Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 3

Phần 1

金剛般若波羅蜜經講義

Soạn giả: Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)

清信士勝觀江妙煦

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

2.2.2.2.2.1.2. Xiển dương vô trụ để [thính chúng] khai ngộ, thấu hiểu

 

          [Khoa này] được chia thành năm phần:

          1) Dựa theo cái quả để giải thích cặn kẽ.

          2) Dựa theo cái nhân để giải thích tường tận.

          3) Thỉnh cầu chỉ dạy tên kinh để thọ tŕ.

          4) Thành tựu giải huệ

          5) Hiển thị tột bậc công dụng của kinh.

 

2.2.2.2.2.1.2.1. Dựa theo cái quả để giải thích cặn kẽ

         

          Khoa “xiển dương vô trụ để thính chúng khai ngộ, thấu hiểu” này được chia thành năm tiểu khoa. Đầu tiên là [tiểu khoa] dựa theo cái quả để giải thích cặn kẽ, tức là từ ba hàng đầu thuộc phần thứ chín cho tới phần thứ mười. Dựa theo cái quả để nói cặn kẽ là v́ trong phần trên [kinh đă nói] nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (hết thảy các hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt), nay bèn nêu lên sự việc để chứng minh, mà cũng nhằm đối ứng với [các ư nghĩa] bất ưng thủ pháp, thủ phi pháp, bất khả thủ, bất khả thuyết, Phật pháp tức phi Phật pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, hoặc giữ lấy phi pháp, chẳng thể giữ lấy, chẳng thể nói, Phật pháp chính là chẳng phải Phật pháp) trước đó. Đắc mà vô đắc tức là chẳng giữ lấy pháp, đó gọi là “tức chẳng phải Phật pháp”. Vô đắc mà đắc tức là “chẳng giữ lấy phi pháp”, đó gọi là “Phật pháp”. Đắc mà không có ǵ là đắc, vô đắc tức là đắc. Tâm hạnh diệt, ngôn ngữ dứt, có ǵ để có thể lấy, có ǵ để có thể nói nữa đây? Nói chung là nhằm minh thị ư “chẳng trụ vào hai bên”. Quả địa đă là như thế, nhân địa có thể [suy ra mà] biết! Tiểu Thừa đă là như thế, [cứ theo đó mà suy ra], bèn có thể biết Đại Thừa vậy!

          Tiểu khoa này lại chia thành hai phân đoạn:

          1) Luận chung về Tứ Quả.

          2) Thầy tṛ chứng minh sự thành tựu.

 

2.2.2.2.2.1.2.1.1. Luận chung về Tứ Quả

2.2.2.2.2.1.2.1.1.1. Sơ Quả ĺa tướng

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Tu Đà Hoàn năng tác thị niệm, ngă đắc Tu Đà Hoàn quả phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tu Đà Hoàn danh vi Nhập Lưu, nhi vô sở nhập, bất nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thị danh Tu Đà Hoàn”.

          ()須菩提於意云何須陀洹能作是念我得須陀洹果不須菩提言不也世尊何以故須陀洹名為入流而無所入不入色聲香味觸法是名須陀洹

     (Kinh: Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Tu Đà Hoàn có thể nghĩ như thế này: ‘Ta đắc quả Tu Đà Hoàn’ hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Không ạ! V́ sao vậy? Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu, nhưng không có cái để nhập, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, bèn gọi là Tu Đà Hoàn”).

 

          Sơ Quả đoạn hết tám mươi tám Sử[1] thuộc tam giới, đă thấy lư Chân Không, biết vô ngă, cũng chẳng có ngă sở! Nếu nghĩ “ta có thể đắc quả” tức là ngă kiến c̣n nguyên, nói chi đắc quả nữa? Từ Nhị Quả trở lên, đều theo lệ này. Ngài Tu Bồ Đề đều dùng danh tướng của Tứ Quả để biện định, giải thích, khiến cho sự chấp trước đối với tướng của cái quả sẽ ngay lập tức tự nhiên tiêu mất. Đấy là sự khéo léo trong thuyết pháp vậy (“phất dă” là một hoạt cú[2], giống như nói “chẳng phải là không đắc, mà cũng chẳng thể nghĩ như vậy”. Chữ Danh trong Thị Danh hàm ư “là giả danh, cũng chẳng thể coi là thật được. “Coi là thật” tức là nghĩ tưởng, chấp rằng có cái để đạt được).

          Tu Đà Hoàn (Srotāpanna) trong tiếng Phạn, được phương này dịch là Nhập Lưu, ư nói “đă dự vào ḍng cuối của Niết Bàn. Do đi ngược ḍng về nguồn cội của ḍng chảy ấy, có thể đạt tới bờ kia Niết Bàn. Nhưng tuy gọi là Nhập Lưu, thật ra chẳng có ǵ để nhập! Câu “bất nhập” chính là để giải thích nguyên do. Bởi lẽ, căn và trần đối ứng, được gọi là Lục Nhập, tức là Căn và Trần nhập vào nhau (như mắt đối trước sắc, nếu có sắc lọt vào mắt, mắt liền bị sắc chuyển. Đấy cũng có thể nói là “nhăn nhập vào sắc”. Các điều khác đều phỏng theo lệ này). Do nhập vào lẫn nhau, nên thức là phân biệt. Nay nói “bất nhập” tức là nói rơ “có thể rỗng không t́nh thức vậy! Do chẳng nhập lục trần, không có ǵ để gọi tên, bèn nói là Nhập Lưu. Cũng do chẳng nhập lục trần, t́nh thức có thể rỗng không, cho nên tuy gọi là Nhập Lưu, mà thật ra chẳng có ǵ để nhập! Do vậy, đặc biệt giả gọi là Nhập Lưu đó thôi! V́ thế, “thị danh Tu Đà Hoàn” (gọi là Tu Đà Hoàn). “Danh” tức là giả danh, hoặc danh tướng. Những câu Thị Danh trong phần sau đều phỏng theo lệ này! [Đoạn kinh này] ngụ ư: Nếu có ư niệm “ta có thể Nhập Lưu”, tức là rành rành có cái để nhập. Nếu có cái để nhập, tức là t́nh thức vẫn c̣n y nguyên, sao có thể đắc Sơ Quả cho được? Nói chung, đắc quả chính là do vô niệm, chứ khởi niệm sẽ chẳng phải là đắc quả!

 

2.2.2.2.2.1.2.1.1.2. Nhị Quả ĺa tướng

         

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Tư Đà Hàm năng tác thị niệm, ngă đắc Tư Đà Hàm quả phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tư Đà Hàm danh Nhất Văng Lai, nhi thật vô văng lai, thị danh Tư Đà Hàm”.

          ()須菩提於意云何斯陀含能作是念我得斯陀含果不須菩提言不也世尊何以故斯陀含名一往來而實無往來是名斯陀含

    (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Tư Đà Hàm có thể nghĩ như thế này: ‘Ta đắc quả Tư Đàm’ hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không ạ! V́ sao vậy? Tu Đà Hàm gọi là Nhất Văng Lai, nhưng thật sự chẳng lui tới, nên gọi là Tư Đà Hàm”).

 

          Tư Đà Hàm (Sakṛd-āgāmin) trong tiếng Phạn được phương này dịch là Nhất Văng Lai. Đă chứng Sơ Quả, tiến lên đoạn Tư Hoặc[3] trong Dục Giới từ thượng thượng cho đến trung hạ gồm sáu phẩm, vẫn c̣n ba phẩm hạ nữa (Tư Hoặc trong Dục Giới có tất cả chín phẩm. Đă đoạn năm phẩm, tức là đă đoạn tới trung trung phẩm th́ gọi là Nhị Quả Hướng. Đoạn tới sáu phẩm bèn gọi là “đắc Nhị Quả”). Cần phải một lần sanh lên cơi trời, và một lần sanh vào nhân gian để đoạn, nên gọi là Nhất Văng Lai (một lần qua lại). Nhưng trong tâm của vị ấy, thật sự cũng chẳng có tướng qua lại! Do chẳng có tướng qua lại, nên mới có thể qua lại! Cũng do vị ấy c̣n chẳng có tướng qua lại, há có một lượt qua lại, hay hai lượt qua lại khác biệt ư? Đấy cũng là giả gọi là Nhất Văng Lai đó thôi! Có nghĩa là: Nếu có ư niệm thực hiện một lượt văng lai, th́ rơ ràng là chấp vào tướng văng lai. Đă chấp tướng, nghiễm nhiên là phân biệt, Sơ Quả c̣n chẳng thể đắc, nói ǵ đến Nhị Quả nữa ư?

 

2.2.2.2.2.1.2.1.1.3. Tam Quả ĺa tướng

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? A Na Hàm năng tác thị niệm, ngă đắc A Na Hàm quả phủ? Tu Bồ Đề ngôn: “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? A Na Hàm danh vi Bất Lai, nhi thật vô lai, thị cố danh A Na Hàm”.

          ()須菩提於意云何阿那含能作是念我得阿那含果不須菩提言不也世尊何以故阿那含名為不來而實無來是故名阿那含

          (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? A Na Hàm có thể nghĩ như thế này: ‘Ta đắc quả A Na Hàm’ hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không ạ! V́ sao vậy? A Na Hàm gọi là Bất Lai, nhưng thật ra chẳng đến, cho nên gọi là A Na Hàm”).

 

          A Na Hàm (Anāgāmin) trong tiếng Phạn, được phương này dịch là Bất Lai (chẳng đến). Đă chứng Nhị Quả, tiến lên đoạn sạch ba phẩm hạ của Tư Hoặc thuộc Dục Giới, gởi thân nơi Tứ Thiền Thiên (Caturdhyānabhūmi) thuộc Sắc Giới, chẳng đến nhân gian, cho nên gọi là Bất Lai. Nhưng trong tâm vị ấy, thật sự chẳng có ǵ gọi là Lai. Do ư niệm “đến” đă chẳng có, cho nên có thể Bất Lai. Cũng do vị ấy c̣n chẳng có ǵ để gọi là Lai, há có cái gọi là Bất Lai ư? Do vậy, cũng giả gọi là Bất Lai đó thôi! Có nghĩa là: Nếu dấy niệm chẳng đến, rơ ràng là có đếnchẳng đến, vẫn chưa thể lạnh nhạt, quên bẵng! Nếu chưa hoàn toàn quên mất, t́nh thức vẫn c̣n đó; [vậy th́] Sơ Quả c̣n chẳng có, nói ǵ đắc Tam Quả nữa ư?

 

2.2.2.2.2.1.2.1.1.4. Tứ Quả ĺa tướng

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? A La Hán năng tác thị niệm, ngă đắc A La Hán đạo phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp, danh A La Hán. Thế Tôn! Nhược A La Hán tác thị niệm, ngă đắc A La Hán đạo, tức vi trước ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả!”

          ()須菩提於意云何阿羅漢能作是念我得阿羅漢道不須菩提言不也世尊何以故實無有法名阿羅漢世尊若阿羅漢作是念我得阿羅漢道即為著我人眾生壽者

          (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? A La Hán có thể nghĩ như thế này: ‘Ta đắc A La Hán đạo’ hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Không ạ! V́ sao vậy? Thật sự chẳng có pháp nào gọi là A La Hán. Bạch Thế Tôn! Nếu A La Hán nghĩ như thế này, ta đắc đạo A La Hán, tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả!”)

 

          A La Hán (Arhat) trong tiếng Phạn được phương này dịch là Vô Sanh. Đă chứng Tam Quả, ở trong Tứ Thiền Thiên, đoạn hết bảy mươi hai phẩm Tư Hoặc thuộc hai cơi trên (Sắc Giới và Vô Sắc Giới), chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, chẳng c̣n thọ thân sau. Sanh tử từ đây đă giải quyết xong, nên gọi là Vô Sanh. Nhưng trong tâm vị ấy, thật sự ngay cả pháp cũng chẳng có. Do chẳng có pháp, cái tâm sanh diệt chấm dứt, nên gọi là Vô Sanh. Cũng do vị ấy c̣n chẳng có pháp Vô Sanh, há có cái để gọi là Vô Sanh ư? Đấy cũng là giả gọi Vô Sanh đó thôi! Có nghĩa là: Nếu có ư niệm vô sanh, rơ ràng là có pháp! Đă có pháp tướng, tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả! Sanh tâm động niệm vẫn là phàm phu y như cũ, sao có thể đắc Tứ Quả, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn ư?

 

2.2.2.2.2.1.2.1.2. Thầy tṛ chứng minh sự thành tựu

 

          Chia thành hai đoạn:

          1) Dựa vào bậc đương cơ “vô đắc” để làm chứng.

          2) Dựa vào cái nhân “vô đắc” xưa kia để làm chứng.

 

2.2.2.2.2.1.2.1.2.1. Dựa vào bậc đương cơ “vô đắc để làm chứng

2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1. Dẫn lời đức Phật nói [để chứng minh]

 

          (Kinh) Thế Tôn! Phật thuyết ngă đắc Vô Tránh tam-muội, nhân trung tối vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A La Hán.

          ()世尊說我得無諍三人中最為第一是第一離欲阿羅漢

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Phật nói con đắc Vô Tránh tam-muội, bậc nhất trong loài người, là A La Hán ĺa dục bậc nhất).

 

          Vô Tránh có nghĩa là chẳng cạnh tranh với chúng sanh, hết thảy b́nh đẳng. Do chẳng tự coi ḿnh là đúng, cho nên có thể chẳng tranh chấp. Vô tránh sẽ chẳng năo hại người khác, có ư niệm thủ hộ cái tâm người khác, khiến cho họ chẳng nẩy sanh phiền năo. Tu môn tam-muội này, há chẳng phải là đại từ ư? Nhưng sở dĩ thành tựu môn tam-muội này là do tướng thị phi nhân ngă đều là Không. Kinh Niết Bàn dạy: “Tu Bồ Đề trụ hư không địa. Nhược hữu chúng sanh hiềm ngă lập giả, ngă đương chung nhật đoan tọa, bất khởi. Hiềm ngă tọa giả, ngă đương chung nhật lập, bất di xứ” (Tu Bồ Đề trụ nơi đất hư không. Nếu có chúng sanh hiềm ta đứng, ta sẽ suốt ngày ngồi ngay ngắn, chẳng đứng lên. Hiềm ta ngồi th́ ta sẽ suốt ngày đứng, chẳng dời chỗ). Có thể thấy do Ngài trụ trong hư không, nên mới có thể làm như thế. Trưởng lăo giải Không bậc nhất, nên có thể nhập môn tam-muội này (Mười vị đại đệ tử, mỗi vị đều có sở trường riêng. Ngài Đại Ca Diếp được ca ngợi về hạnh Đầu Đà, ngài A Nan được xưng tụng là bậc Đa Văn. Các vị khác như Xá Lợi Phất trí huệ, Mục Kiền Liên thần thông, La Hầu La mật hạnh, A Na Luật thiên nhăn, Phú Lâu Na thuyết pháp, Ca Chiên Diên luận nghĩa, Ưu Ba Ly tŕ luật, cùng với Tu Bồ Đề giải Không, đều là bậc nhất!)

          Tam-muội (Samādhi) được phương này dịch là Chánh Thọ, c̣n dịch là Chánh Định. Hết thảy đều chẳng thọ (, tiếp nhận) th́ gọi là Chánh Thọ. Hết thảy chẳng thọ, sẽ chẳng bị hết thảy lay động, tức là Chánh Định. “Nhân” (người) là nói về phàm phu. Phàm phu thích tranh chấp, há có thể vô tránh? V́ thế nói [ngài Tu Bồ Đề] là “nhân trung tối vi đệ nhất” (bậc nhất trong loài người). Nghĩa rộng của chữ Dục () là chỉ trọn khắp các Tư Hoặc. Đoạn sạch các thứ phiền năo như tham, sân v.v… trong tam giới th́ mới là thật sự ly dục. Phàm thành A La Hán, không ai chẳng ly dục. Ly dục ắt cũng chẳng ganh đua với chúng sanh, chỉ là chưa đắc Vô Tránh tam-muội, [điều này] khiến cho trưởng lăo cũng được xưng tụng là bậc nhất. Kệ tụng rằng: “Y bỉ Thiện Cát giả, thuyết ly nhị chủng chướng” (“nương theo ngài Thiện Cát, nói ĺa hai loại chướng”. Tân Nhăn Sớ coi Kiến Hoặc và Tư Hoặc là hai loại chướng, hiểu theo nghĩa hẹp). Bản chú giải thời cổ bảo ly dục là ĺa Phiền Năo Chướng; đó là điều mà hết thảy các vị A La Hán cùng có (Kiến Hoặc và Tư Hoặc đều là phiền năo).

          Tuy đắc Vô Tránh tam-muội, nhưng không có ǵ để đắc (tức là tự quên sự vô tránh ấy), tức là tự quên [chính ḿnh đang] ở trong môn Định ấy. Đó là ĺa tam-muội chướng, bèn chính là thật sự đạt được vô tránh, thật sự đạt được tam-muội. Do vậy, được gọi là “A La Hán ly dục bậc nhất”. Gộp chung với câu trước để nói, tức [ngài Tu Bồ Đề] không chỉ là bậc nhất trong hết thảy mọi người, mà nói theo phương diện ly dục của A La Hán, Ngài cũng được xưng tụng là bậc nhất. Đấy là lời khen ngợi thường nhật của đức Thế Tôn đối với trưởng lăo, cho nên nói là “Phật thuyết”. Trưởng lăo đă tự quên ḿnh đang ở trong Định, các đệ tử khác lại chẳng thể sánh bằng, chỉ có đấng Cứu Cánh Giác có thể biết trưởng lăo nhập tam-muội ấy. Do vậy, chỉ riêng đức Phật có thể nói. Phật là danh xưng của bậc Cứu Cánh Giác. Khoa này nhằm nêu bày sự tướng công hạnh của Ngài, chẳng phải bàn về ly tướng (khoa kế tiếp mới trần thuật ly tướng). Do vậy, chẳng nói “Như Lai thuyết”, mà nói là “Phật thuyết”, do Như Lai là danh xưng của tánh đức. Nói theo tánh, th́ các danh tướng như vô tránh và bậc nhất v.v… đều chẳng thể nói. Mỗi danh xưng trong kinh này, không ǵ chẳng chứa đựng diệu nghĩa như thế đó.

 

2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.2. [Ngài Tu Bồ Đề] trần thuật [chính ḿnh] ly tướng

 

          (Kinh) Ngă bất tác thị niệm, ngă thị ly dục A La Hán.

          ()我不作是念我是離欲阿羅漢

          (Kinh: Con chẳng nghĩ như thế này: Con là ly dục A La Hán).

 

          Bản lưu thông [trong hiện thời] vốn có hai chữ Thế Tôn, nhưng các bản kinh chép tay và cổ bản không có, nên có thể lược bỏ. Hai câu kinh văn ở đây dễ hiểu. Nay trong lời Ngài nói, trưởng lăo chỉ nói “ly dục A La Hán”, chẳng nói “Vô Tránh tam-muội”, cũng là có diệu nghĩa; v́ chính là để nói rơ: Ngài tự quên ḿnh đang ở trong Định. Hơn nữa, ly dục thông thường th́ c̣n chẳng có ǵ để đạt được. Ngài chẳng tự nghĩ đă đắc Vô Tránh tam-muội, có thể suy ra mà biết [cảnh giới của Ngài vậy].

 

2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.3. Giải thích nguyên do

2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.3.1. Giải thích rơ bằng cách nói tương phản

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă nhược tác thị niệm, ngă đắc A La Hán đạo, Thế Tôn tắc bất thuyết Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hạnh giả.

          ()世尊我若作是念我得阿羅漢道世尊則不說須菩提是樂阿蘭那行

          (Kinh: Thế Tôn! Nếu con nghĩ thế này: “Con đắc đạo A La Hán”, đức Thế Tôn sẽ chẳng nói “Tu Bồ Đề là người thích hạnh A Lan Na”).

 

          Đối với câu “ngă nhược tác thị niệm” (nếu con nghĩ thế này), chỉ có bản chú giải của ngài Tăng Triệu không có chữ Ngă. Xét ra, câu kế đó có chữ Ngă, trong câu này vốn có thể tỉnh lược [chữ Ngă ấy], nhưng nay tôi dựa theo bản chép tay [của ông Liễu Công Quyền], nên vẫn giữ nguyên. A La Hán đạo tức là ly dục. A Lan Na (Araṇya) được phương này dịch là Tịch Tĩnh, cũng dịch là Vô Sự (ư nói [chẳng có] sự tướng). Tướng hoàn toàn ở bên ngoài, tâm thuộc bên trong. Trong ngoài đều vắng lặng, chẳng lúc nào không tĩnh. Đó chính là tên gọi khác của Vô Tránh tam-muội. “Hạnh” là công hạnh. “Nhạo” nghĩa là ưa thích, khế hợp với cái tâm. Bởi lẽ, ưa thích cùng cực th́ nói là Nhạo, có ư nghĩa “tánh mạng chấp thuận”. “Nhạo A Lan Na hạnh” (ưa thích hạnh A Lan Na) tức là tâm với hạnh khế hợp chẳng gián đoạn, tức là chứng đắc. Câu trước chẳng nói ly dục mà đổi thành A La Hán đạo, câu sau chẳng nói Vô Tránh tam-muội mà đổi thành “nhạo A Lan Na hạnh”, ngụ ư hai danh từ ấy chứa đựng ư nghĩa tương đồng (A La Hán là Vô Sanh, tức là “một tâm cũng chẳng sanh”. A Lan Na trong ngoài đều vắng lặng, cũng tức là ư nghĩa “nhất tâm chẳng sanh), chính là ư nghĩa “hễ có ư niệm ‘có cái để đạt được’ sẽ chính là chẳng phải thật sự đạt được” càng thêm hiển nhiên, dễ hiểu! Do được nói rơ bằng cách tương phản như vậy, những điều đă nói trước đó như “hễ có các tướng ta, người v.v… tức chẳng phải là Bồ Tát”, cũng như “hễ giữ lấy tướng, bèn chấp vào tướng như ta, người v.v…” càng được xiển minh rơ rệt!

          V́ sao hễ chấp Ngă, sẽ chẳng phải là Bồ Tát? Do công hạnh hoàn toàn bị mất đi! Nếu tâm niệm dấy lên, ắt có chấp lấy. Hễ chấp, sẽ thành tướng; tướng ấy liền trở thành ta, người, chúng sanh, thọ giả! Bởi lẽ, nguyên do dấy niệm chẳng có chi khác: Chưa quên t́nh chấp đối với “năng đắc” (chủ thể có thể đạt được) và “sở đắc” (cái bị đạt được)! “Năng đắc” chính là tướng ta, “sở đắc” là tướng người (ai là người có thể đạt được? Ta! V́ thế, “có thể đạt được” thuộc về ta. Cái để có thể đạt được (sở đắc) là thụ động. Do đối ứng với ta là người, cho nên [cái có thể đạt được] thuộc về tướng người). Năng và sở (tức là chủ thể có thể đạt được (tức ta) và cái bị đạt được, tức tướng người) chẳng đồng nhất, sẽ thành tướng chúng sanh. Do chấp tŕ [ư niệm đối đăi “ta, người, chúng sanh”] không ngừng, bèn thành tướng thọ giả! Hễ có ư niệm “đạt được”, sẽ chẳng thể đạt được! Có thể biết: Hễ có niệm như bố thí v.v…, sẽ chẳng thể bố thí. Vậy th́ người phát đại tâm, đại hạnh, muôn vàn chớ nên trụ tướng đă rơ lắm rồi! Do kẻ bố thí nếu có ư niệm có cái được thí, sẽ rất dễ đắc chí, tự măn, sao c̣n có thể rộng hành bố thí cho được? Những điều khác cứ phỏng theo đó mà suy ra!

 

2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.3.2. Nói rơ [nguyên do] theo chiều thuận

 

          (Kinh) Dĩ Tu Bồ Đề thật vô sở hành, nhi danh Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hạnh.

          ()以須菩提實無所行而名須菩提是樂阿蘭那行

          (Kinh: Do Tu Bồ Đề thật sự chẳng có ǵ để hành, bèn gọi Tu Bồ Đề là thích hạnh A Lan Na).

 

          Trong phần nói rơ nguyên do theo chiều thuận, câu “thật vô sở hành” phải nên hiểu là “thật vô sở kỳ hành”, tức là tuy hành mà không thấy có điều được hành ấy. Ư nghĩa “không có ǵ để đạt được” cũng giống như thế, chớ nên hiểu lầm là “chẳng làm ǵ hết, chẳng đạt được ǵ hết”.

          Khoa này nối tiếp khoa trên. Phải nên nói là “thật sự chẳng có ǵ để đạt được”, nhưng nay nói “không có ǵ để hành” là có thâm ư. Bởi lẽ, do khi tu hành hạnh này, [chẳng thấy] có hạnh được hành, th́ mới gọi là “ưa thích hạnh A Lan Na”. Nói cách khác, chính là do không có hạnh được hành ấy, th́ sau đó mới có thể chứng đắc, khiến cho hết thảy người thuộc địa vị tu nhân nghe xong sẽ kinh hoảng. Nếu chẳng thể vô trụ ĺa tướng, sẽ luống uổng sự tu hành ấy! Phần trước nêu ra quả vị để nói, chính là để cho người thuộc địa vị tu nhân đối chiếu. Nay nói quả vị của Tiểu Thừa đă xong, cho nên đặc biệt nói “thật sự không có ǵ để hành” để chỉ điểm họ. Chẳng nói “ta thật sự không có ǵ để hành” mà nói “do Tu Bồ Đề” cũng chứa đựng thâm ư, bởi lẽ [nói như vậy] nhằm biểu thị rơ rệt: Nói “thật sự không có ǵ để hành” chính là do người bên cạnh thấy như vậy, chứ bản thân Ngài đă hoàn toàn quên mất chính ḿnh “thật sự chẳng có ǵ để hành”; ngụ ư: Ngay cả ư niệm “thật sự chẳng có ǵ để hành” cũng chẳng thể lưu giữ trong tâm. Hễ lưu lại th́ tức là trụ tướng. V́ sao? Hễ tâm có ư niệm, tức là tâm chấp giữ. Nếu tâm giữ lấy tướng, sẽ chính là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả! Lại nghiền ngẫm cách nói này, ngài Tu Bồ Đề đă nói thay cho đức Thế Tôn. Có nghĩa là: Đức Thế Tôn nói Tu Bồ Đề là người thích hạnh A Lan Na”, chẳng có chi khác, chính v́ ngài Tu Bồ Đề thật sự chẳng có ǵ để hành. Nhưng gọi như thế cũng có ư nghĩa: Khiến cho [thính chúng] biết “thích hạnh A Lan Na” cũng thuộc về danh tướng, chứ trong tánh chẳng thể chấp từ ngữ ấy!

          Nh́n chung ư nghĩa của mấy khoa trên đây, đều nhằm chỉ rơ: Ắt phải đạt được, nhưng chẳng có ǵ để đạt được, th́ mới là thật sự đạt được! Nếu có thứ ǵ để đạt được, tức chẳng phải là đạt được, khiến cho người tu nhân biết: Ắt phải “hành mà chẳng có ǵ để hành” th́ mới là chánh hành! Hễ có cái được hành, sẽ là chẳng phải hành! Thế nào là không có ǵ để đạt được, chẳng có ǵ để hành, chẳng nghĩ như thế ấy? “Chẳng nghĩ” tức là chỉ bày phương châm “chẳng giữ lấy, chẳng trụ”. Biết điều này th́ sau đấy mới có chỗ để tiến nhập vô trụ. Đấy đều là những điều [chánh kinh] muốn xiển minh.

 

2.2.2.2.2.1.2.1.2.2. Dựa theo cái nhân xưa kia để chứng minh vô đắc

 

          (Kinh) Phật cáo Tu Bồ Đề: “Ư ư vân hà? Như Lai tích tại Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp hữu sở đắc phủ?” “Thế Tôn! Như Lai tại Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp thật vô sở đắc”.

          ()佛告須菩提於意云何如來昔在然燈佛所於法有所得不世尊如來在然燈佛所於法實無所得

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: “Ư ông nghĩ sao? Xưa kia Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp có đạt được hay chăng?” “Bạch Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp thật sự chẳng đạt được!”)

 

          Đây là chuyện xưa kia đức Thế Tôn đă hành Bồ Tát đạo, lúc mới dự vào Đệ Bát Địa. So với khi thành Chánh Giác sau này, lúc ấy Ngài vẫn c̣n thuộc địa vị tu nhân; nhưng so với người sơ phát tâm th́ chính là quả vị. Nay dẫn chuyện này nhằm nói với người phát tâm Vô Thượng Bồ Đề. V́ thế, khoa xét theo cái nhân xưa kia này được gộp trong phần “xét theo cái quả để giải thích cặn kẽ”.

          Chuyện thời Phật Nhiên Đăng (Dīpaṃkara) và chuyện đức Phật ấy làm Bổn Sư thọ kư cho đức Thế Tôn có thể thấy trong kinh Bổn Hạnh Tập[4] và kinh Thụy Ứng[5] (khi Phật Nhiên Đăng chưa xuất gia, vốn tên là Đĩnh Quang (loại đèn có chân th́ gọi là Đĩnh (), không chân th́ gọi là Đăng (). Do lúc Ngài sanh ra, khắp hết thảy thân Ngài [sáng ngời] như ánh đèn vậy). Khi đó, đức Thế Tôn là Thất Địa Bồ Tát (có tên là Nho Đồng (Mānavaka), c̣n gọi là Thiện Huệ), nhằm vào lúc Ngài sắp tu viên măn A-tăng-kỳ kiếp thứ hai. Gặp Phật, nghe pháp, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, dự vào Bát Địa (bèn bước vào A-tăng-kỳ thứ ba), Phật Nhiên Đăng thọ kư cho Ngài rằng: “Chín mươi mốt kiếp sau, [tên kiếp khi đó] được gọi là Hiền Kiếp, ông sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.

          Vô Sanh Pháp tức là Chân Như Thật Tướng. Nhẫn () có nghĩa là “thông đạt vô ngại, bất thoái”. Đó gọi là Lư và Trí ngầm ứng hợp, có thể chấp nhận, ấn tŕ. Đối với chuyện chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn trong Đại Thừa th́ có nhiều thuyết. Đại Trí Độ Luận bảo là [Bồ Tát] đă đăng địa (chứng từ Sơ Địa trở lên, đó là nói theo Biệt Giáo) liền đắc. Các kinh như Nhân Vương v.v… bảo sẽ đắc [Vô Sanh Pháp Nhẫn] trong Thất Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Cần phải biết: Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên th́ đă phần chứng (đó gọi là “phá một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân”). Đạt tới Bát Địa bèn chứng viên măn, nên gọi là Vô Học. Cho tới Đẳng Giác bèn kiến tánh, giống như cách một lớp the ngắm mặt trăng. Chỉ có Cứu Cánh Giác mới chứng đắc rốt ráo!

