Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ năm

Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh

Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ

金光明最勝王經疏

卷第

唐三藏法師義淨奉制譯

翻經沙門慧沼撰

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

Phần 11

 

 

5.11. Phẩm thứ mười một: Tứ Thiên Vương quán sát trời người (Tứ Thiên Vương quán sát nhân thiên phẩm đệ thập nhất, 四天王觀察人天品第十一)

 

          Phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên gồm ba môn phân biệt:

          - Một, ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

          - Hai, giải thích tên gọi của phẩm.

          - Ba, giải thích vấn nạn.

 

5.11.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Nói đến ư nghĩa v́ sao có phẩm này, chín phẩm trước nói về phần Chánh Tông của kinh, lợi ích đại chúng trong hội thuở ấy. Hai mươi mốt phẩm sau đó hoàn toàn là lưu thông, nhằm tạo lợi ích cho chúng sanh trong đời mạt về sau. Trong phần Chánh Tông, có ba phần là Quả, Hạnh và Cảnh. Nay trong phần Lưu Thông, cũng có ba loại:

          - Một, mười sáu phẩm đầu tiên thuộc phần Học Hạnh Lưu Thông.

          - Hai, bốn phẩm như phẩm Tán Thán của mười vị nữ Bồ Tát là Tán Thán Lưu Thông.

          - Ba, một phẩm Phó Chúc thuộc phần Phó Thọ Lưu Thông (căn dặn truyền trao lưu thông).

          Phần Học Hạnh Lưu Thông chia làm năm phần nhỏ:

          - Một, phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát khuyên tu hành.

          - Hai, ba phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc, Vô Nhiễm Trước Đà La Ni, và Như Ư Bảo Châu nói về thủ hộ.

          - Ba, năm phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ, Đại Cát Tường Thiên Nữ, Đại Cát Tường Thiên Nữ Tăng Trưởng Tài Vật, phẩm Kiên Lao Địa Thần, và phẩm Chánh Liễu Tri (tức phẩm Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa Đại Tướng) là tăng trưởng phước trí.

          - Bốn, các phẩm Vương Pháp Chánh Luận, Thiện Sanh Vương, và Chư Thiên Dược Xoa Hộ Tŕ nói về sự thọ tŕ, học tập.

          - Năm, bốn phẩm từ Thọ Kư v.v… trở đi, kết lại ư khuyên bảo trên đây.

          Chư Phật thuyết pháp khiến cho chúng sanh được vui sướng. Tam Thân và Thọ Lượng là lạc quả (cái quả vui sướng), [Mộng Kiến] Sám Hối và Diệt Nghiệp Chướng là lạc nhân (cái nhân của sự vui sướng). [Đó là điều thứ nhất].

          Điều thứ hai, đối với pháp được hành, phần Học Hạnh mang ư nghĩa chỉ ra người có thể học [pháp ấy]. Đă là do pháp thù thắng mà thành tựu người thù thắng, lại do loài người có thể hoằng dương chánh pháp, v́ vậy, kế đó, sẽ tán thán người hành và pháp [được hành]. Diễn nói và tán thán đă xong xuôi, bèn truyền trao, căn dặn tu tập. Phần Chánh Tông nói về lạc quả và lạc nhân đă xong, nay trong phẩm này, [tứ thiên vương] quan sát trời, người, khiến cho họ trừ chướng năo, thường đạt được an lạc. Do vậy, khuyên [đại chúng trong pháp hội thuở ấy] hăy nên hoằng truyền kinh này. V́ thế, có phẩm này sanh khởi.

 

5.11.2. Giải thích tên gọi của phẩm

 

          Giải thích danh xưng th́ Quán là “huệ chiếu”, Sát là “soi xét”. Nhân Thiên là đối tượng được quan sát, Tứ Thiên Vương là người quán. Đây chính là dùng nhân và pháp ghép lại để đặt tên. Phẩm này nói cặn kẽ chuyện ấy, cho nên nói là phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên.

 

5.11.3. Giải trừ vấn nạn

 

          * Hỏi: Kinh dạy: “Quán sát, ủng hộ thử Thiệm Bộ châu, ngă đẳng chư vương danh HThế” (Quan sát, ủng hộ châu Thiệm Bộ này, các vua chúng con được gọi là Hộ Thế), người có thể thực hiện [pháp môn này] bao gồm cả ba châu và các cơi trời thuộc Dục Giới, Sắc Giới, cớ sao chỉ quan sát, khuyên nhủ châu này?       

          Đáp: Xét theo chỗ trụ của Phật mà nói quán nơi đây; thật ra bao gồm cả các chỗ khác. Hơn nữa, chúng sanh trong ba châu kia và các cơi trời thuộc Dục Giới và Sắc Giới đă hơi nhàm chán khổ sự, trí huệ chẳng mạnh mẽ. [C̣n chúng sanh trong] đường ác tuy khổ, nhưng không có huệ tâm thù thắng! Để có thể khởi đầu phát tâm, ắt cần phải nhàm chán sâu xa, trí huệ dũng mănh. V́ thế, riêng nói quán Thiệm Bộ Châu.

          * Hỏi: Cảnh được hộ tŕ của bốn vị thiên vương th́ [mỗi vị] đều có phương vực [riêng], v́ sao bốn thiên vương đều nói sẽ hộ tŕ châu này?

          Đáp: Xét theo cảnh thế tục, mỗi vị [thiên vương] hộ tŕ một châu, nhưng do kính pháp, tôn trọng người [hành tŕ kinh này], nên đều cùng hộ tŕ nơi đây. Hơn nữa, cảnh để trụ th́ tuy mỗi vị một phương, [nhưng do] thống nhiếp rồng, quỷ, đều cùng hộ tŕ cả bốn nơi. Do xét theo phương diện hộ tŕ pháp thù thắng, cho nên riêng nói quán châu này.

          * Hỏi: Phẩm này và phẩm sau đều nói về Tứ Thiên Vương, hai phẩm có ǵ khác biệt?

          Đáp: Trong phẩm này, tứ vương tán thán, khuyên hành kinh này, phát nguyện hộ tŕ. Trong phẩm sau, đức Thế Tôn ca ngợi, dạy họ phát nguyện rộng hộ tŕ. V́ thế, có hai phẩm tách biệt.

 

5.11.4. Giải thích kinh văn

5.11.4.1. Tán thán kinh này tôn quư, thù thắng

5.11.4.1.1. Tứ thiên vương cung kính

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng Mục thiên vương, câu tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng hướng Phật, lễ Phật túc dĩ.

          ()爾時多聞天王持國天王增長天王廣目天王俱從座起偏袒右肩右膝著地合掌向佛禮佛足已

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng Mục thiên vương đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối phải đặt sát đất, chắp tay hướng về đức Phật, lễ dưới chân đức Phật xong).

 

          Tán rằng: Kinh văn trong phẩm này chia đại lược thành bốn phần:

          - Một, tứ thiên vương tán thán kinh này tôn quư, thù thắng.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương” (Bạch Thế Tôn! Bốn thiên vương chúng con) trở đi, tứ thiên vương trần thuật sự tu hành của chính ḿnh.

          - Ba, từ “hựu phục ư thử” (lại c̣n đối với kinh này) trở đi, tứ thiên vương khuyên mọi người hoằng dương kinh.

          - Bốn, từ “đại chúng văn dĩ” (đại chúng nghe xong), đại chúng trong hội khi ấy vâng theo lời dạy mà tu học.

          Kinh văn trong phần thứ nhất gồm bốn ư:

          - Một, tứ thiên vương kiền thành cung kính.

          - Hai, tán thán pháp là tôn quư.

          - Ba, nêu bày năng lực của kinh.

          - Bốn, thỉnh đức Phật thường luôn nói kinh này.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất. Trước hết là liệt kê bốn vị, tức Tŕ Quốc (Dhṛtarāṣṭra, Đề Đầu Lại Tra), Tăng Trưởng (Virūḍhaka, Tỳ Lưu Lặc Xoa), Quảng Mục (Virūpākṣa, Tỳ Lâu Bác Xoa), Đa Văn (Vaiśravaṇa, Tỳ Sa Môn), theo thứ tự thống lănh các phương Đông, Nam, Tây, Bắc, đều ngự trên tầng thứ tư của núi Diệu Cao (Tu Di), có lúc cũng trụ tŕ hai đỉnh núi. Nay ở đây nêu tên Đa Văn trước, do vị này có ḷng tin sâu xa, rất nổi danh. Tŕ Quốc thiên vương thống lănh Kiện Đạt Phược (Càn Thát Bà, Gandharva, Hương Âm Thần) và Tất Xá Giá (Tỳ Xá Xà, Piśāca, Đạm Tinh Khí Quỷ). Tăng Trưởng thiên vương thống lănh Cưu Bạn Đồ (Cưu Bàn Trà, Kumbhāṇḍa, Ủng H́nh Quỷ) và Bệ Lệ Đa (Preta, ngạ quỷ). Quảng Mục thiên vương thống lănh hết thảy các rồng và Bố Đát Na (Bhūtana, Nhiệt Bệnh Quỷ). Đa Văn thiên vương thống lănh hết thảy Dược Xoa (Yakṣa, Dạ Xoa, Tiệp Tật Quỷ) và La Sát Sa (Rākṣasa, La Sát, Tốc Tật Quỷ). Vị cuối cùng kiền thành, cung kính.

 

5.11.4.1.2. Tán thán pháp tôn quư

 

          (Kinh) Bạch ngôn: - Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, nhất thiết chư Phật thường niệm quán sát, nhất thiết Bồ Tát chi sở cung kính, nhất thiết thiên long thường sở cúng dường, cập chư thiên chúng thường sanh hoan hỷ, nhất thiết hộ thế xưng dương, tán thán, Thanh Văn, Độc Giác, giai cộng thọ tŕ.

          ()白言世尊是金光明最勝王經一切諸佛常念觀察一切菩薩之所恭敬一切天龍常所供養及諸天眾常生歡喜一切護世稱揚讚歎聲聞獨覺皆共受持

    (Kinh: Bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này được hết thảy chư Phật thường nghĩ quán sát, được hết thảy Bồ Tát cung kính, hết thảy trời, rồng thường cúng dường, và các vị trời thường sanh ḷng hoan hỷ, hết thảy các vị hộ thế khen ngợi, tán thán, Thanh Văn và Độc Giác đều cùng thọ tŕ).

 

          Tán rằng: Tán thán pháp là tôn quư. “Nhất thiết Phật sở hộ niệm” (được hết thảy chư Phật hộ niệm) tức là hết thảy những người có căn cơ Đại Thừa thuần thục được chư Phật hộ niệm mà v́ họ giảng nói kinh này. Từ “nhất thiết Bồ Tát” (hết thảy các vị Bồ Tát) trở đi, chỉ rơ kinh này được các bậc thánh kính trọng.

 

5.11.4.1.3. Nêu bày năng lực của kinh

 

          (Kinh) Tất năng minh chiếu chư thiên cung điện, năng dữ nhất thiết chúng sanh thù thắng an lạc, chỉ tức địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, chư thú khổ năo, nhất thiết bố úy tất năng trừ điễn, sở hữu oán địch tầm tức thoái tán, cơ cẩn ác thời giai linh phong nhẫm, tật dịch bệnh khổ giai linh quyên dũ, nhất thiết tai biến, bách thiên khổ năo, hàm tất tiêu diệt.

          ()悉能明照諸天宮殿能與一切眾生殊勝安樂止息地獄餓鬼傍生諸趣苦惱一切怖畏悉能除殄所有怨敵尋即退散饑饉惡時皆令豐稔疾疫病苦皆令蠲愈一切災變百千苦惱咸悉消滅

          (Kinh: Đều có thể chiếu sáng cung điện của chư thiên, có thể ban cho hết thảy chúng sanh an lạc thù thắng, ngưng dứt sự khổ năo trong các đường địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, hết thảy sợ hăi đều có thể trừ sạch, tất cả các oán địch lập tức lui tan, lúc xấu ác, đói kém, đều khiến cho được mùa, bệnh khổ tật dịch đều khiến khỏi hẳn, hết thảy tai biến, trăm ngàn khổ năo thảy đều tiêu diệt).

 

          Tiếp đó, nêu bày năng lực của kinh. Trước hết là ban niềm vui cho trời, người. Từ “chỉ tức” (chấm dứt) trở đi chính là [ngưng dứt] sáu nỗi khổ:

          - Một, ngưng dứt nỗi khổ trong bốn đường ác.

          - Hai, ngưng dứt năm nỗi khổ v́ sợ hăi.

          - Ba, ngưng dứt nỗi khổ v́ chiến tranh.

          - Bốn, ngưng dứt nỗi khổ v́ đói kém.

          - Năm, ngưng dứt nỗi khổ v́ dịch bệnh.

          - Sáu, ngưng dứt nỗi khổ v́ tai biến.

 

5.11.4.1.4. Thỉnh đức Phật thường luôn nói kinh này

 

          (Kinh) Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh năng vi như thị an ổn lợi lạc, nhiêu ích ngă đẳng.

          ()世尊是金光明最勝王經能為如是安穩利樂饒益我等

    (Kinh: Bạch đức Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này có thể an ổn, lợi lạc, tạo lợi ích cho chúng con như thế).

 

          Kế đó, thỉnh đức Phật luôn tuyên nói [kinh này]. Trước hết, nhắc lại năng lực thù thắng [của kinh như đă nói] trên đây để làm nguyên do thỉnh cầu. “An ổn” là nói chung, “lợi lạc” là ban vui, “nhiêu ích” là dứt khổ.

 

          (Kinh) Duy nguyện Thế Tôn ư đại chúng trung, quảng vị tuyên thuyết. Ngă đẳng tứ vương, tịnh chư quyến thuộc văn thử cam lộ vô thượng pháp vị, khí lực sung thật, tăng ích oai quang, tinh tấn, dũng mănh, thần thông bội thắng.

          ()惟願世尊於大眾中廣為宣我等四王并諸眷屬聞此甘露無上法味氣力充實增益威光精進勇猛神通倍勝

          (Kinh: Kính mong đức Thế Tôn ở trong đại chúng, hăy rộng tuyên nói. Bốn vua chúng con và các quyến thuộc nghe pháp vị cam lộ vô thượng này, khí lực dồi dào, tăng thêm oai quang, tinh tấn, dũng mănh, thần thông thù thắng gấp bội).

 

          Kế đó, thỉnh cầu [đức Phật] luôn tuyên nói [kinh này]. Đầu tiên là thưa thỉnh, từ “ngă đẳng tứ vương” (bốn vua chúng con) trở đi, nêu ra lợi ích.

 

5.11.4.2. Tứ thiên vương trần thuật sự tu hành của chính ḿnh

         

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương tu hành chánh pháp, thường thuyết chánh pháp, dĩ pháp hóa thế. Ngă đẳng linh bỉ thiên, long, Dược Xoa, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Đồ, Câu Bàn Đồ, Khẩn Na La, Mạc Hô La Già, cập chư nhân vương, thường dĩ vương pháp nhi hóa ư thế, giá khử chư ác sở hữu quỷ thần, hấp nhân tinh khí, vô từ bi giả, tất linh viễn khứ. Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, dữ nhị thập bát bộ Dược Xoa đại tướng, tịnh dữ vô lượng bách thiên Dược Xoa, dĩ tịnh thiên nhăn quá ư thế nhân, quán sát, ủng hộ thử Thiệm Bộ châu. Thế Tôn! Dĩ thử nhân duyên, ngă đẳng chư vương danh Hộ Thế giả.

          ()世尊我等四王修行正法說正法以法化世我等令彼天藥叉健闥婆阿蘇羅揭路荼俱槃荼緊那羅莫呼羅伽及諸人王常以王法而化於世遮去諸惡所有鬼神吸人精氣無慈悲者悉令遠去世尊我等四王與二十八部藥叉大將并與無量百千藥叉以淨天眼過於世人觀察擁護此贍部洲世尊以此因緣我等諸王名護世者

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con tu hành chánh pháp, thường nói chánh pháp, dùng pháp giáo hóa thế gian. Chúng con khiến cho trời, rồng, Dược Xoa, Kiện Thát Bà (Càn Thát Bà), A Tô La (A Tu La), Yết Lộ Đồ (Ca Lâu La), Câu Bàn Đồ (Cưu Bàn Trà), Khẩn Na La, Mạc Hô La Già (Ma Hầu La Già), và các vua trong loài người thường dùng phép vua để giáo hóa cơi đời, ngăn che, trừ khử tất cả các quỷ thần ác, và đều khiến cho những kẻ hút tinh khí của loài người, chẳng có ḷng từ bi lánh xa. Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con và hai mươi tám bộ Dược Xoa đại tướng, cùng với vô lượng trăm ngàn Dược Xoa, dùng thiên nhăn thanh tịnh vượt xa người đời để quán sát, ủng hộ châu Thiệm Bộ (Diêm Phù) này. Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên này, các vua chúng con được gọi là Hộ Thế).

 

          Kế đó, trần thuật sự tu hành của chính ḿnh, có bốn ư:

          - Một, các thiên vương giáo hóa chân chánh, có thể tự hoằng dương kinh.

          - Hai, từ “ngă đẳng linh bỉ” (chúng con khiến cho họ) trở đi, [khiến cho] các quần thần, bầy tôi đồng tu chánh hạnh.

          - Ba, từ “giá khử” (ngăn che, trừ khử) trở đi, pháp vương có thể trừ ác.

          - Bốn, từ “Thế Tôn” trở đi, nêu lư do v́ sao các thiên vương có tên [là Hộ Thế (thủ hộ cơi đời)]. Ư nói: Do hoằng truyền chánh pháp để giáo hóa chúng sanh, danh và hạnh chẳng hư dối, cho nên gọi là Hộ Thế (hộ tŕ thế gian). “Hai mươi tám bộ” [Dược Xoa đại tướng] là như kinh Khổng Tước Vương[1] đă nói. Mỗi phương trong bốn phương có bốn vị, mỗi phương bàng có một vị, hai phương thượng và hạ, mỗi phương đều có bốn vị, hợp thành hai mươi tám bộ. “Dĩ tịnh thiên nhăn” (dùng thiên nhăn thanh tịnh) chẳng phải do tu mà có [thiên nhăn], mà là do báo đắc, có thể hơn hẳn người đời!

 

5.11.4.3. Tứ thiên vương khuyên người khác hoằng dương kinh

5.11.4.3.1. Trông thấy thế gian sanh ra tai nạn

 

          (Kinh) Hựu phục ư thử châu trung, nhược hữu quốc vương bị tha oán tặc thường lai xâm nhiễu, cập đa cơ cẩn, tật dịch lưu hành, vô lượng bách thiên tai ách chi sự.

          ()又復於此洲中若有國王被他怨賊常來侵擾及多饑饉疾疫流行無量百千災厄之事

    (Kinh: Lại c̣n ở trong châu này, nếu có quốc vương bị kẻ oán tặc thường đến xâm phạm, quấy nhiễu, và nhiều nạn đói, dịch bệnh lưu hành, vô lượng trăm ngàn chuyện tai ách).

 

          Tán rằng: Ư thứ ba là khuyên mọi người hoằng dương kinh. Có ba ư:

          - Một, thấy thế gian nẩy sanh tai nạn.

          - Hai, khuyên mọi người hoằng kinh để đối trị, trừ khử.

          - Ba, dạy các quốc vương hộ tŕ đất nước hăy kính trọng, tu hành.

          Đoạn đầu tiên này là ư “thấy các tai nạn nẩy sanh”.

 

5.11.4.3.2. Hoằng dương kinh để đối trị, trừ nạn

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương ư thử Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, cung kính, cúng dường. Nhược hữu bật-sô pháp sư thọ tŕ, độc tụng, ngă đẳng tứ vương cộng văng giác ngộ, khuyến thỉnh kỳ nhân. Thời bỉ pháp sư do ngă thần thông giác ngộ lực cố, văng bỉ quốc giới, quảng tuyên lưu bố thị Kim Quang Minh vi diệu kinh điển. Do kinh lực cố, linh bỉ vô lượng bách thiên suy năo tai ách chi sự tất giai trừ khiển.

          ()世尊我等四王於此金光明最勝王經恭敬供養若有苾芻法師受持讀誦我等四王共往覺悟勸請其人時彼法師由我神通覺悟力故往彼國界廣宣流布是金光明微妙經典由經力故令彼無量百千衰惱災厄之事悉皆除遣

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con cung kính, cúng dường kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này. Nếu có bật-sô pháp sư thọ tŕ, đọc tụng, bốn vua chúng con sẽ cùng đến giác ngộ, khuyến thỉnh người ấy. Khi đó, vị pháp sư ấy do sức thần thông giác ngộ của chúng con, sẽ đến quốc giới ấy rộng tuyên nói, lưu truyền kinh điển Kim Quang Minh vi diệu này. Do sức của kinh, sẽ khiến cho vô lượng trăm ngàn chuyện suy năo, tai ác ấy thảy đều trừ sạch).

 

          Kế đó, hoằng kinh để đối trị, trừ khử, có bốn ư:

          - Một, chỉ ra pháp có thể trừ khử.

          - Hai, từ “nhược hữu” (nếu có) trở đi, khuyên mọi người lưu truyền.

          - Ba, từ “thời bỉ pháp sư” (khi ấy, vị pháp sư đó) trở đi, hoằng truyền kinh này.

          - Bốn, từ “do kinh lực cố” (do sức của kinh) trở đi, trừ nạn, an lạc.

 

5.11.4.3.3. Dạy vua trong loài người thủ hộ đất nước, kính trọng, tu hành

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược chư nhân vương ư kỳ quốc nội, hữu tŕ thị kinh bật-sô pháp sư chí bỉ quốc thời, đương tri thử kinh diệc chí kỳ quốc.

          ()世尊若諸人王於其國內有持是經苾芻法師至彼國時當知此經亦至其國

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu các vua trong loài người khi trong nước ḿnh có vị bật-sô pháp sư tŕ kinh này tới nước ấy, hăy nên biết kinh này cũng tới nước đó).

 

          Kế đó, dạy các quốc vương để bảo vệ đất nước, hăy kính trọng, tu hành [kinh này]”. Có hai ư:

          - Một, người có đức tới đất nước.

          - Hai, dạy vua kính trọng.

          Người có thể hoằng đạo, người ấy đến đâu, pháp cũng theo đến đó. Chẳng phải là đạo hoằng người! Không có người [hoằng truyền], pháp cũng diệt! Hoằng dương pháp đă có lợi ích, vậy th́ phải nên kính trọng người tŕ kinh. Đoạn này thuộc ư đầu tiên.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Thời bỉ quốc vương ưng văng pháp sư xứ, thính kỳ sở thuyết, văn dĩ hoan hỷ, ư bỉ pháp sư cung kính, cúng dường, thâm tâm ủng hộ, linh vô ưu năo, diễn thuyết thử kinh, lợi ích nhất thiết. Thế Tôn! Dĩ thị duyên cố, ngă đẳng tứ vương giai cộng nhất tâm hộ thị nhân vương, cập quốc nhân dân, linh ly tai hoạn, thường đắc an ổn.

          ()世尊時彼國王應往法師處聽其所聞已歡喜於彼法師恭敬供養深心擁護令無憂惱演說此經利益一世尊以是緣故我等四王皆共一心護是人王及國人民令離災患常得安穩

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Khi đó, vị quốc vương ấy hăy nên đến chỗ pháp sư, nghe ngài thuyết pháp. Nghe xong hoan hỷ, cung kính cúng dường vị pháp sư ấy, thâm tâm ủng hộ, khiến cho vị ấy chẳng ưu năo diễn nói kinh này, lợi ích hết thảy. Bạch Thế Tôn! Do bởi duyên này, bốn vua chúng con đều cùng nhất tâm thủ hộ vị quốc vương ấy và nhân dân trong nước, khiến cho họ ĺa tai hoạn, thường được an ổn).

 

          Kế đó, dạy vua hăy kính trọng [pháp sư thuyết pháp], có ba ư:

          - Một, khuyên vua hăy đến nghe [thuyết pháp] để trừ tai ương.

          - Hai, khuyên vua cúng dường để được vui sướng.

          - Ba, khuyên vua hăy kính trọng, giúp đỡ vị [thuyết pháp sư] ấy.

          Kinh văn thuộc phần thứ nhất có năm ư:

          - Một, dạy vua tôn trọng pháp, đến nghe [pháp sư giảng nói].

          - Hai, dạy vua nghe xong hăy nên vui mừng.

          - Ba, từ “ư bỉ pháp sư” (đối với pháp sư ấy) trở đi, dạy hăy cung kính, cúng dường, hộ vệ [vị [pháp sư] ấy.

          - Bốn, từ “diễn thuyết thử kinh” (diễn nói kinh này) trở đi, dạy hăy diễn nói pháp để lợi ích người khác.

          - Năm, từ “dĩ thị duyên cố” (do duyên cớ ấy) trở đi, tứ thiên vương sẽ v́ đất nước ấy mà trừ tai nạn.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược hữu bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, tŕ thị kinh giả, thời bỉ nhân vương tùy kỳ sở tu, cung cấp, cúng dường, linh vô phạp thiểu. Ngă đẳng tứ vương linh bỉ quốc vương cập dĩ quốc nhân, tất giai an ổn, viễn ly tai hoạn.

          ()世尊若有苾芻苾芻尼鄔波索迦鄔波斯迦持是經者時彼人王隨其所須供給供養令無乏少我等四王令彼國王及以國人悉皆安穩遠離災患

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có bật-sô (tỳ-kheo), bật-sô-ni (tỳ-kheo-ni), ổ-ba-sách-ca (ưu-bà-tắc), ổ-ba-tư-ca (ưu-bà-di) tŕ kinh này, khi đó, quốc vương ấy tùy theo người đó cần ǵ, đều cung cấp, cúng dường, khiến cho chẳng thiếu hụt. Bốn vua chúng con sẽ khiến cho quốc vương ấy và người trong nước thảy đều an ổn, xa ĺa tai nạn).

 

          Kế đó, khuyên [quốc vương] cung cấp [các thứ cần dùng cho người tŕ kinh] để [đất nước, quốc vương, và nhân dân đều] được vui sướng. Có ba ư:

          - Một, chỉ ra người hành pháp.

          - Hai, từ “thời bỉ nhân vương” (khi đó, vị quốc vương ấy) trở đi, dạy hăy cung cấp.

          - Ba, từ “ngă đẳng tứ vương” (bốn vua chúng con) trở đi, nói rơ vua và thần dân đều được vui sướng.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược hữu thọ tŕ, độc tụng thị kinh điển giả, nhân vương ư thử cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, ngă đẳng đương linh bỉ vương ư chư vương trung, cung kính, tôn trọng, tối vi đệ nhất. Chư dư quốc vương cộng sở xưng thán.

          ()世尊若有受持讀誦是經典者人王於此供養恭敬尊重讚歎我等當令彼王於諸王中恭敬尊重最為第一諸餘國王共所稱歎

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có người thọ tŕ, đọc tụng kinh điển này, mà quốc vương cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán người ấy, chúng con sẽ khiến cho vị vua ấy được cung kính, tôn trọng tột bậc nhất trong các vua, và được các quốc vương khác cùng ca ngợi).

 

          Kế đó, khuyên do kính trọng [người tŕ kinh], sẽ được người khác tôn kính, có bốn ư:

          - Một, nêu ra người được kính trọng (tức người tŕ kinh).

          - Hai, từ “nhân vương ư thử” (quốc vương đối với người ấy) trở đi, khuyên quốc vương hăy nên kính trọng, tán thán [người tŕ kinh].

          - Ba, từ “ngă đẳng đương linh bỉ” (chúng con sẽ khiến cho vị vua đó) trở đi, nói về sự kính trọng, tán thán [của tứ thiên vương đối với quốc vương ấy].

          - Bốn, nói rơ người tôn kính [vị tŕ kinh] sẽ được người khác tôn kính.

 

5.11.4.4. Chúng hội khi ấy vâng theo lời dạy tu học

         

          (Kinh) Đại chúng văn dĩ, thán hỷ thọ tŕ.

          ()大眾聞已歎喜受持

          (Kinh: Đại chúng nghe xong, tán thán, hoan hỷ, thọ tŕ).

         

          Kế đó, phần thứ tư là đại chúng trong hội thuở đó vâng theo lời dạy mà tu học.

 

Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ sáu

 

5.12. Phẩm thứ mười hai: Tứ Thiên Vương Hộ Quốc (Tứ Thiên Vương Hộ Quốc phẩm đệ thập nhị, 四天王護國品第十二)

         

          Phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc gồm ba môn phân biệt:

          - Một, ư nghĩa v́ sao có phẩm kinh này.

          - Hai, giải thích tên gọi của phẩm.

          - Ba, giải đáp vấn nạn.

 

5.12.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm kinh này?

 

          Nói tới ư nghĩa v́ sao có phẩm này, phẩm trước tán thán kinh thù thắng, nhiệm mầu, khuyên người khác hoằng tŕ. Ba phẩm từ đây trở đi nói rơ kinh này tôn quư, hành giả sẽ được thủ hộ. Phẩm đầu là chư thiên thủ hộ, hai phẩm sau là dùng chú ngữ thủ hộ. Lại nữa, phẩm Tứ Thiên Vương trên đây là khuyên bảo người khác, c̣n phẩm này là [tứ thiên vương] phát nguyện tự thủ hộ. Phẩm trước dạy người khác hành hai thứ lợi (tự lợi và lợi tha), phẩm này nói chính ḿnh hành hai thứ lợi. Phẩm trước là tự ư [bốn vị thiên vương] khuyên tŕ; phẩm này là đức Phật rộng khuyên thủ hộ. V́ thế, sau phẩm trước bèn có phẩm này sanh khởi.

 

5.12.2. Giải thích tên gọi của phẩm

 

          Giải thích tên gọi của phẩm này: Tự tại, trong sáng, thần thông diệu dụng th́ gọi là Thiên. Làm vua thống nhiếp [các vị trời] quy hướng th́ gọi là Vương, do là vua của chư thiên. Đó là cách giải thích dựa theo lối Sĩ Dụng. Nơi chốn, thành tŕ bất đồng, quyền thống lănh chia thành bốn phương, [Tứ Thiên Vương] lại là cách gọi tên Đới Số (kèm theo con số trong danh xưng). “Hộ” là pḥng ngự, thâu nhiếp, nuôi nấng. “Pḥng ngự” nhằm trừ tai ương cho họ, “thâu nhiếp, nuôi nấng” nhằm tăng trưởng phước huệ. Tứ Thiên Vương người thủ hộ, Quốc là đối tượng được thủ hộ. [Nói Tứ Thiên Vương Hộ Q     uốc] là Năng (người có thể hộ quốc, tức Tứ Thiên Vương) và Sở (đối tượng được thủ hộ, tức quốc độ) được nói gộp chung. Phẩm này nói cặn kẽ chuyện ấy, nên gọi là phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc.

 

5.12.3. Giải đáp vấn nạn

 

          * Hỏi: Phẩm này thủ hộ quốc vương lẫn các vị thần, v́ sao chỉ nói là Tứ Thiên Vương hộ quốc?

          Đáp: Quốc vương hành pháp hộ quốc là do tứ thiên vương [sắc truyền]. Do các vị thần khác là bầy tôi của tứ thiên vương, chỉ nói là “tứ thiên vương hộ quốc”.

          * Hỏi: Hành pháp thủ hộ của tứ thiên vương chính là thủ hộ loài người, sao lại gọi là “hộ quốc”?

          Đáp: Loài người là cái gốc của đất nước. Như nói chỗ cư trụ của hữu t́nh là “Phật độ” (cơi Phật). Do vậy, tuy là thủ hộ loài người mà nói là “hộ quốc”.

          * Hỏi: Tam thừa thánh chúng, Đế Thích, Phạm vương, chư thiên thấy người hành pháp đều phải nên bảo vệ, thủ hộ, v́ sao chỉ nói tứ thiên vương hộ quốc?

          Đáp: Theo đúng lư, phải là đều có, nhưng chỉ nói đến người đáng nghe. Hơn nữa, nêu danh tứ thiên vương hộ thế, nhằm hiển thị các Ngài danh và hạnh tương xứng. V́ vậy, nêu tên tứ thiên vương, chẳng nhắc tới các vị hộ tŕ khác.

          * Hỏi: Chư thiên kính trọng tứ chúng hoằng kinh, cũng sẽ thủ hộ chánh pháp, v́ sao chỉ nói tứ thiên vương hộ quốc?

          Đáp: Hộ pháp nhằm dụng ư lợi ích chúng sanh. Pháp trụ có thể khiến cho đất nước an ổn. V́ nêu tỏ ḷng đại bi lợi tha, chỉ riêng nói hộ quốc, chẳng nhắc tới pháp!

 

5.12.4. Giải thích kinh văn

5.12.4.1. Đức Thế Tôn tán thán, dạy hăy tu

5.12.4.1.1. Tán thán để kết thành

5.12.4.1.1.1. Tán thán chung

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn văn Tứ Thiên Vương cung kính cúng dường Kim Quang Minh Kinh, cập năng ủng hộ chư tŕ kinh giả, tán ngôn: - Thiện tai! Thiện tai!

          ()爾時世尊聞四天王恭敬供養金光明經及能擁護諸持經者讚言善哉善哉

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe Tứ Thiên Vương cung kính cúng dường kinh Kim Quang Minh, và có thể ủng hộ những người tŕ kinh, khen rằng: - Lành thay! Lành thay!)

 

          Tán rằng: Trong phẩm này, chia đại lược thành sáu phần:

          - Một, đức Thế Tôn tán thán, dạy hăy tu.

          - Hai, tứ thiên vương vâng lời dạy, nguyện thủ hộ.

          - Ba, từ “thời Tứ Thiên Vương” (khi đó, Tứ Thiên Vương) trở đi, bốn vị thiên vương đội ân, tán thán đức Phật.

          - Bốn, đức Phật lại khuyên thủ hộ để kết lại.

          - Năm, từ “văn thị tụng” (nghe bài tụng ấy) trở đi, tứ thiên vương vui mừng, hộ tŕ.

          - Sáu, đại chúng nghe kinh được lợi ích.

          Phần thứ nhất chia thành hai đoạn:

          - Một, tán thán để kết thành.

          - Hai, khuyên thủ hộ.

