Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ bảy

Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh

金光明最勝王經疏

卷第七

唐三藏法師義淨奉制譯

翻經沙門慧沼撰

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

Phần 12

 

5.14. Phẩm thứ mười bốn: Như Ư Bảo Châu (Như Ư Bảo Châu phẩm đệ thập tứ, 如意寶珠品第十四)

 

          Phẩm Như Ư Bảo Châu gồm ba môn phân biệt:

 

5.14.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

                   

          Trong phần Lưu Thông có ba loại, loại thứ nhất là Học Hạnh Lưu Thông. Loại này gồm có năm [tiểu loại]. Trong đó, [tiểu loại] thứ hai là Thủ Hộ Lưu Thông. Trong đó, lại có ba điều:

          - Một, khiến cho [chư thiên, thiện thần] thủ hộ cúng dường.

          - Hai, thủ hộ khiến cho [hành nhân] ĺa nhiễm bất thoái.

          - Ba, chú này thủ hộ khiến cho [hành nhân] ĺa tai nạn, sở cầu như ư như kinh văn đă nêu bày đầy đủ. Do vậy, có phẩm này sanh khởi.

 

5.14.2. Giải thích danh xưng của phẩm này

 

          Tiếng Phạn là Chấn-đa (Cintā), phương này dịch là Như Ư, nhưng âm gốc chỉ có nghĩa là Ư, hàm nghĩa “cái tâm suy lường”. “Như” là ư nghĩa được thêm vào. Mạt-ni (Maṇi) được cơi này dịch là Bảo Châu; đấy là thí dụ. Đà La Ni (Dhāraṇī) là pháp. Như Châu (Như Ư Bảo Châu) có thể khiến ĺa các tai nạn, sở cầu đẹp dạ; chú này cũng thế, từ thí dụ mà đặt tên. Phải nên nói là phẩm Như Ư Bảo Châu Đà La Ni. Do vậy, trong phần sau [kinh văn] nói thần chú Như Ư Bảo Châu, [nhưng chỉ gọi là phẩm Như Ư Bảo Châu] do văn từ đại lược. Lại giải thích rằng: Môn Tổng Tŕ này có tên là Như Ư Bảo Châu, pháp được đặt tên theo thí dụ. V́ thế nói có Đà La Ni tên là Như Ư Bảo Châu. Cách [giải thích danh xưng này] chẳng thuộc vào sáu cách giải thích[1].  

 

5.14.3. Giải trừ vấn nạn

 

          * Hỏi: Thần chú của ngài Chấp Kim Cang Chủ tên là Vô Thắng, [thần chú do] các vị khác [nói] cũng [có danh xưng] khác biệt, cớ ǵ chỉ nói là [tên gọi của phẩm này là] phẩm Như Ư Bảo Châu?

          Đáp: Có hai cách giải thích:

          - Một, tên phẩm được đặt theo thần chú nói đầu tiên, chẳng thể nêu trọn hết [danh hiệu của các bài thần chú khác trong phẩm này được]!

          - Hai, hai bài chú đầu tiên [trong phẩm này do đức Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát nói] là tên chung, [tên gọi của] các bài khác là danh xưng riêng biệt. Thật ra, [bài chú nào trong phẩm này] cũng đều được gọi chung là Như Ư Châu.

          * Hỏi: Trong bốn loại Tổng Tŕ, [các chú trong phẩm này] thuộc loại Tổng Tŕ nào?

          Đáp: Chính là Chú Đà La Ni.

          * Hỏi: Trong phẩm Tứ Thiên Vương, [thần chú do] tứ thiên vương nói cũng tên là Như Ư Bảo, chú trong phẩm trước và phẩm này có ǵ khác biệt?

          Đáp: Cùng tên, ư nghĩa khác biệt, xét theo kinh văn sẽ biết.

 

5.14.4. Giải thích kinh văn

5.14.4.1. Đức Phật tuyên thuyết [thần chú]

5.14.4.1.1. Nêu bày [danh hiệu thần chú], hứa sẽ nói

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn ư đại chúng trung, cáo A Nan Đà viết: - Nhữ đẳng đương tri, hữu Đà La Ni, danh Như Ư Bảo Châu, viễn ly nhất thiết tai ách, diệc năng giá chỉ chư ác lôi điện. 

          ()爾時世尊於大眾中告阿難陀曰汝等當知有陀羅尼名如意寶珠遠離一切災厄亦能遮止諸惡雷電

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đại chúng bảo ngài A Nan Đà rằng: - Các ông hăy nên biết, có Đà La Ni tên là Như Ư Bảo Châu, xa ĺa hết thảy tai ác, và cũng có thể ngăn trở hết thảy các sấm sét dữ).     

 

          Tán rằng: Kinh văn trong phẩm này gồm bốn phần:

          - Một, đức Phật nói [thần chú].

          - Hai, đại chúng nói [thần chú].

          - Ba, đức Phật ấn chứng.

          - Bốn, [tứ chúng] phụng hành.            

          Phần đức Phật nói [thần chú] gồm có ba đoạn:

          - Một, nêu bày, hứa sẽ nói.

          - Hai, đại chúng thích nghe.

          - Ba, đức Phật bèn v́ họ nói

          Trong đoạn thứ nhất, gồm có bốn ư:

          - Một, nêu ra danh hiệu của thần chú.

          - Hai, chỉ bày công dụng.

          - Ba, cho biết [quá khứ chư Phật] cùng nói [thần chú này].

          - Bốn, hứa sẽ v́ đại chúng trần thuật.

          Đoạn này gồm hai ư đầu.

 

          (Kinh) Quá khứ Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác sở cộng tuyên thuyết.

          ()過去如來正等覺所共宣

          (Kinh: Được các đức Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác trong quá khứ cùng tuyên nói).

 

          Ư thứ ba là cho biết [quá khứ chư Phật] cùng nói [thần chú này].

 

          (Kinh) Ngă ư kim thời, ư thử kinh trung, diệc vị nhữ đẳng đại chúng tuyên thuyết, năng ư nhân thiên vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết, linh đắc an lạc.

          ()我於今時於此經中亦為汝等大眾宣能於人天為大利益哀愍世間擁護一切令得安樂

          (Kinh: Nay trong hiện thời, ta ở trong kinh này, cũng v́ đại chúng các ông tuyên nói, có thể tạo lợi ích to lớn cho trời, người, thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy, khiến cho được an vui).

 

          Ư thứ tư là hứa sẽ v́ [đại chúng] trần thuật, có hai đoạn:

          - Một, hứa sẽ trần thuật.

          - Hai, từ “năng ư” (có thể trong) trở đi, nêu ra lợi ích.

 

5.14.4.1.2. Đại chúng thích nghe

 

          (Kinh) Thời chư đại chúng, cập A Nan Đà, văn Phật ngữ dĩ, các các chí thành, chiêm ngưỡng Thế Tôn, thính thọ thần chú.

          ()時諸大眾及阿難陀聞佛語已各各至誠瞻仰世尊聽受神呪

          (Kinh: Khi đó, các đại chúng và ngài A Nan Đà nghe lời Phật nói xong, ai nấy chí thành, chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, nghe nhận thần chú).

 

          Kế đó là đại chúng thích nghe.

 

5.14.4.1.3. Đức Phật v́ họ tuyên thuyết

5.14.4.1.3.1. Nói ra danh hiệu của các vua chủ tŕ sấm chớp

 

          (Kinh) Phật ngôn: - Nhữ đẳng đế thính. Ư thử Đông phương, hữu Quang Minh điện vương, danh A Yết Đa, Nam phương hữu Quang Minh điện vương danh Thiết Đê Rô, Tây phương hữu Quang Minh điện vương danh Chủ Đa Quang, Bắc phương hữu Quang Minh điện vương danh Tô Đa Mạt Ni.

          ()佛言汝等諦聽於此東方有光明電王名阿揭多南方有光明電王名設羝嚕西方有光明電王名主多光北方有光明電王名蘇多末尼

          (Kinh: Đức Phật nói: - Các ông hăy lắng nghe! Phương Đông của cơi này có Quang Minh điện vương tên là A Yết Đa (Agate), phương Nam có Quang Minh điện vương tên là Thiết Đê Rô (Satadru), phương Tây có Quang Minh điện vương tên là Chủ Đa Quang (Cyutaprabha), phương Bắc có Quang Minh điện vương tên là Tô Đa Mạt Ni - Sutamai).

 

          Kế đó, đức Phật v́ đại chúng tuyên thuyết, có bốn đoạn:

          - Một, nêu ra danh hiệu của các điện vương (vua chủ tŕ sấm chớp).

          - Hai, nghe danh hiệu của họ sẽ được lợi ích.

          - Ba, tuyên thuyết thần chú.

          - Bốn, cách tụng chú.

          Phần này nói về danh hiệu của các điện vương. Tướng mây [tích điện] va chạm nhau, phát ra tiếng, gọi là Lôi (sấm). V́ thế, luận Câu Xá nói: “Như vân thanh thị” (như tiếng của mây). [Do sự va chạm ấy], xuất hiện ánh sáng là Điện (chớp). Thần chủ quản sấm chớp th́ gọi là Điện Vương. Theo kinh Khởi Thế: “Đông phương Vô Hậu Bế Điện cộng ư Tây phương Đọa Quang Minh Điện tương xúc, tương trước, tương giai, tương đả. Dĩ như thị cố, ư hư không vân tế chi trung, xuất sanh quang minh, danh viết Bế Điện. Đông phương Bế Điện danh Vô Hậu, Nam viết Thuận Lưu, Tây viết Đọa Quang Minh, Bắc viết Bách Thiên Thụ Điện Quang” (Vô Hậu Bế Điện ở phương Đông cùng Đọa Quang Minh Điện ở phương Tây tiếp xúc, quấn quít, chà xát, va chạm nhau. Do bởi lẽ ấy, trong các đám mây trên hư không, sanh ra ánh sáng, gọi là Bế Điện. Bế Điện ở phương Đông tên là Vô Hậu, phương Nam tên là Thuận Lưu, phương Tây tên là Đọa Quang Minh, phương Bắc tên là Bách Thiên Thụ Điện Quang), tức là được đặt tên theo vị thần chủ quản. Danh xưng [các vị thần ấy] khác với kinh này là do có nhiều thần, hoặc do phiên dịch sai khác. A Yết Đa phương này dịch là Lai, Tô Đa (phương này dịch là Như), Mạt Ni (giống như phần trên đă giảng).

 

5.14.4.1.3.2. Nghe danh hiệu các vị thần ấy sẽ được lợi ích

 

          (Kinh) Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân đắc văn như thị điện vương danh tự, cập tri phương xứ giả, thử nhân tức tiện viễn ly nhất thiết bố úy chi sự, cập chư tai hoạnh, tất giai tiêu điễn. Nhược ư trụ xứ, thư thử tứ phương điện vương danh giả, ư sở trụ xứ, vô lôi điện bố, diệc vô tai ách, cập chư chướng năo, phi thời uổng tử, tất giai viễn ly.

          ()若有善男子善女人得聞如是電王名字及知方處者此人即便遠離一切怖畏之事及諸災橫悉皆消殄若於住處書此四方電王名者於所住處無雷電怖亦無災厄及諸障惱非時枉死悉皆遠離

          (Kinh: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân được nghe danh tự của các điện vương như thế và biết nơi chốn, phương hướng, người ấy liền xa ĺa hết thảy chuyện sợ hăi, và các tai họa ngang trái thảy đều tiêu trừ. Nếu tại chỗ ở, ghi tên của bốn vị điện vương nơi bốn phương ấy, sẽ chẳng có nỗi sợ v́ sấm chớp, cũng chẳng có tai ác, và các chướng năo, chết oan uổng bất ngờ, thảy đều xa ĺa).

 

          Tiếp đó, nêu ra lợi ích đạt được, gồm hai điều:

          - Một, lợi ích do được nghe danh hiệu [của các điện vương].

          - Hai, từ “nhược ư trụ xứ” (nếu tại chỗ ở) trở đi, nói về lợi ích do ghi tên [của các điện vương].

          Hỏi: Nghe tên của điện vương đă ĺa sợ hăi, cần ǵ phải nói chú mới ĺa sợ hăi vậy?

          Đáp: Do sức tŕ chú có thể khiến cho các vị vua ấy thủ hộ [hành nhân] ĺa sợ hăi. Lại nữa, trước là các thần thủ hộ ĺa sợ hăi, sau đó là thần chú thủ hộ trừ sợ hăi. Nhưng chú thủ hộ thù thắng hơn, cho nên phẩm kinh này có tên như thế.

 

5.14.4.1.3.3. Tuyên thuyết thần chú

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha: Nễ mi nễ, mi nễ mi, ni dân đạt rị, trất rị lô ca yết nễ, trất rị thâu la ba nễ, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, ngă mỗ giáp, cập thử trụ xứ, nhất thiết khủng bố, sở hữu khổ năo, lôi điện, tích lịch, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly, sa ha.

            ()爾時世尊即說呪怛姪他儞弭儞弭儞弭尼民達哩窒哩盧迦盧羯儞窒哩輸攞波儞𠸪𠸪我某甲及此住處一切恐怖所有苦惱雷電霹靂乃至枉死悉皆遠離莎訶 (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói chú rằng: - Đát điệt tha: Nễ mi nễ, mi nễ mi, ni dân đạt rị, trất rị lô ca yết nễ, trất rị thâu la ba nễ, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, con tên là… cùng hết thảy điều đáng sợ hăi nơi trụ xứ này, tất cả khổ năo, sấm chớp, sét cho đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa, sa ha).

 

          Kế đó, nói thần chú và cách tụng chú.

 

5.14.4.2. Đại chúng tuyên thuyết thần chú

5.14.4.2.1. Quán Âm Bồ Tát nói chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát tại đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă kim diệc ư Phật tiền, lược thuyết Như Ư Bảo Châu thần chú, ư chư nhân thiên vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết, linh đắc an lạc, hữu đại oai lực, sở cầu như nguyện”. Tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha, hát đế, tỳ hát đế, nễ hát đế, bát lạt trất thể kê, bát lạt để mật trất lệ, thú đề mục đê tỳ mạt lệ, bát lạt bà sa lệ, an đồ lệ, bàn đồ lệ thuế đế. Bàn đồ ra bà tử nễ, hạt lệ yết đồ lệ, kiếp tất lệ, băng yết la ác ỷ, đạt địa mục xí, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, ngă mỗ giáp cập thử trụ xứ, nhất thiết khủng bố, sở hữu khổ năo, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly, nguyện ngă mạc kiến tội ác chi sự, thường mông Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát đại bi oai quang chi sở hộ niệm, sa ha.

          ()爾時觀自在菩薩摩訶薩在大眾中即從座起偏袒右肩合掌恭敬白佛言世尊我今亦於佛前略說如意寶珠神於諸人天為大利益哀愍世間擁護一切令得安樂有大威力所求如願說呪怛姪他喝帝毘喝帝儞喝帝鉢喇窒體雞鉢喇底蜜窒戍提目羝毘末麗鉢喇婆莎囇安囇般荼麗槃荼囉婆死儞羯荼囇劫畢麗氷揭羅惡綺達地目𠸪𠸪我某甲及此住處一切恐怖所有苦惱乃至枉死悉皆遠離願我莫見罪惡之事常蒙聖觀自在菩薩大悲威光之所護念莎訶

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, chắp tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con nay cũng đối trước Phật, nói đại lược thần chú Như Ư Bảo Châu, tạo lợi ích to lớn cho các trời, người, thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy, khiến họ được an lạc, có oai lực lớn, sở cầu như nguyện”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, hát đế, tỳ hát đế, nễ hát đế, bát lạt trất thể kê, bát lạt để mật trất lệ, thú đề mục đê tỳ mạt lệ, bát lạt bà sa lệ, an đồ lệ, bàn đồ lệ thuế đế. Bàn đồ ra bà tử nễ, hạt lệ yết đồ, lệ kiếp tất lệ, băng yết la ác ỷ, đạt địa mục xí, hạt lạc xoa, hạt lạc xoa, con tên là… và trụ xứ này, hết thảy sợ hăi, tất cả khổ năo, cho đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa. Nguyện con chẳng thấy chuyện tội ác, thường được oai quang đại bi của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát hộ niệm, sa ha).

 

          Kế đó là đại chúng nói chú, gồm sáu đoạn. Trước tiên là đức Quán Âm nói chú. Kinh văn gồm ba phần:

          - Một, xin được phép nói.

          - Hai, chánh thức tuyên thuyết.

          - Ba, cách tụng chú.

          Trong phần thứ nhất là “xin được phép nói”, có ba ư:

          - Một, nghi thức cầu thỉnh.

          - Hai, xin nói.

          - Ba, trần thuật lợi ích.

          [Danh hiệu của vị Bồ Tát này] trong tiếng Phạn là A Phược Lô Chỉ Đế Thấp Phạt La Da (Avalokiteśvara). Phương này dịch A Phược Lô Chỉ Đế là Quán, những chữ c̣n lại là Tự Tại. Ngài dùng Thiên Nhăn, Thiên Nhĩ và Tha Tâm Thông luôn quán thế gian, tùy thời đều có thể cứu vớt, nên nói là Quán Tự Tại. Nói là Quán Thế Âm th́ do chỉ nói theo một khía cạnh, cho nên danh hiệu [Quán Thế Âm] chẳng đầy đủ, chẳng phải là cách dịch chính xác. [Đối với cách phân đoạn vừa nói trên đây], phối ứng với kinh văn, dễ thấy.

 

5.14.4.2.2. Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ tuyên thuyết thần chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ Bồ Tát tức tùng ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă kim diệc thuyết Đà La Ni chú, danh viết Vô Thắng, ư chư nhân thiên vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết, hữu đại oai lực, sở cầu như nguyện”. Tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha, mẫu nễ, mẫu nễ. Mẫu ni lệ mạt để, mạt để, tô mạt để, mạc ha mạt để, ha ha ha ma bà dĩ na tất để đế ba bạt. Bạt chiết la ba nễ, ác hám điệt lật đồ, sa ha. Thế Tôn! Ngă thử thần chú danh viết Vô Thắng Ủng Hộ. Nhược hữu nam nữ nhất tâm thọ tŕ, thư tả, độc tụng, ức niệm bất vong, ngă ư trú dạ, thường hộ thị nhân, ư nhất thiết khủng bố, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly.

          ()爾時執金剛祕密主菩薩即從座起合掌恭敬白佛言世尊我今亦說陀羅尼呪名曰無於諸人天為大利益哀愍世間擁護一切有大威力所求如願說呪怛姪他母儞母儞母尼麗末底末底蘇末底莫訶末底訶訶訶磨婆以那悉底帝波跋跋折攞波儞惡蚶姪莎訶世尊我此神呪名曰無勝擁護若有男女一心受持書寫讀誦憶念不忘我於晝夜常護是人於一切恐怖乃至枉死悉皆遠離

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con nay cũng nói chú Đà La Ni, tên là Vô Thắng, tạo lợi ích to lớn cho các trời người, thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy, có oai lực lớn, sở cầu như nguyện”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, mẫu nễ, mẫu nễ. Mẫu ni lệ mạt để, mạt để, tô mạt để, mạc ha mạt để, ha ha ha ma bà dĩ na tất để đế ba bạt. Bạt chiết la ba nễ, ác hám điệt lật đồ, sa ha. Bạch Thế Tôn! Thần chú này của con tên là Vô Thắng Ủng Hộ, nếu có nam nữ nhất tâm thọ tŕ, biên chép, đọc, tụng, nghĩ nhớ chẳng quên, con sẽ ngày đêm thường thủ hộ người ấy, hết thảy sợ hăi, cho đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa).

 

          Kế đó là đoạn thứ hai, kinh văn cũng gồm ba phần:

          - Một, xin phép nói.

          - Hai, tuyên thuyết thần chú.

          - Ba, lợi ích do tŕ tụng.

          Xét theo kinh văn, dễ thấy [cách phân đoạn]. Nói Chấp Kim Cang Bí Mật Chủ th́ có người cho rằng: H́nh tướng khác lạ của đức Quán Âm gọi là Bí Mật, thường cầm kim cang xử (chày kim cang) thủ hộ Tam Bảo, bèn dựa theo vật đang cầm mà đặt tên. Theo kinh Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ[2] nói, vị Chấp Kim Cang này và Phạm Vương, mỗi vị đều là một vị Phật trong một ngàn vị Phật thuộc Hiền Kiếp. Chi tiết th́ như trong kinh ấy đă nói.

