Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa
Quyển 5
Phần 2
金剛般若波羅蜜經講義
Soạn giả:
Thanh tín sĩ Thắng Quán Giang Diệu Hú (Giang Vị Nông)
清信士勝觀江妙煦
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo phiên bản điện tử B0023 của
CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.2.
Nói rơ “do chẳng tiếp nhận [phước đức]”
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Dĩ chư Bồ Tát bất thọ phước đức
cố.
(經)須菩提!以諸菩薩不受福德故。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Do các Bồ Tát chẳng nhận lấy phước đức).
Trong bản lưu thông, trước chữ “Tu Bồ
Đề” c̣n có câu “hà dĩ cố?” (v́ sao vậy).
Trong các bản của ông Liễu và ngài Huệ Tịnh
đều chẳng có [câu ấy]. Ở đây, vốn
đă có một chữ Cố (故), tức là đă nêu rơ ư giải thích câu
trước đó, cần ǵ phải thêm “hà dĩ cố”
nữa? Tôi thấy có một vài vị chú giải cho rằng
khoa này nhằm giải thích
nguyên do v́ sao trong phần kinh văn trước đó nói
công đức [của vị Bồ Tát thọ tŕ biết
pháp vô ngă, thành tựu nhẫn] thù thắng hơn vị Bồ
Tát trước đó, [hiểu như vậy] sai lầm to lớn!
Phần kinh văn trước đó đă tự nói rơ, công
đức [của vị Bồ Tát sau] hơn hẳn [công
đức của] vị trước, là do [vị sau]
đă thành tựu Nhẫn, cần ǵ phải giải thích
thêm nữa? Hăy nên biết: Ư nghĩa “chẳng tiếp nhận
[phước đức]” trong khoa này nhằm giải
thích nguyên nhân v́ sao thành tựu Nhẫn. Thành tựu Nhẫn
th́ gọi là Chứng. Khoa này nhằm giải thích rằng: “V́
sao gọi là Chứng? Do chẳng tiếp nhận [phước
đức] vậy”. Bởi lẽ, nói “thành Nhẫn”
chính là để khai thị người học: Công phu ắt
cần phải làm được
như thế, th́ mới có thể vô ngă. Do đó, cần phải
giải thích nguyên do “thành Nhẫn”. Nếu công đức
vượt trội người trước, vốn là nói
kèm theo, sao lại đặc biệt giải thích thêm cơ
chứ? Huống chi kinh văn trong phần trước
đă nói rơ rồi!
“Không tiếp nhận”
là như thế nào? Kinh văn trong phần sau mới nói rơ
nghĩa này. Nay tôi cũng chẳng ngại ǵ nêu ra ư chỉ chánh yếu.
Nói “chẳng tiếp nhận”, chẳng có chi khác! Rộng
hành bố thí, Lục Độ, mà như không có chuyện ấy!
Chẳng thật sự vong ngă, sẽ chẳng thể làm
được điều này! Công hạnh ấy đă
đạt tới mức lô hỏa thuần thanh[1],
nên bảo là “đắc thành”. “Chư Bồ Tát” chẳng
thật sự chỉ một vị nào, giống như nói “hết
thảy Bồ Tát”. “Dĩ” (以) là v́. Ư nói: Phàm là Bồ Tát, do tu phước
mà chẳng nhận lấy [phước đức ấy],
th́ mới là thành Nhẫn nơi vô ngă. Vị Bồ Tát này
cũng lại giống như thế, cho
nên nói là “thành Nhẫn”. Kinh văn trong phần trước
đă nói “công đức”, ở đây nói “bất thọ
phước đức” (chẳng nhận lănh phước
đức), chính v́ nói rơ: Do chẳng nhận
lănh, cho nên phước đức đă tạo đều
trọn thành công đức vô lậu!
Đối với chuyện
được dẫn ra trong phần kinh văn trên đây,
chẳng nói “dùng bảy báu đầy ắp vô số thế
giới để bố thí” mà nói là “dùng [bảy báu
trong các thế giới] nhiều như cát sông Hằng”
cũng chứa đựng ư nghĩa tinh vi: Nhằm nói rơ “chính
ḿnh chẳng tiếp nhận”, cho nên vô số của
báu để bố thí ấy khác nào bùn, cát! Nhỏ nhặt
quá mức, nào đáng để nói tới! Đấy là
nguyên do chẳng tiếp nhận! Nếu thấy [các phước
đức ấy] rất nhiều, rất sung măn, tâm đă
bị cảnh chuyển mất rồi! Hễ tâm có cái cảnh
ấy, bèn gọi là Thọ (tiếp nhận). Nay nói “bất
thọ”, chính là nói rơ: “Tâm không, cảnh vô!” Hăy suy nghĩ xem, đấy cũng là muốn
[hành nhân] hăy [tu tập] diệu quán “chẳng nhận, chẳng
chấp”.
2.2.2.2.2.2.2.1.3.2.
Nói rơ “chẳng chấp”
2.2.2.2.2.2.2.1.3.2.1.
Xin giải thích ư nghĩa ấy
(Kinh) Tu Bồ Đề
bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Vân hà Bồ Tát bất thọ
phước đức?
(經)須菩提白佛言:世尊!云何菩薩不受福德?
(Kinh: Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:
- Bạch Thế Tôn! Thế
nào là Bồ Tát chẳng
nhận phước đức?)
Trưởng lăo thưa hỏi
có ba ư nghĩa:
1) Đă tu rồi lại chẳng nhận lấy, th́
thoạt đầu ắt phải tu để làm ǵ? [Hỏi như vậy v́] sợ kẻ
chẳng hiểu ư sẽ nẩy sanh hiểu lầm. Đó
là một ư thỉnh vấn.
2) Chẳng nhận lấy có phải là “cự tuyệt,
chẳng chấp nhận” hay không? Phước đức
đưa tới là lư nhân quả nhất định, há có
thể cự tuyệt, chẳng tiếp nhận ư?
Như thế th́ sao lại nói “chẳng tiếp nhận”?
Đó là ư thưa hỏi thứ hai.
3) Trong phần trước đă nói “đắc Nhẫn”
là do chẳng tiếp nhận [phước đức], vậy
th́ v́ sao có thể chẳng tiếp nhận? Trưởng
lăo thưa hỏi với dụng ư khiến cho đại
chúng hiểu rơ triệt để, đều
có thể thông đạt “chẳng tiếp nhận”.
Đấy là ư thưa hỏi thứ ba.
Do vậy, đặc biệt nêu ra câu “Tu Bồ Đề
bạch Phật ngôn” để [người đọc]
sẽ biết tầm trọng yếu của câu hỏi
này, đối với lời khai thị trong khoa tiếp
theo, sẽ đặc biệt chú ư ḥng lănh hội!
2.2.2.2.2.2.2.1.3.2.2.
Giảng rơ “chẳng chấp”
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Bồ Tát sở tác phước đức, bất ưng
tham trước, thị cố thuyết bất thọ
phước đức.
(經)須菩提!菩薩所作福德,不應貪著,是故說不受福德。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Bồ Tát đối với phước
đức đă tạo, chớ nên tham chấp. Do vậy nói là “chẳng
nhận lấy phước đức”).
Câu đầu tiên nói “tác
phước đức” (tạo phước đức)
nhằm dạy [người nghe] hăy biết: Tuy chẳng nhận
lấy, nhưng phải nên thực hiện. Chớ nên do
nói “chẳng nhận lấy”, bèn hiểu lầm tu phước đức có thể tŕ hoăn, [chẳng
cần phải thực hiện]. Hăy nên biết “tác
phước đức” chính là tu Lục Độ, phát
xuất từ tâm đại bi. Chư Phật Như Lai lấy
tâm đại bi làm Thể. Do chúng sanh mà dấy ḷng đại
bi. Do đại bi mà sanh Bồ Đề tâm. Sao có thể
nói là “có thể tŕ hoăn” cho được? Tầng thứ
nhất trong ư hỏi đă có thể giải thích xong!
Câu thứ ba nói: Do “bất ưng tham
trước” (đừng nên tham chấp), cho nên nói là “bất thọ”, khiến cho [người
nghe] biết “bất thọ” chẳng phải là cự
tuyệt, không tiếp nhận, mà là đừng tham chấp
đó thôi! Không tham chấp th́ phước đức có hay
không, trọn chẳng bận ḷng! Cho thấy: Nếu v́ cầu
phước đức mà tu Lục Độ, th́ gọi là
“tham chấp”, chính là lợi ích bản thân, chẳng nhằm
lợi ích chúng sanh, chẳng phải là tâm đại bi, chẳng
phải là Vô Thượng Bồ Đề! V́ vậy, chớ
nên! Biết điều này, tầng thứ hai trong lời hỏi
đă được giải đáp. Tạo phước đức, nhưng chẳng chấp
Không, đó là đại bi. Chẳng tham chấp là chẳng
chấp Hữu, đó là đại trí. Bi lẫn trí trọn
đủ, Không và Hữu đều chẳng chấp, th́ gọi
là Trung Đạo. Hơn nữa, “trước” (著) là “trụ”. “Bất
ưng tham trước” chính là “chớ nên trụ vào
đâu”! Gộp chung với câu trước đó, tức là
“chớ nên trụ vào đâu
để hành bố thí”, đúng là phản chiếu
những điều đă nói từ đầu kinh. Hơn
nữa, tu phước mà chẳng chấp, cũng chính là ư
nghĩa “độ tận chúng sanh, mà không có chúng sanh được độ” như đă nói lúc thoạt
đầu, đều là nguyên do hàng phục ngă chấp.
Tông chỉ của kinh này là “vô trụ, hàng phục ngă”.
V́ thế nói “cho tới khi thành tựu, chứng đắc”
để kết lại ư “vô trụ, hàng phục ngă”.
Tinh thần, nghĩa thú một mực thống nhất, chẳng
rối ren mảy may nào!
Như vậy th́ phần kinh
văn trên đây sao không nói thẳng thừng “do Bồ
Tát chẳng tham chấp phước đức”, há chẳng
phải là trực tiếp, nhanh chóng, thỏa đáng ư?
Cớ sao trước là nói “chẳng tiếp nhận”
rồi lại dùng “chẳng chấp” để giải
thích. Hăy nên biết: Khoa trước nói “chẳng nhận
lấy” nhằm khai thị làm thế nào để thành
tựu Nhẫn. Bởi “thành Nhẫn” chính là “chẳng
nhận lấy”. Đại Trí Độ Luận nói: “Hết
thảy chẳng nhận lấy th́ gọi là Chánh Thọ”.
Chánh Thọ là tam-muội, cũng được gọi là
Nhẫn. Như thế th́ nói “chẳng nhận” chính là
lời trọng yếu để cước chú “thành Nhẫn”,
há có thể không đặc biệt nêu ra ư? C̣n như
khoa này nói “chẳng chấp” tức là khai thị làm thế
nào để có thể “chẳng nhận”? Nói cách khác,
khoa trước nhằm bảo ban cảnh giới “thành
tựu, chứng đắc” chính là “hết thảy
đều chẳng nhận lấy”. Khoa này lại nói
phương pháp để thành tựu, chứng đắc,
tức là chẳng ngoài “chớ nên trụ vào đâu để
hành bố thí” như phần đầu kinh đă nói. Chứng như thế nào? Tu như thế
nào? Chỉ dạy tột bậc thân thiết, tột bậc
trọng yếu, then chốt. Do vậy, “chẳng nhận lấy” và “chẳng chấp”, hai đằng đều chẳng thể thiếu
được!
Lại c̣n nên biết: Hành
nhân phải “hết thảy đều chớ nên chấp”.
Cho tới khi công phu “chẳng chấp” thuần thục, sẽ thành “chẳng nhận lấy”.
V́ thế, “chẳng nhận lấy” cũng chính là “hết
thảy đều chẳng nhận lấy”, nay bất
quá dựa theo phước đức để giải
thích ư nghĩa đó thôi! Bởi lẽ, nhận lấy là do
chấp. Sở dĩ chấp là do tham. Sở dĩ tham là do
có Ngă, nhưng cái bị tham bởi ngă th́ không ǵ bằng
phước. Do vậy, dựa theo phước đức
để nói mà thôi! Biết điều này, tầng thứ
ba trong ư hỏi cũng được giải đáp rồi!
Nói chung, pháp giới b́nh đẳng,
vốn là hết thảy các pháp vô ngă. Học nhân trước
hết hăy nên khai chánh tri này. Đă biết như thế, sẽ
hành như thế. Hành như thế nào? Giống như thoạt
đầu [kinh dạy] “ưng
vô sở trụ hành ư bố thí” (hăy nên chẳng trụ vào đâu để
hành bố thí); đó chính là “sở tác phước đức, bất
ưng tham trước” (đối với phước
đức đă làm, chớ nên tham chấp) được nói ở đây. Nói cách khác, đó là rộng
tu hết thảy các pháp mà làm như chẳng có chuyện ấy.
Lâu ngày công thuần, tâm sẽ như hư không. Tuy hăm hở
hành hết thảy các pháp, nhưng chẳng chán, chẳng mệt,
quên bẵng như chẳng có ǵ. Đó gọi
là “chẳng nhận lấy”. “Chẳng nhận lấy”
là h́nh dung nhất tâm thanh tịnh, chẳng nhuốm mảy
trần. Lại c̣n tự nhiên là như thế, chẳng phải
gượng ép, luôn thường là như thế, chẳng
phải là ngẫu nhiên. Tức là bi trí trọn đủ,
Định Huệ cân bằng, ngă kiến phân biệt chấp
trước tiêu trừ hết sạch. Đạt tới
địa vị này, chẳng có ǵ để gọi tên, bèn
nói là “đắc thành ư Nhẫn” (được
thành tựu Nhẫn), nhưng đấy vẫn là cảnh
giới của Bồ Tát, chẳng phải là của Phật! Do vậy, tiếp theo
đó, bèn nói “chư pháp Không tướng” (tướng Không của các pháp) vốn sẵn bất sanh. C̣n như “một niệm bất sanh” th́ bất sanh cũng chẳng có, tức là
tùy thuận mà nhập pháp giới b́nh đẳng của
Như Lai vậy. Nghe ư chỉ trọng yếu này, hăy nên lắng
ḷng suy ngẫm.
2.2.2.2.2.2.2.2.
Nói rơ tướng Không của các pháp để kết lại
“các pháp bất sanh”
Kinh văn từ đây trở
đi chính là từng chút một hướng về chỗ
cội nguồn. V́ thế, bao hàm các ư nghĩa rất rộng,
rất sâu, rất vi tế. Nếu chỉ giải thích theo
kinh văn trong phần này, bị văn từ bó buộc, ắt
chẳng thể nói triệt để
được! Lại nghe triệt để như thế
nào? Chỉ có cách là trước hết phát huy thấu triệt
những ư chỉ trọng yếu được bao hàm
[trong các khoa sau], đến khi vào kinh văn của mỗi
khoa, sẽ có thể chỉ nói vài lời là xong! Đấy
cũng là một loại phương pháp để diễn
giảng đạo lư cao sâu vậy.
Trên đây đă nói ngàn lời
vạn lẽ, nhưng bằng một lời có thể
thâu tóm: “Chỉ là vô trụ mà thôi!” Vô trụ là như thế nào? Đó là nói: “Chẳng trụ vào tướng”. V́ sao chẳng
trụ vào tướng? Chính là nói “nếu tâm giữ lấy
tướng, sẽ là chấp ta, người, chúng sanh, thọ
giả”. Hăy nên biết: Muốn chẳng trụ tướng,
ắt phải là tâm chẳng chấp giữ. Không chấp
giữ chính là phá ngă, mà phá ngă chính là để chứng Nhất
Chân pháp giới b́nh đẳng nhất như. Một pháp
giới ấy chính là Pháp Thân thường trụ bất
động, được gọi là Như Lai vậy.
Nói chung, toàn thể ư nghĩa
được nói trong kinh chẳng ngoài tám chữ “bất
thủ ư tướng, Như Như bất động”
(chẳng giữ lấy tướng, Như Như bất
động). Bất quá, cho đến cuối cùng mới
nói rơ tám chữ ấy. Do bởi lẽ
này, ư nghĩa của kinh văn thuộc khoa lớn “tướng
Không của các pháp” đă dung hội chỉ thú của cả bộ kinh để
nói triệt để rốt ráo. Đó gọi là “điểm
trích quy nguyên” (點滴歸源, từng chút một quy vào cội nguồn). Do
vậy, những điều được nói càng viên, càng
diệu!
Ngay như “vô ngă” là
điều được cả bộ kinh luôn nói tới,
đến đây, vô ngă vốn chẳng có! Vô ngă c̣n chẳng
có, tức là vô trụ cũng chẳng trụ, “chẳng
giữ lấy” cũng chẳng giữ lấy! V́ sao vậy?
Do hết thảy các pháp vốn bất sanh. Hơn nữa,
cũng chẳng có ǵ bất sanh, v́ sao vậy? Do pháp tức
là phi pháp, tướng tức là phi tướng. Sau đó, rốt
ráo vô ngă. Vô ngă cũng chẳng có.
Do vậy, có thể biết: Các nghĩa “chẳng
thánh, chẳng phàm, chẳng một, chẳng khác” được
nói trên đây chính là ngay cả thánh phàm cũng chẳng phải là thánh phàm, “một, khác”
chẳng phải là “một, khác”, quên bẵng “chẳng
nhận lấy” mà gọi là “chẳng nhận lấy”.
V́ thế, tuy chẳng có thánh, phàm, mà chẳng trở ngại
thành thánh, thành phàm. Tuy thành thánh, thành phàm, vẫn là chẳng
thánh, chẳng phàm như cũ. Đối với “một,
khác” v.v… không ǵ chẳng phải là như thế! Tức
là cũng chẳng có ǵ gọi là “hai bên”, không có ǵ gọi là
Chấp, không có ǵ gọi là Trung. V́ sao vậy? “Một”
đă chẳng thể tồn tại, há có hai, lại c̣n có
Biên, c̣n có Trung ư? Chẳng phải là rốt ráo không có! Dẫu
cho vạn hữu lăng xăng, nhưng Hữu chính là Vô.
V́ sao vậy? Do vốn bất sanh, tức gọi là Như
Như, gọi là “bất động”, gọi là “chẳng
giữ lấy”. Do sanh tâm chẳng giữ lấy, tức
là đă “giữ lấy” mất rồi!
Sanh tâm bất động, cái tâm đă sớm động rồi!
Sanh tâm Như Như, c̣n làm sao có Như Như được
nữa? Sanh tâm trừ ngă th́ ngă kiến, ngă tướng nghiễm
nhiên! Nếu chẳng biết hướng theo đó để
tiến thủ, dẫu nhọc nhằn siêng năng tu tập,
vẫn là đánh loạn, chằng buộc thêm dây, thêm nhợ mà thôi!
Nói chung, những điều được nói trong khoa
lớn này chính là cực lực nêu rơ “chẳng giữ lấy
tướng, Như Như bất động” đến
chỗ rốt ráo, tức là hướng dẫn người
học quán chiếu nơi Bát Nhă sâu xa. Đó là khiến cho
hết thảy chúng sanh đạt được chỗ
đại tự tại. Kinh văn đúng là nh́n khắp bốn
phía, phương diện nào cũng tinh xảo, sống động! Người nghe cũng phải
nên mắt nh́n trọn bốn phía, mặt nào cũng thấy
thấu tột. Chớ nên chết cứng nơi câu
văn, bị văn tự xoay chuyển. Hăy nên lắng
đọng tinh thần, rỗng không cái tâm, đối với
từng chữ, từng câu, đều hướng đến
chỗ “chưa khởi tâm động niệm” để
lănh hội. Nếu dính mắc mảy may tướng phan
duyên, hay tướng danh tự, sẽ chẳng có chỗ
để tiến nhập!
Tôi vừa mới nói “hăy hướng theo đó để
tiến thủ, chớ nên thêm dây buộc nhợ”, nhắc
lại để nói rơ hơn! Tựa đề của khoa
này nói đến “tướng Không” chứa đựng hai
nghĩa “vốn vô tướng” và “chẳng giữ lấy
tướng”. Do một khoa lớn này chính là nói về Lư thể,
mà cũng chính là nói về công phu tu tập. Hành nhân trước
hết hăy nên hiểu rơ “Lư thể vốn vô tướng”;
do đó, chớ nên giữ lấy tướng. Hơn nữa,
Thể đă là vô tướng. Do đó, tu “chẳng giữ
lấy” th́ mọi nơi, mọi chốn, đều nên
quán chiếu Lư thể “các pháp vốn vô tướng”.
Đó gọi là “toàn tu tại tánh, toàn tánh tại tu”.
Như thế th́ muốn học hạnh Bát Nhă vô trụ,
việc ǵ phải hạn cuộc khởi tu từ đầu?
Có thể thẳng thừng khởi tu từ tướng
Không của pháp. Do vậy nói: “Hăy nên hướng theo
đó mà tiến thủ”. Hăy nên biết: Đại Thừa
Viên Giáo vừa lần lượt theo thứ tự, vừa
chẳng theo thứ tự. V́ vậy, Thiền Tông nói: “Trực
chỉ hướng thượng”. “Hướng
thượng” chính là nói tiến hướng tới cội
nguồn. “Trực chỉ” là cắt bỏ cành, lá, liếc
mắt đă thấy chắc chắn chỗ nguồn cội,
một ḿnh ôm đao tiến thẳng vào. Nếu nh́n lời
này (tức “trực chỉ hướng thượng”)
một cách ngây ngốc, cứ ngỡ chỉ có pháp môn Khán Thoại Đầu là có thể quán chiếu
trực nhập như thế, c̣n niệm Phật và các pháp
môn khác chẳng thể dùng làm công phu quán chiếu cội nguồn,
th́ sẽ tự đánh mất thiện lợi, lỗi lầm
ấy không chi hơn được!
Phàm là kinh liễu nghĩa, chẳng câu nào không triệt
để, chẳng pháp nào không thấu triệt từ
đầu đến đuôi. Do vậy, nói đến Lư
chính là nói tới chỗ tu, lại c̣n một mực xuyên suốt
tới chỗ chứng quả. Tuy nói chia thành bốn phần
là Giáo, Lư, Hạnh, Quả, nhưng nếu chấp chặt thành bốn sự kiện, há chẳng phải là
ngoài quả riêng có giáo lư, c̣n có giáo lư ǵ đáng để nói
nữa ư! Do bởi lẽ này, trong
kinh liễu nghĩa, lời nào cũng có thể chứng
đạo, câu nào cũng đều có thể nhập môn!
Lấy kinh Di Đà để nói, hai câu “chấp tŕ
danh hiệu, nhất tâm bất loạn” cố nhiên là nói
có trước sau: Câu “chấp tŕ” là thực hiện, câu “nhất tâm” là
công hiệu do chấp tŕ. Nhưng nếu chẳng thể
thấu hiểu “dùng nhất tâm để khởi tu”,
sẽ trọn chẳng thể thực hiện “chấp
tŕ”. Như vậy th́ nhất tâm bất loạn há chỉ
có thể coi là công hiệu ư? Dùng kinh này để nói, những
câu nói về Lư hoặc tu, không câu nào chẳng xuyên suốt toàn thể bộ kinh, há chỉ riêng một khoa này là
như thế ư? Do vậy, tùy ư chọn lấy một
câu, đều có thể do đó mà ngộ đạo.
Xưa kia, Thiền Tông Lục Tổ do nghe câu “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” mà được triệt ngộ.
Người đời sau bèn chấp chặt trong cả
kinh, chỉ có mỗi câu ấy là tối diệu;
đó gọi là “theo sau vết chân của người ta
mà bị xoay chuyển” vậy!
Nếu thật sự là người nhạy bén, sẽ
biết Đại Thừa do đức Phật nói chính là
pháp ấn, sẽ có thể tùy ư chọn lấy một câu
dùng để ấn chứng mọi chuyện, mọi pháp.
Nói cách khác, mọi chuyện, mọi pháp đều hướng
theo pháp ấn ấy để thấu hiểu.
Như thế mới là người biết dụng công, sẽ
là đi, đứng, nằm, ngồi đều chẳng
ĺa điều này, dễ đạt được sự
thọ dụng chân thật. Huống hồ một khoa lớn
này, lời nào cũng đều là nguồn tâm. Sở chứng
của Phật chính là chứng điều này. Nếu coi
đấy là cảnh giới của Như Lai, chẳng phải
là [cảnh giới mà] kẻ sơ học có thể đạt
được, chẳng lẽ người học chẳng
nên phản chiếu nguồn tâm ư? Đó là sai lầm to
lớn, c̣n phải đợi nói nữa ư?
Phản chiếu nguồn tâm cố nhiên chẳng phải
là chuyện dễ dàng! Nhưng chẳng hướng về
cội nguồn để quán chiếu, chỉ t́m cành, kiếm
lá, làm sao tu tốt đẹp cho được! Có thể
quán chiếu nơi cội nguồn để nhập các thứ
ấy, hết thảy công phu tu tập đều có thể
giải quyết gọn ghẽ. Điều này giống
như học tập văn tự, hễ có chút tập khí
nơi kinh, tử (經, 子)[2], và tập khí của
người thời Tần - Hán, hễ dụng công liền
hơn hẳn người khác! Tu hành cũng lại giống
như thế, hăy nên biết như vậy! Cổ đức
nói: “Bất khả cao thôi thánh cảnh, tự sanh ty khuất”
(chớ nên đề cao thánh cảnh để rồi tự
ḿnh hèn kém, khuất lấp), quả thật là lời khẩn
thiết vậy!
Khoa này chia thành hai phần:
1) Diệt tướng nhập Thể.
2) Kết lại ư “bất sanh”.
Phần thứ nhất lại chia thành ba tiểu đoạn:
1) Ước theo thánh hiệu để nói rơ ĺa “đến,
đi”.
2) Ước theo vi trần và thế giới để
nói rơ ĺa “một, nhiều”.
3) Ước theo ngă kiến để nói ngay cả
“ĺa” cũng ĺa.
2.2.2.2.2.2.2.2.1.
Diệt tướng nhập Thể
2.2.2.2.2.2.2.2.1.1.
Ước theo thánh hiệu để nói rơ ĺa “đến,
đi”
2.2.2.2.2.2.2.2.1.1.1.
Đả phá phàm t́nh
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Nhược hữu nhân ngôn, Như Lai nhược lai,
nhược khứ, nhược tọa, nhược ngọa,
thị nhân bất giải ngă sở thuyết nghĩa.
(經)須菩提!若有人言,如來若來若去若坐若臥,是人不解我所說義。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nếu có người nói “Như Lai hoặc đến,
hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm”, người ấy chẳng hiểu
nghĩa do ta đă nói).
Câu “chư pháp Không tướng”
(tướng Không của các pháp) chính là pháp ấn Đại
Thừa. Các câu “bất lai, bất khứ” (chẳng
đến, chẳng đi) v.v… không ǵ chẳng phải là
pháp ấn. “Pháp ấn” tức
là hết thảy
các pháp đều có thể lấy nghĩa này để ấn
chứng, khẳng định. Nay bất quá, ước
theo thánh hiệu Như Lai để nói rơ ḥng làm mẫu vậy!
Cần phải biết: Đến, đi v.v… đều là
sự tướng đối đăi. Muốn chứng cái
Thể tuyệt đối, ắt phải dứt bặt
các tướng đối đăi, rỗng không tướng
hư huyễn ấy. V́ sao vậy? Do tánh của hết thảy
các pháp vốn chẳng phải là tướng. Đấy
là xét theo tánh thể để nói rơ tướng Không sẵn
có của các pháp. Nếu ước theo công phu tu tập
để nói tướng Không của các pháp th́ là [tu tập
quán sát sao cho] rỗng không tướng trạng của các
pháp, có nghĩa là diệt tướng[3]
nhập Thể vậy! Như Lai vốn là
danh xưng của tánh đức. Do người ấy chấp
trước chữ Lai, cho rằng có Lai (來,
đến) ắt có Khứ (去,
đi). Đă có đến, đi, lại liên tưởng ngồi,
nằm! Điều này cho thấy: Hễ chấp một
tướng, ắt sẽ dẫn đến càng nhiều
thứ hơn nữa! Muôn tướng lăng xăng,
vĩnh viễn chẳng được thanh tịnh. Dùng
đó để chỉ rơ: Đọc kinh, nghe pháp, chẳng
thể chấp vào tướng văn tự. Người ấy
(người chấp vào tướng văn tự) hoàn toàn ở
ngoài cửa, nghe xưng danh hiệu Như Lai, trong tâm nghiễm
nhiên dường như có sự đến, đi, cùng với
đi, đứng, ngồi, nằm v.v… đủ thứ
tướng khác nhau!
Bốn chữ Nhược (若) [trong chánh kinh] h́nh dung cái
tâm xoay chuyển theo tướng, dấy lên, diệt mất
chẳng ngừng, phảng phất dường như có
trông thấy, trong tâm thêu dệt, bèn thốt ra lời ấy;
đó là phàm t́nh suy lường thánh cảnh, hoàn toàn chẳng
liễu giải ư nghĩa của Như Lai. V́ thế nói: “Thị
nhân bất giải ngă sở thuyết nghĩa” (Người
ấy chẳng hiểu nghĩa do ta đă nói). Chữ Ngă chỉ
Như Lai, ư nói: Chẳng hiểu ư nghĩa được
diễn tả bởi hai chữ Như Lai. [Ngă] cũng có thể
hiểu là nói về Phật. Pháp do đức Phật nói,
không ǵ chẳng nhằm khiến cho mọi người ĺa
tướng, chứng tánh, cho tới ngữ ngôn, văn tự
[trong các lời Phật dạy], đều chớ nên chấp.
Người ấy hoàn toàn chẳng biết tánh, chấp vào
danh tự và ngôn thuyết. Do vậy, đối với
nghĩa do đức Phật đă nói, chẳng lănh hội
mảy may! V́ thế, [đức Phật] quở: “Chẳng
hiểu nghĩa do ta đă nói”. Quở trách người
đó chẳng hiểu, chính là v́ muốn cho hết thảy
mọi người hiểu sâu xa nghĩa thú của tướng
Không.
2.2.2.2.2.2.2.2.1.1.2.
Giải thích chánh nghĩa
(Kinh) Hà dĩ cố?
Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ,
cố danh Như Lai.
(經)何以故?如來者,無所從來,亦無所去,故名如來。
(Kinh: V́ sao vậy?
Như Lai là chẳng từ đâu đến, cũng chẳng
đi về đâu, cho nên gọi là Như Lai).
Như Lai tức là Pháp Thân.
Pháp Thân thường trụ bất động, không có ǵ gọi
là Đến hay Đi. Pháp Thân trọn khắp hết thảy
mọi nơi, cũng chẳng cần đến hay đi!
Ở đây, cái bị thấy có “đến, đi”, chính
là Ứng Hóa Thân. Thân ấy là pháp duyên sanh, tức là thuận
theo cái duyên cơ cảm của chúng sanh mà sanh khởi. Nói
cách khác, tức là cái thân thị hiện ấy đều do mắt chúng sanh trông thấy
mà nói như vậy; cố nhiên Như Lai chưa hề
động. Đó gọi là “duyên sanh”. V́ sao nói như
vậy? Hăy thử nghĩ: Phật đă thị hiện, v́
sao chúng sanh có kẻ thấy, có kẻ chẳng thấy? V́
sao có khi thấy, có lúc chẳng thấy? Bởi lẽ, thấy
hay không, đều tùy thuộc cái tâm của chúng sanh như
thế nào! Tâm tịnh th́ Phật hiện, bèn gọi là Lai.
Tâm nhơ đục, Phật ẩn. Do vậy nói là Khứ.
Tâm tịnh hay tâm trược, toàn là do chúng sanh! V́ vậy, Ứng
Hóa Thân ẩn hay hiện, cũng hoàn toàn do chúng sanh. Do đó
bảo: “Tùy duyên sanh khởi”. Nhưng có duyên th́ ắt
cũng có nhân, cái nhân là ǵ vậy? Trong phần trước
đă nói là sức thiện căn của ḷng Từ và thành
tựu hai trí (Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí), cho
nên hễ có cảm liền hiện, trọn chẳng phải
là khởi tâm tác niệm! Do vậy, tuy là tùy chốn thị
hiện, nhưng vẫn như chẳng có chuyện ấy!
Pháp Thân bất động, an nhiên, trọn chẳng trụ trong tướng đến, đi; nhưng tuy Pháp Thân bất động, lại
luôn thị hiện Ứng Hóa Thân trọn chẳng đoạn
tuyệt, mà cũng chẳng trụ trong cái Thể bất
động. Đó gọi là “Như Như bất động”.
Hiểu nó tuy Như Như mà
là bất động; dẫu bất động mà là
Như Như. Do đó, tuy thấy có đến, đi, thật
sự chẳng đến, chẳng đi! Tuy chẳng
đến, chẳng đi, chẳng trở ngại thấy
có đến, đi. Ở
đây nói “vô sở
tùng lai, diệc vô sở khứ” (không từ đâu đến,
cũng không đi về đâu), chẳng phải là
nói “rốt ráo chẳng đến, đi”, mà là nói “đến cũng chẳng
có chỗ, đi cũng chẳng có nơi!” Hai chữ Sở (所) rất trọng yếu. “Vô sở” là
không có nơi chốn, h́nh dung [Pháp Thân] vốn trọn khắp
hết thảy mọi nơi, há có chỗ đến, chỗ
đi ư? Đă là đến, đi,
nhưng không có chỗ đến, đi, có thể
thấy là tuy đến, đi, nhưng thật sự
chưa từng đến, đi! Dẫu chưa từng
đến, đi, mà hiện có đến, đi vậy. Có
nghĩa là “trụ mà vô trụ, vô trụ mà trụ”.
Đó là ĺa tướng tột bậc, v́ sao vậy? Tướng
“đến, đi” và “chẳng đến, đi” đều
ĺa; cho nên nói là tột bậc!
Nói chung, “đến,
đi” là do từ
chẳng đến, chẳng đi mà thấy. Chẳng
đến, chẳng đi lại do “đến,
đi” mà thấy.
Không chỉ ĺa sạch các tướng “hữu tướng”,
mà cũng ĺa sạch các tướng “vô tướng”. Bởi
lẽ, Chân Như, Thật Tướng, vốn sẵn là như
thế. Chân Như: Chẳng thể trừ khử th́ gọi
là Chân; mà cũng chẳng thể lập th́ gọi là
Như. Thật Tướng: Tuy vô tướng mà cũng là
vô bất tướng. Do vậy, kết lại rằng: “Cố
danh Như Lai” (cho nên gọi là Như Lai). “Danh” là giả
danh. Không chỉ Lai là giả danh, mà Như cũng là giả
danh. V́ sao vậy? Chân Như mà nói Lai, tức là nói “chẳng
trụ Niết Bàn”. Bởi Thể của Chân Như vốn
bất động, nhưng nay nói Lai. Như vậy th́ cái gọi
là Như chỉ là danh xưng mà thôi, thật sự chẳng
trụ vào Chân Như bất động. Đă đến
mà lại nói là Như, tức là nói “chẳng trụ sanh tử”,
bởi lẽ tướng đến, đi là sanh diệt,
mà nay nói là Như. Như vậy th́ cái gọi là Lai cũng
chỉ là tên gọi mà thôi, thật sự là “đến,
đi chẳng trụ trong sanh diệt”. Nói chung, do nói rơ
vô ngă đến tột bậc, tùy theo cảm mà ứng,
duyên tụ hội bèn hiện, chẳng có mảy may dụng
tâm đó thôi! Đó gọi là “một niệm chẳng
sanh”. Niệm c̣n chẳng sanh, tâm có bao giờ động?
Khoa này tuy dựa
theo Pháp Thân để giảng nghĩa; thật
ra, ư nghĩa “hai thân” (Báo Thân và Ứng Thân) cũng
được nói kèm. Người khéo thông đạt sẽ
bèn phản quán sắc thân Ngũ Uẩn của chính ḿnh, tuy
có đến, đi, nhưng Phật tánh vốn sẵn có
thật sự chẳng đến, đi, sẽ đều
từ “chẳng đến, chẳng đi” mà khế nhập.
Tướng đến, đi ấy há đáng để bận
tâm ư? Cho đến khi đă khế nhập tánh thể,
sẽ bất luận hiện tướng đến hay
đi đều được, cần ǵ cứ phải bận
ḷng? Chính là chẳng chấp, chẳng đoạn, giá chiếu
đồng thời vậy!
Người
niệm Phật càng phải nên thông đạt lư này. Cần
phải biết: Phật Di Đà đến tiếp dẫn,
nhưng Ngài trọn chưa từng đến! Văng sanh Tây
Phương cũng chưa từng đi, cũng nào trở ngại
hiện đến, hiện đi! V́ sao vậy? Chẳng
đến, chẳng đi là Lư Thể. Có đến, có
đi là sự tướng. Lư, Sự trước nay chẳng
hai; tánh,
tướng ắt cần phải viên dung. V́ thế, chẳng
quản không đến, không đi, chẳng ngại có
đến, có đi. Bất kể có đến,
có đi, thật ra chẳng đến, chẳng đi.
Điều khẩn yếu nhất chính là phải thấu
hiểu, cảm nhận đến, đi từ chẳng
đến, chẳng đi. Chẳng đến, chẳng
đi phải thực hiện ngay trong đến, đi.
Đấy là yếu quyết trong niệm Phật cầu
sanh. Đạt được yếu quyết ấy, sẽ
chắc chắn văng sanh, lại c̣n quyết định thấy
Phật. Ai nói tu Tịnh Độ chẳng cần học
Bát Nhă, lại c̣n nghi Bát Nhă gây trở ngại cho Tịnh
Độ vậy?
C̣n có một
nghĩa trọng yếu cần phải triệt để
liễu giải: Tướng nương vào tánh mà hiện.
Tánh do tướng mà được tỏ lộ. Hai thứ
tánh và tướng, một ngoài, một trong, chưa hề
tách rời! Như thế th́ kinh Phật dạy mọi
người ĺa tướng là v́ đâu? Hăy nên biết: Nói “ĺa”
chẳng phải là nói “đoạn diệt”, chỉ là
chớ nên giữ lấy! Hai thứ tánh và tướng
đă là một ngoài, một trong, chẳng thể tách rời,
như vậy th́ chỉ riêng chẳng giữ lấy tướng
là v́ sao? Hăy nên biết: Đấy là do phàm phu từ vô thỉ
tới nay chỉ nhận biết tướng, chạy theo
tướng mà chuyển. Do vậy, ta, người, đây,
kia, cao, thấp, dày, mỏng, tinh, thô, đẹp, xấu,
đủ thứ tướng đối đăi đua nhau
ào ạt dấy
lên, lôi cành, kéo lá, dắt díu nhau ngày càng nhiều, đến
nỗi phân biệt, chấp trước, do vậy ngày càng
quá mức. Bởi đó, ngă kiến ngày càng sâu. Các phiền
năo tam độc tham, sân v.v… do vậy nối tiếp nhau,
tăng trưởng, cao sâu hơn, cho đến tạo
nghiệp vô cùng, chịu khổ vô biên.
Nay muốn
cứu chữa, cần đoạn Tam Độc. Muốn
đoạn Tam Độc, cần trừ ngă kiến. Muốn
trừ ngă kiến, cần chẳng phân biệt, chấp
trước, mà muốn chẳng phân biệt chấp trước,
cần phải ĺa tướng. V́ thế, “ĺa tướng”
có nghĩa là trừ ngă kiến phân biệt, chấp trước,
chẳng phải là nói “rốt ráo ĺa”. V́ thế
nói “bất thủ phi pháp tướng” (chẳng giữ
lấy tướng phi pháp). Lại bảo “bất thuyết
đoạn diệt tướng” (chẳng nói đoạn diệt tướng), tức
là hiển thị nghĩa chân thật của “ĺa tướng”,
khiến cho [thính chúng] chẳng đến nỗi hiểu lầm!
Nói chung, “ĺa tướng” là dạy
hăy hồi quang phản chiếu ḥng chứng tánh. Tánh đă
chứng được rồi, cần phải hiện
tướng, nhưng cần phải là sau khi đă chứng
quả, đừng ch́m đắm, vướng mắc
trong Không Tịch. Lại cần phải khi tu nhân, dẫu
quán Không mà chẳng thiên lệch Không. Đó là lư do dạy “chẳng
giữ lấy”, lại dạy “chẳng diệt, chẳng
chấp vào hai bên” vậy!
Hơn nữa,
Phật lư, Phật thuyết, không ǵ chẳng viên diệu.
Tuy chỉ nói “chẳng giữ lấy tướng”,
nhưng thật ra đă thông với tánh. V́ sao nói vậy? Hễ có
cái để giữ lấy, sẽ trở thành tướng,
chẳng phải là tánh. V́ thế, Nhị Thừa lệch về
bên tánh, đức Phật bèn quở trách là “trầm không
trệ tịch, chẳng thể kiến tánh”. Nói “trầm”,
nói “trệ” là h́nh dung tướng chấp giữ.
Tướng trầm trệ hiện, tánh chẳng trầm
trệ bị ẩn mất. V́ thế nói là “chưa kiến
tánh”. Do vậy, câu “chẳng giữ lấy tướng”
quán triệt cả hai bên, hăy nên lănh hội như vậy!
Cho đến
chỗ này, chẳng nói “có đến, đi”, mà
cũng chẳng nói “không có đến, đi”, mà nói là “vô
sở tùng lai, diệc vô sở khứ” (chẳng từ
đâu đến, mà cũng chẳng đi về đâu).
Song chiếu hai bên, càng là viên dung. V́ sao vậy? Nếu nói chắc
chắn “có đến,
đi”, sẽ lệch
vào bên tướng. Nếu nói chắc chắn “chẳng
có đến, đi”, sẽ lệch vào bên phi
tướng. Nay nói song chiếu cả hai bên như thế,
chính là hiển thị nghĩa “tánh tướng cùng dung hội”.
Tánh tướng cùng dung hội, đó là b́nh đẳng nhất
như. Lại như danh xưng Như Lai, tuy dùng để
gọi Pháp Thân, thật ra đă chứa đựng cả
hai thân (Báo và Ứng). Nếu
không, chữ Lai chẳng tương ứng. Do vậy, từ
danh xưng ấy, đă hiển lộ trọn vẹn ư
nghĩa “tuy có con số là ba [thân], nhưng chẳng có ba
Thể!” Trước đó, dựa theo chữ Như
để nói rơ ư nghĩa, thông với các pháp, bèn nói “nghĩa
Như của các pháp”. Nay ước theo chữ Lai để
giảng nghĩa, bèn thông với “chẳng đến, chẳng
đi” mà bảo “vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ”.
Đấy đều là đức Thế Tôn rát miệng,
buốt ḷng dạy bảo người học: Đối
với hết thảy các pháp do đức Phật đă
nói, hăy đều nên liễu giải như thế, sẽ
có thể thông đạt “tánh tướng nhất
như, pháp giới b́nh đẳng!”
V́ sao vậy?
Nếu liễu giải “tuy chẳng đến, chẳng
đi, mà hiện có đến, đi”, sẽ có thể
biết Pháp Thân thường hiện các thân Báo, Ứng v.v…
nhưng chẳng đoạn tuyệt. Do vậy, khi tu nhân,
chớ nên đoạn diệt tướng. Nếu liễu
giải “tuy hiện có đến, đi, mà thật ra
chưa từng đến, đi”, sẽ có thể biết
các thân Báo, Hóa v.v… chẳng thể ĺa Pháp Thân mà riêng có! Do vậy,
khi tu nhân, chớ nên chấp trước tướng! Liễu
giải điều này, th́ các nghĩa trước đó
như “chớ nên giữ lấy pháp, chớ nên giữ lấy
phi pháp, tức phi, thị danh” v.v… đều có thể
triệt để hiểu rơ. Ư nghĩa “nhược kiến
chư tướng phi tướng, tắc kiến Như
Lai” (nếu thấy các tướng chẳng phải là
tướng, sẽ thấy Như Lai) cũng do đó mà
thông đạt. Bởi lẽ, Như mà Lai, tức là nói “chẳng
diệt tướng”. Lai mà Như tức là nói “chẳng
chấp tướng”. Nếu thấy chư tướng
chẳng phải là tướng, có nghĩa là “từ ngay
các tướng mà thấy chúng chẳng phải là tướng”, sẽ chẳng
chấp, chẳng diệt, bèn tương ứng với
nghĩa Như Lai. Do vậy, có thể thấy Như Lai.
Lại nữa, Như mà Lai tức
là khi chẳng chấp, liền chẳng diệt. Lai mà
Như th́ là lúc chẳng diệt, vẫn chẳng chấp.
