Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 4
Phần 2
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả:
Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của
CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.2.
Nói về Báo Thân
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1.
Nói rơ sắc thân chẳng phải là tánh
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Phật khả dĩ cụ túc sắc thân kiến
phủ?” “Phất dă, Thế Tôn! Như Lai bất ưng
dĩ sắc thân kiến. Hà dĩ cố? Như Lai thuyết
cụ túc sắc thân, tức phi cụ túc sắc thân, thị
danh cụ túc sắc thân”.
(經)須菩提!於意云何?佛可以具足色身見不?不也,世尊!如來不應以色身見。何以故?如來說具足色身,即非具足色身,是名具足色身。
(Kinh: “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng sắc thân trọn đủ
để thấy Phật hay không?” “Bạch Thế Tôn,
không ạ! Chớ nên dùng sắc thân để thấy
Như Lai. V́ sao vậy? Như Lai nói sắc thân trọn
đủ, tức chẳng phải sắc thân trọn
đủ, th́ gọi là sắc thân trọn đủ”).
Bản lưu thông ghi là “bất
ưng dĩ cụ túc sắc thân kiến” (chớ nên dùng sắc thân
trọn đủ để thấy), nhưng trong bản
chép tay của người đời Đường th́
câu này không có chữ “cụ túc”, nên có thể tỉnh lược [hai chữ “cụ túc”].
Đối với “cụ
túc sắc thân” và “cụ túc chư tướng” trong
khoa sau, cổ nhân có nhiều cách nói. Hoặc gộp chung các
tướng nơi sắc thân lại mà nói là “trượng
lục tử kim thân” (thân màu vàng tía, cao một trượng
sáu thước), tức là nói về Ứng Thân. Hoặc nói
tách ra: “Sắc thân” là tám mươi thứ hảo, “chư
tướng” là ba mươi hai tướng. Đấy
cũng là hiểu [“sắc thân”] thành Ứng Thân. Hoặc
bảo “sắc thân” là nói tới Báo Thân, “chư
tướng” là Ứng Hóa Thân. Chỉ có pháp sư Đạt
Thiên đời Thanh bảo “sắc thân và chư tướng
đều là nói về Báo Thân”. Thuyết này tinh vi nhất,
hăy nên vâng theo! Bởi lẽ, kinh đối với sắc
thân và các tướng đều nói là “cụ túc” (trọn
đủ). “Trọn đủ” nghĩa là viên măn.
Đó là nói Báo Thân công hạnh viên măn, vạn đức
trang nghiêm, đích xác, chẳng ngờ chi nữa! Do Ứng
Hóa Thân cao một trượng sáu thước, ba
mươi hai tướng v.v… sẽ chẳng phù hợp với
ư nghĩa “công hạnh trọn đủ, trang nghiêm trọn
đủ”.
Tách thân và tướng ra
để nói, bao hàm ư nghĩa trọng yếu, do sắc
thân được gọi là “trọn đủ” chính
v́ các tướng trọn đủ. Bởi lẽ, sắc
thân là cái được trang nghiêm (sở trang nghiêm), c̣n các tướng là cái để trang
nghiêm [sắc thân] (năng trang nghiêm). Nói tách ra, dụng ư nhằm
nêu rơ có Năng và Sở, chính là pháp duyên sanh. Nếu
là tánh vốn sẵn đủ th́ duy nhất không tịch,
đă chẳng phải là sắc tướng, há có năng
trang nghiêm (cái có thể trang nghiêm) và sở trang nghiêm (cái
được trang nghiêm) khác biệt!
“Phất dă” (thưa
không) là một câu linh hoạt, ư nói “vừa là có thể, vừa
là chẳng thể”. Bởi lẽ, Pháp Thân và Báo Thân chẳng
một, chẳng khác. Nếu hội quy vào tánh “chẳng
khác”, th́ là có thể thấy. Nếu chấp trước
tướng “chẳng một”, sẽ chẳng thể
thấy. V́ thế, [trưởng lăo] nói tiếp: “Bất
ưng dĩ sắc thân kiến” (chớ nên dùng sắc
thân để thấy). Phần trước nói “phất
dă” (thưa không), phần sau nói “bất ưng” (chớ
nên), tức là hô ứng khít khao, với dụng ư chỉ rơ:
Không có ǵ gọi là “có thể, hay chẳng thể”, chỉ
là “chẳng nên”. Nói Như Lai, nói “dĩ” (以, dùng), đều chứa
đựng ư nghĩa tinh vi. Nói một chữ Dĩ, hiển
nhiên là ư chấp tướng. Như Lai là nghĩa “các pháp
đều Như”, chính là “tánh chẳng khác”. Sắc thân là tướng “chẳng một”, há có
nên chấp vào cái tướng “chẳng một” để
thấy tánh “chẳng khác” ư? Những lời sau
đó hàm nghĩa “nếu diệt mất [ư niệm thấy
có] tướng, sẽ có thể thấy tánh”.
Từ “hà dĩ cố” (v́
sao vậy) trở đi, nêu ra ư nghĩa “chẳng nên”.
“Như Lai thuyết” là nói theo tánh. Nói theo tánh, sắc
thân trọn đủ chính là cái sắc thân thuộc về
quả báo hiện ra bởi đă tu nhân trong nhiều kiếp,
chính là pháp duyên sanh. Duyên sanh th́ chẳng phải là tánh, tức
Giả, tức Không. Do đó, nói “tức phi cụ túc sắc
thân” (tức chẳng phải là sắc thân trọn đủ).
Nhưng đă là bản tánh tùy duyên, bèn hiện ra cái tướng
do tu nhân quyết đạt được
quả. Tuy bản thể của nó là Không, mà tức Không, tức
Giả, danh tướng rành rành. V́ thế bảo “thị
danh cụ túc sắc thân” (th́ gọi là sắc thân trọn
đủ). Đối với “thị danh” và “tức
phi” của “cụ túc chư tướng” trong khoa
sau, cũng được giải thích như thế.
Nói chung là để nói rơ: Báo Thân là pháp duyên sanh, tuy Giả
mà là Không, tuy Không mà là Giả. Nếu chẳng hiểu
nghĩa “Giả chính là Không”, ắt sẽ chấp
tướng, mê muội tánh, sẽ là tánh và tướng cách
biệt, chẳng phải là một, sao có thể kiến
tánh? Nếu chẳng hiểu rơ nghĩa “Không tức là Giả”,
ắt sẽ lại chấp tánh mà phế
tướng. Tánh và tướng cũng
cách biệt, chẳng phải là một! Tức là cái
được trông thấy thật sự chẳng phải
là toàn thể tánh “vô tướng, vô bất tướng”,
sao cũng có thể nói là “kiến tánh” được
ư? V́ thế, ắt phải hiểu sâu xa đạo lư
duyên sanh, thấu hiểu sắc thân trọn đủ v.v…
Giả chính là Không, Không chính là Giả, chẳng chấp vào
hai bên. Sau đấy, tánh và tướng viên dung, chẳng
khác, kiến tướng sẽ kiến tánh. Cái được
trông thấy sẽ là “vô tướng, vô bất tướng”.
Đó cũng là toàn tánh Như Thật Không, Như Thật Bất
Không vậy!
Báo Thân thù thắng của Như
Lai c̣n là duyên sanh, có thể biết: Hết thảy các pháp
không ǵ chẳng phải là duyên sanh! V́ thế, hết thảy
các pháp đều chớ nên chấp. Hễ chấp, ắt
đọa vào một bên. “Chấp” nghĩa là “có giữ
lấy”. Hễ tâm có cái để giữ lấy là do động
niệm. V́ thế, muốn chẳng chấp giữ một
thứ ǵ, chỉ có cách ĺa niệm mà
thôi. Hăy nên biết: Đức Phật nói ra tông chỉ “các
pháp duyên sanh” chỉ nhằm dạy mọi người
thấu hiểu đạo lư “Giả chính là Không, Không
chính là Giả”, biết hết thảy các pháp vốn chẳng
thể chấp, mà cũng chẳng cần phải chấp,
do ĺa niệm vậy. Sở dĩ dạy ĺa niệm là v́ tu
cái nhân ĺa niệm, ắt đạt được cái quả
vô niệm, vẫn chẳng ra ngoài pháp duyên sanh. Vô niệm là
nói tới Phật trí, Chân Như. Do vậy, đủ thấy
pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, không ǵ chẳng phải
là duyên sanh, tức là không ǵ chẳng phải là nhân quả. Kẻ
chẳng có trí huệ do cái nhân ác mà chuốc lấy quả
ác, dùng nhân lành để vời quả lành, dùng nhân nhỏ
để chuốc quả nhỏ, dùng cái nhân hữu lậu
để vời các quả hữu lậu. Nếu khai tri
kiến của Phật, sẽ có thể dùng cái nhân thù thắng
để chiêu vời cái quả thù thắng. Thế nào là
thù thắng? Vô niệm mà thôi! Nói chung, pháp
nào cũng đều là duyên sanh. V́ thế, pháp nào cũng
đều là Không, chính là Giả. Do vậy, đối với
pháp thế gian và xuất thế gian, đều hăy nên chẳng
chấp hai bên; mà muốn chẳng chấp triệt để,
chỉ có ĺa niệm! Hơn nữa, pháp thế gian và xuất
thế gian đều là duyên sanh. V́ vậy, thế gian và xuất
thế gian đều chẳng ngoài nhân quả. Do đó, dùng
ĺa niệm làm nhân, sẽ chứng cái quả vô niệm Chân
Như.
Phàm các chỗ trong phần
trước hoặc phần sau khi nói “tức phi, thị
danh”, đều nhằm nói về nghĩa này, đều
dung thông với những điều vừa nói trên đây.
Do phần trước, c̣n chưa nói rơ nghĩa “các pháp
duyên sanh”, cho nên chẳng thể phát khởi lưu loát
như thế, nhưng nay th́ phải nên thông đạt
như vậy. Hăy nên biết: Thể lệ của kinh này
là từ nói rời rạc cho tới hoàn chỉnh. Trước
là diễn dịch rồi sau đó mới quy nạp. Do vậy,
những điều nói trong phần trước sẽ có
thể được chứng minh bởi điều nói
trong phần sau, ư nghĩa càng sáng tỏ hơn. Sở
dĩ dạy Bồ Tát phải thông đạt chuyện này,
tức là hăy nên dùng nghĩa trong phần sau để thông
đạt nghĩa trong phần trước. Giảng nói
toàn bộ kinh văn, phải nên thuận theo thứ tự
cạn, sâu, thuận theo kinh văn mà nói. V́ thế, khi giảng
nửa bộ trước, chỉ có thể hàm nhiếp các
nghĩa chánh yếu trong nửa bộ sau, trọn chẳng
thể đem nghĩa được nói phần sau của
kinh để thống thiết nói trong phần trước.
V́ sao vậy? Kinh văn trong phần trước có ư
nghĩa chánh yếu của riêng nó. Nếu chỉ chú trọng
nói nghĩa chung, chẳng đoái hoài mạch lạc, sẽ
khiến cho kinh nghĩa vốn rạch ṛi từng điều
bị nói thành tạp loạn, không có kết cấu, đâm
ra khiến cho người nghe chẳng biết đâu mà ṃ!
Nhưng khi nói tới ư nghĩa trong phần sau, nếu chẳng
đem những điều đă nói trong phần trước
thâu kết, quy nạp, sẽ trở
thành rời rạc. Không chỉ là những điều
đă nói trong phần trước chẳng được
quy kết mảy may, mà cũng chẳng thấy được
cái hay đẹp của những nghĩa được
nói trong phần sau, người nghe cũng lại chẳng
biết đâu mà ṃ!
Nếu người chú giải
phạm phải khuyết điểm ấy, đọc lời
chú sẽ thấy mờ mịt, mông lung, đầu mối
chẳng rơ ràng, muốn hiểu sâu xa khó lắm! Nói chung,
kinh này khó giảng v́ [thoạt
nh́n, dường như] trước sau chẳng khác, nhưng
trước sau sở dĩ khó giảng là chúng lại chẳng
đồng nhất. Khó ở chỗ các nghĩa trọng yếu
đa số thuộc phần sau. Cái lỗi thường phạm
khi giảng là chỉ có thể nh́n bóng phản chiếu của ngọn đèn trong màn, chẳng thể
nói thông suốt điều muốn nói. Phần sau khó giảng
ở chỗ lư sâu, cảnh vi tế, ngôn ngữ chẳng dễ
h́nh dung. Lại c̣n chỗ nào cũng dính tới một tầng
“ĺa danh, tuyệt tướng”, tuy có thể nói thông suốt
điều muốn nói, nhưng chẳng thể nói một
chữ kiên quyết liệt nào, kẻo đóng lấp cửa
ngộ của người khác. Trong hội, chắc
cũng có các vị thiện tri thức phát đại tâm muốn
hoằng dương kinh này, chớ nên không biết lư này!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2.
Nói rơ “tướng hảo chẳng phải là tánh”
(Kinh) “Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Như Lai khả dĩ cụ túc chư tướng
kiến phủ?” “Phất dă, Thế Tôn! Như Lai bất
ưng dĩ cụ túc chư tướng kiến. Hà dĩ
cố? Như Lai thuyết chư tướng cụ túc, tức
phi cụ túc, thị danh chư tướng cụ túc”.
(經)須菩提!於意云何?如來可以具足諸相見不?不也,世尊!如來不應以具足諸相見。何以故?如來說諸相具足,即非具足,是名諸相具足。
(Kinh: “Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng các tướng trọn đủ
để thấy Như Lai hay chăng?” “Bạch Thế
Tôn! Không ạ! Chớ nên dùng các tướng trọn đủ
để thấy Như Lai. V́ sao vậy? Như Lai nói các
tướng trọn đủ, tức chẳng phải trọn
đủ, th́ gọi là các tướng trọn đủ”).
“Hảo” (好) là tên gọi khác của
tướng, tức là những thứ phụ thuộc vào
h́nh tướng, tức các thứ tốt đẹp vi tế
khác với tướng. Do đó, gọi là “tùy h́nh hảo”
(隨形好). Nay nói “cụ túc chư tướng”
(trọn đủ các tướng), đă gồm thâu các hảo
trong ấy. Nếu chẳng có hảo, sẽ chẳng thể
gọi là “chư tướng cụ túc” (các tướng
trọn đủ). Nói thông thường, sẽ là ba
mươi hai tướng và tám mươi thứ hảo,
tức tướng hảo của Ứng Thân. Nếu là tướng
hảo của Báo Thân, sẽ như phẩm [Như Lai Thập
Thân] Tướng Hải của kinh Hoa Nghiêm đă nói. Trên
đỉnh đầu của Như Lai, có ba mươi hai
tướng báu trang nghiêm. Giữa hai mày, mắt, mũi, răng,
môi, cổ, mỗi nơi đều có một tướng
trang nghiêm. Lưỡi có bốn tướng, miệng có
năm tướng, vai phải hai tướng, vai trái ba
tướng, trước ngực một tướng, tức
tướng chữ Vạn (卍) cát tường. Hai bên bụng
có tổng cộng mười tướng, hai tay trái và phải có tổng cộng mười ba
tướng, âm tạng một tướng, hai mông, hai
đùi, hai bắp chân, tổng cộng sáu tướng, lỗ
chân lông một tướng, hai chân có tổng cộng mười
ba tướng. Trên đây có tổng cộng
chín mươi bảy loại diệu tướng, gọi
là “đại nhân tướng” (大人相). Muốn
biết danh xưng và tướng trạng, hăy nên kiểm
trong kinh văn[1]. Nhưng
đó vẫn là nói đại lược. Nếu nói trọn
đủ, sẽ các tướng đại nhân bằng với
số vi trần trong mười thế giới Hoa Tạng[2],
v́ tướng hảo của Báo Thân là vô lượng vô biên.
Nay nói “cụ túc” là nói đến điều ấy.
Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhất nhất thân phần, chúng bảo
diệu tướng dĩ vi trang nghiêm” (mỗi phần
trên thân thể được trang nghiêm bởi các diệu tướng
báu). Theo ư kinh ấy, có thể biết danh xưng “cụ
túc sắc thân” chính là nói “trọn đủ các tướng”.
V́ thế, trong phần trước, tôi đă nói “các
tướng có thể trang nghiêm, sắc thân là cái được
trang nghiêm”. Các nghĩa khác giống như phần trên.
Phàm những điều được nói trong khoa trước
như “tức phi, thị danh” v.v… đều
tương thông với phần này, chẳng cần phải
rườm lời. “Chư tướng cụ túc”[3] tức
là trọn đủ các tướng. Sắc thân và tướng
hảo của Phật sở dĩ được gọi
là thù thắng bậc nhất, chính do hai chữ “cụ
túc”. V́ thế, nói đảo lại để thấy
được ư nghĩa.
Từ mở
đầu kinh cho tới chỗ này, nêu ra thân tướng
để vấn đáp, tổng cộng ba lượt,
nhưng mỗi lần đều nêu lên với ư nghĩa bất
đồng. Nay chia thành ba tầng để nói, mỗi tầng
sau sâu hơn tầng trước.
1) Lần
đầu là hỏi “có thể dùng thân tướng để
thấy Như Lai hay không”, chỉ nói hai chữ “thân
tướng”, tức là hết thảy các thân tướng
đều được bao gồm trong ấy, không riêng biệt chỉ
thân tướng của Phật. Như Lai cũng là chỉ
chung tự tánh, chẳng chuyên chỉ Phật. Lần thứ
hai là hỏi “có thể dùng ba mươi hai tướng
để thấy Như Lai hay không”, tức là chuyên nói về
Phật, nhưng nói theo Ứng Thân. Lần này câu hỏi nói
“cụ túc sắc thân, cụ túc chư tướng”,
là nói theo Báo Thân của Phật.
2) Vấn
đáp lần đầu, chính là tiếp ngay sau “chớ
nên trụ tướng”. V́ thế, chỉ nói “thân
tướng tức phi thân tướng”, mà chẳng nói “thị
danh”, do hiển thị ư nghĩa “tướng đều
là hư vọng; do vậy, chớ nên trụ”. Vấn
đáp lần thứ hai, chính là để nói rơ “chẳng
hoại giả danh”, cho nên “tức phi” và “thị
danh” cùng nói, nhằm hiển thị ư nghĩa “nói theo
tánh th́ chẳng phải, nói theo tướng th́ chính là
[như vậy], chớ nên trụ vào hai bên”. Lần này
chính là để nói rơ “các pháp duyên sanh”. V́ vậy,
cũng cùng nêu “tức phi” và “thị danh”, nhằm
hiển thị ư nghĩa “pháp do duyên sanh là Không Hữu
đồng thời”.
3) Hai lần
đầu hỏi “khả dĩ thân tướng kiến
Như Lai phủ” (có thể dùng thân tướng để
thấy Như Lai hay chăng?) và “khả dĩ tam thập
nhị tướng kiến Như Lai phủ” (có thể
dùng ba mươi hai tướng để thấy Như
Lai hay không?). Như Lai là danh xưng của tánh đức; “thấy
Như Lai” giống như nói “thấy tánh”. Hăy nên biết:
“chớ nên trụ vào tướng” tức là kiến
tánh. Tánh chân thật, tướng hư vọng. Đuổi
theo vọng, liền trái nghịch chân. V́ thế, muốn thấy
tánh, chớ nên trụ tướng. Nhưng lần đầu,
dựa theo thân tướng để chỉ rơ “chớ
nên trụ”, v́ thân tướng và tánh liên quan mật thiết
nhất. Thân tướng c̣n là hư vọng, th́ có thể
biết các tướng [cũng là hư vọng]. Thân tướng
c̣n chẳng nên trụ, có thể biết là “các tướng
chớ nên trụ”. Nhưng nói “chẳng trụ”
nghĩa là đối với tướng, phải nên thấy
nó chẳng phải là tướng, th́ sẽ chẳng trụ,
sẽ có thể thấy tánh, chẳng phải là hoại
tướng rồi mới thấy [tánh]. Thân tướng
là như thế, các tướng đều là như thế.
Đấy là ư nghĩa
được minh thị trong lần vấn đáp đầu
tiên.
Lần thứ
hai “chẳng hoại giả danh” là nói sau khi đă ĺa
tướng danh tự và ngôn thuyết. V́ thế, xét theo
danh tự và ngôn thuyết của ba mươi hai tướng
để minh thị nghĩa chân thật của “ĺa
tướng”. Ư nói: Đối với
tánh Chân Như và cảnh giới ĺa niệm, chẳng thể
dùng danh tự để gọi tên, chẳng thể dùng ngôn
từ để diễn tả, chẳng thể dùng tướng
để biểu lộ tướng. V́ thế, phải
nên ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết để tự
chứng. Nhưng nói “ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết”
tức là phải nên biết danh tự và ngôn thuyết chẳng
thể diễn tả được tánh, chẳng phải
là nói “vô danh, vô ngôn, vô tướng”, mà chỉ là đối
với giả tướng của danh tự và ngôn thuyết,
nếu tâm chẳng chấp giữ, th́ sẽ là ĺa, th́ sẽ
thấy tánh. Thân Ứng Hóa của Như Lai chẳng phải
rơ ràng là có danh tự, ngôn thuyết của ba
mươi hai tướng ư? Tướng ấy thật
sự do Như Lai hiển hiện. V́ thế, hễ chẳng
chấp tướng, liền thấy Như Lai. Biết
đối với danh tự và ngôn thuyết của ba
mươi hai tướng nơi Ứng Hóa Thân hăy nên ĺa
như thế nào, sẽ biết đối với danh tự
và ngôn thuyết của hết thảy các pháp tướng
phải nên ĺa như thế nào? Đấy là ư nghĩa
được nêu rơ trong lần vấn đáp thứ hai.
Vấn
đáp lần này, thoạt đầu là hỏi “có thể
dùng sắc thân trọn đủ để thấy Phật
hay không?” Kế đó, hỏi “có thể dùng các tướng
trọn đủ để thấy Như Lai hay không?” Dù
nói là Phật, hay nói là Như Lai, đều có ư nghĩa tinh
vi. Hơn nữa, trong lời hỏi
trước chỉ nên nói Phật, câu hỏi kế tiếp
chỉ nên nói Như Lai, chẳng thể thay đổi! V́
sao vậy? Hăy nên biết: Phật là danh xưng của quả
đức. Sắc thân trọn đủ chính là Quả Báo
Thân. V́ thế, nói “sắc thân trọn đủ” th́ phải
nói bằng danh xưng Phật, nhằm hiển lộ thân ấy
chính là cái thân đạt được do quả báo v́
đă chứng quả thành Phật. Như Lai là danh xưng
của tánh đức, các tướng trọn đủ là
tướng tánh đức viên minh hiển hiện. V́ thế
nói “các tướng trọn đủ”, hăy nên nói danh
xưng Như Lai, nhằm hiển thị tướng ấy
chính là tướng do chứng tánh Chân Như mà hiển hiện
thành. V́ thế, trước là cùng nói Phật và “sắc
thân trọn đủ” nhằm minh thị “nhân quả
chẳng hư huyễn”. Kế đó, cùng nói Như Lai
và “các tướng trọn đủ” nhằm minh thị
“tánh và tướng như một”.
Trước
đó, tôi từng nhiều lượt nói La Thập đại
sư dịch kinh này, chẳng thừa thăi một chữ
nào. Chữ nào cũng đều chứa đựng ư
nghĩa tinh vi, chẳng thể coi thường một chữ
nào! Xem mấy khoa này, càng đủ để chứng minh.
Như vậy th́ thân này đă là Báo Thân của Phật quả,
v́ sao chẳng nên dùng thân này để thấy? Hăy nên biết:
Phật th́ có thể dùng sắc thân để thấy, chứ
Phật tánh sao có thể dùng sắc thân để thấy
cho được? Thấy Phật th́ hăy nên thấy Phật
tánh, há chỉ thấy thân Phật là xong ư? V́ thế, chẳng
nói “chẳng nên dùng sắc thân để thấy Phật”, mà nói “chớ
nên dùng sắc thân để thấy
Như Lai” là v́ lẽ này (tức là chẳng
dùng sắc thân để thấy Phật tánh được!)
Lời hỏi “có thể dùng sắc thân để thấy
Phật hay không?” chính là thăm ḍ kiến địa [của
thính chúng] là như thế nào? Bởi [hỏi như vậy]
là hỏi “có thể thấy Pháp Thân của Phật hay
chăng?” (tức
là hỏi “có thể dùng sắc thân để thấy
Như Lai hay không?”) Hay là chỉ biết “thấy sắc
thân Phật mà thôi?”
Các tướng
trọn đủ đă là tánh đức hiển hiện
toàn vẹn, v́ sao chớ nên dùng các tướng để thấy?
Hăy nên biết tánh và tướng tuy là như một,
nhưng hễ nói tướng th́ chẳng phải là tánh.
Đó gọi là “trong Viên Dung có Hàng Bố”, chẳng thể
luông tuồng, mơ hồ được! Do vậy, nếu
diệt mất các tướng để quán tánh, đă là chẳng có tướng
để quán niệm, có bao giờ chẳng thể thấy
tánh? Nếu
chấp tướng để kiến tánh, tức là chỉ
có quán niệm về tướng, sao lại có thể thấy
tánh cho được? V́ thế, chẳng nói “chẳng thể dùng các
tướng trọn đủ để thấy Như
Lai”, mà nói “chớ nên dùng các tướng trọn
đủ để thấy Như Lai” là v́ lẽ này!
Nhưng lời hỏi “có thể dùng các tướng trọn
đủ để thấy Như Lai hay không” cũng nhằm
thăm ḍ, khám nghiệm kiến địa [của hành nhân]
là như thế nào? Bởi lẽ, tánh và tướng tuy chẳng một mà thật
ra chẳng khác, tuy chẳng khác nhưng thật
ra chẳng một!
Có thể đối với tánh và tướng
biết sâu xa nghĩa thú, th́ sẽ đại khai viên kiến,
chẳng chấp một, chẳng chấp khác đó ư?
Hơn nữa,
lời
lẽ trong hai lượt hỏi lần này, bất đồng
rất lớn so với lời hỏi trong hai lần
trước. V́ thế, ư nghĩa được nêu bày bèn
khác biệt rất lớn. Bởi lẽ, lời hỏi
trong hai lần trước chỉ là hỏi có thể dùng
thân tướng hoặc ba mươi hai tướng để
thấy Như Lai hay không, đều là dựa theo phía
người thấy để nói, tức là dựa theo
địa vị tu nhân để nói. Lời lẽ trong hai phen hỏi
lần này là hỏi “có
thể dùng sắc thân và các tướng trọn đủ
để thấy Phật, Như Lai hay chăng”, tức là
xét theo phía Phật, Như Lai để nói, tức là nói theo
quả vị. V́ thế, hăy nên xét theo quả vị để
giải thích ư nghĩa. Giải thích như thế nào? Hăy nên
biết: Phật chứng quả cũng do duyên khởi, huống
hồ sắc thân! Tánh quang của Như Lai chiếu mà
thường tịch, há có các tướng? V́ thế, đều
nói “tức phi”. Lại phải nên biết: Đă là
nhân viên quả măn, bèn có sắc thân trọn đủ. Tuy
chiếu tịch mà tịch chiếu, không ǵ chẳng trọn
đủ các tướng. V́ thế, đều nói là “thị
danh”. “Tức phi” nhằm hiển thị cái Giả tức
là Không. “Thị danh” nhằm hiển thị cái Không tức
là Giả. Há chỉ là chẳng chấp hai bên, mà c̣n là hai bên
đều dung thông! Đó gọi
là bậc Bồ Tát từ trong viên dung mà thông đạt vô
ngă pháp; hăy nên biết như thế.
Không chỉ
là như thế! Hăy nên biết:
Các tướng viên măn chính là tánh đức viên minh hiển
hiện, há có nên chấp là “ĺa ngoài các tướng, riêng có
Pháp Thân” hay không? Do vậy nói là “thị danh”. Nhưng
cũng há có nên chấp các tướng duyên sanh là Pháp Thân. V́ thế
nói “tức phi”. Như vậy th́ c̣n chẳng nên chấp
các tướng do Như Lai hiện khởi để thấy
Như Lai, vậy th́ “chấp hết thảy các pháp tướng
duyên khởi sẽ chẳng thể thấy Như Lai
được” cũng rơ lắm rồi, mà cũng có thể
biết là “đều chẳng nên chấp vậy!” Hăy nên biết:
Sắc thân trọn đủ chính là quả báo thù thắng
của giác quả rốt ráo, há có nên chấp rằng “ĺa
ngoài sắc thân, riêng có Phật tánh” ư? Do vậy nói là
“thị danh”. Nhưng cũng há có nên chấp sắc
thân do duyên khởi chính là Phật tánh; v́ thế nói “tức
phi”. Như vậy th́ c̣n chẳng nên chấp Báo Thân trang
nghiêm để thấy Pháp Thân thanh tịnh. Vậy th́ “chấp
cái thân khổ báo Ngũ Uẩn duyên khởi, sẽ chẳng
thể thấy tự tánh Pháp Thân” cũng lại rơ lắm
rồi. Càng có thể biết “chớ nên chấp” vậy!
Nói chung, nói
“thị danh” là khiến cho chẳng “chấp khác”.
Nói “tức phi” nhằm dạy chớ nên “chấp một”.
Chẳng chấp “một,
khác” chính là viên
kiến. Kiến viên th́ tri cũng chánh. Tri chánh th́ kiến
cũng viên. Nếu biết hết thảy các pháp không ǵ chẳng
là duyên sanh, sẽ thấy hết thảy các pháp chẳng một,
chẳng khác! Thấy “chẳng khác” chẳng trở ngại
“chẳng
một”, v́ chúng vốn
là như một, đều là các pháp duyên sanh. Thấy nó “chẳng
một” sẽ chẳng trở ngại “chẳng khác”,
v́ tuy là các pháp mà đều là như một. Hăy nên thông
đạt như thế!
Trong phần
trên đă nói về phước đức. Phàm những ǵ
thuộc về thiện quả, bất luận lớn hay
nhỏ, đều là phước đức. Ở đây
nói về Báo Thân thù thắng, chính là phước đức
thù thắng nhất, to lớn nhất. Nhưng bất luận
lớn, nhỏ, thù thắng, kém cỏi, đều là dựa
theo cái quả để nêu rơ ư nghĩa. Dựa theo cái quả
để nêu rơ ư nghĩa, chính là nói rơ “không ǵ chẳng phải
là duyên sanh”. Đối với ư nghĩa duyên sanh trọng
yếu do đức Phật đă nói, nay tôi sẽ khái quát
thành ba loại để nói, mỗi tầng một sâu
hơn:
1) Khiến cho [hành nhân] biết
pháp thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều
là Không, chỉ có nhân quả chẳng không. V́ sao vậy? Do
đều là pháp duyên sanh. V́ thế, nhân quả đáng sợ.
Bởi đó, phải tu cái nhân thù thắng ḥng “khắc
thắng quả” (đạt được cái quả
thù thắng). “Khắc”
(剋) có nghĩa là “ấn định kỳ hạn
cầu chứng”.
2) Đă là “hết thảy
đều là Không”, nhưng nhân quả chẳng Không. Do vậy,
hết thảy các pháp là Không mà chính là Giả. Do chính là Giả,
cho nên nhân ắt có quả, nhân thù thắng ắt quả thù
thắng. Do tức là Không, cho nên nhân quả tuy thù thắng,
vẫn như không thực hiện chuyện ǵ. Đó gọi
là hiểu sâu xa nhân quả.
3) Đức Phật nói “hết
thảy các pháp duyên sanh”, với dụng ư chỉ rơ chúng
vốn bất sanh. Như trong mười hai thời, pháp
thế gian cũng tùy duyên mà thực hiện. Ngay trong lúc
pháp xuất thế gian thuận theo duyên mà khởi, có thể
liếc mắt bèn thấy “hết thảy các pháp vốn chẳng
có chỗ sanh”, tuy nh́n mà cũng chẳng tự cho là có thể
nh́n. Nhưng [nếu có ai] đối với pháp thế gian
và xuất thế gian, ngay trong khi đang tùy duyên, có thể thấy như
thế, ngay trong lúc đang nh́n mà chính là lúc tùy duyên như thế,
có thể xem người ấy như một
người lanh lợi. Trong là ba tế tâm, quy vào “chẳng
thể được!” Ngoài là hết thảy các pháp, quy
vào “vốn bất sanh”. Pháp của ta có chỗ để náu thân ư?
Đúng là “đă hiểu rơ một chuyện, trăm chuyện
đều hiểu rơ”, thiên hạ thái b́nh! Đức Bổn
Sư dạy chúng ta các pháp môn noi theo con đường thẳng,
chúng ta phải gánh vác, tận lực bươn bả tiến
về phía trước. Chẳng thấy rằng: “Ngày hôm
nay đă qua, mạng cũng giảm theo, như cá thiếu
nước, há có vui chi?” Nếu vẫn cứ lần
khân như cũ, bước một bước, lắc
lư ba lượt, dẫu hằng ngày xem kinh, nghe pháp, hiểu
được các lư lẽ, có ích ǵ đâu? Phải ngăn ngừa
Sở Tri Chướng nẩy sanh, nó c̣n tệ
hơn Phiền Năo Chướng nữa! Hăy mau rảo
bước lên!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.
Xét theo pháp thí để nói rơ Thể Không
Chia thành ba
đoạn:
1) Nói rơ chẳng có pháp nào để
có thể nói.
2) Nói rơ tánh của người
nghe là Không.
3) Nói rơ chẳng có pháp để
có thể được.
Sau phần
[luận định về] quả báo thù thắng của
phước đức, nói tiếp khoa lớn Pháp Thí, chính
là để nêu rơ “hết thảy các pháp đều là duyên
sanh”. V́ ắt có nhân duyên bố thí, Lục Độ, sẽ
có thể phát sanh sự tướng quả báo phước
đức thù thắng. Do đó, quả báo phước
đức thù thắng chính là nói theo cái quả, tức là
nói theo pháp được sanh. Khoa Pháp Thí này là nói theo cái
nhân. Nói theo cái nhân là v́ muốn hiển thị ư nghĩa “duyên
sanh vô cùng, nhân quả vô tận”. V́ sao nói như vậy?
Hăy nên biết: Hễ nói tới bố thí, sẽ có ba phương
diện, một là người bố thí, hai là người
nhận bố thí, ba là vật để bố thí. Do vậy,
một khoa lớn Pháp Thí này được chia thành ba tiểu
khoa:
1) Trước
hết, tiểu khoa “chẳng có pháp để có thể
nói”, tức là xét theo người bố thí.
2) Kế
đó, tiểu khoa “người nghe tánh Không” là nói theo
người nhận bố thí.
3) Tiểu
khoa thứ ba là “không có pháp nào để có thể
được”, chính là xét theo vật dùng để bố
thí.
Đức Phật nói ra các
pháp, đều nhằm diễn
tả những điều Ngài đă chứng. V́ thế,
[luận định] chẳng có pháp nào để có thể
đạt được, chính là nói theo pháp được
thí. Nhưng nếu nói theo phía người bố thí, v́ sao
biết thực hiện sự bố thí ấy, cũng
như có thể thực hiện sự bố thí ấy
như thế nào, nhân duyên chẳng giống nhau. Lại luận
theo phía người tiếp nhận bố thí, dùng ǵ để
thành tựu chúng sanh, lại c̣n có thể nghe pháp như thế
nào, nhân duyên cũng lại rất nhiều. Lại nói theo vật
được thí, vật ấy sanh như thế nào, lại
v́ sao mà đắc, nhân duyên cũng lại có đủ loại!
Xét theo nhân duyên thuộc ba phương diện ấy, sẽ
là muôn ngàn sai khác, nói vô tận. Huống chi ba phương diện
ấy nếu chẳng tụ hội một chỗ, một
lúc, sẽ chẳng có chuyện pháp thí phát sanh được!
Làm thế nào để chúng tụ hội? Lại là chẳng
có duyên th́ sẽ chẳng thể được! Do vậy,
có thể biết: Hết thảy mọi sự, không ǵ chẳng
là do nhân duyên sanh ra.
Không chỉ
là như thế! Đă có một duyên pháp thí, sẽ lại phát
sanh đủ loại quả. Quả lại trở thành
nhân, nhân lại trở thành quả. Quả nhân, nhân quả,
từ đó trở đi, ngàn sai vạn khác, vĩnh viễn
vô tận! Có thể thấy đủ loại sự tướng
thế gian và xuất thế gian được gọi là “các
pháp”, vốn chẳng phải là vật chi khác, chỉ là
nhân quả, quả nhân bất đoạn, hiển hiện,
biến huyễn trong tâm mục của chúng sanh đó thôi! Chúng
sanh chẳng biết quán sâu xa nghĩa thú ấy, do vậy bị
mê bởi tướng đó, bèn đặt tên là “pháp này,
pháp nọ”, nào có biết: Hễ nói tới cái nhân này th́ nó
chính là cái quả của cái nhân trước đó. Gọi
là quả, thật ra là cái nhân của cái quả sau đó!
