Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 4
Phần 1
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả:
Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của
CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
[Phần giải thích kinh
văn gồm] hai khoa đàm luận cặn kẽ về bổn
phận. Thứ nhất là dựa theo cảnh để nói
về Vô Trụ, nhằm tỏ rơ chánh trí Bát Nhă, tức là nửa
đầu bộ kinh như đă được giảng
trong phần trước. Kế đó, xét theo tâm để
nói về Vô Trụ nhằm hiển thị lư thể Bát Nhă,
tức là nửa sau bộ kinh sẽ được giảng
dưới đây. Đối với
chỗ bất
đồng giữa nửa trước và nửa sau,
trước khi giảng kinh văn, trước hết nên
nói rơ nguyên do, th́ khi học kinh văn, sẽ dễ lănh hội.
Lại c̣n nói rơ từ nhiều phương diện để
[người nghe] có thể triệt để hiểu rơ!
1) Trước hết, v́ người sẽ phát đại
tâm tu hành mà nói, dạy [người ấy] phát tâm như thế
nào, độ chúng sanh như thế nào, chế phục Hoặc
như thế nào, đoạn Hoặc như thế nào. Sau
đó, v́ người đă phát đại tâm tu hành mà nói. Bởi
lẽ, phát tâm mà nói “ta có thể phát, có thể độ, có
thể chế phục Hoặc, đoạn Hoặc” tức
là người ấy vẫn c̣n phân biệt, vẫn chấp
ngă, vẫn cần phải trừ khử. Nửa sau [bộ
kinh này] chuyên nói về nghĩa ấy. Cần phải biết:
Hễ có chấp giữ, sẽ bị bó buộc, chẳng
được giải thoát. Phàm phu do có chấp trước
“ta, người” (tức chấp sắc thân là ta), cho nên bị
sanh tử buộc ràng, chẳng thoát khỏi luân hồi.
Hàng Nhị Thừa do có chấp trước Pháp Ngă (tuy chẳng
chấp có sắc thân, nhưng chấp có pháp Ngũ Uẩn,
vẫn là chưa quên ngă kiến, nên gọi là Pháp Ngă), bèn bị
Niết Bàn câu thúc, đến nỗi ch́m đắm, vướng mắc trong không tịch. Bồ
Tát đại bi, đại trí, chẳng bị hết thảy
câu thúc, trói buộc. Do vậy, chẳng vướng mắc,
trở ngại, đạt được tự tại. Đấy
gọi là “chẳng trụ đạo”. Do vậy,
hễ có đôi chút t́nh chấp, hăy nên gột rửa cho sạch,
chẳng có một thứ ǵ để trụ vào!
2) Nhân Ngă Chấp và Pháp Ngă Chấp nói đơn giản
là Ngă Chấp và Pháp Chấp. Nói thông thường, kinh này
trước là phá Ngă Chấp, sau là phá Pháp Chấp, [nhưng
nói như thế] chẳng khỏi sơ lược! Nửa
trước vừa mở đầu liền nói: “Bồ
Tát ư pháp ưng vô sở trụ” (Bồ Tát đối với pháp chớ nên
trụ), cũng như “vô pháp tướng, diệc
vô phi pháp tướng, bất ưng thủ pháp, bất
ưng thủ phi pháp, pháp thượng ưng xả, hà huống
phi pháp” (chẳng có tướng của pháp, cũng chẳng có
tướng của phi pháp, chớ nên giữ lấy pháp,
pháp c̣n nên xả huống hồ phi pháp) v.v… Nói lặp đi
lặp lại, há có thể nói [nửa đầu bộ
kinh] chỉ là phá Nhân Ngă Chấp ư? Hăy nên biết:
Hai thứ Ngă Chấp và Pháp Chấp đều có thô và tế:
a) Thô là Phân Biệt Ngă Chấp và Phân Biệt Pháp Chấp. Do đối cảnh, gặp duyên, do phân biệt
mà dấy lên [loại chấp trước này].
b) Tế là Câu Sanh Ngă Chấp và Câu Sanh Pháp Chấp, tức
là chẳng đợi phân biệt mà khởi. Hễ khởi
niệm bèn có, [do nó] cùng sanh với niệm, [nên gọi là Câu Sanh].
Nửa trước kinh này nhằm trừ khử thô chấp. Chẳng hạn như nói “bất
ưng trụ lục trần bố thí, bất ưng trụ
lục trần sanh tâm, ưng vô trụ sanh
tâm, ưng sanh vô trụ tâm, ưng
ly nhất thiết tướng” (chớ nên trụ trong lục
trần để bố thí, chớ nên trụ trong lục
trần mà sanh tâm, hăy nên vô trụ sanh tâm, hăy nên sanh tâm vô trụ,
hăy nên ĺa hết thảy các tướng) v.v… đều là
trừ khử sanh tâm phân biệt nơi cảnh duyên đến
nỗi sanh bệnh chấp giữ. Đó gọi là Ngă Chấp
và Pháp Chấp do phân biệt mà khởi, cho nên là Thô. Trừ
khử bằng cách nào? Chính là ĺa tướng. Nửa sau là
trừ khử tế chấp, tức là khi khởi tâm động
niệm, chớ nên trụ chấp. Nếu có cái để niệm,
chính là t́nh tưởng của Ngă Chấp và Pháp Chấp
chưa hóa trừ, sẽ là gốc bệnh của “giữ
tướng, chấp cảnh”. Do trừ khử Ngă Chấp
và Pháp Chấp đồng thời sanh với tâm niệm,
nên là tế. Làm thế nào để trừ khử? Chính là
ĺa niệm.
3) Trước là dạy ĺa tướng, tức là trừ
khử đối tượng bị chấp (sở chấp).
Sau đó, dạy ĺa niệm, tức là trừ khử cái có
thể chấp (năng chấp). Trong phần trước
chẳng nói rồi đó sao? Huyễn tướng là cái bị
chấp trước, do vọng kiến chấp trước
mà dấy lên. Do vậy thoạt nh́n,
nghĩa thú của kinh này trước cạn, sau sâu,
nhưng chớ nên nh́n hạn cuộc như vậy. Do khi
trừ khử cái bị chấp (sở chấp), cũng âm
thầm trừ khử cái có thể chấp (năng chấp).
V́ sao vậy? Nếu chẳng ĺa niệm, sẽ không cách nào
ĺa tướng. V́ thế, nửa trước tuy chưa
nói rơ “ĺa niệm”, thật ra đă chỉ dạy không
ít. Như [chánh kinh nói] “năng tác thị niệm phủ?
Ngă bất tác thị niệm. Ưng sanh thanh tịnh tâm.
Ưng sanh vô trụ tâm. Nhược tâm hữu trụ, tắc
vi phi trụ” (có thể nghĩ như thế này hay không?
Ta chẳng nghĩ như vậy. Hăy nên sanh tâm thanh tịnh.
Hăy nên sanh tâm vô trụ. Nếu tâm có trụ th́ chẳng phải
là trụ) đều nhằm dạy ĺa niệm. Tức là
như nói “ưng ly nhất thiết tướng phát Bồ
Đề tâm” (hăy nên ĺa hết thảy các tướng,
phát Bồ Đề tâm), người lợi căn sẽ
có thể lănh hội: Ngay cả đối với cái tâm
đă phát, cũng chớ nên trụ! V́ sao vậy? Do nói hễ
có trụ, th́ là sai. Trong phần trước đă nói “tín
tâm bất nghịch, hà đảm Như Lai,
đương đắc Bồ Đề” (tín tâm chẳng
trái nghịch, gánh vác Như Lai, sẽ đắc Bồ
Đề), người ấy ắt đă lănh hội ly niệm.
Nếu không, chẳng đáng để nói là “hà đảm,
đương đắc”! V́ thế, xưa kia có
người phán định nửa sau nhằm nói với
người độn căn chính là ư nghĩa này, tức
là đối với người lợi căn, sẽ chẳng
cần phải nói thêm nữa. Do trong thế gian, người
lợi căn ít ỏi, cho nên chẳng thể không nói nửa
bộ sau, khiến cho kẻ độn căn có thể
thâm nhập. Đó là ư của người xưa. Đừng
nên v́ lời ấy, mà hiểu lầm nửa sau nông cạn
hơn nửa trước. Tuy vậy, công phu ĺa niệm rất
sâu, rất vi tế. Nếu chẳng mổ xẻ để
thâm nhập theo từng tầng, không chỉ
kẻ b́nh phàm chẳng dễ tiến bộ, ngay như
người lợi căn đă biết ĺa niệm, nếu
chẳng dùi mài tỉ mỉ, công hạnh sao có thể triệt
để cho được? Giống như bóc vỏ cây
chuối, chẳng bóc rồi lại bóc, sao có thể thấu
hiểu [thân cây chuối] vốn rỗng không, trở về
chỗ “không có ǵ để đạt được!”
Hăy nên biết: Nửa bộ sau từ phần nói về
năm loại mắt trở đi, càng nói càng vi tế, cho
tới Chứng Phần, chính là công phu thỏa
đáng, nhanh chóng nhất để khế nhập nơi một
mảy lông, được gọi là “trực chỉ hướng
thượng”. Chẳng hiểu rơ điều này, tuy viên th́ viên đấy mà vẫn chưa đốn!
Nếu hạn cuộc bảo “nửa sau chuyên v́ người
độn căn mà nói”, cũng sẽ chẳng
hoàn toàn khế hợp ư chỉ của kinh. Chớ nên không
biết lư này!
4) Nửa bộ đầu
nói “ĺa hết thảy các tướng” th́ mới là
phát Bồ Đề tâm; mới là Bồ Tát lợi ích hết
thảy chúng sanh. Đó là nhằm rỗng không căn bệnh
trụ chấp Ngă Pháp. Phần sau nói các lời như “vô
hữu pháp phát Bồ Đề, vô hữu pháp danh Bồ
Tát” (chẳng có pháp để phát Bồ Đề, chẳng
có pháp gọi là Bồ Tát), cùng với “nhất thiết
pháp giai thị Phật pháp” (hết thảy các pháp đều
là Phật pháp) v.v… nhằm rỗng không căn bệnh trụ
chấp Ngă Không và Pháp Không. Do vậy, trước là chẳng
chấp hai bên; sau là đối
với “hai bên chẳng
chấp” cũng không chấp! Trước là phát tâm hăy
nên ĺa tướng, sau là ngay cả tướng phát tâm
cũng ĺa. Hăy nên biết: Chỉ cần có ư niệm “có thể
ĺa”, sẽ th́ Ngă và Pháp tồn tại rành rành, đă là phân
biệt, giữ lấy tướng. V́ thế lại nói “phi
bất dĩ cụ túc tướng đắc Bồ Đề”
(chẳng phải là không dùng tướng trọn đủ
để đắc Bồ Đề), “ngă kiến tức
phi ngă kiến, pháp tướng tức phi pháp tướng”
(ngă kiến tức chẳng phải là ngă kiến, pháp
tướng tức chẳng phải là pháp tướng)
đều là để trừ sạch t́nh kiến chấp
trước vi tế. Đă trừ lại trừ, cho tới
Năng và Sở đều ĺa, ngay cả “ĺa” cũng
ĺa, th́ mới chứng cái sẵn có. Nói “chứng”, chẳng có chi khác, chỉ là hết sạch
phàm t́nh, bản thể tự hiện, chẳng phải là
có một cái năng chứng (người có thể chứng)
và sở chứng (pháp được chứng) nào khác! Há có
phải chỉ là chẳng nên có phàm t́nh, ngay cả thánh giải
cũng chớ nên có. Hễ có năng tu (người tu tập)
và sở tu (pháp được tu tập), năng chứng (người chứng) và sở chứng (pháp để chứng); đó là thánh giải, tức
là Sở Tri Chướng, chướng ngại giác thể.
V́ thế, Kim Cang Kinh Tụng của Di Lặc Bồ Tát có
nói: “Ư nội tâm tu hành, tồn ngă vi Bồ Tát. Thử
tắc chướng ư tâm, vi ư bất trụ đạo”
(trong nội tâm tu hành, hễ có ư niệm ta là Bồ Tát.
Điều ấy sẽ gây chướng cho cái tâm, trái nghịch
đạo chẳng trụ). Kinh Viên Giác dạy: “Nhất
thiết Bồ Tát cập mạt thế chúng sanh, ưng
đương viễn ly nhất thiết huyễn hóa,
hư vọng cảnh giới” (Hết thảy các Bồ
Tát và chúng sanh đời Mạt hăy nên xa ĺa hết thảy
các cảnh giới huyễn hóa, hư vọng). Nửa
đầu kinh này chẳng ngoài các nghĩa ấy. Kinh Viên
Giác c̣n dạy: “Do kiên chấp tŕ viễn ly tâm cố, tâm
như huyễn giả, diệc phục viễn ly. Viễn
ly vi huyễn, diệc phục viễn ly. Ly viễn ly huyễn,
diệc phục viễn ly. Đắc vô sở ly, tức
trừ chư huyễn” (Do chấp tŕ vững vàng cái tâm
xa ĺa, tâm như huyễn cũng lại xa ĺa. Xa ĺa là huyễn,
cũng lại xa ĺa. Ĺa “viễn ly huyễn”, cũng lại xa ĺa. Đạt được không có
ǵ để ĺa, liền trừ các huyễn). Nửa sau bộ
kinh chẳng ngoài ư này!
5) Nửa bộ trước
nói hết thảy đều “giai phi” (chẳng phải),
như nói “phi pháp, phi phi pháp, hữu trụ tắc vi phi
trụ” (chẳng phải pháp, chẳng phải không phải
pháp, có trụ th́ chính là chẳng trụ), coi hiển thị
chánh trí Bát Nhă là sự chân thật duy nhất. Đó là do trí
ấy vốn chẳng nhiễm mảy
trần, nhưng hết thảy các tướng không ǵ chẳng
hư huyễn. V́ thế, hăy nên hết thảy chẳng trụ;
sau đó, chánh trí sẽ phô bày trọn vẹn. Nửa bộ
sau nhằm nói “nhất thiết giai thị” (hết thảy
đều là), như nói “chư pháp Như nghĩa, nhất
thiết pháp giai thị Phật pháp, thị pháp b́nh đẳng,
vô hữu cao hạ” (nghĩa Như của các pháp, hết
thảy các pháp đều là Phật pháp, là pháp b́nh đẳng,
chẳng có cao thấp) để nói rơ lư thể Bát Nhă
như một. Bởi lẽ, cái Thể ấy chính là cốt
lơi của muôn pháp. Do vậy, hết thảy các pháp, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng. Bởi
lẽ đó, Bồ Đề
cũng chớ nên trụ; sau đó, Lư Thể sẽ
viên dung!
Xem từ đó, điều được
tuyên nói trong bộ kinh Kim Cang này chỉ là hai chữ Chân
Như đó thôi! Cuối cùng, kinh tổng kết rằng: “Bất
thủ ư tướng, như như bất động”
(chẳng giữ lấy tướng, Như Như bất
động). Nghĩa thú của toàn bộ bản kinh đều
nằm trọn hết trong ấy.
Hơn nữa, nửa bộ trước nói “hết thảy
đều chẳng phải”, nhằm dạy quán cái Thể
bất biến. Cái được gọi là “chánh trí”
chính là trí Như Như, tức cái trí nơi Thể. Sau
đó nói “hết thảy đều phải”, nhằm dạy
quán cái Dụng tùy duyên, đó gọi là Lư Thể. Lư là “điều lư” (條理,mạch lạc, tầng lớp, hệ thống), nói theo tác dụng
của tánh. Dụng chẳng ĺa Thể; v́ thế gọi là
Lư Thể. Chuyện này hoàn toàn khác với Lư Khí như
người thời Tống đă nói. Họ (Tống Nho) chỉ
coi một cái gốc hồn nhiên (渾然, chẳng phân minh, chẳng thể tách bạch, hồ
đồ) là Lư,
gọi những thứ khác biệt đang lưu hành là Khí
(氣). Những
nhà Nho về sau đă biện định Lư nói theo kiểu
đó là đúng hay
sai rất tường tận. Hơn nữa, trước
đó đă nói “hết thảy đều chẳng phải”;
do vậy, tuy cùng nêu ra “tắc phi” (tức chẳng phải)
và “thị danh” (th́ gọi là), nhưng ư chú trọng
nơi “tắc phi”. Đó gọi là “tuy tùy duyên mà bất
biến”. Sau đó, do “hết thảy đều phải”, cho nên tuy trừ Pháp Chấp cặn kẽ,
nhưng nói “ư pháp, bất thuyết đoạn
diệt tướng” (nơi pháp, chẳng nói đến
tướng đoạn diệt), đó gọi là “tuy bất
biến mà tùy duyên”.
Tổng hợp năm điều vừa nói trên đây
để nh́n toàn bộ bản kinh th́ chỉ thú của cả
kinh sẽ rành rành nơi tâm mục, chứ không phải chỉ
là khi xem kinh văn sẽ dễ lănh hội mà thôi!
2.2.2.2.2.2. Dựa
theo tâm để giảng vô trụ ḥng hiển lộ lư thể
Bát nhă
Chia làm hai phần:
1) Quán sâu vô trụ để tấn tu.
2) Thấu hiểu tột cùng vô trụ để thành tựu,
chứng đắc.
Phần thứ nhất lại chia thành ba đoạn:
1) Chẳng có pháp để phát
tâm.
2) Nêu cái quả để giảng rơ nhân.
3) Hiển lộ sự thù thắng để kết lại,
khuyên lơn.
2.2.2.2.2.2.1. Quán
sâu vô trụ để tấn tu
2.2.2.2.2.2.1.1. Chẳng có pháp
để phát tâm
2.2.2.2.2.2.1.1.1.
Lại thỉnh cầu
(Kinh) Nhĩ thời, Tu Bồ
Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Thiện nam tử,
thiện nữ nhân, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề tâm, vân hà ưng trụ? Vân hà hàng phục kỳ tâm?
(經)爾時,須菩提白佛言:世尊!善男子、善女人,發阿耨多羅三藐三菩提心,云何應住?云何降伏其心?
(Kinh: Lúc bấy giờ,
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, hăy nên trụ
như thế nào? Hàng phục cái tâm như thế nào?)
Khoa này thoạt nh́n dường
như phát khởi riêng biệt, nhưng thật ra là nối
tiếp ngay phần kinh văn trước đó mà có. “Nhĩ
thời” là nói ngay trong lúc đức Phật nói “kinh
nghĩa và quả báo đều là chẳng thể nghĩ
bàn” vừa mới xong. Ư trưởng lăo hỏi: Đă
nên ĺa danh, tuyệt tướng, nhưng các thiện nam tử,
thiện nữ nhân, rơ ràng là ai nấy đều có tướng
phát tâm. Lại c̣n rành rành có danh tự A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, tức là ai nấy tự biết
“tôi phải nên phát tâm”, ai nấy đều tự biết A
Nậu Bồ Đề là pháp vô thượng, há chẳng
phải là danh tướng “ngă, pháp” rành rành tồn tại
ư? Phần trước đă nói “hăy nên ĺa hết thảy
các tướng để phát Bồ Đề tâm”, nay
khi nghĩ phát tâm th́ đă lại trụ tướng
mất rồi, cớ sao riêng cái tâm này lại nên trụ? Nếu
chẳng nên trụ, mà hăy nên hàng phục, há chẳng phải
là không phát tâm ư? Vậy th́ hàng phục cái tâm như thế
nào? Điều này có ư nói: Ngă Chấp và Pháp Chấp đă
đồng thời cùng sanh khi phát Bồ Đề tâm. Hàng
phục chẳng phải là phát tâm, mà “trụ” th́ chấp
Ngă, chấp Pháp. Đấy chính là dùi
cho lọt tới tận đầu chót lông[1],
chỉ dạy hành nhân hăy nên dụng công ngay
trong lúc khởi tâm động niệm. Trưởng lăo đại
từ, do vậy, Ngài thay mặt hết thảy chúng sanh, thỉnh
Phật khai thị phương tiện căn bản một
lần nữa!
Phần trước nói “ưng
vân hà trụ” (hăy nên trụ như thế nào), tức là
hỏi nên an trụ trong Bồ Đề tâm như thế
nào để khiến cho [cái tâm] chẳng rong ruổi, tán loạn.
Nay nói “vân hà ưng trụ” (v́ sao nên trụ) là hỏi
v́ sao chỉ nên trụ trong Bồ Đề tâm? Bởi lẽ,
nếu chẳng trụ trong pháp ấy, sao có thể nói là “phát cái tâm ấy?” Trụ đă chẳng thể
được, hàng phục lại chẳng được,
làm như thế nào đây? Đấy chính là v́ nghe nói “ư
pháp, ưng vô sở trụ” (đối với pháp, hăy
nên chẳng trụ) cho đến “hữu trụ tắc
phi” (hễ có trụ liền sai), bèn nghĩ Bồ Đề
cũng là pháp, v́ sao phải nên trụ [vào đó]? Hơn nữa,
phần trước đă nói “ưng ly nhất thiết
tướng phát Bồ Đề tâm” (hăy nên ĺa hết thảy
các tướng để phát Bồ Đề tâm), “hết thảy các tướng” có phạm vi bao gồm rất rộng, [vậy
th́] tướng phát Bồ Đề tâm cũng gộp trong ấy, v́ sao nói “hăy nên ĺa hết
thảy các tướng” rồi lại nói “phát Bồ Đề tâm” vậy? Nếu là cũng nên ĺa, v́
sao lại nói “phát Bồ Đề tâm”? Kẻ độn
căn nghe pháp, thường là chấp trước danh từ
và ngôn thuyết, bèn
dính chặt chẳng hóa giải. Câu hỏi này của
trưởng lăo lại chính là rủ ḷng v́ hết thảy
những kẻ dính mắc, chẳng thể hóa giải trong
hiện tiền và tương lai mà thỉnh cầu [đức
Phật] khai thị vậy!
2.2.2.2.2.2.1.1.2.
Chỉ dạy
(Kinh) Phật cáo Tu Bồ
Đề: - Thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả,
đương sanh như thị tâm, ngă ưng diệt
độ nhất thiết chúng sanh, diệt độ nhất
thiết chúng sanh dĩ, nhi vô hữu nhất chúng sanh thật
diệt độ giả.
(經)佛告須菩提:善男子、善女人,發阿耨多羅三藐三菩提者,當生如是心,我應滅度一切眾生,滅度一切眾生已,而無有一眾生實滅度者。
(Kinh: Đức Phật
bảo Tu Bồ Đề: - Thiện nam tử, thiện nữ
nhân phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, hăy
nên sanh tâm như thế này: Ta hăy nên diệt độ hết
thảy chúng sanh. Đă diệt độ hết thảy
chúng sanh, mà chẳng có một chúng sanh thật sự diệt
độ).
Đây chính là khai thị,
hướng dẫn phương tiện ĺa tướng khi
khởi tâm động niệm. Xem lời hỏi trong khoa
trước, dường như chẳng có cách nào, trong lời
đáp thuộc khoa này, lại tột bậc thong dong, viên
diệu. Trong bản chép tay của người đời
Đường, sau chữ Bồ Đề không có chữ Tâm,
hăy nên tuân theo đó. Hăy thử nghĩ: Vừa nói một câu
“phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”,
liền nói tiếp “đương sanh như thị tâm”
(hăy nên sanh tâm như thế), tức là đă quét sạch cái
tướng phát Bồ Đề tâm ấy. V́ thế, nguyên
bản chẳng dùng chữ Tâm, ngụ ư “diệt tướng”.
Đấy chính là dùng văn tự để bàn luận, chẳng
cần chữ Tâm th́ vẫn nói suông sẻ. Bởi lẽ,
phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là
phát Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, chẳng cần chữ
Tâm thừa thăi, có ǵ là chẳng được?
Hai chữ Như Thị
[trong câu “đương sanh như thị tâm”] chỉ
ba câu sau đó. Chữ Ưng trong “ngă ưng” (ta hăy nên)
chính là hô ứng với chữ Sanh. Bởi lẽ, hiện
thời vốn có th́ nói là Sanh; c̣n hiện thời vốn chẳng
có, th́ sẽ nói là Phát. Hết thảy chúng sanh vốn sẵn
đồng thể. Diệt độ hết thảy chúng
sanh, bất quá là hoàn lại tánh phận vốn sẵn có,
chính là trọn hết thiên chức phải nên làm, có ǵ đặc
biệt, lạ lùng đâu? Nếu cho rằng “ta sẽ
phát cái tâm ấy”, sẽ có ư niệm kiêu căng, sẽ
là chấp tướng! V́ thế, chẳng nói là “đương
phát” (nên phát) mà nói là “đương sanh” (nên sanh) là
v́ lẽ này! Bởi lẽ, nói một chữ Ưng chính là
trừ chấp trước đối với Bồ Đề,
phá Pháp Chấp. Hễ nói “đương sanh”, tức
là trừ sự chấp trước đối với phát
tâm, phá Ngă Chấp.
Chữ Ưng xuyên suốt ba
câu sau đó. Ba câu ấy có ư nghĩa sâu dần theo thứ tự.
Câu đầu tiên nói độ chúng sanh chính là trách nhiệm
vốn phải nên trọn hết, hàm ư “có ǵ đáng để tự khoe khoang đấy là Bồ
Đề ư?” Câu kế tiếp nói “phải nên độ
chúng sanh cho đến hết sạch”. Chữ Dĩ (已) [trong câu “diệt độ nhất thiết
chúng sanh dĩ”], có nghĩa “hết sạch”,
hàm ư: Do chúng sanh vô tận, trách nhiệm ấy lại có bao giờ trọn hết, sao có thể tự
nói là “ta có thể độ” ư? Câu thứ ba lại cao
hơn một bậc nữa, ư nói: Phải nên biết tuy độ
cho hết sạch, nhưng trọn chẳng thật sự
có một chúng sanh được diệt độ. V́ sao vậy?
Tánh của chúng sanh vốn là Niết Bàn. Hơn nữa, ngay
cả Niết Bàn cũng chẳng trụ. Nếu người
ấy có trụ, sẽ chẳng phải là diệt độ!
Như vậy th́ há có một chúng sanh nào thật sự diệt
độ ư? Vậy th́ sao có thể tự nói là “có
người được độ” ư?
Người phát Vô Thượng
Chánh Đẳng Giác cần phải trước hết nhận
biết “độ chúng sanh là trách nhiệm phải nên trọn
hết”. Hơn nữa, trách nhiệm ấy trọn chẳng
thể hết. Dẫu trọn hết, cũng giống
như chưa trọn hết. Hăy nên sanh cái tâm như thế.
Chẳng có người độ, chẳng có kẻ
được độ, chẳng phân biệt, chẳng có
ǵ gọi là Bồ Đề, chẳng có ǵ gọi là độ,
mà cũng chẳng có ǵ gọi là phát tâm, ngơ hầu
tương ứng với giác tâm thanh tịnh vậy!
Lời đáp trong phần
trước nói “thật vô chúng sanh đắc diệt
độ”, chú trọng
tại chữ Đắc, nghĩa là tuy được diệt độ, nhưng
thật sự chẳng có ǵ để được. Ở
đây, chú trọng chữ Diệt Độ, c̣n chẳng
có ǵ gọi là diệt độ, há có “đắc” và “bất
đắc” để có thể nói nữa ư? Có thể
biết ư này càng sâu hơn phần trước! Lại nữa,
lời đáp trong phần trước tuy cũng là “năng
độ” và “sở độ” đều trừ.
Sự trừ khử năng độ và sở độ ấy
tuy cũng chính là trừ khử chấp trước đối
với Bồ Đề tâm, nhưng ngữ khí hàm súc. Nay th́
sâu xa, thân thiết nói rơ rằng “đương sanh
như thị tâm” (hăy nên sanh cái tâm như thế), đấy chính là Bồ Đề, chính là phát Bồ
Đề tâm. Đấy là h́nh bóng của chúng sanh diệt
độ cũng chẳng để tồn tại một
mảy tơ tóc! V́ thế, lời lẽ tuy gần giống
như trong phần trước, nhưng ư nghĩa th́
như đầm sâu muôn trượng, trong trẻo thấu
tận đáy!
Lại có điều phải
nên biết: Nghe những điều nói ở đây, phải
nên nương theo đó mà khởi tu. Phần trước
khi nói khoa Sanh Tín, đă thâu nhiếp trọn hết chỉ
thú của cả bộ kinh. Từ đó về sau là phần
nói rơ rộng lớn hơn, phát huy chỗ thâm mật.
Lũ học nhân chúng ta hăy nên từ thực hiện từ
chỗ thâm mật, th́ mới có thể đạt tới rốt
ráo. Bởi lẽ, nghe nửa trước bộ kinh, chẳng
thể nào không nghe nửa sau bộ kinh. Kinh này tự nhiên
chia thành bốn bộ phận là Tín, Giải, Tu, Chứng;
chẳng phải là nói trong phần Tín và Giải không có công
phu tu tập, mà là nhằm chỉ bày: Đối với các
công đức đă tu từ trước tới nay, đều
nên nương theo những điều được nói ở
đây để tu tập. Trong phần trước, khi nói
về tín tâm thanh tịnh, tôi cực lực nêu tỏ Tín, Giải, Hành, Chứng
tuy có thứ tự, nhưng chẳng thể hạn cuộc
trong thứ tự đó. Tuy chia làm bốn hạng mục,
nhưng chớ nên hạn cuộc là bốn! Các vị thiện
tri thức hăy nên thấu hiểu ư ấy.
2.2.2.2.2.2.1.1.3.
Gạn hỏi để giải thích
(Kinh) Hà dĩ cố?
Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tắc
phi Bồ Tát.
(經)何以故?若菩薩有我相人相眾生相壽者相,則非菩薩。
(Kinh: V́ sao vậy? Nếu
Bồ Tát có tướng ta, tướng người, tướng
chúng sanh, tướng thọ giả, sẽ chẳng phải
là Bồ Tát).
Từ “hà dĩ cố” trở đi, bản
lưu thông có ba chữ Tu Bồ Đề, nhưng cổ bản
chẳng có, nên có thể thể tỉnh lược [ba chữ
ấy]. V́ sao vậy? Đấy chính là tự gạn hỏi
nhằm giải thích cho lời hỏi “v́ sao nên sanh cái tâm
như thế”, những lời lẽ sau đó là nói theo
cách tương phản để giải thích ư nghĩa ấy!
Ngụ ư: Nếu chẳng sanh cái tâm như thế, th́ sẽ
có đối đăi, phân biệt. Do chưa thể thoát khỏi
các tướng phân biệt chấp trước như ta,
người v.v…, th́ vẫn là phàm phu y hệt, há có phải là Bồ Tát! Trong phần sau, từ
“sở dĩ giả hà” trở đi, lại nhằm
giải thích nguyên do “tức chẳng phải là Bồ
Tát”. Phần trước nói “nếu giữ lấy
pháp tướng” th́ chính là chấp ta, người, chúng
sanh, thọ giả. Nếu tự cho là phát Bồ Đề
tâm, sẽ là chấp pháp Bồ Đề, tức là có đủ
cả bốn tướng rành rành! V́ thế nói là “tắc
phi Bồ Tát” (tức chẳng phải là Bồ Tát); v́ thế
nói “đương sanh như thị tâm” (hăy nên sanh tâm
như thế).
Bốn tướng “ta,
người, chúng sanh, thọ giả” tuy giống như
phần trên, nhưng ư nghĩa hết sức vi tế. Bởi
lẽ, đă chẳng chấp hết thảy, chỉ chấp
nơi phân biệt “thượng cầu, hạ hóa” cực vi tế. Chẳng
thể lẫn lộn coi [bốn tướng được
nói trong đoạn này] giống như bốn tướng
thông thường. Đức Thế Tôn nói điều này,
nhằm khai thị hành nhân: Nếu chẳng chẳng trừ
sạch phân biệt vi tế, cái gốc bệnh của ngă
tướng vẫn c̣n đó. Dẫu nói là Bồ Tát,
nhưng danh chẳng xứng với thật! Ư cảnh tỉnh
sâu đậm lắm thay!
2.2.2.2.2.2.1.1.4.
Kết lại
(Kinh) Sở dĩ giả
hà? Tu Bồ Đề! Thật vô hữu pháp phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả.
(經)所以者何?須菩提!實無有法發阿耨多羅三藐三菩提者。
(Kinh: V́ lẽ nào vậy?
Này Tu Bồ Đề! Thật sự chẳng có pháp để phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề).
Trong cổ bản, sau chữ
Bồ Đề, cũng không có chữ Tâm. Câu này chính là
để dẫn khởi ư “vô pháp đắc Bồ Đề”
(chẳng có pháp để
đắc Bồ Đề) trong phần sau, chữ Tâm càng chẳng nên
có. Câu “sở dĩ giả hà?” (v́ lẽ nào vậy?) nối tiếp
phần trước, sanh khởi phần sau, nhằm kết
lại ư nghĩa của hai khoa trên đây. “Thật vô hữu
pháp phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”
có hai nghĩa, có thể đọc thành hai cách:
1) Ngắt câu ở chữ
Pháp, ư nói: Phát Chánh Giác th́ thật sự chẳng có pháp. Bởi
Vô Thượng Chánh Đẳng Giác chính là ư nghĩa thanh tịnh
rốt ráo. Trong thanh tịnh giác, chẳng nhiễm mảy
trần. Nếu tồn tại mảy may “đây là Bồ
Đề” th́ sẽ là pháp trần, chẳng phải là tịnh
giác. Do vậy, cái được phát khởi, mệnh danh
là Bồ Đề, thật ra là cái tâm phân biệt. V́ thế,
ắt phải thật sự không có pháp th́ mới gọi
là “phát Vô Thượng Chánh Đẳng Giác”!
2) Ngắt câu ở chữ
Vô, ư nói: [Nếu quan niệm] “có pháp để phát Vô
Thượng Chánh Đẳng Giác”, thật ra, chẳng có lư sự như thế! Do chúng
sanh bất giác từ vô thỉ, do Ái mà sanh Thủ (chấp
giữ) đến nỗi bị lưu chuyển. V́ thế,
bất luận pháp nào, cũng đều chớ nên giữ
lấy. Hễ giữ lấy, sẽ là bất giác, sao c̣n gọi
là “giác” được nữa? V́ thế, thật sự
chẳng thể có pháp để phát Vô Thượng Chánh
Đẳng Giác!
Đă hiểu rơ hai nghĩa ấy,
sẽ có thể hiểu rơ nguyên do “đương sanh
như thị tâm” (hăy nên sanh tâm như thế) và “nhược
hữu tứ tướng, tắc phi Bồ Tát” (nếu có bốn tướng, sẽ chẳng phải
là Bồ Tát) trong đoạn kinh văn trước đó.
Những điều
được nói trên đây chẳng ngoài phát Bồ Đề;
hăy nên phát, nhưng đừng tự cho là
phát. Chẳng phát mà phát như thế chính là “thật sự
phát”, trụ và hàng phục đều ở trong ấy.
Bởi trụ và hàng phục như thế nào hoàn toàn phụ
thuộc phát tâm như thế nào, chẳng cần cầu
điều chi khác, cho nên chẳng đáp riêng! Cần phải
biết: “Hăy nên sanh cái tâm như thế” chính là ư nghĩa “vô trụ mà trụ”.
Ba câu “ưng diệt độ nhất thiết chúng sanh”
(hăy nên diệt độ hết thảy chúng sanh) thuộc
vào ư nghĩa “hàng phục cái tâm” vậy!
Trong lần hỏi thứ nhất,
[đức Phật] chỉ đáp về hàng phục và trụ;
trong lần hỏi thứ hai, Ngài chỉ giải đáp “phát
tâm” để chỉ dạy thứ tự từ cạn
đến sâu (nếu chẳng phát tâm, cần ǵ phải hỏi
hàng phục và trụ! V́ thế, phát tâm là gốc, hàng phục
và trụ là ngọn. Do đó nói là “thứ tự từ cạn
đến sâu”), nhưng phần trước chỉ
đáp về hàng phục và trụ mà phát tâm đă được
gồm thâu trong ấy. Nay đáp “phát tâm”, nhưng hàng
phục và trụ cũng được gồm thâu trong ấy!
Hơn nữa, biết hàng phục như thế nào, sẽ
biết trụ như thế ấy. Lại dạy ba chuyện
chỉ là một chuyện, nhưng phần trước
là nói theo phương diện hàng phục và trụ, vốn
v́ chẳng hàng phục mà hàng phục. Nay nói theo
phương diện phát tâm, lại là chẳng phát mà phát!
Đấy đều là phương pháp vi diệu để
phá ngă, trừ chấp, hăy nên từ các chỗ ấy mà dốc
ḷng lănh hội th́ mới là khéo dụng công.
2.2.2.2.2.2.1.2.