          Đối với chữ Pháp trong “ư pháp”, các bản sớ giải [xưa kia] đều dựa theo lời lẽ thọ kư để nói, thiếu thỏa đáng! Chỉ có ngài Ngẫu Ích dựa theo Vô Sanh Pháp Nhẫn để nói là rất đúng (các bản sớ giải do câu nệ bài tụng của đức Di Lặc. Bài tụng ấy như sau: “Phật ư Nhiên Đăng ngữ, bất thủ lư thật trí, dĩ thị chân thật nghĩa, thành bỉ vô thủ thuyết” (Phật nơi lời Nhiên Đăng, chẳng lấy lư Thật Trí, dùng nghĩa chân thật ấy, nói thành chẳng giữ lấy). Xét ra, chữ Ngữ trong bài tụng ấy hoàn toàn chẳng nói về ngôn ngữ thọ kư! Xưa kia, đức Thế Tôn do nghe pháp mà chứng Vô Sanh; do vậy, Ngài được thọ kư. Như vậy th́ chữ Ngữ trong lời tụng dường như là nói đến pháp do đức Nhiên Đăng đă nói. Bài tụng có ư nói: Do nghe pháp ngữ mà chẳng chấp vào lư thể và Thật Trí (nhằm phân biệt với Quyền Trí mà nói là Thật Trí). Do bởi lẽ ấy, nghĩa chân thật được thành. Do vậy, có thể chứng minh rằng Ngài (ư nói đức Thế Tôn) quyết chẳng chấp giữ lời đức Nhiên Đăng đă nói (câu này nhằm ca tụng câu “trưởng lăo thật sự không có ǵ để đắc”). Nói chung, do chẳng chấp trước đối với Lư và Trí, cho nên có thể Lư và Trí ngầm hợp mà chứng Vô Sanh. “Nghĩa chân thật” là nói đến Vô Sanh. Vô Sanh Pháp là Chân Như Thật Tướng, nên nói là “nghĩa chân thật”. Hoặc có thể hiểu là pháp được nghe nói từ nơi Phật Nhiên Đăng th́ cũng được. “Hữu sở đắc” là có cái để đạt được. Hễ có cái để đạt được, tức là chấp giữ, tức là trụ tướng.

          Ư của lời hỏi [trong đoạn kinh Kim Cang trên đây] là trong khi Ngài (lúc Phật Thích Ca đang tu nhân) nghe pháp thuở ấy, có thể chẳng trụ tướng hay không? Nếu xét theo phương diện đă chứng đắc Vô Sanh Nhẫn để nói, th́ chữ Đắc càng dễ hiểu hơn! Hỏi rằng: Khi xưa, lúc Phật đă đắc Vô Sanh Pháp, trong tâm Ngài có pháp Vô Sanh để đắc hay không? Ở đây chẳng nói “tác niệm” (nghĩ ngợi), do hễ có cái để đạt được, sẽ là “tác niệm”. V́ vậy, tỉnh lược! Tuy đức Thế Tôn gạn hỏi, thật ra đă là ngầm đâm kim vàng, mở miệng liền nói “Như Lai”. Do nói theo tánh, pháp lại vô h́nh, từ đâu mà có Đắc cho được?

          Từ chữ Thế Tôn trở đi là lời thưa của trưởng lăo. Đối với hai chữ Thế Tôn, có thể thấy rơ vậy. Các bản kinh được lưu hành sau đời Tống, trước hai chữ Thế Tôn c̣n thêm “phất dă” (không phải vậy, không có, thưa không…), lầm to rồi! Phàm văn tự sau hai chữ “phất dă” đều là hoạt cú (những câu phải hiểu theo ư nghĩa linh hoạt). Xem lời đáp trong đoạn tiếp theo, chính là ư nghĩa quyết định, há cần hoạt cú để làm ǵ cơ chứ? Trưởng lăo lên tiếng cũng xưng Như Lai, thật sự phù hợp khít khao với lời hỏi. Ngài đă chẳng có ǵ để đạt được, đă chẳng c̣n phiền rườm lời nữa. V́ sao trưởng lăo biết pháp thật sự không có ǵ để đạt được mà nói lời quyết định ấy? Do nghe pháp mà trụ tướng th́ trong tâm chưa ngừng sanh diệt, há có thể chứng ngay Vô Sanh ư? V́ thế biết: Thuở ấy, Phật được nghe thuyết pháp, thật sự chẳng có ǵ để đạt được. Đó là giải thích dựa theo sự nghe pháp. Nếu xét theo chứng Vô Sanh Pháp để giải thích, đă là chứng đắc Vô Sanh Pháp, há có thể c̣n có cái để đạt được nữa ư? Nếu c̣n có [ư niệm] “có pháp Vô Sanh” để có thể đạt được, sẽ vẫn là cái tâm sanh diệt y như cũ, há c̣n có thể nói là “chứng Vô Sanh Pháp” ư? V́ thế, tuy đắc Vô Sanh Pháp, nhưng đối với pháp ấy, thật sự chẳng có ǵ để đạt được!

          Trên đây là phần giải nghĩa dựa theo văn từ đă xong; nhưng ư nghĩa chung của khoa này c̣n chứa đựng những điều mầu nhiệm, chớ nên không biết! Thế nào là nghĩa chung? Chính là v́ sao lại nói khoa này. Nay chia đại lược thành ba tiết để nói:

          1) Các khoa trên đây đối với ư nghĩa “đắc quả vô trụ” đă chú trọng xiển phát cùng tận. Người thuộc địa vị tu nhân phải nên hiểu rơ: Ắt phải nên vô trụ. Nhưng vẫn phải ngăn ngừa có người cho rằng “tuy nhân và quả ắt cần phải như nhau, quả đă là như thế, nhân cũng phải nên như thế, nhưng quả vị Tiểu Thừa và nhân hạnh Đại Thừa có lẽ có những chỗ chẳng hoàn toàn tương đồng!” V́ thế, nói về Tiểu Thừa xong, lại đặc biệt nêu ra ư nghĩa “quả vị Đại Thừa cũng là đắc mà chẳng đắc, chẳng thể trụ tướng” để nói rơ, khiến cho người tu Đại Thừa tu theo ư chỉ “vô trụ” trọn chẳng c̣n ngờ vực chất chứa! Đó là điều thứ nhất.

          2) Nói tới quả vị Đại Thừa, chẳng nêu ra Phật, mà nêu lên Bồ Tát [để nói], nhằm ngừa [người nghe] sẽ nghi “Phật đă là Cứu Cánh Giác, há có thể sánh nghĩ?” C̣n địa vị Bồ Tát th́ hạn cuộc trong nhân quả. Kinh này trong phần sau lại dẫn chuyện này để nói rộng rằng: “Nếu lúc ấy mà có pháp để đạt được, sẽ chẳng thọ kư. Do chẳng có ǵ để đạt được, cho nên mới được thọ kư”, khiến cho [hành nhân] biết Bồ Tát trụ tướng sẽ chẳng thể thành Phật. Như vậy th́ người phát tâm tu Đại Thừa, nếu trụ vào tướng, há có thể thành Bồ Tát ư? Lại c̣n há có phải là Bồ Tát hạnh ư? Do vậy, khoa trước có nói: “Nếu có các tướng ta, người v.v… tức chẳng phải là Bồ Tát”. Hễ nói như thế, cái lư “nhân quả như một” và yếu chỉ “vô trụ” càng thêm rạng rỡ. Đó là điều thứ hai.

          3) Đă dẫn quả vị Bồ Tát cố nhiên là như thế, nhưng không nêu riêng Bồ Tát thuộc địa vị nào khác, chỉ riêng nêu Đệ Bát Địa là v́ lẽ nào? Do trước đó đă nói quả vị Tiểu Thừa coi đắc Vô Sanh là chứng đạo, là bậc Vô Học, nên nay nêu ra Đại Thừa, cũng dẫn “Bát Địa đắc Vô Sanh, đạt tới Vô Học” để nói. Vô Học có nghĩa là chứng đạo. Bởi lẽ, trước Bát Địa th́ tuy đă chứng, nhưng chưa viên măn, nên gọi là Hữu Học (nếu luận về rốt ráo chứng th́ thuộc địa vị Phật), sự chứng đắc của Tiểu Thừa hay Đại Thừa đều tương đồng, khiến cho người nghe đối với lư Vô Trụ chẳng đến nỗi nẩy sanh mảy may ngờ vực. Hơn nữa, kinh này vừa mở đầu liền nói “hăy nên phát tâm, khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn”. Sau đó lại nói “hiền thánh đều do pháp vô vi [mà có sai biệt]”. Niết Bàn tức là vô vi, đều có nghĩa là “chẳng sanh, chẳng diệt”. V́ thế, Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa đều nêu ra người chứng Vô Sanh để nói, hoàn toàn tương ứng với điều đă nói trước đó, khiến cho người học biết “đă phát tâm muốn nhập Vô Sanh, th́ tâm chẳng sanh diệt”. Làm thế nào để tâm có thể chẳng sanh? Ắt phải nên chẳng trụ vào tướng! Hễ có chỗ trụ, sẽ là cái tâm sanh diệt, sao có thể chứng nhập Vô Sanh cho nổi? V́ thế, Vô Trụ chính là phương pháp duy nhất để tiến nhập Vô Sanh. Đấy là điều thứ ba.

          Xét cả ba nghĩa ấy, cũng biết kinh này nghĩa lư kín nhiệm, lớp lang nghiêm chỉnh. Người kết tập kinh dùng hai chữ “Phật cáo” (Phật bảo) đặt ở đầu đoạn này, chính là để chỉ dạy chúng ta: Trong đoạn này có nghĩa lư thâm áo, chớ nên chỉ cầu t́m nơi văn tự vậy!

 

2.2.2.2.2.1.2.2. Xét theo cái nhân để giải thích tường tận

 

          Chia làm hai phần:

          1) Xét theo cái tâm tu nhân để giảng rơ.

          2) Xét theo công hiệu của kinh để hiển thị

         

2.2.2.2.2.1.2.2.1. Xét theo cái tâm tu nhân để giảng rơ   

2.2.2.2.2.1.2.2.1.1. Trước hết nói chẳng trụ vào trang nghiêm cơi Phật

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Bồ Tát trang nghiêm Phật độ phủ?” “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Trang nghiêm Phật độ giả, tắc phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm”.

          ()須菩提於意云何菩薩莊嚴佛土不不也世尊何以故莊嚴佛土者則非莊嚴是名莊嚴

          (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cơi Phật hay không?” “Bạch đức Thế Tôn! Không ạ. V́ sao vậy? Trang nghiêm cơi Phật chẳng phải là trang nghiêm, bèn gọi là trang nghiêm”).

 

          Khi Bồ Tát tu nhân, [hành tŕ] Lục Độ vạn hạnh, đối với mỗi mỗi công hạnh, đều hồi hướng Tịnh Độ (năm nọ, tôi đă giảng về điều này, và bàn luận cặn kẽ ư nghĩa của Phật Độ. Phật là tướng Báo Thân. Độ là tướng của y báo). “Trang nghiêm” được nói ở đây chính là nói “nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ”. Vậy th́ há có vị Bồ Tát nào chẳng trang nghiêm cơi Phật ư? Nêu ra điều này để hỏi, chính v́ muốn cho người tu hành hiểu rơ đạo trang nghiêm. Chẳng hiểu đạo ấy, th́ những ǵ được trang nghiêm sẽ đều là nơi tướng, chẳng liên quan ǵ đến tự tánh, bèn trở thành công đức hữu lậu! Đấy là thâm ư của việc nêu ra câu hỏi này. Cần phải biết: Trang nghiêm cơi tịnh của Phật, th́ chữ Tịnh là khẩn yếu nhất! V́ sao cơi đất tịnh? Do cái tâm tịnh đó thôi! Tâm đă cần phải tịnh, cho nên trang nghiêm th́ chẳng thể chấp tướng. Nếu tâm giữ lấy tướng, sẽ chẳng thanh tịnh. Ư này là như thế nào vậy? Ắt cần phải hiểu rơ ư nghĩa của hai câu “chẳng nên giữ lấy pháp, [chẳng nên giữ lấy phi pháp]” trong đoạn trước th́ mới là đạo trang nghiêm chân thật. V́ sao? Trang nghiêm mà chấp tướng th́ tức là giữ lấy pháp. Nếu hiểu lầm ư nghĩa “chẳng chấp tướng”, sẽ trọn chẳng phải là trang nghiêm, mà là giữ lấy phi pháp! Nêu ra điều này để hỏi, nhằm khảo vấn xem [thính chúng] có thật sự lănh hội ư nghĩa chân thật “chẳng trụ vào hai bên” hay không?    

          Lại nữa, trong phần trước đă nhắc lại lời vấn đáp về quả đức vô trụ, vốn là để xiển minh “cũng chớ nên trụ trong nhân hạnh”. Tới đây, bèn nói thẳng vào nhân hạnh. Bồ Tát trang nghiêm cơi Phật chính là bậc Bồ Tát phát Vô Thượng Bồ Đề. Hiểu rơ đạo trang nghiêm cơi nước, sẽ hiểu rơ các đạo như bố thí v.v… “Phất dă” là hoạt cú, giống như nói “chẳng phải là có cái được trang nghiêm”, chứ chẳng phải là không trang nghiêm! Từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, nhằm giải thích ư nghĩa ấy. Câu “trang nghiêm Phật độ” nhằm nêu bày [chủ đề]. Câu “tắc phi” (tức chẳng phải) minh thị chẳng chấp Có, tức là “chớ nên giữ lấy pháp”. Câu “thị danh” (th́ gọi là) nói rơ chẳng chấp Không, cũng tức là “chớ nên giữ lấy phi pháp”. Bởi lẽ, nói theo tâm tánh, tánh thể không tịch (“không tịch” tức là nói đến Chân Đế. Chân Đế là nói nó chẳng phải là tướng hư huyễn. Muốn chứng Chân Đế, ắt phải nên ĺa tướng. V́ thế nói là “tắc phi”. “Phi” có nghĩa là “ĺa”), há có ǵ được gọi là “trang nghiêm”, nên nói là Phi! Nói theo sự tướng, sẽ là có thể nghe, có thể thấy (“có thể nghe, có thể thấy” được gọi là Tục Đế. Tục Đế là tướng thế gian. Nó giả có, chẳng thật, nên nói là Danh). Rành rành trọn đủ trang nghiêm, nên nói là Thị. Cũng có nghĩa là nói: Do danh tướng là có, cho nên đừng chấp Không mà giữ lấy phi pháp. Bồ Tát hăy nên siêng tu Lục Độ vạn hạnh để trang nghiêm. Do tâm tánh vốn Không; v́ vậy, chớ nên chấp Có mà giữ lấy pháp. Bồ Tát tuy tinh tấn trang nghiêm, nhưng trong tâm giống như chẳng có chuyện ấy. Nhất tâm thanh tịnh như thế, cơi nước sẽ tự tịnh. Đó gọi là “trang nghiêm Phật độ” th́ mới đạt được đạo trang nghiêm.

Cần phải biết: Tu nhân ắt đạt được quả, nhưng đạt được Báo Thân thù thắng, nhiệm mầu, và cơi Phật thanh tịnh, đều do tâm hiện! Lại c̣n do tâm tịnh mà [các thứ ấy] có thể hiện. Ví như mài gương[6], sau khi hết sạch bụi bặm th́ h́nh bóng mới hiện! Do vậy, Duy Thức Luận nói: “Đại Viên Kính Trí có thể hiện, có thể sanh h́nh bóng của thân, cơi nước và trí”. Nói chung, trang nghiêm cơi Phật hăy nên đừng chấp giữ, đừng đoạn diệt. Tắc phi” (tức chẳng phải) nhằm nói rơ “chẳng chấp giữ tướng”. “Thị danh” (th́ gọi là) là nói chẳng đoạn diệt tướng. Lại vừa mới nói “tắc phi”, liền nói tiếp theo ngay là “thị danh”, nhằm chỉ rơ: Tuy “phi” (chẳng phải) mà cũng “thị” (là). Tánh ắt hiện tướng, tánh và tướng trước nay chẳng tách ĺa. Nếu lúc biết là Phi mà chẳng chấp lấy, th́ nào ngại trang nghiêm tướng ấy? Muốn nói “thị danh” th́ trước hết phải nói “tắc phi”, nhằm nêu rơ: Tuy là “thị” mà lại là “phi”. Do tướng vốn lấy tánh làm Thể, tướng sanh từ tánh. Do vậy, khi hành cái Thị ấy mà chẳng đoạn diệt, th́ vẫn nên hội quy vào tánh. Đấy là ư chỉ trọng yếu được xiển minh trong lời vấn đáp giữa đức Phật và ngài Tu Bồ Đề. Chúng ta ắt phải nên lănh nhận, thấu hiểu ư chỉ ấy, y giáo phụng hành!

          Hai câu “tắc phi”“thị danh” chính là mở ra pháp yếu Niệm Phật. “Tắc phi” là nói rơ tự tánh thanh tịnh, vốn chẳng có niệm. “Thị danh” là nói rơ vọng niệm dấy lên tưng bừng, ắt phải chấp tŕ danh hiệu để trừ vọng niệm. Ắt phải nên từ niệm tới mức “vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm”, vọng tận, t́nh không, nhất tâm thanh tịnh rồi th́ mới được! Đó gọi là “nhất tâm bất loạn”, bất loạn được gọi là thanh tịnh. Nếu tâm tịnh, cơi Phật sẽ liền tịnh!

 

2.2.2.2.2.1.2.2.1.2. Nói rơ để kết lại ư phát tâm vô trụ

 

          (Kinh) Thị cố Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát, ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

          ()是故須菩提諸菩薩摩訶薩應如是生清淨心不應住色生心不應住聲香味觸法生心應無所住而生其心

     (Kinh: V́ thế, Tu Bồ Đề! Các Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên sanh tâm thanh tịnh như thế, chớ nên trụ vào sắc mà sanh tâm, chớ nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm. Hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm).

 

          Kinh văn trong khoa này chẳng nhiều, chỉ nhằm kết lại các phần kinh văn trước đó. Kể từ lúc mở miệng nói cho đến hiện tại, đây là chỗ “điểm nhăn, kết huyệt” của ngàn lời vạn lẽ. Do vậy, nghĩa thú trong ấy rất vi tế, rất sâu. Nếu chỉ hiểu nghĩa theo văn tự, ơ hờ xem lướt qua, sẽ là cô phụ ân Phật vậy! Nay muốn nói rơ “điểm nhăn, kết huyệt” là ǵ, trước hết hăy nên nương theo kinh văn để giải thích ư nghĩa. Kinh văn vỏn vẹn hơn hai hàng, nhưng ư nghĩa ẩn tàng rất nhiều, diệu nghĩa sanh khởi như mắt xích, dẫu dựa theo văn tự để giải thích cũng chẳng dễ dàng!

          Thị cố” (v́ thế) chính là từ ngữ để tiếp nối phần trước, phát khởi phần sau. Đă xuyên suốt các điều được nói từ trước tới nay, không chỉ tiếp nối chuyện trang nghiêm cơi Phật trong phần trước, mà cũng chẳng chỉ tiếp nối chuyện nói rộng về cái quả, lại c̣n không chỉ thừa tiếp khoa “sanh ḷng tin” trong phần nói cặn kẽ, mà c̣n hô ứng, tương thông với mấy lời chỉ dạy chung trong phần mở đầu kinh. Trước hết, hăy nói về các ư liên quan gần nhất. Trong phần trước đă nói về Tứ Quả, mỗi mỗi đều là đắc quả vô trụ. Kế đó, ngài Tu Bồ Đề tự trần thuật chuyện đắc quả [của chính ḿnh], cũng là chẳng trụ vào đâu. Đấy đều là [các quả] Tiểu Thừa! Kế đó, đức Thế Tôn đích thân trần thuật chuyện xưa của chính ḿnh, nhằm nói rơ thật sự chẳng trụ vào pháp (Kinh dạy: “Ư pháp thật vô sở đắc, tức thị ư vô sở đắc chi pháp bất trụ dă” (nơi pháp thật sự chẳng có ǵ đắc, tức là chẳng trụ vào “không có pháp ǵ để đắc”). Đó là nói về Đại Thừa; nhưng vẫn hạn cuộc trong nhân quả. Cuối cùng, khi Bồ Tát tu Lục Độ, đối với sự trang nghiêm cơi Phật, cũng chẳng trụ vào đâu. Câu “tắc phi” chính là chẳng trụ vào pháp tướng. Câu “thị danh” là chẳng trụ vào phi pháp tướng, tức là chuyên nói về địa vị tu nhân trong Đại Thừa. Chẳng ngại rát miệng như thế, nói theo từng tầng lớp, càng nói càng gần, không ǵ chẳng nhằm mong xiển minh ư nghĩa “hăy nên sanh tâm thanh tịnh, hăy nên chẳng trụ vào đâu để sanh tâm” trong khoa này. Do vậy, liền dùng hai chữ Thị Cố để tiếp nối phần trước, phát khởi phần sau, ḥng nêu rơ những điều đă nói trước đó đều làm căn cứ cho “sanh tâm vô trụ, vô trụ sanh tâm”. Cũng tức là v́ thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Bồ Đề tâm mà chỉ bày phương châm vậy. Phần xét theo cái quả để rộng nói vốn là thừa tiếp câu “hết thảy hiền thánh đều do pháp vô vi [mà sai biệt]” mà có, nhưng câu ấy lại chính là kết luận của những điều đă nói trước đó. V́ thế, khoa này hô ứng tương thông với câu “thiện nam tử, thiện nữ nhân” trong phần mở đầu kinh. “Các Bồ Tát Ma Ha Tát” [trong đoạn chánh kinh trên đây] cũng chính là Bồ Tát Ma Ha Tát được nói trong phần mở đầu kinh, cũng tức là “các thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm hăy nên trụ như thế nào, hàng phục như thế nào”. “Ưng” (hăy nên) là từ ngữ quyết định. Bất luận Tiểu Thừa hay Đại Thừa, thuộc quả vị hay nhân địa, đều phải nên vô trụ. Có thể biết là người phát đại tâm chắc chắn cũng phải nên vô trụ. Chẳng như vậy, sẽ chẳng thể được; do vậy nói là “ưng”.

          Kinh văn trong khoa này đă là nối tiếp phần trước, phát khởi phần sau. vậy, hai chữ Như Thị [trong câu “như thị sanh thanh tịnh tâm”] chính là cùng chỉ kinh văn thuộc phần trước và sau đó. Chỉ nói một bên, nghĩa sẽ trở thành thiếu viên măn! Lại c̣n là trước hết nói về phần kinh văn sau đó, bởi nó chỉ ngay vào câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm), nhưng hai câu “bất ưng” (chớ nên) cũng được kiêm chỉ trong ấy. Cần phải biết hai câu “bất ưng trụ sắc” (chớ nên trụ vào sắc) chính là tiền đề của câu “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ). V́ thế nói đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” th́ nghĩa lư của hai câu “bất ưng” hoàn toàn được gồm thâu trong ấy. Nói chung, ba câu từ “bất ưng trụ sắc” cho đến “sanh kỳ tâm” đều là cước chú của câu “ưng sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh). Như thế th́ sẽ tịnh, chẳng như thế th́ sẽ bất tịnh! Do vậy nói: “Ưng như thị sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh cái tâm thanh tịnh như thế).

          Kinh văn trong khoa này nhằm chỉ dạy “phát Bồ Đề tâm th́ phải nên như thế”. Sao chẳng nói là “phát tâm” mà nói là “sanh tâm”? Xin hỏi phát tâm và sanh tâm là giống nhau hay khác nhau? Thưa rằng đồng mà bất đồng! “Sanh” tức là “phát”, có ǵ khác đâu, nên nói là “đồng”. [Nhưng xét kỹ hơn], Sanh mang ư nghĩa sâu hơn chữ Phát. V́ sao nói vậy? “Phát” chỉ là nói theo cái đă được biểu lộ ra, được người khác biết đến. “Sanh” th́ không chỉ nói đến sự biểu lộ, mà c̣n có ư nghĩa truy cứu tận cội nguồn. V́ hễ nói Sanh, ắt phải có cội rễ. Nếu chẳng có cội rễ, sao sanh cho được? V́ thế, Phát Tâm có nghĩa là trước kia không có, nay mới phát khởi, c̣n Sanh Tâm có nghĩa là cái vốn sẵn có, [đến nay] có thể hiện tiền. V́ thế, Sanh Tâm có ư nghĩa sâu hơn Phát Tâm; đấy là chỗ bất đồng! V́ sao biết Sanh Tâm có ư nghĩa như vậy? Quán ba chữ “thanh tịnh tâm”, sẽ liền có thể hiểu rơ! Bởi lẽ, thanh tịnh tâm chính là tánh vốn sẵn trọn đủ. “Thanh” là chẳng ô trược, “tịnh” là chẳng nhuốm bẩn. Ví như vàng ṛng vùi lấp trong bùn lầy. Dụng công gột rửa, vàng ṛng rành rành tồn tại! Tánh cũng giống như thế, tuy luôn bị trần cấu vô minh phiền năo ngăn chướng, chỉ cần có thể theo đúng pháp tu hành, bản tánh thanh tịnh sẽ vẫn như cũ mà hiện tiền vậy! Do đó, câu này có nghĩa là: Phàm ai phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, hăy nên khiến cho bản tánh thanh tịnh hiện tiền. V́ thế nói là “ưng sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh). Trong lời ấy có ư nghĩa “quay đầu là bờ”, cảnh tỉnh mọi người cũng sâu lắm! Không chỉ như vậy! Bởi lẽ, ngàn lời vạn lẽ chỉ dạy trước đó, đều nói “chẳng nên trụ tướng”, không ǵ chẳng nhằm khiến cho [hành nhân] kiến tánh đó thôi! “Thanh tịnh” có nghĩa là vô tướng. Phàm phu chấp tướng; do vậy, chướng tánh. Nay muốn kiến tánh, sao có thể chấp tướng? V́ phàm phu chấp tướng mà tâm chẳng thanh tịnh. Tâm chẳng thanh tịnh, cho nên chướng tánh. Nay muốn thấy tánh, cố nhiên phải nên thanh tịnh. Để thanh tịnh cái tâm, cố nhiên phải nên ĺa tướng. Hơn nữa, nói “sanh thanh tịnh tâm”, chẳng khác nêu lư do v́ sao phát Bồ Đề tâm. Thế nào là phát Bồ Đề tâm? Chính là nhất tâm thanh tịnh đó thôi! Nếu tâm chẳng thanh tịnh, vậy th́ cái tâm đă phát c̣n nói là Vô Thượng Bồ Đề chi nữa? V́ sao? Bồ Đề là giác. Giác là giác chiếu bản tánh. Hơn nữa, bản tánh c̣n gọi là Đại Viên Giác Hải. Hăy nên biết: Bản tánh chẳng nhiễm mảy trần, thanh tịnh khôn sánh! Đă nói là “phát giác” (phát sanh sự giác ngộ) mà lại chấp tướng, sẽ chính là mâu thuẫn với chữ Giác, đáng gọi là phàm phu trái nghịch giác, xuôi theo trần lao vậy. Do vậy, cái tâm phát giác ắt phải nên ứng hợp giác. Ứng hợp giác như thế nào? Ắt phải nên trái nghịch trần lao. Trái nghịch trần lao tức là chẳng trụ tướng. Do vậy, có thể thấy: Trong một câu này, đă nêu bày vô số ư răn nhắc!

          Sơ phát Bồ Đề tâm th́ làm thế nào để tâm thanh tịnh hiện tiền? Cần phải biết: Chính v́ người ấy chưa thể, cho nên dạy [người ấy] hăy tu như thế. Tu như thế nào? Kế đó nói “hăy nên chẳng trụ vào đâu”. Chẳng trụ vào đâu là như thế nào? Kế đó bèn nói “chớ nên trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Đấy chính là chỉ dạy phương pháp dụng công để vô trụ. Hai câu “chớ nên trụ sắc…” nghĩa thú sâu rộng. Nếu chỉ xem lướt qua, chỉ hiểu nghĩa thứ nhất, đúng là cô phụ! Hơn nữa, chưa suy xét đến cùng tận nghĩa được uẩn tàng, sao có thể dụng công đạt tới chỗ then chốt, thiết thực, thâm nhập vi tế cho được? Đă là hời hợt bề ngoài, sao có thể ĺa tướng? Sao có thể thấy tánh cho được? V́ vậy nói là “cô phụ”. Không chỉ là cô phụ ơn Phật, mà c̣n là cô phụ tự tánh nữa!

          1) Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp được gọi là Lục Trần. Nêu lên những điều này để nói, nhằm khiến cho hành nhân biết rơ: Nếu chấp vào một thứ, sẽ là trần tâm, hoàn toàn tương phản với tâm thanh tịnh. Do cái tâm chánh giác đă phát khởi, ắt phải nên trái nghịch trần lao. Đă trái nghịch trần lao th́ sau đó mới ứng hợp giác. Chớ nên trụ trong lục trần giống như nói chẳng nên “ứng hợp trần”; hễ ứng hợp trần th́ sẽ trái nghịch giác. Tin tức trong ấy chẳng gián cách chừng bằng mảy tóc; đúng là như câu nói “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi”[7].

          2) Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp được gọi là “khí thế gian”[8], cũng được gọi là “tướng cảnh giới”. Nay nói “chẳng nên trụ trong sáu thứ ấy”, chính là ư nghĩa “chẳng nên trụ vào tướng”. Năm chữ “sắc, thanh, hương, vị, xúc” bao gồm hết thảy cảnh giới có thể thấy, có thể nghe trong thế gian. Một chữ Pháp bao gồm hết thảy các cảnh giới mà thế gian chẳng thể thấy, chẳng thể nghe, nhưng tâm tư có thể suy tưởng được. Nêu lên sáu chữ ấy, tướng của hết thảy các cảnh giới đều được thâu nhiếp trọn, cũng chính là hết thảy các cảnh giới đều chớ nên chấp. Không chỉ là những ǵ có thể thấy, có thể nghe đều chẳng nên chấp, dẫu cái chẳng thể thấy, chẳng thể nghe cũng chớ nên chấp. Điều này nhằm răn nhắc người học: Đối với hết thảy thế gian, đều chớ nên chấp!

          3) “Chớ nên chấp”nào phải chỉ là cảnh giới mà thôi! Bởi lẽ, bề ngoài tuy chỉ nói một loại là lục trần, nhưng thật ra, ngay cả sáu căn, sáu thức đều được nhất loạt nói gộp vào trong ấy. Nếu chỉ nh́n bề ngoài, tức là như phần trên đă nói “thực hiện hời hợt bề ngoài” th́ công phu nơi hai chữ “chẳng trụ” sẽ chẳng được thực hiện triệt để, mà cũng lại chẳng thể đạt tới then chốt! Tuy muốn chẳng trụ mà chẳng thể được. Cần phải biết: Sắc là ngoại cảnh, vốn chẳng dính dáng. Hễ nẩy sanh dính dáng, bèn sanh ra trụ. Do ai trụ? Chính là mắt. Mắt trụ như thế nào? Chính là nhăn thức. Cho đến pháp vốn là vật trơ trơ, nếu chẳng trụ chấp, sẽ chẳng có mảy may quan hệ. Hễ phát sanh quan hệ, cố nhiên là bởi ư. Thật sự là do ư thức trong ư đă quen nắm níu, phân biệt. Do vậy, có thể biết: Kinh nói “chớ nên trụ” nhằm dạy người học hăy nên giác chiếu nơi thức, đừng dấy lên nắm níu, phân biệt. Kinh không chỉ nói “chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp”, mà kế đó c̣n chèn thêm hai chữ “sanh tâm” chính là để chỉ dạy người học: Muốn chẳng trụ tướng, phải nên giác chiếu cái tâm. Tức là hăy nên dụng công vi mật trong khi khởi tâm động niệm. Như thế mới là thiết thực.