Do vậy, “chẳng trụ Niết Bàn, chẳng trụ
sanh tử” là đồng thời, mà chẳng trụ vào
một điều ǵ. V́ thế, hành nhân hăy nên sanh tâm “chẳng
trụ vào đâu”. Nếu tâm có trụ, sẽ chẳng
phải là trụ. Nếu có thể liễu giải mà thông
đạt như thế, th́ dù tánh, hay tướng, hết
thảy phân biệt, hết thảy chấp trước tự
nhiên tiêu trừ, tự nhiên vô niệm, tự nhiên chẳng
có vướng mắc, điên đảo. V́ thế nói “hành thâm Bát Nhă Ba La Mật
Đa thời, năng độ nhất thiết khổ” (khi hành sâu
Bát Nhă Ba La Mật, có thể vượt thoát hết thảy
các khổ). Hết
thảy các hành nhân, nếu lănh hội ư nghĩa trong khoa này,
hăy nên quán hết thảy các tướng đối đăi
chẳng thể ĺa khỏi tánh dứt bặt đối
đăi mà riêng có được! Nhưng tánh dứt bặt
đối đăi cũng chưa từng ĺa tướng
đối đăi để riêng tồn tại, sẽ liền
trong hết thảy sự tướng đối đăi
thường ngày, tuy chẳng ngại tùy duyên mà hành,
nhưng chớ nên chuyển theo duyên! Có nghĩa là: Hễ có
duyên bèn ứng xong, gặp dịp th́ thuận tiện thực
hiện xong, chẳng bị dây dưa! Duyên đáng nên kết
th́ cũng chẳng ngại mà kết, nhưng đừng nắm
níu. Nếu có thể như vậy th́ trong mười hai thời,
siêng năng quán chiếu, khám nghiệm miên mật, định
vững cái tâm, đặt chân vững vàng, sẽ tự chẳng
bị tướng trói buộc, diệt mất tướng
mà nhập Thể. Đấy là bước công phu đầu
tiên của người học, chính là tùy thuận Chân
Như. Đó là trực chỉ hướng thượng!
Nói “diệt
mất tướng” th́ “diệt mất” (mẫn, 泯) có
nghĩa là dung hội, chẳng phải là đoạn diệt,
tức là “chẳng chấp, chẳng đoạn”. Nói
là Nhập Thể tức là khế nhập tánh thể. Dung
hội th́ sẽ khế nhập, chẳng phải là có riêng
một cái Thể nào khác! V́ sao vậy? Do tánh thể vốn
chẳng phải vô tướng, vô bất tướng.
Đó gọi là “tướng Không của các pháp”. Không
là Đệ Nhất Nghĩa Không, tức là Không mà bất
không, bất không mà không! Đó gọi là chỉ rỗng
không tướng của nó, chẳng hoại các pháp. Nếu
có thể như vậy, sẽ mặc cho vạn tướng
lăng xăng, sẽ tự chẳng bị dao động.
Những điều vừa nói trên đây đều là
phương tiện để khởi tu từ tướng
Không của các pháp. Có sâu, có cạn, pháp ấy chẳng một,
nhưng vẫn nhất quán. Ngay như nói là “cạn”
th́ cũng là chẳng cạn, chẳng sâu! Chớ nên do nghe
điều này là nông cạn bèn coi thường! Tùy thuộc
người hữu duyên thuận theo ư ḿnh mà chấp nhận,
tu hành, sẽ có thọ dụng to lớn, quyết chớ
nên chê bai!
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.
Ước theo vi trần và thế giới để nói rơ
“ĺa một, nhiều”
Chia thành hai phần:
1) Nói rơ “vi trần chẳng nhiều”.
2) Nói rơ “thế giới chẳng
một”.
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.1.
Nói rơ “vi trần chẳng nhiều”
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.1.1.
Hỏi vi trần có nhiều hay không?
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Nhược thiện nam tử, thiện
nữ nhân, dĩ tam thiên đại thiên thế giới toái
vi vi trần. Ư ư vân hà? Thị vi trần chúng, ninh vi
đa phủ?
(經)須菩提!若善男子、善女人,以三千大千世界碎為微塵。於意云何?是微塵眾,寧為多不。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Nếu thiện nam tử, thiện nữ
nhân đem tam thiên đại thiên thế giới đập
nát thành vi trần. Ư ông nghĩ sao? Các hạt vi trần ấy
há có nhiều hay chăng?)
“Vi trần
thế giới” tuy đă được nói trong phần
trước, nhưng đối với kinh văn thuộc
khoa này, hăy chú trọng
hai chữ “toái, hợp” (vỡ nát, hợp lại). Do
nó có thể vỡ nát và hợp lại, đủ chứng
tỏ tướng vi trần hay thế giới đều
là duyên sanh, bản thể chính là Không. Nhưng trong pháp tánh,
vốn chẳng có các tướng khác biệt như thế!
V́ thế, tuy chẳng đoạn diệt, nhưng chẳng
thể chấp trước! Bởi trước đó, tuy
đă nhiều lượt nói “tức phi”, “thị danh”,
nhưng chỉ đều là nói theo lẽ đương
nhiên “tướng chẳng phải là tánh”. Nay ước
theo vi trần và thế giới để nói rơ chúng có thể
vỡ nát hay hợp lại, tức là triệt để
nêu ra nguyên do. Đă hiểu rơ nghĩa này th́ đối với
hết thảy các chỗ nói “tức phi, thị danh”,
sẽ đều có thể suy luận tương tự!
Đem tam
thiên đại thiên thế giới nghiền nát thành vi trần,
bằng một lời này đă cảnh tỉnh phàm phu ngu
si đừng chấp thế giới là thật sự có.
V́ sao vậy? Do thế giới to như vậy mà có thể
vỡ nát, đủ chứng tỏ thế giới là
tướng hư huyễn, há thật sự có ư? Nếu
thật sự là có, há có thể nghiền nát ư? Nói là “nghiền
nát”, chính là nói rơ thế giới là tướng tập hợp
của vô số vi trần. Ngoài vi trần ra, chẳng c̣n thế
giới. Người phát Bồ Đề tâm hăy nên quán
như thế, quán chiếu thế giới không ǵ chẳng
là vi trần, chớ nên chấp nó có thật, chẳng phải
là thật sự đập nát ra. Ở đây nói “thiện
nam tử, thiện nữ nhân” tức là nói về người
phát Bồ Đề tâm vậy.
“Ư ư
vân hà?” (ư ông nghĩ sao) là từ ngữ để
thăm ḍ, kiểm nghiệm kiến địa. Nếu biết
vi trần rất nhiều, do thế giới vỡ nát ra,
th́ thế giới là giả hữu cũng đă rơ rồi!
Nhưng nếu chấp có rất nhiều, lại là lầm
lẫn ngỡ vi trần là thật sự có. Hăy nên biết:
Thế giới và vi trần, tuy lớn nhỏ khác biệt,
nhưng đều là chẳng thật như nhau! Đức
Phật nói nghiền nát thế giới thành vi trần, vốn
là muốn phá kiến chấp “thế giới có thật” của
con người. Nếu chẳng hiểu rơ “vi trần chẳng
thật”, th́ sẽ trọn chẳng hiểu rơ triệt
để “thế giới chẳng thật”! Bổn ư của
đức Thế Tôn là muốn khiến cho mọi người
triệt để liễu giải tất cả thế
gian, lớn như thế giới, nhỏ như vi trần,
không ǵ chẳng đều là hư vọng. Bản thể
của chúng chính là Không, chớ nên chấp trước,
đừng nên tham luyến! V́ thế, cần phải
thăm ḍ, kiểm nghiệm kiến địa [của
thính chúng] như thế nào. Chữ Toái (碎) ở
đây, cùng chữ Hợp (合) trong
đoạn sau, cũng như chữ Chúng (眾) trong
đoạn này cùng với
chữ Nhất trong kinh văn thuộc phần sau, đối
ứng xa xa với nhau. Đó là các chữ trọng yếu
trong kinh văn [thuộc hai khoa này], chính là v́ muốn cho mọi
người lănh hội nghĩa chân thật ở đây!
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.1.2.
Nói rơ “nhiều” chính là “chẳng nhiều”
(Kinh)
Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Nhược thị
vi trần chúng thật hữu giả, Phật tắc bất
thuyết thị vi trần chúng.
(經)甚多,世尊!何以故?若是微塵眾實有者,佛則不說是微塵眾。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn, rất nhiều. V́ sao vậy? Nếu
các vi trần là thật sự có, Phật sẽ chẳng
nói là các vi trần).
Trong bản lưu thông, trước
“thậm đa” (rất nhiều) có câu “Tu Bồ
Đề ngôn”, cổ bản không có. Đáp “rất
nhiều” là ước theo tướng hư huyễn của
vi trần mà nói, lại c̣n biểu thị đă có thể
liễu giải thế giới chẳng có thật. Một
thế giới bất quá là do nhiều vi trần [hợp lại]
mà thôi, há thật
sự có thế giới ư? Lại có thể
biểu thị: Có thể liễu giải vi trần
cũng chẳng có thật. Từ “hà dĩ cố” trở
đi, giải thích rơ ư này. Có nghĩa là đức Thế
Tôn trên đây đă nói “thế giới vỡ nát thành vi trần”,
nhưng khi thăm ḍ, kiểm nghiệm kiến địa,
Ngài nói là “vi trần chúng”, đặc biệt thêm vào một chữ
Chúng. “Chúng” có nghĩa là “tập hợp”. Như vậy
th́ vi trần cũng là huyễn tướng tập hợp
cũng đă rơ lắm rồi, tức là [vi trần] có khác
ǵ thế giới là huyễn tướng do tập hợp
mà thành! Có thể biết nó cũng chẳng phải là thật
sự có. V́ thế, thưa: “Nhược thị vi trần
chúng thật hữu, Phật tắc bất thuyết thị
vi trần chúng” (nếu các vi trần ấy là thật sự
có, Phật sẽ chẳng nói là các vi trần). Do vậy có
thể thấy lời đáp “rất nhiều” chính là
để hiển thị [thế giới] là huyễn
tướng tập hợp. Do đó, bảo: Đáp “rất
nhiều” là dựa theo tướng hư huyễn để
nói.
Cần phải
biết: Thế giới vỡ nát thành vi trần, số
lượng nhiều lắm, ai mà chẳng biết, cần
ǵ phải hỏi? Đủ thấy ư của lời hỏi
chú trọng tại chữ Chúng. Ư ấy phù hợp khít khao với
cách nh́n thấu suốt của trưởng lăo, đó gọi
là “tâm tâm tương ấn”. Do vậy, Ngài là bậc
đương cơ trong hội Bát Nhă. V́ thế, Ngài có thể
thay Phật dạy các vị Bồ Tát. Cổ đức khám nghiệm người học, thường
cố ư lập ra nghi trận cũng do ư này. V́ sao vi trần
cũng là tướng tập hợp? Bởi lẽ, một
hạt cực vi trần có thể tách thành bảy hạt
lân hư trần (paramāṇu). “Hư” (虛) là rỗng không. Lân Hư (隣虛)
giống như hiện thời nói “bằng zero”. Do vậy,
vi trần là huyễn tướng tập hợp, trọn chẳng
phải là thật sự có. Sao trưởng lăo không nêu ngay
nghĩa này để nói cho nhanh, lại cứ phải hiển
thị [ư
nghĩa] “chẳng thật sự có” nơi chữ Chúng, v́ sao vậy? Ở đây có hai
thâm ư:
1) Do đức
Phật đă nói như thế, cho nên dựa theo đó
để minh thị ư nghĩa. Nương theo lời Phật
để nói rơ ư nghĩa, cho nên dạy bảo người
đọc kinh, nghe pháp, [phải nhận biết]: Phàm đối
với những lời đức Phật dạy, chữ
nào cũng có ư nghĩa tinh vi. Hăy nên lắng nghe, chớ nên
coi thường một chữ nào!
2) Ngoại đạo thời
đức Phật thường phân tích sự vật thế
gian theo từng tầng một, phân tích cho đến mức
không thể chia chẻ được nữa, mà vẫn chấp
là thật sự có. Đúng như các hóa học gia hiện
thời phân tích các vật trong thế giới thành bao nhiêu
nguyên tố (elements). Thoạt đầu, chẳng thể
chia nhỏ hơn, lâu sau lại có thể chia nhỏ
hơn. Dốc sức phân tích, lâu ngày càng tinh vi, đến
mức nói tới nguyên tử, điện tử, nhưng vẫn
chấp chúng là có thật y như cũ! Nhị Thừa chẳng
phải vậy, họ biết vi trần có thể tách thành
lân hư, biết hết thảy đều là Không.
Nhưng ắt phải đợi phân tích th́ mới tin là
Không, chẳng sánh bằng Đại Thừa có thể Thể
Không Quán. Nay trưởng lăo muốn nói rơ “vi trần chẳng
thật”, chẳng dẫn dụng cách nói Lân Hư Trần,
mà dựa ngay vào chữ Chúng do đức Phật đă nói
để hiển thị ư nghĩa, chỉ rơ “phàm là vật
do tập hợp mà thành, biết ngay nó là Không, chớ nên chấp
là thật!” Do đó, Phật đạo khác xa ngoại
đạo. Hơn nữa, quán lư liền biết, há đợi
phân tích ư? Do vậy,
Đại Thừa vượt xa Nhị Thừa! Từ “sở
dĩ giả hà” trở đi chính là minh thị ư
nghĩa này!
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.1.3.
Giải thích nguyên do
(Kinh) Sở
dĩ giả hà? Phật thuyết vi trần chúng, tắc
phi vi trần chúng, thị danh vi trần chúng.
(經)所以者何?佛說微塵眾,則非微塵眾,是名微塵眾。
(Kinh:
V́ lẽ nào vậy? Đức Phật nói các vi trần tức
chẳng phải là các vi trần, bèn gọi là các vi trần).
Ư nghĩa của khoa này là:
Đức Phật đă nói “vi trần chúng”, có thể
biết vi trần là pháp duyên sanh. Bản thể của pháp
duyên sanh chính là Không, chỉ là tướng hư huyễn mà
thôi. Đó là nguyên do v́ sao các vi trần đều chẳng
phải là có thật. “Tắc phi” tức là ước
theo pháp tánh nhất như để nói rơ “[vi trần] vốn
là Không”. “Thị danh” là xét theo pháp tướng duyên
sanh, nói rơ “không ǵ chẳng phải là giả danh”. Nói “Phật
thuyết” chính nhằm hiển thị giác trí chiếu thấu
suốt, pháp tánh vốn không, pháp tướng đều là
huyễn, cần ǵ phải đợi phân tích nữa ư?
Nói chung, vỡ rồi tụ lại, gọi đó là Hợp;
hợp rồi sẽ tan, bèn gọi là Toái. Vốn là huyễn
tướng h́nh thành đối đăi. Do vậy, trong khi Có
sẽ chính là lúc Không. Nhỏ như vi trần, có thể hợp
lại, hay nát ra, Có tức là Không. Như vậy th́ cái lớn
như thế giới có thể [suy ra] mà biết! V́ thế,
sau đó lại ước theo cái lớn mà nói. Bởi lẽ,
trước đó đức Phật nói “thế giới có
thể vỡ nát thành vi trần”, lại nêu ra vi trần
để hỏi đại chúng, chính là v́ muốn cho mọi
người do nhỏ mà ngộ lớn, v́ vi trần
vốn là Không, sẽ có thể suy luận tương tự
để hiểu rơ thế giới cũng đều là
Không.
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.
Nói rơ “thế giới chẳng phải là một”
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.1.
Nói rơ chẳng phải thế giới mà gọi là thế giới
(Kinh)
Thế Tôn! Như Lai sở thuyết tam thiên đại
thiên thế giới, tắc phi thế giới, thị danh
thế giới.
(經)世尊!如來所說三千大千世界,則非世界,是名世界。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Như Lai nói tam thiên đại thiên thế
giới, tức chẳng phải thế giới th́ gọi
là thế giới).
Khoa này do tiếp nối ư hỏi
của khoa trước mà có. Trước đó, đă nói thế
giới chẳng phải là thế giới, mà là vi trần.
Trưởng lăo lại giải thích: Vi trần chẳng phải
là vi trần, mà là Không. Như vậy th́ có thể biết “thế giới
là Không” V́ thế
nói “tức chẳng phải thế giới, th́ gọi là
thế giới”. Nguyên do được nói tường
tận trong khoa sau.
Trong khoa này, chẳng nói “Phật
thuyết” mà nói là “Như Lai thuyết”, có thâm ư
đấy nhé! Bởi lẽ, tam thiên đại thiên thế
giới được gọi là “cảnh giáo hóa của Ứng
Thân”, do cảnh ấy chính là chỗ nương tựa
của hết thảy chúng sanh. Pháp Thân Như Lai v́ lợi
ích hết thảy chúng sanh, bèn tùy thuận duyên của chúng
sanh mà hiển hiện Ứng Thân để giáo hóa; nhưng
chẳng trụ chấp cảnh ấy. V́ sao vậy?
Như Lai Pháp Thân trọn khắp pháp giới. Pháp giới bằng với hư
không, há có cái được gọi là “tam thiên
đại thiên thế giới” ư? V́ thế, nêu ra Như
Lai, nói thế giới chẳng thật, mà gọi là [thế
giới], chính v́ để khai thị chúng sanh “phải nên
quán thế giới chẳng thật, nó được gọi
tên là như thế, nhưng chẳng chấp”. Chẳng chấp
thế giới th́ hết thảy sẽ chẳng chấp.
Chẳng chấp như thế, sẽ có thể khiến
cho Pháp Thân sẵn có thoát khỏi chướng. Đó chính là
thâm ư chẳng bảo “Phật nói” mà nói là “Như Lai
nói”.
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.2.
Giải thích một tức là “chẳng phải một”
(Kinh)
Hà dĩ cố? Nhược thế giới thật hữu,
tắc thị nhất hợp tướng. Như Lai thuyết
nhất hợp tướng, tắc phi nhất hợp
tướng, thị danh nhất hợp tướng.
(經)何以故?若世界實有,則是一合相。如來說一合相,則非一合相,是名一合相。
(Kinh:
V́ sao vậy? Nếu thế giới có thật th́ là một
hợp tướng. Như Lai nói nhất hợp tướng,
tức chẳng phải là nhất hợp tướng, th́
gọi là nhất hợp tướng).
Bản
lưu thông ghi “nhược thế giới hữu thật
giả” (nếu thế giới có thật th́…) bản
chép của ông Liễu không có chữ Giả (者). Bản
của ngài Huệ Tịnh ghi “nhược thế giới
hữu thật”. “Hữu thật” là thật sự có, ư nghĩa vốn chẳng
khác [“thật hữu”]! Nay theo bản
của ông Liễu, do bản giảo chánh nhất nhất
đều tuân theo bản chép của ông Liễu. “Nhất
hợp” là “hợp lại
thành một”, giống
như nay nói “toàn thể”. Bởi lẽ, kẻ chấp
trước tướng tuy nghe nói thế giới có thể
nát thành vi trần, có thể vẫn cho rằng: “Tuy chẳng
phải là thật sự có, nhưng khi nó chưa nát, do có
h́nh tướng hợp thành một, cố nhiên rơ ràng là tồn
tại! V́ sao vậy? Thế giới vốn là tên gọi
chung. Đă đặt ra tên gọi chung, đó là nhất hợp
tướng vậy”. Để ngăn ngừa sự chấp
trước ấy, trưởng lăo triệt để phá
trừ. Có nghĩa là: Vừa mới nói “tắc phi thế
giới, thị danh thế giới” (tức chẳng phải
thế giới th́ gọi là thế giới) là v́ lẽ nào
vậy? Do hễ thuộc về danh tướng, không ǵ chẳng
là hư vọng, cho nên nói là “tắc phi”. “Tắc phi”
là nói thế giới chỉ là giả danh, chẳng có thật.
Không chỉ do nó có thể vỡ nát mà biết là chẳng có thật,
ngay cả lúc chưa nát, cũng chẳng phải là thật
sự có. V́ sao? Một ngàn lần tứ châu (bốn đại
bộ châu, tức
một thế giới), gọi là một tiểu
thiên thế giới. Một ngàn lần tiểu thiên, gọi
là trung thiên thế giới. Một ngàn lần trung thiên, gọi
là đại thiên thế giới. Có thể thấy danh
tướng “thế giới” vốn chẳng phải
là một phạm vi nhất định. Không chỉ cái
đă hợp lại có thể nát ra, mà ngay cả “hợp”
cũng có thể hợp lại [thành một cái lớn
hơn như một ngàn tiểu thiên thế giới hợp
thành một trung thiên thế giới], sao có thể chấp
nhất định có một nhất hợp tướng
cho được? V́ thế nói “tắc phi nhất hợp
tướng, thị danh nhất hợp tướng” (tức
chẳng phải là nhất hợp tướng, mà gọi
là nhất hợp tướng). Tức là nó bất quá là giả
danh, vốn sẵn chẳng thật, hàm ư: Ắt phải là
có thật th́ mới là nhất hợp tướng. Nay “nhất
hợp tướng” đă là chẳng nhất định,
ước theo danh tướng thế giới để
quán, sẽ có thể chứng tỏ nó chẳng có thật,
cần ǵ phải đợi thế giới nát thành vi trần,
vi trần nát rồi mới là Không ư? Tức là bản
thể của thế giới chính là Không, hết sức
rành rành!
2.2.2.2.2.2.2.2.1.2.2.3.
Chỉ rơ “vốn ĺa ngôn thuyết”
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Nhất hợp tướng giả, tắc
thị bất khả thuyết, đản phàm phu chi nhân
tham trước kỳ sự.
(經)須菩提!一合相者,則是不可說。但凡夫之人,貪著其事。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Nhất hợp tướng chính là chẳng
thể nói, chỉ do kẻ phàm phu tham đắm chuyện ấy).
Đọc
khoa “chẳng nhiều” trên đây, có thể biết
danh xưng Hợp là do có thể nát rồi mới có.
Hơn nữa, biết cái “nát” vẫn có thể bị nát, tức
ư nghĩa “các pháp tánh Không” đă rơ rồi. Đọc khoa “chẳng
một” cũng biết danh xưng Toái là đă hợp rồi
mới có. Lại c̣n biết Hợp c̣n có thể hợp nữa,
tức nghĩa “các pháp duyên sanh” đă rơ rồi! Gộp
chung lại để xem, [sẽ biết] tuy là tánh Không mà
chẳng ngại duyên khởi. Do là duyên khởi, cho nên biết
tánh của nó là Không. Như vậy th́ cái gọi là “nhất
hợp tướng” là một, nhưng không nhất
định là một, hợp chẳng nhất định
hợp. Do đó nói: “Nhất hợp tướng là chẳng
thể nói”. “Chẳng thể nói” là do thế giới có
thể nát, vi trần cũng có thể nát. Có thể thấy
vi trần chẳng khác thế giới. Nếu nói thế giới
thật sự là nhất hợp, há chẳng phải vi trần
cũng thật sự là nhất hợp ư? Nhưng nói “thế
giới chẳng phải là thế giới”, đó là vi
trần [hợp thành]. Hơn nữa, vi trần chẳng phải
là vi trần, v́ vốn là Không. Do vậy, có thể biết
nhất hợp tướng của thế giới cũng
lại vốn là Không, há chẳng phải là “một chính
là chẳng phải một, hợp chính là chẳng hợp”
ư? Đấy là dựa theo tướng để nói rơ “chẳng
thể nói nhất định chẳng phải là nhất hợp,
hoặc nói nhất định thật sự là nhất hợp
được”, cho nên bảo là “chẳng thể nói”.
Tu hành vốn là v́ chứng
tánh. Như trên đây đă nói “một tức là chẳng
phải một, hợp chính là chẳng phải hợp”;
đó là dựa theo sự tướng đối đăi
để nói như thế. Nói theo tự tánh thanh tịnh,
sẽ đều chẳng có các chuyện ấy! V́ sao vậy?
Tánh là dứt bặt đối đăi, chẳng phải là
đối đăi, do vốn ĺa tướng danh tự, ĺa
tướng ngôn thuyết. Đấy là dựa theo tánh
để nói rơ “tánh chẳng phải là sự tướng,
vốn ĺa ngôn thuyết”, cho nên chẳng thể nói!
“Phàm” là phàm
t́nh, mê nơi sự tướng, th́ gọi là phàm t́nh. Do vậy
nói “phàm phu chi nhân tham trước kỳ sự” (kẻ
phàm phu tham đắm chuyện ấy). “Kỳ sự” (chuyện ấy) chỉ
chung hết thảy các sự tướng, nhất hợp
tướng cũng được bao gồm trong ấy. Ư
nói: Họ hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu, trái nghịch
giác, xuôi theo trần lao. Nhưng nói “phàm t́nh” nhằm
nêu rơ: Đấy chẳng phải là chánh tri. Do hướng
ra ngoài rong ruổi t́m cầu, cho nên đối với sự
tướng, dấy ḷng tham luyến, sanh chấp trước; nhưng muốn
chẳng tham đắm, cần phải hết sạch phàm
t́nh. Muốn hết sạch phàm t́nh, cần phải khai
chánh tri cũng đă rơ lắm rồi!
Hăy nên biết
như thế nào? Hăy nên biết “nhất hợp tướng
là chẳng thể nói”, tức là hăy nên ĺa danh tự và
ngôn thuyết, phản chiếu hết thảy các pháp vốn
bất sanh. Do vậy, khoa này khai thị đường lối
nhập đạo tột bậc thân thiết, chớ nên hiểu là [khoa này]
chỉ bàn suông Sự, Lư. Hơn nữa, ư nghĩa trong khoa
này xuyên thấu trước và sau, [đối với các ư
nghĩa] “vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố
danh Như Lai” (chẳng từ đâu đến, chẳng
đi về đâu, nên gọi là Như Lai) trong khoa trước,
“ngă kiến tức phi ngă kiến, thị danh ngă kiến”
(ngă kiến tức chẳng phải là ngă kiến, th́ gọi
là ngă kiến) trong khoa sau, hăy đều nên lănh hội
nơi “bất khả thuyết”, chớ nên tham chấp
chuyện ấy. Như thế th́ mới có thể hiểu
nghĩa do Như Lai đă nói, mới được tùy thuận
khế nhập nguồn tâm của hết thảy các pháp vốn
bất sanh. Do vậy, khoa này và khoa sau kết thành khoa “bất
sanh”, hô ứng chặt chẽ với nhau!
Phần
trước nói hai khoa là “chẳng nhiều” và “chẳng
một”, không chỉ phá thế giới, mà c̣n kèm thêm phá
vi trần. Ở đây nói “phàm phu tham đắm”, chỉ
dựa theo nhất hợp tướng để nói, chỉ
nói tới thế giới, chẳng nói tới vi trần là
v́ lẽ nào? Ở đây, có hai nghĩa:
1) Phần
trước nói “vi trần chẳng thật sự có”,
chính là dựa theo chữ Chúng để nêu rơ ư nghĩa.
Đây chính là chỉ rơ: Không chỉ thế giới là giả
tướng nhất hợp, mà vi trần cũng là giả
tướng nhất hợp! Do vậy, “nhất hợp
tướng chẳng thể nói” ở đây chính là dựa
theo thế giới lẫn vi trần để nói, chẳng
phải là không nhắc tới vi trần. V́ thế, đức
Phật chẳng nêu ra thế giới hay vi trần, mà chỉ
nêu nhất hợp tướng để nói là do ư nghĩa
này. Hăy nên biết như thế!
2) Chỉ
nêu ra nhất hợp tướng để nói, ngụ ư
đả phá tất cả trong thế gian, lớn như
thế giới, nhỏ như vi trần, không ǵ chẳng phải
là giả hợp. Do phàm phu tham chấp, không ǵ chẳng lầm
lẫn, tưởng tướng giả hợp là chân thật.
Đối với vi trần và thế giới là như thế,
mà đối với sắc thân cũng là như thế. Sở
dĩ phàm phu tham đắm, chấp trước cái đăy
da thối hoắc là Ngă, chẳng có ǵ khác, do chẳng biết
đó là Ngũ Uẩn giả hợp! Nếu biết ngoài
Ngũ Uẩn ra, chẳng có sắc thân này, sẽ chẳng
đến nỗi tham chấp. Đấy là ư chỉ vi tế
v́ sao đức Phật chỉ nêu ra nhất hợp tướng
để nói; bởi lẽ, phá trừ y báo sẽ kiêm phá trừ
chánh báo, hăy nên biết như thế!
Khoa lớn
“ước theo vi trần và thế giới để nói
rơ ĺa một và nhiều” này bao hàm ư nghĩa rất rộng.
Nay tôi chia thành mấy tiết để nói đại
lược:
1) Vi trần
và thế giới đă là chẳng một, chẳng nhiều,
có thể thấy vi trần và thế giới cũng chẳng
phải là Tổng, chẳng phải là Biệt. Thoạt
nh́n, thế giới là tổng tướng, vi trần là biệt
tướng. Do thế giới là tổng tướng, bèn
tưởng lầm nó thật sự là nhất hợp. Do
vi trần là biệt tướng, bèn chẳng biết đấy
cũng là giả hợp. Thật ra, thế giới có thể
vỡ nát, tách ra, tức là tổng chính là chẳng phải tổng; vi trần
cũng giả hợp, tức biệt chẳng
phải là biệt vậy!
2) Nói “chẳng
một, chẳng nhiều” tức là nói “chẳng
tăng, chẳng giảm”. Bởi nói theo thể tích,
tướng thế giới dường như tăng,
tướng vi trần dường như giảm. Nói theo số
lượng, lại là tướng thế giới dường
như giảm, tướng vi trần dường như
tăng. Có thể thấy tăng hay giảm đều chẳng
phải là tướng nhất định, tức cũng
là giả danh, cũng là hư huyễn. Đúng là tăng hay
giảm đều chẳng thể nói! V́ thế nói là “bất
tăng, bất giảm”. Nói “bất tăng, bất giảm”
tức là nói “tăng lẫn giảm đều chẳng thể
nói”. Những câu khác như “bất sanh, bất diệt”
v.v… đều có cùng một ư này. Nói chung, hiểu nghĩa “thế
giới chẳng phải là thế giới, vi trần chẳng
phải là vi trần”, liền vỡ lẽ tất cả
các danh tướng đối đăi như lớn, nhỏ,
cao, thấp, đến, đi, một, nhiều, tổng,
biệt, tăng, giảm, hiền, ngu, tịnh, uế v.v…
trong thế gian, không ǵ chẳng là hư huyễn, bản thể
chính là Không. Nếu hiểu các pháp vốn là Không, sẽ hội
quy về tánh, nhưng các pháp nhất như, các pháp là b́nh
đẳng. Đấy là nghĩa trọng yếu “tướng
Không của các pháp”. Hiểu nghĩa này, sẽ có thể
đối
với chuyện nào cũng đều có thể quán
như thế. Công quán chiếu đă thuần, sẽ có thể
chứng Vô Sanh Nhẫn, diệt tướng nhập Thể
vậy, chớ nên không biết!
3) Khoa “nói
rơ ĺa đến, đi” trên đây ước theo tam thân
để giảng ư nghĩa “tánh Không duyên khởi”, bởi
“đến, đi” chính là duyên khởi. Chẳng đến,
chẳng đi là tánh Không. Đấy là xét theo chánh báo để
nói. Hiểu chánh báo của Phật, th́ đối với
chánh báo của hết thảy chúng sanh, sẽ đều
quán như thế. Khoa “nói rơ ĺa một, nhiều” này
ước theo vi trần và thế giới để nói rơ
nghĩa “tánh Không duyên khởi”. Bởi “vi trần,
thế giới chẳng phải là vi trần, thế giới”
chính là tánh Không; “được gọi là vi trần, thế
giới” tức là duyên khởi. Đó là ước theo y
báo để nói rơ. Đại thiên thế giới là cảnh
giáo hóa của một vị Phật; cũng chính là cảnh
để nương gá sắc thân của hết thảy
chúng sanh. Cảnh để sắc thân nương vào,“thị
danh” chẳng thật; vậy th́ đối với hết
thảy sự tướng do thân này và cảnh này sanh khởi,
hăy
đều nên quán như thế.
V́ sao nói vậy?
Chánh báo và y báo chính là các thứ
chúng sanh chẳng thể ĺa trong khoảnh khắc, mà c̣n là
hư huyễn, chẳng thật! Vậy th́ có thể biết:
Hết thảy thịnh, suy, khổ, lạc, khen ngợi,
chê bai, hủy báng, ca tụng, đủ loại sự
tướng đối đăi càng là hư huyễn, chẳng
thật, sao đáng để tham chấp ư? Đoạn
kinh văn này ước theo tam thân và thế giới để
nói rơ ư chỉ vi tế “tướng Không của các pháp”.
V́ sao vậy? Do ước theo hai thứ ấy để
nói rơ ư nghĩa, hết thảy các sự tướng đều
được thâu nhiếp chẳng sót!
4) Xét theo
thân tướng và giới tướng (tướng trạng
của thế giới) để nói, thân là năng y (chủ
thể nương tựa), thế giới là sở y (cái
để thân nương tựa). Ước theo Pháp Thân của
bậc thánh và Phật tánh của phàm phu để nói, tánh
là năng khởi (cái có thể khởi lên), thân và thế giới
là sở khởi (cái được sanh khởi bởi
tánh). Cần phải biết: Tánh thanh tịnh ấy vốn chẳng
có đến, đi, một, nhiều, tổng, biệt,
tăng, giảm, chỉ tùy duyên hiện khởi các tướng
đến, đi v.v… Do tướng là tùy duyên hiện khởi,
cho nên là hư huyễn, nhưng tánh là cái Thể vốn sẵn
đủ chân thật. V́ thế, bất luận tùy duyên hiện
khởi đủ thứ sự tướng đối
đăi, nhưng trong bản tánh th́ là không tịch dứt bặt
đối đăi, chưa hề có các loại tướng ấy!
Các tướng khác như một, khác, thánh, phàm, sanh, diệt,
cấu, tịnh, ta, người, đây, kia v.v… không ǵ chẳng
đều là như thế.
Nếu có
thể nh́n rơ chắc chắn nguồn tâm vốn bất
sanh, bất diệt như thế để quán chiếu, tiến
nhập; đó gọi là “trực chỉ hướng
thượng”, tức là tấm ḷng ngay lập tức rộng
mở, phiền năo sẽ ngay lập tức tiêu trừ,
ngay lập tức xa ĺa mộng tưởng điên đảo.
Dụng công như thế mới là thẳng thừng gánh
vác, có thể gọi là “người khéo dụng công”. So
với kẻ làm những chuyện vụn vặt, công hiệu
sẽ khác biệt vời vợi, có thể nói “khác biệt
giữa ngày và kiếp”, há chỉ là “một ngày ngàn dặm”
ư?
V́ thế,
kinh Viên Giác dạy: “Tri huyễn tức ly, bất tác
phương tiện. Ly huyễn tức giác, diệc vô tiệm
thứ. Nhất thiết Bồ Tát, cập mạt thế
chúng sanh, y thử tu hành, như thị năi năng vĩnh ly
chư huyễn” (Biết huyễn liền ĺa, chẳng
làm phương tiện. Ĺa huyễn bèn giác, cũng chẳng
có thứ tự dần dần. Hết thảy Bồ Tát và
chúng sanh đời Mạt nương theo đấy để
tu hành, như thế bèn có thể vĩnh viễn ĺa các huyễn).
Những điều được nói trong đoạn kinh
văn ấy có thể dùng làm chú giải cho kinh này. Đúng
là công phu tu tập trực chỉ hướng thượng.
Tu như thế
nào? Biết huyễn liền ĺa, ĺa huyễn chính là giác. “Biết” là giải,
mà cũng chính là giác chiếu. “Huyễn” là những
cái chẳng thật, tức thân, thế giới v.v… như
trên đây đă nói. “Liền ĺa” như thế nào? Vừa
nh́n đă biết chắc nguồn tâm, quán chiếu tiến
nhập, th́ các huyễn đều ĺa, bởi biết là huyễn
sẽ liền ĺa. Giác chiếu như thế liền hợp
với giác. V́ thế, “ĺa huyễn” chính là
giác. Đấy là môn trọng yếu viên đốn để
nhất siêu trực nhập, chẳng có thứ tự ǵ! Hết
thảy các pháp môn chẳng có phương tiện đối
với điều này, cần ǵ phải tạo
phương tiện? Xem câu “như thị năi năng
vĩnh ly chư huyễn” (như thế th́ sẽ có thể
vĩnh viễn ĺa các huyễn), bèn có thể biết: Ắt phải
tu như thế th́ mới là triệt để, mới có
thể rốt ráo. Người nghe hăy nên sanh ư tưởng
hy hữu, khó gặp gỡ!
5) Ngoài ra,
c̣n có một nghĩa do Vô Trước Bồ Tát nói, cũng
phải nên biết. Nghĩa ấy như thế nào? Chính là
coi khoa “vi trần, thế giới chẳng phải một,
nhiều” là nói thí dụ nhằm sánh ví các ư nghĩa trong
khoa trước đó. Thế giới là một, ví như
Báo Thân là một. Vi trần nhiều, ví như Ứng Hóa
Thân nhiều. Vi trần và thế giới chẳng một,
chẳng nhiều, ví như hai thân chẳng một, chẳng
khác. Nhưng pháp và thí dụ có chỗ chênh lệch: Thế
giới chẳng ĺa vi trần nhưng riêng có, Báo Thân th́ ngay
cả ĺa Ứng Hóa Thân sẽ chẳng riêng có. Hăy nên biết:
Hễ nói thí dụ, chỉ có thể sánh ví đại thể,
chẳng thể mỗi mỗi đều ứng hợp
khít khao! Như trong kinh dùng ánh sáng mặt trời để
sánh ví trí quang (ánh
sáng trí huệ). Đấy bất quá là do ánh
sáng trong thế gian chỉ có mặt trời là lớn nhất,
phổ biến nhất, có lợi ích nhất; do vậy,
dùng nó làm thí dụ. Thật ra, ánh nắng nương vào
h́nh chất mà sanh, lại c̣n nóng bức, sao có thể sánh ví
trí quang không nương tựa, lại c̣n thanh lương
ư? V́ thế, chớ nên do cách nói về pháp và thí dụ của
ngài Vô Trước có chỗ chênh lệch mà coi nhẹ. Vi trần
và thế giới hiện có một và nhiều, ví như hai
thân hiện có đến, đi. Nhưng nói theo tánh, vốn
chẳng có tướng một hay nhiều, cho nên cũng chẳng
có tướng đến, đi. Lại xét theo
phương diện gộp chung tánh và tướng để
nói, tuy vốn chẳng có một, nhiều, chẳng ngại
hiện có một, nhiều. Tuy hiện có một, nhiều,
thật ra, vẫn chẳng có một, nhiều. Dùng đó
để sánh ví: Tuy vốn chẳng có đến đi, chẳng
ngại hiện có đến, đi. Tuy hiện có đến,
đi, thật sự chưa từng đến, đi!
Nhưng phàm phu tham chấp sự tướng thuộc nhất
hợp tướng. Để sánh ví phàm phu tham chấp sự
tướng đến, đi, ngài Vô Trước luận
định rằng: “V́ để phá thân danh sắc, cho
nên nói thế giới, vi trần v.v…” Thân danh sắc là
nói về hai thân (Báo Thân và Ứng Hóa Thân), ư nói: Đức
Phật sợ [thính chúng] nghe nghĩa trên đây chẳng hiểu,
cho nên Ngài lại nói các thí dụ vi trần, thế giới
để đả phá. Nay tôi diễn giải, khơi mở,
nói ra ư nghĩa ấy để người đọc luận
ấy sẽ có thể dung hội. Do vậy, có thể thấy
đức Phật nói một câu pháp bao hàm vô lượng
nghĩa. V́ thế, có thể giải thích đủ mọi
cách. Do vậy, gọi là “viên âm”. Bởi đó, thấy
là cạn hay sâu, đều tùy thuộc mỗi người.
Xưa nay, có nhiều vị học đại giáo viên đốn,
nhưng lại nói thành Biệt Giáo, thậm chí c̣n đi vào
nhân thiên giáo là do lẽ này! V́ vậy nói “đề hồ
có thể biến thành độc dược”, lại
nói “viên nhân thuyết pháp, vô pháp bất viên, tà nhân ngộ
chánh pháp, chánh pháp diệc thành tà” (người căn
cơ viên giáo nói pháp, không pháp nào chẳng viên. Kẻ tà gặp
chánh pháp, chánh pháp cũng thành tà). V́ thế, kinh Đại
Thừa dạy bảo người học hăy coi chuyện
thân cận thiện tri thức là lẽ trọng yếu,
coi khai chánh tri kiến là căn bản vậy!
2.2.2.2.2.2.2.1.3.
Ước theo ngă kiến để chỉ rơ “ngay cả
ĺa cũng phải ĺa”
2.2.2.2.2.2.2.2.1.3.1.
Vấn đáp để nói rơ ư nghĩa
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Nhược nhân ngôn “Phật thuyết
ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến”.
Tu Bồ Đề! Ư ư vân hà? Thị nhân giải ngă sở
thuyết nghĩa phủ? Thế Tôn! Thị nhân bất giải
Như Lai sở thuyết nghĩa.
(經)須菩提!若人言:佛說我見人見眾生見壽者見。須菩提!於意云何?是人解我所說義不?世尊!是人不解如來所說義。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Nếu có người nói “Phật nói
ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến”.
Tu Bồ Đề! Ư ông nghĩ sao? Người ấy có hiểu
nghĩa do ta đă nói hay không? Bạch Thế Tôn! Người
ấy chẳng hiểu nghĩa do Như Lai đă nói).
Trong bản
lưu thông, trước “Thế Tôn” có hai chữ “phất
dă”, [hai chữ ấy] chẳng nên có. Do đó, trong bản
chép kinh của người đời Đường không
có hai chữ ấy. Hăy thử xem câu “bất giải”
(chẳng hiểu) sau đó, nói kiên quyết dường
nào! Vậy th́ há có thể thêm vào một câu linh hoạt “phất
dă” được ư? Nếu [“phất dă”] chẳng
phải là linh hoạt, mà hiểu đó là câu [phủ định]
chắc nịch, sẽ thành chẳng cùng một loại với
các nghĩa trước đó. Hơn nữa, câu “bất
giải” ư nghĩa đă đủ rơ, cần ǵ phải
dùng thêm một câu chắc nịch “phất dă” để
minh thị nghĩa ấy? Hăy nên biết: Kinh này không có một
câu hay một chữ thừa thăi nào, liền biết kẻ
hư vọng thêm [“phất dă”] vào, hoàn
toàn là do không hiểu rơ ư chỉ của kinh vậy!
Ư nghĩa của
kinh văn trong khoa này cực sâu, v́ sao vậy? Toàn bộ những
điều kinh đă nói đều nhằm phá ngă. V́ sao
người nói “Phật nói ngă kiến” lại đâm
ra là chẳng hiểu nghĩa vậy? Chắc có kẻ cho rằng:
“Do kẻ đó nghi đức Phật nói lời ấy, ắt
là trong tâm Ngài có kiến chấp ấy, cho nên bảo là chẳng
hiểu”. Nói như vậy sai lầm to tát! Bất luận
là ai, đều trọn chẳng đến nỗi nghi Phật
có ngă kiến. Giả sử thật sự có người
hư vọng như thế, ôm ấp niềm hoài nghi hư
vọng ấy, th́ sau câu “nhược nhân ngôn” (nếu
có người nói), ắt phải có câu “Phật tác thị
niệm” (Phật nghĩ như thế này). Nhưng nay
chẳng có, đủ chứng tỏ cách nói ấy sai mất
rồi!
Như vậy
th́ v́ sao “chẳng hiểu”? Hăy nên biết: Từ mở
đầu kinh cho tới đây, nhiều lượt nói bốn
tướng “ta, người…” chẳng thể có. Hễ có,
sẽ chẳng phải là Bồ Tát. Lại c̣n tán thán
người không có bốn tướng ấy sẽ đạt
được vô lượng phước đức. Lại
c̣n dạy Bồ Tát thông đạt vô ngă pháp. C̣n nói: Biết
hết thảy các pháp vô ngă, được thành tựu Nhẫn,
công đức thù thắng. Nhưng sợ phàm phu nghe đức
Phật nói đi, nói lại
như thế, bèn chấp các thứ như ngă kiến v.v…
là thật sự có. Kiến chấp ấy vướng cứng
ngắc trong tâm, chính là ngă kiến, há chẳng phải là
đâm ra tăng thêm trói buộc ư? Nếu chẳng phải
là như vậy, th́ sẽ có thể dần dần trừ
ngă; đó cũng chẳng phải là nghĩa Bát Nhă rất
sâu do đức Phật đă nói. V́ sao nói vậy? Kinh này
đối với hết thảy các pháp, nhiều lượt
nói “tức phi, thị danh” để giảng rơ ư
nghĩa “tướng có, tánh không”, dụng ư là khiến
cho mọi người quán chiếu “vốn Không”,
nhanh chóng được giải thoát. Nơi người lợi
căn, sẽ tự có thể nghe một biết mười,
ngộ biết các pháp như ngă kiến v.v… cũng lại
là “tướng có, tánh không”, bèn một ḿnh ôm đao tiến
thẳng vào, ngay lập tức có thể đoạn trừ
căn cội. Cho đến chỗ này nói “Phật thuyết
ngă kiến đẳng” th́ có thể biết [người
nói như thế] là thiên chấp bên hữu tướng,
chưa thể thông đạt các kiến chấp ta, người
v.v… cũng vốn là Không. V́ thế nói là “bất giải
Như Lai sở thuyết nghĩa” (chẳng hiểu
nghĩa do Như Lai đă nói).