Nêu ra cái quả để giảng rơ cái nhân
Chia thành hai phần:
1) Nói cặn kẽ.
2) Kết lại lời chỉ dạy.
Phần thứ nhất lại chia thành hai đoạn:
1) Nói về cái quả.
2) Nói về cái nhân.
Tiểu đoạn thứ nhất lại gồm hai phần:
1) Nói rơ “vô đắc mà đắc”.
2) Nói rơ “pháp nào cũng đều Như”.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.
Nói cặn kẽ
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.
Nói về cái quả
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.
Nói rơ “vô đắc mà đắc”
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.1.
Nêu ra câu hỏi
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Như Lai ư Nhiên Đăng Phật sở, hữu
pháp đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
phủ?
(經)須菩提!於意云何?如來於然燈佛所,有法得阿耨多羅三藐三菩提不?
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Ư ông như thế nào? Như Lai ở nơi Nhiên
Đăng Phật, có pháp đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề hay không?)
Đây là dẫn chuyện xưa để làm chứng.
Khi ấy, Ngài đă chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, dự vào
địa vị Bát Địa. Sự tích nhân duyên đă
được nói tường tận trong phần trước.
Trên là so với cực quả th́ Bát Địa vẫn là
người c̣n đang tu nhân. Dưới là so với
người phát tâm th́ Bát Địa là quả vị. Chuyện
này thuộc trong ṿng nhân quả. Lư nhân nhân quả quả giống hệt như nhau, dễ hiểu rơ! V́ thế,
nêu ra để làm chứng. Đức Thế Tôn v́ ngăn
ngừa kẻ nghe nói như trên, sẽ nghi “nếu chẳng
có pháp để phát tâm, đắc quả bằng cách nào?”,
cho nên Ngài nêu ra cái quả để chứng minh. Nếu biết
“đắc quả” là vô đắc mà đắc, th́ phát tâm
ắt cũng nên là “chẳng phát mà phát” đă rơ rệt rồi!
Tựa đề của khoa này là “cử quả minh nhân”
(nêu ra cái quả để giảng rơ cái nhân), chứa đựng
hai tầng nhân quả. Bởi lẽ, nêu ra quả pháp
nơi Phật địa là để nói rơ nhân tâm (cái tâm tu
nhân) nơi Bát Địa, tức là nhờ cái tâm tu nhân
nơi cái quả Bát Địa để nói rơ cái hạnh của người sơ
tâm mới phát khởi giác ngộ.
Chuyện này được
hai lượt trước sau dẫn ra, nhưng ư nghĩa
chánh yếu có khác biệt. Có ba ư nghĩa khác biệt như
sau:
1) Trong phần trước
là hỏi “đối với pháp, có sở đắc hay
không”? Đáp: Đối với pháp, thật sự chẳng
có ǵ để đạt được! Ư ấy chú trọng
nơi chữ Đắc, nhằm nói rơ: Tuy đắc, chẳng
trụ nơi tướng Đắc, có ư nghĩa nhất
quán với [câu hỏi] “có tướng đắc Tứ
Quả hay không” nơi phần trước, dùng đó
để dẫn khởi kinh văn trong phần sau: Phát tâm
th́ hăy nên sanh tâm thanh tịnh, chớ nên trụ trong các
tướng lục trần như sắc, thanh v.v… [Tức
là] ở đây chú trọng chữ Pháp. Do không có pháp để
đắc Bồ Đề, chứng minh ư nghĩa “không
có pháp để phát Bồ Đề” trong phần kinh
văn trước đó.
2) Chữ Pháp trong lời hỏi
thuộc phần trước là nói tới Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Chữ Pháp ở đây chỉ A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Khi đó, Ngài vừa mới chứng
Bát Địa, chưa đạt được quả
pháp rốt ráo. Hăy nên biết: Vô Sanh Pháp Nhẫn được
gọi là Bồ Đề Phần Pháp, tức là phần chứng
Bồ Đề, chưa chứng đắc Vô Thượng
Chánh Đẳng Giác rốt ráo. V́ vậy, ư hỏi ở chỗ
này thật sự nhằm chú trọng đến phần “phản
chánh thích thành” (反正釋成, dùng cách nói tương phản và trực tiếp
để giải thích rồi kết lại) trong kinh
văn thuộc phần sau, dụng ư nêu rơ: Khi đó, do Ngài
phần chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, một pháp chẳng
sanh, cho nên được [Phật
Nhiên Đăng] thọ kư. Tức là có thể biết: Khi ấy, Ngài chẳng
trụ pháp. Do khi ấy, tâm Ngài
chẳng trụ trong pháp, cho nên ngày nay chứng đắc viên
măn quả pháp rốt ráo mà thành Như Lai, khiến
cho mọi người hiểu rơ “nhân như thế nào,
quả như thế ấy, chẳng sai sót mảy may”.
Tức là đối với nghĩa “phát tâm chớ nên trụ
vào pháp Bồ Đề”, sẽ chẳng c̣n lắng
đọng mảy may ngờ vực!
Nếu hiểu
lầm ư nghĩa của câu này, cho rằng “khi đó, Ngài
đă đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác,
nhưng chẳng trụ vào pháp tướng” sẽ là sai lạc
quá xa! Xem kinh văn trong phần sau có nói “nhược hữu
pháp Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề” (nếu có pháp để Như Lai đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề), đủ
chứng tỏ chữ Đắc trong câu này chẳng phải
là nói tới khi ấy, v́ khi ấy, Ngài chưa thành Như
Lai. Nói chung, Đắc [trong câu này phải hiểu] là “sẽ
đắc”, chẳng phải là “đă đắc”.
3) Trong lời
hỏi “ư pháp hữu sở đắc phủ”
(nơi pháp có cái để đạt được hay
không) thuộc phần trước, cũng là nêu ra cái quả
để nói rơ cái nhân. Nhưng do chữ Pháp đă chỉ Vô
Sanh Pháp Nhẫn, nên trong ấy chỉ nêu ra cái quả Bát
Địa để nói rơ nghĩa của cái nhân khi phát tâm.
C̣n chữ Pháp ở đây chỉ Vô Thượng Bồ
Đề, cho nên phải dùng hai tầng nhân quả để
giải thích th́ ư nghĩa mới trọn vẹn.
“Hữu
pháp đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
phủ” (có pháp để đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề hay không) đọc thành một
câu. “Hữu pháp” là trong tâm có pháp ấy, tức là ư
nghĩa “trụ pháp”. Ư của lời hỏi như
sau: Xưa kia, Như Lai ở chỗ Phật Nhiên
Đăng, trong tâm Ngài [lúc đó] có quả pháp Vô Thượng
Chánh Đẳng Giác để cầu chứng đắc
hay không? Giống như nói “trong tâm có ư niệm sẽ
đắc Vô Thượng Bồ Đề hay không?” Kinh
chẳng nói như vậy, mà nói “hữu pháp đắc”
v.v… nhằm phối ứng với “hữu pháp phát”
trong kinh văn thuộc phần trước, ngơ hầu trừ
khử ư niệm chấp pháp vi tế, vừa nh́n vào đă
thấy rơ ngay!
Nói đến
Như Lai, tức là đă có ư nghĩa “bất ưng trụ
pháp” (chớ nên trụ vào pháp) trong đó. Như Lai là
danh xưng của tánh đức. Giác tánh viên minh, há có pháp
trần? Khi làm Phật là như thế, th́ thuở trước
lúc là Bát Địa, được Phật thọ kư,
cũng có thể biết: Tâm Ngài chẳng có pháp trần. Khi
chứng đắc Bồ Đề Phần Pháp đă là
như thế, th́ cũng do vậy mà có thể biết: Người
mới phát Bồ Đề hăy nên học như thế.
Nhân nhân, quả quả, trước sau như nhau. V́ thế
nói: “Nêu ra cái quả
để giảng rơ cái nhân” ở
đây bao gồm hai tầng nghĩa!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.2.
Giải đáp
(Kinh)
Phất dă, Thế Tôn! Như ngă giải Phật sở thuyết
nghĩa, Phật ư Nhiên Đăng Phật sở, vô hữu
pháp đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(經)不也,世尊!如我解佛所說義,佛於然燈佛所,無有法得阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh:
Thưa đức Thế Tôn, không ạ! Như con hiểu
nghĩa do đức Phật đă nói, Phật ở chỗ
Nhiên Đăng Phật, chẳng có pháp để đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).
“Phất dă” là một
câu linh hoạt, tức “chẳng phải là không có pháp, chẳng
phải là có pháp”! Khi đó, tức là ngay trong lúc Ngài
được thọ kư sẽ thành Phật trong
tương lai. “Tác Phật” chính là danh xưng ngụ
ư [Phật Nhiên Đăng] chấp thuận [Phật Thích
Ca] trong tương lai sẽ được chứng quả.
V́ thế, chẳng phải là không có pháp. Nhưng khi ấy,
Ngài thật sự chứng Vô Sanh Nhẫn, một pháp chẳng
sanh, mà được thọ kư, cho nên chẳng phải là
có pháp. “Giải sở thuyết nghĩa” (hiểu nghĩa đă
nói) tức là nói đến ư nghĩa “vô pháp phát
Bồ Đề” (chẳng có pháp để phát Bồ
Đề) trong đoạn trước đó, ư nói: Do lănh hội
ư nghĩa “không có pháp để phát Bồ Đề”,
bèn biết ắt chẳng có pháp để đắc Bồ
Đề. V́ sao vậy? Do nhân quả như một! Trưởng
lăo chưa làm Phật, mà cũng chẳng phải là Bát Địa
Bồ Tát, sao có thể biết cảnh giới ấy!
Nhưng do lănh hội ư nghĩa trong lời Phật dạy
[mà đáp như vậy]; đấy chính là chỉ bày tầm
trọng yếu của giải huệ. Chẳng nói là
Như Lai mà nói là Phật, chính là có thâm ư.
Bởi trong phần trước nói Giải chính là nghĩa “khi
mới phát tâm tu nhân”, bèn hiểu cái tâm của người
chứng cái quả Bát Địa. Nay nêu ra Phật để
nói, tức là do ngày nay Ngài đă đắc cái quả làm Phật,
chứng tỏ xưa kia đă đắc cái nhân làm Phật.
V́ sao vậy? “Phật” là danh xưng của bậc
đă chứng đắc quả pháp, thành Cứu Cánh Giác.
Nêu ra một chữ Phật, nhằm nói rơ “dựa theo chứng
quả để nói”, chẳng phải là rốt ráo không có
pháp! Nhưng từ ư nghĩa “chẳng có pháp để
đắc” như đă giải thích mà suy ra, bèn dùng cái
quả hiện thời để đối ứng với
cái nhân khi trước, có thể biết là vào thời Nhiên
Đăng Phật, ắt [tiền thân của Phật Thích
Ca vào thuở ấy] chẳng có mảy may tâm niệm “có
pháp để đắc A Nậu Bồ Đề”. Chữ
Vô bị lược đi, “có pháp để
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” vốn
là từ ngữ để hỏi; nay thêm một chữ Vô
để chỉ rơ “xét theo tu nhân để nói”, chẳng phải
là rốt ráo có pháp! Nói chung là để chỉ rơ “tâm chẳng
có pháp để cầu”, nhưng
sau đó, có thể đạt được. Nếu trụ
vào pháp để cầu, sẽ chẳng thể đạt
được! Tức là ư nghĩa “chớ nên trụ vào
pháp để phát tâm” rất rơ ràng!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.3.
Ấn chứng để kết lại
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.3.1.
Như Lai ấn chứng, hứa khả
(Kinh) Phật
ngôn: - Như thị, như thị, Tu Bồ Đề! Thật
vô hữu pháp Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề.
(經)佛言:如是,如是。須菩提!實無有法如來得阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh:
Đức Phật nói: - Đúng như vậy, đúng
như vậy. Này Tu Bồ Đề! Thật sự chẳng
có pháp để Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề).
Nói “như thị” hai
lượt để tán thành lời nói “chẳng phải
là không có pháp, chẳng phải là có pháp” không sai lầm!
Chữ Thật Vô [tạm
thời bị] lược đi để
đọc liên tiếp với câu “hữu pháp đắc
A Nậu Bồ Đề”, [sẽ thấy] “hữu pháp
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” vốn
là lời hỏi, nay thêm vào đó hai chữ Như Lai.
Như Lai là danh xưng của tánh đức. Giác tánh viên
minh th́ gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Nếu có pháp trần, sẽ chẳng viên minh, sao có thể
gọi là Vô Thượng Bồ Đề cho được? V́ thế,
“Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề” giống như nói “được thành
Như Lai”. “Có pháp để Như Lai đắc” v.v… giống
như nói “có pháp để được thành Như Lai”.
“Thật vô” (thật sự chẳng có) có nghĩa là thuở
đó, ở nơi Nhiên Đăng Phật, tâm [Phật Thích Ca] thật sự
chẳng có mảy may pháp nào để được thành
Như Lai. Kinh
văn chẳng nói “được thành Như Lai”, mà ắt
nói “Như Lai đắc A Nậu Bồ Đề” chính là do
đang phá Pháp Chấp, cho nên kèm thêm pháp Vô Thượng Bồ
Đề để nói, nhằm chỉ rơ: Quả thật
trong cái tâm tu nhân không có quả pháp ấy, th́ sau đó sẽ
được thành Như Lai. Đấy chính là ấn chứng,
xác định trưởng lăo hiểu biết chẳng
sai. Trưởng lăo dùng quả để nói rơ nhân, nên nêu ra “Phật” để
nói. Đức Thế Tôn dựa theo tánh đức để
giảng rơ giác tánh viên minh, há chấp thuận “có pháp”, nên
nêu ra “Như Lai” để nói, dụng ư là khiến cho
[người nghe] biết “tuy đắc mà thật sự
không có ǵ để đắc”, th́ mới là phô bày trọn
vẹn tánh đức của Như Lai, nhằm tạo tiền
đề cho “Như Lai giả, chư pháp Như
nghĩa” (Như Lai là nghĩa Như của các pháp)
được nói trong phần sau.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.3.2.
Phản chánh thích thành (dùng cách nói tương phản và trực tiếp để giải
thích rồi kết lại)
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.3.2.1.
Giải thích bằng cách nói tương phản
(Kinh) Tu
Bồ Đề! Nhược hữu pháp Như Lai đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, Nhiên
Đăng Phật tắc bất dữ ngă thọ kư: “Nhữ
ư lai thế, đương đắc tác Phật, hiệu
Thích Ca Mâu Ni”.
(經)須菩提!若有法如來得阿耨多羅三藐三菩提,然燈佛則不與我授記:汝於來世,當得作佛,號釋迦牟尼。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Nếu có pháp để Như Lai đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, Nhiên
Đăng Phật sẽ chẳng thọ kư cho ta: “Trong
đời tương lai, ông sẽ làm Phật hiệu là
Thích Ca Mâu Ni”).
Trong hai khoa “phản chánh, thích thành” (giải
thích theo hai phương diện tương phản và trực
tiếp, và kết lại), đă nêu ra chỗ đáng nên chú
trọng trong khi nêu ra câu hỏi. Trên đây đều
là xét theo quả vị của Phật trong hiện thời
để nói rơ cái tâm tu nhân khi Ngài c̣n là Bát Địa. Trong
đoạn này, xét theo quả hạnh khi Ngài được
thọ kư xưa kia để nói rơ cái tâm tu nhân khi mới
phát khởi sự giác ngộ. V́ thế, những điều
nói trước đó đều nhằm dẫn khởi những
điều ở đây. Bởi lẽ, thành Phật, thành
Như Lai là do sự thọ kư xưa kia, nhưng sự thọ
kư xưa kia thật sự là do đă chứng pháp Vô Sanh. Hết
thảy các vị Bồ Tát mới phát sơ tâm giác ngộ,
nếu biết “hễ có pháp, sẽ chẳng được
thọ kư; chẳng có pháp mới được thọ kư”
th́ thọ tŕ, đọc tụng kinh này, ắt phải nên
theo đúng lời dạy, đối với hết thảy
các pháp chẳng trụ mà trụ, th́ mới là tín tâm chẳng
trái nghịch, gánh vác Như Lai, mới có thể sanh phước,
diệt tội, sẽ đắc Bồ Đề. Há
nghĩa ấy chẳng rành rẽ như được phô
bày ư?
Từ Tam Bồ
Đề trở đi, cổ bản không có chữ Vô. Xem
cách nói “bất dữ thọ kư” (chẳng thọ kư cho
[ta]) có thể biết “nhược hữu pháp Như Lai
đắc” (nếu có pháp để Như Lai đắc)
v.v… là nói theo lúc c̣n chưa được thọ kư. Ư nói:
Trước khi được thọ kư vào thuở đó, nếu
tâm [tiền
thân Phật Thích Ca] trụ vào pháp Vô Thượng
Bồ Đề, mong mỏi “thành Như Lai, đắc Vô
Thượng Bồ Đề”, sẽ chẳng
thể chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Do đó, ngay cả thọ
kư cũng chẳng thể được, há có thể thành
Như Lai ư? Ba câu từ “nhữ ư lai thế”
(ông trong đời sau) trở đi, chính là lời thọ
kư của Nhiên Đăng Phật. Nay sợ [người
nghe] chẳng hiểu rơ “thọ kư” là ǵ, bèn
dẫn chuyện như thế để nói, chẳng dùng
câu “tác thị ngôn” (nói như thế này), nhằm nêu rơ:
[Câu này]
chẳng phải do Nhiên Đăng Phật nói, [mà do Phật Thích Ca dẫn
lại] như thế.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.1.3.2.2.
Giải thích trực tiếp
(Kinh)
Dĩ thật vô hữu pháp đắc A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, thị cố Nhiên Đăng
Phật dữ ngă thọ kư, tác thị ngôn: “Nhữ ư lai
thế, đương đắc tác Phật, hiệu Thích
Ca Mâu Ni”.
(經)以實無有法得阿耨多羅三藐三菩提,是故然燈佛與我授記,作是言:汝於來世,當得作佛,號釋迦牟尼。
(Kinh:
Do thật sự chẳng có pháp để đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, cho nên Nhiên
Đăng Phật thọ kư cho ta, nói như thế này: “Ông
trong tương lai sẽ được làm Phật, hiệu
là Thích Ca Mâu Ni”).
Dùng “thật vô” (thật
sự chẳng có) để ngắt câu, ngụ ư: Do cái tâm
thật sự chẳng trụ chấp pháp Bồ
Đề để cầu đạt được. “Thị
cố” (v́ thế, do vậy) là nói rơ nguyên nhân chánh yếu
“do tâm chẳng
có pháp, bèn chứng Vô Sanh”. Do bởi lẽ ấy mà
được thọ kư. Câu “tác thị ngôn” (nói
như thế này) nhằm nêu rơ ba câu “nhữ ư lai thế…”
(ông trong đời sau) do chính kim khẩu của Nhiên
Đăng Phật tuyên thuyết, khác biệt với khoa
trước chỉ
dẫn chuyện này để giải thích ư
nghĩa thọ kư.
Hoặc có thể hiểu ư
nghĩa của Thích Ca (họ) Mâu Ni (tên) là Năng Nhân Tịch
Mặc. Do vậy nói: Năng Nhân (能仁, Shakya) là chẳng
trụ Niết Bàn, Tịch Mặc (寂默, Muni) th́ chẳng
trụ trong sanh tử. Do chẳng trụ vào pháp, cho nên dùng
danh hiệu ấy để thọ kư. Cách giải thích này
chẳng phải là không được, nhưng bất tất
phải câu nệ! V́ thọ kư chú trọng nơi ấn chứng,
hứa khả [người được thọ kư] trong
tương lai sẽ làm Phật, chẳng liên quan tới
danh hiệu. Hơn nữa, mỗi vị Phật đều
chẳng trụ vào pháp, [vị Bồ Tát trong tương lai sẽ
thành Phật] đều được vị
đă thành Phật trước thọ kư, đều có danh
hiệu, nhưng danh hiệu chưa chắc đều có ư
nghĩa “chẳng trụ”, há có nên câu nệ dùng danh hiệu
để giải thích ư?
Kế
đó là nói về ư chỉ trọng yếu “pháp nào
cũng đều là Như” trong khoa này. Trong khoa “vô
đắc mà đắc” trên đây, đă nêu ra chứng
quả về mặt Sự, nhằm chỉ rơ “chớ
nên trụ vào Bồ Đề”, c̣n khoa “pháp nào cũng
đều Như” là nói về Lư của quả
chứng, nhằm chỉ rơ “chẳng có Bồ Đề
để có thể trụ”, chính là nói rơ nguyên do “chớ
nên trụ”, tức là tột bậc ĺa tướng, mà
cũng là [nói về]
cái sẵn có nơi pháp tánh vậy. Bởi lẽ,
dùng quả để chứng, tướng và bất tướng
đều cùng mất, khiến cho biết lúc tu nhân hạnh,
phải nên cùng ĺa tướng và bất tướng.
“Pháp nào
cũng đều Như” chứa đựng ư nghĩa
tinh vi. Nay trước hết nói rơ cùng tận nguyên ủy
và thứ tự của ư chỉ trọng yếu, sau đấy
mới chia thành khoa để nói rơ chỉ thú, ngơ hầu có
lớp lang, sẽ dễ hiểu hơn. Hăy nên biết:
Đức Thế Tôn nói nghĩa “các pháp đều
Như” này với dụng ư khiến cho người nghe
pháp sẽ triệt để liễu giải liễu
nghĩa rốt ráo. Bởi lẽ, ắt phải hiểu
sâu rồi mới tin sâu, hiểu trọn vẹn rồi sau
đó mới tu trọn vẹn, sẽ chứng nhập
cũng chẳng khó! V́ sao vậy? Giải dần dần
khai, chấp t́nh ngă kiến sẽ dần dần tiêu. Do vậy,
học Phật chú trọng giải huệ là v́ lẽ này. Giải
huệ được gọi là quán huệ. Do v́ lẽ này,
ba món Văn, Tư, Tu đều chẳng ĺa Huệ. Như
vậy th́ ư chỉ trọng yếu “pháp nào cũng đều
Như” há chẳng được biện định rơ
ràng rồi ư?
Cái
được gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng
Giác chẳng có ǵ khác, chính là Chân Như bản tánh, mà
cũng gọi là tự tánh thanh tịnh tâm. Do nó là cốt
lơi của muôn pháp, nên gọi là Vô Thượng. Do hết thảy
chúng sanh đều cùng có, nên gọi là Chánh Đẳng. Nhưng
chúng sanh do bị vọng niệm phân biệt, chấp
trước v.v… ngăn chướng, chẳng tự giác ngộ,
chẳng
biết tánh ấy chính là Vô Thượng Chánh
Đẳng. Nếu đă biết mà có thể khử vọng,
trừ chướng, th́ gọi là Chánh Giác. Lúc thoạt
đầu có thể giác th́ gọi là “phát giác sơ tâm” (phát khởi cái tâm giác ngộ
ban sơ). Giác tới rốt ráo, sẽ
khiến cho tánh đức vô thượng chánh đẳng
phô bày toàn vẹn, không có ǵ để gọi tên được,
đành gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Thật
sự là tánh vốn sẵn có, há có ǵ để gọi là
Đắc ư? Do vậy, tuy đắc mà ắt quy vào “vô sở đắc” (không có ǵ
để đạt được) là v́ lẽ
này! Nhưng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác là
v́ chúng sanh đồng thể, do bổn nguyện từ bi,
bèn đối với Lư Thể đă đích thân chứng
đắc, dùng đủ loại ngôn từ, mở ra đủ
loại phương tiện, khéo léo thí dụ, khiến cho
trọn khắp hết thảy chúng sanh đều giác,
đều ngộ, đều tu, đều chứng lư ấy.
Chẳng có ǵ để gọi tên, bèn gọi là “pháp Vô
Thượng Chánh Đẳng Giác” đó thôi! Thật sự
là tánh sẵn đủ của chúng sanh, há có ǵ để gọi
là “pháp” ư? Hiểu
rơ lư này, sẽ biết chớ nên nghĩ có pháp, chớ nên
nghĩ có đắc vậy!
Tự tánh đă
gọi là “thanh tịnh”, có thể biết là nó chẳng
nhiễm mảy trần! Ví như mặt trời rực rỡ
giữa bầu trời quang đăng, có một tí mây, [mặt
trời] liền bị che chướng, chẳng có ánh sáng.
V́ thế, muốn cho tánh quang chiếu trọn, cần phải
tịnh trừ chẳng có mảy trần. Hết thảy
chúng sanh vốn chẳng biết tự tánh thanh tịnh
như thế, đức Phật đă đích thân chứng,
bèn truyền dạy hăy nên phản chiếu như thế,
hăy nên tự giác như thế. Nếu [người nghe] chẳng
mỗi mỗi đều y giáo phụng hành, sao gọi là “phát
giác” cho được? V́ sao vậy? Hễ có một
pháp tồn tại, hễ có “đắc” tồn tại,
th́ vẫn là thói quen phân biệt, chấp trước
như cũ, bản tánh vẫn bị ngăn chướng
y như cũ. V́ thế, không chỉ chớ nên trụ vào hết
thảy các pháp, mà ngay cả pháp Bồ Đề cũng
đừng nên trụ là v́ lẽ này!
V́ sao chúng
sanh có căn bệnh phân biệt, chấp trước? Chẳng
có chi khác, do chẳng liễu đạt Nhất Chân pháp giới,
chỉ nhận biết tướng của hết thảy
các pháp. Đă là tướng th́ mỗi tướng khác nhau.
Do mê nơi tướng, sẽ bất tri bất giác thuận
theo phân biệt, thuận theo đó mà chấp trước.
Chẳng biết: Đă gọi là “tướng”, th́ nó
sẽ luôn luôn dấy lên biến hóa. Do vậy nói “phàm sở
hữu tướng, giai thị hư vọng” (phàm tất
cả các tướng đều là hư vọng). “Hư
vọng” là nói nó giả trất, chẳng thật, chẳng
phải là nói nó tuyệt đối chẳng có. Nhưng
chúng sanh chẳng biết [tướng] là giả, niệm
nào cũng phân biệt, chấp trước nơi tướng
hư vọng; do vậy gọi là “vọng niệm”,
hàm ư “do đuổi theo tướng hư vọng mà dấy
niệm”. Hoặc tuy biết là giả, nhưng vẫn
niệm niệm chẳng ngừng, khiến cho tướng
hư vọng quấy nhiễu rối ren cái tâm. Do vậy gọi
là “vọng niệm”, hàm ư “tướng hư vọng
thuận theo ư niệm mà dấy lên”. V́ thế, danh
xưng “vọng niệm” chứa đựng cả hai
ư nghĩa ấy. Phương tiện để đối
trị cũng có hai loại:
1) “Ĺa
tướng” như đă nói trong nửa đầu bản
kinh này. Ắt cần phải triệt để giác ngộ:
Hết thảy cảnh tướng nơi căn, thân, khí
giới, đều là hoa đốm trên hư không, là bóng
trăng trong nước. Mê chấp, so đo, chỉ
tăng thêm phiền năo. Trọn phải nên tŕ giới, tu
phước, ḥng đoạn nhiễm duyên, trừ tham, sân.
Quán hạnh như thế rất lâu, t́nh chấp mỏng dần,
vọng tưởng cũng thuận theo đó mà ít dần.
V́ sao vậy? Gọi là vọng tưởng th́ không ǵ chẳng
là t́nh chấp khiến thành ra như thế. Do vậy, dùng
ĺa tướng làm phương tiện để ĺa niệm.
Đó là một pháp!
2) “Ĺa niệm” như
được nói trong nửa sau của kinh này. Do tập
khí từ vô thỉ đến nay đă sâu, tuy biết
tướng đều là hư vọng, nhưng cứ nắm
níu không thôi! Ắt phải dốc sức nơi động
niệm, hướng về nguồn tâm để phản
quán. Tất cả vạn hạnh tŕ giới, tu phước
lại càng thêm tinh tấn, dùng trải qua sự việc
để rèn luyện cái tâm. Nếu đánh chết ư niệm,
hết thảy phân biệt, chấp trước sẽ tự
chẳng có, mà hữu tướng hay vô tướng đều
chẳng quan hệ. V́ sao vậy? Có thể chẳng khởi
niệm, hết thảy các tướng chẳng ĺa sẽ
tự ĺa. Đấy là dùng ĺa niệm làm cách ĺa tướng
rốt ráo. Đó lại là một pháp nữa!
Hai loại
pháp ấy có thể cùng hành, chẳng mâu thuẫn. Ĺa tướng
chính là ĺa niệm, ĺa niệm th́ mới có thể ĺa tướng,
cho nên nói “chẳng mâu thuẫn”. Nhưng ĺa tướng th́
chỉ ĺa một tầng vọng niệm trước
đó, tức là [ĺa vọng niệm] do đuổi theo
tướng hư vọng mà dấy lên, c̣n ĺa niệm th́ là
ĺa tầng vọng niệm sau đó, tức là tướng
hư vọng do thuận theo niệm mà dấy lên. V́ thế,
cần phải cùng hành, chẳng phải là câu nệ ĺa
tướng trước rồi mới ĺa niệm sau. Tức
là khi ĺa tướng, bèn kiêm tu ĺa niệm, th́ ĺa tướng
mới có thể đạt đến rốt ráo. Khi ĺa niệm
bèn kiêm tu ĺa tướng, th́ ĺa niệm mới càng thuận
tiện. Hăy nên cùng hành đồng thời!
Nói chung,
chúng sanh đă bị mê bởi tướng của hết
thảy các pháp, trọn chẳng biết phản chiếu tự
tánh, nào có biết tự tánh và chúng sanh đồng thể;
lại nào có biết trong là Ngũ Uẩn, lục căn, ngoài
là núi, sông, đại địa v.v… hết thảy các pháp
đều chỉ do tâm tạo. Đă chẳng biết
điều này, sẽ chẳng biết đức Phật
dạy “đừng
nên trụ vào hết thảy các pháp” chính là
để trừ căn bệnh “phân biệt, chấp
trước, giữ lấy tướng”, trọn chẳng
liên quan hết thảy các pháp. Nếu bệnh chấp giữ
tướng đă trừ, th́ trong là Ngũ Uẩn, ngoài là
núi, sông v.v… hết thảy các pháp đều như kinh Lăng
Nghiêm đă dạy: “Hàm thị diệu tịnh minh tâm,
tánh tịnh minh thể’ (đều là cái tâm sáng suốt
mầu nhiệm thanh tịnh, là cái Thể sáng suốt, thanh
tịnh nơi tánh). V́ sao vậy? Hết các pháp đều
chỉ có tướng mà chẳng có tánh. Chẳng phải là
vô tánh, tánh của hết thảy các pháp chính là tự tánh. V́
sao vậy? Do là Nhất Chân pháp giới, như vậy th́
làm sao có thể trừ khử được! Lại c̣n v́ lẽ nào mà
cứ ắt phải trừ khử? Đó là
nghĩa chân thật của “các pháp đều là Như”.
Do vậy, Khởi Tín Luận nói: “Cái Thể Chân Như ấy
không ǵ có thể trừ được, do hết thảy
các pháp đều là chân, mà cũng không ǵ có thể lập,
do hết thảy các pháp đều giống như Như”.
Cần phải biết: A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề chính là tên gọi khác của Chân Như. Nếu trụ
vào đó, vẫn là giữ lấy tướng! Hễ có cái
để giữ lấy, sẽ có cái được lập.
Dẫu quư vị trừ khử sạch tướng của
hết thảy các pháp, nhưng hễ lập riêng một
tướng Bồ Đề, sẽ chẳng phải là “hết
thảy các pháp đều Như”. V́ sao vậy? Do có lập,
sẽ liền có phế. Bản tánh là cốt lơi của
muôn pháp, không ǵ chẳng bao hàm, không ǵ chẳng trọn đủ.
Lập một điều mà phế các điều khác, sẽ
chẳng phải là toàn tánh, há nào phải là Vô Thượng
Chánh Đẳng, lại há có phải là Chánh Giác ư?
Nửa đầu bộ kinh
này trừ sạch tướng của hết thảy các
pháp để hiển lộ Bồ Đề, nhằm trừ
căn bệnh chấp giữ hết thảy các pháp. Do sợ
[hành nhân] có thể vẫn c̣n chấp giữ Bồ Đề,
cho nên nửa bộ sau, vừa mở đầu lại liền
trừ
điều này. Bệnh ấy đă trừ, tánh đức
sẽ phô bày trọn vẹn, pháp nào cũng đều là
Như! Chẳng thể trừ th́ cũng chẳng thể lập.
Mục đích tối hậu của hành nhân là ở chỗ
này! Các nghĩa đă nói từ lúc mở đầu kinh cho tới
đây cũng quy hướng vào chỗ này. Do vậy, khoa “pháp
nào cũng đều Như” này chính là nghĩa trọng
yếu trong toàn thể bộ
kinh, mà
cũng là nghĩa trọng yếu trong hết thảy
Đại Thừa Phật pháp. Những điều nói sau
đó, cũng không ǵ chẳng nhằm xiển phát nghĩa ấy, chứng minh để
thành tựu nghĩa ấy. Những điều
được nói trong nửa bộ đầu cũng
không ǵ chẳng quy hướng nghĩa ấy, thâu nhiếp
vào nghĩa ấy. Đấy chính là đức Thế Tôn
đă giăi bày trọn hết pháp do chính ḿnh chứng đắc,
khai thị tường tận, ngơ hầu chúng sanh nhờ
vào đó mà ngộ, do điều này mà được nhập
vậy!
V́ thế,
pháp nào cũng đều Như, ắt phải trừ sạch
hết thảy t́nh chấp, chỉ có chứng mới biết,
chẳng thể nói suông được! Nếu căn bệnh
chấp giữ chẳng trừ mảy may, mà bảo người
khác “hết thảy đều Như”, th́ sẽ là
pháp nào cũng đều thành chướng, há có thể pháp
nào cũng đều là Như ư? Đấy cũng là dối
người đó thôi! Đàm luận Bát Nhă hư vọng,
tội sẽ đến mức đọa lạc Vô Gián,
v́ đă khiến cho chúng sanh ngờ vực, lầm lạc,
khiến cho người ta v́ đó mà báng Phật, báng pháp,
khinh rẻ Tam Bảo! Hăy nên biết: Nếu chứng “pháp
nào cũng đều là Như”, ắt sẽ có thể
thực hiện các chuyện như rút gọn một kiếp
thành sát-na, hoặc kéo dài một sát-na thành vô lượng
kiếp, dùng hạt cải chứa núi Tu Di, biến Sa Bà
thành cơi tịnh. Đạt đến địa vị Sự
Sự vô ngại ấy th́ mới có thể nói lời ấy!
Hết thảy học nhân chỉ nên hướng theo “pháp
nào cũng đều là Như” để quán chiếu,
ḥng trừ sạch t́nh chấp ngă kiến và Biến Kế
Chấp để mong chứng nhập. Đó là chuyện
có thể được. Há có nên sanh khởi đại ngă
mạn, dễ dăi dùng “nhất như” để nói
thành Khẩu Đầu Thiền ư?
Hăy thử xem chỗ kết
thúc tối hậu của kinh này, cũng chính là phần khởi
đầu của Lưu Thông Phần, sau khi nói “như
như bất động”, liền nói tiếp rằng: “Hà
dĩ cố? Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng,
huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện.
Ưng tác như thị thị quán” (hết thảy pháp
hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như
sương, cũng như chớp. Hăy nên quán như thế).
Đúng là chỉ bày Như Như bất động. Hăy nên
từ quán hết thảy các pháp như mộng, như huyễn
để chứng nhập. Quán như mộng, huyễn
v.v… nhằm trừ khử t́nh chấp. Đấy là chỗ
then chốt trong kinh, chớ nên coi thường!
V́ sao nói
nghĩa của nửa bộ trước bao gồm trong
đây? Nay nói đại lược để khơi mở
ngộ môn. Như nói “nhược kiến chư tướng
phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy
các tướng chẳng phải là tướng, liền thấy
Như Lai). Hăy thử nghĩ: Nếu thấy tướng
chính là chẳng phải tướng, há chẳng phải là
các pháp đều Như ư? V́ thế nói là “thấy
Như Lai”. Phàm nói “mỗ mỗ phi mỗ mỗ”
(thứ ǵ đó chẳng phải là thứ ǵ đó), đều
nhằm chỉ điểm nghĩa này. Lại như “tín
tâm thanh tịnh tắc sanh Thật Tướng” (tín tâm
thanh tịnh liền sanh Thật Tướng). Cần phải
biết: Do chẳng phân biệt, chấp trước, sau
đó cái tâm mới tịnh. Tâm tịnh liền sanh Thật
Tướng. Thật Tướng là nói “vô tướng, bất
tướng”, chính là “các pháp đều Như” vậy.
