính là Nam Thiệm Bộ Châu (Jambudvīpa) mà chúng ta đang sống. Người đời coi bốn châu trên địa cầu là bốn châu trong kinh Phật, lầm mất rồi! Tứ đại châu ấy c̣n gọi là “tứ thiên hạ” ở ngang lưng núi Tu Di.

          Dục Thiên gồm sáu tầng, gần với loài người nhất là Tứ Thiên Vương Thiên (Cāturmahārājakāyika). Cung điện của họ ở lưng chừng núi Tu Di. Tứ Thiên Vương thống lănh nhân đạo và quỷ đạo. Tính toán, quan sát sự thiện ác trong nhân gian là trách nhiệm của họ. Trên đó là Đao Lợi Thiên (Trāyastriṃśa). Cơi trời này cũng chẳng ở trong hư không, mà ở trên đỉnh núi Tu Di. Ngọc Hoàng trong Đạo Giáo, Hạo Thiên Thượng Đế (昊天上帝) của Nho giáo chính là vị trời [chúa tể tầng trời] này. Từ Tứ Thiên Vương cho đến sáu đường, đều quy vào quyền cai quản của vị trời này. Trên đó, lại có bốn tầng trời, đều ở trong hư không. Trên Dục Giới (Kāmadhātu) là Sắc Giới (Rūpadhātu), gồm mười tám tầng trời, chia thành Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Thăng lên cơi trời này, không chỉ là phước đức, c̣n cần phải có định lực. Tuy họ đă không c̣n dâm dục, nhưng vẫn có sắc chất. Do vậy, gọi là Sắc Giới. Thăng lên Sơ Thiền, chẳng cần tu Định của Phật môn, dẫu là ngoại đạo Định cũng có thể thăng lên cơi trời này, như Đại La Thiên[10] trong Đạo Giáo cũng là Sơ Thiền. Tu định của Phật giáo mà chưa thoát khỏi tam giới cũng gởi thân nơi tầng trời này. V́ thế, gọi chung là Thiền. Sơ Thiền Đại Phạm Thiên Vương quyền uy cao hơn Thích Đề Hoàn Nhân. Thích Đề Hoàn Nhân cai quản một tứ thiên hạ, Đại Phạm Vương cai quản tam thiên đại thiên thế giới.

          Thế giới Sa Bà do Phật Thích Ca giáo hóa cũng to dường ấy. Thế giới do mỗi vị Phật cai quản cũng đều như thế, bất quá có tịnh hay uế bất đồng. Ngay cả thế giới Cực Lạc cũng to lớn như thế, nhưng đất trong cơi ấy bằng phẳng, do bảy báu hợp thành, khác biệt vời vợi so với cơi này do ḷng người hiểm ác cảm vời, [mặt đất] gập ghềnh, chẳng bằng phẳng! Chúng sanh tu tập phước đức to lớn, sẽ cảm bảy báu nhiều. Tu phước đức ít ỏi, cảm vời bảy báu ẩn khuất. Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mă năo, xích châu đều chẳng phải do sức người tạo tác như trong hiện thời. Người ấy dùng bảy báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí chúng sanh, cũng chẳng phải là sức người làm được.

          Chữ Ninh () cũng giống như nói “khả vị” (可謂, đáng gọi là). Lời hỏi của đức Thế Tôn tột bậc thiện xảo. Không chỉ khảo nghiệm ngài Tu Bồ Đề, mà cũng là thăm ḍ chúng ta, v́ sợ chúng ta hiểu lầm ư nghĩa “chẳng trụ tướng” trong phần kinh văn trước đó, ngỡ rằng chẳng trụ tướng th́ cần ǵ phước đức! Cần phải biết: Người ấy dùng bảy báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, tức là cứu độ chúng sanh. Do vậy, chỉ nên chẳng trụ tướng, chớ nên chẳng hành bố thí. Nếu không, sẽ chẳng phải là tâm đại bi.

 

2.2.2.1.2.1.1.3.1.2. Giải thích nguyên do

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề ngôn: - Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thị phước đức, tức phi phước đức tánh. Thị cố, Như Lai thuyết phước đức đa.

          ()須菩提言甚多世尊何以故是福德即非福德性是故如來說福德

    (Kinh: Ngài Tu Bồ Đề thưa: - Bạch Thế Tôn, rất nhiều! V́ sao vậy? Phước đức ấy chẳng phải là phước đức tánh. Do đó, Như Lai nói là phước đức nhiều).