Phật là
nói theo tướng, Như Lai là nói theo tánh. Ở đây nói “Phật
thuyết ngă kiến”, kế đó nói “bất giải
Như Lai sở thuyết nghĩa” (chẳng hiểu
nghĩa do Như Lai đă nói), chính là nói rơ người ấy
đối với các thứ như ngă kiến v.v… chỉ
biết nghĩa “tướng có”, chưa
hiểu nghĩa “tánh không”. Như thế
th́ các kiến chấp ta, người v.v… vĩnh viễn chẳng
thể trừ. Cổ đức có vị thỉnh thầy
tháo bỏ trói buộc [cho ḿnh], thầy hỏi: “Ai trói ông?”
Kinh văn trong khoa này chính là nói rơ ư nghĩa ấy! Hăy nên biết:
Tánh thể không tịch, vốn chẳng có trói buộc. Nay
kiến chấp ta, người v.v… vắt ngang trong tâm, lại
c̣n nói “Phật cũng nói như thế”, há chẳng phải
là kéo kén tự trói buộc ư? V́ thế, đức Thế
Tôn đặc biệt cùng trưởng lăo dấy ḷng từ
vô duyên, khởi ḷng bi đồng thể, nói ra kinh văn
thuộc khoa lớn này, nhằm khiến cho hết thảy
chúng sanh ngay lập tức thấu triệt rỗng rang nguồn
tâm vô ngă, vô kiến, có thể rốt ráo tháo khằn[4],
cởi trói. Như vậy th́ có thể biết tầm quan hệ
trọng yếu của kinh văn thuộc khoa này. Nghĩa ấy
như thế nào? Lại nghe tiếp phần sau!
2.2.2.2.2.2.2.2.1.3.2.
Giải thích và kết lại nguyên do
(Kinh) Hà dĩ cố? Thế
Tôn thuyết ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ
giả kiến, tức phi ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh
kiến, thọ giả kiến, thị danh ngă kiến, nhân
kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến.
(經)何以故?世尊說:我見人見眾生見壽者見,即非我見人見眾生見壽者見,是名我見人見眾生見壽者見。
(Kinh: V́ sao vậy?
Đức Thế Tôn nói ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến,
thọ giả kiến tức chẳng phải là ngă kiến,
nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, th́ gọi
là ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả
kiến).
Trong kinh, hễ nói “thị danh” th́ đều là nói
theo tướng, tức là nói theo nghĩa duyên khởi. Hễ
nói “tức phi” đều là nói theo tánh, đó là nói theo
nghĩa Tánh Không. Cần phải biết: “Phật thuyết
ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thị giả kiến”
với dụng ư khiến cho kẻ khác lănh hội ngă kiến,
nhân kiến v.v… đều là huyễn tướng duyên khởi.
Nếu có thể biết huyễn liền ĺa, ngă kiến sẽ
ở chỗ nào? Hơn nữa, c̣n có dụng ư khiến cho
mọi người lănh hội nhân kiến, ngă kiến v.v…
vốn chẳng phải là giác tánh không tịch. Như thế
th́ ly huyễn chính là giác, ĺa ngă kiến lại ở chỗ
nào? Đó là ư nghĩa chân thật của “Phật thuyết
ngă kiến”. Nay nói “Phật thuyết ngă kiến” mà
chẳng biết chi khác, trong lời lẽ rất có vẻ
canh cánh trong ḷng, tức chấp đó là thật. Vốn muốn
cho họ phá chấp, nay lại ngược ngạo
tăng thêm một chấp, sao có thể ĺa ngă kiến cho
được? Dẫu có thể ĺa, vẫn tồn tại
ư niệm “năng ly, sở ly” (cái có thể ĺa, cái bị
ĺa), tức vẫn là ngă kiến! Căn cội sao có thể
nhổ sạch cho được? V́ vậy nói “chẳng
hiểu nghĩa do Như Lai đă nói”!
Nói “thử nhân bất giải” (người ấy
chẳng hiểu) chính là dạy người học hăy nên
hướng về nguồn tâm vốn sẵn thanh tịnh
vô ngă, vô kiến để lănh giải sâu xa. Ở đây chẳng
nói “Phật thuyết” hay nói “Như Lai thuyết”,
mà đặc biệt nói “Thế Tôn thuyết” càng có ư
nghĩa tinh vi. Nói “Phật” tức là lệch về bên tướng.
Nói “Như Lai” tức là khuyết thiếu bên Tu. Nghĩa ở
đây chính là dạy mọi người hăy giác chiếu
tánh vốn Không để khởi tu, nhưng Thế Tôn
chính là tổng xưng mười hiệu của đức
Phật, ư nghĩa của Phật và Như Lai đều
được thâu tóm trong ấy. V́ thế, đặc biệt
nêu ra [danh hiệu Thế Tôn] để hiển thị ư
nghĩa. Tức là ư nghĩa ở đây chính là mười
hiệu trọn đủ truyền tâm bí yếu; sở
dĩ đức Thế Tôn là đấng được toàn thể người đời cùng nhau tôn trọng chính là v́ điều
này. Ắt phải nương theo nghĩa này mà tu, ngơ hầu
đạt được nhân viên, quả măn mà thành Phật,
tu viên măn, tánh hiển lộ ḥng chứng Như Lai. V́ sao vậy?
Ngă kiến là cái gốc của vô minh, là nguyên do trở thành
phàm phu. Phá ngă kiến là trí huệ quang, chính là con đường
để thành thánh, nhưng ư nghĩa được minh thị ở
đây chính là gươm huệ kim cang phá trừ ngă kiến,
có thể đoạn tuyệt căn cội. Chẳng
nương vào pháp này, ngă kiến sẽ chẳng dễ trừ,
dẫu trừ cũng chẳng thể tận! Nói chung, những
điều được nói ở đây chính là chỉ dạy
đích xác công phu tu tập. Nếu chỉ hiểu là huyền
lư, sẽ là cô phụ Phật ân không chi hơn được!
4) Lần trước, tôi
đă nói không thể chỉ hiểu “tức phi ngă kiến,
thị danh ngă kiến” (tức là chẳng phải ngă kiến,
th́ gọi là ngă kiến) là đạo lư quán Không, mà [phải
hiểu hai câu ấy] đích xác là chỉ bày công phu tu tập
tột đỉnh để phá trừ ngă kiến.
Nhưng nói tới “công phu tu tập”, lại có một nghĩa tột bậc trọng yếu không thể chẳng nói rơ
trước. Trước nay, dường như chưa có
ai mổ xẻ, phân tích điều này. Nay tôi sẽ biện
định tường tận theo từng tầng, nhất
nhất phân tích rơ ràng, như thế th́ không chỉ nắm
được yếu lănh trong công phu tu tập nơi khoa
này và kinh này, mà phàm những điều khác được
nói đến trong kinh này như tánh, tu, và công phu tu tập
đều chẳng đến nỗi không nắm
được đầu mối, cũng như có thể
tránh khỏi đủ thứ khuyết điểm như
chấp tánh phế tu, do Sự mà ngại Lư…
Đức Phật nói hết thảy các pháp, không ngoài
hai nghĩa là nói rơ tánh, hoặc nói rơ tu. Hơn nữa, trong
một cú pháp, hễ nói đến tánh, ắt
sẽ kiêm tu. Nói tu liền bao gồm có tánh. Nếu chẳng
biết lănh hội như thế, đối với Phật
pháp, sẽ trọn ở ngoài cửa! “Tánh” là lư tánh. “Tu”
là công phu tu tập. Đối với lư tánh, hăy nên thấy b́nh đẳng trong sai biệt. Đối với công phu
tu tập, hăy nên thấy sai biệt trong b́nh đẳng. V́
sao nói là “hăy nên thấy b́nh đẳng trong sai biệt?”
Tức là hăy nên biết đức Phật khai thị
thường là ước theo một sự để nói
rơ Lư, nhưng Lư thật ra thông với hết thảy mọi
sự. Nếu người nghe pháp chẳng biết dung
thông như thế, tức là chỉ thấy sai biệt mà
chẳng thấy b́nh đẳng, há có thể quán lư mà hiểu
tánh nổi ư? (Do tánh b́nh đẳng, lư ắt b́nh đẳng).
Như kinh này, những chỗ nói “tức phi, thị danh”
rất nhiều, người nghe sẽ thừa dịp lănh
hội đạo lư trong ấy, vốn chẳng có hai nẻo.
Bởi lẽ, nói “tức phi” đều là ước
theo tánh nơi Lư Thể để nói rơ “vốn Không”.
Hễ nói “thị danh” th́ đều dựa theo
tướng duyên sanh để nói rơ “huyễn hữu”.
Hễ “tức phi” và “thị danh” cùng nói, th́ đều
nhằm nói rơ tánh và tướng chẳng một, chẳng
khác! Nói như thế, dụng ư muốn cho [thính chúng] biết:
Muốn chứng pháp tánh, đối với pháp tướng,
phải nên hiểu rơ “đối với chẳng một,
đừng chấp trước”, lại phải nên hiểu
rơ “đối với chẳng khác, đừng đoạn
diệt”. Do vậy, lư này chẳng sai biệt mà là b́nh đẳng.
Nói cách khác, chẳng phải
là một pháp là như thế, mà là pháp nào cũng đều
là như thế. Tức là bất luận pháp nào, cũng
đều nên hiểu rơ lư này, chẳng chấp vào hai bên,
tiêu quy tánh thể b́nh đẳng. Nếu xét theo ư nghĩa của
“tức phi” và “thị danh” để luận
định công phu tu tập, sẽ có sai biệt rất lớn!
Chẳng thể do lư tánh b́nh đẳng, mà luông tuồng,
mơ hồ, coi là nhất loạt giống như nhau
được! Nếu [coi là nhất loạt giống nhau]
như thế, ắt sẽ đối với các nghĩa
do đức Phật đă nói hiểu là Lư suông, coi đó bất
quá là dạy người ta quán “hết thảy đều
là Không” mà thôi! Do chẳng biết lắng ḷng thấu hiểu cặn kẽ sự sai biệt trong
b́nh đẳng, tự nhiên là sẽ không có cách nào thực
hiện, bởi chẳng biết đấy đích thị
là những lời chỉ bảo công phu tu tập. Hoặc
do chẳng biết những lời đó nhằm chỉ dạy
công phu tu tập, bèn cho rằng đó là cảnh giới của
Như Lai, bọn ta há dám đàm luận xằng bậy! V́
vậy, kẻ sợ hăi Bát Nhă lại quá sức nhiều!
Cho tới hiện thời, kinh này chỉ nói Tương Tự
Bát Nhă, quả thật là do lẽ này. Lại c̣n quá đáng
hơn nữa, là [có những kẻ] một pháp cũng chẳng
tu, ngă kiến cũng chẳng trừ, lại ngược
ngạo, tự rêu rao, đắc ư “ta học Bát Nhă!” [Kinh luận
chê trách] kẻ “cuồng loạn” chính là nói về hạng
người này. Các căn bệnh như thế đều
do chẳng hiểu rơ mối quan hệ giữa tánh và tu,
cũng như các loại công phu tu tập sai khác. Nói cách khác, đối với sai biệt trong b́nh đẳng, b́nh đẳng
trong sai biệt, chưa từng biện
định kỹ càng, rơ ràng, nên khiến thành ra như
thế. Do vậy, nay tôi chẳng thể không mổ xẻ
tỉ mỉ, nói cặn kẽ được!
Công phu tu hành thể loại
nhiều khôn kể xiết, nhưng có thể khái quát thành
hai loại:
- Một là quán môn, c̣n gọi là Lư Quán.
- Hai là hành môn, c̣n gọi là Sự Tu.
Lư Quán tức là nương theo lời Phật dạy bèn có thể hiểu
xuyên suốt hết thảy
lư tánh, lại c̣n thấu hiểu,
cảm nhận sâu xa, thiết tha, nghiêm mật giác chiếu.
Như thế th́ mới có thể vận dụng vào hạnh
môn. Do vậy, có thể biết: Cái gọi là Lư Quán tuy là Lư,
nhưng đă thấy nơi tu. Tuy là tu, vẫn thuộc vào
Lư. V́ thế, nếu coi Lư Quán chỉ là một phương
cách có thể hoăn đăi mà tu th́ sai mất rồi! Nếu
nghĩ tu như vậy là đă đủ rồi, cũng trật luôn! Từ xưa tới
nay, người phạm phải khuyết điểm này chẳng
biết là bao nhiêu! Nói chung, Lư Quán ắt phải kiêm Sự
Tu. Hành Sự Tu, ắt phải kiêm thêm Lư Quán. Hễ thiếu
một thứ, sẽ chẳng đáng để gọi là
công phu tu tập vậy!
Sự Tu là như bố thí,
tŕ giới, cho đến xem kinh, niệm Phật, một
cái nhấc tay, một cái cúi đầu, bất luận lớn,
nhỏ, tinh, thô, hễ thấy có các động tác, hành vi
th́ đều là Sự Tu. Cách tu th́ cần phải theo từng
sự mà luận định sự việc. Sự có ngàn vạn
sai biệt, cách tu cũng bởi đó mà có ngàn vạn sai biệt.
Như lễ bái có pháp tắc lễ bái, xướng niệm
có pháp tắc xướng niệm, há có thể là nhất loạt
như nhau được ư?
Không chỉ là như thế,
Lư Quán c̣n thông với Sự Tu. V́ thế, khi tu Lư Quán, không chỉ
y theo lư tánh đă nói trước đó để quán lư b́nh
đẳng, mà c̣n phải nên dựa theo các sự vật
để tu tập mà quán lư sai biệt. Nếu chỉ biết
quán b́nh đẳng, chẳng biết quán sai biệt, hoặc
chỉ biết quán sai biệt, chẳng biết quán b́nh
đẳng, th́ cũng như tu mù. Hăy nên biết dù tánh, tu,
dù lư hay sự trong tu tập, đều chẳng thể xem
thành hai thứ, lại chẳng thể lẫn lộn thành
một để đàm luận! Cần phải thấu hiểu,
cảm nhận “chẳng khác” trong “chẳng một”, “chẳng
một” trong “chẳng khác”, th́ sẽ có thể “tánh và tu chẳng hai, Lư Sự viên dung”. Bởi lẽ, cần phải trong Viên Dung
có Hàng Bố, trong Hàng Bố có Viên Dung, th́ mới là viên dung
thật sự, thật sự chẳng hai, như thế
th́ không tu nào chẳng thành. Đó là điều kiện trọng
yếu bậc nhất trong học Phật. Nếu chẳng
thể nhận biết rơ ràng những chỗ này, sẽ là
dường như đúng mà sai be bét, quyết chẳng có
thành tựu!
Ngay như “tức phi, thị
danh”, có khi dựa theo Lục Độ, có
khi dựa theo trang nghiêm cơi Phật để nói, nhưng
trang nghiêm cơi Phật chính là nói tu Lục Độ hạnh. Có thể xét theo Lục Độ để
nói, coi như cùng một loại. Lại có khi dựa theo ba
mươi hai tướng, thân tướng trọn đủ
để nói. Có khi dựa theo thế giới và vi trần
để nói, đều là cảnh tướng. Tuy đều
là cảnh tướng, nhưng nếu phân biệt tỉ mỉ,
sẽ chẳng thể coi là cùng một loại được!
Bởi lẽ, ba mươi hai tướng, sắc thân trọn
đủ v.v… đều do tu phước huệ mà thành. Thế
giới, vi trần, chẳng cần phải tu. Bởi
đó, thế giới, vi trần, chẳng có Sự Tu để
có thể nói, chỉ tu Lư Quán, quán lư tánh b́nh đẳng,
Không Hữu đều chẳng chấp là được rồi.
Như ba mươi hai tướng v.v… đều nên quy vào
thể loại Lục Độ, một mặt quán lư tánh
huyễn hữu vốn là Không, một mặt quán Lục
Độ là môn trọng yếu để tự độ,
độ người. Thân tướng, cơi Phật đều
nhằm tiếp dẫn chúng sanh, ắt chẳng thể
không có. Tuy là huyễn hữu, vốn là Không, nhưng chớ
nên chấp trước, muôn vàn đừng nên đoạn
diệt chuyện ấy. Vận dụng vào xử sự, cần
phải chiếu theo huyễn pháp, siêng tu chẳng lười
nhác. Đó gọi là “khải kiến thủy nguyệt
đạo tràng, đại tác mộng trung Phật sự”
(tạo dựng đạo tràng bóng trăng trong nước,
thực hiện Phật sự lớn lao trong mộng), chỉ
là trong tâm chẳng giữ ư niệm năng tu, sở tu mà
thôi! Đấy là công phu tu tập ước theo ư nghĩa “tức
phi, thị danh” để hành Lục Độ v.v…
C̣n như ngă kiến hết
sức chẳng phải vậy. Bởi lẽ, các hạnh
như Lục Độ v.v… đều là chuyện phải
nên thành tựu, các thứ như ngă kiến v.v… là những
thứ phải nên tiêu trừ, hoàn toàn tương phản.
V́ thế, quán lư tánh b́nh đẳng huyễn hữu vốn
không, tuy giống như Lục Độ, nhưng theo Sự
để tác Quán, hăy nên quán nó hoàn toàn chẳng phải là cái
tồn tại trong tánh, chỉ là giả danh. Cố nhiên,
trong tâm chẳng thể tồn tại mảy may ngă hoặc
kiến chấp, nhưng vận dụng vào xử sự
th́ hăy nên xa ĺa danh tướng huyễn
hữu, chiếu sâu xa “tâm tánh vốn không”. Đấy
là công phu tu tập ước theo ư nghĩa “tức phi, thị
danh” để trừ ngă kiến. Biết điều
này, sẽ có thể suy ra công phu tu tập để tiêu trừ
hết thảy các sự phải nên tiêu trừ như vô
minh, phiền năo v.v… Hăy nên biết ngă kiến thâm căn cố
đế, nay muốn trừ khử, chẳng nương
theo công phu tu tập được nói ở đây, ắt
chẳng thể trừ được! Nay trước hết
nói khái yếu. Đă hiểu điều khái yếu rồi,
sẽ có thể theo từng tầng mà t́m ṭi sâu hơn, do
cách tu ở đây lư tột bậc vi tế vậy!
V́ sao nói “muốn trừ
ngă kiến, mà chẳng nương vào pháp này th́ sẽ không
thể?” Tuy phần trước đă nói lư này, quả
thật sợ [người đọc] chưa hiểu rơ,
nay lại nói cách khác để giảng rơ. Ví như có
người đối với điều
này có thể biết
cái hại của ngă kiến, phát tâm trừ khử,
nhưng nếu trong tâm thấy ngă kiến khó trừ, tức
đă chấp ngă kiến là thật sự có, tức là
đă vắt ngang một cái thấy “ngă kiến thật sự
có” trong tâm, lại đèo thêm một cái thấy “có trừ
khử ngă kiến” trong tâm, trói buộc càng thêm trói buộc,
sao có thể trừ khử ngă kiến cho được?
V́ sao vậy? Chỉ cần trong tâm có mảy may năng trừ
(cái có thể trừ khử), sở trừ (cái bị trừ
khử), th́ vẫn là “kiến” y như cũ, vẫn
chấp ngă giống hệt như vậy!
V́ thế, đối với
điều này, đức Thế Tôn
đặc biệt dạy hăy trực chiếu nguồn
tâm vốn vô ngă, vô kiến, tức là không chỉ chẳng
có ngă kiến, mà cái thấy vô ngă cũng chẳng có. Do vậy,
tung tích, bóng dáng của ngă kiến hoàn toàn chẳng có! Thẳng thừng, nhanh chóng, lẹ làng, không
chi hơn được
cách này! Bất Huệ
nào dám tự bảo là có thể trừ ngă kiến, nhưng
đối với chuyện này, đă từng có sự thể
nghiệm, quán chiếu lâu ngày chẳng ngừng, đại
lược hiểu được một hai điều
khúc chiết, ẩn tàng, vi tế, biết sâu xa
pháp tu trong ấy đă mầu nhiệm lại c̣n trọng
yếu. Nay muốn các vị có thể nhanh chóng đạt
được lợi ích, cũng như chẳng dám cô phụ
kinh văn trong khoa này, kính cẩn dựa theo những điều
tôi có thể lănh hội đối với công phu tu tập
được nói trong kinh mà tuyên dương cặn kẽ,
ngơ hầu người hữu tâm sẽ triệt để
liễu giải. Pháp môn Bát Nhă may ra có thể nhờ vậy
mà sáng ngời trong cơi đời. Đấy chính là bổn
nguyện của kẻ hèn này. Nhưng nghĩa vị uyên
thâm, nói ra chẳng dễ dàng. Nếu chẳng lắng ḷng,
lặng tánh, ắt cũng chẳng dễ lănh hội, mong
các vị hăy khéo suy nghĩ.
Nay trước hết, dựa
theo nghĩa “tức phi” để nói cùng tận nguyên ủy
về công phu tu tập tuyệt diệu trừ khử ngă
kiến. Ngă kiến được gọi là “cội gốc của vô minh”. Hăy nên biết: Tự tánh thanh tịnh vốn
chẳng có vô minh, nhưng do phàm phu chẳng liễu đạt
Nhất Chân pháp giới, bèn từ vô thỉ, bất giác tự
dấy động [vô minh] cho tới hiện thời. Trong
tâm từ bên trong tỏ lộ ra ngoài, không ǵ chẳng phải
là vô minh đen kịt như mực! Tánh quang vốn sẵn
có đă sớm ẩn chẳng hiện, đó gọi là bất
sanh bất diệt và sanh diệt ḥa hợp, th́ gọi là Thức.
Toàn thể đă bị chôn vùi trong thùng sơn đen kịt,
chẳng có mảy may quang minh, ngay cả điều chẳng
đáng nên chấp trước mà vẫn cứ chấp
trước. Dạy họ quán Không, mà cái được
quán chính là t́nh thức, chẳng phải
là tánh Không. V́ thế, câu
“tức phi ngă kiến” (tức chẳng phải ngă kiến)
hoàn toàn chẳng phải chỉ là dạy “hăy tác quán, ḥng quán chiếu tánh Không”, mà c̣n nhằm dạy [hành nhân] hăy phấn chấn
tinh thần, khẳng khái, quyết liệt,
cực lực
một cước đá lộn nhào những thứ như
ngă kiến v.v… Từ nơi căn bản, chẳng thừa
nhận “trong tự tánh có ngă kiến, nhân kiến v.v…”
Hăy nên thấu hiểu hai chữ Tức Phi như thế.
Đó là bước đầu của phương tiện
thù thắng, mầu nhiệm!
Trong phần trước
đă nói “toàn thể ở trong vô minh, cái chẳng nên chấp
trước mà vẫn cứ chấp trước”. Nhưng
nói “chẳng thừa nhận”, th́ có thể biết là t́nh thức
vẫn nắm quyền xử sự như cũ, sao có thể
gọi là phương tiện thù thắng, mầu nhiệm
cho được? Hăy nên biết: Phàm phu từ vô thỉ
đến nay, nhận giặc làm con đă lâu rồi! Nay
được Phật giáo huấn, mới biết đấy
là sai, nhưng chẳng chịu thừa nhận. Nếu đă biết và thừa nhận, đó tức là bất sanh diệt và sanh diệt ḥa hợp
sẽ hiện ra vết rách to lớn. Ngay khi đó, sẽ
từ cái vỏ vô minh, mới có một tia trí quang phát hiện,
mới là bắt đầu giác, sẽ là bước đầu
tiên để trái nghịch trần lao, hợp với giác,
chẳng phải là phương tiện thù thắng, mầu
nhiệm ư?
Nói chung, vật đă dính chắc
đă lâu ngày, nếu chẳng trước hết quyết liệt như thế, há có thể
liền được thoát ĺa
ư? V́ thế, cần
phải hết sức dụng công nơi hai chữ Tức
Phi trong kinh văn, chẳng phải chỉ là tác quán như thế mà thôi!
Hỏi: Giác chiếu như
thế, sự ḥa hợp [giữa bất sanh diệt và sanh
diệt] liền xuất hiện vết rách to, đúng là
như vậy; nhưng bất quá chỉ hiện
vết rách mà thôi, thế mà muốn chẳng có vô minh, c̣n phải
nên thực hiện phương tiện nào?
Đáp: Dùng ngay pháp này, vô minh
sẽ lập tức chẳng c̣n, chẳng cần phải t́m kiếm phương tiện nào khác! V́ thế
nói “tri huyễn tức ly, bất tác phương tiện”
(biết huyễn liền ĺa, chẳng làm phương tiện).
Nếu không, có ǵ là diệu? Hăy nên biết: Tự tánh thanh tịnh,
tuy có các vọng niệm như vô minh, ngă kiến v.v… tơi
bời, nhưng tự tánh ấy thường hằng, bất biến, thanh tịnh tự nhiên.
Do tự tánh là chân thật thể, vô minh là tướng
hư huyễn. Một đằng chân, một đằng
vọng, từ vô thỉ đến nay, ḥa hợp thành một.
Thật ra bề ngoài th́ ḥa, nhưng bên trong chẳng hợp,
vốn chẳng tương ứng! Ví như sông Kính và sông
Vị rạch ṛi, mỗi đằng chẳng ḥa lẫn
vào nhau. Lư này chỉ có Phật Như Lai là bậc đă chứng
Cứu Cánh Giác mới có thể biết triệt để.
Do đó, trong kinh Đại Thừa thường nói lư này
để khai thị phàm phu, v́ hết thảy phàm phu đều
là sử dụng hằng ngày mà chẳng hay biết!
Kinh Viên Giác khai thị lư này
rơ ràng nhất. Kinh dạy: “Thử vô minh giả, phi thật
hữu thể, như mộng trung nhân, mộng thời phi
vô. Cập chí ư tỉnh, liễu vô sở đắc”
(Cái vô minh ấy chẳng thật sự có cái Thể,
như người trong mộng khi mộng th́ chẳng phải
là không có, đến khi tỉnh giấc, trọn chẳng
đạt được ǵ). “Mộng” ví như chúng
sanh đang mê; “tỉnh” ví như hành nhân đă giác.
Người học Phật trước hết cần phải
tin điều này. Đó gọi là “tín là cửa ngơ để
nhập đạo”, tức là v́ dốc ḷng tin vào cái Lư do
đức Phật đă nói, nhập đạo bèn đạt
được cửa ngơ vậy. Do lư này, phàm phu thoạt
đầu chưa từng biết, nay tuy biết mà nếu
chẳng thật sự tu, cũng khó hiểu rơ ngay
được. Nếu chẳng có tín tâm, có chỗ nào để
nhập? V́ thế, nghe “tức phi ngă kiến” (tức
chẳng phải ngă kiến), hăy mau hướng theo nguồn
tâm vốn sẵn thanh tịnh để khế nhập!
“Mau chóng hướng về”
là gạt bỏ hết thảy, chẳng
đoái hoài. Đơn độc hướng đến chỗ
chưa khởi tâm động niệm để giác chiếu.
Điều này giống như trước nay nhận giặc
làm con, để cho khách ồn ào lấn chủ đă lâu,
nay may mắn biết nó là giặc, há có nên vẫn lần chần,
dây dưa với nó, chẳng cần phải lo lắng thế
lực của nó to lớn khó trừ! Nếu lo ngại, sẽ
đâm ra tăng thêm thanh thế cho nó. Phải biết: Nó vốn
chẳng có căn cội, thế lực trước nay
hoàn toàn do tự ḿnh tín nhiệm nó mà ra. Nay đă biết nó
sai trái, chẳng tín nhiệm nữa, nó sẽ chẳng có
cách nào thi triển, sẽ phải phục tùng, quy hóa, cần
ǵ phải sợ hăi nữa ư! Đấy là bước
trọng yếu thứ nhất để trừ chấp,
chớ nên xem thường!
Do vậy, kinh Viên Giác nói: “Tri
huyễn tức ly” (biết huyễn liền ĺa). Chữ
Tri (知, biết) hay nhất, “biết” tức là giác chiếu. Thật
sự có thể giác chiếu, kiến liền tiêu tan. Ví
như con chuột lén lút ngó nh́n nơi góc tối, nếu bị
giác chiếu, nó sẽ tự trốn chạy. Ở đây
cũng giống như thế. Bởi lẽ, đồng
thời chẳng thể khởi lên hai niệm, vọng tâm
dấy lên chính là v́ chánh niệm lỏng lẻo. Chánh niệm
dũng mănh, vọng niệm sẽ chẳng có. Đó chính là
lẽ tự nhiên, trọn chẳng
phải là lạ lùng, đặc biệt ǵ! V́ thế nói “tức
ly” (liền ĺa). Hăy nên biết: Liền ĺa và biết huyễn,
trọn chẳng phải là hai chuyện. Đó chính là
phương pháp để trừ vọng thẳng thừng,
nhanh chóng nhất, then chốt nhất, chớ nên coi thường!
Hăy luôn luôn giác chiếu như thế, chẳng có chút buông
lung nào, ngă kiến sẽ từ đâu mà dấy lên
được? Dẫu dấy lên, sức của nó rất
yếu ớt; lâu ngày công thuần, tự nhiên chẳng khởi
nữa! Đấy chính là công phu tu tập “tức phi ngă
kiến” vậy!
Cần phải nói bổ túc
thêm! Kẻ phàm phu do vô thỉ bất
giác, vọng niệm chưa hề tạm dừng, Nay muốn
biết huyễn để giác chiếu, cần phải tu
tiền phương tiện. Nếu không, sẽ do đâu
mà biết là huyễn để giác chiếu vậy? Ví
như ở lâu nơi thành thị náo nhiệt, đêm ngày tiếng
ồn chẳng dứt, trọn chẳng cảm thấy ồn!
Nếu ở nơi thanh vắng, hễ có chút tiếng vang
nhẹ, liền nhận biết ngay. Ở đây cũng giống
như thế, ắt phải giữ vững giới cấm
để dứt nhiễm duyên, đọc Đại Thừa
cho nhiều để hiểu rơ Phật lư, khiến cho bề
trong phần nào được an tĩnh, tục kiến sẽ
dần dần giảm bớt, sẽ có thể biết huyễn,
sẽ có thể giác chiếu!
Đối với “tức
phi ngă kiến”, điều được kinh này nói ở
cuối cùng cũng là ư này. Nhưng tuy nói ở sau, khi tu th́
phải nên đặt lên đầu. Nếu chưa nắm
được cương lănh trọng yếu của
phương pháp trừ vô minh, ngă kiến, th́ tánh, tu, lư, sự
được nói từ đầu kinh cho đến
đây sao có thể triệt để soi tỏ, đều
chẳng nắm được cương lănh trọng yếu
vậy! Chớ nên không biết lư này!
Các công phu tu tập nơi “thị
danh ngă kiến” (th́ gọi là ngă kiến) v.v… càng trọng
yếu, càng hay khéo hơn. Nếu chỉ biết “tức
phi” mà chẳng biết “thị danh”, sao có thể hết
sạch ngă kiến cho được? Mong chư vị
trước hết hăy thấu hiểu, nhận biết
nghĩa “tức phi, thị danh” một phen rồi lại
nghe ư nghĩa của “thị danh ngă kiến”. Nghe pháp
th́ phải cốt sao mỗi chữ đều thấu hiểu,
nhận thức sâu đậm trong tâm. Nếu không, sẽ
là nghe mà như chẳng nghe, nào có lợi ích chi đâu!
Nay tôi sẽ tuyên dương
công phu tu tập nơi “thị danh ngă kiến”. Nếu
hỏi: “Kinh này hễ nói ‘thị danh’ đều là nói đến
ư nghĩa ‘chẳng đoạn diệt’, mà ngă kiến là cái
phải nên tiêu trừ, dung thông như thế nào đây?
Trong phần trước đă nói về công phu tu tập ‘tức
phi’ chính là khẳng khái và quyết liệt để phá t́nh
chấp dính chắc như keo sơn, tôi đă biết cái
hay của nó rồi, nay nói ‘thị danh’ cũng là công phu tuyệt
diệu, trọng yếu tuyệt đối, há có phải
là chèo kéo đối với quyết liệt ư?” Đáp:
Chẳng phải là như thế! Phần trước là
nói “do Sự có sai biệt, công phu tu tập bởi đó mà
có sai biệt”, chính là nói về câu “thị danh ngă kiến”.
Quư vị đă biết ngă kiến là cái phải nên tiêu trừ,
sao lại ḥa lẫn Lư Quán và Sự Tu đáng phải nên
thành tựu để hư luận vậy?
Hăy nên biết: Ư nghĩa “thị
danh ngă kiến” chính là nói ngă
kiến là huyễn
tướng do chân tánh biến hiện. Nói “tiêu trừ”
hoàn toàn chẳng phải là “đoạn diệt bản
tánh”, mà chỉ là trừ căn bệnh [chấp trước] ấy, chứ
chẳng phải là trừ pháp ấy. Đó là
điều thứ nhất. Hơn nữa, hiểu ngă kiến
là pháp duyên sanh. Nếu tâm nắm níu, ngă kiến liền tùy
duyên dấy lên. Nếu tâm chẳng sanh, ngă kiến sẽ chẳng
do đâu mà sanh được. Đó gọi là “biết
huyễn liền ĺa, ĺa huyễn bèn giác”. Đấy là
điều thứ hai. Hai nghĩa ấy tột bậc trọng
yếu. Công phu tu tập để trừ ngă kiến, không
chi hay hơn pháp này! Nếu chẳng thuận theo pháp này, sẽ
vĩnh viễn chẳng thể trừ. Sợ rằng [quư
vị] chưa hiểu rơ, tôi sẽ đàm luận cặn kẽ
hơn nữa. Xin hăy lắng nghe!
Trước hết, nói rơ
nghĩa ban sơ. Ngă kiến, nhân kiến v.v… chính là phân biệt,
chấp trước, chúng được gọi là thức
thứ sáu và thức thứ bảy. Thức chẳng
phải vật nào khác, chính là do chân tánh v́ bất giác, thuận
theo nhiễm duyên mà hiện khởi nhiễm tướng.
Đó gọi là bất sanh bất diệt và sanh diệt ḥa
hợp. Nay quán ư nghĩa “tức phi” và quyết liệt
chính là “chẳng ḥa hợp”, khiến cho nó tiêu mất trong
vô h́nh! Nếu nó tiêu mất, cái gọi là “thức thứ
sáu phân biệt” trở thành Diệu Quán Sát Trí, thức thứ
bảy chấp trước sẽ chính là B́nh Đẳng
Tánh Trí, sao có thể đoạn diệt cho được?
Hết thảy phàm phu do chẳng nhận biết khổ,
chẳng biết đó là thức, tưởng lầm nó là
chân tánh; do vậy bảo “nhận giặc làm con”. Cần
phải biết: Giặc vốn chẳng đến từ
bên ngoài, mà là “gia tặc” (giặc ở ngay trong nhà). Lại
c̣n là nhân vật chủ yếu, nay cùng với nó quyết liệt,
dụng ư là khiến cho nó cải tà quy chánh. Ví như nuôi một
đứa con duy nhất, do nó chẳng tuân theo lẽ chánh
mà chẳng thừa nhận, thật ra là mong nó quay đầu.
Nếu vĩnh viễn vứt bỏ, gia đ́nh cũng bị
hủy! Ở đây cũng giống như thế, chẳng
thể do ghét vô minh, ngă kiến, mà “ném chuột chẳng
kiêng vỡ đồ”, đi vào con đường hôi
thân diệt trí. Vô Tưởng của ngoại đạo,
trầm không trệ tịch của Nhị Thừa, đều
do vướng phải khuyết điểm này! Trọn chẳng
biết đă lệch về Không, tâm vẫn có chấp giữ.
Nếu tâm giữ lấy tướng, tức là chấp trước ta, người, chúng sanh, thọ giả,
ngă kiến có bao giờ trừ khử cho được?
Lại nói về nghĩa kế tiếp. Quán những điều
đă nói trong nghĩa thứ nhất, thoạt đầu
do bất giác, ngỡ vô minh là chân tánh. Nay đă biết mà chẳng
thừa nhận, có thể thấy ngay từ một niệm
ấy chính là giác. Do đó, kinh Viên Giác bảo “ly huyễn
tức giác” (ĺa huyễn liền giác) cũng là chẳng
có thứ tự! Trước là quán nghĩa “tức phi”,
đă có thể biết là huyễn liền ĺa. Nhưng cần
phải tiếp tục biết như vậy, hễ gặp
duyên mà tâm chẳng dấy khởi, tức là nhất tâm
thanh tịnh vậy. Đó là v́ ĺa huyễn liền giác. Nói
là “ĺa”, có nghĩa là “chẳng khởi”. Thoạt
đầu, tuy không ǵ chẳng phải là cưỡng ép,
nhưng lâu ngày công thuần, sẽ tự nhiên chẳng khởi!
Tới khi tự nhiên chẳng khởi, ngă kiến sẽ rốt
ráo thanh tịnh. Hăy nên biết: Nghĩa này nhằm nói “chẳng
khởi” chính là “thẳng thừng chẳng khởi”. Nói
cách khác, chẳng khởi liền đạt được,
lại c̣n chẳng cần phải phân biệt là có khởi
hay không! V́ sao vậy? Phân biệt tức là phan duyên, tức
là cái tâm lại khởi mất rồi! Đấy chính là vô
minh; đấy chính là ngă kiến. Nói chung, công phu trừ vọng
quư ở chỗ một nhát chém đứt đôi. Hễ có
chút đắn đo nào, sẽ là “ngó đă găy, tơ sen
c̣n vương”, tối kỵ đấy nhé! Đối
với nghĩa này, kinh Viên Giác cũng có tám câu kinh văn nói
tột bậc triệt để, có thể soi tỏ kinh
này!
Kinh [Viên Giác] dạy: “Cư
nhất thiết thời, bất khởi vọng niệm.
Ư chư vọng tâm, diệc bất tức diệt. Trụ
vọng tưởng cảnh, bất gia liễu tri. Ư vô
liễu tri, bất biện chân thật” (Trong hết thảy
các thời, chẳng dấy lên vọng niệm. Đối
với các vọng tâm, cũng chẳng diệt mất. Trụ
trong cảnh vọng tưởng, chẳng thêm vào sự biết
rơ. Trong sự chẳng biết rơ, chẳng biện định
chân thật). Tám câu kinh này từ xưa tới nay, tùy theo kiến
địa mà mỗi người có chủ kiến riêng. Nay
tôi triệt để nói rơ ư nghĩa, chẳng nói lời úp
mở. Hăy nên biết: Trong tám câu ấy, hai câu đầu là
chủ yếu, tức hai chữ “bất khởi” là
chủ chốt. Sáu câu sau nhằm lần lượt giải
thích ư nghĩa, để nói rơ nguyên do “bất khởi”,
hàm ư: Ắt phải như thế th́ mới là thật sự
chẳng khởi!
Nói chung, sáu câu sau đó không chỉ là chú giải cho hai
câu đầu tiên, mà c̣n là lời chú giải tuyệt diệu
của “ĺa huyễn liền giác”. Vọng tâm tức là
vọng niệm, chính là nói đến vô minh phân biệt, chấp
trước v.v… Hăy nên biết: Vọng tâm chẳng phải
chi khác, vốn hoàn toàn là Chân, thuận theo nhiễm mà hiện,
sao có thể diệt mất cho được? Chớ nên
tưởng lầm “chẳng khởi niệm” là
như cây khô, hoặc như tro tàn! Ĺa huyễn liền giác,
tức toàn thể vọng là chân, cần ǵ phải dứt
diệt? Nếu dứt diệt, sẽ là ngọc lẫn
đá đều cháy nát, chẳng
phải là nghĩa chân
thật của “bất khởi”! V́ thế nói: “Ư chư vọng tâm, diệc
bất tức diệt” (Đối với các vọng
tâm, trọn chẳng dứt diệt). Lại chẳng thể
hiểu lầm là “chẳng dứt diệt”, [v́ nếu
hiểu là “thật sự chẳng dứt diệt”],
sẽ trụ trong cảnh vọng tưởng. Hăy nên biết:
Chỉ có thức mà chẳng có cảnh. Vọng tưởng
đă chẳng dấy lên, sao có cảnh cho được?
Sao có trụ cho được? Bởi lẽ, ĺa huyễn
liền giác, tức là hết thảy đều là Không, cần
ǵ phải đèo thêm sự biết rơ là trụ cảnh hay
không? Nếu thêm vào một cái “biết rơ”, tức là trên
đầu chồng thêm đầu, niệm lại dấy
lên, sao nói là “chẳng khởi” cho được? V́ thế
nói “trụ vọng tưởng cảnh, bất gia liễu
tri” (trụ trong cảnh vọng tưởng, chẳng
thêm vào sự biết rơ).
Lại càng chẳng thể hiểu lầm “nếu chẳng có một điều ǵ để biết rơ, há chẳng phải
là rơi vào vô kư ư?” Hăy nên biết: Đă là chẳng
dứt diệt, nhưng chẳng giống như gỗ khô,
tro lạnh! V́ thế, khi niệm chẳng dấy lên, sẽ là linh quang riêng chiếu, vượt
ngoài căn trần. Do vậy nói “ĺa huyễn liền
giác”. “Giác” là tánh chân thật, cần ǵ phải phân biệt,
nhận biết nó là chân thật hay không? Nếu biện
định điều ấy, sẽ là kẻ khờ tự
quấy nhiễu, há c̣n có thể nói là “chẳng khởi”
ư? V́ thế nói: “Ư vô liễu tri, bất biện
chân thật” (Đối với sự chẳng biết
rơ, chẳng biện định chân thật).
Ư chung của sáu câu ấy là
nhằm nêu tỏ ư nghĩa trong hai câu đầu tiên. Có chiếu,
có giác, đều gọi là “nghĩa chướng ngại”.
Ư nghĩa “thị danh ngă kiến” trong kinh này cũng lại
giống như thế. Ngă kiến đă là duyên sanh, có thể
thấy tự tánh vốn bất sanh; bất quá tùy duyên mà dấy
khởi huyễn tướng. Như vậy th́ ngă kiến
chỉ là tên gọi của nó. Chân tánh là thật. Nay
đă biết [ngă kiến] vốn chẳng phải là cái Thể
của chân tánh, mà là huyễn tướng, bèn chiếu thẳng
nguồn tâm vốn chưa sanh khởi huyễn tướng,
giả danh sẽ ở chỗ nào? Huyễn tướng sao
tồn tại được? Học nhân hăy nên dùng thủ
doạn “đao bén chặt gai rối” như thế
để một đao chém phăng làm
đôi, vọng duyên
sẽ chẳng dấy lên. Chẳng dấy lên th́ sẽ đạt được, mà
cũng chẳng có “cái bị ĺa” (sở ly) mà cũng chẳng
có “cái có thể ĺa” (năng ly), cũng chẳng có “cái bị
chiếu” (sở chiếu), chẳng có “cái có thể chiếu”
(năng chiếu). Do nó ĺa hay là chiếu, cũng đều
là huyễn tướng giả danh đối đăi duyên
sanh. Trong tự tánh thanh tịnh, vốn đều chẳng
có [các thứ ấy].
Nếu đă biết nó “tức
phi” để ĺa, lại băn khoăn biện định
có phải là đă ĺa hay chưa, hoặc vui sướng tự
nói là có thể ĺa; đấy vẫn là chấp nó có thật!
Như vậy th́ phạm lỗi vẫn chưa hiểu rơ
nghĩa “thị danh phi thật”. Đó chính là pháp chấp,
đó chính là ngă kiến. V́ thế, người khéo dụng
công ắt phải ĺa đến triệt để, đoạn
đến mức nhanh chóng đoạn. Đấy gọi
là công phu tu tập nơi “thị danh ngă kiến”. Xem
những điều vừa nói trên đây, có thể biết
công phu tu tập được nói trong khoa này tột bậc
mầu nhiệm, tột bậc trọng yếu. V́ sao vậy?
Kinh Viên Giác lại có các câu trọng
yếu như sau: “Nhất thiết chư Phật bổn
khởi nhân địa, giai y viên chiếu thanh tịnh giác
tướng, vĩnh đoạn vô minh, phương thành Phật
đạo” (Hết thảy chư Phật vốn khởi
đầu từ lúc tu nhân, đều nương vào giác
tướng thanh tịnh viên chiếu, vĩnh viễn
đoạn trừ vô minh rồi mới thành Phật đạo).
Công phu tu tập được nói ở đây chính là giác
tướng thanh tịnh viên chiếu. Do vậy, hễ có
thể đoạn vô minh, ngă kiến liền vĩnh viễn
đoạn, há chẳng hay
khéo ư? Há chẳng
trọng yếu ư? Trước nay, [khá nhiều vị
chú giải] luôn coi khoa này chỉ là nói về lư Không, sai lầm
to lớn! Hăy gấp nên biết như thế! Lại chớ
nên chỉ biết mà thôi, [nếu
chỉ biết, sẽ] như vào núi báu mà tay không quay về! Hăy gấp
nên y theo đó để khởi tu, sẽ đạt
được thọ dụng!
