Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh Sớ
Quyển thứ năm
Đời Đường, Tam Tạng
pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn
sớ
金光明最勝王經疏
卷第五
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Phần 11
5.11. Phẩm thứ mười một: Tứ Thiên
Vương quán sát trời người (Tứ Thiên
Vương quán sát nhân thiên phẩm đệ thập nhất,
四天王觀察人天品第十一)
Phẩm Tứ Thiên
Vương Quán Sát Nhân Thiên gồm ba môn phân biệt:
- Một, ư nghĩa v́ sao có phẩm
này?
- Hai, giải thích tên gọi
của phẩm.
- Ba, giải thích vấn nạn.
5.11.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?
Nói
đến ư nghĩa v́ sao có phẩm này, chín phẩm trước
nói về phần Chánh Tông của kinh, lợi ích đại
chúng trong hội thuở ấy. Hai mươi mốt phẩm
sau đó hoàn toàn là lưu thông, nhằm tạo lợi ích cho
chúng sanh trong đời mạt về sau. Trong phần Chánh
Tông, có ba phần là Quả, Hạnh và Cảnh. Nay trong phần
Lưu Thông, cũng có ba loại:
- Một, mười sáu phẩm
đầu tiên thuộc phần Học Hạnh Lưu Thông.
- Hai, bốn phẩm như
phẩm Tán Thán của mười vị nữ Bồ Tát là
Tán Thán Lưu Thông.
- Ba, một phẩm Phó Chúc
thuộc phần Phó Thọ Lưu Thông (căn dặn truyền trao lưu thông).
Phần Học Hạnh
Lưu Thông chia làm năm phần nhỏ:
- Một, phẩm Tứ Thiên
Vương Quán Sát khuyên tu hành.
-
Hai, ba phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc, Vô Nhiễm
Trước Đà La Ni, và Như Ư Bảo Châu nói về thủ
hộ.
-
Ba, năm phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ, Đại
Cát Tường Thiên Nữ, Đại Cát Tường Thiên
Nữ Tăng Trưởng Tài Vật, phẩm Kiên Lao Địa
Thần, và phẩm Chánh Liễu
Tri (tức phẩm Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa
Đại Tướng) là tăng trưởng phước
trí.
- Bốn,
các phẩm Vương Pháp Chánh Luận, Thiện Sanh
Vương, và Chư Thiên Dược Xoa Hộ Tŕ nói về
sự thọ tŕ, học tập.
-
Năm, bốn phẩm từ Thọ Kư v.v… trở đi, kết
lại ư khuyên bảo trên đây.
Chư
Phật thuyết pháp khiến cho chúng sanh được
vui sướng. Tam Thân và Thọ Lượng là lạc quả
(cái quả vui sướng), [Mộng Kiến] Sám
Hối và Diệt Nghiệp
Chướng là lạc nhân (cái nhân của
sự vui sướng). [Đó là điều
thứ nhất].
Điều
thứ hai, đối với pháp được hành, phần
Học Hạnh mang
ư nghĩa chỉ ra người có thể học
[pháp ấy]. Đă là do pháp thù thắng mà thành tựu người
thù thắng, lại do loài người có thể hoằng
dương chánh pháp, v́ vậy, kế
đó, sẽ tán thán
người hành và pháp [được hành]. Diễn nói và
tán thán đă xong xuôi, bèn truyền trao, căn dặn tu tập.
Phần Chánh Tông nói về lạc quả và lạc nhân
đă xong, nay trong phẩm
này, [tứ thiên
vương] quan sát trời, người, khiến cho họ
trừ chướng năo, thường đạt được
an lạc. Do vậy, khuyên [đại chúng trong pháp hội
thuở ấy] hăy nên hoằng truyền kinh này. V́ thế,
có phẩm này sanh khởi.
5.11.2. Giải thích tên gọi của phẩm
Giải
thích danh xưng th́ Quán là “huệ chiếu”, Sát là “soi xét”.
Nhân Thiên là đối tượng được quan sát, Tứ
Thiên Vương là người quán. Đây chính là dùng nhân và
pháp ghép lại để đặt tên. Phẩm này nói cặn
kẽ chuyện ấy, cho nên nói là phẩm Tứ Thiên
Vương Quán Sát Nhân Thiên.
5.11.3. Giải trừ vấn nạn
* Hỏi:
Kinh dạy: “Quán sát, ủng hộ thử Thiệm Bộ
châu, ngă đẳng chư vương danh Hộ
Thế”
(Quan sát, ủng hộ châu Thiệm Bộ này, các vua chúng con
được gọi là Hộ Thế), người có thể
thực hiện [pháp môn này] bao gồm cả ba châu và các cơi
trời thuộc Dục Giới, Sắc Giới, cớ sao
chỉ quan sát, khuyên nhủ châu này?
Đáp:
Xét theo chỗ trụ của Phật mà nói quán nơi
đây; thật ra bao gồm cả các chỗ khác. Hơn nữa,
chúng sanh trong ba châu kia và các cơi trời thuộc Dục Giới
và Sắc Giới đă hơi nhàm chán khổ sự, trí huệ
chẳng mạnh mẽ. [C̣n chúng sanh trong] đường
ác tuy khổ, nhưng không có huệ tâm thù thắng! Để có thể khởi đầu
phát tâm, ắt cần phải nhàm chán
sâu xa, trí huệ dũng mănh. V́ thế, riêng nói quán Thiệm
Bộ Châu.
* Hỏi:
Cảnh được hộ tŕ của bốn vị thiên
vương
th́
[mỗi vị] đều có phương vực
[riêng], v́ sao bốn thiên vương đều
nói sẽ hộ tŕ châu này?
Đáp:
Xét theo cảnh thế tục, mỗi vị [thiên
vương] hộ tŕ một châu, nhưng do kính pháp, tôn trọng
người [hành tŕ kinh này], nên đều cùng hộ tŕ
nơi đây. Hơn nữa, cảnh để trụ th́
tuy mỗi vị một phương, [nhưng do] thống
nhiếp rồng, quỷ,
đều cùng hộ tŕ cả bốn nơi. Do xét theo
phương diện hộ tŕ pháp thù thắng, cho nên riêng
nói quán châu này.
* Hỏi:
Phẩm này và phẩm sau đều nói về Tứ Thiên
Vương, hai phẩm có ǵ khác biệt?
Đáp:
Trong phẩm này, tứ vương tán thán, khuyên hành kinh này,
phát nguyện hộ tŕ. Trong phẩm sau, đức Thế
Tôn ca ngợi, dạy họ phát nguyện rộng hộ tŕ.
V́ thế, có hai phẩm tách biệt.
5.11.4. Giải thích kinh văn
5.11.4.1. Tán thán kinh này tôn quư, thù thắng
5.11.4.1.1. Tứ thiên vương cung kính
(Kinh)
Nhĩ thời, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc
thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng
Mục thiên vương, câu tùng ṭa khởi, thiên đản
hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp
chưởng hướng Phật, lễ Phật túc dĩ.
(經)爾時多聞天王、持國天王、增長天王、廣目天王俱從座起,偏袒右肩右膝著地,合掌向佛禮佛足已。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc
thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng
Mục thiên vương đều từ chỗ ngồi
đứng dậy, trật vai áo phải, gối phải
đặt sát đất, chắp tay hướng về
đức Phật, lễ dưới chân đức Phật
xong).
Tán
rằng: Kinh văn trong phẩm này chia đại lược
thành bốn phần:
- Một,
tứ thiên vương tán thán kinh này tôn quư, thù thắng.
- Hai,
từ “Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương”
(Bạch Thế Tôn! Bốn thiên vương chúng con) trở
đi, tứ thiên vương trần thuật sự tu hành
của chính ḿnh.
-
Ba, từ “hựu phục ư thử” (lại c̣n
đối với kinh này) trở đi, tứ thiên
vương khuyên mọi người hoằng dương
kinh.
- Bốn,
từ “đại chúng văn dĩ” (đại chúng
nghe xong), đại chúng trong hội khi ấy vâng theo lời
dạy mà tu học.
Kinh
văn trong phần thứ nhất gồm bốn ư:
- Một,
tứ thiên vương kiền thành cung kính.
- Hai, tán thán pháp là tôn quư.
-
Ba, nêu bày năng lực của kinh.
-
Bốn, thỉnh đức Phật thường
luôn nói kinh này.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất. Trước hết là liệt
kê bốn vị, tức Tŕ Quốc (Dhṛtarāṣṭra,
Đề Đầu Lại Tra), Tăng Trưởng (Virūḍhaka,
Tỳ Lưu Lặc Xoa), Quảng
Mục (Virūpākṣa,
Tỳ Lâu Bác Xoa), Đa
Văn (Vaiśravaṇa,
Tỳ Sa Môn), theo thứ tự thống lănh các phương Đông,
Nam, Tây, Bắc, đều ngự trên tầng thứ tư
của núi Diệu Cao (Tu Di), có lúc cũng trụ tŕ hai đỉnh
núi. Nay ở đây nêu tên Đa Văn trước, do vị
này có ḷng tin sâu xa, rất nổi danh. Tŕ Quốc thiên vương
thống lănh Kiện Đạt Phược (Càn Thát Bà, Gandharva, Hương
Âm Thần) và Tất Xá Giá (Tỳ Xá Xà, Piśāca,
Đạm Tinh Khí Quỷ). Tăng
Trưởng thiên vương thống lănh Cưu Bạn Đồ
(Cưu Bàn Trà, Kumbhāṇḍa, Ủng H́nh Quỷ) và Bệ Lệ Đa (Preta, ngạ quỷ). Quảng
Mục thiên vương thống lănh hết thảy các rồng
và Bố Đát Na (Bhūtana, Nhiệt Bệnh Quỷ). Đa
Văn thiên vương thống lănh hết thảy Dược
Xoa (Yakṣa, Dạ Xoa, Tiệp Tật Quỷ) và La Sát Sa (Rākṣasa,
La Sát, Tốc Tật Quỷ). Vị cuối cùng kiền thành, cung kính.
5.11.4.1.2. Tán thán pháp tôn quư
(Kinh)
Bạch ngôn: - Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh, nhất thiết chư Phật thường
niệm quán sát, nhất thiết Bồ Tát chi sở cung
kính, nhất thiết thiên long thường sở cúng dường,
cập chư thiên chúng thường sanh hoan hỷ, nhất
thiết hộ thế xưng dương, tán thán, Thanh Văn,
Độc Giác,
giai cộng thọ tŕ.
(經)白言:世尊!是金光明最勝王經,一切諸佛常念觀察,一切菩薩之所恭敬,一切天龍常所供養,及諸天眾常生歡喜,一切護世稱揚讚歎,聲聞獨覺皆共受持。
(Kinh: Bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương này được hết thảy chư Phật
thường nghĩ quán sát, được hết thảy
Bồ Tát cung kính, hết thảy trời, rồng thường
cúng dường, và các vị trời thường sanh ḷng
hoan hỷ, hết thảy các vị hộ thế khen ngợi,
tán thán, Thanh Văn và Độc Giác đều cùng thọ
tŕ).
Tán
rằng: Tán thán pháp là tôn quư. “Nhất thiết Phật sở
hộ niệm” (được hết thảy chư Phật
hộ niệm) tức là hết thảy những người
có căn cơ Đại Thừa thuần thục
được chư Phật hộ niệm mà v́ họ
giảng nói kinh này. Từ “nhất thiết Bồ Tát”
(hết thảy các vị Bồ Tát) trở đi, chỉ
rơ kinh này được các bậc thánh kính trọng.
5.11.4.1.3. Nêu bày năng lực của kinh
(Kinh)
Tất năng minh chiếu chư thiên cung điện,
năng dữ nhất thiết chúng sanh thù thắng an lạc,
chỉ tức địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh,
chư thú khổ năo, nhất thiết bố úy tất
năng trừ điễn, sở hữu oán địch tầm
tức thoái tán, cơ cẩn ác thời giai linh phong nhẫm,
tật dịch bệnh khổ giai linh quyên dũ, nhất
thiết tai biến, bách thiên khổ năo,
hàm tất tiêu diệt.
(經)悉能明照諸天宮殿,能與一切眾生殊勝安樂,止息地獄、餓鬼、傍生諸趣苦惱,一切怖畏悉能除殄,所有怨敵尋即退散,饑饉惡時皆令豐稔,疾疫病苦皆令蠲愈,一切災變百千苦惱咸悉消滅。
(Kinh:
Đều có thể chiếu sáng cung điện của
chư thiên, có thể ban cho hết thảy chúng sanh an lạc
thù thắng, ngưng dứt sự khổ năo trong các
đường địa ngục, ngạ quỷ, bàng
sanh, hết thảy sợ hăi đều có thể trừ sạch,
tất cả các oán địch lập tức lui tan, lúc xấu
ác, đói kém, đều
khiến cho được mùa, bệnh khổ tật dịch
đều khiến khỏi hẳn, hết thảy tai biến,
trăm ngàn khổ năo thảy đều tiêu diệt).
Tiếp
đó, nêu bày năng lực của kinh. Trước hết
là ban niềm vui cho trời, người. Từ
“chỉ tức” (chấm dứt) trở đi chính là [ngưng dứt] sáu
nỗi khổ:
- Một,
ngưng dứt nỗi khổ trong bốn đường
ác.
-
Hai, ngưng dứt năm nỗi khổ v́ sợ hăi.
-
Ba, ngưng dứt nỗi khổ v́ chiến tranh.
- Bốn,
ngưng dứt nỗi khổ v́ đói kém.
-
Năm, ngưng dứt nỗi khổ v́ dịch bệnh.
-
Sáu, ngưng dứt nỗi khổ v́ tai biến.
5.11.4.1.4. Thỉnh đức Phật thường luôn
nói kinh này
(Kinh)
Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương
Kinh năng vi như thị an ổn lợi lạc, nhiêu ích
ngă đẳng.
(經)世尊!是金光明最勝王經能為如是安穩利樂,饒益我等。
(Kinh: Bạch
đức Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương này có thể an ổn, lợi lạc, tạo lợi
ích cho chúng con như thế).
Kế
đó, thỉnh đức Phật luôn tuyên nói [kinh này].
Trước hết, nhắc lại năng lực thù thắng
[của kinh như đă nói] trên đây để làm nguyên do
thỉnh cầu. “An ổn” là nói chung, “lợi lạc”
là ban vui, “nhiêu ích” là dứt khổ.
(Kinh)
Duy nguyện Thế Tôn ư đại chúng trung, quảng vị
tuyên thuyết. Ngă đẳng tứ vương, tịnh
chư quyến thuộc văn thử cam lộ vô thượng
pháp vị, khí lực sung thật, tăng ích oai quang, tinh tấn,
dũng mănh, thần thông bội thắng.
(經)惟願世尊於大眾中,廣為宣說。我等四王并諸眷屬聞此甘露無上法味,氣力充實、增益威光,精進勇猛、神通倍勝。
(Kinh:
Kính mong đức Thế Tôn ở trong đại chúng, hăy rộng tuyên nói.
Bốn vua chúng con và các quyến thuộc nghe pháp vị cam lộ
vô thượng này, khí lực dồi dào, tăng thêm oai
quang, tinh tấn, dũng mănh, thần thông thù thắng gấp
bội).
Kế
đó, thỉnh cầu [đức Phật] luôn tuyên nói [kinh
này]. Đầu tiên là thưa thỉnh, từ “ngă đẳng
tứ vương” (bốn vua chúng con) trở đi, nêu
ra lợi ích.
5.11.4.2. Tứ thiên vương trần thuật sự
tu hành của chính ḿnh
(Kinh)
Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương tu hành chánh pháp,
thường thuyết chánh pháp, dĩ pháp hóa thế. Ngă
đẳng linh bỉ thiên, long, Dược Xoa, Kiện Thát
Bà, A Tô La, Yết Lộ Đồ, Câu Bàn Đồ, Khẩn
Na La, Mạc Hô La Già, cập chư nhân vương, thường
dĩ vương pháp nhi hóa ư thế, giá khử chư
ác sở hữu quỷ thần, hấp nhân tinh khí, vô từ
bi giả, tất linh viễn khứ. Thế Tôn! Ngă đẳng
tứ vương, dữ
nhị thập bát bộ Dược Xoa đại tướng,
tịnh dữ vô lượng bách thiên Dược Xoa, dĩ
tịnh thiên nhăn quá ư thế nhân, quán sát, ủng hộ
thử Thiệm Bộ châu. Thế Tôn! Dĩ thử nhân
duyên, ngă đẳng chư vương danh Hộ Thế giả.
(經)世尊!我等四王修行正法,常說正法以法化世。我等令彼天、龍、藥叉、健闥婆、阿蘇羅、揭路荼、俱槃荼、緊那羅、莫呼羅伽及諸人王,常以王法而化於世,遮去諸惡所有鬼神,吸人精氣無慈悲者悉令遠去。世尊!我等四王與二十八部藥叉大將,并與無量百千藥叉,以淨天眼過於世人,觀察擁護此贍部洲。世尊!以此因緣,我等諸王名護世者。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con tu hành chánh pháp, thường
nói chánh pháp, dùng pháp giáo hóa thế gian. Chúng con khiến cho trời,
rồng, Dược Xoa, Kiện Thát Bà (Càn Thát Bà), A Tô La (A
Tu La), Yết Lộ Đồ (Ca Lâu La), Câu Bàn Đồ
(Cưu Bàn Trà), Khẩn Na La, Mạc Hô La Già (Ma Hầu La
Già), và các vua trong loài người thường dùng phép vua
để giáo hóa cơi đời, ngăn che, trừ khử tất
cả các quỷ thần ác, và đều khiến cho những
kẻ hút tinh khí của loài người, chẳng có ḷng từ
bi lánh xa. Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con và hai
mươi tám bộ Dược Xoa đại tướng,
cùng với vô lượng trăm ngàn Dược Xoa, dùng
thiên nhăn thanh tịnh vượt xa người đời
để quán sát, ủng hộ châu Thiệm Bộ (Diêm Phù)
này. Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên này, các vua chúng con
được gọi là Hộ Thế).
Kế
đó, trần thuật sự tu hành của chính ḿnh, có bốn
ư:
- Một,
các thiên vương giáo hóa chân chánh, có thể tự hoằng
dương kinh.
-
Hai, từ “ngă đẳng linh bỉ” (chúng con khiến
cho họ) trở đi, [khiến cho] các
quần thần, bầy tôi đồng tu chánh hạnh.
-
Ba, từ “giá khử” (ngăn che, trừ khử) trở
đi, pháp vương có thể trừ ác.
- Bốn,
từ “Thế Tôn” trở đi, nêu lư do v́ sao các thiên
vương có tên [là Hộ Thế (thủ hộ cơi đời)].
Ư nói: Do hoằng truyền chánh pháp để giáo hóa chúng
sanh, danh và hạnh chẳng hư dối, cho nên gọi là Hộ
Thế
(hộ tŕ thế gian). “Hai mươi
tám bộ” [Dược Xoa đại tướng] là
như kinh Khổng Tước
Vương[1]
đă nói. Mỗi phương trong bốn phương có bốn
vị, mỗi phương bàng có một vị, hai
phương thượng và hạ, mỗi phương
đều có bốn vị, hợp thành hai mươi tám bộ.
“Dĩ tịnh thiên nhăn” (dùng thiên nhăn thanh tịnh) chẳng
phải do tu mà có [thiên nhăn], mà là do báo đắc, có thể
hơn hẳn người đời!
5.11.4.3. Tứ thiên vương khuyên người khác hoằng
dương kinh
5.11.4.3.1. Trông thấy thế gian sanh ra tai nạn
(Kinh)
Hựu phục ư thử châu trung, nhược hữu quốc
vương bị tha oán tặc thường lai xâm nhiễu,
cập đa cơ cẩn, tật dịch lưu hành, vô
lượng bách thiên tai ách chi sự.
(經)又復於此洲中,若有國王被他怨賊常來侵擾,及多饑饉疾疫流行,無量百千災厄之事。
(Kinh:
Lại c̣n ở trong châu này, nếu có quốc vương bị
kẻ oán tặc thường đến xâm phạm, quấy
nhiễu, và nhiều nạn đói, dịch bệnh lưu
hành, vô lượng trăm ngàn chuyện tai ách).
Tán
rằng: Ư thứ ba là khuyên mọi người hoằng
dương kinh. Có ba ư:
- Một,
thấy thế gian nẩy sanh tai nạn.
-
Hai, khuyên mọi người hoằng kinh để đối
trị, trừ khử.
-
Ba, dạy các quốc vương hộ tŕ đất
nước hăy
kính trọng, tu hành.
Đoạn
đầu tiên này là ư
“thấy các tai nạn nẩy sanh”.
5.11.4.3.2. Hoằng dương kinh để đối
trị, trừ nạn
(Kinh)
Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương ư thử
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, cung kính, cúng
dường. Nhược hữu bật-sô pháp sư thọ
tŕ, độc tụng, ngă đẳng tứ vương cộng
văng giác ngộ, khuyến thỉnh kỳ nhân. Thời bỉ
pháp sư do ngă thần thông giác ngộ lực cố, văng bỉ
quốc giới, quảng tuyên lưu bố thị Kim Quang
Minh vi diệu kinh điển. Do kinh lực cố, linh bỉ
vô lượng bách thiên suy năo tai ách chi sự tất giai trừ
khiển.
(經)世尊!我等四王於此金光明最勝王經恭敬供養,若有苾芻法師受持讀誦,我等四王共往覺悟勸請其人。時彼法師由我神通覺悟力故,往彼國界廣宣流布是金光明微妙經典,由經力故,令彼無量百千衰惱災厄之事悉皆除遣。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Bốn vua chúng con cung kính, cúng dường kinh Kim
Quang Minh Tối Thắng Vương này. Nếu có bật-sô
pháp sư thọ tŕ, đọc tụng, bốn vua chúng con
sẽ cùng đến giác ngộ, khuyến thỉnh người
ấy. Khi đó, vị pháp sư ấy do sức thần
thông giác ngộ của chúng con, sẽ đến quốc giới
ấy mà rộng
tuyên nói, lưu truyền kinh điển Kim Quang Minh vi diệu
này. Do sức của kinh, sẽ khiến cho vô lượng
trăm ngàn chuyện suy năo, tai ác ấy thảy đều
trừ sạch).
Kế
đó, hoằng kinh để đối trị, trừ khử,
có bốn ư:
- Một,
chỉ ra pháp có thể trừ khử.
-
Hai, từ “nhược hữu” (nếu có) trở
đi, khuyên mọi người lưu truyền.
-
Ba, từ “thời bỉ pháp sư” (khi ấy, vị
pháp sư đó) trở đi, hoằng truyền kinh này.
- Bốn,
từ “do kinh lực cố” (do sức của kinh) trở
đi, trừ nạn, an lạc.
5.11.4.3.3. Dạy vua trong loài người thủ hộ
đất nước, kính trọng, tu hành
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược chư nhân vương ư kỳ
quốc nội, hữu tŕ thị kinh bật-sô pháp sư
chí bỉ quốc thời, đương tri thử kinh diệc
chí kỳ quốc.
(經)世尊!若諸人王於其國內有持是經苾芻法師至彼國時,當知此經亦至其國。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Nếu các vua trong loài người khi
trong nước ḿnh có vị bật-sô pháp sư tŕ kinh này tới
nước ấy, hăy nên biết kinh này cũng tới
nước đó).
Kế
đó, dạy các quốc vương “để
bảo vệ đất nước, hăy kính trọng, tu
hành [kinh này]”.
Có hai ư:
- Một,
người có đức tới đất nước.
-
Hai, dạy vua kính trọng.
Người
có thể hoằng đạo, người ấy đến
đâu, pháp cũng theo đến đó. Chẳng phải là
đạo hoằng người! Không có người [hoằng
truyền], pháp cũng diệt! Hoằng dương pháp
đă có lợi ích, vậy th́ phải nên kính trọng
người tŕ
kinh. Đoạn này thuộc ư đầu
tiên.
(Kinh)
Thế Tôn! Thời bỉ quốc vương ưng văng
pháp sư xứ, thính kỳ sở thuyết, văn dĩ
hoan hỷ, ư bỉ pháp sư cung kính, cúng dường,
thâm tâm ủng hộ, linh vô ưu năo, diễn thuyết thử
kinh, lợi ích nhất thiết. Thế Tôn! Dĩ thị
duyên cố, ngă đẳng tứ vương giai cộng nhất
tâm hộ thị nhân vương, cập quốc nhân dân,
linh ly tai hoạn, thường đắc an ổn.
(經)世尊!時彼國王應往法師處聽其所說,聞已歡喜,於彼法師恭敬供養深心擁護,令無憂惱演說此經利益一切。世尊!以是緣故,我等四王皆共一心護是人王及國人民,令離災患常得安穩。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Khi đó, vị quốc vương ấy
hăy nên đến chỗ pháp sư, nghe ngài thuyết pháp.
Nghe xong hoan hỷ, cung kính cúng dường vị pháp sư ấy,
thâm tâm ủng hộ, khiến cho vị ấy chẳng
ưu năo mà
diễn nói kinh này, lợi ích hết thảy. Bạch Thế
Tôn! Do bởi duyên này, bốn vua chúng con đều cùng nhất
tâm thủ hộ vị quốc
vương ấy và nhân dân trong nước, khiến cho họ
ĺa tai hoạn, thường được an ổn).
Kế
đó, dạy vua hăy kính trọng [pháp sư thuyết pháp],
có ba ư:
- Một,
khuyên vua hăy đến nghe [thuyết pháp] để
trừ tai ương.
-
Hai, khuyên vua cúng dường
để được vui sướng.
-
Ba, khuyên vua hăy
kính trọng, giúp đỡ vị
[thuyết pháp sư] ấy.
Kinh
văn thuộc phần thứ nhất có năm ư:
- Một,
dạy vua tôn trọng pháp, đến nghe [pháp sư giảng
nói].
-
Hai, dạy vua nghe xong hăy nên vui mừng.
-
Ba, từ “ư bỉ pháp sư” (đối với
pháp sư ấy) trở đi, dạy hăy cung kính, cúng dường,
hộ vệ [vị [pháp sư] ấy.
- Bốn,
từ “diễn thuyết thử kinh” (diễn nói kinh
này) trở đi, dạy hăy diễn nói pháp để lợi
ích người khác.
-
Năm, từ “dĩ thị duyên cố” (do duyên cớ
ấy) trở đi, tứ thiên vương sẽ v́ đất
nước ấy mà trừ tai nạn.
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược hữu bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca,
ổ-ba-tư-ca, tŕ thị kinh giả, thời bỉ nhân vương
tùy kỳ sở tu, cung cấp, cúng dường, linh vô phạp
thiểu. Ngă đẳng tứ vương linh bỉ quốc
vương cập dĩ quốc nhân, tất giai an ổn,
viễn ly tai hoạn.
(經)世尊!若有苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦持是經者、時彼人王隨其所須、供給供養令無乏少。我等四王令彼國王及以國人,悉皆安穩遠離災患。
(Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có bật-sô (tỳ-kheo),
bật-sô-ni (tỳ-kheo-ni), ổ-ba-sách-ca
(ưu-bà-tắc), ổ-ba-tư-ca (ưu-bà-di) tŕ kinh này, khi
đó, quốc vương ấy tùy theo người đó
cần ǵ,
đều cung cấp, cúng dường, khiến cho chẳng thiếu hụt.
Bốn vua chúng con sẽ khiến cho quốc vương ấy
và người trong nước thảy đều an ổn,
xa ĺa tai nạn).
Kế
đó, khuyên [quốc vương] cung cấp [các thứ cần
dùng cho người tŕ kinh] để [đất nước,
quốc vương, và nhân dân đều]
được vui sướng. Có ba ư:
- Một,
chỉ ra người hành pháp.
-
Hai, từ “thời bỉ nhân vương” (khi đó, vị
quốc vương ấy) trở đi, dạy hăy cung cấp.
-
Ba, từ “ngă đẳng tứ vương” (bốn
vua chúng con) trở đi, nói rơ vua và thần dân đều
được vui sướng.
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược hữu thọ tŕ, độc tụng
thị kinh điển giả, nhân vương ư thử
cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, ngă đẳng
đương linh bỉ vương ư chư
vương trung,
cung kính, tôn trọng, tối vi đệ nhất. Chư
dư quốc vương cộng sở xưng thán.
(經)世尊!若有受持讀誦是經典者,人王於此供養恭敬尊重讚歎,我等當令彼王於諸王中恭敬尊重最為第一,諸餘國王共所稱歎。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Nếu có người thọ tŕ, đọc tụng
kinh điển này, mà quốc vương cúng dường,
cung kính, tôn trọng, tán thán người ấy, chúng con sẽ
khiến cho vị vua ấy được cung kính, tôn trọng
tột bậc nhất trong các vua, và được các quốc
vương khác cùng ca ngợi).
Kế
đó, khuyên do kính trọng [người tŕ kinh], sẽ
được người khác tôn kính, có bốn ư:
- Một,
nêu ra người được kính trọng (tức
người tŕ kinh).
-
Hai, từ “nhân vương ư thử” (quốc
vương đối với người ấy) trở
đi, khuyên quốc vương hăy nên kính trọng, tán thán
[người tŕ kinh].
-
Ba, từ “ngă đẳng đương linh bỉ”
(chúng con sẽ khiến cho vị vua đó) trở đi,
nói về sự kính trọng, tán thán [của tứ thiên
vương đối với quốc vương ấy].
- Bốn,
nói rơ người tôn kính [vị tŕ kinh] sẽ được
người khác tôn kính.
5.11.4.4. Chúng hội khi ấy vâng theo lời dạy tu
học
(Kinh)
Đại chúng văn dĩ, thán hỷ thọ tŕ.
(經)大眾聞已,歎喜受持。
(Kinh:
Đại chúng nghe xong, tán thán, hoan hỷ, thọ tŕ).
Kế
đó, phần thứ tư là đại chúng trong hội
thuở đó vâng theo lời dạy mà tu học.
Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ sáu
5.12.
Phẩm thứ
mười hai: Tứ
Thiên Vương Hộ Quốc (Tứ Thiên Vương Hộ
Quốc phẩm đệ thập nhị, 四天王護國品第十二)
Phẩm
Tứ Thiên Vương Hộ Quốc gồm ba môn phân biệt:
- Một,
ư nghĩa v́ sao có phẩm kinh này.
-
Hai, giải thích tên gọi của phẩm.
-
Ba, giải đáp vấn nạn.
5.12.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm kinh này?
Nói
tới ư nghĩa v́ sao có phẩm này, phẩm trước
tán thán kinh thù thắng, nhiệm mầu, khuyên người
khác hoằng tŕ. Ba phẩm từ đây trở đi nói rơ
kinh này tôn quư, hành giả sẽ được
thủ hộ. Phẩm đầu là
chư thiên thủ hộ, hai phẩm
sau là dùng chú ngữ thủ hộ. Lại nữa,
phẩm Tứ Thiên Vương trên đây là khuyên bảo
người khác, c̣n phẩm này là [tứ thiên vương]
phát nguyện tự thủ hộ. Phẩm trước dạy
người khác hành hai thứ lợi (tự lợi và lợi
tha), phẩm này nói chính ḿnh hành hai thứ lợi. Phẩm
trước là tự ư [bốn vị thiên vương]
khuyên tŕ; phẩm này là đức Phật
rộng khuyên thủ hộ. V́ thế, sau phẩm trước
bèn có phẩm này sanh khởi.
5.12.2. Giải thích tên gọi
của phẩm
Giải
thích tên gọi của phẩm này: Tự tại, trong sáng,
thần thông diệu dụng th́ gọi là Thiên. Làm vua thống
nhiếp [các vị trời] quy hướng th́ gọi là
Vương, do là vua của chư thiên. Đó là cách giải
thích dựa theo
lối Sĩ Dụng. Nơi chốn, thành tŕ
bất đồng, quyền thống lănh chia thành bốn
phương, [Tứ Thiên Vương] lại là cách gọi
tên Đới Số (kèm theo con số trong danh xưng). “Hộ”
là pḥng ngự, thâu nhiếp, nuôi nấng. “Pḥng ngự”
nhằm trừ tai ương cho họ, “thâu nhiếp,
nuôi nấng” nhằm tăng trưởng phước huệ.
Tứ Thiên Vương người thủ hộ, Quốc
là đối tượng được thủ hộ. [Nói
Tứ Thiên Vương Hộ Q uốc]
là Năng (người có thể hộ quốc, tức Tứ
Thiên Vương) và Sở (đối tượng
được thủ hộ, tức quốc độ) được nói
gộp chung. Phẩm này nói cặn kẽ chuyện ấy,
nên gọi là phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc.
5.12.3. Giải đáp vấn
nạn
* Hỏi:
Phẩm này thủ hộ quốc vương lẫn các vị
thần, v́ sao chỉ nói là Tứ Thiên Vương hộ quốc?
Đáp:
Quốc vương hành pháp hộ quốc là do tứ thiên
vương [sắc truyền]. Do các vị thần khác là bầy
tôi của tứ thiên vương, chỉ nói là “tứ
thiên vương hộ quốc”.
* Hỏi:
Hành pháp thủ hộ của tứ thiên vương chính là
thủ hộ loài người, sao lại gọi là “hộ
quốc”?
Đáp:
Loài người là cái gốc của đất nước.
Như nói chỗ cư trụ của hữu t́nh là “Phật
độ” (cơi Phật). Do vậy, tuy là thủ hộ
loài người mà nói là “hộ quốc”.
* Hỏi:
Tam thừa thánh chúng, Đế Thích, Phạm vương,
chư thiên thấy người hành pháp đều phải
nên bảo vệ, thủ hộ, v́ sao chỉ nói tứ thiên
vương hộ quốc?
Đáp:
Theo đúng lư, phải là đều có, nhưng chỉ nói
đến người đáng nghe. Hơn nữa, nêu danh “tứ
thiên vương hộ thế”,
nhằm hiển thị các Ngài danh và hạnh tương xứng.
V́ vậy, nêu tên tứ thiên vương, chẳng nhắc tới
các vị hộ tŕ khác.
* Hỏi:
Chư thiên kính trọng tứ chúng hoằng kinh, cũng sẽ
thủ hộ chánh pháp, v́ sao chỉ nói tứ thiên
vương hộ quốc?
Đáp:
Hộ pháp nhằm dụng ư “lợi ích chúng sanh”.
Pháp trụ có thể khiến cho đất nước an ổn.
V́ nêu tỏ ḷng đại bi lợi tha, chỉ riêng nói hộ
quốc, chẳng nhắc tới pháp!
5.12.4. Giải thích kinh
văn
5.12.4.1. Đức Thế
Tôn tán thán, dạy hăy tu
5.12.4.1.1. Tán thán để
kết thành
5.12.4.1.1.1. Tán thán chung
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn văn Tứ
Thiên Vương cung kính cúng dường Kim Quang Minh Kinh, cập
năng ủng hộ chư tŕ kinh giả, tán ngôn: - Thiện
tai! Thiện tai!
(經)爾時世尊聞四天王恭敬供養金光明經,及能擁護諸持經者,讚言:善哉善哉!
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn nghe Tứ Thiên Vương
cung kính cúng dường kinh Kim Quang Minh, và có thể ủng
hộ những người tŕ kinh, khen rằng: - Lành thay!
Lành thay!)
Tán
rằng: Trong phẩm này, chia đại lược thành sáu
phần:
- Một,
đức Thế Tôn tán thán, dạy hăy tu.
-
Hai, tứ thiên vương vâng lời dạy, nguyện thủ
hộ.
-
Ba, từ “thời Tứ Thiên Vương” (khi đó, Tứ
Thiên Vương) trở đi, bốn vị thiên
vương đội ân, tán thán đức Phật.
- Bốn,
đức Phật lại khuyên thủ hộ để kết
lại.
-
Năm, từ “văn thị tụng” (nghe bài tụng ấy)
trở đi, tứ thiên vương vui mừng, hộ tŕ.
-
Sáu, đại chúng nghe kinh được lợi ích.
Phần
thứ nhất chia thành hai đoạn:
- Một,
tán thán để kết thành.
