Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 4

Phần 2

金剛般若波羅蜜經講義

Soạn giả: Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)

清信士勝觀江妙煦

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo phiên bản điện tử B0023 của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.2. Nói về Báo Thân

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.2.1. Nói rơ sắc thân chẳng phải là tánh

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Phật khả dĩ cụ túc sắc thân kiến phủ?” “Phất dă, Thế Tôn! Như Lai bất ưng dĩ sắc thân kiến. Hà dĩ cố? Như Lai thuyết cụ túc sắc thân, tức phi cụ túc sắc thân, thị danh cụ túc sắc thân”.

          ()須菩提於意云何佛可以具足色身見不世尊如來不應以色身見何以故如來說具足色即非具足色身是名具足色身

    (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng sắc thân trọn đủ để thấy Phật hay không?” “Bạch Thế Tôn, không ạ! Chớ nên dùng sắc thân để thấy Như Lai. V́ sao vậy? Như Lai nói sắc thân trọn đủ, tức chẳng phải sắc thân trọn đủ, th́ gọi là sắc thân trọn đủ”).

 

          Bản lưu thông ghi là “bất ưng dĩ cụ túc sắc thân kiến” (chớ nên dùng sắc thân trọn đủ để thấy), nhưng trong bản chép tay của người đời Đường th́ câu này không có chữ “cụ túc”, nên có thể tỉnh lược [hai chữ “cụ túc”].

          Đối với “cụ túc sắc thân”“cụ túc chư tướng” trong khoa sau, cổ nhân có nhiều cách nói. Hoặc gộp chung các tướng nơi sắc thân lại mà nói là “trượng lục tử kim thân” (thân màu vàng tía, cao một trượng sáu thước), tức là nói về Ứng Thân. Hoặc nói tách ra: “Sắc thân” là tám mươi thứ hảo, “chư tướng” là ba mươi hai tướng. Đấy cũng là hiểu [“sắc thân”] thành Ứng Thân. Hoặc bảo “sắc thân” là nói tới Báo Thân, “chư tướng” là Ứng Hóa Thân. Chỉ có pháp sư Đạt Thiên đời Thanh bảo “sắc thân và chư tướng đều là nói về Báo Thân”. Thuyết này tinh vi nhất, hăy nên vâng theo! Bởi lẽ, kinh đối với sắc thân và các tướng đều nói là “cụ túc” (trọn đủ). “Trọn đủ” nghĩa là viên măn. Đó là nói Báo Thân công hạnh viên măn, vạn đức trang nghiêm, đích xác, chẳng ngờ chi nữa! Do Ứng Hóa Thân cao một trượng sáu thước, ba mươi hai tướng v.v… sẽ chẳng phù hợp với ư nghĩa “công hạnh trọn đủ, trang nghiêm trọn đủ”.

          Tách thân và tướng ra để nói, bao hàm ư nghĩa trọng yếu, do sắc thân được gọi là “trọn đủ” chính v́ các tướng trọn đủ. Bởi lẽ, sắc thân là cái được trang nghiêm (sở trang nghiêm), c̣n các tướng là cái để trang nghiêm [sắc thân] (năng trang nghiêm). Nói tách ra, dụng ư nhằm nêu rơ có Năng và Sở, chính là pháp duyên sanh. Nếu là tánh vốn sẵn đủ th́ duy nhất không tịch, đă chẳng phải là sắc tướng, há có năng trang nghiêm (cái có thể trang nghiêm) và sở trang nghiêm (cái được trang nghiêm) khác biệt!

          “Phất dă” (thưa không) là một câu linh hoạt, ư nói “vừa là có thể, vừa là chẳng thể”. Bởi lẽ, Pháp Thân và Báo Thân chẳng một, chẳng khác. Nếu hội quy vào tánh “chẳng khác”, th́ là có thể thấy. Nếu chấp trước tướng “chẳng một”, sẽ chẳng thể thấy. V́ thế, [trưởng lăo] nói tiếp: “Bất ưng dĩ sắc thân kiến” (chớ nên dùng sắc thân để thấy). Phần trước nói “phất dă” (thưa không), phần sau nói “bất ưng” (chớ nên), tức là hô ứng khít khao, với dụng ư chỉ rơ: Không có ǵ gọi là “có thể, hay chẳng thể”, chỉ là “chẳng nên”. Nói Như Lai, nói “dĩ” (, dùng), đều chứa đựng ư nghĩa tinh vi. Nói một chữ Dĩ, hiển nhiên là ư chấp tướng. Như Lai là nghĩa “các pháp đều Như”, chính là tánh chẳng khác. Sắc thân là tướng “chẳng một”, há có nên chấp vào cái tướng “chẳng một” để thấy tánh “chẳng khác” ư? Những lời sau đó hàm nghĩa “nếu diệt mất [ư niệm thấy có] tướng, sẽ có thể thấy tánh”.

          Từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, nêu ra ư nghĩa “chẳng nên”. “Như Lai thuyết” là nói theo tánh. Nói theo tánh, sắc thân trọn đủ chính là cái sắc thân thuộc về quả báo hiện ra bởi đă tu nhân trong nhiều kiếp, chính là pháp duyên sanh. Duyên sanh th́ chẳng phải là tánh, tức Giả, tức Không. Do đó, nói “tức phi cụ túc sắc thân” (tức chẳng phải là sắc thân trọn đủ). Nhưng đă là bản tánh tùy duyên, bèn hiện ra cái tướng do tu nhân quyết đạt được quả. Tuy bản thể của nó là Không, mà tức Không, tức Giả, danh tướng rành rành. V́ thế bảo “thị danh cụ túc sắc thân” (th́ gọi là sắc thân trọn đủ). Đối với “thị danh”“tức phi” của “cụ túc chư tướng” trong khoa sau, cũng được giải thích như thế.

Nói chung là để nói rơ: Báo Thân là pháp duyên sanh, tuy Giả mà là Không, tuy Không mà là Giả. Nếu chẳng hiểu nghĩa “Giả chính là Không”, ắt sẽ chấp tướng, mê muội tánh, sẽ là tánh và tướng cách biệt, chẳng phải là một, sao có thể kiến tánh? Nếu chẳng hiểu rơ nghĩa “Không tức là Giả”, ắt sẽ lại chấp tánh mà phế tướng. Tánh và tướng cũng cách biệt, chẳng phải là một! Tức là cái được trông thấy thật sự chẳng phải là toàn thể tánh “vô tướng, vô bất tướng”, sao cũng có thể nói là “kiến tánh” được ư? V́ thế, ắt phải hiểu sâu xa đạo lư duyên sanh, thấu hiểu sắc thân trọn đủ v.v… Giả chính là Không, Không chính là Giả, chẳng chấp vào hai bên. Sau đấy, tánh và tướng viên dung, chẳng khác, kiến tướng sẽ kiến tánh. Cái được trông thấy sẽ là “vô tướng, vô bất tướng”. Đó cũng là toàn tánh Như Thật Không, Như Thật Bất Không vậy!

          Báo Thân thù thắng của Như Lai c̣n là duyên sanh, có thể biết: Hết thảy các pháp không ǵ chẳng phải là duyên sanh! V́ thế, hết thảy các pháp đều chớ nên chấp. Hễ chấp, ắt đọa vào một bên. “Chấp” nghĩa là “có giữ lấy”. Hễ tâm có cái để giữ lấy là do động niệm. V́ thế, muốn chẳng chấp giữ một thứ ǵ, chỉ có cách ĺa niệm mà thôi. Hăy nên biết: Đức Phật nói ra tông chỉ “các pháp duyên sanh” chỉ nhằm dạy mọi người thấu hiểu đạo lư “Giả chính là Không, Không chính là Giả”, biết hết thảy các pháp vốn chẳng thể chấp, mà cũng chẳng cần phải chấp, do ĺa niệm vậy. Sở dĩ dạy ĺa niệm là v́ tu cái nhân ĺa niệm, ắt đạt được cái quả vô niệm, vẫn chẳng ra ngoài pháp duyên sanh. Vô niệm là nói tới Phật trí, Chân Như. Do vậy, đủ thấy pháp thế gian hay pháp xuất thế gian, không ǵ chẳng phải là duyên sanh, tức là không ǵ chẳng phải là nhân quả. Kẻ chẳng có trí huệ do cái nhân ác mà chuốc lấy quả ác, dùng nhân lành để vời quả lành, dùng nhân nhỏ để chuốc quả nhỏ, dùng cái nhân hữu lậu để vời các quả hữu lậu. Nếu khai tri kiến của Phật, sẽ có thể dùng cái nhân thù thắng để chiêu vời cái quả thù thắng. Thế nào là thù thắng? Vô niệm mà thôi! Nói chung, pháp nào cũng đều là duyên sanh. V́ thế, pháp nào cũng đều là Không, chính là Giả. Do vậy, đối với pháp thế gian và xuất thế gian, đều hăy nên chẳng chấp hai bên; mà muốn chẳng chấp triệt để, chỉ có ĺa niệm! Hơn nữa, pháp thế gian và xuất thế gian đều là duyên sanh. V́ vậy, thế gian và xuất thế gian đều chẳng ngoài nhân quả. Do đó, dùng ĺa niệm làm nhân, sẽ chứng cái quả vô niệm Chân Như.

          Phàm các chỗ trong phần trước hoặc phần sau khi nói “tức phi, thị danh”, đều nhằm nói về nghĩa này, đều dung thông với những điều vừa nói trên đây. Do phần trước, c̣n chưa nói rơ nghĩa “các pháp duyên sanh”, cho nên chẳng thể phát khởi lưu loát như thế, nhưng nay th́ phải nên thông đạt như vậy. Hăy nên biết: Thể lệ của kinh này là từ nói rời rạc cho tới hoàn chỉnh. Trước là diễn dịch rồi sau đó mới quy nạp. Do vậy, những điều nói trong phần trước sẽ có thể được chứng minh bởi điều nói trong phần sau, ư nghĩa càng sáng tỏ hơn. Sở dĩ dạy Bồ Tát phải thông đạt chuyện này, tức là hăy nên dùng nghĩa trong phần sau để thông đạt nghĩa trong phần trước. Giảng nói toàn bộ kinh văn, phải nên thuận theo thứ tự cạn, sâu, thuận theo kinh văn mà nói. V́ thế, khi giảng nửa bộ trước, chỉ có thể hàm nhiếp các nghĩa chánh yếu trong nửa bộ sau, trọn chẳng thể đem nghĩa được nói phần sau của kinh để thống thiết nói trong phần trước. V́ sao vậy? Kinh văn trong phần trước có ư nghĩa chánh yếu của riêng nó. Nếu chỉ chú trọng nói nghĩa chung, chẳng đoái hoài mạch lạc, sẽ khiến cho kinh nghĩa vốn rạch ṛi từng điều bị nói thành tạp loạn, không có kết cấu, đâm ra khiến cho người nghe chẳng biết đâu mà ṃ! Nhưng khi nói tới ư nghĩa trong phần sau, nếu chẳng đem những điều đă nói trong phần trước thâu kết, quy nạp, sẽ trở thành rời rạc. Không chỉ là những điều đă nói trong phần trước chẳng được quy kết mảy may, mà cũng chẳng thấy được cái hay đẹp của những nghĩa được nói trong phần sau, người nghe cũng lại chẳng biết đâu mà ṃ!

          Nếu người chú giải phạm phải khuyết điểm ấy, đọc lời chú sẽ thấy mờ mịt, mông lung, đầu mối chẳng rơ ràng, muốn hiểu sâu xa khó lắm! Nói chung, kinh này khó giảng v́ [thoạt nh́n, dường như] trước sau chẳng khác, nhưng trước sau sở dĩ khó giảng là chúng lại chẳng đồng nhất. Khó ở chỗ các nghĩa trọng yếu đa số thuộc phần sau. Cái lỗi thường phạm khi giảng là chỉ có thể nh́n bóng phản chiếu của ngọn đèn trong màn, chẳng thể nói thông suốt điều muốn nói. Phần sau khó giảng ở chỗ lư sâu, cảnh vi tế, ngôn ngữ chẳng dễ h́nh dung. Lại c̣n chỗ nào cũng dính tới một tầng “ĺa danh, tuyệt tướng”, tuy có thể nói thông suốt điều muốn nói, nhưng chẳng thể nói một chữ kiên quyết liệt nào, kẻo đóng lấp cửa ngộ của người khác. Trong hội, chắc cũng có các vị thiện tri thức phát đại tâm muốn hoằng dương kinh này, chớ nên không biết lư này!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.1.2.2. Nói rơ “tướng hảo chẳng phải là tánh”

 

          (Kinh) “Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Như Lai khả dĩ cụ túc chư tướng kiến phủ?” “Phất dă, Thế Tôn! Như Lai bất ưng dĩ cụ túc chư tướng kiến. Hà dĩ cố? Như Lai thuyết chư tướng cụ túc, tức phi cụ túc, thị danh chư tướng cụ túc”.

          ()須菩提於意云何如來可以具足諸相見不不也世尊如來不應以具足諸相見何以故如來說諸相具即非具足是名諸相具足

          (Kinh: “Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai hay chăng?” “Bạch Thế Tôn! Không ạ! Chớ nên dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai. V́ sao vậy? Như Lai nói các tướng trọn đủ, tức chẳng phải trọn đủ, th́ gọi là các tướng trọn đủ”).

 

          “Hảo” () là tên gọi khác của tướng, tức là những thứ phụ thuộc vào h́nh tướng, tức các thứ tốt đẹp vi tế khác với tướng. Do đó, gọi là “tùy h́nh hảo” (隨形好). Nay nói “cụ túc chư tướng” (trọn đủ các tướng), đă gồm thâu các hảo trong ấy. Nếu chẳng có hảo, sẽ chẳng thể gọi là “chư tướng cụ túc” (các tướng trọn đủ). Nói thông thường, sẽ là ba mươi hai tướng và tám mươi thứ hảo, tức tướng hảo của Ứng Thân. Nếu là tướng hảo của Báo Thân, sẽ như phẩm [Như Lai Thập Thân] Tướng Hải của kinh Hoa Nghiêm đă nói. Trên đỉnh đầu của Như Lai, có ba mươi hai tướng báu trang nghiêm. Giữa hai mày, mắt, mũi, răng, môi, cổ, mỗi nơi đều có một tướng trang nghiêm. Lưỡi có bốn tướng, miệng có năm tướng, vai phải hai tướng, vai trái ba tướng, trước ngực một tướng, tức tướng chữ Vạn () cát tường. Hai bên bụng có tổng cộng mười tướng, hai tay trái và phải có tổng cộng mười ba tướng, âm tạng một tướng, hai mông, hai đùi, hai bắp chân, tổng cộng sáu tướng, lỗ chân lông một tướng, hai chân có tổng cộng mười ba tướng. Trên đây có tổng cộng chín mươi bảy loại diệu tướng, gọi là “đại nhân tướng” (大人相). Muốn biết danh xưng và tướng trạng, hăy nên kiểm trong kinh văn[1]. Nhưng đó vẫn là nói đại lược. Nếu nói trọn đủ, sẽ các tướng đại nhân bằng với số vi trần trong mười thế giới Hoa Tạng[2], v́ tướng hảo của Báo Thân là vô lượng vô biên. Nay nói “cụ túc” là nói đến điều ấy. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhất nhất thân phần, chúng bảo diệu tướng dĩ vi trang nghiêm” (mỗi phần trên thân thể được trang nghiêm bởi các diệu tướng báu). Theo ư kinh ấy, có thể biết danh xưng “cụ túc sắc thân” chính là nói “trọn đủ các tướng”. V́ thế, trong phần trước, tôi đă nói “các tướng có thể trang nghiêm, sắc thân là cái được trang nghiêm”. Các nghĩa khác giống như phần trên. Phàm những điều được nói trong khoa trước như “tức phi, thị danh” v.v… đều tương thông với phần này, chẳng cần phải rườm lời. “Chư tướng cụ túc”[3] tức là trọn đủ các tướng. Sắc thân và tướng hảo của Phật sở dĩ được gọi là thù thắng bậc nhất, chính do hai chữ “cụ túc”. V́ thế, nói đảo lại để thấy được ư nghĩa.

          Từ mở đầu kinh cho tới chỗ này, nêu ra thân tướng để vấn đáp, tổng cộng ba lượt, nhưng mỗi lần đều nêu lên với ư nghĩa bất đồng. Nay chia thành ba tầng để nói, mỗi tầng sau sâu hơn tầng trước.

          1) Lần đầu là hỏi “có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay không”, chỉ nói hai chữ “thân tướng”, tức là hết thảy các thân tướng đều được bao gồm trong ấy, không riêng biệt chỉ thân tướng của Phật. Như Lai cũng là chỉ chung tự tánh, chẳng chuyên chỉ Phật. Lần thứ hai là hỏi “có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai hay không”, tức là chuyên nói về Phật, nhưng nói theo Ứng Thân. Lần này câu hỏi nói “cụ túc sắc thân, cụ túc chư tướng”, là nói theo Báo Thân của Phật.

          2) Vấn đáp lần đầu, chính là tiếp ngay sau “chớ nên trụ tướng”. V́ thế, chỉ nói “thân tướng tức phi thân tướng”, mà chẳng nói “thị danh”, do hiển thị ư nghĩa “tướng đều là hư vọng; do vậy, chớ nên trụ”. Vấn đáp lần thứ hai, chính là để nói rơ “chẳng hoại giả danh”, cho nên “tức phi”“thị danh” cùng nói, nhằm hiển thị ư nghĩa “nói theo tánh th́ chẳng phải, nói theo tướng th́ chính là [như vậy], chớ nên trụ vào hai bên”. Lần này chính là để nói rơ “các pháp duyên sanh”. V́ vậy, cũng cùng nêu “tức phi”“thị danh”, nhằm hiển thị ư nghĩa “pháp do duyên sanh là Không Hữu đồng thời”.

          3) Hai lần đầu hỏi “khả dĩ thân tướng kiến Như Lai phủ” (có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay chăng?) và “khả dĩ tam thập nhị tướng kiến Như Lai phủ” (có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai hay không?). Như Lai là danh xưng của tánh đức; “thấy Như Lai” giống như nói “thấy tánh”. Hăy nên biết: “chớ nên trụ vào tướng” tức là kiến tánh. Tánh chân thật, tướng hư vọng. Đuổi theo vọng, liền trái nghịch chân. V́ thế, muốn thấy tánh, chớ nên trụ tướng. Nhưng lần đầu, dựa theo thân tướng để chỉ rơ “chớ nên trụ”, v́ thân tướng và tánh liên quan mật thiết nhất. Thân tướng c̣n là hư vọng, th́ có thể biết các tướng [cũng là hư vọng]. Thân tướng c̣n chẳng nên trụ, có thể biết là “các tướng chớ nên trụ”. Nhưng nói “chẳng trụ” nghĩa là đối với tướng, phải nên thấy nó chẳng phải là tướng, th́ sẽ chẳng trụ, sẽ có thể thấy tánh, chẳng phải là hoại tướng rồi mới thấy [tánh]. Thân tướng là như thế, các tướng đều là như thế. Đấy là ư nghĩa được minh thị trong lần vấn đáp đầu tiên.

          Lần thứ hai “chẳng hoại giả danh” là nói sau khi đă ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết. V́ thế, xét theo danh tự và ngôn thuyết của ba mươi hai tướng để minh thị nghĩa chân thật của ĺa tướng. Ư nói: Đối với tánh Chân Như và cảnh giới ĺa niệm, chẳng thể dùng danh tự để gọi tên, chẳng thể dùng ngôn từ để diễn tả, chẳng thể dùng tướng để biểu lộ tướng. V́ thế, phải nên ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết để tự chứng. Nhưng nói “ĺa tướng danh tự và ngôn thuyết” tức là phải nên biết danh tự và ngôn thuyết chẳng thể diễn tả được tánh, chẳng phải là nói “vô danh, vô ngôn, vô tướng”, mà chỉ là đối với giả tướng của danh tự và ngôn thuyết, nếu tâm chẳng chấp giữ, th́ sẽ là ĺa, th́ sẽ thấy tánh. Thân Ứng Hóa của Như Lai chẳng phải rơ ràng là có danh tự, ngôn thuyết của ba mươi hai tướng ư? Tướng ấy thật sự do Như Lai hiển hiện. V́ thế, hễ chẳng chấp tướng, liền thấy Như Lai. Biết đối với danh tự và ngôn thuyết của ba mươi hai tướng nơi Ứng Hóa Thân hăy nên ĺa như thế nào, sẽ biết đối với danh tự và ngôn thuyết của hết thảy các pháp tướng phải nên ĺa như thế nào? Đấy là ư nghĩa được nêu rơ trong lần vấn đáp thứ hai.

          Vấn đáp lần này, thoạt đầu là hỏi “có thể dùng sắc thân trọn đủ để thấy Phật hay không?” Kế đó, hỏi “có thể dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai hay không?” Dù nói là Phật, hay nói là Như Lai, đều có ư nghĩa tinh vi. Hơn nữa, trong lời hỏi trước chỉ nên nói Phật, câu hỏi kế tiếp chỉ nên nói Như Lai, chẳng thể thay đổi! V́ sao vậy? Hăy nên biết: Phật là danh xưng của quả đức. Sắc thân trọn đủ chính là Quả Báo Thân. V́ thế, nói “sắc thân trọn đủ” th́ phải nói bằng danh xưng Phật, nhằm hiển lộ thân ấy chính là cái thân đạt được do quả báo v́ đă chứng quả thành Phật. Như Lai là danh xưng của tánh đức, các tướng trọn đủ là tướng tánh đức viên minh hiển hiện. V́ thế nói “các tướng trọn đủ”, hăy nên nói danh xưng Như Lai, nhằm hiển thị tướng ấy chính là tướng do chứng tánh Chân Như mà hiển hiện thành. V́ thế, trước là cùng nói Phật và “sắc thân trọn đủ” nhằm minh thị “nhân quả chẳng hư huyễn”. Kế đó, cùng nói Như Lai và “các tướng trọn đủ” nhằm minh thị “tánh và tướng như một”.

          Trước đó, tôi từng nhiều lượt nói La Thập đại sư dịch kinh này, chẳng thừa thăi một chữ nào. Chữ nào cũng đều chứa đựng ư nghĩa tinh vi, chẳng thể coi thường một chữ nào! Xem mấy khoa này, càng đủ để chứng minh. Như vậy th́ thân này đă là Báo Thân của Phật quả, v́ sao chẳng nên dùng thân này để thấy? Hăy nên biết: Phật th́ có thể dùng sắc thân để thấy, chứ Phật tánh sao có thể dùng sắc thân để thấy cho được? Thấy Phật th́ hăy nên thấy Phật tánh, há chỉ thấy thân Phật là xong ư? V́ thế, chẳng nói “chẳng nên dùng sắc thân để thấy Phật”, mà nói “chớ nên dùng sắc thân để thấy Như Lai” là v́ lẽ này (tức là chẳng dùng sắc thân để thấy Phật tánh được!) Lời hỏi “có thể dùng sắc thân để thấy Phật hay không?” chính là thăm ḍ kiến địa [của thính chúng] là như thế nào? Bởi [hỏi như vậy] là hỏi “có thể thấy Pháp Thân của Phật hay chăng?” (tức là hỏi “có thể dùng sắc thân để thấy Như Lai hay không?”) Hay là chỉ biết thấy sắc thân Phật mà thôi?

          Các tướng trọn đủ đă là tánh đức hiển hiện toàn vẹn, v́ sao chớ nên dùng các tướng để thấy? Hăy nên biết tánh và tướng tuy là như một, nhưng hễ nói tướng th́ chẳng phải là tánh. Đó gọi là “trong Viên Dung có Hàng Bố”, chẳng thể luông tuồng, mơ hồ được! Do vậy, nếu diệt mất các tướng để quán tánh, đă là chẳng có tướng để quán niệm, có bao giờ chẳng thể thấy tánh? Nếu chấp tướng để kiến tánh, tức là chỉ có quán niệm về tướng, sao lại có thể thấy tánh cho được? V́ thế, chẳng nói chẳng thể dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai”, mà nói “chớ nên dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai” là v́ lẽ này! Nhưng lời hỏi “có thể dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai hay không” cũng nhằm thăm ḍ, khám nghiệm kiến địa [của hành nhân] là như thế nào? Bởi lẽ, tánh và tướng tuy chẳng một mà thật ra chẳng khác, tuy chẳng khác nhưng thật ra chẳng một! Có thể đối với tánh và tướng biết sâu xa nghĩa thú, th́ sẽ đại khai viên kiến, chẳng chấp một, chẳng chấp khác đó ư?

          Hơn nữa, lời lẽ trong hai lượt hỏi lần này, bất đồng rất lớn so với lời hỏi trong hai lần trước. V́ thế, ư nghĩa được nêu bày bèn khác biệt rất lớn. Bởi lẽ, lời hỏi trong hai lần trước chỉ là hỏi có thể dùng thân tướng hoặc ba mươi hai tướng để thấy Như Lai hay không, đều là dựa theo phía người thấy để nói, tức là dựa theo địa vị tu nhân để nói. Lời lẽ trong hai phen hỏi lần này hỏi “có thể dùng sắc thân và các tướng trọn đủ để thấy Phật, Như Lai hay chăng”, tức là xét theo phía Phật, Như Lai để nói, tức là nói theo quả vị. V́ thế, hăy nên xét theo quả vị để giải thích ư nghĩa. Giải thích như thế nào? Hăy nên biết: Phật chứng quả cũng do duyên khởi, huống hồ sắc thân! Tánh quang của Như Lai chiếu mà thường tịch, há có các tướng? V́ thế, đều nói “tức phi”. Lại phải nên biết: Đă là nhân viên quả măn, bèn có sắc thân trọn đủ. Tuy chiếu tịch mà tịch chiếu, không ǵ chẳng trọn đủ các tướng. V́ thế, đều nói là “thị danh”. “Tức phi” nhằm hiển thị cái Giả tức là Không. “Thị danh” nhằm hiển thị cái Không tức là Giả. Há chỉ là chẳng chấp hai bên, mà c̣n là hai bên đều dung thông! Đó gọi là bậc Bồ Tát từ trong viên dung mà thông đạt vô ngă pháp; hăy nên biết như thế.

          Không chỉ là như thế! Hăy nên biết: Các tướng viên măn chính là tánh đức viên minh hiển hiện, há có nên chấp là “ĺa ngoài các tướng, riêng có Pháp Thân” hay không? Do vậy nói là “thị danh”. Nhưng cũng há có nên chấp các tướng duyên sanh là Pháp Thân. V́ thế nói “tức phi”. Như vậy th́ c̣n chẳng nên chấp các tướng do Như Lai hiện khởi để thấy Như Lai, vậy th́ “chấp hết thảy các pháp tướng duyên khởi sẽ chẳng thể thấy Như Lai được” cũng rơ lắm rồi, mà cũng có thể biết là “đều chẳng nên chấp vậy!” Hăy nên biết: Sắc thân trọn đủ chính là quả báo thù thắng của giác quả rốt ráo, há có nên chấp rằng “ĺa ngoài sắc thân, riêng có Phật tánh” ư? Do vậy nói là “thị danh”. Nhưng cũng há có nên chấp sắc thân do duyên khởi chính là Phật tánh; v́ thế nói “tức phi”. Như vậy th́ c̣n chẳng nên chấp Báo Thân trang nghiêm để thấy Pháp Thân thanh tịnh. Vậy th́ “chấp cái thân khổ báo Ngũ Uẩn duyên khởi, sẽ chẳng thể thấy tự tánh Pháp Thân” cũng lại rơ lắm rồi. Càng có thể biết “chớ nên chấp” vậy!

          Nói chung, nói “thị danh” là khiến cho chẳng “chấp khác”. Nói “tức phi” nhằm dạy chớ nên “chấp một”. Chẳng chấp một, khác chính là viên kiến. Kiến viên th́ tri cũng chánh. Tri chánh th́ kiến cũng viên. Nếu biết hết thảy các pháp không ǵ chẳng là duyên sanh, sẽ thấy hết thảy các pháp chẳng một, chẳng khác! Thấy “chẳng khác” chẳng trở ngại “chẳng một, v́ chúng vốn là như một, đều là các pháp duyên sanh. Thấy nó “chẳng một” sẽ chẳng trở ngại “chẳng khác”, v́ tuy là các pháp mà đều là như một. Hăy nên thông đạt như thế!

          Trong phần trên đă nói về phước đức. Phàm những ǵ thuộc về thiện quả, bất luận lớn hay nhỏ, đều là phước đức. Ở đây nói về Báo Thân thù thắng, chính là phước đức thù thắng nhất, to lớn nhất. Nhưng bất luận lớn, nhỏ, thù thắng, kém cỏi, đều là dựa theo cái quả để nêu rơ ư nghĩa. Dựa theo cái quả để nêu rơ ư nghĩa, chính là nói rơ “không ǵ chẳng phải là duyên sanh”. Đối với ư nghĩa duyên sanh trọng yếu do đức Phật đă nói, nay tôi sẽ khái quát thành ba loại để nói, mỗi tầng một sâu hơn:

1) Khiến cho [hành nhân] biết pháp thế gian và xuất thế gian, hết thảy đều là Không, chỉ có nhân quả chẳng không. V́ sao vậy? Do đều là pháp duyên sanh. V́ thế, nhân quả đáng sợ. Bởi đó, phải tu cái nhân thù thắng ḥng “khắc thắng quả” (đạt được cái quả thù thắng). “Khắc” () có nghĩa là ấn định kỳ hạn cầu chứng.

2) Đă là “hết thảy đều là Không”, nhưng nhân quả chẳng Không. Do vậy, hết thảy các pháp là Không mà chính là Giả. Do chính là Giả, cho nên nhân ắt có quả, nhân thù thắng ắt quả thù thắng. Do tức là Không, cho nên nhân quả tuy thù thắng, vẫn như không thực hiện chuyện ǵ. Đó gọi là hiểu sâu xa nhân quả.

3) Đức Phật nói “hết thảy các pháp duyên sanh”, với dụng ư chỉ rơ chúng vốn bất sanh. Như trong mười hai thời, pháp thế gian cũng tùy duyên mà thực hiện. Ngay trong lúc pháp xuất thế gian thuận theo duyên mà khởi, có thể liếc mắt bèn thấy “hết thảy các pháp vốn chẳng có chỗ sanh”, tuy nh́n mà cũng chẳng tự cho là có thể nh́n. Nhưng [nếu có ai] đối với pháp thế gian và xuất thế gian, ngay trong khi đang tùy duyên, có thể thấy như thế, ngay trong lúc đang nh́n mà chính là lúc tùy duyên như thế, có thể xem người ấy như một người lanh lợi. Trong là ba tế tâm, quy vào “chẳng thể được!” Ngoài là hết thảy các pháp, quy vào “vốn bất sanh”. Pháp của ta có chỗ để náu thân ư? Đúng là “đă hiểu rơ một chuyện, trăm chuyện đều hiểu rơ”, thiên hạ thái b́nh! Đức Bổn Sư dạy chúng ta các pháp môn noi theo con đường thẳng, chúng ta phải gánh vác, tận lực bươn bả tiến về phía trước. Chẳng thấy rằng: “Ngày hôm nay đă qua, mạng cũng giảm theo, như cá thiếu nước, há có vui chi?” Nếu vẫn cứ lần khân như cũ, bước một bước, lắc lư ba lượt, dẫu hằng ngày xem kinh, nghe pháp, hiểu được các lư lẽ, có ích ǵ đâu? Phải ngăn ngừa Sở Tri Chướng nẩy sanh, c̣n tệ hơn Phiền Năo Chướng nữa! Hăy mau rảo bước lên!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2. Xét theo pháp thí để nói rơ Thể Không

 

          Chia thành ba đoạn:

1) Nói rơ chẳng có pháp nào để có thể nói.

2) Nói rơ tánh của người nghe là Không.

3) Nói rơ chẳng có pháp để có thể được.

          Sau phần [luận định về] quả báo thù thắng của phước đức, nói tiếp khoa lớn Pháp Thí, chính là để nêu rơ “hết thảy các pháp đều là duyên sanh”. V́ ắt có nhân duyên bố thí, Lục Độ, sẽ có thể phát sanh sự tướng quả báo phước đức thù thắng. Do đó, quả báo phước đức thù thắng chính là nói theo cái quả, tức là nói theo pháp được sanh. Khoa Pháp Thí này là nói theo cái nhân. Nói theo cái nhân là v́ muốn hiển thị ư nghĩa “duyên sanh vô cùng, nhân quả vô tận”. V́ sao nói như vậy? Hăy nên biết: Hễ nói tới bố thí, sẽ có ba phương diện, một là người bố thí, hai là người nhận bố thí, ba là vật để bố thí. Do vậy, một khoa lớn Pháp Thí này được chia thành ba tiểu khoa:

1) Trước hết, tiểu khoa “chẳng có pháp để có thể nói”, tức là xét theo người bố thí.

2) Kế đó, tiểu khoa “người nghe tánh Không” là nói theo người nhận bố thí.

3) Tiểu khoa thứ ba là “không có pháp nào để có thể được”, chính là xét theo vật dùng để bố thí.

Đức Phật nói ra các pháp, đều nhằm diễn tả những điều Ngài đă chứng. V́ thế, [luận định] chẳng có pháp nào để có thể đạt được, chính là nói theo pháp được thí. Nhưng nếu nói theo phía người bố thí, v́ sao biết thực hiện sự bố thí ấy, cũng như có thể thực hiện sự bố thí ấy như thế nào, nhân duyên chẳng giống nhau. Lại luận theo phía người tiếp nhận bố thí, dùng ǵ để thành tựu chúng sanh, lại c̣n có thể nghe pháp như thế nào, nhân duyên cũng lại rất nhiều. Lại nói theo vật được thí, vật ấy sanh như thế nào, lại v́ sao mà đắc, nhân duyên cũng lại có đủ loại! Xét theo nhân duyên thuộc ba phương diện ấy, sẽ là muôn ngàn sai khác, nói vô tận. Huống chi ba phương diện ấy nếu chẳng tụ hội một chỗ, một lúc, sẽ chẳng có chuyện pháp thí phát sanh được! Làm thế nào để chúng tụ hội? Lại là chẳng có duyên th́ sẽ chẳng thể được! Do vậy, có thể biết: Hết thảy mọi sự, không ǵ chẳng là do nhân duyên sanh ra.