 

          (Bổ) Ư nghĩa trong lời đáp này sâu xa. Ngài Tu Bồ Đề hiểu rơ ư của đức Thế Tôn, nên nói “rất nhiều”. Lại sợ người khác chẳng liễu giải: Phần trước đă nói rành rành “chẳng trụ tướng”, ở đây bỗng nói “rất nhiều”, so lường cặn kẽ, há chẳng phải là trụ tướng ư? Từ chữ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, chính là Ngài tự giải thích nguyên do v́ sao đáp “rất nhiều”. Trong kinh này, các câu có chữ “thị danh” (được gọi là) hoặc “tức phi” (tức chẳng phải) khá nhiều! Chỗ này là lần đầu tiên trông thấy; v́ thế, ngữ ư khá cặn kẽ. Ngài đặc biệt nêu ra chữ Tánh, khiến cho mọi người liễu giải: Từ đây về sau, hễ nói “tức phi” (tức chẳng phải) th́ đều là nói về tánh. “Thị cố” (do vậy) giống như nói “thị danh” (th́ gọi là), khiến cho mọi người liễu giải: Từ đây trở đi, hễ nói “thị danh” tức là đều nói về tướng. Nói theo tướng, “danh” là tướng danh tự, “ngôn” là tướng ngôn thuyết. Phàm mọi vật lớn, bé, dài, ngắn, cao, thấp, xa, gần, trong, ngoài, hễ có đối đăi th́ đều là tướng. Tướng có biến động, là hư vọng. Tánh th́ bất động, là không tịch. Do vậy, nói theo tánh, hết thảy đều chẳng thể nói.

          Ngài Tu Bồ Đề có ư nói: Nếu là tướng phước đức th́ có thể nói là nhiều, tức đó chẳng phải là tánh của phước đức. Nếu là tánh của phước đức, sẽ là rỗng rang, tịch tĩnh, tức là hai chữ “phước đức” cũng chẳng áp dụng được, trong ấy há có nhiều hay ít để có thể nói? Từ đây trở đi, hễ gặp chữ “tức phi”“thị danh” sẽ đều hiểu như thế. Ở đây, đặc biệt thêm hai chữ Như Lai, th́ Như Lai là danh xưng của tánh thể. Nói “phước đức nhiều” là nói theo tướng. V́ sao nêu ra Như Lai? Trong ấy chứa đựng ư nghĩa trọng yếu! Bởi lẽ, tánh là trong, tướng là ngoài. Tánh là gốc, tướng là ngọn. Có trong th́ mới có ngoài, có gốc th́ mới có ngọn. Ư nói tánh của Như Lai th́ mới có phước đức để có thể nói. Nếu chẳng có tánh, há có phước đức ǵ để có thể nói? Phước đức ấy chẳng phải là phước đức tánh. Nói theo bề ngoài th́ là phước đức; thật ra, nhằm chỉ dạy chúng ta chớ nên chấp tướng. Do vậy, Như Lai nói “phước đức nhiều”, tức là nói có cái tánh ấy th́ mới có cái tướng ấy, khiến cho chúng ta dung hội tướng về tánh.

 

2.2.2.1.2.1.1.3.2. Sự thù thắng do tin kinh này

 

          (Kinh) Nhược phục hữu nhân, ư thử kinh trung, thọ tŕ năi chí tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết, kỳ phước thắng bỉ.

          ()若復有人於此經中受持乃至四句偈等為他人其福勝彼

          (Kinh: Nếu lại có người, đối với kinh này, thọ tŕ thậm chí một bài kệ bốn câu v.v…, v́ người khác nói, phước ấy hơn phước trên đây).

         