-
Hai, khuyên thủ hộ.
Trong
phần tán thán th́ trước hết là tán thán chung, sau
đó là tán thán riêng biệt. Đoạn này là tán thán chung. Một
là tán thán sự hộ pháp, hai là tán thán [tứ thiên
vương] thủ hộ loài người. Lại nữa,
một là tán thán [tứ thiên vương đă] khuyên người
khác [thủ hộ], hai là tán thán [tứ thiên vương] tự
thủ hộ. Lại nữa, một là tán thán nhân lành trong
đời trước, hai là tán thán hiện tại [tứ thiên vương]
thủ hộ “người”
và “pháp”.
V́ thế, lặp lại chữ “thiện tai”.
5.12.4.1.1.2. Tán thán riêng từng
điều
(Kinh)
Nhữ đẳng tứ vương dĩ ư quá khứ
vô lượng bách thiên vạn ức Phật sở, cung
kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, thực chư thiện
căn, tu hành chánh pháp, thường thuyết chánh pháp,
dĩ pháp hóa thế.
(經)汝等四王已於過去無量百千萬億佛所,恭敬供養尊重讚歎,植諸善根修行正法,常說正法以法化世。
(Kinh:
Bốn thiên vương các ông trong đời quá khứ
đă ở nơi vô lượng trăm ngàn vạn ức
chư Phật, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán
thán, gieo các thiện căn, tu hành chánh pháp, thường nói
chánh pháp, dùng pháp giáo hóa cơi đời).
Tán
rằng: Tán thán riêng biệt, [gồm ba ư]:
- Một,
tán thán phước nghiệp.
-
Hai, từ “tu hành chánh pháp” trở đi là tán thán trí
nghiệp.
-
Ba, từ “nhữ đẳng trường dạ” (các
ông ở trong đêm dài) là tán thán bi nghiệp.
Đoạn
này gồm hai ư đầu. Ở chỗ chư Phật, tu ba nghiệp: Cúng
dường, cung kính là thân nghiệp. Tôn trọng là ư nghiệp. Tán thán là ngữ nghiệp.
Theo kinh Nhân Vương Bát Nhă, dùng [thời gian] một
A-tăng-kỳ để cúng dường chư Phật,
đạt được Sơ Địa, làm Tứ Thiên
Vương.
(Kinh)
Nhữ đẳng trường dạ ư chư chúng sanh
thường tư lợi ích, khởi đại từ
tâm, nguyện dữ an lạc. Dĩ thị nhân duyên,
năng linh nhữ đẳng hiện thọ thắng báo.
(經)汝等長夜於諸眾生常思利益,起大慈心願與安樂。以是因緣,能令汝等現受勝報。
(Kinh:
Các ông ở trong đêm dài, thường nghĩ lợi ích
các chúng sanh, dấy tâm đại từ, nguyện ban cho an
lạc. Do nhân duyên ấy, có thể khiến cho các ông thọ
báo thù thắng trong hiện tại).
Tán
rằng: Hành bi nghiệp. Phần đầu là tán thán. Từ
“dĩ thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở
đi là kết lại.
5.12.4.1.2. Khuyên thủ hộ
(Kinh)
Nhược hữu nhân vương cung kính, cúng dường
thử Kim Quang Minh tối thắng kinh điển, nhữ
đẳng ưng đương cần gia thủ hộ,
linh đắc an ổn. Nhữ chư tứ vương, cập
dư quyến thuộc, vô lượng vô số bách thiên
Dược Xoa hộ thị kinh giả, tức thị hộ
tŕ khứ, lai, hiện tại chư Phật chánh pháp. Nhữ
đẳng tứ vương, cập dư thiên chúng, tịnh
chư Dược Xoa, dữ A Tô La cộng đấu chiến
thời, thường đắc thắng lợi. Nhữ
đẳng nhược năng hộ tŕ thị kinh, do kinh
lực cố, năng trừ chúng khổ, oán tặc, cơ
cẩn, cập chư tật dịch. Thị cố, nhữ
đẳng nhược kiến tứ chúng thọ tŕ,
độc tụng thử kinh vương giả, diệc
ưng cần tâm, cộng gia thủ hộ, vị trừ
suy năo, thí dữ an lạc.
(經)若有人王恭敬供養此金光明最勝經典,汝等應當勤加守護,令得安穩。汝諸四王及餘眷屬無量無數百千藥叉護是經者,即是護持去來現在諸佛正法。汝等四王及餘天眾并諸藥叉,與阿蘇羅共鬪戰時,常得勝利。汝等若能護持是經,由經力故,能除眾苦、怨賊饑饉及諸疾疫。是故汝等若見四眾受持讀誦此經王者,亦應勤心共加守護,為除衰惱施與安樂。
(Kinh: Nếu có
quốc vương cung kính, cúng dường kinh điển
Kim Quang Minh tối thắng này, các ông hăy nên thêm siêng năng
thủ hộ, khiến cho họ được an ổn.
Bốn vua các ông và các quyến thuộc, vô lượng vô số
trăm ngàn Dược Xoa thủ hộ kinh này, tức là hộ
tŕ chánh pháp của quá khứ, vị lai, hiện tại
chư Phật. Bốn vua các
ông và các thiên chúng khác, cùng với các Dược Xoa khi
đánh nhau với A Tô La, thường được thắng
lợi. Nếu các ông có thể hộ tŕ kinh này, do sức của
kinh, có thể trừ các khổ, oán tặc, đói kém, và các
tật dịch. V́ thế, các ông nếu thấy tứ chúng
thọ tŕ, đọc tụng vua của các kinh này, cũng
phải nên vận tâm siêng năng tăng thêm sức thủ
hộ ḥng trừ suy năo, thí cho an lạc).
Tán rằng: Khuyên hộ
tŕ, có ba ư:
- Một,
khuyên hộ tŕ quốc vương.
-
Hai, từ “nhữ chư tứ vương” (bốn
vua các ông) trở đi, khuyên thủ hộ chánh pháp.
-
Ba, từ “thị cố, nhữ đẳng” (v́ thế,
các ông) trở đi là khuyên hộ tŕ tứ chúng tŕ kinh.
Trong
phần khuyên hộ pháp, trước là hộ pháp; sau
đó, từ “nhữ đẳng tứ vương cập
dư thiên chúng” (bốn vua các ông và các thiên chúng) trở
đi, nói về lợi ích do hộ pháp. Trong phần lợi
ích do hộ pháp:
- Một
là hàng phục, tự thắng kẻ oán địch.
-
Hai, từ “nhữ đẳng nhược năng” (nếu
các ông có thể) trở đi, có thể trừ ba nạn: Một
là oán tặc, hai là đói kém, ba là bệnh dịch.
Phần
kinh văn khuyên hộ tŕ tứ chúng dễ hiểu.
5.12.4.2. Tứ thiên
vương vâng theo lời dạy, nguyện thủ hộ
5.12.4.2.1. Nguyện dùng
thân để hộ pháp
5.12.4.2.1.1. Nguyện
dùng thân thủ hộ loài người
5.12.4.2.1.1.1. Tứ thiên
vương phát nguyện thủ hộ
5.12.4.2.1.1.1.1. Nêu ra ư
nguyện thủ hộ
(Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương
tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất
trước địa, hiệp chưởng, cung kính, bạch
Phật ngôn: - Thế Tôn! Thử Kim Quang Minh tối thắng
kinh vương, ư vị lai thế, nhược hữu
quốc độ, thành, ấp, tụ lạc, sơn lâm,
khoáng dă, tùy sở chí xứ lưu bố chi thời.
(經)爾時四天王即從座起,偏袒右肩右膝著地,合掌恭敬白佛言:世尊!此金光明最勝經王,於未來世若有國土城邑聚落山林曠野,隨所至處流布之時。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối
phải đặt sát đất, chắp tay, cung kính, bạch cùng đức
Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Lúc kinh vương Kim
Quang Minh tối thắng này, trong đời vị lai, nếu
có cơi nước, thành, ấp, xóm làng, núi rừng, đồng
hoang, bất cứ nơi nào có kinh này lưu truyền).
Tán
rằng: Đoạn lớn thứ hai là “bốn thiên
vương vâng lời dạy, nguyện thủ hộ”.
Có hai phần:
- Một,
nguyện dùng thân để hộ pháp.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Thế Tôn! Phục nhược
tứ thiên vương” (Lúc bấy giờ, bạch Thế
Tôn! Nếu tứ thiên vương lại…) trở đi,
nguyện dùng chú để thủ hộ.
Trong
phần “dùng thân để thủ hộ”, có hai đoạn:
- Một,
nguyện dùng thân để thủ hộ loài người.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Tứ Thiên Vương” (lúc
bấy giờ, Tứ Thiên Vương) trở đi, nguyện
dùng thân hộ pháp.
Pháp
phải cậy vào người để
hoằng truyền, tuyên dương. V́ thế,
trước hết phải thủ hộ loài người.
Loài người dùng pháp để thành tựu đức;
[do vậy], kế đó, cần phải hộ pháp. Trong phần
“thủ hộ loài người” tuy cũng là hộ pháp,
nhưng có ư nói về thủ hộ loài người, cho nên
tán thán hộ pháp. Hoặc có thể hiểu là: Trước
hết, nguyện thủ hộ người lẫn pháp.
Sau đó, lại so lường để khuyên hộ pháp lần
nữa. Pháp là thầy của Phật; v́ thế, khuyên lơn nhiều
lượt.
Nay
hăy theo ư đầu tiên để giải thích, phần “thủ hộ loài
người”
chia thành bốn phần:
- Một,
tứ thiên vương nguyện thủ hộ.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc bấy giờ,
đức Phật bảo) trở đi, đức Thế
Tôn tán thành.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Tứ Thiên Vương” (lúc
bấy giờ, Tứ
Thiên Vương) trở
đi, dạy quốc vương quy cách hoằng pháp.
- Bốn,
từ “nhĩ thời, Tứ Thiên Vương” trở
đi, quốc vương vâng theo pháp tu hành, được
thủ hộ.
Phần
thứ nhất là “nguyện thủ hộ”, có hai ư:
- Một,
nêu ra ư nguyện thủ hộ.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Nhược bỉ quốc
vương” (bạch Thế Tôn! Nếu quốc
vương ấy) trở đi, chánh thức phát nguyện
thủ hộ.
Trong
phần “nêu ra ư nguyện thủ hộ”, [gồm có sáu ư]:
- Một,
nghi thức phát nguyện thủ hộ.
-
Hai, chỉ ra pháp được thủ hộ (kinh Kim Quang
Minh).
-
Ba, lúc sẽ hộ pháp.
- Bốn,
chỗ hộ pháp (chỗ có kinh này lưu truyền).
-
Năm, người được thủ hộ.
-
Sáu, tướng trạng thủ hộ.
Đoạn
này bao gồm bốn ư đầu.
(Kinh)
Nhược bỉ quốc vương ư thử kinh
điển, chí tâm thính thọ, xưng thán, cúng dường,
tịnh
phục cung cấp thọ tŕ thị kinh tứ bộ chi
chúng, thâm tâm ủng hộ, linh ly suy năo.
(經)若彼國王於此經典至心聽受稱歎供養,并復供給受持是經四部之眾,深心擁護令離衰惱。
(Kinh:
Nếu quốc vương ấy đối với kinh
điển này, chí tâm nghe nhận, ca ngợi, cúng dường,
lại c̣n cung cấp tứ bộ chúng thọ tŕ kinh này,
thâm tâm ủng hộ, khiến họ ĺa suy năo).
Kế
đó, nói về người được thủ hộ:
- Một,
nói về người được thủ hộ.
- Hai,
từ “ư thử kinh điển” (đối với
kinh điển này) trở đi, nguyên do [khiến cho tứ
thiên vương] thủ hộ.
(Kinh)
Dĩ thị nhân duyên, ngă hộ bỉ vương, cập
chư nhân chúng, giai linh an ổn, viễn ly ưu khổ,
tăng ích thọ mạng, oai đức cụ túc.
(經)以是因緣,我護彼王及諸人眾,皆令安穩遠離憂苦,增益壽命威德具足。
(Kinh:
Do nhân duyên ấy, con thủ hộ vị vua ấy và mọi
người, đều khiến cho họ an ổn, xa ĺa
ưu khổ, tăng thêm thọ mạng, oai đức
đầy đủ).
Tiếp
đó, nói về tướng trạng ủng hộ.
5.12.4.2.1.1.1.2. Chánh thức
phát nguyện thủ hộ
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược bỉ quốc vương kiến
ư tứ chúng thọ tŕ kinh giả, cung kính thủ hộ
do như phụ mẫu, nhất thiết sở tu tất giai
cung cấp.
(經)世尊!若彼國王見於四眾受持經者,恭敬守護猶如父母,一切所須悉皆供給。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Nếu quốc vương ấy thấy
tứ chúng thọ tŕ kinh, liền cung kính thủ hộ giống
như cha mẹ, hết thảy các thứ cần dùng thảy
đều cung cấp).
Tán
rằng: Chánh thức phát nguyện thủ hộ, có ba ư:
- Một,
người được thủ hộ (tứ chúng thọ
tŕ kinh này).
-
Hai, từ “kiến ư tứ chúng” (thấy tứ
chúng) trở đi, nêu ra nguyên nhân khiến họ được
thủ hộ.
-
Ba, từ “ngă đẳng tứ vương” (bốn
vua chúng con) trở đi, nói rộng về tướng thủ
hộ.
Trong
phần nói về người được thủ hộ,
có hai ư:
- Một,
vua được gặp gỡ duyên thù thắng.
-
Hai, từ “cung kính” trở đi, tu tập hạnh thù
thắng.
(Kinh)
Ngă đẳng tứ vương thường vị thủ
hộ, linh chư hữu t́nh vô bất tôn kính. Thị cố,
ngă đẳng tịnh dữ vô lượng Dược Xoa
chư thần, tùy thử kinh vương sở lưu bố
xứ, tiềm thân ủng hộ, linh vô lưu nạn.
(經)我等四王常為守護,令諸有情無不尊敬。是故我等并與無量藥叉諸神,隨此經王所流布處,潛身擁護令無留難。
(Kinh:
Bốn vua chúng con thường sẽ ủng hộ, khiến
cho các hữu t́nh không ai chẳng tôn kính. V́ thế, chúng con
cùng với vô lượng các thần Dược Xoa, thuận
theo chỗ kinh vương này lưu truyền mà ẩn thân ủng
hộ, khiến cho họ chẳng gặp tai nạn).
Tán
rằng: Nói cặn kẽ tướng thủ hộ.
Trước là hộ pháp, sau là thủ hộ loài người.
Phần này là hộ pháp. Khiến cho người khác tôn kính pháp, chính ḿnh ắt
phải tôn kính [trước đă]. Nếu chính ḿnh chẳng
thực hiện, sao có thể khuyên chúng sanh cho được?
V́ thế, chúng con đều ngầm
thủ hộ kinh này!
(Kinh)
Diệc đương hộ niệm thính thị kinh nhân,
chư quốc vương đẳng, trừ kỳ suy hoạn,
tất linh an ổn, tha phương oán tặc giai sử thoái
tán.
(經)亦當護念聽是經人、諸國王等,除其衰患悉令安穩,他方怨賊皆使退散。
(Kinh:
Cũng sẽ hộ niệm người nghe kinh này, và các vị
quốc vương v.v… Trừ các suy hoạn, khiến cho họ
đều an ổn, khiến cho oán tặc ở
phương khác đều lui tan).
Tán
rằng: Sau đó, “thủ hộ loài
người”.
Có hai ư:
- Một,
nêu ra sự thủ hộ.
-
Hai, từ “nhược hữu nhân vương” (nếu
có quốc vương) trở đi, kết lại lần
nữa ư “thủ
hộ loài người”.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
(Kinh)
Nhược hữu nhân vương thính thị kinh thời,
lân quốc oán địch hưng như thị niệm: “Đương
cụ tứ binh hoại bỉ quốc độ”.
(經)若有人王聽是經時,隣國怨敵興如是念:當具四兵壞彼國土。
(Kinh:
Nếu có quốc vương khi nghe kinh này, oán địch ở
nước lân cận khởi lên ư niệm như thế
này: - Hăy nên mang đủ bốn loại binh phá hoại cơi
nước ấy).
Tán
rằng: Kết lại lần nữa chuyện “thủ hộ loài
người”,
có bốn ư:
- Một,
kẻ địch ở nước lân cận
có ư niệm dấy binh.
-
Hai, do oai lực của kinh, chúng nó tự tan ră.
-
Ba, nhà vua ấy sai quân chinh phạt.
- Bốn,
thần giúp đỡ khiến cho kẻ địch quy
hàng.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
(Kinh)
Thế Tôn! Dĩ thị kinh vương oai thần lực
cố, thị thời lân địch cánh hữu dị oán
nhi lai xâm nhiễu, ư kỳ cảnh giới,
đa chư tai biến, dịch bệnh lưu hành.
(經)世尊!以是經王威神力故,是時隣敵更有異怨而來侵擾,於其境界多諸災變疫病流行。
(Kinh: Bạch Thế
Tôn! Do sức oai thần của kinh vương này, khi
đó, nước oán địch lân cận lại có kẻ
oán thù khác đến xâm phạm, quấy nhiễu, trong cơi
nước của chúng nó, có nhiều thứ tai biến, bệnh
dịch lan tràn).
Kế
đó là ư thứ hai, “chúng nó (oán địch từ
lân quốc) tự tan tác”,
do hai duyên:
- Một,
bị kẻ giặc khác tới xâm lấn.
-
Hai, nước của chúng nó bị tai ương, bệnh
dịch.
(Kinh)
Thời vương kiến dĩ, tức nghiêm tứ binh,
phát hướng bỉ quốc dục vi thảo phạt.
(經)時王見已,即嚴四兵發向彼國欲為討伐。
(Kinh:
Khi đó, nhà vua trông thấy, liền chỉnh đốn bốn
loại binh, phái sang nước đó toan thảo phạt).
Kế
đó, ư thứ ba là “sai
quân thảo phạt”. “Thảo”
(討) là “trừ
khử, giết chóc”. “Phạt” (伐) là “chinh phục,
đánh bại, toan đánh bại”.
Nay kinh ghi thành chữ Phạt (罰).
Sách Thuyết Văn Giải Tự[2]
giảng: “Tội nhỏ th́ gọi là Phạt”. Sách Quảng
Nhă[3]
giảng: “Phạt là chiết phục”. Nay vua đă hưng binh,
đáng phải nên dùng chữ Phạt (伐).
Hoặc là vua chỉ dấy lên ư
niệm, chưa nhóm họp binh lực; ở đây, vua
động binh, muốn chiết phục chúng nó, v́ thế
nói là Phạt (罰).
(Kinh)
Ngă đẳng nhĩ thời, đương dữ quyến
thuộc vô lượng vô biên Dược Xoa chư thần,
các tự ẩn h́nh, vị tác hộ trợ, linh bỉ oán
địch tự nhiên hàng phục, thượng bất cảm
lai chí kỳ quốc giới, khởi phục đắc hữu
binh qua tương phạt?
(經)我等爾時當與眷屬無量無邊藥叉諸神各自隱形為作護助,令彼怨敵自然降伏,尚不敢來至其國界,豈復得有兵戈相伐?
(Kinh: Lúc bấy
giờ, chúng con sẽ cùng quyến thuộc, vô lượng
vô biên các thần Dược Xoa, đều tự ẩn
thân để hộ trợ, khiến cho kẻ oán địch
ấy tự nhiên hàng phục, c̣n chẳng dám ṃ đến
quốc giới ấy, há c̣n có
thể dấy quân chinh phạt ư?)
Kế
đó, ư thứ bốn là “thần giúp đỡ khiến
cho [kẻ địch] quy hàng”, có hai ư:
- Một,
khởi ư niệm bèn hàng phục.
-
Hai, từ “thượng bất cảm lai” (c̣n chẳng
dám đến) trở đi, [kẻ
địch] vĩnh viễn chẳng dám giao chiến.
5.12.4.2.1.1.2. Đức
Thế Tôn tán thành
5.12.4.2.1.1.2.1. Tán thán
chư thiên hộ pháp
(Kinh)
Nhĩ thời, Phật cáo Tứ Thiên Vương: - Thiện
tai, thiện tai! Nhữ đẳng tứ vương năi
năng ủng hộ như thị kinh điển.
(經)爾時佛告四天王:善哉善哉!汝等四王乃能擁護如是經典。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Tứ Thiên
Vương: - Lành thay! Lành thay! Bốn vua các ông có thể ủng
hộ kinh điển như thế).
Tán
rằng: Ư thứ hai trong phần “thủ hộ loài
người” là đức Thế Tôn tán thành. Có ba ư:
- Một,
tán thán chư thiên hộ pháp.
-
Hai, tán thán pháp khó nghe.
-
Ba, nêu ra lợi ích do hoằng kinh.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
5.12.4.2.1.1.2.2. Tán thán
pháp khó nghe
(Kinh) Ngă ư quá khứ bách thiên câu-chi na-dữu-đa
kiếp tu chư khổ hạnh, đắc A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề, chứng Nhất Thiết
Trí, kim thuyết thị pháp.
(經)我於過去百千俱胝那庾多劫修諸苦行,得阿耨多羅三藐三菩提,證一切智,今說是法。
(Kinh:
Ta trong trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa kiếp quá khứ
tu các khổ hạnh, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, chứng Nhất Thiết Trí, nay nói pháp này).
Kế
đó, tán thán pháp khó được nghe. Nhiều kiếp tu
hành mới được thành Phật. Thành Phật đă
lâu, nay mới nói kinh này. V́ thế, khó được nghe!
5.12.4.2.1.1.2.3. Nêu rơ lợi
ích do hoằng kinh
5.12.4.2.1.1.2.3.1. Lợi
ích do hoằng kinh trong hiện tại
5.12.4.2.1.1.2.3.1.1. Vua
được lợi ích
(Kinh) Nhược hữu nhân vương thọ
tŕ thị kinh, cung kính, cúng dường giả, vị tiêu suy
hoạn, linh kỳ an ổn, diệc phục ủng hộ
thành, ấp, tụ lạc, năi chí oán tặc tất linh thoái
tán, diệc linh nhất thiết Thiệm Bộ châu nội
sở hữu chư vương vĩnh vô suy năo, đấu
tránh chi sự.
(經)若有人王受持是經恭敬供養者,為消衰患令其安穩,亦復擁護城邑聚落,乃至怨賊悉令退散,亦令一切贍部洲內所有諸王永無衰惱鬪諍之事。
(Kinh:
Nếu có quốc vương thọ tŕ kinh này, cung kính, cúng
dường để tiêu trừ các tai nạn suy vi, sẽ
khiến cho họ được an ổn, cũng lại ủng
hộ thành, ấp, xóm làng, cho đến oán tặc đều
bị lui tan, cũng khiến cho tất cả các vua trong châu
Thiệm Bộ vĩnh viễn không có chuyện suy bại,
khổ năo, đấu tranh).
Tán
rằng: Lợi ích do hoằng kinh. Có hai phần:
- Một,
lợi ích do hoằng kinh trong hiện tại.
-
Hai, từ “đại vương nhược cầu
lai” (đại vương nếu cầu trong vị
lai), nói về lợi ích do hoằng kinh trong vị lai.
Trong
phần thứ nhất, chỉ nói quốc vương tự
nghe; sau đó, cũng khuyên người khác cúng dường,
tŕ tụng. Hiện thời, đức Phật tự hoằng
kinh, chẳng nhờ vào sức ai khác. Trong vị lai, những
người khác hành tŕ, đọc tụng, ắt cần
được nhà vua gia hộ. Đó là sự khác biệt
giữa thầy và tṛ. Ở đây, nói về lợi ích
trong hiện tại: Thứ nhất là vua được lợi
ích; kế đó là người khác được lợi
ích. Trong phần “vua được lợi ích”:
- Một,
nói về hạnh do nhà vua đă hành (thọ tŕ, cung kính, cúng
dường kinh này).
-
Hai, từ “vi tiêu suy hoạn” trở đi, nói về lợi
ích đạt được.
Trong
phần đạt được lợi ích, trước
là Tổng, sau là Biệt. Trong phần Tổng, có hai ư:
- Một
là nêu ra một thứ lợi ích.
- Hai,
từ “diệc linh” (cũng khiến cho) trở
đi, liệt kê các
điều khác.
Trong
ư thứ nhất, gồm bốn điều:
- Một
là trừ suy hoạn.
-
Hai là đạt được
lợi ích.
- Ba
là được thủ hộ.
- Bốn
là không có oán địch.
(Kinh)
Tứ vương đương tri, thử Thiệm Bộ
châu bát vạn tứ thiên thành, ấp, tụ lạc, bát vạn
tứ thiên chư nhân vương đẳng, các ư kỳ
quốc, thọ chư khoái lạc, giai đắc tự tại,
sở hữu tài bảo phong túc, thọ dụng bất
tương xâm đoạt. Tùy bỉ túc nhân nhi thọ kỳ
báo, bất khởi ác niệm tham cầu tha quốc, hàm sanh
thiểu dục, lợi lạc chi tâm, vô hữu đấu
chiến, kích phược đẳng khổ.
(經)四王當知,此贍部洲八萬四千城邑聚落,八萬四千諸人王等,各於其國受諸快樂皆得自在,所有財寶豐足受用不相侵奪,隨彼宿因而受其報,不起惡念貪求他國,咸生少欲利樂之心,無有鬪戰擊縛等苦。
(Kinh:
Bốn vua hăy nên biết: Trong châu Thiệm Bộ này, tám vạn
bốn ngàn thành, ấp, xóm làng, tám vạn bốn ngàn các quốc
vương v.v… đều ở trong nước ḿnh, hưởng
các vui sướng, đều được tự tại,
tất cả của cải dư dả, thọ dụng
chẳng bị xâm đoạt. Tùy thuộc cái nhân trong đời
trước mà hưởng báo ấy, chẳng dấy lên ác
niệm tham cầu nước khác, đều sanh tâm ít ham
muốn, lợi lạc [người khác], chẳng có các nỗi
khổ như chiến đấu, tấn công, trói buộc
v.v…)
Kế
đó, nói về lợi ích riêng biệt, có mười
điều:
- Một,
cảnh đạt được lợi ích.
-
Hai, đạt được cái quả lợi ích.
-
Ba, hưởng an vui.
- Bốn,
của cải quư báu dư dả.
-
Năm, chẳng xâm đoạt lẫn nhau.
-
Sáu, thuận theo túc nghiệp [mà hưởng
thụ lợi ích].
- Bảy, chẳng
tham trong hiện tại.
- Tám, đều thiểu
dục.
- Chín, chẳng có oán
địch.
-
Mười, không có các nỗi khổ.
Xét
theo phần đạt được lợi ích, trước
là Tổng, sau là Biệt,
phần này thuộc về Tổng.
5.12.4.2.1.1.2.3.1.2. Nhân dân
được lợi ích
(Kinh)
Kỳ độ nhân dân tự nhiên thọ lạc, thượng
hạ ḥa mục, do như thủy nhũ, t́nh tương
ái trọng, hoan hỷ du hư, từ bi khiêm nhượng,
tăng trưởng thiện căn.
(經)其土人民自然受樂,上下和穆猶如水乳,情相愛重歡喜遊戲,慈悲謙讓增長善根。
(Kinh:
Nhân dân trong nước ấy tự nhiên hưởng vui,
trên dưới ḥa thuận như nước với sữa,
yêu thương coi trọng lẫn nhau, hoan hỷ vui
chơi, từ bi, khiêm tốn, nhân nhượng, tăng
trưởng thiện căn).
Kế
đó, người trong nước được lợi
ích; điều thứ nhất là hành hạnh.
(Kinh)
Dĩ thị nhân duyên, thử Thiệm Bộ châu an ổn,
phong lạc, nhân dân xí thịnh, đại địa ốc
nhưỡng, hàn thử điều ḥa, thời bất quai
tự, nhật, nguyệt, tinh tú thường độ vô
khuy, phong vũ tùy thời, ly chư tai hoạnh, tư sản,
tài bảo giai tất phong doanh, tâm vô xan bỉ, thường
hành huệ thí, cụ Thập Thiện Nghiệp. Nhược
nhân mạng chung, đa sanh thiên thượng, tăng ích
thiên chúng.
(經)以是因緣,此贍部洲安穩豐樂,人民熾盛大地沃壤,寒暑調和時不乖序,日月星宿常度無虧,風雨隨時離諸災橫,資產財寶皆悉豐盈,心無慳鄙常行惠施,具十善業,若人命終多生天上增益天眾。
(Kinh:
Do nhân duyên ấy, châu Thiệm Bộ này an ổn, giàu vui,
nhân dân đông đảo, thịnh vượng, đất
đai ph́ nhiêu, nóng lạnh điều ḥa, thời tiết
chẳng trái nghịch thứ tự. Mặt trời, mặt
trăng, tinh tú vận hành đúng lệ, không sai sót, ĺa các
tai ương họa hoạn. Vật chất, của cải
thảy đều dư dật. Tâm chẳng keo kiệt,
kém hèn, thường hành bố thí rộng răi, trọn đủ
Thập Thiện Nghiệp. Nếu người mạng
chung, phần nhiều sanh lên cơi trời, tăng thêm thiên
chúng).
Kế
đó nói về lợi ích. Trước hết là được
lợi ích trong hiện tại, có mười một điều:
- Một,
do không có chiến tranh
nên an ổn.
- Hai,
do
ngũ cốc đầy đủ nên
giàu vui.
-
Ba, người và vật đều phồn thịnh.
- Bốn,
đất đai ph́ nhiêu.
-
Năm, bốn
mùa theo đúng thứ tự.
-
Sáu, tinh tú vận hành đúng lệ thường.
- Bảy,
mưa gió đúng thời.
-
Tám, không có các tai ương bất ngờ.
-
Chín, tài vật dư dật.
-
Mười, [dân
chúng] chẳng tham lam, thích bố thí.
-
Mười một, thường hành Thập Thiện.
Từ
“nhược nhân mạng chung” (nếu người mạng
chung) trở đi là lợi ích sau khi chết.
5.12.4.2.1.1.2.3.2. Lợi
ích do hoằng kinh trong vị lai
(Kinh)
Đại vương! Nhược vị lai thế, hữu
chư nhân vương thính thọ thị kinh, cung kính, cúng
dường, tịnh thọ tŕ kinh, tứ bộ chi chúng
tôn trọng, xưng tán. Phục dục an lạc, nhiêu ích nhữ
đẳng, cập chư quyến thuộc, vô lượng
bách thiên chư Dược Xoa chúng. Thị cố, bỉ
vương thường đương thính thọ thị
diệu kinh. Vương do đắc văn thử chánh
pháp chi thủy, cam lộ thượng vị, tăng ích nhữ
đẳng thân tâm thế lực, tinh tấn, dũng mănh,
phước đức,
oai quang tất linh sung măn. Thị chư nhân vương,
nhược năng chí tâm thính thọ thị kinh, tắc vi
quảng đại hy hữu cúng dường, cúng dường
ư ngă Thích Ca Mâu Ni Ứng Chánh Đẳng Giác. Nhược
cúng dường ngă, tắc thị cúng dường quá khứ,
vị lai, hiện tại bách thiên câu-chi na-dữu-đa Phật.
Nhược năng cúng dường tam thế chư Phật,
tắc đắc vô lượng bất khả tư nghị
công đức chi tụ.
(經)大王!若未來世有諸人王聽受是經,恭敬供養并受持經,四部之眾尊重稱讚,復欲安樂饒益汝等及諸眷屬無量百千諸藥叉眾,是故彼王常當聽受是妙經。王由得聞此正法之水甘露上味,增益汝等身心勢力精進勇猛,福德威光悉令充滿。是諸人王若能至心聽受是經,則為廣大希有供養,供養於我釋迦牟尼應、正等覺。若供養我,則是供養過去未來現在百千俱胝那庾多佛。若能供養三世諸佛,則得無量不可思議功德之聚。
(Kinh: Này đại
vương! Nếu trong đời vị lai, có các quốc
vương nghe nhận kinh này, cung kính, cúng dường, và
thọ tŕ kinh, tứ bộ chúng sẽ tôn trọng, ca ngợi.
Lại muốn tạo lợi ích an lạc
cho các ông và các quyến thuộc, vô lượng trăm ngàn
các vị Dược Xoa. V́ thế, nhà vua ấy sẽ
thường nghe nhận kinh mầu nhiệm này. Vua do
được nghe cam lộ thượng vị từ
nước chánh pháp này, tăng thêm thế lực nơi
thân tâm của các ông, tinh tấn, dũng mănh, phước
đức, oai quang thảy đều sung măn. Nếu các quốc
vương ấy có thể chí tâm nghe nhận kinh này, th́
chính là cúng dường rộng lớn hiếm có, cúng dường
ta là Thích Ca Mâu Ni Ứng Chánh Đẳng Giác. Nếu cúng
dường ta, tức là cúng dường quá khứ, vị
lai, hiện tại trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa Phật.
Nếu có thể cúng dường tam thế chư Phật,
sẽ đạt được khối công đức vô
lượng chẳng thể nghĩ bàn).
Tán
rằng: Nói về lợi ích trong vị lai. Có hai phần:
- Một,
hành hạnh thù thắng.
-
Hai, từ “do đắc văn thử” (do được
nghe kinh này) trở đi, thành tựu cái nhân thù thắng.
“Cái
nhân thù thắng” có hai điều:
- Một,
tăng thêm thế lực của chư thiên.
-
Hai, [thọ tŕ, hoằng dương kinh này chính là] cúng
dường Phật.
Trong
phần “cúng dường Phật”:
- Một,
chánh hạnh cúng dường.
-
Hai, từ “năng cúng dường” (có thể cúng
dường) trở đi, nói về chuyện đạt
được khối phước to lớn nhằm kết
thành chuyện “khuyên bảo hoằng kinh”.
(Kinh)
Dĩ thị nhân duyên, nhữ đẳng ưng
đương ủng hộ bỉ vương hậu phi,
quyến thuộc, linh vô suy năo, cập cung trạch thần
thường thọ an lạc, công đức nan tư. Thị
chư quốc độ sở hữu nhân dân diệc thọ
chủng chủng ngũ dục chi lạc, nhất thiết
ác sự giai linh tiêu điễn.
(經)以是因緣,汝等應當擁護彼王后妃眷屬令無衰惱,及宮宅神常受安樂功德難思,是諸國土所有人民亦受種種五欲之樂,一切惡事皆令消殄。
(Kinh: Do nhân
duyên ấy, các ông hăy nên ủng hộ hậu phi và quyến
thuộc của nhà vua, khiến cho họ không suy năo, và thần
[thủ hộ] cung điện thường hưởng an
lạc, công đức khó nghĩ tưởng. Tất cả
nhân dân trong các quốc độ ấy cũng hưởng
các thứ niềm vui ngũ dục, khiến cho hết thảy
chuyện ác thảy đều tiêu trừ).
Kế
đó, nói về lợi ích do hoằng kinh, có hai ư:
- Một,
tứ thiên vương hộ vệ quyến thuộc.
-
Hai, từ “thị chư quốc độ” (các quốc
độ ấy) trở đi, nước được
phước, dân an ổn.
5.12.4.2.1.1.3. Dạy quốc
vương nghi thức hoằng pháp
5.12.4.2.1.1.3.1. Nêu ra nguyện
tâm của nhà vua
(Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương
bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ư vị lai thế,
nhược hữu nhân vương nhạo thính như thị
Kim Quang Minh Kinh, vị dục ủng hộ tự thân hậu
phi, vương tử, năi chí nội cung chư thể nữ
đẳng, thành ấp, cung điện, giai đắc
đệ nhất bất khả tư nghị, tối
thượng hoan hỷ tịch tĩnh an lạc, ư hiện
thế trung, vương vị tôn cao, tự tại,
xương thịnh, thường đắc tăng
trưởng, phục dục nhiếp thọ vô lượng
vô biên nan tư phước tụ. Ư tự quốc
độ, linh vô oán địch cập chư ưu năo tai
ách sự giả.
