Kim Cang
Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển
3
Phần
2
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn
giả: Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị
Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.1.2.2.
Chẳng chấp tướng rộng lớn
(Kinh)
Như Lai thuyết: Thế giới, phi thế giới, thị
danh thế giới.
(經)如來說:世界,非世界,是名世界。
(Kinh:
Như Lai nói “thế giới chẳng phải là thế giới”,
th́ gọi là thế giới).
Đă
biết vi trần chẳng phải là vi trần, chỉ là
giả danh; vậy th́ thế giới chẳng phải là thế
giới, [nói “thế giới”] chỉ là giả danh, chẳng
đợi rườm lời mà đă hiểu! Đấy
là sự hay khéo trong thuyết pháp. Gộp chung hai tiểu
khoa này để xem, chính là dạy người tu tŕ Bát Nhă
đối với bất luận loại cảnh giới
nào, hoặc là chuyện bé như vi trần, hoặc chuyện
to như thế giới, đều chớ nên chẳng hoại,
chẳng chấp. Nhỏ nhặt như vi trần mà c̣n chớ
nên hoại, th́ đối với thứ to lớn hơn thế,
[cũng có thể suy ra] mà biết. To như thế giới
mà c̣n chớ nên chấp, th́ những thứ nhỏ hơn
[cũng có thể] suy ra mà biết!
2.2.2.2.2.1.2.3.2.2.2.2.2.
Dạy chẳng chấp tŕ thân tướng
(Kinh)
“Tu Bồ Đề, ư ư vân hà? Khả dĩ tam thập
nhị tướng kiến Như Lai phủ?” “Phất dă,
Thế Tôn! Hà dĩ cố? Như Lai thuyết tam thập nhị
tướng, tức thị phi tướng, thị danh tam
thập nhị tướng”.
(經)須菩提,於意云何?可以三十二相見如來不?不也,世尊!何以故?如來說三十二相,即是非相,是名三十二相。
(Kinh:
“Tu Bồ Đề , ư ông nghĩ sao? Có thể dùng ba
mươi hai tướng để thấy Như Lai hay
không?” “Bạch Thế Tôn, không ạ! V́ sao vậy? Như
Lai nói ba mươi hai tướng tức chẳng phải
là tướng, th́ gọi là ba mươi hai tướng”).
Câu
hỏi này cũng sanh khởi từ đoạn văn
trước đó. V́ kẻ chẳng hiểu ư, nghe nói “thế
giới chẳng phải là thế giới, mà là giả
danh”, sẽ cho rằng: “Phật tùy loại cảm ứng,
hiện đủ loại thân, vốn là để giáo hóa
chúng sanh trong đại thiên thế giới. Nếu nói
như trên đây, thế giới này là có mà chính là chẳng có, chẳng
có mà là có. Như vậy th́ Phật hiện thân Ứng Hóa có
ba mươi hai tướng để làm ǵ cơ chứ?
Há Ứng Thân cũng là có mà chẳng phải có, chẳng phải
có mà là có đấy ư?” V́ ngăn chặn điều
nghi ấy, nên [đức Phật] đặt ra câu hỏi
này. Cần phải biết: Như Lai đă chứng tánh, mà
lại hiện ra thân có ba mươi hai tướng, là do chúng
sanh ai nấy đều dùng Như Lai Tạng làm Thể, tiếc
rằng họ mê tướng, trọn chẳng tự biết.
Do vậy, Ngài từ tánh thể hiển hiện tướng
Ứng Thân để giáo hóa đại thiên thế giới,
mở toang kho báu ấy cho chúng sanh, khiến cho họ đều
hồi quang phản chiếu, chẳng chấp hết thảy
các tướng mà tự thấy bản tánh đó thôi! Tánh ấy của
chúng sanh vốn đồng thể với chư Phật.
Đó gọi là Nhất Chân pháp giới. Do đó, nếu có
thể tự thấy bản tánh, sẽ chính là được
thấy Như Lai. Nếu chấp vào tướng, sẽ thấy
tướng Ứng Thân, chẳng phải là cái Thể của
Pháp Thân, sao có thể nói là “thấy Như Lai”
được ư? Hiểu rơ “phải nên thấy Như
Lai như thế nào?”, sẽ biết ba mươi hai tướng
cũng do duyên hội hợp mà sanh, ngay lập tức là
Không. “Ngay lập tức là Không” th́ là có mà chính là chẳng
có. “Duyên hội hợp mà sanh” th́ chẳng phải có mà
là có. Có tức là chẳng phải có, cho nên nói “tức thị
phi tướng” (tức là chẳng phải tướng).
Chẳng phải có mà là có, cho nên nói “thị danh tam thập nhị tướng” (th́ gọi là ba
mươi hai tướng).
Lời
hỏi ở chỗ này có cùng một cách nói với câu “khả
dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ” (có thể
dùng thân tướng để thấy Như Lai hay
chăng) trong khoa lớn thứ nhất thuộc phần
trước, nhưng ư nghĩa không hoàn toàn giống hệt
như nhau! Bởi lẽ, trong phần trước, dùng thân
tướng để hỏi, tức là Phật và chúng sanh
đều cùng được thâu nhiếp trong ấy. Nay
nêu ra ba mươi hai tướng để hỏi, tức
là chuyên nói về Phật vậy!
Lời
đáp “phất dă” (chẳng phải vậy) là cách nói
linh động, có cùng ư nghĩa với lời đáp cho câu
hỏi “khả dĩ thân tướng kiến
Như Lai phủ?” (có
thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay
không?) trong phần
trước, ư nói: Chẳng thể dùng tướng để
thấy, mà
cũng có thể dùng
tướng để thấy! Trong bản lưu thông [hiện
thời], sau câu “phất dă”, có câu “bất khả
dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến
Như Lai” (chẳng thể dùng ba mươi hai tướng
để được thấy Như Lai), cổ bản
chẳng có [câu ấy]. Hăy nên biết: Trong kinh văn thuộc cuối
phần trước, chỉ nói “thân tướng tức
phi thân tướng” (thân tướng tức chẳng phải
là thân tướng), nên nói “bất khả” (chẳng thể).
Lại nói “dĩ thân tướng đắc kiến
Như Lai” (dùng thân tướng để thấy Như
Lai) nhằm nói rơ câu “phất dă” trước đó và
câu “thân tướng tức phi thân tướng” (thân
tướng tức chẳng
phải là thân tướng)
sau đó đều là câu linh động, có ư nghĩa
đôi bên cùng liên kết. C̣n phần kinh văn ở
đây, do đă nói “tức thị phi tướng” (tức
chẳng phải là tướng), lại nói “thị danh
tam thập nhị tướng” (th́ gọi là ba mươi
hai tướng) đă đủ để biểu thị
rơ rệt ư “phất dă” là đôi bên liên kết, cần
ǵ phải tḥng thêm một câu thừa thăi rằng “chẳng
thể dùng ba mươi hai tướng để
được thấy Như Lai?” [V́ vậy], hăy
nên tuân theo cổ bản!
Hễ
nêu ra Như Lai để nói,
tức là nói theo tánh. Nói theo tánh, sẽ chính là chẳng phải
tướng; đấy là giảng rơ: Tánh thể vốn chẳng
phải là tướng. Nếu biết cái Thể phi tướng,
tức là từ ba mươi hai tướng, sao có thể
thấy Như Lai cho được? Nay bảo “dựa
theo tánh để nói” th́ chính là phi tướng, bèn gọi
đó là “ba mươi hai tướng”.
Đấy chính là nêu rơ: Danh là phản ảnh của Thật.
Ba mươi hai tướng đă chỉ là danh, bèn có thể
ngộ cái Thể chính là tánh. Nếu biết lư này, sẽ có
thể chẳng chấp vào tướng, sẽ do tướng
mà có thể hiểu Thể, cần ǵ phải diệt
tướng để thấy Tánh? Biết điều này,
ba mươi hai tướng vốn do tánh khởi. V́ vậy
chớ nên hoại [tướng], mà v́ tánh vốn chẳng phải tướng,
cố nhiên cũng sẽ hiểu rơ nghĩa “chẳng chấp
trước”.
Đại
thiên thế giới là ǵ, trong phần trước đă nói
cặn kẽ. Thế nào là ba mươi hai tướng?
Cũng chớ nên chẳng biết nghĩa này!
1) Tướng bàn chân bằng
phẳng, tức là ḷng bàn chân chẳng lơm, thảy đều
phẳng phiu, đầy đặn.
2)
Tướng bánh xe ngàn căm: Các đường chỉ
dưới bàn chân tṛn xoe như h́nh bánh xe. Trong bánh xe có ngàn
căm, h́nh dạng các tướng đều trọn đủ.
3)
Tướng ngón tay thon dài, tức là ngón tay ngay ngắn, thon
thả, tṛn trặn, dài.
4)
Tướng tay chân mềm mại: Tay và chân đều mềm như
bông.
5)
Tướng tay chân có màng lưới: Giữa các ngón tay và ngón chân như có
màng lưới nối liền lẫn nhau, h́nh dạng
như [màng nối] giữa các ngón của ngỗng, vịt.
6)
Tướng gót chân viên măn: “Gót”
là phần sau của bàn chân (tục gọi là “cước
hậu ngấn”, 脚後跟) tṛn
đầy, không bị lơm.
7)
Tướng lưng bàn chân cao đẹp. “Phu” (趺)
chính là lưng bàn chân (mu bàn chân) cao đầy, viên măn.
8)
Tướng bắp chân như nai chúa. “Suyễn” (腨)
là bắp chân. Thời cổ c̣n gọi phần này là Ph́ (腓).
“Lộc vương” (nai chúa) là vua của
loài nai, tức là con nai to. Ư nói: Thịt nơi bắp
đùi cân xứng, tṛn đầy, chẳng giống như
bắp đùi của phàm phu lồi lơm, thô kệch!
9)
Tướng tay dài quá gối:
Khi buông thơng hai tay, ắt dài quá gối.
10)
Tướng mă âm tàng, tức là nam căn ẩn kín, chẳng lộ.
11)
Tướng thân ngang dọc bằng nhau, tức là chiều
cao từ đầu tới chân bằng với khoảng
cách khi giang thẳng hai tay.
12)
Tướng lỗ chân lông có màu xanh: Mỗi lỗ chân lông chỉ sanh một
cọng lông màu xanh, nhưng chẳng tạp loạn.
13)
Tướng lông trên thân xoắn lên phía trên. Mỗi sợi
lông trên thân đều xoay theo chiều phải, chót lông
hướng lên trên.
14) Tướng thân kim
sắc: Màu
nơi thân như khối vàng tía tỏa sáng.
15) Tướng thường
quang[1]
một trượng: Thân tỏa ra quang minh, mỗi phía chiếu
xa một trượng.
16) Tướng da dẻ
trơn mịn, tức da dẻ mịn màng, tươi nhuận,
chẳng dính nước hay bụi. Ruồi muỗi chẳng
đậu lên được.
17) Tướng bảy
chỗ đầy đặn: Hai bàn chân, hai bàn tay, hai vai
(c̣n gọi là Kiên Oa, 肩窩) và cổ, bảy chỗ đều đầy đặn,
chẳng hề bị khuyết lơm.
18)
Tướng hai nách tṛn đầy: Dưới hai nách đều
đầy đặn (chẳng lơm).
19)
Tướng thân như sư tử, tức là oai nghi nghiêm
túc.
20)
Tướng thân ngay thẳng: Thân h́nh đoan chánh, không cong vẹo.
21)
Tướng vai tṛn đầy, tức là h́nh dạng toàn thể
của hai vai không nhô cao, không vẹo, tṛn, dầy, đầy
đặn, khác với tướng bảy chỗ viên măn
trên đây.
22)
Tướng bốn mươi răng: Trọn đủ bốn
mươi cái răng (người thường nhiều nhất
là ba mươi sáu cái răng).
23)
Tướng răng trắng, bằng, khít. Bốn
mươi cái răng trắng sạch, ngay ngắn, khít
khao.
24)
Tướng bốn răng nanh trắng sạch. Bốn răng nanh trắng
nhất, đẹp sạch.
25)
Tướng má như sư tử. Hai má cao đầy
như má sư tử.
26)
Tướng được thượng vị: Trong cổ
họng có chất dịch, bất luận ăn vật ǵ,
đều trở thành vô thượng diệu vị.
27)
Tướng lưỡi rộng dài. Lưỡi rộng mà
dài, mềm mại, đỏ, mỏng, thè ra có thể rộng
đến che mặt, dài tới mí tóc.
28)
Tướng phạm âm sâu xa. “Phạm” (梵)
là thanh tịnh. Âm thanh thanh tịnh, ở nơi xa vẫn
nghe thấy.
29)
Tướng tṛng mắt màu cám thanh (紺青, xanh
biếc có pha sắc hồng). Con ngươi màu cám thanh, cực
thanh tịnh, mà quang minh như có chất tinh túy của vàng.
30)
Tướng lông mi như trâu chúa. Lông mi ngay ngắn, đẹp
thù thắng, giống như lông mi trâu chúa.
31) Tướng bạch
hào giữa hai lông mày. Khoảng giữa hai lông mày có bạch
hào (sợi lông rỗng trắng, trong
như pha lê, cuộn tṛn), sắc
trắng, thanh tịnh, mềm mại, cuốn theo chiều
phải, tỏa quang minh.
32) Tướng nhục
kế (肉髻). Trên
đỉnh đầu có bướu thịt vun cao như
búi tóc.
Ba mươi hai tướng
ấy c̣n gọi là “đại trượng phu tướng”,
c̣n gọi là “đại nhân tướng”, c̣n gọi là “bách phước trang
nghiêm tướng”, hàm ư
dùng một trăm loại phước đức để
trang nghiêm một tướng. Để tu thành ba
mươi hai tướng, cần phải trải qua một
trăm đại kiếp; v́ vậy nói “trăm kiếp
tu tướng hảo”. Phước đức tức
là Phổ Hiền hạnh nguyện. Do vậy, phẩm Hạnh
Nguyện nói: “Thử thiện nam tử thiện đắc
nhân thân, viên măn Phổ Hiền sở hữu công đức,
bất cửu đương như Phổ Hiền Bồ
Tát, tốc đắc thành tựu vi diệu sắc thân, cụ
tam thập nhị đại trượng phu tướng”
(Thiện nam tử này khéo được thân người,
viên măn tất cả công đức của Phổ Hiền,
chẳng lâu sẽ như Phổ Hiền Bồ Tát, mau chóng
được thành tựu sắc thân vi diệu, trọn
đủ ba mươi hai tướng đại trượng
phu). Hăy nên biết tướng hảo đều do đại
bi đại nguyện thành tựu. V́ sao tu các tướng
hảo ấy? Do hết thảy hữu t́nh không ai chẳng
chấp tướng. Nếu thấy tướng hảo, sẽ
sanh tâm hoan hỷ, sanh tâm cung kính, th́ mới chịu nghe pháp, mới có
thể sanh ḷng tin. Hơn nữa, Phạm Vương, Đế
Thích, Luân Vương cũng có các tướng ấy, Bồ
Tát cũng thường có, nhưng do các “hảo” chẳng trọn
đủ, nên chẳng bằng Phật. “Tướng
hảo” chẳng phải là nói tướng rất tốt
đẹp, v́ đại tướng th́ gọi là Tướng,
tế tướng th́ gọi là Hảo, nhưng Đại
và Tế chẳng phải là lớn hay nhỏ. “Đại
tướng”
tức là [các tướng] mắt vừa nh́n liền có thể
thấy. “Tế
tướng” th́ phải
cẩn thận quan sát mới biết được sự
tốt đẹp ấy. Do vậy, tế tướng nhằm
trang nghiêm đại tướng. V́ vậy, đức Phật
có ba mươi hai tướng, lại có tám mươi thứ
hảo, c̣n gọi là “tám mươi tùy h́nh hảo”. “Tùy
h́nh” tức là [các tế tướng ấy] tùy thuộc
ba mươi hai h́nh tướng. Bồ Tát tuy cũng có “hảo”,
nhưng chẳng đầy đủ như Phật. Tám
mươi [tùy h́nh hảo] là:
1)
Vô kiến đảnh (chẳng trông thấy đỉnh
đầu).
2)
Mũi chẳng hiện lỗ (lỗ mũi
chẳng huếch).
3)
Lông mày như trăng non.
4) Trái tai rủ xuống.
5) Thân đậm chắc
như Na La Diên.
6) Xương như
các mắt xích [mắc vào nhau].
7) Hễ xoay thân th́ giống
như voi chúa.
8) Khi đi, chân cách mặt
đất bốn tấc mà dấu chân in [trên mặt đất].
9) Móng tay như sắc
đồng đỏ, mỏng mà tươi nhuận.
10) Xương đầu
gối tṛn, chắc.
Cho đến [tùy h́nh hảo]
thứ tám mươi là chân tay đều hiện tướng
hữu đức. Sợ rườm rà, nên chẳng [trích dẫn]
đầy đủ, xem chi tiết trong sách Đại Thừa
Nghĩa Chương[2],
c̣n như tên gọi của ba mươi hai tướng th́
dựa theo Đại Trí Độ Luận để nói. Các sách
khác có thể [nói tướng và hảo] giống hay khác
nhau. Ba mươi hai tướng và tám mươi loại hảo trên
đây đều do thân Ứng Hóa hiện ra. Nếu là Báo
Thân của Phật, sẽ chẳng chỉ có ngần ấy!
Bởi thân ấy có tám vạn bốn ngàn tướng cho
đến vô lượng tướng và hảo. Hai khoa “đại
thiên thế giới” và “ba
mươi hai tướng” này, gộp lại để xem, sẽ
có diệu nghĩa vô cùng. Bởi lẽ, đối với
hai sự ấy, đức Thế Tôn nói “tắc phi”
(chẳng phải), nói “thị
danh” (đó gọi là), hết sức có ư vị
thân thiết. Nếu người nghe pháp có thể thật
sự dốc ḷng thấu hiểu điều này, sẽ có
thể hiểu rỗng rang, thấu tỏ ư chỉ trọng
yếu của Bát Nhă. Khái quát lại, có thể chia làm bốn
tiết để nêu tỏ nghĩa này, tức là:
- Một là dựa theo
chúng sanh để nêu rơ.
- Hai là dựa theo nhân
quả để nói rơ.
- Ba là dựa theo “Không
Hữu đồng thời cùng tồn tại” để
nói rơ.
- Bốn là dựa theo
liễu nghĩa rốt ráo để nói rơ.
1) Thứ nhất, dựa
theo chúng sanh để nói. Nói cách khác, tức là đức
Thế Tôn sở dĩ đối với hai chuyện đại
thiên thế giới và ba mươi hai tướng, đều
nói “thị danh” nhằm thân thiết
chỉ điểm cho bọn chúng sanh. V́ sao nói vậy? Thế
giới chính là cảnh nương gởi của hết thảy
chúng sanh. Nếu chẳng có thế giới, họ sẽ an
thân, lập mạng bằng cách nào? Lại nữa, nếu
Như Lai chẳng hiện Ứng Thân ba mươi hai
tướng, hết thảy chúng sanh sẽ nghe pháp từ
chỗ nào? Sanh khởi ḷng tin từ chỗ nào? Do vậy
bèn nói: Có thể biết là hai chuyện ấy,
xét theo phía chúng sanh, sẽ có mối liên quan khẩn yếu
nhất. Do vậy, nói theo tánh, tuy vốn đều là giả
danh, huyễn hữu duyên sanh, nhưng bảo là “giả
danh” th́ được, chứ nói “chẳng phải” th́ hết
sức chẳng thể được! V́ thế, nói “thị
danh”, nhằm nói rơ tuy là giả danh nhưng hết sức
hiện hữu, cho nên chẳng thể hoại [các tướng
ấy]. Nhưng hăy nên biết: Thế giới rốt cuộc
là trần cảnh. Nếu hết thảy chúng sanh chấp
trước trần tướng ấy, tâm sẽ chẳng
thanh tịnh. Tâm chẳng tịnh, cơi sẽ chẳng tịnh,
há có thể liễu sanh tử, thoát luân hồi ư? Càng cần
phải biết: Ứng Thân của Phật chính là tướng
được hiện bởi Pháp Thân Như Lai, tức là
chứng Pháp Thân rồi
th́ mới có thể hiện Ứng
Thân. V́ sao hiện Ứng Thân? Chẳng hiện tướng
ấy, chúng sanh sẽ chẳng do đâu mà nghe pháp được!
Nhưng Như Lai hiện Ứng Thân để thuyết
pháp, vốn v́ muốn cho chúng sanh sẽ đều chứng
Pháp Thân vốn sẵn có. Nếu chúng sanh chấp trước
tướng Ứng Thân ấy, sẽ chẳng thể kiến
tánh. V́ sao vậy? Do chẳng thể phản chiếu bản
tánh, tuy đích thân đối trước vị Phật có
ba mươi hai tướng ấy,
vẫn chẳng thể thấy Như Lai. Há chẳng phải
rất trái nghịch ư chỉ hiện ba mươi hai
tướng của Phật hay sao? V́ thế, đều nói
là “chẳng phải”, nhằm chỉ rơ: Xét theo tướng
th́ chúng tồn tại, nhưng xét theo tánh, chúng đều
chẳng có; do vậy chớ nên chấp trước. Chỉ
bảo như thế, thân thiết chi bằng?
2)
Thứ hai, dựa theo nhân quả để chỉ rơ. Nói
cách khác, đối với hai chuyện ấy, đức
Thế Tôn lập ra cách nói [như vậy], v́ muốn cho
chúng sanh hiểu rơ nghĩa chân thật của nhân quả.
V́ sao nói như vậy? Đại thiên thế giới phàm
trần này do đâu mà có? Do chúng sanh có cùng nghiệp cảm
vời. Ba mươi hai tướng
thù thắng, mầu nhiệm ấy do đâu mà có? Do đức
Thế Tôn huân tu nhiều kiếp mà thành. Như vậy th́
hai chuyện ấy đều chẳng ra ngoài pháp nhân quả
đă rơ ràng rồi! “Nhân quả” tức là duyên hội
hợp bèn sanh. Do duyên sanh nên là huyễn hữu, do huyễn
hữu nên là giả danh. Nhưng tuy là giả danh, hễ có
nhân, ắt có quả, vĩnh viễn bất hoại. Do vậy
nói “thị danh”. Nói “thị danh” chính là v́ chúng sanh
kinh sợ nhân quả, tuy tánh Không mà tướng Có, chẳng
sai chạy mảy may, chẳng thể trốn thoát! Nếu
biết nhân quả tánh không nhưng tướng có, chẳng
thể trốn thoát, sẽ phải nên tu cái nhân thanh tịnh
thù thắng “vô tướng, vô bất tướng”,
ḥng chứng diệu quả “vô tướng, vô bất
tướng” thù thắng. “Vô tướng, vô bất
tướng” là ǵ? Chính là thấu hiểu pháp sanh bởi
nhân duyên th́ Không chính là Giả, Giả chính là Không, chẳng
chấp vào hai bên, khế hợp Trung Đạo Đệ
Nhất Nghĩa Đế. Cần phải biết: “Vô
tướng, vô bất tướng, Trung Đạo Đệ
Nhất Nghĩa Đế”
chính là Thật Tướng nơi tánh, vốn sẵn là
như thế. V́ vậy, tu tŕ như thế, sẽ chính là
Bát Nhă Ba La Mật. Do tu cái nhân thù thắng, nhất quyết
sẽ đạt được cái quả thù thắng. Do
đó, đối với đại thiên thế giới và
ba mươi hai tướng, đều nói là Phi (chẳng
phải). “Đều nói” là v́ khiến cho chúng sanh chẳng
hoại tướng nhân quả, lại c̣n sẽ hội
quy nơi tánh. Đó là Không và Hữu đều chẳng chấp,
phù hợp Trung Đạo.
3)
Thứ ba là xét theo “Không và Hữu đồng thời tồn
tại” để nói rơ. Tức là nêu rơ đức Thế
Tôn nói như vậy, v́ khiến cho [người nghe] nhờ
nghe pháp này mà hiểu rơ nguyên do Không và Hữu đồng thời
tồn tại. V́ sao nói vậy? Nói một chữ Phi (chẳng
phải) nhằm khiến
cho [thính chúng] đừng chấp Hữu. Nói một
chữ Thị nhằm khiến cho họ đừng chấp
Không. Nhưng nói là Phi hay Thị, hoặc hai đằng cùng
nói, đều nhằm khiến cho họ chẳng chấp
hai bên. V́ sao đều chẳng thể chấp? Do trong là có
tấm thân này, ngoài là thế giới, y báo và chánh báo, không ǵ
chẳng do nhân duyên ḥa hợp mà sanh. Ngay trong lúc duyên hội
hợp mà sanh, nghiễm nhiên hiện ra danh tướng của
y báo và chánh báo, há có nên chấp Không? Ngay trong lúc duyên ly tán, diệt
mất, thân này ở nơi đâu? Thế giới này ở
nơi đâu? Há có nên chấp Hữu! Không chỉ là như
thế, y báo và chánh báo ngay trong lúc duyên sanh, đă là nhân duyên
ḥa hợp, bèn gọi là Sanh. Có thể thấy trừ nhân
duyên ra, chẳng có thật pháp! V́ thế, khi hiện “thị
danh”, tức là lúc chẳng phải Hữu. Do vậy nói:
“Có chẳng phải là có”. Cũng lại trong khi “chẳng
phải có”, chính là lúc hiện Thị Danh. V́ thế
nói: “Chẳng phải có mà có”. Hợp lại để xem,
há chẳng phải Không Hữu đồng thời mà đều
có đủ ư? Đă là đồng thời đều
đủ, cho nên chấp Không hay chấp Hữu đều
sai! V́ thế, nay cùng nói Thị và Phi, tức là khiến cho
người nghe pháp thấu hiểu đối với Không
và Hữu đều cùng tồn tại, đều
chớ nên chấp, c̣n y báo và chánh báo là danh tướng hiển
nhiên, là chuyện mọi người đều cùng thấy.
Đă là “Không Hữu đồng thời cùng tồn tại”,
đối với những thứ khác đều có thể
hiểu rơ ràng. Lại v́ đối với chuyện liên
quan mật thiết nhất với chúng sanh mà đă là “Không
lẫn Hữu đều chẳng thể chấp”, những
thứ khác sẽ đều hiểu rơ. Hai khoa trước
đó, tức
“ĺa tướng danh tự, ngôn thuyết”,
vẫn là chuyên môn trừ khử bên Hữu, c̣n hai khoa
này, hai bên Không và Hữu đều trừ, chính là để
đoạn trừ vọng niệm đến mức tột
bậc!
4)
Thứ tư là xét theo nghĩa rốt ráo để nói rơ. Tức
là nêu rơ đức Thế Tôn nói hai khoa này nhằm khiến
cho chúng sanh triệt để lănh ngộ tánh thể “dứt
bặt ngôn ngữ, tâm hành
xứ diệt”. V́ sao
nói vậy? Y báo và chánh báo đă đều là duyên sanh, có thể
biết chúng chỉ là tướng do nhân duyên tụ hợp.
V́ thế, kinh bảo là “thị danh”. “Thị danh”
là nói rơ nó giả danh mà sanh. Đă là giả danh mà sanh, có thể
thấy là nó thật sự chưa từng sanh. Do vậy,
kinh nói là Phi. Nói là Phi,
nhằm chỉ rơ nó vốn sẵn
vô sanh. Đă chẳng có ǵ gọi là Sanh th́
cũng chẳng có ǵ gọi
là Diệt!
Như thế th́ các pháp vốn bất sanh bất diệt,
nhưng phàm phu chẳng biết, mê muội tưởng “thật
sự có sanh diệt”, thuận theo đó,
vọng niệm tưng bừng dấy lên! Do đó, đức
Thế Tôn gọi họ là “kẻ đáng thương
xót!”
Cần
phải biết: Thân, tâm, thế giới vốn chẳng
sanh diệt, nhưng thấy có tướng sanh diệt,
đặt bày danh xưng “sanh diệt”, chẳng có chi
khác, quả thật là v́ phàm phu si mê đáng thương!
Đó là tướng hư huyễn do vọng niệm biến
hiện, do vọng niệm mà cưỡng lập danh từ
và ngôn thuyết. Kinh nói “thị danh” là như thế
đó. Đó là liễu nghĩa rốt ráo của “thị danh”
vậy. Do đó, nếu ĺa niệm th́ danh tự và ngôn thuyết
của “thân, tâm, thế giới” c̣n chẳng tồn tại,
há có sanh diệt để có thể nói nữa ư? Như
thế th́ sẽ diệt hết thảy các tướng
để nhập cái Thể
chân thật vậy! V́ sao vậy? Chân Như tánh thể từ
trước đến nay b́nh đẳng Như Như,
chẳng có, chẳng không, chẳng phải “cũng có,
cũng không”, chẳng phải “chẳng Có, chẳng Không”,
cho đến chẳng phải là hết
thảy các pháp, chẳng phải là không có hết thảy
các pháp. Nói chung, hễ khởi niệm liền sai, và cái sai
do khởi niệm cũng sai luôn.
Đó gọi là “ĺa tứ cú, tuyệt bách phi”. Kinh nói “tắc
phi” là như thế đó. Đấy chính liễu
nghĩa rốt ráo của Tắc Phi.
Đối
với liễu nghĩa
rốt ráo ấy, phàm những chỗ nói “tắc phi, thị
danh” trong phần trước đều có nghĩa ấy,
nhưng trước đó đều chẳng nói, tới
đây mới nói là có thâm ư. Kinh văn trong phần
sau nói “thâm giải nghĩa thú” (hiểu sâu nghĩa
thú), có thể biết kinh văn đến đây sẽ giảng
rơ nghĩa sâu, cho nên trong phần trước tạm hoăn lại.
Đó gọi là “từ cạn đến sâu, dẫn
người tiến nhập chỗ thù thắng”. Lại
nữa, nghĩa này nói theo thân, tâm, và thế giới sẽ
thuận tiện nhất. Hơn nữa, nghĩa lư của
kinh trong phần “xin chỉ dạy tên kinh để thọ
tŕ” chính là nhằm nêu rơ “đoạn niệm để
chứng tánh”. Muốn đoạn niệm để chứng
tánh, chẳng phụng tŕ liễu nghĩa rốt ráo, th́ sẽ
chẳng thể! Do vậy nói: Kinh văn tới chỗ này
sẽ nêu rơ nghĩa sâu. Biết điều này, sẽ biết
nghĩa chỉ nên được nêu tỏ ở chỗ
này. Đưa ra trước th́ ngại quá sớm, để
ra sau th́ lại ngại trễ tràng! Giảng kinh, thuyết
pháp, hăy nên sao cho văn và nghĩa chẳng lầm lạc, bởi
nghĩa có cạn, sâu, văn có thứ tự. Nếu lúc nên
nói mà chẳng nói, hoặc lúc chẳng nên nói mà cứ nói, sẽ
gọi là “đối với văn từ có sai lầm”.
Dẫu cho nghĩa chẳng sai lầm, vẫn là nói hư vọng,
cũng mắc tội lỗi! Nghĩa này, phàm ai có ư nguyện
hoằng pháp chớ nên không biết!
Lại
nữa, như trong phần trên đă nói “tắc phi”
th́ chỉ là nói “tắc phi”, nói “thị danh” th́ chỉ
là “thị danh”, nhưng ư nghĩa trong tầng thứ
tư chẳng phải vậy. Khi nói “thị danh”, đă
bao gồm ư “tắc phi” trong ấy; khi nói “tắc phi” cũng bao gồm
ư “thị danh” trong ấy. Đó cũng là liễu
nghĩa rốt ráo, há có phải chỉ
“trừ khử tướng, đàm luận
tánh” là liễu
nghĩa rốt ráo mà thôi! Cần phải biết: Chỉ
ngăn mà chẳng chiếu, chỉ diệt mất mà chẳng
tồn tại, những điều được nói sẽ
chẳng phải là liễu nghĩa rốt ráo. Trong ngăn
che bèn có chiếu, trong diệt mất mà có tồn tại, th́ mới
là liễu nghĩa rốt ráo. Bởi lẽ, chẳng
ngăn, chẳng diệt, sẽ chẳng thể kiến
tánh, nhưng ngây ngốc che, diệt, sao lại có thể kiến
tánh? Nghe liễu nghĩa
rốt ráo này, hăy nên dốc ḷng thấu hiểu. Sai bằng
hào ly, lầm cả ngàn dặm! Hết sức trọng yếu
đấy nhé!
Lại gộp chung hai khoa “chẳng hoại
giả danh” này với hai khoa “hội quy tánh thể”
trước đó để xem, th́ cũng có ư nghĩa trọng
yếu phải gấp rút nêu rơ. Cần phải biết: Phần
trước dựa theo danh tự và ngôn thuyết của
Bát Nhă để dạy xa ĺa, rồi lại dựa theo
đại thiên thế giới và ba mươi hai tướng
để dạy đừng chấp trước chúng, chứ
chẳng có ǵ khác, v́ tánh thể dứt bặt đối
đăi. Hễ rơi vào danh tự và ngôn ngữ, sẽ có
năng danh (chủ thể có thể đặt tên) và sở
danh (đối tượng bị đặt tên), có
năng ngôn (cái có thể nói năng) và sở ngôn (cái bị
nói năng, bị diễn tả). Đă có Năng và Sở,
nghiễm nhiên trở thành đối đăi. Có chút tướng
đối đăi, sẽ chẳng phải là cái Thể tuyệt
đối. Đức Phật nói Bát Nhă nhằm dạy kiến
tánh. Do Bát Nhă Ba La Mật vốn do chánh trí Chân Như lư thể
sanh ra. V́ thế, dựa theo đó mà dạy ĺa danh tự và
ngôn thuyết, ḥng giảng rơ ư nghĩa “để chứng
tánh, ắt phải nên trừ tướng”. Lại do cái
Thể ấy dứt bặt đối đăi, cho nên nó có
thể dung nhiếp hết thảy các pháp thế gian và xuất
thế gian. Như Khởi Tín Luận nói: “Do Như Lai Tạng
trọn đủ vô lượng tánh công đức (câu
này là nói Tướng đại), có thể sanh ra hết
thảy các nhân quả thế gian và xuất thế gian
(câu này nói về Dụng đại)”. Có thể thấy là
Tướng và Dụng đều chẳng thể ĺa Thể.
Tức là do cái Thể đại mà hàm nhiếp Tướng
và Dụng cũng to lớn. Nhưng hai khoa “chẳng hoại
giả danh” này nói tới đại thiên thế giới
và ba mươi hai tướng chính là để nêu rơ
“tướng đại”, v́ chúng đều do tánh thể hiển
hiện. Đó gọi là “vô lượng tánh công đức”.
Lại nữa, đại
thiên thế giới là do đồng
nghiệp của chúng sanh cảm vời, tức là nhân quả
thuộc pháp thế
gian. Ba mươi hai tướng là do Phật huân tu nhiều
kiếp mà thành, tức là nhân quả thuộc pháp xuất
thế. Có thể thấy hai thứ ấy lại nói kèm Dụng
đại.
Hơn nữa, nêu ra
đại thiên thế giới để nói, sẽ nhiếp
trọn hết thảy nhân quả thuộc pháp
thế gian. Nêu ra ba mươi hai tướng của Phật
để nói, lại nhiếp trọn nhân quả của hết
thảy các pháp xuất
thế. Lại nữa, nói “thế giới” bèn nhiếp
trọn hết thảy các tướng rộng lớn. Nói “vi trần” bèn nhiếp
trọn hết thảy các tướng vi tế. Như vậy
th́ có thể biết nói “chẳng
chấp trước” ở
đây chính là [nói rơ] “hết thảy đều
chớ nên chấp trước”.
Cũng có thể biết “bất hoại” được
nói ở chỗ này chính là “hết thảy đều chớ
nên hoại”. V́ sao đều chớ nên chấp? Do Tướng
và Dụng đều nên dung nhập tánh thể. V́ sao đều
chớ nên hoại? Do Thể ắt trọn đủ
Tướng và Dụng!
Hơn
nữa, do trước đó đă nói “hội quy tánh thể”,
sau đó nói “chẳng hoại giả danh” để theo
thứ tự mà quán, rơ ràng nhằm khai thị học nhân:
Thoạt đầu, hăy nên dùng công phu “trừ sạch” để
trừ bỏ sự nhuốm bẩn từ lâu, khiến cho
cái tâm dần dần được thanh tịnh th́ mới
có hy vọng kiến tánh. Lại c̣n có thể biết: Ngay cả tướng danh tự và ngôn thuyết vẫn cần phải trừ sạch
để trong tâm chẳng thể có
mảy may tướng nào. V́ sao vậy? Tánh vốn chẳng
phải là tướng, nhưng chỉ dùng công phu này để
ngăn ngừa đọa vào Thiên Không. V́ thế, càng nên viên dung. “Viên dung” là
tánh tướng viên dung, vô ngại tự tại. Do vậy,
kế đó nói “chẳng hoại giả danh”; bởi
đó, nêu tỏ ư nghĩa “viên dung vô ngại”. Đó gọi
là muốn nói “thị danh” th́ trước đó bèn nói “tắc
phi”, nhằm chỉ rơ huyễn hữu chẳng ĺa Chân
Không, tướng chẳng phải là tánh mà chẳng dung
thông. V́ thế, tuy chẳng hoại tướng, mà cũng
chẳng thể chấp tướng; sau đấy mới có thể viên
dung mà vô ngại. “Vô ngại” là tướng chẳng chướng ngại tánh.
Đă nói “tắc phi”, lại nói “thị danh” nhằm
chỉ rơ Chân Không chẳng trở ngại huyễn hữu,
tánh chẳng phải tướng
mà chẳng phô bày. Do vậy, tuy chẳng chấp tướng,
cũng chớ nên hoại tướng, sau đấy mới
là vô ngại mà viên dung. “Viên
dung” là tánh chẳng cự tuyệt tướng.
Nghĩa như thế chính là nghĩa tinh vi nhất, trọng
yếu nhất trong cả bốn khoa này! Tông chỉ của
Bát Nhă Ba La Mật được triệt để tuyên
nói, hiển lộ vậy. Đó chính là nguyên do v́ sao phụng
tŕ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật.
Nếu
chưa hiểu rơ điều này, sẽ đối với
ư nghĩa trong kinh, tuy chẳng phải là không nói được
một hai điều, nhưng [những điều được nói ấy] trọn chẳng phải là những điều khẩn yếu, tức tuy gọi là “giải”, nhưng chẳng phải
là “chân giải”. Đă chưa phải là chân giải, phụng
tŕ bằng cách nào đây? Tức tuy nói là Hành, thật ra là
hành mù quáng đó thôi! Như thế th́ tuy siêng khổ học
Phật, ắt chẳng thể đạt được
thọ dụng to lớn! Thậm chí đâm quàng lối rẽ
mà chẳng tự biết. Tương phản với
điều ấy, sẽ là ngày đi ngàn dặm, thọ dụng
vô tận! Bát Nhă là nghĩa căn bản trong Phật pháp,
mà cũng là liễu nghĩa rốt ráo. Nếu học Phật
mà chưa hiểu rơ nghĩa căn bản và liễu
nghĩa rốt ráo này, rốt cuộc là t́m cầu nơi
cành lá! Đă chưa thấy đạo, sao có thể nói
là tu đạo? Do vậy, chẳng thể đạt
được thọ
dụng! Cái thuyết gọi là “tam giáo đồng nguyên” trước nay không ǵ chẳng phải là dựa dẫm,
níu kéo nơi cành lá của Phật pháp! Nếu xét theo
nghĩa căn bản rốt ráo, [các thuyết dựa dẫm,
vay mượn ấy] sẽ chẳng thể nào so sánh,
nghĩ tưởng được! Hăy nên biết: Sở dĩ Phật pháp siêu việt thù thắng hết
thảy là do chỗ này! Nếu học
Phật mà chẳng hiểu rơ nghĩa này, sẽ trọn ở
ngoài cửa. V́ thế, trong phần trước [chánh kinh]
có nói: “Nhất thiết chư Phật, cập chư Phật
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai
tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật
và pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của
chư Phật đều từ kinh này mà ra). Đó chính là
khai thị rơ ràng: Phật pháp phải nên từ môn này mà vào!
Nho
gia (Tống Nho) thường trộm lấy ư nghĩa trong
Phật pháp để đàm luận Nho giáo, mà lại hủy
báng Phật pháp, đúng là tội lỗi! Nhưng những điều họ trộm
cắt xén, chỉ là hiểu biết nửa vời, không chỉ
chẳng phải là liễu nghĩa, mà c̣n chẳng phải
là nghĩa trọn vẹn. Do vậy mà họ sanh tâm báng bổ,
há có được chăng? Đường lối mà họ
trộm cắt xén ấy, không ǵ chẳng từ ngữ lục
của Thiền gia. Thiền gia tu tŕ, tuy đề cao Bát
Nhă, nhưng do chẳng lập văn tự, nên chẳng
căn cứ theo giáo nghĩa để phát huy, những
điều họ nói lại một mực cao siêu, hồn
hậu, dễ bị người khác dựa dẫm, trộm
cắt xén là v́ lẽ ấy. Nhưng liễu nghĩa
căn bản rốt ráo chẳng đến nỗi bị
kẻ khác nắm níu, nhiễu loạn,
cũng may là nhờ vào lẽ ấy. V́ sao? Nho gia khắc kỷ[3]
tu thân, tuân theo quy củ, há chẳng phải là quân tử
ư? Nhưng tầm mắt họ nông cạn, tâm lượng
hẹp ḥi, đại đa số đều có chút sở
đắc liền vênh váo tự
đắc, biết một mà chẳng biết hai. Do vậy,
từ đời Hán đến nay, họ luôn
xưng là “tôn sùng Khổng Tử”, trừ cái học huấn
hỗ[4]
của Hán Nho ra là c̣n có ích cho sách Nho, những thứ khác hoặc
là chèo kéo
những lời lẽ sấm vĩ[5],
hoặc vấn vít thuyết Hoàng Lăo[6],
hoặc trộm cắt xén những đầu mối gần
với sách Nho từ nhà Thiền, gán ghép để trang
hoàng, chứ thật ra đối với chân nghĩa của
Nho gia, hoàn toàn chẳng mộng thấy! Lại c̣n môn hộ
đấu đá quá mức ầm ĩ trong cơi trần. Những
kẻ ngă kiến quá sâu như thế, tuy nghe liễu
nghĩa căn bản rốt ráo của Phật pháp,
cũng có thể đoan chắc là họ chẳng thể
lănh ngộ, thấu hiểu! Hăy xem bọn Tŕnh, Châu đều
thân cận các bực đại đức trong Thiền
Tông nhiều năm, nhưng sở đắc bất quá là
như thế, lại ngược ngạo vung giáo đâm
ngược [Phật môn], cũng đủ chứng tỏ
lời tôi nói chẳng sai! Như thế th́ bọn họ nếu
nghe giáo pháp thuộc liễu nghĩa rốt ráo, dẫu chẳng
đến nỗi vung giáo đâm ngược, ắt
cũng giống như đàm luận
Nho lư, cứ kéo cành dẫn lá, [các luận thuyết của
họ] tợ hồ là đúng mà sai be bét, đâm ra khiến
cho chánh nghĩa do vậy mà chẳng được phô tỏ
đó thôi! Đấy lại là điều may mắn to lớn
trong các nỗi bất hạnh vậy!
Lại
nữa, bốn khoa này c̣n có một nghĩa trọng yếu cũng chẳng thể không nói rơ.
Nghĩa ấy là như thế nào? Chính là dùng khoa đầu
tiên làm chủ, ba khoa kia nhằm giải thích nguyên do. V́ sao
khoa đầu tiên là chủ? Chính là Bát Nhă Ba La Mật chẳng
phải là Bát Nhă Ba La Mật. Hăy nên biết Bát Nhă chính là cái
trí mà ai nấy đều sẵn có, tức là cái tâm thanh tịnh.
Tâm thanh tịnh ấy chẳng có nơi chốn để
trụ, khi vận dụng th́ không vết tích, vốn chẳng
nắm bắt được, lấy chẳng được!
Đó gọi là “tâm nguyệt cô viên, quang thôn vạn
tượng” (vầng trăng
nơi tâm riêng một ḿnh tṛn trịa, ánh sáng che lấp muôn
h́nh tượng). V́ sao vậy? Do nó thanh tịnh, dứt bặt
đối đăi. Kinh Viên Giác chẳng nói đó sao: “Hữu
chiếu, hữu giác, câu danh chướng ngại” (có chiếu,
có giác, đều gọi là chướng ngại). Đức
Phật nói Bát Nhă vốn nhằm dạy mọi người
nương theo văn tự để khởi quán chiếu, ḥng chứng
Thật Tướng; nhưng sợ mọi người vẫn
giữ cái trí giác chiếu, kẻ thấp thỏi thậm
chí hướng theo danh từ, ngôn thuyết để t́m
ṭi Bát Nhă. V́ vậy, đặc biệt khi nói rơ lư do phụng
tŕ, chẳng ngại tự nói rồi tự phủ định,
mà bảo “Bát Nhă chẳng phải là Bát Nhă”. Nói như
thế ḥng khiến cho người phụng tŕ trong tâm chẳng
lưu lại một chữ nào, chẳng thể dính một mảy
tướng dấu tích nào, đúng là thủ đoạn “dao
bén chặt phăng gai rối”. Đấy chính là Kim Cang
Bát Nhă khác biệt vời vợi so với Tương Tự
Bát Nhă (chẳng thấy lư Bát Nhă triệt để th́ trong
kinh luận gọi là Tương Tự Bát Nhă, hàm ư “tợ
hồ là đúng, nhưng trật lất”). Hết
thảy các hành nhân hăy nên phụng tŕ như thế!
Trong
phần trước có nói “dĩ thị danh tự”
(dùng danh tự ấy), tức là nên dùng danh tự Kim Cang. V́
vậy, tŕ Kim Cang Bát Nhă để phá Hoặc, không Hoặc
nào chẳng tận. Tŕ nó để chiếu lư, không lư nào chẳng
hiển lộ. V́ thế, có thể chính là hết thảy
các pháp, ĺa hết thảy các tướng, liền có thể
lại ĺa hết thảy các tướng, hành hết thảy
các pháp. Nếu thật sự có thể phụng tŕ như
thế th́ mới là pháp xuất thế, rốt ráo đạt
đến bờ mé từ gốc đến ngọn, nói là
Ba La Mật chính v́ lẽ này! Đấy chính là ư nghĩa
chân thật khi đức Phật nói “Bát Nhă chẳng phải
là Bát Nhă”. Lại sợ người học chẳng thể
thông đạt, nên lại nói ba khoa sau đó để làm
sáng tỏ nghĩa này, khiến cho họ hiểu rơ rỗng
rang vậy!
