Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ bảy
Đời Đường, Tam Tạng pháp sư
Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh
金光明最勝王經疏
卷第七
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Phần 12
5.14. Phẩm thứ
mười bốn: Như Ư Bảo Châu (Như Ư Bảo Châu
phẩm đệ thập tứ, 如意寶珠品第十四)
Phẩm
Như Ư Bảo Châu gồm ba môn phân biệt:
5.14.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Trong
phần Lưu Thông có ba loại, loại thứ nhất là
Học Hạnh Lưu Thông. Loại này gồm có năm [tiểu
loại]. Trong đó, [tiểu loại] thứ hai là Thủ
Hộ Lưu Thông. Trong đó, lại có ba điều:
- Một,
khiến cho [chư thiên, thiện thần] thủ hộ
cúng dường.
-
Hai, thủ
hộ khiến cho [hành nhân] ĺa nhiễm bất
thoái.
-
Ba,
chú này thủ hộ khiến cho [hành
nhân] ĺa tai nạn, sở cầu như ư như kinh văn
đă nêu bày đầy đủ. Do vậy, có phẩm này
sanh khởi.
5.14.2. Giải thích danh
xưng của phẩm này
Tiếng
Phạn là Chấn-đa (Cintā), phương này dịch là Như Ư,
nhưng âm gốc chỉ có nghĩa là Ư, hàm nghĩa “cái
tâm suy lường”. “Như” là ư nghĩa được
thêm vào. Mạt-ni (Maṇi) được cơi này dịch là Bảo
Châu; đấy là thí dụ.
Đà La Ni (Dhāraṇī) là pháp. Như Châu (Như Ư Bảo Châu) có thể khiến
ĺa các tai nạn, sở cầu đẹp
dạ; chú này cũng thế, từ thí dụ
mà đặt tên. Phải nên nói là phẩm Như Ư Bảo
Châu Đà La Ni. Do vậy, trong phần sau [kinh văn] nói thần
chú Như Ư Bảo Châu, [nhưng chỉ gọi là phẩm
Như Ư Bảo Châu] do văn từ đại lược.
Lại giải thích rằng: Môn Tổng Tŕ này có tên là
Như Ư Bảo Châu, pháp được đặt tên theo
thí dụ. V́ thế nói có Đà La Ni tên là Như Ư Bảo Châu.
Cách [giải thích danh xưng này] chẳng thuộc vào sáu cách
giải thích[1].
5.14.3. Giải trừ vấn
nạn
* Hỏi: Thần
chú của
ngài
Chấp Kim Cang Chủ tên là Vô Thắng, [thần chú do] các vị
khác [nói] cũng [có danh xưng] khác biệt, cớ ǵ chỉ
nói là [tên gọi của phẩm này là] phẩm Như Ư Bảo
Châu?
Đáp:
Có hai cách giải thích:
- Một,
tên phẩm được đặt theo thần chú nói
đầu tiên, chẳng thể nêu trọn hết [danh hiệu
của các bài thần chú khác trong phẩm này được]!
-
Hai, hai bài chú đầu tiên [trong phẩm này do đức Phật
và Quán Thế Âm Bồ Tát nói] là tên chung, [tên gọi của]
các bài khác là danh xưng riêng biệt. Thật ra, [bài chú nào
trong phẩm này] cũng đều được gọi
chung là Như Ư Châu.
* Hỏi:
Trong bốn loại Tổng Tŕ, [các chú trong phẩm này] thuộc
loại Tổng Tŕ nào?
Đáp:
Chính là Chú Đà La Ni.
* Hỏi:
Trong phẩm Tứ Thiên Vương, [thần chú do] tứ
thiên vương nói cũng tên là Như Ư Bảo, chú trong phẩm
trước và phẩm này có ǵ khác biệt?
Đáp:
Cùng tên, ư nghĩa khác biệt, xét theo kinh văn sẽ biết.
5.14.4. Giải thích kinh
văn
5.14.4.1. Đức Phật
tuyên thuyết [thần chú]
5.14.4.1.1. Nêu bày [danh hiệu
thần chú], hứa sẽ nói
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn ư đại
chúng trung, cáo A Nan Đà viết: - Nhữ đẳng
đương tri, hữu Đà La Ni,
danh Như Ư Bảo Châu, viễn ly nhất thiết tai ách,
diệc năng giá chỉ chư ác lôi điện.
(經)爾時世尊於大眾中告阿難陀曰:汝等當知,有陀羅尼名如意寶珠,遠離一切災厄,亦能遮止諸惡雷電。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đại
chúng bảo ngài A Nan Đà rằng: - Các ông hăy nên biết, có
Đà La Ni tên là Như Ư Bảo Châu, xa ĺa hết thảy tai
ác, và cũng có thể ngăn
trở hết thảy các sấm sét dữ).
Tán
rằng: Kinh văn trong phẩm này gồm bốn phần:
- Một,
đức Phật nói [thần chú].
-
Hai, đại chúng nói [thần chú].
-
Ba, đức Phật ấn chứng.
- Bốn,
[tứ chúng] phụng hành.
Phần
“đức Phật
nói [thần chú]” gồm
có ba đoạn:
- Một,
nêu bày, hứa sẽ nói.
-
Hai, đại chúng thích nghe.
-
Ba, đức Phật bèn v́ họ nói
Trong
đoạn thứ nhất, gồm có bốn ư:
- Một,
nêu ra danh hiệu của thần chú.
-
Hai, chỉ bày công dụng.
-
Ba, cho biết [quá khứ chư Phật] cùng nói [thần chú
này].
- Bốn,
hứa sẽ v́ đại chúng trần thuật.
Đoạn
này gồm hai ư đầu.
(Kinh) Quá khứ Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng
Giác sở cộng tuyên thuyết.
(經)過去如來、應、正等覺所共宣說。
(Kinh:
Được các đức Như Lai, Ứng Chánh Đẳng
Giác trong quá khứ cùng tuyên nói).
Ư thứ
ba là cho biết [quá khứ chư Phật] cùng nói [thần
chú này].
(Kinh)
Ngă ư kim thời, ư thử kinh trung, diệc vị nhữ
đẳng đại chúng tuyên thuyết, năng ư nhân
thiên vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ
nhất thiết, linh đắc an lạc.
(經)我於今時於此經中亦為汝等大眾宣說,能於人天為大利益,哀愍世間擁護一切令得安樂。
(Kinh:
Nay trong hiện thời, ta ở trong kinh này, cũng v́ đại
chúng các ông tuyên nói, có thể tạo lợi ích to lớn cho
trời, người, thương xót thế gian, ủng hộ
hết thảy, khiến cho được an vui).
Ư thứ
tư là hứa sẽ v́ [đại chúng] trần thuật,
có hai đoạn:
- Một,
hứa sẽ trần thuật.
-
Hai, từ “năng ư” (có thể trong) trở đi,
nêu ra lợi ích.
5.14.4.1.2. Đại
chúng thích nghe
(Kinh) Thời chư đại chúng, cập
A Nan Đà,
văn Phật ngữ dĩ, các các chí thành, chiêm ngưỡng
Thế Tôn, thính thọ thần chú.
(經)時諸大眾及阿難陀聞佛語已,各各至誠瞻仰世尊,聽受神呪。
(Kinh:
Khi đó, các đại chúng và ngài A Nan Đà nghe lời Phật
nói xong, ai nấy chí thành, chiêm ngưỡng đức Thế
Tôn, nghe nhận thần chú).
Kế
đó là đại chúng thích nghe.
5.14.4.1.3. Đức Phật
v́ họ tuyên thuyết
5.14.4.1.3.1. Nói ra danh hiệu
của các vua chủ tŕ sấm chớp
(Kinh) Phật ngôn: - Nhữ đẳng đế
thính. Ư thử Đông phương, hữu Quang Minh
điện vương, danh A Yết Đa, Nam phương
hữu Quang Minh điện vương danh Thiết Đê
Rô, Tây phương hữu Quang Minh điện vương
danh Chủ Đa Quang, Bắc phương hữu Quang Minh
điện vương danh Tô Đa Mạt Ni.
(經)佛言:汝等諦聽。於此東方有光明電王名阿揭多,南方有光明電王名設羝嚕,西方有光明電王名主多光,北方有光明電王名蘇多末尼。
(Kinh:
Đức Phật nói: - Các ông hăy lắng nghe! Phương
Đông của cơi này có Quang Minh điện vương tên
là A Yết Đa (Agate), phương Nam có Quang Minh điện
vương tên là Thiết Đê Rô (Satadru), phương Tây
có Quang Minh điện vương tên là Chủ Đa Quang
(Cyutaprabha), phương Bắc có Quang Minh điện
vương tên là Tô Đa Mạt Ni - Sutamaṇi).
Kế
đó, đức Phật v́ đại chúng tuyên thuyết,
có bốn đoạn:
- Một,
nêu ra danh hiệu của các điện vương (vua chủ
tŕ sấm chớp).
-
Hai, nghe danh hiệu của họ sẽ được lợi
ích.
-
Ba, tuyên thuyết thần chú.
- Bốn,
cách tụng chú.
Phần
này nói về danh hiệu của các điện vương.
Tướng mây [tích điện] va chạm nhau, phát ra tiếng,
gọi là Lôi (sấm). V́ thế, luận Câu Xá nói: “Như
vân thanh thị” (như tiếng của mây). [Do sự va
chạm ấy], xuất hiện ánh sáng là Điện (chớp).
Thần chủ quản sấm chớp th́ gọi là Điện
Vương. Theo kinh Khởi Thế: “Đông phương
Vô Hậu Bế Điện cộng ư Tây phương
Đọa Quang Minh Điện tương xúc, tương
trước, tương giai, tương đả. Dĩ
như thị cố, ư hư không vân tế chi trung, xuất
sanh quang minh, danh viết Bế Điện. Đông
phương Bế Điện danh Vô Hậu, Nam viết Thuận
Lưu, Tây viết Đọa Quang Minh, Bắc viết Bách
Thiên Thụ Điện Quang” (Vô Hậu Bế Điện
ở phương Đông cùng Đọa Quang Minh Điện
ở phương Tây tiếp xúc, quấn quít, chà xát, va chạm
nhau. Do bởi lẽ ấy, trong các
đám mây trên hư không, sanh ra ánh sáng, gọi là Bế
Điện. Bế Điện ở phương Đông
tên là Vô Hậu, phương Nam tên là Thuận Lưu,
phương Tây tên là Đọa Quang Minh, phương Bắc tên là Bách
Thiên Thụ Điện Quang), tức là được
đặt tên theo vị thần chủ quản.
Danh xưng [các vị thần ấy] khác với kinh này là do
có nhiều thần, hoặc do phiên dịch sai khác. A Yết
Đa phương này dịch là Lai, Tô Đa (phương
này dịch là Như), Mạt Ni (giống như phần trên
đă giảng).
5.14.4.1.3.2. Nghe danh hiệu
các vị thần ấy sẽ được lợi ích
(Kinh) Nhược hữu thiện nam tử,
thiện nữ nhân đắc văn như thị điện
vương danh tự, cập tri phương xứ giả,
thử nhân tức tiện viễn ly nhất thiết bố
úy chi sự, cập chư tai hoạnh, tất giai tiêu
điễn. Nhược ư trụ xứ, thư thử
tứ phương điện vương danh giả,
ư sở trụ xứ, vô lôi điện bố, diệc
vô tai ách, cập chư chướng năo, phi thời uổng
tử, tất giai viễn ly.
(經)若有善男子善女人得聞如是電王名字及知方處者,此人即便遠離一切怖畏之事,及諸災橫悉皆消殄。若於住處書此四方電王名者,於所住處無雷電怖,亦無災厄及諸障惱,非時枉死悉皆遠離。
(Kinh:
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân được
nghe danh tự của
các điện vương như thế và biết nơi
chốn, phương hướng, người ấy liền
xa ĺa hết thảy chuyện sợ hăi, và các tai họa
ngang trái thảy đều tiêu trừ. Nếu tại chỗ
ở, ghi tên của bốn vị điện vương
nơi bốn phương ấy, sẽ chẳng có nỗi
sợ v́ sấm chớp, cũng chẳng có tai ác, và các
chướng năo, chết oan uổng bất ngờ, thảy
đều xa ĺa).
Tiếp
đó, nêu ra lợi ích đạt được, gồm
hai điều:
- Một,
lợi ích do được nghe danh hiệu [của các
điện vương].
-
Hai, từ “nhược ư trụ xứ” (nếu tại
chỗ ở) trở đi, nói về lợi ích do ghi tên [của
các điện vương].
Hỏi:
Nghe tên của điện vương đă ĺa sợ hăi, cần
ǵ phải nói chú mới ĺa sợ hăi vậy?
Đáp:
Do sức tŕ chú có thể khiến cho các vị vua ấy thủ
hộ [hành nhân] ĺa sợ hăi. Lại nữa, trước là
các thần thủ hộ ĺa sợ hăi, sau đó là thần
chú thủ hộ trừ sợ hăi. Nhưng chú thủ hộ
thù thắng hơn, cho nên
phẩm kinh này có tên như thế.
5.14.4.1.3.3. Tuyên thuyết
thần chú
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn tức thuyết chú viết: -
Đát điệt tha: Nễ mi nễ, mi nễ mi, ni dân
đạt rị, trất rị lô ca lô yết
nễ, trất rị thâu la ba nễ, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, ngă mỗ giáp, cập
thử trụ xứ, nhất thiết khủng bố, sở
hữu khổ năo, lôi điện, tích lịch, năi chí uổng
tử, tất giai viễn ly, sa ha.
(經)爾時世尊即說呪曰:怛姪他。儞弭儞。弭儞弭。尼民達哩。窒哩盧迦盧羯儞。窒哩輸攞波儞。曷𠸪叉。曷𠸪叉。我某甲及此住處一切恐怖。所有苦惱雷電霹靂。乃至枉死悉皆遠離。莎訶。 (Kinh: Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn liền nói chú rằng: - Đát điệt tha: Nễ mi nễ, mi nễ
mi, ni dân đạt rị, trất rị lô ca lô yết nễ, trất rị thâu la ba nễ, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, con tên là… cùng
hết thảy điều đáng sợ hăi nơi trụ
xứ này, tất cả khổ năo, sấm chớp, sét cho
đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa, sa
ha).
Kế
đó, nói thần chú và cách tụng chú.
5.14.4.2. Đại chúng
tuyên thuyết thần chú
5.14.4.2.1. Quán Âm Bồ
Tát nói chú
(Kinh) Nhĩ thời, Quán Tự Tại Bồ
Tát Ma Ha Tát tại đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi,
thiên đản hữu kiên, hiệp chưởng, cung kính bạch
Phật ngôn: “Thế
Tôn! Ngă kim diệc ư Phật tiền, lược thuyết
Như Ư Bảo Châu thần chú, ư chư nhân thiên vi đại
lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết,
linh đắc an lạc, hữu đại oai lực, sở
cầu như nguyện”. Tức thuyết chú viết: -
Đát điệt tha, hát đế, tỳ hát đế, nễ
hát đế, bát lạt trất thể kê, bát lạt để
mật trất lệ, thú đề mục đê tỳ mạt
lệ, bát lạt bà sa lệ, an đồ lệ, bàn đồ
lệ thuế đế. Bàn đồ ra bà tử nễ, hạt
lệ yết đồ lệ,
kiếp tất lệ, băng yết la ác ỷ, đạt
địa mục xí, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, ngă mỗ giáp cập
thử trụ xứ,
nhất thiết khủng bố, sở hữu khổ năo,
năi chí uổng tử, tất giai viễn ly, nguyện ngă mạc
kiến tội ác chi sự, thường mông Thánh Quán Tự
Tại Bồ Tát đại bi oai quang chi sở hộ niệm,
sa ha.
(經)爾時觀自在菩薩摩訶薩在大眾中,即從座起,偏袒右肩,合掌恭敬白佛言:世尊!我今亦於佛前略說如意寶珠神呪,於諸人天為大利益,哀愍世間擁護一切令得安樂,有大威力所求如願。即說呪曰:怛姪他。喝帝毘喝帝儞喝帝。鉢喇窒體雞。鉢喇底蜜窒囇。戍提目羝毘末麗。鉢喇婆莎囇安荼囇般荼麗稅帝。槃荼囉婆死儞。曷囇羯荼囇劫畢麗。氷揭羅惡綺。達地目企。曷𠸪叉。曷𠸪叉。我某甲及此住處一切恐怖。所有苦惱乃至枉死悉皆遠離,願我莫見罪惡之事,常蒙聖觀自在菩薩大悲威光之所護念。莎訶。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát ở
trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, trật vai áo phải, chắp tay, cung kính bạch
cùng đức Phật rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Con nay cũng đối trước
Phật, nói đại lược thần chú Như Ư Bảo
Châu, tạo lợi ích to lớn cho các trời, người,
thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy,
khiến họ được an lạc, có oai lực lớn,
sở cầu như nguyện”. Liền nói chú rằng: -
Đát điệt tha, hát đế, tỳ hát đế, nễ
hát đế, bát lạt trất thể kê, bát lạt để
mật trất lệ, thú đề mục đê tỳ mạt
lệ, bát lạt bà sa lệ, an đồ lệ, bàn đồ
lệ thuế đế. Bàn đồ ra bà tử nễ, hạt
lệ yết đồ, lệ kiếp tất lệ, băng
yết la ác ỷ, đạt địa mục xí, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, con tên là… và trụ
xứ này, hết thảy sợ hăi, tất cả khổ
năo, cho đến chết oan uổng, thảy đều xa
ĺa. Nguyện con chẳng thấy chuyện tội ác,
thường được oai quang đại bi của
Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát hộ niệm, sa ha).
Kế
đó là đại chúng nói chú, gồm sáu đoạn.
Trước tiên là đức Quán Âm nói chú. Kinh văn gồm
ba phần:
- Một,
xin được phép nói.
-
Hai, chánh thức
tuyên thuyết.
-
Ba, cách tụng chú.
Trong
phần thứ nhất là “xin được phép nói”, có ba
ư:
- Một,
nghi thức cầu thỉnh.
-
Hai, xin nói.
-
Ba, trần thuật lợi ích.
[Danh
hiệu của vị Bồ Tát này] trong tiếng Phạn là
A Phược Lô Chỉ Đế Thấp Phạt La Da (Avalokiteśvara).
Phương này dịch A Phược Lô Chỉ Đế
là Quán, những chữ c̣n lại là Tự Tại. Ngài dùng
Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ và Tha Tâm Thông luôn quán thế gian, tùy thời
đều có thể cứu vớt, nên nói là Quán Tự Tại.
Nói là Quán Thế Âm th́ do chỉ nói theo một khía cạnh,
cho nên danh hiệu [Quán Thế Âm] chẳng
đầy đủ, chẳng phải là cách dịch chính
xác. [Đối với cách phân đoạn vừa nói trên
đây], phối ứng với kinh văn, dễ thấy.
5.14.4.2.2. Chấp Kim
Cang Bí Mật Chủ tuyên thuyết thần chú
(Kinh) Nhĩ thời, Chấp Kim Cang Bí Mật
Chủ Bồ Tát tức tùng ṭa khởi, hiệp chưởng,
cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă kim diệc thuyết
Đà La Ni chú, danh viết Vô Thắng, ư chư nhân thiên
vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ
nhất thiết, hữu đại oai lực, sở cầu
như nguyện”. Tức thuyết chú viết: - Đát
điệt tha, mẫu nễ, mẫu nễ. Mẫu ni lệ
mạt để, mạt để, tô mạt để, mạc
ha mạt để, ha ha ha ma bà dĩ na tất để
đế ba bạt. Bạt chiết la ba nễ, ác hám
điệt lật đồ, sa ha. Thế Tôn! Ngă thử thần
chú danh viết Vô Thắng Ủng Hộ. Nhược
hữu nam nữ nhất tâm thọ tŕ, thư tả, độc
tụng, ức niệm bất vong, ngă ư trú dạ,
thường hộ thị nhân, ư nhất thiết khủng
bố, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly.
(經)爾時執金剛祕密主菩薩即從座起,合掌恭敬白佛言:世尊!我今亦說陀羅尼呪名曰無勝,於諸人天為大利益,哀愍世間擁護一切,有大威力所求如願。即說呪曰:怛姪他。母儞。母儞。母尼麗末底末底。蘇末底。莫訶末底。訶訶訶磨婆以那悉底帝波跋。跋折攞波儞。惡蚶姪㗚荼。莎訶。世尊!我此神呪名曰無勝擁護,若有男女一心受持書寫讀誦憶念不忘,我於晝夜常護是人,於一切恐怖乃至枉死悉皆遠離。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ Bồ
Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp
tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch
Thế Tôn! Con nay cũng nói chú Đà La Ni, tên là Vô Thắng,
tạo lợi ích to lớn cho các trời người,
thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy,
có oai lực lớn, sở cầu như nguyện”. Liền
nói chú rằng: - Đát điệt tha, mẫu nễ, mẫu
nễ. Mẫu ni lệ mạt để, mạt để,
tô mạt để, mạc ha mạt để, ha ha ha ma
bà dĩ na tất để đế ba bạt. Bạt chiết
la ba nễ, ác hám điệt lật đồ, sa ha. Bạch
Thế Tôn! Thần chú này của con tên là Vô Thắng Ủng
Hộ, nếu có nam nữ nhất tâm thọ tŕ, biên chép,
đọc, tụng, nghĩ nhớ chẳng quên, con sẽ
ngày đêm thường thủ hộ người ấy, hết
thảy sợ hăi, cho đến chết oan uổng, thảy
đều xa ĺa).
Kế
đó là đoạn thứ hai, kinh văn cũng gồm ba
phần:
- Một,
xin phép nói.
-
Hai, tuyên thuyết thần chú.
-
Ba, lợi ích do tŕ tụng.
Xét
theo kinh văn, dễ thấy [cách phân đoạn]. Nói Chấp
Kim Cang Bí Mật Chủ th́ có người cho rằng: H́nh
tướng khác lạ của đức Quán Âm gọi là Bí
Mật, thường cầm kim cang xử (chày kim cang) thủ
hộ Tam Bảo, bèn dựa theo vật đang cầm mà
đặt tên. Theo kinh Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ[2]
nói, vị Chấp Kim Cang này và Phạm Vương, mỗi
vị đều là một vị Phật trong một ngàn vị
Phật thuộc Hiền Kiếp. Chi tiết th́ như trong
kinh ấy đă nói.
5.14.4.2.3. Đại Phạm
vương nói chú
(Kinh) Nhĩ thời, Sách Ha thế giới chủ
Phạm thiên vương tức tùng ṭa khởi, hiệp
chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă diệc
hữu Đà La Ni vi diệu pháp môn, ư chư nhân thiên, vi
đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ
nhất thiết, hữu đại oai lực, sở cầu
như nguyện”. Tức thuyết chú viết: - Đát
điệt tha, hê lư mi lư, địa lư, sa ha. Bạt ra hám ma
bố lệ, bạt ra hám
ma, mạt ni bạt ra hám ma yết bệ, bổ sáp bả
tăng tất đát lệ, sa ha. Thế Tôn! Ngă thử thần
chú danh viết Phạm Trị, tất năng ủng hộ
tŕ thị chú giả, linh ly ưu năo, cập chư tội
nghiệp, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly.
(經)爾時索訶世界主梵天王即從座起,合掌恭敬白佛言:世尊!我亦有陀羅尼微妙法門,於諸人天為大利益,哀愍世間擁護一切,有大威力所求如願。即說呪曰:怛姪他。醯里弭里地里莎訶。跋囉蚶魔布麗。跋囉蚶麼末尼。跋囉蚶麼揭鞞。補澁跛僧悉怛囇。莎訶。世尊!我此神呪名曰梵治,悉能擁護持是呪者,令離憂惱及諸罪業,乃至枉死悉皆遠離。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, chủ của thế giới Sách Ha là Phạm
thiên vương liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, chắp tay, cung kính mà bạch cùng đức Phật
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con nay cũng có pháp
môn vi diệu Đà La Ni, tạo lợi ích to lớn cho trời
người, thương xót thế gian, ủng hộ hết
thảy, có oai lực lớn, sở cầu như nguyện”.
Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, hê lư, mi lư,
địa lư, sa ha. Bạt ra hám ma bố lệ, bạt ra
hám ma mạt ni, bạt
ra hám ma yết bệ, bổ sáp bả tăng tất
đát lệ, sa ha. Bạch
Thế Tôn! Thần chú này của con tên là Phạm Trị,
luôn có thể ủng hộ người tŕ chú này, khiến
họ ĺa lo buồn và các tội nghiệp, cho tới chết
oan uổng, thảy đều xa ĺa).
Kế
đó, là vị thứ ba nói thần chú, kinh văn chia
đoạn giống như phần trên.
5.14.4.2.4. Đế
Thích nói thần chú
(Kinh) Nhĩ thời, Đế
Thích Thiên Chúa tức tùng ṭa khởi, hiệp chưởng,
cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă diệc hữu
Đà La Ni danh Bạt Chiết La Phiến Nễ. Thị đại
minh chú năng trừ nhất thiết khủng bố ách nạn,
năi chí uổng tử, tất giai viễn ly, bạt khổ,
dữ lạc, lợi ích nhân thiên”. Tức thuyết chú viết:
- Đát điệt tha, tỳ nễ bà rị nễ, bạn
đả ma đạn trệ, ma nị nễ trí, trí nễ
cù rị, kiện đà rị, chiên đồ rị, ma đăng
thi, thập yết tử. Tát la bạt lạt bệ, hế
na mạt trụ, đáp ma ốt đa lạt nễ, mạc
hô thứ nễ, đạt thứ nễ kế, chước
yết ra bà chỉ, xả phạt rị, xa phạt rị,
sa ha.
(經)爾時帝釋天主即從座起,合掌恭敬白佛言:世尊!我亦有陀羅尼名跋折羅扇儞,是大明呪能除一切恐怖厄難,乃至枉死悉皆遠離,拔苦與樂利益人天。即說呪曰:怛姪他。毘儞婆唎儞。畔柁磨彈滯。磨膩儞㨖。㨖儞瞿哩。揵陀哩。栴荼哩。摩登蓍十羯死。薩羅跋喇鞞。呬娜末住。答磨嗢多喇儞。莫呼刺儞。達刺儞計。斫羯囉婆枳。捨伐哩。奢伐哩。莎訶。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Đế Thích Thiên Chúa liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung
kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế
Tôn! Con cũng có Đà La Ni tên là Bạt Chiết La Phiến
Nễ. Đại minh chú này có thể trừ hết thảy
sợ hăi, tai ác, hoạn nạn, cho đến chết oan uổng, thảy đều
xa ĺa, dẹp khổ, ban vui, lợi ích trời, người”.
Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, tỳ nễ
bà rị nễ, bạn đả ma đạn trệ, ma nị
nễ trí, trí nễ cù rị, kiện
đà rị, chiên đồ rị, ma đăng thi, thập
yết tử. Tát la bạt lạt bệ, hế na mạt
trụ, đáp ma ốt đa lạt nễ, mạc hô thứ
nễ, đạt thứ nễ kế, chước yết
ra bà chỉ, xả phạt rị, xa phạt rị, sa ha).
Kế
đó là vị thứ tư nói thần chú, phân đoạn
kinh văn cũng giống như phần trước. Nói
Đế Thích Thiên Chúa th́ Đế chính là Chủ,
Thích là Có Thể, phương này dịch [danh hiệu vị
này thành] Năng Đế, tức là nói chung. Sau đó nói
Thiên Chúa, tức là chỉ vị chủ tể cơi trời.
5.14.4.2.5. Tứ thiên
vương nói thần chú
(Kinh) Nhĩ thời, Đa Văn thiên
vương, Tŕ Quốc thiên vương, Tăng Trưởng
thiên vương, Quảng Mục thiên vương, câu tùng
ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật
ngôn: “Thế Tôn! Ngă kim diệc hữu thần chú,
danh Thí Nhất Thiết Chúng Sanh Vô Úy, ư chư khổ
năo, thường vi ủng hộ, linh đắc an lạc,
tăng ích thọ mạng, vô chư hoạn khổ, năi chí uổng
tử, tất giai viễn ly”. Tức thuyết chú viết:
- Đát điệt tha, bổ sáp bế, tô bổ sáp bế,
độ ma, bát lạt ha lệ. A ri da bát lạt thiết
tất đế, phiến đế niết mục đế
mang yết lệ, tốt đổ đế. Tất
đá tỵ đế, sa ha.
(經)爾時多聞天王、持國天王、增長天王、廣目天王俱從座起,合掌恭敬白佛言:世尊!我今亦有神呪名施一切眾生無畏,於諸苦惱常為擁護,令得安樂增益壽命無諸患苦,乃至枉死悉皆遠離。即說呪曰:怛姪他。補澁閉。蘇補澁閉。度麼鉢喇訶囇。阿囄耶鉢喇設悉帝。扇帝。涅目帝忙揭例。窣覩帝。悉哆鼻帝。莎訶。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc
thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng
Mục thiên vương, đều từ chỗ ngồi
đứng dậy, chắp tay, cung kính bạch cùng đức
Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Con nay cũng có thần
chú tên là Thí Nhất Thiết Chúng Sanh Vô Úy, đối với
các kẻ khổ năo, sẽ thường ủng hộ, khiến
họ được an vui, tăng thêm thọ mạng, chẳng
có các hoạn nạn, khổ sở, cho đến chết
oan uổng, thảy đều xa ĺa”. Liền nói chú rằng:
- Đát điệt tha, bổ sáp bế, tô bổ sáp bế,
độ ma, bát lạt ha lệ. A ri da bát lạt thiết
tất đế, phiến đế, niết mục đế
mang yết lệ, tốt đổ đế. Tất
đá tỵ đế, sa ha).
Kế
đó, là vị thứ năm nói chú. Kinh văn chia thành hai
đoạn, lược đi không ca tụng lợi ích của chú.
Trong đoạn thứ nhất, đầu tiên là nêu tên [của
người nói thần chú]; kế đó là nghi thức thỉnh
cầu, sau đó là trần thuật lợi ích. Phân đoạn
kinh văn dễ thấy.
5.14.4.2.6. Các long
vương nói thần chú
(Kinh)
Nhĩ thời, phục hữu chư đại long
vương, sở vị Mạt Na Tư long vương,
Điện Quang long vương, Vô Nhiệt Tŕ long
vương, Điện Thiệt long vương, Diệu
Quang long vương, câu tùng ṭa khởi, hiệp chưởng
cung kính, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă diệc hữu
Như Ư Bảo Châu Đà La Ni, năng giá ác điện, trừ
chư khủng bố, năng ư nhân thiên vi đại lợi
ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết, hữu
đại oai lực, sở cầu như nguyện, năi chí
uổng tử, tất giai viễn ly, nhất thiết
độc dược giai linh chỉ tức, nhất thiết
tạo tác cổ đạo, chú thuật, bất cát tường
sự, tất linh trừ diệt.
(經)爾時復有諸大龍王,所謂末那斯龍王、電光龍王、無熱池龍王、電舌龍王、妙光龍王,俱從座起,合掌恭敬白佛言:「世尊!我亦有如意寶珠陀羅尼,能遮惡電除諸恐怖,能於人天為大利益,哀愍世間擁護一切,有大威力所求如願,乃至枉死悉皆遠離,一切毒藥皆令止息,一切造作蠱道呪術不吉祥事悉令除滅。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, lại có các đại long vương,
như là Mạt Na Tư long vương, Điện Quang
long vương, Vô Nhiệt Tŕ long vương, Điện
Thiệt long vương, Diệu Quang long vương, đều
từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay, cung
kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế
Tôn! Con cũng có Như Ư Bảo Châu Đà La Ni, có thể
ngăn trở các sấm chớp ác, trừ các sợ hăi, có
thể tạo lợi ích to lớn cho trời người,
thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy,
có oai lực to lớn, sở cầu như nguyện, cho
đến chết oan uổng thảy đều xa ĺa, khiến
cho hết thảy thuốc độc đều ngưng dứt
(không c̣n gây độc), khiến cho hết thảy tạo
tác như cổ thuật, nguyền rủa, chuyện chẳng
cát tường thảy đều trừ diệt).
Vị
thứ sáu nói thần chú, kinh văn chia thành ba đoạn
như phần trước. Đoạn đầu tiên gồm
năm ư. Trong đoạn này, trước hết là liệt
kê tên [của các long vương]. Từ “câu tùng ṭa khởi”
(đều từ chỗ ngồi) trở đi là ư thứ
hai, tức nghi thức thỉnh cầu [đức Phật cho phép họ nói
thần chú]. Ư thứ ba là trần thuật lợi ích.
(Kinh)
Ngă kim dĩ thử thần chú phụng hiến Thế Tôn,
duy nguyện ai mẫn, từ bi nạp thọ.
(經)我今以此神呪奉獻世尊,唯願哀愍慈悲納受。
(Kinh: Con
nay đem thần chú này dâng hiến đức Thế Tôn,
kính mong thương xót, từ bi tiếp nhận).
Kế
đó là ư thứ tư: Thỉnh cầu [đức Thế
Tôn] tiếp nhận.
(Kinh)
Đương linh ngă đẳng ly thử long thú, vĩnh
xả xan tham. Hà dĩ cố? Do thử xan tham, ư sanh tử
trung, thọ chư khổ năo. Ngă đẳng nguyện
đoạn xan tham chủng tử”. Tức thuyết chú viết:
- Đát điệt tha, a chiết lệ, a mạt lệ, a
mật lật đế, ác xoa duệ, a tệ duệ. Bôn
ni bát rị da pháp đế. Tát bà ba bả, bát lạt thiêm
ma ni duệ, sa ha. A ly duệ bàn đậu tô ba ni duệ,
sa ha. Thế Tôn! Nhược hữu thiện nam tử, thiện
nữ nhân, khẩu trung thuyết thử Đà
La Ni minh chú, hoặc thư kinh quyển, thọ tŕ, độc
tụng, cung kính cúng dường giả, chung vô lôi, điện,
tích lịch, cập chư khủng bố, khổ năo,
ưu hoạn, năi chí uổng tử, giai tất viễn ly,
sở hữu độc dược, cổ mỵ, yếm
đảo hại nhân, hổ, lang, sư tử, độc
xà chi loại, năi chí văn manh, tất bất vi hại.
(經)當令我等離此龍趣永捨慳貪。何以故?由此慳貪,於生死中受諸苦惱。我等願斷慳貪種子。即說呪曰:怛姪他。阿折囇。阿末囇阿蜜㗚帝。惡叉裔阿幣裔。奔尼鉢唎耶法帝。薩婆波跛。鉢喇苫摩尼裔。莎訶。阿離裔般豆蘇波尼裔。莎訶。世尊!若有善男子善女人口中說此陀羅尼明呪,或書經卷受持讀誦恭敬供養者,終無雷電霹靂及諸恐怖苦惱憂患,乃至枉死皆悉遠離,所有毒藥蠱魅厭禱害人虎狼師子毒蛇之類,乃至蚊虻悉不為害。
(Kinh:
Sẽ khiến cho chúng con ĺa khỏi đường rồng,
vĩnh viễn đoạn keo tham. V́ sao vậy? Do ḷng keo
tham ấy, [chúng con] ở trong sanh tử, hứng chịu
các khổ năo. Chúng con nguyện đoạn dứt chủng
tử của keo tham”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt
tha, a chiết lệ, a mạt lệ, a mật lật đế,
ác xoa duệ, a tệ duệ. Bôn ni bát rị da pháp đế.
Tát bà ba bả, bát lạt thiêm ma ni duệ, sa ha. A ly duệ
bàn đậu tô ba ni duệ, sa ha. Bạch Thế Tôn! Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân, trong miệng nói
minh chú Đà La Ni này, hoặc biên chép kinh quyển, thọ
tŕ, đọc tụng, cung kính cúng dường, sẽ trọn
chẳng bị sấm, chớp, sét, và các sự sợ hăi,
khổ năo, lo rầu, cho đến chết oan uổng, thảy
đều xa ĺa. Tất cả thuốc
độc, cổ độc, ếm
đối hại người, các loài cọp, sói, sư tử,
rắn độc, cho đến muỗi ṃng, thảy đều
chẳng làm hại).
Kế
đó, ư thứ năm là phát nguyện. Trong ấy, có bốn
điều: Một là nêu ra, hai là gạn hỏi, ba là giải
thích, bốn là từ “ngă đẳng nguyện đoạn”
(chúng con nguyện đoạn) trở đi, là phần kết
luận. Các phần kinh văn khác dễ thấy.
5.14.4.3. Đức Phật
ấn chứng
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn phổ cáo đại chúng: - Thiện
tai, thiện tai! Thử đẳng thần chú giai hữu
đại lực, năng tùy chúng sanh tâm sở cầu sự,
tất linh viên măn, vi đại lợi ích, trừ bất
chí tâm. Nhữ đẳng vật nghi.
(經)爾時世尊普告大眾:善哉善哉!此等神呪皆有大力,能隨眾生心所求事悉令圓滿為大利益,除不至心。汝等勿疑。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo khắp
đại chúng: - Lành thay! Lành thay! Các thần chú này đều
có sức to lớn, có thể thuận theo điều mong cầu
trong tâm chúng sanh, khiến được viên măn, tạo lợi
ích to tát, trừ kẻ chẳng chí tâm. Các ông đừng
nghi).
Kế
đó, đức Phật ấn chứng.
5.14.4.4. Đại chúng
phụng hành
(Kinh)
Thời chư đại chúng văn Phật ngữ dĩ,
hoan hỷ tín thọ.
(經)時諸大眾聞佛語已,歡喜信受。
(Kinh:
Khi đó, các đại chúng nghe đức Phật nói xong,
hoan hỷ tin nhận).
Kế
đó là đoạn thứ tư, [đại chúng] phụng
hành.
5.15. Phẩm thứ
mười lăm: Đại Biện Tài Thiên Nữ (Đại
Biện Tài Thiên Nữ phẩm đệ thập ngũ, 大辯才天女品第十五)
Phẩm
Đại Biện Tài Thiên Nữ gồm ba môn phân biệt:
Ư nghĩa v́ sao có phẩm này, giải thích tên gọi của
phẩm, và giải trừ vấn nạn.
5.15.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Nói
về ư nghĩa v́ sao có phẩm này, trong phần Lưu Thông
có ba phần, đầu tiên là Tu Hành Lưu Thông. Trong ấy, lại nói năm phẩm
sau chính là ư thứ ba, [tức là]“khiến
cho [hành nhân] tăng trưởng phước trí”.
Trong phần Tăng Trưởng Phước Trí,
có bốn điều:
- Một,
tăng trưởng biện tài.
-
Hai, tăng thêm y phục.
-
Ba, tăng thêm thức ăn.
- Bốn,
tăng thêm trí huệ.
V́
sao như vậy? Muốn lưu thông pháp để lợi
ích người khác, ắt phải cậy vào biện tài để nói với chúng sanh. Dẫu
có biện tài khéo léo, nếu chẳng có y phục, h́nh tướng
sẽ chẳng đoan nghiêm. Nếu không có thức ăn, Tứ
Đại hư hao. Lại sợ chẳng thể chịu
đựng nỗi khổ v́ thiếu thốn, bèn lùi bước
chẳng hành tự lợi và lợi tha. Dẫu vẫn có thể
hành, sợ rằng do sợ [thiếu thốn] mà mong cầu,
tâm ô nhiễm nói pháp. V́ thế, tăng thêm ẩm thực,
khiến cho [hành nhân] ĺa khỏi
cái duyên ấy. Dẫu có duyên giúp đỡ, nếu chẳng
có trí huệ, sẽ chẳng thể liễu đạt thắng
nghĩa của thế tục, trở thành thuyết pháp
điên đảo. V́ vậy, tăng thêm trí huệ. Nhưng
hành tự lợi và lợi tha, th́ lợi tha làm đầu.
Thuyết pháp lợi sanh, ắt phải
nhờ vào Tứ
Biện Tài; do vậy, nói
đến biện tài trước hết. V́ thế, có phẩm
này.
5.15.2. Giải thích danh
xưng của phẩm này
Giải
thích danh xưng th́ tiếng Phạn là Ma
Ha (Mahā,
phương này dịch là Đại)
Tát La Tất Tri Bà Để (Sarasvatī, phương này dịch Biện Tài) Đề
Bà Tỷ (Devī,
phương này dịch là Thiên Nữ). Trước hết,
giải thích sơ lược ư nghĩa đại
cương, gồm bốn điều, như luận
Đại Trang Nghiêm nói: “Lại có bốn thứ đại:
Một là thắng xuất đại, do vượt trội
trong năm đường thuộc ba cơi. Hai là tịch
tĩnh đại, do tiến hướng vô trụ xứ
Niết Bàn. Ba là công đức đại, do hai khối
phước và trí đều tăng trưởng. Bốn
là lợi vật đại (lợi lạc chúng sanh to lớn),
do thường nương vào đại bi, chẳng xả
chúng sanh”.
Biện
Tài tức là Tứ Biện Tài, tức là trí mẫn tiệp,
Tài chính là tài nghệ, kỹ năng. Có trí mẫn tiệp, vừa
có tài khéo, cho nên nói là Biện Tài. Tức là Biện Tài này do
thuộc vào bốn loại “đại” [như luận
Đại Trang Nghiêm vừa mới nói], cho nên gọi là
Đại Biện. Tác dụng thần kỳ, tự tại
sáng sạch, th́ gọi là Thiên, mà cũng chính
là Đệ Nhất Nghĩa Thiên. Vị
trời có biện tài to lớn, [cho nên gọi là Đại
Biện Tài]. Do Đại Biện Tài Thiên là thân nữ, nên
nói là Đại Biện Tài Thiên Nữ. Chân Đế Tam Tạng
nói: “Đấy chính là bậc Cửu Địa Bồ
Tát, trọn đủ bốn thứ biện tài, lại có
thể thí cho người khác. V́ thế, xưng hiệu
như vậy”.
5.15.3. Giải thích vấn
nạn
* Hỏi:
Trong bốn thứ Biện Tài, [vị thiên nữ này] thuộc
loại nào?
Đáp:
Trọn đủ cả bốn món! V́ sao biết? Kinh
văn trong phần sau chép: “Cụ túc trang nghiêm ngôn thuyết
chi biện” (trọn đủ biện tài nói năng
trang nghiêm); đó là Từ Vô Ngại Biện. “Ư thử
kinh trung, văn tự, cú nghĩa” (Đối
với văn tự, câu nghĩa trong kinh này);
đó là hai món biện tài Pháp và Nghĩa. Kinh thể (bản
thể của kinh) có hai thứ: Một là văn tự
được diễn nói bởi kinh, hai là nghĩa lư
được diễn nói [bởi bản kinh ấy], đều
gọi là Kinh. “Năng thiện khai ngộ” (có thể
khéo khai ngộ) tức là Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện.
V́ thế, tổng kết rằng: “Phục dữ Đà
La Ni Tổng Tŕ vô ngại” (Lại có thể cùng với
Tổng Tŕ Đà La Ni vô ngại). Đà La Ni tức là bốn
thứ “có thể tŕ”, c̣n Vô Ngại chính là bốn món Vô Ngại
Biện được tŕ.
* Hỏi:
Tứ Vô Ngại Giải và Tứ Vô Ngại Biện có ǵ
khác biệt?
Đáp:
Hiểu rơ bốn món không trầm trệ
th́ gọi là Giải. Nói bốn món mà chẳng
bị trầm trệ th́ là Biện. Biện nương vào
Giải mà khởi, Giải nhờ vào Biện mà được
tỏ rơ, do Thể của nó là Huệ. Trong các kinh luận,
chúng được dùng lẫn cho nhau, nhưng chỉ nói bốn
thứ. Tŕ bốn thứ chẳng quên th́ gọi là Tứ Tổng
Tŕ, tức là kiêm Niệm
và Huệ.
* Hỏi:
Nay vị thiên nữ này trọn đủ Biện Tổng
Tŕ, sao chẳng gọi là Đại Tổng Tŕ thiên nữ?
Đáp:
Tổng Tŕ là nhân, bốn pháp được tŕ [bởi Tổng
Tŕ] là quả. Từ quả mà danh hiệu sẽ thù thắng, nên
chẳng đặt tên theo nhân. Lại
có thể hiểu là: Biện là lợi tha, c̣n Tŕ th́ tự lợi
nhiều hơn. V́ thế, thuận theo phương diện
lợi tha trội hơn mà gọi là Đại Biện
Tài. Do đó, trong phần sau, ngài Kiều Trần Như thỉnh
rằng: “Duy nguyện trí huệ Biện Tài Thiên, dĩ diệu
ngôn từ thí nhất thiết” (Kính mong vị Biện
Tài Thiên là bậc trí huệ, dùng ngôn từ mầu nhiệm
thí cho hết thảy). Trong phần dạy [hành nhân]
thỉnh cầu [biện tài] sau đó, cũng nói: “Kính lễ
Biện Tài Thiên, linh ngă Từ
vô ngại” (kính lễ Biện Tài
Thiên, khiến cho tôi Từ vô ngại)
v.v… Xét ra, cầu thỉnh Ngài th́ Ngài sẽ có thể thí cho hết
thảy.
5.15.4. Giải thích kinh
văn
5.15.4.1. Tăng thêm biện
tài
5.15.4.1.1. Nghi thức thỉnh
cầu cho phép diễn nói
(Kinh) Nhĩ thời, Đại Biện Tài
Thiên Nữ ư đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi,
đảnh lễ Phật túc, bạch Phật ngôn: “Thế
Tôn!”
(經)爾時大辯才天女於大眾中,即從座起頂禮佛足,白佛言:世尊!
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Đại Biện Tài Thiên Nữ ở
trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật,
bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn!)
Tán
rằng: Kinh văn trong phẩm này, chia đại lược
thành ba phần:
- Một, nêu ra chuyện
tăng thêm biện tài.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Ngă đương” (bạch Thế
Tôn! Con sẽ) trở đi, dạy phương cách cầu
thỉnh [biện tài].
-
Ba, từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc
bấy giờ, đức Phật bảo) trở đi,
đức Thế Tôn tán thán, khuyên bảo.
Trong
đoạn thứ nhất, lại chia thành hai phần:
- Một,
nghi thức thỉnh cầu [đức Phật cho phép] diễn
nói.
-
Hai, lợi ích cho người tu hành.
Đoạn
này thuộc ư đầu tiên.
5.15.4.1.2. Lợi ích cho
người tu hành
5.15.4.1.2.1. Lợi ích
cho người phụng tŕ, diễn nói
(Kinh) Nhược hữu pháp sư thuyết
thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh giả.
(經)若有法師說是金光明最勝王經者。
(Kinh:
Nếu có pháp sư nói kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương này).
Kế
đó, là ư thứ hai, gồm hai điều:
- Một,
lợi ích cho người thọ tŕ, diễn nói.
-
Hai, từ “hựu thử Kim Quang Minh” (lại nữa,
kinh Kim Quang Minh này) trở đi, hữu ích cho người nghe và học theo.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất, lại có hai ư nhỏ. Ư đầu
tiên là phải nên lợi ích cho mọi
người.
(Kinh)
Ngă đương ích kỳ trí huệ, cụ túc trang nghiêm
ngôn thuyết chi biện.
(經)我當益其智慧,具足莊嚴言說之辯。
(Kinh:
Con sẽ tăng thêm trí huệ cho người ấy, trọn
đủ biện tài,
ngôn thuyết trang nghiêm).
Kế
đó, nói về hai pháp được tăng ích, có ba
điều:
- Một,
nêu chung.
-
Hai, từ “cụ túc” (trọn đủ) trở
đi, nêu riêng [từng pháp được tăng ích].
-
Ba, từ “tổng tŕ vô ngại” trở đi, kết
lại.
Trong
phần nêu riêng, trước hết là “ban cho Từ Vô Ngại
Biện”. Kế đó, từ “nhược bỉ pháp
sư” (nếu pháp sư ấy) trở đi, ban cho biện tài và Đà La Ni.
Đoạn này là nêu chung và phần nói riêng về Từ Vô
Ngại Biện. Cửu Địa đắc Tứ Biện
Tài;
v́ thế, trong mười tám món biến hóa, [có một môn
biến hóa là] “thí
cho người khác biện
tài”.
Nói “cụ túc trang nghiêm” tức là trọn đủ
tám loại ngữ.