          (Bổ) Khoa này là lời đức Phật, đáng lẽ phải có từ ngữ “Phật ngôn”, hoặc “Tu Bồ Đề”, nhưng nay lược đi. Chữ Phục () trong “nhược phục” (若復) có nghĩa là Lại. Người đọc sẽ có thể hiểu lầm, cho là “đọc tụng kinh Kim Cang sẽ có phước hơn hẳn Đại Phạm Thiên Vương”. Thật ra, phải nên chú ư hai chữ “thọ tŕ”. Người ấy có thể thọ tŕ kinh này, lại có thể bố thí, th́ mới hơn hẳn thiên vương được! “Thọ” () là tiếp nhận, tức là có thể thật sự lănh hội ư nghĩa của kinh, ḥng được thọ dụng, so với kẻ chỉ hiểu văn tự bèn cao hơn một tầng. “Tŕ” () là khăng khăng vâng giữ, chẳng lơi lỏng khắc nào, so với Thọ lại cao hơn một tầng! Đă thọ tŕ th́ không có ai chẳng đọc tụng. V́ thế, chỉ dùng hai chữ Thọ Tŕ. Năi Chí (乃至) là từ ngữ để tỉnh lược, tức là [bao hàm các ư] thọ tŕ toàn bộ, hoặc thọ tŕ một phần, cho đến tối thiểu là bốn câu. V́ thế, đặt chữ Đẳng (v.v…).

          Kệ (): Trong tự điển, chữ này vốn có âm đọc là Kiệt (), cổ đức sửa thành đọc theo Khứ Thanh (tức là đọc thành Kệ), cùng một kiểu với cách đọc chữ Giải[11]. Đây vốn là một thể loại thơ của Ấn Độ, do vần điệu khó dịch, nên khi phiên dịch, sẽ là có vần hoặc không vần, đặc biệt đổi thành danh xưng “kệ tụng” (偈誦). Nguyên văn trong tiếng Ấn Độ, cứ bốn câu là một chương. “Tứ cú kệ” (một bài kệ bốn câu) không chỉ nhất định bốn câu nào trong kinh, bất cứ bốn câu nào cũng đều có thể gọi là một kệ. Trên đây là tự lợi; kế đó là “vị tha nhân thuyết” (v́ người khác nói) tức là lợi tha (tạo lợi ích cho người khác). Chữ này chỉ phước do tŕ tụng, diễn nói. “Thắng bỉ” tức là hơn hẳn người trước đó; kẻ kia chỉ hành bố thí, lại c̣n là tài thí, là tướng phước đức. Người này có thể thọ tŕ để tu huệ, lại có thể dùng pháp thí để tu phước. Phước huệ song tu, bi trí đầy đủ, chính là tánh phước đức. Do đó, vượt trội người kia.

 

2.2.2.1.2.1.1.3.3. Giải thích về công năng của kinh để kết lại

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhất thiết chư Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai tùng thử kinh xuất.

          ()何以故須菩提一切諸佛及諸佛阿耨多羅三藐三菩提法皆從此經出

          (Kinh: V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra).

 

          (Bổ) Trong kinh Đại Bát Nhă, đức Phật đă nói, bất luận hết thảy các pháp đều được thâu nhiếp trọn hết bởi Bát Nhă. V́ thế, trong các kinh, Bát Nhă trọng yếu nhất, mà Kim Cang càng là trọng yếu nhất của Bát Nhă. Phàm những nghĩa trọng yếu trong kinh Đại Bát Nhă, kinh này đều có đủ. Có thể thấy là đọc kinh này chẳng khác đọc kinh Đại Bát Nhă, lại c̣n chẳng khác đọc mười hai bộ loại kinh của Tam Tạng! Pháp được kinh này nói chính là pháp Vô Thượng Chánh Đẳng. V́ thế nói: Hết thảy pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra. “Hết thảy chư Phật” chính là các vị có thể chứng. A Nậu Bồ Đề là pháp được chứng. Chiếu theo đó mà xem, pháp môn thành Phật ở ngay trong kinh này, mà thành Phật cũng do kinh này. Người ấy thọ tŕ pháp môn thành Phật này, bố thí pháp môn thành Phật này; do đó, phước đức cùng tận kiếp số vẫn nói chẳng thể hết được, há sự bố thí bảy báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới có thể sánh nghĩ nổi ư? Đây là lần so sánh thứ nhất trong kinh này, nêu lên chuyện xưa của Đại Phạm Thiên Vương, đúng là đối ứng khít khao! Bởi lẽ, đằng kia là sự bố thí để thành Đại Phạm Thiên Vương, c̣n đằng này là sự bố thí để thành Phật! Đức Phật cũng cai quản, thống lănh tam thiên đại thiên thế giới. Đem phước của ông ta (Đại Phạm Thiên Vương) so với Phật khá thích hợp! Nhưng Đại Phạm Thiên Vương vẫn là phàm phu, Phật là thánh nhân, là giáo chủ, sao ông ta có thể sánh bằng? Huống hồ Đại Phạm Thiên Vương vẫn chẳng thể tránh khỏi đại tam tai ư?