 

5.14.4.2.3. Đại Phạm vương nói chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Sách Ha thế giới chủ Phạm thiên vương tức tùng ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă diệc hữu Đà La Ni vi diệu pháp môn, ư chư nhân thiên, vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết, hữu đại oai lực, sở cầu như nguyện”. Tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha, hê lư mi lư, địa lư, sa ha. Bạt ra hám ma bố lệ, bạt ra hám ma, mạt ni bạt ra hám ma yết bệ, bổ sáp bả tăng tất đát lệ, sa ha. Thế Tôn! Ngă thử thần chú danh viết Phạm Trị, tất năng ủng hộ tŕ thị chú giả, linh ly ưu năo, cập chư tội nghiệp, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly.

          ()爾時索訶世界主梵天王即從座起合掌恭敬白佛言世尊我亦有陀羅尼微妙法門於諸人天為大利益哀愍世間擁護一切有大威力所求如願說呪怛姪他醯里弭里地里莎訶跋囉蚶魔布麗跋囉蚶麼末尼跋囉蚶麼揭鞞補澁跛僧悉怛世尊我此神呪名曰梵治悉能擁護持是呪者令離憂惱及諸罪業乃至枉死悉皆遠離

          (Kinh: Lúc bấy giờ, chủ của thế giới Sách Ha là Phạm thiên vương liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung kính mà bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con nay cũng có pháp môn vi diệu Đà La Ni, tạo lợi ích to lớn cho trời người, thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy, có oai lực lớn, sở cầu như nguyện”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, hê lư, mi lư, địa lư, sa ha. Bạt ra hám ma bố lệ, bạt ra hám ma mạt ni, bạt ra hám ma yết bệ, bổ sáp bả tăng tất đát lệ, sa ha. Bạch Thế Tôn! Thần chú này của con tên là Phạm Trị, luôn có thể ủng hộ người tŕ chú này, khiến họ ĺa lo buồn và các tội nghiệp, cho tới chết oan uổng, thảy đều xa ĺa).

 

          Kế đó, là vị thứ ba nói thần chú, kinh văn chia đoạn giống như phần trên.

5.14.4.2.4. Đế Thích nói thần chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đế Thích Thiên Chúa tức tùng ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă diệc hữu Đà La Ni danh Bạt Chiết La Phiến Nễ. Thị đại minh chú năng trừ nhất thiết khủng bố ách nạn, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly, bạt khổ, dữ lạc, lợi ích nhân thiên”. Tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha, tỳ nễ bà rị nễ, bạn đả ma đạn trệ, ma nị nễ trí, trí nễ cù rị, kiện đà rị, chiên đồ rị, ma đăng thi, thập yết tử. Tát la bạt lạt bệ, hế na mạt trụ, đáp ma ốt đa lạt nễ, mạc hô thứ nễ, đạt thứ nễ kế, chước yết ra bà chỉ, xả phạt rị, xa phạt rị, sa ha.

          ()爾時帝釋天主即從座起合掌恭敬白佛言世尊我亦有陀羅尼名跋折羅扇儞是大明呪能除一切恐怖厄難乃至枉死悉皆遠離拔苦與樂利益人天說呪怛姪他毘儞婆唎儞畔柁磨彈滯磨膩儞儞瞿哩揵陀哩栴荼哩摩登蓍十羯死薩羅跋喇鞞呬娜末住答磨嗢多喇儞莫呼刺儞達刺儞計斫羯囉婆枳捨伐哩奢伐哩莎訶

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đế Thích Thiên Chúa liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con cũng có Đà La Ni tên là Bạt Chiết La Phiến Nễ. Đại minh chú này có thể trừ hết thảy sợ hăi, tai ác, hoạn nạn, cho đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa, dẹp khổ, ban vui, lợi ích trời, người”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, tỳ nễ bà rị nễ, bạn đả ma đạn trệ, ma nị nễ trí, trí nễ cù rị, kiện đà rị, chiên đồ rị, ma đăng thi, thập yết tử. Tát la bạt lạt bệ, hế na mạt trụ, đáp ma ốt đa lạt nễ, mạc hô thứ nễ, đạt thứ nễ kế, chước yết ra bà chỉ, xả phạt rị, xa phạt rị, sa ha).

 

          Kế đó là vị thứ tư nói thần chú, phân đoạn kinh văn cũng giống như phần trước. Nói Đế Thích Thiên Chúa th́ Đế chính là Chủ, Thích là Có Thể, phương này dịch [danh hiệu vị này thành] Năng Đế, tức là nói chung. Sau đó nói Thiên Chúa, tức là chỉ vị chủ tể cơi trời.

 

5.14.4.2.5. Tứ thiên vương nói thần chú

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng Mục thiên vương, câu tùng ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă kim diệc hữu thần chú, danh Thí Nhất Thiết Chúng Sanh Vô Úy, ư chư khổ năo, thường vi ủng hộ, linh đắc an lạc, tăng ích thọ mạng, vô chư hoạn khổ, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly”. Tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha, bổ sáp bế, tô bổ sáp bế, độ ma, bát lạt ha lệ. A ri da bát lạt thiết tất đế, phiến đế niết mục đế mang yết lệ, tốt đổ đế. Tất đá tỵ đế, sa ha.

          ()爾時多聞天王持國天王增長天王廣目天王俱從座起合掌恭敬白佛言世尊我今亦有神呪名施一切眾生無畏於諸苦惱常為擁護令得安樂增益壽命無諸患苦乃至枉死悉皆遠離說呪怛姪他補澁閉蘇補澁閉度麼鉢喇訶阿囄耶鉢喇設悉扇帝涅目帝忙揭例窣覩帝悉哆鼻帝莎訶

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Đa Văn thiên vương, Tŕ Quốc thiên vương, Tăng Trưởng thiên vương, Quảng Mục thiên vương, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Con nay cũng có thần chú tên là Thí Nhất Thiết Chúng Sanh Vô Úy, đối với các kẻ khổ năo, sẽ thường ủng hộ, khiến họ được an vui, tăng thêm thọ mạng, chẳng có các hoạn nạn, khổ sở, cho đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, bổ sáp bế, tô bổ sáp bế, độ ma, bát lạt ha lệ. A ri da bát lạt thiết tất đế, phiến đế, niết mục đế mang yết lệ, tốt đổ đế. Tất đá tỵ đế, sa ha).

 

          Kế đó, là vị thứ năm nói chú. Kinh văn chia thành hai đoạn, lược đi không ca tụng lợi ích của chú. Trong đoạn thứ nhất, đầu tiên là nêu tên [của người nói thần chú]; kế đó là nghi thức thỉnh cầu, sau đó là trần thuật lợi ích. Phân đoạn kinh văn dễ thấy.

 

5.14.4.2.6. Các long vương nói thần chú

         

          (Kinh) Nhĩ thời, phục hữu chư đại long vương, sở vị Mạt Na Tư long vương, Điện Quang long vương, Vô Nhiệt Tŕ long vương, Điện Thiệt long vương, Diệu Quang long vương, câu tùng ṭa khởi, hiệp chưởng cung kính, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă diệc hữu Như Ư Bảo Châu Đà La Ni, năng giá ác điện, trừ chư khủng bố, năng ư nhân thiên vi đại lợi ích, ai mẫn thế gian, ủng hộ nhất thiết, hữu đại oai lực, sở cầu như nguyện, năi chí uổng tử, tất giai viễn ly, nhất thiết độc dược giai linh chỉ tức, nhất thiết tạo tác cổ đạo, chú thuật, bất cát tường sự, tất linh trừ diệt.

          ()爾時復有諸大龍王所謂末那斯龍王電光龍王無熱池龍王電舌龍王妙光龍王俱從座起合掌恭敬白佛言世尊我亦有如意寶珠陀羅尼能遮惡電除諸恐怖能於人天為大利益哀愍世間擁護一切有大威力所求如願乃至枉死悉皆遠離一切毒藥皆令止息一切造作蠱道呪術不吉祥事悉令除滅

          (Kinh: Lúc bấy giờ, lại có các đại long vương, như là Mạt Na Tư long vương, Điện Quang long vương, Vô Nhiệt Tŕ long vương, Điện Thiệt long vương, Diệu Quang long vương, đều từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con cũng có Như Ư Bảo Châu Đà La Ni, có thể ngăn trở các sấm chớp ác, trừ các sợ hăi, có thể tạo lợi ích to lớn cho trời người, thương xót thế gian, ủng hộ hết thảy, có oai lực to lớn, sở cầu như nguyện, cho đến chết oan uổng thảy đều xa ĺa, khiến cho hết thảy thuốc độc đều ngưng dứt (không c̣n gây độc), khiến cho hết thảy tạo tác như cổ thuật, nguyền rủa, chuyện chẳng cát tường thảy đều trừ diệt).

 

          Vị thứ sáu nói thần chú, kinh văn chia thành ba đoạn như phần trước. Đoạn đầu tiên gồm năm ư. Trong đoạn này, trước hết là liệt kê tên [của các long vương]. Từ “câu tùng ṭa khởi” (đều từ chỗ ngồi) trở đi là ư thứ hai, tức nghi thức thỉnh cầu [đức Phật cho phép họ nói thần chú]. Ư thứ ba là trần thuật lợi ích.

 

          (Kinh) Ngă kim dĩ thử thần chú phụng hiến Thế Tôn, duy nguyện ai mẫn, từ bi nạp thọ.

          ()我今以此神呪奉獻世尊唯願哀愍慈悲納受

    (Kinh: Con nay đem thần chú này dâng hiến đức Thế Tôn, kính mong thương xót, từ bi tiếp nhận).

 

          Kế đó là ư thứ tư: Thỉnh cầu [đức Thế Tôn] tiếp nhận.

 

          (Kinh) Đương linh ngă đẳng ly thử long thú, vĩnh xả xan tham. Hà dĩ cố? Do thử xan tham, ư sanh tử trung, thọ chư khổ năo. Ngă đẳng nguyện đoạn xan tham chủng tử”. Tức thuyết chú viết: - Đát điệt tha, a chiết lệ, a mạt lệ, a mật lật đế, ác xoa duệ, a tệ duệ. Bôn ni bát rị da pháp đế. Tát bà ba bả, bát lạt thiêm ma ni duệ, sa ha. A ly duệ bàn đậu tô ba ni duệ, sa ha. Thế Tôn! Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, khẩu trung thuyết thử Đà La Ni minh chú, hoặc thư kinh quyển, thọ tŕ, độc tụng, cung kính cúng dường giả, chung vô lôi, điện, tích lịch, cập chư khủng bố, khổ năo, ưu hoạn, năi chí uổng tử, giai tất viễn ly, sở hữu độc dược, cổ mỵ, yếm đảo hại nhân, hổ, lang, sư tử, độc xà chi loại, năi chí văn manh, tất bất vi hại.

          ()當令我等離此龍趣永捨慳貪何以故由此慳貪於生死中受諸苦惱我等願斷慳貪種子說呪怛姪他阿折阿末囇阿惡叉裔阿幣裔奔尼鉢唎耶法帝薩婆波跛鉢喇苫摩尼裔莎訶阿離裔般豆蘇波尼裔莎訶世尊若有善男子善女人口中說此陀羅尼明或書經卷受持讀誦恭敬供養者終無雷電霹靂及諸恐怖苦惱憂患乃至枉死皆悉遠離所有毒藥蠱魅厭禱害人虎狼師子毒蛇之類乃至蚊虻悉不為害

          (Kinh: Sẽ khiến cho chúng con ĺa khỏi đường rồng, vĩnh viễn đoạn keo tham. V́ sao vậy? Do ḷng keo tham ấy, [chúng con] ở trong sanh tử, hứng chịu các khổ năo. Chúng con nguyện đoạn dứt chủng tử của keo tham”. Liền nói chú rằng: - Đát điệt tha, a chiết lệ, a mạt lệ, a mật lật đế, ác xoa duệ, a tệ duệ. Bôn ni bát rị da pháp đế. Tát bà ba bả, bát lạt thiêm ma ni duệ, sa ha. A ly duệ bàn đậu tô ba ni duệ, sa ha. Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, trong miệng nói minh chú Đà La Ni này, hoặc biên chép kinh quyển, thọ tŕ, đọc tụng, cung kính cúng dường, sẽ trọn chẳng bị sấm, chớp, sét, và các sự sợ hăi, khổ năo, lo rầu, cho đến chết oan uổng, thảy đều xa ĺa. Tất cả thuốc độc, cổ độc, ếm đối hại người, các loài cọp, sói, sư tử, rắn độc, cho đến muỗi ṃng, thảy đều chẳng làm hại).

 

          Kế đó, ư thứ năm là phát nguyện. Trong ấy, có bốn điều: Một là nêu ra, hai là gạn hỏi, ba là giải thích, bốn là từ “ngă đẳng nguyện đoạn” (chúng con nguyện đoạn) trở đi, là phần kết luận. Các phần kinh văn khác dễ thấy.         

         

5.14.4.3. Đức Phật ấn chứng

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phổ cáo đại chúng: - Thiện tai, thiện tai! Thử đẳng thần chú giai hữu đại lực, năng tùy chúng sanh tâm sở cầu sự, tất linh viên măn, vi đại lợi ích, trừ bất chí tâm. Nhữ đẳng vật nghi.

          ()爾時世尊普告大眾善哉善哉此等神呪皆有大力能隨眾生心所求事悉令圓滿為大利益除不至心汝等勿疑

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng: - Lành thay! Lành thay! Các thần chú này đều có sức to lớn, có thể thuận theo điều mong cầu trong tâm chúng sanh, khiến được viên măn, tạo lợi ích to tát, trừ kẻ chẳng chí tâm. Các ông đừng nghi).

         

          Kế đó, đức Phật ấn chứng.

 

5.14.4.4. Đại chúng phụng hành

 

          (Kinh) Thời chư đại chúng văn Phật ngữ dĩ, hoan hỷ tín thọ.

          ()時諸大眾聞佛語已歡喜信受

          (Kinh: Khi đó, các đại chúng nghe đức Phật nói xong, hoan hỷ tin nhận).

 

          Kế đó là đoạn thứ tư, [đại chúng] phụng hành.

5.15. Phẩm thứ mười lăm: Đại Biện Tài Thiên Nữ (Đại Biện Tài Thiên Nữ phẩm đệ thập ngũ, 大辯才天女品第十五)

 

          Phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ gồm ba môn phân biệt: Ư nghĩa v́ sao có phẩm này, giải thích tên gọi của phẩm, và giải trừ vấn nạn.

 

5.15.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Nói về ư nghĩa v́ sao có phẩm này, trong phần Lưu Thông có ba phần, đầu tiên là Tu Hành Lưu Thông. Trong ấy, lại nói năm phẩm sau chính là ư thứ ba, [tức là]“khiến cho [hành nhân] tăng trưởng phước trí”. Trong phần Tăng Trưởng Phước Trí, có bốn điều:

          - Một, tăng trưởng biện tài.

          - Hai, tăng thêm y phục.

          - Ba, tăng thêm thức ăn.

          - Bốn, tăng thêm trí huệ.

          V́ sao như vậy? Muốn lưu thông pháp để lợi ích người khác, ắt phải cậy vào biện tài để nói với chúng sanh. Dẫu có biện tài khéo léo, nếu chẳng có y phục, h́nh tướng sẽ chẳng đoan nghiêm. Nếu không có thức ăn, Tứ Đại hư hao. Lại sợ chẳng thể chịu đựng nỗi khổ v́ thiếu thốn, bèn lùi bước chẳng hành tự lợi và lợi tha. Dẫu vẫn có thể hành, sợ rằng do sợ [thiếu thốn] mà mong cầu, tâm ô nhiễm nói pháp. V́ thế, tăng thêm ẩm thực, khiến cho [hành nhân] ĺa khỏi cái duyên ấy. Dẫu có duyên giúp đỡ, nếu chẳng có trí huệ, sẽ chẳng thể liễu đạt thắng nghĩa của thế tục, trở thành thuyết pháp điên đảo. V́ vậy, tăng thêm trí huệ. Nhưng hành tự lợi và lợi tha, th́ lợi tha làm đầu. Thuyết pháp lợi sanh, ắt phải nhờ vào TBiện Tài; do vậy, nói đến biện tài trước hết. V́ thế, có phẩm này.

 

5.15.2. Giải thích danh xưng của phẩm này

 

          Giải thích danh xưng th́ tiếng Phạn là Ma Ha (Mahā, phương này dịch là Đại) Tát La Tất Tri Bà Để (Sarasvatī, phương này dịch Biện Tài) Đề Bà Tỷ (Devī, phương này dịch là Thiên Nữ). Trước hết, giải thích sơ lược ư nghĩa đại cương, gồm bốn điều, như luận Đại Trang Nghiêm nói: “Lại có bốn thứ đại: Một là thắng xuất đại, do vượt trội trong năm đường thuộc ba cơi. Hai là tịch tĩnh đại, do tiến hướng vô trụ xứ Niết Bàn. Ba là công đức đại, do hai khối phước và trí đều tăng trưởng. Bốn là lợi vật đại (lợi lạc chúng sanh to lớn), do thường nương vào đại bi, chẳng xả chúng sanh”.

          Biện Tài tức là Tứ Biện Tài, tức là trí mẫn tiệp, Tài chính là tài nghệ, kỹ năng. Có trí mẫn tiệp, vừa có tài khéo, cho nên nói là Biện Tài. Tức là Biện Tài này do thuộc vào bốn loại “đại” [như luận Đại Trang Nghiêm vừa mới nói], cho nên gọi là Đại Biện. Tác dụng thần kỳ, tự tại sáng sạch, th́ gọi là Thiên, mà cũng chính là Đệ Nhất Nghĩa Thiên. Vị trời có biện tài to lớn, [cho nên gọi là Đại Biện Tài]. Do Đại Biện Tài Thiên là thân nữ, nên nói là Đại Biện Tài Thiên Nữ. Chân Đế Tam Tạng nói: “Đấy chính là bậc Cửu Địa Bồ Tát, trọn đủ bốn thứ biện tài, lại có thể thí cho người khác. V́ thế, xưng hiệu như vậy”.

 

5.15.3. Giải thích vấn nạn

 

          * Hỏi: Trong bốn thứ Biện Tài, [vị thiên nữ này] thuộc loại nào?

          Đáp: Trọn đủ cả bốn món! V́ sao biết? Kinh văn trong phần sau chép: “Cụ túc trang nghiêm ngôn thuyết chi biện” (trọn đủ biện tài nói năng trang nghiêm); đó là Từ Vô Ngại Biện. “Ư thử kinh trung, văn tự, cú nghĩa” (Đối với văn tự, câu nghĩa trong kinh này); đó là hai món biện tài Pháp và Nghĩa. Kinh thể (bản thể của kinh) có hai thứ: Một là văn tự được diễn nói bởi kinh, hai là nghĩa lư được diễn nói [bởi bản kinh ấy], đều gọi là Kinh. “Năng thiện khai ngộ” (có thể khéo khai ngộ) tức là Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện. V́ thế, tổng kết rằng: “Phục dữ Đà La Ni Tổng Tŕ vô ngại” (Lại có thể cùng với Tổng Tŕ Đà La Ni vô ngại). Đà La Ni tức là bốn thứ “có thể tŕ”, c̣n Vô Ngại chính là bốn món Vô Ngại Biện được tŕ.

          * Hỏi: Tứ Vô Ngại Giải và Tứ Vô Ngại Biện có ǵ khác biệt?

          Đáp: Hiểu rơ bốn món không trầm trệ th́ gọi là Giải. Nói bốn món mà chẳng bị trầm trệ th́ là Biện. Biện nương vào Giải mà khởi, Giải nhờ vào Biện mà được tỏ rơ, do Thể của nó là Huệ. Trong các kinh luận, chúng được dùng lẫn cho nhau, nhưng chỉ nói bốn thứ. Tŕ bốn thứ chẳng quên th́ gọi là Tứ Tổng Tŕ, tức là kiêm Niệm và Huệ.

          * Hỏi: Nay vị thiên nữ này trọn đủ Biện Tổng Tŕ, sao chẳng gọi là Đại Tổng Tŕ thiên nữ?