Khoa “[Như Lai] hữu
sở thuyết pháp phủ” ([Như Lai] có pháp để
nói hay không) chính là để nêu rơ: Bát Nhă vô ngôn, vô thuyết.
Trước đó nói “Bát Nhă chẳng phải là Bát Nhă”
nhằm tỏ rơ: Chẳng thể dùng ngôn thuyết để
diễn tả được! V́ thế, dùng “hữu sở
thuyết pháp phủ” để thăm ḍ kiến địa
[của hành nhân]. [Ngài Tu Bồ Đề] đáp là “vô sở
thuyết” (chẳng có ǵ được nói) chính là đối
ứng khít khao với lời hỏi. Nếu biết là tuy
suốt ngày nói, hăm hở nói, nhưng thật ra là vô
ngôn, vô thuyết, sẽ chẳng t́m cầu nơi ngôn thuyết.
Phụng tŕ như thế th́ chính là Bát Nhă Ba La Mật.
Khoa “tam thiên đại
thiên thế giới” nhằm nói cảnh và trí Bát Nhă
như một. “Bát Nhă chẳng phải là Bát Nhă” nhằm
chỉ rơ ư nghĩa “chẳng phải là thật sự có một
pháp Bát Nhă, nhưng pháp nào cũng đều là Bát Nhă”, ḥng
nêu rơ “các pháp giống hệt như nhau”. Sợ [người
học] chưa thể hiểu, bèn mượn vi trần và
thế giới để thốt ra lời gạn hỏi.
[Ngài Tu Bồ Đề ] đáp là “rất nhiều” chính là
dựa theo tướng để nói về tướng.
C̣n Như Lai nói giả danh là “chẳng phải” hay “chính là”,
chính là từ ngay nơi tướng mà vô tướng. Nếu
ngộ cái nhỏ như vi trần, cái to như thế giới,
đều là duyên sanh, vô tánh, bản thể của chúng chẳng
thật, đều là giả danh, vậy th́ mỗi vi trần,
mỗi cơi nước, không ǵ chẳng phải là Bát Nhă!
Đó gọi là “tọa vi trần lư, chuyển đại
pháp luân; ư nhất hào đoan, kiến bảo
vương sát” (ngồi trong vi trần chuyển đại
pháp luân; nơi đầu một sợi lông, kiến lập
cơi bảo vương), hoặc “trọn mười
phương thế gian là quang minh của chính ḿnh”. Lại
nói “sơn hà cập đại địa, toàn lộ Pháp
Vương thân” (núi sông và đại địa hoàn toàn
hiển lộ thân của đấng Pháp Vương),
đều là ư nghĩa “cảnh và trí như một”. Cảnh
và trí như một, tức là chẳng có Năng, chẳng
có Sở, thanh tịnh, dứt bặt đối đăi! Tŕ
như thế chính là Bát Nhă Ba La Mật.
Khoa “ba mươi hai
tướng” nhằm nói rơ Bát Nhă vô trí, vô đắc. “Bát
Nhă chẳng phải là Bát Nhă” nhằm hiển lộ chánh
trí Bát Nhă. Giác tánh viên minh chẳng có năng giác (chủ thể
có thể giác), chẳng có sở giác (pháp được
giác), nhưng phàm phu nói: “Nếu chẳng có cái trí có thể
chứng và cái quả để có thể chứng, v́ sao hiện
ra ba mươi hai tướng?” Do đó, [đức Phật]
dùng “đắc kiến Như Lai phủ” (được
thấy Như Lai hay chăng) để hỏi. [Tu Bồ
Đề] đáp rằng “không”, chính là chỉ đích xác
Pháp Thân vô vi, vốn chẳng phải là sắc tướng.
Nhưng do Như Lai vô trí, vô đắc, cho nên đại bi
tùy duyên, hiện khởi vô biên tướng hảo, hoặc
ba mươi hai tướng, cho đến tùy loại hiện
thân trong lục đạo, có thể biết: Đủ loại
tướng hảo, bất quá là tùy duyên mà hiện khởi
đó thôi! Đă là pháp môn duyên khởi, cho nên tướng
chính là chẳng phải tướng, do là giả danh nên nói “tắc
phi”, nói là “thị danh” vậy! Nếu hiểu “chẳng phải
tướng, thị danh”,
sẽ có thể thấy Như Lai ở bất cứ
nơi đâu, tức là có thể do ba mươi hai tướng
mà thấy Như Lai. Nếu chẳng phải vậy, cứ
chấp trước ba mươi hai tướng, sẽ trọn
chẳng được thấy Như Lai! Phụng tŕ Bát
Nhă là như thế đó!
Nói chung, pháp môn Bát Nhă vốn
do Như Lai nói, nay dạy rằng “c̣n chẳng có ǵ để
nói”, huống hồ pháp Bát Nhă. “Chớ nên chấp
trước” chẳng cần phải đợi nói nữa!
Trừ pháp chấp ấy, do trong tâm thanh tịnh, chẳng
thể có tướng cảnh giới. Do vậy, lại dạy
“vi trần chẳng phải là vi trần,
thế giới chẳng phải là thế giới”
khiến cho [hành nhân] biết mọi pháp, mọi sự,
không ǵ chẳng phải là Bát Nhă, há riêng có cảnh giới ư!
Nhưng người ta chẳng
quên cảnh Bát Nhă, do [chấp rằng]
Phật đă chứng điều ấy. Do vậy, lại
dạy “chẳng dùng tướng để thấy
Như Lai”. Nếu biết ba mươi hai tướng
chẳng phải là tướng, mà là giả danh, sẽ có
thể thấy “các tướng chẳng phải là
tướng”. Nếu thấy “các
tướng chẳng phải là tướng”,
sẽ thấy Như Lai. Biết điều này, sẽ có
thể thấu hiểu ư chỉ “Bát Nhă chẳng phải
là Bát Nhă”. Như vậy th́ “phụng tŕ như thế
nào” cũng có thể hiểu rơ. Bởi lẽ, nói chung là
khai thị: Dùng “từ ngay nơi tướng mà ĺa tướng”
để phụng tŕ đó thôi!
Nếu
chiếu theo nghĩa thú này để chia thành từng
khoa, th́ ba khoa thứ hai, thứ ba, và thứ tư phải
nên phụ thuộc khoa thứ
nhất. Nay chẳng xếp như thế mà xếp chúng
ngang hàng, v́ chia khoa ngang hàng th́ chẳng chấp hai bên Không và
Hữu, và các nghĩa như “trừ sạch, viên dung”
sẽ được phô bày rơ rệt, dễ lănh hội.
Nhưng lấy nghĩa lư của khoa “Bát Nhă chẳng
phải là Bát Nhă” làm chủ, th́ kinh đă có nói, cũng chẳng
thể bỏ sót, cho nên nói bổ túc.
Ngoài
ra, c̣n có một nghĩa riêng, cũng rất khẩn yếu,
chớ nên không biết. Nay trong khoa “xin chỉ dạy tên
kinh để thọ tŕ”, do đă chế phục Hoặc
mà đạt tới đoạn Hoặc. Nhưng hăy nên biết:
Hoặc có thô và tế, ở đây là đoạn phân biệt
thô Hoặc. V́ thế, nửa bộ đầu được
phán định chung rằng “xét theo cảnh để nói vô trụ”, c̣n
cái bị đoạn trừ trong nửa bộ sau chính là
Câu Sanh Tế Hoặc. Do vậy, phán định chung rằng:
“Xét theo tâm để nói vô trụ”.
Hỏi:
Ở đây đă nói “ĺa
niệm”,
há chẳng phải là xét theo tâm để nói hay sao?
Đáp:
Ở đây có hai nghĩa, trước sau khác
nhau:
1) Tuy đă xét theo tâm
để nói, nhưng vẫn
thuộc về
phương diện diễn nói lư (tức là nói vẫn thuộc
về sự khai giải). Sau khi đă nhập, mới là
nói về tu. Tôi sẽ nêu rơ ư nghĩa trong phần tu
để bổ túc những điều chưa đề
cập ở đây. Đó là chỗ khác biệt giữa phần
trước và phần sau.
2) Ở đây, trước
hết là ĺa thô niệm, tức là ư niệm dấy tâm
phân biệt. Sau khi đă nhập, bèn ĺa tế niệm, tức
ư niệm chẳng đợi phân biệt, vốn sanh cùng với
cái tâm. Đấy lại là chỗ khác nhau giữa phần
trước và phần sau.
Trên đây phần nói cặn
kẽ nguyên do đă xong.
2.2.2.2.2.1.2.3.2.3.
Kết lại để nêu rơ phước do thọ tŕ
2.2.2.2.2.1.2.3.2.3.1.
Xét theo thân mạng để so sánh sự bố thí
(Kinh)
Tu Bồ Đề ! Nhược hữu thiện nam tử,
thiện nữ nhân, dĩ Hằng hà sa đẳng thân mạng
bố thí.
(經)須菩提!若有善男子、善女人,以恆河沙等身命布施。
(Kinh:
Tu Bồ Đề ! Nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhân dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng
để bố thí).
Thí
vật báu vẫn là ngoại
tài, nay dùng thân mạng để thí, kinh Phật gọi
đó là nội tài, quư trọng vượt xa ngoại tài.
Chúng sanh yêu mến tấm thân nhất, quư trọng mạng
nhất. “Thân” là nói tứ chi v.v… vẫn chưa tổn
hại tới mạng, đă là khó thể thực hiện,
huống hồ v́ chúng sanh mà xả mạng ư! Lại c̣n
không chỉ là một thân mạng, mà là nhiều như số
cát sông Hằng! Một đời người chỉ có một
thân mạng; nay nói “dùng
thân mạng nhiều như cát sông Hằng để bố
thí”,
có thể biết là đời đời kiếp kiếp
thường dùng thân mạng để bố thí, khó thực
hiện cỡ nào! Phước đức ấy cũng nhiều
cỡ nào! Nhưng do chưa quên tướng bố
thí, vẫn thuộc về
hữu lậu. Người sát thân thành nhân[7]
như thế là do trước đó chưa nghe chuyện
thành Phật.
2.2.2.2.2.1.2.3.2.3.2.
Nói rơ phước thọ tŕ rất nhiều
(Kinh)
Nhược phục hữu nhân, ư thử kinh trung, năi
chí thọ tŕ tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết,
kỳ phước thậm đa.
(經)若復有人,於此經中,乃至受持四句偈等,為他人說,其福甚多。
(Kinh:
Nếu lại có người từ trong kinh này, thậm chí
thọ tŕ bốn câu kệ v.v… v́ người khác mà nói,
phước ấy rất nhiều).
Thọ
tŕ bốn câu kệ v.v… hơn hẳn bố thí thân mạng
nhiều như cát sông Hằng; đấy là do lẽ nào vậy? Hai lần
trước đều dùng bố thí vật báu để
so sánh sự thù thắng, nay th́ dùng bố thí thân mạng
để so sánh sự thù thắng, lại nói như thế nào? Hăy nên biết:
Lần đầu tiên hiển lộ sự thù thắng, là
v́ vừa mới sanh tín tâm thanh tịnh, chỉ dùng phước
đức do bố thí vật báu đầy ắp một
đại thiên thế giới để so sánh nhằm hiển
thị sự thù thắng. Lần thứ hai hiển lộ
sự thù thắng, do giải huệ tăng trưởng,
không chỉ biết cảnh là hư huyễn, mà c̣n biết
trong tâm vốn chẳng có trần cảnh. V́ vậy, dùng
phước đức do bố thí vật báu trong vô lượng
vô biên đại thiên thế giới để so sánh nhằm
hiển lộ sự thù thắng ấy. Đến đây,
do hiểu nghĩa càng sâu, đă khai trí Kim Cang rồi. Trí ấy
đă khai, liền biết đoạn vọng niệm, xả
căn cội sanh tử,
công hạnh ấy càng tiến sâu vào trong hơn so
với trước đó. V́ vậy, chẳng dùng ngoại
tài để so sánh ḥng hiển lộ, mà dùng nội tài
để so sánh hiển lộ. Do thọ tŕ, diễn nói bốn
câu kệ v.v… mà nếu có thể khai trí Kim Cang, tuân phụng
Kim Cang Bát Nhă để tu tŕ, sẽ có thể đoạn niệm.
Hễ đoạn niệm, liền xả cội gốc
sanh tử, siêu phàm nhập thánh, so với kẻ chỉ có
thể nhiều đời nhiều kiếp xả thân mạng,
nhưng chẳng xả cội gốc sanh tử, th́ sự
cách biệt ấy há có thể tính toán được ư?
Do đó, phước đức do thọ tŕ, diễn nói bốn
câu kệ của kinh này nhiều hơn phước
đức do bố thí thân mạng nhiều
như cát sông Hằng, do người ấy đă khai Kim
Cang trí, có thể mong siêu phàm nhập thánh. Kẻ chẳng thọ
tŕ, diễn nói kinh này, trí Kim Cang sẽ không do đâu mà mở
mang được, vẫn là phàm phu chẳng thể thoát khỏi sanh
tử luân hồi khổ năo!
2.2.2.2.2.1.2.4.
Thành tựu giải huệ
Chia
thành hai phần:
1)
Bậc
đương cơ tán thán, khuyên lơn.
2)
Như
Lai ấn chứng, xiển dương.
2.2.2.2.2.1.2.4.1.
Bậc đương cơ tán thán, khuyên lơn
2.2.2.2.2.1.2.4.1.1.
Nêu bày sự lănh ngộ, thấu hiểu
(Kinh)
Nhĩ thời, Tu Bồ Đề văn thuyết thị
kinh, thâm giải nghĩa thú, thế lệ bi khấp, nhi bạch
Phật ngôn:
(經)爾時,須菩提聞說是經,深解義趣,涕淚悲泣,而白佛言:
(Kinh:
Lúc bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề nghe nói kinh này,
hiểu nghĩa thú sâu xa, ứa lệ buồn khóc, mà bạch
Phật rằng).
Từ
khởi đầu kinh cho đến chỗ này, tất cả
sự lư “chế phục, đoạn trừ phân biệt, ngă
chấp và pháp chấp” từ cạn đến sâu,
được phát khởi, xiển dương từng tầng
một hết sức tường tận, hết sức
rơ rệt. V́ thế, kế tiếp là khoa này trần thuật
sự thấu hiểu sâu xa. Bậc đương cơ tự
trần thuật như thế, không ǵ chẳng v́ mong đại
chúng đều được như vậy. Do đó,
đă tán thán, lại c̣n khuyên lơn. V́ sao vậy? Phật
và trưởng lăo chẳng ngại rát miệng, xiển
minh đi, xiển minh lại ư chỉ “vô trụ”, vốn
là v́ mong người nghe sẽ đại khai viên giải.
Bởi lẽ, ư chỉ của kinh là Trung Đạo Đệ
Nhất Nghĩa rất sâu vi diệu. Nếu chẳng thông
đạt sự sâu xa, vi diệu ấy, tức là kiến
địa chưa trọn vẹn, há có thể chẳng chấp
vào hai bên, khế hợp Trung Đạo ư? Kinh nói “thâm
giải nghĩa thú” chính là nói kiến địa đă
viên, chẳng giống kẻ hướng theo Thiên Không.
Đó là lư do v́ sao [ngài Tu Bồ Đề] tự trần
thuật “chẳng phải do huệ nhăn mà được nghe”,
cho tới ứa lệ buồn khóc. Ở đây, tuy nói là “hiểu
nghĩa”, nhưng thật ra đă gồm thâu cả hạnh.
Bởi lẽ giải và hạnh chưa hề tách rời,
cho nên nói là “giải và hạnh cùng tiến”. Cùng tiến
th́ ắt phải do hành được th́ mới có thể
thấu hiểu; ắt phải hiểu trọn
vẹn th́ sau đó mới hành trọn vẹn.
Hăy
nên biết: Tu hành chẳng ngoài Tam Huệ Văn, Tư, Tu.
Như ở đây, “văn thuyết thị kinh” (nghe
nói kinh này) chính là Văn Huệ (v́ sao sự nghe ấy là
Văn Huệ, trong phần sau sẽ nói), “thâm giải”
là Tư Huệ. V́ sao vậy? Nếu chẳng tư duy tu
Quán, sẽ chẳng thể thâm giải (thấu hiểu sâu
xa). V́ thế, hễ nói đến giải, liền
bao gồm hạnh. Không chỉ là như thế, nói “thâm
giải nghĩa thú” th́ là nghĩa thú như thế nào?
Chính là lănh hội sâu xa những điều được
nói trong phần kinh văn trước đó, tức là hăy
nên sanh tín như thế nào? Nên phụng tŕ như thế
nào? Nguyên do là như thế đó. Như vậy th́ nói đến
một chữ Giải, sẽ chẳng chỉ gồm thâu Hạnh,
mà c̣n thâu nhiếp Tín. Hơn nữa, phần sau c̣n nói: “Tín
tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng” (Tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật
Tướng).
Sanh Thật Tướng chính là chứng tánh. Sau đó lại
nói: “Đắc văn thị kinh, tín giải thọ tŕ,
tắc vi đệ nhất hy hữu” (được
nghe kinh này, tin hiểu, thọ tŕ, tức là hiếm có bậc
nhất) cho đến “hà dĩ cố? Ly nhất thiết
chư tướng, tắc danh chư Phật” (v́ sao vậy?
Ĺa hết thảy các tướng th́ gọi là chư Phật).
Gọi là “chư Phật”, cho thấy đă chứng
tánh. Như vậy th́ hễ nói đến “thâm giải”,
không chỉ là bao gồm
cả tín và tu, mà chứng cũng được gồm
thâu trong ấy! Hơn nữa, ư nghĩa “tín tâm thanh tịnh
sẽ sanh Thật Tướng” lại là nói: Hễ Thật
Tướng đă sanh th́ tín tâm sẽ thanh tịnh. Nh́n vào
điều này, “tín, giải, hạnh, chứng” đă
được đề cập trước đó, tuy nói
thành bốn chuyện, nhưng thật ra là một mà thành bốn,
tuy bốn mà là một. Lư ấy
càng có thể chứng minh vậy!
Đoạn
kinh văn thành tựu giải huệ này chính là chỗ quy kết
của phần kinh văn từ lúc bắt đầu kinh
cho tới nay. V́ sao vậy? Trên đây, thầy và tṛ đủ
mọi cách vấn đáp, rát miệng, buốt ḷng, nhằm
nêu tỏ nghĩa thú rất sâu, nhằm mục đích nào?
Không ǵ chẳng là mong cho người nghe pháp sẽ có thể
khai thâm giải mà thôi! Há chẳng phải là ngàn lời vạn
lẽ trên đây cho tới
khoa này th́ mới có căn cứ ư? Do vậy nói là “chỗ quy kết”. Không chỉ là như vậy, kể từ
khoa kế tiếp là “Như Lai ấn chứng, xiển
dương” trở đi, phàm những
lời đức Thế Tôn nói, không ǵ chẳng nhằm làm sáng tỏ hơn, chứng minh nhiều
hơn các chỗ khẩn yếu của những
điều đă nói trên đây, khiến cho mọi người có thêm
một tầng tín giải đối với ư chỉ trọng
yếu của những điều được nói trên
đây, sẽ thọ tŕ càng đắc lực hơn mà
thôi! Do vậy, khoa thứ tư là “thành tựu giải huệ” và khoa
thứ năm là “tột bậc hiển thị công dụng
của kinh” sau đó đều
chính là phần kinh văn tổng kết
của nửa bộ trước kinh này. Đấy đều
là chỗ trọng yếu trong mạch lạc của kinh,
nên tôi chỉ sẵn ra, nhắc nhở sẵn, để
tiện cho [mọi người] khi đọc đến
đó sẽ dễ lănh hội!
Trong thể lệ của
kinh này, hễ người kết tập kinh nói “nhĩ
thời…” đều nhằm biểu thị mở ra một
đầu mối nữa. Trong bốn chữ “thâm giải
nghĩa thú” (hiểu sâu xa nghĩa thú) ở đây, xét
theo nghĩa thú để nói, th́ những điều trên đây
đều là Có.
Nếu xét theo thâm giải để nói th́ những điều
trên đây đều Chẳng
Có. Cho đến chỗ này mới tự trần
thuật, nên bảo là “mở ra một đầu mối
nữa”. Hai chữ “nhĩ thời” [trong đoạn
này] hoàn toàn hô ứng với “nhĩ thời” trong phần
“thỉnh chỉ dạy tên kinh để thọ tŕ”
trước đó. Bởi lẽ, trước phần “thỉnh
chỉ dạy tên kinh để thọ tŕ”, những nghĩa
được nói đều nhằm khơi mở [cho hành
nhân hiểu] cái trí
biết cảnh là hư huyễn, và khơi mở trí vô trần.
Tới khi thỉnh cầu chỉ dạy tên kinh để
thọ tŕ, bèn khai
trí kim cang. Trí ấy rất sâu, chẳng dễ lănh ngộ! Trí ấy
nếu khai, sẽ đoạn Hoặc, chứng Chân; đó
chính là chỗ quy kết của công phu tu hành. Nay nói “thâm
giải nghĩa thú” chính là tự trần thuật đă
đắc trí kim cang. Nếu chỉ khai trí biết cảnh
là hư huyễn và trí vô trần, bất quá là địa vị
Quán Hạnh,
hoặc địa vị Tương Tự, chẳng thể
nói là “thâm giải”.
Không chỉ là như thế,
chữ “nhĩ thời” ở đây trực tiếp
tương ứng với lúc mở đầu kinh, “nhĩ
thời, trưởng lăo Tu Bồ Đề tại đại
chúng trung, tức tùng ṭa khởi” (lúc bấy giờ,
trưởng lăo Tu Bồ Đề từ trong đại
chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy). V́
sao vậy? Nếu Ngài chẳng thỉnh pháp lúc ấy, sao có
“thâm giải” ở chỗ này cho được! Nếu
quán sâu xa, “thâm giải” vào lúc này đă ẩn tàng trong
lúc thỉnh pháp khi ấy. V́ sao vậy?
Do trưởng lăo trong khi đại chúng đang mờ mịt,
riêng Ngài có thể phần nào thấy rơ tướng chẳng
trụ của đức Phật; v́ vậy bèn thỉnh
pháp. Do đó, Ngài nghe
pháp liền hiểu. Nếu là người khác, quyết chẳng
thể nghe nói kinh này liền hiểu sâu nghĩa thú. Kinh
văn trong phần sau sở dĩ nói “bất túc vi nan”
(chẳng đáng coi là khó) chính là v́ kinh văn đă chỉ
rơ mối quan hệ giữa phần trước và phần
sau. Không chỉ là như thế, khi ấy, Ngài (trưởng
lăo Tu Bồ Đề) vừa mở miệng liền tán
thán “hy hữu”, đều nhằm chỉ rơ chỗ trọng
yếu tương ứng giữa phần trước và
phần sau.
Lại xem lúc ấy
trưởng lăo từ chỗ ngồi đứng dậy,
[thưa] “nguyện nhạo dục văn” (nguyện
ưa thích muốn nghe), hân hoan, hớn hở chi bằng! Tới
lúc này, trưởng lăo ứa lệ buồn khóc. Trước
sau chiếu ứng, hết sức hợp lư! Bởi lẽ,
hân hoan lúc ấy chính là cội nguồn cho ứa lệ buồn
khóc ngay trong lúc này. Hai chữ “nhĩ thời” (lúc bấy
giờ), nếu dựa theo ngay lúc này để nói, sẽ là lúc khai thị
nguyên do của lư phụng tŕ vừa xong, cũng chính là lúc
nghe xong liền thông hiểu sâu xa, sanh ḷng buồn
thương. Hai chữ Văn (nghe) trong “văn thuyết
thị kinh” (nghe nói kinh này) [ở đây] và “nguyện
nhạo dục văn” ở đầu kinh hoàn toàn
tương ứng. Nghe điều muốn được
nghe, lại c̣n hiểu sâu xa, đúng là may mắn muôn vàn! Do vậy,
vui mừng cực độ bèn buồn thương. “Thâm
giải” tương ứng với “đế thính”
(lắng nghe) thuở đầu. Nếu chẳng “đế
thính”, chắc chắn khó thể “thâm giải”. Do
đó, Văn trong “văn thuyết thị kinh” chẳng
phải là nghe hời hợt, mà là Văn Huệ. Đấy
cũng là xét theo trưởng lăo để nói, v́ Ngài vốn
là bậc A La Hán ly dục đệ nhất, đă sớm có
thể vô niệm, đă trọn đủ huệ nhăn, lại
c̣n là bậc Giải Không đệ nhất. V́ thế,
trước khi được nghe kinh này, Ngài đă có thể
hiểu rành rẽ ư chỉ “vô trụ để thấy
Như Lai”. Do vậy, hiệu quả của sự lắng
nghe cực lớn, nghe rồi liền hiểu sâu. Nếu
Ngài c̣n là phàm phu, dẫu có thể lắng nghe, quyết chẳng
thể hễ ngộ liền ngộ
triệt để. Có thể khai trí biết cảnh hư
huyễn đă là khó có, đáng quư rồi! Nếu nghe kinh, lập
tức [mở mang trí] vô trần, ngàn đời chẳng
được mấy ai! C̣n như trí kim cang, càng khỏi
bàn tới nữa! Như Lục Tổ đại sư của
Thiền Tông, nghe “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm),
liền đốn ngộ th́ xưa nay, chẳng có người
thứ hai! Nhưng sau khi được truyền trao y bát,
Ngài vẫn c̣n quẩn quanh trong đám thợ săn mười
mấy năm. Đó chính là Phật, Tổ gia bị Ngài mài luyện kim cang
huệ kiếm vậy! Nếu nhằm đời Mạt,
sẽ càng là khó
khăn nhất trong các điều khó. Do vậy, kinh văn
trong phần sau có nói: “Hậu ngũ bách tuế, đắc
văn thị kinh, tín giải thọ tŕ, thị nhân hy hữu”
(Năm trăm năm sau, được nghe kinh này mà tin hiểu,
thọ tŕ, người ấy hiếm có). Chớ nên không biết
lư này! Nhưng cũng chớ nên v́ khó khăn mà tự
ngăn trở [chính ḿnh]. Đức Phật nói năm
trăm năm sau, người tŕ giới, tu phước,
có thể sanh tín tâm, sẽ có thể một niệm
tương ứng. Tín là nguồn đạo, mẹ công
đức. Nếu có thể thật sự nghe kinh, thật
sự tin tưởng, sẽ vào được cửa Bát
Nhă. Nếu thật sự có thể nhập môn, há có bao giờ
chẳng thể đốn ngộ, đốn đoạn?
V́ sao vậy? Do được chư Phật gia bị, túc
huệ rất sâu. Vậy th́ như thế nào là nhập
môn? Thật sự tin trần cảnh đều hư giả,
chẳng bị chúng trói buộc. Đó chính là sơ môn của Bát Nhă vậy! Càng chớ nên không biết lư này!
“Nghĩa”
là nghĩa lư, tức ư nghĩa chân thật dù chế phục
hay đoạn trừ của các quán môn, hạnh môn đă
nói trên đây. “Thú” (趣) là
hướng về, c̣n nói là “thú hướng” (趣向).
Tức là “tín tâm thanh tịnh, liền sanh Thật Tướng”
như sẽ nói trong phần sau. Bởi lẽ, nghĩa lư
ngàn mối, hễ quy thú (歸趣, quy nạp vào,
quy hướng) th́ là một. Đức
Phật nói Văn Tự Bát Nhă, không ǵ chẳng nhằm dạy
[hành nhân] dựa theo đó mà khởi quán chiếu, chứng
Thật Tướng đấy thôi! Nếu chẳng liễu
giải chỗ quy hướng của nghĩa lư, sẽ
như vào biển đếm cát, trọn chẳng quy kết
mảy may; cũng như bơi thuyền chẳng có bánh
lái, lấy ǵ để hướng đến [mục
tiêu]? Tức là cũng chẳng có công hiệu hay lợi ích
ǵ để có thể nói được! V́ thế, chỉ
hiểu nghĩa mà chẳng hiểu chỗ hướng
đến, sẽ chẳng phải là “thâm giải”. Lại
dùng sự quy thú để nói, nếu chỉ hiểu chỗ
quy kết, chẳng hiểu tiến hướng tới đó bằng
cách nào, vẫn là như đếm của báu của kẻ
khác, chính ḿnh chẳng có nửa đồng, cũng chẳng
phải là thâm giải! Ắt phải là đă liễu giải
chỗ quy kết của nghĩa lư, lại c̣n liễu giải
hăy nên tiến hướng chỗ ấy như thế nào,
th́ mới thật sự là có thể thấu hiểu sâu xa.
Bốn chữ “thâm giải nghĩa thú” do người
kết tập kinh thêm vào;
bởi lẽ, từ phần tự trần thuật trong
phần sau, sẽ biết là Ngài (Tu Bồ Đề) đă
có thể thấu hiểu sâu xa, cho nên đặc biệt
nêu ra. Nêu ra như thế là v́ có hai ư:
1) Khiến cho người
đọc kinh sẽ từ
đoạn kinh văn tự trần thuật trong phần
sau, đối với chỗ quy thú của các loại diệu
nghĩa từ lúc mở đầu kinh trở đi, sẽ
đều dốc ḷng thấu
hiểu.
2) Nếu chẳng nêu
ra th́ “ứa lệ buồn khóc” do đâu mà có? Lại
c̣n khiến cho [hành nhân] biết bậc trưởng lăo Giải
Không bậc nhất do hiểu sâu xa kinh này mà buồn khóc, có
thể thấy cái Không được nói trong kinh này chẳng
phải là cái Không đối đăi tầm thường. Lại
c̣n khiến cho họ biết trưởng lăo là bậc
đại đệ tử đích thân nương náu
dưới ṭa [của đức Phật], do nghe hiểu
kinh này, đến nỗi buồn khóc. Có thể thấy
kinh này thật sự khó thể gặp gỡ, há có nên coi
thường ư? Há có nên chẳng dốc ḷng thấu
hiểu ư? Lại khiến cho hành nhân biết trưởng
lăo buồn khóc là do đă đă hiểu
sâu xa. Có thể thấy đọc kinh này lâu ngày mà b́nh thản
bất động, thậm chí sợ bàn luận Bát Nhă, chẳng
có ǵ khác, chính là do họ chưa thể lănh hội nghĩa
thú trong kinh. Do vậy tôi nói người kết tập kinh
đặc biệt nêu ra câu này để răn nhắc tột
bậc thân thiết vậy!
“Thế
lệ nhi khấp” (Buồn khóc ứa lệ) chính là nói
đến ḷng Bi. “Thế lệ” (涕淚) là
h́nh dung sự buồn bă khóc lóc. “Khấp” (泣)
khác “khốc” (哭): Vừa
có nước mắt vừa phát ra tiếng là Khốc. Có
nước mắt, nhưng không phát ra tiếng là Khấp.
Sở dĩ con người khóc lóc là do bỗng gặp chuyện
tổn thất to lớn
bất ngờ, như dao cứa vào tim, áo năo cùng cực, bất
giác gào khóc thất thanh. Đó gọi là Khốc. Con người
sở dĩ “khấp” là mừng rỡ sâu đậm
v́ nay đạt được điều chưa từng
đạt được, mừng tủi chen lẫn, cảm
động tột cùng, bất giác ứa lệ buồn
thương. Đó gọi là Khấp. Trưởng lăo dấy
ḷng bi chẳng ngoài lư này. Đó là xét theo hiện tại mà mừng,
chạnh nghĩ quá khứ mà tủi! Đă tủi lại mừng;
do vậy, càng cảm kích Phật ân. Gộp chung ba loại
tâm lư ấy, bèn hiện tướng buồn khóc. Thấy bằng
cách nào? Ở đây nói “văn thuyết” (nghe nói) kết
hợp với phần sau “Phật
thuyết như
thị thậm thâm kinh điển, tích nhật vị tằng
đắc văn” (đức Phật nói kinh
điển rất sâu như thế, xưa kia chưa từng
được nghe), th́ cũng có thể biết: Chính là nay
thốt lời cảm tạ đức Phật, vui mừng
sâu xa “do may mắn nào mà được nghe”. Ư nghĩa
“xưa kia, tuy đắc huệ nhăn, nhưng chẳng nghe
kinh này, ôm nỗi hổ thẹn sâu xa” đă rành rành rồi!
Cần phải biết: Chính ngay chỗ cảm khái than thở
lúc xưa kia, chính là chỗ vui mừng v́ may mắn trong hiện
thời! V́ thế nói: Trưởng lăo dấy ḷng bi, là do vừa
mừng, vừa thẹn, vừa cảm động, ba loại
tâm lư phát hiện. C̣n như đoạn kinh văn ba lượt
khuyên tín giải trong phần sau là do trưởng lăo không chỉ
tự vui mừng, mà c̣n mừng cho hết thảy chúng sanh
có được pháp bảo vô thượng. Đó là nguyên
do Ngài rộng khuyên tín giải, thọ tŕ. Đă là mừng
thẹn chen lẫn như thế, há lẽ nào chẳng cảm
kích đẫm lệ ư?
Phàm
là người mới tỉnh giấc mộng lớn, nhớ
lại trước kia, không ǵ chẳng như tằm kéo
kén, tự trói, tự buộc, như con thiêu thân đâm đầu vào lửa, tự
đốt, tự thiêu! Nghĩ chuyện nay, tưởng
chuyện xưa, thường là khôn ngăn ứa lệ. Cổ
đức có nói: “Đại sự vị minh, như táng
khảo tỷ” (đại sự chưa rơ, như chôn
cha mẹ) đều v́ lư này. “Nhi bạch Phật ngôn”
(mà bạch Phật rằng) là do nghe nói kinh này mà được
hiểu nghĩa thú sâu xa. Do hiểu sâu xa nghĩa thú mà đến
nỗi buồn khóc ứa lệ. Do vậy, tự trần
thuật kiến địa, cầu Phật ấn chứng.
Đó là lẽ tất nhiên. Đọc một mạch tám chữ
“thế lệ bi khấp nhi bạch Phật ngôn”,
sẽ thành buồn khóc mà nói. Xét phần đầu kinh này,
trưởng lăo v́ đại chúng thỉnh pháp, và sau đó
rộng khuyên tín giải, có thể thấy trưởng lăo
hướng về đức Thế Tôn ứa nước
mắt mà nói; đó chính là hướng về hết thảy chúng
sanh trọn khắp pháp giới tột cùng vị lai, ứa lệ
mà nói. Ngay như trong khoa kế tiếp nói “tích lai huệ
nhăn, vị tằng đắc văn” (con từ xưa
kia đă đắc huệ nhăn mà chưa từng được
nghe) cũng là bảo trọn khắp hết thảy các chúng
sanh. Trưởng lăo đại từ, đại bi, dụng
ư cảnh tỉnh, răn nhắc hết thảy chúng sanh “hăy nên
mau phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, phụng tŕ Bát
Nhă, th́ mới là nối tiếp hưng thịnh Phật chủng,
th́ mới chẳng phụ tánh linh của chính ḿnh”.
Nếu học tiểu pháp, tuy mở huệ nhăn, đạt
được Vô Tránh tam-muội, thành A La Hán ly dục bậc
nhất như ta, vẫn chẳng tránh khỏi cảm giác
suy xưa, nghĩ nay. Hăy cẩn thận đừng
như ta nghe đạo mà hận đă muộn màng. Đức
Phật nói kinh này, vạn kiếp khó gặp. Lại c̣n
nghĩa thú quá sâu, nếu được nghe, hăy nên đúng
như pháp mà phụng tŕ để cầu thâm giải, mới
biết ân Phật khó báo, vui thỏa
một đời người. Nói chung, trưởng lăo mừng
là mừng cho chúng sanh. Trưởng lăo cảm động
là v́ chúng sanh mà cảm động. Hổ thẹn xưa
kia, buồn khóc trần thuật, đều nhằm khích lệ,
phát khởi chúng sanh. Cần phải biết: Bọn ta
được nghe kinh điển rất sâu này, không chỉ
là ơn Phật khó báo, mà ơn của trưởng lăo
cũng lại khó báo. V́ sao vậy? Đức Phật
nói kinh này là do trưởng lăo v́ chúng sanh mà thỉnh Phật
nói.
2.2.2.1.2.1.2.4.1.2. Trần
thuật sự tán thán, vui mừng
(Kinh)
Hy hữu Thế Tôn! Phật thuyết như thị thậm
thâm kinh điển, ngă tùng tích lai sở đắc huệ
nhăn, vị tằng đắc văn như thị chi kinh.
(經)希有!世尊!佛說如是甚深經典,我從昔來所得慧眼,未曾得聞如是之經。
(Kinh:
Hiếm có, bạch Thế Tôn! Phật nói kinh điển rất
sâu như thế, từ xưa kia con đă đắc huệ
nhăn,
nhưng chưa từng được nghe kinh như thế).
Chữ “hy hữu”
được thấy [nhắc tới] hai lần. Tuy từ
ngữ tán thán tương đồng, ư tán thán chẳng giống
nhau. Lần trước là do bỗng ngộ quang cảnh
nơi bổn địa, như người bỗng thấy
của báu khó được. Do vậy, tán thán “hy hữu”.
Nay th́ hiểu sâu xa nghĩa thú chân thật như người
có được tài vật vượt
ngoài ḷng mong mỏi (trước kia
chưa được nghe, mà nay được nghe, nên là “tài
vật vượt ngoài sự mong đợi”).
Vui mừng muôn phần, cho nên tán thán “hy hữu”. Bởi
lẽ, trước đó là từ bên ngoài mà thấy quy mô
to lớn, c̣n nay là từ bên trong mà thấy sự thâm áo.
Hai
chữ “hy hữu” không chỉ là tán Phật mà c̣n kiêm
tán pháp, mà cũng có ư nghĩa tự vui mừng. Kế
đó, do [chánh kinh] nói “Phật thuyết như thị chi
kinh” (Phật nói kinh như thế) có thể biết:
Đó là tán thán lời Phật nói hy hữu. Trong ấy, lại
chứa đựng bốn ư:
1) Khó nói mà có thể
nói. Bát Nhă rất sâu, chỉ có Phật và Phật mới rốt
ráo chứng đắc, và cũng chỉ có Phật và Phật
mới có thể nói rốt ráo. Một vị Phật xuất
thế, ắt trải qua nhiều kiếp, cho nên nói là “hy
hữu”.
2) Đến đúng thời
mới nói. Kinh Kim Cang này được nói trong hội thứ
chín của Bát Nhă. Nếu chẳng có trưởng lăo là bậc
đương cơ, [đức Phật] sẽ hướng
về ai để nói? Hễ nói, ắt có bậc
đương cơ. Cơ duyên chưa chín muồi, dẫu
nói cũng vô ích. V́ thế nói là “hy hữu”.
3) Chẳng nói mà nói,
Như Lai chẳng có ǵ để nói. Đức Phật nói
kinh này, vốn là để khiến cho chúng sanh thấy
Như Lai. Hơn nữa, Bát Nhă vốn chẳng thể dùng
ngôn thuyết để diễn tả. V́ thế, nay tuy nói
rất nhiều; thật ra chẳng nói ǵ. Do nói mà chẳng
nói, nên bảo
là “hy hữu”.
4) Do đại bi nên
nói. Đức Phật thấy chúng sanh vốn sẵn là Phật,
do họ mê muội cái sẵn có mà trở thành chúng sanh. V́ vậy
nói là “kẻ đáng thương xót”. Do đó, pháp vô vi
này tuy chẳng thể nói, nhưng giả lập đủ
loại cách nói phương tiện, đều nhằm khiến
họ cho nhập Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ,
há chẳng hy hữu ư?
“Kiêm
tán thán pháp”: Phần kinh văn sau đó nói “Phật
thuyết như thị thậm thâm kinh điển” (đức
Phật nói kinh điển rất sâu như thế). Hai chữ
“thậm thâm” chính là từ ngữ tán thán. Kinh điển
mà nói là “thậm thâm”, chứng tỏ kinh ấy vượt
trội các kinh điển khác. Pháp vi diệu rất sâu vô
thượng, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ.
Như phần trước của kinh này có câu như “nhất
thiết chư Phật, cập chư Phật A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai tùng thử
kinh xuất” (hết thảy chư Phật và pháp Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật
đều từ kinh này mà ra), cùng với “tŕ thuyết nhất
tứ cú kệ đẳng, thắng quá Hằng hà sa thân mạng
bố thí” (thọ tŕ, diễn nói một bài kệ bốn
câu v.v… vượt trội dùng thân mạng nhiều như
cát sông Hằng để bố thí) cho đến “kinh
điển sở tại chi xứ, tức vi hữu Phật,
nhược tôn trọng đệ tử” (chỗ nào có
kinh điển tức là chỗ đó có Phật và các vị
đệ tử đáng tôn trọng), có thể biết sự
hy hữu của pháp ấy. Cho tới các câu trong phần
sau như “thị kinh nghĩa bất khả tư nghị”
(nghĩa trong kinh này chẳng thể nghĩ bàn) và “vị
phát tối thượng thừa giả
thuyết” (v́ người phát tối
thượng thừa mà nói) v.v… không ǵ chẳng nhằm nói
rơ pháp này là pháp hy hữu. Do những câu ấy đều
thuộc phần sau, cho nên chẳng trích dẫn để
giải thích ở đây.
Thế
nào là “chứa đựng ư tự vui mừng?” Như
kinh văn trong phần sau có nói “xưa kia đă đắc
huệ nhăn mà chẳng nghe lời này”, chính là tự mừng
rỡ nay
được nghe nói, lại
c̣n hiểu sâu xa. Vậy th́ xưa kia nếu
đạo nhăn chẳng khai, nay sao thâm nhập kiến địa,
há chẳng phải là chuyện hy hữu ư?
Kinh
điển rất sâu là như thế nào? Những điều
được nói trong kinh này chính là nghĩa căn bản
trong Phật pháp, là liễu
nghĩa rốt ráo, là Trung Đạo
Đệ Nhất Nghĩa trong đại trí, đại
bi, đại nguyện, đại hạnh, là nghĩa
Đệ Nhất Nghĩa Không, là nghĩa khiến cho
người tín giải,
thọ tŕ sẽ thành Phật. Hơn nữa, mỗi lời,
mỗi chữ chứa đựng ư nghĩa vô cùng, sâu không
đáy, cho nên nói là “thậm thâm” (rất sâu). Vị A
La Hán ly dục bậc nhất có huệ nhăn mà c̣n chưa từng
nghe, chính là chỉ rơ sự rất sâu [của pháp này]. Lại
nữa, Bát Nhă Ba La Mật đă sâu, nhưng kinh này là Kim Cang
Bát Nhă Ba La Mật, cho nên rất sâu. Những điều
khác như đă dẫn trên đây, tức các câu “Phật
và Phật pháp đều từ kinh này mà ra” v.v… cũng
có thể biết pháp này rất sâu vậy!
“Tích
lai” (từ xưa) tức là lúc chứng quả A La Hán,
đắc huệ nhăn cho tới nay. Huệ nhăn là ǵ? “Nhăn” hàm ư “kiến
địa”. Kinh Phật nói có năm loại mắt: 1) Nhục nhăn là kiến
địa của phàm phu.
2) Thiên nhăn là kiến
địa của chư thiên. Chư thiên cũng là phàm phu,
nhưng cái thấy của họ vượt trội loài
người. V́ thế gọi là thiên nhăn.
3) Huệ nhăn: Thấy
lư Nhân Không, tức là huệ nhăn, vượt xa loài người
trở xuống. Đó là kiến địa của A La Hán.
4) Pháp nhăn: Đă thấy
Nhân Không, lại thấy Pháp Không, nên gọi là pháp nhăn. Đấy
là kiến địa của Bồ Tát.
5) Phật nhăn tức
là tri kiến của Phật, siêu thắng hết thảy.
Nay nói đại lược,
đợi tới phần Ngũ Nhăn sau này, sẽ
lại đàm luận cặn kẽ.
Trước
kia chỉ rỗng không Nhân Ngă, nhưng kinh này rỗng không
Pháp Ngă. V́ thế, trước kia đối với lư này,
chưa từng khế nhập. Cho nên nói là “tích lai huệ
nhăn, vị tằng đắc văn” (từ xưa
đă đắc huệ nhăn, nhưng chưa từng
được nghe). Ở đây, chứa đựng rất nhiều
nghĩa, rất trọng yếu. Nay sẽ nói phân tích:
1) Phần trước
nói nhăn, phần sau nói nghe. Mắt và nghe chẳng mảy may
dính líu, có thể chứng minh rằng: Nói tới nhăn th́ là
nói kiến địa, chẳng thể hiểu “nhăn”
là mắt được, mà cũng chẳng thể hiểu
là cái Thấy do mắt trông
thấy!
2) Mắt
và nghe đă chẳng xen tạp lẫn nhau, nói Văn th́
cũng chẳng thể hiểu ngây ngốc là “nghe bằng
tai”, mà chính là xoay tánh Nghe lại để nghe nơi tự
tánh. Đó gọi là Văn Huệ.
3)
Đă là Văn Huệ th́ nói Văn sẽ là nói về Giải.
Vậy th́ “tích vị tằng văn” (xưa kia
chưa từng nghe) chẳng phải là một mực chẳng
nghe, mà là tuy nghe nhưng chẳng hiểu, giống như
chưa từng nghe vậy!
4) Hổ
thẹn xưa kia chưa được nghe, chính là nay may mắn đă
được nghe. Nay v́ sao coi là nghe? Do đă hiểu sâu
xa. Do vậy, trong phần trước đă nói “đức
Phật nói kinh điển rất sâu như thế”, v́
sao vậy? Nếu chẳng có thâm giải, sẽ
chẳng biết kinh này rất sâu như thế. Đó là lư
do v́ sao người kết tập kinh nói “thâm giải
nghĩa thú”.