(經)爾時四天王白佛言:世尊!於未來世若有人王樂聽如是金光明經,為欲擁護自身后妃王子乃至內宮諸婇女等城邑宮殿,皆得第一不可思議最上歡喜寂靜安樂,於現世中王位尊高自在昌盛常得增長,復欲攝受無量無邊難思福聚,於自國土令無怨敵及諸憂惱災厄事者。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương bạch cùng đức
Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Trong đời vị
lai, nếu có quốc vương thích nghe kinh Kim Quang Minh
như thế này, v́ muốn ủng hộ bản thân và hậu
phi, vương tử, cho đến các thể nữ v.v…
trong cung, thành, ấp, cung điện đều được
an lạc, tịch tĩnh, hoan hỷ tối thượng,
chẳng thể nghĩ bàn bậc nhất, trong đời
hiện tại, ngôi vua tôn quư, cao cả, tự tại
hưng thịnh, thường được tăng
trưởng, lại muốn nhiếp thọ vô lượng
vô biên khối phước khó nghĩ, khiến cho trong quốc
độ của chính ḿnh chẳng có oán địch và các
chuyện ưu năo, tai ách).
Tán
rằng: Dạy quốc vương quy cách hoằng pháp, có
bốn ư:
- Một,
nêu ra tâm nguyện của nhà vua.
-
Hai, từ “Thế Tôn như thị” trở đi, dạy
bảo quy tắc.
-
Ba, “Thế Tôn! Thời bỉ hương yên” (bạch
Thế Tôn! Khi đó, khói hương ấy) trở đi,
vua nương theo đó hành tŕ, cảm vời điềm
lành.
- Bốn,
“thời bỉ chư Phật văn thử diệu
hương” (khi đó, chư Phật ngửi thấy
mùi hương mầu nhiệm đó) trở đi, nói rơ:
Chư Phật tán dương.
Đoạn
này nhằm nêu ra nguyện tâm của nhà vua.
5.12.4.2.1.1.3.2. Dạy bảo
quy cách
5.12.4.2.1.1.3.2.1. Thiên
vương dạy quy cách nghe kinh
(Kinh) Thế Tôn! Như thị nhân
vương bất ưng phóng dật, linh tâm tán loạn.
Đương sanh cung kính, chí thành ân trọng, thính thọ
như thị tối thắng kinh vương.
(經)世尊!如是人王不應放逸令心散亂,當生恭敬至誠殷重,聽受如是最勝經王。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Quốc vương như thế chớ
nên buông lung,
khiến cho cái tâm tán loạn. Hăy nên sanh ḷng cung kính, chí thành,
ân cần, trân trọng để nghe nhận vua trong các kinh
tối thắng như thế).
Kế
đó, dạy quy cách, có ba điều:
- Một,
thiên vương dạy quy cách nghe kinh.
-
Hai, đức Phật dạy cách nghênh tiếp [pháp sư].
-
Ba, thiên vương dạy hăy thực hiện v́ họ.
Trong
phần “thiên vương dạy quy cách nghe kinh”,
trước là dạy chung, sau là dạy riêng từng điều.
Đoạn này thuộc phần dạy chung.
(Kinh)
Dục thính chi thời, tiên đương trang nghiêm tối
thượng cung thất, vương sở ái trọng, hiển
sưởng chi xứ, hương thủy sái địa,
tán chúng danh hoa, an trí sư tử thù thắng pháp ṭa. Dĩ
chư trân bảo nhi vị hiệu sức, trương thi
chủng chủng bảo cái, tràng phan. Thiêu vô giá
hương, tấu chư âm nhạc. Kỳ vương
nhĩ thời, đương tịnh tháo dục, dĩ
hương đồ thân, trước tân tịnh y, cập
chư anh lạc, tọa tiểu ty ṭa, bất sanh cao cử,
xả tự tại vị, ly chư kiêu mạn, đoan tâm
chánh niệm, thính thị kinh vương. Ư pháp sư sở,
khởi đại sư tưởng. Phục ư cung nội
hậu phi, vương tử, thể nữ, quyến thuộc,
sanh từ mẫn tâm, hỷ duyệt tương thị,
ḥa nhan, nhuyễn ngữ. Ư tự thân tâm, đại hỷ
sung biến.
(經)欲聽之時,先當莊嚴最上宮室、王所愛重顯敞之處,香水灑地、散眾名華,安置師子殊勝法座,以諸珍寶而為校飾,張施種種寶蓋幢旛,燒無價香、奏諸音樂。其王爾時當淨澡浴,以香塗身、著新淨衣及諸瓔珞,坐小卑座不生高舉,捨自在位離諸憍慢,端心正念聽是經王。於法師所起大師想,復於宮內后妃王子、婇女眷屬生慈愍心,喜悅相視和顏軟語。於自身心大喜充遍。
(Kinh: Lúc muốn
nghe, trước hết nên trang nghiêm cung điện tối
thượng, là nơi vua yêu mến, coi trọng, rộng
răi, thoáng đăng, nước thơm rưới đất,
rải các thứ hoa quư, xếp đặt pháp ṭa sư tử
thù thắng, dùng các trân bảo để trang hoàng, căng
che các thứ lọng báu, tràng phan, đốt hương vô
giá, tấu các âm nhạc. Khi đó, vị vua ấy hăy nên tắm
gội
sạch sẽ, dùng hương bôi
thân, mặc áo mới sạch, và đeo các thứ anh lạc,
ngồi ṭa kém nhỏ, chẳng sanh ḷng cao ngạo, bỏ
địa vị tự tại, ĺa các kiêu mạn, đoan
tâm chánh niệm nghe [pháp sư tuyên nói] “vua trong các kinh” này. Đối với
pháp sư, dấy lên ư tưởng coi như đại
sư. Lại đối với hậu phi, vương tử,
thể nữ, quyến thuộc trong cung, sanh tâm từ mẫn,
vui sướng nh́n nhau, vẻ mặt ôn ḥa, nói năng mềm
mỏng. Nơi thân tâm của chính ḿnh, tràn ngập niềm
vui to lớn).
Kế
đó, dạy riêng từng điều. Trong phần dạy
riêng:
- Một,
nói về chỗ được trang nghiêm.
-
Hai, từ “hương thủy” (nước thơm)
trở đi, chỉ dạy quy cách
trang nghiêm nơi chốn [giảng kinh].
-
Ba, từ “kỳ vương nhĩ thời” (nhà vua ấy
lúc bấy giờ) trở đi, dạy cách trang nghiêm thân
vua.
- Bốn,
từ “bất sanh cao cử” (chẳng sanh ḷng cao ngạo)
trở đi, dạy cách trang nghiêm tâm vua.
-
Năm, từ “tác như thị niệm” (nghĩ
như thế này) trở đi, dạy vua cách nghĩ tưởng
an ổn.
Trong
việc trang nghiêm cái tâm:
- Một,
trừ điệu cử (lao chao, xáo động).
-
Hai, xả kiêu mạn.
-
Ba, đoan chánh cái tâm để nghe pháp.
- Bốn,
cung kính pháp sư.
-
Năm, khởi từ tâm b́nh đẳng.
-
Sáu, vui sướng nh́n nhau.
- Bảy,
vẻ mặt ḥa nhă, nói năng mềm mỏng.
- Tám, vui sướng tràn ngập
thân tâm.
(Kinh)
Tác như thị niệm: “Ngă kim hoạch đắc nan
tư thù thắng quảng đại lợi ích, ư thử
kinh vương, thịnh hưng cúng dường”. Kư phu thiết
dĩ, kiến pháp sư chí, đương khởi kiền
kính, khát ngưỡng chi tâm.
(經)作如是念:我今獲得難思殊勝廣大利益,於此經王盛興供養。既敷設已,見法師至,當起虔敬渴仰之心。
(Kinh:
Nghĩ như thế này: “Ta nay đạt được lợi
ích rộng lớn thù thắng khó nghĩ, đối với
vua của các kinh này, hăy cúng dường trọng hậu”.
Đă sắp đặt xong, thấy pháp sư đến,
hăy nên khởi tâm kiền thành,
cung kính, khát ngưỡng).
Kế
đó, dạy vua cách suy tưởng. Trước hết,
suy tưởng đối với pháp. Từ “kư phu thiết
dĩ” (đă sắp đặt xong) trở đi là cách
suy tưởng đối với pháp sư. Quy cách thính pháp
này, như quyển ba mươi tám luận Du Già Sư
Địa đă nói. Bồ Tát như thế đối với
người khéo nói pháp, sanh ḷng kính trọng sâu xa, thường
thích nghe những người khéo nói pháp, chẳng hề mệt
mỏi, mà cũng chẳng chán đủ. Do ḷng tin trong sạch,
sâu dày, tánh t́nh nhu ḥa, tâm ngay thẳng, kiến giải ngay thẳng,
yêu kính đức hạnh, do yêu
kính pháp, tới chỗ pháp sư, không có tâm cật
vấn, bắt bẻ, mà có tâm kính trọng, chẳng có tâm kiêu căng, ngạo mạn,
chuyên v́ cầu điều tốt lành,
chẳng v́ phô phang phẩm đức của chính ḿnh. V́ muốn
an lập thiện căn của chính ḿnh và người
khác, chẳng v́ nhân duyên lợi dưỡng, cung kính. Bồ
Tát trọn đủ công đức như thế, tới
chỗ pháp sư, tâm chẳng tạp nhiễm, tâm không tán loạn,
lắng nghe chánh pháp.
Thế
nào là tâm vô nhiễm? Tức là khi nghe pháp, tâm người ấy
xa ĺa kiêu căng, khinh mạn, khiếp
nhược, tạp nhiễm. Do [xa ĺa] sáu tướng nên ĺa thói nhơ kiêu căng, tức là
khi nghe pháp bèn đúng thời mà nghe, ân cần trân trọng
mà nghe, cung kính mà nghe, chẳng v́ tổn hại, chẳng v́ tùy thuận, chẳng
t́m ṭi lỗi lầm. Do bốn tướng ấy bèn ĺa thói nhơ khinh mạn, [tức
là] khi nghe pháp bèn cung kính chánh pháp, cung kính Bổ Đặc
Già La thuyết pháp (người thuyết pháp), chẳng khinh
thường chánh pháp, và chẳng khinh người thuyết
pháp. Khi nghe pháp, chẳng tự khinh miệt. Do một tướng
ấy mà ĺa thói nhơ khiếp nhược.
Thế
nào là tâm chẳng tán loạn? Tức là do năm tướng:
Một là tâm cầu giải ngộ, hai là tâm chuyên nhất
hướng về, ba là tai lắng nghe, bốn là quét sạch
cái tâm, năm là nhiếp hết thảy các tâm, lắng nghe
chánh pháp. Quy tắc thuyết pháp th́ đại lược
như phẩm Pháp Sư thuộc quyển bốn của
kinh Pháp Hoa [đă dạy], có ba thứ:
- Một,
vào nhà Như Lai.
-
Hai, mặc áo Như Lai.
-
Ba, ngồi ṭa Như Lai.
“Nhà
Như Lai” là tâm đại từ bi đối với hết
thảy chúng sanh. “Áo Như Lai” là tâm nhu ḥa nhẫn nhục.
“Ṭa Như Lai” là “hết thảy các pháp là Không”.
Cái tâm thuyết pháp, ban vui cho chúng sanh, dẹp khổ cho
chúng sanh; v́ thế, dấy ḷng từ bi. Từ bi thuyết
pháp, bị người khác hại chẳng sân, gặp khổ
có thể chịu đựng, có thể ấn chứng lư
sâu th́ mới có thể tiếp nối [cái tâm ấy]. Quán ba
sự là Không, vô nhiễm, chẳng chấp trước th́
mới có thể đạt lợi ích thật sự.
5.12.4.2.1.1.3.2.2. Đức
Phật dạy cách nghênh tiếp [vị pháp sư giảng
kinh này]
5.12.4.2.1.1.3.2.2.1. Quy cách
đón tiếp
(Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Tứ Thiên
Vương: - Bất ưng như thị bất nghênh pháp
sư. Thời bỉ nhân vương ưng trước
thuần tịnh, tiên khiết chi y, chủng chủng anh lạc
dĩ vi nghiêm sức, tự tŕ bạch cái,
cập dĩ hương, hoa, bị chỉnh quân nghi, thịnh
trần âm nhạc, bộ xuất thành khuyết, nghênh bỉ
pháp sư, vận tưởng kiền cung, vi cát tường
sự.
(經)爾時佛告四天王:不應如是不迎法師。時彼人王應著純淨鮮潔之衣,種種瓔珞以為嚴飾,自持白蓋及以香華,備整軍儀盛陳音樂,步出城闕迎彼法師,運想虔恭為吉祥事。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Tứ Thiên
Vương: - Chớ nên không nghênh đón pháp sư như thế
này. Khi đó, vị quốc vương ấy hăy nên mặc áo thuần tịnh, sạch sẽ, dùng các thứ
chuỗi anh lạc để trang nghiêm, tự cầm lọng
trắng, cùng với hương, hoa, sắp
đặt quân đội nghiêm chỉnh, sắp bày rất
nhiều thứ âm nhạc, đi bộ ra khỏi cửa
thành để đón pháp sư, vận tâm tưởng kiền
thành, cung kính, coi đó là chuyện cát tường).
Tán
rằng: Kế đó, đức Phật dạy cách nghênh
đón, có hai ư:
- Một,
răn không nên chẳng nghênh đón
[pháp sư].
-
Hai, từ “thời bỉ nhân vương” (khi đó, vị
quốc vương ấy) trở đi, dạy quy cách
nghênh đón.
Trong
phần “quy cách nghênh đón”,
có năm ư:
- Một,
quy cách đón tiếp.
-
Hai, từ “tứ vương! Dĩ
hà nhân duyên” (này bốn thiên
vương! Do nhân duyên ǵ) trở đi, giải thích nguyên
do nghênh đón.
-
Ba, từ “ư thuyết pháp sư” (đối với
vị thầy thuyết pháp) trở đi, dạy cách suy
tưởng trong khi nghênh đón.
- Bốn,
từ “hậu cung quyến thuộc” trở đi, nói
về lợi ích đạt được.
-
Năm, từ “tứ vương đương tri”
(bốn vua nên biết) trở đi, kết lại ư khuyên.
Đoạn
này thuộc ư đầu.
5.12.4.2.1.1.3.2.2.2. Giải
thích nguyên do nghênh đón
(Kinh) Tứ vương! Dĩ hà nhân duyên,
linh bỉ nhân vương thân tác như thị cung kính cúng
dường?
(經)四王!以何因緣令彼人王親作如是恭敬供養?
(Kinh:
Này bốn vua! Do nhân duyên nào khiến cho vị quốc
vương ấy đích thân cung kính cúng dường
như thế?)
Kế
đó, ư thứ hai là giải thích nguyên do nghênh đón. Có ba
điều:
- Một, gạn hỏi.
-
Hai, từ “do bỉ nhân vương” (do quốc vương ấy) trở đi, giải
thích.
-
Ba, từ “tứ vương đương tri” (bốn
vua nên biết) trở đi, kết lại ư nghênh đón xa
gần.
Đoạn
này thuộc điều thứ nhất.
(Kinh)
Do bỉ nhân vương cử túc, hạ túc, bộ bộ
tức thị cung kính, cúng dường,
thừa sự, tôn trọng bách thiên vạn ức na-dữu-đa
chư Phật Thế Tôn, phục đắc siêu việt
như thị kiếp số sanh tử chi khổ, phục
ư lai thế như thị kiếp số
đương thọ Luân Vương thù thắng tôn vị.
(經)由彼人王舉足下足步步即是恭敬供養承事尊重百千萬億那庾多諸佛世尊,復得超越如是劫數生死之苦,復於來世如是劫數當受輪王殊勝尊位。
(Kinh:
Do vị quốc vương ấy giở chân, hạ chân,
mỗi bước chính là cung kính, cúng dường, thừa
sự, tôn trọng trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa
chư Phật Thế Tôn, lại được siêu việt
nỗi khổ trong kiếp số sanh tử như thế,
lại c̣n trong đời mai sau sẽ nhận lănh địa
vị Luân Vương thù thắng trong kiếp số
như thế).
Tán
rằng: Giải thích nguyên do nghênh
đón. Có hai ư, đoạn này là giải thích chung, gồm ba
ư:
- Một,
thành tựu cái nhân thù thắng.
-
Hai, vượt thoát các khổ.
-
Ba, đạt được quả báo thù thắng.
(Kinh)
Tùy kỳ bộ bộ diệc ư hiện thế phước
đức tăng trưởng, tự tại vi
vương, cảm ứng nan tư, chúng sở khâm trọng,
đương ư vô lượng bách thiên ức kiếp
nhân thiên, thọ dụng thất bảo cung điện. Sở
tại sanh xứ, thường đắc vi vương,
tăng ích thọ mạng, ngôn từ biện liễu, nhân
thiên tín thọ, vô sở úy cụ, hữu đại danh
xưng, hàm cộng chiêm ngưỡng. Thiên thượng,
nhân trung, thọ thắng diệu lạc, hoạch đại
lực thế, hữu đại oai đức, thân tướng
kỳ diệu, đoan nghiêm vô tỷ, trị Thiên Nhân
Sư, ngộ thiện tri thức, thành tựu cụ túc vô
lượng phước tụ.
(經)隨其步步亦於現世福德增長自在為王,感應難思眾所欽重,當於無量百千億劫人天受用七寶宮殿,所在生處常得為王,增益壽命言詞辯了,人天信受無所畏懼,有大名稱咸共瞻仰。天上人中受勝妙樂,獲大力勢有大威德,身相奇妙端嚴無比。值天人師遇善知識,成就具足無量福聚。
(Kinh: Theo từng
bước chân mà cũng trong đời hiện tại,
phước đức tăng trưởng, tự tại
làm vua, cảm ứng khó thể nghĩ tưởng,
được đại chúng khâm kính, tôn trọng. Sẽ ở
trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, hưởng
thụ cung điện bảy báu trong cơi trời, người. Sanh ở
nơi đâu, cũng thường được làm vua,
tăng ích thọ mạng, ngôn từ, biện tài, trời
người tin nhận, chẳng hề sợ hăi, có tiếng
tăm lớn, đều được mọi người
cùng chiêm ngưỡng. Hưởng sự vui mầu nhiệm
thù thắng trên trời hay trong loài người, đạt
được thế lực to lớn, có oai đức lớn,
thân tướng kỳ diệu, đoan nghiêm khôn sánh. Gặp
đấng Thiên Nhân Sư, gặp thiện tri thức, thành
tựu trọn đủ vô lượng khối phước).
Tán
rằng: Giải thích riêng biệt. Trước hết là lợi
ích trong hiện tại. Kế đó, từ “đương
ư vô lượng” (sẽ trong vô lượng) trở
đi, [nói về] lợi ích trong mai sau. Lợi ích trong mai
sau gồm mười ba điều:
- Một,
đạt được chỗ thù thắng.
-
Hai, hưởng quả báo thù thắng.
-
Ba, đạt được biện tài.
- Bốn,
người khác tin nhận.
-
Năm, ĺa sợ hăi.
-
Sáu, đạt được danh tiếng.
- Bảy,
được kính phụng.
-
Tám, hưởng niềm vui thù thắng.
-
Chín, thành tựu đại lực.
-
Mười, có oai nghiêm to lớn.
-
Mười một, đạt được
tướng hảo.
-
Mười hai, gặp bạn lành.
-
Mười ba, trọn đủ phước đức.
(Kinh)
Tứ vương đương tri, bỉ chư nhân
vương kiến như thị đẳng chủng chủng
vô lượng công đức lợi ích, cố ưng tự
văng, phụng nghênh pháp sư, nhược nhất du-thiện-na,
năi chí bách thiên du-thiện-na.
(經)四王當知,彼諸人王見如是等種種無量功德利益,故應自往奉迎法師,若一踰繕那乃至百千踰繕那。
(Kinh:
Bốn vua nên biết, các quốc vương ấy, thấy
vô lượng các thứ công đức lợi ích như thế
đó, cho nên tự đến đón tiếp pháp sư hoặc
một du-thiện-na (yojana, do-tuần) cho đến
trăm ngàn du-thiện-na).
Kế
đó, kết lại ư nghênh tiếp gần hay xa.
5.12.4.2.1.1.3.2.2.3. Suy
tưởng trong khi nghênh đón
(Kinh)
Ư thuyết pháp sư, ưng sanh Phật tưởng.
(經)於說法師應生佛想。
(Kinh:
Đối với vị thầy thuyết pháp, hăy nên tưởng
như Phật).
Tán
rằng: Điều thứ ba là “cách
suy tưởng trong khi nghênh đón”.
Trước hết là đạt được lợi ích
trong hiện tại.
(Kinh)
Hoàn chí thành dĩ, tác như thị niệm: - Kim nhật,
Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, nhập
ngă cung trung, thọ ngă cúng dường, vị ngă thuyết
pháp. Ngă văn pháp dĩ, tức ư A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề bất phục thoái chuyển, tức thị
trị ngộ bách thiên vạn ức na-dữu-đa chư
Phật Thế Tôn. Ngă ư kim nhật tức thị chủng
chủng quảng đại thù thắng thượng diệu
lạc cụ, cúng dường quá khứ, vị lai, hiện
tại chư Phật. Ngă ư kim nhật tức thị
vĩnh bạt Diễm Ma Vương giới, địa ngục,
ngạ quỷ, bàng sanh chi khổ, tiện vi dĩ chủng
vô lượng bách thiên vạn ức Chuyển Luân Thánh
Vương, Thích, Phạm thiên
chúa
thiện căn chủng tử, đương linh vô lượng
bách thiên vạn ức chúng sanh xuất sanh tử khổ,
đắc Niết Bàn lạc, tích tập vô lượng vô
biên bất khả tư nghị phước đức chi
tụ.
(經)還至城已,作如是念:今日釋迦牟尼如來、應、正等覺入我宮中受我供養、為我說法,我聞法已即於阿耨多羅三藐三菩提不復退轉,即是值遇百千萬億那庾多諸佛世尊。我於今日即是種種廣大殊勝上妙樂具供養過去未來現在諸佛,我於今日即是永拔琰摩王界地獄餓鬼傍生之苦,便為已種無量百千萬億轉輪聖王、釋梵天主善根種子,當令無量百千萬億眾生出生死苦、得涅槃樂,積集無量無邊不可思議福德之聚。
(Kinh: Trở về
tới thành rồi, nghĩ như thế này: - Hôm nay, Thích
Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, vào trong cung của
ta, tiếp nhận ta cúng dường, v́ ta thuyết pháp. Ta
nghe pháp xong, chẳng c̣n thoái chuyển nơi Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là đă gặp gỡ
trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa chư Phật Thế
Tôn. Ta trong ngày nay chính là đă cúng dường quá khứ, vị
lai, hiện tại chư Phật bằng các thứ vật
vui sướng thượng diệu rộng lớn như
thế. Ta trong ngày nay vĩnh viễn dẹp trừ nỗi
khổ trong cơi vua Diễm Ma, địa ngục, ngạ quỷ,
bàng sanh, chính là đă gieo chủng tử thiện căn của
vô lượng trăm ngàn vạn ức Chuyển Luân Thánh
Vương, Đế Thích, Phạm
vương, chúa cơi trời,
sẽ khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức
chúng sanh thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, đạt
được niềm vui Niết Bàn, tích tập vô lượng
vô biên khối phước đức chẳng thể
nghĩ bàn).
Trở
về cung suy tưởng, gồm bảy điều:
- Một,
tưởng như được thấy đức Bổn
Sư.
-
Hai, từ “ngă văn pháp dĩ” (ta nghe pháp xong) trở
đi, tưởng đắc đại Bồ Đề.
-
Ba, từ “tức thị trị ngộ” (tức là gặp
gỡ) trở đi, tưởng được thấy
chư Phật.
- Bốn,
từ “ngă ư kim nhật” (ta trong hôm nay) trở đi,
tưởng cúng dường chư Phật.
-
Năm, từ “ngă ư kim nhật” (ta trong hôm nay) trở
đi, tưởng vĩnh viễn ĺa khỏi đường
ác, được vượt thoát đường ác. Diễm
Ma vương giới tức là cơi của người phán
quyết trong ba ác đạo, đường ấy thuộc
về đường
quỷ. Luận Du Già Sư Địa nói: “Sanh
vào Na Lạc Ca (Naraka, địa
ngục) làm Tĩnh Tức
Vương, tức là sanh vào cơi của vị vua biến
hóa. Nếu không, v́ sao sanh trong chỗ thấp kém nhất,
hóa hiện ra tù ngục?” Lại
c̣n mâu thuẫn với Nhị Thập Duy Thức[4]
nói [Diêm vương] chẳng chấp thuận cùng họ (tội
nhân) chịu khổ. Kinh Trường A Hàm, quyển mười
chín nói: Xét theo tướng
khác mà nói vua tưởng
như đang thọ khổ.
-
Sáu, từ “tiện vi dĩ chủng” (tức là đă
gieo) trở đi, tưởng đạt được
các vương vị.
- Bảy,
từ “đương linh vô lượng” (sẽ khiến
cho vô lượng) trở đi, tưởng khiến cho
người khác đạt được lợi ích.
5.12.4.2.1.1.3.2.2.4. Lợi
ích đạt được [do suy tưởng, tiếp
đón như thế]
(Kinh)
Hậu cung quyến thuộc, cập chư nhân dân, giai mông
an ổn, quốc độ thanh thái, vô chư tai ách, độc
hại ác nhân, tha phương oán địch, bất
lai xâm nhiễu, viễn ly ưu hoạn.
(經)後宮眷屬及諸人民皆蒙安穩,國土清泰無諸災厄毒害惡人,他方怨敵不來侵擾遠離憂患。
(Kinh: Quyến
thuộc trong hậu cung, và dân chúng đều được
an ổn, cơi nước thanh b́nh, không có các tai ách, độc
hại, kẻ ác, oán địch phương khác chẳng
đến xâm phạm, quấy nhiễu, xa ĺa ưu hoạn).
Kế
đó, điều thứ tư nói về đạt
được lợi ích.
5.12.4.2.1.1.3.2.2.4.5. Kết
lại ư khuyên bảo
(Kinh)
Tứ vương đương tri, thời bỉ nhân vương
ưng tác như thị tôn trọng chánh pháp, diệc ư
thọ tŕ thị diệu kinh điển bật-sô, bật-sô
ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, cúng dường, cung
kính, tôn trọng, tán thán, sở hoạch thiện căn,
tiên dĩ thắng phước thí dữ nhữ đẳng,
cập chư quyến thuộc.
(經)四王當知,時彼人王應作如是尊重正法,亦於受持是妙經典苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦供養恭敬尊重讚歎,所獲善根,先以勝福施與汝等及諸眷屬。
(Kinh:
Bốn vua nên biết: Khi đó, vị quốc vương ấy
hăy nên tôn trọng chánh pháp như thế, cũng nên đối
với bật-sô, bật-sô ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca
thọ tŕ kinh điển mầu nhiệm này mà cúng dường,
cung kính, tôn trọng, tán thán. Đối với thiện
căn đạt được,
trước hết dùng phước thù thắng thí cho các
ông và các quyến thuộc).
Kế
đó, kết lại để khuyên răn. Trước là
kết lại lời khuyên răn; kế đó là kết lại
các lợi ích đạt
được. Trong phần “kết
lại lời khuyên”, trước hết
là kết lại ư “tôn
kính pháp sư”;
sau đó, kết lại ư “tôn
kính tứ chúng”,
cuối cùng là hồi thí.
(Kinh)
Bỉ chi nhân vương hữu đại phước
đức, thiện nghiệp nhân duyên, ư hiện thế
trung, đắc đại tự tại, tăng ích oai
quang, cát tường diệu tướng giai tất trang
nghiêm, nhất thiết oán địch năng dĩ chánh pháp
nhi tồi phục chi.
(經)彼之人王有大福德善業因緣,於現世中得大自在增益威光,吉祥妙相皆悉莊嚴,一切怨敵能以正法而摧伏之。
(Kinh:
Vị quốc vương ấy có nhân duyên phước
đức và thiện nghiệp to lớn, trong đời
hiện tại, đạt được đại tự
tại, tăng thêm oai quang, diệu tướng cát tường
thảy đều trang nghiêm, có thể dùng chánh pháp để
chiết phục hết thảy các oán địch).
Kế
đó, kết lại lợi ích đạt được,
ư nghĩa dễ hiểu!
5.12.4.2.1.1.3.2.3. Thiên
vương dạy [quốc vương] cách thực hiện
để khiến các thiên vương hoan hỷ
(Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương
bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược hữu nhân vương
năng tác như thị cung kính chánh pháp, thính thử kinh
vương, tịnh ư tứ chúng tŕ kinh chi nhân, cung kính,
cúng dường, tôn trọng tán thán, thời bỉ nhân
vương dục vị ngă đẳng sanh hoan hỷ cố,
đương tại nhất biên, cận ư pháp ṭa,
hương thủy sái địa, tán chúng danh hoa, an trí xứ
sở, thiết tứ vương ṭa. Ngă dữ bỉ
vương cộng thính chánh pháp. Kỳ vương sở
hữu tự lợi thiện căn, diệc dĩ phước
phân thí cập ngă đẳng. Thế Tôn! Thời bỉ nhân
vương thỉnh thuyết pháp giả thăng ṭa chi thời,
tiện vị ngă đẳng thiêu chúng danh hương, cúng
dường thị kinh.
(經)爾時四天王白佛言:世尊!若有人王能作如是恭敬正法聽此經王,并於四眾持經之人恭敬供養尊重讚歎,時彼人王欲為我等生歡喜故,當在一邊近於法座,香水灑地散眾名華,安置處所設四王座,我與彼王共聽正法。其王所有自利善根,亦以福分施及我等。世尊!時彼人王請說法者昇座之時,便為我等燒眾名香供養是經。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương bạch cùng đức
Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu có quốc
vương có thể cung kính chánh pháp, nghe vua trong các kinh
này như vậy,
lại c̣n cung kính, cúng dường, tôn trọng tán thán người tŕ
kinh thuộc tứ chúng; khi
đó, vị quốc vương ấy v́ muốn chúng con
sanh tâm hoan hỷ, hăy nên ở tại một bên, gần
nơi pháp ṭa, dùng nước thơm rưới đất,
rải các hoa quư, xếp đặt nơi chốn, bày ṭa của
bốn thiên vương. Con với nhà vua ấy cùng nghe chánh
pháp. Đối với tất cả thiện căn tự
lợi của chính ḿnh, vị vua ấy cũng chia một
phần phước cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Khi vị
quốc vương đó thỉnh người thuyết
pháp thăng ṭa, sẽ v́ chúng con đốt các loại
hương quư để cúng dường kinh này).
Kế
đó, thiên vương dạy [quốc vương] hăy v́
các thiên vương [xếp đặt pháp ṭa v.v…], có hai ư:
- Một,
nhắc lại các việc quốc vương đă làm.
-
Hai, từ “thời bỉ nhân vương” (khi đó, vị
quốc vương ấy) trở đi, dạy quy cách v́
các thiên vương mà thực hiện.
Trong
phần “quy
cách”,
có sáu điều:
- Một,
chỉ bày nơi chốn sẽ được trang nghiêm (lập
ṭa của thiên vương gần pháp ṭa của người
thuyết pháp).
-
Hai, trang nghiêm [nơi ấy]
cho thanh tịnh.
-
Ba, truyền xếp đặt bốn ṭa.
- Bốn,
thiên vương sẽ cùng [quốc vương] nghe pháp.
-
Năm, dạy vua thí phước.
-
Sáu, truyền hăy cúng dường.
5.12.4.2.1.1.3.3.
Nương theo đó hành tŕ, cảm ứng điềm lành
5.12.4.2.1.1.3.3.1. Tứ
thiên vương trần thuật sự cảm ứng
(Kinh) Thế Tôn! Thời bỉ hương
yên ư nhất niệm khoảnh, thượng thăng
hư không, tức chí ngă đẳng chư thiên cung điện,
ư hư không trung, biến thành hương cái.
(經)世尊!時彼香煙於一念頃上昇虛空,即至我等諸天宮殿,於虛空中變成香蓋。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Khi ấy, khói hương trong khoảng
một niệm bay lên hư không, liền thấu tới
cung điện của chư thiên chúng con, ở trong hư
không, biến thành lọng hương).
Kế
đó, phân đoạn “do hành theo đó, cảm vời
điềm lành”, bao gồm hai phần:
- Một,
bốn vị thiên vương trần thuật sự cảm
ứng.
-
Hai, từ “Phật cáo Tứ Thiên Vương” (đức
Phật bảo Tứ Thiên Vương) trở đi, đức
Phật trần thuật cảm ứng.
Trong
phần “chư thiên trần thuật”, trước là
Tổng, sau là Biệt. Trong phần Tổng, có hai ư:
- Một,
chỗ khói hương xông tới.
-
Hai, khói hương [hiện điềm] tốt lành.
(Kinh)
Ngă đẳng thiên chúng văn bỉ diệu hương,
hương hữu kim quang, chiếu diệu ngă đẳng
sở cư cung điện, năi chí Phạm cung, cập
dĩ Đế Thích, Đại Biện Tài Thiên, Đại
Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần, Chánh Liễu
Tri đại tướng, nhị thập bát bộ chư
Dược Xoa thần, Đại Tự Tại Thiên, Kim
Cang Mật Chủ, Bảo Hiền đại tướng,
Ha Lợi Để Mẫu ngũ bách quyến thuộc, Vô
Nhiệt Năo Tŕ long vương, Đại Hải long
vương sở cư chi xứ. Thế Tôn! Như thị
đẳng chúng, ư tự cung điện, kiến bỉ
hương yên nhất sát-na khoảnh,
biến thành hương cái, văn hương phân phức,
đổ sắc quang minh, biến chí nhất thiết
chư thiên thần cung.
(經)我等天眾聞彼妙香,香有金光,照曜我等所居宮殿乃至梵宮,及以帝釋、大辯才天、大吉祥天、堅牢地神、正了知大將、二十八部諸藥叉神、大自在天、金剛密主、寶賢大將、訶利底母五百眷屬、無熱惱池龍王、大海龍王所居之處。世尊!如是等眾於自宮殿,見彼香煙一剎那頃變成香蓋,聞香芬馥覩色光明,遍至一切諸天神宮。
(Kinh: Chư thiên
chúng con ngửi thấy mùi hương mầu nhiệm ấy,
hương có quang minh sắc vàng, chiếu sáng ngời cung
điện chúng con đang ở,
cho đến cung điện của Phạm thiên, cùng với
chỗ ở của Đế Thích, Đại Biện Tài
Thiên, Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần,
đại tướng Chánh Liễu Tri[5],
hai mươi tám bộ các thần Dược
Xoa, Đại Tự Tại Thiên, Kim Cang Mật Chủ, đại
tướng Bảo Hiền[6], Ha Lợi Để Mẫu
(Hārītī, Quỷ
Tử Mẫu) và năm trăm quyến thuộc, long
vương nơi ao Vô Nhiệt Năo và long vương Đại
Hải. Bạch Thế Tôn! Các đại chúng như thế
ở trong cung điện của chính ḿnh, thấy khói
hương ấy, trong khoảng một sát-na biến thành
lọng hương, ngửi thấy mùi hương thơm
ngát, thấy quang minh nhiều màu soi
thấu trọn khắp các cung
của chư thiên thần).
Tiếp đó, nói riêng. Dựa theo
khói hương mà nói có quang minh kim sắc. Nếu không,
hương trần do tỵ căn (mũi) tiếp nhận,
sao có thể nói là “thấy” cho được?