Hăy nên biết: Chân tánh đă
bị vô minh, ngă kiến ngăn chướng lâu ngày. Chẳng
phá chướng ấy, sao có thể kiến tánh? Nếu chẳng
kiến tánh, há có thể siêu phàm nhập thánh ư? Không chỉ
là như thế! Vừa mở đầu kinh, liền dạy
phát đại nguyện, khởi đại hạnh, dụng
ư là phá ngă, nhưng ngă kiến gốc sâu, nếu trọn chẳng
quyết ư dụng công từ phá ngă,
th́ đại nguyện, đại hạnh, ắt cũng
chẳng thể nhờ vào đó mà phát khởi được! Xem kinh
này dùng đại nguyện và đại hạnh để
khởi đầu, ḥng phá ngă kiến kết chặt. Đầu
đuôi tương ứng, đúng là chỉ dạy đạo
thành tựu từ đầu đến cuối, siêu phàm nhập
thánh, đều hoàn toàn nằm gọn ở nơi đây.
Hăy nên lănh hội như thế, đôi bên cùng tiến!
Ngoài ra, c̣n có một nghĩa
trọng yếu nữa, chớ nên không biết! Đó là dựa
theo ngă kiến để nói khoa “ngay cả ĺa cũng ĺa”,
tức là hiển thị nghĩa “bất cấu, bất
tịnh” (khoa trước nói “bất sanh, bất diệt”.
Khoa kế nói “chẳng tăng, chẳng giảm”. Khoa
này nói “bất cấu, bất tịnh”. Gộp chung lại
để nói rơ “tướng Không của các pháp”, ư
nghĩa hoàn toàn giống như Tâm Kinh). Ngă kiến là cấu,
ĺa ngă kiến là tịnh. Nhưng nói cấu hay tịnh, vẫn
là tướng đối đăi, nhưng tịnh của tự
tánh thanh tịnh là dứt bặt đối đăi. “Dứt
bặt đối đăi” là cấu lẫn tịnh đều
chẳng có. V́ thế, đối với
cái Ĺa trong “ĺa ngă kiến” cũng phải
nên ĺa. Nếu c̣n có một cái năng ly (cái có thể ĺa) và sở ly (cái bị ĺa), th́ vẫn rơi vào tướng đối
đăi, chẳng phải là tánh dứt bặt đối
đăi, tức là ngă kiến trọn chưa hết sạch
vậy! Bởi đó, khoa này dạy phá ngă th́ chẳng thể
thực hiện nơi cành nhánh, hăy nên hướng thẳng
vào chỗ “một niệm chẳng sanh” để khế
nhập “cấu do ngă kiến là giả danh, vốn đă chẳng
có”, vậy th́ “tịnh do ĺa ngă kiến” cũng lại
xa ĺa. V́ sao vậy? Đă là vô cấu, há có tịnh ư? Cấu
lẫn tịnh đều ĺa, thật sự thanh tịnh!
Trong ba khoa kể từ “tướng
Không của các pháp” trở đi, khoa đầu tiên
ước theo thân để giải thích ư nghĩa. Khoa kế
tiếp ước theo thế giới để giải
thích ư nghĩa. Khoa này ước theo vọng tâm để
giảng ư nghĩa. Ngă kiến là vọng tâm. Gộp ba khoa ấy
lại, chính là hiển thị ư nghĩa “thân, tâm, thế
giới, không ǵ chẳng phải là huyễn hóa. Hết thảy
các tướng Không, tánh tự b́nh đẳng”!
Lại nữa, phàm phu chấp
thân là ngă, chấp thế giới là ngă sở (cái của
ta). Ngă và ngă sở đều khởi từ kiến. V́ thế,
thân và thế giới là sở chấp (cái bị chấp);
kiến là năng chấp (cái có thể chấp). Nhưng ư
nghĩa của ba khoa là nêu rơ tướng năng chấp và
sở chấp đều là Không, ngay cả ư niệm
“năng không” và “sở không” cũng là Không. Đó gọi là “tướng
Không của các pháp”, mà cũng là nói rơ nghĩa “pháp
tướng bất sanh, pháp tướng vốn chẳng
có”. V́ thế, khoa sau dùng “pháp tướng bất sanh”
v.v… để kết thúc.
Ngàn lời vạn lẽ trong cả bộ kinh không ǵ chẳng
nhằm phá tứ tướng “ta, người”… Nhưng
tướng khởi từ kiến. Tới đây, bèn nói rơ
các thứ như ngă kiến v.v… là duyên khởi, giả danh,
vốn là tánh Không. Nghĩa này chính là tổng kết của
toàn thể bản kinh. Bởi lẽ, nói kinh này vốn là
để phá ngă. Nay đă nêu tỏ phá ngă đến chỗ
rốt ráo; đó là chỗ tổng hợp của các
nghĩa trong cả bộ kinh.
Trong phần trên đă nói “Bồ Tát thông đạt vô
ngă pháp”. Lại nói “tri nhất thiết pháp vô ngă, đắc
thành ư Nhẫn” (biết hết thảy các pháp vô ngă,
được thành tựu Nhẫn). Tới đây càng là
cùng tột đến triệt để. V́ sao vậy?
Hướng đến chỗ bất sanh để khế
nhập, th́ ngă kiến vốn là Không, há có phải là trước
có ngă rồi sau đó mới vô ngă ư? Lại há có Nhẫn
để thành ư? Bồ Tát hăy nên triệt để
thông đạt như thế, mới là rốt ráo vô ngă, rốt
ráo thành tựu Nhẫn. Do vậy, khoa sau dùng “phát Vô
Thượng Bồ Đề tâm, trong hết thảy các
pháp hăy nên biết, thấy, tin hiểu như thế, chẳng
sanh pháp tướng, pháp tướng vốn chẳng có”
để kết luận. Bồ Tát tức là người
phát tâm Vô Thượng. “Thông đạt” tức là biết,
thấy, tin hiểu. Ư nghĩa ấy xuyên suốt đến
tận phần đầu của kinh. Đầu kinh đă
nói “hăy nên hàng phục cái tâm như thế, hăy nên trụ
đúng như lời dạy” chẳng có chi khác, [chỉ
v́ khiến cho học nhân] chứng “tướng của hết
thảy các pháp vốn chẳng sanh” đó thôi! Do vậy,
ư nghĩa của toàn thể kinh này được thâu kết
chẳng sơ sót mảy may nào, viên măn chẳng thừa sót!
2.2.2.2.2.2.2.2.2.2.
Kết lại ư “bất sanh”
2.2.2.2.2.2.2.2.2.1.
Nêu rơ “bất sanh”
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm giả,
ư nhất thiết pháp, ưng như thị tri, như
thị kiến, như thị tín giải, bất sanh pháp
tướng.
(經)須菩提!發阿耨多羅三藐三菩提心者,於一切法,應如是知,如是見,如是信解,不生法相。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm th́
trong hết thảy các pháp, hăy nên biết như thế, thấy
như thế, tin hiểu như thế, chẳng sanh pháp
tướng).
“Phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề tâm” chính là hô ứng với câu “chư
Bồ Tát Ma Ha Tát” ở phần đầu kinh, tức
là nói bậc Bồ Tát phát đại tâm, hăy nên biết, thấy,
tin hiểu như thế. Từ mở đầu kinh cho tới
đây, hễ nói phát tâm rộng lớn, khởi hạnh rộng
lớn, chẳng giữ lấy tướng pháp và tướng
phi pháp, cho đến phát tâm chẳng trụ, thuyết pháp
chẳng trụ, đắc quả chẳng trụ, [ngay cả] “chẳng trụ” cũng chẳng
trụ, không ǵ chẳng
nhằm khiến cho [hành nhân] biết, thấy, tin hiểu
như thế đó. Bởi lẽ, biết, thấy, tin hiểu
như thế th́ mới là thông đạt chẳng có
ngă và pháp. Do đó nói: “Ưng
như thị tri kiến, tín giải” (Hăy nên biết, thấy, tin hiểu như thế!) Nửa bộ sau từ phần mở đầu
cho tới đây, chỉ nói “phát Bồ Đề”, chẳng
nói chữ Tâm. Do vậy, “trừ khử chấp
trước” chính là [trừ khử] kiến chấp về
Bồ Đề tâm. Nếu chấp vào pháp, sẽ rơi
vào bốn tướng “ta, người…”, sẽ chẳng phải
là Bồ Đề tâm. V́ thế, phải nên trừ khử.
Cho đến đây, do tướng của các pháp đă là Không, Bồ Đề tâm hiện tiền. Do vậy,
ở chỗ này chẳng nói “phát Bồ Đề” mà
nói là “phát Bồ Đề tâm”. “Hăy nên biết, thấy,
tin hiểu như thế, chẳng sanh pháp tướng”
v.v… chính là v́ nêu rơ: Phát Bồ Đề tâm, ắt
phải nên như thế. Làm như thế
chính là v́ phát Bồ Đề tâm, tức là kết lại ư
nghĩa “trừ sạch, chẳng trụ để phát
tâm” trước nay. Dạy hăy nên thấy biết như
thế, khởi tín giải như thế, chẳng sanh pháp
tướng như thế, há chẳng phải là bảo là “hăy
phát Bồ Đề tâm” ư?
Có được kết luận
này, ư nghĩa uẩn tàng trong những điều đă nói
trước đó sẽ không ǵ chẳng được nói
trọn, khí mạch nhất loạt xuyên suốt, tinh thần
tột bậc trọn vẹn, đầy đủ. Ví
như vẽ rồng, điểm nhăn rồi rồng bèn bay
đi. Dùng văn tự để luận, cũng là thần
diệu tột bậc! “Hết thảy các pháp” chỉ
chung [các pháp] thế gian và xuất thế gian, cảnh, hạnh,
quả. Phàm những ǵ đă nói trước đó như sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp, thân tướng, ba
mươi hai tướng, cho tới thế giới, vi trần
các cảnh, các đại nguyện, đại hạnh
như bố thí, tŕ giới v.v… để rộng độ
chúng sanh, trang nghiêm cơi Phật, cho đến các hạnh ĺa
tướng, ĺa niệm, ĺa ngă kiến, sanh ḷng tin chân thật,
sanh Thật Tướng, thành tựu hy hữu bậc nhất,
hy hữu tối thượng đệ nhất, cùng với
đạt được phước đức, đạt
được công đức, được thành tựu
Nhẫn, gọi là Tu Đà Hoàn, cho tới gọi là Bồ
Tát, gọi là chư Phật, gọi là quả A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, nhất loạt đều được bao gồm trong ấy. Hai chữ
Như Thị chỉ các loại nghĩa đă nói trên
đây. Các nghĩa được nói trên đây chẳng ra ngoài
duyên sanh tánh Không!
Cuối
cùng, trong khoa “xét đến vô trụ tột bậc để
thành tựu, chứng đắc”, trước hết
nói khoa “pháp giới b́nh đẳng để hiển thị
và kết lại pháp vô ngă”, do vậy, xét cùng tận
nghĩa “tánh Không chẳng ngại duyên sanh”. Do tánh Không
chẳng trở ngại duyên sanh, nên thành pháp giới b́nh
đẳng. Kế đó nói khoa “tướng Không của
các pháp để kết lại pháp bất sanh” do đă
xét tột cùng ư nghĩa “duyên sanh chẳng trở ngại
tánh Không”. Do duyên sanh chẳng trở ngại tánh Không, cho nên các pháp
chính là tướng Không.
Nh́n từ
đó, hai chữ Như Thị có ư nghĩa hiển thị
các pháp nhất như, hết thảy đều phải.
Do đều là nhất như, cho nên thấy, biết, tin
hiểu như thế, chẳng sanh pháp tướng. Nếu
chẳng vậy, pháp tướng trọn chẳng đoạn
diệt, sao lại nói là “bất sanh”? Có thể thấy
nói “bất sanh” chính là từ Như Thị mà ra, chẳng
phải là rốt ráo bất sanh mà nói là bất sanh vậy!
Do đó, kinh văn trong phần sau dùng “tức phi pháp
tướng, thị danh pháp tướng” (tức chẳng
phải là pháp tướng, th́ gọi là pháp tướng)
để biểu thị: Hăy nên biết như thế, thấy
như thế, tin hiểu như thế. Đó gọi là Vô
Thượng giác tâm, hăy chú ư tham cứu!
Ư nghĩa của
ba chữ Tri, Kiến, Giải vốn chẳng khác biệt
cho mấy, nhưng ba chữ được nói liên tiếp,
tức là mỗi chữ đều có ư chỉ riêng, có sự
khu biệt to lớn, chẳng thể nh́n luông tuồng
như nhau được! Trong kinh Phật, cú pháp thuộc
loại này khá nhiều, hăy đều nên biện định
ư nghĩa hàm súc như thế để biết các từ
ngữ ấy nói về điều ǵ, chẳng thể không
cầu hiểu nghĩa sâu xa, đừng nên lướt
qua, thậm chí coi là lời lẽ trùng lặp, th́ sai lầm
quá lớn! Như vậy th́ ba chữ ấy chỉ điều
ǵ? Ngài Gia Tường nói: “Tri là Thế Đế Trí, Kiến
là Đệ Nhất Nghĩa Đế Trí”. Ngài Đạt
Thiên bảo: “Tri là tỷ lượng, Kiến là hiện
lượng”. Nay tôi cho rằng nên dựa theo bộ luận
của ngài Vô Trước. Luận ấy giảng: “Trí y
chỉ vào Xa-ma-tha nên là Tri. Y chỉ vào Tỳ-bát-xá-na nên là
Kiến. Hai thứ ấy y chỉ Tam-ma-đề cho nên Giải”.
Nghĩa này chỉ rơ cả ba thứ ấy đều là
Trí, chỉ do phương
tiện y chỉ bất đồng, mà lập ra ba danh
xưng!
1) Xa-ma-tha
(Samatha) phương này dịch là Chỉ. “Chỉ” là Định,
Trí sanh từ Định, th́ gọi là Tri. Xét theo đó, Tri
là Chân Đế Trí. Định th́ muôn duyên đều dứt,
chứng biết rành rành, nên bảo là Tri. Điều này phù
hợp khít khao với các nghĩa “tam tế tâm chẳng
thể được, các pháp duyên sanh tức Không, khai Phật
chánh tri” trong kinh này! Như vậy, Tri là nói theo
phương diện nội chứng.
2) Tỳ-bát-xá-na
(Vipassanā) được
phương này dịch là Quán. Quán tức là Huệ. Trí sanh
từ Huệ, gọi là Kiến. Xét theo đó, Kiến chính
là Tục Đế Trí. Huệ th́ sự tướng sai biệt,
không ǵ chẳng thấy rơ, nên nói là Kiến. Điều này
hoàn toàn tương đồng các nghĩa “ngũ nhăn,
[cát trong sông Hằng] là cát, chẳng chấp một hay khác,
khai viên kiến của Phật” trong kinh này. Như vậy,
Kiến là nói theo phương diện ngoại
chiếu.
3) Tam-ma-đề
(Samādhi)
phương này dịch là
Đẳng Tŕ (等持), tức
là Định và Huệ cân bằng. Định và Huệ
cân bằng th́ gọi là Giải. Có thể thấy Giải
là từ Định và Huệ mà ra, cũng chính là
danh xưng chung của hai thứ Tri và Kiến, điều
này cũng có cùng ư nghĩa với câu “thâm giải nghĩa
thú” (hiểu
sâu nghĩa thú) trong phần trước.
Trưởng lăo vốn đắc Vô Tránh tam-muội, Định
lực đă đầy đủ, nhưng Huệ chưa
cân bằng, đợi đến khi được nghe Bát
Nhă rất sâu, trí huệ tăng thượng, cho nên có thể
“thâm giải”. Trưởng lăo ứa lệ, nghẹn
ngào, hổ thẹn [chính ḿnh] luôn luôn là Định nhiều
Huệ ít, nay may mắn được nghe kinh sâu mà đạt
được Định và Huệ cân bằng. Do vậy,
cảm kích tột bậc mà khóc!
Đă nói Giải, lại nói
Tín là v́ sao? Cần phải biết: Tín là cửa ngơ để
nhập đạo, là mẹ công đức. Tín có nghĩa
là “khế hợp”. Do khế
hợp như thế, cho nên có thể biết như thế,
thấy như thế. Giải là danh xưng chung của tri
kiến, cho nên nói “tín giải như thế”. Do chúng
đều là lư nhất như, khế hợp chẳng gián
đoạn, Định và Huệ cân bằng, cho nên có thể
chẳng sanh pháp tướng (câu “như thị tri” nói
về Định lực. Câu “như thị kiến”
nói về Huệ lực. Câu “như thị tín giải”
nói về sức Định Huệ cân bằng. Chữ Tín
xuyên suốt ba câu. Câu “bất sanh pháp tướng” là
công hiệu được sanh bởi ba câu trước
đó). V́ sao vậy? Có Định, có Huệ, khế hợp
nhất như, có thể thấy là đối với các
tướng ngôn thuyết, danh tự, và tâm duyên, hết
thảy đều ĺa. Các tướng đều ĺa, liền
dẫn sanh Căn Bản Chánh Trí, tức là trí chẳng phân
biệt. Trí chẳng phân biệt tức là một niệm
chẳng sanh. Một niệm chẳng sanh th́ gọi là “chẳng
sanh pháp tướng”. Nói chung, tri kiến tín giải chính
là tiền phương tiện của bất sanh. Tu đầy
đủ phương tiện, liền chứng “vốn
bất sanh”. Công hạnh ấy hoàn toàn dựa trên tri kiến,
tín giải. “Bất sanh” là công hiệu [của công hạnh
ấy]. Nơi “vốn bất sanh”, chẳng thể dốc
sức được! Hễ chấp vào bất sanh, th́ sẽ
là sanh mất rồi! Khoa sau chính là nói về ư nghĩa này.
2.2.2.2.2.2.2.2.2.2.
Bất sanh cũng chẳng có
(Kinh) Tu Bồ Đề!
Sở ngôn pháp tướng giả, Như Lai thuyết tức
phi pháp tướng, thị danh pháp tướng.
(經)須菩提!所言法相者,如來說即非法相,是名法相。
(Kinh: Tu Bồ Đề!
Nói pháp tướng th́ Như Lai nói tức chẳng phải
là pháp tướng, th́ gọi là pháp tướng).
Hết thảy các pháp tướng đều là giả
danh, vốn “chẳng phải” [pháp tướng], bởi
sanh chính là vô sanh. Đây là nói rơ nguyên do “chẳng sanh pháp
tướng” vừa được nói trên đây. Cần
phải biết: Nói “chẳng sanh pháp tướng” chẳng
phải là “có pháp tướng để chẳng sanh”, mà
cũng chẳng phải là “rốt ráo chẳng có pháp tướng”,
mà là “hết thảy các pháp tướng vốn là duyên
sanh”. Pháp duyên sanh th́ bản thể của nó chính là Không.
Đó gọi là “do chẳng phải làm nên là vô, mà là do bản tánh là vô”. Bản tánh đă là vô th́ bất
sanh cũng mất. V́ sao vậy? Do sanh chính là vô sanh; đó
chính là ư nghĩa chân thật của bất sanh. Nếu chẳng
hiểu rơ “Có tức là Không”, chỉ chú ư nơi bất sanh, th́ đó lại chính là sanh, sao có thể nói
là “bất sanh” cho được? V́ thế, hết thảy
người phát tâm hăy nên thấy, biết, tin hiểu
nơi “nhất như, đều là”, đấy chính
là hàng phục, chính là vô trụ. Nếu thật sự có thể
thấy, biết, tín giải như thế, dẫu pháp
tướng lăng xăng, có bao giờ sanh? V́ bản tánh
chẳng sanh, nên chẳng hàng phục mà hàng phục, vô trụ
mà trụ, trụ mà vô trụ, chứng nhập tánh chân thật
“vô tướng, vô bất tướng”.
Hơn nữa, sanh tức vô
sanh, th́ diệt cũng chính là vô diệt. Có thể thấy:
Nói “sanh diệt” hoặc nói “bất sanh, bất diệt”
là nói đối đăi. Thật ra, ngay trong lúc sanh diệt
chẳng ngừng, vốn là bất sanh, bất diệt.
Không chỉ là sanh diệt chẳng thể nói, ngay cả bất
sanh bất diệt cũng chẳng thể nói, hăy nên dốc
ḷng mà quán.
Nói “Như Lai thuyết”,
Như Lai là Pháp Thân, Pháp Thân tức Thật Tướng. V́
thế, nói theo Như Lai th́ “tức phi pháp tướng,
thị danh pháp tướng” (tức chẳng phải là
pháp tướng, th́ gọi là pháp tướng) nhằm hiển
thị nghĩa “vô tướng, vô bất tướng”.
Nói chung, khoa này nhằm nói rơ “pháp tướng chính là vô
pháp tướng, sanh mà vô sanh”, chẳng phải coi bất
sanh là [thật sự tồn tại] bất sanh! Nghĩa
này nhằm minh thị: Không chỉ ư niệm “sanh” chẳng
có, ngay cả ư niệm “bất sanh” cũng chẳng có luôn!
Đấy chính là: Mô tả sống động “nhất
niệm bất sanh” th́ chính là mô tả sống động
“vốn bất sanh”, mà cũng là mô tả sống
động [ư nghĩa] “bất thủ ư tướng,
Như Như bất động” (chẳng giữ lấy
tướng, Như Như bất động) trong kinh
văn thuộc phần sau. “Như Như bất động”
là tên gọi khác của “sanh tức vô sanh”. Hơn nữa,
khoa này cũng nhằm kết lại các nghĩa “hăy nên trụ
như thế, hăy nên hàng phục như thế” ở
đầu kinh. V́ thế, phần khoa phán này có tựa đề
là Kết Thành, chẳng phải chỉ nhằm kết lại
khoa này mà thôi, nghĩa thú của cả bản
kinh đến đây đă được nêu ra trọn
đủ, chẳng sót, đầu đuôi đều hoàn
thành.
Kết lại các nghĩa
trong khoa này như “vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ”
(chẳng từ đâu đến mà cũng không đi về
đâu) là “bất sanh pháp tướng”. “Nhất hợp
tướng bất khả thuyết” là bất sanh pháp
tướng. “Chẳng phải là ngă kiến mà gọi là
ngă kiến” cũng là bất sanh pháp tướng. Bởi
lẽ, khiến cho đến đi mà chẳng đến
đi, nhất hợp mà chẳng có nhất hợp, ngă kiến
mà chẳng có ngă kiến. V́ sao vậy? Nhanh chóng hướng
đến chỗ nguồn tâm “chưa khởi niệm” mà
giác chiếu để khế nhập “vốn bất sanh”.
C̣n như phần đầu kinh đă nói “độ mà
không có tướng độ” cho đến “tâm
như hư không” v.v… chẳng phải là “bất sanh pháp tướng” ư? Phần Phát Khởi Tự đă nói đức Thế Tôn thị hiện
giống như phàm phu, suốt bốn mươi chín
năm thực hiện mà như không có chuyện ấy, chẳng
phải là bất sanh pháp tướng ư? Đối với
những điều đă nói khác, đều có thể dùng
nghĩa này để quán thông. Đó gọi là “hăy nên biết
như thế, thấy như thế, tín giải như thế”.
Nói chung, ngàn lời vạn lẽ, không ǵ chẳng nhằm dạy
hăy đối với các tướng mà vô tướng, ḥng chứng “sanh mà vô sanh” đó thôi! Do vậy bảo
“nghĩa thú của toàn bộ bản kinh đă được
nêu lên, bao gồm chẳng sót, hoàn thành từ đầu
đến đuôi”. Trên đây phần Chánh Tông đă
xong.
2.3. Phần Lưu Thông
Đối với sự phán định phần Lưu
Thông, cổ nhân mỗi vị có cách nh́n khác nhau. Ngài Trí Giả
nhất loạt phán định khoa “kết thành bất
sanh” thuộc phần Lưu Thông. Ngài Ngẫu Ích noi theo
đó, gọi khoa trên đây là Phó Chúc Lưu Thông, gọi
khoa này là Giảo Lượng Lưu Thông (so sánh để
lưu thông). Từ “vân hà diễn thuyết” (diễn
nói như thế nào) trở đi là phương pháp để lưu thông. Từ “Phật thuyết thị
kinh” (đức Phật nói kinh này) trở đi là phần
tướng mạo của lưu thông. Ngài Gia Tường
phán định từ câu “Phật thuyết thị kinh”
trở đi là phần Lưu Thông. Các vị Huệ Tịnh
và Khuê Phong, cũng như ngài Đạt Thiên đầu
đời Thanh đều noi theo. Ngài Khuy Cơ cũng phán
định tương tự như thế, chỉ là chẳng
dùng danh xưng Tự, Chánh Tông, Lưu Thông, mà lập riêng
danh xưng khác [để phân định các phần của
kinh này]. Chỉ riêng ngài Phổ Uyển đầu
đời Thanh chẳng giống vậy. Vị này soạn
Tâm Ấn Sớ, trong bản sớ ấy, đối với
“thị danh” phần nhiều coi là diễn nói sự
thật do dựa trên Tam Đế để nói. Vị này
riêng có kiến giải vượt trội, chẳng bị
các vị khác che lấp, tức là từ khoa này trở
đi, phán định là Lưu Thông Phần. V́ sao nói [cách
nh́n của vị này] là vượt trội? Kinh chép “vân
hà vị nhân diễn thuyết?” (v́ người khác diễn
nói như thế nào?), câu ấy đă nêu rơ rành rành
phương pháp hoằng dương kinh này. Phán định
đây là phần Lưu Thông, phù hợp khít khao ư chỉ của
kinh. V́ vậy, tôi phán định khoa kế tiếp dựa
theo cách [nhận định] ấy.
Khoa này chia thành hai phần:
1) Lưu
thông bằng cách chỉ bày, khuyên lơn.
2) Kết lại
phần lưu thông.
Phần thứ nhất lại
chia làm hai phần:
1) Chỉ bày lợi ích do
lưu thông.
2) Chỉ bày phương cách
lưu thông.
2.3.1. Lưu thông bằng cách chỉ
bày, khuyên lơn
2.3.1.1. Chỉ bày lợi ích do
lưu thông
2.3.1.1.1. Dẫn tài thí [để
nói rơ]
(Kinh)
Tu Bồ Đề! Nhược hữu nhân dĩ măn vô
lượng A-tăng-kỳ thế giới thất bảo,
tŕ dụng bố thí.
(經)須菩提!若有人以滿無量阿僧祇世界七寶,持用布施。
(Kinh:
Tu Bồ Đề! Nếu có người lấy bảy
báu đầy ắp trong vô lượng A-tăng-kỳ thế
giới đem dùng bố thí).
A-tăng-kỳ (Asaṁkhya,
Asaṁkhyeya) được
phương này dịch là Vô Số. Nay không chỉ là Vô Số
mà là Vô Lượng Vô Số. Dùng bảy báu đầy ắp
vô lượng vô số thế giới để bố
thí, có thể biết phước đức ấy thù thắng.
Sở dĩ dẫn chuyện tài thí là để
nêu rơ pháp thí trong phần kinh văn kế tiếp càng thù thắng
hơn nữa. Hai chữ “tŕ dụng” (đem dùng)
được sử dụng ở đây chẳng ngại
thừa thăi là v́ lẽ ǵ? Dụng ư là dẫn khởi câu “tŕ
ư thử kinh” (tŕ kinh này) trong đoạn kinh văn
sau đó, hàm ư: Tuy cùng hành bố thí, nhưng phước
đức bất đồng, do vật được
dùng để bố thí bất đồng vậy. Một
đằng là dùng của báu, một đằng là dùng pháp bảo.
Dùng của cải trong vô lượng số thế giới
[để bố thí] chẳng bằng tŕ một quyển
kinh, thậm chí một bài kệ bốn câu [trong kinh ấy].
Tài thí chỉ cứu thân mạng của con người,
pháp thí có thể cứu huệ mạng của mọi
người. Pháp thí cứu người triệt để,
nhưng chẳng phải là nói có thể phế trừ tài
thí; chính là nói của cải như huyễn, như hóa,
nhưng phàm phu tham chấp chuyện ấy, chẳng biết
tham dục vô cùng, của cải hữu tận! Nếu hiểu
rơ Phật pháp, sẽ biết mọi chuyện trong thế
gian, không ǵ chỉ là mộng, huyễn. Được tài
thí ngơ hầu trừ khổ. Hành tài thí th́ phước
cũng tăng thượng. Hơn nữa, trong hết thảy
các pháp hữu vi, [thứ
khiến cho chúng sanh] khó thấy thấu suốt nhất
là của cải; do vậy, dẫn chuyện này để
nói. Phàm hết thảy những chỗ dẫn tài thí để
so sánh sự thù thắng, đều có cùng ư này. Hăy nên lănh hội
như thế!
2.3.1.1.2. Nói về pháp thí
(Kinh)
Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân,
phát Bồ Tát tâm giả, tŕ ư thử kinh, năi chí tứ cú
kệ đẳng, thọ tŕ, độc tụng, vị
nhân diễn thuyết, kỳ phước thắng bỉ.
(經)若有善男子、善女人,發菩薩心者,持於此經,乃至四句偈等,受持讀誦,為人演說,其福勝彼。
(Kinh:
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Bồ
Tát, tŕ kinh này, thậm chí một bài kệ bốn câu v.v… thọ
tŕ, đọc tụng, v́ người khác diễn nói,
phước ấy hơn phước người trước).
Cổ bản
và Đại Tạng Kinh đời Tống đều ghi
là “phát Bồ Tát tâm giả”, bản lưu thông sửa
Bồ Tát thành Bồ Đề, hăy nên vâng theo cổ bản.
V́ sao vậy? Kinh dạy “chẳng thể độ ḿnh,
mà muốn độ người khác trước, chính là Bồ
Tát phát tâm”. Nói là Lưu Thông, [chính là] chú trọng nơi pháp thí,
lợi ích chúng sanh. V́ thế nói là “phát Bồ Tát tâm”
để nêu rơ ư lưu thông. Hăy nên biết “Bồ Đề
tâm” hàm nghĩa rất rộng, không chỉ là một chuyện
pháp thí! Ở đây, do sắp chỉ dạy cách lưu
thông, cho đặc biệt nêu ra “phát Bồ Tát tâm”
để nói, hoàn toàn hô ứng với câu “vị nhân diễn
thuyết” (v́ người khác diễn nói) trong đoạn
sau đó.
“Tứ
cú kệ đẳng”: Đẳng (等, vân vân)
là như nửa bài kệ, hoặc một câu. [Trong cách tính
kính thước của một văn bản thời cổ
Ấn Độ], cứ bốn câu [bất luận dài hay
ngắn, có vần hay không vần] là một Kệ, hai câu là
nửa kệ. Trong kinh thường nói “bán kệ tức
khả chứng đạo” (do nửa bài kệ liền có thể
chứng đạo). Như kinh văn đối với nửa
bài kệ “bất thủ ư tướng, Như Như
bất động” (chẳng giữ lấy tướng,
Như Như bất động) trong phần sau, nếu có
thể tin, nhận, phụng hành, sẽ tiến thẳng
đến chỗ có của báu, huống hồ toàn bộ
bài kệ, huống hồ toàn thể bản kinh!
Chữ Tŕ trong “tŕ ư thử
kinh” có nghĩa là “vâng giữ”, có ư
nghĩa khác biệt với “thọ tŕ” trong câu sau
đó. Câu “thọ tŕ” là tự lợi, câu “diễn
thuyết” là lợi tha. Đúng như pháp mà thọ tŕ, sẽ có
thể ngộ nhập Vô Sanh. Bố thí mà chẳng trụ
tướng, phước đă hơn hẳn người
trước. Huống hồ lại v́ người khác diễn
nói kinh này, hành pháp thí chẳng trụ tướng ư? Kinh
này vừa mở đầu liền nói “độ vô biên
chúng sanh nhập Vô Dư Niết Bàn”, nay v́ người
khác diễn nói kinh này, tức là dùng pháp Vô Dư Niết Bàn
để bố thí, há bố thí bảy báu của người
kia có thể sánh bằng ư? Phần mở đầu
kinh lại nói “bố thí chẳng trụ tướng”,
th́ nghe nói “chẳng
trụ tướng” như vậy, sự bố
thí ấy há chỉ là dùng bảy báu đầy ắp vô
lượng số thế giới để bố thí mà
thôi! Nói chung, hoằng dương kinh này chính là tiếp nối
hưng thịnh ḍng giống Phật, chúng sanh đạt
được lợi ích chẳng thể nghĩ bàn! Phước
ấy vượt trội [phước đức của]
tài thí cần đợi
nói nữa ư? Ư chỉ của kinh là coi trọng
lưu thông pháp bảo vô thượng; do vậy, tiếp
theo đó chỉ chuyên dựa theo diễn nói để luận.
Lại c̣n nói rơ diễn nói như thế nào, [khiến cho
thính chúng] sẽ tự hiểu rơ thọ tŕ như thế
nào. Nói một bên chính là gồm thâu cả hai bên vậy.
2.3.1.2. Chỉ bày phương
cách lưu thông
2.3.1.2.1. Trực chỉ bản
tánh
(Kinh)
Vân hà vị nhân diễn thuyết? Bất thủ ư
tướng, Như Như bất động.
(經)云何為人演說?不取於相,如如不動。
(Kinh:
V́ người khác diễn nói như thế nào? Chẳng giữ
lấy tướng, Như Như bất động).
“Vân hà vị nhân diễn thuyết” (v́
người khác diễn nói như thế nào) là lời hỏi;
trong ấy, chứa đựng hai nghĩa:
- Một là hỏi người
diễn nói phải nên làm như thế nào?
- Hai là hỏi hăy nên diễn
thuyết ư nghĩa của kinh như thế nào?
Hai câu “bất thủ ư
tướng, Như Như bất động” chính là
khai thị khuôn phép phải nên tuân thủ cho cả hai
điều [thắc mắc] ấy. Lấy “thuyết”
để nói, phải nên đối với các tướng
năng thuyết (người có thể nói), sở thuyết
(pháp được nói), và người nghe nói đều chớ
nên chấp giữ. Đó gọi
là “dĩ bất
sanh diệt tâm thuyết Thật Tướng pháp" (dùng tâm chẳng
sanh diệt để nói pháp Thật Tướng). Kinh này
chính là pháp Thật Tướng; v́ thế, người nói
phải nên dùng cái tâm chẳng sanh diệt để nói. Cái
tâm chẳng sanh diệt chính là bản tánh, nó được
diễn tả là “Như Như bất động”. Ư nói: Diễn
nói Bát Nhă rất sâu, hăy nên tam luân thể không. Lại c̣n hăy
nên xứng tánh mà nói, chỉ thẳng nguồn tâm, sẽ có
thể khiến cho người nghe từ ngay Văn Tự
Bát Nhă mà khởi Quán Chiếu Bát Nhă, ngộ Thật Tướng
Bát Nhă. Trong lời ấy, hàm nghĩa: Chớ nên nói xằng
bậy, mà cũng chớ nên nói nông cạn!
Lấy chuyện diễn nói
kinh này để luận, nghĩa thú trong kinh này quá sâu, quá rộng.
Trong phần trước đă nói “nhất thiết chư
Phật giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy
chư Phật đều từ kinh này mà ra), tức
là những điều được nói trong kinh này đều
là pháp để thành Phật! Có thể biết độ
sâu của kinh này! Lại nói “pháp A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề của chư Phật đều từ
kinh này mà ra”, tức là hết thảy Phật pháp chẳng
thể ra ngoài những điều được nói trong
kinh này! Có thể biết mức rộng của kinh này. Vậy
th́ muốn v́ người khác diễn nói, nếu chẳng nắm
được phương cách cốt lơi trọng yếu,
không chỉ là chẳng thể đảm đương
sự to lớn, mà c̣n là tán loạn, chẳng quy hướng
được, người nghe khó thể đạt
được lợi ích nơi pháp! V́ thế, chỉ dạy
chỗ cốt lơi trọng yếu trong ư nghĩa của kinh
bằng hai câu sau đó, có thể thấy hai câu kệ ấy
chính là ư chỉ trọng yếu của kinh này, mà cũng là
ư chỉ chánh yếu của hết thảy Phật pháp.
Tánh, tu, sự, lư được nói trong ngàn kinh vạn luận
đă được gồm thâu trọn hết trong hai câu
kệ ấy!
Nếu hiểu
sâu hơn nữa, [sẽ thấy] bề ngoài là khai thị
diễn nói như thế nào, cốt tủy bên trong là khai thị
thọ tŕ như thế nào? V́ sao nói như vậy? Bởi
diễn thuyết như thế, ắt là trước
đó đă có thể thọ tŕ như thế! Nếu không,
há có thể diễn nói ư? Hơn nữa, v́ người
khác diễn nói chính là v́ muốn cho họ thọ tŕ như
thế, sẽ lănh hội như thế. Nh́n từ đó,
hai câu kinh văn “bất thủ ư tướng, Như
Như bất động” uẩn tàng ư nghĩa sâu rộng
cũng đă rơ lắm rồi! Nay tôi sẽ theo từng tầng
mà mổ xẻ!
Trước
hết, hăy nên biết: Hai câu ấy chính là lời quy kết
của cả bản kinh, mà cũng là lời nêu tỏ [ư
nghĩa chánh yếu] của cả bản kinh. Thế nào là
quy kết? Bộ kinh này từ đầu đến
đuôi, những điều đă nói chẳng ngoài ư
nghĩa “không giữ lấy”. Vừa nh́n là đă biết
ngay, chẳng cần đợi phải dẫn chứng,
cũng chẳng cần phải dẫn chứng thật cặn
kẽ! C̣n như các câu “nghĩa Như của các pháp, chẳng
thật, chẳng hư, hết thảy các pháp đều
là Phật pháp, pháp ấy b́nh đẳng…” đều là
nghĩa Như Như. “Chẳng từ đâu đến,
cũng chẳng đi về đâu” chính là nghĩa bất
động. Nay bất quá dùng hai câu này để kết
thúc ư nghĩa của cả bản kinh; do vậy, nói [hai câu
ấy] là lời quy kết.
Như vậy
th́ sao lại gọi là “lời nêu tỏ”? Những điều
được nói trong toàn bộ kinh này, tuy đều [nhằm
diễn tả] nghĩa này, nhưng được thấy
rải rác. Nếu học nhân chưa thể dung hội,
quán thông, sẽ [giống hệt như người] nh́n biển
cả mà than dài, chẳng biết tiến nhập từ chỗ
nào? V́ thế, bèn nêu tỏ rằng: Điểm trọng yếu
trong cả bản kinh này chẳng ngoài tám chữ “chẳng
giữ lấy tướng, Như Như bất động”!
Người học sẽ từ đó mà tiến nhập.
Sau đó, người nghe đều có thể có cái trọng
yếu cốt lơi để noi theo, chẳng đến nỗi
ngó trước, trông sau,
tản mạn chẳng có chỗ quy về vậy! Đó gọi
là “lời nêu tỏ”.
Tiếp
đó, hăy nên biết: Hai câu này đều nhằm nói lên công
phu tu tập, mà cũng đều nhằm nói về hiệu
quả thành tựu. Bởi lẽ, ắt phải là có thể “chẳng
giữ lấy” th́ mới có thể bất động.
Nhưng cũng ắt phải có thể quán bất động th́ mới
có thể chẳng giữ lấy. Đó gọi “làm nhân quả
cho lẫn nhau”. Nếu chỉ cho rằng “chẳng giữ
lấy” là công phu tu tập th́ ư nghĩa của kinh sẽ
bị lệch lạc, chẳng toàn vẹn! Nay hăy theo thứ
tự của kinh văn để nói.
Nói tới “tướng”
th́ tướng là ǵ? Tướng được nói trong
kinh rất ư là nhiều. Tướng lục trần
như sắc, thanh v.v… Tướng Lục Độ: Bố
thí v.v… Thân tướng, tướng cơi Phật, tướng
trang nghiêm, tướng phước đức, tướng
chúng sanh, tướng hóa độ chúng sanh, tướng Bồ
Đề, tướng phát tâm, tướng thượng cầu,
tướng hạ hóa, tướng nhân, tướng quả
v.v… đếm chẳng thể xiết. Nói chung, hễ nói một
pháp, sẽ có tướng của nó. Nay nói khái quát rằng:
Phàm đối với tất cả tướng, hết thảy
đều chẳng giữ lấy! Hăy nên biết: Nói một
chữ Tướng th́ pháp và phi pháp đều thâu nhiếp
trong ấy. V́ thế, nói “chẳng giữ lấy tướng”
sẽ xuyên suốt ư chẳng đoạn diệt tướng. V́ sao vậy?
Đoạn diệt là tướng Không, cũng chẳng có
ǵ bị giữ lấy. Hăy nên lănh hội như thế.
Đó gọi là do một mặt này, phải nên thấy
được mặt kia. Hễ đọc kinh Phật,
điều thứ nhất là phải biết lư này. Nếu
chẳng lănh hội câu “bất thủ ư tướng”
(chẳng giữ lấy tướng) như thế, sẽ
chẳng ứng hợp với câu “Như Như bất
động” sau đó.
V́ sao vậy?
Không và Hữu là hai bên, hễ có một chút thiên lệch, sẽ chẳng
phải là Như Như! V́ lẽ nào vậy? Hễ thiên vị
bèn có giữ lấy, hễ giữ lấy là đă bị
động. Nói chung, bất luận giữ lấy điều
ǵ, hễ giữ lấy th́ tâm động. Hễ giữ lấy
bèn chấp tướng, chẳng phải là tánh Như
Như. Kinh Viên Giác dạy: “Chủng chủng thủ xả,
giai thị luân hồi” (Các thứ lấy, bỏ, đều
là luân hồi). Luân hồi tức là cái tâm sanh diệt. Nếu
có điều ǵ bị chấp giữ, ắt sẽ có cái bị
xả. V́ sao lấy, bỏ? Do phân biệt, chấp trước!
Phân biệt, chấp trước th́ gọi là “tâm sanh diệt”.
Do đó, nói “các thứ lấy, bỏ, đều là luân hồi”
giống như nói “các thứ lấy bỏ là do đều
có tâm sanh diệt phân biệt, chấp trước”. Vậy
th́ nếu có thể chẳng giữ lấy, ngay lập tức
sẽ ĺa cái tâm sanh diệt, sẽ ngay lập tức thấy
tánh bất sanh bất diệt. Do đó, nói: “Bất thủ
ư tướng, Như Như bất động”.
Như Như bất động
là tánh bất sanh, bất diệt. “Chẳng giữ lấy”
chính là lời chân thật diễn tả vô trụ. Vô Trụ
là lời diễn tả chân thật của bất động.
V́ sao vậy? “Nhược tâm hữu trụ, tắc vi
phi trụ” (nếu tâm có trụ th́ chẳng phải là trụ).
Nói “phi trụ” là nói rơ nó động. Nếu “tâm có
trụ tức chẳng phải là trụ”, giống
như nói “hễ có giữ lấy th́ là tâm động”.
V́ thế, ắt phải chẳng giữ lấy điều
ǵ th́ sau đó mới chẳng bị động. Như
Như là tên gọi khác của Chân Như, đều là nói về
bản tánh. Nhưng lập ra hai danh xưng, v́ Chân Như là
nói về cái sẵn có, c̣n Như Như là nói về chứng
đắc. Bởi lẽ, khi chứng tánh, ngoài Trí chẳng
có Lư, ngoài Lư chẳng
có Trí. Trí và
Lư ngầm hợp, được gọi là Trí Như, Lư
Như, nên nói là Như Như. Như Như có nghĩa là Năng lẫn
Sở
đều cùng mất. Do chẳng có năng chứng (chủ thể có thể
chứng), chẳng có sở chứng (pháp được chứng), bèn
vượt khỏi căn trần, linh quang riêng chiếu;
do vậy, Tịch Chiếu đồng thời. Do khi Tịch
th́ Chiếu, khi Chiếu th́ Tịch, cho nên vô tướng,
vô bất tướng. Do tướng và bất tướng
đều chẳng có, cho nên là bất sanh bất diệt.
Do nó bất sanh bất diệt, nên là Như Như bất
động. Nay đă chẳng giữ lấy tướng
sanh diệt, cho nên tánh Như Như bất sanh bất diệt
hiện tiền. V́ thế nói “bất thủ ư tướng,
Như Như bất động” (chẳng giữ lấy
tướng, Như Như bất động).
Kinh Viên
Giác dạy: “Nhất thiết chư chúng sanh, vô thỉ
huyễn vô minh, giai tùng chư Như Lai, Viên Giác tâm kiến
lập. Do như hư không hoa, y không nhi hữu tướng.
Không hoa nhược phục diệt, hư không bổn bất
động” (Hết thảy các chúng sanh, vô minh vô thỉ
huyễn, đều
từ các Như Lai, tâm Viên Giác thành lập,
như hoa đốm trên không, nương hư không có
tướng. Nếu hoa đốm lại diệt, hư
không vốn bất động). Cái tâm Viên Giác của các
đức Như Lai là nói tới
bản tánh mà Phật
và chúng sanh cùng sẵn
có. Nơi chúng sanh th́ gọi là Như Lai Tạng.