          Đáp: Tổng Tŕ là nhân, bốn pháp được tŕ [bởi Tổng Tŕ] là quả. Từ quả mà danh hiệu sẽ thù thắng, nên chẳng đặt tên theo nhân. Lại có thể hiểu là: Biện là lợi tha, c̣n Tŕ th́ tự lợi nhiều hơn. V́ thế, thuận theo phương diện lợi tha trội hơn mà gọi là Đại Biện Tài. Do đó, trong phần sau, ngài Kiều Trần Như thỉnh rằng: “Duy nguyện trí huệ Biện Tài Thiên, dĩ diệu ngôn từ thí nhất thiết” (Kính mong vị Biện Tài Thiên là bậc trí huệ, dùng ngôn từ mầu nhiệm thí cho hết thảy). Trong phần dạy [hành nhân] thỉnh cầu [biện tài] sau đó, cũng nói: “Kính lễ Biện Tài Thiên, linh ngă Từ vô ngại” (kính lễ Biện Tài Thiên, khiến cho tôi Từ vô ngại) v.v… Xét ra, cầu thỉnh Ngài th́ Ngài sẽ có thể thí cho hết thảy.

 

5.15.4. Giải thích kinh văn

5.15.4.1. Tăng thêm biện tài

5.15.4.1.1. Nghi thức thỉnh cầu cho phép diễn nói

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đại Biện Tài Thiên Nữ ư đại chúng trung, tức tùng ṭa khởi, đảnh lễ Phật túc, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn!”

          ()爾時大辯才天女於大眾中即從座起頂禮佛足白佛言世尊

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Đại Biện Tài Thiên Nữ ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật, bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn!)

 

          Tán rằng: Kinh văn trong phẩm này, chia đại lược thành ba phần:

          - Một, nêu ra chuyện tăng thêm biện tài.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Ngă đương” (bạch Thế Tôn! Con sẽ) trở đi, dạy phương cách cầu thỉnh [biện tài].

          - Ba, từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc bấy giờ, đức Phật bảo) trở đi, đức Thế Tôn tán thán, khuyên bảo.

          Trong đoạn thứ nhất, lại chia thành hai phần:

          - Một, nghi thức thỉnh cầu [đức Phật cho phép] diễn nói.

          - Hai, lợi ích cho người tu hành.

          Đoạn này thuộc ư đầu tiên.

 

5.15.4.1.2. Lợi ích cho người tu hành

5.15.4.1.2.1. Lợi ích cho người phụng tŕ, diễn nói

 

          (Kinh) Nhược hữu pháp sư thuyết thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh giả.

          ()若有法師說是金光明最勝王經

          (Kinh: Nếu có pháp sư nói kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này).

 

          Kế đó, là ư thứ hai, gồm hai điều:

          - Một, lợi ích cho người thọ tŕ, diễn nói.

          - Hai, từ “hựu thử Kim Quang Minh” (lại nữa, kinh Kim Quang Minh này) trở đi, hữu ích cho người nghe và học theo.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất, lại có hai ư nhỏ. Ư đầu tiên là phải nên lợi ích cho mọi người.

 

          (Kinh) Ngă đương ích kỳ trí huệ, cụ túc trang nghiêm ngôn thuyết chi biện.

          ()我當益其智慧具足莊嚴言說之

          (Kinh: Con sẽ tăng thêm trí huệ cho người ấy, trọn đủ biện tài, ngôn thuyết trang nghiêm).

 

          Kế đó, nói về hai pháp được tăng ích, có ba điều:

          - Một, nêu chung.

          - Hai, từ “cụ túc” (trọn đủ) trở đi, nêu riêng [từng pháp được tăng ích].

          - Ba, từ “tổng tŕ vô ngại” trở đi, kết lại.

          Trong phần nêu riêng, trước hết là “ban cho Từ Vô Ngại Biện”. Kế đó, từ “nhược bỉ pháp sư” (nếu pháp sư ấy) trở đi, ban cho biện tài và Đà La Ni. Đoạn này là nêu chung và phần nói riêng về Từ Vô Ngại Biện. Cửu Địa đắc Tứ Biện Tài; v́ thế, trong mười tám món biến hóa, [có một môn biến hóa là] thí cho người khác biện tài. Nói “cụ túc trang nghiêm” tức là trọn đủ tám loại ngữ.

 

          (Kinh) Nhược bỉ pháp sư ư thử kinh trung văn tự, cú nghĩa, sở hữu vong thất, giai linh ức tŕ, năng thiện khai ngộ, phục dữ Đà La Ni Tổng Tŕ vô ngại.

          ()若彼法師於此經中文字句義所有忘失皆令憶持能善開悟復與陀羅尼總持無礙

    (Kinh: Nếu vị pháp sư ấy đối với văn tự, và câu, nghĩa trong kinh này mà bị quên mất, con sẽ đều khiến cho [vị ấy] ghi nhớ, có thể khéo khai ngộ, lại ban cho Đà La Ni Tổng Tŕ vô ngại).

 

          Kế đó, điều thứ hai là ban cho các thứ biện tài khác. “Ư văn tự” (đối với văn tự) tức là Pháp. “Văn” chính là Tự, nói gộp chung Thể và Dụng. Đây là cái để năng thuyên (chủ thể có thể diễn nói) nương vào, Thể chẳng phải là năng thuyên. Cú (câu) chính là năng thuyên, [do nó có thể] diễn nói các nghĩa, [kinh văn] lược đi, chẳng nói tới Danh. “Giai linh ức tŕ” (đều khiến cho ghi nhớ) tức là Pháp Tŕ và Nghĩa Tŕ. Nghĩa lư của Văn là cái được tŕ, c̣n cái có thể tŕ [văn nghĩa ấy] chính là Tổng Tŕ; đó là nói gộp chung nhân quả. “Năng thiện khai ngộ” (Khéo có thể khai ngộ) tức là Nhạo Thuyết Biện Tài. “Phục dữ Đà La Ni” (lại ban cho Đà La Ni) tức là hai món Tổng Tŕ Chú và Nhẫn. Nói “Tổng Tŕ vô ngại” nhằm kết lại.

 

5.15.4.1.2.2. Lợi ích cho người học

5.15.4.1.2.2. 1. Kinh này được lưu truyền bởi người tu học đă lâu

 

          (Kinh) Hựu thử Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, vi bỉ hữu t́nh dĩ ư bách thiên Phật sở chủng chư thiện căn đương thọ tŕ giả, ư Thiệm Bộ châu, quảng hành lưu bố, bất tốc ẩn một.

          ()又此金光明最勝王經為彼有情已於百千佛所種諸善根當受持者於贍部洲廣行流布不速隱沒

          (Kinh: Lại nữa, kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này được các hữu t́nh đă gieo thiện căn nơi trăm ngàn đức Phật thọ tŕ và lưu truyền rộng răi trong châu Thiệm Bộ, chẳng bị nhanh chóng ẩn mất).

 

          Kế đó, điều thứ hai là lợi ích người nghe và học [kinh này]. Trong ấy, chia làm hai ư:

          - Một, chỉ rơ kinh này phải nên do người tu hành pháp đă lâu lưu hành.

          - Hai, từ “phục linh” (lại khiến cho) trở đi, chỉ ra kinh này có thể khiến cho người học đạt được lợi ích to lớn.

          Kinh văn thuộc ư thứ nhất gồm hai điều:

          - Một, nói về hạnh đă thực hiện.

          - Hai, pháp được lưu hành đă lâu. Điều này giống như kinh Bát Nhă dạy: “Năng sanh nhất niệm tịnh tín chi tâm, đương tri dĩ tằng cúng dường đa Phật” (Hăy nên biết người có thể sanh một niệm tâm tịnh tín, chính là đă từng cúng dường nhiều vị Phật).

 

5.15.4.1.2.2. 2. Người học đạt được lợi ích

 

          (Kinh) Phục linh vô lượng hữu t́nh văn thị kinh điển, giai đắc bất khả tư nghị tiệp lợi biện tài, vô tận đại huệ, thiện giải chúng luận, cập chư kỹ thuật.

          ()復令無量有情聞是經典皆得不可思議捷利辯才無盡大慧善解眾論及諸技術

          (Kinh: Lại khiến cho vô lượng hữu t́nh nghe kinh điển này, đều đạt được biện tài mẫn tiệp, nhạy bén chẳng thể nghĩ bàn, vô tận đại huệ, khéo hiểu các luận, và các nghề khéo).

 

          Kế đó, người học [kinh này] đạt được lợi ích, có ba phần:

          - Một, đạt được biện tài trong hiện tại.

          - Hai, sẽ chứng Phật quả.

          - Ba, tăng thọ v.v… trong đời hiện tại.

          Trong phần “đạt được biện tài”, đầu tiên là đắc biện tài mẫn tiệp, nhanh nhạy, tức là Nhạo Thuyết Biện Tài và Từ Biện Tài. Do trong một sát-na có thể hiện các âm thanh, nên gọi là Tiệp Lợi (mẫn tiệp và nhanh nhạy). Trong Nhạo Thuyết Biện Tài, lại có bảy thứ:

          - Một, tấn biện, [tức biện tài lưu loát] như sông treo liên tục chảy lạnh lùng chẳng chậm trễ.

          - Hai, tiệp biện, tức là cần nói liền nói, chẳng ấp úng.

          - Ba, ứng biện, tức tương ứng với thời cơ.

          - Bốn, vô sơ mậu biện (biện tài không sai sót, lầm lẫn), nói lời đích đáng.

          - Năm, vô đoạn tận biện, do nói liên hoàn, chẳng dứt.

          - Sáu, phong nghĩa vị biện (biện tài với nghĩa vị phong phú), do trọn đủ các nghĩa lư.

          - Bảy, tối thượng diệu biện, cơi đời không ai có thể hơn được.

          “Tiệp lợi” tức là hai loại biện tài đầu tiên, Vô Tận chính là loại thứ năm, “đại huệ” tức các loại biện tài c̣n lại. “Thiện giải chúng luận” (khéo hiểu các luận) v.v… tức Pháp Nghĩa Biện Tài. “Bất tư nghị” là nói chung cho cả bốn câu. Diệu dụng khó lường, gọi là “bất tư nghị”.

 

          (Kinh) Năng xuất sanh tử, tốc thú Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.

          ()能出生死速趣無上正等菩提

          (Kinh: Có thể thoát sanh tử, nhanh chóng tiến đến Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề).

 

          Kế đó, sẽ chứng Phật quả.

 

          (Kinh) Ư hiện thế trung, tăng ích thọ mạng, tư thân chi cụ tất linh viên măn.

          ()於現世中增益壽命資身之具悉令圓滿

     (Kinh: Trong đời hiện tại, tăng thêm thọ mạng, vật dụng cần thiết cho cuộc sống đều được viên măn).

 

          Sau đó là tăng thêm tuổi thọ v.v… trong cuộc sống hiện thời.

 

5.15.4.2. Dạy phương cách thỉnh cầu

5.15.4.2.1. Dạy cách tŕ kinh và phương tiện để cầu biện tài

5.15.4.2.1.1. Nêu chung cách chỉ dạy

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă đương vị bỉ tŕ kinh pháp sư, cập dư hữu t́nh, ư thử kinh điển nhạo thính văn giả, thuyết kỳ chú dược, tẩy dục chi pháp.

          ()世尊我當為彼持經法師及餘有情於此經典樂聽聞者說其呪藥洗浴之

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Con sẽ v́ vị pháp sư tŕ kinh ấy và các hữu t́nh khác, đối với những người ưa thích nghe kinh điển này, nói cách dùng thuốc và tắm gội dành cho chú này).

 

          Tán rằng: Kế đó, dạy phương cách để cầu [biện tài]. Có hai phần:

          - Một, dạy cách tŕ kinh và phương tiện để cầu.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Pháp Sư Thọ Kư” (lúc bấy giờ, Pháp Sư Thọ Kư) trở đi, dạy thẳng vào cách cầu biện tài.

          Đoạn thứ nhất gồm có bốn điều:

          - Một, nêu chung chuyện chỉ dạy pháp thức.

          - Hai, dạy riêng phương cách.

          - Ba, thiên nữ khuyên hành tŕ.

          - Bốn, đức Thế Tôn tán thán, sắc truyền.

          Đoạn thứ nhất lại gồm có bốn ư:

          - Một, nêu ra người hành.

          - Hai, nêu ra pháp sẽ được dạy.

          - Ba, nêu ra công năng của pháp.

          - Bốn, khuyên tu học.

          Đoạn chánh kinh này gồm hai ư đầu.

 

          (Kinh) Bỉ nhân sở hữu ác tinh, tai biến, dữ sơ sanh thời tinh thuộc tương vi, dịch bệnh chi khổ, đấu tránh, chiến trận, ác mộng, quỷ thần, cổ độc, yếm mỵ, chú thuật khởi thi, như thị chư ác vi chướng nạn giả, tất linh trừ diệt. Chư hữu trí giả ưng tác như thị tẩy dục chi pháp.

          ()彼人所有惡星災變與初生時星屬相違疫病之苦鬪諍戰陣惡夢鬼神蠱毒厭魅呪術起屍如是諸惡為障難者悉令除滅諸有智者應作如是洗浴之法

     (Kinh: Tất cả sao ác, tai biến, cùng với các tinh tú lúc mới sanh trái nghịch [bổn mạng] của người ấy, nỗi khổ về bệnh dịch, đấu đá, tranh chấp, chiến trận, ác mộng, quỷ thần, cổ độc, ếm đối, chú thuật khiến cho xác chết vùng dậy, các điều ác như thế gây chướng nạn, thảy đều trừ diệt. Những người có trí, hăy nên hành pháp tắm gội như thế).

 

          Kế đó, nêu ra công năng của pháp. Nói “tinh thuộc” (sao chiếu mạng) th́ ngày sanh ra của người phàm thuộc vào [ảnh hưởng của một ngôi sao nào đó trong] Nhị Thập Bát Tú [tương ứng với ngày đó]; trong đó, có thể có tinh tú tương khắc bổn mạng. Tuy người ấy không hiểu, nhưng hành pháp tắm gội này th́ chướng nạn cũng trừ diệt. Nói “chú thuật khởi thi” là chú thuật ở phương Tây (Ấn Độ) có thể khiến cho xác chết đứng dậy đi lại khắp nơi, có tác dụng bán phần hay toàn phần, gây hại cho người khác. Nương vào pháp tắm gội này th́ những thuật ấy cũng đều bị trừ diệt. Các phần kinh văn khác dễ hiểu. Đoạn này chính là dạy chung hai hạng người nói và nghe [kinh này], và người cầu biện tài, đều phải nên hành theo cách tắm rửa này!

 

5.15.4.2.1.2. Dạy riêng phương pháp

5.15.4.2.1.2.1. Dạy cách tắm gội

5.15.4.2.1.2.1.1. Chỉ ra phương thuốc dùng để tắm gội

 

          (Kinh) Đương thủ hương dược tam thập nhị vị, sở vị xương bồ (pha-giả), ngưu hoàng (cù-lô-chiết-na), mục túc hương (tắc-tất-lực-ca), xạ hương (mạc-ha-bà-ca), hùng hoàng (mạt-nại-si-la), hợp hôn thụ (thi-lợi-sái), bạch cập (nhân-đạt-la-hát-tất-đá), khung cùng (xà-mạc-ca), cẩu kỷ căn (thiêm nhị), tùng chỉ (thất-lợi-tiết-sắt-đắc-ca), quế b́ (đốt-giả), hương phụ tử (mục-tốt-đá), trầm hương (ác-yết-rô), chiên đàn (chiên-đàn-na), linh bà hương (đa-yết-la), đinh tử (sách-cù-giả), uất kim (đồ-củ-ma), bà luật cao (yết-la-sa), vi hương (nại-lạt-đà), trúc hoàng (hốt-lộ-chiến-na), tế đậu khấu (tô-khấp-mê-la), cam tùng (nhị-thiêm-đá), hoắc hương (bát-đát-la), mao căn hương (ốt-thi-la), sất chỉ (tát-lạc-kế), ngải nạp (thế-lê-dă), an tức hương (cũ-cụ-la), giới tử (tát-lợi-sát-bả), mă cần (diệp-bà-nễ), long hoa tu (na-gia-kê-tát-la), bạch giao (tát-chiết-la-bà), thanh mộc (củ-sắt-tha), giai đẳng phần.

          ()當取香藥三十二味所謂昌蒲(坡者)牛黃(瞿盧折娜)苜蓿香(塞畢力迦)麝香(莫訶婆伽)雄黃(眵羅)合昏樹(尸利灑)白及(因達羅喝悉哆)芎藭(闍莫迦)苟杞根(苫弭)松脂(室利薛瑟得迦)桂皮(咄者)香附子(目窣哆)沈香(惡揭嚕)栴檀(栴檀娜)零婆香(多揭羅)丁子(索瞿者)欝金(荼矩麼)婆律膏(揭羅娑)葦香(剌柁)竹黃(𩾲路戰娜)細豆蔲(蘇泣迷羅)甘松(弭苫哆)藿香(鉢怛羅)茅根香(嗢尸羅)𭇣(薩洛計)艾納(世黎也)安息香(寠具攞)芥子(薩利殺跛)馬芹(葉婆儞)龍華鬚(那加雞薩羅)白膠(薩折羅婆)青木(矩瑟他)皆等分

          (Kinh: Hăy nên lấy ba mươi hai vị thuốc có mùi thơm, tức là xương bồ[3] (pha-giả, vaca), ngưu hoàng[4] (cù-lô-chiết-na, gorocana), mục túc hương[5] (tắc-tất-lực-ca, spṛka), xạ hương[6] (mạc-ha-bà-ca, mahābhāga), hùng hoàng[7] (mạt-nại-si-la, manaḥśila), hợp hôn thụ[8] (thi-lợi-sái, śirīṣa), bạch cập[9] (nhân-đạt-la-hát-tất-đá, Indra-hasta), khung cùng[10] (xà-mạc-ca, śyābhyaka), rễ cây cẩu kỷ (thiêm nhị, śami), nhựa thông (thất-lợi-tiết-sắt-đắc-ca, śrīveṣṭaka), vỏ quế (đốt-giả, tvaca), hương phụ tử (mục-tốt-đá, musta), trầm hương (ác-yết-rô, agaru), chiên đàn (chiên-đàn-na, candana), linh bà hương (đa-yết-la, tagara), đinh tử (sách-cù-giả, samocaka, nụ hoa đinh hương), uất kim (đồ-củ-ma, Kuṅkuma, tức nghệ), bà luật cao (yết-la-sa, gālava), vi hương (nại-lạt-đà, narada), trúc hoàng (hốt-lộ-chiến-na, gorocanā), tế đậu khấu[11] (tô-khấp-mê-la, sūkṣmela), cam tùng[12] (nhị-thiêm-đá), hoắc hương (bát-đát-la, patra), mao căn hương (ốt-thi-la, Uśīra), sất chỉ (tát-lạc-kế, śalāka), ngải nạp[13] (thế-lê-dă, śaileya), an tức hương (cũ-cụ-la, gulgula), hạt cải (tát-lợi-sát-bả, sarṣapa), mă cần (diệp-bà-nễ, hạt cumin), long hoa tu (na-gia-kê-tát-la, nāgakeśara), bạch giao (tát-chiết-la-bà, sarjarasa), thanh mộc (củ-sắt-tha, kuṣṭha) phân lượng đều bằng nhau).

 

          Kế đó là dạy riêng phương pháp. Kinh văn chia thành bốn phần:

          - Một, dạy cách tắm gội.

          - Hai, từ “như thị dục dĩ” (tắm gội như thế xong) trở đi, dạy phát nguyện.

          - Ba, từ “phục thuyết tụng viết” (lại nói bài tụng rằng) trở đi, nói rơ lợi ích do hành theo pháp ấy.

          - Bốn, từ “thứ tụng hộ thân” (kế đó, tụng chú hộ thân) trở đi, dạy cách hộ thân.

          Phần “dạy cách tắm rửa” gồm tám điều:

          - Một, liệt kê phương thuốc để tắm gội.

          - Hai, chỉ dạy ngày giă, rây [các vị thuốc ấy].

          - Ba, dạy cách tụng chú vào thuốc.

          - Bốn, dạy cách làm đàn tràng.

          - Năm, dạy cách làm nước thơm [để tắm gội].

          - Sáu, dạy cách kết giới.

          - Bảy, chánh thức dạy cách tắm gội.

          - Tám, dạy cách thực hiện sau khi tắm rửa xong.