Cái được gọi là “nhân pháp” hay “quả pháp”, bản
thân nó chẳng phải là một thứ cố định.
Đă chẳng phải là cố định, tức là chẳng
phải thật sự tồn tại! Há có phải chỉ
tồn tại trong một sát-na, đều thành dấu tích
của pháp trần đó thôi! Vậy mà cứ khổ sở
phân biệt, khăng khăng chấp trước pháp chi
đó nhất định là một pháp chi đó, há chẳng
phải là si dại ư? Không chỉ cho rằng sự tướng
là thật sự có, si mê mất rồi! Nếu
ngỡ sự tướng thật sự chẳng có,
cũng có bao giờ chẳng phải là mê! V́ sao vậy? Hết
thảy các pháp bất quá là nhân nhân, quả quả, lần
lượt diễn biến, huyễn hoặc tâm mục của
con người, chẳng thể ngưng trụ trong một
sát-na nào. Thế mà cứ chấp là thật sự có, tự
sanh ràng buộc, chẳng được tự tại.
Đấy là si hết mức, cố nhiên chẳng cần
phải nói nữa! Nhưng pháp tuy chẳng thật, từ
vô thỉ tới nay, hễ gặp duyên bèn dấy lên. Nhân quả, quả
nhân, liên tục trong mỗi sát-na, chưa hề đoạn
tuyệt! Cứ một mực chấp Không, chẳng biết
tùy thuận lư duyên sanh, nhờ vào nhân duyên thù thắng để
chứng quả thù thắng, đến nỗi chẳng thể
chứng tánh vốn chẳng phải duyên sanh, vượt
ngoài hết thảy các pháp duyên sanh để tự tháo gỡ
nỗi khổ trói buộc, đạt được niềm
vui tự tại, lại chẳng thể lợi dụng sự
lư duyên sanh ḥng tùy cơ
cảm duyên, chỉ bày đủ loại pháp để dẹp
khổ cho chúng sanh, ban vui cho chúng sanh. Kẻ chẳng thể
siêu xuất, ắt phải đọa lạc! V́ sao vậy?
Do ác thủ không! (Do chẳng chấp là thật sự có, mà
cũng chẳng tin tưởng nhân quả, bèn gọi là Ác
Thủ Không, ư nói kẻ ấy ắt sẽ tạo ác). Dẫu
chẳng phải là Ác Thủ Không, nhưng kẻ lệch về
Không, tuy có thể vượt ngoài duyên sanh, nhưng chẳng
thể lợi dụng duyên sanh, bèn ch́m đắm trong Không
Tịch, trở thành kẻ chỉ lo giải thoát cho riêng
ḿnh! (Loại người này chỉ có thể tu cái nhân nhỏ
nhoi, chứng tiểu quả, chẳng biết nhờ vào
nhân duyên thù thắng để chứng cái quả thù thắng.
V́ thế, tuy có thể siêu thoát, tự chứng tánh vốn
sẵn có, nhưng chẳng thể lợi dụng tùy duyên để
độ chúng sanh, như hàng Nhị Thừa chẳng hạn).
V́ thế, đức Thế Tôn quở trách là “tiêu nha, bại
chủng, đọa
vô vi khanh” (焦芽敗種墮無為坑, mầm
cháy, hạt lép, đọa
vào hầm vô vi!) Hai loại
bệnh chấp Không này, tuy khổ lạc bất đồng,
dẫu thăng trầm khác biệt vời vợi, nhưng
đều là vô trí huệ như nhau!
Đức
Phật nói khoa này, dụng ư là khiến cho mọi người
hiểu rơ sự lư duyên sanh để tránh khỏi căn bệnh
chấp Không, khiến cho người phát Bồ Đề
tâm tu Bồ Tát hạnh sẽ thông đạt pháp duyên sanh “Không tức Giả, Giả
tức Không” để rộng hành bố
thí, khiến cho ḿnh lẫn người đều thuận
theo lư này, Không lẫn Hữu đều chẳng chấp. Đă
vượt ngoài vạn tượng, lại ḥa ḿnh trong trần
hoàn, liền thành bậc Bồ Tát bi trí trọn đủ. V́
sao vậy? Chẳng chấp Hữu, tức là nhân ngă không.
Chẳng chấp Không, tức là pháp ngă không. Ngă lẫn pháp
đều không, đó là thấu triệt chánh trí Bát Nhă Tam
Không, liền chứng lư thể Bát Nhă “Không Hữu đồng
thời”. Thành Phật c̣n chẳng khó, há chỉ thành Bồ
Tát mà thôi ư? V́ thế nói: “Nếu Bồ Tát thông đạt
chẳng có ngă và pháp, Như Lai nói người ấy thật
sự gọi là Bồ Tát”.
Như trên
đă nói, có thể biết cả ba phương diện
“người bố thí, người nhận bố thí, vật
được bố thí” đều là pháp sanh bởi nhân duyên, nên bản
thể của chúng đều là Không. Do vậy, gọi là “tam
luân thể không”. Sánh ví cả ba phương diện
như Luân, v́ Luân (bánh xe) là vật xoay chuyển chẳng ngừng.
Hơn nữa, vật khác bị bánh xe cán qua sẽ tan nát,
chẳng c̣n. Dùng [chuyện này] để sánh ví nhân quả
quả nhân thay nhau diễn biến, chưa từng ngưng
nghỉ! Lại c̣n dùng đó để sánh ví tài thí phá tham
lam, keo kiệt, vô úy thí phá khổ năo, pháp thí sẽ có thể
khai chánh trí, phá tam chướng. Những điều vừa
nói trên đây đều là ư chỉ trọng yếu trong
khoa này. Nói rơ trước để khi tiến vào kinh
văn, [người đọc] sẽ dễ lănh hội
hơn!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.
Nói rơ “chẳng có pháp nào để có thể nói”
Lại chia làm hai phần:
1) Đúng căn cơ bèn nói.
2) Vốn chẳng thể nói.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.1.Đúng
căn cơ bèn nói
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.1.1.
Thuyết pháp vô niệm
(Kinh) Tu
Bồ Đề! Nhữ vật vị Như Lai tác thị
niệm, ngă đương hữu sở thuyết pháp, mạc
tác thị niệm.
(經)須菩提!汝勿謂如來作是念,我當有所說法,莫作是念。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Ông chớ nói Như Lai nghĩ như thế
này “ta sẽ có pháp
để nói”, đừng nghĩ
như thế).
Mấy khoa
tiếp theo đây, lư thú u huyền, sâu thẳm. Lời lẽ
sâu xa, ẩn kín, chẳng dễ thấy được!
Nh́n trực diện th́ là nói về ư nghĩa
Như Lai thuyết pháp, nhưng sâu thẳm bên trong là
dạy Bồ Tát hăy nên ĺa niệm như thế nào! Đó gọi
là “nói chuyện này mà ư ở nơi kia”. Nay trước
hết đối với ư nghĩa trực diện, bèn chia
thành nhiều tầng để thuyết minh rồi lại
nói ư chỉ trong những lời lẽ ấy.
Chữ Niệm
đầu tiên [trong đoạn chánh kinh trên đây] là nói
theo phía Như Lai, nh́n vào kinh văn, sẽ có thể thấy
rơ. Chữ Niệm trong “mạc tác thị niệm”
(đừng nghĩ như thế này) là nói theo phía trưởng
lăo, ư nói: Ông đừng nên nghĩ như thế. Chữ Niệm
ấy ứng với chữ Vị (謂, nói) trong
câu kinh văn trước đó. “Vị” là nói năng.
“Tác thị ngôn”, [hàm ư] do [người nghe sẽ có thể]
nghĩ như thế, bèn răn đừng nghĩ như
thế! Nói và nghĩ như thế th́ phạm lỗi ở
chỗ nào? Ở trong bốn chữ “tác niệm” (suy
nghĩ) và “ngă đương” (ta sẽ). Nói và nghĩ
như thế, sẽ là báng Phật! V́ thế, răn đừng
nói và nghĩ như thế!
Do lẽ nào vậy? Dưới đây từ “hà dĩ cố”
trở đi, sẽ nêu rơ nguyên do, sẽ nói cặn kẽ
trong đoạn kế tiếp.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.1.2.
Giải thích “hễ có niệm th́ là chấp”
(Kinh)
Hà dĩ cố? Nhược nhân ngôn Như Lai hữu sở
thuyết pháp, tức vi báng Phật, bất năng giải
ngă sở thuyết cố.
(經)何以故?若人言如來有所說法,即為謗佛。不能解我所說故。
(Kinh:
V́ sao vậy? Nếu có ai nói Như Lai có pháp để nói, tức
là báng Phật, v́ chẳng hiểu lời ta nói).
“Hà dĩ
cố” là hỏi nguyên cớ v́ sao chớ nên nói, nghĩ
như thế! “Hữu sở thuyết pháp” (có pháp
để nói), tức là trong tâm có pháp để nói, tức
là suy nghĩ ta sẽ [nói pháp như thế này, như thế
nọ]. Hễ thốt ra lời ấy, tội lỗi nhiều
lắm, ắt đọa Vô Gián. V́ sao vậy? V́ chính là báng
Phật! Do vậy, chớ nên nghĩ như thế, nói
như thế! V́ sao chính là báng Phật? Tợ hồ kinh
văn chưa nói rơ, nhưng thật ra đă ngầm dạy
trong hai chữ Như Lai rồi! Viên chứng bản tánh th́
mới gọi là Như Lai. Trong tánh không tịch, sao có niệm
cho được? Há lại có ta ư? Hễ
nghĩ “ta sẽ như thế này, như thế nọ”,
dĩ nhiên chỉ là phàm phu vọng tưởng chưa lặng,
ngă chấp chưa rỗng không. Vậy mà nói Như Lai
như thế, tức là coi Như Lai giống hệt
như phàm phu, chẳng phải báng bổ là ǵ? Hăy nên biết:
Thuyết pháp là Báo Phật hay Hóa Phật, trọn chẳng
phải là Pháp Thân Như Lai. Nhưng ắt phải chứng
đắc Pháp Thân th́ mới thành Báo Thân và Hóa Thân được.
V́ Báo Thân, Hóa Thân và Pháp Thân tuy chẳng một, mà chẳng
khác! Do đó, Pháp Thân vô niệm, vô thuyết, Báo Thân và Hóa
Thân tuy có nói, nhưng vô niệm. Kinh văn đặc biệt
nêu ra Như Lai để nói, với dụng ư hiển thị
điều này, nhằm dạy “chớ nên có ư niệm nghi
Phật có thuyết pháp hay không?” Hễ có mối nghi ấy,
chẳng khác nào nghi Phật tánh chẳng không tịch,
chưa chứng Pháp Thân, cũng tức là chẳng khác nói “Ngài
trọn chưa thành Phật”. V́ thế, nói “tức vi báng
Phật” (chính là báng Phật).
Hơn nữa,
Phật thuyết pháp, không ǵ chẳng đối ứng
căn cơ. Cơ (機) là cơ
duyên. Nói “đối cơ” chính là nói rơ thuyết pháp
cũng là duyên sanh. Thể của duyên sanh là Không; do vậy,
pháp vốn vô pháp! Như Lai đă chứng Thể không, cho
nên “nói chính là
chẳng nói”, có thể
bảo là có thuyết pháp ư? V́ sao đức Phật có
thể chẳng khởi niệm mà tùy duyên thuyết pháp? Chính
là như trong phần trước đă nói “khi tu nhân
được sức bi nguyện huân tập”. Lư này
đă được giải thích cặn kẽ nhất
trong kinh Kim Quang Minh bản mười quyển[4],
chớ nên không biết! Nay tôi trích dẫn để nói. Kinh
ấy dạy: “Phật vô thị niệm, ngă kim diễn
thuyết thập nhị phần giáo, lợi ích hữu t́nh”
(Đức Phật chẳng nghĩ thế này: Ta nay sẽ
diễn nói mười hai phần giáo để lợi ích
hữu t́nh). Mười hai phần giáo là nói Tam Tạng, nếu
tách ra tỉ mỉ th́ sẽ gồm mười hai bộ
phận. Đó là nói đức Phật nói Tam Tạng Kinh,
Luật, Luận ḥng lợi ích chúng sanh, trọn chẳng khởi
niệm “ta sẽ làm như thế”. Kinh lại dạy: “Nhiên
do văng tích từ thiện căn lực, ư bỉ hữu
t́nh, tùy kỳ căn tánh, ư nhạo, thắng giải, bất
khởi phân biệt, nhậm vận tế độ, thị
giáo lợi hỷ tận vị lai tế, vô hữu cùng tận”
(nhưng do sức thiện căn bởi ḷng Từ, đối
với các hữu t́nh đó, thuận theo căn tánh, ư
thích, thắng giải của họ mà chẳng khởi phân
biệt, tùy ư tế độ, chỉ dạy khiến cho họ
lợi ích, hoan hỷ tột cùng ngằn mé vị lai, chẳng
có cùng tận). Đấy là nói: Tuy Ngài chẳng dấy niệm
“ta sẽ thuyết pháp độ chúng sanh”, nhưng Ngài có thể
thuận theo căn tánh, ư thích, kiến giải của các chúng sanh ấy mà nói. Tuy
khéo ứng hợp cơ duyên như thế đến tột
cùng ngằn mé vị lai, khai thị giáo hóa, lợi ích hết
thảy, khiến cho họ đều hoan hỷ, thuyết
pháp vô tận, nhưng vẫn trọn chẳng có ư niệm
phân biệt cơ duyên. Đấy là chẳng dấy phân biệt
mà tự nhiên khế hợp độ sanh; điều
đó gọi là “nhậm vận” (任運, tùy ư). V́
sao Ngài có thể làm như vậy? V́ xưa kia, trong khi tu
nhân, bi nguyện trọn đủ, quán sâu xa duyên sanh, huân tập
thành sức chủng tử (thiện căn) khiến thành
ra như vậy! Nhưng khi Ngài tu nhân, vừa quán duyên sanh
giả hữu, vừa lại quán Chân Không vốn sẵn có
(trong phần khai thị về Chánh Tri trong kinh này, trước
hết nói “tâm hạnh chẳng thể được”,
tức là dạy quán Chân Không. Kế đó nói “các pháp duyên
sanh” là dạy quán Giả Hữu). Nếu
chẳng chứng đắc tánh Chân Không, dẫu trọn
đủ bi nguyện và quán sâu xa duyên sanh, vẫn chẳng
thể tùy duyên hiện khởi. Do đó, kinh [Kim Quang Minh] lại
c̣n dạy: “Y pháp Như Như, y Như Như trí, năng
ư tự tha lợi ích chi sự, nhi đắc tự tại
thành tựu. Y pháp Như Như, y Như Như trí, nhi thuyết
chủng chủng Phật pháp, năi chí Thanh Văn pháp”
(Nương theo pháp Như Như, nương vào trí Như
Như, có thể đối với chuyện lợi ích ta
và người mà được thành tựu tự tại.
Nương theo pháp Như Như, nương vào trí Như
Như, nói đủ loại Phật pháp, cho tới pháp
Thanh Văn). Đó là nói sau khi đă chứng tánh, nhị trí
(Căn
Bản Trí và Hậu Đắc Trí) thành tựu.
Nương vào hai trí ấy, hết thảy chuyện lợi
ích ta lẫn người đều được tự
tại thành tựu, không chỉ là tự tại nói đủ
loại pháp mà thôi! Chẳng cần dấy niệm phân biệt
mà tự nhiên thành; đó là tự tại. “Pháp như
như”: Pháp là pháp tánh, Như là Chân Như, chữ Như
kế tiếp hàm nghĩa “như một”. Đó là nói
giống như một với pháp tánh Chân Như. Đấy
là tên gọi khác của Căn Bản Trí. “Như Như
trí”: Chữ Như thứ nhất là “nhất như”
(hệt như nhau), chữ Như kế đó là Chân
Như. Trí là Căn Bản Trí. Đó là nói Chân Như và
Căn Bản Trí giống hệt như nhau, tức là tên gọi
khác của Hậu Đắc Trí.
Căn Bản
Trí tức là tánh thể (bản thể của tánh), Hậu
Đắc Trí chính là tánh dụng (tác dụng của tánh).
Đắc Thể rồi sẽ khởi Dụng. V́ thế,
các kinh khác dịch [trí này] thành Hậu Đắc Trí. Đối
với “hậu đắc” (後得, đạt được
sau khi đă đắc Thể) mà gọi là “căn bản”, cho nên
cũng gọi là Trí; thật ra, chỉ là tánh thể. Do vậy,
kinh ấy (kinh Kim Quang Minh) dịch là Pháp Như Như, chẳng
nói là Trí. Mỗi đằng đều có ư nghĩa riêng,
đều chấp nhận được! Bởi lẽ, Căn
Bản Trí là nói nó chiếu Chân, Hậu Đắc Trí là nói
nó chiếu Tục. Chiếu Chân thật ra là tánh quang duy nhất
không tịch, chẳng nói là trí th́ cũng được.
Chiếu Tục th́ soi xét sự tướng muôn ngàn sai
khác, cố nhiên phải nên gọi là Trí. Nhưng tuy nói là “soi
xét sai khác”, trọn
chẳng phải là dấy niệm phân biệt. V́ thế gọi
là Như Như Trí. Kinh [Kim Quang Minh] lại dùng thí dụ
để hiển thị lư ấy như sau: “Thí như
vô lượng vô biên thủy kính, y ư quang cố, không ảnh
đắc hiện chủng chủng dị tướng, không
giả tức thị vô tướng” (Ví như vô lượng
vô biên nước và gương, do nương vào ánh sáng, mà
nơi trống không ảnh hiện đủ loại
tướng khác nhau, Không tức là vô tướng). Nước
và gương đều sánh ví tánh, nước ví như
thanh tịnh, gương sánh ví sự viên măn. “Vô lượng
vô biên” ví như tánh trọn khắp hư không và pháp giới.
“Quang minh” là sánh ví hai trí (Căn Bản Trí và Hậu
Đắc Trí), Trí có nghĩa là quang minh. Không là sánh ví tánh thể
không tịch. Ảnh (h́nh bóng) ví như vọng niệm. “Dị
tướng” (các h́nh tướng khác nhau) sánh ví sự
tướng sai biệt. “Vô tướng” là sánh ví vô niệm.
Câu “không giả tức thị vô tướng” nói rơ ư
nghĩa “không ảnh” (h́nh bóng trong hư không), c̣n nói rơ:
Tuy hiện đủ loại tướng, nhưng trong ấy
vẫn là vô tướng; do vậy bảo là Không! Nói
chung, gương và nước do chẳng có trần cấu
mà tỏa ánh sáng. Nương vào ánh sáng ấy, cho nên có thể
từ trong cái Không chẳng có trần cấu mà hiện
đủ loại tướng. Phật tánh cũng thế,
vô niệm, không tịch, nên trí quang trọn khắp.
Nương vào trí quang ấy, cho nên trong không tịch vô niệm
mà có thể tự tại thành tựu đủ loại sự!
Có thể thấy tự tại thành tựu chính là do vô niệm
không tịch mà hiện ra trí quang.
Nay nói
Như Lai nghĩ “ta sẽ thuyết pháp”, liền [coi Ngài] giống
như phàm phu, há có phải là Như Lai ư? Đă chẳng
không tịch, há lại có thể thuyết pháp tự tại,
ư? Đó chính là dùng cái Thấy luân hồi để ḍ
lường biển viên giác, chẳng có lẽ ấy! Hăy
nên biết: Thuyết pháp như tiếng vọng từ
trong hang, hễ có cảm bèn ứng, trọn chẳng dụng
tâm! Lại như dùi và trống tương ứng, dùi đập
mạnh th́ trống kêu to, gơ nhẹ th́ trống kêu bé, tương
ứng thích đáng, tự nhiên là như vậy! Đức
Phật thuyết pháp là như thế đó. Đó là lư do v́
sao chớ nên nói, nghĩ như thế. Nhưng v́ sao lại
nói, nghĩ như thế? Đức Phật truy ra nguyên cớ
như sau: Chẳng có chi khác, do chẳng hiểu lời ta
nói đó thôi!
Chắc có
người nói: Trước đó, đức Thế Tôn từng
dùng “Như Lai có thuyết pháp hay không” để hỏi,
trưởng lăo đă đáp rơ rằng “Như Lai chẳng
nói”, v́ sao ở đây lại răn dạy, uốn nắn
trưởng lăo chớ nên nói, nghĩ Như Lai có thuyết
pháp? Lại c̣n bảo là “chẳng hiểu lời ta nói”,
chẳng biết Phật nói “chẳng hiểu” là thật sự
nói điều ǵ? Hăy nên biết: Trưởng lăo là bậc
đương cơ. [Đức Phật] đối
trước trưởng lăo nói, dụng ư nhằm uốn nắn,
răn nhắc đại chúng. Hăy xem trước hết
[đức Phật nói] “nhữ vật vị” (ông chớ
nói), kế đó bảo “nhược nhân ngôn” (nếu
có người nói), có bao giờ chỉ đích xác trưởng
lăo ư? Nói “chẳng hiểu”, là xét theo kinh này để
nói, nhằm ngăn ngừa [có kẻ] nghe các câu nói “vô hữu
định pháp Như Lai khả thuyết” (Như Lai chẳng
có pháp nhất định để nói), và [nghe] nói “Bồ
Tát vị lợi ích nhất thiết chúng sanh, ưng như
thị bố thí” (Bồ Tát v́ lợi ích hết thảy
chúng sanh, hăy nên bố thí như thế) trong những phần
trước đó mà chưa thể viên giải, ắt
sẽ hiểu sai lời nói “Như Lai vô sở thuyết”
(Như Lai chẳng nói ǵ), lại c̣n đối với các lời
khác, ắt cũng chẳng thể hiểu dung thông, sẽ
[cật vấn] rằng: “Bồ Tát c̣n phải nên hành bố
thí để lợi ích chúng sanh, huống hồ là Phật?
[Sao lại nói Phật chẳng thuyết pháp]?” Phật xuất
thế, vốn là v́ thuyết pháp, lợi sanh. Hơn nữa,
nay ngay như đang lúc hăm hở nói Kim Cang Bát Nhă, bèn nói
“Như Lai vô sở thuyết” ngụ ư: Nói xong bèn thôi,
chẳng lưu lại mảy may dấu tích. Trong phần
trước, chẳng nói rồi đó sao? Chẳng có pháp nhất
định để Như Lai có thể nói! Có thể biết:
Chỉ là không có pháp nhất định để có thể
nói, há có phải là không nói ǵ hết ư? Nói xong, chẳng
có ǵ để nói nữa! Chính ngay khi đang nói, há có thể
là chẳng có ǵ để nói ư? Tuy có pháp để nói,
tuy chẳng phải là vô niệm, nhưng các niệm khác đều
có thể ĺa. Nếu ĺa ư niệm thuyết pháp, dùng ǵ để
độ chúng sanh? Chẳng độ chúng sanh, sao có thể
c̣n gọi là Phật được nữa? Ở đây, sở
dĩ công khai nói Như Lai nghĩ thế này ‘ta sẽ có thuyết
pháp’, do chẳng
biết đấy là báng Phật. Kiến giải của
phàm phu thường là như thế! Trọn chẳng biết
[thấy, nghĩ như vậy] hoàn toàn tương phản
Phật pháp. Do vậy, có thể thấy: Giải có tầm
quan hệ to lớn. Do chẳng hiểu, nên tà tri, tà kiến;
do ư niệm hoài nghi mà tự lầm lạc. Lại nữa,
nói như vậy chính là phá hoại tín tâm người khác.
Do lầm pháp, lầm người, cho nên báng Phật, tội tới mức
đọa Vô Gián. V́ sao biết là do chẳng hiểu ở
chỗ này? Xem những điều được nói trong
đoạn kinh văn kế tiếp, chính là thống thiết
đâm một nhát kim vào chỗ chẳng hiểu, khiến
cho kẻ đó khai giải. V́ thế, biết như vậy!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.2.
Vốn chẳng thể nói
(Kinh) Tu
Bồ Đề! Thuyết pháp giả vô pháp khả thuyết,
thị danh thuyết pháp.
(經)須菩提!說法者無法可說,是名說法。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Thuyết pháp là không có pháp để có
thể nói, th́ gọi là thuyết pháp).
“Vô pháp khả
thuyết” (chẳng có pháp nào để có thể nói) ngụ
ư: Vốn chẳng thể nói. V́ sao vốn chẳng thể nói?
Do vốn chẳng có pháp, lấy đâu ra có thể nói? V́ thế
bảo là “vô pháp khả thuyết”. V́ sao vậy? Do hết
thảy các pháp, không ǵ chẳng là duyên sanh. Phần trước
đă nói “vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết”
(chẳng có pháp cố định để Như Lai có thể
nói), chính là nói rơ “vốn chẳng có pháp”, chỉ do
duyên hội tụ, giả hiện huyễn tướng. V́
thế, chẳng có nhất định. Vậy th́ chẳng
biết hướng theo duyên sanh để liễu giải
triệt để, cứ nẩy sanh đủ thứ hiểu
biết sai lạc, lầm mất rồi!
“Pháp” là duyên sanh,
“thuyết” cũng là duyên sanh, người thuyết
pháp cũng là duyên sanh. Đă nói là “duyên sanh”, chẳng
phải là không có pháp, chẳng phải là không nói, chẳng
phải là không thuyết pháp; nhưng duyên sanh vô tánh, bản
thể của nó là Không. V́ thế, tuy nghiễm nhiên có thuyết
pháp, nhưng đang lúc hừng hực nói, hiển nhiên là
lúc đang
có pháp, nhưng lại trọn chẳng thể
được! Điều này được gọi là “không
có ǵ để nói”, điều ấy được diễn
tả là “nói chính là chẳng nói”. Nếu cho rằng có
cái để nói, tức chẳng biết đấy là duyên
sanh, cứ chấp là thật. Hiểu nghĩa duyên sanh, sẽ
biết pháp vốn chẳng có pháp, cho nên “nói chính là
chẳng nói”. Ngay cả người thuyết pháp
cũng là “Không mà
chính là Giả”, tuy Giả
mà chính là Không, quyết chẳng đến nỗi hư vọng
nghĩ, nói như thế, mắc tội giống như
báng Phật! Sở dĩ phàm phu hư vọng nói, nghĩ
như thế, sai lầm căn bản không ǵ chẳng do cứ
ngỡ “đă có người
thuyết pháp, ắt có pháp để nói. Nếu chẳng có
pháp được nói, sẽ chẳng có người thuyết
pháp!” Như Lai ứng thế, vốn v́ thuyết
pháp độ chúng sanh, chẳng phải rơ ràng là có người
thuyết pháp ư? V́ thế, [phàm phu] hư vọng cho rằng “có pháp
để nói!” Đấy
toàn là do chẳng hiểu nghĩa Tam Thân, tưởng lầm
Pháp Thân thuyết pháp vậy (Pháp Thân chẳng nói, Báo Thân và
Hóa Thân mới có nói). Lại c̣n cho rằng: “Đă là thuyết
pháp, ắt có ư niệm thuyết pháp. Nếu chẳng có ư niệm
thuyết pháp, dùng ǵ để thuyết pháp?” Do đó,
hư vọng nói rằng: “Như Lai tác thị niệm,
ngă đương hữu sở thuyết pháp” (Như
Lai nghĩ thế này: Ta sẽ có pháp để nói). Lại
c̣n do hoàn toàn chẳng hiểu nghĩa “do vô niệm không tịch
th́ mới có thể thuyết pháp”. Do vậy, trong kinh
văn không chỉ nói “vô pháp khả thuyết” (chẳng
có pháp nào để
có thể nói), mà c̣n nói “thuyết pháp giả vô pháp khả
thuyết” (thuyết pháp là không có pháp để có thể
nói). Gộp hai câu lại để nói, chính là v́ phá trừ phàm
t́nh! V́ sao vậy? Thuyết
pháp đă
là chẳng có pháp nào để có thể nói, vậy
th́ chẳng thể chấp là “có thuyết pháp” đă rơ lắm
rồi! Đă là chẳng có pháp nào để có thể nói,
há có ư niệm thuyết pháp ư? Nhưng rơ ràng là có người thuyết
pháp, rơ ràng là có pháp để nói, đấy là như thế
nào vậy? Trọn chẳng biết đó là “thị danh
thuyết pháp” (gọi là thuyết pháp)! “Danh” là giả
danh. Hăy nên biết: Do là giả danh thuyết pháp, cho nên tuy gọi
là “thuyết pháp”, mà chẳng ngại không có pháp nào
để có thể nói. Tuy chẳng có pháp để có thể
nói, chẳng ngại gọi là thuyết pháp. Lại c̣n hăy
nên biết: Do là giả danh thuyết pháp, cho nên không có pháp
nào để có thể nói. Chính v́ không có pháp để có thể
nói, bèn có giả danh thuyết pháp và người thuyết
pháp (Do rỗng không vô niệm, bèn thành hai trí, có thể thuyết
đủ thứ Phật pháp, như kinh Kim Quang Minh đă dẫn
trong phần trước [đă nói]). Nếu hiểu
nghĩa này, sẽ chẳng dấy nghi niệm, thốt lời
hư vọng nữa, mà cái tội báng Phật cũng có thể
tránh khỏi! Phần trước đă nói: Đối với
các câu “thị danh” trong kinh này, hăy đều
hiểu là giả danh, chớ nên coi đó là thật. Xem câu “thị
danh vi tâm” (th́ gọi là tâm) trên đây, sẽ có thể hiểu
rành rẽ! Câu “thị danh thuyết pháp” (th́ gọi là
thuyết pháp) ở đây càng đủ để chứng
minh [điều ấy]. Bởi lẽ, nếu cho là thật
rồi nói “đấy gọi là thuyết pháp”, tức
là sẽ có pháp để nói. Một câu là như thế, các
câu khác đều là như vậy, trọn chẳng thể
cho là thật rồi nói quyết đoán được!
Trên đây
đă nói xong ư nghĩa theo phía trực diện. Hăy nên biết:
Một khoa lớn “khai Phật tri kiến” này đều
nhằm khơi gợi sự giác ngộ, khiến cho [hành nhân] thông
đạt lư này, trừ ngă kiến. V́ vậy, câu nói “mạc
tác thị niệm” (đừng nghĩ như thế) ở
đây nhằm uốn nắn, răn dè Bồ Tát chớ nên
khởi niệm: Đừng nói Như Lai dấy lên ư niệm
“ta sẽ làm điều này, điều nọ”. Đó là nói
rơ: C̣n chớ
nên có ư niệm [Như Lai có] thuyết pháp, huống hồ
các chuyện khác ư! Lại c̣n dạy quán chiếu tánh Chân
Như vốn chẳng có niệm, lại c̣n quán chiếu
nghĩa Như của các pháp, Không Hữu viên dung! Nói “tức
vi báng Phật, bất giải sở thuyết” (chính là
báng Phật, chẳng hiểu điều ta nói) nhằm nói
rơ: Nếu bỗng dấy niệm, liền trái nghịch ư
chỉ của Phật. Nếu nói “Phật có pháp để
nói”, há chẳng phải tánh phi pháp vẫn chưa tịnh
ư? Nói chung, chưa hiểu nghĩa “chẳng một,
chẳng khác”. Dẫu nghe Phật pháp, ắt khó lănh ngộ,
thấu hiểu, ắt sẽ chấp Hữu nghi Không, hoặc
chấp Không ngờ Hữu! Lầm pháp, lầm người,
tạo tội mà chẳng biết! V́ thế, chuyện quan
trọng hàng đầu trong học Phật chính là “kiến
viên, tri chánh”. Đó gọi là “khai giải” vậy.
Do vậy, lại khai thị ư nghĩa “thuyết pháp là
không có pháp nào để có thể nói, th́ gọi là thuyết
pháp”, khiến
cho [người nghe] lănh hội, thông đạt. Nếu biết
pháp do đức Phật đă nói, pháp vốn chẳng có
pháp, sẽ biết hết thảy các pháp, chẳng pháp nào không phải như thế!
Đă biết
pháp, cùng với ngôn thuyết, và người thuyết pháp
đều là duyên sanh, Không chính là Giả, Giả chính là Không,
hữu danh vô thật, sẽ biết hết thảy các pháp
thế gian, xuất thế gian, hết thảy ngôn thuyết,
hết thảy người học pháp, không ǵ chẳng
đều là như thế! Đă là người thuyết
pháp không có pháp nào để nói, vậy th́ người học
pháp đương nhiên cũng chẳng có pháp nào để
có thể chấp. Đă là chẳng có ư niệm thuyết
pháp, th́ người học pháp hăy nên quán chiếu Thể của các pháp duyên
sanh là Không, hội
quy nhất như. Quán lực sâu dần, phân biệt, chấp
trước sẽ mỏng dần, ngă kiến sẽ trừ
dần, niệm cũng ĺa dần! Nói “thông đạt vô
ngă pháp” là như thế đó! Bồ Tát hăy nên biết như
thế. Đó là nói rơ chỉ thú “chẳng có pháp để
có thể nói” vậy.
Tiếp
đó, bước vào ư nghĩa thuộc khoa kế tiếp:
“Nói rơ người nghe tánh Không”. Kinh văn trong khoa này
vốn chẳng có trong bản dịch của La Thập đại sư, mà là do
người đời sau, căn cứ theo bản dịch
đời Ngụy (tức bản dịch của ngài Bồ
Đề Lưu Chi đời Nguyên Ngụy) mà thêm vào.
Người thêm vào sớm nhất là ngài Khuy Cơ đời
Đường, nhưng mọi người chưa tuân
theo. Nhưng một người đề xướng, mọi
người hùa theo, liền trở thành văn bản cố
định kể từ khi pháp sư Đạo Ngung thời
Nam Đường[5]
khắc đá khởi xướng. Hoặc có thuyết cho
rằng: Năm Trường Khánh thứ hai (822) đời
Đường Mục Tông (Lư Hằng), [các tự viện hoặc
người chép hay in kinh] đă vâng theo sắc chỉ
mà thêm vào.
Nói như vậy không đúng! Bản chép tay kinh này của
ông Liễu Công Quyền chép vào năm Trường Khánh thứ
tư (824). Ông Liễu là bầy tôi nhà Đường, hai
năm trước vua đă hạ chiếu thêm vào, sao trong
sách của ông Liễu chẳng có? Sách San Định
Kư của ngài Trường Thủy đời Tống có
nói: “Nay thấy các bản gần đây có đoạn
này”. Lời ấy đủ chứng tỏ đến
thời Nam Đường mới thêm vào. Đầu thời
Tống cách Nam Đường khá gần, cho nên Ngài mới
nói là “bản gần đây”. ‘Thêm vào’ là do ư nghĩa
nào? V́ trong luận của ngài Vô Trước và bài tụng của
ngài Di Lặc đều có nghĩa này. Nhưng bảo bản
dịch đời Tần (bản dịch của ngài La Thập)
bỏ sót ư nghĩa “tam
luân thể Không” th́ dường như chưa
đúng lắm! Bởi trước đó, đă có phần
kinh văn nói Bồ Tát v́ lợi ích hết thảy chúng sanh
mà hăy nên bố thí như thế, “Như Lai thuyết nhất
thiết chư tướng, tức thị phi tướng” (Như
Lai nói hết thảy các tướng chính là chẳng phải
tướng). Lại nói “nhất thiết chúng sanh tắc
phi chúng sanh” (hết thảy chúng sanh tức chẳng phải
chúng sanh). Có lẽ
bản dịch đời Tần cho rằng “các tướng
chẳng phải là tướng” đă thâu nhiếp
tướng năng thí (người bố thí) và sở thí
(người được bố thí), gộp chung với
“chúng sanh chẳng phải chúng sanh” đủ để
tỏ rơ “tam luân thể Không” rồi! V́ vậy, chỗ
này lược bớt một đoạn chúng sanh, riêng hiển
thị nghĩa “Năng và Sở cùng mất”. Bởi lẽ,
trong phần trước đă nói “thuyết pháp là không có
pháp nào để có thể nói”, nhằm nói rơ người
có thể thuyết pháp là không, sau đó nói “chẳng có pháp
nào để có thể được” là nói rơ “pháp
được nói cũng là không”. Công phu tu tập đạt
tới chỗ tột bậc, ắt phải nên Năng lẫn Sở
đều là Không, th́ mới có thể tánh quang riêng chiếu,
vượt thoát căn trần! Nghĩa này được
Tâm Kinh diễn tả là “vô trí, diệc
vô đắc” (chẳng có trí mà cũng chẳng
có đắc). Bản dịch đời Tần cố ư bỏ
bớt, nhằm hiển thị công hạnh tấn
tu đạt tới cùng cực, quyết chẳng phải
là sai sót. Bản dịch đời Tần không chữ nào cẩu
thả, sao lại riêng bỏ sót nghĩa này? Tuy nhiên, có một
khoa này, ư nghĩa
càng thêm viên măn. Bản dịch đời Tần lược
đi, chẳng tránh khỏi “ngàn điều kín kẽ,
sơ sểnh một điều”. V́ thế, khi giảo
chánh lần này, hết thảy tôi đều tuân theo bản
chép tay của người đời Đường, chỉ
riêng khoa này là vâng theo bản khắc đá của ngài Đạo
Ngung, là do ư nghĩa này. Nay tôi sẽ nói tường tận
nguyên cớ phải nên thêm vào!
