Câu
Sanh Ngă Chấp Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 2
Phần 2
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả: Thanh
tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
2.2.2.2.2.1.1.1.2.2.
Giải thích rơ nguyên do
2.2.2.2.2.1.1.1.2.2.1.
Trưng thích (nhắc lại
nghĩa trước rồi giải thích)
(Kinh)
Hà dĩ cố? Nhược Bồ Tát bất trụ tướng
bố thí, kỳ phước đức bất khả
tư lượng.
(經)何以故?若菩薩不住相布施,其福德不可思量。
(Kinh: V́ sao vậy?
Nếu Bồ Tát chẳng trụ vào tướng để
bố thí, phước đức ấy chẳng thể suy lường).
(Bổ)
“Trưng” (徵)
là nêu ra, [tức là] nhắc lại ư nghĩa trước
đó để tự hỏi, tự đáp.
“Phước
đức” chính là phước huệ song tu. Phước
và huệ như hai bánh của một cái xe, chẳng thể
lệch tí nào! Có kẻ nói “đức Phật dạy mọi
người chẳng trụ, cớ sao lại dạy
người ta tu phước?”, [nói như vậy là] sai
lầm mất rồi! Nếu chẳng tu phước, dẫu
cho thành Bồ Tát, thành Phật, đến
hóa độ chúng sanh, nhưng chúng sanh
ương ngạnh, chưa chắc đă có thể độ
được! V́ thế, ắt trước hết phải
kết duyên với chúng sanh! Do vậy, kinh này chỗ nào
cũng nói đến tu phước, nhưng đối với
thật hạnh, chỉ nói bố thí, tức là dạy mọi
người hăy phước huệ
song tu. “Tư” (思) là thăm ḍ, phỏng
đoán. “Lượng” (量) là
đo lường. Ư nói: Chẳng thể dùng tâm suy nghĩ
để phỏng đoán, chẳng thể dùng số
lượng để tính đếm. “Bất trụ
tướng bố thí”: Chẳng trụ vào tướng
tức là chẳng trụ vào pháp; cũng chính là chẳng chấp
Có. Bố thí chẳng trụ trong phi pháp;
cũng chính là chẳng chấp Không. Chẳng trụ tướng
mà bố thí, bố thí mà chẳng trụ tướng;
như vậy là chẳng chấp vào hai bên. Đó chính là cảnh
giới của Phật. Do đó, phước đức to
lớn chẳng thể suy lường được!
Phước đức ấy chính là nói “thành Phật”.
“Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm”
trong phần kinh văn trước đó chính là [phát khởi] cái
tâm thành Phật, đối ứng khít khao với câu này. Có
thể thấy: “Chẳng trụ tướng bố thí”
chính là pháp môn để thành Phật!
“Pháp
vi diệu rất sâu vô thượng” tức là
nói đến Bát Nhă, cực sâu, cực vi tế! V́ thế,
từng câu trong kinh này giống như bóc từng lớp
nơi thân cây chuối, chẳng dễ liễu giải!
Người nói cần phải nhiếp tướng, quán
tâm; người nghe cũng phải nhiếp tướng,
quán tâm th́ mới được. Kinh văn chỗ nào
cũng nói “chẳng trụ tướng”, nhưng lại
chỗ nào cũng nói “phước đức”, quả
đúng là chẳng rơi vào nghĩa
Nhị Biên. Chẳng trụ tướng
th́ phước đức ấy chẳng thể suy lường,
ắt phải bố thí mà chẳng trụ vào tướng
th́ mới là phước đức chẳng thể suy
lường!
Đại
Thừa Phật pháp, nói theo vi trần, nói theo cơi nước,
nói theo chiều ngang, nói theo chiều dọc, phương diện
nào cũng đều viên măn. Điều trọng yếu nhất
là phải phá chấp! Hễ có chấp, sẽ rơi ngay
vào Nhị Biên: Chẳng chấp Có, sẽ liền chấp
Không, chẳng phải là Trung Đạo! Nghe pháp, xem kinh,
cũng cần phải xem xét mọi
phương diện. Nếu chấp vào một bên, sẽ
chẳng được thọ dụng! Đức Phật
nói liễu nghĩa, chẳng nói bất liễu nghĩa. Nói
triệt để, vẫn sợ người nghe chẳng
hiểu rơ. Nếu nói chẳng triệt để, sao có thể
khiến cho người nghe liễu
giải? Người nghe cũng thế. Nếu
không, sẽ chẳng thể liễu giải lư Bát Nhă. V́ thế,
cần phải nói từng phương diện. Lại nói
mà chẳng nói, lưu lại một chút để người
nghe suy tưởng. Nếu đem đạo lư cực sâu,
mỗi mỗi đều nói trọn hết, người
nghe sẽ chẳng c̣n dụng công nữa! V́ thế, xưa
nay tổ sư Thiền Tông khi khai thị cho học nhân,
luôn chừa
lại nửa câu đợi
người nghe tự ngộ. Nếu
không, [học tṛ sẽ] chuyên chú trọng
sao chép lời giảng
nghĩa [của thầy], chính ḿnh chẳng dốc sức
vào đó, ngă nhào vào đó (té vào
trong ngôn ngữ, văn tự), có tác dụng
ǵ đâu?
Xem
kinh văn trong phần trên của kinh này, [đức Phật]
đă nói rơ ràng “bất trụ lục trần nhi hành bố
thí” (chẳng
trụ trong lục trần để hành bố thí). Bởi
lẽ, hễ trụ trong cảnh, tâm chẳng thanh tịnh;
cần phải chẳng trụ vào đâu th́ mới
được! Ở đây, nói “phước đức
ấy chẳng thể suy lường”, há chẳng phải
là mâu thuẫn ư nghĩa với các đoạn kinh văn
trước và sau đó hay sao? Phước đức chẳng
phải chính là tướng ư? V́ sao chỗ nào cũng
đều nói “chẳng trụ”, mà lại nơi nào
cũng nhắc tới phước đức vậy? Cần
phải biết: Đoạn trước nhằm dạy mọi
người đừng trụ trong lục trần, tức
là dạy mọi người chớ chấp trước,
trọn chẳng phải là diệt sạch lục trần!
Đoạn sau lại nói “đối với pháp, chẳng nói tướng
đoạn diệt để có thể chứng”, bởi
lẽ, hễ tu hành, sẽ lập tức có cảnh giới,
chẳng phải là chẳng cần đến cảnh giới!
V́ phải nhờ vào cảnh th́ mới có thể khởi
tu. Đối với bố thí mà nói tới phước
đức, chính là chỉ dạy mọi người
phương pháp để thực hiện. V́ thế, dạy
người học Phật ắt phải nhờ vào cảnh
th́ mới có thể thực hiện. Chính ḿnh học Phật,
cũng ắt phải nhờ vào cảnh th́ mới có thể
tu tập.
Kinh
này dạy “chẳng trụ trong lục trần”, thế
mà kinh Di Đà toàn là miêu tả lục trần trong thế
giới Cực Lạc, thoạt nh́n dường như
tương phản, nhưng thật ra, giống hệt nhau. Do vậy, có thể
thấy cảnh giới Tịnh Độ cao lắm! Chúng
sanh khổ năo, khởi tâm động niệm chẳng ĺa lục
trần. Cái mầu nhiệm của pháp môn Tịnh Độ
là ở chỗ biến đổi cái tâm của chúng sanh
[để họ đừng chấp vào lục trần của
Sa Bà],
mà quán tưởng lục trần nơi thế giới Cực
Lạc, tức là chẳng trụ vào Không. Do vậy, thoát ly
lục trần nơi ngũ trược, tức là chẳng
trụ vào Hữu. V́ thế,
Phật pháp đối trị cái tâm, chẳng chú trọng
hàng phục, mà coi trọng chuyển dời, khiến cho cái
tâm của chúng sanh chuyển
hướng sang lục trần nơi Phật cảnh, liền
thoát ĺa lục trần nơi ngũ trược.
Phương pháp thực hiện để chẳng chấp
vào Nhị Biên ở ngay chỗ này!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.2.2.
Nêu thí dụ để minh thị
(Kinh)
“Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Đông phương hư
không khả tư lượng phủ?” “Phất dă, Thế
Tôn!” “Tu Bồ Đề! Nam, Tây, Bắc phương, tứ
duy, thượng, hạ hư không khả tư lượng
phủ?” “Phất dă, Thế Tôn!”
(經)須菩提!於意云何?東方虛空可思量不?不也,世尊!須菩提!南西北方四維上下虛空可思量不?不也,世尊!
(Kinh:
“Này Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Hư không ở
phương Đông có thể suy lường hay chăng?”
“Bạch Thế Tôn, không ạ!” “Này Tu Bồ Đề!
Hư không ở các phương Nam, Tây, Bắc, bốn góc,
trên, dưới có thể suy lường hay chăng?” “Bạch
Thế Tôn! Không ạ”).
(Bổ)
Đối với chữ
Bất (不)
trong câu “bất dă Thế Tôn”, cổ đức chú
thích phải đọc thành âm Phất (弗), nhưng trong tự
điển không có cách đọc ấy. Bởi lẽ, cổ
nhân dịch kinh, đối với những chữ Phạn không có chữ Hán tương
đương, thường là dùng chữ tương cận
[để thay thế], nhưng đọc thành âm khác để
tách biệt; đó cũng là nỗi khổ tâm trong chuyện
dịch kinh. Như trong các kinh, hễ gặp chữ Giải
(解, Jiě) đều đọc như âm Giải (懈, Xiè). Do vậy, [điều này] biểu
thị: Đối với văn tự, không chỉ nên liễu
giải, mà c̣n nên tiêu quy tự tánh, [tức là thấu hiểu]
“chẳng chính là văn tự, chẳng ĺa văn tự”
th́ mới được! Ở đây, Bất đọc
thành Phất, nhằm nêu rơ: Không chỉ hiểu
là có nghĩa là “phủ quyết”,
mà c̣n chứa đựng “tuy phải mà chẳng phải”.
Đại khái là nếu tiếp đó, không có kinh văn giải
thích, th́ hiểu là “phủ định”. Nếu tiếp
đó có kinh văn giải thích, th́ phải hiểu [chữ Phất ấy] chẳng hoàn
toàn có nghĩa là “phủ quyết”.
Hư
không vô tướng, nhưng chẳng cự tuyệt các
tướng được nêu bày, tỏ rơ! Cần phải
ghi nhớ thật kỹ lời này! Trong cái nh́n b́nh phàm, luôn
cho rằng hư không là “hết
thảy đều chẳng có”.
Đấy chính là [cách hiểu] Ngoan Không (頑空, cái
Không trơ trơ) của Tiểu Thừa vậy! Thật
ra, hư không chứa đựng muôn h́nh tượng.
Hư không được nói trong kinh điển Đại
Thừa chính là nói theo phương diện “chứa đựng
muôn h́nh tướng”, có vô số tướng ở trong ấy
th́ mới hiển thị hư không to lớn. Đối với
Không do đức Phật đă nói, hăy đều nên lănh hội
như thế. Cần phải biết: “Không ǵ chẳng
chứa đựng” chính là Đệ Nhất Nghĩa
Không. Đó gọi là “Không mà chẳng Không”. Nói “bất
khả tư lượng” chẳng phải là nói nó vô
tướng chẳng thể suy lường, mà chính là nói nó
không ǵ chẳng chứa đựng, th́ mới là “bất
khả tư lượng”. Nêu lên một phương
Đông, lại ắt phải nêu ra Nam, Tây, Bắc, bốn
góc, trên, dưới, hoàn toàn chẳng phải là nói thừa
thăi, mà nhằm hiển lộ: Đức Phật tùy tiện
nêu ra một pháp,
đều gồm trọn mười phương!
Đức
Phật thuyết pháp, phương diện nào cũng đều
trọn vẹn, chớ nên nh́n từ một khía cạnh!
Như kinh Hoa Nghiêm chuyên biểu thị ư nghĩa “trùng
trùng vô tận”, bởi lẽ, đức Phật thuyết
pháp từ vô lượng vô biên tánh hải lưu xuất,
cho nên tầng tầng vô tận! Hư không chẳng thể
suy lường, nếu cho rằng chỉ dùng nó để
sánh ví phước đức, vẫn chỉ là nh́n từ một
khía cạnh. Thật ra, đó là để sánh ví “chẳng
trụ tướng bố thí” vậy!
Nhưng
đức Phật dùng hư không để sánh ví, chỉ
nói phương Đông là [người nghe] cũng đă
có thể liễu giải, cớ sao lại nói bốn
phương, thượng, hạ? Điều này có năm
nghĩa:
1) Hễ
nêu ra một pháp, bản thể của nó chính là Không, đều
là “chẳng nên trụ tướng”, dẫu là hư không th́
cũng thế.
2) Cần
phải biết: Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên,
dưới, đều là giả danh. Do đối ứng
với Đông mà thành Tây, so với Nam mà thành Bắc, vốn
chẳng nhất định! Có thể biết: Hết thảy
các pháp cũng đều là giả danh, chẳng có pháp nhất
định để ḥng đạt được! Do vậy,
chẳng thể trụ!
3)
Mười phương đă đều là giả danh, mà
giả danh là tướng; cho nên chẳng thể trụ. Ta
và chúng sanh cũng là giả danh, cũng chẳng
thể trụ. Nhưng hết thảy các
pháp đều là đồng Thể, nơi tánh thể vốn
là một. Lănh hội như thế th́ mới là “tâm, Phật,
chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Phước
đức như thế chẳng thể suy lường.
Chẳng trụ tướng để bố thí như thế
chính là cảnh giới Phật, phước
đức to lớn, phàm t́nh há có thể
suy đoán được chăng?
4)
Mười phương đều ở trong hư không, thật
ra, đều thuộc trong một niệm tâm. Tuy nói “mười
phương” mà chẳng trở
ngại hư không
đồng nhất. Tuy hư không đồng nhất mà chẳng
trở ngại mười
phương pháp giới, khiến cho mọi người
lănh hội “nhân quả đồng thời, chẳng trở
ngại một pháp giới. Một pháp giới chẳng trở
ngại nhân quả”.
5)
Nêu lên mười phương tức là lư “hư không vô
tướng, nhưng chẳng cự tuyệt các tướng
nêu tỏ” được hiển lộ. Quán chiếu từ nơi ấy, sẽ
là Không và Có đồng thời, tuy là Không và
Có mà
viên dung tự tại, th́ mới có thể
tỏ rơ ư nghĩa “bố thí chẳng trụ tướng,
phước đức ‘chẳng trụ tướng’ chẳng
thể suy lường” (đoạn văn dưới
đây do Giang cư sĩ đích thân viết; do vậy, chẳng
ngại trùng lặp, cũng ghép vào đây).
Dùng
hư không làm thí dụ, lại nêu ra Đông, Tây, Nam, Bắc,
bốn góc, trên, dưới để nói, hoàn toàn chẳng
phải là văn từ thừa thăi, mà thật sự là ư
nghĩa trọng yếu có liên quan, chớ nên xem nhẹ!
1)
Mười phương đều ở trong hư không,
[nêu ra mười phương] là để khiến cho
[thính chúng] biết mười pháp giới đều ở
ngay trong một niệm
tâm của mỗi người.
2)
Tùy ư nêu ra một phương, đều là hư không, khiến
cho [thính chúng] biết: Tùy ư nêu ra một
pháp, bản thể của nó chính là Không.
3) Vậy
th́ Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới,
đều là giả danh, khiến cho [thính chúng] biết ta, người,
chúng sanh, cho tới hết thảy các pháp, không
ǵ chẳng là giả danh.
4)
Đă đều là giả danh;
do vậy, hư không vốn là một, khiến cho [thính
chúng] biết ta,
người, chúng sanh, cho tới Phật,
đủ loại sai biệt, đều là nói theo tướng
giả danh đó thôi; chứ nói theo tánh thể
th́ là một. V́ thế nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả
ba chẳng sai biệt”. Do vậy nói là “một pháp giới”.
Cần phải biết: Chúng sanh do chẳng thấu đạt
một pháp giới, cho nên bất giác tự động có
vô minh!
5)
Tuy có mười phương, nhưng chẳng trở ngại
hư không đồng nhất. Tuy hư không đồng nhất,
mà chẳng trở ngại có mười
phương, khiến cho [thính chúng sẽ]
biết: Nhân quả trong mười pháp giới dày đặc,
nhưng chẳng trở ngại cùng là một tánh Không. Tuy
cùng một tánh Không, nhưng chẳng trở ngại nhân quả
dày đặc trong mười pháp giới. Đấy chính là tỏ
lộ rơ rệt lư “hư không vô tướng, nhưng chẳng
cự tuyệt các tướng nêu tỏ”. Như vậy
th́ Không và Có đồng thời, tồn tại và diệt mất
tự tại. Đấy mới là hư không chẳng thể
suy lường, mới đáng dùng để sánh ví “bố
thí mà chẳng trụ tướng”. Phước đức
do bố thí mà chẳng trụ tướng chẳng thể
suy lường! Nếu chỉ nói hư không, sẽ là Thiên
Không, há có phải là Đệ Nhất Nghĩa Không trong Bát
Nhă, sao đủ để nói “hư không chẳng thể
nghĩ bàn suy lường” cho
được? Do vậy, hễ nói
đến hư không, ắt phải nói kèm Đông, Nam, Tây,
Bắc, bốn góc, trên, dưới, lư nằm ngay nơi
đó, hăy nên biết như thế. Biết như thế mới
là chánh tri vậy!
2.2.2.1.2.1.1.1.2.2.3. Pháp hợp
(kết hợp thí dụ với lư vừa
nói trong câu trước đó để giải thích lần
nữa chủ đề vừa được nêu ra
trước đó)
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Bồ Tát vô trụ tướng bố
thí, phước đức diệc phục như thị bất
khả tư lượng.
(經)須菩提!菩薩無住相布施,福德亦復如是不可思量。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Bồ Tát chẳng trụ tướng
để bố thí, phước đức cũng lại
chẳng thể suy lường như thế).
(Bổ)
Mười phương hư không vô tướng, nhưng
chẳng trở ngại các tướng tỏ lộ;
đúng là giống như bố thí mà chẳng trụ tướng.
Bố thí mà chẳng
trụ tướng đúng là giống như hư không chẳng
thể suy lường. Bồ Tát có thể “có mà chẳng
có, không mà chẳng không” như vậy, th́ mới là trái
nghịch trần lao, hợp với giác ngộ. Kinh văn
trong phần trước nói “chẳng trụ tướng
để bố thí”, đoạn này đổi chữ Bất
thành Vô, có thâm ư sâu xa. Bởi lẽ, thiện nam tử, thiện
nữ nhân đă phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề tâm, tức là có tư cách thành Phật. V́ thế,
dạy họ chẳng trụ tướng để bố
thí. Ở đây là dạy dụng công: Phải có thể thật
sự đạt tới vô trụ, chẳng có mảy may
nào chẳng tận th́ mới được!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.3.
Kết lại lời dạy về chánh trụ
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Bồ Tát đản ưng như sở
giáo trụ.
(經)須菩提!菩薩但應如所教住。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Bồ Tát chỉ nên
trụ như đă dạy).
(Bổ)
Quy kết vào “vô trụ th́
mới là chánh trụ”, tức
là nói “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ
vào đâu). Lại nữa, để
đáp [câu hỏi] “ưng vân hà trụ” (hăy nên trụ
như thế nào), kinh
văn trong các phần trước đều nói “chẳng
trụ, vô trụ”; ở
đây bỗng dưng nói “như sở giáo trụ”
(theo đúng như lời dạy mà trụ), có ư nói: “Hăy nên
theo đúng lời ta (Phật Thích Ca) đă dạy mà trụ”,
nhằm chỉ rơ “trụ
mà vô trụ, vô trụ mà trụ”,
chẳng phải là đoạn diệt! Nghiền ngẫm
hai chữ “đản ưng” (chỉ nên), sẽ có thể
thấy: Ngoại trừ nương theo “chẳng trụ,
vô trụ” của ta ra, chẳng c̣n có cách trụ nào khác!
[Hai chữ ấy] lại c̣n chứa đựng ư nghĩa “hàng
phục”. “Hàng phục” tức là hàng phục cái “trụ”
ấy. Lại nữa, “đản ưng” có nghĩa
là hăy nên theo đúng
như lời ta dạy, “chẳng trụ
vào Nhị Biên để trụ” th́ mới là chánh trụ.
“Trụ” lại có nghĩa là Chủ, [hàm ư] chỉ nên
nương vào “chẳng trụ Nhị Biên” như ta
đă dạy mà tu hành, vốn coi Bất Trụ là Chủ. Nếu
không, sẽ chẳng phải là Đại Thừa Phật
pháp.
Đoạn
này nhằm phát khởi hai khoa là “ly tướng tâm’ và “chẳng
trụ vào tướng”, soi tỏ lẫn nhau. Trong phần
trước đă nói “hàng phục” chứa đựng
ư nghĩa “chẳng trụ vào đâu”. Ở đây nói
“chẳng trụ” chứa đựng ư nghĩa “hàng phục”.
Do đó, hai chuyện “hàng phục” và “chẳng trụ” chính là một!
Để thực hiện sự tu hành th́ chính là một chữ
Xả! Xả chẳng được là v́ chấp có ngă
kiến! Đức Phật dạy Xả, tức là phá ngă
chấp. Có thể xả một phần ngă chấp, tức
là phá được một phần. Cứ phá vỡ từng
tầng một cho đến rốt ráo xả, ngă chấp mới
phá hết sạch. Đẳng Giác Bồ Tát c̣n có một phần
Pháp Chấp chưa phá, ắt phải đạt tới Phật
quả th́ mới là rốt ráo xả! V́ thế, Phật
pháp từ đầu tới cuối, chỉ là một chữ
Xả. Xả chính là “chẳng trụ Không, chẳng trụ
Hữu”, tức là “ly tướng tâm” (tâm ĺa tướng).
Tâm lượng lớn tới mức vô lượng vô biên
th́ mới là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Nếu tâm lượng hẹp nhỏ, sao có thể xả
cho được? Đức Phật chẳng nói “trụ”,
thành Phật c̣n chẳng trụ vào Phật tướng mà!
V́ vậy, tổ sư Thiền Tông hoàn toàn dùng phương
pháp trong kinh Kim Cang, đối với người học
chỉ nói nửa câu, chẳng nói toạc ra để
người học tự tư duy: “Trái
cũng chẳng đúng, mà phải cũng trật luôn!” Đánh cho vọng
niệm hoa rơi,
nước chảy, bỗng dưng rơi mất. Đó
chính là diệu trụ.
2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.
Nói rơ nguyên do
Chia làm hai phần:
1) Vấn
đáp để giải thích rơ.
2)
Xiển dương nghĩa lư để ấn chứng, hứa
khả.
2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.
Vấn đáp để giải thích rơ
2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.1.
Hỏi han
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Khả dĩ thân tướng
kiến Như Lai phủ?
(經)須菩提!於意云何?可以身相見如來不?
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng thân tướng
để thấy Như Lai hay không?)
(Bổ)
Cổ đức nói: “[Cho tới câu] ‘Bồ Tát đản
ưng như sở giáo trụ’ (Bồ Tát chỉ nên
đúng như lời dạy mà y trụ), ư nghĩa to lớn
trong cả bộ kinh Kim Cang đă trọn hết. Tiếp
đó là đoạn nghi từng tầng một”. Cố
nhiên đúng là đoạn nghi, nhưng ư nghĩa vẫn
chưa trọn hết. Nay tôi chia thành từng khoa để
giảng rơ thêm nguyên do của bốn chữ; dốc trọn
tâm tư cân nhắc. Bởi lẽ, do chẳng hiểu rơ
nguyên do nên mới có nghi. Nếu hiểu rơ nguyên do, nghi sẽ
tự đoạn!
Đối
với hai chữ “thân tướng”, theo cách giải
thích xưa kia th́ là nói về thân ứng hóa có ba mươi
hai tướng. Nếu hiểu như vậy th́ “ba
mươi hai tướng” trong đoạn sau há chẳng phải là
trùng lặp ư? Từng chữ, từng câu trong kinh Kim
Cang đều có thâm ư, quyết chẳng phải là trùng lặp!
Hai chữ “thân tướng” phải nên hiểu là nói về
bản thân của chúng sanh, c̣n hai chữ Như Lai là nói về
Pháp Thân mà chúng sanh vốn sẵn có. Trong các đoạn kinh
văn trước đó, chỗ nào cũng đều nói “chẳng
trụ tướng”, nói “chẳng trụ” nhằm
khiến cho mọi người thấu hiểu,
dung hội tướng về tánh. Cái tâm của chúng sanh
được gọi là Như Lai Tạng, tức là nói
đến pháp tánh mà chúng sanh vốn sẵn có. Bất quá
[tánh ấy] ẩn tàng trong Nhân Ngă và Pháp Ngă. Đức Phật
dạy “chẳng trụ tướng” nhằm dạy
chúng sanh tự thấy Như Lai được ẩn tàng
[trong tâm tánh của họ]. Giải thích như thế so ra
thân thiết hơn. Ư của đức Phật là: Chúng sanh
các vị có thể từ nơi thân tướng mà thấy
được bổn tánh của quư vị hay không?
Khoa
này lại
nhằm nêu rơ nguyên do của cái lư
được diễn tả trước đó. Trong đủ
loại đạo lư được nói trong các đoạn
kinh văn trước đó, điều khẩn yếu nhất
là nhiều lượt trần thuật “chẳng trụ
vào tướng”, đều được quy kết
vào một câu “có thể dùng thân tướng để thấy
Như Lai hay không?” Trong đoạn văn trước
đó, [đức Phật đă dạy] Bồ Tát chẳng
trụ vào tướng để bố thí, th́ phước
đức ấy sẽ chẳng thể suy lường.
Đức Phật đă nói rơ điều ấy, nhưng
chưa giảng rơ nguyên do. Bởi lẽ, chẳng trụ
vào tướng, điều quan trọng chính là chứng
tánh. Hết thảy phàm phu từ vô thỉ tới nay, chỉ
nhận biết tướng. Do vậy, họ hướng
ra ngoài rong ruổi t́m cầu, trái nghịch giác, xuôi theo trần
lao, quên bẵng diện mục sẵn có! Kinh văn trong phần
trước nói “chẳng trụ pháp tướng, chẳng
trụ phi pháp tướng”. “Pháp” là nói đến hết
thảy mọi sự, mọi vật. Cái túi da thối hoắc
của chúng ta chính là vật bị chấp trước nặng
nhất trong hết thảy các sự vật! Từ vô thỉ
tới nay, cứ chấp nó chính là thân tướng, coi giả
là thật, nào có biết đấy là vô thường sanh diệt!
Dẫu người kiến giải hơi cao, biết thân
này như huyễn, nhưng vẫn cứ chấp các thứ
“mừng, giận, buồn, vui” đă phát ra là t́nh, coi [những
cảm xúc] “chưa phát, bất động” là tánh. Họ
cho rằng chức năng chủ yếu của tâm là suy
nghĩ, hễ suy nghĩ sẽ có cái được bẩm
thọ. Do suy t́m cội nguồn của cái tâm chẳng
được, bèn ngỡ những
điều ấy được nhận
lănh từ trời! V́ thế nói: “Mạng trời
được gọi là Tánh”. Thế gian đều có
kiến giải như thế, hoàn toàn bất đồng với
Phật pháp. Cái “vô động tác” như họ đă
nói chính là cái được Phật pháp gọi là Tướng.
Phật pháp nói “bất động” th́ bất luận
thức thứ bảy và thức thứ tám luôn thẩm
định, suy lường, nh́n bề ngoài hoàn toàn là vận
hành dấy lên, diệt mất, nhưng tánh th́ bất động,
tức là “mừng, giận, buồn, vui” vẫn là vận
hành dấy lên rồi diệt mất. Nếu lầm lẫn
coi các [thứ t́nh cảm] chưa phát khởi là tánh, ắt
sẽ bị trói buộc. Thế gian th́ từ trên là thánh
nhân cho đến [dưới là] ngu phu, hoàn toàn có chấp
trước loại này; nói chung, chẳng ra ngoài sanh diệt!
V́ thế, cần phải nhận rơ vị chủ nhân ông bất
sanh bất diệt th́ mới
có thể chẳng bị tướng chuyển,
mà tướng là do ngă chuyển. Chẳng thuận theo sanh
diệt, vô thường để rong ruổi, sẽ có thể
liễu sanh tử.
Đức
Phật dạy mọi người “chẳng trụ
tướng”, khăng khăng dụng công tại chỗ
này. Phật pháp ngàn lời vạn lẽ, vẫn chẳng
nói ngoài điều này! Kinh này vừa khởi đầu liền
nói “chẳng trụ tướng” nhằm dạy chúng
ta nhận rơ điểm này! Chấp tướng tức là
chấp Có, chẳng chấp tướng tức liền chấp
Không; đấy là bệnh chung của hết thảy phàm
phu. Tiểu Thừa tương phản với phàm phu, biết
rơ thân tướng là huyễn, ngay cả “mừng, giận,
buồn, vui” chưa phát cũng là tướng, chứng
đắc Thiên Không, liễu sanh tử, thoát khỏi tam giới.
Nhưng họ lại mắc phải một bệnh, tức
là bệnh Chấp Không. Cái Không ấy vẫn là tướng! Đại Thừa
Khởi Tín Luận nói: “Không là rỗng
không vọng niệm, ắt phải ngay cả
khởi tâm động niệm, mừng, giận, buồn,
vui chưa phát cũng rỗng
không; đó chính là trụ trong vô tướng.
Do coi Thiên Không là liễu sanh tử, chẳng biết chấp
Không th́ lại trụ trong phi pháp tướng. Do vậy,
đức Phật quở trách, bảo đó là chẳng
phù hợp”. Cần phải biết:
“Hễ có Thể, ắt có Dụng. Có Tánh, ắt có Tướng”.
Trước nay nói “phàm phu chấp trước”,
chẳng ngoài thuận theo tướng mà truy cầu, chỉ
cần biết tướng hư vọng là được
rồi! Nếu lại chấp trước Không, tức là
đọa vào Đoạn Diệt. Tánh và tướng chẳng
phải là một. Tánh là tánh, tướng là tướng, Thể là Thể, Dụng là Dụng. Do vậy,
chẳng thể diệt tướng. Diệt tướng
tức là như một vật có đáy mà chẳng có mặt.