          Đoạn này thuộc điều thứ nhất, trước hết là nêu ra [số lượng các vị thuốc], sau đó, liệt kê [các vị thuốc]. Bà Luật Cao tức là cao long năo. Vi Hương là chất thơm trong cỏ lau. Trúc Hoàng là chất thơm sanh từ cây trúc. Tế Đậu Khấu là trong các loài Đậu Khấu, có loại thô, loại tế. Mao Căn Hương giống như Đâu Lâu Bà Hương.

 

5.15.4.2.1.2.1.2. Chỉ dạy ngày thích hợp để nghiền, rây các vị thuốc ấy

 

          (Kinh) Dĩ Bố Sái tinh nhật, nhất xứ đảo si, thủ kỳ hương mạt.

          ()以布灑星日一處擣篩取其香末

          (Kinh: Chọn ngày thuộc sao Bố Sái, giă chung các vị thuốc ấy, rây lọc lấy bột hương).

 

          Kế đó, điều thứ hai là dạy ngày nghiền và rây lọc [các vị thuốc ấy]. [Bố Sái (Puṣya)] tức là tên của tinh tú ở phía Nam trong Nhị Thập Bát Tú, tức là ngày có sao Quỷ[14] như các bản dịch cũ đă ghi.

 

5.15.4.2.1.2.1.3. Dạy cách tụng chú vào hương dược

 

          (Kinh) Đương dĩ thử chú, chú nhất bách bát biến. Chú viết: - Đát điệt tha, tô cật lật đế, cật lật đế, cật lật kế, kiếp ma đát lư, thiện nộ yết lan trệ, hác yết lạt trệ, nhân đạt la xà lợi nị, thước yết lan trệ, bát thiết điệt lệ. A phạt để yết tế, kế na củ đổ, củ đổ, cước ca tỵ lệ, kiếp tỵ lệ, kiếp tỵ lệ, kiếp tỳ la mạt để, thi la mạt để, san để độ ra mạt để, lư ba phạt củ bạn trĩ lệ, thất lệ, thất lệ, tát để tất thể đê, sa ha.

          ()當以此呪呪一百八遍呪曰怛姪他蘇訖栗帝訖栗帝訖栗計劫摩怛里繕怒羯郝羯喇滯因達囉闍利膩鑠羯鉢設姪囇阿伐底羯細計娜矩覩矩覩脚迦鼻麗劫鼻囇劫鼻麗劫毘羅末底尸羅末底刪底度囉末底里波伐矩畔稚囇室囇室囇底悉體羝莎訶

     (Kinh: Hăy nên dùng chú này, tụng một trăm lẻ tám lượt [vào bột hương ấy]. Chú rằng: - Đát điệt tha, tô cật lật đế, cật lật đế, cật lật kế, kiếp ma đát lư, thiện nộ yết lan trệ, hác yết lạt trệ, nhân đạt la xà lợi nị, thước yết lan trệ, bát thiết điệt lệ. A phạt để yết tế, kế na củ đổ, củ đổ, cước ca tỵ lệ, kiếp tỵ lệ, kiếp tỵ lệ, kiếp tỳ la mạt để, thi la mạt để, san để độ ra mạt để, lư ba phạt củ bạn trĩ lệ, thất lệ, thất lệ, tát để tất thể đê, sa ha).

 

          Kế đó, điều thứ ba là dạy cách biến hóa hương dược.

 

5.15.4.2.1.2.1.4. Dạy cách làm đàn tràng

 

          (Kinh) Nhược nhạo như pháp tẩy dục thời, ưng tác đàn tràng, phương bát trửu, khả ư tịch tĩnh định ổn xứ, niệm sở cầu sự bất ly tâm. Ưng đồ ngưu phẩn tác kỳ đàn. Ư thượng, phổ tán chư hoa thái. Đương dĩ tịnh khiết kim ngân khí, thịnh măn mỹ vị tịnh nhũ mật. Ư bỉ đàn tràng tứ môn sở, tứ nhân thủ hộ pháp như thường. Linh tứ đồng tử hảo nghiêm thân, các ư nhất giác, tŕ b́nh thủy. Ư thử, thường thiêu An Tức hương, ngũ âm chi nhạc thanh bất tuyệt. Phan cái trang nghiêm, huyền tăng thái, an tại đàn tràng chi tứ biên. Phục ư tràng nội, trí minh kính, lợi đao, kiêm tiễn, các tứ mai. Ư đàn trung tâm, mai đại bồn, ưng dĩ lậu bản an kỳ thượng.

          ()若樂如法洗浴時應作壇場方八肘可於寂靜定穩處念所求事不離心應塗牛糞作其壇於上普散諸華彩當以淨潔金銀器盛滿美味并乳蜜於彼壇場四門所四人守護法如常令四童子好嚴身各於一角持瓶水於此常燒安息香五音之樂聲不旛蓋莊嚴懸繒綵安在壇場之四邊復於場內置明利刀兼箭各四枚於壇中心埋大盆應以漏版安其上

    (Kinh: Nếu lúc nào ưa thích đúng như pháp tắm gội, hăy nên làm đàn tràng h́nh vuông, rộng tám khủy tay[15]. Có thể ở chỗ tịch tịnh, an định [để làm đàn], nghĩ tới chuyện mong cầu, chẳng ĺa tâm. Hăy nên trát phân ḅ để làm cái đàn ấy. Trên đó, rải trọn khắp các hoa nhiều màu. Hăy nên dùng đồ đựng bằng vàng hay bạc tinh sạch, chứa đầy đồ ăn ngon lành và sữa, mật. Nơi bốn cửa của đàn tràng ấy, bốn người thủ hộ theo lệ thường. Sai bốn bé trai thân trang hoàng đẹp đẽ, đứng ở mỗi góc đàn, cầm một b́nh nước. Trong ấy, thường đốt hương An Tức, tiếng nhạc ngũ âm chẳng dứt. Phan, lọng trang nghiêm, treo lọng lụa, xếp đặt ở bốn phía đàn tràng. Lại ở trong đàn tràng, đặt tấm gương sáng, đao bén, và mũi tên, mỗi thứ bốn phần. Ở chính giữa đàn, chôn một cái chậu lớn, hăy nên dùng ván thấm nước để trên đó).

 

          Kế đến, điều thứ tư là dạy làm đàn tràng. Trong ấy có tám ư:

          - Một, nửa đầu bài tụng nói về kích thước của đàn tràng.

          - Hai, từ “khả ư tịch tĩnh” (có thể ở nơi thanh vắng) trở đi, dạy nơi chốn lập đàn tràng.

          - Ba, nửa bài tụng từ “ưng đồ” (nên trát) trở đi, dạy cách tô trát đàn tràng.

          - Bốn, nửa bài tụng kế đó, dạy cách cúng dường.

          - Năm, nửa bài tụng tiếp theo, dạy về sự thủ hộ.

          - Sáu, nửa bài tụng kế đó, dạy về sự trang nghiêm.

          - Bảy, nửa bài tụng kế đó, dạy về cách tránh ác.

          - Tám, nửa bài tụng sau đó, dạy cách tạo chỗ tắm gội.

 

5.15.4.2.1.2.1.5. Dạy cách làm nước thơm để tắm

 

          (Kinh) Dụng tiền hương mạt dĩ ḥa thang, diệc phục an tại ư đàn nội.

          ()用前香抹以和湯亦復安在於壇

          (Kinh: Dùng bột hương trên đây ḥa với nước nóng, cũng lại đặt trong đàn tràng).

 

          Kế đó, ư thứ năm là dạy làm nước nóng để tắm.

 

5.15.4.2.1.2.1.6. Dạy cách kết giới

 

          (Kinh) Kư tác như tư bố trí dĩ, nhiên hậu tụng chú kết kỳ đàn. Kết giới chú viết: - Đát điệt tha, át lạt kế, na dă nê. Hế lệ, mi lệ, kỳ lệ, xí xí lệ, sa ha.

          ()既作如斯布置已然後誦呪結其壇結界呪曰怛姪他頞喇計娜也泥呬麗弭麗祇麗企企麗莎訶

          (Kinh: Đă sắp đặt như thế xong, sau đó, tụng chú để kết giới cái đàn ấy. Chú kết giới như sau: - Đát điệt tha, át lạt kế, na dă nê. Hế lệ, mi lệ, kỳ lệ, xí xí lệ, sa ha).

 

          Kế đó, điều thứ sáu là dạy cách kết giới. Nửa đầu bài tụng nhằm kết lại phần trước, ḥng dẫn khởi phần sau, kế đó là chánh thức dạy thần chú để kết giới.

 

5.15.4.2.1.2.1.7. Dạy cách tắm rửa

 

          (Kinh) Như thị kết giới dĩ, phương nhập ư đàn nội, chú thủy tam thất biến, tán sái ư tứ phương. Thứ khả chú hương thang, măn nhất bách bát biến. Tứ biên an mạn chướng, nhiên hậu tẩy dục thân. Chú thủy, chú thang, chú viết: - Đát điệt tha, sách yết trí, tỳ yết trí, tỳ yết đồ phạt để, sa ha.

          ()如是結界已方入於壇呪水三七遍散灑於四方次可呪香湯滿一百八遍四邊安幔障然後洗浴身呪水呪湯呪曰怛姪他索揭智毘揭智毘揭荼伐底莎訶

          (Kinh: Kết giới như thế xong, mới vào trong đàn tràng, tụng chú vào nước hai mươi mốt lần, rải khắp bốn phương. Kế đó, tụng chú vào nước tắm thơm, đủ một trăm lẻ tám lượt. Bốn phía căng màn che, sau đó tắm gội thân thể. Chú để tụng vào nước, vào nước nóng để tắm như sau: - Đát điệt tha, sách yết trí, tỳ yết trí, tỳ yết đồ phạt để, sa ha).

 

          Kế đó, điều thứ bảy là dạy cách tắm rửa. Có hai ư:

          - Một, kết lại phần trước.

          - Hai, từ “phương nhập” (rồi mới vào) trở đi, là tác pháp, gồm bốn điều:

          a) Tụng chú vào nước cho thanh tịnh.

          b) Tụng chú vào nước nóng để tắm rửa.

          c) Dạy cách che đậy thân thể lơa lồ.

          d) Lại dạy bài chú [để chú nguyện vào nước…]

 

5.15.4.2.1.2.1.8. Dạy cách thực hiện sau khi tắm xong

 

          (Kinh) Nhược tẩy dục ngật, kỳ tẩy dục thang, cập đàn tràng trung cúng dường ẩm thực, khí hà, tŕ nội, dư giai thâu nhiếp.

          ()若洗浴訖其洗浴湯及壇場中供養飲食棄河池餘皆收攝

          (Kinh: Nếu tắm rửa xong, nước tắm gội ấy và thức ăn cúng dường trong đàn tràng đem vứt xuống sông hay ao. Các thứ khác đều cất đi).

         

          Kế đó, điều thứ tám là dạy cách thức sau khi tắm xong.

 

5.15.4.2.1.2.2. Dạy cách phát nguyện

 

          (Kinh) Như thị dục dĩ, phương trước tịnh y, kư xuất đàn tràng, nhập tịnh thất nội, chú sư giáo kỳ phát hoằng thệ nguyện, vĩnh đoạn chúng ác, thường tu chư thiện, ư chư hữu t́nh dữ đại bi tâm. Dĩ thị nhân duyên, đương hoạch vô lượng tùy tâm phước báo.

          ()如是浴已方著淨衣既出壇場入淨室呪師教其發弘誓願永斷眾惡常修諸善於諸有情與大悲心以是因緣當獲無量隨心福報

          (Kinh: Tắm như thế xong, mới mặc áo sạch. Đă ra khỏi đàn tràng, vào trong tịnh thất, chú sư dạy kẻ đó phát hoằng thệ nguyện, vĩnh viễn đoạn các ác, thường tu các điều lành, đối với các hữu t́nh bằng tâm đại bi. Do nhân duyên ấy, sẽ đạt được vô lượng phước báo thuận ḷng).

 

          Kế đó, đoạn thứ hai trong phần “dạy riêng cách cầu biện tài” là dạy phát nguyện. Có năm ư:

          - Một, kết lại phần trước.

          - Hai, nghi quỹ mặc áo sạch, phát nguyện.

          - Ba, từ “kư xuất” (đă ra khỏi) trở đi, nơi chốn phát nguyện.

          - Bốn, từ “chú sư giáo” (chú sư dạy) trở đi, vâng theo lời thầy dạy. Đây là nói về kẻ mới học.

          - Năm, từ “vĩnh đoạn” (vĩnh viễn đoạn trừ) trở đi là phát nguyện. Phát nguyện gồm ba ư:

          a) Nguyện tu tự lợi.

          b) Từ “ư chư” (đối với các [hữu t́nh]) trở đi, nguyện hành lợi tha.

          c) Từ “dĩ thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở đi, tu hành đắc quả.

 

5.15.4.2.1.2.3. Lợi ích do làm theo

 

          (Kinh) Phục thuyết tụng viết: - Nhược hữu bệnh khổ chư chúng sanh, chủng chủng phương dược trị bất sai, nhược y như thị tẩy dục pháp, tịnh phục độc tụng tư kinh điển, thường ư nhật dạ niệm bất tán, chuyên tưởng ân cần sanh tín tâm, sở hữu hoạn khổ tận tiêu trừ, giải thoát bần cùng, túc tài bảo. Tứ phương tinh thần, cập nhật, nguyệt, oai thần ủng hộ đắc diên niên, cát tường an ổn, phước đức tăng, tai biến ách nạn giai trừ khiển.

          ()說頌若有病苦諸眾生種種方藥治不差若依如是洗浴法并復讀誦斯經典常於日夜念不散專想慇懃生信心所有患苦盡消除脫貧窮足財四方星辰及日月威神擁護得延年吉祥安穩福德增災變厄難皆除遣

     (Kinh: Lại nói bài tụng rằng: - Nếu có các chúng sanh bệnh khổ, các thứ thuốc thang trị chẳng lành, nếu theo pháp tắm gội như thế, lại c̣n đọc tụng kinh điển này, thường trong ngày đêm niệm chẳng loạn, chuyên tưởng ân cần, sanh ḷng tin. Tất cả bệnh khổ tiêu trừ sạch, giải thoát bần cùng, đủ của cải. Bốn phương tinh tú, và nhật, nguyệt, oai thần ủng hộ thọ mạng dài, tốt lành, an ổn, phước đức tăng, tai biến, ách nạn đều trừ sạch).

 

          Kế đó, phần thứ ba là “lợi ích đạt được do tu hành theo pháp này”. Nói chung, có ba bài tụng, chia thành ba phần:

          - Một, nửa bài tụng đầu tiên nêu ra chúng sanh có nỗi khổ.

          - Hai, bài tụng kế đó nói về chuyện học theo pháp này.

          - Ba, một bài tụng rưỡi sau cùng, nói về lợi ích đạt được do học pháp này.

          Lợi ích gồm tám điều: Một là khỏi bệnh, hai là trừ nghèo túng, ba là tài vật dư dật, bốn là được thủ hộ, năm là tăng thêm tuổi thọ, sáu là tốt lành, an ổn, bảy là tăng phước, tám là hết nạn. Kinh văn dễ hiểu.

 

5.15.4.2.1.2.4. Dạy cách hộ thân

 

          (Kinh) Thứ tụng Hộ Thân Chú tam thất biến, chú viết: - Đát điệt tha, tam mế, tỳ tam mế, sa ha. Sách yết trệ, tỳ yết trệ, sa ha. Tỳ yết đồ, phạt để, sa ha. Sa yết ra, tam bộ đa dă, sa ha. Tắc kiến đà, ma đa dă, sa ha. Ni la kiến tha dă, sa ha. A bát ra thị đá, tỳ lê da dă, sa ha. Hế ma bàn đá, tam bộ đa dă, sa ha. A nhĩ mật la, bạc đát ra dă, sa ha. Nam-mô bạc già phạt đô, bạt ra hám ma tả, sa ha. Nam-mô tát ra toan để, mạc ha đề tỵ duệ, sa ha. Tất điện đô mạn (thử vân thành tựu ngă mỗ giáp), mạn đát ra bát đả, sa ha. Đát lạt đô tỷ điệt đá, bạt ra hám ma nô mạt đổ, sa ha.

          ()次誦護身呪三七遍呪曰怛姪他三謎毘三謎莎訶索揭滯毘揭滯莎訶毘揭荼伐底莎訶娑揭囉三步多也莎訶塞建陀摩多也莎訶尼攞建他也莎訶阿鉢囉市哆𠼝耶也莎訶呬摩槃哆三步多也莎訶阿爾蜜攞薄怛囉也莎訶南謨薄伽伐都跋囉蚶摩寫莎訶南謨薩囉酸底莫訶提鼻裔莎訶悉甸都漫(此云成就我某甲)曼怛囉鉢柁莎訶怛喇都仳姪哆跋囉蚶摩奴末覩莎訶  

          (Kinh: Kế đó, tụng chú Hộ Thân hai mươi mốt lần, chú rằng: - Đát điệt tha, tam mế, tỳ tam mế, sa ha. Sách yết trệ, tỳ yết trệ, sa ha. Tỳ yết đồ, phạt để, sa ha. Sa yết ra, tam bộ đa dă, sa ha. Tắc kiến đà, ma đa dă, sa ha. Ni la kiến tha dă, sa ha. A bát ra thị đá, tỳ lê da dă, sa ha. Hế ma bàn đá, tam bộ đa dă, sa ha. A nhĩ mật la, bạc đát ra dă, sa ha. Nam-mô bạc già phạt đô, bạt ra hám ma tả, sa ha. Nam-mô tát ra toan để, mạc ha đề tỵ duệ, sa ha. Tất điện đô mạn (phương này dịch là “thành tựu con tên là…), mạn đát ra bát đả, sa ha. Đát lạt đô tỷ điệt đá, bạt ra hám ma nô mạt đổ, sa ha).

 

          Phần thứ tư là “dạy cách hộ thân”, gồm hai ư:

          - Một, dạy cách hộ thân.

          - Hai, nói chú hộ thân.

 

5.15.4.2.1.3. Thiên nữ khuyên hành tŕ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đại Biện Tài Thiên Nữ thuyết tẩy dục pháp đàn tràng chú dĩ, tiền lễ Phật túc, bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược hữu bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, thọ tŕ, độc tụng, thư tả, lưu bố thị diệu kinh vương, như thuyết hành giả, nhược tại thành, ấp, tụ lạc, khoáng dă, sơn lâm, tăng ni trụ xứ, ngă vị thị nhân, tương chư quyến thuộc, tác thiên kỹ nhạc, lai nghệ kỳ sở, nhi vi ủng hộ, trừ chư bệnh khổ, lưu tinh biến quái, dịch tật, đấu tránh, vương pháp sở câu, ác mộng, ác thần vi chướng ngại giả, cổ đạo, yếm thuật, tất giai trừ điễn, nhiêu ích thị đẳng tŕ kinh chi nhân, bật-sô đẳng chúng, cập chư thính giả, giai linh tốc độ sanh tử đại hải, bất thoái Bồ Đề.

          ()爾時大辯才天女說洗浴法壇場呪前禮佛足白佛言世尊若有苾芻苾芻尼鄔波索迦鄔波斯迦受持讀誦書寫流布是妙經王行者若在城邑聚落曠野山林僧尼住處我為是人將諸眷屬作天妓樂來詣其所而為擁護除諸病苦流星變怪疫疾鬪諍王法所拘惡夢惡神為障礙者蠱道厭術悉皆除殄饒益是等持經之人苾芻等眾及諸聽者皆令速渡生死大海不退菩提

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đại Biện Tài Thiên Nữ nói cách tắm gội, đàn tràng và chú ngữ xong, lễ dưới chân đức Phật, bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu có bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, thọ tŕ, đọc tụng, biên chép, lưu truyền kinh vương mầu nhiệm này, hành đúng như lời dạy, nếu ở tại thành ấp, xóm làng, đồng trống, núi, rừng, chỗ tăng ni ở, con sẽ v́ người ấy, dẫn các quyến thuộc, tấu kỹ nhạc cơi trời, đến chỗ người ấy để ủng hộ, trừ các bệnh khổ, sao băng biến hiện quái dị, bệnh dịch, đấu đá, tranh chấp, phép vua trói buộc, ác mộng, ác thần gây chướng ngại, cổ đạo, ếm đối, thảy đều trừ sạch, lợi ích những người tŕ kinh, các vị bật-sô v.v… ấy, và những người nghe, đều khiến cho họ mau chóng vượt qua biển cả sanh tử, chẳng thoái thất Bồ Đề).