Đầu đời Thanh,
pháp sư Đạt Thiên soạn Tân Nhăn Sớ, chia kinh
văn thành bốn khoa lớn là Tín, Giải, Hành, Chứng,
rơ ràng là do kinh văn có ư nghĩa này. Như trong khoa Sanh Tín, trưởng
lăo trịnh trọng thưa hỏi “phả hữu chúng
sanh sanh thật tín phủ?” (há có chúng sanh sanh ḷng tin
chân thật hay không?) Đức Phật cũng trịnh trọng
đáp rằng “hữu tŕ giới, tu phước giả,
năng sanh tín tâm” (có người tŕ giới, tu
phước, sẽ có thể sanh tín tâm). Cuối khoa ấy,
lại kết lại rằng: “Phật và pháp Vô Thượng
Bồ Đề đều từ kinh này mà ra”. Nói “từ
kinh này mà ra” nhằm chỉ dạy người học
phải nên từ kinh này mà nhập! Tín là cửa ngơ để
nhập đạo; do vậy, cuối khoa này chính là nhằm
hiển thị ư kết lại này.
Khoa Khai Giải rộng bàn về quả hạnh để giảng rơ cái tâm
trong khi tu nhân. Trưởng lăo tự trần thuật [chính ḿnh] hiểu sâu xa nghĩa thú, chính là để dạy
mọi người hăy nên hiểu sâu xa giống như thế.
Đức Phật lại tường tận ấn chứng,
xiển dương, kết lại rằng: “Đương
tri kinh nghĩa, quả báo giai bất khả tư nghị”
(Hăy nên biết ư nghĩa của kinh và quả báo đều chẳng
thể nghĩ bàn). “Hăy nên biết” chính là “hăy nên hiểu”.
Do vậy, kết lại ư nghĩa “thấu hiểu sâu xa”.
Tới khoa Tấn Tu này,
trước hết là nói rơ “chẳng có pháp để phát tâm”. Kế đó, dạy [hành nhân] khai Phật tri
kiến, mà Phật kiến chính là chẳng chấp một,
hay chấp khác. Phật tri
chính là tam tế tâm (tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị
lai) đều chẳng thể được; hết thảy
các pháp vốn vô sanh. Tới phần kết luận, lại nói rơ: “Do vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả,
tu hết thảy các thiện pháp, liền đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Lại c̣n nói: “Thiện
pháp tức chẳng phải là thiện pháp”. Đấy là chỉ dạy
người học hăy nên thông đạt nội tâm lẫn
ngoại cảnh, Có chính là Không, Không chính là Có, chẳng chấp một hay khác, vô ngă, vô
pháp, dùng đó làm công phu tu tập duy nhất, ư nghĩa càng
rơ rệt. Bởi lẽ, ắt phải tu cái nhân vô ngă, vô
pháp, th́ mới chứng cái quả pháp giới b́nh đẳng.
V́ thế, trong khoa lớn thứ
tư này, nói rơ: Từ trong hết thảy các pháp vô ngă mà
được thành tựu Nhẫn. Thành tựu Nhẫn th́
gọi là Chứng. Những điều khác đều nhằm
nói lên ư nghĩa “tướng Không của các pháp trong pháp
giới b́nh đẳng”, đều là ư nghĩa “thành
tựu, chứng đắc” vậy. Tín, Giải, Hành, Chứng,
ư nghĩa của kinh văn được hiện thành minh
bạch, rành rẽ, riêng Tân Nhăn Sớ thấy
được điểm này. Các vị chú giải khác trước
nay chưa hề có [cách nh́n ấy]. Bản sớ giải ấy
có tên là Tân Nhăn Sớ, quả thật chẳng hư dối!
V́ vậy, trong khoa kế tiếp, tôi vâng theo cách phán định
ấy, chỉ đặt thêm các tiêu đề “ước
tâm minh vô trụ” (dựa theo tâm để giảng về
vô trụ) và “ước cảnh minh vô trụ” (dựa
theo cảnh để giảng vô trụ) thành hai khoa tổng
mục, ḥng khái quát cương lănh, ngơ hầu người
đọc nh́n vào sẽ thấy ngay: Hai nửa bộ
trước và sau giảng giải ư nghĩa khác nhau!
Hăy nên biết: Kinh Hoa Nghiêm
dùng Tín, Giải, Hành, Chứng để chỉ bày thứ tự
nhập đạo viên dung vô ngại. Kinh ấy được
nói khi đức Phật mới thành đạo, gia bị
chư đại Bồ Tát, và cùng nói cảnh giới tự
chứng của Như Lai. Cảnh giới ấy chính là “các
pháp nhất như, hết thảy đều là”
(nhưng Ngài chẳng tự nói, hiển thị “Pháp Thân
vô thuyết”). Kinh Kim Cang Bát Nhă nhằm chẳng đoạn
Phật chủng mà nói. Do vậy, cũng dựa theo thứ
tự nhập đạo của kinh Hoa Nghiêm là Tín, Giải,
Hành, Chứng, khiến cho người nghe cũng
nương theo thứ tự viên dung ấy mà nhập đạo,
ngơ hầu y bát truyền thừa, đèn nối đèn vô tận!
Tân Nhăn Sớ nêu ra nhăn mục ấy, do vậy là hay khéo. Cố
nhiên Tín, Giải, Hành, Chứng là bậc thềm để
nhập đạo, nhưng chữ Tín càng trọng yếu,
thành tựu từ đầu đến cuối chỉ do
tín tâm mà thôi! Há có phải Tín chỉ là cửa ngơ để
nhập đạo mà thôi ư? Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín vi
đạo nguyên, công đức mẫu, trưởng dưỡng
nhất thiết chư thiện căn” (Tín là nguồn
đạo, mẹ công đức, trưởng dưỡng
hết thảy các thiện căn). Hết thảy các
thiện căn cậy vào đó mà được
trưởng dưỡng. V́ thế, chuyện ǵ, pháp ǵ,
đều chẳng thể ĺa khỏi chữ Tín. Ngay
như kinh này cũng nói rơ ràng rằng “tín tâm thanh tịnh,
tắc sanh Thật Tướng” (tín tâm thanh tịnh bèn
sanh Thật Tướng). Đủ
thấy một chữ Tín quán triệt đến tận
cùng. Do vậy,
đức Phật đă khai thị tin như thế nào, giải
như thế nào, tu như thế nào, chứng như thế
nào. Người nghe phải nên vấn
đề mỗi khoa mục đều sanh tâm tín ngưỡng,
cũng lại tin như thế, cũng lại hiểu
như thế, cũng lại tu như thế, cũng nên chứng
như thế. Nếu không, sẽ như đếm của
báu nơi nhà người, chính ḿnh chẳng có nửa đồng!
Thử xem trong khoa Sanh Tín, [đức Phật] đă nói “tŕ giới, tu
phước, có thể sanh tín tâm, coi đó là thật” để
đáp lời hỏi của trưởng lăo. Lại nói “nhất
niệm sanh tịnh tín, đắc vô lượng phước
đức” (một niệm sanh ḷng tin thanh tịnh,
đạt được vô lượng phước đức).
Đấy chính là lời nói nhằm cổ vũ người
nghe đă có thể sanh ḷng tin, hăy dấy lên tín tâm tŕ giới, tu phước, ngơ hầu
có thể sanh ḷng tin chân thật, ḷng tin thanh tịnh. Trong phần
kinh văn Khai Giải, sau phần “hiểu sâu xa nghĩa
thú”, nói tới Tín càng nhiều. Như nói “tín tâm thanh tịnh,
tắc sanh Thật Tướng, tín giải thọ tŕ đệ
nhất hy hữu, tín tâm bất nghịch, kỳ phước
thắng bỉ, tâm tắc cuồng loạn, hồ nghi bất
tín” (tín tâm thanh tịnh bèn sanh ra Thật Tướng, tín
giải thọ tŕ hiếm có bậc nhất, tín tâm chẳng
trái nghịch, phước ấy hơn phước [bố
thí bằng vật báu, thân mạng], [nếu nói trọn
đủ phước đức, người nghe] tâm sẽ
cuồng loạn, hồ nghi, chẳng tin). Nói lặp đi
lặp lại như thế, đều nhằm chỉ rơ
tầm trọng yếu của thâm giải, mà cũng chính là chỉ bày nhằm cảnh tỉnh
người học phải nên đối với các
nghĩa được nói trong khoa Khai Giải mà sanh khởi
tín tâm, cũng như cầu khai tín giải sâu xa như thế.
Khai Giải tức là hiểu rơ Lư. Đă hiểu
rơ lư rồi, sẽ tin chân thật, tu chân thật, th́ mới
có hy vọng chứng nhập! Nếu không, tin mù quáng, tu mờ
mịt, uổng phí công phu! Do vậy, khoa này nói tới Tín nhiều
nhất.
Trong phần kinh văn thuộc
khoa thứ tư là “thành tựu, chứng đắc”, cũng có nói “ưng như thị tri,
như thị kiến, như thị tín giải” (hăy nên
biết như thế, thấy như thế, tín giải
như thế) để chỉ bày pháp giới b́nh đẳng
của Như Lai, vốn chẳng phải là phàm phu mà có thể
suy tưởng được, trọn chẳng thể
dùng phàm t́nh để suy lường. Chỉ có dốc ḷng
tin th́ mới có thể tùy thuận mà nhập được!
Nh́n từ đó, trong ba khoa lớn là Tín, Giải, Chứng,
đều đặc biệt nêu rơ chữ Tín làm trọng
điểm. Khoa Tấn Tu chớ nên riêng thiếu, riêng trong
bản dịch đời Tần th́ khoa này chẳng có một
chữ Tín. Do vậy, trích dẫn Tín được nói trong
khoa này từ bản dịch đời Ngụy (trong bản
dịch th́ đời Ngụy trừ khoa này ra, cũng chẳng
có chữ Tín nào khác) để bổ sung bản dịch
đời Tần, nhằm chỉ điểm, cảnh tỉnh
chỗ trọng yếu cho người học, khiến cho
họ biết: Phàm là đối với pháp
môn tấn tu được khai thị trong khoa này, đều
phải nên tin sâu, nương theo đó mà hành. Không chỉ
là như vậy, “các tướng chẳng phải là
tướng, chúng sanh chẳng phải là chúng sanh” trong
kinh văn thuộc đoạn trước tuy đủ
để chỉ rơ “tam luân Thể không”, nhưng trong ấy lại
nói kèm “thị danh”, [chính là] đă nêu rơ “chính là Không”, lại
tỏ rơ “tức là Giả”, nghĩa càng thêm hoàn bị. V́ thế,
dẫu đă có kinh văn trước đó, cũng chẳng
ngại trùng lặp. Bởi lẽ, kinh văn trong phần
trước chỉ nói “tức phi”, nhằm chỉ rơ “bố
thí chớ nên trụ tướng”. Kinh văn trong phần
này nói kèm thêm “thị danh”, là v́ chỉ rơ pháp thí và chúng
sanh đều là pháp duyên sanh, Không tức là Giả, hăy nên
chẳng trụ tướng mà bố thí. Do Giả tức
là Không, hăy nên thí mà chẳng trụ tướng. Do đó, chẳng
trùng lặp. Hơn nữa, nghĩa “các pháp duyên sanh”,
dường như chỉ có hai khoa “phước đức”
và “quả báo thù thắng”, nhưng chẳng dựa
theo bố thí để giải thích ư nghĩa. Đó chỉ
là xét theo cái quả để nói, chẳng nói theo nhân, ư
nghĩa cũng có đôi chút chưa trọn! Hơn nữa,
dựa theo “tam luân thể Không” để giải thích
ư nghĩa, bèn bao gồm cả ư nghĩa “Năng lẫn Sở
cùng mất” trong ấy. Bởi lẽ, người có thể
bố thí và pháp để thí, cố nhiên là Năng, Sở đối
đăi, nhưng người thí pháp
và chúng sanh nghe pháp, cũng là Năng và Sở đối
đăi. Do vậy, nói các nghĩa “tam luân Thể không” và
“Năng lẫn Sở cùng mất”, chẳng hề trở
ngại nhau! Nếu chỉ nói “Năng lẫn Sở cùng
mất”, sẽ chẳng thâu nhiếp “tam luân Thể không”. Do vậy, trong khoa này, riêng chẳng thuận
theo bản gốc mà thêm vào chính là v́ ư nghĩa
này.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.
Nói rơ “người nghe tánh Không”
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.1.
Thưa hỏi
(Kinh) Nhĩ thời, Huệ
Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: - Thế
Tôn! Phả hữu chúng sanh, ư vị lai thế, văn
thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ?
(經)爾時,慧命須菩提白佛言:世尊!頗有眾生,於未來世,聞說是法,生信心不?
(Kinh: Lúc bấy giờ,
Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Há có chúng sanh trong đời vị lai,
nghe nói pháp này mà sanh tín tâm hay chăng?)
“Nhĩ thời” (lúc bấy giờ) là khi nói khoa trước vừa
mới xong. Huệ Mạng là cách dịch khác của chữ
Trưởng Lăo. Đời Đường th́ dịch là Cụ
Thọ (具壽), danh xưng bất đồng, nhưng ư
nghĩa như nhau, đều là tiếng xưng hô dành cho bậc
tuổi cao, đức trọng. Bản dịch đời
Tần thích dùng danh từ vốn có sẵn từ trước,
nên dịch là Trưởng Lăo. Bản dịch đời
Đường thích chuộng từ ngữ mới tạo
ra, nên gọi là Cụ Thọ, nhằm biểu thị ư
nghĩa “sanh mạng lẫn huệ mạng, hai đằng đều trọn đủ”. Bản dịch đời
Ngụy chỉ nói là Huệ Mạng. Danh từ này dường
như chỉ nói một khía cạnh. Nhưng huệ chính là
nói tới Pháp Thân, Mạng là kiêm nói về sanh mạng,
cũng chẳng phải là không được! “Phả hữu”
hàm ư: Sợ rằng chẳng có nhiều! Ư của trưởng
lăo cho rằng hiện tại th́ chắc là có, nhưng chúng
sanh trong đời vị lai, do cách Phật càng xa, nghiệp
sâu, chướng nặng, chưa chắc đă có nhiều.
V́ thế nói là “ư vị lai thế” (trong đời
vị lai). “Thị pháp” (pháp ấy) là bao hàm chung ư nghĩa “chẳng có pháp để phát
tâm” được nói trong phần trên,
cho tới nói “vô pháp khả thuyết” (chẳng có pháp
để có thể nói). Ư nói: Phát tâm tu hành, ắt phải
nương vào pháp. Nay đă nói “chẳng có pháp”, lại
nói “thuyết pháp là không có pháp nào để có thể nói”,
nhưng nói đủ loại như thế, không ǵ chẳng
phải là pháp. Chúng sanh đời Mạt nghe như vậy,
sợ rằng sẽ hồ nghi sâu xa. Do vậy, [trưởng
lăo] hỏi: “Văn thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ?”
(Nghe nói pháp ấy, có thể sanh tín tâm hay không?) Hăy nên biết:
Những điều vừa nói trên đều là diệu
pháp “chẳng chấp vào pháp” và “tu ṛng vô ngă”. Ư hỏi của
trưởng lăo chính là chỉ dạy người học: “Hăy
nên tin vào diệu pháp này để tu hạnh vô ngă”.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.2.
Trừ khử chấp
(Kinh) Phật ngôn: - Tu Bồ
Đề! Bỉ phi chúng sanh, phi bất chúng sanh.
(經)佛言:須菩提!彼非眾生,非不眾生。
(Kinh: Đức Phật
nói: - Tu Bồ Đề! Họ chẳng phải là chúng
sanh, chẳng phải không là chúng sanh).
Chữ Bỉ chỉ chúng sanh nghe pháp. “Phi chúng sanh”
là nói theo tánh. “Phi bất chúng sanh” là nói theo tướng.
Nghĩa là: Nói họ chẳng phải là chúng sanh ư?
Nhưng chẳng phải là không phải chúng sanh! Nói họ
chẳng phải là không phải chúng sanh ư? Họ chẳng
phải là chúng sanh! Đấy chính là nêu rơ ư nghĩa “Không
chính là Giả, Giả chính là Không, hết thảy chúng sanh
đều là duyên sanh”.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.3.
Giải thích nhằm kết lại
(Kinh) Hà dĩ cố? Tu Bồ
Đề! Chúng sanh chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi
chúng sanh, thị danh chúng sanh.
(經)何以故?須菩提!眾生眾生者,如來說非眾生,是名眾生。
(Kinh: V́ sao vậy? Tu
Bồ Đề! Chúng sanh chúng sanh, Như Lai nói chẳng phải
là chúng sanh, th́ gọi là chúng sanh).
Khoa này nhằm giải thích
nguyên do nói “họ chẳng phải là chúng sanh, chẳng phải
là không phải chúng sanh” trong phần trên. Lặp lại
hai chữ Chúng Sanh là do tiếp nối ư “phi chúng sanh, phi bất
chúng sanh” được nói trước đó. “Như
Lai thuyết” là nói theo tánh. “Danh” là danh
tướng, ư nói: Vừa mới nói “phi chúng sanh, phi bất
chúng sanh” th́ đều là dựa theo tánh để nói. Phật
tánh vốn sẵn có, chẳng phải là chúng sanh. Cho nên nói “bỉ
phi chúng sanh”. Nhưng chỉ nói theo danh tướng th́ họ
là chúng sanh, cho nên nói “bỉ phi bất chúng sanh”. Khoa này
gộp chung với khoa trước, lời lẽ tột bậc
viên diệu, nghĩa tột bậc sâu thẳm, nay chia thành
ba tầng để nói!
1) Trưởng lăo hỏi
chúng sanh nghe pháp như thế, có thể sanh ḷng tin hay không?
Nhưng lời đáp chuyên dựa theo phía chúng sanh để
nói, đối với tầng Sanh Tín chẳng nhắc tới
một chữ nào, há chẳng phải là đáp chẳng
đúng câu hỏi ư? Thật ra, chẳng phải vậy!
Ư hỏi đă được giải đáp viên măn, bởi
chẳng đáp mà đáp. V́ sao nói vậy? Trưởng lăo lo
chúng sanh đối với pháp sâu này, chẳng thể sanh
ḷng tin, v́ cho rằng chúng sanh là chúng sanh, cho nên chẳng tránh
khỏi quan tâm. Nhưng lầm mất rồi! Đấy
là chấp tướng, mê muội tánh. Hăy nên biết: Dựa
theo tướng để quán, tuy chẳng phải “không là chúng sanh”, nhưng bất quá là giả danh của
duyên sanh. Duyên sanh th́ chẳng phải là tánh. Tánh ấy trên
th́ bằng với chư Phật, vốn chẳng phải
là chúng sanh! Như vậy th́ do đă trọn đủ Phật
tánh, há chẳng thể khai chánh tri của Phật ư? Do vậy,
người nghe pháp này, há chẳng thể tin tưởng
ư? V́ thế, bằng một lời “phi chúng sanh, phi bất
chúng sanh” đă bao gồm cả ư nghĩa “mạc tác
thị thuyết” (đừng nói như vậy) trong ấy!
2) Đức Phật nói khoa
này, chẳng khác dạy chúng sanh dùng nghe pháp làm phương
tiện để sanh tín. Phương tiện như thế
nào? Trước là quán tự thân mà thôi! Hết thảy chúng
sanh hăy nên quán các pháp Ngũ Uẩn này chỉ do nhân duyên tụ
hội, chẳng phải sanh, hay huyễn sanh, vốn sẵn
vô sanh. Nếu biết nghĩa này, tức là đối với
ư nghĩa “các pháp duyên sanh Không mà chính là Giả, tuy Giả
mà chính là Không, phát tâm tu hành, chẳng có pháp nào có thể chấp”
đă nói trên đây, sẽ tự có
thể sanh ḷng tin. Hăy nên biết: Người thuyết pháp
c̣n chẳng có pháp nào để có thể nói, vậy th́
người phát tâm nương theo pháp tu hành, há có pháp để
có thể chấp ư?
3) Khai thị lợi ích chúng sanh
hành bố thí Lục Độ, hăy nên từ ngay nơi
tướng mà ĺa tướng. Bởi lẽ, “phi bất
chúng sanh” nhằm dạy chúng sanh thấu hiểu chúng
sanh do duyên sanh chính là Giả, không ǵ chẳng phải là “thị
danh”. Hăy nên chẳng trụ vào đâu mà hành bố thí. Đó
là lư do trong phần trước đă nói “đều nên khiến
cho tất cả hết thảy các loài chúng sanh diệt
độ, nhập Vô Dư Niết Bàn”. Bồ Tát hăy nên
phát ḷng đại bi ấy. “Phi chúng sanh” là khiến
cho [hành nhân] hiểu chúng sanh duyên sanh chính là Không, vốn chẳng
phải là chúng sanh, hăy nên bố thí mà đừng trụ vào
tướng. Do vậy, trong phần trước nói “diệt
độ hết thảy chúng sanh rồi, nhưng không có một
chúng sanh thật sự diệt độ”. Bồ Tát hăy
nên trọn đủ đại trí ấy. Nói chung, nghĩa
duyên sanh xuyên suốt hết thảy. Tin được
nghĩa này th́ các nghĩa khác sẽ đều thấu triệt
mà tin sâu chẳng nghi.
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.3.
Nói rơ “không có pháp để có thể được”
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.3.1.
Trần thuật sự giải ngộ
(Kinh) Tu Bồ Đề
bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Phật đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vi vô sở đắc
da?
(經)須菩提白佛言:世尊!佛得阿耨多羅三藐三菩提,為無所得耶?
(Kinh: Tu Bồ Đề
bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Phật đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề là chẳng
có ǵ để đắc ư?)
Trên đây, đă dựa theo phước đức mà
nói nó chẳng thật. Do “vô thật” nên nói duyên sanh tánh
không. Phước đức to lớn th́ không chi hơn
trang nghiêm Báo Thân. V́ thế, tiếp đó, dựa theo thân
tướng trọn đủ để nói về tánh
Không. Hiện thân tướng ấy vốn là để
thuyết pháp. Do vậy, phần thứ ba là xét theo sự
thuyết pháp “chẳng có pháp để
nói” nhằm giảng về
tánh Không. Thuyết pháp vốn là để
độ chúng sanh; v́ thế, điều thứ tư là
xét theo phía chúng sanh để nói rơ
tánh Không. Truy theo từng tầng một, truy đến khoa
này, sẽ là “Không đến mức triệt
để” như cái thùng thủng
đáy. V́ sao nói vậy? Đức Phật hiện thân
tướng trọn đủ, đă vốn là để
thuyết pháp độ sanh, nhưng những điều Phật
nói vốn là diễn tả pháp mà Ngài đă đạt
được, cho nên gọi là Như Ngữ. Nay biết “không
ǵ chẳng phải là duyên sanh”, bản thể của
pháp duyên sanh chính là Không. V́ thế, thân tướng trọn
đủ là hữu danh phi thật. Thuyết pháp cũng là
hữu danh phi thật. Chúng sanh cũng là
hữu danh phi thật. Như vậy th́ há chẳng phải
là “đắc” tức “chẳng phải đắc”,
Phật tức chẳng phải Phật, một mực
đều là hữu danh phi thật ư? Như thế
th́ tánh không tịch chẳng vướng mắc một mảy
tơ tóc nào, nhưng Thể lại lộ bày; đấy
chính là ư chỉ chánh yếu trong khoa này!
Trước đó, trưởng lăo đă nói: Đức
Phật ở nơi Nhiên Đăng Phật, chẳng có
pháp đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
nhưng khi Ngài c̣n thuộc Bát Địa, do chẳng có ư niệm
“có pháp Bồ Đề”, v́ thế, nay liền thành Phật
đắc Bồ Đề. Nay bèn biết: Nói “Phật
đắc Bồ Đề” th́ cũng lại là “đắc mà chẳng có ǵ để đắc!” Ư sâu hơn phần trước, cho nên tự
trần thuật sự sơ ngộ, nói một chữ Da
[trong câu “vi vô sở đắc da” (chẳng có ǵ để
đắc ư)] chính là để hiển thị “Không tới
mức triệt để”, như t́nh cảnh lúc mới
tỉnh mộng vậy. Đó là dựa theo Sự để
nói. Nếu nói theo Lư, trưởng lăo đă sớm cùng
Như Lai tâm tâm in vào nhau. Nay trần thuật sự sơ
ngộ, chính là để chỉ dạy học nhân hăy nên thấu
hiểu tới tận cùng như thế nào, chẳng để
cho một mảy pháp chấp tồn tại! Sau đấy,
tánh Ngă Không hiển lộ, Thỉ Giác mới hợp với
Bổn Giác để thành đại giác. V́ thế, lại
thốt ra lời nghi vấn ấy để chỉ dạy
học nhân lần nữa: Tuy là ngộ như thế, hăy
nên thỉnh bậc mắt sáng để chứng minh. Trong
câu trước, trước hết nói “Phật đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” chính là
nói theo sự tu nhân chứng quả, chẳng phải là “rốt ráo chẳng đắc!” Câu kế tiếp
mới nói “chẳng có ǵ để đạt được”,
tức là nói nếu theo phương diện thuyết pháp,
chẳng phải là rốt ráo có Đắc. Nói chung là “vô đắc
mà đắc, đắc mà vô đắc”. Trong câu này, có
chữ trọng yếu, chớ nên mờ mịt [xem lướt
qua]!
2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.3.2.
Ấn chứng, giải thích
(Kinh) Như thị,
như thị! Tu Bồ Đề! Ngă ư A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề, năi chí vô hữu thiểu
pháp khả đắc, thị danh A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề.
(經)如是,如是!須菩提!我於阿耨多羅三藐三菩提,乃至無有少法可得,是名阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh: Đúng như thế,
đúng như vậy, này Tu Bồ Đề! Ta trong A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thậm chí chẳng
có chút pháp để đắc, bèn gọi là A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề).
Hai lượt nói “như thị” để ấn
khả lời [trưởng lăo Tu Bồ Đề] vừa
thưa trên đây “chẳng phải là rốt ráo không có
đắc, chẳng phải là rốt ráo có đắc”,
[ấn chứng trưởng lăo] lănh ngộ chẳng sai,
nghĩa do đức Phật đă nói càng sâu hơn! Truy tận
nguồn lời trưởng lăo nói, sẽ thấy giống
như nói “v́ sao không có ǵ để đạt được?
V́ nó vốn chẳng có chút pháp nào để có thể đạt
được!” Ư này chính là tiếp nối chữ Ngă mà
có. “Ta chẳng có chút pháp nào để có thể đạt
được” chính là nói rơ Ngă Không. Do Ngă Không, c̣n chẳng
thấy có chút pháp nào, há có chút pháp để có thể đạt
được ư? Đă không có chút pháp nào để có thể
đạt được, sao có Phật đắc pháp cho
được? Nói “năi chí” (thậm chí) chính là nói rơ
đă không, lại càng không hơn, nhất loạt quét sạch.
Chính ngay trong khi ấy, một niệm chẳng sanh, trạm
trạm tịch tịch, tánh đức viên minh. Nói chung,
trong tánh không tịch, vốn chẳng có chút pháp. Nếu thấy
có chút pháp, đó chính là ngă kiến; c̣n có ǵ để đắc?
V́ chẳng thấy có chút pháp để có thể đắc,
bèn là thật sự đạt được!
Câu nói “đối với Vô
Thượng Bồ Đề, ta chẳng có chút pháp nào
để có thể đạt được” tuyệt
lắm! Ta chẳng thấy có chút pháp nào để có thể
được! Trong lời ấy, hàm ư “chẳng phải
là rốt ráo không có pháp”, nên bèn nói tiếp “th́ gọi
là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, có ư
nêu rơ: “Chẳng phải là nói không có danh tự và ngôn thuyết
Vô Thượng Bồ Đề”. Lại c̣n chỉ rơ: Vô
Thượng Bồ Đề chỉ là danh tự và ngôn
thuyết, há có nên chấp trước ư? Do vậy, chẳng
có chút pháp nào để có thể đạt được!
Lại c̣n nêu rơ: Nói là “pháp”, hay nói là “đắc”, đều sanh bởi nhân duyên. Duyên sanh Thể
không. Chính ngay trong lúc có danh tự và ngôn thuyết như thế,
vốn là chẳng có chút pháp nào để có thể đắc.
Mắt nh́n bốn phía, tám phương diện long lanh. Ư nghĩa
“chẳng có pháp để đắc Bồ Đề”
trong phần trước đến đây bèn được xiển phát thông suốt, chẳng
c̣n thừa sót, tức là nghĩa “không có pháp nào để
phát Bồ Đề”. Đó chính là lư do khai chánh trí Bồ
Đề, ḥng được thông đạt vô ngă, vô pháp vậy!
Khoa “tâm hạnh chẳng thể được” trên
đây nhằm trừ khử Năng Chấp (chủ thể
có thể chấp trước), c̣n khoa “các pháp duyên sanh”
nhằm trừ khử Sở Chấp (đối tượng
bị chấp trước). Năng và Sở đối
đăi, dẫn dắt càng nhiều thứ hơn nữa! V́
thế, trong các pháp bị chấp ấy, lại có Năng
và Sở. Chẳng hạn như phước đức và
quả báo thù thắng là Sở Sanh (cái được sanh
ra), c̣n bố thí Lục Độ là Năng Sanh (cái có thể
sanh ra [phước đức, quả báo thù thắng]). Nói
theo pháp bố thí, Pháp là vật dùng để bố thí, Thuyết
là người có thể thí. Nói theo chuyện bố thí th́
người thuyết pháp [là
chủ thể] có thể bố thí, chúng sanh nghe pháp là đối tượng
được bố thí. Nếu phân biệt cặn kẽ,
Ngă là người có thể chứng, Pháp là cái được
chứng. Nói chung, hết thảy mọi sự không ǵ chẳng
phải là đối đăi. Hễ có đối đăi, liền
có Năng và Sở. Hễ có Năng và Sở, liền có phân
biệt. Có phân biệt, liền có chấp trước. Nhưng
hễ có chút phân biệt, đó là thức thứ sáu,
được gọi là “ngă tướng”. Có chút chấp
trước, sẽ là thức thứ bảy, được
gọi là “ngă kiến”. V́ thế, mỗi mỗi đều rơ ràng
là duyên sanh, khiến cho [hành nhân] biết “duyên sanh Thể không, hữu danh vô thật”, ắt phải nên từng bước quán
Không, trừ khử từng tầng một. Sở dĩ
đau đáu trừ khử pháp thuộc vào bên Sở, chính
là để đau đáu trừ khử cái Ngă thuộc bên
Năng. Bởi lẽ, cả hai vốn đều do đối
đăi, so sánh mà thành. Cái kia tiêu th́ cái này cũng tiêu; nhưng
trước hết nói “tâm hạnh chẳng thể
được” chính là thẳng thừng hướng về
phía Năng để trừ khử. Ngă tướng và ngă
kiến chẳng dễ trừ khử, phần nhiều bị
ngoại cảnh dời đổi. V́ thế, đối với
các pháp, càng nói cặn kẽ hơn! Do vậy, có thể biết
pháp để dụng công. Bởi lẽ, trừ được
Năng th́ cũng trừ được Sở, trừ Sở
liền trừ Năng. Trừ Năng và Sở chính là trừ khử phân biệt. Trừ
khử phân biệt tức là trừ khử chấp trước.
Trừ khử sạch phân biệt, bèn chuyển biến thức
thứ sáu. Trừ khử sạch chấp trước, bèn
chuyển biến thức thứ bảy. Hai thức đă
chuyển, th́ ngă lẫn pháp cùng Không, đều là nhất
như. Đều là nhất như th́ gọi là b́nh đẳng!
V́ thế, tiếp đó nói đến pháp b́nh đẳng,
thẳng thừng hiển lộ tánh thể.
2.2.2.2.2.2.1.2.2.
Kết lại lời dạy
2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.
Chỉ thẳng tánh thể
(Kinh) Phục thứ, Tu
Bồ Đề! Thị pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ,
thị danh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(經)復次,須菩提!是法平等,無有高下。是名阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh: Lại nữa, Tu
Bồ Đề! Pháp ấy b́nh đẳng, chẳng có cao,
thấp, th́ gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề).
Khoa “kết lại lời dạy” này chính là phần
tổng hợp các nghĩa đă được nói trên
đây. Những điều được nói trên đây,
dù Lư, Sự, tánh, hay tu, ngàn muôn đầu mối đều
được kết lại trong mấy hàng này. Các
nghĩa như tấm lưới, mấy hàng kinh văn này
như mối lưới chính. Hễ nắm lấy mối
lưới chính giơ lên, các mắt lưới đều
căng ra. V́ vậy, nếu tâm có thể hiểu rơ ràng ư
nghĩa trong mấy hàng này, các nghĩa sẽ đều được
hiểu xuyên suốt, đều biết cách vận
dụng. Nếu chẳng phải như vậy, tuy nghe nhiều
nghĩa, trọn cảm thấy rời rạc, vụn vặt
như cát rời. Nếu chưa thể nắm được
đạo lư trọng yếu, sao có thể nắm
được chỗ then chốt trong công phu tu tập?
Như vậy th́ khoa này có tầm quan hệ to lớn, hăy
đều nên lắng ḷng lănh hội, chẳng cần đợi
phải nói nữa!
“Phục thứ” (lại nữa) là nêu riêng một nghĩa,
ḥng làm sáng tỏ nghĩa trước đó. Những điều
được nói sau đó đều nhằm nói rơ nguyên do
Bồ Đề chẳng có chút pháp nào. V́ thế, dùng hai chữ
Phục Thứ để chỉ bày. Hai câu “thị pháp
b́nh đẳng, vô hữu cao hạ” (pháp ấy b́nh đẳng,
chẳng có cao thấp) chính là nói đến Vô Thượng
Bồ Đề. Nhưng chớ nên hiểu hai chữ “thị
pháp” (pháp này) là nói đến Vô Thượng Bồ Đề,
chứ không riêng hai chữ “thị danh” chẳng thể
hiểu là Bồ Đề! V́ sao vậy? Ư chỉ của
kinh là v́ người chấp trước Bồ Đề
mà trừ khử sự “chấp thật” ấy (tức chấp
trước “thật sự có pháp để đắc Bồ
Đề”). Huống chi ở đây c̣n nói rơ nguyên do “Bồ
Đề chẳng có chút pháp”, há có nên hiểu và nói hai chữ
“thị pháp” là Vô Thượng Bồ Đề ư?
Nếu hiểu và nói như vậy, há chẳng phải là Bồ
Đề có pháp ư? Ngay cả Tân Nhăn Sớ cũng chẳng
tránh khỏi bệnh này.
Chỉ có hai bản chú giải của ngài Tăng Triệu
và Trí Giả là hay nhất. Lời chú giải như sau: “Người
chẳng có sang, hèn, pháp chẳng có tốt, xấu, thênh thang
b́nh đẳng, đó là nghĩa Bồ Đề vậy”.
Bởi các quan niệm bất b́nh đẳng như tốt,
xấu, sang, hèn đă hết sạch chẳng c̣n, th́ là
đă b́nh lại c̣n đẳng. Đấy chính là nghĩa
Bồ Đề. Lời ấy đă nói rơ “chính là Bồ
Đề”, nhưng lại chưa hề nói xác quyết,
[do vậy], tột bậc tận lư, khế
hợp khéo léo ư chỉ của kinh. Do vậy, có thể biết:
“Thị pháp” [trong câu “thị pháp b́nh đẳng”]
là bất cứ pháp nào, giống như nói “hết thảy
các pháp” vậy!