          Không chỉ là như thế! Đă có một duyên pháp thí, sẽ lại phát sanh đủ loại quả. Quả lại trở thành nhân, nhân lại trở thành quả. Quả nhân, nhân quả, từ đó trở đi, ngàn sai vạn khác, vĩnh viễn vô tận! Có thể thấy đủ loại sự tướng thế gian và xuất thế gian được gọi là “các pháp”, vốn chẳng phải là vật chi khác, chỉ là nhân quả, quả nhân bất đoạn, hiển hiện, biến huyễn trong tâm mục của chúng sanh đó thôi! Chúng sanh chẳng biết quán sâu xa nghĩa thú ấy, do vậy bị mê bởi tướng đó, bèn đặt tên là “pháp này, pháp nọ”, nào có biết: Hễ nói tới cái nhân này th́ nó chính là cái quả của cái nhân trước đó. Gọi là quả, thật ra là cái nhân của cái quả sau đó! Cái được gọi là “nhân pháp” hay “quả pháp”, bản thân nó chẳng phải là một thứ cố định. Đă chẳng phải là cố định, tức là chẳng phải thật sự tồn tại! Há có phải chỉ tồn tại trong một sát-na, đều thành dấu tích của pháp trần đó thôi! Vậy mà cứ khổ sở phân biệt, khăng khăng chấp trước pháp chi đó nhất định là một pháp chi đó, há chẳng phải là si dại ư? Không chỉ cho rằng sự tướng là thật sự có, si mê mất rồi! Nếu ngỡ sự tướng thật sự chẳng có, cũng có bao giờ chẳng phải là mê! V́ sao vậy? Hết thảy các pháp bất quá là nhân nhân, quả quả, lần lượt diễn biến, huyễn hoặc tâm mục của con người, chẳng thể ngưng trụ trong một sát-na nào. Thế mà cứ chấp là thật sự có, tự sanh ràng buộc, chẳng được tự tại. Đấy là si hết mức, cố nhiên chẳng cần phải nói nữa! Nhưng pháp tuy chẳng thật, từ vô thỉ tới nay, hễ gặp duyên bèn dấy lên. Nhân quả, quả nhân, liên tục trong mỗi sát-na, chưa hề đoạn tuyệt! Cứ một mực chấp Không, chẳng biết tùy thuận lư duyên sanh, nhờ vào nhân duyên thù thắng để chứng quả thù thắng, đến nỗi chẳng thể chứng tánh vốn chẳng phải duyên sanh, vượt ngoài hết thảy các pháp duyên sanh để tự tháo gỡ nỗi khổ trói buộc, đạt được niềm vui tự tại, lại chẳng thể lợi dụng sự lư duyên sanh ḥng tùy cơ cảm duyên, chỉ bày đủ loại pháp để dẹp khổ cho chúng sanh, ban vui cho chúng sanh. Kẻ chẳng thể siêu xuất, ắt phải đọa lạc! V́ sao vậy? Do ác thủ không! (Do chẳng chấp là thật sự có, mà cũng chẳng tin tưởng nhân quả, bèn gọi là Ác Thủ Không, ư nói kẻ ấy ắt sẽ tạo ác). Dẫu chẳng phải là Ác Thủ Không, nhưng kẻ lệch về Không, tuy có thể vượt ngoài duyên sanh, nhưng chẳng thể lợi dụng duyên sanh, bèn ch́m đắm trong Không Tịch, trở thành kẻ chỉ lo giải thoát cho riêng ḿnh! (Loại người này chỉ có thể tu cái nhân nhỏ nhoi, chứng tiểu quả, chẳng biết nhờ vào nhân duyên thù thắng để chứng cái quả thù thắng. V́ thế, tuy có thể siêu thoát, tự chứng tánh vốn sẵn có, nhưng chẳng thể lợi dụng tùy duyên để độ chúng sanh, như hàng Nhị Thừa chẳng hạn). V́ thế, đức Thế Tôn quở trách là “tiêu nha, bại chủng, đọa vô vi khanh (焦芽敗種墮無為坑, mầm cháy, hạt lép, đọa vào hầm vô vi!) Hai loại bệnh chấp Không này, tuy khổ lạc bất đồng, dẫu thăng trầm khác biệt vời vợi, nhưng đều là vô trí huệ như nhau!

          Đức Phật nói khoa này, dụng ư là khiến cho mọi người hiểu rơ sự lư duyên sanh để tránh khỏi căn bệnh chấp Không, khiến cho người phát Bồ Đề tâm tu Bồ Tát hạnh sẽ thông đạt pháp duyên sanh “Không tức Giả, Giả tức Không” để rộng hành bố thí, khiến cho ḿnh lẫn người đều thuận theo lư này, Không lẫn Hữu đều chẳng chấp. Đă vượt ngoài vạn tượng, lại ḥa ḿnh trong trần hoàn, liền thành bậc Bồ Tát bi trí trọn đủ. V́ sao vậy? Chẳng chấp Hữu, tức là nhân ngă không. Chẳng chấp Không, tức là pháp ngă không. Ngă lẫn pháp đều không, đó là thấu triệt chánh trí Bát Nhă Tam Không, liền chứng lư thể Bát Nhă “Không Hữu đồng thời”. Thành Phật c̣n chẳng khó, há chỉ thành Bồ Tát mà thôi ư? V́ thế nói: “Nếu Bồ Tát thông đạt chẳng có ngă và pháp, Như Lai nói người ấy thật sự gọi là Bồ Tát”.

          Như trên đă nói, có thể biết cả ba phương diện “người bố thí, người nhận bố thí, vật được bố thí” đều là pháp sanh bởi nhân duyên, nên bản thể của chúng đều là Không. Do vậy, gọi là “tam luân thể không”. Sánh ví cả ba phương diện như Luân, v́ Luân (bánh xe) là vật xoay chuyển chẳng ngừng. Hơn nữa, vật khác bị bánh xe cán qua sẽ tan nát, chẳng c̣n. Dùng [chuyện này] để sánh ví nhân quả quả nhân thay nhau diễn biến, chưa từng ngưng nghỉ! Lại c̣n dùng đó để sánh ví tài thí phá tham lam, keo kiệt, vô úy thí phá khổ năo, pháp thí sẽ có thể khai chánh trí, phá tam chướng. Những điều vừa nói trên đây đều là ư chỉ trọng yếu trong khoa này. Nói rơ trước để khi tiến vào kinh văn, [người đọc] sẽ dễ lănh hội hơn!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1. Nói rơ “chẳng có pháp nào để có thể nói”

         

Lại chia làm hai phần:

1) Đúng căn cơ bèn nói.

2) Vốn chẳng thể nói.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.1.Đúng căn cơ bèn nói

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.1.1. Thuyết pháp vô niệm

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Nhữ vật vị Như Lai tác thị niệm, ngă đương hữu sở thuyết pháp, mạc tác thị niệm.

          ()須菩提汝勿謂如來作是念我當有所莫作是念

    (Kinh: Tu Bồ Đề! Ông chớ nói Như Lai nghĩ như thế này “ta sẽ có pháp để nói”, đừng nghĩ như thế).

 

          Mấy khoa tiếp theo đây, lư thú u huyền, sâu thẳm. Lời lẽ sâu xa, ẩn kín, chẳng dễ thấy được! Nh́n trực diện th́ là nói về ư nghĩa Như Lai thuyết pháp, nhưng sâu thẳm bên trong là dạy Bồ Tát hăy nên ĺa niệm như thế nào! Đó gọi là “nói chuyện này mà ư ở nơi kia”. Nay trước hết đối với ư nghĩa trực diện, bèn chia thành nhiều tầng để thuyết minh rồi lại nói ư chỉ trong những lời lẽ ấy.

          Chữ Niệm đầu tiên [trong đoạn chánh kinh trên đây] là nói theo phía Như Lai, nh́n vào kinh văn, sẽ có thể thấy rơ. Chữ Niệm trong “mạc tác thị niệm” (đừng nghĩ như thế này) là nói theo phía trưởng lăo, ư nói: Ông đừng nên nghĩ như thế. Chữ Niệm ấy ứng với chữ Vị (, nói) trong câu kinh văn trước đó. “Vị” là nói năng. “Tác thị ngôn”, [hàm ư] do [người nghe sẽ có thể] nghĩ như thế, bèn răn đừng nghĩ như thế! Nói và nghĩ như thế th́ phạm lỗi ở chỗ nào? Ở trong bốn chữ “tác niệm” (suy nghĩ) và “ngă đương” (ta sẽ). Nói và nghĩ như thế, sẽ là báng Phật! V́ thế, răn đừng nói và nghĩ như thế! Do lẽ nào vậy? Dưới đây từ “hà dĩ cố” trở đi, sẽ nêu rơ nguyên do, sẽ nói cặn kẽ trong đoạn kế tiếp.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.1.2. Giải thích “hễ có niệm th́ là chấp”         

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Nhược nhân ngôn Như Lai hữu sở thuyết pháp, tức vi báng Phật, bất năng giải ngă sở thuyết cố.

          ()何以故若人言如來有所即為謗佛不能解我所

          (Kinh: V́ sao vậy? Nếu có ai nói Như Lai có pháp để nói, tức là báng Phật, v́ chẳng hiểu lời ta nói).

 

          “Hà dĩ cố” là hỏi nguyên cớ v́ sao chớ nên nói, nghĩ như thế! “Hữu sở thuyết pháp” (có pháp để nói), tức là trong tâm có pháp để nói, tức là suy nghĩ ta sẽ [nói pháp như thế này, như thế nọ]. Hễ thốt ra lời ấy, tội lỗi nhiều lắm, ắt đọa Vô Gián. V́ sao vậy? V́ chính là báng Phật! Do vậy, chớ nên nghĩ như thế, nói như thế! V́ sao chính là báng Phật? Tợ hồ kinh văn chưa nói rơ, nhưng thật ra đă ngầm dạy trong hai chữ Như Lai rồi! Viên chứng bản tánh th́ mới gọi là Như Lai. Trong tánh không tịch, sao có niệm cho được? Há lại có ta ư? Hễ nghĩ “ta sẽ như thế này, như thế nọ”, dĩ nhiên chỉ là phàm phu vọng tưởng chưa lặng, ngă chấp chưa rỗng không. Vậy mà nói Như Lai như thế, tức là coi Như Lai giống hệt như phàm phu, chẳng phải báng bổ là ǵ? Hăy nên biết: Thuyết pháp là Báo Phật hay Hóa Phật, trọn chẳng phải là Pháp Thân Như Lai. Nhưng ắt phải chứng đắc Pháp Thân th́ mới thành Báo Thân và Hóa Thân được. V́ Báo Thân, Hóa Thân và Pháp Thân tuy chẳng một, mà chẳng khác! Do đó, Pháp Thân vô niệm, vô thuyết, Báo Thân và Hóa Thân tuy có nói, nhưng vô niệm. Kinh văn đặc biệt nêu ra Như Lai để nói, với dụng ư hiển thị điều này, nhằm dạy “chớ nên có ư niệm nghi Phật có thuyết pháp hay không?” Hễ có mối nghi ấy, chẳng khác nào nghi Phật tánh chẳng không tịch, chưa chứng Pháp Thân, cũng tức là chẳng khác nói “Ngài trọn chưa thành Phật”. V́ thế, nói “tức vi báng Phật” (chính là báng Phật).

          Hơn nữa, Phật thuyết pháp, không ǵ chẳng đối ứng căn cơ. Cơ () là cơ duyên. Nói “đối cơ” chính là nói rơ thuyết pháp cũng là duyên sanh. Thể của duyên sanh là Không; do vậy, pháp vốn vô pháp! Như Lai đă chứng Thể không, cho nên nói chính là chẳng nói, có thể bảo là có thuyết pháp ư? V́ sao đức Phật có thể chẳng khởi niệm mà tùy duyên thuyết pháp? Chính là như trong phần trước đă nói “khi tu nhân được sức bi nguyện huân tập”. Lư này đă được giải thích cặn kẽ nhất trong kinh Kim Quang Minh bản mười quyển[4], chớ nên không biết! Nay tôi trích dẫn để nói. Kinh ấy dạy: “Phật vô thị niệm, ngă kim diễn thuyết thập nhị phần giáo, lợi ích hữu t́nh” (Đức Phật chẳng nghĩ thế này: Ta nay sẽ diễn nói mười hai phần giáo để lợi ích hữu t́nh). Mười hai phần giáo là nói Tam Tạng, nếu tách ra tỉ mỉ th́ sẽ gồm mười hai bộ phận. Đó là nói đức Phật nói Tam Tạng Kinh, Luật, Luận ḥng lợi ích chúng sanh, trọn chẳng khởi niệm “ta sẽ làm như thế”. Kinh lại dạy: “Nhiên do văng tích từ thiện căn lực, ư bỉ hữu t́nh, tùy kỳ căn tánh, ư nhạo, thắng giải, bất khởi phân biệt, nhậm vận tế độ, thị giáo lợi hỷ tận vị lai tế, vô hữu cùng tận” (nhưng do sức thiện căn bởi ḷng Từ, đối với các hữu t́nh đó, thuận theo căn tánh, ư thích, thắng giải của họ mà chẳng khởi phân biệt, tùy ư tế độ, chỉ dạy khiến cho họ lợi ích, hoan hỷ tột cùng ngằn mé vị lai, chẳng có cùng tận). Đấy là nói: Tuy Ngài chẳng dấy niệm “ta sẽ thuyết pháp độ chúng sanh”, nhưng Ngài có thể thuận theo căn tánh, ư thích, kiến giải của các chúng sanh ấy mà nói. Tuy khéo ứng hợp cơ duyên như thế đến tột cùng ngằn mé vị lai, khai thị giáo hóa, lợi ích hết thảy, khiến cho họ đều hoan hỷ, thuyết pháp vô tận, nhưng vẫn trọn chẳng có ư niệm phân biệt cơ duyên. Đấy là chẳng dấy phân biệt mà tự nhiên khế hợp độ sanh; điều đó gọi là “nhậm vận” (任運, tùy ư). V́ sao Ngài có thể làm như vậy? V́ xưa kia, trong khi tu nhân, bi nguyện trọn đủ, quán sâu xa duyên sanh, huân tập thành sức chủng tử (thiện căn) khiến thành ra như vậy! Nhưng khi Ngài tu nhân, vừa quán duyên sanh giả hữu, vừa lại quán Chân Không vốn sẵn có (trong phần khai thị về Chánh Tri trong kinh này, trước hết nói “tâm hạnh chẳng thể được”, tức là dạy quán Chân Không. Kế đó nói “các pháp duyên sanh” là dạy quán Giả Hữu). Nếu chẳng chứng đắc tánh Chân Không, dẫu trọn đủ bi nguyện và quán sâu xa duyên sanh, vẫn chẳng thể tùy duyên hiện khởi. Do đó, kinh [Kim Quang Minh] lại c̣n dạy: “Y pháp Như Như, y Như Như trí, năng ư tự tha lợi ích chi sự, nhi đắc tự tại thành tựu. Y pháp Như Như, y Như Như trí, nhi thuyết chủng chủng Phật pháp, năi chí Thanh Văn pháp” (Nương theo pháp Như Như, nương vào trí Như Như, có thể đối với chuyện lợi ích ta và người mà được thành tựu tự tại. Nương theo pháp Như Như, nương vào trí Như Như, nói đủ loại Phật pháp, cho tới pháp Thanh Văn). Đó là nói sau khi đă chứng tánh, nhị trí (Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí) thành tựu. Nương vào hai trí ấy, hết thảy chuyện lợi ích ta lẫn người đều được tự tại thành tựu, không chỉ là tự tại nói đủ loại pháp mà thôi! Chẳng cần dấy niệm phân biệt mà tự nhiên thành; đó là tự tại. “Pháp như như”: Pháp là pháp tánh, Như là Chân Như, chữ Như kế tiếp hàm nghĩa “như một”. Đó là nói giống như một với pháp tánh Chân Như. Đấy là tên gọi khác của Căn Bản Trí. “Như Như trí”: Chữ Như thứ nhất là “nhất như” (hệt như nhau), chữ Như kế đó là Chân Như. Trí là Căn Bản Trí. Đó là nói Chân Như và Căn Bản Trí giống hệt như nhau, tức là tên gọi khác của Hậu Đắc Trí.

          Căn Bản Trí tức là tánh thể (bản thể của tánh), Hậu Đắc Trí chính là tánh dụng (tác dụng của tánh). Đắc Thể rồi sẽ khởi Dụng. V́ thế, các kinh khác dịch [trí này] thành Hậu Đắc Trí. Đối với “hậu đắc” (後得, đạt được sau khi đă đắc Thể) mà gọi là căn bản, cho nên cũng gọi là Trí; thật ra, chỉ là tánh thể. Do vậy, kinh ấy (kinh Kim Quang Minh) dịch là Pháp Như Như, chẳng nói là Trí. Mỗi đằng đều có ư nghĩa riêng, đều chấp nhận được! Bởi lẽ, Căn Bản Trí là nói nó chiếu Chân, Hậu Đắc Trí là nói nó chiếu Tục. Chiếu Chân thật ra là tánh quang duy nhất không tịch, chẳng nói là trí th́ cũng được. Chiếu Tục th́ soi xét sự tướng muôn ngàn sai khác, cố nhiên phải nên gọi là Trí. Nhưng tuy nói là “soi xét sai khác”, trọn chẳng phải là dấy niệm phân biệt. V́ thế gọi là Như Như Trí. Kinh [Kim Quang Minh] lại dùng thí dụ để hiển thị lư ấy như sau: “Thí như vô lượng vô biên thủy kính, y ư quang cố, không ảnh đắc hiện chủng chủng dị tướng, không giả tức thị vô tướng” (Ví như vô lượng vô biên nước và gương, do nương vào ánh sáng, mà nơi trống không ảnh hiện đủ loại tướng khác nhau, Không tức là vô tướng). Nước và gương đều sánh ví tánh, nước ví như thanh tịnh, gương sánh ví sự viên măn. “Vô lượng vô biên” ví như tánh trọn khắp hư không và pháp giới. “Quang minh” là sánh ví hai trí (Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí), Trí có nghĩa là quang minh. Không là sánh ví tánh thể không tịch. Ảnh (h́nh bóng) ví như vọng niệm. “Dị tướng” (các h́nh tướng khác nhau) sánh ví sự tướng sai biệt. “Vô tướng” là sánh ví vô niệm. Câu “không giả tức thị vô tướng” nói rơ ư nghĩa “không ảnh” (h́nh bóng trong hư không), c̣n nói rơ: Tuy hiện đủ loại tướng, nhưng trong ấy vẫn là vô tướng; do vậy bảo là Không! Nói chung, gương và nước do chẳng có trần cấu mà tỏa ánh sáng. Nương vào ánh sáng ấy, cho nên có thể từ trong cái Không chẳng có trần cấu mà hiện đủ loại tướng. Phật tánh cũng thế, vô niệm, không tịch, nên trí quang trọn khắp. Nương vào trí quang ấy, cho nên trong không tịch vô niệm mà có thể tự tại thành tựu đủ loại sự! Có thể thấy tự tại thành tựu chính là do vô niệm không tịch mà hiện ra trí quang.

          Nay nói Như Lai nghĩ “ta sẽ thuyết pháp”, liền [coi Ngài] giống như phàm phu, há có phải là Như Lai ư? Đă chẳng không tịch, há lại có thể thuyết pháp tự tại, ư? Đó chính là dùng cái Thấy luân hồi để ḍ lường biển viên giác, chẳng có lẽ ấy! Hăy nên biết: Thuyết pháp như tiếng vọng từ trong hang, hễ có cảm bèn ứng, trọn chẳng dụng tâm! Lại như dùi và trống tương ứng, dùi đập mạnh th́ trống kêu to, gơ nhẹ th́ trống kêu bé, tương ứng thích đáng, tự nhiên là như vậy! Đức Phật thuyết pháp là như thế đó. Đó là lư do v́ sao chớ nên nói, nghĩ như thế. Nhưng v́ sao lại nói, nghĩ như thế? Đức Phật truy ra nguyên cớ như sau: Chẳng có chi khác, do chẳng hiểu lời ta nói đó thôi!

          Chắc có người nói: Trước đó, đức Thế Tôn từng dùng “Như Lai có thuyết pháp hay không” để hỏi, trưởng lăo đă đáp rơ rằng “Như Lai chẳng nói”, v́ sao ở đây lại răn dạy, uốn nắn trưởng lăo chớ nên nói, nghĩ Như Lai có thuyết pháp? Lại c̣n bảo là “chẳng hiểu lời ta nói”, chẳng biết Phật nói “chẳng hiểu” là thật sự nói điều ǵ? Hăy nên biết: Trưởng lăo là bậc đương cơ. [Đức Phật] đối trước trưởng lăo nói, dụng ư nhằm uốn nắn, răn nhắc đại chúng. Hăy xem trước hết [đức Phật nói] “nhữ vật vị” (ông chớ nói), kế đó bảo “nhược nhân ngôn” (nếu có người nói), có bao giờ chỉ đích xác trưởng lăo ư? Nói “chẳng hiểu”, là xét theo kinh này để nói, nhằm ngăn ngừa [có kẻ] nghe các câu nói “vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết” (Như Lai chẳng có pháp nhất định để nói), và [nghe] nói “Bồ Tát vị lợi ích nhất thiết chúng sanh, ưng như thị bố thí” (Bồ Tát v́ lợi ích hết thảy chúng sanh, hăy nên bố thí như thế) trong những phần trước đó mà chưa thể viên giải, ắt sẽ hiểu sai lời nói “Như Lai vô sở thuyết” (Như Lai chẳng nói ǵ), lại c̣n đối với các lời khác, ắt cũng chẳng thể hiểu dung thông, sẽ [cật vấn] rằng: “Bồ Tát c̣n phải nên hành bố thí để lợi ích chúng sanh, huống hồ là Phật? [Sao lại nói Phật chẳng thuyết pháp]?” Phật xuất thế, vốn là v́ thuyết pháp, lợi sanh. Hơn nữa, nay ngay như đang lúc hăm hở nói Kim Cang Bát Nhă, bèn nói “Như Lai vô sở thuyết” ngụ ư: Nói xong bèn thôi, chẳng lưu lại mảy may dấu tích. Trong phần trước, chẳng nói rồi đó sao? Chẳng có pháp nhất định để Như Lai có thể nói! Có thể biết: Chỉ là không có pháp nhất định để có thể nói, há có phải là không nói ǵ hết ư? Nói xong, chẳng có ǵ để nói nữa! Chính ngay khi đang nói, há có thể là chẳng có ǵ để nói ư? Tuy có pháp để nói, tuy chẳng phải là vô niệm, nhưng các niệm khác đều có thể ĺa. Nếu ĺa ư niệm thuyết pháp, dùng ǵ để độ chúng sanh? Chẳng độ chúng sanh, sao có thể c̣n gọi là Phật được nữa? Ở đây, sở dĩ công khai nói Như Lai nghĩ thế này ‘ta sẽ có thuyết pháp’, do chẳng biết đấy là báng Phật. Kiến giải của phàm phu thường là như thế! Trọn chẳng biết [thấy, nghĩ như vậy] hoàn toàn tương phản Phật pháp. Do vậy, có thể thấy: Giải có tầm quan hệ to lớn. Do chẳng hiểu, nên tà tri, tà kiến; do ư niệm hoài nghi mà tự lầm lạc. Lại nữa, nói như vậy chính là phá hoại tín tâm người khác. Do lầm pháp, lầm người, cho nên báng Phật, tội tới mức đọa Vô Gián. V́ sao biết là do chẳng hiểu ở chỗ này? Xem những điều được nói trong đoạn kinh văn kế tiếp, chính là thống thiết đâm một nhát kim vào chỗ chẳng hiểu, khiến cho kẻ đó khai giải. V́ thế, biết như vậy!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.1.2. Vốn chẳng thể nói

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Thuyết pháp giả vô pháp khả thuyết, thị danh thuyết pháp.

          ()須菩提說法者無法可說是名

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Thuyết pháp là không có pháp để có thể nói, th́ gọi là thuyết pháp).

 

          “Vô pháp khả thuyết” (chẳng có pháp nào để có thể nói) ngụ ư: Vốn chẳng thể nói. V́ sao vốn chẳng thể nói? Do vốn chẳng có pháp, lấy đâu ra có thể nói? V́ thế bảo là “vô pháp khả thuyết”. V́ sao vậy? Do hết thảy các pháp, không ǵ chẳng là duyên sanh. Phần trước đă nói “vô hữu định pháp Như Lai khả thuyết” (chẳng có pháp cố định để Như Lai có thể nói), chính là nói rơ “vốn chẳng có pháp”, chỉ do duyên hội tụ, giả hiện huyễn tướng. V́ thế, chẳng có nhất định. Vậy th́ chẳng biết hướng theo duyên sanh để liễu giải triệt để, cứ nẩy sanh đủ thứ hiểu biết sai lạc, lầm mất rồi!

          Pháp là duyên sanh, “thuyết” cũng là duyên sanh, người thuyết pháp cũng là duyên sanh. Đă nói là “duyên sanh”, chẳng phải là không có pháp, chẳng phải là không nói, chẳng phải là không thuyết pháp; nhưng duyên sanh vô tánh, bản thể của nó là Không. V́ thế, tuy nghiễm nhiên có thuyết pháp, nhưng đang lúc hừng hực nói, hiển nhiên là lúc đang có pháp, nhưng lại trọn chẳng thể được! Điều này được gọi là “không có ǵ để nói”, điều ấy được diễn tả là “nói chính là chẳng nói”. Nếu cho rằng có cái để nói, tức chẳng biết đấy là duyên sanh, cứ chấp là thật. Hiểu nghĩa duyên sanh, sẽ biết pháp vốn chẳng có pháp, cho nên “nói chính là chẳng nói”. Ngay cả người thuyết pháp cũng là Không mà chính là Giả, tuy Giả mà chính là Không, quyết chẳng đến nỗi hư vọng nghĩ, nói như thế, mắc tội giống như báng Phật! Sở dĩ phàm phu hư vọng nói, nghĩ như thế, sai lầm căn bản không ǵ chẳng do cứ ngỡ đă có người thuyết pháp, ắt có pháp để nói. Nếu chẳng có pháp được nói, sẽ chẳng có người thuyết pháp!” Như Lai ứng thế, vốn v́ thuyết pháp độ chúng sanh, chẳng phải rơ ràng là có người thuyết pháp ư? V́ thế, [phàm phu] hư vọng cho rằng có pháp để nói! Đấy toàn là do chẳng hiểu nghĩa Tam Thân, tưởng lầm Pháp Thân thuyết pháp vậy (Pháp Thân chẳng nói, Báo Thân và Hóa Thân mới có nói). Lại c̣n cho rằng: “Đă là thuyết pháp, ắt có ư niệm thuyết pháp. Nếu chẳng có ư niệm thuyết pháp, dùng ǵ để thuyết pháp?” Do đó, hư vọng nói rằng: “Như Lai tác thị niệm, ngă đương hữu sở thuyết pháp” (Như Lai nghĩ thế này: Ta sẽ có pháp để nói). Lại c̣n do hoàn toàn chẳng hiểu nghĩa “do vô niệm không tịch th́ mới có thể thuyết pháp”. Do vậy, trong kinh văn không chỉ nói “vô pháp khả thuyết” (chẳng có pháp nào để có thể nói), mà c̣n nói “thuyết pháp giả vô pháp khả thuyết” (thuyết pháp không có pháp để có thể nói). Gộp hai câu lại để nói, chính là v́ phá trừ phàm t́nh! V́ sao vậy? Thuyết pháp đă là chẳng có pháp nào để có thể nói, vậy th́ chẳng thể chấp là “có thuyết pháp” đă rơ lắm rồi! Đă là chẳng có pháp nào để có thể nói, há có ư niệm thuyết pháp ư? Nhưng rơ ràng là có người thuyết pháp, rơ ràng là có pháp để nói, đấy là như thế nào vậy? Trọn chẳng biết đó là “thị danh thuyết pháp” (gọi là thuyết pháp)! “Danh” là giả danh. Hăy nên biết: Do là giả danh thuyết pháp, cho nên tuy gọi là “thuyết pháp”, mà chẳng ngại không có pháp nào để có thể nói. Tuy chẳng có pháp để có thể nói, chẳng ngại gọi là thuyết pháp. Lại c̣n hăy nên biết: Do là giả danh thuyết pháp, cho nên không có pháp nào để có thể nói. Chính v́ không có pháp để có thể nói, bèn có giả danh thuyết pháp và người thuyết pháp (Do rỗng không vô niệm, bèn thành hai trí, có thể thuyết đủ thứ Phật pháp, như kinh Kim Quang Minh đă dẫn trong phần trước [đă nói]). Nếu hiểu nghĩa này, sẽ chẳng dấy nghi niệm, thốt lời hư vọng nữa, mà cái tội báng Phật cũng có thể tránh khỏi! Phần trước đă nói: Đối với các câu “thị danh” trong kinh này, hăy đều hiểu là giả danh, chớ nên coi đó là thật. Xem câu “thị danh vi tâm” (th́ gọi là tâm) trên đây, sẽ có thể hiểu rành rẽ! Câu “thị danh thuyết pháp” (th́ gọi là thuyết pháp) ở đây càng đủ để chứng minh [điều ấy]. Bởi lẽ, nếu cho là thật rồi nói “đấy gọi là thuyết pháp”, tức là sẽ có pháp để nói. Một câu là như thế, các câu khác đều là như vậy, trọn chẳng thể cho là thật rồi nói quyết đoán được!

          Trên đây đă nói xong ư nghĩa theo phía trực diện. Hăy nên biết: Một khoa lớn “khai Phật tri kiến” này đều nhằm khơi gợi sự giác ngộ, khiến cho [hành nhân] thông đạt lư này, trừ ngă kiến. V́ vậy, câu nói “mạc tác thị niệm” (đừng nghĩ như thế) ở đây nhằm uốn nắn, răn dè Bồ Tát chớ nên khởi niệm: Đừng nói Như Lai dấy lên ư niệm “ta sẽ làm điều này, điều nọ”. Đó là nói rơ: C̣n chớ nên có ư niệm [Như Lai có] thuyết pháp, huống hồ các chuyện khác ư! Lại c̣n dạy quán chiếu tánh Chân Như vốn chẳng có niệm, lại c̣n quán chiếu nghĩa Như của các pháp, Không Hữu viên dung! Nói “tức vi báng Phật, bất giải sở thuyết” (chính là báng Phật, chẳng hiểu điều ta nói) nhằm nói rơ: Nếu bỗng dấy niệm, liền trái nghịch ư chỉ của Phật. Nếu nói “Phật có pháp để nói”, há chẳng phải tánh phi pháp vẫn chưa tịnh ư? Nói chung, chưa hiểu nghĩa “chẳng một, chẳng khác”. Dẫu nghe Phật pháp, ắt khó lănh ngộ, thấu hiểu, ắt sẽ chấp Hữu nghi Không, hoặc chấp Không ngờ Hữu! Lầm pháp, lầm người, tạo tội mà chẳng biết! V́ thế, chuyện quan trọng hàng đầu trong học Phật chính là “kiến viên, tri chánh”. Đó gọi là “khai giải” vậy. Do vậy, lại khai thị ư nghĩa “thuyết pháp là không có pháp nào để có thể nói, th́ gọi là thuyết pháp”, khiến cho [người nghe] lănh hội, thông đạt. Nếu biết pháp do đức Phật đă nói, pháp vốn chẳng có pháp, sẽ biết hết thảy các pháp, chẳng pháp nào không phải như thế!

          Đă biết pháp, cùng với ngôn thuyết, và người thuyết pháp đều là duyên sanh, Không chính là Giả, Giả chính là Không, hữu danh vô thật, sẽ biết hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian, hết thảy ngôn thuyết, hết thảy người học pháp, không ǵ chẳng đều là như thế! Đă là người thuyết pháp không có pháp nào để nói, vậy th́ người học pháp đương nhiên cũng chẳng có pháp nào để có thể chấp. Đă là chẳng có ư niệm thuyết pháp, th́ người học pháp hăy nên quán chiếu Thể của các pháp duyên sanh là Không, hội quy nhất như. Quán lực sâu dần, phân biệt, chấp trước sẽ mỏng dần, ngă kiến sẽ trừ dần, niệm cũng ĺa dần! Nói “thông đạt vô ngă pháp” là như thế đó! Bồ Tát hăy nên biết như thế. Đó là nói rơ chỉ thú “chẳng có pháp để có thể nói” vậy.

          Tiếp đó, bước vào ư nghĩa thuộc khoa kế tiếp: “Nói rơ người nghe tánh Không”. Kinh văn trong khoa này vốn chẳng có trong bản dịch của La Thập đại sư, mà là do người đời sau, căn cứ theo bản dịch đời Ngụy (tức bản dịch của ngài Bồ Đề Lưu Chi đời Nguyên Ngụy) mà thêm vào. Người thêm vào sớm nhất là ngài Khuy Cơ đời Đường, nhưng mọi người chưa tuân theo. Nhưng một người đề xướng, mọi người hùa theo, liền trở thành văn bản cố định kể từ khi pháp sư Đạo Ngung thời Nam Đường[5] khắc đá khởi xướng. Hoặc có thuyết cho rằng: Năm Trường Khánh thứ hai (822) đời Đường Mục Tông (Lư Hằng), [các tự viện hoặc người chép hay in kinh] đă vâng theo sắc chỉ thêm vào. Nói như vậy không đúng! Bản chép tay kinh này của ông Liễu Công Quyền chép vào năm Trường Khánh thứ tư (824). Ông Liễu là bầy tôi nhà Đường, hai năm trước vua đă hạ chiếu thêm vào, sao trong sách của ông Liễu chẳng có? Sách San Định Kư của ngài Trường Thủy đời Tống có nói: “Nay thấy các bản gần đây có đoạn này”. Lời ấy đủ chứng tỏ đến thời Nam Đường mới thêm vào. Đầu thời Tống cách Nam Đường khá gần, cho nên Ngài mới nói là “bản gần đây”. ‘Thêm vào’ là do ư nghĩa nào? V́ trong luận của ngài Vô Trước và bài tụng của ngài Di Lặc đều có nghĩa này. Nhưng bảo bản dịch đời Tần (bản dịch của ngài La Thập) bỏ sót ư nghĩa “tam luân thể Không” th́ dường như chưa đúng lắm! Bởi trước đó, đă có phần kinh văn nói Bồ Tát v́ lợi ích hết thảy chúng sanh mà hăy nên bố thí như thế, “Như Lai thuyết nhất thiết chư tướng, tức thị phi tướng” (Như Lai nói hết thảy các tướng chính là chẳng phải tướng). Lại nói “nhất thiết chúng sanh tắc phi chúng sanh” (hết thảy chúng sanh tức chẳng phải chúng sanh). Có lẽ bản dịch đời Tần cho rằng “các tướng chẳng phải là tướng” đă thâu nhiếp tướng năng thí (người bố thí) và sở thí (người được bố thí), gộp chung với “chúng sanh chẳng phải chúng sanh” đủ để tỏ rơ “tam luân thể Không” rồi! V́ vậy, chỗ này lược bớt một đoạn chúng sanh, riêng hiển thị nghĩa “Năng và Sở cùng mất”. Bởi lẽ, trong phần trước đă nói “thuyết pháp là không có pháp nào để có thể nói”, nhằm nói rơ người có thể thuyết pháp là không, sau đó nói “chẳng có pháp nào để có thể được” là nói rơ “pháp được nói cũng là không”. Công phu tu tập đạt tới chỗ tột bậc, ắt phải nên Năng lẫn Sở đều là Không, th́ mới có thể tánh quang riêng chiếu, vượt thoát căn trần! Nghĩa này được Tâm Kinh diễn tả là “vô trí, diệc vô đắc” (chẳng có trí mà cũng chẳng có đắc). Bản dịch đời Tần cố ư bỏ bớt, nhằm hiển thị công hạnh tấn tu đạt tới cùng cực, quyết chẳng phải là sai sót. Bản dịch đời Tần không chữ nào cẩu thả, sao lại riêng bỏ sót nghĩa này? Tuy nhiên, có một khoa này, ư nghĩa càng thêm viên măn. Bản dịch đời Tần lược đi, chẳng tránh khỏi “ngàn điều kín kẽ, sơ sểnh một điều”. V́ thế, khi giảo chánh lần này, hết thảy tôi đều tuân theo bản chép tay của người đời Đường, chỉ riêng khoa này là vâng theo bản khắc đá của ngài Đạo Ngung, là do ư nghĩa này. Nay tôi sẽ nói tường tận nguyên cớ phải nên thêm vào!