Tánh và tướng lại chẳng khác. Tướng chính là
biểu hiện của tánh, tánh tức là căn bản của
tướng. Có căn bản mà chẳng có biểu hiện,
tức là có Thể mà không có Dụng. V́ thế, Phật chẳng
trụ Niết Bàn. V́ sao vậy? Hết thảy chúng sanh
chính v́ chấp trước tướng ấy, nếu
đức Phật chẳng biểu hiện tướng ấy,
sẽ chẳng thể độ họ. Do vậy, chứng
tánh thể vốn là để khởi hạnh. Như
đối với Tiểu Thừa, sở dĩ đức
Phật quở trách là “mầm
cháy, hạt lép, đọa vào hầm vô vi” [là v́ họ vẫn chấp
Không]. Kinh văn thuộc khoa này chính là để nêu tỏ
lư này, ngơ hầu [mọi người] biết nguyên do đức
Phật dạy ai nấy đừng trụ vào pháp tướng,
mà cũng chẳng trụ vào phi pháp tướng.
Đức
Phật dạy mọi người tu hành, vốn v́ độ
chúng sanh. Nếu họ đọa vào hầm vô vi, làm sao có
thể độ được? Do vậy, Bát Nhă cốt yếu là chẳng trụ
trong Nhị Biên, ắt chẳng trụ Hữu, chẳng trụ
Không, th́ mới có thể xứng tánh. Lại nữa, tánh là
“vô tướng, vô bất tướng”. Do vô tướng,
chớ nên chấp Có, chẳng thể trụ vào pháp. Do vô bất
tướng, chẳng thể chấp Không, chẳng thể
trụ phi pháp, chính là chỉ có tánh là “vô tướng, vô bất
tướng”. Do vậy, phàm phu chấp vào bên Hữu, chẳng
thấy tánh. Tiểu Thừa chấp vào bên Vô, cũng chẳng
thấy tánh. Ngàn kinh vạn luận, không ǵ chẳng nhằm
nói rơ lư ấy. Đại đức chú sớ, cũng không
ǵ chẳng nhằm nêu rơ lư ấy.
V́ vậy,
chớ nên hiểu “thân tướng” ở đây là
thân Phật, mà phải hiểu là nói
theo thể tướng nơi bản thân
chúng sanh. Trên đến Phật, dưới tới hết
thảy chúng sanh, đều là tướng ấy. Đức
Phật chứng đắc Pháp Thân, nên gọi là Như Lai.
Hết thảy chúng sanh mừng, giận, buồn, vui, khởi
tâm động niệm, vốn là bất giác; nhưng có thể
thành Phật th́ cũng chính do cái tâm chúng sanh này! Bởi lẽ,
tâm này chính là Như Lai, bất
quá bị vô minh phủ lấp, nên gọi là Như Lai Tạng.
Đức Phật hỏi lời này là thử xem Tu Bồ
Đề và đại chúng, cho tới chúng sanh trong đời
vị lai, rốt cuộc đối với “chẳng trụ
tướng” như ta đă nói trong phần trước,
[có hiểu] như
thế nào th́ có thể dùng tướng để thấy
tánh hay không? Nếu
đáp “có thể thấy Như Lai”, tức là trụ
trong pháp tướng, là phàm phu. Nếu đáp “chẳng thể
thấy Như Lai” tức là trụ trong phi pháp tướng,
chính là Tiểu Thừa!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.2.
Trả lời
2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.2.1.
Cùng nêu ra
(Kinh)
Phất dă, Thế Tôn! Bất khả dĩ thân tướng
đắc kiến Như Lai.
(經)不也,世尊!不可以身相得見如來。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn, không ạ! Chẳng thể dùng thân
tướng để được thấy Như Lai).
(Bổ)
Trước nay, khi đọc kinh Kim Cang, đối
với câu “bất
khả dĩ thân tướng đắc kiến Như Lai”
(chẳng thể dùng thân tướng để được
thấy Như Lai) [đa số mọi người] thường
đọc như một câu. Diệu Hú tŕ tụng kinh này
hơn bốn mươi năm, tới mười bốn
năm trước mới ngẫu nhiên ngộ rằng “phải
nên đọc thành hai câu”, nhưng vẫn chưa dám quyết!
Về sau, đọc lời giảng kinh Pháp Hoa của Nam
Nhạc đại sư có nói đối với đoạn
kinh “duy Phật dữ Phật
năi năng cứu tận chư pháp Thật Tướng, sở
vị chư pháp như thị tướng, như thị
tánh, như thị thể, như thị lực, như thị
tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả,
như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh
đẳng” (chỉ
có Phật và Phật mới có thể thấu suốt tột
cùng Thật Tướng của các pháp, tức là các pháp
tướng như thế, tánh như thế, thể
như thế, lực như thế, tác như thế, nhân
như thế, duyên như thế, quả như thế, báo
như thế, đầu đuôi rốt ráo như thế) có ba cách chấm
câu, mới dám quyết định chia đoạn này thành
hai câu. Nhưng phương pháp này chỉ có thể áp dụng
cho kinh của Không Tông và các bản dịch của La Thập
đại sư.
Các
bản chú giải cũ coi “thân
tướng”
đương nhiên là Không. Nói theo Pháp Thân, Ứng Hóa Thân
cũng là huyễn tướng, cho nên nói “chẳng thể
thấy Như Lai”. Nhưng nghĩa chưa trọn hết,
chiếu theo cách giải thích ấy, sẽ là trụ trong
phi pháp tướng. Cần phải biết: Chữ Phất
trong “phất dă, Thế Tôn” [hàm nghĩa] “là phải, mà
chẳng phải”, chẳng thể hoàn toàn hiểu là “phủ
quyết” được! Đă đáp là “chẳng
thể”, lại nói là “có thể”;
do vậy là “cùng nói”. Hơn nữa, nếu thật sự
toàn là “phủ quyết”, sao câu kế đó lại thêm
chữ “đắc”? Ngài Tu Bồ Đề có ư nói: Chẳng
thể coi tướng là tánh, dựa theo
thân tướng để thấy Như Lai; nhưng tướng
do tánh hiện, nên cũng có thể dùng thân tướng
để thấy Như Lai. V́ thế, trong câu kinh tiếp
theo lại giảng rơ “thân tướng” do Như Lai vừa
nói đó.
Đọc
đoạn này thành một câu th́ xét theo sự thật, theo
đạo lư, theo văn tự, sẽ có đủ mọi
lẽ nói chẳng suông! Nếu hiểu lời đáp
như thế là “chẳng thể dùng thân tướng để
thấy Như Lai”, [hóa ra] ngài Tu Bồ Đề vẫn chỉ
ngộ “tướng là tướng, tánh là tánh”, vẫn
là kiến giải của Tiểu Thừa, rơi vào Thiên
Không, chẳng phải là Đệ Nhất Nghĩa Không, sao
có thể gọi là “giải Không đệ nhất”
cho được? Huống chi, trong tám hội trước,
ngài Tu Bồ Đề đều là đương cơ,
lại c̣n từng thay mặt đức Thế Tôn nói lư “chẳng
chấp Nhị Biên”, v́ sao tới đây lại đâm ra
chẳng hiểu rơ? Đấy là chẳng phù hợp sự
thật. Trong phần Phát Khởi Tự của kinh này,
đức Thế Tôn mặc áo, dùng cơm, thị hiện
Đại Không tam-muội, mọi
người đều chẳng biết, [chỉ riêng] ngài
Tu Bồ Đề đă ngộ lư ấy, vừa mở miệng
liền tán thán “đức
Thế Tôn hy hữu, Như Lai khéo hộ niệm các Bồ
Tát, khéo phó chúc các Bồ Tát”.
Rơ ràng là đă thấy Như Lai thị hiện tướng
phàm phu, thấy rơ tướng chẳng chướng ngại
tánh. Lẽ nào sau khi đức Thế Tôn đă hai phen khai
thị, Ngài vẫn chỉ thấy một bên, tánh và tướng
chẳng dung hội? Như thế th́ hai chữ “hy hữu”
trong phần trước chẳng có lai lịch! Hai câu “Như Lai thiện
hộ niệm, [thiện phó
chúc]” cũng trọn chẳng
có ư vị chi hết! Đấy là chẳng phù hợp đạo
lư. Lại xét theo cách đọc ấy, [nếu hiểu là]
hoàn toàn là phủ quyết, tức một câu “phất dă
Thế Tôn” (bạch Thế Tôn, chẳng phải vậy) là được rồi, cần ǵ phải
rườm lời “dĩ thân tướng kiến Như
Lai” (dùng thân tướng để thấy Như Lai), cần
ǵ phải chèn thêm chữ Đắc? Đó là xét theo văn
tự th́ chẳng phù hợp!
2.2.2.2.2.1.1.1.2.4.1.2.2.
Giải thích và tiểu kết
(Kinh)
Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết thân tướng,
tức phi thân tướng.
(經)何以故?如來所說身相,即非身相。
(Kinh:
V́ sao vậy? Như Lai nói thân tướng, tức chẳng
phải là thân tướng).
(Bổ)
“Như Lai sở thuyết thân tướng, tức phi
thân tướng” (Như Lai nói thân tướng, tức
chẳng phải là thân tướng) chính là cùng chiếu Nhị
Biên. Tánh chính là cái Thể của tướng, tướng
chính là Dụng của tánh. Tướng mà chẳng có tánh, sẽ
chẳng dung thông. Tánh mà chẳng có tướng, sẽ chẳng
hiển lộ. Ĺa tướng sẽ chẳng có cái ǵ gọi
là tánh. Ĺa tánh sẽ không có ǵ để gọi là tướng,
chỉ tùy thuộc chấp trước hay không! Hễ chấp
tướng, tướng liền thành chướng ngại,
chẳng thể thấy tánh. V́ thế đáp rằng “chẳng
thể”. Nếu chẳng chấp trước, sẽ có
thể từ tướng mà thấy được tánh.
Tướng như bề ngoài của một vật. Nếu
bề ngoài của một vật như pha lê
trong suốt, sẽ có thể thấy bên trong. V́ thế
đáp rằng: “Dùng thân tướng để thấy
Như Lai”. Bởi lẽ, chẳng chấp trước, sẽ
chẳng rơi vào Nhị Biên, sẽ chẳng cần
như Tiểu Thừa diệt Sắc để hiển lộ
Không, diệt tướng để thấy tánh, tức là
như phần sau của chánh kinh chẳng nói “đoạn
diệt tướng”. Lư Bát Nhă hoàn toàn ở chỗ này, cần
phải quán chiếu, cẩn thận dụng công.
Nói
theo tướng th́ là thân tướng. Nói theo tánh, bản thể
chính là Không, tánh vốn chẳng có tướng. Nói theo
tướng, th́ “tướng là tướng, tánh là tánh”,
tướng là hư vọng, tánh là chân thật, cho nên nói “chẳng
thể”. Nói theo tánh, bản thể của tướng vốn
là Không, tánh có thể dung thông tướng, lư chân thật liền
hiển lộ, cần ǵ phải ĺa tướng hư vọng
để thấy được tánh chân thật? Do vậy
nói “đắc kiến Như Lai” (được thấy
Như Lai). Có thể biết: Hễ tướng là Không, liền
được thấy tánh. Giải thích như thế th́ mới
phù hợp với ngài Tu Bồ Đề là bậc
đương cơ thỉnh pháp. Mọi người thấy
đức Phật mặc áo, dùng cơm, thị hiện
tướng phàm phu, liền chấp tướng phàm phu, chẳng
thấy Như Lai. Ngài Tu Bồ Đề do tướng mà
thấy tánh, biết Phật chẳng trụ tướng,
liền thấy Như Lai. V́ vậy, đây chính là cùng nêu
lên cả hai
đằng [tánh và tướng] để giải
thích nhằm kết lại.
2.2.2.1.2.1.1.1.2.4.2. Xiển
dương ư
nghĩa, ấn chứng, hứa khả
2.2.2.1.2.1.1.1.2.4.2.1. Nói
rơ tánh vốn chẳng phải là tướng
(Kinh)
Phật cáo Tu Bồ Đề: - Phàm sở hữu tướng,
giai thị hư vọng.
(經)佛告須菩提:凡所有相,皆是虛妄。
(Kinh:
Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: - Phàm tất
cả các tướng đều là hư vọng).
(Bổ)
Người kết tập kinh chèn câu “Phật cáo Tu Bồ
Đề” (đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề)
nhằm minh thị đoạn văn tiếp theo đó là
đạo lư trọng yếu. Câu này chính là ấn chứng,
hứa khả, sau đó mới nói rộng ra. Một phen hỏi
đáp vừa rồi chỉ nói tới thân tướng. Thật
ra, tất cả các tướng đều là hư vọng.
Ông nói “chẳng thể” rất đúng! Bởi tánh vốn
chẳng phải là tướng. Chữ Vọng (妄) ở đây hiểu theo nghĩa rộng.
“Hư vọng” giống như nói “hư giả”
vậy. Đă biết là hư giả, hăy nên hồi quang phản
chiếu, chớ nên hướng ra ngoài rong ruổi cầu
tướng, hăy mau quay về tánh. Tánh vốn chân thật,
há có thể dùng cái hư giả để thấy cái chân thật
ư? Biết đấy là căn bệnh của phàm phu,
hăy nên tránh để khỏi đến nỗi đọa
nhập luân hồi!
2.2.2.1.2.1.1.1.2.4.2.2. Từ
ngay nơi tướng mà thấy tánh
(Kinh)
Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc
kiến Như Lai.
(經)若見諸相非相,則見如來。
(Kinh:
Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng,
sẽ thấy Như Lai).
(Bổ)
“Chư tướng” tức là hết thảy các
tướng, tức là “phàm tất cả các
tướng”.
Chỉ cần triệt để hiểu rơ hết thảy
các tướng đều là hư vọng, sẽ chẳng
đuổi theo vọng, tức là biết có Chân. V́ thế,
thấy các tướng chẳng phải là tướng,
tướng sẽ chẳng thể chướng ngại
tánh, liền thấy Như Lai, cần ǵ phải diệt
tướng, do sẽ từ ngay nơi tướng
mà có thể thấy tánh. Ông đáp “được thấy
Như Lai” hết sức đúng! Chữ “tắc” (則)
trong các bản lưu thông ghi là Tức (即);
ở đây, tôi dựa theo bản chép tay
của người đời Đường mà sửa
thành Tắc. Tắc và Tức vốn có thể dùng lẫn cho nhau, chỉ hiểu
là Tiện (便, liền, bèn là) th́ hợp lư, nếu
hiểu là Tựu (就, tùy thuộc) th́ chẳng thể thông suốt!
Phàm
tất cả các tướng đă là hư vọng, đều
chớ nên trụ. V́ thế, phần trên nói “pháp tướng”
hay nói “phi pháp tướng” liền bao quát hết thảy
các tướng. Đức Phật nói “chẳng trụ
tướng”, tức là dạy mọi người thấy
Như Lai. Nếu chấp vào thân Ứng Hóa, sẽ chẳng
thể thấy Pháp Thân. Do đó, “chẳng trụ tướng”
nhằm khiến cho mọi người kiến tánh. Lại
nữa, “chẳng trụ tướng” chính là chẳng
chấp trước. Chẳng chấp trước chính là
chẳng bị tướng chuyển, hoàn toàn tương
phản với “vị
ngă sở chuyển” (bị ngă xoay chuyển).
V́ vậy, chỉ cần biết rơ là hư vọng, chẳng
cần phải đoạn diệt, mà cũng chẳng thể
đoạn diệt! Bởi lẽ, tướng vốn do
tánh hiện. Đức Phật dạy mọi người
chớ nên chấp trước pháp thế gian, cũng chớ
nên ghét bỏ. Phàm phu chấp tướng tức là trụ
trong tướng của pháp rồi nẩy sanh phiền năo. Người tu
hành chán ghét pháp thế gian, lại trụ trong phi pháp tướng
mà nẩy sanh phiền năo. Cần phải biết:
Tánh vốn “vô tướng, vô bất tướng”, chẳng
thể đoạn diệt.
Chúng ta
dụng công, trước hết, cần phải quán chiếu,
lâu ngày rồi mới có thể chiếu trụ, cuối
cùng là có thể chiếu kiến. Nương theo lời
đức Phật dạy, chẳng chấp Nhị Biên
để tu hành, hành tới,
hành lui, cho tới khi công phu thuần thục, đă sâu lại
càng sâu hơn, th́ mới là Bát Nhă Ba La Mật, mới thật
sự thấy các tướng chẳng phải là tướng,
tức là như Tâm Kinh nói “chiếu kiến Ngũ Uẩn
giai không, độ nhất thiết khổ ách” (soi thấy
Ngũ Uẩn đều là Không, vượt khỏi hết
thảy các khổ ách). Sắc trong Tâm Kinh chính là Tướng
trong kinh này. Thọ, Tưởng, Hành,
Thức
chính là “mừng, giận, buồn, vui, khởi tâm động
niệm”.
Chiếu soi chúng đều là Không th́ mới là “các
tướng chẳng phải là tướng”. “Giai không”
(đều là Không) tức là Tam Không
(ngă không, pháp không, ngă pháp câu không),
chẳng phải là Đản Không[1]
của Tiểu Thừa. V́ thế lại nói “Sắc bất
dị Không, Không bất dị Sắc” (Sắc chẳng
khác Không, Không chẳng khác Sắc). Nói như thế th́ Sắc
và Không vẫn là hai thứ, cho nên lại nói: “Sắc tức
thị Không, Không tức thị Sắc” (Sắc tức
là Không, Không tức là Sắc). Đấy chính là Không và Hữu
đồng thời; điều
này thông với cả bốn câu “phàm sở
hữu tướng” (phàm tất cả
các tướng). Phàm tất cả tướng đều
là hư vọng, thông với câu “Không tức thị Sắc”.
Hết thảy giả danh, bản thể của chúng chính
là Không. “Nhược
kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến
Như Lai” (nếu
thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền
thấy Như Lai)
thông với câu “Sắc tức thị Không”. Do Sắc
tức là Không, có thể thấy Không chẳng ở ngoài Sắc,
cần ǵ phải diệt Sắc để nói rơ Không? V́ thế
nói là “tắc kiến Như Lai” (liền thấy
Như Lai). “Kiến Như Lai” chính là kiến tánh. Chẳng
chấp trước tướng, liền có thể độ
hết thảy các khổ ách!
Khổ
ách vô lượng, nêu ra điều to lớn, th́ là Phần
Đoạn sanh tử của phàm phu và Biến Dịch sanh
tử của Tiểu Thừa. Thân phàm phu có cao, thấp, mạng
có thọ, yểu, lưu chuyển sanh tử;
đó gọi là Phần Đoạn sanh tử. Tiểu Thừa
chứng đắc tánh vô tướng, đă đạt
được cái Thể, vốn có thể hiện tướng,
nhưng họ sợ khổ, chẳng chịu nhập thế
độ sanh, trong tâm dấy lên sanh diệt vi tế. Đức
Phật gọi đó là Biến Dịch sanh tử. Nếu
thấy Như Lai, liền có thể vượt thoát các khổ
ách ấy. Vượt thoát khổ ách do thấy Như Lai.
Thấy Như Lai do chiếu kiến; do vậy, điều
khẩn yếu nhất trong dụng công là tác quán. Kinh
văn trong khoa này nếu tiêu quy tự tánh, chính là khi gặp
hết thảy các tướng, bước công phu đầu
tiên chính là quán “phàm tất cả tướng đều
là hư vọng”, c̣n đối với sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp, bèn quán các tướng chẳng
phải là tướng.
Chắc
có người nghi “ở
trong trần lao, chẳng dễ tác quán”.
Xin hăy lấy ngay Thượng Hải để nói, chúng ta
suốt ngày nghe tiếng xe, tiếng người, đủ
loại tiếng ồn quấy nhiễu. Cần phải biết:
Các âm thanh ấy dấy lên, diệt mất chẳng ngừng.
Các chúng sanh tất bật đến đi, đều
bươn bả v́ cơm áo, chẳng do chính ḿnh làm chủ.
Nhưng thật ra chẳng phải là tiếng xe, tiếng
người, hay đủ loại tiếng ồn quấy
nhiễu, mà chính là âm thanh vô thường, khổ, không, vô
ngă, bản thể của chúng là Không. Rơ ràng là tiếng
động, nhưng tác quán như thế, liền chẳng
chấp Có, chẳng chấp Không, chúng sẽ là âm thanh Bát Nhă
Ba La Mật Đa. Do vậy, đối với bất luận
câu nào trong kinh văn, cũng đều có thể tác quán,
đi, đứng, ngồi, nằm, đều chẳng ĺa
điều ấy, sẽ thọ dụng vô cùng.
Nương vào văn tự mà khởi quán chiếu như
thế, trước hết, ta cần phải đọc
kinh, đó là kinh chuyển ta. C̣n tác quán tức là ta chuyển
kinh. “Kinh chuyển ta” tức là dùng kinh để chuyển
dời phàm t́nh. “Ta chuyển kinh” lại là công phu càng
trọng yếu hơn. Kinh văn trong khoa này nhằm nói rơ
nguyên do của câu trên, tức là tổng kết “hàng phục
cái tâm này, hăy nên chẳng trụ vào đâu”. V́ thế,
nương theo kinh văn này để quán chiếu, sẽ
chẳng khác quán chiếu đoạn văn trước
đó.
Phàm
tất cả tướng đều là hư vọng. Nếu
thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền
thấy Như Lai. Thấy Như Lai tức là thấy tánh.
Thấy tánh là do chẳng trụ vào tướng. Thấy tánh một
phần tức là Sơ Địa Bồ Tát, tức chẳng
thoái chuyển tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. Thấy rốt ráo, liền thành Phật; đó
chính là nguyên do của “phước
đức chẳng thể suy lường” trong đoạn
kinh văn trước đó. Thành Phật thấy tánh, Pháp
Thân hiển hiện trọn khắp hư không; đó chính
là nguyên do dùng hư không để tỷ dụ trong đoạn
kinh văn trước đó. Cần phải biết: Kinh
này nói đi, nói lại, đều nhằm nói “vô trụ”.
Kinh văn trong phần trước nói “chẳng trụ
vào tướng” chính là để giải thích “ưng
vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ vào đâu). Do
đó, vừa mở miệng, liền nói “hàng phục cái
tâm” trước, “khiến cho hết thảy chúng sanh
đều nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”;
đấy chính là dạy chúng ta chẳng trụ. “Diệt
độ vô lượng chúng sanh thành Phật”, chính là chỉ
dạy chúng ta pháp môn để phát tâm. “Thật sự chẳng
có chúng sanh được diệt độ” lại là
quét sạch pháp này, đấy chính
là chỉ dạy chúng ta đừng trụ
vào pháp tướng. Sau đó nói “Bồ Tát hăy nên chẳng
trụ vào đâu”, cũng là dạy mọi người
chớ trụ vào pháp tướng. “Hành bố thí” là dạy
mọi người đừng trụ vào phi pháp tướng.
Tuy lại nói “đản ưng như sở giáo trụ”
(chỉ nên trụ đúng như lời dạy), vẫn nhằm
ư nghĩa dạy mọi người trụ trong vô trụ,
chính là như cổ đức bảo “chỉ cầu dứt
vọng, đừng nên t́m
chân”. “Chân”
tức là chân tâm, lại chính là Chân Như. “Ưng” (hăy
nên) là Như Như b́nh đẳng. V́ sao Như Như b́nh
đẳng? Tánh thể vốn sẵn như thế! Có tánh
thể ấy, liền có thể hiện tướng. V́ thế,
người chứng đắc sẽ chẳng thể tồn
tại cái chân tâm ấy! Nếu t́m kiếm chân, sẽ chính
là thức thứ sáu và thứ bảy, liền trở thành
vọng. Cổ đức nói “chấp dị”, chấp
dị tức là phán định chân và vọng thành hai thứ,
chẳng phải b́nh đẳng. Do đó nói “ưng
như ngă sở giáo trụ” (hăy nên
đúng như lời ta đă dạy mà trụ)
nhằm hàng phục vọng tâm. Phàm phu toàn là vọng tâm, ắt
vọng tâm trừ từng
phần, chân tâm sẽ hiện ra từng
phần. “Chỉ cầu dứt vọng,
đừng t́m kiếm chân” chính là ư này vậy!
Phàm tất cả các
tướng đều là hư vọng, hễ trụ th́
là vọng. V́ thế, kinh văn trong phần trước vừa mở đầu liền nói
“hàng phục” mà chẳng nói “trụ”. Cớ sao lại nói “nếu
thấy các tướng chẳng phải là tướng, liền
thấy Như Lai”? Đấy là nói tới
lợi ích do chẳng trụ. Nếu
có thể thấy “các tướng chẳng phải là
tướng” chính là thấy chân tánh. Đó chính là tổng kết
ư nghĩa “chẳng nói trụ mà nói hàng phục, chỉ
nên trụ như ta đă dạy” trong kinh văn thuộc
phần trước. Từ chỗ này, có thể biết
cách hành văn trong kinh Kim Cang như ngựa trời chạy
trên hư không, nói lư th́ kín kẽ chẳng lọt, mở ra ở chỗ nào th́ sẽ kết
lại ở chỗ đó. Đọc
kinh văn thuộc khoa này, như ngọn núi lạ chợt
nổi lên. Thoạt nh́n tưởng như chẳng thừa
tiếp ư đoạn trước; nhưng thật ra, nó là
tổng kết của đoạn trước. Đúng là
như nước non trùng điệp, tầng tầng bao
quanh. Chỗ nào cũng đều có
long mạch vây bủa, chỗ nào cũng có nơi kết
huyệt! Nói theo phương diện văn tự, sẽ
là vừa nói, vừa quét sạch, đúng là “chẳng trụ
vào pháp tướng, chẳng trụ phi pháp tướng”,
thật sự đủ làm Văn Tự Bát Nhă. Khi đọc
kinh này, giảng kinh này, phần kinh văn trước cần
phải nhiếp nhập phần kinh văn sau, từ phần
kinh văn sau mà nh́n lại phần kinh văn trước.
Như “phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm tất
cả các tướng đều là hư vọng) chiếu ứng với bốn câu kệ “nhược
dĩ sắc kiến ngă, dĩ âm thanh cầu ngă” (nếu
dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta) trong phần sau.
“Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc
kiến Như Lai” (nếu thấy các
tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy
Như Lai) cũng là từng hơi thở liền mạch
với “ư pháp, bất
thuyết đoạn diệt tướng”
(nơi pháp chẳng nói
tướng đoạn diệt) thuộc kinh văn trong phần
sau (đoạn văn dưới đây do Giang lăo cư
sĩ đích thân viết).
Để giảng rơ
đoạn nêu nguyên do này, có bốn ư nghĩa trọng yếu:
1)
Trên đây, chỉ dùng hư không để sánh ví phước
đức chẳng thể suy lường, nhằm giải
thích lư do “chớ nên trụ tướng mà hành bố thí”.
Ở đây lại nói “nếu chẳng trụ tướng,
sẽ có thể thấy tánh thể của Như Lai”.
Đấy chính là nguyên do của phước đức
như hư không chẳng thể suy lường vậy.
2)
Trên đây nói “chẳng trụ tướng” để
ngăn ngừa kẻ chẳng hiểu, sẽ ngờ là diệt
tướng. Ở đây càng nói rơ hơn là “chẳng giữ
lấy tướng” hoàn toàn chẳng
phải là đoạn diệt tướng ấy. Đó gọi
là “nếu thấy các tướng chẳng phải là
tướng, sẽ thấy Như Lai”. Đó là nguyên do
chẳng trụ tướng vậy!
3)
Trên đây, nói về nhân hạnh th́ [dạy hành nhân] chớ
nên trụ vào tướng để ngăn ngừa nỗi
nghi “không chỉ hết thảy chúng sanh đều có thân tướng là khổ quả thuộc
Tứ Đại, Ngũ Uẩn, mà ngay cả đối với
thân tướng ba mươi hai tướng hảo, cao một
trượng sáu thước nơi cực quả của
đức Thế Tôn, cũng v́ sao chẳng trụ?” (cổ
nhân chỉ nêu ra thân tướng thuộc quả đức
của Như Lai, nay cũng thể nói là “chung cho hết thảy
chúng sanh” th́ ư nghĩa viên măn hơn. Bởi lẽ, kinh
văn trong phần sau đó nói “phàm tất cả các
tướng”. Lại trong phần sau nữa, cũng có
câu hỏi “có thể dùng ba mươi hai tướng
để thấy Như Lai hay không?” Chính là chuyên chỉ
quả đức vậy). Nay nói rơ “đều chẳng
thể trụ”. Nói theo quả đức, hễ trụ,
sẽ chẳng thể thấy Như Lai. Nói theo khổ quả,
hễ trụ, sẽ chẳng thể thấy Như Lai Tạng
vốn sẵn có. Đấy chính là nguyên do “đản ưng
như sở giáo trụ” (chỉ
nên trụ đúng như lời dạy),
mà cũng chính
là nguyên do “ưng
bất trụ tướng” (hăy nên
chẳng trụ tướng).
4)
Tiểu Thừa th́ tánh và tướng chẳng dung hội,
đă coi âm thanh và sắc tướng là Phật, sự tự
tu của họ lại đọa vào chấp vô vi. Nay nói
rơ: Cúng Phật, cần phải đừng chấp trước
sắc tướng để thấy Như Lai; tự tu
cũng đừng nên Thiên Không. Chỉ cần chẳng chấp
vào tướng, Sắc sẽ chính là Không, tướng chính
là tánh, tánh và tướng viên dung, vô ngại tự tại.
Đó chính là nguyên do đức Thế Tôn nói pháp Bát Nhă khiến
cho [mọi căn cơ Tiểu Thừa] hồi Tiểu
hướng Đại vậy.
2.2.2.2.2.1.1.2.
Sanh ḷng tin
Chia thành bốn
đoạn:
1.
Chỉ bày phân biệt căn cơ.
2.
Nêu rơ phước đức.
3. Kết
lại để hiển thị Trung Đạo.
4. Gạn
hỏi, giải thích, chứng minh để kết lại.
2.2.2.2.2.1.1.2.1.
Chỉ bày, phân biệt căn cơ
2.2.2.2.2.1.1.2.1.1.