          Hăy c̣n một nghĩa trọng yếu nữa! Kinh này chỗ nào cũng dạy “chẳng trụ tướng” ḥng muốn cho người ta chứng tánh. Có thể thấy những điều được nói trong kinh này đều là tánh. “Giai tùng thử kinh xuất” (Đều từ kinh này mà ra): Thật sự chẳng khác ǵ nói kinh này từ tánh thể mà ra. Do từ tánh thể mà ra, cho nên dạy mọi người chớ nên trụ tướng! Căn bệnh của phàm nhân chính là chỗ nào cũng vướng mắc! Chẳng vướng cái này, liền chấp cái kia. Kinh này nơi nơi dạy mọi người kiến tánh. Nhưng chữ Tánh trong kinh, trừ chữ Tánh trong “tức phi phước đức tánh” (tức chẳng phải tánh phước đức ra), chẳng thấy ở đâu khác! Đó là v́ muốn cho mọi người hăy khéo tự thấu hiểu: Ngay cả chữ Tánh cũng chớ nên chấp trước! Hết thảy chư Phật đều từ kinh này sanh ra, lại là chỉ điểm chúng ta học Phật th́ phải từ kinh này mà tiến nhập.

          Khoa “so sánh sự thù thắng” này thích đáng nhất để kết lại khoa “chỉ dạy vô trụ để sanh tín”, bởi tín tâm chính là cửa ngơ để nhập đạo.

 

2.2.2.2.2.1.1.3.4. Kết lại, quy vào ĺa tướng

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Sở vị Phật, pháp giả, tức phi Phật, pháp.

          ()須菩提所謂佛法者即非佛

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Nói là Phật, pháp, tức chẳng phải là Phật, pháp).

 

          (Bổ) Đầu đời Thanh, có người ngay sau câu “tức phi Phật pháp”, thêm vào một câu “thị danh Phật pháp”. Đó là sai lầm to lớn! Chẳng dùng chữ “thị danh”, chỉ nói “tức phi” là v́ có thâm ư, sao lại hư vọng thêm vào? Chỗ này chẳng thêm câu “thị danh” v́ là chú giải cho đoạn văn trước đó. Nếu thêm câu ấy, văn thể đă chẳng thích hợp, mà ư nghĩa cũng chẳng đúng. Phàm thêm một câu “thị danh” tức là mở ra đoạn văn kế tiếp. [Trong câu] “sở vị Phật, pháp” ở đây, chữ Phật chỉ hết thảy chư Phật trong đoạn kinh văn trước đó, Pháp nhằm chỉ pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật trong đoạn văn trước đó. Ư đức Phật là “hết thảy chư Phật và pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật” như ta (Phật Thích Ca) đă nói trong phần trước chính là Phật và Pháp nói theo danh tướng, tức chẳng phải là Phật và Pháp nói theo tánh. Kinh này dạy rơ ràng mọi người đừng nên trụ tướng, tức là đối với hai câu “hết thảy chư Phật” trên đây cũng đừng nên chấp tướng. Nếu chấp tướng, sẽ chẳng phải là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật. Kết thúc như thế th́ ư nghĩa “chẳng trụ tướng để hành bố thí, chẳng giữ lấy pháp, chẳng giữ lấy phi pháp” trong phần trước đều được viên măn (dưới đây là đoạn văn do chính Giang cư sĩ viết).

          Khoa trên dạy “vô trụ để sanh tín”, vừa mở đầu liền dạy rộng độ chúng sanh thành Phật (nhập Vô Dư Niết Bàn chính là thành Phật), tức là khai thị chúng ta đừng nên trụ trong các tướng ta, người v.v… Lại nói: “Thật vô chúng sanh đắc diệt độ giả” (thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ), tức là đừng nên trụ vào pháp tướng. Lại nói: “Ư nhất thiết pháp vô trụ nhi hành bố thí…” (Hăy nên chẳng trụ trong hết thảy các pháp mà hành bố thí…), tức là đừng nên trụ vào tướng phi pháp. Do vậy, dùng bốn chữ “bất trụ ư tướng” (chẳng trụ vào tướng) để tổng kết. Chẳng trụ vào tướng chính là sự diễn tả chân thật về vô trụ. Sở dĩ hăy nên vô trụ là để hàng phục vọng tâm (vọng tâm tức là thức; đó cũng là phân biệt). Vọng tâm chẳng phải chi khác, phân biệt, chấp tướng đó thôi! Nhưng trong lời hỏi, trước là trụ, sau là hàng phục; trong lời đáp th́ hàng phục trước, sau là trụ. Khi đáp về trụ, bèn nói “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu).