Như vậy th́ câu này nói về cả thánh lẫn phàm, chẳng
phải chỉ riêng nói theo phía Phật (nếu [người
đọc hiểu câu ấy] chỉ nói về Phật, th́
câu ấy sẽ không suông sẻ được). Ví như
hoa đốm trên hư không, nương vào hư không mà có
tướng. Ví như chúng sanh từ vô thỉ đến
nay, do bất
giác, nương vào tánh vốn sẵn Không Tịch,
mà huyễn hiện thành tướng vô minh. Do vậy, có thể
biết: Vô minh bất quá là huyễn tướng duyên khởi
trong bản tánh, ví như hoa đốm trên hư không. Trong
hư không vốn chẳng có hoa đốm, tức là “trong
tánh vốn chẳng có vô minh” cũng đă rơ rồi. Nếu
hoa đốm trên hư không diệt mất, hư không vốn
bất động. Ví như nếu vô minh diệt, tánh vốn
bất động. “Vốn bất động” là nói
ngay trong khi vô minh hiện hữu, tánh ấy vốn chưa
từng động. Hăy nên biết: Thông thường nói “tâm
động” th́ chính là vô minh động. Do vậy, càng
có thể hiểu rơ lư “chỉ cần có thể chẳng
giữ lấy tướng, th́ bản tánh Như Như bất
động sẽ ngay lập tức hiện ra”. Lại
cũng biết “lấy, bỏ” chính là do vô minh, nhưng vô
minh vốn là huyễn tướng. Vậy th́ chẳng giữ
lấy tướng, sẽ ngay lập tức là Như
Như bất động. Do chẳng có “lấy, bỏ”, vô
minh đă bị trừ khử! V́ thế, người học
phải nên ngay trong lúc “chẳng giữ lấy” liền vô trụ,
đau đáu đổ công dốc sức. Nếu không, dẫu
muốn chẳng giữ lấy, cũng chẳng thể
được!
Đối
với hai chữ Như Như, có vị giải thích chữ
Như thứ nhất là tương tự, hoặc
tương xứng, chữ Như kế tiếp là
Chân Như. Ư nói: “Chẳng
giữ lấy tướng th́ mới tương xứng
hoặc tương tự với Chân Như bản tánh mà
tâm chẳng động”. Giải thích kiểu ấy chẳng
thỏa đáng! Sách Đại Thừa Nghĩa
Chương đă giảng rơ “Như Như c̣n gọi là
Chân Như”. Hơn nữa, danh từ Như Như
thường thấy trong các kinh Đại Thừa, phần
nhiều là nói về cảnh giới của Phật, sao có
thể nói là “tương
tự” hoặc “tương
xứng” cho
được? Nếu muốn tách ra để giải thích,
chữ Như thứ nhất có thể giải thích là “khế
hợp”. Khế hợp Chân Như, đó gọi là Trí và
Lư ngầm hợp. Hăy nên biết: Nếu [hiểu chữ
Như thứ nhất] là “tương tự” hoặc “tương
xứng” th́ Thể
là Thể, Trí là Trí, tướng Năng Sở rành rành, sao có
thể nói “chẳng giữ lấy tướng” cho
được? V́ thế, cách giải thích ấy thoạt
nh́n th́ chỉ cảm thấy nông cạn, nhưng suy xét kỹ,
[rơ ràng là] hết sức chẳng phù hợp! V́ thế nói là
“chẳng thỏa đáng!”
Phật nói “ly huyễn tức
giác” (ĺa huyễn liền giác), chữ Giác chính là nói tánh
Như Như bất động. Chữ Tức là nói “ngay
lập tức chính là”, có thể thấy: Chỉ sợ
chẳng thể chẳng giữ lấy! Nếu có thể
chẳng giữ lấy, ngay lập tức sẽ hiện
thành. Nay giải thích “chẳng giữ lấy tướng”
là tương tự với tánh, rơ ràng là trái nghịch lời
Phật, muôn phần chẳng thể nghe theo!
Tôi vừa
mới nói “người học hăy nên đối với hai
chữ Bất Thủ (chẳng giữ lấy), thống
thiết vận dụng công phu”, như vậy th́ thế
nào mới có thể chẳng giữ lấy? Quyết chớ nên
xem thường tầng này, ắt phải nên suy xét kỹ
lưỡng! Hăy nên biết: Chẳng giữ lấy tướng
chính là ĺa tướng. Kinh Viên Giác dạy: “Nhất thiết
Bồ Tát, cập mạt thế chúng sanh, ưng
đương viễn ly nhất thiết huyễn hóa
hư vọng cảnh giới, do kiên chấp tŕ viễn ly
tâm cố. Tâm như huyễn giả, diệc phục viễn
ly. Ly viễn ly huyễn, diệc phục viễn ly. Đắc
vô sở ly, tức trừ chư huyễn” (Hết thảy
Bồ Tát và chúng sanh đời Mạt, hăy nên xa ĺa hết
thảy cảnh giới huyễn hóa, hư vọng, do chấp
tŕ chắc chắn tâm viễn ly. Cái tâm như huyễn
cũng lại xa ĺa. Ĺa ‘xa ĺa huyễn’, cũng lại xa
ĺa. Đạt được không có ǵ để ĺa, tức
là trừ các huyễn). Xét kỹ ư nghĩa của đoạn
kinh này, có thể thấy công phu “ĺa tướng” hoàn toàn do
kiên tŕ. Kiên tŕ là nói đến cưỡng chế. Tầng
công phu này thật sự chẳng thể thiếu! Nếu
không, tập khí “giữ lấy tướng” từ vô thỉ
đến nay sao có thể trừ được?
Nhưng
càng phải nên suy xét kỹ lưỡng, như thế nào
th́ mới có thể kiên tŕ chẳng giữ lấy? Muốn
biết như thế nào th́ mới có thể kiên tŕ chẳng
giữ lấy, hăy nên trước hết biết chúng sanh
v́ sao giữ lấy? Chẳng có chi khác! Do có tâm phân biệt
chấp trước “ta, người, chúng sanh, thọ
giả”. Lại
hăy nên biết: Tướng “tứ tướng” thật
sự chẳng ngoài một ngă tướng, mà cội gốc
của ngă tướng quả thật phát sanh từ ngă kiến.
Càng phải nên suy xét cặn kẽ: Kiên tŕ chẳng giữ
lấy cố nhiên đủ để trừ ngă kiến,
nhưng chỉ có thể hàng phục, chẳng thể
đoạn! V́ sao vậy? Do vô minh chưa phá. Hơn nữa,
do vô minh, ngă kiến chưa đoạn, cũng rất
đủ để phá hoại sự kiên tŕ. Như vậy
th́ chẳng dụng công nơi ĺa vô minh, ngă kiến, sẽ
chẳng thể được! Làm thế nào để có
thể ĺa? Chính là như trong phần trước đă dẫn
kinh Viên Giác rằng “tri huyễn tức ly, bất tác
phương tiện” (biết huyễn liền ĺa, chẳng
tạo
phương tiện). Hai chữ Tri Huyễn
trong lời ấy chính là phương tiện mầu nhiệm
nhất để ĺa vô minh, chẳng cần phải t́m
phương tiện khác!
Như vậy
th́ làm thế nào để có thể biết đó là huyễn?
Kinh Lăng Nghiêm khai thị rơ ràng nhất. Kinh dạy: “Như
Lai bổn khởi nhân địa, tối sơ phát tâm, tiên
dĩ trực tâm chánh niệm Chân Như, thỉ năng viễn
ly chư huyễn” (Nhân địa khởi đầu của
Như Lai, trong lúc
phát tâm ban đầu, trước hết là dùng trực
tâm để chánh niệm Chân Như th́ mới có thể xa
ĺa các huyễn). “Chánh niệm” tức là giác chiếu,
tức là phải thẳng thừng giác chiếu bản tánh
Chân Như th́ mới có thể biết nó là huyễn. Do vậy,
có thể thấy: Trước hết, ắt phải ngộ
bản tánh Như Như bất động th́ mới có thể
chẳng giữ lấy tướng. Đấy là lư do
trước đó đă nói hai câu kinh văn “bất thủ
ư tướng, Như Như bất động”, làm
nhân quả cho nhau, phải nên dụng công lẫn nhau, chớ
nên chỉ cho rằng câu “bất thủ” là công phu tu tập,
câu Như Như là hiệu quả thành tựu!
Nói cách
khác, không chỉ hăy nên hướng về “chẳng giữ
lấy” để kiên tŕ, mà c̣n phải hướng về
Như Như để giác chiếu. Hơn nữa, giác chiếu
là tiền phương tiện của kiên tŕ; tức là muốn
kiên tŕ chẳng giữ lấy, ắt trước hết
phải nên tu giác chiếu. Nếu không, vô minh chưa đoạn,
há có thể kiên tŕ? Do đó, kinh Viên Giác nói: “Nhất thiết
Bồ Tát cập mạt thế chúng sanh, tiên đoạn vô
thỉ luân hồi căn bản” (hết thảy Bồ
Tát và chúng sanh đời Mạt, trước hết hăy
đoạn căn bản luân hồi từ vô thỉ).
Căn bản của luân hồi chính là vô minh, ngă kiến.
Như vậy th́ đoạn như thế nào? Trước
đó đă chẳng dẫn kinh Viên Giác đấy ư? “Nhất
thiết Như Lai bổn khởi nhân địa, giai y viên
chiếu thanh tịnh giác tướng, vĩnh đoạn
vô minh, phương thành Phật đạo” (hết thảy
Như Lai khởi đầu tu nhân đều nương
theo giác tướng thanh tịnh viên chiếu để
vĩnh viễn đoạn vô minh th́ mới thành Phật
đạo). Điều này có cùng ư nghĩa với đoạn
kinh Lăng Nghiêm đă dẫn “tiên dĩ trực tâm chánh
niệm Chân Như” (trước hết nên dùng trực
tâm để chánh niệm Chân Như).
Ví như thoạt đầu
do vô tri, lầm coi bạn ác là kẻ tâm phúc, nay đă biết
hắn ác, muốn đoạn giao với hắn, nhưng
do có mối quan hệ lâu ngày, chưa thể cắt đứt
ngay được, phải trước hết gây bất
ḥa với hắn, sau đó mới có thể đoạn tuyệt!
Ở đây cũng giống như thế. Từ vô thỉ
tới nay, lầm nhận vô minh huyễn thức là chân tâm,
quan hệ chặt chẽ, lâu dài! Nay đă hoàn toàn vỡ lẽ, đại
ngộ nó là sai trái, nếu chẳng liền nhanh chóng quay
đầu, nhận biết chuẩn xác tự tánh thanh tịnh,
mau chóng tiếp cận, tức là vẫn xen lộn với vô
minh. V́ thế, giác tướng viên chiếu chính là trực
tâm chánh niệm Chân Như, sẽ là tiếp cận chân tâm, mà tiếp cận
chân tâm th́ sẽ bất
ḥa với vô minh. Như thế th́ mới mong vĩnh viễn
đoạn vô minh được!
Do vậy, công phu khẩn yếu
hoàn toàn thuộc trong hai chữ Viên Chiếu. Viên Chiếu là
ǵ? Ngay trong lúc như thế ấy, nhất tâm trạm tịch,
vằng vặc phân minh. Đó gọi là Chiếu. “Viên”
là chẳng dốc sức, chẳng phải là không dốc sức,
chẳng ch́m, chẳng nổi, sáng ngời như vầng
trăng tṛn riêng chiếu. Khi ấy, một niệm chưa dấy lên, thanh tịnh
khôn sánh, trọn khắp cái Thể thanh lương. Đó
là diện mục vốn sẵn có. Mới học th́ chẳng
có định lực. Trong một sát-na, niệm sau lại
dấy lên. Chỉ cần dấy khởi giác chiếu, sẽ
giống như cái cân, đầu này nâng lên th́
đầu kia hạ xuống, lại thanh tịnh. Chú trọng
sao cho miên mật, chẳng gián đoạn, khiến cho nó
liên tục. Lâu ngày, sẽ có thể nhập Định. C̣n
như toàn thể Như Như bất động, há dễ
ǵ liền có thể cấp tốc hiển lộ trọn vẹn
ư? Nhưng dụng công như thế, sẽ tùy thuận
tiến nhập. Hai câu trong kinh này chính là ư nghĩa đó.
Không chỉ nên kiên tŕ hướng đến “chẳng giữ
lấy”, mà c̣n phải hướng đến Như
Như để giác chiếu. Khẩn yếu lắm đấy!
Nay lại dẫn kinh Viên Giác
để chứng minh ư nghĩa “bản tánh giác chiếu
có thể trừ vô minh”. Kinh dạy: “Ư vô sanh trung,
vọng kiến sanh diệt” (trong vô sanh, hư vọng
thấy sanh diệt). Đấy là nói tự tánh vốn sẵn
bất sanh. Vốn sẵn bất sanh chính là vốn sẵn
bất động. Sanh diệt tức là nói đến vô
minh, ư nói: Trong tự tánh, vốn chẳng có vô minh. Nói “có
vô minh” là do vọng
kiến. Như thế th́ nay biết bản tánh thanh tịnh
giác chiếu; đó là chánh kiến. Tà, chánh chẳng cùng tồn
tại. Chánh kiến hưng khởi, vọng kiến sẽ
trừ. V́ thế, kinh ấy lại nói: “Như Lai nhân
địa tu Viên Giác giả, tri thị không hoa, tức vô
luân chuyển, diệc vô thân tâm thọ bỉ sanh tử. Phi
tác cố vô, bản tánh vô cố” (Nơi nhân địa,
Như Lai tu Viên Giác, biết là hoa đốm trên không, liền
chẳng có luân chuyển, cũng chẳng có thân tâm nhận
chịu sanh tử. Do chẳng làm, nên không có, v́ bản tánh
chẳng có). Sanh tử chính là sanh diệt. Đấy là nói
tự tánh vốn bất sanh, cho nên cũng bất diệt.
V́ thế nói “bản tánh chẳng có”, cũng chính là chẳng
có thân tâm để tiếp nhận sanh tử, do bản
tánh vốn chẳng có sanh diệt, trọn chẳng phải
là tạo tác khiến cho chẳng có. Do vậy, hăy nên phát tâm
giác chiếu “tánh vốn chẳng sanh”.
V́ thế
nói “nhân địa tu Viên Giác”, “nhân địa” là nói về
lúc phát tâm tu hành. Chữ Tu là nói đến giác chiếu. Viên
Giác là nói “tánh vốn chẳng sanh”. Tu như thế, sẽ
biết hết thảy huyễn tướng sanh diệt,
đều là hoa đốm trên hư không, Có tức là chẳng
phải Có. Đă biết như thế, sẽ chẳng bị
chuyển. Chẳng chuyển tức là bất động.
Do vậy nói “tri thị không hoa, tức vô luân chuyển” (biết
là hoa đốm trên hư không sẽ chẳng bị luân chuyển).
Hai câu ấy có cùng nghĩa với “tri huyễn tức ly”
(biết huyễn liền ĺa). Đă biết huyễn liền
ĺa, cho nên cũng chẳng có thân tâm để tiếp nhận
sanh tử, tức là pháp tánh Như Như. Nh́n gộp chung
các phần kinh văn đă dẫn trên đây, sẽ có thể
hiểu rơ: Trực tiếp hướng đến chỗ “vốn
bất sanh” để giác chiếu chính là diệu pháp
để trừ vô minh vậy!
Thế
nào là “chỗ vốn bất sanh”? Tức là khi chưa dấy niệm, bèn giác
chiếu. Niệm c̣n chưa dấy lên, sao gọi là tướng?
Sao lại có giữ lấy? Nếu thật sự có thể
[giác chiếu] miên mật, chẳng gián đoạn như thế,
sẽ tự nắm chắc “chẳng giữ lấy”. Nói
chung, một mặt hướng về chỗ bất động,
nhiếp tâm giác chiếu nhằm thành tựu “chẳng giữ
lấy”. Mặt khác th́ khi gặp duyên, bèn kiên tŕ “chẳng
giữ lấy” ḥng viên măn sự bất động ấy,
ngơ hầu tánh thể Như Như có chỗ tiến nhập.
Kinh Lăng Nghiêm cũng nói giống như vậy, như
nói: “Chư tu hành nhân, bất năng đắc thành Vô
Thượng Bồ Đề, năi chí biệt thành Thanh
Văn, Duyên Giác, cập ma quyến thuộc, giai do bất
tri nhị chủng căn bản, thác loạn tu tập. Vân
hà nhị chủng? Nhất giả, vô thỉ sanh tử
căn bản, tắc nhữ kim giả, dữ chư chúng
sanh, dụng phan duyên tâm vi tự tánh giả. Nhị giả,
vô thỉ Bồ Đề Niết Bàn, nguyên thanh tịnh thể,
tắc nhữ kim giả, thức tinh nguyên minh, năng sanh
chư duyên. Duyên sở di giả, do chư chúng sanh khiển
thử bổn minh, tuy chung nhật hành, nhi bất
tự giác, uổng nhập chư thú” (Những
người tu hành chẳng thể được thành Vô
Thượng Bồ Đề, cho đến chẳng thành
Thanh Văn, Duyên Giác, mà thành quyến thuộc ma, đều
do chẳng biết hai loại căn bản, lầm loạn
tu tập. Thế nào là hai loại? Một là căn bản
sanh tử từ vô thỉ, cho nên ông và các chúng sanh dùng cái tâm
phan duyên, ngỡ là tự tánh. Hai là Bồ Đề Niết
Bàn từ vô thỉ vốn là cái thể thanh tịnh,
nhưng nay ông do thức tinh nguyên minh[5]
có thể sanh ra các duyên, nhưng [cái thức ấy] chẳng
thể nhận biết chân tánh, là do các chúng sanh đă
đánh mất sự sáng suốt sẵn có, cho nên tuy suốt
ngày vận dụng [tác dụng của chân tánh] mà chẳng tự
hiểu biết, oan uổng vào trong các đường).
Ở
đây nói cái tâm phan duyên, tức là cái tâm bất giác vọng
động. Từ “nguyên minh tịnh thể” cho đến
“duyên sở di giả” chính là nói tới bản tánh
Như Như bất động. Kinh ấy lại dạy:
“Vân hà nhữ kim dĩ động vi thân, dĩ động
vi cảnh. Tùng thỉ kịp chung, niệm niệm sanh diệt,
di thất chân tánh, điên đảo hành sự, tánh tâm thất
chân, nhận vật vi kỷ, luân hồi thị trung, tự
thủ lưu chuyển” (Cớ sao nay ông lấy động
làm thân, lấy động làm cảnh? Từ đầu cho
đến cuối, sanh diệt trong mỗi niệm, bỏ
sót mất chân tánh, xử sự điên đảo, tánh tâm mất
lẽ thật, ngỡ vật là chính ḿnh, luân hồi trong ấy,
tự giữ lấy sự lưu chuyển). Đoạn
này nói càng rơ ràng: Tức là khi sơ phát tâm, hăy nên phân biệt
chân vọng, hướng thẳng về chỗ vốn bất
động để giác chiếu, chẳng đến nỗi
bỏ sót sự sáng suốt sẵn có, oan uổng vào trong
các đường, tự giữ lấy sự lưu chuyển.
Hăy nên biết:
Giác chiếu như thế cũng cần phải nhiếp
tâm. Nhiếp tâm cũng chẳng phải là vô niệm, mà
cũng chẳng phải là rốt ráo vô tướng, hay chẳng
giữ lấy, nhưng phàm phu chẳng nhờ vào đấy,
sẽ chẳng có chỗ để thực hiện [tu tập].
Đó gọi là pháp môn “dùng huyễn trừ huyễn”.
Do pháp này tuy cũng là huyễn, nhưng tùy thuận Chân
Như. Do cái tâm tu nhân chẳng giống những cách “động
niệm, giữ lấy tướng” khác, cho nên đạt
được cái quả khác biệt rất lớn!
Hơn nữa, pháp này bất quá là phương tiện
để khởi đầu thực hiện, tuy là pháp môn
tùy thuận Chân Như, nhưng năng chiếu và sở chiếu
cũng sẽ thuận theo từng bước [tu tập]
mà trừ sạch. Đó gọi là “có giác, có chiếu th́
đều gọi là chướng ngại”. V́ thế, ắt
phải ĺa rồi lại ĺa, đạt đến “không
có ǵ để ĺa” th́ mới trừ các huyễn. Hăy nên
biết như thế!
Nói chung, “Như
Như bất động” chính là nghĩa bất sanh. “Chẳng
giữ lấy tướng” tức là nghĩa vô trụ.
Trước hết, cần phải giác chiếu “vốn bất
sanh” th́ mới có thể vô trụ. C̣n như “chẳng trụ
vào đâu” bèn chứng Vô Sanh, dụng công lẫn nhau; đó
là môn trọng yếu. Hơn nữa, dụng công như thế,
sẽ quán triệt cho tới cùng. Từ lúc mới khởi
sự tu tập, cho đến [đạt tới các địa
vị] Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Địa,
Đẳng Giác, Diệu Giác, đều chẳng ngoài điều
này. V́ thế nói: “Ly nhất thiết chư tướng,
tắc danh chư Phật” (ĺa hết thảy các tướng
th́ gọi là chư Phật), “nhất thiết chư Phật
tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật từ
kinh này mà ra). Trên đây đă đặc biệt dẫn hai
kinh Lăng Nghiêm và Viên Giác để chứng minh nghĩa ấy,
cũng đủ thấy pháp A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề đều từ kinh này mà ra!
Tiến
hơn bước nữa! Kinh này lấy “vô trụ phá
ngă” làm ư chỉ trọng yếu. Có thể thấy toàn bộ
bản kinh đều nhằm nói rơ nghĩa “muốn phá
vô minh, hăy đừng nên giữ lấy tướng”. Nửa
bộ sau nói “các pháp nhất như”, nói “hết thảy
đều đúng” v.v… chính là diễn tả rơ rệt
nghĩa “Như Như bất động”, ḥng khiến
cho [người nghe] thông đạt pháp vô ngă, mà nói là “thông
đạt” th́ trước hết dạy khai tri kiến
của Phật. Từ đấy trở đi, lại giảng
thông suốt nghĩa “duyên sanh tánh Không”. Khoa này đă
dùng hai câu “bất thủ ư tướng” (chẳng
giữ lấy tướng) để khai thị người
học hăy nên giác chiếu bản tánh Như Như bất
động. Khoa sau lại khai thị dùng quán pháp duyên sanh,
phù hợp khít khao với nửa bộ sau thuộc phần
Chánh Tông: Trước là nêu rơ Như Như, sau là nói “có
cùng một nghĩa thú với duyên sanh”. Đó chính là chỉ
ra ư chỉ trọng yếu của cả bộ kinh thuộc
nửa bộ sau.
Người diễn
thuyết nếu chẳng thông đạt ư nghĩa trong nửa
bộ sau, sẽ chẳng nắm được yếu
lănh của nửa bộ đầu. Người thọ
tŕ mà nếu chẳng biết nhập quán như nửa bộ
sau đă nói, cũng lại chẳng nắm được
yếu lănh (cương lănh chủ yếu)! Đấy là ư
chỉ sâu xa của đức Thế Tôn, hăy nên tột bậc
thấu hiểu. Cho đến khoa này, lại dạy giác
chiếu bản tánh, khoa sau dạy quán pháp duyên sanh, càng thiện
xảo hơn nữa, càng then chốt hơn nữa. Đấy
chính là Phật tri, Phật kiến, học nhân phải gấp
nên thông đạt như thế. Bởi lẽ, phàm phu toàn
thể là vô minh. Tuy nói là “giác chiếu bản tánh”,
nhưng diện mục của bản tánh ẩn kín đă
lâu, không ǵ chẳng phải là vô minh đen kịt mà thôi! Vậy
th́ làm thế nào đây? Nay khai thị rằng: “Hăy nên
trước hết quán các pháp duyên sanh để làm
phương tiện”. V́ thế, khoa sau bèn kết luận
rằng “ưng tác như thị quán”, ư nói: Phải nên
quán như thế. V́ sao vậy? Quán các pháp duyên sanh tức
là quán tướng Không của các pháp. Nếu khi tướng
đă là Không, há c̣n giữ lấy ư? Sẽ là Như
Như bất động, há chẳng đáng gọi là “thiện
xảo” ư? Cũng chẳng đáng gọi là “then chốt”
ư? Nghĩa này sẽ được đàm luận cặn
kẽ trong khoa sau.
Chữ Diễn
trong “diễn thuyết” có thâm ư trong ấy. “Diễn”
là diễn dịch (演繹)[6],
ư nói: Nghĩa lư trong kinh u huyền sâu thẳm, người
nói kinh bèn vạch trần chỗ vi tế, nêu tỏ chỗ
ẩn tàng, trích dẫn rộng răi để tuyên
dương, cốt sao nghĩa lư được nêu bày cặn
kẽ, thông suốt, th́ mới chẳng uổng công nói vậy.
Nói hết thảy các kinh th́ đều phải nên tuân theo
khuôn phép ấy.
2.3.1.2.12. Quán pháp duyên sanh
(Kinh) Hà dĩ cố? Nhất
thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh,
như lộ, diệc như điện, ưng tác như
thị quán.
(經)何以故?一切有為法,如夢幻泡影,如露亦如電,應作如是觀。
(Kinh:
V́ sao vậy? Hết thảy pháp hữu vi, như mộng,
huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như chớp,
hăy nên quán như thế).
“Hà dĩ cố?” là hỏi
nguyên do “chẳng giữ lấy tướng”, nguyên do
có hai nghĩa như sau:
1) V́ sao chẳng
giữ lấy? Ba câu đầu của bài kệ trên đă
đủ để giải đáp.
2) Làm thế
nào để có thể chẳng giữ lấy? Cần phải
dùng trọn bài kệ th́ mới đủ để giải
đáp, nhưng chú trọng vào câu thứ tư. Nay tôi giả
lập một cuộc vấn đáp để nói rơ.
Hỏi: V́ sao
mà chẳng giữ lấy? Đáp: Do hết thảy sự
tướng hữu vi đều là duyên tụ tập bèn
sanh, duyên tán th́ diệt. Biến hóa vô thường, nắm
bắt chẳng được, giống như mộng,
huyễn, bọt nước, h́nh bóng, sương, tia chớp
vậy, tợ hồ là có, nhưng thật sự chẳng
có!
Hỏi: Vậy
th́ làm thế nào để có thể chẳng giữ lấy?
Đáp: Hăy nên đối với hết thảy pháp hữu
vi, coi chúng như mộng, huyễn, bọt nước, h́nh
bóng, sương, tia chớp, biết bản thể của
chúng chính là Không, chẳng sanh tham chấp, sẽ có thể
chẳng giữ lấy!
Do những
điều vừa nói trên đây, ư chỉ chánh yếu của
khoa này đă rơ rồi, nay tôi sẽ lại nói cặn kẽ.
Hăy nên biết Như Như bất động là tánh chân thật,
cũng được gọi là “pháp vô vi bất sanh bất
diệt”. Phần trước đă nói: “Nhất thiết
hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (hết
thảy hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt).
Nay chẳng dạy quán chân tánh Như Như bất động
của pháp vô vi, mà dạy quán huyễn tướng duyên sanh
chẳng thật của pháp hữu vi là v́ sao? Đó là do
đức Thế Tôn biết rơ căn bệnh của phàm
phu, đặc biệt khéo mở ra phương tiện.
Trong ấy, có hai nghĩa trọng yếu:
1) Sở
dĩ phàm phu là phàm phu, chẳng có ǵ khác! Trái nghịch giác,
xuôi theo trần lao, hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu.
V́ sao hướng ra ngoài rong ruổi t́m cầu? Chẳng có
ǵ khác! Do phân biệt huyễn tướng, tham chấp huyễn
tướng đó thôi! Cớ sao phân biệt tham chấp? Chẳng
có ǵ khác! Lầm tưởng hết thảy các pháp hữu
vi là chân thật. Do bởi lẽ đó, càng mê càng sâu, chẳng
chịu quay đầu, vĩnh viễn bị luân chuyển.
V́ thế, nay bước đầu nhập môn, bèn dạy
trước hết hăy quán sâu xa hết thảy pháp hữu
vi như mộng, như huyễn, như bọt nước,
như h́nh bóng, như sương, như tia chớp, không ǵ
chẳng là hư giả, hết thảy đều là Không,
rốt cuộc chẳng đạt được ǵ! Cái
đạt được chỉ duy nhất là mùi vị
đắng cay mà thôi! Hơn nữa, cái khổ ấy vô
cùng, có nói cũng chẳng nói được! Đó gọi
là “vạn ban tương bất khứ, duy hữu nghiệp
tùy thân” (muôn thứ chẳng mang được, chỉ
có nghiệp theo thân). Nếu có thể thường quán
như thế, hiểu rơ lư “đều là Không”, ngơ hầu
chẳng c̣n bị lường gạt nữa, để có
thể tâm ư kiên quyết hồi quang phản chiếu!
Đó là lư do muốn quán chân tánh vô vi, trước hết phải
nên quán huyễn tướng của hữu vi. Đấy là
nghĩa trọng yếu thứ nhất, ắt phải nên
hiểu rơ!
2) Tánh quang của
hết thảy phàm phu đă sớm bị vô minh ẩn lấp,
giống như vầng mặt trời sáng rực, trọn
bị mây đen che phủ, ánh sáng hoàn toàn tăm tối, chẳng
thấy vầng thái dương nữa. Ở đây
cũng giống như thế, vọng niệm lăng
xăng, chưa từng tạm dừng. Nay muốn quán, mà
năng quán (cái tâm quán) và sở quán (đối tượng
được quán) không ǵ chẳng phải là vô minh, vọng
thức, sao có thể quán thấy bản tánh cho được?
Điều này chẳng khác ǵ mây đen đầy trời,
chẳng thấy ánh sáng mặt trời, nh́n tới, nh́n lui,
không ǵ chẳng là tướng tối tăm, rối ren;
đấy là một đạo lư. V́ thế, kinh Viên Giác
nói: “Dĩ luân hồi tâm, sanh luân hồi kiến, nhập
ư Như Lai đại tịch diệt hải, chung bất
năng chí” (dùng cái tâm luân hồi để sanh kiến
chấp luân hồi, vào trong biển đại tịch diệt
của Như Lai, trọn chẳng thể đến
được).
“Luân hồi” có nghĩa là
sanh diệt. “Tịch” là chẳng có âm thanh, ư nói: Chân
Như chẳng thể dùng ngôn từ để diễn tả.
“Diệt” là vô h́nh, tức là Chân Như chẳng thể
dùng h́nh tướng để hiển lộ được!
Theo chiều dọc tột cùng ba đời, theo chiều
ngang trọn khắp mười phương, cho nên nói là
Đại. Thể trọn đủ vạn đức, Dụng
bao gồm vạn hữu, bèn nói là Hải (biển). “Như
Lai đại tịch diệt hải” chính là bản tánh
Như Như bất động. Phàm phu đáng
thương toàn là cái tâm sanh diệt, dẫu phát tâm tác quán,
vẫn là cái thấy sanh diệt. Nay muốn dùng cái tâm sanh
diệt và cái thấy sanh diệt ấy để quán tánh hải
viên giác bất sanh diệt, sẽ là hoàn toàn trái ngược.
V́ thế nói “bất năng chí”. “Bất năng chí” là
nói muốn đi về phương Bắc mà bánh xe lại
xoay về phía Nam!
Như vậy
th́ người tu Viên Giác muốn giác chiếu tánh Như
Như bất động, há chẳng phải là trọn chẳng
có chỗ thực hiện ư? Nay đức Thế Tôn
đại từ bèn bảo rằng: “Đừng lo, có diệu
pháp”. Pháp ấy như thế nào? Hăy nên quán các pháp là duyên
sanh, sẽ tự có chỗ tiến nhập. Ư ấy chẳng
khác nói: Thoạt đầu, chẳng cần cưỡng ép
dứt bặt vọng niệm. Tuy muốn dứt, cũng
chẳng thể được! Nhưng hăy nên hướng
về hết thảy pháp hữu vi có tạo tác, có đối
đăi để quan sát nó biến hóa, vô thường, giống
như mộng, huyễn, bọt nước, h́nh bóng,
sương, tia chớp, khiến cho cái tâm hiểu rơ: Hết
thảy các pháp bất quá khi duyên tụ hội bèn hiện hữu,
phát sanh huyễn tướng, thật ra, sanh chính là vô sanh. Từ
đấy có thể biết: Bề ngoài tuy là muôn h́nh tượng
la liệt, nhưng rốt cuộc bên trong chẳng có chi hết!
Bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào, hăy nên quán sát,
giác chiếu như thế, sẽ có công đức chẳng
thể nghĩ bàn!
Công đức
chẳng thể nghĩ bàn là ǵ? Hăy nên biết: Quán lư “các
pháp duyên sanh”, nếu lănh hội “bản thể của
hết thảy các pháp là Không”, sẽ có thể khế nhập
tướng Không của các pháp. Tướng Không do tự
tánh hiển lộ. V́ sao vậy? Tướng Hữu th́ các
pháp sai biệt muôn ngàn, tướng Không th́ các pháp nhất
như. Các pháp nhất như chính là do tánh quang hiển hiện.
Tánh quang hiển hiện tức là vô minh đă “minh”
(sáng suốt). Tuy vô minh chưa chắc đă nhanh chóng đoạn
sạch, chưa chắc đă nhanh chóng ngầm hợp với
Như Như bất động, nhưng Trí và Lư đă ngầm
hợp, thật sự dựa vào điều này. V́ sao vậy?
Vọng niệm từ ngày nay trở đi mỏng dần.
Đối cảnh, gặp duyên, chẳng dễ bị chúng
xoay chuyển. Do vậy nói rằng: Quán các pháp duyên sanh, chẳng
khác quán tướng Không của các pháp. Quán tướng
Không của các pháp chẳng khác quán Như Như bất
động. Nói cách khác, quán pháp hữu vi sanh diệt như
mộng, như huyễn, sẽ bất tri, bất giác dẫn
nhập pháp vô vi bất sanh bất diệt, công đức
há có thể nghĩ bàn ư? Đây là nghĩa trọng yếu
thứ hai, chúng ta phải nên hiểu rơ vậy!
Gộp chung
hai nghĩa trọng yếu trên đây, có thể thấy
quán như thế ví như dùng cần trục [để
nâng vật nặng], bốn lạng đánh bạt ngàn cân,
chẳng tốn sức mảy may. Nhẹ nhàng, khéo léo, vén
mây mù mà thấy trời xanh, thật sự là phương
tiện thiện xảo! Bất Huệ kể từ khi học
Phật tới nay, hai mươi năm trước, tuy tu
đủ loại pháp, đủ loại tác quán, chẳng hề
có tiến bộ mảy may! Một hôm, đối với bốn
câu kệ này, bỗng có chút ngộ, nương theo đấy
để tu Quán, thoạt đầu cũng dường
như “tức”, dường như ĺa, dường như
hiểu rơ, có lúc mờ mịt, chưa thành khối
được, trọn chẳng có công hiệu cho lắm.
Kế đó, ngộ ra phải nên trong hết thảy các cảnh
duyên mà cực lực tác ư quán sát, dẫu chuyện cực
nhỏ, hoặc cực thuận ḷng, hoặc lúc tột bậc
trái ư, đều dùng đạo lư “như mộng, như
huyễn” v.v… để ấn chứng. Ngay cả tu tŕ
Phật pháp, cũng dùng đạo lư “như mộng,
như huyễn” v.v… để ấn chứng. Đi,
đứng, nằm, ngồi, chẳng ĺa lư này. [Hành tŕ] thật
lâu như thế, tuy công phu “chẳng giữ lấy
tướng, Như Như bất động” c̣n nông cạn,
nhưng thật sự kể từ khi tác quán như thế,
cái tâm dần dần cảm thấy rỗng rang, đối
với hết thảy các cảnh tướng, đă dần
dần có thể bất động. Khi xem kinh, tầm mắt
cảm thấy thông thoáng. Khi niệm Phật, cũng cảm
thấy là thực tiễn. Nay tôi xin các vị hăy thử
xem, ắt sẽ có thọ dụng. Hăy nên biết: Phàm phu lè
tè sát đất muốn hồi quang phản chiếu mà bỏ
cách này, sẽ không có chỗ nào để thực hiện,
xin hăy trân trọng!
Nay tôi tổng
hợp ư nghĩa của khoa này và khoa trên đây để
diễn nói: Đoạn trước nói “Như Như bất
động” là nói tánh thể viên măn hiển hiện. Luận
đến rốt ráo, cần phải đạt tới
địa vị Phật, th́ mới có thể thực hiện
viên măn. Từ Sơ Trụ trở lên, bất quá là hiện
từng phần. V́ thế bảo là Phần Chứng Giác. Nếu
là người thuộc Tín vị (các địa vị thuộc
Thập Tín), chỉ có thể phảng phất. Đó
được gọi là Tương Tự Giác. V́ thế,
người xưa có người giải thích chữ
Như đầu tiên (tức chữ Như thứ nhất
trong Như Như bất động) là “tương tự”.
Nhưng ư nghĩa của câu kinh “Như Như bất
động” là sơ phát tâm cho đến rốt ráo quán
triệt đến tận cùng. V́ thế, chớ nên ngây ngốc
giải thích [chữ Như thứ nhất] là “tương
tự”. Hăy nên giải thích là Chân Như, th́ sẽ có thể
nhiếp trọn hết thảy. Bất luận
tương tự mà hiện, hay phần chứng mà hiện,
cho tới viên măn hiển hiện, đều do “chẳng
giữ lấy tướng” mà có. V́ thế, chữ
Tướng, hay chữ Bất Thủ, ư nghĩa cũng
đều là bao gồm sâu rộng, quán triệt đến
tận cùng! Tướng th́ chẳng luận Không, Hữu,
cũng như “đôi bên cùng có”, “đôi bên cùng không”, đều
được thâu nhiếp trong ấy. Tổng tướng
th́ là ngă chấp và pháp chấp. Đối với các tướng
ấy, hết thảy chẳng chấp, chính là “chẳng
giữ lấy”. Hơn nữa, ngay cả “chẳng giữ
lấy” cũng lại chẳng giữ lấy! Tức
là ngay cả Ĺa cũng ĺa, đạt được “không
có ǵ để ĺa”, tức là trừ các huyễn. Như
vậy th́ tánh thể Như Như bất động sẽ
hoàn toàn phô bày!
Nhưng
phương pháp để thực hiện th́ cần phải
giác chiếu khi chưa khởi tâm động niệm, tức
là quán bản tánh của Như Như bất động.
Đấy chính là ư nghĩa dùng bất sanh bất diệt
làm cái gốc để tu nhân trong kinh Lăng Nghiêm. Đó cũng
gọi là ư nghĩa “nương vào tánh vốn Tịch
để tu Chỉ, sau đó sẽ đắc Định.
Nương vào tánh vốn Chiếu để tu Quán, sau
đó sẽ đắc Huệ”. Nếu chẳng biết
thực hiện từ chỗ này, sẽ là tu tập lầm
loạn, tu mù luyện đui, ví như nấu cát thành
cơm, vĩnh viễn chẳng thể thành!
Tuy sơ học
hoàn toàn là vô minh, quán chẳng thấy được,
nhưng ắt phải nên hiểu sâu lư này, siêng năng chiếu
trọn. Như phần trước đă nói “niệm
trước đă diệt, niệm sau chưa sanh, chính ngay
trong lúc đó, nhất tâm trạm tịch rành rẽ, rơ
ràng”, đó gọi là Chiếu. “Viên” là chẳng phải
dốc sức, chẳng phải không dốc sức, chẳng
ch́m, chẳng nổi. Đây chính là một tia huệ quang,
là phương tiện tối sơ để biết huyễn
liền ĺa. Mặt khác lại vâng theo bài kệ này, quán hết
thảy các pháp đều như mộng, huyễn, bọt
nước, h́nh bóng, sương, tia chớp, duyên sanh chính
là Không. Đấy lại càng là phương tiện nhất
trong các phương tiện, đó gọi là “biết huyễn”
vậy. Tốt nhất là hai thứ cùng kiêm tu!
Do hai cách ấy,
giúp lẫn nhau thành tựu. Bởi lẽ, giác chiếu bản
tánh chính là dụng công nơi cội nguồn. Quán hết thảy
các pháp chính là dụng công nơi cảnh duyên. Lại nữa,
phép Quán trước phần nhiều có nghĩa là tu Định,
phép Quán sau phần nhiều có nghĩa là tu Huệ. Định
cố nhiên có thể sanh ra Huệ, nhưng nếu chẳng
khai Huệ trước th́ Định cũng chẳng thể
thành. V́ thế, trong hỗ trợ, duyên sanh quán càng trọng
yếu hơn. Do quán tưởng duyên sanh, sẽ có thể
dẫn nhập Như Như bất động. Nghĩa ấy
trong phần trước đă nói tường tận rồi!
Hăy thử
nghĩ câu “ưng tác như thị quán” (hăy nên quán
như thế), có ư nghĩa “hết sức chẳng thể
không làm điều này”, khẩn thiết dường
nào? Chữ Tác khẩn yếu, hàm ư phải nên mười
phần tác ư để quán vậy! Đức Phật nói
kinh này vốn v́ hàng phàm phu phát đại tâm mà nói. Hai câu kệ
này chính là chỉ dạy hàng phàm phu đại tâm chỗ thực
hiện để dụng công. V́ thế, hai phép Quán trước
và sau cần phải chú trọng miên mật, thay đổi
nhau mà hành. Hành lâu ngày, ắt sẽ có chỗ đạt
được!
Hai chữ
Như Thị cố nhiên là nói “như mộng, như huyễn”
v.v… trong phần kinh văn trước đó. Cần phải
biết: Như mộng, như huyễn chính là nói tướng
của pháp vốn Không, cũng chính là nói “tánh của các
pháp nhất như”. Có thể thấy nói “như thị”
quả thật chứa đựng ư vị “nhất
như, đều là”. Do vậy, quán các pháp duyên sanh, sẽ
liền có thể khế nhập Như Như bất động.
Như vậy th́ thực hiện phép Quán này, sẽ có thể
tiến lên đến cùng, thấy thấu triệt bản
tánh. Do đó nói “ưng tác như thị quán” (hăy nên nói
như thế), sẽ giống như nói “quán hết thảy
các pháp như mộng, như huyễn”, tức quán [các
pháp hữu vi] đều nhất như, đều chính là.
V́ vậy, hăy nên quán. [Đức Phật đă] ra rả
khai thị, há có nên xem thường, đọc lướt
qua ư?
“Pháp hữu
vi”
chẳng phải chỉ là pháp thế gian, mà Phật pháp
cũng được bao gồm trong ấy. V́ thế nói “nhất
thiết” (hết thảy). Kinh Viên Giác dạy: “Sanh tử,
Niết Bàn do như tạc mộng. Vô khởi, vô diệt,
vô lai, vô khứ. Kỳ sở chứng giả, vô đắc,
vô thất, vô thủ, vô xả. Kỳ năng chứng giả,
vô tác, vô chỉ, vô nhậm, vô diệt. Ư thử chứng
trung, vô năng, vô sở, tất cánh vô chứng, diệc vô
chứng giả, nhất thiết pháp tánh, b́nh đẳng
vô hoại” (sanh tử, Niết Bàn giống như giấc
mộng hôm qua. Chẳng khởi, chẳng diệt, chẳng
đến, chẳng đi. Cái được chứng th́
chẳng được, chẳng mất, chẳng lấy,
chẳng bỏ. Cái có thể chứng th́ chẳng làm, chẳng
dứt, chẳng tùy ư, chẳng diệt. Trong sự chứng
ấy, chẳng có Năng, chẳng có Sở, rốt ráo chẳng
chứng, cũng không có người chứng, tánh của hết
thảy các pháp b́nh đẳng, chẳng hoại). Trong ấy,
xem hết thảy giống như mộng, huyễn rỗng
không. Đó được gọi là “tướng Không của
các pháp”, tức là ư nghĩa “chẳng giữ lấy
tướng”, cũng chính là chỉ dạy “quán hết
thảy như mộng, huyễn mà rỗng không, sẽ khế
nhập Như Như bất động”. V́ thế, kết
lại rằng: “Nhất thiết pháp tánh, b́nh đẳng
bất hoại” (tánh của hết thảy các pháp b́nh
đẳng bất hoại). B́nh đẳng chính là Như
Như, “bất hoại” tức là bất động.
V́ thế, đoạn kinh Viên Giác vừa mới được
trích dẫn ấy chính là lời chú giải cho hai câu kệ
trong kinh này.