(Kinh)
Nhược bỉ pháp sư ư thử kinh trung văn tự,
cú nghĩa, sở hữu vong thất, giai linh ức tŕ,
năng thiện khai ngộ, phục dữ Đà La Ni Tổng
Tŕ vô ngại.
(經)若彼法師於此經中文字句義所有忘失,皆令憶持能善開悟,復與陀羅尼總持無礙。
(Kinh: Nếu vị
pháp sư ấy đối với văn tự, và câu,
nghĩa trong kinh này mà bị quên mất, con sẽ đều
khiến cho [vị ấy] ghi nhớ, có thể khéo khai ngộ,
lại ban cho Đà La Ni Tổng Tŕ vô ngại).
Kế đó, điều thứ hai là ban cho
các thứ biện tài khác. “Ư văn tự” (đối
với văn tự) tức là Pháp. “Văn” chính là Tự,
nói gộp chung Thể và Dụng. Đây là cái để “năng thuyên” (chủ thể có thể diễn nói) nương vào,
Thể chẳng phải là năng thuyên. Cú (câu) chính là
năng thuyên, [do nó có thể] diễn
nói các nghĩa, [kinh văn] lược đi, chẳng nói tới Danh. “Giai linh ức tŕ” (đều
khiến cho ghi nhớ) tức là Pháp Tŕ và Nghĩa Tŕ.
Nghĩa lư của Văn là cái được tŕ, c̣n cái có thể
tŕ [văn nghĩa ấy] chính là Tổng Tŕ; đó là nói gộp
chung nhân quả. “Năng thiện khai ngộ” (Khéo có thể
khai ngộ) tức là Nhạo Thuyết Biện Tài. “Phục
dữ Đà La Ni” (lại ban cho Đà La Ni) tức là hai
món Tổng Tŕ Chú và Nhẫn. Nói “Tổng Tŕ vô ngại”
nhằm kết lại.
5.15.4.1.2.2. Lợi
ích cho người học
5.15.4.1.2.2. 1. Kinh này được lưu truyền
bởi người tu học đă lâu
(Kinh) Hựu thử Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh, vi bỉ hữu t́nh dĩ ư bách thiên Phật
sở chủng chư thiện căn
đương thọ tŕ giả, ư Thiệm Bộ châu,
quảng hành lưu bố, bất tốc ẩn một.
(經)又此金光明最勝王經,為彼有情已於百千佛所種諸善根當受持者,於贍部洲廣行流布,不速隱沒。
(Kinh:
Lại nữa, kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương
này được các hữu t́nh đă gieo thiện căn
nơi trăm ngàn đức Phật thọ tŕ và lưu
truyền rộng răi trong châu Thiệm Bộ, chẳng bị
nhanh chóng ẩn mất).
Kế
đó, điều thứ hai là lợi ích người nghe
và học [kinh này]. Trong ấy, chia làm hai ư:
- Một,
chỉ rơ kinh này phải nên do người tu hành pháp đă
lâu lưu hành.
-
Hai, từ “phục linh” (lại khiến cho) trở
đi, chỉ ra kinh này có thể khiến cho người học
đạt được lợi ích to lớn.
Kinh
văn thuộc ư thứ nhất gồm hai điều:
- Một,
nói về hạnh đă thực hiện.
-
Hai, pháp được lưu hành đă lâu. Điều này
giống như kinh Bát Nhă dạy: “Năng sanh nhất niệm
tịnh tín chi tâm, đương tri dĩ tằng cúng
dường đa Phật” (Hăy nên biết người
có thể sanh một niệm tâm tịnh tín, chính là đă từng
cúng dường nhiều vị Phật).
5.15.4.1.2.2. 2. Người học đạt
được lợi ích
(Kinh)
Phục linh vô lượng hữu t́nh văn thị kinh
điển, giai đắc bất khả tư nghị tiệp
lợi biện tài, vô tận đại huệ, thiện giải
chúng luận, cập chư kỹ thuật.
(經)復令無量有情聞是經典皆得不可思議捷利辯才、無盡大慧,善解眾論及諸技術。
(Kinh:
Lại khiến cho vô lượng hữu t́nh nghe kinh điển
này, đều đạt được biện tài mẫn
tiệp, nhạy bén chẳng thể nghĩ bàn, vô tận
đại huệ, khéo hiểu các luận, và các nghề
khéo).
Kế
đó, người học [kinh này] đạt được
lợi ích, có ba phần:
- Một,
đạt được biện tài trong hiện tại.
-
Hai, sẽ chứng Phật quả.
-
Ba, tăng thọ v.v… trong đời hiện tại.
Trong
phần “đạt được biện tài”, đầu
tiên là đắc biện tài mẫn tiệp, nhanh nhạy, tức
là Nhạo Thuyết Biện Tài và Từ Biện Tài. Do trong
một sát-na có thể hiện các âm thanh, nên gọi là Tiệp
Lợi (mẫn tiệp và nhanh nhạy). Trong Nhạo Thuyết
Biện Tài, lại có bảy thứ:
- Một,
tấn biện, [tức biện tài lưu loát] như sông
treo liên tục chảy lạnh lùng chẳng chậm trễ.
-
Hai, tiệp biện, tức là cần nói liền nói, chẳng
ấp úng.
-
Ba, ứng biện, tức tương ứng với thời
cơ.
- Bốn,
vô sơ mậu biện (biện tài không sai sót, lầm lẫn),
nói lời đích đáng.
-
Năm, vô đoạn tận biện, do nói liên hoàn, chẳng
dứt.
-
Sáu, phong nghĩa vị biện (biện tài với nghĩa
vị phong phú), do trọn đủ các nghĩa lư.
- Bảy,
tối thượng diệu biện, cơi đời không ai
có thể hơn được.
“Tiệp
lợi” tức là hai loại biện tài đầu tiên,
Vô Tận chính là loại thứ năm, “đại huệ”
tức các loại biện tài c̣n lại. “Thiện giải
chúng luận” (khéo hiểu các luận) v.v… tức Pháp
Nghĩa Biện Tài. “Bất tư nghị” là nói chung
cho cả bốn câu. Diệu dụng khó lường, gọi
là “bất tư nghị”.
(Kinh) Năng xuất sanh tử, tốc thú Vô
Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.
(經)能出生死,速趣無上正等菩提。
(Kinh:
Có thể thoát sanh tử, nhanh chóng tiến đến Vô
Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề).
Kế
đó, sẽ chứng Phật quả.
(Kinh)
Ư hiện thế trung, tăng ích thọ mạng, tư
thân chi cụ tất linh viên măn.
(經)於現世中增益壽命,資身之具悉令圓滿。
(Kinh:
Trong đời hiện tại, tăng thêm thọ mạng,
vật dụng cần thiết cho cuộc sống đều
được viên măn).
Sau
đó là tăng thêm tuổi thọ v.v… trong cuộc sống
hiện thời.
5.15.4.2. Dạy
phương cách thỉnh cầu
5.15.4.2.1. Dạy cách tŕ
kinh và phương tiện để cầu biện tài
5.15.4.2.1.1. Nêu chung cách
chỉ dạy
(Kinh) Thế Tôn! Ngă đương vị bỉ
tŕ kinh pháp sư, cập dư hữu t́nh, ư thử kinh
điển nhạo thính văn giả, thuyết kỳ
chú dược, tẩy dục chi pháp.
(經)世尊!我當為彼持經法師及餘有情於此經典樂聽聞者,說其呪藥洗浴之法。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Con sẽ v́ vị pháp sư tŕ kinh ấy
và các hữu t́nh khác, đối với những người
ưa thích nghe kinh điển này, nói cách dùng thuốc và tắm
gội dành cho chú này).
Tán
rằng: Kế đó, dạy phương cách để cầu
[biện tài]. Có hai phần:
- Một,
dạy cách tŕ kinh và phương tiện để cầu.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Pháp Sư Thọ Kư” (lúc bấy
giờ, Pháp Sư Thọ Kư) trở đi, dạy thẳng
vào cách cầu biện tài.
Đoạn
thứ nhất gồm có bốn điều:
- Một,
nêu chung chuyện
chỉ dạy pháp thức.
-
Hai, dạy riêng phương cách.
-
Ba, thiên nữ khuyên hành tŕ.
- Bốn,
đức Thế Tôn tán thán, sắc truyền.
Đoạn
thứ nhất lại gồm có bốn ư:
- Một,
nêu ra người hành.
-
Hai, nêu ra pháp sẽ được dạy.
-
Ba, nêu ra công năng của pháp.
- Bốn,
khuyên tu học.
Đoạn
chánh kinh này gồm hai ư đầu.
(Kinh) Bỉ nhân sở hữu ác tinh, tai biến, dữ
sơ sanh thời tinh thuộc tương vi, dịch bệnh
chi khổ, đấu tránh, chiến trận, ác mộng, quỷ
thần, cổ độc, yếm mỵ, chú thuật khởi
thi, như thị chư ác vi chướng nạn giả, tất
linh trừ diệt. Chư hữu trí giả ưng tác
như thị tẩy dục chi pháp.
(經)彼人所有惡星災變與初生時星屬相違、疫病之苦、鬪諍戰陣、惡夢鬼神、蠱毒厭魅、呪術起屍,如是諸惡為障難者,悉令除滅。諸有智者應作如是洗浴之法。
(Kinh:
Tất cả sao ác, tai biến, cùng với các tinh tú lúc mới
sanh trái nghịch [bổn mạng] của người ấy,
nỗi khổ về bệnh dịch, đấu đá,
tranh chấp, chiến trận, ác mộng, quỷ thần,
cổ độc, ếm đối, chú thuật khiến
cho xác chết vùng dậy, các điều ác như thế
gây chướng nạn, thảy đều trừ diệt.
Những người có trí, hăy nên hành pháp tắm gội
như thế).
Kế đó, nêu ra công năng của pháp. Nói
“tinh thuộc” (sao chiếu mạng) th́ ngày sanh ra của
người phàm thuộc vào [ảnh hưởng của một
ngôi sao nào đó trong] Nhị Thập Bát Tú [tương ứng
với ngày đó]; trong đó, có thể có tinh tú tương
khắc bổn mạng. Tuy người ấy không hiểu,
nhưng hành pháp tắm gội này th́ chướng nạn
cũng trừ diệt. Nói “chú thuật khởi thi” là
chú thuật ở phương Tây (Ấn Độ) có thể
khiến cho xác chết đứng dậy đi lại khắp
nơi, có tác dụng bán phần hay toàn phần, gây hại
cho người khác. Nương vào pháp tắm gội này th́
những thuật ấy cũng đều bị trừ diệt.
Các phần kinh văn khác dễ hiểu. Đoạn này
chính là dạy chung hai hạng người nói và nghe [kinh
này], và người cầu biện tài, đều phải
nên hành theo cách tắm rửa này!
5.15.4.2.1.2. Dạy riêng
phương pháp
5.15.4.2.1.2.1. Dạy cách
tắm gội
5.15.4.2.1.2.1.1. Chỉ ra
phương thuốc dùng để tắm gội
(Kinh) Đương thủ hương
dược tam thập nhị vị, sở vị
xương bồ (pha-giả), ngưu hoàng (cù-lô-chiết-na),
mục túc hương (tắc-tất-lực-ca), xạ
hương (mạc-ha-bà-ca), hùng hoàng (mạt-nại-si-la), hợp
hôn thụ (thi-lợi-sái), bạch cập (nhân-đạt-la-hát-tất-đá),
khung cùng (xà-mạc-ca), cẩu kỷ căn (thiêm nhị),
tùng chỉ (thất-lợi-tiết-sắt-đắc-ca),
quế b́ (đốt-giả), hương phụ tử (mục-tốt-đá),
trầm hương (ác-yết-rô), chiên đàn
(chiên-đàn-na), linh bà hương (đa-yết-la), đinh
tử (sách-cù-giả), uất kim (đồ-củ-ma), bà luật
cao (yết-la-sa), vi hương (nại-lạt-đà), trúc
hoàng (hốt-lộ-chiến-na), tế đậu khấu
(tô-khấp-mê-la), cam tùng (nhị-thiêm-đá), hoắc
hương (bát-đát-la), mao căn hương (ốt-thi-la),
sất chỉ
(tát-lạc-kế), ngải nạp (thế-lê-dă),
an tức hương (cũ-cụ-la), giới tử (tát-lợi-sát-bả),
mă cần (diệp-bà-nễ), long hoa tu (na-gia-kê-tát-la), bạch
giao (tát-chiết-la-bà), thanh mộc (củ-sắt-tha), giai
đẳng phần.
(經)當取香藥三十二味,所謂昌蒲(坡者)、牛黃(瞿盧折娜)、苜蓿香(塞畢力迦)、麝香(莫訶婆伽)、雄黃(末㮏眵羅)、合昏樹(尸利灑)、白及(因達羅喝悉哆)、芎藭(闍莫迦)、苟杞根(苫弭)、松脂(室利薛瑟得迦)、桂皮(咄者)、香附子(目窣哆)、沈香(惡揭嚕)、栴檀(栴檀娜)、零婆香(多揭羅)、丁子(索瞿者)、欝金(荼矩麼)、婆律膏(揭羅娑)、葦香(㮈剌柁)、竹黃(𩾲路戰娜)、細豆蔲(蘇泣迷羅)、甘松(弭苫哆)、藿香(鉢怛羅)、茅根香(嗢尸羅)、叱𭇣(薩洛計)、艾納(世黎也)、安息香(寠具攞)、芥子(薩利殺跛)、馬芹(葉婆儞)、龍華鬚(那加雞薩羅)、白膠(薩折羅婆)、青木(矩瑟他)皆等分。
(Kinh: Hăy nên lấy ba mươi hai vị
thuốc có mùi thơm, tức là xương bồ[3]
(pha-giả, vaca), ngưu hoàng[4]
(cù-lô-chiết-na, gorocana), mục túc hương[5] (tắc-tất-lực-ca,
spṛka), xạ hương[6] (mạc-ha-bà-ca,
mahābhāga), hùng hoàng[7] (mạt-nại-si-la,
manaḥśila), hợp hôn thụ[8]
(thi-lợi-sái, śirīṣa), bạch cập[9]
(nhân-đạt-la-hát-tất-đá, Indra-hasta), khung cùng[10]
(xà-mạc-ca, śyābhyaka), rễ cây cẩu kỷ (thiêm
nhị, śami), nhựa thông (thất-lợi-tiết-sắt-đắc-ca,
śrīveṣṭaka), vỏ quế (đốt-giả,
tvaca), hương phụ tử (mục-tốt-đá, musta),
trầm hương (ác-yết-rô, agaru), chiên đàn
(chiên-đàn-na, candana), linh bà hương (đa-yết-la,
tagara), đinh tử (sách-cù-giả, samocaka, nụ hoa đinh
hương), uất
kim (đồ-củ-ma, Kuṅkuma, tức nghệ), bà luật cao (yết-la-sa,
gālava), vi hương (nại-lạt-đà, narada), trúc
hoàng (hốt-lộ-chiến-na, gorocanā), tế đậu
khấu[11]
(tô-khấp-mê-la, sūkṣmela), cam tùng[12] (nhị-thiêm-đá),
hoắc hương (bát-đát-la, patra), mao căn
hương (ốt-thi-la, Uśīra), sất chỉ (tát-lạc-kế,
śalāka), ngải nạp[13] (thế-lê-dă,
śaileya), an tức hương (cũ-cụ-la, gulgula), hạt
cải (tát-lợi-sát-bả, sarṣapa), mă cần (diệp-bà-nễ, hạt cumin), long hoa tu (na-gia-kê-tát-la,
nāgakeśara), bạch giao (tát-chiết-la-bà, sarjarasa),
thanh mộc (củ-sắt-tha, kuṣṭha) phân lượng
đều bằng nhau).
Kế
đó là dạy riêng phương pháp. Kinh văn chia thành bốn
phần:
- Một,
dạy cách tắm gội.
-
Hai, từ “như thị dục dĩ” (tắm gội
như thế xong) trở đi, dạy phát nguyện.
-
Ba, từ “phục thuyết tụng viết” (lại
nói bài tụng rằng) trở đi, nói rơ lợi ích do hành
theo pháp ấy.
- Bốn,
từ “thứ tụng hộ thân” (kế đó, tụng
chú hộ thân) trở đi, dạy cách hộ thân.
Phần
“dạy cách tắm rửa” gồm tám điều:
- Một,
liệt kê phương thuốc để tắm gội.
-
Hai, chỉ dạy ngày giă, rây [các vị thuốc ấy].
-
Ba, dạy cách tụng chú vào thuốc.
- Bốn,
dạy cách làm đàn tràng.
-
Năm, dạy cách làm nước thơm [để tắm
gội].
-
Sáu, dạy cách kết giới.
- Bảy,
chánh thức dạy cách tắm gội.
-
Tám, dạy cách thực hiện sau khi tắm rửa xong.
Đoạn
này thuộc điều thứ nhất, trước hết
là nêu ra [số lượng các vị thuốc], sau đó, liệt
kê [các vị thuốc]. Bà Luật Cao tức là cao long năo. Vi
Hương là chất thơm trong cỏ lau. Trúc Hoàng là chất
thơm sanh từ cây trúc. Tế Đậu Khấu là trong
các loài Đậu Khấu, có loại thô, loại tế. Mao
Căn Hương giống như Đâu Lâu Bà Hương.
5.15.4.2.1.2.1.2. Chỉ dạy
ngày thích hợp để nghiền, rây các vị thuốc ấy
(Kinh) Dĩ Bố Sái tinh nhật, nhất xứ
đảo si, thủ kỳ hương mạt.
(經)以布灑星日,一處擣篩,取其香末。
(Kinh:
Chọn ngày thuộc sao Bố Sái, giă chung các vị thuốc
ấy, rây lọc lấy bột
hương).
Kế
đó, điều thứ hai là dạy ngày nghiền và rây lọc
[các vị thuốc ấy]. [Bố Sái (Puṣya)] tức là tên của tinh tú ở
phía Nam trong Nhị Thập Bát Tú, tức là ngày có
sao Quỷ[14]
như các bản dịch cũ đă ghi.
5.15.4.2.1.2.1.3. Dạy
cách tụng chú vào hương dược
(Kinh) Đương dĩ thử chú, chú nhất
bách bát biến. Chú viết: - Đát điệt tha, tô cật
lật đế, cật lật đế, cật lật
kế, kiếp ma đát lư, thiện nộ yết lan trệ,
hác yết lạt trệ, nhân đạt la xà lợi nị,
thước yết lan trệ, bát thiết điệt lệ.
A phạt để yết tế, kế na
củ đổ, củ đổ, cước ca tỵ lệ,
kiếp tỵ lệ, kiếp tỵ lệ, kiếp tỳ
la mạt để, thi la mạt để, san để
độ ra mạt để, lư ba phạt củ bạn
trĩ lệ, thất lệ, thất lệ, tát để
tất thể đê, sa ha.
(經)當以此呪呪一百八遍。呪曰:怛姪他。蘇訖栗帝。訖栗帝。訖栗計。劫摩怛里。繕怒羯㘓滯。郝羯喇滯。因達囉闍利膩。鑠羯㘓滯。鉢設姪囇。阿伐底羯細。計娜矩覩。矩覩。脚迦鼻麗。劫鼻囇。劫鼻麗。劫毘羅末底。尸羅末底。刪底度囉末底。里波伐矩畔稚囇。室囇。室囇。薩底悉體羝。莎訶。
(Kinh:
Hăy nên dùng chú này, tụng một trăm lẻ tám lượt
[vào bột hương ấy]. Chú rằng: - Đát điệt
tha, tô cật lật đế, cật lật đế, cật
lật kế, kiếp ma đát lư, thiện nộ yết
lan trệ, hác yết lạt trệ, nhân đạt la xà lợi
nị, thước yết lan trệ, bát thiết điệt
lệ. A phạt để yết tế, kế na củ
đổ, củ đổ, cước ca tỵ lệ, kiếp
tỵ lệ, kiếp tỵ lệ, kiếp tỳ la mạt
để, thi la mạt để, san để độ
ra mạt để, lư ba phạt củ bạn trĩ lệ,
thất lệ, thất lệ, tát để tất thể
đê, sa ha).
Kế
đó, điều thứ ba là dạy cách biến hóa
hương dược.
5.15.4.2.1.2.1.4. Dạy
cách làm đàn tràng
(Kinh) Nhược nhạo như pháp tẩy
dục thời, ưng tác đàn tràng, phương bát trửu, khả ư tịch tĩnh
định ổn xứ, niệm sở cầu sự bất
ly tâm. Ưng đồ ngưu phẩn tác kỳ đàn. Ư thượng, phổ tán chư hoa thái. Đương dĩ tịnh khiết kim ngân khí, thịnh
măn mỹ vị tịnh nhũ mật. Ư bỉ đàn
tràng tứ môn sở, tứ nhân thủ hộ pháp như
thường. Linh tứ đồng tử hảo nghiêm
thân, các
ư nhất giác, tŕ b́nh thủy. Ư thử, thường thiêu An Tức hương, ngũ âm chi
nhạc thanh bất tuyệt. Phan cái trang nghiêm, huyền
tăng thái, an tại đàn tràng chi tứ biên. Phục
ư tràng nội, trí minh kính, lợi đao, kiêm tiễn, các tứ mai. Ư đàn trung tâm, mai đại bồn,
ưng dĩ lậu bản an kỳ thượng.
(經)若樂如法洗浴時,應作壇場方八肘,可於寂靜定穩處,念所求事不離心。應塗牛糞作其壇,於上普散諸華彩,當以淨潔金銀器,盛滿美味并乳蜜。於彼壇場四門所,四人守護法如常。令四童子好嚴身,各於一角持瓶水。於此常燒安息香,五音之樂聲不絕。旛蓋莊嚴懸繒綵,安在壇場之四邊。復於場內置明鏡,利刀兼箭各四枚。於壇中心埋大盆,應以漏版安其上。
(Kinh: Nếu lúc nào ưa thích đúng
như pháp tắm gội, hăy nên làm đàn tràng h́nh vuông, rộng
tám khủy tay[15]. Có thể
ở chỗ tịch tịnh, an định [để làm
đàn], nghĩ tới chuyện mong cầu, chẳng ĺa
tâm. Hăy nên trát phân ḅ để làm cái đàn ấy. Trên
đó, rải trọn khắp các hoa nhiều màu. Hăy nên dùng
đồ đựng bằng vàng hay bạc tinh sạch, chứa
đầy đồ ăn ngon lành và sữa, mật.
Nơi bốn cửa của đàn tràng ấy, bốn
người thủ hộ theo lệ thường. Sai bốn
bé trai thân trang hoàng đẹp đẽ, đứng ở
mỗi góc đàn, cầm một b́nh
nước. Trong ấy, thường đốt
hương An Tức, tiếng nhạc ngũ âm chẳng dứt.
Phan, lọng trang nghiêm, treo lọng lụa, xếp đặt
ở bốn phía đàn tràng. Lại ở trong đàn tràng,
đặt tấm gương sáng, đao bén, và mũi tên, mỗi
thứ bốn phần. Ở chính giữa đàn, chôn một
cái chậu lớn, hăy nên dùng ván thấm nước để
trên đó).
Kế
đến, điều thứ tư là dạy làm đàn
tràng. Trong ấy có tám ư:
- Một,
nửa đầu bài tụng nói về kích thước của
đàn tràng.
-
Hai, từ “khả ư tịch tĩnh” (có thể ở nơi thanh vắng) trở
đi, dạy nơi chốn lập đàn tràng.
-
Ba, nửa bài tụng từ “ưng đồ” (nên
trát) trở đi, dạy cách tô trát đàn tràng.
- Bốn,
nửa bài tụng kế đó, dạy cách cúng dường.
-
Năm, nửa bài tụng tiếp theo, dạy về sự
thủ hộ.
-
Sáu, nửa bài tụng kế đó, dạy về sự
trang nghiêm.
- Bảy,
nửa bài tụng kế đó, dạy về cách tránh ác.
-
Tám, nửa bài tụng sau đó, dạy cách tạo chỗ tắm
gội.
5.15.4.2.1.2.1.5. Dạy
cách làm nước thơm để tắm
(Kinh) Dụng tiền hương mạt
dĩ ḥa thang, diệc phục an tại ư đàn nội.