5.12.4.2.1.1.3.3.2. Đức
Phật trần thuật sự cảm ứng
(Kinh)
Phật cáo Tứ Thiên Vương: - Thị hương
quang minh phi đản chí thử cung điện, biến
thành hương cái, phóng đại quang minh. Do bỉ nhân
vương thủ chấp hương lô, thiêu chúng danh hương,
cúng dường kinh thời, kỳ hương yên khí, ư
nhất niệm khoảnh, biến chí tam thiên đại
thiên thế giới bách ức nhật nguyệt, bách ức
Diệu Cao sơn vương, bách ức tứ châu. Ư thử
tam thiên đại thiên thế giới, nhất thiết
thiên, long, Dược Xoa, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ
Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già cung điện chi sở,
ư hư không trung, sung măn nhi trụ, chủng chủng
hương yên biến thành vân cái. Kỳ cái kim sắc, phổ
chiếu thiên cung. Như thị tam thiên đại thiên thế
giới sở hữu chủng chủng hương vân,
hương cái, giai thị Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh oai thần chi lực.
(經)佛告四天王:是香光明非但至此宮殿變成香蓋放大光明,由彼人王手執香爐燒眾名香供養經時,其香煙氣於一念頃遍至三千大千世界百億日月、百億妙高山王、百億四洲。於此三千大千世界一切天、龍、藥叉、健闥婆、阿蘇羅、揭路茶、緊那羅、莫呼洛伽宮殿之所,於虛空中充滿而住,種種香煙變成雲蓋,其蓋金色普照天宮。如是三千大千世界所有種種香雲香蓋,皆是金光明最勝王經威神之力。
(Kinh: Đức
Phật bảo Tứ Thiên Vương: - Quang minh của
hương ấy không chỉ thấu đến các cung
điện ấy, mà c̣n biến thành lọng hương, tỏa
quang minh to lớn. Do khi vị quốc vương ấy tay
cầm ḷ hương, đốt các thứ hương quư
cúng dường kinh, mùi khói hương trong khoảng một
niệm, đến trọn khắp trăm ức mặt
trời, mặt trăng, trăm ức núi chúa Diệu Cao,
trăm ức bốn châu trong tam thiên đại thiên thế
giới. Nơi cung điện của hết thảy trời,
rồng, Dược Xoa, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ
Trà (Ca Lâu La), Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già trong tam thiên
đại thiên thế giới ấy, trụ đầy ắp
trong hư không, các thứ khói hương biến thành lọng
mây. Lọng ấy sắc vàng, chiếu khắp cung trời.
Tất cả các thứ mây hương, lọng
hương như thế trong tam thiên đại thiên thế
giới đều do sức oai thần của kinh Kim Quang
Minh Tối Thắng Vương).
Kế
đó, đức Phật trần thuật sự cảm ứng,
có hai ư:
- Một,
khói hương xông khắp
cơi đại thiên.
-
Hai, từ “thị chư nhân vương” (các quốc vương
ấy) trở đi, nói hương xông
trọn khắp mười
phương thế giới.
Trong
ư thứ nhất, có bốn điều:
- Một,
chẳng bị hạn cuộc bởi t́nh kiến.
-
Hai, từ “do bỉ nhân vương” (do quốc
vương ấy) trở đi, hương xông trọn khắp.
-
Ba, từ “chủng chủng hương yên” (các thứ
khói hương) trở đi, nói về điềm lành.
- Bốn,
“như thị tam thiên” (cơi tam thiên như thế) trở
đi, kết quy
vào kinh lực.
(Kinh)
Thị chư nhân vương thủ tŕ hương lô cúng
dường kinh thời, chủng chủng hương khí
phi đản biến thử tam thiên đại thiên thế
giới, ư nhất niệm khoảnh, diệc biến thập
phương vô lượng vô biên Hằng hà sa đẳng
bách thiên vạn ức chư Phật quốc độ,
ư chư Phật thượng hư không chi trung, biến
thành hương cái, kim sắc phổ chiếu diệc phục
như thị.
(經)是諸人王手持香罏供養經時,種種香氣非但遍此三千大千世界,於一念頃亦遍十方無量無邊恒河沙等百千萬億諸佛國土,於諸佛上虛空之中變成香蓋,金色普照亦復如是。
(Kinh: Khi các quốc
vương tay cầm ḷ hương cúng dường kinh,
các thứ mùi hương không chỉ trọn khắp tam
thiên đại thiên thế giới này, [mà c̣n] trong khoảng
một niệm, cũng trọn khắp mười
phương vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức
các cơi nước Phật nhiều như cát sông Hằng.
Nơi hư không phía trên chư Phật, biến thành lọng
hương, kim sắc chiếu trọn khắp nơi,
cũng giống như thế).
Kế
đó, nói [mùi hương] trọn khắp mười
phương thế giới. Có hai ư:
- Một,
tới đâu cũng đều ở phía trên và phía dưới
chư Phật.
-
Hai, hiện điềm lành.
5.12.4.2.1.1.3.4. Chư Phật
tán dương
5.12.4.2.1.1.3.4.1. Tán thán cái
nhân thù thắng thành tựu trong hiện tại
5.12.4.2.1.1.3.4.1.1. Tán thán
cái nhân của pháp sư
(Kinh)
Thời bỉ chư Phật văn thử diệu
hương, đổ tư vân cái, cập dĩ kim sắc
ư thập phương giới Hằng hà sa đẳng
chư Phật Thế Tôn,
hiện thần biến dĩ, bỉ chư Thế Tôn tất
cộng quán sát, dị khẩu đồng âm, tán pháp sư
viết: - Thiện tai! Thiện tai! Nhữ đại
trượng phu năng quảng lưu bố như thị
thậm thâm vi diệu kinh điển, tắc vi thành tựu
vô lượng vô biên bất khả tư nghị phước
đức chi tụ.
(經)時彼諸佛聞此妙香覩斯雲蓋及以金色於十方界恒河沙等諸佛世尊現神變已,彼諸世尊悉共觀察,異口同音讚法師曰:善哉善哉!汝大丈夫能廣流布如是甚深微妙經典,則為成就無量無邊不可思議福德之聚。
(Kinh: Khi đó,
chư Phật ngửi mùi hương mầu nhiệm ấy,
trông thấy lọng mây ấy, và sắc vàng hiện thần
biến nơi chư Phật Thế Tôn trong mười
phương thế giới nhiều như cát sông Hằng
xong, các đức Thế Tôn ấy đều cùng quan sát, khác
miệng cùng tiếng, tán thán pháp sư rằng: - Lành thay!
Lành thay! Ông là đại trượng phu có thể lưu truyền
rộng răi kinh điển vi diệu rất sâu như thế,
tức là thành tựu vô lượng vô biên chẳng thể
nghĩ bàn khối phước đức).
Tán
rằng: Phần thứ tư trong đoạn “dạy về
quy cách hoằng kinh” là “chư Phật tán dương”, có hai
điều:
- Một,
tán thán cái nhân thù thắng được thành tựu trong hiện
tại.
-
Hai, từ “nhĩ thời, thập phương” (lúc bấy
giờ, mười phương) trở đi, tán thán cái quả
vị lai.
Tán
thán nhân lẫn quả, mong cho các quốc vương y giáo
phụng hành. Trước hết, trong phần tán thán cái
nhân, trước là tán thán cái nhân của pháp sư, sau là tán
thán cái nhân của người nghe. “Pháp sư” ở
đây là nói chung người thuyết pháp, mà cũng bao gồm
người cúng dường. [Người hành bất cứ
hạnh nào trong] mười thứ pháp hạnh (biên chép, đọc, tụng, cúng
dường, giảng nói, lưu truyền…),
đều gọi là “pháp
sư”.
Do nhà vua có thể cúng dường, lưu truyền rộng
răi kinh này, pháp sư có thể lưu truyền pháp này. Nhưng
xét theo mạch văn, đúng là chỉ tán thán nhà vua, nêu ra
chuyện thấy điềm lành ứng hiện để
tán thán. Hoặc điềm lành ứng hiện là do oai lực của
kinh; v́ thế, tán thán pháp sư, bao gồm cả hai chỗ
tốt lành. Có ba ư:
- Một,
trông thấy điềm lành.
-
Hai, từ “bỉ chư Phật” (các đức Phật
đó) trở đi, tán thán chuyện
lưu thông kinh.
-
Ba, từ “tắc vi thành tựu” (tức là thành tựu)
trở đi, tán thán để kết lại cái nhân.
Ư
nghĩa kinh văn dễ hiểu!
5.12.4.2.1.1.3.4.1.2. Tán thán
cái nhân của người nghe
(Kinh) Nhược hữu thính văn như
thị kinh giả, sở hoạch công đức kỳ
lượng thậm đa, hà huống thư tả, thọ
tŕ, độc tụng, vị tha phu diễn, như thuyết
tu hành. Hà dĩ cố? Thiện nam tử! Nhược hữu
chúng sanh văn thử Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh giả, tức ư A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề bất phục thoái chuyển.
(經)若有聽聞如是經者,所獲功德其量甚多,何況書寫、受持、讀誦、為他敷演、如說修行。何以故?善男子!若有眾生聞此金光明最勝王經者,即於阿耨多羅三藐三菩提不復退轉。
(Kinh: Nếu có
người nghe kinh như thế ấy,
đạt được công đức số lượng
rất nhiều, huống hồ biên chép, thọ tŕ, đọc
tụng, v́ người khác phô diễn, tu hành đúng như
lời dạy. V́ cớ sao? Này thiện nam tử! Nếu
có chúng sanh nghe kinh Kim
Quang Minh Tối Thắng Vương này, tức là chẳng
c̣n thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác).
Kế
đó, tán thán người nghe, có ba ư:
- Một,
nêu ra cái kém cỏi để suy ra cái thù thắng.
-
Hai, gạn hỏi nguyên do.
-
Ba, giải thích.
5.12.4.2.1.1.3.4.2. Tán thán
cái quả trong vị lai
5.12.4.2.1.1.3.4.2.1. Chư
Phật cùng khen ngợi
(Kinh)
Nhĩ thời, thập phương hữu bách thiên câu-chi
na-dữu-đa vô lượng vô số Hằng hà sa đẳng
chư Phật sát độ, bỉ chư sát độ nhất
thiết Như Lai dị khẩu đồng âm, ư pháp
ṭa thượng, tán bỉ pháp sư ngôn: - Thiện tai! Thiện
tai!
(經)爾時十方有百千俱胝那庾多無量無數恒河沙等諸佛剎土,彼諸剎土一切如來異口同音於法座上讚彼法師言:善哉善哉!
(Kinh: Lúc bấy
giờ, mười phương có trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa
vô lượng vô số Hằng hà sa các cơi Phật, hết
thảy Như Lai trong các cơi nước ấy khác miệng
cùng tiếng, ở trên pháp ṭa, khen ngợi vị pháp sư ấy
rằng: - Lành thay! Lành thay!).
Kế
đó, tán thán cái quả trong vị lai. Có hai ư, trước
hết là chư Phật cùng khen ngợi chung.
5.12.4.2.1.1.3.4.2.2. Tán thán
riêng
5.12.4.2.1.1.3.4.2.2.1. Tán
thán cái nhân
(Kinh) Thiện nam tử! Nhữ ư lai thế,
dĩ tinh cần lực, đương tu vô lượng
bách thiên khổ hạnh, cụ túc tư lương, siêu
chư thánh chúng, xuất quá tam giới, vi tối thắng
tôn.
(經)善男子!汝於來世,以精勤力當修無量百千苦行,具足資糧超諸聖眾,出過三界為最勝尊。
(Kinh: Thiện
nam tử! Ông trong đời sau, do sức siêng ṛng, sẽ
tu vô lượng trăm ngàn khổ hạnh, trọn đủ
tư lương, vượt xa các thánh chúng, vượt khỏi
tam giới, thành đấng tối thắng).
Kế
đó là tán thán riêng. Trong phần tán thán riêng, trước
tiên là tán thán lợi ích nơi cái nhân.
5.12.4.2.1.1.3.4.2.2.2. Tán
thán cái quả
(Kinh)
Đương tọa Bồ Đề thụ vương
chi hạ, thù thắng trang nghiêm, năng cứu tam thiên
đại thiên thế giới hữu duyên chúng sanh, thiện
năng tồi phục khả úy h́nh nghi chư ma quân chúng,
giác liễu chư pháp tối thắng thanh tịnh thậm
thâm vô thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Thiện
nam tử! Nhữ đương tọa ư kim cang chi ṭa,
chuyển ư vô thượng chư Phật sở tán thập
nhị diệu hạnh thậm thâm pháp luân, năng kích vô
thượng tối đại pháp cổ, năng xuy vô
thượng cực diệu pháp loa, năng kiến vô
thượng thù thắng pháp tràng, năng nhiên vô thượng
cực minh pháp cự, năng giáng vô thượng cam lộ
pháp vũ, năng đoạn vô lượng phiền năo oán
kết.
(經)當坐菩提樹王之下,殊勝莊嚴,能救三千大千世界有緣眾生,善能摧伏可畏形儀諸魔軍眾,覺了諸法最勝清淨甚深無上正等菩提。善男子!汝當坐於金剛之座,轉於無上諸佛所讚十二妙行甚深法輪,能擊無上最大法鼓、能吹無上極妙法螺、能建無上殊勝法幢、能然無上極明法炬、能降無上甘露法雨、能斷無量煩惱怨結。
(Kinh:
Sẽ ngồi dưới cội Bồ Đề thụ
vương, thù thắng trang nghiêm, có thể cứu chúng sanh
hữu duyên trong tam thiên đại thiên thế giới, khéo
có thể dẹp tan các đội quân ma có h́nh dạng
đáng sợ, giác ngộ Chánh Đẳng Bồ Đề
rất sâu vô thượng, thanh tịnh tối thắng
trong các pháp. Này thiện nam tử! Ông sẽ ngồi ṭa kim
cang, chuyển pháp luân rất sâu gồm mười hai diệu
hạnh vô thượng được chư Phật khen ngợi,
có thể gióng trống pháp vô thượng lớn nhất,
có thể thổi ốc pháp vô thượng cực diệu,
có thể lập pháp tràng thù thắng vô thượng, có thể
đốt đuốc pháp vô thượng cực sáng, có thể
tuôn mưa pháp cam lộ vô thượng, có thể đoạn
vô lượng phiền năo oán kết).
Kế
đó, tán thán cái quả. Trong phần “tán thán cái quả”,
có bốn điều:
- Một,
ngồi dưới cội đạo thụ (cây Bồ Đề).
-
Hai, từ “thiện năng tồi phục” (khéo có thể
dẹp tan) trở đi, hàng phục thiên ma.
- Ba,
từ “giác liễu chư pháp” trở đi, đắc
Bồ Đề.
- Bốn,
từ “thiện nam tử” trở đi, chuyển pháp
luân.
Chuyển
pháp luân có tám điều. Thứ nhất, trong cái Thể của
pháp luân th́ pháp luân có sáu nghĩa, từ “năng linh vô
lượng” (có thể khiến cho vô lượng) trở
đi chính là tác dụng của pháp luân. Pháp luân có sáu nghĩa
như sau:
- Một,
khai Quyền.
-
Hai, ốc (tù và) pháp lập giáo.
-
Ba, pháp tràng đắc Bồ Đề trí.
- Bốn,
đuốc pháp đắc lư Niết Bàn.
-
Năm, mưa pháp có thể sanh ra điều thiện.
-
Sáu, đoạn phiền năo, có thể phá ác.
(Kinh)
Năng linh vô lượng bách thiên vạn ức na-dữu-đa
hữu t́nh độ ư vô nhai khả úy đại hải,
giải thoát sanh tử vô tế luân hồi, trị ngộ vô
lượng bách thiên vạn ức na-dữu-đa Phật.
(經)能令無量百千萬億那庾多有情度於無涯可畏大海,解脫生死無際輪迴,值遇無量百千萬億那庾多佛。
(Kinh:
Có thể khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức
na-dữu-đa hữu t́nh vượt khỏi biển cả
không bờ bến đáng sợ, giải thoát sanh tử
luân hồi không ngằn mé,
gặp vô lượng trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa
Phật).
Tán
rằng: Tác dụng của pháp luân, có ba điều:
-
Vượt qua biển cả, ĺa Khổ Đế.
-
Thoát sanh tử, đoạn Tập Đế.
- Do
Hoặc trói buộc luân hồi sanh tử; v́ thế, đoạn
Tập Đế được gọi là “giải
thoát”.
Nghiệp
chẳng có nghĩa là “trói buộc”, chẳng phải là cái gốc
sanh tử; v́ thế, chẳng nói là “nghiệp”. Hoặc
cũng có thể hiểu nó thuộc về nghiệp, v́ giống
như Tập. Từ “trị ngộ Phật” (gặp
gỡ Phật) trở đi là gặp gỡ bạn lành.
5.12.4.2.1.1.4. Quốc
vương tu hành kinh này đạt được lợi
ích
(Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương
phục bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Thị Kim Quang
Minh Tối Thắng Vương Kinh năng ư vị lai,
hiện tại,
thành tựu như thị vô lượng công đức. Thị
cố, nhân vương nhược đắc văn thị
vi diệu kinh điển, tức thị dĩ ư bách thiên
vạn ức vô lượng Phật sở, chủng
chư thiện căn. Ư bỉ nhân vương, ngă
đương hộ niệm. Phục kiến vô lượng
phước đức lợi cố, ngă đẳng tứ
vương, cập dư quyến thuộc, vô lượng
bách thiên vạn ức chư thần, ư tự cung điện,
kiến thị chủng chủng hương yên, vân cái thần
biến chi thời, ngă đương ẩn tế, bất
hiện kỳ thân. Vị thính pháp cố, đương
chí thị vương thanh tịnh nghiêm sức sở chỉ
cung điện giảng pháp chi xứ. Như thị năi chí
Phạm cung, Đế Thích, Đại Biện Tài Thiên,
Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần,
Chánh Liễu Tri đại tướng, nhị thập bát
bộ chư Dược Xoa thần, Đại Tự Tại
Thiên, Kim Cang Mật Chủ, Bảo Hiền đại
tướng, Ha Lợi Để Mẫu ngũ bách quyến
thuộc, Vô Nhiệt Năo Tŕ long vương, Đại Hải
long vương, vô lượng bách thiên vạn ức na-dữu-đa
chư thiên, Dược Xoa, như thị đẳng chúng, vị
thính pháp cố, giai bất hiện thân, chí bỉ nhân
vương thù thắng cung điện trang nghiêm cao ṭa thuyết
pháp chi sở. Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương,
cập dư quyến thuộc, Dược Xoa chư thần,
giai đương nhất tâm, cộng bỉ nhân
vương vi thiện tri thức. Nhân thị vô thượng
đại pháp thí chủ dĩ cam lộ vị sung túc ư
ngă. Thị cố, ngă đẳng ủng hộ thị
vương, trừ kỳ suy hoạn, linh đắc an ổn,
cập kỳ cung điện, thành, ấp, quốc độ,
chư ác tai biến tất linh tiêu diệt.
(經)爾時四天王復白佛言:世尊!是金光明最勝王經能於未來現在成就如是無量功德,是故人王若得聞是微妙經典,即是已於百千萬億無量佛所種諸善根。於彼人王,我當護念。復見無量福德利故,我等四王及餘眷屬無量百千萬億諸神,於自宮殿見是種種香煙雲蓋神變之時,我當隱蔽不現其身為聽法故,當至是王清淨嚴飾所止宮殿講法之處。如是乃至梵宮、帝釋、大辯才天、大吉祥天、堅牢地神、正了知大將、二十八部諸藥叉神、大自在天、金剛密主、寶賢大將、訶利底母五百眷屬、無熱惱池龍王、大海龍王、無量百千萬億那庾多諸天藥叉,如是等眾為聽法故皆不現身,至彼人王殊勝宮殿莊嚴高座說法之所。世尊!我等四王及餘眷屬藥叉諸神,皆當一心共彼人王為善知識。因是無上大法施主以甘露味充足於我,是故我等擁護是王,除其衰患令得安穩,及其宮殿城邑國土諸惡災變悉令消滅。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Tứ Thiên Vương lại bạch cùng đức
Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương này có thể trong vị lai và hiện tại
thành tựu vô lượng công đức như thế. Do
đó, nếu quốc vương được nghe kinh
điển vi diệu này, tức là đă gieo các thiện
căn nơi trăm ngàn vạn ức vô lượng
chư Phật. Con sẽ hộ niệm quốc
vương ấy. Lại do thấy vô lượng lợi
ích, phước đức, bốn thiên vương chúng con
và các quyến thuộc khác, gồm vô lượng trăm
ngàn vạn ức các thần, ở trong cung điện của
chính ḿnh, khi
thấy các loại thần thông biến
hóa như khói hương, lọng mây ấy, con sẽ ẩn
thân, chẳng hiện thân ḿnh v́ để nghe pháp. Con sẽ
đến chỗ cung điện được nhà vua ấy
trang hoàng thanh tịnh để làm
nơi giảng pháp. Như thế cho đến cung điện
của Phạm vương, Đế Thích, Đại Biện
Tài Thiên, Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa
Thần, đại tướng Chánh Liễu Tri, hai
mươi tám bộ các thần Dược Xoa, Đại
Tự Tại Thiên, Kim Cang Mật Chủ, đại tướng
Bảo Hiền, Ha Lợi Để Mẫu và năm
trăm quyến thuộc, long vương ao Vô Nhiệt Năo,
long vương Đại Hải, vô lượng trăm
ngàn vạn ức na-dữu-đa chư thiên, Dược
Xoa, các chúng như thế đó, v́ để nghe pháp đều
chẳng hiện thân, tới chỗ ṭa cao để thuyết
pháp trang nghiêm trong cung điện thù thắng của vị
quốc vương ấy. Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng
con và các quyến thuộc khác, các thần Dược Xoa, sẽ
đều nhất tâm cùng làm thiện tri thức cho vị
quốc vương ấy. Do vị thí chủ đại
pháp vô thượng ấy đă dùng cam lộ khiến cho
con được sung túc. V́ thế, chúng con ủng hộ
nhà vua ấy, trừ sự suy hoạn, khiến cho vua
được an ổn, và khiến cho các tai biến ác
nơi cung điện, thành, ấp, quốc độ, thảy
đều tiêu diệt).
Kế
đó, phần thứ tư trong đoạn “nguyện
thủ hộ”
là “nhà vua tu hành đạt được lợi ích”.
Trước đó, đức Phật đă nói lợi ích
do lưu hành kinh này; ở đây là quốc
vương nương theo kinh này mà tu hành, đạt
được lợi ích, có ba ư:
- Một,
tán thán pháp.
-
Hai, từ “thị cố nhân vương” (v́ thế,
quốc vương) trở đi, tán thán người [có thể
thủ hộ, hành tŕ kinh này].
-
Ba, từ “ư bỉ nhân vương” (nơi quốc
vương đó) trở đi, nói về sự thủ hộ.
Trước
hết, nêu ra cái nhân thủ hộ. Từ “ngă đẳng
tứ vương” (bốn vua chúng con) trở đi là
nói về sự thủ hộ. Phần này lại gồm bốn
ư:
- Một,
nói về thời gian thủ hộ.
-
Hai, từ “ngă đương ẩn tế” (con sẽ
ẩn thân) trở đi, chư thiên giáng hạ vương
cung.
-
Ba, từ “Thế Tôn! Ngă
đẳng” (bạch
Thế Tôn! Chúng con) trở đi, chư thiên cùng kết thành bạn lành.
- Bốn,
từ “thị cố, ngă đẳng” (v́ thế, chúng
con) trở đi, nói về sự thủ hộ.
Trong
đoạn thứ hai, trước hết là tứ thiên
vương giáng xuống, sau là từ “như thị năi
chí” (như thế cho đến) trở đi, Phạm
vương, Đế Thích v.v… hiện tới. Các đoạn
khác dễ thấy.
5.12.4.2.1.2. Tứ thiên
vương sắc truyền quốc vương hộ pháp
5.12.4.2.1.2.1. Tổn hại
do chẳng hoằng truyền kinh này
(Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương
câu cộng hiệp chưởng, bạch Phật ngôn: - Thế
Tôn! Nhược hữu nhân vương ư kỳ quốc
độ, tuy hữu thử kinh, vị thường
lưu bố, tâm sanh xả ly, bất nhạo thính văn,
diệc bất cúng dường, tôn trọng, tán thán, kiến
tứ bộ chúng tŕ kinh
chi nhân, diệc phục bất
năng tôn trọng, cúng dường, toại linh ngă đẳng
cập dư quyến thuộc,
vô lượng chư thiên, bất
đắc văn thử thậm thâm diệu pháp, bối
cam lộ vị, thất chánh pháp lưu, vô hữu oai quang,
cập dĩ thế lực, tăng trưởng ác thú, tổn
giảm nhân thiên, trụy sanh tử hà, quai Niết Bàn lộ.
(經)爾時四天王俱共合掌白佛言:世尊!若有人王於其國土雖有此經未甞流布,心生捨離不樂聽聞,亦不供養尊重讚歎,見四部眾持經之人亦復不能尊重供養,遂令我等及餘眷屬無量諸天不得聞此甚深妙法,背甘露味、失正法流,無有威光及以勢力,增長惡趣、損減人天,墜生死河、乖涅槃路。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương đều cùng chắp
tay, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Nếu có quốc vương trong quốc độ của
chính ḿnh, tuy có kinh này, nhưng chưa từng lưu truyền,
tâm sanh ĺa bỏ, chẳng thích nghe nói, cũng chẳng cúng
dường, tôn trọng, tán thán, thấy người tŕ
kinh thuộc bốn bộ chúng, cũng chẳng thể tôn
trọng, cúng dường, khiến cho chúng con và các quyến
thuộc khác, vô lượng chư thiên, chẳng được
nghe diệu pháp rất sâu này, trái nghịch cam lộ vị,
đánh mất ḍng pháp, chẳng có oai quang cùng với thế
lực, tăng trưởng đường ác, tổn giảm
trời, người, rơi vào sông sanh tử, trái nghịch
đường Niết Bàn).
Tán
rằng: Phần thứ hai là “[tứ thiên vương] sắc
truyền quốc vương hộ pháp”. Trong phần này có
ba ư:
- Một,
chẳng hộ pháp sẽ có tổn hại.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Nhược hữu nhân
vương” (bạch Thế Tôn! Nếu có quốc vương)
trở đi, hoằng truyền, hộ tŕ [kinh này] sẽ
đạt được lợi ích.
-
Ba, từ “Thế Tôn! Như Đại Phạm Thiên”
trở đi, so sánh nhằm chỉ rơ sự thù thắng
để khuyên hoằng kinh.
Trong
phần thứ nhất có hai ư:
- Một,
vứt bỏ pháp, chẳng hoằng truyền, gồm hai ư:
Một là vứt bỏ pháp, hai là vứt bỏ người
[thọ tŕ, hoằng dương kinh này].
-
Hai, từ “toại linh ngă đẳng” (khiến cho
chúng con) trở đi, [nói rơ] do vậy bèn có tổn hại.
Lại gồm hai ư: Một là chư thiên bị suy tổn,
hai là loài người bị suy tổn. Trong phần “chư
thiên bị suy tổn” có năm điều: Một là
đánh mất pháp lợi, hai là mất oai quang, ba là tăng
thêm đường ác, bốn là tổn giảm nhân thiên,
năm là đánh mất đường chánh. Theo thứ tự,
lời văn dễ hiểu.
(Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ
vương, tịnh chư quyến thuộc, cập Dược
Xoa đẳng, kiến như tư sự, xả kỳ quốc
độ, vô ủng hộ tâm. Phi đản ngă đẳng
xả khí thị vương, diệc hữu vô lượng
thủ hộ quốc độ chư đại thiện
thần, tất giai xả khứ. Kư xả ly dĩ, kỳ
quốc đương hữu chủng chủng tai họa:
Táng thất quốc vị, nhất thiết nhân chúng giai vô
thiện tâm, duy hữu hệ phược, sát hại, sân
tránh, hỗ tương sàm siểm, uổng cập vô cô, tật
dịch lưu hành, tuệ tinh sổ xuất, lưỡng
nhật tịnh hiện, bạc thực vô hằng, hắc
bạch nhị hồng biểu bất tường tướng,
tinh lưu, địa động, tỉnh nội phát thanh,
bạo vũ, ác phong, bất y thời tiết, thường
tao cơ cẩn, miêu thật bất thành, đa hữu tha
phương oán tặc xâm lược, quốc nội nhân
dân thọ chư khổ năo, thổ địa vô hữu khả
lạc chi xứ.
(經)世尊!我等四王并諸眷屬及藥叉等見如斯事,捨其國土無擁護心。非但我等捨棄是王,亦有無量守護國土諸大善神悉皆捨去。既捨離已,其國當有種種災禍:喪失國位,一切人眾皆無善心,唯有繫縛殺害瞋諍、互相讒諂枉及無辜、疾疫流行、彗星數出、兩日竝現、薄蝕無恒、黑白二虹表不祥相、星流地動、井內發聲、暴雨惡風不依時節、常遭饑饉苗實不成、多有他方怨賊侵掠,國內人民受諸苦惱,土地無有可樂之處。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Bốn vua chúng con và các quyến thuộc, cùng với
Dược Xoa v.v… thấy chuyện như thế, bỏ
cơi nước ấy, chẳng có tâm ủng hộ. Không chỉ
chúng con vứt bỏ vị vua ấy, mà cũng có vô lượng
các đại thiện thần thủ hộ quốc độ
thảy đều bỏ đi. Đă ĺa bỏ rồi,
nước ấy sẽ có các thứ tai họa: Đánh mất
quốc vị (mất nước),
hết thảy nhân dân đều chẳng có thiện tâm, chỉ
có trói buộc, giết hại, giận dữ tranh căi, sàm
báng, xúc siểm lẫn nhau, làm oan uổng lây cho kẻ vô tội,
sao chổi nhiều lượt xuất hiện, bệnh dịch
lan tràn, hai mặt trời cùng mọc, bị nhật thực
chẳng thường hằng. Hai thứ cầu vồng trắng
và đen biểu thị tướng bất tường,
sao băng, động đất, trong giếng phát ra tiếng,
mưa cuồng, gió dữ, chẳng theo đúng thời tiết,
thường gặp nạn đói kém, ngũ cốc chẳng
được mùa. Có nhiều oán tặc từ
phương khác xâm lược, nhân dân trong nước hứng
chịu các khổ năo, cơi đất chẳng có chỗ nào
đáng vui!)
Kế
đó là tổn hại đối với loài người,
có hai ư:
- Một,
thiên thần bỏ đi.
-
Hai, từ “kư xả ly dĩ” (đă ĺa bỏ rồi)
trở đi, quốc độ suy tổn.
Trong
ư ấy, lại có ba đoạn: Một là nêu ra, hai là biện
định, ba là từ “Thế Tôn! Ngă đẳng tứ
vương” (bạch Thế
Tôn! Bốn vua chúng con) trở đi là kết
lại. Trong phần biện định, có bốn ư:
- Một,
vong quốc.
-
Hai, từ “nhất thiết nhân chúng” (hết thảy
dân chúng) trở đi, mọi người làm ác.
-
Ba, bệnh dịch phát sanh.
- Bốn,
từ “tuệ tinh” (sao chổi) trở đi, ác tướng
hiện ra, gồm mười một điều: Một,
sao chổi nhiều lần xuất hiện. Hai, hai vầng
mặt trời cùng hiện ra. Ba, nhật thực và nguyệt
thực. Bốn, cầu vồng biểu thị sự bất
tường. Năm, sao băng thất thường. Sáu,
đại địa chấn động. Bảy, giếng
phát ra tiếng lạ. Tám, mưa gió trái thời. Chín, mùa màng
thất bát. Mười, giặc từ phương khác xâm
lấn. Mười một, trong nước của chính
ḿnh chẳng vui sướng.
(Kinh)
Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, cập dữ
vô lượng bách thiên thiên thần, tịnh hộ quốc
độ chư cựu thiện thần viễn ly khứ
thời, sanh như thị đẳng vô lượng bách
thiên tai quái ác sự.
(經)世尊!我等四王及與無量百千天神并護國土諸舊善神遠離去時,生如是等無量百千災怪惡事。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Khi
bốn vua chúng con cùng với vô lượng
trăm ngàn thiên thần, và các vị cựu thiện thần
ủng hộ quốc độ xa ĺa, sẽ sanh ra vô lượng
trăm ngàn chuyện ác tai quái như thế).
Kết
lại.
5.12.4.2.1.2.2. Hoằng
truyền, thủ hộ kinh này sẽ đạt được
lợi ích
(Kinh) Thế Tôn! Nhược hữu nhân
vương dục hộ quốc độ, thường
thọ khoái lạc, dục linh chúng sanh hàm mông an ổn, dục
đắc tồi phục nhất thiết ngoại địch,
ư tự quốc cảnh, vĩnh đắc xương
thịnh, dục linh chánh giáo lưu bố thế gian, khổ
năo ác pháp giai trừ diệt giả, Thế Tôn! Thị
chư quốc vương tất đương thính thọ
thị diệu kinh vương, diệc ưng cung kính, cúng
dường, độc tụng, thọ tŕ kinh giả. Ngă
đẳng cập dư vô lượng thiên chúng, dĩ thị
thính pháp thiện căn oai lực, đắc phục vô
thượng cam lộ pháp vị, tăng ích ngă đẳng
sở hữu quyến thuộc tịnh dư thiên thần giai
đắc thắng lợi. Hà dĩ cố? Dĩ thị
nhân vương chí tâm thính thọ thị kinh điển cố.
(經)世尊!若有人王欲護國土常受快樂,欲令眾生咸蒙安穩,欲得摧伏一切外敵,於自國境永得昌盛,欲令正教流布世間,苦惱惡法皆除滅者,世尊!是諸國王必當聽受是妙經王,亦應恭敬供養讀誦受持經者。我等及餘無量天眾,以是聽法善根威力,得服無上甘露法味,增益我等所有眷屬并餘天神皆得勝利。何以故?以是人王至心聽受是經典故。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Nếu có quốc vương muốn thủ hộ
đất nước, thường hưởng vui sướng,
muốn khiến cho chúng sanh đều được an ổn,
muốn được dẹp tan hết thảy kẻ
địch bên ngoài, trong nước ḿnh vĩnh viễn
được hưng thịnh, muốn khiến cho chánh
giáo lưu truyền trong thế gian, ác pháp khổ năo đều
trừ diệt. Bạch Thế Tôn! Các quốc vương ấy
ắt đều nên nghe nhận kinh điển mầu nhiệm
này, cũng nên cung kính, cúng dường, người đọc
tụng và thọ tŕ kinh. Chúng con và vô lượng thiên chúng
khác, do oai lực của thiện căn nghe pháp này,
được uống cam lộ pháp vị vô thượng,
tăng thêm tất cả quyến thuộc của chúng con,
và các thiên thần khác đều đạt được
lợi ích thù thắng. V́ sao vậy? Do vị quốc
vương đó chí tâm nghe nhận kinh điển này vậy).
Tán
rằng: Kế đó, nói “do hoằng
dương, thủ hộ [kinh này] mà
đạt được lợi ích”, có ba ư:
- Một,
vua dấy lên thiện nguyện.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Thị chư quốc vương”
(bạch Thế Tôn! Các quốc vương ấy) trở
đi, dạy hăy hoằng truyền kinh.
-
Ba, từ “ngă đẳng cập dư” (chúng con và các
thiên chúng khác) trở đi, tứ thiên vương đạt
được lợi ích, gồm ba điều:
Trước
là nêu ra.
a)
“Hà dĩ cố?”
(v́ sao vậy?) là hỏi ngược lại
b)
Từ “dĩ thị
nhân vương” (do quốc vương ấy) trở
đi là giải thích.
Trong phần nêu ra, nói “dĩ
thị thính pháp” (do vậy
được nghe pháp) v.v… hàm ư: [Chư
thiên] do quốc vương mà được nghe pháp. Từ
“ngă đẳng” (chúng con) trở đi, nói rơ bốn
thiên vương v.v… đạt được lợi ích.