          Đầu đời Thanh, pháp sư Đạt Thiên soạn Tân Nhăn Sớ, chia kinh văn thành bốn khoa lớn là Tín, Giải, Hành, Chứng, rơ ràng là do kinh văn có ư nghĩa này. Như trong khoa Sanh Tín, trưởng lăo trịnh trọng thưa hỏi “phả hữu chúng sanh sanh thật tín phủ? (há có chúng sanh sanh ḷng tin chân thật hay không?) Đức Phật cũng trịnh trọng đáp rằng “hữu tŕ giới, tu phước giả, năng sanh tín tâm” (có người tŕ giới, tu phước, sẽ có thể sanh tín tâm). Cuối khoa ấy, lại kết lại rằng: “Phật và pháp Vô Thượng Bồ Đề đều từ kinh này mà ra”. Nói “từ kinh này mà ra” nhằm chỉ dạy người học phải nên từ kinh này mà nhập! Tín là cửa ngơ để nhập đạo; do vậy, cuối khoa này chính là nhằm hiển thị ư kết lại này.

          Khoa Khai Giải rộng bàn về quả hạnh để giảng rơ cái tâm trong khi tu nhân. Trưởng lăo tự trần thuật [chính ḿnh] hiểu sâu xa nghĩa thú, chính là để dạy mọi người hăy nên hiểu sâu xa giống như thế. Đức Phật lại tường tận ấn chứng, xiển dương, kết lại rằng: “Đương tri kinh nghĩa, quả báo giai bất khả tư nghị” (Hăy nên biết ư nghĩa của kinh và quả báo đều chẳng thể nghĩ bàn). “Hăy nên biết” chính là “hăy nên hiểu”. Do vậy, kết lại ư nghĩa “thấu hiểu sâu xa”.

          Tới khoa Tấn Tu này, trước hết là nói rơ “chẳng có pháp để phát tâm. Kế đó, dạy [hành nhân] khai Phật tri kiến, mà Phật kiến chính là chẳng chấp một, hay chấp khác. Phật tri chính là tam tế tâm (tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai) đều chẳng thể được; hết thảy các pháp vốn vô sanh. Tới phần kết luận, lại nói rơ: “Do vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu hết thảy các thiện pháp, liền đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Lại c̣n nói: “Thiện pháp tức chẳng phải thiện pháp”. Đấy là chỉ dạy người học hăy nên thông đạt nội tâm lẫn ngoại cảnh, Có chính là Không, Không chính là Có, chẳng chấp một hay khác, vô ngă, vô pháp, dùng đó làm công phu tu tập duy nhất, ư nghĩa càng rơ rệt. Bởi lẽ, ắt phải tu cái nhân vô ngă, vô pháp, th́ mới chứng cái quả pháp giới b́nh đẳng.

          V́ thế, trong khoa lớn thứ tư này, nói rơ: Từ trong hết thảy các pháp vô ngă mà được thành tựu Nhẫn. Thành tựu Nhẫn th́ gọi là Chứng. Những điều khác đều nhằm nói lên ư nghĩa “tướng Không của các pháp trong pháp giới b́nh đẳng”, đều là ư nghĩa “thành tựu, chứng đắc” vậy. Tín, Giải, Hành, Chứng, ư nghĩa của kinh văn được hiện thành minh bạch, rành rẽ, riêng Tân Nhăn Sớ thấy được điểm này. Các vị chú giải khác trước nay chưa hề có [cách nh́n ấy]. Bản sớ giải ấy có tên là Tân Nhăn Sớ, quả thật chẳng hư dối! V́ vậy, trong khoa kế tiếp, tôi vâng theo cách phán định ấy, chỉ đặt thêm các tiêu đề “ước tâm minh vô trụ” (dựa theo tâm để giảng về vô trụ) và “ước cảnh minh vô trụ” (dựa theo cảnh để giảng vô trụ) thành hai khoa tổng mục, ḥng khái quát cương lănh, ngơ hầu người đọc nh́n vào sẽ thấy ngay: Hai nửa bộ trước và sau giảng giải ư nghĩa khác nhau!

          Hăy nên biết: Kinh Hoa Nghiêm dùng Tín, Giải, Hành, Chứng để chỉ bày thứ tự nhập đạo viên dung vô ngại. Kinh ấy được nói khi đức Phật mới thành đạo, gia bị chư đại Bồ Tát, và cùng nói cảnh giới tự chứng của Như Lai. Cảnh giới ấy chính là “các pháp nhất như, hết thảy đều là” (nhưng Ngài chẳng tự nói, hiển thị “Pháp Thân vô thuyết”). Kinh Kim Cang Bát Nhă nhằm chẳng đoạn Phật chủng mà nói. Do vậy, cũng dựa theo thứ tự nhập đạo của kinh Hoa Nghiêm là Tín, Giải, Hành, Chứng, khiến cho người nghe cũng nương theo thứ tự viên dung ấy mà nhập đạo, ngơ hầu y bát truyền thừa, đèn nối đèn vô tận! Tân Nhăn Sớ nêu ra nhăn mục ấy, do vậy là hay khéo. Cố nhiên Tín, Giải, Hành, Chứng là bậc thềm để nhập đạo, nhưng chữ Tín càng trọng yếu, thành tựu từ đầu đến cuối chỉ do tín tâm mà thôi! Há có phải Tín chỉ là cửa ngơ để nhập đạo mà thôi ư? Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tín vi đạo nguyên, công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn” (Tín là nguồn đạo, mẹ công đức, trưởng dưỡng hết thảy các thiện căn). Hết thảy các thiện căn cậy vào đó mà được trưởng dưỡng. V́ thế, chuyện ǵ, pháp ǵ, đều chẳng thể ĺa khỏi chữ Tín. Ngay như kinh này cũng nói rơ ràng rằng “tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng” (tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng). Đủ thấy một chữ Tín quán triệt đến tận cùng. Do vậy, đức Phật đă khai thị tin như thế nào, giải như thế nào, tu như thế nào, chứng như thế nào. Người nghe phải nên vấn đề mỗi khoa mục đều sanh tâm tín ngưỡng, cũng lại tin như thế, cũng lại hiểu như thế, cũng lại tu như thế, cũng nên chứng như thế. Nếu không, sẽ như đếm của báu nơi nhà người, chính ḿnh chẳng có nửa đồng!

          Thử xem trong khoa Sanh Tín, [đức Phật] đă nói “tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm, coi đó là thật” để đáp lời hỏi của trưởng lăo. Lại nói “nhất niệm sanh tịnh tín, đắc vô lượng phước đức” (một niệm sanh ḷng tin thanh tịnh, đạt được vô lượng phước đức). Đấy chính là lời nói nhằm cổ vũ người nghe đă có thể sanh ḷng tin, hăy dấy lên tín tâm tŕ giới, tu phước, ngơ hầu có thể sanh ḷng tin chân thật, ḷng tin thanh tịnh. Trong phần kinh văn Khai Giải, sau phần “hiểu sâu xa nghĩa thú”, nói tới Tín càng nhiều. Như nói “tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng, tín giải thọ tŕ đệ nhất hy hữu, tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ, tâm tắc cuồng loạn, hồ nghi bất tín” (tín tâm thanh tịnh bèn sanh ra Thật Tướng, tín giải thọ tŕ hiếm có bậc nhất, tín tâm chẳng trái nghịch, phước ấy hơn phước [bố thí bằng vật báu, thân mạng], [nếu nói trọn đủ phước đức, người nghe] tâm sẽ cuồng loạn, hồ nghi, chẳng tin). Nói lặp đi lặp lại như thế, đều nhằm chỉ rơ tầm trọng yếu của thâm giải, cũng chính là chỉ bày nhằm cảnh tỉnh người học phải nên đối với các nghĩa được nói trong khoa Khai Giải mà sanh khởi tín tâm, cũng như cầu khai tín giải sâu xa như thế. Khai Giải tức là hiểu rơ Lư. Đă hiểu rơ lư rồi, sẽ tin chân thật, tu chân thật, th́ mới có hy vọng chứng nhập! Nếu không, tin mù quáng, tu mờ mịt, uổng phí công phu! Do vậy, khoa này nói tới Tín nhiều nhất.

Trong phần kinh văn thuộc khoa thứ tư là thành tựu, chứng đắc, cũng có nói “ưng như thị tri, như thị kiến, như thị tín giải” (hăy nên biết như thế, thấy như thế, tín giải như thế) để chỉ bày pháp giới b́nh đẳng của Như Lai, vốn chẳng phải là phàm phu mà có thể suy tưởng được, trọn chẳng thể dùng phàm t́nh để suy lường. Chỉ có dốc ḷng tin th́ mới có thể tùy thuận mà nhập được! Nh́n từ đó, trong ba khoa lớn là Tín, Giải, Chứng, đều đặc biệt nêu rơ chữ Tín làm trọng điểm. Khoa Tấn Tu chớ nên riêng thiếu, riêng trong bản dịch đời Tần th́ khoa này chẳng có một chữ Tín. Do vậy, trích dẫn Tín được nói trong khoa này từ bản dịch đời Ngụy (trong bản dịch th́ đời Ngụy trừ khoa này ra, cũng chẳng có chữ Tín nào khác) để bổ sung bản dịch đời Tần, nhằm chỉ điểm, cảnh tỉnh chỗ trọng yếu cho người học, khiến cho họ biết: Phàm là đối với pháp môn tấn tu được khai thị trong khoa này, đều phải nên tin sâu, nương theo đó mà hành. Không chỉ là như vậy, “các tướng chẳng phải là tướng, chúng sanh chẳng phải là chúng sanh” trong kinh văn thuộc đoạn trước tuy đủ để chỉ rơ tam luân Thể không, nhưng trong ấy lại nói kèm “thị danh”, [chính là] đă nêu rơ “chính là Không”, lại tỏ rơ “tức là Giả”, nghĩa càng thêm hoàn bị. V́ thế, dẫu đă có kinh văn trước đó, cũng chẳng ngại trùng lặp. Bởi lẽ, kinh văn trong phần trước chỉ nói “tức phi”, nhằm chỉ rơ “bố thí chớ nên trụ tướng”. Kinh văn trong phần này nói kèm thêm “thị danh”, là v́ chỉ rơ pháp thí và chúng sanh đều là pháp duyên sanh, Không tức là Giả, hăy nên chẳng trụ tướng mà bố thí. Do Giả tức là Không, hăy nên thí mà chẳng trụ tướng. Do đó, chẳng trùng lặp. Hơn nữa, nghĩa “các pháp duyên sanh”, dường như chỉ có hai khoa “phước đức”“quả báo thù thắng”, nhưng chẳng dựa theo bố thí để giải thích ư nghĩa. Đó chỉ là xét theo cái quả để nói, chẳng nói theo nhân, ư nghĩa cũng có đôi chút chưa trọn! Hơn nữa, dựa theo “tam luân thể Không” để giải thích ư nghĩa, bèn bao gồm cả ư nghĩa “Năng lẫn Sở cùng mất” trong ấy. Bởi lẽ, người có thể bố thí và pháp để thí, cố nhiên là Năng, Sở đối đăi, nhưng người thí pháp và chúng sanh nghe pháp, cũng là Năng và Sở đối đăi. Do vậy, nói các nghĩa “tam luân Thể không”“Năng lẫn Sở cùng mất”, chẳng hề trở ngại nhau! Nếu chỉ nói “Năng lẫn Sở cùng mất”, sẽ chẳng thâu nhiếp “tam luân Thể không”. Do vậy, trong khoa này, riêng chẳng thuận theo bản gốc mà thêm vào chính là v́ ư nghĩa này.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2. Nói rơ “người nghe tánh Không”

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.1. Thưa hỏi

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh, ư vị lai thế, văn thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ?

          ()爾時慧命須菩提白佛言世尊頗有眾生於未來世說是生信心不

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Huệ Mạng Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Há có chúng sanh trong đời vị lai, nghe nói pháp này mà sanh tín tâm hay chăng?)

 

“Nhĩ thời” (lúc bấy giờ) là khi nói khoa trước vừa mới xong. Huệ Mạng là cách dịch khác của chữ Trưởng Lăo. Đời Đường th́ dịch là Cụ Thọ (具壽), danh xưng bất đồng, nhưng ư nghĩa như nhau, đều là tiếng xưng hô dành cho bậc tuổi cao, đức trọng. Bản dịch đời Tần thích dùng danh từ vốn có sẵn từ trước, nên dịch là Trưởng Lăo. Bản dịch đời Đường thích chuộng từ ngữ mới tạo ra, nên gọi là Cụ Thọ, nhằm biểu thị ư nghĩa “sanh mạng lẫn huệ mạng, hai đằng đều trọn đủ”. Bản dịch đời Ngụy chỉ nói là Huệ Mạng. Danh từ này dường như chỉ nói một khía cạnh. Nhưng huệ chính là nói tới Pháp Thân, Mạng là kiêm nói về sanh mạng, cũng chẳng phải là không được! “Phả hữu” hàm ư: Sợ rằng chẳng có nhiều! Ư của trưởng lăo cho rằng hiện tại th́ chắc là có, nhưng chúng sanh trong đời vị lai, do cách Phật càng xa, nghiệp sâu, chướng nặng, chưa chắc đă có nhiều. V́ thế nói là “ư vị lai thế” (trong đời vị lai). “Thị pháp” (pháp ấy) là bao hàm chung ư nghĩa “chẳng có pháp để phát tâm” được nói trong phần trên, cho tới nói “vô pháp khả thuyết” (chẳng có pháp để có thể nói). Ư nói: Phát tâm tu hành, ắt phải nương vào pháp. Nay đă nói “chẳng có pháp”, lại nói “thuyết pháp là không có pháp nào để có thể nói”, nhưng nói đủ loại như thế, không ǵ chẳng phải là pháp. Chúng sanh đời Mạt nghe như vậy, sợ rằng sẽ hồ nghi sâu xa. Do vậy, [trưởng lăo] hỏi: “Văn thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ?” (Nghe nói pháp ấy, có thể sanh tín tâm hay không?) Hăy nên biết: Những điều vừa nói trên đều là diệu pháp “chẳng chấp vào pháp” và “tu ṛng vô ngă”. Ư hỏi của trưởng lăo chính là chỉ dạy người học: “Hăy nên tin vào diệu pháp này để tu hạnh vô ngă”.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.2. Trừ khử chấp

 

          (Kinh) Phật ngôn: - Tu Bồ Đề! Bỉ phi chúng sanh, phi bất chúng sanh.

          ()佛言須菩提彼非眾生非不眾生

          (Kinh: Đức Phật nói: - Tu Bồ Đề! Họ chẳng phải là chúng sanh, chẳng phải không là chúng sanh).

 

Chữ Bỉ chỉ chúng sanh nghe pháp. “Phi chúng sanh” là nói theo tánh. “Phi bất chúng sanh” là nói theo tướng. Nghĩa là: Nói họ chẳng phải là chúng sanh ư? Nhưng chẳng phải là không phải chúng sanh! Nói họ chẳng phải là không phải chúng sanh ư? Họ chẳng phải là chúng sanh! Đấy chính là nêu rơ ư nghĩa “Không chính là Giả, Giả chính là Không, hết thảy chúng sanh đều là duyên sanh”.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.2.3. Giải thích nhằm kết lại

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Tu Bồ Đề! Chúng sanh chúng sanh giả, Như Lai thuyết phi chúng sanh, thị danh chúng sanh.

          ()何以故須菩提眾生眾生者如來說非眾是名眾生

          (Kinh: V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! Chúng sanh chúng sanh, Như Lai nói chẳng phải là chúng sanh, th́ gọi là chúng sanh).

 

          Khoa này nhằm giải thích nguyên do nói “họ chẳng phải là chúng sanh, chẳng phải là không phải chúng sanh” trong phần trên. Lặp lại hai chữ Chúng Sanh là do tiếp nối ư “phi chúng sanh, phi bất chúng sanh” được nói trước đó. “Như Lai thuyết là nói theo tánh. “Danh” là danh tướng, ư nói: Vừa mới nói “phi chúng sanh, phi bất chúng sanh” th́ đều là dựa theo tánh để nói. Phật tánh vốn sẵn có, chẳng phải là chúng sanh. Cho nên nói “bỉ phi chúng sanh”. Nhưng chỉ nói theo danh tướng th́ họ là chúng sanh, cho nên nói “bỉ phi bất chúng sanh”. Khoa này gộp chung với khoa trước, lời lẽ tột bậc viên diệu, nghĩa tột bậc sâu thẳm, nay chia thành ba tầng để nói!

          1) Trưởng lăo hỏi chúng sanh nghe pháp như thế, có thể sanh ḷng tin hay không? Nhưng lời đáp chuyên dựa theo phía chúng sanh để nói, đối với tầng Sanh Tín chẳng nhắc tới một chữ nào, há chẳng phải là đáp chẳng đúng câu hỏi ư? Thật ra, chẳng phải vậy! Ư hỏi đă được giải đáp viên măn, bởi chẳng đáp mà đáp. V́ sao nói vậy? Trưởng lăo lo chúng sanh đối với pháp sâu này, chẳng thể sanh ḷng tin, v́ cho rằng chúng sanh là chúng sanh, cho nên chẳng tránh khỏi quan tâm. Nhưng lầm mất rồi! Đấy là chấp tướng, mê muội tánh. Hăy nên biết: Dựa theo tướng để quán, tuy chẳng phải không là chúng sanh, nhưng bất quá là giả danh của duyên sanh. Duyên sanh th́ chẳng phải là tánh. Tánh ấy trên th́ bằng với chư Phật, vốn chẳng phải là chúng sanh! Như vậy th́ do đă trọn đủ Phật tánh, há chẳng thể khai chánh tri của Phật ư? Do vậy, người nghe pháp này, há chẳng thể tin tưởng ư? V́ thế, bằng một lời “phi chúng sanh, phi bất chúng sanh” đă bao gồm cả ư nghĩa “mạc tác thị thuyết” (đừng nói như vậy) trong ấy!

          2) Đức Phật nói khoa này, chẳng khác dạy chúng sanh dùng nghe pháp làm phương tiện để sanh tín. Phương tiện như thế nào? Trước là quán tự thân mà thôi! Hết thảy chúng sanh hăy nên quán các pháp Ngũ Uẩn này chỉ do nhân duyên tụ hội, chẳng phải sanh, hay huyễn sanh, vốn sẵn vô sanh. Nếu biết nghĩa này, tức là đối với ư nghĩa “các pháp duyên sanh Không mà chính là Giả, tuy Giả mà chính là Không, phát tâm tu hành, chẳng có pháp nào có thể chấp” đă nói trên đây, sẽ tự có thể sanh ḷng tin. Hăy nên biết: Người thuyết pháp c̣n chẳng có pháp nào để có thể nói, vậy th́ người phát tâm nương theo pháp tu hành, há có pháp để có thể chấp ư?

          3) Khai thị lợi ích chúng sanh hành bố thí Lục Độ, hăy nên từ ngay nơi tướng mà ĺa tướng. Bởi lẽ, “phi bất chúng sanh” nhằm dạy chúng sanh thấu hiểu chúng sanh do duyên sanh chính là Giả, không ǵ chẳng phải là “thị danh”. Hăy nên chẳng trụ vào đâu mà hành bố thí. Đó là lư do trong phần trước đă nói “đều nên khiến cho tất cả hết thảy các loài chúng sanh diệt độ, nhập Vô Dư Niết Bàn”. Bồ Tát hăy nên phát ḷng đại bi ấy. “Phi chúng sanh” là khiến cho [hành nhân] hiểu chúng sanh duyên sanh chính là Không, vốn chẳng phải là chúng sanh, hăy nên bố thí mà đừng trụ vào tướng. Do vậy, trong phần trước nói “diệt độ hết thảy chúng sanh rồi, nhưng không có một chúng sanh thật sự diệt độ”. Bồ Tát hăy nên trọn đủ đại trí ấy. Nói chung, nghĩa duyên sanh xuyên suốt hết thảy. Tin được nghĩa này th́ các nghĩa khác sẽ đều thấu triệt mà tin sâu chẳng nghi.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.3. Nói rơ “không có pháp để có thể được”

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.3.1. Trần thuật sự giải ngộ

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Phật đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, vi vô sở đắc da?

          ()須菩提白佛言世尊佛得阿耨多羅三藐三菩提為無所得耶

          (Kinh: Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Phật đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề là chẳng có ǵ để đắc ư?)

 

Trên đây, đă dựa theo phước đức mà nói nó chẳng thật. Do “vô thật” nên nói duyên sanh tánh không. Phước đức to lớn th́ không chi hơn trang nghiêm Báo Thân. V́ thế, tiếp đó, dựa theo thân tướng trọn đủ để nói về tánh Không. Hiện thân tướng ấy vốn là để thuyết pháp. Do vậy, phần thứ ba là xét theo sự thuyết pháp chẳng có pháp để nói nhằm giảng về tánh Không. Thuyết pháp vốn là để độ chúng sanh; v́ thế, điều thứ tư là xét theo phía chúng sanh để nói rơ tánh Không. Truy theo từng tầng một, truy đến khoa này, sẽ là Không đến mức triệt để như cái thùng thủng đáy. V́ sao nói vậy? Đức Phật hiện thân tướng trọn đủ, đă vốn là để thuyết pháp độ sanh, nhưng những điều Phật nói vốn là diễn tả pháp mà Ngài đă đạt được, cho nên gọi là Như Ngữ. Nay biết “không ǵ chẳng phải là duyên sanh”, bản thể của pháp duyên sanh chính là Không. V́ thế, thân tướng trọn đủ là hữu danh phi thật. Thuyết pháp cũng là hữu danh phi thật. Chúng sanh cũng là hữu danh phi thật. Như vậy th́ há chẳng phải là “đắc” tức “chẳng phải đắc”, Phật tức chẳng phải Phật, một mực đều là hữu danh phi thật ư? Như thế th́ tánh không tịch chẳng vướng mắc một mảy tơ tóc nào, nhưng Thể lại lộ bày; đấy chính là ư chỉ chánh yếu trong khoa này!       

Trước đó, trưởng lăo đă nói: Đức Phật ở nơi Nhiên Đăng Phật, chẳng có pháp đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nhưng khi Ngài c̣n thuộc Bát Địa, do chẳng có ư niệm “có pháp Bồ Đề”, v́ thế, nay liền thành Phật đắc Bồ Đề. Nay bèn biết: Nói “Phật đắc Bồ Đề” th́ cũng lại là đắc mà chẳng có ǵ để đắc! Ư sâu hơn phần trước, cho nên tự trần thuật sự sơ ngộ, nói một chữ Da [trong câu “vi vô sở đắc da” (chẳng có ǵ để đắc ư)] chính là để hiển thị “Không tới mức triệt để”, như t́nh cảnh lúc mới tỉnh mộng vậy. Đó là dựa theo Sự để nói. Nếu nói theo Lư, trưởng lăo đă sớm cùng Như Lai tâm tâm in vào nhau. Nay trần thuật sự sơ ngộ, chính là để chỉ dạy học nhân hăy nên thấu hiểu tới tận cùng như thế nào, chẳng để cho một mảy pháp chấp tồn tại! Sau đấy, tánh Ngă Không hiển lộ, Thỉ Giác mới hợp với Bổn Giác để thành đại giác. V́ thế, lại thốt ra lời nghi vấn ấy để chỉ dạy học nhân lần nữa: Tuy là ngộ như thế, hăy nên thỉnh bậc mắt sáng để chứng minh. Trong câu trước, trước hết nói “Phật đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” chính là nói theo sự tu nhân chứng quả, chẳng phải là rốt ráo chẳng đắc! Câu kế tiếp mới nói “chẳng có ǵ để đạt được”, tức là nói nếu theo phương diện thuyết pháp, chẳng phải là rốt ráo có Đắc. Nói chung là “vô đắc mà đắc, đắc mà vô đắc”. Trong câu này, có chữ trọng yếu, chớ nên mờ mịt [xem lướt qua]!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.2.2.2.2.2.3.2. Ấn chứng, giải thích

 

          (Kinh) Như thị, như thị! Tu Bồ Đề! Ngă ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, năi chí vô hữu thiểu pháp khả đắc, thị danh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

          ()如是如是須菩提我於阿耨多羅三藐三菩提乃至無有少法可得是名阿耨多羅三藐三菩提

          (Kinh: Đúng như thế, đúng như vậy, này Tu Bồ Đề! Ta trong A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thậm chí chẳng có chút pháp để đắc, bèn gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

 

Hai lượt nói “như thị” để ấn khả lời [trưởng lăo Tu Bồ Đề] vừa thưa trên đây “chẳng phải là rốt ráo không có đắc, chẳng phải là rốt ráo có đắc”, [ấn chứng trưởng lăo] lănh ngộ chẳng sai, nghĩa do đức Phật đă nói càng sâu hơn! Truy tận nguồn lời trưởng lăo nói, sẽ thấy giống như nói “v́ sao không có ǵ để đạt được? V́ nó vốn chẳng có chút pháp nào để có thể đạt được!” Ư này chính là tiếp nối chữ Ngă mà có. “Ta chẳng có chút pháp nào để có thể đạt được” chính là nói rơ Ngă Không. Do Ngă Không, c̣n chẳng thấy có chút pháp nào, há có chút pháp để có thể đạt được ư? Đă không có chút pháp nào để có thể đạt được, sao có Phật đắc pháp cho được? Nói “năi chí” (thậm chí) chính là nói rơ đă không, lại càng không hơn, nhất loạt quét sạch. Chính ngay trong khi ấy, một niệm chẳng sanh, trạm trạm tịch tịch, tánh đức viên minh. Nói chung, trong tánh không tịch, vốn chẳng có chút pháp. Nếu thấy có chút pháp, đó chính là ngă kiến; c̣n có ǵ để đắc? V́ chẳng thấy có chút pháp để có thể đắc, bèn là thật sự đạt được!

          Câu nói “đối với Vô Thượng Bồ Đề, ta chẳng có chút pháp nào để có thể đạt được” tuyệt lắm! Ta chẳng thấy có chút pháp nào để có thể được! Trong lời ấy, hàm ư “chẳng phải là rốt ráo không có pháp”, nên bèn nói tiếp “th́ gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, có ư nêu rơ: “Chẳng phải là nói không có danh tự và ngôn thuyết Vô Thượng Bồ Đề”. Lại c̣n chỉ rơ: Vô Thượng Bồ Đề chỉ là danh tự và ngôn thuyết, há có nên chấp trước ư? Do vậy, chẳng có chút pháp nào để có thể đạt được! Lại c̣n nêu rơ: Nói là pháp, hay nói là đắc, đều sanh bởi nhân duyên. Duyên sanh Thể không. Chính ngay trong lúc có danh tự và ngôn thuyết như thế, vốn là chẳng có chút pháp nào để có thể đắc. Mắt nh́n bốn phía, tám phương diện long lanh. Ư nghĩa “chẳng có pháp để đắc Bồ Đề” trong phần trước đến đây bèn được xiển phát thông suốt, chẳng c̣n thừa sót, tức là nghĩa “không có pháp nào để phát Bồ Đề”. Đó chính là lư do khai chánh trí Bồ Đề, ḥng được thông đạt vô ngă, vô pháp vậy!      

Khoa “tâm hạnh chẳng thể được” trên đây nhằm trừ khử Năng Chấp (chủ thể có thể chấp trước), c̣n khoa “các pháp duyên sanh” nhằm trừ khử Sở Chấp (đối tượng bị chấp trước). Năng và Sở đối đăi, dẫn dắt càng nhiều thứ hơn nữa! V́ thế, trong các pháp bị chấp ấy, lại có Năng và Sở. Chẳng hạn như phước đức và quả báo thù thắng là Sở Sanh (cái được sanh ra), c̣n bố thí Lục Độ là Năng Sanh (cái có thể sanh ra [phước đức, quả báo thù thắng]). Nói theo pháp bố thí, Pháp là vật dùng để bố thí, Thuyết là người có thể thí. Nói theo chuyện bố thí th́ người thuyết pháp [là chủ thể] có thể bố thí, chúng sanh nghe pháp là đối tượng được bố thí. Nếu phân biệt cặn kẽ, Ngă là người có thể chứng, Pháp là cái được chứng. Nói chung, hết thảy mọi sự không ǵ chẳng phải là đối đăi. Hễ có đối đăi, liền có Năng và Sở. Hễ có Năng và Sở, liền có phân biệt. Có phân biệt, liền có chấp trước. Nhưng hễ có chút phân biệt, đó là thức thứ sáu, được gọi là “ngă tướng”. Có chút chấp trước, sẽ là thức thứ bảy, được gọi là ngă kiến. V́ thế, mỗi mỗi đều rơ ràng là duyên sanh, khiến cho [hành nhân] biết duyên sanh Thể không, hữu danh vô thật, ắt phải nên từng bước quán Không, trừ khử từng tầng một. Sở dĩ đau đáu trừ khử pháp thuộc vào bên Sở, chính là để đau đáu trừ khử cái Ngă thuộc bên Năng. Bởi lẽ, cả hai vốn đều do đối đăi, so sánh mà thành. Cái kia tiêu th́ cái này cũng tiêu; nhưng trước hết nói “tâm hạnh chẳng thể được” chính là thẳng thừng hướng về phía Năng để trừ khử. Ngă tướng và ngă kiến chẳng dễ trừ khử, phần nhiều bị ngoại cảnh dời đổi. V́ thế, đối với các pháp, càng nói cặn kẽ hơn! Do vậy, có thể biết pháp để dụng công. Bởi lẽ, trừ được Năng th́ cũng trừ được Sở, trừ Sở liền trừ Năng. Trừ Năng Sở chính là trừ khử phân biệt. Trừ khử phân biệt tức là trừ khử chấp trước. Trừ khử sạch phân biệt, bèn chuyển biến thức thứ sáu. Trừ khử sạch chấp trước, bèn chuyển biến thức thứ bảy. Hai thức đă chuyển, th́ ngă lẫn pháp cùng Không, đều là nhất như. Đều là nhất như th́ gọi là b́nh đẳng! V́ thế, tiếp đó nói đến pháp b́nh đẳng, thẳng thừng hiển lộ tánh thể.

 

2.2.2.2.2.2.1.2.2. Kết lại lời dạy

2.2.2.2.2.2.1.2.2.1. Chỉ thẳng tánh thể

 

          (Kinh) Phục thứ, Tu Bồ Đề! Thị pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ, thị danh A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

          ()復次須菩提是法平等無有高下是名阿耨多羅三藐三菩提

          (Kinh: Lại nữa, Tu Bồ Đề! Pháp ấy b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp, th́ gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

 

Khoa “kết lại lời dạy” này chính là phần tổng hợp các nghĩa đă được nói trên đây. Những điều được nói trên đây, dù Lư, Sự, tánh, hay tu, ngàn muôn đầu mối đều được kết lại trong mấy hàng này. Các nghĩa như tấm lưới, mấy hàng kinh văn này như mối lưới chính. Hễ nắm lấy mối lưới chính giơ lên, các mắt lưới đều căng ra. V́ vậy, nếu tâm có thể hiểu rơ ràng ư nghĩa trong mấy hàng này, các nghĩa sẽ đều được hiểu xuyên suốt, đều biết cách vận dụng. Nếu chẳng phải như vậy, tuy nghe nhiều nghĩa, trọn cảm thấy rời rạc, vụn vặt như cát rời. Nếu chưa thể nắm được đạo lư trọng yếu, sao có thể nắm được chỗ then chốt trong công phu tu tập? Như vậy th́ khoa này có tầm quan hệ to lớn, hăy đều nên lắng ḷng lănh hội, chẳng cần đợi phải nói nữa!

“Phục thứ” (lại nữa) là nêu riêng một nghĩa, ḥng làm sáng tỏ nghĩa trước đó. Những điều được nói sau đó đều nhằm nói rơ nguyên do Bồ Đề chẳng có chút pháp nào. V́ thế, dùng hai chữ Phục Thứ để chỉ bày. Hai câu “thị pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ” (pháp ấy b́nh đẳng, chẳng có cao thấp) chính là nói đến Vô Thượng Bồ Đề. Nhưng chớ nên hiểu hai chữ “thị pháp” (pháp này) là nói đến Vô Thượng Bồ Đề, chứ không riêng hai chữ “thị danh” chẳng thể hiểu là Bồ Đề! V́ sao vậy? Ư chỉ của kinh là v́ người chấp trước Bồ Đề mà trừ khử sự “chấp thật” ấy (tức chấp trước “thật sự có pháp để đắc Bồ Đề”). Huống chi ở đây c̣n nói rơ nguyên do “Bồ Đề chẳng có chút pháp”, há có nên hiểu và nói hai chữ “thị pháp” là Vô Thượng Bồ Đề ư? Nếu hiểu và nói như vậy, há chẳng phải là Bồ Đề có pháp ư? Ngay cả Tân Nhăn Sớ cũng chẳng tránh khỏi bệnh này.

Chỉ có hai bản chú giải của ngài Tăng Triệu và Trí Giả là hay nhất. Lời chú giải như sau: “Người chẳng có sang, hèn, pháp chẳng có tốt, xấu, thênh thang b́nh đẳng, đó là nghĩa Bồ Đề vậy”. Bởi các quan niệm bất b́nh đẳng như tốt, xấu, sang, hèn đă hết sạch chẳng c̣n, th́ là đă b́nh lại c̣n đẳng. Đấy chính là nghĩa Bồ Đề. Lời ấy đă nói rơ “chính là Bồ Đề”, nhưng lại chưa hề nói xác quyết, [do vậy], tột bậc tận lư, khế hợp khéo léo ư chỉ của kinh. Do vậy, có thể biết: “Thị pháp” [trong câu “thị pháp b́nh đẳng”] là bất cứ pháp nào, giống như nói “hết thảy các pháp” vậy!