          Trong phần tán thán th́ trước hết là tán thán chung, sau đó là tán thán riêng biệt. Đoạn này là tán thán chung. Một là tán thán sự hộ pháp, hai là tán thán [tứ thiên vương] thủ hộ loài người. Lại nữa, một là tán thán [tứ thiên vương đă] khuyên người khác [thủ hộ], hai là tán thán [tứ thiên vương] tự thủ hộ. Lại nữa, một là tán thán nhân lành trong đời trước, hai là tán thán hiện tại [tứ thiên vương] thủ hộ ngườipháp. V́ thế, lặp lại chữ “thiện tai”.

 

5.12.4.1.1.2. Tán thán riêng từng điều

 

          (Kinh) Nhữ đẳng tứ vương dĩ ư quá khứ vô lượng bách thiên vạn ức Phật sở, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, thực chư thiện căn, tu hành chánh pháp, thường thuyết chánh pháp, dĩ pháp hóa thế.

          ()汝等四王已於過去無量百千萬億佛所恭敬供養尊重讚歎植諸善根修行正法正法以法化世

          (Kinh: Bốn thiên vương các ông trong đời quá khứ đă ở nơi vô lượng trăm ngàn vạn ức chư Phật, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, gieo các thiện căn, tu hành chánh pháp, thường nói chánh pháp, dùng pháp giáo hóa cơi đời).

 

          Tán rằng: Tán thán riêng biệt, [gồm ba ư]:

          - Một, tán thán phước nghiệp.

          - Hai, từ “tu hành chánh pháp” trở đi là tán thán trí nghiệp.

          - Ba, từ “nhữ đẳng trường dạ” (các ông ở trong đêm dài) là tán thán bi nghiệp.

          Đoạn này gồm hai ư đầu. Ở chỗ chư Phật, tu ba nghiệp: Cúng dường, cung kính là thân nghiệp. Tôn trọng là ư nghiệp. Tán thán là ngữ nghiệp. Theo kinh Nhân Vương Bát Nhă, dùng [thời gian] một A-tăng-kỳ để cúng dường chư Phật, đạt được Sơ Địa, làm Tứ Thiên Vương.

 

          (Kinh) Nhữ đẳng trường dạ ư chư chúng sanh thường tư lợi ích, khởi đại từ tâm, nguyện dữ an lạc. Dĩ thị nhân duyên, năng linh nhữ đẳng hiện thọ thắng báo.

          ()汝等長夜於諸眾生常思利益起大慈心願與安樂以是因緣能令汝等現受勝報

          (Kinh: Các ông ở trong đêm dài, thường nghĩ lợi ích các chúng sanh, dấy tâm đại từ, nguyện ban cho an lạc. Do nhân duyên ấy, có thể khiến cho các ông thọ báo thù thắng trong hiện tại).

 

          Tán rằng: Hành bi nghiệp. Phần đầu là tán thán. Từ “dĩ thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở đi là kết lại.

 

5.12.4.1.2. Khuyên thủ hộ

 

          (Kinh) Nhược hữu nhân vương cung kính, cúng dường thử Kim Quang Minh tối thắng kinh điển, nhữ đẳng ưng đương cần gia thủ hộ, linh đắc an ổn. Nhữ chư tứ vương, cập dư quyến thuộc, vô lượng vô số bách thiên Dược Xoa hộ thị kinh giả, tức thị hộ tŕ khứ, lai, hiện tại chư Phật chánh pháp. Nhữ đẳng tứ vương, cập dư thiên chúng, tịnh chư Dược Xoa, dữ A Tô La cộng đấu chiến thời, thường đắc thắng lợi. Nhữ đẳng nhược năng hộ tŕ thị kinh, do kinh lực cố, năng trừ chúng khổ, oán tặc, cơ cẩn, cập chư tật dịch. Thị cố, nhữ đẳng nhược kiến tứ chúng thọ tŕ, độc tụng thử kinh vương giả, diệc ưng cần tâm, cộng gia thủ hộ, vị trừ suy năo, thí dữ an lạc.

          ()若有人王恭敬供養此金光明最勝經典汝等應當勤加守護令得安穩汝諸四王及餘眷屬無量無數百千藥叉護是經者即是護持去來現在諸佛正法汝等四王及餘天眾并諸藥叉與阿蘇羅共鬪戰時常得勝利汝等若能護持是經由經力故能除眾苦怨賊饑饉及諸疾疫是故汝等若見四眾受持讀誦此經王者亦應勤心共加守護為除衰惱施與安樂

          (Kinh: Nếu có quốc vương cung kính, cúng dường kinh điển Kim Quang Minh tối thắng này, các ông hăy nên thêm siêng năng thủ hộ, khiến cho họ được an ổn. Bốn vua các ông và các quyến thuộc, vô lượng vô số trăm ngàn Dược Xoa thủ hộ kinh này, tức là hộ tŕ chánh pháp của quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật. Bốn vua các ông và các thiên chúng khác, cùng với các Dược Xoa khi đánh nhau với A Tô La, thường được thắng lợi. Nếu các ông có thể hộ tŕ kinh này, do sức của kinh, có thể trừ các khổ, oán tặc, đói kém, và các tật dịch. V́ thế, các ông nếu thấy tứ chúng thọ tŕ, đọc tụng vua của các kinh này, cũng phải nên vận tâm siêng năng tăng thêm sức thủ hộ ḥng trừ suy năo, thí cho an lạc).

 

          Tán rằng: Khuyên hộ tŕ, có ba ư:

          - Một, khuyên hộ tŕ quốc vương.

          - Hai, từ “nhữ chư tứ vương” (bốn vua các ông) trở đi, khuyên thủ hộ chánh pháp.

          - Ba, từ “thị cố, nhữ đẳng” (v́ thế, các ông) trở đi là khuyên hộ tŕ tứ chúng tŕ kinh.

          Trong phần khuyên hộ pháp, trước là hộ pháp; sau đó, từ “nhữ đẳng tứ vương cập dư thiên chúng” (bốn vua các ông và các thiên chúng) trở đi, nói về lợi ích do hộ pháp. Trong phần lợi ích do hộ pháp:

          - Một là hàng phục, tự thắng kẻ oán địch.

          - Hai, từ “nhữ đẳng nhược năng” (nếu các ông có thể) trở đi, có thể trừ ba nạn: Một là oán tặc, hai là đói kém, ba là bệnh dịch.

          Phần kinh văn khuyên hộ tŕ tứ chúng dễ hiểu.

 

5.12.4.2. Tứ thiên vương vâng theo lời dạy, nguyện thủ hộ

5.12.4.2.1. Nguyện dùng thân để hộ pháp

5.12.4.2.1.1. Nguyện dùng thân thủ hộ loài người

5.12.4.2.1.1.1. Tứ thiên vương phát nguyện thủ hộ

5.12.4.2.1.1.1.1. Nêu ra ư nguyện thủ hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng, cung kính, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Thử Kim Quang Minh tối thắng kinh vương, ư vị lai thế, nhược hữu quốc độ, thành, ấp, tụ lạc, sơn lâm, khoáng dă, tùy sở chí xứ lưu bố chi thời.

          ()爾時四天王即從座起偏袒右肩右膝著地合掌恭敬白佛言世尊此金光明最勝經王於未來世若有國土城邑聚落山林曠野隨所至處流布之時

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối phải đặt sát đất, chắp tay, cung kính, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Lúc kinh vương Kim Quang Minh tối thắng này, trong đời vị lai, nếu có cơi nước, thành, ấp, xóm làng, núi rừng, đồng hoang, bất cứ nơi nào có kinh này lưu truyền).

 

          Tán rằng: Đoạn lớn thứ hai là “bốn thiên vương vâng lời dạy, nguyện thủ hộ”. Có hai phần:

          - Một, nguyện dùng thân để hộ pháp.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Thế Tôn! Phục nhược tứ thiên vương” (Lúc bấy giờ, bạch Thế Tôn! Nếu tứ thiên vương lại…) trở đi, nguyện dùng chú để thủ hộ.

          Trong phần “dùng thân để thủ hộ”, có hai đoạn:

          - Một, nguyện dùng thân để thủ hộ loài người.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Tứ Thiên Vương” (lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương) trở đi, nguyện dùng thân hộ pháp.

          Pháp phải cậy vào người để hoằng truyền, tuyên dương. V́ thế, trước hết phải thủ hộ loài người. Loài người dùng pháp để thành tựu đức; [do vậy], kế đó, cần phải hộ pháp. Trong phần “thủ hộ loài người” tuy cũng là hộ pháp, nhưng có ư nói về thủ hộ loài người, cho nên tán thán hộ pháp. Hoặc có thể hiểu là: Trước hết, nguyện thủ hộ người lẫn pháp. Sau đó, lại so lường để khuyên hộ pháp lần nữa. Pháp là thầy của Phật; v́ thế, khuyên lơn nhiều lượt.

          Nay hăy theo ư đầu tiên để giải thích, phần thủ hộ loài người chia thành bốn phần:

          - Một, tứ thiên vương nguyện thủ hộ.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc bấy giờ, đức Phật bảo) trở đi, đức Thế Tôn tán thành.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Tứ Thiên Vương” (lúc bấy giờ, TThiên Vương) trở đi, dạy quốc vương quy cách hoằng pháp.

          - Bốn, từ “nhĩ thời, Tứ Thiên Vương” trở đi, quốc vương vâng theo pháp tu hành, được thủ hộ.

          Phần thứ nhất là “nguyện thủ hộ”, có hai ư:

          - Một, nêu ra ư nguyện thủ hộ.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Nhược bỉ quốc vương” (bạch Thế Tôn! Nếu quốc vương ấy) trở đi, chánh thức phát nguyện thủ hộ.

          Trong phần “nêu ra ư nguyện thủ hộ”, [gồm có sáu ư]:

          - Một, nghi thức phát nguyện thủ hộ.

          - Hai, chỉ ra pháp được thủ hộ (kinh Kim Quang Minh).

          - Ba, lúc sẽ hộ pháp.

          - Bốn, chỗ hộ pháp (chỗ có kinh này lưu truyền).

          - Năm, người được thủ hộ.

          - Sáu, tướng trạng thủ hộ.

          Đoạn này bao gồm bốn ư đầu.

 

          (Kinh) Nhược bỉ quốc vương ư thử kinh điển, chí tâm thính thọ, xưng thán, cúng dường, tịnh phục cung cấp thọ tŕ thị kinh tứ bộ chi chúng, thâm tâm ủng hộ, linh ly suy năo.

          ()若彼國王於此經典至心聽受稱歎供養并復供給受持是經四部之眾深心擁護令離衰惱

          (Kinh: Nếu quốc vương ấy đối với kinh điển này, chí tâm nghe nhận, ca ngợi, cúng dường, lại c̣n cung cấp tứ bộ chúng thọ tŕ kinh này, thâm tâm ủng hộ, khiến họ ĺa suy năo).

 

          Kế đó, nói về người được thủ hộ:

          - Một, nói về người được thủ hộ.

          - Hai, từ “ư thử kinh điển” (đối với kinh điển này) trở đi, nguyên do [khiến cho tứ thiên vương] thủ hộ.

 

          (Kinh) Dĩ thị nhân duyên, ngă hộ bỉ vương, cập chư nhân chúng, giai linh an ổn, viễn ly ưu khổ, tăng ích thọ mạng, oai đức cụ túc.

          ()以是因緣我護彼王及諸人眾皆令安穩遠離憂苦增益壽命威德具足

          (Kinh: Do nhân duyên ấy, con thủ hộ vị vua ấy và mọi người, đều khiến cho họ an ổn, xa ĺa ưu khổ, tăng thêm thọ mạng, oai đức đầy đủ).

 

          Tiếp đó, nói về tướng trạng ủng hộ.

 

5.12.4.2.1.1.1.2. Chánh thức phát nguyện thủ hộ

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược bỉ quốc vương kiến ư tứ chúng thọ tŕ kinh giả, cung kính thủ hộ do như phụ mẫu, nhất thiết sở tu tất giai cung cấp.

          ()世尊若彼國王見於四眾受持經者恭敬守護猶如父母一切所須悉皆供給

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu quốc vương ấy thấy tứ chúng thọ tŕ kinh, liền cung kính thủ hộ giống như cha mẹ, hết thảy các thứ cần dùng thảy đều cung cấp).

 

          Tán rằng: Chánh thức phát nguyện thủ hộ, có ba ư:

          - Một, người được thủ hộ (tứ chúng thọ tŕ kinh này).

          - Hai, từ “kiến ư tứ chúng” (thấy tứ chúng) trở đi, nêu ra nguyên nhân khiến họ được thủ hộ.

          - Ba, từ “ngă đẳng tứ vương” (bốn vua chúng con) trở đi, nói rộng về tướng thủ hộ.

          Trong phần nói về người được thủ hộ, có hai ư:

          - Một, vua được gặp gỡ duyên thù thắng.

          - Hai, từ “cung kính” trở đi, tu tập hạnh thù thắng.

 

          (Kinh) Ngă đẳng tứ vương thường vị thủ hộ, linh chư hữu t́nh vô bất tôn kính. Thị cố, ngă đẳng tịnh dữ vô lượng Dược Xoa chư thần, tùy thử kinh vương sở lưu bố xứ, tiềm thân ủng hộ, linh vô lưu nạn.

          ()我等四王常為守護令諸有情無不尊敬是故我等并與無量藥叉諸神隨此經王所流布處潛身擁護令無留難

          (Kinh: Bốn vua chúng con thường sẽ ủng hộ, khiến cho các hữu t́nh không ai chẳng tôn kính. V́ thế, chúng con cùng với vô lượng các thần Dược Xoa, thuận theo chỗ kinh vương này lưu truyền mà ẩn thân ủng hộ, khiến cho họ chẳng gặp tai nạn).

 

          Tán rằng: Nói cặn kẽ tướng thủ hộ. Trước là hộ pháp, sau là thủ hộ loài người. Phần này là hộ pháp. Khiến cho người khác tôn kính pháp, chính ḿnh ắt phải tôn kính [trước đă]. Nếu chính ḿnh chẳng thực hiện, sao có thể khuyên chúng sanh cho được? V́ thế, chúng con đều ngầm thủ hộ kinh này!

 

          (Kinh) Diệc đương hộ niệm thính thị kinh nhân, chư quốc vương đẳng, trừ kỳ suy hoạn, tất linh an ổn, tha phương oán tặc giai sử thoái tán.

          ()亦當護念聽是經人諸國王等除其衰患悉令安穩他方怨賊皆使退散

          (Kinh: Cũng sẽ hộ niệm người nghe kinh này, và các vị quốc vương v.v… Trừ các suy hoạn, khiến cho họ đều an ổn, khiến cho oán tặc ở phương khác đều lui tan).

 

          Tán rằng: Sau đó, thủ hộ loài người. Có hai ư:

          - Một, nêu ra sự thủ hộ.  

          - Hai, từ “nhược hữu nhân vương” (nếu có quốc vương) trở đi, kết lại lần nữa ư thủ hộ loài người.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Nhược hữu nhân vương thính thị kinh thời, lân quốc oán địch hưng như thị niệm:Đương cụ tứ binh hoại bỉ quốc độ.

          ()若有人王聽是經時隣國怨敵興如是念當具四兵壞彼國土

          (Kinh: Nếu có quốc vương khi nghe kinh này, oán địch ở nước lân cận khởi lên ư niệm như thế này: - Hăy nên mang đủ bốn loại binh phá hoại cơi nước ấy).

 

          Tán rằng: Kết lại lần nữa chuyện thủ hộ loài người, có bốn ư:

          - Một, kẻ địch ở nước lân cận có ư niệm dấy binh.

          - Hai, do oai lực của kinh, chúng nó tự tan ră.

          - Ba, nhà vua ấy sai quân chinh phạt.

          - Bốn, thần giúp đỡ khiến cho kẻ địch quy hàng.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Dĩ thị kinh vương oai thần lực cố, thị thời lân địch cánh hữu dị oán nhi lai xâm nhiễu, ư kỳ cảnh giới, đa chư tai biến, dịch bệnh lưu hành.

          ()世尊以是經王威神力故是時隣敵更有異怨而來侵擾於其境界多諸災變疫病流行

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Do sức oai thần của kinh vương này, khi đó, nước oán địch lân cận lại có kẻ oán thù khác đến xâm phạm, quấy nhiễu, trong cơi nước của chúng nó, có nhiều thứ tai biến, bệnh dịch lan tràn).

 

          Kế đó là ư thứ hai, “chúng nó (oán địch từ lân quốc) tự tan tác”, do hai duyên:

          - Một, bị kẻ giặc khác tới xâm lấn.

          - Hai, nước của chúng nó bị tai ương, bệnh dịch.

 

          (Kinh) Thời vương kiến dĩ, tức nghiêm tứ binh, phát hướng bỉ quốc dục vi thảo phạt.

          ()時王見已即嚴四兵發向彼國欲為討伐

          (Kinh: Khi đó, nhà vua trông thấy, liền chỉnh đốn bốn loại binh, phái sang nước đó toan thảo phạt).

 

          Kế đó, ư thứ ba là sai quân thảo phạt. “Thảo” () là trừ khử, giết chóc. “Phạt” () là chinh phục, đánh bại, toan đánh bại. Nay kinh ghi thành chữ Phạt (). Sách Thuyết Văn Giải Tự[2] giảng: “Tội nhỏ th́ gọi là Phạt”. Sách Quảng Nhă[3] giảng: “Phạt là chiết phục”. Nay vua đă hưng binh, đáng phải nên dùng chữ Phạt (). Hoặc là vua chỉ dấy lên ư niệm, chưa nhóm họp binh lực; ở đây, vua động binh, muốn chiết phục chúng nó, v́ thế nói là Phạt ().

 

          (Kinh) Ngă đẳng nhĩ thời, đương dữ quyến thuộc vô lượng vô biên Dược Xoa chư thần, các tự ẩn h́nh, vị tác hộ trợ, linh bỉ oán địch tự nhiên hàng phục, thượng bất cảm lai chí kỳ quốc giới, khởi phục đắc hữu binh qua tương phạt?

          ()我等爾時當與眷屬無量無邊藥叉諸神各自隱形為作護助令彼怨敵自然降伏尚不敢來至其國界豈復得有兵戈相伐

    (Kinh: Lúc bấy giờ, chúng con sẽ cùng quyến thuộc, vô lượng vô biên các thần Dược Xoa, đều tự ẩn thân để hộ trợ, khiến cho kẻ oán địch ấy tự nhiên hàng phục, c̣n chẳng dám ṃ đến quốc giới ấy, há c̣n có thể dấy quân chinh phạt ư?)

 

          Kế đó, ư thứ bốn là “thần giúp đỡ khiến cho [kẻ địch] quy hàng”, có hai ư:

          - Một, khởi ư niệm bèn hàng phục.

          - Hai, từ “thượng bất cảm lai” (c̣n chẳng dám đến) trở đi, [kẻ địch] vĩnh viễn chẳng dám giao chiến.

 

5.12.4.2.1.1.2. Đức Thế Tôn tán thành

5.12.4.2.1.1.2.1. Tán thán chư thiên hộ pháp

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Tứ Thiên Vương: - Thiện tai, thiện tai! Nhữ đẳng tứ vương năi năng ủng hộ như thị kinh điển.

          ()爾時佛告四天王善哉善哉汝等四王乃能擁護如是經典

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Tứ Thiên Vương: - Lành thay! Lành thay! Bốn vua các ông có thể ủng hộ kinh điển như thế).

 

          Tán rằng: Ư thứ hai trong phần “thủ hộ loài người” là đức Thế Tôn tán thành. Có ba ư:

          - Một, tán thán chư thiên hộ pháp.

          - Hai, tán thán pháp khó nghe.

          - Ba, nêu ra lợi ích do hoằng kinh.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

5.12.4.2.1.1.2.2. Tán thán pháp khó nghe

 

          (Kinh) Ngă ư quá khứ bách thiên câu-chi na-dữu-đa kiếp tu chư khổ hạnh, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, chứng Nhất Thiết Trí, kim thuyết thị pháp.

          ()我於過去百千俱胝那庾多劫修諸苦行得阿耨多羅三藐三菩提證一切智說是

          (Kinh: Ta trong trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa kiếp quá khứ tu các khổ hạnh, đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chứng Nhất Thiết Trí, nay nói pháp này).

 

          Kế đó, tán thán pháp khó được nghe. Nhiều kiếp tu hành mới được thành Phật. Thành Phật đă lâu, nay mới nói kinh này. V́ thế, khó được nghe!

 

5.12.4.2.1.1.2.3. Nêu rơ lợi ích do hoằng kinh

5.12.4.2.1.1.2.3.1. Lợi ích do hoằng kinh trong hiện tại

5.12.4.2.1.1.2.3.1.1. Vua được lợi ích

 

          (Kinh) Nhược hữu nhân vương thọ tŕ thị kinh, cung kính, cúng dường giả, vị tiêu suy hoạn, linh kỳ an ổn, diệc phục ủng hộ thành, ấp, tụ lạc, năi chí oán tặc tất linh thoái tán, diệc linh nhất thiết Thiệm Bộ châu nội sở hữu chư vương vĩnh vô suy năo, đấu tránh chi sự.

          ()若有人王受持是經恭敬供養者為消衰患令其安穩亦復擁護城邑聚落乃至怨賊悉令退散亦令一切贍部洲內所有諸王永無衰惱鬪諍之事

          (Kinh: Nếu có quốc vương thọ tŕ kinh này, cung kính, cúng dường để tiêu trừ các tai nạn suy vi, sẽ khiến cho họ được an ổn, cũng lại ủng hộ thành, ấp, xóm làng, cho đến oán tặc đều bị lui tan, cũng khiến cho tất cả các vua trong châu Thiệm Bộ vĩnh viễn không có chuyện suy bại, khổ năo, đấu tranh).

         

          Tán rằng: Lợi ích do hoằng kinh. Có hai phần:

          - Một, lợi ích do hoằng kinh trong hiện tại.

          - Hai, từ “đại vương nhược cầu lai” (đại vương nếu cầu trong vị lai), nói về lợi ích do hoằng kinh trong vị lai.

          Trong phần thứ nhất, chỉ nói quốc vương tự nghe; sau đó, cũng khuyên người khác cúng dường, tŕ tụng. Hiện thời, đức Phật tự hoằng kinh, chẳng nhờ vào sức ai khác. Trong vị lai, những người khác hành tŕ, đọc tụng, ắt cần được nhà vua gia hộ. Đó là sự khác biệt giữa thầy và tṛ. Ở đây, nói về lợi ích trong hiện tại: Thứ nhất là vua được lợi ích; kế đó là người khác được lợi ích. Trong phần “vua được lợi ích”:

          - Một, nói về hạnh do nhà vua đă hành (thọ tŕ, cung kính, cúng dường kinh này).

          - Hai, từ “vi tiêu suy hoạn” trở đi, nói về lợi ích đạt được.

          Trong phần đạt được lợi ích, trước là Tổng, sau là Biệt. Trong phần Tổng, có hai ư:

          - Một là nêu ra một thứ lợi ích.

          - Hai, từ “diệc linh” (cũng khiến cho) trở đi, liệt kê các điều khác.

          Trong ư thứ nhất, gồm bốn điều:

          - Một là trừ suy hoạn.

          - Hai là đạt được lợi ích.

          - Ba là được thủ hộ.

          - Bốn là không có oán địch.

 

          (Kinh) Tứ vương đương tri, thử Thiệm Bộ châu bát vạn tứ thiên thành, ấp, tụ lạc, bát vạn tứ thiên chư nhân vương đẳng, các ư kỳ quốc, thọ chư khoái lạc, giai đắc tự tại, sở hữu tài bảo phong túc, thọ dụng bất tương xâm đoạt. Tùy bỉ túc nhân nhi thọ kỳ báo, bất khởi ác niệm tham cầu tha quốc, hàm sanh thiểu dục, lợi lạc chi tâm, vô hữu đấu chiến, kích phược đẳng khổ.

          ()四王當知此贍部洲八萬四千城邑聚落八萬四千諸人王等各於其國受諸快樂皆得自在所有財寶豐足受用不相侵奪隨彼宿因而受其報不起惡念貪求他國咸生少欲利樂之心無有鬪戰擊縛等苦

     (Kinh: Bốn vua hăy nên biết: Trong châu Thiệm Bộ này, tám vạn bốn ngàn thành, ấp, xóm làng, tám vạn bốn ngàn các quốc vương v.v… đều ở trong nước ḿnh, hưởng các vui sướng, đều được tự tại, tất cả của cải dư dả, thọ dụng chẳng bị xâm đoạt. Tùy thuộc cái nhân trong đời trước mà hưởng báo ấy, chẳng dấy lên ác niệm tham cầu nước khác, đều sanh tâm ít ham muốn, lợi lạc [người khác], chẳng có các nỗi khổ như chiến đấu, tấn công, trói buộc v.v…)

 

          Kế đó, nói về lợi ích riêng biệt, có mười điều:

          - Một, cảnh đạt được lợi ích.

          - Hai, đạt được cái quả lợi ích.

          - Ba, hưởng an vui.

          - Bốn, của cải quư báu dư dả.

          - Năm, chẳng xâm đoạt lẫn nhau.

          - Sáu, thuận theo túc nghiệp [mà hưởng thụ lợi ích].

          - Bảy, chẳng tham trong hiện tại.

          - Tám, đều thiểu dục.

          - Chín, chẳng có oán địch.

          - Mười, không có các nỗi khổ.

          Xét theo phần đạt được lợi ích, trước là Tổng, sau là Biệt, phần này thuộc về Tổng.

 

5.12.4.2.1.1.2.3.1.2. Nhân dân được lợi ích

 

          (Kinh) Kỳ độ nhân dân tự nhiên thọ lạc, thượng hạ ḥa mục, do như thủy nhũ, t́nh tương ái trọng, hoan hỷ du hư, từ bi khiêm nhượng, tăng trưởng thiện căn.

          ()其土人民自然受樂上下和穆猶如水乳情相愛重歡喜遊戲慈悲謙讓增長善根

          (Kinh: Nhân dân trong nước ấy tự nhiên hưởng vui, trên dưới ḥa thuận như nước với sữa, yêu thương coi trọng lẫn nhau, hoan hỷ vui chơi, từ bi, khiêm tốn, nhân nhượng, tăng trưởng thiện căn).

 

          Kế đó, người trong nước được lợi ích; điều thứ nhất là hành hạnh.

 

          (Kinh) Dĩ thị nhân duyên, thử Thiệm Bộ châu an ổn, phong lạc, nhân dân xí thịnh, đại địa ốc nhưỡng, hàn thử điều ḥa, thời bất quai tự, nhật, nguyệt, tinh tú thường độ vô khuy, phong vũ tùy thời, ly chư tai hoạnh, tư sản, tài bảo giai tất phong doanh, tâm vô xan bỉ, thường hành huệ thí, cụ Thập Thiện Nghiệp. Nhược nhân mạng chung, đa sanh thiên thượng, tăng ích thiên chúng.

          ()以是因緣此贍部洲安穩豐樂人民熾盛大地沃壤寒暑調和時不乖序日月星宿常度無虧風雨隨時離諸災橫產財寶皆悉豐心無慳鄙常行惠施具十善業若人命終多生天上增益天眾

          (Kinh: Do nhân duyên ấy, châu Thiệm Bộ này an ổn, giàu vui, nhân dân đông đảo, thịnh vượng, đất đai ph́ nhiêu, nóng lạnh điều ḥa, thời tiết chẳng trái nghịch thứ tự. Mặt trời, mặt trăng, tinh tú vận hành đúng lệ, không sai sót, ĺa các tai ương họa hoạn. Vật chất, của cải thảy đều dư dật. Tâm chẳng keo kiệt, kém hèn, thường hành bố thí rộng răi, trọn đủ Thập Thiện Nghiệp. Nếu người mạng chung, phần nhiều sanh lên cơi trời, tăng thêm thiên chúng).

 

          Kế đó nói về lợi ích. Trước hết là được lợi ích trong hiện tại, có mười một điều:

          - Một, do không có chiến tranh nên an ổn.

          - Hai, do ngũ cốc đầy đủ nên giàu vui.

          - Ba, người và vật đều phồn thịnh.

          - Bốn, đất đai ph́ nhiêu.

          - Năm, bốn mùa theo đúng thứ tự.

          - Sáu, tinh tú vận hành đúng lệ thường.

          - Bảy, mưa gió đúng thời.

          - Tám, không có các tai ương bất ngờ.

          - Chín, tài vật dư dật.

          - Mười, [dân chúng] chẳng tham lam, thích bố thí.

          - Mười một, thường hành Thập Thiện.

          Từ “nhược nhân mạng chung” (nếu người mạng chung) trở đi là lợi ích sau khi chết.

 

5.12.4.2.1.1.2.3.2. Lợi ích do hoằng kinh trong vị lai

 

          (Kinh) Đại vương! Nhược vị lai thế, hữu chư nhân vương thính thọ thị kinh, cung kính, cúng dường, tịnh thọ tŕ kinh, tứ bộ chi chúng tôn trọng, xưng tán. Phục dục an lạc, nhiêu ích nhữ đẳng, cập chư quyến thuộc, vô lượng bách thiên chư Dược Xoa chúng. Thị cố, bỉ vương thường đương thính thọ thị diệu kinh. Vương do đắc văn thử chánh pháp chi thủy, cam lộ thượng vị, tăng ích nhữ đẳng thân tâm thế lực, tinh tấn, dũng mănh, phước đức, oai quang tất linh sung măn. Thị chư nhân vương, nhược năng chí tâm thính thọ thị kinh, tắc vi quảng đại hy hữu cúng dường, cúng dường ư ngă Thích Ca Mâu Ni Ứng Chánh Đẳng Giác. Nhược cúng dường ngă, tắc thị cúng dường quá khứ, vị lai, hiện tại bách thiên câu-chi na-dữu-đa Phật. Nhược năng cúng dường tam thế chư Phật, tắc đắc vô lượng bất khả tư nghị công đức chi tụ.

          ()若未來世有諸人王聽受是經恭敬供養并受持經四部之眾尊重稱讚復欲安樂饒益汝等及諸眷屬無量百千諸藥叉眾是故彼王常當聽受是妙經王由得聞此正法之水甘露上味增益汝等身心勢力精進勇猛福德威光悉令充滿是諸人王若能至心聽受是經則為廣大希有供養供養於我釋迦牟尼應正等覺若供養我則是供養過去未來現在百千俱胝那庾多佛若能供養三世諸佛則得無量不可思議功德之聚

    (Kinh: Này đại vương! Nếu trong đời vị lai, có các quốc vương nghe nhận kinh này, cung kính, cúng dường, và thọ tŕ kinh, tứ bộ chúng sẽ tôn trọng, ca ngợi. Lại muốn tạo lợi ích an lạc cho các ông và các quyến thuộc, vô lượng trăm ngàn các vị Dược Xoa. V́ thế, nhà vua ấy sẽ thường nghe nhận kinh mầu nhiệm này. Vua do được nghe cam lộ thượng vị từ nước chánh pháp này, tăng thêm thế lực nơi thân tâm của các ông, tinh tấn, dũng mănh, phước đức, oai quang thảy đều sung măn. Nếu các quốc vương ấy có thể chí tâm nghe nhận kinh này, th́ chính là cúng dường rộng lớn hiếm có, cúng dường ta là Thích Ca Mâu Ni Ứng Chánh Đẳng Giác. Nếu cúng dường ta, tức là cúng dường quá khứ, vị lai, hiện tại trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa Phật. Nếu có thể cúng dường tam thế chư Phật, sẽ đạt được khối công đức vô lượng chẳng thể nghĩ bàn).

 

          Tán rằng: Nói về lợi ích trong vị lai. Có hai phần:

          - Một, hành hạnh thù thắng.

          - Hai, từ “do đắc văn thử” (do được nghe kinh này) trở đi, thành tựu cái nhân thù thắng.

          Cái nhân thù thắng có hai điều:

          - Một, tăng thêm thế lực của chư thiên.

          - Hai, [thọ tŕ, hoằng dương kinh này chính là] cúng dường Phật.

          Trong phần “cúng dường Phật”:

          - Một, chánh hạnh cúng dường.

          - Hai, từ “năng cúng dường” (có thể cúng dường) trở đi, nói về chuyện đạt được khối phước to lớn nhằm kết thành chuyện “khuyên bảo hoằng kinh”.

 

          (Kinh) Dĩ thị nhân duyên, nhữ đẳng ưng đương ủng hộ bỉ vương hậu phi, quyến thuộc, linh vô suy năo, cập cung trạch thần thường thọ an lạc, công đức nan tư. Thị chư quốc độ sở hữu nhân dân diệc thọ chủng chủng ngũ dục chi lạc, nhất thiết ác sự giai linh tiêu điễn.

          ()以是因緣汝等應當擁護彼王后妃眷屬令無衰惱及宮宅神常受安樂功德難思是諸國土所有人民亦受種種五欲之樂一切惡事皆令消殄

    (Kinh: Do nhân duyên ấy, các ông hăy nên ủng hộ hậu phi và quyến thuộc của nhà vua, khiến cho họ không suy năo, và thần [thủ hộ] cung điện thường hưởng an lạc, công đức khó nghĩ tưởng. Tất cả nhân dân trong các quốc độ ấy cũng hưởng các thứ niềm vui ngũ dục, khiến cho hết thảy chuyện ác thảy đều tiêu trừ).

 

          Kế đó, nói về lợi ích do hoằng kinh, có hai ư:

          - Một, tứ thiên vương hộ vệ quyến thuộc.

          - Hai, từ “thị chư quốc độ” (các quốc độ ấy) trở đi, nước được phước, dân an ổn.

 

5.12.4.2.1.1.3. Dạy quốc vương nghi thức hoằng pháp

5.12.4.2.1.1.3.1. Nêu ra nguyện tâm của nhà vua

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ư vị lai thế, nhược hữu nhân vương nhạo thính như thị Kim Quang Minh Kinh, vị dục ủng hộ tự thân hậu phi, vương tử, năi chí nội cung chư thể nữ đẳng, thành ấp, cung điện, giai đắc đệ nhất bất khả tư nghị, tối thượng hoan hỷ tịch tĩnh an lạc, ư hiện thế trung, vương vị tôn cao, tự tại, xương thịnh, thường đắc tăng trưởng, phục dục nhiếp thọ vô lượng vô biên nan tư phước tụ. Ư tự quốc độ, linh vô oán địch cập chư ưu năo tai ách sự giả.

