Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng
Nghĩa
Quyển 3
Phần 1
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả: Thanh
tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
2.2.2.2.2.1.2.
Xiển dương vô trụ để [thính chúng] khai ngộ,
thấu hiểu
[Khoa này] được
chia thành năm phần:
1) Dựa
theo cái quả để giải thích cặn kẽ.
2) Dựa
theo cái nhân để giải thích tường tận.
3)
Thỉnh cầu chỉ dạy tên kinh để thọ tŕ.
4)
Thành tựu giải huệ
5)
Hiển thị tột bậc công dụng của kinh.
2.2.2.2.2.1.2.1.
Dựa theo cái quả để giải thích cặn kẽ
Khoa “xiển dương vô
trụ để thính chúng khai ngộ, thấu hiểu”
này được chia thành năm tiểu khoa. Đầu
tiên là [tiểu khoa] dựa theo cái quả để giải
thích cặn kẽ, tức là từ ba hàng đầu thuộc
phần thứ chín cho tới phần thứ mười. Dựa
theo cái quả để nói cặn kẽ là v́ trong phần
trên [kinh đă nói] “nhất thiết hiền thánh giai
dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (hết thảy các
hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt), nay bèn nêu lên sự
việc để chứng minh, mà cũng nhằm đối
ứng với [các ư nghĩa] “bất ưng thủ
pháp, thủ phi pháp, bất khả thủ, bất khả
thuyết, Phật pháp tức phi Phật pháp” (chớ nên giữ lấy
pháp, hoặc giữ lấy phi pháp, chẳng thể giữ
lấy, chẳng thể nói, Phật pháp chính là chẳng phải
Phật pháp) trước đó. “Đắc mà vô đắc” tức là chẳng giữ lấy
pháp, đó gọi là “tức chẳng phải Phật
pháp”. “Vô đắc mà
đắc” tức là “chẳng
giữ lấy phi pháp”, đó gọi là “Phật pháp”.
Đắc mà không có ǵ là đắc, vô đắc tức là
đắc. Tâm hạnh diệt, ngôn ngữ dứt, có ǵ
để có thể lấy, có ǵ để có thể nói nữa
đây? Nói chung là nhằm
minh thị ư “chẳng trụ vào hai bên”. Quả địa
đă là như thế, nhân địa có thể [suy ra
mà] biết!
Tiểu Thừa đă là như thế, [cứ theo đó mà
suy ra], bèn có thể biết Đại Thừa vậy!
Tiểu khoa này lại chia
thành hai phân đoạn:
1) Luận chung về Tứ
Quả.
2) Thầy tṛ chứng minh sự
thành tựu.
2.2.2.2.2.1.2.1.1.
Luận chung về Tứ Quả
2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.
Sơ Quả ĺa tướng
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Tu Đà Hoàn năng tác thị niệm, ngă đắc
Tu Đà Hoàn quả phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Phất
dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tu Đà Hoàn danh vi Nhập
Lưu, nhi vô sở nhập, bất nhập sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp, thị danh Tu Đà Hoàn”.
(經)須菩提!於意云何?須陀洹能作是念,我得須陀洹果不?須菩提言:不也,世尊!何以故?須陀洹名為入流,而無所入,不入色聲香味觸法,是名須陀洹。
(Kinh:
“Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao?
Tu Đà Hoàn có thể nghĩ như thế này: ‘Ta đắc
quả Tu Đà Hoàn’ hay chăng?” Tu Bồ Đề
thưa: “Bạch Thế Tôn! Không ạ! V́ sao vậy? Tu
Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu, nhưng không có cái để
nhập, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, bèn gọi là Tu Đà Hoàn”).
Sơ Quả đoạn hết
tám mươi tám Sử[1]
thuộc tam giới, đă thấy lư Chân Không, biết vô
ngă, cũng chẳng có ngă sở! Nếu nghĩ “ta có thể
đắc quả” tức là ngă kiến c̣n nguyên, nói chi
đắc quả nữa? Từ Nhị Quả trở lên,
đều theo lệ này. Ngài Tu Bồ Đề đều
dùng danh tướng của Tứ Quả để biện
định, giải thích, khiến cho sự chấp trước
đối với tướng của cái quả sẽ ngay
lập tức tự nhiên tiêu mất. Đấy là sự khéo
léo trong thuyết pháp vậy (“phất dă” là một “hoạt cú”[2], giống như nói
“chẳng phải là không đắc, mà cũng chẳng thể
nghĩ như vậy”. Chữ Danh trong Thị Danh hàm ư “là giả danh,
cũng chẳng thể coi là thật được”. “Coi là thật” tức là nghĩ
tưởng, chấp rằng
có cái
để đạt được).
Tu Đà Hoàn (Srotāpanna) trong tiếng
Phạn, được phương này dịch là Nhập
Lưu, ư nói “đă dự
vào ḍng cuối của Niết Bàn”. Do đi ngược
ḍng về nguồn cội của ḍng chảy ấy, có thể
đạt tới bờ kia Niết Bàn. Nhưng tuy gọi
là Nhập
Lưu, thật ra chẳng có ǵ để nhập! Câu “bất
nhập” chính là để giải thích nguyên do. Bởi lẽ,
căn và trần đối ứng, được gọi
là Lục Nhập, tức là Căn và Trần nhập vào
nhau (như mắt đối trước sắc, nếu
có sắc lọt vào mắt, mắt liền bị sắc
chuyển. Đấy cũng có thể nói là “nhăn nhập
vào sắc”. Các điều khác đều phỏng theo lệ này). Do nhập vào lẫn nhau, nên thức
là phân biệt. Nay nói “bất nhập” tức là nói rơ “có thể rỗng không t́nh thức” vậy! Do chẳng nhập lục
trần, không có ǵ để gọi tên, bèn nói là Nhập
Lưu. Cũng do chẳng nhập lục trần, t́nh thức
có thể rỗng không, cho nên tuy gọi là Nhập Lưu, mà
thật ra chẳng có ǵ để nhập! Do vậy, đặc
biệt giả gọi là Nhập Lưu đó thôi! V́ thế,
“thị danh Tu Đà Hoàn” (gọi là Tu Đà Hoàn). “Danh”
tức là giả danh, hoặc danh tướng. Những câu
Thị Danh trong phần sau đều phỏng theo lệ
này! [Đoạn kinh này] ngụ ư: Nếu có ư niệm “ta
có thể Nhập Lưu”, tức là rành rành có cái để
nhập. Nếu có cái để nhập, tức là t́nh thức
vẫn c̣n y nguyên, sao có thể
đắc Sơ Quả cho được? Nói chung, đắc
quả chính là do vô niệm, chứ khởi niệm sẽ
chẳng phải là đắc quả!
2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.
Nhị Quả ĺa tướng
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Tư Đà Hàm năng tác thị niệm, ngă
đắc Tư Đà Hàm quả phủ?” Tu Bồ Đề
ngôn: “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tư Đà Hàm
danh Nhất Văng Lai, nhi thật vô văng lai, thị danh Tư
Đà Hàm”.
(經)須菩提!於意云何?斯陀含能作是念,我得斯陀含果不?須菩提言:不也,世尊!何以故?斯陀含名一往來,而實無往來,是名斯陀含。
(Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông
nghĩ sao? Tư Đà Hàm có thể nghĩ như thế
này: ‘Ta đắc quả Tư Đàm’ hay chăng?” Tu Bồ
Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không ạ! V́ sao vậy?
Tu Đà Hàm gọi là Nhất Văng Lai, nhưng thật sự
chẳng lui tới, nên gọi là Tư Đà Hàm”).
Tư
Đà Hàm (Sakṛd-āgāmin) trong tiếng
Phạn được phương này dịch là Nhất
Văng Lai. Đă chứng Sơ Quả, tiến lên đoạn
Tư Hoặc[3] trong Dục Giới
từ thượng thượng cho đến trung hạ
gồm sáu phẩm, vẫn c̣n ba phẩm hạ nữa
(Tư Hoặc trong Dục Giới có tất cả chín phẩm.
Đă đoạn năm phẩm, tức là đă đoạn
tới trung trung phẩm th́ gọi là Nhị Quả Hướng.
Đoạn tới sáu phẩm bèn gọi là “đắc
Nhị Quả”). Cần phải một lần sanh lên
cơi trời, và một lần sanh vào nhân gian để đoạn,
nên gọi là Nhất Văng Lai (một lần qua lại). Nhưng trong tâm của vị ấy, thật
sự cũng chẳng có tướng qua lại! Do chẳng
có tướng qua lại, nên mới có thể qua lại!
Cũng do vị ấy c̣n chẳng có tướng qua lại, há có một lượt qua lại,
hay hai lượt qua lại khác biệt ư? Đấy
cũng là giả gọi là Nhất Văng Lai đó thôi! Có
nghĩa là: Nếu có ư niệm thực hiện một
lượt văng lai, th́ rơ ràng là chấp vào tướng văng
lai. Đă chấp tướng, nghiễm nhiên là phân biệt,
Sơ Quả c̣n chẳng thể đắc, nói ǵ đến
Nhị Quả nữa ư?
2.2.2.2.2.1.2.1.1.3.
Tam Quả ĺa tướng
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? A Na Hàm năng tác thị niệm, ngă đắc
A Na Hàm quả phủ?” Tu Bồ Đề
ngôn: “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? A Na Hàm danh vi Bất
Lai, nhi thật vô lai, thị cố danh A Na Hàm”.
(經)須菩提!於意云何?阿那含能作是念,我得阿那含果不?須菩提言:不也,世尊!何以故?阿那含名為不來,而實無來,是故名阿那含。
(Kinh: “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? A Na Hàm có thể nghĩ như thế này:
‘Ta đắc quả A Na Hàm’ hay chăng?” Tu Bồ Đề
thưa: “Bạch Thế Tôn, không ạ! V́ sao vậy? A Na Hàm
gọi là Bất Lai, nhưng thật ra chẳng đến,
cho nên gọi là A Na Hàm”).
A Na Hàm (Anāgāmin) trong tiếng Phạn,
được phương này dịch là Bất Lai (chẳng
đến). Đă chứng Nhị Quả, tiến lên
đoạn sạch ba phẩm hạ của Tư Hoặc
thuộc Dục Giới, gởi thân nơi Tứ Thiền
Thiên (Caturdhyānabhūmi) thuộc Sắc Giới,
chẳng đến nhân gian, cho nên gọi là Bất Lai.
Nhưng trong tâm vị ấy, thật sự chẳng có ǵ gọi
là Lai. Do ư niệm “đến”
đă chẳng có, cho nên có thể Bất Lai. Cũng do vị ấy
c̣n chẳng có ǵ để gọi là Lai, há có cái gọi là Bất
Lai ư? Do vậy, cũng giả gọi là Bất Lai
đó thôi! Có nghĩa là: Nếu dấy niệm “chẳng đến”, rơ ràng là có “đến” và “chẳng
đến”, vẫn chưa thể
lạnh nhạt, quên bẵng! Nếu chưa hoàn toàn quên mất,
t́nh thức vẫn c̣n
đó; [vậy
th́] Sơ
Quả c̣n chẳng có, nói ǵ đắc Tam Quả nữa
ư?
2.2.2.2.2.1.2.1.1.4.
Tứ Quả ĺa tướng
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? A La Hán năng tác thị niệm, ngă đắc
A La Hán đạo phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Phất
dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp, danh A La
Hán. Thế Tôn! Nhược A La Hán tác thị niệm, ngă
đắc A La Hán đạo, tức vi trước ngă,
nhân, chúng sanh, thọ giả!”
(經)須菩提!於意云何?阿羅漢能作是念,我得阿羅漢道不?須菩提言:不也,世尊!何以故?實無有法,名阿羅漢。世尊!若阿羅漢作是念,我得阿羅漢道,即為著我人眾生壽者。
(Kinh: “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? A La Hán có thể nghĩ như thế này:
‘Ta đắc A La Hán đạo’ hay chăng?” Tu Bồ Đề
thưa: “Bạch Thế Tôn! Không ạ! V́ sao vậy? Thật
sự chẳng có pháp nào gọi là A La Hán. Bạch Thế
Tôn! Nếu A La Hán nghĩ như thế này, ta đắc
đạo A La Hán, tức là chấp ta, người, chúng
sanh, thọ giả!”)
A La Hán (Arhat) trong tiếng Phạn
được phương này dịch là Vô Sanh. Đă chứng
Tam Quả, ở trong Tứ Thiền Thiên, đoạn hết
bảy mươi hai phẩm Tư Hoặc thuộc hai cơi
trên (Sắc Giới và Vô Sắc Giới), chứng Vô Sanh
Pháp Nhẫn, chẳng c̣n thọ thân sau. Sanh tử từ
đây đă giải quyết xong, nên gọi là Vô Sanh.
Nhưng trong tâm vị ấy, thật sự ngay cả pháp
cũng chẳng có. Do chẳng có pháp, cái tâm sanh diệt chấm
dứt, nên gọi là Vô Sanh. Cũng do vị ấy c̣n chẳng
có pháp Vô Sanh, há có cái để gọi là Vô Sanh ư? Đấy
cũng là giả gọi Vô Sanh đó thôi! Có nghĩa là: Nếu
có ư niệm vô sanh, rơ ràng là có pháp! Đă có pháp tướng,
tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả!
Sanh tâm động niệm vẫn là phàm phu y như
cũ, sao có thể đắc Tứ Quả, chứng Vô
Sanh Pháp Nhẫn ư?
2.2.2.2.2.1.2.1.2.
Thầy tṛ chứng minh sự thành tựu
Chia thành hai đoạn:
1) Dựa vào bậc
đương cơ “vô đắc” để làm chứng.
2) Dựa vào cái nhân “vô
đắc” xưa
kia để làm chứng.
2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.
Dựa vào bậc đương cơ “vô
đắc”
để làm chứng
2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1.
Dẫn lời đức
Phật nói [để chứng minh]
(Kinh) Thế Tôn! Phật
thuyết ngă đắc Vô Tránh tam-muội, nhân trung tối
vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A
La Hán.
(經)世尊!佛說我得無諍三昧,人中最為第一,是第一離欲阿羅漢。
(Kinh: Bạch Thế
Tôn! Phật nói con đắc Vô Tránh tam-muội, bậc nhất
trong loài người, là A La Hán ĺa dục bậc nhất).
Vô Tránh có nghĩa là chẳng
cạnh tranh với chúng sanh, hết thảy b́nh đẳng.
Do chẳng tự coi ḿnh là đúng, cho nên có thể chẳng
tranh chấp. Vô tránh sẽ chẳng năo hại người
khác, có ư niệm thủ hộ cái tâm người khác, khiến
cho họ chẳng nẩy sanh phiền năo. Tu môn tam-muội
này, há chẳng phải là đại từ ư? Nhưng sở
dĩ thành tựu môn tam-muội này là do tướng thị
phi nhân ngă đều là Không. Kinh Niết Bàn dạy: “Tu Bồ
Đề trụ hư không địa. Nhược hữu
chúng sanh hiềm ngă lập giả, ngă đương chung
nhật đoan tọa, bất
khởi. Hiềm ngă tọa giả, ngă đương chung
nhật lập, bất di xứ” (Tu Bồ Đề
trụ nơi đất hư không. Nếu có chúng sanh hiềm
ta đứng, ta sẽ suốt ngày ngồi ngay ngắn, chẳng
đứng lên. Hiềm ta ngồi th́ ta sẽ suốt ngày
đứng, chẳng dời chỗ). Có thể thấy do
Ngài trụ trong hư không, nên mới có thể làm như thế.
Trưởng lăo giải Không bậc nhất, nên có thể
nhập môn tam-muội này (Mười vị đại
đệ tử, mỗi vị đều có sở trường
riêng. Ngài Đại Ca Diếp được ca ngợi về
hạnh Đầu Đà, ngài A Nan được xưng tụng
là bậc Đa Văn. Các vị khác như Xá Lợi Phất
trí huệ, Mục Kiền Liên thần thông, La Hầu La mật
hạnh, A Na Luật thiên nhăn, Phú Lâu Na thuyết pháp, Ca Chiên
Diên luận nghĩa, Ưu Ba Ly tŕ luật,
cùng với Tu Bồ Đề giải Không, đều là bậc
nhất!)
Tam-muội
(Samādhi) được
phương này dịch là Chánh Thọ, c̣n dịch là Chánh
Định. Hết thảy đều chẳng
thọ (受, tiếp
nhận) th́ gọi là Chánh Thọ. Hết thảy chẳng
thọ, sẽ chẳng bị hết thảy lay động,
tức là Chánh Định. “Nhân” (người) là nói về
phàm phu. Phàm phu thích tranh chấp, há có thể vô tránh? V́ thế
nói [ngài Tu Bồ Đề] là “nhân trung tối vi đệ
nhất” (bậc nhất
trong loài người). Nghĩa rộng của
chữ Dục (欲)
là chỉ trọn khắp các Tư Hoặc. Đoạn sạch
các thứ phiền năo như tham,
sân v.v… trong tam giới th́ mới là thật
sự ly dục. Phàm thành A La Hán, không ai chẳng ly dục.
Ly dục ắt cũng chẳng ganh đua với chúng sanh,
chỉ là chưa đắc Vô Tránh tam-muội, [điều
này] khiến cho trưởng lăo cũng được
xưng tụng là bậc nhất. Kệ tụng rằng: “Y
bỉ Thiện Cát giả, thuyết ly nhị chủng
chướng” (“nương theo ngài Thiện Cát, nói ĺa hai
loại chướng”. Tân Nhăn Sớ coi Kiến Hoặc và
Tư Hoặc là hai loại chướng, hiểu theo
nghĩa hẹp). Bản chú giải thời cổ bảo “ly
dục là ĺa Phiền Năo Chướng”;
đó là điều mà hết thảy các vị A La Hán cùng
có (Kiến Hoặc và Tư Hoặc đều là phiền
năo).
Tuy
đắc Vô Tránh tam-muội, nhưng không có ǵ để
đắc (tức là tự quên sự vô tránh ấy), tức
là tự quên [chính ḿnh đang] ở trong môn Định
ấy. Đó là ĺa tam-muội chướng, bèn chính là thật
sự đạt được vô tránh, thật sự
đạt được tam-muội. Do vậy, được
gọi là “A La Hán ly dục bậc nhất”. Gộp
chung với câu trước để nói, tức [ngài Tu Bồ
Đề] không chỉ là bậc nhất trong hết thảy mọi
người, mà nói theo phương diện ly dục của
A La Hán, Ngài cũng được xưng tụng là bậc
nhất. Đấy là lời khen ngợi thường nhật
của đức Thế Tôn đối với trưởng
lăo, cho nên nói là “Phật thuyết”. Trưởng lăo
đă tự quên ḿnh đang ở trong Định, các đệ
tử khác lại chẳng thể
sánh bằng, chỉ có đấng Cứu Cánh Giác có thể
biết trưởng lăo nhập tam-muội ấy. Do vậy,
chỉ riêng đức Phật có thể nói. Phật là danh
xưng của bậc
Cứu Cánh Giác. Khoa này nhằm nêu bày sự tướng công
hạnh của Ngài, chẳng phải bàn về ly tướng
(khoa kế tiếp mới trần thuật ly tướng).
Do vậy, chẳng nói “Như Lai thuyết”, mà nói là “Phật
thuyết”,
do
Như Lai là danh xưng của tánh đức. Nói theo tánh, th́
các danh tướng như vô tránh và bậc nhất v.v… đều
chẳng thể nói. Mỗi danh xưng trong kinh này, không ǵ chẳng
chứa đựng diệu nghĩa như thế đó.
2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.2.
[Ngài Tu Bồ Đề] trần thuật [chính ḿnh] ly tướng
(Kinh)
Ngă bất tác thị niệm, ngă thị ly dục A La Hán.
(經)我不作是念,我是離欲阿羅漢。
(Kinh:
Con chẳng nghĩ như thế này: Con là ly dục A La
Hán).
Bản
lưu thông [trong hiện thời] vốn có hai chữ Thế
Tôn, nhưng các bản kinh chép tay và cổ bản không có, nên
có thể lược bỏ. Hai câu kinh văn ở đây dễ
hiểu. Nay trong lời Ngài nói, trưởng lăo chỉ nói “ly
dục A La Hán”, chẳng nói “Vô Tránh tam-muội”,
cũng là có diệu nghĩa; v́ chính là để nói rơ:
Ngài tự quên ḿnh đang ở trong Định. Hơn nữa,
ly dục thông thường th́ c̣n chẳng có ǵ để
đạt được. Ngài chẳng tự nghĩ
đă đắc Vô Tránh tam-muội, có thể suy ra mà biết
[cảnh giới của Ngài vậy].
2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.3.
Giải thích nguyên do
2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.3.1.
Giải thích rơ bằng cách nói tương phản
(Kinh)
Thế Tôn! Ngă nhược tác thị niệm, ngă đắc
A La Hán đạo, Thế Tôn tắc bất thuyết Tu Bồ
Đề thị nhạo A Lan Na hạnh giả.
(經)世尊!我若作是念,我得阿羅漢道,世尊則不說須菩提是樂阿蘭那行者。
(Kinh:
Thế Tôn! Nếu con nghĩ thế này: “Con đắc
đạo A La Hán”, đức Thế Tôn sẽ chẳng nói
“Tu Bồ Đề là người thích hạnh A Lan Na”).
Đối
với câu “ngă nhược tác thị niệm” (nếu
con nghĩ thế này), chỉ có bản chú giải của
ngài Tăng Triệu là không có chữ Ngă.
Xét ra, câu kế đó có chữ Ngă, trong câu này vốn có thể
tỉnh lược [chữ Ngă ấy], nhưng nay tôi dựa
theo bản chép tay
[của ông Liễu Công Quyền],
nên vẫn giữ nguyên. A La Hán đạo tức là ly dục.
A Lan Na (Araṇya)
được phương này dịch là Tịch Tĩnh,
cũng dịch là Vô Sự (ư nói [chẳng có] sự
tướng). Tướng hoàn toàn ở bên ngoài, tâm thuộc
bên trong. Trong ngoài đều vắng lặng, chẳng lúc
nào không tĩnh. Đó chính là tên gọi khác của Vô Tránh
tam-muội. “Hạnh” là công hạnh. “Nhạo”
nghĩa là ưa thích, khế hợp với cái tâm. Bởi lẽ,
ưa thích cùng cực th́ nói là Nhạo, có ư nghĩa “tánh mạng chấp thuận”.
“Nhạo A Lan Na hạnh” (ưa thích hạnh A Lan Na) tức
là tâm với hạnh khế hợp chẳng gián đoạn,
tức là chứng đắc. Câu trước chẳng nói “ly
dục”
mà đổi thành A La Hán đạo, câu sau chẳng nói Vô
Tránh tam-muội mà đổi thành “nhạo A Lan Na hạnh”,
ngụ ư hai danh từ ấy chứa
đựng ư nghĩa tương đồng (A La Hán là Vô
Sanh, tức là “một tâm cũng chẳng sanh”. A Lan Na trong
ngoài đều vắng lặng, cũng tức là ư nghĩa “nhất
tâm chẳng sanh”),
chính là ư nghĩa “hễ có ư niệm ‘có cái để đạt
được’ sẽ chính là
chẳng phải thật sự đạt được”
càng thêm hiển nhiên, dễ hiểu! Do được nói rơ
bằng cách tương phản như vậy, những
điều đă nói trước đó như “hễ có
các tướng ta, người v.v… tức chẳng phải
là Bồ Tát”, cũng như “hễ giữ lấy
tướng,
bèn chấp vào tướng như ta, người v.v…” càng
được xiển minh
rơ rệt!
V́
sao hễ chấp Ngă, sẽ chẳng phải là Bồ Tát?
Do công hạnh hoàn toàn bị mất
đi! Nếu tâm niệm dấy lên, ắt có chấp lấy.
Hễ chấp, sẽ thành tướng; tướng ấy
liền trở thành ta, người, chúng sanh, thọ giả!
Bởi lẽ, nguyên do dấy niệm chẳng có chi khác:
Chưa quên t́nh chấp đối với “năng đắc”
(chủ thể có thể đạt được) và “sở
đắc” (cái bị đạt được)! “Năng
đắc” chính là tướng ta, “sở đắc” là
tướng người (ai là người có thể đạt
được? Ta! V́ thế, “có thể đạt
được” thuộc về ta. Cái để có thể
đạt được (sở đắc) là thụ
động. Do đối ứng với ta là người,
cho nên [cái có thể đạt được] thuộc về
tướng người). Năng và sở (tức là chủ
thể có thể đạt được (tức ta) và
cái bị đạt được, tức tướng
người) chẳng đồng nhất, sẽ thành
tướng chúng sanh. Do chấp tŕ [ư niệm đối
đăi “ta, người, chúng sanh”]
không ngừng, bèn thành tướng thọ giả! Hễ có
ư niệm “đạt được”, sẽ chẳng thể
đạt được! Có thể biết: Hễ có niệm
như bố thí v.v…, sẽ chẳng thể bố thí. Vậy
th́ người phát đại tâm, đại hạnh,
muôn vàn chớ nên trụ tướng đă rơ lắm rồi!
Do kẻ bố thí nếu có ư niệm “có
cái được thí”, sẽ rất dễ
đắc chí,
tự măn, sao c̣n có thể rộng hành bố thí cho
được? Những điều khác cứ phỏng
theo đó mà suy ra!
2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.3.2.
Nói rơ [nguyên do] theo chiều thuận
(Kinh)
Dĩ Tu Bồ Đề thật vô sở
hành, nhi danh Tu Bồ Đề thị nhạo A Lan Na hạnh.
(經)以須菩提實無所行,而名須菩提是樂阿蘭那行。
(Kinh:
Do Tu Bồ Đề thật sự chẳng có
ǵ để hành, bèn gọi Tu Bồ Đề là thích hạnh
A Lan Na).
Trong
phần nói rơ nguyên do theo chiều thuận, câu “thật vô
sở hành” phải nên hiểu là “thật vô sở kỳ
hành”, tức là tuy hành mà không thấy có điều
được hành ấy. Ư nghĩa “không có ǵ để
đạt được” cũng giống như thế,
chớ nên hiểu lầm là “chẳng làm ǵ hết, chẳng
đạt được ǵ hết”.
Khoa
này nối tiếp khoa trên. Phải nên nói là “thật sự
chẳng có ǵ để đạt được”,
nhưng nay nói “không có ǵ để hành” là có thâm ư. Bởi
lẽ, do khi tu hành hạnh này, [chẳng thấy] có hạnh
được hành, th́ mới gọi là “ưa thích hạnh
A Lan Na”. Nói cách khác, chính là do không có hạnh được
hành ấy,
th́ sau đó mới có thể chứng đắc, khiến
cho hết thảy người thuộc địa vị
tu nhân nghe xong sẽ kinh hoảng. Nếu chẳng thể vô
trụ ĺa tướng, sẽ luống uổng sự tu
hành ấy! Phần trước nêu ra quả vị để
nói, chính là để cho người thuộc địa vị
tu nhân đối chiếu. Nay nói quả vị của Tiểu
Thừa đă xong, cho nên đặc biệt nói “thật sự
không có ǵ để hành” để chỉ
điểm họ. Chẳng nói “ta thật sự
không có ǵ để hành” mà nói “do Tu Bồ Đề” cũng
chứa đựng thâm ư, bởi lẽ [nói như vậy]
nhằm biểu thị rơ rệt: Nói “thật sự không
có ǵ để hành” chính là do người bên cạnh thấy
như vậy, chứ bản thân Ngài đă hoàn toàn quên mất
chính ḿnh “thật sự chẳng có ǵ để hành”; ngụ
ư: Ngay cả ư niệm “thật sự chẳng có ǵ để
hành” cũng chẳng thể lưu giữ trong tâm. Hễ
lưu lại th́ tức
là trụ tướng. V́ sao? Hễ tâm có ư niệm, tức
là tâm chấp giữ. Nếu tâm giữ lấy tướng,
sẽ chính là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả!
Lại nghiền ngẫm cách nói này, ngài Tu Bồ Đề
đă nói thay cho đức Thế Tôn. Có nghĩa là: Đức
Thế Tôn nói “Tu
Bồ Đề là người thích hạnh A Lan Na”,
chẳng có chi khác, chính v́ ngài Tu
Bồ Đề thật sự chẳng có ǵ để
hành. Nhưng gọi như thế cũng có ư nghĩa: Khiến
cho [thính chúng] biết “thích hạnh A Lan Na” cũng thuộc
về danh tướng, chứ trong tánh chẳng thể chấp
từ ngữ ấy!
Nh́n
chung ư nghĩa của mấy khoa trên đây, đều nhằm
chỉ rơ: Ắt phải đạt được,
nhưng chẳng có ǵ để đạt được,
th́ mới là thật sự đạt được! Nếu
có thứ ǵ để đạt được, tức chẳng
phải là đạt được, khiến cho người
tu nhân biết: Ắt phải
“hành mà chẳng có ǵ để hành” th́ mới là chánh
hành! Hễ có cái được hành, sẽ là chẳng phải
hành! Thế nào là không có ǵ để đạt được,
chẳng có ǵ để hành, chẳng nghĩ như thế ấy?
“Chẳng nghĩ” tức là chỉ bày phương châm
“chẳng giữ lấy, chẳng trụ”. Biết
điều này th́ sau đấy mới có chỗ để
tiến nhập vô trụ. Đấy đều là những
điều [chánh
kinh] muốn xiển minh.
2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.
Dựa theo cái nhân
xưa kia để chứng minh vô đắc
(Kinh)
Phật cáo Tu Bồ Đề: “Ư ư vân hà? Như Lai tích tại
Nhiên Đăng Phật sở, ư pháp hữu sở đắc
phủ?” “Thế Tôn! Như Lai tại Nhiên Đăng Phật
sở, ư pháp thật vô sở đắc”.
(經)佛告須菩提:於意云何?如來昔在然燈佛所,於法有所得不?世尊!如來在然燈佛所,於法實無所得。
(Kinh:
Đức Phật bảo ngài Tu Bồ Đề: “Ư ông
nghĩ sao? Xưa kia Như Lai ở chỗ Phật Nhiên
Đăng, đối với pháp có đạt được
hay chăng?” “Bạch Thế Tôn! Như Lai ở chỗ Phật
Nhiên Đăng, đối với pháp thật sự chẳng
đạt được!”)
Đây
là chuyện xưa kia đức Thế Tôn đă hành Bồ
Tát đạo, lúc mới dự vào Đệ Bát Địa.
So với khi thành Chánh Giác sau này, lúc ấy Ngài vẫn c̣n thuộc
địa vị tu nhân; nhưng so với người
sơ phát tâm th́ chính là quả vị. Nay dẫn chuyện
này nhằm nói với người phát tâm Vô Thượng Bồ
Đề. V́ thế, khoa xét theo cái nhân xưa kia này
được gộp trong phần “xét theo cái quả
để giải thích cặn kẽ”.
Chuyện
thời Phật Nhiên Đăng (Dīpaṃkara) và chuyện đức
Phật ấy làm Bổn Sư thọ kư cho đức Thế
Tôn có thể thấy trong kinh Bổn Hạnh Tập[4]
và kinh Thụy Ứng[5]
(khi Phật Nhiên Đăng chưa xuất gia, vốn tên là
Đĩnh Quang (loại đèn có chân th́ gọi là
Đĩnh (錠), không
chân th́ gọi là Đăng (燈).
Do lúc Ngài sanh ra, khắp hết
thảy thân Ngài
[sáng ngời] như ánh đèn vậy).
Khi đó, đức Thế Tôn là Thất Địa Bồ
Tát (có tên là Nho Đồng (Mānavaka), c̣n gọi là Thiện Huệ), nhằm vào lúc Ngài sắp
tu viên măn A-tăng-kỳ kiếp thứ hai. Gặp
Phật, nghe pháp, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, dự vào Bát
Địa (bèn bước vào
A-tăng-kỳ thứ ba), Phật Nhiên Đăng thọ
kư cho Ngài rằng: “Chín mươi mốt kiếp sau, [tên
kiếp khi đó] được gọi là Hiền Kiếp,
ông sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni”.
Vô
Sanh Pháp tức là Chân Như Thật Tướng. Nhẫn (忍) có nghĩa là “thông đạt vô ngại,
bất thoái”. Đó gọi là Lư và Trí ngầm ứng hợp,
có thể chấp nhận, ấn tŕ. Đối
với chuyện chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn trong Đại
Thừa th́ có nhiều thuyết.
Đại Trí Độ Luận bảo là [Bồ Tát] đă
đăng địa (chứng từ Sơ Địa trở
lên, đó là nói theo Biệt Giáo) liền đắc. Các kinh
như Nhân Vương v.v… bảo sẽ đắc [Vô Sanh Pháp Nhẫn]
trong Thất Địa, Bát
Địa, Cửu Địa.
Cần phải biết: Sơ Trụ trong Viên Giáo trở
lên th́ đă phần chứng (đó gọi là “phá một
phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân”). Đạt
tới Bát Địa bèn chứng viên măn, nên gọi là Vô Học.
Cho tới Đẳng Giác bèn kiến tánh, giống như
cách một lớp the ngắm mặt trăng. Chỉ có Cứu
Cánh Giác mới chứng đắc rốt ráo!