Do vậy bảo “ưng sanh thanh tịnh tâm, ưng vô trụ
sanh tâm. Ưng sanh vô trụ tâm, ưng ly nhất thiết
tướng phát Bồ Đề, hành Lục Độ.
Nhược tâm hữu trụ, tắc
vi phi trụ” (hăy nên sanh
tâm thanh tịnh, hăy nên chẳng trụ mà sanh tâm. Hăy nên sanh
tâm vô trụ. Hăy nên ĺa hết thảy các tướng phát Bồ
Đề, hành Lục Độ. Nếu tâm có trụ tức
là chẳng phải trụ). Lại như “bất
ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ
lấy phi pháp). “Bất thủ pháp” là do hết
thảy các pháp đều Như, chẳng thể lập. “Bất
thủ phi pháp” là do hết thảy các pháp đều là
thật, không ǵ
có thể trừ. Đó chính là “pháp nào cũng
đều là Như”. Do các pháp đều là Như, cho
nên chẳng có pháp nhất định gọi là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, mà cũng chẳng
có pháp nhất định để Như Lai có thể nói.
Do vậy, pháp và phi pháp đều chẳng phải, chẳng
thể giữ lấy, mà cũng chẳng thể nói. Hết
thảy hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt,
v́ pháp nào cũng đều là Như, nên pháp nào
cũng đều là thật (V́ thế, kinh Pháp Hoa bảo “pháp
trụ pháp vị, tướng thế gian thường trụ”).
Do hết thảy các pháp vốn sẵn thanh tịnh, trọn
chẳng phải tạo tác, cho nên nói là “vô vi”. Hết
thảy hiền thánh không ai chẳng tu điều này, chứng
điều này, chỉ do công hạnh cạn hay sâu mà thành hiền,
hay thành thánh sai khác. Thật sự là một pháp như nhau,
có bao giờ sai biệt đâu nhỉ? Những điều
khác cứ chuẩn theo đây mà suy ra.
Tóm lại,
nếu lănh hội “pháp nào cũng đều Như” mà
khế nhập, th́ cũng chẳng có ǵ gọi là Không, chẳng
có ǵ gọi là Có, chẳng có ǵ gọi là Trung, mà cũng chẳng
trở ngại Không, chẳng trở ngại Hữu, mà
cũng là chẳng Không, chẳng Giả, chẳng Trung. V́
sao vậy? Cái bệnh ngă kiến t́nh chấp đă đều
trừ sạch, th́ thấy tướng chính là thấy tánh,
pháp nào cũng đều là đạo, không ǵ chẳng thể
được! Do vậy, các kinh [Kim Quang Minh] Tối Thắng
Vương, Duy Ma Cật v.v… nói “Ngũ Uẩn chính là Pháp
Thân, sanh tử tức là Niết Bàn, phiền năo tức là Bồ
Đề” đều hiển thị nghĩa “các pháp
đều là Như”. Nếu có đôi chút chấp trước,
phân biệt chưa phá, sẽ tạo thành vướng mắc,
đ́nh trệ, các pháp sẽ chẳng phải là đạo,
chẳng
có ǵ để đạt được! Dẫu chẳng
chấp hết thảy, nhưng vẫn c̣n chấp một
cái Bồ Đề, th́ vẫn là chấp giữ tướng,
phân biệt, tự chướng giác thể, cái được
gọi là Trung chẳng phải là Trung. Chấp Hữu và
Thiên Không khỏi cần bàn tới nữa! Phàm người
phát tâm tự độ, độ người khác để
mong hiểu
rơ tánh, thấy Phật, th́ phương cách quan
trọng, then chốt hoàn toàn đều nằm ở
đây. Phương cách ấy như thế nào? Chính là
nương theo kinh giáo này, ĺa tướng, ĺa niệm mà
thôi! Hăy nên biết: Hết thảy chư Phật và pháp A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật
đều từ kinh này mà ra, cho nên những điều
được nói trong kinh, không ǵ chẳng phải là
nghĩa căn bản, là nghĩa rốt ráo. Ngàn kinh vạn
luận khác đều nhằm hiển lộ rạng ngời
nghĩa này, giúp đỡ nghĩa này. V́ thế, nay tôi
đem nghĩa trọng yếu này tuyên bày cặn kẽ,
tường tận, triệt để, các vị thiện
tri thức hăy khéo suy nghĩ nhé!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.
Nói rơ “các pháp đều
là Như”
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.1.
Xét theo danh hiệu để nói nghĩa Như
(Kinh)
Hà dĩ cố? Như Lai giả, tức chư pháp Như
nghĩa.
(經)何以故?如來者,即諸法如義。
(Kinh:
V́ sao vậy? Như Lai là nghĩa Như của các pháp).
Câu “hà
dĩ cố” là tự đặt ra lời hỏi. Nhằm
hỏi những điều được nói trong phần
trước “chẳng có pháp Bồ Đề th́ mới
được thọ kư làm Phật. Chẳng có pháp Bồ
Đề th́ mới thành Như Lai đắc Bồ Đề”
là v́ lẽ nào vậy? Từ “Như Lai” trở
đi là tự lập ra lời đáp. Nếu nói “Phật
xưng là Như Lai, ông cũng biết nghĩa của
Như Lai hay chăng?” Nghĩa ấy chẳng có ǵ khác! Chính
v́ ĺa tướng hư vọng sai biệt của hết
thảy các pháp, chứng chân tánh nhất như của hết
thảy các pháp đó thôi! Hăy nên biết: Phật chẳng thấy
các pháp có tướng sai biệt, đó gọi là Như. Phật
cũng chẳng thấy có tướng riêng khác của một
pháp; đó gọi là “chư pháp Như”. “Như”
có nghĩa là “chẳng sai biệt”, cũng có nghĩa
là “chẳng khác”, tức là pháp tánh chẳng có sai khác.
Pháp tánh chẳng có sai khác v́ nó không tịch. V́ thế,
nghĩa Như của các pháp chính là nghĩa “pháp tánh không tịch”. Gọi
là Như Lai là do đă chứng tánh không tịch. Nếu tồn
tại “có một cái không tịch” sẽ thành sai khác, sẽ
chẳng phải là không tịch, há gọi là Như Lai
được ư? V́ thế nói: “Như Lai giả, tức
chư pháp Như nghĩa” (nhấn mạnh chữ
Như). Như vậy th́ phát Vô Thượng Chánh Đẳng
Giác há có thể tồn tại một cái tâm có tướng
phát khởi giác ngộ khiến cho nó chẳng không tịch
ư?
Lại c̣n
nói “chư pháp” tức chẳng phải là một, nói
Như tức là chẳng khác. Chẳng một, chẳng
khác, pháp tánh là như thế. Phật được
xưng là Đại Giác, tức là đă giác rốt ráo pháp
tánh “chẳng một, chẳng khác” ấy. V́ thế
nói: “Như Lai giả, tức chư pháp Như nghĩa”
(nhấn mạnh chư pháp và Như). Cần phải biết:
Do chẳng phải là một, cho nên “chớ nên giữ lấy
pháp chẳng phải là Bồ Đề”. Do chẳng
khác, cho nên “pháp Bồ Đề cũng chớ nên giữ
lấy” (nói theo phần trước là chuyên xét theo Thể.
Nói lần thứ hai là xét theo Thể, Tướng, Dụng).
Do vậy mà xét, nói chắc chắn các pháp là các
pháp, th́ trật mất rồi! V́ sao vậy? Tuy là các pháp mà
đều là “nhất như” (giống như nhau), nhấn
mạnh Nhất Như! Nói chắc chắn “các pháp chẳng
phải là các pháp”, cũng sai mất rồi! V́ sao vậy?
Do các pháp là Nhất Như (nhấn mạnh “các pháp”).
Điều
then chốt là trong đó hoàn toàn tùy thuộc chấp hay chẳng
chấp! Chẳng chấp Có, các pháp chẳng trở ngại
“nhất như”. Chẳng chấp Không, nhất như
chẳng trở ngại các pháp. Chấp vào các pháp, sẽ chẳng
phải là Như. Chấp vào Như, sẽ chẳng phải
là các pháp Như. V́ thế, đối với các pháp do
Như Lai đă nói, đều chẳng thể giữ lấy,
chẳng thể nói. “Chẳng thể giữ lấy”
là tánh của các pháp. Chân Như duy nhất, v́ chẳng phân
biệt. Đó là sai biệt nơi b́nh đẳng. “Chẳng
thể nói”: Tánh của Chân Như chẳng ĺa các pháp, chỉ
chứng mới biết. Trong sai biệt mà thấy b́nh
đẳng. V́ thế, người phát sanh sự giác ngộ hăy nên ĺa
hết thảy các tướng, tu Lục Độ vạn
hạnh. Ĺa các tướng là ở nơi Thật Tế lư
địa, chẳng nhiễm mảy trần. “Tu vạn
hạnh”: Trong các môn thuộc Phật sự, chẳng xả
một pháp! Do chư pháp nhất như, hăy nên đừng xả
một pháp nào. Do là pháp nhất như, cho nên đừng nhiễm
mảy trần! Giác như thế, ĺa như thế, tu như
thế, th́ pháp sẽ tương ứng, tánh tương ứng,
sẽ được chứng tương ứng vậy!
Nói chung, do mê mờ đối
với b́nh đẳng, chấp lấy sai biệt, tâm liền
thuận theo pháp mà chuyển, dẫu là phi pháp cũng trở
thành chướng ngại. Nơi sai biệt mà thấy b́nh
đẳng, pháp sẽ chuyển theo tâm, tức là chẳng
có pháp nào không phải là Chân Như. Cổ đức nói “đón
bạn, tiễn khách, gánh nước, vác củi, đi,
đứng, ngồi, nằm”, trong mười hai thời,
nơi các pháp lấy bất cứ một pháp nào đều
được, chẳng phải là một bức tranh “đạo nhân vô sự hành lạc” ư? Hăy nên biết: “Thiên hạ vốn vô sự, kẻ
khờ tự quấy nhiễu!” Từ trong “chẳng có
Không và Hữu” mà chấp giữ tướng Không Hữu; từ
trong “chẳng có thiện, ác”, mà nghĩ thiện, nghĩ ác.
Vọng tưởng tơi bời, há chẳng phải là tự
quấy nhiễu ư? Chọn lấy pháp nào cũng đều
được, tự tại chi bằng! Cổ đức
lại nói: Lúc chẳng ngộ, núi là núi, nước là
nước. Khi đă ngộ, núi chẳng phải là núi,
nước chẳng phải là nước. “Núi là núi,
nước là nước”: Chỉ thấy các pháp. “Núi
chẳng phải là núi, nước chẳng phải là nước”:
Chỉ thấy nhất như. Lại có vị sau khi đă
ngộ, ca rằng “thanh sơn hoàn thị cựu thanh
sơn” (non xanh vẫn là non xanh cũ), ư nói: Các pháp vẫn
y như cũ, nhưng thấy nhất như nơi các
pháp, tức tuy non xanh vẫn như cũ, nhưng quang cảnh
đă đổi mới!
[Giải thích] “Như Lai là nghĩa Như của các pháp”, dường như chỉ giải thích chữ
Như, nhưng thật ra chữ Lai cũng được
giải thích trong ấy. V́ sao nói vậy? Có đến, có
đi là sự tướng sai biệt, tức là một
trong các pháp. Các pháp đă Như th́ Lai cũng là Như. Hết
thảy chúng sanh đều Lai mà chẳng Như; thánh nhân Nhị
Thừa th́ Như mà chẳng Lai. Quyền vị Bồ Tát[2]
tuy Như mà chưa tận Như, tuy Lai vẫn chẳng thể
tới trọn khắp. Chỉ riêng Phật Như Lai chứng
tánh nhất như, nên trọn hết ngằn mé Chân Như
là Lai. Chân Như không có ngằn mé, nên Lai cũng chẳng có
ngằn mé. Chân Như bất động, nên Lai cũng bất
động. Tuy gọi là Lai, thật ra là Lai mà chẳng Lai,
chẳng Lai mà Lai. Hăy nên biết: Gọi là Như Lai, nhằm
nói rơ cái Lai ấy chẳng có tướng Lai, nên nói là
Như. V́ nói rơ cái Như chẳng có tướng Như, nên
nói là Lai (ư nghĩa của tiết này là nói theo tướng
đến đi, hai chữ “chư pháp” đă gồm
thâu. Nói theo tướng “đến mà chẳng đến” th́ chữ Như đă gồm thâu. Lại
c̣n nói rơ nghĩa Như của các pháp, tức là dùng các pháp
để trừ Như, dùng Như để trừ các
pháp, nhằm hiển thị tánh đức giá chiếu
đồng thời. Những điều đă nói trong các
phần trước đều là nghĩa này. Dẫn các lời
cổ đức v.v… chẳng phải là nói thừa thăi, mà
là để tham cứu).
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.2.
Xét theo quả đức để nói rơ Như
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.2.1.
Nói rơ “không có pháp”
(Kinh) Nhược hữu nhân
ngôn, Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. Tu Bồ Đề! Thật vô hữu pháp, Phật
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(經)若有人言,如來得阿耨多羅三藐三菩提。須菩提!實無有法,佛得阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh: Nếu có người nói Như Lai đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Tu Bồ Đề!
Thật sự chẳng có pháp để Phật đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).
“Nhược hữu” có nghĩa là “chắc là có [người nói
rằng]”. V́ kinh văn trong phần trước có nói “Như
Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”,
sợ có kẻ chẳng hiểu ư, nghe “Như Lai tức
là nghĩa Như của các pháp”, do vậy bèn hoài nghi rằng:
“Như Lai đă có nghĩa là ‘các pháp như nhau’, vậy th́ không có Bồ Đề để đắc
đă rơ rồi! V́ sao phần trên lại nói Như Lai đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề vậy?” V́
ngăn chặn nỗi nghi ấy, nên lập ra [giả dụ]
có kẻ nói như vậy, lại gọi trưởng lăo
để bảo rằng: Chắc là có kẻ nói [như thế],
v́ nghi là vẫn có pháp, chẳng biết thật sự không
có pháp! Chỉ v́ nêu rơ: Giác đă đến mức rốt
ráo, không có ǵ để gọi tên, bèn gọi là “Phật
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”
đó thôi! Từ chữ “ngôn” trở đi, có ư nói: Nếu
nói theo tánh đức, quả thật các pháp nhất
như. Do vậy, ở đây chẳng nói Như Lai, mà
nói là Phật, chính v́ để nói rơ: Được gọi
là “đắc Bồ Đề”, ngụ ư đă chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, mà cũng chính là cái quả của “các pháp nhất
như” vậy, há có nên bảo là “có pháp Bồ Đề
để đắc” ư? Có ǵ để nghi nữa?
Phần kinh văn tiếp theo dùng ư nghĩa “vô thật,
vô hư” để giảng rơ: [Tuy nói là] đắc,
nhưng thật sự không có ǵ để đắc; tuy chẳng
có ǵ để đạt được, nhưng cũng
chẳng ngại gọi là “đắc”, càng rơ rệt
hơn!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.2.2.
Giảng rơ nhất như
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Như Lai sở đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề, ư thị trung vô thật vô hư.
(經)須菩提!如來所得阿耨多羅三藐三菩提,於是中無實無虛。
(Kinh: Tu Bồ Đề! A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do Như Lai đă
đắc, trong ấy chẳng thật, chẳng hư).
“Ư thị trung” tức
là trong cái sở đắc đó. Ư nói: Dẫu như có kẻ
nói “Như Lai đắc Bồ Đề”, trọn chẳng
biết cái mà Như Lai đạt được chỉ là
một cái “chẳng thật, chẳng hư”. “Chẳng thật,
chẳng hư” chính là nghĩa “các pháp đều
Như”. Nghĩa này sẽ được diễn nói rộng
răi để tiện lănh hội.
1) Điều này gần giống
như trong phần trên đă nói “pháp do Như Lai đạt
được, pháp ấy chẳng thật, chẳng
hư”, nhưng ư nghĩa hết sức khác biệt. Bởi
phần trước là nói đến pháp chân thật, tức
pháp do Như Lai đạt được chính là Thật
Tướng. Thật Tướng là vô tướng, vô bất
tướng. Vô tướng là chẳng thật. Vô bất
tướng là chẳng hư. Nếu nói rốt ráo, Thật
Tướng là tướng và bất tướng đều
chẳng có. V́ thế nói là “vô thật, vô hư”. Nói là “hư”
hay “thật” th́ cũng đều chẳng có. Đấy
là pháp chân thật dùng để chứng tỏ và kết lại
ư “chân thật” được nói trong đoạn kinh
văn trước đó.
Ở đây là nói “thật
sự chẳng có pháp”. Đă chẳng có pháp, c̣n bàn luận
chi nữa? Đành phải như kẻ đó nói, bảo là
“Như Lai đắc”, nhưng xét ra trong ấy, hoàn
toàn là chẳng có ǵ để đắc. V́ sao vậy? Do thật
sự chẳng có pháp. Đó là đặc biệt giả gọi
là Đắc, chẳng thật; nhưng cũng chẳng ngại ǵ nói là “Như Lai đắc”.
V́ sao vậy? Do cái đạt được chỉ là
Như. Do “đạt được” điều
đó, bèn gọi là Như Lai, do vô hư vậy (đấy
là nói đối ứng với nghĩa được thuyết
minh trên đây).
2) A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tức là tên gọi khác của Chân
Như giác tánh. Như vậy th́ Như Lai chính là “nghĩa
Như của các pháp”, giống như nói “xưng là
Như Lai” là v́ vị ấy đă chứng Chân Như
giác tánh, đủ chứng tỏ pháp do Như Lai đă
đắc chỉ là Như mà thôi. V́ thế, tuy gọi là “sở
đắc” (pháp đạt được), nhưng
trong cái “sở đắc” ấy, chẳng thật. V́
sao? Do giác tánh không tịch, mà nó cũng vô hư, v́ sao vậy?
Do giác tánh tỏ lộ toàn vẹn. V́ thế, bảo là “ư
thị trung, vô thật, vô hư” (trong ấy chẳng thật,
chẳng hư). Nói chung, chẳng phải cái Đắc v́
có cái để đắc, cho nên là chẳng thật. Chẳng phải là
cái Đắc v́ không có đắc, cho nên là vô hư.
Điều này chính là như Trung Biên Luận đă nói: “Chẳng
có cái có thể chấp giữ (năng thủ) và cái bị
chấp giữ (sở thủ) th́ là Hữu. Có cái có thể
chấp giữ và cái bị chấp giữ th́ là Vô”. Cũng
như Phật Tánh Luận giảng: “Do khách trần[3] là Không,
tách ĺa pháp giới. Do vô thượng pháp bất không, nên thuận
theo pháp giới”. Do khách trần là Không, nên vô thật. Do
vô thượng pháp bất không, nên vô hư. Cần phải
biết: Đức Phật nói lời này nhằm giảng
rơ, chẳng thể do nghe nói
Đắc, bèn nghi là có pháp. Chớ nên do nghe nói “vô pháp”,
bèn nghi rốt cuộc chẳng có chứng! (đây là xét theo
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề để
giảng rơ nghĩa).
3) Hễ nói “vô thật”,
tức là nói Chiếu mà thường Tịch. Nói “vô
hư”, tức là nói Tịch mà thường Chiếu. “Vô thật, vô hư” chính là song giá, song chiếu, Tịch Chiếu
đồng thời. Trong ấy, một pháp chẳng sanh,
đó là Tịch. Lại chẳng pháp nào không hiện, đó
là Chiếu. Một pháp chẳng sanh, thật sự chẳng
có pháp, nên là vô thật. Chẳng pháp nào không hiện, các pháp
đều Như, nên là vô hư. Đấy là nói A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Như Lai đắc
chính là đắc pháp ấy (Đấy là xét theo “Tịch Chiếu đồng thời” để giảng nghĩa).
4) “Vô thật, vô hư”
chính là nghĩa Như Thật Không và Như Thật Bất Không được nói trong Khởi
Tín Luận. Như Thật tức là Chân Như, do Chân
Như là tánh thể của chân thật, nên nói là Như Thật.
Nói rơ các pháp nhất như, tức là “chân thật”. Luận giảng về nghĩa Như Thật Không như sau: “Nói là Không
v́ vốn sẵn trước nay chẳng tương ứng
với hết thảy các nhiễm pháp, tức là ĺa tướng
sai biệt của hết thảy các pháp, do tâm niệm chẳng
hư vọng”. Đó là nói tuy trong tâm của hết thảy
chúng sanh có ư niệm hư vọng, và hết thảy các tướng sai biệt năng sở
đối đăi ô nhiễm, bất tịnh, nhưng tánh thể
Như Thật ấy vẫn thường hằng, bất
biến. Do vốn sẵn “một tịnh, một nhiễm”
chẳng tương ứng. “Chẳng tương ứng”
nghĩa là tách ĺa. Tách ĺa như thế nào? Cái Thể như
thật vốn sẵn chẳng phải là tâm niệm hư
vọng. Lại nói: “Hăy nên biết Chân Như tự tánh, chẳng
phải là hữu tướng, chẳng phải là vô tướng,
cho đến chẳng phải là tướng vừa một,
vừa khác. Nói chung là do có vọng tâm, phân biệt trong mỗi
niệm, nên đều chẳng tương ứng. V́ thế
nói là Không. Nếu ĺa vọng tâm, thật sự chẳng có ǵ để có thể là Không”. Đó là nói: Được
gọi là Không, tức là rỗng không ư niệm hư vọng
và tướng sai biệt. Do vậy nói “chẳng phải
là có tướng, chẳng phải là không có tướng,
cho đến chẳng phải là tướng vừa một,
vừa khác”. Đó có nghĩa là nói “ĺa tướng”.
Nếu ĺa hết các tướng thuộc bốn câu đối
đăi như “có, không, một, khác”, sẽ ĺa tâm niệm
hư vọng. Ĺa các thứ ấy th́ Chân Như tự tánh
hiện tiền. Do đó nói “nếu ĺa tâm hư vọng,
thật sự chẳng có ǵ để có thể Không”,
cho thấy: Nói là Không, chẳng phải là nói “không có Chân
Như tự tánh”! Như vậy th́ làm thế nào để
có thể ĺa tâm niệm hư vọng để rỗng
không chúng? Do vọng tâm phân biệt trong tất cả mỗi niệm, vốn chẳng
tương ứng với Chân Như tự tánh, rơ ràng là tự
tánh vốn không, cho nên có thể rỗng không. Nhưng nhiễm
tướng vọng niệm đă là Không, Chân
Như bèn hiển hiện, cho thấy nó tuy là không mà bất không vậy!
[Luận] giảng về ư
nghĩa của Như Thật Bất
Không như thế
này: “Nói Bất Không do đă hiển lộ pháp thể là Không,
chẳng vọng, tức là chân tâm thường hằng bất
biến, tịnh pháp trọn đủ, nên gọi là Bất
Không”. Đó là nói pháp thể rỗng
không các
vọng niệm; đó là chân tâm thường hằng bất
biến, trọn đủ vô lượng pháp công đức
thanh tịnh; v́ thế là Bất Không. Pháp thể
là nói tới chân tánh nhất như, được gọi
là Chân Như. Chân Như là cái Thể của hết thảy
các pháp, cho nên gọi là “pháp thể”. Luận lại viết:
“Cũng chẳng có tướng để có thể giữ
lấy. Do ĺa niệm đối với cảnh giới, do
chỉ có chứng là tương ứng”. Đấy là
nói chân tánh của các pháp nhất như chính là cái Thể của
hết thảy các pháp, thật sự không có pháp, cũng chẳng
nên trụ. Do ĺa niệm đối với cảnh giới,
chỉ có chứng mới biết; v́ vậy bảo là “cũng
chẳng có tướng để có thể giữ lấy”
ư nói: Bất Không mà không vậy!
Gộp
chung những nghĩa trên đây từ trong luận để
xem, [sẽ biết] Như Thật Không là vô thật, Như
Thật Bất Không là vô hư. Không mà Bất Không là vô thật,
lại c̣n vô hư. Bất Không mà Không là đă vô hư, mà lại
c̣n vô thật. Đấy chính là chân thể Như Như bất
động của hết thảy các pháp. V́ vậy, ở
đây, đức Phật nói “Như Lai đạt
được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”,
nhưng trong đó, “chẳng thật, chẳng
hư” chính là
để giải thích “Như Lai tức chư pháp Như
nghĩa” (Như Lai chính là nghĩa Như của các pháp) trong
phần kinh văn trước đó. Hơn nữa, đọc
kỹ lời luận, sẽ hiểu Bất Không là do Không
mà có, có thể biết vô hư là do vô thật mà có. Các pháp
nhất như là do “thật sự chẳng có pháp” mà
có. Dùng luận để chứng kinh, nghĩa thú rành rành. Lại
c̣n có thể thấy hai đoạn luận được
trích dẫn chẳng khác dung hội ư chỉ chánh yếu của
kinh này để nói vậy! V́ thế, muốn hiểu rơ
kinh này, chẳng thể không đọc Khởi Tín Luận
(đây là dựa theo Khởi Tín Luận để nói rơ ư
nghĩa).
5) “Vô thật”
có thể hiểu là nói về các pháp. Các pháp do duyên sanh, cho
nên vô thật. Có thể hiểu “vô hư” là nói tới
Như. Chân Như bất không, nên là vô hư. Tướng của
các pháp tuy là duyên sanh mà vô thật. Tánh của các pháp giống
như Chân Như mà vô hư. V́ thế nói “ư thị
trung, vô thật vô hư”, tức là nói Như Lai đạt
được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
thật sự chẳng có pháp, mà cũng chẳng có ǵ để
đạt được, chỉ là chứng nghĩa “các
pháp đều Như” đó thôi (đây là xét theo nghĩa
“các pháp đều Như” để nêu rơ ư nghĩa).
6) “Vô thật,
vô hư” là Không và Hữu như một, tánh đức vốn
sẵn như thế. Như Lai chứng điều này. Do
vậy, Ngài nói khoa này, khiến cho chúng sanh giác ngộ rồi
tu tập pháp này. Cần phải biết: Bốn chữ ấy
(vô thật vô hư) b́nh đẳng, chẳng thể coi
thành hai chuyện, chẳng thể hạn cuộc chia thành
trước sau. Nếu quán hết thảy các pháp chỉ là
thật; đó là phàm phu. Nếu quán hết thảy các pháp chỉ
là hư, đó là Nhị Thừa. Nếu quán hết thảy
các pháp trong thật có hư, trong hư có thật, vẫn là
Bồ Tát thuộc quyền vị. Chỉ có Phật chẳng
vậy, quán hết thảy các pháp vô thật vô hư, là một
chỉnh thể. Đă vô thật lại c̣n vô hư, vô
hư lại c̣n vô thật, đó gọi là “các pháp đều
Như”, cũng chính là Không Hữu
đồng thời. Hăy nên giác như thế, hăy nên tu
như thế. Tu như thế nào? Chính là hăy sanh tâm
chẳng trụ vào đâu, ĺa hết thảy các tướng
để hành bố thí Lục Độ, ḥng lợi ích hết
thảy chúng sanh. Phải chú trọng sao cho khi ĺa tướng
th́ chính là lúc tạo lợi ích, khi tạo lợi ích chính là
lúc ĺa tướng. Đấy chính là sanh tâm vô trụ; đấy
chính là phát Vô Thượng Bồ Đề. Tuy nói là “phát”,
nhưng thật ra chẳng có pháp Bồ Đề! Như
thế th́ mới mong tương ứng với giác tánh “các
pháp đều Như, vô thật, vô hư”. Ngay cả các
danh tướng như “vô thật, vô hư, các pháp
đều Như” v…. cũng lại ĺa bỏ,
th́ mới là “chẳng có pháp”, mới có thể
tương ứng. Nếu chẳng phải vậy, tuy nói
là “phát Bồ Đề”, nhưng thật ra đă quên
mất Bồ Đề. Hễ quên mất Bồ Đề,
liền thành ma sự. Chúng ta phải nên luôn luôn nhắc nhở
điều này. Hăy nên biết: Đức Thế Tôn nói ra
pháp tự chứng, chẳng có ǵ khác, chỉ v́ muốn cho
người đọc kinh, nghe pháp, sẽ y giáo phụng
hành đó thôi (đây là xét theo sự sách tấn tu tập
để giải thích ư nghĩa).
Tổng hợp các ư nghĩa
đă nói trên đây để xét, có thể biết đức
Phật nói khoa này với dụng ư nêu rơ “Bồ Đề
vô tướng” mà thôi! Do vô tướng, nên chẳng có
pháp để phát Bồ Đề, chẳng có pháp để
đắc Bồ Đề. V́ thế nói là “vô thật”.
Do vô tướng, cho nên chẳng phải chỉ một pháp
là Bồ Đề, mà pháp nào cũng đều là Bồ
Đề; đấy là “vô hư”. Do vậy,
lại nói khoa sau để kết lại nghĩa này (đấy
là xét theo sự khởi phát phần sau để giải
thích ư nghĩa).
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.3.
Dựa theo các pháp để giảng Như
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.3.1.
Nói rơ “chính là hết thảy các pháp”
(Kinh)
Thị cố, Như Lai thuyết nhất thiết pháp giai
thị Phật pháp.
(經)是故如來說一切法皆是佛法。
(Kinh: V́ thế, Như
Lai nói hết thảy các pháp đều là Phật pháp).
Đối
với ư nghĩa “các pháp đều Như” vừa nói
trên đây, v́ sao thấy các pháp đều nhất như? Tới
đây, bèn kết luận rằng: Do hết thảy các pháp
đều là Phật pháp. Hai chữ “thị cố”
(v́ thế), bàn theo mạch văn gần th́ chính là tiếp
nối ư “vô thật, vô hư”. Nếu truy ngược
lại nguồn gốc, sẽ là thừa tiếp ư “chư
pháp Như nghĩa” (nghĩa Như của các pháp), có nghĩa
là: Do các pháp là duyên sanh nên chẳng thật; do cùng là như
thật nên vô hư. Bởi lẽ ấy, Như Lai nói “hết
thảy các pháp đều là Phật pháp”. Do “nghĩa
Như của các pháp”, mở rộng thành “vô thật,
vô hư”, tức là dùng “vô thật, vô hư” để
tỏ rơ “hết thảy đều phải”. Lại dùng
“hết thảy đều phải” để
chứng minh và kết lại “các pháp nhất như”.
Lần lượt sanh ra nhau, lần lượt giải
thích lẫn nhau, thật sự đều nhằm nói rơ một
nghĩa. Nghĩa như thế nào vậy? Hăy nên chẳng trụ
vào đâu! Đấy chính là lư do Phật pháp không ǵ chẳng
viên, chính là lư do Phật pháp không ǵ chẳng diệu vậy!
Ba chữ “Như
Lai thuyết” trọng yếu nhất, nói rơ: Đây là nói
theo tánh. Nếu nói theo tướng, hết thảy các pháp sẽ
chỉ là hết thảy các pháp, há có phải là Phật pháp? Nói chung,
do nói rơ “ĺa tướng
để quán tánh”, th́ pháp nào cũng đều
là đạo. Do vậy, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Ngũ
Uẩn, lục nhập, năi chí thập bát giới, giai
Như Lai Tạng diệu Chân Như tánh” (năm uẩn,
sáu nhập, cho đến mười tám giới, đều
là tánh Chân Như mầu nhiệm nơi Như Lai Tạng).
Do đó, cổ đức nói: “Song ngoại hoàng hoa mạc
phi Bát Nhă, đ́nh tiền thúy trúc, tận thị Chân Như”
(Hoa vàng ngoài cửa sổ không ǵ chẳng phải là Bát Nhă.
Trúc biếc trước sân toàn là Chân Như). Đó chính là
nói “hết thảy các pháp đều là Phật pháp”.
Nói chung, pháp thế gian hay xuất thế gian đều là duyên
sanh. Biết là duyên sanh, quán tánh của các pháp chẳng khác,
cái Thể bất biến, vậy th́ hết thảy các pháp
đều là [Phật pháp], các pháp đều là nhất
như. Nếu không, cứ trụ vào pháp để phát tâm,
cứ trụ vào pháp để tu hành, th́ Phật pháp cũng
chẳng phải là Phật pháp, huống hồ hết thảy
các pháp! Phật pháp được nói ở đây chẳng
thể hạn cuộc trong pháp do đức Phật đă
nói!
Phật nghĩa là giác. Hết
thảy các pháp đều là giác pháp, tức pháp nào cũng
đều là Bồ Đề, nhằm nói rơ: Bồ Đề chẳng
phải là riêng có một pháp! Bởi lẽ,“ĺa tướng
quán tánh” th́ từ hết thảy các pháp mà giác chiếu tánh
Nhất Chân. V́ thế, pháp nào cũng đều là Bồ
Đề. Đấy là xét theo nghĩa Như để
nói. Nếu nói suy rộng ra, hễ lúc hành các pháp thế
gian, [đều dùng] từ bi làm gốc, đều v́ lợi
ích người khác, chẳng giữ ư niệm lợi lạc
chính ḿnh, mỗi mỗi đều chẳng trái nghịch Phật
pháp, th́ cũng có thể nói “pháp thế gian chính là Phật
pháp”. Nếu bảo là hành Phật pháp, mà có cái tâm danh lợi,
cầu cung kính, th́ Phật pháp cũng trở thành pháp thế
gian. Khoa này chính là dùng ngay hết thảy các pháp để
giảng rơ Như, tức là nói các pháp và Phật pháp như
một. Chính v́ trừ khử tướng của pháp Bồ
Đề mà “hết thảy các pháp đều là [Phật
pháp]”. Nhưng tướng của một pháp đă trừ,
th́ tướng của hết thảy các pháp cũng đều
nên trừ. V́ thế, khoa sau lại trừ khử hết
thảy các pháp.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.3.2.
Nói rơ “ĺa hết thảy các tướng”
(Kinh) Tu
Bồ Đề! Sở ngôn nhất thiết pháp giả, tức
phi nhất thiết pháp, thị cố danh nhất thiết
pháp.
(經)須菩提!所言一切法者,即非一切法,是故名一切法。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Hết thảy các pháp như đă nói tức
chẳng phải hết thảy các pháp, cho nên gọi là hết
thảy các pháp).
Khoa này là “trừ khử
hết thảy các pháp”, tức
là dùng đó để chứng minh, kết luận “đều
là Phật pháp”. V́ sao nói “hết thảy các pháp đều
là Phật pháp?” Do chúng chẳng phải là hết thảy
các pháp! “Chẳng phải” là nói theo tánh. Nói theo tánh là
nói đừng nên chấp tướng, cho nên nói “tức
phi”. Biết “tức phi” mà chẳng chấp tướng,
sẽ là Phật pháp, mà chẳng phải là hết thảy
các pháp. Do vậy nói “đều là Phật pháp”. Đă
đều là Phật pháp, v́ sao lại gọi là “hết
thảy các pháp”? Do không ǵ chẳng phải là giả danh “hết
thảy các pháp”. “Thị danh” (th́ gọi là) là nói theo
tướng. Nói theo tướng với dụng ư quy vào
tánh, nên nói là “thị danh”. Biết là giả danh, bèn quy
vào tánh. Tuy gọi “hết thảy các pháp” mà đều
là Phật pháp. V́ thế nói “hết thảy các pháp đều
là Phật pháp”. Do lănh hội hết thảy các pháp đều
chẳng phải, liền biết chúng chỉ là giả danh.
Do lănh hội hết thảy các pháp “thị danh”, liền
biết chúng chẳng phải chân thật! Đó là đă
chẳng hiểu “đấy là hết thảy các pháp”, mà hiểu
“đấy chính là Phật pháp”. Đó là nguyên do v́ sao“hết
thảy các pháp đều là Phật pháp”. Hăy nên biết “tức
phi” và “thị danh”, nói gộp lại, đều là
để nêu rơ ư nghĩa “vô thật, vô hư, Không Hữu
đồng thời”. Đức Thế Tôn nói điều
này nhằm dạy hành nhân trong mười hai thời
đi, đứng, nằm, ngồi, đối cảnh tùy
duyên, hăy đều nên quán như thế, th́ nơi đâu
cũng đều là đạo tràng, mọi chuyện đều
tăng trưởng Bồ Đề; đó gọi là “vô
lượng ấn pháp môn”. Hơn nữa, khoa này dùng “ĺa
hết thảy các tướng” để giảng
Như, tức là để
nói rơ các pháp và [cũng nhằm nêu rơ] “các pháp
đều là nhất như”. Do hết
thảy các pháp đều Như, cho nên hết thảy các
pháp đều là Phật pháp.