          ()爾時四天王白佛言世尊於未來世若有人王樂聽如是金光明經為欲擁護自身后妃王子乃至內宮諸婇女等城邑宮殿皆得第一不可思議最上歡喜寂靜安樂於現世中王位尊高自在昌盛常得增長復欲攝受無量無邊難思福聚於自國土令無怨敵及諸憂惱災厄事者

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Trong đời vị lai, nếu có quốc vương thích nghe kinh Kim Quang Minh như thế này, v́ muốn ủng hộ bản thân và hậu phi, vương tử, cho đến các thể nữ v.v… trong cung, thành, ấp, cung điện đều được an lạc, tịch tĩnh, hoan hỷ tối thượng, chẳng thể nghĩ bàn bậc nhất, trong đời hiện tại, ngôi vua tôn quư, cao cả, tự tại hưng thịnh, thường được tăng trưởng, lại muốn nhiếp thọ vô lượng vô biên khối phước khó nghĩ, khiến cho trong quốc độ của chính ḿnh chẳng có oán địch và các chuyện ưu năo, tai ách).

 

          Tán rằng: Dạy quốc vương quy cách hoằng pháp, có bốn ư:

          - Một, nêu ra tâm nguyện của nhà vua.

          - Hai, từ “Thế Tôn như thị” trở đi, dạy bảo quy tắc.

          - Ba, “Thế Tôn! Thời bỉ hương yên” (bạch Thế Tôn! Khi đó, khói hương ấy) trở đi, vua nương theo đó hành tŕ, cảm vời điềm lành.

          - Bốn, “thời bỉ chư Phật văn thử diệu hương” (khi đó, chư Phật ngửi thấy mùi hương mầu nhiệm đó) trở đi, nói rơ: Chư Phật tán dương.

          Đoạn này nhằm nêu ra nguyện tâm của nhà vua.

 

5.12.4.2.1.1.3.2. Dạy bảo quy cách

5.12.4.2.1.1.3.2.1. Thiên vương dạy quy cách nghe kinh

 

          (Kinh) Thế Tôn! Như thị nhân vương bất ưng phóng dật, linh tâm tán loạn. Đương sanh cung kính, chí thành ân trọng, thính thọ như thị tối thắng kinh vương.

          ()世尊如是人王不應放逸令心散亂當生恭敬至誠殷重聽受如是最勝經王

     (Kinh: Bạch Thế Tôn! Quốc vương như thế chớ nên buông lung, khiến cho cái tâm tán loạn. Hăy nên sanh ḷng cung kính, chí thành, ân cần, trân trọng để nghe nhận vua trong các kinh tối thắng như thế).

 

          Kế đó, dạy quy cách, có ba điều:

          - Một, thiên vương dạy quy cách nghe kinh.

          - Hai, đức Phật dạy cách nghênh tiếp [pháp sư].

          - Ba, thiên vương dạy hăy thực hiện v́ họ.

          Trong phần “thiên vương dạy quy cách nghe kinh”, trước là dạy chung, sau là dạy riêng từng điều. Đoạn này thuộc phần dạy chung.

 

          (Kinh) Dục thính chi thời, tiên đương trang nghiêm tối thượng cung thất, vương sở ái trọng, hiển sưởng chi xứ, hương thủy sái địa, tán chúng danh hoa, an trí sư tử thù thắng pháp ṭa. Dĩ chư trân bảo nhi vị hiệu sức, trương thi chủng chủng bảo cái, tràng phan. Thiêu vô giá hương, tấu chư âm nhạc. Kỳ vương nhĩ thời, đương tịnh tháo dục, dĩ hương đồ thân, trước tân tịnh y, cập chư anh lạc, tọa tiểu ty ṭa, bất sanh cao cử, xả tự tại vị, ly chư kiêu mạn, đoan tâm chánh niệm, thính thị kinh vương. Ư pháp sư sở, khởi đại sư tưởng. Phục ư cung nội hậu phi, vương tử, thể nữ, quyến thuộc, sanh từ mẫn tâm, hỷ duyệt tương thị, ḥa nhan, nhuyễn ngữ. Ư tự thân tâm, đại hỷ sung biến.

          ()欲聽之時先當莊嚴最上宮室王所愛重顯敞之處香水灑地散眾名華安置師子殊勝法座以諸珍寶而為校飾張施種種寶蓋幢旛燒無價香奏諸音樂其王爾時當淨澡浴以香塗身著新淨衣及諸瓔珞坐小卑座不生高舉捨自在位離諸憍慢端心正念聽是經王於法師所起大師想復於宮內后妃王婇女眷屬生慈愍心喜悅相視和顏軟語於自身心大喜充遍

    (Kinh: Lúc muốn nghe, trước hết nên trang nghiêm cung điện tối thượng, là nơi vua yêu mến, coi trọng, rộng răi, thoáng đăng, nước thơm rưới đất, rải các thứ hoa quư, xếp đặt pháp ṭa sư tử thù thắng, dùng các trân bảo để trang hoàng, căng che các thứ lọng báu, tràng phan, đốt hương vô giá, tấu các âm nhạc. Khi đó, vị vua ấy hăy nên tắm gội sạch sẽ, dùng hương bôi thân, mặc áo mới sạch, và đeo các thứ anh lạc, ngồi ṭa kém nhỏ, chẳng sanh ḷng cao ngạo, bỏ địa vị tự tại, ĺa các kiêu mạn, đoan tâm chánh niệm nghe [pháp sư tuyên nói] vua trong các kinh này. Đối với pháp sư, dấy lên ư tưởng coi như đại sư. Lại đối với hậu phi, vương tử, thể nữ, quyến thuộc trong cung, sanh tâm từ mẫn, vui sướng nh́n nhau, vẻ mặt ôn ḥa, nói năng mềm mỏng. Nơi thân tâm của chính ḿnh, tràn ngập niềm vui to lớn).

 

          Kế đó, dạy riêng từng điều. Trong phần dạy riêng:

          - Một, nói về chỗ được trang nghiêm.

          - Hai, từ “hương thủy” (nước thơm) trở đi, chỉ dạy quy cách trang nghiêm nơi chốn [giảng kinh].

          - Ba, từ “kỳ vương nhĩ thời” (nhà vua ấy lúc bấy giờ) trở đi, dạy cách trang nghiêm thân vua.

          - Bốn, từ “bất sanh cao cử” (chẳng sanh ḷng cao ngạo) trở đi, dạy cách trang nghiêm tâm vua.

          - Năm, từ “tác như thị niệm” (nghĩ như thế này) trở đi, dạy vua cách nghĩ tưởng an ổn.

          Trong việc trang nghiêm cái tâm:

          - Một, trừ điệu cử (lao chao, xáo động).

          - Hai, xả kiêu mạn.

          - Ba, đoan chánh cái tâm để nghe pháp.

          - Bốn, cung kính pháp sư.

          - Năm, khởi từ tâm b́nh đẳng.

          - Sáu, vui sướng nh́n nhau.

          - Bảy, vẻ mặt ḥa nhă, nói năng mềm mỏng.

          - Tám, vui sướng tràn ngập thân tâm.

 

          (Kinh) Tác như thị niệm: “Ngă kim hoạch đắc nan tư thù thắng quảng đại lợi ích, ư thử kinh vương, thịnh hưng cúng dường”. Kư phu thiết dĩ, kiến pháp sư chí, đương khởi kiền kính, khát ngưỡng chi tâm.

          ()作如是念我今獲得難思殊勝廣大利益於此經王盛興供養既敷設已見法師至當起虔敬渴仰之心

          (Kinh: Nghĩ như thế này: “Ta nay đạt được lợi ích rộng lớn thù thắng khó nghĩ, đối với vua của các kinh này, hăy cúng dường trọng hậu”. Đă sắp đặt xong, thấy pháp sư đến, hăy nên khởi tâm kiền thành, cung kính, khát ngưỡng).

 

          Kế đó, dạy vua cách suy tưởng. Trước hết, suy tưởng đối với pháp. Từ “kư phu thiết dĩ” (đă sắp đặt xong) trở đi là cách suy tưởng đối với pháp sư. Quy cách thính pháp này, như quyển ba mươi tám luận Du Già Sư Địa đă nói. Bồ Tát như thế đối với người khéo nói pháp, sanh ḷng kính trọng sâu xa, thường thích nghe những người khéo nói pháp, chẳng hề mệt mỏi, mà cũng chẳng chán đủ. Do ḷng tin trong sạch, sâu dày, tánh t́nh nhu ḥa, tâm ngay thẳng, kiến giải ngay thẳng, yêu kính đức hạnh, do yêu kính pháp, tới chỗ pháp sư, không có tâm cật vấn, bắt bẻ, mà có tâm kính trọng, chẳng có tâm kiêu căng, ngạo mạn, chuyên v́ cầu điều tốt lành, chẳng v́ phô phang phẩm đức của chính ḿnh. V́ muốn an lập thiện căn của chính ḿnh và người khác, chẳng v́ nhân duyên lợi dưỡng, cung kính. Bồ Tát trọn đủ công đức như thế, tới chỗ pháp sư, tâm chẳng tạp nhiễm, tâm không tán loạn, lắng nghe chánh pháp.

          Thế nào là tâm vô nhiễm? Tức là khi nghe pháp, tâm người ấy xa ĺa kiêu căng, khinh mạn, khiếp nhược, tạp nhiễm. Do [xa ĺa] sáu tướng nên ĺa thói nhơ kiêu căng, tức là khi nghe pháp bèn đúng thời mà nghe, ân cần trân trọng mà nghe, cung kính mà nghe, chẳng v́ tổn hại, chẳng v́ tùy thuận, chẳng t́m ṭi lỗi lầm. Do bốn tướng ấy bèn ĺa thói nhơ khinh mạn, [tức là] khi nghe pháp bèn cung kính chánh pháp, cung kính Bổ Đặc Già La thuyết pháp (người thuyết pháp), chẳng khinh thường chánh pháp, và chẳng khinh người thuyết pháp. Khi nghe pháp, chẳng tự khinh miệt. Do một tướng ấy mà ĺa thói nhơ khiếp nhược.

          Thế nào là tâm chẳng tán loạn? Tức là do năm tướng: Một là tâm cầu giải ngộ, hai là tâm chuyên nhất hướng về, ba là tai lắng nghe, bốn là quét sạch cái tâm, năm là nhiếp hết thảy các tâm, lắng nghe chánh pháp. Quy tắc thuyết pháp th́ đại lược như phẩm Pháp Sư thuộc quyển bốn của kinh Pháp Hoa [đă dạy], có ba thứ:

          - Một, vào nhà Như Lai.

          - Hai, mặc áo Như Lai.

          - Ba, ngồi ṭa Như Lai.

          “Nhà Như Lai” là tâm đại từ bi đối với hết thảy chúng sanh. “Áo Như Lai” là tâm nhu ḥa nhẫn nhục. “Ṭa Như Lai”“hết thảy các pháp là Không”. Cái tâm thuyết pháp, ban vui cho chúng sanh, dẹp khổ cho chúng sanh; v́ thế, dấy ḷng từ bi. Từ bi thuyết pháp, bị người khác hại chẳng sân, gặp khổ có thể chịu đựng, có thể ấn chứng lư sâu th́ mới có thể tiếp nối [cái tâm ấy]. Quán ba sự là Không, vô nhiễm, chẳng chấp trước th́ mới có thể đạt lợi ích thật sự.

 

5.12.4.2.1.1.3.2.2. Đức Phật dạy cách nghênh tiếp [vị pháp sư giảng kinh này]

5.12.4.2.1.1.3.2.2.1. Quy cách đón tiếp

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Tứ Thiên Vương: - Bất ưng như thị bất nghênh pháp sư. Thời bỉ nhân vương ưng trước thuần tịnh, tiên khiết chi y, chủng chủng anh lạc dĩ vi nghiêm sức, tự tŕ bạch cái, cập dĩ hương, hoa, bị chỉnh quân nghi, thịnh trần âm nhạc, bộ xuất thành khuyết, nghênh bỉ pháp sư, vận tưởng kiền cung, vi cát tường sự.

          ()爾時佛告四天王不應如是不迎法師時彼人王應著純淨鮮潔之衣種種瓔珞以為嚴飾自持白蓋及以香華備整軍儀盛陳音樂步出城闕迎彼法師運想虔恭為吉祥事

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Tứ Thiên Vương: - Chớ nên không nghênh đón pháp sư như thế này. Khi đó, vị quốc vương ấy hăy nên mặc áo thuần tịnh, sạch sẽ, dùng các thứ chuỗi anh lạc để trang nghiêm, tự cầm lọng trắng, cùng với hương, hoa, sắp đặt quân đội nghiêm chỉnh, sắp bày rất nhiều thứ âm nhạc, đi bộ ra khỏi cửa thành để đón pháp sư, vận tâm tưởng kiền thành, cung kính, coi đó là chuyện cát tường).

 

          Tán rằng: Kế đó, đức Phật dạy cách nghênh đón, có hai ư:

          - Một, răn không nên chẳng nghênh đón [pháp sư].

          - Hai, từ “thời bỉ nhân vương” (khi đó, vị quốc vương ấy) trở đi, dạy quy cách nghênh đón.

          Trong phần quy cách nghênh đón, có năm ư:

          - Một, quy cách đón tiếp.

          - Hai, từ “tứ vương! Dĩ hà nhân duyên” (này bốn thiên vương! Do nhân duyên ǵ) trở đi, giải thích nguyên do nghênh đón.

          - Ba, từ “ư thuyết pháp sư” (đối với vị thầy thuyết pháp) trở đi, dạy cách suy tưởng trong khi nghênh đón.

          - Bốn, từ “hậu cung quyến thuộc” trở đi, nói về lợi ích đạt được.

          - Năm, từ “tứ vương đương tri” (bốn vua nên biết) trở đi, kết lại ư khuyên.

          Đoạn này thuộc ư đầu.

 

5.12.4.2.1.1.3.2.2.2. Giải thích nguyên do nghênh đón

 

          (Kinh) Tứ vương! Dĩ hà nhân duyên, linh bỉ nhân vương thân tác như thị cung kính cúng dường?

          ()四王以何因緣令彼人王親作如是恭敬供養

          (Kinh: Này bốn vua! Do nhân duyên nào khiến cho vị quốc vương ấy đích thân cung kính cúng dường như thế?)

 

          Kế đó, ư thứ hai là giải thích nguyên do nghênh đón. Có ba điều:

          - Một, gạn hỏi.

          - Hai, từ “do bỉ nhân vương” (do quốc vương ấy) trở đi, giải thích.

          - Ba, từ “tứ vương đương tri” (bốn vua nên biết) trở đi, kết lại ư nghênh đón xa gần.

          Đoạn này thuộc điều thứ nhất.

 

          (Kinh) Do bỉ nhân vương cử túc, hạ túc, bộ bộ tức thị cung kính, cúng dường, thừa sự, tôn trọng bách thiên vạn ức na-dữu-đa chư Phật Thế Tôn, phục đắc siêu việt như thị kiếp số sanh tử chi khổ, phục ư lai thế như thị kiếp số đương thọ Luân Vương thù thắng tôn vị.

          ()由彼人王舉足下足步步即是恭敬供養承事尊重百千萬億那庾多諸佛世尊復得超越如是劫數生死之苦復於來世如是劫數當受輪王殊勝尊位

     (Kinh: Do vị quốc vương ấy giở chân, hạ chân, mỗi bước chính là cung kính, cúng dường, thừa sự, tôn trọng trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa chư Phật Thế Tôn, lại được siêu việt nỗi khổ trong kiếp số sanh tử như thế, lại c̣n trong đời mai sau sẽ nhận lănh địa vị Luân Vương thù thắng trong kiếp số như thế).

 

          Tán rằng: Giải thích nguyên do nghênh đón. Có hai ư, đoạn này là giải thích chung, gồm ba ư:

          - Một, thành tựu cái nhân thù thắng.

          - Hai, vượt thoát các khổ.

          - Ba, đạt được quả báo thù thắng.

 

          (Kinh) Tùy kỳ bộ bộ diệc ư hiện thế phước đức tăng trưởng, tự tại vi vương, cảm ứng nan tư, chúng sở khâm trọng, đương ư vô lượng bách thiên ức kiếp nhân thiên, thọ dụng thất bảo cung điện. Sở tại sanh xứ, thường đắc vi vương, tăng ích thọ mạng, ngôn từ biện liễu, nhân thiên tín thọ, vô sở úy cụ, hữu đại danh xưng, hàm cộng chiêm ngưỡng. Thiên thượng, nhân trung, thọ thắng diệu lạc, hoạch đại lực thế, hữu đại oai đức, thân tướng kỳ diệu, đoan nghiêm vô tỷ, trị Thiên Nhân Sư, ngộ thiện tri thức, thành tựu cụ túc vô lượng phước tụ.

          ()隨其步步亦於現世福德增長自在為王感應難思眾所欽重當於無量百千億劫人天受用七寶宮殿所在生處常得為王增益壽命言詞辯了人天信受無所畏懼有大名稱咸共瞻仰天上人中受勝妙樂獲大力勢有大威德身相奇妙端嚴無比值天人師遇善知成就具足無量福聚

    (Kinh: Theo từng bước chân mà cũng trong đời hiện tại, phước đức tăng trưởng, tự tại làm vua, cảm ứng khó thể nghĩ tưởng, được đại chúng khâm kính, tôn trọng. Sẽ ở trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, hưởng thụ cung điện bảy báu trong cơi trời, người. Sanh ở nơi đâu, cũng thường được làm vua, tăng ích thọ mạng, ngôn từ, biện tài, trời người tin nhận, chẳng hề sợ hăi, có tiếng tăm lớn, đều được mọi người cùng chiêm ngưỡng. Hưởng sự vui mầu nhiệm thù thắng trên trời hay trong loài người, đạt được thế lực to lớn, có oai đức lớn, thân tướng kỳ diệu, đoan nghiêm khôn sánh. Gặp đấng Thiên Nhân Sư, gặp thiện tri thức, thành tựu trọn đủ vô lượng khối phước).

 

          Tán rằng: Giải thích riêng biệt. Trước hết là lợi ích trong hiện tại. Kế đó, từ “đương ư vô lượng” (sẽ trong vô lượng) trở đi, [nói về] lợi ích trong mai sau. Lợi ích trong mai sau gồm mười ba điều:

          - Một, đạt được chỗ thù thắng.

          - Hai, hưởng quả báo thù thắng.

          - Ba, đạt được biện tài.

          - Bốn, người khác tin nhận.

          - Năm, ĺa sợ hăi.

          - Sáu, đạt được danh tiếng.

          - Bảy, được kính phụng.

          - Tám, hưởng niềm vui thù thắng.

          - Chín, thành tựu đại lực.

          - Mười, có oai nghiêm to lớn.

          - Mười một, đạt được tướng hảo.

          - Mười hai, gặp bạn lành.

          - Mười ba, trọn đủ phước đức.

 

          (Kinh) Tứ vương đương tri, bỉ chư nhân vương kiến như thị đẳng chủng chủng vô lượng công đức lợi ích, cố ưng tự văng, phụng nghênh pháp sư, nhược nhất du-thiện-na, năi chí bách thiên du-thiện-na.

          ()四王當知彼諸人王見如是等種種無量功德利益故應自往奉迎法師若一踰繕那乃至百千踰繕那

          (Kinh: Bốn vua nên biết, các quốc vương ấy, thấy vô lượng các thứ công đức lợi ích như thế đó, cho nên tự đến đón tiếp pháp sư hoặc một du-thiện-na (yojana, do-tuần) cho đến trăm ngàn du-thiện-na).

 

          Kế đó, kết lại ư nghênh tiếp gần hay xa.

 

5.12.4.2.1.1.3.2.2.3. Suy tưởng trong khi nghênh đón

 

          (Kinh) Ư thuyết pháp sư, ưng sanh Phật tưởng.

          ()說法師應生佛

          (Kinh: Đối với vị thầy thuyết pháp, hăy nên tưởng như Phật).

 

          Tán rằng: Điều thứ ba là cách suy tưởng trong khi nghênh đón. Trước hết là đạt được lợi ích trong hiện tại.

 

          (Kinh) Hoàn chí thành dĩ, tác như thị niệm: - Kim nhật, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, nhập ngă cung trung, thọ ngă cúng dường, vị ngă thuyết pháp. Ngă văn pháp dĩ, tức ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề bất phục thoái chuyển, tức thị trị ngộ bách thiên vạn ức na-dữu-đa chư Phật Thế Tôn. Ngă ư kim nhật tức thị chủng chủng quảng đại thù thắng thượng diệu lạc cụ, cúng dường quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật. Ngă ư kim nhật tức thị vĩnh bạt Diễm Ma Vương giới, địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh chi khổ, tiện vi dĩ chủng vô lượng bách thiên vạn ức Chuyển Luân Thánh Vương, Thích, Phạm thiên chúa thiện căn chủng tử, đương linh vô lượng bách thiên vạn ức chúng sanh xuất sanh tử khổ, đắc Niết Bàn lạc, tích tập vô lượng vô biên bất khả tư nghị phước đức chi tụ.

          ()還至城已作如是念今日釋迦牟尼如來正等覺入我宮中受我供養為我我聞法已即於阿耨多羅三藐三菩提不復退轉即是值遇百千萬億那庾多諸佛世我於今日即是種種廣大殊勝上妙樂具供養過去未來現在諸佛我於今日即是永拔琰摩王界地獄餓鬼傍生之苦便為已種無量百千萬億轉輪聖王釋梵天主善根種子當令無量百千萬億眾生出生死苦得涅槃樂積集無量無邊不可思議福德之聚

    (Kinh: Trở về tới thành rồi, nghĩ như thế này: - Hôm nay, Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, vào trong cung của ta, tiếp nhận ta cúng dường, v́ ta thuyết pháp. Ta nghe pháp xong, chẳng c̣n thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là đă gặp gỡ trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa chư Phật Thế Tôn. Ta trong ngày nay chính là đă cúng dường quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật bằng các thứ vật vui sướng thượng diệu rộng lớn như thế. Ta trong ngày nay vĩnh viễn dẹp trừ nỗi khổ trong cơi vua Diễm Ma, địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, chính là đă gieo chủng tử thiện căn của vô lượng trăm ngàn vạn ức Chuyển Luân Thánh Vương, Đế Thích, Phạm vương, chúa cơi trời, sẽ khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh thoát khỏi nỗi khổ sanh tử, đạt được niềm vui Niết Bàn, tích tập vô lượng vô biên khối phước đức chẳng thể nghĩ bàn).

 

          Trở về cung suy tưởng, gồm bảy điều:

          - Một, tưởng như được thấy đức Bổn Sư.

          - Hai, từ “ngă văn pháp dĩ” (ta nghe pháp xong) trở đi, tưởng đắc đại Bồ Đề.

          - Ba, từ “tức thị trị ngộ” (tức là gặp gỡ) trở đi, tưởng được thấy chư Phật.

          - Bốn, từ “ngă ư kim nhật” (ta trong hôm nay) trở đi, tưởng cúng dường chư Phật.

          - Năm, từ “ngă ư kim nhật” (ta trong hôm nay) trở đi, tưởng vĩnh viễn ĺa khỏi đường ác, được vượt thoát đường ác. Diễm Ma vương giới tức là cơi của người phán quyết trong ba ác đạo, đường ấy thuộc về đường quỷ. Luận Du Già Sư Địa nói: “Sanh vào Na Lạc Ca (Naraka, địa ngục) làm Tĩnh Tức Vương, tức là sanh vào cơi của vị vua biến hóa. Nếu không, v́ sao sanh trong chỗ thấp kém nhất, hóa hiện ra tù ngục?” Lại c̣n mâu thuẫn với Nhị Thập Duy Thức[4] nói [Diêm vương] chẳng chấp thuận cùng họ (tội nhân) chịu khổ. Kinh Trường A Hàm, quyển mười chín nói: Xét theo tướng khác nói vua tưởng như đang thọ khổ.

          - Sáu, từ “tiện vi dĩ chủng” (tức là đă gieo) trở đi, tưởng đạt được các vương vị.

          - Bảy, từ “đương linh vô lượng” (sẽ khiến cho vô lượng) trở đi, tưởng khiến cho người khác đạt được lợi ích.

 

5.12.4.2.1.1.3.2.2.4. Lợi ích đạt được [do suy tưởng, tiếp đón như thế]

         

          (Kinh) Hậu cung quyến thuộc, cập chư nhân dân, giai mông an ổn, quốc độ thanh thái, vô chư tai ách, độc hại ác nhân, tha phương oán địch, bất lai xâm nhiễu, viễn ly ưu hoạn.

          ()後宮眷屬及諸人民皆蒙安穩國土清泰無諸災厄毒害惡人他方怨敵不來侵擾遠離憂患

    (Kinh: Quyến thuộc trong hậu cung, và dân chúng đều được an ổn, cơi nước thanh b́nh, không có các tai ách, độc hại, kẻ ác, oán địch phương khác chẳng đến xâm phạm, quấy nhiễu, xa ĺa ưu hoạn).

 

          Kế đó, điều thứ tư nói về đạt được lợi ích.

 

5.12.4.2.1.1.3.2.2.4.5. Kết lại ư khuyên bảo

 

          (Kinh) Tứ vương đương tri, thời bỉ nhân vương ưng tác như thị tôn trọng chánh pháp, diệc ư thọ tŕ thị diệu kinh điển bật-sô, bật-sô ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, sở hoạch thiện căn, tiên dĩ thắng phước thí dữ nhữ đẳng, cập chư quyến thuộc.

          ()四王當知時彼人王應作如是尊重正法亦於受持是妙經典苾芻苾芻尼鄔波索迦鄔波斯迦供養恭敬尊重讚歎所獲善根先以勝福施與汝等及諸眷屬

          (Kinh: Bốn vua nên biết: Khi đó, vị quốc vương ấy hăy nên tôn trọng chánh pháp như thế, cũng nên đối với bật-sô, bật-sô ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca thọ tŕ kinh điển mầu nhiệm này mà cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán. Đối với thiện căn đạt được, trước hết dùng phước thù thắng thí cho các ông và các quyến thuộc).

 

          Kế đó, kết lại để khuyên răn. Trước là kết lại lời khuyên răn; kế đó là kết lại các lợi ích đạt được. Trong phần kết lại lời khuyên, trước hết là kết lại ư tôn kính pháp sư; sau đó, kết lại ư tôn kính tứ chúng, cuối cùng là hồi thí.

 

          (Kinh) Bỉ chi nhân vương hữu đại phước đức, thiện nghiệp nhân duyên, ư hiện thế trung, đắc đại tự tại, tăng ích oai quang, cát tường diệu tướng giai tất trang nghiêm, nhất thiết oán địch năng dĩ chánh pháp nhi tồi phục chi.

          ()彼之人王有大福德善業因緣於現世中得大自在增益威光吉祥妙相皆悉莊嚴一切怨敵能以正法而摧伏之

          (Kinh: Vị quốc vương ấy có nhân duyên phước đức và thiện nghiệp to lớn, trong đời hiện tại, đạt được đại tự tại, tăng thêm oai quang, diệu tướng cát tường thảy đều trang nghiêm, có thể dùng chánh pháp để chiết phục hết thảy các oán địch).

 

          Kế đó, kết lại lợi ích đạt được, ư nghĩa dễ hiểu!

 

5.12.4.2.1.1.3.2.3. Thiên vương dạy [quốc vương] cách thực hiện để khiến các thiên vương hoan hỷ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược hữu nhân vương năng tác như thị cung kính chánh pháp, thính thử kinh vương, tịnh ư tứ chúng tŕ kinh chi nhân, cung kính, cúng dường, tôn trọng tán thán, thời bỉ nhân vương dục vị ngă đẳng sanh hoan hỷ cố, đương tại nhất biên, cận ư pháp ṭa, hương thủy sái địa, tán chúng danh hoa, an trí xứ sở, thiết tứ vương ṭa. Ngă dữ bỉ vương cộng thính chánh pháp. Kỳ vương sở hữu tự lợi thiện căn, diệc dĩ phước phân thí cập ngă đẳng. Thế Tôn! Thời bỉ nhân vương thỉnh thuyết pháp giả thăng ṭa chi thời, tiện vị ngă đẳng thiêu chúng danh hương, cúng dường thị kinh.

          ()爾時四天王白佛言世尊若有人王能作如是恭敬正法聽此經王并於四眾持經之人恭敬供養尊重讚歎時彼人王欲為我等生歡喜故當在一邊近於法座香水灑地散眾名華安置處所設四王座我與彼王共聽正法其王所有自利善根亦以福分施及我等世尊時彼人王請說法者昇座之便為我等燒眾名香供養是經

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu có quốc vương có thể cung kính chánh pháp, nghe vua trong các kinh này như vậy, lại c̣n cung kính, cúng dường, tôn trọng tán thán người tŕ kinh thuộc tứ chúng; khi đó, vị quốc vương ấy v́ muốn chúng con sanh tâm hoan hỷ, hăy nên ở tại một bên, gần nơi pháp ṭa, dùng nước thơm rưới đất, rải các hoa quư, xếp đặt nơi chốn, bày ṭa của bốn thiên vương. Con với nhà vua ấy cùng nghe chánh pháp. Đối với tất cả thiện căn tự lợi của chính ḿnh, vị vua ấy cũng chia một phần phước cho chúng con. Bạch Thế Tôn! Khi vị quốc vương đó thỉnh người thuyết pháp thăng ṭa, sẽ v́ chúng con đốt các loại hương quư để cúng dường kinh này).

 

          Kế đó, thiên vương dạy [quốc vương] hăy v́ các thiên vương [xếp đặt pháp ṭa v.v…], có hai ư:

          - Một, nhắc lại các việc quốc vương đă làm.

          - Hai, từ “thời bỉ nhân vương” (khi đó, vị quốc vương ấy) trở đi, dạy quy cách v́ các thiên vương mà thực hiện.

          Trong phần quy cách, có sáu điều:

          - Một, chỉ bày nơi chốn sẽ được trang nghiêm (lập ṭa của thiên vương gần pháp ṭa của người thuyết pháp).

          - Hai, trang nghiêm [nơi ấy] cho thanh tịnh.

          - Ba, truyền xếp đặt bốn ṭa.

          - Bốn, thiên vương sẽ cùng [quốc vương] nghe pháp.

          - Năm, dạy vua thí phước.

          - Sáu, truyền hăy cúng dường.

 

5.12.4.2.1.1.3.3. Nương theo đó hành tŕ, cảm ứng điềm lành

5.12.4.2.1.1.3.3.1. Tứ thiên vương trần thuật sự cảm ứng

 

          (Kinh) Thế Tôn! Thời bỉ hương yên ư nhất niệm khoảnh, thượng thăng hư không, tức chí ngă đẳng chư thiên cung điện, ư hư không trung, biến thành hương cái.

          ()世尊時彼香煙於一念頃上昇虛空即至我等諸天宮殿於虛空中變成香蓋

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Khi ấy, khói hương trong khoảng một niệm bay lên hư không, liền thấu tới cung điện của chư thiên chúng con, ở trong hư không, biến thành lọng hương).

 

          Kế đó, phân đoạn “do hành theo đó, cảm vời điềm lành”, bao gồm hai phần:

          - Một, bốn vị thiên vương trần thuật sự cảm ứng.

          - Hai, từ “Phật cáo Tứ Thiên Vương” (đức Phật bảo Tứ Thiên Vương) trở đi, đức Phật trần thuật cảm ứng.

          Trong phần “chư thiên trần thuật”, trước là Tổng, sau là Biệt. Trong phần Tổng, có hai ư:

          - Một, chỗ khói hương xông tới.

          - Hai, khói hương [hiện điềm] tốt lành.

 

          (Kinh) Ngă đẳng thiên chúng văn bỉ diệu hương, hương hữu kim quang, chiếu diệu ngă đẳng sở cư cung điện, năi chí Phạm cung, cập dĩ Đế Thích, Đại Biện Tài Thiên, Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần, Chánh Liễu Tri đại tướng, nhị thập bát bộ chư Dược Xoa thần, Đại Tự Tại Thiên, Kim Cang Mật Chủ, Bảo Hiền đại tướng, Ha Lợi Để Mẫu ngũ bách quyến thuộc, Vô Nhiệt Năo Tŕ long vương, Đại Hải long vương sở cư chi xứ. Thế Tôn! Như thị đẳng chúng, ư tự cung điện, kiến bỉ hương yên nhất sát-na khoảnh, biến thành hương cái, văn hương phân phức, đổ sắc quang minh, biến chí nhất thiết chư thiên thần cung.

          ()我等天眾聞彼妙香香有金光照曜我等所居宮殿乃至梵宮及以帝釋大辯才天大吉祥天堅牢地神正了知大將二十八部諸藥叉神大自在天金剛密主寶賢大將訶利底母五百眷屬無熱惱池龍王大海龍王所居之處世尊如是等眾於自宮殿見彼香煙一剎那頃變成香蓋聞香芬馥覩色光明遍至一切諸天神宮

    (Kinh: Chư thiên chúng con ngửi thấy mùi hương mầu nhiệm ấy, hương có quang minh sắc vàng, chiếu sáng ngời cung điện chúng con đang ở, cho đến cung điện của Phạm thiên, cùng với chỗ ở của Đế Thích, Đại Biện Tài Thiên, Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần, đại tướng Chánh Liễu Tri[5], hai mươi tám bộ các thần Dược Xoa, Đại Tự Tại Thiên, Kim Cang Mật Chủ, đại tướng Bảo Hiền[6], Ha Lợi Để Mẫu (Hārītī, Quỷ Tử Mẫu) và năm trăm quyến thuộc, long vương nơi ao Vô Nhiệt Năo và long vương Đại Hải. Bạch Thế Tôn! Các đại chúng như thế ở trong cung điện của chính ḿnh, thấy khói hương ấy, trong khoảng một sát-na biến thành lọng hương, ngửi thấy mùi hương thơm ngát, thấy quang minh nhiều màu soi thấu trọn khắp các cung của chư thiên thần).

 

     Tiếp đó, nói riêng. Dựa theo khói hương mà nói có quang minh kim sắc. Nếu không, hương trần do tỵ căn (mũi) tiếp nhận, sao có thể nói là “thấy” cho được?