Đối
với chữ Pháp trong “ư pháp”, các bản sớ giải
[xưa kia] đều dựa theo lời lẽ thọ kư
để nói, thiếu thỏa đáng! Chỉ có ngài Ngẫu
Ích dựa theo Vô Sanh Pháp Nhẫn để nói là rất
đúng (các bản sớ giải do câu nệ bài tụng của
đức Di Lặc. Bài tụng ấy như sau: “Phật
ư Nhiên Đăng ngữ, bất thủ lư thật trí,
dĩ thị chân thật nghĩa, thành bỉ vô thủ thuyết”
(Phật nơi lời Nhiên Đăng, chẳng lấy lư
Thật Trí, dùng nghĩa chân thật ấy, nói thành chẳng
giữ lấy). Xét ra, chữ Ngữ trong bài tụng ấy
hoàn toàn chẳng nói về ngôn ngữ thọ kư! Xưa kia,
đức Thế Tôn do nghe pháp mà chứng Vô Sanh; do vậy,
Ngài được thọ kư. Như vậy th́ chữ Ngữ
trong lời tụng dường như là nói đến pháp
do đức Nhiên Đăng đă nói. Bài tụng có ư nói: Do
nghe pháp ngữ mà chẳng chấp vào lư thể và Thật
Trí (nhằm phân biệt với Quyền Trí mà nói là Thật
Trí). Do bởi lẽ ấy, nghĩa chân thật được
thành. Do vậy, có thể chứng minh rằng Ngài (ư nói
đức Thế Tôn) quyết chẳng chấp giữ lời
đức Nhiên Đăng đă nói (câu này nhằm ca tụng
câu “trưởng lăo thật sự không có ǵ để
đắc”). Nói chung, do chẳng chấp trước
đối với Lư và Trí, cho nên có thể
Lư và Trí ngầm hợp mà chứng Vô Sanh. “Nghĩa chân thật”
là nói đến Vô Sanh. Vô Sanh Pháp là Chân Như Thật Tướng,
nên nói là “nghĩa chân thật”. Hoặc có thể hiểu
là pháp được nghe nói từ nơi Phật Nhiên
Đăng th́ cũng
được. “Hữu sở
đắc” là có cái để
đạt được. Hễ
có cái để đạt được, tức là chấp
giữ, tức là trụ tướng.
Ư của lời hỏi [trong đoạn kinh
Kim Cang trên đây] là trong khi Ngài (lúc Phật Thích Ca đang tu
nhân) nghe pháp thuở ấy, có thể chẳng trụ tướng
hay không? Nếu xét theo phương diện đă chứng
đắc Vô Sanh Nhẫn để nói, th́ chữ Đắc
càng dễ hiểu hơn! Hỏi rằng: Khi xưa, lúc Phật
đă đắc Vô Sanh Pháp, trong tâm Ngài có pháp Vô Sanh để
đắc hay không? Ở đây chẳng nói “tác niệm”
(nghĩ ngợi), do hễ có cái để đạt
được, sẽ là “tác niệm”. V́ vậy, tỉnh
lược! Tuy đức Thế Tôn gạn hỏi, thật
ra đă là ngầm đâm kim vàng, mở miệng liền nói
“Như Lai”. Do nói theo tánh, pháp lại vô h́nh, từ
đâu mà có Đắc cho được?
Từ
chữ “Thế Tôn” trở đi là lời thưa của trưởng
lăo. Đối với hai chữ Thế Tôn, có thể thấy
rơ vậy. Các bản kinh được lưu hành sau đời
Tống, trước hai chữ Thế Tôn c̣n thêm “phất
dă” (không phải vậy, không có, thưa không…), lầm to
rồi! Phàm văn tự sau hai chữ “phất dă”
đều là hoạt cú (những câu phải hiểu theo ư
nghĩa linh hoạt). Xem lời
đáp trong đoạn tiếp theo, chính là ư nghĩa quyết
định, há cần hoạt cú
để làm ǵ cơ chứ? Trưởng lăo lên tiếng
cũng xưng Như Lai, thật sự phù hợp khít khao với
lời hỏi. Ngài đă chẳng có ǵ để đạt
được, đă chẳng c̣n phiền rườm lời
nữa. V́ sao trưởng lăo biết “pháp
thật sự không có ǵ để đạt được” mà nói lời quyết
định ấy? Do nghe pháp mà trụ tướng th́ trong
tâm chưa ngừng sanh
diệt, há có thể chứng ngay Vô Sanh
ư? V́ thế biết: Thuở ấy, Phật
được nghe thuyết pháp, thật sự chẳng có
ǵ để đạt được. Đó là giải
thích dựa theo sự nghe pháp. Nếu xét theo chứng Vô Sanh
Pháp để giải thích, đă là chứng đắc Vô
Sanh Pháp, há có thể c̣n có cái để đạt được
nữa ư? Nếu c̣n có [ư niệm] “có pháp Vô Sanh” để
có thể đạt được, sẽ vẫn là cái tâm
sanh diệt y như cũ, há c̣n có thể nói là “chứng
Vô Sanh Pháp” ư? V́ thế, tuy đắc Vô Sanh Pháp,
nhưng đối với pháp ấy, thật sự chẳng
có ǵ để đạt được!
Trên
đây là phần giải nghĩa dựa theo văn từ
đă xong; nhưng ư nghĩa chung của khoa này c̣n chứa đựng
những điều mầu nhiệm, chớ nên không biết!
Thế nào là “nghĩa
chung?” Chính là v́ sao lại
nói khoa này. Nay chia đại lược thành ba tiết
để nói:
1)
Các khoa trên đây đối với ư nghĩa “đắc
quả vô trụ” đă chú trọng xiển phát cùng tận.
Người thuộc địa vị tu nhân phải nên hiểu
rơ: Ắt phải nên vô trụ. Nhưng vẫn phải
ngăn ngừa có người cho rằng “tuy nhân và quả ắt
cần phải như nhau, quả đă là như thế,
nhân cũng phải nên như thế, nhưng quả vị
Tiểu Thừa và nhân hạnh Đại Thừa có lẽ có những
chỗ chẳng hoàn toàn tương đồng!” V́ thế,
nói về Tiểu Thừa xong, lại đặc biệt
nêu ra ư nghĩa “quả vị Đại Thừa cũng
là đắc mà chẳng đắc, chẳng thể trụ
tướng” để nói rơ, khiến cho người tu
Đại Thừa tu theo ư chỉ “vô trụ” trọn
chẳng c̣n ngờ vực chất chứa! Đó là điều
thứ nhất.
2)
Nói tới quả vị Đại Thừa, chẳng nêu ra
Phật, mà nêu lên Bồ Tát
[để nói], nhằm ngừa [người nghe] sẽ
nghi “Phật đă là Cứu Cánh Giác, há có thể sánh
nghĩ?” C̣n địa vị Bồ Tát th́ hạn cuộc
trong nhân quả. Kinh này trong phần sau lại dẫn chuyện
này để nói rộng rằng: “Nếu lúc ấy mà có pháp
để đạt được, sẽ chẳng thọ
kư. Do chẳng có ǵ để đạt được, cho nên
mới được thọ kư”,
khiến cho [hành nhân] biết “Bồ
Tát trụ tướng sẽ chẳng thể thành Phật”.
Như vậy th́ người phát tâm tu Đại Thừa,
nếu trụ vào tướng, há có thể thành Bồ Tát ư? Lại c̣n há có phải
là Bồ Tát hạnh ư? Do vậy, khoa trước có nói: “Nếu
có các tướng ta, người v.v… tức chẳng phải
là Bồ Tát”. Hễ nói như thế, cái lư “nhân quả
như một” và yếu chỉ “vô trụ” càng thêm
rạng rỡ. Đó là điều thứ hai.
3)
Đă dẫn quả vị Bồ Tát cố nhiên là
như thế, nhưng không nêu riêng Bồ
Tát thuộc địa vị nào khác, chỉ riêng nêu Đệ
Bát Địa là v́ lẽ nào? Do trước đó đă nói
quả vị Tiểu Thừa coi đắc Vô Sanh là chứng
đạo, là bậc Vô Học, nên nay nêu ra Đại Thừa,
cũng dẫn “Bát Địa đắc Vô Sanh, đạt
tới Vô Học” để nói. Vô Học có nghĩa là chứng
đạo. Bởi lẽ, trước Bát Địa th́ tuy
đă chứng,
nhưng chưa viên măn, nên gọi là Hữu Học (nếu
luận về rốt ráo chứng th́ thuộc địa vị
Phật), sự chứng đắc của Tiểu Thừa hay
Đại Thừa đều tương đồng, khiến
cho người nghe đối với lư Vô Trụ chẳng
đến nỗi nẩy sanh mảy may ngờ vực.
Hơn nữa, kinh này vừa mở đầu liền nói “hăy
nên phát tâm, khiến cho nhập Vô Dư Niết Bàn”. Sau
đó lại nói “hiền thánh đều
do pháp vô vi [mà có sai biệt]”.
Niết Bàn tức là vô vi, đều có nghĩa là “chẳng
sanh, chẳng diệt”. V́ thế, Đại Thừa lẫn
Tiểu Thừa đều nêu ra người chứng Vô
Sanh để nói, hoàn toàn tương ứng với điều đă nói trước
đó, khiến cho người học biết
“đă phát tâm muốn
nhập Vô Sanh, th́ tâm
chẳng sanh diệt”. Làm thế nào để
tâm có thể chẳng sanh? Ắt phải nên chẳng trụ vào tướng!
Hễ có chỗ trụ, sẽ là cái tâm sanh diệt, sao có thể
chứng nhập Vô Sanh cho nổi? V́ thế, Vô Trụ chính
là phương pháp duy nhất để tiến
nhập Vô Sanh. Đấy là điều thứ
ba.
Xét
cả ba nghĩa ấy, cũng biết kinh này nghĩa lư
kín nhiệm, lớp lang nghiêm chỉnh. Người kết
tập
kinh dùng hai chữ “Phật cáo” (Phật
bảo) đặt ở đầu đoạn này, chính là để chỉ
dạy chúng ta: Trong đoạn này có nghĩa lư thâm áo, chớ
nên chỉ cầu t́m nơi văn tự vậy!
2.2.2.2.2.1.2.2.
Xét theo cái nhân để giải thích tường tận
Chia làm hai phần:
1)
Xét theo cái tâm tu nhân để giảng rơ.
2)
Xét theo công hiệu của kinh để hiển thị
2.2.2.2.2.1.2.2.1.
Xét theo cái tâm tu nhân để giảng rơ
2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.
Trước hết nói chẳng trụ vào trang nghiêm cơi Phật
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Bồ Tát trang nghiêm Phật
độ phủ?” “Phất dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố?
Trang nghiêm Phật độ giả, tắc phi trang nghiêm, thị
danh trang nghiêm”.
(經)須菩提!於意云何?菩薩莊嚴佛土不?不也,世尊!何以故?莊嚴佛土者,則非莊嚴,是名莊嚴。
(Kinh:
“Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cơi Phật
hay không?” “Bạch đức Thế Tôn! Không ạ. V́ sao vậy?
Trang nghiêm cơi Phật chẳng
phải là trang nghiêm, bèn gọi là trang nghiêm”).
Khi
Bồ Tát tu nhân, [hành
tŕ] Lục Độ vạn hạnh,
đối với mỗi mỗi công hạnh,
đều hồi hướng Tịnh Độ (năm nọ,
tôi đă giảng về điều này, và bàn luận cặn
kẽ ư nghĩa của Phật Độ. Phật là tướng
Báo Thân. Độ là tướng của y báo). “Trang nghiêm”
được nói ở đây chính là nói “nguyện
đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ”.
Vậy th́ há có vị Bồ Tát nào chẳng trang nghiêm cơi Phật
ư? Nêu ra điều này để hỏi, chính v́ muốn
cho người tu hành hiểu rơ đạo trang nghiêm. Chẳng
hiểu đạo ấy, th́ những ǵ được
trang nghiêm sẽ đều là nơi tướng, chẳng
liên quan ǵ đến tự tánh, bèn trở thành công đức
hữu lậu! Đấy là thâm ư của việc nêu ra câu hỏi
này. Cần phải biết: Trang nghiêm cơi tịnh của Phật,
th́ chữ Tịnh là khẩn yếu nhất! V́ sao cơi đất
tịnh? Do cái tâm tịnh đó thôi! Tâm đă cần phải
tịnh, cho nên trang nghiêm th́ chẳng thể chấp tướng.
Nếu tâm giữ lấy tướng, sẽ chẳng thanh
tịnh. Ư này là như thế nào vậy? Ắt cần phải
hiểu rơ ư nghĩa của hai câu “chẳng nên giữ lấy
pháp, [chẳng nên giữ lấy phi pháp]” trong đoạn
trước th́ mới là đạo trang nghiêm chân thật.
V́ sao? Trang nghiêm mà chấp tướng th́ tức là giữ
lấy pháp. Nếu hiểu lầm ư nghĩa “chẳng chấp
tướng”, sẽ trọn chẳng phải là trang
nghiêm, mà là giữ lấy phi pháp! Nêu ra điều này để
hỏi, nhằm khảo vấn xem [thính chúng] có thật sự
lănh hội ư nghĩa chân thật “chẳng trụ vào hai
bên” hay không?
Lại
nữa, trong phần trước đă nhắc lại lời
vấn đáp về quả đức vô trụ, vốn là
để xiển minh “cũng chớ nên trụ trong nhân
hạnh”. Tới đây, bèn nói thẳng vào nhân hạnh. Bồ
Tát trang nghiêm cơi Phật chính là bậc Bồ Tát phát Vô
Thượng Bồ Đề. Hiểu rơ đạo trang
nghiêm cơi nước, sẽ hiểu rơ các đạo như
bố thí v.v… “Phất dă” là hoạt cú, giống như
nói “chẳng phải là có cái được trang nghiêm”, chứ
chẳng phải là không trang nghiêm! Từ “hà dĩ cố”
(v́ sao vậy) trở đi, nhằm giải thích ư nghĩa ấy.
Câu “trang nghiêm Phật độ” nhằm nêu bày [chủ
đề]. Câu “tắc phi” (tức chẳng phải)
minh thị “chẳng
chấp Có”,
tức là “chớ nên giữ lấy pháp”. Câu “thị danh”
(th́ gọi là) nói rơ “chẳng chấp
Không”,
cũng tức là “chớ nên giữ lấy phi pháp”. Bởi
lẽ, nói theo tâm tánh, tánh thể
là không tịch (“không tịch” tức
là nói đến Chân Đế. Chân Đế là nói nó chẳng
phải là tướng hư huyễn. Muốn chứng Chân
Đế, ắt phải nên ĺa tướng. V́ thế nói
là “tắc phi”. “Phi” có nghĩa là “ĺa”), há có ǵ
được gọi là “trang nghiêm”, nên nói là Phi! Nói
theo sự tướng, sẽ là có thể nghe, có thể thấy
(“có thể nghe, có thể thấy” được gọi là
Tục Đế. Tục Đế là tướng thế
gian. Nó giả có, chẳng thật, nên nói là Danh). Rành rành trọn
đủ trang nghiêm, nên nói là Thị. Cũng có nghĩa là
nói: Do danh tướng là có, cho nên đừng chấp Không
mà giữ lấy phi pháp. Bồ Tát hăy nên siêng tu Lục Độ
vạn hạnh để trang nghiêm.
Do tâm tánh vốn Không; v́ vậy, chớ nên chấp Có mà giữ
lấy pháp. Bồ Tát tuy tinh tấn trang nghiêm, nhưng trong
tâm giống như chẳng
có chuyện ấy. Nhất tâm thanh tịnh như thế,
cơi nước sẽ tự tịnh. Đó gọi là “trang
nghiêm Phật độ” th́ mới đạt được
đạo trang nghiêm.
Cần phải biết:
Tu nhân ắt đạt được quả, nhưng
đạt được Báo Thân thù thắng, nhiệm mầu,
và cơi Phật thanh tịnh, đều do tâm hiện! Lại
c̣n do tâm tịnh mà [các thứ ấy] có thể hiện. Ví
như mài gương[6],
sau khi hết sạch bụi
bặm th́ h́nh bóng mới hiện! Do vậy, Duy Thức Luận
nói: “Đại Viên Kính Trí có thể hiện, có thể
sanh h́nh bóng của thân, cơi nước và trí”.
Nói chung, trang nghiêm cơi Phật hăy nên đừng chấp giữ,
đừng đoạn
diệt. “Tắc phi”
(tức chẳng phải) nhằm nói rơ “chẳng chấp
giữ tướng”. “Thị danh” (th́ gọi
là) là nói “chẳng đoạn diệt tướng”. Lại vừa mới nói “tắc
phi”, liền nói tiếp theo ngay là “thị danh”,
nhằm chỉ rơ: Tuy “phi” (chẳng phải) mà cũng
“thị” (là). Tánh ắt hiện tướng, tánh
và tướng trước nay chẳng tách
ĺa. Nếu lúc biết là Phi mà chẳng chấp
lấy, th́ nào ngại trang nghiêm tướng ấy? Muốn
nói “thị danh” th́ trước hết phải nói “tắc
phi”, nhằm nêu rơ: Tuy là “thị” mà lại là “phi”.
Do tướng vốn lấy tánh làm Thể, tướng
sanh từ tánh. Do vậy, khi hành cái Thị ấy mà chẳng
đoạn diệt, th́ vẫn nên hội quy vào tánh. Đấy
là ư chỉ trọng yếu
được xiển minh trong lời vấn
đáp giữa đức Phật và ngài Tu Bồ Đề.
Chúng ta ắt phải nên lănh nhận, thấu hiểu ư chỉ
ấy, y giáo phụng hành!
Hai
câu “tắc phi” và “thị danh” chính là mở ra pháp
yếu Niệm Phật. “Tắc phi” là nói rơ tự tánh
thanh tịnh, vốn chẳng có niệm. “Thị danh”
là nói rơ vọng niệm dấy lên tưng bừng, ắt phải
chấp tŕ danh hiệu để trừ vọng niệm. Ắt
phải nên từ niệm tới mức “vô niệm mà niệm,
niệm mà vô niệm”, vọng tận, t́nh không, nhất
tâm thanh tịnh rồi th́ mới được! Đó gọi
là “nhất tâm bất loạn”, bất loạn
được gọi là thanh tịnh. Nếu tâm tịnh,
cơi Phật sẽ liền tịnh!
2.2.2.2.2.1.2.2.1.2.
Nói rơ để kết lại ư phát tâm vô trụ
(Kinh)
Thị cố Tu Bồ Đề! Chư Bồ Tát Ma Ha Tát,
ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ
sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị,
xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.
(經)是故須菩提!諸菩薩摩訶薩,應如是生清淨心。不應住色生心,不應住聲香味觸法生心,應無所住而生其心。
(Kinh:
V́ thế, Tu Bồ Đề! Các Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên
sanh tâm thanh tịnh như thế, chớ nên trụ vào sắc
mà sanh tâm, chớ nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc,
pháp để sanh tâm. Hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm).
Kinh
văn trong khoa này chẳng nhiều,
chỉ nhằm kết lại các phần kinh văn trước
đó. Kể từ lúc mở miệng nói cho đến hiện
tại, đây là chỗ “điểm nhăn, kết huyệt”
của ngàn lời vạn lẽ. Do vậy, nghĩa thú trong
ấy rất vi tế, rất sâu. Nếu chỉ hiểu
nghĩa theo văn tự, ơ hờ xem lướt qua, sẽ
là cô phụ ân Phật vậy! Nay muốn nói rơ “điểm
nhăn, kết huyệt” là ǵ, trước hết hăy nên
nương theo kinh văn để giải thích ư nghĩa.
Kinh văn vỏn vẹn hơn hai hàng, nhưng ư nghĩa ẩn tàng rất nhiều,
diệu nghĩa sanh khởi như mắt xích, dẫu dựa
theo văn tự để giải thích cũng chẳng dễ
dàng!
“Thị cố”
(v́ thế) chính là từ ngữ để tiếp nối
phần trước, phát khởi phần sau. Đă xuyên suốt
các điều được nói từ trước tới nay, không chỉ tiếp nối chuyện trang nghiêm cơi Phật
trong phần trước, mà cũng chẳng chỉ tiếp
nối chuyện nói rộng về cái quả, lại c̣n
không chỉ thừa tiếp khoa “sanh ḷng tin” trong phần
nói cặn kẽ, mà c̣n hô ứng, tương thông với mấy
lời chỉ dạy chung trong phần mở đầu
kinh. Trước hết, hăy nói về các ư liên quan gần nhất.
Trong phần trước đă nói về Tứ Quả, mỗi mỗi đều là đắc
quả vô trụ. Kế đó, ngài
Tu Bồ Đề tự trần thuật chuyện đắc
quả [của chính ḿnh], cũng là chẳng trụ vào đâu. Đấy đều
là [các quả] Tiểu Thừa! Kế đó, đức Thế
Tôn đích thân trần thuật chuyện xưa của chính
ḿnh, nhằm
nói rơ thật sự chẳng trụ vào pháp (Kinh dạy: “Ư pháp thật vô
sở đắc, tức thị ư vô sở đắc
chi pháp bất trụ dă” (nơi pháp thật sự chẳng
có ǵ đắc, tức là chẳng trụ vào “không có pháp ǵ
để đắc”). Đó là nói về Đại Thừa;
nhưng vẫn hạn cuộc trong nhân quả. Cuối
cùng, khi Bồ Tát tu Lục Độ, đối với sự
trang nghiêm cơi Phật, cũng chẳng trụ vào đâu. Câu “tắc
phi” chính là chẳng trụ vào pháp tướng. Câu “thị
danh” là chẳng trụ vào phi pháp tướng, tức là
chuyên nói về địa vị tu nhân trong
Đại Thừa. Chẳng ngại rát miệng như thế,
nói theo từng tầng lớp, càng nói càng gần, không ǵ chẳng
nhằm mong xiển minh ư nghĩa “hăy nên sanh tâm thanh tịnh,
hăy nên chẳng trụ vào đâu để sanh tâm” trong
khoa này. Do vậy, liền dùng hai chữ Thị Cố để
tiếp nối phần trước, phát khởi phần
sau, ḥng nêu rơ những điều đă nói trước
đó đều làm căn cứ cho
“sanh tâm vô trụ, vô trụ sanh tâm”.
Cũng tức là v́ thiện nam tử, thiện nữ nhân
phát A Nậu Bồ Đề tâm mà chỉ bày phương
châm vậy. Phần xét theo cái quả để rộng nói
vốn là thừa tiếp câu “hết thảy hiền
thánh đều do pháp vô vi [mà sai biệt]” mà có, nhưng
câu ấy lại chính là kết luận của những
điều đă nói trước đó. V́ thế, khoa này hô
ứng tương thông với câu “thiện nam tử, thiện
nữ nhân” trong phần mở đầu kinh. “Các Bồ Tát Ma
Ha Tát” [trong đoạn chánh kinh trên đây] cũng chính
là Bồ Tát Ma Ha Tát được nói trong phần mở
đầu kinh, cũng tức là “các thiện nam tử,
thiện nữ nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề tâm hăy nên trụ như thế nào, hàng phục
như thế nào”. “Ưng” (hăy nên) là từ ngữ quyết
định. Bất luận Tiểu Thừa hay Đại
Thừa, thuộc quả
vị hay nhân địa, đều phải nên vô trụ.
Có thể biết là người phát đại tâm chắc
chắn cũng phải nên vô trụ. Chẳng như vậy, sẽ
chẳng thể được; do vậy nói là “ưng”.
Kinh
văn trong khoa này đă là nối tiếp phần trước,
phát khởi phần sau. V́ vậy, hai chữ
Như Thị [trong câu “như thị sanh thanh tịnh tâm”]
chính là cùng
chỉ kinh văn thuộc phần trước và sau đó.
Chỉ nói một bên, nghĩa sẽ trở thành thiếu
viên măn! Lại c̣n là trước hết nói về phần
kinh văn sau đó, bởi nó chỉ ngay vào câu “ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ
vào đâu mà sanh tâm), nhưng hai câu “bất ưng” (chớ
nên) cũng được kiêm chỉ trong ấy. Cần phải
biết hai câu “bất ưng trụ sắc” (chớ
nên trụ vào sắc) chính là tiền đề của câu “ưng
vô sở trụ” (hăy nên chẳng
trụ). V́ thế nói đến câu “ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” th́ nghĩa lư của
hai câu “bất ưng” hoàn toàn được gồm
thâu trong ấy. Nói chung, ba câu từ “bất ưng trụ
sắc” cho đến “sanh kỳ tâm” đều là
cước chú của câu “ưng sanh thanh tịnh tâm”
(hăy nên sanh tâm thanh tịnh). Như thế th́ sẽ tịnh,
chẳng như thế th́ sẽ bất tịnh! Do vậy
nói: “Ưng như thị sanh thanh tịnh tâm”
(hăy nên sanh cái tâm thanh tịnh như thế).
Kinh
văn trong khoa này nhằm chỉ dạy “phát Bồ Đề
tâm th́ phải nên như thế”. Sao chẳng nói là “phát
tâm” mà nói là “sanh tâm”? Xin hỏi phát tâm và sanh tâm là giống
nhau hay khác nhau? Thưa rằng đồng mà bất đồng!
“Sanh” tức là “phát”, có ǵ khác đâu, nên nói là “đồng”.
[Nhưng xét kỹ hơn], Sanh mang ư nghĩa
sâu hơn chữ Phát. V́ sao nói vậy? “Phát” chỉ là
nói theo cái đă được biểu lộ ra, được
người khác biết đến. “Sanh” th́ không chỉ
nói đến sự biểu lộ, mà c̣n có ư nghĩa “truy
cứu tận cội nguồn”. V́ hễ nói Sanh, ắt
phải có cội rễ. Nếu chẳng có cội rễ,
sao sanh
cho được? V́ thế, Phát Tâm có nghĩa là trước
kia không có, nay mới phát khởi, c̣n Sanh Tâm có nghĩa là cái
vốn sẵn có,
[đến nay] có thể hiện tiền. V́ thế, Sanh Tâm
có ư nghĩa sâu hơn Phát Tâm; đấy là chỗ bất
đồng! V́ sao biết Sanh Tâm có ư nghĩa như vậy?
Quán ba chữ “thanh tịnh tâm”, sẽ
liền có thể hiểu rơ! Bởi lẽ, thanh tịnh tâm
chính là tánh vốn sẵn trọn đủ. “Thanh” là
chẳng ô trược, “tịnh” là chẳng nhuốm
bẩn. Ví như vàng ṛng vùi lấp trong bùn lầy. Dụng
công gột rửa, vàng ṛng rành rành tồn tại! Tánh
cũng giống như thế, tuy luôn bị trần cấu
vô minh phiền năo ngăn chướng, chỉ cần có thể theo
đúng pháp tu hành, bản tánh thanh tịnh sẽ vẫn
như cũ mà hiện tiền vậy! Do đó, câu này có
nghĩa là: Phàm ai phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Giác, hăy nên khiến cho bản tánh thanh tịnh hiện tiền.
V́ thế nói là “ưng sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh).
Trong lời ấy có ư nghĩa “quay đầu là bờ”,
cảnh tỉnh mọi người cũng sâu lắm! Không
chỉ như vậy! Bởi lẽ, ngàn lời vạn lẽ
chỉ dạy trước đó, đều nói “chẳng
nên trụ tướng”, không ǵ chẳng nhằm khiến
cho [hành nhân] kiến tánh đó thôi! “Thanh tịnh” có
nghĩa là vô tướng. Phàm phu chấp tướng; do vậy, chướng
tánh. Nay muốn kiến tánh, sao có thể chấp tướng?
V́ phàm phu chấp tướng mà tâm chẳng thanh tịnh.
Tâm chẳng thanh tịnh, cho nên chướng tánh. Nay muốn
thấy tánh, cố nhiên phải nên thanh tịnh. Để
thanh tịnh cái tâm, cố nhiên phải nên ĺa tướng.
Hơn nữa, nói “sanh thanh tịnh tâm”, chẳng khác
nêu
rơ lư do v́ sao phát Bồ Đề tâm. Thế
nào là phát Bồ Đề tâm? Chính là nhất tâm thanh tịnh
đó thôi! Nếu tâm chẳng thanh tịnh, vậy th́ cái tâm
đă phát c̣n nói là Vô Thượng Bồ Đề chi nữa?
V́ sao? Bồ Đề là giác. Giác là giác chiếu bản
tánh. Hơn nữa, bản tánh c̣n gọi là Đại Viên
Giác Hải. Hăy nên biết: Bản tánh chẳng nhiễm mảy
trần, thanh tịnh khôn sánh! Đă nói là “phát giác” (phát
sanh sự giác ngộ) mà lại chấp tướng, sẽ
chính là mâu thuẫn với chữ Giác, đáng gọi là “phàm
phu trái nghịch giác, xuôi theo trần lao” vậy.
Do vậy, cái tâm phát giác ắt phải nên ứng hợp giác.
Ứng hợp giác như thế nào? Ắt phải nên trái
nghịch trần lao. Trái nghịch trần lao tức là chẳng
trụ tướng. Do vậy, có thể thấy: Trong một
câu này, đă nêu
bày vô số ư răn nhắc!
Sơ
phát Bồ Đề tâm th́ làm thế nào để tâm thanh tịnh
hiện tiền? Cần phải biết: Chính v́ người
ấy chưa thể, cho nên dạy [người ấy] hăy
tu như thế. Tu như thế nào? Kế đó nói “hăy
nên chẳng trụ vào đâu”. Chẳng trụ vào đâu
là như thế nào? Kế đó bèn nói “chớ nên trụ
vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp”. Đấy
chính là chỉ dạy phương pháp dụng công để vô trụ.
Hai câu “chớ nên trụ sắc…” nghĩa thú sâu rộng.
Nếu chỉ xem lướt qua, chỉ hiểu nghĩa thứ
nhất, đúng là cô phụ! Hơn nữa, chưa suy xét
đến cùng tận nghĩa được uẩn tàng, sao
có thể dụng công đạt tới chỗ then chốt,
thiết thực, thâm nhập vi tế cho được?
Đă là hời hợt bề ngoài, sao có thể ĺa tướng?
Sao có thể thấy tánh cho được? V́ vậy nói là “cô
phụ”. Không chỉ là cô phụ ơn Phật, mà c̣n là
cô phụ tự tánh nữa!
1) Sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp được gọi là Lục
Trần. Nêu lên những điều này để nói, nhằm
khiến cho hành nhân biết rơ: Nếu chấp vào một thứ,
sẽ là trần tâm, hoàn toàn tương phản với tâm
thanh tịnh. Do cái tâm chánh giác đă phát khởi, ắt phải
nên trái nghịch trần lao. Đă trái nghịch trần lao
th́ sau đó mới ứng hợp giác. “Chớ
nên trụ trong lục trần”
giống như nói chẳng nên “ứng hợp trần”; hễ
ứng hợp trần th́ sẽ
trái nghịch giác. Tin tức trong ấy chẳng gián cách chừng
bằng mảy tóc; đúng là như câu nói “nhân tâm duy nguy,
đạo tâm duy vi”[7].
2) Sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp được gọi là “khí
thế gian”[8],
cũng được gọi là “tướng cảnh giới”.
Nay nói “chẳng nên trụ trong sáu thứ ấy”, chính
là ư nghĩa “chẳng nên trụ vào tướng”.
Năm chữ “sắc, thanh, hương, vị, xúc”
bao gồm hết thảy cảnh giới có thể thấy,
có thể nghe
trong thế gian. Một chữ Pháp bao gồm hết thảy
các cảnh giới mà thế gian chẳng thể thấy, chẳng thể nghe,
nhưng tâm tư có thể suy tưởng được.
Nêu lên sáu chữ ấy, tướng của hết thảy
các cảnh giới đều được thâu nhiếp
trọn,
cũng chính là hết thảy các cảnh giới
đều chớ nên chấp. Không chỉ là những ǵ có thể
thấy, có thể nghe
đều chẳng nên chấp, dẫu cái chẳng thể
thấy, chẳng thể nghe cũng chớ nên chấp.
Điều này nhằm răn nhắc người học:
Đối với hết thảy thế gian, đều chớ
nên chấp!
3) “Chớ
nên chấp” há nào phải
chỉ là cảnh giới mà thôi! Bởi lẽ, bề ngoài
tuy chỉ nói một loại là lục trần, nhưng thật
ra, ngay cả sáu căn, sáu thức đều được
nhất loạt nói
gộp
vào trong ấy. Nếu chỉ nh́n bề
ngoài, tức là như phần trên đă nói “thực hiện
hời hợt bề ngoài” th́ công phu nơi hai chữ “chẳng
trụ” sẽ chẳng được thực hiện
triệt để, mà cũng lại chẳng thể đạt
tới then chốt! Tuy muốn “chẳng
trụ”
mà chẳng thể được. Cần phải biết:
Sắc là ngoại cảnh, vốn chẳng dính dáng. Hễ nẩy
sanh dính dáng, bèn sanh
ra trụ. Do
ai trụ? Chính là mắt. Mắt trụ như
thế nào? Chính là nhăn thức. Cho đến pháp vốn là vật
trơ trơ, nếu chẳng trụ chấp, sẽ chẳng
có mảy may quan hệ. Hễ phát sanh quan hệ, cố
nhiên là bởi ư. Thật sự là do ư thức trong ư
đă quen nắm níu, phân biệt. Do vậy, có thể
biết: Kinh nói “chớ nên trụ” nhằm dạy
người học hăy nên giác chiếu nơi thức, đừng
dấy lên nắm níu, phân biệt. Kinh không chỉ nói “chẳng
nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị,
xúc, pháp”, mà kế đó c̣n chèn thêm hai chữ “sanh
tâm” chính là để
chỉ dạy người học: Muốn
chẳng trụ tướng, phải nên giác chiếu cái
tâm. Tức là hăy nên dụng công vi mật trong khi khởi tâm
động niệm. Như thế mới là thiết thực.