          4) Dụng công khi khởi tâm động niệm; đó là chỗ thực hiện của người sơ học, vẫn cần phải đoạn Tư Hoặc. Đoạn như thế nào? Chính là phát tâm đại bi, rộng tu Lục Độ. Bố thí, tŕ giới để độ tham; tŕ giới, nhẫn nhục để độ sân, và cũng nhằm độ mạn. Bát Nhă để độ si. Thiền Định độ sân, mà Định có thể sanh Huệ, cũng lại độ si, dùng tinh thần tinh tấn để quán xuyến trọn hết. Hơn nữa, Lục Độ đều sanh từ tâm đại bi, cho nên mỗi Độ đều nhằm lợi ích chúng sanh. Đấy c̣n là dụng cụ sắc bén để trừ ngă. Bởi lẽ, do ngă kiến mà dấy lên tham, sân, si, mạn, cho nên dễ khởi tâm động niệm. Nay muốn chẳng bị khởi tâm động niệm bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ắt càng phải ra sức nơi tâm đại bi và hành Lục Độ. Đó chính là then chốt.

          5) Những điều nói trên đây vẫn chưa phải là rốt ráo. Ắt phải là giới định kiên cố, sanh khởi chánh trí Bát Nhă. Phá một phần vô minh, thức bèn chuyển được một phần. Đợi đến khi tám thức đều chuyển th́ mới là triệt để. Sơ học th́ ắt cần phải đọc nhiều kinh điển Đại Thừa, Bát Nhă càng chẳng thể ĺa trong khoảnh khắc. Nương theo văn tự để khởi quán chiếu, khiến cho giải huệ dần dần sáng suốt thêm. Đấy chính là phương pháp rút củi dưới đáy nồi. Nhưng giải huệ sáng suốt thêm, lại càng có thể tăng trưởng sức Giới, Định. Bởi lẽ, tuy Giới, Định, Huệ được gọi là Tam Học, nhưng thật ra là một chuyện, có sự kỳ diệu là chúng giúp đỡ lẫn nhau sanh khởi. Nhưng Định và Huệ chẳng thể chia ĺa, do Định cố nhiên sanh Huệ, Huệ cũng sanh ra Định. Chớ nên không biết nghĩa này!

          6) Hai chữ “sanh tâm” không chỉ nhằm dạy hăy nên dụng công khi khởi tâm động niệm, mà c̣n có thâm ư trong ấy. Do pḥng ngừa kẻ hiểu lầm ư nghĩa “chẳng nên trụ” (kẻ chẳng hiểu ư tức là kẻ chẳng hiểu rơ phương pháp dụng công), cứ một mực chèn ép không cho ư thức sanh khởi! Hành như thế th́ kẻ bộp chộp, xáo động sẽ đến nỗi phát cuồng, thổ huyết. Dẫu chẳng phải vậy th́ cũng là ngồi trong hang quỷ nơi núi đen làm kế kiếm sống như Thiền Tông quở trách, có khác ǵ Vô Tưởng Định của ngoại đạo! Nếu chẳng hiểu đạo lư (chẳng biết bản tánh hoạt bát, sinh động, vô tướng, vô bất tướng, bèn gọi là “chẳng hiểu đạo lư”), th́ Huệ chẳng thể sanh, Hoặc chẳng thể trừ, đương nhiên là nghiệp khổ cũng chẳng thể tiêu. Thậm chí có thể chuyển thành vật vô tri như cỏ, cây, đất, đá! Cần phải biết: Diệt Tận Định của Tiểu Thừa hoàn toàn chẳng do đè nén ư thức mà đạt được, mà là do đă chứng tánh th́ tưởng tự chẳng dấy lên. Hơn nữa, đạt đến địa vị ấy, cũng chẳng nên trụ. Hễ trụ, bèn đọa trong hầm vô vi, là mầm cháy, hạt lép, cũng bị đức Thế Tôn quở trách. V́ thế kinh văn đă nói “chẳng trụ sắc” v.v… lại nói “sanh tâm” để dạy người phát Bồ Đề tâm đừng nên trụ trong trần tướng, chẳng phải là khiến cho cái tâm như nước tù đọng! Ư này hoàn toàn tương ứng với “hăy nên chẳng trụ vào đâu để sanh cái tâm” trong kinh văn thuộc phần sau, hô ứng lẫn nhau, chỉ dạy người học đă rơ ràng lại c̣n thiết tha vậy!

          7) Chẳng trụ vào lục trần để sanh tâm, c̣n có một nghĩa nữa. Bởi lẽ, kết hợp với câu trước để nói, chính là dạy người phát Bồ Đề, tu Lục Độ, hăy nên phân định rạch ṛi chân tâm và vọng tâm. Tâm thanh tịnh trong câu trước là chân tâm. Hai câu nói về “trụ trong các trần” chính là cái tâm phan duyên (nắm níu), tức vọng tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhất thiết chúng sanh tùng vô thỉ lai, chủng chủng điên đảo, chư tu hành nhân, bất năng đắc thành Vô Thượng Bồ Đề, năi chí biệt thành Thanh Văn, Duyên Giác, cập ngoại đạo đẳng, giai do bất tri nhị chủng căn bản, thác loạn tu tập. Nhất giả, vô thỉ sanh tử căn bản, tắc nhữ kim giả dữ chư chúng sanh, dụng phan duyên tâm vi tự tánh giả. Nhị giả, vô thỉ Bồ Đề Niết Bàn nguyên thanh tịnh thể, tắc nhữ kim giả, thức tinh nguyên minh, năng sanh chư duyên, duyên sở di giả” (Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ tới nay, đủ thứ điên đảo, những người tu hành chẳng thể được thành Vô Thượng Bồ Đề, thậm chí chẳng thành Thanh Văn, Duyên Giác, giống như ngoại đạo, đều do chẳng biết hai loại căn bản, tu tập lầm loạn! Một là căn bản sanh tử từ vô thỉ, hiện thời ông và các chúng sanh dùng cái tâm nắm níu làm tự tánh. Hai là vô thỉ Bồ Đề Niết Bàn vốn là cái Thể thanh tịnh, tức là thức tinh nguyên minh[9] trong hiện thời, có thể sanh ra các duyên, nhưng [cái thức ấy] chẳng tiếp xúc được [chân tánh vốn sáng suốt]). Ở đây, câu trước nói “ưng” (hăy nên), hai câu sau nói “bất ưng” (chẳng nên) chính là chỉ dạy thân thiết: Chớ nên tu tập lầm loạn! Cần phải biết: Cái tâm trụ vào trần lao là thức. Do nó nắm níu, nên gọi là Vọng; nhưng cái vọng tâm ấy vốn do chân tâm biến hiện. Biến như thế nào? Do chẳng liễu đạt Nhất Chân pháp giới, do phân biệt ta, người. V́ vậy, người phát đại tâm trước hết cần phải nên biện biệt chân và vọng, chớ nên coi cái tâm trụ trần chấp tướng là chân tâm. Do vậy, kinh này chuyên chú trọng phá ngă. Chẳng nên trụ trong lục trần mà sanh tâm, tức là chớ nên chấp ngă. V́ sao chấp trần chính là chấp ngă? Ví như người hành Lục Độ, nếu có ư mong người khác biết, đó là trụ sắc, cho đến chấp pháp! Đủ mọi lẽ như thế đó, không ǵ chẳng do ngă kiến. Nói hai câu này vốn là để phát khởi câu kế tiếp.

          Ưng vô sở trụ” (Hăy nên chẳng trụ vào đâu) cũng có nhiều nghĩa:

          1) Tức là chẳng trụ vào lục trần.

          2) Tức là đối với căn, trần, thức, hết thảy đều chẳng trụ. Bất luận chấp trụ như thế nào, tâm đều nhiễm ô, sẽ là trần tướng.

          3) “Chẳng trụ vào đâu” có nghĩa là chẳng trụ vào một thứ ǵ.

          4) “Chẳng trụ vào đâu” là không có ǵ để trụ vào. Những cái để trụ là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nay nói “hăy nên trong tâm chẳng trụ vào đâu”, chẳng phải là không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà chứa đựng hai ư: Chẳng chấp trước, mà cũng chẳng đoạn diệt! Hơn nữa, không có cái để trụ, bởi “năng trụ” (cái có thể trụ) là Không. “Sở trụ” (cái để trụ vào) là nói tới cảnh, c̣n “năng trụ” là nói về thức. Do vậy, “hăy nên chẳng trụ vào đâu” tức là giống như nói “hăy nên khiến cho t́nh thức hoàn toàn là Không”.

          Chữ Nhi () trong “nhi sanh kỳ tâm” có hai nghĩa:

          1) “Nhi” có nghĩa là “lại”. “Hăy nên chẳng trụ vào đâu, nhưng lại sanh cái tâm ấy”. Câu này nối tiếp ư “chẳng trụ vào đâu” trước đó, kiêm thêm ư nghĩa “chẳng đoạn diệt”. Tức là nói rơ đoạn kinh văn trước đó dạy “chẳng nên trụ trong lục trần để sanh tâm” chính là bảo “trong tâm hăy nên chẳng trụ các tướng sắc, thanh v.v…”, chẳng phải là nói đoạn diệt tướng. “Chẳng đoạn diệt” là do tâm chẳng thể đoạn diệt. Phần trên nói “chẳng nên trụ trong trần mà sanh tâm” tức là bảo “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh cái tâm ấy). Chữ “kỳ” có thể hiểu là [nói tới] Bồ Đề và Lục Độ. Như thế phát khởi cái tâm  tâm tu hành Lục Độ mới là Bồ Đề tâm. Do nó trái nghịch trần, ĺa tướng, phù hợp với tâm thanh tịnh trong tự tánh.

          2) “Nhi” lại có nghĩa là sau đó. Đấy là tiếp nối ư “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ) trong phần trước, giống như nói: Hăy nên khiến cho t́nh lẫn thức đều là Không. Vậy th́ “kỳ tâm” chính là nói đến sự thanh tịnh, nghĩa là chẳng trụ vào đâu khiến cho vọng tận, t́nh không. Sau đó mới có thể hiện ra cái tâm thanh tịnh. “Sanh” có nghĩa là “hiện tiền”. Bởi lẽ, câu “ưng sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh) là lời nêu bày, hai câu “bất ưng” (chẳng nên) là phương pháp tu hành. Câu “ưng vô sở trụ” là công hiệu. Ắt cần phải giải thích đủ mọi cách như thế th́ mới mong phần nào khiến cho kinh nghĩa được thông suốt, trọn vẹn, nhưng bất quá cũng chỉ là một giọt nước trong biển cả đó thôi! Trên đây, phần giải thích ư nghĩa dựa theo văn tự đă xong.

          Trên đây đă xong phần giải thích ư nghĩa theo văn tự, nhưng chỗ “điểm nhăn, kết huyệt” của những điều được nói trên đây là như thế nào vậy? Lại truy theo từng tầng ngược lại để nói. Khoa trước chẳng nhắc tới “tắc phi” (chẳng phải) và “thị danh” (bèn gọi là) đó sao? Khoa trước vốn chưa chỉ rơ nguyên do của bốn chữ ấy; v́ vậy, bám sát ư này để nêu tỏ. Như vậy th́ hai chữ Như Thị [trong đoạn kinh Kim Cang trên đây] có thể nói chính là do nối tiếp “tắc phi”“thị danh” mà có. Tức là người phát đại đạo tâm, trang nghiêm cơi Phật, hăy nên quán chiếu nghĩa thú của “tắc phi”“thị danh” để sanh cái tâm thanh tịnh. Bởi lẽ, “tắc phi” nhằm nói rơ “hăy nên đừng trụ vào đâu”. V́ sao? Tánh vốn vô tướng. “Trang nghiêm” là cái tâm hăy nên đối với các tướng như lục trần v.v… đều chẳng trụ vào một thứ nào, cho nên nói là “tắc phi”. Hiểu rơ “tắc phi”, cái tâm sẽ tịnh. Đó gọi là “muốn tịnh cơi Phật, hăy tịnh cái tâm”. Nói “thị danh” là nói hăy nên sanh cái tâm ấy. V́ sao? Chỉ nên tâm chẳng trụ tướng, hoàn toàn chẳng phải là đoạn diệt tướng ấy. Do vậy nói là “thị danh”. “Thị danh” là danh chánh ngôn thuận, chẳng thể bỏ phế chuyện ấy. Cần phải biết: Sự tướng trang nghiêm chẳng thể đoạn diệt, tức là cái tâm trang nghiêm chưa hề ngưng dứt. Tâm chưa hề ngưng dứt là “sanh kỳ tâm” vậy. Nói chung, trang nghiêm mà tâm chẳng trụ tướng, tức là khi hăm hở trang nghiêm, tâm bèn lặng trong, tịch tĩnh, chẳng nhiễm mảy trần! Tuy nói là “sanh tâm”, thật ra sanh mà vô sanh, nhất tâm thanh tịnh. Do vậy nói “hăy nên sanh tâm thanh tịnh như thế”. Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh; đó gọi là “tùy kỳ tâm tịnh, tức Phật độ tịnh” (hễ cái tâm thanh tịnh th́ cơi Phật thanh tịnh). Bồ Tát trang nghiêm cơi Phật là như thế đó! Đấy là khuôn mẫu của người phát đại đạo tâm, tu Lục Độ vạn hạnh, trang nghiêm cơi Phật vậy.

          Khoa “sanh tín” trước đó có hai câu trọng yếu, tức là “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp). Hai câu ấy không chỉ thâu nhiếp trọn vẹn ư nghĩa của khoa trước, mà c̣n thâu nhiếp trọn hết ư nghĩa [từ đầu kinh đến đây] như trong phần trước, tôi đă nhiều lượt trần thuật rồi. Mà hai câu “hăy nên sanh tâm thanh tịnh, chớ nên trụ vào đâu để sanh cái tâm” trong phần này lại là chỗ điểm nhăn của hai câu “bất ưng thủ pháp” (chớ nên giữ lấy pháp). Bởi lẽ, hai câu trong khoa trước là nói tách rời. Tới đây, ư nghĩa trong hai câu ấy được gộp lại thành một để nói. V́ sao nói vậy? “Hăy nên chẳng trụ vào đâu” chính là chớ nên giữ lấy pháp. “Sanh kỳ tâm” ([hăy nên chẳng trụ vào đâu] mà sanh tâm) chính là chớ nên giữ lấy phi pháp. Nay nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” há chẳng phải là nói “tuy chớ nên giữ lấy pháp, nhưng cũng chớ nên giữ lấy phi pháp” đó sao? Trong phần trước nói “chẳng giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp” để làm giới hạn; chính là từ chỗ này mà ngộ được. Do vậy, chỉ riêng chọn lấy người tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm, cũng là v́ chắc chắn họ sẽ chẳng đến nỗi giữ lấy tướng phi pháp th́ mới kham tu môn Bát Nhă chẳng chấp tướng này! Có thể thấy là chúng ta ắt phải nên trước hết đóng thật chặt phương diện phi pháp tướng, tuyệt đối chẳng giữ lấy. Sau đấy mới tu tập [phương diện] chẳng giữ lấy tướng pháp, th́ mới phù hợp ư chỉ của Phật để sanh chánh trí Bát Nhă, ḥng chứng lư thể Bát Nhă. Không chỉ là như vậy! Hăy thử xem câu “ưng sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh), “thanh tịnh” tức là chẳng trụ vào đâu. “Ưng sanh thanh tịnh tâm” giống như nói “ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu), nhưng “chẳng trụ vào đâu” chính là chẳng giữ lấy pháp. “Sanh tâm” là chẳng giữ lấy phi pháp. “Hăy nên sanh tâm thanh tịnh”“thanh tịnh phải hiển hiện trong sanh tâm” (nhưng thanh tịnh mà chẳng sanh tâm th́ là “nước chết” (nước tù đọng), Phật pháp chẳng chấp nhận), há chẳng phải là đă nói hăy thực hiện “chẳng giữ lấy pháp, chẳng giữ lấy phi pháp” đấy ư?

          Nói cách khác, “chẳng giữ lấy pháp” là Không. “Chẳng giữ lấy phi pháp” là Hữu. Chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm, chính là nói rơ “Không chẳng ĺa Hữu”. “Sanh tâm thanh tịnh” là nói rơ Không ở trong Hữu. Không chẳng ĺa Hữu, giống như nói “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Chẳng ĺa, chẳng khác, dần dần hợp lại, nhưng Không vẫn là Không, Hữu vẫn là Hữu, giống như tuy một mà hai. Nếu Không hiển hiện trong Hữu, tức “Sắc chính là Không, Không tức là Sắc”. Không và Hữu chính là lẫn nhau, tức tuy hai mà một. Đấy là nói Không và Hữu đồng thời, ắt có thể như thế, th́ mới là chẳng chấp vào hai bên. V́ sao vậy? C̣n chẳng có ǵ để gọi là hai, từ đâu mà chấp vào các bên? Không chỉ là như thế! Đă nói là “chẳng trụ vào đâu”, lại nói “sanh cái tâm”, há chẳng phải là đối với “không có cái để trụ” cũng phải nên chẳng trụ ư? Nhưng hai chữ Thanh Tịnh trong “hăy nên sanh tâm thanh tịnh” chính là nói “chẳng trụ vào đâu”. Vậy th́ “sanh thanh tịnh tâm” có khác ǵ nói “sanh tâm vô trụ”! Tuy sanh mà vô trụ, tức là nói “sanh mà vô sanh”, tức là “chẳng trụ nơi sanh tâm”. Chẳng trụ nơi sanh tâm tức là chẳng trụ, chẳng giữ lấy phi pháp, mà cũng chẳng trụ nơi vô sở trụ, cũng chính là chẳng trụ, chẳng giữ lấy pháp, há chẳng phải là cũng nên không giữ lấy “chẳng giữ hai bên” ư? V́ thế, trong khoa trước, sau phần “chẳng giữ lấy hai bên”, liền dẫn thí dụ cái bè để nói rơ hai bên đều bỏ! Trong phần trước nói Hữu và Không đồng thời, nhằm nói rơ hai bên c̣n chẳng có, lấy đâu ra bên để chấp? Nhưng đó vẫn c̣n là vướng vào chấp một đằng (chấp một đằng tức là “chỉ ở giữa”), nay th́ Không và Hữu đều là Không, một c̣n chẳng có, có bên nào để chấp nữa? Vô ngại tự tại, thật sự thanh tịnh! Ư nghĩa chân thật của hai câu “chớ nên giữ lấy pháp” tới đây được xiển phát sâu xa, thấu triệt, nên nói là “điểm nhăn”. Những điều khác như “chẳng có pháp tướng”, cũng “chẳng có phi pháp tướng” chính là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh cái tâm). “Chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp” tức là cái tâm thanh tịnh, Không và Hữu đều là Không. Đó cũng chính là pháp vô vi. Không và Hữu đều là Không, tức tâm hạnh xứ diệt, ngôn ngữ dứt bặt. Do vậy nói “chẳng thể giữ lấy, chẳng thể nói”. Những điều ấy đều hiển hiện, dễ thấy, chẳng cần rườm lời nữa!

          Khoa trước lại có một câu trọng yếu, tức là “nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, tức là thấy Như Lai). Nguyên do của câu ấy cũng được xiển minh tại đây. Các tướng phi tướng, sao có thể thấy? Nếu cái tâm bị nhuốm trần, trái nghịch giác, sẽ mê tướng, ngỡ đó là thật, sao có thể thấy các tướng là phi tướng cho được? Ắt phải đối với các tướng như lục trần v.v…, chẳng trụ vào một tướng nào, mới mong đạt được cái tâm thanh tịnh. V́ sao vậy? Như Lai là bậc đă chứng đắc tâm thanh tịnh rốt ráo. Người chẳng trụ trong lục trần, tuy chưa thể nói là “chứng đắc”, nhưng cặn nhơ dần dần gạn sạch, ánh sáng trong trẻo hiện tiền. Ví như nước thanh tịnh có thể hiện bóng trăng thanh tịnh. Do vậy nói “tắc kiến Như Lai” (liền thấy Như Lai). Đó là nói tới tánh thể Như Lai, ắt cần phải đừng chấp tướng để chiếu Thể th́ mới có thể thấy được!

          Khi mở đầu khoa trước, đă chẳng nói đó sao? Bồ Tát đối với pháp hăy nên vô trụ mà hành bố thí. Tuy từng nói rơ chẳng trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đó là bố thí chẳng trụ tướng, nhưng ắt phải là khi phát tâm bố thí, cái tâm vốn chẳng trụ trong lục trần mà sanh khởi. Sau đấy, khi hành [bố thí], mới có thể chẳng trụ tướng. Nếu cái tâm ấy chẳng tịnh, khi hành sao có thể chẳng chấp tướng cho được? Có thể biết: Điều được nói ở đây chính là nói nơi cội nguồn. Tuy những điều được nói trong khoa trước chưa hề có chữ Tâm ở trong ấy, nhưng sau đó cũng từng chỉ rơ rằng: Nếu tâm giữ lấy tướng v.v… Thật sự là tới chỗ này mới xiển phát rơ rệt. Nếu không có đoạn nêu tỏ này, bố thí chẳng trụ tướng sẽ chẳng dễ thực hiện! V́ thế nói khoa này chính là chỗ “điểm nhăn, kết huyệt” của các nghĩa trước đó. Tṛng mắt đă được điểm, tức là toàn thân sống động. Huyệt đă kết, tức là vạn mạch quy hướng cội nguồn[10]. Sau đấy, ngàn lời vạn lẽ, mỗi mỗi đều có căn cứ, y giáo phụng hành mọi chuyện mới đều có chỗ nắm chắc vậy!

          Nói chung, hiểu rơ ư nghĩa chân thật của “chẳng trụ vào đâu để sanh tâm” th́ cái được gọi là Sanh chính là tùy ư mà sanh. Cái được gọi là Vô Trụ chẳng ngại “tùy duyên mà trụ”. “Tùy duyên mà trụ” là vô tâm nơi trụ, tuy trụ mà thật sự chẳng trụ vào đâu. Tùy ư mà sanh, pháp vốn sẵn hiển hiện như thế đó, gọi là “sanh mà thật sự chẳng có ǵ để sanh”. Thật sự có thể như vậy th́ pháp nào cũng đều hiển lộ chân tâm vô trụ, mỗi vật đều là Bát Nhă Thật Tướng. Chính là như cổ đức đă nói “trần nào cũng là báu, chỗ nào cũng gặp nguồn”. Do vậy, ngài Tu Bồ Đề đối trước những lúc đức Thế Tôn đắp y, khất thực, đi, ngồi, qua lại, đều nhận biết diệu đế Vô Trụ, liền từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng lên, đảnh lễ, tán thán “đức Thế Tôn hiếm có, khéo hộ niệm, khéo phó chúc”, thưa hỏi “người phát đại tâm nên trụ như thế nào? Hàng phục như thế nào?” Đức Thế Tôn bèn ứng hợp cơ duyên ấy mà ấn chứng, hứa khả rằng: “Hăy nên đúng như lời ông đă nói là khéo hộ niệm, khéo phó chúc để trụ như thế, hàng phục như thế”. Kế đó, Ngài lại nói tường tận, ví như ngàn vách núi, vạn hang hốc, ngoằn ngoèo uốn lượn, măi cho đến chỗ này bèn kết lại rằng: “Ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Hăy nên sanh cái tâm thanh tịnh như thế, hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh cái tâm).

          “Hăy nên sanh cái tâm thanh tịnh” tức là “hăy nên trụ như thế”. “Hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm” tức là “hàng phục cái tâm như thế”. Ở đây, được chỉ bày, cảnh tỉnh như thế, th́ sau đấy hai câu Như Thị trong lời chỉ dạy chung lúc mở đầu mới có căn cứ. Tức là hai câu Như Thị trong phần trước do có một câu Như Thị ở đây th́ ư nghĩa mới càng thân thiết, càng thấu triệt. Đó gọi là hô ứng từ xa, vẫn c̣n cách một tầng, đúng là đă dung hợp thành một vị. Do vậy, hơn hai hàng trong khoa này chính là một kết huyệt lớn từ lúc mở đầu cho đến chỗ này, giống như nhà Phong Thủy đối với ngàn núi, muôn ḍng, t́m long mạch khắp chỗ. Nếu chẳng t́m ra chánh huyệt, khó tránh khỏi lẩn quẩn nơi mạch phụ, chẳng nắm được yếu lănh. Nếu t́m được chánh huyệt, th́ cát, nước, thanh long, bạch hổ[11], nơi nơi đều để ta sử dụng. Học Phật cũng thế. Học Phật ắt phải y giáo phụng hành, đối với giáo nghĩa sâu thẳm, ắt phải t́m được chỗ cương yếu. Nhưng đoạn này chính là cương yếu của những nghĩa được nói từ trước tới nay. Hăy nên chẳng trụ vào sắc mà sanh tâm, chớ nên trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm. Biết như thế, thấy như thế, tin như thế, hiểu như thế. Bất luận tu hành pháp ǵ, đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa điều này, ngơ hầu đối với ư chỉ Vô Trụ mới có chỗ tiến nhập, mà tự tánh thanh tịnh tâm mới có thể dần dần hé lộ đôi chút tin tức, mà đối với pháp được tu cũng có thể mong có thuở thành tựu. Ngàn phần, vạn phần! Lại nữa, đoạn này đă là cương yếu của các nghĩa đă nói trên đây. Hiểu được điểm cương yếu ấy để hành các pháp như bố thí v.v… th́ đạo không đâu chẳng tồn tại. Do vậy, khoa tiếp theo xét theo công dụng của kinh để so sánh, nhằm hiển lộ: Phước đức ấy lớn hơn [phước đức do] sanh ḷng tin chẳng biết bao nhiêu lần!

 

2.2.2.2.2.1.2.2.1.3. Dùng Báo Thân chẳng trụ để chứng minh

         

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Thí như hữu nhân, thân như Tu Di sơn vương. Ư ư vân hà? Thị thân vi đại phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm đại, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Phật thuyết phi thân, thị danh đại thân”.

          ()須菩提譬如有人身如須彌山王於意云何是身為大不須菩提言甚大世尊何以故說非是名大身

    (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ví như có người thân như núi chúa Tu Di, ư ông nghĩ sao? Thân ấy có to lớn hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất lớn! V́ sao vậy? Phật nói chẳng phải thân th́ gọi là thân lớn”).

 

          “Thí như” (譬如) là tỷ dụ. Phàm hễ nói thí dụ, đều nhằm chứng minh “pháp thuyết” (những điều trần thuật trong phần giảng pháp). Phần pháp thuyết trên đây tuy đă xiển phát chẳng sót, nay lại chứng minh bằng thí dụ để nói, không ǵ chẳng nhằm làm cho người nghe càng hiểu rơ hơn! “Hữu nhân” (có người) là ám chỉ người phát đại đạo tâm. Đại tâm là nhân, đại thân (thân to lớn) là quả. “Tu Di sơn vương” (núi chúa Tu Di): Sánh ví Báo Thân thù thắng, nhiệm mầu. Thân ấy vi diệu, tuy có h́nh tướng, nhưng chẳng phải là bậc Địa Thượng Bồ Tát, sẽ chẳng thể thấy. Đúng là nhiều kiếp siêng tu Lục Độ vạn hạnh, phước lẫn huệ cùng trang nghiêm, công hạnh viên măn th́ mới có thể chứng đắc cái gọi là “thân có vô biên tướng hảo”. Nếu nghi “thân tướng quả báo thù thắng, nhiệm mầu chẳng giống như phàm tướng, nhưng nếu chẳng giữ lấy thân ấy th́ tu Lục Độ vạn hạnh để làm ǵ? th́ [kẻ nghi như vậy] trọn chẳng biết bất luận quả vị hay nhân địa, tướng và phi tướng, đều chẳng thể giữ lấy. Nếu có đôi chút chẳng hiểu rơ lư này, th́ khi tu nhân, sẽ chẳng thể khế nhập thâm sâu “hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm”. Đó là ư vi diệu của đức Phật khi Ngài nêu lên câu hỏi này. Ngài Tu Bồ Đề lănh hội sâu xa ư chỉ của đức Phật; do vậy, vừa mở miệng liền đáp “rất lớn”. Nói “rất lớn” nhằm nêu rơ thân ấy chẳng phải là không có, chẳng khác nào trước hết cho kẻ hoài nghi một viên thuốc an thần, khiến cho kẻ đó biết phát đại nguyện, tu đại hạnh, ắt sẽ đạt được thân to lớn thù thắng, nhiệm mầu, cố nhiên là chân thật, chẳng dối! “Hà dĩ cố?” (v́ sao vậy?) là lời [gạn hỏi]: Do nguyên nhân nào mà đạt được thân to lớn ấy? “Phật” là danh xưng của quả đức.

          “Phi thân” (chẳng phải là thân) có hai ư:

          1) Nói theo sự chứng quả, cái được chứng chính là cái Thể của Pháp Thân thanh tịnh, chẳng phải là tướng Báo Thân này, tức “phi thân” chính là nói về Báo Thân.

          2) Nói theo sự chứng quả, đă là cái Thể của Pháp Thân, mà Pháp Thân chứa đựng trọn khắp các cơi nhiều như cát (không điều to lớn nào lọt ra ngoài được), vào khắp trong các vi trần (không điều nhỏ nhặt chẳng được bao gồm trong ấy), chẳng có h́nh tướng, chẳng có số lượng. V́ thế, kinh Tịnh Danh “Phật thân vô vi, bất đọa chư số” (thân Phật vô vi, chẳng thuộc trong các pháp số)[12]. Ngụ ư [trong đoạn kinh Kim Cang thuộc khoa này] là dựa theo Thể để nói, cho nên bảo là “phi thân”, tức “phi thân” là nói đến Pháp Thân. Thị danh đại thân” (th́ gọi là thân lớn) là nói đến Báo Thân, nhằm nêu rơ Báo Thân cao lớn thù thắng, nhiệm mầu. Dụng ư là dựa theo tướng để nói, nên bảo là “thậm đại” (rất lớn). “Thị danh” (th́ gọi là) là nói về danh tướng, nghĩa là: Nếu nói theo phương diện chứng Pháp Thân, thật sự là phi thân chẳng có h́nh tướng, há có lớn hay nhỏ để có thể nói? Nay nói “thậm đại” chính là dựa theo danh tướng của Báo Thân để nói. “Đắc quả”: Tuy chẳng phải là không có thân cao lớn ấy, nhưng thật sự chẳng tồn tại “cái để có thể đạt được”. Hễ tồn tại “cái để có thể đạt được”, sẽ là trụ vào thân tướng. Nếu trụ vào thân tướng, sao có thể chứng Pháp Thân thanh tịnh vô tướng? Pháp Thân chưa chứng, cũng chẳng có Báo Thân rất lớn! Nếu hiểu rơ lư này, sẽ biết chớ nên giữ lấy thân tướng, nhưng cũng chẳng phải là không có quả báo thù thắng ấy! Có thể tu Lục Độ vạn hạnh mà chẳng chấp giữ, sẽ chứng Pháp Thân thanh tịnh, hết thảy các tướng thù thắng sẽ tự nhiên hiển hiện. Chớ nên chấp Hữu, nhưng cũng đừng nên chấp Vô. Sau đấy, khi tu nhân, sẽ có thể chẳng giữ lấy ngă tướng, chẳng trụ trong sáu trần, sanh tâm thanh tịnh.

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2. Dựa theo công hiệu của kinh để nói rơ

 

          Chia thành hai phần:

          1) Nêu rơ phước đức thù thắng.

          2) Nêu rơ nguyên do của sự thù thắng.

 

2.2.2.1.2.1.2.2.2.1. Nêu rơ phước đức thù thắng

2.2.2.1.2.1.2.2.2.1.1. Dẫn thí dụ về cát sông Hằng

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Như Hằng hà trung sở hữu sa số, như thị sa đẳng Hằng hà, ư ư vân hà? Thị chư Hằng hà sa, ninh vi đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm đa, Thế Tôn! Đản chư Hằng hà, thượng đa vô số, hà huống kỳ sa?”