“Vô hữu cao hạ” (chẳng có cao, thấp) chính là nêu rơ sự
b́nh đẳng ấy. Hăy nên biết: Hết thảy các
pháp có cao hay thấp, đều là do vọng kiến phân biệt,
chấp trước của chúng sanh mà thấy là như thế.
Thật ra, tánh của hết thảy các pháp b́nh đẳng,
chẳng có cao, thấp. Đă chẳng cao, thấp, há lại
có pháp Vô Thượng Bồ Đề? V́ thế nói là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Bởi lẽ, chẳng
có ǵ để gọi, bèn giả lập danh xưng ấy.
Do vậy, Bồ Đề chẳng có chút pháp để có
thể đạt được! Nếu Vô Thượng Bồ
Đề có chút pháp, đă nói là Vô Thượng, sẽ có
tướng cao thấp rành rành, há có phải là tánh b́nh đẳng
ư? Đức Phật thành Phật, chính v́ đă chứng
pháp tánh b́nh đẳng ấy. V́ thế nói “Như Lai giả,
chư pháp Như nghĩa” (Như Lai là nghĩa Như của
các pháp). Do vậy, thấy hết thảy các pháp đều
là Phật pháp. V́ thế, Như Lai đạt được
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, trong ấy,
chẳng thật, chẳng hư. V́ sao vậy? Các pháp nhất
như, do các pháp là b́nh đẳng. Hết thảy các pháp
đều là Phật pháp v́ chẳng có cao, thấp. Pháp tánh
đă b́nh đẳng, giống hệt như nhau, há có ǵ
để có thể đạt được? V́ thế
nói là “chẳng thật”. Chính ngay trong lúc chẳng có
chút pháp để có thể đạt được, pháp
tánh b́nh đẳng nhất như viên măn hiển hiện.
V́ thế nói là “chẳng hư”.
Hăy nên biết: Chẳng có cao, thấp, sẽ dứt bặt
các đối đăi. Không có đối đăi, bèn thành tuyệt đối; do vậy, giả gọi
là Vô Thượng. Chẳng cao, thấp, sẽ là b́nh đẳng;
do vậy, giả gọi là Chánh Đẳng. V́ sao chẳng
cao, chẳng thấp mà b́nh đẳng như thế? Do chẳng
giống như phàm phu bất giác, ngang ngược dấy
lên phân biệt, chấp trước, mà cũng trọn chẳng phân chia năng giác và sở giác. Do
vậy, giả gọi là Chánh Giác. V́ thế, có thể biết:
Chính v́ chẳng phân biệt pháp, chẳng chấp trước
pháp, lại chẳng thấy có pháp, bèn gọi là Vô Thượng
Chánh Đẳng Giác. Như thế “chẳng có chút pháp”
đă rơ ràng rồi! Pháp tánh vốn là như thế, đức
Phật chỉ v́ hiển thị tánh vốn sẵn có ấy;
vậy th́ “chẳng có chút ǵ để đắc”
cũng đă rơ rồi! Do vậy, trong A Nậu Đa La Tam
Miệu Tam Bồ Đề, ta thậm chí chẳng có chút
pháp để có thể đắc.
Nửa bộ trước nhằm
dạy “chẳng trụ hết thảy
các pháp”
để trừ
khử ngă chấp phân biệt, không ǵ chẳng nhằm hiển
thị tánh b́nh đẳng. Nửa bộ sau dạy “đối với pháp Bồ Đề, cũng nên vô trụ”, nhằm trừ khử Câu Sanh Ngă Chấp, cũng không ǵ chẳng v́ hiển thị
tánh b́nh đẳng. Cho tới sau khi đă nói nghĩa
Như của các pháp, lại dùng nghĩa “chẳng thể
được” để rỗng không cái tâm năng chấp.
Lại dùng nghĩa “duyên sanh” để rỗng không pháp bị chấp.
Năng lẫn Sở đều không, tánh thể b́nh đẳng
bèn hiển hiện. Do vậy, đặt tên cho khoa này là ‘trực
hiển tánh thể” (chỉ thẳng tánh thể). Có thể
thấy: Cái được gọi là pháp Vô Thượng Bồ
Đề chẳng có ǵ khác, chính là tánh b́nh đẳng, nhất
như của các pháp! Nếu có chút bóng dáng của pháp Bồ
Đề, sao có thể kiến tánh? V́ sao vậy? Tánh thể
không tịch, cho nên b́nh đẳng. Hễ có chút phân biệt,
chấp trước, sẽ có cái được lập,
c̣n có ǵ là không tịch nữa ư? Hễ có chút cái
được lập, liền thấy cao, thấp, c̣n có
ǵ là b́nh đẳng nữa ư? Bồ Tát phải nên thông
đạt lư này, trừ khử hết sạch phân biệt, chấp trước mà vô ngă.
Đó gọi là “hết thảy các pháp tánh vốn chẳng
có cao, thấp”. Sự vật trước mắt không ǵ
chẳng là như thế! Hiềm rằng chúng sanh chẳng
biết quán chiếu chi hết. Ví như có một sự,
hoặc một vật ở nơi đây, hễ trông thấy
bèn cho là đáng mừng, hoặc thấy rồi nghĩ là
đáng ghét! Nhưng chuyện ấy hay vật ấy, không
ǵ chẳng phải là tùy mỗi người mỗi khác!
Đủ thấy tánh của hết thảy các pháp vốn
chẳng có cao, thấp. Thích hoặc ghét sai khác là do mỗi
người mà khác, chẳng ăn nhập ǵ với sự
vật!
V́ thế, người hay sầu
th́ không ǵ chẳng sầu! Dẫu gặp cảnh chẳng
đáng sầu, họ vẫn sầu muộn, nhíu chặt
mày! Kẻ t́m vui th́ không lúc nào chẳng ham vui, dẫu là chuyện
chẳng thể vui, họ vẫn gượng cười
toe! Hoàn cảnh như nhau, mà do mỗi người cảm
nhận, trở thành muôn vàn t́nh trạng bất đồng!
Lại như lấy nước để nói. Con người
thấy là nước, rồng, cá thấy là sào huyệt, Tu
La bèn thấy là đao, trượng, ngạ quỷ thấy
là máu, mủ. Kinh dạy “thử do nghiệp lực sở
trí” (đấy do nghiệp lực mà ra). Hăy nên biết:
Nghiệp lực do đâu mà thành sai biệt như vậy?
Chính v́ ngay từ đầu, ngă kiến phân biệt, chấp
trước mỗi đằng mỗi khác, bèn dẫn
đến tạo nghiệp bất đồng! Như huệ
nhăn của Nhị Thừa, thấy nó vốn là Không, và chẳng có nước. Pháp nhăn của Bồ Tát
không chỉ thấy nó vốn là Không, mà c̣n thấy đủ
loại sự tướng sai biệt của nước.
Đủ loại cách thấy bất đồng như thế,
nhưng nước trọn chẳng chia thành cao thấp
như thế! Phật nhăn th́ thấy như một. “Như
một” là tánh nước vốn là Không, cho nên tùy duyên mà
hiện các tướng trong, đục v.v… Dẫu hiện
các tướng trong, đục, tánh nước vẫn vốn
là Không y hệt! Hết thảy
các pháp không ǵ chẳng như thế. Đó gọi là “pháp
này b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp”. Hăy nên biết:
Gọi là “b́nh đẳng”, chẳng phải là chèn ép
cho người cao lọt xuống thấp, nâng kẻ thấp
lên cao! Đấy chính là vọng kiến phân biệt, chấp
trước, khiến cho càng thêm bất b́nh đẳng!
Càng cầu b́nh đẳng, càng cảm thấy rối loạn
thêm! Đức Phật nói “b́nh đẳng”, chính là dạy
trừ khử phân biệt, trừ khử chấp trước.
Mặc cho nó cao chót vót hay thấp lè tè, mỗi thứ thuận
theo tánh phận của nó, chẳng nhiễu loạn nhau th́
hết thảy b́nh đẳng! Đấy là chánh nghĩa của
b́nh đẳng. V́ thế, kẻ hâm mộ phong thái b́nh
đẳng, hăy nên khởi đầu bằng “b́nh” cái
tâm ḿnh, bằng “đẳng” cái tâm ḿnh trước
đă!
2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.
Dạy đích xác công phu tu tập
(Kinh) Dĩ vô ngă, vô nhân,
vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện
pháp, tắc đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề.
(經)以無我無人無眾生無壽者,修一切善法,則得阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh: Dùng vô ngă, vô nhân,
vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện
pháp sẽ đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề).
Khoa trước đă dùng “thị pháp b́nh đẳng,
vô hữu cao hạ” (pháp này b́nh đẳng chẳng có
cao thấp) để thẳng thừng hiển thị tánh
thể. Nhưng tánh thể ấy, ai nấy vốn sẵn
đủ, chẳng ai là không có, chỉ v́ vọng
tưởng (tức là phân biệt), chấp trước,
mà chẳng thể chứng đắc (đấy là dẫn
theo ư của kinh Pháp Hoa). Đức
Phật v́ một
đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời,
chính là đại sự nhân duyên ấy! Đức Phật
nói kinh này, cũng v́ đại sự nhân duyên ấy. Từ
mở đầu kinh này, ngàn lời vạn lẽ, nói ngang,
nói dọc, bóc tách từng tầng, gột rửa từng tầng,
chính là gột sạch để bản lai diện mục
lộ ra, khiến cho đại chúng nhận biết. Nhận
biết rơ ràng th́ mới biết: Chẳng chiếu theo các
nghĩa trên đây để chân thật tu tập, sẽ
chẳng thể chứng đắc! Bởi lẽ, tánh thể
tuy là vốn sẵn có, nhưng đă bị phân biệt, chấp
trước làm ô uế, chẳng phải là diện mục
vốn sẵn có. Chẳng khử sạch cái tâm cao thấp,
kiến chấp bất b́nh đẳng, sao có thể thấy
cái sẵn có cho được?
Nhưng những điều kinh nói vẫn là lời lẽ
trong sách vở, chẳng phải là của chính ḿnh. Muốn
cất bước, chẳng thể không mở mắt! Mở
mắt chính là để cất bước. Nếu chẳng
cất bước, mở mắt để làm chi? Do vậy,
nói tám chữ “pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”
là đă trực tiếp hiển thị tánh thể, khiến
cho đại chúng mở mắt, nhận rơ, lại c̣n
đem công phu tu chứng này chỉ ra đích xác, khiến
cho đại chúng cất bước th́ mới có thể
đạt đến mục đích. Muốn toàn tu tại
tánh, ắt phải là toàn tánh khởi tu. Do vậy, kinh này xiển
phát từng tầng, ắt đều khiến cho [người
nghe] hiểu sâu xa nghĩa thú. Nói tới khoa trên đây, càng
là trực tiếp hiển thị tánh thể, khiến cho
đại chúng thấu hiểu, rất sợ họ
chưa thể hiểu sâu xa, lầm tưởng cái tâm sanh
diệt là cái gốc để tu nhân. V́ thế, cổ
đức tu hành, ắt cần phải ngộ bản tánh
trước là v́ lẽ này. Cổ nhân chứng đạo
so với người hiện thời đông hơn, nguyên
nhân trọng yếu nhất thật sự ở chỗ
này!
Nương theo đạo lư
được nói trên đây; do vậy, công phu tu tập
được nói trong khoa này đều là mỗi mỗi
đều đối ứng khít khao với “pháp này b́nh
đẳng, chẳng có cao, thấp” để thực
hiện. V́ sao chúng sanh thấy hết thảy các pháp có cao
thấp? Chẳng có ǵ khác, do phân biệt, chấp trước
đó thôi! Phân biệt tức là tướng “ta, người
đối đăi”; chấp trước là ngă kiến. Do thấy
có cao, thấp, bất b́nh đẳng, cho nên trái nghịch tánh thể. V́ vậy, kinh này vừa mở
đầu liền dạy phát tâm rộng lớn, hàng phục
các tướng như ta, người v.v… “Dĩ” (以) là dùng. Dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ
giả, giống như nói “vận dụng cái tâm chẳng
phân biệt, chấp trước”. “Thiện pháp” tức là bố thí
được nói trước đó. Nêu ra một môn bố
thí, liền nhiếp trọn Lục Độ, Lục
Độ liền nhiếp vạn hạnh. Do vậy nói “nhất
thiết thiện pháp” (hết thảy thiện pháp). Nói “dĩ
vô ngă tu nhất thiết thiện pháp” là nói bất cứ
pháp nào cũng đều b́nh đẳng. Cần phải
dùng cái tâm b́nh đẳng ấy để quán hết thảy
các pháp, tùy thuộc pháp đáng nên mà tu, chớ nên giữ cái
tâm cao thấp. Gộp chung hai câu này, tức là ư nghĩa
đă nói trong phần mở đầu kinh “đối với pháp, chớ nên trụ vào đâu
để hành bố thí”. Hăy nên “chẳng trụ vào đâu” chính
là hăy nên dùng cái tâm vô phân biệt, chấp trước. “Trụ” tức là chấp. Hễ
có chấp trước, liền có phân biệt. Hễ có phân
biệt, liền có chấp trước. Hai sự tướng
đều dấy lên, chẳng tách ĺa! “Hành bố thí” chính là nói “tu hết thảy các thiện pháp”.
Câu “dĩ vô ngă” tức
là Không, chẳng chấp Hữu, đó là tu Huệ. Câu “tu nhất thiết thiện” (tu hết
thảy các điều thiện) là Hữu, chẳng chấp
Không, đó là tu phước. Hai “luân” như thế
cùng vận dụng. Đó là chẳng chấp vào hai bên, rành
rành phù hợp Trung Đạo, b́nh đẳng, liền
tương ứng với tánh b́nh đẳng của A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Do vậy nói là “tắc
đắc”. “Tắc đắc” (則得) là nhất định đạt được.
“Đắc” là chứng. Nếu phân tích để nói,
dùng cái tâm chẳng phân biệt, chẳng
chấp trước
để tu hết thảy các thiện pháp, sẽ phù hợp
nghĩa Như của các pháp. Đó là cái nhân để thành
tựu Pháp Thân. Phước và huệ cùng trang nghiêm, đó
là cái nhân để thành tựu Báo Thân. Tu trọn vẹn hết
thảy, đạt được Phương Tiện
Trí, đó là cái nhân để thành tựu Ứng Hóa Thân.
Đă là xứng tánh viên tu, cho nên có thể tánh đức viên
minh, ba thân hiển hiện, thành tựu Vô Thượng Chánh
Đẳng Giác. Do vậy nói là “tắc đắc”.
Nói chung, nêu ra ư nghĩa “toàn tánh khởi tu, toàn tu tại
tánh”. Ư nghĩa “dùng vô ngă v.v… để tu hết thảy
các thiện pháp” đă thâu nhiếp ư nghĩa của các
câu đă nói trong phần trước như “bất
ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ
nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp), và “ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, ưng sanh vô sở trụ
tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm, hăy nên sanh
tâm chẳng trụ vào đâu). “Tức phi” và “thị
danh” đều nhằm xiển phát ư nghĩa này. “Tắc
đắc Vô Thượng Bồ Đề” (liền
đắc Vô Thượng Bồ Đề) chính là nghĩa
“tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật Tướng”
được nói trong phần trước.
Không chỉ là như thế, “phát tâm ĺa tướng”
được nói đầu tiên [trong phần mở đầu
kinh này] chính là khoa Hàng Phục, nhằm khiến cho [hành nhân]
phát nguyện rộng lớn, tức là dạy dùng vô ngă, vô
nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy
các thiện pháp (nhấn mạnh câu trước). Kế
đó, lại nói “chẳng trụ vào tướng” tức
là khoa Chánh Trụ, khiến cho [hành nhân] hành hạnh rộng
lớn, cũng chính là khiến cho [hành nhân] dùng vô ngă, vô nhân,
vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện
pháp (nhấn mạnh câu sau). Toàn bộ kinh văn quả thật
lấy hai khoa đầu tiên ấy làm ư chủ yếu. Những
điều nói sau đó đều là dựa theo điều
chủ yếu ấy để hoặc là chú thích, giảng
giải lư thể, hoặc nói rơ điều cốt lơi trong
tu tập, hoặc mổ xẻ những chỗ ẩn tàng,
vi tế, hoặc nêu tỏ những chỗ quy hướng
vậy!
Đại để, nửa
bộ trước nhằm dạy “đối với hết
thảy các pháp thuộc cảnh duyên, đều chẳng trụ”, như những điều
đă nói trước phần “thỉnh cầu chỉ dạy
tên kinh để thọ tŕ”. Sau đó là dạy “lúc khởi tâm động niệm, chẳng trụ vào hết thảy các pháp”, càng nói, càng khẩn yếu. Nửa bộ
sau, vừa mở đầu, liền dạy “khi khởi tâm động niệm, ngay cả
pháp Vô Thượng Bồ Đề cũng chẳng trụ!” Những điều đă nói từ đó về
sau đều là chuyên đối với điểm này mà trừ
khử. Cho đến khi nói “tam tế tâm chẳng thể
được”, khiến cho [hành nhân] biết cái tâm
năng chấp chính là vọng niệm chẳng thể
được, chẳng phải là chân tâm. Lại nói “các
pháp duyên sanh”, khiến cho
[thính chúng] biết: Hết
thảy các pháp, không ǵ chẳng phải là tức Giả, tức
Không. Ngay cả vạn tượng sâm la lại càng trọn
chẳng thể được. Ngay như Quả Báo Thân của
Phật, cho đến chứng đắc pháp Bồ Đề,
hết thảy đều là huyễn hữu, hết thảy
đều là trọn chẳng thể được! Xưa
kia, Thiền Tông Nhị Tổ thỉnh Sơ Tổ dạy
pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: “Đem cái tâm lại
đây, ta sẽ an cho ông”. Nhị Tổ băn khoăn hồi
lâu, thưa: “Con t́m tâm trọn chẳng thể được”.
Sơ Tổ nói: “Ta đă an cái tâm cho ông rồi”. V́ sao
nói “đă an tâm rồi”? Quả thật là do chân tâm
thường trụ của chúng sanh đă từ lâu bị
quấy nhiễu, hôn ám cùng cực, chẳng biết toàn là
do chính ḿnh phân biệt, chấp trước, đến nỗi
nắm níu không ngớt, trở thành tướng tối
tăm, rối ren. Đó gọi là “dùng tâm giữ lấy
tự tâm”, chẳng phải là huyễn thành, huyễn
pháp hay sao? Nếu biết tướng tối tăm, rối
ren vốn chẳng thể được, tuyệt đối
chẳng giữ lấy, sẽ ngay lập tức thanh
lương. V́ thế nói là “ta đă an cái tâm cho ông rồi”.
Ở đây, cũng giống
như thế! T́m chút pháp Bồ Đề không thể được,
tức là mỗi pháp, mỗi sự đều là Bồ
Đề, cần ǵ phải t́m chi khác? V́ thế, dùng hai câu
“pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp” để
hiển thị trực tiếp Bồ Đề vậy!
Làm thế nào để hiển
lộ Bồ Đề b́nh đẳng? Từ “Năng lẫn
Sở cùng rỗng không” vừa nói trên đây. Làm thế
nào để Năng và Sở cùng Không? Khởi sự từ “phát nguyện rộng lớn,
hành hạnh rộng lớn” được nói ở
đầu kinh. Phát nguyện rộng lớn bèn chẳng giữ
lấy pháp (do phát nguyện độ mà chẳng có tướng
độ, tức là chẳng giữ lấy pháp), hành hạnh
rộng lớn, tức là chẳng giữ lấy phi pháp. Do
giữ lấy pháp hay giữ lấy phi pháp đều là chấp
ta, người, chúng sanh, thọ giả! Pháp và phi pháp đă
đều chẳng giữ lấy, vậy th́ ta, người,
chúng sanh, thọ giả, bốn thứ đều chẳng
có! Bốn thứ đều chẳng có, th́ pháp và phi pháp
đều trọn chẳng thể được! Cũng chính là tam tế tâm phân biệt, chấp trước
đều trọn chẳng thể được! Vậy
th́ năng tu, sở tu, năng chứng, cho đến sở
chứng đều trọn chẳng thể được!
Đủ mọi thứ “trọn chẳng thể
được” như thế, vậy th́ chân tâm thường
trụ, cái gọi là “pháp ấy b́nh đẳng, chẳng
có cao thấp” bèn rành rành đạt được.
Đó chính là “tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật
Tướng” như phần trước đă nói. Đó
chính là “dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để
tu hết thảy thiện pháp, liền đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Nói chung, ba câu
kinh văn này chính là kết luận của các nghĩa
được nói từ lúc mở đầu kinh cho tới
nay, khiến cho [người nghe] nắm được
cương yếu ấy ḥng thông đạt những
điều đă nói trên đây, cũng như chẳng ngoài
các điều đă nói trên đây mà phát khởi riêng một
nghĩa nữa. Hăy nên biết dung hội để quán chiếu
như thế.
Hơn nữa, nh́n vào những
điều đă nói trên đây, có thể thấy kinh này vừa
mở đâu liền nói về Sự Tu (tu hành theo sự
tướng); sau đó, đủ loại lư tánh, đều
là nói theo Sự Tu. Chẳng ĺa Sự Tu mà bàn tới lư tánh,
chính là yếu quyết của thuyết pháp. V́ sao vậy? Từ
ngay nơi Hữu mà nói rơ Không, đó là hai bên đều chẳng
chấp! Bốn chữ “tức Hữu minh Không” (từ
ngay nơi Hữu mà nói rơ Không) đă bao quát trọn hết
lư thú Bát Nhă. Các vị hăy nên nhớ kỹ, nương theo
đó để hành, sẽ tự khế hợp Trung Đạo.
Ở đây nói “dùng vô ngă để tu hết thảy các
thiện pháp” cũng chứa trọn nghĩa này. Bởi
lẽ, ngay trong lúc đang tu hết thảy các thiện
pháp, chính là lúc vô ngă. Nếu chẳng tu hết thảy các
thiện pháp mà nói vô ngă, sẽ nguy hiểm cùng cực! V́ sao
vậy? Chẳng phải là ác thủ không, th́ cũng là thiên
không! Hăy nên biết như thế nhé!
2.2.2.2.2.2.1.2.2.3.
Kết lại “chẳng có năng, sở”
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Sở ngôn thiện pháp giả, Như Lai thuyết phi thiện
pháp, thị danh thiện pháp.
(經)須菩提!所言善法者,如來說非善法,是名善法。
(Kinh: Tu Bồ Đề! Nói tới thiện
pháp th́ Như Lai nói chẳng phải là thiện pháp, th́ gọi
là thiện pháp).
Chớ nên chấp Vô Thượng
Bồ Đề là thật, th́ hết thảy thiện pháp
sao có thể chấp là thật cho được? Nếu
chấp là thật, có khác ǵ chấp Vô Thượng Bồ
Đề là thật! V́ thế, càng cần phải trừ
khử! Hết thảy các thiện pháp không ǵ chẳng phải là duyên sanh giả hữu, Có
chính là Không, Không chính là Có! Do vậy, nương theo
nghĩa Như để nói: Hết thảy thiện pháp
ngay lập tức chẳng phải, chỉ có giả danh,
sao có thể chấp là thật cho được? V́ thế bảo: “Như
Lai thuyết phi thiện pháp, thị danh thiện pháp” (Như Lai nói chẳng phải là thiện pháp, th́ gọi
là thiện pháp).
Trong phần trước
đă nói “dùng vô ngă để tu hết thảy các thiện
pháp”, tức là nói theo phương diện trừ khử
nơi “năng tu” (có thể tu). Ở đây nói “chẳng
phải thiện mà gọi là thiện”, tức là nói
đến sự trừ khử theo phía “sở tu”
(pháp được tu tập). Nếu có pháp để tu, tức
là có ư niệm “năng tu”. Có Sở, có Năng, tức
là có tướng đối đăi rành rành, sẽ là phân biệt,
chấp trước. Có phân biệt vi tế tồn tại,
tức ngă tướng vẫn c̣n đó. Có chấp trước
vi tế tồn tại, tức là ngă kiến vẫn c̣n
đó! Do vậy, hăy nên trừ khử hết sạch. Hăy
nên biết: Dùng vô ngă v.v… để tu hết thảy các thiện
pháp, sẽ đắc Vô Thượng Bồ Đề là do
dùng cái tâm chẳng phân biệt, chẳng
chấp trước
để tu. Do vậy, liền đắc Bồ Đề.
Do dùng tâm b́nh đẳng ấy để tu, pháp chính là vô
pháp, mà tu cũng chẳng c̣n có năng tu và sở tu. Chẳng
tu mà tu, chính là chẳng đắc mà đắc. V́ thế,
khoa này chính là nói: Khi bắt đầu tu các sự cùng một lúc cũng là khi tu hết thảy các thiện pháp, quán chiếu
“chẳng thiện mà gọi là thiện”. Nếu trong tâm thấy có thiện pháp, đấy chính
là ngă kiến, sao có thể dùng vô ngă v.v… để tu hết
thảy các thiện pháp cho được? Nói cách khác, khoa
này chính là để giải thích nguyên do của “vô ngă, vô
nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả” trên đây, chẳng phải
là nói sau khi tu hết thảy các thiện pháp rồi mới
lại trừ khử! Quyết chớ nên xem khoa trên đây
thành hai chuyện. Hăy nên biết như thế đấy!
Xem những điều
được nói trên đây, có thể biết khoa “kết
lại lời dạy” này không chỉ nhằm kết lại
lời dạy “nêu ra nhân, nói rơ quả” trong khoa này, mà
c̣n chính là kết lại lời dạy của các nghĩa từ
lúc mở đầu kinh cho tới nay. Nói cách khác, tức là
các nghĩa được nói từ lúc mở đầu
kinh cho tới nay, không ǵ chẳng nhằm dạy “dùng vô
ngă để tu, ḥng chứng tánh b́nh đẳng” cho tới
tận đây mới được chỉ rơ vậy!
Trong
kinh này, trước hết là hai khoa “phát đại nguyện”
và “hành đại hạnh”, chính là vừa mở đầu
liền nêu ra nghĩa lư. Sau đó, tính đếm sơ
lược, đă có nhiều lượt kết lại lời
dạy. Trước hết là hai câu “bất ưng thủ
pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy
pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp). Lần thứ hai
chính là đoạn “ưng như thị sanh thanh tịnh
tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh như thế). Lần thứ
ba là đoạn lớn “ưng ly nhất thiết tướng
tướng phát Bồ Đề tâm” (hăy nên ĺa hết thảy
các tướng để phát Bồ Đề tâm). Lần
thứ tư là đoạn lớn “chư pháp Như
nghĩa, vô thật vô hư, nhất thiết giai thị”
(nghĩa Như của các pháp, chẳng thật, chẳng
hư, hết thảy đều là). Nay chính là lần thứ
năm, nhưng trước sau năm lần, đều có thứ tự cạn sâu.
Hai câu đầu tiên chính là kết
lại nghĩa “độ sanh chẳng trụ tướng,
bố thí chẳng trụ tướng”. “Chẳng trụ
tướng” chính là “chẳng nên giữ lấy pháp”. Bố
thí, độ sanh là “chớ nên giữ lấy
phi pháp”. Lần thứ hai nhằm kết lại “rộng
hành Lục Độ, chớ nên trụ vào đâu”, dạy
hành nhân chẳng chấp Không, chấp Hữu, khiến cho tự
tánh thanh tịnh tâm “như thật Không, như thật bất
Không” hiện tiền. Lần kết lại lời dạy
thứ ba chính là nói rơ “ĺa tướng mới là phát Bồ
Đề tâm. Không chỉ chẳng chấp vào hai bên, mà ngay
cả chẳng chấp cũng chớ nên chấp”. V́ thế
nói “hăy nên sanh tâm vô trụ, hễ có trụ th́ là sai”
v.v… Lần thứ tư kết lại lời dạy chính
là dựa theo quả vị để chỉ bày cảnh giới của chứng đắc cái tâm thanh tịnh, tức là “một pháp chẳng
trụ, pháp nào cũng đều Như, là vô ngă”, khiến
cho [hành nhân] biết các nghĩa đă nói trên đây, không ǵ
chẳng nhằm khiến cho mảy trần chẳng lập,
trừ khử hết sạch phân biệt, chấp trước
vi tế, bèn có thể chứng điều Phật đă chứng!
Kết lại lời dạy lần thứ năm nhằm
khai thị minh bạch “tánh của hết thảy các pháp
vốn sẵn b́nh đẳng, chẳng có
cao, thấp”. Do vậy, đối với mỗi pháp, đều chớ
nên phân biệt, chấp trước. Pháp Bồ Đề
là như thế, mà hết thảy các thiện pháp cũng
đều là như thế; chỉ dùng cái tâm vô phân biệt,
chấp trước để tu hết thảy thiện
pháp “chẳng có cao thấp, hoàn toàn b́nh đẳng”,
ngơ hầu khế nhập pháp tánh, thấy được
diện mục vốn sẵn có “Tịch Chiếu đồng
thời”. Trước sau năm lượt, thứ tự
cạn sâu, chẳng có mảy may rối ren, lại c̣n từng
chút một quy nguyên, vi tế, nghiêm mật tột bậc,
viên dung tột bậc!
2.2.2.2.2.2.1.3. Hiển
thị sự thù thắng để kết lại lời
khuyên
2.2.2.2.2.2.1.3.1.
Dẫn thí dụ để nói rơ
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhược tam thiên đại thiên thế giới trung sở
hữu chư Tu Di sơn vương, như thị đẳng
thất bảo tụ, hữu nhân tŕ dụng bố thí.
(經)須菩提!若三千大千世界中所有諸須彌山王,如是等七寶聚,有人持用布施。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Như tất cả các núi chúa Tu Di trong tam thiên đại
thiên thế giới, có người dùng khối bảy báu bằng
như thế để bố thí).
Trong một đại thiên, có mười vạn vạn[6]
núi chúa Tu Di, tích tụ bảy báu, nhiều đến mức
như thế ấy. “Như thị” là nói tới
mười vạn vạn. Bảy báu nhiều như thế
dùng để bố thí. Sự bố thí ấy có thể
nói là thù thắng, cũng có thể biết là phước
đức to lớn. Khoa này nhằm dẫn thí dụ để hiển thị như trong
phần sau sẽ nói: Phước đức do thọ tŕ,
rộng nói kinh này càng to lớn hơn nữa!
2.2.2.2.2.2.1.3.2.
Kết lại lời khuyên
(Kinh) Nhược nhân
dĩ thử Bát Nhă Ba La Mật kinh, năi chí tứ cú kệ
đẳng, thọ tŕ, vị tha nhân thuyết, ư tiền
phước đức, bách phần bất cập nhất,
bách thiên vạn ức phần, năi chí toán số, thí dụ,
sở bất năng cập.
(經)若人以此般若波羅蜜經,乃至四句偈等,受持,為他人說。於前福德,百分不及一。百千萬億分,乃至算數譬喻所不能及。
(Kinh: Nếu có người
dùng kinh Bát Nhă Ba La Mật này, thậm chí bốn câu kệ
v.v.. để thọ tŕ, v́ người khác nói, so với
phước đức trước th́ [phước đức
trước] chẳng bằng một phần trăm, một
phần trăm ngàn vạn ức, cho đến toán số,
thí dụ đều chẳng thể bằng).
Bản lưu thông ghi là “thọ tŕ, độc tụng”.
Nguyên bản không có chữ “độc tụng” v́
[đọc, tụng] đă được bao gồm trong
thọ tŕ. “Ư tiền phước đức”: Chữ
Ư (於) hàm ư so sánh. Chữ “tiền” chỉ
“dùng bảy báu nhiều bằng mười vạn vạn
núi chúa Tu Di để bố thí”. Ư nói: Phước đức
bố thí như trong phần trên có thể nói là to lớn,
nhưng so với phước đức này (phước
đức do thọ tŕ kinh Kim Cang) th́ chẳng bằng một
phần trăm, một phần ngàn, một phần vạn, một
phần ức, cho đến toán số chẳng thể
tính được, thí dụ chẳng thể sánh ví được,
đều là chẳng thể sánh bằng một phần phước
đức của người thọ tŕ, diễn nói kinh
này. Kinh tuy là văn tự, danh tướng, ngôn thuyết;
nhưng do văn tự mà khởi quán chiếu, sẽ do
quán chiếu mà [đạt tới] tương tự, rồi
phần chứng, rốt ráo thành Vô Thượng Bồ
Đề, há hết thảy phước đức hữu
tướng có thể sánh bằng ư?
Khi thâu kết nửa bộ trước, đă nói rơ là “bất
cụ thuyết” (chẳng thể nói trọn). Do vậy,
trong nửa bộ sau, phần so sánh để
hiển thị sự thù thắng, nay mới thấy lần
đầu. Nhưng ư chỉ chánh yếu của việc so
sánh nhằm chỉ rơ này cũng lại có nghĩa thú khác biệt
rất lớn so với phần trước. Cần phải
biết: Khoa này được
nói sau phần trực tiếp hiển thị tánh thể, hiển thị
tánh thể chính là hiển thị Pháp Thân. Trong phần
trước, đă từng dùng núi chúa Tu Di để sánh ví
Báo Thân. Nay bèn dùng khối lượng bảy
báu như mười vạn vạn núi chúa Tu Di để bố
thí, nhưng phước đức ấy vẫn thua xa
[phước đức do] thọ tŕ, diễn nói kinh này. Ngụ
ư hiển thị: Thọ tŕ, diễn thuyết kinh này có thể
khiến cho ta lẫn người cùng chứng Pháp Thân, coi
Báo Thân ấy giống như tài vật ở ngoài thân, há
đủ để so sánh ư? Hăy nên biết: Phật hiện
các thân như Báo Thân v.v… vốn là để lợi ích chúng
sanh, để họ thọ dụng, chính là giống
như dùng tài bố thí để người khác thọ dụng.
V́ thế, dùng đó làm thí dụ, ḥng chứng minh rơ ràng Pháp
Thân, ngay cả tướng Báo Thân cũng chẳng trụ!
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
quyển bốn hết
***
Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng
Nghĩa quyển năm
Phần 1
2.2.2.2.2.2.2. Xét
tột cùng Vô Trụ để
làm chứng ḥng kết lại
Chia thành hai phần:
1) Nêu rơ pháp giới b́nh đẳng để hiển thị
nhằm kết lại pháp vô ngă.
2) Nói rơ tướng Không của các pháp, nhằm kết
lại pháp bất sanh.
Khoa lớn thứ tư này
(do gộp toàn bộ kinh để nói, cho nên là khoa thứ
tư. Nhưng xét theo nửa bộ sau để nói, th́ là
khoa thứ hai), đều nói về cảnh giới của
Như Lai. Cho nên nói là “cứu cực” (究極, xét đến
tột cùng), hàm nghĩa: Xét tận cùng sự vô trụ
đến đây là tột bậc. Nói “chứng” là chứng
điều này. Khoa thứ tư “xét đến cùng cực”
này lại chia làm hai đoạn:
1) Nói rơ pháp giới b́nh đẳng; do vậy, hiển
thị “hết thảy pháp tánh vốn chẳng có ngă”.
Tức là kết lại ư nghĩa “Bồ Tát thông đạt
pháp vô ngă” trong phần trước.
2) Nói rơ tướng Không của các pháp, tức là quy kết
vào “bất sanh, bất diệt”. Sở dĩ vừa mở đầu kinh
liền dạy “ĺa tướng, ĺa niệm” để
trừ ngă chấp, không ǵ chẳng nhằm trừ bỏ
phân biệt, chấp trước. Phân biệt, chấp
trước th́ gọi là “tâm sanh diệt”. Trừ khử
cái tâm sanh diệt nhằm chứng tánh thể “bất sanh, bất diệt”. Đó là chỗ tổng kết huyệt của
một bộ Bát Nhă rất sâu. V́ thế, giới hạn của
phần Chánh Tông đến đây là hết, tức là phần
thứ ba mươi mốt theo cách phán định của
Chiêu Minh thái tử[7].
Phần thứ ba mươi hai th́ thuộc vào phần
Lưu Thông.
Phần thứ nhất lại
chia thành ba đoạn:
1) Dựa theo độ sanh
để giảng rơ “chẳng có thánh phàm”.
2) Dựa theo tánh và tướng
để nói rơ “chẳng phải là một hay khác”.
3) Dựa theo “chẳng nhận lănh phước đức”
để kết lại phần vô ngă.