 

          Kế đó, đoạn thứ ba trong phần dạy phương tiện là “thiên nữ khuyên hành tŕ”, có ba ư:

          - Một, kết lại pháp đă dạy trong phần trước.

          - Hai, từ “tiền lễ Phật túc” (lễ dưới chân đức Phật) trở đi, trần thuật khuyên người học, gồm ba ư:

          a) Nghi thức tác bạch.

          b) Thưa tŕnh.

          c) Từ “hữu bật-sô” (có bật-sô) trở đi, chỉ ra người hành tŕ.

          - Ba, từ “nhược tại thành ấp” (nếu tại thành, ấp) trở đi, nói rơ [thiên nữ] sẽ khiến cho họ được lợi ích.

          “Được lợi ích” gồm có ba điều:

          - Một, cúng dường, thủ hộ.

          - Hai, từ “trừ chư bệnh khổ” (trừ các bệnh khổ) trở đi, trừ tai ương.

          - Ba, từ “nhiêu ích thị đẳng” (lợi ích những người ấy) trở đi, khiến cho họ đạt được lợi ích thù thắng.

 

5.15.4.2.1.4. Đức Thế Tôn tán thán, sắc truyền

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn văn thị thuyết dĩ, tán Biện Tài Thiên Nữ ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Thiên nữ! Nhữ năng an lạc, lợi ích vô lượng vô biên hữu t́nh, thuyết thử thần chú, cập dĩ hương thủy, đàn tràng pháp thức, quả báo nan tư. Nhữ đương ủng hộ tối thắng kinh vương, vật linh ẩn một, thường đắc lưu thông”. Nhĩ thời, Đại Biện Tài Thiên Nữ lễ Phật túc dĩ, hoàn phục bổn ṭa.

          ()爾時世尊聞是讚辯才天女言善哉善哉天女汝能安樂利益無量無邊有情說此神呪及以香水壇場法式果報難思汝當擁護最勝經王勿令隱沒常得流通爾時大辯才天女禮佛足已還復本座

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe nói như thế xong, tán thán Biện Tài Thiên Nữ rằng: “Lành thay! Lành thay! Này thiên nữ! Bà có thể an lạc, lợi ích vô lượng vô biên hữu t́nh, nói thần chú ấy, và pháp thức nước thơm, đàn tràng, quả báo khó nghĩ! Bà hăy nên ủng hộ kinh vương tối thắng này đừng bị ẩn mất, thường được lưu truyền”. Lúc bấy giờ, Đại Biện Tài Thiên Nữ lễ dưới chân đức Phật xong, trở về chỗ của ḿnh).

 

          Kế đó, trong phần “dạy phương tiện”, đoạn thứ tư là “đức Thế Tôn tán thán, sắc truyền”. Có bốn ư:

          - Một, tán thán tổng tướng.

          - Hai, từ “Thiên nữ! Nhữ năng” (Thiên nữ! Bà có thể) trở đi, tán thán riêng từng điều. Có ba ư:

          a) Tán thán lợi ích do thiên nữ chỉ dạy pháp này.

          b) Từ “thuyết thử thần chú” (nói thần chú ấy) trở đi, tán thán riêng phương pháp đă chỉ dạy.

          c) Từ “quả báo nan tư” (quả báo khó nghĩ) trở đi, tán thán [thiên nữ] sẽ đắc quả.

          - Ba, từ “nhữ đương ủng hộ” (bà nên ủng hộ) trở đi, sắc truyền hộ pháp.

          - Bốn, từ “nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở đi, [thiên nữ] được tán thán, trở lại chỗ ngồi.

 

5.15.4.2.2. Dạy cách cầu biện tài

5.15.4.2.2.1. Kiều Trần Như tán thán, thỉnh cầu pháp

5.15.4.2.2.1.1. Tán thán nội đức, trụ xứ và oai nghi của thiên nữ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Pháp Sư Thọ Kư Kiều Trần Như Bà-la-môn, thừa Phật oai lực, ư đại chúng tiền, tán thỉnh Biện Tài Thiên Nữ viết.

          ()爾時法師授記憍陳如婆羅門承佛威力於大眾前讚請辯才天女曰

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pháp Sư Thọ Kư Kiều Trần Như nương theo oai lực của đức Phật, đối trước đại chúng, tán thán, cầu thỉnh Biện Tài Thiên Nữ rằng).

 

          Tán rằng: Đoạn thứ hai trong phần “dạy phương cách thỉnh cầu” là “dạy cách cầu biện tài”. Kinh văn chia thành bốn phần:

          - Một, Kiều Trần Như tán thán, thỉnh cầu pháp.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Biện Tài” (lúc bấy giờ, Biện Tài) trở đi, thiên nữ thuận theo lời thỉnh mà chỉ dạy.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Kiều Trần Như” (lúc bấy giờ, Kiều Trần Như), Kiều Trần Như nghe pháp hoan hỷ, tán thán.

          - Bốn, phần đầu quyển thứ tám, Kiều Trần Như vâng theo lời dạy, thỉnh gia bị.

          Trong phần thứ nhất có hai ư, đoạn này là “nêu ra lời thỉnh”.

 

          (Kinh) Thông minh, dũng tấn Biện Tài Thiên, nhân thiên cúng dường tất ưng thọ, danh văn thế gian biến sung măn, năng dữ nhất thiết chúng sanh nguyện.

          ()聰明勇進辨才天人天供養悉應受名聞世間遍充滿能與一切眾生願

          (Kinh: Thông minh, dũng, tấn Biện Tài Thiên, trời người cúng dường đều đáng nhận. Thanh danh vang dội khắp thế gian, hay thỏa hết thảy chúng sanh nguyện).

         

          Tiếp đó, nêu ra lời tán thán, thỉnh cầu, [gồm] ba bài tụng, được chia thành hai phần:

          - Một, hai bài tụng đầu nhằm tán thán.

          - Hai, bài tụng cuối cùng là lời thỉnh cầu.

          Phần tán thán lại chia thành ba tiểu đoạn:

          - Bài tụng thứ nhất tán thán nội đức.

          - Nửa bài tụng kế đó, tán thán trụ xứ.

          - Nửa bài tụng sau đó, tán thán oai nghi.

          Phần này là “tán thán nội đức”, gồm bốn điều:

          - Câu thứ nhất tán thán đức “trí siêng năng”.

          - Câu kế đó tán thán phẩm đức “[thiên nữ] là phước điền”.

          - Câu kế đó tán thán phẩm đức “[thanh danh] lan xa”.

          - Câu cuối cùng tán thán phẩm đức “măn nguyện”.

 

          (Kinh) Y cao sơn đảnh thắng trụ xứ, tập mao vi thất, tại trung cư, hằng kết nhuyễn thảo dĩ vi y, tại xứ thường kiều ư nhất túc.

          ()依高山頂勝住處葺茅為室在中居恒結軟草以為衣在處常翹於一足

    (Kinh: Chỗ trụ thù thắng đỉnh núi cao, gom tranh làm nhà, ở trong đó, luôn kết cỏ mềm làm y phục, khắp chốn thường luôn kiễng một chân).

 

          Kế đó, tán thán trụ xứ và oai nghi. Biểu thị [thiên nữ] có thể vượt thoát sanh tử, nên nói là “trụ nơi núi cao”. Thật ra, Ngài có thể hiện bất cứ nơi đâu. Do ĺa kiêu mạn, nên thường ở trong nhà tranh. Biểu thị ḥa dịu, nhẫn nhục, nên dùng cỏ mềm làm y phục. Luôn siêng năng lợi ích chúng sanh, nên thường kiễng một chân!

 

5.15.4.2.2.1.2. Thỉnh cầu

 

          (Kinh) Chư thiên đại chúng giai lai tập, hàm đồng nhất tâm thân tán thỉnh, duy nguyện trí huệ Biện Tài Thiên, dĩ diệu ngôn từ thí nhất thiết.

          ()諸天大眾皆來集咸同一心伸讚請唯願智慧辯才天以妙言辭施一切

    (Kinh: Đại chúng chư thiên đều nhóm đến, đều cùng nhất tâm tán thán, thỉnh. Kính mong trí huệ Biện Tài Thiên, dùng diệu ngôn từ thí hết thảy).

 

          Kế đó, giăi bày lời thỉnh, có hai ư:

          - Nửa bài tụng đầu tiên giăi bày ư [đại chúng] cùng tán thán, thỉnh cầu.

          - Nửa sau bài tụng, nguyện [Biện Tài Thiên Nữ] ban cho họ điều cầu mong.

          Xét theo điều cầu mong trong bài tán thuộc phần sau, [sẽ thấy] không chỉ [mong cầu] Từ Vô Ngại, nhưng do để thuyết pháp lợi sanh th́ Từ Vô Ngại thù thắng; cho nên đặc biệt giăi bày thỉnh cầu.

         

5.15.4.2.2.2. Thiên nữ dạy pháp

5.15.4.2.2.2.1. Nói chú và tán thán người thỉnh cầu

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Biện Tài Thiên Nữ tức tiện thọ thỉnh, vị thuyết chú viết: Đát điệt tha, mộ lệ, chỉ lệ, a phạt đế, a phạt trá phạt để, hinh ngộ lệ, danh cụ lệ, danh cụ la phạt để, ương cụ sư mạt rị chỉ tam mạt để. Tỳ tam mạt để, tỳ tam mạt để ác cận rị, mạc cận rị, đát ra chỉ, đát ra giả phạt để, chất chất rị thất lư mật lư. Mạt nan địa đàm mạt rị, chỉ bát ra noa tất rị duệ. Lô ca thệ sắt sế. Lô ca thất lệ sắt da. Lô ca tất rị duệ, tất đà bạt rị đế, tỳ ma mục xí thâu chỉ chiết rị. A bát rị để hát đế. A bát rị để hát đá bột địa. Nam mẫu chỉ, nam mẫu chỉ, mạc ha đề tỵ, bát rị để cận rị hôn noa. Nam ma tắc ca ra. Ngă mỗ giáp bột địa đạt rị xa hế. Bột địa a bát lạt để hát đá. Bà bạt đổ, thị bà mế tỳ thâu điệt đổ, xá tất đát ra thâu lộ ca, mạn đát ra tất đắc ca. Ca tỳ da địa số. Đát điệt tha: Mạc ha bát lạt bà tỵ. Hế mật lư, hế mật lư. Tỳ chiết lạt đổ mế bột địa. Ngă mỗ giáp bột địa thâu đề, bạc già phạt điểm đề tỳ diễm, tát la toan điểm. Yết ra trệ kê do lệ. Kê do la mạt để. Hế lư mật lư, hế lư mật lư. A bà ha da mi. Mạc ha đề tỵ, bột đà tát đế na, đạt ma tát đế na, tăng già tát đế na. Nhân đạt ra tát đế na. Bạt lâu noa tát đế na. Duệ lô kê tát để bà địa na. Đê sám tát đế na. Tát để phạt giả nê na, a bà ha da mi. Mạc ha đề tỵ. Hế lư mật lư, hế lư mật lư. Tỳ chiết lạt đổ ngă mỗ giáp bột địa. Nam-mô bạc già phạt để, mạc ha đề tỵ tát ra toan để. Tất điện đổ, mạn đát ra, bát đà di, sa ha”. Nhĩ thời, Biện Tài Thiên Nữ thuyết thị chú dĩ, cáo Bà-la-môn ngôn: - Thiện tai đại sĩ! Năng vị chúng sanh cầu diệu biện tài, cập chư trân bảo, thần thông, trí huệ, quảng lợi nhất thiết, tốc chứng Bồ Đề.

          ()爾時辯才天女即便受請說呪怛姪他只囇阿伐帝阿伐吒伐底馨遇隷名具隷名具羅伐底鴦具師末唎只三末底毘三末底毘三末底惡近唎莫近唎怛囉只怛囉者伐底質質哩室里蜜里末難地曇末唎只八囉拏畢唎裔盧迦逝瑟跇盧迦失囇瑟耶盧迦畢唎裔悉馱跋唎帝毘麼目企輸只折唎阿鉢唎底喝帝阿鉢唎底喝哆勃地南母只南母只莫訶提鼻鉢唎底近唎昏拏南摩塞迦囉我某甲勃地達哩奢呬勃地阿鉢喇底喝哆婆跋覩市婆謎毘輸姪覩舍悉怛囉輸路迦曼怛囉畢棏迦迦婢耶地數怛姪他莫訶鉢喇婆鼻呬里蜜里呬蜜里毘折喇覩謎勃地我某甲勃地輸提薄伽伐點提毘焰薩羅酸點羯囉滯雞由雞由羅末呬里蜜里呬里蜜里阿婆訶耶弭莫訶提鼻勃陀薩帝娜達摩薩帝僧伽薩帝娜因達囉薩帝娜跋嘍拏薩帝娜裔盧雞薩底婆地娜羝釤薩帝娜薩底伐者泥娜阿婆訶耶弭莫訶提鼻呬里蜜里呬里蜜里毘折喇覩我某甲勃地南謨薄伽伐底莫訶提鼻薩囉酸底悉甸覩曼怛囉鉢陀彌莎訶爾時辯才天女說是呪告婆羅門言善哉大士能為眾生求妙辯才及諸珍寶神通智慧廣利一切速證菩提

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Biện Tài Thiên Nữ liền nhận lời thỉnh, mà nói chú rằng: “Đát điệt tha: Mộ lệ, chỉ lệ, a phạt đế, a phạt trá phạt để, hinh ngộ lệ, danh cụ lệ, danh cụ la phạt để, ương cụ sư mạt rị chỉ tam mạt để. Tỳ tam mạt để, tỳ tam mạt để ác cận rị, mạc cận rị, đát ra chỉ, đát ra giả phạt để, chất chất rị thất lư mật lư. Mạt nan địa đàm mạt rị chỉ bát ra noa tất rị duệ. Lô ca thệ sắt sế. Lô ca thất lệ sắt da. Lô ca tất rị duệ, tất đà bạt rị đế, tỳ ma mục xí thâu chỉ chiết rị. A bát rị để hát đế. A bát rị để hát đá bột địa. Nam mẫu chỉ, nam mẫu chỉ, mạc ha đề tỵ, bát rị để, cận rị hôn noa. Nam ma tắc ca ra. Con tên là… bột địa đạt rị xa hế. Bột địa a bát lạt để hát đá. Bà bạt đổ, thị bà mế tỳ thâu điệt đổ, xá tất đát ra thâu lộ ca, mạn đát ra tất đắc ca. Ca tỳ da địa số. Đát điệt tha: Mạc ha bát lạt bà tỵ. Hế mật lư, hế mật lư. Tỳ chiết lạt đổ mế bột địa. Con tên là… bột địa thâu đề, bạc già phạt điểm đề tỳ diễm tát la toan điểm. Yết ra trệ kê do lệ. Kê do la mạt để. Hế lư mật lư, hế lư mật lư. A bà ha da mi. Mạc ha đề tỵ, bột đà tát đế na, đạt ma tát đế na, tăng già tát đế na. Nhân đạt ra tát đế na. Bạt lâu noa tát đế na. Duệ lô kê tát để bà địa na. Đê sám tát đế na. Tát để phạt giả nê na, a bà ha da mi. Mạc ha đề tỵ. Hế lư mật lư, hế lư mật lư. Tỳ chiết lạt đổ con tên là… bột địa. Nam-mô bạc già phạt để, mạc ha đề tỵ tát ra toan để. Tất điện đổ, mạn đát ra, bát đà di, sa ha”. Lúc bấy giờ, Biện Tài Thiên Nữ nói chú ấy xong, bảo Bà-la-môn rằng: - Lành thay đại sĩ! Ông có thể v́ chúng sanh cầu biện tài mầu nhiệm, và các trân bảo, thần thông, trí huệ, rộng lợi ích hết thảy, mau chứng Bồ Đề).

 

          Kế đó, thiên nữ dạy pháp, có ba phần:

          - Một, nói chú.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Biện Tài” (lúc bấy giờ, Biện Tài) trở đi là tán thán người thỉnh cầu.

          - Ba, từ “tức thuyết tụng viết” (liền nói kệ tụng rằng) dạy cách tu tập.

          Hỏi: Thỉnh cầu trong phần trước th́ chỉ cầu biện tài, cớ sao thiên nữ tán thán thần thông và các pháp khác?

          Đáp: Có hai cách hiểu. Một cách hiểu là như đă giải thích chuyện cầu biện tài nơi nguyện huệ trong phần trước. Một cách giải thích khác là: Tuy chỉ cầu biện tài, nhưng do biện tài mà đạt được các pháp khác. [Thiên nữ] tán thán chung nhân và quả. Cách giải thích trước hay hơn!

 

5.15.4.2.2.2.2. Dạy cách tu tập

 

          (Kinh) Như thị ưng tri thọ tŕ pháp thức. Tức thuyết tụng viết: - Tiên khả tụng thử Đà La Ni, linh sử thuần thục vô mậu thất.

          ()如是應知受持法式說頌先可誦此陀羅尼令使純熟無謬失

    (Kinh: Hăy nên biết thọ tŕ pháp thức như thế. Liền nói bài tụng rằng: - Trước nên tụng Đà La Ni này, khiến cho thuần thục, không sai sót).

 

          Kế đó, đoạn thứ ba là dạy cách tu tập, có hai phần:

          - Một, nêu bày [pháp tu].

          - Hai, từ “tức thuyết tụng” (liền nói bài tụng) trở đi, dạy cách tu tập. Nói chung, [phần này] gồm có mười chín bài tụng rưỡi, chia đại lược thành tám tiểu đoạn. Nửa bài tụng đầu tiên nhằm dạy tụng chú.

 

          (Kinh) Quy kính Tam Bảo, chư thiên chúng, thỉnh cầu gia hộ nguyện tùy tâm. Lễ kính chư Phật, cập Pháp Bảo, Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn chúng. Thứ lễ Phạm vương tịnh Đế Thích, cập hộ thế giả tứ thiên vương. Nhất thiết thường tu phạm hạnh nhân, tất khả chí thành ân trọng kính.

          ()歸敬三寶諸天眾請求加護願隨心禮敬諸佛及法寶菩薩獨覺聲聞眾次禮梵王并帝釋及護世者四天王一切常修梵行人悉可至誠慇重敬

    (Kinh: Quy kính Tam Bảo, các vị trời. Thỉnh cầu gia hộ, nguyện toại ḷng. Lễ kính chư Phật và Pháp Bảo, Bồ Tát, Độc Giác, các Thanh Văn. Rồi lễ Phạm vương và Đế Thích, cùng bậc hộ thế bốn thiên vương. Hết thảy người thường tu phạm hạnh, đều nên chí thành, rất trân trọng).

         

          Kế đó, tiểu đoạn thứ hai gồm hai bài tụng kế đó, dạy hăy quy kính, cầu thủ hộ, chia làm ba ư:

          - Nửa đầu bài tụng là nêu ra [sự quy kính].

          - Bài tụng kế đó, mỗi câu nói về một đối tượng để quy kính.

          - Câu cuối cùng là kết lại.

 

          (Kinh) Khả ư tịch tĩnh lan nhă xứ, đại thanh tụng tiền chú tán pháp, ưng tại Phật tượng, thiên long tiền, tùy kỳ sở hữu tu cúng dường.

          ()可於寂靜蘭若處大聲誦前呪讚法應在佛像天龍前隨其所有修供養

          (Kinh: Hăy ở chỗ lan nhă tịch tĩnh, lớn tiếng tụng pháp chú tán đó. Nên đối trước tượng Phật, trời, rồng, tùy ḿnh có ǵ đều cúng dường).

 

          Tiểu đoạn thứ ba, gồm một bài tụng, dạy đại lược cách tác pháp. Trong ấy, có bốn ư:

          - Một câu nói về chỗ để tác pháp.

          - Câu kế đó dạy tụng thần chú và tán. “Tán” tức là phần tán thỉnh trong phần trước.

          - Câu kế đó dạy về chỗ ngồi [để hành tŕ pháp này].

          - Câu cuối cùng dạy cúng dường.

 

          (Kinh) Ư bỉ nhất thiết chúng sanh loại, phát khởi từ bi ai mẫn tâm.

          ()於彼一切眾生類發起慈悲哀愍心

          (Kinh: Trong hết thảy loài chúng sanh ấy, phát khởi tâm từ bi, thương xót).

 

          Tiểu đoạn thứ tư, gồm nửa bài tụng, dạy phát khởi tâm từ bi.