          ()須菩提。如恆河中所有沙數,如是沙等恆河,於意云何?是諸恆河沙,寧為多不?須菩提言:甚多,世尊!但諸恆河,尚多無數,何況其沙。

    (Kinh: Tu Bồ Đề! Như số lượng tất cả cát trong sông Hằng, đối với các sông Hằng nhiều như số cát ấy, ư ông nghĩ sao? Cát của các sông Hằng ấy, há có nhiều chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Chỉ tính các sông Hằng đă là nhiều vô số, huống hồ cát của chúng ư?”)

 

          Thiên Trúc[13] có một con sông lớn, tên là Hằng Hà (Ganges). Âm Hằng hơi sai lệch, đáng phải nên nói là sông Căng Già ()[14], phương này dịch là sông Phước. Con sông ấy ở Ấn Độ giống như Hoàng Hà và Trường Giang của Trung Hoa, tưới đẫm cả nước, đối với giao thông, trồng trọt, thương vụ, và văn hóa, lợi ích rất lớn, nên nói là Phước Hà. Hơn nữa, người cổ Ấn Độ coi nó là thánh thủy, được thấy sông ấy, hoặc vào trong sông tắm rửa, sẽ được phước vô lượng. V́ thế, cũng dịch nghĩa là Thiên Đường Lai (đến từ thiên đường), do nó bắt nguồn từ chỗ cao. Trung Hoa cũng có câu “Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai” (nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống). Kinh Phật dạy: Phía Bắc Thiệm Châu (Nam Thiệm Bộ Châu, tức Diêm Phù Đề), có chín hắc sơn. Kế đó, có Đại Tuyết Sơn (Himalaya), lại có Hương Túy Sơn (Gandhamādana). Giữa phía Nam của Hương Túy và phía Bắc của Tuyết Sơn, có cái ao tên là A Nậu Đạt (Anavatapta), phương này dịch là Vô Nhiệt Năo (無熱惱). Ao rộng mỗi bề năm mươi do-tuần, nước tám công đức chứa đầy trong đó. Ao có bốn cửa, mỗi cửa chảy ra một con sông, nước chảy cuồn cuộn đổ vào biển. Mỗi sông tách thành hai vạn năm ngàn con sông lớn tưới trọn bốn đại châu. Chảy ra từ cửa Đông chính là sông Căng Già (Gaṅgā), chảy theo hướng Đông Nam đổ vào biển. Cửa Nam chảy ra sông Tín Độ (Sindhu, tức sông Indus), chảy theo hướng Tây Nam đổ vào biển. Cửa Tây chảy ra sông Phược Sô (Vakṣu) theo hướng Tây Bắc đổ vào biển. Cửa Bắc chảy ra sông Tỷ Đa (Śitā), theo hướng Đông Bắc đổ vào biển.

          Cát sông Hằng cực mịn, do mịn nên thấy số lượng càng nhiều hơn! Do vậy, trong kinh Phật, hễ nói đến số lượng cực nhiều chẳng thể tính toán, đều dùng cát sông Hằng để sánh ví. Lại do người Thiên Trúc ai nấy đều biết có con sông ấy, biết số lượng cát trong sông chẳng thể tính toán, [v́ thế], dùng cát sông Hằng làm thí dụ để đại chúng cùng hiểu. Chữ Như trong “như Hằng hà sa” có nghĩa là “ví như”, phải đọc liền mạch với câu kế tiếp thành “như thị đẳng Hằng hà sa”. “Sa đẳng Hằng hà” có nghĩa là hiện thời coi tất cả các hạt cát trong sông Hằng, cứ mỗi hạt cát là một con sông Hằng mới. Số hạt cát ban đầu đă là vô lượng, mà số lượng các con sông Hằng “mới” cũng bằng số ấy, tức là số lượng sông Hằng cũng nhiều vô lượng như thế. Do vậy nói “như thị sa đẳng Hằng hà” (các sông Hằng nhiều như số cát ấy), giống như nói: Coi tất cả số cát vô lượng trong sông Hằng hiện thời, hóa thành vô lượng sông Hằng mới nhiều như số cát vô lượng ấy. Câu “thị chư Hằng hà” (các sông Hằng ấy) [trong chánh kinh] là nói đến các con sông trong [cách nói giả dụ trên đây]. “Chư” hàm nghĩa “vô lượng”. Hỏi: Cát trong vô lượng con sông Hằng mới ấy há có nhiều chăng? Đáp rằng “rất nhiều, nhằm chỉ rơ: Chúng nhiều đến nỗi chẳng thể nói được! Mấy câu từ chữ Chư trở đi nhằm nói: Chỉ nói về [số lượng của] các con sông Hằng “mới” th́ đă nhiều đến nỗi chẳng thể tính toán được, huống hồ cát trong các sông ấy! Số đó lại càng vô biên, chẳng thể h́nh dung, chỉ nói mơ hồ là “rất nhiều” mà thôi!

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2.1.2. Nói về phước do bố thí của báu

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ngă kim thật ngôn cáo nhữ, nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dĩ thất bảo măn nhĩ sở Hằng Hà sa số tam thiên đại thiên thế giới, dĩ dụng bố thí, đắc phước đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm đa, Thế Tôn!”

          ()須菩提!我今實言告汝,若有善男子、善女人,以七寶滿爾所恆河沙數三千大千世界,以用布施,得福多不?須菩提言:甚多,世尊!

    (Kinh: Tu Bồ Đề! Ta nay bảo thật với ông: - Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân dùng bảy báu đầy ắp trong các tam thiên đại thiên thế giới bằng với số cát trong các sông Hằng ấy để bố thí, được phước có nhiều chăng?” Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất nhiều”).

 

          “Thật ngôn cáo nhữ” (bảo thật cùng ông): Tuy nói ở đây, nhưng ư bao trùm cả khoa sau, khiến cho [thính chúng] biết phước do “thọ tŕ, giảng nói” được nói trong phần kinh văn sau đó càng nhiều hơn phước ở đây. Đó là lời chân thật, chớ nên không tin! Chữ Nhĩ Sở (爾所) dùng trong cổ văn chính là nói “như hứa” (如許, áng chừng, bằng khoảng) trong cách hành văn của người hiện thời. “Như hứa” tức là lời chỉ điểm, tức là kiểu nói “hứa đa” (許多) trong ngạn ngữ tại Thượng Hải, hoặc “giá mặc ta” (這默些) trong ngạn ngữ phương Bắc.

          Sông Hằng vô lượng, cát trong sông vô biên. “Nhĩ sở Hằng hà sa số” (số cát trong các sông Hằng nhiều ngần ấy) giống như nói “vô lượng vô biên” vậy. Ngài Tu Bồ Đề lănh hội sâu xa ư chỉ của đức Phật, biết những điều đă nói trên đây, không ǵ chẳng nhằm mượn phước đức hữu vi cực đại để so sánh, nhằm tỏ rơ pháp vô vi do thọ tŕ, giảng nói, phước đức càng lớn hơn phước ấy. Chủ ư vốn không phải ở chỗ này, nên chỉ đáp “rất nhiều”, chẳng nói thêm ǵ khác!

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2.1.3. Hiển thị sự thù thắng do tŕ kinh

 

          (Kinh) Phật cáo Tu Bồ Đề: - Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư thử kinh trung, năi chí thọ tŕ tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết, nhi thử phước đức, thắng tiền phước đức.

          ()佛告須菩提:若善男子、善女人,於此經中,乃至受持四句偈等,為他人說,而此福德,勝前福德。

          (Kinh: Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân trong kinh này, cho đến thọ tŕ bốn câu kệ v.v… v́ người khác nói, phước đức này hơn hẳn phước đức trước”).

 

          Ư nghĩa thọ tŕ bốn câu kệ trong phần trước đă nói cặn kẽ. “Tứ cú kệ đẳng” nhằm tận lực nói: Thọ tŕ, diễn nói kinh rất ít mà phước đức c̣n hơn hẳn phước [bố thí bảy báu] trước đó. Vậy th́ thọ tŕ, diễn nói cả bản kinh, phước ấy càng thù thắng hơn, chẳng cần phải nói nữa! Thọ tŕ sẽ có thể tự độ. “Vị tha nhân thuyết” (v́ người khác nói) tức là có thể độ tha. Tự độ và độ tha chính là Bồ Tát hạnh. Bởi thế, phước đức cực đại! Tŕ kinh, thuyết pháp, phước đức c̣n hơn bố thí, nghĩa này có Thông và Biệt. Thông là bất luận tŕ kinh nào, nói pháp nào, không ǵ chẳng đều là như vậy. Biệt là chuyên nói về kinh này.

          Nay trước hết nói về nghĩa Thông. Nói theo sự tự độ, nếu bố thí mà chẳng biết ĺa tướng, phước đức đạt tới mức lớn cùng cực vẫn chẳng qua sanh lên trời mà thôi! V́ thế, gọi là công đức hữu lậu, tức là nói [công đức ấy] vẫn rơi rớt trong đường sanh tử luân hồi, chẳng thể nói tới tự độ được! Nếu có thể thọ tŕ ư nghĩa của kinh, có thể khai trí huệ, có thể biết luân hồi đáng sợ mà cầu thoát ĺa, khi hành bố thí cũng biết ĺa tướng, th́ chính là phước huệ song tu, có thể đạt tới bờ kia, liễu sanh tử, chứng thánh quả. So với kẻ chỉ có thể sanh thiên, nhưng vẫn chẳng tránh khỏi nhập luân hồi, sẽ là cách biệt một trời, một vực! Như vậy th́ tuy chỉ thọ tŕ một bài kệ bốn câu v.v… phước ấy đă hơn hẳn phước do bố thí của báu đầy ắp vô lượng vô biên đại thiên thế giới, huống hồ người thọ tŕ toàn bộ bản kinh ư!

          Nói theo sự độ tha, Tài Thí chẳng sánh bằng Pháp Thí, [điều này] chứa đựng nhiều nghĩa. Ở đây, tôi nêu đại lược:

          1) Tài Thí th́ người thí và kẻ nhận chưa chắc đă có trí. Pháp Thí mà nếu chẳng có trí, sẽ không thể thí, [mà người nhận nếu] chẳng có trí huệ cũng chẳng thể tiếp nhận.

          2) Tài Thí th́ người thí được phước to lớn, người nhận chỉ đạt được lợi ích nhỏ nhoi trước mắt. Pháp Thí th́ người thí lẫn kẻ nhận đều đạt được phước to lớn.

          3) Tài Thí chỉ hữu ích cho sanh mạng của con người, Pháp Thí th́ tăng thêm huệ mạng cho con người.

          4) Tài Thí chế phục tham, Pháp Thí đoạn Hoặc.

          5) Tài Thí th́ đôi bên đều chẳng thoát khỏi luân hồi, Pháp Thí th́ đôi bên mới có thể liễu sanh tử.

          6) Tài Thí th́ đôi bên thọ dụng có cùng tận, Pháp Thí th́ đôi bên thọ dụng vô cùng.

          7) Tài Thí th́ thí ít, người được lợi ích sẽ ít. Pháp Thí th́ thí ít mà có thể đạt được lợi ích to lớn.

          Hỏi: Như vậy th́ chỉ hành Pháp Thí, chẳng hành Tài Thí có được hay chăng?

Đáp: Chẳng phải vậy! Bồ Tát nhiếp thọ chúng sanh, Tài Thí cũng chẳng thể thiếu, nhưng tông chỉ hành Pháp Thí, chẳng coi Tài Thí là rốt ráo!

          Trên đây là nói chung về hai thứ lợi ích do thọ tŕ, diễn nói hết thảy các kinh pháp. Khoa sau sẽ nói riêng về lợi ích do thọ tŕ, diễn nói kinh này. Cần phải biết: Kim Cang Bát Nhă chỉ thẳng bản tánh. Nếu có thể kiến tánh, sẽ có thể thành Phật, há có phải chỉ là khiến cho chính ḿnh liễu sanh thoát tử, khiến cho chúng sanh liễu sanh tử mà thôi, mà c̣n có thể độ vô lượng vô biên chúng sanh đều thành Phật. Tiếp nối hưng thịnh ḍng giống Phật, không ǵ hơn kinh này! Phước đức ấy to tát chẳng thể nghĩ bàn, há có phải chỉ vượt trội phước đức bố thí của báu đầy ắp trong vô lượng vô biên đại thiên thế giới trên đây mà thôi ư!

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2. Hiển thị nguyên do thù thắng

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1. Giảng về phước do tùy thuận mà nói kinh này

 

          (Kinh) Phục thứ, Tu Bồ Đề! Tùy thuyết thị kinh, năi chí tứ cú kệ đẳng, đương tri thxứ, nhất thiết thế gian thiên, nhân, A Tu La, giai ưng cúng dường, như Phật tháp miếu.

          ()復次須菩提說是乃至四句偈等當知此處一切世間天人阿修羅皆應供養如佛塔廟

          (Kinh: Lại nữa, Tu Bồ Đề! Hễ nói kinh này, thậm chí là bốn câu kệ v.v…. hăy nên biết: Đối với chỗ ấy, hết thảy trời, người, A Tu La trong thế gian đều nên cúng dường như tháp miếu của Phật).

 

          Hễ nói “phục thứ” (lại nữa) tuy là nêu riêng ư nghĩa khác, nhưng thật ra nhằm thành tựu nghĩa trước, do nghĩa trước đă được nói cặn kẽ rồi. “Tùy” có nghĩa “chẳng hạn định”; nói đại lược th́ có sáu ư:

          1) Tùy thuộc người nào, bất luận tăng, tục, thánh, phàm.

          2) Tùy căn cơ, bất luận lợi căn hay độn căn (đấy chính là ư nghĩa cạn và sâu nói bổ sung lẫn nhau. Hoặc nói là Đệ Nhất Nghĩa, hoặc bảo là Đối Trị).

          3) Tùy theo kinh văn, bất luận nhiều, ít, rộng, hay lược.

          4) Tùy nơi chốn, bất luận là thành thị, làng quê, chỗ thù thắng, hay nơi kém hèn!

          5) Tùy thời, bất luận ngày, đêm, [thời gian] dài hay ngắn.

          6) Tùy chúng, tức là bất luận người nhiều hay ít. Nếu gặp cơ duyên đáng nên nói, liền nói.

          Đó gọi là “tùy thuyết”. “Đương tri” (Hăy nên biết) ngụ ư răn nhắc chớ nên coi thường! “Thử xứ” (chỗ ấy) là nói tới chỗ thuyết kinh. Chỗ thuyết kinh [đáng nên tôn trọng] như thế, th́ suy ra cũng biết là đối với người thuyết kinh [cũng phải nên tôn kính như thế]. Khoa sau nói: “Đương tri thị nhân” (Hăy nên biết người ấy) v.v… Do vậy biết: Nói tới Xứ, sẽ kiêm cả ư nói đến người. Nói chung, người nghe kinh chớ nên chẳng giữ tấm ḷng cung kính. V́ sao vậy? Do tôn trọng pháp, do chẳng quên điều bắt nguồn, nhưng người nói kinh trọn chớ nên có cái tâm ấy, v́ sao? Do xa ĺa danh lợi và cung kính, do chớ nên chấp tướng. Đấy chính là điều mà đôi bên đều phải nên biết! Lại như kinh Đại Bát Nhă nói: Thiên Đế Thích thường ở Thiện Pháp Đường, v́ thiên chúng nói pháp Bát Nhă Ba La Mật. Có lúc thiên vương chẳng ở đó, nếu thiên chúng kéo đến, cũng hướng về ṭa trống làm lễ, cúng dường rồi rời đi. Đấy chính là chư thiên tuân theo lời đức Phật dạy mà cung kính chỗ nói kinh. Kinh Đại Phẩm lại nói: Chư thiên hằng ngày thực hiện ba thời lễ kính, trong sáu ngày trai càng nhiều hơn. Chỗ nào có kinh th́ đều giữ sao cho bốn phía đều thanh tịnh.

          Nói “thế gian” là giống như “thế giới”. “Gian” () có nghĩa là ngăn cách. Như nói trong một gian nhà nhằm nêu rơ giới hạn của căn nhà ấy. Nếu chẳng có giới hạn, sao lại gọi là “một gian”? Do đó, nói “thế gian” chẳng khác nói thế giới. Thế” () có ư nghĩa là theo chiều dọc, cứ ba mươi năm là một Thế. Giới () là ư nghĩa theo chiều ngang, các phương các chốn đều có giới hạn. Nay nói “nhất thiết thế gian” (hết thảy thế gian) cho thấy: Theo chiều dọc th́ tột cùng vị lai, theo chiều ngang bèn trọn khắp mười phương, tức là ư nghĩa “tận vị lai tế, biến pháp giới” (tận cùng đời vị lai, trọn khắp pháp giới).

          Nói trời, nói người, hàm ư thâu nhiếp trọn hết tất cả chúng sanh trong tam giới, nhưng nói trời, nói Tu La, mang ư nghĩa gồm thâu thiên long bát bộ. V́ thế, tuy chỉ nêu ra ba đường, nhưng hàm ư gồm trọn hết thảy. Hăy nên biết: Hai chữ “giai ưng” (đều nên) chính là tương ứng với “đương tri” (hăy nên biết). V́ sao nên biết? Do đều nên [như thế] vậy! “Ưng” (): Nếu chẳng phải là như thế sẽ chẳng được; do vậy, phải nên biết [như thế đó].

          Cúng dường có hai loại:

          1) Sự cúng dường, nói đại lược th́ gồm mười sự, tức là hương, hoa, anh lạc (chuỗi kết bằng châu, ngọc, hoặc các thứ báu), hương bột, hương bôi, hương đốt, phan, lọng, y phục, âm nhạc, chắp tay lễ bái. Chỗ nói kinh chính là đạo tràng; do vậy, phải nên trang nghiêm cung kính như thế.

          2) Pháp cúng dường, tức là đúng như pháp mà tu hành, lợi ích chúng sanh (như nghe xong sẽ xoay vần nói lại cho người khác, hoặc đem kinh biếu tặng v.v…), nhiếp thọ chúng sanh (như khuyên người khác tới nghe, chia chỗ ngồi cho người khác v.v…), cho tới chẳng xả Bồ Tát nghiệp (như gặp trở ngại, khó khăn vẫn đều đến nghe, tức là “chẳng bỏ”), chẳng ĺa Bồ Đề tâm (như phát khởi đại nguyện, đại hạnh, chẳng trái nghịch chánh trí Bát Nhă, chẳng trái nghịch ư chỉ của kinh) v.v…

          “Như Phật tháp miếu” là nói đều nên cúng dường [chỗ nói kinh] như cúng dường tháp miếu thờ Phật thông thường. Cúng dường tháp miếu th́ ai nấy đều biết; c̣n chỗ thuyết kinh có thể bị coi thường. Do vậy, dùng tháp miếu để làm lệ, ḥng dạy rơ: Nơi thuyết kinh chính là đạo tràng, chẳng khác các nơi tháp miếu. Do vậy, phải đều nên cúng dường (do v́ lẽ nào mà nơi đó là đạo tràng, trong phần sau sẽ trịnh trọng nói rơ). Nói chung, đều nhằm nêu rơ: Người thuyết pháp do đức Phật sai khiến, pháp đă nói ấy vốn do đức Phật nói. Do vậy, thay Phật tuyên dương th́ chính là giống như Phật hiện diện tại đó. Kinh Pháp Hoa dạy: “Năng vị nhất nhân thuyết Pháp Hoa kinh, năi chí nhất cú, thị nhân tắc vi Như Lai sở khiển, hành Như Lai sự” (Có thể v́ một người mà nói kinh Pháp Hoa, thậm chí [chỉ nói] một câu, người ấy chính là được Như Lai sai khiến làm chuyện của Như Lai). Pháp Hoa đă là như vậy, hết thảy các kinh đều là như vậy. Kim Cang Bát Nhă càng chẳng phải không như vậy! Đoạn văn trước đó nói “đương tri” (hăy nên biết) chính là nói đến chuyện này! Nếu biết người ấy được Phật sai khiến, pháp do Phật nói, sẽ tự biết đều phải nên cung kính cúng dường vậy!

          “Tháp” là tiếng Phạn, nói đầy đủ là Tháp Bà (塔婆), phiên âm như vậy hơi sai, thật ra là Tốt Đổ Ba (Stupa), có nghĩa là chỗ cao rạng, cũng dịch là Phương Phần, Viên Trủng (方墳圓塚, mộ vuông, mộ tṛn). Tháp ắt cao rạng; do vậy, biểu thị sự thù thắng. Tháp Phật có nhiều loại, nay chỉ nói bốn loại, tức là tháp đản sanh, tháp thành đạo, tháp chuyển pháp luân, và tháp nhập Niết Bàn. Nay dạy cúng dường [chỗ nói kinh] như tháp, tức là có ư nghĩa hàm nhiếp cả bốn loại tháp ấy. V́ sao nói vậy? Kinh này giảng Thật Tướng. Thật Tướng chính là Pháp Thân của Phật. Lại nói “hết thảy chư Phật từ kinh này mà ra”, há chẳng phải chỗ ấy chính là tháp nơi Phật đản sanh ư? Sau khi nghe pháp, biết tu nhân, chứng quả, mà kinh này sanh phước vô lượng, túc tội đều tiêu, sẽ đắc Vô Thượng Bồ Đề. Do vậy, chỗ này liền giống như tháp nơi Phật thành đạo. Thay Phật tuyên dương pháp Đại Thừa tối thượng, chỗ ấy chính là tháp nơi đức Phật chuyển pháp luân. Bát Niết Bàn có nghĩa là Vô Vi, cũng có nghĩa là “sanh diệt đă diệt”, lư sự rốt ráo, mà những điều được nói trong kinh này đều là pháp vô vi, khiến cho người nghe diệt cái tâm sanh diệt, chứng cái quả rốt ráo, đó gọi là “khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”, tức chỗ này chính là tháp nơi đức Phật bát Niết Bàn cũng chẳng đúng hay sao?

          “Miếu” () là h́nh mạo, có ư nói là chỗ thờ tượng Phật, tiếng Phạn là Chi Đề (Caitya). Phàm là Phật tháp, ắt thờ xá-lợi (śarīra) của Phật. Xá-lợi tức chân thân của Phật. Phàm miếu thờ tượng Phật, ắt có kinh pháp, ắt có tăng chúng. Nói một chữ Miếu, tức là chỗ Trụ Tŕ Tam Bảo tụ tập. Nay nói “như Phật tháp miếu” tức là nói người thuyết kinh thay Phật tuyên dương, liền giống như chân Phật ở đó. Nói đại pháp, tiếp nối hưng thịnh Phật chủng; đó là trụ tŕ Tam Bảo. V́ thế nói là “như Phật tháp miếu, đều nên cúng dường”. Trong phần kinh văn trước đó đă nói “v́ người khác nói [kinh pháp] th́ phước đức ấy thù thắng hơn người trước đó (người dùng bảy báu đầy ắp các cơi tam thiên đại thiên thế giới nhiều như số cát trong vô lượng sông Hằng)” là v́ lẽ ấy. Do vậy, có thể chứng minh: Tuy kinh nói Xứ, dụng ư thật sự là nói đến người. Đương nhiên phải tôn trọng người thuyết kinh giống như vậy. Nếu người thuyết kinh đối với phi pháp mà bảo là pháp, pháp bảo là phi pháp, bàn xằng Bát Nhă, lầm pháp, lầm người, tội nghiệp ấy to tát, trọn chẳng đáng nhắc tới hay sánh ví. Nh́n từ chánh diện của kinh, có thể thấy được khía cạnh phản diện. Đây lại là điều người thuyết kinh cần phải nên biết: Hăy nên dè dặt tự xét, đừng nên lơi là chút nào! V́ thế, kinh văn trong phần sau lại nói “hà huống tận năng thọ tŕ” (huống hồ có thể thọ tŕ trọn hết) v.v… “Thọ” () tức là lănh nhận nghĩa chân thật. “Tŕ” () là nương theo nghĩa mà tu tŕ. Vậy th́ chẳng thể tu tŕ, sẽ là “nói được mà chẳng làm được”, như đếm của báu nơi nhà người khác, chính ḿnh chẳng có nửa đồng! Hơn nữa, chẳng thể tu tŕ, ắt cũng chẳng thể nhận lănh, bởi chắc chắn là chẳng thể lănh hội nghĩa chân thật vi diệu rất sâu từ văn tự được! Chẳng thể lănh hội mà cứ nói, ắt sẽ đến nỗi bàn xằng Bát Nhă, hay diễn tả Bát Nhă nông cạn! Há chẳng phải rơ ràng là răn nhắc người thuyết kinh sâu đậm, thiết tha đó ư?

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2. Nói về phước do tŕ trọn hết bản kinh

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.1. Nói thẳng vào sự thọ tŕ trọn hết

 

          (Kinh) Hà huống hữu nhân tận năng thọ tŕ, độc tụng.

          ()何況有人盡能受持讀誦

          (Kinh: Huống hồ người có thể thọ tŕ, đọc tụng trọn hết).

 

          Nói “thọ tŕ” lại nói “đọc tụng”, nhằm nói rơ ắt phải là người có thể lănh nhận, tu tŕ, th́ mới có thể thật sự đọc tụng. Nếu không, lợi ích do đọc tụng rất nhỏ! Đă có thể thọ tŕ, lại c̣n phải đọc tụng, do nghĩa lư uẩn tàng trong kinh vô cùng, luôn luôn đọc tụng sẽ càng có thể huân tập tăng trưởng, tức là sức thọ tŕ ngày càng tiến bộ. Trong phần trên là “nói”, ở đây là “thọ tŕ”; đó là điểm bất đồng thứ nhất. Phần trên nói “tùy ư nói bốn câu kệ”, ở đây nói “tận năng thọ tŕ, độc tụng”, đó là điểm bất đồng thứ hai. Nhưng nói “hữu nhân” (có người), chẳng phải là nói riêng một người nào khác, thoạt đầu chưa nói dứt khoát: Đó chính là người nói kinh. Huống chi, cũng nhằm nói rơ người có thể tận hết sức thọ tŕ, đọc tụng, sẽ càng thù thắng hơn người tùy thuận diễn nói. Đức Thế Tôn nói tách ra như thế, [là v́]:

          1) Giảng rơ công thọ tŕ to lớn, khiến cho mọi người đều biết hướng đến, coi trọng điều này.

          2) Nói rơ người có thể nói, ắt là do thọ tŕ mà ra. “Tùy thuyết” ắt đều do “tận năng thọ tŕ” (có thể thọ tŕ trọn hết) mà có. Nếu chẳng thể thọ tŕ trọn hết, sao có thể mỗi chuyện đều là đạo, v́ đại chúng tùy thời, tùy chốn, tùy căn cơ để giảng nói kinh văn cho được!

          3) Nói rơ do có thể thọ tŕ trọn hết, ắt phải nên khi gặp cơ hội đáng nên nói, sẽ liền v́ người khác mà nói. Không chỉ có thể thọ tŕ trọn hết, mà c̣n càng thù thắng hơn.

          Do vậy, kinh văn trong phần trước và khoa này tuy khác biệt, nhưng ư nghĩa thật sự soi tỏ lẫn nhau, tức Như Lai thật sự có ư muốn cho ai nấy đă có thể nói, lại c̣n có thể thọ tŕ. Đă có thể thọ tŕ, sẽ có thể nói, chẳng thể tách rời thành hai đằng để hành riêng mỗi thứ! V́ sao biết ư này? Do phần sau nói hai chữ “thành tựu” liền có thể hiểu rơ. Bởi lẽ, đức Thế Tôn nói kinh pháp này, vốn là mong sao ai nấy đều thành tựu. Để thành tựu th́ phải tự độ, độ tha, viên măn hai điều lợi (tự lợi và lợi tha) th́ mới được! Nếu chỉ biết nói, hoặc chỉ biết thọ tŕ, tức là đối với tự lợi và lợi tha bị lệch về một bên, c̣n mong thành tựu chi nữa! V́ vậy biết: Kinh văn tuy nói tách ra, nhưng ư nghĩa thật sự nhất quán. Đọc kinh, nghe pháp, chớ nên chấp trước tướng văn tự, ắt phải nên lănh hội nghĩa chân thật như vậy. Đó gọi là “y nghĩa, chẳng y văn”.

Lại nữa, trong đoạn “tùy thuyết” trước đó có ư nghĩa hoàn toàn tương đồng với “độ trọn hết tất cả hết thảy chúng sanh” được nói trước hết ở đầu kinh. Có nghĩa là Bồ Tát phát nguyện, chưa thể độ ḿnh mà mong độ người khác trước. Độ người khác chính là độ ḿnh. Kế đó, nói “hà huống tận năng thọ tŕ” (huống hồ có thể thọ tŕ trọn hết), cũng có ư nghĩa hoàn toàn tương đồng với “phục thứ, Bồ Tát ưng vô trụ pháp nhi hành Lục Độ” (lại nữa, Bồ Tát hăy nên chẳng trụ vào pháp mà hành Lục Độ) ở đầu kinh, có nghĩa là tuy độ tha mà vẫn phải tự độ, nhưng tự độ vốn là v́ độ tha! Nếu chẳng lănh hội ư nghĩa “tự tha chẳng hai”, há c̣n có thể nói là “có thể thọ” ư? Há c̣n trông mong có thành tựu được ư? Đức Thế Tôn thuyết pháp như Ma Ni châu, phương diện nào cũng đều trọn vẹn. Nếu chẳng lănh hội như thế, há chẳng phải là cô phụ kinh văn này ư? Cần phải biết văn tự trong mỗi kinh không ǵ chẳng nói tột bậc châu đáo, tường tận, chặt chẽ. Rất sợ mọi người ơ hờ, hời hợt, hiểu biết nửa vời, chẳng thể hết sạch các kiến để lắng ḷng thấu hiểu, ắt đến nỗi chấp trước phiến diện, mê muội toàn thể, tự lầm, lầm người! Nói “y nghĩa” (nương theo ư nghĩa) tức là dạy mọi người phải dung hội, thông suốt, hiểu rơ ư nghĩa chân thật ở nơi đâu. “Chẳng y văn” (chẳng dựa theo văn tự, tức là chỉ hiểu theo ư nghĩa văn tự, chấp trước văn tự), tức là chớ nên nghe một lời, nửa câu, liền tách rời văn tự [khỏi ngữ cảnh], cắt xén ư nghĩa!

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2. Nói rơ nguyên do

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.1. Nói trực diện theo phương diện thành tựu

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Đương tri thị nhân, thành tựu tối thượng đệ nhất hy hữu chi pháp.

          ()須菩提!當知是人,成就最上第一希有之法。

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Hăy nên biết người ấy thành tựu pháp tối thượng, hiếm có bậc nhất).

 

          Pháp tối thượng hy hữu bậc nhất là pháp ǵ vậy? Chính là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Pháp ấy là pháp để bậc Cứu Cánh Giác tự chứng. Thành tựu pháp ấy cũng có nghĩa là “thành Phật”. Kinh Di Đà dạy: “Thích Ca Mâu Ni Phật năng vị thậm nan hy hữu chi sự, năng ư ngũ trược ác thế trung, đắc A Nậu Bồ Đề” (Thích Ca Mâu Ni Phật có thể làm chuyện hiếm có, rất khó, Ngài có thể trong đời ác ngũ trược, đắc Vô Thượng Bồ Đề). Hiếm có, rất khó, chính là hy hữu bậc nhất! Trọn chẳng có ai hơn được Phật, nên nói là “tối thượng”. Nếu tách ra để nói, A Nậu Bồ Đề nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chánh Giác: Trước nay chẳng giác, mà nay có thể trái trần, hợp giác, chẳng phải là hy hữu ư? Chánh Đẳng: Đẳng () có nghĩa là b́nh đẳng. Nay không chỉ tự giác, mà c̣n có thể giác tha. Tự và tha chẳng hai, Không lẫn Hữu đều chẳng chấp, pháp giới b́nh đẳng, đó là Đệ Nhất Nghĩa, cho nên nói là Đệ Nhất. Vô Thượng là đường tắt đạt đến chỗ có của báu, chứng Cứu Cánh Giác; đó gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Vô Thượng có nghĩa là tối thượng. Các bản chú giải cổ hồn hậu, đơn giản, nay thấy đó là lời lẽ xác đáng khiến cho [người đọc] biết nghĩa ấy. C̣n như chú giải của hậu nhân, hoặc dùng tam thân (Pháp, Báo, Hóa) để giải thích, hoặc dùng Tam Bát Nhă (Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, Thật Tướng Bát Nhă) để giải thích, tức là ư nghĩa thiếu thân thiết, viên măn vậy! “Thành tựu” nghĩa là nói có thể thành tựu pháp như vậy.