Ba khoa ấy đều theo sát ngay
ư nghĩa “pháp này b́nh đẳng”, hàm ư dạy người
nghe pháp hăy từ mọi pháp, mọi sự, mà nhận lănh
lư b́nh đẳng, như vậy th́ sẽ có thể từ
trong mọi pháp, mọi sự mà thấy tự tánh. Khoa
đầu tiên nói rơ “chẳng có thánh, phàm” nhằm hiển
thị “chẳng có cao, thấp”. Nhất Chân pháp giới
b́nh đẳng, há có thánh hay phàm sai khác? Nghĩa này chính là dựa theo phương diện độ
sanh để nói rơ sự thuận tiện nhất.
Do vậy, bèn
xét theo phương diện độ sanh để giải
thích.
Đoạn thứ nhất lại
chia thành hai phần:
1) Nói rơ “tuy độ mà chẳng có ư niệm độ”.
2) Nói rơ “vốn chẳng có thánh, phàm”.
2.2.2.2.2.2.2.1. Nêu rơ “pháp giới b́nh đẳng”
để hiển thị, nhằm kết lại pháp vô ngă.
2.2.2.2.2.2.2.1.1.
Dựa theo độ sanh để giảng rơ “chẳng
có thánh phàm”
2.2.2.2.2.2.2.1.1.1.
Nói rơ “tuy độ mà chẳng có ư niệm độ”
2.2.2.2.2.2.2.1.1.1.1.
Nêu bày
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Nhữ đẳng vật vị Như Lai tác thị
niệm, ngă đương độ
chúng sanh. Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm.
(經)須菩提!於意云何?汝等勿謂如來作是念,我當度眾生。須菩提!莫作是念。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Các ông đừng nói Như Lai nghĩ thế
này, ta sẽ độ chúng sanh. Tu Bồ Đề! Đừng
nghĩ như thế).
Ư chỉ chánh yếu của
khoa này tương đồng với khoa “chẳng có pháp
để có thể nói” thuộc phần trước. Chỗ
khác biệt là bất quá phần trước dựa theo
pháp đă nói để luận, phần này xét theo chúng sanh
được hóa độ để nói. Nhưng thuyết
pháp vốn là để độ sanh, độ sanh th́ cần
phải thuyết pháp. Do vậy, ư chỉ chánh yếu
tương đồng. Trong phần “chẳng có pháp nào
để có thể nói” trước đó, đă dẫn
các nghĩa thuộc kinh Kim Quang Minh bản mười quyển,
nêu rơ lư do Phật chẳng khởi niệm, [các nghĩa ấy]
đều có thể áp dụng cho phần này. Nói chung, đức
Phật chẳng khởi tâm động niệm mà có thể
tùy cơ ứng duyên, ḥng độ chúng sanh, chẳng ngoài
hai lẽ:
1) Do sức huân tập tạo thành chủng tử của
đại bi đại nguyện thuở trước, cho
nên có thể cảm được sự ứng ấy.
2) Do có đủ hai trí
(Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí), thành tựu ba thân (Pháp, Báo, Hóa), như tấm gương tṛn lớn, quang
minh chiếu trọn khắp. V́ thế, đối với Năng lẫn Sở đều
chẳng sai lầm.
Có đủ hai loại lư do ấy,
cho nên chẳng giống như phàm phu hễ làm điều
ǵ, ắt cần phải suy nghĩ. “Mạc tác thị niệm”
(đừng nghĩ như thế) chính là răn khắp hết
thảy mọi người, chứ chẳng phải chỉ
chuyên nói với đại chúng trong pháp hội thuở ấy.
Bởi lẽ, nghĩ như vậy chính là dùng phàm t́nh để
suy lường thánh cảnh, há chỉ là báng Phật, chính
ḿnh vẫn c̣n mê muội trong cái ổ vọng tưởng,
vĩnh viễn chẳng có hy vọng thành thánh. V́ thế, thống
thiết răn nhắc! Nói chung, bảo “đừng
nghĩ như thế” không chỉ nhằm răn [hành
nhân] chớ nên dùng cái thấy luân hồi để ḍ lường
biển viên giác, mà thật ra, c̣n khiến cho học nhân ắt
phải đoạn trừ vọng niệm. Vừa mở
đầu kinh, liền dạy Bồ Tát hàng phục cái niệm
ấy, cho nên nói “thật vô chúng sanh đắc diệt
độ” (thật sự chẳng có chúng sanh được
diệt độ). Nửa bộ sau cũng vừa mở
đầu liền dạy “vô hữu nhất chúng sanh thật
diệt độ giả” (chẳng có một chúng sanh thật
sự đạt được diệt độ). Nay lại
nói theo phương diện Phật độ sanh, khiến
cho hết thảy Bồ Tát vâng giữ làm chuẩn mực.
Trong phần trước, tuy
đă từng hai lượt nói “chúng sanh chẳng phải
là chúng sanh”, nhưng chỉ là nói theo phía chúng sanh. Nay th́ dựa
trên cả thánh lẫn phàm để cùng nói, nhằm chỉ
rơ pháp giới b́nh đẳng, ư nghĩa chẳng giống
như phần trên. Chắc có kẻ nói: Kinh Pháp Hoa dạy: “Ngă
thỉ tọa đạo tràng, quán thụ diệc kinh hành,
ư tam thất nhật trung, tư duy như thị sự,
ngă sở đắc trí huệ, vi diệu tối đệ
nhất, chúng sanh chư căn độn, trước lạc
si sở manh, như tư chi đẳng loại, vân hà nhi
khả độ?” (ta mới ngồi đạo tràng,
quán cây, và kinh hành. Trong hai mươi mốt ngày, tư duy
chuyện như thế, ta đạt được trí huệ,
vi diệu, tột bậc nhất. Chúng sanh các căn độn,
do chấp lạc, si quáng. Hạng người
như thế ấy, thế nào mới độ được?).
Nh́n từ đó, rơ ràng là có thánh, có phàm, sao lại nói “chẳng
có thánh, phàm?” Hơn nữa, đối với chuyện
độ sanh và thuyết pháp, Phật đều từng
suy nghĩ cặn kẽ rồi sau đó mới nói. Tư
duy chính là niệm, sao kinh này lại nói là “vô niệm?”
Hăy nên biết: Có thánh phàm là nói theo tướng. Chẳng
có thánh phàm là nói theo tánh. Do vậy, kinh này nói “tức phi”
lại nói “thị danh”, c̣n đối với ư
nghĩa “tư duy”, hăy nên chia thành hai tầng
để nói rơ lư này nhằm tránh hoài nghi!
1) Phàm những ǵ đức
Phật nói, có khi thuận theo cơ nghi mà nói, được
gọi là “quyền thuyết” (權說, nói theo sự
quyền biến thiện xảo), cũng gọi là
“chẳng liễu nghĩa”. Có lúc nói rốt ráo, được
gọi là “thật thuyết” (實說), cũng
gọi là “liễu
nghĩa”. Như
trong các câu kinh Pháp Hoa vừa dẫn trên đây, chính là thuận
theo cơ nghi mà nói quyền
biến. Do quán biết hết thảy chúng sanh căn độn,
si mê, mù quáng, chấp vào niềm vui ngũ dục, chẳng
thể tương ứng với thanh tịnh trí và pháp vi
diệu do Phật đă chứng đắc. Những loài
như thế, làm thế nào để có thể độ
được? Do bất đắc dĩ, bèn trước
hết là từ cạn đến
sâu, nói pháp tam thừa. Nhưng nói tam thừa, thật sự
là nhất thừa; đó gọi là “khai Quyền, hiển
Thật”. Ở đây, kinh này nói về pháp giới b́nh
đẳng, đều là nói rốt ráo như thật. V́ thế,
câu văn phần nhiều nhắc đến hai chữ
Như Lai. Như Lai là nghĩa Như của các pháp. Như
là ǵ? Chính là Chân Như. Chân Như là ǵ? Chính là cảnh giới
ĺa niệm. Há có thể dẫn quyền thuyết để
chứng tỏ thật thuyết? Hơn nữa, nói là Quyền,
cũng tức là Quyền nơi Thật. Do vậy, tuy nói
là “tư duy”, thật sự là “tư duy mà chẳng
tư duy”. Hễ đọc kinh Phật, điều
thứ nhất là phải nên hiểu nghĩa này, tức là
như Phật thường tự xưng là Ngă, há có nên v́
Ngài thuận theo cơ nghi mà xưng như thế, bèn bảo
là Như Lai có ngă kiến, ngă tướng ư?
Lại như kinh này nói “pháp vô thượng rất
sâu” này, nhưng đắp y, khất thực, thị hiện
giống như phàm phu; há có nên do vậy mà nghi Phật là
phàm phu ư? Trưởng lăo chỗ
nào cũng thay cho đại chúng thưa hỏi, cũng há
có nên ngây ngốc cho rằng trưởng lăo thật sự
chẳng hiểu Bát Nhă ư? Thế gian có lắm kẻ
hoài nghi Quán Thế Âm Bồ Tát là thân nam hay thân nữ. Phàm là
Pháp Thân đại sĩ, vốn chẳng có tướng.
Thân Ngài hiện ra đều là thuận theo căn cơ mà ứng
duyên. Đó gọi là “đáng nên dùng thân ǵ để đắc
độ, bèn hiện thân ấy để cứu độ”.
Kinh Lăng Nghiêm và Pháp Hoa đă nói tường tận
nghĩa này, há có nên nh́n giống như phàm phu, cứ hạn
cuộc chấp chặt Ngài là nam hay nữ ư? Ngay như
xét theo cái nhân xưa kia của Đại Sĩ
để nói th́ Ngài đă nhiều kiếp siêng tu, thân nào chẳng
có? Cũng há nên nêu ra thân trong một đời để
nhất loạt khái quát thân trong nhiều kiếp ư? Trong
kinh Phật, những chuyện giống như thế và những
câu [thoạt nh́n tưởng như] mâu thuẫn rất ư
là nhiều, hăy đều nên lănh hội như vậy!
2) Tư duy có nghĩa là “tác
Quán”. Tác Quán cũng dịch là “tư duy tu”. Trên
đây đă dẫn hai bài tụng trong kinh Pháp Hoa (cứ bốn
câu là một tụng), nhằm thừa tiếp câu “ngă
dĩ Phật nhăn quán” (ta dùng Phật nhăn để xem) trong
phần kinh văn trước đó. Hai bài tụng ấy
ngụ ư: Quán chiếu căn cơ của chúng sanh. Hăy nên biết:
Khi tác quán, chẳng phải là vô niệm, chẳng phải
là hữu niệm. Biết tác quán đôi chút, sẽ có thể
hiểu rơ cảnh giới trong ấy, tuyệt chẳng giống
như suy tư, vọng tưởng! Há có nên hiểu lầm
tư duy là là tác niệm ư? Nói chung, có chúng sanh để
có thể độ, có pháp để có thể nói, chính là
nói theo tướng. Đức Phật quán điều này,
chính là nói “Tịch mà thường Chiếu”. Nhưng
chính ngay trong lúc hiện sự tướng như thế, lại
có thể hiểu rơ “trọn chẳng thể được!”
V́ thế, lại nói “chẳng có pháp để có thể
nói, chẳng có chúng sanh để có thể độ” là
nói theo tánh. Tuy quán mà cũng chẳng có ǵ để quán,
đấy là Chiếu mà thường Tịch. Do vậy, dẫn
hai bài tụng trong kinh Pháp Hoa để gộp chung với
những điều đang nói ở đây để xem.
Đó chính là nghĩa “tánh tướng viên dung, Tịch Chiếu
đồng thời”. Đấy chính là nghĩa “Quyền
chính là Thật, Thật chính là Quyền”. Hăy nên thông đạt
như thế. Nếu chấp vào một điều này
để nghi điều khác, sẽ là do chấp tướng
mà ngờ tánh, hoặc chấp tánh nghi tướng, chấp
Tịch nghi Chiếu, chấp Chiếu nghi Tịch. Đó
chính là tri kiến của phàm phu, đó được gọi
là độn căn, si mê, mù tối, chẳng thể
tương ứng với trí huệ vi diệu bậc nhất.
Do vậy, người học Phật ắt cần phải
khai tri kiến của Phật. Phật tri tức là biết
“hết thảy pháp chẳng thể được”,
biết hết thảy các pháp tức Không, tức Giả. “Phật kiến” tức là chẳng
chấp một hay khác. Nếu chấp vào một điều
rồi nghi điều khác, đúng là chấp trước “một” hay “khác” vậy. V́ thế, muốn thông đạt
lư vi diệu trong Phật pháp, nếu chẳng quét sạch rỗng
không phàm t́nh tục kiến, ắt sẽ chẳng thể
nhập.
2.2.2.2.2.2.2.1.1.1.2.
Giải thích và kết lại
(Kinh) Hà dĩ cố? Thật
vô hữu chúng sanh Như Lai độ giả. Nhược
hữu chúng sanh Như Lai độ giả, Như Lai tắc
hữu ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả.
(經)何以故?實無有眾生如來度者。若有眾生如來度者,如來則有我人眾生壽者。
(Kinh: V́ sao vậy? Thật
sự chẳng có chúng sanh để Như Lai độ. Nếu
có chúng sanh để Như Lai độ th́ Như Lai có ta,
người, chúng sanh, thọ giả).
Hai chữ “thật vô” rất trọng yếu, hai
chữ ấy chính là [diễn tả ư khẳng định]
triệt để, ư nói “thật sự chẳng có lẽ
nào dấy niệm”. Lư “thật vô” là như thế
nào, nghĩa ấy rất nhiều, đại lược
nói bốn điều:
1) Nếu có ư niệm độ sanh, sẽ có chúng sanh
được độ (sở độ), có ta là người
có thể độ (năng độ). Năng, Sở chính
là tướng đối đăi. Đó là phân biệt,
đó là chấp trước. Phật chứng b́nh đẳng
Nhất Chân pháp giới; cho nên xưng là Như Lai. Nếu
có chút phân biệt, chấp trước, sao gọi là Như
Lai cho được? V́ thế, bảo “Như Lai tác thị
niệm”, thật sự chẳng có lư ấy! Đấy
là dựa theo pháp giới b́nh đẳng để giải
thích ư nghĩa, cũng là nói theo phía Như Lai.
2) Lại nói theo phía chúng sanh,
chúng sanh là ǵ? Bất quá là Ngũ Uẩn tập hợp mà
thôi. Đó là pháp duyên sanh, duyên sanh Thể không. Nếu có chút
ư niệm độ sanh, há chẳng phải là không hiểu
duyên sanh, chấp pháp Ngũ Uẩn là thật sự có
ư? Hễ có pháp chấp, liền có ngă chấp, phải
chăng Như Lai có ngă chấp và pháp chấp ư? V́ thế
bảo “Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ
chúng sanh”, thật sự chẳng có
lẽ ấy! Đấy là ước theo duyên sanh để
giải thích ư nghĩa.
3) Chúng sanh sở dĩ thành
chúng sanh là do có niệm. Sở dĩ chúng sanh đắc
độ là do vô niệm. V́ thế, nói “độ sanh”
chỉ là khiến cho họ ĺa niệm đó thôi! Nếu
Phật có ư niệm độ sanh, tức là chính ḿnh c̣n
chưa độ, sao có thể độ sanh ư? V́ thế
nói “Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ
chúng sanh”, thật sự là chẳng có lẽ ấy.
Đó là dựa theo ‘ĺa niệm’ bèn
gọi là Độ để giải thích ư nghĩa.
4) Phật độ chúng sanh,
bất quá là làm tăng thượng duyên
cho chúng sanh, c̣n chúng sanh tự ḿnh phát đại tâm, hành
đại hạnh; đó thật sự là chánh nhân. Nếu chẳng
có chánh nhân, dẫu có tăng thượng duyên, cũng chẳng
thể do đâu mà độ sanh được!
Do vậy, chúng sanh đắc độ, thật sự là chúng sanh tự độ.
Phật chẳng có kiến chấp ấy, đó là Phật
độ chúng sanh. V́ thế, nếu bảo “Như Lai
nghĩ như thế này: Ta sẽ độ chúng sanh”, thật
sự chẳng có lẽ ấy! Đó là ước theo nhân th́
thân mà duyên th́ sơ mà giải thích ư nghĩa.
Tổng hợp bốn
nghĩa ấy, cho nên có chúng sanh được Như Lai
hóa độ, nhưng Phật thật sự chẳng có ư
niệm ấy. Câu này là giải thích theo chiều thuận.
Từ chữ Nhược trở đi, lại dùng cách nói
lật ngược vấn đề để giải
thích nghĩa ấy. “Hữu” tức là “hữu niệm”.
Hễ có ư niệm ấy, sẽ rơi vào Năng và Sở.
Năng độ (người có thể hóa độ) là
tướng ta (do nghĩ ta có thể hóa độ chúng sanh).
Sở độ (người được độ) là
tướng người. Người được độ
không chỉ là một người, đó là tướng
chúng sanh. Niệm ấy nối tiếp chẳng ngừng,
đó là tướng thọ giả. Nếu có một niệm,
tứ tướng liền trọn đủ. Như Lai
chính v́ dạy bậc Bồ Tát phát tâm trừ bốn tướng
ấy. Vậy th́ nói “Như Lai có tứ tướng”
có thể bảo là vu báng Như Lai cùng
cực! Do vậy, răn nhắc [người nghe] đừng
nghĩ như thế. Ở đây chính là phá trừ tà ngôn “Như
Lai nghĩ như thế ấy”. Do chỉ nói theo phía
Như Lai (tức là nghĩa đầu tiên trong bốn
nghĩa đă nói trên đây), ḥng nói rơ nghĩa “chẳng
có Năng, chẳng có Sở, vô ngă”, ngụ ư dạy
người học hiểu rơ “pháp giới b́nh đẳng, thật sự
chẳng có ngă” vậy.
2.2.2.2.2.2.2.1.1.2.
Nói rơ “vốn chẳng có thánh phàm”
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Như Lai thuyết hữu ngă giả, tắc phi hữu ngă,
nhi phàm phu chi nhân, dĩ vi hữu ngă. Tu Bồ Đề!
Phàm phu giả, Như Lai thuyết tắc phi phàm phu.
(經)須菩提!如來說有我者,則非有我。而凡夫之人,以為有我。須菩提!凡夫者,如來說則非凡夫。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Như Lai nói có ngă, tức chẳng phải là
có ngă, nhưng kẻ phàm phu cho là có ngă. Tu Bồ Đề!
Phàm phu, Như Lai nói chẳng phải là phàm phu).
Bản lưu thông hiện thời
có thêm một câu “thị danh phàm phu” (th́ gọi là phàm
phu), nhưng bản chép tay của người đời
Đường, Tạng Kinh dưới triều đại
Nam Tống, và trong các bản chú sớ của cổ đức
đều chẳng có [câu ấy], rất chẳng nên có!
Khoa này nhằm giải thích nguyên do “chẳng có năng
độ và sở độ”. Chữ Ngă ở đây nếu
chỉ hiểu là Ngă trong “nhân, ngă” (ta, người), cố
nhiên chẳng phải là không được, nhưng [hiểu
như vậy], ư nghĩa khá cạn! Cần phải biết:
Chữ Ngă chính là thừa tiếp ư nghĩa của chữ
Ngă trong “ngă đương” thuộc đoạn
văn trước đó (tức câu “nhữ đẳng mạc vị Như Lai
tác thị niệm, ngă đương độ chúng sanh” (các ông đừng nói
‘Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ chúng
sanh’), tức là nói đến Phật. “Ngă tắc phi ngă”
(ngă tức là chẳng phải ngă) nhằm hiển lư pháp giới
b́nh đẳng, Phật tức chẳng phải là Phật,
tức là nói rơ ư nghĩa “chẳng có thánh”. Bởi lẽ,
danh xưng Phật hiển lộ Ngài đă chứng quả,
c̣n danh xưng Như Lai cũng
nhằm hiển
thị Ngài đă chứng tánh. Nhất Chân pháp giới ĺa
danh tuyệt tướng, há có những danh tự ấy?
Hơn nữa, Nhất Chân pháp giới, hết thảy
chư Phật, hết thảy chúng sanh, tánh cùng một Thể
mà tên gọi khác nhau. Do là đồng thể, nên nói là “nhất
như”. Do vậy nói “b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”.
Nếu trong ấy có chữ Phật, sẽ liền có cao thấp, sẽ chẳng phải là b́nh đẳng, liền có danh tướng,
sẽ chẳng phải là Không Tịch! Do vậy,
nương theo nghĩa Như để nói, cái gọi là
“có Phật, có thánh” sẽ chẳng phải là có Phật,
có thánh, nhưng phàm phu chỉ biết chấp
giữ tướng, chẳng liễu đạt Nhất
Chân pháp giới, ngỡ là có Phật, có thánh! Pháp giới
b́nh đẳng, Phật c̣n chẳng có, há có “năng độ”
(người có thể hóa
độ) để có thể
nói ư? Hơn nữa, đă là b́nh đẳng đồng
thể, không chỉ “chẳng có thánh” mà thôi, há c̣n lại “có
phàm” ư? V́ thế, nói “phàm phu” mà nếu xét theo nghĩa Như để nói,
sẽ chẳng phải là phàm phu. Phàm c̣n chẳng có, há có “sở
độ” (người được hóa độ)
để có thể nói ư? Chẳng cao, chẳng thấp,
hoàn toàn b́nh đẳng, đó gọi là “tánh thể
như một” (đủ thấy người đời
sau hư vọng thêm câu “thị danh phàm phu” đúng là vẽ
rắn thêm chân!)
Vô thánh, vô phàm, chính là nguyên do “chẳng
có cao, thấp”, nên nói là b́nh đẳng. Tánh thể
vốn sẵn b́nh đẳng như thế. Do vậy,
đức Phật nói: “Thượng
vô Phật đạo khả thành, hạ vô chúng sanh khả
độ” (trên là chẳng có Phật đạo để
có thể thành, dưới là chẳng có chúng sanh để
có thể độ). Bởi lẽ, độ
tức là chẳng độ, thành tức là chẳng thành.
Do vậy, nói “b́nh đẳng chân pháp giới, Phật chẳng
độ chúng sanh”. V́ thế, đức Phật thấy
“hết thảy chúng sanh vốn là Phật”. Đấy
đều là xét theo nghĩa tánh thể b́nh đẳng
để nói.
V́ sao nói nghĩa b́nh đẳng?
V́ khiến cho Bồ Tát phát tâm thông đạt nghĩa này.
Hăy nên dùng “chẳng có Năng, chẳng có Sở, chẳng
có pháp”, và cái tâm vô ngă để tu hết thảy thiện
pháp, bèn có thể chứng như thế đó. Do vậy, có
thể biết: Người tu hành tuy hăy nên phát nguyện chuyển
phàm thành thánh, nhưng đă phát nguyện, hăy nên quăng bỏ
ư niệm thánh phàm. Nếu chẳng ném bỏ, thánh phàm sẽ
vĩnh viễn cách biệt. V́ sao vậy? Thánh mà thành thánh, phàm trở thành phàm, chính v́ một
đằng vô niệm, một đằng hữu niệm. Hễ dấy niệm liền
có cao, thấp, liền chẳng phải là b́nh đẳng.
Cổ nhân khai thị tu hành, có một câu tuyệt hay: “Đản
mạch trực hành khứ” (cứ thẳng thừng mà
đi). “Mạch trực” (驀直) có nghĩa là
trọn chẳng nh́n ngó dáo dác. Hành nhân chỉ cần hiểu
rơ đạo lư, nhận chuẩn phương hướng,
cứ thẳng một đường mà đi. Chuyển
phàm hay chẳng chuyển phàm, thành thánh hay chẳng thành
thánh, cũng như hết thảy các thứ sanh tử, lợi
hại v.v… nhất loạt chẳng bận ḷng. Như thế
th́ sẽ tương ứng với đạo,
tương ứng với tánh, có thể mau chóng thành tựu.
Nếu không, sẽ đâm ra chẳng thể thành. Cổ
nhân lại có lời cảnh tỉnh rằng “cổ miếu
hương lô khứ” (miếu cổ, ḷ hương mất), ư nói: Vạn niệm nguội lạnh!
Thánh, phàm c̣n chẳng bận tâm, những thứ khác sẽ
có thể biết vậy!
2.2.2.2.2.2.2.1.2.
Xét theo tánh tướng để nói rơ “chẳng một,
khác”
2.2.2.2.2.2.2.1.2.1.
Hiển thị chung nghĩa Như
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Ư ư vân hà? Khả dĩ tam thập nhị tướng
quán Như Lai phủ? Tu Bồ Đề ngôn: - Như thị,
như thị, dĩ tam thập nhị tướng quán
Như Lai.
(經)須菩提!於意云何?可以三十二相觀如來不?須菩提言:如是如是以三十二相觀如來。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng ba mươi hai tướng
để quán Như Lai hay không? Tu Bồ Đề thưa:
- Đúng như vậy! Đúng như thế, dùng ba
mươi hai tướng để quán Như Lai).
Đây là khoa “dựa theo
tánh, tướng để nói rơ chẳng một, chẳng
khác” chính là chỗ khẩn yếu của cả bản
kinh, chứa đựng nghĩa u thâm, chẳng phân tích tỉ
mỉ theo từng tầng, sẽ khó liễu giải.
Quán khác với Kiến. Nói
theo thân do Như Lai hiện th́ gọi là Kiến. Nói theo phía
học nhân tu Quán th́ gọi là Quán. Ư hỏi giống như
nói: “Có thể coi quán tưởng Ứng Thân hữu tướng
chính là quán tưởng Pháp Thân vô tướng hay không?” Một
đằng hữu tướng, một đằng vô
tướng, đương nhiên là chẳng thể, nhưng
Ứng Thân vốn từ Pháp Thân hiển hiện. Vô của
“vô tướng” vốn chẳng phải là rốt ráo
không có. Nói là Thật Tướng th́ chính là cái được
gọi là “vô tướng, vô bất tướng”, lại
c̣n chưa hề chẳng thể được. Tuy vậy,
nếu chấp là có thể, chưa tránh khỏi giữ lấy
tướng, phạm lỗi chấp Hữu. V́ thế, sau
đó có kinh văn thuộc khoa “trừ khử giữ lấy
tướng để nói rơ chẳng phải một”.
Nhưng nếu chấp là chẳng thể, lại chẳng
tránh khỏi diệt tướng, đọa vào lỗi chấp
Không. V́ thế, sau đó lại có kinh văn thuộc khoa “trừ
khử diệt tướng để nói rơ chẳng khác”.
Thử xem lời đáp của trưởng lăo, sẽ có
thể tăng trưởng kiến địa chẳng ít.
Lại nghe lời trừ khử của Phật, khiến
cho người ta mở rộng tâm mục rất nhiều.
Cần phải biết: Từ lúc mở đầu kinh cho
tới nay đă trừ sạch từng tầng, nhiều
lượt bảo “tức phi, thị danh”, không ǵ chẳng
nhằm ngăn ngừa người học chấp vào một
bên. Chỗ này nói rơ “tánh, tướng chẳng một,
chẳng khác”, chính là nói rơ nguyên do “chớ nên chấp vào một bên”
vậy!
“Ư ư vân hà” chính là
thăm ḍ, kiểm nghiệm kiến địa. Trong các phần
trước, đă nhiều lượt thăm ḍ, kiểm
nghiệm; v́ thế, ở đây chẳng nói Kiến mà nói
là Quán. Ư hỏi cực vi tế, khác hẳn phần trước!
Đấy chính là do sợ người học nghe nghĩa
Như của các pháp, và “pháp này b́nh đẳng” mà
lơ mơ, hồ đồ, chẳng thể thâm nhập
tinh vi, tự cho rằng b́nh đẳng giống hệt
như nhau. Tức là “sai chỉ hào ly, sai lầm ngàn dặm”,
bèn khai thị vậy. Trong lời đáp, có hai nghĩa trọng
yếu, ắt phải nên nói rơ trước:
1) Trong hội Bát Nhă, đức Phật bảo trưởng
lăo dạy lại các Bồ Tát (xem kinh Đại Bát Nhă), có
thể thấy là từ lâu trưởng lăo đă cùng với
Phật tâm tâm tương ấn, đă sớm hiểu sâu nghĩa
thú Bát Nhă. Trong kinh này, do đức
Phật cố ư dạy
cho người không biết, nên [trưởng
lăo] thay chúng sanh thỉnh
pháp.
2) Lư quá sâu, vốn chẳng thể nói. Nay bất đắc
dĩ, từ chỗ không thể nói mà nói năng. Một người
th́ trong một lúc, chẳng thể nói hai lời theo kiểu khác nhau được. V́ thế,
nhờ vào hai người, dùng thể loại vấn
đáp để nói. Vậy th́ nghĩa thú quá sâu sẽ dễ
hiểu rơ hơn!
Nương theo hai nghĩa trên đây, cho nên lời
trưởng lăo nói chẳng khác ǵ Phật nói. Đối với
bậc đương cơ trong hết thảy các kinh,
đều nên quán như thế. Không chỉ kinh này là
như thế! Đấy là ư nghĩa trọng yếu, chớ
nên không biết!
Đối với những
câu như thế, nếu chỉ dựa vào lời thưa
đáp để lănh hội, không chỉ là nh́n trưởng
lăo một cách nông cạn, mà ư chỉ sâu xa được
bao hàm trong kinh cũng chẳng hiển lộ, bị ẩn
khuất! V́ sao nói là “nh́n trưởng lăo
nông cạn?” Như lần đầu tiên, đức Phật
hỏi “có thể dùng thân tướng để thấy
Như Lai hay không?” Trưởng lăo đáp ngay: “Thân tướng
chính là chẳng phải thân tướng”. Lần thứ hai
hỏi “có thể dùng ba mươi hai tướng để
thấy Như Lai hay không?” Lại đáp “tức phi, thị
danh”. Lần thứ ba hỏi “có thể dùng sắc thân
trọn đủ để thấy Phật hay không? Có thể
dùng các tướng trọn đủ để thấy
Như Lai hay không” Đều đáp là “chẳng nên”. Sao ở
đây [trưởng lăo] lại bỗng dưng chấp
tướng như thế? Cố nhiên trưởng lăo
đại diện cho chúng sanh, nhưng đă thông hiểu rồi bỗng dưng mê muội, chẳng hợp
lư! Do vậy, câu như thế quả thật chẳng phải
là lời thưa gởi nhằm thể hiện sự
đồng ư, mà là nói về Lư.
“Như” là nghĩa
Như của các pháp. “Thị”: Hết thảy đều
là phải. Trong phần trước đă chẳng nói rồi
đó sao? Trong nửa bộ đầu, không có chỗ nào
đáp “như thị”, những chỗ đáp “như
thị” trong nửa bộ sau đều biểu thị
ư nghĩa tinh vi. Như trong phần nói về Ngũ Nhăn,
đối với mỗi loại đều đáp
tương xứng “như thị”. Đó là nói rơ “nhục
nhăn chẳng nhất định là nhục nhăn” cho đến
“Phật nhăn không nhất định là Phật nhăn”.
Nói chung, năm không nhất định là năm, mà một
chẳng nhất định là một, chẳng thể chấp
nhất! Đấy được gọi là “các pháp nhất
như, hết thảy đều là phải”, có ư hiển
thị: “Chỉ có Như th́ hết thảy đều là
phải. Nếu không, th́ đều chẳng phải”. Do
vậy, đối với mỗi câu đáp đều nói “như
thị”. Kế đó [đức Phật] hỏi “có phải
là cát hay không?”, [trưởng lăo] cũng đáp là “như
thị”, nhằm nói rơ: Như Lai nói là cát, chính là dùng
nghĩa Như để nói Thị, chẳng giống
như phàm phu nói Thị. Lại hỏi về
phước đức nhân duyên, cũng đáp là “như
thị”. Đấy là nói rơ pháp nào cũng đều là
duyên sanh, thấu hiểu duyên sanh tánh Không, th́ pháp nào cũng
đều là Như, pháp nào cũng đều là phải! V́
thế, kế tiếp đó nói: “Thử nhân dĩ thị
nhân duyên, đắc phước thậm đa” (Người
ấy do bởi nhân duyên ấy, được phước
rất nhiều). Ư nói: Chỉ do duyên sanh th́ mới có nhiều
phước đức để có thể đạt được! Cũng v́ chỉ là duyên
sanh, hăy nên chẳng chấp vào tướng duyên sanh, mà hội
quy vào tánh nhất như. Tức tuy các pháp đều là
duyên sanh, nhưng pháp nào cũng đều là Phật pháp.
Ngoài ra, đều chẳng đáp “như thị”. Tới
chỗ này, lại đáp là “như thị”, cũng có
ư nghĩa giống như trên, nhưng nói hai lượt, nhằm
khiến cho người ta sẽ coi trọng hai chữ
Như Thị. Ắt là phải có thể Như th́
sau đấy mới là Thị.
Ở đây có ư nói: Ba mươi
hai tướng cũng là một trong các pháp. Các pháp đều
là Chân Như, há ba mươi hai tướng chẳng phải
là Chân Như ư? Nhưng ắt phải nên hiểu
được nghĩa Như th́ mới Thị. V́ sao vậy?
Nếu lănh hội tánh và tướng như một, đă
chẳng diệt tướng, mà cũng chẳng chấp
tướng. Vậy th́ quán Ứng Thân ba mươi hai
tướng chính là quán Pháp Thân Như Lai vậy. Nếu trái
nghịch nghĩa Như, ắt sẽ chấp tướng
để quán tánh. Nếu không, bèn diệt tướng
để quán tánh, tức là chẳng có một thứ
ǵ là đúng! “Như thị, như thị, dĩ tam thập
nhị tướng quán Như Lai” (đúng như thế,
đúng như vậy, dùng ba mươi hai tướng
để quán Như Lai), hăy nên đọc thành một câu.
Nói chung là nương theo nghĩa Như, dùng ba mươi
hai tướng để quán Như Lai th́ là đúng. Ư của
trưởng lăo là nói Quán và Kiến khác nhau. Khi trong tâm quán ba
mươi hai tướng, vốn là tướng “vô tướng”. Như Lai hiện ba mươi hai tướng
cũng là “tướng chính là phi tướng”. Nay hiểu
rơ tướng vô tướng để tác quán, tức là
đă chẳng giữ lấy tướng, mà cũng chẳng
diệt tướng, chính là phù hợp với nghĩa Thật
Tướng “vô tướng, vô bất tướng”.
V́ thế nói “như thị, như thị, dĩ tam thập
nhị tướng quán Như Lai”, với dụng ư nêu
rơ: Đă là nhất như, quán tướng chính là quán tánh vậy!
Ư nghĩa trong lời đáp
của trưởng lăo quả thật rất sâu, đúng
là rất viên măn, đúng là tương ứng với ư chỉ
của Phật. Nhưng trong phần kinh văn kế tiếp,
Như Lai lại càng đả phá để trừ khử
cho sạch. V́ ư nghĩa như trưởng lăo đă nói cố
nhiên là đúng, nhưng trong đó c̣n có lư vi tế, chẳng
thể không nhận rơ, biện định rơ ràng. Nếu
không, ắt sẽ đến nỗi mơ hồ, mông lung,
chưa thấy bảo là thấy, ngỡ cái xương
h́nh yên ngựa của con lừa là xương cằm của
cha[8].
Nghĩa ấy thật sự có mối quan hệ khẩn yếu,
quả thật dễ khiến cho người học lẫn
lộn nhất! Do đó, Phật và trưởng lăo, một
hỏi, một đáp, nhằm hiển lộ ư chỉ sâu
xa, tinh vi, ẩn tàng ấy, khiến cho người học
chẳng đến nỗi lầm tưởng vậy!
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.
Riêng trừ khử t́nh chấp
Chia hành hai đoạn:
1) Trừ khử “chấp giữ tướng” để
nói rơ “chẳng một”.
2) Trừ khử “diệt tướng” ḥng nói rơ “chẳng
khác”.
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.
Trừ khử chấp giữ tướng để nói rơ
“chẳng một”
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1.
Phá giải để chỉ bày sự trừ khử
(Kinh) Phật ngôn: “Tu Bồ
Đề! Nhược dĩ tam thập nhị tướng
quán Như Lai giả, Chuyển Luân Thánh Vương tắc thị
Như Lai”. Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế
Tôn! Như ngă giải Phật sở thuyết nghĩa, bất
ưng dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai”.
(經)佛言:須菩提!若以三十二相觀如來者,轉輪聖王則是如來。須菩提白佛言:世尊!如我解佛所說義,不應以三十二相觀如來。
(Kinh: Phật nói: “Tu Bồ
Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng để
quán Như Lai th́ Chuyển Luân Thánh Vương sẽ là
Như Lai”, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch
Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa do đức Phật
đă nói, chớ nên dùng ba mươi hai tướng để
quán Như Lai”).