“Vô hữu cao hạ” (chẳng có cao, thấp) chính là nêu rơ sự b́nh đẳng ấy. Hăy nên biết: Hết thảy các pháp có cao hay thấp, đều là do vọng kiến phân biệt, chấp trước của chúng sanh mà thấy là như thế. Thật ra, tánh của hết thảy các pháp b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp. Đă chẳng cao, thấp, há lại có pháp Vô Thượng Bồ Đề? V́ thế nói là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Bởi lẽ, chẳng có ǵ để gọi, bèn giả lập danh xưng ấy. Do vậy, Bồ Đề chẳng có chút pháp để có thể đạt được! Nếu Vô Thượng Bồ Đề có chút pháp, đă nói là Vô Thượng, sẽ có tướng cao thấp rành rành, há có phải là tánh b́nh đẳng ư? Đức Phật thành Phật, chính v́ đă chứng pháp tánh b́nh đẳng ấy. V́ thế nói “Như Lai giả, chư pháp Như nghĩa” (Như Lai là nghĩa Như của các pháp). Do vậy, thấy hết thảy các pháp đều là Phật pháp. V́ thế, Như Lai đạt được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, trong ấy, chẳng thật, chẳng hư. V́ sao vậy? Các pháp nhất như, do các pháp là b́nh đẳng. Hết thảy các pháp đều là Phật pháp v́ chẳng có cao, thấp. Pháp tánh đă b́nh đẳng, giống hệt như nhau, há có ǵ để có thể đạt được? V́ thế nói là “chẳng thật”. Chính ngay trong lúc chẳng có chút pháp để có thể đạt được, pháp tánh b́nh đẳng nhất như viên măn hiển hiện. V́ thế nói là “chẳng hư”.

Hăy nên biết: Chẳng có cao, thấp, sẽ dứt bặt các đối đăi. Không có đối đăi, bèn thành tuyệt đối; do vậy, giả gọi là Vô Thượng. Chẳng cao, thấp, sẽ là b́nh đẳng; do vậy, giả gọi là Chánh Đẳng. V́ sao chẳng cao, chẳng thấp mà b́nh đẳng như thế? Do chẳng giống như phàm phu bất giác, ngang ngược dấy lên phân biệt, chấp trước, mà cũng trọn chẳng phân chia năng giác và sở giác. Do vậy, giả gọi là Chánh Giác. V́ thế, có thể biết: Chính v́ chẳng phân biệt pháp, chẳng chấp trước pháp, lại chẳng thấy có pháp, bèn gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Như thế “chẳng có chút pháp” đă rơ ràng rồi! Pháp tánh vốn là như thế, đức Phật chỉ v́ hiển thị tánh vốn sẵn có ấy; vậy th́ “chẳng có chút ǵ để đắc” cũng đă rơ rồi! Do vậy, trong A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, ta thậm chí chẳng có chút pháp để có thể đắc.

          Nửa bộ trước nhằm dạy chẳng trụ hết thảy các pháp để trừ khử ngă chấp phân biệt, không ǵ chẳng nhằm hiển thị tánh b́nh đẳng. Nửa bộ sau dạy đối với pháp Bồ Đề, cũng nên vô trụ, nhằm trừ khử Câu Sanh NChấp, cũng không ǵ chẳng v́ hiển thị tánh b́nh đẳng. Cho tới sau khi đă nói nghĩa Như của các pháp, lại dùng nghĩa “chẳng thể được” để rỗng không cái tâm năng chấp. Lại dùng nghĩa duyên sanh để rỗng không pháp bị chấp. Năng lẫn Sở đều không, tánh thể b́nh đẳng bèn hiển hiện. Do vậy, đặt tên cho khoa này là ‘trực hiển tánh thể” (chỉ thẳng tánh thể). Có thể thấy: Cái được gọi là pháp Vô Thượng Bồ Đề chẳng có ǵ khác, chính là tánh b́nh đẳng, nhất như của các pháp! Nếu có chút bóng dáng của pháp Bồ Đề, sao có thể kiến tánh? V́ sao vậy? Tánh thể không tịch, cho nên b́nh đẳng. Hễ có chút phân biệt, chấp trước, sẽ có cái được lập, c̣n có ǵ là không tịch nữa ư? Hễ có chút cái được lập, liền thấy cao, thấp, c̣n có ǵ là b́nh đẳng nữa ư? Bồ Tát phải nên thông đạt lư này, trừ khử hết sạch phân biệt, chấp trước mà vô ngă. Đó gọi là “hết thảy các pháp tánh vốn chẳng có cao, thấp”. Sự vật trước mắt không ǵ chẳng là như thế! Hiềm rằng chúng sanh chẳng biết quán chiếu chi hết. Ví như có một sự, hoặc một vật ở nơi đây, hễ trông thấy bèn cho là đáng mừng, hoặc thấy rồi nghĩ là đáng ghét! Nhưng chuyện ấy hay vật ấy, không ǵ chẳng phải là tùy mỗi người mỗi khác! Đủ thấy tánh của hết thảy các pháp vốn chẳng có cao, thấp. Thích hoặc ghét sai khác là do mỗi người mà khác, chẳng ăn nhập ǵ với sự vật!

          V́ thế, người hay sầu th́ không ǵ chẳng sầu! Dẫu gặp cảnh chẳng đáng sầu, họ vẫn sầu muộn, nhíu chặt mày! Kẻ t́m vui th́ không lúc nào chẳng ham vui, dẫu là chuyện chẳng thể vui, họ vẫn gượng cười toe! Hoàn cảnh như nhau, mà do mỗi người cảm nhận, trở thành muôn vàn t́nh trạng bất đồng! Lại như lấy nước để nói. Con người thấy là nước, rồng, cá thấy là sào huyệt, Tu La bèn thấy là đao, trượng, ngạ quỷ thấy là máu, mủ. Kinh dạy “thử do nghiệp lực sở trí” (đấy do nghiệp lực mà ra). Hăy nên biết: Nghiệp lực do đâu mà thành sai biệt như vậy? Chính v́ ngay từ đầu, ngă kiến phân biệt, chấp trước mỗi đằng mỗi khác, bèn dẫn đến tạo nghiệp bất đồng! Như huệ nhăn của Nhị Thừa, thấy nó vốn là Không, và chẳng có nước. Pháp nhăn của Bồ Tát không chỉ thấy nó vốn là Không, mà c̣n thấy đủ loại sự tướng sai biệt của nước. Đủ loại cách thấy bất đồng như thế, nhưng nước trọn chẳng chia thành cao thấp như thế! Phật nhăn th́ thấy như một. “Như một” là tánh nước vốn là Không, cho nên tùy duyên mà hiện các tướng trong, đục v.v… Dẫu hiện các tướng trong, đục, tánh nước vẫn vốn Không y hệt! Hết thảy các pháp không ǵ chẳng như thế. Đó gọi là “pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp”. Hăy nên biết: Gọi là “b́nh đẳng”, chẳng phải là chèn ép cho người cao lọt xuống thấp, nâng kẻ thấp lên cao! Đấy chính là vọng kiến phân biệt, chấp trước, khiến cho càng thêm bất b́nh đẳng! Càng cầu b́nh đẳng, càng cảm thấy rối loạn thêm! Đức Phật nói “b́nh đẳng”, chính là dạy trừ khử phân biệt, trừ khử chấp trước. Mặc cho nó cao chót vót hay thấp lè tè, mỗi thứ thuận theo tánh phận của nó, chẳng nhiễu loạn nhau th́ hết thảy b́nh đẳng! Đấy là chánh nghĩa của b́nh đẳng. V́ thế, kẻ hâm mộ phong thái b́nh đẳng, hăy nên khởi đầu bằng “b́nh” cái tâm ḿnh, bằng “đẳng” cái tâm ḿnh trước đă!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.2.2. Dạy đích xác công phu tu tập

 

          (Kinh) Dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp, tắc đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

          ()以無我無人無眾生無壽者修一切善法則得阿耨多羅三藐三菩提

          (Kinh: Dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện pháp sẽ đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

 

Khoa trước đă dùng “thị pháp b́nh đẳng, vô hữu cao hạ” (pháp này b́nh đẳng chẳng có cao thấp) để thẳng thừng hiển thị tánh thể. Nhưng tánh thể ấy, ai nấy vốn sẵn đủ, chẳng ai không có, chỉ v́ vọng tưởng (tức là phân biệt), chấp trước, mà chẳng thể chứng đắc (đấy là dẫn theo ư của kinh Pháp Hoa). Đức Phật v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời, chính là đại sự nhân duyên ấy! Đức Phật nói kinh này, cũng v́ đại sự nhân duyên ấy. Từ mở đầu kinh này, ngàn lời vạn lẽ, nói ngang, nói dọc, bóc tách từng tầng, gột rửa từng tầng, chính là gột sạch để bản lai diện mục lộ ra, khiến cho đại chúng nhận biết. Nhận biết rơ ràng th́ mới biết: Chẳng chiếu theo các nghĩa trên đây để chân thật tu tập, sẽ chẳng thể chứng đắc! Bởi lẽ, tánh thể tuy là vốn sẵn có, nhưng đă bị phân biệt, chấp trước làm ô uế, chẳng phải là diện mục vốn sẵn có. Chẳng khử sạch cái tâm cao thấp, kiến chấp bất b́nh đẳng, sao có thể thấy cái sẵn có cho được?

Nhưng những điều kinh nói vẫn là lời lẽ trong sách vở, chẳng phải là của chính ḿnh. Muốn cất bước, chẳng thể không mở mắt! Mở mắt chính là để cất bước. Nếu chẳng cất bước, mở mắt để làm chi? Do vậy, nói tám chữ “pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao thấp” là đă trực tiếp hiển thị tánh thể, khiến cho đại chúng mở mắt, nhận rơ, lại c̣n đem công phu tu chứng này chỉ ra đích xác, khiến cho đại chúng cất bước th́ mới có thể đạt đến mục đích. Muốn toàn tu tại tánh, ắt phải là toàn tánh khởi tu. Do vậy, kinh này xiển phát từng tầng, ắt đều khiến cho [người nghe] hiểu sâu xa nghĩa thú. Nói tới khoa trên đây, càng là trực tiếp hiển thị tánh thể, khiến cho đại chúng thấu hiểu, rất sợ họ chưa thể hiểu sâu xa, lầm tưởng cái tâm sanh diệt là cái gốc để tu nhân. V́ thế, cổ đức tu hành, ắt cần phải ngộ bản tánh trước là v́ lẽ này. Cổ nhân chứng đạo so với người hiện thời đông hơn, nguyên nhân trọng yếu nhất thật sự ở chỗ này!

          Nương theo đạo lư được nói trên đây; do vậy, công phu tu tập được nói trong khoa này đều là mỗi mỗi đều đối ứng khít khao với “pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp” để thực hiện. V́ sao chúng sanh thấy hết thảy các pháp có cao thấp? Chẳng có ǵ khác, do phân biệt, chấp trước đó thôi! Phân biệt tức là tướng “ta, người đối đăi”; chấp trước là ngă kiến. Do thấy có cao, thấp, bất b́nh đẳng, cho nên trái nghịch tánh thể. V́ vậy, kinh này vừa mở đầu liền dạy phát tâm rộng lớn, hàng phục các tướng như ta, người v.v… “Dĩ” () là dùng. Dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, giống như nói vận dụng cái tâm chẳng phân biệt, chấp trước. “Thiện pháp” tức là bố thí được nói trước đó. Nêu ra một môn bố thí, liền nhiếp trọn Lục Độ, Lục Độ liền nhiếp vạn hạnh. Do vậy nói “nhất thiết thiện pháp” (hết thảy thiện pháp). Nói “dĩ vô ngă tu nhất thiết thiện pháp” là nói bất cứ pháp nào cũng đều b́nh đẳng. Cần phải dùng cái tâm b́nh đẳng ấy để quán hết thảy các pháp, tùy thuộc pháp đáng nên mà tu, chớ nên giữ cái tâm cao thấp. Gộp chung hai câu này, tức là ư nghĩa đă nói trong phần mở đầu kinh đối với pháp, chớ nên trụ vào đâu để hành bố thí”. Hăy nên “chẳng trụ vào đâu” chính là hăy nên dùng cái tâm vô phân biệt, chấp trước. Trụ tức là chấp. Hễ có chấp trước, liền có phân biệt. Hễ có phân biệt, liền có chấp trước. Hai sự tướng đều dấy lên, chẳng tách ĺa! Hành bố thí chính là nói tu hết thảy các thiện pháp.

          Câu “dĩ vô ngă” tức là Không, chẳng chấp Hữu, đó là tu Huệ. Câu “tu nhất thiết thiện” (tu hết thảy các điều thiện) là Hữu, chẳng chấp Không, đó là tu phước. Hai “luân” như thế cùng vận dụng. Đó là chẳng chấp vào hai bên, rành rành phù hợp Trung Đạo, b́nh đẳng, liền tương ứng với tánh b́nh đẳng của A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Do vậy nói là “tắc đắc”. “Tắc đắc” (則得) là nhất định đạt được. “Đắc” là chứng. Nếu phân tích để nói, dùng cái tâm chẳng phân biệt, chẳng chấp trước để tu hết thảy các thiện pháp, sẽ phù hợp nghĩa Như của các pháp. Đó là cái nhân để thành tựu Pháp Thân. Phước và huệ cùng trang nghiêm, đó là cái nhân để thành tựu Báo Thân. Tu trọn vẹn hết thảy, đạt được Phương Tiện Trí, đó là cái nhân để thành tựu Ứng Hóa Thân. Đă là xứng tánh viên tu, cho nên có thể tánh đức viên minh, ba thân hiển hiện, thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Do vậy nói là “tắc đắc”. Nói chung, nêu ra ư nghĩa “toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh”. Ư nghĩa “dùng vô ngă v.v… để tu hết thảy các thiện pháp” đă thâu nhiếp ư nghĩa của các câu đă nói trong phần trước như “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp), và “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm, hăy nên sanh tâm chẳng trụ vào đâu). “Tức phi”“thị danh” đều nhằm xiển phát ư nghĩa này. “Tắc đắc Vô Thượng Bồ Đề” (liền đắc Vô Thượng Bồ Đề) chính là nghĩa “tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật Tướng” được nói trong phần trước.

Không chỉ là như thế, “phát tâm ĺa tướng” được nói đầu tiên [trong phần mở đầu kinh này] chính là khoa Hàng Phục, nhằm khiến cho [hành nhân] phát nguyện rộng lớn, tức là dạy dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy các thiện pháp (nhấn mạnh câu trước). Kế đó, lại nói “chẳng trụ vào tướng” tức là khoa Chánh Trụ, khiến cho [hành nhân] hành hạnh rộng lớn, cũng chính là khiến cho [hành nhân] dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện pháp (nhấn mạnh câu sau). Toàn bộ kinh văn quả thật lấy hai khoa đầu tiên ấy làm ư chủ yếu. Những điều nói sau đó đều là dựa theo điều chủ yếu ấy để hoặc là chú thích, giảng giải lư thể, hoặc nói rơ điều cốt lơi trong tu tập, hoặc mổ xẻ những chỗ ẩn tàng, vi tế, hoặc nêu tỏ những chỗ quy hướng vậy!

          Đại để, nửa bộ trước nhằm dạy “đối với hết thảy các pháp thuộc cảnh duyên, đều chẳng trụ”, như những điều đă nói trước phần “thỉnh cầu chỉ dạy tên kinh để thọ tŕ”. Sau đó là dạy lúc khởi tâm động niệm, chẳng trụ vào hết thảy các pháp, càng nói, càng khẩn yếu. Nửa bộ sau, vừa mở đầu, liền dạy khi khởi tâm động niệm, ngay cả pháp Vô Thượng Bồ Đề cũng chẳng trụ! Những điều đă nói từ đó về sau đều là chuyên đối với điểm này mà trừ khử. Cho đến khi nói “tam tế tâm chẳng thể được”, khiến cho [hành nhân] biết cái tâm năng chấp chính là vọng niệm chẳng thể được, chẳng phải là chân tâm. Lại nói “các pháp duyên sanh”, khiến cho [thính chúng] biết: Hết thảy các pháp, không ǵ chẳng phải là tức Giả, tức Không. Ngay cả vạn tượng sâm la lại càng trọn chẳng thể được. Ngay như Quả Báo Thân của Phật, cho đến chứng đắc pháp Bồ Đề, hết thảy đều là huyễn hữu, hết thảy đều là trọn chẳng thể được! Xưa kia, Thiền Tông Nhị Tổ thỉnh Sơ Tổ dạy pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: “Đem cái tâm lại đây, ta sẽ an cho ông”. Nhị Tổ băn khoăn hồi lâu, thưa: “Con t́m tâm trọn chẳng thể được”. Sơ Tổ nói: “Ta đă an cái tâm cho ông rồi”. V́ sao nói “đă an tâm rồi”? Quả thật là do chân tâm thường trụ của chúng sanh đă từ lâu bị quấy nhiễu, hôn ám cùng cực, chẳng biết toàn là do chính ḿnh phân biệt, chấp trước, đến nỗi nắm níu không ngớt, trở thành tướng tối tăm, rối ren. Đó gọi là “dùng tâm giữ lấy tự tâm”, chẳng phải là huyễn thành, huyễn pháp hay sao? Nếu biết tướng tối tăm, rối ren vốn chẳng thể được, tuyệt đối chẳng giữ lấy, sẽ ngay lập tức thanh lương. V́ thế nói là “ta đă an cái tâm cho ông rồi”. Ở đây, cũng giống như thế! T́m chút pháp Bồ Đề không thể được, tức là mỗi pháp, mỗi sự đều là Bồ Đề, cần ǵ phải t́m chi khác? V́ thế, dùng hai câu “pháp này b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp” để hiển thị trực tiếp Bồ Đề vậy!

          Làm thế nào để hiển lộ Bồ Đề b́nh đẳng? Từ “Năng lẫn Sở cùng rỗng không” vừa nói trên đây. Làm thế nào để Năng và Sở cùng Không? Khởi sự từ phát nguyện rộng lớn, hành hạnh rộng lớn được nói ở đầu kinh. Phát nguyện rộng lớn bèn chẳng giữ lấy pháp (do phát nguyện độ mà chẳng có tướng độ, tức là chẳng giữ lấy pháp), hành hạnh rộng lớn, tức là chẳng giữ lấy phi pháp. Do giữ lấy pháp hay giữ lấy phi pháp đều là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả! Pháp và phi pháp đă đều chẳng giữ lấy, vậy th́ ta, người, chúng sanh, thọ giả, bốn thứ đều chẳng có! Bốn thứ đều chẳng có, th́ pháp và phi pháp đều trọn chẳng thể được! Cũng chính là tam tế tâm phân biệt, chấp trước đều trọn chẳng thể được! Vậy th́ năng tu, sở tu, năng chứng, cho đến sở chứng đều trọn chẳng thể được! Đủ mọi thứ trọn chẳng thể được như thế, vậy th́ chân tâm thường trụ, cái gọi là “pháp ấy b́nh đẳng, chẳng có cao thấp” bèn rành rành đạt được. Đó chính là “tín tâm thanh tịnh liền sanh Thật Tướng” như phần trước đă nói. Đó chính là “dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện pháp, liền đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Nói chung, ba câu kinh văn này chính là kết luận của các nghĩa được nói từ lúc mở đầu kinh cho tới nay, khiến cho [người nghe] nắm được cương yếu ấy ḥng thông đạt những điều đă nói trên đây, cũng như chẳng ngoài các điều đă nói trên đây mà phát khởi riêng một nghĩa nữa. Hăy nên biết dung hội để quán chiếu như thế.

          Hơn nữa, nh́n vào những điều đă nói trên đây, có thể thấy kinh này vừa mở đâu liền nói về Sự Tu (tu hành theo sự tướng); sau đó, đủ loại lư tánh, đều là nói theo Sự Tu. Chẳng ĺa Sự Tu mà bàn tới lư tánh, chính là yếu quyết của thuyết pháp. V́ sao vậy? Từ ngay nơi Hữu mà nói rơ Không, đó là hai bên đều chẳng chấp! Bốn chữ “tức Hữu minh Không” (từ ngay nơi Hữu mà nói rơ Không) đă bao quát trọn hết lư thú Bát Nhă. Các vị hăy nên nhớ kỹ, nương theo đó để hành, sẽ tự khế hợp Trung Đạo. Ở đây nói “dùng vô ngă để tu hết thảy các thiện pháp” cũng chứa trọn nghĩa này. Bởi lẽ, ngay trong lúc đang tu hết thảy các thiện pháp, chính là lúc vô ngă. Nếu chẳng tu hết thảy các thiện pháp mà nói vô ngă, sẽ nguy hiểm cùng cực! V́ sao vậy? Chẳng phải là ác thủ không, th́ cũng là thiên không! Hăy nên biết như thế nhé!

 

2.2.2.2.2.2.1.2.2.3. Kết lại “chẳng có năng, sở”

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Sở ngôn thiện pháp giả, Như Lai thuyết phi thiện pháp, thị danh thiện pháp.

          ()須菩提所言善法者如來說非善是名善法

     (Kinh: Tu Bồ Đề! Nói tới thiện pháp th́ Như Lai nói chẳng phải là thiện pháp, th́ gọi là thiện pháp).

 

          Chớ nên chấp Vô Thượng Bồ Đề là thật, th́ hết thảy thiện pháp sao có thể chấp là thật cho được? Nếu chấp là thật, có khác ǵ chấp Vô Thượng Bồ Đề là thật! V́ thế, càng cần phải trừ khử! Hết thảy các thiện pháp không ǵ chẳng phải là duyên sanh giả hữu, Có chính là Không, Không chính là Có! Do vậy, nương theo nghĩa Như để nói: Hết thảy thiện pháp ngay lập tức chẳng phải, chỉ có giả danh, sao có thể chấp là thật cho được? V́ thế bảo: Như Lai thuyết phi thiện pháp, thị danh thiện pháp” (Như Lai nói chẳng phải là thiện pháp, th́ gọi là thiện pháp).

          Trong phần trước đă nói “dùng vô ngă để tu hết thảy các thiện pháp”, tức là nói theo phương diện trừ khử nơi “năng tu” (có thể tu). Ở đây nói “chẳng phải thiện mà gọi là thiện”, tức là nói đến sự trừ khử theo phía “sở tu” (pháp được tu tập). Nếu có pháp để tu, tức là có ư niệm “năng tu”. Có Sở, có Năng, tức là có tướng đối đăi rành rành, sẽ là phân biệt, chấp trước. Có phân biệt vi tế tồn tại, tức ngă tướng vẫn c̣n đó. Có chấp trước vi tế tồn tại, tức là ngă kiến vẫn c̣n đó! Do vậy, hăy nên trừ khử hết sạch. Hăy nên biết: Dùng vô ngă v.v… để tu hết thảy các thiện pháp, sẽ đắc Vô Thượng Bồ Đề là do dùng cái tâm chẳng phân biệt, chẳng chấp trước để tu. Do vậy, liền đắc Bồ Đề. Do dùng tâm b́nh đẳng ấy để tu, pháp chính là vô pháp, mà tu cũng chẳng c̣n năng tu và sở tu. Chẳng tu mà tu, chính là chẳng đắc mà đắc. V́ thế, khoa này chính là nói: Khi bắt đầu tu các sự cùng một lúc cũng là khi tu hết thảy các thiện pháp, quán chiếu chẳng thiện mà gọi là thiện. Nếu trong tâm thấy có thiện pháp, đấy chính là ngă kiến, sao có thể dùng vô ngă v.v… để tu hết thảy các thiện pháp cho được? Nói cách khác, khoa này chính là để giải thích nguyên do của “vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả” trên đây, chẳng phải là nói sau khi tu hết thảy các thiện pháp rồi mới lại trừ khử! Quyết chớ nên xem khoa trên đây thành hai chuyện. Hăy nên biết như thế đấy!

          Xem những điều được nói trên đây, có thể biết khoa “kết lại lời dạy” này không chỉ nhằm kết lại lời dạy “nêu ra nhân, nói rơ quả” trong khoa này, mà c̣n chính là kết lại lời dạy của các nghĩa từ lúc mở đầu kinh cho tới nay. Nói cách khác, tức là các nghĩa được nói từ lúc mở đầu kinh cho tới nay, không ǵ chẳng nhằm dạy “dùng vô ngă để tu, ḥng chứng tánh b́nh đẳng” cho tới tận đây mới được chỉ rơ vậy!

          Trong kinh này, trước hết là hai khoa “phát đại nguyện”“hành đại hạnh”, chính là vừa mở đầu liền nêu ra nghĩa lư. Sau đó, tính đếm sơ lược, đă có nhiều lượt kết lại lời dạy. Trước hết là hai câu “bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp” (chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy phi pháp). Lần thứ hai chính là đoạn “ưng như thị sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh tâm thanh tịnh như thế). Lần thứ ba là đoạn lớn “ưng ly nhất thiết tướng tướng phát Bồ Đề tâm” (hăy nên ĺa hết thảy các tướng để phát Bồ Đề tâm). Lần thứ tư là đoạn lớn “chư pháp Như nghĩa, vô thật vô hư, nhất thiết giai thị” (nghĩa Như của các pháp, chẳng thật, chẳng hư, hết thảy đều là). Nay chính là lần thứ năm, nhưng trước sau năm lần, đều có thứ tự cạn sâu.

          Hai câu đầu tiên chính là kết lại nghĩa “độ sanh chẳng trụ tướng, bố thí chẳng trụ tướng”. “Chẳng trụ tướng” chính là “chẳng nên giữ lấy pháp”. Bố thí, độ sanh là chớ nên giữ lấy phi pháp. Lần thứ hai nhằm kết lại “rộng hành Lục Độ, chớ nên trụ vào đâu”, dạy hành nhân chẳng chấp Không, chấp Hữu, khiến cho tự tánh thanh tịnh tâm “như thật Không, như thật bất Không” hiện tiền. Lần kết lại lời dạy thứ ba chính là nói rơ “ĺa tướng mới là phát Bồ Đề tâm. Không chỉ chẳng chấp vào hai bên, mà ngay cả chẳng chấp cũng chớ nên chấp”. V́ thế nói “hăy nên sanh tâm vô trụ, hễ có trụ th́ là sai” v.v… Lần thứ tư kết lại lời dạy chính là dựa theo quả vị để chỉ bày cảnh giới của chứng đắc cái tâm thanh tịnh, tức là “một pháp chẳng trụ, pháp nào cũng đều Như, là vô ngă”, khiến cho [hành nhân] biết các nghĩa đă nói trên đây, không ǵ chẳng nhằm khiến cho mảy trần chẳng lập, trừ khử hết sạch phân biệt, chấp trước vi tế, bèn có thể chứng điều Phật đă chứng! Kết lại lời dạy lần thứ năm nhằm khai thị minh bạch “tánh của hết thảy các pháp vốn sẵn b́nh đẳng, chẳng có cao, thấp”. Do vậy, đối với mỗi pháp, đều chớ nên phân biệt, chấp trước. Pháp Bồ Đề là như thế, mà hết thảy các thiện pháp cũng đều là như thế; chỉ dùng cái tâm vô phân biệt, chấp trước để tu hết thảy thiện pháp “chẳng có cao thấp, hoàn toàn b́nh đẳng”, ngơ hầu khế nhập pháp tánh, thấy được diện mục vốn sẵn có “Tịch Chiếu đồng thời”. Trước sau năm lượt, thứ tự cạn sâu, chẳng có mảy may rối ren, lại c̣n từng chút một quy nguyên, vi tế, nghiêm mật tột bậc, viên dung tột bậc!

 

2.2.2.2.2.2.1.3. Hiển thị sự thù thắng để kết lại lời khuyên

2.2.2.2.2.2.1.3.1. Dẫn thí dụ để nói rơ

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Nhược tam thiên đại thiên thế giới trung sở hữu chư Tu Di sơn vương, như thị đẳng thất bảo tụ, hữu nhân tŕ dụng bố thí.

          ()須菩提若三千大千世界中所有諸須彌山王如是等七寶聚有人持用布施

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Như tất cả các núi chúa Tu Di trong tam thiên đại thiên thế giới, có người dùng khối bảy báu bằng như thế để bố thí).

 

Trong một đại thiên, có mười vạn vạn[6] núi chúa Tu Di, tích tụ bảy báu, nhiều đến mức như thế ấy. “Như thị” là nói tới mười vạn vạn. Bảy báu nhiều như thế dùng để bố thí. Sự bố thí ấy có thể nói là thù thắng, cũng có thể biết là phước đức to lớn. Khoa này nhằm dẫn thí dụ để hiển thị như trong phần sau sẽ nói: Phước đức do thọ tŕ, rộng nói kinh này càng to lớn hơn nữa!

 

2.2.2.2.2.2.1.3.2. Kết lại lời khuyên

 

          (Kinh) Nhược nhân dĩ thử Bát Nhă Ba La Mật kinh, năi chí tứ cú kệ đẳng, thọ tŕ, vị tha nhân thuyết, ư tiền phước đức, bách phần bất cập nhất, bách thiên vạn ức phần, năi chí toán số, thí dụ, sở bất năng cập.

          ()若人以此般若波羅蜜經乃至四句偈等受持為他人於前福德百分不及一百千萬億分乃至算數譬喻所不能

          (Kinh: Nếu có người dùng kinh Bát Nhă Ba La Mật này, thậm chí bốn câu kệ v.v.. để thọ tŕ, v́ người khác nói, so với phước đức trước th́ [phước đức trước] chẳng bằng một phần trăm, một phần trăm ngàn vạn ức, cho đến toán số, thí dụ đều chẳng thể bằng).

 

Bản lưu thông ghi là “thọ tŕ, độc tụng”. Nguyên bản không có chữ “độc tụng” v́ [đọc, tụng] đă được bao gồm trong thọ tŕ. “Ư tiền phước đức”: Chữ Ư () hàm ư so sánh. Chữ “tiền” chỉ “dùng bảy báu nhiều bằng mười vạn vạn núi chúa Tu Di để bố thí”. Ư nói: Phước đức bố thí như trong phần trên có thể nói là to lớn, nhưng so với phước đức này (phước đức do thọ tŕ kinh Kim Cang) th́ chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần vạn, một phần ức, cho đến toán số chẳng thể tính được, thí dụ chẳng thể sánh ví được, đều là chẳng thể sánh bằng một phần phước đức của người thọ tŕ, diễn nói kinh này. Kinh tuy là văn tự, danh tướng, ngôn thuyết; nhưng do văn tự mà khởi quán chiếu, sẽ do quán chiếu mà [đạt tới] tương tự, rồi phần chứng, rốt ráo thành Vô Thượng Bồ Đề, há hết thảy phước đức hữu tướng có thể sánh bằng ư?

Khi thâu kết nửa bộ trước, đă nói rơ là “bất cụ thuyết” (chẳng thể nói trọn). Do vậy, trong nửa bộ sau, phần so sánh để hiển thị sự thù thắng, nay mới thấy lần đầu. Nhưng ư chỉ chánh yếu của việc so sánh nhằm chỉ rơ này cũng lại có nghĩa thú khác biệt rất lớn so với phần trước. Cần phải biết: Khoa này được nói sau phần trực tiếp hiển thị tánh thể, hiển thị tánh thể chính là hiển thị Pháp Thân. Trong phần trước, đă từng dùng núi chúa Tu Di để sánh ví Báo Thân. Nay bèn dùng khối lượng bảy báu như mười vạn vạn núi chúa Tu Di để bố thí, nhưng phước đức ấy vẫn thua xa [phước đức do] thọ tŕ, diễn nói kinh này. Ngụ ư hiển thị: Thọ tŕ, diễn thuyết kinh này có thể khiến cho ta lẫn người cùng chứng Pháp Thân, coi Báo Thân ấy giống như tài vật ở ngoài thân, há đủ để so sánh ư? Hăy nên biết: Phật hiện các thân như Báo Thân v.v… vốn để lợi ích chúng sanh, để họ thọ dụng, chính là giống như dùng tài bố thí để người khác thọ dụng. V́ thế, dùng đó làm thí dụ, ḥng chứng minh rơ ràng Pháp Thân, ngay cả tướng Báo Thân cũng chẳng trụ!

 

Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa quyển bốn hết

 

***

Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa quyển năm

Phần 1

 

2.2.2.2.2.2.2. Xét tột cùng Vô Trụ để làm chứng ḥng kết lại

         

Chia thành hai phần:

1) Nêu rơ pháp giới b́nh đẳng để hiển thị nhằm kết lại pháp vô ngă.

2) Nói rơ tướng Không của các pháp, nhằm kết lại pháp bất sanh.

          Khoa lớn thứ tư này (do gộp toàn bộ kinh để nói, cho nên là khoa thứ tư. Nhưng xét theo nửa bộ sau để nói, th́ là khoa thứ hai), đều nói về cảnh giới của Như Lai. Cho nên nói là “cứu cực” (究極, xét đến tột cùng), hàm nghĩa: Xét tận cùng sự vô trụ đến đây là tột bậc. Nói “chứng” là chứng điều này. Khoa thứ tư “xét đến cùng cực” này lại chia làm hai đoạn:

1) Nói rơ pháp giới b́nh đẳng; do vậy, hiển thị “hết thảy pháp tánh vốn chẳng có ngă”. Tức là kết lại ư nghĩa “Bồ Tát thông đạt pháp vô ngă” trong phần trước.

2) Nói rơ tướng Không của các pháp, tức là quy kết vào bất sanh, bất diệt. Sở dĩ vừa mở đầu kinh liền dạy “ĺa tướng, ĺa niệm” để trừ ngă chấp, không ǵ chẳng nhằm trừ bỏ phân biệt, chấp trước. Phân biệt, chấp trước th́ gọi là “tâm sanh diệt”. Trừ khử cái tâm sanh diệt nhằm chứng tánh thể bất sanh, bất diệt. Đó là chỗ tổng kết huyệt của một bộ Bát Nhă rất sâu. V́ thế, giới hạn của phần Chánh Tông đến đây là hết, tức là phần thứ ba mươi mốt theo cách phán định của Chiêu Minh thái tử[7]. Phần thứ ba mươi hai th́ thuộc vào phần Lưu Thông.

          Phần thứ nhất lại chia thành ba đoạn:

          1) Dựa theo độ sanh để giảng rơ “chẳng có thánh phàm”.

          2) Dựa theo tánh và tướng để nói rơ “chẳng phải là một hay khác”.

3) Dựa theo “chẳng nhận lănh phước đức” để kết lại phần vô ngă.

           Ba khoa ấy đều theo sát ngay ư nghĩa “pháp này b́nh đẳng”, hàm ư dạy người nghe pháp hăy từ mọi pháp, mọi sự, mà nhận lănh lư b́nh đẳng, như vậy th́ sẽ có thể từ trong mọi pháp, mọi sự mà thấy tự tánh. Khoa đầu tiên nói rơ “chẳng có thánh, phàm” nhằm hiển thị “chẳng có cao, thấp”. Nhất Chân pháp giới b́nh đẳng, há có thánh hay phàm sai khác? Nghĩa này chính là dựa theo phương diện độ sanh để nói rơ sự thuận tiện nhất. Do vậy, bèn xét theo phương diện độ sanh để giải thích.