5)
Trưởng lăo than thở “con
xưa kia chưa từng nghe”,
rất cảm khái, hận v́ nghe đạo muộn màng. Bởi
vậy, Ngài mới ứa lệ buồn khóc. Như vậy
th́ v́ sao nay nghe liền đắc thâm giải? Do quán thấy
Như Lai chẳng trụ vào pháp, mà có thể biết học
theo Ngài chẳng chấp giữ. Trưởng lăo lại v́
chúng sanh thỉnh cầu đại pháp này, có thể biết
Ngài đă phát tâm đại trí, đại hạnh, đại
bi, đại nguyện, kiến địa khác biệt trước
kia vời vợi. V́ thế, bèn có thể khế nhập
kinh rất sâu này!
6)
Kinh này được nói trong hội thứ chín của kinh
Đại Bát Nhă, sao lại nói “chưa từng được nghe?” Lại
c̣n trong tám hội trước đó, trưởng lăo c̣n
[đem pháp Bát Nhă] dạy lại các Bồ Tát, cũng chẳng
thể nói “xưa kia chưa từng khai giải”. Cần
phải biết: Nay trưởng lăo nói như thế, không
ǵ chẳng nhằm khuyên lơn, hướng dẫn chúng
sanh hăy gấp khởi sự đọc tụng, tin hiểu,
thọ tŕ kinh này!
7)
Tám hội trước tuy đă được nghe, Ngài dạy
lại các vị Bồ Tát, tuy đă khai giải, nhưng
Kim Cang Bát Nhă măi đến tận đây mới nói. Do vậy
nói là “rất sâu”, nói là “xưa kia chưa từng
được nghe”.
8) Bởi
đó nói rằng: Trong phần trước nói “thâm giải”
tức là hiểu rất sâu. Do Bát Nhă đă là kinh sâu xa, các hội
trước đă dạy Bồ Tát, tức là Ngài (Tu Bồ
Đề) đă sớm khai thâm giải. Nhưng kinh trong hội
này chính là kinh rất sâu, cho nên sự thấu hiểu hiện
thời chính là “thậm thâm giải” (hiểu rất
sâu). V́ thế, khôn ngăn suy xưa, nghĩ nay, biết ắt phải nên
liễu giải như thế th́ mới là triệt để.
Đấy chính là nguyên do được nghe đạo, hận
đă muộn màng. Đấy chính là nguyên do ứa lệ buồn
khóc. Đấy chính là nguyên do rộng khuyên tín giải vậy.
9)
Trưởng lăo tự trần thuật như thế, lại
có ư nghĩa vi tế. Ư ấy ra sao? Khai thị đại
chúng: Đối với kinh điển rất sâu như thế,
chớ nên chấp trước văn tự, chớ nên
hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu. Hăy nên thâu nhiếp
tai để lănh hội tâm, phản chiếu tự tánh, sẽ
khai kiến địa, liễu giải nghĩa thú rất
sâu trong kinh!
10)
Không chỉ là như thế, mà c̣n có thâm ư nữa. Đă là
con mắt Nhân Không, chẳng thể thấy lư Pháp Không. Có thể
thấy là người học đạo có thứ tự cạn
hay sâu, chẳng thể mảy may miễn cưỡng
được! Nhưng đạo nhăn của trưởng
lăo ắt phải tới
hội [Bát Nhă] thứ chín mới mở, lại có thể
thấy thời tiết nhân duyên cũng chẳng thể miễn
cưỡng mảy may! Không chỉ là như thế, đức
Thế Tôn xuất thế vốn để làm cho chúng sanh
chứng trí Bát Nhă, đạt tới bờ Niết Bàn, thế
mà Ngài chần chừ đă lâu mới nói Bát Nhă, lại chần
chừ lâu ngày mới nói Kim Cang Bát Nhă. Có thể thấy
người phát đại bi tâm cũng chẳng thể có
tánh nóng vội, do cơ (thời cơ và căn cơ) và
giáo ắt phải ứng hợp. Hễ có kiến chấp về huệ
nhăn, sẽ chẳng được nghe. Hễ
có thể thấy kinh, nghe pháp, ắt phải
quét sạch sành sanh thành kiến trước kia. Do hễ có
thành kiến, sẽ chướng ngại đạo nhăn vậy!
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.
Khuyên tín giải
Chia làm
hai phần:
1) Dựa
theo hiện tiền để khuyên.
2) Dựa
theo tương lai để khuyên.
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.1.
Dựa theo hiện tiền để khuyên
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.1.1.
Nói rơ sự thành tựu
(Kinh) Thế Tôn! Nhược phục hữu
nhân đắc văn thị kinh, tín tâm thanh tịnh, tắc
sanh Thật Tướng. Đương tri thị nhân thành
tựu đệ nhất hy hữu công đức.
(經)世尊!若復有人得聞是經,信心清淨,則生實相,當知是人,成就第一希有功德。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Nếu lại có người được
nghe kinh này, tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng.
Hăy nên biết người ấy thành tựu công đức
hiếm có bậc nhất).
Trưởng
lăo đại từ, tự đạt được pháp
lạc, nguyện trọn khắp hết thảy chúng sanh
trong hiện tiền và tương lai cùng đắc pháp lạc.
V́ thế, Ngài trần thuật cặn kẽ sự
thành tựu hy hữu, khiến cho đại chúng nghe xong sẽ
phát tâm tín giải. Tuy trong kinh văn chẳng nói rơ khuyên
lơn, nhưng ư khuyên lơn ân cần! Đấy chính là
tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nơi đại bi, đại nguyện. “Nhược
phục hữu nhân” (nếu lại có người) tức
là mong mỏi sâu xa sẽ có người như thế. “Đắc
văn thị kinh” (được nghe kinh này) hàm ư “chẳng
dễ được”, may sao mà được, chớ nên
bỏ lỡ dịp được nghe này. “Thanh tịnh”
tức là vô tướng. Như trong phần trước, [kinh dạy] “bất trụ lục trần
sanh tâm” (chẳng trụ trong lục trần sanh tâm) chính là sanh thanh tịnh tâm, chính nhằm bảo
rơ: Hễ trụ trong trần th́ là chấp tướng. Có
chút chấp tướng th́ chẳng thanh tịnh. Đă nói
là “chẳng trụ”, lại nói “sanh tâm”. Lại
nói rơ: Bảo là “vô
tướng”
th́ tuyệt đối chẳng phải là do đối với
Hữu mà nói Vô, mà là Vô tuyệt đối. Tức là bốn
câu như “có, không…” đều là Vô, th́ mới chân thật diễn
nói vô tướng. Nếu nói triệt để, ngay cả cái
Vô tuyệt đối ấy cũng là Vô; đó mới là rốt
ráo thanh tịnh. Do vậy, dự vào địa vị
Sơ Trụ, chỉ chứng đắc tâm thanh tịnh một
phần. V́ thế, công hạnh
thăng tiến, càng tiến,
càng vi tế, trải qua bốn mươi tầng cấp,
đạt đến Đẳng Giác, hăy c̣n một phần vô minh cực vi
tế. Nói cách khác, đó là tâm thanh tịnh c̣n hơi khiếm
khuyết. V́ thế nói “Đẳng Giác kiến
tánh, do như cách la vọng nguyệt” (Đẳng
Giác kiến tánh, ví như ngó mặt trăng qua một lớp
the). Cần
phải dùng trí kim cang để trừ khử th́ mới trở
thành giác rốt ráo, cái tâm thanh tịnh mới hoàn toàn hiển
hiện!
Thế
nào là tín tâm thanh tịnh? Tức là do tin vào Văn Tự Bát
Nhă mà khởi Quán Chiếu Bát Nhă, đạt được
nhất tâm thanh tịnh. V́ thế, một câu “tín tâm thanh
tịnh” này tuy
chỉ nói một chữ Tín, nhưng Giải, Hạnh, và Chứng
đều được gồm thâu trong ấy. Nếu chẳng
có quán huệ, sao có thể trừ khử t́nh chấp? Nếu
chẳng có trừ khử rồi lại trừ khử,
ḥng đạt tới cái Vô tuyệt đối, sao tín tâm có
thể thanh tịnh cho được? Cái được gọi
là “quán huệ” chính là phụng tŕ Kim Cang Bát Nhă, ĺa danh
tự và ngôn thuyết, chẳng chấp hết thảy các
cảnh giới dù vi tế hay rộng lớn, ngay cả sự
mong mỏi cái quả thù thắng cũng chẳng chấp
trước! Chỉ thẳng thừng đúng như pháp mà
hành, chẳng dấy một niệm! Nếu thật sự có thể đoạn
suy tưởng nơi tướng hư vọng (đó
chính là cái tâm sanh diệt, cũng tức là niệm), cái tâm
thanh tịnh liền hiện một
phần. Hiện một phần tức là chứng đắc
Pháp Thân một phần, dự vào Sơ Trụ, chuyển
phàm thành thánh. Từ đó, dốc sức đạt tới
giác rốt ráo, rồi sẽ “sanh diệt đă diệt,
tịch diệt hiện tiền”, cái tâm thanh tịnh
trong tự tánh sẽ viên măn hiển hiện, gọi là Diệu
Giác, cũng gọi là “thành Phật”, cũng gọi là
“nhập Vô Dư Niết Bàn”. Lại có thể thấy
“tín vi nhập đạo chi môn” (tín là cửa ngơ để
nhập đạo). Chữ Môn (門) được
hiểu theo nghĩa rộng, chẳng phải là chuyên nói tới
cửa chính. Cửa vào nhà, cửa vào pḥng, đều được bao gồm
chẳng sót. Lại c̣n có thể thấy ba thứ Giải,
Hạnh, Chứng đều là tên gọi khác của Tín. Nói
cách khác, cái được gọi là Giải, Hạnh, Chứng
chẳng phải ǵ khác, bất quá là tín tâm dần dần
tăng trưởng, tỏa sáng, đạt đến rốt
ráo kiên cố viên măn mà thôi! V́ sao vậy? Nói là Giải, là Hạnh,
hay là Chứng, ắt phải là tín tâm trọn
đủ, sau đấy mới có thể giải trọn,
hành trọn, chứng trọn! Nếu tín tâm thiếu khuyết
đôi chút, há c̣n có thể giải, có thể hành, có thể
chứng để nói nữa chăng? V́ thế nói “tín là
nguồn đạo, mẹ công đức”. Do vậy,
đối với Tín, Giải, Hạnh, Chứng được
nói trong phần trước, hăy nên quán viên dung, chớ nên
ngây ngốc xem chúng thành bốn chuyện! Do vậy, ba khoa “khai
giải, tấn tu, thành chứng” trong kinh này đều
nói kèm theo Tín, chớ nên chẳng biết lư này!
Thật
Tướng là tên gọi khác của tánh thể. Trong đoạn
sau, ba câu “Thật Tướng giả, tức thị phi
tướng. Thị cố, Như Lai thuyết danh Thật
Tướng” (Thật Tướng tức chẳng phải
là tướng. Do đó, Như Lai nói là Thật Tướng)
chính là tự giải thích ư nghĩa này. V́ sao tánh thể gọi
là Thật Tướng, tới phần sau sẽ nói, nay tạm
giải thích sơ lược. Tánh vốn sẵn đủ,
vô sanh, vô bất sanh. Nay nói Sanh th́ có nghĩa là “hiện tiền”.
Điều này có cùng ư nghĩa với “sanh thanh tịnh
tâm” trong phần trước. Trước kia, do phiền
năo vấn vít mà [tánh thể] chẳng hiển hiện. Nay do
phụng tŕ Kim Cang Bát Nhă, mây mê tan dần, quang minh dần lộ,
giống như vầng trăng sáng ngời mới mọc.
Do chẳng thể gọi tên được, giả gọi
là Sanh, chính là như Đại Trí Độ Luận nói “vô
sanh sanh”. “Vô sanh sanh”
tức là vô sanh mà sanh. Luận lại nói: “Các pháp chẳng
sanh mà Bát Nhă sanh”. Bởi lẽ, nếu hiểu các pháp chẳng
sanh; đó là vô sanh quán trí hiện tiền, tức là vô sanh
mà sanh.
Nghĩa này rất sâu,
vẫn sợ [người đọc] chưa thể liễu
giải, nay lại giải thích thêm rằng: Vô sanh quán trí
chính là Bát Nhă. Bát Nhă hay Thật Tướng đều là tên
gọi của pháp. Đă là các pháp chẳng sanh mà Bát Nhă sanh,
nhưng Bát Nhă cũng là một trong các pháp, sao có thể nói
là sanh? Bất quá [nói “Bát Nhă sanh”] là nói vô sanh quán trí hiện
tiền đó thôi! Bởi lẽ, pháp vốn vô sanh, giả
danh là sanh. V́ thế, bảo là “vô sanh mà sanh”. Đă hiểu
rơ nghĩa Sanh của Bát Nhă th́ nghĩa Sanh của Thật
Tướng cũng có thể hiểu rành. Lại hăy nên biết:
Bát Nhă Thật Tướng vốn là tên gọi của pháp,
nhưng pháp ấy chẳng phải chi khác, chính là nói đến
bản tánh. Do vậy, câu “Thật Tướng sanh”
trong kinh này chính là [diễn tả] tánh quang hiển hiện.
C̣n câu “Bát Nhă sanh” trong đại luận
(Đại Trí Độ Luận) chính là nói vô sanh quán trí hiện
tiền. Tánh vốn vô sanh. Do vậy, nói “vô sanh quán trí”
th́ giống như nói “tánh trí”. Tánh trí chính là tánh quang.
Nói “quán trí” th́ có
nghĩa là ǵ? Chính là nói trí ấy do quán mà hiện. Giống
như kinh này nói “tín tâm thanh tịnh”. Tín tâm thanh tịnh
là nói cái tâm thanh tịnh, do được thành tựu bởi
tín. Kinh dạy “tắc sanh” (liền sanh ra), “tắc”
(則) là liền.
Tín tâm thanh tịnh, liền sanh Thật Tướng, giống
như nói “tín tâm thanh tịnh, Thật Tướng liền
hiện tiền”. Do tin vào sự thành tựu ấy mà tâm
thanh tịnh. Nhưng tâm thanh tịnh hay Thật Tướng
th́ cũng đều là bản tánh. Do vậy, tín tâm thanh tịnh
chính là Thật Tướng hiện tiền. Đấy
chính là hiển thị ư nghĩa “sanh chính là vô sanh”. Hăy
nên biết: Nói “thanh tịnh” chính là
do các pháp chẳng sanh. Như vậy th́ hễ có đôi chút
“cái được sanh”, có thể biết là tâm chẳng
thanh tịnh. Lại nữa, được gọi là
“sanh”, do nó là vô
sanh mà sanh, sanh tức là vô sanh! Do tín tâm thanh tịnh chính là
Thật Tướng hiện tiền, có thể biết: Thật Tướng
hiện tiền cũng lại là do tín tâm thanh tịnh mà
thôi! Như vậy th́ nói “chứng đắc”, có thể
biết đó cũng là giả danh. Thật sự không có ǵ
được chứng, không có ǵ để đạt
được! Không chỉ là như thế, nói “tín tâm
thanh tịnh” cũng là do người khác nói như thế.
Trong tâm người ấy thoạt đầu chẳng tự
cho là do tín mà
thành tựu, thoạt đầu chẳng tự cho là tâm
đă thanh tịnh. V́ sao vậy? Hễ có một mảy
bóng dáng tồn tại, sẽ là pháp tướng, sẽ là
chấp giữ, sẽ chẳng phải là các pháp bất
sanh, há c̣n có thể nói là “tín thành
tựu tâm thanh tịnh” ư?
Như thế th́ cớ
sao kinh văn cứ phải nhất định nói một
chữ Sanh vậy? Sao chẳng nói vắn gọn là “tín
tâm thanh tịnh th́ Thật Tướng hiện tiền”,
há chẳng trực tiếp, lẹ làng hơn ư? Hăy nên biết:
Nói một chữ Sanh lại chứa đựng nhiều ư
nghĩa trọng yếu:
1)
Nói là Sanh chính là nói rơ: Tín tâm thanh tịnh bèn vượt thoát
căn trần, tánh quang chói ngời, chẳng giống
như nước tù đọng. Điều này có cùng một
ư vị như “sanh tâm thanh tịnh” được nói
trong phần trước. Bởi lẽ, nó biểu thị
cái được gọi là “thanh tịnh” chính là tịch
chiếu đồng thời, chẳng phải chỉ có tịch
mà không có chiếu, nhưng nói một chữ Tín lại nhằm
biểu thị công hạnh này. Ba chuyện Giải, Hạnh,
Chứng như đă nói trong phần trước đều
được gộp vào trong ấy.
2) Nói là Sanh, ngụ ư “nó
vừa mới hiện tiền”. Do Thật Tướng
cần phải hiện từng phần, chẳng phải
là ngay lập tức có thể viên măn. Nếu nói ngay là “Thật
Tướng hiện tiền”, sẽ quá mù mờ; v́ thế,
nói một chữ Sanh, khiến cho mọi người hiểu
[sự hiển hiện ấy] giống như vầng
trăng mới mọc từ phương Đông vậy.
3)
Nói là Sanh lại là nói rơ “vừa
mới chuyển phàm thành thánh”, v́ Thật Tướng vừa mới
hiện tiền, đó là hiện một phần. Nhưng
hiện một phần Thật Tướng chính là chứng
một phần Pháp Thân, dự vào địa vị Sơ Trụ,
tức là bước đầu tiên của địa vị
Phần Chứng. Đấy là mới thành địa vị
Bồ Tát. Do vậy, nói một chữ Sanh nhằm biểu
thị “mới nhập thánh vị”
(địa vị thánh nhân). V́ thế, kế đó bèn nói
ngay: “Đương tri thị nhân thành tựu đệ
nhất hy hữu công đức” (Hăy nên biết người
ấy thành tựu công đức hiếm có bậc nhất).
Trước
đó, khi giải thích “hy hữu bậc nhất”
đă chẳng nói rồi đó sao? “Tối thượng”
chính là vô thượng, “đệ nhất” tức là
Chánh Đẳng. Bồ Tát tự độ, độ
người khác, ta và người đều b́nh đẳng.
Lại c̣n cùng vận dụng bi và trí, phước huệ song tu, Định
và Huệ giữ cân bằng. Đó đều là công phu tu tập
của Bồ Tát, đều có nghĩa là b́nh đẳng.
Chánh Đẳng: Ư nói đă là Chánh Giác, lại c̣n b́nh đẳng.
Dưới ṭa của Phật th́ Bồ Tát thuộc địa
vị thứ nhất, Tiểu Thừa thuộc địa
vị thứ hai. Do vậy, “đệ nhất” là nói
tới bậc Bồ Tát chánh đẳng. “Hy hữu” tức
là Chánh Giác. Phàm phu mê, chẳng giác; ngoại đạo giác,
nhưng chẳng chánh. V́ thế, Chánh Giác là nói tới bậc
La Hán của Tiểu Thừa, nói rơ vị này có thể dùng
chánh pháp để tự giác. Có thể dùng chánh pháp để
tự giác, cho nên nói là “hy hữu”. “Hy hữu” là so với
phàm phu và ngoại đạo mà nói. Nếu Bồ Tát không chỉ
tự giác, mà c̣n có thể giác ngộ người khác, th́ gọi
là Chánh Đẳng. Gọi trọn đủ sẽ là Chánh
Đẳng Chánh Giác, cũng
tức là đệ nhất hy hữu. Phật
th́ tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn; cho nên xưng là Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng chính là hy hữu
đệ nhất tối thượng! Ở
đây nói “thành tựu đệ nhất hy hữu công
đức”, chẳng nói “tối thượng” là
nói rơ đă thành tựu Bồ Tát, tức địa vị
Sơ Trụ Bồ Tát. Do Thật Tướng vừa mới
sanh; v́ vậy, xét theo ư nghĩa của phần kinh văn ở
đây, càng đủ để chứng minh “đệ
nhất tối thượng hy hữu” trong phần
trước phải nên giải thích là Vô Thượng Chánh
Đẳng Giác, chẳng thể giải thích theo nghĩa
nào khác! Hơn nữa, “đệ nhất” ở
đây tuy cũng có thể giải thích là “mới
sanh vào địa vị thứ
nhất của Bồ Tát”,
nhưng [hiểu theo kiểu đó] chẳng thỏa
đáng, chẳng nhất quán với “tối thượng
đệ nhất hy hữu” trong phần trước,
chẳng bằng vẫn giải thích là Chánh Đẳng.
Nói
đến “công đức” th́ “công” (功) là công phu tu hành, “đức” (德) là tánh đức. Đó là nói vị ấy
đă thành thánh, chiếu giác càng sáng suốt hơn. Nói theo “phá
trừ tự tha Hoặc”
(phá trừ Hoặc của chính ḿnh lẫn người khác)
th́ công dụng b́nh đẳng. Đó là thành tựu công hạnh
hy hữu bậc nhất. Nói theo sự giác ngộ của
chính ḿnh lẫn người khác, tánh đức vừa mới
tỏ lộ th́ là thành tựu đức hy hữu bậc
nhất. Phước đức và công đức giống
nhau hay khác nhau? Đáp: Chẳng thể nói nhất định
là giống nhau, cũng chẳng thể nói nhất định
là khác nhau! V́ sao vậy? Phước đức là chuyên nói
theo phước, công đức th́ bao gồm cả phước
lẫn huệ. Phước đức là nói theo quả báo
cảm vời, c̣n công đức là nói theo Thể và Dụng
hiển lộ. Phước đức phần nhiều
nói theo hữu vi, c̣n công đức thường là nói theo vô
vi. Do vậy, chẳng thể nói nhất định là giống
nhau. Nếu tu công đức mà chấp tướng th́ công
đức trở thành phước đức. Nếu tu
phước đức mà chẳng chấp tướng,
phước đức tức là công đức. Do vậy,
chẳng thể nói nhất định là khác nhau được!
Những
phần so sánh nhằm nêu rơ trước đó đều là
nói về phước đức, c̣n ở đây là nói về
công đức. V́ sao? Đáp: Phàm những chỗ so sánh
để nêu rơ [trong các phần trước] đều nói
về phước đức, chẳng nói về công đức
là do có ba nghĩa:
1) Thọ tŕ, diễn
nói kinh này vốn là công đức, chẳng phải là
phước đức! Nhưng do dẫn chuyện bố
thí chấp tướng để so sánh, nhằm nói cho tiện,
cũng chỉ gọi đó là phước đức.
2) Nhằm nói kèm thêm
chuyện tu hạnh Vô Trụ, tuy chớ nên chấp tướng,
nhưng cũng đừng nên hoại tướng. V́ thế,
đều nói là phước đức, nhằm nêu ư nghĩa
“tu huệ th́ phải nên kiêm tu phước”.
3) Sở dĩ thọ
tŕ, diễn nói kinh này hơn hẳn chấp tướng bố
thí, chẳng có chi khác, chính là v́ đă thông đạt lư “chẳng
chấp tướng”. V́ thế, đều nói là “phước
đức” nhằm chỉ rơ ư nghĩa: “Nếu chẳng
chấp tướng, phước đức chính là công
đức”. Lại cần phải biết: Người
dùng bảy báu để thí,
hay dùng thân mạng để thí, vốn là người phát
đại tâm, tức vốn tu công đức. Nếu
không, quyết chẳng thể bố thí như vậy.
Nhưng chỉ nói là phước đức, không có
chi khác, vốn là v́ chẳng thọ tŕ, diễn nói kinh này, sẽ
chẳng thể thông đạt lư “chẳng nên chấp
tướng”. Trong ấy lại c̣n chứa đựng ư
nghĩa “nếu chấp tướng, công đức sẽ
trở thành phước đức”. Tới chỗ này,
vốn chẳng dẫn phước đức chấp
tướng để so sánh chính là để nêu rơ “do tín
tâm thanh tịnh, bèn
thành tựu hy hữu bậc nhất”.
Cần phải biết: Do có thể chẳng chấp tướng,
bèn có thể thanh tịnh mà đạt được thành
tựu như thế. V́ vậy, chẳng thể nói phước
đức, chỉ có thể nói là công đức.
Khoa
trước là trần thuật chính ḿnh đă có thể hiểu
sâu xa. Nếu chẳng hiểu sâu xa, sao biết được
kinh điển rất sâu? Nghĩa này đă được
bàn cặn kẽ trong phần trước. Nhưng chỉ
nói “thâm giải” th́ vẫn là nói tổng quát. Khoa sau
đến đoạn “tắc danh chư Phật” (th́
gọi là chư Phật) mới trần thuật rơ
nghĩa thú của sự thâm giải ấy. Nếu chuyên
nói theo khoa này, câu “tín tâm thanh tịnh” chính là “hiểu
sâu ư nghĩa”, mà cũng là “hiểu sâu nghĩa thú”. “Tắc
sanh Thật Tướng” (th́ sanh Thật Tướng):
Hăy nên biết người ấy thành tựu công đức
hy hữu bậc nhất, chính là nói rơ người ấy hiểu sâu xa
nghĩa thú. “Đương tri” nghĩa là hăy nên biết:
Sanh Thật Tướng th́ là thành tựu. Lại hăy nên biết: Tín
tâm thanh tịnh chính là sanh Thật Tướng. Hai chữ “đương
tri” tuy nói ở giữa, nhưng ư nghĩa của nó quán
xuyến cả hai đầu (trước và sau). Nói “đương
tri” chính v́ tự ḿnh đă đắc thâm giải, cho nên
khuyên người khác cũng nên thâm giải như vậy.
V́
sao nói “tín tâm thanh tịnh” có nghĩa là “thâm giải”?
Do trong đoạn Sanh Tín thuộc phần trước,
đức Thế Tôn nói “tŕ giới, tu phước,
năng sanh tín tâm, dĩ thử vi thật” (tŕ giới,
tu phước, có thể sanh tín tâm, coi đấy là thật).
Tiếp đó nói: “Văn thị chương cú, năi chí nhất
niệm sanh tịnh tín” (nghe chương cú này, cho đến
có thể một niệm sanh tịnh tín). Nhưng trong phần
Khai Giải,
lại nói “ưng sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm
thanh tịnh). Do đó, nay trưởng lăo nói “tín tâm thanh
tịnh” chính là đối ứng khít khao với phần kinh văn trước
đó. Do trưởng lăo thấy đức Thế Tôn vừa
khởi đầu liền dạy “phát tâm độ chúng
sanh, độ vô biên chúng sanh mà thật sự chẳng có
chúng sanh được diệt độ”, cho đến
“hễ có tướng ta, người,
th́ chẳng phải là Bồ Tát”.
Điều đó có nghĩa là dạy “chớ nên giữ
lấy tướng”. Sau đó lại dạy “đừng
trụ trong lục trần để bố thí, chẳng trụ
trong lục trần để sanh tâm”, không ǵ chẳng nhằm
dạy “đừng
giữ lấy tướng” mà thôi! V́ sao chớ nên giữ lấy
tướng? V́ sanh tâm thanh tịnh. Nói “một niệm
sanh tịnh tín”, tín v́ sao tịnh? Do tâm thanh tịnh. Có thể
thấy sanh tịnh tín chính là sanh tâm thanh tịnh. Lại có
thể thấy cái tâm
được thanh tịnh hoàn toàn do tín. Thử xem một
câu “nhất niệm sanh tịnh tín”, ngụ ư “đă
đạt được một niệm tương ứng”.
Thế nào là tương ứng? Chính là một niệm
tương ứng với tâm thanh tịnh nơi tự
tánh. “Tương ứng” có nghĩa là chứng,
nhưng chẳng tu sao có thể chứng? Chẳng hiểu,
sao có thể tu? Nhưng [chánh kinh] nhất loạt chẳng
nhắc tới Giải, Hạnh, Chứng, chỉ nói “một
niệm sanh tịnh tín”, có thể thấy một chữ
Tín đă quán triệt đến tận cùng! Tức là dạy
mọi người thấu hiểu: Do “có thể thật sự
tin tưởng” là nhân, ắt sẽ đạt được
cái quả tịnh tín. Nói đơn giản, tín tâm tăng
trưởng cho tới mức viên măn, tâm sẽ thanh tịnh.
Nh́n từ điều này, câu “tín tâm thanh tịnh” của
trưởng lăo chẳng khác nào kết tinh của các
nghĩa do đức Thế Tôn đă dạy trước
đó. Nếu chẳng hiểu sâu xa các nghĩa
ấy, sẽ chẳng thể thốt ra được!
Kinh
văn trong phần trước lại nói “nhất niệm
sanh tịnh tín”, Như Lai đều thấy, đều
biết các chúng sanh ấy đạt được vô
lượng phước đức, nhưng từ “ưng
sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh) trở
đi, lại nói: “Đương tri thị nhân thành tựu
tối thượng đệ nhất hy hữu chi pháp”
(Hăy nên biết người ấy thành tựu pháp hy hữu
tối thượng bậc nhất). Do đó, nay trưởng
lăo nói “liền sanh Thật Tướng” và “hăy nên biết
người ấy thành tựu công đức hy hữu bậc
nhất” cũng chính
là đối ứng khít khao với đoạn kinh văn
trước đó. Do đức Thế Tôn dạy “đừng
nên chấp giữ tướng, hăy nên sanh tâm thanh tịnh”,
trưởng lăo bèn nói “ắt cần phải xa ĺa tướng
hư huyễn của căn, trần, thức” th́ mới
có thể sanh khởi Thật Tướng nơi cái tâm thanh
tịnh. Nói “đạt được vô lượng
phước đức” là do người ấy thành tựu
pháp hy hữu tối thượng bậc nhất. Hy hữu
tối thượng bậc
nhất th́ chỉ có Phật kham xưng. Sau
đó, lại đèo thêm một chữ Pháp; trước
đó lại bảo là “đương tri” (hăy nên biết),
đều là để ngăn ngừa có kẻ hiểu lầm,
bèn nói: “Hăy nên biết:
Người sanh cái tâm thanh tịnh ấy tuy
chưa thành
Phật, nhưng đă thành tựu pháp thành Phật”.
Pháp ấy như thế nào? Chính
là cái gọi là “ĺa tướng hư giả của
căn, trần, thức để sanh Thật Tướng
nơi cái tâm thanh tịnh”. Hăy nên biết người ấy
do ḷng tin chân thật, bèn có thể ĺa hư, hiển thật,
một niệm tương ứng, do công đức ấy
mà đă thành tựu bậc Bồ Tát hy hữu bậc nhất.
Đạt tới địa vị ấy, tức là đă
siêu phàm nhập thánh, nên mới có thể thành Phật. Bởi
lẽ, ắt phải thành Bồ Tát trước rồi sau
đó mới có thể thành Phật (“đương tri”
ở chỗ này hoàn toàn tương ứng với “đương
tri” trong phần kinh văn trước đó). V́ thế,
ắt thành tựu công đức hy hữu bậc nhất,
chính là thành tựu một pháp hy hữu tối thượng
bậc nhất.
Đấy chẳng phải là chỗ quy thú nơi thâm giải
của trưởng lăo hay sao? Hơn nữa, do biết “tín tâm
thanh tịnh liền
sanh Thật Tướng” mà
được thành tựu, lại chẳng phải là chỗ
hướng đến, quy kết
trong sự hiểu nghĩa sâu xa của trưởng lăo hay
sao?
Xét
theo nghĩa thú nơi sự thấu hiểu của trưởng
lăo trên đây, chúng ta cũng có thể ngộ rằng: Nếu
đă chứng tánh, đó là tín tâm thanh tịnh, chúng ta ắt
cần phải khai giải: Chẳng
có chi khác, cốt sao tín tâm càng thêm sáng rỡ đó thôi! “Ắt
phải tấn tu” cũng chẳng có chi khác, cốt sao
tín tâm tăng trưởng mà thôi. Bởi lẽ, Tín là chủ
chốt. Giải, Hạnh, Chứng trợ lực cho Tín. Lại
do điều này mà có thể ngộ Tín là cốt lơi; v́ thế
nói:“Tín là cửa ngơ để
nhập đạo”,
hoặc nói “Tín là nguồn đạo, mẹ công đức”.
Do vậy, học Phật ắt phải nên giữ trọn
tín tâm. Toàn bộ kinh này dùng “sanh tín, khai giải, tấn
tu, thành tựu chứng đắc” để giảng
nghĩa thú. Do vậy, chúng ta được nghe kinh này,
đối với những điều được giảng
trong kinh như sanh tín như thế nào, thấu hiểu
như thế nào, tu Vô Thượng Bồ Đề là
như thế nào, thành tựu nhẫn như thế nào,
trước hết đối với mỗi điều,
đều do tín mà nhập th́ sau đấy mới
là tín chân thật, mới có thể khai giải, siêng tu ḥng
chứng đắc. Trong kinh, chỗ nào cũng nói kèm theo chữ
Tín; đó chính là chỗ trọng yếu, chúng ta phải nên lănh
hội như thế đó!
Lại
c̣n có một nghĩa chớ nên chẳng biết. Tín là chánh
yếu, ngụ ư dạy hàng sơ phát tâm Bồ Tát hăy dùng
tín để nhập môn. Hăy nên biết: “Một chính là hết
thảy, hết thảy chính là một”. Kinh Hoa Nghiêm giảng
nghĩa ấy. V́ thế, nói theo Tín, Giải, Hạnh, Chứng,
nếu lấy Tín làm chủ, hết thảy sẽ đều
xuôi theo Tín. Nếu lấy Giải làm chủ, hết thảy
lại đều xuôi theo Giải. Những điều khác
cứ theo đó mà suy ra. V́ vậy, hễ nghe pháp, hăy nên thấu
hiểu sâu xa dụng ư ở chỗ này. Nếu chấp
trước danh tự và ngôn thuyết, chết cứng trong
câu văn, sẽ là điều đại kỵ trong học
Phật, trọn chẳng phải là Phật pháp viên dung vô
ngại. Như chữ Tín cố nhiên là khẩn yếu, chữ
Giải cũng khẩn yếu. Nói đơn giản, rơ
ràng, bốn chuyện Tín, Giải, Hành, Chứng, không chuyện
nào chẳng khẩn yếu, nhưng trong bốn chữ ấy,
Tín và Giải đặc biệt khẩn yếu nhất, do
hai chuyện ấy mật thiết nhất. “Khẩn yếu
nhất” là như thế nào? Nếu học nhân có thể
thật tín, hiểu sâu, sẽ có thể tu tập chuyên ṛng
ḥng chứng đắc. Nếu không, há có tu chứng ǵ
để đáng nói nữa? Do vậy nói [Tín và Giải] là
khẩn yếu nhất. Thế nào là khẩn yếu nhất?
Giải do Tín mà có, Tín
từ Giải mà sanh. Chữ
Tín đứng đầu. Kinh này cũng trước hết
nói sanh tín, kế đó nói khai giải. Hơn nữa, chữ
Tín xuyên suốt từ đầu tới đuôi. Như
trong phần trước đă nói, Giải do Tín mà có, [những
điều khác] chẳng cần phải đợi nói nữa!
Nhưng nói “Tín từ Giải mà sanh” như trong phần
trước đă nói “năng sanh tín tâm, dĩ thử vi
thật” (có thể sanh tín tâm, coi đó là thật) đă
chứa đựng ư nghĩa “Tín từ Giải mà ra”.
Sanh tín bằng cách nào? Do coi đó là thật. Nếu chẳng
liễu giải nghĩa chân thật trong kinh, sao có thể
coi đó là thật cho được? Hơn nữa, ở
đây, khi trưởng lăo tự trần thuật nghĩa
thú của thâm giải, vừa mở đầu liền nói
“tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng”,
cũng chính là chỉ rơ “nếu chẳng thâm giải, sẽ
chẳng biết tín tâm có mối quan hệ to tát dường
ấy”. Tức là Tín sanh từ Giải càng rơ rệt
hơn! Có thể dẫn khá nhiều các lời khác trong kinh
này để chứng minh điều trên đây; ở
đây, tôi chẳng trần thuật cặn kẽ!
Phần
trước đă nói “thành tựu công đức hy hữu
bậc nhất” chính là địa vị Sơ Trụ.
V́ sao biết đấy là Sơ Trụ?
Đáp: Có hai điểm:
1) Từ chữ Sanh
trong các đoạn trước mà thấy.
2) Có Đại Trí
Độ Luận làm chứng. Hăy nên biết: “Thật
Tướng hiện tiền” tức là chứng Vô Sanh Nhẫn.
Đại Luận (Đại Trí Độ Luận) quyển
năm mươi viết: “Đối với Thật
Tướng trong các pháp vô sanh diệt mà tin nhận, thông
đạt, vô ngại, chẳng lui sụt, th́ gọi là Vô
Sanh Nhẫn”. Xét ra, câu “thông đạt, vô ngại, tự
tại” trong luận chính là ư nghĩa Chứng. Như thế
th́ “chứng Vô Sanh Nhẫn” là do thông đạt Thật
Tướng. Như vậy th́ cũng có thể biết: Thật
Tướng hiện tiền chính là chứng Vô Sanh Nhẫn. Nhưng địa vị Thật
Tướng hiện tiền chính là địa vị chứng
Vô Sanh Nhẫn cũng dễ biết! Đối với
địa vị chứng Vô Sanh Nhẫn, kinh luận có nhiều
thuyết, trong phần trước đă bàn luận rồi,
nay chẳng ngại nhắc lại!
Như
quyển bảy mươi ba của Đại Luận có chép: “Bậc
Bồ Tát đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn th́ gọi là A Bệ
Bạt Trí”. A Bệ Bạt Trí (Avaivartika) có nghĩa là Bất
Thoái, tức Sơ Trụ. Tức là nói Sơ Trụ đắc
Vô Sanh Nhẫn. Nhưng kinh Hoa Nghiêm nói Bát Địa chứng
Vô Sanh Nhẫn, các kinh như Nhân Vương Hộ Quốc
v.v… th́ [nói đắc Vô Sanh Nhẫn] là Thất
Địa, Bát Địa, Cửu Địa. Các thuyết
trên đây tuy khác biệt, nhưng ư nghĩa đều
thông. Bởi lẽ, Sơ Trụ là phần chứng, từ
Bát Địa trở lên, do đắc vô công dụng đạo
(tức là Vô Học) rồi mới viên măn. V́ thế nói
Sơ Trụ đă chứng [Vô Sanh Nhẫn] là nói phần chứng,
c̣n nói Bát Địa trở lên mới chứng th́ chính là nói
rơ: Họ đă viên chứng. Cần phải biết: Ngay
như nói theo viên chứng, nếu chia nhỏ ra, cũng có
thứ tự khác biệt. Sở chứng của Bát Địa,
Cửu Địa, Thập Địa ví như trăng
đêm mười ba, tuy tṛn mà chưa tṛn trọn vẹn. Sở
chứng của Đẳng Giác viên măn, nhưng vẫn c̣n
thiếu sót đôi chút. Đạt tới Phật địa,
mới như trăng hôm rằm, rốt ráo viên măn. Sơ Trụ
phần chứng bất quá là chứng đắc một phần,
tức là như trăng thượng huyền[8],
ánh sáng trong trẻo vừa mới sanh mà thôi! Do vậy, “sanh
Thật Tướng” được nói trong kinh này chính
là nói ánh sáng trong trẻo vừa mới sanh, tức dự
vào địa vị Sơ Trụ.
Lại cần phải
biết: Trong Đại Trí Độ Luận của ngài
Long Thọ có nói “Sơ
Trụ liền đắc Vô Sanh Nhẫn” chính là
nói Sơ Trụ trong Viên Giáo, chẳng phải là Sơ Trụ
của Biệt Giáo. “Viên” có nghĩa là kiến địa
viên dung, c̣n Biệt th́ kiến địa bất luận Lư
hay Sự dẫu tinh thâm tột bậc,
nhưng c̣n cách biệt. “Cách biệt” có nghĩa là
chưa viên dung! Cũng cần phải biết: Kiến
địa viên dung là tuy địa vị mới dự vào
Sơ Trụ, kiến địa đă bằng Sơ Địa
trong Biệt Giáo. V́ thế, Đại Thừa Nghĩa
Chương quyển mười hai viết: “Ngài Long Thọ
nói từ Sơ Địa trở lên đă đắc Vô
Sanh Nhẫn”. Ngài Long Thọ vốn nói là Sơ Trụ,
mà sách ấy lại bảo là Sơ Địa, nhằm chỉ
rơ: Sơ Trụ như ngài Long Thọ đă nói là Sơ Trụ trong Viên Giáo,
bằng với Sơ Địa của Biệt Giáo. Trong
Quán Kinh Sớ, Thiên Thai tổ sư cũng nói: “Vô Sanh Nhẫn
là Sơ Địa, Sơ Trụ”. Cùng nói Địa và
Trụ là v́ nói Sơ Địa là nói theo Biệt Giáo, nói
Sơ Trụ là nói theo Viên Giáo. Do một lời này, có thể
thấy Sơ Địa của Biệt Giáo và Sơ Trụ
của Viên Giáo kiến địa bằng nhau! Lại có thể
thấy: Kiến địa chẳng viên, ắt phải
đạt tới Sơ Địa mới viên. Lại có thể
thấy: Nói “chứng một phần Pháp Thân” cũng
có sai khác rất lớn. V́ sao vậy?
Sơ Trụ trong Biệt Giáo ắt cũng chứng đắc
một phần Pháp Thân th́ mới có thể dự lên địa
vị Sơ Trụ. Như vậy th́ tuy cùng chứng đắc
một phần Pháp Thân giống như
Sơ Trụ trong Viên Giáo, nhưng “một phần” ấy
lớn hay nhỏ sẽ khác biệt rất xa. V́ sao vậy? Do kiến
địa của Sơ Trụ trong Viên Giáo bằng với
Sơ Địa của Biệt Giáo.
Hăy nên biết: Từ
Sơ Trụ cho tới Sơ Địa, có ba mươi tầng
cấp. Há chẳng phải là một phần chứng đắc
của Sơ Trụ trong Viên Giáo to gấp ba mươi lần
sở chứng của Sơ Trụ trong Biệt Giáo ư?
Do vậy, người thuộc Sơ Trụ trong Viên Giáo tu
tới Sơ Địa, trong khoảng giữa có ba
mươi tầng cấp, tuy đều cần phải
trải qua từng cấp, nhưng trải qua rất
nhanh, chẳng thể so sánh với nỗi gian nan trong Biệt
Giáo! Như vậy th́ người thuộc Biệt Giáo (tức
người kiến địa chưa viên) khi từ Thập
Tín tu tới Sơ Trụ,
ắt khó khăn hơn người thuộc Viên
Giáo cũng có thể suy ra được! Chớ nên không biết
các đạo lư được nói trên đây. Biết
điều này, sẽ càng biết tầm trọng yếu của
đại khai viên giải. Đại Thừa Nghĩa
Chương và Quán Kinh Sớ cùng cho rằng Sơ Địa
trong Biệt Giáo và Sơ Trụ trong Viên Giáo đă chứng
Vô Sanh Nhẫn. Hễ chứng Vô Sanh
th́ tức là chứng Pháp Thân. Sơ Trụ trong Viên Giáo chỉ
chứng một phần, cũng biết là Sơ Địa
trong Biệt Giáo cũng là chứng một phần. Nói
như vậy, há chẳng phải là Sơ Trụ trong Biệt
Giáo hoàn toàn chẳng chứng ǵ ư? Nếu chẳng chứng
một phần, sẽ chẳng thể gọi là Sơ Trụ,
dung thông nghĩa này như thế nào đây? Hăy nên biết:
Một phần của Sơ Địa trong Biệt Giáo hay
Sơ Trụ trong Viên Giáo tột bậc quang minh. Sơ Trụ
của Biệt Giáo tuy cũng chứng đắc một phần,
nhưng vẫn mông lung. Ví như trăng thượng huyền
tuy hiện ra mà bị mây che. V́ sao vậy? Do họ chỉ
trọn thấy Lư, thấy Sự đều là cách biệt,
chẳng dung thông, khiến cho tuy đă thấy tánh mà vẫn
cách biệt, tuy chứng mà như chưa chứng. V́ thế,
đạt tới Sơ Địa,
bèn thấy viên măn, mới rơ ràng, đáng gọi là “chứng đắc
một phần”. Hăy nên biết như vậy th́ nghĩa
ấy mới viên. Do bởi nghĩa này, Sơ Trụ trong
Biệt Giáo tuy nói là “phần chứng”, bất quá kém
thù thắng, chỉ là tương tự mà thôi! Hăy nên biết:
Nói là Tương Tự là do người ấy chẳng thấy
mặt trăng thật sự, mà chỉ thấy bóng
trăng. Gọi là Phần Chứng là v́ vầng trăng do
vị đó thấy chẳng
phải là bóng trăng, mà chính là
vầng trăng thật sự, cho nên thù thắng [hơn Tương Tự].
Nhưng vầng trăng thật sự vẫn ẩn trong
mây đùn, cho nên thua kém. Do cái Thấy
tuy chân thật, nhưng vẫn c̣n mơ hồ, cũng chẳng
khác thấy bóng trăng cho mấy! V́ thế, tuy thù thắng
mà bảo là “sai kém”. Tuy cách biệt chẳng mấy,
nhưng một đằng là tuy thấy tột bậc sáng
ngời, vẫn là trăng trong nước, chính là hướng
theo phía đối diện mà liếc nh́n gián tiếp. V́ vậy
gọi là Tương Tự. Một đằng tuy thấy
tột bậc mơ hồ, nhưng là [thấy] vầng
trăng thật sự, tức là từ tánh thiên (bầu trời
chân tánh) mà trực tiếp nh́n thấy. Bởi
đó, tuy kém mà vẫn thù thắng. Hăy nên biết như thế
th́ mới là thấu triệt nghĩa này!
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.1.2.
Nói về Thật Tướng
(Kinh)
Thế Tôn! Thị Thật Tướng giả, tắc thị
phi tướng, thị cố Như Lai thuyết danh Thật
Tướng.
(經)世尊!是實相者,則是非相,是故如來說名實相。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Thật Tướng ấy chính là chẳng
phải tướng. Do vậy, Như Lai nói là Thật
Tướng).
Khoa
này nhằm giải thích ư nghĩa Thật Tướng là ǵ,
và v́ sao gọi là Thật Tướng? “Thị Thật
Tướng giả” giống như nói: Cái được
gọi là Thật Tướng ấy chẳng phải là
tướng, ngụ ư: Chớ nên hiểu lầm mà nói nó
là tướng! Đă gọi là Thật Tướng, lại
bảo là “phi tướng” nhằm nêu rơ “nói theo tánh”.
Như Lai là danh xưng của tánh đức. “Như Lai
thuyết” tức là nói theo tánh. “Danh” là giả danh.