          Lại nói đản ưng như sở giáo trụ” (hăy chỉ nên trụ đúng như lời dạy), mà điều được dạy chính là vô trụ, há không phải là “chẳng nên trụ vào đâu” đó ư? Ở đây lại dạy chỉ cần trừ vọng, đừng nên kiếm chân! Bởi lẽ, trừ vọng th́ chân tự hiện. Hơn nữa, tánh Chân Như như như b́nh đẳng. Nếu trụ nơi chân, sẽ thành chấp sai khác. Hễ chấp bèn thành vọng, sao có chân cho được? “Dị” (sai khác) chẳng phải là b́nh đẳng, sao có Như cho được? V́ thế, chỉ nên dùng vô trụ để hàng phục vọng, đó chính là chánh trụ, há có thể cầu chỗ trụ nào khác! Vọng trừ một phần, chân sẽ hiện một phần, cần ǵ phải t́m chân nữa ư? V́ thế bèn nói tiếp: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng” (phàm tất cả các tướng đều là hư vọng). Đấy là nói rơ cái lỗi do trụ vào tướng. Nếu trụ vào tướng, đó là đuổi theo vọng. Đấy là nguyên do nói hàng phục trước hết. Lại nói: “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, bèn thấy Như Lai). Đấy là nói rơ lợi ích do chẳng trụ tướng. Nếu có thể chẳng trụ vào tướng pháp và tướng phi pháp, sẽ thấy chân tánh. Đấy là nguyên do v́ sao chỉ nói hàng phục, chẳng nói trụ, nhưng hàng phục chính là chánh trụ. Khai thị như thế, đích đáng, hiển nhiên. V́ thế, kinh văn trong các phần trên đều quy vào một tiểu khoa; do vậy, đặt tên gọi cho khoa này như vậy để chỉ rơ.

          Sở dĩ chỉ rơ như thế để khiến cho mọi người sanh ḷng tin. Do vậy, [đặt khoa này] tiếp ngay sanh tiểu khoa “sanh tín”. Trong ấy, chỉ coi tŕ giới, tu phước là đă có thể sanh tín, nghĩa thú càng tinh vi, sâu sắc. Nói đại lược có ba điều:

          1) Bát Nhă được phương này dịch là Chánh Trí Huệ, mà Huệ sanh từ Định, Định do Giới thành. Nay muốn khai chánh trí này, ắt phải nên tŕ giới. Nếu không, chánh trí chẳng sanh, đâm ra trở thành cuồng huệ, đi vào đường tà, nguy hiểm cùng cực! Phước huệ nhị luân chẳng thể thiếu một. Hai luân cùng vận chuyển mới thành Lưỡng Túc Tôn. Nếu huệ nhiều, phước ít, sẽ khuyết thiếu đại bi, chẳng thể nhiếp hóa chúng sanh. V́ thế, tu chánh trí Bát Nhă, chẳng thể ĺa các Độ như bố thí v.v… để riêng tu. Do vậy, kinh vừa mở đầu liền nói “rộng độ chúng sanh”, lại nói “chẳng trụ vào pháp để hành bố thí”. Bởi lẽ, ĺa phước tu huệ, đă vô duyên với chúng sanh, mà tướng hảo cũng chẳng đầy đủ! Muốn hóa độ chúng sanh, chúng sanh cũng chẳng nghe theo lời giáo hóa! Chúng ta ắt phải nên biết điều này!

          2) Tŕ giới chính là ít ham muốn, biết đủ. Tu phước, ắt tin sâu nhân quả. Nay tu Quán Chiếu Bát Nhă, nếu tham dục nhiều, sao có thể ĺa tướng? Nếu chẳng hiểu nhân quả, lại dễ dàng đi chệch vào tướng đoạn diệt! Kinh dạy: “Tŕ giới, tu phước giả năng sanh tín tâm” (người tŕ giới, tu phước có thể sanh tín tâm), tức là dạy chúng ta hăy nên tŕ giới, tu phước, th́ sẽ có thể nhập môn Bát Nhă (do Tín là cửa nẻo để nhập đạo). Ư răn nhắc này sâu đậm lắm! Chúng ta càng phải nên biết điều này. Nói chung, tŕ giới, tu phước đă chẳng phải là không có pháp tướng. V́ thế, người nương theo kinh để quán chiếu Nhân Không và Pháp Không, quyết chẳng đến nỗi đâm quàng ngơ rẽ! Nếu có thể một niệm tương ứng, sẽ khế nhập lư Tam Không. Đó là không có các tướng ta, tướng người, chẳng có pháp tướng, mà cũng chẳng có tướng phi pháp.