 

5.12.4.2.1.1.3.3.2. Đức Phật trần thuật sự cảm ứng

 

          (Kinh) Phật cáo Tứ Thiên Vương: - Thị hương quang minh phi đản chí thử cung điện, biến thành hương cái, phóng đại quang minh. Do bỉ nhân vương thủ chấp hương lô, thiêu chúng danh hương, cúng dường kinh thời, kỳ hương yên khí, ư nhất niệm khoảnh, biến chí tam thiên đại thiên thế giới bách ức nhật nguyệt, bách ức Diệu Cao sơn vương, bách ức tứ châu. Ư thử tam thiên đại thiên thế giới, nhất thiết thiên, long, Dược Xoa, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già cung điện chi sở, ư hư không trung, sung măn nhi trụ, chủng chủng hương yên biến thành vân cái. Kỳ cái kim sắc, phổ chiếu thiên cung. Như thị tam thiên đại thiên thế giới sở hữu chủng chủng hương vân, hương cái, giai thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh oai thần chi lực.

          ()佛告四天王是香光明非但至此宮殿變成香蓋放大光明由彼人王手執香爐燒眾名香供養經時其香煙氣於一念頃遍至三千大千世界百億日月百億妙高山王百億四洲於此三千大千世界一切天藥叉健闥婆阿蘇羅揭路茶緊那羅莫呼洛伽宮殿之所於虛空中充滿而住種種香煙變成雲蓋其蓋金色普照天宮如是三千大千世界所有種種香雲香蓋皆是金光明最勝王經威神之力

    (Kinh: Đức Phật bảo Tứ Thiên Vương: - Quang minh của hương ấy không chỉ thấu đến các cung điện ấy, mà c̣n biến thành lọng hương, tỏa quang minh to lớn. Do khi vị quốc vương ấy tay cầm ḷ hương, đốt các thứ hương quư cúng dường kinh, mùi khói hương trong khoảng một niệm, đến trọn khắp trăm ức mặt trời, mặt trăng, trăm ức núi chúa Diệu Cao, trăm ức bốn châu trong tam thiên đại thiên thế giới. Nơi cung điện của hết thảy trời, rồng, Dược Xoa, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Trà (Ca Lâu La), Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già trong tam thiên đại thiên thế giới ấy, trụ đầy ắp trong hư không, các thứ khói hương biến thành lọng mây. Lọng ấy sắc vàng, chiếu khắp cung trời. Tất cả các thứ mây hương, lọng hương như thế trong tam thiên đại thiên thế giới đều do sức oai thần của kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương).

 

          Kế đó, đức Phật trần thuật sự cảm ứng, có hai ư:

          - Một, khói hương xông khắp cơi đại thiên.

          - Hai, từ “thị chư nhân vương” (các quốc vương ấy) trở đi, nói hương xông trọn khắp mười phương thế giới.

          Trong ư thứ nhất, có bốn điều:

          - Một, chẳng bị hạn cuộc bởi t́nh kiến.

          - Hai, từ “do bỉ nhân vương” (do quốc vương ấy) trở đi, hương xông trọn khắp.

          - Ba, từ “chủng chủng hương yên” (các thứ khói hương) trở đi, nói về điềm lành.

          - Bốn, “như thị tam thiên” (cơi tam thiên như thế) trở đi, kết quy vào kinh lực.

 

          (Kinh) Thị chư nhân vương thủ tŕ hương lô cúng dường kinh thời, chủng chủng hương khí phi đản biến thử tam thiên đại thiên thế giới, ư nhất niệm khoảnh, diệc biến thập phương vô lượng vô biên Hằng hà sa đẳng bách thiên vạn ức chư Phật quốc độ, ư chư Phật thượng hư không chi trung, biến thành hương cái, kim sắc phổ chiếu diệc phục như thị.

          ()是諸人王手持香罏供養經時種種香氣非但遍此三千大千世界於一念頃亦遍十方無量無邊恒河沙等百千萬億諸佛國土於諸佛上虛空之中變成香蓋金色普照亦復如是

    (Kinh: Khi các quốc vương tay cầm ḷ hương cúng dường kinh, các thứ mùi hương không chỉ trọn khắp tam thiên đại thiên thế giới này, [mà c̣n] trong khoảng một niệm, cũng trọn khắp mười phương vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức các cơi nước Phật nhiều như cát sông Hằng. Nơi hư không phía trên chư Phật, biến thành lọng hương, kim sắc chiếu trọn khắp nơi, cũng giống như thế).

 

          Kế đó, nói [mùi hương] trọn khắp mười phương thế giới. Có hai ư:

          - Một, tới đâu cũng đều ở phía trên phía dưới chư Phật.

          - Hai, hiện điềm lành.

 

5.12.4.2.1.1.3.4. Chư Phật tán dương

5.12.4.2.1.1.3.4.1. Tán thán cái nhân thù thắng thành tựu trong hiện tại

5.12.4.2.1.1.3.4.1.1. Tán thán cái nhân của pháp sư

 

          (Kinh) Thời bỉ chư Phật văn thử diệu hương, đổ tư vân cái, cập dĩ kim sắc ư thập phương giới Hằng hà sa đẳng chư Phật Thế Tôn, hiện thần biến dĩ, bỉ chư Thế Tôn tất cộng quán sát, dị khẩu đồng âm, tán pháp sư viết: - Thiện tai! Thiện tai! Nhữ đại trượng phu năng quảng lưu bố như thị thậm thâm vi diệu kinh điển, tắc vi thành tựu vô lượng vô biên bất khả tư nghị phước đức chi tụ.

          ()時彼諸佛聞此妙香覩斯雲蓋及以金色於十方界恒河沙等諸佛世尊現神變已彼諸世尊悉共觀察異口同音讚法師曰善哉善哉汝大丈夫能廣流布如是甚深微妙經典則為成就無量無邊不可思議福德之聚

    (Kinh: Khi đó, chư Phật ngửi mùi hương mầu nhiệm ấy, trông thấy lọng mây ấy, và sắc vàng hiện thần biến nơi chư Phật Thế Tôn trong mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng xong, các đức Thế Tôn ấy đều cùng quan sát, khác miệng cùng tiếng, tán thán pháp sư rằng: - Lành thay! Lành thay! Ông là đại trượng phu có thể lưu truyền rộng răi kinh điển vi diệu rất sâu như thế, tức là thành tựu vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn khối phước đức).

 

          Tán rằng: Phần thứ tư trong đoạn “dạy về quy cách hoằng kinh” là “chư Phật tán dương”, có hai điều:

          - Một, tán thán cái nhân thù thắng được thành tựu trong hiện tại.

          - Hai, từ “nhĩ thời, thập phương” (lúc bấy giờ, mười phương) trở đi, tán thán cái quả vị lai.

          Tán thán nhân lẫn quả, mong cho các quốc vương y giáo phụng hành. Trước hết, trong phần tán thán cái nhân, trước là tán thán cái nhân của pháp sư, sau là tán thán cái nhân của người nghe. “Pháp sư” ở đây là nói chung người thuyết pháp, mà cũng bao gồm người cúng dường. [Người hành bất cứ hạnh nào trong] mười thứ pháp hạnh (biên chép, đọc, tụng, cúng dường, giảng nói, lưu truyền…), đều gọi là pháp sư. Do nhà vua có thể cúng dường, lưu truyền rộng răi kinh này, pháp sư có thể lưu truyền pháp này. Nhưng xét theo mạch văn, đúng là chỉ tán thán nhà vua, nêu ra chuyện thấy điềm lành ứng hiện để tán thán. Hoặc điềm lành ứng hiện do oai lực của kinh; v́ thế, tán thán pháp sư, bao gồm cả hai chỗ tốt lành. Có ba ư:

          - Một, trông thấy điềm lành.

          - Hai, từ “bỉ chư Phật” (các đức Phật đó) trở đi, tán thán chuyện lưu thông kinh.

          - Ba, từ “tắc vi thành tựu” (tức là thành tựu) trở đi, tán thán để kết lại cái nhân.

          Ư nghĩa kinh văn dễ hiểu!

 

5.12.4.2.1.1.3.4.1.2. Tán thán cái nhân của người nghe

 

          (Kinh) Nhược hữu thính văn như thị kinh giả, sở hoạch công đức kỳ lượng thậm đa, hà huống thư tả, thọ tŕ, độc tụng, vị tha phu diễn, như thuyết tu hành. Hà dĩ cố? Thiện nam tử! Nhược hữu chúng sanh văn thử Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh giả, tức ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề bất phục thoái chuyển.

          ()若有聽聞如是經者所獲功德其量甚多何況書寫受持讀誦為他敷演說修何以故善男子若有眾生聞此金光明最勝王經者即於阿耨多羅三藐三菩提不復退轉

    (Kinh: Nếu có người nghe kinh như thế y, đạt được công đức số lượng rất nhiều, huống hồ biên chép, thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác phô diễn, tu hành đúng như lời dạy. V́ cớ sao? Này thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nghe kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, tức là chẳng c̣n thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

 

          Kế đó, tán thán người nghe, có ba ư:

          - Một, nêu ra cái kém cỏi để suy ra cái thù thắng.

          - Hai, gạn hỏi nguyên do.

          - Ba, giải thích.

 

5.12.4.2.1.1.3.4.2. Tán thán cái quả trong vị lai    

5.12.4.2.1.1.3.4.2.1. Chư Phật cùng khen ngợi

 

          (Kinh) Nhĩ thời, thập phương hữu bách thiên câu-chi na-dữu-đa vô lượng vô số Hằng hà sa đẳng chư Phật sát độ, bỉ chư sát độ nhất thiết Như Lai dị khẩu đồng âm, ư pháp ṭa thượng, tán bỉ pháp sư ngôn: - Thiện tai! Thiện tai!

          ()爾時十方有百千俱胝那庾多無量無數恒河沙等諸佛彼諸剎土一切如來異口同音於法座上讚彼法師言善哉善哉

    (Kinh: Lúc bấy giờ, mười phương có trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa vô lượng vô số Hằng hà sa các cơi Phật, hết thảy Như Lai trong các cơi nước ấy khác miệng cùng tiếng, ở trên pháp ṭa, khen ngợi vị pháp sư ấy rằng: - Lành thay! Lành thay!).

 

          Kế đó, tán thán cái quả trong vị lai. Có hai ư, trước hết là chư Phật cùng khen ngợi chung.

 

5.12.4.2.1.1.3.4.2.2. Tán thán riêng

5.12.4.2.1.1.3.4.2.2.1. Tán thán cái nhân

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Nhữ ư lai thế, dĩ tinh cần lực, đương tu vô lượng bách thiên khổ hạnh, cụ túc tư lương, siêu chư thánh chúng, xuất quá tam giới, vi tối thắng tôn.

          ()善男子汝於來世以精勤力當修無量百千苦行具足資糧超諸聖眾出過三界為最勝尊

    (Kinh: Thiện nam tử! Ông trong đời sau, do sức siêng ṛng, sẽ tu vô lượng trăm ngàn khổ hạnh, trọn đủ tư lương, vượt xa các thánh chúng, vượt khỏi tam giới, thành đấng tối thắng).

 

          Kế đó là tán thán riêng. Trong phần tán thán riêng, trước tiên là tán thán lợi ích nơi cái nhân.

 

5.12.4.2.1.1.3.4.2.2.2. Tán thán cái quả

 

          (Kinh) Đương tọa Bồ Đề thụ vương chi hạ, thù thắng trang nghiêm, năng cứu tam thiên đại thiên thế giới hữu duyên chúng sanh, thiện năng tồi phục khả úy h́nh nghi chư ma quân chúng, giác liễu chư pháp tối thắng thanh tịnh thậm thâm vô thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Thiện nam tử! Nhữ đương tọa ư kim cang chi ṭa, chuyển ư vô thượng chư Phật sở tán thập nhị diệu hạnh thậm thâm pháp luân, năng kích vô thượng tối đại pháp cổ, năng xuy vô thượng cực diệu pháp loa, năng kiến vô thượng thù thắng pháp tràng, năng nhiên vô thượng cực minh pháp cự, năng giáng vô thượng cam lộ pháp vũ, năng đoạn vô lượng phiền năo oán kết.

          ()當坐菩提樹王之下殊勝莊嚴能救三千大千世界有緣眾生善能摧伏可畏形儀諸魔軍眾覺了諸法最勝清淨甚深無上正等菩提善男子汝當坐於金剛之座轉於無上諸佛所讚十二妙行甚深法輪能擊無上大法鼓能吹無上極妙法螺能建無上殊勝法幢能然無上極明法炬能降無上甘露法雨能斷無量煩惱怨結

     (Kinh: Sẽ ngồi dưới cội Bồ Đề thụ vương, thù thắng trang nghiêm, có thể cứu chúng sanh hữu duyên trong tam thiên đại thiên thế giới, khéo có thể dẹp tan các đội quân ma có h́nh dạng đáng sợ, giác ngộ Chánh Đẳng Bồ Đề rất sâu vô thượng, thanh tịnh tối thắng trong các pháp. Này thiện nam tử! Ông sẽ ngồi ṭa kim cang, chuyển pháp luân rất sâu gồm mười hai diệu hạnh vô thượng được chư Phật khen ngợi, có thể gióng trống pháp vô thượng lớn nhất, có thể thổi ốc pháp vô thượng cực diệu, có thể lập pháp tràng thù thắng vô thượng, có thể đốt đuốc pháp vô thượng cực sáng, có thể tuôn mưa pháp cam lộ vô thượng, có thể đoạn vô lượng phiền năo oán kết).

 

          Kế đó, tán thán cái quả. Trong phần “tán thán cái quả”, có bốn điều:

          - Một, ngồi dưới cội đạo thụ (cây Bồ Đề).

          - Hai, từ “thiện năng tồi phục” (khéo có thể dẹp tan) trở đi, hàng phục thiên ma.

          - Ba, từ “giác liễu chư pháp” trở đi, đắc Bồ Đề.

          - Bốn, từ “thiện nam tử” trở đi, chuyển pháp luân.

          Chuyển pháp luân có tám điều. Thứ nhất, trong cái Thể của pháp luân th́ pháp luân có sáu nghĩa, từ “năng linh vô lượng” (có thể khiến cho vô lượng) trở đi chính là tác dụng của pháp luân. Pháp luân có sáu nghĩa như sau:

          - Một, khai Quyền.

          - Hai, ốc (tù và) pháp lập giáo.

          - Ba, pháp tràng đắc Bồ Đề trí.

          - Bốn, đuốc pháp đắc lư Niết Bàn.

          - Năm, mưa pháp có thể sanh ra điều thiện.

          - Sáu, đoạn phiền năo, có thể phá ác.

 

          (Kinh) Năng linh vô lượng bách thiên vạn ức na-dữu-đa hữu t́nh độ ư vô nhai khả úy đại hải, giải thoát sanh tử vô tế luân hồi, trị ngộ vô lượng bách thiên vạn ức na-dữu-đa Phật.

          ()能令無量百千萬億那庾多有情度於無涯可畏大海脫生死無際輪值遇無量百千萬億那庾多佛

          (Kinh: Có thể khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa hữu t́nh vượt khỏi biển cả không bờ bến đáng sợ, giải thoát sanh tử luân hồi không ngằn , gặp vô lượng trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa Phật).

         

          Tán rằng: Tác dụng của pháp luân, có ba điều:

          - Vượt qua biển cả, ĺa Khổ Đế.

          - Thoát sanh tử, đoạn Tập Đế.

          - Do Hoặc trói buộc luân hồi sanh tử; v́ thế, đoạn Tập Đế được gọi là “giải thoát”.

          Nghiệp chẳng có nghĩa là “trói buộc”, chẳng phải là cái gốc sanh tử; v́ thế, chẳng nói là “nghiệp”. Hoặc cũng có thể hiểu nó thuộc về nghiệp, v́ giống như Tập. Từ “trị ngộ Phật” (gặp gỡ Phật) trở đi là gặp gỡ bạn lành.

 

5.12.4.2.1.1.4. Quốc vương tu hành kinh này đạt được lợi ích

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương phục bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh năng ư vị lai, hiện tại, thành tựu như thị vô lượng công đức. Thị cố, nhân vương nhược đắc văn thị vi diệu kinh điển, tức thị dĩ ư bách thiên vạn ức vô lượng Phật sở, chủng chư thiện căn. Ư bỉ nhân vương, ngă đương hộ niệm. Phục kiến vô lượng phước đức lợi cố, ngă đẳng tứ vương, cập dư quyến thuộc, vô lượng bách thiên vạn ức chư thần, ư tự cung điện, kiến thị chủng chủng hương yên, vân cái thần biến chi thời, ngă đương ẩn tế, bất hiện kỳ thân. Vị thính pháp cố, đương chí thị vương thanh tịnh nghiêm sức sở chỉ cung điện giảng pháp chi xứ. Như thị năi chí Phạm cung, Đế Thích, Đại Biện Tài Thiên, Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần, Chánh Liễu Tri đại tướng, nhị thập bát bộ chư Dược Xoa thần, Đại Tự Tại Thiên, Kim Cang Mật Chủ, Bảo Hiền đại tướng, Ha Lợi Để Mẫu ngũ bách quyến thuộc, Vô Nhiệt Năo Tŕ long vương, Đại Hải long vương, vô lượng bách thiên vạn ức na-dữu-đa chư thiên, Dược Xoa, như thị đẳng chúng, vị thính pháp cố, giai bất hiện thân, chí bỉ nhân vương thù thắng cung điện trang nghiêm cao ṭa thuyết pháp chi sở. Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, cập dư quyến thuộc, Dược Xoa chư thần, giai đương nhất tâm, cộng bỉ nhân vương vi thiện tri thức. Nhân thị vô thượng đại pháp thí chủ dĩ cam lộ vị sung túc ư ngă. Thị cố, ngă đẳng ủng hộ thị vương, trừ kỳ suy hoạn, linh đắc an ổn, cập kỳ cung điện, thành, ấp, quốc độ, chư ác tai biến tất linh tiêu diệt.

          ()爾時四天王復白佛言世尊是金光明最勝王經能於未來現在成就如是無量功德是故人王若得聞是微妙經典即是已於百千萬億無量佛所種諸善根於彼人王我當護念復見無量福德利故我等四王及餘眷屬無量百千萬億諸神於自宮殿見是種種香煙雲蓋神變之時我當隱蔽不現其身為聽法故當至是王清淨嚴飾所止宮殿講法之處如是乃至梵宮帝釋大辯才天大吉祥天堅牢地神正了知大將二十八部諸藥叉神大自在天金剛密主寶賢大將訶利底母五百眷屬無熱惱池龍王大海龍王無量百千萬億那庾多諸天藥叉如是等眾為聽法故皆不現身至彼人王殊勝宮殿莊嚴高座說法之世尊我等四王及餘眷屬藥叉諸神皆當一心共彼人王為善知識因是無上大法施主以甘露味充足於我是故我等擁護是王除其衰患令得安穩及其宮殿城邑國土諸惡災變悉令消滅

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương lại bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này có thể trong vị lai và hiện tại thành tựu vô lượng công đức như thế. Do đó, nếu quốc vương được nghe kinh điển vi diệu này, tức là đă gieo các thiện căn nơi trăm ngàn vạn ức vô lượng chư Phật. Con sẽ hộ niệm quốc vương ấy. Lại do thấy vô lượng lợi ích, phước đức, bốn thiên vương chúng con và các quyến thuộc khác, gồm vô lượng trăm ngàn vạn ức các thần, ở trong cung điện của chính ḿnh, khi thấy các loại thần thông biến hóa như khói hương, lọng mây ấy, con sẽ ẩn thân, chẳng hiện thân ḿnh v́ để nghe pháp. Con sẽ đến chỗ cung điện được nhà vua ấy trang hoàng thanh tịnh để làm nơi giảng pháp. Như thế cho đến cung điện của Phạm vương, Đế Thích, Đại Biện Tài Thiên, Đại Cát Tường Thiên, Kiên Lao Địa Thần, đại tướng Chánh Liễu Tri, hai mươi tám bộ các thần Dược Xoa, Đại Tự Tại Thiên, Kim Cang Mật Chủ, đại tướng Bảo Hiền, Ha Lợi Để Mẫu và năm trăm quyến thuộc, long vương ao Vô Nhiệt Năo, long vương Đại Hải, vô lượng trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa chư thiên, Dược Xoa, các chúng như thế đó, v́ để nghe pháp đều chẳng hiện thân, tới chỗ ṭa cao để thuyết pháp trang nghiêm trong cung điện thù thắng của vị quốc vương ấy. Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con và các quyến thuộc khác, các thần Dược Xoa, sẽ đều nhất tâm cùng làm thiện tri thức cho vị quốc vương ấy. Do vị thí chủ đại pháp vô thượng ấy đă dùng cam lộ khiến cho con được sung túc. V́ thế, chúng con ủng hộ nhà vua ấy, trừ sự suy hoạn, khiến cho vua được an ổn, và khiến cho các tai biến ác nơi cung điện, thành, ấp, quốc độ, thảy đều tiêu diệt).

 

          Kế đó, phần thứ tư trong đoạn nguyện thủ hộ là “nhà vua tu hành đạt được lợi ích”. Trước đó, đức Phật đă nói lợi ích do lưu hành kinh này; ở đây là quốc vương nương theo kinh này mà tu hành, đạt được lợi ích, có ba ư:

          - Một, tán thán pháp.

          - Hai, từ “thị cố nhân vương” (v́ thế, quốc vương) trở đi, tán thán người [có thể thủ hộ, hành tŕ kinh này].

          - Ba, từ “ư bỉ nhân vương” (nơi quốc vương đó) trở đi, nói về sự thủ hộ.

          Trước hết, nêu ra cái nhân thủ hộ. Từ “ngă đẳng tứ vương” (bốn vua chúng con) trở đi là nói về sự thủ hộ. Phần này lại gồm bốn ư:

          - Một, nói về thời gian thủ hộ.

          - Hai, từ “ngă đương ẩn tế” (con sẽ ẩn thân) trở đi, chư thiên giáng hạ vương cung.

          - Ba, từ Thế Tôn! Ngă đẳng” (bạch Thế Tôn! Chúng con) trở đi, chư thiên cùng kết thành bạn lành.

          - Bốn, từ “thị cố, ngă đẳng” (v́ thế, chúng con) trở đi, nói về sự thủ hộ.

          Trong đoạn thứ hai, trước hết là tứ thiên vương giáng xuống, sau là từ “như thị năi chí” (như thế cho đến) trở đi, Phạm vương, Đế Thích v.v… hiện tới. Các đoạn khác dễ thấy.

 

5.12.4.2.1.2. Tứ thiên vương sắc truyền quốc vương hộ pháp

5.12.4.2.1.2.1. Tổn hại do chẳng hoằng truyền kinh này

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương câu cộng hiệp chưởng, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược hữu nhân vương ư kỳ quốc độ, tuy hữu thử kinh, vị thường lưu bố, tâm sanh xả ly, bất nhạo thính văn, diệc bất cúng dường, tôn trọng, tán thán, kiến tứ bộ chúng tŕ kinh chi nhân, diệc phục bất năng tôn trọng, cúng dường, toại linh ngă đẳng cập dư quyến thuộc, vô lượng chư thiên, bất đắc văn thử thậm thâm diệu pháp, bối cam lộ vị, thất chánh pháp lưu, vô hữu oai quang, cập dĩ thế lực, tăng trưởng ác thú, tổn giảm nhân thiên, trụy sanh tử hà, quai Niết Bàn lộ.

          ()爾時四天王俱共合掌白佛言世尊若有人王於其國土雖有此經未甞流布心生捨離不樂聽聞亦不供養尊重讚歎見四部眾持經之人亦復不能尊重供養遂令我等及餘眷屬無量諸天不得聞此甚深妙法背甘露味失正法流無有威光及以勢力增長惡趣損減人天墜生死河乖涅槃路

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương đều cùng chắp tay, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu có quốc vương trong quốc độ của chính ḿnh, tuy có kinh này, nhưng chưa từng lưu truyền, tâm sanh ĺa bỏ, chẳng thích nghe nói, cũng chẳng cúng dường, tôn trọng, tán thán, thấy người tŕ kinh thuộc bốn bộ chúng, cũng chẳng thể tôn trọng, cúng dường, khiến cho chúng con và các quyến thuộc khác, vô lượng chư thiên, chẳng được nghe diệu pháp rất sâu này, trái nghịch cam lộ vị, đánh mất ḍng pháp, chẳng có oai quang cùng với thế lực, tăng trưởng đường ác, tổn giảm trời, người, rơi vào sông sanh tử, trái nghịch đường Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Phần thứ hai là “[tứ thiên vương] sắc truyền quốc vương hộ pháp”. Trong phần này có ba ư:

          - Một, chẳng hộ pháp sẽ có tổn hại.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Nhược hữu nhân vương” (bạch Thế Tôn! Nếu có quốc vương) trở đi, hoằng truyền, hộ tŕ [kinh này] sẽ đạt được lợi ích.

          - Ba, từ “Thế Tôn! Như Đại Phạm Thiên” trở đi, so sánh nhằm chỉ rơ sự thù thắng để khuyên hoằng kinh.

          Trong phần thứ nhất có hai ư:   

          - Một, vứt bỏ pháp, chẳng hoằng truyền, gồm hai ư: Một là vứt bỏ pháp, hai là vứt bỏ người [thọ tŕ, hoằng dương kinh này].

          - Hai, từ “toại linh ngă đẳng” (khiến cho chúng con) trở đi, [nói rơ] do vậy bèn có tổn hại. Lại gồm hai ư: Một là chư thiên bị suy tổn, hai là loài người bị suy tổn. Trong phần “chư thiên bị suy tổn” có năm điều: Một là đánh mất pháp lợi, hai là mất oai quang, ba là tăng thêm đường ác, bốn là tổn giảm nhân thiên, năm là đánh mất đường chánh. Theo thứ tự, lời văn dễ hiểu.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, tịnh chư quyến thuộc, cập Dược Xoa đẳng, kiến như tư sự, xả kỳ quốc độ, vô ủng hộ tâm. Phi đản ngă đẳng xả khí thị vương, diệc hữu vô lượng thủ hộ quốc độ chư đại thiện thần, tất giai xả khứ. Kư xả ly dĩ, kỳ quốc đương hữu chủng chủng tai họa: Táng thất quốc vị, nhất thiết nhân chúng giai vô thiện tâm, duy hữu hệ phược, sát hại, sân tránh, hỗ tương sàm siểm, uổng cập vô cô, tật dịch lưu hành, tuệ tinh sổ xuất, lưỡng nhật tịnh hiện, bạc thực vô hằng, hắc bạch nhị hồng biểu bất tường tướng, tinh lưu, địa động, tỉnh nội phát thanh, bạo vũ, ác phong, bất y thời tiết, thường tao cơ cẩn, miêu thật bất thành, đa hữu tha phương oán tặc xâm lược, quốc nội nhân dân thọ chư khổ năo, thổ địa vô hữu khả lạc chi xứ.

          ()世尊我等四王并諸眷屬及藥叉等見如斯事捨其國土無擁護心非但我等捨棄是王亦有無量守護國土諸大善神悉皆捨去既捨離已其國當有種種災禍喪失國位一切人眾皆無善心唯有繫縛殺害瞋諍互相讒諂枉及無辜疾疫流行彗星數出兩日竝現薄蝕無恒黑白二虹表不祥相星流地動內發暴雨惡風不依時節常遭饑饉苗實不成多有他方怨賊侵掠內人民受諸苦土地無有可樂之處

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con và các quyến thuộc, cùng với Dược Xoa v.v… thấy chuyện như thế, bỏ cơi nước ấy, chẳng có tâm ủng hộ. Không chỉ chúng con vứt bỏ vị vua ấy, mà cũng có vô lượng các đại thiện thần thủ hộ quốc độ thảy đều bỏ đi. Đă ĺa bỏ rồi, nước ấy sẽ có các thứ tai họa: Đánh mất quốc vị (mất nước), hết thảy nhân dân đều chẳng có thiện tâm, chỉ có trói buộc, giết hại, giận dữ tranh căi, sàm báng, xúc siểm lẫn nhau, làm oan uổng lây cho kẻ vô tội, sao chổi nhiều lượt xuất hiện, bệnh dịch lan tràn, hai mặt trời cùng mọc, bị nhật thực chẳng thường hằng. Hai thứ cầu vồng trắng và đen biểu thị tướng bất tường, sao băng, động đất, trong giếng phát ra tiếng, mưa cuồng, gió dữ, chẳng theo đúng thời tiết, thường gặp nạn đói kém, ngũ cốc chẳng được mùa. Có nhiều oán tặc từ phương khác xâm lược, nhân dân trong nước hứng chịu các khổ năo, cơi đất chẳng có chỗ nào đáng vui!)

 

          Kế đó là tổn hại đối với loài người, có hai ư:

          - Một, thiên thần bỏ đi.

          - Hai, từ “kư xả ly dĩ” (đă ĺa bỏ rồi) trở đi, quốc độ suy tổn.

          Trong ư ấy, lại có ba đoạn: Một là nêu ra, hai là biện định, ba là từ “Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương” (bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con) trở đi là kết lại. Trong phần biện định, có bốn ư:

          - Một, vong quốc.

          - Hai, từ “nhất thiết nhân chúng” (hết thảy dân chúng) trở đi, mọi người làm ác.

          - Ba, bệnh dịch phát sanh.

          - Bốn, từ “tuệ tinh” (sao chổi) trở đi, ác tướng hiện ra, gồm mười một điều: Một, sao chổi nhiều lần xuất hiện. Hai, hai vầng mặt trời cùng hiện ra. Ba, nhật thực và nguyệt thực. Bốn, cầu vồng biểu thị sự bất tường. Năm, sao băng thất thường. Sáu, đại địa chấn động. Bảy, giếng phát ra tiếng lạ. Tám, mưa gió trái thời. Chín, mùa màng thất bát. Mười, giặc từ phương khác xâm lấn. Mười một, trong nước của chính ḿnh chẳng vui sướng.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, cập dữ vô lượng bách thiên thiên thần, tịnh hộ quốc độ chư cựu thiện thần viễn ly khứ thời, sanh như thị đẳng vô lượng bách thiên tai quái ác sự.

          ()世尊我等四王及與無量百千天神并護國土諸舊善神遠離去時生如是等無量百千災怪惡事

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Khi bốn vua chúng con cùng với vô lượng trăm ngàn thiên thần, và các vị cựu thiện thần ủng hộ quốc độ xa ĺa, sẽ sanh ra vô lượng trăm ngàn chuyện ác tai quái như thế).

 

          Kết lại.

 

5.12.4.2.1.2.2. Hoằng truyền, thủ hộ kinh này sẽ đạt được lợi ích

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược hữu nhân vương dục hộ quốc độ, thường thọ khoái lạc, dục linh chúng sanh hàm mông an ổn, dục đắc tồi phục nhất thiết ngoại địch, ư tự quốc cảnh, vĩnh đắc xương thịnh, dục linh chánh giáo lưu bố thế gian, khổ năo ác pháp giai trừ diệt giả, Thế Tôn! Thị chư quốc vương tất đương thính thọ thị diệu kinh vương, diệc ưng cung kính, cúng dường, độc tụng, thọ tŕ kinh giả. Ngă đẳng cập dư vô lượng thiên chúng, dĩ thị thính pháp thiện căn oai lực, đắc phục vô thượng cam lộ pháp vị, tăng ích ngă đẳng sở hữu quyến thuộc tịnh dư thiên thần giai đắc thắng lợi. Hà dĩ cố? Dĩ thị nhân vương chí tâm thính thọ thị kinh điển cố.

          ()世尊若有人王欲護國土常受快樂欲令眾生咸蒙安穩欲得摧伏一切外敵於自國境永得昌盛欲令正教流布世間苦惱惡法皆除滅者世尊是諸國王必當聽受是妙經王亦應恭敬供養讀誦受持經者我等及餘無量天眾以是聽法善根威力得服無上甘露法味增益我等所有眷屬并餘天神皆得勝利何以故以是人王至心聽受是經典故

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có quốc vương muốn thủ hộ đất nước, thường hưởng vui sướng, muốn khiến cho chúng sanh đều được an ổn, muốn được dẹp tan hết thảy kẻ địch bên ngoài, trong nước ḿnh vĩnh viễn được hưng thịnh, muốn khiến cho chánh giáo lưu truyền trong thế gian, ác pháp khổ năo đều trừ diệt. Bạch Thế Tôn! Các quốc vương ấy ắt đều nên nghe nhận kinh điển mầu nhiệm này, cũng nên cung kính, cúng dường, người đọc tụng và thọ tŕ kinh. Chúng con và vô lượng thiên chúng khác, do oai lực của thiện căn nghe pháp này, được uống cam lộ pháp vị vô thượng, tăng thêm tất cả quyến thuộc của chúng con, và các thiên thần khác đều đạt được lợi ích thù thắng. V́ sao vậy? Do vị quốc vương đó chí tâm nghe nhận kinh điển này vậy).

         

          Tán rằng: Kế đó, nói “do hoằng dương, thủ hộ [kinh này] đạt được lợi ích, có ba ư:

          - Một, vua dấy lên thiện nguyện.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Thị chư quốc vương” (bạch Thế Tôn! Các quốc vương ấy) trở đi, dạy hăy hoằng truyền kinh.

          - Ba, từ “ngă đẳng cập dư” (chúng con và các thiên chúng khác) trở đi, tứ thiên vương đạt được lợi ích, gồm ba điều:

          Trước là nêu ra.

a)     “Hà dĩ cố?” (v́ sao vậy?) là hỏi ngược lại

b)    Từ “dĩ thị nhân vương” (do quốc vương ấy) trở đi là giải thích.

Trong phần nêu ra, nói “dĩ thị thính pháp” (do vậy được nghe pháp) v.v… hàm ư: [Chư thiên] do quốc vương mà được nghe pháp. Từ “ngă đẳng” (chúng con) trở đi, nói rơ bốn thiên vương v.v… đạt được lợi ích.