Đă chẳng phải là tướng, sao gọi là Thật
Tướng? V́ thế, lại giải thích rơ ràng rằng:
Chính v́ nó chẳng phải là tướng, bèn dựa theo tánh
để nói, giả gọi nó là Thật Tướng vậy,
hàm ư: Tánh chẳng hư vọng như tướng, nên gọi
là Thật Tướng.
Do
kinh văn chứa đựng ư nghĩa vô cùng, đành phải
xét theo từng tầng để nói: Ở đây, nói
nghĩa thứ nhất như trên,
ḥng thuận tiện nêu rơ ư chỉ đại cương.
Nếu chỉ nói như thế, sẽ chẳng triệt
để! V́ sao nói vậy? Tánh vốn chẳng phải là
tướng, v́ sao giả gọi là Thật Tướng vậy?
Nghĩa này cần phải chia thành bốn tầng để
nói:
1) Chữ Thật (實) có hai nghĩa: Một là nghĩa chất
thật (質實). Hai là
nghĩa chân thật. “Chất thật” tức là có vật
chất kết lại gây ngăn ngại. Ví như trong cái
chén đựng đầy ắp một vật, rất
kiên cố, th́ là có chất, có ngăn ngại. V́ sao vậy?
Do chẳng c̣n có thể dung nạp vật khác;
đó gọi là “chất thật”.
Nhưng tánh thể rỗng rang, linh
thông, hoàn toàn tương phản với “chất thật”.
Rỗng rang th́ chẳng thật, linh
thông th́ vô ngại. Do vậy
biết: Thật của Thật Tướng chẳng phải là “chất thật”,
mà có nghĩa là “chân thật”. “Chân thật”
tức là nói rơ nó chẳng hư vọng. Hư vọng
cũng có hai nghĩa: Một, “hư” nghĩa là không có, “vọng”
nghĩa là tà. Hai, “hư” nghĩa là giả, “vọng”
nghĩa là huyễn. Nghĩa thứ nhất tức là chẳng
có, chẳng tốt. Nghĩa kế đó, hàm ư: Không chỉ
chẳng phải không tốt, mà c̣n là chẳng có, tức là
ư nghĩa huyễn tướng giả hữu. Trước
đó đă nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị
hư vọng” (Phàm tất cả các tướng đều
là hư vọng). Nói “hư vọng” là nói theo nghĩa
thứ hai, chẳng phải là nghĩa đầu tiên.
Nghĩa này hoàn toàn tương phản với nghĩa “chân
thật”. Như vậy th́ tướng là hư vọng,
tánh là chân thật, rơ ràng là vật đối đăi.
Hơn nữa, tánh lại
rơ ràng chẳng phải là tướng, v́ sao lại gọi
là tướng? Cần phải biết: Mỗi chữ, mỗi
danh xưng trong kinh Phật, không ǵ chẳng thiện xảo!
Thiện xảo như thế nào? Có thể khiến cho
người ta nhờ vào danh từ, ngôn thuyết ấy, có
thể từ mặt này mà thấu đạt mặt kia, chẳng
đến nỗi chấp chặt một mặt! Cần
phải biết: Chính v́ tánh vốn chẳng phải tướng,
mà lại có thể hiện khởi hết thảy các
tướng, tuy không mà chẳng không. Do vậy mà tánh là chân
thật. Câu “thị cố, Như Lai thuyết danh Thật
Tướng” (do vậy, Như Lại nói là Thật
Tướng) trong kinh văn chính là để hiển thị
nghĩa này. “Thị cố” nhằm thừa tiếp ư “phi
tướng” trong câu trước. Chữ Như Lai là nói
về tánh. “Phi tướng” là tánh. “Danh viết Thật
Tướng” (gọi là Thật Tướng) chính là dựa
theo tánh để nói th́ gọi là “chân thật”, nhằm nêu
rơ ư nghĩa “tánh chẳng phải là hư vọng, mà là
chân thật”. Lại nữa, xét theo tánh mà gọi là
tướng, nhằm nêu rơ ư nghĩa: “Tuy tánh chẳng phải
là tướng, nhưng có thể hiện tướng”.
Hơn nữa, dùng đoạn kinh văn ấy để
xem, cái tên gọi Thật Tướng này lại có thể khiến cho người
khác lănh hội ư nghĩa “tánh thể dứt bặt đối
đăi”. Bởi lẽ, nói “tánh và tướng đối
đăi” chính là nh́n từ mặt ngoài mà nói như thế.
Nếu xét theo thực tế để quan sát sâu xa, [sẽ
thấy] ĺa khỏi tánh thể của Như Lai, bèn trọn
chẳng có tướng để có thể nói! Có thể biết tánh thể là dứt
bặt đối đăi. “Như Lai thuyết danh Thật
Tướng” trong kinh văn giống như “nói theo
Như Lai, gọi nó là Thật Tướng” chính là để
chỉ rơ ư nghĩa “chẳng do tánh, sẽ chẳng thể
nói đến Thật, Chẳng do tánh, sẽ chẳng thể
hiện tướng”. Đó là nguyên do giả gọi nó
là Thật Tướng. Đấy là điều thứ nhất.
2) Ư nghĩa trong khoa này
chính là cùng với ư nghĩa “nhược kiến chư
tướng phi
tướng, tắc kiến
Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng chính
là thấy Như Lai) trong phần trước soi tỏ lẫn
nhau. Bởi lẽ, ư nghĩa trong phần trước nhằm
chỉ rơ: Nếu chỉ thấy một mặt Tướng,
tức là lệch về Hữu. Nếu chỉ thấy một
mặt phi tướng, lại là lệch về Không, đều
chẳng thể thấy Như Lai tánh. V́ sao vậy? Tánh là “Không và
Hữu đồng thời trọn đủ”.
Khởi Tín Luận có nói ư nghĩa “Như Lai Tạng trọn
đủ Không và Bất Không”, há chẳng phải là “Không Hữu
đồng thời”
ư? V́ thế, ắt phải có thể “thấy tướng
chính là phi tướng th́ mới thấy Như Lai”. Cần
phải biết: Phải nên thấy tướng là phi
tướng, mà cũng
phải nên thấy phi tướng là tướng. Tướng
mà phi tướng, Sắc tức là Không. Phi tướng mà
là tướng, Không tức là Sắc. Kinh văn trong phần
trước đă nói rơ nghĩa “Sắc tức là Không”,
ở đây lại nói nghĩa “Không tức là Sắc”,
khiến cho mọi người gộp chung phần trước
và sau lại để quán, sẽ càng hiểu rơ ư nghĩa “Không
và Hữu đồng thời trọn đủ”. Kinh
văn thoạt đầu nói “Thật Tướng ấy
chính là phi tướng” nhằm nêu rơ “tướng chính là
phi tướng”. Lại nói “thị cố, Như Lai thuyết
danh Thật Tướng” (do vậy, Như Lai nói là Thật
Tướng), “thị cố” nhằm thừa tiếp
ư “phi tướng” trong phần trước để
nói tiếp “gọi là Thật Tướng”, nhằm chỉ
rơ “phi tướng mà là tướng”. Tướng tức
phi tướng, phi tướng mà là tướng, chính là
nghĩa chân thật của Như Lai Tạng. Do vậy bảo
“Như Lai thuyết”. V́ thế, trước là nói “thị
Thật Tướng giả, tắc thị phi tướng”
(chú trọng chữ Thật); sau là nói “thuyết danh Thật
Tướng” (nhấn mạnh chữ Thật). Đấy
chính là nguyên do giả gọi tánh là Thật Tướng.
Đó là điều thứ hai.
Trong đoạn trước,
“thấy tướng tức là phi
tướng” có chứa đựng ư nghĩa “phi
tướng mà là tướng”, nhưng chẳng nói rơ ra. V́
thế, ở đây nhờ vào chuyện giải thích ư
nghĩa “Thật Tướng là ǵ” mà nói toạc ra để
bổ túc. Trước hết nói “tướng tức phi
tướng”, sau đó nói “phi tướng mà là tướng”
chính là để tiếp nối nhằm bổ túc ư
nghĩa “tướng tức phi tướng”. Lại cần
phải biết hai nghĩa “tướng tức phi tướng”
và “phi tướng mà là tướng” vốn thâu nhiếp lẫn
nhau, cùng trọn đủ. Do vậy sau khi nói “tướng
tức phi tướng”, dùng hai chữ “thị cố”
để tiếp nối ḥng nói rơ. Đă nhằm bổ túc
ư nghĩa trong phần trước, lại c̣n nhằm nói rơ
ư “hai nghĩa ấy vốn liên quan”.
3)
Trong kinh, đức Phật thường nói “tánh thể
không tịch” để ngăn ngừa mọi người
hiểu lầm cái Không nơi tánh thể là rỗng tuếch,
chẳng có ǵ, [cũng như hiểu lầm] Tịch
nơi tánh là cô quạnh. Do vậy, lại gọi tánh thể
là Thật Tướng. “Thật” là chân thật có, chẳng
phải là rỗng tuếch, không có ǵ! “Tướng” là
hừng hực hiển hiện, chẳng phải là cô quạnh.
Ở đây chính là nói rơ nghĩa ấy. Hai chữ “phi
tướng” nhằm nói rơ [tánh thể] không tịch. V́
sao vậy? Tướng ấy [mọi thứ] đều
chẳng phải, há chẳng không tịch ư? Trọn chẳng
biết chính v́ tướng ấy “đều chẳng phải”,
bèn xét theo Như Lai tánh thể mà gọi nó là Thật Tướng.
Gọi tên nó là Thật, nhằm hiển lộ nó là diệu
trạm tổng tŕ[9],
thường hằng bất biến; tuy là Không mà chẳng
phải không có ǵ! Gọi tên nó là Tướng, nhằm hiển
lộ “Hồ đến Hồ hiện, Hán đến
Hán hiện”[10],
tuy tịch mà thường chiếu. Đấy lại là
nguyên do gọi tánh là Thật Tướng. Đó là điều
thứ ba.
4) Cổ đức nói
nghĩa Thật Tướng là “vô tướng, vô bất
tướng”. Thuyết ấy cực diệu, tột bậc
đơn giản, rơ ràng. Đối với “vô tướng,
vô bất tướng”, phải nên dùng hai nghĩa để
nói th́ mới là viên măn:
- Một, tánh thể vốn
chẳng phải là tướng, nên nói là “vô tướng”.
Tuy chẳng phải là tướng, nhưng hết thảy
các tướng đều duyên theo tánh mà khởi, cho nên lại
nói là “vô bất tướng” (chẳng
phải là không có tướng).
- Hai, tuy có thể hiện
khởi hết thảy các tướng, nhưng vẫn chẳng
dính dáng hết thảy các tướng. Cho nên nói là “vô bất
tướng”, nhằm nói rơ từ ngay nơi tướng mà
ĺa tướng vậy. Cố nhiên tánh chẳng phải là
tướng, nhưng chẳng tự khởi một niệm
“chẳng phải là tướng”, nên nói là “vô bất tướng”.
Đấy là nói rơ từ ngay nơi bất tướng mà
ĺa bất tướng.
Nghĩa sau sâu hơn
nghĩa trước, toàn là nói rơ “tánh thể ly niệm”
mà thôi. “Vô niệm” là không có ǵ gọi là “tướng,
bất tướng”. Do vậy, niệm đă ĺa th́
tướng và bất tướng,
hết thảy đều ĺa. Nhưng do tánh thể vô
tướng, tuy gọi là tướng, vẫn chẳng dính
dáng ǵ với nó. Do tánh thể chẳng phải là bất
tướng, nên gọi nó là tướng, há có trở ngại
chi đâu! Huống chi, tướng có hai nghĩa:
- Một là ngoại
tướng, có nghĩa là cảnh tướng (tướng của cảnh giới).
- Hai là tướng trạng,
tức là từ ngữ mô phỏng.
Gọi tánh là tướng,
đương nhiên chẳng thể hiểu ngây ngốc là
cảnh tướng. Do vậy, từ ngữ Thật
Tướng vẫn nhằm nói về tướng
trạng chân thật.
“Vô tướng, vô bất tướng” chính là tướng
trạng chân thật của tánh thể. Do vậy, gọi
là Thật Tướng. Giải thích “vô tướng, vô bất
tướng” như thế, ư nghĩa cố nhiên là viên măn.
Giải thích Thật Tướng như thế cũng khá
thiện xảo. Nhưng câu nói “vô tướng, vô bất
tướng” này vốn do cổ đức lănh ngộ từ
kinh văn trong khoa này. Do vậy, “vô tướng, vô bất
tướng” đă có đủ cả hai nghĩa như
vừa nói trên đây. Kinh văn trong khoa này cũng lại
có hai nghĩa:
- Nói theo nghĩa thứ
nhất, do tánh thể vốn chẳng phải là tướng,
cho nên kinh văn nói: “Thị Thật Tướng giả
tắc thị phi tướng” (Thật Tướng ấy
chính là chẳng phải tướng). Tuy chẳng phải
là tướng, nhưng hết thảy các tướng
đều duyên theo tánh mà khởi. Do vậy, kinh văn nói:
“Thị cố, Như Lai thuyết danh Thật Tướng”
(Do vậy, Như Lai nói là Thật Tướng).
- Nói
theo nghĩa kế đó, do tướng và bất tướng
hết thảy đều ĺa, cho nên kinh văn nói: “Thị
Thật Tướng giả tắc thị phi tướng”.
“Phi” hàm ư “ĺa”. Thật Tướng chính là phi
tướng, há chẳng phải là tướng và phi tướng
đều ĺa ư? Tướng và bất tướng
đều ĺa, tướng trạng chân thật của
Như Lai Tạng là như thế đó. Do vậy, kinh
văn nói rơ hơn: Do tướng và phi tướng đều
ĺa, nói theo tánh thể của Như Lai, được gọi
là tướng trạng chân thật. Tánh ấy được
gọi là nghĩa thứ tư của Thật Tướng.
Đức
Phật nói bổn tánh kèm thêm các thứ danh xưng, cho đến
hết thảy các pháp, không ǵ chẳng dùng đủ mọi
kiểu nói, đặt ra đủ loại danh từ,
nghĩa này rất quan trọng, mà trước nay cũng chẳng
có ai nhắc tới, nay tôi v́ quư vị nói đại lược.
Hăy
nên biết: Đức Phật thuyết pháp vốn là để
phá chấp của chúng sanh. Do thiên lệch nên chấp. Do chấp
nên càng lệch lạc, thiên vị. Sở dĩ chúng sanh tạo
nghiệp, chịu khổ, luân hồi chẳng thôi, sanh tử
không ngớt, hoàn toàn là v́ lẽ này! Thế gian sở dĩ
lắm phiền năo, nhiều đấu tranh, thậm chí giết
người ngập thành, giết người đầy
đồng, cũng không ǵ chẳng do lẽ này. Đức
Thế Tôn xuất hiện để cứu đời,
độ khổ. Do vậy, trước hết cần phải
phá điều này. Cần phải biết: Sở dĩ
chúng sanh thiên vị thành chấp, chẳng có chi khác, do trí huệ
ngắn chủn, nông choèn. Chuyện ǵ cũng chỉ thấy
một phía, thành ra pháp ǵ cũng cứng ngắc. Kiến giải
ấy chẳng dễ ǵ thay đổi, nhưng chẳng biết
đó là lệch lạc, chẳng biết đấy là chấp!
Do vậy, đức Phật nói như chọc một nhát kim
thẳng vào đỉnh đầu: “Vô hữu định
pháp” (chẳng có pháp nhất định). Dùng lời ấy
để phá cái gốc bệnh thiên chấp, nhưng hễ
nói một pháp, Ngài ắt dùng đủ loại kiểu nói,
đặt ra đủ loại danh từ, chính là để
biểu thị pháp ấy chẳng nhất định. Chữ
Pháp này nói theo nghĩa rộng, nhiếp chung pháp thế gian
và xuất thế gian. Nếu cho rằng chỉ có pháp xuất
thế là như vậy, đă trái nghịch ư chỉ của
Phật mất rồi!
Lại
phải nên biết: Con người cần phải học
Phật, học Phật th́ cần phải tu Quán, chẳng
có ǵ khác! Do quán chiếu Phật lư viên dung, sẽ có thể
chuyển biến tất cả các quan niệm từ
trước nay để hóa giải chứng bệnh thiên
chấp. Do vậy, học Phật mà chẳng tu Quán, lợi
ích cực nhỏ. V́ sao vậy? Ắt phải do tu Quán th́ mới
thể hiểu rơ lư. Do quán sâu xa, sau đấy mới thấy
lư sâu xa. Do quán trọn vẹn, sau đấy sẽ thấy
lư trọn vẹn; mà cũng do thấy lư sâu xa, quán càng sâu
hơn! Thấy lư đă trọn vẹn, quán càng trọn vẹn.
Lần lượt tu tập như thế, trí huệ sẽ
lần lượt sáng hơn. Trong lúc bất tri, bất
giác, chấp t́nh dần dần hóa giải, vọng niệm
ngầm tiêu. V́ thế diệu dụng của cái gọi là “khiển
chấp” (遣執,
trừ khử chấp trước) là ở chỗ này, chẳng
phải là quyết liệt trừ khử! Nói tới “đoạn
niệm” th́ diệu dụng cũng ở chỗ này, chẳng
phải là cưỡng
ép đoạn trừ!
Như
vậy th́ đối với điều được nói
ở đây, cái quả là ở chỗ nào? Hăy nên biết:
Đức Phật thuyết pháp, chưa hề nói một
câu nào cực đoan.
Trước nay, Ngài chưa từng nói một chữ cực
đoan nào! Lại c̣n mỗi khi nói một pháp, ắt
dùng đủ loại kiểu nói, ắt lập ra đủ
loại danh từ, chẳng có chi khác, chỉ v́ muốn cho
người nghe pháp ắt phải nh́n mọi mặt th́ mới
hiểu rơ
nghĩa thú trong ấy. Đấy chính là chỗ diệu dụng.
V́ sao vậy? Nhờ vào phương tiện ấy để
trừ tập khí xấu ác “chỉ thấy một mặt,
thiên chấp” trước nay của họ! Những điều
kinh này nói càng viên, càng diệu, đúng là kim cang huệ kiếm.
V́ sao vậy? Nếu thật sự có thể do quán nhiều
mặt mà đạt tới thâm quán, viên quán, sẽ không Hoặc
nào chẳng thể phá. Đă cần phải quán mọi mặt
th́ mới sáng tỏ nghĩa thú, vậy th́ chẳng thể
không đọc nhiều [kinh sách] Đại Thừa để
mở rộng sự hiểu biết. Lại c̣n chẳng
thể không lắng ḷng giác chiếu để lănh hội lẽ
tinh vi, Định và Huệ sẽ ở trong đó. Nếu
thật sự có thể là như thế, không chỉ tu các
thứ công hạnh đều được tự tại
thọ dụng, mà c̣n đối với hết thảy các
pháp thế gian, đều được tiến thoái thong
dong, mà chuyện chuyển phàm nhập thánh đă được
kiến lập trên đó. V́ sao vậy? Định Huệ
ngày càng tăng, vọng niệm ngày càng ít. Đấy là
điều then chốt khẩn yếu trong nghe pháp, là quyết
khiếu[11] mầu nhiệm nhất
để nhập Phật, hăy gấp nên chú trọng!
Bỉ
nhân tôn kính ư chỉ ấy, hễ nói một nghĩa, ắt
cũng nói đủ mọi lối, lật đi lật lại
kín kẽ, chẳng ngại chi ly, không ǵ chẳng v́
hy vọng người nghe mở toang ḷng dạ, đạt
được nhiều phương tiện tác quán đó
thôi! Bởi lẽ, bản lai diện mục cố nhiên chẳng
phải là dùng ngôn thuyết để diễn tả
được, chúng sanh lại c̣n quên bẵng đă lâu! Nếu
chẳng từ trong cái chẳng thể nói năng ấy, lập
nhiều phương tiện để nói, sao có thể tu
Quán cho được! Trên đây đă nói quán mọi mặt,
thâm quán và viên quán càng to lớn. Nếu ngược lại
th́ chứng bệnh ấy cũng cực lớn. Ngay như
đối với hai chữ Tín Giải, thường thấy
có kẻ một mực chủ trương: “Chỉ cốt
sao vun đắp tín tâm, thật thà niệm Phật là
đủ rồi! Hết
thảy các kinh điển chẳng được phép
đọc tụng. Pháp bảo Đại Thừa càng chất
lên gác cao”! Nếu có ai nghiên cứu giáo nghĩa, thích dự
pháp hội, liền quở trách là “chẳng thật thà”.
Cần phải biết “thật thà niệm Phật”
th́ cần phải có tŕnh độ. Nghĩa thú của niệm
Phật chẳng hiểu mảy may, sao có thể thật
thà cho được? Chủ trương thái quá như thế,
há chỉ khiến cái trí của người học Phật
bị cùn nhụt, mà c̣n trái nghịch ư chỉ của Phật!
Bởi Thập Lục Quán Kinh đă nói rơ “cầu sanh Tịnh
Độ th́ phải nên đọc tụng Đại Thừa,
hiểu Đệ Nhất Nghĩa”. Kế đó,
cũng cần phải nghe Đệ Nhất Nghĩa, tâm chẳng
kinh động. Do vậy, người nương theo
phương pháp ấy (tức chỉ “thật thà niệm
Phật, không cần học kinh điển”) mà học, trừ
kẻ chẳng thể hăng hái [tiếp tục tu tập, bèn] bỏ
dở giữa chừng, sẽ trở thành đâm quàng ngơ rẽ
mà chẳng thể tự biết. Đấy là cái lỗi
do chẳng biết “tín từ giải mà sanh”. Lại
có người tay chẳng rời sách, học rộng, nghe
nhiều, một bộ kinh, hoặc toàn thể Đại
Tạng, xem đọc không chỉ một lần,
nhưng trước nay chưa từng thắp một nén
hương, đảnh lễ một lượt, chẳng
biết cung kính Tam Bảo, cố nhiên là chẳng nói tới
chuyện tu hành. Tức là hạng người miệng nói
thao thao, hạ bút vun vút, vẫn là “tợ
hồ như đúng, nhưng sai be bét”,
lầm pháp, lầm người. Đấy lại là lỗi
do chẳng biết “giải từ tín mà ra”. Do có hai hạng
người như vậy mà tôi chẳng ngại rườm
lời!
Trên đây đă nói
đức Thế Tôn thuyết pháp trọn chẳng nói một
chữ cực đoan nào v.v… Cần phải biết: Chẳng
phải là Phật cố ư như thế, mà là do trí huệ
viên măn dung thông, hễ thốt ra lời, sẽ tự nhiên là
như thế. Không chỉ Phật là như vậy, Bồ
Tát cũng thế, đại đức, tổ sư ai nấy
cũng đều như vậy. Do đó, chúng ta đối
với hết thảy kinh luận, hết thảy các câu nói của
cổ đức, dẫu chẳng phải là chỗ tột
bậc khẩn yếu, cũng chớ nên coi thường
lướt qua. “Chớ nên coi thường” tức là
thường nh́n đủ mọi khía cạnh, lănh hội
sâu xa. Lại cần phải biết: Đối với kiến
địa của Phật, Bồ Tát, lũ phàm phu chúng ta há
có thể thấy xằng! Dẫu có thể hiểu sâu xa, vẫn
bất quá là thấy một phần trong ngàn vạn phần!
Dẫu có thể khéo nói, cũng bất quá nói được
một phần trong ngàn vạn phần. Dẫu nói trọn
hết một kiếp, vẫn nói chẳng tận. Ngay
như đối với nghĩa phải nên biết trong
khoa trước, lần trước tôi đă nói thành ba bốn
tầng, nhưng trong ấy c̣n chứa đựng nhiều
nghĩa, nay chẳng ngại lại nói mấy thứ để
chỉ rơ “nói chẳng cùng tận”!
1) Hăy nên biết: Chẳng
thể không nghe kinh này. V́ sao vậy? Người ấy sanh
ḷng tin chân thật, thành tựu công đức là do
được nghe kinh này. Hơn nữa, chẳng thể
không nghe kinh này th́ nói cách khác là chẳng thể không học
Bát Nhă!
2)
Hăy nên biết tín tâm trọng yếu nhất. V́ sao vậy?
Sanh Thật Tướng là do tín tâm thanh tịnh. Do vậy
có thể biết: Đối với những điều
được nói trước đó, như các câu “tŕ giới,
tu phước, có thể sanh tín tâm đối với
chương cú này, coi đấy là thật” phải nên
chú ư gấp ba. Nói thật thà, muốn học Bát Nhă, hăy nên
sanh ḷng tin chân thật. Muốn sanh ḷng tin chân thật,
trước hết hăy nên tŕ giới, tu phước.
3)
Hăy nên biết: Chuyển phàm thành thánh, chẳng thoái thất
Bồ Đề, nếu chẳng ĺa tướng để
thấy tánh th́ sẽ chẳng thể! Câu “thành tựu”
nhằm nói địa vị đă dự vào Sơ Trụ,
siêu phàm nhập thánh. Gọi là Trụ nhằm nói rơ: Đạt
tới địa vị này th́ tâm Bồ Đề mới
có thể chẳng lui sụt; đấy chính là Tín thành tựu, mà
tâm thanh tịnh chính là nói ĺa tướng. “Sanh Thật
Tướng” là nói kiến tánh. Do vậy, trước hết
nói: Phải nên biết Bát Nhă chẳng thể không học.
V́ sao vậy? Do chẳng học Bát Nhă, sẽ chẳng thể
ĺa tướng, thấy tánh. Bởi vậy, kế đó lại
nói: Hăy nên biết trước hết là phải nên tŕ giới,
tu phước. V́ sao vậy? Chẳng tŕ giới, tu phước,
sẽ chẳng phải là ḷng tin chân thật. Chẳng có
ḷng tin chân thật, tín tâm sẽ chẳng thể thanh tịnh.
Đấy là những điều học nhân hăy nên gấp rút tuân
hành. Chẳng hành như thế, sẽ chẳng thể thành
tựu; do vậy
nói “đương tri” (hăy nên biết). “Đương
tri” là nói: Chớ nên không biết!
Lại
suy rộng để nói, nh́n từ nghĩa lư của khoa “trần
thuật, tán thán, vui mừng”, nếu chẳng phát đại
tâm, chẳng nghe kinh này, cao nhất là chỉ có thể khai
huệ nhăn, thành Tứ Quả La Hán. Do hiểu rơ nghĩa “thành
tựu” trong khoa này, dùng đó để quán, nếu
được nghe kinh này, tín tâm thanh tịnh, thấp nhất
là có thể sanh Thật Tướng, thành Sơ Trụ Bồ
Tát. Học nhân cũng phải nên biết điều này. Do
vậy bèn nói: Có thể thấy nghĩa lư trong kinh thật
sự là vô cùng, thật sự là nói chẳng cùng tận! Có
thể thấy nghe pháp, ắt
phải nên nh́n theo mọi phương
diện. Tức là như tôi dùng đủ mọi nghĩa
để thuyết minh Thật Tướng, nếu người
nghe chỉ coi đó là thuyết minh “v́ sao gọi là Thật
Tướng?” để lănh hội, đấy chẳng phải
là ư bỉ nhân cặn kẽ nói đi nói lại vậy!
Nhưng nếu chỉ hiểu “v́ sao tánh được gọi
là Thật Tướng” cũng
chẳng hữu ích to lớn cho người nghe. V́ sao nói vậy?
Thật Tướng chính là diện mục sẵn có nơi
vị chủ nhân ông của mọi người. Chân diện
mục vốn sẵn như thế chỉ có chứng mới
biết. Như vậy th́ làm thế nào để chứng?
Chẳng có ǵ khác! Chỉ có dụng công nơi phản chiếu
mà thôi! Không chỉ lúc nghe phải nên phản chiếu, mà ngay
trong lúc đêm thanh hoặc ban ngày, lúc đối cảnh tùy
duyên, hăy nương theo các nghĩa đă nói trong lần này
để quán chiếu sâu xa. Hoặc chỉ nêu lên một
nghĩa, hoặc dung hội các nghĩa th́ đều có thể.
“Đêm thanh, ban ngày” chính là hướng về tự
tâm mà quán chiếu. “Đối cảnh tùy duyên” là
hướng đến hết thảy các pháp mà quán chiếu.
Thật sự có thể như vậy th́ thọ dụng vô
biên. Hăy nên biết: Đức Phật đối với bản
tánh, đặt ra các thứ danh xưng là để cho mọi
người nhờ vào cái danh mà thấu hiểu. Nhưng
trong các thứ danh xưng, các danh từ “Thật Tướng,
chẳng chấp hai bên, Không Hữu đồng thời”
so ra dễ lănh hội hơn. Đó lại chính là một ư
nghĩa [v́ sao] trưởng lăo riêng nêu lên danh xưng [Thật
Tướng] này. Bỉ nhân lại dựa theo danh từ ấy
mà mở ra đủ loại nghĩa để nói, với
dụng ư thuận tiện cho người nghe khi họ dụng
công phản chiếu, có thêm phương
tiện để lănh hội, chứ
chẳng phải chỉ nhằm giải thích danh nghĩa.
Do vậy, cũng biết tầm quan hệ của việc
mở ra đủ loại nghĩa để nói.
Khoa này lại có ư
nghĩa trọng yếu. Do trưởng lăo nói điều ấy,
cố nhiên nhằm giải thích rơ các đạo lư như Thật
Tướng là như thế nào, v́ sao gọi là Thật
Tướng v.v… Thật ra là kiêm chỉ dạy
phương pháp dụng công. V́ sao biết? Ở đây
đă nói rơ tướng và bất tướng đều chẳng
ĺa, tức là hoàn toàn hô ứng với “ly nhất thiết
chư tướng, tắc danh chư Phật” (ĺa hết
thảy các tướng th́ gọi là chư Phật) được
nói trong phần sau. Chữ Ly cần công
phu rất lớn. Nếu chẳng có công phu,
sao có thể ĺa? Sao có thể gọi là Phật cho được?
V́ thế, biết điều đang được nói ở
đây có bao gồm công phu trong ấy. Hăy nên biết: Nói một
chữ Phi sẽ là dứt bặt Bách Phi, cũng chính là
bốn câu đều ĺa, tức là Có cũng ĺa, Không Có
cũng ĺa, Cũng Có Cũng Không cũng ĺa, Chẳng Phải
Có Chẳng Phải Không cũng ĺa. Do vậy có thể biết:
Cổ đức giải thích Thật Tướng là “vô
tướng, vô bất tướng”. Một chữ Vô ấy cũng là Vô dứt
bặt đối đăi, chẳng phải là đối với
Hữu mà nói Vô. Bởi lẽ, tướng và bất tướng
vốn là từ ngữ đối đăi. Có đối
đăi, sẽ có biến động. Có biến động
th́ đó là có sanh diệt. Hễ có sanh diệt th́ chẳng
phải là kiên cố. Nhưng tánh thể đích xác là vạn
cổ thường hằng, rốt ráo kiên cố. Kiên cố
sẽ chẳng có sanh diệt. Chẳng có sanh diệt th́ chẳng
có biến động. Chẳng có biến động th́ chẳng
có đối đăi. Chẳng có đối đăi th́ là dứt
bặt đối đăi. “Dứt bặt đối
đăi” là tướng và bất tướng tuy đều
chẳng ĺa tâm tánh, mà tâm tánh th́ vượt ngoài tướng
và bất tướng. Nói chất phác, tướng là Hữu,
bất tướng là Vô. Đă vượt ngoài điều
ấy, há chẳng phải là vượt ngoài Hữu Vô? Như
vậy th́ một câu “vô tướng, vô bất tướng”
là nói cái Vô tuyệt đối, chẳng phải là lư “đối
ứng với Hữu mà nói Vô” đă rơ rành rành rồi!
Như vậy th́ làm thế nào để có thể Vô tuyệt
đối? Chính là bốn câu Hữu Vô đều ĺa. Do
đó, kinh văn nói: “Thị Thật Tướng giả,
tắc thị phi tướng” (Thật Tướng ấy
chính là chẳng phải tướng). Nói một chữ Phi
là nói đến công phu tu hành. Nếu người học muốn
thấy Thật Tướng, hăy nên tĩnh tâm lănh hội “hết
thảy đều chẳng phải”. Nếu lănh hội
Thật Tướng chính là phi tướng, sẽ lănh hội:
Nếu trong tâm c̣n có chút bóng dáng tướng và phi tướng,
sẽ chẳng phải là Thật Tướng. Do vậy,
câu “Thật Tướng chính là phi tướng” dị
thường sắc bén, chớ nên chạm chút nào. Hễ chạm
vào, sẽ
vùi mất huệ mạng. Nói thật thà, đó là dạy
người học cần phải từ nơi một
chót lông mà khế nhập.
Nay
muốn cho các vị có chỗ để thực hiện tu
tập, lại nương theo lư này, nói ra một
phương tiện. Phương tiện như thế nào
vậy? Tức là cần phải chuyên ṛng, miên mật quán
chiếu lúc chưa khởi tâm động niệm. Nếu
một niệm khởi mà lệch sang Hữu, liền quở
trách nó “chẳng đúng”. Hoặc lệch sang Vô, cũng quở
trách nó “chẳng đúng”. Cho đến ư niệm “cũng Hữu
cũng Vô”, hoặc ư niệm “chẳng phải Hữu, chẳng
phải Vô”, đều dùng chữ Phi để quở trách, trừ
bỏ. Đó là quán môn mầu nhiệm nhất. Hăy nên biết:
Ư niệm chẳng dấy lên th́ thôi! Nếu dấy lên, ắt sẽ đối
với bốn câu ấy bèn có chấp trước. Nay hết
thảy đều Phi, chính là đao sắc, búa bén để
ly niệm, há chẳng phải là quán môn mầu nhiệm nhất
ư? C̣n như đối với Lục Độ vạn
hạnh trong pháp xuất thế, mỗi mỗi đều
như pháp mà tinh tấn
tu hành, chưa từng vướng vất mảy may trong
ḷng. Mỗi mỗi đều tinh tấn, đó là bất
hoại, là vô bất tướng. Nếu trong
tâm chẳng có chuyện ấy, tức là chẳng chấp,
là vô tướng. Nhưng hết thảy pháp thế gian,
chuyện đến liền ứng đối, hết chuyện
liền thôi. Tuy ứng mà có thể thôi, tuy thôi mà có thể ứng.
Đó gọi là “nhấc
lên được, buông xuống được”.
Bất luận pháp thế gian hay xuất thế gian, hễ
có chút thiên vị, đều dùng chữ Phi để trừ
bỏ. Như thế th́ lâu ngày sẽ thấu hiểu
nghĩa thú của “bốn câu đều ĺa” mà tiến
nhập, sẽ có thể đạt tới “lúc ứng là
lúc thôi, lúc thôi là lúc ứng”. Tự nhiên chẳng chấp
chặt hai nên, khế hợp Trung Đạo, bốn câu “tướng,
bất tướng, Hữu, Vô” đều ĺa! Đấy
lại là hạnh môn mầu nhiệm nhất!
Kinh
dạy rơ ràng: “Thị cố Như Lai thuyết danh Thật
Tướng” (v́ thế, Như Lai nói là Thật Tướng).
Đó là khai thị học nhân “đă là chẳng phải” mà
lại “nói”, chỉ nhằm nói rơ “chẳng cần hoại”.
Cần phải biết: Tuy nói là “giả danh”, nhưng đối
với tánh thể Như Lai, phải nên ĺa danh tự và ngôn
thuyết để tự chứng. Nhưng ĺa danh tự
và ngôn thuyết chính là “ĺa niệm”. Phương tiện ĺa
niệm lại không chi hơn cách quán chiếu lúc chưa khởi
tâm động niệm. Nếu một niệm dấy lên,
liền biết “hết thảy đều chẳng phải”
mà trừ bỏ, há chẳng phải là dạy công phu tu tập
ư? Hăy nên biết: Từ
khoa “tín tâm thanh tịnh sẽ sanh Thật Tướng”
trên đây trở đi, chính là trưởng lăo đă thấu hiểu
nghĩa thú sâu xa. Do vậy, người nghe kinh cũng phải
nên thấu hiểu sâu xa như thế.
Đối
với bản tánh, đức Thế Tôn đặt ra đủ
loại tên gọi, trưởng lăo lại riêng nêu danh
xưng Thật Tướng để nói, đều nhằm
tạo thuận tiện khiến cho học nhân dễ thấu
hiểu bản tánh. Do vậy, đối với nghĩa Thật
Tướng, phải nên nêu tỏ cho nhiều. Đại
Luận nói về Thật Tướng có bốn câu kệ
tinh vi nhất, tường tận
nhất, đáng phải nên biết nhất,
để tiện thường xuyên giác chiếu. Thật
Tướng chính là diện mục sẵn có của tánh.
Chính v́ mê mất bản tánh, cho nên trở thành chúng sanh. Nay
muốn chuyển phàm thành thánh, há chẳng chân thành, thiết
tha thấu hiểu, cảm nhận ư? Kệ nói: “Nhất
thiết thật, nhất thiết phi thật. Cập nhất
thiết thật, diệc phi thật. Nhất thiết phi
thật, phi bất thật. Thị danh chư pháp chi Thật
Tướng” (Hết thảy thật, hết thảy chẳng
thật. Và hết thảy thật cũng chẳng thật.
Hết thảy chẳng thật, chẳng phải không thật.
Đó gọi là Thật Tướng của các pháp). Do vậy
có thể thấy Bồ Tát thuyết pháp thiện xảo.
Chẳng nói theo chữ Tướng, mà nói theo chữ Thật.
Đó là điều thứ nhất. Chẳng nói theo tánh, mà
nói theo các pháp. Đó là điều thứ hai. Cần phải
biết: Nói là tướng th́ nó là giả danh, bất quá khiến
cho mọi người hiểu rơ trạng huống của
bản tánh đó thôi. Do vậy, chẳng nói theo tướng;
lại nhằm cảnh tỉnh chớ nên chấp chặt
vào chữ Tướng. Nếu chấp cứng vào đó, đă
là chấp tướng. Xét theo chữ Thật để
nói, lại có thâm ư: Con người chấp tướng là do lầm
nhận [tướng] là thật. Nếu biết hết thảy
các pháp thật ra cũng chẳng phải là thật, chẳng
phải thật mà là thật, sẽ biết tướng của
hết thảy các pháp tức là phi
tướng, phi tướng mà là tướng. Thuyết
pháp như thế, há chẳng phải là thiện xảo
ư?
Đối
với chuyện xét theo pháp để nói [trong bài kệ của
Đại Trí Độ Luận], cần dùng ba nghĩa
để minh thị:
1) Khiến cho mọi
người biết “ngoài tâm chẳng có pháp”. Đức Phật
nói hết thảy các pháp chỉ là huyễn tướng, chẳng
có thật thể. Thể chỉ là tịnh tâm; do vậy
nói “vạn pháp duy tâm”. Lại nói “ngoài tâm chẳng có
pháp”. Do vậy, có thể dựa theo các pháp để giảng
rơ Thật Tướng. Bởi lẽ, Thật Tướng
của các pháp chính là tánh. Dựa theo pháp để nói, chẳng
khác dựa theo tánh để nói.
2) Khiến cho mọi
người dễ thấu hiểu. Chúng sanh vốn quên gốc
đă lâu, nhưng hết thảy các pháp đều
được chúng sanh cùng biết, cùng thấy. Chẳng bằng
dựa theo các pháp để nói, khiến cho họ do các pháp
mà ngộ tâm tánh.
3) Khiến cho mọi
người hiểu rơ Nhất Chân pháp giới. Khởi Tín
Luận nói: “Do chẳng biết một pháp giới, bất
giác niệm dấy lên mà có vô minh, bèn thành chúng sanh”. “Một
pháp giới”
tức là Nhất Chân pháp giới. Trong mười pháp giới,
muôn h́nh tượng la liệt, nhưng Chân Như là một.
Đó chính là ư nghĩa “hết thảy có cùng một Thể”.
Nếu biết trạng huống chân thật của hết
thảy các pháp, không ǵ chẳng phải là Không Hữu đồng
thời! Trên là từ mười phương chư Phật,
dưới cho đến hết thảy chúng sanh, cùng với
núi, sông, đại địa, t́nh và vô t́nh, không ǵ chẳng
đều lấy tịnh tâm làm Thể đă rơ rành rành! Do
Thật Tướng của tịnh tâm vốn là Không Hữu
đồng thời; đó gọi là Nhất Chân pháp giới,
cũng nói là “chư pháp nhất như” (các pháp giống hệt như nhau).
Cần phải biết: Hết thảy
các pháp đều do tâm hiện. Tâm tánh đă là Không Hữu
đồng thời; cho nên hết thảy các pháp không ǵ chẳng
là Không Hữu đồng thời. Đó là điều thiện
xảo thứ hai.
Ngài
Long Thọ tôn ngài Mă Minh làm thầy. V́ thế, Khởi Tín Luận
dựa theo các pháp để giảng rơ Chân Như, đúng
là y bát tương truyền. “Nhất thiết thật”
tức nghiễm nhiên nh́n vào hết thảy các pháp. Từ
ngữ này nhằm phá chấp Vô. “Nhất thiết phi thật”:
Bản thể của hết thảy các pháp chính là Không; từ
ngữ này nhằm phá chấp Hữu. Lại ngừa
người nghe chấp là “vừa Hữu vừa Vô”,
hoặc “chẳng phải Hữu, chẳng phải Vô”, nên lại
nói câu thứ hai và câu thứ ba sau đó. “Cập” có
nghĩa là “liên cập” (liên quan với), tức là chẳng
thể chỉ xem câu đầu tiên, mà cần phải nối
kết với câu thứ hai và câu thứ ba th́ mới thấu
hiểu. Điều ấy có nghĩa là: Như vừa mới
nói hết thảy các pháp thật và chẳng thật, chẳng
phải cách biệt, chẳng phải dung thông. Hăy nên biết: Thật
tức là chẳng thật, chẳng thật tức là chẳng
phải không thật. “Thật chính là chẳng thật”
tức là Hữu chính là phi Hữu, Sắc tức là Không vậy.
“Chẳng
phải thật”
tức chẳng phải không thật, đó là chẳng phải
Hữu mà là Hữu, Không tức là Sắc vậy. Bốn
câu như thế đều trừ, trạng huống chân
thật của các pháp là như thế. Trạng huống
chân thật của tánh thể là như thế, bèn kết lại
rằng: “Đó gọi là Thật Tướng của các
pháp”.
Lại
c̣n nói rơ “pháp tánh vốn chẳng thể nói”. Nói là Thật
Tướng cũng là giả danh, chẳng thể chấp! Thường
có người nghe “bốn câu đều trừ” và “Không
Hữu đồng thời”, chẳng khỏi hoài nghi,
[v́ họ] cho rằng “cũng Hữu cũng Vô”, hay “chẳng
phải Hữu chẳng phải Vô”, và “Không Hữu đồng
thời” nghĩa vị chẳng sai khác! V́ sao vậy? Họ
cho rằng “Không Hữu đồng thời” há chẳng phải
là nói Hữu cũng được, mà nói Vô cũng
được luôn hay sao? Há lại chẳng phải là “chỉ
nói Hữu liền sai, chỉ nói Vô liền trật” ư? Vậy
th́ sao lại nói “cũng Hữu cũng Vô” hoặc nói “chẳng
phải Hữu, chẳng phải Vô” đều là thiên chấp,
cần phải trừ bỏ? Người ấy nói như
thế, sai lầm mất rồi! Sai lầm to lớn lắm!
Do không chỉ chẳng hiểu ngữ ư của “cũng Hữu
cũng Vô” và “chẳng phải Hữu chẳng phải Vô”,
mà c̣n chẳng hiểu ngữ ư của “Không Hữu đồng
thời” mà ra! Hăy nên biết hai câu “cũng Hữu cũng
Vô” và “chẳng phải Hữu chẳng phải Vô” do tiếp
nối câu Hữu và câu Vô trước đó mà có, được
gọi là “tứ cú” (bốn câu).
[Kẻ
đó cho rằng] dụng ư nói “cũng Hữu cũng Vô” là:
“Do người thứ nhất chỉ nói Hữu, người
thứ hai chỉ nói Vô, mỗi người lệch về
một bên, thật sự là có bệnh! Ta chẳng phải
như thế! Ta nói hết thảy các pháp cũng là Hữu,
cũng là Vô. Hai bên đă đều là đúng th́ căn bệnh
lệch về một bên sẽ bị trừ”. [Kẻ lập
luận như vậy] trọn chẳng biết đă nói Hữu
th́ chẳng thể nói Vô; đă nói là Vô th́ chẳng thể
nói Hữu. Nói “cũng Hữu cũng Vô” th́ chính ngay lời ấy
mâu thuẫn, huống chi xem thành Hữu là đúng, mà Vô
cũng đúng luôn ư?
Lời nói đă ba phải như thế th́ nghĩa sẽ
lại trở thành cách biệt, chẳng dung thông; cho nên phải
trừ bỏ [cách nói “cũng Hữu cũng Vô”].
Dụng
ư [của kẻ] nói “chẳng phải Hữu, chẳng phải
Vô”: “Do những điều người thứ ba nói
đúng là có bệnh, ta khác hẳn, ta nói ‘hết thảy các pháp, chẳng
phải là Hữu, chẳng phải là Vô’. Đă là hai bên
đều trừ, vậy th́ căn bệnh chấp trước
hai bên của người thứ ba đă trừ”. [Kẻ lập
luận như vậy] trọn chẳng biết “chẳng
phải Hữu th́ sẽ là Vô”, sao lại nói “chẳng phải Vô?” Chẳng phải Vô th́ là Hữu, sao lại
nói “chẳng
phải Hữu?”
Há chẳng phải là hư luận ư? Chính là do v́ thấy “Hữu
là Hữu, Vô là Vô”, [cho nên hai đằng] cách biệt, chẳng
dung hội, cũng giống hệt như căn bệnh của
người thứ ba. V́ thế, cần phải trừ khử.
Lại nữa, kiến địa của người thứ
ba đă nói “Hữu Vô đều đúng”, chính là lệch về
bên Hữu; mà kiến địa của người thứ
tư, chính là nói Hữu Vô đều trật, vẫn y
như cũ,
chấp vào bên Không! Há chẳng phải đáng nên trừ khử
ư? (“Hai
đằng cùng đúng” th́ cũng giống như Song Chiếu.