Thưa hỏi
(Kinh)
Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Phả
hữu chúng sanh đắc văn như thị ngôn thuyết
chương cú, sanh thật tín phủ?
(經)須菩提白佛言:世尊!頗有眾生,得聞如是言說章句,生實信不?
(Kinh:
Ngài Tu Bồ Đề bạch cùng đức Phật rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Há có chúng sanh nào được
nghe chương cú ngôn thuyết như thế mà sanh ḷng tin
chân thật hay không?)
(Bổ)
Kinh này hễ [chỗ nào] có câu “Tu Bồ Đề bạch
Phật ngôn” đều nhằm trịnh trọng [nhấn
mạnh] chuyện sẽ nói, v́ những điều sẽ
nói đều là đạo lư khẩn yếu nhất. “Phả”
(頗) là nhiều.
“Như thị” chỉ điều vừa được
minh thị trong đoạn kinh văn trên đây. “Ngôn thuyết”
là pháp vừa được nói trong đoạn kinh văn
trước đó. “Chương cú” chẳng phải
là một chương (chapter),
hay một câu. La Thập đại sư tùy thuận thành
ngữ ở phương này (Trung Hoa). Người Hán khi giải
nói kinh điển, phần nhiều gọi đó là “chương
cú”. Hai chữ này chỉ những đạo lư được
nói trong phần kinh văn trước đó. “Thật
tín”: Chẳng phải là nói về
ḷng tin hời hợt, vu vơ, mà là có thể liễu giải
ư nghĩa chân thật trong chương cú, ngôn thuyết
như thế. Lời hỏi này của ngài Tu Bồ Đề
chú trọng nơi thật tín, tức là khai thị bọn
chúng ta: Đối với ngôn thuyết chương cú
như thế, ắt phải sanh ḷng tin chân thật th́ mới
được! Những điều đức Thế Tôn
đă nói trên đây quá ư sâu xa, hết thảy chúng sanh
nghe rồi đương nhiên là sanh ḷng tin; nhưng người
có thể sanh ḷng tin chân thật có nhiều hay không? Sợ rằng
chẳng nhiều lắm! Đạo lư sâu như thế,
người sanh ḷng tin chân thật, nếu chẳng phải
là bậc thượng căn lợi trí sẽ không làm nổi,
nhưng căn khí như thế ấy chẳng gặp
được nhiều! Rốt cuộc cần phải là
bậc thượng căn lợi trí ư? Hay chẳng bắt
buộc phải là bậc thượng căn lợi trí?
2.2.2.2.2.1.1.2.1.2.
Giải đáp
2.2.2.2.2.1.1.2.1.2.1.
Phân biệt các căn cơ có thể sanh ḷng tin
(Kinh)
Phật cáo Tu Bồ Đề: - Mạc tác thị thuyết.
Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bách tuế, hữu
tŕ giới, tu phước giả, ư thử
chương cú, năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật.
(經)佛告須菩提:莫作是說。如來滅後,後五百歲,有持戒修福者,於此章句,能生信心,以此為實。
(Kinh:
Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: - Đừng
nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm
trăm năm sau, có người tŕ giới, tu phước,
đối với chương cú này có thể sanh tín tâm, coi
đấy là thật).
(Bổ)
Người kết tập kinh đặt thêm câu “Phật
cáo Tu Bồ Đề” với dụng ư chỉ rơ: Lời
dạy này là trọng yếu. Bằng câu “mạc tác thị
thuyết” (đừng nói
như vậy), đức Thế Tôn
chặn họng ngài Tu Bồ Đề, bảo tôn giả
chẳng thể nói như thế được! Không chỉ
là đại chúng trong hiện tại có thể sanh ḷng tin
chân thật, mà kể cả sau
khi đức Như Lai diệt độ, tới năm
trăm năm sau, vẫn có người có thể tŕ giới,
tu phước sanh khởi tín tâm đối với
chương cú này. Người ấy có thể sanh tín tâm,
liền coi chương cú này là nghĩa chân thật. Chỉ
có hai loại người tŕ giới và tu phước là có
thể sanh ḷng tin đối với chương cú này, chứ
những kẻ khác sẽ chẳng thể! Chữ Thử
trong “dĩ thử” cũng nhằm nói đến “ngôn
thuyết chương cú”. “Vi thật” (coi là thật)
nghĩa là có thể hiểu rơ đạo lư trong kinh này. Từ
đấy dụng công, cho nên có thể sanh tín tâm, hoàn toàn nhờ
vào “dĩ thử vi thật” (coi đó là thật).
Xưa nay, có khá nhiều bậc đại
văn nhân từng xem
Tam Tạng, không chỉ là một
lượt, nhưng hỏi đến tu hành th́ chẳng hề
có mảy may, chính là do căn bệnh “chẳng coi đấy
là thật”! “Coi đấy
là thật” chính là lời giải
đáp cho câu hỏi về sanh ḷng tin chân thật của
ngài Tu Bồ Đề.
Dụng
ư trong lời hỏi của ngài Tu Bồ Đề, một
đằng là mong cho mọi người sẽ sanh ḷng tin
chân thật, đằng khác là lo ngại lư quá sâu, chẳng
phải là bậc đại căn khí, sẽ chẳng thể
tin tưởng chân thật; dụng
ư là như thế đó. V́ sao đức Phật
chặn họng tôn giả [Tu Bồ Đề]? Trong ấy,
chứa đựng ba ư nghĩa trọng yếu, từ các
câu kinh văn sau đó, sẽ
có thể thấy:
1)
Chớ nên coi thường chúng sanh! Năm trăm năm sau
mà vẫn có người như thế, huống hồ hiện
tại ư?
2) Đừng nên ngăn trở thiện niệm
của kẻ khác, khiến cho họ sanh tâm thoái khuất! Cứ
xem câu kinh văn trong phần sau nói [người như vậy]
đă gieo các thứ thiện căn nơi vô lượng
ngàn vạn chư Phật th́ biết ngay.
3)
Chẳng bắt buộc là bậc thượng căn, lợi
trí! Chỉ cần là hai loại người tŕ giới và
tu phước, th́ sẽ có thể sanh ḷng tin.
Nghĩa
thứ nhất và thứ hai sanh từ nghĩa thứ ba. Bởi
lẽ, hai loại người tŕ giới và tu phước,
trí huệ đều chẳng cao. Tŕ giới, tu phước
đều là người cầu phước báo. Họ
đối với pháp môn rất sâu này vốn có ư thoái thất;
v́ thế, đức Phật răn đừng nói lời ấy!
Trên
đây là nói nông cạn; trong đó, c̣n chứa đựng thâm ư. Câu “mạc tác thị thuyết”
(đừng nói lời ấy) chính là nói với người
hoằng dương Đại Thừa Phật pháp. Không chỉ
đối với người trong thuở ấy, mà c̣n là nói với người hoằng
dương Đại Thừa Phật pháp trong mai sau. Không
chỉ răn ngài Tu Bồ Đề chớ nên nói như thế,
mà hiện thời chúng ta cũng chớ nên nói như thế.
Bổn ư của đức Phật là mong [các đệ tử
Phật hăy] dốc cạn sức lực hoằng
dương pháp môn Bát Nhă. Kinh này do ngài
Tu Bồ Đề khải thỉnh, trong tám hội trước,
Ngài đă thay mặt đức Phật tuyên nói; có thể
thấy ngài Tu Bồ Đề là người hoằng
dương Bát Nhă. Trong phần sau, [chánh kinh] nhiều lượt
nói “thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác
nói”, có thể thấy niềm
mong mỏi hoằng dương Bát Nhă
của đức Phật từ chỗ này! Nếu
nói như vậy, há có phải là bổn ư hoằng
dương ư? Nhưng hoằng dương Bát Nhă,
đúng là chẳng dễ! Như Trung Hoa từ đời Tống
nay, các cổ đức thấy pháp môn Bát Nhă khó tu, phần
nhiều chẳng muốn giảng, cho rằng chúng sanh nghiệp
sâu, chướng nặng, chấp tướng đủ thứ,
chẳng dễ ǵ lănh hội. Lại sợ người
nghe pháp môn này, đâm ra đọa vào Thiên Không, thậm chí
trở thành ác thủ không[2],
chẳng thà không giảng! Đức Thế Tôn đă sớm
thấy điều này. V́ thế, răn “đừng nói
lời ấy”. Các chứng bệnh như do giảng Bát
Nhă mà đâm ra đọa vào Thiên Không, chính là v́ người
giảng chẳng khéo hoằng dương, chẳng phải
là lỗi của người nghe! Cần phải biết:
Bát Nhă chính là Phật chủng. Kinh này nói: “Nhất thiết
chư Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề pháp,
giai tùng thử kinh xuất” (hết
thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà
ra). Nếu chẳng giảng, đạo lư Bát Nhă vĩnh viễn
chẳng thể tỏa rạng, há chẳng phải là
đoạn Phật chủng ư? V́ vậy, chẳng thể
không dốc cạn sức lực hoằng dương! Phần
sau có nói “hà đảm Như Lai Tam Miệu Tam Bồ
Đề” (gánh vác Chánh Đẳng Chánh Giác của
Như Lai) vậy!
Các
vị đại đức cận đại phần lớn
chẳng giảng Bát Nhă, mà giảng Tam Đế viên dung;
thật ra, [Tam Đế] chẳng
dễ liễu giải! Đức Phật nói Tam Đế
trong hội Pháp Hoa, chính là sau khi đă tuyên nói Bát Nhă. V́ thế,
đức Phật răn trước “mạc tác thị
thuyết” (đừng nói lời ấy) v́ muốn ngài
Tu Bồ Đề hoằng dương pháp môn này. Ư nói: Ông
chẳng hoằng dương, sao có thể khiến cho
người khác liễu giải,
sanh ḷng tin chân thật? Ông chỉ lo chúng sanh chẳng dễ
sanh ḷng tin, quên bẵng đại sự hoằng
dương Bát Nhă, há có nên chăng? Không chỉ như vậy!
Ông chẳng hoằng dương, chính là ngăn trở thiện
niệm của kẻ khác! V́ thế, hăy nên dốc cạn sức
hoằng dương. Nhưng hoằng dương mà nếu
chẳng thận trọng, lại càng chớ nên! Đức
Phật giảng Bát Nhă đă nhằm lúc tuổi già. Khi Ngài
mới thành đạo, trước hết nói kinh Hoa
Nghiêm. V́ trong Hiền Kiếp, Thích Ca Mâu Ni đă là vị Phật
thứ tư, cách [quá khứ] Phật đă lâu xa, chẳng
thể không hoàn toàn nói ra cảnh giới Phật. Ngài quay lại
giảng A Hàm; đó là khiến cho mọi người tự
tận lực thực
hành thực tiễn. Đợi cho căn cơ của mọi
người dần dần chín muồi, liền giảng
Phương Đẳng, nói rơ lư Đại Thừa, khiến
cho họ hồi Tiểu hướng Đại. Kế
đó mới giảng Bát Nhă. Có thể thấy: Cần phải
thận trọng đối với pháp môn này! Đă cần
phải hoằng dương, lại c̣n phải thận trọng.
Do đó, ắt phải chọn lấy căn cơ tŕ giới
và tu phước. Ư đức Phật là: Ông sợ người
ta chẳng dễ sanh ḷng tin chân thật, lại sợ
người sanh ḷng tin chân thật chẳng nhiều. Chỉ
cần vâng theo lời ta nói mà hoằng dương, từ
thực tiễn mà dụng công, người nghe sẽ chẳng
đến nỗi mắc sai
lầm! Chỉ
tùy thuộc phương pháp hoằng dương như thế
nào, há lo chẳng sanh ḷng tin chân thật ư? “Mạc
tác thị thuyết” là một câu khẩn
yếu nhất, cho đến tột cùng đời vị
lai, người hoằng dương Phật pháp đều
nên như thế!
“Như
Lai diệt hậu” (Sau khi Như Lai diệt độ): “Diệt”
là diệt độ. Diệt độ có hai nghĩa:
- Ư
nghĩa căn bản là nói đến cái tâm chẳng sanh diệt,
thường nói “sanh diệt đă diệt, tịch diệt
hiện tiền”, được gọi là Niết Bàn.
-
Sau này, từ ngữ này được mượn dùng, phàm
hết thảy Phật, Bồ Tát viên tịch cũng gọi
là “nhập diệt”.
“Diệt
hậu” là nói sau khi hết thảy các
tướng sanh diệt của Phật
đă diệt; đấy là thân Ứng Hóa diệt. Như
Lai là Pháp Thân, v́ sao nói diệt? Trong ấy, có đạo lư
tinh áo, đức Phật mong chúng ta liễu giải, đặc
biệt nói “Như Lai diệt”, có ba ư nghĩa trọng
yếu [như sau]:
1)
Báo Thân và Ứng Hóa Thân đều là tướng. “Diệt”
là Báo Thân và Ứng Thân diệt. Như đức Thế Tôn
mặc áo, dùng cơm, thị hiện tướng phàm phu bị
diệt; đó là Ứng Hóa Thân diệt.
Báo Thân cũng từ Pháp Thân hiển hiện. Đă có hiển
hiện th́ cũng có diệt. Ở đây, chẳng nói Ứng
Thân và Báo Thân diệt; tức là nói rơ Như Lai chẳng c̣n
hiện Ứng Thân và Báo Thân v́ muốn cho chúng ta cảnh
giác. Cần phải biết: Báo Thân và Ứng Thân do Như
Lai hiển hiện vẫn là sanh diệt. Đó gọi là “phàm
tất cả các tướng đều là hư vọng”,
huống hồ cái túi da hôi thối của chúng
ta! Hơn nữa, thân tướng của chúng ta sanh th́ chẳng
biết v́ sao mà sanh, diệt th́ chẳng biết cớ sao lại
diệt, hoàn toàn bị nghiệp lực lôi kéo, chính ḿnh chẳng
thể làm chủ. Phật th́ chẳng phải vậy, tuy Ứng
Thân và Báo Thân là sanh diệt, nhưng Như Lai tự ḿnh làm
chủ, muốn sanh liền sanh, muốn diệt liền diệt.
Chúng ta đều có Như Lai Tạng, phải nên nhanh chóng
trở về diện mục vốn sẵn có.
2)
Chứng đắc bản tánh th́ gọi là Như Lai,
nhưng Pháp Thân vô tướng, có thể thấy bằng
cách nào? Cái có thể thấy chính là tướng, tức là
thân mà Bồ Tát trông thấy bất quá là Báo Thân do Pháp Thân hiện
khởi, thân mà phàm phu trông thấy chính là thân Ứng Hóa do
Pháp Thân hiện khởi. Nếu có thể thấy Ứng
Thân và Báo Thân chẳng phải tướng, tức là thấy
Như Lai. Do vậy, muốn kiến tánh, tức là từ
“chẳng phải tướng” mà thấy, chớ nên nhập
vào đoạn diệt. V́ thế, cảnh cáo chúng ta: Thấy
Như Lai chẳng dễ dàng! Cần phải dũng mănh,
tinh tấn để chứng đắc. Chúng ta muốn thấy
Như Lai, phải cầu từ nơi tánh. Nói đến
tánh th́ ta và Như Lai tự và tha chẳng hai, có thể từ
tánh thể của chính ḿnh mà lănh hội đôi chút. Đó
chính là cơ duyên để thấy Như Lai.
3)
Báo Thân và Ứng Thân của Như Lai c̣n phải nhập diệt,
do vẫn là tướng; nhưng chẳng phải là
vĩnh viễn diệt, c̣n sẽ thị hiện. Cần phải biết:
Báo Thân và Ứng Thân chính là h́nh bóng của Pháp Thân. Chúng ta biết
Pháp Thân chẳng diệt, tức là Báo Thân và Ứng Thân lại
có cơ hội thị hiện. Xưa nay, có người thấy
kim thân một trượng sáu thước. Có người
dũng mănh, tinh tấn, như La Hán thấy thân Phật cao
ngàn thước. Có người thấy thân Phật to
như núi Tu Di. Đó chính là Báo Thân được thấy bởi
Bồ Tát. Lại như Trí Giả đại sư chú giải
kinh Pháp Hoa xong, đích thân thấy hội Linh Sơn nghiễm
nhiên chưa tan, đều là các chứng minh cho điều
này.
V́ vậy,
nghĩa thứ nhất là nói “Như Lai chẳng c̣n thị
hiện Báo Thân và Ứng Thân nữa”, ḥng cảnh tỉnh
chúng ta. Nghĩa thứ hai là khiến cho mọi người
biết: “Muốn thấy Như Lai, cần phải dụng
công nơi tự thân”. Nghĩa thứ ba là nói “Như Lai bất
diệt, chỉ cần dụng công, vẫn có thể trông
thấy”.
Câu “hậu
ngũ bách tuế” có ba cách giải
thích:
1)
Dùng ư nghĩa “về sau” để giảng chữ Hậu
trong câu “Như Lai diệt hậu”, tức là năm
trăm năm sau khi Như Lai diệt độ.
2)
Coi năm trăm năm thứ nhất sau khi Như Lai diệt
độ là Tiền, coi năm trăm năm thứ hai là
Trung, coi năm trăm năm thứ ba là Hậu.
3)
Nói tới năm trăm năm thứ năm sau khi Như
Lai diệt độ (tức hai ngàn năm trăm năm
sau khi đức Phật nhập Niết Bàn). Bởi lẽ,
Chánh Pháp và Tượng Pháp mỗi thời là một ngàn
năm, Mạt Pháp một vạn năm. “Hậu ngũ
bách tuế” là nói đến năm trăm năm đầu
tiên trong thời Mạt Pháp. Sau khi Như Lai diệt độ,
Chánh Pháp một ngàn năm, năm trăm năm đầu
là giải thoát kiên cố, năm trăm năm kế tiếp
là Thiền Định kiên cố. Nói “giải thoát” tức
là chứng đắc Bát Nhă Ba La Mật, độ hết
thảy các khổ ách. “Kiên cố” tức là căn khí
của chúng sanh vững vàng. Năm trăm năm kế
đó, căn khí kém hơn, nhưng
vẫn có thể trụ trong Thiền
Định. Giải thoát và Thiền Định chính là
Định, Huệ, nên gọi là Chánh Pháp. Năm trăm
năm đầu trong một ngàn
năm của thời Tượng
Pháp, tuy vẫn có giải thoát và Thiền Định,
nhưng đă rất ít, [đệ tử Phật] chuyên chú
trọng nói Lư, chẳng đặt nặng thực hành. V́
thế nói là Đa Văn Kiên Cố. Cần phải biết:
Xem kinh trọng tại tác Quán. Nếu chỉ chú trọng
đa văn, sẽ như đếm vật
báu của người khác, chính ḿnh chẳng có nửa phần,
c̣n gọi là “nói chuyện ăn sẽ chẳng no”.
Đức Thế Tôn bảo ngài A Nan: Nhiều kiếp
trước kia, ông cùng ta đồng tu, tới nay ông vẫn
làm thị giả của đức Phật, căn bệnh
là do chuyên chú trọng đa văn. Năm trăm năm kế
tiếp, ngay cả người đa văn cũng ít, chúng
sanh chỉ biết dựng chùa, tạo tháp; nên gọi là
Tháp Tự Kiên Cố. Trong một ngàn năm ấy, Phật
pháp chỉ c̣n h́nh thức, đă đánh mất bổn ư của
đức Phật, bất quá
gần giống mà thôi, nên gọi là Tượng Pháp. Tới
năm trăm năm đầu thời
Mạt Pháp, Phật pháp càng suy, chúng sanh chỉ biết
đấu tranh, nói theo danh từ mới là “phấn đấu”.
Phật pháp tại Ấn Độ đă sớm diệt,
nguyên nhân là do trong thời Tượng Pháp đă có nhiều
đấu tranh. Ở Trung Hoa cũng thế, vào giữa
đời Đường, Thiền Tông, Tịnh Tông,
Tướng Tông đều dấy lên sự tranh chấp
môn hộ. V́ thế, gọi là Đấu Tranh Kiên Cố. “Hậu
ngũ bách tuế” trong kinh này chính là chỉ lúc ấy. Hiện
thời, lại là sau “năm trăm năm” trong thời
Mạt Pháp. V́ thế, đức Phật nói lúc này mà nếu
có người có thể xem kinh, đúng là chẳng nhiều
cho mấy!
“Dĩ
thử vi thật” (coi đó là thật)
chính là người có thể tŕ giới,
tu phước; ở đây có bốn nghĩa:
1)
Bát Nhă là chánh trí huệ, Huệ sanh từ Định, Định
sanh từ Giới. V́ thế, muốn khởi chánh trí Bát
Nhă, cần phải dụng công từ Giới. Nếu không,
sẽ chẳng thể do đâu mà sanh Định và Trí
được! Phàm phu có thể tŕ giới th́ mới có thể
ĺa ô nhiễm từ bên ngoài. Nếu chẳng tŕ giới, tâm
chẳng thanh tịnh, chẳng thể nhiếp tâm một
chỗ, chẳng thể tác quán, sao có thể sanh ra Bát Nhă? Nếu
chẳng do tŕ giới mà muốn
sanh trí, ắt đọa nhập Ác Thủ
Không
cũng chưa biết chừng! V́ thế, phước huệ
song tu như hai bánh của cái xe, khuyết
một chẳng thể
được! Người
tu hành có thể như thế th́ mới có thể thành
Lưỡng Túc Tôn. Hơn nữa, hai
đằng cần phải b́nh đẳng,
chẳng thể nặng nhẹ. Có người nói “chỉ cần trí huệ”; trọn
chẳng biết “trọng
huệ, khinh phước” tức là thiếu
khuyết đại bi, muôn vàn chớ nên! V́ thế, chư
Phật dạy mọi người phát tâm đại bi.
Kinh này hễ mở miệng ra là nói tới bố thí, đủ
thấy tu huệ chẳng
thể nào không tu phước! Nếu chẳng tu phước,
sẽ vô duyên với chúng sanh. Không chỉ là vô duyên, ngay cả
tướng hảo của người tu hành cũng chẳng
thể đầy đủ! Đối với người
hoằng dương Phật pháp, tướng hảo
cũng trọng yếu. V́ thế, trong kinh Phật, chỗ
nào cũng đều nói đến tướng hảo của
Phật, Bồ Tát. Tướng của La Hán chẳng bằng
Phật, điều ấy có đạo lư! Trong phần
trước đă nói: Sau khi chứng Thể, phải hiện
tướng, đều v́ chúng sanh. Chúng sanh trông thấy
người tướng hảo, sẽ dễ thân cận.
Pháp môn Bát Nhă chính là dạy mọi người thành Phật.
Tŕ giới, tu phước chính là căn bản để
thành Phật.
2) Cần
phải biết người tŕ giới, ắt thiểu dục,
biết đủ, tham dục ít hơn! Loại người
này tu Bát Nhă mới
chẳng nẩy sanh khuyết điểm. Bởi lẽ, tu
Bát Nhă cần phải ĺa tướng. Kẻ tham dục nhiều,
quyết chẳng thể ĺa được! Người tu
phước ắt tin sâu nhân quả. Người đời
mong được danh lợi, chiếu theo pháp thế gian
để cầu, c̣n hạng người này chiếu theo
Phật pháp để cầu. Do vậy, người tin sâu
nhân quả sẽ chẳng đến nỗi lệch về
phía tướng đoạn diệt. Chẳng trụ
nơi tướng th́ người tŕ giới thích đáng
nhất. Chẳng nhập tướng đoạn diệt
th́ người tu phước thích hợp nhất. Như kẻ
lắm tham dục, vừa nghe Bát Nhă, sẽ phạm các lỗi
lầm rất nhiều. Có kẻ hiểu “chẳng trụ
tướng” cong vạy, cho rằng làm ác chẳng trở
ngại, thốt lời cao luận bừa băi, không chuyện
ǵ chẳng làm, cứ ngược ngạo tự cho ḿnh
đă hiểu sâu xa lư Bát Nhă, thậm chí sát sanh, dâm loạn,
mà luôn cho là “chẳng trụ tướng”. Do vậy,
đức Phật chẳng chọn loại người
này, mà ắt chọn lựa người thiểu dục,
tri túc.
3)
Trong kinh văn thuộc phần trên đă nói phát tâm hành Bát
Nhă, hăy nên hành bố thí. Bố thí tức là Xả. Hai loại
người này chính là người có thể Xả: Tŕ giới
có thể bỏ thế gian dục, người tu phước
bèn bỏ tài sản, tinh thần của chính ḿnh, dùng tài,
pháp, vô úy để thí cho người khác, hết sức
phù hợp đạo lư Bát Nhă.
4)
Tu pháp môn này, trước hết,
hăy nên lấp bít một môn “phi pháp
tướng”. Tŕ giới, tu phước chính là lấp bít
phi pháp tướng. Chỉ cần lại đối với
pháp tướng, quán chiếu lâu ngày, chẳng chấp
trước pháp tướng, sẽ có thể thành tựu.
V́ thế, đức Phật chọn lấy hai loại
người ấy, có thể thấy tŕ giới, tu phước
chẳng khác ǵ nói đến người học pháp môn Bát
Nhă. Lại chính là nói với chúng ta: Nếu
muốn học Bát Nhă, cần phải “đừng làm các
điều ác, vâng hành các điều thiện”. Chẳng
làm ác là giới, hành thiện là phước, thiết thật
thực hiện, củng cố cơ sở ấy th́ mới
được. Hai loại người ấy sẽ cẩn
thận trong mọi điều nhỏ nhặt, có thể
buông xả hết thảy. Nếu không, sẽ chẳng thể
nhập Bát Nhă. Người có thể sanh tín tâm, dùng Tín làm cửa
nẻo để
nhập đạo. Ắt phải thật hành như thế
th́ mới có thể nhập môn. Nếu không, chỉ là giảng
thuyết, chẳng thể nhập môn.
Có
người nói tŕ giới và tu phước là căn bản
của tu Bát Nhă. Trước là ngăn chặn Thiên Không,
chuyện này là cố nhiên, nhưng vẫn c̣n nghi. Trong kinh
đă nói rơ “dĩ thử vi thật”
(coi đó là thật), hai
loại người này rốt cuộc trí thức chẳng
đủ, sao có thể hiểu rơ nghĩa chân thật trọng
yếu của kinh này? Ở đây có một đạo lư
khẩn yếu. V́ sao? Do được Phật gia bị. Loại người này là căn cơ
được đức Phật chọn lựa quyết
định. Nếu có thể vâng theo lời đức
Phật dạy, tŕ giới, tu phước mà hành, ắt
được Phật gia bị, liền có thể coi
đó là thật. Người học Phật nhất định
cần phải đi, đứng, ngồi, nằm, thời thời khắc khắc cầu
Tam Bảo gia bị. Bất luận tu môn công phu nào, cũng
đều là như thế. Ngay cả khi giảng kinh,
cũng cần phải quăng bỏ tri kiến lúc b́nh thời,
cầu Tam Bảo gia bị. Nếu ĺa sự quán niệm ấy,
tức là chưa khởi tín tâm. Như niệm Phật th́ trong lúc niệm nếu chẳng
vứt bỏ hết thảy tri kiến lúc b́nh thường,
trong tâm chẳng có ǵ để chuyên dốc ư cầu Phật
Di Đà gia bị th́ sẽ chẳng thể!
Nhưng
lại có người nói: “Như thế th́ học theo bọn ngu phu ngu phụ
là được rồi, sao đức Phật lại nói
cần phải đọc tụng kinh điển Đại
Thừa vậy?” Điều này có hai nghĩa:
1)
Hiểu rơ kinh điển, công phu sẽ càng thêm thù thắng.
Chất chứa đạo lư trong ruộng thức thứ
tám, một khi tương ứng, Tam Minh và Lục Thông sẽ
có thể đồng thời phát sanh.
2)
Người thật sự có thể tin, hăy nên học theo
ngu phu, ngu phụ tín tâm kiên định. Hiềm rằng hạng
người bậc trung trong thế gian đông lắm, chẳng
tự chấp nhận ḿnh là ngu. Do vậy, cần phải
buộc họ hiểu lư!
Cổ
đức soạn sách, mở đầu phần nhiều
có lời cầu Tam Bảo gia bị. Đại Bồ Tát
soạn luận, đầu bộ luận cũng có câu “nương
vào sức oai thần của Phật”. Điều này
chân thật, chẳng dối, chẳng phải là có tánh chất
dựa dẫm, mà cũng chẳng phải là mê tín. Nếu
không có quan niệm như vậy, tức là có một cái ngă
kiến tồn tại, khiến cho tánh linh của chính ḿnh
bị chướng trụ, [hễ bị ngăn chướng
th́] soạn sách, tạo luận sao có thể triệt để
cho nổi? V́ thế, chẳng hoàn toàn quăng vứt ngă kiến,
sẽ không thể được! Pháp thế gian như Khổng
Tử, hễ hở ra là quy vào trời, cũng do thấu
hiểu ư này. Người học Nho từ đời Hán trở
về sau chẳng biết điều này!
2.2.2.1.2.1.1.2.1.2.2. Chỉ
bày túc căn sâu dày
(Kinh)
Đương tri thị nhân, bất ư nhất Phật,
nhị Phật, tam, tứ, ngũ Phật nhi chủng thiện
căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở,
chủng chư thiện căn.
(經)當知是人,不於一佛二佛三四五佛而種善根,已於無量千萬佛所,種諸善根。
(Kinh: Hăy nên biết
người ấy chẳng phải là gieo thiện căn
nơi một đức Phật, hai đức Phật,
ba, bốn, năm đức Phật, mà là đă gieo thiện
căn nơi vô lượng hết thảy chư Phật).
(Bổ)
Khoa trước là “tŕ giới, tu phước” cho tới
“coi đó là thật”, c̣n khoa này chính là để chú giải
cho khoa ấy. “Thị nhân” (Người ấy) tức
là người tŕ giới, tu phước, chỉ rơ người
như thế, chẳng nói “nhân đẳng” (những
người), cho thấy tŕ giới và tu phước, tuy
nói thành hai sự, nhưng thật ra là một chuyện. Hai
đằng đều chẳng thể thiếu khuyết!
Từ một vị Phật cho tới vị Phật thứ
hai, thời gian đă tột bậc dài lâu, chẳng biết
là bao nhiêu kiếp số, huống hồ ba, bốn, năm
vị Phật! Có thể thấy là người ấy
đă gieo thiện căn cực xa, nhưng đức Thế
Tôn lại chẳng chỉ nói như vậy, mà nói là “đă
gieo thiện căn nơi ngàn vạn chư Phật”.