          “Thị nhân” (người ấy) tức là chỉ chung người có thể tùy thuyết kinh này, có thể thọ tŕ trọn hết kinh này, và nghe kinh mà có thể thọ tŕ, có thể tùy thuyết. Hai chữ “đương tri” (hăy nên biết) xuyên suốt các câu sau đó. Nếu nói theo câu này, sẽ là người cùng tu phước lẫn huệ như thế, ta lẫn người cùng độ, sẽ tiến thẳng đến chỗ có của báu, có thành tựu to lớn, chớ nên coi thường! Nếu biết người ấy thành tựu chẳng thể nghĩ bàn, sẽ biết phước đức ấy vượt xa kẻ dùng bảy báu đầy ắp vô lượng vô biên đại thiên thế giới để bố thí! Một đằng là hữu lậu, hữu vi; một đằng là vô lậu, vô vi, cho nên dẫn đến sự sai khác là ở chỗ này, có chi là lạ?

 

2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2. Dựa theo sự huân tập để kết lại

         

          (Kinh) Nhược thị kinh điển sở tại chi xứ, tắc vi hữu Phật, nhược tôn trọng đệ tử.

          ()若是經典所在之處,則為有佛,若尊重弟子。

          (Kinh: Nếu chỗ nào có kinh điển này, tức là chỗ ấy có Phật và các bậc đệ tử đáng tôn trọng).

 

          Chữ Kinh của Trung Hoa vốn có nghĩa là “đường lối”. “Điển” () nghĩa là khuôn phép. Những điều kinh này nói đều là khuôn phép chánh yếu chẳng thay đổi, là con đường giác ngộ đều cùng phải theo của người phát Bồ Đề tâm. Đi theo con đường ấy, vâng theo khuôn phép ấy, tự nhiên đến thẳng chỗ có của báu. V́ vậy, chỗ có kinh này chính là chỗ có của báu. Đă trở thành chỗ có của báu, cho nên Phật và hết thảy các hiền thánh, không vị nào chẳng ở đó. “Nhược tôn trọng đệ tử” là giống như nói “cùng với hết thảy các hiền thánh”. “Nhược” () [ở đây phải hiểu] “cùng với”. “Tôn trọng đệ tử”: Có người bảo đó là nói tới các vị đại đệ tử như Ca Diếp, Mục Liên. Có người bảo là nói tới các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền. Nói chung, chỗ đức Phật ngự liền có đại chúng vây quanh để Ngài v́ họ thuyết pháp, ví như các ngôi sao chầu hầu mặt trăng. Do vậy, “tôn trọng đệ tử” là nói chung hết thảy hiền thánh, Bồ Tát, La Hán đều được gồm trọn trong ấy, chẳng cần phân biệt chuyên nói về [những vị nào]. Kinh Đại Bát Nhă dạy: “Bát Nhă sở tại chi xứ, thập phương chư Phật thường tại kỳ trung” (chỗ có Bát Nhă, mười phương chư Phật thường ở nơi đó). V́ thế, muốn cúng dường Phật, hăy nên cúng dường Bát Nhă. Bát Nhă và Phật chẳng hai, chẳng khác! Biết mười phương chư Phật đều ở tại nơi ấy, sẽ biết hết thảy Bồ Tát, La Hán trọn khắp hư không tận pháp giới, không vị nào đều chẳng ở trọn hết tại đấy. Nói chung là nêu rơ sự thù thắng của kinh này, được quư trọng khắp nơi, đều được mọi người tôn kính đó thôi!

          Nh́n chung mấy khoa trên đây, trước là nói rơ chỗ thuyết kinh; kế đó là nói về người thọ tŕ. Đến đây, liền biết nguyên do v́ sao nói rơ nơi chốn và người [thuyết kinh], thật sự là để hiển lộ công năng của kinh này! Công năng của kinh chẳng có chi khác, chính là chánh trí Bát Nhă. V́ thế, hiển lộ [công năng của] kinh, lại c̣n thật sự khuyên mọi người cúng dường kinh này, đọc tụng kinh này, thọ tŕ kinh này, rộng v́ mọi người nói kinh này, để mong do văn tự mà khởi quán chiếu, chứng Thật Tướng. Đức Phật thuyết pháp, tầm mắt thấy trọn bốn phương, phương diện nào cũng đều trọn vẹn như thế đó!

          Lại nữa, thoạt đầu khi hiển lộ nơi chốn, bèn nói “đều nên cúng dường như tháp miếu của Phật”, tức là nói: Thuyết kinh chính là trụ tŕ Tam Bảo. Nay bèn nói hễ kinh ở chỗ nào, nơi ấy liền có Phật và hết thảy các vị hiền thánh, tức là nói về thường trụ Tam Bảo. Khoảng giữa bèn nói: “Người ấy thành tựu pháp tối thượng hy hữu bậc nhất”, ḥng nói rơ thành tựu tự tánh Tam Bảo. Nói gộp lại, đó là do trụ tŕ Tam Bảo mà chứng tự tánh Tam Bảo, thành tựu thường trụ Tam Bảo, cũng chính là do thường trụ nên trụ tŕ, do trụ tŕ nên thường trụ. Hơn nữa, thế nào là trụ tŕ? Thế nào là thường trụ? Hoàn toàn nương vào tự tánh để thành tựu mà thôi!

          Hơn nữa, phần trước nói thành tựu thù thắng nhằm hiển thị duyên do khiến cho phước đức thù thắng. Nay lại nói huân tập thù thắng nhằm hiển thị nguyên do của thành tựu thù thắng. V́ sao vậy? Do chỗ có kinh điển giống như chỗ có Phật, Bồ Tát, tức là người thọ tŕ, diễn nói chính là thân cận các vị đại thiện tri thức như chư Phật, Bồ Tát. Như thế th́ luôn luôn huân tập tự tánh, há có ai chẳng đạt được thành tựu to lớn ư?

          Lại nữa, thoạt đầu nói “như Phật tháp miếu”, v́ sao chỗ thuyết kinh lại giống như tháp miếu của Phật? Nay nói chỗ nào có kinh, Phật và hiền thánh đều ngự tại đó, há chẳng phải là nói rơ nguyên do “như Phật tháp miếu” trong đoạn trước ư? Nói chung, đă nói “như Phật tháp miếu”, lại nói “Phật và hiền thánh đều hiện diện”, đều nhằm nói rơ kinh này là then chốt đối với mạng mạch của Tam Bảo! V́ thế, chẳng ngại nói cặn kẽ đôi ba lượt, khiến cho hết thảy chúng sanh tôn trọng kinh này vậy!

          Lại nữa, phần trước nói thành tựu rồi liền nói tiếp: Chỗ có kinh điển chính là chỗ có Phật và các bậc đệ tử đáng tôn trọng. Đấy là lại nói rơ sự thành tựu của người ấy tối thượng như Phật. Kế đó, cũng giống như hết thảy hiền thánh, là hy hữu bậc nhất. V́ sao vậy? Người phát vô trụ tâm sẽ chứng cái quả vô vi, cho nên hết thảy hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt! V́ thế, thọ tŕ, diễn nói kinh Vô Vi Thật Tướng, há chẳng thành tựu pháp ấy hay sao?

          Kinh văn thuộc mấy khoa này, văn tự chẳng nhiều, diệu nghĩa vô cùng, khó nêu tỏ trọn hết được! Ở đây, bất quá nói đại lược như đă trần thuật trên đây, tùy thuộc mỗi người khéo lănh hội mà thôi!

          Hơn nữa, phần trước đă so sánh để hiển thị công năng của kinh, dùng chuyện bố thí của báu trong một đại thiên thế giới để so sánh, nhằm hiển thị phước đức ấy. Nay dùng chuyện thí của báu trong vô lượng vô biên đại thiên thế giới để so sánh ḥng hiển thị phước đức này. V́ sao trước sau sai biệt dường ấy, nghĩa ấy là như thế nào? Do sự hiển thị thù thắng trong phần trước là nói sau khi [người nghe pháp này] đă có thể sanh tín tâm, lại c̣n nói hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra, nhằm nêu rơ: Nếu có thể nghe chương cú này, tín tâm thanh tịnh, sẽ tiến hướng Phật trí. vậy, có phước đức như thế đó. Nhưng bất quá là cái tâm vừa mới phát sanh tịnh tín, chưa thể thâm nhập; do vậy, chỉ dùng chuyện thí của báu trong một đại thiên thế giới để hiển lộ sự thù thắng.

          Nay th́ khác hẳn, nói tới lúc sau khi đă khai giải. Khai giải như thế nào? Đó chính là “sanh tâm thanh tịnh, chẳng trụ vào đâu mà sanh cái tâm ấy”. Lại c̣n nói: Đương tri thị nhân thành tựu tối thượng đệ nhất hy hữu chi pháp” (Hăy nên biết người ấy thành tựu pháp hy hữu tối thượng bậc nhất). Lại nói tắc vi hữu Phật, nhược tôn trọng đệ tử” (tức là có Phật, và các đệ tử đáng tôn trọng) nhằm chỉ rơ: Nếu có thể lănh ngộ nghĩa chân thật “vô trụ sanh tâm, sanh tâm vô trụ”, sẽ rất có khả năng đạt được thành tựu to lớn. Do hiểu ư nghĩa của kinh, bèn nắm được cương yếu, so với người trước đó chỉ có tín tâm, chưa đạt được cương yếu, sẽ khác biệt một trời, một vực! V́ thế, dùng chuyện bố thí chất báu trong vô lượng vô biên đại thiên thế giới để so sánh ḥng hiển lộ sự thù thắng. Đó là nói rơ: Người ấy phước đức vượt trội người trước vô lượng vô biên lần! V́ sao vậy? Một đằng là mới phát sanh tín tâm, chỉ biết danh tự thô thiển. Một đằng là hiểu sâu xa nghĩa kinh, dần dần có thể nhập quán. Cần phải biết: Kinh này chuyên nói về Thật Tướng, chỉ thẳng vào bản tâm. Người thọ tŕ nếu có thể thật sự thẳng thừng gánh vác, nương theo kinh mà khởi quán, sẽ sanh phước, diệt tội, mau chứng Bồ Đề, công đức há có thể diễn tả, suy lường nổi ư? Nhưng trong nửa bộ đầu, đă có năm lượt so sánh để hiển thị, nếu công năng của kinh có lớn hay nhỏ th́ thật ra là do công hạnh của người tŕ tụng sâu hay cạn mà tạo thành sự sai biệt ấy, chẳng phải là do kinh có công năng sai biệt!

 

2.2.2.2.2.1.2.3. Xin dạy tên kinh để thọ tŕ

2.2.2.2.2.1.2.3.1. Thỉnh cầu

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Đương hà danh thử kinh? Ngă đẳng vân hà phụng tŕ?

          ()爾時,須菩提白佛言:世尊!當何名此經?我等云何奉持?

          (Kinh: Lúc bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nên đặt tên kinh này là ǵ? Chúng con nên phụng tŕ như thế nào?)

 

          Từ đây trở đi, văn lẫn nghĩa đều tinh tế, hăy nên nghe kỹ. Do văn tự liên quan trước sau, hăy nên gộp chung phần trước và sau để xem, để nói bổ trợ lẫn nhau th́ ư nghĩa mới thấu triệt. Do tổng hợp phần trước và phần sau để nói, cho nên ư nghĩa phức tạp, nghiêm mật, nếu ơ hờ nghe, sẽ khó thể lănh hội!

          “Nhĩ thời” (lúc bấy giờ) là lúc nói những lời trước đó đă xong, ngụ ư: Khi đă lănh hội được cương yếu, sẽ hành tŕ, chẳng để chậm trễ tí nào! Đó gọi là “lúc hiểu chính là lúc hành”. Người kết tập kinh đặc biệt nêu ra chữ “nhĩ thời” là do ư này!

          Hơn nữa, trong kinh này, hễ nói “nhĩ thời” và câu “Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn” đều có ư nghĩa khởi đầu một điều quan trọng (nói thông tục là “mở đầu một điều khác”), nhằm biểu thị những điều được nói trong khoa này cao hơn những phần trước để người nghe chú ư. Nhưng lời lẽ tuy là khởi đầu điều khác, ư vẫn dựa trên các ư nghĩa trước đó! Do trong phần trên đă nhiều lượt phô bày phước đức thù thắng của kinh này, thậm chí “chỗ có kinh này th́ Phật và hiền thánh đều cùng trụ tại đó!” Thù thắng như thế, chẳng biết kinh này nên đặt tên như thế nào? Nhiều lượt nói thọ tŕ kinh này, tức là một bài kệ gồm bốn câu v.v… đều có phước đức cực lớn! Cho đến có thể thọ tŕ trọn hết, sẽ thành tựu pháp Vô Thượng Bồ Đề. Như vậy th́ nên tŕ như thế nào? Đấy là điều người học đều cấp thiết mong biết; do vậy, hỏi kinh này nên đặt tên là ǵ? Chúng con nên phụng tŕ như thế nào?

          Các kinh khác, khi hỏi tên kinh, phần lớn đặt ở cuối bản kinh; nay chỉ ḿnh kinh này nói ở khoảng giữa là v́ lẽ nào? Cần phải biết: Nghĩa lư trong nửa bộ sau của kinh này là mở rộng từ nửa bộ trước. Các nghĩa ấy trong nửa bộ trước đă có, bất quá chưa nói tường tận đó thôi! Nếu trưởng lăo chẳng lại thưa hỏi th́ nói nửa bộ trước xong là đă có thể kết thúc. Do v́ lẽ ấy, tuy dường như tên kinh này được nói ở khoảng giữa, nhưng thật ra là cuối nửa bộ trước, vẫn chẳng khác ǵ các bộ kinh khác vậy!

          “Đương hà danh thử kinh” tức là nên dùng tên ǵ để đặt tên cho kinh này. Cũng có thể đảo câu này thành: “Thử kinh đương hà danh?” (kinh này nên đặt tên là ǵ?) Nghĩa đă thù thắng, tên kinh ắt phải cũng thù thắng. Ư nói: Tiếp đó, sẽ có tên kinh ắt phù hợp thực chất. Nếu biết tên gọi ấy, sẽ càng có thể nh́n vào tên mà nghĩ đến ư nghĩa. Phụng” () là tuân theo, nương vào. “Tŕ” () tức là tu tŕ, hành tŕ. Xin dạy pháp để hành tŕ để đại chúng thuận tiện tuân theo, nương vào, do vậy nói “ngă đẳng phụng tŕ” (chúng con phụng tŕ). Phụng tŕ giống như nói “phụng hành”. Hễ nói đến Hành, liền có hai nghĩa: Một là tự hành, hai là khuyên người khác hành. V́ thế, cổ nhân giải thích ư nghĩa của chữ Tŕ là “nhậm hoằng” (đảm nhiệm hoằng dương). Nhậm” () là đảm nhiệm, tức là nói đến sự tự hành. “Hoằng” () là hoằng dương, tức là nói khuyên bảo người khác. Nói tới hành tŕ, liền dẫn dắt tới những điều đă nói trong phần trên.

          Hăy thử xem phần trên kể từ chỗ đàm luận tường tận th́ vừa mở đầu liền bảo “hàng phục cái tâm”. Hàng phục như thế nào? Chính là phát đại nguyện, hành đại hạnh, chẳng trụ trong cảnh giới lục trần, rộng hành Lục Độ, độ trọn hết vô biên chúng sanh thành Phật, nhưng chẳng giữ lấy tướng độ sanh. Cho đến pháp và phi pháp đều chớ nên giữ lấy. Bóc tách từng tầng một như thế. Càng bóc, càng vi tế, kết quy vào “chẳng trụ lục trần, sanh tâm thanh tịnh” (tám chữ này tức là nói gọn của “sanh tâm thanh tịnh”“tâm chẳng trụ trong lục trần”. Đó là cước chú cho câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”). Phàm đủ loại nghĩa môn như đă nói đều là quán môn, đều là hạnh môn, tức là “đều nên phụng tŕ”. Vậy th́ đức Thế Tôn khai thị đại chúng nên phụng tŕ như thế nào cũng đă cực tường tận, cực rơ ràng! V́ sao trưởng lăo Tu Bồ Đề ở đây lại hỏi “phụng tŕ như thế nào?” Há có phải là chỉ nhằm khiến cho [thính chúng] lănh giải, phụng tŕ các nghĩa đă nói trước đó ư? Hay là phụng tŕ những điều đă nói trên đây c̣n chưa trọn hết, nên nay lại thỉnh lần nữa? Vừa mới nói là ắt cần phải nh́n gộp chung phần trước và phần sau để nói tổng hợp ở ngay chỗ này! Nếu chưa thấu triệt các chỗ ấy, ắt sẽ phụng tŕ chẳng đắc lực, không chỉ dễ phát sanh các nỗi hiểu lầm như trong phần trước đă nói mà thôi! Cần phải biết nay trưởng lăo thưa hỏi “phụng tŕ như thế nào” là riêng có thâm ư:

          1) Đức Phật thuyết pháp, không ǵ chẳng Lư Sự viên dung. “Viên dung”: Nói Lư liền gồm thâu Sự, nói Sự liền chứa đựng Lư. Đó gọi là “ngoài Lư chẳng có Sự, ngoài Sự chẳng có Lư”. Do vậy, người học Phật ắt cũng phải giải hạnh cùng tiến. Giải thuộc bên Lư, Hạnh thuộc bên Sự, ắt cần phải cùng tiến th́ mới viên dung tương ứng. Nhưng căn tánh của chúng sanh ngàn muôn sai khác. Có kẻ vừa giải liền hành, cũng có người tuy đă giải mà chưa thể hành, hoặc tuy hành nhưng chưa thể tương ứng. Cần phải biết: Giải mà chưa hành, hoặc hành mà chưa tương ứng, sẽ chưa phải là thật sự giải! Thật sự có thể lănh giải, sẽ chẳng đợi khuyên mà tự hành. Hành cũng tự có thể tương ứng. Trưởng lăo muốn hạng người ấy hiểu sâu hơn, cho nên lại thưa hỏi; đấy là tấm ḷng đau đáu hết sức thiết tha!

          2) Thưa hỏi tên kinh, tức là thỉnh cầu khai thị tổng đề của đủ loại ngôn thuyết, chương cú trước đó. Vậy th́ thưa hỏi “phụng tŕ như thế nào?” cũng vốn là thỉnh cầu khai thị các nghĩa đă nói trước đó có pháp tổng tŕ hay không? Nếu đạt được tổng tŕ, tŕ tổng đề ấy, há chẳng phải là càng then chốt, trọng yếu hơn ư? Đó gọi là “nghe pháp chẳng chán”. Hiểu được tầng đạo lư thứ nhất ở đây, sẽ biết trước đó tuy chưa thưa hỏi phụng tŕ như thế nào, hoàn toàn chẳng phải là chuyên khiến cho [thính chúng] lănh ngộ, thấu hiểu, mà là đă có sự phụng tŕ được gồm thâu trong ấy! Nay tuy thưa hỏi phụng tŕ, cũng có ư nghĩa cầu lănh ngộ, thấu hiểuđược bao gồm trong ấy. Hiểu được tầng đạo lư thứ hai, sẽ biết phần trước đă có phụng tŕ, nay cũng chẳng ngại ǵ thỉnh lần nữa! Như thế th́ trước sau không chỉ chẳng xung đột, chẳng trùng lặp, mà lại c̣n có thể nêu rơ nghĩa trong phần trước!

          Nói tới chỗ này, lại sợ người nghe sanh nghi, nay sẽ nói một lời càng triệt để hơn. Hỏi: Những điều đă nói trước đó đă là mỗi mỗi đều nên phụng tŕ, nay lại thưa hỏi rành rẽ phụng tŕ như thế nào? V́ sao phán định khoa lớn thứ nhất là sanh tín, nay khoa thứ hai bèn phán định là khai giải; tới khoa lớn thứ ba mới phán định là tấn tu? (Trong phần nói tường tận, trước hết phán định hai tổng khoa: Một là dựa theo cảnh để giảng vô trụ; hai là dựa theo tâm để giảng vô trụ. Lại phán định hai khoa ấy thành bốn phần, tức một là sanh tín, hai là khai giải, ba là tấn tu, bốn là dùng sự thành tựu để chứng minh).

          Đáp: Kể từ lúc mở đầu kinh trở đi, quả thật đều có thể khởi tu, nhưng pháp tu tŕ rốt ráo thuộc khoa lớn thứ ba. V́ thế, chỉ đặt tên cho khoa lớn thứ ba là Tấn Tu. Hơn nữa, đấy là dựa theo kinh để phán định, chẳng phải là dám nói ṃ! Như trong đại khoa thứ nhất, chỉ ra rơ ràng tŕ giới, tu phước, có thể sanh khởi tín tâm. Đó là nói đến chỗ sơ khởi của tín tâm vậy. V́ thế, phán định là Sanh Tín. Khoa lớn thứ hai, sau khi thỉnh dạy tên kinh để thọ tŕ, dạy rơ “hăy thấu hiểu nghĩa thú sâu xa”, tức là nói rơ: Không chỉ sanh tín, mà c̣n phải khai giải. Do vậy, phán định là Khai Giải. Cho tới khi khoa lớn thứ ba sắp xong, lại chỉ dạy rơ ràng dùng không có “ta, người, chúng sanh, thọ giả” để tu hết thảy thiện pháp, liền đắc A Nậu Bồ Đề. Lại nói: Như Lai nói thiện pháp chẳng phải là thiện pháp, th́ gọi là thiện pháp. Tức là ngay cả tướng thiện pháp cũng chẳng giữ lấy! Đấy gọi là pháp tu rốt ráo. Tu như thế được gọi là rốt ráo, do phù hợp với nghĩa Như của các pháp. V́ vậy, phán định là Tấn Tu.

          Cần phải biết: Chẳng nói là Khởi Tu, mà nói là Tấn Tu, có ư nghĩa sâu xa. Bởi lẽ, hiểu rơ nghĩa sâu bèn tu tŕ tiến cao hơn. Đồng thời lại nói rơ các nghĩa trước đó hoàn toàn chẳng phải chỉ là sanh tín, khai giải, chẳng phải là khởi tu. Lại c̣n có một nghĩa chớ nên không biết: Ba sự Tín, Giải, Hành, chẳng thể nói nhất định là không có thứ tự, [mà cũng] chẳng thể nói nhất định là có thứ tự! Ắt phải là người có tín tâm th́ sau đấy mới nghiên cứu, t́m cầu Phật pháp. Cũng ắt phải hiểu rơ nghĩa chân thật trong Phật pháp rồi sau đấy mới biết chân thật tu hành. Điều này cố nhiên là rơ ràng có thứ tự trước sau. Nhưng luận định khít khao sự thật, nếu chẳng có mảy may công hạnh, sẽ là chướng sâu, huệ cạn, quyết chẳng thể lănh hội Phật pháp rất sâu. Ắt phải là công hạnh càng tiến, hiểu lư sẽ thuận theo đó mà càng sâu! Vả nữa, nếu chẳng phải là có giải và có hạnh, tín tâm cũng dường có, dường không, sẽ chẳng thể nói là tín căn thành tựu! Do vậy nói rằng “tín, giải, hạnh cùng tiến đồng thời”, há có thứ tự trước sau để có thể nói ư? Đôi khi, có người vô duyên cớ mà có thể tin Phật, hoặc thoạt đầu chẳng học Phật, vừa nghe Phật pháp rất sâu liền hiểu rơ. Cũng có người chẳng hiểu Phật pháp mảy may mà có thể phát tâm tinh tấn, dũng mănh tu hành. Đấy đều là những vị túc thế vốn sẵn có công hạnh, nay gặp nhân duyên, bèn lập tức phát hiện, chẳng phải là ngẫu nhiên!

          Nay dùng “chứng” (chứng cớ) để nói, “chứng” tức là bằng chứng. Phàm chuyện mắt đích thân trông thấy, thân đích thân làm được, th́ gọi là Chứng. V́ thế, ắt phải chân thật làm đúng như pháp th́ mới gọi là Hành. Chân thật trông thấy Phật lư th́ mới gọi là Giải. Chân thật biết lợi ích do quy y Tam Bảo th́ mới gọi là Tín. Như vậy th́ hễ nói đến Tín, Giải, Hạnh, đều đă chứa đựng ư nghĩa Chứng, nhưng một mực chẳng gọi Chứng. Chỉ có chứng Pháp Thân th́ mới dùng chữ Chứng để gọi tên. Có thể thấy [nói như vậy chính] là phân biệt trên danh nghĩa! Nếu luận theo thực tế, không ǵ chẳng phải là chứng! Dùng ngay chứng Pháp Thân để nói, thế nào là chứng? Cũng chẳng qua là công hiệu của hai chuyện giải và hạnh! Giải hạnh đạt đến rốt ráo, th́ gọi là “chứng đắc rốt ráo”. Trừ giải hạnh ra, chẳng có Chứng để có thể nói. Không chỉ là như thế, kinh này dạy: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng” (Tín tâm thanh tịnh bèn sanh ra Thật Tướng). Thật Tướng tức là Pháp Thân. Nói cách khác, Pháp Thân hiển hiện cũng bất quá là tín tâm thanh tịnh đó thôi! Do vậy bèn nói: Há chỉ tín, giải, hạnh, chứng trọn chẳng có thứ tự trước sau? Thật ra, trên danh tướng, tợ hồ có bốn chuyện sai biệt, nhưng trên thực tế, chẳng hề sai biệt mảy may! Bốn sự hóa thành một chuyện, đó gọi là “b́nh đẳng”; tức là do bốn chữ ấy, có thể ngộ do b́nh đẳng mà thấy sai biệt, từ sai biệt mà thấy lư b́nh đẳng.

          Nói cao hơn một bậc nữa, khi Thật Tướng hiển hiện, duy nhất thanh tịnh, ngay cả hai chữ Tín Tâm cũng chẳng có dấu vết, tức là thật sự b́nh đẳng rốt ráo, Như Như bất động! V́ thế, nếu hiểu Phật lư, tùy tiện lấy bất cứ một chuyện nào, đều có thể tột cùng rốt ráo, quy vào b́nh đẳng. Như trong phần kinh văn nói về Sanh Tín, hễ nói một niệm sanh tịnh tín th́ là nói tới sự tướng “sanh tín”, cho nên bảo: Một niệm tương ứng vẫn chưa phải là tịnh niệm tiếp nối. Nếu nói rốt ráo th́ lời ấy có thể sâu không đáy, rộng vô biên. V́ sao nói vậy? Hễ sanh tịnh tín liền giống như sanh tâm thanh tịnh, có cùng một nghĩa vị với tín tâm thanh tịnh. “Một niệm” là chỉ riêng một niệm ấy. Niệm ấy chẳng có ǵ khác, chính là tín tâm thanh tịnh. “Sanh” chính là hiển hiện. “Tắc sanh tịnh tín” (bèn sanh ḷng tin thanh tịnh) tức là tịnh tâm hiển hiện. Nói như thế th́ một lời ấy chính là chứng đắc tánh thể Như Như bất động vậy! Những câu khác đều có thể lănh hội như thế. Do vậy, nghe một lời, hoặc nửa bài kệ, đều có thể chứng đạo. Chớ nên không biết lư này!

          Nhưng giảng kinh, thuyết pháp, có khi lại chẳng thể không tùy thuận tướng văn tự để nói. Nếu vừa mở đầu, đă bàn ngay vào nghĩa sâu, đâm ra sẽ khiến cho người nghe chẳng có ǵ để có thể tuân theo! Lư này lại chớ nên không biết! Trong phần trước, khi nói câu này, chẳng thể ngay lập tức nói rơ lư ấy là v́ lẽ này. Nay đă nói dần dần sâu hơn, liền không ngại thuận tiện nêu ra, khiến cho [thính chúng] biết Phật pháp không ǵ nông cạn mà chẳng sâu xa, đă sâu mà lại có thể diễn tả cạn”. Đúng là chẳng có thứ tự sâu hay cạn để nói được! V́ thế, chớ nên chấp giữ tướng ấy, mà nói là sai. Chỉ v́ tiếp dẫn chúng sanh, khơi gợi, hướng dẫn cho họ tiến cao hơn, lại chẳng thể không giả lập một thứ tự cạn sâu, cùng với đủ thứ chuyện trang nghiêm. Do vậy, chẳng thể đoạn diệt tướng ấy, cho nên nói là “thị danh”.

          Hăy để lại đó, nay chẳng nói kinh văn, mà lại nói chệch ra ngoài đề, nói lan man tín giải hạnh chứng lắm lời chừng ấy, là v́ sao vậy? Hăy nên biết đấy chẳng phải là nói lời thừa thăi, mà chính là để nêu tỏ ư nghĩa của bốn chữ “vô hữu định pháp” (không có pháp nhất định) đă nói trong phần kinh văn trước đó xuyên suốt hết thảy, khiến cho đại chúng lănh hội nghĩa ấy, ngơ hầu sẽ biết chuyện nào cũng đều là đạo. Nương theo tín giải hạnh chứng để nêu tỏ, ḥng chỉ bày chuyện ǵ cũng đều là như thế, không riêng ǵ Phật pháp là như thế! Hơn nữa, từ đây trở đi, nghĩa thú càng tiến nhập sâu xa, vi tế hơn. Nếu chẳng dâng ra đôi chút ư nghĩa này, trong tâm sẽ chẳng thể linh hoạt, đối với nghĩa thú sâu xa, vi tế, sẽ chẳng dễ lănh hội! Hăy nên biết bốn đoạn văn “Bát Nhă chẳng phải là Bát Nhă” trong phần sau chính là nói rơ “chẳng có pháp nhất định”. Tôi nay nói như thế, chính là để chiếu ứng sẵn với phần sau. Cần phải biết: Do chẳng có pháp nhất định, cho nên chẳng thể chấp Hữu, chẳng thể chấp Vô. Hễ kinh nói “tắc phi” đều nhằm nói rơ “chớ nên chấp Hữu”. “Chớ nên chấp Hữu” là khiến cho [hành nhân] hội quy tánh thể. V́ sao vậy? Tánh vốn vô tướng, như thái hư không, há có thể dùng danh tự, ngôn ngữ để cầu? Ắt cần phải ly tướng phản chiếu, ngơ hầu chứng nhập. Hễ nói “thị danh” chính là chỉ bảo chớ nên “chấp Vô”. Chớ nên chấp Vô tức là dạy tuy hội quy tự tánh, nhưng cũng chẳng hoại danh tướng của Giả Hữu! V́ sao vậy? Do tánh vốn vô tướng mà vô bất tướng. Tướng chính là Dụng của tánh thể; hễ có Thể ắt có Dụng. Như cái Thể của thái hư không, cố nhiên là rỗng tuếch, nhưng vạn tượng sâm la, hết thảy các tướng quả báo thuộc y báo và chánh báo đều từ trong ấy mà hiện ra. Nếu chẳng có muôn h́nh tượng, [hư không] liền trở thành cái Không trơ trơ, cũng chẳng đáng coi là thái hư không vậy! Chỉ là chẳng chấp giữ các tướng ấy, hư không há có tổn hại ǵ! Sao lại nói “tuyệt đối vô tướng”, cũng há cần phải diệt tướng ấy ư? Giữ lấy nghĩa ấy để tu hành, th́ muốn thấy bản tánh, ắt phải nên ĺa danh, tuyệt tướng, phá ngă kiến.