 

5.12.4.2.1.2.3. So sánh nhằm chỉ rơ sự thù thắng để khuyên hoằng truyền kinh

5.12.4.2.1.2.3.1. So lường để chỉ rơ sự thù thắng

 

          (Kinh) Thế Tôn! Như Đại Phạm Thiên ư chư hữu t́nh, thường vị tuyên thuyết thế xuất thế luận, Đế Thích phục thuyết chủng chủng chư luận, ngũ thông thần tiên diệc thuyết chư luận. Thế Tôn! Phạm Thiên, Đế Thích, ngũ thông tiên nhân tuy hữu bách thiên câu-chi na-dữu-đa vô lượng chư luận, nhiên Phật Thế Tôn từ bi, ai mẫn, vị nhân thiên chúng thuyết Kim Quang Minh vi diệu kinh điển, tỷ tiền sở thuyết, thắng bỉ bách thiên câu-chi na-dữu-đa bội, bất khả vi dụ. Hà dĩ cố? Do thử năng linh chư Thiệm Bộ châu sở hữu vương đẳng chánh pháp hóa thế, năng dữ chúng sanh an lạc chi sự, vi hộ tự thân, cập chư quyến thuộc, linh vô khổ năo, hựu vô tha phương oán tặc xâm hại, sở hữu chư ác tất giai viễn khứ, diệc linh quốc độ tai ách b́nh trừ, hóa dĩ chánh pháp, vô hữu tránh tụng. Thị cố, nhân vương các ư quốc độ, đương nhiên pháp cự, minh chiếu vô biên, tăng ích thiên chúng, tịnh chư quyến thuộc.

          ()世尊如大梵天於諸有情常為宣說世出世論帝釋復說種種諸五通神仙亦說諸世尊梵天帝釋五通仙人雖有百千俱胝那庾多無量諸論然佛世尊慈悲哀愍為人天眾金光明微妙經典比前所勝彼百千俱胝那庾多倍不可為何以故由此能令諸贍部洲所有王等正法化世能與眾生安樂之事為護自身及諸眷屬令無苦惱又無他方怨賊侵害所有諸惡悉皆遠去亦令國土災厄屏除化以正法無有諍訟是故人王各於國土當然法炬明照無邊增益天眾并諸眷屬

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Như Đại Phạm Thiên ở trong các hữu t́nh thường v́ họ tuyên nói các luận thế gian và xuất thế gian, Đế Thích lại nói các thứ luận, ngũ thông thần tiên cũng nói các luận. Bạch Thế Tôn! Phạm Thiên, Đế Thích, ngũ thông tiên nhân tuy có trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa vô lượng các luận, nhưng đức Phật Thế Tôn từ bi thương xót, v́ đại chúng trời người, nói kinh điển Kim Quang Minh vi diệu này, so với [các luận] được nói trên đây, vượt hơn trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa lần, chẳng thể thí dụ. V́ sao vậy? Do kinh này có thể khiến cho tất các vua trong châu Thiệm Bộ dùng chánh pháp giáo hóa thế gian, có thể ban cho chúng sanh các sự an vui, v́ thủ hộ thân ḿnh và các quyến thuộc, khiến cho chẳng có khổ năo, lại chẳng có oán tặc từ phương khác xâm hại, tất cả các ác thảy đều ĺa xa, cũng khiến cho quốc độ trừ sạch tai ách, dùng chánh pháp để giáo hóa, chẳng có tranh căi, kiện tụng. V́ thế, mỗi vị quốc vương ở trong nước ḿnh, hăy nên thắp đuốc pháp, chiếu sáng vô biên, tăng thêm thiên chúng và các quyến thuộc).

 

          Kế đó, ư thứ ba là “so lường nhằm chỉ rơ sự thù thắng, ḥng khuyên hoằng kinh”, có ba ư:

          - Một, so lường để chỉ rơ sự thù thắng.        

          - Hai, nói rơ tứ thiên vương được lợi ích.

          - Ba, khuyên hoằng dương kinh.

          Trong ư thứ nhất, có bốn điều:

          - Một, nêu ra chuyện kém cỏi (Phạm vương, Đế Thích, ngũ thông tiên nhân nói các luận).

          - Hai, từ “Thế Tôn! Phạm Thiên” trở đi, nêu ra chuyện thù thắng.

          - Ba, từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, giải thích nguyên do.

          - Bốn, từ “thị cố” (v́ thế) trở đi, kết lại ư “phải nên tŕ kinh”.

 

5.12.4.2.1.2.3.2. Tứ thiên vương được lợi ích

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, vô lượng thiên thần, Dược Xoa chi chúng, Thiệm Bộ châu nội sở hữu thiên thần, dĩ thị nhân duyên, đắc phục vô thượng cam lộ pháp vị, hoạch đại oai đức, thế lực, quang minh, vô bất cụ túc, nhất thiết chúng sanh giai đắc an ổn. Phục ư lai thế, vô lượng bách thiên bất khả tư nghị na-dữu-đa kiếp, thường thọ khoái lạc, phục đắc trị ngộ vô lượng chư Phật, chủng chư thiện căn, nhiên hậu chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Như thị vô lượng vô biên thắng lợi, giai thị Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, dĩ đại từ bi, quá chư Phạm chúng, dĩ đại trí huệ du ư Đế Thích, tu chư khổ hạnh thắng ngũ thông tiên bách thiên vạn ức na-dữu-đa bội, bất khả xưng kế, vị chư chúng sanh diễn thuyết như thị vi diệu kinh điển.

          ()世尊我等四王無量天神藥叉之眾贍部洲內所有天以是因緣得服無上甘露法味獲大威德勢力光明無不具足一切眾生皆得安穩復於來世無量百千不可思議那庾多劫常受快樂復得值遇無量諸佛種諸善然後證得阿耨多羅三藐三菩提如是無量無邊勝利皆是如來正等覺以大慈悲過諸梵眾以大智慧逾於帝釋修諸苦行勝五通仙百千萬億那庾多倍不可稱計為諸眾生演說如是微妙經典

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con, vô lượng thiên thần, các vị Dược Xoa, tất cả thiên thần trong châu Thiệm Bộ, do nhân duyên này, được uống pháp vị cam lộ vô thượng, đạt được oai đức, thế lực, và quang minh to lớn, không ǵ chẳng đầy đủ. Hết thảy chúng sanh đều được an ổn. Lại trong vô lượng trăm ngàn chẳng thể nghĩ bàn na-dữu-đa kiếp trong đời mai sau, thường hưởng vui sướng, lại được gặp gỡ vô lượng chư Phật, gieo các thiện căn. Sau đấy, chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Vô lượng vô biên lợi ích thù thắng như thế, đều do Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, v́ ḷng đại từ bi vượt xa các Phạm Thiên, do đại trí huệ vượt hơn Đế Thích, tu các khổ hạnh hơn ngũ thông tiên trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa lần, chẳng thể tính kể, v́ các chúng sanh diễn nói kinh điển vi diệu như thế).

 

          Kế đó, [nói về] hưởng lợi ích [do hoằng dương, thủ hộ kinh này], có hai đoạn:

          - Một, chư thiên đạt được lợi ích.

          - Hai, “linh Thiệm Bộ Châu” (khiến cho Thiệm Bộ Châu) trở đi, chỉ ra: Nhân loại đạt được lợi ích.

          Trong phần “chư thiên đạt được lợi ích”, trước là đạt được lợi ích, sau từ “giai thị Như Lai” (đều do Như Lai) trở đi là phần tán thán.

 

          (Kinh) Linh Thiệm Bộ châu nhất thiết quốc chúa, cập chư nhân chúng, minh liễu thế gian sở hữu pháp thức, trị quốc, hóa nhân, khuyến đạo chi sự, do thử kinh vương lưu thông lực cố, phổ đắc an lạc. Thử đẳng phước lợi, giai thị Thích Ca đại sư ư thử kinh điển, quảng vị lưu thông, từ bi lực cố.

          ()令贍部洲一切國主及諸人眾明了世間所有法式治國化人勸導之事由此經王流通力故普得安樂此等福利皆是釋迦大師於此經典廣為流通慈悲力故

    (Kinh: Khiến cho hết thảy quốc chúa và các nhân dân trong châu Thiệm Bộ hiểu rơ tất cả pháp thức trong thế gian, chuyện cai trị đất nước, giáo hóa nhân dân, khuyên lơn, hướng dẫn. Do sức lưu thông kinh vương này mà được an lạc trọn khắp. Các phước lợi ấy đều do sức từ bi rộng lưu thông kinh điển này của Thích Ca đại sư).

 

          Tiếp đó, kết lại phần lợi ích đối với nhân loại. Trong ấy, chỉ nói lợi ích nơi cái nhân, chẳng nhắc đến cái quả, do đă nói trong phần trước rồi. Một là được lợi ích nơi cái nhân, hai là kết luận: “Do kinh mà đạt được các lợi ích ấy!”

 

5.12.4.2.1.2.3.3. Khuyên hoằng dương kinh

 

          (Kinh) Thế Tôn! Dĩ thị nhân duyên, chư nhân vương đẳng giai ưng thọ tŕ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán thử diệu kinh vương. Hà dĩ cố? Như thị đẳng bất khả tư nghị thù thắng công đức, lợi ích nhất thiết, thị cố danh viết Tối Thắng Kinh Vương.

          ()世尊以是因緣諸人王等皆應受持供養恭敬尊重讚歎此妙經王何以故如是等不可思議殊勝功德利益一切是故名曰最勝經王

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, các quốc vương đều nên thọ tŕ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán vua trong các kinh mầu nhiệm này. V́ sao vậy? Do công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, lợi ích hết thảy như vậy. V́ thế, gọi là Tối Thắng Kinh Vương).

 

          Kế đó, khuyên hoằng truyền kinh, gồm ba ư: Nêu ra, gạn hỏi, và giải thích riêng biệt.

 

5.12.4.2.2. Nguyện dùng pháp để thủ hộ

5.12.4.2.2.1. Đức Thế Tôn lại khuyên bảo

5.12.4.2.2.1.1. Khuyên thủ hộ quốc vương

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phục cáo Tứ Thiên Vương: - Nhữ đẳng tứ vương, cập dư quyến thuộc, vô lượng bách thiên câu-chi na-dữu-đa chư thiên đại chúng, kiến bỉ nhân vương nhược năng chí tâm thính thị kinh điển, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán giả, ưng đương ủng hộ, trừ kỳ suy hoạn, năng linh nhữ đẳng diệc thọ an lạc.

          ()爾時世尊復告四天王汝等四王及餘眷屬無量百千俱胝那庾多諸天大眾見彼人王若能至心聽是經典供養恭敬尊重讚歎者應當擁護除其衰患能令汝等亦受安樂

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo Tứ Thiên Vương: - Bốn vua các ông và các quyến thuộc, vô lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa chư thiên đại chúng, thấy vị quốc vương đó nếu có thể chí tâm nghe kinh điển này, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, hăy nên ủng hộ trừ khử suy vi, hoạn nạn cho họ, sẽ có thể khiến cho các ông cũng được an lạc).

 

          Tán rằng: Đoạn lớn thứ hai [trong phẩm này] là “tứ thiên vương vâng theo lời dạy, nguyện thủ hộ”. Trong ấy, có hai phần: Một là dùng thân để thủ hộ, hai là dùng pháp để thủ hộ. Trên đây đă nói về dùng thân thủ hộ, phần này nói về sự thủ hộ bằng pháp. Trong phần trước đă nói “dùng thân thủ hộ người hoằng pháp và quốc độ”, phần này chỉ nói về chuyện “thủ hộ người hoằng pháp”. Hơn nữa, dùng thân để thủ hộ chỉ nhằm trừ các sự suy vi, tai ương, bệnh dịch, hết thảy các thứ bất an; phần này nhằm trừ nghèo khổ, khiến cho [hành nhân] có tài vật. V́ thế, đức Phật tán thán: “Nhữ năng phá liệt nhất thiết chúng sanh bần cùng khổ vơng, linh đắc phước lạc” (Ông có thể xé rách lưới nghèo túng, khổ sở cho hết thảy chúng sanh, khiến họ được phước lạc). “Đạt được phước lạc” tức là có thể hoằng kinh; v́ thế, kế đó nói: “Diệc linh thử kinh quảng hành ư thế” (cũng khiến cho kinh này được lưu hành rộng răi trong cơi đời). Trong phần này, có ba đoạn:

          - Một, đức Thế Tôn lại khuyên nhủ.

          - Hai, tứ thiên vương dùng pháp thủ hộ.

          - Ba, từ “thời Đa Văn thiên vương thuyết thử chú” (khi đó, Đa Văn thiên vương nói chú này) trở đi, đức Thế Tôn tán thán.

          Đoạn này thuộc phần thứ nhất, lại có hai điều:

          - Một, khuyên thủ hộ quốc vương.

          - Hai, khuyên thủ hộ tứ chúng.

          Đoạn này thuộc phần “khuyên thủ hộ quốc vương”, có bốn ư:

          - Một, sắc truyền tứ thiên vương và thiên chúng.

          - Hai, [chỉ ra] người được thủ hộ (quốc vương).

          - Ba, dạy họ (tứ thiên vương và thiên chúng) hăy ủng hộ.

          - Bốn, từ “năng linh nhữ đẳng” (có thể khiến cho các ông) trở đi, nêu rơ nguyên do sắc truyền [tứ thiên vương, thiên chúng, thiện thần, Dược Xoa v.v…] ủng hộ [người tŕ kinh, hoằng dương v.v…]

         

5.12.4.2.2.1.2. Khuyên thủ hộ tứ chúng

 

          (Kinh) Nhược tứ bộ chúng năng quảng lưu bố thị kinh vương giả, ư nhân thiên trung, quảng tác Phật sự, phổ năng lợi ích vô lượng chúng sanh. Như thị chi nhân, nhữ đẳng tứ vương thường đương ủng hộ như thị tứ chúng, vật sử tha duyên cộng tương xâm nhiễu, linh bỉ thân tâm tịch tĩnh, an lạc, ư thử kinh vương, quảng tuyên lưu bố, linh bất đoạn tuyệt, lợi ích hữu t́nh tận vị lai tế.

          ()若四部眾能廣流布是經王者於人天中廣作佛事普能利益無量眾生如是之人汝等四王常當擁護如是四眾勿使他緣共相侵擾令彼身心寂靜安樂於此經王廣宣流布令不斷利益有情盡未來際

          (Kinh: Nếu bốn bộ chúng có thể lưu truyền rộng răi vua trong các kinh này, ở trong cơi trời và nhân gian, rộng làm Phật sự, có thể lợi ích trọn khắp vô lượng chúng sanh. Đối với người như thế, bốn vua các ông thường nên ủng hộ tứ chúng như vậy, đừng để cho duyên khác xâm phạm, quấy nhiễu họ, khiến cho họ thân tâm tịch tĩnh, an lạc, rộng tuyên nói, lưu truyền vua trong các kinh này khiến chẳng đoạn tuyệt, lợi ích hữu t́nh đến tột cùng đời vị lai).

 

          Kế đó, trong phần kinh văn khuyên thủ hộ tứ chúng, có bốn ư:

          - Một, nêu ra người được thủ hộ.

          - Hai, từ “ư nhân thiên trung” (ở trong loài người và chư thiên) trở đi, tán thán công năng [của kinh này].

          - Ba, từ “như thị chi nhân” (người như thế) trở đi, sắc truyền thủ hộ.

          - Bốn, từ “ư thử kinh dĩ” (đối với kinh này) trở đi, nói rơ ư nghĩa thủ hộ.

 

5.12.4.2.2.2. Tứ thiên vương dùng pháp thủ hộ

5.12.4.2.2.2.1. Nêu ra công năng của thần chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đa Văn thiên vương tùng ṭa nhi khởi, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă hữu Như Ư Bảo Châu Đà La Ni pháp, nhược hữu chúng sanh nhạo thọ tŕ giả, công đức vô lượng, ngă thường ủng hộ, linh bỉ chúng sanh ly khổ, đắc lạc, năng thành phước trí nhị chủng tư lương.

          ()爾時多聞天王從座而起白佛言世尊我有如意寶珠陀羅尼法若有眾生樂受持者功德無量我常擁護令彼眾生離苦得樂能成福智二種資糧

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đa Văn thiên vương từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Con có pháp Như Ư Bảo Châu Đà La Ni. Nếu có chúng sanh ưa thích thọ tŕ, công đức vô lượng, con thường ủng hộ, khiến cho chúng sanh ĺa khổ, được vui, có thể thành tựu hai thứ tư lương phước và trí).

 

          Tán rằng: Đoạn thứ hai là “tứ thiên vương dùng pháp để thủ hộ”, chia thành bốn phần:

          - Một, nêu ra công năng của chú.

          - Hai, từ “dục thọ tŕ” (muốn thọ tŕ) trở đi, [nêu ra] phương cách tŕ chú.

          - Ba, từ “thời hữu Bệ Thất La” (khi đó, có Bệ Thất La) trở đi, đạt được lợi ích do tŕ chú.

          - Bốn, từ “giả sử nhật nguyệt” (giả sử mặt trời, mặt trăng) trở đi, thề thủ hộ.

          Phần kinh văn đầu tiên có ba ư:

          - Một, [nêu ra] người nói chú (Đa Văn thiên vương).

          - Hai, nêu ra danh hiệu của chú.

          - Ba, từ “nhược hữu chúng sanh” (nếu có chúng sanh) trở đi, nói về công năng của chú.

 

5.12.4.2.2.2.2. Phương cách tŕ chú

5.12.4.2.2.2.2.1. Dạy cách hộ thân

 

          (Kinh) Dục thọ tŕ giả, tiên đương tụng thử hộ thân chi chú, tức thuyết chú viết: “Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, mạc ha hạt la xà dă, đát điệt tha: Ra ra ra ra, củ nộ, củ nộ, khu nộ, khu nộ, lâu nộ, lâu nộ, táp phược, táp phược, yết ra, yết ra, mạc ha tỳ yết lạt ma. Mạc ha tỳ yết lạt ma. Mạc ha hạt ra xă hạt lạc, hựu hạt lạc hựu, đổ mạn (tự xưng kỷ danh), tát bà, tát đóa nan giả, sa ha”. Thế Tôn! Tụng thử chú giả, đương dĩ bạch tuyến, chú chi thất biến, nhất biến, nhất kết, hệ chi trửu hậu, kỳ sự tất thành. Ưng thủ chư hương, sở vị an tức, chiên đàn, long năo, tô hợp, đa yết la, huân lục, giai tu đẳng phần, ḥa hợp nhất xứ, thủ chấp hương lô, thiêu hương cúng dường, thanh tịnh tháo dục, trước tiễn khiết y, ư nhất tĩnh thất, khả tụng thần chú.

          ()欲受持者先當誦此護身之呪說呪南謨薜室囉末拏也莫訶曷羅闍也怛姪他囉囉囉囉矩怒矩怒區怒區怒寠怒寠怒颯縛颯縛羯囉羯囉莫訶毘羯喇麼莫訶毘羯喇麼莫訶曷囉社曷𠸪又曷𠸪覩漫(自稱己名)薩婆薩埵難者莎訶世尊誦此呪者當以白線呪之七遍一遍一結繫之肘後其事必成應取諸香所謂安息栴檀龍腦蘇合多揭羅薰陸皆須等分和合一處手執香罏燒香供養清淨澡浴著鮮潔衣於一靜室可誦神呪

     (Kinh: Người muốn thọ tŕ, trước hết nên tụng chú hộ thân này, liền nói chú rằng: “Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, mạc ha hạt la xà dă, đát điệt tha: Ra ra ra ra, củ nộ, củ nộ, khu nộ, khu nộ, lâu nộ, lâu nộ, táp phược, táp phược, yết ra, yết ra, mạc ha tỳ yết lạt ma. Mạc ha tỳ yết lạt ma. Mạc ha hạt ra xă hạt lạc, hựu hạt lạc hựu đổ mạn (tự xưng tên ḿnh), tát bà, tát đóa nan giả, sa ha”. Bạch Thế Tôn! Người tụng chú này, nên dùng chỉ trắng, chú vào đó bảy lượt, mỗi lượt thắt một nút, buộc vào sau khủy tay, chuyện ấy ắt thành. Hăy nên lấy các thứ hương, tức là an tức[7], chiên đàn, long năo, tô hợp[8], đa yết la, huân lục[9], đều phải nên phân lượng bằng nhau, ḥa hợp một chỗ, tay cầm lư hương, đốt hương cúng dường, tắm gội thanh tịnh, mặc áo sạch sẽ, ở trong một căn pḥng yên tĩnh để tụng thần chú này).

 

          Kế đó, nói về phương cách tŕ chú. Phương cách gồm có ba phần:

          - Một, dạy hộ thân.

          - Hai, dạy thỉnh cầu gia hộ.

          - Ba, dạy bài chú căn bản.

          Phần thứ nhất, “dạy hộ thân” có ba phần:

          - Một, nêu tên của bài chú (chú Hộ Thân).

          - Hai, nói ra thần chú.

          - Ba, Thế Tôn nói bài tụng.

          Từ “thử chú” (chú này) trở đi, dạy quy cách tụng niệm. Bệ Thất Ra Mạt Noa Dă (Vaiśravaṇaya, phương này dịch là Đa Văn), Mạc Ha (Mahā, phương này dịch là Đại), Hạt Ra Xà Dă (Rājāya, phương này dịch là Vương), các phần kinh văn khác dễ thấy. Nói “Đa Yết La” (Tagara), phương này gọi là Linh Lăng Hương.

 

5.12.4.2.2.2.2.2. Dạy thỉnh cầu gia hộ

 

          (Kinh) Thỉnh ngă Bệ Thất La Mạt Noa thiên vương, tức thuyết chú viết: “Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, nam mô đàn na đà dă. Đàn nê thuyết ra dă. A yết xả. A bát rị mi đa, đàn nê thuyết ra. Bát ra ma. Ca lưu ni ca, tát bà tát đóa hế đá chấn đá, ma ma (kỷ danh) đàn na, mạt nô bát lạt duệ xả toái diêm ma yết xả, sa ha”. Thử chú tụng măn nhất thất biến dĩ.

          ()請我薜室羅末拏天王即說呪曰南謨薜室囉末拏也南謨檀那馱也檀泥說囉也阿揭撦阿鉢唎弭多檀泥說囉鉢囉麼迦留尼迦薩婆薩埵呬哆振哆麼麼(己名)檀那末奴鉢喇拽撦碎閻摩揭撦莎訶此呪誦滿一七遍已

          (Kinh: Thỉnh con là thiên vương Bệ Thất La Mạt Noa, liền nói chú rằng: “Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, nam mô đàn na đà dă. Đàn nê thuyết ra dă. A yết xả. A bát rị mi đa, đàn nê thuyết ra. Bát ra ma. Ca lưu ni ca, tát bà tát đóa hế đá chấn đá, ma ma (tên ḿnh) đàn na, mạt nô bát lạt duệ xả toái diêm ma yết xả, sa ha”. Tụng chú này đủ bảy lần xong).

 

          Kế đó, dạy thỉnh gia hộ. Trước là nêu ra lời thỉnh; kế đó là nói chú, sau cùng từ “thử chú tụng măn nhất thất biến” (tụng chú này đủ bảy lần xong) trở đi, kết lại cách tụng.

 

5.12.4.2.2.2.2.3. Dạy bài chú căn bản

 

          (Kinh) Thứ tụng bổn chú. Dục tụng chú thời, tiên đương xưng danh, kính lễ Tam Bảo, cập Bệ Thất La Mạt Noa đại vương, năng thí tài vật, linh chư chúng sanh sở cầu nguyện măn, tất năng thành tựu, dữ kỳ an lạc. Như thị lễ dĩ, thứ tụng Bệ Thất La Mạt Noa Vương Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm thần chú, năng thí chúng sanh tùy ư an lạc”. Nhĩ thời, Đa Văn thiên vương tức ư Phật tiền, thuyết Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm chú viết: “Nam mô hạt lạt đát na, đát lạt dạ dă. Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, mạc ha ra xà dă, đát điệt tha: Tứ mi, tứ mi, tô mẫu, tô mẫu, chiên đồ, chiên đồ, chiết ra, chiết ra, tát ra, tát ra, yết ra, yết ra, chỉ rị, chỉ rị, củ rô, củ rô, mẫu rô, mẫu rô, chủ rô, chủ rô, sa đại dă át tham, ngă danh mỗ giáp, nật điếm át tha, đạt đạt đổ sa ha. Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, sa ha. Đàn na đà dă, sa ha. Mạn nô lạt tha, bát rị bô lạt ca dă, sa ha”. Thọ tŕ chú thời, tiên tụng thiên biến. Nhiên hậu, ư tịnh thất trung, cù-ma đồ địa, tác tiểu đàn tràng, tùy thời ẩm thực, nhất tâm cúng dường, thường nhiên diệu hương, linh yên bất tuyệt, tụng tiền tâm chú, trú dạ hệ tâm, duy tự nhĩ văn, vật linh tha giải.

          ()次誦本呪欲誦呪時先當稱名敬禮三寶及薜室羅末拏大王能施財物令諸眾生所求願滿悉能成就與其安樂如是禮已次誦薜室囉末拏王如意末尼寶心神呪能施眾生隨意安樂爾時多聞天王即於佛前說如意末尼寶心呪曰南謨曷喇怛娜怛喇夜也南謨薜室囉末拏也莫訶囉闍也怛姪他四弭四弭蘇母蘇母栴荼栴荼折囉折囉薩囉薩囉羯囉羯囉枳哩枳哩矩嚕矩嚕母嚕母嚕主嚕主嚕娑大也頞貪我名某甲昵店頞他達達覩莎訶南謨薜室囉末拏也莎訶檀那馱也莎訶曼奴喇他鉢唎脯喇迦也莎訶受持呪時先誦千遍然後於淨室中瞿摩塗地作小壇場隨時飲食一心供養常然妙香令烟不誦前心呪晝夜繫心唯自耳聞勿令他解

          (Kinh: Kế đó, tụng chú căn bản. Khi muốn tụng chú, trước hết, hăy nên xưng danh, kính lễ Tam Bảo, và đại vương Bệ Thất La Mạt Noa (Đa Văn thiên vương), có thể thí tài vật, khiến cho các điều cầu nguyện của chúng sanh được thỏa măn, đều có thể thành tựu, ban cho họ an lạc. Lễ như thế xong, kế đó, tụng thần chú Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm của vua Bệ Thất La Mạt Noa, có thể ban cho chúng sanh an lạc tùy ư”. Lúc đó, Đa Văn thiên vương liền ở trước đức Phật, nói chú Như Ư Mạt Ni Bảo Tâm rằng: “Nam mô hạt lạt đát na đát lạt dạ dă. Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, mạc ha ra xà dă, đát điệt tha: Tứ mi, tứ mi, tô mẫu, tô mẫu, chiên đồ, chiên đồ, chiết ra, chiết ra, tát ra, tát ra, yết ra, yết ra, chỉ rị, chỉ rị, củ rô, củ rô, mẫu rô, mẫu rô, chủ rô, chủ rô, sa đại dă át tham, con tên là…. Nật điếm át tha, đạt đạt đổ, sa ha. Nam mô bệ thất ra mạt noa dă, sa ha. Đàn na đà dă, sa ha. Mạn nô lạt tha, bát rị bô lạt ca dă, sa ha”. Khi thọ tŕ chú, trước hết tụng một ngàn lượt. Sau đấy, ở trong tịnh thất, dùng phân ḅ[10] trát đất, làm một cái đàn tràng nhỏ, thức ăn tùy theo mùa, nhất tâm cúng dường, thường đốt hương mầu nhiệm, khiến cho khói hương chẳng dứt, tụng tâm chú trên đây, ngày đêm giữ chắc trong tâm, chỉ để tự ḿnh nghe thấy, đừng để người khác biết).

 

          Phần thứ ba là “dạy chú căn bản”, có bốn ư:

          - Một, nêu bày.     

          - Hai, từ “tiên đương” (trước hết nên) trở đi, dạy quy y, lễ kính, phát nguyện.

          - Ba, truyền dạy tụng chú căn bản, chính là phần kinh văn từ “như thị lễ dĩ, thứ tụng Bệ Thất La” (lễ như thế xong, kế đó tụng chú của Bệ Thất La) trở đi.

          - Bốn, từ “nhĩ thời, Đa Văn thiên vương” (lúc bấy giờ, Đa Văn thiên vương) trở đi là nói thần chú. “Hạt la đát na” (Ratna) được phương này dịch là Bảo. Đát Lạt Dạ Dă (Trayāya) c̣n dịch là Tam, tức lễ Tam Bảo. Sau đó, nói “Đàn Na” (Dhana) là Tài, Đà Dă (Dāya) là Thí. Mạn Nô (Mano) là Ư, Lạt Tha Bát Rị (Rathapari) là Ngă, Bô Lạt Ca Dă (Pūrakāya) là Măn. Ư nghĩa chung là “tài thí nhằm thỏa măn ư nguyện của tôi”. Từ “thọ tŕ chú thời” (khi thọ tŕ chú) trở đi, nói về cách tŕ chú!

         

5.12.4.2.2.2.3. Đạt được lợi ích do chú

5.12.4.2.2.2.3.1. Lợi ích do thấy con trai của Đa Văn

 

          (Kinh) Thời hữu Bệ Thất La Mạt Noa vương tử, danh Thiền Nị Sư, hiện đồng tử h́nh, lai chí kỳ sở, vấn ngôn: “Hà cố tu hoán ngă phụ?” Tức khả báo ngôn: “Ngă vị cúng dường Tam Bảo, sự tu tài vật, nguyện đương thí dữ”. Thời Thiền Nị Sư văn thị ngữ dĩ, tức hoàn phụ sở, bạch kỳ phụ ngôn: “Kim hữu thiện nhân, phát chí thành tâm cúng dường Tam Bảo, thiểu phạp tài vật, vị tư thỉnh triệu”. Kỳ phụ báo viết: “Nhữ khả tốc khứ, nhật nhật dữ bỉ nhất bách ca-lợi-sa-ba-noa (thử thị căn bản Phạm âm, duy kiến bối xỉ, nhi tùy phương bất định, hoặc thị bối xỉ, hoặc thị kim, ngân, đồng, thiết đẳng tiền. Nhiên Ma Yết Đà hiện kim thông dụng nhất ca-lợi-sa-ba-noa hữu nhất thiên lục bách bối xỉ, tổng số khả dĩ chuẩn tri. Nhược chuẩn vật trị, tùy xứ bất định. Nhược nhân tŕ chú, đắc thành tựu giả, hoạch tài vật chi thời, tự tri kỳ số. Hữu bổn vân: “Mỗi nhật dữ nhất bách trần-na-la”, tức kim tiền dă, năi chí tận h́nh, nhật nhật thường đắc. Tây phương cầu giả, đa hữu thần nghiệm, trừ bất chí tâm dă). Kỳ tŕ chú giả kiến thị tướng dĩ, tri sự đắc thành, đương tu độc xử tịnh thất, thiêu hương nhi ngọa, khả ư sàng biên, trí nhất hương khiếp. Mỗi chí thiên hiểu, quán kỳ khiếp trung, hoạch sở cầu vật. Mỗi đắc vật thời, đương nhật tức tu cúng dường Tam Bảo hương, hoa, ẩm thực, kiêm thí bần phạp, giai linh khánh tận, bất đắc đ́nh lưu. Ư chư hữu t́nh, khởi từ bi niệm, vật sanh sân cuống, siểm hại chi tâm. Nhược khởi sân giả, tức thất thần nghiệm! Thường khả hộ tâm, vật linh sân khuể.

          ()時有薜室囉末拏王子名禪膩師現童子形來至其所問言何故須喚我父即可報言我為供養三寶事須財物願當施與時禪膩師聞是語已即還父所白其父言今有善人發至誠心供養三寶少乏財物為斯請召其父報曰汝可速去日日與彼一百迦利沙波拏(此是根本梵音唯見貝齒而隨方不定或是貝齒或是金銀銅鐵等錢然摩揭陀現今通用一迦利沙波拏有一千六百貝齒總數可以準知若準物直隨處不定若人持呪得成就者獲物之時自知其數有本云每日與一百陳那羅即金錢也乃至盡形日日常得西方求者多有神驗除不志心也)其持呪者見是相已知事得成當須獨處淨室燒香而臥可於床邊置一香篋每至天曉觀其篋中獲所求物每得物時當日即須供養三寶香華飲食兼施貧乏皆令罄盡不得停留於諸有情起慈悲念勿生瞋誑諂害之心若起瞋者即失神驗常可護心勿令瞋恚

    (Kinh: Khi đó, vương tử của Bệ Thất La Mạt Noa tên là Thiền Nị Sư (Janeśa), hiện thân bé trai tới chỗ người ấy, hỏi rằng: “V́ sao cần gọi tên cha ta?” [Người tŕ chú] liền có thể đáp rằng: “Tôi v́ cúng dường Tam Bảo, cần các tài vật, nguyện sẽ ban cho”. Khi đó, Thiền Nị Sư nghe lời ấy xong, liền trở về chỗ cha, thưa với cha rằng: “Nay có thiện nhân phát tâm chí thành cúng dường Tam Bảo, thiếu thốn tài vật, v́ vậy thỉnh vời”. Cha bảo rằng: “Con hăy nên mau qua đó, hằng ngày cho người đó một trăm ca-lợi-sa-ba-noa (kārṣāpaṇa, đây là tiếng Phạn căn bản, chỉ thấy có nghĩa là “vỏ ṣ trắng có vằn”, nhưng tùy theo từng nơi, không nhất định. Hoặc là vỏ ṣ trắng có vằn, hoặc các thứ tiền bằng vàng, bạc, đồng, sắt v.v… Nhưng hiện thời nước Ma Yết Đà (Magadha) thông dụng là một ca-lợi-sa-ba-noa bằng một ngàn sáu trăm vỏ ṣ, tổng số có thể chuẩn theo đó để biết. Nếu dựa theo giá trị của đồ vật, sẽ tùy theo nơi không nhất định. Nếu người tŕ chú được thành tựu, khi đạt được tài vật, sẽ tự biết số lượng. Có bản dịch ghi là: “Mỗi ngày cho một trăm trần-na-la (Dināra)”, tức là tiền vàng. Cho đến hết tuổi thọ, hằng ngày thường được [như thế]. Người ở phương Tây cầu, phần nhiều có sự hiệu nghiệm thần kỳ, trừ kẻ chẳng chí tâm). Người tŕ chú đă thấy tướng ấy rồi, biết sự được thành, hăy nên ở một ḿnh trong tịnh thất, đốt hương mà nằm. Bên cạnh giường, có thể đặt một cái tráp thơm. Mỗi khi sáng ra, xem trong tráp, sẽ có được vật mong cầu. Mỗi khi có được vật, ngay trong hôm ấy, hăy lập tức tu cúng dường Tam Bảo bằng hương, hoa, thức ăn, kiêm thí cho kẻ nghèo thiếu, khiến cho [các món tài vật được thiên vương ban cho ấy] đều hết sạch, chẳng được giữ lại. Đối với các hữu t́nh, dấy lên ư niệm từ bi, đừng sanh tâm sân hận, dối gạt, siểm nịnh, làm hại. Nếu như khởi sân, sẽ mất đi sự ứng nghiệm thần dị. Hăy nên ǵn giữ cái tâm, đừng để nóng giận).