(經)用前香抹以和湯,亦復安在於壇內。
(Kinh:
Dùng bột hương trên đây ḥa với nước
nóng, cũng lại đặt trong đàn tràng).
Kế
đó, ư thứ năm là dạy làm nước nóng để
tắm.
5.15.4.2.1.2.1.6. Dạy
cách kết giới
(Kinh) Kư tác như tư bố trí dĩ, nhiên
hậu tụng chú kết kỳ đàn. Kết
giới chú viết: - Đát điệt tha, át lạt kế,
na dă nê. Hế lệ, mi lệ, kỳ lệ, xí xí lệ, sa
ha.
(經)既作如斯布置已,然後誦呪結其壇。結界呪曰:怛姪他。頞喇計。娜也泥。呬麗。弭麗。祇麗。企企麗。莎訶。
(Kinh:
Đă sắp đặt như thế xong, sau đó, tụng
chú để kết giới cái đàn ấy. Chú kết giới
như sau: - Đát điệt tha, át lạt kế, na dă nê.
Hế lệ, mi lệ, kỳ lệ, xí xí lệ, sa ha).
Kế
đó, điều thứ sáu là dạy cách kết giới.
Nửa đầu bài tụng nhằm kết lại phần
trước,
ḥng dẫn khởi phần sau, kế đó là chánh thức
dạy thần chú để kết giới.
5.15.4.2.1.2.1.7. Dạy
cách tắm rửa
(Kinh) Như thị kết giới dĩ,
phương nhập ư đàn nội, chú thủy tam thất
biến, tán sái ư tứ phương. Thứ khả chú
hương thang, măn nhất bách bát biến. Tứ biên an mạn
chướng, nhiên hậu tẩy dục thân. Chú thủy,
chú thang, chú viết: - Đát điệt tha, sách yết trí,
tỳ yết trí, tỳ yết đồ phạt để,
sa ha.
(經)如是結界已,方入於壇內,呪水三七遍,散灑於四方。次可呪香湯,滿一百八遍,四邊安幔障,然後洗浴身。呪水呪湯呪曰:怛姪他。索揭智。毘揭智。毘揭荼伐底。莎訶。
(Kinh:
Kết giới như thế xong, mới vào trong đàn
tràng, tụng chú vào nước hai mươi mốt lần,
rải khắp bốn phương. Kế đó, tụng
chú vào nước tắm thơm, đủ một trăm
lẻ tám lượt. Bốn phía căng màn che, sau đó tắm
gội thân thể. Chú để tụng vào nước, và vào
nước nóng để tắm như sau: - Đát điệt
tha, sách yết trí, tỳ yết trí, tỳ yết đồ
phạt để, sa ha).
Kế
đó, điều thứ bảy là dạy cách tắm rửa.
Có hai ư:
- Một,
kết lại phần trước.
-
Hai, từ “phương nhập” (rồi mới vào) trở
đi, là tác pháp, gồm bốn điều:
a) Tụng
chú vào nước cho thanh tịnh.
b) Tụng
chú vào nước nóng để tắm
rửa.
c) Dạy
cách che đậy thân thể lơa lồ.
d) Lại
dạy bài chú [để chú nguyện vào nước…]
5.15.4.2.1.2.1.8. Dạy
cách thực hiện sau khi tắm xong
(Kinh) Nhược tẩy dục ngật, kỳ
tẩy dục thang, cập đàn tràng trung cúng dường
ẩm thực, khí hà, tŕ nội, dư giai thâu nhiếp.
(經)若洗浴訖,其洗浴湯及壇場中供養飲食棄河池內,餘皆收攝。
(Kinh:
Nếu tắm rửa xong, nước tắm gội ấy
và thức ăn cúng dường trong đàn tràng đem vứt
xuống sông hay ao. Các thứ khác đều cất đi).
Kế
đó, điều thứ tám là dạy cách thức sau khi tắm
xong.
5.15.4.2.1.2.2. Dạy cách
phát nguyện
(Kinh) Như thị dục dĩ,
phương trước tịnh y, kư xuất đàn tràng,
nhập tịnh thất nội, chú sư giáo kỳ phát hoằng
thệ nguyện, vĩnh đoạn chúng ác, thường
tu chư thiện, ư chư hữu t́nh dữ đại
bi tâm. Dĩ thị nhân duyên, đương hoạch vô
lượng tùy tâm phước báo.
(經)如是浴已方著淨衣,既出壇場入淨室內,呪師教其發弘誓願,永斷眾惡常修諸善,於諸有情與大悲心。以是因緣,當獲無量隨心福報。
(Kinh:
Tắm như thế xong, mới mặc áo sạch. Đă
ra khỏi đàn tràng, vào trong tịnh thất, chú sư dạy
kẻ đó phát hoằng thệ nguyện, vĩnh viễn
đoạn các ác, thường tu các điều lành, đối
với các hữu t́nh bằng tâm
đại bi. Do nhân duyên ấy, sẽ đạt được
vô lượng phước báo thuận ḷng).
Kế
đó, đoạn thứ hai trong phần “dạy riêng
cách cầu biện tài” là dạy phát nguyện. Có năm
ư:
- Một,
kết lại phần trước.
-
Hai, nghi quỹ mặc áo sạch, phát nguyện.
-
Ba, từ “kư xuất” (đă ra khỏi) trở đi,
nơi chốn phát nguyện.
- Bốn,
từ “chú sư giáo” (chú sư dạy) trở đi,
vâng theo lời thầy dạy. Đây là nói về kẻ mới
học.
-
Năm, từ “vĩnh đoạn” (vĩnh viễn
đoạn trừ) trở đi là phát nguyện. Phát nguyện
gồm ba ư:
a)
Nguyện tu tự lợi.
b) Từ
“ư chư” (đối với các [hữu t́nh]) trở
đi, nguyện hành lợi tha.
c) Từ
“dĩ thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở
đi, tu hành đắc quả.
5.15.4.2.1.2.3. Lợi ích
do làm theo
(Kinh) Phục thuyết tụng viết: -
Nhược hữu bệnh khổ chư chúng sanh, chủng
chủng phương dược trị bất sai, nhược
y như thị tẩy dục pháp, tịnh phục độc
tụng tư kinh điển, thường ư nhật dạ
niệm bất tán, chuyên tưởng ân cần sanh tín tâm, sở
hữu hoạn khổ tận tiêu trừ, giải thoát bần
cùng, túc tài bảo. Tứ phương tinh thần, cập
nhật, nguyệt, oai thần ủng hộ đắc diên
niên, cát tường an ổn, phước đức
tăng, tai biến ách nạn giai trừ khiển.
(經)復說頌曰:若有病苦諸眾生,種種方藥治不差,若依如是洗浴法,并復讀誦斯經典,常於日夜念不散,專想慇懃生信心,所有患苦盡消除,解脫貧窮足財寶,四方星辰及日月,威神擁護得延年,吉祥安穩福德增,災變厄難皆除遣。
(Kinh:
Lại nói bài tụng rằng: - Nếu có các chúng sanh bệnh
khổ, các thứ thuốc thang trị chẳng lành, nếu
theo pháp tắm gội như thế, lại c̣n đọc
tụng kinh điển này, thường trong ngày đêm niệm
chẳng loạn, chuyên tưởng
ân cần, sanh ḷng tin. Tất cả bệnh
khổ tiêu trừ sạch, giải thoát bần cùng, đủ
của cải. Bốn phương tinh tú, và nhật, nguyệt,
oai thần ủng hộ thọ mạng dài,
tốt lành, an ổn, phước đức tăng, tai biến,
ách nạn đều trừ sạch).
Kế
đó, phần thứ ba là “lợi ích đạt được
do tu hành theo pháp này”. Nói chung, có ba bài tụng, chia thành ba phần:
- Một,
nửa bài tụng đầu tiên nêu ra chúng sanh có nỗi khổ.
-
Hai, bài tụng kế đó nói về chuyện học theo
pháp này.
-
Ba, một bài tụng rưỡi sau cùng, nói về lợi
ích đạt được do học pháp này.
Lợi
ích gồm tám điều: Một là khỏi bệnh, hai là
trừ nghèo túng, ba là tài vật dư dật, bốn là
được thủ hộ, năm là tăng thêm tuổi
thọ, sáu là tốt lành, an ổn, bảy là tăng phước,
tám là hết nạn. Kinh văn dễ hiểu.
5.15.4.2.1.2.4. Dạy cách
hộ thân
(Kinh) Thứ tụng Hộ Thân Chú tam thất
biến, chú viết: - Đát điệt tha, tam mế, tỳ
tam mế, sa ha. Sách yết trệ, tỳ yết trệ, sa
ha. Tỳ yết đồ, phạt để, sa ha. Sa yết
ra, tam bộ đa dă, sa ha. Tắc kiến đà, ma đa
dă, sa ha. Ni la kiến tha dă, sa ha. A bát ra thị đá, tỳ
lê da dă, sa ha. Hế ma bàn đá, tam bộ đa dă, sa ha. A
nhĩ mật la, bạc đát ra dă, sa ha. Nam-mô bạc già phạt
đô, bạt ra hám ma tả, sa ha. Nam-mô tát ra toan để,
mạc ha đề tỵ duệ, sa ha. Tất điện
đô mạn (thử vân thành tựu ngă mỗ giáp), mạn
đát ra bát đả, sa ha. Đát lạt đô tỷ
điệt đá, bạt ra hám ma nô mạt đổ, sa ha.
(經)次誦護身呪三七遍,呪曰:怛姪他。三謎。毘三謎。莎訶。索揭滯。毘揭滯。莎訶。毘揭荼。伐底。莎訶。娑揭囉。三步多也。莎訶。塞建陀。摩多也。莎訶。尼攞建他也。莎訶。阿鉢囉市哆。毘𠼝耶也。莎訶。呬摩槃哆。三步多也。莎訶。阿爾蜜攞。薄怛囉也。莎訶。南謨薄伽伐都。跋囉蚶摩寫。莎訶。南謨薩囉酸底。莫訶提鼻裔。莎訶。悉甸都漫(此云成就我某甲)。曼怛囉鉢柁。莎訶。怛喇都仳姪哆。跋囉蚶摩奴末覩。莎訶。
(Kinh:
Kế đó, tụng chú Hộ Thân hai mươi mốt
lần, chú rằng: - Đát điệt tha, tam mế, tỳ
tam mế, sa ha. Sách yết trệ, tỳ yết trệ, sa
ha. Tỳ yết đồ, phạt để, sa ha. Sa yết
ra, tam bộ đa dă, sa ha. Tắc kiến đà, ma đa
dă, sa ha. Ni la kiến tha dă, sa ha. A bát ra thị đá, tỳ
lê da dă, sa ha. Hế ma bàn đá, tam bộ đa dă, sa ha. A
nhĩ mật la, bạc đát ra dă, sa ha. Nam-mô bạc già phạt
đô, bạt ra hám ma tả, sa ha. Nam-mô tát ra toan để,
mạc ha đề tỵ duệ, sa ha. Tất điện
đô mạn (phương này dịch là “thành tựu con tên
là…”), mạn đát ra
bát đả, sa ha. Đát lạt đô tỷ điệt
đá, bạt ra hám ma nô mạt đổ, sa ha).
Phần
thứ tư là “dạy cách hộ thân”, gồm hai ư:
- Một,
dạy cách hộ thân.
-
Hai, nói chú hộ thân.
5.15.4.2.1.3. Thiên nữ
khuyên hành tŕ
(Kinh) Nhĩ thời, Đại Biện Tài
Thiên Nữ thuyết tẩy dục pháp đàn tràng chú
dĩ, tiền lễ Phật túc, bạch Phật ngôn: - Thế
Tôn! Nhược hữu bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca,
ổ-ba-tư-ca, thọ tŕ, độc tụng, thư tả,
lưu bố thị diệu kinh vương, như thuyết
hành giả, nhược tại thành, ấp, tụ lạc,
khoáng dă, sơn lâm, tăng ni trụ xứ, ngă vị thị
nhân, tương chư quyến thuộc, tác thiên kỹ nhạc,
lai nghệ kỳ sở, nhi vi ủng hộ, trừ chư
bệnh khổ, lưu tinh biến quái, dịch tật,
đấu tránh, vương pháp sở câu, ác mộng, ác thần
vi chướng ngại giả, cổ đạo, yếm
thuật, tất giai trừ điễn, nhiêu ích thị
đẳng tŕ kinh chi nhân, bật-sô đẳng chúng, cập
chư thính giả, giai linh tốc độ sanh tử
đại hải, bất thoái Bồ Đề.
(經)爾時大辯才天女說洗浴法壇場呪已,前禮佛足白佛言:世尊!若有苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦,受持讀誦書寫流布是妙經王,如說行者,若在城邑聚落、曠野山林、僧尼住處,我為是人將諸眷屬作天妓樂來詣其所而為擁護,除諸病苦,流星變怪、疫疾鬪諍、王法所拘、惡夢惡神為障礙者,蠱道厭術悉皆除殄,饒益是等持經之人,苾芻等眾及諸聽者皆令速渡生死大海,不退菩提。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Đại Biện Tài Thiên Nữ nói cách tắm gội,
đàn tràng và chú ngữ xong, lễ dưới chân đức
Phật, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch
Thế Tôn! Nếu có bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca,
thọ tŕ, đọc tụng, biên chép, lưu truyền kinh
vương mầu nhiệm này, hành đúng như lời dạy,
nếu ở tại thành ấp, xóm làng, đồng trống,
núi, rừng, chỗ tăng ni ở, con sẽ v́ người
ấy, dẫn các quyến thuộc, tấu kỹ nhạc
cơi trời, đến chỗ người ấy để
ủng hộ, trừ các bệnh khổ, sao băng biến
hiện quái dị, bệnh dịch, đấu đá, tranh
chấp, phép vua trói buộc, ác mộng, ác thần gây chướng
ngại, cổ đạo, ếm đối, thảy đều
trừ sạch, lợi ích những người tŕ kinh,
các vị bật-sô v.v… ấy, và những người nghe,
đều khiến cho họ mau chóng vượt qua biển
cả sanh tử, chẳng thoái thất Bồ Đề).
Kế
đó, đoạn thứ ba trong phần dạy
phương tiện là “thiên nữ khuyên hành tŕ”, có ba ư:
- Một,
kết lại pháp đă dạy trong phần trước.
-
Hai, từ “tiền lễ Phật túc” (lễ dưới
chân đức Phật) trở đi, trần thuật
khuyên người học, gồm ba ư:
a)
Nghi thức tác bạch.
b)
Thưa tŕnh.
c) Từ
“hữu bật-sô” (có bật-sô) trở đi, chỉ
ra người hành tŕ.
-
Ba, từ “nhược tại thành ấp” (nếu tại
thành, ấp) trở đi, nói rơ [thiên nữ] sẽ khiến
cho họ được lợi ích.
“Được
lợi ích” gồm có ba điều:
- Một,
cúng dường, thủ hộ.
-
Hai, từ “trừ chư bệnh khổ” (trừ các bệnh
khổ) trở đi, trừ tai ương.
-
Ba, từ “nhiêu ích thị đẳng” (lợi ích những
người ấy) trở đi, khiến cho họ đạt
được lợi ích thù thắng.
5.15.4.2.1.4. Đức
Thế Tôn tán thán, sắc truyền
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn văn thị
thuyết dĩ, tán Biện Tài Thiên Nữ ngôn: “Thiện tai!
Thiện tai! Thiên nữ! Nhữ năng an lạc, lợi
ích vô lượng vô biên hữu t́nh, thuyết thử thần
chú, cập dĩ hương thủy, đàn tràng pháp thức,
quả báo nan tư. Nhữ đương ủng hộ tối
thắng kinh vương, vật linh ẩn một, thường
đắc lưu thông”. Nhĩ thời, Đại Biện
Tài Thiên Nữ lễ Phật túc dĩ, hoàn phục bổn
ṭa.
(經)爾時世尊聞是說已,讚辯才天女言:善哉善哉!天女!汝能安樂利益無量無邊有情,說此神呪及以香水壇場法式,果報難思。汝當擁護最勝經王,勿令隱沒,常得流通。爾時大辯才天女禮佛足已,還復本座。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe nói như thế
xong, tán thán Biện Tài Thiên Nữ rằng: “Lành thay! Lành thay!
Này thiên nữ! Bà có thể an lạc, lợi ích vô lượng
vô biên hữu t́nh, nói thần chú ấy, và pháp thức nước
thơm, đàn tràng, quả báo khó nghĩ! Bà hăy nên ủng hộ
kinh vương tối thắng này đừng bị ẩn
mất, thường được lưu truyền”. Lúc bấy
giờ, Đại Biện Tài Thiên Nữ lễ dưới
chân đức Phật xong, trở về chỗ của
ḿnh).
Kế
đó, trong phần “dạy phương tiện”, đoạn
thứ tư là “đức Thế Tôn tán thán, sắc truyền”.
Có bốn ư:
- Một,
tán thán tổng tướng.
-
Hai, từ “Thiên nữ! Nhữ năng” (Thiên nữ! Bà
có thể) trở đi, tán thán riêng
từng điều. Có ba ư:
a)
Tán thán lợi ích do thiên nữ chỉ dạy
pháp này.
b) Từ
“thuyết thử thần chú” (nói thần chú ấy) trở
đi, tán thán riêng phương pháp đă chỉ dạy.
c) Từ
“quả báo nan tư” (quả báo khó nghĩ) trở
đi, tán thán [thiên nữ] sẽ
đắc quả.
-
Ba, từ “nhữ đương ủng hộ” (bà nên
ủng hộ) trở đi, sắc truyền hộ pháp.
- Bốn,
từ “nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở
đi, [thiên nữ] được tán thán, trở lại chỗ
ngồi.
5.15.4.2.2.
Dạy cách cầu biện tài
5.15.4.2.2.1. Kiều
Trần Như tán thán, thỉnh cầu pháp
5.15.4.2.2.1.1. Tán thán nội
đức, trụ xứ và oai nghi của thiên nữ
(Kinh) Nhĩ thời, Pháp Sư Thọ Kư Kiều
Trần Như Bà-la-môn, thừa Phật oai lực, ư
đại chúng tiền, tán thỉnh Biện Tài Thiên Nữ
viết.
(經)爾時法師授記憍陳如婆羅門,承佛威力,於大眾前讚請辯才天女曰:
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pháp Sư Thọ Kư Kiều Trần
Như nương theo oai lực của đức Phật,
đối trước đại chúng, tán thán, cầu thỉnh
Biện Tài Thiên Nữ rằng).
Tán
rằng: Đoạn thứ hai trong phần
“dạy phương cách thỉnh cầu” là “dạy cách cầu
biện tài”. Kinh văn chia thành bốn phần:
- Một,
Kiều Trần Như tán thán, thỉnh cầu pháp.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Biện Tài” (lúc bấy giờ,
Biện Tài) trở đi, thiên nữ thuận theo lời thỉnh
mà chỉ dạy.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Kiều Trần Như” (lúc
bấy giờ, Kiều Trần Như), Kiều Trần
Như nghe pháp hoan hỷ, tán thán.
- Bốn,
phần đầu quyển thứ tám, Kiều Trần
Như vâng theo lời dạy, thỉnh
gia bị.
Trong
phần thứ nhất có hai ư, đoạn này là “nêu ra lời
thỉnh”.
(Kinh)
Thông minh, dũng tấn Biện Tài Thiên, nhân thiên cúng dường
tất ưng thọ, danh văn thế gian biến sung măn,
năng dữ nhất thiết chúng sanh nguyện.
(經)聰明勇進辨才天,人天供養悉應受,名聞世間遍充滿,能與一切眾生願。
(Kinh:
Thông minh, dũng, tấn Biện Tài Thiên, trời người
cúng dường đều đáng nhận. Thanh danh vang dội
khắp thế gian, hay thỏa hết thảy chúng sanh nguyện).
Tiếp
đó, nêu ra lời tán thán, thỉnh cầu, [gồm] ba bài tụng, được chia
thành hai phần:
- Một,
hai bài tụng đầu nhằm tán thán.
-
Hai, bài tụng cuối cùng là lời
thỉnh cầu.
Phần
“tán thán” lại chia thành ba
tiểu đoạn:
-
Bài tụng thứ nhất tán thán nội đức.
- Nửa
bài tụng kế đó, tán thán trụ xứ.
- Nửa
bài tụng sau đó, tán thán oai nghi.
Phần
này là “tán thán nội đức”, gồm bốn điều:
-
Câu thứ nhất tán thán đức “trí siêng năng”.
-
Câu kế đó tán thán phẩm đức “[thiên nữ] là
phước điền”.
-
Câu kế đó tán thán phẩm đức “[thanh danh] lan xa”.
-
Câu cuối cùng tán thán phẩm đức “măn nguyện”.
(Kinh) Y cao sơn đảnh thắng trụ
xứ, tập mao vi thất, tại trung cư, hằng kết
nhuyễn thảo dĩ vi y, tại xứ thường kiều
ư nhất túc.
(經)依高山頂勝住處,葺茅為室在中居,恒結軟草以為衣,在處常翹於一足。
(Kinh: Chỗ trụ
thù thắng đỉnh núi cao, gom tranh làm nhà, ở
trong đó, luôn kết cỏ mềm làm y phục, khắp
chốn thường luôn kiễng một chân).
Kế
đó, tán thán trụ xứ và oai nghi. Biểu thị [thiên nữ] có
thể vượt thoát sanh tử, nên nói là “trụ
nơi núi cao”. Thật ra, Ngài có thể hiện bất cứ
nơi đâu. Do ĺa kiêu mạn,
nên thường ở trong nhà tranh. Biểu thị ḥa dịu,
nhẫn nhục,
nên dùng cỏ mềm làm y phục. Luôn siêng năng lợi
ích chúng sanh, nên thường kiễng một chân!
5.15.4.2.2.1.2. Thỉnh cầu
(Kinh)
Chư thiên đại chúng giai lai tập, hàm đồng nhất
tâm thân tán thỉnh, duy nguyện trí huệ Biện Tài Thiên,
dĩ diệu ngôn từ thí nhất thiết.
(經)諸天大眾皆來集,咸同一心伸讚請,唯願智慧辯才天,以妙言辭施一切。
(Kinh: Đại
chúng chư thiên đều nhóm đến, đều cùng nhất
tâm tán thán, thỉnh. Kính mong trí huệ Biện Tài Thiên, dùng
diệu ngôn từ thí hết thảy).
Kế
đó, giăi bày lời thỉnh, có hai ư:
- Nửa
bài tụng đầu tiên giăi bày ư “[đại
chúng] cùng tán thán, thỉnh cầu”.
- Nửa
sau bài tụng, nguyện [Biện Tài Thiên Nữ] ban cho họ
điều cầu mong.
Xét
theo điều cầu mong trong bài tán thuộc phần sau,
[sẽ thấy] không chỉ [mong cầu] Từ Vô Ngại, nhưng
do để thuyết pháp lợi sanh th́ Từ Vô Ngại
thù thắng; cho nên đặc biệt giăi bày thỉnh cầu.
5.15.4.2.2.2. Thiên nữ dạy
pháp
5.15.4.2.2.2.1. Nói chú và tán
thán người thỉnh cầu
(Kinh) Nhĩ thời, Biện Tài Thiên Nữ tức
tiện thọ thỉnh, vị thuyết chú viết: “Đát điệt tha, mộ lệ, chỉ lệ,
a phạt đế, a phạt trá phạt để, hinh ngộ
lệ, danh cụ lệ, danh cụ la phạt để,
ương cụ sư mạt rị chỉ tam mạt
để. Tỳ tam mạt để, tỳ tam mạt
để ác cận rị, mạc cận rị, đát ra
chỉ, đát ra giả phạt để, chất chất
rị thất lư mật lư. Mạt nan địa đàm mạt
rị, chỉ bát ra noa tất rị duệ. Lô ca thệ sắt
sế. Lô ca thất lệ sắt da. Lô ca tất rị duệ,
tất đà bạt rị đế, tỳ ma mục
xí thâu chỉ chiết rị. A bát rị để hát đế.
A bát rị để hát đá bột địa. Nam mẫu
chỉ, nam mẫu chỉ, mạc ha đề tỵ, bát rị
để cận rị hôn noa. Nam ma tắc ca ra. Ngă mỗ
giáp bột địa đạt rị xa hế.