4) Dụng
công khi khởi tâm động niệm; đó là chỗ thực
hiện của người sơ học, vẫn cần phải
đoạn Tư Hoặc. Đoạn như thế nào?
Chính là phát tâm đại bi, rộng tu Lục Độ. Bố
thí, tŕ giới để độ tham; tŕ giới, nhẫn
nhục để độ sân, và cũng nhằm độ
mạn. Bát Nhă để độ si. Thiền Định
độ sân,
mà Định có thể sanh Huệ, cũng lại độ
si, dùng tinh thần tinh tấn để quán xuyến trọn
hết. Hơn nữa, Lục Độ đều sanh từ
tâm đại bi, cho
nên mỗi Độ đều nhằm
lợi ích chúng sanh. Đấy c̣n là dụng cụ sắc
bén để trừ ngă. Bởi lẽ, do ngă kiến mà dấy
lên tham, sân, si, mạn, cho nên dễ khởi tâm động
niệm. Nay muốn chẳng bị khởi tâm động
niệm bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, ắt
càng phải ra sức nơi tâm đại bi và hành Lục Độ.
Đó chính là then chốt.
5)
Những điều nói trên đây vẫn chưa phải là
rốt ráo. Ắt phải là giới định kiên cố,
sanh
khởi chánh trí Bát Nhă. Phá một phần vô
minh, thức bèn chuyển được một phần.
Đợi đến khi tám thức đều chuyển th́ mới là triệt
để. Sơ học th́ ắt cần phải đọc
nhiều kinh điển Đại Thừa, Bát Nhă càng chẳng
thể ĺa trong khoảnh khắc. Nương theo văn tự
để khởi quán chiếu,
khiến cho giải huệ dần dần sáng suốt thêm. Đấy chính là phương
pháp “rút củi dưới
đáy nồi”.
Nhưng giải huệ sáng suốt thêm, lại càng có thể
tăng trưởng sức Giới,
Định. Bởi lẽ, tuy Giới, Định, Huệ
được gọi là Tam Học, nhưng thật ra là một
chuyện, có sự kỳ diệu là chúng giúp đỡ lẫn
nhau sanh
khởi. Nhưng Định và Huệ chẳng
thể chia ĺa, do Định cố
nhiên sanh Huệ, Huệ cũng sanh ra Định.
Chớ nên không biết nghĩa này!
6) Hai chữ “sanh tâm” không chỉ nhằm
dạy hăy nên dụng công khi khởi tâm động niệm,
mà c̣n có thâm ư trong ấy. Do pḥng ngừa kẻ hiểu lầm
ư nghĩa “chẳng nên trụ” (kẻ chẳng hiểu
ư tức là kẻ chẳng hiểu rơ phương pháp dụng
công), cứ một mực chèn ép không cho ư thức sanh khởi!
Hành như thế th́ kẻ bộp chộp, xáo động
sẽ đến nỗi phát cuồng, thổ huyết. Dẫu
chẳng phải vậy th́ cũng là “ngồi trong hang quỷ nơi núi đen làm kế kiếm sống” như Thiền Tông quở trách, có
khác ǵ Vô Tưởng Định của ngoại đạo!
Nếu chẳng hiểu đạo lư (chẳng biết bản
tánh hoạt bát, sinh động, vô tướng, vô bất
tướng, bèn gọi là “chẳng hiểu đạo lư”),
th́ Huệ chẳng thể sanh, Hoặc chẳng thể trừ,
đương nhiên là nghiệp khổ cũng chẳng thể
tiêu. Thậm chí có thể chuyển thành vật
vô tri như cỏ, cây, đất, đá! Cần phải biết: Diệt
Tận Định của Tiểu Thừa hoàn toàn chẳng
do đè nén ư thức mà đạt được, mà là do
đă chứng tánh th́ tưởng tự chẳng dấy lên. Hơn nữa,
đạt đến địa vị ấy,
cũng chẳng nên trụ. Hễ trụ, bèn đọa trong hầm vô vi, là mầm
cháy, hạt lép, cũng bị đức Thế Tôn quở
trách. V́ thế kinh văn đă nói “chẳng trụ sắc”
v.v… lại nói “sanh tâm” để dạy người
phát Bồ Đề tâm đừng nên trụ trong trần
tướng, chẳng phải là khiến
cho cái tâm như nước tù đọng!
Ư này hoàn toàn tương ứng với “hăy nên chẳng trụ
vào đâu để sanh cái tâm” trong kinh văn thuộc
phần sau, hô ứng lẫn nhau, chỉ
dạy người học đă rơ ràng lại c̣n thiết
tha vậy!
7)
Chẳng trụ vào lục trần để sanh tâm, c̣n có một nghĩa nữa. Bởi
lẽ, kết hợp với câu trước để nói,
chính là dạy người
phát Bồ Đề, tu Lục Độ, hăy nên phân định
rạch ṛi chân tâm và vọng tâm. Tâm thanh tịnh trong câu
trước là chân tâm. Hai câu nói về “trụ trong các trần”
chính là cái tâm phan duyên (nắm níu),
tức vọng tâm. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhất thiết
chúng sanh tùng vô thỉ lai, chủng chủng điên đảo,
chư tu hành nhân, bất năng đắc thành Vô Thượng
Bồ Đề, năi chí biệt thành Thanh Văn, Duyên Giác, cập
ngoại đạo đẳng, giai do bất tri nhị chủng
căn bản, thác loạn tu tập. Nhất giả, vô thỉ
sanh tử căn bản, tắc nhữ kim giả dữ
chư chúng sanh, dụng phan
duyên tâm vi tự tánh giả. Nhị giả, vô thỉ Bồ
Đề Niết Bàn nguyên thanh tịnh thể, tắc nhữ
kim giả, thức tinh nguyên minh, năng sanh chư duyên,
duyên sở di giả” (Hết thảy
chúng sanh từ vô thỉ tới nay, đủ thứ
điên đảo, những người tu hành chẳng thể
được thành Vô Thượng Bồ Đề, thậm
chí chẳng thành
Thanh Văn, Duyên Giác, giống như ngoại đạo,
đều do chẳng biết hai loại căn bản, tu
tập lầm loạn! Một là căn bản sanh tử từ vô thỉ, hiện thời ông
và các chúng sanh dùng cái tâm nắm níu làm tự
tánh. Hai là vô thỉ Bồ Đề Niết Bàn vốn là
cái Thể thanh tịnh, tức là thức tinh nguyên minh[9]
trong hiện thời, có thể sanh ra các duyên, nhưng [cái thức ấy]
chẳng tiếp xúc được [chân tánh vốn sáng suốt]).
Ở đây, câu trước nói “ưng”
(hăy nên), hai câu
sau nói “bất ưng” (chẳng
nên) chính là chỉ dạy thân thiết: Chớ
nên tu tập lầm loạn! Cần phải biết: Cái tâm trụ vào trần
lao là thức. Do nó nắm níu, nên gọi là Vọng; nhưng
cái vọng tâm ấy vốn do chân tâm biến hiện. Biến
như thế nào? Do chẳng liễu đạt Nhất
Chân pháp giới, do phân biệt ta, người. V́ vậy,
người phát đại tâm trước hết cần
phải nên biện biệt chân và vọng, chớ nên coi cái
tâm trụ trần chấp tướng là chân tâm. Do vậy,
kinh này chuyên chú trọng phá ngă. Chẳng nên trụ trong lục
trần mà sanh tâm, tức là chớ nên chấp ngă. V́ sao chấp
trần chính là chấp ngă? Ví như người hành Lục
Độ, nếu có ư mong người khác biết, đó là
trụ sắc, cho đến chấp pháp! Đủ mọi
lẽ như thế đó, không ǵ chẳng do ngă kiến.
Nói hai câu này vốn là để phát khởi câu kế tiếp.
“Ưng vô sở trụ” (Hăy nên chẳng trụ
vào đâu) cũng có nhiều
nghĩa:
1) Tức
là chẳng trụ vào lục trần.
2) Tức
là đối với căn, trần, thức, hết thảy
đều chẳng trụ. Bất luận chấp trụ
như thế nào, tâm đều nhiễm ô, sẽ là trần
tướng.
3) “Chẳng
trụ vào đâu” có nghĩa là chẳng trụ vào một
thứ ǵ.
4) “Chẳng
trụ vào đâu” là không có ǵ để trụ vào. Những
cái để trụ là sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp. Nay nói “hăy nên trong tâm chẳng trụ vào đâu”,
chẳng phải là không có sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp, mà chứa đựng hai ư: Chẳng chấp trước,
mà cũng chẳng đoạn diệt! Hơn nữa, không
có cái để trụ, bởi “năng
trụ” (cái có thể trụ) là Không. “Sở trụ”
(cái để trụ vào) là nói tới cảnh, c̣n “năng
trụ” là nói về thức. Do vậy, “hăy nên chẳng
trụ vào đâu” tức là giống như nói “hăy nên
khiến cho t́nh thức hoàn toàn là Không”.
Chữ
Nhi (而) trong “nhi
sanh kỳ tâm” có hai nghĩa:
1) “Nhi”
có nghĩa là “lại”. “Hăy nên chẳng trụ vào đâu, nhưng lại
sanh cái tâm ấy”. Câu này nối tiếp ư “chẳng trụ
vào đâu” trước đó, kiêm thêm ư nghĩa “chẳng
đoạn diệt”. Tức là nói rơ đoạn kinh văn
trước đó dạy “chẳng nên trụ trong lục
trần để sanh tâm” chính là bảo “trong tâm hăy nên
chẳng trụ các tướng sắc, thanh v.v…”, chẳng
phải là nói đoạn diệt tướng. “Chẳng
đoạn diệt” là do tâm chẳng thể đoạn
diệt. Phần trên nói “chẳng nên trụ trong trần
mà sanh tâm” tức là bảo “ưng vô sở trụ nhi
sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh cái tâm
ấy). Chữ “kỳ” có thể hiểu là [nói tới]
Bồ Đề và Lục Độ. Như thế phát khởi cái tâm
tâm tu hành
Lục Độ mới là Bồ Đề tâm. Do nó trái nghịch
trần, ĺa tướng, phù hợp với tâm thanh tịnh
trong tự tánh.
2) “Nhi”
lại có nghĩa là “sau
đó”. Đấy là tiếp
nối ư “ưng vô sở trụ” (hăy nên chẳng trụ)
trong phần trước, giống như nói:
Hăy
nên khiến cho t́nh lẫn thức đều
là Không. Vậy th́ “kỳ tâm” chính là nói đến sự
thanh tịnh,
nghĩa là chẳng trụ vào đâu khiến
cho vọng tận, t́nh không. Sau đó mới
có thể hiện ra cái tâm thanh tịnh. “Sanh” có
nghĩa là “hiện tiền”. Bởi lẽ, câu “ưng
sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh) là lời
nêu bày, hai câu “bất ưng” (chẳng nên) là
phương pháp tu hành. Câu “ưng vô sở trụ” là công
hiệu. Ắt cần phải giải thích đủ mọi
cách như thế th́ mới mong phần nào khiến cho kinh
nghĩa được thông suốt, trọn vẹn,
nhưng bất quá cũng chỉ là một giọt nước
trong biển cả đó thôi! Trên đây, phần giải
thích ư nghĩa dựa theo văn tự đă xong.
Trên đây đă xong phần giải thích ư
nghĩa theo văn tự, nhưng chỗ “điểm
nhăn, kết huyệt” của những điều
được nói trên đây là như thế nào vậy? Lại
truy theo từng tầng ngược lại để nói.
Khoa trước chẳng nhắc tới “tắc phi”
(chẳng phải) và “thị danh” (bèn gọi là) đó
sao? Khoa trước vốn chưa chỉ rơ
nguyên do của bốn chữ ấy; v́ vậy, bám sát ư này
để nêu tỏ. Như vậy th́ hai chữ Như Thị
[trong đoạn kinh Kim Cang trên đây] có thể nói chính là do nối tiếp “tắc phi” và “thị
danh” mà có. Tức là người phát đại đạo
tâm, trang nghiêm cơi Phật, hăy nên quán chiếu nghĩa thú của
“tắc phi” và “thị danh” để sanh cái tâm
thanh tịnh. Bởi lẽ, “tắc phi” nhằm nói rơ “hăy
nên đừng trụ vào đâu”. V́ sao?
Tánh vốn vô tướng. “Trang nghiêm” là cái tâm hăy
nên đối
với các tướng như lục trần v.v… đều
chẳng trụ vào một thứ nào, cho nên nói là “tắc
phi”. Hiểu rơ “tắc phi”, cái tâm sẽ tịnh.
Đó gọi là “muốn tịnh cơi Phật, hăy tịnh
cái tâm”. Nói “thị danh” là nói hăy nên sanh cái tâm ấy.
V́ sao? Chỉ nên tâm chẳng trụ tướng, hoàn toàn chẳng
phải là đoạn diệt tướng ấy. Do vậy
nói là “thị danh”. “Thị danh” là danh chánh ngôn thuận,
chẳng thể bỏ phế chuyện ấy. Cần phải
biết: Sự tướng trang nghiêm chẳng thể
đoạn diệt, tức là cái tâm trang nghiêm chưa hề ngưng dứt. Tâm
chưa hề ngưng dứt là “sanh
kỳ tâm” vậy. Nói chung, trang nghiêm mà tâm chẳng trụ
tướng, tức là khi hăm hở trang nghiêm, tâm bèn lặng
trong, tịch tĩnh, chẳng
nhiễm mảy trần! Tuy nói là “sanh tâm”, thật ra
sanh mà vô sanh, nhất tâm thanh tịnh. Do vậy nói “hăy nên
sanh tâm thanh tịnh như thế”. Tâm tịnh th́ cơi
nước tịnh; đó gọi là “tùy kỳ tâm tịnh,
tức Phật độ tịnh” (hễ cái tâm thanh tịnh
th́ cơi Phật thanh tịnh). Bồ Tát trang nghiêm cơi Phật
là như thế đó! Đấy là khuôn mẫu của
người phát đại đạo tâm, tu Lục Độ
vạn hạnh, trang nghiêm cơi Phật vậy.
Khoa “sanh tín” trước
đó có hai câu trọng yếu, tức là “bất ưng
thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ
lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp). Hai câu ấy
không chỉ thâu nhiếp trọn vẹn ư nghĩa của
khoa trước, mà c̣n thâu nhiếp trọn hết ư
nghĩa [từ
đầu kinh đến đây] như trong phần
trước, tôi đă nhiều lượt trần thuật
rồi. Mà hai câu “hăy nên sanh tâm thanh tịnh, chớ nên trụ
vào đâu để sanh cái tâm” trong phần này lại là
chỗ điểm nhăn của hai câu “bất ưng thủ
pháp” (chớ
nên giữ lấy pháp). Bởi lẽ, hai câu trong khoa trước
là nói tách rời. Tới đây, ư nghĩa trong hai câu ấy
được gộp lại thành một để nói. V́
sao nói vậy? “Hăy nên chẳng trụ vào đâu” chính là
chớ nên giữ lấy pháp. “Sanh kỳ tâm” ([hăy nên chẳng trụ
vào đâu] mà sanh tâm) chính là chớ
nên giữ lấy phi pháp. Nay nói “ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” há chẳng phải là nói “tuy chớ
nên giữ lấy pháp, nhưng cũng chớ nên giữ lấy
phi pháp” đó sao? Trong phần trước nói “chẳng
giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp”
để làm giới hạn; chính là từ chỗ này
mà ngộ
được. Do vậy, chỉ riêng chọn lấy
người tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín
tâm, cũng là v́ chắc chắn họ sẽ chẳng đến
nỗi giữ lấy tướng phi pháp th́ mới kham tu
môn Bát Nhă chẳng chấp tướng này! Có thể thấy
là chúng ta ắt phải nên trước hết đóng thật
chặt phương diện phi pháp tướng, tuyệt
đối chẳng giữ lấy. Sau đấy mới tu
tập [phương diện] “chẳng giữ lấy
tướng pháp”, th́ mới phù hợp ư chỉ của
Phật để sanh chánh trí Bát Nhă, ḥng chứng lư thể
Bát Nhă. Không chỉ là như vậy! Hăy thử xem câu “ưng
sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh), “thanh tịnh”
tức là chẳng trụ vào đâu. “Ưng sanh thanh tịnh
tâm” giống như nói “ưng sanh vô sở trụ tâm”
(hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu), nhưng “chẳng
trụ vào đâu” chính là chẳng giữ lấy pháp. “Sanh
tâm” là chẳng giữ lấy phi pháp. “Hăy nên sanh tâm
thanh tịnh” là “thanh tịnh phải hiển hiện
trong sanh tâm” (nhưng thanh tịnh mà chẳng sanh tâm th́ là
“nước chết” (nước tù đọng), Phật
pháp chẳng chấp nhận), há chẳng phải là đă
nói hăy thực hiện “chẳng giữ lấy pháp, chẳng
giữ lấy phi pháp” đấy ư?
Nói cách khác, “chẳng giữ
lấy pháp” là Không. “Chẳng giữ lấy phi pháp”
là Hữu. Chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm, chính là nói rơ “Không
chẳng ĺa Hữu”. “Sanh tâm thanh tịnh” là nói rơ
Không ở trong Hữu. Không chẳng ĺa Hữu, giống
như nói “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”.
Chẳng ĺa, chẳng khác, dần dần hợp lại,
nhưng Không vẫn là Không, Hữu vẫn là Hữu, giống
như tuy một mà hai. Nếu Không hiển hiện trong Hữu,
tức “Sắc chính là Không, Không tức là Sắc”.
Không và Hữu chính là lẫn nhau, tức tuy hai mà một.
Đấy là nói Không và Hữu đồng thời, ắt
có thể như thế, th́ mới là chẳng chấp vào
hai bên. V́ sao vậy? C̣n chẳng có ǵ để gọi là
hai, từ đâu mà chấp vào các bên? Không chỉ là như
thế! Đă nói là “chẳng trụ vào đâu”, lại
nói “sanh cái tâm”, há chẳng phải là đối với
“không có cái để trụ” cũng phải nên chẳng
trụ ư? Nhưng hai chữ Thanh Tịnh trong “hăy nên
sanh tâm thanh tịnh” chính là nói “chẳng trụ vào
đâu”. Vậy th́ “sanh thanh tịnh tâm”
có khác ǵ nói “sanh tâm vô trụ”! Tuy sanh mà vô trụ,
tức là nói “sanh mà vô sanh”, tức là “chẳng trụ
nơi sanh tâm”. Chẳng trụ nơi sanh tâm tức là chẳng
trụ, chẳng giữ lấy phi pháp, mà cũng chẳng
trụ nơi vô sở trụ, cũng chính là chẳng trụ,
chẳng giữ lấy pháp, há chẳng phải là cũng nên không
giữ lấy “chẳng giữ hai bên” ư? V́ thế, trong
khoa trước, sau phần “chẳng giữ lấy hai
bên”, liền dẫn thí dụ cái bè để nói rơ hai bên
đều bỏ! Trong phần trước nói “Hữu và Không đồng
thời”, nhằm nói rơ hai bên c̣n chẳng có, lấy
đâu ra bên để chấp?
Nhưng đó
vẫn
c̣n là vướng vào chấp một đằng (chấp một
đằng tức là “chỉ ở giữa”), nay th́ Không và
Hữu đều là Không, một c̣n chẳng có, có bên nào để chấp nữa? Vô ngại
tự tại, thật sự thanh tịnh! Ư nghĩa chân thật
của hai câu “chớ nên giữ lấy pháp” tới
đây được xiển phát sâu xa, thấu triệt,
nên nói là “điểm nhăn”. Những điều khác
như “chẳng có pháp tướng”, cũng “chẳng
có phi pháp tướng” chính là “ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu
mà sanh cái tâm). “Chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp” tức là cái tâm
thanh tịnh, Không và Hữu đều là Không. Đó cũng chính là pháp vô vi. Không và Hữu
đều là Không, tức tâm hạnh xứ diệt, ngôn ngữ
dứt bặt. Do vậy nói “chẳng thể giữ lấy,
chẳng thể nói”. Những điều ấy đều
hiển hiện, dễ thấy, chẳng cần rườm
lời nữa!
Khoa trước lại có một
câu trọng yếu, tức là “nhược kiến
chư tướng phi tướng, tắc kiến Như
Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là
tướng, tức là thấy Như Lai). Nguyên do của
câu ấy cũng được xiển minh tại đây.
Các tướng phi tướng, sao có thể thấy? Nếu
cái tâm bị nhuốm trần, trái nghịch giác, sẽ mê
tướng, ngỡ đó là thật, sao có thể thấy
các tướng là phi tướng cho được? Ắt
phải đối với các tướng như lục trần
v.v…, chẳng trụ vào một tướng nào, mới mong
đạt được cái tâm thanh tịnh. V́ sao vậy?
Như Lai là bậc đă chứng đắc tâm thanh tịnh
rốt ráo. Người chẳng trụ trong lục trần, tuy chưa thể
nói là “chứng đắc”, nhưng cặn nhơ dần
dần gạn sạch, ánh sáng trong trẻo hiện tiền.
Ví như nước thanh tịnh có thể hiện bóng
trăng thanh tịnh. Do vậy nói “tắc kiến Như
Lai” (liền thấy Như Lai). Đó là nói tới tánh thể
Như Lai, ắt cần phải đừng chấp tướng
để chiếu Thể th́ mới có thể thấy
được!
Khi mở đầu khoa
trước, đă chẳng nói đó sao? Bồ
Tát đối với pháp hăy nên vô trụ mà hành bố thí.
Tuy từng nói rơ “chẳng trụ sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp”, đó
là bố thí chẳng trụ tướng, nhưng ắt phải
là khi phát tâm bố thí, cái tâm vốn chẳng trụ trong lục
trần mà sanh khởi. Sau đấy, khi hành [bố thí], mới
có thể chẳng trụ tướng. Nếu cái tâm ấy
chẳng tịnh, khi hành sao có thể chẳng chấp
tướng cho được? Có thể biết: Điều
được nói ở đây chính là nói nơi cội nguồn.
Tuy những điều được nói trong khoa trước
chưa hề có chữ Tâm ở trong ấy, nhưng sau
đó cũng từng chỉ rơ rằng: “Nếu tâm giữ lấy tướng” v.v… Thật sự là tới chỗ
này mới xiển phát rơ rệt. Nếu không có đoạn
nêu tỏ này, bố thí chẳng trụ tướng sẽ
chẳng dễ thực hiện! V́ thế nói khoa này chính là
chỗ “điểm nhăn, kết huyệt” của các
nghĩa trước đó. Tṛng mắt đă được
điểm, tức là toàn thân sống động. Huyệt
đă kết, tức là vạn mạch quy hướng cội
nguồn[10].
Sau đấy, ngàn lời vạn lẽ, mỗi mỗi
đều có căn cứ, y giáo phụng hành
mọi chuyện mới đều có chỗ nắm chắc
vậy!
Nói chung, hiểu rơ ư nghĩa
chân thật của “chẳng trụ vào đâu để
sanh tâm” th́ cái được gọi là Sanh chính là tùy ư mà
sanh. Cái được gọi là Vô Trụ chẳng ngại
“tùy duyên mà trụ”. “Tùy duyên mà trụ” là vô tâm nơi trụ,
tuy trụ mà thật sự chẳng trụ vào đâu. Tùy ư
mà sanh, pháp vốn sẵn hiển hiện như thế
đó, gọi là “sanh mà thật sự chẳng có ǵ để
sanh”. Thật sự có thể như vậy th́ pháp nào
cũng đều hiển lộ chân tâm vô trụ, mỗi vật
đều là Bát Nhă Thật Tướng. Chính là như cổ
đức đă nói “trần nào cũng là báu, chỗ nào
cũng gặp nguồn”. Do vậy, ngài Tu Bồ Đề
đối trước những lúc đức Thế Tôn
đắp y, khất thực, đi, ngồi, qua lại,
đều nhận biết diệu đế Vô Trụ,
liền từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng
lên, đảnh lễ, tán thán “đức Thế Tôn hiếm
có, khéo hộ niệm, khéo phó chúc”, thưa hỏi “người
phát đại tâm nên trụ như thế nào? Hàng phục
như thế nào?” Đức Thế Tôn bèn ứng hợp
cơ duyên ấy mà ấn chứng, hứa khả rằng:
“Hăy nên đúng như lời ông đă nói là khéo hộ niệm,
khéo phó chúc để trụ như thế, hàng phục
như thế”. Kế đó, Ngài lại nói tường
tận, ví như ngàn vách núi, vạn hang hốc, ngoằn
ngoèo uốn lượn, măi cho
đến chỗ này bèn kết lại rằng: “Ưng
như thị sanh thanh tịnh tâm, ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm” (Hăy nên sanh cái tâm thanh tịnh như thế,
hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh cái tâm).
“Hăy nên sanh cái tâm
thanh tịnh” tức là “hăy nên trụ như thế”. “Hăy nên chẳng
trụ vào đâu mà sanh tâm” tức là “hàng phục cái tâm như thế”.
Ở đây, được chỉ bày, cảnh tỉnh
như thế, th́ sau đấy hai câu Như Thị trong lời
chỉ dạy chung lúc mở đầu mới có căn cứ. Tức là hai câu
Như Thị trong phần trước do có một câu
Như Thị ở đây th́ ư nghĩa mới càng thân thiết,
càng thấu triệt. Đó gọi là hô ứng từ xa, vẫn
c̣n cách một tầng, đúng là đă dung hợp thành một
vị. Do vậy, hơn hai hàng trong khoa này chính là một kết
huyệt lớn từ lúc mở đầu cho đến
chỗ này, giống như nhà Phong Thủy đối với
ngàn núi, muôn ḍng, t́m long mạch khắp chỗ. Nếu chẳng
t́m ra chánh huyệt, khó tránh khỏi lẩn quẩn nơi mạch
phụ, chẳng nắm được yếu lănh. Nếu
t́m được chánh huyệt, th́ cát, nước, thanh
long, bạch hổ[11],
nơi nơi đều để ta sử dụng. Học
Phật cũng thế. Học Phật ắt phải y giáo
phụng hành, đối với giáo nghĩa sâu thẳm, ắt
phải t́m được chỗ cương yếu.
Nhưng đoạn này chính là cương yếu của những
nghĩa được nói từ trước tới nay.
Hăy nên chẳng trụ vào sắc mà sanh tâm, chớ nên trụ
trong thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm. Biết
như thế, thấy như thế, tin như thế, hiểu
như thế. Bất luận tu hành pháp ǵ, đi, đứng,
nằm, ngồi, chẳng ĺa điều này, ngơ hầu
đối với ư chỉ Vô Trụ mới có chỗ tiến nhập,
mà tự tánh thanh tịnh tâm mới có thể dần dần
hé lộ đôi chút tin tức, mà đối với pháp
được tu cũng có thể mong có thuở thành tựu.
Ngàn phần, vạn phần! Lại nữa, đoạn này
đă là cương yếu của các nghĩa đă nói trên
đây. Hiểu được
điểm cương yếu ấy để hành các pháp
như bố thí v.v… th́ đạo không đâu chẳng tồn
tại. Do vậy, khoa tiếp theo xét theo công dụng của
kinh để so sánh, nhằm hiển lộ: Phước
đức ấy lớn hơn [phước đức do]
sanh ḷng tin chẳng biết bao nhiêu lần!
2.2.2.2.2.1.2.2.1.3.
Dùng Báo Thân chẳng trụ để chứng minh
(Kinh)
“Tu Bồ Đề! Thí như hữu nhân, thân như Tu Di
sơn vương. Ư ư vân hà? Thị thân vi đại phủ?”
Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm đại, Thế Tôn! Hà
dĩ cố? Phật thuyết phi thân, thị danh đại
thân”.
(經)須菩提!譬如有人,身如須彌山王。於意云何?是身為大不?須菩提言:甚大,世尊!何以故?佛說非身,是名大身。
(Kinh: “Tu Bồ
Đề! Ví như có người thân như núi chúa Tu Di, ư
ông nghĩ sao? Thân ấy có to lớn hay chăng?” Tu Bồ
Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất lớn! V́ sao
vậy? Phật nói chẳng phải thân th́ gọi là thân lớn”).
“Thí như” (譬如) là tỷ dụ. Phàm hễ nói thí dụ,
đều nhằm chứng minh “pháp thuyết” (những
điều trần thuật trong phần giảng pháp). Phần
pháp thuyết trên đây tuy đă xiển phát chẳng sót,
nay lại chứng minh bằng thí dụ để nói, không ǵ chẳng nhằm làm cho
người nghe càng hiểu rơ hơn! “Hữu nhân” (có
người) là ám chỉ người phát đại đạo
tâm. Đại tâm là nhân, đại thân (thân to lớn) là quả. “Tu
Di sơn vương” (núi chúa Tu Di): Sánh ví Báo Thân thù thắng,
nhiệm mầu. Thân ấy vi diệu, tuy có h́nh tướng,
nhưng chẳng phải là bậc Địa Thượng
Bồ Tát, sẽ chẳng thể thấy. Đúng là nhiều
kiếp siêng tu Lục Độ vạn hạnh, phước
lẫn huệ cùng trang nghiêm, công hạnh
viên măn th́ mới có thể chứng đắc cái gọi là
“thân có vô biên tướng hảo”. Nếu nghi
“thân tướng quả báo thù thắng, nhiệm mầu chẳng
giống như phàm tướng,
nhưng nếu chẳng giữ lấy thân ấy th́ tu Lục Độ
vạn hạnh để làm ǵ?” th́ [kẻ nghi như vậy] trọn chẳng biết
bất luận quả vị hay nhân địa, tướng
và phi tướng, đều chẳng thể giữ
lấy. Nếu có đôi chút chẳng hiểu rơ lư này, th́ khi
tu nhân, sẽ chẳng thể khế nhập thâm sâu “hăy
nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm”. Đó là ư vi diệu
của đức Phật khi Ngài nêu lên câu hỏi này. Ngài Tu
Bồ Đề lănh hội sâu xa ư chỉ của đức
Phật; do vậy, vừa mở miệng liền đáp “rất
lớn”. Nói “rất lớn” nhằm nêu rơ thân ấy
chẳng phải là không có, chẳng khác nào trước hết
cho kẻ hoài nghi một viên thuốc an thần,
khiến cho kẻ đó biết phát đại nguyện,
tu đại hạnh, ắt sẽ đạt được
thân to lớn thù thắng, nhiệm mầu, cố nhiên là
chân thật, chẳng dối! “Hà dĩ cố?” (v́ sao vậy?)
là lời [gạn hỏi]: Do nguyên
nhân nào mà đạt được thân to lớn ấy? “Phật”
là danh xưng của quả đức.
“Phi thân” (chẳng phải
là thân) có hai ư:
1) Nói theo sự chứng quả,
cái được chứng chính là cái Thể của Pháp Thân
thanh tịnh, chẳng phải là tướng Báo Thân này, tức
“phi thân” chính là nói về Báo Thân.
2) Nói theo sự chứng quả,
đă là cái Thể của Pháp Thân, mà Pháp Thân chứa đựng
trọn khắp các cơi nhiều như cát (không điều
to lớn nào lọt ra ngoài được), vào khắp trong
các vi trần (không điều nhỏ nhặt chẳng
được bao gồm trong ấy), chẳng có h́nh tướng,
chẳng có số lượng. V́ thế, kinh Tịnh Danh “Phật
thân vô vi, bất đọa chư số” (thân Phật vô
vi, chẳng thuộc trong các pháp số)[12].
Ngụ ư [trong đoạn kinh Kim Cang thuộc khoa này] là dựa
theo Thể để nói, cho nên bảo là “phi thân”, tức
“phi thân” là nói đến Pháp Thân. “Thị
danh đại
thân” (th́ gọi
là thân lớn) là nói đến Báo Thân, nhằm nêu rơ Báo Thân cao lớn
thù thắng, nhiệm mầu. Dụng ư
là dựa theo tướng để nói, nên bảo là “thậm
đại” (rất lớn). “Thị danh” (th́ gọi
là) là nói về danh tướng, nghĩa là: Nếu nói
theo phương diện chứng Pháp Thân, thật sự là
phi thân chẳng có h́nh tướng, há có lớn hay nhỏ
để có thể nói? Nay nói “thậm
đại” chính là dựa theo danh tướng của Báo
Thân để nói. “Đắc quả”: Tuy chẳng phải
là không có thân cao lớn ấy, nhưng thật sự chẳng
tồn tại “cái để có thể đạt được”.
Hễ tồn tại “cái để có thể đạt
được”, sẽ là trụ vào thân tướng. Nếu
trụ vào thân tướng, sao có thể chứng Pháp Thân
thanh tịnh vô tướng? Pháp Thân chưa chứng,
cũng chẳng có Báo Thân rất lớn! Nếu hiểu rơ
lư này, sẽ biết chớ nên giữ lấy thân tướng,
nhưng cũng chẳng phải là không có quả báo thù thắng
ấy! Có thể tu Lục Độ vạn hạnh mà chẳng
chấp giữ, sẽ chứng Pháp
Thân thanh tịnh, hết thảy các tướng thù thắng
sẽ tự nhiên hiển hiện. Chớ nên chấp Hữu,
nhưng cũng đừng nên chấp Vô. Sau đấy, khi
tu nhân, sẽ có thể chẳng giữ lấy ngă tướng,
chẳng trụ trong sáu trần, sanh tâm thanh tịnh.