Nói chung, bất
luận nhiễm pháp hay tịnh pháp, hễ đă có pháp ấy,
bèn có đối đăi. Đă thành đối đăi, sẽ
là hữu vi, sẽ có sanh diệt. V́ thế, đều là
như mộng, như huyễn, nhưng muốn chứng
pháp vô vi dứt bặt đối đăi, mà chẳng khởi
tu từ pháp hữu vi đối đăi, sẽ chẳng thể
được! V́ bỏ pháp này, sẽ chẳng c̣n có chỗ
để thực hiện được! Không chỉ quán
duyên sanh là pháp hữu vi; ngay cả giác chiếu bản tánh
cũng là pháp hữu vi. V́ sao vậy? Giác chiếu tức là
quán. Đă có năng quán (chủ thể có thể quán) và sở
quán (đối tượng bị quán), liền trở
thành đối đăi. Do có đối đăi, liền có
tướng, liền rơi vào hữu vi. Những điều
được nói trong kinh này đều là pháp vô vi. Lại
c̣n nói rơ ràng: “Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi
pháp nhi hữu sai biệt” (Hết thảy hiền thánh
đều do pháp vô vi mà có sai biệt). Nay khi khai thị, diễn
nói, thọ tŕ, bèn dạy hăy nên quán pháp hữu vi. Đấy
là điểm then chốt lớn nhất trong ư chỉ của
kinh, cũng chính là then chốt khẩn yếu trong học
Phật. Hăy nên biết “vô vi” chính là nói “vô sở tác
vi” (không có ǵ được thực hiện, [hiểu
theo nghĩa] dẫu làm mà chẳng chấp, chứ chẳng
phải là hoàn toàn không làm ǵ!) Nếu không làm ǵ cả, sao có
thể trừ vọng? Sao có thể chứng chân? Sao có thể
chuyển phàm? Sao có thể thành thánh? V́ thế, pháp vô vi cần
phải thực hiện từ pháp hữu vi; do đó nói “ưng
tác” (hăy nên làm). Chữ Tác hữu lực, đó là
nghĩa trọng yếu thứ nhất phải nên hiểu
rơ. Do vậy, pháp vô vi là mục đích, nhờ vào pháp hữu
vi để làm đường nẻo.
Nếu chỉ
công nhận vô vi, coi thường, vứt bỏ hữu vi,
th́ chính là tự tuyệt. Nếu chấp hữu vi, chẳng
biết vô vi, lại là tự vạch giới hạn.
Trường hợp trước gọi là “chấp tánh
phế tu”. Trường hợp sau là “chấp Sự
mê muội Lư”. Đó là nghĩa trọng yếu thứ
hai phải nên hiểu rơ.
Tu pháp hữu
vi mà chẳng chấp; đó là “vô vi”. Trừ điều
này ra, chẳng có ǵ khác gọi là “pháp vô vi”. Do vậy,
phần mở đầu kinh này liền nói “thật sự
chẳng có chúng sanh được diệt độ”
phát xuất từ “hăy nên độ trọn hết chúng
sanh”. “Chẳng trụ nơi pháp” hăy nên phát xuất
từ hành bố thí. Từ đó trở đi, chỉ thú của
kinh không ǵ chẳng là như thế. “Độ chúng sanh,
hành bố thí” là pháp hữu vi. “Chẳng diệt độ,
chẳng trụ pháp” là pháp vô vi. Cách làm như thế,
chính là dính dáng Hữu mà chẳng trụ Hữu, quán Không mà
chẳng trụ Không. Dẫu suốt ngày hành Lục Độ
vạn hạnh, suốt ngày giảng kinh, thuyết pháp, mà
thật sự là suốt ngày Niết Bàn!
Do vậy có thể
biết: Chẳng giữ lấy pháp, hăy nên thực hiện
từ chẳng giữ lấy phi pháp. “Tức phi” hăy
nên thực hiện từ “thị danh”. “Chẳng chấp
trước” hăy nên thực hiện từ “chẳng
đoạn diệt”. Vô thật hăy nên thực hiện từ
vô hư. Cho tới “chẳng thánh, chẳng phàm”, liền từ
“có thánh, có phàm” mà thấy. “Chẳng một, chẳng khác” liền
thấy từ “một, khác”. Chẳng đến, chẳng
đi thấy từ đến, đi. Đó gọi là các
pháp nhất như, là pháp b́nh đẳng. Cho tới bất
sanh bất diệt sẽ từ sanh diệt mà thấy.
Nghĩa này chính là “tuy sanh diệt nhưng thật sự
chẳng sanh diệt, tuy chẳng sanh diệt mà thị hiện
có sanh diệt”. Đó gọi là “chẳng trụ sanh tử,
chẳng trụ Niết Bàn”. Ư chỉ Vô Trụ do vậy
được rốt ráo viên măn!
Nhưng điều
then chốt ở quán pháp duyên sanh như mộng, như huyễn,
hiểu rơ chúng đều là Không; do vậy, vô trụ. V́ thế,
phương tiện trọng yếu nhất của người
học là phải nên quán như thế. Quán như thế, tức
là chẳng phế hữu vi, chẳng trở ngại vô vi.
Tự nhiên mà như vậy, giá và chiếu đồng thời.
Từ Trung mà khế nhập biển tánh viên giác Như
Như bất động! Một bộ kinh điển rất
sâu, quy vào bốn câu kệ tột bậc b́nh đạm, tột
bậc thân thiết. Hết thảy chúng sanh, bất luận
lợi căn hay độn căn, đều có thể tùy
thuận mà vào. Đó gọi là diệu pháp vô thượng
quá sâu, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ. Đó
được gọi là “nghĩa chân thật”.
Điều
này cùng với các chuyện mặc áo, ăn cơm v.v… được
trần thuật trong Tự Phần có cùng một nghĩa vị,
đều là chỉ dạy “đạo chẳng xa
người”, ở ngay trong cuộc sống thường
nhật. Cần phải trong cuộc sống thường nhật,
nh́n thấu suốt, nắm chắc. Thành Phật, thành Bồ
Tát, sẽ ở ngay trong ấy. Tất cả các hạnh
nguyện tự độ, độ người khác v.v...
cho đến các chuyện như lễ Phật, tụng
kinh, hăy nên coi như việc thường ngày, dẫu khốn
đốn, bất an vẫn chẳng ĺa, dẫu [tận tụy]
thực hiện, lại như không làm chuyện ǵ, ngơ hầu
gần với đạo! Do đó, nắm được
bốn câu kệ ấy th́ không chỉ nắm vững toàn bộ
bản kinh, nắm được hết thảy Phật
pháp, mà thành Phật, thành Bồ Tát cũng nắm được.
Đó gọi là “hết thảy chư Phật và pháp A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề của chư Phật
đều từ kinh này mà ra”. Nay mới biết chư
Phật và Phật pháp đều từ quán hết thảy
các pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt nước,
h́nh bóng, sương, chớp v.v… như thế mà ra vậy!
Chúng ta may mắn
đội ân Phật, được truyền trao diệu
pháp này, chỉ có cách nương theo pháp này, thọ tŕ
như thế, diễn nói như thế, khiến cho hết
thảy chúng sanh đều nên quán như thế, đều
chứng đắc Vô Sanh, th́ mới ḥng báo đáp đôi
chút ân của đức Bổn Sư vậy. Tới
đây, đă nói xong phần ư chỉ trọng yếu, c̣n
như các thí dụ mộng, huyễn v.v… ư nghĩa hết sức
tinh vi, hết sức vi tế, hết sức mầu nhiệm.
Do vậy, quán điều này sẽ có thể chứng đạo.
Nay tôi sẽ nói tỉ mỉ [các thí dụ ấy].
Trong kinh Phật,
có nói rất nhiều thí dụ về pháp hữu vi. Ngoài các
thí dụ như mộng, huyễn v.v…, c̣n có thành Càn Thát Bà,
trăng trong nước, cây và cọc[7] dây thừng và con rắn,
hoa đốm trên hư không, sừng thỏ, lông rùa v.v… Ư chỉ
chánh yếu không ǵ chẳng nhằm phô bày lư “vạn pháp
đều là Không” để cảnh cáo phàm phu đừng
tưởng lầm đó là thật, nhằm phá phân biệt,
chấp trước, dẫn họ thoát khỏi chốn mê.
Trong bản dịch kinh Kim Cang đời Ngụy, có nêu ra
chín thí dụ, tức là “nhất thiết hữu vi pháp,
như tinh, ế, đăng, huyễn, lộ, bào, mộng,
điện, vân, ưng tác như thị quán” (hết thảy
các pháp hữu vi, như tinh tú, che lấp, đèn, huyễn,
sương, bọt nước, mộng, tia chớp, mây,
hăy nên quán như thế). Bản dịch đời Tần
nói ước lược thành sáu, tuy ít nhiều khác biệt,
nhưng Lư là một!
Trong sáu thí dụ,
thí dụ về mộng là Tổng. Huyễn, bọt nước,
h́nh bóng, sương, chớp là Biệt, đều nhằm
nói rơ “như mộng”. Kẻ căn tánh tốt đẹp,
vừa nghe thí dụ về mộng, đă có thể hiểu
rơ bản thể của pháp duyên sanh chính là Không. Do sợ có
kẻ chưa liễu giải, nên lại nói năm thí dụ
như huyễn v.v… Nếu hiểu rơ năm thí dụ, sẽ
có thể vỡ lẽ “vạn sự đều quy vào một
giấc mộng”. Nói đến mộng th́ đó là một
pháp duyên sanh. Cổ nhân nói “nhật hữu sở tư, dạ
h́nh chư mộng” (ngày suy nghĩ ǵ, đêm nằm mộng
đó). Những điều suy nghĩ chính là duyên của nằm
mộng, cũng có giấc mộng trọn chẳng suy
nghĩ th́ thế tục nói là “thác triệu” (托兆, điềm
báo trong mộng). Thác triệu cũng là duyên để nhập
mộng. V́ thế, mộng là pháp duyên sanh.
Hễ có duyên,
ắt có nhân. Cái nhân của nằm mộng là ǵ? Chính là ư thức
(c̣n gọi là vọng tâm). Nếu chẳng có cái nhân ấy,
duyên cũng chẳng thể nào gặp được! V́ thế
nói “bậc chí nhân chẳng nằm mộng”, bởi
người có đạo, tuy vọng tâm có thể chưa
đoạn, nhưng ắt đă có thể hàng phục. V́
thế, ít mộng. Do vậy có thể biết: “Nhất
thiết giai duy tâm sở tạo” (hết thảy chỉ
do tâm tạo).
Đáng
thương phàm phu khi mộng cố nhiên là vọng tâm, dẫu
ngay trong lúc được gọi là “tỉnh”, vẫn
toàn là vọng tâm. Bởi lẽ, nói là “tỉnh”,
nhưng vẫn là mộng như cũ! V́ sao vậy? Do
trước nay cứ mê, chưa giác. Nếu đă giác, quyết
chẳng đến nỗi chỉ biết bi, hoan, ly, hợp,
được, mất, cùng quẫn, hanh thông trong mộng
là giả, nhưng lại cho rằng bi, hoan, ly, hợp,
được, mất, cùng quẫn, hanh thông lúc tỉnh là
thật. Cần phải biết: Cái tâm trong khi tỉnh và
cái tâm trong lúc mộng đều hư vọng, chẳng thật!
Do vậy, khi tỉnh th́ đủ loại cảnh ngộ,
hoặc do mưu tính mà thành, hoặc là chuyện ngoài ư muốn,
đều có cùng lư do với [đủ loại cảnh ngộ
mà người nằm mộng sẽ thấy] khi nhập mộng
do ban ngày suy nghĩ, hoặc do thần linh thác triệu!
Nhưng nháy mắt đều là Không, trọn chẳng có ǵ
để đạt được, cũng lại trọn
chẳng có mảy may sai khác! Há chẳng phải là khi mộng
chính là lúc tỉnh ư? Do đó cảnh cáo rằng “như
mộng”! Nếu cứ mê luyến, so đo, phân biệt,
chấp trước vào đấy, chẳng xả, đúng
là “kẻ si nói mớ” vậy. Do vậy bảo: “Trước
nay, chúng sanh bất giác”. Nay nói “như mộng” chính
là kêu gào họ hăy mau chóng tỉnh giấc! Hoặc nói: Lư
như mộng là nói về pháp thế gian, đúng là chẳng
lừa gạt! Nhưng Vĩnh Minh Diên Thọ thiền
sư nói “đại tác mộng trung Phật sự”
(thực hiện Phật sự lớn lao trong mộng), v́
sao cũng có thể quán Phật pháp như mộng? Ở
đây, có bốn nghĩa trọng yếu, chớ nên không biết.
Nói theo phía phàm phu th́ có hai nghĩa:
1) Quán Phật
pháp như mộng có nghĩa là “chớ nên chấp trước”.
Phật pháp trọng tại phá ngă. Nếu có chấp trước,
sao có thể phá ngă cho được? V́ thế, phải nên
triệt để trừ khử [chấp trước]. Phật
pháp c̣n chẳng thể chấp, huống hồ pháp thế
gian ư?
2) Học Phật
là để chứng tánh. Nếu chẳng chứng tánh, sẽ
chẳng thể siêu phàm nhập thánh. Nhưng tánh thể
không tịch; v́ thế, hết thảy công phu tu tập, ắt
phải nên quy vào “chẳng có ǵ để đạt
được”, th́ mới tương ứng tánh không tịch.
Quán Phật pháp như mộng, nhằm dạy siêng tu Phật
sự, nhưng quy vào “trọn chẳng thể đạt
được”, ngơ hầu Năng lẫn Sở cùng mất,
trí và lư ngầm hợp!
Nói theo phía Phật,
Bồ Tát, nghĩa này cũng có hai điều:
1) Phật, Bồ
Tát đều là người đă giác, thực hiện Phật
sự lớn lao để rộng độ chúng sanh, mà có
thể như chẳng hề thực hiện chuyện ấy,
coi như nằm mộng, coi Niết Bàn như giấc mộng
hôm qua. Do vậy, chẳng trụ Niết Bàn, thực hiện
Phật sự lớn lao. Coi sanh tử như giấc mộng
hôm qua, cho nên chẳng trụ trong sanh tử, mà thường
ở trong Định.
2) Bồ Tát thực
hiện Phật sự, tự giác, giác tha. C̣n như địa
vị Phật đă giác rốt ráo, nhưng vẫn làm Phật
sự, do vô tận chúng sanh vẫn c̣n đang trong mộng.
Do ḷng Bi đồng thể, chẳng tự cho là rốt
ráo. V́ thế, thường hành Bồ Tát đạo, hiện
thân trong chúng sanh chưa tỉnh giấc mộng lớn
để làm Phật sự. Do vậy, tổ Vĩnh Minh
nói “đại tác mộng trung Phật sự” (làm Phật
sự lớn lao trong mộng).
Gộp chung cả
bốn nghĩa trên đây, có thể biết đại giác
là thấy sanh tử và Niết Bàn vốn chẳng thể
được, cho nên nói: “Sanh tử, Niết Bàn, giống
như giấc mộng hôm qua”. Ư nói: Trụ trong sanh tử,
cố nhiên là nằm mộng. Trụ trong Niết Bàn
cũng là nằm mộng, ắt chẳng trụ vào đâu,
đó là đại giác. Do vậy, nếu trụ trong pháp
đă tu, trụ vào pháp được nói, trụ trong pháp đă
đạt được, đều là nằm mộng mà
thôi! V́ thế, chỉ thú của kinh này là “trụ trong vô
trụ”. Do đó nói: “Ưng vô sở trụ nhi hành bố
thí, ưng ly tướng phát Bồ Đề tâm” (hăy nên
chẳng trụ vào đâu để hành bố thí, hăy nên ĺa
tướng để phát Bồ Đề tâm).
Nói chung, quán hết
thảy các pháp dù nhiễm hay tịnh đều như mộng,
ư nói: Thông đạt hết thảy các pháp hữu vi vốn
chẳng thể được, nhất tâm thanh tịnh, có
ǵ để có thể đạt được? Nếu có
cái để có thể đạt được, tức
chẳng phải là thanh tịnh. V́ thế, hăy nên quán hết
thảy các pháp hữu vi như mộng. Đức Thế
Tôn thuyết pháp bốn mươi chín năm, nhưng nói “chẳng
có pháp để có thể nói”. Lại nói: “Ta đối
với pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
chẳng có chút pháp để có thể được!”
Quả địa giác là như thế. Tu hành nơi nhân địa,
ắt cũng phải nên như thế. Kinh Lăng Nghiêm
nói: “Ưng đương thẩm quán nhân địa phát
tâm, dữ quả địa giác, vi đồng, vi dị.
Nhược ư nhân địa, dĩ sanh diệt tâm vi bổn
tu nhân, nhi cầu Phật thừa bất sanh, bất diệt,
vô hữu thị xứ” (Hăy nên xét kỹ sự phát tâm
nơi tu nhân, cùng với sự giác ngộ nơi quả
địa là đồng, hay là khác. Nếu trong địa
vị tu nhân mà dùng cái tâm sanh diệt làm cái gốc để
tu nhân, ḥng cầu Phật thừa chẳng sanh, chẳng diệt,
chẳng có lẽ ấy). Hễ có cái để có thể
đạt được, đấy chính là tâm sanh diệt.
Quán nó như mộng, trọn chẳng thể được,
bất sanh, bất diệt! Hăy nên biết: Mộng chính là
pháp hữu vi. Nếu biết đó là mộng, trọn chẳng
thể được, nhưng chẳng mê, chẳng chấp,
pháp hữu vi liền thành pháp vô vi!
Chữ Như
rất có ư vị. Đối với kẻ chưa giác, hăy
nên quán “nói là tỉnh th́ vẫn là mộng y như cũ”,
bèn có thể giải thoát hết thảy, xa ĺa điên đảo.
Người đă giác th́ hăy nên quán “nói là giác th́ cũng giống
như mộng”, lại nào có trở ngại hiện nhập
Hoa Tư[8], du
hư tam-muội ư? Nói chung, sáu thí dụ đều là quán
triệt đến cùng. [Các thí dụ ấy] không chỉ là
v́ phàm phu mà nói! Nếu Nhị Thừa biết “độ
chúng sanh như mộng, trọn chẳng thể được”,
sẽ chẳng đến nỗi trầm trệ trong không
tịch. Một loại Bồ Tát nếu biết “thượng
cầu, hạ hóa như mộng, trọn chẳng thể
được”, sẽ có thể thành Phật. V́ thế,
quán như mộng chính là tấm gương báu chiếu tan
ngă chấp và pháp chấp, là chiếc thuyền từ để
vào biển đại tịch diệt.
Do những
điều đă nói trên đây, có thể biết: Hết
thảy các pháp hữu vi đều dựa vào cái tâm để
làm nhân, nhờ vào sự làm duyên. Nhân duyên hội hợp,
sanh ra cái quả. Ngoại trừ nhân quả, hết thảy
đều chẳng có, nhưng cái được gọi là
quả, lại trở thành nhân. Nói là nhân, lại chuốc lấy
quả. Nói đến bản thân nhân quả, th́ cũng lại
trọn mảy may chẳng có h́nh thể nhất định.
V́ thế nói “bản thể chính là Không”. Ví như nằm
mộng, chẳng phải là sự tướng nghiễm
nhiên, tức là Có mà chẳng phải là Có. Do vậy nói “pháp
sanh bởi nhân duyên” tức Giả, tức Không. V́ thế,
nói thí dụ về mộng là đă đủ để hiểu
thấu triệt hết thảy.
Nhưng do
chúng sanh lạc đường đă lâu, thường ngày
chưa từng chẳng biết chuyện đời
như mộng, hễ gặp cảnh giới thuận hay
nghịch trước mắt, vẫn cứ mê chấp, chẳng
buông xuống được! Lại c̣n nói: “Chuyện quá khứ
đúng là như mộng. Nếu là cảnh ngộ hiện
tiền, đích thân trải qua, chẳng nói là sự thật
há có được chăng?” V́ thế, lại bảo rằng:
Cảnh thuận nghịch tuy đích thân từng trải,
thật ra đều là như huyễn. “Huyễn” là
huyễn thuật như kinh Phật đă nói, đời
này gọi diễn tuồng, tức là như nói: Ông có thấy
huyễn thuật của huyễn nhân hay chăng? Huyễn
hiện đủ loại động, thực vật bay lặn,
há chẳng phải là nghiễm nhiên giống như thật
ư? Lại như người diễn tuồng, khi bôi son
trát phấn lên sân khấu, tà, chánh, hiền, ngu, bi, hoan,
được, mất, thần t́nh sống động có
thể khiến cho mọi người cười toe, hoặc
rơi lệ! Ông cũng cho đó là thật ư? Có nên do buồn,
vui vô cớ mà bỗng dưng giống như thân ḿnh hứng
chịu, bèn chấp đó là sự thật ư? Hăy nên biết:
Người sống trên đời cũng lại giống
như thế. Hết thảy gặp gỡ, không ǵ chẳng
do vọng thức, nghiệp duyên biến hiện đó
thôi!
Thế gian
chính là một rạp hát! Hết thảy chúng sanh chính là
đủ loại vai diễn trên sân khấu. Ngay trong lúc trống
chiêng rộn ră, hết sức náo nhiệt, người có
trí huệ sẽ tự cảnh tỉnh, nháy mắt liền
xuống sân khấu. Trong thời khắc ấy, sắm vai
tuồng tại đây, bất quá là do nghiệp lực lôi
kéo, cần phải hiểu đó chỉ là một đoạn
duyên pháp mà thôi, há có nên coi là thật? Ví như hát tuồng,
đă diễn một vai trong vở tuồng xong, ắt có
túc nhân th́ mới hiện cái quả ấy. Cố nhiên chẳng
thể không dụng tâm diễn xướng, chớ nên lầm
lẫn đó là mục đích hoài băo, trọn chẳng nên
chấp trước nhân vật do ḿnh sắm vai trong vở
tuồng rồi coi đó là chính ḿnh. Mục đích của
diễn tuồng là ǵ? Chính là danh dự và tiền bạc.
Làm người cũng thế. Đời này làm một cá
nhân, bất quá tạm sung vào một vai diễn trong vở
tuồng ấy mà thôi! Đóng tuồng mà c̣n chớ nên chấp
vai diễn, coi là đó chính ḿnh. Chúng ta há có nên lầm tưởng
vai diễn do ḿnh tạm lănh [trong vở tuồng nhân sinh
nơi thế gian này] là chính ḿnh ư? Hăy nên biết: Nhân quả
khó trốn, nhân quả đáng sợ, đă tạm sung vào
vai diễn ấy, tự nhiên chẳng thể không dụng
tâm diễn xuất để tránh khỏi hiểu lầm mục
đích, nhưng chớ nên chỉ coi danh lợi là mục
đích, cần phải nhận chuẩn của báu vốn
có trong nhà của chính ḿnh, coi đó là mục đích. Của
báu trong nhà là ǵ? Chính là tự tánh Tam Bảo.
Ắt phải
nên giác ngộ rành rẽ, tuy đóng vở tuồng giả ấy,
chớ nên hiểu lầm nhân quả, khiến cho tự
tánh bị liên lụy, chẳng nên lầm tưởng tuồng
giả là thật, mê muội mất tự tánh. Do vậy,
chính ngay trong lúc tiếng nhạc, tiếng hát vang lừng,
đại chúng dồn mắt xem, hăy nên tự giác, tự
ngộ, vở tuồng hư huyễn này chẳng phải
là bộ mặt sẵn có của ta, thề sẽ hồi
phục cái ban đầu, ngơ hầu khi chiêng trống bặt
tiếng, gió cuốn, mây tan, sẽ chẳng đến nỗi
áo năo, bi thương, tay chân quờ quạng! V́ thế, hăy
nên quán như huyễn vậy!
Đức Thế
Tôn đại từ do lo chúng sanh chấp mê chẳng tỉnh,
cho rằng hết thảy hết thảy người và vật
như huyễn quả đúng là chẳng hư dối, chẳng
sai, nhưng nghĩ tới thân thể và thế giới, rốt
cuộc khó buông xuống. Do vậy, trong tâm ư của họ,
chỉ có thể lănh hội chuyện đời như huyễn,
nhưng vẫn thừa nhận thế giới to lớn và
sắc thân quư báu là thật sự có. V́ thế, chẳng thể
buông xuống nổi! Do vậy, lại bảo rằng “như
bào, như ảnh” (như bọt nước, như h́nh
bóng). “Như bào” là sánh ví thế giới, “như ảnh”
ví như sắc thân. V́ sao vậy? Cái gọi là “bọt
nước” chính là nước bị gió lùa, va chạm lẫn
nhau mà thành. Thế giới do hết thảy chúng sanh từ
trong biển tánh, nổi gió vô minh, tạo cộng nghiệp
ấy mà kết thành. V́ thế, dùng bọt nước
để sánh ví. Nói là “ảnh” tức là do có mặt
trời, mặt trăng, hay đèn chiếu sáng mà hiện
ra. Sắc thân do tánh quang biến hiện, cho nên dùng ảnh
để sánh ví. Cơi đời này, thân này đă cùng là duyên
sanh như bọt nước, như h́nh bóng, có thể thấy
rằng thân và cơi đời cũng hư vọng như bọt
nước, h́nh bóng, há có nên mê chấp là chân thật ư?
Kinh Lăng
Nghiêm giảng nghĩa này rơ ràng nhất, kinh nói: “Nhận
ngộ trung mê, hối muội vi không. Không hối muội
trung, kết ám vi sắc. Sắc tạp vọng tưởng,
tưởng tướng vi thân” (do mê đối với
sự nhận biết giác ngộ, coi sự tối tăm
là hư không. Trong hư không tối tăm ấy, kết sự
tối tăm thành sắc. Sắc xen tạp vọng tưởng,
coi cái tướng do vọng tưởng kết thành ấy
là thân). Đoạn kinh văn này nói giác tánh viên minh, không ǵ lớn
ra ngoài được, không ǵ nhỏ mà chẳng gồm
trong. Vốn chẳng có ǵ để gọi là “hư
không” hay “thế giới”, hoặc sắc thân! Hoàn
toàn do giác tánh của chúng sanh bị chướng lấp,
đến nỗi [giác tánh] vốn sẵn viên minh mà trở
thành tối tăm. “Tối tăm” là nói tướng mờ
mịt, rối ren. Do đă chẳng ngộ, bèn ngược
ngạo ngỡ tối tăm là hư không. V́ thế nói “hối
muội vi không”. Đó là do mê muội trong sự nhận
ngộ mà ra. “Mê muội trong nhận ngộ” tức là
tự cho rằng chính ḿnh đă ngộ, chứ thật ra vẫn
mê y hệt như cũ. V́ sao vậy? Do tưởng tối
tăm là hư không. Hư không đă tối tăm, lại
cấu kết sự tăm tối ấy thành sắc, cho nên
nói: “Không hối muội trung, kết ám vi sắc”
(trong hư không tăm tối ấy, kết các thứ tối
tăm thành sắc). “Sắc” là Tứ Đại đất,
nước, lửa, gió, chính là nói sắc tướng của
thế giới và hết thảy hữu t́nh, vô t́nh. Trước
hết, do cho rằng tối tăm là hư không, lại cho
rằng tối tăm kết thành thế giới, lại
cho rằng cái do sắc và vọng tưởng xen tạp hợp
thành chính là tấm thân quư báu. Do vậy nói: “Sắc tạp
vọng tưởng, tưởng tướng vi thân” (Sắc
xen tạp vọng tưởng, coi cái tướng vọng
tưởng ấy là thân). Chữ Nhận trong câu
đầu tiên xuyên suốt đến hết đoạn
kinh văn. Hai chữ “vọng tưởng” cũng
thông cả trước lẫn sau.
V́ sao tưởng
lầm? Do có vọng tưởng. Vọng tưởng là
tên gọi khác của Thức. Thọ, Tưởng, Hành, Thức
là tâm sở (các thuộc tánh của tâm). V́ thế, nói đến
vọng tưởng ở đây, chính là nói đến bốn
uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức trong Ngũ Uẩn.
Chữ Tướng trong “tưởng tướng vi thân”
chính là chữ Sắc trong đoạn kinh văn trước
đó. “Tưởng” tức là vọng tưởng.
Thân của hết thảy chúng sanh, không ǵ chẳng do
Ngũ Uẩn giả hợp. V́ thế nói “sắc tạp
vọng tưởng, tưởng tướng vi thân”,
chính là nói sắc tướng Tứ Đại cùng với
vọng tưởng Thọ, Tưởng, Hành, Thức xen tạp,
hợp thành huyễn thân này. Đoạn kinh văn này đă
khai thị minh bạch: Hư không, thế giới, sắc
thân, hoàn toàn do vọng tưởng tối tăm, rối
ren của chúng sanh biến hiện. Vọng tưởng vốn
chẳng chân thật, sanh diệt trong từng sát-na. Đối
với thân và thế giới biến hiện ấy, há có thể
[chấp là] chân thật được ư?
Ai nấy
đều biết bọt nước tột bậc mong
manh, dễ hoại diệt nhất, trọn chẳng biết
thế giới cũng giống như thế. Đừng
bảo giang sơn ngàn đời! Dẫu toàn bộ thế
giới chưa hoại diệt ngay, nhưng đồi,
hang, núi, g̣, ruộng dâu, biển xanh, luôn dấy lên biến
hóa, đủ chứng tỏ thành hoại luôn xảy ra. Những
năm nay, xảy ra khá nhiều chuyện, đó vốn là sự
thường xảy ra, chẳng phải là nói lư tưởng
vậy!
Hơn nữa,
kinh Lăng Nghiêm c̣n dạy: “Không sanh đại giác trung,
như hải nhất âu phát, hữu lậu vi trần quốc,
giai y không sở sanh, âu diệt không bổn vô, huống phục
chư tam hữu” (Hư không sanh trong đại giác,
như cái bọt sóng nổi trên mặt biển. Cơi hữu
lậu nhiều như vi trần đều nương vào
hư không mà sanh. Bọt sóng diệt mất th́ hư không vốn
chẳng có, huống hồ ba cơi ư?) “Hữu lậu vi
trần quốc”: “Hữu lậu” là nói nó ắt hoại.
“Vi trần” là nói nhỏ nhặt cùng cực. “Tam hữu”
tức là tam giới. Đoạn kinh văn này nhằm nói hư
không tối tăm ở trong biển đại Viên Giác
như một bọt sóng trên mặt biển. “Âu” (漚) tức là bọt sóng, c̣n
vi trần quốc độ giống như vật
nương vào bọt biển. Khi bọt sóng diệt mất,
hư không tối tăm c̣n chẳng có, huống hồ tam
giới ư? Hết thảy người học hăy nên
thường quán chiếu lư này. Cái hư không mà ta nhận
biết c̣n là tướng tối tăm mờ mịt, c̣n
nhỏ tí như bọt nước, huống hồ thế
giới, huống hồ tấm thân này, há đáng kể
ư? Há có nên vứt bỏ biển tánh viên minh chân thật
chứa trọn hư không để nhận lấy một
cái bọt nước mong manh, vô thường thành hoại
phập phều ư?
C̣n như ảnh,
so với h́nh th́ dường như có, xét thật ra th́ chẳng
có. Thân này cũng thế, hư vọng hiện hữu, xét
đến sự thật th́ chẳng có. Ví như bóng
người trong gương, do soi vào bèn hiện ra. Béo, c̣m,
cao, thấp, mảy may chẳng sai. Thân này cũng thế,
do tâm tạo nghiệp, theo nghiệp mà hiện, thọ, yểu,
đẹp, xấu, nhân quả khó trốn. Nam Nhạc Huệ
Tư đại sư nói: “Tịnh tâm như
gương, phàm, thánh như h́nh tượng”. Đấy
là nói thân có thể thấy, do tịnh tâm vốn trọn
đủ tánh Thấy, giống như h́nh tượng có thể
thấy là do gương sáng vốn sẵn có tánh Chiếu.
Há có nên v́ nó có thể thấy mà tưởng lầm là thật
sự có ư? Hơn nữa, trong tánh Thấy của tịnh
tâm, vốn chẳng có thân này. Bất quá là h́nh bóng được
phát hiện bởi tánh Thấy, cũng giống như trong
tánh Chiếu của gương sáng, vốn chẳng có h́nh
tượng ấy, bất quá là h́nh bóng được phát
hiện bởi tánh Chiếu. Những điều vừa
nói trên đây, vẫn là đem huyễn thân so với tịnh
tâm, ḥng nói rơ: Đó là h́nh bóng được hiện bởi
tịnh tâm. Nếu dựa theo bản thể của huyễn
thân để nói, cũng lại giống như h́nh bóng. V́
sao vậy? Do ngoài Ngũ Uẩn ra, trọn chẳng thể
được! Hơn nữa, Sắc trong Ngũ Uẩn
chính là Tứ Đại. Tứ Đại đă là như bọt
nước nổi, vậy th́ bốn uẩn Thọ, Tưởng,
Hành, Thức lại không ǵ chẳng phải là hư vọng
(gọi là “vọng tưởng”, cho nên là hư vọng).
Như vậy th́ bản thân Ngũ Uẩn đă là trọn
chẳng thể được, huống hồ huyễn
thân do Ngũ Uẩn giả hợp! Có thể biết là nó
dường như có, mà thật ra là không! “Trọn chẳng
thể được” là nói cái Có chính là chẳng phải
Có, đúng như h́nh bóng vậy, chỉ lường gạt
mắt người đó thôi, chứ thật ra nó vốn
là Không!
Cái mà hết
thảy phàm phu chấp trước nhất, cho là có thật,
chính là thức tâm, thế giới, và thân ḿnh. Nay mỗi mỗi
đều phá mối Hoặc ấy, bèn bảo: “Thức
tâm như huyễn” (trong phần trước đă nói thế
gian là rạp hát, hết thảy chúng sanh đều đóng
một vai trong rạp hát ấy, không ǵ chẳng do thức
tâm nghiệp duyên biến hiện, cho nên nói là “như huyễn”).
Thế giới như bọt nước, thân này như
bóng. Thân, tâm, thế giới c̣n hư vọng chẳng thật,
th́ tướng của hết thảy các pháp hữu vi có thể
suy ra mà biết. Nhưng chúng sanh trên đường mê, tuy
biết thân, tâm, thế giới chẳng thật, vẫn cứ
quẩn quanh, biếng nhác, coi thường, chẳng thể
siêng năng quán như mộng, như huyễn, như bọt,
như bóng. Do vậy, lại cảnh sách[9]
rằng “như lộ, như điện” (như
sương, như chớp). Sương th́ mặt trời
vừa mọc liền bốc hơi, chẳng tồn tại
mấy chốc. Chớp th́ vừa sanh liền diệt, qua
mất trong sát-na. Đó gọi là “sanh mạng tại hô hấp
gian” (sanh mạng trong khoảng thở ra, hít vào)! Hăy nên
càng thêm dụng công như cứu đầu bị cháy! Gộp
chung năm thí dụ như huyễn v.v… để xem, chính
là quán vạn sự như mộng, có chính là chẳng có! V́
thế nói “quán năm thứ như huyễn v.v… là Biệt,
quán như mộng là Tổng”.
Quán sáu thí dụ
ấy, tuy là quán tướng Không của các pháp, tức là
quán tánh Như Như, do tánh và tướng vốn sẵn
dung thông. V́ thế, quán duyên sanh liền có thể khế nhập
Như Như bất động. Do vậy, pháp tánh vô vi, từ
quán tướng của pháp hữu vi như mộng, huyễn
mà thực hiện, sẽ chẳng chấp vào hai bên, phù hợp
Trung Đạo. Nghĩa này đă được nói tường
tận trong phần trước. Nay lại dùng tam tánh và tam
vô tánh để nói sáu thí dụ, tùy ư lấy một thí dụ
nào, cũng đều có thể nêu rơ lư tam tánh và tam vô tánh.
Nay tôi dựa theo tổng dụ “như mộng” để
nói, các thí dụ kia có thể phỏng theo đó mà biết.
Tam tánh, tam vô
tánh thấy trong kinh Lăng Già và các kinh luận Pháp Tướng
Tông; đấy là ư nghĩa tinh yếu của Tướng
Tông. Đức Phật nói pháp tướng vốn để
nói rơ điều này. Nếu chẳng biết chú trọng,
chỉ hướng đến chỗ vụn vặt để
mổ xẻ, tuy phân tích hết thảy các pháp tướng
tột bậc tường tận, chẳng khỏi vào biển
đếm cát, đánh mất điều trọng yếu.
Hăy nên biết nghĩa “tam tánh, tam vô tánh”, người
học Tánh Tông cũng nên thông hiểu, do nghĩa này xuyên suốt
tướng và tánh. Nếu biết nghĩa này, duyên khởi
tánh Không càng có thể thấu triệt, tu tŕ quán hạnh
càng dễ đắc lực. Bởi “quán như mộng” vừa
nói trên đây vẫn là ư chỉ chánh yếu của tổng
quán, nếu dựa trên lư “tam tánh, tam vô tánh” để
quán, sẽ càng tiến nhập vi tế hơn!
Tam tánh là ǵ? Một
là Biến Kế Chấp Tánh (parikalpita-svabhāva), hai là Y
Tha Khởi Tánh (parataṇtra-svabhāva), ba là Viên Thành Thật
Tánh (pariniṣpanna-svabhāva).
1) Biến Kế
Chấp là chấp trước, so đo thông thường,
tức là phân biệt, chấp trước, phan duyên, vô minh,
vọng tâm, vọng tưởng v.v… như Tánh Tông thường
nói. Tánh Tông cũng gọi điều này là Phân Biệt Tánh.
Đấy là vọng tưởng, cớ sao gọi là tánh?
Ngụ ư nêu rơ: Tuy hiểu rơ nó là vô minh vọng tưởng,
nhưng do chân tâm biến hiện, chẳng ĺa tánh chân thật
mà riêng có. Tướng Tông gọi nó là Biến Kế Chấp
Tánh tức là chỉ ước theo địa vị phàm
phu để nói. Tánh Tông gọi là Phân Biệt Tánh, tức
là xét theo cả phàm lẫn thánh để nói. Nơi địa
vị thánh, gọi là Phân Biệt Tánh, nhằm nói rơ: Nó ứng
duyên thị hiện, thuyết pháp đối ứng căn
cơ, chẳng sai chạy mảy may nào! Dường
như có phân biệt là do xét theo cái nh́n của phàm phu mà nói
như vậy, chẳng phải là địa vị thánh vẫn
dấy lên phân biệt. Hăy nên biết như thế!
2) Y Tha Khởi
Tánh tức là duyên khởi, duyên sanh, hoặc tánh khởi
được nói trong Tánh Tông. Đây chính là tướng dụng
do bản tánh tùy duyên hiện khởi, Tướng và Dụng
vốn chẳng ĺa tánh thể. Nếu chẳng có tánh thể,
sẽ chẳng có Tướng và Dụng. Do vậy gọi
là Y Tha Khởi Tánh. Y (依) là thuận
theo. Tha (他) là nói đến duyên.
3) Viên Thành Thật Tánh: Viên (圓) là viên măn. Thành
(成) là vốn sẵn đủ. Chữ Viên Thành là nói
theo Thể, nhằm nêu rơ: Nó vốn viên măn, trọn đủ,
chẳng phải là pháp tạo tác, mà cũng kiêm nói về
Tướng và Dụng, tức Tướng và Dụng là cái
sẵn có trong Thể, là tịnh đức viên măn. Thật
(實) là chân thật. Đó chính là pháp giới, Chân
Như, Như Như, chân tâm, Thật Tướng, Viên Giác,
tự tánh thanh tịnh tâm v.v… được nói trong Tánh
Tông, vô lượng danh xưng. Tánh Tông cũng gọi nó là
Chân Thật Tánh.
Tam vô tánh là ǵ?
Một là tướng vô tánh, hai là sanh vô tánh, ba là thắng
nghĩa vô tánh. Chữ Vô rất linh hoạt, có ư nghĩa của
chữ Phi (chẳng phải), và cũng có ư nghĩa là Không,
tức là chẳng thể chấp trước.
1) Tướng
vô tánh: Đối với hết thảy sự vật,
chúng sanh hư vọng so đo có ngă, có pháp để chấp
trước; đó gọi là Biến Kế Chấp. Trọn
chẳng biết ngă tướng và pháp tướng bị
chấp trước bởi Biến Kế Chấp hoàn toàn
do nhận thức lầm lẫn. Ví như tưởng dây
thừng là con rắn, không chỉ là tướng rắn chẳng
thật, ngay cả tướng của dây thừng lại
có bao giờ là chân thật? V́ thế nói là “tướng
vô tánh”, ư nói: Tướng hư vọng, chẳng phải
là tánh chân thật. Hăy nên thấu hiểu: Trong tánh vốn chẳng
có tướng, hăy nên chẳng chấp tướng, hăy rỗng
không nó, th́ sẽ là tánh.
2) Sanh vô tánh: “Sanh”
là duyên sanh. Bởi lẽ, hết thảy các pháp chỉ
nương vào nhân duyên mà tụ hội, là tướng giả
hiện mà sanh khởi. Đó gọi là Y Tha Khởi
(nương vào các duyên khác mà dấy lên). Như vậy th́ do
đă là duyên sanh, có thể thấy hết thảy các pháp vốn
chẳng có thật thể. Thể chỉ là tánh thanh tịnh.
Ngay như sự sanh khởi của dây thừng cũng do
nhân duyên tập hợp mà có. Dây thừng chẳng phải là
thật thể, Thể của nó là gai. V́ thế nói là Sanh
Vô Tánh, tức là pháp duyên sanh, vốn chẳng phải là chân
tánh. Hăy nên thấu hiểu: Pháp duyên sanh tuy dùng tánh làm Thể,
nhưng trong tánh thể chẳng có duyên sanh ấy. Chớ
nên chấp duyên sanh, hăy rỗng không nó. Đó chính là tánh.
3) Thắng
nghĩa vô tánh là tánh Chân Như, tức là bản thể của
hết thảy các pháp, được gọi là Đệ
Nhất Nghĩa, cũng gọi là Thắng Nghĩa. Tánh ấy
chân thật, chúng sanh vốn sẵn có, vốn sẵn viên
măn, tức là Viên Thành Thật. Nhưng Thắng Nghĩa
cũng là danh tự, như gai cũng là giả danh. V́ thế
nói “Thắng Nghĩa vô tánh”, tức Thắng Nghĩa
là cũng là danh tự, ngôn thuyết, nhưng chẳng phải
là tánh. Hăy nên thấu hiểu: Trong tánh chân thật, vốn
chẳng có danh tự Thắng Nghĩa, hăy nên ngay cả Thắng
Nghĩa cũng chẳng chấp trước mà rỗng
không; đấy là tánh chân thật.
Tánh Tông đặt
tên [tam vô tánh] hơi khác. Tướng vô tánh được
gọi là Vô Tướng Tánh, tức là chẳng chấp
tướng mới là chân tánh. Sanh vô tánh được gọi
là Vô Sanh Tánh, ư nói chẳng chấp duyên sanh th́ mới là chân
tánh. Thắng nghĩa vô tánh được gọi là Vô Tánh
Tánh, ư nói tánh cũng chẳng chấp trước th́ mới
là chân tánh. Nghĩa này chính là để hiển thị
tướng đă ĺa tánh, nhưng nó chẳng có Thể. Tánh
cũng chẳng ĺa tướng mà riêng tồn tại.
Nghĩa lư càng viên. V́ thế, Vô Tánh Tánh c̣n gọi là Vô Chân
Tánh, tức là ngay cả cái thấy chân thật cũng chẳng
tồn tại; đấy là tánh chân thật. Lại c̣n gọi
là Vô Vô Tánh. Chữ Vô thứ hai có nghĩa là Không Vô (ngay cả
Không cũng là chẳng có), ư nói “chẳng chấp trước
Không Vô”. Đấy chính là tánh chân thật. Trên đây
đă giải thích đại lược danh nghĩa xong.
Tôi sẽ dựa theo thí dụ như mộng để nói
rơ lư “tam tánh, tam vô tánh”.
Đức Phật
nói “tam tánh, tam vô tánh” là để chỉ rơ “tánh,
tướng viên dung”. Những người có trí, ắt
phải nên hiểu rơ lư “tam tánh, tam vô tánh” xuyên suốt
tánh, tướng, th́ mới có thể Không lẫn Hữu
đều chẳng chấp, khế hợp Trung Đạo.
Kinh này dạy quán hết thảy các pháp hữu vi như mộng.
Do quán như thế, sẽ có thể hiểu thấu suốt
lư “tam tánh, tam vô tánh”. Nói cách khác, nếu hiểu tam
tánh, tam vô tánh, th́ mới có thể triệt để hiểu
rơ hết thảy các pháp hữu vi như mộng. Do vậy,
hăy hợp chung nghĩa “như mộng” và nghĩa “tam
tánh, tam vô tánh” để diễn nói, ngơ hầu đối
với hai nghĩa ấy đều có thể thấu triệt.
C̣n như năm thí dụ “như huyễn” v.v... vốn
là nói dùng các nghĩa như đèn sáng, như mộng; v́ thế,
tuy chỉ dựa theo như mộng để nói, nhưng
nghĩa đă trọn!
Hăy nên biết
trong tâm thanh tịnh vốn sẵn ĺa tướng, đó gọi
là tánh chân thật. Ví như nếu tâm thanh tịnh, th́ sẽ
chẳng có tướng mộng, chỉ do chân tánh mà tùy duyên
hiện khởi thân tâm (đấy gọi là “vọng
tâm”, tức là Thức). Các tướng như thế giới
v.v… được gọi là Y Tha Khởi Tánh, chẳng khác
khi ngủ, tùy duyên mà hiện cảnh tướng trong mộng.