“Hai đằng cùng sai” th́ giống
như Song Giá. Nhưng thật ra, vẫn là khác nhau rất
nhiều. Do nói Song Chiếu, Song Giá là nói đạt
được trung dung, c̣n nói Song Diệc (tức cũng Hữu
cũng Vô), Song Phi (chẳng phải Hữu chẳng phải
Vô) th́ chỉ là Nhị Biên mà thôi). Như đối với
nghĩa “Không Hữu đồng thời” th́ rơ ràng lúc Không
chính là lúc Hữu, lúc Hữu chính là lúc Không. Không và Hữu
viên dung, đă chẳng phải là hai, th́ là chẳng có bên
nào. “Bên” (tức bên Hữu, bên Vô) c̣n chẳng có, sẽ
chấp vào đâu? So với “cũng Hữu cũng Vô”, “chẳng
phải Hữu, chẳng phải Vô”, nghĩa vị khác biệt
một trời một vực, sao lại nói là chẳng
khác?
Tiến
hơn nữa, nếu chúng sanh biết “Không
Hữu đồng thời”,
có thể thấy là Không lẫn
Hữu đều chẳng thể nói. Nếu biết Không
và Hữu c̣n chẳng thể nói, há c̣n phân biệt nữa
ư? Đó là chính ư nghĩa vi nhiệm khi đức Phật
nói “Không Hữu
đồng thời”,
bởi lẽ đă trừ t́nh kiến phân biệt của
chúng sanh, lại dạy họ ĺa danh tự và ngôn thuyết
để tự chứng. Do đó, bất luận nói Hữu,
hay nói Vô, nói “cũng Hữu cũng Vô”, hay nói “chẳng phải
Hữu, chẳng phải Vô”, hết thảy đều trừ
bỏ. Trên đây là nói theo nghĩa đối trị. Nếu
nói theo nghĩa rốt ráo triệt để, nói “trừ”
th́ hết thảy đều trừ, nói “chẳng trừ”
th́ hết thảy đều “chẳng trừ”. Cần phải biết: Hễ nói
đến Trừ th́ là do chấp
nên phải trừ.
Nếu chẳng có ǵ chấp, sẽ chẳng có ǵ bị trừ!
V́ thế, đối với “Không Hữu đồng thời”,
cũng chớ nên chấp. Chấp cũng nên trừ! V́ sao
nói như vậy? Hăy thử xem Tâm Kinh, trước là nói Sắc
chính là Không, Không chính là Sắc. Do nói “Không Hữu đồng
thời”, khiến cho mọi người ngộ điều
ấy mà được nhập chánh trí Bát Nhă. Nhưng sau
đó lại nói “vô trí diệc vô đắc” (chẳng
có trí mà cũng chẳng có đắc), tức là ư nghĩa
khai thị: Đối với “Không Hữu đồng thời”,
cũng chớ nên chấp! Kinh này cũng nói rơ ràng, như
nói “Bát Nhă phi Bát Nhă” vậy!
Ngay như khoa này cũng thế.
Trước đó là nói “tắc sanh Thật Tướng,
thành tựu công đức” (bèn sanh Thật Tướng,
thành tựu công đức), nhưng khoa này lại nói “Thật
Tướng tắc thị phi tướng, thuyết danh Thật
Tướng” (Thật Tướng tức chẳng phải
là tướng, bèn nói là Thật Tướng) cũng v́ nhằm
ngăn ngừa mọi người chấp trước Thật
Tướng, cho nên nói “chẳng phải”, nói là “giả danh”
để trừ khử vậy! Thật Tướng tức
là Không Hữu đồng thời. Hăy nên biết: V́ sao chẳng
thể chấp Không Hữu đồng thời? Do có chấp
đôi chút, sẽ chấp lệch về bên Hữu, chẳng
phải là “Không Hữu đồng thời”.
Do vậy, phải nên trừ khử. Nếu nghe tôi nói lời
ấy, mà đối với nghĩa thú “Không Hữu đồng
thời”, trọn chẳng thấu hiểu quán chiếu, th́
lại chấp lệch vào bên Không, sẽ chẳng phải
là “Không Hữu đồng thời”,
cũng nên trừ bỏ. Hăy nên lănh hội như thế, hết
sức trọng yếu!
Nói
chung, nếu t́nh kiến rỗng không, nói “Không Hữu đồng thời”
cũng được, mà nói bốn câu lại cũng
chưa hề chẳng được! Nếu chưa
được như thế, nói bốn câu cố nhiên là chẳng
thể, dẫu nói “Không
Hữu đồng thời”
cũng chẳng thể được! Hăy chú ư nhé!
Trong
nghĩa thứ hai của Thật Tướng như vừa
nói trên đây: Khoa này và khoa trước, tức khoa
“nhược kiến chư tướng phi
tướng, tắc kiến Như Lai”
(nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng
liền thấy Như Lai), soi tỏ lẫn nhau. Do vậy
nói rằng: Cũng có thể thấy trưởng lăo đă
hiểu sâu xa nghĩa thú, nhưng chỗ thâm giải của
trưởng lăo chẳng phải chỉ có vậy. Cần
phải biết: Tánh có rất nhiều tên gọi khác nhau,
nay chẳng nêu ra danh xưng nào khác, chỉ riêng nêu một
danh xưng là Thật Tướng để nói, lại là để
nói rơ các nghĩa thú trước đó như “thuyết
pháp và chẳng thuyết pháp đều chớ nên giữ lấy”,
nói “phi pháp, phi phi pháp”, nói “tắc phi, thị danh”
v.v… Trên đây, đức Thế Tôn đă nói như thế,
đều nhằm dạy chẳng chấp hai bên Không và Hữu
để viên dung. Do chấp vào hai bên, sẽ chẳng phải
là tánh, mà là tướng. Nếu giữ lấy tướng của
pháp, tức là chấp ngă. Nếu giữ
lấy tướng của phi pháp,
đó cũng chính là chấp ngă. Nay trưởng lăo đối
với Thật Tướng “Không
Hữu đồng thời”,
cũng nói “tắc phi, thị danh”, chính là đối ứng
khít khao với những điều đức Thế Tôn
đă nói trước đó để nêu tỏ hai nghĩa,
ḥng khiến cho [thính chúng] lănh hội. Hai nghĩa ǵ vậy?
1) Tánh vốn là Không Hữu
viên dung (“đồng thời” có nghĩa là viên dung), Nếu
chấp vào hai bên, sẽ chẳng tương ứng với
bản tánh.
2) Không và Hữu viên
dung, c̣n chớ nên chấp. Do có chấp trước đôi
chút, sẽ là Không Hữu chẳng viên dung. Huống hồ
hai bên càng chớ nên chấp, c̣n đợi phải nói chi nữa!
Ở đây, thâm ư riêng nêu ra Thật Tướng để
nói chính là do trưởng lăo đă
hiểu sâu xa nghĩa thú vậy.
Lại
nữa, đối với những điều đă nói
trên đây, chữ Phi trong khoa này hàm ư Ly, tức là nói tới
công phu tu hành, tức là tương ứng với “ly nhất
thiết chư tướng, tắc danh chư Phật”
(ĺa hết thảy các tướng th́ gọi là chư Phật)
trong khoa sau. Hăy nên biết: Đấy chính là xét theo hai khoa
khuyên nhủ trong hiện tiền và tương lai, thật
sự chẳng có chỗ nào mà không tương ứng. Do những điều
được nói trong hai khoa vốn nhằm soi tỏ lẫn
nhau. Nghĩa này cho tới phần sau sẽ nói.
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.
Xét theo tương lai để khuyên
Chia làm hai phần:
1) Mừng
vui trong hiện tại để khuyên mai sau.
2) Giải
thích rơ nguyên cớ.
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.1. Nêu rơ sự mừng vui trong hiện tại
để khuyên mai sau
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.1.1. Tự vui mừng
(Kinh)
Thế Tôn! Ngă kim đắc văn như thị kinh điển,
tín giải thọ tŕ, bất túc vi nan.
(經)世尊!我今得聞如是經典,信解受持,不足為難。
(Kinh: Bạch Thế Tôn! Con nay được
nghe kinh điển như thế, tin hiểu, thọ tŕ, chẳng
đáng coi là khó).
“Ngă
kim đắc văn như thị kinh điển, tín giải
thọ tŕ” (con nay được nghe kinh điển
như thế, tin hiểu, thọ tŕ), câu này chính là nói rơ
nguyên cớ trước nay dù đă đắc
huệ nhăn, nhưng chưa từng được nghe. V́
sao? Nếu biết hiện
thời được nghe rồi tín giải,
thọ tŕ, liền biết [sở dĩ] xưa kia chưa
từng được nghe, chẳng có ǵ khác, [chỉ là] do
trong tâm thấy [chính ḿnh] có sở đắc là huệ nhăn,
tự sanh chướng ngại đối với kinh sâu xa này. Dẫu
được nghe, ắt cũng chẳng thể tin hiểu,
thọ tŕ, tức là nghe mà cũng như chẳng nghe! V́ vậy
nói: “Sở đắc huệ nhăn, vị tằng đắc
văn” (đă đạt được huệ nhăn mà
chưa từng được nghe). Lời ấy chính là
nói rơ: Chướng ngại hoàn toàn v́ huệ nhăn!
V́ sao huệ nhăn có thể sanh chướng? Toàn là do có một
điều sở đắc tồn tại. V́ sao vậy?
Hễ có một điều sở đắc, đó là pháp
chấp. Đó là trí huệ ngắn chủn, nông choèn; vậy
th́ đối với nghĩa Tam Không thù thắng, sao có thể
khế hợp? Hơn nữa, hễ có một điều
sở đắc th́ tự giác đă
trọn đủ, nhưng bi nguyện chẳng to lớn!
Tức là đối với chuyện xả ḿnh, độ
người, cũng như diệu hạnh “tuy độ
mà chẳng có tướng độ” càng khó khế nhập.
Đấy chính là nguyên do xưa nay chưa từng
được nghe vậy! Nay do [trưởng lăo] ngầm
thấy đức Thế Tôn “hết
thảy vô trụ” mà
đạo nhăn [của trưởng lăo] được khai,
bèn phát đại tâm v́ đại
chúng thỉnh Phật nói kinh sâu xa này.
Do vậy, được nghe rồi, Ngài tín
giải, thọ tŕ.
“Giải”
(解)
là liễu giải. “Thọ” (受)
là tiếp nhận. Đó là lănh hội. V́ thế, Giải
và Thọ ư nghĩa gần như nhau. Đă nói Giải, lại
nói Thọ. Hai chữ Thọ Tŕ là nói gộp lại. Bởi
lẽ, nói gộp chung Thọ Tŕ nhằm nêu rơ Giải và Hạnh
phải nên cùng tiến. Hơn nữa, chữ Tŕ (持) lại có nghĩa là chấp tŕ, chẳng
để mất. V́ thế, nói câu “tín giải thọ
tŕ” nhằm nêu rơ: Không chỉ có thể tin, có thể giải,
mà c̣n có thể giải và hạnh cùng tiến, chẳng lui sụt.
“Bất túc vi nan” (chẳng đáng là khó) tức là nói
chẳng phải khó khăn mười phần, nhưng chẳng
phải là tuyệt đối không khó khăn, mà là chẳng phải mười
phần khó khăn!
Đó là lư do v́ sao Ngài tự vui mừng. Nếu tuyệt
đối chẳng khó, sao có thể nói là “tích lai huệ
nhăn vị tằng đắc văn” (từ xưa
đă đắc huệ nhăn, nhưng chưa từng
được nghe), cũng chẳng đến nỗi buồn
khóc rơi lệ, tán thán hy hữu.
V́
sao “chẳng đáng coi là khó?” Do có ba nghĩa:
1) Nhằm lúc đích thân gặp
Phật, đích thân nghe dạy bảo, dễ đạt lợi
ích. Huống chi được quang minh của Như Lai nhiếp
thọ, thấy nghe tùy hỷ, sẽ được phước
lớn không chi bằng, sanh ra trí huệ không chi lớn bằng.
Thoạt đầu chẳng cần phải khai thị,
nhưng sanh nhằm lúc gặp hội thù thắng, [tức
là] túc căn phước huệ nhất định sâu dày.
Nhân duyên trọn đủ như thế đó. Do vậy,
thường là khi đức Phật thuyết pháp, người
chứng quả ngay khi ấy chẳng thể tính kể; mà
sanh trước Phật hay sau Phật, chính là một trong
tám nạn. Bản thân trưởng lăo là đại đệ
tử. Do vậy, “chẳng đáng coi là khó”. Đấy
là điều tự vui mừng thứ nhất.
2) Do đă chứng
thánh quả. Như kinh Đại Phẩm [Bát Nhă] chép: “Bát
Nhă thậm thâm, thùy vi năng tín. Đáp viết: - Chánh kiến
thành tựu nhân, lậu tận A La Hán, năng tín” (Bát Nhă
rất sâu, ai có thể tin? Đáp rằng: - Người
chánh kiến thành tựu, bậc lậu tận A La Hán có thể
tin). Nay trưởng lăo đă chứng quả A La Hán, cho nên
chẳng đáng coi là khó. Đấy là điều tự
vui mừng thứ hai.
3) Có thể hiểu
nghĩa Không. Một bộ Bát Nhă đều nói về Đệ
Nhất Nghĩa Không, nhưng trong mười vị đại
đệ tử, trưởng lăo là bậc Giải Không
đệ nhất. Đó là vị có căn tánh nhạy bén
nhất, dễ dàng khế nhập. Do vậy, tám hội
trước đều do trưởng lăo làm bậc
đương cơ. Nay nói kinh điển rất sâu,
cũng do trưởng lăo phát khởi. Do vậy nói “chẳng
đáng coi là khó”. Đấy là điều tự vui mừng
thứ ba.
Nh́n
chung, phần kinh văn tiếp theo cũng trọn đủ
các nghĩa vừa nói trên đây. V́ sao vậy? Trưởng
lăo tự nói “chẳng đáng coi là khó”, chính là để
nêu rơ: “Đời Mạt mười phần khó khăn,
do chẳng sanh nhằm lúc gặp Phật”. Ngài tự vui
mừng, cũng chính là quan tâm khích lệ hàng hậu học,
hàm ư: Tôi nay may mắn gặp đức Thế Tôn, đă chứng
quả A La Hán, lại hiểu nghĩa Không. Do vậy
được tín giải, thọ tŕ. Do chúng sanh đời
Mạt, đă chẳng gặp Phật, rất khó được
nghe, rất khó tín giải, thọ tŕ, mà rốt cuộc [quư
vị] được nghe, lại có thể tín giải, thọ
tŕ. Các vị đúng là khó có, đáng quư lắm, căn tánh ắt
vượt xa tôi (chủng tánh Bồ Tát vượt xa La
Hán). Tôi nay [tín, giải, thọ tŕ như vậy] nào có
đáng coi là lạ, nên nói “chẳng đáng coi là khó”.
Trong mấy hàng [kinh văn], chứa đựng ư nghĩa
ân cần khẩn thiết đôi ba lượt, tột bậc
khăng khăng cổ vũ, khích lệ cái tâm của bọn
hậu tấn vậy!
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.1.2.
Khuyên rộng
(Kinh)
Nhược đương lai thế, hậu ngũ bách tuế,
kỳ hữu chúng sanh, đắc văn thị kinh, tín giải
thọ tŕ, thị nhân tắc vi đệ nhất hy hữu.
(經)若當來世,後五百歲。其有眾生,得聞是經,信解受持,是人則為第一希有。
(Kinh:
Nếu trong đời tương lai, năm trăm năm
sau, mà có chúng sanh được nghe kinh này, tin hiểu,
người ấy sẽ là hiếm có bậc nhất).
Đời
tương lai được nói chung là “Phật hậu”
(sau khi đức Phật nhập diệt). “Hậu
ngũ bách tuế” tức là năm trăm năm thứ
năm sau khi đức Phật nhập diệt (tức hai
ngàn năm trăm năm sau khi đức Phật nhập
Niết Bàn), chính là khởi đầu thời Mạt Pháp.
Hiện thời, đă gần ba ngàn năm, đă thuộc
vào cuối năm trăm năm thứ sáu. Kinh hễ nói “hậu
ngũ bách tuế” cũng chẳng hạn định
trong [năm trăm năm thứ năm], mà là nói chung thời
đại Mạt Pháp đó thôi. Kinh Lăng Nghiêm nói chúng
sanh trong thời ấy đấu tranh kiên cố, rất
khó nhập đạo. “Đấu tranh”: Ḿnh đúng, kẻ
khác sai, tranh cường đấu thắng! “Kiên cố”:
Cứ một mực tranh đấu, cứng chắc không
ǵ phá nổi. Thử xem Trung Hoa từ đời Tống tới
nay (từ đầu đời Tống cho tới nay gần
một ngàn năm. Khi đó, chính là lúc tiến nhập đầu
thời Mạt Pháp). Người nghiên cứu đạo
đức, học vấn, tranh chấp môn hộ vượt
xa thời Hán - Đường. Do vậy, có thói quen Tống
học bài xích phong cách của Hán học, có Nho gia hủy
báng Phật giáo. Về sau, trong những
kẻ được gọi là “Đạo học”[12],
lại tự dấy lên tranh chấp, như hai phái Tŕnh Châu
và Lục Vương[13]
vậy. Nói chung, chẳng ngoài dựng riêng ngọn cờ của
ḿnh, đả đảo người khác. Hễ có nhân, ắt
có quả, rốt cuộc bị kẻ khác đả đảo!
Sau đó, bèn có tân học nhất loạt lật
đổ cựu học, ngay cả
Khổng Tử cũng mắc lụy. Trọn chẳng biết
nghĩa chân thật của Khổng Tử! Từ
đời Hán tới nay, người học vẫn
chưa mộng thấy! Ngay
như lấy Phật môn để luận,
khi bước vào đời Tống, cũng nhiễm phong
cách ấy! Các tông, các phái đấu đá hết sức khốc
liệt. Ai cũng đề cao tông ḿnh là đúng, các tông
khác sai be bét! Càng ngày càng đi xuống, lại có kẻ muốn
phủ định Khởi Tín Luận, thật đáng
đau ḷng! Phật môn c̣n như thế, trong hàng có học vấn
đạo đức mà c̣n như thế, những kẻ
khác c̣n ǵ để nói nữa! Do vậy, hai chữ “phấn
đấu” trở thành cách ngôn. Trọn chẳng biết cổ
nhân nói “nỗ lực”, nói “phấn miễn”, nói “tự
cường”, tức là như
Phật giáo cũng nói những câu “dũng mănh, tinh tấn”
v.v… đều là nói theo bản thân của chính ḿnh [gắng
sức cải tiến, hoàn thiện, khắc phục các
thói hư tật xấu của chính ḿnh, chứ không phải
đấu đá hơn thua với người khác], có lợi,
chẳng có khuyết
điểm. Nay nói “phấn đấu”, tuy cũng là tự
cường, nhưng chứa đựng ư nghĩa bài trừ
kẻ khác! Do tập
khí đấu tranh ấy ngày càng sâu, dẫn khởi thế
đạo ngày càng khổ sở!
Đấu
tranh dấy lên như thế nào? Do chấp trước mà dấy
lên. Chấp trước do phân biệt, phân biệt do ngă kiến,
mà Phật pháp chuyên trị bệnh này. Nay đức Thế
Tôn và trưởng lăo đều đặc biệt cổ
vũ, khích lệ [chúng sanh trong] thời đại Mạt
Pháp. Có thể biết: Hiện thời, muốn bổ cứu
ḷng người, văn hồi thế vận, chỉ có cách hoằng dương Phật pháp, v́ đó
chính là phương thuốc tốt lành để trị
đúng bệnh! Nhưng chính v́ nó trị đúng bệnh, lại hoàn toàn
tương phản với t́nh kiến của con người.
Do đấu tranh kiên cố, chướng sâu, nghiệp nặng,
chẳng thể biết trọn cái nhân bên trong. Lại thêm
thời gian “cách thánh” (cách biệt Phật, Bồ Tát, thánh nhân) đă xa, thiện
tri thức ít ỏi, tức là ngoại duyên cũng lại
chẳng đủ. Do nhân lẫn duyên hai
đằng đều thiếu, đối với
kinh sâu, không chỉ thọ tŕ khó khăn, tín giải khó
khăn, ngay cả được nghe cũng đă rất
khó, nhưng trọn chẳng phải là không có cơ hội
được nghe pháp, mà là giống như chẳng muốn
nghe pháp vậy. Như vậy th́ cũng biết là nếu
ai chẳng có ba nạn ấy, nếu chẳng phải là bậc
gieo thiện căn đă lâu, chắc chắn là bị
Phật loại trừ (không nhắc đến). Do đó bảo
là “đệ nhất hy hữu”, cho thấy [những
ai được nghe pháp này mà tín giải, thọ tŕ] nếu
chẳng phải là bậc Bồ Tát thị hiện th́
cũng chính là người trọn đủ chủng tánh Bồ
Tát.
“Tắc
vi” có nghĩa “chính là”. Trong ấy, có chứa đựng
ư nghĩa “thành tựu”. Hoặc nói: Bồ Tát thị hiện
th́ chẳng cần bàn tới, chứ người có chủng
tánh Bồ Tát sẽ thành tựu như thế nào? Hăy nên biết:
Trước hết, kinh nói “được nghe” rồi
lại nói “tín, giải, thọ tŕ”; đó là nói người
ấy trọn đủ Tam Huệ, há chẳng thể thành
tựu ư? (Nghe là Văn Huệ, tín giải là Tư Huệ,
thọ tŕ là Tu Huệ). Bởi lẽ, sống trong đời
Mạt mà được nghe kinh sâu, thật sự chẳng
phải là chuyện dễ! Ắt phải là xưa kia
đă có chủng tử Bát Nhă, thường nói “chẳng
phải đă gieo thiện căn nơi một vị Phật,
hai vị
Phật, ba, bốn, năm vị Phật”, có
trọn đủ cái nhân thù thắng như thế đó
th́ mới có thể gặp gỡ duyên thù thắng.
V́ thế, được nghe liền có thể sanh tín, khai
giải. Đôi khi cũng có người tuy được
nghe mà riêng gặp
phải chướng duyên, tín tâm do vậy khó phát sanh đầy
đủ, giải cũng chẳng thể rộng mở.
Chỉ cần tuân lời Phật dạy, tŕ giới, tu
phước, ắt có thể tín giải thọ tŕ. Bởi
lẽ, tŕ giới là đoạn tuyệt nhiễm duyên;
đấy là nền tảng của tự lợi. Tu
phước là phát triển tánh đức (trong tánh vốn
có vô lượng công đức thanh tịnh), cũng là công năng của
lợi tha. Trái trần, hợp giác như thế (đoạn
tuyệt nhiễm duyên là trái trần, phát triển tánh đức
là khế hợp giác), ta và người đều
được lợi, ắt được
chư Phật nhiếp thọ. Do kinh này mà có thể sanh tín
tâm, coi đó là thật. Do coi đấy
là thật, tức là hiểu nghĩa chân thật. Đă tin
mà lại c̣n hiểu, cũng sẽ
tự thọ tŕ đúng như pháp. Tam Huệ cùng tu như
thế, lo ǵ chẳng thành tựu ư? Lại thấy
người ấy có ḷng tin hy hữu
bậc nhất như thế, hàm ư: Chớ nên tự coi
thường, ruồng rẫy chính ḿnh. Đấy là ư ra rả
khuyên răn của trưởng lăo vậy. Đối với
câu này và phần kinh văn trước đó, hăy nên biết
là người ấy đă thành tựu công đức hy hữu
bậc nhất, hoàn toàn tương ứng với câu “tắc
danh chư Phật” (bèn gọi là chư Phật) trong phần
sau.
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.2.
Giải thích rơ nguyên do
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.2.1.
Nói rơ [người ấy] chẳng chấp Hữu
(Kinh)
Hà dĩ cố? Thử nhân vô ngă tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng.
(經)何以故?此人無我相、人相、眾生相、壽者相。
(Kinh:
V́ sao vậy? Người ấy không có tướng ta,
tướng người, tướng chúng sanh, tướng
thọ giả).
Phần
trước đă nói người ấy chính là hy hữu bậc
nhất, v́ sao đạt được như thế? Ba
khoa dưới đây nhằm giải thích rơ nguyên cớ.
Trong bản kinh được lưu hành, trước mỗi
tướng đều thêm một chữ Vô, nhưng trong bản
kinh chép tay của người đời Đường,
chữ Vô trong “vô ngă tướng” đă bao trùm cả
các ư sau, nên ba chữ Vô sau đó có thể tỉnh lược.
“Hà
dĩ cố?”: Giả lập câu hỏi “v́ sao nói người
ấy là hy hữu bậc nhất?” Đáp rằng: Do người ấy
đối với bốn tướng “ta, người,
chúng sanh, thọ giả” đều chẳng có. Do đă đều
chẳng có, bèn chẳng chấp Hữu. Nh́n
bề ngoài của văn từ, dường như chỉ
nói người ấy rỗng không tướng Nhân Ngă (không
có Ngă Chấp), mà dường như cũng chỉ là nói
người ấy chẳng chấp Hữu. Nhưng xem phần
kinh văn kế đó nói rơ hơn, [sẽ thấy] người
ấy không chỉ chẳng có Nhân Ngă, mà c̣n rỗng không Pháp
Ngă (Pháp Chấp), [tức là] không chỉ chẳng chấp Hữu,
mà c̣n chẳng chấp Không. Nhưng tựa đề của
khoa này chỉ nói “chẳng chấp Hữu” do thuận
theo tướng văn tự, v́ ư
nghĩa “chẳng chấp Không” thuộc lời giải
thích trong phần sau, [ở đây] chưa biết vậy!
Hăy
nên biết: Kinh này chuyên giảng Thật Tướng. Thật
Tướng th́ tuyệt đối chẳng có ǵ khác, vốn
chẳng phải là hết thảy các tướng. Đó gọi
là “ngă pháp câu khiển” (ngă chấp và
pháp chấp đều trừ),
Không lẫn Hữu đều chẳng chấp. “Ngă pháp
câu khiển” tức là bốn tướng thuộc nhân
ngă và pháp ngă hết thảy đều trừ sạch. Không
và Hữu đều chẳng chấp, các tướng
như ngă, pháp v.v… đều chẳng chấp, tức là chẳng
chấp Hữu, cũng gọi là Ngă Không và Pháp Không. Tướng của
phi pháp cũng chẳng chấp, tức là chẳng chấp
Không, c̣n gọi là Không Không. [Không Không] cùng với Ngă Không và
Pháp Không được gọi là Tam Không. Chúng sanh thời Mạt
ắt có căn tánh Bát Nhă, Ngă Chấp, Pháp Chấp v.v… khá mỏng
th́ mới có thể trong đời trược ác mà
được nghe pháp này, mới có thể vượt
ngoài những kẻ tầm thường mà tín giải, thọ
tŕ. Đă có thể tín giải, thọ tŕ, ắt chấp
trước ngă, pháp, Không, Hữu sẽ tự trừ.
Đó là nguyên do v́ sao [người ấy] là bậc Bồ
Tát hy hữu đệ nhất. Do vậy, hai chữ “tắc
vi” được nói trong câu trước hàm chứa ư
nghĩa thành tựu là v́ lẽ này!
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.2.2.
Nói rơ chẳng chấp Không
(Kinh)
Sở dĩ giả hà? Ngă tướng tức thị phi
tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ
giả tướng, tức thị phi tướng.
(經)所以者何?我相即是非相,人相、眾生相、壽者相,即是非相。
(Kinh:
V́ cớ sao vậy? Tướng ta tức là chẳng phải
tướng. Tướng người, tướng chúng
sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là
tướng).
“Sở
dĩ giả hà?” (v́ cớ sao vậy?): Tự hỏi
nguyên cớ của chữ Vô trong đoạn kinh văn
trước đó. Từ “ngă tướng” trở
đi, tự đáp, tự giải thích. Ư nói: Vừa mới
nhắc đến Vô, chẳng phải là đối với
Hữu mà nói Vô, mà chính là Vô tuyệt đối. Nói “bốn
câu đều là Vô”, cũng tức là Không đến rốt
ráo. V́ sao nói như vậy? Do người ấy chẳng phải
là v́ thấy “ta, người, chúng sanh, thọ giả”
là có thật mà có thể rỗng không [các tướng ấy], càng chẳng
phải là diệt mất “ta, người, chúng sanh, thọ
giả” rồi sau đó mới là Vô, mà là do có thể thấy
ngă vốn là do duyên sanh mà huyễn có, ngay trong lúc nó hiện
huyễn tướng đă chính là
chẳng phải Hữu. Do vậy nói “ngă tướng tức
là chẳng phải tướng”. Câu này nói rơ: Chẳng
phải ở ngoài ngă tướng mà giữ riêng một cái
Không! Tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả tức là chẳng phải
tướng, lư cũng như thế. Đại Luận
nói: “Chúng sanh chấp trước, nếu có một tí ǵ
chưa thể có, sẽ chẳng thể ĺa. Nếu chẳng
có chỗ chấp trước chừng bằng mảy tóc
th́ sẽ có thể ĺa”. Ư nói: Hết thảy đều
là huyễn tướng, vốn chẳng có mảy may nào là
thật sự có! Đấy chính là nói Hữu th́ chính
là Không, cho nên có thể ĺa. Ví như do mắt có màng mộng
mà thấy hoa đốm trên hư không, chỗ của hoa
đốm chính là chỗ của hư không, cần ǵ phải
diệt hoa đốm để lấy riêng một cái Không
khác. Mắt hết màng mộng th́ hoa đốm tự chẳng
có, ở đây cũng như thế đó!
Nói
theo tánh, nếu hiểu Nhất Chân pháp giới vốn chẳng
sai biệt, vốn sẵn thường hằng, há có các tướng
ta, người, chúng sanh, thọ giả?
Nói theo tướng, nếu hiểu Ngũ Uẩn vốn là
Không, sẽ biết trong khi ngă tướng hiện, đó
chính là lúc Không. V́ thế, tướng ta chính là chẳng phải
tướng, nhưng tướng người và tướng
của hết thảy chúng sanh cũng không ǵ chẳng do
Ngũ Uẩn giả hợp, vốn sẵn đều là
Không. V́ thế, tướng người, tướng chúng
sanh cũng chính là chẳng phải tướng. Nói “tướng
thọ giả” th́ do tướng của nó liên tục chẳng
dứt, cho nên thành tướng ấy. Thật ra, đă nói
là “tướng liên tục”,
có thể thấy là nó đổi dời trong mỗi niệm,
sanh diệt trong từng sát-na, chẳng phải là tướng
thọ giả chính là chẳng phải tướng hay sao?
Người ấy có thể tín giải, thọ tŕ như thế, sẽ trọn
đủ Tam Không huệ, lại c̣n cả bốn câu đều
ĺa. V́ sao? Nếu chưa thể hiểu thấu triệt “ta,
người, chúng sanh, thọ giả” vốn là huyễn
tướng, chẳng có mà hiện thành có, dẫu có thể
chẳng chấp, chỉ là miễn cưỡng ức chế.
Đó cũng là Vô do
tương phản với Hữu. Kiến
địa chưa chân thật, không
chỉ dụng công, phí sức, mà cội gốc vẫn c̣n
đó, sẽ chẳng đoạn được! Dẫu
có thể ức chế chẳng lười nhác, vẫn là
pháp chấp, đúng như kinh Lăng Nghiêm nói: “Túng linh nội
thủ u nhàn, diệc thị pháp trần phân biệt ảnh
sự” (dẫu giữ cho nội tâm tịch tĩnh, vẫn
là chuyện thuộc h́nh bóng phân biệt của pháp trần).
Bệnh ở một chữ Thủ (守, giữ lấy). Hễ có cái bị giữ
lấy, sẽ có cái bị chấp trước. V́ sao
như vậy? Do chẳng phải là thấy triệt để!
Nay người ấy đă thấy thấu triệt các
tướng ta, người v.v… chính là chẳng phải
tướng, sẽ có thể hiểu thấu suốt hết
thảy tướng Có chính là chẳng phải Có. Do Có chính
là chẳng phải Có, cho nên thấy mà như chẳng thấy.
Dẫu muôn h́nh tượng lăng xăng, nhưng tâm địa
thản nhiên, chẳng đợi ức chế mà chúng (những
vọng niệm, cảnh tướng phân biệt) tự chẳng
có, cần ǵ phải giữ lấy nữa ư? Không có cái
để giữ lấy, tức là chẳng có cái để
chấp, sẽ là chẳng có pháp tướng. Hơn nữa,
không chỉ là Pháp Không mà thôi, ngă tướng chính là chẳng
phải tướng, có thể thấy là chẳng phải ở
ngoài tướng mà có riêng một cái Không để giữ
lấy, mà cũng chẳng phải là không có tướng “chẳng
phải pháp”; há chẳng phải là ngay cả Không cũng là
Không ư? Nhân Không, Pháp Không, Không Không chính là huệ thấu
triệt Tam Không. Do vậy, nói tựa đề của khoa
này là “chẳng chấp Không”. Người ấy thật
sự là bậc đại căn khí, do có thể Không đến
triệt để, chẳng phải là dụng công vụn
vặt vậy!
Trong
phần trước, lại nói “bốn câu đều
ĺa” là ư ǵ vậy? Như khoa trước là “chẳng
chấp Hữu”, khoa này là “chẳng chấp Không”,
chính là nói rơ “ĺa Hữu, ĺa Vô”, mà nói bốn tướng
“ta, người” chính là chẳng phải tướng.
Đă nói “chính là”, có thể thấy người ấy
hoàn toàn chẳng thấy Hữu Vô thành “cũng Hữu
cũng Vô” hoặc “chẳng phải Hữu, chẳng phải
Vô” cách biệt, chẳng dung thông, mà là thấy Hữu chính
là Vô, tức trí huệ đă thấu triệt, Không Hữu
đồng thời, há chẳng phải là “bốn câu
đều ĺa” ư? Cái tâm thanh tịnh nơi tự tánh
vốn ĺa bốn câu, vô tướng, bất tướng, dứt
bặt đối đăi viên dung. Nay người ấy tuy
đă vượt ngoài bốn câu, bất không mà không, không mà
bất không, viên dung vô ngại, chính là khế nhập tánh thể
của Thật Tướng vậy. Do vậy nói là “bậc
Bồ Tát đệ nhất hy hữu”. Khoa kế tiếp
nhằm kết lại ư nghĩa này.
2.2.2.2.2.1.2.4.1.3.2.2.3.
Kết lại bằng cách nói rơ “gọi là chư Phật”
(Kinh)
Hà dĩ cố? Ly nhất thiết chư tướng, tắc
danh chư Phật.
(經)何以故?離一切諸相,則名諸佛。
(Kinh:
V́ sao vậy? Ĺa hết thảy các tướng th́ gọi
là chư Phật).
“Hà dĩ cố?”:
Gạn hỏi bốn tướng “ta, người, chúng
sanh, thọ giả” chính là chẳng phải tướng, cớ
sao gọi là “hy hữu bậc nhất?”
Hai câu “ly nhất thiết chư tướng” (ĺa hết
thảy các tướng) nhằm giải thích rơ nguyên do. “Chư
tướng” chính là ta, người, chúng sanh, thọ giả.
Tướng không chỉ là một, nên nói là “chư”; lại
nói là “nhất thiết” (hết thảy), do không chỉ
từ Thân Kiến mà khởi lên bốn tướng ta,
người v.v… Phần trước đă nói: Nếu giữ
lấy pháp tướng, hoặc giữ lấy phi pháp
tướng, tức là chấp vào ta, người, chúng sanh,
thọ giả. Có thể thấy: Hễ có chấp giữ,
sẽ thành bốn tướng, cho nên nói là “nhất thiết”.
Nếu nói theo bốn câu, [tức là] hoặc chấp có, hoặc
chấp không, hoặc chấp cũng có cũng không, hoặc
chấp chẳng phải có chẳng phải không. Hễ
chấp, liền có năng chấp (chủ thể chấp
trước) và sở chấp (đối tượng bị
chấp trước), [do
có] Năng và Sở th́ là đối đăi. Hễ
đối đăi, liền thành tướng ta và tướng
người khác. Do chấp chẳng phải là một, liền
thành tướng chúng sanh. T́nh kiến chấp trước
chẳng đoạn, liền thành tướng thọ giả.
V́ thế nói “nhất thiết chư tướng” (hết thảy các tướng).
Tánh Thật Tướng vốn là tướng và bất
tướng đều ĺa. Do vậy, nếu có thể ĺa hết
thảy các tướng, liền chứng Pháp Thân, do vậy
bảo “tắc danh chư Phật” (th́ gọi là
chư Phật).
“Chư
Phật” có hai nghĩa:
1) Mười
phương ba đời chư Phật.
2) Từ Sơ Trụ
trở lên, trước khi đạt tới Cực Quả
(Phật), được gọi là Phần Chứng Giác,
cũng gọi là Phần Chứng Phật, do có thể phần
chứng Pháp Thân. Từ Sơ Trụ cho tới Cứu Cánh
Giác tổng cộng bốn mươi hai địa vị,
nên gọi là “chư Phật”.
Nói theo nghĩa thứ
nhất, hàm ư: Mười phương ba đời chư
Phật đều do ĺa hết thảy các tướng mà
được gọi là Phật. Vị ấy đă dứt
tuyệt bốn câu, thấu triệt Tam Không (Nhân Không, Pháp Không, Không Không),
tức là ĺa hết thảy các tướng. Tuy chưa nhanh chóng đạt
tới địa vị Phật rốt ráo, nhưng đă
thành Bồ Tát chẳng nghi ngờ. Do vậy, chỉ nói là “đệ
nhất hy hữu”, chẳng nói là “tối thượng
đệ nhất hy hữu”. Nói theo nghĩa sau, từ
địa vị Phần Chứng là Sơ Trụ Bồ
Tát trở lên cho tới Cứu Cánh Giác, đều cần
phải ĺa hết thảy các tướng để chứng
Pháp Thân. Vị ấy có thể ĺa hết thảy các tướng,
tức là đă chứng đắc Pháp Thân. Tuy chẳng biết
sở chứng của vị ấy cạn hay sâu, nhưng
tối thiểu cũng là Sơ Trụ Bồ Tát, là bậc
phần chứng Phật. Đó cũng chính
là “tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật Tướng,
thành tựu công đức hy hữu bậc nhất”. Do
vậy nói là “tắc vi đệ nhất hy hữu” (chính là hiếm có bậc nhất).
Ở
đây nói “ngă tướng chính là phi tướng”
v.v… tức là Không Hữu bất nhị, tánh tướng
viên dung. Đó cũng là tổng hợp các nghĩa do đức
Thế Tôn đă nói trước đó. V́ sao vậy? Do ĺa hết
thảy các tướng th́ gọi là “chư Phật”,
hoàn toàn tương ứng từ xa với “nhược
kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến
Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải
là tướng, th́ là thấy Như Lai) đă nói trong phần
Sanh Tín. V́ thế, đủ chứng tỏ vị ấy có
thể ĺa hết thảy các tướng. Đă thấy
Như Lai tánh thể, há chẳng phải là đệ nhất
hy hữu ư? Trưởng lăo trần thuật kiến
địa, đích xác là tâm tâm tương ấn với
đức Thế Tôn, đó gọi là “thâm giải
nghĩa thú”. Do vậy, kế đó, đức Thế
Tôn bèn ấn chứng khẳng định.
Phần
trước đă nói: Xét theo tương lai để khuyên
lơn gồm ba khoa. Khoa này cùng với hai khoa “xét theo hiện
tiền để khuyên” trong phần trước đă
soi tỏ ư nghĩa lẫn nhau. Thử xem
kinh văn trong phần trước chỉ nói một chữ
Tín, ở đây th́ nói “tín giải, thọ tŕ” chính là
để nêu rơ: Phần trước tuy chỉ nói Tín,
nhưng đă bao gồm ư Giải và Thọ Tŕ trong ấy,
do Tín là nguồn đạo, mẹ công đức. Nói một
chữ Tín, sẽ xuyên suốt triệt để. Ở
đây nói “chẳng có hết thảy các tướng”
lại chính là nêu rơ nguyên do của tín tâm thanh tịnh trong phần
trước, nhưng “tướng tức phi tướng,
chẳng chấp hai bên, Không Hữu viên dung” chính là lời
diễn tả chân thật về Thật Tướng. Ở
đây nói “tắc vi đệ nhất hy hữu, tắc
danh chư Phật” (tức là hy hữu bậc nhất,
được gọi là chư Phật) cũng chính là ư nghĩa “thành tựu đệ
nhất hy hữu công đức” trong phần trước.
Ở đây nói Ly chính là tương ứng với Phi được
nói trong phần trước. Do tướng
và bất tướng đều chẳng phải, do vậy
phải nên ĺa. Phần trước nói “sanh Thật Tướng”,
lại nói “Như Lai thuyết danh Thật Tướng” (Như
Lai nói là Thật Tướng), ở đây nói “tắc
danh chư Phật” (th́ gọi là chư Phật),
ư cũng nhất quán.
Bởi lẽ, hiện một phần Như Lai Thật
Tướng th́ là Phần Chứng Phật. Viên măn hiển
hiện th́ là Cứu Cánh Phật. Nhưng trước sau
đều nói là Danh, lại nói rơ cái được gọi
là Thật Tướng, hay “chư
Phật”, đều là giả danh, đều
chớ nên chấp. V́ thế, phải nên “hết thảy
đều chẳng phải, hết thảy đều
ĺa”. Do quán như thế, trước sau chỉ là một
nghĩa. V́ thế, khi nói phần trước, phải nên gộp
chung ư nghĩa của phần sau để nói. Khi nói kinh văn thuộc
phần sau, cũng nên gộp chung ư
nghĩa của phần trước để nói. Nhưng
một đằng là nói theo hiện tiền, một đằng
là nói theo tương lai, sáng tỏ lẫn nhau. Đấy lại
là chỗ hay khéo trong thuyết pháp. Thể lệ như vậy,
trong kinh thường xuyên gặp.
2.2.2.2.2.1.2.4.2.
Như Lai ấn khả, xiển dương
2.2.2.2.2.1.2.4.2.1.
Ấn khả
(Kinh)
Phật cáo Tu Bồ Đề : - Như thị, như thị.
Nhược phục hữu nhân, đắc văn thị
kinh, bất kinh, bất bố, bất úy, đương
tri thị nhân, thậm vi hy hữu.
(經)佛告須菩提:如是,如是。若復有人,得聞是經,不驚不怖不畏,當知是人,甚為希有。
(Kinh:
Đức Phật bảo Tu Bồ Đề : - Đúng
như thế, đúng như vậy. Nếu lại có
người được nghe kinh này, chẳng kinh, chẳng
hăi, chẳng sợ, hăy nên biết người ấy rất
hiếm có).
“Ấn” (印) là ấn khả[14]
lời nói của trưởng lăo. “Xiển” (闡) là đối với lời trưởng lăo đă
nói, càng giảng rơ những nghĩa chưa được
nói trọn hết.
Hễ
nêu ra câu “Phật cáo Tu Bồ Đề” đều có
ư nghĩa trịnh trọng, v́ câu
kinh kế đó sẽ bổ sung những nghĩa chưa
được nêu tỏ trước đó. Do vậy,
người kết tập kinh đặc biệt nêu ra câu
này, khiến cho [người nghe, người đọc]
chú ư. Lặp lại “như thị, như thị” nhằm
ấn chứng lời
ấy tột bậc thích
đáng. Nếu nói phối ứng,
tức là nói sự tán thán mừng rỡ và rộng khuyên
trong phần trước, hai đằng đều chẳng
sai. Trong phần trước, trưởng lăo đă nói câu “nhược
phục hữu nhân” (nếu lại có người) vốn
chẳng nói rơ là lúc nào, nhưng
do đối chiếu với khoa “khuyên lơn
tương lai” kế đó mà phán định khoa trước
đó là xét theo hiện tiền. Nay đức Thế Tôn
cũng chỉ nói “nhược phục hữu nhân”, cũng chẳng
nói đích xác là khi nào, nhưng từ phần kết luận
sau đó, bèn quy vào tương lai, cho nên có thể biết
những lời này chỉ chung hiện tiền cho đến
tương lai.
“Kinh”
(驚)
là bỗng dưng kinh ngạc, lấy làm lạ. “Bố”
(怖)
là hoảng sợ, nghi hoặc, bất an. “Úy” (畏):
Khiếp sợ, thoái thất, tự ngăn trở. Luận
của Thiên Thân Bồ Tát (tức Kim Cang Bát Nhă Luận) có viết:
“Kinh là v́ sợ kinh điển này chẳng phải là hạnh
chánh đạo. Bố là do chẳng thể đoạn
nghi. Úy là v́ kinh sợ mà chẳng chịu tu học”. Sớ
của ngài Trí Giả (tức Kim Cang Bát Nhă Kinh Sớ) viết:
“Thoạt đầu nghe kinh chẳng kinh ngạc. Kế
đó, suy nghĩ nghĩa bèn chẳng hoảng sợ. Sau
đó, tu hành chẳng sợ hăi”. Gộp chung luận và sớ
để xét, chẳng kinh sợ chính là Tín, do lúc thoạt
đầu nghe kinh, chẳng sợ kinh này không phải là hạnh
chánh đạo, tức là có thể tin. Chẳng
hoảng sợ là Giải. Kế đó, suy nghĩ ư
nghĩa, chẳng hề nghi hoặc mảy may mà sanh sợ
sệt là có thể giải. Chẳng kinh hăi tức là thọ
tŕ. Do chẳng sợ đến nỗi tự ngăn trở,
sẽ chịu tu học, tức là có thể thọ tŕ. [Ở
đây, đức Phật] biến đổi các từ ngữ
là có thâm ư. Quả thật, phàm phu chấp Hữu nghe nói “các
tướng đều là hư vọng”, Nhị Thừa
chấp pháp nghe nói “pháp chớ nên giữ lấy”, hạng
người thiên không nghe nói “phi pháp cũng chớ nên giữ
lấy”, ắt sẽ kinh hăi, sợ bàn luận Bát Nhă!