2.2.2.2.2.1.2.2.2.
Dựa theo công hiệu của kinh để nói rơ
Chia thành hai phần:
1) Nêu rơ phước đức
thù thắng.
2) Nêu rơ nguyên do của sự
thù thắng.
2.2.2.1.2.1.2.2.2.1. Nêu rơ phước
đức thù thắng
2.2.2.1.2.1.2.2.2.1.1. Dẫn
thí dụ về cát sông Hằng
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Như Hằng hà trung sở hữu sa số, như thị
sa đẳng Hằng hà, ư ư vân hà? Thị chư Hằng
hà sa, ninh vi đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm
đa, Thế Tôn! Đản chư Hằng hà, thượng
đa vô số, hà huống kỳ sa?”
(經)須菩提。如恆河中所有沙數,如是沙等恆河,於意云何?是諸恆河沙,寧為多不?須菩提言:甚多,世尊!但諸恆河,尚多無數,何況其沙。
(Kinh: Tu Bồ
Đề! Như số lượng tất cả cát trong
sông Hằng, đối với các sông Hằng nhiều
như số cát ấy, ư ông nghĩ sao? Cát của các sông Hằng
ấy, há có nhiều chăng?” Tu Bồ Đề thưa:
“Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Chỉ tính các sông Hằng
đă là nhiều vô số, huống hồ cát của chúng
ư?”)
Thiên Trúc[13]
có một con sông lớn, tên là Hằng Hà (Ganges). Âm Hằng
hơi sai lệch, đáng phải nên nói là sông Căng Già (殑伽)[14],
phương này dịch là sông Phước. Con sông ấy ở
Ấn Độ giống như Hoàng Hà và Trường Giang
của Trung Hoa, tưới đẫm cả nước,
đối với giao thông, trồng trọt, thương
vụ, và văn
hóa, lợi ích rất lớn,
nên nói là Phước Hà. Hơn nữa, người cổ Ấn
Độ coi nó là thánh thủy, được thấy sông ấy,
hoặc vào trong sông tắm rửa, sẽ được
phước vô lượng. V́ thế, cũng dịch
nghĩa là Thiên Đường Lai (đến từ thiên
đường), do nó bắt nguồn từ chỗ cao.
Trung Hoa cũng có câu “Hoàng Hà chi thủy thiên thượng
lai” (nước Hoàng Hà từ trời đổ xuống).
Kinh Phật dạy: Phía Bắc Thiệm Châu (Nam Thiệm Bộ
Châu, tức Diêm Phù Đề), có chín hắc sơn. Kế
đó, có Đại Tuyết Sơn (Himalaya), lại có
Hương Túy Sơn (Gandhamādana). Giữa phía Nam của Hương Túy và phía Bắc của
Tuyết Sơn, có cái ao tên là A Nậu Đạt (Anavatapta),
phương này dịch là Vô Nhiệt Năo (無熱惱). Ao rộng mỗi bề năm mươi do-tuần,
nước tám công đức chứa đầy trong
đó. Ao có bốn cửa, mỗi cửa chảy ra một
con sông, nước chảy cuồn cuộn đổ vào biển.
Mỗi sông tách thành hai vạn năm ngàn con sông lớn
tưới trọn bốn đại châu. Chảy ra từ
cửa Đông chính là sông Căng Già (Gaṅgā), chảy theo hướng
Đông Nam đổ vào biển. Cửa Nam chảy ra sông
Tín Độ (Sindhu, tức sông Indus), chảy theo hướng
Tây Nam đổ vào biển. Cửa Tây chảy ra sông Phược
Sô (Vakṣu)
theo hướng Tây Bắc đổ vào biển. Cửa Bắc
chảy ra sông Tỷ Đa (Śitā),
theo hướng Đông Bắc đổ vào biển.
Cát
sông Hằng cực mịn, do mịn nên thấy số
lượng càng nhiều hơn! Do vậy, trong kinh Phật, hễ nói đến
số lượng cực nhiều chẳng thể tính
toán, đều dùng cát sông Hằng để sánh ví. Lại
do người Thiên Trúc ai nấy đều biết có con
sông ấy, biết số lượng cát trong sông chẳng
thể tính toán, [v́ thế], dùng
cát sông Hằng làm thí dụ để đại chúng cùng hiểu.
Chữ Như trong “như Hằng hà sa” có nghĩa là “ví
như”, phải đọc
liền mạch với câu kế tiếp thành “như thị
đẳng Hằng hà sa”. “Sa đẳng Hằng hà” có
nghĩa là hiện thời coi tất cả các hạt cát
trong sông Hằng, cứ mỗi hạt cát
là một con sông Hằng mới. Số
hạt cát ban
đầu đă là vô lượng, mà số lượng
các con sông Hằng “mới” cũng bằng số ấy, tức
là số lượng sông Hằng cũng nhiều vô lượng
như thế. Do vậy nói “như thị sa đẳng
Hằng hà” (các
sông Hằng nhiều như số cát ấy), giống
như nói: Coi tất cả số cát vô lượng trong
sông Hằng hiện thời, hóa thành vô lượng sông Hằng
mới nhiều như số cát vô lượng ấy. Câu “thị
chư Hằng hà” (các sông Hằng ấy) [trong chánh kinh]
là nói đến các con sông trong [cách nói giả dụ trên
đây]. “Chư” hàm nghĩa “vô lượng”. Hỏi:
Cát trong vô lượng con sông Hằng mới ấy há có nhiều
chăng? Đáp rằng “rất nhiều”,
nhằm chỉ rơ: Chúng nhiều đến nỗi chẳng
thể nói được! Mấy câu từ chữ Chư
trở đi nhằm nói: Chỉ nói về [số lượng
của] các con sông Hằng “mới” th́ đă nhiều
đến nỗi chẳng thể tính toán được,
huống hồ cát trong các sông ấy! Số đó lại
càng là vô biên, chẳng thể
h́nh dung, chỉ nói mơ hồ là “rất nhiều” mà
thôi!
2.2.2.2.2.1.2.2.2.1.2.
Nói về phước do bố thí của báu
(Kinh)
“Tu Bồ Đề! Ngă kim thật ngôn cáo nhữ, nhược
hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dĩ thất
bảo măn nhĩ sở Hằng Hà sa số tam thiên đại
thiên thế giới, dĩ dụng bố thí, đắc
phước đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn: “Thậm
đa, Thế Tôn!”
(經)須菩提!我今實言告汝,若有善男子、善女人,以七寶滿爾所恆河沙數三千大千世界,以用布施,得福多不?須菩提言:甚多,世尊!
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Ta nay bảo thật với ông: - Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân dùng bảy báu
đầy ắp trong các tam thiên đại thiên thế giới
bằng với số cát trong các sông Hằng ấy để
bố thí, được phước có nhiều chăng?”
Ngài Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Rất
nhiều”).
“Thật
ngôn cáo nhữ” (bảo thật cùng
ông): Tuy nói ở đây, nhưng ư bao trùm cả khoa sau, khiến
cho [thính chúng] biết phước do “thọ tŕ, giảng
nói” được nói trong phần kinh văn sau đó càng
nhiều hơn phước ở đây. Đó là lời
chân thật, chớ nên không tin! Chữ Nhĩ Sở (爾所)
dùng trong cổ văn chính là nói “như hứa” (如許, áng chừng,
bằng khoảng) trong cách hành văn của người hiện
thời. “Như hứa” tức là lời chỉ
điểm, tức là kiểu nói “hứa
đa” (許多)
trong ngạn ngữ tại Thượng Hải, hoặc “giá
mặc ta” (這默些)
trong ngạn ngữ phương Bắc.
Sông
Hằng vô lượng, cát trong sông vô biên. “Nhĩ sở Hằng
hà sa số” (số cát trong các sông
Hằng nhiều ngần ấy) giống như nói “vô
lượng vô biên” vậy. Ngài Tu Bồ Đề lănh hội
sâu xa ư chỉ của đức Phật, biết những
điều đă nói trên đây, không ǵ chẳng nhằm
mượn phước đức hữu vi cực đại
để so sánh, nhằm tỏ rơ pháp vô vi do thọ tŕ, giảng
nói, phước đức càng lớn hơn phước ấy.
Chủ ư vốn không phải ở chỗ này, nên chỉ
đáp “rất nhiều”, chẳng nói thêm ǵ khác!
2.2.2.2.2.1.2.2.2.1.3.
Hiển thị sự thù thắng do tŕ kinh
(Kinh)
Phật cáo Tu Bồ Đề: - Nhược thiện nam tử,
thiện nữ nhân, ư thử kinh trung, năi chí thọ tŕ tứ
cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết, nhi thử
phước đức, thắng tiền phước đức.
(經)佛告須菩提:若善男子、善女人,於此經中,乃至受持四句偈等,為他人說,而此福德,勝前福德。
(Kinh:
Đức Phật bảo Tu Bồ Đề: “Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhân trong kinh này, cho đến thọ
tŕ bốn câu kệ v.v… v́ người khác nói, phước
đức này hơn hẳn phước đức trước”).
Ư
nghĩa thọ tŕ bốn câu kệ trong phần trước
đă nói cặn kẽ. “Tứ cú kệ đẳng”
nhằm tận lực nói: Thọ tŕ, diễn nói kinh rất
ít mà phước đức c̣n hơn hẳn phước
[bố thí bảy báu]
trước đó.
Vậy th́ thọ tŕ, diễn nói cả bản kinh, phước
ấy càng thù thắng hơn, chẳng cần phải nói nữa!
Thọ tŕ sẽ có thể tự độ. “Vị tha
nhân thuyết” (v́ người khác nói) tức là có thể
độ tha. Tự độ và độ tha chính là Bồ
Tát hạnh. Bởi thế, phước đức cực
đại! Tŕ kinh, thuyết pháp, phước đức
c̣n hơn bố thí, nghĩa này có Thông và Biệt. Thông là bất
luận tŕ kinh nào, nói pháp nào, không ǵ chẳng đều là
như vậy. Biệt là chuyên nói về kinh này.
Nay
trước hết nói về nghĩa Thông. Nói theo sự tự
độ, nếu bố thí mà chẳng biết ĺa tướng,
phước đức đạt tới mức lớn
cùng cực vẫn chẳng qua sanh lên trời mà thôi! V́ thế, gọi là “công đức hữu
lậu”, tức
là nói [công đức ấy] vẫn rơi rớt trong
đường sanh tử luân hồi, chẳng thể nói tới
tự độ được! Nếu có thể thọ
tŕ ư nghĩa của kinh, có thể khai trí huệ, có thể
biết luân hồi đáng sợ mà cầu thoát ĺa, khi hành bố
thí cũng biết ĺa tướng, th́ chính là phước huệ
song tu, có thể đạt tới bờ kia, liễu sanh tử,
chứng thánh quả. So với kẻ chỉ có thể sanh
thiên, nhưng vẫn chẳng tránh
khỏi nhập luân hồi, sẽ là cách biệt
một trời, một vực! Như vậy th́ tuy chỉ
thọ tŕ một bài kệ bốn câu v.v… phước ấy
đă hơn hẳn phước do bố thí của báu
đầy ắp vô lượng vô biên đại thiên thế
giới, huống hồ người thọ tŕ toàn bộ bản
kinh ư!
Nói
theo sự độ tha, Tài Thí chẳng sánh bằng Pháp Thí,
[điều này] chứa đựng nhiều nghĩa. Ở
đây, tôi nêu đại lược:
1)
Tài Thí th́ người thí và kẻ nhận chưa chắc
đă có trí. Pháp Thí mà nếu chẳng có trí, sẽ không thể
thí, [mà người nhận nếu] chẳng có trí huệ
cũng chẳng thể tiếp nhận.
2)
Tài Thí th́ người thí được phước to lớn,
người nhận chỉ đạt được lợi
ích nhỏ nhoi trước mắt. Pháp Thí th́ người
thí lẫn kẻ nhận đều đạt được
phước to lớn.
3)
Tài Thí chỉ hữu ích cho sanh mạng của con người,
Pháp Thí th́ tăng thêm huệ mạng cho con người.
4)
Tài Thí chế phục tham, Pháp Thí đoạn Hoặc.
5)
Tài Thí th́ đôi bên đều chẳng thoát khỏi luân hồi,
Pháp Thí th́ đôi bên mới có thể liễu sanh tử.
6)
Tài Thí th́ đôi bên thọ dụng có cùng tận, Pháp Thí th́
đôi bên thọ dụng vô cùng.
7)
Tài Thí th́ thí ít, người được lợi ích sẽ
ít. Pháp Thí th́ thí ít mà có thể đạt được lợi
ích to lớn.
Hỏi:
Như vậy th́ chỉ hành Pháp Thí, chẳng hành Tài Thí có
được hay chăng?
Đáp: Chẳng phải
vậy! Bồ Tát nhiếp thọ chúng sanh, Tài Thí cũng chẳng
thể thiếu, nhưng tông chỉ là
hành Pháp Thí, chẳng coi Tài Thí là rốt ráo!
Trên
đây là nói chung về hai thứ lợi ích do
thọ tŕ, diễn nói hết thảy các kinh pháp. Khoa sau sẽ
nói riêng về lợi ích do thọ tŕ, diễn nói kinh này. Cần
phải biết: Kim Cang Bát Nhă chỉ thẳng bản tánh. Nếu
có thể kiến tánh, sẽ có thể thành Phật, há có phải
chỉ là khiến cho chính ḿnh liễu sanh thoát tử, khiến
cho chúng sanh liễu sanh tử mà thôi, mà c̣n có thể độ
vô lượng vô biên chúng sanh đều
thành Phật. Tiếp nối hưng thịnh ḍng giống
Phật, không ǵ hơn kinh này! Phước đức ấy
to tát chẳng thể nghĩ bàn, há có phải chỉ vượt
trội phước đức bố
thí của báu đầy ắp trong vô
lượng vô biên đại thiên thế giới trên
đây mà thôi ư!
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.
Hiển thị nguyên do thù thắng
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.1.
Giảng về phước do tùy thuận mà nói kinh này
(Kinh) Phục thứ, Tu Bồ Đề! Tùy
thuyết thị kinh, năi chí tứ cú kệ đẳng,
đương tri thử xứ,
nhất thiết thế gian thiên, nhân, A Tu La, giai ưng cúng
dường, như Phật tháp miếu.
(經)復次,須菩提!隨說是經,乃至四句偈等,當知此處,一切世間天人阿修羅,皆應供養,如佛塔廟。
(Kinh:
Lại nữa, Tu Bồ Đề! Hễ nói kinh này, thậm
chí là bốn câu kệ v.v…. hăy nên biết: Đối với
chỗ ấy, hết thảy trời, người, A Tu La
trong thế gian đều nên cúng dường như tháp miếu
của Phật).
Hễ
nói “phục thứ” (lại nữa) tuy là nêu riêng ư
nghĩa khác, nhưng thật ra nhằm thành tựu nghĩa
trước, do nghĩa trước đă được
nói cặn kẽ rồi. “Tùy” có nghĩa “chẳng hạn
định”;
nói đại lược th́ có sáu ư:
1)
Tùy thuộc người nào, bất luận tăng, tục,
thánh, phàm.
2)
Tùy căn cơ, bất luận lợi căn hay độn
căn (đấy chính là ư nghĩa cạn và sâu nói bổ
sung lẫn nhau. Hoặc nói là Đệ Nhất Nghĩa, hoặc
bảo là Đối Trị).
3)
Tùy theo kinh văn, bất luận nhiều, ít, rộng, hay
lược.
4)
Tùy nơi chốn, bất luận là thành thị, làng quê, chỗ
thù thắng,
hay nơi kém hèn!
5)
Tùy thời, bất luận ngày, đêm, [thời gian] dài hay
ngắn.
6)
Tùy chúng, tức là bất luận người nhiều hay
ít. Nếu gặp cơ duyên đáng nên nói, liền nói.
Đó
gọi là “tùy thuyết”. “Đương tri” (Hăy nên biết)
ngụ ư răn nhắc “chớ
nên coi thường!” “Thử xứ”
(chỗ ấy) là nói tới chỗ thuyết kinh. Chỗ
thuyết kinh [đáng nên tôn trọng] như thế, th́ suy
ra cũng biết là đối với người thuyết
kinh [cũng phải nên tôn kính như thế]. Khoa sau nói: “Đương
tri thị nhân” (Hăy nên biết người ấy) v.v… Do
vậy biết: Nói tới Xứ, sẽ kiêm cả ư nói
đến người. Nói chung, người nghe
kinh chớ nên chẳng giữ tấm ḷng cung kính. V́ sao vậy?
Do tôn trọng pháp, do chẳng quên điều bắt nguồn,
nhưng người nói kinh trọn chớ nên có cái tâm ấy,
v́ sao? Do xa ĺa danh lợi và cung kính, do chớ nên chấp
tướng. Đấy chính là điều mà đôi bên
đều phải nên biết! Lại như kinh Đại
Bát Nhă nói: Thiên Đế Thích thường ở Thiện
Pháp Đường, v́ thiên chúng nói pháp Bát Nhă Ba La Mật. Có
lúc thiên vương chẳng ở đó, nếu thiên chúng
kéo đến, cũng hướng về ṭa trống làm lễ,
cúng dường rồi rời đi. Đấy chính là
chư thiên tuân theo lời đức Phật dạy mà cung
kính chỗ nói kinh. Kinh Đại Phẩm lại nói: Chư
thiên hằng ngày thực hiện ba thời lễ kính, trong
sáu ngày trai càng nhiều hơn. Chỗ nào có kinh th́ đều
giữ sao cho bốn phía đều thanh tịnh.
Nói “thế
gian” là giống như “thế giới”. “Gian” (間) có nghĩa là “ngăn
cách”. Như nói “trong
một gian nhà”
nhằm nêu rơ giới hạn của căn nhà ấy. Nếu
chẳng có giới hạn, sao lại gọi là “một
gian”? Do đó,
nói “thế gian” chẳng khác nói thế giới. “Thế”
(世) có ư
nghĩa là theo chiều dọc, cứ ba mươi năm
là một Thế. Giới (界) là
ư nghĩa theo chiều ngang, các
phương các chốn đều có giới hạn. Nay nói
“nhất thiết thế gian” (hết thảy thế
gian) cho thấy: Theo chiều dọc th́ tột cùng vị
lai, theo chiều ngang bèn trọn khắp mười phương,
tức là ư nghĩa “tận vị lai tế, biến pháp
giới” (tận cùng đời vị lai, trọn khắp
pháp giới).
Nói
trời, nói người, hàm ư thâu nhiếp trọn hết tất
cả chúng sanh trong tam giới, nhưng nói trời, nói Tu La,
mang ư nghĩa gồm thâu thiên long bát bộ. V́ thế, tuy chỉ
nêu ra ba đường, nhưng hàm ư gồm trọn hết
thảy. Hăy nên biết: Hai
chữ “giai ưng” (đều nên) chính là tương ứng
với “đương tri” (hăy nên biết). V́ sao nên biết?
Do đều nên [như thế] vậy! “Ưng” (應): Nếu chẳng phải
là như thế sẽ chẳng được; do vậy,
phải nên biết [như thế đó].
Cúng
dường có hai loại:
1) Sự
cúng dường, nói đại lược th́ gồm mười
sự, tức là hương, hoa, anh lạc (chuỗi kết
bằng châu, ngọc, hoặc các thứ báu), hương bột,
hương bôi, hương đốt, phan, lọng, y phục,
âm nhạc, chắp tay lễ bái. Chỗ nói kinh chính là đạo
tràng; do vậy, phải nên trang nghiêm cung kính như thế.
2)
Pháp cúng dường, tức là đúng như pháp mà tu hành, lợi
ích chúng sanh (như nghe xong sẽ xoay vần nói lại cho
người khác, hoặc đem kinh biếu tặng v.v…),
nhiếp thọ chúng sanh (như khuyên người khác tới
nghe, chia chỗ ngồi cho người khác v.v…), cho tới
chẳng xả Bồ Tát nghiệp (như gặp trở ngại,
khó khăn vẫn đều đến nghe, tức là “chẳng
bỏ”), chẳng ĺa Bồ Đề tâm (như phát khởi
đại nguyện, đại hạnh, chẳng trái nghịch
chánh trí Bát Nhă, chẳng trái nghịch ư chỉ của kinh)
v.v…
“Như
Phật tháp miếu” là nói đều nên cúng dường
[chỗ nói kinh] như cúng dường tháp miếu thờ
Phật thông thường. Cúng dường tháp miếu th́
ai nấy đều biết; c̣n chỗ thuyết kinh có thể
bị coi thường. Do vậy, dùng tháp miếu để
làm lệ, ḥng dạy rơ: Nơi thuyết kinh chính là đạo
tràng, chẳng khác các nơi tháp miếu. Do vậy, phải
đều nên cúng dường (do v́ lẽ nào mà nơi
đó là đạo tràng, trong phần sau sẽ trịnh trọng
nói rơ). Nói chung, đều nhằm nêu rơ: Người thuyết
pháp do đức Phật sai khiến, pháp đă nói ấy vốn
do đức Phật nói. Do vậy,
thay Phật tuyên dương th́ chính là giống như Phật
hiện diện tại đó. Kinh Pháp Hoa dạy: “Năng
vị nhất nhân thuyết Pháp Hoa kinh, năi chí nhất cú, thị
nhân tắc vi Như Lai sở khiển, hành Như Lai sự”
(Có thể v́ một người mà nói kinh Pháp Hoa, thậm
chí [chỉ nói] một câu, người ấy chính là
được Như Lai sai khiến làm chuyện của
Như Lai). Pháp Hoa đă là như vậy, hết thảy các
kinh đều là như vậy. Kim Cang Bát Nhă càng chẳng phải
không như vậy! Đoạn văn trước đó nói
“đương tri” (hăy nên biết) chính là nói đến
chuyện này! Nếu biết người ấy được
Phật sai khiến, pháp do Phật nói, sẽ tự biết
đều phải nên cung kính cúng dường vậy!
“Tháp”
là tiếng Phạn, nói đầy đủ
là Tháp Bà (塔婆), phiên âm như vậy hơi sai, thật ra là Tốt
Đổ Ba (Stupa), có nghĩa là chỗ cao rạng, cũng
dịch là Phương Phần, Viên Trủng (方墳圓塚, mộ vuông, mộ tṛn). Tháp ắt cao rạng; do vậy,
biểu thị sự thù thắng. Tháp Phật có nhiều
loại, nay chỉ nói bốn loại, tức
là tháp đản sanh, tháp thành đạo, tháp chuyển pháp
luân, và tháp nhập Niết Bàn. Nay dạy cúng dường
[chỗ nói kinh] như tháp, tức là có ư nghĩa hàm nhiếp
cả bốn loại tháp ấy. V́ sao nói vậy? Kinh này giảng
Thật Tướng. Thật Tướng chính là Pháp Thân của
Phật. Lại nói “hết thảy chư Phật từ
kinh này mà ra”, há chẳng phải chỗ ấy chính là tháp
nơi Phật đản sanh ư? Sau khi nghe pháp, biết
tu nhân, chứng quả, mà kinh này sanh phước vô lượng,
túc tội đều tiêu, sẽ đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Do vậy, chỗ này liền giống
như tháp nơi Phật thành đạo. Thay Phật tuyên
dương pháp Đại Thừa tối thượng, chỗ
ấy chính là tháp nơi đức Phật chuyển pháp
luân. Bát Niết Bàn có nghĩa là Vô Vi, cũng có nghĩa là
“sanh diệt đă diệt”, lư sự rốt ráo, mà những
điều được nói trong kinh này đều là pháp
vô vi, khiến cho người nghe diệt cái tâm sanh diệt,
chứng cái quả rốt ráo, đó gọi là “khiến
cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ”, tức
chỗ này chính là tháp nơi đức Phật bát Niết
Bàn cũng chẳng đúng hay sao?
“Miếu”
(廟) là h́nh
mạo, có ư nói là chỗ thờ tượng
Phật, tiếng Phạn là Chi Đề (Caitya). Phàm là Phật tháp, ắt thờ
xá-lợi (śarīra) của Phật. Xá-lợi tức
chân thân của Phật. Phàm là miếu
thờ tượng Phật, ắt có kinh pháp, ắt có tăng
chúng. Nói một chữ Miếu, tức
là chỗ Trụ Tŕ Tam Bảo tụ tập. Nay nói “như
Phật tháp miếu” tức là nói người thuyết
kinh thay Phật tuyên dương, liền giống như
chân Phật ở đó. Nói đại pháp, tiếp nối
hưng thịnh Phật chủng; đó là trụ tŕ Tam Bảo.
V́ thế nói là “như Phật tháp miếu, đều nên
cúng dường”. Trong phần kinh văn trước
đó đă nói “v́ người khác nói [kinh pháp] th́ phước
đức ấy thù thắng hơn người trước
đó (người dùng bảy báu đầy ắp các cơi
tam thiên đại thiên thế giới nhiều như số
cát trong vô lượng sông Hằng)” là v́ lẽ ấy. Do vậy,
có thể chứng minh: Tuy kinh nói Xứ, dụng ư thật sự là
nói đến người. Đương nhiên phải tôn
trọng người thuyết kinh giống như vậy.
Nếu người thuyết kinh đối với phi pháp
mà bảo là pháp, pháp bảo là phi pháp, bàn xằng Bát Nhă, lầm pháp, lầm người, tội
nghiệp ấy to tát, trọn chẳng đáng nhắc tới
hay sánh ví. Nh́n từ chánh diện của kinh, có thể thấy
được khía cạnh phản diện. Đây lại
là điều người thuyết kinh cần phải nên
biết: Hăy nên dè dặt tự xét, đừng nên lơi là chút
nào! V́ thế, kinh văn trong phần sau lại nói “hà huống
tận năng thọ tŕ” (huống hồ có thể thọ
tŕ trọn hết) v.v… “Thọ” (受)
tức là lănh nhận nghĩa chân thật. “Tŕ” (持) là nương theo nghĩa mà tu tŕ. Vậy
th́ chẳng thể tu tŕ, sẽ là “nói được mà
chẳng làm được”, như đếm của
báu nơi nhà người khác, chính ḿnh chẳng có nửa
đồng! Hơn nữa, chẳng thể tu tŕ, ắt
cũng chẳng thể nhận lănh, bởi chắc chắn là chẳng thể lănh hội
nghĩa chân thật vi diệu rất sâu từ văn tự
được! Chẳng thể lănh hội mà cứ nói, ắt
sẽ đến nỗi bàn xằng Bát Nhă, hay diễn tả
Bát Nhă nông cạn! Há chẳng phải rơ ràng là răn nhắc
người thuyết kinh sâu đậm, thiết tha đó ư?
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.
Nói về phước do tŕ trọn hết bản kinh
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.1.
Nói thẳng vào sự thọ tŕ trọn hết
(Kinh)
Hà huống hữu nhân tận năng thọ tŕ, độc
tụng.
(經)何況有人盡能受持讀誦。
(Kinh:
Huống hồ người có thể thọ tŕ, đọc
tụng trọn hết).
Nói
“thọ tŕ” lại nói “đọc tụng”, nhằm nói rơ ắt phải là người
có thể lănh nhận, tu tŕ, th́ mới có thể thật sự
đọc tụng. Nếu không, lợi ích do đọc tụng
rất nhỏ! Đă có thể thọ tŕ, lại c̣n phải
đọc tụng, do nghĩa lư uẩn tàng trong kinh vô cùng,
luôn luôn đọc tụng sẽ càng có thể huân tập
tăng trưởng, tức là sức thọ tŕ ngày càng tiến
bộ. Trong phần trên là “nói”, ở đây là “thọ tŕ”;
đó là điểm bất đồng thứ nhất. Phần
trên nói “tùy ư nói bốn câu kệ”, ở đây nói “tận
năng thọ tŕ, độc tụng”, đó là điểm
bất đồng thứ hai. Nhưng nói “hữu nhân”
(có người), chẳng phải là nói riêng một người
nào khác, thoạt đầu chưa nói dứt khoát: Đó
chính là người nói kinh. Huống chi, cũng nhằm nói
rơ người có thể tận hết sức thọ tŕ,
đọc tụng, sẽ càng thù thắng hơn người
tùy thuận diễn nói. Đức Thế Tôn nói tách ra
như thế, [là v́]:
1)
Giảng rơ công thọ tŕ to lớn, khiến cho mọi
người đều biết hướng đến, coi
trọng điều này.
2)
Nói rơ người có thể nói, ắt là do thọ tŕ mà ra. “Tùy
thuyết” ắt đều do “tận năng thọ
tŕ” (có thể thọ tŕ trọn hết) mà có. Nếu chẳng
thể thọ tŕ trọn hết, sao có thể mỗi chuyện
đều là đạo, v́ đại chúng tùy thời, tùy
chốn, tùy căn cơ để giảng nói kinh văn
cho được!
3)
Nói rơ do có thể thọ tŕ trọn hết, ắt phải
nên khi gặp cơ hội đáng nên nói, sẽ liền v́
người khác mà nói. Không chỉ có thể thọ tŕ trọn
hết, mà c̣n càng thù thắng hơn.
Do vậy,
kinh văn trong phần trước và khoa này tuy khác biệt,
nhưng ư nghĩa thật sự soi tỏ lẫn nhau, tức
Như Lai thật sự có ư muốn cho ai nấy đă có thể
nói, lại c̣n
có thể thọ tŕ. Đă có thể thọ
tŕ, sẽ có thể nói, chẳng thể tách rời thành hai
đằng để hành riêng mỗi thứ! V́ sao biết
ư này? Do phần sau nói hai chữ “thành tựu” liền
có thể hiểu rơ. Bởi lẽ, đức Thế Tôn
nói kinh pháp này, vốn là mong sao ai nấy đều thành tựu.
Để thành tựu th́ phải tự độ, độ
tha, viên măn hai điều lợi (tự lợi và lợi
tha) th́ mới được! Nếu chỉ biết nói, hoặc
chỉ biết thọ tŕ, tức là đối với tự
lợi và lợi tha bị lệch về một bên, c̣n mong
thành tựu chi nữa! V́ vậy biết: Kinh văn tuy nói
tách ra, nhưng ư nghĩa thật sự nhất quán. Đọc
kinh, nghe pháp, chớ nên chấp trước tướng
văn tự, ắt phải nên lănh hội nghĩa chân thật
như vậy. Đó gọi là “y nghĩa, chẳng y
văn”.
Lại nữa, trong
đoạn “tùy thuyết” trước đó có ư
nghĩa hoàn toàn tương đồng với “độ
trọn hết tất cả hết thảy chúng sanh”
được nói trước hết
ở đầu kinh. Có nghĩa là Bồ
Tát phát nguyện, chưa thể độ ḿnh mà mong độ
người khác trước. Độ người khác
chính là độ ḿnh. Kế đó, nói “hà huống tận
năng thọ tŕ” (huống hồ có thể thọ tŕ
trọn hết), cũng có ư nghĩa hoàn toàn tương
đồng với “phục thứ, Bồ Tát ưng vô trụ
pháp nhi hành Lục Độ” (lại nữa, Bồ Tát
hăy nên chẳng trụ vào pháp mà hành Lục Độ) ở
đầu kinh, có nghĩa là tuy độ tha mà vẫn
phải tự độ, nhưng tự độ vốn
là v́ độ tha! Nếu chẳng lănh hội ư nghĩa “tự
tha chẳng hai”, há c̣n có thể nói là “có
thể thọ” ư? Há c̣n trông mong có thành tựu
được ư? Đức Thế Tôn thuyết pháp
như Ma Ni châu, phương diện nào cũng đều
trọn vẹn. Nếu chẳng lănh hội như thế,
há chẳng phải là cô phụ kinh văn này ư? Cần
phải biết văn tự trong mỗi kinh không ǵ chẳng
nói tột bậc châu đáo, tường tận, chặt
chẽ. Rất sợ mọi người ơ hờ, hời
hợt, hiểu biết nửa vời, chẳng thể hết
sạch các kiến
để lắng ḷng thấu hiểu, ắt
đến nỗi chấp trước phiến diện, mê
muội toàn thể, tự lầm, lầm người! Nói “y
nghĩa” (nương theo ư nghĩa) tức là dạy mọi
người phải dung hội, thông suốt,
hiểu rơ ư nghĩa chân thật ở nơi đâu. “Chẳng
y văn” (chẳng dựa theo văn tự, tức là chỉ
hiểu theo ư nghĩa văn tự, chấp trước
văn tự), tức là chớ nên nghe một lời, nửa
câu,
liền tách rời văn tự [khỏi ngữ cảnh],
cắt xén ư nghĩa!
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.
Nói rơ nguyên do
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.1.
Nói trực diện theo phương diện thành tựu
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Đương tri thị nhân, thành tựu tối thượng
đệ nhất hy hữu chi pháp.
(經)須菩提!當知是人,成就最上第一希有之法。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Hăy nên biết người ấy thành tựu pháp tối
thượng, hiếm có bậc nhất).
Pháp tối thượng hy hữu
bậc nhất là pháp ǵ vậy? Chính là pháp A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề. Pháp ấy là pháp để
bậc Cứu Cánh Giác tự chứng. Thành tựu pháp ấy
cũng có nghĩa là “thành Phật”. Kinh Di Đà dạy:
“Thích Ca Mâu Ni Phật năng vị thậm nan hy hữu
chi sự, năng ư ngũ trược ác thế trung,
đắc A Nậu Bồ Đề” (Thích Ca Mâu Ni Phật
có thể làm chuyện hiếm có, rất khó, Ngài có thể ở trong đời ác
ngũ trược, đắc Vô Thượng Bồ Đề).