Bột địa a bát lạt để hát đá. Bà bạt
đổ, thị bà mế tỳ thâu điệt đổ,
xá tất đát ra thâu lộ ca, mạn đát ra tất đắc
ca. Ca tỳ da địa
số. Đát điệt tha: Mạc ha bát lạt bà tỵ.
Hế lư mật
lư, hế
mật lư. Tỳ chiết lạt đổ mế bột
địa. Ngă mỗ giáp bột địa thâu đề,
bạc già phạt điểm đề tỳ diễm, tát
la toan điểm. Yết ra trệ kê do lệ. Kê do la mạt
để. Hế lư mật lư, hế lư mật lư. A bà ha da
mi. Mạc ha đề tỵ, bột đà tát đế
na, đạt ma tát đế na, tăng già tát đế na.
Nhân đạt ra tát đế na. Bạt lâu noa tát đế
na. Duệ lô kê tát để bà địa na. Đê sám tát
đế na. Tát để phạt giả nê na, a bà ha da mi.
Mạc ha đề tỵ. Hế lư mật lư, hế lư mật
lư. Tỳ chiết lạt đổ ngă mỗ giáp bột
địa. Nam-mô bạc già phạt để, mạc ha
đề tỵ tát ra toan để. Tất điện
đổ, mạn đát ra, bát đà di, sa ha”. Nhĩ thời, Biện
Tài Thiên Nữ thuyết thị chú dĩ, cáo Bà-la-môn ngôn: -
Thiện tai đại sĩ! Năng vị chúng sanh cầu
diệu biện tài, cập chư trân bảo, thần thông,
trí huệ, quảng lợi nhất thiết, tốc chứng
Bồ Đề.
(經)爾時辯才天女即便受請,為說呪曰:怛姪他。慕囇。只囇。阿伐帝。阿伐吒伐底。馨遇隷。名具隷。名具羅伐底。鴦具師末唎只三末底。毘三末底。毘三末底惡近唎。莫近唎。怛囉只。怛囉者伐底。質質哩室里蜜里。末難地曇末唎。只八囉拏畢唎裔。盧迦逝瑟跇。盧迦失囇瑟耶。盧迦畢唎裔。悉馱跋唎帝。毘麼目企輸只折唎。阿鉢唎底喝帝。阿鉢唎底喝哆勃地。南母只。南母只。莫訶提鼻。鉢唎底近唎昏拏。南摩塞迦囉。我某甲勃地達哩奢呬。勃地阿鉢喇底喝哆。婆跋覩。市婆謎毘輸姪覩。舍悉怛囉輸路迦。曼怛囉畢棏迦。迦婢耶地數。怛姪他。莫訶鉢喇婆鼻。呬里蜜里。呬蜜里。毘折喇覩謎勃地。我某甲勃地輸提。薄伽伐點提毘焰。薩羅酸點。羯囉滯雞由囇。雞由羅末底。呬里蜜里。呬里蜜里。阿婆訶耶弭。莫訶提鼻。勃陀薩帝娜。達摩薩帝娜。僧伽薩帝娜。因達囉薩帝娜。跋嘍拏薩帝娜。裔盧雞薩底婆地娜。羝釤薩帝娜。薩底伐者泥娜。阿婆訶耶弭。莫訶提鼻。呬里蜜里。呬里蜜里。毘折喇覩。我某甲勃地。南謨薄伽伐底。莫訶提鼻薩囉酸底。悉甸覩。曼怛囉。鉢陀彌。莎訶。爾時辯才天女說是呪已,告婆羅門言:善哉大士!能為眾生求妙辯才及諸珍寶神通智慧,廣利一切速證菩提。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Biện Tài Thiên Nữ liền nhận lời
thỉnh, mà nói chú rằng: “Đát điệt tha: Mộ lệ,
chỉ lệ, a phạt đế, a phạt trá phạt
để, hinh ngộ lệ, danh cụ lệ, danh cụ
la phạt để, ương cụ sư mạt rị
chỉ tam mạt để. Tỳ tam mạt để, tỳ
tam mạt để ác cận rị, mạc cận rị,
đát ra
chỉ, đát ra giả phạt để, chất chất
rị thất lư mật lư. Mạt nan địa đàm mạt
rị chỉ bát ra noa tất rị duệ. Lô ca thệ sắt
sế. Lô ca thất lệ sắt da. Lô ca tất rị duệ,
tất đà bạt rị đế, tỳ ma mục
xí thâu chỉ chiết rị. A bát rị để hát đế.
A bát rị để hát đá bột địa. Nam mẫu
chỉ, nam mẫu chỉ, mạc ha đề tỵ, bát rị
để, cận rị hôn noa. Nam ma tắc ca ra. Con tên là… bột
địa đạt rị xa hế.
Bột địa a bát lạt để hát đá. Bà bạt
đổ, thị bà mế tỳ thâu điệt đổ,
xá tất đát ra thâu lộ ca, mạn đát ra tất đắc
ca. Ca tỳ da địa số. Đát
điệt tha: Mạc ha bát lạt bà tỵ. Hế lư mật
lư, hế mật lư. Tỳ chiết lạt đổ mế
bột địa. Con tên là… bột
địa thâu đề, bạc già phạt điểm
đề tỳ diễm tát la toan điểm. Yết ra trệ
kê do lệ. Kê do la mạt để. Hế lư mật lư, hế
lư mật lư. A bà ha da mi. Mạc ha đề tỵ, bột
đà tát đế na, đạt ma tát đế na, tăng
già tát đế na. Nhân đạt ra tát đế na. Bạt
lâu noa tát đế na. Duệ lô kê tát để bà địa
na. Đê sám tát đế na. Tát để phạt giả nê
na, a bà ha da mi. Mạc ha đề tỵ. Hế lư mật
lư, hế lư mật lư. Tỳ chiết lạt đổ con tên là… bột
địa. Nam-mô bạc già phạt để, mạc ha
đề tỵ tát ra toan để. Tất điện
đổ, mạn đát ra, bát đà di, sa ha”. Lúc bấy giờ,
Biện Tài Thiên Nữ nói chú ấy xong, bảo Bà-la-môn rằng:
- Lành thay đại sĩ! Ông có
thể v́ chúng sanh cầu biện tài mầu nhiệm, và các
trân bảo, thần thông, trí huệ, rộng lợi ích hết
thảy, mau chứng Bồ Đề).
Kế
đó, thiên nữ dạy pháp, có ba phần:
- Một,
nói chú.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Biện Tài” (lúc bấy giờ,
Biện Tài) trở đi là tán thán người thỉnh cầu.
-
Ba, từ “tức thuyết tụng viết” (liền
nói kệ tụng rằng) dạy cách tu tập.
Hỏi:
Thỉnh cầu trong phần trước th́ chỉ cầu
biện tài, cớ sao thiên nữ tán thán thần thông và các
pháp khác?
Đáp:
Có hai cách hiểu. Một cách hiểu là như đă giải
thích chuyện cầu biện tài nơi nguyện huệ
trong phần trước. Một cách giải thích khác là: Tuy
chỉ cầu biện tài, nhưng do biện tài mà đạt
được các pháp khác. [Thiên nữ] tán thán chung nhân và quả.
Cách giải thích trước hay hơn!
5.15.4.2.2.2.2. Dạy cách
tu tập
(Kinh) “Như
thị ưng tri thọ tŕ pháp thức”.
Tức thuyết tụng viết: - Tiên khả tụng thử
Đà La Ni, linh sử thuần thục vô mậu thất.
(經)如是應知受持法式。即說頌曰:先可誦此陀羅尼,令使純熟無謬失。
(Kinh: “Hăy nên
biết thọ tŕ pháp thức như thế”. Liền nói bài tụng
rằng: - Trước
nên tụng Đà La Ni này, khiến cho thuần thục, không
sai sót).
Kế
đó, đoạn thứ ba là dạy cách tu tập, có hai phần:
- Một,
nêu bày [pháp tu].
-
Hai, từ “tức thuyết tụng” (liền nói bài tụng)
trở đi, dạy cách tu tập. Nói chung, [phần này] gồm
có mười chín bài tụng rưỡi, chia đại
lược thành tám tiểu đoạn. Nửa bài tụng
đầu tiên nhằm dạy tụng chú.
(Kinh) Quy kính Tam Bảo, chư thiên chúng, thỉnh
cầu gia hộ nguyện tùy tâm. Lễ kính chư Phật,
cập Pháp Bảo, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn
chúng. Thứ lễ Phạm vương tịnh Đế
Thích, cập hộ thế giả tứ thiên vương.
Nhất thiết thường tu phạm hạnh nhân, tất
khả chí thành ân trọng kính.
(經)歸敬三寶諸天眾,請求加護願隨心,禮敬諸佛及法寶,菩薩獨覺聲聞眾,次禮梵王并帝釋,及護世者四天王,一切常修梵行人,悉可至誠慇重敬。
(Kinh: Quy kính Tam
Bảo, các vị trời. Thỉnh cầu gia hộ, nguyện
toại ḷng. Lễ kính chư Phật và Pháp Bảo, Bồ
Tát, Độc Giác, các Thanh Văn. Rồi lễ Phạm
vương và Đế Thích, cùng bậc hộ thế bốn
thiên vương. Hết thảy người thường
tu phạm hạnh, đều nên chí thành, rất trân trọng).
Kế
đó, tiểu đoạn thứ hai gồm hai bài tụng
kế đó, dạy hăy quy kính, cầu thủ hộ, chia
làm ba ư:
- Nửa
đầu bài tụng là nêu ra [sự quy kính].
-
Bài tụng kế đó, mỗi câu nói về một đối
tượng để quy kính.
-
Câu cuối cùng là kết lại.
(Kinh)
Khả ư tịch tĩnh lan nhă xứ, đại thanh tụng
tiền chú tán pháp, ưng tại Phật tượng, thiên
long tiền, tùy kỳ sở hữu tu cúng dường.
(經)可於寂靜蘭若處,大聲誦前呪讚法,應在佛像天龍前,隨其所有修供養。
(Kinh:
Hăy ở chỗ lan nhă tịch tĩnh, lớn tiếng tụng
pháp chú tán đó. Nên đối trước tượng Phật,
trời, rồng, tùy ḿnh có ǵ đều cúng dường).
Tiểu
đoạn thứ ba, gồm một bài tụng, dạy
đại lược cách tác pháp. Trong ấy, có bốn ư:
- Một
câu nói về chỗ để tác pháp.
-
Câu kế đó dạy tụng thần
chú và tán. “Tán” tức là phần tán thỉnh trong phần
trước.
-
Câu kế đó dạy về chỗ ngồi [để
hành tŕ pháp này].
-
Câu cuối cùng dạy cúng dường.
(Kinh)
Ư bỉ nhất thiết chúng sanh loại, phát khởi từ
bi ai mẫn tâm.
(經)於彼一切眾生類,發起慈悲哀愍心。
(Kinh:
Trong hết thảy loài chúng sanh ấy, phát khởi tâm từ
bi, thương xót).
Tiểu
đoạn thứ tư, gồm nửa bài tụng, dạy
phát khởi tâm từ bi.
(Kinh)
Thế Tôn diệu tướng tử kim thân, hệ tưởng
chánh niệm, tâm vô loạn. Thế Tôn hộ niệm thuyết
giáo pháp, tùy bỉ căn cơ linh tập định. Ư
kỳ cú nghĩa thiện tư duy, phục y Không tánh nhi tu
tập. Ưng tại Thế Tôn h́nh tượng tiền,
nhất tâm chánh niệm nhi an tọa, tức đắc diệu
trí tam-ma-địa, tịnh
hoạch tối thắng Đà La Ni.
(經)世尊妙相紫金身,繫想正念心無亂,世尊護念說教法,隨彼根機令習定。於其句義善思惟,復依空性而修習,應在世尊形像前,一心正念而安坐,即得妙智三摩地,并獲最勝陀羅尼。
(Kinh:
Thân Thế Tôn diệu tướng tử kim, tưởng
chắc chánh niệm, tâm chẳng loạn. Thế Tôn hộ
niệm, nói giáo pháp,
tùy theo căn cơ dạy tu Định. Hăy khéo tư duy
câu nghĩa ấy, lại nương tánh Không để tu
tập. Nên đối trước h́nh tượng Thế
Tôn, nhất tâm chánh niệm mà an tọa, liền đắc
diệu trí tam-ma-địa, cũng đắc Đà La Ni tối
thắng).
Tiểu
đoạn thứ năm gồm sáu bài tụng rưỡi,
[nói về chuyện] nhờ vào cảnh mà an tâm để tu
điều ḿnh vốn
mong cầu. Trong ấy, có hai ư:
-
Hai bài tụng rưỡi đầu tiên là cầu Tổng
Tŕ của Phật.
- Bốn
bài tụng kế đó là cầu Tứ Biện Tài của
Phật, do là Phật quả.
Trong
phần “cầu Tổng Tŕ”, có bốn ư:
- Nửa
bài tụng đầu là quán Phật.
- Một
bài tụng kế đó nói về Tổng Tŕ: Nửa đầu
bài tụng nói về Pháp và Chú Nhẫn.
Nửa bài tụng kế đó nói về Nghĩa Đà La
Ni.
- Nửa
bài tụng nói về chỗ hành pháp và cách tu.
- Nửa
bài tụng nói về đắc quả.
Do
trí định là cái gốc của các đức, nếu đạt
được Tổng Tŕ, ắt sẽ thành tựu trí
định.
(Kinh)
Như Lai kim khẩu diễn thuyết pháp, diệu hưởng
điều phục chư nhân thiên, thiệt tướng
tùy duyên hiện hy hữu, quảng trường năng phú
tam thiên giới.
(經)如來金口演說法,妙響調伏諸人天,舌相隨緣現希有,廣長能覆三千界。
(Kinh: Miệng
vàng Như Lai diễn nói pháp, vang vọng điều phục
các trời, người. Tướng lưỡi tùy duyên hiện
hy hữu, rộng dài che khắp cơi tam thiên).
Kế
đó là bốn bài tụng nói về
cầu biện tài. Trong ấy lại có ba phần:
- Một
bài tụng biện định về “mong cầu biện
tài” và “công cụ của biện tài” (tức cái lưỡi).
-
Hai bài tụng kế đó dạy cầu hai điều ấy.
-
Bài tụng sau cùng là “điều mong cầu được
toại”. Đoạn này là ư thứ nhất. “Thuyết
pháp” chính là hai thứ Pháp Biện Tài và Nghĩa Biện
Tài. “Diệu hưởng” (âm vang mầu nhiệm) tức
là Từ Biện Tài. “Điều phục” chính là Nhạo
Thuyết Biện Tài. “Thiệt tướng” (tướng
lưỡi) tức là công cụ của biện tài.
(Kinh) Như thị chư Phật diệu âm
thanh, chí thành ức niệm, tâm vô úy. Chư Phật giai do
phát hoằng nguyện, đắc thử thiệt tướng
bất tư nghị, tuyên thuyết chư pháp giai phi hữu.
Thí như hư không vô sở trước. Chư Phật âm
thanh cập thiệt tướng, hệ niệm tư
lượng nguyện viên măn.
(經)如是諸佛妙音聲,至誠憶念心無畏,諸佛皆由發弘願,得此舌相不思議,宣說諸法皆非有,譬如虛空無所著,諸佛音聲及舌相,繫念思量願圓滿。
(Kinh: Chư Phật
diệu âm thanh như thế, chí thành nghĩ nhớ, tâm vô
úy, chư Phật đều do phát hoằng nguyện,
được tướng lưỡi ấy chẳng
nghĩ bàn. Tuyên nói các pháp đều phi hữu, ví như
hư không chẳng dính mắc. Âm thanh và tướng lưỡi
chư Phật, hệ niệm suy lường, nguyện
viên măn).
Kế
đó, dạy cầu hai thứ ấy. Nửa đầu
bài tụng là cầu Từ Vô Ngại Biện, nửa bài tụng
kế đó là cầu công cụ của biện tài. Nửa
bài tụng kế đó là cầu ba món biện tài kia. Nửa
bài tụng c̣n lại nhằm kết luận:
Do nguyện mà đạt được!
(Kinh)
Nhược kiến cúng dường Biện Tài Thiên, hoặc
kiến đệ tử tùy sư giáo, thọ thử bí pháp
linh tu học, tôn trọng tùy tâm giai đắc thành.
(經)若見供養辯才天,或見弟子隨師教,授此祕法令修學,尊重隨心皆得成。
(Kinh: Nếu thấy
cúng dường Biện Tài Thiên, hoặc thấy đệ
tử vâng lời thầy, nhận pháp bí mật này tu học,
tôn trọng,
tùy tâm đều được thành).
Kế
đó là bài tụng nói về cái quả được toại
ḷng. Biện Tài thấy có thầy tṛ tu hành, ắt sẽ
trao truyền pháp, khiến cho họ tu tập, nhất
định sẽ được toại ư.
(Kinh) Nhược nhân dục đắc tối
thượng trí, ưng đương nhất tâm tŕ thử
pháp, tăng trưởng phước trí chư công đức,
tất định thành tựu, vật sanh nghi. Nhược
cầu tài giả, đắc đa tài. Cầu danh xưng
giả, hoạch danh xưng. Cầu xuất ly giả,
đắc giải thoát.
Tất định thành tựu, vật sanh nghi. Vô lượng
vô biên chư công đức, tùy kỳ nội tâm chi sở
nguyện. Nhược năng như thị y hành giả, tất
đắc thành tựu vật sanh nghi.
(經)若人欲得最上智,應當一心持此法,增長福智諸功德,必定成就勿生疑。若求財者得多財,求名稱者獲名稱,求出離者得解脫,必定成就勿生疑。無量無邊諸功德,隨其內心之所願,若能如是依行者,必得成就勿生疑。
(Kinh: Nếu ai
muốn đắc trí tối thượng, hăy nên nhất
tâm tŕ pháp này, tăng trưởng các công đức phước
trí. Chắc chắn thành tựu, chớ sanh nghi. Kẻ cầu
tài vật, nhiều tài vật. Kẻ cầu tiếng
tăm, có tiếng tăm. Người cầu thoát ĺa,
được giải thoát.
Nhất định thành tựu, đừng sanh nghi. Vô
lượng vô biên các công đức, thuận theo điều
mong nguyện trong tâm. Nếu hay hành theo đúng như thế,
ắt được thành tựu, chớ sanh nghi).
Tiểu
đoạn thứ sáu gồm ba bài tụng nói riêng về sở
cầu, có ba ư:
- Một
bài tụng nói về cầu trí và phước.
-
Bài tụng kế đó, nói về cầu [sự việc] thế
gian và xuất thế gian.
-
Bài tụng cuối cùng là theo lệ cầu cho hết thảy.
(Kinh)
Đương ư tịnh xứ, trước tịnh y.
Ưng tác đàn tràng tùy đại tiểu. Dĩ tứ tịnh
b́nh thịnh mỹ vị, hương hoa cúng dường
khả tùy thời, huyền chư tăng thái, tịnh tràng
phan, đồ hương, mạt hương biến
nghiêm sức, cúng dường Phật cập Biện Tài
Thiên, cầu kiến thiên thân giai toại nguyện.
(經)當於淨處著淨衣,應作壇場隨大小,以四淨瓶盛美味,香華供養可隨時,懸諸繒綵并旛蓋,塗香抹香遍嚴飾,供養佛及辯才天,求見天身皆遂願。
(Kinh: Ở
nơi thanh tịnh, mặc áo sạch, nên làm đàn tràng tùy
lớn, nhỏ. Dùng bốn b́nh sạch đựng vị
ngon, hương, hoa cúng dường tùy theo mùa.
Treo các lọng lụa và tràng phan, hương bôi,
hương bột, trang nghiêm khắp. Cúng dường Phật
và Biện Tài Thiên, cầu thấy thân trời đều toại
nguyện).
Tiểu
đoạn thứ bảy gồm hai bài tụng nói cặn
kẽ cách thực
hiện.
(Kinh)
Ưng tam thất nhật tụng tiền chú, khả đối
Đại Biện Thiên, Phật tiền. Nhược kỳ
bất kiến thử thiên thần, ưng cánh dụng tâm
kinh cửu nhật. Ư hậu dạ trung do bất kiến,
cánh cầu thanh tịnh thắng diệu xứ. Như pháp
ưng họa Biện Tài Thiên, cúng dường, tụng tŕ,
tâm vô xả, trú dạ bất sanh ư giải đăi, tự
lợi, lợi tha vô cùng tận. Sở hoạch quả báo
thí quần sanh, ư sở cầu nguyện giai thành tựu.
Nhược bất toại ư, kinh tam nguyệt, lục nguyệt,
cửu nguyệt, hoặc nhất niên. Ân cần cầu thỉnh
tâm bất di, Thiên Nhăn, Tha Tâm giai tất đắc.
(經)應三七日誦前呪,可對大辯天佛前。若其不見此天神,應更用心經九日。於後夜中猶不見,更求清淨勝妙處,如法應畫辯才天,供養誦持心無捨,晝夜不生於懈怠,自利利他無窮盡,所獲果報施群生,於所求願皆成就。若不遂意經三月,六月九月或一年,慇懃求請心不移,天眼他心皆悉得。
(Kinh: Nên hăm
mốt ngày tụng chú trên, đối trước Đại
Biện Thiên hay Phật. Nếu chẳng thấy vị thiên
thần ấy, hăy nên dụng tâm trải chín ngày. Vào lúc cuối
đêm vẫn chẳng thấy, bèn cầu chỗ thanh tịnh
thắng diệu. Đúng pháp nên vẽ tượng Biện
Tài. Cúng dường, tụng tŕ, tâm chẳng xả. Ngày
đêm chẳng sanh tâm giải đăi. Tự lợi, lợi
tha vô cùng tận. Quả báo đạt được thí quần
sanh, mọi điều cầu nguyện đều thành tựu.
Nếu chẳng toại ư, trải ba tháng, sáu tháng, chín tháng,
hoặc một năm. Ân cần cầu thỉnh, tâm chẳng
dời, Thiên Nhăn, Tha Tâm đều đạt được).
Tiểu
đoạn thứ tám là dạy “thời hạn để
cầu”, có ba phẩm loại riêng biệt:
-
Bài tụng thứ nhất là thượng phẩm cầu.
-
Hai bài tụng kế đó là trung phẩm cầu.
-
Bài tụng cuối cùng là hạ phẩm cầu.
Hoặc
do căn tánh có thượng, trung, hạ, hoặc do chướng
nặng hay nhẹ, hoặc do túc trí nhiều hay ít [mà thời hạn cầu được
ứng nghiệm sẽ khác nhau].
5.15.4.2.2.3. Kiều Trần
Như nghe pháp, hoan hỷ tán thán
5.15.4.2.2.3.1. Nêu ra ư muốn
tán thán
(Kinh) Nhĩ thời, Kiều Trần Như
Bà-la-môn văn thị thuyết dĩ, hoan hỷ, dũng
dược, thán vị tằng hữu, cáo chư đại
chúng, tác như thị ngôn: - Nhữ đẳng nhân thiên nhất
thiết đại chúng, như thị đương tri,
giai nhất tâm thính, ngă kim cánh dục y Thế Đế
pháp, tán bỉ thắng diệu Biện Tài Thiên Nữ.
(經)爾時憍陳如婆羅門聞是說已,歡喜踊躍歎未曾有,告諸大眾,作如是言:汝等人天一切大眾如是當知,皆一心聽,我今更欲依世諦法讚彼勝妙辯才天女。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Bà-la-môn Kiều Trần Như nghe nói như thế
xong, hoan hỷ, hớn hở, tán thán “chưa từng có”, bảo
các đại chúng, nói như thế này: - Hết thảy
đại chúng trời, người các vị, hăy nên biết
như thế, đều nên nhất tâm nghe, tôi nay lại
muốn dựa theo pháp Thế Đế để
tán thán Biện Tài Thiên Nữ thù thắng mầu nhiệm).
Kế
đó, phần thứ ba là “Kiều Trần Như nghe pháp
hoan hỷ, tán thán”. Chia đại lược thành bốn
đoạn:
- Một,
nêu ra ư muốn tán thán.
-
Hai, từ “tức thuyết tụng” (liền nói kệ
tụng rằng) trở đi là tán thán.