5.12.4.2.1.2.3. So sánh nhằm
chỉ rơ sự thù thắng để khuyên hoằng truyền
kinh
5.12.4.2.1.2.3.1. So lường
để chỉ rơ sự thù thắng
(Kinh) Thế Tôn! Như Đại Phạm
Thiên ư chư hữu t́nh, thường vị tuyên thuyết
thế xuất thế luận, Đế Thích phục thuyết
chủng chủng chư luận, ngũ thông thần tiên diệc
thuyết chư luận. Thế Tôn! Phạm Thiên, Đế
Thích, ngũ thông tiên nhân tuy hữu bách thiên câu-chi na-dữu-đa
vô lượng chư luận, nhiên Phật Thế Tôn từ
bi, ai mẫn, vị nhân thiên chúng thuyết Kim Quang Minh vi diệu
kinh điển, tỷ tiền sở thuyết, thắng bỉ
bách thiên câu-chi na-dữu-đa bội, bất khả vi dụ.
Hà dĩ cố? Do thử năng linh chư Thiệm Bộ
châu sở hữu vương đẳng chánh pháp hóa thế,
năng dữ chúng sanh an lạc chi sự, vi hộ tự
thân, cập chư quyến thuộc, linh vô khổ năo, hựu
vô tha phương oán tặc xâm hại, sở hữu
chư ác tất giai viễn khứ, diệc linh quốc
độ tai ách
b́nh trừ, hóa
dĩ chánh pháp, vô hữu tránh tụng. Thị cố, nhân
vương các ư quốc độ, đương nhiên
pháp cự, minh chiếu vô biên, tăng ích thiên chúng, tịnh
chư quyến thuộc.
(經)世尊!如大梵天於諸有情常為宣說世出世論,帝釋復說種種諸論,五通神仙亦說諸論。世尊!梵天、帝釋、五通仙人雖有百千俱胝那庾多無量諸論,然佛世尊慈悲哀愍為人天眾說金光明微妙經典,比前所說,勝彼百千俱胝那庾多倍不可為喻。何以故?由此能令諸贍部洲所有王等正法化世,能與眾生安樂之事,為護自身及諸眷屬令無苦惱,又無他方怨賊侵害,所有諸惡悉皆遠去,亦令國土災厄屏除,化以正法無有諍訟。是故人王各於國土當然法炬明照無邊,增益天眾并諸眷屬。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Như Đại Phạm Thiên ở trong các hữu
t́nh thường v́ họ tuyên nói các luận thế gian và
xuất thế gian, Đế Thích lại nói các thứ luận,
ngũ thông thần tiên cũng nói các luận. Bạch Thế
Tôn! Phạm Thiên, Đế Thích, ngũ thông tiên nhân tuy có
trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa vô lượng các luận,
nhưng đức Phật Thế Tôn từ bi thương
xót, v́ đại chúng trời người, nói kinh điển
Kim Quang Minh vi diệu này, so với [các luận] được
nói trên đây, vượt hơn trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa
lần, chẳng thể thí dụ. V́ sao vậy? Do kinh này có
thể khiến cho tất các vua trong châu Thiệm Bộ
dùng chánh pháp giáo hóa thế gian, có thể ban cho chúng sanh các sự
an vui, v́ thủ hộ thân ḿnh và các quyến thuộc, khiến
cho chẳng có khổ năo, lại chẳng có oán tặc từ
phương khác xâm hại, tất cả các ác thảy
đều ĺa xa, cũng khiến cho quốc độ trừ
sạch tai ách, dùng chánh pháp để giáo hóa, chẳng có
tranh căi, kiện tụng. V́ thế, mỗi vị quốc
vương ở trong nước ḿnh, hăy nên thắp đuốc
pháp, chiếu sáng vô biên, tăng thêm thiên chúng và các quyến thuộc).
Kế
đó, ư thứ ba là “so lường nhằm chỉ rơ sự
thù thắng, ḥng khuyên hoằng kinh”, có ba ư:
- Một,
so lường để chỉ rơ sự thù thắng.
-
Hai, nói rơ tứ thiên vương được lợi ích.
-
Ba, khuyên hoằng dương kinh.
Trong
ư thứ nhất, có bốn điều:
- Một,
nêu ra chuyện kém cỏi (Phạm vương, Đế
Thích, ngũ thông tiên nhân nói các luận).
-
Hai, từ “Thế Tôn! Phạm Thiên” trở đi, nêu
ra chuyện thù thắng.
-
Ba, từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi,
giải thích nguyên do.
- Bốn,
từ “thị cố” (v́ thế) trở đi, kết
lại ư “phải nên tŕ kinh”.
5.12.4.2.1.2.3.2. Tứ
thiên vương được lợi ích
(Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ
vương, vô lượng thiên thần, Dược Xoa chi
chúng, Thiệm Bộ châu nội sở hữu thiên thần,
dĩ thị nhân duyên, đắc phục vô thượng
cam lộ pháp vị, hoạch đại oai đức, thế
lực, quang minh, vô bất cụ
túc, nhất thiết chúng sanh giai đắc an ổn. Phục
ư lai thế, vô lượng bách thiên bất khả
tư nghị na-dữu-đa kiếp, thường thọ
khoái lạc, phục đắc trị ngộ vô lượng
chư Phật, chủng chư thiện căn, nhiên hậu
chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề. Như thị vô lượng vô biên thắng lợi,
giai thị Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, dĩ
đại từ bi, quá chư Phạm chúng, dĩ đại
trí huệ du ư Đế Thích, tu chư khổ hạnh
thắng ngũ thông tiên bách thiên vạn ức na-dữu-đa
bội, bất khả xưng kế, vị chư chúng sanh
diễn thuyết như thị vi diệu kinh điển.
(經)世尊!我等四王、無量天神藥叉之眾、贍部洲內所有天神,以是因緣得服無上甘露法味,獲大威德勢力光明無不具足,一切眾生皆得安穩。復於來世無量百千不可思議那庾多劫常受快樂,復得值遇無量諸佛種諸善根,然後證得阿耨多羅三藐三菩提。如是無量無邊勝利,皆是如來、應、正等覺以大慈悲過諸梵眾,以大智慧逾於帝釋,修諸苦行勝五通仙,百千萬億那庾多倍不可稱計,為諸眾生演說如是微妙經典。
(Kinh: Bạch Thế
Tôn! Bốn vua chúng con, vô lượng thiên thần, các vị
Dược Xoa, tất cả thiên thần trong châu Thiệm
Bộ, do nhân duyên này, được uống pháp vị cam
lộ vô thượng, đạt được oai đức,
thế lực, và quang minh to lớn, không ǵ chẳng đầy
đủ. Hết thảy chúng sanh đều được
an ổn. Lại trong vô lượng trăm ngàn chẳng thể
nghĩ bàn na-dữu-đa kiếp trong đời mai sau,
thường hưởng vui sướng, lại được
gặp gỡ vô lượng chư Phật, gieo các thiện
căn. Sau đấy, chứng đắc Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác. Vô lượng vô biên lợi ích thù
thắng như thế, đều do Như Lai, Ứng Chánh
Đẳng Giác, v́ ḷng đại từ bi vượt xa các
Phạm Thiên, do đại trí huệ vượt hơn
Đế Thích, tu các khổ hạnh hơn ngũ thông tiên
trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa lần, chẳng
thể tính kể, v́ các chúng sanh diễn nói kinh điển
vi diệu như thế).
Kế đó, [nói về]
hưởng lợi ích [do hoằng dương, thủ hộ
kinh này], có hai đoạn:
- Một, chư thiên đạt
được lợi ích.
- Hai, “linh Thiệm Bộ
Châu” (khiến cho Thiệm Bộ Châu) trở đi, chỉ
ra: Nhân loại đạt được lợi ích.
Trong phần “chư thiên
đạt được lợi ích”, trước là đạt
được lợi ích, sau từ “giai thị Như
Lai” (đều do Như Lai) trở đi là phần
tán thán.
(Kinh) Linh Thiệm Bộ
châu nhất thiết quốc chúa, cập chư nhân
chúng, minh liễu thế gian sở hữu pháp thức, trị
quốc, hóa nhân, khuyến đạo chi sự, do thử
kinh vương lưu thông lực cố, phổ đắc
an lạc. Thử đẳng phước lợi, giai thị
Thích Ca đại sư ư thử kinh điển, quảng
vị lưu thông, từ bi lực cố.
(經)令贍部洲一切國主及諸人眾,明了世間所有法式、治國化人勸導之事,由此經王流通力故普得安樂,此等福利皆是釋迦大師於此經典廣為流通,慈悲力故。
(Kinh: Khiến cho hết thảy
quốc chúa và các nhân dân trong châu Thiệm Bộ
hiểu rơ tất cả pháp thức trong thế gian, chuyện
cai trị đất nước, giáo hóa nhân dân, khuyên
lơn, hướng dẫn. Do sức lưu thông kinh vương
này mà được an lạc trọn khắp. Các phước
lợi ấy đều do sức từ bi rộng lưu
thông kinh điển này của Thích Ca đại sư).
Tiếp đó, kết lại
phần “lợi ích đối
với nhân loại”. Trong ấy, chỉ nói lợi ích
nơi cái nhân, chẳng nhắc đến cái quả, do
đă nói trong phần trước rồi. Một là
được lợi ích nơi cái nhân, hai là kết luận:
“Do kinh mà đạt được các lợi ích ấy!”
5.12.4.2.1.2.3.3. Khuyên hoằng
dương kinh
(Kinh) Thế Tôn! Dĩ thị
nhân duyên, chư nhân vương đẳng giai ưng thọ
tŕ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán thử diệu
kinh vương. Hà dĩ cố? Như thị đẳng bất
khả tư nghị thù thắng công đức, lợi ích
nhất thiết, thị cố danh viết Tối Thắng
Kinh Vương.
(經)世尊!以是因緣,諸人王等皆應受持供養恭敬尊重讚歎此妙經王。何以故?如是等不可思議殊勝功德利益一切,是故名曰最勝經王。
(Kinh: Bạch Thế Tôn! Do nhân
duyên ấy, các quốc vương đều nên thọ
tŕ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán vua trong các
kinh mầu nhiệm này. V́ sao vậy? Do công đức thù thắng
chẳng thể nghĩ bàn, lợi ích hết thảy
như vậy. V́ thế, gọi là Tối Thắng Kinh
Vương).
Kế đó, khuyên hoằng
truyền kinh, gồm ba ư: Nêu ra, gạn hỏi, và giải
thích riêng biệt.
5.12.4.2.2. Nguyện dùng
pháp để thủ hộ
5.12.4.2.2.1. Đức
Thế Tôn lại khuyên bảo
5.12.4.2.2.1.1. Khuyên thủ
hộ quốc vương
(Kinh) Nhĩ thời,
Thế Tôn phục cáo Tứ Thiên Vương: - Nhữ đẳng
tứ vương, cập dư quyến thuộc, vô lượng
bách thiên câu-chi na-dữu-đa chư thiên đại chúng, kiến
bỉ nhân vương nhược năng chí tâm thính thị
kinh điển, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán
thán giả, ưng đương ủng hộ, trừ kỳ
suy hoạn, năng linh nhữ đẳng diệc thọ
an lạc.
(經)爾時世尊復告四天王:汝等四王及餘眷屬無量百千俱胝那庾多諸天大眾,見彼人王若能至心聽是經典,供養恭敬尊重讚歎者,應當擁護除其衰患,能令汝等亦受安樂。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn lại bảo Tứ Thiên
Vương: - Bốn vua các ông và các quyến thuộc, vô
lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa chư thiên
đại chúng, thấy vị quốc vương đó nếu
có thể chí tâm nghe kinh điển này, cúng dường, cung
kính, tôn trọng, tán thán, hăy nên ủng hộ trừ khử
suy vi, hoạn nạn cho họ, sẽ có thể khiến cho các ông
cũng được an lạc).
Tán rằng: Đoạn lớn
thứ hai [trong phẩm này] là “tứ thiên vương vâng
theo lời dạy, nguyện thủ hộ”. Trong ấy,
có hai phần: Một là dùng thân để thủ hộ, hai
là dùng pháp để thủ hộ. Trên đây đă nói về
dùng thân thủ hộ, phần này nói về sự thủ hộ
bằng pháp. Trong phần trước đă nói “dùng thân thủ
hộ người hoằng pháp và quốc độ”, phần
này chỉ nói về chuyện “thủ hộ người hoằng
pháp”. Hơn nữa, dùng thân để thủ hộ chỉ
nhằm trừ các sự suy vi, tai ương, bệnh dịch, hết
thảy các thứ bất an; phần này nhằm trừ
nghèo khổ, khiến cho [hành nhân] có tài vật. V́ thế,
đức Phật tán thán: “Nhữ năng phá liệt
nhất thiết chúng sanh bần cùng khổ vơng, linh đắc
phước lạc” (Ông có thể xé rách lưới nghèo
túng, khổ sở cho hết thảy chúng sanh, khiến họ
được phước lạc). “Đạt
được phước lạc” tức là có thể
hoằng kinh; v́ thế, kế đó nói: “Diệc linh thử
kinh quảng hành ư thế” (cũng khiến cho kinh này
được lưu hành rộng răi trong cơi đời).
Trong phần này, có ba đoạn:
- Một, đức Thế
Tôn lại khuyên nhủ.
- Hai, tứ thiên vương
dùng pháp thủ hộ.
- Ba, từ “thời Đa
Văn thiên vương thuyết thử chú” (khi đó,
Đa Văn thiên vương nói chú này) trở đi, đức
Thế Tôn tán thán.
Đoạn này thuộc phần
thứ nhất, lại có hai điều:
- Một, khuyên thủ hộ
quốc vương.
- Hai, khuyên thủ hộ tứ
chúng.
Đoạn này thuộc phần
“khuyên thủ hộ quốc vương”, có bốn ư:
- Một, sắc truyền tứ
thiên vương và thiên chúng.
- Hai, [chỉ ra] người
được thủ hộ (quốc vương).
- Ba, dạy họ (tứ
thiên vương và thiên chúng) hăy ủng hộ.
- Bốn, từ “năng
linh nhữ đẳng” (có thể khiến cho các ông) trở
đi, nêu rơ nguyên do sắc truyền [tứ thiên
vương, thiên chúng, thiện thần, Dược Xoa v.v…]
ủng hộ [người tŕ kinh, hoằng dương
v.v…]
5.12.4.2.2.1.2. Khuyên thủ
hộ tứ chúng
(Kinh) Nhược tứ
bộ chúng năng quảng lưu bố thị kinh
vương giả, ư nhân thiên trung, quảng tác Phật
sự, phổ năng lợi ích vô lượng chúng sanh.
Như thị chi nhân, nhữ đẳng tứ vương
thường đương ủng hộ như thị tứ
chúng, vật sử tha duyên cộng tương xâm nhiễu,
linh bỉ thân tâm tịch tĩnh, an lạc, ư thử
kinh vương, quảng tuyên lưu bố, linh bất
đoạn tuyệt, lợi ích hữu t́nh tận vị
lai tế.
(經)若四部眾能廣流布是經王者,於人天中廣作佛事,普能利益無量眾生。如是之人,汝等四王常當擁護如是四眾,勿使他緣共相侵擾,令彼身心寂靜安樂,於此經王廣宣流布令不斷絕,利益有情盡未來際。
(Kinh: Nếu bốn bộ
chúng có thể lưu truyền rộng răi vua trong các kinh này,
ở trong cơi trời và nhân gian, rộng làm Phật sự,
có thể lợi ích trọn khắp vô lượng chúng
sanh. Đối với người như thế, bốn
vua các ông thường nên ủng hộ tứ chúng như vậy,
đừng để cho duyên khác xâm phạm, quấy nhiễu
họ, khiến cho họ thân tâm tịch tĩnh, an lạc,
rộng tuyên nói, lưu truyền vua trong các kinh này khiến
chẳng đoạn tuyệt, lợi ích hữu t́nh đến
tột cùng đời vị lai).
Kế đó, trong phần
kinh văn khuyên thủ hộ tứ chúng, có bốn ư:
- Một, nêu ra người
được thủ hộ.
- Hai, từ “ư nhân thiên
trung” (ở trong loài người và chư thiên) trở
đi, tán thán công năng [của kinh này].
- Ba, từ “như thị
chi nhân” (người như thế) trở đi, sắc
truyền thủ hộ.
- Bốn, từ “ư thử
kinh dĩ” (đối với kinh này) trở đi, nói rơ
ư nghĩa thủ hộ.
5.12.4.2.2.2. Tứ thiên
vương dùng pháp thủ hộ
5.12.4.2.2.2.1. Nêu ra công
năng của thần chú
(Kinh) Nhĩ thời,
Đa Văn thiên vương tùng ṭa nhi khởi, bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Ngă hữu Như Ư Bảo Châu Đà La Ni
pháp, nhược hữu chúng sanh nhạo thọ tŕ giả,
công đức vô lượng, ngă thường ủng hộ,
linh bỉ chúng sanh ly khổ, đắc lạc, năng
thành phước trí nhị chủng tư lương.
(經)爾時多聞天王從座而起,白佛言:世尊!我有如意寶珠陀羅尼法,若有眾生樂受持者功德無量,我常擁護,令彼眾生離苦得樂,能成福智二種資糧。
(Kinh: Lúc bấy giờ, Đa
Văn thiên vương từ chỗ ngồi đứng dậy,
bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Con có pháp Như Ư Bảo Châu Đà La Ni. Nếu có chúng
sanh ưa thích thọ tŕ, công đức vô lượng, con
thường ủng hộ, khiến cho chúng sanh ĺa khổ,
được vui, có thể thành tựu hai thứ tư
lương phước và trí).
Tán rằng: Đoạn thứ
hai là “tứ thiên vương dùng pháp để thủ hộ”,
chia thành bốn phần:
- Một, nêu ra công năng của
chú.
- Hai, từ “dục thọ
tŕ” (muốn thọ tŕ) trở đi, [nêu ra]
phương cách tŕ chú.
- Ba, từ “thời hữu
Bệ Thất La” (khi đó, có Bệ Thất La) trở
đi, đạt được lợi ích do tŕ chú.
- Bốn, từ “giả sử
nhật nguyệt” (giả sử mặt trời, mặt
trăng) trở
đi, thề thủ hộ.
Phần kinh văn đầu
tiên có ba ư:
- Một, [nêu ra] người
nói chú (Đa Văn thiên vương).
- Hai, nêu ra danh hiệu của
chú.
- Ba, từ “nhược hữu
chúng sanh” (nếu có chúng sanh) trở đi, nói về công
năng của chú.
5.12.4.2.2.2.2.
Phương cách tŕ chú
5.12.4.2.2.2.2.1. Dạy
cách hộ thân
(Kinh) Dục thọ tŕ
giả, tiên đương tụng thử hộ thân chi
chú, tức thuyết chú viết: “Nam mô bệ thất ra mạt
noa dă, mạc ha hạt la xà dă, đát điệt tha: Ra ra ra
ra, củ nộ, củ nộ, khu nộ, khu nộ, lâu nộ,
lâu nộ, táp phược, táp phược, yết ra, yết
ra, mạc ha tỳ yết lạt ma. Mạc ha tỳ yết
lạt ma. Mạc ha hạt ra xă hạt lạc, hựu hạt
lạc hựu, đổ mạn (tự xưng kỷ
danh), tát bà, tát đóa nan giả, sa ha”. Thế Tôn! Tụng thử chú giả,
đương dĩ bạch tuyến, chú chi thất biến,
nhất biến, nhất kết, hệ chi trửu hậu,
kỳ sự tất thành. Ưng thủ chư hương,
sở vị an tức, chiên đàn, long năo, tô hợp, đa
yết la, huân lục, giai tu đẳng phần, ḥa hợp
nhất xứ, thủ chấp hương lô, thiêu
hương cúng dường, thanh tịnh tháo dục,
trước tiễn khiết y, ư nhất tĩnh thất,
khả tụng thần chú.
(經)欲受持者,先當誦此護身之呪。即說呪曰:南謨薜室囉末拏也莫訶曷羅闍也怛姪他囉囉囉囉。矩怒矩怒。區怒區怒。寠怒寠怒。颯縛颯縛。羯囉羯囉。莫訶毘羯喇麼。莫訶毘羯喇麼。莫訶曷囉社曷𠸪。又曷𠸪又。覩漫(自稱己名)。薩婆。薩埵難者。莎訶。世尊!誦此呪者,當以白線呪之七遍,一遍一結,繫之肘後,其事必成。應取諸香,所謂安息、栴檀、龍腦、蘇合、多揭羅、薰陸,皆須等分和合一處,手執香罏燒香供養,清淨澡浴著鮮潔衣,於一靜室可誦神呪。
(Kinh: Người
muốn thọ tŕ, trước hết nên tụng chú hộ
thân này, liền nói chú rằng: “Nam mô bệ thất ra mạt
noa dă, mạc ha hạt la xà dă, đát điệt tha: Ra ra ra
ra, củ nộ, củ nộ, khu nộ, khu nộ, lâu nộ,
lâu nộ, táp phược, táp phược, yết ra, yết
ra, mạc ha tỳ yết lạt ma. Mạc ha tỳ yết
lạt ma. Mạc ha hạt ra xă hạt lạc, hựu hạt
lạc hựu đổ mạn (tự xưng tên ḿnh), tát
bà, tát đóa nan giả, sa ha”. Bạch Thế Tôn! Người
tụng chú này, nên dùng chỉ trắng, chú vào đó bảy
lượt, mỗi lượt thắt một nút, buộc
vào sau khủy tay, chuyện ấy ắt thành. Hăy nên lấy
các thứ hương, tức là an tức[7],
chiên đàn, long năo, tô hợp[8],
đa yết la, huân lục[9],
đều phải nên phân lượng bằng nhau, ḥa hợp
một chỗ, tay cầm lư hương, đốt
hương cúng dường, tắm gội thanh tịnh, mặc
áo sạch sẽ, ở trong một căn pḥng yên tĩnh
để tụng thần chú này).
Kế đó, nói về
phương cách tŕ chú. Phương cách gồm có ba phần:
- Một, dạy hộ thân.
- Hai, dạy thỉnh cầu
gia hộ.
- Ba, dạy bài chú căn bản.
Phần thứ nhất, “dạy
hộ thân” có ba phần:
- Một, nêu tên của bài chú
(chú Hộ Thân).
- Hai, nói ra thần chú.
- Ba, Thế Tôn nói bài tụng.
Từ “thử chú” (chú
này) trở đi, dạy quy cách tụng niệm. Bệ Thất
Ra Mạt Noa Dă (Vaiśravaṇaya, phương này dịch
là Đa Văn), Mạc Ha (Mahā, phương này dịch
là Đại), Hạt Ra Xà Dă (Rājāya,
phương
này dịch là Vương), các phần kinh văn khác dễ
thấy. Nói “Đa Yết La” (Tagara), phương này gọi
là Linh Lăng Hương.
5.12.4.2.2.2.2.2. Dạy thỉnh
cầu gia hộ
(Kinh) Thỉnh ngă Bệ Thất La Mạt
Noa thiên vương, tức thuyết chú viết: “Nam mô bệ
thất ra mạt noa dă, nam mô đàn na đà dă. Đàn nê thuyết
ra dă. A yết xả. A bát rị
mi đa, đàn nê thuyết ra. Bát ra ma. Ca lưu ni ca, tát bà
tát đóa hế đá chấn đá, ma ma (kỷ danh)
đàn na, mạt nô bát lạt duệ xả toái diêm ma yết
xả, sa ha”. Thử chú tụng măn nhất thất biến
dĩ.
(經)請我薜室羅末拏天王。即說呪曰:南謨薜室囉末拏也。南謨檀那馱也。檀泥說囉也。阿揭撦。阿鉢唎弭多。檀泥說囉。鉢囉麼。迦留尼迦。薩婆薩埵呬哆振哆。麼麼(己名)檀那。末奴鉢喇拽撦碎閻摩揭撦。莎訶。此呪誦滿一七遍已。
(Kinh: Thỉnh con là thiên
vương Bệ Thất La Mạt Noa, liền nói chú rằng:
“Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, nam mô đàn na đà dă.
Đàn nê thuyết ra dă. A yết xả. A bát rị
mi đa, đàn nê thuyết ra. Bát ra ma. Ca lưu ni ca, tát bà
tát đóa hế đá chấn đá, ma ma (tên ḿnh) đàn na,
mạt nô bát lạt duệ xả toái diêm ma yết xả,
sa ha”. Tụng chú này đủ bảy lần xong).
Kế
đó, dạy thỉnh gia hộ. Trước là nêu ra lời
thỉnh; kế đó là nói chú, sau cùng từ “thử chú tụng
măn nhất thất biến” (tụng chú này đủ bảy
lần xong) trở đi, kết lại cách tụng.
5.12.4.2.2.2.2.3. Dạy
bài chú căn bản
(Kinh) Thứ tụng bổn chú. Dục tụng
chú thời, tiên đương xưng danh, kính lễ Tam Bảo,
cập Bệ Thất La Mạt Noa đại vương,
năng thí tài vật, linh chư chúng sanh sở cầu nguyện
măn, tất năng thành tựu, dữ kỳ an lạc.
Như thị lễ dĩ, thứ tụng Bệ Thất
La Mạt Noa Vương Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm thần
chú, năng thí chúng sanh tùy ư an lạc”. Nhĩ thời, Đa
Văn thiên vương tức ư Phật tiền, thuyết
Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm chú viết: “Nam mô hạt lạt
đát na, đát lạt dạ dă. Nam mô bệ thất ra mạt
noa dă, mạc ha ra xà dă, đát điệt tha: Tứ mi, tứ
mi, tô mẫu, tô mẫu, chiên đồ, chiên đồ, chiết
ra, chiết ra, tát ra, tát ra, yết ra, yết ra, chỉ rị,
chỉ rị, củ rô, củ rô, mẫu rô, mẫu rô, chủ
rô, chủ rô, sa đại dă át tham, ngă danh mỗ giáp, nật
điếm át tha, đạt đạt đổ sa ha. Nam
mô bệ thất ra mạt noa dă, sa ha. Đàn na đà dă, sa
ha. Mạn nô lạt tha, bát rị bô lạt ca dă, sa ha”. Thọ
tŕ chú thời, tiên tụng thiên biến. Nhiên
hậu, ư tịnh thất trung, cù-ma
đồ địa, tác tiểu đàn tràng, tùy thời ẩm
thực, nhất tâm cúng dường, thường nhiên diệu
hương, linh yên bất tuyệt, tụng tiền tâm chú,
trú dạ hệ tâm, duy tự nhĩ văn, vật linh tha
giải.
(經)次誦本呪。欲誦呪時,先當稱名,敬禮三寶及薜室羅末拏大王,能施財物令諸眾生所求願滿,悉能成就與其安樂。如是禮已,次誦薜室囉末拏王如意末尼寶心神呪,能施眾生隨意安樂。爾時多聞天王即於佛前說如意末尼寶心呪曰:南謨曷喇怛娜。怛喇夜也。南謨薜室囉末拏也。莫訶囉闍也。怛姪他四弭四弭。蘇母蘇母。栴荼栴荼。折囉折囉。薩囉薩囉。羯囉羯囉。枳哩枳哩。矩嚕矩嚕。母嚕母嚕主嚕主嚕。娑大也頞貪。我名某甲。昵店頞他。達達覩莎訶。南謨薜室囉末拏也。莎訶。檀那馱也。莎訶。曼奴喇他鉢唎脯喇迦也。莎訶。受持呪時先誦千遍,然後於淨室中瞿摩塗地作小壇場,隨時飲食一心供養,常然妙香令烟不絕,誦前心呪晝夜繫心,唯自耳聞勿令他解。
(Kinh:
Kế đó, tụng chú căn bản. Khi muốn tụng
chú, trước hết, hăy nên xưng danh, kính lễ Tam Bảo,
và đại vương Bệ Thất La Mạt Noa (Đa Văn thiên vương),
có thể thí tài vật, khiến cho các điều cầu
nguyện của chúng sanh được thỏa măn, đều
có thể thành tựu, ban cho họ an lạc. Lễ như
thế xong, kế đó, tụng thần chú Như Ư Mạt
Ni Bảo Tâm của vua Bệ Thất La Mạt Noa, có thể
ban cho chúng sanh an lạc tùy ư”. Lúc đó, Đa Văn thiên
vương liền ở trước đức Phật,
nói chú Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm rằng: “Nam mô hạt lạt
đát na đát lạt dạ dă. Nam mô bệ thất ra mạt
noa dă, mạc ha ra xà dă, đát điệt tha: Tứ mi, tứ
mi, tô mẫu, tô mẫu, chiên đồ, chiên đồ, chiết
ra, chiết ra, tát ra, tát ra, yết ra, yết ra, chỉ rị,
chỉ rị, củ rô, củ rô, mẫu rô, mẫu rô, chủ
rô, chủ rô, sa đại dă át tham, con tên là…. Nật điếm
át tha, đạt đạt đổ, sa ha. Nam mô bệ thất
ra mạt noa dă, sa ha. Đàn na đà dă, sa ha. Mạn nô lạt
tha, bát rị bô lạt ca dă, sa ha”. Khi thọ tŕ chú, trước
hết tụng một ngàn lượt. Sau đấy, ở
trong tịnh thất, dùng phân ḅ[10]
trát đất, làm một cái đàn tràng nhỏ, thức
ăn tùy theo mùa, nhất tâm cúng dường, thường
đốt hương mầu nhiệm, khiến cho khói
hương chẳng dứt, tụng tâm chú trên đây, ngày
đêm giữ chắc trong tâm, chỉ để tự ḿnh
nghe thấy, đừng để người khác biết).
Phần
thứ ba là “dạy chú căn bản”, có bốn ư:
- Một,
nêu bày.
-
Hai, từ “tiên đương” (trước hết
nên) trở đi, dạy quy y, lễ kính, phát nguyện.
-
Ba, truyền dạy tụng chú căn bản, chính là phần
kinh văn từ “như thị lễ dĩ, thứ tụng
Bệ Thất La” (lễ như thế xong, kế đó
tụng chú của Bệ Thất La) trở đi.
- Bốn, từ “nhĩ thời, Đa
Văn thiên vương” (lúc bấy giờ, Đa Văn
thiên vương) trở đi là nói thần chú. “Hạt
la đát na” (Ratna) được phương này dịch là Bảo.
Đát Lạt Dạ Dă (Trayāya) c̣n dịch là Tam, tức lễ Tam Bảo. Sau đó,
nói “Đàn Na” (Dhana) là Tài, Đà Dă (Dāya) là Thí. Mạn Nô (Mano) là Ư, Lạt Tha Bát Rị (Rathapari) là Ngă, Bô Lạt Ca Dă (Pūrakāya) là Măn. Ư nghĩa chung là “tài thí nhằm thỏa măn ư
nguyện của tôi”. Từ “thọ tŕ chú thời” (khi
thọ tŕ chú) trở đi, nói về cách tŕ chú!
5.12.4.2.2.2.3. Đạt
được lợi ích do chú
5.12.4.2.2.2.3.1. Lợi
ích do thấy con trai của Đa Văn
(Kinh)
Thời hữu Bệ Thất La Mạt Noa vương tử,
danh Thiền Nị Sư, hiện đồng tử h́nh,
lai chí kỳ sở, vấn ngôn: “Hà cố tu hoán ngă phụ?”
Tức khả báo ngôn: “Ngă vị cúng dường Tam Bảo,
sự tu tài vật, nguyện đương thí dữ”. Thời
Thiền Nị Sư văn thị ngữ dĩ, tức
hoàn phụ sở, bạch kỳ phụ ngôn: “Kim hữu thiện
nhân, phát chí thành tâm cúng dường Tam Bảo, thiểu phạp
tài vật, vị tư thỉnh triệu”. Kỳ phụ
báo viết: “Nhữ khả tốc khứ, nhật nhật
dữ bỉ nhất bách ca-lợi-sa-ba-noa (thử thị
căn bản Phạm âm, duy kiến bối xỉ, nhi tùy phương
bất định, hoặc thị bối xỉ, hoặc
thị kim, ngân, đồng, thiết đẳng tiền.
Nhiên Ma Yết Đà hiện kim thông dụng nhất ca-lợi-sa-ba-noa
hữu nhất thiên lục bách bối xỉ, tổng số
khả dĩ chuẩn tri. Nhược chuẩn vật trị,
tùy xứ bất định. Nhược nhân tŕ chú, đắc
thành tựu giả, hoạch tài vật chi thời, tự
tri kỳ số. Hữu bổn vân: “Mỗi nhật dữ
nhất bách trần-na-la”, tức kim tiền dă, năi chí tận
h́nh, nhật nhật thường đắc. Tây
phương cầu giả, đa hữu thần nghiệm,
trừ bất chí tâm dă). Kỳ tŕ chú giả kiến thị
tướng dĩ, tri sự đắc thành,
đương tu độc xử tịnh thất, thiêu
hương nhi ngọa, khả ư sàng biên,
trí nhất hương khiếp. Mỗi chí thiên hiểu,
quán kỳ khiếp trung, hoạch sở cầu vật. Mỗi
đắc vật thời, đương nhật tức
tu cúng dường Tam Bảo hương, hoa, ẩm thực,
kiêm thí bần phạp, giai linh khánh tận, bất đắc
đ́nh lưu. Ư chư hữu t́nh, khởi từ bi niệm,
vật sanh sân cuống, siểm hại chi tâm. Nhược
khởi sân giả, tức thất thần nghiệm!
Thường khả hộ tâm, vật linh sân khuể.
(經)時有薜室囉末拏王子名禪膩師,現童子形來至其所,問言:何故須喚我父?即可報言:我為供養三寶,事須財物,願當施與。時禪膩師聞是語已,即還父所白其父言:今有善人發至誠心供養三寶,少乏財物,為斯請召。其父報曰:汝可速去,日日與彼一百迦利沙波拏(此是根本梵音,唯見貝齒。而隨方不定,或是貝齒,或是金銀銅鐵等錢。然摩揭陀現今通用一迦利沙波拏有一千六百貝齒,總數可以準知。若準物直,隨處不定。若人持呪得成就者,獲物之時自知其數。有本云每日與一百陳那羅,即金錢也,乃至盡形日日常得。西方求者多有神驗,除不志心也)。其持呪者見是相已,知事得成,當須獨處淨室燒香而臥,可於床邊置一香篋,每至天曉觀其篋中獲所求物,每得物時當日即須供養三寶香華飲食,兼施貧乏皆令罄盡,不得停留。於諸有情起慈悲念,勿生瞋誑諂害之心,若起瞋者即失神驗,常可護心勿令瞋恚。
(Kinh: Khi đó,
vương tử của Bệ Thất La Mạt Noa tên là
Thiền Nị Sư (Janeśa), hiện thân bé trai tới chỗ người ấy,
hỏi rằng: “V́ sao cần gọi tên cha ta?” [Người
tŕ chú] liền có thể đáp rằng: “Tôi v́ cúng dường
Tam Bảo, cần các tài vật, nguyện sẽ ban cho”. Khi
đó, Thiền Nị Sư nghe lời ấy xong, liền
trở về chỗ cha, thưa với cha rằng: “Nay có
thiện nhân phát tâm chí thành cúng dường Tam Bảo, thiếu
thốn tài vật, v́ vậy thỉnh vời”. Cha bảo rằng:
“Con hăy nên mau qua đó, hằng ngày cho người đó một
trăm ca-lợi-sa-ba-noa (kārṣāpaṇa, đây là tiếng Phạn căn bản,
chỉ thấy có nghĩa là “vỏ ṣ trắng có vằn”,
nhưng tùy theo từng nơi, không nhất định. Hoặc
là vỏ ṣ trắng có vằn, hoặc các thứ tiền bằng
vàng, bạc, đồng, sắt v.v… Nhưng hiện thời
nước Ma Yết Đà (Magadha) thông dụng là một
ca-lợi-sa-ba-noa bằng một ngàn sáu trăm vỏ ṣ, tổng
số có thể chuẩn theo đó để biết. Nếu
dựa theo giá trị của đồ vật, sẽ tùy
theo nơi không nhất định. Nếu người tŕ
chú được thành tựu, khi đạt được
tài vật, sẽ tự biết số
lượng. Có bản dịch ghi là: “Mỗi ngày cho một
trăm trần-na-la (Dināra)”, tức là tiền vàng. Cho đến hết tuổi
thọ, hằng ngày thường được [như thế].