Tín giải c̣n chẳng có, nói ǵ thọ tŕ nữa, sao có thể
cùng lên đường giác, chẳng bị ngăn trở bởi
hóa thành ư? V́ thế, mỗi mỗi đều nói toạc
ra nguyên do chẳng thể tín,
giải, thọ tŕ, khiến cho hết thảy người
nghe sẽ biết pháp vốn vô định, Phật chẳng
gạt người, cần ǵ phải kinh hăi, ngờ vực,
e ngại? Ngơ hầu họ có cơ hội tín giải, thọ
tŕ. Do vậy, những điều như “đệ nhất
Ba La Mật” v.v… trong phần sau chính là nói rơ pháp chẳng
có tướng nhất định. Những ư như “ngũ
ngữ” (như ngữ, thật ngữ, bất cuống
ngữ…) nhằm nói rơ Phật chẳng gạt người.
Có thể thấy nay nói “bất kinh, bất bố, bất
úy” chính v́ để nói rộng trong phần sau, nêu
ra dụng ư của kinh văn trong phần sau lại chính là
v́ đoạn trừ sự kinh hăi, ngờ vực, sợ sệt
của chúng sanh. Ngữ ư trước sau hô ứng chặt
chẽ!
“Hy
hữu” mà nói là “thậm” (rất), cũng chính là ư
nghĩa “hiếm
có bậc nhất”.
Xem ngữ khí từ “nhược phục” (nếu lại)
trở đi,
cũng chính là ấn khả lời trưởng lăo đă
nói. Trước đó đă nói “như thị, như thị”
để ấn chứng, khẳng định, rồi lại
nói mấy lời này, chẳng có ǵ khác, dụng ư nhằm
phơi bày cái gốc bệnh,
khiến cho chúng sanh chẳng thể tín giải thọ tŕ,
ḥng khuyên lơn, sách tấn vậy!
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.
Xiển dương ư nghĩa
Chia làm
hai phần:
1)
Nêu rơ ư nghĩa quán hạnh ĺa tướng.
2)
Nêu rơ ư nghĩa chân thật của thuyết pháp
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.1.
Nêu rơ ư nghĩa quán hạnh ĺa tướng
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.1.1.
Nói theo Bát Nhă
(Kinh)
Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Như Lai thuyết
đệ nhất Ba La Mật, phi đệ nhất Ba La Mật,
thị danh đệ nhất Ba La Mật.
(經)何以故?須菩提!如來說第一波羅蜜,非第一波羅蜜,是名第一波羅蜜。
(Kinh:
V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất
Ba La Mật, chẳng phải là đệ nhất Ba La Mật,
th́ gọi là đệ nhất Ba La Mật).
Câu “hà
dĩ cố” xuyên suốt cả khoa Nhẫn Nhục sau
đó. “Đệ nhất Ba La Mật”: Hai chữ “đệ
nhất” là nói đến Bát Nhă. “Như Lai thuyết”
biểu thị “dựa theo tánh để nói”. Do nói theo tánh,
nên bảo là “đệ nhất”, chẳng phải là
đệ nhị. Do tánh thể không tịch, há có tướng
đệ nhất Ba La Mật ấy ư? Cho nên nói là “phi”.
Nói “phi” tức là chỉ rơ: Tánh vốn chẳng phải
là tướng; do vậy, đừng nên chấp tướng.
Nếu lại dựa theo tánh để nói, bèn bảo là
đệ nhất Ba La Mật, do tánh thể tuy vô tướng,
mà cũng là vô bất tướng. Hết thảy các tướng
đều duyên theo tánh mà khởi, đệ nhất Ba La Mật
cũng duyên theo tánh mà khởi, chẳng phải là không có
danh tướng “đệ nhất”;
v́ thế nói “thị danh”. Nói là “thị danh” nhằm
nêu rơ: Tướng chẳng ĺa tánh, vẫn nên hội quy vào
tánh.
Thuyết
pháp như thế chính là ư nghĩa gốc của kinh văn
thuộc khoa này. Nói “ư nghĩa gốc” là v́ trong kinh này,
hễ nói là “phi” hay nói “thị danh” đều nhằm
nêu tỏ nghĩa này. Đấy chính là nghĩa căn bản,
là người học Phật chớ nên không hiểu vậy!
Nhưng nghĩa trong khoa này sâu tột bậc, trọng yếu
tột bậc. Nếu chỉ nói nghĩa này, sẽ chẳng
phải là ư chỉ của Phật. Do vậy, các khoa tiếp
theo đều nhằm xiển minh ư nghĩa. Nói “xiển
minh ư nghĩa” tức là ngoài ư nghĩa căn bản ra,
c̣n có các ư nghĩa được giải
thích mở rộng ḥng làm sáng tỏ. Nghĩa như thế
nào vậy? Hăy thử nghĩ xem, vừa khởi đầu
liền nói “hà dĩ cố”, ba chữ ấy nhằm
thừa tiếp đoạn “bất kinh, bất bố, bất
úy, đương tri thị nhân thậm vi hy hữu” (chẳng
kinh hăi, chẳng hoảng sợ, chẳng e ngại, hăy nên
biết người ấy rất là hiếm có) trong phần
trên mà có. Có thể biết ba câu “đệ nhất Ba La Mật”
[trong đoạn chánh kinh trên đây] chính
là để
nói rơ nguyên cớ “chẳng kinh” cho đến “hy hữu”.
Nếu chỉ nói nghĩa gốc, sẽ chẳng thể
làm sáng tỏ rơ rệt cái lư của nguyên cớ trong đoạn
này được! Vậy th́ ba chữ “hà dĩ cố” và
những điều như “bất kinh” trước
đó đều chẳng thể có cơ sở được! Phần
trên nói “đương tri” (hăy nên biết) chính là [nói
đến] những điều mà học nhân phải nên biết,
muôn phần chớ nên không hiểu sâu xa nguyên cớ ấy.
Không chỉ là như thế,
kinh văn trong phần trước chẳng nói “tín,
giải, thọ tŕ”,
mà biến đổi thành từ ngữ “bất kinh, bất
bố, bất úy”, là do chúng sanh thời Mạt mắc bệnh
sợ bàn luận Bát Nhă, chẳng thể tín,
giải, thọ tŕ vậy! Ở đây, chẳng
nói Bát Nhă Ba La Mật, mà biến đổi từ ngữ
thành “đệ nhất Ba La Mật” chính là để nhờ
vào đó mà xiển phát lư Bát Nhă tinh vi, khiến
cho hết thảy chúng sanh đều được hiểu
rơ, ngơ hầu họ sẽ
hiểu thấu “chẳng cần sợ hăi
Bát Nhă”, chớ
nên sợ! Có như vậy th́ mới được coi là
người học pháp Vô Thượng Bồ Đề, mới
có hy vọng chuyển phàm thành thánh. V́ sao vậy? Trong phần
trước đă chẳng nói đó sao: “Nhất thiết
chư Phật, cập
chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
pháp, giai
tùng thử kinh xuất” (hết
thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà
ra). Tức là khai thị rơ ràng: Muôn phần chớ nên chẳng
tín, giải, thọ tŕ Bát Nhă. Hăy nên từ đó mà nhập
môn. Nếu chẳng noi theo cửa nẻo nơi kinh này
để vào; đó chính là tự cách tuyệt với pháp A
Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cũng lại
tự cách tuyệt với hết thảy chư Phật.
V́ sao vậy? Chư Phật và pháp vô thượng đă
đều từ kinh này mà ra. Tức
là muốn học pháp vô thượng, muốn chuyển phàm
thành thánh, mà nếu chẳng từ kinh này để nhập,
há chẳng phải là tự cắt đứt con đường
ư? Há chẳng đáng sợ ư? Do vậy, nếu chỉ
nói nghĩa căn bản, chỉ nói nghĩa thuộc tầng
trước đó, chẳng triệt để phát huy
nghĩa sâu như thế, th́ ư chỉ sâu xa trong việc thay
đổi từ ngữ của đức Thế Tôn sẽ
bị mai một! “Đương tri” trong đoạn
trước là nói tới điều học nhân phải nên
biết, muôn phần chẳng thể không hiểu sâu xa
nguyên cớ ấy. Đủ loại đạo lư như
trên đều được gồm thâu trong ba câu kinh
văn này. Ư nghĩa tinh vi, sâu thẳm lạ thường ấy
có thể suy ra mà biết, nhưng đối với chỗ
có mối quan hệ trọng yếu trong các nghĩa ấy, chớ
nên không biết!
Muốn
nói rơ, ắt phải khéo lập phương tiện sao cho
lời ít mà nghĩa rơ rệt. Cần
phải biết: Nghĩa thú Bát Nhă đă bị ẩn lấp
ngàn đời. Nay muốn trừ căn bệnh sợ hăi ấy,
không thể chẳng vạch trần nguyên do gây nên nỗi sợ
hăi ấy. Có khi chẳng thể không nhắc tới cổ
nhân, cũng chẳng thể v́ người hiền mà kiêng
dè. Bởi lẽ, chẳng triệt để nói rơ nghĩa
thú ẩn tàng, th́ cái gốc bệnh kinh nghi, sợ hăi vẫn
c̣n đó, sẽ chẳng thể tín giải, chẳng chịu
thọ tŕ, há chẳng cô phụ ân Phật hay sao? Mong mỏi
quư vị tĩnh tâm nghe kỹ. Nếu chẳng triệt
để hiểu rơ nghĩa thú trong đây, vẫn chẳng
tránh khỏi cô phụ ân Phật!
Đạo
lư đă tinh vi, sâu xa như thế, tuy nay muốn lời ít
mà nghĩa sáng, nhưng chỉ mấy câu th́ vạn phần
sẽ nói chẳng rơ ràng, một mực vẫn là muôn phần
nghe cũng chẳng hiểu rơ! Tôi nay dựa theo hai chữ
Đệ Nhất để nêu tỏ đại khái, ngơ hầu
trong tâm thính chúng có căn cơ trước đă. Sau đấy
mới từng bước thâm nhập. Đó cũng là dụng
ư phương tiện vậy!
Bát
Nhă Ba La Mật được gọi là Đệ Nhất
Ba La Mật, v́ Bát Nhă là mẹ của các Độ, tức
các Độ khác là con. Con chẳng thể ĺa mẹ. V́ thế,
hành giả tu các Độ, nếu thiếu hạnh Bát Nhă,
xét theo nhân sẽ chẳng
thể phá Hoặc, xét theo quả sẽ khó chứng Pháp
Thân. Hăy nên biết: Các Độ đều được
gọi là Ba La Mật, chính là v́
có Bát Nhă trong ấy. Nếu chẳng có Bát Nhă, chẳng thể
gọi là Ba La Mật được!
V́ sao vậy? Chẳng thể phá Hoặc, sẽ chẳng thể
chứng Pháp Thân, đạt đến bờ kia. Do vậy,
Bát Nhă có danh xưng là Đệ Nhất Ba La Mật là v́ lẽ
này! Do vậy mà xem, đă là các Độ chẳng thể
ĺa Bát Nhă, có thể biết là Bát Nhă cũng chẳng ĺa các
Độ mà riêng tồn tại được!
Do vậy, câu thứ hai nói: “Phi đệ nhất Ba La Mật”.
Chữ Phi này là nói “chớ
nên chấp Bát Nhă có riêng một tướng”,
nhưng tuy chẳng riêng có, chẳng phải là không có tên gọi
Đệ Nhất! Do vậy, câu thứ ba lại nói: “Thị
danh đệ nhất Ba La Mật” (Đó gọi là đệ
nhất Ba La Mật). Hai chữ “thị danh” là nói các
Độ nếu ĺa Bát Nhă, sẽ chẳng phải là Ba La Mật.
Vậy th́ Bát Nhă chẳng phải là không có giả danh “lănh
tụ” [của các Độ kia]. Trên đây là nói rơ nguyên
do v́ sao Bát Nhă có tên là đệ nhất, cũng như nói
rơ: Dựa theo đệ nhất mà nói là “chẳng phải”;
nói “thị danh” tức là nói đến nguyên do. Cần
phải nhớ kỹ nghĩa này, nó chính là căn cứ
để phá nỗi kinh nghi, sợ hăi của mọi
người. Dưới đây sẽ trần thuật.
Trong phần kinh văn trước đó, trưởng lăo coi bốn tướng
“ta, người…” chính là chẳng phải tướng, nhằm
nói “người ấy Không Hữu viên dung” để giải
thích nguyên do thành
tựu của đệ nhất hy hữu.
Đức Thế Tôn đă ấn chứng, hứa khả, nhưng mỗi khi đức Thế Tôn nói một pháp,
đều chẳng phải là một sự, chẳng phải
v́ một người. Do người ấy hy hữu mà xét
soi hết thảy chúng sanh: Sở dĩ họ có ngă tướng,
không có ǵ khác, do chấp giữ pháp mà ra! Do vậy, sau khi ấn
chứng, hứa khả, Ngài lại dựa theo các pháp
như Lục Độ v.v… để nêu rơ nghĩa này, nhằm
khai thị hết thảy chúng sanh đang có pháp chấp
phân biệt. Trước hết, nói Bát Nhă chính là v́ chúng sanh
sợ Bát Nhă. V́ sao chúng sanh sợ? Do có phân biệt pháp chấp,
chẳng thấu đạt nghĩa chân thật của Bát
Nhă. Do vậy, bèn v́ họ xiển minh. Bởi lẽ, chúng
sanh vừa nghe Bát Nhă là Đệ Nhất Nghĩa Không, bèn
cho là cao lắm, khó hành. Do vậy, kinh sợ. Lại do chẳng hiểu
rơ nguyên do của Đệ Nhất Nghĩa Không, cho nên sợ
hăi, cảm thấy học Bát Nhă chẳng thỏa đáng bằng
học các thứ viên kinh, viên pháp khác, cho nên e ngại. Nói
chung là do chưa thể quán thông Phật lư, lầm lẫn nẩy
sanh phân biệt pháp chấp. Quả thật là tự
đánh mất thiện lợi (lợi ích tốt lành), đáng thương xót sâu xa! V́ vậy, đức Thế
Tôn do nói rơ người ấy rất hy hữu, bèn bảo:
V́ sao ta nói người ấy rất hy hữu? Do chúng sanh
kinh hăi, e sợ pháp môn Bát Nhă
này, mà riêng người ấy chẳng phải như vậy!
Pháp
này thật sự cao, chẳng trách họ kinh sợ;
nhưng pháp này rất trọng yếu, há có nên tự
ngăn trở? Trong các Ba La Mật, ta gọi Bát Nhă là đệ
nhất, v́ đại chúng mà xiển dương rơ rệt
nghĩa chân thật, khiến cho họ hiểu rành rẽ.
Ta nói Bát Nhă nhằm khiến cho chúng sanh đạt tới bờ
kia. Chẳng đạt đến bờ kia, sẽ ch́m
trong biển khổ. Chẳng phải Bát Nhă, sẽ lại
chẳng thể đến được bờ kia! Có thể
thấy pháp này tột bậc trọng yếu, trọn chớ
nên nghi, sợ, tự ngăn trở, mà phải tín giải,
thọ tŕ. “Bờ kia” là ǵ? Chính là Thật Tướng
của các pháp. Hăy nên biết Thật Tướng chính là vô
tướng. Do vậy, Bát Nhă tuy được gọi là
đệ nhất, mà chẳng phải là đệ nhất.
V́ sao vậy? Do đệ nhất vốn vô tướng. Do
nó vốn chẳng có tướng nhất định, cho
nên bảo là “chẳng phải”. Nói là “chẳng phải”,
tức là khiến cho chúng sanh hiểu rơ pháp do đức Phật
nói, chẳng pháp nào có thể ĺa Bát Nhă. Tức là Bát Nhă chẳng
thể ở ngoài các Độ để riêng khoe khoang là
đệ nhất được! Lại hăy nên biết: Thật
Tướng cũng là chẳng phải bất tướng.
Do vậy, Bát Nhă tuy chẳng phải là đệ nhất,
nhưng gọi là đệ nhất. V́ sao vậy? Đệ
nhất chẳng phải là không có giả danh, do nó là danh
tướng,
chẳng phải là giả hữu, nên nói là “thị danh”.
Nói “thị danh” tức là khiến cho chúng sanh hiểu
rơ pháp nào cũng đều chẳng ĺa Bát Nhă, pháp nào
cũng đều có thể gọi là bậc nhất! Tức
là Bát Nhă được gọi là đệ nhất chính là
giả danh.
Ta (đức Phật) nay
xiển minh nghĩa Bát Nhă tinh vi như thế, hết thảy
chúng sanh sẽ có thể nhờ vậy mà ngộ. Phàm ta nói “phi”,
cố nhiên là khiến cho mọi người nhập tướng
Không. Lại nói “thị danh” để hiển thị
không ǵ chẳng phải là danh tướng giả hữu!
Nhưng nói “tướng Không” chính là để rỗng
không căn bệnh chấp tướng, hoàn toàn chẳng phải
là hoại tướng ấy. [Điều ấy] hết sức
rơ rệt. “Chẳng hoại tướng ấy” [tức
là nói] chính ngay cái Không do thiên chấp cũng là Không. Điều
này được gọi là Đệ Nhất Nghĩa
Không. Nếu có thể thông đạt nghĩa này, sẽ biết:
Do tướng là giả danh, cố nhiên chẳng thể chấp,
chứ chẳng phải là nói “không có tướng”. Do pháp chẳng
nhất định, cho nên chẳng thể chấp, chẳng
phải là nói “không có pháp”. Như vậy th́ pháp này tuy là
Không, há có giống như cái Không trơ trơ rỗng tuếch?
Pháp này tuy cao, cũng chẳng phải là không có chỗ để
tu tập. Vậy th́ c̣n có ǵ để kinh hăi, để hoảng
sợ, để e ngại nữa sao? Nay th́ người ấy
đă có thể tín giải thọ tŕ, đó chính là chẳng
kinh hăi, chẳng hoảng sợ, chẳng e ngại. Đó
là thông đạt Đệ Nhất Nghĩa Không, đáng gọi
là đối với Đệ Nhất Nghĩa, tâm chẳng
kinh động, há chẳng phải
là rất hy hữu ư? Do những
điều đă nói trên đây, không chỉ nói rơ nguyên do của
“chẳng kinh hăi” cho đến “hy hữu” trong
đoạn văn trước đó, mà cũng là triệt
để nói rơ đạo lư “hết thảy chúng sanh chẳng
cần phải kinh sợ, chớ nên kinh sợ”, ngơ hầu
nghĩa thú trong khoa này sẽ được hiển lộ
viên măn.
Nhưng
hăy c̣n có ư nghĩa trọng yếu chẳng thể không nói!
Ư nghĩa như thế nào vậy? Tức là ư nghĩa bảo
là “ngàn đời ẩn kín”
như phần trên đă nói. Hăy nên biết: Chứng bệnh
sợ Bát Nhă đă sâu, đă lâu. Nếu chẳng mỗi mỗi
đều vạch trần nguyên do, sao có thể trừ cái
bệnh “cái ǵ được tiếp xúc trước sẽ
trở thành [kiến chấp] chủ đạo” ngàn đời
ấy. Càng phải nên nói cặn kẽ nghĩa thú Bát Nhă tột
bậc viên dung, và chỗ chẳng hề đáng sợ
của Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa chẳng
hai, chẳng khác, ngơ hầu [người nghe] sẽ chẳng
đến nỗi tự đánh mất lợi lành. Tuy
điều này là suy rộng ra để nói, vẫn là ư chỉ
của kinh văn trong khoa này, mang ư nghĩa phá phân biệt
pháp chấp, trừ khử gốc bệnh “sợ bàn luận
Bát Nhă”.
Kinh
nói Nhị Thừa “sợ Không”, tức là sợ Đệ
Nhất Nghĩa Không của Bát Nhă. Có thể thấy trong thời
đức Phật đă là như thế, không chỉ đời
sau. Nhưng thuở đức Phật chỉ là
Nhị Thừa sanh ḷng sợ hăi, Đại Thừa vẫn
chưa có bệnh này. Cho đến khi ngài Huyền Trang sang
Tây Trúc, được gặp các vị thầy về
Tướng Tông nơi cơi ấy, bèn đem cái Không của
Tánh Tông nói đối ứng với cái Hữu của
Tướng Tông (Đệ Nhất Nghĩa Không là cái Không
tuyệt đối, sao có thể nêu ra nói đối ứng
được). Đă hiểu lầm điểm này, cho
nên bảo Tướng Tông mới là liễu nghĩa! Đó
chính là cái được gọi là “tam thời phán giáo”[15]. Đó chính là
những vị Đại Thừa ở Ấn Độ
thuở đó đă chẳng thể thấu hiểu sâu xa
nghĩa thú, lầm tưởng Bát Nhă là Thiên Không. Cho đến
sự phán giáo tại Trung Hoa vào thời Tùy - Đường,
cũng chưa hề xếp Bát Nhă vào Viên Giáo, chưa hề
chẳng biết đó là Đệ Nhất Nghĩa Không, rốt
cuộc cho rằng [Bát Nhă] chuyên nói Không, chẳng viên dung
như Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa. Cổ
nhân phán định như thế, với dụng ư đề
cao tông của họ, chẳng phải là không có nguyên cớ
mà nêu bày sự đề cao và hạ thấp (tức đề cao tông phái của
chính ḿnh, hạ thấp các tông phái khác).
Nhưng đề cao và hạ thấp thái quá, chẳng tránh
khỏi chấp giữ tướng danh tự! Người
đời sau do sự phán giáo của cổ nhân càng thêm chấp
trước, càng thêm sợ hăi. Do đó, cho tới hiện
thời, chẳng có ai chịu học Bát Nhă, chịu đàm
luận Bát Nhă. Đúng là đáng buồn, đúng là đáng
tiếc quá!
Thiền
Tông tuy đề cao Bát Nhă, nhưng chỉ đề cao ư vị
“trừ sạch” để dụng công, chẳng bàn tới
giáo nghĩa. Do vậy, nghĩa thú Bát Nhă ngàn đời chẳng
được phô bày. Thời Trần - Tùy tuy có Tam Luận
Tông[16],
nhưng là đề cao luận, chẳng đề cao kinh.
Điều được Tam Luận nêu tỏ cố nhiên
là Bát Nhă, nhưng các vị thuộc Tam Luận Tông chuyên
nghiên cứu t́m ṭi nơi văn tự của Luận, cho
nên đối với nghĩa thú của kinh, chẳng tránh
khỏi mơ hồ. V́ sao vậy? Do chưa từng trực
tiếp quán chiếu! Nói thật thà, vẫn chẳng tránh khỏi
chấp giữ tướng văn tự của ba bộ
luận (Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận,
và Bách Luận). Do vậy, các vị
thuộc Tam Luận Tông phát huy luận nghĩa cực tinh
vi, nhưng đối với ư chỉ của kinh chưa từng
“găi đúng chỗ ngứa” là do lẽ này! Hăy nên biết:
Bát Nhă đă là mẹ của các Độ. Kinh này lại nói
rơ ràng: “Chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng
Giác đều từ kinh này mà ra”. Như vậy th́ nếu
chẳng hiểu rơ nghĩa thú Bát Nhă, tuy đọc các kinh
luận viên dung khác, nhưng do chưa dụng công nơi
nghĩa căn bản, kiến địa sao có thể triệt
để cho được! Nếu kiến địa
chưa triệt để, sao có thể viên măn? Nay đức
Thế Tôn dùng danh xưng Đệ Nhất Ba La Mật
để xiển dương nghĩa này, khiến cho
[người nghe] biết nghĩa thú Bát Nhă là “không
mà chẳng không, chẳng không mà không”,
tột bậc viên dung, tránh cho chúng sanh kinh hoảng, ngờ
vực, sợ hăi, bỏ lỡ pháp bảo, khó đến
được bờ kia, khác nào Ngài sẵn biết căn
bệnh sợ hăi của người đời sau ở
chỗ nào mà chỉ dạy sẵn. Đúng là đại từ,
đại bi!
Trên
đây, bỉ nhân thường nói “tắc phi” và “thị
danh” phần lớn là nói theo “chẳng
chấp hai bên”, đó
là nói theo Trung Đạo viên dung. Lần này, kèm thêm Đệ
Nhất Nghĩa Không để nói. Đó chính là dựa theo
sự “trừ sạch” để nói. Nói như thế, thật
sự là có nỗi khổ tâm. Khổ tâm như thế nào vậy?
Khiến cho biết Trung Đạo và trừ sạch, tuy từ
ngữ khác nhau, nghĩa thật sự chẳng khác. V́ sao
nói như vậy? Gọi là Đệ Nhất
Nghĩa Không là do cái Không ấy đạt đến mức
rốt ráo. Không đến mức rốt ráo tức là “Hữu
cũng không, mà Không cũng không”.
Nói cách khác, đó là Hữu cũng trừ, mà Không cũng trừ.
“Trừ Hữu” tức là chẳng chấp Hữu. “Trừ
Không” chẳng phải là nói “chẳng chấp Không” ư?
Như vậy th́ xin hỏi Đệ Nhất Nghĩa Không
trừ sạch và Trung Đạo viên dung chẳng chấp
hai bên có ǵ khác biệt? Do vậy nói rằng: Đối với
các thuyết phán giáo, chớ nên chấp đó là lời bàn
luận nhất định, có thể hiểu rơ rành rành. Mà
kẻ sợ đàm luận Bát Nhă cũng có thể chuyển
đổi hối hận, tỉnh ngộ to lớn. Do vậy
nói rằng: Phàm đối với các thuyết phán định
“kinh này là thuần viên, kinh nọ chẳng phải là thuần
viên” đều chẳng thể chấp đó là tướng
quyết định. V́ sao vậy? Pháp nào cũng đều
là Bát Nhă, vậy th́ pháp nào cũng đều viên. Đó gọi
là “viên nhân thuyết pháp, chẳng pháp nào không viên”, cần
ǵ phải khổ sở phân biệt vậy?
Trên
đây đă nói “trừ sạch” và Trung Đạo viên
dung chẳng hai, chẳng khác. Phàm kẻ tưởng lầm
có khác biệt th́ không có chi khác, do đă nh́n Trung Đạo
ngây ngốc. Tôi nay dựa theo Trung Đạo để nêu
tỏ nghĩa này, ngơ hầu [người đọc] sẽ
triệt để hiểu rơ, khiến cho chấp trước
phân biệt chẳng do đâu mà nẩy sanh được!
Hết
thảy các pháp đă đều là giả danh, th́ Trung Đạo
cũng là giả danh. Do giả danh, cho nên cũng chẳng
có tướng nhất định, tức là cũng
chẳng thể chấp. Hễ chấp, bèn rơi vào bốn
tướng, c̣n gọi là “Trung
Đạo viên dung” nữa
chăng? Hăy nên biết: Nói Trung là do so sánh với hai bên mà
có. Nếu ĺa hai bên, chẳng có chỗ nào để
t́m thấy Trung được! Do vậy, Trung không có tướng
nhất định. Tướng đă là vô định, há
nên nh́n ngây ngốc? Hễ nh́n ngây ngốc, sẽ thành pháp chấp.
Càng phải nên biết: Do Trung chẳng có tướng nhất
định, v́ hai bên cũng là giả danh, cũng là do so
sánh mà có, cũng vốn là chẳng có tướng nhất
định. Đă chẳng thể chấp hai bên, há có Trung
để chấp ư? V́ thế, người thật sự
hiểu nghĩa Trung, chưa từng chẳng phải là
Trung, ngay cả Không và Giả cũng đều là Trung!
Chẳng
hạn như dựa theo Không để nói, Không là chẳng
chấp Hữu, ngay cả Không cũng là Không, cho nên chẳng
chấp Không. Do vậy, hễ không đến tột cùng, sẽ
quy vào Trung Đạo. Những điều vừa nói trên
đây là như thế đó. Do v́ lẽ này, cho nên nghĩa
thú của Bát Nhă, Hoa Nghiêm và Pháp Hoa chẳng khác. Không chỉ
như thế, hễ Giả đến tột cùng, cũng
lại là như
thế. Ví như biết hết thảy các pháp không ǵ chẳng
phải là giả danh, tức là chẳng chấp Không. Do lại
có thể biết cái danh ấy là giả, há không phải là
chẳng chấp Hữu th́ cũng rành rành là Trung Đạo
vậy. Do đó, Mật Tông, Tịnh Độ đều
từ Hữu môn mà nhập đạo, đều là đại
pháp viên đốn là v́ lẽ này! Ngay như dùng Tướng
Tông để nói,
cũng vốn là viên nghĩa của Đại Thừa. Chẳng
luận định trọn đủ những điều
khác, chỉ quán lư tam tánh Biến Kế, Y Tha, và Viên Thành do họ
đề xướng, viên diệu chi bằng! Hiềm rằng
người học chẳng hướng theo các chỗ
đó để quán chiếu, dụng công, mà cứ
chuyên phân tích nơi danh tướng vụn vặt. Càng phân
tích, càng phân biệt, càng chấp trước. Do vậy,
đại thành tiểu, viên thành thiên, có thể nói “chẳng
khéo học” vậy! Chẳng biết dùng đó để trừ
khử phàm
t́nh, đâm ra do vậy mà tăng trưởng phàm t́nh, há có
phải là ư chỉ nói pháp tướng vốn có của Phật
ư? Người tu học Mật và Tịnh, nếu chẳng
hiểu rơ nghĩa thú “tự tha bất nhị, tâm và cơi chẳng hai”,
sẽ khiến cho đại pháp trở thành tiểu, viên
biến thành thiên, cũng v́ lẽ ấy. Do vậy, có thể
biết pháp do đức Phật nói vốn là pháp nào
cũng đều viên, hễ có kiến giải cho là nó chẳng
viên, th́ thật ra là do thiên kiến của
chúng sanh, chẳng liên quan ǵ với pháp! V́ thế, người
học Phật trước hết cần phải đại
khai viên giải, quán chiếu lư “chưa từng chẳng phải
là Trung” để tu hết thảy các pháp, th́ pháp nào
cũng đều là viên, đều là Trung Đạo Đệ
Nhất Nghĩa, đều là Đệ Nhất Ba La Mật,
sẽ đều chứng đắc Thật Tướng,
đạt đến bờ kia. Đó gọi là Viên Trung,
người học muôn vàn phần chớ
nên không biết!
Đối
với bốn chữ “đại khai viên giải” vừa
mới nói, hăy nên chú ư tột bậc. Phàm như tôi vừa mới
nói “chưa từng chẳng phải là Trung” v.v… bất quá
là một sự trợ giúp cho người nghe mà thôi! Ắt
phải luôn luôn dùng viên nghĩa này để đặt
nơi tự tâm, áp dụng vào hết thảy các pháp, quán
chiếu tinh vi, miên mật, tinh
tấn dụng công để
trừ khử phàm t́nh thiên chấp, ngơ hầu sau đấy
sự viên giải của chính ḿnh mới có thể khai. Nếu
chẳng phải vậy, cái gọi là “viên giải” vẫn
là của người khác, chẳng phải của chính
ḿnh. Tuy biết “chưa từng chẳng phải là Trung”,
nhưng đối với hết thảy các pháp, ắt vẫn
là “gặp chuyện bèn vướng mắc”, chẳng thể
“chưa từng chẳng phải là Trung!” Tầng [ư
nghĩa] này liên quan cực khẩn yếu, ngàn vạn phần
đừng coi thường! Không chỉ nghĩa này là
như thế, mà các nghĩa đă nói, không ǵ chẳng đều
là như thế. Nói chung, Văn Tư Tu hễ khuyết một,
sẽ chẳng thể được!
Lại
hăy nên biết kinh này nói “tắc phi”, nói “thị
danh”, nhằm chỉ rơ tánh và tướng chẳng một,
chẳng khác! Tuy viên dung mà hàng bố, tuy hàng bố mà viên
dung (“Hàng bố”[17]
có nghĩa là như thế đó, tuy một mà hai. “Viên
dung” tức là tuy hai mà một. Trước đó nói “trừ
sạch” tức là Trung Đạo, nêu rơ [kinh này] có cùng
nghĩa thú với Pháp Hoa, nay th́ nói rơ [kinh này] có cùng nghĩa
thú với Hoa Nghiêm). V́ sao vậy? Hễ nói “tắc phi”
tức là nói theo tánh. Nói theo tánh th́ chớ nên chấp tướng;
do vậy, phủ định. Chớ nên chấp tướng
bèn phủ định, tức là nói rơ tánh và tướng chẳng
phải là một. Hễ nói “thị danh” là nói theo
tướng. Nói theo tướng th́ chớ nên hoại
tướng; do vậy bèn khẳng định. Chớ nên
chẳng hoại tướng bèn khẳng định, cho thấy
tánh và tướng chẳng khác! V́ sao vậy? Tánh là Thể,
tướng là Dụng,
mỗi đằng khác biệt vời vợi; cho nên chẳng
phải là một. Nói Hàng Bố là khẳng định,
nhưng Dụng sanh từ Thể, ĺa Thể chẳng có Dụng.
Do vậy, có thể biết: Tướng chính là tác dụng
của tánh. Hiểu rơ lư này mà chẳng chấp, th́ kiến
tướng chính là kiến tánh, cho nên chẳng khác! Đó
được gọi là “viên dung”. Nhưng tánh và
tướng đă là chẳng phải một, chẳng phải
khác, th́ tuy một mà hai, tuy hai mà một. Do tuy một mà hai,
cho nên chẳng hoại, mà lại chớ nên chấp trước.
Do tuy chẳng khác, nhưng đă là chẳng phải là một,
cần phải từ trong Viên Dung mà thấy Hàng Bố. Lại
cần phải từ trong Hàng Bố mà đạt
được Viên Dung. Do tuy hai mà một, cho nên tuy hiện
tướng rất nhiều, vẫn quy hội vào tánh y hệt.
Do nó tuy chẳng phải là một, nhưng thật sự
chẳng khác, hăy
nên khiến cho Viên Dung chẳng trở ngại Hàng Bố,
Hàng Bố chẳng trở ngại Viên Dung. Nay tôi phát huy
như thế, [nghĩa thú của kinh này] và nghĩa thú của
Hoa Nghiêm cũng rành rành chẳng khác nhau. Người đề
cao Hoa Nghiêm chẳng cần sợ hăi. Như trong phần
trước đă nói, “trừ sạch” và Trung Đạo
chẳng hai. Nếu hiểu nghĩa này th́ người
đề cao Pháp Hoa [đối với Bát Nhă] cũng chẳng
cần phải sợ!
Như
trong kinh này có nói: “Nhược kiến chư tướng
phi tướng, tắc kiến Như Lai, ưng sanh thanh tịnh
tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (nếu thấy
các tướng chẳng phải là tướng, tức là
thấy Như Lai. Hăy nên sanh tâm thanh tịnh. Hăy nên chẳng
trụ vào đâu mà sanh tâm), cũng như hai chữ Thật
Tướng, cùng với “ngă tướng tức thị
phi tướng” (tướng ta tức là chẳng phải
tướng) v.v… ở chỗ này, đều có thể dùng
nghĩa ấy để nói. Như lúc mở đầu
kinh, bèn nói đủ loại chúng sanh, nói Vô Dư Niết
Bàn th́ cũng là Hàng Bố trong
Viên Dung. Lại nói “thật vô chúng sanh đắc
diệt độ” (thật sự chẳng có chúng sanh
được diệt độ) tức
là tuy Hàng Bố mà Viên Dung. Ở đây, bất quá tôi dựa
theo “tắc phi” và “thị danh” để nêu tỏ,
khiến cho người tôn sùng kinh Hoa Nghiêm chẳng đến
nỗi có cái nh́n sai lệch. Nếu chấp chặt chỉ
có “tắc phi” và “thị danh” là có thể nói rơ
nghĩa này, lại sai mất rồi! Nói chung, hễ nắm
được điểm trọng yếu để thấu
hiểu lẽ dung thông, sẽ không có cách nào mà nói chẳng
được, sẽ chính từ đó mà ngộ “pháp
không có tướng nhất định”.
C̣n
có một nghĩa tột bậc trọng yếu ắt cần
phải nói. Pháp môn “trừ sạch” và pháp môn Viên Dung đă
là chẳng hai, chẳng khác, v́ sao trong phần trên lại
nói “ắt
phải từ kinh này mà nhập?” Hăy
nên biết: Hai pháp môn ấy tuy về Lư chẳng khác,
nhưng dụng công ắt có lợi và độn rất
khác biệt. Do vậy, phải nên từ kinh này nhập, v́
hết thảy phàm phu không ai chẳng mắc bệnh thiên
chấp sâu đậm, ắt phải
cực lực trừ sạch rồi sau đó mới có thể
viên dung. Nếu không, do
phàm t́nh thiên chấp chẳng trừ khử mảy may mà xem
kinh luận viên dung, sao có thể lănh hội để đạt
được thọ dụng? Tối đa là chẳng qua
học được một, hai giáo tướng để
giúp bàn luận suông đó thôi!
Thử
xem từ đời Đường tới nay, các vị
đại đức ở ngoài Thiền Tông, đạo
đức lẫn kiến địa khiến cho mọi
người khâm phục nhất, xét tới chỗ học
đắc lực, chẳng có mấy ai không từng trải
qua rèn luyện nơi Thiền môn. Chính v́ Thiền môn dụng
công đề cao “Không cũng lại là Không” của
Bát Nhă, cực lực trừ sạch thiên chấp của
người học. V́ vậy, tôi thường nói từ
sau đời Đường trở đi, Phật pháp
Trung Hoa cậy vào Thiền Tông là v́ lẽ này. Do vậy, có
thể biết tầm trọng yếu
của công phu “trừ sạch”, cũng chính là chẳng thể
không biết nghĩa thú Tam Không của Bát Nhă.
Nhưng khi trừ sạch, phải nên quán sâu xa, quán trọn vẹn nghĩa
đế viên dung trong Quán Kinh. Nếu không, sẽ chẳng
biết thế nào là Thiên (偏, lệch lạc)? Thế nào là Chấp?
Điều ǵ phải nên trừ bỏ? Thậm chí tự
cho chính ḿnh là trừ bỏ, thật ra là ngược ngạo
tăng thêm thiên chấp (chấp trước lệch lạc)! Đấy
là lư do tuy Thiền môn chẳng bàn giáo nghĩa, nhưng ắt
phải có thầy, bạn nghiêm minh, luôn luôn đau đáu kiềm
chế chính ḿnh. Nói “đau đáu kiềm chế” tức
là đă trừ rồi
lại trừ. Đó gọi là “bách xích can đầu,
hoàn tu cánh tấn nhất bộ” (đầu
sào trăm thước, cần phải tiến thêm một
bước nữa).
Nay
chưa gặp được thầy bạn nghiêm minh, chỉ
có tự quán, tự chiếu, tinh vi thấu hiểu “chẳng
giữ lấy hai bên, tánh tướng viên dung” như kinh
đă dạy. Hoặc là nói “Không đến tột cùng”,
thậm chí càng nói càng sâu, như nửa bộ sau kinh này [có
nói] “các pháp như một, hết thảy
đều đúng, vô thánh, vô phàm, vốn sẵn vô sanh”
v.v… Học nhân hăy nên suy xét tŕnh độ kham tiếp nhận
của chính ḿnh để từ cạn tới sâu, hoặc
chọn lấy một câu, hoặc gộp chung vài câu dùng
để quán chiếu tự tâm. Nếu tập khí của
chính ḿnh và khởi tâm động niệm có chút nào chẳng
phù hợp ư chỉ của kinh, sẽ là thiên chấp, bèn lập
tức tự cảnh tỉnh chính ḿnh, trừ khử nó
đi. Đấy chính là phương cách dụng công mầu
nhiệm nhất, thật sự là lời bàn luận từ
kinh nghiệm của kẻ không có trí huệ như tôi, dám
v́ các vị thưa tŕnh.
Đối
với các kinh giáo viên dung khác, nếu thích nghiên cứu, chẳng
ngại ǵ cùng quán, nhưng hăy nên lấy Bát Nhă làm chủ. V́
sao vậy? Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v… là “biểu thuyên” (表詮, nói
theo kiểu biểu thị). “Nói theo kiểu biểu thị”
tức là dùng lời lẽ phô bày sự viên dung nhằm giảng
rơ tánh thể. Do vậy, từ ngữ, câu văn, nghĩa vị,
mỗi mỗi đều hướng theo viên dung. Dẫu
có nói pháp “trừ sạch” th́ cũng có ngụ ư viên dung. V́
thế, ắt phải là người đă có công phu trừ
sạch, tức là người kiến chấp đă mỏng
nhẹ th́ mới có thể triệt để lănh hội.
Nếu không, sẽ chỉ biết các kinh ấy dạy viên
dung, mà chẳng biết kinh cũng nói “trừ sạch”. Do vậy,
từ đó mà tu tập, thường là học nhiều
năm mà bệnh thiên chấp vẫn hệt như cũ!
Tuy là dựa theo giáo tướng, nói th́ viên dung, nhưng
đối với bổn phận, trọn chẳng dính dáng
chi hết. Huống hồ, t́nh chấp chưa hóa giải,
lời lẽ thốt ra bất quá chỉ là hoa mỹ bề
ngoài, có lúc nh́n vào th́
tợ hồ tinh thâm lắm; nhưng xét
kỹ, [mới biết kẻ ấy] chẳng hiểu rơ,
chẳng tỉnh ngộ! Hoặc cho rằng chỉ có kinh nào
đó là như thế, c̣n các kinh khác chẳng phải vậy!
Vẫn là chưa thể thấy viên dung lẽ chân! Bát Nhă
chính là “giá thuyên”. Giá thuyên (遮詮, cách
nói theo kiểu phủ định) tức là dùng lời lẽ
trừ sạch sự thiên chấp để giảng rơ
tánh thể. V́ thế, văn từ, câu chữ, nghĩa vị,
mỗi mỗi đều hướng theo phương diện
“trừ sạch”. Dẫu nói lư viên dung, vẫn bao gồm ư
“trừ sạch” trong ấy. Do vậy, [xưa nay, người học Phật] sợ
bàn luận Bát Nhă chính v́ lẽ này, cho nên chẳng xếp Bát
Nhă vào Viên Giáo cũng v́ lẽ này. Do họ chỉ nh́n một
mặt của văn tự! Chính từ điểm này, có
thể chứng minh: Họ chưa dụng công nơi Bát
Nhă, tuy học các viên kinh khác, kiến địa vẫn là
cách biệt, chưa thể viên dung!
Do
những điều vừa nói trên đây, Bát Nhă và các loại
viên kinh khác lập ngôn bất đồng, và chỗ vi tế
liên quan tới căn cơ của người học lợi
hay độn. Nay do mưu tính nâng đỡ chánh pháp,
mưu cầu cho ai nấy đều được thọ
dụng, cho nên tôi chẳng nề hà v́ các vị phân tích
tường tận nhiều phen, nhiều lượt
thưa tŕnh cùng quư vị. Do vậy, có thể biết chỗ
hay khéo của Bát Nhă, ắt phải học [Bát Nhă] trước.
V́ sao vậy? Trừ khử được một
phần t́nh chấp, sẽ đạt được một
phần tánh tướng viên dung. Trừ khử tới chỗ
cùng cực, cũng chính là viên dung tới mức cùng cực!
Huệ thấu triệt Tam Không chính là Trung Đạo viên
dung, mầu nhiệm lắm thay! Đủ thấy Bát Nhă
không chỉ là con đường bằng phẳng để
học Phật, mà c̣n là con đường tắt để
học Phật. Chẳng từ cửa ngơ này để vào,
há chẳng phải là không biết cửa nẻo ư?
Đó là lư do v́ sao người học Phật th́ đông,
người đạt được tự tại ít ỏi!
Hễ nói đến điều này, mỗi chữ là một
giọt máu, đều từ trong muôn vàn cay đắng mà
đạt được! Đều là rút sạch tâm can
để chỉ bày cho người khác, nhưng các kinh
văn xiển dương ư nghĩa này, mỗi chữ là một
viên châu, tṛn trặn, trong suốt, hăy nên chú trọng chân thật,
thiết tha lănh hội, chớ nên coi nhẹ!
Tôi
vừa mới nói: Tại Trung Hoa, kể từ sau đời
Đường, Phật pháp nương cậy nơi Thiền
Tông, chớ nên hiểu làm là tôi khuyên mọi người chớ
nên niệm Phật, mà hăy tham Thiền. Bởi lẽ, tôi tán
thán Thiền Tông ở chỗ họ [đề cao] Bát Nhă,
nhằm khuyên người ta hăy học Bát Nhă, chẳng phải
là khuyên mọi người tham Thiền. Cần phải biết:
Tham Thiền phải nên suy xét thời cơ. “Cơ” là
căn cơ [hoặc cơ duyên], “thời” là thời tiết, chẳng phải
là một chuyện. Nói tới Cơ th́ chính là căn cơ.
Do vậy, trước hết phải tự vấn chính
ḿnh có thể tiếp nhận sự bổng hát[18]
hay chăng? Căn khí là lợi hay độn, quan hệ c̣n
nhỏ. Chẳng có tinh thần của đội ngũ cảm
tử, chẳng thể bàn đến chuyện này! “Cơ” lại
c̣n là cơ duyên. V́ thế, hăy nên tự vấn [chính ḿnh] có gặp
thầy giỏi hay chăng? Tham Thiền chẳng thể
ĺa thầy! Thầy
không chỉ cần sáng suốt, mà c̣n phải nghiêm khắc,
cần phải có “thủ đoạn giết chết
tươi!” Ba thứ
ấy chẳng đầy đủ, sẽ chẳng phải
là bậc thầy giỏi. Nếu căn cơ và cơ duyên
hai thứ đều đầy đủ, tham Thiền rất
hợp. Nếu thiếu một thứ, mà nói tham Thiền,
chưa hề đạt được lợi ích, mà có thể
đâm ra tai hại! Đấy cũng lời nói xuất
phát từ kinh nghiệm thật sự của tôi.