          Đoạn thứ nhất lại chia thành hai phần:

1) Nói rơ “tuy độ mà chẳng có ư niệm độ”.

2) Nói rơ “vốn chẳng có thánh, phàm”.

 

2.2.2.2.2.2.2.1. Nêu rơ “pháp giới b́nh đẳng” để hiển thị, nhằm kết lại pháp vô ngă.

2.2.2.2.2.2.2.1.1. Dựa theo độ sanh để giảng rơ “chẳng có thánh phàm”

2.2.2.2.2.2.2.1.1.1. Nói rơ “tuy độ mà chẳng có ư niệm độ”

2.2.2.2.2.2.2.1.1.1.1. Nêu bày

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Nhữ đẳng vật vị Như Lai tác thị niệm, ngă đương độ chúng sanh. Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm.

          ()須菩提於意云何汝等勿謂如來作是念我當度眾生須菩提莫作是念

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Các ông đừng nói Như Lai nghĩ thế này, ta sẽ độ chúng sanh. Tu Bồ Đề! Đừng nghĩ như thế).

 

          Ư chỉ chánh yếu của khoa này tương đồng với khoa “chẳng có pháp để có thể nói” thuộc phần trước. Chỗ khác biệt là bất quá phần trước dựa theo pháp đă nói để luận, phần này xét theo chúng sanh được hóa độ để nói. Nhưng thuyết pháp vốn là để độ sanh, độ sanh th́ cần phải thuyết pháp. Do vậy, ư chỉ chánh yếu tương đồng. Trong phần “chẳng có pháp nào để có thể nói” trước đó, đă dẫn các nghĩa thuộc kinh Kim Quang Minh bản mười quyển, nêu rơ lư do Phật chẳng khởi niệm, [các nghĩa ấy] đều có thể áp dụng cho phần này. Nói chung, đức Phật chẳng khởi tâm động niệm mà có thể tùy cơ ứng duyên, ḥng độ chúng sanh, chẳng ngoài hai lẽ:

1) Do sức huân tập tạo thành chủng tử của đại bi đại nguyện thuở trước, cho nên có thể cảm được sự ứng ấy.

2) Do có đủ hai trí (Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí), thành tựu ba thân (Pháp, Báo, Hóa), như tấm gương tṛn lớn, quang minh chiếu trọn khắp. V́ thế, đối với Năng lẫn Sở đều chẳng sai lầm.

          Có đủ hai loại lư do ấy, cho nên chẳng giống như phàm phu hễ làm điều ǵ, ắt cần phải suy nghĩ. “Mạc tác thị niệm” (đừng nghĩ như thế) chính là răn khắp hết thảy mọi người, chứ chẳng phải chỉ chuyên nói với đại chúng trong pháp hội thuở ấy. Bởi lẽ, nghĩ như vậy chính là dùng phàm t́nh để suy lường thánh cảnh, há chỉ là báng Phật, chính ḿnh vẫn c̣n mê muội trong cái ổ vọng tưởng, vĩnh viễn chẳng có hy vọng thành thánh. V́ thế, thống thiết răn nhắc! Nói chung, bảo “đừng nghĩ như thế” không chỉ nhằm răn [hành nhân] chớ nên dùng cái thấy luân hồi để ḍ lường biển viên giác, mà thật ra, c̣n khiến cho học nhân ắt phải đoạn trừ vọng niệm. Vừa mở đầu kinh, liền dạy Bồ Tát hàng phục cái niệm ấy, cho nên nói “thật vô chúng sanh đắc diệt độ” (thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ). Nửa bộ sau cũng vừa mở đầu liền dạy “vô hữu nhất chúng sanh thật diệt độ giả” (chẳng có một chúng sanh thật sự đạt được diệt độ). Nay lại nói theo phương diện Phật độ sanh, khiến cho hết thảy Bồ Tát vâng giữ làm chuẩn mực.

          Trong phần trước, tuy đă từng hai lượt nói “chúng sanh chẳng phải là chúng sanh”, nhưng chỉ là nói theo phía chúng sanh. Nay th́ dựa trên cả thánh lẫn phàm để cùng nói, nhằm chỉ rơ pháp giới b́nh đẳng, ư nghĩa chẳng giống như phần trên. Chắc có kẻ nói: Kinh Pháp Hoa dạy: “Ngă thỉ tọa đạo tràng, quán thụ diệc kinh hành, ư tam thất nhật trung, tư duy như thị sự, ngă sở đắc trí huệ, vi diệu tối đệ nhất, chúng sanh chư căn độn, trước lạc si sở manh, như tư chi đẳng loại, vân hà nhi khả độ?” (ta mới ngồi đạo tràng, quán cây, và kinh hành. Trong hai mươi mốt ngày, tư duy chuyện như thế, ta đạt được trí huệ, vi diệu, tột bậc nhất. Chúng sanh các căn độn, do chấp lạc, si quáng. Hạng người như thế ấy, thế nào mới độ được?). Nh́n từ đó, rơ ràng là có thánh, có phàm, sao lại nói “chẳng có thánh, phàm?” Hơn nữa, đối với chuyện độ sanh và thuyết pháp, Phật đều từng suy nghĩ cặn kẽ rồi sau đó mới nói. Tư duy chính là niệm, sao kinh này lại nói là “vô niệm?”

Hăy nên biết: Có thánh phàm là nói theo tướng. Chẳng có thánh phàm là nói theo tánh. Do vậy, kinh này nói “tức phi” lại nói “thị danh”, c̣n đối với ư nghĩa tư duy, hăy nên chia thành hai tầng để nói rơ lư này nhằm tránh hoài nghi!

          1) Phàm những ǵ đức Phật nói, có khi thuận theo cơ nghi mà nói, được gọi là “quyền thuyết” (權說, nói theo sự quyền biến thiện xảo), cũng gọi là “chẳng liễu nghĩa”. Có lúc nói rốt ráo, được gọi là “thật thuyết” (實說), cũng gọi là liễu nghĩa. Như trong các câu kinh Pháp Hoa vừa dẫn trên đây, chính là thuận theo cơ nghi mà nói quyền biến. Do quán biết hết thảy chúng sanh căn độn, si mê, mù quáng, chấp vào niềm vui ngũ dục, chẳng thể tương ứng với thanh tịnh trí và pháp vi diệu do Phật đă chứng đắc. Những loài như thế, làm thế nào để có thể độ được? Do bất đắc dĩ, bèn trước hết là từ cạn đến sâu, nói pháp tam thừa. Nhưng nói tam thừa, thật sự là nhất thừa; đó gọi là “khai Quyền, hiển Thật”. Ở đây, kinh này nói về pháp giới b́nh đẳng, đều là nói rốt ráo như thật. V́ thế, câu văn phần nhiều nhắc đến hai chữ Như Lai. Như Lai là nghĩa Như của các pháp. Như là ǵ? Chính là Chân Như. Chân Như là ǵ? Chính là cảnh giới ĺa niệm. Há có thể dẫn quyền thuyết để chứng tỏ thật thuyết? Hơn nữa, nói là Quyền, cũng tức là Quyền nơi Thật. Do vậy, tuy nói là “tư duy”, thật sự là tư duy mà chẳng tư duy. Hễ đọc kinh Phật, điều thứ nhất là phải nên hiểu nghĩa này, tức là như Phật thường tự xưng là Ngă, há có nên v́ Ngài thuận theo cơ nghi mà xưng như thế, bèn bảo là Như Lai có ngă kiến, ngă tướng ư?

Lại như kinh này nói “pháp vô thượng rất sâu” này, nhưng đắp y, khất thực, thị hiện giống như phàm phu; há có nên do vậy mà nghi Phật là phàm phu ư? Trưởng lăo chỗ nào cũng thay cho đại chúng thưa hỏi, cũng há có nên ngây ngốc cho rằng trưởng lăo thật sự chẳng hiểu Bát Nhă ư? Thế gian có lắm kẻ hoài nghi Quán Thế Âm Bồ Tát là thân nam hay thân nữ. Phàm là Pháp Thân đại sĩ, vốn chẳng có tướng. Thân Ngài hiện ra đều là thuận theo căn cơ mà ứng duyên. Đó gọi là “đáng nên dùng thân ǵ để đắc độ, bèn hiện thân ấy để cứu độ”. Kinh Lăng Nghiêm và Pháp Hoa đă nói tường tận nghĩa này, há có nên nh́n giống như phàm phu, cứ hạn cuộc chấp chặt Ngài là nam hay nữ ư? Ngay như xét theo cái nhân xưa kia của Đại Sĩ để nói th́ Ngài đă nhiều kiếp siêng tu, thân nào chẳng có? Cũng há nên nêu ra thân trong một đời để nhất loạt khái quát thân trong nhiều kiếp ư? Trong kinh Phật, những chuyện giống như thế và những câu [thoạt nh́n tưởng như] mâu thuẫn rất ư là nhiều, hăy đều nên lănh hội như vậy!

          2) Tư duy có nghĩa là “tác Quán”. Tác Quán cũng dịch là “tư duy tu”. Trên đây đă dẫn hai bài tụng trong kinh Pháp Hoa (cứ bốn câu là một tụng), nhằm thừa tiếp câu “ngă dĩ Phật nhăn quán” (ta dùng Phật nhăn để xem) trong phần kinh văn trước đó. Hai bài tụng ấy ngụ ư: Quán chiếu căn cơ của chúng sanh. Hăy nên biết: Khi tác quán, chẳng phải là vô niệm, chẳng phải là hữu niệm. Biết tác quán đôi chút, sẽ có thể hiểu rơ cảnh giới trong ấy, tuyệt chẳng giống như suy tư, vọng tưởng! Há có nên hiểu lầm tư duy là là tác niệm ư? Nói chung, có chúng sanh để có thể độ, có pháp để có thể nói, chính là nói theo tướng. Đức Phật quán điều này, chính là nói “Tịch mà thường Chiếu”. Nhưng chính ngay trong lúc hiện sự tướng như thế, lại có thể hiểu rơ “trọn chẳng thể được!” V́ thế, lại nói “chẳng có pháp để có thể nói, chẳng có chúng sanh để có thể độ” là nói theo tánh. Tuy quán mà cũng chẳng có ǵ để quán, đấy là Chiếu mà thường Tịch. Do vậy, dẫn hai bài tụng trong kinh Pháp Hoa để gộp chung với những điều đang nói ở đây để xem. Đó chính là nghĩa “tánh tướng viên dung, Tịch Chiếu đồng thời”. Đấy chính là nghĩa “Quyền chính là Thật, Thật chính là Quyền”. Hăy nên thông đạt như thế. Nếu chấp vào một điều này để nghi điều khác, sẽ là do chấp tướng mà ngờ tánh, hoặc chấp tánh nghi tướng, chấp Tịch nghi Chiếu, chấp Chiếu nghi Tịch. Đó chính là tri kiến của phàm phu, đó được gọi là độn căn, si mê, mù tối, chẳng thể tương ứng với trí huệ vi diệu bậc nhất. Do vậy, người học Phật ắt cần phải khai tri kiến của Phật. Phật tri tức là biết “hết thảy pháp chẳng thể được”, biết hết thảy các pháp tức Không, tức Giả. Phật kiến tức là chẳng chấp một hay khác. Nếu chấp vào một điều rồi nghi điều khác, đúng là chấp trước một hay khác vậy. V́ thế, muốn thông đạt lư vi diệu trong Phật pháp, nếu chẳng quét sạch rỗng không phàm t́nh tục kiến, ắt sẽ chẳng thể nhập.

 

2.2.2.2.2.2.2.1.1.1.2. Giải thích và kết lại

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Thật vô hữu chúng sanh Như Lai độ giả. Nhược hữu chúng sanh Như Lai độ giả, Như Lai tắc hữu ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả.

          ()何以故實無有眾生如來度者若有眾生如來度者如來則有我人眾生壽者

          (Kinh: V́ sao vậy? Thật sự chẳng có chúng sanh để Như Lai độ. Nếu có chúng sanh để Như Lai độ th́ Như Lai có ta, người, chúng sanh, thọ giả).

 

Hai chữ “thật vô” rất trọng yếu, hai chữ ấy chính là [diễn tả ư khẳng định] triệt để, ư nói “thật sự chẳng có lẽ nào dấy niệm”.“thật vô” là như thế nào, nghĩa ấy rất nhiều, đại lược nói bốn điều:

1) Nếu có ư niệm độ sanh, sẽ có chúng sanh được độ (sở độ), có ta là người có thể độ (năng độ). Năng, Sở chính là tướng đối đăi. Đó là phân biệt, đó là chấp trước. Phật chứng b́nh đẳng Nhất Chân pháp giới; cho nên xưng là Như Lai. Nếu có chút phân biệt, chấp trước, sao gọi là Như Lai cho được? V́ thế, bảo “Như Lai tác thị niệm”, thật sự chẳng có lư ấy! Đấy là dựa theo pháp giới b́nh đẳng để giải thích ư nghĩa, cũng là nói theo phía Như Lai.

          2) Lại nói theo phía chúng sanh, chúng sanh là ǵ? Bất quá là Ngũ Uẩn tập hợp mà thôi. Đó là pháp duyên sanh, duyên sanh Thể không. Nếu có chút ư niệm độ sanh, há chẳng phải là không hiểu duyên sanh, chấp pháp Ngũ Uẩn là thật sự có ư? Hễ có pháp chấp, liền có ngă chấp, phải chăng Như Lai có ngă chấp và pháp chấp ư? V́ thế bảo “Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ chúng sanh”, thật sự chẳng có lẽ ấy! Đấy là ước theo duyên sanh để giải thích ư nghĩa.

          3) Chúng sanh sở dĩ thành chúng sanh là do có niệm. Sở dĩ chúng sanh đắc độ là do vô niệm. V́ thế, nói “độ sanh” chỉ khiến cho họ ĺa niệm đó thôi! Nếu Phật có ư niệm độ sanh, tức là chính ḿnh c̣n chưa độ, sao có thể độ sanh ư? V́ thế nói “Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ chúng sanh”, thật sự là chẳng có lẽ ấy. Đó là dựa theo ĺa niệm bèn gọi là Độ để giải thích ư nghĩa.

          4) Phật độ chúng sanh, bất quá là làm tăng thượng duyên cho chúng sanh, c̣n chúng sanh tự ḿnh phát đại tâm, hành đại hạnh; đó thật sự là chánh nhân. Nếu chẳng có chánh nhân, dẫu có tăng thượng duyên, cũng chẳng thể do đâu mà độ sanh được! Do vậy, chúng sanh đắc độ, thật sự là chúng sanh tự độ. Phật chẳng có kiến chấp ấy, đó là Phật độ chúng sanh. V́ thế, nếu bảo “Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ chúng sanh”, thật sự chẳng có lẽ ấy! Đó là ước theo nhân th́ thân mà duyên th́ sơ mà giải thích ư nghĩa.

          Tổng hợp bốn nghĩa ấy, cho nên có chúng sanh được Như Lai hóa độ, nhưng Phật thật sự chẳng có ư niệm ấy. Câu này là giải thích theo chiều thuận. Từ chữ Nhược trở đi, lại dùng cách nói lật ngược vấn đề để giải thích nghĩa ấy. “Hữu” tức là “hữu niệm”. Hễ có ư niệm ấy, sẽ rơi vào Năng và Sở. Năng độ (người có thể hóa độ) là tướng ta (do nghĩ ta có thể hóa độ chúng sanh). Sở độ (người được độ) là tướng người. Người được độ không chỉ là một người, đó là tướng chúng sanh. Niệm ấy nối tiếp chẳng ngừng, đó là tướng thọ giả. Nếu có một niệm, tứ tướng liền trọn đủ. Như Lai chính v́ dạy bậc Bồ Tát phát tâm trừ bốn tướng ấy. Vậy th́ nói “Như Lai có tứ tướng” có thể bảo là vu báng Như Lai cùng cực! Do vậy, răn nhắc [người nghe] đừng nghĩ như thế. Ở đây chính là phá trừ tà ngôn “Như Lai nghĩ như thế ấy”. Do chỉ nói theo phía Như Lai (tức là nghĩa đầu tiên trong bốn nghĩa đă nói trên đây), ḥng nói rơ nghĩa “chẳng có Năng, chẳng có Sở, vô ngă”, ngụ ư dạy người học hiểu rơ pháp giới b́nh đẳng, thật sự chẳng có ngă” vậy.

 

2.2.2.2.2.2.2.1.1.2. Nói rơ “vốn chẳng có thánh phàm”

         

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Như Lai thuyết hữu ngă giả, tắc phi hữu ngă, nhi phàm phu chi nhân, dĩ vi hữu ngă. Tu Bồ Đề! Phàm phu giả, Như Lai thuyết tắc phi phàm phu.

          ()須菩提如來說有我則非有我而凡夫之人以為有我須菩提凡夫者如來說則非凡

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Như Lai nói có ngă, tức chẳng phải là có ngă, nhưng kẻ phàm phu cho là có ngă. Tu Bồ Đề! Phàm phu, Như Lai nói chẳng phải là phàm phu).

 

          Bản lưu thông hiện thời có thêm một câu “thị danh phàm phu” (th́ gọi là phàm phu), nhưng bản chép tay của người đời Đường, Tạng Kinh dưới triều đại Nam Tống, và trong các bản chú sớ của cổ đức đều chẳng có [câu ấy], rất chẳng nên có!

Khoa này nhằm giải thích nguyên do “chẳng có năng độ và sở độ”. Chữ Ngă ở đây nếu chỉ hiểu là Ngă trong “nhân, ngă” (ta, người), cố nhiên chẳng phải là không được, nhưng [hiểu như vậy], ư nghĩa khá cạn! Cần phải biết: Chữ Ngă chính là thừa tiếp ư nghĩa của chữ Ngă trong “ngă đương” thuộc đoạn văn trước đó (tức câu “nhữ đẳng mạc vị Như Lai tác thị niệm, ngă đương độ chúng sanh” (các ông đừng nói ‘Như Lai nghĩ như thế này: Ta sẽ độ chúng sanh’), tức là nói đến Phật. “Ngă tắc phi ngă” (ngă tức là chẳng phải ngă) nhằm hiển lư pháp giới b́nh đẳng, Phật tức chẳng phải là Phật, tức là nói rơ ư nghĩa “chẳng có thánh”. Bởi lẽ, danh xưng Phật hiển lộ Ngài đă chứng quả, c̣n danh xưng Như Lai cũng nhằm hiển thị Ngài đă chứng tánh. Nhất Chân pháp giới ĺa danh tuyệt tướng, há có những danh tự ấy? Hơn nữa, Nhất Chân pháp giới, hết thảy chư Phật, hết thảy chúng sanh, tánh cùng một Thể mà tên gọi khác nhau. Do là đồng thể, nên nói là “nhất như”. Do vậy nói “b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”. Nếu trong ấy có chữ Phật, sẽ liền có cao thấp, sẽ chẳng phải là b́nh đẳng, liền có danh tướng, sẽ chẳng phải là Không Tịch! Do vậy, nương theo nghĩa Như để nói, cái gọi là “có Phật, có thánh” sẽ chẳng phải là có Phật, có thánh, nhưng phàm phu chỉ biết chấp giữ tướng, chẳng liễu đạt Nhất Chân pháp giới, ngỡ là có Phật, có thánh! Pháp giới b́nh đẳng, Phật c̣n chẳng có, há có “năng độ” (người có thể hóa độ) để có thể nói ư? Hơn nữa, đă là b́nh đẳng đồng thể, không chỉ “chẳng có thánh” mà thôi, há c̣n lại “có phàm” ư? V́ thế, nói “phàm phu” nếu xét theo nghĩa Như để nói, sẽ chẳng phải là phàm phu. Phàm c̣n chẳng có, há có “sở độ” (người được hóa độ) để có thể nói ư? Chẳng cao, chẳng thấp, hoàn toàn b́nh đẳng, đó gọi là “tánh thể như một” (đủ thấy người đời sau hư vọng thêm câu “thị danh phàm phu” đúng là vẽ rắn thêm chân!)

          Vô thánh, vô phàm, chính là nguyên do “chẳng có cao, thấp”, nên nói là b́nh đẳng. Tánh thể vốn sẵn b́nh đẳng như thế. Do vậy, đức Phật nói: “Thượng vô Phật đạo khả thành, hạ vô chúng sanh khả độ” (trên là chẳng có Phật đạo để có thể thành, dưới là chẳng có chúng sanh để có thể độ). Bởi lẽ, độ tức là chẳng độ, thành tức là chẳng thành. Do vậy, nói “b́nh đẳng chân pháp giới, Phật chẳng độ chúng sanh”. V́ thế, đức Phật thấy “hết thảy chúng sanh vốn là Phật”. Đấy đều là xét theo nghĩa tánh thể b́nh đẳng để nói.

          V́ sao nói nghĩa b́nh đẳng? V́ khiến cho Bồ Tát phát tâm thông đạt nghĩa này. Hăy nên dùng “chẳng có Năng, chẳng có Sở, chẳng có pháp”, và cái tâm vô ngă để tu hết thảy thiện pháp, bèn có thể chứng như thế đó. Do vậy, có thể biết: Người tu hành tuy hăy nên phát nguyện chuyển phàm thành thánh, nhưng đă phát nguyện, hăy nên quăng bỏ ư niệm thánh phàm. Nếu chẳng ném bỏ, thánh phàm sẽ vĩnh viễn cách biệt. V́ sao vậy? Thánh mà thành thánh, phàm trở thành phàm, chính v́ một đằng vô niệm, một đằng hữu niệm. Hễ dấy niệm liền có cao, thấp, liền chẳng phải là b́nh đẳng. Cổ nhân khai thị tu hành, có một câu tuyệt hay: “Đản mạch trực hành khứ” (cứ thẳng thừng mà đi). “Mạch trực” (驀直) có nghĩa là trọn chẳng nh́n ngó dáo dác. Hành nhân chỉ cần hiểu rơ đạo lư, nhận chuẩn phương hướng, cứ thẳng một đường mà đi. Chuyển phàm hay chẳng chuyển phàm, thành thánh hay chẳng thành thánh, cũng như hết thảy các thứ sanh tử, lợi hại v.v… nhất loạt chẳng bận ḷng. Như thế th́ sẽ tương ứng với đạo, tương ứng với tánh, có thể mau chóng thành tựu. Nếu không, sẽ đâm ra chẳng thể thành. Cổ nhân lại có lời cảnh tỉnh rằng “cổ miếu hương lô khứ” (miếu cổ, ḷ hương mất), ư nói: Vạn niệm nguội lạnh! Thánh, phàm c̣n chẳng bận tâm, những thứ khác sẽ có thể biết vậy!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.2. Xét theo tánh tướng để nói rơ “chẳng một, khác”

2.2.2.2.2.2.2.1.2.1. Hiển thị chung nghĩa Như

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Khả dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai phủ? Tu Bồ Đề ngôn: - Như thị, như thị, dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai.

          ()須菩提於意云何可以三十二相觀如來不須菩提言如是如是以三十二相觀如來

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Có thể dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai hay không? Tu Bồ Đề thưa: - Đúng như vậy! Đúng như thế, dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai).

 

          Đây là khoa “dựa theo tánh, tướng để nói rơ chẳng một, chẳng khác” chính là chỗ khẩn yếu của cả bản kinh, chứa đựng nghĩa u thâm, chẳng phân tích tỉ mỉ theo từng tầng, sẽ khó liễu giải.

          Quán khác với Kiến. Nói theo thân do Như Lai hiện th́ gọi là Kiến. Nói theo phía học nhân tu Quán th́ gọi là Quán. Ư hỏi giống như nói: “Có thể coi quán tưởng Ứng Thân hữu tướng chính là quán tưởng Pháp Thân vô tướng hay không?” Một đằng hữu tướng, một đằng vô tướng, đương nhiên là chẳng thể, nhưng Ứng Thân vốn từ Pháp Thân hiển hiện. Vô của “vô tướng” vốn chẳng phải là rốt ráo không có. Nói là Thật Tướng th́ chính là cái được gọi là “vô tướng, vô bất tướng”, lại c̣n chưa hề chẳng thể được. Tuy vậy, nếu chấp là có thể, chưa tránh khỏi giữ lấy tướng, phạm lỗi chấp Hữu. V́ thế, sau đó có kinh văn thuộc khoa “trừ khử giữ lấy tướng để nói rơ chẳng phải một”. Nhưng nếu chấp là chẳng thể, lại chẳng tránh khỏi diệt tướng, đọa vào lỗi chấp Không. V́ thế, sau đó lại có kinh văn thuộc khoa “trừ khử diệt tướng để nói rơ chẳng khác”. Thử xem lời đáp của trưởng lăo, sẽ có thể tăng trưởng kiến địa chẳng ít. Lại nghe lời trừ khử của Phật, khiến cho người ta mở rộng tâm mục rất nhiều. Cần phải biết: Từ lúc mở đầu kinh cho tới nay đă trừ sạch từng tầng, nhiều lượt bảo “tức phi, thị danh”, không ǵ chẳng nhằm ngăn ngừa người học chấp vào một bên. Chỗ này nói rơ “tánh, tướng chẳng một, chẳng khác”, chính là nói rơ nguyên do “chớ nên chấp vào một bên” vậy!

          “Ư ư vân hà” chính là thăm ḍ, kiểm nghiệm kiến địa. Trong các phần trước, đă nhiều lượt thăm ḍ, kiểm nghiệm; v́ thế, ở đây chẳng nói Kiến mà nói là Quán. Ư hỏi cực vi tế, khác hẳn phần trước! Đấy chính là do sợ người học nghe nghĩa Như của các pháp, và “pháp này b́nh đẳng” mà lơ mơ, hồ đồ, chẳng thể thâm nhập tinh vi, tự cho rằng b́nh đẳng giống hệt như nhau. Tức là “sai chỉ hào ly, sai lầm ngàn dặm”, bèn khai thị vậy. Trong lời đáp, có hai nghĩa trọng yếu, ắt phải nên nói rơ trước:

1) Trong hội Bát Nhă, đức Phật bảo trưởng lăo dạy lại các Bồ Tát (xem kinh Đại Bát Nhă), có thể thấy là từ lâu trưởng lăo đă cùng với Phật tâm tâm tương ấn, đă sớm hiểu sâu nghĩa thú Bát Nhă. Trong kinh này, do đức Phật cố ư dạy cho người không biết, nên [trưởng lăo] thay chúng sanh thỉnh pháp.   

2) Lư quá sâu, vốn chẳng thể nói. Nay bất đắc dĩ, từ chỗ không thể nói mà nói năng. Một người th́ trong một lúc, chẳng thể nói hai lời theo kiểu khác nhau được. V́ thế, nhờ vào hai người, dùng thể loại vấn đáp để nói. Vậy th́ nghĩa thú quá sâu sẽ dễ hiểu rơ hơn!

Nương theo hai nghĩa trên đây, cho nên lời trưởng lăo nói chẳng khác ǵ Phật nói. Đối với bậc đương cơ trong hết thảy các kinh, đều nên quán như thế. Không chỉ kinh này là như thế! Đấy là ư nghĩa trọng yếu, chớ nên không biết!

          Đối với những câu như thế, nếu chỉ dựa vào lời thưa đáp để lănh hội, không chỉ là nh́n trưởng lăo một cách nông cạn, mà ư chỉ sâu xa được bao hàm trong kinh cũng chẳng hiển lộ, bị ẩn khuất! V́ sao nói là “nh́n trưởng lăo nông cạn? Như lần đầu tiên, đức Phật hỏi “có thể dùng thân tướng để thấy Như Lai hay không?” Trưởng lăo đáp ngay: “Thân tướng chính là chẳng phải thân tướng”. Lần thứ hai hỏi “có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai hay không?” Lại đáp “tức phi, thị danh”. Lần thứ ba hỏi “có thể dùng sắc thân trọn đủ để thấy Phật hay không? Có thể dùng các tướng trọn đủ để thấy Như Lai hay không” Đều đáp là “chẳng nên”. Sao ở đây [trưởng lăo] lại bỗng dưng chấp tướng như thế? Cố nhiên trưởng lăo đại diện cho chúng sanh, nhưng đă thông hiểu rồi bỗng dưng mê muội, chẳng hợp lư! Do vậy, câu như thế quả thật chẳng phải là lời thưa gởi nhằm thể hiện sự đồng ư, mà là nói về Lư.

          “Như” là nghĩa Như của các pháp. “Thị”: Hết thảy đều là phải. Trong phần trước đă chẳng nói rồi đó sao? Trong nửa bộ đầu, không có chỗ nào đáp “như thị”, những chỗ đáp “như thị” trong nửa bộ sau đều biểu thị ư nghĩa tinh vi. Như trong phần nói về Ngũ Nhăn, đối với mỗi loại đều đáp tương xứng “như thị”. Đó là nói rơ “nhục nhăn chẳng nhất định là nhục nhăn” cho đến “Phật nhăn không nhất định là Phật nhăn”. Nói chung, năm không nhất định là năm, mà một chẳng nhất định là một, chẳng thể chấp nhất! Đấy được gọi là “các pháp nhất như, hết thảy đều là phải”, có ư hiển thị: “Chỉ có Như th́ hết thảy đều là phải. Nếu không, th́ đều chẳng phải”. Do vậy, đối với mỗi câu đáp đều nói “như thị”. Kế đó [đức Phật] hỏi “có phải là cát hay không?”, [trưởng lăo] cũng đáp là “như thị”, nhằm nói rơ: Như Lai nói là cát, chính là dùng nghĩa Như để nói Thị, chẳng giống như phàm phu nói Thị. Lại hỏi về phước đức nhân duyên, cũng đáp là “như thị”. Đấy là nói rơ pháp nào cũng đều là duyên sanh, thấu hiểu duyên sanh tánh Không, th́ pháp nào cũng đều là Như, pháp nào cũng đều là phải! V́ thế, kế tiếp đó nói: “Thử nhân dĩ thị nhân duyên, đắc phước thậm đa” (Người ấy do bởi nhân duyên ấy, được phước rất nhiều). Ư nói: Chỉ do duyên sanh th́ mới có nhiều phước đức để có thể đạt được! Cũng v́ chỉ là duyên sanh, hăy nên chẳng chấp vào tướng duyên sanh, mà hội quy vào tánh nhất như. Tức tuy các pháp đều là duyên sanh, nhưng pháp nào cũng đều là Phật pháp. Ngoài ra, đều chẳng đáp “như thị”. Tới chỗ này, lại đáp là “như thị”, cũng có ư nghĩa giống như trên, nhưng nói hai lượt, nhằm khiến cho người ta sẽ coi trọng hai chữ Như Thị. Ắt phải có thể Như th́ sau đấy mới là Thị.

          Ở đây có ư nói: Ba mươi hai tướng cũng là một trong các pháp. Các pháp đều là Chân Như, há ba mươi hai tướng chẳng phải là Chân Như ư? Nhưng ắt phải nên hiểu được nghĩa Như th́ mới Thị. V́ sao vậy? Nếu lănh hội tánh và tướng như một, đă chẳng diệt tướng, mà cũng chẳng chấp tướng. Vậy th́ quán Ứng Thân ba mươi hai tướng chính là quán Pháp Thân Như Lai vậy. Nếu trái nghịch nghĩa Như, ắt sẽ chấp tướng để quán tánh. Nếu không, bèn diệt tướng để quán tánh, tức chẳng có một thứ ǵ là đúng! “Như thị, như thị, dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai” (đúng như thế, đúng như vậy, dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai), hăy nên đọc thành một câu. Nói chung là nương theo nghĩa Như, dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai th́ là đúng. Ư của trưởng lăo là nói Quán và Kiến khác nhau. Khi trong tâm quán ba mươi hai tướng, vốn là tướng vô tướng. Như Lai hiện ba mươi hai tướng cũng là “tướng chính là phi tướng”. Nay hiểu rơ tướng vô tướng để tác quán, tức là đă chẳng giữ lấy tướng, mà cũng chẳng diệt tướng, chính là phù hợp với nghĩa Thật Tướng “vô tướng, vô bất tướng”. V́ thế nói “như thị, như thị, dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai”, với dụng ư nêu rơ: Đă là nhất như, quán tướng chính là quán tánh vậy!

          Ư nghĩa trong lời đáp của trưởng lăo quả thật rất sâu, đúng là rất viên măn, đúng là tương ứng với ư chỉ của Phật. Nhưng trong phần kinh văn kế tiếp, Như Lai lại càng đả phá để trừ khử cho sạch. V́ ư nghĩa như trưởng lăo đă nói cố nhiên là đúng, nhưng trong đó c̣n có lư vi tế, chẳng thể không nhận rơ, biện định rơ ràng. Nếu không, ắt sẽ đến nỗi mơ hồ, mông lung, chưa thấy bảo là thấy, ngỡ cái xương h́nh yên ngựa của con lừa là xương cằm của cha[8]. Nghĩa ấy thật sự có mối quan hệ khẩn yếu, quả thật dễ khiến cho người học lẫn lộn nhất! Do đó, Phật và trưởng lăo, một hỏi, một đáp, nhằm hiển lộ ư chỉ sâu xa, tinh vi, ẩn tàng ấy, khiến cho người học chẳng đến nỗi lầm tưởng vậy!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2. Riêng trừ khử t́nh chấp

 

          Chia hành hai đoạn:

1) Trừ khử “chấp giữ tướng” để nói rơ “chẳng một”.

2) Trừ khử “diệt tướng” ḥng nói rơ “chẳng khác”.

 

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1. Trừ khử chấp giữ tướng để nói rơ “chẳng một”

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.1. Phá giải để chỉ bày sự trừ khử

 

          (Kinh) Phật ngôn: “Tu Bồ Đề! Nhược dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai giả, Chuyển Luân Thánh Vương tắc thị Như Lai”. Tu Bồ Đề bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Như ngă giải Phật sở thuyết nghĩa, bất ưng dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai”.

          ()佛言須菩提若以三十二相觀如來者轉輪聖王則是如來須菩提白佛言世尊如我解佛所不應以三十二相觀如來

          (Kinh: Phật nói: “Tu Bồ Đề! Nếu dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai th́ Chuyển Luân Thánh Vương sẽ là Như Lai”, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa do đức Phật đă nói, chớ nên dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai”).