Trên đây
đă nói “nghĩa Như của các pháp vô thật, vô
hư, hết thảy đều là phải, hết
thảy chẳng phải, hết thảy được gọi
là”, đều nhằm xiển minh “giác tánh
thanh tịnh” đó thôi! Giác tánh thanh tịnh trọn chẳng
có sắc tướng. V́ thế, đắc Bồ Đề,
thật sự chẳng có pháp, mà khi sắc tướng rỗng
không chính là lúc giác tánh hiển lộ. Do vậy, đắc Bồ
Đề cũng thuộc “chẳng hư”. Đă chẳng
hư, mà lại chẳng có thật pháp, đúng là giống
như mượn hết thảy các pháp để trải
qua sự việc ḥng rèn luyện cái tâm. Rỗng
không hết sạch các tướng, lại cần ǵ phải
t́m Bồ Đề ở riêng ngoài hết thảy các pháp? V́
sao vậy? Tâm Kinh dạy: “Thị chư pháp Không tướng,
bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh,
bất tăng, bất giảm” (tướng Không của
các pháp ấy chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng
nhơ, chẳng sạch, chẳng tăng, chẳng giảm),
há chẳng phải là rành rành đối ứng với Vô
Thượng Bồ Đề ư? Nói chung, tự tánh
như ma-ni châu, tùy theo phương mà hiện sắc[4]
(ví như tự tánh vốn có của các pháp hiển hiện),
nhưng trong châu trọn chẳng có mảy may sắc tướng
nào (ví như chẳng phải là hết thảy các pháp). Phật
pháp như cơm thường ăn trong nhà, tự phải
nên ăn no, nhưng người ăn phải chú trọng
tiêu hóa (ví như Bồ Đề cũng đừng nên trụ).
Tức là bản thân người ấy phải nên thường
tỉnh giác, chẳng “chính là”, chẳng ĺa, tùy chốn,
tùy thời, đều có thể chân thật thọ dụng.
Pháp do đức
Phật nói, hễ bàn về Lư đều bao gồm Sự,
nói về tánh liền bao gồm tu. Khoa lớn “pháp nào
cũng đều Như” này đều nói về thánh
trí tự giác, khiến cho người học nương
theo đó mà khởi quán chiếu. Ắt phải ĺa tướng,
ĺa niệm, th́ mới có thể khế nhập, sao có thể
nói được? Hễ nói, liền rớt vào danh tướng,
nhưng lại chẳng thể không nói! V́ thế, nói đến
công phu tu tập, đành phải dùng phương pháp nói
quanh quẩn, gián tiếp để diễn nói, người
nghe cần phải lănh hội nơi không có câu chữ! Sau
này, những điều cần nói sẽ đều như
thế, xin hăy chú ư!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.2.4.
Dựa theo Báo Thân để giải thích Như
(Kinh) “Tu
Bồ Đề! Thí như nhân thân trưởng đại”.
Tu Bồ Đề ngôn: “Thế Tôn! Như Lai thuyết nhân
thân trưởng đại, tắc vi phi đại thân, thị
danh đại thân”.
(經)須菩提!譬如人身長大。須菩提言:世尊!如來說,人身長大,則為非大身,是名大身。
(Kinh:
“Tu Bồ Đề! Ví như thân người to lớn”. Tu
Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Như Lai nói
thân người to lớn, tức chẳng phải là thân lớn,
bèn gọi là thân lớn”).
“Thí
như nhân thân trưởng đại” (Ví như thân
người to lớn), tức là như trong phần giải
thích trước đó đă nói “thí như hữu nhân,
thân như Tu Di sơn vương” (ví như có người,
thân như núi chúa Tu Di). Thân như núi Tu Di, nên
nói là “trưởng đại”, đó là nói Báo Thân của
Phật. Do trong phần trước đă nói, trưởng
lăo biết nghĩa ấy sâu xa; v́ thế, chẳng đợi
nói xong, liền giải thích nghĩa ấy như sau: “Tắc
phi vi đại thân, thị danh đại thân” (tức
chẳng phải là thân lớn, nên gọi là thân lớn). “Thị
danh” (th́ gọi là) nói rơ: Không ǵ chẳng phải là thân
tướng to lớn. “Tắc phi” (th́ chẳng phải):
Đă nói là “trưởng đại” th́ vẫn rơi
vào số lượng. Hăy nên ĺa tướng để quán
th́ Pháp Thân vô biên chính là to lớn tuyệt đối. Sở
dĩ trưởng lăo chẳng đợi nói xong, khiến
cho người khác hiểu rơ, là v́ trước đó [chánh
kinh] đă từng nói “thân như núi chúa Tu Di”. Nói “Như
Lai thuyết” chính là để chỉ rơ: Pháp Thân và Báo
Thân như một. Thoạt nh́n th́ khoa này dường
như chẳng liên quan với ba khoa trước đó,
nhưng thật ra, ư nghĩa trong ba khoa trước đó
do có khoa này mà được triệt để hiển lộ.
Bởi lẽ, trước đó là xét theo danh hiệu, quả
đức, và các pháp để giảng Như, đều
là “pháp thuyết” (法說, dùng pháp để nói). Khoa này dựa theo Báo Thân để
giảng Như, tức là “dụ thuyết” (喻說, dùng thí dụ để nói), v́ thế nói “thí
như”. Sợ người nghe phần “pháp thuyết”
chẳng hiểu rơ ràng, bèn dùng “dụ thuyết” để
[người nghe] được hiểu rành rẽ. Hăy nên
biết: Phần pháp thuyết trên đây chỉ
nhằm giảng rơ lư này. Dụ thuyết trong phần này
căn cứ trên sự thật. Do dùng sự thật để
chứng minh, Lư ấy càng được tin tưởng,
vi tế hơn. Đấy là lư do v́ sao lập ra khoa này. Muốn
biết rốt ráo, trước hết, cần phải hiểu
nghĩa của Pháp Thân và Báo Thân.
Pháp Thân có
hai nghĩa:
1) Cái gọi
là Pháp Thân chính là tự tánh thanh tịnh, c̣n gọi là tự
tánh Pháp Thân. Phật và chúng sanh cùng có điều này; đó gọi
là tánh đồng thể, là Chân Như mà hết thảy các
pháp đều chẳng vượt ra ngoài được!
Chỉ v́ chúng sanh đang bị ngăn chướng, nên [Pháp
Thân] chẳng thể hiển lộ trọn vẹn. Do vậy,
nói theo phía chúng sanh, c̣n gọi là “tại chướng Pháp
Thân”, hoặc “tại triền Pháp Thân” (在纏法身, Pháp Thân bị trói buộc
trong phiền năo).
2) Hết
thảy chư Phật trải qua vô lượng kiếp
siêng tu vạn hạnh, phước huệ trang nghiêm, khiến
cho quang minh trí huệ nơi tự tánh hiển hiện viên
măn. Điều này gọi là “xuất chướng Pháp
Thân”, hoặc gọi là “xuất chướng Chân
Như”, lại c̣n gọi là “báo đắc Pháp Thân”,
tức là Pháp Thân thoát khỏi chướng, là quả báo do
siêng tu vạn hạnh mà đạt được, tức
là Quả Báo Thân. Xét theo tướng để nói, th́ gọi
là Báo Thân. V́ thế, ở đây gọi là “đại
thân”. Nói “trưởng đại” là nói theo danh
tướng. Nếu nói theo tánh, chính là “xuất chướng
Pháp Thân”. Pháp Thân chẳng phải là tướng, chẳng
rơi vào số lượng dài, ngắn, lớn, nhỏ. V́
vậy ở đây nói là “phi đại thân” (chẳng
phải là thân lớn).
Đủ thấy Báo Thân và
Pháp Thân chẳng một, chẳng khác (một đằng là
nói theo tướng, một đằng là nói theo tánh. Do vậy,
chẳng phải là một. Nhưng thật sự là một
thân, cho nên chẳng khác). Do bởi lẽ này, Báo Thân cũng
có hai nghĩa:
1) Xét theo phương diện ĺa hết
thảy các chướng, tịnh đức viên măn để
nói, th́ gọi là Tự Báo Thân, tức Xuất Chướng Pháp Thân, hoặc
Báo Đắc Pháp Thân. Ư nói: Tu nhân, chứng quả,
tự độ đă xong, cho nên gọi là Tự Báo Thân.
2) Nếu nói theo khía cạnh “trọn
khắp hết thảy các cảnh, quang minh chiếu trọn
khắp”, th́ gọi là Tha Báo Thân. Do Pháp Thân hiện tướng
báo đắc (tướng đạt được do quả
báo), vốn là để lợi lạc người khác, nên
gọi là Tha Báo Thân. Có thể thấy Tự Báo và Tha Báo
cũng là chẳng một, chẳng khác (một đằng
nói theo Tự Thọ Dụng,
đằng kia nói theo Tha Thọ Dụng, cho nên
chẳng một. Nhưng vẫn là một thân, cho nên chẳng
khác). Do vậy, đủ thấy danh xưng đều là
giả lập, mà cũng đủ thấy tánh và tướng
chẳng hề ĺa nhau!
Nêu ra những điều này
để nói, chẳng ngoài hai ư nghĩa là giải trừ
ngờ vực và chứng nghĩa, tức là giải trừ
mối nghi do chẳng hiểu ư, chính là dùng sự chứng
đắc để kết lại các nghĩa được nói trước
đó. Đấy là v́ ngăn ngừa kẻ
nghe nói ba khoa trước đó mà chẳng thể dung hội,
sẽ có thể dấy
ḷng nghi rằng: “Đă rơ ràng là hết thảy
các pháp, sao lại đều là Phật pháp? Đă là như
một, cớ sao lại có các pháp? Vô thật vô hư rốt
cuộc là nói điều ǵ? Hơn nữa, nhiều lượt
nói “thật sự chẳng có pháp”, nhưng Báo Thân,
quang minh, và tướng hảo của Phật vốn do vô
lượng pháp công đức tạo thành, chẳng phải
rơ ràng là có pháp
tướng đó ư? Đă chẳng thật sự có
pháp để có thể đắc, mà đắc Báo Thân này, đấy chẳng
phải là thật pháp ư?”
Trọn chẳng
biết: Hết thảy các pháp vốn do Chân Như tự
tánh tùy duyên mà hiện. Nếu chẳng chấp tướng
của các pháp, khi thấy các pháp, sẽ thấy tánh của
các pháp. Ví như Báo Thân, đó cũng là tướng hiển
hiện của Xuất Chướng
Pháp Thân. Sở dĩ hiển lộ tướng là để
lợi tha, nhưng chẳng chấp tướng của Báo
Thân, liền thấy tánh của Pháp Thân, hai đằng chẳng
ngăn ngại nhau. V́ thế, tuy có các pháp, nhưng chúng thật
sự là như một. Tuy là như một, nhưng chẳng
ngăn ngại có các pháp. Cần phải biết: Như Lai
đạt được “vô thật, vô hư” chỉ
là do chứng giác tánh thanh tịnh Tịch Chiếu đồng
thời. Ví như Báo Thân tuy có tướng hảo và quang
minh, nhưng chẳng trở ngại tự tánh thanh tịnh.
Lại c̣n do tự tánh thanh tịnh, mà có tướng hảo
và quang minh. Đấy chẳng phải là giác tánh Tịch Chiếu
đồng thời, vô thật, vô hư ư?
Suy ra hết
thảy các pháp vốn chẳng phải chân thật, đều
là giả danh. Nhưng biết chúng là giả danh, sẽ biết
đó là tướng Chân Như. Biết chúng “tắc phi”,
sẽ biết chúng đều là tánh Chân Như vậy. Ví
như Báo Thân cũng giả gọi là “trưởng đại”
(to lớn), bất quá là h́nh bóng của Chân Như Pháp Thân
đó thôi! Do vậy, nó chẳng phải là to lớn, hăy nên
quán tự tánh của Chân Như thanh tịnh. Do chẳng
quán tướng mà quán tánh, Báo Thân sẽ chính là Pháp Thân. Do vậy,
hết thảy các pháp đều là Phật pháp. Tóm lại,
nói “chẳng có pháp”, nói “ĺa tướng” là để
trừ khử căn bệnh trụ pháp, trụ tướng,
chẳng phải là tuyệt đối chẳng có pháp, chẳng
có tướng! Nói “chẳng có pháp để có thể
đắc” là nói “tuy đắc mà chẳng có ư tưởng
là đắc”, chẳng phải là rốt ráo “chẳng
đắc”. Cần phải biết: Chẳng nên trụ
chấp là v́ các pháp như một, do chúng vô hư mà vô thật,
chẳng phải là rốt ráo chẳng có pháp, vô tướng,
vô đắc! Chính v́ các pháp như một, cho nên vô thật
mà vô hư. Hiểu được nghĩa ấy th́ hết
thảy các pháp đều là Phật pháp. Chẳng hiểu
rơ nghĩa này, Phật pháp cũng chẳng phải là Phật
pháp. Do vậy, chớ nên không hiểu rơ lư ‘Pháp Thân và Báo
Thân chẳng một, chẳng khác!’
Hiểu rơ “chẳng
một, chẳng khác”, sẽ biết chẳng phải là
có pháp, chẳng phải là không có pháp, chẳng phải là có
tướng, chẳng phải là không có tướng, chẳng
phải là có đắc, chẳng phải là không đắc,
sẽ triệt để hiểu rơ các nghĩa như “nghĩa
Như của các pháp, vô thật, vô hư, hết thảy
đều là” v.v… V́ sao vậy? Do chúng chẳng một,
nên thành các pháp mà vô thật. V́ thế nói là “tức phi”.
Do chúng chẳng khác, nên là như một mà vô hư, cho nên nói
“giai thị” (đều chính là). Biết từ trong “chẳng
khác” mà thấy “chẳng một”, nên tuy là “như một”,
mà chẳng chẳng ngăn ngại là “các pháp”. Biết từ
trong “chẳng một” mà thấy “chẳng
khác”, th́ tuy là
các pháp mà chẳng trở ngại “như một!” Hơn nữa,
chẳng phải chỉ là “chẳng khác” trong một
lúc, mà là khi chẳng khác th́ chính là lúc “chẳng
một”, nên nói là
“vô thật, vô hư”. Hiểu rơ hư và thật đều
chẳng thể nói, cho nên đều nói là Vô. Hơn nữa,
do chẳng một, nên tuy “chính là” mà nói là “danh” (gọi
là). Do chẳng khác, nên tuy là “danh” mà nói là “chính là”.
Tuy chẳng một mà thật sự chẳng khác, nên đă
nói “thị danh”, lại nói “giai thị” (đều
là). Tuy chẳng khác mà thật sự chẳng một,
nên đă nói là “giai thị”, lại nói “thị danh”.
Nói chung, tướng tuy chẳng một, tánh th́ chẳng
khác. Do vậy, hết thảy các pháp đều là Phật
pháp. Tánh cố nhiên chẳng khác, tướng vẫn chẳng
một! V́ thế, “tức phi” hết thảy các pháp, “thị
danh” hết thảy các pháp! Đức Thế Tôn dùng “Báo
Thân và Pháp Thân chẳng một, chẳng khác” để chỉ
rơ, nhưng lư “chẳng một, chẳng khác” có thể
dung thông để áp dụng vào các nghĩa thuộc ba khoa
trước đó. Đó là nguyên do tại sao cuối cùng
Ngài lại nêu ra Báo Thân để bảo rơ, khiến cho
nghĩa “pháp nào cũng đều Như” được
triệt để phô bày trọn vẹn vậy!
Trong phần
giải thích trước đó, đă nêu ra Báo Thân để
nói, nhằm chứng minh “đừng nên trụ vào đâu
để sanh tâm”. Bởi lẽ, đối với cái
quả Báo Thân này, vẫn nói là “phi thân, thị danh” (chẳng
phải thân, th́ gọi là) v́ Phật chẳng trụ
vào thân ấy. V́ thế, khi Bồ Tát tu nhân, chớ nên trụ
vào đâu, nhưng chẳng phải là không có thân to lớn
thù thắng mầu nhiệm ấy! Thân ấy được
trang nghiêm bởi phước huệ của Lục Độ
vạn hạnh, cho nên khi tu nhân, hăy nên vô trụ mà sanh tâm Lục
Độ. Ở đây, dùng Báo Thân và Pháp Thân “chẳng
một, chẳng khác” để hiển lộ
nghĩa “pháp nào cũng đều Như”. Do vậy,
tuy nói là đồng, nhưng ư chỉ chủ yếu bất
đồng!
Khoa lớn
“các pháp đều Như” này hiển lộ tột
cùng quả đức. Hiển lộ quả đức nhằm
nêu rơ nhân hạnh. V́ thế, khoa tiếp theo đây bèn nói về
cái nhân.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.
Nói về cái nhân
Chia thành hai
phần:
1) Trực tiếp trừ khử
pháp chấp.
2) Khiến cho đạt
được vô ngă.
Phần thứ nhất lại
gồm hai đoạn:
1) Xét theo độ sanh để
trừ khử.
2) Xét theo trang nghiêm cơi nước
để trừ khử.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.
Trực tiếp trừ khử pháp chấp
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1.
Xét theo độ sanh để trừ khử
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1.1.
Nêu ra sự trừ khử
(Kinh) Tu
Bồ Đề! Bồ Tát diệc như thị. Nhược
tác thị ngôn, ngă đương diệt độ vô
lượng chúng sanh, tắc bất danh Bồ Tát.
(經)須菩提!菩薩亦如是。若作是言,我當滅度無量眾生,則不名菩薩。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như thế. Nếu
nói như thế này “ta sẽ diệt độ vô lượng
chúng sanh” th́ chẳng gọi là Bồ Tát).
“Như
thị” là nói về khoa lớn “các pháp đều
Như” trên đây, tức là nói Phật là chuẩn
mực của Bồ Tát. Đừng nói “các pháp đều
Như” là sở chứng của Phật, ta chẳng thể
bén mảng được! Hăy nên biết: Phật có thể
chứng như thế là do từ nhân địa mà tu như
thế. V́ vậy, hết thảy các Bồ Tát vừa mới
phát khởi tâm giác ngộ cũng nên thấu hiểu
nghĩa “các pháp đều Như” như thế để chẳng
trụ vào pháp.
Hai chữ
Như Thị chỉ chung các khoa trước đó, tức
là có thể hiểu chữ Như là “các pháp như một”,
hiểu chữ Thị là “hết thảy đều là”.
Gộp lại để xem, sẽ là vô thật, vô hư. Hết
thảy chư pháp là vô thật, “đều là như một”
là vô hư, tức là nói Bồ Tát tu nhân nhằm quyết đạt
được cái quả thù thắng. Quả Báo Thân Như
cũng phải do tâm Như nơi nhân địa. Ắt phải
tương ứng với với hết thảy các pháp vô
thật, nhưng chẳng chấp một pháp nào, lại c̣n
tương ứng với vô hư “đều là như một”, nhưng
chẳng phế một pháp nào. Lại c̣n khi chẳng chấp
liền chẳng phế, khi chẳng phế liền chẳng
chấp. Như Thị như vậy th́ hư lẫn
thật đều chẳng có, tức là cái nhân như thế,
ắt cái quả cũng như thế!
Câu “Bồ
Tát diệc như thị” (Bồ Tát cũng như thế)
là nêu chung cả hai khoa “độ sanh” và “trang nghiêm
cơi nước” đều phải nên như thế.
Độ sanh như thế nào? Chính là ĺa tướng để hành Lục
Độ. Trang nghiêm cơi nước như thế nào?
Cũng chính là ĺa tướng mà hành Lục Độ,
được gọi là “phước huệ trang
nghiêm”. V́ thế,
phải nên rộng hành Lục Độ, chẳng phế một
pháp nào! Lại phải nên chẳng chấp tướng Lục
Độ, nhưng chẳng chấp một pháp nào. “Chẳng
phế, chẳng chấp” th́ mới có tư cách là Bồ
Tát. V́ thế, đều phải nên như thế. Từ “nhược
tác thị ngôn” (nếu nói như thế này) trở
đi là nói tương phản để giảng rơ, [ngụ
ư]: Nếu chẳng phải là như vậy, sẽ đánh
mất tư cách Bồ Tát!
“Ngă đương diệt
độ vô lượng chúng sanh” (ta sẽ
diệt độ vô lượng chúng sanh) lại c̣n
tương ứng khít khao với “ngă ưng diệt
độ nhất thiết chúng sanh” (ta phải nên diệt
độ hết thảy chúng sanh) như đă nói trong phần
kinh văn trước đó. Phần trước nói “đương
sanh như thị tâm” (hăy nên sanh cái tâm như thế) rơ
ràng là đức Thế Tôn truyền dạy hăy nên [sanh tâm
độ hết thảy chúng sanh] như thế, nay bèn nói “bất
danh Bồ Tát” (chẳng gọi là Bồ Tát) là v́ sao? Trong
ấy, chứa đựng nghĩa sâu xa, vi tế, đại
lược chia thành ba tầng để nói rơ:
1) Cần phải biết: Phần
trước nhằm dạy hăy nên tận hết trách nhiệm,
bổn phận như thế, trừ khử cái tâm tự
cho là Bồ Đề, nhưng [nếu hành nhân đă làm
như thế, tuy] chẳng chấp Bồ Đề, lại
tự cho là [chính ḿnh] đă tận hết trách nhiệm. Như
thế th́] tuy thay đổi diện mạo, vẫn là giữ
lấy pháp y hệt, vẫn trụ tướng giống hệt!
Phân biệt, chấp trước y hệt như cũ, phải
nên làm như thế nào? Do vậy, bèn chê trách là “bất
danh Bồ Tát”. Chữ Tắc [trong câu “tắc bất
danh Bồ Tát”] khẩn thiết lắm! Nếu có chút ư
niệm ấy trong tâm (tức ư niệm “sẽ diệt
độ vô
lượng chúng sanh”), sẽ
đánh mất tư cách Bồ Tát! Ắt phải
quán chiếu vi tế, miên mật, khám nghiệm vi tế,
miên mật, thâm nhập từng tầng vi tế hơn,
đă trừ khử rồi lại trừ khử, sao cho
cái tâm chẳng sanh một niệm, thanh tịnh trọn
chẳng có mảy trần, diệt độ vô lượng
mà dường như chẳng có chuyện ấy, ngơ hầu
tương ứng với nghĩa “như một”. Hễ
có chút niệm, là đă chấp tướng, là đă giữ
lấy pháp, là phân biệt, vẫn là ngă kiến vậy!
2) Khai thị trong phần
trước không chỉ nhằm dạy “phải nên trọn
hết trách nhiệm độ sanh, ḥng trừ khử chấp
trước đối với Bồ Đề”, mà c̣n
nhằm dạy phải nên biết: Trách nhiệm ấy trọn
chẳng thể cùng tận, tuy nói “đă độ hết
thảy chúng sanh”, nhưng do chúng sanh chẳng cùng tận,
trách nhiệm có bao giờ cùng tận? Đấy lại là
trừ khử kiến chấp “có thể độ”. Lại
dạy “hăy nên biết độ cũng giống như
chưa độ”, bảo là “chẳng có một chúng
sanh thật sự diệt độ”, nhằm lại trừ
khử kiến chấp “có người được
độ”! Lời khai thị ấy triệt để,
viên măn. Nay đối với lời khai thị ấy, quên
bẵng hai câu, chỉ ôm chặt câu đầu tiên, há chẳng
phải là nghiễm nhiên tự cho rằng “có thể tận
hết trách nhiệm ấy”, lại c̣n “có rất nhiều
kẻ được độ” đấy ư? [Hễ
nghĩ] “ta sẽ diệt độ vô lượng” th́ là hạng
người kiêu căng, tự phụ, có thái độ chẳng
để hết thảy vào mắt, rành rành là như thế,
há có phải là Bồ Tát ư? Ắt phải đau đáu
trừ khử căn bệnh ấy; do vậy, [đức
Phật] thẳng thừng quở trách “chẳng gọi
là Bồ Tát”. Đức Thế Tôn nói như thế, lại có ư chỉ
sâu xa, nhằm dạy người đọc kinh, nghe pháp, ắt
phải thấu suốt triệt để, chớ nên chấp
một mà bỏ sót cả vạn, chớ nên thiên chấp rồi
coi toàn thể nhất loạt giống hệt
như nhau, chớ nên cắt xén câu văn để chọn
lấy ư nghĩa.
3) Người ấy lại mắc
bệnh lớn, bệnh ở chỗ “tác thị ngôn”
(nói như thế này). Chẳng bàn tới kẻ ăn nói lớn
lối chẳng hổ thẹn, đương nhiên là chẳng
nên! Dẫu cho nói đúng với thực chất, nhưng hễ cứ
tự phô phang, th́ có thể biết [kẻ đó] đă
vướng vào danh vọng, tâm chẳng thanh tịnh! Lại
c̣n nói về tâm thanh (心聲, âm thanh ở
trong tâm, do khởi lên ư niệm ấy), “tác như thị
ngôn” là do tâm nghĩ như thế. Niệm c̣n chưa dứt,
sao có thể liễu sanh tử mà bảo là Bồ Tát như
thế ư? Đức Thế Tôn nói lời này, nhằm dạy
người phát tâm đại bi hăy nên càng gắng công ĺa niệm.
Vọng niệm chẳng dứt, chân tâm sẽ vĩnh viễn
bị ngăn chướng. Có bi mà chẳng có trí, há có thể
độ người khác ư? Hơn nữa, niệm dấy
lên như thế nào? Dấy lên là do kiến chấp phân biệt
“ta, người” hăy c̣n, cũng chẳng gọi là Bồ
Tát vậy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1.2.
Gạn hỏi để giải thích
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1.2.1.
Giải thích chẳng có pháp
(Kinh) Hà
dĩ cố? Tu Bồ Đề! Vô hữu pháp danh vi Bồ
Tát.
(經)何以故?須菩提!無有法名為菩薩。
(Kinh:
V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Chẳng có pháp gọi là Bồ
Tát).
Bản
lưu thông ghi là “thật vô hữu pháp danh vi Bồ Tát”
(thật sự chẳng có pháp gọi là Bồ Tát), bản
chép của người đời Đường và các bản
chú giải của ngài Tăng Triệu và Huệ Tịnh
đều không có chữ Thật (實), hăy nên
tuân theo đó. Khi chưa thấy cổ bản, đối
với ư nghĩa của câu này, tôi cũng bộp chộp
lướt qua. Tới khi thấy cổ bản, vẫn cho
rằng “thật vô hữu pháp danh vi Bồ Tát” (thật
sự chẳng có pháp gọi là Bồ Tát) có cú pháp giống
như “thật vô hữu pháp danh vi A La Hán” (thật sự
chẳng có pháp gọi là A La Hán) trong phần trước,
[tức là tưởng rằng] có một chữ Thật
cũng chẳng phải là không thể, nhưng lắng ḷng
suy gẫm ư nghĩa của kinh trước và sau, mới biết
trọn chẳng giống nhau, mới biết cái hay của
nguyên bản. Bởi vô niệm được nói trong
đoạn Tứ Quả thuộc phần trước,
đều là thông qua một tầng ư nghĩa dựa theo cái
Thấy! Do lời hỏi [trong phần đó], đều
nói là “năng tác thị niệm ngă đắc quả phủ?”
(có thể nghĩ là ta đắc quả hay không?) V́ thế,
[trưởng lăo Tu Bồ Đề] đáp “Tu Đà Hoàn
gọi là Nhập Lưu, nhưng không có cái để nhập”,
v́ tuy gọi là Nhập Lưu, nhưng trong tâm c̣n không có ǵ gọi
là Nhập, há có cái được gọi là Lưu? Có thể
biết là trọn chẳng ư niệm “ta đắc Nhập
Lưu”. Đối với Tư Đà Hàm và A Na Hàm, cách nói
giống nhau. V́ thế, sau mỗi [phần gạn hỏi],
đều nói là “thị danh mỗ mỗ” (bèn gọi
là X…, tức “bèn gọi
là Tu Đà Hoàn”, hoặc
“gọi là
Tư Đà Hàm” v.v…), nhằm
chỉ rơ: Nói là Nhập Lưu, Nhất Văng Lai, hay Bất
Lai, đều là giả danh, chứ chẳng có ư niệm ấy.
A La Hán có nghĩa là Vô Sanh, ư nói
Ngài đă chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đă là một pháp chẳng
sanh, cho nên nói “thật vô hữu pháp” (thật sự chẳng
có pháp), tức là cái tâm và pháp cũng chẳng có, há có cái
để gọi là Vô Sanh? Như thế th́ gọi là Vô
Sanh chỉ là giả danh, há có ư niệm ấy hay chăng?
V́ thế gọi là A La Hán. Ở đây là nói rơ nguyên do chẳng
gọi là Bồ Tát là do trong tâm đă thấy có năng
độ (người hóa độ) và sở độ
(đối tượng được hóa độ).
Đó là giữ lấy pháp. Hễ giữ lấy pháp bèn chấp
các tướng ta, người v.v…, bèn là phàm phu. V́ thế,
chắc chắn chẳng có pháp gọi là Bồ Tát. Chẳng
cần thông qua một tầng mới hiển lộ
được ư này, cho nên cú pháp chẳng giống như phần
trước. Câu “vô hữu pháp danh vi Bồ Tát” (chẳng
có pháp gọi là Bồ Tát) có hai cách đọc:
1) Tạm
lướt qua chữ Vô, đọc sáu chữ sau đó một
hơi. Kinh có ư nói: V́ sao chẳng gọi là Bồ Tát? Do vậy,
nói tương phản để giải thích rằng: [Nếu
bảo là] “có pháp gọi là Bồ Tát”, th́ đức Phật
chẳng nói như vậy. Do vậy, tiếp ngay sau đó
bèn nói: V́ thế, đức Phật nói hết thảy các
pháp chẳng có “ta, người, chúng sanh, thọ giả”,
ḥng nói rơ: Hễ có pháp, liền chấp trước, phân biệt
ta, người, tức là trái nghịch lời Phật;
đó là phàm phu. V́ thế, [chánh kinh nói] “chẳng có”, tức
là chẳng có pháp gọi là Bồ Tát. Dùng “chẳng có pháp
gọi là Bồ Tát” trong khoa này để giải thích, kết
lại khoa “chẳng gọi là Bồ Tát” trước
đó. Lại nữa, “pháp vô ngă” trong khoa sau nhằm giải
thích và kết lại “chẳng có pháp gọi là Bồ Tát”
trong khoa này. Đó gọi là “lần lượt giải
thích lẫn nhau”.
2) Đọc
bảy chữ thành một câu. Như lời Sớ của
pháp sư Khuê Phong đời Đường đă viết:
“Chẳng có pháp để gọi là Bồ Tát, há có ta
độ chúng sanh?” Đó là nói: C̣n chẳng có cái để
gọi là “pháp Bồ
Tát”, há có
tướng “ta độ chúng sanh” ư? Dụng ư nhằm nói
rơ: Trong phần trước, nói “ngă đương độ
chúng sanh” (ta sẽ độ chúng sanh) chính là đă chấp
giữ “độ chúng sanh” là pháp để thành Bồ
Tát! Thời Tấn, ngài Tăng Triệu chú giải rằng:
“Bồ Tát tự chẳng có, há có chúng sanh”. “Tự chẳng
có” là c̣n chẳng có, ư nói: Bồ Tát và chúng sanh đều
là giả danh, c̣n chẳng có Bồ Tát có thể hóa độ,
sao có chúng sanh được hóa độ ư? Vậy th́
“chẳng nên chấp giữ chuyện độ chúng sanh”
cũng
đă rơ lắm thay! Xem ư nghĩa của lời
chú giải này, sẽ thấy chữ Pháp rất linh hoạt,
giống như nói “chẳng có cách nào để gọi là
Bồ Tát!” Nói chung, các bản chú giải thời cổ
phần nhiều giảng nghĩa tổng quát, chẳng tỉ
mỉ phân tích từ ngữ, mạch văn trước
sau, trên dưới. V́ thế, khi đọc các bản chú
giải thời cổ, cũng nên đừng chấp vào
h́nh tướng, hăy lănh hội tinh thần trong ấy, khéo
lănh hội vậy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.1.2.2.
Giải thích vô ngă
(Kinh) Thị cố, Phật thuyết nhất
thiết pháp vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả.
(經)是故佛說一切法無我無人無眾生無壽者。
(Kinh: Do vậy, đức Phật nói hết thảy
các pháp vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả).
Chữ “thị cố”
nhằm tiếp nối phần trước, sanh khởi phần
sau. V́ muốn giải thích, kết lại nguyên do “chẳng
có pháp gọi là Bồ Tát”, bèn nói rơ lư “Phật nói hết thảy các pháp vô ngă”. Đức Phật nói hết
thảy các pháp chẳng có ta, người, chúng sanh, thọ
giả, hăy nên biết: Trong cái nh́n của chúng sanh, không ǵ chẳng
phải là phân biệt. Hễ phân biệt, liền có
năng, sở đối đăi. Nói theo năng kiến (chủ
thể có thể thấy) th́ là ta, nói theo sở kiến (đối
tượng bị thấy) th́ là người. Cái thấy
năng, sở sai biệt theo đó mà tưng bừng nẩy sanh; đó là chúng sanh.
Đó là nói theo chiều ngang. Cái thấy năng sở
tiếp nối không ngừng, đó là thọ giả. Đấy
là nói theo chiều dọc.
Vọng tâm phân biệt nhiều
chẳng thể tính kể! Dùng “năng, sở, ngang, dọc”
để thâu tóm, không ǵ chẳng trọn hết! Do vậy, trong đủ loại kiến, đủ loại
tướng, kinh này riêng nêu lên bốn thứ ấy để
nói. Nhưng phân biệt là do chấp ngă dấy lên, cho nên
tách ra th́ thành bốn, gộp lại th́ chỉ là một ngă
kiến đó thôi! Trọn chẳng biết hết thảy
các pháp vốn vô ngă, vô sai biệt.
Đức Phật nói câu này,
chứa đựng rất nhiều ư nghĩa. Hăy nên đọc
thành hai cách để hiểu rơ:
1) Ngắt câu ở chữ
Thuyết, sẽ là lư “hết thảy các pháp vô ngă” do
đức Phật nói. Phàm hết thảy các pháp, đều
là duyên hội tụ bèn sanh, mà sanh chính là vô sanh. Được
gọi là Sanh, chẳng qua là huyễn tướng do duyên hội
tụ, há có thật pháp? V́ thế nói “sanh chính là vô sanh”.
Đó là điều đức Phật thường tuyên
nói. Sanh tức vô sanh, há có ta, người sai biệt hay
chăng? Hăy nên biết: Hễ có ta, người sai biệt,
gốc bệnh là do phàm phu chấp giữ. Trong hết thảy
các pháp, há có chuyện này? V́ thế, trong phần trước
có nói “nhược tâm thủ tướng, tắc vi chấp
ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả” (nếu tâm giữ lấy
tướng, tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ
giả). Nếu chẳng giữ lấy, sẽ chẳng có
năng, chẳng có sở, một tướng chẳng
sanh. Vậy th́ Bồ Tát nói “ta sẽ diệt độ
chúng sanh”, chính là chấp giữ pháp Lục Độ, sẽ
là ta, người đối đăi, bốn tướng
rành rành! Đó là phàm phu, há đáng gọi là Bồ Tát? V́ thế,
[nếu bảo] “có pháp để gọi là Bồ Tát”, quyết chẳng có lẽ
ấy!
2) Ngắt câu nơi chữ
Pháp, tức là đức Phật nói hết thảy các pháp,
vốn chẳng có ta, người sai biệt. Ở đây,
lại tách ra thành hai nghĩa để nói:
a) Phàm những ǵ đức Phật nói đều là nói
về những pháp Ngài đă chứng, mà đức Phật
đă chứng chỉ là “các pháp như một”. Do vậy,
đức Phật nói hết thảy các pháp, không ǵ chẳng
nhằm khiến cho mọi người diệt tướng
phân biệt đối đăi của
các pháp, ngộ
pháp tánh b́nh đẳng nhất như. Giác ngộ giác tánh ấy,
có thể gọi là Bồ Tát. Nếu có tướng của pháp, đó là ngă chấp, liền trở thành
đối đăi, đó là phân biệt, sao có thể gọi
là Giác? V́ thế, hễ “có pháp để gọi là Bồ Tát” sẽ trái nghịch lời
Phật, trọn chẳng có nghĩa ấy!
b) Đức Phật nói hết thảy các pháp, đều
nhằm khiến cho người nghe chẳng có nhân ngă, chẳng
có pháp ngă, trừ cái tâm phân biệt. Do Nhất Chân pháp giới
vốn chẳng có phân biệt ta, người v.v… Hễ có
sự phân biệt ấy, liền thành chúng sanh. Phật v́
độ chúng sanh mà thuyết pháp. Do vậy, hết thảy
các pháp không ǵ chẳng nói nghĩa Nhất Chân pháp giới,
khiến cho [người nghe] trừ ngă chấp. V́ thế,
chớ nên giữ lấy một pháp. Hễ giữ lấy,
chính là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả. Bồ
Tát là người học Phật. Nếu chấp giữ các
pháp như Lục Độ v.v…, sao gọi là “học Phật” cho được? V́ sao vậy? “Có pháp gọi
là Bồ Tát”, đức Phật chẳng nói điều ấy
(ở đây chẳng nói “Như Lai nói”, mà bảo là “Phật
nói”, chính v́ chỉ rơ lư nhân quả như một. Phật là
quả nhân (người đă chứng quả). Bồ Tát
là nhân nhân (người c̣n đang tu nhân). Quả nhân đă
nói như thế, nhân nhân hăy nên học như thế). Nói
chung, hết thảy chúng sanh tánh vốn đồng thể,
vốn chẳng có “ta, người” đối đăi phân
cách. Do vậy, nói chúng sanh th́ Bồ Tát cũng là chúng sanh.