Đă vượt ngoài ngàn vạn, lại thêm hai chữ Vô
Lượng, tức là thời gian dài lâu chẳng thể
nói, chẳng thể diễn tả được! Người
ấy không chỉ tu một điều thiện, mà c̣n tu
các điều thiện. “Chư thiện” chỉ Lục
Độ, vạn hạnh, có thể thấy người ấy
đă tu Bát Nhă tột bậc lâu dài! “Chủng căn”
(gieo căn) chính là nói đối ứng với “tŕ
giới, tu phước”.
Người ấy đă gieo căn cội cực sâu, tức
là các điều thiện hợp thành cội rễ,
đúng là “khó thực hiện, đáng quư”.
Đối
với vô lượng chuyện trong quá khứ, đức
Thế Tôn đều biết, lời này là chân thật chẳng
dối! Trong cái nh́n của lũ phàm phu chúng ta, người
ấy tŕ giới, tu phước đă hợp đạo
diệu; v́ sao vậy? Trong kinh văn thuộc phần
trước, đức Thế Tôn vừa mở miệng,
đă bảo ngài Tu Bồ Đề, liền nói “đều
khiến cho hết thảy tất cả các loài chúng
sanh nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Diệt
độ vô lượng, vô số, vô biên chúng sanh như thế,
nhưng thật sự chẳng có chúng sanh được
diệt độ”. Đó là phát đại
tâm. Trước hết, hăy nên độ sanh, tức chẳng
rớt vào Không. Kế đó, thật sự không có chúng sanh
đắc độ, tức chẳng trụ vào tướng.
Kế đó là nói đại hạnh “hăy nên chẳng trụ
vào đâu”. Trước là nói chẳng trụ tướng,
kế đó nói hành bố thí. Nếu trụ mà chẳng
hành, tức là rơi vào Không. Trong hai đoạn kinh văn ấy,
đức Thế Tôn ra rả bảo ban, răn nhắc, “ắt
đừng rơi vào Không” th́ mới có thể phát tâm tu
hành. Người ấy thực hiện tŕ giới, tu
phước, há chẳng phải là ngầm phù hợp lời
dạy “trước hết chẳng rơi vào Không” của
đức Thế Tôn ư? Hơn nữa, trong phần Phát
Khởi Tự, lúc sắp nói Bát Nhă, đức Thế Tôn
trước hết thị hiện giống như phàm phu, đắp y,
cầm bát v.v… Đó tức là tŕ giới. Lại c̣n khiến
cho chúng sanh sanh tâm hổ thẹn, tức là tu phước!
Người ấy tŕ giới, tu phước, há chẳng
phải lại ngầm hợp bổn ư của đức
Thế Tôn ư? Có thể thấy: Chẳng phải là bậc
đă gieo thiện căn từ lâu xa, sẽ chẳng thể
ngầm hợp diệu đạo như thế được!
Nh́n vào ngữ khí của đức Thế Tôn, tựa hồ
Ngài cực lực tán thán hạng người như thế;
thật ra là Ngài cổ vũ, khích lệ chúng ta, khiến
cho người nghe ngôn thuyết, chương cú ấy, sẽ
liền thật hành. V́ thế, Ngài mới có lời răn
ngài Tu Bồ Đề “đừng nói như thế”.
Bởi lẽ, nếu đúng như ngài Tu Bồ Đề
nói, người đời sau ắt sẽ nghĩ Bát Nhă
khó tu, thậm chí đề cao thánh cảnh, [cho là chính ḿnh chẳng
có phần]. Thật ra, chẳng khó! Chính là thực hiện
ngay trong tŕ giới và tu phước. Đấy là đức
Thế Tôn đại từ, đại bi. Há ngài Tu Bồ
Đề chẳng biết phát tâm tu hành, tu sao cho chẳng
rơi vào Không ư? Bất quá, Ngài thưa hỏi thay cho
chúng sanh, cũng là ḷng đại từ đại bi vậy!
Bọn
chúng sanh khổ năo chúng ta nay được nghe ngôn thuyết,
chương cú ấy, cũng là hy hữu, cũng là đă
gieo các thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn
chư Phật. Nếu không như vậy, sẽ chẳng
thể được nghe Bát Nhă vi diệu rất sâu này. Dẫu
được nghe th́ cũng như chẳng nghe. Lũ
chúng ta lại ở trong năm trăm năm sau, đấu
tranh càng kiên cố, có thể tới đây đọc tụng,
thọ tŕ, ắt là người chẳng mong tranh giành, ít
ham muốn, biết đủ, có tư cách tŕ giới.
Như vậy th́ bọn chúng ta đừng nên lầm lạc
coi rẻ chính ḿnh. Người đă tŕ giới, hăy càng nên
dụng công, lại cầu kiên cố. Người chưa
tŕ giới, hăy nên chiếu theo lời đức Phật dạy
để hành tŕ, ắt chư Phật sẽ hết sức
hoan hỷ. Dùng điều ấy khiến cho thiện
căn đă gieo được nẩy mầm. Bọn chúng
ta đă có tư cách ấy, lại được đức
Thế Tôn gia bị, há chẳng nên tự gắng công ư?
“Dĩ
thử vi thật” (coi đó là thật) tức là đă
hiểu rơ nghĩa chân thật, lại c̣n có thể tu hành.
Trong Lục Độ, bất luận Độ
nào, đều quy vào tu phước. Bố thí chẳng cần
nhất định phải bỏ sạch tài sản, chỉ
cần lượng sức bỏ ra một ít tài vật, hễ
có ích cho người khác, tức là Tài Thí. V́ người
khác thuyết pháp, hoặc tặng kinh điển cho người
ta, tức là Pháp Thí, hoàn toàn chẳng phải là chuyện
khó! Lại khuyên người khác học Phật, ắt
khuyên họ tŕ giới, tu phước. Thấy người
chẳng tŕ giới, lại càng phải khuyên. Lại thấy
người đă tŕ giới, nhưng c̣n chưa biết
Bát Nhă, càng phải khuyên sao cho họ
hiểu Bát Nhă. Phước đức ấy to lớn, chẳng
thể suy
lường; v́ sao vậy? Do chính là tiếp nối
hưng thịnh ḍng giống Phật. Lại
c̣n phải khuyên người ta mau chóng tu tập Tịnh
Độ, cầu sanh Tây Phương. Cần phải biết:
Bát Nhă và Tịnh Độ có mối quan hệ sâu xa vô cùng. Phần
trước đă nói: Để
học Bát Nhă th́ trước hết cần
phải “chẳng
trụ tướng”. Chẳng trụ tướng th́ mới có thể
từ Văn Tự Bát
Nhă mà khởi Quán Chiếu. Công quán chiếu đă sâu, bèn hiện Thật
Tướng Bát Nhă. Đấy chính là tánh. Tu hành th́ trước
là thực hiện quán chiếu, cuối cùng là phải hiện
Thật Tướng, điều này rất khó! Trong thế
giới Sa Bà, đủ loại sự ác dụ dỗ, sao
có thể liền hiện Thật Tướng cho được?
V́ thế, đại Bồ Tát tu hành, phát nguyện tu ba
đại A-tăng-kỳ kiếp, chẳng biết trải
qua bao nhiêu lượt luân hồi! Người ấy thiện
căn vững dày, nhưng cho tới thời gian dài lâu vô
lượng kiếp của ngàn vạn vị Phật, vẫn
chỉ là có thể sanh tín tâm. Có thể thấy là
nghiệp chướng sâu nặng! Do vậy, ắt phải
phát nguyện cầu sanh Tây Phương th́ mới
được. Lại như phát đại tâm đă nói
trong các phần kinh văn trước đó: Khiến
cho hết thảy các loài chúng sanh đều nhập Vô
Dư Niết Bàn mà diệt độ. Các chúng sanh được
độ ấy, trên là tới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Thiên, dưới là tới địa ngục, dẫu chúng
ta phát đại
tâm ấy, làm thế nào để có thể độ họ
được? Đấy thật ra là nhằm
dạy chúng ta: Trước
hết, hăy quán chiếu lư “duyên
sanh b́nh đẳng”. Nếu muốn măn nguyện, chẳng
chứng tánh trước đă,
th́ sẽ không thể! Muốn chứng tánh, trước hết
phải cầu sanh Tây Phương. Sanh Tây chẳng phải
v́ để chính ḿnh giải thoát, mà vốn v́ độ
chúng sanh th́ mới ứng hợp bổn nguyện của
Phật Di Đà, mới măn đại nguyện, có thể
chứng tánh. V́ thế, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
nói: “Hư không vô tận, thế giới vô tận, chúng
sanh vô tận, ngă nguyện vô tận” (Hư không vô tận,
thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nguyện của
tôi vô tận). Đấy
chẳng phải là hoàn toàn giống như nguyện “quảng
độ chúng sanh” trong kinh này ư? Có thể thấy
pháp môn Bát Nhă và pháp môn Tịnh Độ là một, chẳng
hai. Ắt phải có đại
nguyện ấy, Phật Di Đà mới đến tiếp
dẫn. Văng sanh chẳng v́ để chính ḿnh liễu thoát.
Có pháp môn văng sanh th́ mới có thể thành tựu pháp môn Bát
Nhă!
Người
ấy tŕ giới, tu phước cũng cực khó, [tuy trong đời quá khứ] đă
thân cận nhiều vị Phật ngần ấy, [thế mà] chỉ
gieo thiện căn! Có thể thấy: Để thành tựu
pháp môn Bát Nhă, phải nên thân cận Phật Di Đà th́ Thật
Tướng Bát Nhă mới có thể hiện tiền. Thiền
sư Vĩnh Minh nói: “Chỉ được thấy Di
Đà, lo chi chẳng khai ngộ”. Do vậy, người
học Bát Nhă phải nên mau tu pháp môn Niệm Phật.
Người tu Tịnh Độ cũng nên mau tu pháp môn Bát
Nhă. Nếu chẳng hiểu rơ nghĩa bậc nhất này,
chỉ niệm Phật suông, sợ
rằng chỉ sanh trong hạ phẩm. V́ thế,
đề xướng pháp môn Tịnh Độ, không thể
chỉ nói niệm Phật mà thôi! Cần phải biết:
Tu Tịnh Độ chính là để măn đại nguyện,
chỉ niệm Phật sanh trong hạ phẩm
th́ chẳng thể măn nguyện được! Thiền
sư Vĩnh Minh dạy: “Chẳng Thiền, có Tịnh
Độ, vạn người tu vạn đến; chỉ
được thấy Di Đà, lo chi chẳng khai ngộ?”
Lời kệ ấy chỉ có thể khuyên kẻ ngu, chẳng
thể khuyên người lợi căn. Người đời
coi thường câu “được thấy”, ngỡ
chẳng cần tu Quán theo Thập Lục Quán Kinh; đấy
là sai lầm!
Nghĩa bậc nhất được nói trong Quán Kinh chính
là Bát Nhă. Nếu chỉ sanh hạ phẩm, sẽ chẳng
thể thấy Phật.
2.2.2.2.2.1.1.2.2.
Nói về phước đức
2.2.2.2.2.1.1.2.2.1.
Giảng rơ về phước ấy
(Kinh)
Văn thị chương cú, năi chí nhất niệm sanh tịnh
tín giả, Tu Bồ Đề! Như Lai tất tri tất
kiến thị chư chúng sanh đắc như thị vô
lượng phước đức.
(經)聞是章句,乃至一念生淨信者。須菩提!如來悉知悉見,是諸眾生,得如是無量福德。
(Kinh:
Nghe chương cú này, thậm chí một niệm sanh tín tâm
thanh tịnh th́ Tu Bồ Đề, Như Lai đều thấy,
đều biết các chúng sanh ấy sẽ đạt
được vô lượng phước đức
như thế ấy).
(Bổ)
“Văn thị chương cú” (nghe chương cú này)
là nói tới người tŕ giới, tu phước. Chữ
Văn này tương ứng với chữ Văn trong câu “đắc văn
như thị ngôn thuyết, chương cú” (được nghe
ngôn thuyết, chương cú như thế) trong phần
trước. Được nghe ngôn thuyết, chương
cú như thế, coi đấy là thật, th́ mới có thể
sanh ḷng tin. Hai chữ “tịnh tín” chính là nói đến
“thật tín”. “Tịnh” là ǵ? Chính là như kinh văn
trong phần sau nói “tín tâm thanh tịnh tắc sanh Thật
Tướng” (tín
tâm thanh tịnh liền sanh Thật Tướng).
Người ấy thiết thực dụng công quán chiếu,
tu hành như thế đă lâu, chẳng chấp trước
tí nào! Tịnh tín liền sanh, cũng
chính là Thật Tướng. Chữ Tịnh này chẳng phải
là nói tương phản với nhiễm, mà là thanh tịnh
tuyệt đối. Hai bên Không và Hữu đều
chẳng chấp trước, cho nên là Thật Tướng.
“Năi chí” chính là từ ngữ để giản lược.
Sanh tịnh tín, có tịnh niệm tiếp nối, có nhiều
niệm, nhưng mức độ tối thiểu là một
niệm sanh tịnh tín, chưa thể có nhiều niệm, vẫn
chưa thể là niệm niệm tiếp
nối. Hai chữ “năi chí” ở
đây bao gồm nhiều loại người [có mức
độ] công phu sai khác. V́ thế, tiếp đó bèn nói “chư
chúng sanh”. Bất luận công phu cạn hay sâu, Như Lai
đều thấy, đều biết. “Nhất niệm” tức là khởi
tâm động niệm. “Sanh” là như Long Thọ Bồ
Tát đă nói “hết thảy các pháp bất sanh mà Bát Nhă
sanh”. Có thể thấy: Nếu chẳng mười phần
dụng công, sẽ chẳng thể sanh được!
Hơn nữa, một
niệm tương ứng chính là cái gốc của tịnh
niệm tiếp nối. Tịnh niệm tiếp nối do
một niệm tương ứng mà có! Một niệm
thanh tịnh ấy, không ai biết được, chỉ
có Như Lai là có thể thấy, có thể biết, bởi
lẽ tịnh tâm vô tướng, nhục nhăn và thiên nhăn
đều chẳng thể thấy. Nhưng nói như vậy
vẫn chưa phải là ư nghĩa căn bản! Cần phải
biết câu này chính là chú giải của “sanh tịnh tín”.
Như Lai là Pháp Thân, người ấy hễ một niệm
tương ứng sẽ cùng với Như Lai tâm in vào tâm,
quang minh chiếu lẫn nhau. V́ thế, “Như Lai đều
biết” tức
là cái biết nơi tánh, chính là triệt ngộ Phật
tánh. “Như Lai đều
thấy”
chính là quang minh nơi tánh chiếu soi, chính là vừa mới
mở bừng Phật nhăn. Công phu ấy cao tuyệt, cho nên
cổ nhân nói: “Một niệm tương ứng th́ một
niệm là Phật”. Đă là Phật, phước đức
há có thể suy lường được chăng?
Hai
khoa nhỏ này chính là chú giải cho câu “năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật”
(có thể sanh tín tâm,
coi đó là thật).
Hăy nên biết: Bắt đầu từ chữ “thị
nhân” (người ấy) cho tới “dĩ ư vô
lượng thiên vạn Phật sở chủng chư thiện
căn” (đă gieo các thiện căn nơi vô lượng
ngàn vạn đức Phật) nhằm nói rơ cái nhân tŕ giới,
tu phước. Khởi đầu từ “văn thị
chương cú” (nghe chương cú này) cho tới “đắc
như thị vô lượng phước đức”
(đạt được vô lượng phước
đức như thế) là nói rơ cái quả của tŕ giới,
tu phước. Đức Thế Tôn cực lực tán thán
người ấy, chính là để cổ vũ, khích lệ
chúng ta phát vô thượng tâm, phát đại nguyện, hành
đại hạnh,
ḥng đạt được vô lượng phước
đức.
Lại
nữa, khởi đầu từ “Tu Bồ Đề! Mạc
tác thị thuyết” (Tu Bồ Đề! Đừng nói
lời ấy) cho tới “đắc như thị vô
lượng phước đức” (đạt
được vô lượng phước đức
như thế) chính là chú giải minh thị cho đoạn “ưng
như thị hàng phục kỳ tâm” (hăy nên hàng phục
cái tâm như thế) cho tới “tắc kiến Như
Lai” (liền thấy Như Lai) trong phần trước.
Phần trước nhằm nêu ra cái lư này, ở đây bèn
nêu ra “người ấy” để chứng thực.
Cần phải biết: Chỉ có người tŕ giới,
tu phước th́ mới có thể sanh ḷng
tin như thế. Sanh tịnh tín như
thế, sẽ đạt được vô lượng
phước đức như thế. Văn nghĩa trong
kinh này chỗ nào cũng tương ứng, mạch lạc nhất quán như thế
đó!
2.2.2.2.2.1.1.2.2.2.
Giải thích và nêu rơ nguyên do
2.2.2.2.2.1.1.2.2.2.1.
Chánh thích (trực tiếp giải
thích)
(Kinh)
Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, vô phục ngă tướng,
nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng,
vô pháp tướng, diệc vô phi pháp tướng.
(經)何以故?是諸眾生,無復我相人相眾生相壽者相。無法相,亦無非法相。
(Kinh:
V́ sao vậy? Các chúng sanh ấy chẳng c̣n tướng ta,
tướng người, tướng chúng sanh, tướng
thọ giả, chẳng có tướng pháp, mà cũng chẳng
có tướng không phải pháp).
(Bổ)
Đây là trực diện giải thích nguyên do “sanh tín,
đắc phước”. Làm thế nào để có thể
sanh tín tâm thanh tịnh? Làm thế nào để có thể
đạt được vô lượng phước đức?
Cần phải trừ khử cái tâm phân biệt th́ mới
được! Đă trừ phân biệt th́ chánh tín tự
hiện, tức là như ngài Long Thọ đă nói “hết
thảy các pháp bất sanh, chỉ có Bát Nhă sanh”. Tuy
người ấy chưa thể hoàn toàn hiện tiền
Bát Nhă, nhưng đă sanh tín tâm thanh tịnh,
đă “tâm in vào tâm, quang minh chiếu lẫn nhau” với
Như Lai, liền đạt được vô lượng
phước đức. Điều này thật sự chẳng
dễ dàng! Do phân biệt, vọng tưởng đă trừ,
bèn có thể chẳng c̣n có tướng ta, tướng
người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.
Câu “thị chư chúng sanh” (các chúng sanh ấy) bao quát rất
rộng. “Nhất niệm sanh tịnh tín” trong đoạn
kinh văn trước đó là nói theo mức độ thấp
nhất. Hăy c̣n có các trường hợp như nhiều niệm
tương ứng, tịnh niệm tiếp nối… cho nên
nói là “chư chúng sanh”. Phải nên chú ư chữ Phục
trong hai
chữ “vô phục” (chẳng c̣n), ư nói người ấy ngă chấp
đă không, chẳng c̣n lại có [ngă chấp] nữa! Hai câu
“vô pháp tướng…” ngụ ư: Người ấy chẳng
có pháp chấp.
Tứ
tướng đều do chấp ngă tướng mà khởi.
Trong kinh, đức Phật nói về tứ tướng có
rất nhiều ư nghĩa, nay nêu ra các ư nghĩa phù hợp với
kinh này, bèn có hai nghĩa rộng và hẹp:
-
Nghĩa hẹp tức là nói về chấp trước sắc
thân Ngũ Uẩn. Đấy chính là ngă tướng. Phàm phu
đều cùng phạm lỗi chấp trước này, hết
thảy đều quên
chẳng được! Không chỉ trong hiện tại,
mà c̣n so đo tới vị lai. Chết đi, dù sanh lên trời,
hoặc
sanh lên Phạm Thiên, thường gọi
[cái ngă chấp ấy] là Bổ Đặc Già La (Pudgala). Do vậy,
dấy lên đủ loại vọng tưởng. Tướng
Tông gọi đó là Biến Kế Sở Chấp (徧計所執).
Vị lai và hiện tại là đối đăi. Nh́n từ
phương diện đối đăi th́ là tướng
người. Do cái thân này, khởi lên đủ thứ
như thịnh, suy, sướng, khổ v.v… Đó là tướng
chúng sanh. Lại chấp trước sắc thân Ngũ Uẩn,
mạng căn chẳng đoạn, đó là tướng thọ
giả. Đấy đều là đủ thứ so đo,
phân biệt đối với Ngũ Uẩn của chính
ḿnh.
-
Nghĩa rộng: Đủ loại phân biệt do so đo
cái ngă. Đối đăi th́ là Nhân. Không chỉ một
người th́ chính là chúng sanh. Sự so đo chấp
tướng ấy liên tục chẳng ngừng, chính là thọ
giả. Hễ dấy lên chấp trước, liền có
năng chấp (người chấp trước) và sở
chấp (cái bị chấp trước). Năng chính là ta, Sở
tức là người khác. Đủ loại phân biệt tức
là chúng sanh tướng. Năng chấp và sở chấp chẳng
dứt chính là thọ giả tướng. Phải biết
tứ tướng chính là từ ngă kiến mà tách ra. Tách ra
thành tứ tướng, hợp lại chính là ngă tướng.
V́ sao đức Thế Tôn tách ra để nói? Có diệu
nghĩa trong ấy. Ngă kiến tức là phân biệt. Chấp
ngă tức là thức thứ bảy, dấy lên phân biệt
chính là thức thứ sáu,
Bát Nhă là chánh trí. Nếu muốn Thật Tướng Bát Nhă
hiện tiền, nếu chẳng chuyển dời thức
thứ sáu và thứ bảy, sẽ chẳng thể! Thức
thứ sáu và thứ bảy đă chuyển, năm thức
trước và thức thứ tám cũng chuyển. V́ vậy,
đức Thế Tôn nhiều lượt nói tứ tướng.
Tứ tướng đă không, tức là Ngă Chấp không, c̣n
gọi là Nhân Không.
Ngă
tướng là chấp trước dấy từ nơi
thân. Pháp tướng là chấp trước khởi từ ngă. “Vô pháp tướng” tức là Pháp Chấp
rỗng không, c̣n gọi là Pháp Không. Phi pháp tức là vô, tức
là không, cũng chẳng có tướng “chẳng phải
pháp”. Cái Không ấy cũng là Không, nên gọi là Trùng Không (重空), c̣n gọi là Câu Không (俱空, đều là không). Bát Nhă hiển lộ lư Tam Không, chủ
yếu nhằm trừ chấp. Sau khi Nhân Ngă đă không, lại
chấp Pháp Không, vẫn chưa được!
V́ thế, ắt phải trừ khử từng tầng một,
ngay cả Không cũng phải không! Cổ nhân nói là “Không
tột bậc đến tận cùng”, khác biệt rất
lớn với Thiên Không, cho nên gọi là Thắng Nghĩa
Không, c̣n gọi là Đệ Nhất Nghĩa Không.
Đây
là giải thích “dĩ sanh tịnh tín” (đă sanh ḷng tin
thanh tịnh) trong khoa trước, tức là có thể đạt
tới Tam Không. Tam Không chứa đựng khá nhiều
đạo lư, rộng vô lượng, sâu không đáy. Phổ
Hiền Hạnh Nguyện nói là “thậm thâm giáo hải”
(biển giáo rất sâu). Nương vào Tam Không để
nói “chẳng có tứ tướng”, tức là Ngă Không, chẳng
có pháp tướng là Pháp Không, chẳng có tướng phi
pháp tức là Không Không. Thật ra, đó chính là trừ Ngă Chấp
và Pháp Chấp. Chẳng có pháp tướng là không Pháp Chấp,
chẳng có tướng phi pháp cũng là trừ Pháp Chấp.
Phi pháp vốn chẳng có pháp, nhưng chấp vào đó th́
chẳng được! Hễ chấp th́ cũng trở
thành chấp vào phi pháp. V́ thế, Pháp Chấp đối với
“không có pháp tướng” cũng không có; đó là tầng thứ
nhất. Chấp trước đối với “chẳng
có tướng phi pháp” cũng không; đó là tầng thứ
hai. Gộp cả hai lại, đều là Pháp Chấp. Cùng
với tứ tướng được nói trong kinh văn
trước đó, sẽ là nói đối ứng với
Ngă Chấp và Pháp Chấp. Người ấy sanh ḷng tin
thanh tịnh, tức là Ngă Chấp và Pháp Chấp đều
dứt trừ, nhưng
Ngă Chấp và Pháp Chấp do phân biệt mà dấy lên, chỉ
là thô chấp. Hăy c̣n có tế chấp là Câu Sanh Ngă Chấp và
Câu Sanh Pháp Chấp do khởi tâm động niệm mà có.
Chúng được gọi là Tùy Miên
(隨眠), lại c̣n gọi
là Trụ Địa Vô Minh. Người ấy chỉ có thể
trừ phân biệt Ngă Chấp và Pháp
Chấp, chưa thể trừ Câu Sanh Ngă Chấp và Câu Sanh
Pháp Chấp.
Lại
c̣n chứa đựng một nghĩa trọng yếu. Nói
tách ra thành Tam Không, nói gộp lại th́ là Ngă Chấp và Pháp
Chấp. Nhưng lại có thể nói theo hai bên Không và Hữu,
tướng phi pháp chính là Không, thuộc về bên Không. Có thể
nói Ngă và Pháp cùng thuộc vào bên Có. Người ấy sanh
ḷng tin thanh tịnh, lại có thể chẳng chấp vào Nhị
Biên. Bên Hữu gọi là Tục Đế, bên Không gọi
là Chân Đế. Trong ấy lại chứa đựng Nhị
Đế. Trong các kinh khác, đức Phật nói Tam Đế,
có Đệ Nhất Nghĩa Đế. Do Bát Nhă trừ chấp,
chỉ nói Nhị Đế. Phải nên biết: Ngăn và
chiếu đồng thời, tức là hợp với Trung Đạo. Nói Nhị Đế, thật
ra chứa đựng Tam Đế. Trừ khử Nhị
Biên chính là Song Giá (雙遮, cùng ngăn cả hai). Ngăn cả
hai chính là cùng chiếu cả hai (雙照, song chiếu), lại c̣n cần phải “giá, chiếu đồng thời”. Người ấy chưa đạt tới mức
độ này, chỉ có thể chẳng
chấp Nhị Biên, nghiền ngẫm kỹ kinh văn
cũng có thể biết.
Phàm lời đức Phật nói đều là thông triệt
từ đầu đến đuôi, thấu triệt từ
đầu tới cuối, chẳng thể xem lướt
qua. Tức là trong đoạn kinh văn trước đó,
“sanh tịnh tín đắc vô lượng phước
đức” (sanh ḷng tin thanh tịnh, đạt
được phước đức vô lượng)
cũng có sâu và cạn. Nói tóm lại, người ấy chỉ
trừ thô chấp, chưa trừ tế chấp. V́ thế,
đức Phật càng nói càng sâu, nhằm nêu rơ: Người
ấy trừ chấp vẫn mới là bước đầu,
cần phải dụng công hơn; nhưng người ấy
đạt tới mức độ này,
đă chẳng dễ dàng! Chỉ một niệm
tương ứng là đă tuyệt diệu rồi! Phàm
người dụng công sẽ thường có loại cảnh
giới như sau: Cảm thấy trong tâm rỗng rang, sạch
sành sanh, có lúc tới nửa tháng, hoặc nửa năm,
đều là loại cảnh tượng này. Cần phải
biết loại công phu này c̣n kém rất xa, chớ nên tự
măn! Nếu không, sẽ sanh ra hai loại bệnh:
1) Đối với
các ư nghĩa trong kinh, sẽ coi sâu là cạn.
2) Đối với
chính ḿnh, lại coi cạn là sâu, trọn
chẳng biết c̣n cách xa lắm!
Như
“người ấy” được nói trong kinh, đă
trừ phân biệt Ngă Chấp, tuy chưa khử trừ hết
sạch tham, sân, si, nhưng chúng đă rất mỏng, vẫn
cần phải dụng công thêm. Chúng ta dụng công, có thể
tự ḿnh thẩm định, cân nhắc, rốt cuộc
có ứng hợp với những điều kinh đă dạy
hay không. Nói tới chỗ này, tôi bỗng nhớ tới một
đoạn nhân duyên thời cổ. Vào thời cha con
Đường Túc Tông và Đường Đại Tông,
sau khi dẹp yên loạn An Lộc Sơn, Đại Tông cực
lực hoằng dương Phật pháp. Ngài Bất Không Tam
Tạng của Mật Tông cũng đến Trung Hoa vào thời
này. Phật giáo hưng thịnh cùng cực nhất thời.
Có một hôm, Đại Tông cùng Tông quốc sư[3]
đàm luận Phật pháp, Ngư Triều Ân[4]
ở bên cạnh, liền chen miệng hỏi: “Đức
Phật nói hết thảy chúng sanh đều là Phật, vậy
th́ vô minh dấy lên như thế nào?” Quốc sư liền
nói: “Ngươi không xứng để
hỏi câu này!” Triều Ân hết sức
tức giận; nhưng do Đại Tông đang có mặt
tại đó, chẳng dám quát tháo, chỉ lộ vẻ
căm giận. Tông quốc sư liền nói: “Vô minh từ
đó mà khởi”. Từ chuyện này, chúng ta có thể
thí nghiệm. Nếu gặp kẻ khác tới hủy báng
ḿnh, có thể chẳng nổi
sân hay chăng? Nếu gặp sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp v.v… có thể chẳng khởi
niệm hay chăng? Như gặp lúc bần hàn, túng thiếu,
hôm nay cũng chẳng có cơm mà ăn, trong ḷng có thể chẳng
buồn sầu hay chăng? Ắt phải là như không có
chuyện ǵ th́ mới được! Nếu không, liền
chấp tướng ta, tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả. Chỉ cần rỗng
rang, cố nhiên cũng rất tốt, nhưng chẳng ngừng
ở đó, hăy nên hành bố thí. Lục Độ vạn hạnh
đều phải thực hiện. Nếu coi rỗng rang
là xong việc, tức là chấp tướng phi pháp. Nếu
tâm nghĩ chính ḿnh đang độ sanh, chính là chấp pháp
tướng. V́ thế biết người ấy sanh ḷng
tin thanh tịnh, trừ khử cái tâm phân biệt, đúng là
chẳng dễ! Do vậy, Như Lai đều thấy,
đều biết, cho thấy người ấy có tâm giống
như Phật, đă mở mang Phật nhăn, đạt
được vô lượng phước đức
như thế đó.