Người ở phương
Tây cầu, phần nhiều có sự hiệu nghiệm thần
kỳ, trừ kẻ chẳng chí tâm). Người tŕ chú
đă thấy tướng ấy rồi, biết sự
được thành, hăy nên ở một ḿnh trong tịnh thất,
đốt hương mà nằm. Bên cạnh giường,
có thể đặt một cái tráp thơm. Mỗi khi sáng
ra, xem trong tráp, sẽ
có được vật mong cầu. Mỗi khi có được
vật, ngay trong hôm ấy, hăy lập tức tu cúng dường
Tam Bảo bằng hương, hoa, thức ăn, kiêm thí cho
kẻ nghèo thiếu, khiến cho [các món tài vật được
thiên vương ban cho ấy] đều hết sạch, chẳng
được giữ lại. Đối với các hữu
t́nh, dấy lên ư niệm từ bi, đừng sanh tâm sân hận,
dối gạt, siểm nịnh, làm hại. Nếu như
khởi sân, sẽ mất đi sự ứng nghiệm thần
dị. Hăy nên ǵn giữ cái tâm, đừng để nóng giận).
Tiếp
đó, nói về lợi ích đạt được do tŕ
chú, có hai phần:
- Một,
lợi ích do thấy con trai của Đa Văn.
-
Hai, lợi ích do thấy Đa Văn thiên vương.
Trong
phần “lợi
ích do thấy con trai [của Đa Văn thiên vương]”,
có năm điều:
- Một,
vương tử tới hỏi [người tŕ chú].
-
Hai, từ “tức khả báo” (liền có thể
đáp rằng) trở đi, người tŕ chú trả lời.
-
Ba, từ “thời Thiền Nị Sư” (khi đó, Thiền
Nị Sư) trở đi, vương tử trở về
thưa với cha.
- Bốn,
từ “kỳ phụ báo viết” (cha bảo rằng),
cha dặn con ban [tài vật cần dùng] cho [hành nhân].
-
Năm, từ “thử tŕ chú giả” (người tŕ
chú ấy) trở đi, hành giả được lợi
ích, gồm chín điều:
a)
Thấy ứng nghiệm.
b) Từ
“đương tu độc xử” (hăy nên ở một
ḿnh) trở đi, [hành nhân] đạt được tài vật.
c)
Được thủ hộ.
d)
Tăng thêm tuổi thọ.
e)
Ĺa nạn.
f)
Đạt được kho báu,
g)
Đạt được thần thông.
h)
Được toại nguyện.
i)
Thông hiểu các ngôn ngữ của các loài khác.
Trong
phần “đạt được tài vật” th́:
- Một,
quy cách để tiếp nhận tài vật.
-
Hai, từ “mỗi đắc vật thời” (mỗi
khi có được vật) trở đi, đă có
được [tài
vật] th́ liền cúng dường.
-
Ba, từ “ư chư hữu t́nh” (đối với
các hữu t́nh) trở đi, dấy ḷng từ bi.
- Bốn,
từ “vật sanh” (đừng sanh) trở đi,
răn hăy ĺa ác.
(Kinh)
Hựu tŕ thử chú giả, ư mỗi nhật trung, ức
ngă Đa Văn thiên vương, cập nam nữ quyến
thuộc, xưng dương, tán thán, hằng dĩ Thập
Thiện cộng tương tư trợ, linh bỉ thiên
đẳng phước lực tăng minh, chúng thiện phổ
trăn, chứng Bồ Đề xứ. Bỉ chư thiên
chúng kiến thị sự dĩ, giai đại hoan hỷ,
cộng lai ủng vệ tŕ chú chi nhân. Hựu tŕ chú giả
thọ mạng trường viễn, kinh vô lượng tuế,
vĩnh ly tam đồ, thường vô tai ách, diệc linh hộ
đắc như ư bảo châu, cập dĩ phục tạng
thần thông tự tại, sở nguyện giai thành. Nhược
cầu quan vinh, vô bất xứng ư, diệc giải nhất
thiết cầm thú chi ngữ.
(經)又持此呪者,於每日中憶我多聞天王及男女眷屬,稱揚讚歎,恒以十善共相資助,令彼天等福力增明眾善普臻證菩提處。彼諸天眾見是事已,皆大歡喜共來擁衛持呪之人。又持呪者壽命長遠經無量歲,永離三塗常無災厄。亦令護得如意寶珠,及以伏藏神通自在,所願皆成。若求官榮,無不稱意。亦解一切禽獸之語。
(Kinh: Lại nữa,
người tŕ chú này vào mỗi ngày, nhớ tới con là
Đa Văn thiên vương, và nam nữ quyến thuộc,
ca ngợi, tán thán, luôn dùng Thập Thiện để cùng
nhau giúp đỡ, khiến cho các vị trời ấy
phước lực tăng thêm rạng rỡ hơn, các
điều thiện trọn đưa tới, chứng Bồ
Đề xứ. Các vị trời ấy đă thấy chuyện
đó rồi đều hết sức hoan hỷ, cùng đến
ủng hộ, bảo vệ người tŕ chú. Hơn nữa,
người tŕ chú thọ mạng dài lâu trải qua vô lượng
năm, vĩnh viễn ĺa khỏi tam đồ, thường
chẳng có tai ách, cũng sẽ đạt được
như ư bảo châu, cùng với kho tàng, thần thông tự tại,
sở nguyện đều thành tựu. Nếu cầu quan
vị vinh hiển, không ǵ chẳng vừa ư, cũng hiểu
ngôn ngữ của hết thảy cầm thú).
Tiếp
đó, nói về chuyện được thủ hộ, gồm
bốn ư:
- Một,
dạy hăy nghĩ tưởng, tán thán.
-
Hai, từ “hằng dĩ Thập Thiện” (luôn dùng Thập
Thiện) trở đi, dạy tu điều thiện để
giúp đỡ.
-
Ba, từ “linh bỉ thiên đẳng” (khiến cho các
vị trời ấy) trở đi, do được
điều thiện giúp đỡ, [chư thiên] cũng
được hưởng vui sướng.
- Bốn,
từ “bỉ chư thiên chúng” (các vị trời ấy)
trở đi, [hành nhân] được [chư thiên] thủ
hộ.
Các
phần kinh văn khác dễ hiểu.
5.12.4.2.2.2.3.1. Lợi
ích do thấy Đa Văn thiên vương
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược tŕ chú thời, dục đắc kiến
ngă tự thân hiện giả, khả ư nguyệt bát nhật,
hoặc thập ngũ nhật, ư bạch điệp
thượng, họa Phật h́nh tượng,
đương dụng mộc giao, tạp thái trang sức.
Kỳ họa tượng nhân vi thọ bát giới. Ư Phật
tả biên, tác Cát Tường thiên nữ tượng, ư
Phật hữu biên, tác ngă Đa Văn thiên tượng, diệc
họa nam nữ quyến thuộc chi loại, an trí ṭa xứ,
hàm linh như pháp. Bố liệt hoa thái, thiêu chúng danh
hương, nhiên đăng tục minh, trú dạ vô hiết,
thượng diệu ẩm thực, chủng chủng trân
kỳ, phát ân trọng tâm, tùy thời cúng dường.
(經)世尊!若持呪時欲得見我自身現者,可於月八日或十五日於白㲲上畫佛形像,當用木膠雜彩莊飾。其畫像人為受八戒。於佛左邊作吉祥天女像,於佛右邊作我多聞天像,并畫男女眷屬之類安置坐處,咸令如法。布列華彩,燒眾名香然燈續明晝夜無歇,上妙飲食種種珍奇發殷重心隨時供養。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Nếu khi tŕ chú mà muốn được
thấy con tự hiện thân, có thể trong ngày mồng Tám
hoặc ngày Rằm trong tháng, trên bạch
điệp[11],
vẽ h́nh tượng Phật. Hăy nên dùng chất nhựa
cây[12]
để tô điểm nhiều màu. Người vẽ
tượng thọ tám giới. Bên trái đức Phật,
vẽ tượng Cát Tường thiên nữ. Bên phải
đức Phật, vẽ tượng của con là Đa
Văn thiên vương, cũng vẽ các loại nam nữ
quyến thuộc, xếp đặt ṭa ngồi, đều
đúng như pháp. Bày biện
các thứ hoa nhiều màu, đốt các thứ hương
quư, thắp đèn cháy sáng liên tục, ngày đêm chẳng ngớt,
thức ăn thượng diệu, các thứ quư hiếm,
phát tâm ân cần, trân trọng, tùy thời cúng dường).
Tán
rằng: Kế đó là “lợi ích do thấy Đa Văn
thiên vương”, gồm năm điều:
- Một,
nêu bày ư mong cầu được thấy.
-
Hai, dạy pháp tắc để cầu thấy.
-
Ba, dạy tụng thần chú.
- Bốn,
thiên vương sẽ hiện thân.
-
Năm, sở nguyện được toại.
Trong
phần dạy về nghi thức để cầu thấy
th́:
- Một,
thời điểm [tụng niệm].
-
Hai, vẽ tượng Phật.
-
Ba, cách vẽ.
- Bốn,
tŕ giới.
-
Năm, vẽ h́nh tượng thị giả.
-
Sáu, từ “bố liệt” (bày
biện) trở đi, dạy tu cúng dường.
(Kinh)
Thọ tŕ thần chú, bất đắc khinh tâm. Thỉnh
triệu ngă thời, ưng tụng thử chú: - Nam mô thất
rị kiện na dă bột đà dă. Nam mô Bệ Thất Ra
Mạt Noa dă, Dược Xoa ra xà dă, mạc ha ra xà. A địa
ra xà dă. Nam ma thất rị da duệ, mạc ha đề tệ
duệ, đát điệt tha: Đát ra, đát ra, đốt
rô, đốt rô. Mạt ra, mạt ra, tốt suất thổ,
tốt suất thổ, hán na, hán na, mạt ni yết nặc
ca, bạt chiết ra bệ lưu ly dă. Mục để
ca lăng ngật lật đa, thiết rị ra duệ bồ,
tát bà, tát đóa, hế đá ca ma. Bệ Thất Ra Mạt
Noa thất rị dạ, đề tỵ bạt lạp bà
dă. Ế hế, ế hế, ma tỳ lam bà, cù lật noa,
cù lật noa, mạt lạt sa, mạt lạt sa. Đạt
đà hế ma ma. A mục ca na mạt tả (tự
xưng kỷ danh), đạt rị thiết na ca mạt tả,
đạt rị thiết nam. Ma ma mạt na, bát lạt hạt
la đại dă, sa ha.
(經)受持神呪不得輕心,請召我時應誦此呪:南謨室唎健那也。勃陀也。南無薜室囉末拏也。藥叉囉闍也。莫訶囉闍。阿地囉闍也。南麼室唎耶𧜟。莫訶提弊𧜟。怛姪他。怛囉。怛囉。咄嚕。咄嚕。末囉。末囉。窣率吐。窣率吐。漢娜。漢娜。末尼羯諾迦。跋折囉薜瑠璃也。目底迦楞訖㗚多。設唎囉𧜟蒲。薩婆薩埵呬哆迦摩。薜室囉末拏。室唎夜提鼻跋𡅘婆也。瞖呬。瞖呬。麼毘藍婆。 瞿㗚拏。瞿㗚拏。袜喇娑。袜喇娑。達馱呬麼麼。阿目迦那末寫。(自稱己名)。達哩設那迦末寫。達哩設南。麼麼末那。鉢喇曷羅大也。莎訶。
(Kinh: Thọ tŕ thần chú, tâm chớ nên coi
thường. Khi thỉnh vời, hăy nên tụng chú này: - Nam
mô thất rị kiện na dă bột đà dă. Nam mô Bệ
Thất Ra Mạt Noa dă, Dược Xoa ra xà dă, mạc ha ra
xà. A địa ra xà dă. Nam ma thất rị da duệ, mạc
ha đề tệ duệ, đát điệt tha: Đát ra,
đát ra, đốt rô, đốt rô. Mạt ra, mạt ra,
tốt suất thổ, tốt suất thổ, hán na, hán na,
mạt ni yết nặc ca, bạt chiết ra bệ lưu
ly dă. Mục để ca lăng ngật lật đa, thiết
rị ra duệ bồ, tát bà, tát đóa, hế đá ca ma. Bệ
Thất Ra Mạt Noa thất rị dạ, đề tỵ
bạt lạp bà dă. Ế hế, ế hế, ma tỳ lam
bà, cù lật noa, cù lật noa, mạt lạt sa, mạt lạt
sa. Đạt đà hế ma ma. A mục ca na mạt tả
(tự xưng tên ḿnh), đạt rị thiết na ca mạt tả,
đạt rị thiết nam. Ma ma mạt na, bát lạt hạt
la đại dă, sa ha).
Kế
đó, dạy tụng chú. Trước là dạy nghi quỹ
tụng niệm, sau là nói thần chú.
(Kinh)
Thế Tôn! Ngă nhược kiến thử tụng chú chi
nhân, phục kiến như thị thịnh hưng cúng
dường, tức sanh từ ái, hoan hỷ chi tâm. Ngă tức
biến thân tác tiểu nhi h́nh, hoặc tác lăo nhân bật-sô
chi tượng, thủ tŕ Như Ư Mạt Ni bảo châu, tịnh
tŕ kim nang, nhập đạo tràng nội, thân hiện cung
kính, khẩu xưng Phật danh.
(經)世尊!我若見此誦呪之人,復見如是盛興供養,即生慈愛歡喜之心。我即變身作小兒形,或作老人苾芻之像,手持如意末尼寶珠并持金囊入道場內,身現恭敬口稱佛名。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Nếu con thấy người tụng chú này, lại
thấy cúng dường trọng hậu như thế, liền
sanh ḷng từ ái, hoan hỷ. Con liền biến thân thành h́nh
dáng trẻ nhỏ, hoặc thành h́nh dạng một vị tỳ-kheo
già nua, tay cầm bảo châu Như Ư Mạt Ni, và cầm túi
vàng vào trong đạo tràng, hiện dáng vẻ cung kính, miệng
xưng danh hiệu Phật).
Kế
đó là thiên vương v́ [người tŕ chú] hiện thân,
có năm ư:
- Một,
nghi quỹ cầu được thấy.
-
Hai, nội tâm sanh ḷng hoan hỷ.
-
Ba, h́nh tượng biến hiện.
- Bốn,
[thiên vương] tới
chỗ cầu thỉnh.
-
Năm, lễ kính Tam Bảo.
Dựa
theo kinh văn, dễ thấy các ư ấy.
(Kinh)
Ngữ tŕ chú giả viết: “Tùy nhữ sở cầu, giai
linh như nguyện. Hoặc ẩn lâm tẩu, hoặc tạo
bảo châu, hoặc dục chúng nhân ái sủng, hoặc cầu
kim, ngân đẳng vật, dục tŕ chư chú,
giai linh hữu nghiệm, hoặc dục thần thông, thọ
mạng trường viễn, cập thắng diệu lạc,
vô bất xứng tâm”. Ngă kim thả thuyết như thị
chi sự, nhược cánh cầu dư, giai tùy sở nguyện,
tất đắc thành tựu, bảo tạng vô tận,
công đức vô cùng.
(經)語持呪者曰:隨汝所求,皆令如願。或隱林藪、或造寶珠、或欲眾人愛寵、或求金銀等物,欲持諸呪皆令有驗,或欲神通壽命長遠及勝妙樂無不稱心。我今且說如是之事,若更求餘皆隨所願悉得成就,寶藏無盡功德無窮。
(Kinh:
Bảo người tŕ chú rằng: “Tùy ḷng ngươi mong cầu,
đều sẽ khiến cho được như nguyện.
Hoặc ở ẩn nơi rừng rậm, hoặc tạo
bảo châu, hoặc muốn được mọi người
sủng ái, hoặc cầu vàng, bạc v.v… các vật, muốn
tŕ các chú đều có hiệu nghiệm, hoặc mong thần
thông, thọ mạng dài lâu, và sự vui mầu nhiệm, thù
thắng, không ǵ chẳng vừa ḷng”. Con nay chỉ nói các
chuyện như thế, nếu muốn cầu các điều
khác, sẽ đều thuận theo ư nguyện, đều
được thành tựu, kho báu vô tận, công đức
vô cùng).
Kế
đó, là [Đa Văn thiên vương sẽ] toại
nguyện cho họ, có ba ư:
- Một,
nêu chung.
-
Hai, từ “hoặc ẩn lâm tẩu” (hoặc ẩn
trong chốn rừng rậm) trở đi là nói riêng.
-
Ba, “ngă kim thả thuyết” (con nay nói như vậy) trở
đi, kết lại đại lược.
5.12.4.2.2.2.4. Thề thủ
hộ
(Kinh)
Giả sử nhật nguyệt trụy đọa vu
địa, hoặc khả đại địa hữu thời
di chuyển, ngă thử thật ngữ,
chung bất hư nhiên, thường đắc an ổn,
tùy tâm khoái lạc.
(經)假使日月墜墮于地,或可大地有時移轉,我此實語終不虛然,常得安穩隨心快樂。
(Kinh: Giả sử
mặt trời, mặt trăng rơi rụng xuống
đất, hoặc là đại địa có lúc dời
chuyển, lời thật này của con trọn chẳng
hư dối, thường được an ổn, thuận
ḷng vui sướng).
Kế
đó là lập thệ thủ hộ. Kinh văn gồm ba
đoạn:
- Một,
lập thệ nguyện chung.
-
Hai, riêng nói về lợi ích đạt được.
-
Ba, từ “ngă thuyết thật ngữ” (con nói lời
thật) trở đi, kết lại [thệ nguyện ấy]
chẳng hư vọng.
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược hữu nhân năng thọ tŕ, độc
tụng thị kinh vương giả, tụng thử chú
thời, bất giả b́ lao,
pháp tốc thành tựu. Thế Tôn! Ngă kim vị bỉ bần
cùng, khốn ách, khổ năo chúng sanh,
thuyết thử thần chú, linh hoạch đại lợi,
giai đắc phú lạc, tự tại vô hoạn, năi chí tận
h́nh, ngă đương ủng hộ, tùy trục thị
nhân, vị trừ tai ách, diệc phục linh thử tŕ Kim
Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh lưu thông chi giả,
cập tŕ chú nhân, ư bách bộ nội, quang minh chiếu
chúc. Ngă chi sở hữu thiên Dược Xoa thần, diệc
thường thị vệ, tùy dục khu sử, vô bất
toại tâm. Ngă thuyết thật ngữ, vô hữu hư cuống,
duy Phật chứng tri.
(經)世尊!若有人能受持讀誦是經王者,誦此呪時不假疲勞法速成就。世尊!我今為彼貧窮困厄苦惱眾生說此神呪,令獲大利,皆得富樂自在無患,乃至盡形我當擁護,隨逐是人為除災厄,亦復令此持金光明最勝王經流通之者及持呪人,於百步內光明照燭。我之所有千藥叉神亦常侍衛,隨欲驅使無不遂心。我說實語無有虛誑,唯佛證知。
(Kinh: Bạch
Thế Tôn! Nếu có ai có thể thọ tŕ, đọc tụng
vua trong các kinh này, khi tụng chú này, chẳng cần mệt
nhọc mà pháp thành
tựu mau chóng. Bạch Thế Tôn! Con nay v́ các chúng sanh bần
cùng, khốn quẫn, khổ năo đó mà nói thần chú này,
khiến họ được lợi lớn, đều
được giàu vui, tự
tại không hoạn nạn, cho
đến hết tuổi thọ, con sẽ ủng hộ,
theo sát người ấy để trừ tai ách, cũng sẽ
khiến cho người tŕ và lưu thông kinh Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương này, và người tŕ chú trong ṿng một
trăm bước, quang minh chiếu sáng ngời. Tất cả
một ngàn thần Dược Xoa của con cũng thường
theo hầu, bảo vệ, thuận theo ḷng mong mà sai khiến,
không ǵ chẳng vừa ḷng. Con nói lời thật, chẳng
hề hư dối, chỉ đức Phật chứng biết).
Tiếp
đó, nói riêng các lợi ích đạt được, gồm
năm điều:
- Một,
hành pháp dễ thành tựu.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Ngă kim” (Bạch Thế Tôn! Con
nay) trở đi, nêu ra lợi ích của chú.
-
Ba, từ “năi chí tận h́nh” (cho tới hết thọ
mạng) trở đi, dùng thân để
thủ hộ
[hành nhân].
- Bốn,
từ “diệc phục linh thử” (cũng sẽ khiến
cho người ấy) trở đi, tăng thêm quang minh cho người ấy.
-
Năm, từ “ngă chi sở hữu” (tất cả [một
ngàn thần Dược Xoa] của con), quyến thuộc [của thiên vương
đều] chầu hầu, bảo
vệ [hành nhân].
Kết
lại [lời thệ nguyện của con] không hư vọng,
lời văn dễ hiểu!
5.12.4.2.2.3. Đức
Thế Tôn tán thán
(Kinh) Thời Đa Văn thiên vương
thuyết thử chú dĩ, Phật ngôn: - Thiện tai! Đại
vương! Nhữ năng phá liệt nhất thiết
chúng sanh bần cùng khổ vơng, linh đắc phú lạc,
thuyết thị thần chú, phục linh thử kinh quảng
hành ư thế.
(經)時多聞天王說此呪已,佛言:善哉!大王!汝能破裂一切眾生貧窮苦網令得富樂說是神呪,復令此經廣行於世。
(Kinh:
Khi đó, Đa Văn thiên vương nói chú này xong, đức
Phật nói: - Lành thay! Đại vương! Ông có thể
xé rách lưới khổ nghèo túng của hết thảy
chúng sanh, khiến họ được giàu vui, bèn nói thần
chú này. Lại khiến cho kinh này được lưu hành
rộng răi trong cơi đời).
Tán
rằng: Đây là đoạn lớn thứ ba trong phần
hộ pháp, “đức Thế Tôn tán thán”. Tán thán có hai điều:
- Một,
tán thán [thiên vương] lợi sanh.
-
Hai, từ “phục linh thử kinh” (cũng khiến
cho kinh này) trở đi, tán thán [thiên vương có thể]
lợi pháp.
5.12.4.3. Tứ thiên
vương đội ân, tán thán Phật
(Kinh) Thời Tứ Thiên Vương câu tùng
ṭa khởi, thiên đản nhất kiên, đảnh lễ
song túc, hữu tất trước địa, hiệp
chưởng cung kính, dĩ diệu già-tha, tán Phật công đức: - Phật diện do như tịnh
măn nguyệt, diệc như thiên nhật phóng quang minh, mục tịnh tu quảng nhược thanh liên, xỉ bạch tề
mật do kha tuyết. Phật đức vô biên như đại
hải, vô hạn diệu bảo
tích kỳ trung, trí huệ đức thủy trấn hằng
doanh, bách thiên thắng định hàm sung măn. Túc hạ luân
tướng giai nghiêm sức, cốc vơng thiên bức tất
tề b́nh, thủ túc man vơng biến trang nghiêm, do như nga
vương tướng cụ túc. Phật thân quang diệu
đẳng kim sơn, thanh tịnh thù đặc vô luân thất,
diệc như Diệu Cao công đức măn, cố ngă khể
thủ Phật sơn vương. Tướng hảo
như không bất khả trắc, du ư thiên nguyệt
phóng quang minh, giai như diễm huyễn, bất tư nghị,
cố ngă khể thủ tâm vô trước.
(經)時四天王俱從座起,偏袒一肩頂禮雙足,右膝著地合掌恭敬,以妙伽他讚佛功德:佛面猶如淨滿月,亦如千日放光明,目淨修廣若青蓮,齒白齊密猶珂雪。佛德無邊如大海,無限妙寶積其中,智慧德水鎮恒盈,百千勝定咸充滿。足下輪相皆嚴飾,轂輞千輻悉齊平,手足縵網遍莊嚴,猶如鵝王相具足。佛身光耀等金山,清淨殊特無倫匹,亦如妙高功德滿,故我稽首佛山王。相好如空不可測,逾於千月放光明,皆如焰幻不思議,故我稽首心無著。
(Kinh:
Khi ấy, Tứ Thiên Vương đều từ chỗ
ngồi đứng dậy, trật một bên vai áo, đảnh
lễ dưới hai chân
[đức Phật], gối phải
đặt sát đất, chắp tay, cung kính, dùng già-tha mầu
nhiệm, tán thán công đức của Phật: - Mặt Phật
như trăng rằm thanh tịnh, như ngàn mặt trời
tỏa quang minh. Mắt tịnh rộng dài như sen xanh,
răng trắng khít bằng như kha tuyết. Phật
đức vô biên như biển cả, vô hạn báu mầu
chứa ở trong. Nước đức trí huệ luôn
đầy ắp, trăm ngàn thắng định đều
sung măn. Luân tướng dưới chân luôn trang nghiêm, bánh xe
ngàn căm đều đầy bằng. Tay chân màng lưới
trọn trang nghiêm,
ví như ngỗng chúa tướng trọn đủ. Thân Phật
sáng ngời như núi vàng, thanh tịnh đặc biệt
khôn sánh bằng, cũng như Diệu Cao công đức vẹn.
Nên con lễ Phật như núi chúa. Tướng hảo
hư không chẳng thể lường, hơn ngàn vầng
nguyệt tỏa quang minh, đều như diễm huyễn
chẳng nghĩ bàn, nên con kính lạy, tâm không chấp).
Tán
rằng: Đây là đoạn lớn thứ ba trong phẩm
này, “tứ thiên vương đội ân, tán thán đức
Phật”. Có hai tiểu đoạn:
- Phần
trường hàng nói về nghi quỹ tán thán Phật.
-
Sau đó là phần kệ tụng.
Trước
phần tán thán, chỉ chép Đa Văn nói chú,
nay tán thán th́ gồm chung cả bốn vị thiên
vương. Muốn cho [hành nhân] chuyên tâm cầu thỉnh
ḥng dễ thành tựu; v́ thế, chú th́ chỉ có một vị
nói. Nghe pháp th́ mọi người đều được
lợi ích, cho nên bốn vị thiên vương đều
cùng tán thán. Hơn nữa, đức Phật có thể thuyết
kinh, nên chỉ tán thán Phật, chẳng tán thán ai khác. Nói
chung, có năm bài tụng, bốn bài tụng đầu tán
thán riêng từng tướng hảo, bài tụng sau cùng là tán
chung, lễ bái.
Trong
phần biệt tán, có hai ư: Trước là tán thán, câu cuối
cùng là lễ bái. Tán thán gồm bảy điều:
Nửa bài tụng đầu tán thán vẻ mặt. Một
câu nói về tướng mắt, câu nữa nói về tướng răng. Một bài tụng
tán thán biển cả Định Huệ là tổng, Thập
Lực, Vô Úy v.v… là các thứ của báu vi diệu. Trí huệ là cội gốc, giống
như nước. Định nương vào trí. Xét theo Phật
quả, th́ trí là chủ, như đối với mây đại
pháp trí đều nói “chúng đức
thủy” (các thứ nước công đức) v.v… Nửa
bài tụng [kế đó] tán thán luân tướng (tướng
bánh xe ngàn căm dưới ḷng bàn chân đức Phật),
nửa bài tụng [tiếp đó]
tán thán tướng màng lưới. Ba câu [kế đó], tán
thán tướng quang minh nơi thân. Một câu nói về lễ
bái Phật. Từ “tướng hảo” trở đi
là tổng tán, có hai phần: Ba câu đầu là tán thán, câu cuối
cùng là lễ bái. Trong ba câu ấy, câu đầu tiên là tổng,
hai câu kế đó nói về quang minh.
Lại
có thể hiểu: Câu đầu tiên nói về Hóa Thân, câu kế
đó nói về Báo Thân. Hai bài tụng kế đó tán thán gộp
chung Báo Thân và Hóa Thân, bài tụng cuối
cùng nói về Pháp Thân. Trong phần Pháp
Thân, một câu nói về Thể, hai câu sau nói về tác dụng
của Báo Thân và Hóa Thân, câu cuối cùng là giăi
bày sự lễ kính.
5.12.4.4. Đức Phật
lại khuyên thủ hộ để kết lại
(Kinh)
Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương tán thán Phật
dĩ, Thế Tôn diệc dĩ già-tha, nhi đáp chi viết:
- Thử Kim Quang Minh Tối Thắng Kinh, vô thượng thập
lực chi sở thuyết, nhữ đẳng tứ
vương thường ủng vệ, ưng sanh dũng
mănh bất thoái tâm. Thử diệu kinh bảo cực thậm
thâm, năng dữ nhất thiết hữu t́nh lạc. Do bỉ
hữu t́nh an lạc cố, thường đắc lưu
thông Thiệm Bộ châu. Ư thử đại thiên thế
giới trung, sở hữu nhất thiết hữu t́nh loại,
ngạ quỷ, bàng sanh, cập địa ngục, như
thị khổ thú tất giai trừ. Trụ thử Nam Châu
chư quốc vương, cập dư nhất thiết hữu
t́nh loại, do kinh oai lực thường hoan hỷ, giai
mông ủng hộ đắc an ninh, diệc sử thử
trung chư hữu t́nh, trừ chúng bệnh khổ vô tặc
đạo. Lại thử quốc độ hoằng kinh cố,
an ổn phong lạc, vô vi năo.
(經)爾時四天王讚歎佛已,世尊亦以伽他而答之曰:此金光明最勝經,無上十力之所說,汝等四王常擁衛,應生勇猛不退心。此妙經寶極甚深,能與一切有情樂。由彼有情安樂故,常得流通贍部洲。於此大千世界中,所有一切有情類,餓鬼傍生及地獄,如是苦趣悉皆除。住此南洲諸國王,及餘一切有情類,由經威力常歡喜,皆蒙擁護得安寧,亦使此中諸有情,除眾病苦無賊盜。賴此國土弘經故,安穩豐樂無違惱。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Tứ Thiên Vương tán thán đức Phật
xong, đức Thế Tôn cũng dùng già-tha để
đáp rằng: - Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng này, do đấng
vô thượng thập lực nói. Bốn vua các ông thường
ủng hộ. Hăy sanh tâm dũng mănh bất thoái. Kinh báu mầu
nhiệm sâu tột bậc, ban vui cho hết thảy hữu
t́nh. Do hữu t́nh được hưởng an lạc,
kinh thường lưu truyền trong Diêm Phù. Ở trong
đại thiên thế giới này, tất cả hết thảy
loài hữu t́nh, ngạ quỷ, bàng sanh, và địa ngục,
đường ác như thế thảy đều trừ.
Quốc vương trụ trong Nam Châu này, và hết thảy
loài hữu t́nh khác, do kinh oai lực thường hoan hỷ,
đều được ủng hộ,
khiến an ninh, cũng khiến các hữu t́nh trong ấy,
trừ các bệnh khổ, không giặc cướp. Nhờ quốc độ này hoằng
dương kinh, an ổn, giàu vui, chẳng nghịch năo).
Kế
đó, đoạn lớn thứ tư là “đức Phật
lại khuyên lơn, tán thán để kết lại”. Kinh
văn chia thành hai phần:
- Một,
người kết tập kinh kết lại phần
trước để sanh khởi phần sau.
-
Hai, đức Phật giảng nói, gồm mười
lăm bài tụng, chia thành bốn phần:
a)
Năm bài tụng đầu tiên nhằm tán thán kinh.
b)
Năm bài tụng kế đó để khuyên mọi
người thủ hộ.
c)
Hai bài tụng kế đó nhằm khuyên chư thiên thủ
hộ.
d)
Ba bài tụng nhằm kết lại.
Trong
phần thứ nhất, có ba điều:
- Nửa
bài tụng đầu tán thán kinh thù thắng.
- Nửa
bài tụng kế đó, sắc truyền hộ tŕ.
- Bốn
bài tụng sau đó, tán thán tác dụng của kinh.
Trong
đoạn này, hai bài tụng đầu nói chung về cơi
đại thiên, hai bài tụng sau nói riêng châu Thiệm Bộ.
Trong phần nói chung, nửa bài tụng đầu là “có thể
ban vui”, nửa bài tụng kế đó là “sanh thiện”, tức
là do hoằng kinh. Bài tụng sau đó là dẹp khổ.
Trong phần nói riêng về châu này, bài tụng đầu
tiên là “được vui”. Nửa bài tụng kế đó
là “ĺa khổ”. Nửa bài tụng sau cùng là kết lại.
(Kinh)
Nhược nhân thính thọ thử kinh vương, dục
cầu tôn quư cập tài lợi, quốc độ phong lạc,
vô vi tránh, tùy tâm sở nguyện tất giai tùng, năng linh
tha phương tặc thoái tán, ư tự quốc giới
thường an ổn, do thử tối thắng kinh
vương lực, ly chư khổ năo vô ưu bố.
(經)若人聽受此經王,欲求尊貴及財利,國土豐樂無違諍,隨心所願悉皆從。能令他方賊退散,於自國界常安穩,由此最勝經王力,離諸苦惱無憂怖。
(Kinh:
Nếu ai nghe nhận kinh vương này, muốn cầu tôn
quư và tài lợi, quốc độ giàu vui, không tranh chấp.
Thuận theo ḷng mong đều được thỏa, khiến
giặc phương khác phải tan lui, nơi cơi nước
ḿnh thường an ổn, do sức kinh vương tối
thắng này, ĺa các khổ năo, không lo sợ).
Kế
đó, khuyên nhân loại thủ hộ, bao gồm vua và dân
chúng. Siêng năng thủ hộ ở đây, khiến cho
người nghe nhận đều có thể tán thán công
năng của kinh, với dụng ư khiến cho họ hoằng
truyền, thủ hộ kinh này. Đoạn này được
chia thành hai phần:
-
Hai bài tụng đầu tiên là Pháp Thuyết.
- Ba
bài tụng sau đó, kết hợp thí dụ với pháp.
Trong
phần Pháp Thuyết, bài tụng thứ nhất “nghe nhận
[kinh này] sẽ được vui”, bao gồm ba điều:
- Một,
được vui.
-
Hai, không trái nghịch.
-
Ba, tùy tâm.
Bài
tụng cuối cùng là “ĺa khổ”:
- Một,
do ĺa nỗi khổ bị oán tặc xâm lăng, đánh bại,
nên nước được yên ổn.
-
Hai, do ĺa nỗi khổ v́ các bệnh dịch, nên ĺa khỏi
các chuyện khổ năo v.v…
(Kinh)
Như bảo thụ vương tại trạch nội,
năng sanh nhất thiết chư lạc cụ, tối thắng
kinh vương diệc phục nhiên, năng dữ nhân
vương thắng công đức. Thí như trừng khiết,
thanh lănh thủy, năng trừ cơ khát, chư nhiệt
năo. Tối thắng kinh vương diệc phục nhiên,
linh nhạo phước giả, tâm măn túc. Như nhân thất
hữu diệu bảo khiếp, tùy sở thọ dụng tất
tùng tâm. Tối thắng kinh vương diệc phục
nhiên, phước đức tùy tâm vô sở phạp.
(經)如寶樹王在宅內,能生一切諸樂具,最勝經王亦復然,能與人王勝功德。譬如澄潔清冷水,能除饑渴諸熱惱,最勝經王亦復然,令樂福者心滿足。如人室有妙寶篋,隨所受用悉從心,最勝經王亦復然,福德隨心無所乏。
(Kinh: Như cây
báu chúa ở trong nhà, có thể sanh hết thảy lạc cụ,
kinh vương tối thắng cũng như thế, ban
cho vua công đức thù thắng. Ví như nước trong
lạnh, lắng sạch, hay trừ đói, khát, các nóng bức.
Kinh vương tối thắng cũng như thế, khiến
người chuộng phước tâm thỏa măn. Như
trong nhà có tráp báu mầu, thọ dụng mong mỏi đều
thỏa ḷng, kinh vương tối thắng cũng như
thế, phước đức tùy tâm chẳng thiếu hụt).
Kế
đó, trong phần kết hợp thí dụ với pháp, chỉ
kết hợp thí dụ với “được vui”. Trong ấy,
có ba ư:
- Một,
kết hợp [thí dụ] cây báu với “được
vui”.
-
Hai, nước lạnh ứng hợp với vô vi.
-
Ba, tráp báu ứng hợp với tùy tâm.