 

          Tiếp đó, nói về lợi ích đạt được do tŕ chú, có hai phần:

          - Một, lợi ích do thấy con trai của Đa Văn.

          - Hai, lợi ích do thấy Đa Văn thiên vương.

          Trong phần lợi ích do thấy con trai [của Đa Văn thiên vương], có năm điều:

          - Một, vương tử tới hỏi [người tŕ chú].

          - Hai, từ “tức khả báo” (liền có thể đáp rằng) trở đi, người tŕ chú trả lời.

          - Ba, từ “thời Thiền Nị Sư” (khi đó, Thiền Nị Sư) trở đi, vương tử trở về thưa với cha.

          - Bốn, từ “kỳ phụ báo viết” (cha bảo rằng), cha dặn con ban [tài vật cần dùng] cho [hành nhân].

          - Năm, từ “thử tŕ chú giả” (người tŕ chú ấy) trở đi, hành giả được lợi ích, gồm chín điều:

          a) Thấy ứng nghiệm.

          b) Từ “đương tu độc xử” (hăy nên ở một ḿnh) trở đi, [hành nhân] đạt được tài vật.

          c) Được thủ hộ.

          d) Tăng thêm tuổi thọ.

          e) Ĺa nạn.

          f) Đạt được kho báu,

          g) Đạt được thần thông.

          h) Được toại nguyện.

          i) Thông hiểu các ngôn ngữ của các loài khác.

          Trong phần “đạt được tài vật” th́:

          - Một, quy cách để tiếp nhận tài vật.

          - Hai, từ “mỗi đắc vật thời” (mỗi khi có được vật) trở đi, đă có được [tài vật] th́ liền cúng dường.

          - Ba, từ “ư chư hữu t́nh” (đối với các hữu t́nh) trở đi, dấy ḷng từ bi.

          - Bốn, từ “vật sanh” (đừng sanh) trở đi, răn hăy ĺa ác.

 

          (Kinh) Hựu tŕ thử chú giả, ư mỗi nhật trung, ức ngă Đa Văn thiên vương, cập nam nữ quyến thuộc, xưng dương, tán thán, hằng dĩ Thập Thiện cộng tương tư trợ, linh bỉ thiên đẳng phước lực tăng minh, chúng thiện phổ trăn, chứng Bồ Đề xứ. Bỉ chư thiên chúng kiến thị sự dĩ, giai đại hoan hỷ, cộng lai ủng vệ tŕ chú chi nhân. Hựu tŕ chú giả thọ mạng trường viễn, kinh vô lượng tuế, vĩnh ly tam đồ, thường vô tai ách, diệc linh hộ đắc như ư bảo châu, cập dĩ phục tạng thần thông tự tại, sở nguyện giai thành. Nhược cầu quan vinh, vô bất xứng ư, diệc giải nhất thiết cầm thú chi ngữ.

          ()持此呪者於每日中憶我多聞天王及男女眷屬稱揚讚歎恒以十善共相資助令彼天等福力增明眾善普臻證菩提處彼諸天眾見是事已皆大歡喜共來擁衛持呪之人又持呪者壽命長遠經無量永離三塗常無災厄亦令護得如意寶珠及以伏藏神通自在所願皆成若求官榮無不稱意亦解一切禽獸之語

    (Kinh: Lại nữa, người tŕ chú này vào mỗi ngày, nhớ tới con là Đa Văn thiên vương, và nam nữ quyến thuộc, ca ngợi, tán thán, luôn dùng Thập Thiện để cùng nhau giúp đỡ, khiến cho các vị trời ấy phước lực tăng thêm rạng rỡ hơn, các điều thiện trọn đưa tới, chứng Bồ Đề xứ. Các vị trời ấy đă thấy chuyện đó rồi đều hết sức hoan hỷ, cùng đến ủng hộ, bảo vệ người tŕ chú. Hơn nữa, người tŕ chú thọ mạng dài lâu trải qua vô lượng năm, vĩnh viễn ĺa khỏi tam đồ, thường chẳng có tai ách, cũng sẽ đạt được như ư bảo châu, cùng với kho tàng, thần thông tự tại, sở nguyện đều thành tựu. Nếu cầu quan vị vinh hiển, không ǵ chẳng vừa ư, cũng hiểu ngôn ngữ của hết thảy cầm thú).

 

          Tiếp đó, nói về chuyện được thủ hộ, gồm bốn ư:

          - Một, dạy hăy nghĩ tưởng, tán thán.

          - Hai, từ “hằng dĩ Thập Thiện” (luôn dùng Thập Thiện) trở đi, dạy tu điều thiện để giúp đỡ.

          - Ba, từ “linh bỉ thiên đẳng” (khiến cho các vị trời ấy) trở đi, do được điều thiện giúp đỡ, [chư thiên] cũng được hưởng vui sướng.

          - Bốn, từ “bỉ chư thiên chúng” (các vị trời ấy) trở đi, [hành nhân] được [chư thiên] thủ hộ.

          Các phần kinh văn khác dễ hiểu.

 

5.12.4.2.2.2.3.1. Lợi ích do thấy Đa Văn thiên vương

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược tŕ chú thời, dục đắc kiến ngă tự thân hiện giả, khả ư nguyệt bát nhật, hoặc thập ngũ nhật, ư bạch điệp thượng, họa Phật h́nh tượng, đương dụng mộc giao, tạp thái trang sức. Kỳ họa tượng nhân vi thọ bát giới. Ư Phật tả biên, tác Cát Tường thiên nữ tượng, ư Phật hữu biên, tác ngă Đa Văn thiên tượng, diệc họa nam nữ quyến thuộc chi loại, an trí ṭa xứ, hàm linh như pháp. Bố liệt hoa thái, thiêu chúng danh hương, nhiên đăng tục minh, trú dạ vô hiết, thượng diệu ẩm thực, chủng chủng trân kỳ, phát ân trọng tâm, tùy thời cúng dường.

          ()世尊若持呪時欲得見我自身現者可於月八日或十五日於白上畫佛形當用木膠雜彩莊飾其畫像人為受八戒於佛左邊作吉祥天女像於佛右邊作我多聞天像并畫男女眷屬之類安置坐處咸令如法布列華彩燒眾名香然燈續明晝夜無歇上妙飲食種種珍奇發殷重心隨時供養

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu khi tŕ chú mà muốn được thấy con tự hiện thân, có thể trong ngày mồng Tám hoặc ngày Rằm trong tháng, trên bạch điệp[11], vẽ h́nh tượng Phật. Hăy nên dùng chất nhựa cây[12] để tô điểm nhiều màu. Người vẽ tượng thọ tám giới. Bên trái đức Phật, vẽ tượng Cát Tường thiên nữ. Bên phải đức Phật, vẽ tượng của con là Đa Văn thiên vương, cũng vẽ các loại nam nữ quyến thuộc, xếp đặt ṭa ngồi, đều đúng như pháp. Bày biện các thứ hoa nhiều màu, đốt các thứ hương quư, thắp đèn cháy sáng liên tục, ngày đêm chẳng ngớt, thức ăn thượng diệu, các thứ quư hiếm, phát tâm ân cần, trân trọng, tùy thời cúng dường).

 

          Tán rằng: Kế đó là “lợi ích do thấy Đa Văn thiên vương”, gồm năm điều:

          - Một, nêu bày ư mong cầu được thấy.

          - Hai, dạy pháp tắc để cầu thấy.

          - Ba, dạy tụng thần chú.

          - Bốn, thiên vương sẽ hiện thân.

          - Năm, sở nguyện được toại.

          Trong phần dạy về nghi thức để cầu thấy th́:

          - Một, thời điểm [tụng niệm].

          - Hai, vẽ tượng Phật.

          - Ba, cách vẽ.

          - Bốn, tŕ giới.

          - Năm, vẽ h́nh tượng thị giả.

          - Sáu, từ “bố liệt” (bày biện) trở đi, dạy tu cúng dường.

 

          (Kinh) Thọ tŕ thần chú, bất đắc khinh tâm. Thỉnh triệu ngă thời, ưng tụng thử chú: - Nam mô thất rị kiện na dă bột đà dă. Nam mô Bệ Thất Ra Mạt Noa dă, Dược Xoa ra xà dă, mạc ha ra xà. A địa ra xà dă. Nam ma thất rị da duệ, mạc ha đề tệ duệ, đát điệt tha: Đát ra, đát ra, đốt rô, đốt rô. Mạt ra, mạt ra, tốt suất thổ, tốt suất thổ, hán na, hán na, mạt ni yết nặc ca, bạt chiết ra bệ lưu ly dă. Mục để ca lăng ngật lật đa, thiết rị ra duệ bồ, tát bà, tát đóa, hế đá ca ma. Bệ Thất Ra Mạt Noa thất rị dạ, đề tỵ bạt lạp bà dă. Ế hế, ế hế, ma tỳ lam bà, cù lật noa, cù lật noa, mạt lạt sa, mạt lạt sa. Đạt đà hế ma ma. A mục ca na mạt tả (tự xưng kỷ danh), đạt rị thiết na ca mạt tả, đạt rị thiết nam. Ma ma mạt na, bát lạt hạt la đại dă, sa ha.

          ()受持神呪不得輕心,請召我時應誦此呪:南謨室唎健那也勃陀也南無薜室囉末拏也藥叉囉闍也莫訶囉闍阿地囉闍也南麼室唎耶𧜟莫訶提弊𧜟怛姪他怛囉怛囉咄嚕咄嚕末囉末囉窣率吐窣率吐漢娜漢娜末尼羯諾迦跋折囉薜瑠璃也目底迦楞訖設唎囉𧜟薩婆薩埵呬哆迦摩薜室囉末拏室唎夜提鼻跋𡅘婆也瞖呬瞖呬麼毘藍婆 瞿喇娑袜喇娑達馱呬麼麼阿目迦那末寫(自稱己名)達哩設那迦末寫達哩設南麼麼末那鉢喇曷羅大也莎訶

          (Kinh: Thọ tŕ thần chú, tâm chớ nên coi thường. Khi thỉnh vời, hăy nên tụng chú này: - Nam mô thất rị kiện na dă bột đà dă. Nam mô Bệ Thất Ra Mạt Noa dă, Dược Xoa ra xà dă, mạc ha ra xà. A địa ra xà dă. Nam ma thất rị da duệ, mạc ha đề tệ duệ, đát điệt tha: Đát ra, đát ra, đốt rô, đốt rô. Mạt ra, mạt ra, tốt suất thổ, tốt suất thổ, hán na, hán na, mạt ni yết nặc ca, bạt chiết ra bệ lưu ly dă. Mục để ca lăng ngật lật đa, thiết rị ra duệ bồ, tát bà, tát đóa, hế đá ca ma. Bệ Thất Ra Mạt Noa thất rị dạ, đề tỵ bạt lạp bà dă. Ế hế, ế hế, ma tỳ lam bà, cù lật noa, cù lật noa, mạt lạt sa, mạt lạt sa. Đạt đà hế ma ma. A mục ca na mạt tả (tự xưng tên ḿnh), đạt rị thiết na ca mạt tả, đạt rị thiết nam. Ma ma mạt na, bát lạt hạt la đại dă, sa ha).

 

          Kế đó, dạy tụng chú. Trước là dạy nghi quỹ tụng niệm, sau là nói thần chú.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă nhược kiến thử tụng chú chi nhân, phục kiến như thị thịnh hưng cúng dường, tức sanh từ ái, hoan hỷ chi tâm. Ngă tức biến thân tác tiểu nhi h́nh, hoặc tác lăo nhân bật-sô chi tượng, thủ tŕ Như Ư Mạt Ni bảo châu, tịnh tŕ kim nang, nhập đạo tràng nội, thân hiện cung kính, khẩu xưng Phật danh.

          ()世尊我若見此誦呪之人復見如是盛興供養即生慈愛歡喜之心我即變身作小兒形或作老人苾芻之像手持如意末尼寶珠并持金囊入道場身現恭敬口稱佛名

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu con thấy người tụng chú này, lại thấy cúng dường trọng hậu như thế, liền sanh ḷng từ ái, hoan hỷ. Con liền biến thân thành h́nh dáng trẻ nhỏ, hoặc thành h́nh dạng một vị tỳ-kheo già nua, tay cầm bảo châu Như Ư Mạt Ni, và cầm túi vàng vào trong đạo tràng, hiện dáng vẻ cung kính, miệng xưng danh hiệu Phật).

 

          Kế đó là thiên vương v́ [người tŕ chú] hiện thân, có năm ư:

          - Một, nghi quỹ cầu được thấy.

          - Hai, nội tâm sanh ḷng hoan hỷ.

          - Ba, h́nh tượng biến hiện.

          - Bốn, [thiên vương] tới chỗ cầu thỉnh.

          - Năm, lễ kính Tam Bảo.

          Dựa theo kinh văn, dễ thấy các ư ấy.

 

          (Kinh) Ngữ tŕ chú giả viết: “Tùy nhữ sở cầu, giai linh như nguyện. Hoặc ẩn lâm tẩu, hoặc tạo bảo châu, hoặc dục chúng nhân ái sủng, hoặc cầu kim, ngân đẳng vật, dục tŕ chư chú, giai linh hữu nghiệm, hoặc dục thần thông, thọ mạng trường viễn, cập thắng diệu lạc, vô bất xứng tâm”. Ngă kim thả thuyết như thị chi sự, nhược cánh cầu dư, giai tùy sở nguyện, tất đắc thành tựu, bảo tạng vô tận, công đức vô cùng.

          ()語持呪者曰隨汝所求皆令如願或隱林藪或造寶珠或欲眾人愛寵或求金銀等物欲持諸呪皆令有驗或欲神通壽命長遠及勝妙樂無不稱心我今且說如是之若更求餘皆隨所願悉得成就寶藏無盡功德無窮

          (Kinh: Bảo người tŕ chú rằng: “Tùy ḷng ngươi mong cầu, đều sẽ khiến cho được như nguyện. Hoặc ở ẩn nơi rừng rậm, hoặc tạo bảo châu, hoặc muốn được mọi người sủng ái, hoặc cầu vàng, bạc v.v… các vật, muốn tŕ các chú đều có hiệu nghiệm, hoặc mong thần thông, thọ mạng dài lâu, và sự vui mầu nhiệm, thù thắng, không ǵ chẳng vừa ḷng”. Con nay chỉ nói các chuyện như thế, nếu muốn cầu các điều khác, sẽ đều thuận theo ư nguyện, đều được thành tựu, kho báu vô tận, công đức vô cùng).

 

          Kế đó, là [Đa Văn thiên vương sẽ] toại nguyện cho họ, có ba ư:

          - Một, nêu chung.

          - Hai, từ “hoặc ẩn lâm tẩu” (hoặc ẩn trong chốn rừng rậm) trở đi là nói riêng.

          - Ba, “ngă kim thả thuyết” (con nay nói như vậy) trở đi, kết lại đại lược.

 

5.12.4.2.2.2.4. Thề thủ hộ

 

          (Kinh) Giả sử nhật nguyệt trụy đọa vu địa, hoặc khả đại địa hữu thời di chuyển, ngă thử thật ngữ, chung bất hư nhiên, thường đắc an ổn, tùy tâm khoái lạc.

          ()假使日月墜墮于地或可大地有時移轉我此實語終不虛然常得安穩隨心快樂

    (Kinh: Giả sử mặt trời, mặt trăng rơi rụng xuống đất, hoặc là đại địa có lúc dời chuyển, lời thật này của con trọn chẳng hư dối, thường được an ổn, thuận ḷng vui sướng).

 

          Kế đó là lập thệ thủ hộ. Kinh văn gồm ba đoạn:

          - Một, lập thệ nguyện chung.

          - Hai, riêng nói về lợi ích đạt được.

          - Ba, từ “ngă thuyết thật ngữ” (con nói lời thật) trở đi, kết lại [thệ nguyện ấy] chẳng hư vọng.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược hữu nhân năng thọ tŕ, độc tụng thị kinh vương giả, tụng thử chú thời, bất giả b́ lao, pháp tốc thành tựu. Thế Tôn! Ngă kim vị bỉ bần cùng, khốn ách, khổ năo chúng sanh, thuyết thử thần chú, linh hoạch đại lợi, giai đắc phú lạc, tự tại vô hoạn, năi chí tận h́nh, ngă đương ủng hộ, tùy trục thị nhân, vị trừ tai ách, diệc phục linh thử tŕ Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh lưu thông chi giả, cập tŕ chú nhân, ư bách bộ nội, quang minh chiếu chúc. Ngă chi sở hữu thiên Dược Xoa thần, diệc thường thị vệ, tùy dục khu sử, vô bất toại tâm. Ngă thuyết thật ngữ, vô hữu hư cuống, duy Phật chứng tri.

          ()世尊若有人能受持讀誦是經王者誦此呪時不假疲勞法速成就世尊我今為彼貧窮困厄苦惱眾生說此神令獲大利皆得富樂自在無患乃至盡形我當擁護隨逐是人為除災厄亦復令此持金光明最勝王經流通之者及持呪人於百步內光明照我之所有千藥叉神亦常侍衛隨欲驅使無不遂心說實語無有虛誑唯佛證知

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có ai có thể thọ tŕ, đọc tụng vua trong các kinh này, khi tụng chú này, chẳng cần mệt nhọc mà pháp thành tựu mau chóng. Bạch Thế Tôn! Con nay v́ các chúng sanh bần cùng, khốn quẫn, khổ năo đó mà nói thần chú này, khiến họ được lợi lớn, đều được giàu vui, tự tại không hoạn nạn, cho đến hết tuổi thọ, con sẽ ủng hộ, theo sát người ấy để trừ tai ách, cũng sẽ khiến cho người tŕ và lưu thông kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, và người tŕ chú trong ṿng một trăm bước, quang minh chiếu sáng ngời. Tất cả một ngàn thần Dược Xoa của con cũng thường theo hầu, bảo vệ, thuận theo ḷng mong mà sai khiến, không ǵ chẳng vừa ḷng. Con nói lời thật, chẳng hề hư dối, chỉ đức Phật chứng biết).

 

          Tiếp đó, nói riêng các lợi ích đạt được, gồm năm điều:

          - Một, hành pháp dễ thành tựu.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Ngă kim” (Bạch Thế Tôn! Con nay) trở đi, nêu ra lợi ích của chú.

          - Ba, từ “năi chí tận h́nh” (cho tới hết thọ mạng) trở đi, dùng thân để thủ hộ [hành nhân].

          - Bốn, từ “diệc phục linh thử” (cũng sẽ khiến cho người ấy) trở đi, tăng thêm quang minh cho người ấy.

          - Năm, từ “ngă chi sở hữu” (tất cả [một ngàn thần Dược Xoa] của con), quyến thuộc [của thiên vương đều] chầu hầu, bảo vệ [hành nhân].

          Kết lại [lời thệ nguyện của con] không hư vọng, lời văn dễ hiểu!

 

5.12.4.2.2.3. Đức Thế Tôn tán thán

 

          (Kinh) Thời Đa Văn thiên vương thuyết thử chú dĩ, Phật ngôn: - Thiện tai! Đại vương! Nhữ năng phá liệt nhất thiết chúng sanh bần cùng khổ vơng, linh đắc phú lạc, thuyết thị thần chú, phục linh thử kinh quảng hành ư thế.

          ()時多聞天王說此呪佛言善哉大王汝能破裂一切眾生貧窮苦網令得富樂說是神復令此經廣行於世

     (Kinh: Khi đó, Đa Văn thiên vương nói chú này xong, đức Phật nói: - Lành thay! Đại vương! Ông có thể xé rách lưới khổ nghèo túng của hết thảy chúng sanh, khiến họ được giàu vui, bèn nói thần chú này. Lại khiến cho kinh này được lưu hành rộng răi trong cơi đời).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn lớn thứ ba trong phần hộ pháp, “đức Thế Tôn tán thán”. Tán thán có hai điều:

          - Một, tán thán [thiên vương] lợi sanh.

          - Hai, từ “phục linh thử kinh” (cũng khiến cho kinh này) trở đi, tán thán [thiên vương có thể] lợi pháp.

 

5.12.4.3. Tứ thiên vương đội ân, tán thán Phật

 

          (Kinh) Thời Tứ Thiên Vương câu tùng ṭa khởi, thiên đản nhất kiên, đảnh lễ song túc, hữu tất trước địa, hiệp chưởng cung kính, dĩ diệu già-tha, tán Phật công đức: - Phật diện do như tịnh măn nguyệt, diệc như thiên nhật phóng quang minh, mục tịnh tu quảng nhược thanh liên, xỉ bạch tề mật do kha tuyết. Phật đức vô biên như đại hải, vô hạn diệu bảo tích kỳ trung, trí huệ đức thủy trấn hằng doanh, bách thiên thắng định hàm sung măn. Túc hạ luân tướng giai nghiêm sức, cốc vơng thiên bức tất tề b́nh, thủ túc man vơng biến trang nghiêm, do như nga vương tướng cụ túc. Phật thân quang diệu đẳng kim sơn, thanh tịnh thù đặc vô luân thất, diệc như Diệu Cao công đức măn, cố ngă khể thủ Phật sơn vương. Tướng hảo như không bất khả trắc, du ư thiên nguyệt phóng quang minh, giai như diễm huyễn, bất tư nghị, cố ngă khể thủ tâm vô trước.

          ()時四天王俱從座起偏袒一肩頂禮雙足右膝著地合掌恭敬以妙伽他讚佛功德佛面猶如淨滿月亦如千日放光明目淨修廣若青蓮齒白齊密猶珂雪佛德無邊如大海無限妙寶積其中智慧德水鎮恒盈百千勝定咸充滿足下輪相皆嚴飾轂輞千輻悉齊平手足縵網遍莊嚴猶如鵝王相具足佛身光耀等金山清淨殊特無倫匹亦如妙高功德滿故我稽首佛山王相好如空不可測逾於千月放光明皆如焰幻不思議故我稽首心無著

          (Kinh: Khi ấy, Tứ Thiên Vương đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trật một bên vai áo, đảnh lễ dưới hai chân [đức Phật], gối phải đặt sát đất, chắp tay, cung kính, dùng già-tha mầu nhiệm, tán thán công đức của Phật: - Mặt Phật như trăng rằm thanh tịnh, như ngàn mặt trời tỏa quang minh. Mắt tịnh rộng dài như sen xanh, răng trắng khít bằng như kha tuyết. Phật đức vô biên như biển cả, vô hạn báu mầu chứa ở trong. Nước đức trí huệ luôn đầy ắp, trăm ngàn thắng định đều sung măn. Luân tướng dưới chân luôn trang nghiêm, bánh xe ngàn căm đều đầy bằng. Tay chân màng lưới trọn trang nghiêm, ví như ngỗng chúa tướng trọn đủ. Thân Phật sáng ngời như núi vàng, thanh tịnh đặc biệt khôn sánh bằng, cũng như Diệu Cao công đức vẹn. Nên con lễ Phật như núi chúa. Tướng hảo hư không chẳng thể lường, hơn ngàn vầng nguyệt tỏa quang minh, đều như diễm huyễn chẳng nghĩ bàn, nên con kính lạy, tâm không chấp).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn lớn thứ ba trong phẩm này, “tứ thiên vương đội ân, tán thán đức Phật”. Có hai tiểu đoạn:

          - Phần trường hàng nói về nghi quỹ tán thán Phật.

          - Sau đó là phần kệ tụng.

          Trước phần tán thán, chỉ chép Đa Văn nói chú, nay tán thán th́ gồm chung cả bốn vị thiên vương. Muốn cho [hành nhân] chuyên tâm cầu thỉnh ḥng dễ thành tựu; v́ thế, chú th́ chỉ có một vị nói. Nghe pháp th́ mọi người đều được lợi ích, cho nên bốn vị thiên vương đều cùng tán thán. Hơn nữa, đức Phật có thể thuyết kinh, nên chỉ tán thán Phật, chẳng tán thán ai khác. Nói chung, có năm bài tụng, bốn bài tụng đầu tán thán riêng từng tướng hảo, bài tụng sau cùng tán chung, lễ bái.

          Trong phần biệt tán, có hai ư: Trước là tán thán, câu cuối cùng là lễ bái. Tán thán gồm bảy điều: Nửa bài tụng đầu tán thán vẻ mặt. Một câu nói về tướng mắt, câu nữa nói về tướng răng. Một bài tụng tán thán biển cả Định Huệ là tổng, Thập Lực, Vô Úy v.v… là các thứ của báu vi diệu. Trí huệ là cội gốc, giống như nước. Định nương vào trí. Xét theo Phật quả, th́ trí là chủ, như đối với mây đại pháp trí đều nói “chúng đức thủy” (các thứ nước công đức) v.v… Nửa bài tụng [kế đó] tán thán luân tướng (tướng bánh xe ngàn căm dưới ḷng bàn chân đức Phật), nửa bài tụng [tiếp đó] tán thán tướng màng lưới. Ba câu [kế đó], tán thán tướng quang minh nơi thân. Một câu nói về lễ bái Phật. Từ “tướng hảo” trở đi là tổng tán, có hai phần: Ba câu đầu là tán thán, câu cuối cùng là lễ bái. Trong ba câu ấy, câu đầu tiên là tổng, hai câu kế đó nói về quang minh.

          Lại có thể hiểu: Câu đầu tiên nói về Hóa Thân, câu kế đó nói về Báo Thân. Hai bài tụng kế đó tán thán gộp chung Báo Thân và Hóa Thân, bài tụng cuối cùng nói về Pháp Thân. Trong phần Pháp Thân, một câu nói về Thể, hai câu sau nói về tác dụng của Báo Thân và Hóa Thân, câu cuối cùng là giăi bày sự lễ kính.

 

5.12.4.4. Đức Phật lại khuyên thủ hộ để kết lại

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương tán thán Phật dĩ, Thế Tôn diệc dĩ già-tha, nhi đáp chi viết: - Thử Kim Quang Minh Tối Thắng Kinh, vô thượng thập lực chi sở thuyết, nhữ đẳng tứ vương thường ủng vệ, ưng sanh dũng mănh bất thoái tâm. Thử diệu kinh bảo cực thậm thâm, năng dữ nhất thiết hữu t́nh lạc. Do bỉ hữu t́nh an lạc cố, thường đắc lưu thông Thiệm Bộ châu. Ư thử đại thiên thế giới trung, sở hữu nhất thiết hữu t́nh loại, ngạ quỷ, bàng sanh, cập địa ngục, như thị khổ thú tất giai trừ. Trụ thử Nam Châu chư quốc vương, cập dư nhất thiết hữu t́nh loại, do kinh oai lực thường hoan hỷ, giai mông ủng hộ đắc an ninh, diệc sử thử trung chư hữu t́nh, trừ chúng bệnh khổ vô tặc đạo. Lại thử quốc độ hoằng kinh cố, an ổn phong lạc, vô vi năo.

          ()爾時四天王讚歎佛已世尊亦以伽他而答之曰此金光明最勝經無上十力之所汝等四王常擁衛應生勇猛不退心此妙經寶極甚深能與一切有情樂由彼有情安樂故常得流通贍部洲於此大千世界中所有一切有情類餓鬼傍生及地獄如是苦趣悉皆除住此南洲諸國王及餘一切有情類由經威力常歡喜皆蒙擁護得安寧亦使此中諸有情除眾病苦無賊盜賴此國土弘經故安穩豐樂無違惱

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương tán thán đức Phật xong, đức Thế Tôn cũng dùng già-tha để đáp rằng: - Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng này, do đấng vô thượng thập lực nói. Bốn vua các ông thường ủng hộ. Hăy sanh tâm dũng mănh bất thoái. Kinh báu mầu nhiệm sâu tột bậc, ban vui cho hết thảy hữu t́nh. Do hữu t́nh được hưởng an lạc, kinh thường lưu truyền trong Diêm Phù. Ở trong đại thiên thế giới này, tất cả hết thảy loài hữu t́nh, ngạ quỷ, bàng sanh, và địa ngục, đường ác như thế thảy đều trừ. Quốc vương trụ trong Nam Châu này, và hết thảy loài hữu t́nh khác, do kinh oai lực thường hoan hỷ, đều được ủng hộ, khiến an ninh, cũng khiến các hữu t́nh trong ấy, trừ các bệnh khổ, không giặc cướp. Nhờ quốc độ này hoằng dương kinh, an ổn, giàu vui, chẳng nghịch năo).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ tư là “đức Phật lại khuyên lơn, tán thán để kết lại”. Kinh văn chia thành hai phần:

          - Một, người kết tập kinh kết lại phần trước để sanh khởi phần sau.

          - Hai, đức Phật giảng nói, gồm mười lăm bài tụng, chia thành bốn phần:

          a) Năm bài tụng đầu tiên nhằm tán thán kinh.

          b) Năm bài tụng kế đó để khuyên mọi người thủ hộ.

          c) Hai bài tụng kế đó nhằm khuyên chư thiên thủ hộ.

          d) Ba bài tụng nhằm kết lại.

          Trong phần thứ nhất, có ba điều:

          - Nửa bài tụng đầu tán thán kinh thù thắng.

          - Nửa bài tụng kế đó, sắc truyền hộ tŕ.

          - Bốn bài tụng sau đó, tán thán tác dụng của kinh.

          Trong đoạn này, hai bài tụng đầu nói chung về cơi đại thiên, hai bài tụng sau nói riêng châu Thiệm Bộ. Trong phần nói chung, nửa bài tụng đầu là “có thể ban vui”, nửa bài tụng kế đó là “sanh thiện”, tức là do hoằng kinh. Bài tụng sau đó là dẹp khổ. Trong phần nói riêng về châu này, bài tụng đầu tiên là “được vui”. Nửa bài tụng kế đó là “ĺa khổ”. Nửa bài tụng sau cùng là kết lại.

 

          (Kinh) Nhược nhân thính thọ thử kinh vương, dục cầu tôn quư cập tài lợi, quốc độ phong lạc, vô vi tránh, tùy tâm sở nguyện tất giai tùng, năng linh tha phương tặc thoái tán, ư tự quốc giới thường an ổn, do thử tối thắng kinh vương lực, ly chư khổ năo vô ưu bố.

          ()若人聽受此經王欲求尊貴及財利國土豐樂無違諍隨心所願悉皆從能令他方賊退散於自國界常安穩由此最勝經王力離諸苦惱無憂怖

          (Kinh: Nếu ai nghe nhận kinh vương này, muốn cầu tôn quư và tài lợi, quốc độ giàu vui, không tranh chấp. Thuận theo ḷng mong đều được thỏa, khiến giặc phương khác phải tan lui, nơi cơi nước ḿnh thường an ổn, do sức kinh vương tối thắng này, ĺa các khổ năo, không lo sợ).

 

          Kế đó, khuyên nhân loại thủ hộ, bao gồm vua và dân chúng. Siêng năng thủ hộ ở đây, khiến cho người nghe nhận đều có thể tán thán công năng của kinh, với dụng ư khiến cho họ hoằng truyền, thủ hộ kinh này. Đoạn này được chia thành hai phần:

          - Hai bài tụng đầu tiên là Pháp Thuyết.

          - Ba bài tụng sau đó, kết hợp thí dụ với pháp.

          Trong phần Pháp Thuyết, bài tụng thứ nhất “nghe nhận [kinh này] sẽ được vui”, bao gồm ba điều:

          - Một, được vui.

          - Hai, không trái nghịch.

          - Ba, tùy tâm.

          Bài tụng cuối cùng là “ĺa khổ”:

          - Một, do ĺa nỗi khổ bị oán tặc xâm lăng, đánh bại, nên nước được yên ổn.

          - Hai, do ĺa nỗi khổ v́ các bệnh dịch, nên ĺa khỏi các chuyện khổ năo v.v…

 

          (Kinh) Như bảo thụ vương tại trạch nội, năng sanh nhất thiết chư lạc cụ, tối thắng kinh vương diệc phục nhiên, năng dữ nhân vương thắng công đức. Thí như trừng khiết, thanh lănh thủy, năng trừ cơ khát, chư nhiệt năo. Tối thắng kinh vương diệc phục nhiên, linh nhạo phước giả, tâm măn túc. Như nhân thất hữu diệu bảo khiếp, tùy sở thọ dụng tất tùng tâm. Tối thắng kinh vương diệc phục nhiên, phước đức tùy tâm vô sở phạp.

          ()如寶樹王在宅能生一切諸樂具最勝經王亦復然能與人王勝功德譬如澄潔清冷水能除饑渴諸熱惱最勝經王亦復然令樂福者心滿足如人室有妙寶篋隨所受用悉從心最勝經王亦復然福德隨心無所乏

    (Kinh: Như cây báu chúa ở trong nhà, có thể sanh hết thảy lạc cụ, kinh vương tối thắng cũng như thế, ban cho vua công đức thù thắng. Ví như nước trong lạnh, lắng sạch, hay trừ đói, khát, các nóng bức. Kinh vương tối thắng cũng như thế, khiến người chuộng phước tâm thỏa măn. Như trong nhà có tráp báu mầu, thọ dụng mong mỏi đều thỏa ḷng, kinh vương tối thắng cũng như thế, phước đức tùy tâm chẳng thiếu hụt).

 

          Kế đó, trong phần kết hợp thí dụ với pháp, chỉ kết hợp thí dụ với “được vui”. Trong ấy, có ba ư:

          - Một, kết hợp [thí dụ] cây báu với “được vui”.

          - Hai, nước lạnh ứng hợp với vô vi.

          - Ba, tráp báu ứng hợp với tùy tâm.

 

          (Kinh) Nhữ đẳng thiên chúa cập thiên chúng, ưng đương cúng dường thử kinh vương, nhược năng y giáo phụng tŕ kinh, trí huệ oai thần giai cụ túc. Hiện tại thập phương nhất thiết Phật, hàm cộng hộ niệm thử kinh vương, kiến hữu độc tụng cập thọ tŕ, xưng thán thiện tai, thậm hy hữu.