Nói tới Thời th́
như vào thuở Nam Bắc Triều, Bắc Ngụy,
và Nam Lương, không triều đại nào chẳng hoằng
dương Phật pháp rộng răi, các giảng ṭa cực
thịnh, nhưng không ǵ chẳng chấp giữ tướng
văn tự. V́ thế, tổ Đạt Ma sang Đông, bèn
chẳng lập văn tự, chỉ thẳng bản tâm
chính v́ để đối trị bệnh ấy. Nay th́
đại đa số chẳng hiểu rơ Phật lư, chính
là lúc nên khuyên [người học Phật] hăy đọc
kinh rộng răi nhằm chữa trị t́nh trạng trống
vắng, sơ sài đó. “Chẳng
lập văn tự”
hiện thời chẳng thích hợp! Do vậy, chẳng bằng
phát khởi đại bi, đại nguyện, tu phước,
tŕ giới, nhất tâm niệm Phật, thân cận hai vị
đại thiện tri thức là Thích Ca và Di Đà. Mặt
khác, nương theo những điều tôi đă nói trên
đây, dùng nghĩa lư trong kinh này để quán chiếu tự
tâm, trừ khử phàm t́nh ấy. Mặt khác, khẩn thiết
tŕ danh, cầu cho chúng sanh cùng sanh Tịnh Độ, măn Bồ
Đề nguyện. Tu hành trong đời hiện tại,
không chi hơn cách này! Đấy là pháp mà Bất Huệ gắng
sức phụng hành gần hai mươi năm qua, kính dùng
để cúng dường các vị thiện tri thức. Lại
nữa, từ lúc tôi khai giảng đến nay, đă nói
khá nhiều phương pháp tu hành, chớ nên chấp
trước pháp nào là tốt nhất, mà hăy nên chọn lấy
pháp nào thích hợp để hành, hoặc là thử hành mỗi
pháp. Nếu hành mà cảm thấy hữu ích, đó chính là
pháp thích ứng căn cơ nhất. Đó cũng là khiếu
quyết để dụng công vậy, cũng thưa tŕnh
điều này cùng quư vị.
Trên
đây đă nói nguyên nhân to lớn khiến cho mọi
người sợ bàn luận Bát Nhă. Chính là v́ chẳng hiểu
rơ nghĩa lư trong kinh, lại có “tiên nhập vi chủ”
(điều ǵ được tiếp xúc trước tiên sẽ
thành ư thức chủ đạo) như vậy, đến
nỗi càng thêm sợ hăi, càng chẳng tu học. Ngoài ra, c̣n
có một nguyên nhân trọng đại nữa, cũng chớ
nên không biết. Chính là do có lắm kẻ bàn luận Bát Nhă
xằng bậy! Căn bệnh bàn xằng ngay từ thời
cổ đă có, tới nay càng dữ dội! Bọn họ
tuy từng học Phật, nhưng túc nghiệp rất nặng,
lại chẳng hiểu Phật pháp, bỗng dưng như phát cuồng,
phá giới dữ dội,
chẳng kính Tam Bảo, mặc sức làm ác, thật hành
tham, sân, si, tự cho là Giới, Định, Huệ, c̣n bảo
đấy là “Bát Nhă chẳng chấp tướng!” Do vậy,
kẻ sợ [Bát Nhă] th́ dẫn điều đó để
chê bai,
răn bảo nhau chẳng dám nhắc đến Bát Nhă một
chữ nào, gần như t́nh thế “nhắc đến cọp
liền tái mặt!” Than ôi! Do mắc nghẹn mà bỏ
ăn, há có hợp lư hay chăng?
Cần phải biết: Đă có t́nh trạng quái lạ bàn
luận xằng bậy, th́ càng phải nên phát tâm tu học,
phát tâm tuyên dương, sau đấy chân nghĩa của
Bát Nhă mới được sáng tỏ rạng ngời.
Nghĩa chân thật đă được sáng tỏ, t́nh trạng
quái lạ bàn xằng bậy Bát Nhă sẽ do đâu mà sanh? Chẳng
biết vượt ngoài chuyện này, cứ một mực
đóng chặt, khư khư cự tuyệt [chẳng bàn
luận Bát Nhă], bệnh trạng tuy khác với đàm luận
xằng bậy, nhưng cái gốc bệnh giống hệt
như nhau, bởi đều là tưởng lầm [Bát Nhă]
là Thiên Không! Dùng nhân quả để luận, cái tội bàn
luận xằng bậy quả thật nặng nề, ngoại
trừ quyến thuộc ma ra, ai nấy đều biết
tránh xa. Nhưng sợ sệt chẳng bàn tới, mọi
người lại coi đó là chuẩn mực, trọn chẳng
biết đó là lầm lạc! Khiến cho Bát Nhă là pháp siêu
thắng hết thảy các pháp, là pháp liên quan đến mạng
mạch của Phật pháp không ai hỏi tới! Cái nhân ác
“lầm pháp, lầm người” ấy sợ sẽ chuốc
lấy ác quả, chưa chắc đă nhẹ hơn chút
nào!
Đức
Thế Tôn biết rơ chứng bệnh của hết thảy
chúng sanh, cho nên trước đó, Ngài đă nói người
tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm, coi pháp này là
thật, nhằm đối trị kẻ bàn xằng. Mấy
khoa này lại nhằm đâm một nhát kim đau buốt
vào những kẻ e sợ, chẳng dám bàn tới. Xem ra, những
điều được nói trên đều nhằm chặn
những kẻ bàn xằng ngoài cửa, v́ sao vậy? Tín là cửa
ngơ để nhập đạo. Đă tŕ giới, tu
phước th́ mới là nhập môn, c̣n kẻ bàn xằng,
phá giới, tạo tội, dứt khoát tống ra khỏi cửa.
Xem những điều được nói trong mấy khoa
này, lại là lời cảnh cáo: Kẻ sợ bàn luận
[Bát Nhă], quyết chẳng thể chuyển phàm thành thánh. V́
sao vậy? Chẳng kinh, chẳng hăi, chẳng sợ, th́ mới
được coi là hy hữu! Vậy th́ “kẻ
sợ bàn đến [Bát
Nhă] vẫn là phường phàm ngu”
cũng rơ lắm rồi! Nhưng “coi đấy là thật”
như trong phần trước đă nói, lại được
xiển minh ư nghĩa ở đây. Tức là khai thị rơ
ràng: Muốn trừ khử, tránh khỏi
các bệnh bàn xằng và sợ đàm luận, chỉ có tín
giải thọ tŕ, dốc sức cầu hiểu rơ
nghĩa chân thật trong kinh.
Lại nữa, kẻ
sợ hăi luôn nói: “Há ta chẳng biết Bát Nhă đáng nên học
à! Quả thật là do chúng sanh đời Mạt, chướng
sâu, nghiệp nặng, chẳng dễ bén mảng, chẳng
bằng không bàn tới, ḥng tránh tăng thêm tội lỗi”.
Đấy là lại lầm mất rồi! Đức Thế
Tôn chẳng nói rơ ràng đó sao? “Sau khi Như Lai diệt
độ, năm trăm năm sau, có người tŕ giới,
tu phước, có thể sanh tín tâm, coi đó là thật”
cho đến “đạt được vô lượng
phước đức” ư? V́ thế, nói thời Mạt,
[người tín giải thọ tŕ Bát Nhă] hiếm có th́
được, chứ nếu cho rằng tuyệt đối
không có người như thế, răn bảo nhau lấp
bít đường lối, không chỉ là coi thường
chúng sanh, mà c̣n rơ ràng là trái nghịch ư chỉ của Phật!
Đức Thế Tôn răn trưởng lăo “mạc tác
thị thuyết” (đừng nói lời ấy) chẳng
khác răn mọi người đừng nói như thế!
Cho tới trong mấy khoa này, đức Phật và trưởng
lăo đều đặc biệt hướng về đời
sau mà cổ vũ, khích lệ, khuyên dạy,
đều là do các Ngài sẵn biết nỗi lo ngại của
kẻ sợ hăi chẳng bàn [Bát Nhă] mà khai thị. Đúng là
hết sức thân thiết vậy!
Trong
khoa này, lại nêu lên danh xưng Đệ Nhất Ba La Mật
để nói, c̣n nói “phi” và “thị danh” cũng có
một ư nghĩa, chẳng thể không nói rơ!
Bởi lẽ, do danh xưng Bát Nhă dễ hiểu lầm là
chuyên chỉ một Độ để nói. C̣n danh xưng
Đệ Nhất vốn nhằm nêu rơ: Do quán triệt
năm Độ kia mà lập ra danh xưng ấy. Dựa
theo đó để giải thích ư nghĩa “đừng nên
chấp trước”, sẽ dễ hiểu rơ. Lại c̣n
nói: Đệ nhất chẳng phải là đệ nhất,
tức [ư nghĩa] “các Độ đều là một Bát
Nhă, chẳng ĺa các Độ mà riêng có một nghĩa Bát
Nhă” càng rơ ràng hơn! Nói “thị danh”, các Độ
đă không ǵ chẳng phải là Bát Nhă, vậy th́ danh
xưng “đệ nhất” há nào phải là Bát Nhă chuyên
có? Đă chẳng phải là chuyên có, cho nên tuy “chính là”
nhưng là giả danh. Đấy là nói rơ “chẳng thể
chấp Hữu!” Do Bát Nhă là đệ nhất, khiến
cho Độ nào cũng đều thành đệ nhất.
Do vậy, tuy là giả danh mà thật sự “đúng là”.
Đấy là nói rơ “chẳng thể chấp Vô!” Nói
chung, nhằm nêu rơ: Bát Nhă và các Độ chẳng thể
tách rời đó thôi! Do vậy, khoa này xét theo Bát Nhă mà xiển
minh ư nghĩa. Khoa sau sẽ dựa trên các Độ khác
để xiển minh ư nghĩa. Thuyết pháp thiện xảo
đến mức như thế đó. Giảng nghĩa chặt
chẽ, châu đáo cũng là như thế đó!
Nay
lại tóm lược ư nghĩa trọng yếu nhất của
kinh văn trong khoa này, sẽ có thể quy nạp thành vài câu
để tiện ghi nhớ.
Tức là ư nghĩa trọng yếu nhất trong khoa này là “đối
trị chứng bệnh sợ Bát Nhă”.
Chứng bệnh ấy có hai loại: Một là sợ Không,
hai là sợ cao. Nay chỉ rơ Bát Nhă chẳng ĺa năm Độ
kia mà riêng có, các Độ khác đều là hành môn, có thể
thấy Bát Nhă tuy giảng về nghĩa Không, nhưng
nghĩa Không chẳng thể ĺa thật hạnh, tức Bát
Nhă tuyệt đối chẳng phải là Thiên Không đă rơ
lắm rồi, c̣n phải sợ sệt chi nữa! Lại
c̣n giảng rơ “các Độ khác nếu ĺa Bát Nhă, sẽ
chẳng thể là Ba La Mật”.
Nói thật thà, [chẳng thể là Ba La Mật] tức là chẳng
đạt tới bờ kia. Có thể thấy: Quả thật Bát Nhă cao sâu, nhưng
chẳng thể không học, tức là tầm quan hệ trọng yếu của
Bát Nhă đă rơ ràng lắm rồi, há c̣n đáng sợ ư?
Cảnh tỉnh, sách tấn tột bậc, mong hăy cẩn
trọng ghi nhớ!
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.1.2. Dựa theo các Độ khác để
nói rơ
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.1.2.1. Trực tiếp giảng rơ
(Kinh)
Tu Bồ Đề ! Nhẫn Nhục Ba La Mật, Như Lai
thuyết phi Nhẫn Nhục Ba La Mật.
(經)須菩提!忍辱波羅蜜,如來說非忍辱波羅蜜。
(Kinh: Tu Bồ Đề ! Nhẫn Nhục Ba La Mật,
Như Lai nói chẳng phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật).
“Các
độ khác”: Ngoại trừ Bát Nhă, các Độ khác
là năm độ Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục,
Tinh Tấn, Thiền Định. Pháp nào cũng đều
nên ĺa tướng, tức là pháp nào cũng đều chẳng
thể ĺa khỏi Bát Nhă. Nay trong năm Độ ấy,
riêng nêu ra Nhẫn Nhục để nói là do nhẫn nhục
khó ĺa tướng nhất. Do nó chẳng thể ĺa Bát Nhă,
nên dễ lănh hội. V́ vậy, đặc biệt nêu ra
Độ này để xiển minh ư nghĩa, ḥng khái quát các Độ khác. Do đó, tựa đề
của khoa này không phải là Nhẫn Nhục mà là “các Độ
khác”, chính v́ đức Phật nói Độ này với dụng
ư khiến cho chúng sanh sẽ do được “nêu ra một
góc mà suy ra ba góc kia”.
Đặt tiểu đề phán định như thế
chính là tuân theo lời Phật dạy, dựa theo nghĩa,
chứ không thuận theo văn tự.
Khoa
trước xét theo Bát Nhă để nói, tức là từ trực
diện để xiển minh nghĩa “ĺa tướng” chân
thật. Bởi lẽ, con người chỉ biết Bát
Nhă là nói về Không, ĺa tướng. Do chấp tướng
nên sanh tâm sợ hăi. Nay nói rơ “ngay cả tướng của
Bát Nhă cũng nên ĺa”, tức là “ngay cả Không cũng
nên ĺa”. Hơn nữa, Bát Nhă bao hàm trong năm Độ
kia, nó chẳng thể riêng tồn tại, mà năm Độ
kia đều là phương pháp để thật hành. Vậy
th́ nói “ĺa tướng” tức là tướng của
pháp lẫn tướng
của phi pháp đều nhất loạt ĺa
khỏi. Nếu hiểu rơ nghĩa này, sẽ có thể mạnh
dạn tu học Bát Nhă, cần ǵ phải sợ hăi!
Khoa
này xét theo nhẫn nhục để nói, tức là từ
phương diện tương phản để xiển
minh ư nghĩa chân thật của “chẳng thể không ĺa
tướng”. Nh́n vào những điều được
nói sau đó, nếu hành pháp nhẫn nhục, mà chẳng ĺa
tướng nhẫn nhục, sẽ sanh tâm sân hận. Sân hận
hoàn toàn tương phản với nhẫn nhục. Đó
là xiển minh: Hành pháp nhẫn nhục mà nếu chẳng học
Bát Nhă, sẽ chẳng biết ĺa tướng của pháp nhẫn
nhục. Chẳng ĺa tướng của pháp,
sân hận sẽ nẩy
sanh. Hễ sân hận nẩy
sanh, công hạnh nhẫn nhục sẽ
bị phá, trở thành tướng phi pháp. Do điều này, có thể
ngộ: Sở
dĩ [đức Phật]
dạy [người học Bát Nhă] ắt phải ĺa tướng của pháp,
chính là dạy họ ĺa tướng của phi
pháp. Tuyệt diệu lắm thay! Nếu hiểu rơ nghĩa
này, nhất định phải dụng tâm tu học Bát Nhă,
chớ nên sợ sệt! Xiển phát như thế, ư
nghĩa tinh vi của Bát Nhă sẽ triệt để hiển
lộ, tức là “chắc
chắn chẳng thể không học Bát Nhă” sẽ
càng rơ rệt vậy!
Mấy
khoa kinh văn xiển phát ư nghĩa này, đă xiển phát lư
Bát Nhă và lư “phải nên học Bát Nhă” tột bậc tinh vi,
viên măn cùng cực, thấu suốt cùng cực, lại c̣n
tinh tế tột bậc! Hăy nên chú trọng lắng ḷng lănh
hội. Lănh hội được một phần, sẽ
được một phần thọ dụng. Hơn nữa,
mấy khoa này chính là kết tinh các nghĩa đă được
nói trước đó. Nếu có thể hiểu rơ nghĩa ở
chỗ này, th́ đối với các nghĩa trước
đó, mỗi mỗi đều hiểu rạng ngời
trong tâm khảm.
Ngay
sau khoa trước bèn nói tiếp khoa này, cũng có một ư
nghĩa. Ư nghĩa ấy là: Do nhẫn nhục chẳng thể
ĺa Bát Nhă, sẽ chứng minh, kết lại ư nghĩa “Bát
Nhă chẳng thể ĺa các Độ mà riêng tồn tại
được” trong khoa trên. Bởi lẽ, các Độ
khác đă đều cần phải có Bát
Nhă, có thể thấy Bát Nhă chính là phương pháp chung
để cùng hành trong các Độ, chẳng phải là pháp
để hành riêng biệt. Nói chung, Bát Nhă là mẹ của
các Độ, các Độ là con của Bát Nhă. Nếu chẳng
có con, sẽ chẳng thể gọi là mẹ. Nếu chẳng
có mẹ, cũng chẳng thể gọi là con. Mẹ con thật
sự giúp lẫn nhau thành tựu. V́ thế, Bát Nhă và các
Độ ắt phải giúp nhau thành tựu, há có thể
ĺa nhau ư? Bát Nhă là Không, các Độ là Hữu. Nay nói Bát
Nhă và năm Độ kia chẳng thể rời nhau, chính
là dạy học nhân hăy thấu hiểu “Không và Hữu vốn
đồng thời”;
do vậy, chẳng thể ĺa!
Do
Không Hữu đồng thời, cho nên chẳng chấp hai
bên, hội quy vào Trung Đạo. Tiến hơn nữa,
dùng mẹ con để luận, cố nhiên là phải giúp lẫn
nhau thành tựu. Nhưng con thật sự sanh từ mẹ;
chẳng có mẹ sẽ chẳng có con! V́ vậy, trong sự
hỗ trợ, phải nên lấy mẹ làm chủ. Sáu Độ
cũng thế, năm Độ kia chẳng có Bát Nhă, sẽ
chẳng phải là Ba La Mật. Do vậy, năm Ba La Mật
kia thật sự từ đệ nhất Ba La Mật mà
sanh. Do đó, trong sự hỗ trợ, vẫn lấy Bát
Nhă làm chủ. Lấy Bát Nhă làm chủ, tức là lấy
Không làm chủ. Do lấy Không làm chủ, cho nên tuy chớ
nên hoại Hữu, vẫn chớ nên chấp Hữu. V́ thế,
tuy hội quy Trung Đạo, mà Trung cũng chẳng chấp.
Đấy chính là lư do Phật, Bồ Tát coi Đại Không
tam-muội là rốt ráo, coi “vô
trí, vô đắc” là
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Bởi lẽ, ắt có thể như thế; sau
đấy, sẽ
có thể tùy loại hiện thân trong lục đạo, hiện
trăm ngàn ức hóa thân. Tuy hết thảy các pháp hừng
hực sanh khởi, mà nhất tâm lặng trong, vốn chẳng
sanh ǵ! Đó được gọi là đại
tự tại. Đó được gọi là đại thọ
dụng. Có thể độ hết thảy các khổ ách nương
cậy vào điều này! Đấy là nghĩa rốt ráo của
Bát Nhă. Nửa sau bộ kinh này nhằm nêu tỏ nghĩa
này, nay thừa dịp mà hé lộ sơ lược tin tức,
ḥng chỉ bày Bát Nhă là nghĩa thấu triệt từ đầu
đến cuối trong Phật pháp. Chẳng học pháp
này, sẽ chẳng thể nhập môn!
Hơn nữa, chẳng học pháp này, sẽ chẳng thể
rốt ráo, sao lại sợ hăi vậy thay!
Do vậy
có thể biết: Nếu chuyên bàn về “hai bên chẳng
chấp, Trung Đạo viên dung”, vẫn chưa phải
là nghĩa rốt ráo trong Phật pháp! V́ sao vậy? Chẳng
phải “Không lại
là Không”, ắt
sẽ có cái chấp trước. Chẳng chấp hai bên, ắt sẽ
chấp nơi Trung, sao c̣n là viên dung cho được? Huống
chi trong Đại Không tam-muội, ngay cả hai chữ Viên
Dung cũng chẳng
thể được. Phải nên biết: Do “ắt chẳng
thể được” bèn đạt được viên
dung. V́ sao vậy? Chẳng chấp viên dung,
bèn đạt được viên dung. Hễ mảy may có
tướng, sẽ chẳng viên, mà cũng chẳng dung. Như vậy
th́ nghĩa Bát Nhă rốt ráo là như thế, há chỉ là
sơ môn để nhập đạo, sao lại phán định
là Đại Thừa Thỉ Giáo vậy? Bát Nhă xuyên suốt
các Độ, các Độ mà ĺa [Bát Nhă], sẽ chẳng phải là Ba La Mật.
Có thể thấy: Hễ có pháp nào ĺa khỏi Bát Nhă, sẽ
chẳng thể viên măn! Vậy th́ nghĩa Bát Nhă viên măn tột
bậc, vượt khỏi hết thảy các pháp môn,
cũng có thể biết! Sao lại chẳng chấp nhận
Bát Nhă là thuần viên mà phán định là Biệt Giáo kiêm
Viên vậy?
Trên
đây đă nói “sáu Độ giúp lẫn nhau thành tựu”,
lại có một nghĩa trọng yếu, chớ nên không biết!
Do Bát Nhă là Lư, là Trí, được gọi là Quán môn, c̣n các
Độ là Sự,
là Cảnh,
được gọi là Hạnh môn. Sau khi nói Đệ Nhất
Ba La Mật, lại nhắc tới các Độ kia, nhằm
nói rơ ư nghĩa: Lư và Sự trước nay chẳng ĺa nhau,
Quán và Hạnh phải nên cùng tiến, nhưng Cảnh
và Trí càng cần
phải ngầm khế hợp nhau. Do vậy, xét theo kinh
văn, tợ hồ khởi lên khác biệt, nhưng xét theo
ư nghĩa, quả thật là nhất quán! Văn tướng
trong kinh này phần lớn đều là như vậy.
Đó gọi là văn từ chẳng tiếp giáp nhau,
nhưng nghĩa nối tiếp nhau. Nếu thấy chúng chẳng
dính dáng ǵ với nhau, sai lầm to lớn mất rồi!
Bản
lưu thông có câu “thị danh Nhẫn Nhục Ba La Mật”
(đó gọi là Nhẫn Nhục Ba La Mật). Câu này do
người thời Minh - Thanh thêm vào, thấy trong bản
khắc in của họ Tôn thời Càn Long - Gia Khánh. Lời
chú ghi rằng: “Cổ bản chẳng có câu này, nhưng
xét theo lư th́ phải nên có”. Trọn chẳng biết ở
chỗ này chỉ nói “phi”, [chẳng nói “thị danh”]
chính là v́ phần kinh văn tiếp đó xiển minh: Nếu
nhẫn nhục mà chẳng ĺa tướng, pháp môn nhẫn
nhục sẽ bị phá hoại, chẳng c̣n có căn bản nữa! Điều này ngầm
biểu thị, hiển lộ ư nghĩa: “Ắt chẳng
thể ĺa Bát Nhă”. Nếu ơ hờ, thêm vào một câu “thị
danh” ngang xương trong ấy, câu “hà dĩ cố”
trong đoạn sau đó làm sao thừa tiếp đoạn
trước cho được? Nếu chấp theo câu này[19]
th́ ngữ khí, văn pháp của phần trước và phần
sau [câu này] sẽ nhất loạt lỏng lẻo, đâm ra
chỉ thú trong kinh sẽ nhất loạt bị ẩn khuất!
Họ tự bảo “xét theo Lư th́ phải nên có”, chẳng
hiểu đă căn cứ vào lư nào?
Đúng là vô tri làm xằng! Hăy nên biết: Pháp do đức
Phật nói, há có thể phiếm lạm, tự ư tăng giảm,
to gan cỡ nào? Dẫu lưu truyền có sai lầm,
cũng ắt phải có khảo chứng đích xác! Hơn
nữa, khảo chứng càng phải là ư nghĩa thật sự
hoàn mỹ, tinh vi, thỏa đáng, th́ mới có thể dựa
vào đó để giảo chánh. Há có nên biết rơ cổ bản
chẳng có mà cứ mặc sức thêm vào ư? Phàm người
muốn in khắc kinh sách để làm công đức, chớ
nên không biết lư này. Như kẻ này làm như thế,
không chỉ chẳng có công đức, mà tội lỗi c̣n
rất lớn! Do tự cậy vào sự ức đoán của
riêng ḿnh, tự tiện sửa đổi lời đức
Phật nói, lầm pháp, lầm người vậy! Chuyện
này đáng nên răn nhắc rơ rệt
ngàn đời; do vậy, chẳng nề hà mà tha thiết bảo
ban!
Sạn
Đề (Kṣanti) trong tiếng Phạn, có nghĩa là an nhẫn,
cũng nói là nhẫn nhục. An nhẫn là tên gọi chung,
nhẫn nhục là tên gọi riêng. Nhẫn là nhẫn khả
(忍可, chấp nhận), tức là nhất
tâm chánh thọ. “An” là an trụ, ư nói cái tâm bất động. “Nhục”
(辱) là hủy
nhục, tức có nghĩa ngược đăi. Nay trước
hết nói nghĩa của tên chung th́ nghĩa của tên riêng
sẽ tự thấy.
Người
ắt có thể nhẫn th́ sau đó tâm sẽ an trụ, bất
động. Nếu bị lay động, sao có thể nhẫn
cho nổi? V́ thế, hễ nói đến nhẫn, bèn chứa
đựng ư nghĩa “an trụ bất động”
trong đó. Người học đạo ở mọi
nơi, mọi chốn, thời thời khắc khắc
đều nên tâm an bất động. V́ thế, bất luận
làm chuyện ǵ, gặp cảnh ǵ, tu pháp ǵ, đều nên nhất
tâm chánh thọ. Nói theo pháp xuất thế, hễ tu một
loại pháp, hễ có thể chánh thọ an trụ th́ gọi
là Nhẫn. Như tu quán các pháp vốn vô sanh, đạt
được vọng niệm chẳng khởi, cái tâm
đă chánh thọ pháp ấy mà an trụ bất động,
nên gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn, cũng gọi là Chứng Vô
Sanh, hoặc Ngộ Vô Sanh. Chữ Chứng là h́nh dung sự
nhẫn khả, chữ Ngộ là h́nh dung tâm an lư đắc.
Nói theo pháp thế gian th́ cũng thế. Như nói “phú quư
mà có thể chẳng dâm, oai vũ chẳng khuất phục,
bần tiện chẳng thể đổi dời [chí
hướng]”. Cổ nhân gọi đó là “kiên nhẫn”.
Đối với oai vũ mà chẳng khuất phục, chẳng
phải là ương ngạnh chống đối, mà
nghĩa là “thân có thể giết, chứ chẳng thể
đoạt được chí”. “Chí chẳng thể
đoạt” chính là tâm an bất động. Đấy
được gọi là Nhẫn Nhục. Cũng như phú
quư mà chẳng dâm, nghèo hèn chẳng đổi dời, đều
là biểu thị tâm an nơi lẽ chánh, chẳng bị
lay động. Do vậy nói là “kiên nhẫn”. Nh́n theo đó,
có thể biết “an nhẫn” là danh xưng bao quát hết
thảy. Đó gọi là bất luận làm chuyện ǵ, gặp
cảnh ǵ, tu pháp ǵ, đều nên chánh thọ an trụ, nhẫn
nhục là một chuyện trong an nhẫn. V́ thế nói an
nhẫn là Tổng,
nhẫn nhục là Biệt.
Cần phải biết: Hễ nêu lên nhẫn nhục để
nói th́ có ư nghĩa “dùng một điều riêng lẻ ḥng
khái lược toàn bộ”, dùng Biệt để nói về Tổng.
V́ sao vậy? Trong thế gian, khó nhẫn nhất không ǵ
hơn vô duyên cớ mà bị nhục. Chuyện này mà c̣n phải
nhẫn, th́ những
điều khác có thể suy ra mà biết. Trong kinh luận,
hoặc dùng danh xưng chung, hoặc dùng tên gọi riêng, trọn
chẳng nhất loạt. Đại khái là hai vị pháp
sư Huyền Trang và Nghĩa Tịnh đều dịch là
An Nhẫn, các vị dịch sư khác đa số dùng chữ
Nhẫn Nhục. Thường có kẻ ngờ là hai pháp, hoặc
bàn luận hơn kém; thật ra, tuy Tổng và Biệt
tợ hồ bất đồng, nhưng đều là dùng
để hiển thị ư nghĩa “chánh thọ an trụ” th́ chẳng
có ǵ bất đồng! Chẳng cần phải ở các
chỗ ấy mà phân biệt hơn kém. Ở đây, tôi thừa
dịp giải thích tường tận hai danh xưng ấy
để nói xuyên suốt.
Kinh
văn chẳng nói Nhẫn Nhục mà nói là Nhẫn Nhục
Ba La Mật; đó là hiển thị “khi nhẫn nhục, sẽ
có thể hành Bát Nhă”. V́ sao vậy? Nếu chẳng có Bát Nhă,
sẽ chẳng gọi là Ba La Mật. Mà có thể hành Bát
Nhă, chính là có thể chiếu tánh mà ĺa tướng. V́ thế
nói “Như Lai thuyết phi Nhẫn Nhục Ba La Mật”
(Như Lai nói chẳng phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật).
V́ sao? Hăy nên ĺa tướng. Đoạn sau đây thẳng
thừng giải thích ư nghĩa này!
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.1.2.2.
Dẫn chứng
2.2.2.2.2.1.2.4.2.2.1.2.2.1.
Dẫn chuyện của chính ḿnh trong kiếp xưa
(Kinh)
Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Như ngă tích vị Ca Lợi
vương cát tiệt thân thể, ngă ư nhĩ thời,
vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng,
vô thọ giả tướng. Hà dĩ cố? Ngă ư văng
tích tiết tiết chi giải thời, nhược hữu
ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ
giả tướng, ưng sanh sân hận.
(經)何以故?須菩提!如我昔為歌利王割截身體。我於爾時,無我相、無人相、無眾生相、無壽者相。何以故?我於往昔節節支解時,若有我相人相眾生相壽者相,應生瞋恨。
(Kinh:
V́ sao vậy? Này Tu Bồ Đề ! Như xưa kia ta bị
vua Ca Lợi cắt chặt thân thể, ta trong lúc ấy chẳng
có tướng ta, chẳng có tướng người, chẳng
có tướng chúng sanh, chẳng có tướng thọ giả.
V́ sao vậy? Trong lúc xưa kia, khi ta bị chặt từng phần chân tay,
nếu có tướng ta, tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, sẽ sanh sân hận).
“Hà
dĩ cố” (v́ sao vậy?): Tự ḿnh lập ra câu hỏi
về nguyên cớ “v́ sao nhẫn nhục phải nên ĺa
tướng?” “Dẫn sự thật” là muốn chứng
minh “nhẫn nhục ắt phải ĺa tướng”.
Chuyện vua Ca Lợi tức là chuyện thuộc kiếp
trước của đức Phật. Kiếp ấy được gọi là Hiền Kiếp.
Do có ngàn vị Phật xuất thế,
hết thảy hiền thánh rất nhiều, nên gọi
như thế.
Chữ
Kiếp có hai nghĩa:
1)
Kiếp là một thời gian dài.
2)
Kiếp là kiếp nạn.
Ở
đây nói theo nghĩa thứ nhất. Nói “bổn kiếp”
tức là nói về đại kiếp. Mỗi một đại
kiếp chia làm bốn trung kiếp, gọi là Thành, Trụ,
Hoại, Không. Thế giới có thành, trụ, hoại, không,
giống như chúng sanh có sanh, lăo, bệnh, tử. Mỗi
trung kiếp lại chia thành hai mươi tiểu kiếp.
Trong mỗi tiểu kiếp, lúc thọ mạng của chúng
sanh ngắn nhất, đại đa số chỉ có
mười năm. Lúc ấy, chúng sanh ác cùng cực, cuộc
sống khổ sở tột bậc. Vật nuôi sống hầu
như chẳng sanh trưởng. Những thứ được
sanh ra toàn là thứ hại mạng; đấy là do ác nghiệp
cảm vời. Do vậy, số lượng chúng sanh
cũng cực ít. Kinh nói: Lúc đó, số người tại
Nam Thiệm Bộ Châu tổng cộng bất quá một vạn
mà thôi! Khổ tột cùng cực, bèn nghĩ tới điều
lành, dần dần quay đầu, thọ mạng cũng dần
dần tăng trưởng. Nhưng tăng trưởng rất
khó khăn, do họ hồi đầu hướng thiện,
hoàn toàn chẳng phải là dũng mănh, tinh tấn, mà là dần
dần tiến hướng theo đường lành. Đại
khái là trải qua một trăm năm mới tăng thêm một
tuổi. Do vậy, dần dần tăng trưởng, khi
đạt tới
thọ mạng thông thường là hai mươi năm th́
đă qua một ngàn năm rồi! Chúng sanh thấy làm lành
có thể đạt được thiện báo; do vậy,
người làm lành cũng ngày càng nhiều. Vật nuôi
dưỡng cuộc sống cũng dần dần sanh sôi,
số người cũng dần dần nhiều hơn. Cứ
mỗi trăm năm, tăng thêm một tuổi, tăng tới
lúc thọ mạng được tám vạn bốn ngàn
năm, tăng đến chỗ cùng cực, cũng là vui
sướng tới tột cùng. Vui tột cùng lại sanh buồn,
do thiện tâm dần dần giảm. Do đó, cứ mỗi
trăm năm bèn giảm một tuổi, giảm tới
mười tuổi là giảm tới cùng cực. Lại
quay đầu hướng thiện mà tăng, tức là
bước vào tiểu kiếp thứ hai. Cứ một
tăng một giảm như thế mà tuần hoàn. Kiếp
nào cũng đều theo lệ cứ mỗi trăm
năm tăng một tuổi, từ mười tuổi
tăng đến tám vạn bốn ngàn tuổi, lại cứ
mỗi trăm năm giảm một tuổi, giảm đến
mười tuổi. Tính toán theo cách đó, thời gian mỗi
tiểu kiếp là một ngàn sáu trăm bảy mươi
chín vạn tám ngàn (16.798.000) năm.
Tám mươi tiểu kiếp là một đại kiếp,
tức thời gian của một đại kiếp là
mười ba vạn bốn ngàn ba trăm tám mươi bốn
vạn năm (1.343.840.000). Nếu nói tṛn số th́ là hơn
mười ba vạn vạn năm. Thật ra, lúc kiếp
thành, thế giới vẫn chưa hoàn thành. Lúc kiếp hoại,
thế giới đă dần dần hư hoại. Lúc
đó, trên thế giới c̣n có chúng sanh, có thể biết nỗi
khổ [lúc đó]. Tới lúc kiếp Không, thế giới
c̣n chẳng có, há có chúng sanh! Kinh dạy: Khi thế giới gặp lúc hoại kiếp,
đức Phật dùng thần lực chuyển chúng sanh
trong thế giới ấy sang thế giới ở
phương khác. Chỉ trong kiếp Trụ là thế giới hoàn chỉnh,
nhưng trừ đi một nửa thời gian là giảm
kiếp, [xét ra] thời gian thọ mạng tăng trưởng,
chúng sanh an lạc bất quá là tăng kiếp trong khoảng
trụ kiếp, [chỉ là] một vạn sáu ngàn bảy
trăm chín mươi tám vạn (1.679.800.000) năm hơn
mà thôi. Dẫu thọ tám vạn bốn ngàn (84.000) tuổi,
rốt cuộc chẳng tránh khỏi nỗi khổ sanh lăo
bệnh tử. Suy nghĩ cặn kẽ cơi đời này,
há có ǵ đáng tham luyến? V́ thế, nay tôi nói tỉ mỉ
trạng thái của cơi đời này, đại chúng hăy mau
chóng giác ngộ th́ mới là tốt đẹp!
Đức
Thế Tôn giáng sanh trong giảm kiếp thứ chín của
trụ kiếp. Thọ mạng lúc này thông
thường là từ một trăm tuổi cho tới bảy
tám mươi tuổi. Bấm đốt tay tính toán, tới
nay đă sắp ba ngàn năm. V́ thế, thọ mạng hiện
thời bảy mươi tuổi là cao nhất, bốn
mươi, năm mươi là phổ biến nhất. Từ
báo chí thường thấy được điều này.
Chiếu theo điều kinh nói “mỗi trăm năm giảm
một tuổi” để tính toán, chẳng cách xa sự
thật cho mấy, đủ chứng tỏ lời đức
Phật dạy chẳng hư vọng. Thỉnh thoảng
có người hơn trăm tuổi, nhưng hiếm hoi tột
bậc. Ắt phải có nhân lành đặc biệt th́ mới
có thể đạt được điều đó,
đấy là ngoại lệ. Sau này sẽ giảm hơn,
cuộc sống càng khốn khổ hơn. V́ vậy, sanh nhằm
lúc này, chỉ có khuyên dạy đại chúng đồng quy
Phật pháp. Nếu quả thật đại đa số
mọi người đều có thể tŕ giới,
tu phước, thế giới sẽ ngay lập tức thấy
thái b́nh. Có thể gieo thiện nhân, ắt sẽ đạt
được thiện quả. Tuy ở trong giảm kiếp,
chưa hề chẳng thể được thấy sự
hưng thịnh ngoại lệ! Đức Phật bảo
“hết thảy chỉ do tâm tạo”. Lại nói “hết
thảy các pháp không ǵ chẳng phải là huyễn tướng”.
V́ thế, thọ mạng nhiều hay ít, thế sự
b́nh trị hoặc loạn lạc, dẫu có số nhất
định, nhưng thật ra tuy định mà chẳng
định, mọi sự do con người mà thôi! Hăy nên
khuyên trọn khắp [mọi người] phát tâm đại
bi, nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ,
ḥng đạt được cứu cánh. Vậy th́ xuất
thế gian hay thế gian, đều có một biện pháp.
Báo ơn Phật ở chỗ này, mà cứu hết thảy
khổ cũng do đây. Măn nguyện Bồ
Đề cũng do đây. Mong quư vị hăy cùng nhau gắng
sức!
“Tích” là “văng tích” (往昔,
xưa kia), ư nói tới chuyện túc thế. Thuở ấy,
nhằm lúc đức Thế Tôn hiện thân Bồ Tát, hành
Bồ Tát đạo. “Vị” (為) là “bị”. Chữ Ca Lợi (Kalingaraja) trong tiếng Phạn, có khi phiên âm thành Ca La Phú, hoặc
Ca Lăng Già, hoặc Yết Lợi, đều là cùng một
người, dịch nghĩa là Ác Vương, giống
như Trung Hoa nói “hôn quân” vậy. Khi đó, Ca Lợi
làm vua tại thành Phú Đan Na thuộc Nam Thiên Trúc, là kẻ
bạo ngược, thích làm chuyện thảm độc,
cho nên có tên gọi xấu ác ấy. Thuở
đó, Bồ Tát v́ chúng sanh, tọa Thiền trong núi. Một
hôm, vua dẫn các thể nữ ra ngoài
chốn hoang vu dạo chơi. Do mỏi mệt bèn nghỉ
ngơi đôi chút. Các thể nữ hái hoa, do vậy đến
chỗ [Bồ Tát] tọa Thiền. V́ muốn đoạn
tham dục cho họ, Bồ Tát bèn v́ họ
thuyết pháp. Vua bỗng vung gươm t́m tới, tức
giận, quở trách: “Sao ngươi lại dùng huyễn
thuật dụ dỗ
bọn nữ nhân của ta?” Bồ Tát
thưa: “Tôi tŕ tịnh giới, từ lâu tâm đă vô nhiễm”.
Vua hỏi:
“Ngươi đắc quả A La Hán à?” Thưa: “Chưa
đắc”. Hỏi: “Ngươi đắc quả Bất
Hoàn ư?” Đáp: “Chẳng đắc”. Vua nói: “Ngươi
nay tuổi trẻ, lại chưa đắc quả, tức là trọn
đủ tham dục. Sao lại nh́n nữ nhân của ta?”
Đáp: “Tuy chưa đoạn kết sử tham dục,
nhưng tâm thật sự chẳng tham”. Vua bảo: “Bậc
tiên nhân nuốt khí, ăn trái cây, thấy sắc c̣n tham, huống
ngươi đương độ tuổi trẻ”.
Đáp: “Thấy sắc chẳng tham, chẳng do nuốt
khí, ăn trái cây, mà là do hệ niệm vô thường bất
tịnh”. Vua nói: “Khinh người khác, phỉ báng. Sao có thể
gọi là tŕ giới?” Đáp: “Có ghen ghét bèn báng; không
ghen ghét sẽ chẳng báng”. Vua hỏi: “Thế nào là tŕ giới?”
Đáp: “Nhẫn gọi là giới” (do vậy, có thể biết:
Chẳng nhất tâm an trụ nơi giới, sẽ chẳng
gọi là tŕ giới). Vua liền dùng kiếm chặt chân
tay, xẻo tai, mũi [của tiên nhân], hỏi: “Nhẫn
được chăng?” Đáp: “Giả sử đại vương bằm
nát tấm thân tàn của tôi giống như vi trần, tôi trọn
có thể nhẫn, chẳng dấy sân niệm”. Quần thần
tranh nhau can gián, vua tức giận chẳng thôi. Khi đó, tứ
thiên vương tuôn xuống cát kim cang. Vua trông thấy kinh
hoảng, quỳ thẳng, sám hối, tạ lỗi. Bồ
Tát phát nguyện: “Nếu ta thật sự chẳng có sân
niệm, sẽ khiến cho thân ta đây b́nh phục như
cũ”. Nói lời thề ấy xong, thân liền trở
lại như cũ. Lại phát nguyện rằng: “Ta
trong đời mai sau sẽ
độ đại vương trước”. V́
thế, ta (đức Phật Thích Ca) nay thành Phật, độ
Kiều Trần Như trước hết, bởi
nhà vua ấy chính là tiền thân của Kiều Trần
Như. Chuyện này thấy chép trong kinh Đại Bát Niết
Bàn và Tỳ Bà Sa Luận, nhưng cặn kẽ hay đại
lược khác nhau, nay gộp chung lại để trích dẫn.
Kinh này nói “cát tiệt thân thể”, chính là nói [vua Cát Lợi]
dùng kiếm cắt đứt tai, mũi, chân, tay!
Trong
phần trước đă nói “nhược thủ pháp
tướng” (nếu chấp tướng của pháp)
tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả.
Nay nói chẳng có tướng ngă v.v… là hiển lộ “chớ
nên chấp tướng của pháp Nhẫn Nhục”, chẳng
nói “không có tướng Nhẫn Nhục”, mà nói là “không có
tướng ta, tướng người v.v…” Do không có
tướng ta, người v.v… th́ mới có thể chẳng
chấp tướng nhẫn nhục. [Nói như vậy
để người nghe] hiểu rơ “phân biệt ta,
người chính là cái gốc bệnh chấp tướng”.
Chẳng có phân biệt ta, người, sẽ tâm an bất
động;
do vậy, có thể chịu đựng cắt chặt, nhẫn
thọ nỗi nhục lạ lùng ấy. Cho nên nói: “Ngă
ư nhĩ thời, vô ngă tướng, vô nhân tướng,
vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng”
(ta trong lúc ấy chẳng có tướng ta, tướng
người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả).
“Nhĩ thời” giống như nói “lúc đó”, tức
lúc xưa kia bị cắt chặt. Hăy nên biết: Nhẫn
nỗi nhục lạ lùng ấy là do người khác nh́n
vào mà nói như vậy, chứ lúc đó Bồ Tát giống
như chẳng có chuyện
như thế, chẳng có ǵ là nhục hay không nhục, nhẫn
hay chẳng nhẫn! Đó gọi là “nhẫn nhục phi
nhẫn nhục”. Thấy được “nhẫn nhục
phi nhẫn nhục” th́ chính là chánh trí Bát Nhă. Do vậy, có
thể trong là chẳng thấy năng nhẫn (người
có thể nhẫn nhục), tức là không có tướng
ngă. Ngoài chẳng thấy bị nhục, tức là không có
tướng người. Bồ Tát tọa Thiền, vốn
là mong chứng đạo để độ chúng sanh. Nay
mặc cho người khác cắt chặt, tức là ngay cả
chuyện ấy cũng chẳng màng, gác sanh tử ra ngoài!
V́ thế nói là “vô chúng sanh tướng, vô thọ giả
tướng” (chẳng có tướng chúng sanh, chẳng
có tướng thọ giả). Đó là do Bồ Tát trọn
đủ chánh trí Bát Nhă, cho nên
thông đạt Nhất Chân pháp giới. Trong Nhất Chân
pháp giới, há có hết thảy các tướng đối
đăi như ta, người, chúng sanh, Phật, sanh, tử
v.v… Bởi vậy, bốn tướng đều chẳng
có. Bốn tướng đều chẳng có, tức là vạn
niệm đều tịch. Có ǵ gọi là nhục, có ǵ gọi
là nhẫn ư? Sau đấy mới có thể nhẫn nỗi
nhục lạ lùng ấy!
Biết điều
này, sẽ biết hết thảy các
hạnh môn nếu chẳng nhờ vào Bát Nhă sẽ chẳng
thể thành tựu. Biết điều này, sẽ biết
hết thảy người tu hành chẳng nhờ vào Bát
Nhă, sẽ chẳng thể không vướng mắc, chẳng
thể đạt được tự tại, chẳng
thể đạt tới bờ kia! Do đó, nói “hết
thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng
Giác đều từ kinh này mà ra”. V́ thế nói: “Tùy
theo nói [kinh này] ở nơi đâu, hết thảy trời, người
đều nên cúng dường. Nơi nào có kinh, tức là
nơi ấy có Phật và các đệ tử đáng tôn trọng”.
Bởi đó, hễ nghe rồi mà tín
giải thọ tŕ, v́ người khác nói, thậm chí một
bài kệ bốn câu v.v… sẽ đều đạt
được thành tựu hy hữu, đạt được
vô lượng phước đức. Người thế
gian dẫu chưa thể ai nấy đều thành tựu
như thế, nhưng ai có thể giảm nhẹ kiến
chấp phân biệt “ta, người” đôi chút, th́ đấu
đá ắt cũng giảm nhẹ đôi chút. Thế giới
sẽ ngay lập tức thái b́nh, an cư lạc nghiệp.
Do đó, Bát Nhă là tinh thần đích thực của Phật
giáo, là pháp bảo vô thượng. Hết thảy chúng sanh
đều nên cung kính đội lên đầu, đọc
tụng, thọ tŕ, chớ nên rời khỏi trong phút chốc!
Câu “hà
dĩ cố” thứ hai là hỏi v́ sao phải ĺa tứ
tướng? “Tiết tiết” (節節)
là giống như “đoạn đoạn” (段段,
từng đoạn một). “Chi” (支)
là chi ly (支離,
vụn vặt). “Giải” (解)
là cắt bỏ, đều có nghĩa là “phân tích” (分析,
tách rời ra). “Đoạn đoạn phân tích” tức
là chân, tay, tai, mũi, mỗi mỗi đều bị chặt
cụt. “Ưng sanh sân hận” (ắt sanh sân hận):
Là nói ngược lại, tức chẳng thể nhẫn.