Phần
này không chỉ nhằm giải thích khoa trước, lại
c̣n phải nên hiểu là nó dạy rơ cả một khoa lớn
do kinh văn trong các phần trước chưa nói rơ. Ở
đây chính là chỉ điểm nhằm cảnh tỉnh! Từ
“sở hữu nhất thiết chúng sanh chi loại” (tất
cả hết thảy các loài chúng sanh) cho tới “ngă giai
linh nhập Niết Bàn nhi diệt độ chi” (ta đều
khiến cho nhập Niết Bàn để diệt độ),
hoàn toàn phù hợp pháp tướng. “Thật vô chúng sanh
đắc diệt độ giả” (thật sự chẳng
có chúng sanh được diệt độ) chính là ứng
hợp tướng phi pháp. Nếu Bồ Tát có tướng
ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng
thọ giả, th́ chẳng phải là Bồ Tát, tức là [Bồ Tát]
chẳng c̣n có tướng ta, tướng người,
tướng chúng sanh, tướng thọ giả. “Bồ
Tát ưng vô sở trụ hành ư
bố thí”
(Bồ Tát hăy nên chẳng trụ vào đâu để hành bố
thí) tức là xả, tức là phá
ngă, mong cho chúng ta trước hết rỗng
không ngă tướng. Chẳng trụ vào
tướng, tức là chẳng trụ vào
đủ loại tướng, tức
là chẳng có pháp tướng. Lại dùng hư không, bốn
phương, trên, dưới làm thí dụ, tức là không có
phi pháp tướng. “Nhược kiến chư tướng
phi tướng, tắc kiến Như Lai” (Nếu thấy các
tướng chẳng phải là tướng, sẽ thấy Như Lai); đó chính là cùng
dung hội Nhị Biên. Bởi lẽ, chỉ thấy các
tướng chính là chấp Có, chỉ thấy phi tướng
chính là chấp Không. Thấy các tướng chẳng phải
là tướng tức
là cùng dung thông Nhị Biên, tức là vô tướng, vô bất
tướng, được thấy Thật Tướng,
nên nói là “tắc kiến Như Lai” (tức là thấy
Như Lai). Do thấy Như Lai, đạt được
vô lượng phước đức như thế, tức
là “phước đức bất khả tư lượng”
(phước đức chẳng thể suy lường)
trong đoạn kinh văn trước đó. Đức Phật
có ư nói: Người ấy có thể hiểu rơ pháp do ta nói
trong đoạn kinh văn trước đó, tŕ giới, tu
phước, có thể sanh ḷng tin thanh tịnh, lại c̣n
coi đó là thật, đương nhiên chẳng có bốn
tướng
như tướng ta, người
v.v… Do vậy, đạt được vô lượng
phước đức như thế.
Đây cũng là nhằm cổ vũ, khích lệ chúng ta: Nếu như
muốn tu Bát Nhă, hăy
nên thực hiện như thế, chớ nên rơi vào Không.
Trước hết, phải đóng lấp nơi
phương diện phi pháp, chân đặt vững trên Thật
Địa, đích thân thực
hiện. Pháp tướng lẫn phi pháp tướng
đều chẳng chấp, đó là yếu quyết để
dụng công vậy! (phần dưới đây do Giang
cư sĩ đích thân viết).
2.2.2.2.2.1.1.2.2.2.2.
Phản hiển (dùng cách nói
tương phản để giảng rơ)
(Kinh)
Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, nhược tâm thủ
tướng, tắc vi trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ
giả. Nhược thủ pháp tướng, tức trước
ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược
thủ phi pháp tướng, tức trước ngă, nhân,
chúng sanh, thọ giả.
(經)何以故?是諸眾生,若心取相,則為著我人眾生壽者。若取法相,即著我人眾生壽者。何以故?若取非法相,即著我人眾生壽者。
(Kinh:
V́ sao vậy? Các chúng sanh ấy nếu tâm giữ lấy
tướng tức là vướng vào ta, người, chúng
sanh, thọ giả. Nếu giữ lấy pháp tướng,
tức là vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ
giả. V́ sao vậy? Nếu giữ lấy phi pháp tướng,
tức là vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ
giả).
Khoa
trước được gọi là Chánh Thích, tức là
nói theo phương diện thuận để giải thích
như thế nào là tịnh tín, và v́ sao đạt được
vô lượng phước đức, do người ấy
đă thấy lư Tam Không. Không có các tướng ta, người
v.v… chính là Nhân Không (c̣n gọi
là Ngă Chấp Không). Chẳng có pháp tướng là Pháp Không (c̣n gọi là Pháp
Chấp Không). Không có tướng phi pháp, lại là ngay cả
cái Không ấy cũng là Không (c̣n gọi là Câu Không);
đó là Tam Không. Do thấy Tam Không, từ đấy
mà tinh tấn, tịnh niệm tiếp nối, bèn chứng
Pháp Thân thanh tịnh, nên nói là “đắc vô lượng
phước đức”.
Khoa
này được gọi là Phản Hiển (反顯),
nghĩa là từ phương diện trái ngược để
hiển thị lẽ “ắt phải do Tam Không” nhằm
nói rơ: Hễ có mảy may chấp tướng, sẽ là cái
tâm phân biệt, sẽ chẳng
phải là tánh thanh tịnh. V́ sao vậy? Phàm tất cả
các tướng đều là hư vọng. Do vậy, chấp
tướng là đuổi theo vọng. Hễ đuổi
theo vọng, sẽ mê chân tánh. Chân tánh đă mê, vẫn là phàm
phu luân hồi khởi Hoặc tạo nghiệp, hứng chịu
khổ báo y như cũ, há có thể đạt được
vô lượng phước đức ư?
Do vậy
có thể biết dụng ư “đă chánh thích rồi lại
phản hiển thêm”, không ǵ chẳng nhằm khiến cho
chúng sanh mau chóng giác ngộ, nương theo ư chỉ “vô
trụ” của
kinh này để một mặt là siêng hành Lục Độ,
mặt khác là quán chiếu vô tướng, phát sanh tịnh
tín, ḥng chứng đắc
tánh thể của Tam Không, siêu phàm nhập thánh. Đấy
là ư nghĩa chung của chuyện ắt cần phải phản
hiển vậy.
C̣n
có một nghĩa riêng, tức là ngăn ngừa người
đọc đoạn kinh văn trước đó mà sanh
ḷng nghi. Khởi nghi ǵ vậy?
1)
Các tướng ta, người v.v… từ Thân Kiến mà sanh
khởi. Thân là cái gốc của sự khổ, chớ nên
chấp tướng, lư này dễ hiểu. Pháp th́ chẳng vậy,
tự độ và độ người khác th́ ắt phải có
pháp. Như Bố Thí, Lục Độ, há chẳng phải
là rành rành có pháp? Hễ có pháp, liền có tướng của
pháp ấy. Nay nói “chẳng có pháp tướng”, pháp mà chẳng
có tướng, tức là pháp cũng ở trong khoảng
“dường như có, dường như không”. Nếu vậy
th́ pháp tướng sao có thể là Không
cho được?
2) Nếu
có Thân Kiến, bắt buộc sẽ phân biệt ta, người.
Hễ có phân biệt, ắt phải tạo nghiệp, thọ
báo. V́ thế, chớ nên có Thân Kiến, chớ nên phân biệt
ta và người. Nhưng pháp vốn chẳng phải thân,
trong đó há có ta, người ư? Nếu khởi phân biệt
nơi pháp, sẽ là phân biệt ta và người. C̣n như
hai chữ “phi pháp” chẳng khác ǵ tên gọi khác của
Không mà? Đă gọi là Không, há có tướng ư? Vậy
th́ tại sao lại đánh đồng “pháp, phi pháp” với
bốn tướng “ta, người” do Thân Kiến dấy
lên để cùng luận định rồi một mực
nói là “không có” vậy?
V́
muốn đoạn các loại nghi hoặc này, cho nên từ
phương diện tương phản mà nói rơ thêm vậy!
“Thị chư chúng sanh” (các chúng sanh ấy) tức là
nói tới các chúng sanh đă sanh tịnh tín, thấy Tam Không
trong đoạn trước. Chữ Tâm trong “nhược
tâm thủ tướng” (nếu tâm giữ lấy tướng)
quan trọng lắm! Cần phải biết: Tâm vốn vô
tướng.
Chữ Tướng không nhất thiết
để chuyên chỉ sắc thân, mà là chỉ chung hết
thảy các tướng cảnh giới. Tâm vốn vô tướng,
nếu có một loại tướng, sẽ là chấp giữ
cảnh giới. Nếu chấp giữ tướng cảnh
giới, há chẳng phải đă mê cái tâm của chính ḿnh
ư? Đó chính là tướng trạng trái nghịch giác,
xuôi theo trần lao! V́ vậy, trở thành phàm phu. Do vậy,
cần phải biết chấp trước tướng cảnh
giới là ai giữ lấy vậy? Hoàn toàn chẳng phải
là ai khác, chính là ḿnh! Có thể thấy: Nếu cái tâm giữ
lấy tướng, liền thành ngă tướng. Cái tướng
bị giữ lấy chính là do cái ngă có thể chấp
giữ (năng thủ ngă) mà có. Ví như tướng
người là do ngă tướng mà sanh. V́ thế, cái cảnh
bị giữ lấy liền trở thành tướng
người khác. Cái tướng bị chấp lấy lại
trùng điệp sanh khởi tưng bừng, liền thành
tướng chúng sanh. Tướng ấy chẳng đoạn,
liền thành tướng thọ giả. Do vậy nói: Bất
luận chấp tướng ǵ, bèn có cái có thể chấp
giữ (năng thủ) và
cái bị chấp giữ (sở thủ) sanh khởi
đông đảo chẳng ngừng! V́ thế nói: Nếu
tâm giữ lấy tướng, sẽ là chấp ta, người,
chúng sanh, thọ giả. “Tắc
vi” (則為)
cũng giống như nói “tiện thị” (便是, chính là). Ư nói: Hễ giữ lấy, liền
trở thành
vướng mắc. Do vậy, nếu giữ
lấy pháp tướng, cũng chính là vướng vào bốn
tướng ta, người, chúng sanh, thọ giả. Sao lại
nói pháp chẳng giống như thân, trong ấy vô ngă? Hễ
giữ lấy, sẽ có Năng (cái chấp
giữ) và Sở
(cái bị chấp giữ) phân biệt, sao có thể nói phân
biệt nơi pháp chẳng phải là phân biệt ta, người
ư?
Do vậy
có thể biết, khoa trước nói “chẳng có pháp
tướng” tức là nói “đừng chấp giữ”,
chẳng phải là rốt ráo không có pháp, không có tướng.
Nếu rốt ráo chẳng có, chính là tướng đoạn
diệt! C̣n như “phi pháp” cố
nhiên là tên gọi khác của Không, Không vốn chẳng phải
là tướng, nhưng hễ chấp giữ, sẽ liền
có cái “ta”
để chấp giữ [cái Không ấy], có cái bị chấp
giữ (tức là chính cái Không ấy),
đó là “người”, sanh khởi ồ ạt
chẳng ngừng, bốn tướng rành rành tồn tại.
V́ thế nói: “Nếu giữ lấy tướng phi pháp,
tức là chấp vào ta, người, chúng sanh, thọ giả”.
Tôi từng
thấy một loại bản in [của kinh này], chẳng
biết bị ai gạt bỏ ba chữ “hà dĩ cố”
trước câu “nhược thủ phi pháp tướng”
(nếu giữ lấy tướng phi pháp) v́ cho rằng
đây vốn là một câu nói thẳng thừng từ trên
xuống dưới, nghĩa và ư đă rơ ràng. Hễ có ba chữ
ấy (“hà dĩ cố”), sẽ đâm ra khiến cho
ngữ khí bị đứt đoạn, ư nghĩa chẳng
rơ. Trong thời Gia Khánh (1796-1820)
[nhà Thanh], có một bản khắc, tuy chẳng
dám loại bỏ [ba chữ ấy], nhưng phía dưới
có ghi chú rằng: “Trong bản chú giải của các vị
X, Y… và các chánh bản, đều phán định là lời
văn bị thừa thăi v.v…” Nói “các vị X, Y…” th́ phần lớn là
người thuộc thời Minh - Thanh. Do vậy, có thể
chứng tỏ câu chữ trong kinh này đa phần khác với
cổ bản. Tuy không ǵ chẳng do sai sót trong việc truyền
tụng, sao chép, nhưng thật ra cũng chẳng tránh khỏi
là do bị kẻ thiển kiến hư vọng sửa chữa
tăng giảm, đúng là đáng than thở! May là kinh bổn
gần đây lại được bậc sáng mắt bổ
sung câu ấy, chỉ riêng kinh bổn ở nơi xa xôi vẫn
c̣n bị gạt bỏ mất câu ấy, muôn phần chẳng
thể tuân theo!
Bởi
lẽ, sử dụng ba chữ ấy chứa đựng
ư nghĩa tinh vi, quan hệ khẩn yếu, muôn phần chẳng
thể thiếu được! Có người nói: “Ba chữ
“hà dĩ cố” nhằm nhắc lại ư nghĩa
trước đó, khiến cho [thính chúng] biết nếu giữ
lấy phi
pháp, vẫn là
vướng mắc tứ tướng, huống hồ giữ
lấy pháp!” [Hiểu theo kiểu đó th́] ư nghĩa ấy
vẫn nông cạn! V́ nếu tâm giữ lấy tướng
th́ chính là này nọ (tức là vướng mắc trong tứ
tướng) đă được giải thích rơ nguyên do rồi,
cần ǵ cứ phải nhắc lại? Vậy th́ do ư nào?
Nhằm pḥng ngừa kẻ chẳng hiểu rơ ư, dẫu
nghe “nếu giữ lấy pháp tướng liền vướng
vào ta, người, chúng sanh, thọ giả”, vẫn
chưa hiểu như thế nào mới là “chẳng giữ
lấy”? Do kiến địa chưa chân thật, có thể
sẽ đến nỗi lầm lạc
chấp giữ phi pháp, mà vẫn cứ ngỡ chính ḿnh chẳng
giữ lấy pháp. Do vậy, dùng ba chữ “hà dĩ cố”
để hỏi nhằm cảnh tỉnh họ, khiến
cho họ suy nghĩ sâu xa nguyên do, chẳng bị hiểu lầm. Liền nói tiếp
rằng “nhược
thủ phi pháp tướng, tức trước ngă, nhân,
chúng sanh, thọ giả” (nếu giữ lấy
tướng phi pháp, tức là vướng mắc ta, người,
chúng sanh, thọ
giả),
ngơ hầu khiến cho họ biết: Nếu giữ lấy
phi pháp, vẫn là chấp tướng như cũ, chẳng
khác giữ lấy pháp! Đừng cho rằng nói “chẳng
giữ lấy pháp” trọn
chẳng phải là “rốt ráo không giữ
lấy” ư? Chẳng phải là không giữ lấy,
nhưng giữ lấy th́ lại là chấp tướng! Có
thể thấy “chẳng giữ lấy” chính là dạy
“đừng chấp vào tướng, hăy hội quy vào
tánh”. Ư ấy như thế nào? Chính là hăy rộng tu Lục
Độ, vạn hạnh, nhưng trong tâm dường
như chẳng có chuyện ấy (tức là
chẳng thấy ḿnh đang rộng hành các Độ, các hạnh),
lặng
trong, tịch tĩnh, chẳng bị lay
động. Đó chính là ư nghĩa
chân thật của “chẳng giữ lấy pháp”. Hành
như thế, vừa chẳng chấp trước pháp, vừa
chẳng chấp trước phi pháp. Đó là chẳng
vướng vào Nhị Biên, phù hợp Trung Đạo. Vậy
th́ do có câu “hà dĩ cố” này, hai câu “nhược thủ
phi pháp tướng…” kế đó sẽ được
chú giải chẳng khác ǵ hai câu “nhược thủ pháp
tướng…” trước đó. Thuyết pháp hay khéo
như thế ấy! Nếu
gạt bỏ ba chữ ấy đi, ngữ khí phẳng ĺ,
sẽ chẳng thể hiển lộ ư nghĩa này
được!
Cần
phải biết: Hữu chính là từ ngay nơi Không mà Hữu,
Không chẳng phải là cái Không do ĺa Hữu. V́ thế, Tâm
Kinh dạy: “Sắc tức thị Không, Không tức thị
Sắc”
(Sắc chính là Không, Không chính là Sắc). Bởi
đó, kinh này chỗ nào cũng nói “đừng chấp giữ”,
nhưng chỗ nào cũng nói “chẳng đoạn diệt”.
Nói “chẳng đoạn diệt” tuy đến cuối
cùng mới được chỉ ra, nhưng thật ra, vừa
mới nói mở đầu, đă là không ǵ chẳng chứa
đựng ư nghĩa “chớ nên đoạn diệt”
trong ấy. Như độ chúng sanh mà chẳng có tướng
độ, chẳng phải chỉ là nói một câu “thật
sự không có chúng sanh được diệt độ”.
Nói “ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (hăy nên
chẳng trụ vào đâu mà hành bố thí), ư ấy càng rơ rệt.
“Nhược kiến chư tướng phi tướng,
tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng
chẳng phải là tướng, liền thấy Như Lai)
càng là lời kết tinh. “Các tướng chẳng phải
tướng” tức là nói rơ “chẳng giữ lấy”.
Hễ giữ lấy, sẽ là chỉ thấy tướng
mà chẳng thấy tánh. Do chẳng giữ lấy, nên thấy
tướng chính là chẳng phải tướng, hội
quy Như Lai Tạng tánh, cho nên nói là “thấy Như Lai”.
Tóm lại, tướng vốn không có lỗi, lỗi v́ giữ
lấy!
Do vậy,
nếu xả tướng để giữ lấy vô
tướng, xả vô tướng để giữ lấy
cái Vô “có thể vô” ấy, th́ “giữ lấy” sẽ trở
thành tướng, sẽ chướng ngại tự tánh. Có
thể biết là chỉ nên “chẳng giữ lấy”, dẫu
có tướng vẫn chẳng trở ngại. Nếu có giữ
lấy, dẫu vô tướng mà lại thành chướng,
cần ǵ phải diệt tướng để thấy
tánh ư? Do bởi lẽ này, sở dĩ chỉ chọn lấy
tŕ giới và tu phước là căn cơ có thể tin
tưởng, là v́ tŕ giới và tu phước do đă chẳng
chấp Không, lại được Bát Nhă huân tập, hễ
huệ giải mở mang, sẽ chẳng chấp pháp, tự
nhiên có thể chẳng chấp Có, lại c̣n chẳng chấp
Không, dễ ứng hợp Trung Đạo, so với kẻ
cuồng huệ, cách biệt một trời, một vực!
V́ thế, kinh luận có nói: “Thà chấp Có như núi Tu Di,
chớ nên chấp Không chừng bằng hạt cải”. Đấy
là nói rơ: Người chấp Có sẽ dễ dụng công, kẻ
chấp Không khó thể cứu vớt!
Chữ
Thủ ở đây, đối ứng chặt chẽ với
chữ Xả trong phần sau. Đoạn này nhằm nói rơ “chẳng
giữ lấy pháp”
chẳng phải là “có thể
giữ lấy phi pháp” (dựa theo ư mà nói). Đoạn sau nhằm
nói rơ
“hăy nên xả pháp”
chẳng phải là nói “phi pháp chẳng nên xả”. Lời lẽ
trước sau đều cùng một ư, đều chứa
đựng ư nghĩa “chẳng thể ĺa Hữu để
nói Không” được! Nói chung, Nhị Biên đều
chẳng nên giữ lấy, tức là đều nên xả.
V́ thế, trong phần sau, liền kết lại bằng
câu “dĩ thị cố, bất ưng thủ pháp, bất
ưng thủ phi pháp” (do lẽ ấy, chớ nên giữ
lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp) vẫn nhằm
chỉ về Trung Đạo.
Lại
nữa, dùng ba chữ “hà dĩ cố” ấy cũng có
một nghĩa nữa. Do khoa trước “vô phục ngă
tướng” (chẳng c̣n có tướng ta) cho đến
“diệc vô phi pháp tướng” (cũng chẳng có
tướng phi pháp) đều nhằm một mực giảng
rơ Tam Không như đă nói trong phần trên. Trong khoa này, nếu
ở giữa “nhược thủ pháp” và “nhược
thủ phi pháp” dùng “hà dĩ cố” để
ngăn cách, sẽ thành nói riêng ư nghĩa “hai bên Có và Không
đều chẳng chấp” nhằm dẫn khởi hai
câu “thị cố”
(v́ thế) sau đó. Hai câu “nhược tâm thủ
tướng” (nếu tâm giữ lấy tướng) vốn
là tổng luận. “Bất khả thủ tướng”
(chẳng thể giữ lấy tướng) chính là nói kèm cả
thân tướng, nhưng thân tướng thuộc về
bên Hữu, giống như pháp tướng, c̣n phi
pháp tướng thuộc về bên
Không. Trong khoảng đó, nếu chẳng ngăn cách [bằng
ba chữ “hà dĩ cố”], sẽ thành nói một lèo giống
như trên, nghĩa ấy sẽ chẳng hiển lộ, mà
hai chữ Thị Cố (do vậy) trong đoạn kinh kế
tiếp sẽ thành lơ lửng,
chẳng thể tiếp nối đoạn trước
được. Đủ thấy tài hay khéo trong bản dịch
đời Tần vậy!
2.2.2.2.2.1.1.2.3.
Kết lại để hiển thị Trung Đạo
2.2.2.2.2.1.1.2.3.1.
Dùng ĺa cả đôi bên để kết lại
(Kinh)
Thị cố, bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ
phi pháp.
(經)是故不應取法,不應取非法。
(Kinh:
Do vậy, chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy
phi pháp).
Chữ
Cố (故)
trong “thị cố” nhằm thừa
tiếp đoạn
văn trước đó. V́ nếu giữ lấy
tướng pháp và phi pháp, tức là chấp tướng ta,
người, chúng sanh, thọ giả; do vậy, cả hai
bên đều chớ nên giữ lấy, mà cũng
tương ứng với những điều “vô phục”
(chẳng c̣n) vừa nói trên đây. Do “chẳng giữ lấy”
tức là vô tướng. Vô tướng th́ mới sanh ra tịnh
tín, là tri kiến của Như Lai, đạt được
vô lượng phước đức. Nói chung, đức
Phật nói điều này chính là chỉ dạy
phương pháp để thực hiện, trước là dạy chẳng
giữ lấy Nhị Biên, dần dần có thể rỗng không
tướng, tâm địa thanh tịnh. Do vậy, tín rồi giải rồi
hành đạt tới rốt ráo, cũng chẳng
ngoài “chẳng chấp vào hai bên” mà thôi! Bởi lẽ,
do Quán Chiếu Bát Nhă mà chứng Thật Tướng Bát Nhă.
Thật Tướng là “vô tướng, vô bất
tướng”,
chẳng phải là “không chấp vào hai bên” ư? Đấy
được gọi là “nhân bao trùm biển quả, quả
thấu triệt nguồn nhân”.
2.2.2.2.2.1.1.2.3.2.
Dùng thí dụ cái bè để nói rơ ư nghĩa
(Kinh)
Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết:
- Nhữ đẳng tỳ-kheo, tri ngă thuyết pháp, như
phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống
phi pháp.
(經)以是義故,如來常說:汝等比丘,知我說法,如筏喻者。法尚應捨,何況非法。
(Kinh:
Do bởi nghĩa này, Như Lai thường nói: - Tỳ-kheo
các ông hăy
biết pháp do ta nói ví như cái bè. Pháp
c̣n nên xả, huống hồ phi pháp).
Chữ
Thị (是)
trong “dĩ thị” (以是,
do điều này) nhằm thừa tiếp
hai câu “bất ưng” (不應,
chớ nên) trong đoạn trên, và
cũng hô ứng với câu “dĩ vô pháp tướng”
(do chẳng có pháp tướng) trong phần sau nữa.
“Phiệt
dụ” (筏喻, thí dụ về cái
bè) là pháp mà Như Lai thường nói. Bởi lẽ, thuyền
bè vốn là vật để vượt qua [sông, hồ, biển
cả], đă vượt qua bèn bỏ bè. Dùng điều
này để sánh ví dùng Phật pháp vượt khỏi sanh
tử. Sanh tử chưa vượt thoát, chẳng thể
nào không có pháp. Đă đạt tới bờ bên kia, pháp
cũng chẳng cần nữa! Dùng chuyện này để
biểu thị ư nghĩa “chớ nên chấp
vào pháp”, do trong kinh A Hàm, [đức Phật]
thường v́ các đệ tử mà nói [thí dụ này].
Câu “pháp
thượng ưng xả” (pháp c̣n nên xả) nối liền
ngay sau câu “phiệt dụ”, cũng nhằm kiêm chỉ
“bất ưng thủ pháp” (chớ nên giữ lấy
pháp) trong kinh văn thuộc đoạn trước, tức
là dùng để dẫn khởi câu “hà huống phi pháp”
(huống hồ phi pháp) thuộc đoạn sau. “Hà huống
phi pháp” là chỉ rơ phi pháp càng phải nên xả. Xả tức
là chẳng giữ lấy. Nhưng Xả có ư nghĩa sâu
hơn, không chỉ là chẳng giữ lấy! Trước
đó đă giữ lấy, nay cũng cần phải xả.
Nói rốt ráo, tức là hai chữ “bất thủ” (chẳng
giữ lấy) cũng phải nên xả!
Sở
dĩ dẫn thí dụ cái bè thường nói chính là một
mặt dùng nghĩa hiện thời để tỏ rơ [các
ư nghĩa] thường nói. Mặt khác, lại mượn
ư nghĩa thường nói để nêu rơ ư nghĩa hiện
thời. Đấy tức là do nghĩa “pháp và phi pháp
đều chẳng nên lấy” [trong hiện thời], cho nên Như Lai
thường v́ các tỳ-kheo mà nói thí dụ cái bè. Tuy chỉ
nói “xả pháp”, cần phải biết là ngay cả
phi pháp cũng phải xả
luôn! V́ sao vậy? Pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp! Há c̣n đợi phải
nói nữa ư? Đấy là hiển thị “chẳng có
cái nào nhỏ nhoi chẳng phải
là cái to lớn”, đều là pháp b́nh
đẳng, tức là dùng nghĩa hiện thời để
nêu rơ điều thường nói. Lại do làm sáng tỏ
nghĩa “chẳng giữ lấy hai bên” trong hiện thời,
tuy dùng lời lẽ diễn tả cùng mức độ
như nhau, nhưng cần phải biết: “Đối
với phi pháp, phải nên chẳng giữ lấy”
th́ mới chẳng đến nỗi chấp Không. Đấy là mượn
nghĩa thường nói để làm sáng tỏ nghĩa hiện
thời.
Đoạn
kinh văn này, ư nghĩa uẩn tàng sâu xa, tinh vi, không chỉ
là những điều vừa nói trên đây. Hăy nên biết
nghĩa hiện thời và nghĩa thường nói có một
điểm xung đột nhất, ắt phải nên hiểu
rơ. Bởi lẽ, nghĩa thường nói nhằm dạy
[hành nhân] “nếu một pháp chẳng cần thiết nữa
bèn xả”; nhưng nay v́ nói với người vừa mới
phát đại tâm, vẫn là dạy họ khi cần thiết
th́ phải xả pháp. Do có sự xung đột to lớn[5]
ấy, đức Thế Tôn ngăn ngừa có kẻ sẽ
chấp vào nghĩa thường nói mà nghi nghĩa trong hiện
thời, hoặc chấp vào nghĩa hiện thời mà nghi
pháp thường nói, cho nên chẳng thể không dẫn [thí
dụ cái bè], khiến cho người học nhờ
vào đó mà hiểu rơ hai cách nói ấy tuy khác biệt,
nhưng thật ra là tương đồng!
Nghi
như thế nào vậy? Nghi rằng: Ngay trong lúc cần phải
xả pháp, pháp đă bị xả th́ há
chẳng phải là không có pháp? Không có pháp th́ dùng ǵ để
độ? Đấy chẳng phải là tương phản
với nghĩa thường nói ư? Lại nói rằng “chẳng
nên giữ lấy phi pháp”, rốt cuộc là có pháp hay là không
có pháp? Kẻ chưa được độ cần có
pháp, hay chẳng cần có pháp? Hăy nên biết nghĩa
được nói hiện thời chính là “đối với
hai bên Có và Không, đều chớ nên chấp trước”.
Đó gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa.
Hăy nên biết “chẳng chấp Nhị Biên” tức là
Nhị Biên song chiếu. Do chẳng chấp Nhị Biên, cố
nhiên chẳng có cái gọi là “có pháp”, mà do Nhị Biên song chiếu,
cũng chẳng có cái được gọi là “không có pháp”.
Hơn nữa, chẳng chấp th́ là Song Chiếu, nên có thể
biết: Ngay trong lúc chẳng có cái được gọi là Hữu, cũng chẳng có cái ǵ được
gọi là Vô. Ngay trong lúc chẳng có cái được gọi là Vô th́ nào ngại chẳng
có cái được gọi là Hữu? Quư vị hăy nghĩ
xem, rốt cuộc là có pháp hay không có pháp? Hay là “có tức là không,
không tức là có” vậy?
Hễ biết điều này, sẽ hiểu nghĩa hiện
thời và nghĩa thường nói tuy khác nhau, nhưng thật
ra là như nhau!