-
Ba, từ “nhược dục kỳ thỉnh” (nếu
muốn cầu thỉnh) trở đi là kết lại,
khuyên tu.
- Bốn,
từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc bấy giờ,
đức Phật bảo) trở đi, đức Thế
Tôn tán thành.
Trong
phần thứ nhất, gồm có ba ư:
- Một,
nghe pháp tâm hoan hỷ.
-
Hai, từ “cáo đại chúng” (bảo đại
chúng) trở đi, bảo đại chúng hăy
nghe.
-
Ba, từ “ngă kim” (ta nay) trở đi, trần thuật
ư muốn tán thán.
Thắng
nghĩa dứt bặt nói năng, [nay muốn dùng ngôn từ
để phô
bày], nên nói là “y Tục” (nương theo thế tục).
5.15.4.2.2.3.2. Tán thán
5.15.4.2.2.3.2.1. Nêu bày
đối tượng được tán thán
(Kinh) Tức thuyết tụng viết: - Kính
lễ thiên nữ Na La Diên, ư thế giới trung đắc
tự tại, ngă kim tán thán bỉ tôn giả, giai như văng
tích tiên nhân thuyết.
(經)即說頌曰:敬禮天女那羅延,於世界中得自在,我今讚歎彼尊者,皆如往昔仙人說。
(Kinh:
Liền nói bài tụng rằng: - Kính lễ thiên nữ Na La
Diên, ở trong thế giới được tự tại,
tôi nay tán thán tôn giả ấy,
đều như tiên nhân xưa đă nói).
Kế
đó là phần tán thán, gồm hai phần:
- Một
là dùng kệ tụng tán thán.
-
Hai là tán thán thần chú.
Phần
thứ nhất gồm hai mươi hai bài tụng, chia
đại lược thành ba đoạn nhỏ:
-
Bài tụng đầu tiên nêu bày [đối tượng
được tán thán].
-
Hai mươi bài tụng kế đó là phần chánh thức
tán thán.
-
Bài tụng cuối cùng là quy mạng, lễ bái.
Bài tụng này thuộc đoạn
đầu tiên.
5.15.4.2.2.3.2.2. Chánh thức
tán thán
5.15.4.2.2.3.2.2.1. Tán thán
chung nội ngoại đức
5.15.4.2.2.3.2.2.1.1. Tán thán
nội đức
(Kinh)
Cát tường thành tựu tâm an ổn, thông minh, tàm quư, hữu
danh văn, vi mẫu năng sanh ư thế gian, dũng
mănh, thường hành đại tinh tấn.
(經)吉祥成就心安穩,聰明慚愧有名聞,為母能生於世間,勇猛常行大精進。
(Kinh:
Cát tường thành tựu, tâm an ổn, thông minh, hổ thẹn,
tiếng tăm rền, làm mẹ sanh trưởng cả thế
gian, dũng mănh, thường hành đại tinh tấn).
Kế
đó là phần tán thán, chia thành hai phần:
- Phần
thứ nhất gồm ba bài tụng, tán thán chung nội ngoại
đức.
-
Mười bảy bài tụng kế đó tán thán riêng nội
đức.
Phần
thứ nhất lại gồm ba đoạn:
-
Bài tụng thứ nhất ca tụng nội đức.
- Một
bài tụng rưỡi kế tiếp ca tụng ngoại
đức.
- Nửa
bài tụng sau cùng là tổng kết.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất (ca tụng nội đức),
gồm bốn ư:
-
Câu thứ nhất, tán dương [thiên nữ] tâm an, cát
tường.
-
Câu kế tiếp tán dương phẩm đức “thông huệ,
thanh danh vang dội”.
-
Câu kế tiếp tán thán phẩm đức “trưởng
dưỡng hữu t́nh”.
-
Câu kế tiếp, tán thán phẩm đức “thường
siêng năng, chẳng mệt mỏi”.
5.15.4.2.2.3.2.2.1.2. Tán thán
ngoại đức
(Kinh)
Ư quân trận xứ, chiến hằng thắng,
trưởng dưỡng điều phục tâm từ nhẫn,
hiện vi Diêm La chi trưởng tỷ, thường
trước thanh sắc dă tàm y, hảo xú dung nghi giai cụ
hữu, nhăn mục năng linh kiến giả bố.
(經)於軍陣處戰恒勝,長養調伏心慈忍,現為閻羅之長姊,常著青色野蠶衣,好醜容儀皆具有,眼目能令見者怖。
(Kinh: Trong chốn
quân trận luôn chiến thắng, trưởng dưỡng,
điều phục tâm từ nhẫn, hiện làm chị lớn vua
Diêm La, thường mặc áo tằm hoang sắc xanh, dung
nhan xấu đẹp đều trọn đủ, ánh mắt
khiến kẻ thấy kinh sợ).
Kế
đó, tán thán ngoại đức, gồm ba ư:
- Một,
nửa đầu bài tụng ca ngợi phẩm đức
“chiến thắng, hàng phục oán địch”.
-
Hai, nửa bài tụng kế đó, tán thán phẩm đức
“tùy theo từng loài mà thọ sanh”.
-
Ba, nửa bài tụng ca ngợi phẩm đức “trọn
đủ các h́nh tướng”.
5.15.4.2.2.3.2.2.1.3. Tổng
kết
(Kinh)
Vô lượng thắng hạnh siêu thế gian, quy tín chi
nhân hàm nhiếp thọ.
(經)無量勝行超世間,歸信之人咸攝受。
(Kinh:
Vô lượng thắng hạnh siêu thế gian, người
quy tín đều được nhiếp thọ).
Kế
đó là lời tổng kết.
5.15.4.2.2.3.2.2.2. Biệt
tán nội ngoại đức
5.15.4.2.2.3.2.2.2.1. Tán thán
ngoại đức
(Kinh)
Hoặc tại sơn nham thâm hiểm xứ, hoặc cư
khảm quật cập hà biên, hoặc tại đại thụ
chư tùng lâm, thiên nữ đa y thử trung trụ. Giả
sử sơn lâm dă nhân bối, diệc thường cúng
dường ư thiên nữ, dĩ khổng tước
vũ tác tràng kỳ. Ư nhất thiết thời thường
hộ thế, sư tử, hổ, lang hằng vi nhiễu.
Ngưu, dương, kê đẳng diệc tương y. Chấn
đại linh đạc xuất âm thanh, Tần Đà
sơn chúng giai văn hưởng. Hoặc chấp tam kích,
đầu viên kế, tả hữu hằng tŕ nhật nguyệt
kỳ. Hắc nguyệt cửu nhật, thập nhất nhật,
ư thử thời trung đương cúng dường,
hoặc hiện Bà Tô đại thiên muội, kiến hữu
đấu chiến tâm thường mẫn.
(經)或在山巖深險處,或居坎窟及河邊,或在大樹諸叢林,天女多依此中住。假使山林野人輩,亦常供養於天女,以孔雀羽作幢旗,於一切時常護世,師子虎狼恒圍繞,牛羊雞等亦相依。振大鈴鐸出音聲,頻陀山眾皆聞響,或執三戟頭圓髻,左右恒持日月旗。黑月九日十一日,於此時中當供養,或現婆蘇大天妹,見有鬪戰心常愍。
(Kinh: Hoặc tại
gộp núi, chỗ sâu hiểm, hoặc nơi hang hốc, cạnh
bên sông. Hoặc ngự cây to, nơi rừng rậm. Thiên nữ
phần nhiều ngự nơi đó. Như kẻ hoang dại
chốn núi rừng, cũng thường xuyên cúng dường
thiên nữ. Dùng lông chim công làm tràng, cờ, trong hết thảy
thời thường hộ thế. Sư tử, cọp,
sói luôn vây quanh. Trâu, dê, gà qué cũng nương cậy. Rung
chuông khánh lớn vang ra tiếng, người núi Tần
Đà[16]
đều nghe thấy. Cầm kích ba nhánh, tóc búi tṛn, đôi bên
luôn cầm cờ nhật nguyệt. Mồng Chín, Mười
Một trong hắc nguyệt, hăy nên cúng dường vào lúc
đó. Hoặc hiện làm em Bà Tô thiên[17],
thấy có chiến đấu thường thường
thương xót).
Kế
đó, tán thán riêng nội ngoại đức, có hai phần:
- Bốn
bài tụng đầu tiên tán thán ngoại đức.
-
Mười hai bài tụng sau đó tán thán nội đức.
Phần
thứ nhất có ba ư:
- Một
bài tụng rưỡi đầu tiên nói về trụ xứ
và cúng dường.
-
Hai bài tụng kế tiếp nói loài cầm thú chầu hầu.
-
Bài tụng sau cùng thuận tiện
nói về lúc [hành nhân nên] cúng dường thiên nữ
và biện định Ngài có h́nh tướng không nhất
định.
5.15.4.2.2.3.2.2.2.2. Tán thán
nội đức
(Kinh)
Quán sát nhất thiết hữu t́nh trung, thiên nữ tối
thắng vô quá giả.
(經)觀察一切有情中,天女最勝無過者。
(Kinh:
Quan sát trong hết thảy hữu t́nh, thiên nữ tối thắng,
chẳng ai hơn).
Kế
đó, tán thán nội đức, có hai phần:
-
Mười bài tụng rưỡi đầu tiên tán thán phẩm
đức “trí huệ tôn quư, thù thắng”.
-
Hai bài tụng kế đó tán thán phẩm đức đại
bi cứu khổ.
Trong
phần thứ nhất có ba ư:
- Nửa
bài tụng đầu tiên nêu ra sự thù thắng.
-
Chín bài tụng kế đó tán thán riêng biệt.
-
Bài tụng cuối cùng kết lại sự thù thắng.
Đoạn
này thuộc ư đầu tiên.
(Kinh) Quyền hiện mục ngưu hoan hỷ
nữ, dữ thiên chiến thời thường đắc
thắng, năng cửu an trụ ư thế gian, diệc
vi ḥa nhẫn cập bạo ác, đại Bà-la-môn tứ
minh pháp, biến huyễn chú đẳng tất giai thông.
(經)權現牧牛歡喜女,與天戰時常得勝,能久安住於世間,亦為和忍及暴惡,大婆羅門四明法,幻化呪等悉皆通。
(Kinh:
Quyền hiện gái chăn trâu vui vẻ, cùng trời chiến
đấu thường đắc thắng, an trụ lâu
dài trong thế gian, cũng thường ḥa nhẫn và bạo
ác, pháp Tứ Minh đại Bà-la-môn, biến huyễn chú thuật
thảy thông hiểu).
Phần Biệt Tán gồm mười một đoạn:
-
Một, hàng phục oán địch thù thắng.
-
Hai, từ “năng cửu an trụ” (có thể an trụ
lâu dài) trở đi, trụ thế thù thắng.
-
Ba, từ “đại Bà-la-môn” trở đi, kiến giải
thù thắng.
Pháp
Tứ Minh chính là bốn bộ Bệ Đà Luận (Vedas, Vệ Đà). Phiên âm
theo lối cũ là Vi Đà, hay Tỳ Già La Luận đều
là sai ngoa:
- Một
là Hiệt Lực Bệ Đà (Ṛgveda),
phương này dịch là Thọ Minh, giải thích các chuyện
về thọ mạng dài, ngắn.
-
Hai là Da Thụ Bệ Đà (Yajurveda), phương này dịch
là Từ Tự Minh, giải thích các chuyện cúng tế.
- Ba
là Sa Ma Bệ Đà (Sāmaveda),
phương này dịch là B́nh Minh, B́nh có nghĩa là “chẳng
phải sự”.
- Bốn
là A Đạt Bệ Đà (Atharvaveda),
phương này dịch là Thuật Minh, nói về các chuyện
thuộc kỹ thuật.
Kinh
này nói “biến huyễn chú đẳng giai thông đạt”
(các chú thuật biến huyễn v.v… đều thông đạt)
tức là [nói về] Đệ Tứ Minh (A Đạt Bệ
Đà).
(Kinh) Ư thiên tiên trung đắc tự tại,
năng vi chủng tử cập đại địa.
(經)於天仙中得自在,能為種子及大地。
(Kinh:
Trong các thiên tiên, được tự tại, làm chủng
tử trọn khắp đại địa).
Kế
đó, điều thứ tư là [Biện
Tài thiên nữ] thù thắng trong các vị
tiên. Câu “năng vi chủng tử” (có thể làm chủng
tử) nhằm giải thích nguyên do thù thắng.
(Kinh)
Chư thiên nữ đẳng tập hội thời,
như đại hải triều tất lai ứng.
(經)諸天女等集會時,如大海潮必來應。
(Kinh:
Khi các thiên nữ cùng
tụ hội, như sóng biển cả ắt đến ứng).
Kế
đó, điều thứ năm là giữ chữ tín thù thắng.
(Kinh)
Ư chư long, thần, Dược Xoa chúng, hoặc vi
thượng thủ năng điều phục.
(經)於諸龍神藥叉眾,或為上首能調伏。
(Kinh:
Trong các rồng, thần, chúng Dược Xoa, hoặc làm
thượng thủ hay điều phục).
Kế
đó, điều thứ sáu là điều phục thù thắng.
(Kinh)
Ư chư nữ trung tối phạm hạnh, xuất ngôn
do như thế gian chủ, ư vương vị xứ
như liên hoa, nhược tại hà tân dụ kiều phiệt.
(經)於諸女中最梵行,出言猶如世間主,於王位處如蓮華,若在河津喻橋栰。
(Kinh:
Phạm hạnh tột bậc trong nữ nhân, thốt lời
dường như chủ
thế gian, ngự trong
vương vị như hoa sen, ví như cầu, bè tại
bến sông).
Kế
đó, điều thứ bảy là phạm hạnh thù thắng,
có ba ư:
- Một,
ngôn từ chẳng siểm nịnh, hư vọng, dường
như các vị thế gian chủ.
-
Hai, chẳng nhiễm pháp thế gian như hoa sen.
-
Ba, thường hành cứu giúp chúng sanh như cầu, bè.
(Kinh)
Diện mạo do như thịnh măn nguyệt, cụ túc
đa văn tác y xứ, biện tài thắng xuất nhược
cao phong, niệm giả giai dữ vi châu chử.
(經)面貌猶如盛滿月,具足多聞作依處,辯才勝出若高峯,念者皆與為洲渚。
(Kinh: Diện mạo
dường như trăng tṛn đầy, đa văn trọn
đủ làm chỗ nương, biện tài siêu việt tựa
non cao, đều làm cồn bến cho người niệm).
Kế
đó, điều thứ tám là “làm chỗ nương cậy
thù thắng”, có ba ư:
- Một
là đoan nghiêm.
-
Hai là đa văn.
- Ba
là biện tài.
Trọn
đủ các đức làm chỗ nương cậy [cho
chúng sanh] thường như cồn bến.
(Kinh)
A Tô La đẳng chư thiên chúng, hàm cộng xưng thán kỳ
công đức, năi chí thiên nhăn Đế Thích Chủ, dĩ
ân trọng tâm nhi quan sát.
(經)阿蘇羅等諸天眾,咸共稱讚其功德,乃至千眼帝釋主,以慇重心而觀察。
(Kinh:
A Tô La thảy,
các thiên chúng, đều cùng ca ngợi công đức Ngài,
cho đến vua Đế Thích ngàn mắt, dùng tâm trân trọng
mà xem xét).
Kế
đó, điều thứ chín là tán thán thù thắng.
(Kinh)
Chúng sanh nhược hữu hy cầu sự, tất
năng linh bỉ tốc đắc thành, diệc linh thông
biện cụ văn tŕ, tŕ đại địa trung vi
đệ nhất. Ư thử thập phương thế
giới trung, như đại đăng minh thường
phổ chiếu, năi chí thần, quỷ, chư cầm thú,
hàm giai toại bỉ sở cầu tâm.
(經)眾生若有希求事,悉能令彼速得成,亦令聰辯具聞持,持大地中為第一。於此十方世界中,如大燈明常普照,乃至神鬼諸禽獸,咸皆遂彼所求心。
(Kinh:
Chúng sanh nếu có chuyện mong cầu, đều khiến
cho được chóng thành tựu, khiến thông minh, biện
tài, văn tŕ, hay tŕ bậc nhất trong cơi đất. Trong
khắp mười phương thế giới này, như
đèn sáng lớn thường chiếu trọn, cho đến
thần, quỷ, các cầm thú, thảy đều
được thỏa ḷng mong cầu).
Kế
đó, điều thứ mười là “toại nguyện
ḷng mong cầu thù thắng”, có ba ư:
- Nửa
đầu bài tụng là nêu ra [Thiên Nữ có thể thỏa
ḷng mong cầu của chúng sanh].
-
Bài tụng kế đó nhằm giải thích.
- Nửa
bài tụng c̣n lại là kết luận.
(Kinh)
Ư chư nữ trung nhược sơn phong, đồng
tích tiên nhân cửu trụ thế, như thiếu nữ
thiên thường ly dục, thật ngữ do như Đại
Thế
Vương,
phổ kiến thế gian sai biệt loại, năi chí Dục
Giới chư thiên cung, duy hữu thiên nữ độc
xưng tôn, bất kiến hữu t́nh năng thắng giả.
(經)於諸女中若山峯,同昔仙人久住世,如少女天常離欲,實語猶如大世王,普見世間差別類,乃至欲界諸天宮,唯有天女獨稱尊,不見有情能勝者。
(Kinh:
Như đỉnh núi trong các người nữ, giống
tiên nhân xưa trụ thế lâu, như thiếu nữ thiên
thường ĺa dục, thật ngữ khác nào Đại
Thế
Vương[18],
thấy trọn loài sai biệt trong đời, cho tới
các cung trời Dục Giới, chỉ riêng thiên nữ
xưng tôn quư, chẳng thấy hữu t́nh nào hơn
được).
Kế
đó, điều thứ mười một là phẩm
đức tôn quư thù thắng, có hai ư:
-
Bài tụng đầu tiên nói riêng về sự thù thắng.
-
Bài tụng sau đó, tổng kết sự thù thắng.
(Kinh)
Nhược ư chiến trận khủng bố xứ,
hoặc kiến đọa tại hỏa khanh trung, hà tân hiểm
nạn tặc đạo thời, tất năng linh bỉ
trừ bố úy. Hoặc bị vương pháp sở già
phược, hoặc vị oán thù hành sát hại, nhược
năng tuyên chú, tâm bất di, quyết định giải thoát
chư ưu khổ.
(經)若於戰陣恐怖處,或見墮在火坑中,河津險難賊盜時,悉能令彼除怖畏。或被王法所枷縛,或為怨讎行殺害,若能專注心不移,決定解脫諸憂苦。
(Kinh:
Nếu trong chiến trận, chỗ khủng bố, hoặc
thấy rơi vào hầm lửa đỏ, bến sông hiểm
nạn, gặp giặc cướp, đều khiến trừ
nỗi sợ hăi đó. Hoặc bị phép vua gông cùm trói, hoặc
bị oán thù toan giết hại, nếu hay đọc chú,
tâm chẳng dời, quyết định giải thoát các
ưu khổ).
Kế
đó, hai bài tụng tán thán phẩm đức thứ hai là
“đại bi cứu khổ” trong nội đức. Có hai
ư:
-
Trước là trần thuật riêng.
- Nửa
cuối bài tụng là kết lại.
5.15.4.2.2.3.2.3. Quy mạng
lễ bái
(Kinh) Ư thiện ác nhân giai ủng hộ,
từ bi mẫn niệm thường hiện tiền, thị
cố ngă dĩ chí thành tâm, khể thủ quy y đại
thiên nữ.
(經)於善惡人皆擁護,慈悲愍念常現前,是故我以至誠心,稽首歸依大天女。
(Kinh: Người
thiện, kẻ ác đều ủng hộ, từ bi
nghĩ thương, thường hiện tiền. V́ thế,
tôi dùng tâm chí thành, đảnh lễ quy y đại thiên nữ).
Kế
đó, tổng kết, quy mạng, lễ bái.
5.15.4.2.2.3.3. Kết lại
để khuyên tu
(Kinh) Nhĩ thời, Bà-la-môn phục dĩ
chú tán tán thiên nữ viết: - Kính lễ, kính lễ thế
gian tôn, ư chư mẫu trung tối vi thắng, tam chủng
thế gian hàm cúng dường, diện mạo dung nghi nhân
nhạo quán. Chủng chủng diệu đức dĩ
nghiêm thân. Mục như tu quảng thanh liên diệp. Phước
trí quang minh danh xưng măn. Thí như vô giá Mạt-ni châu. Ngă
kim tán thán tối thắng giả, tất năng thành biện
sở cầu tâm. Chân thật công đức diệu cát
tường. Thí như liên hoa cực thanh tịnh. Thân sắc
đoan nghiêm giai nhạo kiến, chúng tướng hy hữu
bất tư nghị, năng phóng vô cấu trí quang minh,
ư chư niệm trung vi tối thắng. Do như sư
tử thú trung thượng, thường dĩ bát tư tự
trang nghiêm, các tŕ cung, tiễn, đao, sóc, phủ, trường
xử, thiết luân, tịnh la sách. Đoan chánh nhạo quán
như măn nguyệt, ngôn từ vô trệ xuất ḥa âm.
Nhược hữu chúng sanh tâm nguyện cầu, thiện
sĩ tùy niệm linh viên măn. Đế Thích chư thiên hàm
cúng dường, giai cộng xưng thán khả quy y. Chúng
đức năng sanh bất tư nghị. Nhất thiết
thời trung khởi cung kính. Sa ha” (thử thượng chú.
Tụng thị chú, diệc thị tán. Nhược tŕ chú thời,
tất tu tụng chi).
(經)爾時婆羅門復以呪讚讚天女曰:敬禮敬禮世間尊,於諸母中最為勝,三種世間咸供養,面貌容儀人樂觀。種種妙德以嚴身,目如修廣青蓮葉,福智光明名稱滿,譬如無價末尼珠。我今讚歎最勝者,悉能成辦所求心,真實功德妙吉祥,譬如蓮華極清淨。身色端嚴皆樂見,眾相希有不思議,能放無垢智光明,於諸念中為最勝。猶如師子獸中上,常以八臂自莊嚴,各持弓箭刀矟斧,長杵鐵輪并羅索。端正樂觀如滿月,言詞無滯出和音,若有眾生心願求,善士隨念令圓滿。帝釋諸天咸供養,皆共稱讚可歸依,眾德能生不思議,一切時中起恭敬。莎訶(此上呪。頌是呪亦是讚,若持呪時必須誦之)。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn lại dùng chú tán thán thiên nữ rằng:
- Kính lễ đấng thế gian tôn trọng. Tối thắng
bậc nhất trong chư mẫu. Ba loại thế gian
đều cúng dường. Diện
mạo, dung nghi người ưa thấy. Các thứ diệu
đức trang nghiêm thân. Mắt như cánh sen xanh dài rộng.
Phước trí, quang minh, danh xưng vẹn. Ví như châu Mạt-ni
vô giá. Tôi nay tán thán bậc tối thắng, các điều
mong cầu đều thành tựu. Công đức chân thật,
diệu cát tường. Ví như hoa sen cực thanh tịnh.
Thân sắc đoan nghiêm đều ưa thấy. Các tướng
hiếm có chẳng nghĩ bàn. Tỏa ra trí quang minh vô cấu.
Ở trong các niệm là tối thắng. Ví như sư tử
vua các thú, thường dùng tám tay tự trang nghiêm, đều
cầm cung, tên, đao, giáo, búa, chày dài, bánh xe sắt, dây
trói. Đoan chánh ưa nh́n như trăng tṛn. Ngôn từ
lưu loát, tiếng ḥa nhă. Nếu có chúng sanh tâm nguyện cầu,
thiện sĩ tùy niệm khiến viên măn. Đế Thích,
chư thiên đều cúng dường, đều cùng ca ngợi
đáng quy y. Hay sanh các đức chẳng nghĩ bàn, trong hết
thảy thời khởi cung kính. Sa ha” (trên đây là chú. Tụng
bài chú này cũng là tán. Nếu lúc tŕ chú, cần phải tụng
[bài chú này]).
Kế
đó, lại dùng chú để tán thán. Văn tướng dễ
thấy.