 

          (Kinh) Thế Tôn diệu tướng tử kim thân, hệ tưởng chánh niệm, tâm vô loạn. Thế Tôn hộ niệm thuyết giáo pháp, tùy bỉ căn cơ linh tập định. Ư kỳ cú nghĩa thiện tư duy, phục y Không tánh nhi tu tập. Ưng tại Thế Tôn h́nh tượng tiền, nhất tâm chánh niệm nhi an tọa, tức đắc diệu trí tam-ma-địa, tịnh hoạch tối thắng Đà La Ni.

          ()世尊妙相紫金身繫想正念心無亂世尊護念教法隨彼根機令習定於其句義善思惟復依空性而修習應在世尊形像前一心正念而安坐即得妙智三摩地并獲最勝陀羅尼

     (Kinh: Thân Thế Tôn diệu tướng tử kim, tưởng chắc chánh niệm, tâm chẳng loạn. Thế Tôn hộ niệm, nói giáo pháp, tùy theo căn cơ dạy tu Định. Hăy khéo tư duy câu nghĩa ấy, lại nương tánh Không để tu tập. Nên đối trước h́nh tượng Thế Tôn, nhất tâm chánh niệm mà an tọa, liền đắc diệu trí tam-ma-địa, cũng đắc Đà La Ni tối thắng).

 

          Tiểu đoạn thứ năm gồm sáu bài tụng rưỡi, [nói về chuyện] nhờ vào cảnh mà an tâm để tu điều ḿnh vốn mong cầu. Trong ấy, có hai ư:

          - Hai bài tụng rưỡi đầu tiên là cầu Tổng Tŕ của Phật.

          - Bốn bài tụng kế đó là cầu Tứ Biện Tài của Phật, do là Phật quả.

          Trong phần “cầu Tổng Tŕ”, có bốn ư:

          - Nửa bài tụng đầu là quán Phật.

          - Một bài tụng kế đó nói về Tổng Tŕ: Nửa đầu bài tụng nói về Pháp và Chú Nhẫn. Nửa bài tụng kế đó nói về Nghĩa Đà La Ni.

          - Nửa bài tụng nói về chỗ hành pháp và cách tu.

          - Nửa bài tụng nói về đắc quả.

          Do trí định là cái gốc của các đức, nếu đạt được Tổng Tŕ, ắt sẽ thành tựu trí định.

 

          (Kinh) Như Lai kim khẩu diễn thuyết pháp, diệu hưởng điều phục chư nhân thiên, thiệt tướng tùy duyên hiện hy hữu, quảng trường năng phú tam thiên giới.

          ()如來金口演妙響調伏諸人天舌相隨緣現希有廣長能覆三千界

    (Kinh: Miệng vàng Như Lai diễn nói pháp, vang vọng điều phục các trời, người. Tướng lưỡi tùy duyên hiện hy hữu, rộng dài che khắp cơi tam thiên).

 

          Kế đó là bốn bài tụng nói về cầu biện tài. Trong ấy lại có ba phần:

          - Một bài tụng biện định về “mong cầu biện tài” và “công cụ của biện tài” (tức cái lưỡi).

          - Hai bài tụng kế đó dạy cầu hai điều ấy.

          - Bài tụng sau cùng là “điều mong cầu được toại”. Đoạn này là ư thứ nhất. “Thuyết pháp” chính là hai thứ Pháp Biện Tài và Nghĩa Biện Tài. “Diệu hưởng” (âm vang mầu nhiệm) tức là Từ Biện Tài. “Điều phục” chính là Nhạo Thuyết Biện Tài. “Thiệt tướng” (tướng lưỡi) tức là công cụ của biện tài.

 

          (Kinh) Như thị chư Phật diệu âm thanh, chí thành ức niệm, tâm vô úy. Chư Phật giai do phát hoằng nguyện, đắc thử thiệt tướng bất tư nghị, tuyên thuyết chư pháp giai phi hữu. Thí như hư không vô sở trước. Chư Phật âm thanh cập thiệt tướng, hệ niệm tư lượng nguyện viên măn.

          ()如是諸佛妙音聲至誠憶念心無畏諸佛皆由發弘願得此舌相不思議說諸法皆非譬如虛空無所著諸佛音聲及舌相繫念思量願圓滿

    (Kinh: Chư Phật diệu âm thanh như thế, chí thành nghĩ nhớ, tâm vô úy, chư Phật đều do phát hoằng nguyện, được tướng lưỡi ấy chẳng nghĩ bàn. Tuyên nói các pháp đều phi hữu, ví như hư không chẳng dính mắc. Âm thanh và tướng lưỡi chư Phật, hệ niệm suy lường, nguyện viên măn).

 

          Kế đó, dạy cầu hai thứ ấy. Nửa đầu bài tụng là cầu Từ Vô Ngại Biện, nửa bài tụng kế đó là cầu công cụ của biện tài. Nửa bài tụng kế đó là cầu ba món biện tài kia. Nửa bài tụng c̣n lại nhằm kết luận: Do nguyện mà đạt được!

 

          (Kinh) Nhược kiến cúng dường Biện Tài Thiên, hoặc kiến đệ tử tùy sư giáo, thọ thử bí pháp linh tu học, tôn trọng tùy tâm giai đắc thành.

          ()若見供養辯才天或見弟子隨師教授此祕法令修學尊重隨心皆得成

    (Kinh: Nếu thấy cúng dường Biện Tài Thiên, hoặc thấy đệ tử vâng lời thầy, nhận pháp bí mật này tu học, tôn trọng, tùy tâm đều được thành).

 

          Kế đó là bài tụng nói về cái quả được toại ḷng. Biện Tài thấy có thầy tṛ tu hành, ắt sẽ trao truyền pháp, khiến cho họ tu tập, nhất định sẽ được toại ư.

 

          (Kinh) Nhược nhân dục đắc tối thượng trí, ưng đương nhất tâm tŕ thử pháp, tăng trưởng phước trí chư công đức, tất định thành tựu, vật sanh nghi. Nhược cầu tài giả, đắc đa tài. Cầu danh xưng giả, hoạch danh xưng. Cầu xuất ly giả, đắc giải thoát. Tất định thành tựu, vật sanh nghi. Vô lượng vô biên chư công đức, tùy kỳ nội tâm chi sở nguyện. Nhược năng như thị y hành giả, tất đắc thành tựu vật sanh nghi.

          ()若人欲得最上智應當一心持此法增長福智諸功德必定成就勿生疑若求財者得多財求名稱者獲名稱求出離者得解必定成就勿生疑無量無邊諸功德隨其內心之所若能如是依行者必得成就勿生疑

    (Kinh: Nếu ai muốn đắc trí tối thượng, hăy nên nhất tâm tŕ pháp này, tăng trưởng các công đức phước trí. Chắc chắn thành tựu, chớ sanh nghi. Kẻ cầu tài vật, nhiều tài vật. Kẻ cầu tiếng tăm, có tiếng tăm. Người cầu thoát ĺa, được giải thoát. Nhất định thành tựu, đừng sanh nghi. Vô lượng vô biên các công đức, thuận theo điều mong nguyện trong tâm. Nếu hay hành theo đúng như thế, ắt được thành tựu, chớ sanh nghi).

 

          Tiểu đoạn thứ sáu gồm ba bài tụng nói riêng về sở cầu, có ba ư:

          - Một bài tụng nói về cầu trí và phước.

          - Bài tụng kế đó, nói về cầu [sự việc] thế gian và xuất thế gian.

          - Bài tụng cuối cùng là theo lệ cầu cho hết thảy.

 

          (Kinh) Đương ư tịnh xứ, trước tịnh y. Ưng tác đàn tràng tùy đại tiểu. Dĩ tứ tịnh b́nh thịnh mỹ vị, hương hoa cúng dường khả tùy thời, huyền chư tăng thái, tịnh tràng phan, đồ hương, mạt hương biến nghiêm sức, cúng dường Phật cập Biện Tài Thiên, cầu kiến thiên thân giai toại nguyện.

          ()當於淨處著淨衣應作壇場隨大小以四淨瓶盛美味香華供養可隨時懸諸繒綵并旛蓋塗香抹香遍嚴飾供養佛及辯才天求見天身皆遂願

    (Kinh: Ở nơi thanh tịnh, mặc áo sạch, nên làm đàn tràng tùy lớn, nhỏ. Dùng bốn b́nh sạch đựng vị ngon, hương, hoa cúng dường tùy theo mùa. Treo các lọng lụa và tràng phan, hương bôi, hương bột, trang nghiêm khắp. Cúng dường Phật và Biện Tài Thiên, cầu thấy thân trời đều toại nguyện).

 

          Tiểu đoạn thứ bảy gồm hai bài tụng nói cặn kẽ cách thc hiện.

 

          (Kinh) Ưng tam thất nhật tụng tiền chú, khả đối Đại Biện Thiên, Phật tiền. Nhược kỳ bất kiến thử thiên thần, ưng cánh dụng tâm kinh cửu nhật. Ư hậu dạ trung do bất kiến, cánh cầu thanh tịnh thắng diệu xứ. Như pháp ưng họa Biện Tài Thiên, cúng dường, tụng tŕ, tâm vô xả, trú dạ bất sanh ư giải đăi, tự lợi, lợi tha vô cùng tận. Sở hoạch quả báo thí quần sanh, ư sở cầu nguyện giai thành tựu. Nhược bất toại ư, kinh tam nguyệt, lục nguyệt, cửu nguyệt, hoặc nhất niên. Ân cần cầu thỉnh tâm bất di, Thiên Nhăn, Tha Tâm giai tất đắc.

          ()應三七日誦前呪可對大辯天佛前若其不見此天神應更用心經九日於後夜中猶不見更求清淨勝妙處如法應畫辯才天供養誦持心無捨晝夜不生於懈怠自利利他無窮盡所獲果報施群生於所求願皆成就若不遂意經三月六月九月或一年慇懃求請心不移天眼他心皆悉得

    (Kinh: Nên hăm mốt ngày tụng chú trên, đối trước Đại Biện Thiên hay Phật. Nếu chẳng thấy vị thiên thần ấy, hăy nên dụng tâm trải chín ngày. Vào lúc cuối đêm vẫn chẳng thấy, bèn cầu chỗ thanh tịnh thắng diệu. Đúng pháp nên vẽ tượng Biện Tài. Cúng dường, tụng tŕ, tâm chẳng xả. Ngày đêm chẳng sanh tâm giải đăi. Tự lợi, lợi tha vô cùng tận. Quả báo đạt được thí quần sanh, mọi điều cầu nguyện đều thành tựu. Nếu chẳng toại ư, trải ba tháng, sáu tháng, chín tháng, hoặc một năm. Ân cần cầu thỉnh, tâm chẳng dời, Thiên Nhăn, Tha Tâm đều đạt được).

 

          Tiểu đoạn thứ tám là dạy “thời hạn để cầu”, có ba phẩm loại riêng biệt:

          - Bài tụng thứ nhất là thượng phẩm cầu.

          - Hai bài tụng kế đó là trung phẩm cầu.

          - Bài tụng cuối cùng là hạ phẩm cầu.

          Hoặc do căn tánh có thượng, trung, hạ, hoặc do chướng nặng hay nhẹ, hoặc do túc trí nhiều hay ít [mà thời hạn cầu được ứng nghiệm sẽ khác nhau].

 

5.15.4.2.2.3. Kiều Trần Như nghe pháp, hoan hỷ tán thán

5.15.4.2.2.3.1. Nêu ra ư muốn tán thán

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kiều Trần Như Bà-la-môn văn thị thuyết dĩ, hoan hỷ, dũng dược, thán vị tằng hữu, cáo chư đại chúng, tác như thị ngôn: - Nhữ đẳng nhân thiên nhất thiết đại chúng, như thị đương tri, giai nhất tâm thính, ngă kim cánh dục y Thế Đế pháp, tán bỉ thắng diệu Biện Tài Thiên Nữ.

          ()爾時憍陳如婆羅門聞是歡喜踊躍歎未曾有告諸大眾作如是言汝等人天一切大眾如是當知皆一心聽我今更欲依世諦法讚彼勝妙辯才天女

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kiều Trần Như nghe nói như thế xong, hoan hỷ, hớn hở, tán thán “chưa từng có”, bảo các đại chúng, nói như thế này: - Hết thảy đại chúng trời, người các vị, hăy nên biết như thế, đều nên nhất tâm nghe, tôi nay lại muốn dựa theo pháp Thế Đế để tán thán Biện Tài Thiên Nữ thù thắng mầu nhiệm).

 

          Kế đó, phần thứ ba là “Kiều Trần Như nghe pháp hoan hỷ, tán thán”. Chia đại lược thành bốn đoạn:

          - Một, nêu ra ư muốn tán thán.

          - Hai, từ “tức thuyết tụng” (liền nói kệ tụng rằng) trở đi là tán thán.

          - Ba, từ “nhược dục kỳ thỉnh” (nếu muốn cầu thỉnh) trở đi là kết lại, khuyên tu.

          - Bốn, từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc bấy giờ, đức Phật bảo) trở đi, đức Thế Tôn tán thành.

          Trong phần thứ nhất, gồm có ba ư:

          - Một, nghe pháp tâm hoan hỷ.

          - Hai, từ “cáo đại chúng” (bảo đại chúng) trở đi, bảo đại chúng hăy nghe.

          - Ba, từ “ngă kim” (ta nay) trở đi, trần thuật ư muốn tán thán.

          Thắng nghĩa dứt bặt nói năng, [nay muốn dùng ngôn từ để phô bày], nên nói là “y Tục” (nương theo thế tục).

 

5.15.4.2.2.3.2. Tán thán

5.15.4.2.2.3.2.1. Nêu bày đối tượng được tán thán

 

          (Kinh) Tức thuyết tụng viết: - Kính lễ thiên nữ Na La Diên, ư thế giới trung đắc tự tại, ngă kim tán thán bỉ tôn giả, giai như văng tích tiên nhân thuyết.

          ()說頌敬禮天女那羅延於世界中得自在我今讚歎彼尊者皆如往昔仙人

          (Kinh: Liền nói bài tụng rằng: - Kính lễ thiên nữ Na La Diên, ở trong thế giới được tự tại, tôi nay tán thán tôn giả ấy, đều như tiên nhân xưa đă nói).

 

          Kế đó là phần tán thán, gồm hai phần:

          - Một là dùng kệ tụng tán thán.

          - Hai là tán thán thần chú.

          Phần thứ nhất gồm hai mươi hai bài tụng, chia đại lược thành ba đoạn nhỏ:

          - Bài tụng đầu tiên nêu bày [đối tượng được tán thán].

          - Hai mươi bài tụng kế đó là phần chánh thức tán thán.

          - Bài tụng cuối cùng là quy mạng, lễ bái.

          Bài tụng này thuộc đoạn đầu tiên.

 

5.15.4.2.2.3.2.2. Chánh thức tán thán

5.15.4.2.2.3.2.2.1. Tán thán chung nội ngoại đức

5.15.4.2.2.3.2.2.1.1. Tán thán nội đức

 

          (Kinh) Cát tường thành tựu tâm an ổn, thông minh, tàm quư, hữu danh văn, vi mẫu năng sanh ư thế gian, dũng mănh, thường hành đại tinh tấn.

          ()吉祥成就心安穩聰明慚愧有名聞為母能生於世間勇猛常行大精進

          (Kinh: Cát tường thành tựu, tâm an ổn, thông minh, hổ thẹn, tiếng tăm rền, làm mẹ sanh trưởng cả thế gian, dũng mănh, thường hành đại tinh tấn).

 

          Kế đó là phần tán thán, chia thành hai phần:

          - Phần thứ nhất gồm ba bài tụng, tán thán chung nội ngoại đức.

          - Mười bảy bài tụng kế đó tán thán riêng nội đức.

          Phần thứ nhất lại gồm ba đoạn:

          - Bài tụng thứ nhất ca tụng nội đức.

          - Một bài tụng rưỡi kế tiếp ca tụng ngoại đức.

          - Nửa bài tụng sau cùng là tổng kết.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất (ca tụng nội đức), gồm bốn ư:

          - Câu thứ nhất, tán dương [thiên nữ] tâm an, cát tường.

          - Câu kế tiếp tán dương phẩm đức “thông huệ, thanh danh vang dội”.

          - Câu kế tiếp tán thán phẩm đức “trưởng dưỡng hữu t́nh”.

          - Câu kế tiếp, tán thán phẩm đức “thường siêng năng, chẳng mệt mỏi”.

 

5.15.4.2.2.3.2.2.1.2. Tán thán ngoại đức

 

          (Kinh) Ư quân trận xứ, chiến hằng thắng, trưởng dưỡng điều phục tâm từ nhẫn, hiện vi Diêm La chi trưởng tỷ, thường trước thanh sắc dă tàm y, hảo xú dung nghi giai cụ hữu, nhăn mục năng linh kiến giả bố.

          ()於軍陣處戰恒勝長養調伏心慈忍現為閻羅之長姊常著青色野蠶衣好醜容儀皆具有眼目能令見者怖

    (Kinh: Trong chốn quân trận luôn chiến thắng, trưởng dưỡng, điều phục tâm từ nhẫn, hiện làm chị lớn vua Diêm La, thường mặc áo tằm hoang sắc xanh, dung nhan xấu đẹp đều trọn đủ, ánh mắt khiến kẻ thấy kinh sợ).

 

          Kế đó, tán thán ngoại đức, gồm ba ư:

          - Một, nửa đầu bài tụng ca ngợi phẩm đức “chiến thắng, hàng phục oán địch”.

          - Hai, nửa bài tụng kế đó, tán thán phẩm đức “tùy theo từng loài mà thọ sanh”.

          - Ba, nửa bài tụng ca ngợi phẩm đức “trọn đủ các h́nh tướng”.

 

5.15.4.2.2.3.2.2.1.3. Tổng kết

 

          (Kinh) Vô lượng thắng hạnh siêu thế gian, quy tín chi nhân hàm nhiếp thọ.

          ()無量勝行超世間歸信之人咸攝受

          (Kinh: Vô lượng thắng hạnh siêu thế gian, người quy tín đều được nhiếp thọ).

 

          Kế đó là lời tổng kết.

 

5.15.4.2.2.3.2.2.2. Biệt tán nội ngoại đức

5.15.4.2.2.3.2.2.2.1. Tán thán ngoại đức

 

          (Kinh) Hoặc tại sơn nham thâm hiểm xứ, hoặc cư khảm quật cập hà biên, hoặc tại đại thụ chư tùng lâm, thiên nữ đa y thử trung trụ. Giả sử sơn lâm dă nhân bối, diệc thường cúng dường ư thiên nữ, dĩ khổng tước vũ tác tràng kỳ. Ư nhất thiết thời thường hộ thế, sư tử, hổ, lang hằng vi nhiễu. Ngưu, dương, kê đẳng diệc tương y. Chấn đại linh đạc xuất âm thanh, Tần Đà sơn chúng giai văn hưởng. Hoặc chấp tam kích, đầu viên kế, tả hữu hằng tŕ nhật nguyệt kỳ. Hắc nguyệt cửu nhật, thập nhất nhật, ư thử thời trung đương cúng dường, hoặc hiện Bà Tô đại thiên muội, kiến hữu đấu chiến tâm thường mẫn.

          ()或在山巖深險處或居坎窟及河邊或在大樹諸叢林天女多依此中住假使山林野人輩亦常供養於天女以孔雀羽作幢旗於一切時常護世師子虎狼恒圍繞牛羊雞等亦相依振大鈴鐸出音聲頻陀山眾皆聞響或執三戟頭圓髻左右恒持日月旗黑月九日十一日於此時中當供養或現婆蘇大天妹見有鬪戰心常愍

    (Kinh: Hoặc tại gộp núi, chỗ sâu hiểm, hoặc nơi hang hốc, cạnh bên sông. Hoặc ngự cây to, nơi rừng rậm. Thiên nữ phần nhiều ngự nơi đó. Như kẻ hoang dại chốn núi rừng, cũng thường xuyên cúng dường thiên nữ. Dùng lông chim công làm tràng, cờ, trong hết thảy thời thường hộ thế. Sư tử, cọp, sói luôn vây quanh. Trâu, dê, gà qué cũng nương cậy. Rung chuông khánh lớn vang ra tiếng, người núi Tần Đà[16] đều nghe thấy. Cầm kích ba nhánh, tóc búi tṛn, đôi bên luôn cầm cờ nhật nguyệt. Mồng Chín, Mười Một trong hắc nguyệt, hăy nên cúng dường vào lúc đó. Hoặc hiện làm em Bà Tô thiên[17], thấy có chiến đấu thường thường thương xót).