Tuy
vậy, đức Phật dẫn thí dụ cái bè để
chuyên nhằm giải trừ mối nghi về sự giống
nhau hay khác nhau giữa nghĩa hiện thời và nghĩa
thường nói ư? Chẳng phải vậy! Thâm ư thật
sự là v́ ngăn ngừa người ta chấp nghĩa
hiện thời rồi nghi nghĩa hiện thời. Nghi
như thế nào vậy? Quư vị có nh́n ra hay không? Xin hăy
xem hai câu “thị cố, bất
ưng thủ pháp, [bất ưng
thủ phi pháp]” (v́ thế, chớ nên
giữ lấy pháp, [chớ nên giữ
lấy phi pháp]). Tuy [hai câu ấy] nhằm
kết thúc đoạn kinh văn trước đó,
nhưng so với đoạn văn trước đó, mức
độ cạn sâu khác biệt to lớn. Đức Thế
Tôn sợ người ta chẳng hiểu, nẩy sanh
chướng ngại, cho nên Ngài dẫn thí dụ cái bè
thường nói để chỉ rơ. Nếu không, hai câu “thị
cố [bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi
pháp]” đă kết thúc, vốn chẳng cần thiết,
cần
ǵ lại dẫn thí dụ về cái bè? C̣n
như những điều đă nói trong phần trước
đó thuộc đoạn từ “chẳng chấp
vào Nhị Biên” cho đến “rốt
cuộc có pháp ư? Không có pháp ư?” chính là mượn
ư nghĩa thường nói để hiển lộ ư
nghĩa hiện thời, ḥng tránh cho [học nhân] đối
với mức độ cạn hay sâu của nghĩa hiện
thời mà khởi nghi, nẩy sanh chướng ngại! Vậy th́ trước tiên hăy hiểu
cạn hay sâu ở chỗ nào?
Xin
hăy xem điều được nói trong đoạn thứ
nhất, “vô phục ngă tướng” (chẳng c̣n có
tướng ta) cho đến “diệc vô phi pháp tướng”
(cũng chẳng có tướng phi pháp); đó là nói về
vô tướng. Đoạn thứ hai, “nhược tâm thủ
tướng” (nếu tâm giữ lấy tướng) cho
đến “nhược thủ phi pháp tướng” (nếu
giữ lấy tướng phi pháp) cũng là nói “đừng chấp
giữ tướng”.
Tới đoạn thứ ba, hai câu “thị cố”
chính là đối với pháp và phi pháp đều nhất loạt
chẳng giữ lấy, không chỉ là “chẳng
giữ lấy tướng!”
Đấy chính là chỗ bất đồng rất lớn
so với hai đoạn trước, [đức Phật
phải nói thêm thí dụ cái bè để] ngăn ngừa
người nghe có thể nẩy nghi, sanh chướng chính
là v́ lẽ này!
Quư
vị thấy đoạn thứ nhất đă nói về vô
tướng. V́ muốn đoạn mối nghi “tướng
người và pháp chẳng thể là không có” và “phi pháp
vốn vô tướng”, cho nên nói đoạn thứ hai “hễ
giữ lấy th́ chính là chấp tướng” khiến
cho họ biết: Nói là Vô chính là để họ đừng
giữ lấy, hoàn toàn chẳng phải là không có pháp, không
có tướng! Hơn nữa, hễ giữ lấy, sẽ
liền có tướng. Do vậy, tướng phi pháp
cũng chớ nên giữ lấy! Lại c̣n chỉ điểm,
cảnh tỉnh: “Chớ
nên giữ lấy pháp tướng”.
Đó là dùng “chẳng giữ lấy phi pháp tướng”
làm giới hạn, ngơ hầu [thính chúng] hiểu rơ: Chẳng
phải là tuyệt đối không giữ lấy pháp, mà là
tuy giữ lấy các pháp như Lục Độ v.v… để
tu hành, nhưng tâm không có các tướng ấy! Như vậy
th́ người học mới chẳng đến nỗi
hoặc lệch về bên Không, hoặc lệch sang bên Hữu,
mới có chỗ chánh xác để tu tập.
Cần
phải biết diệu pháp Bát Nhă hễ thực hiện
th́ phải nên triệt để. Triệt để
như thế nào? Cốt sao cho pháp và phi pháp, ngay cả bóng
dáng cũng chẳng lưu lại th́ mới là đúng. Bởi
lẽ, được gọi là pháp tướng và phi pháp
tướng, có thể biết cái này là tướng của
pháp, cái kia là tướng của phi pháp. Nếu giữ lấy
pháp hay giữ lấy phi pháp, hễ giữ bèn có tướng,
c̣n có thể nói
là “chẳng giữ
lấy tướng” ư? Do vậy, những
điều được nói trước hay sau, về lư
vốn nhất trí, chỉ là lời lẽ có thứ tự
sâu hay cạn đó thôi! V́ thế, ắt
phải nói đoạn thứ ba gồm hai câu “thị cố
[bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp]”,
hàm ư: Hăy nên triệt để “chẳng giữ lấy”
như thế th́ mới là chẳng giữ lấy tướng.
Sau đó, do cái tâm thanh tịnh th́ mới có thể chứng
nhập cái quả Pháp Thân thanh tịnh.
Hỏi:
Nói như thế th́ pháp phải nên xả. Lại c̣n nói một
câu “chớ nên giữ lấy phi pháp”, tôi cũng hiểu
rồi. Đó cũng là dùng để làm giới hạn cho
chuyện “chớ nên giữ lấy pháp”, khiến cho
người học biết tuy chẳng giữ lấy pháp,
quyết chớ nên giữ lấy phi pháp. Nhưng nói như
thế th́ biện pháp “nương theo pháp Lục Độ
để tu hành, nhưng trong tâm không có tướng của
các pháp ấy” sẽ chẳng thể thích hợp để
vận dụng! V́ sao vậy? Trong
ấy chẳng phải là nói “chẳng giữ lấy pháp
tướng”, mà rơ ràng là nói “chớ nên giữ lấy
pháp”, như vậy th́ từ chỗ nào mà thực hiện
đây?
Đáp:
Đức Thế Tôn chính v́ lẽ ấy mà phải nói câu
thứ tư nhằm chỉ rơ một
biện pháp tuyệt diệu vậy! Quư vị hăy xem lời
lẽ yếu khẩn trong hai câu thuộc đoạn thứ
tư: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp”
(pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp). Hai câu này chẳng
khác nào lời chú giải cho hai câu “thị cố”.
Đây chính là chỉ dạy người học rằng:
Không phải là ta bảo các vị chỉ “chẳng giữ
lấy pháp”, mà là bảo quư vị “ngay cả phi pháp cũng
nhất loạt chẳng giữ lấy!” Nếu chỉ “chẳng
giữ lấy pháp”, sẽ biến thành “không có pháp”. Không có
pháp th́ làm sao tu hành đắc độ cho được?
Nếu pháp và phi pháp nhất loạt chẳng giữ lấy,
đó là diệu pháp đấy nhé! Bởi lẽ, [đức
Phật] dẫn thí dụ cái bè để nói, v́ thí dụ
cái bè chính là pháp! Do
đó, một mặt khiến cho mọi người lănh hội
“xả pháp” như thường nói, nhưng ngay cả
“xả phi pháp” cũng được gộp vào
đó, khiến cho [người học] biết [pháp và phi
pháp đều] nhất loạt xả hết. Đó là “pháp
ví như cái bè”
mà Như Lai thường nói. Nay nói rơ ràng “pháp lẫn phi
pháp đều nhất loạt chẳng lấy”, há chẳng
phải chính là pháp đang được nói ư? Mặt
khác, lại bảo mọi người “hăy lănh hội thí dụ
cái bè thường nói”, tức là nói về lúc [hành nhân]
chưa đắc độ, chớ nên không có pháp! Đă
độ rồi th́ bỏ nó đi! [Nói như vậy],
khiến cho mọi người biết: “Khi chưa đắc
độ, sao có thể không có pháp cho được?” Sẽ
chẳng đến nỗi hiểu lầm “chớ nên giữ
lấy pháp” là “không có pháp”! Huống hồ lại nói rơ ràng
rằng “chớ nên giữ lấy phi pháp”, tức là
càng đủ để chứng minh “pháp và phi pháp đều
nhất loạt chẳng giữ lấy” chính là khai thị
diệu pháp cho chúng ta. Do vậy, dẫn thí dụ cái bè chính
là để nêu rơ chuyện này.
Hỏi:
V́ sao “nhất loạt chẳng giữ lấy” chính là
diệu pháp? Điều này lại càng khiến cho mọi
người hồ đồ! Như thế nào mới là diệu
pháp?
Đáp:
Hăy nên biết trong Đệ Nhất Nghĩa, pháp và phi pháp
vốn chẳng thể nói. Lại chẳng có ǵ gọi là
sanh tử, chẳng có ǵ gọi là Niết Bàn, càng chẳng
có ǵ để gọi là “độ”! Tức là “chẳng
chấp vào hai bên, cùng chiếu cả hai bên” đều
thành lời lẽ thừa thăi! Cần phải thẳng thừng
quét sạch t́nh thức, chặt đứt dây leo. Ngay trong
lúc quét sạch, chặt đứt, hô
lên một tiếng, ngay lập tức ngôn ngữ dứt bặt,
tâm hạnh xứ diệt, tức là sanh diệt đă diệt,
trọn khắp hư không đều thành đạo tràng bất
động, trọn khắp hư không đều là lưới
quang minh thanh tịnh, liền cùng diện kiến mười
phương chư Phật. Đến đấy, tuy nói
không có ǵ gọi là “độ”, mà đă được
độ không dấu vết bay chạy như
thế rồi! Sau đấy, bỗng dưng từ ngay một
câu “chẳng có ǵ gọi là độ” ấy cũng là
diệu pháp dẫn dắt người khác đắc độ.
Dám hỏi công phu quét sạch, chặt đứt ấy, dẫu muốn
chẳng gọi nó là “pháp”, há có được
chăng? Nhưng pháp và phi pháp đều chẳng giữ lấy,
chẳng phải chính là “quét sạch, chặt
đứt”
ư? Hai đằng bức bách chặt chẽ, khởi tâm
động niệm nếu chẳng chấp cái này sẽ liền
chấp cái kia. Nếu khiến cho vọng tưởng, phân
biệt không có chỗ náu ḿnh, ví như tiễu trừ giặc
cướp, bao vây hai mặt, bức cho giặc không có chỗ đặt
chân, chúng nó tự nhiên đầu hàng! Đấy chính là thủ
đoạn “dùng đao bén chặt phăng gai rối”,
nên nói là “quét sạch t́nh thức, chém đứt dây leo”.
Đó chính là như Long Thọ Bồ Tát nói “hết thảy
các pháp bất sanh, nhưng Bát Nhă sanh”. Điều cốt
lơi chánh yếu của Bát Nhă là vô trụ, nhưng “chẳng
giữ lấy hai bên” chính là lời chú giải đanh
thép của vô trụ. Đấy chính là pháp vô thượng
rất sâu vi diệu, tức là pháp A Nậu Bồ Đề
như trong kinh đă nói. Dùng điều này làm cái gốc
để tu nhân, sẽ chứng cái quả là A Nậu Bồ
Đề. Do đột nhiên giác ngộ, chính là giống hệt
như thí dụ cái bè[6].
Chẳng phải là không có pháp nào để có thể độ,
lại chẳng phải là chưa độ đă xả
pháp vậy. Quư vị vẫn nghi là “độ”
như thế nào ư? Khi đă rốt ráo độ, [mà c̣n
cật vấn] có pháp hay không có pháp, há chẳng phải là nằm
mộng nói mớ ư?
Hỏi:
V́ sao đức Phật chẳng nói rơ “chẳng giữ lấy
chính là pháp” mà lại để cho mọi người tự
lănh hội vậy?
Đáp:
Điều này cũng có ư chỉ sâu xa:
1) “Chẳng
giữ lấy” vốn chẳng phải là pháp, chẳng
thể đặt tên được, giả danh là pháp “vô
pháp” mà thôi. Như Bố Thí,
Bát Nhă v.v… đều là giả danh. Do chẳng có ǵ để
đặt tên được,
đành gọi là Pháp.
Há có phải là thật sự có vật ấy ư? Pháp thế
gian và xuất thế gian, không ǵ chẳng phải đều
là như vậy!
2)
Chính v́ chúng sanh chỗ nào cũng chấp trước, cho
nên nói “chẳng giữ lấy hai bên” để trị
căn bệnh ấy. Nếu coi đấy chính là diệu
pháp, tức là lại trụ chấp! Đây lại là nỗi
khổ tâm [v́ sao] chẳng nói rơ. Nhưng đức Thế
Tôn vẫn sợ người học khởi tâm động
niệm, bất tri bất giác trụ chấp
vào đấy, dấy lên phân biệt,
tức là vô minh vẫn c̣n, lại cần phải trừ khử.
Do đó, lại nói lượt thứ hai (tức nửa
sau bộ kinh này) chính v́ chuyện này!
3)
Tuy chẳng nói rơ để ngừa mọi người bàng
hoàng chẳng biết làm thế nào; do vậy, dẫn thí dụ
về cái bè để tỏ lộ tin tức, ngơ hầu
người chân tu cũng nhờ vào đó mà tự lănh hội.
Hăy nên biết:
Phàm mọi chuyện do chính ḿnh
lănh ngộ th́ sẽ được thọ dụng. V́ sao?
Khi chính ḿnh lănh ngộ, chính là lúc được thọ dụng,
so với thấy nghe từ bên ngoài sẽ hữu ích
hơn! Do vậy, cổ nhân thuyết pháp thường chẳng
tận t́nh thổ lộ là v́ lẽ này, do ngăn ngừa
chẳng đóng lấp ngộ môn của người khác!
Nay
bỉ nhân nói toạc ra, chẳng khỏi trái nghịch cổ huấn, biết tội sâu xa, nhưng
chẳng thể không nói là cũng có chút ư khăng khăng.
Do Phật pháp suy vi đă lâu, mọi người sợ nghe
Bát Nhă. Thông thường bàn đến Bát Nhă, thường
là đi vào ngơ rẽ, nhưng các vị lại
nhiệt tâm cầu pháp như vậy, nếu tuyệt đối
chẳng nhắc nhở đôi chút, cũng lại chẳng
thể khơi gợi ngộ môn chân thật cho mọi
người được! Hơn nữa, do cũng có chỗ
để dựa dẫm mà chẳng sợ, chính
là do có nửa sau của bộ kinh đối trị
căn bệnh này rất sâu sắc, ắt chẳng sợ
[đại chúng] nghe rồi sẽ trụ vào đó! (Tôi nhắc
nhở đôi chút ở chỗ này, khi nói đến nửa
sau bộ kinh mới nói cặn kẽ. Từ nay khuyên quư vị
hăy nên đừng vắng mặt buổi giảng nào,
để khỏi [cảm thấy] trước sau chẳng
liên tục).
Nói
đến chỗ này, c̣n có một chuyện chẳng thể
không kính dâng [lên thính chúng]. Phàm muốn lănh ngộ nghĩa
chân thật trong kinh, chỉ do chí thành, cung kính mà đọc.
Đọc nhuần nhuyễn, thường xuyên quán chiếu
một hai đoạn, hoặc một hai câu. Quán chiếu
chính là tư duy, nhưng sự tư duy này khác biệt rất
lớn cách thường gọi là “nghiên cứu”. Thông
thường, nghiên cứu một loại học vấn
th́ chính là chuyên dùng phàm t́nh để
suy đoán, “tư duy” ở đây chẳng phải vậy.
Tuy cũng chẳng ĺa văn tự, nhưng nhất quyết
chớ
nên mày ṃ nơi văn tự, dẫu ṃ mẫm
cũng ṃ chẳng ra! Ắt cần phải
quét sạch hết thảy tạp niệm, lắng ḷng lặng
lẽ suy tưởng, hoàn toàn dốc hết tâm vào đó.
Chẳng vần ṿ nơi văn tự; đó là “chẳng
giữ lấy pháp”. Dốc toàn bộ tinh thần chuyên
chú nơi kinh này, chính là “chẳng giữ lấy phi pháp”.
Đấy chính là tu Định. Lâu ngày chầy tháng, bỗng
trong lúc một niệm chẳng sanh, tánh quang phát hiện,
đạo lư chân thật trong kinh tự nhiên trào vọt ra.
Đó là do tư duy tu th́ mới là thọ tŕ, mới có thể
lănh ngộ. Do vậy, nói “lúc lănh ngộ, chính là lúc
được thọ dụng”.
Đọc kinh th́ phải đọc theo cách
như vậy, Định học và Huệ học sẽ
nhất loạt cùng tu. Lại c̣n phải sám hối cho nhiều,
cầu Tam Bảo gia bị. Nếu không, sợ rằng
chướng nặng, không chỉ chẳng thể lănh ngộ,
mà quán chiếu cũng chẳng thể thực
hiện tốt đẹp được (dưới
đây cần phải nói về “chẳng chấp hai bên”,
chẳng phải là không hành các Độ như Bố Thí
v.v…)
Hỏi: “Chẳng giữ lấy hai bên”
chính là pháp môn Bát Nhă, vậy th́ các pháp như bố thí v.v… sẽ
có thể chẳng hành ư?
Đáp:
Lầm mất rồi! Chẳng hành các pháp như bố thí
v.v… tức là giữ lấy phi pháp! Cần phải biết: Bát Nhă là mẹ của năm Độ kia. Bát Nhă sanh
th́ năm Độ sẽ thuận theo mà sanh khởi dạt
dào. Hạnh ấy cũng lại càng mầu nhiệm
hơn! Dùng Bát Nhă quán trí để hành năm Độ,
năm Độ sẽ đều là Ba La Mật vậy!
Hễ
nêu lên một pháp, đều có bốn câu sai biệt. Có
người nói rằng Hữu, có người nói rằng
Vô (tức là không), hoặc nói vừa Hữu vừa Vô, hoặc
nói chẳng phải Hữu chẳng phải Vô. [Đó là “bốn
câu”]. Bát Nhă rất sâu, cả bốn câu đều trừ
bỏ. Đó gọi là “ly tứ cú, tuyệt bách phi” vậy
(Bách phi[7]
chẳng ngoài bốn câu). Do tự tánh thanh tịnh, chẳng
nhuốm mảy trần, cho nên phải là “hết thảy
đều chẳng phải”, mà bốn đoạn [chánh
kinh] ở đây chính là ĺa bốn câu!
Đoạn
thứ nhất dùng Vô để trừ Hữu (chấp Có
th́ thành phàm phu, cho nên cần phải dùng Vô để trừ).
Đoạn thứ hai là nói “vừa Hữu vừa Vô” để
trừ Thiên Vô (thiên chấp lệch lạc, chỉ chấp nhận Vô. Hành pháp Lục Độ
tức là Hữu tồn tại. Tâm không có tướng ấy,
cho nên Vô tồn tại. [Ngăn ngừa] Thiên Vô nhằm
ngăn ngừa tướng đoạn diệt). Đoạn
thứ ba là “nói chẳng Hữu, chẳng Vô” nhằm
trừ khử “vừa Hữu vừa Vô”. Do vừa Hữu
vừa Vô, chẳng tránh khỏi hai bên Hữu và Vô. V́ thế,
dùng “hai bên đều chẳng nên lấy”, tức là giữ lấy
Hữu cũng chẳng phải, mà giữ Vô cũng chẳng
phải. Như vậy th́ chẳng đến nỗi Nhị
Biên cách biệt, mà sẽ là dung thông. Tới đoạn thứ
tư, chữ Pháp trong “pháp thượng ưng xả”
(pháp c̣n nên xả) chỉ các pháp như Lục Độ
v.v… Chữ Phi Pháp trong câu “hà huống phi pháp” chỉ
pháp “chẳng phải Hữu, chẳng phải Vô”. Do ư
nghĩa “hết thảy các pháp bất sanh mà Bát Nhă sanh”
mà cái được gọi là “chẳng giữ lấy Nhị
Biên” được quán triệt đến tột cùng.
V́ thế, ngay trong khi đang độ, trước là từ
“cũng Hữu cũng Vô” để thực hiện, ḥng
đạt tới “chẳng phải Hữu, chẳng phải
Vô”. Đă được diệt độ, tức là không
chỉ là đă xả pháp “vừa Hữu vừa Vô”, mà
đương nhiên là pháp “chẳng phải Hữu chẳng
phải Vô” cũng nhất loạt xả trừ, th́ mới
thành Như Lai “các pháp như nhau”. Đấy chính là
điều chư Phật Như Lai thường nói.
Như đức Thế Tôn mặc áo, ăn cơm, thị
hiện giống như phàm phu, âm thanh, tướng hảo,
nghiễm nhiên trọn đủ. Đạt tới mức
độ ấy th́ sanh tử và Niết Bàn, cả hai đều
chẳng trụ. Hữu ư? Vô ư? Vừa Hữu vừa
Vô ư? Chẳng phải Hữu chẳng phải Vô ư? Bốn
câu đều chẳng thể nói được!
Hai
câu “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi
pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy
phi pháp) là lời trọng yếu nhất. Những điều
đă nói trước đó đều là “chẳng giữ
lấy hai bên”. V́ thế, hai câu này chẳng khác lời tổng
kết cho đoạn kinh văn trước đó. Đoạn
thí dụ về cái bè cũng nhằm nêu rơ: Hai
câu ấy chính là diệu pháp; được gọi là pháp A
Nậu Bồ Đề (hăy nên nói tường tận).
Như
trên đă nói, đối với cái được gọi
là “không có pháp nào để có thể nói” bèn nói
phương tiện, đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất
Đàn. Những điều được nói trong kinh này
đều là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn. V́ thế,
người giảng cũng chẳng thể không nói như
thế. Nhưng viên âm của đức Phật vừa diễn,
không nghĩa nào chẳng bao gồm. Bất luận nói theo
kiểu nào, cũng đều
được! Những điều nói
trên đây rất cao, cũng chẳng ngại nương
vào Vị Nhân Tất Đàn để
nói. Vị Nhân là nói đối ứng với căn cơ.
Kinh dạy: “Thử kinh vị phát Đại Thừa giả
thuyết, vị phát tối thượng thừa giả
thuyết” (Kinh này v́ người phát Đại Thừa
mà nói, v́ người phát tối thượng thừa mà
nói). Do căn cơ như thế, bèn
v́ họ mà đốn thuyết (nói pháp
thuộc Đốn giáo), như nói: “Không có bốn tướng
ta, người…” Đó là nói Ngă Pháp Không nhằm độ
Ngă Chấp. Lại nói: “Chẳng có pháp tướng, chớ
nên giữ lấy pháp, pháp c̣n nên xả”. Đó là pháp Pháp Không nhằm
độ Pháp Chấp. Lại nói: “Cũng chẳng có
tướng phi pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp, huống
hồ phi pháp”, đó là nói pháp
Không Không để độ
chấp Không. Nói
rất nhiều pháp, sao lại
nghi “không có pháp sao có thể độ?” Cần phải biết
rằng: Đó là nói “không có tướng ta, người”
v.v… Chẳng phải là “không có ta, người” v.v… Đó là
nói “không có tướng pháp, không có tướng phi pháp”, chứ chẳng
phải là rốt ráo không có pháp và không có phi pháp! Nói chung, bảo
là Vô, tức là “chẳng giữ lấy”; nói là Xả, chỉ nhằm
trừ chấp, chẳng phải là xả các pháp ấy! Ba
thứ chấp đă trừ th́ Tam Không cùng rạng, tam
chướng tiêu tan trọn vẹn, mới là “sanh tử
và Niết Bàn, hai đằng đều chẳng trụ”.
Há c̣n chẳng vượt khỏi bờ này, chẳng lên bờ kia ư?
Lại
c̣n nương theo Đối Trị Tất Đàn để
nói. Đối Trị tức là đúng chứng bệnh mà cắt thuốc, chữa trị
căn bệnh ấy. Kinh dạy: “Chúng sanh bệnh tại
xứ xứ trước” (chúng
sanh bệnh là do chỗ nào cũng chấp trước). V́
thế, đức Phật đối Hữu nói Không, đối
Không nói Hữu, không ǵ chẳng nhằm đối trị
căn bệnh chấp trước lệch lạc của
chúng sanh. Hễ có chấp trước lệch lạc, sẽ
chẳng tương ứng với tánh thể. Đó là trái
nghịch giác, xuôi theo trần lao, khiến cho nghiệp
chướng tưng bừng sanh khởi, chịu khổ vô
tận. V́ thế, cần phải đối trị.
Như ở đây nói “hăy nên xả pháp”, lại nói “lại
nên xả phi pháp” (Xả là chẳng giữ lấy,
cũng chính là vô tướng. Hăy hiểu theo ư, đừng
hoàn toàn chấp vào văn tự), th́ biết cái được
gọi là “xả pháp” chính là xả căn bệnh chấp
Hữu vậy. Lại như nói “xả phi pháp” và
cũng nói “xả pháp” th́ cũng biết cái được
gọi là “xả phi pháp” cũng là xả căn bệnh
chấp Không này vậy. Bệnh trừ, Hữu sẽ thành
Diệu Hữu, Không là Chân Không.
Cần phải biết: Nói Diệu Hữu tức
là nói Hữu mà bất Hữu; do vậy, Diệu Hữu tức
là Chân Không. Nói Chân Không là nói Không mà chẳng Không; do đó,
Chân Không chính là Diệu Hữu. Do vậy,
bèn có thể biết: Hễ thực hiện (tu tập),
liền khiến cho chẳng giữ lấy hai bên, chính là v́
khiến cho hai bên song chiếu. Song Chiếu
tức là “tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch
tỉnh tỉnh” (luôn nhạy bén nhận biết rơ ràng mọi
sự mà tâm luôn vắng lặng, tuy vắng lặng mà không
ǵ chẳng nhận biết rơ ràng), tức là Tịch Chiếu[8]
đồng thời. “Đồng
thời” tức
là Tịch mà thường Chiếu, Chiếu mà thường
Tịch, chính là Tịch Chiếu Chân Như tam-muội, là cảnh
giới của Phật. Đạt tới địa vị
ấy, há chỉ diệt Phiền Năo Chướng, mà c̣n diệt
Sở Tri Chướng, há chỉ độ Phần Đoạn
Sanh Tử, mà cũng độ Biến Dịch Sanh Tử.
Đấy gọi là “giai linh nhập Vô Dư Niết Bàn
nhi diệt độ chi” (đều khiến
cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ).
Có thể biết những điều được nói ở
đây đều là cực viên, cực đốn, đúng
là vô thượng diệu pháp để thành Phật. Bất
luận tu hạnh môn nào, nếu có thể lănh hội ư
nghĩa ở đây để hành, ắt
sẽ thành tựu vừa nhanh vừa cao. Hơn nữa,
pháp này thẳng thừng, nhanh chóng, thỏa đáng, nói khó th́ cũng trọn
chẳng khó. Các vị thiện tri thức ơi! Phật
pháp khó nghe mà lại được nghe, ơn Phật khó
báo, rốt cuộc vẫn
cần phải báo, chỉ do chúng ta lập tức gánh vác
đó thôi!
2.2.2.2.2.1.1.2.4.
Gạn hỏi, giải thích sự chứng thành
2.2.2.2.2.1.1.2.4.1.
Nêu ra quả đức của Như Lai để hỏi
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Như Lai đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề da? Như Lai hữu
sở thuyết pháp da?
(經)須菩提!於意云何?如來得阿耨多羅三藐三菩提耶?如來有所說法耶?
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Ư ông thế nào? Như Lai đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề hay chăng? Như
Lai có thuyết pháp hay chăng?)
Đoạn
hỏi đáp, giải thích sự chứng thành nhằm giảng
rơ nguyên do của hai câu “bất ưng thủ” (v́ sao chẳng
giữ lấy hai bên? V́ sao cần phải chẳng giữ
lấy hai bên?), nêu ra quả địa để chứng
thành nhân địa, ḥng chỉ rơ: Cần phải nhân
quả nhất trí. Do vậy, đức Thế Tôn nêu ra cực
quả để hỏi ngài Tu Bồ Đề. Sau khi
đă giảng rơ, lại nêu ra hết thảy các vị hiền
thánh để chứng minh. Hết thảy các vị hiền
thánh so với cực quả th́ các Ngài là nhân, so với những
người sơ phát tâm th́ các Ngài là quả ([khoa này
được] chia thành ba đoạn ngắn). Câu chữ
trong kinh thường là nói tại đây mà ư nơi kia. Nhăn
quang xẹt bốn phía, tám mặt lung linh. Như trong lời
hỏi này, nh́n vào hai chữ Da (耶,
phải chăng), rơ ràng trong lời lẽ đă hàm ư “vô
đắc, vô thuyết”. Nhưng nếu nói “vô đắc,
vô thuyết”, sẽ thành “giữ lấy phi
pháp” mất
rồi! Nếu nói “có đắc, có thuyết”, lại
là giữ lấy pháp! Nay nêu ra lời hỏi này, chính là khảo
nghiệm người nghe pháp rốt cuộc có thể lănh hội,
thấu hiểu ư nghĩa chân thật của “chẳng giữ
lấy hai bên” hay không!
(Bổ)
Kinh này hễ đặt bốn chữ “ư ư vân hà?”
(ư ông nghĩ sao), nếu nói nông cạn sẽ là thăm ḍ
người nghe pháp đối với những điều
vừa nói trước đó có thể
hiểu rơ hay không? Nói sâu hơn th́ chính
là chỉ dạy chúng ta là những kẻ đọc tụng,
đừng hiểu lầm ư Phật! Đối với các
lời lẽ sẽ nói tiếp theo đó, phải nên thấu
hiểu sâu xa th́ mới là chánh tri, chánh kiến. Nếu
không, chẳng hợp
ư Phật! Trong lời hỏi,
đức Phật xưng là Như Lai; trong lời đáp,
ngài Tu Bồ Đề
nói “hết thảy các thánh hiền”, có thể thấy
“chẳng nên giữ lấy pháp, chẳng nên giữ lấy
phi pháp”, bất luận thành hiền, thành thánh, hay thành
Như Lai,
đều là “nếu chẳng từ
pháp môn này, sẽ chẳng thể!”
Hai câu Như Lai [trong đoạn chánh kinh trên đây] tiếp
ngay theo hai câu “bất ưng thủ pháp” (chẳng nên giữ lấy pháp),
thoạt nh́n đối với chữ Đắc tợ hồ
có Đắc, đối với có pháp để nói th́ tợ hồ có nói.
Ư Phật nhằm bảo rơ ràng: Như Lai đối với
các pháp do Ngài đă nói, trong tâm có
pháp được nói hay không? “Pháp”
ấy chính là nói tới A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. V́ sao Như Lai thuyết pháp? Chính là v́ khiến
cho hết thảy chúng sanh chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề, nên Ngài mới thành Như Lai,
đương nhiên là “có đắc”. Hai chữ Da
trong lời hỏi, mặt ngoài là pháp, nhưng trong ấy
chứa đựng phi pháp, v́ sợ kẻ thô tâm bị hiểu
lầm, phải cần ngài Tu Bồ Đề giải
thích. Không chỉ là thăm ḍ thính chúng có hiểu rơ nghĩa
“chẳng chấp vào Nhị Biên” hay không, mà c̣n nhằm chỉ
dạy chúng ta dụng công mà nếu chẳng thực hiện
từ “chẳng chấp vào Nhị Biên”, sẽ
chẳng thể được!