(Kinh)
Nhữ đẳng thiên
chúa
cập thiên chúng, ưng đương cúng dường thử
kinh vương, nhược năng y giáo phụng tŕ kinh,
trí huệ oai thần giai cụ túc. Hiện tại thập
phương nhất thiết Phật, hàm cộng hộ niệm
thử kinh vương, kiến hữu độc tụng
cập thọ tŕ, xưng thán thiện tai, thậm hy hữu.
(經)汝等天主及天眾,應當供養此經王,若能依教奉持經,智慧威神皆具足。現在十方一切佛,咸共護念此經王,見有讀誦及受持,稱歎善哉甚希有。
(Kinh:
Chúa
trời các ông
và chúng trời, hăy nên cúng dường kinh vương này. Nếu
hay y giáo, phụng tŕ kinh, trí huệ oai thần đều
trọn đủ. Hiện tại mười phương
hết thảy Phật, đều cùng hộ niệm kinh
vương này, thấy người đọc tụng và
thọ tŕ, khen ngợi lành thay, rất hiếm có!)
Kế
đó, khuyên chư thiên thủ hộ, cũng bao gồm các
vị thống lănh các thần,
chia thành hai điều:
-
Bài tụng thứ nhất, tăng thêm phước trí.
-
Bài tụng thứ hai, được Phật hộ niệm.
(Kinh) Nhược hữu nhân năng thính thử
kinh, thân tâm dũng dược,
sanh hoan hỷ, thường hữu bách thiên Dược Xoa
chúng, tùy sở trụ xứ hộ tư nhân. Ư thử
thế giới chư thiên chúng, kỳ số vô lượng
bất tư nghị, tất cộng thính thọ thử
kinh vương, hoan hỷ hộ tŕ vô thoái chuyển.
Nhược nhân thính thọ thử kinh vương, oai
đức dũng mănh thường tự tại, tăng
ích nhất thiết nhân thiên chúng, linh ly suy năo ích quang minh.
(經)若有人能聽此經,身心踊躍生歡喜,常有百千藥叉眾,隨所住處護斯人。於此世界諸天眾,其數無量不思議,悉共聽受此經王,歡喜護持無退轉。若人聽受此經王,威德勇猛常自在,增益一切人天眾,令離衰惱益光明。
(Kinh: Nếu ai
có thể nghe kinh này, thân tâm hớn hở, sanh hoan hỷ,
thường có trăm ngàn các Dược Xoa, tùy chỗ ở,
bảo vệ người đó. Các vị trời trong thế
giới này, số tới vô lượng chẳng nghĩ
bàn, đều cùng nghe nhận kinh vương này, hoan hỷ
hộ tŕ chẳng lui sụt. Nếu người nghe nhận
kinh vương này, oai đức dũng mănh thường tự
tại, tăng thêm hết thảy chúng trời, người,
khiến ĺa suy năo, tăng quang minh).
Kế
đó, ba bài tụng nhằm kết luận. Bài tụng
đầu tiên [có ư nói] người nghe kinh sẽ được
thủ hộ. Bài tụng kế đó, nêu ra: Chư thiên
đắc bất thoái. Không chỉ người nghe, tiếp
nhận [kinh này] đạt được bất thoái, mà
c̣n khiến cho chư thiên chẳng lui sụt oai đức.
Bài tụng sau cùng nhằm kết lại. Vua do đạt
được sắc lực phước trí, bèn oai đức
dũng mănh, thường được tự tại. Do
chư thiên được tăng ích, sẽ ĺa năm
tướng suy năo lớn nhỏ, thường tăng
trưởng quang minh.
5.12.4.5. Tứ thiên
vương vui mừng, hộ tŕ
(Kinh)
Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương văn thị tụng
dĩ, hoan hỷ, dũng dược, bạch Phật ngôn:
“Thế Tôn! Ngă tùng tích lai, vị tằng đắc văn
như thị thậm thâm vi diệu chi âm, tâm sanh bi hỷ,
thế lệ giao lưu, cử thân chiến động, chứng
bất tư nghị hy hữu chi sự”. Dĩ thiên mạn-đà-la
hoa, ma-ha mạn-đà-la hoa nhi tán Phật thượng. Tác
thị thù thắng cúng dường Phật dĩ, bạch
Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương,
các hữu ngũ bách Dược Xoa quyến thuộc,
thường đương xứ xứ ủng hộ thị
kinh, cập thuyết pháp sư, dĩ trí quang minh nhi vi trợ
vệ. Nhược ư thử kinh sở hữu cú
nghĩa vong thất chi xứ, ngă giai linh bỉ ức niệm
bất vong, tịnh dữ Đà-la-ni thù thắng pháp môn,
linh đắc cụ túc. Phục dục linh thử tối
thắng kinh vương sở tại chi xứ, vị
chư chúng sanh quảng tuyên lưu bố, bất tốc ẩn
một.
(經)爾時四天王聞是頌已,歡喜踊躍白佛言:世尊!我從昔來未曾得聞如是甚深微妙之音,心生悲喜涕淚交流舉身戰動,證不思議希有之事。以天曼陀羅華、摩訶曼陀羅華而散佛上。作是殊勝供養佛已,白佛言:世尊!我等四王各有五百藥叉眷屬,常當處處擁護是經及說法師,以智光明而為助衛。若於此經所有句義忘失之處,我皆令彼憶念不忘,并與陀羅尼殊勝法門令得具足。復欲令此最勝經王所在之處,為諸眾生廣宣流布,不速隱沒。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Tứ Thiên Vương nghe lời tụng ấy
xong, hoan hỷ, hớn hở, bạch cùng đức Phật
rằng: “Bạch Thế Tôn! Từ xưa tới nay, con
chưa từng được nghe
âm thanh vi diệu rất sâu như thế,
tâm sanh buồn vui chen lẫn, nước mắt, nước
mũi quẩn quanh, khắp thân run rẩy, chứng chuyện
hiếm có chẳng thể nghĩ bàn!” Dùng hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la
cơi trời để rải lên đức Phật. Cúng
dường đức Phật
thù thắng như thế xong, bạch cùng đức Phật
rằng: - Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con, mỗi
người đều có năm trăm Dược Xoa làm
quyến thuộc, thường sẽ ở khắp nơi
ủng hộ kinh này và vị thầy thuyết pháp, dùng trí
quang minh để giúp đỡ, bảo vệ. Nếu
đối với tất cả các câu nghĩa trong kinh này
mà có chỗ quên mất, con sẽ đều khiến cho
người ấy nghĩ nhớ chẳng quên, và ban cho pháp
môn Đà-la-ni thù thắng khiến cho được đầy
đủ. Lại muốn khiến cho chỗ có kinh
vương tối thắng này, sẽ v́ các chúng sanh tuyên nói
và lưu truyền rộng răi, chẳng để kinh bị
nhanh chóng ẩn mất).
Tán
rằng: Đây là đoạn lớn thứ năm của
phẩm này, tức “tứ thiên vương vui mừng, hộ
tŕ”. Có bốn ư:
- Một,
nghe bài tụng tâm vui sướng, tức là tâm hoan hỷ,
thân hớn hở.
-
Hai, từ “bạch Phật” trở đi, thốt lời
thưa bày, gồm ba ư:
a)
Được nghe điều chưa từng nghe.
b)
Thân tâm hoan hỷ. Theo kinh Nhân Vương, Sơ Địa
Bồ Tát làm Tứ Thiên Vương, chứng Bất Thoái. Do đó, nghe
pháp sâu, buồn vui xen lẫn, tuôn lệ, khắp thân run rẩy.
c)
Đắc điều chưa từng đắc, tức
là chứng chuyện chẳng thể nghĩ bàn.
-
Ba, từ “dĩ thiên mạn-đà-la” (dùng hoa mạn-đà-la cơi trời) trở
đi, rải hoa cúng dường.
- Bốn,
từ “tác thị thù thắng” (thực
hiện sự thù thắng ấy) trở
đi, thỉnh nguyện hộ tŕ, có hai ư:
a)
Dùng thân hộ tŕ.
b) Từ
“dĩ trí quang minh” (dùng trí quang minh) trở đi, đạt
được ba trí:
* Một,
khiến cho nghĩ nhớ.
*
Hai, ban cho Tổng Tŕ,
*
Ba, khiến cho hoằng pháp lưu thông chẳng dứt.
5.12.4.6. Đại chúng
nghe kinh được lợi ích
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn ư đại chúng trung, thuyết
thị pháp thời, vô lượng chúng sanh giai đắc
đại trí, thông duệ, biện tài, nhiếp thọ vô
lượng phước đức chi tụ, ly chư
ưu năo, phát hỷ lạc tâm, thiện minh chúng luận,
đăng xuất ly đạo, bất phục thoái chuyển,
tốc chứng Bồ Đề.
(經)爾時世尊於大眾中說是法時,無量眾生皆得大智聰叡辯才,攝受無量福德之聚,離諸憂惱,發喜樂心,善明眾論,登出離道,不復退轉,速證菩提。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, khi đức Thế Tôn ở trong đại chúng
nói pháp này, vô lượng chúng sanh đều đắc trí
huệ to lớn, thông duệ, biện tài, nhiếp thọ
vô lượng khối phước đức, ĺa các ưu
năo, phát tâm hỷ lạc, khéo hiểu các luận, vượt
lên đạo xuất ly, chẳng c̣n lui sụt, mau chứng
Bồ Đề).
Kế
đó, đoạn lớn thứ sáu là đại chúng nghe
kinh đạt được lợi ích. Có chín ư:
- Một,
đắc trí huệ.
-
Hai, đắc biện tài.
-
Ba, được phước.
- Bốn,
ĺa khổ.
-
Năm, được vui.
-
Sáu, đắc Ngũ Minh.
- Bảy,
đắc nẻo Niết Bàn.
-
Tám, đắc bất thoái chuyển.
-
Chín, mau chứng Bồ Đề.
Kinh
văn dễ hiểu.
Kim Quang Minh Tối
Thắng Kinh Vương Sớ
Quyển thứ bảy
5.13. Phẩm thứ mười ba: Vô Nhiễm Trước Đà La Ni (Vô Nhiễm Trước
Đà La Ni phẩm đệ thập tam, 無染著陀羅尼品第十三)
Phẩm
Vô Nhiễm Trước Đà La Ni gồm ba môn phân biệt:
- Một,
ư nghĩa v́ sao có phẩm này?
-
Hai, giải thích tên gọi của phẩm.
-
Ba, giải thích vấn nạn.
5.13.1. Ư nghĩa v́
sao có phẩm này?
Nói về ư nghĩa
v́ sao có phẩm này, mười sáu phẩm kể từ phẩm
Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên trở đi, trước
hết nói về học hạnh lưu thông, gồm năm
phần:
- Một,
phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên khuyên tu hành.
-
Hai, ba phẩm từ phẩm Tứ Thiên Vương Hộ
Quốc trở đi nói về sự thủ hộ.
-
Ba, năm phẩm từ Đại Biện Tài trở
đi, tăng thêm phước trí cho người hoằng
kinh, tu hành.
- Bốn,
ba phẩm từ phẩm Vương Pháp Chánh Luận trở
đi, nói về sự tu tŕ, học tập.
-
Năm, bốn phẩm từ phẩm Thọ Kư trở
đi, kết lại các ư khuyên tu, thủ hộ v.v…
Trong
ba phẩm nói về sự thủ hộ như Tứ Thiên
Vương Hộ Quốc v.v… có ba điều:
- Một,
dạy thủ hộ, cúng dường.
-
Hai, dạy ĺa nhiễm bất thoái.
-
Ba, khiến cho ĺa chướng như ư.
Phần
trước đă nói về thủ hộ, cúng dường.
Phần này truyền dạy hăy ĺa nhiễm bất thoái. Nếu
có đắm nhiễm, sẽ có thoái khuất v́ chấp
trước. Như phần giảng
giải Ly Bất Nhẫn Khổ Chướng
trong Bát Nhă Luận của Vô Trước Bồ Tát đă
nói: “Chẳng trụ trong hết thảy các pháp để
phát Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác v́ đối trị
các nỗi khổ như chẳng thể
nhẫn sự
lưu chuyển [trong sanh tử],
khổ v́ chúng sanh trái nghịch, khổ v́ tiêu dùng thiếu
thốn v.v…” Ở đây cũng thế;
do vậy, trong phần sau, kinh văn có nói: “Nhược
chư Bồ Tát năng an trụ giả, ư Vô Thượng
Bồ Đề, bất phục thoái chuyển, thành tựu
chánh nguyện, đắc vô sở y tự tánh biện tài,
hoạch hy hữu sự, an trụ thánh đạo” (Nếu
các Bồ Tát có thể an trụ trong Vô Thượng Bồ
Đề chẳng c̣n thoái chuyển, thành tựu chánh nguyện,
đạt được tự tánh biện tài chẳng
nương tựa vào đâu, đạt được
chuyện hiếm có, an trụ trong thánh đạo). V́ thế,
nói chú này để thủ hộ, khiến cho [hành nhân] ĺa
nhiễm, tu hành chẳng thoái chuyển. Do vậy, mà có phẩm
này sanh khởi.
5.13.2. Giải thích tên
gọi của phẩm này
Giải
thích danh xưng của phẩm này, tiếng Phạn là Tỷ
Đống Lê Sa, phương này dịch là Vô Nhiễm
Trước, bản dịch theo lối cũ dịch thành
Ngân Chủ không đúng. Pháp được hoằng truyền
lưu xuất từ pháp giới b́nh đẳng thanh tịnh
nhất. Lại do chú lực mà
có thể khiến cho ĺa nhiễm, chẳng trụ
chấp. V́ thế nói là Vô Nhiễm Trước. Ư nghĩa của
Đà La Ni th́ như thông thường
biện định.
5.13.3. Giải thích vấn
nạn
* Hỏi:
Tổng Tŕ có bốn môn, Vô Nhiễm Trước ở
đây thuộc loại Đà-la-ni nào?
Đáp:
Chú này có thể khiến cho Bồ Tát đắc Vô Sanh Nhẫn
Đà-la-ni. V́ thế, luận Du Già Sư Địa, quyển
bốn mươi lăm viết: “V́ sao Bồ Tát có thể
đắc Bồ Tát Nhẫn Đà-la-ni? Chính là các Bồ Tát
thành tựu nhẫn hạnh kiên cố nơi tự thể,
trọn đủ diệu trí. Cho đến nói “chẳng do
nghe từ người khác, mà tự thông đạt chân chánh hết
thảy các pháp nghĩa, tức là đối với
nghĩa này, thông đạt như thế này: Nghĩa tự
tánh của hết thảy các pháp
được diễn tả bằng ngôn thuyết đều
chẳng thành thật, chỉ có tự tánh ĺa ngôn thuyết
của các pháp” v.v… Kinh này
đă nói Đà La Ni chẳng phải là nơi chốn, cho
đến nói “chẳng có pháp nào sanh, mà cũng chẳng
có pháp nào diệt” v.v… V́ vậy,
biết là như thế.
Hoặc
[có thể hiểu] là Thần Chú
Tổng Tŕ. Kinh Bồ Tát Địa nói: “Vân hà Bồ Tát
Chú Đà La Ni? Vị chư Bồ Tát hoạch đắc
như thị Đẳng Tŕ tự tại, gia bị
năng trừ hữu t́nh tai hoạn chư chú chương
cú, linh bỉ chương cú tất giai thần nghiệm,
năng trừ phi nhất chủng chủng tai hoạn”
(Thế nào là Chú Đà La Ni của Bồ Tát? Tức là các Bồ
Tát đạt được Đẳng Tŕ tự tại
như thế, các chương cú thần chú có thể gia bị
trừ các tai họa, hoạn nạn cho hữu t́nh, khiến
cho các chương cú ấy thảy đều có hiệu
nghiệm thần diệu, có thể trừ sạch các thứ
tai ương, hoạn nạn, không phải chỉ là một
thứ). Kinh này c̣n nói: “Thân diệc bất bị đao,
trượng, độc dược, thủy, hỏa, mănh
thú chi sở tổn hại” (Thân cũng chẳng bị tổn hại bởi
đao, gậy, thuốc độc, nước, lửa,
thú dữ). V́ thế, [Đà La Ni này] thuộc về thần
chú. Hoặc có thể hiểu là bao gồm cả hai ư ấy
(tức Vô Nhiễm Trước Đà La Ni vừa là môn
Đà La Ni có thể khiến cho Bồ Tát đắc Vô Sanh
Pháp Nhẫn (tức Pháp Đà La Ni, hay Đắc Nhẫn Tổng
Tŕ), vừa là Thần Chú Đà La Ni), do kinh văn không loại
trừ.
* Hỏi:
Theo luận Du Già Sư Địa nói: “Thể của bốn
thứ Tổng Tŕ đều chẳng phải là Niệm,
Huệ. Có thể nói Thần Chú Tổng Tŕ là Định,
c̣n Đắc Nhẫn Tổng Tŕ chính là Diệu Huệ”. V́
sao như thế?
Đáp:
Do thể tánh bất đồng. Có [môn Tổng Tŕ] do
nương vào nhân để biện định cái Thể
mà nói là Định. Có môn nương vào phương diện
có thể giản trạch (chọn lựa quyết định)
để biện định cái Thể mà nói là Trí. Có môn
nương vào sự ghi nhớ để biện định
cái Thể, bèn nói đó là Niệm. Có môn nương vào quả
để biện định cái Thể, tức là “gọi
pháp được duy tŕ là Tổng Tŕ”. Mỗi đằng
xét theo một nghĩa, thảy đều chẳng mâu thuẫn.
Do vậy, Trí Độ Luận giải thích Tổng Tŕ
như sau: “Do Thiền Định mà đạt được
lửa trí huệ”. Lại nói: “Trí huệ ở trong Bồ
Đề tâm th́ gọi là Bát Nhă, ở trong tâm của bậc
Tiểu Thừa th́ gọi là Đạo Phẩm, ở trong
tâm của người chẳng quên mất th́ gọi
là Đà La Ni”. V́ thế, luận Du Già Sư Địa
nói: “Chú Tổng Tŕ th́ nói
là Định. Đắc Nhẫn Tổng Tŕ nói là Huệ”.
Mỗi đằng dựa theo một
nghĩa mà nói. Trong phần Chú Tŕ [của luận ấy] lại
nói: “Do đạt được Đẳng Tŕ tự tại
như thế, khiến cho thần chú có hiệu nghiệm
thần diệu” v.v… Đó là dựa theo cái nhân để
nói, chẳng phải là xét khít
khao theo cái Thể. V́ thế, luận Đại
Trang Nghiêm nói: “Đắc th́ có ba loại: Một là báo
đắc. Hai là tập đắc, tức là do sức
Văn Tŕ trong hiện tại mà đạt được.
Ba là tu đắc, do nương vào định lực mà
đạt được”. Do vậy ta biết: Nói “đạt
được Đẳng Tŕ tự tại như thế,
gia bị thần chú thảy đều có hiệu nghiệm
thần diệu”, tức là nương theo Định
mà phát ra Niệm Huệ thù thắng, có thể tŕ các chú; đấy
chính là xét theo cái nhân để biện định cái Thể.
Trong
Đắc Nhẫn Tổng Tŕ th́ Nhẫn là quả, thần chú là
cái nhân của Nhẫn. Do sức niệm huệ duy tŕ mà
đắc Nhẫn Chú ấy, th́ gọi là Năng Đắc
Bồ Tát Vô Sanh Nhẫn Đà La Ni. Chú được tŕ (sở
tŕ chi chú) và cái Thể có thể tŕ (năng tŕ Thể) đều
dùng Niệm Huệ làm Thể. Hoặc
chỉ có Năng Tŕ dùng niệm huệ làm Thể, c̣n chú
được tŕ th́ không. Như dùng Tổng Tŕ để
tŕ văn nghĩa, th́ văn nghĩa được duy tŕ bởi
chú ấy chẳng phải là niệm huệ. Hoặc chú là
nhân, do sức của chú ấy mà có thể đạt
được bốn thứ Tổng Tŕ, duy tŕ bốn pháp
ấy khiến chẳng
bị quên mất.
Luận
Du Già Sư Địa lại nói: “Đắc Nhẫn Tổng
Tŕ là diệu huệ” th́ cũng là nói theo cái nhân. Nói “các
Bồ Tát thành tựu nhẫn hạnh kiên cố nơi tự
thể, trọn đủ diệu huệ, ở một
ḿnh nơi thanh vắng, chẳng nói năng”. Cho đến
nói: “Đối với các chương cú để đắc
Bồ Tát Nhẫn do đức Phật đă nói mà có thể
tư duy chân thật, đối với câu nghĩa như
thế đều có thể chẳng do nghe từ người khác mà tự
thông đạt, biết rơ
các chương cú như thế đều
chẳng có nghĩa” v.v… Nói “thành tựu
nhẫn hạnh kiên cố” th́ Hạnh là nhân, nhân chính là
diệu huệ. “Do đạt được diệu huệ,
ở riêng nơi thanh vắng, chẳng nói năng” v.v…
chính là chỗ để tu hành và quy cách tu hành. “Chương
cú có thể đắc Bồ Tát nhẫn” do đức
Phật đă nói v.v… chính là pháp phải học để
đắc cái nhân của Nhẫn. “Có thể tư duy”
là có thể tu hành, tức là nhân. Do vậy, Trang Nghiêm Luận
viết: “Do sức Văn Tŕ trong hiện tại mà đạt
được”. V́ thế, biết: Không chỉ Đà La
Ni được gọi là Tổng Tŕ Niệm Huệ, mà
cái nhân của Tổng Tŕ Niệm Huệ và pháp được
tŕ cũng đều gọi là Tổng Tŕ. V́ thế, Định
và Chú đều được gọi là Tổng Tŕ. Lại
nữa, pháp nghĩa được tŕ là Tổng, thần
chú và Nhẫn là Biệt, do thần chú và Đắc Nhẫn
Chú cũng đều có pháp nghĩa.
* Hỏi:
Nếu nói Định Huệ là cái nhân của Tổng Tŕ,
v́ sao kinh Bồ Tát Địa nói: “Nhược chư Bồ
Tát cụ tứ công đức, phương hoạch Tổng
Tŕ, phi tùy khuyết nhất” (Nếu các Bồ Tát trọn
đủ bốn công đức th́ mới đạt
được Tổng Tŕ, chẳng thể thiếu một
công đức nào)?
Đáp:
Nhân có xa và gần. Định Huệ là cận nhân. Bốn
cái nhân ấy, một là chẳng tham dục, hai là chẳng
đố kỵ trước sự vượt trội của
người khác, ba là b́nh đẳng thí không hối hận,
bốn là sanh ḷng vui thích sâu xa đối với chánh pháp.
Đấy chính là bốn viễn nhân.
* Hỏi:
Bốn môn Tổng Tŕ ấy sẽ đắc trong địa
vị nào?
Đáp:
Theo như luận Du Già Sư Địa nói: “Do đắc
môn Nhẫn này, các vị Bồ Tát ấy chẳng lâu sau, sẽ
đắc Tịnh Thắng Ư Lạc Địa Bồ Tát
Pháp Đà La Ni và Nghĩa Đà La Ni. Qua khỏi vô số
đại kiếp thứ nhất, nhập Tịnh Thắng
Ư Lạc Địa, quyết định sẽ đạt
được. Kế đó là tuy đắc mà chẳng quyết
định, như Thuyết Pháp Nghĩa. Đối với
Chú Đà La Ni, cũng nên biết như thế”. Xét theo
đó, Đắc Nhẫn Tổng Tŕ đạt được
khi thuộc địa vị Địa Tiền, các môn khác
th́ khi đă nhập Địa (chứng từ Sơ Địa
trở lên) sẽ đắc. Thật ra, nếu xét theo
phương diện thù thắng hay kém cỏi, viên măn hay thiếu
khuyết, th́ địa vị để đạt
được Tổng Tŕ chẳng nhất định!
Như các kinh Giải Thâm Mật v.v… nói Đệ Tam Địa
đắc Văn Tŕ Đà La Ni, cũng nói Đệ Cửu
Địa đắc bốn món Đà La Ni. Nếu xét theo
phương diện “mới chứng lư”, th́ đắc
Đà La Ni đều thuộc vào Sơ Địa. Xét theo phương diện
“do tu tập mà đắc” th́ cũng bao gồm Địa
Tiền
(trước khi nhập Sơ Địa).
Xét theo phương diện “tùy ư đạt được”
th́ đều là từ Bát Địa trở lên. Nay luận
Du Già Sư Địa nói “đắc Nhẫn nơi Địa
Tiền”, c̣n những thứ khác th́ sau khi đă nhập
Địa, [có thể dung hội các ư ấy để] soi
rọi lẫn nhau vậy!
5.13.4. Giải thích kinh
văn
5.13.4.1. Phật nêu ra
danh hiệu là Tông
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Cụ Thọ
Xá Lợi Tử: “Kim hữu pháp môn, danh Vô Nhiễm Trước
Đà La Ni, thị chư Bồ Tát sở tu hành pháp, quá khứ
Bồ Tát chi sở thọ tŕ, thị Bồ Tát mẫu”.
Thuyết thị ngữ dĩ.
(經)爾時世尊告具壽舍利子:今有法門名無染著陀羅尼,是諸菩薩所修行法,過去菩薩之所受持,是菩薩母。說是語已。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Cụ Thọ
Xá Lợi Tử: “Nay có pháp môn tên là Vô Nhiễm Trước
Đà La Ni, là pháp để các Bồ Tát tu hành, được
quá khứ Bồ Tát thọ tŕ, là mẹ của Bồ Tát”.
Nói lời ấy xong).
Tán
rằng: Kinh văn chia đại lược thành sáu phần:
- Một,
đức Phật nêu ra tên gọi [của Đà La Ni] và nêu
ư nghĩa chủ yếu.
-
Hai, hỏi đáp về tên gọi và cái Thể [của môn
Đà La Ni ấy].
-
Ba, [ngài Xá Lợi Phất] thỉnh đức Phật giảng
nói.
- Bốn,
tán thán, ngưỡng mộ, tuyên nói.
-
Năm, chỉ rơ sự thù thắng [của môn Đà La Ni
này] để khuyên tu.
-
Sáu, [đại chúng] nghe dạy, hoan hỷ tu học.
Đoạn
này chính là phần thứ nhất, có bảy điều:
- Một,
nói rơ vị giáo chủ [tuyên nói pháp môn này].
-
Hai, căn cơ thích hợp đối với pháp này (hàng Bồ
Tát).
-
Ba, nêu tên của bài chú (Vô Nhiễm Trước Đà La Ni)
- Bốn,
chỉ dạy hăy nên học.
-
Năm, khuyên thêm.
-
Sáu, do ư nghĩa nào mà phải học: [Đà La Ni này] chính là
mẹ của Bồ Tát, quá khứ Bồ Tát đều
đă học, Bồ Tát hiện thời phải nên tu hành.
- Bảy,
kết lại những điều đă nói trên đây.
Phân
đoạn kinh văn dễ thấy.
5.13.4.2. Vấn đáp về
tên gọi và cái Thể [của môn Đà La Ni này]
5.13.4.2.1. Xá Lợi Phất
thưa hỏi
(Kinh) Cụ Thọ Xá Lợi Tử bạch
Phật ngôn: “Thế Tôn! Đà La Ni giả thị hà cú
nghĩa? Thế Tôn! Đà La Ni giả, phi phương xứ,
phi phi phương xứ”. Tác thị ngữ dĩ.
(經)具壽舍利子白佛言:世尊!陀羅尼者是何句義?世尊!陀羅尼者,非方處非非方處。作是語已。
(Kinh: Cụ Thọ
Xá Lợi Tử bạch Phật rằng: “Bạch Thế
Tôn! Đà La Ni là câu nghĩa như thế nào?
Bạch Thế Tôn! Đà La Ni chẳng
phải là nơi chốn, không phải chẳng là nơi chốn”.
Nói lời ấy rồi).
Kế
đó, hỏi đáp về tên gọi và bản thể, [gồm
hai phần]: Trước là hỏi, sau là đáp. Trong phần
hỏi, có hai ư:
- Một,
hỏi về danh nghĩa. “Là cú nghĩa như thế
nào” tức là có ư hỏi: Do ư nghĩa nào mà gọi là Vô
Nhiễm Trước? Lại do nghĩa nào, danh xưng “cú”
(câu) trong pháp được diễn nói chẳng phải là “danh”
trong “danh cú”?
-
Hai, hỏi về Thể. Do Thể của các pháp là Chân
Như, chẳng phải có, chẳng phải không v.v… chẳng
thể diễn nói, sao lại có thể nói ra Đà La Ni này? “Phi
phương xứ” là ĺa Hữu, “phi phi
phương xứ” là ĺa Không.
Dựa
theo lời đáp của đức Phật sau đây, có tới
bảy câu; ở
đây, chỉ nêu đại lược câu đầu tiên
để hỏi, ḥng liên tưởng các câu c̣n lại. Hoặc
có thể hiểu ngài Xá Lợi Phất là
phần ngộ (giác ngộ một phần), đức Thế
Tôn cụ ngộ (ngộ trọn vẹn). V́ thế,
nói có nhiều hay ít [khác biệt]!
5.13.4.2.2. Đức Phật
giải đáp
5.13.4.2.2.1. Tán thán phẩm
đức của ngài Xá Lợi Phất
(Kinh)
Phật cáo Xá Lợi Tử: - Thiện tai! Thiện tai! Xá Lợi
Tử! Nhữ ư Đại Thừa, dĩ năng phát
thú, tín giải Đại Thừa, tôn trọng Đại
Thừa.
(經)佛告舍利子:善哉善哉!舍利子!汝於大乘已能發趣,信解大乘、尊重大乘。
(Kinh:
Đức Phật bảo Xá Lợi Tử: - Lành thay! Lành
thay! Xá Lợi Tử! Ông đối với Đại Thừa
đă có thể phát khởi tiến hướng, tin hiểu
Đại Thừa, tôn trọng Đại Thừa).
Kế
đó, giải đáp, có hai ư: Trước là tán thán, sau là giải
đáp. Đoạn này thuộc phần tán thán, có hai ư:
-
Nói “thiện tai” (lành thay) nhằm
tán thán lời hỏi.
- Từ
“nhữ ư Đại Thừa” (ông đối với
Đại Thừa) trở đi, tán thán đức, gồm
ba điều:
1)
Tán thán [ngài Xá Lợi Tử đă] bỏ Tiểu Thừa,
đă có thể phát tâm tiến hướng [Đại Thừa].
2)
Tán thán Ngài ngộ Đại Thừa, do đă tin hiểu
Đại Thừa. Do tin mà được hiểu, chẳng
phải do trí mà chứng nhập. V́ thế, kinh Pháp Hoa dạy:
“Nhữ Xá Lợi Phất thượng ư thử kinh
dĩ tín đắc nhập, huống dư Thanh Văn”
(Xá Lợi Phất! Ông c̣n do tín mà được nhập
kinh này, huống hồ các Thanh Văn khác). Tiến hướng
Đại Thừa sau khi đă trải qua hai vạn kiếp,
mới đạt tới địa vị Sơ Tâm trong Thập
Tín. V́ thế, kinh Niết Bàn nói: “A La Hán nhân nhị vạn
kiếp đáo” (bậc A La Hán phải qua hai vạn kiếp
mới đạt tới). Nói “đạt tới” tức
là đạt được cái tâm A Nậu (Vô Thượng),
cho nên chưa chứng ngộ. Nếu xét theo Thất Địa
vượt ngoài Chủng Tánh Địa, đạt
được nơi Thắng Giải Hạnh địa.
Nếu xét theo ngũ vị[13],
th́
chưa trụ trong Tư Lương Vị,
chỉ thuộc thiện pháp dục (ham muốn dựa theo pháp vô lậu,
thường hiểu là mong muốn tiến nhập địa
vị cao hơn trong khi tu hành),
Thập Tín mới đạt được Tư
Lương.
3)
Sau đó là tán thán [tín
tâm] kiên cố, v́ tôn trọng Đại Thừa.
5.13.4.2.2.2. Giải
đáp
5.13.4.2.2.2.1. Giải
đáp về Thể
5.13.4.2.2.2.1.1. Trần
thuật để kết thành
(Kinh) Như nhữ sở ngôn, Đà La Ni giả
phi phương xứ, phi phi phương xứ, phi pháp, phi
phi pháp, phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại, phi sự,
phi phi sự, phi duyên, phi phi duyên, phi hành, phi phi hành, vô hữu
pháp sanh, diệc vô pháp diệt.
(經)如汝所言,陀羅尼者非方處非非方處、非法非非法、非過去非未來非現在、非事非非事、非緣非非緣、非行非非行、無有法生亦無法滅。
(Kinh:
Đúng như ông nói, Đà La Ni chẳng phải là nơi chốn,
chẳng phải là không phải nơi chốn, chẳng phải
là pháp, chẳng phải là phi pháp, chẳng phải là quá khứ,
chẳng phải là vị lai, chẳng phải là hiện tại,
chẳng phải là sự, chẳng phải là không phải
sự, chẳng phải là duyên, chẳng phải không là
duyên, chẳng phải là hành, chẳng phải không phải
là hành, chẳng có pháp sanh, mà cũng chẳng có pháp diệt).
Kế
đó,
lời giải đáp [của đức Phật]
có hai phần:
- Một,
đáp về cái Thể.
-
Hai, từ “tức thị chư Phật” (chính là
chư Phật) trở đi, giải đáp về ư
nghĩa của danh xưng.
Trong
phần thứ nhất, lại có hai ư:
- Một,
trần thuật để kết thành.
-
Hai, từ “nhiên vi” (nhưng v́) trở đi, giải
đáp nguyên do.
Đoạn
này chính là phần trần thuật để kết thành. “Phi
phương xứ” v.v… như trong phần
trước đă giải thích. Điều thứ hai là “phi
pháp, phi phi pháp”, tức là ĺa nói năng và chẳng phải
nói năng. “Phi pháp”: Chẳng phải là điều
được diễn nói. “Phi phi pháp”: Chẳng phải là chẳng ĺa
pháp không
thể nói, tức là do trí chứng. Điều
thứ ba là “ĺa ba đời”. Do thường, nên chẳng
phải là ba đời. [Kinh văn] đáng lẽ phải
có các câu như “phi phi quá khứ, phi phi vị lai” v.v…
do chẳng ĺa pháp thế gian; chỉ là để [thính chúng] tự
liên tưởng nên nói lược đi. Câu kinh thứ bảy
cũng hiểu giống như vậy. Câu thứ tư nói
về cặp Sự Lư. [“Phi Sự”] là Lư, chẳng phải
Sự. Lại nói “phi phi Sự” v́ chẳng ĺa Sự
pháp. Câu thứ năm là cặp “hữu vi, vô vi”. Chẳng
phải là hữu vi duyên sanh, chẳng phải là không phải
hữu vi, do liễu nhân mà hiển hiện. Hoặc do chẳng
ĺa pháp duyên sanh. Câu thứ sáu là cặp “thường, vô
thường”. “Hành” là đổi dời.
Chân Như chẳng phải hành, chẳng phải không phải
là hành, giống như đă giải thích trong phần
trước. Câu thứ bảy là cặp “tướng,
phi tướng”. Do lư Chân Như ĺa mười tướng
như sanh, diệt v.v… Thể của các pháp được
sanh ra. Sau đó, chẳng có nữa th́ gọi là Diệt.
Như (Chân Như) đă chẳng sanh, cho nên chẳng có pháp
diệt. Nêu lên điều này để suy ra các điều
khác. Câu thứ bảy chính là “ĺa tướng sanh diệt”.