 

Ư đức Phật là: Ông nói “đúng như thế, đúng như vậy, dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai”, thoạt nghe th́ rất đúng, nhưng nếu chưa nhận rơ cội nguồn, quả thật là sợ rằng sẽ “dường như đúng mà sai be bét”. V́ sao vậy? Ba mươi hai tướng há chỉ Như Lai hiện tướng ấy ư? Chuyển Luân Thánh Vương cũng có đủ, nhưng tướng của Luân Vương do phước nghiệp mà có, chẳng giống Như Lai do từ Pháp Thân hiển hiện. Nay nếu luông tuồng nói “đúng như thế, đúng như vậy, dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai” như vậy th́ Luân Vương cũng là Như Lai mất rồi! Há chẳng phải là sai lầm to tát ư? Hăy nên biết: Lời Phật cố nhiên là nói về tướng được quán, nhưng ư Ngài thật sự nói về người có thể quán. Do Luân Vương là kẻ nghiệp thức chưa rỗng không, nhưng v́ phước nghiệp, nên cũng có ba mươi hai tướng, đủ thấy các tướng đều là hư vọng, chẳng đáng để trông cậy. Nhưng nếu người quán nghiệp thức đă không, há chỉ quán ba mươi hai tướng của Luân Vương chẳng bị che lấp, dẫu quán sắc thân Ngũ Uẩn của chúng sanh, vẫn có thể thấy rơ Pháp Thân mà chẳng thấy có Ngũ Uẩn. Nếu chẳng phải vậy, dẫu đối diện Như Lai, vẫn chỉ là quán tướng, chẳng thể quán thấy Pháp Thân!

          Đức Phật nói như thế, chính v́ thoạt đầu [hành nhân] phát tâm tu Quán, vô minh chưa phá mảy may, nên mới vướng trong nghiệp thức. Nếu nghe “nhất như, giai thị” là nói về pháp b́nh đẳng, chẳng suy xét khả năng của chính ḿnh, cứ ngỡ quán tướng chính là quán tánh, chẳng biết cái được quán chính là nghiệp thức, chẳng phải là tánh. Hết thảy người học hăy nên khám nghiệm cặn kẽ như thế ở chỗ này.

          Khám nghiệm như thế nào?

1) Hạng phàm phu lè tè sát đất từ vô thỉ tới nay, tánh và tướng từ lâu đă chẳng phải là một. V́ sao chẳng phải là một? Do giữ lấy tướng. V́ sao giữ lấy tướng? Do v́ nghiệp thức. Do đó, ắt phải rỗng không hết sạch các tướng, tiêu diệt trọn hết t́nh thức th́ mới đủ để nói “tánh và tướng như một”.

2) Đức Phật nói nghĩa Như, chính là dạy [hành nhân] hăy thấu hiểu, nhận thức Nhất Chân pháp giới, trừ bỏ phân biệt, chấp trước ḥng vô ngă. V́ thế, hăy nên tự thẩm định: [Chính ḿnh] có phân biệt hay không? Có chấp trước hay không? Nếu có phân biệt, chấp trước vi tế, sẽ là nghiệp thức, sao có thể quán tướng chính là quán tánh cho được?

Nói chung, “nhất như b́nh đẳng” chỉ có chư Phật mới có thể rốt ráo. Ắt phải chẳng chấp thật, lại c̣n tướng hư giả cũng diệt mất, măi cho đến khi một niệm chẳng sanh, ngay cả “chẳng sanh” cũng không có, th́ mới là như một, chẳng khác. V́ thế nói “các pháp như một” tức là chỉ thấy tánh của chúng như nhau, chẳng thấy tướng của các pháp. Không chỉ là như thế, dẫu cần phải là “nhất như, b́nh đẳng”, nhưng cũng chẳng có cái ǵ gọi là “nhất như, b́nh đẳng”, mà thật sự nhất như, thật sự b́nh đẳng. Há kẻ nghiệp thức chưa rỗng không có nên lầm lạc tự phụ? Nay nói “dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai”, rơ ràng là có năng quán (người quán) và sở quán (đối tượng được quán), sẽ là phân biệt, chấp trước, nghiệp thức rành rành, bèn nói “như thị” như thế đó. Trọn chẳng biết đă sớm chẳng phải là Như, chẳng có mảy may là Thị! Hành nhân xưa nay bao nhiêu kẻ thô niệm vừa dứt đôi chút, liền bảo đă chứng tam-muội! Tập khí c̣n nguyên đó, vội nói “tùy ư thong dong”. Đều là ngỡ lẫn lộn là viên dung, hiếm có kẻ nào chẳng đọa lạc! Xem đoạn kinh văn này, đúng là một nhát kim đau nhói đâm vào thóp vậy!

          Điều đức Thế Tôn phá trừ, trưởng lăo vốn đă hiểu rơ. V́ thế, hễ có được cơ duyên liền chuyển. Những lời Ngài đáp trước đó, cũng do biết rơ mười mươi căn bệnh của chúng sanh. Do vậy, từ ngữ [trong lời đáp] hàm hồ, đợi đức Thế Tôn quở trách, phá trừ, khiến cho hết thảy chúng sanh đều tự khám phá, chẳng đến nỗi lẫn lộn, phiếm lạm vậy!

          Hễ [chánh kinh] nêu ra câu “Tu Bồ Đề bạch Phật” đều mang ư nghĩa trịnh trọng; ở đây cũng thế. [Nêu ra câu ấy] với dụng ư khiến cho học nhân chẳng thể xem nhẹ, xem lướt qua lần phá giải này! “Giải sở thuyết nghĩa” (hiểu nghĩa đă nói) là nghe biết Luân Vương cũng cùng có tướng ấy, [tức là] tướng chẳng đủ để làm căn cứ, liền hiểu “các pháp nhất như” phải diệt sạch các tướng rồi mới được. Trưởng lăo hiểu như thế, chính là để khiến cho người học hăy nên hiểu như thế. “Bất ưng” (chẳng nên) ngụ ư nói rơ: Chẳng phải là tuyệt đối không thể! Nếu t́nh thức của người ấy đă rỗng không, tức là hữu tướng cũng giống hệt như vô tướng, vô tướng nào ngại hữu tướng. Nếu không, hễ có chút t́nh thức, chắc chắn sẽ lầm loạn, phiếm lạm! Do vậy bảo là “bất ưng”. Lời này chính là thống thiết răn dạy người học vậy!

          Nói chung, đức Phật nói “nhất như, b́nh đẳng”, nhằm dạy “một” hay “khác đều chớ nên chấp. Nay dùng tướng để quán tánh, rơ ràng là chấp nhất, há c̣n nói là “nhất như” được ư?

          Chuyển Luân Thánh Vương dùng Thập Thiện để giáo hóa cơi đời, chẳng dùng đến binh lực mà oai thế khuất phục bốn phương, là người có phước đức bậc nhất trong nhân loại, tự nhiên có thất bảo xuất hiện, tùy ư tự tại! Món báu thứ nhất là Luân Bảo. Vua ngự trên cái bánh xe ấy, tuần hành bốn phương, do vậy được gọi là Chuyển Luân Thánh Vương. Luân có bốn loại là vàng, bạc, đồng, sắt. Có được kim luân th́ gọi là Kim Luân Vương, làm vua bốn đại châu. Ngân Luân Vương làm vua ba châu Đông, Tây, Nam. Đồng Luân Vương làm vua hai châu Đông và Nam. Thiết Luân Vương làm vua một châu, tức Nam Diêm Phù Đề. Do sức phước đức nên [Luân Vương] có đủ ba mươi hai tướng, nhưng thiếu thanh tịnh, chẳng rơ ràng [như tướng của đức Phật], do các tướng ấy từ phước nghiệp hữu lậu mà thành, chẳng giống như do vô lậu Pháp Thân hiện ra!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.2. Nói kệ để kết lại

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn nhi thuyết kệ ngôn: “Nhược dĩ sắc kiến ngă, dĩ âm thanh cầu ngă, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”.

          ()爾時世尊而說偈若以色見我以音聲求我是人行邪道不能見如來

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn nói kệ rằng: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai”).

 

“Nhĩ thời” (Lúc bấy giờ) chính là lúc phá giải vừa mới xong. Nêu ra hai chữ ấy chính là dạy học nhân phải nên đồng thời thấu hiểu khoa trên đây, v́ những điều được nói trong bài kệ chính là nguyên do phá giải vậy. Chữ Sắc chỉ chung hết thảy sắc tướng, ba mươi hai tướng cũng được bao gồm trong ấy. Hai chữ Ngă là nói về Như Lai, tức là nói đến tánh. “Âm thanh” bao gồm âm thanh thuyết pháp trong ấy, tức là nói chớ nên chấp giữ “nhất như, b́nh đẳng” như đă nói trên đây, hướng vào văn tự âm thanh để cầu! “Kiến sắc” (thấy sắc) tức là Nhăn Thức, “văn thanh” (nghe tiếng) tức là Nhĩ Thức. Nêu ra hai thức để khái quát các thức khác. Nói chung, thấy, nghe, hay, biết, tuy bản thể của chúng là tánh, nhưng chúng sanh từ vô thỉ đến nay đă biến chúng thành Thức. Nay nếu dùng sắc để thấy, dùng âm thanh để cầu, hiển nhiên là nghiệp thức nắm quyền hành xử, chấp trước cảnh tướng lục trần. Muốn dùng đó để thấy Pháp Thân, dùng đó để cầu Pháp Thân, rơ ràng là vọng kiến, rơ ràng là hướng ra phía ngoài truy cầu. Tri kiến đă hết sức bất chánh, mà c̣n muốn thấy Pháp Thân Như Lai ư? V́ thế, chê trách rằng: “Thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai” (người ấy hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai). Do tánh Chân Như chẳng phải là cảnh giới của nghiệp thức phân biệt, chấp trước. Kết lại ư nghĩa “muốn quán nhất như, mà chẳng hết sạch t́nh thức th́ sẽ chẳng thể!”

          Chắc có kẻ nói: Kinh Phật thường dạy mọi người quán tướng hảo của Phật, là v́ lẽ nào? Cần phải biết: Đấy là phương tiện. Nói “phương tiện” tức là chứa đựng hai ư nghĩa:

1) Chúng sanh chỗ nào cũng đều chấp trước. V́ thế, khiến cho họ bỏ nhiễm quán tịnh th́ đây là phương tiện thứ nhất.

2) Đă biết quán tịnh, lại khiến cho họ tiến đến rốt ráo như những điều được nói ở đây; đấy là phương tiện thứ hai vậy.

Bởi lẽ, từng bước dẫn mọi người tiến nhập thù thắng, th́ gọi là “phương tiện”. Do vậy, trong Thập Lục Quán Kinh, điều trọng yếu nhất là mấy câu thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (tâm này là Phật, tâm này làm Phật). Hiểu hết thảy duy tâm, sẽ biết tuy quán tướng hảo, nhưng chẳng chấp đó là thật. Đấy là trừ khử t́nh thức phân biệt, chấp trước. Do vậy, người niệm Phật tuy quán thấy Phật Di Đà hiện tiền, Cực Lạc hiện tiền, cũng chớ nên chấp là v́ lẽ này! V́ sao vậy? V́ tướng do tâm tạo. Cái tâm tự tánh thanh tịnh vốn vô tướng, vô bất tướng, tướng và bất tướng lại càng chẳng cần bận tâm! Chớ nên không biết lư này! Hăy nên biết: Để ư nơi đó, sẽ là phân biệt, chấp trước!

          Trên đây đă trừ khử tướng đến chỗ tột bậc, mà cũng chính là tổng kết của nửa bộ sau từ phần “chẳng có pháp để phát tâm” cho tới chỗ này. Bởi lẽ, khi phát tâm, liền có thể chẳng chấp giữ pháp Bồ Đề. V́ hễ có đôi chút chấp giữ, sẽ là chấp sắc tướng, sẽ hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu, sẽ chẳng phải là chánh tri chánh kiến. Đó là pháp chấp và ngă chấp, sẽ trái nghịch tánh không tịch, há có thể thấy Như Lai được ư? V́ thế, dạy Bồ Tát thông đạt pháp vô ngă là v́ lẽ này. Nếu không, sẽ là tu mù, luyện đui, đi theo tà đạo, muốn nấu cát thành cơm, vĩnh viễn chẳng thể đạt tới mục đích. Do tu hành chính là lấy “thấy Như Lai” làm mục đích. V́ thế, phải nên thông đạt.

          Nhưng trừ khử tướng chỉ là chớ nên chấp giữ mà thôi. Nếu hiểu lầm là diệt tướng th́ lại hết sức sai lầm! Do vậy, bèn có kinh văn thuộc khoa tiếp theo! Dưới đây là khoa “trừ khử Diệt Tướng để nêu rơ chẳng khác”. Nay tôi trước hết sẽ nói ư nghĩa trọng yếu trong ấy. Trong nửa bộ sau, khoa này không chỉ nặng vạn cân, mà các điều đă nói từ phần mở đầu kinh như “chẳng nên giữ lấy pháp, chẳng nên giữ lấy phi pháp, chẳng phải phi pháp”, và đă nói “tức phi”, lại nói “thị danh”, măi cho tới chỗ này mới nói rơ nguyên do. V́ thế, trong toàn thể bộ kinh, [khoa này] cùng với khoa trên đây, tức khoa “nói rơ chẳng một” chính là chỗ then chốt khẩn yếu nhất. Ví như ngàn núi muôn hang, ngoằn ngoèo uốn lượn, chạy tới nơi đây, cùng xoay ṿng bao bọc, kết tṛn lại, khiến cho vô số ngọn, rặng chập chùng, không ǵ chẳng được dính dáng mà thành hữu t́nh, hữu thế! Cần phải biết: Nửa bộ đầu nhằm nói với người mới mong phát tâm. Do vậy, dạy họ “Không lẫn Hữu đều chẳng chấp” để phù hợp Trung Đạo. Phàm nói các chỗ “tức phi, thị danh”, ngữ khí phần lớn đều kiêm cả hai bên. Đă chẳng thể chấp Hữu, lại chẳng thể chấp Không. Nói là “thị danh” hàm nghĩa: Có danh tướng tuy là giả, nhưng chưa từng chẳng phải [là diễn tả hoặc khơi gợi người nghe lănh hội thực chất]!

          Cho tới nửa bộ sau là nói với người phát đại tâm, tu đại hạnh, lại c̣n có thể chẳng chấp giữ tướng của hết thảy các pháp, nhưng lại sợ họ riêng chấp giữ tướng của pháp Bồ Đề, sẽ trọn gây hệ lụy cho không tịch, trọn chẳng thể chứng tánh, nhưng cái chấp này tột bậc vi tế, khó trừ nhất! V́ thế, những điều được nói trong nửa bộ sau đều là thống thiết trừ khử chấp trước vào bên Hữu, tuy có lúc “tức phi”“thị danh” cùng nói, nhưng ngữ khí phần nhiều thiên trọng “tức phi”, ngụ ư: Pháp tướng “tuy là” (tuy diễn tả chân pháp), nhưng rốt cuộc [danh tướng ấy] là giả danh. Do giả danh, cho nên có nghĩa là “tức phi”. Ắt phải đợi trừ khử sao cho mảy trần chẳng nhiễm, chẳng vướng mắc tơ tóc ǵ, sau đấy mới lại quay đầu lại, nói “chớ nên chấp Không”. V́ thế bảo có ư nghĩa nặng vạn cân”. Đấy chính là như ư nghĩa trong nhà Thiền nói bách xích can đầu, cánh tấn nhất bộ” (đầu sào trăm thước, lại tiến thêm một bước nữa). Lại nói: Hoàn yếu phiên cá cân đẩu” (C̣n phải tung ḿnh lộn nhào). “Lộn nhào” chính là xoay đầu lại. Hơn nữa, nửa bộ đầu nói “chớ nên chấp Không”, chỉ nói đó là lẽ đương nhiên. Nếu ở đây chẳng có câu “ư pháp, bất thuyết đoạn diệt tướng” (nơi pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt) để chỉ bảo, không chỉ là lư ấy chưa rơ, mà cũng chẳng có chỗ quy kết, tinh thần của cả bản kinh cũng không kết tụ được! Do đó nói khoa này và khoa trước đó là chỗ then chốt trọng yếu của cả bản kinh, v́ đây là chỗ quy kết của các nghĩa đă nói từ đầu kinh cho tới đây. Tuy nhiên, nửa bộ sau từ phần mở đầu trở đi, chuyên trừ khử chấp Hữu. Khoa trước tuy có phần tổng quy kết “trừ Hữu”, chứa đựng ư nghĩa u thâm, nhưng Lư vốn nhất quán, c̣n dễ nói rơ. Chỉ có khoa này, bỗng nhiên “xoay bánh lái”, nhăn quang nh́n bốn phía, ngữ khí lẫn tinh thần đều chuyên chú nơi nửa bộ trước. V́ thế, trong một câu bao hàm nhiều nghĩa. Đúng là như “trắc khán thành phong, hoành khán thành lănh, diện diện giai phóng quang minh, giai thành dị thái” (nh́n nghiêng thành ngọn, nh́n ngang thành rặng, mặt nào cũng đều tỏa sáng, đều có vẻ rực rỡ khác nhau), chẳng biết nói từ đâu. Nay muốn nói rơ đạo lư nơi mỗi mặt, trước hết hăy nên nói ư chỉ to lớn. Đă hiểu rơ ư chỉ to lớn rồi, sẽ dễ hiểu mỗi mặt hơn!

          Hăy nên biết: Tánh là Thể của hết thảy các pháp. Tướng là mặt ngoài. Bởi lẽ, tu hành vốn là để chứng tánh. Do vậy, chớ nên chấp tướng bề ngoài. Đấy chính là lư nhất định, nhưng có bề trong th́ cũng cần có bề ngoài. Nếu chỉ có chủ thể, trọn chẳng có biểu hiện, chủ thể cũng tồn tại trơ trọi, chẳng có tác dụng. Do vậy, tu hành muốn chứng tánh th́ chớ nên chấp giữ tướng, mà cũng chớ nên đoạn diệt tướng. Đây cũng là lư nhất định. Ví như xây nhà, kèo, cột là cái sườn chánh, là Thể. Cửa cái, cửa sổ, cánh cửa, vách, cho đến gạch, ngói, tro, đá v.v… là mặt ngoài, là tướng. Tự nhiên cần phải chú trọng cột, kèo trước hết, nếu chỉ biết chấp giữ các tướng bên ngoài, chẳng biết chú trọng cái Thể chủ yếu, sao có thể được? Nhưng nếu chỉ có cột, kèo chánh yếu, trọn chẳng có cửa cái, cửa sổ, cánh cửa, tường vách, há c̣n có thể gọi là “nhà” ư? Cất nhà là như vậy, tu hành cũng thế. Xem thí dụ này, sẽ có thể hiểu rơ lư “chớ nên chấp tướng, mà cũng chớ nên phế tướng”. Đó là tông chỉ quan trọng nhất để đức Phật nói khoa này!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2. Trừ khử “diệt tướng” để nói rơ “chẳng khác”

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.1. Nêu bày sự răn nhắc.

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Nhữ mạc tác thị niệm, Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Tu Bồ Đề! Mạc tác thị niệm: Như Lai bất dĩ cụ túc tướng cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.

          ()須菩提汝若作是念如來不以具足相故得阿耨多羅三藐三菩提須菩提莫作是念如來不以具足相故得阿耨多羅三藐三菩提

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Ông đừng nghĩ thế này: Như Lai chẳng do tướng trọn đủ mà đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Tu Bồ Đề! Đừng nghĩ thế này: Như Lai chẳng do tướng trọn đủ mà đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

 

          Như đă nói trên đây, có thể biết khoa “trừ khử diệt tướng” này có ư nghĩa rộng sâu; nhưng không chỉ là rộng sâu, mà c̣n ẩn chứa nhiều nghĩa, đầu mối lại nhiều, tột bậc chẳng dễ nói. Đă nói là chẳng dễ, có thể biết là khó lănh hội, nhưng đă chỗ then chốt trọng yếu, trọn chẳng thể không cẩn thận lănh hội! Ngay cả như trong phần nêu bày sự răn nhắc thiết tha, vừa mở đầu đă lạ lùng! V́ sao nói “Như Lai chẳng dùng tướng trọn đủ để đắc Vô Thượng Bồ Đề” vậy? Hăy nên biết: Bề ngoài nói “tướng trọn đủ”, nhưng thật sự ẩn tàng nghĩa “tu phước đức”, do trọn đủ các tướng là v́ tu phước đức. Trong kinh Phật, loại cú pháp này rất nhiều; đó gọi là “hỗ tương ảnh hiển” (互相影顯, phản chiếu để làm rơ nghĩa cho nhau). Nếu dùng văn tự để nói th́ giống như nói “đừng nghĩ như thế này, Như Lai chẳng do tu phước đức mà đắc Vô Thượng Bồ Đề”, há chẳng trực tiếp, nhanh chóng, thỏa đáng hơn ư? Nay chẳng nói như thế, lại dùng “trọn đủ tướng” để nói là do có hai tầng thâm ư:

          1) Nhằm dẫn khởi phần kinh văn sau đó “chẳng nói tướng đoạn diệt” để đối ứng với “chẳng chấp giữ tướng” trong phần trước, ḥng nêu rơ ư nghĩa “chẳng chấp hai bên”. Hơn nữa, phần trên đă nói là Như Lai, phần dưới nói “tướng trọn đủ”, có thể nêu rơ ư nghĩa “tánh tuy vô tướng, nhưng cũng là vô bất tướng”.

          2) Nói một tướng trọn đủ, người nghe sẽ có thể lănh hội trong ấy có bóng dáng của tu phước đức. Nếu nói “tu phước đức”, người nghe chưa chắc đă nghĩ là nói “trọn đủ tướng”. Đó là cách nói thiện xảo! Nói chung, một lời như thế bao gồm cả hai điều, do phần trước đă nói Luân Vương cũng có ba mươi hai tướng, nhưng là do tu phước mà được, [tức là sự chấp trước tướng phước đức] đă bị đả phá, lại sợ người nghe hiểu lầm “chứng tánh chẳng cần tu phước”. Lại do phần trên đă nói “dùng sắc để thấy ta là hành tà đạo”, sợ người nghe hiểu lầm “để thấy Như Lai ắt phải diệt tướng”. Nay lập thuyết như thế, tức là hai loại hiểu lầm đều bị trừ khử, cho nên nói là “thiện xảo”. Chữ Thị trong “nhữ mạc tác thị niệm” (ông đừng nghĩ như thế này) là nói tới ư “chẳng dùng tướng trọn đủ” v.v… trong phần kinh văn tiếp theo đó, chính là v́ sợ người ta nghe nói những điều trước đó, sẽ nẩy sanh hiểu lầm, mà nghĩ như thế. Do trưởng lăo là bậc đương cơ, đại diện chúng sanh, [đức Phật] chỉ cần hướng về trưởng lăo nói, chứ thật ra là dạy bảo trọn khắp hết thảy mọi người.

          Câu “đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” ngầm chứa nhiều nghĩa, phải nói theo từng tầng một.

1) A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề nghĩa là Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, nhưng cũng bao hàm ư nghĩa Phật và Như Lai. V́ sao nói là bao gồm nghĩa Như Lai? Như Lai là Pháp Thân b́nh đẳng, chẳng có cao thấp. Thể dứt bặt đối đăi; cho nên nói là Vô Thượng. Do b́nh đẳng, nên nói là Chánh Đẳng. Bất giác th́ chẳng thể chứng, nên nói là Chánh Giác. V́ sao nói có ư nghĩa chữ Phật [trong ấy]? Phật là giác, cho nên nói là Chánh Giác. Tự giác, giác tha, chẳng hai, chẳng khác, nên nói là Chánh Đẳng. Giác đă viên măn, đạt tới địa vị rốt ráo, nên nói là Vô Thượng. V́ thế, Vô Thượng Chánh Đẳng Giác có thể nói là “tánh đức Như Lai”, là từ ngữ để gọi chung quả đức Phật. Ở đây, không nói Phật, không nói Như Lai, mà nêu lên tên gọi chung để nói, nhằm hiển thị hai ư nghĩa:

a) Do phần trên đă nói rơ là “tướng trọn đủ”, ẩn chứa ư nghĩa “tu phước đức”, nếu chỉ nói tới phước đức tu nhân để mong quyết đạt được cái quả th́ nên dùng Phật để nói. Nếu chỉ xét theo phương diện “tướng tuy chẳng phải là tánh, mà vẫn chẳng ĺa tánh”, hăy nên dùng Như Lai để nói. Nay câu trên đây đă chứa đựng cả hai nghĩa ẩn hiển, do vậy hăy nên dùng danh xưng chung cùng chứa đựng hai phẩm đức “tánh”“quả” để gọi vậy.

          b) Vừa mới nói “đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” chính là để dẫn khởi “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” trong phần sau, đó là do muốn dựa vào quả chứng để nói rơ nhân tâm (cái tâm tu nhân), ḥng nêu rơ lúc vừa mở đầu nửa bộ sau đă nói nghĩa chân thật “thật sự chẳng có pháp phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Khi mở đầu, trước hết liền nói nghĩa “chẳng có pháp để phát Bồ Đề”. Kế tiếp nói rơ nghĩa “chẳng có pháp để đắc Bồ Đề”. Một đằng phát, một đằng đắc, đối ứng nhau mà nói. Ở đây cũng là nói đối ứng “một đằng đắc, một đằng phát”, chính là để bổ túc ư nghĩa đă nói lúc mở đầu [nửa bộ sau]. V́ sao bảo là bổ túc? Nhằm nói rơ “pháp” được nói trước đó bao hàm phi pháp. “Chẳng có pháp” được nói trong phần trước chính là chẳng chấp hai bên, pháp và phi pháp đều chẳng có! Như vậy th́ mới là phát Bồ Đề. Nếu chỉ hiểu một phía “chẳng giữ lấy pháp”, chưa khỏi rơi vào Không, sao c̣n có thể nói là phát Vô Thượng Bồ Đề được nữa? Ở đây, Đắc và Phát cùng nói, cùng với lúc vừa mở đầu đă cùng nói, phản chiếu lẫn nhau thành ư chỉ trọng yếu để tiến nhập. Do vậy, lại đủ để chứng minh sau chữ Bồ Đề, chẳng có chữ Tâm như trong phần trước đă nói. Tức là trong phần kinh văn ở đây, sau “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”, há nên chấp [phải thêm vào] một chữ Tâm ư? Đấy chính là do kẻ chẳng hiểu rơ ư chỉ của kinh, luông tuồng thêm vào bừa băi, há chẳng phải là lầm lẫn to lớn ư?

          2) Nói một chữ Đắc cũng có ư nghĩa tinh diệu. Chữ Đắc ấy chính là nói đối ứng khít khao với chữ Quán trong khoa trước. Do đối ứng khít khao với chữ Quán mà nói chữ Đắc, rơ ràng là ư nghĩa “quán th́ chớ nên giữ lấy tướng, đắc th́ chớ nên phế tướng”. V́ sao vậy? Đạo tu Quán chú trọng nơi kiến tánh. Quán tướng há có thể kiến tánh? Trong nửa bộ đầu, đă nói rơ ràng: “Nhược kiến chư tướng phi tướng, tắc kiến Như Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng, sẽ thấy Như Lai). V́ thế, muốn thấy Như Lai, phải có thể thấy “các tướng chẳng phải là tướng” th́ mới được. Nay nói “dùng ba mươi hai tướng để quán Như Lai”, vẫn chưa thể thấy tướng chính là chẳng phải tướng”, sao có thể thấy Như Lai cho được? Lầm dẫn nghĩa Như, tự cho là đúng, chẳng biết nghĩa Như, tuy chẳng phế tướng, cũng phải nên chẳng giữ lấy tướng th́ mới gọi là Như. Nay chấp vào một bên, sao gọi là Như cho được? Hồ đồ hết mức, cho nên [đức Phật] đả phá rằng [kẻ đó] “hành tà đạo, chẳng thể thấy [Như Lai] nhằm nói rơ tánh và tướng chẳng phải là một!

          Khoa này chẳng nói Quán mà nói Đắc, đó là nói xét theo tu nhân để chứng quả. Đó cũng là xét theo tánh và tướng để nói Đắc. V́ sao vậy? Do tánh và tướng chẳng đắc, chẳng gọi là chứng quả. Ư nói: Nếu có thể chẳng chấp tướng, tướng cũng nào có ngăn ngại tánh, cho nên sẽ đắc. Nói chung, tánh là trong, tướng là ngoài. Nói theo trong và ngoài th́ tánh và tướng chẳng phải là một. Nếu nói theo ngoài th́ ắt có trong, trong ắt có ngoài, trong ngoài hợp nhấtth́ tánh và tướng chẳng khác. Điều này giống như mua nhà, phải nên xem xét kèo cột. Nếu chỉ nh́n tướng bên ngoài, mà bảo “nh́n tướng bề ngoài chính là thấy kèo cột”, há chẳng phải là nói đùa ư? Nhưng nếu chỉ có kèo, cột, mà cửa cái, cửa sổ, cánh cửa, tường vách, nhất loạt chẳng có tướng bề ngoài, th́ tuy có được cái nhà ấy, có khác ǵ chẳng được? Tu hành cũng như vậy. Nói theo quán, ắt chớ nên giữ lấy tướng. Nói theo đắc, ắt phải nên đừng phế tướng. Hiểu rơ thí dụ này, sẽ có thể triệt để hiểu rơ lư “một và khác đều chẳng nên chấp!”. Càng có thể thấy đức Phật thuyết pháp, mỗi lời đều có chừng mực, mỗi chữ đều chứa đựng diệu lư, đúng là sợ người học sơ ư, hời hợt, đối với đạo lư “tánh tướng chẳng một, chẳng khác” cứ nuốt trộng quả táo, chẳng thể lắng ḷng cặn kẽ lănh hội. Nay xem những điều vừa nói trên đây, đức Thế Tôn đă nương theo Hàng Bố trong “tánh tướng viên dung” để vạch ra rành rẽ, phân minh, rơ ràng, rành mạch cho hết thảy người học. Nếu có thể thân thiết lănh hội, sẽ tự có thể đă chẳng giữ lấy tướng, lại c̣n chẳng giữ lấy phi tướng. Vừa có Hàng Bố, lại c̣n có thể Viên Dung. Chuyện nào cũng đều phù hợp Trung Đạo, pháp nào cũng đều chẳng trái nghịch tự tánh.

          3) Phải nên biết: Những điều đă nói trên đây cũng có ư nghĩa chiếu rọi lẫn nhau, chớ nên không biết! V́ sao nói vậy? Khoa trước nói về Quán là nói theo phía cái nhân, nhằm dạy rơ “tu nhân th́ chớ nên chấp giữ tướng, chớ nên tu phước hữu lậu”. Hăy nên biết: Tu nhân đă chẳng thể giữ lấy tướng, chứng quả sao lại có thể giữ lấy tướng? Chỉ là chẳng phế tướng mà thôi! Khi c̣n thuộc địa vị tu nhân, chớ nên tu phước hữu lậu, do tu cái nhân vô lậu, sẽ có thể chứng cái quả vô lậu. Khoa này nói “đắc” là nói theo phía quả, nhằm giảng về chứng quả, trọn chẳng phải là phế tướng, cũng chẳng phải là không do tu phước mà có. Hăy nên biết: Chứng quả đă chẳng phải là phế tướng, tu nhân lại há nên phế tướng? Chỉ là chẳng thể chấp giữ mà thôi! Quả chẳng phải là không do tu phước mà có, th́ khi c̣n đang tu nhân, chỉ nên chẳng tu phước hữu lậu, há có phải là dạy tuyệt đối chẳng tu ư? Nhân quả như một, cố nhiên chiếu rọi lẫn nhau để giảng rơ vậy!

          4) Khoa trước và khoa này, đôi đằng đối chiếu để xem, lại có ư nghĩa trọng yếu. Trong phần Trường Hàng thuộc khoa trước, có ư nói: Luân Vương cũng có ba mươi hai tướng mà chẳng phải là Như Lai, nhằm nói rơ ư nghĩa “tu phước mà chẳng tu huệ, sẽ không thể đắc quả Vô Thượng Bồ Đề”. Khoa này răn nhắc đừng khởi ư niệm chẳng tu phước đắc quả Bồ Đề”, nhằm nói rơ ư nghĩa “tu huệ mà chẳng tu phước, cũng chẳng thể đắc quả Vô Thượng Bồ Đề”. Trong bốn câu kệ thuộc khoa trên, quở trách “dùng sắc và âm thanh để thấy Như Lai là hành tà đạo”, nhằm nêu rơ ư nghĩa “kiến tánh chớ nên giữ lấy tướng”. Khoa này răn nhắc đừng nẩy sanh ư niệm chẳng do tướng trọn đủ đắc Bồ Đề”, nhằm nói rơ ư nghĩa “kiến tánh trọn chẳng phải là phế tướng”. Từ điều thứ nhất đến điều thứ tư, gộp lại để xem, đă đem [các ư nghĩa] “lư, tánh, sự, tu” cùng với “tánh tướng chẳng một, chẳng khác” vừa là Hàng Bố, vừa là nhân nhân quả quả Viên Dung, nói tới chỗ vi tế, chặt chẽ tột bậc, trọn vẹn tột bậc, nhưng các ư nghĩa được chứa đựng vẫn chẳng phải chỉ là như thế!

          5) Khoa trước nói Quán, khoa này nói Niệm. Quán và Niệm có cùng một nghĩa. Gộp hai khoa lại để nói, có ư nói: Tướng và phi tướng, phước và phi phước, hai bên đều chẳng chấp, đó là chánh quán, là chánh niệm. Nếu chỉ giữ lấy một bên, tức chẳng phải là chánh quán, chánh niệm. V́ sao vậy? Do chẳng khế hợp Trung Đạo. V́ thế, khoa trước đă quở trách “giữ lấy tướng chính là hành tà đạo”. Khoa này th́ lại đối với chuyện giữ lấy phi tướng bèn răn nhắc thiết tha “đừng nghĩ như thế”.

          6) Ba mươi hai tướng là Ứng Thân. Ứng Thân sanh diệt vô thường. Do thuận tiện nói rơ ư nghĩa “tánh và tướng chẳng phải là một”, khoa trên do trừ khử chuyện giữ lấy tướng, bèn nêu ra ba mươi hai tướng để nói. Tướng trọn đủ tức là như trong phần trên đă nói là “cụ túc chư tướng”, chính là Báo Thân. Nhưng xét theo tướng để nói, th́ gọi là Báo Thân. Nói theo tánh th́ gọi là Báo Đắc Pháp Thân, tức là nói theo nghĩa “tánh và tướng chẳng khác”. V́ vậy, ở đây trừ khử “diệt tướng”, lại nêu ra tướng trọn đủ để nói. Hăy nên biết: Nói như thế cũng là chiếu rọi lẫn nhau để nêu tỏ ư nghĩa! V́ sao vậy? Ba mươi hai tướng chớ nên giữ lấy, th́ có thể biết: Tướng trọn đủ cũng chớ nên giữ lấy. Tướng trọn đủ chớ nên diệt, th́ có thể biết là ba mươi hai tướng cũng chớ nên diệt. Tách ra để nói chỉ nhằm dễ dàng hiển thị ư nghĩa “chẳng một, chẳng khác” đó thôi!