(Kinh)
Nhược dục kỳ thỉnh Biện Tài Thiên, y thử
chú tán ngôn từ cú, thần triêu thanh tịnh chí thành tụng,
ư sở cầu sự tất tùy tâm.
(經)若欲祈請辯才天,依此呪讚言詞句,晨朝清淨至誠誦,於所求事悉隨心。
(Kinh:
Nếu muốn cầu thỉnh Biện Tài Thiên, vâng theo câu
chữ chú tán này, sáng sớm thanh tịnh chí thành tụng,
chuyện đă mong cầu đều thỏa ḷng).
Kế
đó là tiểu đoạn thứ ba trong phần “hoan hỷ
tán thán” là “kết lại, khuyên tu học”.
5.15.4.2.2.3.4. Đức
Thế Tôn tán thành
(Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Bà-la-môn: - Thiện
tai, thiện tai! Nhữ năng như thị lợi ích
chúng sanh, thí dữ an lạc, tán bỉ thiên nữ, thỉnh
cầu gia hộ, hoạch phước vô biên” (thử phẩm
chú pháp hữu lược, hữu quảng, hoặc khai, hoặc
hợp, tiền hậu bất đồng. Phạn bản
kư đa, đản y nhất dịch, hậu khám giả
tri chi).
(經)爾時佛告婆羅門:善哉善哉!汝能如是利益眾生施與安樂,讚彼天女請求加護,獲福無邊。(此品呪法有略有廣,或開或合前後不同。梵本既多,但依一譯,後勘者知之)。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bà-la-môn: - Lành
thay! Lành thay! Ông có thể lợi ích chúng sanh như thế,
ban cho an lạc, tán thán vị thiên nữ ấy, thỉnh cầu
gia hộ, đạt được phước vô biên”
(chú pháp trong phẩm này có rộng và lược, hoặc
tách ra, hoặc gộp vào, trước sau khác nhau. Bản tiếng
Phạn đă có nhiều bản, chỉ vâng theo một bản
dịch [để hành tŕ]. Sau đó, đối chiếu sẽ
biết).
Đoạn
thứ tư [trong phần hoan hỷ tán thán này] là đức
Thế Tôn tán thành.
5.15.4.2.2.4. Kiều Trần
Như thỉnh gia bị
5.15.4.2.2.4.1. Kết lại
phần trước để dẫn khởi phần sau
(Kinh) Nhĩ thời, Kiều Trần Như
Bà-la-môn thuyết thượng tán thán cập chú tán pháp, tán Biện Tài Thiên Nữ dĩ.
(經)爾時憍陳如婆羅門說上讚歎及呪讚法讚辨才天女已。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kiều Trần Như nói lời
tán thán và cách tán thán bằng chú để ca ngợi Biện Tài Thiên Nữ xong).
Phần
thứ tư là Kiều Trần Như dạy [hành nhân] cách
thỉnh cầu gia bị. Trong phần trước là cách
thỉnh cầu biện tài, phần này là khi thỉnh cầu
sẽ được gia bị khiến cho đạt
được [biện tài]. Phần này đại lược
chia thành bốn đoạn:
- Một,
kết phần trước để sanh khởi phần
sau.
-
Hai, từ “nam-mô” trở đi, dạy cách thỉnh gia
bị.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Biện Tài” (Lúc bấy giờ,
Biện Tài) trở đi, thiên nữ tán thán, khuyên tu hành.
- Bốn,
Kiều Trần Như hoan hỷ, cung kính nhận lănh.
Trong
phần thứ nhất, có hai tiểu đoạn. Phần
này nhằm kết
lại phần trước.
(Kinh)
Cáo chư đại chúng: - Nhân đẳng nhược dục
thỉnh Biện Tài Thiên Nữ ai mẫn, gia hộ, ư hiện
thế trung, đắc vô ngại biện, thông minh, đại
trí, xảo diệu ngôn từ, bác tổng kỳ tài luận
nghị, văn sức tùy ư, thành tựu bất nghi trệ
giả.
(經)告諸大眾:仁等若欲請辨才天女哀愍加護,於現世中得無礙辨、聰明大智巧妙言辭、博綜奇才論議文飾隨意成就無疑滯者。
(Kinh: Bảo
các đại chúng: - Các vị nhân giả, nếu muốn
thỉnh Biện Tài Thiên Nữ thương xót, gia hộ,
trong đời hiện tại đạt được
biện tài vô ngại, thông minh, đại trí, ngôn từ hay
khéo, thông thạo rộng khắp, luận nghị tài ba, lời
lẽ đẹp đẽ, tùy ư thành tựu, không ngờ vực,
vướng mắc).
Sanh
khởi phần sau, gồm ba ư:
- Một,
bảo ban đại chúng.
-
Hai, từ “nhân đẳng” (các vị nhân giả) trở
đi, nêu ra điều mong cầu.
-
Ba, từ “ưng đương” (hăy nên) trở
đi, sanh khởi ư khải thỉnh.
Trong
phần nêu ra các pháp mong cầu, trước hết là nêu
chung Tứ Biện Tài và trí. “Thông”
là có thể lănh nhận, “minh” là có thể ngộ. “Trí”
là có thể quyết đoán. Từ “xảo diệu”
trở đi, nêu riêng bốn món biện tài:
- “Xảo
diệu” là Từ Vô Ngại.
- “Bác
tổng” là Pháp Vô Ngại và Nghĩa Vô Ngại.
- “Luận
nghị văn sức” là Nhạo Thuyết Vô Ngại.
(Kinh)
Ưng đương như thị chí thành ân trọng, nhi
thỉnh triệu ngôn:
(經)應當如是至誠殷重而請召言:
(Kinh: Hăy nên chí
thành, trân trọng mà thỉnh vời như thế này).
Kế
đó là phần sanh khởi [thỉnh vời] như kinh
văn đă nói.
5.15.4.2.2.4.2. Dạy hành
nhân cách thỉnh cầu
gia bị
5.15.4.2.2.4.2.1. Thỉnh
Phật gia bị
5.15.4.2.2.4.2.1.1. Quy kính
Tam Bảo
(Kinh) Nam-mô Phật Đà dă, nam-mô Đạt
Ma dă, nam-mô Tăng Già dă, nam-mô chư Bồ Tát chúng, Độc
Giác, Thanh Văn, nhất thiết hiền thánh.
(經)南無佛陀也、南謨達摩也、南謨僧伽也。南謨諸菩薩眾、獨覺、聲聞一切賢聖。
(Kinh:
Nam-mô Phật Đà dă, nam-mô Đạt Ma dă, nam-mô Tăng Già
dă, nam-mô các vị Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, hết
thảy hiền thánh).
Kế
đó, dạy cách thỉnh cầu gia bị, có hai ư:
- Một,
thỉnh Phật gia bị, khiến cho đạt
được [biện tài].
-
Hai, từ “kính lễ chư Phật diệu biện tài”
trở đi, thỉnh các vị như Biện Tài Thiên v.v…
gia bị,
khiến cho [hành nhân] đạt
được [biện tài].
Trong
phần thứ nhất, lại có ba ư:
- Một,
quy kính Tam Bảo.
-
Hai, tán thán Phật ngữ v.v… để thỉnh cầu.
-
Ba, từ “kính lễ, kính lễ”
trở đi, thỉnh đức Thế Tôn gia bị khiến
cho
[hành nhân] đạt được [điều thỉnh
cầu].
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
5.15.4.2.2.4.2.1.2. Tán thán
Phật ngữ
(Kinh)
Quá khứ, hiện tại thập phương chư Phật,
tất giai dĩ tập chân thật chi ngữ, năng tùy
thuận thuyết đương cơ thật ngữ, vô
hư cuống ngữ, dĩ ư vô lượng câu-chi
đại kiếp thường thuyết thật ngữ,
hữu thật ngữ giả tất giai tùy hỷ.
(經)過去現在十方諸佛,悉皆已習真實之語,能隨順說當機實語、無虛誑語,已於無量俱胝大劫常說實語,有實語者悉皆隨喜。
(Kinh:
Quá khứ, hiện tại mười phương chư
Phật thảy đều tụ tập lời chân thật,
có thể tùy thuận mà nói lời chân thật với bậc
đương cơ, lời chẳng hư dối, do trong
vô lượng câu-chi đại kiếp thường nói lời
thật, đối với người nói lời thật
thảy đều tùy hỷ).
Kế
đó, tán thán lời Phật ngữ
v.v… để làm nguyên do thỉnh cầu. Trước hết
là tán thán thật ngữ, kế đó là tán thán công cụ
để nói (cái lưỡi), cuối cùng là tán thán lợi
ích. Phần “tán thán thật ngữ” lại có ba ư:
- Một,
tán thán cái nhân.
-
Hai, từ “dĩ ư” (do trong) trở đi tán thán cái
quả.
-
Ba, từ “hữu thật ngữ giả” (có người
nói lời thật) trở đi, tán thán tùy hỷ, chỉ
rơ các đức Thế Tôn hoan hỷ vô lượng, chẳng
sanh ghen ghét. V́ thế, thỉnh
cầu gia bị.
(Kinh)
Dĩ bất vọng ngữ cố, xuất quảng
trường thiệt năng phú ư diện, phú Thiệm
Bộ châu, cập tứ thiên hạ, năng phú nhất
thiên, nhị thiên, tam thiên thế giới, phổ phú thập
phương thế giới, viên măn châu biến bất khả
tư nghị.
(經)以不妄語故,出廣長舌能覆於面,覆贍部洲及四天下,能覆一千二千三千世界,普覆十方世界,圓滿周遍不可思議。
(Kinh:
Do chẳng vọng ngữ, tướng lưỡi thè ra có
thể che kín mặt, che khắp châu Thiệm Bộ và tứ
thiên hạ, có thể che nhất thiên, nhị thiên, tam thiên
thế giới, viên măn trọn khắp chẳng thể
nghĩ bàn).
Kế
đó, tán thán công cụ để nói. Trước hết,
dùng chuyện chẳng vọng ngữ để tán thán cái
nhân. Từ “xuất quảng trường thiệt”
(hiện tướng lưỡi rộng dài) trở đi,
tán thán cái quả. Ư nói: Đức Phật dạy cầu thỉnh,
chắc chắn chẳng hư vọng. V́ thế, nay tôi cầu
thỉnh.
(Kinh)
Năng trừ nhất thiết phiền năo viêm nhiệt.
(經)能除一切煩惱炎熱。
(Kinh:
Có thể trừ hết thảy nóng
bức phiền năo).
Kế
đó, tán thán lợi ích. Do có thể lợi ích, cho nên thỉnh
cầu gia bị,
nguyện đạt được điều Phật đă
đạt. Do lễ Tam Bảo, cầu công cụ để
nói, cho nên nhắc lại sự kính lễ. Chuẩn theo những
điều thực hiện dưới đây, đều
nguyện cầu sẽ đạt được. Do Phật
là thù thắng, do là căn bản, nên riêng thỉnh cầu
Phật trước.
5.15.4.2.2.4.2.2. Thỉnh
các vị như Biện Tài Thiên gia bị
(Kinh)
Kính lễ kính lễ nhất thiết chư Phật, như
thị thiệt tướng nguyện ngă mỗ giáp giai
đắc thành tựu vi diệu biện tài, chí tâm quy mạng
kính lễ chư Phật diệu biện tài, chư đại
Bồ Tát diệu biện tài, Độc Giác thánh giả diệu
biện tài, tứ hướng tứ quả diệu biện
tài, tứ thánh đế ngữ diệu biện tài, chánh hạnh
chánh kiến diệu biện tài.
(經)敬禮敬禮一切諸佛,如是舌相願我某甲皆得成就微妙辨才,至心歸命敬禮諸佛妙辨才,諸大菩薩妙辨才,獨覺聖者妙辨才,四向四果妙辨才,四聖諦語妙辨才,正行正見妙辨才。
(Kinh:
Kính lễ, kính lễ hết thảy chư Phật, tướng
lưỡi như thế, nguyện con tên là… đều
được thành tựu biện tài vi diệu. Chí tâm quy
mạng, kính lễ diệu biện tài của chư Phật,
diệu biện tài của chư đại Bồ Tát, diệu
biện tài của bậc thánh nhân Độc Giác, diệu
biện tài của tứ hướng tứ quả, diệu
biện tài của tứ thánh đế ngữ, diệu biện
tài của chánh hạnh chánh kiến).
Kế
đó, thỉnh các vị như Biện Tài Thiên Nữ v.v…
gia bị khiến cho [hành nhân]
đạt được [biện tài]. Trong ấy có hai phần:
- Một,
lễ các đối tượng để cầu biện
tài.
-
Hai, từ “kính lễ vô khi” (kính lễ chẳng lừa
dối) trở đi, thỉnh gia bị khiến cho đạt
được.
Trong
phần thứ nhất, lễ các đối tượng
để cầu biện tài:
-
Hai chữ “kính lễ”
nhằm nêu ra sự lễ kính.
- Kế
đó, hai mươi hai loại biện tài từ “Thế
Tôn” trở đi là [các loại biện tài của các bậc
thánh nhân mà hành nhân kính] lễ để mong cầu.
-
Sau đó, từ “sở hữu thắng nghiệp” (tất
cả nghiệp thù thắng) trở đi, chính là thỉnh
những vị đă có thể thành tựu sẽ giúp cho tôi
được thành tựu.
Trong
sáu bài tụng, một bài tụng rưỡi nói về biện
tài của bậc thánh, những bài c̣n lại nói về biện
tài của các vị trời khác và thần tiên. Trong biện
tài của bậc thánh, bài tụng thứ nhất nói về
người có thể thành tựu. Nửa bài tụng kế
đó nói về các loại biện tài, nêu ra đại
lược ba loại để liên tưởng hết thảy
các pháp. Chánh hạnh gồm có sáu loại:
- Một
là tối thắng chánh hạnh.
-
Hai là tác ư.
- Ba
là tùy pháp (các pháp phụ thuộc, phụ trợ
cho chánh hạnh).
- Bốn
là ĺa nhị biên.
-
Năm là sai biệt.
-
Sáu là vô sai biệt.
Chánh
hạnh nương hành theo Lục Độ, mỗi Độ
đều có sáu chánh hạnh, như quyển ba của luận
Biện Trung Biên đă nói. Chánh kiến gồm mười một
điều, tức là đối với Khổ Đế,
quán như bệnh, như ung nhọt, như mũi tên,
như chướng, vô thường, khổ, không, vô ngă;
đó là tám kiến. Quán Tập là kết kiến, quán Diệt
là ly hệ kiến, quán Đạo là năng ly hệ kiến,
cộng thành mười một món kiến.
(Kinh)
Phạm chúng chư tiên diệu biện tài, Đại Thiên
Ô Ma diệu biện tài, Tắc Kiến Đà thiên diệu
biện tài, Ma Na Tư vương diệu biện tài, Thông
Minh Dạ thiên diệu biện tài, Tứ Đại Thiên
Vương diệu biện tài, Thiện Trụ thiên tử
diệu biện tài, Kim Cang Mật Chủ diệu biện
tài, Phệ Suất Nộ thiên diệu biện tài, Tỳ Ma
thiên nữ diệu biện tài, Thị Sổ thiên thần
diệu biện tài, Thất Rị thiên nữ diệu biện
tài, Thất Tắc Mạt Đa diệu biện tài, Hê Rị
ngôn từ diệu biện tài, chư mẫu đại mẫu
diệu biện tài, Ha Rị Để Mẫu diệu biện
tài, chư Dược Xoa thần diệu biện tài, thập
phương chư vương diệu biện tài.
(經)梵眾諸仙妙辨才,大天烏摩妙辨才,塞建陀天妙辨才,摩那斯王妙辨才,聰明夜天妙辨才,四大天王妙辨才,善住天子妙辨才,金剛密主妙辨才,吠率怒天妙辨才,毘摩天女妙辨才,侍數天神妙辨才,室唎天女妙辨才,室則末多妙辨才,醯哩言辭妙辨才,諸母大母妙辨才,訶哩底母妙辨才,諸藥叉神妙辨才,十方諸王妙辨才。
(Kinh:
Phạm chúng các tiên diệu biện tài, Đại Thiên Ô Ma
diệu biện tài, Tắc Kiến Đà thiên diệu biện
tài, Ma Na Tư vương diệu biện tài, Thông Minh Dạ
thiên diệu biện tài, Tứ Đại Thiên Vương
diệu biện tài, Thiện Trụ thiên tử diệu biện
tài, Kim Cang Mật Chủ diệu biện tài, Phệ Suất
Nộ thiên diệu biện tài, Tỳ Ma thiên nữ diệu
biện tài, Thị Sổ thiên thần diệu biện tài,
Thất Rị thiên nữ diệu biện tài, Thất Tắc
Mạt Đa (Śisumatā) diệu biện
tài, Hê Rị ngôn từ diệu biện tài, chư mẫu
đại mẫu diệu biện tài, Ha Rị Để Mẫu
diệu biện tài, các thần Dược Xoa diệu biện
tài, các vua mười phương diệu biện tài).
Kế
đó, [liệt kê] các vị khác. Phạm chúng tức tiên
nhân, do đă ĺa dục. Hoặc [có thể hiểu] là Phạm
Thiên và các tiên sai khác. Cách hiểu thứ nhất là đúng. “Đại
thiên Ô Ma” chính là con gái của Đại Tự Thiên tên là
Ô Ma (Umāpati).
Ô Ma được phương này dịch là Chỉ (ngăn trở).
Do cô này muốn gả chồng, cha cô là Đại Thiên
ngăn trở, chẳng chấp thuận. V́ thế, gọi
tên là Đại Thiên Chỉ. Tắc Kiến Đà (Skanda)
được phương này dịch là Uẩn.
Phương Tây (Ấn Độ) gọi ruột và vai là Uẩn,
tức là “tích chứa các vật”. Ma Na Tư
(Manavasti) phương này dịch là Từ Tâm. Phệ Suất
Nộ (Viṣṇu), phương này dịch là Đa Thủ (nhiều
tay), đó là tên gọi khác của Na La Diên Thiên. Tỳ được
phương này dịch là Chủng Chủng, Ma dịch là Nghiệp;
vị này chính là Tỳ Thủ Yết Ma Thiên (Vishvakarman)
trong cách dịch cũ. Thị Sổ
Thiên (Saṃkhyāyana), Thất Rị Thiên (Śrī-devi), phương này dịch là Cát Tường. Thất Rị
Mật Đa phương này dịch là Cát Tường Huệ.
Hê Lư (phương này chẳng phiên dịch). Ha Rị Để
(Hārītī, Quỷ Tử
Mẫu) được phương này dịch
là Thanh Sắc.
(Kinh)
Sở hữu thắng nghiệp tư trợ ngă, linh hành vô
cùng diệu biện tài.
(經)所有勝業資助我,令行無窮妙辨才。
(Kinh:
Tất cả thắng nghiệp giúp đỡ tôi, khiến
hành diệu biện tài vô cùng).
Kế
đó, thỉnh gia bị ḥng đạt được.
(Kinh)
Kính lễ vô khi cuống, kính lễ giải thoát giả,
kính lễ ly dục nhân, kính lễ xả triền cái, kính lễ
tâm thanh tịnh, kính lễ quang minh giả, kính lễ chân thật
ngữ, kính lễ vô trần tập, kính lễ trụ thắng
nghĩa, kính lễ đại chúng chủ.
(經)敬禮無欺誑,敬禮解脫者,敬禮離欲人,敬禮捨纏蓋,敬禮心清淨,敬禮光明者,敬禮真實語,敬禮無塵習,敬禮住勝義,敬禮大眾主。
(Kinh:
Kính lễ chẳng lừa dối, kính lễ bậc giải
thoát, kính lễ người ly dục, kính lễ bỏ triền
cái, kính lễ tâm thanh tịnh, kính lễ đấng quang
minh, kính lễ lời chân thật, kính lễ chân thật ngữ,
kính lễ vô trần tập[19],
kính lễ trụ thắng nghĩa, kính lễ đại
chúng chủ).
Hai
mươi lăm bài tụng kế đó, thỉnh gia bị
khiến cho [hành nhân] đạt được, chia đại
lược thành bảy đoạn:
-
Mười hai bài tụng đầu nhằm quy mạng, lễ
kính Bồ Tát, thỉnh gia bị khiến cho [hành nhân] đạt
được [biện tài].
- Một
bài tụng rưỡi kế đó thỉnh Thanh Văn gia
bị.
-
Hai bài tụng rưỡi kế đó thỉnh Sắc Giới
Thiên gia bị.
-
Hai bài tụng kế đó thỉnh Dục Thiên gia bị.
-
Năm bài tụng kế đó thỉnh [thiên long] bát bộ
gia bị.
- Một
bài tụng kế đó thỉnh các trời, người
khác gia bị.
-
Bài tụng kế đó thỉnh pháp giới hữu t́nh gia
bị.
Đoạn
thứ nhất lại chia thành ba phần:
- Bảy
bài tụng đầu tiên thỉnh gia bị ḥng đạt
được biện tài của Bồ Tát.
- Ba
bài tụng kế đó, thỉnh gia bị ḥng đạt
được biện tài của Như Lai.
-
Hai bài tụng kế đó, thỉnh gia bị để
đạt được biện tài của Phật và các
vị Thanh Văn v.v…
Trong
phần thứ nhất, lại chia thành hai đoạn:
-
Hai bài tụng rưỡi đầu tiên lễ tán chung hết
thảy các vị Bồ Tát cầu gia bị.
- Bốn
bài tụng rưỡi kế đó, riêng lễ thiên nữ
thỉnh gia bị.
Đoạn
này thuộc phần thứ nhất,
tức là lễ tán chung. Tán lễ mười
đức:
- Một,
đức “ĺa khinh mạn, chẳng
lừa dối”.
-
Hai, đức “chứng trạch diệt chân thật”, khác
với Nhị Thừa.
-
Ba, đức “chẳng nhiễm ngũ trần”.
- Bốn,
đức “có thể ĺa khỏi triền cái”.
-
Năm, đức “luôn hành vô lậu”.
-
Sáu, đức “phá ngu, sanh trí”.
- Bảy,
đức “nói ra ắt khế hợp cảnh giới”.
-
Tám, đức “ĺa các tập khí”.
-
Chín, đức “tùy ư chứng Chân”.
-
Mười, đức “hướng dẫn hữu t́nh”.
Mười
câu kinh văn theo thứ tự tương ứng với
các đức ấy.
(Kinh)
Kính lễ Biện Tài Thiên, linh ngă Từ Vô Ngại, nguyện
ngă sở cầu sự, giai tất tốc thành tựu, vô bệnh,
thường an ổn. Thọ mạng đắc diên
trường. Thiện giải chư minh chú, cần tu Bồ
Đề đạo, quảng nhiêu ích quần sanh, cầu
tâm nguyện tảo toại. Ngă thuyết chân thật ngữ,
ngă thuyết vô cuống ngữ, thiên nữ diệu biện
tài, linh ngă đắc thành tựu. Duy nguyện thiên nữ
lai, linh ngă ngữ vô trệ, tốc nhập thân khẩu nội,
thông minh túc biện tài.
(經)敬禮辨才天,令我辭無礙,願我所求事,皆悉速成就,無病常安隱,壽命得延長,善解諸明呪,勤修菩提道,廣饒益群生,求心願早遂。我說真實語,我說無誑語,天女妙辨才,令我得成就。惟願天女來,令我語無滯,速入身口內,聰明足辨才。
(Kinh:
Kính lễ Biện Tài Thiên, khiến tôi Từ Vô Ngại.
Nguyện chuyện tôi mong cầu, thảy đều mau
thành tựu, không bệnh, thường an ổn. Thọ mạng
được kéo dài. Khéo hiểu các minh chú, siêng tu đạo
Bồ Đề, rộng lợi ích quần sanh, tâm cầu
nguyện
sớm toại. Tôi nói lời chân thật ngữ,
tôi nói lời chẳng dối. Diệu Biện Tài Thiên Nữ,
khiến tôi được thành tựu. Kính mong thiên nữ
đến, khiến tôi nói lưu loát, mau vào trong thân miệng,
thông minh, đủ biện tài).
Kế
đó, riêng thỉnh thiên nữ. Kinh văn chia thành năm ư:
- Một,
thỉnh Từ Vô Ngại.
-
Hai, một bài tụng thỉnh
cầu sẽ đạt được
không bệnh, tăng thọ, nhằm lợi ích hữu t́nh,
chẳng tham thọ mạng thế gian.