Nói Bồ Tát th́ chúng sanh cũng là Bồ Tát. Chúng sanh vốn
là Phật, huống Bồ Tát ư?
Hơn nữa, sanh vốn vô
sanh, có ǵ gọi là Độ? Độ cũng là tự
độ, có ǵ gọi là độ sanh? Ví như đầu
bị cháy, tay ắt cứu chữa! Dẫu là kẻ chí
ngu, cũng chẳng có lẽ nào không cứu! Nhưng quyết
chớ nên phân biệt người có thể cứu và kẻ
được cứu, biết người có thể cứu
chính là người được cứu, người
được cứu chính là người có thể cứu.
Bồ Tát và hết thảy chúng sanh cũng giống như
thế. V́ vậy, đức Phật nói “hết thảy
các pháp chẳng có ta, người, chúng sanh, thọ giả”,
khiến cho người nghe sẽ quán tánh đồng thể.
Nếu nói như thế này “ta sẽ diệt độ
vô lượng chúng sanh”, há chẳng phải là dấy khởi
ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến ư? Kiến ấy
chẳng trừ một ngày nào, đó
chẳng phải
là thọ giả kiến ư? Phân biệt như thế,
chấp trước như thế, chính là hoàn toàn ngăn
cách tánh vốn đồng thể và ư nghĩa “các pháp
như một”, rơ ràng trái nghịch lời Phật dạy,
c̣n tự cho ḿnh là Bồ Tát nữa sao? Vậy th́ nói “sẽ
độ vô lượng”, chỉ sợ dăm ba chúng
sanh cũng chẳng thể độ! V́ sao vậy? Do ta
đă là ta, chúng sanh là chúng sanh, ắt gặp người tiếp
nhận sự cứu độ ấy, sẽ tự khoe
khoang, tự vui mừng. Đối với kẻ chẳng
thể độ, ắt sẽ coi thường, ghét bỏ.
Gặp người khác hành Lục Độ, ắt sẽ
ganh đua, nghi kỵ. Lần lượt t́nh chấp, tự
ràng, tự buộc, tự quư vị tiến vào rừng rậm
ác kiến, phiền năo, há c̣n nói là “độ chúng sanh” nữa
ư? C̣n gọi là Bồ Tát nữa ư? Do vậy, [hễ
nói] “có pháp gọi là Bồ Tát”, trọn chẳng có sự
lư ấy. Phàm là người phát Chánh Giác, ắt phải nên
thiết thực thấu hiểu đạo lư “hết thảy
các pháp chẳng có ta, người, chúng sanh, thọ giả,
tức là các pháp nhất như” do đức Phật
đă nói. Dẫu rộng tu Lục Độ, nhưng chẳng
chấp một pháp, ngơ hầu tâm không vọng niệm mà vô
thật, công chẳng luống uổng mà vô hư vậy!
Khoa vô ngă này đă kết lại
phần kinh văn trên đây, mà cũng sanh khởi phần
kinh văn tiếp theo, v́ khoa sau chính là “chẳng phải
trang nghiêm th́ gọi là trang nghiêm”, cũng nhằm nói về
ư nghĩa “pháp tánh vô sai biệt”, quán thông với ư
nghĩa được nói trong khoa này!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.2.
Xét theo sự trang nghiêm cơi nước để trừ khử
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.2.1.
Nêu ra sự trừ khử
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhược Bồ Tát tác thị ngôn “ngă đương
trang nghiêm Phật độ”, thị bất danh Bồ Tát.
(經)須菩提!若菩薩作是言:我當莊嚴佛土。是不名菩薩。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nếu Bồ Tát nói như thế này “ta sẽ trang nghiêm cơi
Phật” th́ chẳng gọi là Bồ Tát).
Bồ Tát tu hành Lục Độ,
không ǵ chẳng phải là thượng cầu hạ hóa.
Trên đây đă nói theo phương diện độ sanh
để giảng rơ chuyện hạ hóa (dưới là hóa
độ chúng sanh). Do vậy, khoa này lại dựa theo
phương diện trang nghiêm cơi nước để nói
về chuyện thượng cầu. “Thượng cầu”
tức là trên th́ cầu giác đạo, mà cũng là hạ
hóa chúng sanh. Bởi lẽ, Bồ Tát phát tâm chỉ nhằm
lợi ích chúng sanh mà thôi! Căn bệnh được nói ở
đây cũng giống như trong phần độ sanh. Bệnh
ở chỗ nói “ta sẽ”. Phàm các thứ lầm lỗi
đă nói trong khoa trước đều áp dụng cho khoa
này, chẳng cần phải rườm lời nữa! Nói
chung, hễ thốt ra lời liền là động niệm.
“Ta sẽ” chính là kiến giải chấp trước.
Khởi niệm, chấp kiến như thế, toàn là phàm
t́nh, sao gọi là Bồ Tát cho được? V́ thế, chẳng
gọi là Bồ Tát.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.1.2.2.
Gạn hỏi để giải thích
(Kinh) Hà dĩ cố?
Như Lai thuyết trang nghiêm Phật độ giả, tức
phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm.
(經)何以故?如來說:莊嚴佛土者,即非莊嚴,是名莊嚴。
(Kinh: V́ sao vậy?
Như Lai nói trang nghiêm cơi Phật chính là chẳng phải
trang nghiêm, bèn gọi là trang nghiêm).
“Hà dĩ cố” là hỏi nguyên do v́ sao chẳng gọi là Bồ
Tát! “Tức phi, thị danh” vẫn giống như
đă nói trong các phần trước. Đó gọi là “chẳng
chấp tướng, hội quy tánh”. Tức hai câu ấy
chính là nguyên do chẳng gọi là Bồ Tát, đă rất rơ
ràng! Do kẻ ấy chấp tướng, mê muội tánh, cho
nên chẳng gọi là Bồ Tát!
Trang nghiêm cơi Phật th́
như trước đó đă từng nói, nhưng nghĩa
được nói ở đây chẳng giống phần
trước. Bất đồng ở ba chữ “Như
Lai thuyết”. “Như Lai thuyết” tức là dựa
theo tánh để nói, th́ các pháp như một, chớ nên có
chút t́nh kiến phân biệt, chấp trước. Trong phần
trước đă nêu ra điều này để nói, nhằm
hiển thị nghĩa “hăy
nên vô trụ sanh
tâm”, khiến cho [người
nghe] biết khi chẳng chấp trước bèn chẳng phế.
Nay nêu lên điều này để nói, nhằm nói rơ nghĩa
“hăy nên sanh tâm mà vô trụ” (phần trước nói “đương
sanh như thị tâm” (hăy nên sanh cái tâm như thế). Nay
hai khoa “độ sanh” và “trang nghiêm cơi nước”
này dạy hăy nên sanh tâm như thế, nhưng cũng chớ
nên trụ), khiến cho [người nghe] biết khi chẳng
phế bèn chẳng chấp. Bởi lẽ, phần trước
nhằm dạy phát Bồ Tát tâm, ĺa tướng để
tu phước huệ. Nay th́ dạy hành Bồ Tát đạo,
khi tu phước huệ, chẳng tồn tại cái thấy
có phước huệ. Trước sau, sâu cạn tách biệt
rất khác. Cần phải biết: Phật chính là tâm
(thường nói “tâm này là Phật”), “độ”
tức là đất. “Phật độ” (佛土, cơi Phật) giống như nói “tâm địa”. Nói “trang nghiêm” là do
chúng sanh từ vô thỉ đến nay, cái tâm này thanh tịnh,
nhưng bị hết thảy các nhiễm pháp ngang ngược
nẩy sanh chướng ngại. [Tâm ấy] vốn sẵn
không tịch, [nay th́] hoàn toàn bị rối ren, hỗn loạn.
Vốn sẵn quang minh [mà nay] hoàn toàn tối
tăm. V́ thế, dạy [hành nhân] hăy phát nguyện rộng
lớn để mở rộng tâm lượng, tu hạnh Lục
Độ để trừ khử những thứ riêng tư. Ĺa tướng, ĺa niệm, đem tất
cả phàm t́nh tục kiến phân biệt, chấp trước
v.v… thống thiết quét sạch, gột tẩy tỉ mỉ.
Ví như trên mặt đất, các vật chướng ngại,
các thứ dơ bẩn uế nhiễm, đều nhất
loạt quét sạch trơn để khôi phục quang cảnh
không tịch, quang minh như cũ. Do không có ǵ để gọi
tên, bèn gọi là “trang nghiêm”, chứ thật ra, chẳng
có ǵ để gọi là “trang nghiêm”. Nay nói rằng “ta
sẽ trang nghiêm”, ngang ngược áp đặt cái nh́n ấy
vào trong tâm địa, [tâm địa] sẽ chẳng không tịch,
sẽ chướng quang minh, c̣n có thể gọi là “trang
nghiêm” nữa ư? Nơi tánh thể trọn chẳng
lănh hội, trái nghịch điều Như Lai đă nói, cho
nên bảo “chẳng gọi là Bồ Tát”. Ắt phải
hiểu sâu xa ư chỉ “tức phi, thị danh”, ĺa
tướng, hội quy vào tánh, nhất như bất
động. Tuy hăm hở trang nghiêm, nhưng quên bẵng
sự trang nghiêm ấy, ngơ hầu tương ứng với
tánh không tịch. Đă Không lại c̣n Tịch, quang minh tự hiển lộ. Trang nghiêm Phật
độ là như thế đó, Bồ Tát phải biết
điều này!
Rộng độ chúng sanh
(phần trước nói là “diệt độ vô lượng”
chính là ư nghĩa “rộng độ”), tức là đại
bi. Tâm địa thanh tịnh (“trang nghiêm Phật độ”
nói triệt để th́ chính là thanh tịnh tâm địa) là đại trí. Đại bi, đại
trí th́ gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Gộp
chung các ư nghĩa được nói trong hai khoa “độ
sanh” và “trang nghiêm cơi nước” chính là nói rơ: Phát Bồ
Đề th́ chẳng thể tồn tại một niệm
đại bi, đại trí ấy! Nếu tồn tại
đôi chút niệm ấy, sẽ là pháp chấp, sẽ chẳng
phải là Bồ Đề. Hai lượt nói “chẳng gọi
là Bồ Tát”, chính là để kết lại nghĩa
đă nói trong phần mở đầu “thật sự chẳng
có pháp để phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề”. Văn pháp tột bậc nghiêm mật, ư
nghĩa tột bậc viên măn.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.
Khiến cho thấu đạt vô ngă
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.1.
Nêu bày sự thông đạt
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhược Bồ Tát thông đạt vô ngă pháp giả,
Như Lai thuyết danh chân thị Bồ Tát.
(經)須菩提!若菩薩通達無我法者,如來說名真是菩薩。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngă, Như Lai nói [vị
ấy] thật sự là Bồ Tát).
Kinh văn trong khoa này, trước nay phần nhiều được hiểu là để kết
lại phần trên, nhưng tỉ mỉ t́m ṭi theo mạch
văn, phần trước nói “Phật thuyết nhất
thiết pháp vô ngă” (đức Phật nói hết thảy
các pháp vô ngă) nhằm hiển thị ư nghĩa “pháp tánh vô
sai biệt”. Do vậy, kết lại chuyện “độ sanh, chớ nên giữ
lấy pháp”. Phần trước nói “tức
phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm” (tức chẳng phải
là trang nghiêm bèn gọi là trang nghiêm) cũng nhằm hiển
thị ư nghĩa “pháp tánh vô sai biệt”, cho nên kết
lại là “trang nghiêm cơi nước th́ chớ nên giữ lấy
pháp”. Pháp tánh đă là chẳng sai biệt, cho nên bất cứ
pháp nào cũng đều chớ nên trụ, tức là ngay cả
ư nghĩa “thật sự chẳng có pháp để phát Bồ Đề” cũng được kết
lại, chẳng cần phải kết lại lần nữa!
Lại nghiền ngẫm kỹ càng phần kinh văn sau
đó, sẽ biết: Trước hết, nêu ra “Phật
thuyết nhất thiết pháp vô ngă” (đức Phật
nói hết thảy các pháp vô ngă) là dùng khoa này để dẫn
khởi chuyện thông đạt pháp vô ngă.
Cho tới phần sau, trong khoa lớn thứ tư là Chứng
Phần, bèn nói “nhất thiết pháp vô ngă
đắc thành ư Nhẫn” (hết thảy các pháp vô ngă
được thành tựu bởi Nhẫn), nhằm kết lại khoa này. Nay tôi sẽ khai thị
về tri kiến của Phật, khiến cho [người
đọc] thông đạt. V́ thế, trước hết
đặt ra khoa này “nhược Bồ Tát thông đạt
vô ngă pháp” (nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngă) v.v…
để nêu bày. Cú pháp rạch ṛi, một mực thông suốt.
V́ thế, phán định khoa này là “lời lẽ
nhằm nêu bày” th́ trước sau sẽ dung hợp. Nếu
chỉ thấy đây là phần kết lại của phần
trên, mạch văn ngữ ư sẽ chẳng liền mạch,
tinh thần chẳng tụ tập được!
“Vô ngă pháp” tức là pháp vô ngă, nhưng không ǵ
chẳng khu biệt (區別), chứng đắc hết thảy
các pháp nhất như, tức là nói pháp vô ngă. Thông đạt
các pháp như một, tức là nói vô ngă pháp chính là như “đức
Phật nói hết thảy các pháp vô ngă” trong phần trên, do đức
Phật đă chứng đắc lư vô ngă, trọn đủ
trí vô ngă, có thể vô ngă trong hết thảy các pháp, nên nói là
“vô ngă pháp”. Trong phần sau, kết luận rằng “tri
nhất thiết pháp vô ngă, đắc thành ư Nhẫn” là
nói: Không chỉ có thể biết vô ngă nơi hết thảy
các pháp, mà c̣n an nhẫn trong vô ngă. V́ thế cũng nói là “pháp vô ngă”. Ở đây là khiến cho [người
nghe] thông đạt hết thảy các pháp vốn sẵn vô
ngă, cho nên nói là “vô ngă pháp”.
Hăy nên biết đối với
căn bệnh pháp chấp, gốc bệnh là do ngă kiến
gây chướng. Trong hết thảy các pháp, há từng có
ngă? Nay dạy thông đạt, chính là dạy trừ chướng.
Ngă kiến chướng đă trừ, bèn chứng pháp tánh vô
ngă vốn sẵn có. V́ thế, nói “thông đạt
pháp vô ngă” giống như nói “trừ khử vọng tâm phân biệt, thấy
chân tánh vốn vô phân biệt” vậy! Nói
chung, hết thảy các pháp đều vô ngă, nên hết thảy
đều là vô ngă pháp. Do vậy, từ đắp y, cầm
bát, vào thành khất thực, cho tới trở về chỗ
ḿnh, trải tọa cụ mà ngồi, đều là biểu
thị pháp vô ngă. V́ sao vậy? Đức Thế Tôn vốn
chẳng cần cơm áo, v́ chúng sanh mà một năm ba
trăm sáu mươi ngày, cho đến suốt bốn
mươi chín năm, ḥa ḿnh trong trần lao, nếu chẳng
vô ngă rỗng rang, quên bẵng [chính ḿnh] là Phật, sao có thể
làm như thế được chăng? Đấy chính là
khí tượng “các pháp nhất như, hết thảy các
pháp đều là Phật pháp”, mà cũng chính là bằng
chứng chân thật của Như Lai đạt được
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, trong ấy
là vô thật, vô hư. Đấy chính là lư do trưởng
lăo Tu Bồ Đề từ trong đại chúng, từ chỗ
ngồi đứng lên, đảnh lễ, tán thán “đức Thế Tôn hy hữu, Như Lai
khéo hộ niệm, khéo phó chúc các Bồ Tát”. Do Như Lai hằng ngày ḥa lẫn trong trần
lao, chẳng ĺa chúng sanh, nên nói là “khéo hộ niệm”.
Lại c̣n do Ngài tùy duyên qua ngày, quên bẵng ngă pháp, hằng
ngày dạy bảo vô ngôn như thế, nên nói là “khéo phó
chúc”. Tiếc là chỉ có ḿnh trưởng lăo có thể khéo
thông đạt, các đại chúng khác đều mờ mịt,
chẳng hiểu biết. V́ thế, trưởng lăo bất
đắc dĩ thỉnh cầu [đức Phật] khai
thị cặn kẽ, [đức Phật bèn] từ “chư
Bồ Tát hăy nên hàng phục cái tâm” mà nói theo từng tầng
cho tới khoa trên đây, đều nhằm dạy phá Ngă
Chấp, tức những điều Ngài đă nói không ǵ chẳng
phải là pháp vô ngă, [người học] đều phải
nên thông đạt vậy!
Nhưng nay nói “thông đạt
pháp vô ngă”, tức là nói đến những điều vừa
nói trên đây ư? Hay là c̣n có pháp vô ngă nào khác? Cần phải
biết: Chẳng phải là có pháp nào khác, mà cũng chẳng
phải là không có pháp nào khác. V́ sao vậy? Do hết thảy
các pháp đều vô ngă! Chẳng thể nói: Chỉ riêng những
điều trên đây là pháp vô ngă, c̣n ngoài ra đều chẳng
phải! Nếu có thể khéo thông đạt, sẽ chẳng
cần phải đợi đức Thế Tôn mở miệng,
đă sớm triệt để thông đạt nơi hành
vi tùy duyên hằng ngày, đắp y, dùng cơm [của đức
Phật] rồi! Do [chúng sanh] chẳng thể [giác ngộ những
điều ấy], cho nên mới phải nói các
pháp như trên. Nhưng đức Thế Tôn đại từ,
đại bi, nghĩ thương xót hết thảy chúng
sanh, sợ họ tuy nghe các pháp mà vẫn chẳng thể thông
đạt, nay bèn nói phương tiện căn bản khiến
cho họ thông đạt. V́ thế, ở chỗ này,
nương vào nghĩa “hết thảy các pháp vô ngă” do
đức Phật đă nói trên đây, đặc biệt
chỉ bày rằng “nếu Bồ Tát thông đạt pháp
vô ngă, Như Lai nói vị ấy thật sự là Bồ Tát”,
khiến cho đại chúng tinh thần hăng hái, lắng
nghe phần kinh văn sau đó, chẳng đến nỗi
coi đó là lời nói thông thường, xem nhẹ rồi bỏ
qua vậy!
Thế nào là phương tiện
căn bản? Chính là khai Phật tri kiến trong đoạn
sau. Phàm là người học Phật, tuy biết cái hại
của ngă kiến, nhưng v́ gốc bệnh quá sâu, chẳng
thể trừ được. Rơ ràng là học pháp vô ngă, mà
vẫn giậm chân tại chỗ, chỗ nào cũng đều
chấp ngă, như vậy th́ làm sao được nữa?
Chỉ đành cực lực khơi thông Phật tri kiến,
ḥng chuyển hóa phàm t́nh tục kiến lâu ngày, ngơ hầu họ
đều được thông đạt pháp vô ngă
đă nói trước sau vậy. V́ thế, bảo: “Khai Phật tri kiến càng là diệu pháp
để vô ngă vậy” (có thể thấy ư
nghĩa được nói trong phần Khai Phật Tri Kiến càng chiếm vị trí trọng yếu
trong cả bộ kinh này. Trước hết, ắt phải
triệt để thông đạt ư nghĩa này). Tuy vậy,
pháp chính là phi pháp. Nếu nghe khai Phật tri kiến mà có một
cái tri kiến tồn tại, sẽ lại trở thành pháp chấp, lại là ngă kiến, há có
phải là Phật tri, Phật kiến ư? Hăy nên suy
nghĩ sâu xa lư này. “Thông đạt” nghĩa là thông hiểu,
thấu suốt, chẳng có chướng ngại! (“thông
đạt” được gọi là “khai”). Trong hết thảy
các pháp, chúng sanh nẩy sanh chướng ngại, chẳng
thể thông đạt là do thiên chấp. Thiên chấp (偏執, chấp lệch về một
khía cạnh nào đó) tức là ngă kiến. Nay khiến cho [hành
nhân] mở mang viên kiến của Phật, hễ viên bèn chẳng
chấp. Khai chánh tri của Phật, hễ chánh th́ chẳng
lệch lạc. V́ thế, muốn khơi mở trí huệ
vô ngă, đạt tới lư thể vô ngă, ắt trước
hết phải thông đạt tri kiến ấy, ngơ hầu
cách nh́n không ǵ chẳng viên, sự hiểu biết không ǵ chẳng
chánh, đó chẳng phải là phương tiện căn bản
ư? Nói chung là chỉ rơ phương cách tấn tu, trước
hết phải nên khai giải, trừ khử thiên chấp
đó thôi!
“Như Lai nói [người
ấy] thật sự gọi là Bồ Tát”, là nói nếu
thông đạt pháp vô ngă, sẽ thông đạt hết thảy
các pháp như một. V́ thế bảo là “Như Lai nói”,
nên bảo “thật sự là”. Nhưng tánh thể không
tịch, há có danh tướng Bồ Tát, nên nói là “thuyết
danh”, khiến cho [người nghe] sẽ biết: Nói “thật
sự là Bồ Tát” cũng là ngôn thuyết giả danh,
cũng chớ nên chấp. Hễ chấp, sẽ chẳng
không tịch, chẳng phải là như một vậy!
Vô ngă pháp cũng có thể
chia ra thành vô ngă và vô pháp, nhưng bất luận là nhân ngă
hay pháp ngă, nói chung là một ngă chấp, nhưng pháp ngă vi tế
hơn nhân ngă. Hễ chẳng có pháp ngă, nhân ngă sẽ tự
chẳng có. V́ thế, chẳng cần hạn cuộc chia
thành hai chuyện để nói!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.
Khai Phật tri kiến
Chia thành hai đoạn:
1) Giảng rơ viên kiến.
2) Giảng rơ chánh tri.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.1.
Giảng rơ viên kiến
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.1.1.
Nói về chẳng chấp nhất
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Như Lai hữu nhục nhăn phủ? Như thị,
Thế Tôn! Như Lai hữu nhục nhăn. Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Như Lai hữu thiên nhăn phủ? Như thị,
Thế Tôn! Như Lai hữu thiên nhăn. Tu Bồ Đề! Ư
ư vân hà? Như Lai hữu huệ nhăn phủ? Như thị,
Thế Tôn! Như Lai hữu huệ nhăn. Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Như Lai hữu pháp nhăn phủ? Như thị,
Thế Tôn! Như Lai hữu pháp nhăn. Tu Bồ Đề! Ư
ư vân hà? Như Lai hữu Phật nhăn phủ? Như thị,
Thế Tôn! Như Lai hữu Phật nhăn.
(經)須菩提!於意云何?如來有肉眼不?如是,世尊!如來有肉眼。須菩提!於意云何?如來有天眼不?如是,世尊!如來有天眼。須菩提!於意云何?如來有慧眼不?如是,世尊!如來有慧眼。須菩提!於意云何?如來有法眼不?如是,世尊!如來有法眼。須菩提!於意云何?如來有佛眼不?如是,世尊!如來有佛眼。
(Kinh: “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Như Lai có nhục nhăn hay không?” “Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Như Lai có nhục nhăn”.
“Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Như Lai có thiên nhăn hay
không?” “Đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Như Lai
có thiên nhăn”. “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Như Lai
có huệ nhăn hay không?” “Đúng như vậy, bạch Thế
Tôn! Như Lai có huệ nhăn”. “Tu Bồ Đề! Ư ông
nghĩ sao? Như Lai có pháp nhăn hay không?” “Đúng như vậy,
bạch Thế Tôn! Như Lai có pháp nhăn”. “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhăn hay không? Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Như Lai có Phật nhăn”).
“Kiến” (見) ở đây
không chỉ hạn cuộc nơi mắt thấy, giống
như nói “kiến địa” vậy. Tri kiến đều
từ lư trí mà ra, vốn chẳng phải là khác Thể (Lư
là lư thể, tức bản tánh. Lư trí là trí sẵn có trong
tánh, nói rơ nó chẳng từ bên ngoài mà đến), chỉ là
dựa theo biểu hiện để nói, nên bảo là Kiến.
Ước theo sự hiểu rơ rệt bên trong mà nói là Tri. V́
thế, chẳng thể cưỡng chia làm hai, nhưng
cũng chẳng thể nói nhất định là một.
Hơn nữa, Tri và Kiến giúp
đỡ lẫn nhau, Tri mà sâu th́ kiến địa sẽ
tự chẳng cạn. Nhưng nếu chẳng phá cựu
kiến, sẽ chẳng thể khơi mở tân tri! V́ thế,
kinh văn trước hết nói Kiến rồi mới nói
đến Tri.
Nay trước hết nói
danh tướng của năm loại mắt, lại nói rơ
chỉ thú của năm loại mắt do đức Phật
đă nói.
1) Nhục nhăn chính là con mắt
sẵn có nơi tấm thân máu thịt. Do thắng nghĩa
tịnh căn[5] nương
vào nhục thể (thân xác) mà có sự chiếu soi, nên gọi
là Nhục Nhăn. Con mắt này thấy hữu hạn, chỉ
có thể thấy “chướng nội chi sắc”[6] (đối ứng với
chướng ngoại mà nói). Thắng nghĩa tịnh
căn là tên gọi khác của thanh tịnh kiến tánh (tánh
Thấy thanh tịnh). “Trông thấy hữu hạn” là
do bị phiền năo ngăn chướng.
2) Thiên nhăn là do nghiệp lực
mà đạt được, như chư thiên trong Dục
Giới do phước nghiệp mà có [thiên nhăn], hoặc có vị
do định lực mà đạt được, như
chư thiên trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới đều
do định lực [mà có thiên nhăn]. Định lực là
nói quán tưởng để tưởng chướng ngoại
cảnh (“chướng ngoại” là nói đối ứng
với “chướng nội” do nhục nhăn trông thấy).
Do quán tưởng thành, nên thấy chướng ngoại sự
(tức là các sự mà nhục nhăn chẳng thể thấy),
nên gọi là Thiên Nhăn, không nhất định phải là
sanh thiên. Dẫu ở trong nhân gian, hễ đạt
được định lực ấy, sẽ có thể
có [thiên nhăn]. Đó là nói theo người chuyên tu môn Định
ấy. Nếu muốn sanh thiên nhăn thuộc Dục Giới
Thiên, phải do tu phước nghiệp để đạt
được. Sanh thiên nhăn thuộc Sắc Giới Thiên trở
lên th́ hoặc là do tu các loại Định khác mà đạt
được, đều là do quả báo mà đạt
được. Phàm phu có thể đạt được
hai loại mắt này. Nếu là huệ nhăn trở lên, chẳng
tu pháp xuất thế gian, sẽ chẳng thể có
được!
3) Huệ nhăn dùng Căn Bản
Trí để chiếu soi lư Chân Không (c̣n gọi
là Chân Đế), Trí chính là Huệ, nên gọi là huệ nhăn.
Căn Bản Trí có rất nhiều tên gọi khác nhau, như Thật Trí, Chân Trí, Chánh Thể Trí, Như
Lư Trí v.v… Do nó có thể sanh khởi Hậu Đắc Trí,
nên gọi là Căn Bản Trí. Sở kiến của thánh hiền
Nhị Thừa đạt tới loại mắt này. Đạt
được loại mắt này th́ cũng đạt
được thiên nhăn, nhưng vượt xa thiên nhăn, có
thể thấy những thứ mà thiên nhăn chẳng thể
thấy, nhưng nó cũng có giới hạn: Chẳng sánh bằng
huệ nhăn của Phật được!
4) Pháp nhăn là dùng Hậu Đắc
Trí để chiếu kiến các sự sai biệt (tức
là Tục Đế), cũng có đủ thứ tên gọi
khác, như Quyền Trí, Tục Trí, Biến Trí, Như Lượng
Trí v.v… Do sau khi đă đắc Căn Bản Trí th́ mới
có thể đắc, nên gọi là Hậu Đắc Trí.
Đạt được trí này, không chỉ chứng lư
Chân Không, thông suốt hết thảy Phật pháp, mà c̣n thông
suốt hết thảy các pháp thế tục, và các sự
tướng sai biệt như nhân nhân quả quả, khởi
tâm động niệm v.v… của hết thảy chúng sanh.
Do vậy, gọi là pháp nhăn, nhưng vẫn chẳng sánh bằng pháp nhăn của Phật. Sở kiến của
Bồ Tát đạt tới loại mắt này. Ba loại mắt
trước đó, Bồ Tát đều có, chẳng cần
phải nói nữa, chỉ là chẳng có Phật nhăn!
5) Phật nhăn là không trí nào chẳng
cùng tột, không chiếu nào chẳng viên, chỉ riêng Phật
có, nên gọi là Phật nhăn. Cổ đức có bài tụng
như sau: “Thiên nhăn thông phi ngại, nhục nhăn ngại
phi thông, pháp nhăn năng quán tục, huệ nhăn liễu chân
không, Phật nhăn như thiên nhật, chiếu dị thể
hoàn đồng” (Thiên nhăn thông vô ngại, nhục nhăn ngại,
chẳng thông, pháp nhăn thấy Tục Đế, huệ nhăn
rơ chân không. Phật nhăn: ngàn mặt trời, chiếu dị
thể đều đồng). “Chiếu dị thể
hoàn đồng” (chiếu kiến các Thể khác biệt vẫn là đồng nhất) nghĩa
là chiếu kiến thù thắng, nên gọi là Phật nhăn. Thật
ra, bản thể của nó chẳng ngoài bốn loại
trước mà riêng có. V́ thế, bốn loại trước
nếu nói theo phía Phật th́ tuy gọi là nhục nhăn,
nhưng thấy vô số thế giới, chẳng giống
như phàm phu có giới hạn, chỉ thấy chướng
nội. Lấy thiên nhăn để nói th́ thiên nhăn của phàm
phu chỉ thấy những ǵ nhục nhăn chẳng trông thấy.
Thiên nhăn của Nhị Thừa chỉ thấy một tam
thiên đại thiên thế giới. Thiên nhăn của Bồ
Tát tuy vượt trội Nhị Thừa, nhưng chẳng
bằng Phật. Chỉ có thiên nhăn của Phật thấy
hằng hà sa sa số cơi Phật. Lấy huệ nhăn để
nói, huệ nhăn của Nhị Thừa chỉ có thể chiếu
kiến Ngă Không. Huệ nhăn của Địa Thượng
Bồ Tát[7] cũng phần
chứng Pháp Không. Huệ nhăn của Phật viên chiếu
Tam Không, thấy thấu suốt chân tánh. Lấy pháp nhăn
để nói, pháp nhăn của Bồ Tát th́ Sở Tri Chướng
chưa tận, trong mỗi địa vị đều có
phần hạn. Chỉ có pháp nhăn của Phật đă hết
sạch Sở Tri Chướng, không pháp nào chẳng biết,
cho nên chẳng có chúng sanh nào chẳng độ! Do vậy,
có thể biết: Hễ nói theo phía Phật, bất quá gọi
là tứ nhăn, là do biểu thị tùy theo cảm
mà ứng; thật ra, chỉ có một Phật nhăn mà thôi! V́
thế, cổ đức nói “tiền tứ tại Phật,
tổng danh Phật nhăn” (bốn loại mắt trước
đó nơi Phật th́ được gọi chung
là Phật nhăn).
Phật nhăn không trí chẳng
nào cùng tột, không chiếu nào chẳng viên. Nói theo Tục
Đế, số các giọt mưa trong trọn khắp
các thế giới nhiều như cát sông Hằng, [Phật
nhăn] đều thấy biết hết. Những thứ
khác có thể suy ra. V́ thế, từ vô thỉ đến tột
cùng bờ mé vị lai, khắp hư không, tận pháp giới,
hết thảy chúng sanh cho đến [những loài] chúng
sanh cực vi tế, chết đây, sanh kia, căn tánh, tộc
loại, cũng như khởi tâm động niệm, nhân
trước, quả sau, các sự tướng cực vi tế
muôn ngàn sai khác, không ǵ chẳng biết trọn, không ǵ chẳng
thấy trọn. Lấy Chân Đế để nói, Thanh
Văn Định nhiều, Huệ ít, cho nên chỉ chiếu
Ngă Không, chẳng thấy Phật tánh. Bồ Tát Huệ nhiều,
Định ít, tuy thấy Phật tánh, mà vẫn chưa hiểu
trọn hết. Bởi lẽ, chứng Phật tánh dùng Huệ
làm nhân, dùng Định làm duyên. Do thân duyên thưa thớt,
nên [Bồ Tát] Định chẳng nhiều
bằng Huệ. Do Định và Huệ chưa cân bằng,
cho nên Bồ Tát chỉ phần chứng Pháp Không, thấy Phật
tánh một phần. Chỉ có Phật và Phật là Định
Huệ cân bằng, kiến tánh rành rẽ như nh́n trái Am
Ma Lặc trong ḷng bàn tay. Trên đây đă giải thích danh
tướng xong.
Đức Phật nói ngũ
nhăn nhằm chỉ điều ǵ? Chính là nhờ vào ngũ
nhăn để nói rơ Phật kiến viên dung. Văn tướng
của khoa này lạ lùng nhất, đột nhiên sanh khởi
rồi đột nhiên chấm dứt. Trần thuật
đơn giản năm loại mắt, ngoài ra chẳng nhắc
tới một chữ, ư nghĩa rất khó lănh hội, ắt
phải đọc ghép chung với khoa trước đó, mới
biết [đức Phật nói ra khoa ngũ nhăn này nhằm]
khiến cho [người nghe] thông đạt Phật kiến.
Chữ Tri trong phần kinh văn tiếp theo chính là khiến
cho người đọc khai Phật tri. Do vậy, cần
phải phán định khoa trước đó là Tổng Tiêu
(nêu chung).
Nêu ra một loại Phật nhăn, liền bao gồm bốn loại
nhăn. Nay đối với lời hỏi dành cho mỗi loại
trong khắp bốn loại nhăn, đều đáp là có,
chính là để chỉ rơ: Đừng chấp vào một
loại thấy nào! Nếu đối với bốn loại
mắt mà đều đáp là “không có”, chỉ riêng đối
với Phật nhăn bèn đáp có, tức là riêng chấp Phật
nhăn, há có phải là viên kiến của Phật ư? Há có phải
là pháp vô ngă ư? Trưởng lăo hiểu sâu xa nghĩa thú,
thông đạt vô ngă pháp; do vậy, chẳng đáp như
thế. Nói theo phía Phật, nhục nhăn, thiên nhăn, huệ
nhăn, pháp nhăn, mỗi mỗi đều thù thắng. Gộp
chung bốn loại nhăn ấy, th́ chính là Phật nhăn. Lại
nêu ra Phật nhăn để hỏi, cũng đáp là có, chính
là để chỉ rơ: Chẳng phải là bốn loại
nhăn mà riêng có Phật nhăn; chẳng phải là ngoài Phật
nhăn mà riêng có bốn loại nhăn. Chẳng phải là ngoài mỗi
loại nhăn, lại riêng có một loại nhăn. Chỉ là thuận
theo cảm mà ứng, cũng chẳng ngại ǵ có từng
loại nhăn! Do vậy, nêu trọn đủ ngũ nhăn, với
dụng ư hiển thị “chẳng một mà là một,
tuy là một mà chẳng một”. Cái Thấy nào cũng
đều viên, không có ǵ gọi là một loại thấy,
hay chẳng phải một loại thấy. Như vậy
th́ nói là “thấy mà chẳng thấy” cũng được,
mà nói là “chẳng thấy mà thấy”, cũng chẳng phải
là không được, cũng tức là nói “chẳng có mà
có, có mà chẳng có” đều được cả! Đấy
là chẳng chấp nhất đến tột cùng. Do vậy,
trong lời đáp đều nói là “như thị”. Sau
đó nói là Có, nhằm chỉ rơ “do thấy đă là
như một, nên hễ có kiến th́ được cả”.