Kẻ
thô tâm sẽ ngờ đức Phật thành đạo
dưới cội Bồ Đề, há chẳng phải là “đắc
quả” ư? Bốn mươi chín năm thuyết
pháp, há chẳng phải là pháp đó sao? V́ sao lại bảo
bọn sơ phát tâm chúng ta “chớ nên giữ lấy
pháp?” Qua lời giải thích của ngài Tu Bồ Đề:
“Thế Tôn chẳng đắc mà đắc, chẳng nói
mà nói”, mối nghi ấy liền được tháo gỡ.
Nói cao hơn một bậc nữa, chẳng nói đức
Thế Tôn đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, cũng chẳng nói Phật, mà nói Như Lai.
Như Lai là Pháp Thân, là tánh đức. Phật tánh ai nấy
đều có, đặc biệt là phàm phu cất chứa
[Phật tánh ấy] trong cái vỏ vô minh. V́ thế, nói hai
câu này,
nhằm bảo chúng ta hăy chứng tánh. Nơi tánh há có cái
để đắc ư? Há có pháp để nói ư?
2.2.2.2.2.1.1.2.4.2.
Dùng “chẳng thể chấp pháp” để giải thích
2.2.2.2.2.1.1.2.4.2.1.
Nói rơ chẳng có pháp nhất định
(Kinh)
Tu Bồ Đề ngôn: - Như ngă giải Phật sở
thuyết nghĩa, vô hữu định pháp danh A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; diệc vô hữu
định pháp, Như Lai khả thuyết.
(經)須菩提言:如我解佛所說義,無有定法,名阿耨多羅三藐三菩提;亦無有定法,如來可說。
(Kinh:
Tu Bồ Đề nói: - Như con hiểu nghĩa do đức
Phật nói, chẳng có pháp nhất định để gọi
là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề; cũng
chẳng có pháp nhất định để Như Lai có thể
nói).
(Bổ)
Lời đáp này cực viên, cực diệu. Thoạt nh́n
dường như chẳng đáp đúng lời hỏi.
Thế Tôn là người có thể đắc, là người
có thể nói, đó là bên hỏi. C̣n bên đáp th́ trưởng
lăo [Tu Bồ Đề] dựa theo pháp để đắc,
để nói [mà trả lời]. Hỏi một đằng,
đáp một nẻo, viên diệu bậc nhất! Có
nghĩa là lăo nhân gia (đức Phật) hỏi “Như Lai
có cái để đắc, để nói hay không?”,
con c̣n chưa thành Phật, sao biết được? Do vậy,
con bất quá dựa theo bên pháp được nói, lại dựa
theo sự hiểu biết đại lược đối
với các nghĩa do đức Phật đă nói trước
nay. Dùng cách thức giữ lấy thân phận như thế
này: Con đă chưa chứng đắc [quả vị] Phật,
đương nhiên là chẳng thể biết, nhưng xét
theo đạo lư do đức Thế Tôn chỉ dạy
để lănh hội, sẽ chẳng đến nỗi lầm
lẫn. Trưởng lăo nói lời ấy một mặt là
v́ chính ḿnh mà suy nghĩ, mặt khác nhằm khai thị chúng
ta. Đức Thế Tôn nói hai câu ấy
tột bậc yếu khẩn, hăy nên
chiếu theo ư chỉ của trưởng lăo để lănh
hội.
Trong
lời đáp của trưởng lăo, chẳng nói Như
Lai mà nói Phật, hết sức có thâm ư! Bởi lẽ, các
thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn chứng Vô
Thượng Bồ Đề, hăy nên chiếu theo đức
Phật là vị đă chứng đắc quả vị
để tu tập. “Vô hữu định pháp” tức
là pháp chẳng có nhất định. Nói đơn giản,
tức là chớ nên chấp trước pháp, mà cũng chẳng
có pháp nhất định. Đó tức là chú giải của
“pháp bất khả chấp” (chẳng thể chấp
pháp).
Dùng
“A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề c̣n chẳng
có pháp nhất định để có thể gọi tên”
để đáp câu hỏi “có pháp để đắc,
để nói” trong phần trước đă rơ thấy rồi.
Pháp c̣n chẳng có cái tên nhất định, huống là có
đắc ư? Huống hồ c̣n có cái để nói nữa
ư? Đối với các thiện nam tử, thiện nữ
nhân đă phát Bồ Đề tâm, v́ sao [đức
Phật] chẳng nói Vô
Thượng Bồ Đề, mà nói “hăy nên hành bố
thí”? Đủ thấy: Ngoài hết thảy các pháp ra, chẳng
có A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho nên chẳng
có pháp nhất định. Thuyết pháp [nào đi nữa
cũng] đều là phương tiện; do vậy,
cũng chẳng có pháp nhất định để có thể
nói!
2.2.2.1.2.1.1.2.4.2.2. Giải
thích hăy nên “đôi bên đều chẳng phải”
(Kinh)
Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết pháp, giai bất khả
thủ, bất khả thuyết, phi pháp, phi phi pháp.
(經)何以故?如來所說法,皆不可取,不可說,非法,非非法。
(Kinh:
V́ sao vậy? Pháp do Như Lai đă nói đều chẳng
thể giữ lấy, chẳng thể nói, chẳng phải
là pháp, chẳng phải không là pháp).
(Bổ)
Song Phi (雙非, phủ
định cả hai bên) tức là “phi pháp, phi phi pháp” (chẳng
phải pháp, chẳng phải không là pháp), tức Song Ly (雙離, ĺa cả
hai bên), đó là Song Giá (雙遮, ngăn
chặn cả hai bên), nghĩa là “cả hai đều chẳng
phải”. Mấy câu này của trưởng lăo viên diệu
tột bậc, có thể giải thích bằng nhiều cách.
Đối với mỗi
câu văn trong kinh Phật, phải nên xem xét mọi mặt.
Đức Phật tự nói: “Ta thuyết pháp dẫu cùng tận kiếp số
vẫn chẳng tận”, huống hồ bọn phàm phu chúng ta há chẳng nên từ
nhiều phương diện để lănh hội ư? “Vô
định pháp” cũng là chẳng có pháp nhất
định để có thể nói, tức là ngộ
được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
trong đoạn văn trước đó. Trưởng lăo
tự nói: “V́ sao con có thể ngộ pháp vô định,
cũng chẳng có pháp nhất định để có thể
nói ư? V́ pháp do Như Lai đă nói chính là vô thượng
giác, chính là cứu cánh giác. Cứu cánh giác chính là vô niệm”.
V́ sao vậy? Kinh nói: Do ĺa niệm vi tế, chiếu kiến
tâm tánh, nên gọi là Cứu Cánh
Giác
(giác ngộ rốt ráo). Có thể thấy Cứu
Cánh
Giác
chính là vô niệm. Vô niệm th́ làm sao có thể giữ lấy
cho được? Trong tâm hễ có động (dấy khởi
ư niệm) th́ mới có thể giữ lấy. Cái có thể
giữ (năng thủ) và cái bị giữ lấy (sở
thủ) đều chẳng thể được;
v́ thế nói “đều chớ nên giữ lấy”.
Đức Thế Tôn muốn chỉ dạy chúng ta tu hành,
cho nên Ngài nói gián tiếp, miễn cưỡng mà nói.
Nhưng tâm tánh Bát Nhă ĺa tướng ngôn thuyết, trọn
chẳng có người nói và pháp được nói. V́ thế
bảo là “đều chẳng thể nói”. Nếu chúng
ta chấp là thật sự có A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề để có thể chứng, th́ sai mất
rồi! Do vậy, bảo là “phi pháp”. Nhưng nếu
chấp chẳng có A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề th́ lại sai mất rồi, cho nên nói “phi phi
pháp” (chẳng phải là không có pháp).
Lại
nữa, chữ Pháp trong “Như Lai sở thuyết pháp” (pháp
do Như Lai đă nói) chính là nói đến hết thảy
các pháp, v́ hết thảy các pháp chính là A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề. Như Lai nói các pháp, dạy
chúng ta “chớ nên giữ lấy”, nhưng rơ ràng là Ngài lại
nói rất nhiều pháp, [tức là] bảo chúng ta “chớ
nên giữ lấy phi pháp!” Do đó, bọn chúng ta nghe pháp,
đối với pháp và phi pháp, đều chớ nên giữ
lấy. V́ vậy biết: Người thuyết pháp
cũng là bất đắc dĩ mà nói, đối ứng
căn cơ mà nói, nhưng pháp chẳng có nhất định,
có thể thấy: Hễ chấp pháp th́ chẳng đúng; nhưng rơ ràng là thuyết
pháp! Có thể thấy: Chấp
phi pháp cũng chẳng đúng! Hai câu “phi pháp, phi phi pháp”
chính là chú giải của “bất
ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp”
(chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi
pháp). V́ sao chẳng nên giữ lấy pháp? Do chẳng phải
là pháp. V́ sao chẳng nên giữ lấy phi pháp? Do chẳng phải
là phi pháp. Phi pháp và phi phi pháp lại có thể xoay ngược
lại để quán, sẽ nói là phi pháp và
phi phi pháp do Như Lai đă nói đều là chẳng thể giữ
lấy, chẳng thể nói.
Trưởng
lăo nói cũng chẳng có pháp nhất định để
Như Lai có thể nói. Đặc biệt nêu ra hai chữ
Như Lai! Như Lai là Pháp Thân. Pháp Thân vô tướng, há có
thể nói? [Điều này] hàm ư: Thân Ứng Hóa có tướng,
có thể nói. V́ thế nói là “vô hữu định pháp” (chẳng có pháp nhất
định). “Vô hữu định
pháp”: Chẳng thể chấp nhất
định có pháp để có thể nói, mà cũng chớ
nên chấp nhất định không có pháp để có thể
nói. Pháp Thân là tánh, tánh là biển đại viên giác vô lượng,
vô biên. Nói theo tánh, hết thảy chúng sanh và các Bồ Tát sẽ
đều là Nhất Chân pháp giới. V́ thế, đức
Thế Tôn thuyết pháp tự tại lưu xuất từ
trong biển đại viên giác. Chúng ta muốn chứng biển
đại viên giác, trước hết,
hăy nên ĺa tâm duyên tướng, sao có thể giữ lấy
cho được? Lại nữa, nếu ĺa tướng
ngôn thuyết, sao có thể nói cho được? Ĺa tướng
ngôn thuyết chính là ngôn ngữ dứt bặt. Ĺa tướng
tâm duyên, chính là tâm hạnh xứ diệt. Đă là tâm hạnh
xứ diệt, ngôn ngữ dứt bặt, sao có thể phân
biệt cho được? V́ thế nói là “phi pháp, phi phi
pháp”.
Trong
phần trước đă nói “vô niệm” chính là v́ muốn
ĺa tâm phân biệt. V́ thế nói “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ
lấy phi pháp). Đức Thế Tôn chứng đắc
Pháp Thân Như Lai, tuy có cái để đắc, nhưng
hoàn toàn chẳng có ǵ để đắc. Tuy có cái để
nói, nhưng hoàn toàn chẳng có ǵ được nói. Muốn song
chiếu th́ trước hết phải song ly. Hai câu hỏi
của đức Thế Tôn chứa đựng ư nghĩa
này, tức là như nói: “Pháp Thân mà c̣n có cái để
đắc ư? Pháp Thân c̣n có cái để nói ư?”
Như Lai sở dĩ được gọi là Như Lai là
v́ Ngài trước đó đă ĺa phân biệt. Quư vị thuộc
địa vị tu nhân, đang tu hành, cũng phải nên
trước hết ĺa phân biệt, thấy có ǵ tồn tại
để có thể đạt được ư? Có ǵ
để nói ư?
2.2.2.2.2.1.1.2.4.3. Dẫn hết thảy vô vi để làm chứng
(Kinh)
Sở dĩ giả hà? Nhất thiết hiền thánh, giai
dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt.
(經)所以者何?一切賢聖,皆以無為法而有差別。
(Kinh: V́ lẽ
nào vậy? Hết thảy hiền thánh đều do pháp vô
vi mà có sai biệt).
(Bổ)
“Sở dĩ giả hà?” (v́ lẽ nào vậy?) tức
là chỉ ra lư do v́ sao hai bên đều sai! Hết thảy
hiền thánh đều dùng pháp Song Phi này, lũ phàm phu chúng
ta há nên chẳng dùng! Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh là Hiền. Từ
Sơ Địa cho tới Đẳng Giác là Thánh. Như
Lai là Cực Thánh. Do vậy nói “hết thảy”. Vô Vi tức
là Niết Bàn. Niết Bàn, nói đầy đủ theo âm tiếng
Phạn là Bát Niết Bàn (Paranirvāṇa), dịch là Tịch Diệt, hoặc Bất Sanh Bất
Diệt. Ngài La Thập dùng danh xưng cũ của Trung Hoa
để dịch nghĩa, tức là [dùng danh
xưng] Vô Vi. Huyền Trang Tam Tạng đời Đường
không tán thành chuyện sử dụng danh xưng cũ ấy.
Ngài cho rằng các danh xưng cũ không hoàn toàn tương ứng
khít khao với ư nghĩa gốc trong tiếng Phạn.
Do vậy, các từ ngữ Ngài dùng để dịch đều
là tạo mới để người đọc khỏi
hiểu lầm. Vô Vi ở đây chính là Bất Sanh Bất
Diệt, khác hẳn với cái Vô Vi “thuần thuận theo
tự nhiên, chẳng tạo tác” của Lăo Tử. Cố
nhiên là nên dùng từ ngữ theo cách dịch mới, nhưng
ngài Huyền Trang v́ [khiến cho người đọc] chẳng
đến nỗi hiểu lầm mà tạo quá nhiều danh
từ mới, chúng ta cũng chẳng tán thành.
Vô
Vi chỉ cái tâm thanh tịnh nơi tự tánh, vốn sẵn
trọn đủ, chẳng có tướng tạo tác. Vô Tu
Vô Chứng trong kinh Phật là nói tới điều này. Chỉ
cần diệt hết cái tâm sanh diệt, sự tịch diệt
ấy liền hiện tiền. C̣n như để thực
hiện tu hành th́ chính là “phi pháp, phi phi pháp, chẳng giữ
lấy hai bên” trong phần trước. Ắt phải
chẳng giữ lấy hai bên để trừ sạch phân
biệt và vọng tưởng th́ mới được.
V́ thế, thành hiền, thành thánh, đều dùng pháp này! Hiền
và thánh có sai biệt to lớn, nhưng so với Như Lai
th́ là nhân địa (địa vị tu nhân), so với phàm
phu th́ là quả vị
(địa vị đă chứng quả). Lại mỗi
địa vị sau so với địa vị trước
th́ đều là quả, các địa vị trước
so với các địa vị sau th́ đều là nhân. Do vậy
nói “hết thảy”. Hiền thánh do chứng lấy
pháp vô vi này, nên nói “giai dĩ” (đều do). Như Lai
cũng thế. Như Lai hễ nói ra điều ǵ, đều
nương vào Vô Vi do Ngài tự chứng, chẳng thể
nói đó là phi pháp. Nhưng hiền thánh có sai biệt, tức
địa vị cạn hay sâu khác nhau; do vậy biết rằng:
Như Lai hễ nói ra điều ǵ đều tùy thuận
cơ nghi, là phương tiện, chẳng chân thật, chẳng
thể bảo đó chẳng phải là phi pháp.
Pháp
do đức Thế Tôn đă nói không pháp nào cạn mà chẳng
sâu, không pháp sâu nào mà chẳng cạn. V́ thế, dạy
người tu tập th́ bước đầu là phải
dụng công nơi “chớ nên giữ lấy pháp, chớ
nên giữ lấy phi pháp”. Tới khi cảm quả, công
đă đạt tới mức cực sâu, vẫn là pháp
này! Chúng ta hăy nên vận dụng nơi khởi tâm động
niệm, trước là quán vô niệm. Có thể sao cho khi mới
vừa dấy niệm liền biết ngay, lập tức
phản quán, th́ sẽ có thể chiếu trụ, niệm liền
chẳng c̣n. Nhưng chuyện này chẳng do dụng công lâu
ngày, sẽ chẳng thể được! V́ thế,
bước đầu cần phải quan sát, quan sát th́ chẳng
thể không suy nghĩ sâu xa. Suy nghĩ sâu xa bèn quán khá nhiều
ư niệm ấy từ nơi đâu mà dấy lên? Hễ
quán, sẽ thấy [niệm ấy] khởi lên từ chỗ
không có ǵ để khởi, nó vốn hư vọng. Niệm
lại dấy lên, lại quán. Dụng công tới lui nhiều
lượt, sẽ liền có thể chiếu trụ, liền
có thể vô niệm. Pháp sư Đạt Thiên phán định
khoa này là “sanh tín”, hết sức xác đáng! Bởi
trong kinh văn có nói “có thể sanh tín tâm, coi đó là thật”
và “một niệm sanh tịnh tín”, rơ ràng là nói về
Tín. Như Lai nương vào pháp ấy mà thành Như Lai, hết
thảy hiền thánh đều nương vào pháp ấy mà
thành tựu. Vậy th́ chúng ta chẳng sanh tín tâm, chẳng
coi đó là thật như thế, sẽ chẳng thể
được!
2.2.2.2.2.1.1.3.
Giảo thắng (so sánh sự thù thắng)
2.2.2.2.2.1.1.3.1.
Bố thí nhiều phước
2.2.2.2.1.1.3.1.1. Nêu ra sự
để gạn hỏi
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Nhược nhân măn tam thiên
đại thiên thế giới thất bảo dĩ dụng
bố thí, thị nhân sở đắc phước đức,
ninh vi đa phủ?
(經)須菩提!於意云何?若人滿三千大千世界七寶以用布施,是人所得福德,寧為多不?
(Kinh: Này Tu Bồ
Đề! Ư ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy
báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới
để bố thí, người ấy đạt
được phước đức,
há có nhiều chăng?)
(Bổ)
Giảo (校)
là tỷ giảo (比校,
so sánh), Thắng (勝) là thù
thắng, tức là đối với phước
đức, bèn dùng trí huệ để so sánh. Có người
nói: “Trong kinh này, đức Phật dạy mọi người
chẳng trụ tướng, cớ sao chỗ nào cũng so
sánh phước đức vậy?” Trong ấy, có bốn
loại ư nghĩa trọng yếu:
1) Muốn cho mọi người hiểu rơ “phước
và huệ phải nên song tu!” Chuyên tu huệ, chẳng tu phước,
sẽ không thể. Như giảng kinh, thuyết pháp vốn
v́ độ sanh, nhưng chúng sanh một mực chẳng
thích nghe quư vị nói, tức là do [quư vị] thiếu khuyết
phước đức. Do vậy, phước đức
hết sức khẩn yếu. Phước huệ song tu tức
là muốn cho mọi người bi trí trọn đủ.
Trí tức huệ, bi tức phước. Chư Phật
Như Lai đều dùng tâm đại bi làm Thể. Do chúng
sanh mà dấy ḷng đại bi; v́ thế, Đại Thừa
Phật pháp được kiến lập nơi chúng sanh.
Xem phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, sẽ biết
nguyện của ngài Phổ Hiền do ḷng đại bi phát
khởi. Trong ấy có đoạn nói: “Hoặc phục hữu
nhân, dĩ thâm tín tâm, ư thử đại nguyện, thọ
tŕ, độc tụng, năi chí thư tả nhất tứ
cú kệ, tốc năng diệt trừ Ngũ Vô Gián nghiệp”
(Nếu lại có người, dùng tâm tin sâu, thọ tŕ,
đọc tụng đại nguyện này, cho đến
biên chép một bài kệ bốn câu, sẽ có thể nhanh
chóng diệt trừ nghiệp Ngũ Vô Gián). Lại nói “tốc
đắc thành tựu vi diệu sắc thân, cụ tam thập
nhị đại trượng phu tướng” (lại
được mau chóng thành tựu sắc thân vi diệu, trọn
đủ ba mươi hai tướng đại trượng
phu). Do vậy biết: Nếu chúng sanh có thể viên măn công
đức của Phổ Hiền như thế, sẽ có
thể diệt tội, đắc phước, nhưng tu
hạnh nguyện Phổ Hiền th́ cần phải phát tâm
đại bi trước đă. V́ thế, Bi
chính là phước. Phước đức được
nói trong kinh này đều do đại bi mà phát khởi, hoàn
toàn chẳng nhằm dạy mọi người cầu
phước báo nhân thiên vậy!
2)
Phước đức trọng yếu như thế, hăy
nên phát tâm đại bi. Nhưng nếu chẳng có trí huệ,
sẽ chẳng thể hành Bồ Tát đạo. Do vậy,
đại trí càng trọng yếu. Cổ nhân nói: “Phước
huệ nhị luân” (phước và huệ
như hai bánh xe). Có thể thấy:
Như Lai ắt có hai luân th́ mới có thể hành hóa,
nhưng đối với sức của hai bánh xe giống
như tay phải và tay trái, coi trọng bên phải, phước
đức cố nhiên là quan trọng, nhưng trí huệ
càng quan trọng hơn. V́ thế, dùng bảy báu đầy
ắp tam thiên đại thiên để bố thí chẳng
bằng thọ tŕ bốn câu kệ, v́ người khác nói!
3)
Nhờ vào sự so sánh thù thắng này để thâu kết
các phần kinh văn trước đó. Đức Phật
thuyết pháp tuy là một mực nói, nhưng trong ấy, có
nhiều chỗ thâu kết lại. Chỗ so sánh thù thắng
trong kinh này chính là chỗ chương cú thâu kết vậy.
4)
Kinh này nhiều lượt so sánh sự thù thắng, mỗi
lượt sau ắt
càng thù thắng hơn. Càng so sánh, càng
thù thắng! Hoàn toàn chẳng phải là kinh văn trong phần
sau sâu hơn phần trước mà có sai biệt vời vợi
như thế! Đấy chính là xét theo phía chúng sanh mà nói, chỉ
ra: Công hạnh càng thù thắng, phước đức càng
nhiều!
“Nhược”
(若) là từ
ngữ giả thiết để hỏi, không bắt buộc
phải thật sự có chuyện ấy, hoặc có người
ấy. Theo kinh, dùng bảy báu đầy ắp tam thiên
đại thiên thế giới để bố thí chính là
chuyện trong lúc tu nhân của Đại Phạm Thiên
Vương đă từng bố thí như vậy. Chẳng
phải là một đời, mà là nhiều đời nhiều
kiếp bố thí, tích tụ lại mà có nhiều như thế.
Đức Phật nói “nếu có người” như
thế, tức
là có thể biết: Trong lúc ấy, hoàn toàn không có người
như vậy!
Kinh
Phật nói núi to nhất trên thế giới là núi Tu Di, c̣n gọi
là Tu Di Lâu (Sumeru) dịch nghĩa là Diệu Cao (妙高). [Phần đáy của]
núi này ngập sâu trong biển tới tám vạn do-tuần,
cao vượt khỏi mặt biển tám vạn do-tuần
(một do-tuần (yojanā) ứng với bốn mươi dặm[9]
Tàu), cho nên cực cao. Núi này chẳng do đất, đá hợp
thành, mà do vàng, bạc, lưu ly, pha lê, bốn
thứ báu hợp thành, nên nói là Diệu. Vây quanh núi này có biển
cả, gọi là Hương Thủy Hải (biển nước
thơm). Chung quanh lại có biển, có núi, tổng cộng
bảy tầng, tức là bảy biển thơm, bảy núi vàng. Phía ngoài lại có đại
dương, gọi là Hàm Thủy Hải (biển nước
mặn). Vây quanh phía ngoài [biển nước mặn] có rặng
núi lớn, tên là Đại Thiết Vi Sơn (Cakravāda-parvata). Ngoài núi, cũng có bốn đại
châu. Một châu trong trong bốn đại châu ấy chính
là Nam Thiệm Bộ Châu (Jambudvīpa) mà chúng ta đang sống. Người đời coi bốn
châu trên địa cầu là bốn châu trong kinh Phật, lầm
mất rồi! Tứ đại châu ấy c̣n gọi là “tứ
thiên hạ” ở ngang lưng núi Tu Di.
Dục
Thiên gồm sáu tầng, gần với
loài người nhất là Tứ Thiên Vương Thiên (Cāturmahārājakāyika).
Cung điện của họ ở lưng chừng núi Tu
Di. Tứ Thiên Vương thống lănh nhân đạo và quỷ
đạo. Tính toán, quan sát sự thiện ác trong nhân gian là
trách nhiệm của họ. Trên đó là Đao Lợi Thiên (Trāyastriṃśa).
Cơi trời này cũng chẳng ở trong hư không, mà ở
trên đỉnh núi Tu Di. Ngọc Hoàng trong Đạo Giáo, Hạo
Thiên Thượng Đế (昊天上帝)
của Nho giáo chính là vị trời [chúa tể tầng trời]
này. Từ Tứ Thiên Vương cho đến sáu
đường, đều quy vào quyền cai quản của
vị trời này. Trên đó, lại có bốn tầng trời,
đều ở trong hư không. Trên Dục Giới (Kāmadhātu) là Sắc
Giới
(Rūpadhātu),
gồm mười tám tầng trời, chia thành Sơ Thiền,
Nhị Thiền, Tam Thiền và Tứ Thiền. Thăng lên
cơi trời này, không chỉ là phước
đức, c̣n cần phải có định lực. Tuy họ
đă không c̣n dâm dục, nhưng vẫn có sắc chất.
Do vậy, gọi là Sắc Giới. Thăng lên Sơ Thiền,
chẳng cần tu Định của Phật môn, dẫu là
ngoại đạo Định cũng có thể thăng
lên cơi trời này, như Đại La Thiên[10]
trong Đạo Giáo cũng là Sơ Thiền. Tu định
của Phật giáo mà chưa thoát khỏi tam giới
cũng gởi thân nơi tầng trời này. V́ thế, gọi
chung là Thiền. Sơ Thiền Đại Phạm Thiên
Vương quyền uy cao hơn Thích Đề Hoàn Nhân.
Thích Đề Hoàn Nhân cai quản một tứ thiên hạ,
Đại Phạm Vương
cai quản tam thiên đại thiên thế giới.
Thế
giới Sa Bà do Phật Thích Ca giáo hóa cũng to dường ấy.
Thế giới do mỗi vị Phật cai quản cũng
đều như thế, bất quá có tịnh hay uế bất
đồng. Ngay cả thế giới Cực Lạc
cũng to lớn như thế, nhưng đất trong cơi ấy
bằng phẳng, do bảy báu hợp thành, khác biệt vời
vợi so với cơi này do ḷng người hiểm ác cảm
vời, [mặt đất]
gập ghềnh, chẳng bằng phẳng! Chúng sanh tu tập
phước đức to lớn, sẽ cảm bảy báu
nhiều. Tu phước đức ít ỏi, cảm vời
bảy báu ẩn khuất. Vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ,
mă năo, xích châu đều chẳng phải do sức người
tạo tác như trong hiện thời. Người ấy
dùng bảy
báu đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới
để bố thí chúng sanh, cũng chẳng phải là sức
người làm được.
Chữ
Ninh (寧)
cũng giống như nói “khả vị” (可謂,
đáng gọi là). Lời hỏi của đức Thế
Tôn tột bậc thiện xảo. Không chỉ khảo nghiệm
ngài Tu Bồ Đề, mà cũng là thăm ḍ chúng ta, v́ sợ
chúng ta hiểu lầm ư nghĩa “chẳng trụ tướng”
trong phần kinh văn trước đó, ngỡ rằng
chẳng trụ tướng th́ cần ǵ phước đức!
Cần phải biết: Người ấy dùng bảy báu
đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới
để bố thí, tức là cứu độ chúng sanh. Do
vậy, chỉ nên chẳng trụ tướng, chớ nên
chẳng hành bố thí. Nếu không, sẽ chẳng phải
là tâm đại bi.
2.2.2.1.2.1.1.3.1.2. Giải
thích nguyên do
(Kinh)
Tu Bồ Đề ngôn: - Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ
cố? Thị phước đức, tức phi phước
đức tánh. Thị cố, Như Lai thuyết phước
đức đa.
(經)須菩提言:甚多,世尊!何以故?是福德,即非福德性,是故如來說福德多。
(Kinh: Ngài Tu Bồ
Đề thưa: - Bạch Thế Tôn, rất nhiều! V́
sao vậy? Phước đức ấy chẳng phải
là phước đức tánh. Do đó, Như Lai nói là
phước đức nhiều).
(Bổ)
Ư nghĩa
trong lời đáp này sâu xa. Ngài Tu Bồ Đề hiểu
rơ ư của đức Thế Tôn, nên nói “rất nhiều”.
Lại sợ người khác chẳng liễu giải: Phần
trước đă nói rành rành “chẳng trụ tướng”,
ở đây bỗng nói “rất nhiều”, so lường
cặn kẽ, há chẳng phải là trụ tướng
ư? Từ chữ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở
đi, chính là Ngài tự giải thích nguyên do v́ sao đáp “rất
nhiều”. Trong kinh này, các câu có chữ “thị danh”
(được gọi là) hoặc “tức phi” (tức
chẳng phải) khá nhiều! Chỗ này là lần đầu
tiên trông thấy; v́ thế, ngữ ư khá cặn kẽ. Ngài
đặc biệt nêu ra chữ Tánh, khiến cho mọi
người liễu giải: Từ đây về sau, hễ
nói “tức phi” (tức chẳng phải) th́
đều là nói về tánh. “Thị cố” (do vậy) giống
như nói “thị danh” (th́ gọi là),
khiến cho mọi người liễu giải: Từ
đây trở đi, hễ nói “thị danh” tức là
đều nói về tướng. Nói theo tướng, “danh”
là tướng danh tự, “ngôn” là tướng ngôn thuyết.
Phàm mọi vật lớn, bé, dài, ngắn, cao, thấp, xa, gần,
trong, ngoài, hễ có đối đăi th́ đều là tướng.