Ư đức Phật là: Ông nói “đúng như thế,
đúng như vậy, dùng ba mươi hai tướng
để quán Như Lai”, thoạt nghe th́ rất đúng,
nhưng nếu chưa nhận rơ cội nguồn, quả
thật là sợ rằng sẽ “dường như đúng
mà sai be bét”. V́ sao vậy? Ba mươi hai tướng há chỉ
Như Lai hiện tướng ấy ư? Chuyển Luân
Thánh Vương cũng có
đủ, nhưng
tướng của Luân Vương do phước nghiệp
mà có, chẳng giống Như Lai do từ Pháp Thân hiển hiện.
Nay nếu luông tuồng nói “đúng như thế, đúng
như vậy, dùng ba mươi hai tướng để quán
Như Lai” như vậy th́ Luân Vương cũng là
Như Lai mất rồi! Há chẳng phải là sai lầm to
tát ư? Hăy nên biết: Lời Phật cố nhiên là nói về tướng được quán, nhưng ư
Ngài thật sự nói về người có thể quán. Do Luân
Vương là kẻ nghiệp thức chưa rỗng không,
nhưng v́ phước nghiệp, nên cũng có ba mươi
hai tướng, đủ thấy các tướng đều
là hư vọng, chẳng đáng
để trông cậy.
Nhưng nếu người quán nghiệp thức đă
không, há chỉ quán ba mươi hai tướng của Luân
Vương chẳng bị che lấp, dẫu quán sắc
thân Ngũ Uẩn của chúng sanh, vẫn có thể thấy
rơ Pháp Thân mà chẳng thấy có Ngũ Uẩn. Nếu chẳng
phải vậy, dẫu đối diện Như Lai, vẫn
chỉ là quán tướng, chẳng thể quán thấy Pháp
Thân!
Đức Phật nói như
thế, chính v́ thoạt đầu [hành nhân] phát tâm tu Quán, vô
minh chưa phá mảy may, nên mới vướng trong nghiệp
thức. Nếu nghe “nhất như, giai thị” là nói
về pháp b́nh đẳng, chẳng suy xét khả năng của
chính ḿnh, cứ ngỡ quán tướng chính là quán tánh, chẳng
biết cái được quán chính là nghiệp thức, chẳng
phải là tánh. Hết thảy người học hăy nên
khám nghiệm cặn kẽ như thế ở chỗ này.
Khám nghiệm như thế
nào?
1) Hạng phàm phu lè tè sát đất từ vô thỉ tới
nay, tánh và tướng từ lâu đă chẳng phải là một.
V́ sao chẳng phải là một? Do giữ lấy tướng.
V́ sao giữ lấy tướng? Do v́ nghiệp thức. Do
đó, ắt phải rỗng không
hết sạch các tướng, tiêu diệt trọn hết t́nh thức
th́ mới đủ để nói “tánh và tướng
như một”.
2) Đức Phật nói nghĩa Như, chính là dạy [hành
nhân] hăy thấu hiểu, nhận thức Nhất Chân pháp giới,
trừ bỏ phân biệt, chấp trước ḥng vô ngă. V́
thế, hăy nên tự thẩm định: [Chính ḿnh] có phân biệt
hay không? Có chấp trước hay không? Nếu có phân biệt,
chấp trước vi tế, sẽ là nghiệp thức,
sao có thể quán tướng chính là quán tánh cho được?
Nói chung, “nhất như b́nh đẳng” chỉ có
chư Phật mới có thể rốt ráo. Ắt phải
chẳng chấp thật, lại c̣n tướng hư giả
cũng diệt mất, măi cho đến khi một niệm
chẳng sanh, ngay cả “chẳng sanh” cũng không có,
th́ mới là như một, chẳng khác. V́ thế nói “các
pháp như một” tức là chỉ thấy tánh của
chúng như nhau, chẳng thấy tướng của các
pháp. Không chỉ là như thế, dẫu cần phải là “nhất
như, b́nh đẳng”, nhưng cũng chẳng có cái ǵ
gọi là “nhất như, b́nh đẳng”, mà thật
sự nhất như, thật sự b́nh đẳng. Há kẻ
nghiệp thức chưa rỗng không có nên lầm lạc tự
phụ? Nay nói “dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai”, rơ ràng là có năng quán (người
quán) và sở quán (đối tượng được
quán), sẽ là phân biệt, chấp trước, nghiệp
thức rành rành, bèn nói “như
thị” như thế đó. Trọn chẳng biết
đă sớm chẳng phải là Như, chẳng có mảy
may là Thị! Hành nhân xưa nay bao nhiêu kẻ thô niệm vừa
dứt đôi chút, liền bảo đă chứng tam-muội!
Tập khí c̣n nguyên đó, vội nói “tùy ư thong dong”. Đều là ngỡ lẫn
lộn là viên dung, hiếm có kẻ nào chẳng đọa lạc!
Xem đoạn kinh văn này, đúng là một nhát kim đau
nhói đâm vào thóp vậy!
Điều đức Thế
Tôn phá trừ, trưởng lăo vốn đă hiểu rơ. V́ thế,
hễ có được cơ duyên liền chuyển. Những
lời Ngài đáp trước đó, cũng do biết rơ
mười mươi căn bệnh của chúng sanh. Do vậy,
từ ngữ [trong lời đáp] hàm hồ, đợi
đức Thế Tôn quở trách, phá trừ, khiến cho hết
thảy chúng sanh đều tự khám phá, chẳng đến
nỗi lẫn lộn, phiếm lạm vậy!
Hễ [chánh kinh] nêu ra câu “Tu
Bồ Đề bạch Phật” đều mang ư
nghĩa trịnh trọng; ở đây cũng thế. [Nêu
ra câu ấy] với dụng ư khiến cho học nhân chẳng
thể xem nhẹ, xem lướt qua lần phá giải
này! “Giải sở thuyết nghĩa” (hiểu
nghĩa đă nói) là nghe biết Luân Vương cũng cùng
có tướng ấy, [tức là] tướng chẳng
đủ để làm căn cứ, liền hiểu “các
pháp nhất như” phải diệt sạch các tướng
rồi mới được. Trưởng lăo hiểu
như thế, chính là để khiến cho người học
hăy nên hiểu như thế. “Bất ưng” (chẳng
nên) ngụ ư nói rơ: Chẳng phải là tuyệt đối
không thể! Nếu t́nh thức của người ấy
đă rỗng không, tức là hữu tướng cũng giống
hệt như vô tướng, vô tướng nào ngại hữu
tướng. Nếu không, hễ có chút t́nh thức, chắc
chắn sẽ lầm loạn, phiếm lạm! Do vậy bảo
là “bất ưng”. Lời này chính là thống thiết
răn dạy người học vậy!
Nói chung, đức Phật
nói “nhất như, b́nh đẳng”, nhằm dạy “một”
hay “khác” đều chớ nên chấp.
Nay dùng tướng để quán tánh, rơ ràng là chấp nhất,
há c̣n nói là “nhất như” được ư?
Chuyển Luân Thánh
Vương dùng Thập Thiện để
giáo hóa cơi đời,
chẳng dùng đến binh lực mà oai thế khuất phục
bốn phương, là người có phước đức
bậc nhất trong nhân loại, tự nhiên có thất bảo
xuất hiện, tùy ư tự tại! Món báu thứ nhất
là Luân Bảo. Vua ngự trên cái bánh xe ấy, tuần hành bốn
phương, do vậy được gọi là Chuyển Luân Thánh
Vương. Luân có bốn loại là vàng, bạc, đồng,
sắt. Có được kim luân th́ gọi là Kim Luân
Vương, làm vua bốn đại châu. Ngân Luân
Vương làm vua ba châu Đông, Tây, Nam. Đồng Luân
Vương làm vua hai châu Đông và Nam. Thiết Luân
Vương làm vua một châu, tức Nam Diêm Phù Đề.
Do sức phước đức nên [Luân Vương] có đủ ba mươi hai tướng,
nhưng thiếu thanh tịnh, chẳng rơ ràng [như tướng
của đức Phật], do các tướng ấy từ
phước nghiệp hữu lậu mà thành, chẳng giống
như do vô lậu Pháp Thân hiện ra!
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2.
Nói kệ để kết lại
(Kinh) Nhĩ thời, Thế
Tôn nhi thuyết kệ ngôn: “Nhược dĩ sắc kiến
ngă, dĩ âm thanh cầu ngă, thị nhân hành tà đạo, bất
năng kiến Như Lai”.
(經)爾時,世尊而說偈言:若以色見我,以音聲求我,是人行邪道,不能見如來。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn bèn nói kệ rằng: “Nếu dùng sắc
thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành tà
đạo, chẳng thể thấy Như Lai”).
“Nhĩ thời” (Lúc bấy giờ) chính là lúc phá giải vừa
mới xong. Nêu ra hai chữ ấy chính là dạy học nhân
phải nên đồng thời thấu hiểu khoa trên
đây, v́ những điều được nói trong bài kệ
chính là nguyên do phá giải vậy. Chữ Sắc chỉ
chung hết thảy sắc tướng, ba mươi hai
tướng cũng được bao gồm trong ấy.
Hai chữ Ngă là nói về Như Lai, tức là nói đến
tánh. “Âm thanh” bao gồm âm thanh thuyết pháp trong ấy,
tức là nói chớ nên chấp giữ “nhất như,
b́nh đẳng” như đă nói trên đây, hướng
vào văn tự âm thanh để cầu! “Kiến sắc”
(thấy sắc) tức là Nhăn Thức, “văn
thanh” (nghe tiếng) tức là Nhĩ Thức.
Nêu ra hai thức để khái quát các thức khác. Nói chung, thấy, nghe, hay, biết, tuy bản thể
của chúng là tánh, nhưng chúng sanh từ vô thỉ đến
nay đă biến chúng thành Thức. Nay nếu dùng sắc
để thấy, dùng âm thanh để cầu, hiển
nhiên là nghiệp thức nắm quyền hành xử, chấp
trước cảnh tướng lục trần. Muốn
dùng đó để thấy Pháp Thân, dùng đó để cầu
Pháp Thân, rơ ràng là vọng kiến, rơ ràng là hướng ra
phía ngoài truy cầu. Tri kiến đă hết sức bất
chánh, mà c̣n muốn thấy Pháp Thân Như Lai ư? V́ thế,
chê trách rằng: “Thị nhân hành tà đạo, bất
năng kiến Như Lai” (người ấy hành tà
đạo, chẳng thể thấy Như Lai). Do tánh Chân
Như chẳng phải là cảnh giới của nghiệp
thức phân biệt, chấp trước. Kết lại ư
nghĩa “muốn quán nhất như, mà chẳng hết sạch
t́nh thức th́ sẽ chẳng thể!”
Chắc có kẻ nói: Kinh Phật
thường dạy mọi người quán tướng hảo
của Phật, là v́ lẽ nào? Cần phải biết:
Đấy là phương tiện. Nói “phương tiện”
tức là chứa đựng hai ư nghĩa:
1) Chúng sanh chỗ nào cũng đều chấp trước.
V́ thế, khiến cho họ bỏ nhiễm quán tịnh th́
đây là phương tiện thứ nhất.
2) Đă biết quán tịnh, lại khiến cho họ
tiến đến rốt ráo như những điều
được nói ở đây; đấy là phương
tiện thứ hai vậy.
Bởi lẽ, từng bước dẫn mọi
người tiến nhập thù thắng, th́ gọi là “phương
tiện”. Do vậy, trong Thập Lục Quán Kinh, điều
trọng yếu nhất là mấy câu “thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật”
(tâm này là Phật, tâm này làm Phật). Hiểu hết thảy duy tâm, sẽ biết tuy quán tướng hảo, nhưng chẳng chấp đó là thật.
Đấy là trừ khử t́nh thức phân biệt, chấp
trước. Do vậy, người niệm Phật tuy quán
thấy Phật Di Đà hiện tiền, Cực Lạc hiện
tiền, cũng chớ nên chấp là v́ lẽ này! V́ sao vậy? V́ tướng do tâm tạo.
Cái tâm tự tánh thanh tịnh vốn vô tướng, vô bất
tướng, tướng và bất tướng lại càng
chẳng cần bận tâm! Chớ nên không biết lư
này! Hăy nên biết: Để ư nơi đó, sẽ là phân biệt,
chấp trước!
Trên đây đă trừ khử
tướng đến chỗ tột bậc, mà cũng
chính là tổng kết của nửa bộ sau từ phần
“chẳng có pháp để phát tâm” cho tới chỗ này.
Bởi lẽ, khi phát tâm, liền có thể chẳng chấp
giữ pháp Bồ Đề. V́ hễ có đôi chút chấp
giữ, sẽ là chấp sắc tướng, sẽ là hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu, sẽ
chẳng phải là chánh tri chánh kiến. Đó là pháp chấp
và ngă chấp, sẽ trái nghịch tánh không tịch, há có thể
thấy Như Lai được ư? V́ thế, dạy Bồ
Tát thông đạt pháp vô ngă là v́ lẽ này. Nếu không, sẽ
là tu mù, luyện đui, đi theo tà đạo, muốn nấu
cát thành cơm, vĩnh viễn chẳng thể đạt tới
mục đích. Do tu hành chính là lấy “thấy Như Lai”
làm mục đích. V́ thế, phải nên thông đạt.
Nhưng trừ khử tướng
chỉ là chớ nên chấp giữ
mà thôi. Nếu hiểu lầm là “diệt tướng” th́ lại hết sức
sai lầm! Do vậy, bèn có kinh văn thuộc khoa tiếp
theo! Dưới đây là khoa “trừ khử Diệt Tướng
để nêu rơ chẳng khác”. Nay tôi trước hết sẽ
nói ư nghĩa trọng yếu trong ấy. Trong nửa bộ
sau, khoa này không chỉ nặng vạn cân, mà các điều
đă nói từ phần mở đầu kinh như “chẳng
nên giữ lấy pháp, chẳng nên giữ lấy phi pháp, chẳng
phải phi pháp”, và đă nói “tức phi”, lại nói “thị
danh”, măi cho tới chỗ này mới nói rơ nguyên do. V́ thế,
trong toàn thể bộ kinh, [khoa này] cùng với khoa trên
đây, tức khoa “nói rơ chẳng một” chính là chỗ
then chốt khẩn yếu nhất. Ví như ngàn núi muôn
hang, ngoằn ngoèo uốn lượn, chạy tới
nơi đây, cùng xoay ṿng bao bọc, kết tṛn lại, khiến
cho vô số ngọn, rặng chập chùng, không ǵ chẳng được dính dáng mà thành hữu
t́nh, hữu thế! Cần phải biết: Nửa bộ
đầu nhằm nói với người mới mong phát
tâm. Do vậy, dạy họ “Không lẫn Hữu đều
chẳng chấp” để phù hợp Trung Đạo. Phàm
nói các chỗ “tức phi, thị danh”, ngữ khí phần
lớn đều kiêm cả hai bên. Đă chẳng thể
chấp Hữu, lại chẳng thể chấp Không. Nói là “thị
danh” hàm nghĩa: Có danh tướng tuy là giả, nhưng
chưa từng chẳng phải [là diễn tả hoặc
khơi gợi người nghe lănh hội thực chất]!
Cho
tới nửa bộ
sau là nói với người phát đại tâm, tu đại
hạnh, lại c̣n có thể chẳng chấp giữ tướng
của hết thảy các pháp, nhưng lại sợ họ
riêng chấp giữ tướng của pháp Bồ Đề,
sẽ trọn gây hệ lụy cho không tịch, trọn chẳng
thể chứng tánh, nhưng cái chấp này tột
bậc vi tế, khó trừ nhất! V́ thế, những
điều được nói trong nửa bộ sau đều
là thống thiết trừ khử chấp trước vào
bên Hữu, tuy có lúc “tức phi” và “thị danh”
cùng nói, nhưng ngữ khí phần nhiều thiên trọng “tức
phi”, ngụ ư: Pháp tướng “tuy là” (tuy diễn tả
chân pháp), nhưng rốt cuộc [danh tướng ấy] là
giả danh. Do là giả danh, cho nên có
nghĩa là “tức phi”. Ắt phải đợi trừ
khử sao cho mảy trần chẳng nhiễm, chẳng
vướng mắc tơ tóc ǵ, sau đấy mới lại
quay đầu lại, nói “chớ nên chấp Không”. V́
thế bảo “có ư nghĩa nặng vạn cân”. Đấy chính là như ư
nghĩa trong nhà Thiền nói “bách xích can đầu, cánh tấn nhất bộ” (đầu sào trăm thước, lại tiến thêm một
bước nữa). Lại nói: “Hoàn yếu phiên cá cân đẩu” (C̣n phải tung ḿnh lộn nhào). “Lộn nhào” chính là
xoay đầu lại. Hơn nữa, nửa bộ đầu
nói “chớ nên chấp Không”, chỉ nói đó là lẽ
đương nhiên. Nếu ở đây chẳng có câu “ư
pháp, bất thuyết đoạn
diệt tướng” (nơi pháp, chẳng nói tướng
đoạn diệt) để chỉ bảo, không chỉ là
lư ấy chưa rơ, mà cũng chẳng có chỗ quy kết,
tinh thần của cả bản kinh cũng không kết tụ
được! Do đó nói “khoa này và khoa trước
đó là chỗ then chốt trọng yếu của cả bản
kinh”, v́ đây là chỗ quy kết của các nghĩa đă nói từ đầu
kinh cho tới đây. Tuy nhiên, nửa bộ sau từ phần
mở đầu trở đi, chuyên trừ khử chấp
Hữu. Khoa trước tuy có phần tổng quy kết “trừ
Hữu”, chứa đựng ư nghĩa u thâm, nhưng Lư vốn
nhất quán, c̣n dễ nói rơ. Chỉ có khoa này, bỗng nhiên
“xoay bánh lái”, nhăn quang nh́n bốn phía, ngữ khí lẫn tinh
thần đều chuyên chú nơi nửa bộ trước.
V́ thế, trong một câu bao hàm nhiều nghĩa. Đúng là
như “trắc khán thành phong, hoành khán
thành lănh, diện diện giai phóng quang minh, giai thành dị
thái” (nh́n nghiêng thành ngọn, nh́n ngang thành rặng,
mặt nào cũng đều tỏa sáng, đều có vẻ
rực rỡ khác nhau), chẳng biết nói từ
đâu. Nay muốn nói rơ đạo lư nơi mỗi mặt,
trước hết hăy nên nói ư chỉ to lớn. Đă hiểu
rơ ư chỉ to lớn rồi, sẽ dễ hiểu rơ mỗi mặt hơn!
Hăy nên biết: Tánh là Thể
của hết thảy các pháp.
Tướng là mặt
ngoài. Bởi lẽ, tu hành vốn là để chứng tánh.
Do vậy, chớ nên chấp tướng bề ngoài. Đấy
chính là lư nhất định, nhưng có bề trong th́
cũng cần có bề ngoài. Nếu chỉ có chủ thể,
trọn chẳng có biểu hiện, chủ thể cũng
tồn tại trơ trọi, chẳng có tác dụng. Do vậy,
tu hành muốn chứng tánh th́ chớ nên chấp giữ
tướng, mà cũng chớ nên đoạn diệt tướng.
Đây cũng là lư nhất định. Ví như xây nhà, kèo,
cột là cái sườn chánh, là Thể. Cửa cái, cửa
sổ, cánh cửa, vách, cho đến gạch, ngói, tro,
đá v.v… là mặt ngoài, là tướng.
Tự nhiên cần
phải chú trọng cột, kèo trước hết, nếu
chỉ biết chấp giữ các tướng bên ngoài, chẳng
biết chú trọng cái Thể chủ yếu, sao có thể
được? Nhưng nếu chỉ có cột, kèo chánh yếu,
trọn chẳng có cửa cái, cửa sổ, cánh cửa,
tường vách, há c̣n có thể gọi là
“nhà” ư? Cất nhà là như vậy, tu hành cũng thế.
Xem thí dụ này, sẽ có thể hiểu rơ lư “chớ nên
chấp tướng, mà cũng chớ nên phế tướng”.
Đó là tông chỉ quan trọng nhất để đức
Phật nói khoa này!
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.
Trừ khử “diệt tướng” để nói rơ “chẳng
khác”
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.1.
Nêu bày sự răn nhắc.
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhữ mạc tác thị niệm, Như Lai bất dĩ cụ
túc tướng cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề. Tu Bồ Đề! Mạc tác thị
niệm: Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố,
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(經)須菩提!汝若作是念,如來不以具足相故,得阿耨多羅三藐三菩提。須菩提!莫作是念:如來不以具足相故,得阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Ông đừng nghĩ thế này: Như Lai chẳng do
tướng trọn đủ mà đắc A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Tu Bồ Đề! Đừng
nghĩ thế này: Như Lai chẳng do tướng trọn
đủ mà đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề).
Như đă nói trên đây, có
thể biết khoa “trừ khử diệt tướng”
này có ư nghĩa rộng sâu;
nhưng không chỉ là rộng sâu, mà c̣n ẩn chứa nhiều
nghĩa, đầu mối lại nhiều, tột bậc
chẳng dễ nói. Đă nói là chẳng dễ, có thể biết
là khó lănh hội, nhưng đă là chỗ then chốt trọng
yếu, trọn chẳng thể không cẩn thận lănh hội!
Ngay cả như trong phần nêu bày sự răn nhắc
thiết tha, vừa mở đầu đă lạ lùng! V́
sao nói “Như Lai chẳng dùng tướng trọn đủ
để đắc Vô Thượng Bồ Đề” vậy?
Hăy nên biết: Bề ngoài nói “tướng trọn đủ”,
nhưng thật sự ẩn tàng nghĩa “tu phước
đức”, do trọn đủ các tướng là v́ tu
phước đức. Trong kinh Phật, loại cú pháp này
rất nhiều; đó gọi là “hỗ tương ảnh
hiển” (互相影顯, phản chiếu để
làm rơ nghĩa cho nhau). Nếu dùng văn tự để nói
th́ giống như nói “đừng nghĩ như thế
này, Như Lai chẳng do tu phước đức mà đắc
Vô Thượng Bồ Đề”, há chẳng trực tiếp,
nhanh chóng, thỏa đáng hơn ư? Nay chẳng nói như
thế, lại dùng “trọn đủ tướng”
để nói là do có hai tầng thâm ư:
1) Nhằm dẫn khởi phần
kinh văn sau đó “chẳng nói tướng đoạn
diệt” để đối ứng với “chẳng
chấp giữ tướng” trong phần trước, ḥng nêu rơ ư nghĩa “chẳng chấp hai bên”. Hơn
nữa, phần trên đă nói là Như Lai, phần dưới
nói “tướng trọn đủ”, có thể nêu rơ ư
nghĩa “tánh tuy vô tướng, nhưng cũng là vô bất
tướng”.
2) Nói một tướng trọn
đủ, người nghe sẽ có thể lănh hội trong
ấy có bóng dáng của tu phước đức. Nếu
nói “tu phước đức”, người nghe
chưa chắc đă nghĩ là nói “trọn đủ
tướng”. Đó là cách nói thiện xảo! Nói chung, một
lời như thế bao gồm cả hai điều, do phần
trước đă nói Luân Vương cũng có ba
mươi hai tướng, nhưng là do tu phước mà
được, [tức là sự
chấp trước
tướng phước đức] đă bị đả
phá, lại sợ người nghe hiểu lầm “chứng
tánh chẳng cần tu phước”. Lại do phần trên
đă nói “dùng sắc để thấy ta là hành tà đạo”,
sợ người nghe hiểu lầm “để thấy
Như Lai ắt phải diệt tướng”. Nay lập thuyết như
thế, tức là hai loại hiểu lầm đều bị
trừ khử, cho nên nói là “thiện xảo”. Chữ
Thị trong “nhữ mạc tác thị niệm” (ông
đừng nghĩ như thế này) là nói tới ư “chẳng
dùng tướng trọn đủ” v.v… trong phần kinh
văn tiếp theo đó, chính là v́ sợ người ta nghe
nói những điều trước đó, sẽ nẩy
sanh hiểu lầm, mà nghĩ như thế. Do trưởng lăo là bậc đương
cơ, đại diện chúng sanh, [đức Phật] chỉ cần hướng về trưởng
lăo nói, chứ thật ra là dạy bảo trọn khắp hết
thảy mọi người.
Câu “đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” ngầm chứa
nhiều nghĩa, phải nói theo từng tầng một.
1) A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, nhưng
cũng bao hàm ư nghĩa Phật và Như Lai. V́ sao nói là bao gồm
nghĩa Như Lai? Như Lai là Pháp Thân b́nh đẳng, chẳng
có cao thấp. Thể dứt bặt đối đăi; cho
nên nói là Vô Thượng. Do b́nh đẳng, nên nói là Chánh Đẳng. Bất giác th́ chẳng thể
chứng, nên nói là Chánh Giác. V́ sao nói có ư nghĩa chữ Phật
[trong ấy]? Phật là giác, cho nên nói là Chánh Giác. Tự giác,
giác tha, chẳng hai, chẳng khác, nên nói là Chánh Đẳng.
Giác đă viên măn, đạt tới địa vị rốt
ráo, nên nói là Vô Thượng. V́ thế, Vô Thượng Chánh
Đẳng Giác có thể nói là “tánh đức Như Lai”,
là từ ngữ để gọi chung quả đức Phật.
Ở đây, không nói Phật, không nói Như Lai, mà nêu lên tên
gọi chung để nói, nhằm hiển thị hai ư
nghĩa:
a) Do phần trên đă nói rơ là “tướng trọn
đủ”, ẩn chứa ư nghĩa “tu phước
đức”, nếu chỉ nói tới phước đức
tu nhân để mong quyết đạt được cái
quả th́ nên dùng Phật để nói. Nếu chỉ xét
theo phương diện “tướng tuy chẳng phải
là tánh, mà vẫn chẳng ĺa tánh”, hăy nên dùng Như Lai
để nói. Nay câu trên đây đă chứa đựng cả
hai nghĩa ẩn và hiển, do vậy hăy nên
dùng danh xưng chung cùng chứa đựng hai phẩm đức
“tánh” và “quả” để gọi vậy.
b) Vừa mới nói “đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” chính là
để dẫn khởi “phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề” trong phần sau, đó là do muốn
dựa vào quả chứng để nói rơ nhân tâm (cái tâm tu
nhân), ḥng nêu rơ lúc vừa mở đầu nửa bộ sau
đă nói nghĩa chân thật “thật sự chẳng có
pháp phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Khi mở đầu, trước hết
liền nói nghĩa “chẳng có pháp để phát Bồ
Đề”. Kế tiếp nói rơ nghĩa “chẳng có pháp để
đắc Bồ Đề”. Một đằng phát, một
đằng đắc, đối ứng nhau mà nói. Ở đây
cũng là nói đối ứng “một đằng đắc, một đằng phát”, chính là để
bổ túc ư nghĩa đă nói lúc mở đầu [nửa bộ
sau]. V́ sao bảo là bổ túc? Nhằm nói rơ “pháp”
được nói trước đó bao hàm phi pháp. “Chẳng
có pháp” được nói trong phần trước chính
là chẳng chấp hai bên, pháp và phi pháp đều chẳng
có! Như vậy th́ mới là phát Bồ Đề. Nếu
chỉ hiểu một phía “chẳng giữ lấy pháp”,
chưa khỏi rơi vào Không, sao c̣n có thể nói là “phát Vô Thượng Bồ Đề” được
nữa? Ở đây, Đắc và Phát cùng nói, cùng với
lúc vừa mở đầu đă cùng nói, phản chiếu
lẫn nhau thành ư chỉ trọng yếu để tiến
nhập. Do vậy, lại đủ để chứng
minh sau chữ Bồ Đề, chẳng có chữ Tâm
như trong phần trước đă nói. Tức là trong phần
kinh văn ở đây, sau “phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề”, há nên chấp [phải thêm
vào] một chữ Tâm ư? Đấy chính là do kẻ chẳng
hiểu rơ ư chỉ của kinh, luông tuồng thêm vào bừa
băi, há chẳng phải là lầm lẫn to lớn ư?
2) Nói một chữ Đắc
cũng có ư nghĩa tinh diệu. Chữ Đắc ấy
chính là nói đối ứng khít khao với chữ Quán trong
khoa trước. Do đối ứng khít khao với chữ
Quán mà nói chữ Đắc, rơ ràng là ư nghĩa “quán th́ chớ
nên giữ lấy tướng, đắc th́ chớ nên phế
tướng”. V́ sao vậy? Đạo tu Quán chú trọng
nơi kiến tánh. Quán tướng há có thể kiến
tánh? Trong nửa bộ đầu, đă nói rơ ràng: “Nhược
kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng
chẳng phải là tướng, sẽ thấy Như Lai).
V́ thế, muốn thấy Như Lai, phải có thể thấy
“các tướng chẳng phải là tướng” th́ mới
được. Nay nói “dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai”, vẫn chưa thể “thấy tướng chính là chẳng phải tướng”, sao có thể thấy Như
Lai cho được? Lầm dẫn nghĩa Như, tự
cho là đúng, chẳng biết nghĩa
Như, tuy chẳng phế
tướng, cũng phải nên chẳng giữ lấy
tướng th́ mới gọi là Như. Nay chấp vào một
bên, sao gọi là Như cho được? Hồ đồ
hết mức, cho nên [đức
Phật] đả phá rằng [kẻ đó] “hành tà đạo, chẳng thể
thấy [Như Lai]” nhằm nói rơ tánh và tướng
chẳng phải là một!
Khoa này chẳng nói Quán mà nói Đắc, đó là nói xét theo tu
nhân để chứng quả. Đó cũng là xét theo tánh và
tướng để nói Đắc. V́ sao vậy? Do tánh
và tướng chẳng đắc, chẳng gọi là chứng
quả. Ư nói: Nếu có thể chẳng chấp tướng,
tướng cũng nào có ngăn ngại tánh, cho nên sẽ
đắc. Nói chung, tánh là trong, tướng là ngoài. Nói theo
trong và ngoài th́ tánh và tướng chẳng phải là một.
Nếu nói theo “ngoài th́ ắt có trong, trong ắt có ngoài,
trong ngoài hợp nhất” th́ tánh và tướng chẳng
khác. Điều này giống như mua nhà, phải nên xem xét
kèo cột. Nếu chỉ nh́n tướng
bên ngoài, mà bảo
“nh́n tướng bề ngoài chính là thấy
kèo cột”, há chẳng phải là nói đùa ư? Nhưng nếu
chỉ có kèo, cột, mà cửa cái, cửa sổ, cánh cửa,
tường vách, nhất loạt chẳng có tướng bề ngoài, th́ tuy có được cái nhà ấy,
có khác ǵ chẳng được? Tu hành cũng như vậy.
Nói theo quán, ắt chớ nên giữ lấy tướng. Nói
theo đắc, ắt phải nên đừng phế tướng.
Hiểu rơ thí dụ này, sẽ có thể triệt để
hiểu rơ lư “một và khác đều chẳng nên chấp!”.
Càng có thể thấy đức Phật thuyết pháp, mỗi
lời đều có chừng mực, mỗi chữ đều
chứa đựng diệu lư, đúng là sợ người
học sơ ư, hời hợt, đối với đạo
lư “tánh tướng chẳng một, chẳng khác” cứ
nuốt trộng quả táo, chẳng thể lắng ḷng cặn
kẽ lănh hội. Nay xem những điều vừa nói trên
đây, đức Thế Tôn đă nương theo Hàng Bố
trong “tánh tướng viên dung” để vạch ra rành rẽ,
phân minh, rơ ràng, rành mạch cho hết thảy người học.
Nếu có thể thân thiết lănh hội, sẽ tự có thể
đă chẳng giữ lấy tướng, lại c̣n chẳng
giữ lấy phi tướng. Vừa có Hàng Bố, lại
c̣n có thể Viên Dung. Chuyện nào cũng đều phù hợp
Trung Đạo, pháp nào cũng đều chẳng trái nghịch
tự tánh.
3) Phải nên biết: Những
điều đă nói trên đây cũng có ư nghĩa chiếu
rọi lẫn nhau, chớ nên không biết! V́ sao nói vậy?
Khoa trước nói về Quán là nói theo phía cái nhân, nhằm dạy
rơ “tu nhân th́ chớ nên chấp giữ tướng, chớ
nên tu phước hữu lậu”. Hăy nên biết: Tu nhân
đă chẳng thể giữ lấy tướng, chứng
quả sao lại có thể giữ lấy tướng? Chỉ
là chẳng phế tướng mà thôi! Khi c̣n thuộc địa
vị tu nhân, chớ nên tu phước hữu lậu, do tu
cái nhân vô lậu, sẽ có thể chứng cái quả vô lậu.
Khoa này nói “đắc” là nói theo phía quả, nhằm giảng
về chứng quả, trọn chẳng phải là phế tướng,
cũng chẳng phải là không do tu phước mà có. Hăy nên
biết: Chứng quả đă chẳng phải là phế
tướng, tu nhân lại há nên phế tướng? Chỉ
là chẳng thể chấp giữ mà thôi! Quả chẳng phải
là không do tu phước mà có, th́ khi c̣n đang tu nhân, chỉ
nên chẳng tu phước hữu lậu, há có phải là dạy
tuyệt đối chẳng tu ư? Nhân quả như một,
cố nhiên chiếu rọi lẫn nhau để giảng
rơ vậy!
4) Khoa trước và khoa này,
đôi đằng đối chiếu để xem, lại
có ư nghĩa trọng yếu. Trong phần Trường Hàng
thuộc khoa trước, có ư nói: Luân Vương cũng có
ba mươi hai tướng mà chẳng
phải là Như Lai, nhằm nói rơ ư nghĩa “tu phước
mà chẳng tu huệ, sẽ không thể đắc quả Vô
Thượng Bồ Đề”. Khoa này răn nhắc
đừng khởi ư niệm “chẳng tu phước mà đắc quả
Bồ Đề”, nhằm nói rơ ư nghĩa “tu huệ mà chẳng
tu phước, cũng chẳng thể đắc quả Vô
Thượng Bồ Đề”. Trong bốn câu kệ thuộc
khoa trên, quở trách “dùng sắc và âm thanh để thấy
Như Lai là hành tà đạo”, nhằm nêu rơ ư nghĩa “kiến
tánh chớ nên giữ lấy tướng”. Khoa này răn
nhắc đừng nẩy sanh ư niệm “chẳng do tướng trọn đủ
mà đắc Bồ Đề”, nhằm nói rơ ư nghĩa “kiến
tánh trọn chẳng phải là phế tướng”. Từ
điều thứ nhất đến điều thứ
tư, gộp lại để xem, đă đem [các ư
nghĩa] “lư, tánh, sự, tu” cùng với “tánh tướng chẳng
một, chẳng khác” vừa là Hàng Bố, vừa
là nhân nhân quả quả Viên Dung, nói tới chỗ
vi tế, chặt chẽ tột bậc, trọn vẹn tột
bậc, nhưng các ư nghĩa được chứa đựng
vẫn chẳng phải chỉ là như thế!
5) Khoa trước nói Quán,
khoa này nói Niệm. Quán và Niệm có cùng một nghĩa. Gộp
hai khoa lại để nói, có ư nói rơ: Tướng
và phi tướng, phước và phi phước, hai bên
đều chẳng chấp, đó là chánh quán, là chánh niệm. Nếu chỉ giữ lấy một
bên, tức chẳng phải là chánh quán, chánh niệm. V́ sao vậy?
Do chẳng khế hợp Trung Đạo. V́ thế, khoa
trước đă quở trách “giữ lấy tướng
chính là hành tà đạo”. Khoa này th́ lại đối với
chuyện giữ lấy phi tướng bèn răn nhắc
thiết tha “đừng nghĩ như thế”.
6)
Ba mươi hai tướng là Ứng Thân. Ứng Thân sanh
diệt vô thường. Do thuận tiện nói rơ ư nghĩa “tánh
và tướng chẳng phải là một”, khoa trên do trừ
khử chuyện giữ lấy tướng, bèn nêu ra ba
mươi hai tướng để nói. “Tướng trọn đủ” tức là như trong phần trên đă nói
là “cụ túc chư tướng”, chính là Báo Thân.
Nhưng xét theo tướng để nói, th́ gọi là Báo
Thân. Nói theo tánh th́ gọi là Báo Đắc Pháp Thân, tức là
nói theo nghĩa “tánh và tướng chẳng khác”. V́ vậy,
ở đây trừ khử “diệt tướng”, lại
nêu ra tướng trọn đủ để nói. Hăy nên biết:
Nói như thế cũng là chiếu rọi lẫn nhau để
nêu tỏ ư nghĩa! V́ sao vậy? Ba mươi hai tướng
chớ nên giữ lấy, th́ có thể biết: Tướng
trọn đủ cũng chớ nên giữ lấy. Tướng
trọn đủ chớ nên diệt, th́ có thể biết
là ba mươi hai tướng cũng chớ nên diệt.