          Nói là Vô, hoàn toàn chẳng phải là cái Không trơ trơ, mà có nghĩa là “chẳng giữ lấy tướng”. Hai chữ “bất thủ” (chẳng giữ lấy) lại chính là lời diễn tả chân thật về “chẳng trụ tướng”. Nhưng muốn chẳng giữ lấy tướng, phải nên chẳng giữ lấy pháp, chẳng giữ lấy phi pháp. Hễ giữ lấy pháp, sẽ thành pháp tướng, tức là chấp Hữu mất rồi. Giữ lấy phi pháp, liền thành tướng phi pháp, lại là chấp Không. Không và Hữu đều chẳng chấp, sẽ là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa. Đó là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Ví như thí dụ về thuyền, bè, khi vượt sông th́ cậy vào pháp này; đă vượt qua, vẫn nên xả. Do vậy, tuy đă thành Phật, tuy giống như Phật thuyết pháp, độ sanh, vẫn là đắc mà chẳng có ǵ để đắc, nói mà chẳng có ǵ để nói. Chẳng thể chấp chặt có pháp, hoặc chấp chặt là chẳng có pháp. Do vậy nói: “Vô hữu định pháp” (chẳng có pháp nhất định). Bốn chữ ấy lại chính là lời diễn tả chân thật của “chẳng giữ lấy pháp, chẳng giữ lấy phi pháp”, ḥng nói rơ do nó không nhất định. Do vậy, chớ nên giữ lấy. Nói “chẳng giữ lấy” chính là “chẳng chấp”. Nói chung, pháp do đức Phật đă nói vốn đều chẳng thể giữ lấy, đều chẳng thể nói. Cần phải là lúc tâm hạnh xứ diệt, ngôn ngữ dứt bặt th́ khế nhập. V́ thế, giữ lấy pháp, thuyết pháp, hay giữ lấy phi pháp, thuyết phi pháp, đều sai cả! Đó được gọi là Vô Vi Niết Bàn, mong thành hiền, thành thánh, không ǵ chẳng do đó. Hiểu nghĩa chân thật này, sẽ chính là thật tín. Một niệm tương ứng liền đạt được vô lượng phước đức. Do một niệm tương ứng chính là cội gốc của tịnh niệm tiếp nối vậy.

          Phước đức vô lượng là như thế nào? Lại dùng một tiểu khoa “so sánh sự thù thắng” này để nói rơ nguyên cớ nói “chư Phật và Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra”. Đấy cũng là nói rơ “hết thảy chư Phật, hết thảy Phật pháp, đều chẳng ngoài lư vô trụ trong kinh này”. Nếu thật sự tin lư này, nhất niệm thanh tịnh, sẽ liền có thể đạt thẳng tới A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, há chẳng phải là phước đức vô lượng ư? Nhưng chẳng thể do nghe lời này bèn hướng theo văn tự để cầu, cần phải nương theo lư được nói trong kinh để phản chiếu tự tánh, tự tánh không tịch, trọn chẳng có chữ Phật, chữ Pháp. Nếu có thể quán chiếu lâu ngày, chứng nhập tánh không tịch, sẽ thành tựu Vô Thượng Bồ Đề; đó là thành Phật. Phật tuy đă thành Phật, trọn chẳng thấy chính ḿnh có chút pháp nào để có thể đắc. Chẳng thấy có chút pháp nào để đắc là chẳng thấy chính ḿnh đă thành Phật, nên nói “cái được gọi là Phật, pháp, tức chẳng phải là Phật, pháp”. Thấu triệt từ đầu đến đuôi, có thể nói xuyên suốt là vô trụ mà thôi! “Nhân bao trùm biển quả, quả thấu tột nguồn nhân” là như thế đó.