          Ngă kiến chẳng trừ, sẽ sanh cái tâm phân biệt, khởi niệm bèn chấp tướng. Nhưng ngă kiến ấy chính là gốc bệnh từ vô thỉ tới nay, chẳng dễ phá trừ, ắt phải nên chiếu theo pháp do đức Phật đă nói, một mặt phản quán nội chiếu, dứt trừ phan duyên vọng tưởng; mặt khác lại nên tuân theo các thứ sự tướng nghi quỹ, lễ bái, sám hối, cùng với bố thí, tŕ giới v.v… ḥng cầu tiêu nghiệp chướng, khai phát bổn trí, khiến cho tín tâm tăng trưởng, giải hạnh thành tựu, ngơ hầu chướng trừ, tánh hiển. Nhưng khi hành, tâm hăy nên đừng chấp sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thấu hiểu tánh của một niệm tâm ấy cùng với chư Phật và chúng sanh vốn là một Thể. Cái Thể ấy vốn không tịch; sau đấy, cảm ứng thần tốc, tự thành tựu dễ dàng! Phàm khi tu nhân, đă có thể chẳng giữ lấy tướng, mà cũng chẳng diệt tướng, chẳng hề chấp vào hai bên, phù hợp Trung Đạo, cho nên cảm ứng to lớn, mà thành tựu cũng to tát. Do vậy, sau khi thành tựu, có thể chẳng rời đạo tràng mà thân trọn khắp mười phương, hiện các thứ cơi trang nghiêm để phổ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Đó gọi là vô tướng mà chẳng phải là không có tướng, chẳng phải không làm mà là không làm!

          Suy rộng hơn để nói, vâng giữ nghĩa ấy để làm người, tấm ḷng rộng răi, chẳng vướng mắc phiền năo, đạt được tự tại, cũng biết ngôn hạnh cẩn trọng, chẳng lầm nhân quả mà không vướng mắc. Giữ nghĩa ấy để xử thế, sẽ biết “vạn sự đều là Không”, liên quan ǵ đến ta, mặc cho kẻ khác khuấy sóng dậy gió, ta có thể ngồi câu vững vàng trên chiếc thuyền chài, mà cũng có thể biết nhân t́nh thế thái, qua lại lăng xăng, [dẫu gặp] an, nguy, khổ, lạc, vẫn có thể an vui trong từng cảnh ngộ. Dùng nghĩa ấy để gánh vác trách nhiệm lớn lao, làm đại sự. Do chẳng chấp tướng, tuy sự đưa đến liền ứng, nhưng tâm t́nh thảnh thơi, chẳng bị lay động. Do tướng chẳng đoạn diệt, tuy tâm chẳng chấp tướng, mà lớp lang rành rành, chẳng hề phế sự mảy may. Như thế há chẳng phải là “tắc phi, thị danh”, đâu đâu cũng là đạo ư? Đúng là “đạo chẳng xa người, người tự xa cách” vậy! Đức Phật vốn v́ độ đời mà đến, cho nên pháp do Ngài nói ra, không ǵ chẳng nhiếp trọn hết thảy thế gian và xuất thế gian. Chỉ cần dung hội, quán thông nghĩa chân thật như thế, th́ chuyện ǵ cũng đều có thể phụng tŕ, lúc nào cũng đều là tu hành, ở đâu cũng đều được thọ dụng, chỗ nào cũng đều là Phật pháp. Do vậy, Phật pháp được gọi là Pháp Bảo, kinh này lại càng là pháp bảo vô thượng. Thâu thập những lời lẽ “thừa thăi” chỉ nhằm tuyên dương pháp bảo vô thượng này mà thôi!

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2. Chỉ dạy

 

          Chia thành ba phần:

          1) Nêu chung tên kinh để thọ tŕ.

          2) Nêu tường tận nguyên do.

          3) Kết lại bằng cách nói rơ phước do thọ tŕ.

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.1. Nêu chung tên kinh để thọ tŕ

2.2.2.2.2.1.2.3.2.1.1. Nêu tên gọi Năng Đoạn

 

          (Kinh) Phật cáo Tu Bồ Đề: - Thị kinh danh vi Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật.

          ()佛告須菩提:是經名為金剛般若波羅蜜。

          (Kinh: Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: - Kinh này tên là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật).

         

          Bảy chữ này chính là tổng đề của cả bộ kinh, trong phần mở đầu đă giải thích ư nghĩa tường tận. Nay nói đại lược. Bát Nhă (Prajñā) được phương này dịch là Trí Huệ. Nói theo nhân là Huệ, nói theo quả là Trí. Nhân quả như một; v́ vậy, dịch chung ư nghĩa là Trí Huệ. Ba La Mật (Pāramitā) được phương này dịch là Đến Bờ Kia; có trí huệ ấy bèn có thể liễu sanh tử, nhập Niết Bàn. Giải thích như vậy th́ Ba La Mật chẳng có ǵ khác, chính là Bát Nhă. Trí huệ ấy lại chẳng giống thế trí biện thông, mà chính là Phật trí, Phật huệ, được gọi là “tri kiến của Phật”,“trí huệ đạt tới bờ kia”. Giải thích như thế th́ Bát Nhă chẳng phải là thứ chi khác, mà chính là Ba La Mật. Kim Cang là thí dụ. Kim Cang (Vajra) là vật cứng chắc, sắc bén nhất, có thể cắt đứt hết thảy. Do nó cứng chắc, hết thảy các vật chẳng thể phá hoại nó. Do nó sắc bén, nó có thể phá hoại hết thảy các vật. Dùng nó để sánh ví Bát Nhă Ba La Mật như đống lửa to, bốn phía đều chẳng thể tiếp xúc, có thể đoạn hết thảy các phiền năo.

          Phiền năo (Kleśa) là ǵ? Chính là Kiến Tư Hoặc. Kiến Hoặc là thân kiến, biên kiến, tà kiến, và hai thứ thủ (Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến). Quan trọng nhất là Thân Kiến và Biên Kiến. Thân Kiến tức là ngă kiến. [Đối với] Tiểu Thừa, [ngă kiến] chuyên chỉ [chấp trước đối với] sắc thân do Tứ Đại, Ngũ Uẩn giả hợp, c̣n Đại Thừa th́ [ngă kiến] chỉ chung [chấp trước đối với] pháp và ngă. Nếu chấp giữ pháp tướng, phi pháp tướng, tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả, cho nên nói là Pháp Ngă. Ba thứ “người, chúng sanh, thọ giả” đều do chấp ngă mà dấy lên; nói Ngă bèn gồm thâu các thứ khác. Đối với Biên Kiến th́ Tiểu Thừa chuyên nói tới đoạn kiến và thường kiến do Thân Kiến khởi lên, Đại Thừa th́ kiêm chỉ hai bên Không và Hữu của hết thảy các pháp. Hễ chấp Có, bèn giữ lấy pháp, tức là thường kiến. Chấp Không liền giữ lấy phi pháp, tức đoạn kiến. Tư Hoặc tức là tham, sân, si, mạn, nghi; đấy là căn bản. Do vậy, sanh khởi keo kiệt, ghen ghét v.v… Các căn bản phiền năo ấy đều do bệnh căn từ vô thỉ tích tập sâu chắc, đến nỗi trôi lăn trong lục đạo, chịu khổ vô cùng! Nay muốn thoát ĺa nỗi khổ ấy, chẳng đoạn gốc bệnh ấy, sẽ chẳng thể! Đoạn như thế nào? Chẳng nhờ vào Kim Cang huệ kiếm này, sẽ chẳng thể. Hơn nữa, kinh này là hội thứ chín được nói trong kinh Đại Bát Nhă. Các hội đều nói Bát Nhă, tức là “đều có thể đoạn”. Nay riêng bộ này thêm danh xưng Kim Cang, có thể thấy nghĩa lư của bộ này càng tinh yếu, càng cứng chắc, càng sắc bén, càng có thể đoạn vậy!

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.1.2. Chỉ dạy cách tŕ kinh

 

          (Kinh) Dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng tŕ.

          ()以是名字,汝當奉持。

          (Kinh: Ông nên dùng danh tự ấy để phụng tŕ).

 

          Tám chữ này chính là dạy hăy nh́n vào danh xưng, suy nghĩ ư nghĩa, do danh mà thấu hiểu để phụng tŕ, chẳng phải là nói “tŕ danh tự ấy”! Sợ có người hiểu lầm, cho nên tiếp đó, lại tự giải thích nguyên do. Phải biết nghĩa lư được nói rơ trong kinh này chính là “hăy nên chẳng trụ vào đâu”, nhưng căn bệnh của chúng sanh là chỗ nào cũng chấp! “Chấp” tức là trụ. Do căn bệnh ấy của chúng sanh quá sâu; v́ vậy, vừa mở miệng liền nói “hàng phục”. Phàm nói “chẳng nên giữ lấy, chẳng nên trụ” th́ đều là ư nghĩa hàng phục. Tới đây lại nói “dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng tŕ” (ông nên dùng danh tự ấy để phụng tŕ) chẳng khác nói “các vị hăy nên vâng theo nghĩa ‘có thể đoạn’ để hành tŕ”. Lại c̣n chẳng khác nói “các vị hăy nên vâng giữ Kim Cang Bát Nhă để hàng phục”.

          Trong Kiến Tư Hoặc, ngă kiến làm gốc. Do vậy, chỗ nào cũng đều chấp. Bởi đó, sanh ra đủ loại Hoặc, tạo đủ loại nghiệp, hứng chịu đủ loại khổ. Do vậy, phải gấp rút đoạn trừ cũng chính v́ lẽ này. Ngă kiến đă trừ th́ Phiền Năo Chướng (Hoặc) liền trừ, mà Nghiệp Chướng, Báo Chướng cũng thuận theo đó mà đều trừ. Ba chướng tiêu trừ, ắt ba thân Pháp, Báo, Ứng đều hiện trọn vẹn. Do vậy, phụng tŕ như thế chính là giải quyết từ căn bản, có thể đạt được cái quả rốt ráo thù thắng, há có phải chỉ liễu sanh thoát tử mà thôi ư? Do vậy, kinh này ở nơi đâu, nơi đó tôn quư, ở nơi người th́ người được tôn trọng. Chúng ta may mắn sao, được nghe kinh pháp vô thượng này, có thể biết là ắt đă từng gieo các thiện căn nơi vô lượng ngàn vạn chư Phật. May mắn, mừng rỡ khôn xiết, há nên tự coi rẻ chính ḿnh! Nhưng thiện căn như vậy mà vẫn lê vác cái đăy da thối này ngụp lặn trong biển khổ! Cũng có thể biết ắt là do nhiều đời tới nay, hoặc là coi thường, chưa từng đọc tụng, hoặc tuy đọc tụng mà chẳng thể thọ tŕ, hoặc tuy thọ tŕ mà chẳng thể như pháp! Hễ nghĩ đến chuyện này, khôn ngăn thẹn hổ! Nay may mắn được Phật quang gia bị, lại nghe pháp này, lại đọc kinh này, nếu vẫn biếng nhác, ơ hờ như trước, tương lai mờ mịt, lại chẳng biết phải luân hồi bao nhiêu lượt, tự chuốc khổ sở! Hễ nghĩ tới điều này, khôn ngăn run sợ! Cổ đức nói: “Thử thân bất hướng kim sanh độ, cánh hướng hà sanh độ thử thân?” (Kiếp này nếu chẳng độ thân, đời nào mới độ cho xong thân này?) Đáng sợ lắm thay!

          Trong đoạn này, hai chữ Đoạn và Tŕ càng có nghĩa trọng yếu. Bởi lẽ, Đoạn có nghĩa là quyết đoạn, Tŕ nghĩa là kiên tŕ. Như trong phần kinh văn trước đó đă nói, hăy nên chẳng trụ trong lục trần để sanh tâm. Đừng nên như phàm phu lực bất tùng tâm, tuy biết rơ chớ nên trụ, mà bất tri bất giác, tâm cứ dính chặt vào đó. Tâm đă dính chặt, liền bị nó trói buộc, vượt thoát chẳng được! Ắt cần phải đặt “chẳng trụ trong lục trần để sanh tâm” trong ḷng để luôn luôn quán chiếu khởi tâm động niệm. Nếu đối với lục trần mà vướng mắc đôi chút, sẽ ngay lập tức đoạn dứt. “Lập tức đoạn dứt” tức là chớ nên sợ khó, chớ nên t́m an nhàn trước mắt, tức là dũng mănh, cần phải kiên tŕ, chẳng biếng nhác. Kiên tŕ có nghĩa là tinh tấn. Tinh tấn chính là suy xét tinh tường để tiến hơn, nội chiếu cẩn mật, chẳng buông lỏng mảy may. Tinh tế mà tiến, lắng ḷng suy nghĩ, suy xét tường tận những điều ẩn mật, vi tế. Tinh thành mà tiến, chí thành, khẩn thiết, cầu Tam Bảo xót thương nhiếp thọ, phóng quang gia bị, giúp sức cho ḿnh. Niệm Phật chẳng đắc lực, hoàn toàn là do chưa dụng công nơi đây! Bọn chúng ta tu hành, ắt phải trong hết thảy nhiễm duyên, tức là lục trần, hăy nên nương theo hai nghĩa Năng Đoạn và Phụng Tŕ trong kinh này ngay lập tức đoạn trừ, kiên tŕ chẳng biếng nhác. Nếu chẳng đứng thẳng cột sống, đặt vững gót chân như thế, sao có thể hàng phục tập khí “trái nghịch giác, xuôi theo trần lao” từ nhiều đời! Ta chẳng hàng phục chúng nó, sẽ bị chúng nó hàng phục ta! Cái tâm này đă bị trần nhiễm, sẽ chẳng thanh tịnh. Một câu Phật hiệu đương nhiên chẳng niệm tốt đẹp! Nếu có thể ngay lập tức kiên quyết đoạn trừ, kiên tŕ chẳng biếng nhác, sẽ có thể đạt tới nhất tâm bất loạn, văng sanh Cực Lạc, nhanh chóng dựa vào Bất Thoái sẽ chẳng khó khăn. Hăy gắng lên!

          Nói chung, đối với hàng phục và chẳng trụ lục trần, sanh tâm thanh tịnh v.v… các thứ quán môn, hạnh môn như trong phần trên đă nói, ắt phải lănh hội từ nghĩa lư Năng Đoạn đang nói trong đoạn này để phụng tŕ, sẽ hữu lực. Như vậy th́ cũng có thể biết ư nghĩa được nói ở đây hết sức khẩn yếu. Do đó, phần so lường công năng của kinh trong phần sau cũng sẽ khác xa phần trước!

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2. Nêu tường tận nguyên do

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.1. Nêu chung

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà?

          ()所以者何?

          (Kinh: V́ cớ sao vậy?)

 

          Bốn chữ “sở dĩ giả hà” là lời nêu bày. Sau đó, sẽ giải thích cặn kẽ nguyên do phụng tŕ Năng Đoạn. V́ thế, trước hết là nêu lên [câu gạn hỏi] khiến cho mọi người chú ư. Trước nay, những vị chú thích chỉ coi câu này thuộc đoạn “Phật thuyết Bát Nhă”, nay tôi cho rằng nó xuyên suốt cả hai khoa sau. Bởi lẽ, hai khoa kế tiếp đều nhằm khai thị cách tu tŕ, tức là đều nói rơ nguyên do “các ông nên dùng danh tự ấy để phụng tŕ”, há nên chỉ coi [bốn chữ ấy] thuộc về một đoạn, khiến cho các đoạn kinh văn khác đều trở thành rời rạc, mà ư nghĩa so sánh để hiển lộ công đức của kinh thù thắng hơn phần trước cũng chẳng có chỗ để làm căn cứ được! Hết sức chớ nên! V́ thế, nay tôi đặc biệt coi bốn chữ ấy là một khoa, phán định là phần Tổng Tiêu (總標, nêu chung) để nói rơ nó sẽ bao trùm hai khoa kế tiếp, chẳng phải chỉ thuộc về một đoạn trong hai khoa. Tổng hợp ư nghĩa của hai khoa để xem, có thể biết trong một câu này, chứa đựng ba nghĩa:

          1) Đoạn như thế nào?

          2) Từ đâu mà khởi lên để đoạn?

          3) V́ sao cần phải đoạn?

          Nay sẽ nói theo thứ tự.

          Đoạn như thế nào ư? “Đoạn” là đoạn ngă kiến. Ngă kiến có thể phát hiện ở bất cứ chỗ nào, đấy chẳng phải là điều trọng yếu, [mà điều trọng yếu là] làm thế nào để có thể đoạn? Hơn nữa, ngă kiến là tên gọi khác của vọng tưởng, mà vọng tưởng vốn do chân tâm biến hiện, vốn chẳng thể đoạn! Nói là “đoạn” chính là phá đó thôi! Như vậy th́ làm thế nào để có thể phá? Hiểu rơ lư mà thôi, khai giải mà thôi. Hăy thử xem bảy chữ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật trong tên kinh. Kim Cang là cứng, bén, được gọi là Năng Đoạn, nhưng vốn là để sánh ví năm chữ Bát Nhă Ba La Mật sau đó. Bát Nhă là trí huệ. Ba La Mật là đến bờ kia. Trí huệ đạt tới bờ kia giống như nói trí huệ triệt để. Do vậy, có thể đoạn ngă kiến cũng chẳng có pháp nào khác, chỉ là triệt để hiểu rơ lư. Đó cũng là triệt để khai giải đó thôi!

          Như vậy th́ nói đến “triệt để hiểu rơ lư” hiểu rơ lư nào vậy? Hăy nên biết chúng sanh chỗ nào cũng chấp trước, chẳng có ǵ khác! Do họ chẳng biết Tứ Đại, Ngũ Uẩn, cùng với hết thảy các pháp đều là duyên sanh, như huyễn, như hóa, mà cái thấy vốn do những điều được tiếp xúc trước hết sẽ trở thành chủ yếu, sẽ coi đó là [sự thật] nhất định chẳng thay đổi, đến nỗi chấp trước chẳng chịu bỏ. Đó gọi là ngă kiến. V́ thế, muốn phá kiến chấp ấy, trước hết, hăy nên hiểu rơ hết thảy các pháp vốn chẳng nhất định. Quán chiếu lâu ngày như thế, sẽ biết pháp đă là chẳng nhất định, sao có thể chấp trước? Đă là chẳng nhất định, chấp trước có ích ǵ? Nếu có thể trong hết thảy các pháp mà chẳng chấp, ngă kiến sẽ tự hóa giải. Đấy thật sự là kim cang phá Kiến Hoặc. Nói “hiểu rơ lư” tức là hiểu rơ lư này. Đă hiểu rơ lư này, sẽ có thể phá ngă kiến. Đó gọi là “triệt để”. V́ thế nói: “Dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng tŕ” (Dùng danh tự ấy, ông nên phụng tŕ).

          Tuân phụng Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, dùng đó để tu tŕ, tức là tuân phụng danh nghĩa ấy để quán chiếu. Hăy nên biết bộ kinh pháp này chính là Bát Nhă Ba La Mật, nhưng nói chẳng phải là Bát Nhă Ba La Mật. Đức Thế Tôn luôn luôn thuyết pháp mà nói là chẳng thuyết. Cho đến vi trần, thế giới, ba mươi hai tướng đều nói là “chẳng phải”, bất quá gọi tên như thế mà thôi, đều nhằm phô bày ư nghĩa “chẳng có pháp nhất định”! Đó là điểm thứ nhất.

          Thế nào là từ đâu mà khởi đoạn? Hăy nên trước hết từ pháp liên quan mật thiết với chính ḿnh nhất mà siêng ṛng quán chiếu để phá cái Hoặc ấy. Bát Nhă Ba La Mật là pháp hành nhân phải nên tu tŕ, vẫn phải nên biết “tắc phi” chính là ĺa tướng danh tự. Hành nhân hăy nên tuân phụng ngôn thuyết của đức Thế Tôn, hăy nên biết “vô sở thuyết” (chẳng có ǵ được nói) tức là ĺa tướng ngôn thuyết. Đại thiên thế giới là cảnh giáo hóa của Phật. Ba mươi hai tướng chính là thân do Phật hiện ra, đều chớ nên chấp trước. Những thứ khác [cứ suy theo đó] mà biết. Đó gọi là “cao xứ lạc mặc” (tập trung, nhấn mạnh nơi chỗ trọng yếu)[15]. Suy ra, phàm là pháp do chính ḿnh tu tŕ hoặc chuyện được thực hiện, cùng với các thứ như y báo, chánh báo v.v…, hăy đều nên vâng theo nghĩa này để quán chiếu. Đó là điểm thứ hai.

          Thế nào là v́ sao phải đoạn? Xem những điều “Phật thuyết”, “Như Lai thuyết” trong kinh văn thuộc phần sau, sẽ biết: Nếu chẳng quán chiếu như thế ḥng đoạn dứt ngă kiến, sẽ là trái nghịch ư chỉ của đức Phật, sẽ chẳng thể thấy Như Lai! Đó là điểm thứ ba. Hiểu rơ ba nghĩa ấy, sẽ biết nguyên do v́ sao phụng tŕ như thế!

 

2.2.2.1.2.1.2.3.2.2.2. Nói tường tận

 

          Chia thành hai phần:

          1) Chỉ dạy hội quy tánh thể.

          2) Chẳng hoại giả danh.

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.1. Chỉ dạy hội quy tánh thể

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.1.1. Hăy nên ĺa tướng danh tự để phụng tŕ

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Phật thuyết Bát Nhă Ba La Mật, tắc phi Bát Nhă Ba La Mật.

          ()須菩提!佛說般若波羅蜜,則非般若波羅蜜。

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhă Ba La Mật, tức chẳng phải Bát Nhă Ba La Mật).

 

          Bản thông dụng hiện thời vốn có câu “thị danh Bát Nhă Ba La Mật” (th́ gọi là Bát Nhă Ba La Mật) do người đời sau thêm vào, lầm to mất rồi! Cần phải biết: Khoa này và khoa sau đúng là nói đến chuyện hội quy tánh thể, cho nên đều là trừ tướng để nêu rơ tánh. Tới hai khoa đại thiên thế giớiba mươi hai tướng, bèn nói kèm “chẳng hoại giả danh”, ư nghĩa đă được phơi bày rơ ràng, thế mà vô tri làm xằng, một mực thêm bừa băi vào, đáng than lắm thay! Không chỉ bản kinh chép tay của người đời Đường chẳng có, mà các bản chú giải hoặc chú thích của ba vị đại sư là Trí Giả, Gia Tường, và Khuê Phong đều chẳng có ư nói “thị danh”. Hăy nên tuân theo cổ bản.

          Nói “tắc phi” là dạy ĺa tướng. Do ĺa tướng nên dung hội tánh. Do đó, đặt tên cho khoa này là “hội quy tánh thể”. Chiếu theo cách nói trong phần trước, hăy nên nói là “Như Lai thuyết”. Nay không bảo “Như Lai thuyết” mà nói là “Phật thuyết”, nghĩa thú càng sâu. Nêu đại lược hai điều:

          1) Phật là danh xưng của cái quả Cứu Cánh Giác. Ai nấy đều biết chứng đắc cái quả Cứu Cánh Giác mà thành Phật là do tu Bát Nhă, nhưng chẳng biết: Thật sự là do tu “Bát Nhă chính là chẳng phải Bát Nhă”. Nếu tu Bát Nhă mà chẳng ĺa tướng danh tự, sẽ là chấp vào “ta, người, chúng sanh, thọ giả’, há c̣n có thể gọi là Cứu Cánh Giác ư? C̣n có thể thành Phật nữa ư? Do vậy, nay sở dĩ đặc biệt nói “Phật thuyết” nhằm chỉ bày chứng quả đều là do vậy mà chứng, tức là người tu nhân hăy nên tu như thế.

          2) Đă chứng tánh, cũng lại hiện tướng, bèn gọi là Phật. V́ thế, xưng là Phật th́ chính là danh xưng hoàn toàn hiển lộ tánh và tướng, chẳng giống như Như Lai chỉ là danh xưng thuộc về tánh đức. V́ thế, nay nói là “Phật thuyết”, chỉ dạy “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă”, không thể coi là hai sự kiện được! “Tắc phi Bát Nhă Ba La Mật” (tức chẳng phải Bát Nhă Ba La Mật): Hăy nên thực hiện từ trong Bát Nhă Ba La Mật. V́ vậy, bèn khai thị: Hăy nên từ ngay danh tự mà ĺa tướng danh tự. Do đó, kinh văn trong phần trước có nói: “Dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng tŕ” (Dùng danh tự ấy, ông hăy nên phụng tŕ). Điều này tương ứng với câu ưng sanh thanh tịnh tâm (hăy nên sanh tâm thanh tịnh) cùng một ư vị. Tức là Không ở trong Hữu, chẳng phải là diệt Hữu để hiểu rơ Không. Đức Thế Tôn v́ khiến cho người học hiểu rơ tánh, do đă chẳng thể không trừ bỏ tướng, bèn cứ một mực quét sạch. Lại lo người học sẽ hiểu lầm mà lệch về Không, cho nên chẳng nói “Như Lai thuyết”, mà nói là “Phật thuyết” để chỉ bày ư ấy. Điều này cùng với chuyện chẳng hoại giả danh mà nói “thị danh” vào một lúc nào đó, chẳng nói là “Phật thuyết” mà nói là “Như Lai thuyết”, dụng ư đều tột bậc sâu xa, bí mật. Bởi lẽ, chẳng hoại giả danh mà nói “Như Lai thuyết”, chính là v́ chỉ rơ “tuy chẳng hoại tướng”, vẫn nên hội quy vào tánh. Nay khi trừ sạch, chẳng nói “Như Lai thuyết”, mà bảo là “Phật thuyết”, nhằm chỉ rơ: Tuy nên dung hội vào tánh, vẫn đều hoàn toàn chẳng phải là hoại tướng! Như vậy th́ trong ấy đă chứa đựng ư nghĩa “chẳng hoại giả danh”, cần ǵ phải thêm một câu “thị danh [Bát Nhă Ba La Mật] thừa thăi th́ mới hiển lộ ư “chẳng hoại giả danh” ư? Nói chung là do [kẻ tự tiện thêm vào] chẳng hiểu ư kinh, cho nên mới vô tri làm xằng!

          Nói chung, đức Phật nói Bát Nhă chính là đúng như lư trí tự chứng mà nói, khiến cho hết thảy chúng sanh khai tri kiến của Phật đó thôi! Khai tri kiến của Phật khiến cho [hành nhân] biết bản tánh vô tướng, cần phải ĺa tướng để tu tŕ, sau đấy sẽ có thể kiến tánh. Do vậy nói “Bát Nhă tắc phi Bát Nhă” (Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă). Nếu chẳng hiểu lư này, hễ trong tâm có tướng danh tự Bát Nhă Ba La Mật, sẽ là giữ lấy tướng của pháp, há c̣n có thể nói là “phụng tŕ Bát Nhă Ba La Mật” ư! V́ sao vậy? Nếu giữ lấy tướng của pháp, tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả! Ở đây, chỉ nói “Bát Nhă Ba La Mật tức chẳng phải Bát Nhă Ba La Mật”, ngay cả hai chữ Kim Cang cũng chẳng nói, chính là để nói rơ câu “dĩ thị danh tự phụng tŕ” (dùng danh tự này để phụng tŕ) trong đoạn trước có nghĩa là “hăy nên phụng tŕ danh xưng Kim Cang Năng Đoạn” để hành thật tế kim cang có thể đoạn trừ, ḥng đoạn sự chấp trước pháp tướng đó thôi! Đối với pháp Bát Nhă vô thượng mà c̣n phải nên ĺa tướng danh tự, huống hồ hết thảy các pháp khác!

          Lại hăy nên biết: Đức Phật nói lời này, chính là dạy chẳng giữ lấy tướng của pháp để tu tŕ hết thảy các pháp, th́ không pháp nào chẳng phải là Bát Nhă, đều chính là Bát Nhă Ba La Mật. Đấy chính là lư do trong phần trước đă nói “vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết” (chẳng có pháp nhất định để Như Lai có thể nói). Nói chung, “Phật thuyết Bát Nhă tắc phi Bát Nhă” nhằm dạy [hành nhân] lănh hội pháp nào cũng đều là Bát Nhă, chớ nên chấp vào tướng danh tự Bát Nhă. Đấy là lư do dùng tên gọi ấy để phụng tŕ [kinh này], chẳng phải là nói: Phụng tŕ danh tự ấy. Lại nữa, hai chữ Sở Dĩ chính là ư nghĩa chân thật. Phần trên có nói “nhữ đương phụng tŕ” (ông nên phụng tŕ) chính là nói hăy nên vâng theo nghĩa chân thật mà hành tŕ.

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.1.2. Dạy hăy nên ĺa tướng ngôn thuyết để phụng tŕ

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Như Lai hữu sở thuyết pháp phủ?” Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Như Lai vô sở thuyết”.

          ()須菩提!於意云何?如來有所說法不?須菩提白佛言:世尊!如來無所說。

          (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Như Lai có pháp để nói hay chăng?” Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Như Lai chẳng thuyết pháp”).

 

          Lời hỏi này tiếp theo ngay phần kinh văn trên đây. Có lẽ sẽ có kẻ thắc mắc: “Chẳng nên trụ vào tướng của pháp Bát Nhă Ba La Mật, nhưng pháp ấy vốn do đức Phật nói. Khi nói pháp này, há chẳng có pháp tướng ư? Nếu chẳng có pháp tướng, cớ sao lại nói?” Do ngăn ngừa mối nghi ấy, nên [đức Phật] nêu ra câu hỏi này! “Hữu sở thuyết pháp phủ” (có thuyết pháp hay chăng) tức là trong tâm có tướng nói pháp Bát Nhă Ba La Mật hay không? Ư hỏi của đức Thế Tôn đă chứa đựng chữ Vô. V́ sao vậy? Như Lai là danh xưng của tánh đức. Tánh thể không tịch, há có tướng của pháp được nói ư? Chẳng nói là “Phật thuyết” mà bảo là “Như Lai thuyết”, dụng ư nhằm nói rơ điều ấy (hơn nữa, đức Phật hiện tướng chính v́ để thuyết pháp. Nếu nói “Phật thuyết”, sẽ trở thành mâu thuẫn với ư nghĩa “vô sở thuyết”. Do vậy, khoa này chỉ có thể nói là “Như Lai thuyết”, chẳng thể nói “Phật thuyết”).