Tách ra để nói chỉ nhằm dễ dàng hiển thị
ư nghĩa “chẳng một, chẳng khác” đó thôi!
7) Trong phần “chẳng
dùng tướng trọn đủ để đắc Bồ
Đề” lại c̣n chứa đựng ư nghĩa tinh
vi. Hăy nên biết: Thành tựu tướng trọn đủ
là do phước huệ song tu mà có, không chỉ là tu phước
mà thôi! Thế nào là song tu? Khi tu phước th́ liền biết
chẳng chấp tướng. Biết “chẳng chấp tướng” sẽ là huệ. Do vậy, có thể thành tựu
tướng trọn đủ, đắc Vô Thượng Bồ
Đề. Điều này hoàn toàn khác hẳn đường
lối của Luân Vương, v́ phước nghiệp của
Luân Vương được gọi là hữu lậu, chẳng
có chi khác, do tu phước chấp tướng mà ra. Do vậy,
chỉ có thể thành tựu ba mươi hai tướng,
chỉ có thể đắc cái quả Luân Vương. Do vậy,
có thể biết: Ở đây tuy nói là “chẳng diệt
tướng”, thật ra, đă kèm thêm ư nghĩa “chẳng
giữ lấy tướng” trong ấy. Đó là v́ nó chẳng
khác tánh. Tầng ư nghĩa này chính là ư nghĩa tinh diệu của
khoa này. Do vậy, nêu ra tướng trọn đủ để
nói rơ “chẳng khác”, tông chỉ ở chỗ này! V́ sao
vậy? “Chẳng khác” tức là nhất như, ắt
là tướng và phi tướng hai bên đều chẳng
giữ lấy, mới gọi là “nhất như”.
Như đối với những điều được
nói trong khoa trước, nếu chỉ biết một phía “chẳng
giữ lấy phi tướng”, sao có thể gọi là “nhất như” được
ư?
Gộp chung lại các
nghĩa đă nói, sẽ có thể hiểu rơ ư nghĩa của
khoa này. Không ǵ chẳng v́ sợ người nghe do nghe nói “trừ
khử tướng” trong phần trước, sẽ lệch
về phía Không, hiểu lầm là tuyệt đối vô tướng,
sẽ mâu thuẫn với Thật Tướng “vô tướng, vô bất tướng”, sẽ chẳng phải là nghĩa Như của
các pháp, chẳng phải là pháp b́nh đẳng, sẽ chẳng
đắc quả Vô Thượng Bồ Đề, chẳng
thấy Như Lai vậy! V́ thế, thiết tha răn nhắc đừng nghĩ như thế! Nếu
nghĩ như thế, chính là tà kiến, chẳng phải là
chánh kiến. Luận theo đạo lư, luận theo ngữ
khí, chỉ một câu “mạc tác thị niệm” (đừng
nghĩ như thế) này, ư nghĩa đă trọn. Nay lại
nói ngay hai câu “Như Lai bất dĩ cụ túc tướng”
(Như Lai chẳng do tướng trọn đủ),
lại c̣n lặp lại để nêu rơ, khiến cho mọi
người biết chú trọng hai
câu ấy chính là ư nghĩa trọng yếu, chẳng thể xem nhẹ
được! V́ thế “mạc tác thị niệm”
cần phải đọc liền một hơi với hai
câu kế đó. Nếu đọc ngắt ra, sẽ cảm
thấy hai câu sau bị trùng lặp!
Tôi từng thấy một bản
khắc đầu đời Thanh, lầm lẫn ngắt
câu từ chữ Niệm, lại e ngại hai câu sau trùng lặp,
bèn bỏ đi chữ Bất, thành ra “Như Lai dĩ cụ
túc tướng cố, đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Như Lai do tướng trọn đủ mà đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) sai lầm to! Cần
phải biết: Có chữ Bất, hàm nghĩa: Tuy chẳng
nên giữ lấy tướng, mà cũng chớ nên phế
tướng! Ngữ khí song chiếu cả hai bên, viên dung hoạt
bát chi bằng! Nếu bỏ đi chữ Bất, ngữ
khí sẽ là chấp lấy một bên “giữ lấy tướng”,
vướng mắc, tŕ độn, khác biệt
một trời một vực! Đại Trí Độ Luận
nói: “Bát Nhă như đống lửa lớn, bốn phía
đều chẳng thể chạm”. Há có thể đặt một câu tŕ độn ư? Thử xem văn tự
trong kinh này, trọn chẳng có một chữ nào nói thừa
thăi. Luận theo mặt văn tự, cũng là bút pháp thần
kỳ tuyệt diệu! Chẳng do tài dịch thuật của
La Thập đại sư, sẽ chẳng thể hay khéo
đến như thế. Đem bản dịch của Ngài
so với các bản dịch khác, sẽ tự biết. Loại
khắc bản đầu đời Thanh ấy, may mà chẳng
có ai phỏng theo! Nếu không, trong bản lưu thông hiện
thời, lại có nhiều thêm một điều
độc hại!
2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2.
Kết lại phần hiển thị chánh nghĩa
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhữ nhược tác thị niệm, phát A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả, thuyết chư
pháp đoạn diệt, mạc tác thị niệm, hà dĩ
cố? Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng.
(經)須菩提!汝若作是念,發阿耨多羅三藐三菩提者,說諸法斷滅。莫作是念,何以故?發阿耨多羅三藐三菩提者,於法不說斷滅相。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nếu ông nghĩ thế này “phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nói các pháp đoạn
diệt”, đừng nghĩ như
vậy. V́ sao vậy? Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, đối với pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt).
Kinh nghĩa trong khoa này hết sức khúc chiết, tinh
tế, hăy nên lắng ḷng lănh hội. Trong bản lưu
thông, sau chữ Bồ Đề luôn có chữ Tâm, chứ bản
chép tay của người đời Đường đều
chẳng có. Chữ Tâm được thêm vào khoảng thời
Ngũ Đại, chớ nên thêm vào!
Khoa này chính là để nói rơ nguyên do có khoa “nêu bày, thống thiết răn nhắc” trên đây. Từ “nhữ
nhược tác thị niệm” (nếu ông nghĩ
như thế này) cho tới “thuyết chư pháp đoạn
diệt” (nói các pháp đoạn diệt) là một đoạn,
nhằm nói rơ nguyên do “tác thị niệm” trong kinh
văn thuộc phần trước. Một đoạn từ
“hà dĩ cố” trở đi nhằm nói rơ nguyên do “mạc
tác thị niệm” (đừng
nghĩ như thế) trong kinh văn thuộc phần trên. Chánh
nghĩa trong khoa trước đến chỗ này mới
được hiển lộ. V́ thế, đặt tựa
đề cho khoa này là “kết hiển chánh nghĩa” (kết
lại bằng cách hiển lộ chánh nghĩa). “Nhữ
nhược tác thị niệm” tức là nói [nếu ông]
nghĩ “Như Lai chẳng dùng tướng trọn đủ
để đắc Vô Thượng Bồ Đề”.
Chữ Pháp trong “thuyết chư pháp” tiếp nối
sát ngay “cụ túc tướng” (tướng trọn đủ), bởi tướng trọn
đủ là do tu phước mà thành. Tu phước bằng
cách nào? Chính là rộng hành các pháp Lục Độ. Do vậy,
nếu nói “chẳng do tướng trọn đủ”,
sẽ chẳng khác ǵ nói “không cần tu pháp Lục Độ”,
há chẳng phải là nói thành ra “các pháp đoạn
diệt” ư? V́ thế, [đức Phật nói hễ
nghĩ như thế sẽ] chính là “thuyết chư pháp
đoạn diệt” (nói các pháp đoạn diệt).
Trong ấy, lại có một câu “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” nhằm nói ǵ vậy? Hăy
nên biết: Khi vừa mở đầu nửa bộ sau,
đức Thế Tôn đă từng nói “chẳng có pháp
để phát Bồ Đề”, rất sợ kẻ chẳng
thể hiểu sâu xa nghĩa này, nghe xong lại nói “ta đối
với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thậm
chí chẳng có chút pháp để đắc”. Như do khoa
trên đă nói “nếu dùng sắc để thấy ta th́
là hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai”,
[kẻ đó] ắt sẽ hiểu lầm bảo: “Đối
với nghĩa ‘chẳng có pháp để phát Bồ Đề’
trong phần trước, ta đă biết rồi. Đắc
Bồ Đề đă là chẳng có chút pháp nào, lại c̣n
khai thị rơ ràng là ‘dùng sắc để thấy th́ là tà
đạo’, mà sắc là tướng, có thể thấy là
Như Lai đắc Vô Thượng Bồ Đề, hoàn
toàn chẳng liên quan ǵ với tướng trọn đủ!”
Đó là nguồn gốc của ư niệm “do chẳng dùng tướng trọn đủ nên đắc
Bồ Đề”. Nếu nghĩ như thế, bèn có niệm
thứ hai rằng: “Tướng trọn đủ là do hành
pháp Lục Độ, siêng tu phước đức mà ra.
Đó gọi là ‘trăm kiếp tu tướng hảo’.
Nay đắc Bồ Đề, đă rơ ràng là chẳng liên
quan với tướng trọn đủ. Lại c̣n khai thị
rơ ràng ‘đắc Bồ Đề th́ chẳng có chút pháp
nào’. Có thể thấy: Phát Bồ Đề, cũng ắt
chớ nên có chút pháp nào! Chỉ nên nhất định tu sao cho tiến nhập tánh không tịch mà thôi! Phàm
các pháp Lục Độ được gọi là tu phước
đức, tướng hảo, toàn thể chẳng màng tới!
Đó là lư do khai thị ‘chẳng có pháp để phát Bồ Đề’ vậy!”
Nếu hành nhân hiểu lầm như thế, sẽ hoàn
toàn trái nghịch ư chỉ của Phật, đi vào
đường tà, ắt rồi sẽ chẳng tu một
pháp nào cả! V́ sao vậy? Do nói thành các pháp đoạn diệt,
há c̣n có thể nói là “phát Vô Thượng Bồ Đề”
nữa ư? V́ thế, răn nhắc
đừng nghĩ như thế!
Do vậy, có thể biết:
Đức Phật nói khoa này chính là nói rơ nguyên do v́ sao [người
ấy] nghĩ như thế. Nhưng đức Phật
đang trong lúc trừ khử chấp tướng, bỗng quay
ngoắt lại, nói ra khoa lớn “trừ khử diệt
tướng” này, chính là để nói rơ nghĩa chân thật
của “chẳng có pháp để phát Bồ Đề”
đă nói trong phần trước. Mức quan hệ trọng
yếu của khoa này cũng đă rơ ràng rồi! V́ thế, tôi vừa mới
nói: Ư nghĩa [trong khoa này] khúc chiết, tinh tế, hăy nên lắng
ḷng lănh hội. Phàm nói lư đến chỗ tinh vi, sâu xa, rất
cần phải biện định tỉ mỉ. Nếu
không, ắt sẽ là “sai chỉ hào ly, sai lầm ngàn dặm”,
đi vào tà đạo mà chẳng tự biết, nguy hiểm
tột bậc! Đó là lư do học Phật th́ phải nên mở
mang viên giải, lấy chuyện thân cận thiện tri thức
làm nhiệm vụ cấp bách vậy!
Từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, nói rơ nguyên do “bất ưng
tác thị niệm” (chớ nên nghĩ thế này), có
nghĩa là nói: Trong phần trước đă nói “chẳng
có pháp để phát Bồ Đề” chính là nói “chớ
nên giữ ư niệm rằng đây là Vô Thượng Bồ
Đề” [nói như vậy] nhằm trừ căn bệnh
chấp giữ pháp tướng, chứ có bao giờ nói
đoạn diệt pháp tướng! V́ thế nói “phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả, ư pháp bất
thuyết đoạn diệt tướng” (phát A Nậu
Đa La Tam Miệu, Tam Bồ Đề, đối với
các pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt).
Trong phần trước, khi nói “chẳng có pháp để
phát Bồ Đề”, đă nói rơ ràng: Phát A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề, chỉ nên sanh khởi ư
niệm “hăy nên tận hết trách nhiệm độ sanh”,
dẫu tận mà vẫn giống như chưa tận, há
có phải là nói đoạn diệt các pháp! Sau đó, lại nói: “Nhược Bồ Tát tác thị ngôn: Ngă
ưng diệt độ vô lượng chúng sanh, tắc bất
danh Bồ Tát” (nếu Bồ Tát nói như thế này “ta
hăy nên diệt độ vô lượng chúng sanh” th́ chẳng
gọi là Bồ Tát), cũng chính là nói: Chớ nên có cái tâm
cho rằng “ta có thể trọn hết trách nhiệm”. Há có
phải là nói đoạn diệt các pháp ư? Phật đắc
Bồ Đề, chẳng có chút pháp để có thể
đắc, tức là tuy nói “đắc”, nhưng chẳng
nghĩ có cái để đạt được, vẫn
chẳng phải là đoạn diệt các pháp.
Chứng Pháp Thân, đắc Bồ Đề, ắt phải
là phước huệ song tu. Do phước huệ song tu, bèn
có thể bi trí trọn đủ; sao có thể nói là “tuyệt
đối chẳng liên quan đến tướng trọn
đủ” cho được? Hiểu lầm như thế,
sai lầm quá to! Hăy nên biết: Đức Thế Tôn đại
từ, do từ trước tới nay cực lực trừ
khử tướng, chỉ sợ kẻ mơ hồ
chưa thể hiểu sâu, khó tránh chẳng khỏi hiểu
lầm như thế. Do vậy, Ngài khẩn thiết
răn nhắc bảo ban. Bảo ban, răn dạy như
thế, không chỉ nhằm xiển minh nghĩa
chân thật “chẳng có pháp để phát Bồ Đề”,
lại c̣n nhằm khai thị người học muốn
chứng Pháp Thân b́nh đẳng, và nghĩa Như của
các pháp, phải dứt sạch cuồng tâm, nhất niệm
chẳng sanh th́ mới được! V́ sao vậy? Do
động niệm liền có phân biệt, chấp trước.
Do vậy bảo “mạc tác thị niệm”. V́ thế,
bèn nói: Sau chữ Bồ Đề ở đây, vàn muôn chớ
nên thêm một chữ Tâm, hiển nhiên có thể thấy rơ!
Nói chung, đối với
các nghĩa đă nói từ lúc mở đầu kinh cho tới
nay, nếu không có kinh văn thuộc hai khoa lớn “trừ
khử t́nh chấp” ấy, sẽ khó thể triệt
để lănh hội, mà cũng chẳng có cách nào diễn
nói. Hăy nên biết: Đủ thứ đạo lư “hai bên
đều trừ” được diễn nói từ
đầu kinh tới đây, đều được nhiếp
thủ trong các nghĩa được diễn tả bởi
hai khoa lớn ở chỗ này. V́ thế, hai khoa lớn này
chính là then chốt quan trọng nhất trong cả bản
kinh, do ư nghĩa của chúng có thể xuyên suốt toàn bộ
bản kinh vậy!
Như trong nửa bộ
trước, vừa mở đầu liền nói “diệt
độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật sự
chẳng có chúng sanh được diệt độ”, tức
là nói: Độ trọn hết chúng sanh, nhưng chẳng
chấp tướng, chẳng phải là nói “một chúng
sanh cũng chẳng độ”; [nếu hiểu là “một chúng sanh cũng chẳng độ”], sẽ là tướng đoạn diệt! Lại nói “đối
với pháp, chớ nên trụ vào đâu để hành bố
thí”, tức là nói khi hành bố thí, chớ nên trụ tướng,
trọn chẳng phải là không hành bố thí, trở thành
tướng đoạn diệt! Nói “hăy nên hàng phục
như thế”, tức là hai bên “đoạn diệt” và “chấp trước” đều phải
hàng phục, chẳng phải là hàng phục một bên. Nói “chỉ
nên đúng như lời dạy mà trụ”, chính là hàng phục
cả hai bên, chẳng trụ vào hai bên. Chẳng trụ vào
đâu như thế, sẽ tự
có thể đạt
được cái đáng nên trụ, mà cũng chính là trụ
đúng như lời dạy! V́ thế nói “nếu tâm có
trụ, sẽ chẳng phải là trụ”. Do đó,
đức Thế Tôn thị hiện tướng trần
lao giống như phàm phu, tức là biểu thị “chẳng chấp tướng trọn đủ và ba
mươi hai tướng”, mà lại “chẳng đoạn diệt tướng”. Đó gọi là “nhất như”, đó gọi là “b́nh
đẳng”. Do vậy, kinh này có vô biên công đức, nếu
có thể tín tâm chẳng trái nghịch, [người như
vậy] sẽ có thể gánh vác Như Lai, tăng phước
diệt tội, sẽ đắc Bồ Đề.
Nghĩa này rất sâu, ắt cần phải hiểu sâu xa.
Nếu không, chẳng kinh sợ th́ sẽ hồ
nghi, mơ hồ, mờ mịt mà thành cuồng loạn vậy!
Không chỉ là như thế.
Phần trước nói “thông đạt vô ngă pháp”, tức
là không chỉ nên thông đạt lư “chẳng giữ lấy
pháp tướng”, mà c̣n nên thông đạt lư “chẳng
diệt pháp tướng”. V́ sao vậy? Nếu giữ lấy
pháp tướng, tức là chấp ta, người, chúng
sanh, thọ giả. Nếu giữ lấy tướng phi
pháp, cũng lại chính là chấp ta, người, chúng sanh,
thọ giả! Ắt phải là đối với hết
thảy các pháp tướng, đă chẳng giữ lấy,
lại chẳng diệt, bèn có thể chứng đắc
pháp tánh b́nh đẳng nhất như mà vô ngă. Đó là thật sự có thể thông đạt.
V́ thế, có hai khoa lớn này, toàn thể bộ kinh dung hợp
thành một khối, nghĩa lư uẩn tàng đều
được tuyên thuyết. V́ thế, khoa sau dùng “tri nhất
thiết pháp vô ngă, đắc thành ư Nhẫn” (biết
hết thảy các pháp vô ngă, được thành tựu Nhẫn)
để viên măn kết thúc.
Trong kinh văn thuộc khoa lớn
giảng giải “chẳng một, chẳng khác” này, lại
c̣n có một ư nghĩa cực trọng yếu. Nghĩa ấy
như thế nào? Chính là nói “chẳng đoạn, chẳng
thường”. Tức là khoa “chẳng một” nhằm
nói “chẳng phải thường”. Ứng Hóa Thân ba
mươi hai tướng tùy thời hiển hiện, sanh
diệt chẳng thường. Do chẳng thường, nên
cùng với tánh thường trụ chẳng phải là một,
nói rơ khoa “chẳng khác” nhằm nói “chẳng đoạn”.
Tướng trọn đủ chính là Báo Đắc Pháp
Thân, cho nên chẳng đoạn. Do nó chẳng đoạn,
nên chẳng khác với tánh thường trụ! Tuy nhiên,
đấy vẫn là dựa theo nghĩa tùy nghi để
nói. Nếu nói theo liễu nghĩa rốt ráo, th́ Pháp, Báo, Ứng
ba thân đều là chẳng thường, chẳng đoạn.
Trong kinh văn thuộc hai khoa lớn này, nói rơ ràng là Như
Lai, tức là nói theo Pháp Thân. Nói rơ ràng là “cụ túc tướng”
(tướng trọn đủ) là nói theo Báo Thân. Nói rơ ràng ba
mươi hai tướng là nói theo Ứng Thân. Phàm cùng nói cả
ba thân nhằm chỉ rơ: Chớ nên giữ lấy tướng,
chớ nên diệt tướng. Bởi lẽ, do nó chẳng
thường; v́ thế, chớ nên giữ lấy. Do nó chẳng
đoạn; v́ thế, chớ nên diệt.
Có thể thấy ư chỉ của kinh rơ ràng hiển thị
ư nghĩa “tam thân chẳng thường, chẳng đoạn”,
há có thể bỏ sót mà chẳng nhắc tới ư?
Nghĩa này cũng chính là nghĩa trọng yếu trong Bát
Nhă, chẳng thể không nói
rơ! V́ sao vậy?
Hiểu nghĩa “chẳng thường, chẳng đoạn”
th́ nhờ đó nghĩa “chẳng một, chẳng khác” càng
sáng tỏ. Nếu đă hiểu rơ nghĩa “chẳng một,
chẳng khác” sẽ là kiến viên, tri chánh! Nhưng
nghĩa này rất khó hiểu rơ, trong các kinh luận Đại
Thừa, tuy đă nói nhiều lượt, nhưng nói tường
tận nhất, không ǵ hơn kinh Kim Quang Minh bản mười
quyển. Nay tôi sẽ trích dẫn để nói, chắc là
các vị cũng muốn nghe!
Kinh ấy dạy: “Y thử
Pháp Thân, bất khả tư nghị ma-ha tam-muội, nhi đắc hiển hiện.
Y thử Pháp Thân, đắc hiện nhất thiết đại
trí. Thị cố, nhị thân y ư tam-muội, y ư trí
huệ, nhi đắc hiển hiện” (Nương vào Pháp Thân ấy,
ma-ha tam-muội chẳng thể nghĩ bàn bèn
được hiển hiện. Nương vào Pháp Thân ấy,
được hiện hết thảy đại trí. V́ vậy,
hai thân ấy nương vào tam-muội, nương vào trí
huệ, mà được hiển hiện). Ma-ha là lớn. Tam-muội là Định. Đại
Định (Ma-ha tam-muội) là so với đại trí
mà nói. Đại trí tức là đại huệ. Định
huệ từ Pháp Thân tuyệt đối hiển hiện,
nên đều nói là Đại. Đều nói là Đại
nhằm chỉ rơ Định và Huệ cân bằng. Chỉ
rơ Định Huệ cân bằng nhằm hiển thị Tịch
Chiếu đồng thời. Định Huệ là nói theo
công phu tu tập, Tịch Chiếu là nói theo tánh sẵn đủ.
Khi tịch bèn chiếu, khi chiếu bèn tịch, ngôn ngữ
và tâm suy nghĩ chẳng bén mảng được; đó gọi
là “ĺa danh, tuyệt tướng”. Do vậy nói là “chẳng
thể nghĩ bàn”. Câu này xuyên suốt “đại trí”.
“Nhị thân” tức là
Báo Thân và Ứng Thân. Đó là nói Pháp Thân tánh thể vốn sẵn
ĺa danh, tuyệt tướng, tịch chiếu đồng
thời, nhưng chẳng tu sẽ không chứng. Nhưng nếu
chẳng có tánh thể vốn sẵn trọn đủ,
công phu tu tập Định Huệ cũng chẳng thể
hiển hiện được! Do đó nói: “Nương
vào Pháp Thân ấy, mà được hiện đại
định, đại trí”. Đó là nghĩa bề ngoài.
Điều cốt tủy là khai thị ắt cần phải
ĺa danh, tuyệt tướng, nương vào bổn tịch
để tu Định, nương theo bổn chiếu
để tu Huệ. Công phu tu tập Định Huệ
viên măn cân bằng, sẽ có thể tịch chiếu đồng
thời. Đó là chứng đắc Pháp Thân. Cho tới khi
đă chứng đắc Pháp Thân, tướng của hai
thân Báo và Ứng liền hiển hiện. V́ thế nói “do
vậy hai thân nương vào tam-muội và trí huệ mà
được hiển hiện”. Xem ư nghĩa của
đoạn kinh ấy, có thể biết: Ắt phải ĺa danh tuyệt tướng để
tu Định, Huệ th́ mới có thể chứng tánh Pháp
Thân, nhưng vẫn chẳng đoạn diệt tướng
Báo Thân và Ứng Thân. Đối với Báo Thân và Ứng
Thân, kinh ấy dịch thành danh từ hơi khác. Đối với cái thường gọi
là Báo Thân, kinh ấy (kinh Kim Quang Minh) dịch là Ứng Thân.
Cái thường được gọi là Ứng Thân th́ kinh
ấy dịch là Hóa Thân. Trong hết thảy các kinh luận
và trước thuật của cổ đức, thường gặp các danh từ khác biệt
như thế, kẻ sơ học thường cho là khổ!
Nhưng nếu xem kỹ ư chỉ của kinh, sẽ biết
[những từ ngữ ấy] nói đến điều
ǵ, sẽ thông hiểu, cũng bất tất chẳng
phải sợ khó khăn!
Kinh ấy lại dạy: “Như
thị Pháp Thân tam-muội trí huệ, quá nhất thiết
tướng, bất trước ư tướng, bất
khả phân biệt, phi thường, phi đoạn, thị
danh Trung Đạo” (Pháp Thân tam-muội trí huệ như
thế, vượt ngoài hết thảy các tướng, chẳng chấp các tướng, chẳng thể phân biệt,
chẳng thường, chẳng đoạn, đó gọi
là Trung Đạo). Đó là nói rơ Pháp Thân chẳng thường,
chẳng đoạn. “Pháp Thân tam-muội, trí huệ”
là Định Huệ đầy đủ trọn vẹn,
đó là Pháp Thân; chẳng phải là ngoài điều đó
mà riêng có Pháp Thân. Bởi lẽ, tam-muội và trí huệ
đều nhằm nói tới Pháp Thân, chớ nên hiểu lầm
Pháp Thân, tam-muội, trí huệ là ba sự kiện. Xét theo những
điều như “nương vào Pháp Thân” v.v…
được nói trong bản kinh vừa dẫn trên đây, sẽ có thể hiểu rành rành. V́ sao vậy?
Trước nay đều nói là Báo Thân và Ứng Thân từ
Pháp Thân mà hiện, nhưng kinh ấy lại nói hai thân ấy
đều nương vào tam-muội và trí huệ mà hiện,
đủ chứng tỏ tam-muội và trí huệ chính là
Pháp Thân! V́ thế, bản tánh của phàm phu chỉ
được gọi là Phật Tánh, có lúc gọi là Tại
Triền Pháp Thân, hoặc Tại Chướng Pháp Thân, chẳng
hề gọi đơn độc
là Pháp Thân, chính
là v́ nó chẳng có Định Huệ. Hoặc tuy là có,
nhưng chẳng đầy đủ. Chưa chứng Nhất
Chân pháp giới, sẽ chẳng thể Tịch Chiếu
đồng thời, há có thể gọi là Pháp Thân ư?
Như vậy th́ đă tu Định Huệ trọn đủ
th́ mới gọi là Pháp Thân, có thể thấy Pháp Thân chẳng
ngoài Định Huệ trọn đủ.
Bốn câu từ “quá nhất
thiết tướng” (vượt ngoài hết thảy
các tướng) trở đi, nêu ra ư nghĩa tinh vi tột
bậc. “Quá” (過) là vượt qua. “Quá nhất thiết
tướng” giống như nói “vượt khỏi
các tướng”. Đă nói “vượt khỏi hết thảy các tướng”, lại nói “chẳng chấp
nơi tướng” là sao? Câu “quá nhất thiết
tướng” là nói nó vô tướng. Tánh thể to lớn
không ǵ vượt ra ngoài được, cũng không ǵ nhỏ
nhặt chẳng gồm trong, vượt khỏi hết thảy
các biểu hiện đối
đăi, cho nên là vô tướng.
Câu “bất trước
ư tướng” (chẳng chấp vào tướng) nhằm
nói nó vô bất tướng. Do vô bất tướng, bèn có “chẳng
chấp” để có thể nói. Bởi lẽ, tánh tuy chẳng
phải là tướng, nhưng hết thảy các tướng
đều từ tánh hiện. Tuy từ tánh hiện, mà tánh
vẫn vượt ra ngoài tướng, cho nên chẳng chấp.
Hai câu này soi sáng ư nghĩa lẫn nhau. Do nó vượt thoát,
nên chẳng chấp. Do chẳng chấp, nên biết là
vượt thoát! Gộp chung ư nghĩa của hai câu này,
chính là hiển lộ “tánh tướng chẳng một”
vậy. V́ sao vậy? Tánh tuy tùy duyên hiện tướng, mà
vẫn vượt ra ngoài chẳng chấp. Nói “chẳng
chấp” tức là nói “pháp vốn sẵn như thế”,
dùng ǵ để thấy? Tướng đều là sanh diệt
vô thường, mà tánh thường trụ tự nhiên, chẳng
do tùy duyên hiện tướng mà bị tướng sanh diệt
ấy ngăn trở. Có thể biết nó vốn sẵn chẳng chấp. V́ vậy,
tánh và tướng chẳng phải một. Hai câu này
cũng là nói rơ Pháp Thân và hai thân Báo Ứng chẳng phải là
một!
Câu “bất khả phân biệt”
(chẳng thể phân biệt) nhằm hiển thị tánh và tướng chẳng khác, cũng tức là nói Pháp Thân và hai thân Báo, Ứng
chẳng khác. V́ sao chẳng thể phân biệt mà chẳng
khác? Kinh ấy đă giảng nghĩa đó rơ ràng như
sau: “Tuy hữu phân biệt, Thể vô phân biệt. Tuy hữu
tam số, nhi phi tam thể” (tuy có [các tướng] phân biệt, mà Thể chẳng phân biệt.
Tuy có số lượng là ba, nhưng chẳng phải là ba
cái Thể). Đó là nói hai thân Báo và Ứng, chỉ có tướng
mà chẳng có Thể, Thể chỉ là Pháp Thân đó thôi! Do
vậy, tuy có số lượng là ba, nhưng Thể chẳng
ba. Tướng tuy có khác biệt, nhưng Thể chẳng
khác biệt. V́ thế, nói “chẳng thể phân biệt”
chính là nói theo Thể, nhưng đó cũng là một câu nói
mang ư nghĩa đôi, do luôn luôn hiện tướng phân biệt,
bèn có “chẳng thể phân biệt” để có thể
nói. Do vậy, câu “chẳng thể phân biệt” một
mặt cố nhiên là nêu rơ cái Thể ấy chẳng có khác,
mà một mặt lại nêu rơ: Nó hiện tướng chẳng
ngơi! Do vậy, có thể biết giới hạn của
“chẳng một, chẳng khác” vậy! Bởi lẽ,
do tánh dung thông tướng, sẽ là chẳng khác. Tánh và
tướng đối ứng nhau nêu ra, cho nên chẳng phải
là một!
“Chẳng thường, chẳng
đoạn” chính là nối tiếp ngay ba câu ấy mà có.
Luôn luôn hiển hiện, Thể tuy chẳng khác, nhưng Dụng
có tướng sai biệt. Cho nên nói “chẳng thường”.
Nhưng tướng tuy chẳng thường, mà tánh Pháp
Thân vẫn luôn vượt ngoài hết thảy các tướng,
chẳng chấp vào tướng, cho nên nói là “chẳng đoạn”.
Chắc là có người hỏi:
“Trước nay nói Pháp Thân thường trụ. Do nó thường
trụ, bèn gọi là Pháp Thân. V́ thế, nói Pháp Thân chẳng
đoạn, nghĩa này dễ hiểu. Pháp Thân tuy hiện
các tướng Báo, Ứng, nay nói là ‘chẳng thường’,
cũng là nói theo tướng. Như vậy th́ v́ sao nói Pháp
Thân chẳng thường? Nghĩa này rốt cuộc khó hiểu
rơ được!” Đáp: Pháp Thân thường trụ là chỉ
xét riêng theo Pháp Thân để nói, chỉ là chứng đắc
cái Thể bất sanh bất diệt của Pháp Thân thường
trụ mà thôi! Nếu đă trụ vào Thể, nhưng chẳng
hiện tướng, sẽ chẳng thể cùng chúng sanh tiếp
cận, lợi ích chúng sanh bằng cách nào đây? Do vậy,
chư Phật, chư đại Bồ Tát v́ lợi ích hết
thảy chúng sanh, luôn hiện tướng Báo Thân, Ứng Hóa
Thân v.v… sanh diệt, nhưng chẳng trụ chấp Pháp
Thân. Tức là có Pháp Thân thường trụ, nhưng chẳng nói là Trụ, cho nên bảo Pháp
Thân chẳng thường. Tuy chẳng trụ, nhưng do trụ
trong Đại Định, nên bất kể tướng
được hiện sanh diệt hừng hực, mà Pháp
Thân thường trụ vẫn an nhiên. Đó gọi là “vượt
ngoài hết thảy các tướng, chẳng chấp vào
tướng” quả thật là v́ lẽ này! Cho nên lại
nói “Pháp Thân chẳng đoạn”. Hăy nên biết: Pháp
Thân chẳng thường, chính là nói “chẳng trụ Niết
Bàn”. Pháp Thân chẳng đoạn, chính là nói “chẳng
trụ sanh tử”. Hai bên đều chẳng trụ, nên
nói là Trung Đạo. Pháp Thân hai bên đều chẳng trụ,
là nói chẳng chấp vào Pháp Thân, mà cũng chẳng trụ
vào các thân Báo, Ứng v.v… Đấy chính là cảnh giới
Tịch Chiếu đồng thời. Chẳng do công phu
Định Huệ tu đến mức cân bằng viên măn,
sẽ chẳng thể đạt tới cảnh giới
này. Kinh này vừa mở đầu liền dạy “phát đại nguyện, hành đại hạnh,
trừ ngă chấp” là v́ lẽ này. Do ngă chấp
chưa hóa giải, ắt sẽ phân biệt, chấp
trước. Hễ có đôi chút phân biệt, chấp
trước, sẽ chẳng thể hai bên đều chẳng
trụ, há lại có thể Định Huệ cân bằng
ư? Tức là cảnh giới Tịch Chiếu sao có thể
đạt tới cho được?
Kinh ấy (kinh Kim Quang Minh) lại dạy: “Hóa Thân
giả, hằng chuyển pháp luân, xứ xứ tùy duyên,
phương tiện tương tục, bất đoạn
tuyệt cố, thị cố thuyết thường. Phi thị
bổn cố, cụ túc đại dụng bất hiển
hiện cố, thuyết vi vô thường” (Hóa Thân luôn
chuyển pháp luân, tùy duyên [mà chuyển pháp luân] khắp mọi
nơi, phương tiện liên tục. Do chẳng đoạn
tuyệt, nên nói là Thường. Do chẳng phải là Bổn,
trọn đủ tác dụng to lớn, nhưng chẳng hiển hiện,
nên nói là vô thường). Kinh ấy dịch Ứng Thân là
Hóa Thân, ở đây là nói rơ Ứng Thân chẳng thường,
chẳng đoạn. Do vậy, nói Thường cũng giống
như nói “chẳng đoạn”. Do Ứng Thân tùy duyên,
luôn hiện không ngừng, nên nói là “chẳng đoạn”.
“Vô thường” là giống như nói “chẳng thường”.
“Phi thị Bổn” (chẳng phải
là Bổn), ư nói Ứng Thân
chẳng phải là cái Thể của bản tánh, Báo Thân và Ứng
Thân đều là Tướng, Dụng do bản tánh hiển
hiện. V́ thế, chẳng phải là Bổn. Dụng do Bổn
hiển, chẳng do Dụng mà hiển! Hai thân Báo và Ứng
đă là Dụng, chẳng thể lại hiển Dụng.
V́ thế nói “cụ túc đại dụng bất hiển
hiện” (trọn đủ tác dụng
to lớn, nhưng chẳng hiển hiện) câu này chính là nói Báo
và Ứng là tướng. Tướng là pháp sanh diệt, cho
nên nói là “chẳng phải thường”.
Kinh ấy lại nói: “Ứng Thân giả, tùng vô thỉ
lai, tương tục bất đoạn, nhất thiết
chư Phật bất cộng chi pháp, năng nhiếp tŕ cố,
chúng sanh vô tận, Dụng diệc vô tận. Thị cố,
thuyết thường. Phi thị Bổn cố, dĩ cụ
túc Dụng bất hiển hiện cố, thuyết vi vô
thường” (Ứng Thân từ vô thỉ đến nay
liên tục chẳng dứt, có thể nhiếp tŕ pháp bất
cộng của hết thảy chư Phật. Chúng sanh vô tận,
Dụng cũng vô tận. V́ thế, nói là Thường.
Do chẳng phải là Bổn, do Dụng trọn đủ
chẳng hiển hiện, bèn nói là vô thường). Điều
này cho thấy Báo Thân chẳng thường, chẳng đoạn.
Kinh ấy dịch Báo Thân là Ứng Thân. Pháp bất cộng
như Thập Lực, Tứ Vô Úy v.v… chỉ riêng chư Phật
có. Bồ Tát cũng chẳng trọn đủ, nên nói là Bất
Cộng. “Nhiếp tŕ” bao hàm hai nghĩa:
1) Pháp bất cộng ấy chính là trí dụng của
Báo Thân, nhiếp tŕ Báo Thân. Đó là một nghĩa.