          Trên đây là ư chỉ trọng yếu của khoa thứ nhất, khai thị vô trụ, cũng đă tường tận rồi. Đức Thế Tôn đại từ đại bi, muốn cho ai nấy đại khai viên giải, lại đem nghĩa thú vô trụ nêu ra từng tầng để xiển minh, ngơ hầu đại chúng thấu hiểu, khai huệ, tín căn thành tựu, công tu cũng nhờ đó mà tăng trưởng, những mong do quán hạnh mà tương tự, rồi phần chứng, ḥng đạt đến cứu cánh vậy.

Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển hai hết

 

 

 



[1] Đản Không: Tiểu Thừa chỉ do phân tích các pháp, chỉ thấy Không, mà chẳng thấy Bất Không, nên gọi là Đản Không (chỉ có Không).

[2] Ác thủ không (Dur-grhītā śūnyat), c̣n gọi là Tịch Thủ Không, tương phản với Thiện Thủ Không, tức là do chấp Không lệch lạc, đến nỗi phủ định đạo lư nhân quả, chẳng biết lư duyên sanh vô tánh, hiểu sai lệch nghĩa Không, chấp trước kiến giải đoạn Không, phủ định Chân Tục nhị đế.

[3] Tông quốc sư (675-775) là ngài Nam Dương Huệ Trung, thụy hiệu Đại Chứng Thiền Sư, là một vị danh tăng đời Đường. Sư tinh thông kinh luật, là môn đệ nổi tiếng của Lục Tổ Huệ Năng. Sư mộ Phật từ bé. Lúc mười sáu tuổi, do nghe tiếng Lục Tổ, Sư t́m đến Tào Khê yết kiến, được Tổ truyền tâm ấn. Sau đó, Sư c̣n tham học với các vị cao tăng tại Tứ Minh, Thiên Mục, Vũ Đang và La Phù. Năm Hiển Thánh thứ bảy (690) đời Đường Trung Tông, Sư ẩn cư tại hang Đảng Tử núi Bạch Nhai thuộc Chiết Xuyên để tu luyện hơn mười bốn năm. Có lần giặc xâm nhập Thiền cốc, dùng đao đâm vào hông Sư, Sư vẫn tĩnh lặng tọa Thiền. Giặc khâm phục rút lui. Cùng với ngài Hà Trạch Thần Hội, Sư hoằng dương thiền phong của Lục Tổ tại miền Bắc Trung Hoa. Ngài được ba đời vua Huyền Tông, Túc Tông và Đại Tông tôn kính, phong làm quốc sư.

[4] Ngư Triều Ân là hoạn quan đời Đường, tham dự triều chánh từ đời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) cho đến đời Đường Đại Tông. Khi An Lộc Sơn chiếm kinh đô Trường An, Ngư Triều Ân theo thái tử Lư Hanh chạy về Linh Vũ. Sau đó, Lư Hanh được triều thần tôn làm vua, trở thành Đường Túc Tông. Do giảo hoạt, khéo lấy ḷng, ông ta được vua tin tưởng giao làm giám quân cho tướng Lư Quang Bật. Ông ta ghen ghét, nên dâng sớ hăm hại danh tướng Quách Tử Nghi và Lư Quang Bật. Khi quân Thổ Phiên đánh vào biên cảnh nhà Đường, do có công hộ giá, Ngư Triều Ân được Đường Đại Tông hết sức tin tưởng, cho nắm đại quyền. Tuy không phải là thừa tướng, hắn thường lấn quyền thừa tướng Nguyên Tái và các vị trọng thần khác. Hắn kiếm cớ vu tội cho người giàu để chiếm đoạt tài sản, ghen ghét hiền thần, thậm chí át quyền nhà vua. Về sau, vua Đường cho phép Nguyên Tái dùng mưu kế giết chết Ngư Triều Ân. Kể từ thời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), một tệ nạn gây nên rối ren trong việc cai trị của nhà Đường là trọng dụng, tin tưởng hoạn quan, giao cho họ quá nhiều quyền hành, khiến họ thừa cơ lũng đoạn triều chánh, hăm hại trung thần. Thậm chí, có trường hợp hoạn quan hoàn toàn khinh loát nhà vua, biến vua thành bù nh́n trong tay họ.

[5] Do đoạn này hơi khó hiểu, khó thể diễn tả găy gọn được, chúng tôi xin rườm lời như sau:

- Pháp thường nói tức là như trong các kinh khác, đức Phật thường dạy: “Pháp ví như thuyền bè dùng để vượt sanh tử, thoát tam giới. Khi đă đạt tới bờ kia (thoát ṿng sanh tử, chứng quả vị) th́ cần phải xả pháp thuộc địa vị ấy để tu tập pháp thuộc địa vị kế tiếp”.