          ()汝等天主及天眾應當供養此經王若能依教奉持經智慧威神皆具足現在十方一切佛咸共護念此經王見有讀誦及受持稱歎善哉甚希有

    (Kinh: Chúa trời các ông và chúng trời, hăy nên cúng dường kinh vương này. Nếu hay y giáo, phụng tŕ kinh, trí huệ oai thần đều trọn đủ. Hiện tại mười phương hết thảy Phật, đều cùng hộ niệm kinh vương này, thấy người đọc tụng và thọ tŕ, khen ngợi lành thay, rất hiếm có!)

 

          Kế đó, khuyên chư thiên thủ hộ, cũng bao gồm các vị thống lănh các thần, chia thành hai điều:

          - Bài tụng thứ nhất, tăng thêm phước trí.

          - Bài tụng thứ hai, được Phật hộ niệm.

 

          (Kinh) Nhược hữu nhân năng thính thử kinh, thân tâm dũng dược, sanh hoan hỷ, thường hữu bách thiên Dược Xoa chúng, tùy sở trụ xứ hộ tư nhân. Ư thử thế giới chư thiên chúng, kỳ số vô lượng bất tư nghị, tất cộng thính thọ thử kinh vương, hoan hỷ hộ tŕ vô thoái chuyển. Nhược nhân thính thọ thử kinh vương, oai đức dũng mănh thường tự tại, tăng ích nhất thiết nhân thiên chúng, linh ly suy năo ích quang minh.

          ()若有人能聽此經身心踊躍生歡喜常有百千藥叉眾隨所住處護斯人於此世界諸天眾其數無量不思議悉共聽受此經王歡喜護持無退轉若人聽受此經王威德勇猛常自在增益一切人天眾令離衰惱益光明

    (Kinh: Nếu ai có thể nghe kinh này, thân tâm hớn hở, sanh hoan hỷ, thường có trăm ngàn các Dược Xoa, tùy chỗ ở, bảo vệ người đó. Các vị trời trong thế giới này, số tới vô lượng chẳng nghĩ bàn, đều cùng nghe nhận kinh vương này, hoan hỷ hộ tŕ chẳng lui sụt. Nếu người nghe nhận kinh vương này, oai đức dũng mănh thường tự tại, tăng thêm hết thảy chúng trời, người, khiến ĺa suy năo, tăng quang minh).

 

          Kế đó, ba bài tụng nhằm kết luận. Bài tụng đầu tiên [có ư nói] người nghe kinh sẽ được thủ hộ. Bài tụng kế đó, nêu ra: Chư thiên đắc bất thoái. Không chỉ người nghe, tiếp nhận [kinh này] đạt được bất thoái, mà c̣n khiến cho chư thiên chẳng lui sụt oai đức. Bài tụng sau cùng nhằm kết lại. Vua do đạt được sắc lực phước trí, bèn oai đức dũng mănh, thường được tự tại. Do chư thiên được tăng ích, sẽ ĺa năm tướng suy năo lớn nhỏ, thường tăng trưởng quang minh.

 

5.12.4.5. Tứ thiên vương vui mừng, hộ tŕ

                             

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Thiên Vương văn thị tụng dĩ, hoan hỷ, dũng dược, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă tùng tích lai, vị tằng đắc văn như thị thậm thâm vi diệu chi âm, tâm sanh bi hỷ, thế lệ giao lưu, cử thân chiến động, chứng bất tư nghị hy hữu chi sự”. Dĩ thiên mạn-đà-la hoa, ma-ha mạn-đà-la hoa nhi tán Phật thượng. Tác thị thù thắng cúng dường Phật dĩ, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă đẳng tứ vương, các hữu ngũ bách Dược Xoa quyến thuộc, thường đương xứ xứ ủng hộ thị kinh, cập thuyết pháp sư, dĩ trí quang minh nhi vi trợ vệ. Nhược ư thử kinh sở hữu cú nghĩa vong thất chi xứ, ngă giai linh bỉ ức niệm bất vong, tịnh dữ Đà-la-ni thù thắng pháp môn, linh đắc cụ túc. Phục dục linh thử tối thắng kinh vương sở tại chi xứ, vị chư chúng sanh quảng tuyên lưu bố, bất tốc ẩn một.

          ()爾時四天王聞是頌已歡喜踊躍白佛言世尊我從昔來未曾得聞如是甚深微妙之音心生悲喜涕淚交流舉身戰動證不思議希有之事以天曼陀羅華摩訶曼陀羅華而散佛上作是殊勝供養佛已白佛言世尊我等四王各有五百藥叉眷屬常當處處擁護是經及說法以智光明而為助衛若於此經所有句義忘失之處我皆令彼憶念不忘并與陀羅尼殊勝法門令得具足復欲令此最勝經王所在之處為諸眾生廣宣流布不速隱沒

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương nghe lời tụng ấy xong, hoan hỷ, hớn hở, bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Từ xưa tới nay, con chưa từng được nghe âm thanh vi diệu rất sâu như thế, tâm sanh buồn vui chen lẫn, nước mắt, nước mũi quẩn quanh, khắp thân run rẩy, chứng chuyện hiếm có chẳng thể nghĩ bàn!” Dùng hoa mạn-đà-la, hoa ma-ha mạn-đà-la cơi trời để rải lên đức Phật. Cúng dường đức Phật thù thắng như thế xong, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con, mỗi người đều có năm trăm Dược Xoa làm quyến thuộc, thường sẽ ở khắp nơi ủng hộ kinh này và vị thầy thuyết pháp, dùng trí quang minh để giúp đỡ, bảo vệ. Nếu đối với tất cả các câu nghĩa trong kinh này mà có chỗ quên mất, con sẽ đều khiến cho người ấy nghĩ nhớ chẳng quên, và ban cho pháp môn Đà-la-ni thù thắng khiến cho được đầy đủ. Lại muốn khiến cho chỗ có kinh vương tối thắng này, sẽ v́ các chúng sanh tuyên nói và lưu truyền rộng răi, chẳng để kinh bị nhanh chóng ẩn mất).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn lớn thứ năm của phẩm này, tức “tứ thiên vương vui mừng, hộ tŕ”. Có bốn ư:

          - Một, nghe bài tụng tâm vui sướng, tức là tâm hoan hỷ, thân hớn hở.

          - Hai, từ “bạch Phật” trở đi, thốt lời thưa bày, gồm ba ư:

          a) Được nghe điều chưa từng nghe.

          b) Thân tâm hoan hỷ. Theo kinh Nhân Vương, Sơ Địa Bồ Tát làm Tứ Thiên Vương, chứng Bất Thoái. Do đó, nghe pháp sâu, buồn vui xen lẫn, tuôn lệ, khắp thân run rẩy.

          c) Đắc điều chưa từng đắc, tức là chứng chuyện chẳng thể nghĩ bàn.

          - Ba, từ “dĩ thiên mạn-đà-la” (dùng hoa mạn-đà-la cơi trời) trở đi, rải hoa cúng dường.

          - Bốn, từ “tác thị thù thắng” (thực hiện sự thù thắng ấy) trở đi, thỉnh nguyện hộ tŕ, có hai ư:

          a) Dùng thân hộ tŕ.

          b) Từ “dĩ trí quang minh” (dùng trí quang minh) trở đi, đạt được ba trí:

          * Một, khiến cho nghĩ nhớ.

          * Hai, ban cho Tổng Tŕ,

          * Ba, khiến cho hoằng pháp lưu thông chẳng dứt.

 

5.12.4.6. Đại chúng nghe kinh được lợi ích          

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn ư đại chúng trung, thuyết thị pháp thời, vô lượng chúng sanh giai đắc đại trí, thông duệ, biện tài, nhiếp thọ vô lượng phước đức chi tụ, ly chư ưu năo, phát hỷ lạc tâm, thiện minh chúng luận, đăng xuất ly đạo, bất phục thoái chuyển, tốc chứng Bồ Đề.

          ()爾時世尊於大眾中說是法無量眾生皆得大智聰叡辯才攝受無量福德之聚離諸憂惱發喜樂心善明眾論登出離道不復退轉速證菩提

    (Kinh: Lúc bấy giờ, khi đức Thế Tôn ở trong đại chúng nói pháp này, vô lượng chúng sanh đều đắc trí huệ to lớn, thông duệ, biện tài, nhiếp thọ vô lượng khối phước đức, ĺa các ưu năo, phát tâm hỷ lạc, khéo hiểu các luận, vượt lên đạo xuất ly, chẳng c̣n lui sụt, mau chứng Bồ Đề).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ sáu là đại chúng nghe kinh đạt được lợi ích. Có chín ư:

          - Một, đắc trí huệ.

          - Hai, đắc biện tài.

          - Ba, được phước.

          - Bốn, ĺa khổ.

          - Năm, được vui.

          - Sáu, đắc Ngũ Minh.

          - Bảy, đắc nẻo Niết Bàn.

          - Tám, đắc bất thoái chuyển.

          - Chín, mau chứng Bồ Đề.

          Kinh văn dễ hiểu.

 

Kim Quang Minh Tối Thắng Kinh Vương Sớ

Quyển thứ bảy

 

5.13. Phẩm thứ mười ba: Vô Nhiễm Trước Đà La Ni (Vô Nhiễm Trước Đà La Ni phẩm đệ thập tam, 無染著陀羅尼品第十三)

 

          Phẩm Vô Nhiễm Trước Đà La Ni gồm ba môn phân biệt:

          - Một, ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

          - Hai, giải thích tên gọi của phẩm.

          - Ba, giải thích vấn nạn.

 

5.13.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Nói về ư nghĩa v́ sao có phẩm này, mười sáu phẩm kể từ phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên trở đi, trước hết nói về học hạnh lưu thông, gồm năm phần:

          - Một, phẩm Tứ Thiên Vương Quán Sát Nhân Thiên khuyên tu hành.

          - Hai, ba phẩm từ phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc trở đi nói về sự thủ hộ.

          - Ba, năm phẩm từ Đại Biện Tài trở đi, tăng thêm phước trí cho người hoằng kinh, tu hành.

          - Bốn, ba phẩm từ phẩm Vương Pháp Chánh Luận trở đi, nói về sự tu tŕ, học tập.

          - Năm, bốn phẩm từ phẩm Thọ Kư trở đi, kết lại các ư khuyên tu, thủ hộ v.v…

          Trong ba phẩm nói về sự thủ hộ như Tứ Thiên Vương Hộ Quốc v.v… có ba điều:

          - Một, dạy thủ hộ, cúng dường.

          - Hai, dạy ĺa nhiễm bất thoái.

          - Ba, khiến cho ĺa chướng như ư.

          Phần trước đă nói về thủ hộ, cúng dường. Phần này truyền dạy hăy ĺa nhiễm bất thoái. Nếu có đắm nhiễm, sẽ có thoái khuất v́ chấp trước. Như phần giảng giải Ly Bất Nhẫn Khổ Chướng trong Bát Nhă Luận của Vô Trước Bồ Tát đă nói: “Chẳng trụ trong hết thảy các pháp để phát Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác v́ đối trị các nỗi khổ như chẳng thể nhẫn sự lưu chuyển [trong sanh tử], khổ v́ chúng sanh trái nghịch, khổ v́ tiêu dùng thiếu thốn v.v…” Ở đây cũng thế; do vậy, trong phần sau, kinh văn có nói: “Nhược chư Bồ Tát năng an trụ giả, ư Vô Thượng Bồ Đề, bất phục thoái chuyển, thành tựu chánh nguyện, đắc vô sở y tự tánh biện tài, hoạch hy hữu sự, an trụ thánh đạo” (Nếu các Bồ Tát có thể an trụ trong Vô Thượng Bồ Đề chẳng c̣n thoái chuyển, thành tựu chánh nguyện, đạt được tự tánh biện tài chẳng nương tựa vào đâu, đạt được chuyện hiếm có, an trụ trong thánh đạo). V́ thế, nói chú này để thủ hộ, khiến cho [hành nhân] ĺa nhiễm, tu hành chẳng thoái chuyển. Do vậy, mà có phẩm này sanh khởi.

 

5.13.2. Giải thích tên gọi của phẩm này

 

          Giải thích danh xưng của phẩm này, tiếng Phạn là Tỷ Đống Lê Sa, phương này dịch là Vô Nhiễm Trước, bản dịch theo lối cũ dịch thành Ngân Chủ không đúng. Pháp được hoằng truyền lưu xuất từ pháp giới b́nh đẳng thanh tịnh nhất. Lại do chú lực mà có thể khiến cho ĺa nhiễm, chẳng trụ chấp. V́ thế nói là Vô Nhiễm Trước. Ư nghĩa của Đà La Ni th́ như thông thường biện định.

 

5.13.3. Giải thích vấn nạn

 

          * Hỏi: Tổng Tŕ có bốn môn, Vô Nhiễm Trước ở đây thuộc loại Đà-la-ni nào?

          Đáp: Chú này có thể khiến cho Bồ Tát đắc Vô Sanh Nhẫn Đà-la-ni. V́ thế, luận Du Già Sư Địa, quyển bốn mươi lăm viết: “V́ sao Bồ Tát có thể đắc Bồ Tát Nhẫn Đà-la-ni? Chính là các Bồ Tát thành tựu nhẫn hạnh kiên cố nơi tự thể, trọn đủ diệu trí. Cho đến nói “chẳng do nghe từ người khác, mà tự thông đạt chân chánh hết thảy các pháp nghĩa, tức là đối với nghĩa này, thông đạt như thế này: Nghĩa tự tánh của hết thảy các pháp được diễn tả bằng ngôn thuyết đều chẳng thành thật, chỉ có tự tánh ĺa ngôn thuyết của các pháp” v.v… Kinh này đă nói Đà La Ni chẳng phải là nơi chốn, cho đến nói “chẳng có pháp nào sanh, mà cũng chẳng có pháp nào diệt” v.v… V́ vậy, biết là như thế.

          Hoặc [có thể hiểu] là Thần Chú Tổng Tŕ. Kinh Bồ Tát Địa nói: “Vân hà Bồ Tát Chú Đà La Ni? Vị chư Bồ Tát hoạch đắc như thị Đẳng Tŕ tự tại, gia bị năng trừ hữu t́nh tai hoạn chư chú chương cú, linh bỉ chương cú tất giai thần nghiệm, năng trừ phi nhất chủng chủng tai hoạn” (Thế nào là Chú Đà La Ni của Bồ Tát? Tức là các Bồ Tát đạt được Đẳng Tŕ tự tại như thế, các chương cú thần chú có thể gia bị trừ các tai họa, hoạn nạn cho hữu t́nh, khiến cho các chương cú ấy thảy đều có hiệu nghiệm thần diệu, có thể trừ sạch các thứ tai ương, hoạn nạn, không phải chỉ là một thứ). Kinh này c̣n nói: “Thân diệc bất bị đao, trượng, độc dược, thủy, hỏa, mănh thú chi sở tổn hại” (Thân cũng chẳng bị tổn hại bởi đao, gậy, thuốc độc, nước, lửa, thú dữ). V́ thế, [Đà La Ni này] thuộc về thần chú. Hoặc có thể hiểu là bao gồm cả hai ư ấy (tức Vô Nhiễm Trước Đà La Ni vừa là môn Đà La Ni có thể khiến cho Bồ Tát đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn (tức Pháp Đà La Ni, hay Đắc Nhẫn Tổng Tŕ), vừa là Thần Chú Đà La Ni), do kinh văn không loại trừ.

          * Hỏi: Theo luận Du Già Sư Địa nói: “Thể của bốn thứ Tổng Tŕ đều chẳng phải là Niệm, Huệ. Có thể nói Thần Chú Tổng Tŕ là Định, c̣n Đắc Nhẫn Tổng Tŕ chính là Diệu Huệ”. V́ sao như thế?

          Đáp: Do thể tánh bất đồng. Có [môn Tổng Tŕ] do nương vào nhân để biện định cái Thể mà nói là Định. Có môn nương vào phương diện có thể giản trạch (chọn lựa quyết định) để biện định cái Thể mà nói là Trí. Có môn nương vào sự ghi nhớ để biện định cái Thể, bèn nói đó là Niệm. Có môn nương vào quả để biện định cái Thể, tức là “gọi pháp được duy tŕ là Tổng Tŕ”. Mỗi đằng xét theo một nghĩa, thảy đều chẳng mâu thuẫn. Do vậy, Trí Độ Luận giải thích Tổng Tŕ như sau: “Do Thiền Định mà đạt được lửa trí huệ”. Lại nói: “Trí huệ ở trong Bồ Đề tâm th́ gọi là Bát Nhă, ở trong tâm của bậc Tiểu Thừa th́ gọi là Đạo Phẩm, ở trong tâm của người chẳng quên mất th́ gọi là Đà La Ni”. V́ thế, luận Du Già Sư Địa nói: “Chú Tổng Tŕ th́ nói là Định. Đắc Nhẫn Tổng Tŕ nói là Huệ”. Mỗi đằng dựa theo một nghĩa mà nói. Trong phần Chú Tŕ [của luận ấy] lại nói: “Do đạt được Đẳng Tŕ tự tại như thế, khiến cho thần chú có hiệu nghiệm thần diệu” v.v… Đó là dựa theo cái nhân để nói, chẳng phải là xét khít khao theo cái Thể. V́ thế, luận Đại Trang Nghiêm nói: “Đắc th́ có ba loại: Một là báo đắc. Hai là tập đắc, tức là do sức Văn Tŕ trong hiện tại mà đạt được. Ba là tu đắc, do nương vào định lực mà đạt được”. Do vậy ta biết: Nói “đạt được Đẳng Tŕ tự tại như thế, gia bị thần chú thảy đều có hiệu nghiệm thần diệu”, tức là nương theo Định mà phát ra Niệm Huệ thù thắng, có thể tŕ các chú; đấy chính là xét theo cái nhân để biện định cái Thể.

          Trong Đắc Nhẫn Tổng Tŕ th́ Nhẫn là quả, thần chú là cái nhân của Nhẫn. Do sức niệm huệ duy tŕ mà đắc Nhẫn Chú ấy, th́ gọi là Năng Đắc Bồ Tát Vô Sanh Nhẫn Đà La Ni. Chú được tŕ (sở tŕ chi chú) và cái Thể có thể tŕ (năng tŕ Thể) đều dùng Niệm Huệ làm Thể. Hoặc chỉ có Năng Tŕ dùng niệm huệ làm Thể, c̣n chú được tŕ th́ không. Như dùng Tổng Tŕ để tŕ văn nghĩa, th́ văn nghĩa được duy tŕ bởi chú ấy chẳng phải là niệm huệ. Hoặc chú là nhân, do sức của chú ấy mà có thể đạt được bốn thứ Tổng Tŕ, duy tŕ bốn pháp ấy khiến chẳng bị quên mất.

          Luận Du Già Sư Địa lại nói: “Đắc Nhẫn Tổng Tŕ là diệu huệ” th́ cũng là nói theo cái nhân. Nói “các Bồ Tát thành tựu nhẫn hạnh kiên cố nơi tự thể, trọn đủ diệu huệ, ở một ḿnh nơi thanh vắng, chẳng nói năng”. Cho đến nói: “Đối với các chương cú để đắc Bồ Tát Nhẫn do đức Phật đă nói mà có thể tư duy chân thật, đối với câu nghĩa như thế đều có thể chẳng do nghe từ người khác mà tự thông đạt, biết các chương cú như thế đều chẳng có nghĩa” v.v… Nói “thành tựu nhẫn hạnh kiên cố” th́ Hạnh là nhân, nhân chính là diệu huệ. “Do đạt được diệu huệ, ở riêng nơi thanh vắng, chẳng nói năng” v.v… chính là chỗ để tu hành và quy cách tu hành. “Chương cú có thể đắc Bồ Tát nhẫn” do đức Phật đă nói v.v… chính là pháp phải học để đắc cái nhân của Nhẫn. “Có thể tư duy” là có thể tu hành, tức là nhân. Do vậy, Trang Nghiêm Luận viết: “Do sức Văn Tŕ trong hiện tại mà đạt được”. V́ thế, biết: Không chỉ Đà La Ni được gọi là Tổng Tŕ Niệm Huệ, mà cái nhân của Tổng Tŕ Niệm Huệ và pháp được tŕ cũng đều gọi là Tổng Tŕ. V́ thế, Định và Chú đều được gọi là Tổng Tŕ. Lại nữa, pháp nghĩa được tŕ là Tổng, thần chú và Nhẫn là Biệt, do thần chú và Đắc Nhẫn Chú cũng đều có pháp nghĩa.

          * Hỏi: Nếu nói Định Huệ là cái nhân của Tổng Tŕ, v́ sao kinh Bồ Tát Địa nói: “Nhược chư Bồ Tát cụ tứ công đức, phương hoạch Tổng Tŕ, phi tùy khuyết nhất” (Nếu các Bồ Tát trọn đủ bốn công đức th́ mới đạt được Tổng Tŕ, chẳng thể thiếu một công đức nào)?

          Đáp: Nhân có xa và gần. Định Huệ là cận nhân. Bốn cái nhân ấy, một là chẳng tham dục, hai là chẳng đố kỵ trước sự vượt trội của người khác, ba là b́nh đẳng thí không hối hận, bốn là sanh ḷng vui thích sâu xa đối với chánh pháp. Đấy chính là bốn viễn nhân.

          * Hỏi: Bốn môn Tổng Tŕ ấy sẽ đắc trong địa vị nào?

          Đáp: Theo như luận Du Già Sư Địa nói: “Do đắc môn Nhẫn này, các vị Bồ Tát ấy chẳng lâu sau, sẽ đắc Tịnh Thắng Ư Lạc Địa Bồ Tát Pháp Đà La Ni và Nghĩa Đà La Ni. Qua khỏi vô số đại kiếp thứ nhất, nhập Tịnh Thắng Ư Lạc Địa, quyết định sẽ đạt được. Kế đó là tuy đắc mà chẳng quyết định, như Thuyết Pháp Nghĩa. Đối với Chú Đà La Ni, cũng nên biết như thế”. Xét theo đó, Đắc Nhẫn Tổng Tŕ đạt được khi thuộc địa vị Địa Tiền, các môn khác th́ khi đă nhập Địa (chứng từ Sơ Địa trở lên) sẽ đắc. Thật ra, nếu xét theo phương diện thù thắng hay kém cỏi, viên măn hay thiếu khuyết, th́ địa vị để đạt được Tổng Tŕ chẳng nhất định! Như các kinh Giải Thâm Mật v.v… nói Đệ Tam Địa đắc Văn Tŕ Đà La Ni, cũng nói Đệ Cửu Địa đắc bốn món Đà La Ni. Nếu xét theo phương diện “mới chứng lư”, th́ đắc Đà La Ni đều thuộc vào Sơ Địa. Xét theo phương diện “do tu tập mà đắc” th́ cũng bao gồm Địa Tiền (trước khi nhập Sơ Địa). Xét theo phương diện “tùy ư đạt được” th́ đều là từ Bát Địa trở lên. Nay luận Du Già Sư Địa nói “đắc Nhẫn nơi Địa Tiền”, c̣n những thứ khác th́ sau khi đă nhập Địa, [có thể dung hội các ư ấy để] soi rọi lẫn nhau vậy!

 

5.13.4. Giải thích kinh văn

5.13.4.1. Phật nêu ra danh hiệu là Tông

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Cụ Thọ Xá Lợi Tử: “Kim hữu pháp môn, danh Vô Nhiễm Trước Đà La Ni, thị chư Bồ Tát sở tu hành pháp, quá khứ Bồ Tát chi sở thọ tŕ, thị Bồ Tát mẫu”. Thuyết thị ngữ dĩ.

          ()爾時世尊告具壽舍利子今有法門名無染著陀羅尼是諸菩薩所修行法過去菩薩之所受持是菩薩母說是語

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Cụ Thọ Xá Lợi Tử: “Nay có pháp môn tên là Vô Nhiễm Trước Đà La Ni, là pháp để các Bồ Tát tu hành, được quá khứ Bồ Tát thọ tŕ, là mẹ của Bồ Tát”. Nói lời ấy xong).

 

          Tán rằng: Kinh văn chia đại lược thành sáu phần:

          - Một, đức Phật nêu ra tên gọi [của Đà La Ni] và nêu ư nghĩa chủ yếu.

          - Hai, hỏi đáp về tên gọi và cái Thể [của môn Đà La Ni ấy].

          - Ba, [ngài Xá Lợi Phất] thỉnh đức Phật giảng nói.

          - Bốn, tán thán, ngưỡng mộ, tuyên nói.

          - Năm, chỉ rơ sự thù thắng [của môn Đà La Ni này] để khuyên tu.

          - Sáu, [đại chúng] nghe dạy, hoan hỷ tu học.

          Đoạn này chính là phần thứ nhất, có bảy điều:

          - Một, nói rơ vị giáo chủ [tuyên nói pháp môn này].

          - Hai, căn cơ thích hợp đối với pháp này (hàng Bồ Tát).

          - Ba, nêu tên của bài chú (Vô Nhiễm Trước Đà La Ni)

          - Bốn, chỉ dạy hăy nên học.

          - Năm, khuyên thêm.

          - Sáu, do ư nghĩa nào mà phải học: [Đà La Ni này] chính là mẹ của Bồ Tát, quá khứ Bồ Tát đều đă học, Bồ Tát hiện thời phải nên tu hành.

          - Bảy, kết lại những điều đă nói trên đây.

          Phân đoạn kinh văn dễ thấy.

 

5.13.4.2. Vấn đáp về tên gọi và cái Thể [của môn Đà La Ni này]

5.13.4.2.1. Xá Lợi Phất thưa hỏi

 

          (Kinh) Cụ Thọ Xá Lợi Tử bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Đà La Ni giả thị hà cú nghĩa? Thế Tôn! Đà La Ni giả, phi phương xứ, phi phi phương xứ”. Tác thị ngữ dĩ.

          ()具壽舍利子白佛言世尊陀羅尼者是何句義世尊陀羅尼者非方處非非方處作是語已

    (Kinh: Cụ Thọ Xá Lợi Tử bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đà La Ni là câu nghĩa như thế nào? Bạch Thế Tôn! Đà La Ni chẳng phải là nơi chốn, không phải chẳng là nơi chốn”. Nói lời ấy rồi).

 

          Kế đó, hỏi đáp về tên gọi và bản thể, [gồm hai phần]: Trước là hỏi, sau là đáp. Trong phần hỏi, có hai ư:

          - Một, hỏi về danh nghĩa. “Là cú nghĩa như thế nào” tức là có ư hỏi: Do ư nghĩa nào mà gọi là Vô Nhiễm Trước? Lại do nghĩa nào, danh xưng “cú” (câu) trong pháp được diễn nói chẳng phải là “danh” trong “danh cú”?

          - Hai, hỏi về Thể. Do Thể của các pháp là Chân Như, chẳng phải có, chẳng phải không v.v… chẳng thể diễn nói, sao lại có thể nói ra Đà La Ni này? “Phi phương xứ” là ĺa Hữu, “phi phi phương xứ” là ĺa Không.

          Dựa theo lời đáp của đức Phật sau đây, có tới bảy câu; ở đây, chỉ nêu đại lược câu đầu tiên để hỏi, ḥng liên tưởng các câu c̣n lại. Hoặc có thể hiểu ngài Xá Lợi Phất là phần ngộ (giác ngộ một phần), đức Thế Tôn cụ ngộ (ngộ trọn vẹn). thế, nói có nhiều hay ít [khác biệt]!

 

5.13.4.2.2. Đức Phật giải đáp

5.13.4.2.2.1. Tán thán phẩm đức của ngài Xá Lợi Phất

 

          (Kinh) Phật cáo Xá Lợi Tử: - Thiện tai! Thiện tai! Xá Lợi Tử! Nhữ ư Đại Thừa, dĩ năng phát thú, tín giải Đại Thừa, tôn trọng Đại Thừa.

          ()佛告舍利子善哉善哉舍利子汝於大乘已能發趣信解大乘尊重大乘

          (Kinh: Đức Phật bảo Xá Lợi Tử: - Lành thay! Lành thay! Xá Lợi Tử! Ông đối với Đại Thừa đă có thể phát khởi tiến hướng, tin hiểu Đại Thừa, tôn trọng Đại Thừa).

 

          Kế đó, giải đáp, có hai ư: Trước là tán thán, sau là giải đáp. Đoạn này thuộc phần tán thán, có hai ư:

          - Nói “thiện tai” (lành thay) nhằm tán thán lời hỏi.

          - Từ “nhữ ư Đại Thừa” (ông đối với Đại Thừa) trở đi, tán thán đức, gồm ba điều:

          1) Tán thán [ngài Xá Lợi Tử đă] bỏ Tiểu Thừa, đă có thể phát tâm tiến hướng [Đại Thừa].

          2) Tán thán Ngài ngộ Đại Thừa, do đă tin hiểu Đại Thừa. Do tin mà được hiểu, chẳng phải do trí mà chứng nhập. V́ thế, kinh Pháp Hoa dạy: “Nhữ Xá Lợi Phất thượng ư thử kinh dĩ tín đắc nhập, huống dư Thanh Văn” (Xá Lợi Phất! Ông c̣n do tín mà được nhập kinh này, huống hồ các Thanh Văn khác). Tiến hướng Đại Thừa sau khi đă trải qua hai vạn kiếp, mới đạt tới địa vị Sơ Tâm trong Thập Tín. V́ thế, kinh Niết Bàn nói: “A La Hán nhân nhị vạn kiếp đáo” (bậc A La Hán phải qua hai vạn kiếp mới đạt tới). Nói “đạt tới” tức là đạt được cái tâm A Nậu (Vô Thượng), cho nên chưa chứng ngộ. Nếu xét theo Thất Địa vượt ngoài Chủng Tánh Địa, đạt được nơi Thắng Giải Hạnh địa. Nếu xét theo ngũ vị[13], th́ chưa trụ trong Tư Lương Vị, chỉ thuộc thiện pháp dục (ham muốn dựa theo pháp vô lậu, thường hiểu là mong muốn tiến nhập địa vị cao hơn trong khi tu hành), Thập Tín mới đạt được Tư Lương.

          3) Sau đó là tán thán [tín tâm] kiên cố, v́ tôn trọng Đại Thừa.

 

5.13.4.2.2.2. Giải đáp

5.13.4.2.2.2.1. Giải đáp về Thể

5.13.4.2.2.2.1.1. Trần thuật để kết thành

 

          (Kinh) Như nhữ sở ngôn, Đà La Ni giả phi phương xứ, phi phi phương xứ, phi pháp, phi phi pháp, phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại, phi sự, phi phi sự, phi duyên, phi phi duyên, phi hành, phi phi hành, vô hữu pháp sanh, diệc vô pháp diệt.

          ()如汝所言陀羅尼者非方處非非方處非法非非法非過去非未來非現在非事非非事非緣非非緣非行非非行無有法生亦無法滅

          (Kinh: Đúng như ông nói, Đà La Ni chẳng phải là nơi chốn, chẳng phải là không phải nơi chốn, chẳng phải là pháp, chẳng phải là phi pháp, chẳng phải là quá khứ, chẳng phải là vị lai, chẳng phải là hiện tại, chẳng phải là sự, chẳng phải là không phải sự, chẳng phải là duyên, chẳng phải không là duyên, chẳng phải là hành, chẳng phải không phải là hành, chẳng có pháp sanh, mà cũng chẳng có pháp diệt).

 

          Kế đó, lời giải đáp [của đức Phật] có hai phần:

          - Một, đáp về cái Thể.

          - Hai, từ “tức thị chư Phật” (chính là chư Phật) trở đi, giải đáp về ư nghĩa của danh xưng.

          Trong phần thứ nhất, lại có hai ư:

          - Một, trần thuật để kết thành.

          - Hai, từ “nhiên vi” (nhưng v́) trở đi, giải đáp nguyên do.

          Đoạn này chính là phần trần thuật để kết thành. “Phi phương xứ” v.v… như trong phần trước đă giải thích. Điều thứ hai là “phi pháp, phi phi pháp”, tức là ĺa nói năng và chẳng phải nói năng. “Phi pháp”: Chẳng phải là điều được diễn nói. “Phi phi pháp”: Chẳng phải là chẳng ĺa pháp không thể nói, tức là do trí chứng. Điều thứ ba là “ĺa ba đời”. Do thường, nên chẳng phải là ba đời. [Kinh văn] đáng lẽ phải có các câu như “phi phi quá khứ, phi phi vị lai” v.v… do chẳng ĺa pháp thế gian; chỉ là để [thính chúng] tự liên tưởng nên nói lược đi. Câu kinh thứ bảy cũng hiểu giống như vậy. Câu thứ tư nói về cặp Sự Lư. [“Phi Sự”] là Lư, chẳng phải Sự. Lại nói “phi phi Sự” v́ chẳng ĺa Sự pháp. Câu thứ năm là cặp “hữu vi, vô vi”. Chẳng phải là hữu vi duyên sanh, chẳng phải là không phải hữu vi, do liễu nhân mà hiển hiện. Hoặc do chẳng ĺa pháp duyên sanh. Câu thứ sáu là cặp “thường, vô thường”. “Hành” là đổi dời. Chân Như chẳng phải hành, chẳng phải không phải là hành, giống như đă giải thích trong phần trước. Câu thứ bảy là cặp “tướng, phi tướng”. Do lư Chân Như ĺa mười tướng như sanh, diệt v.v… Thể của các pháp được sanh ra. Sau đó, chẳng có nữa th́ gọi là Diệt. Như (Chân Như) đă chẳng sanh, cho nên chẳng có pháp diệt. Nêu lên điều này để suy ra các điều khác. Câu thứ bảy chính là “ĺa tướng sanh diệt”. Ở đây, quy vào tánh Viên Thành Thật trong ba tánh để hiểu, do đó là chỗ quy thú của hết thảy các pháp. Nếu xét theo Biến Kế và Thắng Nghĩa, Thắng Nghĩa sẽ “ngăn trở” (tức là phủ định) cả bảy câu. Nếu xét theo Nhị Đế để h́nh dung, sẽ bao gồm cả các ư “ngăn trở”“biểu thị”. Như câu đầu “phi phương xứ”, xét theo Thắng Nghĩa th́ sẽ phủ định phương xứ, biểu thị “chẳng phải là phương xứ, chẳng phải là không phải phương xứ”. Nếu xét theo Tục Đế, dùng cái Thể của Tổng Tŕ [để lănh hội] th́ pháp được tŕ nương theo âm thanh, c̣n tự tánh của Tổng Tŕ là Niệm Huệ. Niệm Huệ chẳng phải là nơi chốn, do nó nương vào nơi chốn. Các điều khác cứ dựa theo đó mà biết. Nhưng dựa theo ư kinh, xét theo Chân Thắng Nghĩa th́ “tâm dứt bặt suy tưởng, chẳng thể nói năng”; nói chung là “ngăn che” hay “biểu thị” đều chẳng nương vào Y Tha và Biến Kế, hoặc [có thể hiểu là] gồm chung cả ba tánh, đều chẳng mâu thuẫn ǵ!