Hiếm có, rất khó, chính là hy hữu bậc nhất! Trọn
chẳng có ai hơn được Phật, nên nói là “tối
thượng”. Nếu tách ra để nói, A Nậu Bồ
Đề nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Chánh Giác: Trước nay chẳng giác, mà nay có thể
trái trần, hợp giác, chẳng phải là hy hữu ư?
Chánh Đẳng: Đẳng (等) có nghĩa là b́nh
đẳng. Nay không chỉ tự giác, mà c̣n có thể giác
tha. Tự và tha chẳng hai, Không lẫn Hữu đều
chẳng chấp, pháp giới b́nh đẳng, đó là Đệ Nhất Nghĩa,
cho nên nói là Đệ Nhất. Vô Thượng là đường
tắt đạt đến chỗ có của báu, chứng
Cứu Cánh Giác; đó gọi là Vô Thượng Bồ Đề.
Vô Thượng có nghĩa là tối thượng. Các bản
chú giải cổ hồn hậu, đơn giản,
nay thấy
đó là lời lẽ xác đáng khiến cho
[người đọc] biết nghĩa ấy. C̣n như chú
giải của hậu nhân, hoặc dùng tam thân (Pháp, Báo, Hóa) để giải
thích, hoặc dùng Tam Bát Nhă (Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, Thật
Tướng Bát Nhă) để giải thích, tức là ư
nghĩa thiếu thân thiết, viên măn vậy! “Thành tựu”
nghĩa là nói có thể thành tựu pháp như vậy.
“Thị nhân” (người
ấy) tức là chỉ chung người có thể “tùy thuyết” kinh này, có thể thọ
tŕ trọn hết kinh này, và nghe kinh mà có thể thọ tŕ,
có thể tùy thuyết. Hai chữ “đương tri”
(hăy nên biết) xuyên suốt các câu sau đó. Nếu nói theo
câu này, sẽ
là người cùng tu phước lẫn huệ như thế,
ta lẫn người cùng độ, sẽ tiến thẳng
đến chỗ có của báu, có thành tựu to lớn, chớ
nên coi thường! Nếu biết người ấy
thành tựu chẳng thể nghĩ bàn, sẽ biết
phước đức ấy vượt xa kẻ dùng bảy
báu đầy ắp vô lượng vô biên đại thiên thế
giới để bố thí! Một đằng là hữu lậu, hữu vi; một đằng
là vô lậu, vô vi, cho nên dẫn đến sự
sai khác là ở chỗ này, có chi là lạ?
2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.2.2.2.
Dựa theo sự huân tập để kết lại
(Kinh) Nhược thị
kinh điển sở tại chi xứ, tắc vi hữu Phật,
nhược tôn trọng đệ tử.
(經)若是經典所在之處,則為有佛,若尊重弟子。
(Kinh: Nếu chỗ
nào có kinh điển này, tức là chỗ ấy có Phật
và các bậc đệ tử đáng tôn trọng).
Chữ
Kinh của Trung Hoa vốn có nghĩa là “đường lối”.
“Điển” (典)
nghĩa là khuôn phép. Những điều kinh này nói đều là
khuôn phép chánh yếu chẳng thay đổi, là con đường
giác ngộ đều cùng phải theo của
người phát Bồ Đề tâm. Đi theo con đường
ấy, vâng theo khuôn phép ấy, tự nhiên đến thẳng
chỗ có của báu. V́ vậy, chỗ có kinh này chính là chỗ
có của báu. Đă trở thành chỗ có của báu, cho nên
Phật và hết thảy các hiền thánh, không vị nào chẳng
ở đó. “Nhược tôn trọng đệ tử”
là giống như nói “cùng với hết thảy các hiền
thánh”. “Nhược” (若) [ở đây phải hiểu] là “cùng với”.
“Tôn trọng đệ tử”: Có người bảo
đó là nói tới các vị đại đệ tử
như Ca Diếp, Mục Liên. Có người bảo là nói tới
các vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền.
Nói chung, chỗ đức Phật ngự liền
có đại chúng vây quanh để Ngài v́ họ thuyết
pháp, ví như các ngôi sao chầu hầu mặt trăng. Do vậy,
“tôn trọng đệ tử” là nói chung hết thảy
hiền thánh, Bồ Tát, La Hán đều được gồm trọn trong
ấy, chẳng cần phân biệt chuyên nói về [những
vị nào]. Kinh Đại Bát Nhă dạy: “Bát Nhă sở tại
chi xứ, thập phương chư Phật thường
tại kỳ trung” (chỗ có Bát Nhă, mười
phương chư Phật thường ở nơi
đó). V́ thế, muốn cúng dường Phật, hăy nên
cúng dường Bát Nhă. Bát Nhă và Phật chẳng hai, chẳng
khác! Biết mười phương chư Phật đều
ở tại nơi ấy, sẽ biết hết thảy Bồ
Tát, La Hán trọn khắp hư không tận pháp giới,
không vị nào đều chẳng ở trọn hết
tại
đấy. Nói chung là nêu rơ sự thù thắng của kinh
này, được quư trọng khắp nơi, đều
được mọi người tôn kính đó thôi!
Nh́n chung mấy khoa trên
đây, trước là nói rơ chỗ thuyết kinh; kế
đó là nói về người thọ tŕ. Đến
đây, liền biết nguyên do v́ sao nói rơ nơi chốn và
người [thuyết kinh], thật sự là để hiển lộ công
năng của kinh này! Công năng của kinh chẳng có chi
khác, chính là chánh trí Bát Nhă. V́ thế, hiển lộ [công
năng của] kinh, lại c̣n thật sự khuyên mọi
người cúng dường kinh này, đọc tụng kinh
này, thọ tŕ kinh này, rộng v́ mọi người nói kinh
này, để mong do văn tự mà khởi quán chiếu, chứng
Thật Tướng. Đức Phật thuyết pháp, tầm
mắt thấy trọn bốn phương, phương diện
nào cũng đều trọn vẹn như thế đó!
Lại nữa, thoạt
đầu khi hiển lộ nơi chốn, bèn nói “đều
nên cúng dường như tháp miếu của Phật”, tức
là nói rơ: Thuyết kinh chính
là trụ tŕ Tam Bảo. Nay bèn nói hễ kinh ở chỗ
nào, nơi ấy liền có Phật và hết thảy các vị
hiền thánh, tức là nói về thường trụ Tam Bảo.
Khoảng giữa bèn nói: “Người ấy thành tựu
pháp tối thượng hy hữu bậc nhất”, ḥng nói rơ thành tựu tự tánh Tam Bảo.
Nói gộp lại, đó là do trụ tŕ Tam Bảo mà chứng
tự tánh Tam Bảo, thành tựu thường trụ Tam Bảo,
cũng chính là do thường trụ nên trụ tŕ, do trụ
tŕ nên thường trụ. Hơn nữa, thế nào là trụ
tŕ? Thế nào là thường trụ? Hoàn toàn nương
vào tự tánh để thành tựu mà thôi!
Hơn nữa, phần
trước nói “thành tựu thù thắng” nhằm hiển thị
duyên do khiến cho phước đức thù thắng. Nay lại
nói “huân tập thù thắng” nhằm hiển thị
nguyên do của thành tựu
thù thắng. V́ sao vậy? Do chỗ có kinh điển giống
như chỗ có Phật, Bồ Tát, tức là người
thọ tŕ, diễn nói chính là thân cận các vị đại
thiện tri thức như chư Phật, Bồ Tát. Như
thế th́ luôn luôn huân tập tự tánh, há có ai chẳng
đạt được thành tựu to lớn ư?
Lại nữa, thoạt
đầu nói “như Phật tháp miếu”, v́ sao chỗ
thuyết kinh lại giống như tháp miếu của Phật?
Nay nói chỗ nào có kinh, Phật và hiền thánh đều ngự
tại đó, há chẳng phải là nói rơ nguyên do “như
Phật tháp miếu” trong đoạn trước ư?
Nói chung, đă nói “như Phật tháp miếu”, lại
nói “Phật và hiền thánh đều hiện diện”,
đều nhằm nói rơ kinh này là then chốt đối với
mạng mạch của Tam Bảo! V́ thế, chẳng ngại
nói cặn kẽ đôi ba lượt, khiến cho hết
thảy chúng sanh tôn trọng kinh này vậy!
Lại nữa, phần
trước nói thành tựu rồi liền nói tiếp: Chỗ
có kinh điển chính là chỗ có Phật và các bậc
đệ tử đáng tôn trọng. Đấy là lại
nói rơ sự thành tựu của người ấy tối
thượng như Phật. Kế đó, cũng giống
như hết thảy hiền thánh, là hy hữu bậc nhất.
V́ sao vậy? Người phát vô trụ tâm sẽ chứng
cái quả vô vi, cho nên hết thảy hiền thánh đều
do pháp vô vi mà có sai biệt! V́ thế, thọ tŕ, diễn nói
kinh Vô Vi Thật Tướng, há chẳng thành tựu pháp ấy
hay sao?
Kinh văn thuộc mấy
khoa này, văn tự chẳng nhiều, diệu nghĩa vô
cùng, khó nêu tỏ trọn hết
được! Ở đây, bất quá nói đại
lược như đă trần thuật trên đây, tùy thuộc
mỗi người khéo lănh hội mà thôi!
Hơn nữa, phần
trước đă so sánh để hiển thị công
năng của kinh, dùng chuyện bố thí của báu trong một
đại thiên thế giới để so sánh, nhằm hiển
thị phước đức ấy. Nay dùng chuyện thí của
báu trong vô lượng vô biên đại thiên thế giới
để so sánh ḥng hiển thị phước đức
này. V́ sao trước sau sai biệt dường ấy,
nghĩa ấy là như thế nào? Do sự hiển thị
thù thắng trong phần trước là nói sau khi [người
nghe pháp này] đă có thể sanh tín tâm, lại c̣n nói “hết thảy
chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra”, nhằm nêu rơ: Nếu
có thể nghe chương cú này, tín tâm thanh tịnh, sẽ
tiến hướng Phật trí. V́ vậy, có phước
đức như thế đó. Nhưng bất quá là cái tâm
vừa mới phát sanh tịnh tín, chưa thể thâm nhập;
do vậy, chỉ dùng chuyện thí của báu trong một
đại thiên thế giới để hiển lộ sự
thù thắng.
Nay th́ khác hẳn, nói tới
lúc sau khi đă khai giải. Khai giải như thế nào?
Đó chính là “sanh tâm thanh tịnh, chẳng trụ vào
đâu mà sanh cái tâm ấy”. Lại c̣n nói: “Đương
tri thị nhân thành tựu tối thượng đệ nhất
hy hữu chi pháp” (Hăy nên biết người ấy
thành tựu pháp hy hữu tối thượng bậc nhất). Lại nói “tắc
vi hữu Phật, nhược tôn trọng đệ tử” (tức là có Phật,
và các đệ tử đáng tôn trọng) nhằm chỉ rơ:
Nếu có thể lănh ngộ nghĩa chân thật “vô trụ
sanh tâm, sanh tâm vô trụ”, sẽ rất có khả năng
đạt được thành tựu to lớn. Do hiểu
ư nghĩa của kinh, bèn nắm được cương
yếu, so với người trước
đó chỉ
có tín tâm, chưa đạt
được cương yếu, sẽ khác biệt một
trời, một vực! V́ thế, dùng chuyện bố thí
chất báu trong vô lượng vô biên đại thiên thế
giới để so sánh ḥng hiển lộ sự thù thắng.
Đó là nói rơ: Người ấy phước đức
vượt trội người trước vô lượng
vô biên lần! V́ sao vậy? Một đằng
là mới phát sanh tín tâm, chỉ biết danh tự thô thiển.
Một đằng là hiểu sâu xa nghĩa kinh, dần dần
có thể nhập quán. Cần phải biết: Kinh này chuyên
nói về Thật Tướng, chỉ thẳng vào bản
tâm. Người thọ tŕ nếu có thể thật sự
thẳng thừng gánh vác, nương theo kinh mà khởi quán,
sẽ sanh phước, diệt tội, mau chứng Bồ
Đề, công đức há có thể diễn tả,
suy lường nổi ư? Nhưng trong nửa bộ
đầu, đă có năm lượt so sánh để hiển
thị, nếu công năng của kinh có lớn hay nhỏ
th́ thật ra là do công hạnh của người tŕ tụng
sâu hay cạn mà tạo thành sự sai biệt ấy,
chẳng phải là do kinh có công năng sai
biệt!
2.2.2.2.2.1.2.3.
Xin dạy tên kinh để thọ tŕ
2.2.2.2.2.1.2.3.1.
Thỉnh cầu
(Kinh) Nhĩ thời, Tu Bồ
Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Đương
hà danh thử kinh? Ngă đẳng vân hà phụng tŕ?
(經)爾時,須菩提白佛言:世尊!當何名此經?我等云何奉持?
(Kinh: Lúc bấy giờ,
ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: - Bạch
Thế Tôn! Nên đặt tên kinh này là ǵ? Chúng con nên phụng
tŕ như thế nào?)
Từ đây trở đi,
văn lẫn nghĩa đều tinh tế, hăy nên nghe kỹ.
Do văn tự liên quan trước sau, hăy nên gộp chung phần
trước và sau để xem, để nói bổ trợ
lẫn nhau th́ ư nghĩa mới thấu triệt. Do tổng
hợp phần trước và phần sau để nói, cho
nên ư nghĩa phức tạp, nghiêm mật, nếu ơ hờ nghe, sẽ khó thể lănh hội!
“Nhĩ thời” (lúc bấy
giờ) là lúc nói những lời trước đó đă
xong, ngụ ư: Khi đă lănh hội được
cương yếu, sẽ hành tŕ, chẳng để chậm
trễ tí nào! Đó gọi là “lúc hiểu chính là lúc hành”.
Người kết tập kinh đặc biệt nêu ra chữ
“nhĩ thời” là do ư này!
Hơn nữa, trong kinh này, hễ
nói “nhĩ thời” và câu “Tu Bồ Đề bạch
Phật ngôn” đều có ư nghĩa khởi đầu một
điều quan trọng (nói thông tục là “mở đầu
một điều khác”), nhằm biểu thị những
điều được nói trong khoa này cao hơn những
phần trước để người nghe chú ư.
Nhưng lời lẽ tuy là khởi đầu điều
khác, ư vẫn
dựa trên các ư
nghĩa trước đó! Do trong phần trên đă nhiều
lượt phô bày phước đức thù thắng của
kinh này, thậm chí “chỗ có kinh này th́ Phật và hiền
thánh đều cùng trụ tại đó!” Thù thắng
như thế, chẳng biết kinh này nên đặt tên
như thế nào? Nhiều lượt nói thọ tŕ kinh này,
tức là một bài kệ gồm bốn câu v.v… đều
có phước đức cực lớn! Cho đến có
thể thọ tŕ trọn hết, sẽ thành tựu pháp Vô
Thượng Bồ Đề. Như vậy th́ nên tŕ
như thế nào? Đấy là điều người học
đều cấp thiết mong biết; do vậy, hỏi
kinh này nên đặt tên là ǵ? Chúng con nên phụng tŕ như
thế nào?
Các kinh khác, khi hỏi tên kinh,
phần lớn đặt ở cuối bản kinh; nay chỉ
ḿnh kinh này nói ở khoảng giữa là v́ lẽ nào? Cần
phải biết: Nghĩa lư trong nửa bộ sau của
kinh này là mở rộng từ nửa bộ trước.
Các nghĩa ấy trong nửa bộ trước đă có, bất
quá chưa nói tường tận đó thôi! Nếu trưởng
lăo chẳng lại thưa hỏi th́ nói nửa bộ
trước xong là đă có thể kết thúc. Do v́ lẽ ấy,
tuy dường như tên kinh này được nói ở khoảng
giữa, nhưng thật ra là cuối nửa bộ trước,
vẫn chẳng khác ǵ các bộ kinh khác vậy!
“Đương hà danh thử
kinh” tức là nên dùng tên ǵ để đặt tên cho
kinh này. Cũng có thể đảo câu này thành: “Thử
kinh đương hà danh?” (kinh này nên đặt tên là
ǵ?) Nghĩa đă thù thắng, tên kinh ắt phải cũng
thù thắng. Ư nói: Tiếp đó, sẽ có tên kinh ắt phù hợp
thực chất. Nếu biết tên gọi ấy, sẽ
càng có thể nh́n vào tên mà nghĩ đến ư nghĩa. “Phụng”
(奉) là tuân theo, nương vào. “Tŕ” (持) tức là tu tŕ, hành tŕ. Xin dạy pháp để
hành tŕ để đại chúng thuận tiện tuân theo,
nương vào, do vậy nói “ngă đẳng phụng tŕ”
(chúng con phụng tŕ). Phụng tŕ giống như nói “phụng
hành”. Hễ nói đến Hành, liền có hai nghĩa: Một
là tự hành, hai là khuyên người khác hành. V́ thế, cổ
nhân giải thích ư nghĩa của chữ Tŕ là “nhậm hoằng”
(đảm nhiệm hoằng dương). “Nhậm”
(任)
là đảm nhiệm, tức là nói đến sự tự
hành. “Hoằng” (弘) là hoằng
dương, tức là nói khuyên bảo người khác.
Nói tới hành tŕ, liền dẫn dắt tới những
điều đă nói trong phần trên.
Hăy thử xem phần trên kể
từ chỗ đàm luận tường tận th́ vừa
mở đầu
liền
bảo “hàng phục cái tâm”. Hàng phục như thế
nào? Chính là phát đại nguyện, hành đại hạnh,
chẳng trụ trong cảnh giới lục trần, rộng
hành Lục Độ, độ trọn hết vô biên chúng
sanh thành Phật, nhưng chẳng giữ lấy tướng
độ sanh. Cho đến pháp và phi pháp đều chớ
nên giữ lấy. Bóc tách từng tầng một như thế.
Càng bóc, càng vi tế, kết
quy vào “chẳng trụ lục trần, sanh tâm thanh tịnh”
(tám chữ này tức là nói gọn của “sanh tâm thanh tịnh”
và “tâm chẳng trụ trong lục trần”. Đó là cước chú cho câu “ưng vô sở trụ
nhi sanh kỳ tâm”). Phàm đủ loại nghĩa môn
như đă nói đều là quán môn, đều là hạnh
môn, tức là “đều nên phụng tŕ”. Vậy th́
đức Thế Tôn khai thị đại chúng nên phụng
tŕ như thế nào cũng đă cực tường tận,
cực rơ ràng! V́ sao trưởng lăo Tu Bồ Đề ở
đây lại hỏi “phụng tŕ như thế nào?” Há có phải
là chỉ nhằm khiến cho [thính chúng] lănh giải, phụng
tŕ các nghĩa đă nói trước đó ư? Hay là phụng
tŕ những điều đă nói trên đây c̣n chưa trọn
hết, nên nay lại thỉnh lần nữa? Vừa mới
nói là ắt cần phải nh́n gộp chung phần trước
và phần sau để nói tổng hợp ở ngay chỗ
này! Nếu chưa thấu triệt các chỗ ấy, ắt
sẽ phụng tŕ chẳng đắc lực, không chỉ
dễ phát sanh các nỗi hiểu lầm như trong phần
trước đă nói mà thôi! Cần phải biết nay
trưởng lăo thưa hỏi “phụng tŕ như thế
nào” là riêng có thâm ư:
1) Đức Phật thuyết
pháp, không ǵ chẳng Lư Sự viên dung. “Viên dung”: Nói Lư liền
gồm thâu Sự, nói Sự liền chứa đựng Lư.
Đó gọi là “ngoài Lư chẳng có Sự, ngoài Sự chẳng có Lư”. Do vậy, người
học Phật ắt cũng phải giải hạnh cùng
tiến. Giải thuộc bên Lư, Hạnh thuộc bên Sự,
ắt cần phải cùng tiến th́ mới viên dung
tương ứng. Nhưng căn tánh của chúng sanh ngàn
muôn sai khác. Có kẻ vừa giải liền hành, cũng có
người tuy đă giải mà chưa thể hành, hoặc
tuy hành nhưng chưa thể tương ứng. Cần phải
biết: Giải mà chưa hành, hoặc hành mà chưa
tương ứng, sẽ chưa phải là thật
sự giải! Thật sự có thể lănh giải, sẽ
chẳng đợi khuyên mà tự hành. Hành cũng tự có
thể tương ứng. Trưởng lăo muốn hạng
người ấy hiểu sâu hơn, cho nên lại thưa
hỏi; đấy là tấm
ḷng đau đáu hết sức thiết tha!
2) Thưa hỏi tên kinh, tức
là thỉnh cầu khai thị tổng đề của
đủ loại ngôn thuyết, chương cú trước
đó. Vậy th́ thưa hỏi “phụng tŕ như thế
nào?” cũng vốn là thỉnh cầu khai thị các
nghĩa đă nói trước đó có pháp tổng tŕ hay
không? Nếu đạt được tổng tŕ, tŕ tổng
đề ấy, há chẳng phải là càng then
chốt, trọng
yếu hơn ư? Đó gọi là “nghe pháp chẳng
chán”. Hiểu được tầng đạo lư thứ nhất ở đây, sẽ biết
trước đó tuy chưa thưa hỏi phụng tŕ
như thế nào, hoàn toàn chẳng phải là chuyên v́ khiến
cho [thính chúng] lănh ngộ, thấu hiểu, mà là đă có sự
phụng tŕ được gồm thâu trong ấy! Nay
tuy thưa hỏi phụng tŕ, cũng có ư nghĩa “cầu lănh ngộ, thấu hiểu” được bao gồm trong ấy.
Hiểu được tầng đạo lư thứ hai, sẽ
biết phần trước đă có phụng tŕ, nay
cũng chẳng ngại ǵ thỉnh lần nữa! Như thế
th́ trước sau không chỉ chẳng xung đột, chẳng
trùng lặp, mà lại c̣n có thể nêu rơ nghĩa trong phần
trước!
Nói tới chỗ này, lại
sợ người nghe sanh nghi, nay sẽ nói một lời càng triệt để hơn. Hỏi:
Những điều đă nói trước đó đă là mỗi
mỗi đều nên phụng tŕ, nay lại thưa hỏi
rành rẽ phụng tŕ như thế nào? V́ sao phán định
khoa lớn thứ nhất là sanh tín, nay khoa thứ hai bèn
phán định là khai giải; tới khoa lớn thứ ba
mới phán định là tấn tu? (Trong phần nói tường
tận, trước hết phán định hai tổng khoa:
Một là dựa theo cảnh để giảng vô trụ;
hai là dựa theo tâm để giảng vô trụ. Lại
phán định hai khoa ấy thành bốn phần, tức một
là sanh tín, hai là khai giải, ba là tấn tu, bốn là dùng sự
thành tựu để chứng minh).
Đáp: Kể từ lúc mở
đầu kinh trở đi, quả thật đều có
thể khởi tu, nhưng pháp tu tŕ rốt ráo thuộc khoa
lớn thứ ba. V́ thế, chỉ đặt tên cho khoa lớn
thứ ba là Tấn Tu. Hơn nữa, đấy là dựa
theo kinh để phán định, chẳng phải là dám nói
ṃ! Như trong đại khoa thứ nhất, chỉ ra rơ
ràng “tŕ giới, tu
phước, có thể sanh khởi
tín tâm”. Đó là nói đến
chỗ sơ khởi của tín tâm vậy. V́ thế, phán
định là Sanh Tín. Khoa lớn thứ hai, sau khi thỉnh
dạy tên kinh để thọ tŕ, dạy rơ “hăy thấu
hiểu nghĩa thú sâu xa”, tức là nói rơ: Không chỉ
sanh tín, mà c̣n phải khai giải. Do vậy, phán định
là Khai Giải. Cho tới khi khoa lớn thứ ba sắp
xong, lại chỉ dạy rơ ràng dùng không có “ta, người,
chúng sanh, thọ giả” để tu hết thảy thiện
pháp, liền đắc A Nậu Bồ Đề. Lại
nói: “Như Lai nói thiện pháp chẳng phải
là thiện pháp, th́ gọi là thiện pháp”. Tức là ngay cả
tướng thiện pháp cũng chẳng giữ lấy!
Đấy gọi là pháp tu rốt ráo. Tu như thế
được gọi là rốt ráo, do phù hợp với
nghĩa Như của các pháp. V́ vậy, phán định là Tấn
Tu.
Cần phải biết: Chẳng
nói là Khởi Tu, mà nói là Tấn Tu, có ư nghĩa sâu xa. Bởi
lẽ, hiểu rơ nghĩa sâu bèn tu tŕ tiến cao hơn.
Đồng
thời lại nói rơ các nghĩa trước đó hoàn toàn
chẳng phải chỉ là sanh tín, khai giải, chẳng phải
là khởi tu. Lại c̣n có một nghĩa chớ nên không biết:
Ba sự Tín, Giải, Hành, chẳng thể nói nhất định
là không có thứ tự, [mà cũng] chẳng thể nói
nhất định là có thứ tự! Ắt phải là
người có tín tâm th́ sau đấy mới nghiên cứu,
t́m cầu Phật pháp. Cũng ắt phải hiểu rơ
nghĩa chân thật trong Phật pháp rồi sau đấy mới
biết chân thật tu hành. Điều này cố nhiên là rơ
ràng có thứ tự trước sau. Nhưng luận định
khít khao sự thật, nếu chẳng có mảy may công hạnh,
sẽ là chướng sâu, huệ cạn, quyết chẳng
thể lănh hội Phật pháp rất sâu. Ắt phải là
công hạnh càng tiến, hiểu lư sẽ thuận theo
đó mà càng sâu! Vả nữa, nếu chẳng phải là có
giải và có hạnh, tín tâm cũng dường có, dường
không, sẽ chẳng thể nói là tín căn thành tựu! Do vậy
nói rằng “tín, giải, hạnh cùng tiến đồng
thời”, há có thứ tự trước sau để có thể
nói
ư? Đôi khi, có người vô duyên cớ mà có thể
tin Phật, hoặc thoạt đầu chẳng học Phật, vừa nghe Phật
pháp rất sâu liền hiểu rơ. Cũng có người chẳng
hiểu Phật pháp mảy may mà có thể phát tâm tinh tấn, dũng mănh tu hành.
Đấy đều là những vị túc thế vốn sẵn
có công hạnh, nay gặp nhân duyên, bèn lập tức phát hiện,
chẳng phải là ngẫu nhiên!
Nay dùng “chứng” (chứng
cớ) để nói, “chứng” tức là bằng chứng.
Phàm chuyện mắt đích thân
trông thấy, thân đích thân làm được, th́ gọi
là Chứng. V́ thế, ắt phải chân thật làm đúng
như pháp th́ mới gọi là Hành. Chân thật trông thấy
Phật lư th́ mới gọi là Giải. Chân thật biết
lợi ích do quy y Tam Bảo th́ mới gọi là Tín. Như vậy
th́ hễ nói đến Tín, Giải, Hạnh, đều
đă chứa đựng ư nghĩa Chứng, nhưng một
mực chẳng gọi là Chứng. Chỉ có
chứng Pháp Thân th́ mới dùng chữ Chứng để gọi
tên. Có thể thấy [nói như vậy chính] là phân biệt
trên danh nghĩa! Nếu luận theo thực tế, không ǵ
chẳng phải là chứng! Dùng ngay “chứng Pháp Thân” để nói, thế nào là chứng?
Cũng chẳng qua là công hiệu của hai chuyện giải
và hạnh! Giải hạnh đạt đến rốt
ráo, th́ gọi là “chứng đắc rốt ráo”. Trừ
giải hạnh ra, chẳng có Chứng
để có thể nói. Không chỉ là như thế, kinh này
dạy: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật
Tướng” (Tín tâm thanh tịnh bèn sanh ra Thật Tướng). Thật
Tướng tức là Pháp Thân. Nói cách khác, Pháp Thân hiển hiện
cũng bất quá là tín tâm thanh tịnh đó thôi! Do vậy
bèn nói: Há chỉ tín, giải, hạnh, chứng trọn chẳng
có thứ tự trước sau? Thật ra, trên danh tướng, tợ hồ có bốn
chuyện sai biệt, nhưng trên thực tế, chẳng hề
sai biệt mảy may! Bốn sự hóa thành một chuyện,
đó gọi là “b́nh đẳng”; tức là do bốn
chữ ấy, có thể ngộ do b́nh đẳng mà thấy
sai biệt, từ sai biệt mà thấy lư b́nh đẳng.
Nói cao hơn một bậc nữa,
khi Thật Tướng hiển hiện, duy nhất thanh tịnh,
ngay cả hai chữ Tín Tâm cũng chẳng có dấu vết,
tức là thật sự b́nh đẳng rốt ráo, Như
Như bất động! V́ thế, nếu hiểu Phật
lư, tùy tiện lấy bất cứ một chuyện nào,
đều có thể tột cùng rốt ráo, quy vào b́nh đẳng.
Như trong phần kinh văn nói về Sanh Tín, hễ nói “một niệm sanh
tịnh tín” th́ là nói tới sự tướng
“sanh tín”, cho nên bảo: Một niệm tương ứng vẫn
chưa phải là tịnh niệm tiếp nối. Nếu
nói rốt ráo th́ lời ấy có thể sâu không đáy, rộng
vô biên. V́ sao nói vậy? Hễ sanh tịnh tín liền giống
như “sanh tâm thanh tịnh”, có cùng một nghĩa vị với
“tín tâm thanh tịnh”. “Một niệm” là chỉ riêng một niệm ấy. Niệm ấy
chẳng có ǵ khác, chính là tín tâm thanh tịnh. “Sanh” chính
là hiển hiện. “Tắc sanh tịnh tín” (bèn sanh ḷng
tin thanh tịnh) tức là tịnh tâm hiển hiện. Nói
như thế th́ một lời ấy chính là chứng
đắc tánh thể Như Như bất động vậy!
Những câu khác đều có thể lănh hội như thế.
Do vậy, nghe một lời, hoặc nửa bài kệ,
đều có thể chứng đạo. Chớ nên không biết
lư này!
Nhưng giảng kinh, thuyết pháp,
có khi lại chẳng thể không tùy thuận tướng
văn tự để nói. Nếu vừa mở đầu,
đă bàn ngay vào nghĩa sâu, đâm ra sẽ khiến cho
người nghe chẳng có ǵ để có thể
tuân theo! Lư này lại chớ
nên không biết! Trong phần trước, khi nói câu này, chẳng
thể ngay lập tức nói rơ lư ấy là v́ lẽ này. Nay
đă nói dần dần sâu hơn, liền không ngại thuận
tiện nêu ra, khiến cho [thính chúng] biết Phật pháp “không ǵ nông cạn mà
chẳng sâu xa, đă sâu mà lại có thể diễn tả cạn”.
Đúng là chẳng
có thứ tự sâu hay cạn để nói được!
V́ thế, chớ nên chấp giữ tướng ấy, mà
nói là sai. Chỉ v́ tiếp dẫn chúng sanh, khơi gợi,
hướng dẫn cho họ tiến cao hơn, lại chẳng
thể không giả lập một thứ tự cạn sâu,
cùng với đủ thứ chuyện trang nghiêm. Do vậy,
chẳng thể đoạn diệt tướng ấy, cho
nên nói là “thị danh”.
Hăy để lại đó,
nay chẳng nói kinh văn, mà lại nói chệch ra ngoài đề,
nói lan man tín giải hạnh chứng lắm lời chừng
ấy, là v́ sao vậy? Hăy
nên biết đấy chẳng phải là nói lời thừa
thăi, mà chính là để nêu tỏ ư nghĩa của bốn
chữ “vô hữu định pháp” (không có pháp nhất
định) đă nói trong phần kinh văn trước
đó xuyên suốt hết thảy, khiến cho đại
chúng lănh hội nghĩa ấy, ngơ hầu sẽ biết chuyện nào cũng
đều là đạo. Nương theo tín giải hạnh
chứng để nêu tỏ, ḥng chỉ bày chuyện ǵ
cũng đều là như thế, không riêng ǵ Phật pháp
là như thế! Hơn nữa, từ đây trở đi,
nghĩa thú càng tiến nhập sâu xa, vi tế hơn. Nếu
chẳng dâng ra đôi chút ư nghĩa này, trong tâm sẽ chẳng
thể linh hoạt, đối với nghĩa thú sâu xa, vi tế,
sẽ chẳng dễ lănh hội! Hăy nên biết bốn
đoạn văn “Bát Nhă chẳng phải là Bát Nhă”
trong phần sau chính là nói rơ “chẳng có pháp nhất định”.
Tôi nay nói như thế, chính là để chiếu ứng sẵn
với phần sau. Cần phải biết: Do chẳng có
pháp nhất định, cho nên chẳng thể chấp Hữu,
chẳng thể chấp Vô. Hễ kinh nói “tắc phi”
đều nhằm nói rơ “chớ nên chấp Hữu”. “Chớ
nên chấp Hữu” là khiến cho [hành nhân] hội quy tánh thể.
V́ sao vậy? Tánh vốn vô tướng, như thái hư
không, há có thể dùng danh tự, ngôn ngữ để cầu?
Ắt cần
phải
ly tướng phản chiếu, ngơ hầu chứng nhập.