- Nghĩa hiện thời là nghĩa trong kinh này là “chẳng giữ lấy pháp” tức là chẳng giữ lấy pháp tướng, chẳng giữ lấy phi pháp tướng, tức là hành trọn đủ Lục Độ, vạn hạnh, tŕ giới, tu phước, nhưng tâm không chấp trước chính ḿnh đang làm những chuyện ấy, cũng chẳng thấy ḿnh không chấp trước. Hay nói cách khác là hễ thấy có pháp đều xả”. Xả ở đây phải hiểu là xả chấp trước vào pháp, chứ không phải phủ định có pháp để hành, hoặc cho rằng xả pháp là không hành bất cứ hạnh nào! Ngay cả ư niệm “xả chấp trước vào pháp” ấy cũng phải xả, cũng như chẳng thấy ḿnh đang xả.

Do hai điểm khác biệt ấy, một đằng là xả khi không cần thiết nữa, một đằng là luôn xả pháp, nên nói là “xung đột to lớn”. Sự “xung đột” ấy về thực chất chẳng qua một đằng là nói theo phương diện tuyệt đối, một đằng nói thuận theo căn cơ của hành nhân, chứ rốt cuộc cả hai cách nói đều là xả pháp đến rốt ráo. Chẳng hạn như nói với người sơ phát tâm, chẳng thể nói xả hết các pháp, v́ họ chưa thể thực hiện được, phải nói là xả pháp khi cần thiết (tức là khi họ đă chứng đắc một quả vị, bèn xả pháp thuộc quả vị đó, để tấn tu pháp thuộc quả vị sau). Do sợ có người sẽ chấp vào văn tự, hiểu xả pháp chính là vứt bỏ hết thảy các pháp, bèn thắc mắc là không có pháp th́ lấy ǵ để độ, hoặc là rốt cuộc là có pháp để có thể tu hay là không có pháp v.v…

[6] Theo như ngu ư hiểu th́ khi đă giác ngộ, sẽ nhận rơ bản chất, thể tánh của các pháp, chẳng c̣n chấp trước, sẽ chẳng c̣n chấp vào pháp, tuy vẫn hành các pháp để độ sanh, nhưng chẳng thấy có pháp, chẳng thấy ḿnh đang hành, th́ cũng giống như đă qua sông, không c̣n dùng cái bè nữa!

[7] Bách Phi hiểu theo nghĩa đen trăm cách phủ định, hiểu theo nghĩa rộng là tất cả chấp trước sanh khởi do chấp Có hay chấp Không đều là sai. Có nhiều cách giải thích danh xưng Bách Phi, nhưng dựa theo ư của cụ Giang ở đây th́ từ TCú (có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng không) trên đây, mỗi câu trong tứ cú đều có bốn câu ấy, nên 4x4 thành 16, lại phối ứng với hiện tại, quá khứ, vị lai, thành 3x16=48 câu. 48 câu ấy nếu phối ứng với đă khởi hoặc chưa khởi” liền thành 2x48=96 câu, cộng với bốn câu phủ định căn bản, thành ra một trăm câu.

[8] Tịch có nghĩa là vắng lặng, không bị các pháp dao động; không bị các trần ô nhiễm. Đó là nói đến đặc tánh nơi cái Thể của chân tâm. Chiếu là chiếu soi, tức nhận biết rơ ràng sự việc không sai lầm. Đó là nói về cái Dụng (tác dụng của chân tâm).

[9] Dặm Tàu (Lư, ) là đơn vị đo độ dài, có độ dài dao động theo từng triều đại. Hiện thời, một Lư được quy ước là nửa cây số (500 m).

[10] Đại La Thiên là tầng trời cao nhất theo quan điểm của Đạo Giáo. Có thuyết cho rằng tầng trời này chính là Tam Thanh Cảnh, tức nơi cư ngụ của Tam Thanh (Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh); có thuyết cho là ở phía trên tầng Tam Thanh. Ở chính giữa Đại La Thiên chính là huyền đô Ngọc Kinh Sơn, tức chỗ ngự của Nguyên Thỉ Thiên Tôn.

[11] Trong phần trước, cụ Giang đă nói cổ đức luôn đọc âm Giải (, jiě) thành Giải (, xiè).