Kẻ phàm phu do chẳng hiểu hết thảy các pháp hữu
vi chỉ là tướng hư huyễn duyên sanh, sanh vốn
vô sanh, đến nỗi so đo, chấp trước, ngỡ
hư là thật. Đó gọi là Biến Kế Chấp Tánh.
Đúng là như kẻ ngu si do chẳng biết mộng là
tướng duyên sanh hư huyễn, có chính là chẳng phải
có, bèn chấp mộng cảnh là chân thật. V́ thế, nếu
biết cảnh tướng trong mộng đều do nhất
tâm biến hiện, có chính là chẳng có, hăy nên biết vô
tướng tánh cũng lại giống như thế!
Phàm hết thảy
các pháp không ǵ chẳng do tâm tạo, cho nên gọi là “hữu
vi”. Vậy th́ pháp hữu vi đă đều do tâm tạo,
có thể thấy tâm tánh chính là cái Thể chân thật. Hết
thảy các pháp hữu vi bất quá nương vào tâm để
gởi sự, là tướng do tùy duyên mà hiện khởi.
Do vậy, phàm tất cả tướng đều là
hư vọng, há có nên chấp là thật ư? Nếu chấp
vào đó, chính là mê tướng mà mờ mịt tánh. V́ sao vậy?
Do tánh vốn vô tướng.
Nếu biết
tâm vốn chẳng có mộng, chỉ do vọng tưởng
huân khởi. Nhưng vọng tưởng vốn hư huyễn;
do vậy, từ giấc mộng được huân khởi
ấy, có chính là chẳng phải có. Hăy nên biết: Vô sanh
tánh cũng lại giống như thế. Hết thảy
các pháp hữu vi đă là sanh tướng do duyên tụ hội
mà giả hiện, có thể thấy trong tánh thể vốn
đă vô sanh. Do vậy, chớ nên chấp trước hết
thảy các pháp hữu vi là thật, tức là trong tâm
cũng chẳng thể tồn tại tướng hư dối
duyên sanh. Nếu vẫn giữ nó, th́ vẫn là mê muội
tánh y hệt. V́ sao vậy? Do tánh chẳng phải là duyên
sanh!
Nếu biết
cái tâm khi mộng và tâm khi tỉnh, trọn chẳng phải
là hai tâm, chỉ do ngủ nghê mà gọi là “mộng tâm”,
chứ thật ra, chẳng phải là ngoài mộng tâm mà
riêng có một cái tâm tỉnh táo. Hăy nên biết: Vô Tánh Tánh
cũng giống như thế. Vọng tâm và chân tâm vốn
chẳng hai, chỉ do vô minh, bất giác mà gọi là vọng
tâm. Nếu vô minh mà minh, từ bất giác mà giác, th́ vọng
tâm sẽ chính là chân tâm. Giống như nếu chẳng nằm
ngủ, cái tâm khi mộng vốn là cái tâm khi tỉnh. V́ thế,
người tu hành chớ nên ở ngoài vọng tâm, riêng chấp
có một chân tâm. Nói cách khác, chính là chớ nên diệt Sắc
để làm rơ Không, diệt tướng để thấy
tánh. Nếu làm như thế, vẫn là mê muội đối
với tánh. V́ sao vậy? Chẳng chấp vào tánh, bèn có tánh
chân thật. V́ lẽ nào vậy? Nếu có chấp giữ,
sẽ là ngă tướng, ngă kiến, sẽ chẳng phải
là tự tánh thanh tịnh tâm.
Đối với
những điều đă nói trên đây, tôi dùng nghĩa “như
mộng” để luận định “tam tánh, tam vô
tánh”, th́ [người đọc] sẽ triệt để
hiểu rơ nghĩa “tam tánh, tam vô tánh”; do vậy,
cũng có thể hiểu rơ triệt để nghĩa “như
mộng”. Nh́n chung nghĩa “tam tánh, tam vô tánh” vừa
được nói trên đây, có thể biết công phu khẩn
yếu chỉ là chẳng khởi Biến Kế Chấp,
th́ Y Tha Khởi sẽ là Viên Thành Thật. V́ sao vậy?
Đối với tánh và tướng đều chẳng so
đo, chấp trước, dẫu các hiện tướng
la liệt, tâm cố nhiên vô tướng. Tuy thị hiện
vào sanh tử, nhưng tánh vốn vô sanh. So đo chính là phân
biệt; đó được gọi là thức thứ sáu.
Chấp trước là nói đến thức thứ bảy.
Đấy chính là vô minh bất giác, đó chính là ngă kiến.
V́ thế, ư chỉ
chủ yếu duy nhất của bản kinh này là Vô Trụ
để phá ngă. Xét gộp chung nghĩa “như mộng” đă
nói trên đây, có thể biết “quán như mộng”
xuyên suốt từ đầu đến đuôi, chính là từ
thô mà vào tế, từ cạn đến sâu, từ mới
tu cho đến rốt ráo. Hết thảy các hạnh môn
đều chẳng ra ngoài pháp Quán này; bởi lẽ, nói một
chữ Mộng để sánh ví vô minh bất giác. Lại
nói một chữ Như để sánh ví vô minh bất giác tợ
hồ có, mà thật sự vô, tánh vốn chẳng có [vô minh,
bất giác]! Tinh vi tột bậc, đích xác tột bậc!
Không chỉ là như thế! “Như mộng” là tợ
hồ nằm mộng. Tợ hồ nằm mộng nhằm
chỉ rơ hết thảy pháp hữu vi “có chính là chẳng
có”. Quán “có chính là chẳng có” cũng tỏ rơ hết thảy
pháp hữu vi đều là “chẳng có mà có”. Quán “có chính là
chẳng có”, chớ nên chấp Hữu. Quán “chẳng có mà
có”, chớ nên chấp Không. V́ thế, nói “như mộng”
không chỉ là dạy quán Hữu như mộng, mà c̣n là dạy
hăy quán hết thảy Không và Hữu đều như mộng.
Nếu có thể đối với hết thảy pháp hữu
vi đều “có chính là chẳng có”, ngại ǵ trong hết
thảy pháp hữu vi “chẳng có mà có”! Đấy gọi
là “đại tác mộng trung Phật sự” (thực
hiện Phật sự lớn lao trong mộng). Người
học vừa mới thực hiện, bèn tu môn diệu quán
viên đốn này, đă chẳng chấp thật, mà
cũng chẳng chấp hư, lại c̣n chẳng chấp
Vô. Tức là như kinh này nói “vô ngă tướng, vô pháp
tướng, mà cũng vô phi pháp tướng”, Không đến
rốt ráo! Do vậy, tuy dính dáng Hữu, nhưng chẳng trụ
Hữu. Tuy hành Không, mà chẳng trụ Không. Do vậy, có thể
từ trong ấy mà khế nhập Thật Tướng “vô
tướng, vô bất tướng” tức là Như
Như bất động.
Do chẳng trụ,
bèn dính dáng Hữu mà hành Không, đó được gọi
là Quán từ ngay nơi Chỉ. Hành Không mà dính dáng Hữu,
đó được gọi là Chỉ từ ngay nơi
Quán. Do vậy, quán như thế, chính là Chỉ và Quán cùng vận
dụng, sẽ có thể Định và Huệ cân bằng,
sẽ là chứng như thế, sẽ có thể thông đạt
Tịch mà thường Chiếu, Chiếu mà thường Tịch,
Tịch và Chiếu đồng thời. Do vậy nói: “Hết
thảy chư Phật từ kinh này mà ra”.
Nói chung, một
bộ Kim Cang Bát Nhă, diệu chỉ Vô Trụ hoàn toàn ở
chỗ “chẳng giữ lấy tướng, Như
Như bất động”. Muốn đạt tới “chẳng
giữ lấy tướng, Như Như bất động”
th́ hoàn toàn là “hết thảy các pháp hữu vi như mộng,
huyễn, bọt, bóng, như sương, cũng như chớp,
hăy nên quán như vậy”. Hết thảy người học
hăy nên từ chỗ này mà quán, tùy thuận mà nhập. Phép
Quán này chính là kim cang huệ kiếm, không ǵ cứng rắn
chẳng phá nát, không vô minh phiền năo nào chẳng phá trừ.
V́ thế, hăy nên diễn nói như thế, thọ tŕ như
thế, vĩnh viễn lưu thông đại pháp vô thượng
ḥng tiếp nối hưng thịnh ḍng dơi Phật này!
2.3.2. Kết lại phần
Lưu Thông
(Kinh) Phật
thuyết thị kinh dĩ, trưởng lăo Tu Bồ Đề,
cập chư tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, nhất thiết thế gian, thiên, nhân, A Tu La,
văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ,
tín thọ phụng hành.
(經)佛說是經已。長者須菩提,及諸比丘、比丘尼、優婆塞、優婆夷,一切世間天人阿修羅,聞佛所說,皆大歡喜。信受奉行。
(Kinh:
Đức Phật nói kinh này xong, trưởng lăo Tu Bồ
Đề và các tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, hết thảy thế gian, trời, người,
A Tu La nghe lời Phật dạy đều hết sức
hoan hỷ, tin nhận, phụng hành).
“Phật thuyết
thị kinh dĩ” (đức Phật nói kinh này xong), ư nói:
Kinh điển rất sâu đă được nói rốt
ráo, không nghĩa nào chẳng phô rơ. Chữ Dĩ (已) hoàn toàn hô ứng với “hoan
hỷ phụng hành” trong câu sau đó, nhằm hiển thị
ư nghĩa “căn cơ và giáo pháp phù hợp khít khao, đại
chúng đều có thể nghe pháp ấy, hành theo”. Lại
c̣n tỏ rơ [đại chúng nghe xong] tin nhận, phụng
tŕ, truyền thừa vĩnh viễn chẳng tận, hàm ư:
Tuy nói là Dĩ (xong xuôi), nhưng quả thật chưa hề
thôi dứt vậy!
Trưởng
lăo là bậc đương cơ, cho nên được kể
tên đầu tiên. Kế đó, liệt kê tứ chúng, đều
là đệ tử Phật môn. Tỳ-kheo (Bhikṣu,
nghĩa là khất sĩ, bố ma v.v…) và tỳ-kheo-ni (Bhikṣuṇī)
là hai chúng xuất gia. C̣n có Sa-di (Śrāmaṇera) chưa
thọ Cụ Túc Giới (sa-di có nghĩa là Tức Từ (息慈), [tức là]
dứt ác, hành ḷng từ. Lại c̣n dịch là Cần Sách (勤策), tức siêng
năng, tinh tấn). Sa-di-ni (Śrāmaṇerī) cũng
được thâu nhiếp trong ấy. Ưu-bà-tắc
(Upāsaka), Ưu-bà-di (Upāsikā) được
phương này dịch là Thanh Tín Sĩ, Thanh Tín Nữ, cũng
dịch là Cận Sự Nam, Cận Sự Nữ, ư nói: Thanh
tịnh tam nghiệp, tín phụng đạo pháp, kham thân cận
Tam Bảo, thừa sự cúng dường, chính là hai chúng tại
gia. Người tại gia muốn nhập Phật môn,
trước hết cần phải thỉnh tỳ-kheo trao
truyền Tam Quy. Nếu chẳng có tỳ-kheo, có thể thỉnh
tỳ-kheo-ni. Đấy là chánh thức vào cửa Tam Bảo,
có thể gọi là đệ tử Phật. Kế đó,
thọ Ngũ Giới, liền gọi là ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di. Nếu chưa thọ Ngũ Giới, chẳng
kham lănh danh xưng ấy.
Tiến
hơn nữa, có thể thọ Bồ Tát Giới. Bồ
Tát Giới có loại khắp v́ người xuất gia và tại
gia mà cùng nói, như kinh Phạm Vơng nói mười giới
trọng, bốn mươi tám giới khinh. Có giới
chuyên v́ hai chúng tại gia mà nói, như kinh Ưu Bà Tắc Giới
Kinh nói sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh. Nếu
là người tại gia, hăy tự suy xét [chính ḿnh] có thể
mỗi mỗi đều [vâng giữ giới luật]
như người xuất gia, bèn có thể thọ giống
như người xuất gia. Nếu không, chẳng thà thọ
sáu giới trọng và hai mươi tám giới khinh. V́ thọ
giới th́ phải nên phụng tŕ. Nếu thọ mà chẳng
tŕ, chuốc tội chẳng nhỏ! Ắt phải nên suy
xét cặn kẽ rồi mới thọ. Sau khi đă thọ
giới Bồ Tát, bèn xưng là Bồ Tát Giới ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di. Nếu chưa chánh thức thọ Tam Quy, chỉ
gọi là tín sĩ, tín nữ, không gọi là đệ tử
Phật hoặc ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di đều có thể giảng kinh, thuyết pháp,
làm pháp sư, chỉ có điều chẳng thể làm quy giới
sư (vị thầy truyền Tam Quy, Ngũ Giới), do
chính ḿnh chưa thọ Cụ Túc Giới. Tam Quy Y tức là
giới. Hiện thời, có kẻ hướng về thiện
tri thức tại gia thỉnh cầu quy y, thọ giới,
đó là sai lầm! Hăy nên biết thỉnh cầu quy y là thỉnh
cầu truyền Tam Quy Y Giới. Chuyện này chỉ có thể
hướng về thiện tri thức xuất gia mà thỉnh
cầu. Nếu hướng về tại gia thiện tri thức
thỉnh cầu giảng kinh, thuyết pháp, làm đệ tử
của vị ấy, nương vào vị ấy làm thầy,
th́ cố nhiên không ǵ chẳng thể được! Nếu
chí nguyện chân thành, kham đáng giáo hóa, thiện tri thức
cũng chớ nên một mực cự tuyệt quyết liệt.
Bất luận chỗ tụ hội hoặc nơi
đường lộ, hai chúng tại gia hăy nên kính nhường
người xuất gia đi trước. Dẫu xuất
gia hay tại gia, đều cùng là Phật tử, nhưng
nói theo thứ tự, tỳ-kheo ví như trưởng tử,
kế đó là tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, chẳng thể lẫn lộn!
Hăy nên biết:
Xuất gia là cắt bỏ ân ái, xa ĺa trần tục,
đă được xếp vào loại Trụ Tŕ Tam Bảo,
há hai chúng tại gia thân đang lăn lộn, quẩn quanh
trong ngũ dục có thể sánh bằng? V́ thế, phải
nên tôn trọng, dẫu vị tăng phá giới cũng chớ
nên coi thường. V́ sao vậy? Hăy nên biết: Giới xuất
gia rườm rà, nghiêm ngặt. Giới Cụ Túc của tỳ-kheo
có hai trăm năm mươi điều, giới Cụ
Túc của tỳ-kheo-ni hơn ba trăm bảy mươi
điều, chẳng chú ư đôi chút, là đă vi phạm. Hai
chữ “phụng tŕ” há dễ dàng ư? Ngay như
sa-di, sa-di-ni cũng thọ mười giới, so với
người tại gia đă nhiều gấp bội, há có
nên dễ ngươi chê gièm, đàm tiếu? Nếu thật
sự biết người [xuất gia nào] ngôn hạnh mâu
thuẫn, hoặc chẳng giữ thanh quy, bèn kính nhi viễn
chi là được rồi! Đó là tuân theo chế định
của đức Phật, chính là điều được
gọi là “mặc tẫn” (默擯). “Mặc” (im lặng) là
chẳng rêu rao lỗi của người ấy. “Tẫn”
có nghĩa là không thân thiết, xa lánh. Ngay như hai chúng tại
gia mà ngôn hạnh mâu thuẫn th́ cũng nên như thế.
Đó chính là bổn phận phải nên giữ của
người tu hành, chớ nên sơ sót!
Tóm lại, nếu
muốn cho Phật pháp hưng thịnh, trong chúng tại gia
lẫn xuất gia, ắt đều phải có bậc
đạo cao đức trọng, được mọi
người khâm phục làm lănh tụ. Lại c̣n phải có
một nền chánh trị sáng suốt, người chủ
yếu trong chánh phủ cũng phải nên tín phụng Tam Bảo,
cùng nhau duy tŕ, bảo vệ, chỉnh đốn th́ mới
có thể thực hiện được. Nương theo
chế định của đức Phật, người
xuất gia nếu trái nghịch Phật pháp liền giao cho
bậc lănh tụ đại đức trong Tăng chúng
vâng theo luật nhà Phật trị phạt. Nếu phạm
phép nước, cũng cần phải được bậc
lănh tụ đại đức đồng ư; trước
hết, buộc người ấy hoàn tục. Sau đó mới
có thể nương theo pháp luật thế gian để
trị. Nhất là khi cho thế phát, phải nghiêm ngặt
chọn lựa người đủ tư cách. Đấy
chính là đạo “gốc chánh, nguồn trong” vậy!
Sa Bà là một
đại thiên thế giới, trong ấy có mười vạn
vạn tứ thiên hạ, mười vạn vạn Lục
Dục Thiên v.v… Huống hồ, khi đức Phật thuyết
pháp, từ mười phương vô lượng số thế
giới, các vị Bồ Tát, trời, rồng đến dự
pháp hội rất ư đông đảo! V́ thế nói là “nhất
thiết thế gian” (hết thảy thế gian). Hễ
nói đến trời và Tu La, tức là bao gồm cả tám
bộ. Chữ Nhân (人) ở đây
chỉ chung những người ở ngoài tứ chúng.
[Chánh kinh] chẳng nhắc tới Bồ Tát là do có hai
nghĩa:
1) Đây là hội
thứ chín trong pháp hội Đại Bát Nhă, trong hội
trước đă liệt kê Bồ Tát. Do vậy, nay lược
đi.
2) Kinh này v́
người phát Đại Thừa, tối thượng thừa
mà nói. Có thể thấy người dự hội đều
là bậc Bồ Tát Ma Ha Tát phát Vô Thượng Bồ Đề
tâm. Do vậy, chẳng liệt kê riêng.
“Giai đại
hoan hỷ”
(đều hết sức hoan hỷ): Nghe đại pháp
này, tâm khai ư giải, đó là “hoan hỷ”. Lại c̣n biết
tin nhận, phụng hành; đó là gánh vác Như Lai, sẽ đắc Bồ Đề, có hy vọng
thành Phật, chẳng giống như Tiểu Thừa. V́ thế,
đại hoan hỷ! Đại chúng trong pháp hội không
ai chẳng như thế. V́ thế, “giai đại hoan hỷ”.
“Tín” (信) tức là tín
tâm chẳng trái nghịch. “Thọ” (受)
là giải, tức hiểu sâu xa nghĩa thú. Do có ḷng tin chẳng
trái nghịch, tin hiểu mà tiếp nhận, cho nên phụng
hành. “Phụng” (奉) là tuân phụng, tức là tuân theo nghĩa thú
được nói trong kinh. Chữ Hành (行) là nói kiêm tự lợi và lợi tha, ư
nói: Chính ḿnh tuân phụng mà hành tŕ, lại c̣n rộng lưu
truyền kinh này, v́ người khác diễn nói, khiến cho
hết thảy chúng sanh không ai chẳng đại hoan hỷ.
Tín thọ như thế, phụng hành như thế đấy,
cốt sao nước huệ chảy măi, pháp mạch
vĩnh viễn thông suốt, lưu truyền trải kiếp
số như vi trần không trệ ngại, phổ cập
muôn loài chẳng sót, trọn khắp pháp giới, tột
cùng vị lai. Chỗ có kinh này chính là chỗ đức Phật
thuyết pháp. Phần trước đă nói “đức
Phật nói kinh này xong”, bất quá là ước theo sự
tướng nhất thời để nói đó thôi. Ư của
người kết tập là hết thảy đại
chúng đều y giáo phụng hành, Phật chủng vĩnh
viễn chẳng dứt. Tức là đức Thế Tôn nói
kinh này vĩnh viễn chẳng có lúc nào chấm dứt.
Không chỉ người kết tập kinh có hoằng nguyện
ấy, lũ chúng ta ngày nay, kẻ nói, người nghe, phát
khởi pháp hội này, duy tŕ pháp hội này, không ai đều
chẳng hoan hỷ to lớn, tin nhận, phụng hành, cùng
trọn đủ nguyện ấy! Có nguyện ấy th́ mới
là thật sự tin nhận, thật sự phụng hành, thật
sự hoan hỷ. Đấy chính là chỗ chúng ta báo ân Phật.
Bất Huệ tự thẹn đối với kinh sâu này
chưa thể trọn hết sức diễn nói, bất
quá chỉ là một giọt nước trong biển cả.
Nhưng một giọt nước ấy đă trọn
đủ vị của toàn bộ biển cả. Kính mong
các vị thiện tri thức sẽ từ thật tín mà tiến
nhập tịnh tín, từ hữu vi mà chứng vô vi, dùng hạnh
nguyện này trang nghiêm cơi Phật, hóa độ hữu t́nh,
sẽ có thể thành Phật ngay trong thân này, há chỉ chắc
chắn sanh về Tây mà thôi ư?
Kim Cang Bát Nhă
Ba La Mật Kinh Giảng Nghĩa quyển năm hết
3.
Ghi chép về chuyện khảo đính kinh Kim Cang
Nguyên văn của
chánh kinh [trong bản giảng nghĩa] này một mực
tuân theo bản chép tay của người đời
Đường được giữ trong hang đá tại
Đôn Hoàng[10], bản
chép tay của Liễu Công Quyền chính là một bản
được cất giữ trong hang đá, đă
được in theo lối ảnh ấn lưu truyền
trong cơi đời, có thể đem đối chiếu. V́
thế, trong phần ghi chép về sự giảo chánh, thẩm
định, trước hết tôi nêu ra lời kinh chép
trong bản của ông Liễu. Kế đó, giảo chánh
đối chiếu với các bản khác. Nay tôi đem danh
mục của các bản đă dùng làm căn cứ, và những
văn bản không có bản lưu hành riêng (tức là các bản
được thâu thập trong Đại Tạng Kinh), mỗi
mỗi đều chép ra tường tận đặt
trước phần giảo chánh, thẩm định để
tiện [cho độc giả] kiểm giảo!
1) Cuối bản
kinh do ông Liễu chép có ghi “ngày mồng Sáu tháng Tư
năm Trường Khánh thứ tư (824), Liễu Công Quyền
v́ Hữu Nhai Tăng Lục[11]
Chuẩn Công viết”. Trong niên hiệu Tuyên Thống[12]
đời Thanh, Hữu Chánh Thư Cục ở Thượng
Hải đă từng sưu tập mười mấy loại
sách được cất giữ trong hang đá [Đôn
Hoàng], dùng cách Kha La Bản ảnh ấn (collotype printing)
để lưu hành trong cơi đời với nhan đề
là Thạch Thất Bí Bảo (石室祕寶). Bản của ông Liễu là một
trong các bí bảo. Trường Khánh (長慶) chính là niên hiệu của
Đường Mục Tông.
2) Bản của
ông Ông được ghi là “năm Nhâm Tư, tức năm
Càn Long 57 (1792), Ông Phương Cương[13]
chép”. Lời bạt ghi rằng: “Dựa theo bản khắc
đá của pháp sư Đạo Ngung triều Nam
Đường thời Ngũ Đại”; v́ thế
được xếp trước bản [kinh Kim Cang in]
trong Đại Tạng Kinh đời Tống. Hiện thời
có bản thạch ấn biếu tặng.
3) Tống Tạng
(Đại Tạng Kinh đời Tống) được
in trong niên hiệu Thiệu Định (1128-1233) đời
Tống Lư Tông, do Diên Thánh Viện thuộc Tích Sa, phủ
B́nh Giang ấn loát. Xét ra, bản này được khởi
đầu vào năm Thiệu Định thứ tư
(1231) thời Tống Lư Tông, hoàn thành vào năm Chí Đại
thứ hai (1309) thời Nguyên Vũ Tông (Khunggirad Khayishan Külüg
Khan). Trước sau là tám mươi năm mới hoàn thành
việc khắc in. Bản này vốn được tàng trữ
tại hai chùa Ngọa Long và Khai Nguyên ở Tây An. Về sau,
chuyển sang cất giữ tại thư viện tỉnh
Thiểm Tây. Hiện thời, hội Thượng Hải Ảnh
Ấn Tống Bản Tạng Kinh Hội đang sao chụp.
4) Bản của
ông Trương [được ghi là viết vào] năm Giáp
Dần, tức năm Bảo Hựu thứ hai (1254) đời
Lư Tông nhà Nam Tống, tức bản chép tay của
Trương Sư Liêu[14].
Lời bạt do ông ta tự viết có đoạn ghi: “Dựa
theo bản giảo chánh của vị tăng thuộc Thiên
Thai Giáo là Tông Ấn”. Tới năm Ất Tỵ (1665), tức
năm Khang Hy thứ tư nhà Thanh, các vị như Đát
Trùng Quang v.v… quyên mộ khắc trên đá, thờ phụng
tại Thạch Bích Am ở Tiêu Sơn. Xét ra, năm Bảo
Hựu thứ hai sau niên hiệu Thiệu Định
hơn hai mươi năm. Kinh văn trong ấy có chỗ
giống và khác với bản Tích Sa Tạng. Bản này có bản
rập. Lại có bản in đá (thạch ấn) do Uông
Đại Tiếp in tặng vào năm Dân Quốc 17 (1928).
5) Kim Cang Kinh
Chú Sớ do ngài Thích Huệ Tịnh chùa Kỷ Quốc soạn
vào đời Đường. Trước lời chú sớ
có lời tựa của quan Thường Thái Bác Sĩ[15]
đời Đường là Chử Lương ở Hà
Nam soạn. Ngài Huệ Tịnh là người đồng
thời. Sau sách, có lời bạt của Đan Dương
Tán Nhân người Nhật, nói đại lược rằng:
“Bản chú giải này chẳng lưu hành tại Chi Na, tại
Phù Tang[16] cũng chẳng
thấy. Gần đây, thầy Nghĩa Không có được
bản chân thật, bèn cho khắc in lưu hành để
lưu truyền măi măi. Của chí bảo ẩn kín đă
lâu, một hôm được tỏa sáng rực rỡ, có
thể nói đắc thời”. Năm Đinh Dậu
trong niên hiệu Hưởng Bảo (Kyōhō, là niên hiệu
của Trung Ngự Môn thiên hoàng, tức Nakamikado Tennō) thứ
hai, chính là năm Khang Hy 56 (1717) tại Trung Hoa. Chẳng rơ
kinh văn được hội nhập[17] khi nào. So với bản
của ông Liễu, câu chữ phần nhiều giống
nhau, lại c̣n thiếu một đoạn từ bản dịch
đời Ngụy, ắt [bản này] phải là có trước
các hội bản khác. V́ vậy, xếp đầu tiên
[trong các bản chú giải].
6) Kim Cang Kinh
Chú do ngài Tăng Triệu chú giải vào thời Diêu Tần.
Bản này được sa-môn Kính Hùng của Nhật Bản
đề tựa rằng: “Trước đây, [bản
chú giải này] do Từ Giác đại sư đem từ
Chi Na về, cất kín trong các danh sơn chín trăm năm.
Gần đây, thiền nhân Tổ Phương đưa
cho tôi xem. Tôi than rằng ‘chú giải kinh này, Triệu công là
vị đầu tiên. Chú giải được truyền
sang Đại Đông, bản này cũng là đầu tiên,
mà vị trí của bản phát khởi các bản chú giải
khác cũng đă đặt vững rồi, há cũng chẳng
phải là thời tiết nhân duyên ư? Thiên Thai đại
sư từng chú giải kinh này, chuyên dựa theo bản của
ngài Tăng Triệu. Giống như nói [chú giải] Quán Kinh
chuyên dựa theo ngài Tịnh Ảnh. Khắc in để
lưu truyền, lợi ích sẽ là như thế nào? Mùa Hạ
năm Nhâm Ngọ, tức năm Bảo Lịch 12”. Xét
ra năm Nhâm Ngọ (1762) trong niên hiệu Bảo Lịch
(Hōreki, là niên hiệu của Đào Viên thiên hoàng, tức
Momozono Tennō) chính là năm Càn Long 24 của Trung Hoa, cách
nay một trăm bảy mươi hai năm. Tính ngược
lại chín trăm năm th́ vào khoảng đầu niên hiệu
Hàm Thông của Đường Ư Tông cuối thời nhà
Đường của Trung Hoa. Kinh văn cũng không biết
được hội nhập khi nào, nhưng có chỗ khác
biệt so với bản khắc đá thời Nam
Đường và sách San Định Kư của ngài Trường
Thủy, và cũng đă thêm vào sáu mươi hai chữ của
bản dịch đời Ngụy. Lại c̣n chú giải rằng:
“Sáu mươi hai chữ này bản gốc chẳng có. Bản
chú sớ của tổ Thiên Thai cũng không có khoa phán đoạn
này, nhưng các bản đều có đoạn văn này,
nên vẫn giữ lại”; như vậy có thể biết
bản văn này phải xuất hiện sau bản chú giải
của ngài Huệ Tịnh. Hai sách trên đây đều thấy
trong Tục Tạng Kinh[18]
theo lối ảnh ấn của Thương Vụ Ấn
Thư Quán, không có bản lưu hành riêng (Phạm Cổ Nông
ghi chú: Sách này trong Tục Tạng Kinh đă được
các vị Đinh Duy Sâm v.v… dựa theo bản giảo chánh của
ông Lê Đoan Phủ cho khắc in tại Cám Châu Khắc Kinh
Xứ vào năm Dân Quốc thứ chín - 1920).
7) Kim Cang Kinh
Trí Giả Sớ, do ngài Thiên Thai Trí Giả nói vào đời
Tùy, được khắc in vào năm Quang Tự 33 (1907)
nhà Thanh tại Kim Lăng (Nam Kinh).
8) Kim Cang Kinh
Nghĩa Sớ do ngài Gia Tường Cát Tạng soạn vào
đời Tùy, bản khắc in tại Kim Lăng vào
năm Dân Quốc thứ sáu (1917).
9) Kim Cang Kinh
Tán Thuật do ngài Khuy Cơ chùa Đại Từ Ân soạn
vào đời Đường, khắc in tại Kim Lăng
vào năm Dân Quốc thứ sáu (1917).
10) Kim Cang Kinh
Sớ Luận Toản Yếu do ngài Tông Mật chùa Đại
Hưng Phước soạn vào đời Đường,
khắc in tại Bắc B́nh (Bắc Kinh) vào năm Dân Quốc
11 (1922).
Bốn bộ
sách nói trên đây đều từ Nhật Bản
đưa về. Sách Nghĩa Sớ vốn không có kinh
văn, khi [thư cục tại] Kim Lăng ấn hành th́
thêm vào. Do vậy, kinh văn giống như bản lưu
thông.
Những phần
kinh văn được thêm vào trong ba sách kia, hoặc dựa
theo bản cũ, hoặc chẳng hoàn toàn tuân theo. Do vậy
có chỗ giống nhau và khác nhau so với bản lưu
thông. Có thể đem bản đơn hành (bản lưu
thông riêng ngoài Đại Tạng Kinh) để đối
chiếu giảo chánh với Tục Tạng.
11) Kim Cang Kinh
Sớ Kư Vựng Biên khắc in tại Bắc B́nh trong
năm Dân Quốc 19 (1930). Kư tức là San Định Kư do
sa-môn Trường Thủy Tử Tuyền soạn vào đời
Tống. Xét ra, trong Tục Tạng có thâu nhập bộ Sớ
Kư Khoa Hội do Thích Đại Tân soạn vào đời
Minh. Sách ấy dựa theo bản khắc in năm Càn Long 47
(1782) đời Thanh, [bản in đời Càn Long lại] dựa
theo cổ bản do ngài Vân Thê khắc in, có thể nhờ
vào đó để khảo chứng chỗ khác biệt và
giống nhau giữa bản thời Minh và bản hiện
thời.
* Giảo khám kư (ghi chép về
sự so sánh, suy xét các phiên bản khác nhau của kinh Kim Cang)
“Ưng vân hà
trụ”
(bản của ông Liễu, bản của ông Ông, Tống Tạng,
sách của ông Trương, bản khắc đời Minh,
chú sớ của ngài Tăng Triệu, sách Toản Yếu và
bản chú giải của ngài Huệ Tịnh, ba hội bản
ấy đều giống nhau. Nay bản lưu thông và bản
lưu thông ghi là “vân hà ưng trụ”, giống như
cách ghi đời Hậu Châu[19]. Dựa theo
kinh văn do sách Tán Thuật trích dẫn, cũng phải nên
ghi là “ưng vân hà trụ”).
“Nhược
phi hữu tưởng, phi vô tưởng” (từ bản
của ông Liễu cho tới bản khắc đời
Minh, bản chú giải của ngài Huệ Tịnh, chú giải
của ngài Tăng Triệu, sớ giải của tổ
Trí Giả, sách Tán Thuật, Toản Yếu năm hội bản,
và bản lưu thông hiện thời đều giống
nhau. Bản khắc đầu đời Thanh trước
“phi vô tưởng” thêm một chữ Nhược (若), lại c̣n
ghi chú rằng: “Cổ bản không có”. Xét ra cổ bản
chẳng có, sao lại tự ư chèn thêm vào? Nay đối chiếu
các bản, bèn thấy từ cuối đời Đường
trở đi, kinh văn bị người khác tùy tiện
tăng thêm, sửa đổi, nhưng trong thời Minh -
Thanh, tăng thêm hoặc sửa đổi nhiều nhất).
“Nhược
Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh
tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ
Tát”
(trong hội bản của sách Triệu Chú, sau chữ
Nhược không có hai chữ Bồ Tát, các bản khác đều
có).
“Tắc kiến
Như Lai”
(bản của ông Liễu, bản của ông Ông, Tống Tạng,
sách của ông Trương, chú giải của ngài Huệ Tịnh,
chú sớ của ngài Tăng Triệu, sớ giải của
ngài Trí Giả, ba hội bản đều giống nhau. Bản
lưu thông sửa Tắc (則) thành Tức (即), bản khắc đời Minh - Thanh
cũng vậy).
“Ư thử
chương cú”
(xưa nay các bản đều [ghi câu này] giống nhau, chỉ
có hội bản sách chú giải của ngài Tăng Triệu
ghi là “thử ư chương cú”).
“Tắc vi trước
ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả” (xưa nay các bản đều
[ghi câu này] giống nhau, chỉ có bản khắc đầu
đời Thanh ghi Tắc thành Tức).
“Hà dĩ cố?
Nhược thủ phi pháp tướng” (các bản
xưa nay đều giống nhau, riêng bản khắc đầu
đời Thanh, có nêu nghi vấn ba chữ “hà dĩ cố”
là thừa thăi bèn gạt bỏ).
“Thị cố
Như Lai sở thuyết phước đức đa.
Nhược phục hữu nhân” (các bản xưa nay đều
ghi giống nhau. Riêng bản khắc đầu đời
Thanh trước chữ “nhược phục” thêm
năm chữ “Phật cáo Tu Bồ Đề”).
“Sở vị
Phật pháp giả, tức phi Phật pháp” (các bản
xưa nay đều ghi giống nhau. Bản khắc đầu
đời Thanh, sau chữ “tức phi” lại thêm câu “thị
danh Phật pháp”. Xét theo San Định Kư của ngài
Trường Thủy nói: Như trong kinh, “tức phi Phật
pháp” là nói về Thắng Nghĩa Đế, nhằm
ngăn che phía tăng ích. “Thị danh Phật pháp” là Thế
Tục Đế, nói theo phương diện ngăn chặn
tổn giảm. Những chỗ Tức Phi khác đều
phỏng theo lệ này, xem trang mười một nơi quyển
ba của sách Sớ Kư Vựng Biên. Tức là vào thời ngài
Trường Thủy đă có câu này trong bản được
in khắc, chẳng biết bị ai thêm câu này vào. Nhưng
xét theo ư trong lời Sớ của ngài Khuê Phong, quả thật
chẳng có câu Thị Danh ấy. Sớ viết: “Trong
Đệ Nhất Nghĩa, chẳng có Phật pháp từ
kinh này mà ra”. Xem [câu này] nơi trang hai mươi sáu trong
quyển thượng sách Toản Yếu. Trường Thủy
Kư dựa theo lời Sớ để giải thích, chẳng
nhắc tới câu Thị Danh. Xem trang ba mươi hai trong
quyển bốn của bộ Vựng Biên. Khảo sát khắp
các bản chú sớ của cổ đức, đều chẳng
có ư nghĩa “thị danh” này).
“Nhi thật vô
lai”
(bản chú giải của ông Liễu, Tống Tạng, và bản
của ngài Huệ Tịnh như nhau. Bản lưu thông ghi
thành “nhi thật vô bất lai”. Do bản khắc trên
đá thời Nam Đường đă thêm vào chữ Bất.
Xét theo bàn chú sớ của ngài Trí Giả và Gia Tường
Nghĩa Sớ đều nói: “Dùng vô để kiêm bất”.
Ngài Huệ Tịnh nói: “Nh́n vào đă thấy trong ấy
chẳng có Ngă, nói là ai sẽ đến? V́ thế bảo
‘nhi thật vô lai” (nhưng thật ra chẳng đến).
Đủ chứng tỏ [chánh kinh] vốn ghi là “vô lai”).
“Thị đệ
nhất ly dục A La Hán, ngă bất tác thị niệm” (bản của
ông Liễu cho tới bản khắc đời Minh, và chú
giải của ngài Huệ Tịnh, năm hội bản
đều ghi như nhau. Trong bản lưu thông, trước
chữ Ngă có hai chữ Thế Tôn, các bản đầu
đời Thanh đều ghi như thế).
“Ngă nhược
tác thị niệm” (các bản xưa nay đều giống
nhau, chỉ riêng bản của ngài Tăng Triệu không có
chữ Ngă).
“Ư pháp hữu
sở đắc phủ? Thế Tôn! Như Lai tại Nhiên
Đăng Phật sở” (bản của ông Liễu và bản
của ngài Huệ Tịnh ghi giống nhau. Trong bản
lưu thông sau câu “hữu sở đắc phủ” có
hai chữ “phất dă”. Các bản sau bản khắc
đá thời Nam Đường đều là như thế).
“Tắc phi
trang nghiêm”
(bản của ông Liễu, Tống Tạng, sách của ông
Trương, bản của ngài Huệ Tịnh giống
nhau. Bản lưu thông ghi là “tức phi”. Các bản khắc
đá thời Nam Đường và các bản in thời
Minh - Thanh đều là như thế).
“Nhi thử
phước đức thắng tiền phước đức” (các bản
xưa nay đều ghi giống nhau, nhưng bản của
ngài Huệ Tịnh ghi Nhi thành Như).
“Tắc vi hữu
Phật”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, bản chú giải của ngài Huệ Tịnh,
sách Toản Yếu, hai hội bản đều ghi giống
như vậy. Bản lưu thông và các bản đầu
đời Thanh đổi Tắc thành Tức).
“Tắc phi Bát
Nhă Ba La Mật”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, và hội bản sách chú giả của ngài
Huệ Tịnh đều ghi giống nhau. Bản lưu
thông và bản khắc đầu đời Thanh đổi
Tắc thành Tức. Sau đó lại có câu “thị danh Bát
Nhă Ba La Mật”. Trong các bản khắc đầu đời
Thanh, có bản ghi chú: “Cổ bản không có”. Xét ra, câu “thị
danh Bát Nhă Ba La Mật” do Tích Sa Tạng đời Nam Tống
mới bắt đầu thêm vào. Không chỉ bản kinh
chép tay của người đời Đường không
có câu ấy, ngay cả bản khắc đá đời Nam
Đường và sách của ông Trương Sư Liêu
đều không có. Kinh văn trong hội bản thuộc năm
bản chú giải của các vị như Huệ Tịnh
v.v… đều chẳng nói “thị danh”. Lại khảo
cứu bản chú giải của ngài Tăng Triệu, thấy
nói: “Tắc phi Bát Nhă chính là Huệ Không. Cảnh diệt,
huệ vong, tướng nào chẳng tận. Ư chỉ hoằng
tŕ phải nên ở ngay chỗ này”. Bản chú giải của
ngài Trí Giả cũng có cùng ư kiến. Trong bản sớ giải
của tổ Trí Giả c̣n viết: “Bát Nhă tức chẳng
phải là Bát Nhă, đấy là như Không”. Gia Tường
Nghĩa Sớ viết: “Bát Nhă chẳng phải là Bát Nhă,
tức tâm hành đoạn. Trong đoạn sau đó,
‘Như Lai vô sở thuyết’ (Như Lai chẳng nói ǵ) là dứt
bặt ngôn ngữ”. Ngài lại nói: “Đức Phật
nói Bát Nhă, đấy là Bát Nhă của Phật. ‘Tắc phi Bát
Nhă’ (tức chẳng phải là Bát Nhă) [hàm nghĩa] chẳng
phải là trí huệ của Nhị Thừa”. Bản chú
giải của ngài Huệ Tịnh giảng: “Ngày chứng
Chân đạt được Bát Nhă chân thật. Khi đạt
được Chân, liền xả văn tự. V́ thế
nói: Phật thuyết Bát Nhă tắc phi Bát Nhă”. Sách Tán Thuật
ghi: “[Chánh kinh nói] ‘tức chẳng phải là Bát Nhă Ba La Mật,
[hàm ư] chẳng phải riêng ḿnh đức Phật trần
thuật”. Sách Toản Yếu ghi: “Đối với
câu ‘tức chẳng phải là Bát Nhă’, ngài Vô Trước bảo:
Đối trị chấp trước đúng như lời
nói”. Các bản cổ chú trên đây đều chẳng
nhắc tới Thị Danh).
“Khả dĩ
tam nhị tướng kiến Như Lai phủ? Phất
dă, Thế Tôn! Hà dĩ cố” (bản của ông Liễu và bản
của ngài Huệ Tịnh ghi giống nhau. Trong bản
lưu thông, trước “hà dĩ cố”, có câu “bất
khả dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến
Như Lai”. Xét ra, bản khắc đá thời Nam
Đường đă thêm câu này. Tra trong các bản cổ
chú, đều không thấy giải thích câu này! Sách Nghĩa
Sớ bảo câu này giống như lời giải thích
để kết lại phần kinh văn trước
đó, tức ư nghĩa “có thể dùng thân tướng
để thấy Như Lai hay không”. V́ thế, [ư
nghĩa] xuyên suốt phần kinh văn trước
đó).
“Tắc sanh Thật
Tướng”
(các bản xưa nay đều ghi giống nhau, bản in
đầu đời Thanh đổi Tắc thành Tức).
“Tắc thị
phi tướng”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, năm hội bản trong các chú sớ
như chú sớ của ngài Huệ Tịnh v.v… đều
ghi giống như vậy. Bản lưu thông và bản in
đầu đời Thanh đổi Tắc thành Tức).
“Thị nhân tắc
vi đệ nhất hy hữu” (các bản xưa nay đều
ghi giống nhau, bản in đầu đời Thanh đổi
Tắc thành Tức).
“Thử nhân vô
ngă tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ
giả tướng” (từ bản của ông Liễu cho tới
bản khắc đời Minh, năm hội bản trong
các chú sớ như chú sớ của ngài Huệ Tịnh v.v…
đều ghi giống như vậy. Bản lưu thông và
bản in đầu đời Thanh ghi thành “thử nhân
vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng,
vô thọ giả tướng”).
“Tắc danh
chư Phật”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản của
ông Trương, năm hội bản trong các chú sớ
như chú sớ của ngài Huệ Tịnh v.v… đều
ghi giống như vậy. Bản lưu thông và bản in
đời Minh sửa Tắc thành Tức).
“Phi đệ
nhất Ba La Mật” (từ bản của ông Liễu cho tới
bản khắc đời Minh, hội bản chú sớ của
ngài Huệ Tịnh đều ghi giống như vậy. Bản
lưu thông và bản in đầu đời Thanh sau ghi là “tức
phi” [đệ nhất Ba La Mật]).
“Như Lai thuyết
phi Nhẫn Nhục Ba La Mật” (từ bản của ông
Liễu cho tới bản khắc đời Minh, năm hội
bản trong các sách chú sớ như tác phẩm của ngài Huệ
Tịnh v.v… đều ghi giống như vậy. Bản
lưu thông và bản in đầu đời Thanh sau câu này,
có thêm câu “thị danh Nhẫn Nhục Ba La Mật”.
Đầu đời Thanh có bản in, dưới đó có
chú thích: “Câu Thị Danh này cổ bản chẳng có,
nhưng chẳng thể thiếu được!” Do vậy,
có thể thấy là nó được thêm vào trong thuở ấy.
Xét ra, bản chú giải của ngài Trí Giả giảng: “Đă
chẳng có ta, người, có ai để buộc, ai phải
nhẫn. V́ thế, chẳng nhẫn mà nhẫn, nhẫn mà
chẳng nhẫn, đó là cái Thể của Bát Nhă”. Sách
Toản Yếu ghi: “Nhẫn đạt tới bờ kia,
đă ĺa tướng khổ, huống hồ bờ này chẳng
phải bờ kia, ai khổ, ai nhẫn?” Trong các bản
cổ chú khác, đều không nói đến ư nghĩa của
câu Thị Danh).