          7) Trong phần “chẳng dùng tướng trọn đủ để đắc Bồ Đề” lại c̣n chứa đựng ư nghĩa tinh vi. Hăy nên biết: Thành tựu tướng trọn đủ là do phước huệ song tu mà có, không chỉ là tu phước mà thôi! Thế nào là song tu? Khi tu phước th́ liền biết chẳng chấp tướng. Biết chẳng chấp tướng sẽ là huệ. Do vậy, có thể thành tựu tướng trọn đủ, đắc Vô Thượng Bồ Đề. Điều này hoàn toàn khác hẳn đường lối của Luân Vương, v́ phước nghiệp của Luân Vương được gọi là hữu lậu, chẳng có chi khác, do tu phước chấp tướng mà ra. Do vậy, chỉ có thể thành tựu ba mươi hai tướng, chỉ có thể đắc cái quả Luân Vương. Do vậy, có thể biết: Ở đây tuy nói là “chẳng diệt tướng”, thật ra, đă kèm thêm ư nghĩa “chẳng giữ lấy tướng” trong ấy. Đó là v́ nó chẳng khác tánh. Tầng ư nghĩa này chính là ư nghĩa tinh diệu của khoa này. Do vậy, nêu ra tướng trọn đủ để nói rơ “chẳng khác”, tông chỉ ở chỗ này! V́ sao vậy? “Chẳng khác” tức là nhất như, ắt là tướng và phi tướng hai bên đều chẳng giữ lấy, mới gọi là “nhất như”. Như đối với những điều được nói trong khoa trước, nếu chỉ biết một phía “chẳng giữ lấy phi tướng”, sao có thể gọi là nhất như được ư?

          Gộp chung lại các nghĩa đă nói, sẽ có thể hiểu rơ ư nghĩa của khoa này. Không ǵ chẳng v́ sợ người nghe do nghe nói “trừ khử tướng” trong phần trước, sẽ lệch về phía Không, hiểu lầm là tuyệt đối vô tướng, sẽ mâu thuẫn với Thật Tướng vô tướng, vô bất tướng, sẽ chẳng phải là nghĩa Như của các pháp, chẳng phải là pháp b́nh đẳng, sẽ chẳng đắc quả Vô Thượng Bồ Đề, chẳng thấy Như Lai vậy! V́ thế, thiết tha răn nhắc đừng nghĩ như thế! Nếu nghĩ như thế, chính là tà kiến, chẳng phải là chánh kiến. Luận theo đạo lư, luận theo ngữ khí, chỉ một câu “mạc tác thị niệm” (đừng nghĩ như thế) này, ư nghĩa đă trọn. Nay lại nói ngay hai câu “Như Lai bất dĩ cụ túc tướng” (Như Lai chẳng do tướng trọn đủ), lại c̣n lặp lại để nêu rơ, khiến cho mọi người biết chú trọng hai câu ấy chính là ư nghĩa trọng yếu, chẳng thể xem nhẹ được! V́ thế “mạc tác thị niệm” cần phải đọc liền một hơi với hai câu kế đó. Nếu đọc ngắt ra, sẽ cảm thấy hai câu sau bị trùng lặp!

          Tôi từng thấy một bản khắc đầu đời Thanh, lầm lẫn ngắt câu từ chữ Niệm, lại e ngại hai câu sau trùng lặp, bèn bỏ đi chữ Bất, thành ra “Như Lai dĩ cụ túc tướng cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Như Lai do tướng trọn đủ mà đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) sai lầm to! Cần phải biết: Có chữ Bất, hàm nghĩa: Tuy chẳng nên giữ lấy tướng, mà cũng chớ nên phế tướng! Ngữ khí song chiếu cả hai bên, viên dung hoạt bát chi bằng! Nếu bỏ đi chữ Bất, ngữ khí sẽ là chấp lấy một bên “giữ lấy tướng”, vướng mắc, tŕ độn, khác biệt một trời một vực! Đại Trí Độ Luận nói: “Bát Nhă như đống lửa lớn, bốn phía đều chẳng thể chạm”. Há có thể đặt một câu tŕ độn ư? Thử xem văn tự trong kinh này, trọn chẳng có một chữ nào nói thừa thăi. Luận theo mặt văn tự, cũng là bút pháp thần kỳ tuyệt diệu! Chẳng do tài dịch thuật của La Thập đại sư, sẽ chẳng thể hay khéo đến như thế. Đem bản dịch của Ngài so với các bản dịch khác, sẽ tự biết. Loại khắc bản đầu đời Thanh ấy, may mà chẳng có ai phỏng theo! Nếu không, trong bản lưu thông hiện thời, lại nhiều thêm một điều độc hại!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.2. Kết lại phần hiển thị chánh nghĩa

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Nhữ nhược tác thị niệm, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả, thuyết chư pháp đoạn diệt, mạc tác thị niệm, hà dĩ cố? Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng.

          ()須菩提汝若作是念發阿耨多羅三藐三菩提者說諸法斷莫作是念何以故發阿耨多羅三藐三菩提者於法不說斷滅

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Nếu ông nghĩ thế này “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nói các pháp đoạn diệt, đừng nghĩ như vậy. V́ sao vậy? Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, đối với pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt).

 

Kinh nghĩa trong khoa này hết sức khúc chiết, tinh tế, hăy nên lắng ḷng lănh hội. Trong bản lưu thông, sau chữ Bồ Đề luôn có chữ Tâm, chứ bản chép tay của người đời Đường đều chẳng có. Chữ Tâm được thêm vào khoảng thời Ngũ Đại, chớ nên thêm vào!

Khoa này chính là để nói rơ nguyên do có khoa “nêu bày, thống thiết răn nhắc” trên đây. Từ “nhữ nhược tác thị niệm” (nếu ông nghĩ như thế này) cho tới “thuyết chư pháp đoạn diệt” (nói các pháp đoạn diệt) là một đoạn, nhằm nói rơ nguyên do “tác thị niệm” trong kinh văn thuộc phần trước. Một đoạn từ “hà dĩ cố” trở đi nhằm nói rơ nguyên do “mạc tác thị niệm” (đừng nghĩ như thế) trong kinh văn thuộc phần trên. Chánh nghĩa trong khoa trước đến chỗ này mới được hiển lộ. V́ thế, đặt tựa đề cho khoa này là “kết hiển chánh nghĩa” (kết lại bằng cách hiển lộ chánh nghĩa). “Nhữ nhược tác thị niệm” tức là nói [nếu ông] nghĩ “Như Lai chẳng dùng tướng trọn đủ để đắc Vô Thượng Bồ Đề”.

Chữ Pháp trong “thuyết chư pháp” tiếp nối sát ngay “cụ túc tướng” (tướng trọn đủ), bởi tướng trọn đủ là do tu phước mà thành. Tu phước bằng cách nào? Chính là rộng hành các pháp Lục Độ. Do vậy, nếu nói “chẳng do tướng trọn đủ”, sẽ chẳng khác ǵ nói “không cần tu pháp Lục Độ”, há chẳng phải là nói thành ra các pháp đoạn diệt ư? V́ thế, [đức Phật nói hễ nghĩ như thế sẽ] chính là “thuyết chư pháp đoạn diệt” (nói các pháp đoạn diệt). Trong ấy, lại có một câu “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” nhằm nói ǵ vậy? Hăy nên biết: Khi vừa mở đầu nửa bộ sau, đức Thế Tôn đă từng nói “chẳng có pháp để phát Bồ Đề”, rất sợ kẻ chẳng thể hiểu sâu xa nghĩa này, nghe xong lại nói “ta đối với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, thậm chí chẳng có chút pháp để đắc”. Như do khoa trên đă nói “nếu dùng sắc để thấy ta th́ là hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai”, [kẻ đó] ắt sẽ hiểu lầm bảo: “Đối với nghĩa ‘chẳng có pháp để phát Bồ Đề’ trong phần trước, ta đă biết rồi. Đắc Bồ Đề đă là chẳng có chút pháp nào, lại c̣n khai thị rơ ràng là ‘dùng sắc để thấy th́ là tà đạo’, mà sắc là tướng, có thể thấy là Như Lai đắc Vô Thượng Bồ Đề, hoàn toàn chẳng liên quan ǵ với tướng trọn đủ!” Đó là nguồn gốc của ư niệm do chẳng dùng tướng trọn đủ nên đắc Bồ Đề”. Nếu nghĩ như thế, bèn có niệm thứ hai rằng: “Tướng trọn đủ là do hành pháp Lục Độ, siêng tu phước đức mà ra. Đó gọi là ‘trăm kiếp tu tướng hảo’. Nay đắc Bồ Đề, đă rơ ràng là chẳng liên quan với tướng trọn đủ. Lại c̣n khai thị rơ ràng ‘đắc Bồ Đề th́ chẳng có chút pháp nào’. Có thể thấy: Phát Bồ Đề, cũng ắt chớ nên có chút pháp nào! Chỉ nên nhất định tu sao cho tiến nhập tánh không tịch mà thôi! Phàm các pháp Lục Độ được gọi là tu phước đức, tướng hảo, toàn thể chẳng màng tới! Đó là lư do khai thị ‘chẳng có pháp để phát Bồ Đề’ vậy!”

Nếu hành nhân hiểu lầm như thế, sẽ hoàn toàn trái nghịch ư chỉ của Phật, đi vào đường tà, ắt rồi sẽ chẳng tu một pháp nào cả! V́ sao vậy? Do nói thành các pháp đoạn diệt, há c̣n có thể nói là “phát Vô Thượng Bồ Đề” nữa ư? V́ thế, răn nhắc đừng nghĩ như thế!

          Do vậy, có thể biết: Đức Phật nói khoa này chính là nói rơ nguyên do v́ sao [người ấy] nghĩ như thế. Nhưng đức Phật đang trong lúc trừ khử chấp tướng, bỗng quay ngoắt lại, nói ra khoa lớn “trừ khử diệt tướng” này, chính là để nói rơ nghĩa chân thật của “chẳng có pháp để phát Bồ Đề” đă nói trong phần trước. Mức quan hệ trọng yếu của khoa này cũng đă rơ ràng rồi! V́ thế, tôi vừa mới nói: Ư nghĩa [trong khoa này] khúc chiết, tinh tế, hăy nên lắng ḷng lănh hội. Phàm nói lư đến chỗ tinh vi, sâu xa, rất cần phải biện định tỉ mỉ. Nếu không, ắt sẽ là “sai chỉ hào ly, sai lầm ngàn dặm”, đi vào tà đạo mà chẳng tự biết, nguy hiểm tột bậc! Đó là lư do học Phật th́ phải nên mở mang viên giải, lấy chuyện thân cận thiện tri thức làm nhiệm vụ cấp bách vậy!

          Từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, nói rơ nguyên do “bất ưng tác thị niệm” (chớ nên nghĩ thế này), có nghĩa là nói: Trong phần trước đă nói “chẳng có pháp để phát Bồ Đề” chính là nói “chớ nên giữ ư niệm rằng đây là Vô Thượng Bồ Đề” [nói như vậy] nhằm trừ căn bệnh chấp giữ pháp tướng, chứ có bao giờ nói đoạn diệt pháp tướng! V́ thế nói “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng” (phát A Nậu Đa La Tam Miệu, Tam Bồ Đề, đối với các pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt). Trong phần trước, khi nói “chẳng có pháp để phát Bồ Đề”, đă nói rơ ràng: Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, chỉ nên sanh khởi ư niệm “hăy nên tận hết trách nhiệm độ sanh”, dẫu tận mà vẫn giống như chưa tận, há có phải là nói đoạn diệt các pháp! Sau đó, lại nói: “Nhược Bồ Tát tác thị ngôn: Ngă ưng diệt độ vô lượng chúng sanh, tắc bất danh Bồ Tát” (nếu Bồ Tát nói như thế này “ta hăy nên diệt độ vô lượng chúng sanh” th́ chẳng gọi là Bồ Tát), cũng chính là nói: Chớ nên có cái tâm cho rằng “ta có thể trọn hết trách nhiệm”. Há có phải là nói đoạn diệt các pháp ư? Phật đắc Bồ Đề, chẳng có chút pháp để có thể đắc, tức là tuy nói “đắc”, nhưng chẳng nghĩ có cái để đạt được, vẫn chẳng phải là đoạn diệt các pháp.

Chứng Pháp Thân, đắc Bồ Đề, ắt phải là phước huệ song tu. Do phước huệ song tu, bèn có thể bi trí trọn đủ; sao có thể nói là “tuyệt đối chẳng liên quan đến tướng trọn đủ” cho được? Hiểu lầm như thế, sai lầm quá to! Hăy nên biết: Đức Thế Tôn đại từ, do từ trước tới nay cực lực trừ khử tướng, chỉ sợ kẻ mơ hồ chưa thể hiểu sâu, khó tránh chẳng khỏi hiểu lầm như thế. Do vậy, Ngài khẩn thiết răn nhắc bảo ban. Bảo ban, răn dạy như thế, không chỉ nhằm xiển minh nghĩa chân thật “chẳng có pháp để phát Bồ Đề”, lại c̣n nhằm khai thị người học muốn chứng Pháp Thân b́nh đẳng, và nghĩa Như của các pháp, phải dứt sạch cuồng tâm, nhất niệm chẳng sanh th́ mới được! V́ sao vậy? Do động niệm liền có phân biệt, chấp trước. Do vậy bảo “mạc tác thị niệm”. V́ thế, bèn nói: Sau chữ Bồ Đề ở đây, vàn muôn chớ nên thêm một chữ Tâm, hiển nhiên có thể thấy rơ!

          Nói chung, đối với các nghĩa đă nói từ lúc mở đầu kinh cho tới nay, nếu không có kinh văn thuộc hai khoa lớn “trừ khử t́nh chấp” ấy, sẽ khó thể triệt để lănh hội, mà cũng chẳng có cách nào diễn nói. Hăy nên biết: Đủ thứ đạo lư “hai bên đều trừ” được diễn nói từ đầu kinh tới đây, đều được nhiếp thủ trong các nghĩa được diễn tả bởi hai khoa lớn ở chỗ này. V́ thế, hai khoa lớn này chính là then chốt quan trọng nhất trong cả bản kinh, do ư nghĩa của chúng có thể xuyên suốt toàn bộ bản kinh vậy!       

          Như trong nửa bộ trước, vừa mở đầu liền nói “diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh, thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ”, tức là nói: Độ trọn hết chúng sanh, nhưng chẳng chấp tướng, chẳng phải là nói “một chúng sanh cũng chẳng độ”; [nếu hiểu là một chúng sanh cũng chẳng độ], sẽ là tướng đoạn diệt! Lại nói “đối với pháp, chớ nên trụ vào đâu để hành bố thí”, tức là nói khi hành bố thí, chớ nên trụ tướng, trọn chẳng phải là không hành bố thí, trở thành tướng đoạn diệt! Nói “hăy nên hàng phục như thế”, tức là hai bên đoạn diệtchấp trước đều phải hàng phục, chẳng phải là hàng phục một bên. Nói “chỉ nên đúng như lời dạy mà trụ”, chính là hàng phục cả hai bên, chẳng trụ vào hai bên. Chẳng trụ vào đâu như thế, sẽ tự có thể đạt được cái đáng nên trụ, mà cũng chính là trụ đúng như lời dạy! V́ thế nói “nếu tâm có trụ, sẽ chẳng phải là trụ”. Do đó, đức Thế Tôn thị hiện tướng trần lao giống như phàm phu, tức là biểu thị chẳng chấp tướng trọn đủ và ba mươi hai tướng, mà lại chẳng đoạn diệt tướng. Đó gọi là “nhất như”, đó gọi là “b́nh đẳng”. Do vậy, kinh này có vô biên công đức, nếu có thể tín tâm chẳng trái nghịch, [người như vậy] sẽ có thể gánh vác Như Lai, tăng phước diệt tội, sẽ đắc Bồ Đề. Nghĩa này rất sâu, ắt cần phải hiểu sâu xa. Nếu không, chẳng kinh sợ th́ sẽ hồ nghi, mơ hồ, mờ mịt mà thành cuồng loạn vậy!

          Không chỉ là như thế. Phần trước nói “thông đạt vô ngă pháp”, tức là không chỉ nên thông đạt lư “chẳng giữ lấy pháp tướng”, mà c̣n nên thông đạt lư “chẳng diệt pháp tướng”. V́ sao vậy? Nếu giữ lấy pháp tướng, tức là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả. Nếu giữ lấy tướng phi pháp, cũng lại chính là chấp ta, người, chúng sanh, thọ giả! Ắt phải là đối với hết thảy các pháp tướng, đă chẳng giữ lấy, lại chẳng diệt, bèn có thể chứng đắc pháp tánh b́nh đẳng nhất như mà vô ngă. Đó là thật sự có thể thông đạt. V́ thế, có hai khoa lớn này, toàn thể bộ kinh dung hợp thành một khối, nghĩa lư uẩn tàng đều được tuyên thuyết. V́ thế, khoa sau dùng “tri nhất thiết pháp vô ngă, đắc thành ư Nhẫn” (biết hết thảy các pháp vô ngă, được thành tựu Nhẫn) để viên măn kết thúc.

          Trong kinh văn thuộc khoa lớn giảng giải “chẳng một, chẳng khác” này, lại c̣n có một ư nghĩa cực trọng yếu. Nghĩa ấy như thế nào? Chính là nói “chẳng đoạn, chẳng thường”. Tức là khoa “chẳng một” nhằm nói “chẳng phải thường”. Ứng Hóa Thân ba mươi hai tướng tùy thời hiển hiện, sanh diệt chẳng thường. Do chẳng thường, nên cùng với tánh thường trụ chẳng phải là một, nói rơ khoa “chẳng khác” nhằm nói “chẳng đoạn”. Tướng trọn đủ chính là Báo Đắc Pháp Thân, cho nên chẳng đoạn. Do nó chẳng đoạn, nên chẳng khác với tánh thường trụ! Tuy nhiên, đấy vẫn là dựa theo nghĩa tùy nghi để nói. Nếu nói theo liễu nghĩa rốt ráo, th́ Pháp, Báo, Ứng ba thân đều là chẳng thường, chẳng đoạn. Trong kinh văn thuộc hai khoa lớn này, nói rơ ràng là Như Lai, tức là nói theo Pháp Thân. Nói rơ ràng là “cụ túc tướng” (tướng trọn đủ) là nói theo Báo Thân. Nói rơ ràng ba mươi hai tướng là nói theo Ứng Thân. Phàm cùng nói cả ba thân nhằm chỉ rơ: Chớ nên giữ lấy tướng, chớ nên diệt tướng. Bởi lẽ, do nó chẳng thường; v́ thế, chớ nên giữ lấy. Do nó chẳng đoạn; v́ thế, chớ nên diệt. Có thể thấy ư chỉ của kinh rơ ràng hiển thị ư nghĩa “tam thân chẳng thường, chẳng đoạn”, há có thể bỏ sót mà chẳng nhắc tới ư? Nghĩa này cũng chính là nghĩa trọng yếu trong Bát Nhă, chẳng thể không nói rơ! V́ sao vậy? Hiểu nghĩa “chẳng thường, chẳng đoạn” th́ nhờ đó nghĩa “chẳng một, chẳng khác” càng sáng tỏ. Nếu đă hiểu rơ nghĩa “chẳng một, chẳng khác” sẽ là kiến viên, tri chánh! Nhưng nghĩa này rất khó hiểu rơ, trong các kinh luận Đại Thừa, tuy đă nói nhiều lượt, nhưng nói tường tận nhất, không ǵ hơn kinh Kim Quang Minh bản mười quyển. Nay tôi sẽ trích dẫn để nói, chắc là các vị cũng muốn nghe!

          Kinh ấy dạy: “Y thử Pháp Thân, bất khả tư nghị ma-ha tam-muội, nhi đắc hiển hiện. Y thử Pháp Thân, đắc hiện nhất thiết đại trí. Thị cố, nhị thân y ư tam-muội, y ư trí huệ, nhi đắc hiển hiện” (Nương vào Pháp Thân ấy, ma-ha tam-muội chẳng thể nghĩ bàn bèn được hiển hiện. Nương vào Pháp Thân ấy, được hiện hết thảy đại trí. V́ vậy, hai thân ấy nương vào tam-muội, nương vào trí huệ, mà được hiển hiện). Ma-ha là lớn. Tam-muội là Định. Đại Định (Ma-ha tam-muội) là so với đại trí mà nói. Đại trí tức là đại huệ. Định huệ từ Pháp Thân tuyệt đối hiển hiện, nên đều nói là Đại. Đều nói là Đại nhằm chỉ rơ Định và Huệ cân bằng. Chỉ rơ Định Huệ cân bằng nhằm hiển thị Tịch Chiếu đồng thời. Định Huệ là nói theo công phu tu tập, Tịch Chiếu là nói theo tánh sẵn đủ. Khi tịch bèn chiếu, khi chiếu bèn tịch, ngôn ngữ và tâm suy nghĩ chẳng bén mảng được; đó gọi là “ĺa danh, tuyệt tướng”. Do vậy nói là “chẳng thể nghĩ bàn”. Câu này xuyên suốt “đại trí”.

          “Nhị thân” tức là Báo Thân và Ứng Thân. Đó là nói Pháp Thân tánh thể vốn sẵn ĺa danh, tuyệt tướng, tịch chiếu đồng thời, nhưng chẳng tu sẽ không chứng. Nhưng nếu chẳng có tánh thể vốn sẵn trọn đủ, công phu tu tập Định Huệ cũng chẳng thể hiển hiện được! Do đó nói: “Nương vào Pháp Thân ấy, mà được hiện đại định, đại trí”. Đó là nghĩa bề ngoài. Điều cốt tủy là khai thị ắt cần phải ĺa danh, tuyệt tướng, nương vào bổn tịch để tu Định, nương theo bổn chiếu để tu Huệ. Công phu tu tập Định Huệ viên măn cân bằng, sẽ có thể tịch chiếu đồng thời. Đó là chứng đắc Pháp Thân. Cho tới khi đă chứng đắc Pháp Thân, tướng của hai thân Báo và Ứng liền hiển hiện. V́ thế nói “do vậy hai thân nương vào tam-muội và trí huệ mà được hiển hiện”. Xem ư nghĩa của đoạn kinh ấy, có thể biết: Ắt phải ĺa danh tuyệt tướng để tu Định, Huệ th́ mới có thể chứng tánh Pháp Thân, nhưng vẫn chẳng đoạn diệt tướng Báo Thân và Ứng Thân. Đối với Báo Thân và Ứng Thân, kinh ấy dịch thành danh từ hơi khác. Đối với cái thường gọi là Báo Thân, kinh ấy (kinh Kim Quang Minh) dịch là Ứng Thân. Cái thường được gọi là Ứng Thân th́ kinh ấy dịch là Hóa Thân. Trong hết thảy các kinh luận và trước thuật của cổ đức, thường gặp các danh từ khác biệt như thế, kẻ sơ học thường cho là khổ! Nhưng nếu xem kỹ ư chỉ của kinh, sẽ biết [những từ ngữ ấy] nói đến điều ǵ, sẽ thông hiểu, cũng bất tất chẳng phải sợ khó khăn!

          Kinh ấy lại dạy: “Như thị Pháp Thân tam-muội trí huệ, quá nhất thiết tướng, bất trước ư tướng, bất khả phân biệt, phi thường, phi đoạn, thị danh Trung Đạo” (Pháp Thân tam-muội trí huệ như thế, vượt ngoài hết thảy các tướng, chẳng chấp các tướng, chẳng thể phân biệt, chẳng thường, chẳng đoạn, đó gọi là Trung Đạo). Đó là nói rơ Pháp Thân chẳng thường, chẳng đoạn. “Pháp Thân tam-muội, trí huệ” là Định Huệ đầy đủ trọn vẹn, đó là Pháp Thân; chẳng phải là ngoài điều đó mà riêng có Pháp Thân. Bởi lẽ, tam-muội và trí huệ đều nhằm nói tới Pháp Thân, chớ nên hiểu lầm Pháp Thân, tam-muội, trí huệ là ba sự kiện. Xét theo những điều như “nương vào Pháp Thân” v.v… được nói trong bản kinh vừa dẫn trên đây, sẽ có thể hiểu rành rành. V́ sao vậy? Trước nay đều nói là Báo Thân và Ứng Thân từ Pháp Thân mà hiện, nhưng kinh ấy lại nói hai thân ấy đều nương vào tam-muội và trí huệ mà hiện, đủ chứng tỏ tam-muội và trí huệ chính là Pháp Thân! V́ thế, bản tánh của phàm phu chỉ được gọi là Phật Tánh, có lúc gọi là Tại Triền Pháp Thân, hoặc Tại Chướng Pháp Thân, chẳng hề gọi đơn độc là Pháp Thân, chính là v́ nó chẳng có Định Huệ. Hoặc tuy là có, nhưng chẳng đầy đủ. Chưa chứng Nhất Chân pháp giới, sẽ chẳng thể Tịch Chiếu đồng thời, há có thể gọi là Pháp Thân ư? Như vậy th́ đă tu Định Huệ trọn đủ th́ mới gọi là Pháp Thân, có thể thấy Pháp Thân chẳng ngoài Định Huệ trọn đủ.

          Bốn câu từ “quá nhất thiết tướng” (vượt ngoài hết thảy các tướng) trở đi, nêu ra ư nghĩa tinh vi tột bậc. “Quá” () là vượt qua. “Quá nhất thiết tướng” giống như nói vượt khỏi các tướng. Đă nói “vượt khỏi hết thảy các tướng”, lại nói “chẳng chấp nơi tướng” là sao? Câu “quá nhất thiết tướng” là nói nó vô tướng. Tánh thể to lớn không ǵ vượt ra ngoài được, cũng không ǵ nhỏ nhặt chẳng gồm trong, vượt khỏi hết thảy các biểu hiện đối đăi, cho nên là vô tướng.

          Câu “bất trước ư tướng” (chẳng chấp vào tướng) nhằm nói nó vô bất tướng. Do vô bất tướng, bèn có “chẳng chấp” để có thể nói. Bởi lẽ, tánh tuy chẳng phải là tướng, nhưng hết thảy các tướng đều từ tánh hiện. Tuy từ tánh hiện, mà tánh vẫn vượt ra ngoài tướng, cho nên chẳng chấp. Hai câu này soi sáng ư nghĩa lẫn nhau. Do nó vượt thoát, nên chẳng chấp. Do chẳng chấp, nên biết là vượt thoát! Gộp chung ư nghĩa của hai câu này, chính là hiển lộ “tánh tướng chẳng một” vậy. V́ sao vậy? Tánh tuy tùy duyên hiện tướng, mà vẫn vượt ra ngoài chẳng chấp. Nói “chẳng chấp” tức là nói “pháp vốn sẵn như thế”, dùng ǵ để thấy? Tướng đều là sanh diệt vô thường, mà tánh thường trụ tự nhiên, chẳng do tùy duyên hiện tướng mà bị tướng sanh diệt ấy ngăn trở. Có thể biết vốn sẵn chẳng chấp. V́ vậy, tánh và tướng chẳng phải một. Hai câu này cũng là nói rơ Pháp Thân và hai thân Báo Ứng chẳng phải là một!

          Câu “bất khả phân biệt” (chẳng thể phân biệt) nhằm hiển thị tánh tướng chẳng khác, cũng tức là nói Pháp Thân và hai thân Báo, Ứng chẳng khác. V́ sao chẳng thể phân biệt mà chẳng khác? Kinh ấy đă giảng nghĩa đó rơ ràng như sau: “Tuy hữu phân biệt, Thể vô phân biệt. Tuy hữu tam số, nhi phi tam thể” (tuy có [các tướng] phân biệt, mà Thể chẳng phân biệt. Tuy có số lượng là ba, nhưng chẳng phải là ba cái Thể). Đó là nói hai thân Báo và Ứng, chỉ có tướng mà chẳng có Thể, Thể chỉ là Pháp Thân đó thôi! Do vậy, tuy có số lượng là ba, nhưng Thể chẳng ba. Tướng tuy có khác biệt, nhưng Thể chẳng khác biệt. V́ thế, nói “chẳng thể phân biệt” chính là nói theo Thể, nhưng đó cũng là một câu nói mang ư nghĩa đôi, do luôn luôn hiện tướng phân biệt, bèn có “chẳng thể phân biệt” để có thể nói. Do vậy, câu “chẳng thể phân biệt” một mặt cố nhiên là nêu rơ cái Thể ấy chẳng có khác, mà một mặt lại nêu rơ: Nó hiện tướng chẳng ngơi! Do vậy, có thể biết giới hạn của “chẳng một, chẳng khác” vậy! Bởi lẽ, do tánh dung thông tướng, sẽ là chẳng khác. Tánh và tướng đối ứng nhau nêu ra, cho nên chẳng phải là một!

          “Chẳng thường, chẳng đoạn” chính là nối tiếp ngay ba câu ấy mà có. Luôn luôn hiển hiện, Thể tuy chẳng khác, nhưng Dụng có tướng sai biệt. Cho nên nói “chẳng thường”. Nhưng tướng tuy chẳng thường, mà tánh Pháp Thân vẫn luôn vượt ngoài hết thảy các tướng, chẳng chấp vào tướng, cho nên nói là “chẳng đoạn”.

          Chắc là có người hỏi: “Trước nay nói Pháp Thân thường trụ. Do nó thường trụ, bèn gọi là Pháp Thân. V́ thế, nói Pháp Thân chẳng đoạn, nghĩa này dễ hiểu. Pháp Thân tuy hiện các tướng Báo, Ứng, nay nói là ‘chẳng thường’, cũng là nói theo tướng. Như vậy th́ v́ sao nói Pháp Thân chẳng thường? Nghĩa này rốt cuộc khó hiểu rơ được!” Đáp: Pháp Thân thường trụ là chỉ xét riêng theo Pháp Thân để nói, chỉ là chứng đắc cái Thể bất sanh bất diệt của Pháp Thân thường trụ mà thôi! Nếu đă trụ vào Thể, nhưng chẳng hiện tướng, sẽ chẳng thể cùng chúng sanh tiếp cận, lợi ích chúng sanh bằng cách nào đây? Do vậy, chư Phật, chư đại Bồ Tát v́ lợi ích hết thảy chúng sanh, luôn hiện tướng Báo Thân, Ứng Hóa Thân v.v… sanh diệt, nhưng chẳng trụ chấp Pháp Thân. Tức là có Pháp Thân thường trụ, nhưng chẳng nói là Trụ, cho nên bảo Pháp Thân chẳng thường. Tuy chẳng trụ, nhưng do trụ trong Đại Định, nên bất kể tướng được hiện sanh diệt hừng hực, mà Pháp Thân thường trụ vẫn an nhiên. Đó gọi là “vượt ngoài hết thảy các tướng, chẳng chấp vào tướng” quả thật là v́ lẽ này! Cho nên lại nói “Pháp Thân chẳng đoạn”. Hăy nên biết: Pháp Thân chẳng thường, chính là nói “chẳng trụ Niết Bàn”. Pháp Thân chẳng đoạn, chính là nói “chẳng trụ sanh tử”. Hai bên đều chẳng trụ, nên nói là Trung Đạo. Pháp Thân hai bên đều chẳng trụ, là nói chẳng chấp vào Pháp Thân, mà cũng chẳng trụ vào các thân Báo, Ứng v.v… Đấy chính là cảnh giới Tịch Chiếu đồng thời. Chẳng do công phu Định Huệ tu đến mức cân bằng viên măn, sẽ chẳng thể đạt tới cảnh giới này. Kinh này vừa mở đầu liền dạy phát đại nguyện, hành đại hạnh, trừ ngă chấp là v́ lẽ này. Do ngă chấp chưa hóa giải, ắt sẽ phân biệt, chấp trước. Hễ có đôi chút phân biệt, chấp trước, sẽ chẳng thể hai bên đều chẳng trụ, há lại có thể Định Huệ cân bằng ư? Tức là cảnh giới Tịch Chiếu sao có thể đạt tới cho được?

          Kinh ấy (kinh Kim Quang Minh) lại dạy: “Hóa Thân giả, hằng chuyển pháp luân, xứ xứ tùy duyên, phương tiện tương tục, bất đoạn tuyệt cố, thị cố thuyết thường. Phi thị bổn cố, cụ túc đại dụng bất hiển hiện cố, thuyết vi vô thường” (Hóa Thân luôn chuyển pháp luân, tùy duyên [mà chuyển pháp luân] khắp mọi nơi, phương tiện liên tục. Do chẳng đoạn tuyệt, nên nói là Thường. Do chẳng phải là Bổn, trọn đủ tác dụng to lớn, nhưng chẳng hiển hiện, nên nói là vô thường). Kinh ấy dịch Ứng Thân là Hóa Thân, ở đây là nói rơ Ứng Thân chẳng thường, chẳng đoạn. Do vậy, nói Thường cũng giống như nói “chẳng đoạn”. Do Ứng Thân tùy duyên, luôn hiện không ngừng, nên nói là “chẳng đoạn”. Vô thường là giống như nói “chẳng thường”. “Phi thị Bổn” (chẳng phải là Bổn), ư nói Ứng Thân chẳng phải là cái Thể của bản tánh, Báo Thân và Ứng Thân đều là Tướng, Dụng do bản tánh hiển hiện. V́ thế, chẳng phải là Bổn. Dụng do Bổn hiển, chẳng do Dụng mà hiển! Hai thân Báo và Ứng đă là Dụng, chẳng thể lại hiển Dụng. V́ thế nói “cụ túc đại dụng bất hiển hiện” (trọn đủ tác dụng to lớn, nhưng chẳng hiển hiện) câu này chính là nói Báo và Ứng là tướng. Tướng là pháp sanh diệt, cho nên nói là “chẳng phải thường”.

Kinh ấy lại nói: “Ứng Thân giả, tùng vô thỉ lai, tương tục bất đoạn, nhất thiết chư Phật bất cộng chi pháp, năng nhiếp tŕ cố, chúng sanh vô tận, Dụng diệc vô tận. Thị cố, thuyết thường. Phi thị Bổn cố, dĩ cụ túc Dụng bất hiển hiện cố, thuyết vi vô thường” (Ứng Thân từ vô thỉ đến nay liên tục chẳng dứt, có thể nhiếp tŕ pháp bất cộng của hết thảy chư Phật. Chúng sanh vô tận, Dụng cũng vô tận. V́ thế, nói là Thường. Do chẳng phải là Bổn, do Dụng trọn đủ chẳng hiển hiện, bèn nói là vô thường). Điều này cho thấy Báo Thân chẳng thường, chẳng đoạn. Kinh ấy dịch Báo Thân là Ứng Thân. Pháp bất cộng như Thập Lực, Tứ Vô Úy v.v… chỉ riêng chư Phật có. Bồ Tát cũng chẳng trọn đủ, nên nói là Bất Cộng. “Nhiếp tŕ” bao hàm hai nghĩa:

1) Pháp bất cộng ấy chính là trí dụng của Báo Thân, nhiếp tŕ Báo Thân. Đó là một nghĩa.