V́ sao vậy? Kiến nào cũng đều Như.
Lời hỏi và lời
đáp đều nói “Như Lai có [loại nhăn ấy]”,
nói chung là để nêu rơ “kiến tánh viên minh” giống
như tấm gương tṛn, Hồ đến, Hồ hiện,
Hán đến, Hán hiện, [gương] chẳng có tâm [phân
biệt]. Đó gọi là “chẳng có mà có, có mà chẳng
có”. Ví như tách một cái ao thành năm cái ao, mỗi ao
đều hiện bóng trăng. Trăng theo ao mà thành
năm, trăng chẳng hề dụng tâm, đó là một
mà chẳng một. Nếu thông năm ao thành một ao, bèn
hiện một vầng trăng. Trăng theo ao mà thành một,
trăng cũng chẳng dụng tâm, [tức là] tuy chẳng một mà là một. Phật
nhăn, ngũ nhăn là như thế đó. Điều này chính là
hiển thị ư nghĩa “hết thảy các pháp vô ngă”.
Bồ Tát hăy nên mở mang cái Thấy như thế, thông
đạt pháp vô ngă như thế. Thế nào là thông đạt?
Chỉ cốt sao chẳng chấp vào cái Thấy của chính ḿnh, chẳng chấp vào bất cứ
cái Thấy nào mà thôi! Làm thế nào để có
thể chẳng chấp? Trước hết, hăy nên đại
khai viên giải, khiến cho kiến địa triệt
để th́ t́nh chấp tự mỏng. Lại c̣n cực
lực trừ khử tập khí, ĺa tướng, ĺa niệm,
chứng đắc các pháp như một, th́ mới là rốt
ráo vậy!
“Ư ư vân hà?” (Ư ông
nghĩ sao?) chính là [câu hỏi] nhằm thăm ḍ kiến
địa như thế nào! Nhất nhất đáp “đúng
như vậy, Như Lai có [loại nhăn] ấy”, đủ
chứng tỏ trưởng lăo đă thông đạt vô ngại
lư “nhất như”. Hễ kinh nói “ư ư vân hà” (ư ông nghĩ sao) đều là từ ngữ
để thăm ḍ kiến địa. Hễ nói “nhược
tác thị niệm” (nghĩ như thế này), “năng
tác thị niệm phủ” (có thể nghĩ như thế
này hay không), “nhữ vật vị tác thị niệm”
(ông đừng nghĩ như thế này) v.v… đều nhằm
phá chấp kiến, khiến cho mở mang viên kiến vậy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.1.2.
Nói rơ “chẳng chấp khác”
(Kinh) Tu Bồ Đề,
ư ư vân hà? Hằng hà trung sở hữu sa, Phật thuyết
thị sa phủ? Như thị, Thế Tôn! Như Lai thuyết
thị sa.
(經)須菩提,於意云何?恆河中所有沙,佛說是沙不?如是,世尊!如來說是沙。
(Kinh: “Tu Bồ Đề,
ư ông nghĩ sao? Tất cả cát trong sông Hằng, đức
Phật là nói là cát hay chăng?” “Đúng như vậy, bạch
Thế Tôn! Như Lai nói là cát”).
Trước chữ “Hằng hà”, trong bản
lưu thông có chữ Như, nhưng cổ bản không có, hăy
nên vâng theo cổ bản. Do có chữ Như th́ nhiều
người tưởng đó là nói thí dụ, bất quá là
nói dẫn khởi phần kinh văn tiếp theo, chẳng
biết đấy là nói lời thật. Trọn chẳng
biết đức Phật nói khoa này, nhằm gộp chung
các khoa trên đây để nói rơ nghĩa khẩn yếu
trong Đại Thừa Phật pháp, [nghĩa khẩn yếu
ấy] chính là viên kiến của đức Phật. Nói “khai
Phật kiến” chính là mở mang điều này. Do hiểu
lầm, đến nỗi nhất loạt gạt phăng.
Sai khác một chữ, chênh lệch vời vợi, thật
đáng than thở vậy!
Hai câu “như thị, Thế
Tôn!” là lời đáp của trưởng lăo. Cát sông Hằng
vi tế nhiều như vi trần. Phần trước
đă nói: “Chư vi trần, Như Lai thuyết phi vi trần,
thị danh vi trần” (đối với các vi trần,
Như Lai nói chẳng phải là vi trần, th́ gọi là vi trần).
Như vậy th́ đối với cát sông Hằng, ắt
Như Lai cũng nói chẳng phải là cát, bèn gọi là cát.
V́ sao vậy? Kinh này trừ khử tướng, c̣n nói “Bát
Nhă chẳng phải là Bát Nhă”, huống hồ là cát! Nay nói
“chẳng phải vậy”, Như Lai nói là cát, nếu chẳng
chấp tướng, th́ thấy tướng sẽ thấy
tánh, lại cần ǵ phải nói “chẳng
phải là cát” ư? Đó là một nghĩa. Hơn nữa, nửa bộ
sau đều nhằm thuyết minh “hết thảy đều
là”, ḥng trừ khử vi tế chấp (tức câu sanh ngă
chấp và câu sanh pháp chấp). V́ thế, tuy cát
lụn vụn, vẫn chẳng nói “chẳng phải”, mà chỉ nói “chính là”. Đấy lại là một
nghĩa nữa. Nhưng đức Phật nói khoa này, chính
là gộp chung với khoa ngũ nhăn trên đây để nói
rơ nghĩa trọng yếu trong Đại Thừa vẫn
chẳng thuộc nơi đây vậy.
Cần phải biết: Ư
nghĩa trong khoa này nhằm hiển thị “Phật nhăn
thấy thấu suốt sự tướng sai biệt của
hết thảy các pháp, chẳng hoại Tục Đế”.
Do thế tục đă nói là cát, Như Lai cũng thuận
theo thói tục mà nói là cát, nhằm nêu rơ: Như Lai chẳng
chấp dị kiến. Trưởng lăo và đức Phật tâm tâm tương ấn, cho nên
đáp là “như thị”. Đă chứng các pháp như
một, lẽ nào nói “chẳng phải”. Do vậy thưa: “Như
Lai nói là cát”.
“Như Lai nói là cát” nhằm
chỉ rơ “nói là cát” th́ chính là do Như Lai nói, tức là dựa
theo nghĩa Như để nói, há có giống như phàm phu
nói ư? V́ sao vậy? Phàm phu nói là cát, bèn chấp đó là thật.
Như Lai nói là cát, chính là chẳng phải cát, [hàm nghĩa]
“tuy chẳng phải mà là phải”. Do chẳng chấp dị
kiến mà nói là cát đó thôi! (Kinh hễ nói “như thị”
đều bao hàm nghĩa này, hăy nên lắng ḷng lănh hội).
Hai khoa “chẳng chấp một”
và “chẳng chấp khác” này hàm nghĩa uyên thâm, vi tế,
cần phải bóc tách theo từng tầng một, v́ nếu
chẳng mở mang cái Thấy ấy, sẽ khó trừ
khử chấp t́nh. Hăy gấp nên tham cứu, khiến cho
thông đạt, muôn phần chớ nên coi lướt qua!
Hăy nên biết nghĩa lư “chẳng
một, chẳng khác” chính là “pháp nào cũng đều
Như”; đấy chính là sở chứng, sở đắc
của Phật. Trong phần trước, khi nói “pháp nào
cũng đều Như” cũng đă rộng nói.
Đă do đức Phật đích thân chứng, đó tức
là viên kiến của Phật. Nhưng đức Phật
đă chứng đắc như thế, là do khi tu nhân, Ngài
đă có thể khai sự viên kiến ấy. Khai viên kiến
ấy th́ có thể tuy thấy mà chẳng lập ra cái Thấy, có thể do chẳng chấp hết thảy các
pháp mà vô ngă, bèn có thể rốt ráo chứng đắc
như thế đó. Do vậy, hết thảy các vị Bồ
Tát khi tu nhân, cũng nên khai như thế. V́ sao vậy? Chẳng
chấp “một, khác” chính là huệ kiếm để
phá trừ ngă kiến.
Hăy nên biết: Ngă kiến khó
trừ, chẳng ngoài hai loại lư do:
1) Thấy lư chẳng rơ ràng.
2) Tự cho là đúng.
Thứ nhất, do chẳng thấy lư rơ ràng mà tự cậy
là đúng. Kế đó, do tự cậy là đúng, càng thấy
lư chẳng rơ! Thứ hai là hai lư do ấy bổ sung cho nhau,
tăng trưởng lẫn nhau; nhưng cái gốc bệnh
duy nhất là thấy lư chẳng rơ đó thôi! Tự cậy
là đúng do chẳng rơ hiểu rơ mà sanh. Chúng giúp lẫn nhau,
tăng trưởng lẫn nhau, che phủ t́nh trạng hậu
khởi. V́ thế, muốn phá ngă, trước hết phải
hiểu lư. Khai viên kiến của Phật chính là hiểu thấu
triệt lư ấy. Trước là nói ngũ nhăn để
nêu rơ “chẳng chấp vào một cái Thấy nào”, tức
là v́ kẻ chẳng thấy rơ lư mà thuyết pháp. Kế đó, nói cát sông Hằng để nêu rơ “chẳng
chấp dị kiến”, nhằm nói với kẻ tự
cho ḿnh là đúng.
“Thấy lư chẳng rơ”
chẳng phải là nói kẻ đó chẳng thấy ǵ hết,
mà chỉ là coi trọng một cách nh́n nào đó là cao, bèn bị
cách nh́n ấy ngăn chướng, vậy là cao mà chẳng
cao! Chẳng hạn như đối với
ngũ nhăn, tự cho Phật nhăn cao nhất, chẳng biết
chính v́ bốn loại nhăn kia, mỗi mỗi đều thù
thắng, cho nên gọi là Phật nhăn. Đấy là lư do
Như Lai chẳng chấp vào một cách nh́n mà trọn đủ năm loại nhăn. Kẻ
chấp vào một cách hiểu biết,
tự cho là
đúng, chẳng phải là kẻ ấy tuyệt đối
chẳng đúng, chỉ là v́ kẻ đó cứ muốn phô
trương riêng ḿnh là đúng, chẳng chịu ḥa đồng
với các ư kiến khác, cho nên tuy là đúng mà chẳng
đúng! Như cát sông Hằng, nói theo tánh cố nhiên là chẳng
phải [rất nhiều], nhưng nói theo tướng, có
bao giờ chẳng đúng là như vậy! Tướng
chính là tướng của tánh, cần ǵ phải phế tướng
để nêu rơ tánh? Đó là lư do Như Lai chẳng chấp
dị kiến, mà nói là cát để người chấp dị
kiến biết. Nói chung, hễ thấy
có cái chấp
trước, sẽ có cái được lập; do vậy,
bèn là một, hoặc khác, chẳng lệch vào bên này, sẽ
lệch sang bên kia! Đó là do chấp ngă xui khiến nên! Nay
dạy “đối với một hoặc khác, đều
chớ nên chấp”, kiến sẽ từ đâu mà lập
được? Tức là ngă cũng bị tiêu mất.
Đó chẳng phải là huệ kiếm để trừ
ngă ư?
Nghĩa “chẳng một,
chẳng khác” là cương tông của Bát Nhă, là yếu
lănh của Phật pháp, có thể xuyên suốt hết thảy các pháp. V́ vậy, kinh dạy người
thông đạt vô ngă pháp th́ trước hết phải
thông đạt điều này. Câu này tách ra sẽ là Bát Bất,
Thập Bất, Thập Nhị Bất, Thập Tứ Bất.
Như Đại Trí Độ Luận viết: “Chẳng
sanh, chẳng diệt, chẳng đoạn, chẳng thường,
chẳng một, chẳng khác, chẳng đi, chẳng
đến, pháp sanh bởi nhân duyên, diệt các hư luận”.
Pháp sanh bởi nhân duyên giống như nói “chư pháp duyên
sanh”, cũng giống như nói nhân quả. Bởi lẽ,
“nhân duyên sanh pháp” chính là các pháp được sanh bởi
nhân duyên. Pháp tức là cái quả được sanh bởi
nhân. V́ thế, nhân duyên sanh pháp nói đơn giản th́ chính là nhân quả! Đó là nói “hết thảy các pháp đều là nhân quả”. Do đó, hết thảy các pháp bất sanh,
bất diệt, chẳng đoạn, chẳng thường,
chẳng một, chẳng khác, chẳng đi, chẳng đến.
Đó c̣n gọi là Bát Bất. Nếu chẳng hiểu
nghĩa Bát Bất, sẽ chẳng hiểu nhân quả, nói
năng đều thành hư luận. Đấy chính là nêu rơ
nghĩa “Bát Bất nhân quả chính là chánh luận, chánh kiến”.
Pháp duyên sanh chính là sanh diệt, sao lại nói là bất sanh,
bất diệt? Chẳng biết “duyên tụ bèn sanh, duyên
tán bèn diệt” là nói theo tướng trạng của các
pháp. Đă thấy sự sanh diệt nơi tướng của
các pháp, đủ chứng tỏ pháp tánh vốn chẳng
sanh diệt. “Chẳng đi, chẳng đến”
cũng là nói theo pháp tánh. Nhân nhân quả quả, vĩnh viễn
chẳng ngưng, cho nên chẳng đoạn. Nhân mà thành quả,
quả lại làm nhân, cho nên chẳng thường! Hết
thảy các pháp mỗi mỗi đều có nhân quả; do vậy
chẳng một. Hết thảy các pháp chẳng ra ngoài nhân
quả, cho nên chẳng khác. Nếu
chuyên dựa theo nhân quả để nêu tỏ nghĩa Bát
Bất, sẽ có thể tạo thành một quyển sách
chuyên biệt; ở đây bất quá nói đại lược
mà thôi!
Trí Độ Luận lại
nói: “Quán hết thảy các pháp chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng tăng,
chẳng giảm, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng
đến, chẳng đi, chẳng một, chẳng khác, chẳng
thường, chẳng đoạn, chẳng có, chẳng
không”. Lời ấy
bao gồm mười bốn món bất. Nếu dùng câu “chẳng
có, chẳng không” để giải thích ư nghĩa của
sáu câu “bất sanh, bất diệt”, sẽ thành mười
hai món Bất. Trung Luận cũng nói đến
Bát Bất như sau: “Chẳng sanh cũng chẳng diệt,
chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng
một cũng chẳng khác, chẳng tới cũng chẳng
xuất, hay nói nhân duyên ấy, khéo diệt các hư luận”.
“Chẳng ra” có nghĩa là “chẳng đi”. Hai bộ
luận ấy (Đại Trí Độ Luận và Trung Luận)
đều do Long Thọ Bồ
Tát soạn để
giảng giải Bát Nhă. Sách Đại Thừa Huyền Luận
của Gia Tường đại sư viết: “Bát Bất là trung tâm của chư Phật, là
hành xứ của chư thánh. Theo chiều dọc xuyên suốt
các kinh, theo chiều ngang thông khắp
các luận”. Trung Luận Sớ lại
viết: “Đó là chỉ quy của chánh quán, là tâm cốt
của Phương Đẳng, xác định thế nào
là lệch lạc hay chánh đáng trong Phật pháp, chỉ
bày cội nguồn được mất. Hễ mê th́ tám vạn
pháp tạng tối om như đi trong đêm. Hễ ngộ,
mười hai bộ kinh như đối trước ban
ngày”. Đúng là do câu nghĩa như thế, mở mang Phật
tri, Phật kiến cho mọi người, dùng đó để
trừ vọng tưởng, so đo hư vọng do chấp
trước từ trước tới nay! Phàm những lời Phật dạy
đều nhằm nói rơ nghĩa này, được gọi
là Đệ Nhất Nghĩa, Thắng Nghĩa, hoặc
Trung Đạo. Nếu chưa thông đạt nghĩa này,
sẽ chẳng hiểu rơ tông chỉ của Phật pháp,
sao có thể viên tu, viên chứng? V́ thế bảo là trung tâm
của chư Phật, là hành xứ của chư thánh, mê
th́ như đi trong đêm, ngộ th́ như thấy ban ngày
vậy!
Thật ra, ngài Long Thọ vốn
dựa theo các kinh như Chư Bổn Nghiệp, Anh Lạc v.v… [để lập ra các món Bất],
nhưng thứ tự khác biệt đôi chút. Kinh [Bổn Nghiệp Anh Lạc] dạy: “Nhị Đế
nghĩa giả, bất nhất diệc bất nhị, bất
thường diệc bất đoạn, bất lai diệc
bất khứ, bất sanh diệc bất diệt”
(Nghĩa Nhị Đế là chẳng một cũng chẳng
hai. Chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng
đến cũng chẳng đi, chẳng sanh cũng chẳng
diệt). “Bất nhị” là chẳng khác! Nhị Đế:
Chân Đế là pháp tánh, Tục Đế là pháp tướng.
Kinh dùng Bát Bất để giảng rơ Nhị Đế, Luận
dùng Bát Bất để giảng duyên sanh. V́ vậy,
nghĩa này bao trùm hết thảy các pháp. Kinh Đại Niết
Bàn nói mười thứ Bất như sau: “Thập
nhị nhân duyên, bất xuất, bất diệt, bất
thường, bất đoạn, phi nhất, phi nhị, bất
lai, bất khứ, phi nhân, phi quả” (Mười hai
nhân duyên chẳng xuất, chẳng diệt, chẳng thường,
chẳng đoạn, chẳng một, chẳng hai, chẳng
đến, chẳng đi, chẳng nhân, chẳng quả). “Bất
xuất, bất diệt” tức là bất sanh, bất diệt.
“Chẳng một, chẳng hai” tức là chẳng một,
chẳng khác.
“Chẳng nhân, chẳng quả”
chẳng phải là nói không có nhân quả. Câu đầu tiên
nói “mười hai nhân duyên”, tức là thập nhị
nhân duyên sanh pháp, chẳng ngoài nghĩa của mười thứ
bất ấy. Nhân duyên sanh pháp chính là nói về nhân quả.
Tức là nói theo nhân quả, hễ nói là nhân th́ đó là cái
quả của cái nhân trước đó. Nói là quả th́
đó cũng là cái nhân của cái quả sau. Điều này
cho thấy nhân quả vô cùng, chớ nên chấp chặt bảo
“nhân nhất định là nhân, quả nhất
định là quả”. V́ thế nói “chẳng
nhân, chẳng quả”. Lại gộp chung tánh và tướng
để nói, dựa theo nhân quả pháp tánh để nói
th́ ngầm là cùng một vị, chẳng thể nói cái nào là
nhân, cái nào là quả. Nhưng nói theo pháp tướng của
nhân quả, th́ sự tướng phân minh, nhân là nhân, quả là quả,
có nhân ắt có quả, có quả ắt có nhân! Ngay trong khi rạch
ṛi, th́ chúng lại ngầm có cùng một vị. V́ sao vậy?
Do tướng chẳng ĺa tánh. Ngay trong khi ngầm có cùng một
vị, th́ lại rành rành phân minh. V́ sao vậy? Do tánh chẳng
ĺa tướng. Đó gọi là “chẳng phải nhân, chẳng
phải quả”. Do vậy, gộp chung với câu đầu
để giảng rơ nghĩa. Đấy là lư do kinh này nói “tức
phi”, lại nói “thị danh”. Do vậy, chớ nên giữ
lấy pháp, mà cũng chớ nên giữ lấy phi pháp, Không
lẫn Hữu đều chớ nên chấp. Đó là lư do
Trung Luận nói: “Pháp được sanh bởi nhân duyên,
ta nói chính là Không, cũng gọi là giả danh, cũng gọi
là Trung Đạo”. Tức là nói muốn biết “hết thảy các pháp chẳng ra ngoài nhân quả”, hăy nên hiểu nghĩa “Không chính là Giả, Giả chính là Không”. Nếu chẳng hiểu “Không
chính là Giả”, ắt đọa vào Đoạn Kiến,
muôn sự đều quy vào đoạn diệt, liền
thành bài bác “chẳng có nhân quả”. Nếu chẳng hiểu
rơ “Giả chính là Không”, lại đọa vào Thường
Kiến, muôn sự đều coi như cố định,
cũng trở thành “bài bác chẳng có nhân quả”. Cần phải
biết: Tuy nói Không, nói Giả, thật sự Không và Giả
chẳng một, chẳng khác. Hiểu được
nghĩa này, sẽ là Trung Đạo. Chẳng phải là
ngoài Không và Giả mà riêng có Trung Đạo. Không chính là pháp
tánh, tức Chân Đế. Giả chính là pháp tướng, tức
Tục Đế. Khoa ngũ nhăn này chính là để nói về
pháp tánh nơi Chân Đế. Pháp tánh vốn sẵn như như mà “đều là”, sao lại chấp
một? Khoa “cát sông Hằng” nói về pháp tướng
nơi Tục Đế. Pháp tướng vốn sẵn tùy duyên mà vô định, sao lại chấp
là khác? Bát Bất, Thập Bất, Thập Nhị Bất
v.v… chỉ là tách ra hay gộp vào khác nhau. Nếu tách ra cặn
kẽ, có thể đến vô lượng câu! Nếu càng
giản ước hơn trong những cách giản ước
th́ “chẳng một, chẳng khác” đă thâu nhiếp hết
thảy. V́ vậy, khai Phật viên kiến ở đây chỉ
dựa theo “chẳng một, chẳng khác” để
giải thích ư nghĩa.
Nay lại nói đại
lược nghĩa Bát Bất, v́ nó xuyên suốt lư trong hết
thảy các kinh luận. Hăy nên biết: Pháp do đức Phật
đă nói, không ǵ chẳng ngoài Chân Tục Nhị Đế.
Pháp tướng thuộc Tục Đế, tuy biến hóa
vô thường, nhưng do thế tục đều cùng
trông thấy, nên gọi là Tục. Pháp tánh Chân Đế
thường hằng, bất biến, nhưng là bản thể
của các pháp, nên gọi là Chân. Đức Phật nói Nhị
Đế, đều dùng nghĩa Bát Bất để giảng
rơ. Gọi là Đế (諦), nhằm nói rơ sự lư ấy
xác thực chẳng hư dối. Sở dĩ hết thảy
chúng sanh luân hồi sanh tử trong nẻo khổ vô biên, chẳng
có ǵ khác, do mê nơi nghĩa Bát Bất trong Tục Đế.
Hết thảy Thanh Văn cho tới Quyền vị Bồ
Tát, sở dĩ có Biến Dịch sanh tử, vô minh chưa
tận, chẳng có chi khác, do mê nơi nghĩa Bát Bất thuộc
Chân Đế. Nói chung, chỉ do đối với
Bát Bất Nghĩa Đế ấy, mê có cạn hay sâu, ngộ có cao hay thấp; v́ thế, có lục
đạo lăng xăng, tam thừa sai khác. Đức Phật
v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong
cơi đời, chính là v́ khiến cho chúng sanh hiểu rơ hai thứ
sanh tử. V́ thế, Ngài nói đủ loại pháp để
khai thị, khiến cho họ ngộ nhập mà thôi!
Nhưng đủ loại pháp, chẳng ngoài nghĩa Bát Bất
thuộc Chân Tục Nhị Đế. V́ vậy, ư nghĩa này
xuyên suốt hết thảy kinh luận.
Chữ Bất có hai nghĩa:
1) Nghĩa Phá, tức phá chấp đối với hết
thảy các tướng.
2) Nghĩa Diệt Mất, tức diệt tướng
để hiển tánh.
Nhưng Phá có hai nghĩa, không chỉ phá chấp Hữu,
mà c̣n phá chấp Không. Diệt Mất cũng có hai nghĩa:
Không chỉ diệt mất tướng để hiển
tánh, mà lại c̣n diệt tánh để hiển tướng
khiến cho viên dung.
Nay thử nêu lên câu “bất
sanh, bất diệt” để nói cương yếu, lại
c̣n do câu “chẳng một, chẳng khác” xuyên suốt.
Trước là xét theo Tục Đế để nói,
người trong thế tục, chẳng ai không chấp rằng
“thật sanh, thật diệt”. Đức Phật bảo
“đều là chẳng thật, chỉ do
nhân duyên tụ hợp, giả hiện tướng sanh. Khi
nhân duyên ĺa tan, giả hiện tướng diệt mà thôi!
Tánh của ông có bao giờ sanh diệt? Chỉ do chấp
tướng mà mê muội tánh, cho nên ông có nỗi khổ sanh tử luân hồi!” Đấy là xét theo Tục
Đế để hiển thị Trung Đạo. Trung
Đạo đă được hiển lộ, sẽ chẳng
phải là Tục Đế, mà là Chân Đế. Do vậy,
đối trị bệnh chấp Hữu.
Lại nói theo Chân Đế.
Thánh hiền Nhị Thừa, quyền vị Bồ Tát lại
chấp chẳng sanh, chẳng diệt. Đức Phật
bảo “chẳng sanh, chẳng diệt” để đối trị chấp
trước tướng sanh diệt của phàm phu, há có nên
trừ khử một chấp, lại nẩy sanh một chấp
khác? Cần phải biết: Tánh, tướng chẳng hai,
Không Hữu đồng thời. Có chính là Không, cho nên sanh diệt
trong Tục Đế là giả sanh, giả diệt. Không tức
là Có, do vậy bất sanh bất diệt trong Chân Đế
cũng là giả bất sanh, giả bất diệt. Ông
đă thấy tánh, vừa khéo khi hiện tướng bèn tùy
duyên độ sanh. Hơn nữa, tánh vốn chẳng ĺa
tướng, chỉ v́ chấp tánh mà chán ghét tướng;
do vậy, ông có nỗi khổ Biến Dịch sanh tử.
Đó là xét theo Chân Đế để hiển thị Trung
Đạo. Trung Đạo hiển lộ, chính là tối
thượng thừa, là nhất Phật thừa. Đó là
đối trị bệnh chấp Không.
Do “chẳng một, chẳng
khác” xuyên suốt, nên Tục Đế chấp sanh diệt,
tức là sanh và diệt chẳng một. Chẳng chấp
mà bất sanh bất diệt, th́ sanh và diệt chẳng
khác. Chân Đế chấp bất sanh bất diệt th́ bất
sanh bất diệt và sanh diệt sẽ chẳng phải là một. Không chấp mà tánh tướng chẳng
hai, Không Hữu đồng thời, th́ sanh diệt và bất
sanh bất diệt chẳng khác. Đă là Không Hữu đồng
thời, khi bất sanh bất diệt, sẽ chẳng ngại
hiện sanh diệt. Tuy hiện sanh diệt, vẫn là bất
sanh, bất diệt. Đó gọi là “chẳng trụ sanh
tử, chẳng trụ Niết Bàn”, tức là một và
khác đều chẳng thể nói! Ngay cả danh xưng “chẳng một, chẳng
khác” đều diệt mất.
Do vậy mà xem, có thể biết: Hết thảy đều
chẳng thể chấp, mà cũng chớ nên chấp. V́ thế,
các câu Bát Bất là diệu nghĩa để tiêu trừ chấp
kiến, mà nghĩa “chẳng một, chẳng khác” có
thể xuyên suốt các câu!
Ư nghĩa của các câu này
đều nhằm hiển thị “pháp nào cũng đều
là Như”. “Pháp nào cũng đều là Như” chính Trung
Đạo viên dung Đệ Nhất Nghĩa. V́ thế, các
câu Bát Bất cũng là Trung Đạo viên dung Đệ Nhất
Nghĩa, nhưng pháp vị bất đồng! V́ sao nói vậy?
“Pháp nào cũng đều là Như” là viên hiển,
được gọi là “biểu thuyên” (表詮, cách nói biểu thị).
Hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm do nương theo nghĩa này mà kiến
lập. Nghĩa lư của các câu Bát Bất là cương
tông của Bát Nhă, nhằm hiển lộ sự trừ khử.
Đó là gọi Giá Thuyên (遮詮, nói theo cách ngăn chặn,
hoặc phủ định). Tam Luận Tông nương theo
nghĩa này mà kiến lập. Thiền Tông cũng đề
cao sự “trừ sạch” của Bát Nhă, nhưng chẳng
nói đến giáo nghĩa. Cần phải biết: Ắt
là trước hết phải trừ sạch th́ mới hiển
lộ viên dung. Như trong kinh này, ắt phải là sau khi
đă ĺa tướng, ĺa niệm, th́ mới nói “pháp nào
cũng đều Như”, mới có thể thấy ư chỉ
của Phật. V́ sao vậy? Chấp kiến chưa trừ
khử, há có thể viên dung ư? Lại c̣n chấp vào viên
dung, cũng chẳng phải là viên dung. Do vậy, Khởi
Tín Luận nói “Bất Không cần phải từ Không mà
ra”. Kiến lập viên tông mà nói viên nghĩa, hoàn toàn chẳng
phải là không nói nghĩa “trừ sạch”, nhưng
nói “trừ sạch”, cũng kèm thêm ư vị viên dung.
Đề cao sự “trừ sạch” như Tam Luận
Tông v.v… cũng chẳng phải là không nói nghĩa viên dung,
nhưng nói viên dung cũng kèm thêm ư vị trừ sạch. V́
thế, cách nói này như đao bén, búa sắc, chẳng cứng
chắc nào không đập tan! Đọc [câu này] như nước lạnh giội vào
lưng, khiến người ta tỉnh ngộ sâu xa, cảm
khái giáo nghĩa Bát Nhă chẳng được tỏ rơ trong
cơi đời! Ngay như Trí Độ Luận, các sách của
Tam Luận Tông, trước nay hiếm ai hỏi đến!
V́ thế, từ thời Tùy - Đường đến
nay, chỉ có Thiền môn xuất hiện nhiều người
nhất. Do đó, điều này đáng nên suy nghĩ sâu xa.
Cần phải biết: Người học nếu chẳng
gắng sức dụng công nơi “trừ sạch”, chỉ
ghi nhớ, tụng làu làu vô số viên nghĩa, sao có thể
phá t́nh chấp ấy? Chẳng trừ khử t́nh chấp,
sao có thể đạt tới viên dung? Kinh này nói: “Hết
thảy chư Phật và pháp A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề của chư Phật đều từ
kinh này mà ra”, chính v́ chỉ bày Bát Nhă là môn trọng yếu
để nhập Phật, là bậc thang để thành
thánh. Chuyện này liên quan đến sự thịnh suy của
pháp môn, quan hệ với sự thành bại
của người học, tột bậc trọng đại!
V́ thế, Bất Giác tôi một lần nữa thống thiết
thưa bày!
Tam Luận Tông đă đề
cao Bát Nhă; do đó, người học Bát Nhă chẳng thể
không có tâm nghiên cứu sách vở của Tam Luận. Dẫu
chẳng thể đọc trọn hết, phải đọc
một, hai loại để nếm pháp vị, ngơ hầu
dễ lănh hội ư chỉ chánh yếu trong Bát Nhă. Như các
bộ Đại Trí Độ Luận, Đại Thừa
Huyền Luận[8],
Trung Luận Sớ[9]
v.v… đủ để phá sự cố chấp của con
người tốt nhất, mở mang cửa ngộ cho
con người. Những nghĩa đă sâu thẳm, văn lại
uyên áo, chỉ có cách đọc kỹ, lắng ḷng lănh hội
để tham cứu. Tuy vậy, nếu bảo “do tham cứu các sách được nêu trên đây, sẽ
đối với nghĩa thú Bát Nhă không ǵ chẳng hiểu
rơ”, lại sai mất rồi! Hăy nên biết: Các nghĩa thuộc
Bát Bất bất quá là cương tông của Bát Nhă. Đối
với chỗ khúc chiết, sâu xa, vi tế tột cùng của
Bát Nhă, nếu chẳng dốc sức nơi “ĺa tướng,
ĺa niệm, chân thật tham cứu”, sao có thể hiểu
rơ cho được? Lư này lại chẳng thể không biết!
Bởi lẽ, đại cương th́ chẳng khác,
nhưng vi tế chẳng một! Không chỉ là như vậy,
ngay như Bát Nhă được nói trong tám hội trước
và bảy hội sau, đem so với kinh này, cũng lại
giống như thế. Cương tông đại chỉ
th́ đây kia không khác, nhưng nghĩa vị vi diệu
đôi đằng chẳng phải là một! Do vậy, mỗi
bộ kinh có tông chỉ, có cách nói riêng của bộ kinh ấy,
há có thể một thông liền thông toàn bộ!
Hăy nên biết: Đức Phật nói ra cảnh giới
của Phật, tức là Thật Tướng của các
pháp, chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu
hiểu rốt ráo, chư đại Bồ Tát c̣n chưa hiểu
rốt ráo, huống hồ phàm phu! Do đó, trong hội
Hoa Nghiêm, Thiện Tài tham học với năm mươi ba
vị thiện tri thức, đều nói “con chỉ biết
pháp môn này, các pháp khác chẳng biết”, chính là lời thật,
trọn chẳng phải là lời lẽ khiêm cung! V́ vậy,
cổ đức như các vị Trí Giả, Gia Tường,
Hiền Thủ b́nh sanh chỉ hoằng dương mấy
loại kinh luận, v́ học lực chỉ có thể làm
như thế. Đấy chính là chỗ cao sâu, chân thật
của cổ đức, hậu học hăy nên noi bước
theo. Không chỉ các cú nghĩa Bát Bất trong Tam Luận chỉ
có thể nói rơ cương yếu của Bát Nhă; chỉ thú
vi tế vẫn phải do người học tự lănh hội!
Dẫu cho nay có một người đem nghĩa thú của
kinh này viết sách, lập thuyết, mỗi mỗi đều
tuyên nói, trần thuật, nhưng có được sách ấy,
bất quá có thêm một trợ lực mà thôi, vẫn phải
là do học nhân tự lănh hội! V́ sao vậy? Dẫu
người ấy đă thành Bồ Tát, nhưng đối với cảnh giới của Phật, trọn chẳng thể [thấu hiểu] rốt ráo. Dẫu
đốn ngộ giống như Phật, có thể triệt
để tuyên dương, nhưng người đọc
sách nếu vẫn chưa trừ chướng, vẫn chẳng
thể triệt để lănh hội! Vẫn cần phải
hướng theo chỗ “ĺa tướng, ĺa niệm” để chân tham thật cứu, sau đó
mới có thể khế nhập. Ngay như hai khoa “chẳng
chấp một, chấp khác” này, sau khi đă nghe, ắt phải dùng pháp ấn này
hướng về hết thảy các pháp để vi mật
ấn chứng, lại c̣n phải dùng pháp ấn này để
ấn chứng nơi tự tâm, ấn chứng ngay lúc
chưa khởi tâm động niệm. Như thế th́ mới
mong có thể thông đạt! Nếu chỉ nghe nghĩa lư
trong hai khoa này rồi hiểu rơ, th́ chỉ có thể nói là “đă hiểu rơ”, chẳng thể nói là thông
đạt được! Càng chẳng thể không biết
lư này! “Thông đạt” là thông hiểu, thấu suốt,
chẳng có mảy may chướng ngại! V́ thế, nếu
trong tự tâm, đối với các pháp mà hành có chút chướng
ngại, sẽ chẳng phải là thông đạt! Phần
sau nói đến chánh tri, chính là nêu ra một khuôn mẫu
để người học tuân theo, ḥng đối với
kiến địa “chẳng một, chẳng khác”,
hướng tới chỗ tâm hành và các pháp, sẽ
hiểu rơ nguyên do, ḥng cầu thông đạt vô ngă vậy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.
Nói về chánh tri
Chia làm hai phần:
1) Nêu rơ tâm hạnh chẳng thể được.
2) Các pháp duyên sanh.
Tâm hạnh là hành động
trong tâm, tức là khởi tâm động
niệm. “Chư
pháp” tức là ngoại cảnh. Xét theo nội tâm và ngoại
cảnh để nói rơ chánh tri, với dụng ư khiến
cho [người học] biết nghĩa “chẳng có cảnh,
chỉ là thức; ngoài tâm chẳng có pháp”. Do ngoài tâm chẳng
có pháp, nên pháp nào cũng chẳng ngoài một Chân Như.
Nhưng chúng sanh ngoài th́ bị cảnh tướng làm mê,
trong th́ bị tâm niệm quấy nhiễu, không thể chứng
đắc. Do vậy, Bát Nhă dạy ĺa tướng, ĺa niệm.
“Phả đắc” (叵得) là chẳng thể
được! Tánh thể không tịch, vốn chẳng có
niệm, cho nên nói là “chẳng thể được”.