Ở đây, quy vào tánh Viên Thành Thật trong ba tánh để
hiểu, do đó là chỗ quy thú của hết thảy các
pháp. Nếu xét theo Biến Kế và Thắng Nghĩa, Thắng
Nghĩa sẽ “ngăn trở” (tức là phủ định)
cả bảy câu. Nếu xét theo Nhị Đế để
h́nh dung, sẽ bao gồm cả các ư “ngăn trở”
và “biểu thị”. Như câu đầu “phi
phương xứ”, xét theo Thắng Nghĩa th́ sẽ là phủ định
phương xứ, biểu thị “chẳng phải là
phương xứ, chẳng phải là không phải
phương xứ”. Nếu xét theo Tục Đế, dùng
cái Thể của Tổng Tŕ [để lănh hội] th́ pháp
được tŕ nương theo âm thanh, c̣n tự tánh của
Tổng Tŕ là Niệm
Huệ. Niệm Huệ chẳng phải
là nơi chốn, do nó nương vào nơi chốn. Các
điều khác cứ dựa theo đó mà biết. Nhưng
dựa theo ư kinh, xét theo Chân Thắng Nghĩa th́ “tâm dứt
bặt suy tưởng, chẳng thể nói năng”; nói
chung là “ngăn che” hay “biểu thị” đều chẳng
nương vào Y Tha và Biến Kế, hoặc [có thể hiểu
là] gồm chung cả ba tánh, đều chẳng mâu thuẫn
ǵ!
5.13.4.2.2.2.1.2. Giải
đáp nguyên do
(Kinh)
Nhiên vị lợi ích chư Bồ Tát cố, tác như thị
thuyết, ư thử Đà La Ni công dụng, chánh đạo
lư thú thế lực an lập.
(經)然為利益諸菩薩故作如是說,於此陀羅尼功用正道理趣勢力安立。
(Kinh:
Nhưng v́ lợi ích các Bồ Tát mà nói như thế đó.
Đối với công dụng của Đà La Ni này, an lập
nơi thế lực của lư thú chánh đạo).
Kế
đó, giải đáp về nguyên do. Nhưng xét theo Thắng
Nghĩa, “phi phương xứ, phi phi phương xứ”
v.v… dứt bặt ngôn từ, dứt tuyệt h́nh tướng,
nhưng nay v́ lợi ích các Bồ Tát, cho nên trong đạo
lư phương tiện, bèn dựa theo Tục Đế mà
nói như thế đó. Nương vào đâu để thuyết
pháp? Chính là nói nương vào Đà La Ni này, tức là nói
đến cái Thể của pháp được nói.
Nương vào bốn loại nghĩa mà xếp đặt,
lập bày, gọi đó là Thuyết. Kế đó nói tới
“an lập” th́ [an lập] là tên gọi khác của “thi
thiết” (xếp đặt, thiết lập). Do
nương theo bốn nghĩa ấy mà an lập. Nói “bốn
loại nghĩa” th́:
- Một
là công dụng, tức là nương theo Tổng Tŕ có công dụng
“có thể đắc quả” để nói.
- Hai
là chánh đạo, tức là do cái Thể của công dụng
ấy ĺa nhị biên, chứng chánh lư, nên gọi là “chánh
đạo”, tức Niệm, Huệ
v.v…
- Ba là lư thú, tức là Chân Như và pháp
nghĩa được tŕ v.v… là cảnh của niệm trí
v.v… được gọi chung là “lư thú”.
- Bốn
là thế lực. Do pháp nghĩa ấy mà có thể khiến
cho Niệm,
Huệ
v.v… diệt ác, sanh thiện, chứng lư, đắc quả,
cho nên gọi là “thế lực”, tức oai lực của
pháp. Muốn nêu rơ “năng thuyên” (chủ thể có thể
tuyên nói) khế hợp, thuận theo các pháp. Hoặc [có thể
hiểu là] nó có thế lực có thể nhiếp tŕ, sanh ra
điều thiện, diệt điều ác.
5.13.4.2.2.2.2. Giải
đáp về cú nghĩa
(Kinh)
“Tức thị chư Phật công đức, chư Phật
cấm giới, chư Phật sở học, chư Phật
bí ư, chư Phật sanh xứ. Cố danh vị Vô Nhiễm
Trước Đà La Ni tối diệu pháp môn”. Tác thị ngữ
dĩ.
(經)即是諸佛功德、諸佛禁戒、諸佛所學、諸佛祕意、諸佛生處,故名無染著陀羅尼最妙法門。作是語已。
(Kinh:
“Tức là công đức của chư Phật, là giới
cấm của chư Phật, là sở học của chư
Phật, là ư bí mật của chư Phật, là chỗ sanh
của chư Phật. V́ thế, gọi là pháp môn Vô Nhiễm
Trước Đà La Ni mầu nhiệm nhất”. Nói lời
ấy xong).
Kế
đó, trả lời câu hỏi về cú nghĩa. Trước
hết, trả lời về nghĩa; từ “cố danh
Vô Nhiễm Trước” (v́ thế gọi là Vô Nhiễm
Trước) trở đi, giải đáp về [tên gọi
của] chương cú. “Cú” chính là danh. Nơi Phật
th́ bốn nghĩa như “công dụng, chánh đạo” v.v…
trong phần trước đều gọi là “công đức”
v.v… Hoặc là công năng làm cái nhân; nương vào công
năng đó, đạt được các pháp như bất
cộng v.v… của Phật mà gọi là “công đức”.
Có thể khiến cho ĺa lỗi th́ gọi là “cấm giới”.
Làm thầy của Phật, nên gọi là “sở học”.
Diệu lư Pháp Thân sâu khó ḍ, nên gọi là “bí ư”. Thành tựu
Báo Phật và Hóa Phật, nên gọi là “sanh xứ”. Do
có thể diễn nói giáo, diễn nói ư nghĩa ấy, nên gọi
là “pháp môn Vô Nhiễm Trước” v.v… Hoặc do chính Niệm Huệ mà gọi là “pháp
môn”. Dùng pháp được tŕ làm môn, tức cửa ngơ của
pháp. Hoặc nương vào môn Tổng Tŕ ấy mà có thể
sanh ra các thứ như công đức v.v… “Diệu pháp”
tức là cửa ngơ của diệu pháp, hoặc diệu
pháp ấy bao gồm cả Năng và Sở, tức bao gồm
cả hai cách giải thích Y Chủ và Tŕ Nghiệp.
5.13.4.3. Thỉnh Phật
giảng nói
(Kinh) Xá Lợi Tử bạch Phật ngôn: -
Thế Tôn! Duy nguyện Thiện Thệ vị ngă thuyết
thử Đà La Ni pháp. Nhược chư Bồ Tát năng
an trụ giả, ư Vô Thượng Bồ Đề, bất
phục thoái chuyển, thành tựu chánh nguyện, đắc
vô sở y tự tánh biện tài, hoạch hy hữu sự,
an trụ thánh đạo, giai do đắc thử Đà La
Ni cố.
(經)舍利子白佛言:世尊!唯願善逝為我說此陀羅尼法。若諸菩薩能安住者,於無上菩提不復退轉成就正願,得無所依自性辯才,獲希有事安住聖道,皆由得此陀羅尼故。
(Kinh: Xá Lợi
Tử bạch đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Kính mong đấng Thiện Thệ v́ con mà nói pháp Đà
La Ni này. Nếu các Bồ Tát có thể an trụ nơi Vô
Thượng Bồ Đề, chẳng c̣n thoái chuyển,
thành tựu chánh nguyện, đạt được biện
tài nơi tự tánh chẳng nương tựa vào đâu,
đạt được chuyện hiếm có, an trụ
trong thánh đạo, đều do có được Đà
La Ni này).
Kế
đó, phần thứ ba là “thỉnh Phật giảng
nói”,
có hai phần:
- Một,
thỉnh nói.
-
Hai, từ “nhược chư Bồ Tát” (nếu các Bồ
Tát) trở đi là ư cầu thỉnh.
Ư cầu
thỉnh lại gồm hai phần:
- Một,
[nêu ra] người
có thể học.
-
Hai, từ “năng an trụ giả” (có thể an trụ)
trở đi, nói rơ lợi ích sẽ đạt được
do tu giáo pháp này. Có sáu điều:
1)
Đạt được bất thoái, thuận theo bốn
món bất thoái là Tín, Trụ v.v…
2)
Đạt được chánh nguyện, tức là mười
đại nguyện. Phát Bồ Đề Tâm Luận nói: “Một
là nguyện đem thiện căn do tôi đă gieo trong đời
trước và đời này, thí cho hết thảy, đều
cùng hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề,
khiến cho nguyện này của tôi tăng trưởng
trong mỗi niệm, đời đời chẳng quên,
được Đà La Ni thủ hộ. Hai là nguyện tôi
đă hồi hướng Đại Bồ Đề xong,
do thiện căn ấy, trong hết thảy các chỗ sanh
ra, thường được cúng dường hết thảy
chư Phật, luôn thường chẳng sanh vào quốc
độ không có Phật. Ba là nguyện tôi được
sanh vào các cơi Phật rồi, sẽ thường được
thân cận, theo hầu chung quanh, như bóng theo h́nh, chẳng
trong khoảng sát-na nào xa ĺa chư Phật. Bốn là nguyện
tôi đă được thân cận Phật rồi, Ngài sẽ
tùy theo lẽ đáng nên mà v́ tôi thuyết pháp, tôi liền
được thành tựu ngũ thông của Bồ Tát.
Năm là nguyện đă đắc thần thông rồi, liền
thấu đạt Thế Đế chỉ là giả danh
lưu truyền, liễu đạt Đệ Nhất
Nghĩa, đắc chánh pháp trí. Sáu là nguyện tôi đă
đắc chánh pháp trí, sẽ dùng tâm không nhàm chán v́ chúng sanh
thuyết pháp, chỉ dạy khiến họ lợi ích, hoan
hỷ, khiến cho họ đều khai giải. Bảy là
nguyện tôi đă khai giải các chúng sanh rồi, sẽ
dùng thần lực của Phật đến khắp
mười phương thế giới chẳng thừa
sót, cúng dường chư Phật, nghe nhận chánh pháp, rộng
nhiếp thọ chúng sanh. Tám là nguyện được nghe
chánh pháp của chư Phật rồi, liền có thể tùy
thuận chuyển pháp luân thanh tịnh, hết thảy chúng
sanh trong mười phương thế giới được
nghe pháp của tôi, nghe danh xưng của tôi, liền ĺa bỏ
hết thảy phiền năo, phát Bồ Đề tâm. Chín là
nguyện tôi có thể khiến cho hết thảy chúng sanh
phát Bồ Đề tâm rồi, sẽ thường theo sát
thủ hộ, trừ khử các điều vô lợi ích,
ban cho vô lượng lạc, xả thân mạng, tài vật,
nhiếp thọ chúng sanh, gánh vác chánh pháp. Mười là nguyện
tôi đă có thể gánh vác chánh pháp, tuy hành chánh pháp, mà tâm không
có ǵ để hành, giống như các Bồ Tát hành chánh pháp
mà không có ǵ để hành, cũng chẳng không hành. V́ hóa
độ chúng sanh mà chẳng xả chánh nguyện”. Mười
nguyện ấy đại để tương đồng
với các nguyện nơi địa vị Bồ Tát.
3)
Đắc vô sở y (không nương dựa vào đâu), tức
là Vô Trụ Niết Bàn.
4)
Tự tánh biện tài, tức tứ vô ngại biện tài.
Chẳng do thầy mà ngộ. Hoặc chẳng phải là có
nhân duyên, v́ lợi tha mà dấy lên bốn món biện tài ấy,
nên gọi là “tự tánh”.
5)
Đạt được chuyện hiếm có. Theo quyển
bốn mươi sáu của kinh Bồ Tát Địa đă
nói: “Bồ Tát tu tập vô thượng Bồ Đề,
hữu ngũ hy kỳ: Nhất, ư hữu t́nh phi hữu
nhân duyên nhi sanh thân ái. Nhị, duy vị nhiêu ích chư hữu
t́nh cố, thường xử sanh tử, nhẫn vô lượng
khổ. Tam, ư đa phiền năo nan phục hữu t́nh,
thiện năng giải liễu điều phục
phương tiện. Tứ, ư cực nan giải chân thật
nghĩa lư, năng tùy ngộ nhập. Ngũ, cụ bất
tư nghị đại oai thần lực” (Bồ Tát
tu tập Vô Thượng Bồ Đề, có năm chuyện
hiếm lạ: Một, đối với hữu t́nh chẳng
có nhân duyên mà sanh tâm thân ái. Hai, chỉ v́ lợi ích các hữu
t́nh mà thường ở trong sanh tử, nhẫn vô lượng
khổ. Ba, đối với hữu t́nh lắm phiền
năo, khó điều phục, khéo có thể hiểu rơ
phương tiện điều phục. Bốn, đối
với nghĩa lư chân thật tột bậc khó hiểu, có
thể tùy thuận ngộ nhập. Năm, trọn đủ
thần lực to lớn chẳng thể nghĩ bàn).
6)
An trụ thánh đạo, trụ Cực Hỷ Địa,
đắc trí Nhị Không, gọi là “an trụ thánh đạo”.
Hoặc
có thể hiểu là sáu điều:
1) Đắc
vô sở y tự tánh biện tài hợp thành một. Chẳng
do các duyên khác, bèn nói là “vô sở y”. Tánh có thể lợi
tha gọi là “tự tánh”. Hoặc là thoạt đầu
đắc bất thoái.
2) Hai là nơi
Sơ Địa đắc chánh nguyện.
3) Ba
là nơi Ngũ Địa đắc vô sai biệt đạo,
nói là “đắc vô sở y”.
4) Bốn
là nơi Đệ Cửu Địa, đắc tự
tánh biện tài.
5) Năm
là trong Đệ Thập
Địa, đạt được chuyện hiếm có.
Như kinh Thập Địa nói Đệ Thập Địa
có chuyện hy hữu: Khi tam-muội hiện tiền, sẽ
có bảo hoa vương to lớn, tṛn đầy như
mười A-tăng-kỳ, hết thảy các thứ báu
xen kẽ trang hoàng. Khi đó, thân Bồ Tát đặc biệt
mầu nhiệm, tương xứng với hoa ṭa v.v…
6) Sáu
là nơi Phật địa, an trụ trong thánh đạo.
“An trụ”: Do chẳng cầu tiến cao hơn, nên gọi
là “an trụ”. “Giai do đắc thử” (đều
do đạt được chú này) là câu kết lại.
5.13.4.4. [Đức Phật]
tán thán, tuyên nói
5.13.4.4.1. Tán thán và ấn
khả
(Kinh) Phật cáo Xá Lợi Tử: - Thiện
tai! Thiện tai! Như thị, như thị, như nhữ
sở thuyết.
(經)佛告舍利子:善哉善哉!如是如是,如汝所說。
(Kinh:
Đức Phật bảo Xá Lợi Tử: - Lành thay! Lành
thay! Đúng như thế, đúng như thế. Đúng
như ông đă nói!)
Kế
đó là phần thứ tư, tức “tán thán, ấn khả,
hứa sẽ tuyên nói”, có ba phần:
- Một,
tán
thán và ấn khả.
-
Hai, tán thán thêm.
-
Ba, tuyên thuyết.
Đoạn
này thuộc phần thứ nhất, dễ thấy!
5.13.4.4.2. Lại tán thán
thêm
(Kinh)
Nhược hữu Bồ Tát đắc thử Đà La Ni
giả, ưng tri thị nhân dữ Phật vô dị.
Nhược hữu cúng dường, tôn
trọng, thừa sự, cung cấp thử Bồ Tát giả,
ưng tri tức thị cúng dường ư Phật.
(經)若有菩薩得此陀羅尼者,應知是人與佛無異;若有供養尊重承事供給此菩薩者,應知即是供養於佛。
(Kinh:
Nếu có Bồ Tát đạt được Đà La Ni này,
hăy nên biết người ấy
và Phật chẳng khác. Nếu có ai cúng dường, tôn trọng,
thừa sự, cung cấp vị Bồ Tát ấy, hăy nên biết
chính là cúng dường Phật).
Kế
đó, lại tán thán thêm, gồm ba ư:
- Một,
[người hành Đà La Ni này] sẽ có thể chứng
đắc.
-
Hai, từ “nhược hữu cúng dường giả”
(nếu có người cúng dường) trở đi, tán
thán người có thể cúng dường.
-
Ba, do người ấy chứng đắc giống
như Phật đă đắc, cho nên [cúng dường vị
Bồ Tát ấy] ắt sẽ
đạt được [công đức giống như
cúng dường Phật], v́ lư b́nh đẳng.
Hăy
nên dùng đoạn kinh văn trong phần sau “dĩ thị
nhân duyên, hoạch vô thượng quả” (do nhân duyên này,
sẽ đạt được cái quả vô thượng)
để giải thích ư “dữ Phật vô dị” (chẳng
khác với Phật) và “tức thị cúng dường Phật”
(chính là cúng dường Phật).
(Kinh) Xá Lợi Tử! Nhược hữu
dư nhân văn thử Đà La Ni, thọ tŕ, độc tụng,
sanh tín giải giả, diệc ưng như thị cung kính
cúng dường, dữ Phật vô dị. Dĩ thị nhân
duyên, hoạch vô thượng quả.
(經)舍利子!若有餘人聞此陀羅尼,受持讀誦生信解者,亦應如是恭敬供養與佛無異。以是因緣,獲無上果。
(Kinh:
Xá Lợi Tử! Nếu có người khác nghe Đà La Ni
này, mà thọ tŕ, đọc tụng, sanh tín giải,
cũng nên cung kính, cúng dường [người ấy] chẳng
khác Phật như thế. Do nhân duyên đó, sẽ đạt
được cái quả vô thượng).
Tiếp
đó, tán thán người có thể học và cúng dường.
Dựa theo kinh văn dễ hiểu ư nghĩa.
5.13.4.4.3. Tuyên thuyết
thần chú
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn tức vị diễn thuyết
Đà La Ni viết: - Đát điệt tha, san đà lạt
nễ. Ốt
đa lạt nễ.
Tô tam bát ra để sắt sỉ đá. Tô na ma. Tô bát lạt
để sắt sỉ đá. Tỵ thệ dă bạt la.
Tát để dă, bát lạt để thận nhă. Tô a rô ha,
thận nhă na mạt để. Ốt ba đạn nễ. A
phạt na mạt nễ. A tỳ sư đạn nễ. A
bệ tỳ da ha la. Thâu bà phạt để. Tô ni thất
rị đa. Bạc hổ quận xă, a tỳ bà đà, sa
ha.
(經)爾時世尊即為演說陀羅尼曰:怛姪他。珊陀喇儞。嗢多喇儞。蘇三鉢囉底瑟恥哆。蘇那麼。蘇鉢喇底瑟恥哆。鼻逝也跋羅。薩底也鉢喇底慎若。蘇阿嚧訶。慎若那末底。嗢波彈儞。阿伐那末儞。阿毘師彈儞。阿鞞毘耶訶羅。輸婆伐底。蘇尼室唎多。薄虎郡社。阿毘婆馱。莎訶。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền diễn nói
Đà La Ni rằng: - Đát điệt tha, san đà lạt
nễ. Ốt đa lạt nễ. Tô tam bát ra để sắt
sỉ đá. Tô na ma. Tô bát lạt để sắt sỉ
đá. Tỵ thệ dă bạt la. Tát để dă, bát lạt
để thận nhă. Tô a rô ha, thận nhă na mạt để.
Ốt ba đạn nễ. A phạt na mạt nễ. A tỳ
sư đạn nễ. A bệ tỳ da ha la. Thâu bà phạt
để. Tô ni thất rị đa. Bạc hổ quận
xă, a tỳ bà đà, sa ha).
Kế
đó, tuyên thuyết.
5.13.4.5. Chỉ rơ sự
thù thắng, khuyên tu
5.13.4.5.1. Tán thán công
năng của pháp này
(Kinh) Phật cáo Xá Lợi Tử: - Thử Vô
Nhiễm Trước Đà La Ni cú, nhược hữu Bồ
Tát năng thiện an trụ, năng chánh thọ tŕ giả,
đương tri thị nhân nhược ư nhất kiếp,
nhược bách kiếp, nhược thiên kiếp, nhược
bách thiên kiếp, sở phát chánh nguyện vô hữu cùng tận,
thân diệc bất bị đao, trượng, độc
dược, thủy, hỏa, mănh thú chi sở tổn hại.
Hà dĩ cố? Xá Lợi Tử! Thử Vô Nhiễm Trước
Đà La Ni, thị quá khứ chư Phật mẫu, vị
lai chư Phật mẫu, hiện tại chư Phật mẫu.
(經)佛告舍利子:此無染著陀羅尼句、若有菩薩能善安住能正受持者,當知是人若於一劫、若百劫、若千劫、若百千劫,所發正願無有窮盡,身亦不被刀杖毒藥水火猛獸之所損害。何以故?舍利子!此無染著陀羅尼,是過去諸佛母、未來諸佛母、現在諸佛母。
(Kinh:
Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Tử: - Câu Vô Nhiễm
Trước Đà La Ni này, nếu có Bồ Tát có thể khéo
an trụ, có thể chánh thọ, hăy nên biết người
ấy hoặc trong một kiếp, hoặc trăm kiếp,
hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, phát ra chánh
nguyện chẳng có cùng tận, thân cũng chẳng bị tổn hại bởi
đao, gậy, thuốc độc, nước, lửa,
mănh thú. V́ sao vậy? Này Xá Lợi Tử! Vô Nhiễm Trước
Đà La Ni này là mẹ của quá khứ chư Phật, mẹ
của vị lai chư Phật, mẹ của hiện tại
chư Phật).
Kế
đó, phần thứ năm là “nêu rơ sự thù thắng
để khuyên tu”, có hai phần:
- Một,
tán thán công năng của pháp.
-
Hai, so lường thù thắng và kém cỏi.
Trong
phần thứ nhất, có bảy ư:
- Một,
nói với căn cơ thích hợp pháp môn này.
-
Hai, từ “thử Vô Nhiễm Trước” (chú Vô Nhiễm Trước
này) trở đi, nêu ra pháp được
tán thán.
-
Ba, từ “nhược Bồ Tát” (nếu Bồ Tát) trở
đi, nêu ra người có thể học.
- Bốn,
“năng thiện an trụ” (có thể khéo an trụ),
nói về người nương theo tu học. “Có thể
khéo an trụ” là lấy chú này làm chỗ nương tựa,
có thể chánh thọ tŕ, nương vào đó mà khởi
pháp hạnh. Chánh Thọ là Văn Huệ, Chánh Tŕ là Tư Huệ
và Tu Huệ.
-
Năm, “đương tri thị nhân” (hăy nên biết
người ấy) trở đi, nói về lợi ích đạt
được, gồm hai điều:
1)
Xét theo bề trong (nội tâm) th́ có thể khiến cho phát
nguyện chẳng có cùng tận, đạt được
Bất Thoái.
2)
Thân cũng chẳng bị [các tai họa bất ngờ]. Lại
c̣n ngăn ngừa những thứ sai quấy, ác sự xâm
hại.
-
Sáu, từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở
đi, gạn hỏi cái nhân.
- Bảy,
từ “Xá Lợi Tử” trở đi, giải thích
nguyên do.
5.13.4.5.2. So sánh hơn
kém
(Kinh)
Xá Lợi Tử! Nhược phục hữu
nhân dĩ thập A-tăng-xí-da
tam thiên đại thiên thế giới măn trung thất bảo
phụng thí chư Phật, cập dĩ thượng diệu y
phục, ẩm thực, chủng chủng cúng dường
kinh vô số kiếp. Nhược phục hữu nhân ư
thử Đà La Ni, năi chí nhất cú năng thọ tŕ giả,
sở sanh chi phước bội đa ư bỉ! Hà
dĩ cố? Xá Lợi Tử! Thử Vô Nhiễm Trước
Đà La Ni thậm thâm pháp môn thị chư Phật mẫu
cố.
(經)舍利子!若復有人以十阿僧企耶三千大千世界滿中七寶奉施諸佛,及以上妙衣服飲食種種供養經無數劫,若復有人於此陀羅尼乃至一句能受持者,所生之福倍多於彼。何以故?舍利子!此無染著陀羅尼甚深法門是諸佛母故。
(Kinh: Này Xá Lợi
Tử! Nếu lại có người dùng bảy báu đầy
ắp trong mười
A-tăng-xí-da (A-tăng-kỳ) tam thiên đại thiên thế
giới để dâng cúng chư Phật, và dùng y phục
thượng diệu, thức ăn, các thứ cúng dường
trải qua vô số kiếp. Nếu lại có người
đối với Đà La Ni này, dẫu
chỉ có thể thọ tŕ một câu, sẽ
sanh ra phước nhiều gấp bội phước
trước! V́ sao vậy? Này Xá Lợi Tử! Pháp môn Vô Nhiễm
Trước Đà La Ni rất sâu này là mẹ của chư
Phật).
Kế
đó, so sánh hơn kém. Phần này chia thành bốn đoạn:
- Một,
nêu ra phước bố thí.
-
Hai, so lường.
-
Ba, từ ngữ nhằm gạn hỏi sự thù thắng
(tức “hà dĩ cố”).
- Bốn,
giải đáp nguyên do.
Ư
nghĩa chuẩn theo kinh văn dễ hiểu.
5.13.4.6. Nghe lời dạy,
hoan hỷ học tập
(Kinh)
Thời Cụ Thọ Xá Lợi Tử cập chư đại
chúng, văn thị pháp dĩ, giai đại hoan hỷ, hàm
nguyện thọ tŕ.
(經)時具壽舍利子及諸大眾聞是法已,皆大歡喜咸願受持。
(Kinh: Khi đó,
Cụ Thọ Xá Lợi Tử và các đại chúng nghe pháp
này xong, đều hết sức hoan hỷ, đều nguyện
thọ tŕ).
Kế
đó, phần thứ sáu là nghe lời dạy, hoan hỷ tu
học.
Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh Sớ phần 11 hết
[1] Đây là một bộ kinh trong Mật
Giáo, nói về Khổng Tước Minh Vương (Mahāmāyūrī). Vị
này c̣n được gọi là Phật Mẫu Đại
Khổng Tước Minh Vương, hoặc Khổng Tước
Đa La Bồ Tát, hay Khổng Tước Độ Mẫu.
Vị này được coi là hóa thân của Thích Ca Như
Lai theo truyền thống Đông Mật. Theo kinh ấy, vào thời
đức Phật tại thế, có một vị tỳ-kheo
tên là Sa Để, xuất
gia chưa lâu, đi đẵn củi để lo đun nước
tắm cho đại chúng, bị một con rắn đen to lớn
cắn, khí độc xâm nhập, mê man ngă lăn ra đất,
sùi bọt mép.
Ngài A Nan trông thấy, bạch với Phật xin cứu chữa.
Đức Phật bèn dạy chú Đại Khổng Tước
bảo A Nan đối trước Sa Để tŕ chú này. Độc
khí tiêu tan, Sa Để b́nh phục. Do vậy, đức Phật
bèn nói rộng pháp tắc hành tŕ thần chú này. Bản kinh này
được dịch sang tiếng Hán nhiều lượt:
1) Bản
dịch đời Đông Tấn của ngài Bạch Thi Lê
Mật Đa, một quyển, có tựa đề là Đại
Khổng Tước Vương Thần Chú.
2) Bản
dịch đời Diêu Tần của ngài Cưu Ma La Thập,
tựa đề là Khổng Tước Vương Chú
Kinh.
3) Bản
dịch đời Lương của ngài Tăng Già Bà La với
tựa đề Khổng Tước Vương Chú Kinh.
4) Bản
dịch đời Đường của ngài Nghĩa Tịnh,
có tựa đề là Đại Khổng Tước Chú Vương
Kinh.
5) Bản
dịch đời Đường của ngài Bất Không
Tam Tạng, với tựa đề Phật Mẫu Đại
Khổng Tước Minh Vương Kinh.
Ngài Bất
Không c̣n dịch thêm bản Đại Khổng Tước
Minh Vương Họa Tượng Đàn Tràng Nghi Quỹ. Theo
truyền thống Mật Tông Nhật Bản, ba kinh Nhân Vương
Bát Nhă, Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh
và kinh Khổng Tước này được coi là ba kinh hộ
quốc căn bản.
[2] Thuyết Văn Giải Tự
(thường gọi tắt là Thuyết Văn) do học
giả Hứa Thận biên soạn vào thời Đông Hán, là
một bộ từ điển sớm nhất tại
Trung Hoa. Sách giải thích ư nghĩa các chữ Hán, được
chia thành 540 bộ thủ, gồm 9.353 chữ, đồng
thời thu thập thêm 1.163 chữ thuộc cách viết khác
nhau của các chữ trên đây. Hứa
Thận tốn hơn hai mươi năm mới biên soạn
hoàn tất tác phẩm này.
[3] Quảng Nhă là một bộ bách khoa
từ điển do Trương Ấp biên soạn dưới
đời Tào Ngụy. Sách chia thành mười chín loại,
mô phỏng theo cách giảng giải và phân loại của bộ
Nhĩ Nhă trước đó. Sách này gần như là mở
rộng của bộ Nhĩ Nhă, nhưng nội dung và nguồn
tài liệu đều phong phú hơn. Sách này về sau do tỵ
húy của Tùy Dượng Đế (Dương Quảng) nên gọi
là Bác Nhă (博雅). Nhĩ Nhă là bộ tự điển
sớm nhất của Trung Quốc nhằm giải thích các
từ đơn, khác với Thuyết Văn Giải Tự
là từ điển (vừa giải thích từ đơn
vừa từ kép). Tương truyền sách này do Châu Công và
Khổng Tử biên soạn.
[4] Đây là tác phẩm Duy Thức Nhị Thập Luận (Vimśati-vijñaptimātratāsid'dhi) do
Thế Thân Bồ Tát trước tác, được ngài Huyền
Trang dịch sang tiếng Hán vào đời Đường.
Trước đó, tác phẩm này đă được ngài Đàm
Ma Bát Nhă Lưu Chi dịch sang tiếng Hán với tựa đề
Duy Thức Luận trong thời Hậu Ngụy, và ngài Chân Đế
dịch sang tiếng Hán vào đời Trần với tựa
đề Đại Thừa Duy Thức Luận.
[5] Đại tướng Chánh Liễu
Tri c̣n có tên là Tán Chỉ đại tướng (Pancika), Tán
Chỉ Tu Ma, Bán Chi Ca, Tăng Thận Nhĩ Da Dược
Xoa đại tướng, là một trong tám vị đại
tướng Dược Xoa thuộc hạ của Đa Văn
thiên vương, đứng đầu hai mươi tám bộ
chúng Dược Xoa, thường tuần hành thế gian,
thưởng thiện, phạt ác. Theo Đà La Ni Tập
Kinh, Tán Chỉ đại tướng là con thứ hai của
Quỷ Tử Mẫu, con trai thứ ba là Bảo Hiền (Ma
Ni Bạt Đà), cả hai đều phát nguyện trừ suy năo, thủ hộ người
thuyết pháp, tiêu diệt các điều ác xảy đến
cho pháp sư. Theo Quán Phật Tam Muội Hải, vị này
thị hiện thân ác quỷ, trên ngực có ba khuôn mặt,
nơi rốn có hai khuôn mặt, hai đùi có hai khuôn mặt.
Khuôn mặt hung dữ, nhe nanh, mắt tóe lửa.
[6] Bảo Hiền
đại tướng (Maṇibhadra) là một trong tám vị đại
tướng Dược Xoa, trực thuộc quyền thống
lănh của Đa Văn thiên vương. Tám vị đại
tướng Dược Xoa là Bảo Hiền, Măn Hiền (Pūrṇabhadra), Tán Chỉ,
Chúng Đức (Śatagiri),
Ứng Niệm (Himavanta),
Đại Măn (Viśākha),
Vô Tỷ Lực (Āṭavaka),
và Mật Nghiêm (Pañcala).
[7] An Tức là nhựa thơm của
một số loài cây, ba thứ phổ
biến nhất là An Tức Hương Bắc Bộ
(cánh kiến trắng, Styrax Tonkinensis), B́nh Hành Mạch An Tức Hương
(Styrax Paralleloneurus), và Niêm Chỉ An Tức Hương (Styrax
Benzoin). Loại hương này được sử dụng
phổ biến tại Trung Đông và các nhà thờ
Chính
Thống Giáo, nhất là loại hương được
gọi là Bakhoor ở Ả Rập.
[8] Tô hợp
là một loại hương chế bằng nhựa cây Tô
Hợp (tên khoa học là Liquidambar
orientalis, thường gọi là Oriental sweetgum hoặc Turkish
sweetgum. Cây Sầu Đông cũng thuộc họ này). Loại
cây này mọc nhiều ở Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ,
Hy Lạp. Đây là một giống cây khá cao, có thể cao đến
35m. Nhựa cây và chất dầu của cây có thể dùng để
đốt như hương, hoặc chế nước hoa,
hay dùng làm thuốc.
[9] Huân Lục là
phiên âm của chữ Kundu trong tiếng Phạn, vốn vay
mượn từ chữ Kundur của Ả Rập, và c̣n được
ghi thành Kundura, Kuduruka. Đây là một loài thực vật, có
tên khoa học là Pistacia Lentiscus, tên thường gọi trong
tiếng Anh là Mastic. Cây thường cao đến 4m đến
7m, mọc nhiều ở vùng Địa Trung Hải, thân cây
có mùi thơm, lá thon, h́nh như lông chim, thường mọc
thành từng cặp đối xứng. Hoa đỏ, nhỏ
mọc thành chùm, chia thành hoa đực, hoa cái khác nhau. Phần
chủ yếu dùng làm hương liệu là nhựa cây thường
gọi là mastic gum, có màu trắng sáng, hơi ngà, sáng mờ. Đôi
khi, phần nhựa này c̣n được gọi là tears of
Chios do thoạt đầu người dân đảo Chios của
Hy Lạp đă bán nhựa cây cho các nước Ả Rập
và được chuyển vận sang Âu Châu.
[10] Cù Ma gọi đầy đủ là
Cù Ma Di (Gomatī), tức là phân ḅ.
Do ḅ được coi là con vật thiêng, người Ấn Độ tin tưởng phân ḅ và nước tiểu ḅ có tác dụng thanh tịnh
hóa. V́ thế, Mật giáo cũng thuận duyên, dùng phân ḅ để
bôi lên chỗ lập đàn tràng cho mịn. Thậm chí phân
ḅ khô c̣n dùng như một vật cúng để đốt
trong lễ Hỏa Cúng (Homa, hộ-ma).
[11] Bạch
điệp là loại vải trắng mịn.
[12] Màu vẽ phải ḥa với chất
keo để dính lên vải không bị bong tróc. Thông thường,
người ta thường dùng các chất keo làm từ da
hay xương trâu, ḅ v.v… Do vậy, kinh phải dạy rơ dùng chất keo
trích từ cây cối để giữ màu.
[13] Ngũ vị là năm giai vị
trong Đại Thừa do tông Duy Thức lập ra đối
với quá tŕnh tu đạo.
- Tư Lương Vị: Địa
vị thâu gom tất cả các thiện pháp hữu lậu
để chuẩn bị đạt tới địa vị
Phật quả, tức bao gồm Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng trong Viên Giáo. Theo
đó, Thập Trụ chú trọng tu Lư Quán, Thập Hạnh
chú trọng tu Sự Quán, Thập Hồi Hướng tu Lư Sự
Bất Nhị Quán.
- Gia Hạnh Vị: Bồ Tát thuộc
địa vị Tứ Gia Hạnh (Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Pháp) do đă
đạt được phước trí tư
lương, dùng gia hạnh dụng công để tiến
nhập Kiến Đạo (Hoan Hỷ Địa).
- Thông Đạt Vị: C̣n gọi
là địa vị Kiến Đạo, tức là bậc
Sơ Địa Bồ Tát đă thấu hiểu Chân
Như, trí chiếu Lư, thấy Trung Đạo, chứng
đắc Sơ Vô Lậu Trí.
- Tu Tập Vị: C̣n gọi là địa
vị Tu Đạo, tức là từ Nhị Địa cho
đến Thất Địa, đă kiến đạo,
đoạn trừ chướng, lại c̣n tu tập
Căn Bản Trí.
- Cứu Cánh Vị tức là địa
vị Diệu Giác Phật.
Đó là nói theo Đại Thừa,
chứ ngũ vị trong Tiểu Thừa th́ Kiến Đạo
là Sơ Quả, Tu Đạo là Tam Quả v.v…