Thử nghĩ xem, lúc đó, vô duyên vô cớ hứng chịu
nỗi nhục lạ lùng ấy, nếu chẳng phải
là không có mảy may phân biệt ta, người v.v… muôn niệm
đều không, lẽ đâu chẳng sanh sân hận?
Chắc
có người nói: “Khi ấy, [Bồ Tát] phát nguyện b́nh
phục, liền có thể b́nh phục như cũ, ắt
có thần thông, cho nên có thể chịu đựng đau
khổ, há phàm phu có thể làm được ư?” Nói kiểu
ấy quá sai, chẳng phải vậy! Đó là tà kiến,
chẳng thể không biện định! Hăy nên biết: Dẫu có thần thông,
có thể chịu đựng khổ đau, giả sử
sân tâm dấy lên, ắt cũng chẳng thể chịu
đựng [nỗi nhục được]! V́ sao? Sân tâm và
thần thông chẳng dính dáng ǵ với nhau! Tuy trọn đủ
tham, sân, si như tà ma [chẳng hạn], vẫn có thể
đắc thần thông. Do đó, Phật pháp chẳng coi trọng
thần thông là v́ lẽ này. Tuy Phật, Bồ Tát cũng có
lúc hiển hiện thần thông nhằm biểu thị
pháp, hoặc nhờ đó để cảm hóa chúng sanh
ương ngạnh, bị chướng lấp, bất
đắc dĩ mà ngẫu nhiên thực hiện đó thôi.
Khi tu hành, trọn chẳng chú trọng nó!
Hơn
nữa, kinh này dẫn câu chuyện này với dụng ư chỉ
rơ: Vô Thượng Bồ Đề dùng đại từ
đại bi làm căn bản, ắt phải ĺa các tướng
phân biệt ta, người v.v… khiến cho cái tâm một niệm
chẳng sanh, an trụ bất động; sau đấy mới
đạt được ân oán b́nh đẳng, thành tựu
đại từ bi định. Định ấy đă
thành, sau đấy mới đắc, tuy gặp nghịch
cảnh ác duyên cực đại, chẳng sanh sân hận,
chẳng có mảy may sân hận. Sau đấy mới có thể
phổ độ chúng sanh, măn Bồ Đề nguyện. V́
sao vậy? Do chúng sanh ương bướng khó độ.
V́ vậy, Bồ Tát tu nhẫn hạnh, dụng ư là ở chỗ
này. Há kẻ chỉ có sức thần thông có thể mộng
thấy ư? Nếu không, sẽ như kinh văn trong phần
sau có nói: Hằng ngày ba thời dùng thân mạng nhiều
như cát sông Hằng để bố thí, có thể biết
là người ấy có đại thần thông cực lớn,
chẳng sợ khổ nạn, cũng là cực khó mà làm
được, nhưng vẫn chẳng bằng người
nghe kinh điển này, tín tâm chẳng trái nghịch, v́ sao vậy?
Chính là chỉ rơ: Nếu chẳng tín giải thọ tŕ pháp
môn Bát Nhă, ắt cái tâm phân biệt chẳng thể trừ sạch!
Tâm phân biệt chưa hết sạch, sẽ chẳng đạt
tới Nhất Chân pháp giới. Chưa chứng tánh thể
không tịch, quyết sẽ chẳng thể thành tựu vô
duyên đại từ, đồng thể đại bi, dẫu
có thể xả vô lượng vô biên số lượng
thân mạng, vẫn là hữu lậu, vẫn phải đề
pḥng gặp duyên bèn thoái thất! V́ sao vậy? Chưa đạt
tới Nhất Chân mà không tịch; đấy chính là
chưa đoạn vô minh, tức là tín căn vẫn chưa
thành tựu. Như thế th́ kẻ có sức thần thông
dẫu có thể chịu nhục, nhưng so với nguyên do
v́ sao Bồ Tát có thể nhẫn nhục, trên căn bản
là hoàn toàn bất đồng, há có thể luận định
ngang nhau ư? Do vậy, trong phần sau, [đức Phật] sẽ
dẫn chuyện trong nhiều đời để chứng
tỏ nhẫn nhục chẳng dễ. Chẳng phải là
tu học Bát Nhă rất lâu, đắc Đại Không tam-muội,
đúng là sợ bỗng gặp nghịch cảnh ác duyên cực
đại, sân tâm dấy động đôi chút, sẽ vứt
sạch công phu trước đó! Do vậy, phước do
thọ tŕ, diễn nói kinh này vượt quá [phước
đức do] xả thân mạng nhiều như cát sông Hằng
là v́ lẽ này! Nói chung là nêu rơ: Chẳng tu pháp môn Bát Nhă, sẽ
chẳng thể ĺa hết thảy các tướng, khế
hợp Đệ Nhất Nghĩa Không, trọn chẳng thể
thành tựu bậc Bồ Tát đại từ đại
bi. Người biết như thế chính là chánh tri. Người
thấy như thế chính là chánh kiến.
C̣n
như phát nguyện [thân thể] b́nh phục, liền
được b́nh phục như cũ, th́ có ba nghĩa, mỗi
tầng sau đều sâu hơn tầng trước:
1) Do được Phật
gia bị. Do vậy, có nguyện ắt được măn
nguyện là v́ lẽ này.
2) Do đại từ
bi, cho nên được Phật gia bị là v́ lẽ này. Thử
xem sau khi bị chém, chặt, bèn phát nguyện “đời
sau thành Phật sẽ độ đại vương
trước”. Có thể thấy Ngài chẳng có
tơ hào sân hận, do Ngài đă đắc đại từ
bi định. V́ sao đắc Định? Do tâm chẳng
có phân biệt.
3) Do tâm thanh tịnh. V́
tâm vô phân biệt mà đắc từ bi định là v́ lẽ
này!
Do
tu học Bát Nhă, quán chiếu Nhất Chân pháp giới vô
tướng, bất tướng, công hạnh sâu thuần,
nhất tâm thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh, pháp giới thanh
tịnh. Do sức bi nguyện ấy vĩ đại vô
biên, hễ có nguyện liền thành. Bảo là do chư Phật
gia bị cũng được, bảo là “chỉ do tâm
hiện” cũng được luôn! V́ sao vậy? Do
đă chứng “tâm, Phật, chúng sanh” cả ba vô sai biệt.
Như nói “thần thông” th́ là đại thần thông trong Phật
môn, được gọi là Lậu Tận Thông, há thần
thông hữu lậu mà có thể bảo là tương đồng
được à?
Đoạn
trước (tức từ câu “hà dĩ cố” trở
đi) là nói ĺa tướng th́ sẽ
có thể thành tựu pháp đang tu tập, tức là ĺa pháp
tướng chính là để thành tựu pháp tướng.
Đoạn sau (từ câu “hà dĩ cố” thứ hai trở
đi), nói rơ: Chẳng ĺa tướng sẽ đủ
để phá hoại pháp đang tu tập. Tức là chẳng
ĺa tướng của pháp, sẽ đâm ra trở
thành tướng phi pháp. Đoạn trước là giảng
trực tiếp, đoạn sau là nói tương phản
để giảng rơ. Gộp chung phần nói trực tiếp
và tương phản để xem, há chẳng phải ĺa tướng của pháp
chính là ĺa tướng của phi pháp
đó ư? Nói đơn giản, đó là “ĺa tướng
mà chẳng đọa Không”; chẳng ĺa tướng,
đâm ra sẽ đọa vào Không. Xiển minh nghĩa này,
chính là phang một gậy vào đầu kẻ sợ hăi [Bát Nhă].
Do kẻ sợ hăi không ǵ chẳng phải là v́ hoài nghi “ĺa
tướng ắt đọa Không!” Nay mới biết hoàn
toàn tương phản. Phá trừ như thế, sắc
bén khôn sánh! Nghĩa “ĺa tướng” của Bát Nhă
được xiển phát tới chỗ này, chẳng c̣n mảy
may thừa sót, ẩn kín. Nhưng nếu đức Thế
Tôn chẳng thiện xảo nêu tỏ như thế, ai có thể
hiểu thấu triệt? Nếu chưa hiểu thấu
triệt nghĩa này, th́ đối
với nghĩa “ĺa tướng”,
sẽ trọn chẳng [thấu
hiểu] triệt để, sẽ hoàn toàn chẳng
khỏi có lúc nẩy sanh nghi vấn! Như vậy th́ người
nghe kinh mà có thể chẳng kinh hăi, chẳng hoảng sợ,
chẳng e ngại, ắt là do đă hiểu sâu xa nghĩa
này, thật sự hết sức hy hữu!
Do vậy
mà xem, tuy kinh văn trong phần trước chỉ nói “phi
Nhẫn Nhục Ba La Mật” mà đă chứa đựng
ư nghĩa “thị danh Nhẫn Nhục Ba La Mật”
trong ấy. Có thể thấy đức Phật thuyết
pháp, nói tại phương diện này, ư thấu triệt
phương diện kia, mặt nào cũng đều trọn
vẹn. Lại có thể ngộ rằng: Phàm chỗ nào cùng
nêu “tắc phi” và “thị danh”, lời lẽ tuy
b́nh đẳng, ư thật sự nghiêng về bên “tắc
phi”. Nói cách khác để giảng nghĩa này, sẽ liền
có thể hiểu rơ. Trong phần trước đă chẳng
nói đó sao? “Tắc
phi” là nói theo tánh; “thị danh” là nói
theo tướng. Nhưng tánh là gốc, tướng là ngọn.
Có gốc th́ mới có ngọn, do Không mới hiện Hữu.
V́ thế, hăy nên biết điều được chú trọng
là “chẳng có nhị biên”. Do đó, ĺa tướng của pháp
chính là ĺa tướng của phi pháp.
Tức là như trong phần trước đă nói “Phật
pháp lấy Bát Nhă làm chủ”, nghĩa là “lấy Không
làm chủ”. V́ sao vậy? Do tánh
thể vốn không tịch. Đấy là lư do v́ sao Phật,
Bồ Tát coi Đại Không tam-muội là rốt ráo. Do vậy,
vô trí, vô đắc, mà đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Tuy đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề, nhưng vẫn là vô trí mà cũng vô
đắc. V́ sao vậy? Hễ có một chút ǵ để
đạt được th́ vẫn là chưa đắc!
Đức
Phật bảo “ưng sanh sân hận” (ắt sanh sân hận)
không chỉ nhằm xiển minh các nghĩa đă nói trên
đây mà thôi, hăy c̣n có ư nghĩa trọng yếu chẳng thể
không nói rơ. Hăy nên biết sân hận là điều đại
kỵ của người tu hành. Đức Thế Tôn v́ muốn
răn nhắc người phát Bồ Đề tâm, bất
luận khi nào, gặp cảnh ǵ, tu pháp ǵ, đều quyết
chớ nên sanh sân, bèn dựa trên nhẫn nhục để
nói rơ. Dựa theo nhẫn nhục để nói rơ là v́ nhẫn
nhục cực dễ sanh sân, v́ hễ sanh sân tâm, nhẫn hạnh
liền bị phá. Do các sự lư ấy,
mọi người đều dễ hiểu, bèn dựa
vào chuyện dễ hiểu để nói, dùng đó làm thí dụ, ngơ hầu họ sẽ thông suốt
hết thảy. Đấy chính là ư vi diệu của Phật.
Chớ nên hiểu “chỉ chớ nên sanh sân
đối với nhẫn nhục”, c̣n những điều
khác [dẫu sanh sân] cũng chẳng trở ngại ǵ!
V́
sao nói sân hận là đại kỵ đối với tu
hành? Chính v́ sân hận xung đột với Bồ Đề.
Bồ Đề là giác, là b́nh đẳng, là từ bi. Sân hận
nẩy sanh là do sự việc chẳng được
như ư ḿnh, đó là chấp ngă, c̣n có b́nh đẳng chi nữa?
Chuyện đời không ǵ chẳng như mộng huyễn,
như ư hay chẳng như ư, cần ǵ phải coi trọng?
Chẳng biết điều này, há c̣n giác ngộ chi nữa?
Trái nghịch từ bi, chẳng cần đợi phải
nói nữa! V́ thế, hễ sân tâm dấy lên, chủng tử
Bồ Đề sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt. Người
tu hành quên mất Bồ Đề, nhẹ th́ giải
đăi, bỏ phế, dễ duôi, nặng th́ đạo tâm
hoàn toàn lui sụt. Dẫu chưa lui sụt, nhưng dùng sân
tâm để hành, quyết chẳng thể thành chánh quả!
Đức Phật dạy: “Vong thất Bồ Đề
tâm nhi tu chư thiện, ma sở nhiếp tŕ” (quên mất
Bồ Đề tâm mà tu các điều thiện, bị ma
nhiếp tŕ). Phổ Hiền Bồ Tát nói: “Bồ Tát quá
thất, mạc thậm ư sân tâm giả, dĩ tiền sở
tích công đức, tuy đa như sâm lâm, sân hỏa nhược
sanh, nhất tề thiêu tận” (Lỗi lầm của Bồ
Tát không ǵ tệ bằng sân tâm, do công đức đă tích tập
trước đó tuy nhiều như rừng rậm, hễ
lửa sân sanh khởi, nhất loạt cháy rụi). Những
điều này đều thấy nói trong kinh Hoa Nghiêm, há chẳng
đáng sợ ư? Há chẳng đáng kinh hăi ư?
Hăy nên biết: Trong Tam
Độc tham, sân, si, th́ si là cái gốc độc, si tức
là vô minh. Do vô minh mà dấy lên tham và sân, nhưng trong hai
độc tham và sân, th́ sân độc gây họa càng to! V́
sao vậy? Do tánh của nó bạo liệt. Chẳng phát th́
thôi! Hễ
phát ra, tuy hoàn toàn trái nghịch những ǵ đă làm trước
kia, [kẻ đang sân hận] cũng đều chẳng đoái hoài! V́ thế, người
tu hành phải nên đau đáu răn dè! Đức Phật
nói kinh này nhằm mở mang chánh trí cho chúng sanh ḥng đối
trị si. Vừa mở đầu kinh, liền nói bố thí để đối
trị tham, nhưng sân vẫn chưa nói. Do vậy, đặc
biệt ở đây lại phát khởi. Phần trước
đă nói “hành bố thí chớ nên trụ vào pháp”, nay bảo
“nẩy sanh sân hận
do có tứ tướng” đều
nhằm nói rơ: Chẳng khai chánh trí Bát Nhă ḥng chữa trị
bệnh si chấp tướng, tham và sân sẽ không có cách
nào trừ được! “Ưng sanh” có nghĩa là
t́nh thế ắt sẽ đến nỗi như
thế. Hễ chấp tướng, bắt buộc sẽ
nổi sân. Hễ sân sanh khởi, chắc chắn những
ǵ đă tu bị phá sạch. Do như vậy, bèn dạy
người tu hành nếu
chẳng học Bát Nhă khiến cho khắp
mọi chốn, mọi nơi, giờ giờ khắc khắc, tâm đều như
hư không, sẽ chẳng thể được! Đấy
chính là ư chỉ chánh yếu do đức Phật dạy
trong khoa này, há chẳng phải nhẫn nhục là điều
đáng phải nên làm đấy ư?
Hăy
nên biết: Muôn sự
trong thế gian,
không ǵ chẳng phải là đối đăi (như nhân, quả, ta,
người, nam, nữ, âm, dương, sanh, tử, b́nh trị,
loạn lạc, cho đến nhiễm, tịnh, thịnh,
suy, khổ, lạc v.v… chẳng có chuyện ǵ vượt
ngoài đối đăi!) Do đối đăi mà cực dễ
nẩy sanh phân biệt, so đo. Mắt tục đă cho rằng
hết thảy các thứ đối đăi là sự thật,
[do vậy bèn] phân biệt, so đo, đến nỗi chẳng có ǵ phá nổi!
Do vậy mà có tham, sân. Nếu có thể từ trong đối
đăi mà thấy được đạo lư “tiêu mất,
sanh trưởng, đầy, vơi”, biết đó là
tin tức để hiểu lẽ biến thông, ḥng đối
xử với hết thảy chuyện trong cơi đời,
sẽ chẳng thể không khâm phục các bậc thánh nhân
trong thế gian. Tuy họ có thể lợi dụng đối
đăi, nhưng trọn chẳng thể nhảy ra ngoài khuôn
khổ đối đăi. Phật pháp chẳng phải vậy!
Hết thảy không ǵ chẳng phải là đối
đăi, từ ngay trong ấy mà thấy thấu suốt
không ǵ chẳng do so
sánh “đây,
kia” mà có!
Đă đều là chuyện thuộc h́nh tướng, tức
là hết thảy đều hư huyễn chẳng thật,
Có tức chẳng phải Có vậy! Nhưng chẳng hề
không có hư huyễn hiển hiện, chẳng Có mà là Có. V́
thế, đă vượt ngoài sự biểu hiện, chẳng
bị câu thúc, tùy thuận vào đó, chẳng phế bỏ
chuyện ấy. Vượt ngoài sự biểu hiện
chính là chẳng chấp. Chẳng như thế, sẽ không
thể thấu đạt tánh thể tuyệt đối;
đấy là đại trí. Tùy thuận trong đó, chính là
chẳng hoại. Chẳng phải như vậy, sẽ chẳng
thể cứu chúng sanh đang luân hồi; đấy là
đại bi. Hết thảy các kinh điển Đại
Thừa đều nói đạo lư như thế, nhưng
kinh Bát Nhă nói tường tận nhất. Kim Cang Bát Nhă càng
nói tinh vi hơn!
Người học
Phật có thể thấy điều này th́ gọi là “khai
đạo nhăn”. Nếu đạo nhăn đă khai, hăy nên gấp
rút dưỡng đạo tâm. Dưỡng như thế
nào? Hăy giữ cho cái tâm như hư không, vượt ngoài
cơi trần. Như hư không là chẳng trụ tướng.
Kinh dạy “bố thí chẳng trụ tướng,
phước như hư không” chính là nhằm dạy ĺa
tướng khiến cho cái tâm như hư không. Ắt cần
phải Sanh Không và Pháp Không th́ sau đó mới là Tâm Không.
Sanh Không là chẳng có ta, người, chúng sanh, nhưng chẳng
chấp vào tướng của chúng. Pháp Không chẳng phải
là nói không có pháp, mà là đối với các pháp nên hành, vẫn
mỗi mỗi đều đúng như pháp mà hành, nhưng
tuy hành mà như không có chuyện ấy. Bố thí mà quên bẵng
ḿnh hành bố thí, hành nhẫn mà quên bẵng đang nhẫn,
cho tới hành Lục Ba La Mật mà quên bẵng
đang hành Ba La Mật. Nói “như vô sự”, nói “quên”,
tức là chẳng chấp tướng năng hành (người
hành) và sở hành (pháp được hành). Đấy là Ngă
lẫn Pháp cùng Không, ngay cả Không cũng Không!
Cố nhiên, kẻ sơ học chẳng dễ
bén mảng, nhưng chớ nên sợ khó! Cần phải thấu
hiểu nghĩa này trong mọi lúc, khiến cho cái tâm rỗng
rang, đó là chỗ trọng yếu. “Siêu nhiên trần biểu”
tức là chẳng xen tạp hết thảy các sự lư
đối đăi trong trần thế, trong tâm thường
giữ ư niệm vượt thoát, đừng để
gián đoạn. Đó là điều phải chú trọng.
Hăy nên biết: Có thể chẳng hỗn tạp, tức là
có thể dần dần tâm không. Lại c̣n trong lúc ấy, dấy
lên một câu vạn đức hồng danh, nhất tâm mà
niệm, cũng chẳng phân biệt ai là người niệm,
vị Phật nào được niệm. Chỉ cốt
sao niệm tức là Phật, ngoài Phật chẳng có niệm.
Cái tâm vốn đă giữ như hư không, đấy
chính là Phật niệm cũng lại đầy ắp
hư không. Trên là cùng với mười phương Như
Lai, dưới là cùng pháp giới chúng sanh, mỗi hơi thở
đều thông với nhau. Như vậy th́ nói là hữu niệm
cũng được, bảo là vô niệm cũng
được, nói “Phật chính là vị
Phật trong mỗi niệm” cũng được, mà nói “Phật và chúng sanh ở ngay trong tâm này” cũng được, bảo là “tâm cùng với Phật
và chúng sanh chẳng khác, chẳng có tướng” cũng
được luôn! Lại đọc tụng Kim Cang Bát Nhă
Ba La Mật cho nhiều để huân tập, trưởng
dưỡng, khiến cho đạo nhăn ngày càng mở to,
đạo tâm ngày càng kiên cố. Đó chính là pháp “cùng tu
Bát Nhă và Tịnh Độ”. Pháp ấy tương ứng
với Nhất Chân pháp giới, tương ứng với
Thật Tướng, tương ứng với
“Không Hữu chẳng chấp, tánh tướng viên dung”,
tương ứng với Đệ Nhất Nghĩa Không,
mà cũng lại
tương ứng với nghĩa “tâm tịnh th́ cơi
nước tịnh”. Các vị hăy làm thử xem, sẽ
có chỗ thọ dụng, v́ đấy chính là pháp tùy thuận
nhân quả đối đăi, tu cái nhân thù thắng dứt bặt
đối đăi, sẽ
có thể chứng cái quả thù thắng
dứt bặt đối đăi.
Trong
phần kinh văn trước đó, các chỗ nói “không
có bốn tướng ta, người…” rất nhiều,
nhưng đều là nói trực diện, tức là nói theo
phương diện đạt được lợi ích.
Nói theo phương diện tương phản [tức chấp
trước các tướng ấy] sẽ bị hại th́
chỉ lúc mở đầu kinh bèn nói “nếu có tướng
ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng
thọ giả, sẽ chẳng phải là Bồ Tát”.
Nhưng lời ấy là lẽ đương nhiên. Nay nói “ưng
sanh sân hận” chính là nói đến nguyên do. V́ sao vậy?
Nếu sanh sân hận, sẽ chẳng phải là Bồ
Đề tâm, cũng tức là chẳng phải giác, mà
là vẫn rơi vào phàm phu lạc đường vậy.
V́ thế nói “chẳng phải là Bồ Tát”. Do vậy,
có thể biết: Muốn thoát đường mê để
sanh Tịnh Độ, há cũng chẳng phải là dốc
ư sao cho Ngă và Pháp đều Không ư? Do bất luận chấp
ngă tướng hay chấp pháp tướng, hễ có đôi
chút phân biệt, so đo, đó là “trụ trần sanh
tâm”. Tâm có trần nhiễm, sao thanh tịnh cho nổi?
Tâm chẳng thể tịnh, cơi tịnh chẳng sanh! Hăy cẩn
thận chớ nói: Pháp môn Tịnh Độ chẳng cần
đàm luận Bát Nhă cao xa!
Ngôn
thuyết của đức Phật cố nhiên là viên diệu.
Hăy nên quán mọi phương diện. Pháp do đức Phật
nói ra, cũng không ǵ chẳng viên diệu, cũng nên quán từng
phương diện. Bởi lẽ, pháp do đức Phật
nói, không pháp nào chẳng hàm nhiếp nhiều pháp. Do vậy,
nhiều pháp lại có thể quy hướng một pháp. V́
điều này, kinh Hoa Nghiêm nói nghĩa lư “một tức
hết thảy, hết thảy tức một”. Do vậy,
kinh này bảo “chẳng có pháp nhất định”. Bởi
vậy, chớ nên chấp! Như phần trên đă nói bố
thí nhiếp chung Lục Độ; cần phải biết:
Nhẫn Nhục cũng thống nhiếp Lục Độ.
Như nói: Nhẫn gọi là Giới, Nhẫn Độ tức
là Giới Độ vậy. Nghe chuyện cắt xẻo
[thân thể] và kết duyên trong tương lai sẽ tiếp
độ, như vậy th́ nhẫn nhục chính là bố
thí. Chẳng sanh sân hận mà có thể nhẫn thọ,
đó là Thiền Định. V́ sao vậy? Do nhẫn có thể
bất động; há chẳng phải là Định ư?
Do Định nên chẳng dấy khởi sân. Kinh văn
trong phần sau nói “năm trăm đời nhẫn nhục”
tức là tinh tấn. Chẳng có các tướng ta, người
v.v… th́ là Bát Nhă, chẳng cần phải đợi
nói nữa! V́ thế, nêu ra Nhẫn Độ sẽ nhiếp
trọn các Độ kia. Suy ra mỗi Độ, Độ
nào cũng đều là như thế. Do vậy, tuy kinh này
chẳng nói Tinh Tấn, Thiền Định, nhưng thật
sự [các Độ ấy] đă được gộp
trong bố thí và nhẫn nhục.
Hăy
nên biết ba Độ Giới, Tấn, Định mà ĺa Xả
Độ (Bố Thí Độ) và Nhẫn Độ, sẽ
khó thành tựu. V́ sao vậy? Giới có thể tŕ là do có thể
chấp nhận giới, xả bỏ nhiễm duyên. Định
thành tựu cũng do xả hôn trầm và tán loạn, chánh
thọ bất động. Nếu chẳng thể xả,
chẳng thể nhẫn, há có tinh tấn ǵ để
đáng nói! Do vậy, hai độ Thí và Nhẫn quả thật
là chủ yếu trong hết thảy các hành môn. Đó là lư
do kinh này chỉ nêu ra Bố Thí và Nhẫn Nhục để
nói!
Hơn
nữa, bố thí chính là Xả. Nếu chấp tướng,
ắt chẳng chịu xả; cũng giống
như thế, hễ chấp tướng, ắt chẳng
thể nhẫn. Vậy th́ chẳng học
Bát Nhă sẽ không thể, điều này hết sức rơ rệt!
Do vậy, kinh
này chỉ xét theo hai Độ để giảng “ĺa
tướng”.
Hai Độ ấy đă là chủ yếu trong hạnh môn, mà nếu
hai độ ấy có thể ĺa tướng, các hạnh
môn khác sẽ tự nhiên có
thể chẳng chấp.
Trước
là nói bố thí, sau là nói nhẫn nhục, cũng có thâm ư. Do
xả có công năng trừ chấp,
có thể phá ngă, quan hệ mật thiết với Bát Nhă nhất.
Trong phần trên đă nói đối với “người
tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm, coi đó là
thật” cũng dạy học Bát Nhă, trước hết
hăy nên học Xả. Bởi lẽ, tŕ giới là xả hết
thảy nhiễm duyên, xả luôn tập khí ác trước
nay. Tu
phước hăy nên thí xả. Trước hết,
dạy học hạnh xả này để trừ chấp,
phá ngă, ḥng có thể tăng trưởng chủng tử Bát
Nhă. Đó là nguyên do đối với chương cú này, có
thể sanh tín tâm, coi đấy là thật; cho nên nói bố
thí trước hết. Nhưng tŕ giới là Giới học.
Có thể sanh tín tâm, coi đấy là thật, tức là Huệ
học. Luận định theo văn tướng (tướng trạng của văn tự),
tức là đă đủ Giới học và Huệ học.
Nhưng chưa nói Định, v́ công phu Định chỉ có Nhẫn
mới có thể thành tựu. Do đó, ngay trong lúc nói “thành
tựu hy hữu”, liền dùng ư nghĩa Nhẫn Độ
để bảo ban, khiến cho [các hành nhân] biết: Muốn
thành Bồ Tát, Tam Học Giới Định Huệ ắt
phải hoàn toàn trọn đủ, nhưng ắt phải
ĺa tướng th́ mới có thể thành nhẫn. Đó là lư
do nói Nhẫn sau đó. Do vậy, có thể biết: Nói Lục
Độ tức là nói tách ra theo sự
tướng. Tuy có sáu loại, nhưng nghĩa lư th́ giúp lẫn
nhau thành tựu, quan hệ mật thiết. Khi dụng công,
ắt phải nhất quán.
V́ sao nói vậy? Giới
là nền tảng của tu hành, v́ nó có tác dụng ĺa bỏ
sự nhơ bẩn đă nhuốm phải trước
kia. Xả có nghĩa là bố thí. Ư nghĩa của tŕ giới
là tâm có thể chấp nhận,
an trụ trong giới. Do vậy nói “nhẫn gọi là giới”.
Nhưng chấp nhận,
an trụ chính là tâm định bất động. Ắt
phải nhất tâm chấp
nhận pháp được quán, sau đó, huệ
sanh. V́ thế nói “Định sanh Huệ”. Nhưng
cũng ắt phải có cái huệ trừ chấp phá ngă th́
mới có thể thành tựu cái Định an trụ bất
động. Do vậy, Bát Nhă là mẹ của các Độ.
Hết thảy các hạnh môn đều do quán huệ mà
sanh. Do vậy, Định cũng chẳng thể ở
ngoài lư ấy. Định và Huệ sanh khởi lẫn nhau.
Nếu đối với Bát Nhă, bố thí, tŕ giới, nhẫn
nhục, Thiền Định, mỗi mỗi chẳng
lười nhác, chẳng lui sụt, sẽ là tinh tấn. V́
sao có thể chẳng lười nhác, chẳng lui sụt?
Chính là đối với pháp bèn nhất tâm chánh thọ, an
trụ bất động. Đó cũng là đối với
pháp, hễ đạt được liền xả, trọn
chẳng chấp tướng, tự măn. Có thể thấy:
Các pháp sanh khởi lẫn nhau, nhiếp thọ lẫn nhau.
Nếu khuyết một pháp, cả sáu đều chẳng
thành. Hành nhân chớ
nên chẳng hiểu rơ lư này!
Trong
hết thảy các hạnh môn, hai độ Xả và Nhẫn
cố nhiên là chủ yếu, nhưng Xả càng là chủ yếu
nhất trong những điều chủ yếu.
V́ sao biết như thế? Thử xem kinh này nói Nhẫn chỉ
có một hai chỗ (các chỗ ấy đến cuối
cùng nói “đắc thành ư Nhẫn”), nhưng nói bố
thí nhiều nhất. Điều này có nghĩa như thế
nào? Do Xả có thể trừ chấp, phá ngă, tức là có thể
tiêu nghiệp trừ chướng mạnh nhất, có thể
tỏ lộ chánh trí Bát Nhă rơ nhất. Do vậy, có thể
biết: Phật pháp như trong biển cả, Xả là
tiên phong (như thoạt đầu cần phải tŕ giới
tu phước để học Xả), mà cũng là
phương tiện cuối cùng (như cuối cùng ngay cả
Vô Thượng Bồ Đề cũng chẳng trụ). Lại
c̣n tu Nhẫn mà chẳng Xả th́ cũng chẳng thành. Mặc
t́nh bị cắt xẻo, nếu chẳng xả th́ sao [chịu
đựng] được! Không chỉ là như thế,
pháp và phi pháp đều chẳng giữ lấy, đó là hết
thảy đều xả. Xả sạch sành sanh, sẽ là
như như bất động, được thành tựu
Nhẫn. Hăy nên biết như thế!
Kim Cang
Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển
3
Phần
2 hết
[1] Thường
quang là nơi thân của Phật, Bồ Tát luôn tỏa ra
quang minh. Thường quang c̣n gọi là viên quang, trượng
quang, hoặc thường quang nhất trượng.
Thường quang khác với phóng quang. Phóng quang là quang minh tỏa
ra từ thân Phật để thị hiện, như khi
nói kinh Pháp Hoa, từ tướng bạch hào đức Phật
phóng quang chiếu thấu vô lượng thế giới ở
phương Đông.
[2] Đại Thừa
Nghĩa Chương là một tác phẩm do ngài Tịnh Ảnh
Huệ Viễn biên soạn theo h́nh thức tự điển bách khoa, luận định các
điều trọng yếu trong Phật pháp dựa theo A Tỳ
Đàm Luận, chia thành năm loại chính: Giáo pháp tụ,
nghĩa pháp tụ, nhiễm pháp tụ, tịnh pháp tụ, và tạp pháp tụ, gồm hai trăm bốn mươi chín khoa. Hiện thời,
phần Tạp Pháp Tụ đă thất truyền.
[3] “Khắc kỷ” (克己) nghĩa là khắc chế
ham muốn riêng tư, luôn yêu cầu hoàn thiện bản
thân rất nghiêm ngặt.
[4] Huấn hỗ
(訓詁, exegenesis) là môn học nghiên cứu
ư nghĩa của các từ ngữ trong cổ thư. Đây
là một môn học truyền thống trong ngữ văn học
Trung Hoa, được xếp vào thể loại Tiểu Học.
Trong khi giải thích ư nghĩa của từ ngữ cổ
đại, ngành học này c̣n đồng thời phân tích ngữ
pháp và các biện pháp tu từ. Ngành học này c̣n được
gọi bằng nhiều danh từ khác như Huấn Cố,
Cố Huấn, Cổ Huấn, Giải Cố, và Giải Hỗ,
hoặc chỉ đơn giản gọi là Huấn. Ngành học
này đă có từ thời Tiên Tần (tức là trước
khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, thống
nhất Trung Nguyên), nhưng đến đời Hán mới
phát triển hoàn thiện, có những lư luận riêng. Đến
đời Tống, huấn hỗ bị pha tạp bởi
các quan niệm Lư Khí của Tống Nho. Huấn Hỗ Học
chia làm hai trường phái:
1) Giải thích toàn bộ một
bản sách cổ (chủ yếu là cổ thư từ thời
Hán - Ngụy trở về trước, các tác phẩm chủ
yếu như Luận Ngữ Chú Sớ, Mao Thi Chú Sớ, Hàn
Phi Tử Tập Giải v.v…
2) Chú trọng giải thích
từ vựng cổ, h́nh thành những bộ “bách khoa từ
điển” như Nhĩ Nhă, Thuyết Văn Giải Tự,
Du Hiên Sứ Giả Tuyệt Đại Ngữ Thích Biệt
Quốc Phương Ngôn v.v…
[5] Sấm vĩ (讖緯): Sấm là những
ẩn ngữ do các thầy đồng hoặc
phương sĩ (thuật sĩ) dự đoán cát hung trong tương lai. Dần
dần, nó được
phát triển thành h́nh thức quẻ bói, gán ghép đó lời phán dạy
của thần tiên, hoặc trời, Phật, Bồ Tát. Từ
đó h́nh thành cái gọi là “xin xăm” (xăm là do chữ Thiêm (籤, thẻ tre
đánh số lời Sấm). C̣n Vĩ chính là loại
sách được biên soạn do diễn dịch ư nghĩa
trong sách Nho, thậm chí đi quá đà, hoàn toàn không có trong
nghĩa gốc của sách Nho. Thời Hán Quang Vũ Đế,
rất tôn sùng các sách thuộc loại Vĩ này, gọi
đó là Nội Học, c̣n kinh điển
Nho gia chính thống bị gọi là Ngoại Học.
[6] Hoàng Lăo là tư
tưởng vào thời kỳ đầu của Đạo
gia, với chủ trương tích cực nhập thế,
bằng cách vận dụng thuyết thanh tĩnh, vô vi, chẳng
quấy nhiễu dân chúng, để cho dân chúng tự khai
hóa, ḥng hưởng an b́nh thịnh trị. Họ dựa
theo tư tưởng vô vi của Lăo Tử và đề cao
sự cai trị theo kiểu để dân chúng tự giác của
Hoàng Đế. Rất nhiều trước tác của họ
được gán cho Hoàng Đế là tác giả, nên trường
phái học thuyết này được gọi là Hoàng Lăo. Những
nhân vật nổi tiếng áp dụng tư tưởng này
vào cách cai trị là Tiêu Hà, Tào Tham (tể
tướng của nhà Tây Hán), Hán Huệ Đế, Lữ
Thái Hậu, Hán Cảnh Đế, Đậu Thái Hậu
v.v…, chủ trương khoanh tay cai trị, khiến cho bọn
thái giám và nội thần thừa cơ khuynh loát triều
chính. Do vậy, sau này, Hán Vũ Đế đă độc
tôn Nho giáo, gạt bỏ hoàn toàn Hoàng Lăo khỏi triều
đ́nh. Hoàng Lăo dần dần thâm nhập dân gian và h́nh thành
Đạo Giáo cuối đời Hán do sự khởi
xướng của Trương Đạo Lăng
(Trương Thiên Sư).
[7] “Sát thân thành nhân” (殺身成仁, hy sinh thân thể để
thành tựu điều nhân) là một thành
ngữ xuất phát từ thiên Vệ Linh Công sách Luận Ngữ,
hàm ư: V́ thành toàn đạo đức mà chẳng đoái
hoài thân mạng của chính ḿnh.
[8] Thượng
huyền c̣n gọi là trăng non, tức là vào tuần đầu
tiên của một tháng Âm lịch, trăng vừa mới mọc,
có h́nh dạng lưỡi liềm rất mỏng.
[9] Diệu Trạm
Tổng Tŕ là từ ngữ tán thán các đặc tánh của
Pháp Thân, trích từ kinh Thủ Lăng Nghiêm. Theo lăo pháp
sư Tịnh Không, Trạm (lắng trong) là sánh ví nước
trong sạch, chẳng nhiễm mảy trần, có thể
nh́n thấu tới đáy. Do vậy, Trạm có nghĩa là
thanh tịnh. Diệu Trạm là thanh tịnh tột cùng.
Đó là từ ngữ để h́nh dung chân tâm của chúng
ta. Tuy chân tâm thanh tịnh, không chứa mảy may trần
nhiễm nào, nhưng có thể khởi tác dụng vô cùng, có
thể nói là dung chứa vạn tượng, không ǵ lớn
ra ngoài được, không ǵ nhỏ chẳng gồm thâu,
nên gọi là Tổng Tŕ. Cái chân tâm ấy c̣n được
gọi là Pháp Thân.
[10] Đây là một
thuật ngữ trong Thiền môn nhằm h́nh dung tác dụng
chiếu mà chẳng phân biệt, hay nhiễm trước của
chân tâm. Chân tâm giống như gương, có tác dụng chiếu
soi mọi vật đúng như bản chất của nó,
nhưng chẳng lưu giữ, giống như một vật
soi vào gương liền hiện bóng đúng
như bản chất của vật ấy. Vật rời
đi, bóng trong gương chẳng c̣n. Thuật ngữ này
vốn phát xuất từ một công án của thiền
sư Hoài Nhạc Đạt Không. Có một vị Tăng hỏi:
“Thế nào là đại viên kính?” Thiền sư đáp: “Chẳng
chiếu soi!” Hỏi: “Bỗng gặp bốn phương tám hướng đến th́ sanh như thế nào?”
Sư đáp: “Hồ đến Hồ hiện”.
[11] Quyết khiếu
(訣竅): Có hai nghĩa:
1) Một là
phương pháp tốt đẹp có tánh chất hết sức
then chốt.
2) Hai là tĩnh từ,
có ư nghĩa “then chốt, yếu hại”.
[12] Đạo Học
là danh xưng chỉ trường phái Lư Học của Nho
gia từ đời Tống đến đời Minh
(thường gọi là Tống Nho). Lại chia làm các phái nhỏ
hơn như Kinh Công Học Phái (phe theo chủ trương
của Vương An Thạch), Ôn Công Học Phái (phe theo chủ
trương của Tư Mă Quang), Thục Học Phái (phe
theo chủ trương của Tô Thức) v.v… Người khởi xướng học phái này chính là
Châu Liêm Khê, Trương Tải, Tŕnh Di, Tŕnh Hạo, Châu Hy,
Châu Đôn Di… Nhưng anh em họ Tŕnh và Châu Hy là lănh tụ
lỗi lạc nhất của phái này nên thường gọi
là Châu Tŕnh Học Phái. Nói chung là đều vay mượn
tư tưởng Thiền Tông, sửa đổi để
giải thích vạn sự vạn vật theo hai khía cạnh
là Lư (tức là dựa
theo chân tánh trong nhà Phật để gọi nguyên ủy của
vạn sự là một cái hỗn độn mờ mịt,
có khả năng sanh thành vạn vật) và Khí (các hiện tượng
được sanh thành bởi Lư). Nhằm đề
cao học phái của ḿnh, họ cực lực đả
phá Thiền Tông nói chung và Phật giáo nói riêng, suy tôn cách diễn
giải kinh điển Nho gia theo cách hiểu của họ
mới là chính thống.
[13] Lục
Vương là tư tưởng Đạo Học theo quan
điểm của Lục Cửu Uyên và Vương
Dương Minh chủ trương Tâm Học. Câu nói nổi
tiếng “tâm ta chính là vũ trụ” của
Vương Dương Minh được coi là cốt lơi
của học phái này.
[14] Ấn khả
(印可) là một thuật ngữ trong
Phật giáo, hàm nghĩa xác nhận, đồng ư, xác chứng
sự lănh ngộ của một đệ tử hay một
người đến xin ấn chứng. Do đức Phật
hay vị thiện tri thức dùng trí huệ do chính ḿnh
đă chứng đắc để xác quyết, giống
như “đóng dấu chứng nhận” bằng pháp ấn
(trí huệ, sở chứng đă đạt được
của chính ḿnh) nên gọi là ấn khả.
[15] Tam thời phán giáo là thuật ngữ
của Pháp Tướng Duy Thức Tông (chủ yếu là hai
học phái Trung Quán và Du Già) phán định về giáo pháp của
đức Phật Thích Ca. Theo đó, họ cho rằng giáo
pháp của đức Phật có thể chia thành ba thời
kỳ:
1) Hữu Giáo tức là thời kỳ
nói kinh A Hàm, giảng pháp có, ngă không, các pháp tuy là duyên sanh
nhưng có thật.
2) Không Giáo tức thời kỳ Bát
Nhă, dạy các pháp duyên sanh tánh Không.
3) Trung Đạo Giáo tức là thời
kỳ nói các kinh như Giải Thâm Mật v.v…, cùng nói về
Không và Hữu, là giáo pháp Trung Đạo.
[16] Tam Luận
Tông là một tông phái Đại Thừa thuộc hệ thống
Trung Quán, được thành lập do xu hướng nghiên
cứu ba bộ luận, tức Trung Luận (Mūlamadhyamakakārikā),
Thập Nhị Môn Luận (Dvādaśanikāya Śāstra) và Bách Luận
(Śataśāstra).
Họ cũng đề cao các kinh Đại Thừa khác
như kinh Tịnh Danh (Duy Ma Cật), kinh Pháp Hoa, kinh Hoa
Nghiêm, kinh Thắng Man, kinh Niết Bàn v.v… Nhưng trong các
trước tác của họ, chủ yếu là dựa trên
Tam Luận để lập luận và nghiên cứu. Các
đại biểu nổi bật của tông phái này là
Tăng Triệu, Tăng Lăng, Pháp Lăng, Đại Minh, Gia
Tường Cát Tạng, trong đó, ngài Cát Tạng
được coi là lỗi lạc nhất. Người
đă xướng suất nghiên cứu Tam Luận và cực
lực hoằng dương là ngài Tăng Lăng. Tuy vậy, tại
Trung Hoa vẫn không thật sự có tông Tam Luận riêng biệt.
Danh xưng Tam Luận Tông do vị tăng Ngưng Nhiên (Gyōnen, 1240-1321) người
Nhật sử dụng đầu tiên trong tác phẩm Bát
Tông Cương Yếu Sao. Vị này cũng tôn cao tổ của
Tam Luận Tông này là Văn Thù Bồ Tát, Mă Minh là thứ tổ,
Long Thọ là tam tổ. Ngài Long Thọ do có hai đệ tử,
nên Tam Luận Tông chia thành hai tiểu phái. Một là Long Thọ
truyền cho Long Trí, lần lượt truyền thừa là
Thanh Biện, Trí Quang, Sư Tử Quang. Tiểu phái thứ
hai do Long Thọ truyền cho Đề Bà rồi truyền
thừa lần lượt cho La Hầu La Bạt Nan Đà,
Thanh Mục, Tu Lợi Da Tô Ma, Cưu Ma La Thập, Đạo
Sanh, Tăng Triệu, Pháp Dung, Tăng Duệ, Đàm Ảnh,
Huệ Quán (慧觀),
Đạo Hằng, Đàm Tế, Đạo Lăng, Tăng
Thuyên, Pháp Lăng, Cát Tạng. Sau đó truyền cho ngài Huệ
Quán (慧灌). Huệ
Quán là người Cao Ly, Ngài được coi là người
truyền Tam Luận Tông sang Nhật, và từ đó h́nh
thành một tông phái thật sự tại Nhật. Tuy vậy
Tam Luận Tông tại Nhật Bản không hoàn toàn giống
như Tam Luận Tông tại Trung Hoa, mà là tổng hợp
tư tưởng của các học phái Địa Luận
Tông, Nhiếp Luận Tông và Niết Bàn Tông, cộng thêm chân
thường duy tâm quán.
[17] Hàng Bố (行布) và Viên Dung là hai khái niệm do tông Hiền
Thủ (tông Hoa Nghiêm) đặt ra. Hàng là “hàng liệt”
(行列, bày thành hàng), Bố là phân bố. Có
nghĩa là kinh liệt kê các môn như Thập Tín, Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa,
Đẳng Giác, Diệu Giác từ cạn tới sâu, xếp
bày theo thứ tự, cũng như tứ pháp giới (Lư vô ngại, Sự
vô ngại, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại) gọi là Hàng Bố. Viên Dung là lư
pháp giới viên măn, dung thông vô ngại, hễ nêu ra một
địa vị, sẽ bao gồm trọn các địa vị
kia, thường
được diễn tả “một chính là hết thảy,
hết thảy chính là một”.
[18] Bổng hát (棒喝) chính là từ ngữ chỉ sự
tiếp độ, giáo hóa của một vị thầy
trong nhà Thiền nhằm dứt bặt vọng tưởng
tư duy của tṛ, hoặc khảo nghiệm sự chứng
đắc của tṛ. Bổng là dùng gậy (thiền
trượng) đập, Hát là quát to. Bổng là nói tới các vị Thiền
đức như ngài Đức Sơn Tuyên Giám và Hoàng Bá Hy
Vận thường dùng thiền trượng đập
hành giả khi họ nêu ra nghi t́nh. Hát (quát to) là như Lâm Tế
Nghĩa Huyền.
[19] Ư nói: Nếu cứ khăng khăng
phải thêm câu “thị danh Nhẫn Nhục Ba La Mật”
vào sau câu “Như Lai thuyết phi Ba La Mật”, sẽ
khiến cho lời gạn hỏi “hà dĩ cố?” và
các câu giải thích sau đó không c̣n liên hệ chặt chẽ
với đoạn này nữa! V́ nói “thị danh Nhẫn
Nhục Ba La Mật” là đă kết lại đoạn
này, các lời sau đó trở thành dường như thừa
thăi!