 

          Kế đó, tán thán riêng nội ngoại đức, có hai phần:

          - Bốn bài tụng đầu tiên tán thán ngoại đức.

          - Mười hai bài tụng sau đó tán thán nội đức.

          Phần thứ nhất có ba ư:

          - Một bài tụng rưỡi đầu tiên nói về trụ xứ và cúng dường.

          - Hai bài tụng kế tiếp nói loài cầm thú chầu hầu.

          - Bài tụng sau cùng thuận tiện nói về lúc [hành nhân nên] cúng dường thiên nữ và biện định Ngài có h́nh tướng không nhất định.

 

5.15.4.2.2.3.2.2.2.2. Tán thán nội đức

 

          (Kinh) Quán sát nhất thiết hữu t́nh trung, thiên nữ tối thắng vô quá giả.

          ()觀察一切有情中天女最勝無過者

          (Kinh: Quan sát trong hết thảy hữu t́nh, thiên nữ tối thắng, chẳng ai hơn).

 

          Kế đó, tán thán nội đức, có hai phần:

          - Mười bài tụng rưỡi đầu tiên tán thán phẩm đức “trí huệ tôn quư, thù thắng”.

          - Hai bài tụng kế đó tán thán phẩm đức đại bi cứu khổ.

          Trong phần thứ nhất có ba ư:

          - Nửa bài tụng đầu tiên nêu ra sự thù thắng.

          - Chín bài tụng kế đó tán thán riêng biệt.

          - Bài tụng cuối cùng kết lại sự thù thắng.

          Đoạn này thuộc ư đầu tiên.

 

          (Kinh) Quyền hiện mục ngưu hoan hỷ nữ, dữ thiên chiến thời thường đắc thắng, năng cửu an trụ ư thế gian, diệc vi ḥa nhẫn cập bạo ác, đại Bà-la-môn tứ minh pháp, biến huyễn chú đẳng tất giai thông.

          ()權現牧牛歡喜女與天戰時常得勝能久安住於世間亦為和忍及暴惡大婆羅門四明法幻化呪等悉皆通

          (Kinh: Quyền hiện gái chăn trâu vui vẻ, cùng trời chiến đấu thường đắc thắng, an trụ lâu dài trong thế gian, cũng thường ḥa nhẫn và bạo ác, pháp Tứ Minh đại Bà-la-môn, biến huyễn chú thuật thảy thông hiểu).

 

          Phần Biệt Tán gồm mười một đoạn:

          - Một, hàng phục oán địch thù thắng.

          - Hai, từ “năng cửu an trụ” (có thể an trụ lâu dài) trở đi, trụ thế thù thắng.

          - Ba, từ “đại Bà-la-môn” trở đi, kiến giải thù thắng.

          Pháp Tứ Minh chính là bốn bộ Bệ Đà Luận (Vedas, Vệ Đà). Phiên âm theo lối cũ là Vi Đà, hay Tỳ Già La Luận đều là sai ngoa:

          - Một là Hiệt Lực Bệ Đà (Ṛgveda), phương này dịch là Thọ Minh, giải thích các chuyện về thọ mạng dài, ngắn.

          - Hai là Da Thụ Bệ Đà (Yajurveda), phương này dịch là Từ Tự Minh, giải thích các chuyện cúng tế.

          - Ba là Sa Ma Bệ Đà (Sāmaveda), phương này dịch là B́nh Minh, B́nh có nghĩa là “chẳng phải sự”.

          - Bốn là A Đạt Bệ Đà (Atharvaveda), phương này dịch là Thuật Minh, nói về các chuyện thuộc kỹ thuật.

          Kinh này nói “biến huyễn chú đẳng giai thông đạt” (các chú thuật biến huyễn v.v… đều thông đạt) tức là [nói về] Đệ Tứ Minh (A Đạt Bệ Đà).

 

          (Kinh) Ư thiên tiên trung đắc tự tại, năng vi chủng tử cập đại địa.

          ()於天仙中得自在能為種子及大地

          (Kinh: Trong các thiên tiên, được tự tại, làm chủng tử trọn khắp đại địa).

 

          Kế đó, điều thứ tư là [Biện Tài thiên nữ] thù thắng trong các vị tiên. Câu “năng vi chủng tử” (có thể làm chủng tử) nhằm giải thích nguyên do thù thắng.

 

          (Kinh) Chư thiên nữ đẳng tập hội thời, như đại hải triều tất lai ứng.

          ()諸天女等集會時如大海潮必來應

          (Kinh: Khi các thiên nữ cùng tụ hội, như sóng biển cả ắt đến ứng).

 

          Kế đó, điều thứ năm là giữ chữ tín thù thắng.

 

          (Kinh) Ư chư long, thần, Dược Xoa chúng, hoặc vi thượng thủ năng điều phục.

          ()於諸龍神藥叉眾或為上首能調伏

          (Kinh: Trong các rồng, thần, chúng Dược Xoa, hoặc làm thượng thủ hay điều phục).

 

          Kế đó, điều thứ sáu là điều phục thù thắng.

 

          (Kinh) Ư chư nữ trung tối phạm hạnh, xuất ngôn do như thế gian chủ, ư vương vị xứ như liên hoa, nhược tại hà tân dụ kiều phiệt.

          ()於諸女中最梵行出言猶如世間主於王位處如蓮華若在河津喻橋

     (Kinh: Phạm hạnh tột bậc trong nữ nhân, thốt lời dường như chủ thế gian, ngự trong vương vị như hoa sen, ví như cầu, bè tại bến sông).

 

          Kế đó, điều thứ bảy là phạm hạnh thù thắng, có ba ư:

          - Một, ngôn từ chẳng siểm nịnh, hư vọng, dường như các vị thế gian chủ.

          - Hai, chẳng nhiễm pháp thế gian như hoa sen.

          - Ba, thường hành cứu giúp chúng sanh như cầu, bè.

 

          (Kinh) Diện mạo do như thịnh măn nguyệt, cụ túc đa văn tác y xứ, biện tài thắng xuất nhược cao phong, niệm giả giai dữ vi châu chử.

          ()面貌猶如盛滿月具足多聞作依處辯才勝出若高峯念者皆與為洲渚

    (Kinh: Diện mạo dường như trăng tṛn đầy, đa văn trọn đủ làm chỗ nương, biện tài siêu việt tựa non cao, đều làm cồn bến cho người niệm).

         

          Kế đó, điều thứ tám là “làm chỗ nương cậy thù thắng”, có ba ư:

          - Một là đoan nghiêm.

          - Hai là đa văn.

          - Ba là biện tài.

          Trọn đủ các đức làm chỗ nương cậy [cho chúng sanh] thường như cồn bến.

 

          (Kinh) A Tô La đẳng chư thiên chúng, hàm cộng xưng thán kỳ công đức, năi chí thiên nhăn Đế Thích Chủ, dĩ ân trọng tâm nhi quan sát.

          ()阿蘇羅等諸天眾咸共稱讚其功德乃至千眼帝釋主以慇重心而觀察

          (Kinh: A Tô La thảy, các thiên chúng, đều cùng ca ngợi công đức Ngài, cho đến vua Đế Thích ngàn mắt, dùng tâm trân trọng mà xem xét).

 

          Kế đó, điều thứ chín là tán thán thù thắng.

 

          (Kinh) Chúng sanh nhược hữu hy cầu sự, tất năng linh bỉ tốc đắc thành, diệc linh thông biện cụ văn tŕ, tŕ đại địa trung vi đệ nhất. Ư thử thập phương thế giới trung, như đại đăng minh thường phổ chiếu, năi chí thần, quỷ, chư cầm thú, hàm giai toại bỉ sở cầu tâm.

          ()眾生若有希求事悉能令彼速得成亦令聰辯具聞持持大地中為第一於此十方世界中如大燈明常普照乃至神鬼諸禽獸咸皆遂彼所求心

     (Kinh: Chúng sanh nếu có chuyện mong cầu, đều khiến cho được chóng thành tựu, khiến thông minh, biện tài, văn tŕ, hay tŕ bậc nhất trong cơi đất. Trong khắp mười phương thế giới này, như đèn sáng lớn thường chiếu trọn, cho đến thần, quỷ, các cầm thú, thảy đều được thỏa ḷng mong cầu).

 

          Kế đó, điều thứ mười là “toại nguyện ḷng mong cầu thù thắng”, có ba ư:

          - Nửa đầu bài tụng là nêu ra [Thiên Nữ có thể thỏa ḷng mong cầu của chúng sanh].

          - Bài tụng kế đó nhằm giải thích.

          - Nửa bài tụng c̣n lại là kết luận.

 

          (Kinh) Ư chư nữ trung nhược sơn phong, đồng tích tiên nhân cửu trụ thế, như thiếu nữ thiên thường ly dục, thật ngữ do như Đại Thế Vương, phổ kiến thế gian sai biệt loại, năi chí Dục Giới chư thiên cung, duy hữu thiên nữ độc xưng tôn, bất kiến hữu t́nh năng thắng giả.

          ()於諸女中若山峯同昔仙人久住世如少女天常離欲實語猶如大世王普見世間差別類乃至欲界諸天宮唯有天女獨稱尊不見有情能勝者

          (Kinh: Như đỉnh núi trong các người nữ, giống tiên nhân xưa trụ thế lâu, như thiếu nữ thiên thường ĺa dục, thật ngữ khác nào Đại Thế Vương[18], thấy trọn loài sai biệt trong đời, cho tới các cung trời Dục Giới, chỉ riêng thiên nữ xưng tôn quư, chẳng thấy hữu t́nh nào hơn được).

 

          Kế đó, điều thứ mười một là phẩm đức tôn quư thù thắng, có hai ư:

          - Bài tụng đầu tiên nói riêng về sự thù thắng.

          - Bài tụng sau đó, tổng kết sự thù thắng.

 

          (Kinh) Nhược ư chiến trận khủng bố xứ, hoặc kiến đọa tại hỏa khanh trung, hà tân hiểm nạn tặc đạo thời, tất năng linh bỉ trừ bố úy. Hoặc bị vương pháp sở già phược, hoặc vị oán thù hành sát hại, nhược năng tuyên chú, tâm bất di, quyết định giải thoát chư ưu khổ.

          ()若於戰陣恐怖處或見墮在火坑中河津險難賊盜時悉能令彼除怖畏或被王法所枷縛或為怨讎行殺害若能專注心不移決定解諸憂苦

          (Kinh: Nếu trong chiến trận, chỗ khủng bố, hoặc thấy rơi vào hầm lửa đỏ, bến sông hiểm nạn, gặp giặc cướp, đều khiến trừ nỗi sợ hăi đó. Hoặc bị phép vua gông cùm trói, hoặc bị oán thù toan giết hại, nếu hay đọc chú, tâm chẳng dời, quyết định giải thoát các ưu khổ).

 

          Kế đó, hai bài tụng tán thán phẩm đức thứ hai là “đại bi cứu khổ” trong nội đức. Có hai ư:

          - Trước là trần thuật riêng.

          - Nửa cuối bài tụng là kết lại.

 

5.15.4.2.2.3.2.3. Quy mạng lễ bái

 

          (Kinh) Ư thiện ác nhân giai ủng hộ, từ bi mẫn niệm thường hiện tiền, thị cố ngă dĩ chí thành tâm, khể thủ quy y đại thiên nữ.

          ()於善惡人皆擁護慈悲愍念常現前是故我以至誠心稽首歸依大天女

    (Kinh: Người thiện, kẻ ác đều ủng hộ, từ bi nghĩ thương, thường hiện tiền. V́ thế, tôi dùng tâm chí thành, đảnh lễ quy y đại thiên nữ).

 

          Kế đó, tổng kết, quy mạng, lễ bái.

 

5.15.4.2.2.3.3. Kết lại để khuyên tu

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Bà-la-môn phục dĩ chú tán tán thiên nữ viết: - Kính lễ, kính lễ thế gian tôn, ư chư mẫu trung tối vi thắng, tam chủng thế gian hàm cúng dường, diện mạo dung nghi nhân nhạo quán. Chủng chủng diệu đức dĩ nghiêm thân. Mục như tu quảng thanh liên diệp. Phước trí quang minh danh xưng măn. Thí như vô giá Mạt-ni châu. Ngă kim tán thán tối thắng giả, tất năng thành biện sở cầu tâm. Chân thật công đức diệu cát tường. Thí như liên hoa cực thanh tịnh. Thân sắc đoan nghiêm giai nhạo kiến, chúng tướng hy hữu bất tư nghị, năng phóng vô cấu trí quang minh, ư chư niệm trung vi tối thắng. Do như sư tử thú trung thượng, thường dĩ bát tư tự trang nghiêm, các tŕ cung, tiễn, đao, sóc, phủ, trường xử, thiết luân, tịnh la sách. Đoan chánh nhạo quán như măn nguyệt, ngôn từ vô trệ xuất ḥa âm. Nhược hữu chúng sanh tâm nguyện cầu, thiện sĩ tùy niệm linh viên măn. Đế Thích chư thiên hàm cúng dường, giai cộng xưng thán khả quy y. Chúng đức năng sanh bất tư nghị. Nhất thiết thời trung khởi cung kính. Sa ha” (thử thượng chú. Tụng thị chú, diệc thị tán. Nhược tŕ chú thời, tất tu tụng chi).

          ()爾時婆羅門復以呪讚讚天女曰敬禮敬禮世間尊於諸母中最為勝三種世間咸供養面貌容儀人樂觀種種妙德以嚴身目如修廣青蓮葉福智光明名稱滿譬如無價末尼珠我今讚歎最勝者悉能成辦所求心真實功德妙吉祥譬如蓮華極清淨身色端嚴皆樂見眾相希有不思議能放無垢智光明於諸念中為最勝猶如師子獸中上常以八臂自莊嚴各持弓箭刀矟斧長杵鐵輪并羅索端正樂觀如滿月言詞無滯出和音若有眾生心願求善士隨念令圓滿帝釋諸天咸供養皆共稱讚可歸依眾德能生不思議一切時中起恭敬莎訶(此上呪頌是呪亦是讚若持呪時必須誦之)

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Bà-la-môn lại dùng chú tán thán thiên nữ rằng: - Kính lễ đấng thế gian tôn trọng. Tối thắng bậc nhất trong chư mẫu. Ba loại thế gian đều cúng dường. Diện mạo, dung nghi người ưa thấy. Các thứ diệu đức trang nghiêm thân. Mắt như cánh sen xanh dài rộng. Phước trí, quang minh, danh xưng vẹn. Ví như châu Mạt-ni vô giá. Tôi nay tán thán bậc tối thắng, các điều mong cầu đều thành tựu. Công đức chân thật, diệu cát tường. Ví như hoa sen cực thanh tịnh. Thân sắc đoan nghiêm đều ưa thấy. Các tướng hiếm có chẳng nghĩ bàn. Tỏa ra trí quang minh vô cấu. Ở trong các niệm là tối thắng. Ví như sư tử vua các thú, thường dùng tám tay tự trang nghiêm, đều cầm cung, tên, đao, giáo, búa, chày dài, bánh xe sắt, dây trói. Đoan chánh ưa nh́n như trăng tṛn. Ngôn từ lưu loát, tiếng ḥa nhă. Nếu có chúng sanh tâm nguyện cầu, thiện sĩ tùy niệm khiến viên măn. Đế Thích, chư thiên đều cúng dường, đều cùng ca ngợi đáng quy y. Hay sanh các đức chẳng nghĩ bàn, trong hết thảy thời khởi cung kính. Sa ha” (trên đây là chú. Tụng bài chú này cũng là tán. Nếu lúc tŕ chú, cần phải tụng [bài chú này]).

 

          Kế đó, lại dùng chú để tán thán. Văn tướng dễ thấy.

 

          (Kinh) Nhược dục kỳ thỉnh Biện Tài Thiên, y thử chú tán ngôn từ cú, thần triêu thanh tịnh chí thành tụng, ư sở cầu sự tất tùy tâm.

          ()若欲祈請辯才天依此呪讚言詞句晨朝清淨至誠誦於所求事悉隨心

          (Kinh: Nếu muốn cầu thỉnh Biện Tài Thiên, vâng theo câu chữ chú tán này, sáng sớm thanh tịnh chí thành tụng, chuyện đă mong cầu đều thỏa ḷng).

 

          Kế đó là tiểu đoạn thứ ba trong phần “hoan hỷ tán thán” là “kết lại, khuyên tu học”.

 

5.15.4.2.2.3.4. Đức Thế Tôn tán thành

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Bà-la-môn: - Thiện tai, thiện tai! Nhữ năng như thị lợi ích chúng sanh, thí dữ an lạc, tán bỉ thiên nữ, thỉnh cầu gia hộ, hoạch phước vô biên” (thử phẩm chú pháp hữu lược, hữu quảng, hoặc khai, hoặc hợp, tiền hậu bất đồng. Phạn bản kư đa, đản y nhất dịch, hậu khám giả tri chi).

          ()爾時佛告婆羅門善哉善哉汝能如是利益眾生施與安樂讚彼天女請求加護獲福無邊(此品呪法有略有廣或開或合前後不同梵本既多但依一譯後勘者知之)

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bà-la-môn: - Lành thay! Lành thay! Ông có thể lợi ích chúng sanh như thế, ban cho an lạc, tán thán vị thiên nữ ấy, thỉnh cầu gia hộ, đạt được phước vô biên” (chú pháp trong phẩm này có rộng và lược, hoặc tách ra, hoặc gộp vào, trước sau khác nhau. Bản tiếng Phạn đă có nhiều bản, chỉ vâng theo một bản dịch [để hành tŕ]. Sau đó, đối chiếu sẽ biết).

 

          Đoạn thứ tư [trong phần hoan hỷ tán thán này] là đức Thế Tôn tán thành.

 

5.15.4.2.2.4. Kiều Trần Như thỉnh gia bị

5.15.4.2.2.4.1. Kết lại phần trước để dẫn khởi phần sau

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kiều Trần Như Bà-la-môn thuyết thượng tán thán cập chú tán pháp, tán Biện Tài Thiên Nữ dĩ.

          ()爾時憍陳如婆羅門說上讚歎及呪讚法讚辨才天女已

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kiều Trần Như nói lời tán thán và cách tán thán bằng chú để ca ngợi Biện Tài Thiên Nữ xong).

 

          Phần thứ tư là Kiều Trần Như dạy [hành nhân] cách thỉnh cầu gia bị. Trong phần trước là cách thỉnh cầu biện tài, phần này là khi thỉnh cầu sẽ được gia bị khiến cho đạt được [biện tài]. Phần này đại lược chia thành bốn đoạn:

          - Một, kết phần trước để sanh khởi phần sau.

          - Hai, từ “nam-mô” trở đi, dạy cách thỉnh gia bị.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Biện Tài” (Lúc bấy giờ, Biện Tài) trở đi, thiên nữ tán thán, khuyên tu hành.

          - Bốn, Kiều Trần Như hoan hỷ, cung kính nhận lănh.

          Trong phần thứ nhất, có hai tiểu đoạn. Phần này nhằm kết lại phần trước.

 

          (Kinh) Cáo chư đại chúng: - Nhân đẳng nhược dục thỉnh Biện Tài Thiên Nữ ai mẫn, gia hộ, ư hiện thế trung, đắc vô ngại biện, thông minh, đại trí, xảo diệu ngôn từ, bác tổng kỳ tài luận nghị, văn sức tùy ư, thành tựu bất nghi trệ giả.

          ()告諸大眾仁等若欲請辨才天女哀愍加護於現世中得無礙辨聰明大智巧妙言辭博綜奇才論議文飾隨意成就無疑滯者

    (Kinh: Bảo các đại chúng: - Các vị nhân giả, nếu muốn thỉnh Biện Tài Thiên Nữ thương xót, gia hộ, trong đời hiện tại đạt được biện tài vô ngại, thông minh, đại trí, ngôn từ hay khéo, thông thạo rộng khắp, luận nghị tài ba, lời lẽ đẹp đẽ, tùy ư thành tựu, không ngờ vực, vướng mắc).

 

          Sanh khởi phần sau, gồm ba ư:

          - Một, bảo ban đại chúng.

          - Hai, từ “nhân đẳng” (các vị nhân giả) trở đi, nêu ra điều mong cầu.

          - Ba, từ “ưng đương” (hăy nên) trở đi, sanh khởi ư khải thỉnh.