“Tắc vi phi
trụ”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, các bản chú giải của ngài Huệ Tịnh
và Tăng Triệu, sách Toản Yếu, bốn hội bản
đều ghi giống nhau. Bản lưu thông và bản in
đầu đời Thanh sửa Tắc thành Tức).
“Bồ Tát vị
lợi ích nhất thiết chúng sanh” (từ bản
của ông Liễu cho tới bản khắc đời
Minh, năm hội bản trong các sách chú sớ như tác phẩm
của ngài Huệ Tịnh v.v… đều ghi giống
như vậy. Bản lưu thông th́ sau chữ Chúng Sanh có chữ
Cố, tức là [chữ này] được thêm vào đầu
đời Thanh. Đầu đời Thanh cũng có bản
in ghi rơ: “Các bản đều chẳng có chữ Cố”).
“Tắc phi
chúng sanh”
(từ bản của ông Liễu, Tống Tạng, bản
khắc đời Minh cho đến hội bản của
hai bản chú giải Huệ Tịnh, Tăng Triệu đều
ghi giống như vậy. Bản lưu thông và bản in
đầu đời Thanh sửa Tắc thành Tức. Bản
khắc đá thời Nam Đường và bản của
ông Trương cũng thế).
“Tắc vô ngă
kiến”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, năm hội bản của các bản chú
giải Huệ Tịnh v.v… và bản lưu Thông đều
giống nhau. Câu này cùng với các câu sau đó như “tắc
vi Như Lai dĩ Phật trí huệ”, “tắc vi hà đảm”,
“tắc ư thử kinh”, “tắc vi thị tháp”, “tắc vi
tiêu diệt” trong các bản in đầu đời Thanh
phần nhiều sửa Tắc thành Tức).
“Giai thành tựu
bất khả lượng, bất khả xưng, vô hữu
biên, bất khả tư nghị công đức” (bản của
ông Liễu ghi như thế. Các bản khác đều ghi là
“giai đắc thành tựu”. Xét theo bản chú giải
của ngài Huệ Tịnh: “Nếu có người
nương theo kinh này để khởi hạnh, sẽ
sanh vô biên phước, tương ứng với ba Phật
tánh, cho nên có thể viên măn giới chủng”. Giới
là Chân Như, Chủng là Bồ Đề tâm, hạnh Lục
Độ. Giới chủng tức là ba Phật tánh. Nghiền
ngẫm ư của lời chú giải, có thể biết không
có chữ Đắc. “Đắc” có nghĩa là sẽ
đạt được. Nay nói “tương ứng với
ba Phật tánh” tức là đă thành tựu. “Đă thành
tựu” tức là thành tựu tương ứng, [tức
là] đă có vốn liếng có thể tương ứng với
giới chủng, chứ chẳng phải là nói “đă thành
Phật”. Đấy chính là như San Định Kư của
ngài Trường Thủy viết: “Nếu có thể tuyên
nói, thọ tŕ, sẽ là tu hành hai thứ lợi (tự lợi
và lợi tha), có thể khiến cho Phật chủng chẳng
đoạn, bèn gọi là gánh vác Bồ Đề”. Bởi
lẽ, nói “thành tựu” chính là nói “thành tựu gánh
vác”. V́ thế, sách San Định Kư của ngài Trường
Thủy lại nói: “Các công đức như chẳng thể
lường v.v… làm cái nhân cho Vô Thượng Bồ Đề”.
Dựa theo đó, đủ chứng tỏ [nguyên bản] vốn
không có chữ Đắc).
“Tâm tắc cuồng
loạn”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, năm bản hội bản của các bản
chú giải như tác phẩm của ngài Huệ Tịnh v.v…
đều ghi giống như vậy. Bản lưu thông và
bản in đầu đời Thanh sửa Tắc thành Tức).
“Phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả” (bản của
ông Liễu ghi như thế. Các bản khác trước chữ
Giả c̣n có chữ Tâm. Xét ra, ư chỉ của kinh chính là phá
trừ cái tâm giữ ư niệm “có pháp Bồ Đề”, cho
nên sát ngay sau đó liền nói “đương sanh như
thị ngă ưng diệt độ chúng sanh, năi chí vô nhất
chúng sanh thật diệt độ chi tâm” (hăy nên sanh cái
tâm ta phải nên diệt độ chúng sanh như thế,
cho đến chẳng có một chúng sanh thật sự
được diệt độ); vậy th́ sau Bồ
Đề không thể đặt chữ Tâm được!
Hăy nên vâng theo bản của người đời
Đường đă rơ rồi. Trong các phần sau cũng
như vậy).
“Hà dĩ cố?
Nhược Bồ Tát hữu ngă tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tắc
phi Bồ Tát”
(bản của ông Liễu, bản khắc đời Minh,
bản của ngài Huệ đều ghi như vậy. Bản
của ông Ông cho đến bản lưu thông, trước
chữ Nhược c̣n ghi ba chữ “Tu Bồ Đề”.
Hơn nữa, bản in đầu đời Thanh sửa “tắc
phi” thành “tức phi”).
“Thật vô hữu
pháp phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả” (bản của
ông Liễu ghi như thế. Những bản khác ghi trước
chữ Giả có chữ Tâm).
“Nhược
hữu pháp Như Lai đắc A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề” (bản của ông Liễu và bản của
ngài Huệ Tịnh ghi như thế. Trong các bản khác, sau
chữ Đề có chữ Giả).
“Nhiên
Đăng Phật tắc bất dữ ngă thọ kư” (các bản
xưa nay ghi giống như nhau. Bản in đầu đời
Thanh sửa Tắc thành Tức).
“Tắc vi phi
đại thân”
(bản của ông Liễu, Tống Tạng, bản của
ông Trương, bản khắc đời Minh, năm hội
bản thuộc chú giải của ngài Huệ Tịnh v.v…
đều giống nhau. Bản lưu thông đổi Tắc
thành Tức. Bản của ông Ông và bản in đầu
đời Thanh đều như thế).
“Tắc bất
danh Bồ Tát”
(các bản xưa nay đều ghi giống như vậy.
Bản đầu đời Thanh sửa Tắc thành Tức).
“Vô hữu pháp
danh vi Bồ Tát”
(bản của ông Liễu, bản của ngài Huệ Tịnh,
bản của ngài Tăng Triệu đều ghi như
nhau. Bản lưu thông sửa thành “thật vô”. Các bản
sau bản khắc đá thời Nam Đường đều
là như thế. Xét theo Trường Thủy Kư ghi “chỉ
xét theo vô ngă, vô nhân, Chân Như thanh tịnh mà gọi là Bồ
Tát, chẳng phải là nói riêng có một pháp”, đủ
chứng tỏ vốn chẳng có chữ Thật. Nếu
có, sẽ nói là “chẳng phải là nói thật sự có một
pháp”, chẳng nên nói là “riêng có”).
“Hằng hà
trung sở hữu sa” (Bản của ông Liễu, Tống
Tạng, bản của của ông Trương và ngài Huệ
Tịnh đều ghi như nhau. Trong bản lưu thông,
trước chữ Hằng có chữ Như. Bản khắc
đá thời Nam Đường và các bản thời Minh -
Thanh đều như vậy).
“Hữu
như thị đẳng Hằng hà” (bản của
ông Liễu, Tống Tạng, bản của ông Trương
và ngài Huệ Tịnh đều ghi như vậy. Trong bản
lưu thông, trước chữ Đẳng có chữ Sa. Bản
khắc đá thời Nam Đường, các bản thời
Minh - Thanh đều là như thế).
“Quá khứ tâm
bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả
đắc, vị lai tâm bất khả đắc” (các bản
xưa nay đều ghi giống như vậy. Chỉ có bản
của ngài Huệ Tịnh ghi [theo thứ tự khác], đầu
tiên là quá khứ, kế đó là vị lai, thứ ba là hiện
tại. Luận của Vô Trước Bồ Tát cũng ghi
như thế. Luận nói: “Do quá khứ đă diệt, vị
lai chưa có, hiện tại là Đệ Nhất Nghĩa”).
“Như Lai bất
ưng dĩ sắc thân kiến” (bản của ông Liễu
và bản của ngài Huệ Tịnh như nhau. Bản
lưu thông th́ trước chữ Sắc Thân có hai chữ Cụ
Túc. Các bản khắc sau bản khắc đá thời Nam
Đường đều như thế).
“Tức vi báng
Phật”
(các bản xưa nay đều ghi giống như vậy. Bản
khắc đá thời Nam Đường và bản của
ông Trương sửa Tức thành Tắc).
“Nhĩ thời,
huệ mạng Tu Bồ Đề” cho tới “thị
danh chúng sanh” (bản của ông Liễu không có. Các bản
sau bản khắc đá thời Nam Đường th́ có.
Xét ra, sáu mươi hai chữ ấy trong bản dịch
đời Tần chẳng có, mà là do người đời
dựa theo bản dịch đời Ngụy thêm vào. V́ thế,
từ bản chú giải của ngài Tăng Triệu cho tới
sách Toản Yếu đều không nhắc đến. Chỉ
có sách Tán Thuật dẫn đoạn thêm vào bản dịch
đời Ngụy để chú giải. Đại lược
th́ đời Đường hoặc có khi thêm vào, có khi
không thêm. Tới các bản sau thời Ngũ Đại,
không bản nào chẳng thêm vào [đoạn này]. Nói chung,
nghĩa lư trong đoạn này trong kệ luận đều
có, trích từ bản dịch đời Ngụy thêm vào
cũng hay! Bản dịch đời Tần do phần kinh
văn trước đó đă có câu “Như Lai thuyết
nhất thiết chúng sanh tắc phi chúng sanh” (Như Lai
nói hết thảy chúng sanh chẳng phải là chúng sanh), nên
chỗ này bèn lược đi).
“Vi vô sở
đắc da? Như thị, như thị” (bản của
ông Liễu, bản của ngài Huệ Tịnh ghi giống
như vậy. Bản lưu thông th́ trước chữ “như
thị” có ghi “Phật ngôn”. Xét ra, từ bản khắc
đá thời Nam Đường đă có hai chữ “Phật
ngôn”).
“Tắc đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (từ bản
của ông Liễu cho tới bản khắc đời
Minh, năm hội bản nơi các bản chú giải của
ngài Huệ Tịnh v.v… đều ghi giống như vậy.
Bản lưu thông và bản in đầu đời Thanh sửa
Tắc thành Tức).
“Như Lai thuyết
phi thiện pháp”
(bản của ông Liễu, Tống Tạng, bản của
ông Trương, bản của ngài Huệ Tịnh đều
ghi giống nhau. Bản lưu thông th́ sau chữ Thuyết
có chữ Tức. Bản khắc đá thời Nam
Đường, các bản in thời Minh - Thanh đều
như thế. Các bản cổ chú như bản chú giải
của ngài Huệ Tịnh, sách Tán Thuật dẫn kinh đều
chẳng có chữ Tức. Chỉ có sách Toản Yếu ghi
là “tức phi”).
“Thọ tŕ, vị
tha nhân thuyết” (bản của ông Liễu và bản của
ngài Huệ Tịnh ghi giống nhau. Bản lưu thông th́
sau “thọ tŕ” có hai chữ “độc tụng”.
Các bản sau bản khắc đá thời Nam Đường
đều ghi giống như thế).
“Như Lai tắc
hữu ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả” (từ bản
của ông Liễu cho tới bản khắc đời
Minh, năm hội bản của các bản chú giải
như tác phẩm của ngài Huệ Tịnh vv… đều
ghi như nhau. Bản lưu thông và bản in đầu
đời Thanh sửa Tắc thành Tức).
“Tắc phi hữu
ngă”
(giống như trên).
“Tắc phi
phàm phu”
(giống như trên. Hơn nữa, trong các bản in đầu
đời Thanh và bản lưu thông hiện thời, sau câu
này lại có câu “thị danh phàm phu”. Từ bản của
ông Liễu cho tới bản khắc đời Minh, bốn
hội bản trong bản chú giải của ngài Huệ Tịnh,
bản chú giải của ngài Tăng Triệu, chú giải của
Trí Giả, sách Tán Thuật đều chẳng có câu này. Bản
đầu đời Thanh th́ có, nhưng ghi rơ “cổ bản
chẳng có”. Khảo cứu tường tận các bản
cổ chú, đều chẳng có ư nghĩa “thị danh”).
“Chuyển luân
thánh vương tắc thị Như Lai” (giống
như trên).
“Nhữ
nhược tác thị niệm phát A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề giả” (bản của ông Liễu, bản
của ngài Huệ Tịnh, bản của ngài Tăng Triệu
đều ghi giống nhau. Bản lưu thông th́ trước
chữ Giả có chữ Tâm. Các bản sau bản khắc
đá thời Nam Đường đều là như thế).
“Phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề giả, ư pháp bất
thuyết đoạn diệt tướng” (giống
như trên).
“Dĩ măn hằng
hà sa đẳng thế giới thất bảo bố thí” (bản của
ông Liễu, bản của ngài Huệ Tịnh ghi như
nhau. Trong bản lưu thông, trước “bố thí” có
hai chữ “tŕ dụng”. Các bản sau bản khắc
đá thời Nam Đường đều là như thế,
nhưng bản khắc đời Minh ít có bản dùng hai chữ
“tŕ dụng”).
“Thử Bồ
Tát thắng tiền Bồ Tát sở đắc công đức.
Tu Bồ Đề! Dĩ chư Bồ Tát bất thọ
phước đức cố” (bản của ông Liễu,
bản của ông Trương, hai hội bản trong bản
chú giải của ngài Huệ Tịnh và sách Tán Thuật
đều giống nhau. Bản lưu thông th́ sau “công
đức” có ba chữ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy).
Bản khắc đá thời Nam Đường, Tích Sa Tạng
cũng ghi như thế. Bản khắc đời Minh th́
không có câu “hà dĩ cố”).
“Thị vi trần
chúng ninh vi đa phủ? Thậm đa Thế Tôn” (bản của
ông Liễu, Tống Tạng, bản khắc đời
Minh, năm hội bản trong các bản chú giải của
ngài Huệ Tịnh v.v… đều giống nhau. Bản
lưu thông th́ trước “thậm đa” c̣n có câu “Tu
Bồ Đề ngôn”. Bản khắc đá thời Nam
Đường, bản của Trương Sư Liêu, bản
in đầu đời Thanh đều có).
“Phật tắc
bất thuyết thị vi trần chúng” (từ bản
của ông Liễu cho tới bản khắc đời
Minh, năm hội bản trong các bản chú giải của
ngài Huệ Tịnh v.v… đều giống nhau. Bản
lưu thông, bản in đầu đời Thanh đều
ghi Tắc thành Tức).
“Tắc phi vi
trần chúng”
(bản của ông Liễu, Tống Tạng, bản của
ông Trương, bản khắc đời Minh, năm hội
bản của các bản chú giải như chú giải của
ngài Huệ Tịnh v.v… đều ghi như thế. Bản
lưu thông ghi Tắc thành Tức, bản khắc đá thời
Nam Đường và bản in đầu đời Thanh
đều như thế).
“Tắc phi thế
giới”
( giống như trên).
“Nhược
thế giới thật hữu” (bản của ông Liễu
ghi như thế. Hội bản trong chú giải của ngài
Huệ Tịnh ghi là “hữu thật”. Bản lưu
thông và các bản sau bản khắc đá thời Nam
Đường đều ghi “thật hữu giả”).
“Tắc thị
nhất hợp tướng” (bản của ông Liễu, bản
của ông Ông, Tống Tạng, bản khắc đời
Minh, năm hội bản của các bản chú giải
như chú giải của ngài Huệ Tịnh v.v… đều
ghi giống như vậy. Bản của Trương
Sư Liêu, bản in đầu đời Thanh và bản
lưu thông đều ghi Tắc thành Tức).
“Tắc phi nhất
hợp tướng” (bản của ông Liễu, Tống Tạng,
bản của ông Trương, bản khắc đời
Minh, năm hội bản của các bản chú giải
như chú giải của ngài Huệ Tịnh v.v… đều
ghi giống như vậy. Bản khắc đá thời Nam
Đường, bản in đầu đời Thanh, và bản
lưu thông hiện thời ghi Tắc là Tức).
“Tắc thị
bất khả thuyết” (từ bản của ông Liễu
cho tới bản khắc đời Minh, năm hội bản
của các bản chú giải như chú giải của bản
chú giải của ngài Huệ Tịnh v.v… đều ghi giống
như vậy. Bản in đầu đời Thanh và bản
lưu thông ghi Tắc là Tức).
“Thị nhân giải
ngă sở thuyết nghĩa phủ? Thế Tôn” (bản của
ông Liễu, bản của ngài Huệ Tịnh cùng ghi như
vậy. Bản lưu thông th́ sau chữ Phủ có câu “phất
dă”. Các bản sau bản khắc đá thời Nam
Đường đều ghi như thế, chỉ có bản
khắc đời Minh không có).
“Tức phi ngă
kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến” (các bản
xưa nay đều ghi như vậy, chỉ có bản khắc
đời Minh ghi Tức thành Tắc).
“Phát Bồ Tát
tâm giả”
(từ bản của ông Liễu cho tới bản khắc
đời Minh, bản của ngài Huệ Tịnh đều
ghi như vậy. Bản lưu thông và bản in đầu
đời Thanh sửa Bồ Tát thành Bồ Đề. Xét
ra, Trường Thủy Kư viết: “[Chánh kinh nói] phát Bồ
Tát tâm nhằm phân biệt với người khác”).
4. Lời bạt cho bản
chỉnh lư kinh Kim Cang
Kinh Kim Cang Bát
Nhă Ba La Mật từ đời Đường tới nay
được thọ tŕ trọn khắp hoàn vũ. Người
biên chép, khắc in đông đảo, văn tự bị
sai sót cũng bởi đó mà ngày càng nhiều. Thắng Quán
tôi từ tuổi nhược quan (hai mươi tuổi)
đă được thọ lănh kinh này. Thoạt đầu,
chỉ dựa theo [bản lưu thông] mà đọc tụng,
chẳng hiểu ư nghĩa, cũng chẳng biện định
văn tự có sai khác hay không. Cho tới cuối niên hiệu
Quang Tự, Kim Lăng khắc in xong bản sớ giải
của ngài Trí Giả, tôi nghiền ngẫm ư nghĩa trong lời
Sớ, [nhận thấy] có những chữ [trong phần
chánh kinh của bản sớ giải ấy] chẳng hoàn
toàn khớp với bản hiện thời, hơi nẩy
sanh ḷng nghi. Do vậy, rộng sưu tập các bản khắc
cũ, lại xem các bản chú giải của Tăng Triệu
và Huệ Tịnh trong bộ Tục Tạng của Đông
Doanh (Nhật Bản), càng ngờ vực hơn. Tới khi
được xem bản kinh do ông Liễu Thành Huyền
chép vào đời Đường, [nhận thấy kinh
văn] hoàn toàn trùng khớp với các bản cổ chú, mới
biết bản lưu thông hiện thời đă lầm lẫn
rất nhiều. Kế đó, nhận lời mời của
Thư Viện Bắc B́nh đảm nhiệm giảo chánh,
xử lư các bản chép của người đời
Đường được tàng trữ tại hang
đá Đôn Hoàng; [nhận thấy] trong đó, bản chép
kinh Kim Cang nhiều nhất, đại để giống
như bản của ông Liễu, tôi mới cảm khái sâu
xa nguyên do lâu xa khiến bản kinh này bị lưu truyền
sai ngoa. Nay may mắn có được dấu tích chân thật
của người xưa, và các bản chú sớ xưa, những
điều sai sót ngàn năm nhờ đó mà được
chứng tỏ, sao chẳng công bố trong cơi đời
để khuông phù bản chính đáng ư? Nhưng [người
đời] quen thuận theo sai sót, coi đó là đúng đă
lâu, người đất Kinh hiến ngọc chưa mài
giũa, người nhận biết chân thật hiếm
hoi lắm, hăy nên đợi cơ duyên, chưa thể bộp
chộp làm ngay được! Khi đó vào khoảng năm
Dân Quốc thứ tám, thứ chín.
Cho tới
năm Canh Ngọ (1930), có Quách cư sĩ ở Triều
Dương chuyên in kinh này, tôi bèn bảo ông ta hăy dựa theo
bản của ông Liễu. Sách được in ra, có rất
nhiều người quở trách ông ta tự tiện sửa
đổi kinh văn. Thật ra, bản in ấy chưa
hoàn toàn dựa theo bản của ông Liễu. Đúng là quen
vâng theo sai lầm lâu ngày, sẽ giống như là đúng vậy!
Tuy vậy, cổ bản hoàn thiện, trọn chẳng thể
giấu được! Nay thử nêu ra một hai điều.
Như cổ bản vào thời Tiền Châu viết là “ưng
vân hà trụ”, bản thời Hậu Châu ghi là “vân hà
ưng trụ?” Một chữ đưa ra trước
hay sau, nghĩa khác biệt xa lắc! Chữ bị sai lầm
một lẽ, bèn khiến nẩy sanh hiểu lầm đối
với kinh văn càng nhiều! Câu “thị danh” có hoặc
không, mỗi đằng đều có ư nghĩa tinh vi,
[người đời sau] tự lầm tưởng chỗ
nào cũng đều phải có câu ấy, đến nỗi
nhiều người dùng Tam Đế để giải
nói, chẳng biết Bát Nhă nhằm nói về Nhị Đế.
Bởi lẽ, Nhị Đế giá chiếu đồng thời
chính là Trung, há có phải là ngoài Nhị Đế, riêng có một
cái Trung ư? Tông Thiên Thai dùng Tam Đế để nói hết
thảy các pháp, nhưng Trí Giả đại sư sớ
giải ư nghĩa của kinh này, từ đầu đến
cuối đều dùng pháp duyên sanh, không ǵ chẳng phải
là giả danh, cho nên nói là “tức phi”. Liễu đạt
[ư nghĩa của] “tức phi”, sẽ thấu hiểu
chân thật. Đối với “thị danh” chỉ hiểu
là giả danh, sẽ chính là thật sự khéo nói Tam Đế.
Nếu ắt cứ chấp vào danh tự và ngôn thuyết của
Tam Đế, đem Thị Danh phối ứng với Trung
để giải thích câu “thị danh trang nghiêm” th́ c̣n
được, chứ đối với câu “thị danh
ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến”
giải thích cho suông sẻ bằng cách nào đây?
Mùa Thu năm
Nhâm Thân (1932), tôi ứng theo lời ước hẹn
trước đó với các bạn, giảng giải kinh
này, ắt đều nương theo bản chép tay của
người đời Đường, lại c̣n dung thông
các luận và nghĩa lư uẩn tàng trong các bản cổ chú
để nói. Đại chúng hoan hỷ, hớn hở, xin
tôi ấn hành lưu truyền bản chỉnh lư, mong giúp cho
ai nấy đều biết đích xác có chỗ căn cứ,
đâu là chánh, đâu là ngụy, sẽ được sáng tỏ
rạng rỡ trong cơi đời. Cuối kinh, tôi bèn ghép
thêm bài Giảo Khám Kư, dẫn các bản khác nhau, và lời giải
thích của các vị chú giải, chẳng ngại t́m ṭi
tường tận để giúp so sánh đối chiếu,
trần thuật duyên khởi ở đây. Hưng khởi
chuyện ǵ cũng chẳng thể liên quan tới thời
điểm, huống hồ Bát Nhă rất sâu ư?
Nương theo Văn Tự, khởi Quán Chiếu, ngộ
Thật Tướng; nhân duyên văn tự có mối liên
quan chẳng cạn. Có người nói “Thiền Tông chính
là Bát Nhă Độ, chẳng lập văn tự” là
như thế nào vậy? Tôi thưa: Ông lầm mất rồi!
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tri kiến lập tri, tức vô
minh bổn. Tri kiến vô kiến, tư tức Niết Bàn,
vô lậu chân tịnh” (từ trên tri kiến mà lập ra
một cái biết, đó chính là cái gốc của vô minh.
Trên tri kiến chẳng có cái thấy, đó chính là Niết
Bàn, vô lậu chân tịnh). Đấy chính là ư chỉ “chẳng
lập” vậy, há có phải là đoạn diệt
tướng văn tự? Hơn nữa, ngữ lục của
các vị trong nhà Thiền há chẳng phải là văn tự
ư? Ngạn ngữ có câu: “Y văn giải nghĩa, tam
thế Phật oan. Ly kinh nhất tự, tiện đồng
ma thuyết” (nương theo văn tự để hiểu
nghĩa, ba đời chư Phật bị oan uổng. Ĺa
kinh một chữ, sẽ giống như ma nói). Huống hồ
một chữ sai khác, sai biệt to lớn ư, há sơ
sót được ư?
Thắng Quán
kính ghi lời bạt vào mùa Xuân năm Quư Dậu.
Tháng Tư
năm Giáp Thân, tức năm Trung Hoa Dân Quốc 33 (1944),
Phổ Huệ
Đại Tạng Kinh Phát Hành Hội kính in.
Lời sám hối
và hồi hướng
Mạt nhân là
kẻ ngu tối, nghiệp chướng sâu nặng, học
vấn nông cạn, sự hiểu biết đối với
nội điển càng chẳng đáng nói tới, lại
hoàn toàn chẳng có công phu tu dưỡng, hành tŕ! Chỉ v́
tham pháp, tiếc pháp, nhận thấy quá nhiều bản diễn
giải, chú giải chưa được chuyển ngữ
sang tiếng Việt, nên đành giấu dốt, lừa ḿnh
dối người, bon chen chuyển ngữ bấy lâu. Càng
đọc, càng cảm thấy ḿnh chỉ hiểu biết
văn tự, chỉ là khẩu đầu Thiền,
chưa hề lănh hội được chút nào áo nghĩa
vi diệu trong các giáo huấn của Phật, của Tổ,
cũng như cô phụ ân giáo dưỡng của các vị
thiện tri thức, thiện hữu đă từng giúp
đỡ ḿnh học Phật. Đối với kinh Kim
Cang, trước nay mạt nhân vẫn “kính nhi viễn chi”
v́ kinh quá cao sâu, không lănh hội được, nhất là
khi đọc quyển Kim Cang Chư Gia, càng thêm rối rắm.
Cho tới khi vị anh cả trong đạo của mạt
nhân ngỏ ư muốn đọc bản chuyển ngữ của
lời giảng của ḥa thượng Tịnh Không về
kinh Kim Cang, v́ băng dịch lưu thông hiện thời quá
bám sát khẩu ngữ, nhiều chữ Hán để nguyên
không dịch, khiến cho người nghe khó lănh hội trọn
vẹn ư giảng của ḥa thượng. Mạt nhân cho rằng:
Ḥa thượng chuyên dựa theo tác phẩm sớ giải
của cụ Giang Vị Nông để giảng, sao không
đọc trực tiếp từ bản của cụ
Giang rồi quán chiếu lời giảng của ḥa thượng
sẽ thuận tiện hơn? Anh có cho biết: Bản dịch
quyển Giảng Nghĩa hiện thời khá cổ, khá khó
lănh hội. Do vậy, mạt nhân đành đánh liều
dùng lời lẽ quê kệch và vốn hiểu biết nông
cạn của chính ḿnh để chuyển ngữ lần nữa
tác phẩm của cụ Giang để phần nào báo
đáp ân sách tấn, cổ vũ, khuyên dạy, ủng hộ
của anh bấy lâu. Do hoàn toàn chỉ hiểu biết theo
mặt văn tự (mà kiến thức văn tự
cũng nhấp nhem, sơ sót), bản chuyển ngữ này
chẳng tránh khỏi các sai sót không thể tha thứ
được, khác nào vá thêm một mụn giẻ rách vào tấm
ca-sa gấm trân quư, chẳng biết đă tạo nghiệp
nặng nề đến đâu?
Nếu như
bản chuyển ngữ thô vụng này có chút phần nào lợi
lạc cho anh cả cũng như các liên hữu hữu
duyên, xin hồi hướng công đức/phước
đức ấy cho lịch đại tông thân quyến thuộc,
sư trưởng, phụ mẫu, tổ tiên, thiện ác
tri thức, các liên hữu đồng tu, và pháp giới chúng
sanh sẽ cùng được văng sanh Tây Phương Cực
Lạc, đồng ân triêm pháp nhũ, thế giới ḥa
b́nh, nhân dân an lạc, mọi người hướng thiện,
chuyên tâm tu tŕ, tai ương chấm dứt, tật bệnh
tiêu trừ, th́ may mắn lắm thay!
Trọng
Đông năm 2024, Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa kính bái.
[1] Lô hỏa thuần thanh vốn là một từ
ngữ dùng trong luyện đan của Đạo Gia, ư nói:
Khi ngọn lửa trong ḷ luyện đan xuất hiện
thuần ánh màu xanh th́ luyện đan thành công. Về sau, từ
ngữ này được mượn dùng để chỉ
người đă đạt tới tŕnh độ hoàn mỹ trong một lănh vực nào đó.
[2] Trong cách phân
loại thư tịch cổ điển của Trung Hoa,
sách vở được chia làm bốn loại lớn là
Kinh, Sử, Tử, Tập. Khái niệm này được
h́nh thành bởi Lư Sung đời Tấn, nhưng danh
xưng “kinh, sử, tử, tập” chưa được
chính thức áp dụng; đến đầu đời
Đường, cách phân loại này mới được
chính thức áp dụng và được các thế hệ sau
tuân theo. Mỗi loại trong bốn loại ấy lại
c̣n chia thành nhiều loại nhỏ. Theo đó:
1) Kinh (經): Bao gồm
những sách vở chánh yếu của Nho gia, mang tính chất
khuôn mẫu, quy định các phạm trù đạo đức
và luân lư, như Châu Dịch, Ngũ Kinh, Châu Lễ, Lễ
Kư, Xuân Thu Tả Truyện, Tứ Thư, Nhĩ Nhă, Nhạc
Luận, Nhạc Lễ Đại Nghĩa, Nhạc Kinh,
Hoàng Chung Luật, Hiếu Kinh, Khổng Tử Gia Ngữ, Hà
Đồ Lạc Thư, Dịch Vĩ, Xuân Thu Vĩ, Luận
Ngữ Sấm, Ngọc Thiên, Âm Thư Khảo Nguyên, Thanh Vận
v.v… Từ đó, ngành học thuật chuyên nghiên cứu các
loại kinh điển này được gọi là Kinh Học.
2) Sử (史): Bao gồm
cách sách chép về lịch sử và các thư tịch ghi chép
về điển chương, quy chế, quy định về
quan chức của các vương triều, như hai
mươi lăm bộ sử, kư sự lịch sử, tạp
sử, chiếu lệnh, truyện kư về các triều
đại, thời lệnh (các mệnh lệnh theo các thời
điểm trong từng triều đại) v.v… Các tác phẩm
tiêu biểu là Chiến Quốc Sách, Sử Lư, Triệu Tuyệt
Kư, Sử Kư, Hán Thư, Hậu Hán Thư, Đông Quán Hán Kư,
Lương Thư Đế Kỷ, Châu Sử, Thông Sử,
Tam Quốc Chí, Trần Thư, Hậu Ngụy Thư, Thanh Sử
Cảo v.v…
3) Tử (子): Bao gồm
các trước tác của các triết gia và học phái (hoặc
các tác phẩm chú giải những bộ sách ấy) cũng
như các sách vở của Phật Giáo và Đạo Giáo,
chia thành mười bốn loại nhỏ là Nho gia, binh gia,
pháp gia, nông gia, y gia, thiên văn toán pháp, thuật số,
chư lục (các sách vở ghi chép ngữ lục của
triết gia), tạp gia, loại thư, tiểu thuyết
gia, Thích gia, Đạo gia. Các tác phẩm tiêu biểu là Yến
Anh Xuân Thu, Tăng Tử, Tân Ngữ, Thuyết Uyển, Yếu
Lăm, Đạo Đức Kinh, Lăo Tử Nghĩa Sớ,
Văn Tử, Hạt Quán Tử, Liệt Tử, Trang Tử
…
4) Tập (集): Bao gồm
các trước tác như tản văn (văn xuôi), biền
văn (văn vần), thơ, từ, tán khúc, b́nh luận,
hư khúc (các vở tuồng), ca khúc v.v… Lại chia thành nhiều
loại nhỏ như Sở Từ, Biệt Tập, Thi
Văn B́nh (b́nh luận thơ văn), Thi Từ v.v… Các tác phẩm
tiêu biểu là Sở Từ, Tư Mă Tương Như Tập,
Đỗ Dự Tập, Hàn Khang Bá Tập, Nhạc Phủ
Tân Ca, Linh Bảo Kinh, Đỗng Huyền Lục v.v…
Chính v́ cách phân loại sách vở
thành bốn loại này mà khi vua Càn Long ra lệnh biên soạn
một tổng tập các tác phẩm cổ điển của
Trung Hoa, nhóm chủ biên đă đặt tên cho bộ tổng
tập ấy là Tứ Khố Toàn Thư.
[3] Nguyên văn là “mẫn tướng nhập
Thể” (泯相入體), tuy Mẫn cũng có nghĩa là diệt, gạt bỏ,
nhưng cụ Giang dùng chữ Mẫn thay v́ Diệt để
hàm ư, “mẫn tướng” là diệt trừ chấp
trước đối với các tướng, chứ không
phải là đoạn diệt các tướng.
[4] “Khằn” là dấu sáp đóng trên các công văn hoặc
thư từ nhằm giữ bí mật.
Khi người nhận nh́n thấy dấu khằn c̣n y
nguyên th́ biết là chưa bị người khác đọc
trộm. Muốn đọc th́ phải phá vỡ dấu khằn.
[5] Theo lăo pháp sư Viên Anh, chữ Thức ở
đây chỉ thức thứ tám. Phần tinh hoa, phần
chân thật, phần giác ngộ của thức thứ tám
được gọi là Thức Tinh. Cái phần ấy Thức Tinh ấy vốn sẵn sáng suốt v́ là chân tâm bị vô minh, vọng tưởng che lấp,
mà thành thức, nên nói nó là “nguyên
minh” (vốn sẵn sáng suốt). Lăo pháp sư lại
nói: Trong câu “duyên sở di giả” th́ “duyên” phải
hiểu là tác dụng của thức (tức là nói theo danh từ
Duy Thức là Kiến Phần chiếu soi Tướng Phần) không thể nhận
biết chân tánh (do bị vô minh che lấp), nên đă “di”
(bỏ sót), cái phần “bị bỏ sót” là nói tới bản
thể của chân tâm, hay c̣n gọi là Như Lai Tạng Tánh
trong vọng tâm của ḿnh. Do vậy mới nói là “khiển
thử bổn minh” (trừ khử, đánh mất sự
sáng suốt sẵn có).
[6] Thông thường,
“diễn dịch” có thể hiểu theo hai nghĩa:
1. Diễn dịch suy lư,
c̣n gọi là chánh hướng suy lư, tức là phương
pháp suy luận dựa trên một số tiền đề
(điều kiện ban đầu) có tính chất khẳng
định hay phủ định, dùng lư luận để
suy ra kết quả. Một thí dụ phổ biến của
diễn dịch là tam đoạn luận: “Là người
th́ ai cũng phải chết, tôi là một con người,
do đó, tôi cũng phải chết”.
2. Diễn dịch tác phẩm
tức là phiên dịch, chú thích, biên tập sửa đổi
cho dễ hiểu hơn v.v…
Dường như diễn
dịch trong lời luận của cụ Giang bao gồm cả
hai ư nghĩa này!
[7] Đấy là thí dụ nói người nh́n
từ xa trong đêm tối, ngờ vực chẳng dám xác
định chắc chắn h́nh thể đen sẫm đó
là một cái cây hay cái cọc.
[8] Hoa Tư (華胥) vốn
là một nữ thủ lănh kiệt xuất của Trung Hoa
cổ, được coi là sanh ra tại Hoa Tư Trấn,
thuộc huyện Lam Điền, thành phố Tây An, tỉnh
Thiểm Tây. Tương truyền, bà đạp lên dấu
chân của Lôi Thần, sanh ra Phục Hy và Nữ Oa (thủy
tổ của người Trung Hoa). Viêm Đế, Hoàng
Đế đều là con cháu trực hệ của bà. Do vậy,
bà được xưng là Thỉ Tổ Mẫu. Các danh
xưng Hoa Hạ và Trung Hoa đều bắt nguồn từ
tên của bà. Do vậy, khi nói “hiện nhập Hoa Tư”
có nghĩa là chứng nhập nguồn cội sâu thẳm,
hay nói theo nhà Phật là chứng ngộ chân tánh.
[9] Cảnh sách (警策) nghĩa
đen là dùng roi thúc cho ngựa chạy nhanh hơn. Nghĩa
mở rộng là dạy dỗ, đốc thúc, răn nhắc,
cảnh tỉnh khiến cho người học phấn chấn
tinh thần, tinh tấn, dũng mănh tấn tu. Lại c̣n có
nghĩa là lời văn gây cảm động sâu xa, chứa
đựng những ư nghĩa tinh yếu, then chốt.
[10] Đôn Hoàng hiện thời là một huyện
thị đóng vai tṛ huyện lỵ của thành phố Tửu
Tuyền, tỉnh Cam Túc. Đây vốn là một trọng trấn
trong con đường tơ lụa thời cổ. Nó
là một ốc đảo
(oasis) trong vùng sa mạc nằm giữa hồ Nguyệt Nha
Tuyền và núi Minh Sa, gần ải Ngọc Môn, nằm trên con đường thông thương giữa
Tây Bắc Trung Hoa và Tây Tạng, Ấn Độ, đóng
vai tṛ trọng yếu trong hành lang Hà Tây (tuyến đường
dẫn đến kinh đô Trường An của Trung Hoa
thời cổ). Do nơi đây vừa là điểm giao
thông chính giữa Trung Hoa và Tây Vực,
vừa là một trọng trấn để kiểm soát miền
Tây Vực, hầu như tăng sĩ từ
Ấn Độ, Tây Vực đến Trung Hoa đều
đi qua thị trấn này. Các hang động tại
Đôn Hoàng đă được các tăng sĩ
cũng như triều đ́nh đục khắc để làm chỗ Thiền Định
hoặc thờ phụng, tạo thành Mạc Cao Quật là
nơi có hơn 735 hang động với hàng ngàn bức
tượng Phật được khắc vào đá, và các
bản kinh Phật được chép tay hay khắc vào
đá cất giấu trong các hang động. Các bức tranh Phật giáo vẽ trên tường cũng
là tài liệu quư để nghiên cứu về phong tục,
tập quán, y phục của cổ nhân. Các bản kinh
được tàng trữ tại Đôn Hoàng rất phong
phú, bao gồm các bản tiếng Hán, tiếng Tây Tạng và
các ngôn ngữ Tây Vực khác. Ngoài kinh Phật, c̣n có các tác phẩm
lịch sử, y khoa, toán học, dân ca, vũ đạo,
cũng như các kinh sách của Đạo giáo, Khổng
giáo, Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Ma Ni Giáo (Manichaeism, thường
bị gọi là Ma giáo hoặc Minh giáo).
[11] Vào thời Đường -
Tống, triều đ́nh đặt ra cơ quan
Tăng Lục Ty để quản trị Tăng chúng trong
nước, cũng như đặc trách
việc bổ nhiệm các chức vụ
Tăng quan để điều hành,
quản lư chùa chiền trong nước. Tăng Lục Ty
được chia làm sáu
cơ quan nhỏ, gọi là Lục Nhai, gồm Tả Tam
Nhai và Hữu Tam Nhai để quản lư Tăng sĩ, tuần
tra, xử phạt, thăng thưởng.
[12] Tuyên Thống là niên hiệu của Phổ
Nghi, hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, sử dụng
từ năm 1909 đến năm 1911 th́ nhà Thanh bị lật
đổ bởi cuộc cách mạng Tân Hợi, Trung
Hoa Dân Quốc thành lập.
[13] Ông
Phương Cương (1733-1818), tên tự là Trung Tự và
Chánh Tam, hiệu là Đàm Khê, về già lấy hiệu là Tô
Trai. Ông là một thư pháp gia,
văn học gia, và kim thạch học gia lỗi lạc
đời Thanh, từng làm quan tới chức Nội Các Học
Sĩ thời Càn Long. Ông để lại nhiều bản
bút kư chú giải kinh Thư, Lễ Kinh, Luận Ngữ, Mạnh
Tử, cũng như các tác phẩm nghiên cứu khác Lưỡng
Hán Kim Thạch Kư, Việt Đông Kim Thạch Lược,
Hán Thạch Kinh Tàn Tự Khảo, Tiêu Sơn Đỉnh
Minh Khảo v.v… Kim Thạch Học (Epigraphy) là ngành khảo
cứu chuyên nghiên cứu các văn tự, họa tiết
được khắc trên các đồ đồng, đồ
chế tác bằng ngọc, đá, xương thú, đồ
sứ, binh phù v.v…
[14] Trương
Sư Liêu (1186-1263), tên thật là Trương Tức Chi,
Sư Liêu là biệt hiệu. Ông có tên tự là Ôn Phu, sống
vào đời Nam Tống, xuất thân từ một gia
đ́nh thư hương nổi tiếng văn tài. Ông
cũng là một nhà thư pháp lỗi lạc thời ấy.
[15] Thái Thường Bác Sĩ là một chức
quan được đặt ra từ thời Hán Vũ
Đế theo kiến nghị của Công Tôn Hoằng. Đối
với ngũ kinh của Nho Gia, đặt ra một vị
quan thông thạo, uyên bác về kinh ấy, chuyên trách dạy
dỗ và khảo hạch các đệ tử trong Quốc Tử
Giám, gọi chung là Ngũ Kinh Bác Sĩ. Do các chức quan này
trực thuộc cơ quan Thái Thường Tự, nên gọi
là Thái Thường Bác Sĩ. Sang thời Ngụy - Tấn, thông thường người giữ
chức quan này thông thạo lễ nghi, y thuật, sang đời
Thanh địa vị chỉ c̣n thuộc thất phẩm,
chuyên biên soạn các văn bản.
[16] Phù Tang (扶桑) là
tên gọi xưa của Nhật Bản. Theo thần
thoại cổ Trung Hoa,
ngoài biển Đông của Trung Hoa có một cây dâu thần
mọc tại một ḥn đảo ở trên biển,
nên gọi là Phù Tang (cây dâu nổi [trên mặt biển]). Mặt trời mọc lên từ cây này mỗi
sáng và lặn ở cây Nhược Mộc (若木) thuộc phương Tây. Trên phù tang có một
con kim ô (quạ vàng) mang mặt trời đi qua bầu trời
mỗi ngày. Điều này phù hợp với quan niệm của
người Nhật tự cho ḿnh là con cháu của Thái
Dương thần nữ, nên họ gọi quốc gia của
ḿnh là Phù Tang (Fusō).
[17] Các bản chú giải xưa thường
chỉ trích dẫn mấy chữ đầu và mấy chữ
cuối của chánh kinh, khá bất tiện cho người
đọc, cho nên các bản in về sau thường ghép
nguyên văn của chánh kinh vào đó, gọi là Hội Bản.
[18] Tục Tạng
Kinh có tên gọi đầy đủ là Đại Nhật
Bản Tục Tạng Kinh, c̣n gọi là Vạn Tục Tạng
Kinh, Vạn Tục Tạng, do các vị Tiền Điền
Huệ Vân (Maeda Eun), Trung Dă Đạt Huệ (Nakano Tatsue) v.v…
sưu tập các bản kinh, luận, luật, sớ v.v…
chưa được đưa vào Đại Nhật Bản
Giảo Đính Tạng Kinh. Công việc biên soạn kéo dài từ
năm Minh Trị 38 (1905) cho đến năm Đại
Chánh nguyên niên (1912). Vạn Tục Tạng Kinh thâu thập
hơn 1.756 bộ kinh sách.
[19] Hậu Châu là một vương triều
thời Ngũ Đại, do Quách Oai sáng lập sau khi diệt
nhà Hậu Hán (do Lưu Trí Viễn sáng lập), chỉ tồn
tại được chín năm (951-960). Lănh thổ bao gồm
các tỉnh Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây, phía nam tỉnh Hà
Bắc, miền trung tỉnh Thiểm Tây, miền đông tỉnh
Cam Túc, và một số vùng thuộc An Huy, Giang Tô. Quách Oai tự
xưng là hậu duệ của Quắc Thúc (em trai Châu
Văn Vương) nhà Châu thời cổ, nên đặt quốc
hiệu là Châu, đặt kinh đô tại Biện Kinh (Khai
Phong). Tuy tồn tại chỉ có chín năm, nhưng Châu Thế
Tôn (Sài Vinh, cháu trai và con nuôi của Quách Oai) đă phá hoại
Phật pháp nghiêm trọng, triệt hạ chùa chiền và
tượng Phật để lấy đồng đúc tiền,
cướp đoạt tài sản của nhà chùa ḥng gây chiến
đoạt đất của các lân quốc trong năm
năm cầm quyền.