          Hễ nêu lên câu “Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn” tức là chỉ rơ điều sắp được nói hết sức trọng yếu, chẳng thể xem thường! Lời đáp càng cao hơn một mức nữa, không chỉ chẳng có pháp được nói, mà c̣n “vô sở thuyết”. “Vô sở thuyết” là không có cái được nói, chứ chẳng phải là không nói! (Các câu “vô sở hành, vô sở đắc” có ư nghĩa tương đồng). Bởi lẽ, tánh thể tự chứng th́ gọi là Như Lai. [Hễ nói] Như Lai là nói rơ chứng đắc tánh thể b́nh đẳng. B́nh đẳng nghĩa là Lư Trí như một, Năng và Sở như một (v́ thế, kinh văn trong phần sau có nói “chư pháp Như nghĩa”, tức nghĩa Như của các pháp). Đă chứng “hệt như một” cho nên nói năng được gọi là “như thuyết” (nói đúng như thể tánh). V́ thế, trong phần sau kinh văn có nói “Như Lai thị như ngữ giả” (Như Lai là bậc nói đúng như thể tánh). [Bảo là] “như thuyết” nhằm chỉ rơ [ngôn thuyết ấy] từ trong tánh hải b́nh đẳng Như Như tự tại tuôn ra. Thoạt đầu, chưa khởi tâm động niệm, tuy suốt ngày nói, hừng hực nói, cơi nước nói, vi trần nói[16], nhưng thật sự chẳng có tướng ngôn thuyết! Tướng ngôn thuyết c̣n chẳng có, há có tướng của pháp được nói ư? V́ thế bảo là “Như Lai vô sở thuyết”. Lời vấn đáp ở đây không chỉ nhằm dứt nghi, mà c̣n có dụng ư khiến cho người phụng tŕ thấu hiểu: Tánh thể không chỉ chẳng có tướng danh tự, mà cũng chẳng có tướng ngôn thuyết, cũng lại biết Như Lai nói đầy dẫy, nhưng chẳng có tướng nói. Như thế th́ sẽ biết: Phụng tŕ pháp được nói th́ phải nên hăm hở tu pháp, nhưng chẳng có tướng của pháp ấy.

          Gộp hai khoa này lại để xem, [sẽ biết] muốn chứng tánh thể, ắt phải ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết. Như vậy th́ danh tự và ngôn thuyết rốt cuộc phải nên như thế nào để sau đó có thể ĺa được? Nếu chẳng biết th́ là chỉ biết lẽ đương nhiên, chẳng biết nguyên do. Cần phải biết nghĩa thú của hai khoa này chính là đức Thế Tôn thật sự dạy người phụng tŕ hăy ĺa niệm. Chẳng ĺa niệm th́ tướng danh tự và ngôn thuyết trọn chẳng thể ĺa được! V́ sao biết như thế? Trong Chân Như Môn của Khởi Tín Luận có một đoạn văn có thể chứng tỏ [điều khẳng định trên đây]. Luận viết: “Nếu ĺa tâm niệm, sẽ chẳng có hết thảy các tướng cảnh giới”. Lại nói: “Ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng danh tự, ĺa tướng tâm duyên, rốt ráo b́nh đẳng, thậm chí chỉ là một tâm. Do vậy gọi là Chân Như”. Chân Như trong đoạn văn ấy chính là tên gọi khác của tánh thể. Ba câu “ĺa tướng ngôn thuyết” quy vào trọng điểm là câu “ĺa tướng tâm duyên”. Câu này có nghĩa là “ly niệm”. Bởi lẽ, “duyên” chính là nắm níu. “Tâm duyên” tức là khởi tâm động niệm. Tâm niệm nếu động, ắt có cái để nắm níu, liền rơi vào tướng danh tự. Nhưng ngôn thuyết chính là âm thanh của tâm. Tâm ắt phải duyên vào điều muốn nói trước đă, sau đấy mới đạt được các ngôn từ. V́ thế, nếu tâm niệm động, lại rơi vào tướng ngôn thuyết. Do vậy, trong ba câu [trong đoạn luận trên đây], “ĺa tướng tâm duyên” là tổng. Ĺa tướng tâm duyên th́ sau đấy các tướng danh tự và tướng ngôn thuyết sẽ đều ĺa. Điều này tương ứng với câu trong luận “nếu ĺa tâm niệm, sẽ không có hết thảy các tướng cảnh giới”.

          Ĺa tâm niệm sẽ chẳng có hết thảy các tướng cảnh giới. Do vậy, ĺa tướng tâm duyên sẽ rốt ráo b́nh đẳng, chỉ là nhất tâm, được gọi là Chân Như. Dùng sự luận bàn này để chứng minh ư nghĩa của kinh, vậy th́ bảo “hăy ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết để tŕ” ở đây chẳng phải là dạy “hăy ĺa tâm niệm để tu tŕ” ư? Trong luận lại dẫn kinh khác để nói như sau: “Người có thể quán vô niệm tức là hướng tới Phật trí”. Phật trí tức là Bát Nhă Ba La Mật. V́ vậy, đối với kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật này, hăy nên đoạn trừ chấp trước, vọng tưởng nắm níu danh tự và ngôn thuyết như thế để phụng tŕ. Đấy là nguyên do của “dĩ thị danh tự, nhữ đương phụng tŕ” vậy.

          Khởi Tín Luận lại nói: “Hăy nên biết nhiễm pháp và tịnh pháp đều là đối đăi. Chẳng có tự tướng để có thể nói. Do vậy, hết thảy các pháp vốn chẳng phải sắc, chẳng phải tâm, chẳng phải trí, chẳng phải thức, chẳng phải có, chẳng phải không, rốt ráo chẳng thể nói đến tướng. Nhưng hễ có ngôn thuyết, hăy nên biết đó là phương tiện thiện xảo của Như Lai mượn dùng ngôn thuyết nhằm hướng dẫn chúng sanh. Chỉ thú của chúng (các ngôn thuyết ấy) đều nhằm ĺa niệm, quy vào Chân Như. Do niệm hết thảy các pháp, khiến cho tâm sanh diệt, chẳng nhập thật trí”. Đoạn luận văn này rất phù hợp để trích dẫn làm cước chú cho hai khoa kinh văn này!

          Khoa lớn “thỉnh dạy tên kinh để phụng tŕ” có mối quan hệ khẩn yếu. Nay lại dựa theo đoạn luận này để nói cặn kẽ, ngơ hầu [độc giả] thấu triệt, ắt hiểu rơ đạo lư, bèn có thể quán chiếu dụng công, mong các vị sẽ mong muốn nghe.

          Trước là nói ba câu “chẳng phải sắc, chẳng phải tâm; chẳng phải trí, chẳng phải thức; chẳng phải có, chẳng phải không”. Chữ Sắc trong “phi sắc” bao gồm hữu biểu sắc và vô biểu sắc. Hữu biểu sắc tức là pháp hữu h́nh có thể chỉ ra được. Vô biểu sắc là pháp vô h́nh có thể diễn tả được. Các thứ pháp ấy, bất luận là hữu biểu hay vô biểu, vốn chẳng có tự thể. Thể chỉ là tâm, cho nên nói là “phi sắc”. Nhưng bất quá chỉ do tâm hiện mà thôi, thật sự chẳng phải là tâm, cho nên lại nói là “phi tâm”. Chữ Trí trong “phi trí” chính là nói đến tánh trí. Tánh thể b́nh đẳng, không tịch, há có các pháp? Do vậy nói là “phi trí”. Như vậy th́ các pháp là thức ư? Cần phải biết: Thức bất quá là do tâm hiện khởi, chẳng thể bảo các pháp là Thức! Do vậy, lại nói là “phi thức”. “Chẳng phải có, chẳng phải không” là nhân duyên tụ hợp, dường như có các pháp phát sanh, chẳng phải là không. Đă là duyên sanh, th́ là huyễn tướng, tức chẳng phải có! Ba câu ấy nói chung hết thảy các pháp, bất quá là so sánh, đối đăi lẫn nhau, tuy tợ hồ Có, thật sự là Không, bản thể của chúng chính là Không, nhằm nói rơ ư “hăy nên biết nhiễm pháp và tịnh pháp đều là đối đăi, chẳng có tự tướng để có thể nói” mà thôi!

          Hăy nên biết Bát Nhă cũng là do so sánh với các pháp khác mà gọi là Bát Nhă. Do hết thảy các pháp duyên sanh huyễn hữu, vốn chẳng có tự tướng, há có tự tướng để có thể nói, há nên chấp trước tướng danh tự? V́ thế, nói “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă”. Hơn nữa, do Phật chứng Chân Như thật trí, tuy hừng hực nói, chứ thật sự chẳng có tướng ngôn thuyết. V́ thế nói là “Như Lai vô sở thuyết”. Chỉ v́ chúng sanh mà mượn dùng ngôn thuyết để hướng dẫn, khiến cho họ ly niệm, chứng tánh. Do vậy, có thể biết: Kinh nói “Bát Nhă phi Bát Nhă” nhằm dạy ĺa tướng danh tự. Lại nói “vô sở thuyết” nhằm dạy ĺa tướng ngôn thuyết, tông chỉ chẳng phải là khiến cho đại chúng ĺa niệm, quy vào Chân Như đó sao? Như vậy th́ cũng có thể biết: Nói “phụng tŕ” chính là hăy nên phụng tŕ Kim Cang, đoạn trừ vọng niệm!

          Trong phần trước đă nói rơ “chẳng có pháp nhất định” chính là để gạn lọc cho trong sạch cội nguồn của ngă kiến, nay nói “phá trừ phan duyên vọng tưởng” nhằm cắt dứt ḍng chảy của ngă kiến. Hăy thử xem mấy câu cuối trong đoạn luận vừa được trích dẫn trên đây: “Do niệm hết thảy các pháp, khiến cho tâm sanh diệt, chẳng nhập thật trí”. “Thật trí” là nói tới tánh thể. Có thể thấy tánh vốn vô niệm. Muốn chứng tánh thể mà chẳng đoạn niệm, sẽ chẳng thể được! Lại có thể thấy khởi niệm chính là tâm sanh diệt. Do có cái tâm sanh diệt, bèn chuốc lấy cái quả sanh tử. Nếu chẳng đoạn niệm, sao có thể liễu sanh tử cho nổi! Nhưng hết thảy chúng sanh vốn sẵn niệm niệm tiếp nối, chưa hề ĺa niệm; đó gọi là “vô thỉ vô minh”. Vô minh là bất giác. Do bất giác, cho nên dấy niệm. V́ sao bất giác? Chính là do chẳng liễu đạt một pháp giới, tức là chẳng liễu đạt “Lư và Sự trong mười pháp giới chỉ là một Chân Như, đồng thể b́nh đẳng”. Đó gọi là “bất giác”. Đă chẳng nhận biết là b́nh đẳng, có cùng một Thể, cho nên động niệm. Động niệm th́ sẽ có năng kiến (chủ thể có thể thấy), sở kiến (cái bị thấy) sẽ thuận theo đó mà dấy lên, cho nên có tướng ta và người sai biệt. Do vậy, phân biệt chẳng ngừng, chấp giữ, so đo, tạo đủ mọi nghiệp, chuốc lấy đủ mọi nỗi khổ! Lại c̣n xoay vần huân tập, quả lại trở thành nhân, do nhân bèn thọ quả. Càng mê sâu hơn, trầm luân chẳng quay lại được! Nay muốn quy hoàn nguồn cội, cố nhiên phải giải quyết từ căn cội để đoạn cái niệm ấy. Khó khăn lắm thay! Do khó khăn, nên đức Thế Tôn bèn nói ra đủ loại pháp môn phương tiện, khiến cho họ tùy thuận được nhập. Như lời trích dẫn trong phần trên đă nói “có thể quán vô niệm sẽ nhập Phật trí”, cũng là một trong các phương tiện. Đấy là cửa ải sanh tử cho bọn ta, là chuyện trọng yếu nhất, cấp thiết nhất, mà cũng chính là điều kinh này dạy phụng tŕ, chẳng dám ngại phiền, bèn nói phương tiện này!

          Cần phải biết: Ba chữ “quán vô niệm” cố nhiên là phương tiện, nhưng cách quán như thế nào, vẫn cần phải có phương tiện th́ mới có thể khởi quán. Phương tiện để quán là ǵ? Khởi Tín Luận đă từng nói rồi đó! Luận bảo: “Hăy nên biết: Do hết thảy các pháp chẳng thể nói, chẳng thể niệm, bèn gọi là Chân Như. Hỏi: Nếu là nghĩa như thế, các hàng chúng sanh tùy thuận như thế nào để có thể nhập được? Đáp: Nếu biết hết thảy các pháp, tuy nói, nhưng chẳng có ǵ có thể nói, tuy niệm mà chẳng có ǵ để có thể niệm; đó gọi là tùy thuận. Nếu ĺa niệm, sẽ gọi là đắc nhập”. Do hết thảy các pháp chẳng thể nói, chẳng thể niệm, nên gọi là Chân Như. Đấy là dựa theo hết thảy các pháp mà nói rơ Chân Như, có nghĩa là hết thảy các pháp chẳng có Thể, Thể chỉ là “tịnh tánh” (tịnh tánh chính là tên gọi khác của Chân Như). Thể của hết thảy các pháp chỉ là tịnh tánh, nghĩa là các pháp giống hệt như nhau; cho nên gọi là Nhất Chân pháp giới. Bởi lẽ, tâm tuy chẳng có pháp, nhưng pháp từ tâm sanh. V́ thế, pháp trong mười pháp giới chẳng ĺa chân tâm duy nhất. Nói là “hệt như nhau”, tức là Nhất Chân. Sở dĩ bản tánh gọi là Chân Như là do lẽ này! Dùng các pháp để nói rơ Chân Như, th́ ư nghĩa Nhất Như, Nhất Chân cực dễ hiểu rơ. Đó là sự thiện xảo trong thuyết pháp vậy. Do các pháp hệt như nhau, cho nên chẳng thể nói. Do chân tâm vô niệm, cho nên chẳng thể niệm. V́ thế nói “hết thảy các pháp chẳng thể nói, chẳng thể niệm, th́ gọi là Chân Như”. Ư nghĩa trong lời hỏi như vậy, tức là bảo “chẳng thể nói, chẳng thể niệm”. Do các chúng sanh không ai chẳng có nói, có niệm, bèn hỏi tùy thuận như thế nào để được nhập? “Tùy thuận” nghĩa là phương tiện. Ư của lời hỏi là do chúng sanh có nói, có niệm, nhưng muốn “chẳng nói, chẳng niệm” mà nếu chẳng có phương tiện, sao có thể chứng nhập? Trong lời đáp, tuy cùng nêu lên nói và niệm, nhưng hễ có thể vô niệm, sẽ tự vô thuyết. Nay xét theo nghĩa niệm để giảng rơ, th́ nghĩa nói sẽ tự hiểu rơ.

          Hăy nên biết tuy niệm mà cũng chẳng có năng niệm (chủ thể có thể niệm). Câu “có thể niệm” chính là chỉ bày phương tiện tu quán. V́ thế, kế đó liền nói: “Đó gọi là tùy thuận”. V́ sao câu này là phương tiện để quán vô niệm? Hăy nên biết trong ấy có hai nghĩa:

          1) (Trước tiên là nói theo tánh thể). Hăy nên biết niệm là nghiệp thức, mà trong tánh thể trọn chẳng có chuyện ấy. Đó gọi là: Vốn sẵn ĺa tướng sai biệt của hết thảy các pháp, do chẳng có tâm niệm hư vọng. Đó là nói tuy nghiệp thức lăng xăng nhiễu động, nhưng tánh tịnh thản nhiên, giống như muôn h́nh tượng la liệt trong hư không mà hư không vẫn thản nhiên. Đấy là nghĩa trọng yếu, chớ nên không biết! Biết điều này, sẽ biết tánh và niệm vốn sẵn tách rời, sẽ chẳng đến nỗi nhận giặc làm con!

          2) (Kế đó, nói theo bản thân của niệm): Hăy nên biết niệm là vật, từ chỗ nào dấy lên th́ sẽ diệt từ ngay chỗ đó, sát-na chẳng ngừng. Bệnh nằm ở chỗ niệm trước diệt, niệm sau lại dấy lên, niệm niệm liên tục. Nhưng người chưa có công phu tịch tĩnh, sẽ chẳng nhận biết sự liên tục ấy, lầm tưởng trước sau chỉ là một niệm. Nếu trước sau chỉ là một niệm, người tu hành sẽ chẳng có cách nào! Chính v́ nó sanh diệt chẳng ngừng, cho nên chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Đấy là nói niệm hễ dấy lên bèn diệt mất, hoàn toàn chẳng phải là vật thật sự! Giống như hoa đốm trên không, huyễn hữu, chứ thật sự chẳng có! Đấy cũng là nghĩa trọng yếu, chớ nên không biết! Biết điều này, sẽ biết bản thân của niệm ngay lập tức là Không, sẽ chẳng đến nỗi chấp hư là thật!

          Đă hiểu rơ hai nghĩa, sẽ bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, thuận theo hai nghĩa ấy mà miên mật quán chiếu. Khi một niệm dấy lên, liền nâng cao tinh thần, tự quở, tự trách rằng: “Tánh vốn vô niệm, niệm này từ đâu mà có?” Hễ chiếu như thế, niệm ấy tự dứt. Kẻ sơ tâm chưa có định lực, trong một sát-na, niệm thứ hai bỗng nhiên dấy lên, lại lập tức quở trách, giác chiếu như thế. Lâu ngày, sẽ có thể thấy ư niệm giảm ít. Dẫu dấy lên, sức nó cũng yếu dần!

          Hỏi rằng: Nói tới giác chiếu, đó chẳng phải là dấy niệm ư? Đáp: Chính là dấy niệm! Hăy nên biết: Từ vô thỉ động niệm cho tới nay, tích tập đă sâu chắc. Ngược ḍng để chiết phục, rất ư khó khăn! Chỉ có thuận theo thói quen, chớ nên cưỡng chế. Hăy chuyển đổi ư niệm, dùng đó để đoạn dứt cái niệm ban đầu, khiến cho nó chẳng tiếp nối. Chính v́ nó sanh diệt chẳng ngừng, cho nên có thể thực hiện. Lại cần phải biết: Tuy quán chiếu cũng là niệm, nhưng là cái niệm thuận theo Thể mà khởi tác dụng, liền có thể thuận theo cái Dụng ấy để nhập Thể. Do họ đă mê mất cái niệm do bản tánh sanh khởi, sẽ tiến hướng rất khác! Bởi lẽ, khởi niệm như nhau, nhưng khởi tác dụng của niệm khác nhau rất lớn. Do vậy, biết tánh vốn vô niệm, và niệm cũng vốn là Không. V́ muốn trừ vọng niệm này, cho nên khởi tác dụng quán chiếu. Tác dụng ấy thuận theo tánh thể mà dấy lên, cho nên khác hẳn với tác dụng do mê muội tánh dấy lên! Đó được gọi là tùy thuận, đó được gọi là phương tiện. Nhưng phải biết khởi lên ư niệm quán chiếu ấy cũng lại là huyễn, cũng là duyên sanh vô tánh, nay bất quá mượn nó để trừ các niệm khác đó thôi. Nếu chấp cái niệm này là thật, lại trở thành bệnh. Bát Nhă Ba La Mật vốn dùng để đối trị căn bệnh chấp giữ. V́ thế, cũng chớ nên chấp giữ Bát Nhă. Nói “Bát Nhă tức chẳng phải Bát Nhă” nhằm nói rơ “chớ nên chấp giữ nó”. Bát Nhă vốn chứa đựng ba nghĩa, tức là Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, và Thật Tướng Bát Nhă. Do văn tự mà khởi quán chiếu, chứng Thật Tướng, nhưng ba thứ Bát Nhă ấy đều chớ nên chấp. Nói theo văn tự, nếu chỉ chấp vào văn tự, chẳng tu quán hạnh, cố nhiên hoàn toàn là tướng danh tự. Nói theo quán chiếu, nếu trong tâm có ư niệm có cái “có thể quán chiếu” và cái “bị quán chiếu” th́ cũng chẳng ĺa tướng danh tự, thậm chí đối với chứng đắc Thật Tướng Bát Nhă, thật ra cũng chẳng có chứng, chẳng có đắc. Nếu có chứng, có đắc, vẫn chẳng ĺa tướng danh tự, tức chẳng phải là Thật Tướng, cũng chẳng gọi là Bát Nhă Ba La Mật vậy. V́ vậy, “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă” ở đây đă thấu triệt từ đầu đến cuối vậy!

          Trở về nguồn chẳng hai đường, phương tiện có nhiều môn! Một pháp niệm Phật lại càng là phương tiện bậc nhất trong các phương tiện để đoạn niệm. Không dạy niệm ǵ khác mà niệm Phật, cũng là chuyển đổi ư niệm, nhưng niệm Phật so ra thân thiết hơn quán tưởng. Bởi lẽ quán tưởng có thể nói là trí niệm, c̣n niệm Phật là tịnh niệm. Đổi lấy một niệm thanh tịnh để đối trị ư niệm trước nay luôn đắm nhiễm, lại c̣n dạy hăy nhất tâm niệm. Lại là dùng một niệm thuần nhất để đối trị ư niệm trước nay luôn tạp loạn. Hơn nữa, Phật là giác. Niệm nào cũng đều là Phật, tức niệm nào cũng đều là giác. Giác tức là nhận biết tánh ấy vốn vô niệm, cho nên nói là càng thân thiết! Do vậy, chỉ nên một dạ siêng năng khẩn thiết, sẽ có thể niệm tới mức niệm mà vô niệm. Hăy nên biết mục đích niệm Phật ắt cần phải quy vào niệm mà vô niệm”. Quy vào vô niệm, tức là quy vào Chân Như, sẽ là “chẳng nói tới đoạn mà tự đoạn, chẳng mong chứng mà tự chứng” vậy! Phương tiện nào được như vậy thay! Do vậy nói là “phương tiện bậc nhất trong các phương tiện!”

          Vừa mới nói “chẳng mong chứng mà tự chứng”, thoạt đầu chỉ chứng được một phần, do lúc ấy chỉ là chẳng có thô niệm mà thôi, chứ tế niệm vẫn c̣n nhiều! Khởi Tín Luận nói: “Nếu ĺa niệm th́ gọi là đắc nhập”. Đắc nhập tức là chứng nhập, nhưng lời này sâu không đáy! Hăy nên biết từ Quán Hạnh đạt đến Tương Tự, sau đấy mới đạt tới Phần Chứng. Phần Chứng là chứng từng phần một. Thoạt đầu, chỉ nhập một phần; do vậy, trải qua bốn mươi mốt địa vị, đạt tới Diệu Giác bèn thành Phật th́ ư niệm mới ĺa hết. Ĺa hết th́ mới là hoàn toàn chứng nhập tánh Chân Như. Nhưng thật ra chẳng thể gọi là ǵ được, chỉ giả gọi là “đắc nhập” mà thôi! V́ sao vậy? Do tuy đắc, nhưng thật sự chẳng đắc, tuy nhập mà thật sự chẳng nhập! Như thế mới là thật sự ĺa niệm, mới là thật sự đắc nhập. C̣n như công phu niệm Phật, tuy chưa thể đạt được “niệm mà vô niệm”, nhưng có thể hạnh nguyện chân thật, thiết tha, nương cậy sức bi nguyện của Phật Di Đà, cũng được tiếp dẫn văng sanh, liền giống như bậc A Bệ Bạt Trí, phương này nói là Bất Thoái. Đấy chính là địa vị Sơ Trụ.

          Nếu tu các pháp khác, đạt tới địa vị y, cần phải trải qua kiếp số lâu xa, nay [do tu niệm Phật], một đời liền có thể làm được. Đấy chính là phương tiện bậc nhất trong các phương tiện, cần ǵ phải nói nữa! Cần phải biết: “Giống như bậc A Bệ Bạt Trí” tức là nói tư cách vốn chưa đạt tới, nhưng do được Phật lực nhiếp thọ mà đạt tới bất thoái. Lũ chúng ta may mắn được nghe pháp này, há nên chần chờ, khoanh tay bỏ lỡ! Nhưng hạnh nguyện chân thật, thiết tha, ắt cần phải nhất tâm niệm Phật cầu sanh th́ mới có thể gọi là “chân thật, thiết tha”. Nếu một mặt niệm Phật, mặt khác dấy lên ư tưởng trần trược, tức là hạnh nguyện chẳng chân thật, thiết tha. Do vậy, người niệm Phật đối với một tầng đoạn niệm, dẫu chưa dễ làm được, nhưng đối với hai câu “chớ nên trụ vào sắc sanh tâm, chớ nên trụ trong thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm” phải chú trọng làm cho được! Nếu không, nguyện chẳng thiết tha, hạnh chẳng chân thật, sao có thể được Phật tiếp dẫn cho nổi? V́ sao vậy? Tập khí trần trược nặng nề, rất chẳng tương ứng với hai chữ “thanh tịnh”, vậy th́ Phật cũng chẳng làm như thế nào được!

          Nói chung, vọng tưởng tơi bời chính là gốc bệnh của chúng sanh từ vô thỉ, vạn phần chẳng thể cưỡng chế! Nếu cưỡng chế, sẽ đâm ra tổn thương nguyên khí, bởi vọng tưởng chẳng phải chi khác, mà chính là tác dụng của bổn tâm. Bất quá, do vận dụng sai, cho nên trở thành bệnh. Chỉ cần y chiếu Phật pháp, chuyển đổi nó, quy vào trí niệm hoặc tịnh niệm. Lâu ngày, sẽ tự quy vào vô niệm. Đó là B́nh Đẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí vậy! Nay nói “đoạn trừ”, hăy nên biết là trừ căn bệnh này, chẳng phải là phá trừ pháp ấy. Hăy nên biết chữ Đoạn nghĩa là “đoạn vọng”, khiến cho nó quy vào chân. Nếu có thể quy chân, sẽ rỗng rang đại giác, liễu đạt vạn pháp như nhau, vốn là Nhất Chân pháp giới, vốn chẳng có ta và người sai khác, vậy th́ muôn niệm băng tiêu. Do đó, chỉ có thể dùng phương pháp chuyển đổi ư niệm là v́ lẽ này! Do vậy có thể biết: Chuyển hoán ư niệm được gọi là phương tiện th́ vẫn là cách nói quyền biến, thiện xảo, chứ thật ra là một pháp để cứu văn từ căn bản. Ngoài cách ấy ra, trọn chẳng có pháp nào khác. Chớ nên không biết lư này!

          Nói đến chuyện đoạn vọng, quy chân, th́ cũng cần phải tiến dần từng bước. Đối với kẻ sơ cơ, vẫn chưa thể nói ngay chuyện này. Do chúng sanh từ vô thỉ liền mê chân, đuổi theo vọng, trôi lăn, quên mất quay lại. Ví như gă lăng tử trong thế gian, phiêu bạt đă lâu quên trở về. Nay muốn lôi kéo gă đó quay đầu, ắt phải khéo léo khuyên lơn để dẫn dụ th́ mới có hy vọng. Nếu không, trong gia đ́nh đâm ra tăng thêm phiền năo. Ở đây, cũng giống như thế, ắt phải đọc tụng kinh điển Đại Thừa nhiều hơn để lay tỉnh nỗi si mê, lại c̣n thân cận thiện tri thức cho nhiều để mở toang sự che lấp, chỉ bảo đường lối tu tập, nhưng khi dụng công th́ phải từ cạn tới sâu, mới có thể dần dần tiến nhập cảnh tốt đẹp. Nếu không, trong tâm sẽ đâm ra chẳng an ổn, lại chớ nên chẳng biết điều này!

          Như trong kinh này, phần trước đă nói ngàn lời vạn lẽ, cho tới chỗ này, nửa bộ đầu đă gần xong, mới hiển nhiên dạy ĺa niệm. Điều này chẳng thể nhảy cóc, vội vàng nhắc tới liền, khiến cho họ cảm thấy hết sức đột ngột. Lại cần nên biết: Kể từ phần nói cặn kẽ đến đây, đă nói các thứ quán môn, hạnh môn, toàn là từ cạn tới sâu, là phương tiện để ĺa niệm. Do công tu tập ắt phải đạt tới mức vô niệm th́ mới có thể chứng tánh, mới là rốt ráo. Nay nương theo nghĩa này, lại đem phần kinh văn trên đây tổng kết một lần để chỉ bảo, nhắc nhở theo từng tầng một, ngơ hầu [người đọc sẽ] dung hội, thấu suốt, khai giải viên măn!

          Nói “khai giải” tức là khai trí huệ. Dựa theo các loại kinh luận, khai giải có ba bước theo tŕnh tự:

          1) Bước đầu tiên là phải nên dạy cho họ mở mang trí biết cảnh là hư giả. Hết thảy chúng sanh do chẳng biết hết thảy trần cảnh vốn đều là hư huyễn, chẳng thật, cho nên đến nỗi chỗ nào cũng chấp giữ, ngă kiến nẩy sanh bừa băi. V́ thế, trước tiên là khiến cho họ liễu đạt các cảnh như lục trần v.v… chỉ là hư huyễn, chẳng thật, th́ mới có thể chẳng bị chúng mê hoặc. Chẳng mê tức là trí; do vậy nói: Trí biết cảnh là hư giả.

          2) Bước thứ hai là hăy nên khiến cho họ mở mang trí vô trần. “Trần” tức là nói các cảnh như lục trần v.v… “Vô” tức là hết thảy duy tâm, ngoài tâm chẳng có pháp. Ắt phải thông đạt điều này, lại đạt được phương tiện để quét sạch trần cảnh, tâm mới dần dần có thể chẳng có mảy trần! Nếu có thể vô trần, huệ quang sẽ càng sáng suốt! Đấy gọi là trí vô trần.

          3) Trí ấy đă sáng, lại c̣n ư niệm cũng cực ít! Sau đấy mới có thể đoạn. Đoạn niệm cũng cần phải có trí phương tiện, tức là kim cang trí. Đấy chính là bước thứ ba vậy.

          Kim Cang có nghĩa là “có thể đoạn”. Hăy thử xem phần trước vừa mở miệng liền dạy “phát tâm rộng lớn, phổ độ chúng sanh”. Nếu quên mất bản thân th́ đó chính là phương tiện tối sơ thứ nhất. Do hết thảy chúng sanh chẳng liễu đạt một pháp giới, chẳng khởi lên giác niệm, bèn có vô minh, khiến cho giới hạn giữa ta và người phân chia cực rành rẽ, chấp hết sức chặt! Nay dạy “xả ḿnh, độ người, phát tâm rộng lớn”, tức là dạy hăy thông đạt Nhất Chân pháp giới, vốn chẳng có ta và người khác biệt, dùng đó để chuyển hóa tập khí phân biệt tích tập kiên cố, th́ đấy chính là thoạt đầu bèn thực hiện nơi cái gốc của ư niệm bất giác. Do vậy nói là “phương tiện thứ nhất lúc thoạt đầu”. Cho tới sau khi đă nói “chớ nên trụ vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố thí”, liền nương vào thân tướng để nói rơ: “Phàm tất cả các tướng đều là hư vọng”. Đấy là dạy [hành nhân] hăy quan sát căn, thân, khí, giới, không ǵ chẳng phải là trần cảnh, không ǵ chẳng phải là tướng hư giả, dùng đó để mở mang cái trí biết cảnh là hư giả. Hăy nên biết: Sở dĩ chúng sanh phân biệt “ta, người” kiên cố chẳng thể phá, không ǵ chẳng là do bị cảnh trói buộc, chẳng buông xuống được, không ǵ chẳng do hiểu lầm các tướng cảnh giới là chân thật đó thôi! Nay lay tỉnh họ rằng: “Đều là hư vọng”. Đúng là giội nước lạnh vào lưng, khiến cho kẻ khác rởn da gà. Đó là phương tiện thứ hai vậy.