Hễ nói “thị danh” chính là chỉ bảo chớ nên
“chấp Vô”. “Chớ nên chấp
Vô” tức là dạy
tuy hội quy tự tánh, nhưng cũng chẳng hoại danh tướng của Giả
Hữu! V́ sao vậy? Do tánh vốn vô tướng mà vô bất
tướng. Tướng chính là Dụng của tánh thể; hễ có Thể ắt
có Dụng. Như cái Thể của thái hư không, cố
nhiên là rỗng tuếch, nhưng vạn tượng sâm la,
hết thảy các tướng quả báo thuộc y báo và
chánh báo đều từ trong ấy mà hiện ra. Nếu chẳng
có muôn h́nh tượng, [hư không] liền trở thành cái
Không trơ trơ, cũng chẳng đáng coi là thái hư
không vậy! Chỉ là chẳng chấp giữ các tướng
ấy, hư không há có tổn hại ǵ! Sao lại nói “tuyệt
đối vô tướng”, cũng há cần phải diệt
tướng ấy ư? Giữ lấy nghĩa ấy
để tu hành, th́ muốn thấy bản tánh, ắt phải
nên ĺa danh, tuyệt tướng, phá ngă kiến.
Ngă kiến chẳng trừ, sẽ
sanh cái tâm phân biệt, khởi niệm bèn chấp tướng.
Nhưng ngă kiến ấy chính là gốc bệnh từ vô thỉ tới nay, chẳng dễ phá
trừ, ắt phải nên chiếu theo pháp do đức Phật
đă nói, một mặt phản quán nội chiếu, dứt
trừ phan duyên vọng tưởng; mặt khác lại
nên tuân theo các thứ sự tướng nghi quỹ, lễ
bái, sám hối, cùng với bố thí, tŕ giới v.v… ḥng cầu
tiêu nghiệp chướng, khai phát bổn trí, khiến cho
tín tâm tăng trưởng, giải hạnh thành tựu, ngơ
hầu chướng trừ, tánh hiển. Nhưng khi hành, tâm hăy
nên đừng chấp sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp. Thấu hiểu tánh của một niệm tâm ấy
cùng với chư Phật và chúng sanh vốn là một Thể. Cái Thể ấy
vốn không tịch; sau đấy, cảm ứng thần
tốc, tự thành tựu dễ dàng! Phàm khi tu nhân, đă có
thể chẳng giữ lấy tướng, mà cũng chẳng
diệt tướng, chẳng hề chấp vào hai bên, phù hợp
Trung Đạo, cho nên cảm ứng to lớn, mà thành tựu
cũng to tát. Do vậy, sau khi thành tựu, có thể chẳng
rời đạo tràng mà thân trọn khắp mười
phương, hiện các thứ cơi trang nghiêm để phổ
độ vô lượng vô biên chúng sanh. Đó gọi là “vô tướng” mà chẳng phải
là “không có tướng”, chẳng phải
không làm mà là không làm!
Suy rộng hơn để
nói, vâng giữ nghĩa ấy để làm người, tấm ḷng rộng
răi, chẳng vướng mắc phiền năo, đạt
được tự tại, cũng biết ngôn hạnh cẩn
trọng, chẳng lầm nhân quả mà không vướng mắc.
Giữ nghĩa ấy để xử thế, sẽ biết
“vạn sự đều là Không”, liên quan ǵ đến
ta, mặc cho kẻ khác khuấy sóng dậy gió, ta có thể
ngồi câu vững vàng trên chiếc thuyền chài, mà cũng
có thể biết nhân t́nh thế thái, qua lại lăng
xăng, [dẫu gặp] an, nguy, khổ, lạc, vẫn có thể
an vui
trong từng cảnh ngộ. Dùng nghĩa ấy để
gánh vác trách nhiệm lớn lao, làm đại sự. Do chẳng chấp
tướng, tuy sự đưa đến liền ứng,
nhưng tâm t́nh thảnh thơi, chẳng bị lay động.
Do tướng chẳng đoạn diệt, tuy tâm chẳng
chấp tướng, mà lớp lang rành rành, chẳng hề
phế sự mảy may. Như thế há chẳng
phải là “tắc phi, thị danh”, đâu đâu
cũng là đạo ư? Đúng là “đạo chẳng
xa người, người tự xa cách” vậy! Đức
Phật vốn v́ độ đời mà đến, cho nên
pháp do Ngài nói ra, không ǵ chẳng nhiếp trọn hết thảy
thế gian và xuất thế gian. Chỉ cần dung hội,
quán thông nghĩa chân thật như thế, th́ chuyện ǵ
cũng đều có thể phụng tŕ, lúc nào cũng đều
là tu hành, ở đâu cũng đều được thọ
dụng, chỗ nào cũng đều là Phật pháp. Do vậy,
Phật pháp được gọi là Pháp Bảo, kinh này lại
càng là pháp bảo vô thượng. Thâu thập những lời
lẽ “thừa thăi” chỉ nhằm tuyên dương pháp bảo
vô thượng này mà thôi!
2.2.2.2.2.1.2.3.2.
Chỉ dạy
Chia thành ba phần:
1)
Nêu chung tên kinh để thọ tŕ.
2)
Nêu tường tận nguyên do.
3) Kết
lại bằng cách nói rơ phước do thọ tŕ.
2.2.2.2.2.1.2.3.2.1.
Nêu chung tên kinh để thọ tŕ
2.2.2.2.2.1.2.3.2.1.1.
Nêu tên gọi Năng Đoạn
(Kinh) Phật cáo Tu Bồ
Đề: - Thị kinh danh vi Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật.
(經)佛告須菩提:是經名為金剛般若波羅蜜。
(Kinh: Đức
Phật bảo Tu Bồ Đề: - Kinh này tên là Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật).
Bảy chữ này chính là tổng
đề của cả bộ kinh, trong phần mở
đầu đă giải thích ư nghĩa tường tận.
Nay nói đại lược. Bát Nhă (Prajñā) được phương này dịch
là Trí Huệ. Nói theo nhân là Huệ, nói theo quả là Trí. Nhân
quả như một; v́ vậy, dịch chung ư nghĩa là
Trí Huệ. Ba La Mật (Pāramitā) được phương này dịch
là Đến Bờ Kia; có trí huệ ấy bèn có thể liễu
sanh tử, nhập Niết Bàn. Giải thích như vậy
th́ Ba La Mật chẳng có ǵ khác, chính là Bát Nhă. Trí huệ ấy
lại chẳng giống thế trí biện thông, mà chính là
Phật trí, Phật huệ, được gọi là “tri
kiến của Phật”, là “trí huệ đạt tới
bờ kia”. Giải thích như thế th́ Bát Nhă chẳng
phải là thứ chi khác, mà chính là Ba La Mật. Kim Cang là thí
dụ. Kim Cang (Vajra) là vật cứng
chắc, sắc bén nhất, có thể cắt đứt hết
thảy. Do nó cứng chắc, hết thảy các vật chẳng
thể phá hoại nó. Do nó sắc bén, nó có thể phá hoại
hết thảy các vật. Dùng nó để sánh ví Bát Nhă Ba La
Mật như đống lửa to, bốn phía đều
chẳng thể tiếp xúc, có thể đoạn hết thảy
các phiền năo.
Phiền năo (Kleśa) là ǵ?
Chính là Kiến
Tư Hoặc. Kiến Hoặc là thân kiến, biên kiến,
tà kiến, và hai thứ thủ
(Kiến Thủ Kiến và Giới Thủ Kiến). Quan trọng
nhất là Thân Kiến và Biên Kiến. Thân Kiến tức là ngă
kiến. [Đối với] Tiểu Thừa, [ngă kiến]
chuyên chỉ [chấp trước đối với] sắc
thân do Tứ Đại, Ngũ Uẩn giả hợp, c̣n
Đại Thừa th́ [ngă kiến] chỉ chung [chấp
trước đối với] pháp và ngă. Nếu chấp giữ
pháp tướng, phi pháp tướng, tức là chấp “ta, người, chúng sanh, thọ giả”, cho nên nói là Pháp Ngă. Ba thứ
“người, chúng sanh, thọ giả” đều do chấp
ngă mà dấy lên; nói Ngă bèn gồm thâu các thứ khác. Đối
với Biên Kiến th́ Tiểu
Thừa chuyên nói tới đoạn kiến và thường
kiến do Thân Kiến khởi lên,
Đại Thừa th́ kiêm chỉ hai bên Không và Hữu của
hết thảy các pháp. Hễ chấp Có, bèn giữ lấy
pháp, tức là thường kiến. Chấp Không liền giữ
lấy phi pháp, tức đoạn kiến. Tư Hoặc tức
là tham, sân, si, mạn, nghi; đấy là căn bản. Do vậy,
sanh khởi keo kiệt, ghen ghét v.v… Các căn bản phiền
năo ấy đều do bệnh căn từ vô thỉ tích tập
sâu chắc, đến nỗi trôi lăn trong lục đạo,
chịu khổ vô cùng! Nay muốn thoát ĺa nỗi khổ ấy, mà chẳng đoạn gốc bệnh
ấy, sẽ chẳng thể! Đoạn như thế
nào? Chẳng nhờ vào Kim Cang huệ kiếm này, sẽ chẳng
thể. Hơn nữa, kinh này là hội thứ chín
được nói trong kinh Đại Bát Nhă. Các hội đều
nói Bát Nhă, tức là “đều có thể đoạn”.
Nay riêng bộ này thêm danh xưng Kim Cang, có thể thấy
nghĩa lư của bộ này càng tinh yếu, càng cứng chắc,
càng sắc bén, càng có thể đoạn vậy!
2.2.2.2.2.1.2.3.2.1.2.
Chỉ dạy cách tŕ kinh
(Kinh) Dĩ thị danh tự,
nhữ đương phụng tŕ.
(經)以是名字,汝當奉持。
(Kinh: Ông nên dùng
danh tự ấy để phụng tŕ).
Tám chữ này chính
là dạy hăy nh́n vào
danh xưng, suy nghĩ ư nghĩa, do danh mà thấu hiểu để phụng
tŕ, chẳng phải là nói “tŕ danh tự ấy”! Sợ có
người hiểu lầm, cho nên tiếp đó, lại tự giải
thích nguyên do. Phải biết nghĩa lư được nói
rơ trong kinh này chính là “hăy nên chẳng trụ vào đâu”,
nhưng căn bệnh của chúng sanh là chỗ nào cũng
chấp! “Chấp” tức là trụ. Do căn bệnh ấy
của chúng sanh quá sâu; v́ vậy, vừa mở miệng
liền nói “hàng phục”. Phàm nói “chẳng nên giữ lấy,
chẳng nên trụ” th́ đều là ư nghĩa hàng phục.
Tới đây lại nói “dĩ thị danh tự, nhữ
đương phụng tŕ” (ông nên dùng danh tự ấy để phụng tŕ) chẳng khác nói “các
vị hăy nên vâng theo nghĩa ‘có thể đoạn’ để
hành tŕ”. Lại c̣n chẳng khác nói “các vị hăy nên vâng
giữ Kim Cang Bát Nhă để hàng phục”.
Trong Kiến Tư Hoặc,
ngă kiến làm gốc. Do vậy, chỗ nào cũng
đều chấp. Bởi đó, sanh ra đủ loại
Hoặc, tạo đủ loại nghiệp, hứng chịu
đủ loại khổ. Do vậy, phải gấp rút
đoạn trừ cũng chính v́ lẽ này. Ngă kiến
đă trừ th́ Phiền Năo Chướng (Hoặc) liền
trừ, mà Nghiệp Chướng, Báo Chướng cũng
thuận theo đó mà đều trừ. Ba chướng tiêu
trừ, ắt ba thân Pháp, Báo, Ứng đều hiện trọn
vẹn. Do vậy, phụng tŕ như thế chính là giải
quyết từ căn bản, có thể đạt
được cái quả rốt ráo thù thắng, há có phải
chỉ liễu sanh thoát tử mà thôi ư? Do vậy, kinh này
ở nơi đâu, nơi đó tôn quư, ở nơi người
th́ người được tôn trọng. Chúng ta may mắn sao, được nghe kinh pháp vô thượng
này, có thể biết là ắt đă từng gieo các thiện
căn nơi vô lượng ngàn vạn chư Phật. May mắn,
mừng rỡ khôn xiết, há nên tự coi rẻ chính ḿnh!
Nhưng thiện căn như vậy mà vẫn lê vác cái
đăy da thối này ngụp lặn trong biển khổ!
Cũng có thể
biết ắt
là do nhiều đời tới nay, hoặc là coi thường,
chưa từng đọc tụng, hoặc tuy đọc tụng
mà chẳng thể thọ tŕ, hoặc tuy thọ tŕ mà chẳng
thể như pháp! Hễ nghĩ đến chuyện này,
khôn ngăn thẹn hổ! Nay may mắn được Phật
quang gia bị, lại nghe pháp này, lại đọc kinh này,
nếu vẫn biếng nhác, ơ hờ như trước,
tương lai mờ mịt, lại chẳng biết phải
luân hồi bao nhiêu lượt, tự chuốc khổ sở!
Hễ nghĩ tới điều này, khôn ngăn run sợ!
Cổ đức nói: “Thử thân bất hướng kim
sanh độ, cánh hướng hà sanh độ thử
thân?” (Kiếp này nếu chẳng độ thân, đời
nào mới độ cho xong thân này?) Đáng
sợ lắm thay!
Trong đoạn này, hai chữ
Đoạn và Tŕ càng có nghĩa trọng yếu. Bởi lẽ,
Đoạn có nghĩa là quyết đoạn, Tŕ nghĩa là
kiên tŕ. Như trong phần kinh văn trước đó
đă nói, hăy nên chẳng trụ trong lục trần để
sanh tâm. Đừng nên như phàm phu lực bất tùng tâm,
tuy biết rơ chớ nên trụ, mà bất tri bất giác, tâm cứ dính chặt
vào đó. Tâm đă dính chặt, liền bị nó trói buộc,
vượt thoát chẳng được! Ắt cần phải đặt “chẳng
trụ trong lục trần để sanh tâm” trong ḷng
để luôn luôn quán chiếu khởi tâm động niệm.
Nếu đối với lục trần mà vướng mắc
đôi chút, sẽ ngay lập tức đoạn dứt. “Lập
tức đoạn dứt” tức là chớ nên sợ
khó, chớ nên t́m an nhàn trước mắt, tức là dũng
mănh, cần phải kiên tŕ, chẳng
biếng nhác. Kiên tŕ có nghĩa là tinh tấn. Tinh tấn
chính là suy xét tinh tường để tiến hơn, nội
chiếu cẩn mật, chẳng buông lỏng mảy may.
Tinh tế mà tiến, lắng ḷng suy nghĩ, suy xét tường
tận những điều ẩn mật, vi tế. Tinh
thành mà tiến, chí thành, khẩn thiết, cầu Tam Bảo
xót thương nhiếp thọ, phóng quang gia bị, giúp sức
cho ḿnh. Niệm Phật chẳng đắc lực, hoàn toàn
là do chưa dụng công nơi đây! Bọn chúng ta tu hành, ắt
phải
trong hết thảy nhiễm duyên, tức là lục trần, hăy nên nương theo hai nghĩa Năng Đoạn và Phụng
Tŕ trong kinh này ngay lập tức đoạn trừ,
kiên tŕ chẳng biếng nhác. Nếu chẳng đứng thẳng
cột sống, đặt vững gót chân như thế,
sao có thể hàng phục tập khí “trái nghịch giác, xuôi
theo trần lao” từ nhiều đời! Ta chẳng hàng
phục chúng nó, sẽ bị chúng nó hàng phục ta! Cái tâm này
đă bị trần nhiễm, sẽ chẳng thanh tịnh.
Một câu Phật hiệu đương nhiên chẳng niệm
tốt đẹp! Nếu có thể
ngay lập tức kiên quyết đoạn trừ, kiên tŕ
chẳng biếng nhác, sẽ có thể đạt tới nhất
tâm bất loạn, văng sanh Cực Lạc, nhanh chóng dựa
vào Bất Thoái sẽ chẳng khó khăn. Hăy gắng lên!
Nói chung, đối với
hàng phục và chẳng trụ lục trần, sanh tâm thanh tịnh
v.v… các thứ quán môn, hạnh môn như trong phần trên
đă nói, ắt phải lănh hội từ nghĩa lư
Năng Đoạn đang nói trong đoạn này để
phụng tŕ, sẽ hữu lực. Như vậy th́ cũng
có thể biết ư nghĩa được nói ở đây
hết sức khẩn yếu. Do đó, phần so lường
công năng của kinh trong phần sau cũng sẽ khác xa
phần trước!
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.
Nêu tường tận nguyên do
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.1.
Nêu chung
(Kinh) Sở dĩ giả hà?
(經)所以者何?
(Kinh: V́ cớ sao vậy?)
Bốn chữ “sở
dĩ giả hà” là lời nêu bày. Sau đó, sẽ giải
thích cặn kẽ nguyên do phụng tŕ Năng Đoạn.
V́ thế, trước hết là nêu lên [câu gạn hỏi]
khiến cho mọi người chú ư. Trước nay, những
vị chú thích chỉ coi câu này thuộc đoạn “Phật
thuyết Bát Nhă”, nay tôi cho rằng nó xuyên suốt cả
hai khoa sau. Bởi lẽ, hai khoa kế tiếp đều
nhằm khai thị cách tu tŕ, tức là đều nói rơ
nguyên do “các ông nên dùng danh tự ấy để phụng
tŕ”, há nên chỉ coi [bốn chữ ấy] thuộc về
một đoạn, khiến cho các đoạn kinh văn
khác đều trở thành rời rạc, mà ư nghĩa so
sánh để hiển lộ công đức của kinh thù
thắng hơn phần trước cũng chẳng có chỗ
để làm căn cứ được! Hết
sức chớ nên! V́ thế, nay tôi đặc biệt coi bốn
chữ ấy là một khoa, phán định là phần Tổng
Tiêu (總標, nêu chung) để
nói rơ nó sẽ bao trùm hai khoa kế tiếp, chẳng phải
chỉ thuộc về một đoạn trong hai khoa. Tổng
hợp ư nghĩa của hai khoa để xem, có thể biết
trong một câu này, chứa đựng ba
nghĩa:
1)
Đoạn như thế nào?
2) Từ
đâu mà khởi lên để đoạn?
3)
V́ sao cần phải đoạn?
Nay
sẽ nói theo thứ tự.
Đoạn
như thế nào ư? “Đoạn” là đoạn ngă
kiến. Ngă kiến có thể phát hiện ở bất cứ
chỗ nào, đấy chẳng phải là điều trọng
yếu, [mà điều trọng yếu là] làm thế nào
để có thể đoạn? Hơn nữa, ngă kiến
là tên gọi khác của vọng tưởng, mà vọng
tưởng vốn do chân tâm biến hiện, vốn chẳng
thể đoạn! Nói là “đoạn” chính là phá đó
thôi! Như vậy th́ làm thế nào để có thể phá?
Hiểu rơ lư mà thôi, khai giải mà thôi. Hăy thử xem bảy
chữ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật trong tên kinh. Kim Cang là cứng,
bén, được gọi là Năng Đoạn, nhưng vốn
là để sánh ví năm chữ Bát Nhă Ba La Mật sau
đó. Bát Nhă là trí huệ. Ba La Mật là “đến bờ
kia”.
Trí huệ đạt tới bờ kia giống như nói
trí huệ triệt để. Do vậy, có thể đoạn
ngă kiến cũng chẳng có pháp nào khác, chỉ là triệt
để hiểu rơ lư. Đó cũng là triệt để
khai giải đó thôi!
Như
vậy th́ nói đến “triệt để hiểu rơ lư” là
hiểu rơ lư nào vậy? Hăy nên biết chúng sanh chỗ nào
cũng chấp trước, chẳng có ǵ khác! Do họ chẳng
biết Tứ Đại, Ngũ Uẩn, cùng với hết
thảy các pháp đều là duyên sanh, như huyễn,
như hóa, mà cái thấy vốn
do những điều
được tiếp xúc trước hết sẽ trở
thành chủ yếu, sẽ coi đó là [sự thật] nhất
định chẳng thay đổi, đến nỗi chấp
trước chẳng chịu bỏ. Đó gọi là ngă kiến.
V́ thế, muốn phá kiến chấp ấy, trước hết, hăy nên hiểu rơ hết
thảy các pháp vốn chẳng nhất định. Quán chiếu
lâu ngày như thế, sẽ biết pháp đă là chẳng nhất
định, sao có thể chấp trước? Đă là chẳng
nhất định, chấp trước có ích ǵ? Nếu có
thể trong hết thảy các pháp mà chẳng chấp, ngă kiến
sẽ tự hóa giải. Đấy thật sự là kim
cang phá Kiến Hoặc. Nói “hiểu rơ lư” tức là hiểu
rơ lư này. Đă hiểu rơ lư này, sẽ có thể phá ngă kiến.
Đó gọi là “triệt để”. V́ thế nói: “Dĩ
thị danh tự, nhữ đương phụng tŕ”
(Dùng danh tự ấy, ông nên phụng tŕ).
Tuân
phụng Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, dùng đó để tu
tŕ, tức là tuân phụng danh nghĩa ấy để quán
chiếu. Hăy nên biết bộ kinh pháp này chính là Bát Nhă Ba La Mật,
nhưng nói chẳng phải là Bát Nhă Ba La Mật. Đức
Thế Tôn luôn luôn thuyết pháp mà nói là “chẳng
thuyết”.
Cho đến vi trần, thế giới, ba mươi hai
tướng đều nói là “chẳng phải”, bất quá
gọi tên như thế mà thôi, đều nhằm phô bày ư
nghĩa “chẳng có pháp nhất định”! Đó là điểm
thứ nhất.
Thế
nào là “từ đâu mà khởi
đoạn?”
Hăy nên trước hết từ pháp liên quan mật thiết
với chính ḿnh nhất mà siêng ṛng quán chiếu để
phá cái
Hoặc ấy. Bát Nhă Ba La Mật là
pháp hành nhân phải
nên tu tŕ, vẫn phải nên biết “tắc
phi” chính là ĺa tướng danh tự. Hành nhân hăy nên tuân phụng
ngôn thuyết của đức Thế Tôn, hăy nên biết “vô
sở thuyết” (chẳng có ǵ được nói) tức
là ĺa tướng ngôn thuyết. Đại thiên thế giới
là cảnh giáo hóa của Phật. Ba mươi hai tướng
chính là thân do Phật hiện ra, đều chớ nên chấp
trước. Những thứ khác [cứ suy theo đó] mà biết.
Đó gọi là “cao xứ lạc
mặc” (tập trung, nhấn mạnh nơi
chỗ trọng yếu)[15].
Suy ra, phàm là pháp do chính ḿnh tu tŕ hoặc chuyện được
thực hiện, cùng với các thứ như y báo, chánh báo
v.v…, hăy đều nên vâng theo nghĩa này để quán chiếu.
Đó là điểm thứ hai.
Thế
nào là “v́ sao phải đoạn?” Xem những điều
“Phật thuyết”, “Như Lai thuyết” trong kinh văn thuộc
phần sau, sẽ biết: Nếu
chẳng quán chiếu như thế ḥng đoạn dứt
ngă kiến, sẽ là trái nghịch ư chỉ của đức
Phật, sẽ chẳng thể thấy Như Lai! Đó là
điểm thứ ba. Hiểu rơ ba nghĩa ấy, sẽ biết
nguyên do v́ sao phụng tŕ như thế!
2.2.2.1.2.1.2.3.2.2.2. Nói
tường tận
Chia
thành hai phần:
1)
Chỉ dạy hội quy tánh thể.
2)
Chẳng hoại giả danh.
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.1.
Chỉ dạy hội quy tánh thể
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.1.1.
Hăy nên ĺa tướng danh tự để phụng tŕ
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Phật thuyết Bát Nhă Ba La Mật, tắc
phi Bát Nhă Ba La Mật.
(經)須菩提!佛說般若波羅蜜,則非般若波羅蜜。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Phật nói Bát Nhă Ba La Mật, tức chẳng
phải Bát Nhă Ba La Mật).
Bản
thông dụng hiện thời vốn có câu “thị danh Bát
Nhă Ba La Mật” (th́ gọi là Bát Nhă Ba La Mật) do người
đời sau thêm vào, lầm to mất rồi!
Cần phải biết: Khoa này và khoa sau đúng là nói đến
chuyện hội quy tánh thể, cho nên đều là trừ
tướng để nêu rơ tánh. Tới hai khoa “đại thiên thế
giới” và “ba mươi hai
tướng”,
bèn nói kèm “chẳng hoại giả danh”, ư nghĩa
đă được phơi bày rơ ràng, thế mà vô tri làm xằng,
một mực thêm bừa băi vào, đáng than lắm thay!
Không chỉ bản kinh chép tay của người đời
Đường chẳng có, mà các bản chú giải hoặc
chú thích của ba vị đại sư là Trí Giả, Gia
Tường, và Khuê Phong đều chẳng có ư nói “thị
danh”. Hăy nên tuân theo cổ bản.
Nói “tắc
phi” là dạy ĺa tướng. Do ĺa tướng nên dung hội
tánh. Do đó, đặt tên cho khoa này là “hội quy tánh thể”.
Chiếu theo cách nói trong phần trước, hăy nên nói là “Như
Lai thuyết”. Nay không bảo “Như Lai thuyết”
mà nói là “Phật thuyết”, nghĩa thú càng sâu. Nêu đại
lược hai điều:
1)
Phật là danh xưng của cái quả Cứu Cánh Giác. Ai nấy
đều biết chứng đắc cái quả Cứu
Cánh Giác mà thành Phật là do tu Bát Nhă, nhưng chẳng biết:
Thật sự là do tu “Bát Nhă chính là chẳng phải Bát
Nhă”. Nếu tu Bát Nhă mà chẳng ĺa tướng danh tự,
sẽ là chấp vào “ta, người, chúng sanh, thọ giả’,
há c̣n có thể gọi là Cứu Cánh Giác ư? C̣n có thể
thành Phật nữa ư? Do vậy, nay sở dĩ đặc
biệt nói “Phật thuyết” nhằm chỉ bày chứng
quả đều là do vậy mà chứng, tức là người
tu nhân hăy nên tu như thế.
2)
Đă chứng tánh, cũng lại hiện tướng, bèn
gọi là Phật. V́ thế, xưng là Phật th́ chính là
danh xưng hoàn toàn hiển lộ tánh và tướng, chẳng
giống như Như Lai chỉ là danh xưng thuộc về
tánh đức. V́ thế, nay nói là “Phật thuyết”,
chỉ dạy “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă”,
không thể coi là hai sự kiện được! “Tắc
phi Bát Nhă Ba La Mật” (tức chẳng phải Bát Nhă Ba
La Mật): Hăy nên thực hiện từ trong Bát Nhă Ba La Mật.
V́ vậy, bèn khai thị: Hăy
nên từ ngay danh tự mà ĺa tướng danh tự. Do
đó, kinh văn trong phần trước có nói: “Dĩ thị
danh tự, nhữ đương phụng tŕ” (Dùng danh tự
ấy, ông hăy nên phụng tŕ). Điều này tương ứng
với câu “ưng
sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm
thanh tịnh) cùng một ư vị. Tức là Không ở
trong Hữu, chẳng phải là diệt Hữu để
hiểu rơ Không. Đức Thế Tôn v́ khiến cho người
học hiểu rơ tánh, do đă chẳng thể không trừ
bỏ tướng, bèn cứ một mực quét sạch. Lại
lo người học sẽ hiểu lầm mà lệch về
Không, cho nên chẳng nói “Như Lai thuyết”, mà nói là “Phật
thuyết” để chỉ bày ư ấy. Điều này
cùng với chuyện chẳng hoại giả danh mà nói “thị
danh” vào một lúc nào đó, chẳng nói là “Phật thuyết”
mà nói là “Như Lai thuyết”, dụng ư đều tột
bậc sâu xa, bí mật. Bởi lẽ, chẳng hoại giả
danh mà nói “Như Lai thuyết”, chính là v́ chỉ rơ “tuy
chẳng hoại tướng”, vẫn nên hội quy vào tánh.
Nay khi trừ sạch, chẳng nói “Như Lai thuyết”,
mà bảo là “Phật thuyết”, nhằm chỉ rơ: Tuy
nên dung hội vào tánh, vẫn đều hoàn toàn chẳng phải
là hoại tướng! Như vậy th́ trong ấy đă
chứa đựng ư nghĩa “chẳng hoại giả
danh”, cần ǵ phải thêm một câu “thị danh [Bát Nhă Ba La Mật]”
thừa thăi th́ mới hiển lộ ư “chẳng hoại
giả danh” ư? Nói chung là do [kẻ tự tiện thêm vào] chẳng
hiểu ư kinh, cho nên mới vô tri làm xằng!
Nói
chung, đức Phật nói Bát Nhă chính là đúng như lư trí
tự chứng mà nói, khiến cho hết thảy chúng sanh
khai tri kiến của Phật đó thôi! Khai tri kiến của
Phật
là khiến cho [hành nhân] biết
bản tánh vô tướng, cần phải ĺa tướng
để tu tŕ, sau đấy sẽ có thể kiến tánh.
Do vậy nói “Bát Nhă tắc phi Bát Nhă” (Bát Nhă tức chẳng
phải là Bát Nhă). Nếu chẳng hiểu lư này, hễ trong
tâm có tướng danh tự Bát Nhă Ba La Mật, sẽ là giữ
lấy tướng của pháp, há
c̣n có thể nói là “phụng tŕ Bát Nhă Ba La Mật”
ư! V́ sao vậy? Nếu giữ lấy tướng của pháp,
tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả! Ở
đây, chỉ nói “Bát Nhă Ba La Mật tức chẳng phải
Bát Nhă Ba La Mật”, ngay cả hai chữ Kim Cang cũng chẳng
nói, chính là để nói rơ câu “dĩ thị danh tự phụng
tŕ” (dùng danh tự này để phụng
tŕ) trong đoạn trước có
nghĩa là “hăy nên phụng tŕ danh xưng Kim Cang Năng
Đoạn” để hành thật tế kim cang có thể
đoạn trừ, ḥng đoạn sự chấp trước
pháp tướng đó thôi! Đối với pháp Bát Nhă vô
thượng mà c̣n phải nên ĺa tướng danh tự, huống
hồ hết thảy các pháp khác!
Lại
hăy nên biết: Đức Phật nói lời này, chính là dạy
chẳng giữ lấy tướng của pháp
để tu tŕ hết thảy các pháp, th́ không pháp nào chẳng
phải là Bát Nhă, đều chính là Bát Nhă Ba La Mật. Đấy
chính là lư do trong phần trước đă nói “vô hữu
định pháp Như Lai khả thuyết” (chẳng có
pháp nhất định để Như Lai có thể nói).
Nói chung, “Phật thuyết Bát Nhă tắc phi Bát Nhă” nhằm dạy [hành nhân] lănh hội “pháp nào cũng đều là Bát Nhă, chớ
nên chấp vào tướng danh tự Bát Nhă”. Đấy là lư do dùng tên gọi ấy
để phụng tŕ [kinh này], chẳng phải là nói: Phụng
tŕ danh tự ấy. Lại nữa, hai
chữ Sở Dĩ chính là ư nghĩa chân thật.
Phần trên có nói “nhữ đương phụng tŕ”
(ông nên phụng tŕ) chính là nói hăy nên vâng theo nghĩa chân thật
mà hành tŕ.
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.1.2.
Dạy hăy nên ĺa tướng ngôn thuyết để phụng
tŕ
(Kinh)
“Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Như Lai hữu sở
thuyết pháp phủ?” Tu Bồ Đề bạch Phật
ngôn: “Thế Tôn! Như Lai vô sở thuyết”.
(經)須菩提!於意云何?如來有所說法不?須菩提白佛言:世尊!如來無所說。
(Kinh:
“Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Như Lai có pháp để
nói hay chăng?” Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn! Như Lai chẳng thuyết pháp”).
Lời
hỏi này tiếp theo ngay phần kinh văn trên đây. Có lẽ
sẽ có kẻ thắc mắc: “Chẳng nên trụ vào
tướng của pháp Bát Nhă Ba La Mật, nhưng pháp ấy
vốn do đức Phật nói. Khi nói pháp này, há chẳng có
pháp tướng ư? Nếu chẳng có pháp tướng, cớ
sao lại nói?” Do ngăn ngừa mối nghi ấy, nên
[đức Phật] nêu ra câu hỏi này! “Hữu sở
thuyết pháp phủ” (có thuyết pháp hay chăng) tức
là trong tâm có tướng nói pháp Bát Nhă Ba La Mật hay không? Ư
hỏi của đức Thế Tôn đă chứa đựng
chữ Vô. V́ sao vậy? Như Lai là danh xưng của tánh
đức. Tánh thể không tịch, há có tướng của
pháp được nói ư? Chẳng nói là “Phật thuyết”
mà bảo là “Như Lai thuyết”, dụng ư nhằm nói
rơ điều ấy (hơn nữa, đức Phật hiện
tướng chính v́ để thuyết pháp. Nếu nói “Phật
thuyết”, sẽ
trở thành mâu thuẫn với ư nghĩa “vô sở thuyết”.
Do vậy, khoa này chỉ có thể nói là “Như Lai thuyết”,
chẳng thể nói “Phật thuyết”).
Hễ
nêu lên câu “Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn” tức
là chỉ rơ điều sắp được nói hết sức
trọng yếu, chẳng thể xem thường! Lời
đáp càng cao hơn một mức nữa, không chỉ chẳng
có pháp được nói, mà c̣n là “vô sở thuyết”.