Các pháp không ǵ chẳng phải là duyên hội tụ bèn giả
hiện tướng sanh, vốn vô sanh, thường nói là “đương
thể tức Không” (bản thể là Không). Do vậy,
xét theo tâm hạnh và các pháp để nói th́ chẳng một,
nhưng nếu xét theo phương diện “chẳng thể
được” và “duyên sanh” th́ là chẳng khác! “Chẳng một, chẳng khác” là nghĩa Như của các pháp, hăy nên biết
như thế! Biết như thế bèn gọi là chánh tri,
do nó nương vào sự chứng tri Vô Thượng Chánh
Đẳng Giác để biết. Biết điều này,
sẽ biết nguyên do phải nên ĺa niệm, ĺa tướng.
Ĺa tướng, ĺa niệm chính v́ vô ngă vậy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.1.
Nói rơ “tâm hạnh chẳng
thể được”
Chia thành ba đoạn:
1) Nêu thí dụ về số nhiều để [người
nghe] hiểu rơ.
2) Giải thích nhằm chỉ rơ “chẳng phải tâm”.
3) Kết lại ư “chẳng thể được”.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.1.1.
Nêu thí dụ về số nhiều để [người
nghe] hiểu rơ
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.1.1.1.
Dẫn thí dụ
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Như nhất Hằng hà trung sở hữu sa,
hữu như thị đẳng Hằng hà, thị chư
Hằng hà sở hữu sa số Phật thế giới
như thị, ninh vi đa phủ? Thậm đa, Thế
Tôn!
(經)須菩提!於意云何?如一恆河中所有沙,有如是等恆河,是諸恆河所有沙數佛世界如是,寧為多不?甚多,世尊!
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Như [số lượng của] tất cả
cát trong một sông Hằng, có các sông Hằng [nhiều]
như số ấy, các thế giới chư Phật số
lượng như tất cả cát trong các con sông Hằng
như thế ấy, há có phải là nhiều chăng? Bạch
Thế Tôn, rất nhiều).
Trước “hữu như thị đẳng”,
trong bản lưu thông có chữ Sa, cổ bản không có, v́
có thể tỉnh lược. Sắp nói về chánh tri, bèn
tiếp nối ngay ư “cát sông Hằng” trong phần viên
kiến để làm đầu mối dẫn khởi, với
dụng ư nêu rơ: Các nghĩa sẽ được nói tiếp
theo đây chẳng phải là phàm t́nh tục kiến chấp
một hay khác mà ḥng hiểu rơ được! Ắt
trước hết phải khai viên kiến, chẳng chấp
một hay khác, th́ mới có thể khai chánh tri ấy. Lại
c̣n nhằm nêu rơ: Đối với những điều sẽ
nói sau đây, đều nên dùng nghĩa “chẳng một,
chẳng khác” để dung thông! Do sắp nói về vọng
tâm của chúng sanh và các pháp, ắt phải giả lập
thí dụ, dùng cát để sánh ví sông, lại dùng cát
trong sông để nói, với dụng ư nêu rơ vọng tâm và hết
thảy các pháp, vạch ra từng tầng lớp chẳng
cùng tận, ḥng dẫn dắt sánh ví “nhiều chẳng
thể tính đếm!” Lại c̣n nhằm nêu rơ
pháp tướng của vọng tâm như huyễn, như
hóa, không ǵ chẳng phải là giả hữu. Đấy
đều là những lời chỉ bảo thân thiết. Nếu
coi đó giống như những lời lẽ thừa
thăi, chẳng liên can, sẽ là cô phụ kinh văn vậy!
Vừa mở đầu, liền
nói “ư ư vân hà” (ư ông nghĩ sao), là do sắp khai chánh
tri, cho nên trước hết thăm ḍ kiến địa
[của người nghe]. Ư này xuyên suốt tới “bất
khả đắc” (chẳng thể được)
[trong đoạn chánh kinh thuộc phần sau], chẳng phải
chỉ là hỏi ḍ “nhiều hay không?” “Như” là từ
ngữ nêu rơ [điều sắp được
nói trong đoạn này là] thí dụ. Tất cả cát trong một sông
Hằng đă là vô số chẳng thể tính đếm. “Như
thị đẳng” chỉ vô số cát. Tức là giả
sử có các sông Hằng nhiều bằng số lượng
của tất cả cát trong một sông Hằng, giống
như nói “vô số sông Hằng”. “Thị chư Hằng
hà” (các sông Hằng ấy) là nói vô số sông Hằng trong
câu trước đó. Nói “tất cả cát trong vô số
sông Hằng”, số ấy có thể tính lường
được ư? “Phật thế giới” tức
là một đại thiên thế giới. Mỗi đại
thiên thế giới là khu vực giáo hóa của một vị
Phật, cho nên nói là “Phật thế giới”. “Như
thị” chỉ “vô lượng được nói trong câu trước, tức
là vô lượng thế giới. “Ninh vi đa phủ”
chính là hỏi có thể coi [số lượng ấy] là nhiều
hay không? Câu “thậm đa, Thế Tôn” (bạch Thế
Tôn, rất nhiều) là lời đáp của trưởng
lăo. Khoa này chỉ lập thí dụ nhằm dẫn khởi
phần kinh văn tiếp theo. Dùng số cát nhiều vô
lượng để sánh ví nhiều thế giới, đều
nhằm hiển thị cái tâm của chúng sanh rất nhiều,
nhưng Như Lai đều biết trọn.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.1.1.2.
Đều biết
(Kinh) Phật cáo Tu Bồ
Đề: - Nhĩ sở quốc độ trung, sở hữu
chúng sanh, nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri.
(經)佛告須菩提:爾所國土中,所有眾生,若干種心,如來悉知。
(Kinh: Đức Phật
bảo ngài Tu Bồ Đề: - Bao nhiêu loại tâm của
tất cả chúng sanh trong ngần ấy quốc độ,
Như Lai đều biết).
Trong kinh, hễ nêu ra câu “Phật cáo” đều là
từ ngữ trịnh trọng khiến cho người
đọc kinh sẽ [sanh tâm] trịnh trọng đối
với những lời lẽ theo ngay sau đó. “Nhĩ sở”
là “ngần ấy”, chỉ “vô lượng”
được nói trong câu trước đó. “Vô lượng
quốc độ” giống như nói “vô lượng
thế giới”, nhưng “thế giới” là danh
xưng chung, c̣n “quốc độ” là biệt danh. Nay
sắp nói tới chúng sanh, nên đổi sang nói là “quốc
độ”, chẳng nói “thế giới”, v́ sao vậy?
Nêu ra biệt danh “quốc độ”, nhằm chỉ
rơ chúng sanh có đủ loại sai biệt. Đó gọi là “mười
phương sát độ, tất cả chúng sanh, đủ
loại sai biệt”. Bởi lẽ, bất luận chúng
sanh có tộc loại, sắc thân v.v... sai biệt như thế
nào, lớn như chư thiên, nhỏ như dế, kiến,
tâm của chúng không ǵ chẳng biết!
Khoa trước không chỉ
nói thế giới, mà nói là “Phật thế giới”
cũng chứa đựng ư chỉ sâu xa. Hăy nên biết:
Thế giới được duy tŕ chẳng hoại, cố
nhiên là do nghiệp lực của chúng sanh, nhưng nếu
chẳng cậy vào sức oai thần từ bi của Phật
nhiếp tŕ, do sự ác trược nơi nghiệp lực
của chúng sanh [ảnh hưởng], đă sớm chẳng
biết trở thành trạng huống khó kham như thế
nào? Hết thảy chúng sanh đều được
hưởng ơn Phật mà chẳng tự biết. Ví
như các loài động vật, thực vật được
bay, lặn sanh thành, hoàn toàn do được ánh nắng mặt
trời ban ơn mà chẳng hay biết. Tục ngữ có
câu: “Lôi đ́nh vũ lộ tổng thiên ân” (sấm
sét, mưa, sương, toàn ơn trời). Trời có ân, thật
sự là do Phật ban ân. Thử xem những điều nói
trong các kinh Đại Thừa, [sẽ thấy] Phạm
Vương, Đế Thích cho đến nhật, nguyệt
thiên tử, hết thảy chư thần, đều đối
trước Phật phát nguyện hộ tŕ chúng sanh. V́ thế
biết: Thế giới được chấp tŕ, thật
ra nhờ vào sức oai thần từ bi của Phật ân.
Nói chung, mỗi chữ, mỗi câu, mỗi danh từ, mỗi
danh xưng trong kinh này, đều chứa đựng diệu
nghĩa, chẳng thể coi thường. Thế giới
quốc độ đă nhiều vô lượng, th́ chúng
sanh trong ấy, số lượng lại càng chẳng thể
nói, huống hồ tâm của chúng sanh ư? Đó gọi là
bất khả thuyết bất khả thuyết vậy! V́
sao vậy? Do tâm chúng sanh niệm niệm chẳng ngừng.
Dẫu lấy một chúng sanh để nói, tâm người
ấy đă nhiều há có số lượng? Huống hồ
tâm của bất khả thuyết chúng sanh ư? V́ thế,
dùng từ ngữ “nhược can chủng” (ngần ấy
loại) để khái quát. “Nhược can chủng”
nghĩa là sai biệt rất nhiều, chẳng có con số để có thể
nói được! Khoa trước do một sông Hằng mà
nói đến vô số cát trong ấy, lại do vô lượng
cát mà nói vô lượng sông Hằng. Do vô số sông Hằng
mà nói tới vô lượng cát trong ấy. Lại do vô
lượng cát mà nói vô lượng thế giới. Khoa này
lại do vô lượng thế giới, mà nói bất khả
thuyết chúng sanh trong ấy. Sau đó, do bất khả
thuyết chúng sanh, nói tới bất khả thuyết bất
khả thuyết tâm. Do lần lượt nói theo từng tầng
lớp như vậy để hiển thị nghĩa “chẳng
một”, nhằm dẫn khởi ư nghĩa “chẳng
khác” trong phần kinh văn sau đó. Lại c̣n dẫn
khởi nghĩa “Như Lai đều biết”. Đối
với chuyện “chẳng một” mà đều biết
trọn cả, há chẳng phải là đối với tri
kiến sai biệt, sẽ đều có thể biết
trọn ư? Đức Thế Tôn dùng nghĩa Như để
biết, cho nên nói là “Như Lai tất tri” (Như Lai
đều biết). Nghĩa này tương ứng với “Như
Lai thuyết” trong phần tiếp theo. Nói chung, nhằm dạy
Bồ Tát phải nên biết như thế. Như Lai đều
biết như thế nào? Trong khoa sau, từ chữ “hà
dĩ cố” trở đi chính là để nói rơ
nghĩa này. Tâm chúng sanh rốt cuộc là như thế nào,
trong khoa từ “sở dĩ giả hà” trở đi
chính là phần nói rơ nghĩa ấy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.1.2.
Giải thích rơ “chẳng phải là tâm”
(Kinh) Hà dĩ cố?
Như Lai thuyết chư tâm giai vi phi tâm, thị danh vi tâm.
(經)何以故?如來說諸心皆為非心,是名為心。
(Kinh: V́ sao vậy?
Như Lai nói các tâm đều chẳng phải là tâm, bèn gọi
là tâm).
“Chư tâm” chỉ “nhược can chủng tâm” (ngần
ấy loại tâm) được nói trong phần trên. Câu “phi
tâm” là nói theo tánh, ngầm chỉ [các tâm vừa nói đó] chẳng phải là chân tâm. Chân tâm là tánh. Nói
“thị danh” là nói theo tướng, tức là đối
với các tâm như thế, đặc
biệt giả gọi là Tâm đó thôi, ngầm chỉ
đó là vọng tâm. Vọng tâm tức là cái tâm “thiên
lưu” (遷流, đổi dời) được nói trong
phần kinh văn sau đó. Hễ đổi dời liền
có tướng, cho nên bảo là “thị danh”. “Danh” là
danh tướng. Ở đây, chớ nên nói rạch ṛi chân,
vọng, chỉ nói chung chung. Do là vọng, chẳng chân,
trong khoa sau mới nêu rơ nguyên do. Nếu nói toạc
ra ở đây, khoa sau sẽ trở thành phần văn tự
thừa thăi.
“Hà dĩ cố” là lời tự hỏi. Hỏi: Các thứ
tâm của ngần ấy chúng sanh, v́ sao Như Lai đều
biết? Từ “Như Lai thuyết” trở đi, là tự
đáp. Đáp rằng: Tuy nói “ngần ấy loại”,
nhưng Như Lai biết, thật ra có thể khái quát thành
một loại, tức đều là phi tâm, chỉ giả
danh gọi là tâm đấy thôi! Nh́n bề ngoài, kinh văn
dường như chỉ nói rơ Như Lai đều có thể
biết, hoàn toàn chưa nói rơ nguyên do v́ sao có thể biết
trọn hết. Thật ra, nguyên do biết trọn hết
đă ngầm hiện trong ấy. Nguyên do ở chỗ nào vậy?
Nơi hai chữ Như Lai! Bởi lẽ, Như Lai chính là “nghĩa Như của các pháp”. “Như” là Chân Như. Chân Như là tánh
đồng thể. Đă chứng tánh đồng thể,
liền thành Đại Viên Kính Trí. Do vậy, hết thảy
chúng sanh khởi tâm động niệm, trong tấm
gương nơi tâm của đức Phật đều
rành rẽ phân minh. Hơn nữa, tâm Phật vô niệm, cho
nên biết: Hễ động niệm th́
đều chẳng phải là tâm! Đó là nguyên do v́ sao
đều biết. Khoa trước nói “Như Lai đều
biết”, khoa này nói “Như Lai nói”, chính là để
chỉ rơ: Nương theo nghĩa Như mà biết,
nương theo nghĩa Như mà nói!
Xưa kia, vào thời Đường Đại Tông, có
một vị tỳ-kheo từ phương Tây đến,
mọi người gọi ông ta là Đại Nhĩ Tam Tạng,
tự nói có Tha Tâm Thông. Đại Tông thỉnh Nam
Dương Trung quốc sư (là một vị đại
đức của Thiền Tông, tức ngài Nam Dương
Huệ Trung) thử ông ta. Ngồi một lát, Sư hỏi:
“Lăo tăng nay ở chỗ nào?” Đáp: “Ở Tây Xuyên xem
đua thuyền”. Chốc sau, Sư lại hỏi, đáp rằng:
“Ở cầu Thiên Tân xem khỉ nhảy nhót”. Sư im lặng
một lát, lại hỏi, ông ta liền chẳng biết.
Sư quở rằng: “Tha Tâm Thông ở chỗ nào? Tha Tâm
Thông là biết chuyện trong tâm người khác!” Trung quốc
sư thoạt đầu cố ư khởi niệm, chợt
tại Tây Xuyên, chợt tại trên cầu để thử.
Cho tới sau đó, tâm Ngài vắng lặng, tức là chẳng
khởi niệm. Niệm đă chẳng khởi, ông ta
(Đại Nhĩ Tam Tạng) chẳng có cách nào biết
được! Lấy chuyện này làm chứng, Như Lai
đều biết, cần ǵ phải nói nữa!
Cần phải biết: Tâm niệm phàm phu th́ dẫu quỷ
thần cũng biết! Đó gọi là “tâm vừa chớm
động, thần đă sớm biết”. Nếu là ư
niệm vi tế, chỉ có Bồ Tát và La Hán mới có thể
biết, c̣n Phật th́ không ǵ chẳng biết! Đối
với lời quở trách của Trung quốc sư, nếu
kẻ chẳng hiểu ư, sẽ cho rằng Ngài chẳng tin
Tha Tâm Thông, chẳng phải vậy! Ư quở trách, không ngoài
hai loại. Hăy nên biết: Chớ nên chấp thần thông.
Hễ chấp, sẽ dễ dăi vận dụng, gây hại,
nặng th́ bị ma dựa, phát cuồng. Đó là dùng Lư
để nói. Đệ tử của Trung quốc sư rất
đông, Đại Tông cũng là đệ tử của
Ngài. Khoe kỳ, chuộng lạ là thói thường của
con người. Nếu đại chúng coi trọng loại
chuyện này, đă đủ gây chướng cho sự tu
hành, lại sợ c̣n gây hại cho pháp môn. Nay dùng chuyện
này để nói, th́ vị Đại Nhĩ Tam Tạng ấy
thần thông ắt chẳng cao. Nếu cao th́ khởi niệm
vi tế cũng có thể biết. Dẫu chẳng khởi
niệm, cũng có thể biết Ngài chẳng khởi niệm,
đâu đến nỗi khi Trung quốc sư vắng lặng,
bèn ngơ ngác, chẳng biết nói như thế nào. Thần
thông đă chẳng cao, mà ở trong đại chúng tự
nói đă đắc thần thông, phô phang dấu tích nông cạn,
rơ ràng là đă trái nghịch lời Phật sắc truyền
(Đức Phật dạy đệ tử trừ phi gặp
chuyện bất đắc dĩ, chẳng được
phép hiển lộ thần thông). Ư quốc sư bài xích là ở
chỗ này. Hăy nên biết Tam Minh, Lục Thông là chuyện thuộc
bổn phận của người học Phật. Nhưng khi tu hành, chớ nên chú trọng chuyện này, sợ sẽ đi vào ma đạo! Khi
vô minh đă hết, thần thông sẽ tự đạt
được. Sau khi đă đắc, cũng chớ nên vội
cho người khác biết, sợ có kẻ thích bầy tṛ sẽ viện cớ đó, hậu hoạn thật
nhiều.
Trên đây là từ cát, đến sông, lại đến
cát, đến thế giới, đến quốc độ,
đến chúng sanh, đủ loại sự tướng
khác nhau, nhưng quy kết nơi
tâm chúng sanh, không chỉ nhằm nêu rơ “ngoài tâm chẳng có
pháp” mà thôi! Bởi lẽ, nói sông là để sánh ví tâm niệm
lưu động. Nói cát là sánh ví tâm niệm quá nhiều.
Nói cát thành sông (tức nói số lượng sông bằng với
số cát trong một con sông Hằng) nhằm sánh ví tâm niệm
chấp trước nhỏ nhặt. Nói cát trong sông, sánh ví
tâm niệm tuy là tổng mà biệt. Từ cát trong sông mà nói
đến thế giới, quốc độ, chúng sanh, nhằm
sánh ví tâm niệm của chúng sanh lưu chuyển chẳng ngừng
(như sông), lại c̣n dính chặt, chẳng hóa trừ
được (như đất), lại c̣n đủ thứ
vụn vặt khôn sánh (như cát), lại c̣n rong ruổi chẳng
cùng tận (như thế giới), có thể tùy tiện dấy lên (nhiều như cát sông Hằng),
có khi do lập bày mà thành (như cơi nước), có nguồn
cội, có gốc ngọn, có thông (như thế giới),
có biệt (như quốc độ), có biệt trong biệt
(như chúng sanh) cho nên nói “nhược can chủng tâm”
(ngần ấy loại tâm).
Như những điều vừa nói trên đây, bèn có
hai tầng “chẳng một” và “chẳng khác”. Ngoài là núi,
sông, đại địa, trong là sắc thân Ngũ Uẩn,
sự tướng chẳng một, nhưng v́ chúng là vật
do tâm chúng sanh hiện ra, nên chẳng khác. Lại do tâm niệm
của chúng sanh nhiều ngần ấy loại, cho nên chẳng
một, nhưng đều chẳng phải là tâm, nên lại
chẳng khác! Những điều này đều được
người đă phát khởi giác ngộ biết rơ.
Nhưng hai tầng “chẳng một, chẳng
khác” ấy, bất quá là dẫn khởi
cho đoạn kinh văn sau đó. Nói chung, các cú nghĩa “chẳng
một, chẳng khác” đă hiển thị “pháp nào
cũng đều Như”, chính là hiển thị “chẳng có pháp nhất định”, khiến cho hành nhân sẽ từ trong hết
thảy các pháp, sẽ thấy và vận dụng linh hoạt,
chẳng sanh câu nệ, chấp trước. V́ thế, khi
đức Phật nói “một”, dùng đó để hiển
thị “chẳng khác”, có lúc nói “khác” để hiển thị
“chẳng một”. Có lúc “một” và “khác” cùng nói, nhằm hiển
thị tuy chẳng một mà chẳng khác, tuy chẳng khác
mà chẳng một. Có lúc th́ “một, khác đều sai”, hiển
thị “ngay cả một và khác cũng chẳng thể nói”.
Không ǵ chẳng nhằm trừ khử t́nh chấp. Trừ
khử rồi lại trừ khử, công hạnh đến
mức đều chẳng thể nói, ḥng chứng các pháp
như một! Nói các câu Hữu Vô, đều là do nghĩa
này. Nói chung nhằm chỉ rơ “chỗ nào cũng đều
chẳng thể chấp”, để đối trị
căn bệnh “chỗ nào cũng chấp trước”
của chúng sanh đó thôi! Bất luận pháp thế gian hay
xuất thế gian, đều nên dựa theo nghĩa này
để quán, dựa theo nghĩa này để hành!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.1.3.
Kết lại “chẳng thể được”
(Kinh) Sở dĩ giả
hà? Tu Bồ Đề! Quá khứ tâm bất khả đắc,
hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất
khả đắc!
(經)所以者何?須菩提!過去心不可得,現在心不可得,未來心不可得。
(Kinh: V́ cớ sao vậy?
Tu Bồ Đề! Tâm quá khứ chẳng thể được,
tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị
lai chẳng thể được).
“Phả đắc’ tức
là chẳng thể được! Đối với ba câu “tâm
quá khứ…”, trong bản chú giải của pháp sư Huệ
Tịnh đời Đường ghi câu đầu là quá
khứ, câu kế là vị lai, câu cuối là hiện tại.
Luận của Vô Trước Bồ Tát cũng ghi như thế,
thứ tự tuy khác, nhưng không ảnh hưởng đến
ư chỉ chánh yếu!
Khoa này nói nguyên do “v́ sao chẳng
phải là tâm”. Quá khứ, hiện tại, vị lai
được gọi là Tam Tế. Tế là biên tế (邊際, ngằn mé, ranh giới), có ư nghĩa “giới
hạn”. Quá khứ th́ chẳng phải là hiện tại,
chẳng phải là vị lai. Hiện tại chẳng phải
là quá khứ, chẳng phải là vị lai. Vị lai chẳng
phải là quá khứ, hiện tại. Mỗi đằng
đều có giới hạn, nên gọi là Tam Tế. Tâm niệm
đă có tam tế, cho nên bảo là “thiên lưu” (遷流). “Thiên lưu” là nói tâm này như sóng trước,
sóng sau trên mặt nước, đẩy nhau tiến về
trước, chuyển dời, lưu động chẳng
ngừng. Đó là Hành trong Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức. Hành là hành động, có ư nghĩa “chuyển
dời”. Bởi lẽ, do tâm niệm chẳng ngừng
trong một sát-na, nên nói là “thiên lưu”. Do thiên lưu,
nên có quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng quá khứ
đă qua, hiện tại chẳng trụ, vị lai chưa
đến, cho nên đều chẳng thể được.
Nói khít khao sự thật, chỉ có quá khứ và vị lai,
hoàn toàn chẳng có hiện tại. Bởi lẽ từng
sát-na qua đi, há có thể được! “Chẳng thể
được” cho thấy ngay trong hiện tại chính
là Không. Như chân tâm thường trụ bất động,
trọn chẳng đổi dời, nhưng do chúng sanh từ
vô thỉ đến nay, chưa từng ĺa niệm. Niệm
là vật sanh diệt, cho nên thành thiên lưu. V́ thế, chẳng
phải là tâm, tức chẳng phải là chân tâm thường
trụ. Tâm sanh diệt là vọng, chẳng thật, do chân
tâm vốn chẳng sanh diệt. Đă là sanh diệt chẳng
ngừng, há có vật thật, cho nên nói là “thị danh vi
tâm” (bèn gọi là tâm).
Khoa trước nói về
viên kiến, nhằm dạy kẻ chẳng hiểu lư, tự
cho là đúng, hiểu rơ không có ǵ là đúng hay chẳng
đúng, vẫn là nói đương nhiên chẳng thể chấp.
Phần này nói về chánh trí, nhằm nói rơ nguyên do chẳng
thể chấp. V́ vậy nói “sở dĩ giả hà?”
tức là đúng như ư nghĩa của khoa này mà bảo:
Ông chấp giữ hết thảy các pháp, th́ trong ư ông, ắt
tự cho là ta có thể giữ lấy, chẳng biết
ngay cả một niệm “có thể giữ lấy” đó,
ba đời dời đổi, ngay trong lúc ấy đă là
Không, niệm c̣n chẳng thể được, c̣n có ǵ
để có thể giữ lấy ư? Ba lượt nói “chẳng
thể được”, quả thật là lời lẽ
nện vào tâm, thẳng thừng khiến cho ngă kiến chẳng
có chỗ an lập! Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhất thiết
chúng sanh, tùng vô thỉ lai, sanh tử tương tục,
giai do bất tri thường trụ chân tâm tánh tịnh minh
thể, dụng chư vọng tưởng, thử tưởng
bất chân, cố hữu luân chuyển” (Hết thảy
chúng sanh từ vô thỉ đến nay, sanh tử liên tục,
đều do chẳng biết chân tân thường trụ bản
tánh thanh tịnh, thể sáng suốt, cứ vận dụng
vọng tưởng. Tưởng ấy chẳng chân thật,
nên có luân chuyển). Hăy nên biết chúng sanh từ vô thỉ
tới nay, ngỡ vọng là chân, đến nỗi luân chuyển
trong sanh tử. Do hết thảy đều chỉ do tâm tạo,
nỗi khổ sanh tử luân chuyển thật sự là cái
tâm sanh diệt luân chuyển vậy. Bởi lẽ, hễ
nói đến tướng, ắt có sanh diệt, cốt sao
tâm chẳng động theo tướng (“động” tức
là hành, thường nói là “đổi dời” vậy), sẽ
liền trừ hết thảy các khổ. Nói “liễu
sanh tử, thoát luân hồi”, tức là tâm đă hiểu
rơ, tâm bèn thoát ra đó thôi!
V́ thế, người tu
hành, bước đầu tiên là phải nên hiểu rơ lư
này, biện định rơ ràng ǵ chân, ǵ là vọng. Thật
ra, cực dễ phân biệt. Nói nông cạn, “phân biệt,
chấp trước” là vọng. Chẳng phân biệt, chấp
trước là chân. Nói sâu xa, chân tâm vô niệm, khởi niệm
tức là vọng (do Hành duyên Thức, cho nên khởi niệm là cội gốc của
phân biệt, chấp trước). Điều này được
nói là “tu chứng chẳng có ǵ khác, trừ vọng
mà thôi”. Trừ vọng
bằng cách nào? Ĺa niệm mà thôi. Ĺa niệm th́ phân biệt,
chấp trước tự chẳng c̣n, tự thấy chân
tâm, sanh tử tự giải quyết. Ĺa một phần,
bèn thấy một phần. Ĺa rốt ráo, th́ thấy
cũng rốt ráo. Hết thảy chúng sanh sở dĩ coi vọng
là chân, v́ chẳng biết đó là chẳng thể
được! V́ sao chẳng biết? V́ tâm thô, chẳng biện
định sanh trụ dị diệt liên tục trong từng
sát-na. Nếu biết nó liên tục trong từng sát-na, sẽ
biết là đổi dời mà chẳng thể được.
Đă là chẳng thể được, chấp để
làm ǵ? Lại c̣n tự cho là có thể chấp, thật ra chẳng
thể chấp, chỉ tăng thêm nghiệp lực mà thôi, đúng
là ngu si đáng thương! Chỉ có Phật biết lư này
mà nói ra, người tu hành hăy nên gấp giác ngộ. V́ thế,
trong phần nói về Chánh Tri, trước hết, bèn nói
chuyện này. Do điều này là then chốt để thành
thánh hay thành phàm. Nh́n từ chỗ này, kinh tuy ĺa tướng
và ĺa niệm cùng nói, thật ra quy kết, chú trọng tại
ĺa niệm. Bất quá dùng ĺa tướng làm phương tiện
để ĺa niệm. Cho tới khi niệm đă ĺa, kiến
tướng chính là kiến tánh. Tuy tùy duyên hiện tướng,
rộng độ chúng sanh, chẳng có mảy may chướng
ngại. V́ sao vậy? Tâm niệm đă ĺa, chẳng ĺa tướng
ấy mà nó tự ĺa!
Nghĩa trong khoa này sâu không
đáy, phần trên đă nói là “chẳng thể được”, tức là dựa theo vọng tâm để giảng
nghĩa. Trọn chẳng biết tông chỉ lớn nhất
của đức Phật khi nói khoa này vẫn chưa phải
ở tại đó, tông chỉ là như thế nào? Chính là
khiến cho người học từ ngay nơi vọng mà
chứng chân, nhanh chóng khế nhập vô sanh. V́ sao nói vậy?
Cái tâm đổi dời trong ba đời được gọi
là vô minh duyên hành. Vô minh là bất giác. Hết thảy chúng
sanh, thoạt đầu chẳng giác ngộ, chẳng nhận
biết đổi dời trong mỗi niệm, bèn thuận
theo đó mà phân biệt, chấp trước. Phân biệt
liền thành thức thứ sáu. Chấp trước liền
thành thức thứ bảy, tức là Hành duyên Thức vậy. Ở đây nói “Như Lai
biết” nhằm dạy người học hăy nên biết
như thế. “Biết” là giác. Lại c̣n bảo rằng:
Cái tâm đổi dời ngay trong lúc ấy chính là Không, thật
sự chẳng thể được! Đúng là khiến
cho người học mau giác, sẽ thẳng thừng
hướng tới chỗ “chẳng thể được” để quán chiếu, khế nhập, tức
trạm trạm tịch tịch sẽ ngay lập tức
là thường trụ chân tâm. Đó gọi là “cuồng
tâm chẳng dứt, hễ dứt tức là Bồ Đề”.
V́ vậy, ư nghĩa của khoa này chính là nói về pháp
môn chí viên, cực đốn, trực chỉ hướng
thượng!
Xưa kia, Nhị Tổ hỏi
Sơ Tổ pháp an tâm. Tổ bảo: “Đem cái tâm của
ngươi lại, ta sẽ an cho”. Đáp: “Con t́m tâm trọn
chẳng thể được!” Sơ Tổ bảo: “Ta
đă an cái tâm cho ngươi xong”. Chính là có cùng pháp vị
với những điều được nói ở
đây. Hăy nên biết như thế, đừng phụ Phật
ân! Do đó, đối với những cú nghĩa “giai vi
phi tâm, thị danh vi tâm” (đều chẳng phải là
tâm th́ gọi là tâm) trong khoa trước, cũng có thể
hiểu là nói kèm thêm chân tâm. Bởi chân tâm vô danh, vô tướng,
duy nhất không tịch. Nói là chân tâm, cũng chẳng phải
là tâm, chỉ là giả danh đó thôi! Do vậy cổ đức
nói: “Thuyết tự nhất vật, tức bất trúng
dă” (nói dường như là một vật, sẽ chẳng
trúng).
Nh́n từ đó, khoa này
cũng có hai tầng “chẳng một, chẳng khác”.
Tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai là “chẳng một”; [do
chúng] đều chẳng thể được, tức là “chẳng khác”. Lại c̣n tâm đổi dời
và tâm thường trụ th́ “chẳng một”, biết chúng chẳng thể được
mà ngay lập tức không tịch, tức là “chẳng khác”. Gộp chung với điều
đă nói trong khoa trước đó, tổng cộng là bốn
tầng. Hăy nên biết: Đức Phật ủy khúc nói ra
bốn tầng ấy, nhằm khai thị phương tiện
tu Quán. Phương tiện như thế nào? Trước
là quán các pháp “khí giới, căn, thân” nhiều như cát sông Hằng là chẳng một, tiêu quy vào cái tâm chúng sanh cùng có đủ là chẳng khác. Lại tiến hơn, quán tâm
niệm có ngần ấy loại là “chẳng một”, mà tiêu quy nơi các tâm sở
“chẳng khác” đều chẳng phải là “thị
danh”. Lại quán tâm sở dĩ đều chẳng phải
[là tâm], v́ có tam tế đổi dời, nên “chẳng một”, bèn tiêu quy vào cái “chẳng
thể được” nơi “ba đời chẳng
khác”. Hăy nên biết: “Chẳng khác” là nghĩa Như. Từng
bước do “chẳng một” mà quán “chẳng khác”,
th́ mỗi bước đều tiến hướng tới Chân Như. Lại c̣n quán
sâu xa “tâm đổi dời” và “tâm thường trụ”, tuy nói là “chẳng một”, nhưng bất
quá là tánh và tướng khác nhau đó thôi! Tức là ĺa
tướng để thấu hiểu tánh, tiêu quy vào Đại
Không vốn chẳng thể được, há c̣n có ǵ là
khác nữa ư? Tức là vắng lặng mà hiểu rơ, hiểu
rơ mà vắng lặng, một niệm chẳng sanh. Một
niệm chẳng sanh mà Thật Tướng sanh, há chẳng
phải là công phu tu tập nhất siêu trực nhập đó ư? Tột bậc mầu nhiệm lắm
thay! Nay v́ các vị mỗi mỗi nêu ra.
Nếu
có thể nương theo nghĩa này để tu quán hạnh,
sẽ là một ngày ngàn dặm, c̣n phải đợi nói nữa
ư? Hăy nên biết: Bốn tầng ư nghĩa, mỗi tầng
một sâu hơn. Nhưng bước nào cũng đều
do “chẳng một” mà nhập “chẳng khác”, tức
là mỗi bước trừ phân biệt, chấp trước,
cũng tức là mỗi bước đều vô ngă. Cho tới
khi “một niệm chẳng sanh”, th́ nhân ngă và pháp ngă, há c̣n có ǵ để tồn tại nữa ư? Quả thật
là diệu pháp vô ngă! Bồ Tát chẳng hướng
theo đó để thông đạt, sẽ hướng về
đâu để thông đạt đây?
Khoa lớn này là để
khai chánh tri của Phật, nhằm dạy khai chánh giác của
Phật. V́ thế, nghe dạy như thế, hăy nên khai
như thế. Khai như thế, bèn giác như thế. Giác
như thế, bèn có thể chứng như thế. Đại
pháp viên đốn không chi hơn được pháp này!
Đại khoa “các pháp duyên sanh” trong phần sau cũng
lại khai, giác như thế, nhưng một đằng
là hướng theo tâm hạnh để khai giác, một
đằng là hướng theo các pháp để khai giác.
Đôi bên cùng tiến, tức là tâm lẫn cảnh đều
mất, ngă lẫn pháp đều không. Đó gọi là vô ngă
tướng, vô pháp tướng, mà cũng vô phi pháp tướng,
ĺa hết thảy các tướng, bèn gọi là “chư Phật”. Danh từ, ngôn thuyết thuộc Giáo Hạ rất
nhiều, nhưng chẳng có ǵ thẳng chóng, thỏa
đáng bằng! Tông môn “bổng hát” (các phương tiện
giáo huấn, lay tỉnh trong nhà Thiền) chen nhau,
không ǵ rơ ràng, minh bạch bằng pháp này! Mong quư vị hăy gắng
công!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.
Nói về các pháp duyên sanh
Chia thành hai đoạn:
1) Dựa theo phước báo để giảng vô tánh.
2) Dựa theo pháp thí để giảng thể Không.
Tiêu đề của đại khoa này chứa đựng
rất nhiều nghĩa. Trước hết, hăy nên thuyết
minh từng điều, khi xem đến kinh văn sẽ
dễ lănh hội. Trong khoa “tâm hạnh” trên đây,
chính là xét theo nội tâm để giảng nghĩa, c̣n khoa “chư
pháp” này chính là xét theo ngoại cảnh
để giảng nghĩa. Sự tướng thuộc ngoại
cảnh rất nhiều, nên nói là “chư pháp”. Các pháp
nhiều, chẳng thể kể xiết, sẽ nói từ
nơi nào? Nay dựa theo phước báo và pháp thí để
giải thích ư nghĩa, sẽ có thể gồm thâu hết
thảy các pháp. Bởi lẽ, đă hiểu nghĩa phước
báo, th́ đối với những chuyện chẳng phải
là phước báo có thể phỏng theo đó để hiểu.
Bố thí nhiếp trọn Lục Độ, Lục Độ
nhiếp trọn vạn hạnh, nhưng trong bố thí,
pháp thí tuyệt diệu nhất. Nếu đă hiểu
nghĩa pháp thí th́ tất cả Lục Độ vạn hạnh
đều có thể phỏng theo đó mà biết. Pháp thí là
thiện hạnh, đă hiểu nghĩa thiện hạnh
th́ chuyện chẳng phải thiện hạnh cũng có thể
phỏng theo đó mà biết.
C̣n như hai chữ Duyên Sanh,
hăy nên chia thành từng điều để nói. Tôi vừa
mới nói [khoa này] chứa đựng rất nhiều
nghĩa là nói về từ ngữ này.