          Kế đó, bèn nói tiếp: Do tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm, coi đó là thật. Tức là khiến cho họ tin vào nghĩa chân thật ấy mà khởi tu. Bởi lẽ, tŕ giới và tu phước chính là phương tiện tối sơ để khởi tu. Nếu có thể nhất niệm sanh tịnh tín, tức là đối với những điều đă nói trên đây, đều có thể mỗi mỗi giải và hành vậy! V́ sao? Nếu chẳng có giải và hành, sẽ chẳng thể một niệm tương ứng. Hễ đạt tới điều này, sẽ đạt được vô lượng phước đức. V́ sao vậy? Đă có thể một niệm tương ứng, chính là đắc trí “biết cảnh là hư giả”, cái tâm trụ tướng, kiến chấp ta, người sẽ có thể giảm bớt. Do vậy, tiến thêm bước nữa, bảo họ nếu dùng tâm giữ lấy tướng, sẽ vướng vào ta, người, chúng sanh, thọ giả, cùng với pháp và phi pháp đều chớ nên giữ lấy. “Giữ lấy” chính là khởi niệm. Nói “tâm chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp”, tức là đă chứa đựng ư nghĩa “chớ nên khởi tâm động niệm”. Lại bảo do pháp vốn không nhất định, do đó chẳng thể giữ lấy, chẳng thể nói, cho tới hết thảy hiền thánh đều do pháp vô vi [mà có sai biệt] v.v… Vô vi tức là cái tâm chẳng sanh diệt. Cái tâm sanh diệt chính là ư niệm. Lại c̣n khuyên dụ rằng: “Ông đă có thể thật sự tin, mong thành hiền, thành thánh, cũng có thể một niệm tương ứng, hăy càng phải nên dứt cái tâm sanh diệt th́ mới tốt đẹp”. Kế đó, lại nói phước đức to lớn để người ấy vui thích, động ḷng. Cho đến dựa theo cái quả mà rộng nói th́ mới chỉ ra hiển nhiên chữ Niệm. Khi đắc quả, đă chẳng thể khởi niệm, th́ cũng biết lúc tu nhân chớ nên động niệm, bèn kết luận bằng “hăy nên sanh tâm thanh tịnh”. Thế nào là sanh tâm thanh tịnh? Hăy nên đối với trần cảnh chẳng trụ vào đâu để sanh cái tâm ấy.

          Do vậy, so với trước kia, lại tiến thêm bước nữa. Do trí biết cảnh là hư giả mà mở ra trí vô trần. Trước đó chỉ là biết, nay dạy chẳng có, chẳng phải là càng tiến cao hơn hay sao? Nhưng khai trí vô trần, thật sự là tiền phương tiện để cuối cùng sẽ khai trí kim cang. Nếu luận theo công phu tu hành, từ cái trí biết cảnh là hư huyễn mà tu đạt tới trí vô trần, cần phải trải qua vô số kiếp. Trước đó là địa vị Quán Hạnh, nay là địa vị Tương Tự. Trí ấy là then chốt để chuyển phàm nhập thánh. Nếu chẳng đắc trí vô trần, sẽ chẳng thể tiến hơn nữa để khai trí kim cang; tức là chẳng thể thăng lên địa vị Sơ Trụ. Nếu chẳng thăng lên Sơ Trụ, sẽ chẳng thể từ địa vị Tương Tự nhập địa vị Phần Chứng mà thành thánh. Do vậy, phước đức đắc trí vô trần so với trước đó c̣n nhiều hơn vô lượng vô biên lần. V́ sao phước đức to lớn như thế? Hăy nên biết người ấy thành tựu pháp tối thượng hy hữu bậc nhất. Thành tựu chính là nói thành tựu trí vô trần. Trong tâm nếu thật sự có thể chẳng có trần cảnh, dẫu khởi niệm, vẫn ít hơn trước, mà sức của nó cũng mỏng hơn. Công phu tu tập đến đây th́ mới có thể đạt tới đoạn niệm. Do vậy, khoa “xin chỉ dạy tên kinh để phụng tŕ” này nhằm dạy pháp đoạn niệm. Thứ tự cạn sâu, tŕnh tự nghiêm chỉnh. Đức Phật giáo hóa như thế đó. Cần phải biết từ câu mở đầu: “Hăy nên hàng phục cái tâm như thế”, cho đến nói “chớ nên trụ trong sắc v.v… để sanh tâm” đều nhằm chế phục Hoặc. Ắt phải có thể chế phục, th́ sau đó mới có thể đoạn. Ở đây nói rơ ràng: “Dĩ thị danh tự phụng tŕ” (dùng danh tự ấy để phụng tŕ) mà tên kinh là Kim Cang Bát Nhă. Do vậy, nghĩa thú được diễn nói đều nhằm khai trí kim cang này vậy!

          Kim Cang có nghĩa là “có thể đoạn”. Ĺa danh tự và ngôn thuyết chính là nghĩa “ly niệm”. Nếu trí kim cang chẳng khai, sao có thể đoạn niệm cho được? Hăy nên biết: Mới vừa thăng lên Sơ Trụ, cần phải có trí này. Nếu chẳng có trí này, sẽ chẳng thể đoạn vô minh. Vô minh là bất giác. Do bất giác cho nên niệm khởi. Do vậy, đoạn vô minh tức là đoạn niệm. Ắt phải đoạn được một phần vô minh, th́ mới chứng một phần Pháp Thân, thăng lên Sơ Trụ. Từ Sơ Trụ trở lên, không ǵ chẳng do trí này dần dần tăng trưởng, khiến cho từng phần vô minh đoạn trừ, chứng từng phần Pháp Thân, địa vị cũng tăng cao từng phần. Trải qua bốn mươi địa vị, đạt tới Đệ Thập Địa Hậu Tâm, trí ấy càng kiên cố, càng sắc bén, gọi là Kim Cang Đạo, dự lên Đẳng Giác (tức địa vị thứ bốn mươi mốt). Sau khi dự lên Đẳng Giác, lại dùng trí này để đoạn phần vô minh cực tế cuối cùng, bèn đạt tới địa vị Diệu Giác mà thành Phật. Thông thường, chuyên coi trí Đẳng Giác là trí kim cang, dưới địa vị Đẳng Giác th́ vẫn gọi là trí vô trần. Thật ra, tên của trí này hiển thị nó có thể đoạn! Nếu chẳng có trí này, sẽ chẳng thể đoạn một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân ḥng dự vào Sơ Trụ. Do vậy, từ Sơ Trụ trở lên, thật sự đă có trí này. Bất quá, mỗi địa vị cao hơn sẽ càng thù thắng hơn, cho đến Đẳng Giác, trí ấy viên măn, bèn dựa theo cái trí nơi Đẳng Giác mà riêng nêu cái tên ấy. Chớ nên không biết lư này! Nh́n vào những điều vừa nói trên đây, ắt phải đạt tới tŕnh độ tương đương th́ mới có thể đoạn niệm. Nếu chẳng đoạn niệm, sẽ chẳng thể chứng Pháp Thân ḥng chuyển phàm thành thánh, và trước khi đoạn niệm, ắt cần phải trước hết tu các thứ tiền phương tiện, nghĩa ấy đă tỏ rơ rồi!

          Kinh này kể từ lúc đàm luận cặn kẽ cho đến chỗ này, đă mấy lượt tiểu kết ư nghĩa của kinh, nhưng mỗi lần tiểu kết đều nêu riêng một nghĩa. Làm như thế, không chỉ chẳng nhằm mong cho người nghe sẽ dung hội, xuyên suốt, sẽ được thọ dụng nhiều hơn một chút. Hơn nữa, [làm như vậy c̣n nhằm] nêu tỏ: Ư nghĩa uẩn tàng trong kinh vô cùng, khó thể nêu tỏ trọn hết. Các thứ tuyên nói trên đây cũng bất quá là một giọt nước trong biển cả đó thôi!

          Đối với ư chỉ “ĺa danh tự”“ĺa ngôn thuyết” được nói trong hai khoa của kinh này, nay tôi bèn nêu khái quát những điều đă nói để dễ ghi nhớ:

          1) Trước hết cần phải liễu triệt chẳng có pháp nhất định, để gột sạch cái nguồn vọng niệm. Đấy là trí huệ.

          2) Cần phải phá trừ tâm tưởng phan duyên để cắt đứt cái nguồn vọng niệm. Đấy là có thể đoạn.

          Đấy chính là nguyên do dùng danh tự Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật để phụng tŕ. C̣n như tác quán, niệm Phật, đều là phương tiện để đoạn niệm. Phương tiện ấy vẫn vốn sẵn có trong ư chỉ của hai khoa kinh, trọn chẳng phải là từ bên ngoài mà có! Có thể quán vô niệm tức là hướng tới Phật trí. Phật trí chính là “Bát Nhă Ba La Mật chẳng phải là Bát Nhă Ba La Mật”. Đức Phật nói Bát Nhă, chính là dạy hăy nương theo văn tự để khởi quán chiếu. Phụng tŕ tức là dạy đại chúng hăy thực hiện công phu quán chiếu. Ĺa danh tự và ngôn thuyết tức là dạy ĺa niệm, há chẳng phải là dạy rơ ràng hăy quán vô niệm ư? Phụng tŕ có nghĩa là khăng khăng vâng giữ, tức là niệm niệm chẳng quên lời Phật dạy, niệm niệm chẳng trái nghịch Như Lai. Niệm niệm chẳng quên lời Phật dạy chính là nhất tâm niệm Phật. Niệm niệm chẳng trái nghịch Như Lai chính là không chỉ niệm Ứng Hóa Thân Phật, mà c̣n dạy hăy niệm Pháp Thân Thật Tướng Phật. Lại do bất giác mà niệm dấy lên, bèn dạy hăy liễu triệt “chẳng có pháp nhất định”; đó khiến cho họ giác điều này! V́ thế gọi là “gột tẩy trong sạch tận nguồn” v́ bất giác chính là cái nguồn của khởi niệm vậy. Kế đó, dạy phá trừ vọng tưởng, tức là ly niệm, nên gọi là “cắt đứt ḍng chảy”, v́ khởi niệm cũng lưu xuất từ bất giác. Nhưng sau khi đă bất giác khởi niệm, sẽ có năng kiến (chủ thể trông thấy) và sở kiến (đối tượng bị thấy) khác biệt, trở thành tướng “ta, người” sai khác. Nay th́ hoàn toàn chú trọng nơi dụng công đối trị ư niệm bất giác dấy lên, tức là thực hiện công phu từ nơi căn bản của ngă kiến. Căn bản đă dẹp trừ, ngă kiến sẽ tự chẳng có! Đấy chính là nguyên do phụng tŕ để đoạn ngă kiến vậy!

          Lại nữa, hai khoa này nhằm nói về Không Như Lai Tạng. Không có hai nghĩa:

          1) Tánh thể vốn Không.

          2) Rỗng không vọng niệm.

          Ở đây nói “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă”, nói “Như Lai chẳng nói” nhằm nói tánh thể vốn là Không. C̣n ĺa tướng danh tự, ĺa tướng ngôn thuyết chính là rỗng không vọng niệm. Do vậy, hai khoa này nhằm nói về ư nghĩa Không Như Lai Tạng. Hai khoa sau nói về Bất Không Như Lai Tạng. Không là nói về Thể, Bất Không là nói tới Dụng. Hai khoa sau chẳng hoại giả danh, cho nên nói về Dụng. Bởi lẽ, căn, thân, khí giới đều là tác dụng hiển hiện bởi tánh đức. Do đó, đấy chính là nghĩa lư Bất Không Như Lai Tạng.

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2. Dạy chẳng hoại giả danh

 

          Chia thành hai phần:

          1) Dạy chẳng chấp cảnh tướng để phụng tŕ.

          2) Dạy chẳng chấp thân tướng để phụng tŕ.

 

2.2.2.2.2.2.2.3.2.2.2.2.1. Vấn đáp

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới sở hữu vi trần, thị vi đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm đa, Thế Tôn!”

          ()須菩提!於意云何?三千大千世界所有微塵,是為多不?須菩提言:甚多,世尊!

    (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có phải là nhiều hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất nhiều”).

 

          “Danh” là danh tự. Phàm hết thảy các pháp đều có tướng sai biệt. Dựa theo sự sai biệt ấy mà đặt tên. V́ vậy, nói đến danh tự là nói theo tướng. Tướng là huyễn hữu, nên danh là Giả Danh. Huyễn hữu là nói “chẳng phải có mà là có, có chính là chẳng phải có!” “Bất hoại” có nghĩa là chẳng đoạn diệt. Tướng chính là Dụng do Thể dấy lên, sao có thể đoạn diệt? Tuy chẳng đoạn diệt, nhưng Tướng thật sự chẳng phải là Thể; do vậy, chớ nên chấp giữ. Do Thể chẳng thay đổi, tướng thường biến động. Thể là gốc, tướng là ngọn. Chớ nên bỏ gốc chạy theo ngọn, mê tướng quên Thể; v́ thế, chớ nên chấp! Ĺa và chẳng chấp, thoạt nghe dường như giống nhau, nhưng xét kỹ th́ bất đồng: Mỗi đằng chẳng dính líu với nhau th́ gọi là Ly. Khi Dụng hiển hiện, chẳng bị nó trói buộc, th́ gọi là “chẳng chấp”. Hai khoa trên nói là Ly, tức là nói rơ người tu hành trước tiên hăy nên chứng Thể, mà Thể với Tướng vốn chẳng có mảy may dính dáng. Hai khoa sau nói “chẳng chấp” để nói rơ người tu hành trước là nên chứng Thể. Đă hiểu Thể rồi, ắt phải đạt Dụng, cho nên chẳng thể hoại tướng. Nhưng tuy đạt Dụng, rốt cuộc vẫn nên hội quy vào Thể; do vậy, lại chẳng thể chấp tướng. Những điều được nói ở đây không chỉ nhằm giải thích, nêu bày ư nghĩa của mỗi khoa, mà diệu chỉ Bát Nhă đă chứa trọn hết trong ấy. Vừa rồi là nói “ly” và “chẳng chấp” chắc chắn có ư nghĩa bất đồng. Lại cần phải biết: Tuy ư nghĩa bất đồng, nhưng tông chỉ giống nhau. Giống nhau như thế nào? Chính là đoạn niệm. V́ sao vậy? Hai khoa trước nói ĺa danh tự và ngôn thuyết, tức là ĺa cái tâm phan duyên, nghĩa này đă được nói rộng trong phần trước. Do ĺa tâm duyên nên đoạn niệm. Hai khoa này nói về cảnh và thân, cũng chính là đối với y báo và chánh báo, đều chớ nên chấp trước. Hễ chấp trước lại khởi niệm! Tuy bất hoại, nhưng chẳng chấp, cũng là v́ đoạn niệm! Các ư nghĩa khác rất nhiều, sau khi đến phần kinh văn ấy, sẽ nói theo từng tầng một.

          Bát Nhă Ba La Mật trong khoa trước chính là một môn trong Lục Độ; cố nhiên là danh xưng trong Phật pháp, cũng là danh xưng của tánh trọn đủ lư trí. Tánh thể không tịch, danh tự và ngôn thuyết vốn sẵn trước nay chẳng thể an lập! Khoa trước đă dựa theo Lư và Trí vốn sẵn có trong tánh để lập thuyết, cố nhiên hăy nên trừ bỏ hết thảy các tướng. Do vậy, chỉ nói “tắc phi” (tức chẳng phải), “thuyết vô khả thuyết” (tuy nói mà chẳng có ǵ để có thể nói), nhưng chẳng nói “thị danh” (th́ gọi là). Tức là tánh vốn chẳng phải tướng, vốn chẳng dính dáng đến tướng. Cho nên nói là Ly. Trong hai khoa sau này, cảnh và thân vốn là y báo và chánh báo, huyễn tướng nghiễm nhiên. Dựa vào đó để lập thuyết, nhằm nói rơ ư nghĩa bất hoại giả danh. Do đó, đối với vi trần, thế giới, ba mươi hai tướng, đều nói “thị danh”. Nhưng rốt cuộc chúng là huyễn tướng, hư vọng, chẳng thật, cho nên đều nói là “phi” mà chẳng nên chấp.

          Lời hỏi này cũng tiếp ngay sau phần kinh văn trước đó, bởi lẽ, kẻ chấp tướng nghe “vô sở thuyết” (không có ǵ để nói) sẽ cho rằng: Nếu không có ǵ được nói, sẽ dùng ǵ để giáo hóa tam thiên đại thiên? Hơn nữa, ngôn thuyết vốn chẳng có tướng, vẫn có thể nói là “thuyết vô sở thuyết” (nói mà không có ǵ được nói), nhưng thế giới to lớn, tướng nó rành rành, há có thể nói là “thế giới vô thế giới” ư? Do ngăn ngừa mối nghi ấy, cho nên [đức Phật] nêu ra lời hỏi này. Lời hỏi rất tuyệt diệu, chẳng hỏi thế giới, mà hỏi tất cả các vi trần có nhiều hay không? Ư nói: Thế giới do rất nhiều vi trần hợp thành, hiện ra huyễn tướng tam thiên đại thiên thế giới. Kẻ đó chấp tướng của đại thiên thế giới là có thật, [nghe hỏi như thế], cũng sẽ giật ḿnh tỉnh ngộ. Lời đáp cũng tuyệt lắm, trưởng lăo lănh ngộ sâu xa ư chỉ của Phật, cho nên đáp “rất nhiều”. Ư nói: Tất cả các thứ trong thế giới, không ǵ chẳng phải là rất nhiều vi trần mà thôi! Nhưng ngoài thật nhiều vi trần ra, há có riêng một thế giới ư? Thấu hiểu chỉ là nhiều vi trần, sẽ biết đại thiên thế giới chính là có mà chẳng phải là có vậy!

 

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.2.2. Chỉ dạy

2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.2.2.1. Chẳng chấp tướng vi tế

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần, thị danh vi trần.

          ()須菩提!諸微塵,如來說非微塵,是名微塵。

    (Kinh: Tu Bồ Đề! Các vi trần Như Lai nói chẳng phải là vi trần, th́ gọi là vi trần).

 

          So với ư hỏi trước, ư này càng cao hơn. Ư nói: Không chỉ thế giới, mà ngay cả vi trần cũng chẳng phải là vi trần, hàm ư chỉ rơ: Vi trần cũng là giả danh. Kinh Lăng Nghiêm có nói: “Nhữ quán địa tánh, thô vi đại địa, tế vi vi trần, chí lân hư trần” (ông hăy quán tánh của đất, thô là đại địa, tế là từ vi trần cho tới lân hư trần). Vi trần là ǵ? Lân hư trần là ǵ? Nếu nói theo phần Chánh Lư Luận trong Câu Xá Luận th́ lượng của vi trần đă là cái nhỏ nhất mà mắt có thể trông thấy. Bởi bảy lần vi trần là một kim trần, bảy lần kim trần là một thủy trần. Kim trần, thủy trần chính là các hạt trần ấy có thể xuyên qua khe hở của ngũ kim[17] hay các kẽ hở của [các phân tử] nước. Như thế th́ có thể tưởng tượng sự vi tế của vi trần [tới cỡ nào]. Lại c̣n gấp bảy lần thủy trần là một thố mao trần, tức là nhỏ bằng đầu một sợi lông con thỏ. Do vậy, có th hiểu sự vi tế của vi trần. Trọn chẳng biết vi trần cực nhỏ như thế vẫn có thể tách ra thành bảy cực vi trần, nhục nhăn chẳng thể thấy được, chỉ có thiên nhăn trở lên mới có thể trông thấy. Tới đây là ngằn mé của sắc tướng, chẳng c̣n chia nhỏ hơn được nữa. Nhưng nếu dùng huệ nhăn để quan sát, vẫn có thể chia nhỏ [cực vi trần] thành lân hư trần. Lân hư (隣虛) nghĩa là gần với hư không, tức là giống như nay nói nó gần bằng zero. Do vậy cũng biết: Vi trần cũng là do bảy cực vi trần hợp lại mà hiện tướng[18], trọn chẳng phải là vật thật! V́ thế nói “vi trần chẳng phải là vi trần”.

          Nói theo kiểu như thế chính là Tích Không Quán (析空觀) của Tiểu Thừa. Tích Không Quán là mỗi [sự vật] đều cần phải chia chẻ để quán rồi mới biết đấy là Không! Đại Thừa chẳng phải vậy, chỉ quan sát ngay nơi tánh thể, sẽ biết bất luận là tướng lớn hay tướng nhỏ, đều là duyên sanh huyễn hữu, lập tức chính là Không, há đợi phân tích rồi mới biết ư? Quán như thế gọi là Thể Không Quán (體空觀). Kinh này v́ người phát Đại Thừa, v́ người phát tối thượng thừa mà nói, nên bảo là “Như Lai nói”. Như Lai là danh xưng của tánh đức. “Như Lai nói” tức là nói: Nh́n theo tánh thể vốn là Không, được gọi là Thể Không Quán. Do nói theo tánh, vi trần vốn chẳng có thật thể, nhưng chẳng phải là không có huyễn tướng. Vốn chẳng có thật thể, nên nói là Phi. Do chẳng phải là không có huyễn tướng, nên nói “thị danh” (th́ gọi là).

          Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 3, phần 1 hết

 



[1] Sử là tên gọi khác của Kiến Hoặc, tức mười thứ kiến chấp khiến cho chúng sanh liên tục sanh tử bao gồm: Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, Tà Kiến, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Do phối ứng với tam giới và Tứ Đế tăng giảm khác nhau mà thành ra tám mươi tám món Sử. Nói chi tiết th́:

- Trong Dục Giới, Khổ Đế có đủ mười món Sử, Tập và Diệt Đế mỗi Đế chỉ có bảy Sử (tức loại trừ Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ Kiến), Đạo Đế có tám món Sử (loại trừ Thân Kiến và Biên Kiến), như vậy là Dục Giới có tất cả ba mươi hai món Sử.

- Sắc Giới và Vô Sắc Giới đối với mỗi Đế đều loại trừ thêm Sân Sử; do vậy, mỗi giới chỉ có hai mươi tám món Sử.

V́ thế, tam giới là Dục Giới (32 Sử) + Sắc Giới (28 Sử) + Vô Sắc Giới (28 Sử) thành tám mươi tám món Sử.  

[2] “Hoạt cú” (活句) có hai nghĩa:

1) Thiền Tông dùng từ ngữ này để gọi một câu nói có ư sâu xa.

2) Câu nói có ư nghĩa hàm súc, linh động, có thể biến đổi linh hoạt.

Theo ngu ư, chữ “hoạt cú” ở đây phải hiểu theo nghĩa thứ hai.

[3] Tư Hoặc chính là những cách nghĩ điên đảo đối với sự vật trong thế gian như tham, sân, si, mạn, nghi. Tùy theo cách tính trong tam giới mà tăng giảm, thành ra tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc. 

[4] Phật Bổn Hạnh Tập Kinh (Abhiniskramanasūtra), gọi tắt là kinh Bổn Hạnh Tập, gồm sáu mươi quyển, do ngài Xà Na Cấp Đa dịch vào đời Tùy. Kinh trần thuật các sự tích trong đời đức Phật như đản sanh, xuất gia, thành đạo, và các nhân duyên quy phục, hóa độ của các đệ tử Phật.

[5] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Thái Tử Bổn Khởi Thụy Ứng Kinh, do cư sĩ Chi Khiêm dịch vào đời Đông Ngô, ghi chép các chuyện trong đời đức Phật kể từ khi Ngài c̣n ở vương cung, cũng như nhân địa trong quá khứ cho đến khi Ngài xuất gia, thành đạo, độ ba anh em ngài Ca Diếp v.v…

[6] Thời cổ, dùng chất đồng mài bóng làm gương soi. Do vậy, để soi gương th́ phải mài cho sạch teng đồng và bụi bặm.

[7] Đây là hai câu nói được trích từ chương Đại Vũ Mô của thiên Ngu Thư trong sách Thượng Thư của Nho Gia. Nho gia tin rằng đây là câu nói căn dặn của vua Nghiêu khi truyền ngôi cho vua Thuấn. Thiên Đại Vũ Mô chép cả một đoạn dài, nhưng chỉ có mười sáu chữ “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh, duy nhất, doăn chấp quyết trung” được coi là mười sáu chữ truyền tâm của truyền thống văn hóa cổ truyền Trung Hoa. Có rất nhiều cách giải thích mười sáu chữ ấy, nhưng cách giải thích của Khổng Dĩnh Đạt được chấp nhận phổ biến hơn cả: “Ḷng dân rất nguy hiểm, đạo tâm tột bậc u vi. Nguy là khó an, duy là khó hiểu rơ. Ông hăy nên dùng ḷng tinh thuần, chuyên tâm nhất ư, tin tưởng, ǵn giữ đạo trung chánh, khiến cho dân an mà đạo được sáng tỏ. Đạo chính là đường lối, là khuôn phép mọi vật phải hướng theo. Ḷng người quyết định muôn mối lo, đạo tâm là cái gốc của các đường lối. Lập ngôi vua để an ḷng người, hễ ḷng người biến hóa th́ sẽ khó an. Muốn dân an, phải giữ đạo cho sáng. Đạo tâm mà sai lệch th́ khó sáng tỏ. Muốn cho đạo sáng tỏ th́ tâm ắt phải chuyên ṛng. Muốn cho dân an th́ phải nhất ư. V́ thế, răn dạy tâm phải tinh thành, ư chuyên nhất, lại giữ lấy lẽ trung dung, sau đó đạo mới sáng, dân mới yên được”.

[8] Khí thế gian (器世間, Bhājana-loka) c̣n gọi là Khí Thế Giới, Khí Giới, hoặc Khí, chỉ chung thế giới và cơi nước mà hết thảy chúng sanh đang sống. Nó c̣n được gọi là Y Báo, hoặc Trụ Xứ Thế Gian, hay Quốc Độ Thế Gian. Sở dĩ gọi là Khí Thế Gian v́ thế gian có công năng chứa đựng hết thảy hữu t́nh giống như đồ đựng, nên gọi là Khí ().

[9] Do từ ngữ này quá hàm súc nên đành để nguyên rồi dẫn lời giải thích của pháp sư Viên Anh trong bộ Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng Nghĩa như sau: “Cái Thể của tự tánh vốn sẵn thanh tịnh, hoàn toàn chẳng phải do gạn lọc mà được thanh tịnh, v́ nó vốn sẵn ĺa phiền năo trược, cũng chẳng phải là thanh tịnh do đối trị, v́ nó vốn sẵn ĺa sanh tử nhiễm mà hiển lộ thành tánh tịnh Niết Bàn. Cái Thể ấy hết thảy chúng sanh vốn sẵn có, chẳng nhờ vào tạo tác, chẳng đợi tu thành, cho nên nói là cái Thể vốn sẵn thanh tịnh. Cái Thể ấy vốn chẳng có ǵ khác, chính là cái tánh nay ông vốn đang sẵn có, tṛn đầy, lặng trong, chẳng sanh diệt, nên gọi là Thức Tinh. Vốn là cái tâm diệu minh, hoàn toàn chẳng phải do mài luyện mà tỏa sáng, mà nó vốn sẵn tự sáng, tuy ở trong đêm dài tăm tối, tánh ấy chẳng tối tăm, nên nói là Nguyên Minh. Nơi mắt có thể thấy, nơi tai có thể nghe… Tuy chia thành sáu thứ ḥa hợp, nhưng vốn là một cái sáng suốt tinh ṛng; đó là cái gốc chân thật vậy. Thức Tinh c̣n chính là cái Thể tinh ṛng, sáng suốt của thức thứ tám. Tuy cái Thể ấy kèm theo chút phần vọng, nhưng rốt ráo toàn thể là chân”.

[10] Điểm nhăn tức là khi vẽ rồng hoặc tạo tác tượng thần, tượng Phật, tượng Bồ Tát, khi đă vẽ xong, hoặc làm xong, mới vẽ mắt cuối cùng để khiến cho bức vẽ hoặc bức tượng sống động hơn. C̣n kết huyệt là một thuật ngữ trong Phong Thủy. Họ tin rằng trong đất có nhiều long mạch, “kết huyệt” là chỗ mà các mạch chính lẫn phụ sẽ quy kết vào, là chỗ hội tụ toàn bộ năng lượng và tác dụng thần kỳ của các mạch đất.

[11] Thuật ngữ Phong Thủy gọi phương Đông là Thanh Long, phương Tây là Bạch Hổ, và cũng có khi hiểu thông tục Thanh Long là phía trái, Bạch Hổ là phía phải khi quan sát một cuộc đất để đặt mộ hay xây nhà.

[12] Pháp sư Thánh Nghiêm giảng câu này phải hiểu như sau: “Thân Phật ở đây là nói đến Pháp Thân, Pháp Thân thường hằng, không đâu chẳng tồn tại, không thuộc về pháp hữu lậu, không thuộc các khái niệm vô vi, hữu vi, hữu tướng, vô tướng, bất sanh, bất diệt, nên nói ‘chẳng đọa chư số’ tức là chẳng thể nào dùng ngôn thuyết, phân biệt để lănh hội được”.

[13] Thiên Trúc hay Tây Thiên đều là danh xưng cổ để gọi toàn thể Ấn Độ. Danh xưng này c̣n được phiên âm là Thân Độc, Thiên Đốc, Hiền Đậu, Quyến Đốc, Kiền Đốc v.v… đều là các cách phiên âm khác nhau của sông Sindhu (tên gốc của sông Indus). Theo các nhà nghiên cứu, danh từ Indus là do người Ba Tư đă đọc trại chữ Sindhu thành Hinduk, rồi người Hy Lạp đọc trại thành âm Indos, mà từ đó trở thành danh xưng Indus rồi diễn biến thành India trong các ngôn ngữ Âu Tây.

[14] Sở dĩ phiên âm là Căng Già v́ trong tiếng Hindi, sông này được gọi là Ganga, tiếng Phạn là Gaṅgā. Ganges chỉ là cách phiên âm của người Âu Tây đối với con sông này.

[15] “Lạc mặc” (落墨) tức là thuật ngữ dùng trong hội họa của Trung Hoa, chỉ phần vẽ vời chánh yếu trong một bức họa. Do vậy, mở rộng thành ư nghĩa “cao xứ lạc mặc” hoặc “đại xứ lạc mặc” là chú trọng đến phần chánh yếu, cốt lơi của sự vật.

[16] “Sát thuyết, trần thuyết” là một thuật ngữ phát xuất từ kinh Hoa Nghiêm, trong mỗi một vi trần trong một quốc độ thường có một thế giới của Phật, trong ấy có Phật thuyết pháp, trùng trùng vô tận, nên bảo là trong mỗi vi trần đều nói vô thượng diệu pháp, mà cơi nước do các vi trần hợp thành nên cũng nói là cơi nước nói.

[17] Ngũ Kim là năm thứ kim loại gồm vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, nhưng về sau thường được dùng để chỉ chung các thứ kim loại. Và được mở rộng ư nghĩa trong từ ngữ Ngũ Kim Điếm thành các tiệm bán đủ thứ vật liệu cần thiết cho xây dựng, hoặc sửa chữa nhà cửa, như Home Depot chẳng hạn.

[18] Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, lân hư trần (paramāṇu) là sắc chất nhỏ nhất không thể chia chẻ nhỏ hơn được nữa. Bảy lân hư trần hợp thành một cực vi trần, bảy cực vi trần hợp thành vi trần (aṇu). Bảy vi trần hợp thành một kim trần (loha-raja, có khi c̣n dịch là đồng trần). Bảy kim trần hợp thành một thủy trần (ap-raja). Bảy thủy trần hợp thành một thố mao trần (śaśa-raja). Bảy thố mao trần hợp thành một dương mao trần (avi-raja). Bảy dương mao trần hợp thành một ngưu mao trần (go-raja). Bảy ngưu mao trần hợp thành một hướng du trần (vātāyanacchidra-raja). Bảy hướng du trần hợp thành một kỷ (bọ chét, likṣā). Bảy kỷ hợp thành một sắt (yūka, con rận). Bảy sắt hợp thành một khoáng mạch (yava). Bảy khoáng mạch hợp thành một lóng ngón tay (aṅguli-parva) v.v…