Tướng có biến động, là hư vọng. Tánh th́
bất động, là không tịch. Do vậy, nói theo tánh, hết
thảy đều chẳng thể nói.
Ngài
Tu Bồ Đề có ư nói: Nếu là tướng phước
đức th́ có thể nói là nhiều, tức đó chẳng
phải là tánh của phước đức. Nếu là tánh
của phước đức, sẽ là rỗng rang, tịch
tĩnh, tức là hai chữ “phước đức”
cũng chẳng áp dụng được, trong ấy há có
nhiều hay ít để có thể nói? Từ đây trở
đi, hễ gặp chữ “tức phi” và “thị
danh” sẽ
đều hiểu như thế. Ở
đây, đặc biệt thêm hai chữ Như Lai, th́
Như Lai là danh xưng của tánh thể. Nói “phước
đức nhiều” là nói theo tướng. V́ sao nêu ra
Như Lai? Trong ấy
chứa đựng ư nghĩa trọng yếu! Bởi lẽ,
tánh là trong, tướng là ngoài. Tánh là gốc, tướng
là ngọn. Có trong th́ mới có ngoài, có gốc th́ mới có
ngọn. Ư nói có
tánh của Như Lai th́ mới có phước đức
để có thể nói. Nếu chẳng có tánh, há có phước
đức ǵ để có thể nói? Phước đức
ấy chẳng phải là phước đức tánh. Nói
theo bề ngoài th́ là phước đức;
thật ra, nhằm chỉ dạy chúng ta chớ nên chấp
tướng. Do vậy, Như Lai nói “phước đức
nhiều”, tức là nói “có
cái tánh ấy th́ mới có cái tướng ấy”,
khiến cho chúng ta dung hội tướng về tánh.
2.2.2.1.2.1.1.3.2. Sự
thù thắng do tin kinh này
(Kinh)
Nhược phục hữu nhân, ư thử kinh trung, thọ
tŕ năi chí tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết,
kỳ phước thắng bỉ.
(經)若復有人,於此經中,受持乃至四句偈等,為他人說,其福勝彼。
(Kinh:
Nếu lại có người, đối với kinh này, thọ
tŕ thậm chí một bài kệ bốn câu v.v…, v́ người
khác nói, phước ấy hơn phước trên đây).
(Bổ)
Khoa này là lời đức Phật, đáng lẽ phải
có từ ngữ “Phật ngôn”, hoặc “Tu Bồ
Đề”, nhưng nay lược đi. Chữ Phục
(復)
trong “nhược phục” (若復) có nghĩa là Lại.
Người đọc sẽ có thể hiểu lầm, cho
là “đọc tụng kinh Kim Cang sẽ có phước
hơn hẳn Đại Phạm Thiên Vương”. Thật
ra, phải nên chú ư hai chữ “thọ tŕ”. Người
ấy có thể thọ tŕ kinh này, lại có thể bố
thí, th́ mới hơn hẳn
thiên vương được! “Thọ” (受) là tiếp nhận, tức là có thể
thật sự lănh hội ư nghĩa của kinh, ḥng
được thọ dụng, so với kẻ chỉ hiểu
văn tự bèn cao hơn một tầng. “Tŕ” (持) là khăng khăng vâng giữ, chẳng
lơi lỏng khắc nào, so với
Thọ lại cao hơn một tầng!
Đă thọ tŕ th́ không có ai chẳng đọc tụng. V́
thế, chỉ dùng hai chữ Thọ Tŕ. Năi Chí (乃至) là từ ngữ để
tỉnh lược, tức là [bao hàm các ư] thọ tŕ toàn bộ,
hoặc thọ tŕ một phần, cho đến tối thiểu
là bốn câu. V́ thế, đặt chữ Đẳng
(v.v…).
Kệ
(偈):
Trong tự điển, chữ này vốn có âm đọc là
Kiệt (傑), cổ đức sửa
thành đọc theo Khứ Thanh (tức là đọc thành Kệ),
cùng một kiểu với cách đọc chữ Giải[11].
Đây vốn là một thể loại thơ của Ấn
Độ, do vần điệu khó dịch, nên khi phiên dịch,
sẽ là có vần hoặc không vần, đặc biệt
đổi thành danh xưng
“kệ tụng” (偈誦).
Nguyên văn trong tiếng Ấn Độ, cứ bốn
câu là một chương. “Tứ cú kệ” (một bài
kệ bốn câu) không chỉ nhất định bốn
câu nào trong kinh, bất cứ bốn câu nào cũng đều
có thể gọi là một kệ. Trên đây là tự lợi;
kế đó là “vị tha nhân thuyết” (v́ người
khác nói) tức là lợi tha (tạo lợi ích cho người
khác). Chữ này chỉ phước do tŕ tụng, diễn
nói. “Thắng bỉ” tức là hơn hẳn người
trước đó; kẻ kia chỉ hành bố thí, lại
c̣n là tài thí, là tướng phước đức. Người
này có thể thọ tŕ để tu huệ, lại có thể
dùng pháp thí để tu phước. Phước huệ
song tu, bi trí đầy đủ, chính là tánh phước
đức. Do đó, vượt trội người kia.
2.2.2.1.2.1.1.3.3. Giải
thích về công năng của kinh để kết lại
(Kinh)
Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Nhất thiết chư
Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề pháp, giai tùng thử kinh xuất.
(經)何以故?須菩提!一切諸佛,及諸佛阿耨多羅三藐三菩提法,皆從此經出。
(Kinh:
V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Hết thảy chư Phật
và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của
chư Phật đều từ kinh này mà ra).
(Bổ)
Trong kinh Đại Bát Nhă, đức Phật đă nói, bất
luận hết thảy các pháp đều được
thâu nhiếp trọn hết bởi Bát Nhă. V́ thế, trong
các kinh, Bát Nhă trọng yếu nhất, mà Kim Cang càng là trọng
yếu nhất của Bát Nhă. Phàm những nghĩa trọng
yếu trong kinh Đại Bát Nhă, kinh này đều có đủ.
Có thể thấy là đọc kinh này chẳng khác đọc
kinh Đại Bát Nhă, lại c̣n chẳng khác đọc
mười hai bộ loại kinh của Tam Tạng! Pháp
được kinh này nói chính là pháp Vô Thượng Chánh
Đẳng. V́ thế nói: Hết thảy pháp Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ
kinh này mà ra. “Hết thảy chư Phật” chính là các
vị có thể chứng. A Nậu Bồ Đề là pháp
được chứng. Chiếu theo đó mà xem, pháp môn
thành Phật ở ngay trong kinh này, mà thành Phật cũng do
kinh này. Người ấy thọ tŕ pháp môn thành Phật
này, bố thí pháp môn thành Phật này; do đó, phước
đức cùng tận kiếp số vẫn nói chẳng thể hết
được, há sự bố thí bảy báu đầy ắp
tam thiên đại thiên thế giới có thể sánh nghĩ
nổi ư? Đây là lần so sánh thứ nhất trong kinh
này, nêu lên chuyện xưa của Đại Phạm Thiên
Vương, đúng là đối ứng khít khao! Bởi lẽ,
đằng kia là sự bố thí để thành Đại
Phạm Thiên Vương, c̣n đằng này là sự bố
thí để thành Phật! Đức Phật cũng cai quản,
thống lănh tam thiên đại thiên thế giới. Đem
phước của ông ta (Đại Phạm Thiên
Vương) so với Phật khá thích hợp!
Nhưng Đại Phạm Thiên Vương vẫn là phàm
phu, Phật là thánh nhân, là giáo chủ, sao ông ta có thể sánh
bằng? Huống hồ Đại Phạm Thiên
Vương vẫn chẳng thể tránh khỏi đại
tam tai ư?
Hăy
c̣n một nghĩa trọng yếu nữa! Kinh này chỗ
nào cũng dạy “chẳng trụ tướng” ḥng muốn
cho người ta chứng tánh. Có thể thấy những
điều được nói trong kinh này đều là tánh.
“Giai tùng thử kinh xuất” (Đều từ kinh này
mà ra): Thật sự chẳng khác ǵ nói kinh này từ tánh thể
mà ra. Do từ tánh thể mà ra, cho nên dạy mọi người
“chớ nên trụ
tướng!”
Căn bệnh của phàm nhân chính là chỗ nào cũng
vướng mắc! Chẳng vướng cái này, liền chấp
cái kia. Kinh này nơi nơi dạy mọi người kiến
tánh. Nhưng chữ Tánh trong kinh, trừ chữ Tánh trong “tức
phi phước đức tánh” (tức
chẳng phải tánh phước đức ra), chẳng
thấy ở đâu khác! Đó là v́ muốn cho mọi
người hăy khéo tự thấu hiểu: Ngay cả chữ
Tánh cũng chớ nên chấp trước! Hết thảy
chư Phật đều từ kinh này sanh ra, lại là chỉ
điểm chúng ta học Phật th́ phải từ kinh này
mà tiến nhập.
Khoa
“so sánh sự thù thắng” này thích đáng nhất để
kết lại khoa “chỉ dạy vô trụ để
sanh tín”, bởi tín tâm chính là cửa ngơ để nhập
đạo.
2.2.2.2.2.1.1.3.4.
Kết lại, quy vào ĺa tướng
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Sở vị Phật, pháp giả, tức
phi Phật, pháp.
(經)須菩提!所謂佛、法者,即非佛、法。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Nói là Phật, pháp, tức chẳng phải
là Phật, pháp).
(Bổ)
Đầu đời Thanh, có người ngay sau câu “tức
phi Phật pháp”, thêm vào một câu “thị danh Phật
pháp”. Đó là sai lầm to lớn! Chẳng dùng chữ “thị
danh”, chỉ nói “tức phi” là v́ có thâm ư, sao lại
hư vọng thêm vào? Chỗ này chẳng thêm câu “thị
danh” v́ là chú giải cho đoạn văn trước
đó. Nếu thêm câu ấy, văn thể đă chẳng
thích hợp, mà ư nghĩa cũng chẳng đúng. Phàm thêm một
câu “thị danh” tức là mở ra đoạn văn kế
tiếp. [Trong câu] “sở vị Phật, pháp” ở
đây, chữ Phật
chỉ hết thảy chư Phật trong đoạn kinh
văn trước đó, Pháp nhằm chỉ
pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của
chư Phật trong đoạn văn trước đó. Ư
đức Phật là “hết thảy chư Phật và
pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của
chư Phật” như ta (Phật Thích Ca) đă nói trong phần
trước chính là Phật và Pháp nói theo danh tướng, tức chẳng
phải là Phật và Pháp nói theo tánh. Kinh này dạy rơ ràng mọi
người đừng nên trụ tướng, tức là
đối với hai câu “hết thảy chư Phật”
trên đây cũng đừng nên chấp tướng. Nếu
chấp tướng, sẽ chẳng phải là pháp A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật.
Kết thúc như thế th́ ư nghĩa “chẳng trụ
tướng để hành bố thí, chẳng giữ lấy
pháp, chẳng giữ lấy phi pháp” trong phần trước
đều được viên măn (dưới đây là
đoạn văn do chính Giang cư sĩ viết).
Khoa
trên dạy “vô trụ để sanh tín”, vừa mở
đầu liền dạy rộng độ chúng sanh thành
Phật (“nhập Vô Dư Niết
Bàn” chính là thành Phật),
tức là khai thị chúng ta đừng nên trụ trong các
tướng ta, người v.v… Lại nói: “Thật vô
chúng sanh đắc diệt độ giả” (thật sự
chẳng có chúng sanh được diệt độ), tức
là đừng nên trụ vào pháp tướng. Lại nói: “Ư
nhất thiết pháp vô trụ nhi hành bố thí…” (Hăy nên
chẳng trụ trong hết thảy các pháp mà hành bố
thí…), tức là đừng nên trụ vào tướng phi
pháp. Do vậy, dùng bốn chữ “bất trụ ư
tướng” (chẳng trụ vào tướng) để
tổng kết. Chẳng trụ vào tướng chính là sự
diễn tả chân thật về vô trụ. Sở dĩ hăy
nên vô trụ là để hàng phục vọng tâm (vọng tâm tức là thức; đó cũng là phân biệt). Vọng tâm chẳng phải chi khác,
phân biệt, chấp tướng đó thôi! Nhưng trong lời
hỏi, “trước là trụ, sau là hàng phục”; trong lời đáp th́ “hàng phục trước,
sau là trụ”.
Khi đáp về trụ, bèn nói “ưng vô sở trụ”
(hăy nên chẳng trụ vào đâu).
Lại
nói “đản ưng
như sở giáo trụ” (hăy chỉ nên trụ
đúng như lời dạy), mà điều được
dạy chính là vô trụ, há không phải là “chẳng
nên trụ vào đâu” đó ư? Ở đây lại dạy
chỉ cần trừ vọng, đừng nên kiếm chân!
Bởi lẽ, trừ vọng th́ chân tự hiện. Hơn
nữa, tánh Chân Như như như b́nh đẳng. Nếu
trụ nơi chân, sẽ thành chấp sai khác. Hễ chấp
bèn thành vọng, sao có chân cho được? “Dị”
(sai khác) chẳng phải là
b́nh đẳng, sao có Như cho được? V́ thế,
chỉ nên dùng vô trụ để hàng phục vọng,
đó chính là chánh trụ, há có thể cầu chỗ trụ
nào khác! Vọng trừ một phần, chân sẽ hiện một
phần, cần ǵ phải t́m chân nữa ư? V́ thế bèn
nói tiếp: “Phàm sở hữu tướng, giai thị
hư vọng” (phàm tất cả các tướng đều
là hư vọng). Đấy là nói rơ cái lỗi do trụ vào tướng.
Nếu trụ vào tướng, đó là đuổi theo vọng.
Đấy là nguyên do nói “hàng
phục” trước hết.
Lại nói: “Nhược kiến chư tướng phi
tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy
các tướng chẳng phải là tướng,
bèn thấy Như Lai). Đấy là nói rơ lợi ích do chẳng
trụ tướng. Nếu có thể chẳng trụ vào
tướng pháp và tướng phi pháp, sẽ thấy chân
tánh. Đấy là nguyên do v́ sao chỉ nói “hàng phục”,
chẳng nói “trụ”,
nhưng hàng phục chính là chánh trụ. Khai thị như thế,
đích đáng, hiển nhiên. V́ thế, kinh văn trong các phần
trên đều quy vào một tiểu khoa; do vậy,
đặt tên gọi cho khoa này như vậy để chỉ
rơ.
Sở
dĩ chỉ rơ như thế là
để khiến cho mọi người
sanh ḷng tin. Do vậy, [đặt khoa này] tiếp ngay sanh tiểu
khoa “sanh tín”. Trong ấy, chỉ coi “tŕ
giới, tu phước” là đă có thể
sanh tín, nghĩa thú càng tinh vi, sâu sắc. Nói đại
lược có ba điều:
1)
Bát Nhă được phương này dịch là Chánh Trí Huệ,
mà Huệ
sanh từ Định,
Định
do Giới
thành. Nay muốn khai chánh trí này, ắt phải nên tŕ giới.
Nếu không, chánh trí chẳng sanh, đâm ra trở thành cuồng
huệ, đi vào đường tà, nguy hiểm cùng cực!
Phước huệ nhị luân chẳng thể thiếu một.
Hai luân cùng vận chuyển mới thành Lưỡng Túc Tôn.
Nếu huệ nhiều, phước ít, sẽ khuyết thiếu
đại bi, chẳng thể nhiếp hóa chúng sanh. V́ thế,
tu chánh trí Bát Nhă, chẳng thể
ĺa các Độ như bố thí v.v… để riêng tu. Do vậy, kinh vừa
mở đầu liền nói “rộng độ chúng
sanh”, lại nói “chẳng trụ vào pháp để hành
bố thí”. Bởi lẽ, ĺa phước tu huệ,
đă vô duyên với chúng sanh, mà tướng hảo cũng
chẳng đầy đủ! Muốn hóa độ chúng
sanh, chúng sanh cũng chẳng nghe theo lời giáo hóa! Chúng ta ắt
phải nên biết điều này!
2)
Tŕ giới chính là ít ham muốn, biết đủ. Tu
phước, ắt tin sâu nhân quả. Nay tu Quán Chiếu Bát
Nhă, nếu tham dục nhiều, sao có thể ĺa tướng?
Nếu chẳng hiểu nhân quả, lại dễ dàng đi chệch
vào tướng đoạn diệt! Kinh dạy: “Tŕ giới,
tu phước giả năng sanh tín tâm” (người tŕ
giới, tu phước có thể sanh tín tâm), tức là dạy
chúng ta hăy nên tŕ giới, tu phước, th́ sẽ có thể
nhập môn Bát Nhă (do Tín là cửa nẻo để nhập
đạo). Ư răn nhắc này sâu đậm lắm! Chúng
ta càng phải nên biết điều này. Nói chung, tŕ giới,
tu phước đă chẳng phải là không có pháp tướng.
V́ thế, người nương theo kinh để quán chiếu
Nhân Không và Pháp Không, quyết chẳng đến nỗi
đâm quàng ngơ rẽ! Nếu có thể một niệm
tương ứng, sẽ khế nhập lư Tam Không. Đó
là không có các tướng ta, tướng người, chẳng
có pháp tướng, mà cũng chẳng có tướng phi
pháp.
Nói
là Vô, hoàn toàn chẳng phải là cái Không trơ trơ, mà có
nghĩa là “chẳng giữ lấy tướng”. Hai chữ
“bất thủ” (chẳng giữ lấy) lại chính
là lời diễn tả chân thật về “chẳng trụ
tướng”.
Nhưng muốn chẳng giữ lấy tướng, phải
nên chẳng giữ lấy pháp, chẳng giữ lấy phi
pháp. Hễ giữ lấy pháp, sẽ thành pháp
tướng, tức là chấp Hữu
mất rồi. Giữ lấy phi pháp, liền thành tướng
phi pháp, lại là chấp Không. Không và Hữu đều chẳng
chấp, sẽ là Trung Đạo
Đệ Nhất Nghĩa. Đó là pháp A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề. Ví như thí dụ về thuyền,
bè, khi vượt sông th́ cậy vào pháp này; đă vượt
qua, vẫn nên xả.
Do vậy, tuy đă thành Phật, tuy giống như Phật
thuyết pháp, độ sanh, vẫn là đắc mà chẳng
có ǵ để đắc, nói mà chẳng có ǵ để nói.
Chẳng thể chấp chặt có pháp, hoặc chấp chặt
là chẳng có pháp. Do vậy nói: “Vô hữu định
pháp” (chẳng có pháp nhất định). Bốn chữ
ấy lại chính là lời diễn tả chân thật của
“chẳng giữ lấy pháp, chẳng giữ lấy phi
pháp”, ḥng nói rơ do nó không nhất định. Do vậy, chớ
nên giữ lấy. Nói “chẳng giữ lấy” chính là “chẳng
chấp”. Nói chung, pháp do đức Phật đă nói vốn
đều chẳng thể giữ lấy, đều chẳng
thể nói. Cần phải là lúc tâm hạnh xứ diệt,
ngôn ngữ dứt bặt th́ khế nhập. V́ thế, giữ
lấy pháp, thuyết pháp, hay giữ lấy phi pháp, thuyết
phi pháp, đều sai cả! Đó được gọi
là Vô Vi Niết Bàn, mong thành hiền, thành thánh, không ǵ chẳng
do đó. Hiểu nghĩa chân thật này, sẽ chính là thật
tín. Một niệm tương ứng liền đạt
được vô lượng phước đức. Do một
niệm tương ứng chính là cội gốc của tịnh
niệm tiếp nối vậy.
Phước
đức vô lượng là như thế nào? Lại dùng một
tiểu khoa “so sánh sự thù thắng” này để nói
rơ nguyên cớ nói “chư Phật và Vô Thượng Bồ
Đề của chư Phật đều từ kinh này mà
ra”. Đấy cũng là nói rơ “hết thảy chư
Phật, hết thảy Phật pháp, đều chẳng
ngoài lư vô trụ trong kinh này”. Nếu thật sự tin lư
này, nhất niệm thanh tịnh, sẽ liền có thể
đạt thẳng tới A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề, há chẳng phải là phước đức
vô lượng ư? Nhưng chẳng thể do nghe lời
này bèn hướng theo văn tự để cầu, cần
phải nương theo lư được nói trong kinh để
phản chiếu tự tánh, tự tánh không tịch, trọn
chẳng có chữ Phật, chữ Pháp. Nếu có thể
quán chiếu lâu ngày, chứng nhập tánh không tịch, sẽ
thành tựu Vô Thượng Bồ Đề; đó là thành
Phật. Phật tuy đă thành Phật, trọn chẳng thấy
chính ḿnh có chút pháp nào để có thể đắc. Chẳng
thấy có chút pháp nào để đắc là chẳng thấy
chính ḿnh đă thành Phật, nên nói “cái được gọi
là Phật,
pháp, tức chẳng phải
là Phật,
pháp”. Thấu triệt từ đầu
đến đuôi, có thể nói xuyên suốt là “vô trụ” mà thôi! “Nhân bao
trùm biển quả, quả thấu tột nguồn nhân”
là như thế đó.
Trên
đây là ư chỉ trọng yếu của khoa thứ nhất,
khai thị vô trụ, cũng đă tường tận rồi.
Đức Thế Tôn đại từ đại bi, muốn
cho ai nấy đại khai viên giải, lại đem
nghĩa thú “vô
trụ” nêu ra từng tầng
để xiển minh,
ngơ hầu đại chúng thấu hiểu, khai huệ, tín
căn thành tựu, công tu cũng nhờ đó mà tăng
trưởng, những mong
do quán hạnh mà tương tự, rồi phần chứng,
ḥng đạt đến cứu cánh vậy.
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật
Kinh Giảng Nghĩa
Quyển hai hết
[1] Đản
Không: Tiểu Thừa chỉ do phân tích các pháp, chỉ thấy
Không, mà chẳng thấy Bất Không, nên gọi là Đản
Không (chỉ có Không).
[2] Ác thủ không (Dur-grhītā
śūnyat), c̣n gọi là Tịch
Thủ Không, tương phản với Thiện Thủ
Không, tức là do chấp Không lệch lạc, đến nỗi phủ định đạo lư nhân quả, chẳng
biết lư duyên sanh vô tánh, hiểu sai lệch nghĩa Không,
chấp trước kiến giải đoạn Không, phủ
định Chân Tục nhị đế.
[3] Tông quốc sư (675-775) là ngài Nam
Dương Huệ Trung, thụy hiệu Đại Chứng
Thiền Sư, là một vị danh tăng đời
Đường. Sư tinh thông kinh luật, là môn đệ
nổi tiếng của Lục Tổ Huệ Năng. Sư
mộ Phật từ bé. Lúc mười sáu tuổi, do nghe tiếng
Lục Tổ, Sư t́m đến Tào Khê yết kiến,
được Tổ truyền tâm ấn. Sau đó, Sư
c̣n tham học với các vị cao tăng tại Tứ
Minh, Thiên Mục, Vũ Đang và La Phù. Năm Hiển Thánh
thứ bảy (690) đời Đường Trung Tông,
Sư ẩn cư tại hang Đảng Tử núi Bạch
Nhai thuộc Chiết Xuyên để tu luyện hơn
mười bốn năm. Có lần giặc xâm nhập Thiền
cốc, dùng đao đâm vào hông Sư, Sư vẫn tĩnh
lặng tọa Thiền. Giặc khâm phục rút lui. Cùng với
ngài Hà Trạch Thần Hội, Sư hoằng dương
thiền phong của Lục Tổ tại miền Bắc
Trung Hoa. Ngài được ba đời vua là Huyền Tông, Túc Tông và Đại
Tông tôn kính, phong làm quốc sư.
[4] Ngư Triều
Ân là hoạn quan đời Đường, tham dự triều
chánh từ đời Đường Huyền Tông
(Đường Minh Hoàng) cho đến đời
Đường Đại Tông. Khi An Lộc Sơn chiếm
kinh đô Trường An, Ngư Triều Ân theo thái tử
Lư Hanh chạy về Linh Vũ. Sau đó, Lư Hanh được
triều thần tôn làm vua, trở thành Đường Túc
Tông. Do giảo hoạt, khéo lấy ḷng, ông ta được
vua tin tưởng giao làm giám quân cho tướng Lư Quang Bật.
Ông ta ghen ghét, nên dâng sớ hăm hại danh tướng Quách Tử
Nghi và Lư Quang Bật. Khi quân Thổ Phiên đánh vào biên cảnh
nhà Đường, do có công hộ giá, Ngư Triều Ân
được Đường Đại Tông hết sức
tin tưởng, cho nắm đại quyền. Tuy không phải
là thừa tướng, hắn thường lấn quyền
thừa tướng Nguyên Tái và các vị trọng thần
khác. Hắn kiếm cớ vu tội cho người giàu
để chiếm đoạt tài sản, ghen ghét hiền
thần, thậm chí át quyền nhà vua. Về sau, vua
Đường cho phép Nguyên Tái dùng mưu kế giết chết
Ngư Triều Ân. Kể từ thời Đường Huyền
Tông (Đường Minh Hoàng), một tệ nạn gây nên rối
ren trong việc cai trị của nhà Đường là trọng
dụng, tin tưởng hoạn quan, giao cho họ quá nhiều
quyền hành, khiến họ thừa cơ lũng đoạn
triều chánh, hăm hại trung thần. Thậm chí, có trường
hợp hoạn quan hoàn toàn khinh loát nhà vua, biến vua thành bù
nh́n trong tay họ.
[5] Do đoạn này hơi khó hiểu,
khó thể diễn tả găy gọn được, chúng tôi
xin rườm lời như sau:
- Pháp thường nói tức là
như trong các kinh khác, đức Phật thường dạy:
“Pháp ví như thuyền bè dùng để vượt sanh tử,
thoát tam giới. Khi đă đạt tới bờ kia (thoát
ṿng sanh tử, chứng quả vị) th́ cần phải xả
pháp thuộc địa vị ấy để tu tập
pháp thuộc địa vị kế tiếp”.
- Nghĩa hiện thời là nghĩa
trong kinh này là “chẳng giữ lấy pháp” tức là chẳng
giữ lấy pháp tướng, chẳng giữ lấy phi
pháp tướng, tức là hành trọn đủ Lục
Độ, vạn hạnh, tŕ giới, tu phước,
nhưng tâm không chấp trước chính ḿnh đang làm những
chuyện ấy, cũng chẳng thấy ḿnh không chấp
trước. Hay nói cách khác là “hễ thấy có pháp đều xả”. Xả ở đây phải hiểu
là xả chấp trước vào pháp, chứ không phải phủ
định có pháp để hành, hoặc
cho rằng xả pháp là không hành bất cứ hạnh nào! Ngay cả ư niệm
“xả chấp trước vào pháp” ấy cũng phải xả,
cũng như chẳng thấy ḿnh đang xả.
Do hai điểm khác biệt ấy,
một đằng là xả khi không cần thiết nữa,
một đằng là luôn xả pháp, nên nói là “xung đột
to lớn”. Sự “xung đột” ấy về thực chất
chẳng qua một đằng là nói theo phương diện
tuyệt đối, một đằng nói thuận theo
căn cơ của hành nhân, chứ rốt cuộc cả
hai cách nói đều là xả pháp đến rốt ráo. Chẳng
hạn như nói với người sơ phát tâm, chẳng
thể nói xả hết các pháp, v́ họ chưa thể thực
hiện được, phải nói là xả pháp khi cần
thiết (tức là khi họ đă chứng đắc một
quả vị, bèn xả pháp thuộc quả vị đó,
để tấn tu pháp thuộc quả vị sau). Do sợ
có người sẽ chấp vào văn tự, hiểu xả
pháp chính là vứt bỏ hết thảy các pháp, bèn thắc mắc là không có pháp th́ lấy
ǵ để độ, hoặc là rốt cuộc là có pháp
để có thể tu hay là không có pháp v.v…
[6] Theo như ngu ư hiểu th́ khi đă
giác ngộ, sẽ nhận rơ bản chất, thể tánh của
các pháp, chẳng c̣n chấp trước, sẽ chẳng c̣n
chấp vào pháp, tuy vẫn hành các pháp để độ
sanh, nhưng chẳng thấy có pháp, chẳng thấy ḿnh
đang hành, th́ cũng giống như đă qua sông, không c̣n
dùng cái bè nữa!
[7] Bách Phi hiểu theo nghĩa đen là “trăm cách phủ
định”, hiểu theo nghĩa rộng là tất cả chấp
trước sanh khởi do chấp Có hay chấp Không đều là sai. Có nhiều cách giải thích danh xưng Bách Phi,
nhưng dựa theo ư của cụ Giang ở đây th́ từ
Tứ Cú (có, không, chẳng có chẳng không, cũng có cũng
không) trên đây, mỗi câu trong tứ cú đều có bốn
câu ấy, nên 4x4 thành 16, lại phối ứng với hiện
tại, quá khứ, vị lai, thành 3x16=48 câu. 48 câu ấy nếu
phối ứng với “đă khởi” hoặc “chưa khởi” liền thành
2x48=96 câu, cộng với bốn câu phủ định
căn bản, thành ra một trăm câu.
[8] Tịch có nghĩa là vắng lặng,
không bị các pháp dao động; không bị các trần ô
nhiễm. Đó là nói đến đặc tánh nơi cái Thể
của chân tâm. Chiếu là chiếu soi, tức nhận biết
rơ ràng sự việc không sai lầm. Đó là nói về cái Dụng
(tác dụng của chân tâm).
[9] Dặm Tàu (Lư, 里) là đơn vị đo độ dài, có độ
dài dao động theo từng triều đại. Hiện
thời, một Lư được quy ước là nửa
cây số (500 m).
[10] Đại La Thiên là tầng trời
cao nhất theo quan điểm của Đạo Giáo. Có thuyết
cho rằng tầng trời này chính là Tam Thanh Cảnh, tức
nơi cư ngụ của Tam Thanh (Thái Thanh, Thượng
Thanh, Ngọc Thanh); có thuyết cho là ở phía trên tầng
Tam Thanh. Ở chính giữa Đại La Thiên chính là huyền đô Ngọc
Kinh Sơn, tức chỗ ngự của Nguyên Thỉ Thiên Tôn.
[11] Trong phần trước,
cụ Giang đă nói cổ đức luôn đọc âm Giải
(解, jiě) thành Giải (懈, xiè).