1) Hai chữ Nhân Duyên trong nội
điển (內典, kinh sách nhà Phật) có lúc
tách ra để nói, có khi gộp lại để nói. Nói
tách ra th́ nhân là nhân, duyên là duyên, chẳng lẫn lộn. Nói
gộp lại th́ nhân bao gồm duyên, hễ nói đến
duyên bèn bao gồm nhân. Bởi cái thân nhân (nhân chánh yếu, nhân quyết định) th́ gọi là Nhân, c̣n sơ
nhân th́ gọi là Duyên. V́ thế, có
thể nói gộp lại. Hễ nói “duyên sanh” th́ đó
là nói gộp, gọi là “nhân duyên sanh pháp”. Nhân duyên sanh pháp là
hết thảy các pháp được sanh khởi chẳng
ngoài nhân duyên, trọn chẳng phải là vô duyên cớ mà khởi.
V́ thế, pháp chính là quả được sanh bởi nhân
duyên. “Nhân duyên sanh pháp” chẳng khác nói “hết thảy
các pháp chẳng ra ngoài nhân quả”, nhưng phước
đức và thân tướng trọn đủ chính là xét
theo quả báo để giảng nghĩa. Pháp Thí là xét theo nhân hạnh để giải thích ư
nghĩa. Đă là hết thảy các pháp chẳng ngoài nhân quả,
cho nên nhiếp trọn hết thảy các pháp.
2) Các pháp duyên sanh là nói hết
thảy các pháp vốn vô sanh, chỉ do nhân duyên tụ hội
mà giả hiện tướng sanh vậy. Ư nói: Các pháp là giả
tướng, chẳng phải là chân tánh. Do tánh vốn sẵn
đủ, vạn cổ thường hằng, chẳng do
nhân duyên tụ hội mà sanh. V́ thế, [khoa này] có tiêu đề
là “vô tánh”, ư nói: Nó chỉ có tướng, nhưng vô
tánh. Hăy nên biết: Sách Phật hễ nói đến tánh,
đều là nói đến cái tánh nơi tâm thể, tuyệt
chẳng mâu thuẫn với “vật tánh”, hoặc “tánh cách” như trong cách nói của
sách thế tục, nhưng hết thảy các pháp đă
đều là tướng giả hiện, có thể biết
bản thể của hết thảy các pháp là như huyễn, như hóa, như hoa đốm
trong hư không, như bóng trăng trong nước, trọn
chẳng phải là vật có thật! V́ thế, đặt
tiêu đề là “thể Không”. Chữ Thể chỉ bản
thể, giống như thế tục hay nói “bản thân”,
chẳng phải là tánh thể. Do vậy, nghĩa “duyên
sanh” chính là chỉ rơ nó có tướng, chẳng có tánh, bản
thể chính là Không. Phước đức và thân tướng
trọn đủ hiển thị nghĩa “vô tánh”. Pháp thí hiển thị
nghĩa “Thể không”. Do vậy, nói phối ứng.
V́ thế, có thể biết: Nói “duyên sanh” chẳng khác
nói “chẳng thể được”, mà nói “chẳng thể
được” cũng chẳng khác nói “duyên sanh”. V́ sao vậy?
Hành động nơi tâm cũng là pháp duyên sanh, được
gọi là “vô minh duyên hành”. Do chúng sanh chỗ nào cũng
chấp trước, hễ nói đến chấp trước,
liền có Năng và Sở. Nói theo phía năng chấp
(chủ thể chấp trước), không ǵ chẳng phải
là vọng niệm. Nói theo sở chấp (đối tượng
bị chấp trước), đó là các pháp. Nay bảo rằng:
Ông cho rằng có năng chấp ư? Tâm hạnh chẳng
thể được. Ư nghĩa của
năng chấp là bản thể của nó chính là Không. Lại bảo rằng: Ông
cho là có sở chấp ư? Các pháp duyên sanh, bản thể
của pháp bị chấp cũng lại là Không. Khai thị
như thế, chính là lật nhào kiến chấp của
chúng sanh từ căn bản. Nếu người phát khởi
tâm giác ngộ mà thông đạt lư này, ngă kiến sẽ có
thể băng tiêu. V́ sao vậy? Ngă kiến dấy lên, dấy
lên v́ chấp là thật, đă ngỡ vọng niệm là chân
tâm, lại coi các pháp là có thật, đến nỗi chẳng
thể trừ khử ngă kiến. V́ thế, muốn trừ
khử ngă chấp, tốt nhất là quán Không. Phật
được gọi là Y Vương, lại được
gọi là Không Vương, tức là vị có thể trị
căn bệnh chấp thật của chúng sanh.
3) “Duyên sanh” và “chẳng thể
được” đều nhằm giảng nghĩa “chính
là Không”. Như đă nói trên đây, cố nhiên là như thế,
nhưng ư chỉ chánh yếu tuy chẳng khác, nhưng bao hàm
ư nghĩa bèn rộng hẹp chẳng đồng nhất. Bởi
lẽ, nghĩa “chẳng thể được” chỉ nói
“chính là Không”. Nghĩa “duyên sanh” đă nói rơ “chính là Không”,
c̣n kèm thêm “tức là Giả”. Vọng niệm là nguyên do trở
thành phàm phu. Muốn liễu sanh tử,
chứng thánh quả, ắt phải đoạn niệm. V́
thế, chỉ nên nói “chẳng thể được”, chẳng
nên nói “duyên sanh”. Cố nhiên là đừng nên chấp giữ
các pháp, mà cũng đừng nên đoạn diệt. Do vậy,
chỉ nên nói “duyên sanh”, chớ nên nói “chẳng thể
được”. Thế nào là “tức Không, tức Giả?” Hăy nên biết: Hết thảy các pháp chỉ là duyên sanh, vốn
là không. Do vậy, bèn nói “tức phi”, nhưng đă là
duyên sanh, không ǵ chẳng phải
là giả hữu; do vậy nói là “thị danh”. V́ thế, pháp và phi
pháp đều chớ nên giữ lấy. Hơn nữa, do hết
thảy các pháp tuy Thể không mà duyên sanh, tức là Không nơi Giả. Do vậy, tuy trọn chẳng phải
là chân thật, nhưng sự tướng nghiễm
nhiên. Do điều này mà chúng sanh khó thoát đường mê
vậy! Do hết thảy các pháp chính v́ duyên sanh mà Thể
không, nên chính là Giả nơi Không. Do đó, tuy sự
tướng nghiễm nhiên, nhưng trọn chẳng chân thật.
V́ vậy, hành nhân phải nên gấp
giác ngộ
điều này. Giác ngộ như thế nào? Chẳng chấp
Không Hữu đó thôi! Làm thế nào để có thể chẳng
chấp? Phải từ ngay ĺa tướng, ĺa niệm. Ắt
phải ĺa tướng, ĺa niệm, th́ mới có thể tùy
duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên vậy!
4) Phần trước đă
nói hai khoa “tâm hạnh” và “chư pháp” nhằm khai
thị công phu tu tập nhất siêu trực nhập.
Nhưng trong đó, cũng có tuy “chẳng khác” mà “chẳng một”, chẳng thể không
biện định! Bởi lẽ, thẳng thừng hướng
theo chỗ “tâm hạnh chẳng thể được”
để khế nhập, sẽ là khế nhập tánh thể
không tịch. Nếu thẳng thừng hướng theo chỗ
“chư pháp duyên sanh” để khế nhập, tức
là khế nhập Thể, Tướng, Dụng của Như
Thật Không, Như Thật Bất Không, cũng là khế
nhập tánh đức Tịch Chiếu đồng thời.
Nhưng đắc Thể th́ mới có thể khởi Dụng,
Bất Không phải phát xuất từ Không. Nếu chẳng
ĺa niệm, Tịch c̣n chẳng thể, nói ǵ Chiếu nữa?
V́ thế, đối với hạnh môn, người học
ắt phải là Không lẫn Hữu
đều chẳng chấp. Đối với Quán môn, th́ cần
phải “Không tới triệt để”. Chớ nên không biết lư này! Nói chung, tâm hạnh chẳng
thể được, hăy nên ĺa niệm. Chư pháp duyên
sanh, phải nên ĺa tướng hai bên Không và Hữu. Trong phần
trước chẳng nói rồi đó sao? Ĺa niệm là ĺa
tướng rốt ráo, ĺa tướng chính là phương
tiện để ĺa niệm. V́ thế, dụng công hăy nên
lấy ĺa niệm làm chánh yếu. Khi đă ĺa niệm,
đối với tướng của hai bên Không và Hữu,
chẳng cần phải nói ĺa mà tự ĺa trọn vẹn.
Tuy vậy, các pháp duyên sanh, đối với nghĩa “tức
Không, tức Giả, ĺa niệm”, cũng chẳng thể
không thông đạt, dùng đó để bổ trợ. Hăy
nên biết tâm tánh vốn là Không Hữu đồng thời.
V́ thế, các pháp chỉ do tâm hiện, cũng không ǵ chẳng
phải là Không Hữu đồng thời. Nay quán các pháp
duyên sanh tức Không, tức Hữu, sẽ chẳng khác quán
tâm tánh tức Không, tức Hữu. Nếu chỉ biết ĺa
niệm, chẳng biết tu phép Quán ấy, sợ đọa
vào Thiên Không, chẳng thể đạt tới “Tịch
tức Chiếu, Chiếu tức Tịch”. V́ thế nói “tâm
hạnh chẳng thể được”, lại nói “các
pháp duyên sanh”. Càng chớ nên không biết lư này! Đấy
chính là chánh tri của Phật, hăy nên khai như thế.
5) Trên đây đă nói tánh và
các pháp “Không Hữu đồng thời” chẳng khác, nhưng trong ấy, cũng có “chẳng một”, chẳng thể không biện
định. Bởi chân tâm không chỉ là Chân Không, mà c̣n là thật
có. Chân Không là do ĺa danh, tuyệt tướng. Chân Hữu là
thường hằng bất biến. Hết thảy pháp
duyên sanh chẳng vậy, vốn chẳng phải là vật,
chỉ hiện giả tướng đó thôi, chính là chân
không giả hữu (luận định khít khao sự thật,
vẫn chẳng đủ để nói là Chân Không, chỉ
có thể nói là Giả Không, v́ cái Không của các pháp là do giả
hữu h́nh thành. Đă chẳng phải là vật có thật,
Không và Hữu đều chẳng nói được. Nay
đành tùy thuận cổ nghĩa, nói là Chân Không Giả Hữu).
Do nó vốn là Không, cho nên nói là Giả Hữu. Do nó giả hữu,
nên biết nó vốn là Không. V́ muốn nói rơ Không và Hữu ấy
chính là do so sánh tương đối mà h́nh thành, cho nên nói
là “Không Hữu đồng thời”. Chẳng giống như chân tâm, là cái Không
ĺa danh tuyệt tướng, là cái Hữu thường hằng
bất biến, đều là dứt bặt đối
đăi. Nó đồng thời cùng đủ, thoạt đầu
chẳng do so sánh tương đối mà thành, cho nên bảo
là Chân. V́ thế, nó có thể làm cái Thể của hết thảy
các pháp. Chân tâm lại c̣n là vạn cổ thường
hằng, cho nên nói “vốn chẳng sanh”. Nếu hết
thảy các pháp cũng gọi là “vốn bất sanh”,
th́ là do Giả mà hiện tướng Sanh, c̣n h́nh thành vốn
sẵn chẳng sanh. Thật ra, vốn chẳng có vật ấy,
không có ǵ để gọi là Bất Sanh. V́ thế, tên gọi
“vốn bất sanh” tuy chẳng khác, nhưng một
đằng chân, một đằng giả, cũng lại
là chẳng một!
Hoặc nói: Ngoài tâm chẳng
có pháp, tâm sanh th́ đủ loại pháp sanh. Cái tâm ấy là
nói về vọng tâm. Như vậy th́ Phật, Bồ Tát
đă chẳng có vọng niệm, mà có thể hiện đủ
loại cảnh tướng, chẳng biết do đâu mà thành?
Đáp: Phật, Bồ Tát thật sự chẳng có niệm.
Các thứ cảnh tướng cũng thật sự từ
tâm mà hiện. Đấy chính là do nhân địa đă phát ra nguyện đại bi, tùy duyên độ chúng sanh.
Do đó, sau khi chứng quả, tuy chẳng khởi niệm,
nhưng nhờ vào sức huân tập của bi nguyện
trước kia, liền có thể tùy cơ cảm duyên, hiện
ra các cảnh tướng. Nghĩa này được thấy
rải rác trong các kinh luận, và sách Đại Thừa Chỉ
Quán. V́ thế, khi tu nhân, ắt
phải là bi
nguyện trọn đủ, quán sâu nghĩa “các pháp duyên
sanh”, khiến cho huân tập thành chủng tử, sẽ có
thể từ trong đại định, tùy duyên thị hiện.
Các nghĩa đă nói trên đây đều là những điều
hành nhân phải nên hiểu rơ. Nếu không, ắt sẽ nghi:
Sau khi chứng quả, v́ sao niệm vẫn chưa tịnh? Hoặc nghi “vô niệm sẽ chẳng
có ǵ hiện”. Hoặc nghi: Chân tâm và các pháp tướng cùng
là một, tức Không, tức Hữu, vốn cùng là bất
sanh, lấy ǵ làm Thể của các pháp? Nay tôi đành thuận
tiện thưa một lời vậy!
6) Các nghĩa từ mở
đầu kinh cho tới nay, hễ hiểu hai khoa “tâm hạnh
chẳng thể được” và “các pháp duyên sanh”,
sẽ hiểu rơ nguyên do. Bởi lẽ, nói các cú nghĩa
như Tam Không, nói “hết thảy đều chẳng phải”
v.v… là do tâm hạnh chẳng thể được. Nói các
câu nghĩa như “chẳng chấp hai bên”, nói “hết
thảy đều là” v.v… là do các pháp duyên sanh. Do vậy, một
khoa lớn “Phật khai tri kiến” quả thật là
bộ phận trọng yếu nhất của cả kinh.
Những điều nói trước sau, không ǵ chẳng nhằm
khai Phật tri kiến. Tín là tin điều này, Giải là
hiểu điều này, Tu là tu điều này, Chứng là chứng
điều này. Hợp chung Tín, Giải, Hạnh, Chứng
th́ mới là thực hiện được công phu trong chữ
Khai. Tín là sơ khai, c̣n Giải, Hạnh, Chứng chính là rốt
ráo khai!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.
Dựa theo phước báo để giảng vô tánh
Chia thành hai phần:
1) Nói về phước đức.
2) Nói về Báo Thân.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.1.
Nói về phước đức
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.1.1.
Nhân duyên của phước đức
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Nhược hữu nhân măn tam thiên đại
thiên thế giới thất bảo dĩ dụng bố
thí, thị nhân dĩ thị nhân duyên, đắc phước
đa phủ? Như thị, Thế Tôn! Thử nhân dĩ thị
nhân duyên, đắc phước thậm đa.
(經)須菩提!於意云何?若有人滿三千大千世界七寶,以用布施。是人以是因緣,得福多不?如是,世尊!此人以是因緣,得福甚多。
(Kinh: “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ thế nào? Nếu có người dùng bảy báu
đầy ắp tam thiên đại thiên thế giới
để bố thí, người ấy do nhân duyên đó,
được phước nhiều hay không?” “Đúng
như vậy, bạch Thế Tôn! Người ấy do nhân
duyên đó, được phước rất nhiều”).
Dùng vật báu [đầy ắp]
thế giới để thí, trong phần trước
đă nói. Dựa theo chuyện đă nói để nêu tỏ
nghĩa “duyên sanh”, có ư chỉ vi tế trong ấy. Bởi
đă chỉ bày: Đối với hết thảy các pháp
tướng đă nói trên đây, đều nên dùng nghĩa “duyên sanh” để dung thông. Trung Luận
nói: “Pháp sanh bởi nhân duyên, tức Không, tức Giả”.
Hăy nên biết: Không chỉ pháp được sanh là tức
Không, tức Giả, nhân duyên cũng lại là tức Không, tức
Giả. Do nhân duyên tức Không, tức Giả, cho nên tuy chẳng
chấp tướng, mà hăy nên hành bố thí. Do đó, phần
trước nói “hăy nên chẳng trụ vào đâu mà hành bố
thí”. Do nhân duyên tức Giả tức Không, cho nên tuy hành bố
thí, mà chớ nên chấp tướng. Do vậy, phần
trước có nói “hăy nên bố thí chẳng trụ tướng”.
Pháp được sanh tức Không tức Giả, cho nên tuy
bản thể của nó là Không, mà duyên hội tụ bèn sanh.
Do vậy, phần trước đă nhiều lượt
nói “thị danh”. Pháp được sanh tuy là giả mà
chính là Không, cho nên tuy duyên hội tụ bèn sanh, mà bản thể
của nó là Không. Do vậy, phần
trước đă nhiều lượt nói “tức phi”.
Khoa này nêu chung nghĩa duyên
sanh. “Nêu chung” là như thế nào? Từ nhân duyên bố
thí mà nói đến phước đức, phước
đức chính là pháp được sanh bởi nhân duyên bố
thí. V́ vậy, bố thí là nhân, phước đức là quả.
Nhân và quả cùng nói, cho nên nói là “nêu chung”. Trong phần
sau, Báo Thân là chỉ nói theo quả, có thể phỏng theo
đó mà biết: Hễ có quả, ắt có nhân. Khoa “pháp
thí” dường như chỉ nói nhân, nhưng cũng có
thể phỏng theo đó mà biết nhân quả vô tận. Bởi
lẽ, ắt có năng thí (người hành bố thí) và sở
thí (vật được thí), và người nghe pháp thí, mỗi đằng đều có nhân duyên, lại
c̣n nhất loạt tụ hội, bèn có chuyện pháp thí này phát
sanh. Pháp thí ấy lại do vô số nhân duyên tụ hội mà
sanh khởi, nhưng đối với mỗi cái quả
đạt được, lại do nhân duyên của một
pháp thí này mà sanh, há chẳng phải là nhân quả vô tận
ư?
Các hạnh như bố thí
v.v… là đại sự trong Phật môn, vẫn chẳng ĺa
duyên sanh, chẳng ĺa nhân quả, tức là đối với
hết thảy các pháp khác, đều có thể biết. V́
thế, dựa theo mấy chuyện này để nói, ngơ hầu
làm khuôn mẫu ḥng phỏng theo. Nói “tổng minh” lại
c̣n có một nghĩa, khoa này chỉ nói chung về phước
đức, c̣n khoa sau nói về Báo Thân. Chứng đắc Báo
Thân, có thể nói phước đức nhiều lắm.
Khoa này chỉ nói chung về bố thí, khoa sau lại chuyên
nói theo pháp thí, đều chẳng khác khoa này chỉ ra sự
thật. V́ thế, cũng có thể phán định khoa này
là tổng minh, phán định hai khoa Báo Thân và pháp thí sau
đó là biệt minh.
Trong nửa bộ trước,
trưởng lăo đáp lời phần nhiều nói “phất
dă” (thưa không). Dẫu chẳng đáp “phất dă”,
cũng chưa từng đáp “như thị”. Trong nửa
bộ sau, chỉ trong phần khai Phật tri kiến là
đáp “như thị” nhiều nhất (ngoài phần
này ra, chỉ có chỗ đáp [câu hỏi] “dùng ba mươi
hai tướng để quán Như Lai” là nói “như thị”).
Kinh này chữ nào cũng đều bao hàm ư nghĩa sâu xa. Có
thể biết hễ đáp “như thị”, quyết
chẳng phải là nói chung, mà thật sự là đă
nương theo điều đă nói trước đó,
để biểu thị ư nghĩa “các pháp như một,
hết thảy đều là”. Trong phần trước
đă nói “như một, đều là”, nhằm dung hội
tướng về tánh. Ở đây, nói rơ nghĩa “các
pháp duyên sanh” cũng ngụ ư dung hội tướng về
tánh. Trưởng lăo hiểu sâu xa nghĩa thú, cho nên trước
là đáp “như thị”. Kế đó, thưa “thị
nhân dĩ thị nhân duyên đắc phước đức
thậm đa” (người ấy do nhân duyên này
được phước đức rất nhiều)
chính là chỉ rơ hành nhân hăy nên lănh hội đạo lư “các
pháp duyên sanh” để thông đạt “hết thảy
các pháp đều là như một”. Bởi đạo lư
duyên sanh chính là “ngay nơi Không chính là Giả”. Quán chiếu “Không chính là Giả” để khế
nhập Như Thật Không, Như Thật Bất Không, sẽ
dung hội tướng của các pháp về tánh nhất
như vậy.
Phần trước đă
nói “chẳng trụ tướng bố thí, phước
đức chẳng thể suy nghĩ, ḍ lường”,
nay nói “được phước rất nhiều”. “Thậm
đa” (rất nhiều) là chẳng thể suy lường!
Ư chỉ của kinh nhằm nhấn mạnh khoa sau, những
điều được nói trong khoa này bất quá nhằm dẫn khởi cho khoa sau. V́ thế, tầng
“trụ tướng” chưa được nhắc tới
ở đây, trong khoa sau sẽ nói.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.1.2.
Nói rơ duyên tụ hội bèn sanh
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhược phước đức hữu thật, Như
Lai bất thuyết đắc phước đức
đa. Dĩ phước đức vô cố, Như Lai thuyết
đắc phước đức đa.
(經)須菩提!若福德有實,如來不說得福德多。以福德無故,如來說得福德多。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nếu phước đức có thật, Như Lai chẳng
nói được nhiều phước đức. Do
phước đức chẳng có, Như Lai bèn nói
được nhiều phước đức).
Khoa này là ư nghĩa chánh yếu
của đức Phật. Nói khoa trước chính là để dẫn tới khoa này. Khoa này từ ngữ,
ư chỉ sâu xa, vi tế, cần phải chia thành mấy tầng
để giải thích.
Khoa trước đă nói
phước đức là “nhân duyên sanh pháp” (pháp
được sanh bởi nhân duyên). Đă là duyên hội tụ
mới sanh, há có phải là thật? Hễ thật
sự có, sẽ chẳng phải là duyên sanh. Nếu chẳng
có duyên sanh, phước đức sẽ chẳng có cách nào
đạt được! Do hết thảy các pháp chẳng
thể không có duyên cớ mà có được! V́ thế nói:
Nếu phước đức có thật, Như Lai sẽ
chẳng nói là “được nhiều phước
đức”.
[Trong câu “dĩ phước
đức vô cố”], “dĩ” là v́, “vô” là chẳng
thật, nhằm đối ứng với câu “hữu thật”
trong đoạn trước, ư nói: Do phước đức
là duyên sanh pháp, tức Không, tức Giả, mà chẳng thật,
hết thảy chúng sanh chỉ nên bố thí Lục Độ,
gieo sâu nhân duyên, th́ nhân duyên tụ hội, phước đức
liền sanh ra. “Tụ hội” ngụ ư chín muồi vậy.
V́ thế nói: Do phước đức chẳng có, Như
Lai bèn nói “được nhiều
phước đức!”
Kinh nói hai chữ Thuyết,
hăy chú ư. Ngụ ư hiển thị: Bề ngoài là nói phước
đức, nhưng cốt tủy là nói bố thí. V́ sao vậy?
Nếu chấp phước đức là có thật, tức
chẳng biết nó là duyên sanh pháp. Chẳng biết là duyên
sanh, sẽ chẳng biết chú trọng nơi cái nhân. Nếu
chẳng tu cái nhân bố thí, lấy đâu ra cái quả
phước đức? Do vậy, Như Lai chẳng nói ‘đắc phước đức nhiều’. Trọn chẳng biết chính v́ bản thể của
phước đức là Không, chẳng thật, là nhân duyên
sanh pháp tức Giả, tức Không. V́ thế, muốn đạt
được cái quả, chỉ tu cái nhân này, nếu siêng
hành bố thí, phước đức sẽ tự
đưa tới. V́ thế, Như Lai nói “đạt được nhiều phước
đức”.
Như trên đă nói, đă hiểu
rơ ư chỉ chánh yếu của kinh, nhưng vẫn chưa
nói triệt để. V́ sao vậy? Chỉ nói mối quan hệ
rất tuyệt diệu, nhưng vẫn chưa nêu ra mối quan hệ giữa “nhiều” và “chẳng nhiều”. Hăy nên biết: Đức
Phật nói duyên sanh, chú trọng khiến cho mọi người
liễu giải, thấu triệt “hết thảy các pháp tức Không, tức Giả”, ḥng thông đạt vô ngă, dung hội tướng
tánh. Đối với tầng đạo lư này, trước
hết cần phải nói rơ nguyên ủy th́ dễ hiểu
rơ.
Mọi pháp không ǵ chẳng phải
do nhân duyên sanh ra. V́ thế, phước đức là duyên
sanh, mà bố thí cũng là duyên sanh. Như vậy th́ nhân
duyên của phước đức là bố thí, c̣n nhân duyên
của bố thí là ǵ? Hăy nên biết, nhân duyên của bố
thí chính là phát tâm. Phát tâm nhỏ bèn bố thí nhỏ, phước
đức cũng nhỏ. Phát tâm lớn bèn bố thí lớn,
phước đức cũng lớn. Như vậy th́ phát tâm như thế nào là lớn? Chẳng trụ tướng mà
thôi! Hễ tâm có trụ,
sẽ bị bó buộc! Vô trụ, sẽ chẳng bị bó
buộc, do không có phạm vi, cho nên to lớn.
V́ thế, muốn bố thí chẳng trụ tướng, ắt
trước hết phải đừng trụ vào tướng của phước đức!
Nếu chú trọng phước đức, đấy là
coi phước đức có thật (“có thật” nghĩa
là thật sự tồn tại), bèn trụ tướng mất
rồi! Đă trụ tướng phước đức
mà hành bố thí, tức là v́ phước đức mà hành bố
thí, bố thí cũng là trụ tướng mất rồi!
Do vậy, đức Thế Tôn nói khoa này chính là càng triệt
để nêu tỏ ư “chẳng trụ tướng
bố thí” đă nói trong phần trước, chẳng
khác nào đối với kẻ trụ tướng bố
thí mà vạch trần chỗ gốc bệnh của họ!
Bởi lẽ, trụ tướng bố thí th́ không ǵ chẳng
v́ tham cầu phước đức vậy!
Ba chữ “Như Lai thuyết”
trong kinh văn hết sức trọng yếu, tức là
nương theo nghĩa Như mà nói. Bởi lẽ, nếu
chưa thể thấu triệt lư duyên sanh, chỉ biết do
nhân duyên bố thí mà có thể đạt được
phước đức, sẽ tham cầu phước
đức mà hành bố thí, lầm to mất rồi! Trọn
chẳng biết đức Phật nói duyên sanh nhằm dạy [hành nhân hăy] thấu hiểu pháp duyên
sanh, tức Không, tức Giả, chẳng chấp các pháp, tiêu
quy vào tánh nhất như. Nếu ngỡ phước đức
là thật sự có, ắt sẽ tham cầu phước
đức mà hành bố thí, sẽ trụ trong tướng.
Đă trụ vào tướng, tức là rong ruổi hướng
ra ngoài để cầu, trái nghịch tánh mất rồi! Vậy th́ do nhân duyên bố thí, chẳng
phải là không có phước đức, nhưng v́ nhân
duyên trụ tướng, cái đạt được không
ǵ chẳng phải là phước thế tục thuộc
trong tam giới. Dẫu sanh lên tầng trời tột đỉnh (Sắc Cứu Cánh Thiên), rốt cuộc vẫn là
cái nhân gây khổ. V́ thế, nương theo nghĩa Như,
chẳng nói “đạt được
nhiều phước đức”.
Nếu triệt để hiểu
rơ đạo lư duyên sanh, quán hết thảy các pháp Không chính
là Giả, Giả chính là Không, hoàn
toàn chẳng có ư
niệm phước đức (kinh văn rành rành một
đằng chánh diện, một đằng phản diện,
nói so sánh. Phản diện là cho rằng có thật, c̣n chánh
diện th́ cũng phải nên có một nghĩa là “chẳng thật”. Do vậy, dùng “vô thật”
để giải thích chữ Vô. Nhưng kinh văn rốt
ráo chỉ nói Vô, hăy nên bổ sung thêm một nghĩa là “vô niệm”. Vô niệm càng triệt để hơn,
hăy nên nói [vô niệm] ở chỗ này). Chỉ v́ lợi ích
chúng sanh, cần phải tu Tam Đàn ĺa tướng (đối trị, vị nhân và thế giới
Tất Đàn), tức là phước huệ song tu, bi trí trọn
đủ, ắt đạt được vô biên công đức
chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể diễn tả,
suy lường. Đó gọi là cái quả Vô Thượng Bồ
Đề. Nương theo nghĩa Như mà nói, phước
đức ấy sẽ nhiều lắm!
Nh́n vào ư chỉ của kinh
này, đủ thấy ắt phải nên triệt để
hiểu rơ đạo lư nhân quả. Nếu chỉ biết
thuyết nhân quả thô thiển, chẳng hiểu thấu triệt lư này, do nhân nhỏ, cái quả
cũng nhỏ. Hăy nên biết nhân quả như đức
Phật đă nói, trọn chẳng thể
xem giống như nhân quả được nói trong sách vở
của ngoại đạo hay thế tục. Đạo lư
nhân quả được nói trong kinh Phật triệt
để viên măn, tột bậc tinh vi, đều là dùng lư
Tam Đế “tức Không, tức Giả,
tức Trung” để nói rơ, hoặc dùng lư Nhị Đế như Bát
Bất v.v… để nói rơ. Ắt cần phải hiểu
rơ đạo lư Nhị Đế, Tam Đế, th́ mới
có thể triệt để hiểu rơ nhân quả do đức
Phật đă nói, sau đấy mới biết đạo
lư nhân quả do đức Phật đă nói rộng lớn,
viên diệu. Pháp thế gian và xuất thế gian, không ǵ có
thể vượt ra ngoài [nhân quả] được. Sau
đấy mới biết nhân quả đáng sợ. Hễ khởi lên chút niệm, bèn rơi vào nhân quả,
cần ǵ phải đợi tới khi thực hiện
ư? Sau đấy mới biết Phật pháp là điều
cần thiết của mỗi cá nhân, không chỉ người
học Phật mới phải nên hiểu rơ Phật lư. Dẫu
muốn thành tựu một nhân cách, cũng chẳng thể
không hiểu rơ Phật lư. Muốn thật sự hiểu rơ
pháp thế gian, cũng chẳng thể không hiểu rơ Phật
lư trước đă. Sau đấy mới biết “ĺa tướng, ĺa
niệm” có mối quan hệ trọng
đại, quyết chẳng đến nỗi coi thường,
quyết chẳng đến nỗi dám sợ khó, bèn có thể
phát đại tâm, tu hạnh thù thắng, chứng diệu
quả.
Hiện thời, người
hữu tâm phần nhiều biết đề xướng
hưng thịnh thuyết nhân quả, sưu tập các sự
thật, in tặng sách vở để mong cứu văn ḷng
người đang ch́m đắm, văn hồi thế vận
nguy hiểm. Đó là chuyện tốt đẹp nhất,
là chuyện tột bậc trọng yếu, nhưng thường
là có kẻ chẳng muốn ghé mắt ḍm, cho là quá nông cạn!
Vậy th́ sao chẳng hướng về Đại Thừa
Phật pháp mà cầu? Như các đạo lư Nhị Đế,
Tam Đế v.v… đều là lời chân thật diễn tả
nhân quả, chính là Đệ Nhất Nghĩa trong nhân quả
vậy. Hiểu được chút phần, sẽ có chút phần
lợi ích. Hiểu nhiều phần, sẽ được nhiều phần lợi
ích. Nói chung, đức Phật nói nhân quả, có thể khiến
cho con người thành bậc thiện nhân, hiền nhân,
thánh nhân trong thế gian, cho đến thành Bồ Tát, thành
Phật, rộng lớn, viên diệu chi bằng!
Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 4
Phần 1
hết
[1] Nguyên văn “chánh hướng nhất hào đoan
thượng, trùy trát nhập khứ” (正向一毫端上, 錐札入去), hàm ư phân tích cặn kẽ không bỏ sót một
chi tiết nào, bèn nói ví von là ngay đầu một sợi
lông mà c̣n dùi cho thủng được. Ư này lấy từ
một bài thơ của ngài Thích Thủ Trác đời Tống
“trùy trát bất nhập, ngoan b́ thái sát, tự vô nhất
văn, tùy phương măi mại” (dùi chẳng thủng
được, da dày quá mức, chẳng có một đồng,
bán mua khắp nơi). Theo các vị chú giải, hai câu đầu
có ư nghĩa là dù thầy dụng công giáo hóa đủ mọi
cách, nhưng học tṛ kiến chấp kiên cố, thầy
cũng chẳng làm ǵ được!
[2] Quyền vị Bồ Tát là các vị Bồ Tát
chưa đạt tới thánh vị Bồ Tát (tức là
các địa vị đă phần chứng Pháp Thân). Như
vậy th́ Quyền vị Bồ Tát là các địa vị
Bồ Tát từ Thập Tín trở lên cho tới Thập Hồi
Hướng.
[3] Khách trần (Akasmāt-kleśa) c̣n gọi là Khách Trần
Phiền Năo, chính là phiền năo do nói đối ứng với
tự tánh thanh tịnh. Do nó chẳng phải là vật vốn
có trong tâm, lại do mê lư mà dấy lên, nên gọi là Khách. Lại
do phiền năo có thể ô nhiễm tâm tánh của chúng ta, ví như bụi bặm nhuốm
bẩn vạn vật. V́ thế gọi là Trần. Trần
c̣n có nghĩa là rất nhỏ. Gọi phiền năo là Khách Trần nhằm
sánh ví phiền năo vi tế, không đâu chẳng có, khó trừ
khử như bụi bặm trong thế gian.
[4] Ma-ni bảo châu vốn
chẳng có màu sắc, khi đặt gần vật nào, nó sẽ
có màu của vật ấy.
[5] Theo Duy Thức, năm căn mắt, tai, mũi,
lưỡi và thân gồm hai loại:
-
Phù trần căn (浮塵根) tức là căn thuộc sắc pháp có thể thấy
được, biểu hiện ra ngoài thân thể như
nhăn cầu, vành tai, màng nhĩ, sống mũi, lỗ mũi,
lưỡi, da dẻ v.v…
-
Thắng nghĩa căn (勝義根) c̣n gọi là Tịnh Sắc Căn (淨色根), hoặc Hữu Sắc Căn (有色根), thuộc về sắc pháp không thể thấy bằng
mắt thường, nhưng nó có thể làm duyên để
giúp cho Phù Trần Căn khi tiếp xúc với lục trần
sẽ sanh khởi các thức.
Chỉ
riêng Ư Căn không có Phù Trần Căn.
[6] “Chướng
nội chi sắc” tức là nói những sắc pháp, sắc
chất có thể thấy bằng nhục nhăn khi không bị
các sắc chất khác ngăn ngại. Nói đơn giản,
nhục nhăn của chúng ta chỉ có thể thấy một
vật khi nó không bị vật khác che lấp. Chẳng hạn
ta mở cửa sổ gỗ, nh́n ra ngoài sẽ thấy cây
cối, hoa lá, nhưng cửa sổ đóng lại, sẽ
không thấy được nữa. Hoặc bỏ một
vật vào hộp, đóng nắp lại, ta sẽ không thấy
vật đó nữa. Đó gọi là “chướng nội
chi sắc”. Mắt chư thiên thấy được
các vật chẳng bị ngăn ngại bởi tường
vách, hoặc các chướng ngại vật khác, nên gọi
sắc pháp họ thấy là “chướng ngoại chi sắc”.
[7] Địa
Thượng Bồ Tát: Bồ Tát đă chứng từ
Sơ Địa trở lên.
[8] Đại Thừa
Huyền Luận gồm năm, quyển do ngài Cát Tạng
soạn vào đời Tùy, c̣n được gọi là Đại
Thừa Huyền Nghĩa, Đại Thừa Huyền
Chương, hoặc Đại Thừa Huyền, thuộc
hệ thống Bát Nhă Không Quán. Sách thảo luận các giáo
nghĩa trọng yếu của Đại Thừa như
Nhị Đế, Bát Bất, Phật Tánh, Nhất Thừa,
Niết Bàn, Nhị Trí, Giáo Tích v.v… Tác phẩm này được
coi là sách khái luận của tư tưởng Đại
Thừa.
[9] Tác phẩm
này có tên gọi đầy đủ là Trung Quán Luận Sớ,
do ngài Cát Tạng soạn vào đời Đường
để chú giải Trung Luận, gồm mười quyển.
Sách này kế thừa quan điểm của các luận
sư trước đó như Thanh Mục, Tăng Lăng,
Tăng Thuyên, Pháp Lăng v.v… đối với Trung Luận.