 

5.13.4.2.2.2.1.2. Giải đáp nguyên do

 

          (Kinh) Nhiên vị lợi ích chư Bồ Tát cố, tác như thị thuyết, ư thử Đà La Ni công dụng, chánh đạo lư thú thế lực an lập.

          ()然為利益諸菩薩故作如是於此陀羅尼功用正道理趣勢力安立

          (Kinh: Nhưng v́ lợi ích các Bồ Tát mà nói như thế đó. Đối với công dụng của Đà La Ni này, an lập nơi thế lực của lư thú chánh đạo).

 

          Kế đó, giải đáp về nguyên do. Nhưng xét theo Thắng Nghĩa, “phi phương xứ, phi phi phương xứ” v.v… dứt bặt ngôn từ, dứt tuyệt h́nh tướng, nhưng nay v́ lợi ích các Bồ Tát, cho nên trong đạo lư phương tiện, bèn dựa theo Tục Đế mà nói như thế đó. Nương vào đâu để thuyết pháp? Chính là nói nương vào Đà La Ni này, tức là nói đến cái Thể của pháp được nói. Nương vào bốn loại nghĩa mà xếp đặt, lập bày, gọi đó là Thuyết. Kế đó nói tới “an lập” th́ [an lập] là tên gọi khác của “thi thiết” (xếp đặt, thiết lập). Do nương theo bốn nghĩa ấy mà an lập. Nói “bốn loại nghĩa” th́:

          - Một là công dụng, tức là nương theo Tổng Tŕ có công dụng “có thể đắc quả” để nói.

          - Hai là chánh đạo, tức là do cái Thể của công dụng ấy ĺa nhị biên, chứng chánh lư, nên gọi là “chánh đạo”, tức Niệm, Huệ v.v…

           - Ba là lư thú, tức Chân Như và pháp nghĩa được tŕ v.v… là cảnh của niệm trí v.v… được gọi chung là “lư thú”.

          - Bốn là thế lực. Do pháp nghĩa ấy mà có thể khiến cho Niệm, Huệ v.v… diệt ác, sanh thiện, chứng lư, đắc quả, cho nên gọi là “thế lực”, tức oai lực của pháp. Muốn nêu rơ “năng thuyên” (chủ thể có thể tuyên nói) khế hợp, thuận theo các pháp. Hoặc [có thể hiểu là] nó có thế lực có thể nhiếp tŕ, sanh ra điều thiện, diệt điều ác.

 

5.13.4.2.2.2.2. Giải đáp về cú nghĩa

 

          (Kinh) “Tức thị chư Phật công đức, chư Phật cấm giới, chư Phật sở học, chư Phật bí ư, chư Phật sanh xứ. Cố danh vị Vô Nhiễm Trước Đà La Ni tối diệu pháp môn”. Tác thị ngữ dĩ.

          ()即是諸佛功德諸佛禁戒諸佛所學諸佛祕意諸佛生處故名無染著陀羅尼最妙法門作是語已

          (Kinh: “Tức là công đức của chư Phật, là giới cấm của chư Phật, là sở học của chư Phật, là ư bí mật của chư Phật, là chỗ sanh của chư Phật. V́ thế, gọi là pháp môn Vô Nhiễm Trước Đà La Ni mầu nhiệm nhất”. Nói lời ấy xong).

 

          Kế đó, trả lời câu hỏi về cú nghĩa. Trước hết, trả lời về nghĩa; từ “cố danh Vô Nhiễm Trước” (v́ thế gọi là Vô Nhiễm Trước) trở đi, giải đáp về [tên gọi của] chương cú. “Cú” chính là danh. Nơi Phật th́ bốn nghĩa như “công dụng, chánh đạo” v.v… trong phần trước đều gọi là “công đức” v.v… Hoặc là công năng làm cái nhân; nương vào công năng đó, đạt được các pháp như bất cộng v.v… của Phật mà gọi là “công đức”. Có thể khiến cho ĺa lỗi th́ gọi là “cấm giới”. Làm thầy của Phật, nên gọi là “sở học”. Diệu lư Pháp Thân sâu khó ḍ, nên gọi là “bí ư”. Thành tựu Báo Phật và Hóa Phật, nên gọi là “sanh xứ”. Do có thể diễn nói giáo, diễn nói ư nghĩa ấy, nên gọi là “pháp môn Vô Nhiễm Trước” v.v… Hoặc do chính Niệm Huệ mà gọi là “pháp môn”. Dùng pháp được tŕ làm môn, tức cửa ngơ của pháp. Hoặc nương vào môn Tổng Tŕ ấy mà có thể sanh ra các thứ như công đức v.v… “Diệu pháp” tức là cửa ngơ của diệu pháp, hoặc diệu pháp ấy bao gồm cả Năng và Sở, tức bao gồm cả hai cách giải thích Y Chủ và Tŕ Nghiệp.

         

5.13.4.3. Thỉnh Phật giảng nói

 

          (Kinh) Xá Lợi Tử bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Duy nguyện Thiện Thệ vị ngă thuyết thử Đà La Ni pháp. Nhược chư Bồ Tát năng an trụ giả, ư Vô Thượng Bồ Đề, bất phục thoái chuyển, thành tựu chánh nguyện, đắc vô sở y tự tánh biện tài, hoạch hy hữu sự, an trụ thánh đạo, giai do đắc thử Đà La Ni cố.

          ()舍利子白佛言世尊唯願善逝為我說此陀羅尼法若諸菩薩能安住者於無上菩提不復退轉成就正願得無所依自性辯才獲希有事安住聖道皆由得此陀羅尼故

    (Kinh: Xá Lợi Tử bạch đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Kính mong đấng Thiện Thệ v́ con mà nói pháp Đà La Ni này. Nếu các Bồ Tát có thể an trụ nơi Vô Thượng Bồ Đề, chẳng c̣n thoái chuyển, thành tựu chánh nguyện, đạt được biện tài nơi tự tánh chẳng nương tựa vào đâu, đạt được chuyện hiếm có, an trụ trong thánh đạo, đều do có được Đà La Ni này).

 

          Kế đó, phần thứ ba là thỉnh Phật giảng nói, có hai phần:

          - Một, thỉnh nói.

          - Hai, từ “nhược chư Bồ Tát” (nếu các Bồ Tát) trở đi là ư cầu thỉnh.

          Ư cầu thỉnh lại gồm hai phần:

          - Một, [nêu ra] người có thể học.

          - Hai, từ “năng an trụ giả” (có thể an trụ) trở đi, nói rơ lợi ích sẽ đạt được do tu giáo pháp này. Có sáu điều:

          1) Đạt được bất thoái, thuận theo bốn món bất thoái là Tín, Trụ v.v…

          2) Đạt được chánh nguyện, tức là mười đại nguyện. Phát Bồ Đề Tâm Luận nói: “Một là nguyện đem thiện căn do tôi đă gieo trong đời trước và đời này, thí cho hết thảy, đều cùng hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, khiến cho nguyện này của tôi tăng trưởng trong mỗi niệm, đời đời chẳng quên, được Đà La Ni thủ hộ. Hai là nguyện tôi đă hồi hướng Đại Bồ Đề xong, do thiện căn ấy, trong hết thảy các chỗ sanh ra, thường được cúng dường hết thảy chư Phật, luôn thường chẳng sanh vào quốc độ không có Phật. Ba là nguyện tôi được sanh vào các cơi Phật rồi, sẽ thường được thân cận, theo hầu chung quanh, như bóng theo h́nh, chẳng trong khoảng sát-na nào xa ĺa chư Phật. Bốn là nguyện tôi đă được thân cận Phật rồi, Ngài sẽ tùy theo lẽ đáng nên mà v́ tôi thuyết pháp, tôi liền được thành tựu ngũ thông của Bồ Tát. Năm là nguyện đă đắc thần thông rồi, liền thấu đạt Thế Đế chỉ là giả danh lưu truyền, liễu đạt Đệ Nhất Nghĩa, đắc chánh pháp trí. Sáu là nguyện tôi đă đắc chánh pháp trí, sẽ dùng tâm không nhàm chán v́ chúng sanh thuyết pháp, chỉ dạy khiến họ lợi ích, hoan hỷ, khiến cho họ đều khai giải. Bảy là nguyện tôi đă khai giải các chúng sanh rồi, sẽ dùng thần lực của Phật đến khắp mười phương thế giới chẳng thừa sót, cúng dường chư Phật, nghe nhận chánh pháp, rộng nhiếp thọ chúng sanh. Tám là nguyện được nghe chánh pháp của chư Phật rồi, liền có thể tùy thuận chuyển pháp luân thanh tịnh, hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới được nghe pháp của tôi, nghe danh xưng của tôi, liền ĺa bỏ hết thảy phiền năo, phát Bồ Đề tâm. Chín là nguyện tôi có thể khiến cho hết thảy chúng sanh phát Bồ Đề tâm rồi, sẽ thường theo sát thủ hộ, trừ khử các điều vô lợi ích, ban cho vô lượng lạc, xả thân mạng, tài vật, nhiếp thọ chúng sanh, gánh vác chánh pháp. Mười là nguyện tôi đă có thể gánh vác chánh pháp, tuy hành chánh pháp, mà tâm không có ǵ để hành, giống như các Bồ Tát hành chánh pháp mà không có ǵ để hành, cũng chẳng không hành. V́ hóa độ chúng sanh mà chẳng xả chánh nguyện”. Mười nguyện ấy đại để tương đồng với các nguyện nơi địa vị Bồ Tát.

          3) Đắc vô sở y (không nương dựa vào đâu), tức là Vô Trụ Niết Bàn.

          4) Tự tánh biện tài, tức tứ vô ngại biện tài. Chẳng do thầy mà ngộ. Hoặc chẳng phải là có nhân duyên, v́ lợi tha mà dấy lên bốn món biện tài ấy, nên gọi là “tự tánh”.

          5) Đạt được chuyện hiếm có. Theo quyển bốn mươi sáu của kinh Bồ Tát Địa đă nói: “Bồ Tát tu tập vô thượng Bồ Đề, hữu ngũ hy kỳ: Nhất, ư hữu t́nh phi hữu nhân duyên nhi sanh thân ái. Nhị, duy vị nhiêu ích chư hữu t́nh cố, thường xử sanh tử, nhẫn vô lượng khổ. Tam, ư đa phiền năo nan phục hữu t́nh, thiện năng giải liễu điều phục phương tiện. Tứ, ư cực nan giải chân thật nghĩa lư, năng tùy ngộ nhập. Ngũ, cụ bất tư nghị đại oai thần lực” (Bồ Tát tu tập Vô Thượng Bồ Đề, có năm chuyện hiếm lạ: Một, đối với hữu t́nh chẳng có nhân duyên mà sanh tâm thân ái. Hai, chỉ v́ lợi ích các hữu t́nh mà thường ở trong sanh tử, nhẫn vô lượng khổ. Ba, đối với hữu t́nh lắm phiền năo, khó điều phục, khéo có thể hiểu rơ phương tiện điều phục. Bốn, đối với nghĩa lư chân thật tột bậc khó hiểu, có thể tùy thuận ngộ nhập. Năm, trọn đủ thần lực to lớn chẳng thể nghĩ bàn).

          6) An trụ thánh đạo, trụ Cực Hỷ Địa, đắc trí Nhị Không, gọi là “an trụ thánh đạo”.

          Hoặc có thể hiểu là sáu điều:

          1) Đắc vô sở y tự tánh biện tài hợp thành một. Chẳng do các duyên khác, bèn nói là “vô sở y”. Tánh có thể lợi tha gọi là “tự tánh”. Hoặc là thoạt đầu đắc bất thoái.

          2) Hai là nơi Sơ Địa đắc chánh nguyện.

          3) Ba là nơi Ngũ Địa đắc vô sai biệt đạo, nói là “đắc vô sở y”.

          4) Bốn là nơi Đệ Cửu Địa, đắc tự tánh biện tài.

          5) Năm là trong Đệ Thập Địa, đạt được chuyện hiếm có. Như kinh Thập Địa nói Đệ Thập Địa có chuyện hy hữu: Khi tam-muội hiện tiền, sẽ có bảo hoa vương to lớn, tṛn đầy như mười A-tăng-kỳ, hết thảy các thứ báu xen kẽ trang hoàng. Khi đó, thân Bồ Tát đặc biệt mầu nhiệm, tương xứng với hoa ṭa v.v…

          6) Sáu là nơi Phật địa, an trụ trong thánh đạo. “An trụ”: Do chẳng cầu tiến cao hơn, nên gọi là “an trụ”. “Giai do đắc thử” (đều do đạt được chú này) là câu kết lại.

 

5.13.4.4. [Đức Phật] tán thán, tuyên nói

5.13.4.4.1. Tán thán và ấn khả

 

          (Kinh) Phật cáo Xá Lợi Tử: - Thiện tai! Thiện tai! Như thị, như thị, như nhữ sở thuyết.

          ()佛告舍利子善哉善哉如是如是如汝所

     (Kinh: Đức Phật bảo Xá Lợi Tử: - Lành thay! Lành thay! Đúng như thế, đúng như thế. Đúng như ông đă nói!)

 

          Kế đó là phần thứ tư, tức “tán thán, ấn khả, hứa sẽ tuyên nói”, có ba phần:

          - Một, tán thán và ấn khả.

          - Hai, tán thán thêm.

          - Ba, tuyên thuyết.

          Đoạn này thuộc phần thứ nhất, dễ thấy!

 

5.13.4.4.2. Lại tán thán thêm

 

          (Kinh) Nhược hữu Bồ Tát đắc thử Đà La Ni giả, ưng tri thị nhân dữ Phật vô dị. Nhược hữu cúng dường, tôn trọng, thừa sự, cung cấp thử Bồ Tát giả, ưng tri tức thị cúng dường ư Phật.

          ()若有菩薩得此陀羅尼者應知是人與佛無異若有供養尊重承事供給此菩薩者應知即是供養於佛

    (Kinh: Nếu có Bồ Tát đạt được Đà La Ni này, hăy nên biết người ấy và Phật chẳng khác. Nếu có ai cúng dường, tôn trọng, thừa sự, cung cấp vị Bồ Tát ấy, hăy nên biết chính là cúng dường Phật).

 

          Kế đó, lại tán thán thêm, gồm ba ư:

          - Một, [người hành Đà La Ni này] sẽ có thể chứng đắc.

          - Hai, từ “nhược hữu cúng dường giả” (nếu có người cúng dường) trở đi, tán thán người có thể cúng dường.

          - Ba, do người ấy chứng đắc giống như Phật đă đắc, cho nên [cúng dường vị Bồ Tát ấy] ắt sẽ đạt được [công đức giống như cúng dường Phật], v́ lư b́nh đẳng.

          Hăy nên dùng đoạn kinh văn trong phần sau “dĩ thị nhân duyên, hoạch vô thượng quả” (do nhân duyên này, sẽ đạt được cái quả vô thượng) để giải thích ư “dữ Phật vô dị” (chẳng khác với Phật) và “tức thị cúng dường Phật” (chính là cúng dường Phật).

 

          (Kinh) Xá Lợi Tử! Nhược hữu dư nhân văn thử Đà La Ni, thọ tŕ, độc tụng, sanh tín giải giả, diệc ưng như thị cung kính cúng dường, dữ Phật vô dị. Dĩ thị nhân duyên, hoạch vô thượng quả.

          ()舍利子若有餘人聞此陀羅尼受持讀誦生信解者亦應如是恭敬供養與佛無異以是因緣獲無上果

          (Kinh: Xá Lợi Tử! Nếu có người khác nghe Đà La Ni này, mà thọ tŕ, đọc tụng, sanh tín giải, cũng nên cung kính, cúng dường [người ấy] chẳng khác Phật như thế. Do nhân duyên đó, sẽ đạt được cái quả vô thượng).

                   

          Tiếp đó, tán thán người có thể học và cúng dường. Dựa theo kinh văn dễ hiểu ư nghĩa.

 

5.13.4.4.3. Tuyên thuyết thần chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn tức vị diễn thuyết Đà La Ni viết: - Đát điệt tha, san đà lạt nễ. Ốt đa lạt nễ. Tô tam bát ra để sắt sỉ đá. Tô na ma. Tô bát lạt để sắt sỉ đá. Tỵ thệ dă bạt la. Tát để dă, bát lạt để thận nhă. Tô a rô ha, thận nhă na mạt để. Ốt ba đạn nễ. A phạt na mạt nễ. A tỳ sư đạn nễ. A bệ tỳ da ha la. Thâu bà phạt để. Tô ni thất rị đa. Bạc hổ quận xă, a tỳ bà đà, sa ha.

          ()爾時世尊即為演說陀羅尼怛姪他珊陀喇儞嗢多喇儞蘇三鉢囉底瑟恥哆蘇那麼蘇鉢喇底瑟恥哆鼻逝也跋羅薩底也鉢喇底慎若蘇阿嚧訶慎若那末底嗢波彈儞阿伐那末儞阿毘師彈儞阿鞞毘耶訶羅輸婆伐底蘇尼室唎多薄虎郡社阿毘婆馱莎訶

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền diễn nói Đà La Ni rằng: - Đát điệt tha, san đà lạt nễ. Ốt đa lạt nễ. Tô tam bát ra để sắt sỉ đá. Tô na ma. Tô bát lạt để sắt sỉ đá. Tỵ thệ dă bạt la. Tát để dă, bát lạt để thận nhă. Tô a rô ha, thận nhă na mạt để. Ốt ba đạn nễ. A phạt na mạt nễ. A tỳ sư đạn nễ. A bệ tỳ da ha la. Thâu bà phạt để. Tô ni thất rị đa. Bạc hổ quận xă, a tỳ bà đà, sa ha).

 

          Kế đó, tuyên thuyết.

         

5.13.4.5. Chỉ rơ sự thù thắng, khuyên tu

5.13.4.5.1. Tán thán công năng của pháp này

         

          (Kinh) Phật cáo Xá Lợi Tử: - Thử Vô Nhiễm Trước Đà La Ni cú, nhược hữu Bồ Tát năng thiện an trụ, năng chánh thọ tŕ giả, đương tri thị nhân nhược ư nhất kiếp, nhược bách kiếp, nhược thiên kiếp, nhược bách thiên kiếp, sở phát chánh nguyện vô hữu cùng tận, thân diệc bất bị đao, trượng, độc dược, thủy, hỏa, mănh thú chi sở tổn hại. Hà dĩ cố? Xá Lợi Tử! Thử Vô Nhiễm Trước Đà La Ni, thị quá khứ chư Phật mẫu, vị lai chư Phật mẫu, hiện tại chư Phật mẫu.

          ()佛告舍利子此無染著陀羅尼句若有菩薩能善安住能正受持者當知是人若於一劫若百劫若千劫若百千劫所發正願無有窮盡身亦不被刀杖毒藥水火猛獸之所損害何以故舍利子此無染著陀羅尼是過去諸佛母未來諸佛母現在諸佛母

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Tử: - Câu Vô Nhiễm Trước Đà La Ni này, nếu có Bồ Tát có thể khéo an trụ, có thể chánh thọ, hăy nên biết người ấy hoặc trong một kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc ngàn kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, phát ra chánh nguyện chẳng có cùng tận, thân cũng chẳng bị tổn hại bởi đao, gậy, thuốc độc, nước, lửa, mănh thú. V́ sao vậy? Này Xá Lợi Tử! Vô Nhiễm Trước Đà La Ni này là mẹ của quá khứ chư Phật, mẹ của vị lai chư Phật, mẹ của hiện tại chư Phật).

         

          Kế đó, phần thứ năm là “nêu rơ sự thù thắng để khuyên tu”, có hai phần:

          - Một, tán thán công năng của pháp.

          - Hai, so lường thù thắng và kém cỏi.

          Trong phần thứ nhất, có bảy ư:

          - Một, nói với căn cơ thích hợp pháp môn này.

          - Hai, từ “thử Vô Nhiễm Trước” (chú Vô Nhiễm Trước này) trở đi, nêu ra pháp được tán thán.

          - Ba, từ “nhược Bồ Tát” (nếu Bồ Tát) trở đi, nêu ra người có thể học.

          - Bốn, “năng thiện an trụ” (có thể khéo an trụ), nói về người nương theo tu học. “Có thể khéo an trụ” là lấy chú này làm chỗ nương tựa, có thể chánh thọ tŕ, nương vào đó mà khởi pháp hạnh. Chánh Thọ là Văn Huệ, Chánh Tŕ là Tư Huệ và Tu Huệ.

          - Năm, “đương tri thị nhân” (hăy nên biết người ấy) trở đi, nói về lợi ích đạt được, gồm hai điều:

          1) Xét theo bề trong (nội tâm) th́ có thể khiến cho phát nguyện chẳng có cùng tận, đạt được Bất Thoái.

          2) Thân cũng chẳng bị [các tai họa bất ngờ]. Lại c̣n ngăn ngừa những thứ sai quấy, ác sự xâm hại.

          - Sáu, từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, gạn hỏi cái nhân.

          - Bảy, từ “Xá Lợi Tử” trở đi, giải thích nguyên do.

 

5.13.4.5.2. So sánh hơn kém

 

          (Kinh) Xá Lợi Tử! Nhược phục hữu nhân dĩ thập A-tăng-xí-da tam thiên đại thiên thế giới măn trung thất bảo phụng thí chư Phật, cập dĩ thượng diệu y phục, ẩm thực, chủng chủng cúng dường kinh vô số kiếp. Nhược phục hữu nhân ư thử Đà La Ni, năi chí nhất cú năng thọ tŕ giả, sở sanh chi phước bội đa ư bỉ! Hà dĩ cố? Xá Lợi Tử! Thử Vô Nhiễm Trước Đà La Ni thậm thâm pháp môn thị chư Phật mẫu cố.

          ()舍利子若復有人以十阿僧企耶三千大千世界滿中七寶奉施諸佛及以上妙衣服飲食種種供養經無數劫若復有人於此陀羅尼乃至一句能受持者所生之福倍多於彼何以故舍利子此無染著陀羅尼甚深法門是諸佛母故

    (Kinh: Này Xá Lợi Tử! Nếu lại có người dùng bảy báu đầy ắp trong mười A-tăng-xí-da (A-tăng-kỳ) tam thiên đại thiên thế giới để dâng cúng chư Phật, và dùng y phục thượng diệu, thức ăn, các thứ cúng dường trải qua vô số kiếp. Nếu lại có người đối với Đà La Ni này, dẫu chỉ có thể thọ tŕ một câu, sẽ sanh ra phước nhiều gấp bội phước trước! V́ sao vậy? Này Xá Lợi Tử! Pháp môn Vô Nhiễm Trước Đà La Ni rất sâu này là mẹ của chư Phật).

 

          Kế đó, so sánh hơn kém. Phần này chia thành bốn đoạn:

          - Một, nêu ra phước bố thí.

          - Hai, so lường.

          - Ba, từ ngữ nhằm gạn hỏi sự thù thắng (tức “hà dĩ cố”).

          - Bốn, giải đáp nguyên do.

          Ư nghĩa chuẩn theo kinh văn dễ hiểu.

 

5.13.4.6. Nghe lời dạy, hoan hỷ học tập

 

          (Kinh) Thời Cụ Thọ Xá Lợi Tử cập chư đại chúng, văn thị pháp dĩ, giai đại hoan hỷ, hàm nguyện thọ tŕ.

          ()時具壽舍利子及諸大眾聞是法已皆大歡喜咸願受持

    (Kinh: Khi đó, Cụ Thọ Xá Lợi Tử và các đại chúng nghe pháp này xong, đều hết sức hoan hỷ, đều nguyện thọ tŕ).

 

          Kế đó, phần thứ sáu là nghe lời dạy, hoan hỷ tu học.

          Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ phần 11 hết



[1] Đây là một bộ kinh trong Mật Giáo, nói về Khổng Tước Minh Vương (Mahāmāyūrī). Vị này c̣n được gọi là Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương, hoặc Khổng Tước Đa La Bồ Tát, hay Khổng Tước Độ Mẫu. Vị này được coi là hóa thân của Thích Ca Như Lai theo truyền thống Đông Mật. Theo kinh y, vào thời đức Phật tại thế, có một vị tỳ-kheo tên là Sa Để, xuất gia chưa lâu, đi đẵn củi để lo đun nước tắm cho đại chúng, bị một con rắn đen to lớn cắn, khí độc xâm nhập, mê man ngă lăn ra đất, sùi bọt mép. Ngài A Nan trông thấy, bạch với Phật xin cứu chữa. Đức Phật bèn dạy chú Đại Khổng Tước bảo A Nan đối trước Sa Để tŕ chú này. Độc khí tiêu tan, Sa Để b́nh phục. Do vậy, đức Phật bèn nói rộng pháp tắc hành tŕ thần chú này. Bản kinh này được dịch sang tiếng Hán nhiều lượt:

1) Bản dịch đời Đông Tấn của ngài Bạch Thi Lê Mật Đa, một quyển, có tựa đề là Đại Khổng Tước Vương Thần Chú.

2) Bản dịch đời Diêu Tần của ngài Cưu Ma La Thập, tựa đề là Khổng Tước Vương Chú Kinh.

3) Bản dịch đời Lương của ngài Tăng Già Bà La với tựa đề Khổng Tước Vương Chú Kinh.

4) Bản dịch đời Đường của ngài Nghĩa Tịnh, có tựa đề là Đại Khổng Tước Chú Vương Kinh.

5) Bản dịch đời Đường của ngài Bất Không Tam Tạng, với tựa đề Phật Mẫu Đại Khổng Tước Minh Vương Kinh.

Ngài Bất Không c̣n dịch thêm bản Đại Khổng Tước Minh Vương Họa Tượng Đàn Tràng Nghi Quỹ. Theo truyền thống Mật Tông Nhật Bản, ba kinh Nhân Vương Bát Nhă, Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni Kinh và kinh Khổng Tước này được coi là ba kinh hộ quốc căn bản.

[2] Thuyết Văn Giải Tự (thường gọi tắt là Thuyết Văn) do học giả Hứa Thận biên soạn vào thời Đông Hán, là một bộ từ điển sớm nhất tại Trung Hoa. Sách giải thích ư nghĩa các chữ Hán, được chia thành 540 bộ thủ, gồm 9.353 chữ, đồng thời thu thập thêm 1.163 chữ thuộc cách viết khác nhau của các chữ trên đây. Hứa Thận tốn hơn hai mươi năm mới biên soạn hoàn tất tác phẩm này.

[3] Quảng Nhă là một bộ bách khoa từ điển do Trương Ấp biên soạn dưới đời Tào Ngụy. Sách chia thành mười chín loại, mô phỏng theo cách giảng giải và phân loại của bộ Nhĩ Nhă trước đó. Sách này gần như là mở rộng của bộ Nhĩ Nhă, nhưng nội dung và nguồn tài liệu đều phong phú hơn. Sách này về sau do tỵ húy của Tùy Dượng Đế (Dương Quảng) nên gọi là Bác Nhă (博雅). Nhĩ Nhă là bộ tự điển sớm nhất của Trung Quốc nhằm giải thích các từ đơn, khác với Thuyết Văn Giải Tự là từ điển (vừa giải thích từ đơn vừa từ kép). Tương truyền sách này do Châu Công và Khổng Tử biên soạn.

[4] Đây là tác phẩm Duy Thức Nhị Thập Luận (Vimśati-vijñaptimātratāsid'dhi) do Thế Thân Bồ Tát trước tác, được ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán vào đời Đường. Trước đó, tác phẩm này đă được ngài Đàm Ma Bát Nhă Lưu Chi dịch sang tiếng Hán với tựa đề Duy Thức Luận trong thời Hậu Ngụy, và ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán vào đời Trần với tựa đề Đại Thừa Duy Thức Luận.

[5] Đại tướng Chánh Liễu Tri c̣n có tên là Tán Chỉ đại tướng (Pancika), Tán Chỉ Tu Ma, Bán Chi Ca, Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng, là một trong tám vị đại tướng Dược Xoa thuộc hạ của Đa Văn thiên vương, đứng đầu hai mươi tám bộ chúng Dược Xoa, thường tuần hành thế gian, thưởng thiện, phạt ác. Theo Đà La Ni Tập Kinh, Tán Chỉ đại tướng là con thứ hai của Quỷ Tử Mẫu, con trai thứ ba là Bảo Hiền (Ma Ni Bạt Đà), cả hai đều phát nguyện trừ suy năo, thủ hộ người thuyết pháp, tiêu diệt các điều ác xảy đến cho pháp sư. Theo Quán Phật Tam Muội Hải, vị này thị hiện thân ác quỷ, trên ngực có ba khuôn mặt, nơi rốn có hai khuôn mặt, hai đùi có hai khuôn mặt. Khuôn mặt hung dữ, nhe nanh, mắt tóe lửa.

[6] Bảo Hiền đại tướng (Maṇibhadra) là một trong tám vị đại tướng Dược Xoa, trực thuộc quyền thống lănh của Đa Văn thiên vương. Tám vị đại tướng Dược Xoa là Bảo Hiền, Măn Hiền (Pūrṇabhadra), Tán Chỉ, Chúng Đức (Śatagiri), Ứng Niệm (Himavanta), Đại Măn (Viśākha), Vô Tỷ Lực (Āṭavaka), và Mật Nghiêm (Pañcala).

[7] An Tức là nhựa thơm của một số loài cây, ba thứ phổ biến nhất là An Tức Hương Bắc Bộ (cánh kiến trắng, Styrax Tonkinensis), B́nh Hành Mạch An Tức Hương (Styrax Paralleloneurus), và Niêm Chỉ An Tức Hương (Styrax Benzoin). Loại hương này được sử dụng phổ biến tại Trung Đông và các nhà thờ Chính Thống Giáo, nhất là loại hương được gọi là Bakhoor ở Ả Rập.

[8] Tô hợp là một loại hương chế bằng nhựa cây Tô Hợp (tên khoa học là Liquidambar orientalis, thường gọi là Oriental sweetgum hoặc Turkish sweetgum. Cây Sầu Đông cũng thuộc họ này). Loại cây này mọc nhiều ở Trung Đông và Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp. Đây là một giống cây khá cao, có thể cao đến 35m. Nhựa cây và chất dầu của cây có thể dùng để đốt như hương, hoặc chế nước hoa, hay dùng làm thuốc.

[9] Huân Lục là phiên âm của chữ Kundu trong tiếng Phạn, vốn vay mượn từ chữ Kundur của Ả Rập, và c̣n được ghi thành Kundura, Kuduruka. Đây là một loài thực vật, có tên khoa học là Pistacia Lentiscus, tên thường gọi trong tiếng Anh là Mastic. Cây thường cao đến 4m đến 7m, mọc nhiều ở vùng Địa Trung Hải, thân cây có mùi thơm, lá thon, h́nh như lông chim, thường mọc thành từng cặp đối xứng. Hoa đỏ, nhỏ mọc thành chùm, chia thành hoa đực, hoa cái khác nhau. Phần chủ yếu dùng làm hương liệu là nhựa cây thường gọi là mastic gum, có màu trắng sáng, hơi ngà, sáng mờ. Đôi khi, phần nhựa này c̣n được gọi là tears of Chios do thoạt đầu người dân đảo Chios của Hy Lạp đă bán nhựa cây cho các nước Ả Rập và được chuyển vận sang Âu Châu.

[10] Cù Ma gọi đầy đủ là Cù Ma Di (Gomatī), tức là phân ḅ. Do ḅ được coi là con vật thiêng, người Ấn Độ tin tưởng phân ḅ và nước tiểu ḅ có tác dụng thanh tịnh hóa. V́ thế, Mật giáo cũng thuận duyên, dùng phân ḅ để bôi lên chỗ lập đàn tràng cho mịn. Thậm chí phân ḅ khô c̣n dùng như một vật cúng để đốt trong lễ Hỏa Cúng (Homa, hộ-ma).

[11] Bạch điệp là loại vải trắng mịn.

[12] Màu vẽ phải ḥa với chất keo để dính lên vải không bị bong tróc. Thông thường, người ta thường dùng các chất keo làm từ da hay xương trâu, ḅ v.v… Do vậy, kinh phải dạy rơ dùng chất keo trích từ cây cối để giữ màu.

[13] Ngũ vị là năm giai vị trong Đại Thừa do tông Duy Thức lập ra đối với quá tŕnh tu đạo.

- Tư Lương Vị: Địa vị thâu gom tất cả các thiện pháp hữu lậu để chuẩn bị đạt tới địa vị Phật quả, tức bao gồm Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng trong Viên Giáo. Theo đó, Thập Trụ chú trọng tu Lư Quán, Thập Hạnh chú trọng tu Sự Quán, Thập Hồi Hướng tu Lư Sự Bất Nhị Quán.

- Gia Hạnh Vị: Bồ Tát thuộc địa vị Tứ Gia Hạnh (Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Pháp) do đă đạt được phước trí tư lương, dùng gia hạnh dụng công để tiến nhập Kiến Đạo (Hoan Hỷ Địa).

- Thông Đạt Vị: C̣n gọi là địa vị Kiến Đạo, tức là bậc Sơ Địa Bồ Tát đă thấu hiểu Chân Như, trí chiếu Lư, thấy Trung Đạo, chứng đắc Sơ Vô Lậu Trí.

- Tu Tập Vị: C̣n gọi là địa vị Tu Đạo, tức là từ Nhị Địa cho đến Thất Địa, đă kiến đạo, đoạn trừ chướng, lại c̣n tu tập Căn Bản Trí.

- Cứu Cánh Vị tức là địa vị Diệu Giác Phật.

Đó là nói theo Đại Thừa, chứ ngũ vị trong Tiểu Thừa th́ Kiến Đạo là Sơ Quả, Tu Đạo là Tam Quả v.v…