2) Báo Thân trọn đủ trí dụng ấy, bèn có thể nhiếp tŕ chúng sanh. Đó là hai nghĩa.

V́ thế nói tiếp: “Chúng sanh vô tận, Dụng cũng vô tận”. Gộp chung các nghĩa đă trích dẫn từ kinh ấy để xét, “chẳng một, chẳng khác” là do có ba nghĩa:

1) Pháp Thân là Thể, các thân như Báo, Ứng v.v… là Dụng. Cho nên [ba thân] chẳng phải là một. Nếu dùng Thể để gồm thâu Dụng, [ba thân] sẽ chẳng thể phân biệt. Do vậy, chẳng khác. Đấy là một nghĩa.

2) Pháp Thân chẳng phải thường, là thường mà chẳng thường. Hai thân kia chẳng đoạn, mà là đoạn nhưng chẳng đoạn. Do vậy, Pháp Thân chẳng thường, chính là hai thân chẳng đoạn. Đấy là nguyên do tánh và tướng chẳng khác. Pháp Thân chẳng đoạn là rốt ráo chẳng đoạn. Hai thân chẳng thường là rốt ráo chẳng thường. Do vậy, Pháp Thân chẳng đoạn chính là hai thân chẳng thường. Đó là nguyên do khiến tánh và tướng chẳng phải là một. V́ sao nói vậy? “Pháp Thân chẳng thường” là nói theo sự liên tục hiện tướng. Kinh nói “chẳng thể phân biệt” là nói rơ sự liên tục hiện tướng, mà Thể chỉ là Pháp Thân. Liên tục hiện tướng, cho nên nói là “chẳng thường”. Thể chỉ là Pháp Thân, cho nên nói “thường mà chẳng thường”. Pháp Thân chẳng đoạn là nói theo bản thể thường trụ. Kinh nói “quá nhất thiết tướng, bất trước ư tướng” (vượt hết thảy các tướng, chẳng chấp tướng) chính là nói tới bản thể thường trụ ấy. Do bản thể thường trụ, cho nên tuy hiện tướng mà có thể vượt thoát, chẳng chấp! Do bản thể thường trụ, cho nên nói là “chẳng đoạn”. Hiện tướng mà lại vượt thoát, chẳng chấp, nên nói “chẳng đoạn”“rốt ráo chẳng đoạn”. Nhưng hai thân chẳng phải vậy. Hai thân chẳng thường là nói theo phương diện chúng chẳng phải là bản thể. Kinh nói “phi thị Bổn cố” (do chẳng phải là Bổn). Đă chẳng phải là bản thể, cho nên nói “chẳng thường là rốt ráo chẳng thường”. Do đó nói Pháp Thân chẳng đoạn, chính là hai thân chẳng thường, do vậy, tánh tướng chẳng phải là một! V́ sao vậy? Một đằng là bản thể thường trụ, một đằng chẳng phải là bản thể. “Hai thân chẳng đoạn” là nói theo phương diện liên tục hiện tướng. Kinh nói “tương tục bất đoạn” (liên tục chẳng dứt). Đă là hiển hiện liên tục, cho nên nói “chẳng đoạn”. V́ thế nói “Pháp Thân chẳng thường, chính là hai thân chẳng đoạn”. Bởi lẽ, tánh và tướng chẳng khác. V́ sao vậy? Tướng là nói theo sự liên tục hiện tướng. Đấy lại là một nghĩa “chẳng một, chẳng khác” vậy!

          3) Hơn nữa, tam thân được gọi là “chẳng thường, chẳng đoạn”; đó là chẳng khác. Nhưng do Pháp Thân chẳng thường, chẳng đoạn, mà hai thân chẳng thường chẳng đoạn, cho nên chẳng phải là một. Đấy lại là một nghĩa “chẳng khác, chẳng một” nữa!

          Nói chung, nói là “một” th́ có đủ loại “một”. Nói “khác” th́ có đủ loại khác. Lại c̣n trong mộtkhác, trong khácmột. V́ thế nói “một” hay nói “khác”, đều chẳng phải, mà nói “chẳng một”, nói “chẳng khác” cũng sai luôn! Nói “một”, nói “khác” đều là đúng, mà nói “chẳng một, chẳng khác” cũng đúng luôn! Như thế th́ “chẳng phải là có thể nói, chẳng phải là không thể nói”. Hễ chấp th́ đều là sai, chẳng chấp th́ đều là đúng. Hăy nên thấy như thế, hăy nên biết như thế! Thấy như thế là viên kiến, biết như thế chính là chánh tri.

          Hoặc nói: Nh́n từ các đoạn kinh trích dẫn trên đây, có thể thấy Báo Thân và Ứng Thân đều là tướng sanh diệt, cùng chẳng phải là Bổn. V́ sao kinh này dựa theo Ứng Thân để nói “chẳng phải một”, xét theo Báo Thân để nói “chẳng khác” vậy? Cần phải biết: Ứng Hóa Thân liên tục chính là sau khi đă chứng Pháp Thân th́ phương tiện mới tùy duyên mà hiện. Hơn nữa, Luân Vương cũng có, nhưng tánh thể của Pháp Thân là thường trụ, bất biến. Đấy là “chẳng một” rơ ràng nhất. V́ thế, xét theo ba mươi hai tướng ứng hóa để nói rơ “chẳng một”.

          C̣n như Báo Thân đồng thời thành tựu với Pháp Thân. Do vậy, kinh này nói “dĩ cụ túc tướng cố, đắc Vô Thượng Bồ Đề” (do tướng trọn đủ bèn đắc Vô Thượng Bồ Đề), chính là nói rơ thành tựu tướng trọn đủ, tức là chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Hăy nên chú ư chữ Cố (). Hơn nữa, như kinh Kim Quang Minh giảng về nghĩa Báo Thân như sau: “Ứng Thân giả, tùng vô thỉ lai, tương tục bất đoạn” (Ứng Thân (tức Báo Thân) từ vô thỉ đến nay liên tục chẳng dứt). Câu “tương tục bất đoạn” th́ Báo và Ứng cùng có. Điều này cho thấy chúng và Pháp Thân chẳng phải là một. Câu “tùng vô thỉ lai” (từ vô thỉ đến nay) chỉ riêng Báo Thân có, tức là nói nó cùng Pháp Thân chẳng khác. Hăy nên biết: Có thể nói Pháp Thân là vô thỉ, Báo Thân cần phải sau khi đă hết sạch vô minh th́ mới chứng đắc. Nay nói từ vô thỉ đến nay là v́ sao? Nghĩa này hết sức tinh vi, cần phải phân tích tỉ mỉ th́ mới rơ rệt được!

Do Báo Thân có hai loại danh xưng, một là Tự Thọ Dụng Báo Thân, hai là Tha Thọ Dụng Báo Thân. Kinh này nói “tướng trọn đủ”, kinh Kim Quang Minh nói “tương tục bất đoạn, viết chúng sanh vô tận, Dụng diệc vô tận” (liên tục không ngừng, bảo là chúng sanh vô tận, Dụng cũng vô tận) đều là nói theo khía cạnh Tha Thọ Dụng. Nhưng ắt phải hiểu nghĩa Tự Thọ Dụng th́ mới hiểu nghĩa của Tha Thọ Dụng.

          Nay trước hết nói về Tự Thọ Dụng. Tự Thọ Dụng Báo Thân chẳng phải chi khác, chính là nói đến viên trí nội chng thuộc về tự lợi, giả gọi là Thân đó thôi! Trí ấy cố nhiên do công phu tu tập mà hiện, nhưng thật ra, tánh thể vốn sẵn có. Nếu chẳng phải là sẵn có, dẫu tu cũng chẳng hiện. Ví như dùi nước, chẳng thể sanh ra lửa, nấu cát sao có thể thành cơm? Như vậy th́ do tánh thể vô thỉ, trí này cũng lại vô thỉ. Do đó, Tự Thọ Dụng Báo Thân là vô thỉ.

          Lại nói theo Tha Thọ Dụng. Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng, tuy có hai danh xưng, nhưng thật ra là một. Bởi lẽ, xét theo viên trí nội chứng nơi tự lợi th́ gọi là Tự Thọ Dụng. Nói theo tác dụng to lớn hiện tướng lợi tha th́ gọi là Tha Thọ Dụng. Đă nói là viên trí, ắt có đại dụng. Nếu chẳng có đại dụng, sao gọi là viên trí? Một trong, một ngoài, giống như có hai thứ; nhưng trong ngoài hợp nhất, bèn gọi là Thân. V́ thế, tuy là hai mà thật sự là một. Hơn nữa, trí là thứ mà tánh sẵn có, Dụng cũng chẳng bao giờ không phải là tánh sẵn có! V́ thế, Tha Thọ Dụng Báo Thân cũng là vô thỉ. Tổng hợp các nghĩa trên đây, Báo Thân và Pháp Thân chẳng khác, nghĩa này hiển nhiên. Do vậy, xét theo Báo Thân trọn đủ các tướng để nói “chẳng khác”. Nếu luận định khít khao theo sự thật, ngay cả Ứng Hóa Thân cũng có thể nói là vô thỉ. V́ sao nói vậy? Ứng Hóa Thân là tu đủ loại pháp, thông đạt chuyện thuộc Tục Đế, công hạnh viên măn, đắc đại tự tại. V́ thế, có thể tùy thuận ư của chúng sanh, hiện đủ loại thân. Nhưng v́ sao thông đạt mọi sự thuộc Tục Đế? Do trí thông đạt Chân Đế. Có thể thấy Sự nhiếp thuộc trí. V́ vậy, do Báo Thân vô thỉ, Ứng Thân cũng lại là vô thỉ. Như thế v́ sao chỉ lấy Ứng Thân để minh thị “chẳng một”? Do Báo Thân và Pháp Thân là thân, c̣n Ứng Thân so ra là sơ! Thế nào là thân thiết? Tha Thọ Dụng là tướng dụng được hiển hiện, là bề ngoài. Tự Thọ Dụng là trí huệ vốn sẵn có, là bên trong. Nhưng tướng dụng hiện tức là trí huệ hiện. Trí huệ vốn sẵn có, tức là trọn đủ nơi Lư Thể. Hơn nữa, Lư và Trí nhất như, cũng chẳng thể chia tách thành năng cụ (cái có thể trọn đủ) và sở cụ (cái được trọn đủ), năng hiện (cái có thể hiện) và sở hiện (cái được hiện ra) sai khác. V́ thế, bất luận Tự hay Tha Thọ Dụng, Thật và Lư Thể ngầm hợp thành một, cho nên là thân thiết. Do thân thiết nên chẳng khác. Thế nào là sơ? Ứng Hóa Thân tuy cũng trọn đủ Lư và Trí, cũng chẳng có phân biệt năng cụ và sở cụ, năng hiện, sở hiện v.v… , nhưng chuyên thuộc tướng hiện ra bên ngoài, cho nên là sơ. Do sơ, nên chẳng phải là một.

          Thử xem những điều kinh Kim Quang Minh đă dạy, liền có thể hiểu rơ. Đó là nói về nghĩa Báo Thân. Đă bảo là “vô thỉ”, lại nói “nhiếp tŕ pháp bất cộng”. Nêu ra nội tŕ (cái được nhiếp tŕ bên trong) để nói, chính là nói đối với Pháp Thân th́ thân thiết. Nói về nghĩa ứng hóa th́ tùy duyên phương tiện [hiện thân] khắp chốn. Nêu ra “ngoại tùy” (sự tùy duyên được biểu hiện ra h́nh tướng bên ngoài) để nói, chính là nói rơ [Ứng Thân] so với Pháp Thân là sơ. Nói chung, đă hiểu nghĩa “chẳng thường, chẳng đoạn”, th́ sẽ hiểu triệt để nghĩa “chẳng một, chẳng khác”. Tức là ư nghĩa “các pháp nhất như, pháp ấy là b́nh đẳng” cũng đều triệt để. V́ sao vậy? Ba thân đều do “chẳng thường, chẳng đoạn” mà chẳng khác, cho nên là nhất như. Nhưng “chẳng thường, chẳng đoạn” đều lại bất đồng mà chẳng phải là một. Do đó, tuy là nhất như mà chẳng ngại có các pháp. Hơn nữa, trong mộtkhác, trong khácmột. V́ thế, sai biệt là sự sai biệt hiện ra trong b́nh đẳng; b́nh đẳng là sự b́nh đẳng hiện ra trong sai biệt, trọn chẳng cách biệt, mà cũng chẳng lẫn lộn. Hàng Bố chẳng trở ngại Viên Dung, Viên Dung chẳng trở ngại Hàng Bố. Đó gọi là Viên Trung. Giá, Chiếu đồng thời, tồn tại và mất đi tự tại, há chỉhai bên đều chẳng chấp ư? Then chốt của công phu tu tập chỉ ở chỗ chẳng chấp tướng, chẳng diệt tướng, nhưng lấy tánh làm cốt lơi. Đợi đến khi đă chứng tánh thể không tịch, do sức huân tập, cũng sẽ chẳng lấy, chẳng diệt, tùy cơ ứng duyên, đại dụng vô tận, há chỉ tướng chẳng trụ, mà tánh cũng chẳng trụ. Ngay cả bất trụ cũng chẳng trụ! Nhưng điều cốt lơi trong Đại Viên Kính Trí là an nhiên! Đó gọi là “dùng chẳng có ta, người… để tu hết thảy thiện pháp, ắt đắc Vô Thượng Bồ Đề”. Đó gọi là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật; do đó, truyền tâm ấn của Phật. Thông đạt lư này để niệm Phật, sẽ đắc lư nhất tâm, ắt sanh về Thường Tịch Quang Tịnh Độ, nguyện các vị hăy cùng gắng sức!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.3. Ước theo “chẳng thọ lănh phước đức” để kết lại vô ngă

 

          Chữ Ước () trong phần Khoa Phán này hàm ư: Hết thảy đều vô ngă, nay bất quá dựa theo một pháp “chẳng thọ lănh phước đức” để nói rơ ư nghĩa ấy. Như đối với Lư “vô thánh, vô phàm, chẳng một, chẳng khác” trên đây, cũng là pháp nào cũng đều như thế. Nhưng dựa theo “độ sanh” “tánh, tướng” để nói, so ra dễ lănh hội hơn. Chữ Ước giống như thường nói là Tựu (). Nội điển (kinh sách nhà Phật) bỏ chữ Tựu, dùng chữ Ước, v́ nghĩa của chữ Tựu c̣n nông cạn bề ngoài, chữ Ước có ư nghĩa tinh thâm. Bởi Ước có nghĩa là “ước lược”, nói rơ chỉ đành nêu ra một chuyện này để tượng trưng, chưa phải là mỗi mỗi đều nói cặn kẽ được!

Ước lại có nghĩa là “bó buộc”, như cái lưới có Cương (, mối lưới chính), nắm lấy cái mối chính ấy, toàn bộ cái lưới đều bị thâu tóm, nêu rơ: Tuy chỉ nói một chuyện này, nhưng đă đạt được cương lănh, những điều khác có thể suy luận tương tự.

Ước lại có nghĩa là “yếu ước” (những điều ước định quan trọng), ví như khế ước, dẫu lâu ngày chẳng quên. Dùng nghĩa này để hiển thị nghĩa được giảng tột bậc khế hợp, có thể nêu ra làm tin mà chẳng sai lầm. Nếu dùng chữ Tựu, cả ba nghĩa ấy đều chẳng có. Từng có kẻ ngờ vực chữ Ước xa lạ, chẳng phổ biến như chữ Tựu. Nay tôi bèn thừa dịp nói luôn. Phàm là đối với lời lẽ hoặc các câu nói của cổ đức từ thời Đường trở về trước, hậu học chớ nên coi thường mà bàn luận.

Chẳng ước theo chuyện khác, chỉ ước theo chuyện “chẳng thọ lănh phước đức” để nói, nối tiếp phần kinh văn trước đó. “Tướng trọn đủ” trong phần kinh văn trước đó hàm ẩn nghĩa “tu phước đức”. Đó là nói “đạt được cái quả Vô Thượng, chẳng phế tu phước”. Khoa này tiếp ngay theo nghĩa ấy để nêu rơ: “Tu phước sao có thể phế? Nhưng cần phải chẳng thọ lănh, chẳng chấp”. Lại c̣n nói bổ sung rằng: “Chớ nên do nghe chẳng phế tu phước mà lại sanh tham chấp!” V́ thế, ư nghĩa trong khoa trước càng được trọn vẹn, viên măn trong khoa này. Đó gọi là tuy văn từ chẳng nối tiếp, nhưng ư nghĩa nối tiếp vậy!

          Khoa này lại chia thành hai phần:

          1) Kết lại vô ngă.

          2) Nói rơ chẳng chấp.

          Phần thứ nhất lại chia thành hai:

          1) Nói rơ vô ngă có công năng thù thắng.

          2) Nói rơ do chẳng thọ lănh.

 

2.2.2.2.2.2.2.1.3.1. Kết lại vô ngă

2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.1. Nói rơ vô ngă có công năng thù thắng

2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.1.1. Dẫn sự (dùng thí dụ để thuyết minh)

 

          (Kinh) Tu Bồ Đề! Nhược Bồ Tát dĩ măn Hằng hà sa đẳng thế giới thất bảo bố thí.

          ()須菩提!若菩薩以滿恆河沙等世界七寶布施

          (Kinh: Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát dùng bảy báu đầy ắp các thế giới nhiều như cát sông Hằng để bố thí).

 

          Bản lưu thông ghi “tŕ dụng bố thí”, bản của ông Liễu và bản của ngài Huệ Tịnh đều không có chữ “tŕ dụng”, do “dĩ thất bảo bố thí” đă chứa đựng ư nghĩa “dùng đem bố thí” trong ấy rồi!

Nửa sau bộ kinh đối với chuyện so sánh để hiển thị công năng của kinh, chỉ có một hai chỗ. Nhưng cũng chẳng có ư so sánh để hiển thị [sự thù thắng], mà bất quá là nhờ vào đó để làm chuyện khác, [tức là]:

1) Nhờ đó để tạo thành một phân đoạn mới.

2) Nhờ vào đó để hiển thị ư nghĩa khác.

Như trong phần này, mượn phước đức do bố thí để hiển thị “do thành tựu chẳng thọ lănh [phước đức] mà được thành tựu Vô Ngă Nhẫn”. Lại nhờ vào công năng thù thắng để kết thúc nghĩa “Bồ Tát hăy nên thông đạt vô ngă pháp” được nói trong phần kinh văn trước đó. Do vậy, nửa bộ đầu nói “dùng vô số báu để bố thí”, cho đến “dùng vô số mạng để bố thí”, nhưng đều không gọi [người bố thí như vậy] là Bồ Tát, chỉ riêng ở đây gọi [người bố thí] là Bồ Tát để nói, có thể biết là ắt phải có thâm ư. Đọc tiếp đoạn kinh văn sau đó, sẽ có thể vỡ lẽ: Chính là các đoạn kinh văn có tác dụng phản chiếu để làm rơ nghĩa cho nhau. Bởi lẽ, khoa này tuy chỉ nói “dùng của báu để bố thí”, nhưng hàm ư “người ấy đă biết hết thảy các pháp vô ngă”, cho nên gọi là Bồ Tát. Nhưng v́ chưa thành tựu Nhẫn, nên chẳng sánh bằng vị Bồ Tát sau đó. V́ sao biết? Thử xem đoạn dưới nói: “Thử Bồ Tát thắng tiền Bồ Đề sở đắc công đức” ([Công đức của] vị Bồ Tát này hơn hẳn công đức của vị Bồ Tát trước đó).

          Trong nửa bộ đầu, bất luận thí của báu, hay thí thân mạng, đều nói khái quát là phước đức, chưa nói công đức, nhưng ở đây nói “tiền Bồ Tát sở đắc công đức”, vị Bồ Tát trên đây dùng bảy báu để bố thí mà gọi là công đức, ắt biết ngay “vị ấy đă biết ĺa tướng, tu huệ”, chứ không chỉ biết là người chấp tướng tu phước mà có thể sánh bằng được! Do nói là công đức, do gọi là Bồ Tát, [thế nhưng], hễ có ngă ắt sẽ chẳng thể ĺa tướng, cho nên biết [kinh văn nói như vậy] nhằm chứa đựng ư nghĩa “người ấy đă biết hết thảy các pháp vô ngă”. Huống hồ, trước đó đă nói “nhược Bồ Tát thông đạt vô ngă pháp giả, Như Lai thuyết danh chân thị Bồ Tát” (nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngă, Như Lai nói người ấy thật sự gọi là Bồ Tát). Vậy th́ [người bố thí bảy báu được nói ở đây] nếu chẳng biết pháp vô ngă, cũng chắc chắn sẽ chẳng được gọi là Bồ Tát! Nói chung, trong phần kinh văn thuộc khoa lớn “ba lượt ước theo chẳng nhận lănh phước đức [để luận định]” này, mỗi chữ, mỗi câu, mỗi danh xưng, đều chứa đựng ư nghĩa tột bậc tinh vi, chẳng thể xem nhẹ. “Hằng hà sa đẳng thế giới” tức là [số lượng] thế giới nhiều bằng số cát sông Hằng, giống như nói “vô số thế giới”. “Dĩ” () là dùng. “Măn” (滿) là đầy tràn. Ư nói: Dùng bảy báu đầy ắp trong vô số thế giới để bố thí. Khoa này bất quá dẫn một chuyện bố thí có nhiều phước để làm căn bản cho phần kinh văn “chẳng tiếp nhận” dưới đây mà thôi!

 

2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.1.2 . So sánh sự thù thắng

 

          (Kinh) Nhược phục hữu nhân, tri nhất thiết pháp vô ngă, đắc thành ư Nhẫn. Thử Bồ Tát thắng tiền Bồ Tát sở đắc công đức.

          ()若復有人知一切法無我得成於忍此菩薩勝前菩薩所得功德

          (Kinh: Nếu lại có người biết hết thảy các pháp vô ngă, được thành tựu Nhẫn, [công đức của] vị Bồ Tát này hơn hẳn công đức do Bồ Tát trước đó đă đạt được).

 

          Đối với vị Bồ Tát bố thí của báu trong đoạn trước, [kinh văn] đă hàm ư [vị ấy] “biết pháp vô ngă”. Đối với vị Bồ Tát đắc nhẫn ở đây, cũng hàm ư “dùng của báu để bố thí”. Xem phần kinh văn nói “chẳng tiếp nhận phước đức” sau đó, hiển nhiên có thể thấy là vị Bồ Tát này thực hiện phước đức bố thí rộng lớn. Do đă tạo phước đức to lớn, nhưng chẳng tiếp nhận, cho nên gọi là “đắc thành ư Nhẫn”. Nếu không, từ đâu mà biết là “đắc Nhẫn?” Do vậy, kinh văn trong khoa này và khoa trước chiếu rọi, làm sáng tỏ ư nghĩa lẫn nhau, quyết chẳng nghi ngờ! Đă hiểu rơ nghĩa ấy, sẽ biết ư chỉ của kinh hoàn toàn chẳng phải là không coi trọng phước đức, chỉ là “chẳng chấp, chẳng tiếp nhận” mà thôi! Như thế th́ do hai câu “biết hết thảy các pháp vô ngă, được thành tựu nhẫn” ở đây, ư chỉ của kinh cũng là thật sự coi trọng đắc Nhẫn. Tôi từng thấy mấy vị chú thích, do không hiểu rơ “ư nghĩa soi rọi lẫn nhau”, bèn coi câu “thành Nhẫn” như là điều được nói kèm theo. Do vậy, họ bảo vị Bồ Tát trước đó chỉ biết tu phước, c̣n vị Bồ Tát này do biết pháp vô ngă, cho nên công đức vượt trội vị trước. Đó là lư do tu phước chẳng sánh bằng tu huệ” v.v… [Giảng như vậy] đă lầm lạc đánh mất ư chỉ của kinh quá to! V́ sao vậy? Nếu hiểu ư như thế th́ trước đó răn nhắc “đừng nghĩ rằng chẳng do tu phước đức mà đắc Bồ Đề là nói về điều ǵ vậy? (cũng như khoa “ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng” (đối với pháp chẳng nói tướng đoạn diệt) đă nói [ư nghĩa ǵ vậy?]). Hết sức lầm lẫn!

          Hết thảy các pháp chẳng ngoài cảnh, hạnh, quả. Cảnh chính là Ngũ Uẩn, lục căn, lục trần v.v… Hành là Lục Độ, vạn hạnh v.v… Quả là [các địa vị] Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Địa, cho đến Vô Thượng Bồ Đề. Vô ngă là hết thảy các pháp nhiễm tịnh chẳng ra ngoài nhân quả. Nhân quả tức là duyên sanh, duyên sanh Thể không. Do vậy, trong hết thảy các pháp, vốn chẳng có ngă. Hăy nên biết: Nói là ngă, chẳng có chi khác, chính là chúng sanh vô minh bất giác, trong hết thảy các pháp, hư vọng sanh ra cái Thấy phân biệt, chấp trước. Nhưng tánh của hết thảy các pháp vốn sẵn không tịch, há có vật ấy? Do nó vốn là Không; do vậy, hăy nên trừ khử. Hiểu “biết hết thảy các pháp vô ngă” chính là Giải, tức là “lănh hội tánh của hết thảy các pháp vốn sẵn không tịch”. Bởi lẽ năm chữ “hết thảy các pháp vô ngă” chính là Lư. Một chữ Tri (biết) chính là Trí.

“Đắc thành ư Nhẫn” nghĩa là lư “tánh của hết thảy các pháp vốn sẵn không tịch” cùng với cái trí nhận biết [lư ấy] có thể ngầm khế hợp thành một. Nhẫn () là chấp nhận, khế hợp chẳng gián đoạn, giống như nói “hợp nhất”. Lư trí hợp nhất, cho thấy ngă chấp đă hóa trừ. Công hạnh đến đây, được gọi là “thành”. Thành như thế nào? Do huân tu, cho nên nói là “được thành. “Được thành” là giống như nói do huân tu bèn đạt được thành tựu. Chẳng do công phu tu ṛng đạt mức, sao có thể thành cho được? Do vậy, hai câu này, câu trước là Giải, câu sau là Hnh. Hợp lại để xem, cho thấy Bồ Tát giải hạnh thành tựu. Lại nữa: Tri trong câu trước là Huệ, Nhẫn trong câu sau là Định. Gộp lại, đó là Định Huệ cân bằng. Do Định Huệ cân bằng, cho nên giải hạnh thành tựu. V́ vậy, đạt được công đức hơn hẳn vị Bồ Tát trước đó, do vị Bồ Tát trước đó, giải, hạnh, định huệ, công hạnh vẫn chưa thể đạt tới “ngầm hợp thành một”. Tức là cái trí hay biết đối với lư “hết thảy pháp vô ngă” vẫn chưa thể đạt tới vững vàng, chẳng dời chuyển được. Do đó, chẳng thể sánh bằng! Chữ Nhẫn có nghĩa là giống như nói “an ổn, chẳng dời đổi” vậy!

Từ trong khoa lớn thứ ba thuộc phần trước, đă nêu bày Bồ Tát nếu thông đạt vô ngă pháp, Như Lai nói vị ấy được gọi là Bồ Tát thật sự, đến tận chỗ này mới kết luận. Có thể biết: Những điều đă nói trên đây đều là vô ngă pháp, nhằm dạy Bồ Tát thông đạt, nhưng công phu phải thực hiện đến mức được thành tựu Nhẫn th́ mới là thật sự thông đạt, thật sự là Bồ Tát. V́ sao vậy? “Thông” là thông sáng, tức là nói về Giải. “Đạt” là đạt tới, tức là nói đến Hnh. Do vậy, nói “thông đạt” tức là giải hnh trọn đủ. Giải hnh trọn đủ, nên bảo: Thật sự là Bồ Tát. Do vậy, chớ nên hiểu hai chữ Thông Đạt chỉ là hiểu rơ lư! Cần phải biết: Cố nhiên Giải đứng trước Hnh, nhưng chẳng đúng pháp thực hành, đích xác có kinh nghiệm, sao có thể thâm giải cho được? Phần trước đă nói: “Hnh từ Giải mà ra, Giải nhân Hnh mà thành”. Hai lời ấy chính là lời chân thật diễn tả Thông Đạt vậy. Thông đạt như thế chính là “đắc thành Nhẫn”.

Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa

Quyển 5

Phần 1 hết

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Chúng tôi xin trích dẫn hai tướng đầu tiên trong các tướng báu nơi đỉnh đầu của Như Lai như sau: “Phật Tử! Như Lai đảnh hữu tam thập nhị tướng trang nghiêm đại nhân tướng, kỳ trung hữu đại nhân tướng, danh Quang Chiếu Nhất Thiết Phóng Vô Lượng Đại Quang Minh Vơng, nhất thiết diệu bảo dĩ vi trang nghiêm, bảo phát châu biến, nhu nhuyễn nghiêm mật, nhất nhất hàm phóng ma ni bảo quang, sung măn nhất thiết vô biên thế giới, tất hiện Phật thân sắc tướng viên măn, thị vi đệ nhất. Thứ hữu đại nhân tướng, danh Phật Nhăn Quang Minh Vân, dĩ ma ni vương chủng chủng trang nghiêm, xuất kim sắc quang, như mi gian hào tướng sở phóng quang minh, kỳ quang phổ chiếu nhất thiết thế giới, thị vi đệ nhị” (Này Phật Tử! Trên đỉnh đầu của Như Lai có ba nươi hai tướng đại nhân trang nghiêm. Trong ấy có tướng đại nhân tên là Quang Minh Chiếu Soi Tất Cả, Tỏa Vô Lượng Lưới Quang Minh Lớn, dùng hết thảy các thứ báu mầu nhiệm để trang nghiêm, tóc báu bao phủ trọn khắp, mềm mại, dày kín, mỗi mỗi đều tỏa ra quang minh màu như chất báu Ma Ni, đầy ắp hết thảy vô biên thế giới, đều hiện thân Phật, sắc tướng viên măn. Đó là [tướng đại nhân] thứ nhất. Kế đó, có tướng đại nhân, tên là Mây Quang Minh Phật Nhăn, dùng Ma Ni Vương đủ loại trang nghiêm, tỏa ra quang minh sắc vàng, giống như quang minh do tướng bạch hào giữa hai mày tỏa ra. Quang minh ấy chiếu trọn khắp hết thảy các thế giới. Đó là tướng thứ hai).

[2] Hoa Tạng thế giới là khu vực hóa độ của Tỳ Lô Giá Na Như Lai (tức Pháp Thân của Thích Ca Mâu Ni Phật). Thế giới ấy do mười phong luân nhiếp tŕ. Trên phong luân có biển nước thơm, tên là Phổ Quang Ma Ni Trang Nghiêm. Trong biển nước thơm, sanh ra hoa sen to, tên là Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng. Trong hoa sen, có vi trần số thế giới. Do vậy được gọi là Liên Hoa Tạng thế giới, hay gọi tắt là Hoa Tạng thế giới. Hoa Tạng thế giới có hai mươi tầng, lại có mười thế giới hải bao quanh. Thế giới Sa Bà thuộc tầng thứ mười ba trong Hoa Tạng thế giới.

[3] Chánh kinh ghi là “cụ túc chư tướng”, cụ Giang luôn viết là “chư tướng cụ túc” nhằm nêu bật ư nghĩa của chữ Cụ Túc.

[4] Tức bộ Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh do ngài Nghĩa Tịch dịch vào đời Đường.

[5] Nam Đường (937-975) là một triều đại trong thời Ngũ Đại Thập Quốc, do quyền thần Lư Biện (vốn có tên là Từ Tri Cáo do làm con nuôi của Từ Ôn, nên đă đổi từ họ Lư sang họ Từ) sáng lập sau khi bắt Dương Phổ (Ngô Duệ Đế, vị vua cuối cùng của Dương Ngô tức nước Ngô hay Hoài Nam do Dương Hành Mật sáng lập) nhường ngôi. Thoạt đầu, Lư Biện xưng quốc hiệu là Tề (do Từ Ôn có tước phong là Tề Quốc Công và bản thân Lư Biện cũng được phong là Tề Vương), sau đó, đổi thành Nam Đường. Địa bàn của Nam Đường bao gồm các tỉnh Giang Tô, An Huy, Giang Tây và một phần của tỉnh Hồ Bắc, đóng đô tại Kim Lăng Phủ (Nam Kinh hiện thời). Triều đại này chỉ truyền được ba đời vua, tồn tại bốn mươi năm. Chúng tôi không t́m thấy ghi chép về hành trạng của sư Đạo Ngung.

[6] Một tiểu thiên thế giới là một ngàn thế giới, một trung thiên thế giới là một ngàn tiểu thiên thế giới, một đại thiên thế giới là một ngàn trung thiên thế giới, tức 1.000 x 1.000 x 1.000 = 1.000.000.000 (một ngàn triệu thế giới, tức mười vạn vạn thế giới). Trong mỗi thế giới, lại có một núi chúa Tu Di, nên bảo là mười vạn vạn núi chúa Tu Di.

[7] Chiêu Minh Thái Tử tên thật là Tiêu Thống (501-531), tên tự là Đức Thí, là con trai trưởng của Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn). Ông được cha phong làm Thái Tử khi mới một tuổi. Ông là một Phật tử sùng đạo, thích nghiên cứu đạo Phật, thường mời các ḥa thượng đến Đông Cung để đàm luận Phật pháp. Ông là một người có tài văn chương, đă biên soạn một tổng tập thi văn, được gọi là Văn Tập. Sau này, tác phẩm ấy được gọi là Chiêu Minh Văn Tuyển gồm sáu mươi quyển, tập hợp các bài văn thơ cổ. Ông đă chia kinh Kim Cang thành ba mươi hai đoạn, và đặt tiêu đề cho mỗi đoạn, chẳng hạn như Pháp Hội Nhân Do, Thiện Hiện Khải Thỉnh, Đại Thừa Chánh Tông v.v… Đoạn thứ ba mươi mốt có tiêu đề là Tri Kiến Bất Sanh, và đoạn cuối cùng có tiêu đề là Ứng Hóa Phi Chân.

[8] Nguyên văn “nhận lư an kiều vi a gia hạ ba”. Câu này vốn trích từ chương Cốc Ẩn Uẩn Thông trong quyển thứ mười một của bộ Ngũ Đăng Hội Nguyên. “Lư an kiều” (驢鞍鞽): An kiều chính là cái yên ngựa. Do h́nh dạng nó hơi cong như chiếc cầu, nên có danh xưng đó. Lư an kiều là cái xương con lừa có h́nh dạng tương tự như chiếc yên ngựa. “A gia hạ ba” (阿爺下巴) là cái xương cằm của cha. Có chuyện kể rằng: Kẻ ngu t́m xác cha trên chiến trường, ngỡ mảnh xương h́nh yên ngựa của con lừa là xương cằm của cha bèn trân trọng đem về thờ phụng. Thành ngữ này được dùng trong Thiền lâm để chê trách kẻ chấp tướng, ngu si.