2) Báo Thân trọn đủ trí dụng ấy, bèn có thể
nhiếp tŕ chúng sanh. Đó là hai nghĩa.
V́ thế nói tiếp: “Chúng sanh vô tận, Dụng
cũng vô tận”. Gộp chung các nghĩa đă trích dẫn
từ kinh ấy để xét, “chẳng một, chẳng
khác” là do có ba nghĩa:
1) Pháp Thân là Thể, các thân như Báo, Ứng v.v… là Dụng.
Cho nên [ba thân] chẳng phải là một.
Nếu dùng Thể để gồm thâu Dụng, [ba thân] sẽ chẳng thể phân biệt. Do vậy,
chẳng khác. Đấy là một nghĩa.
2) Pháp Thân chẳng phải thường, là thường
mà chẳng thường. Hai thân kia chẳng đoạn, mà
là đoạn nhưng chẳng đoạn. Do vậy, Pháp
Thân chẳng thường, chính là hai thân chẳng đoạn.
Đấy là nguyên do tánh và tướng chẳng khác. Pháp
Thân chẳng đoạn là rốt ráo chẳng đoạn.
Hai thân chẳng thường là rốt ráo chẳng thường.
Do vậy, Pháp Thân chẳng đoạn chính là hai thân chẳng
thường. Đó là nguyên do khiến tánh và tướng chẳng
phải là một. V́ sao nói vậy? “Pháp Thân chẳng thường”
là nói theo sự liên tục hiện tướng. Kinh nói “chẳng
thể phân biệt” là nói rơ sự liên tục hiện tướng,
mà Thể chỉ là Pháp Thân. Liên tục hiện tướng,
cho nên nói là “chẳng thường”. Thể chỉ là
Pháp Thân, cho nên nói “thường mà chẳng thường”.
“Pháp Thân chẳng đoạn” là nói theo bản thể thường trụ.
Kinh nói “quá nhất thiết tướng, bất trước
ư tướng” (vượt hết thảy các tướng,
chẳng chấp tướng) chính là nói tới bản thể
thường trụ ấy. Do bản thể thường
trụ, cho nên tuy hiện tướng mà có thể vượt
thoát, chẳng chấp! Do bản thể thường trụ, cho nên nói là “chẳng đoạn”. Hiện tướng
mà lại vượt thoát, chẳng chấp, nên nói “chẳng
đoạn” là “rốt ráo chẳng đoạn”.
Nhưng hai thân chẳng phải vậy. Hai thân chẳng
thường là nói theo phương
diện chúng chẳng
phải là bản thể. Kinh nói “phi thị Bổn cố”
(do chẳng phải là Bổn). Đă chẳng phải là bản
thể, cho nên nói “chẳng thường là rốt ráo chẳng
thường”. Do đó nói “Pháp Thân chẳng đoạn,
chính là hai thân chẳng thường”, do vậy, tánh và tướng chẳng phải
là một! V́ sao vậy? Một đằng là bản thể
thường trụ, một đằng chẳng phải
là bản thể. “Hai thân chẳng đoạn” là nói
theo phương diện liên tục hiện tướng.
Kinh nói “tương tục bất đoạn” (liên tục
chẳng dứt). Đă là hiển hiện liên tục, cho
nên nói “chẳng đoạn”. V́ thế nói “Pháp Thân chẳng
thường, chính là hai thân chẳng đoạn”. Bởi
lẽ, tánh và tướng chẳng khác. V́ sao vậy? Tướng
là nói theo sự liên tục hiện tướng.
Đấy lại là một nghĩa “chẳng một, chẳng
khác” vậy!
3) Hơn nữa, tam thân
được gọi là “chẳng thường, chẳng
đoạn”; đó là “chẳng khác”. Nhưng do Pháp Thân chẳng thường, chẳng
đoạn, mà hai thân chẳng thường chẳng đoạn,
cho nên chẳng phải là một. Đấy lại là một
nghĩa “chẳng khác, chẳng một” nữa!
Nói chung, nói là “một” th́ có
đủ loại “một”. Nói “khác” th́ có đủ loại
“khác”. Lại c̣n trong “một” có “khác”, trong “khác” có “một”. V́ thế nói “một” hay nói “khác”, đều
chẳng phải, mà nói “chẳng một”, nói “chẳng khác”
cũng sai luôn! Nói “một”, nói “khác” đều là đúng, mà
nói “chẳng một, chẳng khác” cũng đúng luôn! Như
thế th́ “chẳng phải là có thể nói, chẳng phải
là không thể nói”. Hễ chấp th́ đều là sai, chẳng
chấp th́ đều là đúng. Hăy nên thấy như thế,
hăy nên biết như thế! Thấy như thế là viên kiến,
biết như thế chính là chánh tri.
Hoặc nói: Nh́n từ các
đoạn kinh trích dẫn trên đây, có thể thấy Báo
Thân và Ứng Thân đều là tướng sanh diệt, cùng
chẳng phải là Bổn. V́ sao kinh này dựa theo Ứng
Thân để nói “chẳng phải một”, xét theo Báo Thân
để nói “chẳng khác” vậy? Cần phải biết:
Ứng Hóa Thân liên tục chính là sau khi đă chứng Pháp
Thân th́ phương tiện mới tùy duyên mà hiện.
Hơn nữa, Luân Vương cũng có, nhưng tánh thể
của Pháp Thân là thường trụ, bất biến.
Đấy là “chẳng một” rơ ràng nhất. V́ thế,
xét theo ba mươi hai tướng ứng hóa để nói
rơ “chẳng một”.
C̣n như Báo Thân đồng
thời thành tựu với Pháp Thân. Do vậy, kinh này nói “dĩ
cụ túc tướng cố, đắc Vô Thượng Bồ
Đề” (do tướng trọn đủ bèn đắc
Vô Thượng Bồ Đề), chính là nói rơ thành tựu
tướng trọn đủ, tức là chứng đắc
Vô Thượng Bồ Đề. Hăy nên chú ư chữ Cố (故). Hơn nữa, như kinh Kim Quang Minh giảng về
nghĩa Báo Thân như sau: “Ứng Thân giả, tùng vô thỉ
lai, tương tục bất đoạn” (Ứng Thân
(tức Báo Thân) từ vô thỉ đến nay liên tục chẳng
dứt). Câu “tương tục bất đoạn”
th́ Báo và Ứng cùng có. Điều này cho thấy chúng và Pháp
Thân chẳng phải là một. Câu “tùng vô thỉ lai” (từ
vô thỉ đến nay) chỉ riêng Báo Thân có, tức là nói
nó cùng Pháp Thân chẳng khác. Hăy nên biết: Có thể nói Pháp
Thân là vô thỉ, Báo Thân là cần phải sau khi
đă hết sạch vô minh th́ mới chứng đắc.
Nay nói từ vô thỉ đến nay là v́ sao? Nghĩa này hết
sức tinh vi, cần phải phân tích tỉ mỉ th́ mới
rơ rệt được!
Do Báo Thân có hai loại danh xưng, một là Tự Thọ
Dụng Báo Thân, hai là Tha Thọ Dụng Báo Thân. Kinh này nói “tướng
trọn đủ”, kinh Kim Quang Minh nói “tương tục
bất đoạn, viết chúng sanh vô tận,
Dụng diệc vô tận” (liên tục không ngừng, bảo
là chúng sanh vô tận, Dụng cũng vô tận)
đều là nói theo khía cạnh Tha Thọ Dụng. Nhưng
ắt phải hiểu nghĩa Tự Thọ Dụng th́ mới
hiểu nghĩa của Tha Thọ Dụng.
Nay trước hết nói về
Tự Thọ Dụng. Tự Thọ Dụng Báo Thân chẳng
phải chi khác, chính là nói đến viên trí nội chứng thuộc về tự lợi, giả gọi
là Thân đó thôi! Trí ấy cố nhiên do công phu tu tập mà
hiện, nhưng thật ra, tánh thể vốn sẵn có. Nếu
chẳng phải là sẵn có, dẫu tu cũng chẳng hiện.
Ví như dùi nước, chẳng thể sanh ra lửa, nấu
cát sao có thể thành cơm? Như vậy th́ do tánh thể vô
thỉ, trí này cũng lại vô thỉ. Do đó, Tự Thọ
Dụng Báo Thân là vô thỉ.
Lại nói theo Tha Thọ Dụng.
Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng, tuy có hai danh
xưng, nhưng thật ra là một. Bởi lẽ, xét theo
viên trí nội chứng nơi tự lợi th́ gọi là Tự
Thọ Dụng. Nói theo tác dụng to lớn hiện tướng
lợi tha th́ gọi là Tha Thọ Dụng. Đă nói là viên
trí, ắt có đại dụng. Nếu chẳng có đại
dụng, sao gọi là viên trí? Một trong, một ngoài, giống
như có hai thứ; nhưng trong ngoài hợp nhất, bèn gọi
là Thân. V́ thế, tuy là hai mà thật sự là một. Hơn
nữa, trí là thứ mà tánh sẵn có, Dụng cũng chẳng
bao giờ không phải là tánh sẵn có! V́ thế, Tha Thọ
Dụng Báo Thân cũng là vô thỉ. Tổng hợp các
nghĩa trên đây, Báo Thân và Pháp Thân chẳng khác, nghĩa
này hiển nhiên. Do vậy, xét theo Báo Thân trọn đủ
các tướng để nói “chẳng khác”. Nếu luận
định khít khao theo sự thật, ngay cả Ứng Hóa
Thân cũng có thể nói là “vô thỉ”. V́ sao nói vậy? Ứng Hóa Thân là tu đủ
loại pháp, thông đạt chuyện thuộc Tục Đế,
công hạnh viên măn, đắc đại tự tại. V́
thế, có thể tùy thuận ư của chúng sanh, hiện
đủ loại thân. Nhưng v́ sao thông đạt mọi
sự thuộc Tục Đế? Do trí thông đạt Chân
Đế. Có thể thấy Sự nhiếp thuộc trí. V́
vậy, do Báo Thân vô thỉ, Ứng Thân cũng lại là vô
thỉ. Như thế v́ sao chỉ lấy Ứng Thân để
minh thị “chẳng một”? Do Báo Thân và Pháp Thân là
thân, c̣n Ứng Thân so ra là sơ! Thế
nào là thân thiết? Tha Thọ Dụng là tướng dụng được
hiển hiện, là bề ngoài. Tự Thọ Dụng là trí
huệ vốn sẵn có, là bên trong. Nhưng tướng dụng
hiện tức là trí huệ hiện. Trí huệ vốn sẵn
có, tức là trọn đủ nơi Lư Thể. Hơn nữa,
Lư và Trí nhất như, cũng chẳng thể chia tách thành
năng cụ (cái có thể trọn đủ) và sở cụ
(cái được trọn đủ), năng hiện (cái có thể hiện) và sở hiện (cái được hiện ra) sai khác. V́ thế, bất
luận Tự hay Tha Thọ Dụng, Thật và Lư Thể ngầm
hợp thành một, cho nên là thân thiết. Do thân thiết nên
chẳng khác. Thế nào là sơ? Ứng Hóa Thân tuy cũng trọn
đủ Lư và Trí, cũng chẳng có phân biệt năng cụ
và sở cụ, năng hiện, sở hiện v.v… ,
nhưng chuyên thuộc tướng hiện ra bên ngoài, cho nên
là sơ. Do sơ, nên chẳng phải là một.
Thử xem những điều kinh Kim Quang Minh đă dạy,
liền có thể hiểu rơ. Đó là nói về nghĩa Báo
Thân. Đă bảo là “vô thỉ”, lại nói “nhiếp
tŕ pháp bất cộng”. Nêu ra “nội tŕ” (cái được nhiếp tŕ bên trong)
để nói, chính là nói đối với Pháp Thân th́ là thân thiết. Nói về nghĩa ứng
hóa th́ tùy duyên phương tiện [hiện
thân] khắp chốn. Nêu ra “ngoại tùy” (sự
tùy duyên được biểu hiện ra h́nh tướng
bên ngoài) để nói,
chính là nói rơ [Ứng Thân] so với Pháp Thân là sơ. Nói chung,
đă hiểu nghĩa “chẳng thường, chẳng
đoạn”, th́ sẽ hiểu triệt để
nghĩa “chẳng một, chẳng khác”. Tức là ư
nghĩa “các pháp nhất như, pháp ấy là b́nh đẳng”
cũng đều triệt để. V́ sao vậy? Ba thân đều
do “chẳng thường, chẳng đoạn” mà chẳng
khác, cho nên là nhất như. Nhưng “chẳng thường,
chẳng đoạn” đều lại bất đồng
mà chẳng phải là một. Do đó, tuy là nhất như
mà chẳng ngại có các pháp. Hơn nữa, trong “một” có “khác”, trong “khác” có “một”. V́ thế, sai biệt là sự sai biệt
hiện ra trong b́nh đẳng; b́nh đẳng là sự b́nh
đẳng hiện ra trong sai biệt, trọn chẳng cách
biệt, mà cũng chẳng lẫn lộn. Hàng Bố chẳng
trở ngại Viên Dung, Viên Dung chẳng trở ngại Hàng
Bố. Đó gọi là Viên Trung. Giá, Chiếu đồng thời,
tồn tại và mất đi tự tại, há chỉ là “hai bên đều chẳng chấp” ư? Then chốt của công phu tu tập chỉ ở
chỗ “chẳng chấp tướng,
chẳng diệt tướng”, nhưng lấy tánh làm cốt
lơi. Đợi đến khi đă chứng tánh thể không
tịch, do sức huân tập, cũng sẽ chẳng lấy,
chẳng diệt, tùy cơ ứng duyên, đại dụng
vô tận, há chỉ là tướng chẳng trụ,
mà tánh cũng chẳng trụ. Ngay cả bất trụ
cũng chẳng trụ! Nhưng điều cốt lơi trong
Đại Viên Kính Trí là an nhiên! Đó gọi là “dùng chẳng
có ta, người… để tu hết thảy thiện pháp,
ắt đắc Vô Thượng Bồ Đề”. Đó
gọi là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật; do
đó, truyền tâm ấn của Phật. Thông đạt
lư này để niệm Phật, sẽ đắc lư nhất
tâm, ắt sanh về Thường Tịch Quang Tịnh
Độ, nguyện các vị hăy cùng gắng sức!
2.2.2.2.2.2.2.1.3. Ước
theo “chẳng thọ lănh phước đức” để
kết lại vô ngă
Chữ Ước (約) trong phần Khoa Phán này hàm
ư: Hết thảy đều vô ngă, nay bất quá dựa theo
một pháp “chẳng thọ lănh phước đức”
để nói rơ ư nghĩa ấy. Như đối với
Lư “vô thánh, vô phàm, chẳng một, chẳng khác” trên đây,
cũng là pháp nào cũng đều như thế. Nhưng dựa
theo “độ sanh” và “tánh, tướng” để
nói, so ra dễ lănh hội hơn. Chữ Ước giống
như thường nói là Tựu (就). Nội điển (kinh
sách nhà Phật) bỏ chữ Tựu, dùng chữ Ước,
v́ nghĩa của chữ Tựu c̣n nông cạn
bề ngoài, chữ Ước có ư nghĩa tinh thâm. Bởi
Ước có nghĩa là “ước lược”, nói rơ
chỉ đành nêu ra một chuyện này để tượng trưng, chưa phải là mỗi
mỗi đều nói cặn kẽ được!
Ước lại có nghĩa là “bó buộc”, như cái
lưới có Cương (綱, mối lưới chính),
nắm lấy cái mối chính ấy, toàn bộ cái lưới
đều bị thâu tóm, nêu rơ: Tuy chỉ nói một chuyện
này, nhưng đă đạt được cương
lănh, những điều khác có thể suy luận
tương tự.
Ước lại có nghĩa là “yếu ước”
(những điều ước định quan trọng),
ví như khế ước, dẫu lâu ngày chẳng quên. Dùng
nghĩa này để hiển thị nghĩa được
giảng tột bậc khế hợp, có thể nêu ra làm
tin mà chẳng sai lầm. Nếu dùng chữ Tựu, cả
ba nghĩa ấy đều chẳng có. Từng có kẻ ngờ
vực chữ Ước xa lạ, chẳng phổ biến
như chữ Tựu. Nay tôi bèn thừa dịp nói luôn. Phàm là
đối với lời lẽ hoặc các câu nói của cổ
đức từ thời Đường trở về
trước, hậu học chớ nên coi thường mà
bàn luận.
Chẳng ước theo chuyện khác, chỉ ước
theo chuyện “chẳng thọ lănh phước đức”
để nói, nối tiếp phần kinh văn trước
đó. “Tướng trọn đủ” trong phần
kinh văn trước đó hàm ẩn nghĩa “tu phước
đức”. Đó là nói “đạt được cái
quả Vô Thượng, chẳng phế tu phước”.
Khoa này tiếp ngay theo nghĩa ấy để nêu rơ: “Tu
phước sao có thể phế? Nhưng cần phải chẳng
thọ lănh, chẳng chấp”. Lại c̣n nói bổ sung rằng:
“Chớ nên do nghe chẳng phế tu phước mà lại
sanh tham chấp!” V́ thế, ư nghĩa trong khoa trước
càng được trọn vẹn, viên măn trong khoa này. Đó
gọi là tuy văn từ chẳng nối tiếp, nhưng
ư nghĩa nối tiếp vậy!
Khoa này lại chia thành hai phần:
1) Kết lại vô ngă.
2) Nói rơ chẳng chấp.
Phần thứ nhất lại
chia thành hai:
1) Nói rơ vô ngă có công năng thù
thắng.
2) Nói rơ do chẳng thọ
lănh.
2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.
Kết lại vô ngă
2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.1.
Nói rơ vô ngă có công năng thù thắng
2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.1.1.
Dẫn sự (dùng thí dụ để thuyết minh)
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhược Bồ Tát dĩ măn Hằng hà sa đẳng thế
giới thất bảo bố thí.
(經)須菩提!若菩薩以滿恆河沙等世界七寶布施。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nếu Bồ Tát dùng bảy báu đầy ắp các thế
giới nhiều như cát sông Hằng để bố
thí).
Bản lưu thông ghi “tŕ dụng
bố thí”, bản của ông Liễu và bản của
ngài Huệ Tịnh đều không có chữ “tŕ dụng”,
do “dĩ thất bảo bố thí” đă chứa đựng
ư nghĩa “dùng đem bố thí” trong ấy rồi!
Nửa sau bộ kinh đối
với chuyện so sánh để hiển thị công năng của kinh,
chỉ có một hai chỗ. Nhưng cũng chẳng có ư so
sánh để hiển thị [sự thù thắng], mà bất
quá là nhờ vào đó để làm chuyện khác, [tức
là]:
1) Nhờ đó để tạo thành một phân
đoạn mới.
2) Nhờ vào đó để hiển thị ư nghĩa
khác.
Như trong phần này, mượn phước đức
do bố thí để hiển thị “do thành tựu chẳng
thọ lănh [phước đức] mà được thành
tựu Vô Ngă Nhẫn”. Lại nhờ vào công năng thù thắng
để kết thúc nghĩa “Bồ Tát hăy nên thông đạt
vô ngă pháp” được nói trong phần kinh văn
trước đó. Do vậy, nửa bộ đầu nói “dùng
vô số báu để bố thí”, cho đến “dùng vô số
mạng để bố thí”, nhưng đều không gọi
[người bố thí như vậy] là Bồ Tát, chỉ
riêng ở đây gọi [người
bố thí] là Bồ Tát
để nói, có thể biết là ắt phải có thâm ư. Đọc tiếp đoạn kinh
văn sau đó, sẽ có thể vỡ lẽ: Chính là các
đoạn kinh văn có tác dụng phản chiếu để
làm rơ nghĩa cho nhau. Bởi lẽ, khoa này tuy chỉ nói “dùng
của báu để bố thí”, nhưng hàm ư “người ấy
đă biết hết thảy các pháp vô ngă”, cho nên gọi là Bồ
Tát. Nhưng v́ chưa thành tựu Nhẫn, nên chẳng sánh bằng vị Bồ Tát sau
đó. V́ sao biết? Thử xem đoạn dưới nói: “Thử
Bồ Tát thắng tiền Bồ Đề sở đắc
công đức” ([Công đức của] vị Bồ Tát
này hơn hẳn công đức của vị Bồ Tát
trước đó).
Trong nửa bộ đầu,
bất luận thí của báu, hay thí thân mạng, đều
nói khái quát là phước đức, chưa nói công đức,
nhưng ở đây nói “tiền Bồ Tát sở đắc
công đức”, vị Bồ Tát trên đây dùng bảy
báu để bố thí mà gọi là công đức, ắt biết
ngay “vị ấy đă biết ĺa tướng, tu huệ”,
chứ không chỉ biết là người chấp tướng
tu phước mà có thể sánh bằng được! Do
nói là công đức, do gọi là Bồ Tát, [thế nhưng], hễ có ngă ắt sẽ chẳng
thể ĺa tướng, cho nên biết [kinh văn nói như
vậy] nhằm chứa đựng ư nghĩa “người
ấy đă biết hết thảy các pháp vô ngă”. Huống
hồ, trước đó đă nói “nhược Bồ
Tát thông đạt vô ngă pháp giả, Như Lai thuyết danh
chân thị Bồ Tát” (nếu Bồ Tát thông đạt
pháp vô ngă, Như Lai nói người ấy thật sự gọi
là Bồ Tát). Vậy th́ [người bố thí bảy báu
được nói ở đây] nếu chẳng biết
pháp vô ngă, cũng chắc chắn sẽ chẳng được
gọi là Bồ Tát! Nói chung, trong phần kinh văn thuộc
khoa lớn “ba lượt ước theo chẳng nhận
lănh phước đức [để luận định]”
này, mỗi chữ, mỗi câu, mỗi danh xưng, đều
chứa đựng ư nghĩa tột bậc tinh vi, chẳng
thể xem nhẹ. “Hằng hà sa đẳng thế giới”
tức là [số lượng] thế giới nhiều bằng số cát sông Hằng, giống
như nói “vô số thế giới”. “Dĩ” (以) là dùng.
“Măn” (滿) là
đầy tràn. Ư nói: Dùng bảy báu đầy ắp trong vô số thế giới
để bố thí. Khoa này bất quá dẫn một chuyện
“bố thí có nhiều phước” để làm căn bản cho phần kinh văn “chẳng
tiếp nhận” dưới đây mà thôi!
2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.1.2
. So sánh sự thù thắng
(Kinh) Nhược phục
hữu nhân, tri nhất thiết pháp vô ngă, đắc thành
ư Nhẫn. Thử Bồ Tát thắng tiền Bồ Tát sở
đắc công đức.
(經)若復有人,知一切法無我,得成於忍,此菩薩勝前菩薩所得功德。
(Kinh: Nếu lại
có người biết hết thảy các pháp vô ngă,
được thành tựu Nhẫn, [công đức của]
vị Bồ Tát này hơn hẳn công đức do Bồ
Tát trước đó đă đạt được).
Đối
với vị Bồ
Tát bố thí của báu trong đoạn trước, [kinh văn] đă hàm ư [vị
ấy] “biết pháp vô
ngă”. Đối với vị Bồ Tát đắc
nhẫn ở đây, cũng hàm ư “dùng của báu
để bố thí”. Xem phần kinh văn nói “chẳng
tiếp nhận phước đức” sau đó, hiển
nhiên có thể thấy là vị Bồ Tát này thực hiện
phước đức bố thí rộng lớn. Do đă tạo
phước đức to lớn, nhưng chẳng tiếp
nhận, cho nên gọi là “đắc thành ư Nhẫn”.
Nếu không, từ đâu mà biết là “đắc Nhẫn?”
Do vậy, kinh văn trong khoa này và khoa trước chiếu
rọi, làm sáng tỏ ư nghĩa lẫn nhau, quyết chẳng
nghi ngờ! Đă hiểu rơ nghĩa ấy, sẽ biết
ư chỉ của kinh hoàn toàn chẳng phải là không coi trọng
phước đức, chỉ là “chẳng chấp, chẳng
tiếp nhận” mà thôi! Như thế th́ do hai câu “biết
hết thảy các pháp vô ngă, được thành tựu nhẫn”
ở đây, ư chỉ của kinh cũng là thật sự
coi trọng đắc Nhẫn. Tôi từng thấy mấy
vị chú thích, do không hiểu rơ “ư nghĩa soi rọi lẫn
nhau”, bèn coi câu “thành Nhẫn” như là điều
được nói kèm theo. Do vậy, họ bảo vị
Bồ Tát trước đó chỉ biết tu phước,
c̣n vị Bồ Tát này do biết pháp vô ngă, cho nên công
đức vượt trội vị trước. Đó là
lư do “tu phước chẳng sánh bằng tu huệ”
v.v… [Giảng như vậy] đă lầm lạc đánh mất
ư chỉ của kinh quá to! V́ sao vậy? Nếu hiểu ư
như thế th́ trước đó răn nhắc “đừng
nghĩ rằng chẳng do tu phước đức
mà đắc Bồ Đề” là nói về điều ǵ
vậy? (cũng như khoa “ư pháp bất thuyết
đoạn diệt tướng” (đối với pháp
chẳng nói tướng đoạn diệt) đă nói [ư
nghĩa ǵ vậy?]). Hết sức lầm lẫn!
Hết thảy các pháp chẳng
ngoài cảnh, hạnh, quả. Cảnh chính là Ngũ Uẩn,
lục căn, lục trần v.v… Hành là Lục Độ, vạn
hạnh v.v… Quả là [các địa vị] Trụ, Hạnh,
Hồi Hướng, Địa, cho đến Vô Thượng
Bồ Đề. Vô ngă là hết thảy các pháp nhiễm tịnh
chẳng ra ngoài nhân quả. Nhân quả tức là duyên sanh,
duyên sanh Thể không. Do vậy, trong hết thảy các pháp,
vốn chẳng có ngă. Hăy nên biết: Nói là ngă, chẳng có
chi khác, chính là chúng sanh vô minh bất giác, trong hết thảy
các pháp, hư vọng sanh ra cái Thấy phân biệt, chấp
trước. Nhưng tánh của hết thảy các pháp vốn
sẵn không tịch, há có vật ấy? Do nó vốn là Không; do vậy, hăy nên trừ khử. Hiểu “biết hết thảy các
pháp vô ngă” chính là Giải,
tức là “lănh hội tánh của hết thảy các pháp vốn sẵn không tịch”. Bởi lẽ năm chữ
“hết thảy các pháp vô ngă” chính là Lư. Một chữ
Tri (biết) chính là Trí.
“Đắc thành ư Nhẫn” nghĩa là lư “tánh của
hết thảy các pháp vốn sẵn không tịch” cùng với cái trí nhận biết [lư ấy]
có thể ngầm khế hợp thành một. Nhẫn (忍) là chấp nhận, khế
hợp chẳng gián đoạn, giống
như nói “hợp nhất”. Lư trí hợp
nhất, cho thấy ngă chấp đă hóa trừ. Công hạnh
đến đây, được gọi là “thành”. Thành như thế nào? Do huân
tu, cho nên nói là “được
thành”. “Được thành” là giống
như nói do huân tu bèn đạt được thành tựu.
Chẳng do công phu tu ṛng đạt mức, sao có thể
thành cho được? Do vậy, hai câu này, câu trước
là Giải, câu sau là Hạnh. Hợp lại để
xem, cho thấy Bồ Tát giải hạnh thành tựu. Lại
nữa: Tri trong câu trước là Huệ, Nhẫn trong câu
sau là Định. Gộp lại, đó là Định Huệ
cân bằng. Do Định Huệ cân bằng, cho nên giải
hạnh thành tựu. V́ vậy, đạt được
công đức hơn hẳn vị Bồ Tát trước
đó, do vị Bồ Tát trước đó, giải, hạnh,
định huệ, công hạnh vẫn chưa thể đạt
tới “ngầm hợp thành một”. Tức là cái trí
hay biết đối với lư “hết thảy pháp vô ngă”
vẫn chưa thể đạt tới vững vàng, chẳng
dời chuyển được. Do đó, chẳng thể
sánh bằng! Chữ Nhẫn có nghĩa là giống như nói
“an ổn, chẳng dời đổi” vậy!
Từ trong khoa lớn thứ
ba thuộc phần trước, đă nêu bày Bồ Tát nếu
thông đạt vô ngă pháp, Như Lai nói vị ấy
được gọi là Bồ Tát thật sự, đến
tận chỗ này mới kết luận. Có thể biết:
Những điều đă nói trên đây đều là vô ngă
pháp, nhằm dạy Bồ Tát thông đạt, nhưng công
phu phải thực hiện đến mức được
thành tựu Nhẫn th́ mới là thật sự thông đạt,
thật sự là Bồ Tát. V́ sao vậy? “Thông” là thông
sáng, tức là nói về Giải. “Đạt” là đạt
tới, tức là nói đến Hạnh. Do vậy, nói “thông
đạt” tức là giải hạnh trọn
đủ. Giải hạnh trọn đủ, nên bảo:
Thật sự là Bồ Tát. Do vậy, chớ nên hiểu hai
chữ Thông Đạt chỉ là hiểu rơ lư! Cần phải
biết: Cố nhiên Giải đứng trước Hạnh,
nhưng chẳng đúng pháp thực hành, đích xác có kinh
nghiệm, sao có thể thâm giải cho được? Phần
trước đă nói: “Hạnh từ
Giải mà ra, Giải nhân Hạnh mà thành”. Hai lời
ấy chính là lời chân thật diễn tả Thông Đạt
vậy. Thông đạt như thế chính là “đắc
thành Nhẫn”.
Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 5
Phần 1
hết
[1] Chúng tôi xin
trích dẫn hai tướng đầu tiên trong các tướng
báu nơi đỉnh đầu của Như Lai như
sau: “Phật Tử! Như Lai đảnh hữu tam thập
nhị tướng trang nghiêm đại nhân tướng, kỳ
trung hữu đại nhân tướng, danh Quang Chiếu Nhất
Thiết Phóng Vô Lượng Đại Quang Minh Vơng, nhất
thiết diệu bảo dĩ vi trang nghiêm, bảo phát châu
biến, nhu nhuyễn nghiêm mật, nhất nhất hàm phóng
ma ni bảo quang, sung măn nhất thiết vô biên thế giới,
tất hiện Phật thân sắc tướng viên măn, thị
vi đệ nhất. Thứ hữu đại nhân tướng,
danh Phật Nhăn Quang Minh Vân, dĩ ma ni vương chủng
chủng trang nghiêm, xuất kim sắc quang, như mi gian hào
tướng sở phóng quang minh, kỳ quang phổ chiếu
nhất thiết thế giới, thị vi đệ nhị”
(Này Phật Tử! Trên đỉnh đầu của Như
Lai có ba nươi hai tướng đại nhân trang nghiêm.
Trong ấy có tướng đại nhân tên là Quang Minh Chiếu
Soi Tất Cả, Tỏa Vô Lượng Lưới Quang
Minh Lớn, dùng hết thảy các thứ báu mầu nhiệm
để trang nghiêm, tóc báu bao phủ trọn khắp, mềm
mại, dày kín, mỗi mỗi đều tỏa ra quang minh
màu như chất báu Ma Ni, đầy ắp hết thảy
vô biên thế giới, đều hiện thân Phật, sắc
tướng viên măn. Đó là [tướng đại nhân] thứ
nhất. Kế đó, có tướng đại nhân, tên là
Mây Quang Minh Phật Nhăn, dùng Ma Ni Vương đủ loại
trang nghiêm, tỏa ra quang minh sắc vàng, giống như
quang minh do tướng bạch hào giữa hai mày tỏa ra.
Quang minh ấy chiếu trọn khắp hết thảy các
thế giới. Đó là tướng thứ hai).
[2] Hoa Tạng thế
giới là khu vực hóa độ của Tỳ Lô Giá Na
Như Lai (tức Pháp Thân của Thích Ca Mâu Ni Phật). Thế
giới ấy do mười phong luân nhiếp tŕ. Trên phong
luân có biển nước thơm, tên là Phổ Quang Ma Ni
Trang Nghiêm. Trong biển nước thơm, sanh ra hoa sen to,
tên là Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng.
Trong hoa sen, có vi trần số thế giới. Do vậy
được gọi là Liên Hoa Tạng thế giới, hay
gọi tắt là Hoa Tạng thế giới. Hoa Tạng thế
giới có hai mươi tầng, lại có mười thế
giới hải bao quanh. Thế giới Sa Bà thuộc tầng
thứ mười ba trong Hoa Tạng thế giới.
[3] Chánh kinh ghi là
“cụ túc chư tướng”, cụ Giang luôn viết
là “chư tướng cụ túc” nhằm nêu bật ư
nghĩa của chữ Cụ Túc.
[4] Tức bộ Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh do ngài Nghĩa Tịch dịch vào đời
Đường.
[5] Nam Đường (937-975) là một triều
đại trong thời Ngũ Đại Thập Quốc,
do quyền thần Lư Biện (vốn có tên là Từ
Tri Cáo do làm con nuôi của Từ Ôn, nên đă đổi từ
họ Lư sang họ Từ)
sáng lập sau khi bắt Dương Phổ (Ngô Duệ
Đế, vị vua cuối cùng của Dương Ngô
tức nước Ngô hay Hoài Nam do Dương Hành Mật
sáng lập) nhường ngôi. Thoạt
đầu, Lư Biện
xưng quốc hiệu là Tề (do Từ Ôn có
tước phong là Tề Quốc Công và bản thân Lư Biện
cũng được phong là Tề Vương), sau đó, đổi thành Nam Đường. Địa
bàn của Nam Đường bao gồm các tỉnh Giang Tô,
An Huy, Giang Tây và một phần của tỉnh Hồ Bắc,
đóng đô tại Kim Lăng Phủ (Nam Kinh hiện thời).
Triều đại này chỉ truyền
được ba đời vua, tồn tại bốn
mươi năm. Chúng tôi không t́m thấy ghi chép về hành
trạng của sư Đạo Ngung.
[6] Một tiểu thiên thế giới là một
ngàn thế giới, một trung thiên thế giới là một
ngàn tiểu thiên
thế giới, một đại thiên thế giới là một
ngàn trung thiên thế giới, tức 1.000 x 1.000 x 1.000 =
1.000.000.000 (một ngàn triệu thế giới, tức
mười vạn vạn thế giới). Trong mỗi thế
giới, lại có một núi chúa Tu Di, nên bảo là mười
vạn vạn núi chúa Tu Di.
[7] Chiêu Minh Thái Tử tên thật là Tiêu Thống
(501-531), tên tự là Đức Thí, là con trai trưởng của
Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn). Ông được
cha phong làm Thái Tử khi mới một tuổi. Ông là một
Phật tử sùng đạo, thích nghiên cứu đạo
Phật, thường mời các ḥa thượng đến
Đông Cung để đàm luận Phật pháp. Ông là một
người có tài văn chương, đă biên soạn một
tổng tập thi văn, được gọi là Văn Tập.
Sau này, tác phẩm ấy được gọi là Chiêu Minh Văn Tuyển
gồm sáu mươi quyển, tập hợp các bài văn
thơ cổ. Ông đă chia kinh Kim Cang thành ba mươi hai
đoạn, và đặt tiêu đề cho mỗi đoạn,
chẳng hạn như Pháp Hội Nhân Do, Thiện Hiện
Khải Thỉnh, Đại Thừa Chánh Tông v.v… Đoạn
thứ ba mươi mốt có tiêu đề là Tri Kiến Bất
Sanh, và đoạn cuối cùng có tiêu đề là Ứng Hóa
Phi Chân.
[8] Nguyên văn “nhận lư an kiều vi a
gia hạ ba”. Câu này vốn trích từ chương Cốc
Ẩn Uẩn Thông trong quyển thứ mười một
của bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên. “Lư an kiều”
(驢鞍鞽): An kiều
chính là cái yên ngựa. Do h́nh dạng nó hơi cong như
chiếc cầu, nên có danh xưng đó. “Lư an kiều” là cái
xương con lừa có h́nh dạng tương tự
như chiếc yên ngựa. “A gia hạ ba” (阿爺下巴) là cái
xương cằm của cha. Có chuyện kể rằng: Kẻ
ngu t́m xác cha trên chiến trường, ngỡ mảnh
xương h́nh yên ngựa của con lừa là xương
cằm của cha bèn trân trọng đem về thờ phụng.
Thành ngữ này được dùng trong Thiền lâm để
chê trách kẻ chấp tướng, ngu si.