“Vô sở thuyết” là không có cái
được nói, chứ chẳng phải là không nói! (Các
câu “vô sở hành, vô sở đắc” có ư nghĩa
tương đồng). Bởi lẽ, tánh thể tự
chứng th́ gọi là Như Lai. [Hễ nói] Như Lai là nói
rơ chứng đắc tánh thể b́nh đẳng. “B́nh đẳng” nghĩa là Lư và Trí
như một, Năng và Sở như một (v́ thế,
kinh văn trong phần sau có nói “chư pháp Như
nghĩa”, tức nghĩa Như của các pháp). Đă chứng
“hệt như một” cho nên nói năng được
gọi là “như thuyết” (nói đúng như thể
tánh). V́ thế, trong phần sau kinh văn có nói “Như Lai
thị như ngữ giả” (Như Lai là bậc nói
đúng như thể tánh). [Bảo là] “như thuyết”
nhằm chỉ rơ [ngôn thuyết ấy] từ trong tánh hải
b́nh đẳng Như Như tự tại tuôn ra. Thoạt
đầu, chưa khởi tâm động niệm, tuy suốt
ngày nói, hừng hực nói, cơi nước nói, vi trần nói[16],
nhưng thật sự chẳng có tướng ngôn thuyết!
Tướng ngôn thuyết c̣n chẳng có, há có tướng của
pháp được nói ư? V́ thế bảo là “Như
Lai vô sở thuyết”. Lời vấn đáp ở
đây không chỉ nhằm dứt nghi, mà c̣n có dụng ư khiến
cho người phụng tŕ thấu hiểu: Tánh thể
không chỉ chẳng có tướng
danh tự, mà cũng chẳng có tướng ngôn thuyết,
cũng lại biết Như Lai nói đầy dẫy,
nhưng chẳng có tướng nói. Như thế th́ sẽ
biết: Phụng tŕ pháp được nói th́ phải nên
hăm hở tu pháp, nhưng chẳng có tướng của
pháp ấy.
Gộp
hai khoa này lại để xem, [sẽ
biết] muốn chứng tánh thể, ắt phải
ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết. Như vậy th́
danh tự và ngôn thuyết rốt
cuộc phải nên như thế nào để sau đó có thể
ĺa được? Nếu chẳng biết th́ là chỉ biết lẽ
đương nhiên, mà
chẳng biết nguyên do. Cần phải biết nghĩa
thú của hai khoa này chính là đức Thế Tôn thật sự
dạy người phụng tŕ hăy ĺa niệm. Chẳng ĺa
niệm th́ tướng danh tự và ngôn thuyết trọn
chẳng thể ĺa được! V́ sao biết như thế?
Trong Chân Như Môn của Khởi Tín Luận có một
đoạn văn có thể chứng tỏ [điều khẳng
định trên đây]. Luận viết: “Nếu ĺa tâm niệm,
sẽ chẳng có hết thảy các tướng cảnh giới”.
Lại nói: “Ĺa tướng ngôn thuyết, ĺa tướng
danh tự, ĺa tướng tâm duyên, rốt ráo b́nh đẳng,
thậm
chí chỉ
là một tâm. Do vậy gọi là Chân Như”.
Chân Như trong đoạn văn ấy chính là tên gọi
khác của tánh thể. Ba câu “ĺa tướng ngôn thuyết”
quy vào trọng điểm là câu “ĺa tướng tâm duyên”.
Câu này có nghĩa là “ly niệm”. Bởi lẽ, “duyên”
chính là nắm níu. “Tâm duyên” tức là khởi tâm động
niệm. Tâm niệm nếu động, ắt có cái để
nắm níu, liền rơi vào tướng danh tự.
Nhưng ngôn thuyết chính là âm thanh của tâm. Tâm ắt phải
duyên vào điều muốn nói trước đă, sau đấy
mới đạt được các ngôn từ. V́ thế,
nếu tâm niệm động, lại rơi vào tướng
ngôn thuyết. Do vậy, trong ba câu [trong đoạn luận
trên đây], “ĺa tướng tâm duyên” là tổng. Ĺa
tướng tâm duyên th́ sau đấy các tướng danh tự
và tướng ngôn thuyết sẽ đều ĺa. Điều
này tương ứng với câu trong luận “nếu ĺa
tâm niệm, sẽ không có hết thảy các tướng cảnh
giới”.
Ĺa
tâm niệm sẽ chẳng có hết thảy các tướng
cảnh giới. Do vậy, ĺa tướng tâm duyên sẽ rốt
ráo b́nh đẳng, chỉ là nhất tâm, được gọi
là Chân Như. Dùng sự luận bàn này để chứng
minh ư nghĩa của
kinh, vậy th́ bảo “hăy ĺa tướng danh tự và ngôn
thuyết để tŕ” ở đây chẳng phải là dạy
“hăy ĺa tâm niệm để tu tŕ” ư? Trong luận lại
dẫn kinh khác để nói như sau: “Người có thể
quán vô niệm tức là hướng
tới Phật trí”. “Phật trí” tức là Bát Nhă Ba
La Mật. V́ vậy, đối với kinh Kim Cang Bát Nhă Ba
La Mật này, hăy nên đoạn trừ chấp trước,
vọng tưởng nắm níu danh tự và ngôn thuyết như thế để
phụng tŕ. Đấy là nguyên do của “dĩ thị
danh tự, nhữ đương phụng tŕ” vậy.
Khởi
Tín Luận lại nói: “Hăy nên biết nhiễm pháp và tịnh
pháp đều là đối đăi. Chẳng có tự tướng
để có thể nói. Do vậy, hết thảy các pháp vốn
chẳng phải sắc, chẳng phải tâm, chẳng phải
trí, chẳng phải thức, chẳng phải có, chẳng
phải không, rốt ráo chẳng thể nói đến
tướng. Nhưng hễ có ngôn thuyết, hăy nên biết
đó là phương tiện thiện xảo của Như
Lai mượn dùng ngôn thuyết nhằm hướng dẫn
chúng sanh. Chỉ thú của chúng (các ngôn thuyết ấy)
đều nhằm ĺa niệm, quy vào Chân Như. Do niệm
hết thảy các pháp, khiến cho tâm sanh diệt, chẳng
nhập thật trí”. Đoạn luận văn này rất
phù hợp để trích dẫn làm cước chú cho hai
khoa kinh văn này!
Khoa
lớn “thỉnh dạy tên kinh để phụng tŕ”
có mối quan hệ khẩn yếu. Nay lại dựa theo
đoạn luận này để nói cặn kẽ, ngơ hầu
[độc giả] thấu triệt, ắt hiểu rơ
đạo lư, bèn có thể quán chiếu dụng công, mong các
vị sẽ mong muốn nghe.
Trước
là nói ba câu “chẳng phải sắc, chẳng phải tâm;
chẳng phải trí, chẳng phải thức; chẳng phải
có, chẳng phải không”. Chữ Sắc trong “phi sắc”
bao gồm hữu biểu sắc và vô biểu sắc. Hữu
biểu sắc tức là pháp hữu h́nh có thể chỉ ra
được. Vô biểu sắc là pháp vô h́nh có thể diễn
tả được. Các thứ pháp ấy, bất luận
là hữu biểu hay vô biểu, vốn chẳng có tự thể.
Thể chỉ là tâm, cho nên nói là “phi sắc”. Nhưng bất
quá chỉ do tâm hiện mà thôi, thật sự chẳng phải
là tâm, cho nên lại nói là “phi tâm”. Chữ Trí trong “phi
trí” chính là nói đến tánh trí. Tánh thể b́nh đẳng,
không tịch, há có các pháp? Do
vậy nói là “phi trí”. Như vậy th́ các pháp là thức
ư? Cần phải biết: Thức bất quá là do tâm hiện
khởi, chẳng thể bảo các pháp là Thức! Do vậy,
lại nói là “phi thức”. “Chẳng phải có, chẳng
phải không” là nhân duyên tụ hợp, dường
như có các pháp phát sanh, chẳng phải là không. Đă là
duyên sanh, th́ là huyễn tướng, tức chẳng phải
có! Ba câu ấy nói chung là “hết
thảy các pháp, bất quá là so sánh, đối đăi lẫn
nhau, tuy tợ hồ Có,
thật sự là Không,
bản thể của chúng chính là Không”,
nhằm nói rơ ư “hăy nên biết nhiễm pháp và tịnh pháp
đều là đối đăi, chẳng có tự tướng
để có thể nói” mà thôi!
Hăy
nên biết Bát Nhă cũng là do so sánh với các pháp khác mà gọi
là Bát Nhă. Do hết thảy các pháp duyên sanh huyễn hữu,
vốn chẳng có tự tướng, há có tự tướng
để có thể nói, há có nên chấp trước
tướng danh tự? V́ thế, nói “Bát Nhă tức chẳng
phải là Bát Nhă”. Hơn nữa, do Phật chứng Chân
Như thật trí, tuy hừng hực nói, chứ thật sự
chẳng có tướng ngôn thuyết. V́ thế nói là “Như
Lai vô sở thuyết”. Chỉ v́ chúng sanh mà mượn
dùng ngôn thuyết để hướng dẫn, khiến
cho họ ly niệm, chứng tánh. Do vậy, có thể biết:
Kinh nói “Bát Nhă phi Bát Nhă” nhằm dạy ĺa tướng
danh tự. Lại nói “vô sở thuyết” nhằm dạy
ĺa tướng ngôn thuyết, tông chỉ chẳng phải
là khiến cho đại chúng ĺa niệm, quy vào Chân Như
đó sao? Như vậy th́ cũng có thể biết: Nói “phụng
tŕ” chính là hăy nên phụng tŕ Kim Cang, đoạn trừ vọng
niệm!
Trong
phần trước đă nói rơ “chẳng có pháp nhất
định” chính là để gạn lọc cho trong sạch cội
nguồn của ngă kiến, nay nói “phá trừ phan duyên vọng
tưởng” nhằm cắt dứt ḍng chảy của
ngă kiến. Hăy thử xem mấy câu cuối trong đoạn
luận vừa được trích dẫn trên đây: “Do
niệm hết thảy các pháp, khiến cho tâm sanh diệt,
chẳng nhập thật trí”. “Thật trí” là nói tới
tánh thể. Có thể thấy tánh vốn vô niệm. Muốn
chứng tánh thể mà chẳng đoạn niệm, sẽ
chẳng thể
được! Lại có thể thấy
khởi niệm chính là tâm sanh diệt. Do có cái tâm sanh diệt,
bèn chuốc lấy cái quả sanh tử. Nếu chẳng
đoạn niệm, sao có thể liễu sanh tử cho nổi!
Nhưng hết thảy chúng sanh vốn sẵn niệm niệm
tiếp nối, chưa hề ĺa niệm;
đó gọi là “vô thỉ vô minh”. Vô minh là bất giác.
Do bất giác, cho nên dấy niệm. V́ sao bất giác? Chính
là do chẳng liễu đạt một pháp giới, tức
là chẳng liễu đạt “Lư và Sự trong mười
pháp giới chỉ là một Chân Như, đồng thể
b́nh đẳng”. Đó gọi là “bất giác”.
Đă chẳng nhận biết là “b́nh
đẳng,
có cùng một Thể”,
cho nên động niệm. Động niệm th́ sẽ có năng kiến (chủ thể có thể
thấy), sở
kiến (cái bị thấy) sẽ
thuận theo đó mà dấy lên, cho nên có tướng ta và
người sai biệt. Do vậy, phân biệt chẳng ngừng,
chấp giữ, so đo, tạo đủ mọi nghiệp,
chuốc lấy đủ mọi nỗi khổ! Lại
c̣n xoay vần huân tập, quả lại trở thành nhân, do
nhân bèn thọ quả. Càng mê sâu hơn, trầm luân chẳng
quay lại được! Nay muốn quy hoàn nguồn cội,
cố nhiên phải giải quyết từ căn cội
để đoạn cái niệm ấy. Khó khăn lắm
thay! Do khó khăn, nên đức Thế Tôn bèn nói ra đủ
loại pháp môn phương tiện, khiến cho họ tùy
thuận mà được nhập.
Như lời trích dẫn trong phần trên đă nói “có thể
quán vô niệm sẽ nhập Phật trí”, cũng là một
trong các phương tiện. Đấy là cửa ải
sanh tử cho bọn ta, là chuyện trọng yếu nhất,
cấp thiết nhất, mà cũng chính là điều kinh
này dạy phụng tŕ, chẳng dám ngại phiền, bèn nói
phương tiện này!
Cần
phải biết: Ba chữ “quán vô niệm” cố nhiên
là phương tiện, nhưng cách quán như thế nào, vẫn
cần phải có phương tiện th́ mới có thể
khởi quán. Phương tiện để quán là ǵ? Khởi
Tín Luận đă từng nói rồi đó! Luận bảo: “Hăy
nên biết: Do hết thảy các pháp chẳng thể nói, chẳng
thể niệm, bèn gọi là Chân Như. Hỏi: Nếu là
nghĩa như thế, các hàng chúng sanh tùy thuận như thế
nào để có thể nhập được? Đáp: Nếu
biết hết thảy các pháp, tuy nói, nhưng chẳng có ǵ
có thể nói, tuy niệm mà chẳng có ǵ để có thể
niệm; đó gọi là tùy thuận. Nếu ĺa niệm, sẽ
gọi là đắc nhập”. Do hết thảy các pháp
chẳng thể nói, chẳng thể niệm, nên gọi là
Chân Như. Đấy là dựa theo hết thảy các pháp
mà nói rơ Chân Như, có nghĩa là hết thảy các pháp chẳng
có Thể, Thể chỉ là “tịnh tánh” (“tịnh tánh” chính là tên gọi
khác của Chân Như). Thể của hết thảy các
pháp chỉ là tịnh tánh, nghĩa là các pháp giống hệt
như nhau; cho nên gọi là Nhất
Chân pháp giới. Bởi lẽ, tâm tuy chẳng có pháp,
nhưng pháp từ tâm sanh. V́ thế, pháp trong mười
pháp giới chẳng ĺa chân tâm duy nhất. Nói là “hệt
như nhau”, tức là Nhất Chân. Sở dĩ bản
tánh gọi là Chân Như là do lẽ này! Dùng các pháp để
nói rơ Chân Như, th́ ư nghĩa Nhất Như, Nhất Chân cực
dễ hiểu rơ. Đó là sự thiện xảo trong thuyết
pháp vậy. Do các pháp hệt như nhau, cho nên chẳng thể
nói. Do chân tâm vô niệm, cho nên chẳng thể
niệm. V́ thế nói “hết thảy các pháp chẳng thể
nói, chẳng thể niệm, th́ gọi
là Chân Như”. Ư nghĩa trong lời
hỏi như vậy, tức là bảo “chẳng thể
nói, chẳng thể niệm”. Do các chúng sanh không ai chẳng
có nói, có niệm, bèn hỏi “tùy
thuận như thế nào để được nhập?” “Tùy
thuận” nghĩa là phương tiện. Ư của
lời hỏi là do chúng sanh có nói, có niệm, nhưng muốn
“chẳng nói, chẳng niệm” mà nếu chẳng có
phương tiện, sao có thể chứng nhập? Trong lời
đáp, tuy cùng nêu lên nói và niệm, nhưng hễ có
thể vô niệm, sẽ
tự vô thuyết. Nay xét theo nghĩa
niệm để giảng rơ, th́ nghĩa nói sẽ tự
hiểu rơ.
Hăy
nên biết tuy niệm mà cũng chẳng có năng niệm
(chủ thể có thể niệm). Câu “có thể niệm”
chính là chỉ bày phương tiện tu quán. V́ thế, kế
đó liền nói: “Đó gọi là tùy thuận”. V́ sao
câu này là phương tiện để quán vô niệm? Hăy
nên biết trong ấy có hai nghĩa:
1)
(Trước tiên là nói theo tánh thể). Hăy nên biết niệm
là nghiệp thức, mà trong tánh thể trọn chẳng có chuyện ấy. Đó gọi
là: Vốn sẵn ĺa tướng sai biệt của hết
thảy các pháp, do chẳng có tâm niệm hư vọng.
Đó là nói tuy nghiệp thức lăng xăng nhiễu động, nhưng tánh tịnh thản nhiên, giống như muôn h́nh tượng la liệt trong hư không mà hư không vẫn thản nhiên. Đấy là nghĩa trọng
yếu, chớ nên không biết! Biết điều này, sẽ
biết tánh và niệm vốn sẵn tách rời, sẽ chẳng
đến nỗi nhận giặc làm con!
2)
(Kế đó, nói theo bản thân của niệm): Hăy nên biết
niệm là vật, từ chỗ nào dấy lên th́ sẽ diệt
từ ngay chỗ đó, sát-na chẳng ngừng. Bệnh nằm
ở chỗ niệm trước diệt, niệm sau lại
dấy lên, niệm niệm liên tục. Nhưng người
chưa có công phu tịch tĩnh, sẽ chẳng nhận biết sự liên
tục ấy, lầm tưởng trước sau chỉ
là một niệm. Nếu trước sau chỉ là một
niệm, người tu hành sẽ chẳng có cách nào! Chính v́
nó sanh diệt chẳng ngừng, cho nên chẳng sợ niệm
khởi, chỉ sợ giác chậm. Đấy là nói niệm
hễ dấy lên bèn diệt mất, hoàn toàn chẳng phải là vật thật sự! Giống
như hoa đốm trên không, huyễn hữu, chứ thật
sự chẳng có! Đấy cũng là nghĩa trọng
yếu, chớ nên không biết! Biết điều này, sẽ
biết bản thân của niệm ngay lập tức là Không, sẽ chẳng
đến nỗi chấp hư là thật!
Đă
hiểu rơ hai nghĩa, sẽ bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu,
thuận theo hai nghĩa ấy mà miên mật quán chiếu.
Khi một niệm dấy lên, liền nâng cao tinh thần, tự
quở, tự trách rằng: “Tánh vốn vô niệm, niệm này từ đâu mà có?” Hễ chiếu như thế,
niệm ấy tự dứt. Kẻ sơ tâm chưa có
định lực, trong một
sát-na, niệm thứ hai bỗng nhiên dấy lên, lại lập
tức quở trách, giác chiếu như thế. Lâu ngày, sẽ
có thể thấy ư niệm giảm ít. Dẫu dấy lên, sức
nó cũng yếu dần!
Hỏi
rằng: “Nói tới giác chiếu,
đó chẳng phải là dấy niệm ư?” Đáp: Chính là dấy
niệm! Hăy nên biết: Từ vô thỉ động niệm
cho tới nay, tích tập đă sâu chắc. Ngược ḍng
để chiết phục, rất ư khó khăn! Chỉ
có thuận theo thói quen, chớ nên cưỡng chế. Hăy
chuyển đổi ư niệm, dùng đó để đoạn
dứt cái niệm ban đầu, khiến cho nó chẳng tiếp
nối. Chính v́ nó sanh diệt chẳng ngừng, cho nên có thể
thực hiện. Lại cần phải biết: Tuy quán chiếu
cũng là niệm, nhưng là cái niệm thuận theo Thể
mà khởi tác dụng, liền có thể thuận theo cái Dụng
ấy để nhập Thể. Do họ đă mê mất
cái niệm do bản tánh sanh khởi, sẽ
tiến hướng rất khác! Bởi
lẽ, khởi niệm như nhau, nhưng khởi tác dụng
của niệm khác nhau rất lớn. Do vậy,
biết tánh vốn vô niệm, và niệm cũng vốn là Không. V́ muốn trừ
vọng niệm này, cho nên khởi tác dụng quán chiếu.
Tác dụng ấy thuận theo tánh thể mà dấy lên, cho
nên khác hẳn với tác dụng do mê muội tánh dấy
lên! Đó được gọi là “tùy
thuận”,
đó được gọi là “phương
tiện”.
Nhưng phải biết khởi lên ư niệm quán chiếu ấy
cũng lại là huyễn, cũng là duyên sanh vô tánh, nay bất
quá mượn nó để trừ các niệm khác đó
thôi. Nếu chấp cái niệm này là thật, lại trở
thành bệnh. Bát Nhă Ba La Mật vốn dùng để đối
trị căn bệnh chấp giữ. V́ thế, cũng chớ
nên chấp
giữ Bát Nhă. Nói “Bát Nhă tức chẳng phải
Bát Nhă” nhằm nói rơ “chớ nên chấp giữ nó”.
Bát Nhă vốn chứa đựng ba nghĩa, tức là
Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă, và Thật Tướng
Bát Nhă. Do văn tự mà khởi quán chiếu, chứng Thật
Tướng, nhưng ba thứ Bát Nhă ấy đều chớ
nên chấp. Nói theo văn tự, nếu chỉ chấp vào
văn tự, chẳng tu quán hạnh, cố nhiên hoàn toàn là
tướng danh tự. Nói theo quán chiếu, nếu trong tâm
có ư niệm có cái “có thể quán chiếu” và cái “bị quán
chiếu” th́ cũng chẳng ĺa tướng danh tự, thậm chí đối với chứng
đắc Thật Tướng Bát Nhă, thật ra cũng chẳng
có chứng, chẳng có đắc. Nếu có chứng, có
đắc, vẫn là chẳng
ĺa tướng danh tự, tức chẳng phải là Thật
Tướng, cũng chẳng gọi là Bát Nhă Ba La Mật vậy.
V́ vậy, “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă” ở
đây đă thấu triệt từ đầu đến
cuối vậy!
Trở
về nguồn chẳng hai đường, phương tiện
có nhiều môn! Một pháp niệm Phật lại càng là
phương tiện bậc nhất trong các phương tiện
để đoạn niệm. Không dạy niệm ǵ khác mà
niệm Phật, cũng là chuyển đổi ư niệm,
nhưng niệm Phật so ra thân thiết hơn quán tưởng.
Bởi lẽ quán tưởng có thể nói là trí niệm,
c̣n niệm Phật là tịnh niệm. Đổi lấy một
niệm thanh tịnh để đối trị ư niệm
trước nay luôn đắm nhiễm, lại c̣n dạy
hăy nhất tâm niệm. Lại là dùng một niệm thuần
nhất để đối trị ư niệm trước
nay luôn tạp loạn. Hơn nữa, Phật là giác. Niệm
nào cũng đều là Phật, tức niệm nào cũng
đều là giác. “Giác” tức
là nhận biết tánh ấy vốn vô niệm, cho nên nói là
càng thân thiết! Do vậy, chỉ nên một dạ siêng
năng khẩn thiết, sẽ có thể niệm tới mức
“niệm mà vô niệm”. Hăy nên biết mục
đích niệm Phật ắt cần phải quy vào “niệm mà vô niệm”. Quy vào vô niệm,
tức là quy vào Chân Như, sẽ là “chẳng nói tới
đoạn mà tự đoạn, chẳng mong chứng mà tự
chứng” vậy! Phương tiện nào được
như vậy thay! Do vậy nói là “phương tiện bậc
nhất trong các phương tiện!”
Vừa
mới nói “chẳng mong chứng mà tự chứng”, thoạt
đầu chỉ chứng được một phần,
do lúc ấy chỉ là chẳng có thô niệm mà thôi, chứ tế
niệm vẫn c̣n nhiều! Khởi Tín Luận nói: “Nếu
ĺa niệm th́ gọi là đắc nhập”. “Đắc
nhập” tức
là chứng nhập, nhưng lời này sâu không đáy! Hăy nên
biết từ Quán Hạnh đạt đến
Tương Tự, sau đấy mới đạt tới
Phần Chứng. Phần Chứng là chứng từng phần
một. Thoạt đầu, chỉ nhập một phần;
do vậy, trải qua bốn mươi mốt địa
vị, đạt tới Diệu Giác bèn thành Phật th́ ư
niệm mới ĺa hết. Ĺa hết th́ mới là hoàn toàn chứng
nhập tánh Chân Như. Nhưng thật ra chẳng thể gọi
là ǵ được, chỉ giả gọi là “đắc
nhập” mà thôi! V́ sao vậy? Do tuy đắc, nhưng thật
sự chẳng đắc, tuy nhập mà thật sự chẳng
nhập! Như thế mới là thật sự ĺa niệm,
mới là thật sự đắc nhập. C̣n như công
phu niệm Phật, tuy chưa thể đạt được
“niệm mà vô niệm”, nhưng có thể hạnh nguyện
chân thật, thiết tha, nương cậy sức bi nguyện
của Phật Di Đà, cũng được tiếp dẫn
văng sanh, liền giống như bậc A Bệ Bạt Trí,
phương này nói là Bất Thoái. Đấy chính là địa
vị Sơ Trụ.
Nếu
tu các pháp khác, đạt tới địa vị ấy, cần phải trải
qua kiếp số lâu xa, nay [do tu niệm Phật], một đời
liền có thể làm được. Đấy chính là
phương tiện bậc nhất trong các phương tiện,
cần ǵ phải nói nữa! Cần phải biết: “Giống
như bậc A Bệ Bạt Trí” tức là nói tư cách
vốn chưa đạt tới, nhưng do được
Phật lực nhiếp thọ mà đạt tới bất
thoái. Lũ
chúng ta may mắn được nghe
pháp này, há nên chần chờ, khoanh
tay bỏ lỡ! Nhưng hạnh nguyện
chân thật, thiết tha, ắt cần phải nhất tâm
niệm Phật cầu sanh th́ mới có thể gọi là
“chân thật, thiết tha”. Nếu một mặt niệm Phật,
mặt khác dấy lên ư tưởng trần trược, tức
là hạnh nguyện chẳng chân thật, thiết tha. Do vậy,
người niệm Phật đối với một tầng
đoạn niệm, dẫu
chưa dễ làm được, nhưng đối với
hai câu “chớ nên trụ vào sắc sanh tâm, chớ nên trụ
trong thanh, hương, vị, xúc, pháp để sanh tâm”
phải chú trọng làm cho được! Nếu không, nguyện
chẳng thiết tha, hạnh chẳng chân thật, sao có thể
được Phật tiếp dẫn cho nổi? V́ sao vậy?
Tập khí trần trược nặng nề, rất chẳng
tương ứng với hai chữ “thanh tịnh”, vậy
th́ Phật cũng chẳng làm như thế nào được!
Nói
chung, vọng tưởng tơi bời chính là gốc bệnh
của chúng sanh từ vô thỉ, vạn phần chẳng thể
cưỡng chế! Nếu cưỡng chế, sẽ
đâm ra tổn thương nguyên khí, bởi vọng tưởng
chẳng phải chi khác, mà chính là tác dụng của bổn
tâm. Bất quá, do vận dụng sai, cho nên trở thành bệnh.
Chỉ cần y chiếu Phật pháp, chuyển đổi
nó, quy nó
vào trí niệm hoặc tịnh niệm.
Lâu ngày, sẽ tự quy vào vô niệm. Đó là B́nh
Đẳng
Tánh
Trí,
Diệu
Quán Sát
Trí
vậy! Nay nói “đoạn trừ”, hăy nên biết là trừ
căn bệnh này, chẳng phải là phá trừ pháp ấy.
Hăy nên biết chữ Đoạn nghĩa là “đoạn
vọng”, khiến cho nó quy vào chân. Nếu có thể quy
chân, sẽ rỗng rang đại giác, liễu đạt vạn
pháp như nhau, vốn là Nhất Chân pháp giới, vốn chẳng
có ta và người sai khác, vậy
th́ muôn niệm băng tiêu. Do đó, chỉ
có thể dùng phương pháp chuyển đổi ư niệm
là v́ lẽ này! Do vậy có thể biết: Chuyển hoán ư
niệm được gọi là phương tiện th́ vẫn
là cách nói quyền biến, thiện xảo, chứ thật
ra là một pháp để cứu văn từ căn bản.
Ngoài cách ấy ra, trọn chẳng có pháp nào khác. Chớ nên
không biết lư này!
Nói
đến chuyện “đoạn vọng,
quy chân”,
th́ cũng cần phải tiến dần từng bước.
Đối với kẻ sơ cơ, vẫn chưa thể
nói ngay chuyện này. Do chúng sanh từ vô thỉ liền mê
chân, đuổi theo vọng, trôi lăn,
quên mất quay lại. Ví như gă lăng tử trong
thế gian, phiêu bạt đă lâu quên trở về. Nay muốn
lôi kéo gă đó quay đầu, ắt phải khéo léo
khuyên lơn để dẫn dụ th́ mới có hy vọng.
Nếu không, trong gia đ́nh đâm ra tăng thêm phiền
năo. Ở đây, cũng giống như thế, ắt phải
đọc tụng kinh điển Đại Thừa nhiều
hơn để lay tỉnh nỗi si mê, lại
c̣n thân cận thiện tri thức cho nhiều để mở
toang sự che lấp, chỉ bảo đường lối
tu tập, nhưng khi dụng công th́ phải từ cạn
tới sâu, mới có thể dần dần tiến nhập
cảnh tốt đẹp. Nếu không, trong tâm sẽ
đâm ra chẳng an ổn, lại chớ nên chẳng biết
điều này!
Như
trong kinh này, phần trước đă nói ngàn lời vạn
lẽ, cho tới chỗ này, nửa bộ đầu
đă gần xong, mới hiển nhiên dạy ĺa niệm.
Điều này chẳng thể nhảy cóc, vội vàng nhắc
tới liền, khiến cho họ cảm thấy hết sức
đột ngột. Lại cần nên biết: Kể từ
phần nói cặn kẽ đến đây, đă nói các thứ
quán môn, hạnh môn, toàn là từ cạn tới sâu, là
phương tiện để ĺa niệm. Do công tu tập ắt
phải đạt tới mức vô niệm th́ mới có thể
chứng tánh, mới là rốt ráo. Nay nương theo
nghĩa này, lại đem phần kinh văn trên đây tổng
kết một lần để chỉ bảo, nhắc nhở
theo từng tầng một, ngơ hầu [người đọc
sẽ] dung hội, thấu suốt, khai giải viên măn!
Nói “khai
giải” tức là khai trí huệ. Dựa theo các loại
kinh luận, khai giải có ba bước theo tŕnh tự:
1)
Bước đầu tiên là phải
nên dạy cho họ mở mang trí biết
cảnh là hư giả. Hết thảy chúng sanh do chẳng
biết hết thảy trần cảnh vốn đều
là hư huyễn, chẳng thật, cho nên đến nỗi
chỗ nào cũng chấp giữ, ngă kiến nẩy sanh bừa
băi. V́ thế, trước tiên là khiến cho họ liễu
đạt các cảnh như lục trần v.v… chỉ là
hư huyễn, chẳng thật, th́ mới có thể chẳng
bị chúng mê hoặc. Chẳng mê tức là trí; do vậy nói: Trí biết cảnh
là hư giả.
2)
Bước thứ hai là hăy nên khiến
cho họ mở mang trí vô trần. “Trần” tức là
nói các cảnh như lục trần v.v… “Vô” tức là
hết thảy duy tâm, ngoài tâm chẳng có pháp. Ắt phải
thông đạt điều này, lại đạt được
phương tiện để quét sạch trần cảnh,
tâm mới dần dần có thể chẳng có mảy trần!
Nếu có thể vô trần, huệ quang sẽ càng sáng suốt!
Đấy gọi là trí vô trần.
3)
Trí ấy đă sáng, lại c̣n ư niệm cũng cực ít!
Sau đấy mới có thể đoạn. Đoạn niệm
cũng cần phải có trí phương tiện, tức là
kim cang trí. Đấy chính là bước thứ ba vậy.
Kim
Cang có nghĩa là “có thể đoạn”. Hăy thử xem phần
trước vừa mở miệng liền dạy “phát
tâm rộng lớn, phổ độ chúng sanh”. Nếu
quên mất bản thân th́ đó chính là phương tiện
tối sơ thứ nhất. Do hết thảy chúng sanh chẳng
liễu đạt một pháp giới, chẳng khởi lên
giác niệm, bèn có vô minh, khiến cho giới hạn giữa
ta và người phân chia cực rành rẽ, chấp hết
sức chặt! Nay dạy “xả ḿnh, độ người,
phát tâm rộng lớn”, tức
là dạy hăy thông đạt Nhất Chân pháp giới,
vốn chẳng có ta và người khác biệt, dùng đó
để chuyển hóa tập khí phân biệt tích tập
kiên cố, th́ đấy chính là thoạt đầu bèn thực
hiện nơi cái gốc của ư niệm bất giác. Do vậy
nói là “phương tiện thứ nhất lúc thoạt
đầu”. Cho tới sau khi đă nói “chớ nên trụ
vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để bố
thí”, liền nương vào thân tướng để
nói rơ: “Phàm tất cả các tướng đều là
hư vọng”. Đấy là dạy [hành
nhân] hăy quan sát căn, thân, khí, giới, không
ǵ chẳng phải là trần cảnh, không ǵ chẳng phải
là tướng hư giả, dùng đó để mở mang
cái trí biết cảnh là hư giả. Hăy nên biết: Sở
dĩ chúng sanh phân biệt “ta, người” kiên cố
chẳng thể phá, không ǵ chẳng là do bị cảnh trói
buộc, chẳng buông xuống được, không ǵ chẳng
do hiểu lầm các tướng cảnh giới là chân thật
đó thôi! Nay lay tỉnh họ rằng: “Đều là
hư vọng”. Đúng là giội nước lạnh vào
lưng, khiến cho kẻ khác rởn da gà. Đó là
phương tiện thứ hai vậy.