-
Ba, một bài tụng thỉnh thông hiểu minh chú, siêng tu tập
Bồ Đề.
- Bốn,
bài tụng thứ tư nói chính ḿnh chân thật cầu thỉnh
gia bị ḥng đạt được.
-
Năm, một bài tụng thỉnh cầu thiên nữ nhập
thân gia bị.
(Kinh)
Nguyện linh ngă thiệt căn, đương đắc
Như Lai biện, do bỉ ngữ oai lực, điều
phục chư chúng sanh. Ngă sở xuất ngữ thời,
tùy sự giai thành tựu, văn giả sanh cung kính, sở
tác bất đường quyên. Nhược ngă cầu biện
tài,
sự bất thành tựu giả, thiên nữ chi thật ngữ,
giai tất thành hư vọng.
(經)願令我舌根,當得如來辨,由彼語威力,調伏諸眾生。我所出語時,隨事皆成就,聞者生恭敬,所作不唐捐。若我求辨才。事不成就者。天女之實語。皆悉成虛妄。
(Kinh:
Nguyện cho cái lưỡi tôi, đắc Như Lai biện
tài. Do oai lực Phật ngữ, điều phục các
chúng sanh. Khi lời tôi thốt ra, chuyện đều
được thành tựu. Người nghe sanh cung kính, việc
làm chẳng uổng công. Nếu tôi cầu biện tài, mà sự
chẳng thành tựu, lời thật của thiên nữ,
đều trở thành hư vọng).
Kế
đó, thỉnh cầu biện tài của Như Lai. Kinh
văn chia thành ba phần:
-
Hai câu đầu là thỉnh.
- Một
bài tụng rưỡi kế đó, nói rơ ư cầu biện
tài.
-
Bài tụng kế đó nói ngược lại để kết
luận: Do lời của thiên nữ chẳng hư dối,
tôi cầu ắt
được thành tựu.
(Kinh)
Hữu tác vô gián tội, Phật ngữ linh điều phục,
cập dĩ A La Hán, sở hữu báo ân ngữ, Xá Lợi Tử,
Mục Liên, Thế Tôn chúng đệ nhất, tư đẳng
chân thật ngữ, nguyện ngă giai thành tựu.
(經)有作無間罪,佛語令調伏,及以阿羅漢,所有報恩語,舍利子目連,世尊眾第一,斯等真實語,願我皆成就。
(Kinh:
Kẻ gây tội vô gián, lời Phật khiến điều
phục, cùng với A La Hán, tất cả lời báo ân, Xá Lợi
Tử, Mục Liên, đệ tử Phật bậc nhất,
lời chân thật của họ, nguyện tôi đều
thành tựu).
Kế
đó, thỉnh cầu gia
bị khiến cho tôi nhập biện tài của Phật và
các vị Thanh
Văn. Nửa đầu bài tụng là thỉnh đắc
biện tài của Phật, một bài tụng rưỡi
nhằm thỉnh cầu các
thứ biện tài khác. Phật điều phục là vô gián
ngữ, c̣n La Hán là báo ân ngữ, soi rọi lẫn nhau, cùng
nêu ra hết thảy các lời nói. Nói “tư đẳng”
tức là các vị khác như A La Hán, hoặc hai mươi
hai
loại biện tài như
trong phần trước.
(Kinh)
Ngă kim giai triệu thỉnh, Phật chi Thanh Văn chúng, giai
nguyện tốc lai chí, thành tựu ngă cầu tâm, sở cầu
chân thật ngữ, giai nguyện vô hư cuống.
(經)我今皆召請,佛之聲聞眾,皆願速來至,成就我求心。所求真實語,皆願無虛誑。
(Kinh:
Tôi nay đều triệu thỉnh, chúng Thanh Văn của
Phật, đều mong mau tới đây, thành tựu tâm tôi
cầu, cầu mong chân thật ngữ, đều nguyện
chẳng hư dối).
Kế
đó, thỉnh Thanh Văn gia hộ.
(Kinh)
Thượng tùng Sắc Cứu Cánh, cập dĩ Tịnh
Cư Thiên, Đại Phạm cập Phạm Phụ, nhất
thiết Phạm vương chúng, năi chí biến tam thiên,
Sách Ha thế giới chủ, tịnh cập chư quyến
thuộc, ngă kim giai thỉnh triệu. Duy nguyện giáng từ
bi, ai lân đồng nhiếp thọ.
(經)上從色究竟,及以淨居天,大梵及梵輔,一切梵王眾,乃至遍三千,索訶世界主,并及諸眷屬,我今皆請召,惟願降慈悲,哀憐同攝受。
(Kinh:
Trên từ Sắc Cứu Cánh, cùng với Tịnh Cư
Thiên, Đại Phạm và Phạm Phụ, hết thảy
các Phạm vương, cho đến khắp tam thiên, chủ
thế giới Sách Ha, cùng với các quyến thuộc, tôi
thảy đều thỉnh vời. Kính mong giáng từ bi,
xót thương cùng nhiếp thọ).
Kế
đó, thỉnh Sắc Giới Thiên gia bị.
(Kinh)
Tha Hóa Tự Tại thiên, cập dĩ Lạc Biến Hóa,
Đổ Sử Đa thiên chúng, Từ Thị
đương thành Phật, Dạ Ma chư thiên chúng, cập
tam thập tam thiên, tứ thiên vương chúng thiên, nhất
thiết chư thiên chúng.
(經)他化自在天,及以樂變化,覩史多天眾,慈氏當成佛,夜摩諸天眾,及三十三天,四天王眾天,一切諸天眾。
(Kinh: Tha Hóa Tự
Tại thiên, cùng với Lạc Biến Hóa, chư thiên Đổ
Sử Đa, Từ Thị sẽ thành Phật, các thiên chúng
Dạ Ma, ba mươi ba cơi trời, tứ thiên
vương, chư thiên, hết thảy các thiên chúng).
Kế
đó, thỉnh Dục Giới Thiên gia bị.
(Kinh)
Địa, thủy, hỏa, phong thần, y Diệu Cao
sơn trụ, thất hải, sơn thần chúng, sở hữu
chư quyến thuộc, măn tài cập ngũ đảnh,
nhật nguyệt chư tinh thần, như thị chư
thiên chúng, linh thế gian an ổn. Tư đẳng chư
thiên thần, bất nhạo tác tội nghiệp. Kính lễ
Quỷ Tử Mẫu, cập tối tiểu ái nhi, long,
thiên, Dược Xoa chúng, Càn Thát, A Tô La, cập dĩ Khẩn
Na La, Mạc Hô Lạc Già đẳng, ngă dĩ Thế Tôn lực,
tất giai thân thỉnh triệu, nguyện giáng từ bi
tâm, dữ ngă vô ngại biện.
(經)地水火風神,依妙高山住,七海山神眾,所有諸眷屬,滿財及五頂,日月諸星辰,如是諸天眾,令世間安隱。斯等諸天神,不樂作罪業。敬禮鬼子母,及最小愛兒,龍天藥叉眾,乾闥阿蘇羅,及以緊那羅,莫呼洛伽等,我以世尊力,悉皆申請召,願降慈悲心,與我無礙辨。
(Kinh:
Thần đất, nước, lửa, gió, nương núi
Diệu Cao trụ, bảy biển, các thần núi. Tất cả
các quyến thuộc, măn tài và ngũ đảnh, nhật,
nguyệt, các tinh tú. Các chúng trời như thế, khiến
thế gian an ổn. Các thiên thần như thế, chẳng
thích tạo tội nghiệp. Kính lễ Quỷ Tử Mẫu,
và con yêu bé nhất, rồng, trời, các Dược Xoa, Càn
Thát, A Tô La, cùng với Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già thảy.
Tôi do sức Thế Tôn, thảy cùng đều thỉnh vời,
nguyện rủ ḷng từ bi, ban cho vô ngại biện).
Kế
đó, thỉnh tám bộ gia bị. Bốn bài tụng đầu
nhằm nêu tên, bài tụng cuối cùng là giăi bày lời thỉnh
cầu.
(Kinh)
Nhất thiết nhân thiên chúng, năng liễu tha tâm giả,
giai nguyện gia thần lực, dữ ngă diệu biện
tài. Năi chí tận hư không, châu biến ư pháp giới, sở
hữu hàm sanh loại, dữ ngă diệu biện tài.
(經)一切人天眾,能了他心者,皆願加神力,與我妙辨才。乃至盡虛空,周遍於法界,所有含生類,與我妙辨才。
(Kinh:
Hết thảy chúng trời, người, hiểu rơ tâm kẻ
khác, nguyện đều tăng thần lực, ban tôi diệu
biện tài. Cho đến tận hư không, trọn khắp
trong pháp giới, tất cả loài hàm sanh, ban tôi diệu biện
tài).
Kế
đó, thỉnh các trời người khác và pháp giới
chúng sanh.
5.15.4.2.2.4.3. Thiên nữ
tán thán, khuyên tu hành
(Kinh) Nhĩ thời, Biện Tài Thiên Nữ
văn thị thỉnh dĩ, cáo Bà-la-môn ngôn: - Thiện tai
đại sĩ! Nhược hữu nam tử, nữ nhân,
năng y như thị chú cập chú tán, như tiền sở
thuyết thọ tŕ pháp thức, quy kính Tam Bảo, kiền
tâm chánh niệm, ư sở cầu sự, giai bất
đường quyên, kiêm phục thọ tŕ, độc tụng
thử Kim Quang Minh vi diệu kinh điển, sở nguyện
cầu giả vô bất quả toại, tốc đắc
thành tựu, trừ bất chí tâm.
(經)爾時辨才天女聞是請已,告婆羅門言:善哉大士!若有男子女人能依如是呪及呪讚,如前所說受持法式,歸敬三寶虔心正念,於所求事皆不唐捐,兼復受持讀誦此金光明微妙經典,所願求者無不果遂,速得成就,除不至心。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Biện Tài Thiên Nữ nghe lời thỉnh ấy
xong, bảo Bà-la-môn rằng: - Lành thay đại sĩ! Nếu
có nam tử, nữ nhân có thể nương theo chú và chú tán
như thế, thọ tŕ theo cách thức như đă nói
trên đây, quy kính Tam Bảo, tâm kiền thành chánh niệm,
đối với chuyện mong cầu, sẽ đều
chẳng luống uổng. Lại c̣n thọ tŕ, đọc
tụng kinh điển Kim Quang Minh vi diệu này, điều
nguyện cầu không ǵ chẳng được thỏa,
mau được thành tựu, trừ kẻ chẳng chí
tâm).
Đoạn
thứ ba là thiên nữ tán thán, khuyên tu hành. Có hai ư:
- Một,
thiên nữ tán thán.
-
Hai, từ “nhược hữu nam tử” (nếu có
người nam) trở đi, ấn chứng, khuyên tu.
5.15.4.2.2.4.4. Kiều Trần
Như hoan hỷ, cung kính nhận lănh
(Kinh)
Thời Bà-la-môn thâm tâm hoan hỷ, hiệp chưởng
đảnh thọ.
(經)時婆羅門深心歡喜,合掌頂受。
(Kinh: Khi
đó, Bà-la-môn thâm tâm hoan hỷ, chắp tay, cung kính tiếp
nhận).
Điều
thứ tư là Kiều Trần Như hoan hỷ lănh thọ.
5.15.4.3. Đức Thế
Tôn tán thán, khuyến thỉnh
(Kinh)
Nhĩ thời, Phật cáo Biện Tài Thiên Nữ: - Thiện
tai, thiện tai! Thiện nữ thiên! Nhữ năng lưu
bố thị diệu kinh vương, ủng hộ sở
hữu thọ tŕ kinh giả, cập năng lợi ích nhất
thiết chúng sanh, linh đắc an lạc, thuyết như
thị pháp, thí dữ biện tài bất khả tư nghị,
đắc phước vô lượng, chư phát tâm giả
tốc thú Bồ Đề.
(經)爾時佛告辨才天女:善哉善哉!善女天!汝能流布是妙經王,擁護所有受持經者,及能利益一切眾生令得安樂,說如是法施與辨才不可思議得福無量,諸發心者速趣菩提。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Phật bảo Biện Tài Thiên Nữ: -
Lành thay! Lành thay! Thiện nữ thiên! Bà có thể lưu truyền
kinh vương mầu nhiệm này, ủng hộ tất cả
người thọ tŕ kinh, và có thể lợi ích hết thảy
chúng sanh,
khiến cho họ được an vui. Nói pháp như thế
và thí cho biện tài chẳng thể nghĩ bàn, được
phước vô lượng, các người phát tâm mau chóng
tiến nhập Bồ Đề).
Đoạn
lớn thứ ba là Như Lai tán thán, khuyên bảo. Trước
là tán thán thiên nữ,
từ “chư phát tâm” trở đi là khuyên nương
theo đó tu học.
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Phần 12 hết
[1] Sáu cách giải thích c̣n gọi là Lục
Ly Hợp Thích (Sat-samāsāh), chính là sáu phương pháp được
sử dụng để giải thích các từ ngữ phức
hợp trong tiếng Phạn. Các cách giải thích này đều
tuân theo nguyên tắc là giải thích các yếu tố cấu
tạo từ ngữ đó trước (điều này
được gọi là Ly Thích), sau đó tổng hợp ư
nghĩa của chúng (gọi là Hợp Thích). Theo từ điển
Phật Quang Sơn, sáu cách giải thích ấy, nếu xét
theo từng mục riêng, sẽ rất phức tạp. Bộ
từ điển ấy đề ra cách giải thích
đơn giản như sau:
- Y Chủ Thích (Tat-purusa), c̣n gọi
là Y Sĩ Thích, Thuộc Chủ Thích, Tức Sĩ Thích, tức
là coi chữ trước là bổ nghĩa cho chữ sau trong một danh từ. Chẳng hạn
như nói Sơn Tự (chùa trong núi), tức là chữ Sơn bổ
nghĩa cho chữ Tự.
- Tương Vi Thích
(Dvajdva) tức là các từ ngữ bao gồm hai chữ trở
lên, có ư nghĩa độc lập b́nh đẳng. Chẳng
hạn như nói “sơn xuyên thảo mộc” th́ có thể
hiểu là bốn sự vật
riêng biệt tức núi, sông, cây cối và cỏ.
- Tŕ Nghiệp Thích (Karma-dhāraya), c̣n gọi là
Đồng Y Thích, tức là chữ trước nhằm bổ
nghĩa, hoặc là h́nh dung từ, hoặc là trạng từ
cho chữ sau. Chẳng hạn như Cao Sơn có nghĩa là
núi rất cao, Cực Viễn (rất xa).
- Đới Số Thích (Dvigu): Chữ
đầu tiên là một con số, mang ư nghĩa tụ tập,
chẳng hạn như Tam Giới, Tứ Phương, Tứ
Thánh Đế v.v…
- Lân Cận Thích (Avyayī-bhāva): Chữ đầu tiên
là trạng từ, mang ư nghĩa bất biến hóa, chẳng
hạn như Như Pháp, Tùng Pháp v.v… Hoặc là do có ư
nghĩa lân cận, chẳng hạn như Tứ Niệm Xứ
lấy Huệ làm Thể, nhưng ư nghĩa của Huệ
tiếp cận với Niệm, nên gọi là Niệm Xứ.
- Hữu Tài Thích (Bahu-vrīhi), c̣n gọi là Đa Tài
Thích, tức là từ ngữ có h́nh dung từ đi kèm. Chẳng
hạn như Trường Tụ (tay áo dài). Chỗ khác biệt
giữa Hữu Tài và Tŕ Nghiệp là Tŕ Nghiệp nhấn mạnh
đến tác dụng chủ yếu của một sự
vật. Chẳng hạn như Nhăn Thức không thể hiểu
là Hữu Tài Thích mà phải là Tŕ Nghiệp Thích, v́ Nhăn Thức
là cái Thức do con mắt sanh ra, tức là nói đến chủ
thể sanh ra tác dụng ấy.
[2] Chính là Mật Tích Kim Cang Lực
Sĩ Hội trong kinh Bảo Tích, từ quyển tám tới
quyển mười bốn. Kinh này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch
sang tiếng Hán. Kinh xiển dương tam mật của
Như Lai và Bồ Tát (thân mật, ngữ mật và ư mật).
Cuối cùng Bí Mật Chủ thỉnh cầu đức Phật
cho phép thủ hộ kinh Bảo Tích sau khi đức Phật
nhập diệt. Một bản dịch khác của kinh này
có tên là Phật Thuyết Như Lai Bất Tư Nghị Bí
Mật Đại Thừa Kinh do ngài Pháp Hộ dịch vào đời Tống.
[3] Xương Bồ là một loại cỏ,
thường được biết dưới tên là Sweet
Flag, Sway, hoặc Muskrat root, c̣n gọi là thủy
xương bồ, bạch xương bồ, tạng
xương bồ, hoặc bồ bồ, thường mọc
ở vùng nước lặng, khá phổ biến ở
Đông và Nam Á, Bắc Âu, và Bắc Mỹ. Cây có thể cao
đến 2m. Lá dài, mọc thẳng từ củ, h́nh lưỡi kiếm,
có các đường gân song song, cuối gốc lá hơi hồng,
có mùi thơm nhẹ khi bị ṿ nát. Phần làm thuốc chủ
yếu là rễ xương bồ (thực chất là củ
của nó). Xương bồ thường được
dùng để nấu nước tắm cùng với cỏ
ngải trong lễ Đoan Ngọ.
[4] Ngưu Hoàng (Calculus bovis, cow bezoar) là một loại
sỏi trong gan ḅ hoặc trâu, đem phơi khô dùng làm thuốc.
Trung Y cho rằng ngưu hoàng có tác dụng giải nhiệt,
giải độc, trấn tĩnh người bị kinh
phong, sốt cao.
[5] Mục Túc Hương (tên khoa học
là Medicago, tên tiếng Anh là Medick, hoặc Burclover), c̣n gọi là Tam Diệp Thảo,
Liên Chi Thảo, gồm hơn tám mươi loài khác nhau. Loại cỏ
này có thể dùng để ăn như rau, nhưng vị rất
tanh.
[6] Xạ Hương (Deer musk) là chất thơm lấy từ
tuyến hương của một số động vật
đực đă trưởng thành thuộc loại chồn
hương, nai xạ v.v…
[7] Hùng Hoàng (Realgar), c̣n gọi là Kê Quan Thạch,
chính là chất sulfide arsenic (As4S4), có màu
đỏ tươi hoặc vàng cam, rất mềm, có thể
đốt cháy. Hùng hoàng thường t́m thấy ở các suối
nước nóng, cũng như trong các mỏ quặng ch́, vàng, bạc.
Đây là một chất rất độc, có thể gây ra
bệnh ung thư. Trước kia, người Âu Châu dùng
để diệt chuột, dùng để xua đuổi rắn.
Trong quá khứ, vào Đoan Ngọ, người Hoa hay pha hùng
hoàng với rượu để uống nhằm pḥng ngừa
xui xẻo.
[8] Hợp Hôn Thụ
(c̣n gọi là Hợp Hoan, Albizia
Julibrissin, Persian silk tree) là một loại cây rụng lá vào mùa
Đông, có tán rộng, có thể cao tới 16 m. Vỏ màu xám
xanh đậm, lá to, nở hoa màu hồng có nhiều tua suốt
mùa Hè, thu hút ong, bướm, ruồi tới hút mật. Do lá
xếp lại vào lúc ban đêm, nên có tên là Hợp Hôn (xếp
lại vào lúc tối tăm).
[9] Bạch Cập (Chinese ground orchid, Hyacinth orchid) là một
loại thực vật thuộc loài lan đất, có hoa màu tím hồng, phổ biến ở
Trung Hoa (Quảng Đông, Cam Túc, Giang Tây, Quư Châu, Hà Bắc)
Miến Điện, Nhật và Đại Hàn. Lá dài, h́nh
lưỡi mác nhọn, có nhiều vạch. Hoa năm cánh dài rất
thanh nhă. Có một số loài có hoa trắng nên gọi là Bạch
Hoa Bạch Cập. Củ của loài này
được dùng làm
thuốc để trị loét đường ruột, tiêu
phù thũng…
[10] Khung Cùng là một loại thực vật,
toàn thân có hương thơm rất nồng. Chủ yếu
mọc tại Tứ Xuyên (do vậy c̣n gọi là Xuyên Khung).
Củ có h́nh dáng gồ ghề, to như nắm tay, có nhiều rễ
con. Thân cây mọc thẳng từ củ, trổ hoa từ
tháng Bảy đến hết tháng Tám. Phần thường được
dùng làm thuốc là củ của nó.
[11] Tế Đậu
Khấu c̣n được gọi là tiểu đậu khấu,
lục đậu khấu, thanh sa nhân, tức là cardamom, thuộc
họ Gừng. Thường mọc ở vùng rừng núi chỗ
có bóng rợp, ẩm ướt. Phần dùng làm hương
liệu chính là hạt của nó, có mùi hương rất nồng.
Tế đậu khấu chủ yếu dùng làm gia vị. Hạt
đậu khấu xay thành bột là thành phần chủ yếu
để tạo nên hương vị món trà Chai của
người Ấn Độ. Người Iran c̣n dùng nó
để ḥa vào cà phê. Loại thô đậu khấu chính là
loại to hơn, c̣n gọi là hương đậu khấu,
hay black cardamom.
[12] Cam Tùng
(spikenard, nardin, muskroot) là một loại thảo mộc, chỉ
mọc ở vùng cao nguyên, có độ cao tối thiểu
là 2.500 so với mực nước biển. Loại thảo
mộc này thuộc loại thân thảo, mọc thành bụi,
c̣n có tên gọi là Mă Đề Hương, Đại Cứu
Hạ, Lăo Quân Tu, Tri Thù Hương v.v… Sở dĩ gọi
là cam tùng v́ thân nó tiết ra chất dầu như mùi gỗ
thông, có vị thơm ngọt. Phần thường dùng
để chế hương liệu là phần củ, khi
nghiền nát và chiết xuất sẽ thu được chất
dầu có màu hổ phách, rất thơm. Cam tùng được
dùng để làm nhang, làm nước hoa, hoặc dùng làm thuốc
để chữa mất ngủ, sanh khó v.v…
[13] Ngải Nạp
là một loại thảo mộc thuộc họ Cúc, có nhiều
tên gọi như đại phong thảo, đại
đinh hoàng, đại hoàng thảo, bạch thủ long
năo, hoặc cái thủ hương… Loại thảo mộc
này có thân ngầm to lớn, mọc thẳng. Cây có thể
cao đến 3 mét, lá có h́nh bầu dục, thuôn dài. Lá phía
trên có h́nh mác, thuôn dài. Hoa trổ thành cụm, h́nh tổ ong,
màu vàng. Toàn thể các phần của loại cây này đều
có thể làm thuốc.
[14] Gọi là sao Quỷ, nhưng thật
ra đây là một cḥm sao, tương ứng với cḥm sao
Cự Giải (Cancer), bao gồm mười tám ngôi sao, trong
đó có bốn ngôi là hằng tinh.
[15] Khủy tay (Trửu) là đơn vị đo
độ dài, c̣n gọi là Trửu Xích (thường
được dịch thành Cubit trong tiếng Anh), tức
là khoảng cách đo từ khủy tay cho đến
đầu ngón giữa trong bàn tay, dao động từ 45
đến 55 cm.
[16] Tần Đà (Pāṇḍava) là một trong năm quả núi tại
thành Vương Xá. Thành Vương Xá có năm quả núi là
Tỳ Đà La (Vaibhāra) ở phía Tây Bắc,
Tiên Nhân Sơn (Ṛṣigiri)
ở Đông
Bắc, núi Tỳ Phú La (Vaipulya) ở phương Đông (núi
này cao và to nhất), Kỳ Xà Quật (Gṛdhrakūṭa) ở phương Đông Nam (hiểm
trở nhất), và núi Tần Đà (núi rộng nhất).
[17]
Bà Tô đại
thiên (Vāsudeva) là cha của Krishna (một hóa thân của thần
Vishnu).
[18] Đại Thế Vương là
cách gọi khác của Đại Thế Chủ, tức
danh xưng của Đại Phạm thiên vương.
[19] Vô trần tập: Không có các trần
cấu tụ tập.