Kế
đó, bèn nói tiếp: Do
tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm, coi đó là
thật. Tức là khiến cho họ tin vào nghĩa chân thật
ấy mà khởi tu. Bởi lẽ, tŕ giới và tu phước
chính là phương tiện tối sơ
để khởi tu. Nếu có thể
nhất niệm sanh tịnh tín, tức là đối với
những điều đă nói trên đây, đều có thể
mỗi mỗi giải và hành vậy! V́ sao? Nếu chẳng
có giải và hành, sẽ chẳng thể một niệm
tương ứng. Hễ đạt tới điều
này, sẽ đạt được vô lượng phước
đức. V́ sao vậy? Đă có thể một niệm
tương ứng, chính là đắc trí “biết rơ cảnh là hư giả”,
cái tâm trụ tướng, kiến chấp ta, người
sẽ có thể giảm bớt. Do vậy, tiến thêm
bước nữa, bảo họ nếu dùng tâm giữ lấy
tướng, sẽ vướng vào ta, người, chúng
sanh, thọ giả, cùng với pháp và phi pháp đều chớ
nên giữ lấy. “Giữ lấy” chính là khởi niệm.
Nói “tâm chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy
phi pháp”, tức là đă chứa đựng ư nghĩa “chớ
nên khởi tâm động niệm”. Lại bảo do pháp vốn
không nhất định, do đó chẳng thể giữ lấy,
chẳng thể nói, cho tới hết thảy hiền thánh
đều do pháp vô vi [mà có sai biệt] v.v… Vô vi tức là cái
tâm chẳng sanh diệt. Cái tâm sanh diệt chính là ư niệm.
Lại c̣n khuyên dụ rằng: “Ông đă có thể thật
sự tin, mong thành hiền, thành thánh, cũng có thể một
niệm tương ứng, hăy càng phải nên dứt cái tâm
sanh diệt th́ mới tốt đẹp”. Kế đó, lại
nói phước đức to lớn để người
ấy vui thích, động ḷng. Cho đến dựa theo cái
quả mà rộng nói th́ mới chỉ ra hiển nhiên chữ
Niệm. Khi đắc quả, đă chẳng thể khởi
niệm, th́ cũng biết lúc tu nhân chớ nên động
niệm, bèn kết luận bằng
“hăy nên sanh tâm thanh tịnh”. Thế nào là sanh tâm thanh tịnh?
Hăy nên đối với trần cảnh chẳng trụ
vào đâu để sanh cái tâm ấy.
Do
vậy, so với trước kia, lại tiến thêm bước
nữa. Do trí biết cảnh là hư giả mà mở ra trí
vô trần. Trước đó chỉ là biết, nay dạy “chẳng có”, chẳng phải
là càng tiến cao hơn hay sao? Nhưng khai trí vô trần, thật
sự là tiền phương tiện để cuối
cùng sẽ khai trí kim cang. Nếu luận theo công phu tu hành, từ
cái trí “biết
cảnh là hư huyễn” mà tu đạt tới
trí vô trần, cần phải trải qua vô số kiếp.
Trước đó là địa vị Quán Hạnh, nay là
địa vị Tương Tự. Trí ấy là then chốt
để chuyển phàm nhập thánh. Nếu chẳng đắc
trí vô trần, sẽ chẳng thể tiến hơn nữa
để khai trí kim cang; tức là chẳng thể thăng
lên địa vị Sơ Trụ. Nếu chẳng thăng
lên Sơ Trụ, sẽ chẳng thể từ địa vị
Tương Tự nhập địa vị Phần Chứng
mà thành thánh. Do vậy, phước đức đắc
trí vô trần so với trước đó c̣n nhiều
hơn vô lượng vô biên lần. V́ sao phước đức
to lớn như thế? Hăy nên biết người ấy
thành tựu pháp tối thượng hy hữu bậc nhất.
Thành tựu chính là nói thành tựu trí vô trần. Trong tâm nếu
thật sự có thể chẳng có trần cảnh, dẫu
khởi niệm, vẫn ít hơn trước, mà sức của
nó cũng mỏng hơn. Công phu tu tập đến đây
th́ mới có thể đạt tới đoạn niệm.
Do vậy, khoa “xin chỉ dạy tên kinh để phụng
tŕ” này nhằm dạy pháp đoạn niệm. Thứ tự
cạn sâu, tŕnh tự nghiêm chỉnh. Đức Phật
giáo hóa như thế đó. Cần phải biết từ
câu mở đầu: “Hăy nên hàng phục cái tâm như thế”,
cho đến nói “chớ nên trụ trong sắc v.v… để
sanh tâm” đều nhằm chế phục Hoặc. Ắt
phải có thể chế phục, th́ sau đó mới
có thể đoạn. Ở đây nói rơ ràng: “Dĩ thị
danh tự phụng tŕ” (dùng danh tự ấy để
phụng tŕ) mà tên kinh là Kim Cang Bát Nhă. Do vậy, nghĩa thú
được diễn nói đều nhằm khai trí kim cang
này vậy!
Kim
Cang có nghĩa là “có thể đoạn”. Ĺa danh tự
và ngôn thuyết chính là nghĩa “ly niệm”. Nếu trí
kim cang chẳng khai, sao có thể đoạn niệm cho
được? Hăy nên biết: Mới vừa thăng lên
Sơ Trụ, cần phải có trí này. Nếu chẳng có
trí này, sẽ chẳng thể đoạn vô minh. Vô minh là bất
giác. Do bất giác cho nên niệm khởi. Do vậy, đoạn
vô minh tức là đoạn niệm. Ắt
phải đoạn được một
phần vô minh, th́ mới chứng một phần Pháp Thân,
thăng lên Sơ Trụ. Từ Sơ Trụ trở lên,
không ǵ chẳng do trí này dần dần tăng trưởng,
khiến cho từng phần vô minh đoạn trừ, chứng
từng phần Pháp Thân, địa vị cũng tăng
cao từng phần. Trải qua bốn mươi địa
vị, đạt tới Đệ Thập Địa Hậu
Tâm, trí ấy càng kiên cố, càng sắc bén, gọi là Kim Cang
Đạo, dự lên Đẳng Giác (tức địa vị
thứ bốn mươi mốt). Sau khi dự lên Đẳng
Giác, lại dùng trí này để đoạn phần
vô minh cực tế cuối cùng, bèn đạt tới địa
vị Diệu Giác mà thành Phật. Thông thường, chuyên
coi trí Đẳng Giác là trí kim cang, dưới địa vị
Đẳng Giác th́ vẫn gọi là trí vô trần. Thật
ra, tên của trí này hiển thị nó có thể đoạn!
Nếu chẳng có trí này, sẽ chẳng thể đoạn
một phần
vô minh, chứng một
phần Pháp Thân ḥng dự vào Sơ Trụ. Do vậy, từ
Sơ Trụ trở lên, thật sự đă có trí này. Bất
quá, mỗi địa vị cao hơn sẽ
càng thù thắng hơn, cho đến
Đẳng Giác, trí ấy viên măn, bèn dựa theo cái trí
nơi Đẳng Giác mà riêng nêu rơ cái tên ấy. Chớ
nên không biết lư này! Nh́n vào những điều vừa nói
trên đây, ắt phải đạt tới tŕnh độ
tương đương th́ mới có thể đoạn
niệm. Nếu chẳng đoạn niệm, sẽ chẳng
thể chứng Pháp Thân ḥng chuyển phàm thành thánh, và trước
khi đoạn niệm, ắt cần
phải trước hết tu các thứ tiền
phương tiện, nghĩa ấy đă tỏ rơ rồi!
Kinh
này kể từ lúc đàm luận cặn kẽ cho đến
chỗ này, đă mấy lượt tiểu kết
ư nghĩa của kinh,
nhưng mỗi lần tiểu kết đều nêu riêng một
nghĩa. Làm như thế, không chỉ chẳng nhằm mong
cho người nghe sẽ dung hội, xuyên suốt, sẽ
được thọ dụng nhiều hơn một chút.
Hơn nữa, [làm như vậy c̣n nhằm] nêu tỏ: Ư
nghĩa uẩn tàng trong kinh vô cùng, khó thể nêu tỏ trọn
hết. Các thứ tuyên nói trên đây cũng bất quá là một
giọt nước trong biển cả đó thôi!
Đối
với ư chỉ “ĺa danh tự” và “ĺa ngôn thuyết”
được nói trong hai khoa của kinh này, nay tôi bèn nêu
khái quát những điều đă nói để dễ ghi nhớ:
1)
Trước hết cần phải liễu triệt “chẳng có pháp nhất
định”,
để gột sạch cái nguồn vọng niệm.
Đấy là trí huệ.
2) Cần
phải phá trừ tâm tưởng phan duyên để cắt
đứt cái nguồn vọng niệm. Đấy là có thể
đoạn.
Đấy
chính là nguyên do dùng danh tự Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật để
phụng tŕ. C̣n như tác quán, niệm Phật, đều
là phương tiện để đoạn niệm.
Phương tiện ấy vẫn vốn sẵn có trong ư
chỉ của hai khoa kinh, trọn chẳng
phải là từ bên ngoài mà có! Có thể quán vô niệm tức
là hướng tới Phật trí. Phật trí chính là “Bát
Nhă Ba La Mật chẳng phải là Bát Nhă Ba La Mật”.
Đức Phật nói Bát Nhă, chính là dạy hăy nương
theo văn tự để khởi quán chiếu. “Phụng tŕ” tức là dạy
đại chúng hăy thực hiện công phu quán chiếu. Ĺa
danh tự và ngôn thuyết tức là dạy ĺa niệm, há chẳng
phải là dạy rơ ràng hăy quán vô niệm ư? Phụng tŕ
có nghĩa là khăng khăng vâng giữ, tức là niệm
niệm chẳng quên lời Phật dạy, niệm niệm
chẳng trái nghịch Như Lai. Niệm niệm chẳng
quên lời Phật dạy chính là nhất tâm niệm Phật.
Niệm niệm chẳng trái nghịch Như Lai chính là không
chỉ niệm Ứng Hóa Thân Phật, mà c̣n dạy hăy niệm
Pháp Thân Thật Tướng Phật. Lại do bất giác
mà niệm dấy
lên, bèn dạy hăy liễu triệt “chẳng
có pháp nhất định”; đó khiến cho họ giác
điều này! V́ thế gọi là “gột tẩy trong sạch
tận
nguồn”
v́ bất giác chính là cái nguồn của khởi niệm vậy.
Kế đó, dạy phá trừ vọng tưởng, tức
là ly niệm, nên gọi là “cắt đứt ḍng chảy”,
v́ khởi niệm cũng lưu xuất từ bất
giác. Nhưng sau khi đă bất giác khởi niệm, sẽ
có năng kiến (chủ thể trông thấy) và sở kiến
(đối tượng bị thấy) khác biệt, trở
thành tướng “ta, người” sai khác. Nay th́ hoàn toàn chú
trọng nơi dụng công đối trị ư niệm bất
giác dấy
lên, tức là thực
hiện công phu từ nơi căn bản
của ngă kiến. Căn bản đă dẹp trừ,
ngă kiến sẽ tự chẳng có! Đấy chính là nguyên
do phụng tŕ để đoạn ngă kiến vậy!
Lại
nữa, hai khoa này nhằm nói về Không Như Lai Tạng.
Không có hai nghĩa:
1)
Tánh thể vốn Không.
2) Rỗng
không vọng niệm.
Ở
đây nói “Bát Nhă tức chẳng phải là Bát Nhă”, nói “Như
Lai chẳng nói” nhằm nói tánh thể vốn là Không. C̣n
ĺa tướng danh tự, ĺa tướng ngôn thuyết
chính là rỗng không vọng niệm. Do vậy, hai khoa này nhằm
nói về ư nghĩa Không Như Lai Tạng. Hai khoa sau nói về
Bất Không Như Lai Tạng. Không là nói về Thể, Bất
Không là nói tới Dụng. Hai khoa sau chẳng hoại giả
danh, cho nên nói về Dụng. Bởi lẽ, căn, thân, khí
giới đều là tác dụng hiển hiện bởi
tánh đức. Do đó, đấy chính là nghĩa lư Bất
Không Như Lai Tạng.
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.
Dạy chẳng hoại giả danh
Chia thành hai phần:
1) Dạy chẳng chấp cảnh
tướng để phụng tŕ.
2) Dạy chẳng chấp
thân tướng để phụng tŕ.
2.2.2.2.2.2.2.3.2.2.2.2.1.
Vấn đáp
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Tam thiên đại thiên thế giới sở hữu
vi trần, thị vi đa phủ?” Tu Bồ Đề ngôn:
“Thậm đa, Thế Tôn!”
(經)須菩提!於意云何?三千大千世界所有微塵,是為多不?須菩提言:甚多,世尊!
(Kinh: “Tu Bồ
Đề! Ư ông nghĩ sao? Tất cả vi trần trong tam
thiên đại thiên thế giới có phải là nhiều
hay chăng?” Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế
Tôn! Rất nhiều”).
“Danh” là danh tự. Phàm hết
thảy các pháp đều có tướng sai biệt. Dựa
theo sự sai biệt ấy mà đặt tên. V́ vậy, nói
đến danh tự là nói theo tướng. Tướng là
huyễn hữu, nên danh là Giả Danh. Huyễn hữu là nói
“chẳng phải có mà là có, có chính là chẳng phải có!” “Bất
hoại” có nghĩa là chẳng đoạn diệt.
Tướng chính là Dụng do Thể dấy lên, sao có thể đoạn
diệt? Tuy chẳng đoạn diệt, nhưng Tướng
thật sự chẳng phải là Thể; do vậy, chớ
nên chấp giữ. Do Thể chẳng thay đổi, tướng
thường biến động. Thể là gốc, tướng
là ngọn. Chớ nên bỏ gốc chạy theo ngọn, mê
tướng quên Thể; v́ thế, chớ nên chấp! Ĺa và
chẳng chấp, thoạt nghe dường như giống
nhau, nhưng xét kỹ th́ bất đồng: Mỗi đằng
chẳng dính líu với nhau th́ gọi là Ly. Khi Dụng hiển
hiện, chẳng bị nó trói buộc, th́ gọi là “chẳng
chấp”. Hai khoa trên nói là Ly, tức là nói rơ người tu
hành trước
tiên hăy nên chứng
Thể, mà Thể với Tướng vốn chẳng có mảy
may dính dáng. Hai khoa sau nói “chẳng chấp” để nói rơ
người tu hành trước là nên chứng Thể. Đă hiểu Thể rồi,
ắt phải đạt Dụng, cho nên chẳng thể hoại
tướng. Nhưng tuy đạt Dụng, rốt cuộc
vẫn nên hội quy vào Thể; do vậy, lại chẳng
thể chấp tướng. Những điều được
nói ở đây không chỉ nhằm giải thích, nêu bày ư
nghĩa của mỗi khoa, mà diệu chỉ Bát Nhă đă chứa
trọn hết trong ấy. Vừa rồi là nói “ly” và “chẳng
chấp” chắc chắn có ư nghĩa bất đồng. Lại
cần phải biết: Tuy ư nghĩa bất đồng,
nhưng tông chỉ giống nhau. Giống nhau như thế
nào? Chính là đoạn niệm. V́ sao vậy? Hai khoa trước
nói ĺa danh tự và ngôn thuyết, tức là ĺa cái tâm phan duyên,
nghĩa này đă được nói rộng trong phần
trước. Do ĺa tâm duyên nên đoạn niệm. Hai khoa này
nói về cảnh và thân, cũng chính là đối với y
báo và chánh báo, đều chớ nên chấp trước. Hễ
chấp trước lại khởi niệm! Tuy bất hoại,
nhưng chẳng chấp, cũng là v́ đoạn niệm!
Các ư nghĩa khác rất nhiều, sau khi đến phần
kinh văn ấy, sẽ nói theo từng
tầng một.
Bát Nhă Ba La Mật trong khoa
trước chính là một môn trong Lục Độ; cố
nhiên là danh xưng trong Phật pháp, mà cũng là danh
xưng của tánh trọn đủ lư trí. Tánh thể không
tịch, danh tự và ngôn thuyết vốn sẵn trước nay chẳng thể an
lập! Khoa trước đă dựa theo Lư và Trí vốn sẵn có trong tánh để
lập thuyết, cố nhiên hăy nên trừ bỏ hết thảy
các tướng. Do vậy, chỉ nói “tắc phi” (tức
chẳng phải), “thuyết vô khả thuyết” (tuy nói mà chẳng có ǵ
để có thể
nói), nhưng chẳng
nói “thị danh” (th́ gọi là). Tức là tánh vốn
chẳng phải tướng, vốn chẳng dính dáng đến
tướng. Cho nên nói là Ly. Trong hai khoa sau này, cảnh và thân
vốn là y báo và chánh báo, huyễn tướng nghiễm
nhiên. Dựa vào đó để lập thuyết, nhằm nói rơ ư nghĩa “bất hoại giả danh”. Do đó, đối với vi trần,
thế giới, và ba mươi hai
tướng, đều nói “thị danh”. Nhưng rốt
cuộc chúng là huyễn tướng, hư vọng, chẳng thật, cho nên đều
nói là “phi” mà chẳng nên chấp.
Lời hỏi này cũng tiếp
ngay sau phần kinh văn trước đó, bởi lẽ,
kẻ chấp tướng nghe “vô sở thuyết” (không có ǵ để nói) sẽ cho rằng: Nếu
không có ǵ được nói, sẽ dùng ǵ để giáo hóa
tam thiên đại thiên? Hơn nữa, ngôn thuyết vốn
chẳng
có tướng, vẫn có thể nói là “thuyết
vô sở thuyết” (nói mà không có ǵ được nói),
nhưng thế giới to lớn, tướng nó rành rành, há
có thể nói là “thế giới vô thế giới”
ư? Do ngăn ngừa mối nghi ấy, cho nên [đức
Phật] nêu ra lời hỏi này. Lời hỏi rất tuyệt
diệu, chẳng hỏi thế giới, mà hỏi tất
cả các vi trần có nhiều hay không? Ư nói: Thế giới
do rất nhiều vi trần hợp
thành, hiện ra huyễn tướng tam thiên đại
thiên thế giới. Kẻ đó chấp tướng của
đại thiên thế giới là có thật, [nghe hỏi
như thế], cũng sẽ giật ḿnh tỉnh ngộ. Lời
đáp cũng tuyệt lắm, trưởng lăo lănh ngộ
sâu xa ư chỉ của Phật, cho nên đáp “rất nhiều”.
Ư nói: Tất cả các thứ trong thế giới, không ǵ chẳng
phải là rất nhiều vi trần mà thôi! Nhưng ngoài thật
nhiều vi trần ra, há có riêng một thế giới ư? Thấu hiểu chỉ
là nhiều vi trần, sẽ biết đại thiên thế
giới chính là có mà chẳng phải là có vậy!
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.2.2.
Chỉ dạy
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.2.2.1.
Chẳng chấp tướng vi tế
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần, thị
danh vi trần.
(經)須菩提!諸微塵,如來說非微塵,是名微塵。
(Kinh: Tu Bồ
Đề! Các vi trần Như Lai nói chẳng phải là vi
trần, th́ gọi là vi trần).
So với ư hỏi trước,
ư này càng cao hơn. Ư nói: Không chỉ thế giới, mà ngay cả
vi trần cũng chẳng phải là vi trần, hàm ư chỉ
rơ: Vi trần
cũng là giả danh. Kinh Lăng Nghiêm có nói: “Nhữ quán
địa tánh, thô vi đại địa, tế vi vi trần,
chí lân hư trần” (ông hăy quán tánh của đất,
thô là đại địa, tế là từ vi trần cho tới
lân hư trần). Vi trần là ǵ? Lân hư trần là ǵ? Nếu
nói theo phần Chánh Lư Luận trong Câu Xá Luận th́ lượng
của vi trần đă là cái nhỏ nhất mà mắt có thể
trông thấy. Bởi bảy lần vi trần là một kim
trần, bảy lần kim trần là một thủy trần.
Kim trần, thủy trần chính là các hạt trần ấy
có thể xuyên qua khe hở của ngũ kim[17]
hay các kẽ hở của [các phân tử] nước.
Như thế th́ có thể tưởng tượng sự
vi tế của vi trần [tới cỡ nào]. Lại c̣n gấp bảy
lần thủy trần là một thố mao trần, tức
là nhỏ bằng đầu một sợi
lông con
thỏ. Do vậy, có thể hiểu sự vi tế của vi trần.
Trọn chẳng biết vi
trần cực nhỏ như thế vẫn có thể
tách ra thành bảy cực vi trần, nhục nhăn chẳng thể
thấy được, chỉ có thiên nhăn trở lên mới
có thể trông thấy. Tới đây là ngằn mé của sắc
tướng, chẳng c̣n chia nhỏ hơn được
nữa. Nhưng nếu dùng huệ nhăn để quan sát, vẫn
có thể chia nhỏ [cực vi trần] thành lân hư trần.
Lân hư (隣虛) nghĩa là gần
với hư không, tức là giống như nay nói nó “gần bằng zero”. Do vậy cũng
biết: Vi trần cũng là do bảy cực vi trần hợp
lại mà hiện tướng[18],
trọn chẳng phải là
vật thật! V́ thế nói “vi trần chẳng phải
là vi trần”.
Nói theo kiểu như thế
chính là Tích Không Quán (析空觀)
của Tiểu Thừa. Tích Không Quán là mỗi [sự vật] đều cần phải
chia chẻ để quán rồi mới biết đấy
là Không! Đại Thừa chẳng phải vậy, chỉ
quan sát ngay nơi tánh thể, sẽ biết bất luận
là tướng lớn hay tướng nhỏ,
đều là duyên sanh huyễn hữu, lập tức chính
là Không, há đợi phân tích rồi mới biết ư?
Quán như thế gọi là Thể Không Quán (體空觀).
Kinh này v́
người phát Đại Thừa, v́ người phát tối
thượng thừa mà nói, nên bảo là “Như Lai nói”.
Như Lai là danh xưng của tánh đức. “Như Lai
nói” tức là nói: Nh́n theo tánh thể vốn là Không,
được gọi là Thể Không Quán. Do nói theo tánh, vi trần
vốn chẳng có thật thể, nhưng chẳng phải
là không có huyễn tướng. Vốn chẳng có thật
thể, nên nói là Phi. Do chẳng phải là không có huyễn
tướng, nên nói “thị danh” (th́ gọi là).
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng
Nghĩa
Quyển 3, phần 1 hết
[1] Sử là tên gọi
khác của Kiến Hoặc, tức mười thứ kiến
chấp khiến cho chúng sanh liên tục sanh tử bao gồm:
Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới
Thủ Kiến, Tà Kiến, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi. Do phối
ứng với tam giới và Tứ Đế tăng giảm
khác nhau mà thành ra tám mươi tám món Sử. Nói chi tiết
th́:
- Trong Dục Giới, Khổ
Đế có đủ mười món Sử, Tập và Diệt
Đế mỗi Đế chỉ có bảy Sử (tức
loại trừ Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ Kiến),
Đạo Đế có tám món Sử (loại trừ Thân Kiến
và Biên Kiến), như vậy là Dục Giới có tất cả
ba mươi hai món Sử.
- Sắc Giới và Vô Sắc
Giới đối với mỗi Đế đều loại
trừ thêm Sân Sử; do vậy, mỗi giới chỉ có
hai mươi tám món Sử.
V́ thế, tam giới là Dục
Giới (32 Sử) + Sắc Giới (28 Sử) + Vô Sắc Giới
(28 Sử) thành tám mươi tám món Sử.
[2] “Hoạt cú” (活句) có hai nghĩa:
1) Thiền Tông dùng từ ngữ này
để gọi một câu nói có ư sâu xa.
2) Câu nói có ư nghĩa hàm súc, linh động,
có thể biến đổi linh hoạt.
Theo ngu ư, chữ “hoạt cú” ở
đây phải hiểu theo nghĩa thứ hai.
[3] Tư Hoặc
chính là những cách nghĩ điên đảo đối với
sự vật trong thế gian như tham, sân, si, mạn,
nghi. Tùy theo cách tính trong tam giới mà tăng giảm, thành ra
tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc.
[4] Phật Bổn Hạnh Tập Kinh
(Abhiniskramanasūtra), gọi
tắt là kinh Bổn Hạnh Tập, gồm sáu mươi
quyển, do ngài Xà Na Cấp Đa dịch vào đời Tùy.
Kinh trần thuật các sự tích trong đời đức
Phật như đản sanh, xuất gia, thành đạo,
và các nhân duyên quy phục, hóa độ của các đệ
tử Phật.
[5] Kinh này có tên gọi đầy đủ
là Thái Tử Bổn Khởi Thụy Ứng Kinh, do cư sĩ Chi Khiêm dịch vào đời
Đông Ngô, ghi chép các chuyện trong đời đức Phật
kể từ khi Ngài c̣n ở vương cung, cũng như
nhân địa trong quá khứ cho đến khi Ngài xuất
gia, thành đạo, độ ba anh em ngài Ca Diếp v.v…
[6] Thời cổ, dùng chất
đồng mài bóng làm gương soi. Do vậy, để
soi gương th́ phải mài cho sạch teng đồng
và bụi bặm.
[7] Đây là hai câu nói được
trích từ chương Đại Vũ Mô của thiên Ngu
Thư trong sách Thượng Thư của Nho Gia. Nho gia tin rằng
đây là câu nói căn dặn của vua Nghiêu khi truyền
ngôi cho vua Thuấn. Thiên Đại Vũ Mô chép cả một
đoạn dài, nhưng chỉ có mười sáu chữ “nhân
tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh, duy nhất, doăn chấp quyết
trung” được coi là “mười sáu chữ truyền tâm” của truyền thống văn hóa cổ truyền Trung Hoa. Có rất nhiều cách giải thích mười
sáu chữ ấy, nhưng cách giải thích của Khổng
Dĩnh Đạt được chấp nhận phổ
biến hơn cả: “Ḷng dân rất nguy hiểm, đạo
tâm tột bậc u vi. Nguy là khó an, duy là khó hiểu rơ. Ông hăy
nên dùng ḷng tinh thuần, chuyên tâm nhất ư, tin tưởng,
ǵn giữ đạo trung chánh, khiến cho dân an mà đạo
được sáng tỏ. Đạo chính là đường
lối, là khuôn phép mọi vật phải hướng theo.
Ḷng người quyết định muôn mối lo, đạo
tâm là cái gốc của các đường lối. Lập
ngôi vua để an ḷng người, hễ ḷng người
biến hóa th́ sẽ khó an. Muốn dân an, phải giữ đạo
cho sáng. Đạo tâm mà sai lệch th́ khó sáng tỏ. Muốn
cho đạo sáng tỏ th́ tâm ắt phải chuyên ṛng. Muốn
cho dân an th́ phải nhất ư. V́ thế, răn dạy tâm phải
tinh thành, ư chuyên nhất, lại giữ lấy lẽ trung
dung, sau đó đạo mới sáng, dân mới yên được”.
[8] Khí thế
gian (器世間, Bhājana-loka) c̣n gọi là Khí Thế
Giới, Khí Giới, hoặc Khí, chỉ chung thế giới
và cơi nước mà hết thảy chúng sanh đang sống.
Nó c̣n được gọi là Y Báo, hoặc Trụ Xứ
Thế Gian, hay Quốc Độ Thế Gian. Sở dĩ gọi
là Khí Thế Gian v́ thế gian có công năng chứa đựng
hết thảy hữu t́nh giống như đồ đựng,
nên gọi là Khí (器).
[9] Do từ ngữ này quá hàm súc nên
đành để nguyên rồi dẫn lời giải thích của
pháp sư Viên Anh trong bộ Thủ Lăng Nghiêm Kinh Giảng
Nghĩa như sau: “Cái Thể của tự tánh vốn sẵn
thanh tịnh, hoàn toàn chẳng phải do gạn lọc mà
được thanh tịnh, v́ nó vốn sẵn ĺa phiền
năo trược, cũng chẳng phải là thanh tịnh do
đối trị, v́ nó vốn sẵn ĺa sanh tử nhiễm
mà hiển lộ thành tánh tịnh Niết Bàn. Cái Thể ấy
hết thảy chúng sanh vốn sẵn có, chẳng nhờ
vào tạo tác, chẳng đợi tu thành, cho nên nói là cái Thể
vốn sẵn thanh tịnh. Cái Thể ấy vốn chẳng
có ǵ khác, chính là cái tánh nay ông vốn đang sẵn có, tṛn
đầy, lặng trong, chẳng sanh diệt, nên gọi là
Thức Tinh. Vốn là cái tâm diệu minh, hoàn toàn chẳng phải
do mài luyện mà tỏa sáng, mà nó vốn sẵn tự sáng,
tuy ở trong đêm dài tăm tối, tánh ấy chẳng tối
tăm, nên nói là Nguyên Minh. Nơi mắt có thể thấy,
nơi tai có thể nghe… Tuy chia thành sáu thứ ḥa hợp,
nhưng vốn là một cái sáng suốt tinh ṛng; đó là cái
gốc chân thật vậy. Thức Tinh c̣n chính là cái Thể
tinh ṛng, sáng suốt của thức thứ tám. Tuy cái Thể
ấy kèm theo chút phần vọng, nhưng rốt ráo toàn thể
là chân”.
[10] “Điểm nhăn” tức là khi vẽ rồng hoặc
tạo tác tượng thần, tượng Phật, tượng
Bồ Tát, khi đă vẽ xong, hoặc làm xong, mới vẽ mắt
cuối cùng để khiến cho bức vẽ hoặc bức
tượng sống động hơn. C̣n “kết huyệt” là một thuật ngữ trong Phong
Thủy. Họ tin rằng trong đất có nhiều long mạch,
“kết huyệt” là chỗ mà các mạch chính lẫn
phụ sẽ quy kết vào, là chỗ hội tụ toàn bộ
năng lượng và tác dụng thần kỳ của các
mạch đất.
[11] Thuật ngữ Phong Thủy gọi
phương Đông là Thanh Long, phương Tây là Bạch Hổ,
và cũng có khi hiểu thông tục Thanh Long là phía trái, Bạch
Hổ là phía phải khi quan sát một cuộc đất
để đặt mộ hay xây nhà.
[12] Pháp sư Thánh Nghiêm giảng câu này
phải hiểu như sau: “Thân Phật ở đây là nói
đến Pháp Thân, Pháp Thân thường hằng, không
đâu chẳng tồn tại, không thuộc về pháp hữu
lậu, không thuộc các khái niệm vô vi, hữu vi, hữu
tướng, vô tướng, bất sanh, bất diệt,
nên nói ‘chẳng đọa chư số’ tức là chẳng
thể nào dùng ngôn thuyết, phân biệt để lănh hội
được”.
[13] Thiên Trúc hay Tây Thiên đều là danh xưng cổ để gọi
toàn thể Ấn Độ. Danh xưng này c̣n được
phiên âm là Thân Độc, Thiên Đốc, Hiền Đậu,
Quyến Đốc, Kiền Đốc v.v… đều là
các cách phiên âm khác nhau của sông Sindhu (tên gốc của sông
Indus). Theo các nhà nghiên cứu, danh từ Indus là do người Ba Tư đă
đọc trại chữ Sindhu thành Hinduk, rồi người
Hy Lạp đọc trại thành âm Indos, mà từ đó trở thành danh xưng Indus rồi diễn
biến thành India trong các ngôn ngữ Âu Tây.
[14] Sở dĩ phiên âm là Căng Già v́
trong tiếng Hindi, sông này được gọi là Ganga, tiếng
Phạn là Gaṅgā. Ganges chỉ là cách phiên âm của
người Âu Tây đối với con sông này.
[15] “Lạc mặc”
(落墨) tức là thuật
ngữ dùng trong hội họa của Trung Hoa, chỉ phần
vẽ vời chánh yếu trong một bức họa. Do vậy,
mở rộng thành ư nghĩa “cao xứ lạc mặc”
hoặc “đại xứ lạc mặc” là chú trọng
đến phần chánh yếu, cốt lơi của sự vật.
[16] “Sát thuyết, trần thuyết”
là một thuật ngữ phát xuất từ kinh Hoa Nghiêm,
trong mỗi một vi trần trong một quốc độ
thường có một thế giới của Phật, trong
ấy có Phật thuyết pháp, trùng trùng vô tận, nên bảo
là trong mỗi vi trần đều nói vô thượng diệu
pháp, mà cơi nước do các vi trần hợp thành nên cũng
nói là “cơi nước nói”.
[17] Ngũ Kim là năm thứ kim loại gồm vàng, bạc, đồng,
sắt, thiếc, nhưng về sau thường được
dùng để chỉ chung các thứ kim loại. Và
được mở rộng ư nghĩa trong từ ngữ
Ngũ Kim Điếm
thành các tiệm bán
đủ thứ vật liệu cần thiết cho xây dựng,
hoặc sửa chữa nhà cửa,
như Home Depot chẳng hạn.
[18] Theo Đại Tỳ
Bà Sa Luận, lân hư trần (paramāṇu)
là sắc chất nhỏ nhất không thể chia chẻ nhỏ
hơn được nữa. Bảy lân hư trần hợp
thành một cực vi trần, bảy cực vi trần hợp
thành vi trần (aṇu). Bảy
vi trần hợp thành một kim trần (loha-raja, có khi c̣n dịch
là đồng trần). Bảy kim trần hợp thành một
thủy trần (ap-raja). Bảy thủy trần hợp
thành một thố mao trần (śaśa-raja).
Bảy thố mao trần hợp thành một dương
mao trần (avi-raja). Bảy dương mao trần hợp
thành một ngưu mao trần (go-raja). Bảy ngưu mao trần
hợp thành một hướng du trần (vātāyanacchidra-raja).
Bảy hướng du trần hợp thành một kỷ (bọ
chét, likṣā). Bảy kỷ hợp thành một sắt
(yūka, con rận). Bảy sắt hợp thành một
khoáng mạch (yava). Bảy khoáng mạch hợp thành một
lóng ngón tay (aṅguli-parva) v.v…