          Trong phần nêu ra các pháp mong cầu, trước hết là nêu chung TBiện Tài và trí. “Thông” là có thể lănh nhận, “minh” là có thể ngộ. “Trí” là có thể quyết đoán. Từ “xảo diệu” trở đi, nêu riêng bốn món biện tài:

          - “Xảo diệu” là Từ Vô Ngại.

          - “Bác tổng” là Pháp Vô Ngại và Nghĩa Vô Ngại.

          - “Luận nghị văn sức” là Nhạo Thuyết Vô Ngại.

 

          (Kinh) Ưng đương như thị chí thành ân trọng, nhi thỉnh triệu ngôn:

          ()應當如是至誠殷重而請召言

    (Kinh: Hăy nên chí thành, trân trọng mà thỉnh vời như thế này).

 

          Kế đó là phần sanh khởi [thỉnh vời] như kinh văn đă nói.

 

5.15.4.2.2.4.2. Dạy hành nhân cách thỉnh cầu gia bị

5.15.4.2.2.4.2.1. Thỉnh Phật gia bị

5.15.4.2.2.4.2.1.1. Quy kính Tam Bảo

 

          (Kinh) Nam-mô Phật Đà dă, nam-mô Đạt Ma dă, nam-mô Tăng Già dă, nam-mô chư Bồ Tát chúng, Độc Giác, Thanh Văn, nhất thiết hiền thánh.

          ()南無佛陀也南謨達摩也南謨僧伽也南謨諸菩薩眾獨覺聲聞一切賢聖

     (Kinh: Nam-mô Phật Đà dă, nam-mô Đạt Ma dă, nam-mô Tăng Già dă, nam-mô các vị Bồ Tát, Độc Giác, Thanh Văn, hết thảy hiền thánh).

 

     Kế đó, dạy cách thỉnh cầu gia bị, có hai ư:

          - Một, thỉnh Phật gia bị, khiến cho đạt được [biện tài].

          - Hai, từ “kính lễ chư Phật diệu biện tài” trở đi, thỉnh các vị như Biện Tài Thiên v.v… gia bị, khiến cho [hành nhân] đạt được [biện tài].

          Trong phần thứ nhất, lại có ba ư:

          - Một, quy kính Tam Bảo.

          - Hai, tán thán Phật ngữ v.v… để thỉnh cầu.

          - Ba, từ “kính lễ, kính lễ trở đi, thỉnh đức Thế Tôn gia bị khiến cho [hành nhân] đạt được [điều thỉnh cầu].

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

5.15.4.2.2.4.2.1.2. Tán thán Phật ngữ

 

          (Kinh) Quá khứ, hiện tại thập phương chư Phật, tất giai dĩ tập chân thật chi ngữ, năng tùy thuận thuyết đương cơ thật ngữ, vô hư cuống ngữ, dĩ ư vô lượng câu-chi đại kiếp thường thuyết thật ngữ, hữu thật ngữ giả tất giai tùy hỷ.

          ()過去現在十方諸佛悉皆已習真實之語能隨順說當機實無虛誑語已於無量俱胝大劫常說實有實語者悉皆隨喜

          (Kinh: Quá khứ, hiện tại mười phương chư Phật thảy đều tụ tập lời chân thật, có thể tùy thuận mà nói lời chân thật với bậc đương cơ, lời chẳng hư dối, do trong vô lượng câu-chi đại kiếp thường nói lời thật, đối với người nói lời thật thảy đều tùy hỷ).

 

          Kế đó, tán thán lời Phật ngữ v.v… để làm nguyên do thỉnh cầu. Trước hết là tán thán thật ngữ, kế đó là tán thán công cụ để nói (cái lưỡi), cuối cùng là tán thán lợi ích. Phần “tán thán thật ngữ” lại có ba ư:

          - Một, tán thán cái nhân.

          - Hai, từ “dĩ ư” (do trong) trở đi tán thán cái quả.

          - Ba, từ “hữu thật ngữ giả” (có người nói lời thật) trở đi, tán thán tùy hỷ, chỉ rơ các đức Thế Tôn hoan hỷ vô lượng, chẳng sanh ghen ghét. V́ thế, thỉnh cầu gia bị.

 

          (Kinh) Dĩ bất vọng ngữ cố, xuất quảng trường thiệt năng phú ư diện, phú Thiệm Bộ châu, cập tứ thiên hạ, năng phú nhất thiên, nhị thiên, tam thiên thế giới, phổ phú thập phương thế giới, viên măn châu biến bất khả tư nghị.

          ()以不妄語故出廣長舌能覆於面覆贍部洲及四天下能覆一千二千三千世界普覆十方世界圓滿周遍不可思議

          (Kinh: Do chẳng vọng ngữ, tướng lưỡi thè ra có thể che kín mặt, che khắp châu Thiệm Bộ và tứ thiên hạ, có thể che nhất thiên, nhị thiên, tam thiên thế giới, viên măn trọn khắp chẳng thể nghĩ bàn).

 

          Kế đó, tán thán công cụ để nói. Trước hết, dùng chuyện chẳng vọng ngữ để tán thán cái nhân. Từ “xuất quảng trường thiệt” (hiện tướng lưỡi rộng dài) trở đi, tán thán cái quả. Ư nói: Đức Phật dạy cầu thỉnh, chắc chắn chẳng hư vọng. V́ thế, nay tôi cầu thỉnh.

 

          (Kinh) Năng trừ nhất thiết phiền năo viêm nhiệt.

          ()能除一切煩惱炎熱

          (Kinh: Có thể trừ hết thảy nóng bức phiền năo).

 

          Kế đó, tán thán lợi ích. Do có thể lợi ích, cho nên thỉnh cầu gia bị, nguyện đạt được điều Phật đă đạt. Do lễ Tam Bảo, cầu công cụ để nói, cho nên nhắc lại sự kính lễ. Chuẩn theo những điều thực hiện dưới đây, đều nguyện cầu sẽ đạt được. Do Phật là thù thắng, do là căn bản, nên riêng thỉnh cầu Phật trước.

 

5.15.4.2.2.4.2.2. Thỉnh các vị như Biện Tài Thiên gia bị

 

          (Kinh) Kính lễ kính lễ nhất thiết chư Phật, như thị thiệt tướng nguyện ngă mỗ giáp giai đắc thành tựu vi diệu biện tài, chí tâm quy mạng kính lễ chư Phật diệu biện tài, chư đại Bồ Tát diệu biện tài, Độc Giác thánh giả diệu biện tài, tứ hướng tứ quả diệu biện tài, tứ thánh đế ngữ diệu biện tài, chánh hạnh chánh kiến diệu biện tài.

          ()敬禮敬禮一切諸佛如是舌相願我某甲皆得成就微妙辨才至心歸命敬禮諸佛妙辨才諸大菩薩妙辨才獨覺聖者妙辨才四向四果妙辨才四聖諦語妙辨才正行正見妙辨才

          (Kinh: Kính lễ, kính lễ hết thảy chư Phật, tướng lưỡi như thế, nguyện con tên là… đều được thành tựu biện tài vi diệu. Chí tâm quy mạng, kính lễ diệu biện tài của chư Phật, diệu biện tài của chư đại Bồ Tát, diệu biện tài của bậc thánh nhân Độc Giác, diệu biện tài của tứ hướng tứ quả, diệu biện tài của tứ thánh đế ngữ, diệu biện tài của chánh hạnh chánh kiến).

 

          Kế đó, thỉnh các vị như Biện Tài Thiên Nữ v.v… gia bị khiến cho [hành nhân] đạt được [biện tài]. Trong ấy có hai phần:

          - Một, lễ các đối tượng để cầu biện tài.

          - Hai, từ “kính lễ vô khi” (kính lễ chẳng lừa dối) trở đi, thỉnh gia bị khiến cho đạt được.

          Trong phần thứ nhất, lễ các đối tượng để cầu biện tài:

          - Hai chữ “kính lễ” nhằm nêu ra sự lễ kính.

          - Kế đó, hai mươi hai loại biện tài từ “Thế Tôn” trở đi là [các loại biện tài của các bậc thánh nhân mà hành nhân kính] lễ để mong cầu.

          - Sau đó, từ “sở hữu thắng nghiệp” (tất cả nghiệp thù thắng) trở đi, chính là thỉnh những vị đă có thể thành tựu sẽ giúp cho tôi được thành tựu.

          Trong sáu bài tụng, một bài tụng rưỡi nói về biện tài của bậc thánh, những bài c̣n lại nói về biện tài của các vị trời khác và thần tiên. Trong biện tài của bậc thánh, bài tụng thứ nhất nói về người có thể thành tựu. Nửa bài tụng kế đó nói về các loại biện tài, nêu ra đại lược ba loại để liên tưởng hết thảy các pháp. Chánh hạnh gồm có sáu loại:

          - Một là tối thắng chánh hạnh.

          - Hai là tác ư.

          - Ba là tùy pháp (các pháp phụ thuộc, phụ trợ cho chánh hạnh).

          - Bốn là ĺa nhị biên.

          - Năm là sai biệt.

          - Sáu là vô sai biệt.

          Chánh hạnh nương hành theo Lục Độ, mỗi Độ đều có sáu chánh hạnh, như quyển ba của luận Biện Trung Biên đă nói. Chánh kiến gồm mười một điều, tức là đối với Khổ Đế, quán như bệnh, như ung nhọt, như mũi tên, như chướng, vô thường, khổ, không, vô ngă; đó là tám kiến. Quán Tập là kết kiến, quán Diệt là ly hệ kiến, quán Đạo là năng ly hệ kiến, cộng thành mười một món kiến.

 

          (Kinh) Phạm chúng chư tiên diệu biện tài, Đại Thiên Ô Ma diệu biện tài, Tắc Kiến Đà thiên diệu biện tài, Ma Na Tư vương diệu biện tài, Thông Minh Dạ thiên diệu biện tài, Tứ Đại Thiên Vương diệu biện tài, Thiện Trụ thiên tử diệu biện tài, Kim Cang Mật Chủ diệu biện tài, Phệ Suất Nộ thiên diệu biện tài, Tỳ Ma thiên nữ diệu biện tài, Thị Sổ thiên thần diệu biện tài, Thất Rị thiên nữ diệu biện tài, Thất Tắc Mạt Đa diệu biện tài, Hê Rị ngôn từ diệu biện tài, chư mẫu đại mẫu diệu biện tài, Ha Rị Để Mẫu diệu biện tài, chư Dược Xoa thần diệu biện tài, thập phương chư vương diệu biện tài.

          ()梵眾諸仙妙辨才大天烏摩妙辨才塞建陀天妙辨才摩那斯王妙辨才聰明夜天妙辨才四大天王妙辨才善住天子妙辨才金剛密主妙辨才吠率怒天妙辨才毘摩天女妙辨才侍數天神妙辨才室唎天女妙辨才室則末多妙辨才醯哩言辭妙辨才諸母大母妙辨才訶哩底母妙辨才諸藥叉神妙辨才十方諸王妙辨才

          (Kinh: Phạm chúng các tiên diệu biện tài, Đại Thiên Ô Ma diệu biện tài, Tắc Kiến Đà thiên diệu biện tài, Ma Na Tư vương diệu biện tài, Thông Minh Dạ thiên diệu biện tài, Tứ Đại Thiên Vương diệu biện tài, Thiện Trụ thiên tử diệu biện tài, Kim Cang Mật Chủ diệu biện tài, Phệ Suất Nộ thiên diệu biện tài, Tỳ Ma thiên nữ diệu biện tài, Thị Sổ thiên thần diệu biện tài, Thất Rị thiên nữ diệu biện tài, Thất Tắc Mạt Đa (Śisumatā) diệu biện tài, Hê Rị ngôn từ diệu biện tài, chư mẫu đại mẫu diệu biện tài, Ha Rị Để Mẫu diệu biện tài, các thần Dược Xoa diệu biện tài, các vua mười phương diệu biện tài).

 

          Kế đó, [liệt kê] các vị khác. Phạm chúng tức tiên nhân, do đă ĺa dục. Hoặc [có thể hiểu] là Phạm Thiên và các tiên sai khác. Cách hiểu thứ nhất là đúng. “Đại thiên Ô Ma” chính là con gái của Đại Tự Thiên tên là Ô Ma (Umāpati). Ô Ma được phương này dịch là Chỉ (ngăn trở). Do cô này muốn gả chồng, cha cô là Đại Thiên ngăn trở, chẳng chấp thuận. V́ thế, gọi tên là Đại Thiên Chỉ. Tắc Kiến Đà (Skanda) được phương này dịch là Uẩn. Phương Tây (Ấn Độ) gọi ruột và vai là Uẩn, tức là “tích chứa các vật”. Ma Na Tư (Manavasti) phương này dịch là Từ Tâm. Phệ Suất Nộ (Viṣṇu), phương này dịch là Đa Thủ (nhiều tay), đó là tên gọi khác của Na La Diên Thiên. Tỳ được phương này dịch là Chủng Chủng, Ma dịch là Nghiệp; vị này chính là Tỳ Thủ Yết Ma Thiên (Vishvakarman) trong cách dịch cũ. Thị Sổ Thiên (Saṃkhyāyana), Thất Rị Thiên (Śrī-devi), phương này dịch là Cát Tường. Thất Rị Mật Đa phương này dịch là Cát Tường Huệ. Hê Lư (phương này chẳng phiên dịch). Ha Rị Để (Hārītī, Quỷ Tử Mẫu) được phương này dịch là Thanh Sắc.

 

          (Kinh) Sở hữu thắng nghiệp tư trợ ngă, linh hành vô cùng diệu biện tài.

          ()所有勝業資助我令行無窮妙辨才

          (Kinh: Tất cả thắng nghiệp giúp đỡ tôi, khiến hành diệu biện tài vô cùng).

         

          Kế đó, thỉnh gia bị ḥng đạt được.

 

          (Kinh) Kính lễ vô khi cuống, kính lễ giải thoát giả, kính lễ ly dục nhân, kính lễ xả triền cái, kính lễ tâm thanh tịnh, kính lễ quang minh giả, kính lễ chân thật ngữ, kính lễ vô trần tập, kính lễ trụ thắng nghĩa, kính lễ đại chúng chủ.

          ()敬禮無欺誑敬禮解敬禮離欲人敬禮捨纏蓋敬禮心清淨敬禮光明者敬禮真實語敬禮無塵習敬禮住勝義敬禮大眾主

     (Kinh: Kính lễ chẳng lừa dối, kính lễ bậc giải thoát, kính lễ người ly dục, kính lễ bỏ triền cái, kính lễ tâm thanh tịnh, kính lễ đấng quang minh, kính lễ lời chân thật, kính lễ chân thật ngữ, kính lễ vô trần tập[19], kính lễ trụ thắng nghĩa, kính lễ đại chúng chủ).

 

          Hai mươi lăm bài tụng kế đó, thỉnh gia bị khiến cho [hành nhân] đạt được, chia đại lược thành bảy đoạn:

          - Mười hai bài tụng đầu nhằm quy mạng, lễ kính Bồ Tát, thỉnh gia bị khiến cho [hành nhân] đạt được [biện tài].

          - Một bài tụng rưỡi kế đó thỉnh Thanh Văn gia bị.

          - Hai bài tụng rưỡi kế đó thỉnh Sắc Giới Thiên gia bị.

          - Hai bài tụng kế đó thỉnh Dục Thiên gia bị.

          - Năm bài tụng kế đó thỉnh [thiên long] bát bộ gia bị.

          - Một bài tụng kế đó thỉnh các trời, người khác gia bị.

          - Bài tụng kế đó thỉnh pháp giới hữu t́nh gia bị.

          Đoạn thứ nhất lại chia thành ba phần:

          - Bảy bài tụng đầu tiên thỉnh gia bị ḥng đạt được biện tài của Bồ Tát.

          - Ba bài tụng kế đó, thỉnh gia bị ḥng đạt được biện tài của Như Lai.

          - Hai bài tụng kế đó, thỉnh gia bị để đạt được biện tài của Phật và các vị Thanh Văn v.v…

          Trong phần thứ nhất, lại chia thành hai đoạn:

          - Hai bài tụng rưỡi đầu tiên lễ tán chung hết thảy các vị Bồ Tát cầu gia bị.

          - Bốn bài tụng rưỡi kế đó, riêng lễ thiên nữ thỉnh gia bị.

          Đoạn này thuộc phần thứ nhất, tức là lễ tán chung. Tán lễ mười đức:

          - Một, đức “ĺa khinh mạn, chẳng lừa dối”.

          - Hai, đức “chứng trạch diệt chân thật”, khác với Nhị Thừa.

          - Ba, đức “chẳng nhiễm ngũ trần”.

          - Bốn, đức “có thể ĺa khỏi triền cái”.

          - Năm, đức “luôn hành vô lậu”.

          - Sáu, đức “phá ngu, sanh trí”.

          - Bảy, đức “nói ra ắt khế hợp cảnh giới”.

          - Tám, đức “ĺa các tập khí”.

          - Chín, đức “tùy ư chứng Chân”.

          - Mười, đức “hướng dẫn hữu t́nh”.

          Mười câu kinh văn theo thứ tự tương ứng với các đức ấy.

 

          (Kinh) Kính lễ Biện Tài Thiên, linh ngă Từ Vô Ngại, nguyện ngă sở cầu sự, giai tất tốc thành tựu, vô bệnh, thường an ổn. Thọ mạng đắc diên trường. Thiện giải chư minh chú, cần tu Bồ Đề đạo, quảng nhiêu ích quần sanh, cầu tâm nguyện tảo toại. Ngă thuyết chân thật ngữ, ngă thuyết vô cuống ngữ, thiên nữ diệu biện tài, linh ngă đắc thành tựu. Duy nguyện thiên nữ lai, linh ngă ngữ vô trệ, tốc nhập thân khẩu nội, thông minh túc biện tài.

          ()敬禮辨才天令我辭無礙願我所求事皆悉速成就無病常安隱壽命得延長善解諸明呪勤修菩提道廣饒益群生求心願早遂真實語說無誑天女妙辨才令我得成就惟願天女來令我語無滯速入身口聰明足辨才

          (Kinh: Kính lễ Biện Tài Thiên, khiến tôi Từ Vô Ngại. Nguyện chuyện tôi mong cầu, thảy đều mau thành tựu, không bệnh, thường an ổn. Thọ mạng được kéo dài. Khéo hiểu các minh chú, siêng tu đạo Bồ Đề, rộng lợi ích quần sanh, tâm cầu nguyện sớm toại. Tôi nói lời chân thật ngữ, tôi nói lời chẳng dối. Diệu Biện Tài Thiên Nữ, khiến tôi được thành tựu. Kính mong thiên nữ đến, khiến tôi nói lưu loát, mau vào trong thân miệng, thông minh, đủ biện tài).

 

          Kế đó, riêng thỉnh thiên nữ. Kinh văn chia thành năm ư:

          - Một, thỉnh Từ Vô Ngại.

          - Hai, một bài tụng thỉnh cầu sẽ đạt được không bệnh, tăng thọ, nhằm lợi ích hữu t́nh, chẳng tham thọ mạng thế gian.

          - Ba, một bài tụng thỉnh thông hiểu minh chú, siêng tu tập Bồ Đề.

          - Bốn, bài tụng thứ tư nói chính ḿnh chân thật cầu thỉnh gia bị ḥng đạt được.

          - Năm, một bài tụng thỉnh cầu thiên nữ nhập thân gia bị.

 

          (Kinh) Nguyện linh ngă thiệt căn, đương đắc Như Lai biện, do bỉ ngữ oai lực, điều phục chư chúng sanh. Ngă sở xuất ngữ thời, tùy sự giai thành tựu, văn giả sanh cung kính, sở tác bất đường quyên. Nhược ngă cầu biện tài, sự bất thành tựu giả, thiên nữ chi thật ngữ, giai tất thành hư vọng.

          ()願令我舌根當得如來辨由彼語威力調伏諸眾生我所出語時隨事皆成就聞者生恭敬所作不唐捐若我求辨才事不成就者天女之實語皆悉成虛妄

          (Kinh: Nguyện cho cái lưỡi tôi, đắc Như Lai biện tài. Do oai lực Phật ngữ, điều phục các chúng sanh. Khi lời tôi thốt ra, chuyện đều được thành tựu. Người nghe sanh cung kính, việc làm chẳng uổng công. Nếu tôi cầu biện tài, mà sự chẳng thành tựu, lời thật của thiên nữ, đều trở thành hư vọng).

 

          Kế đó, thỉnh cầu biện tài của Như Lai. Kinh văn chia thành ba phần:

          - Hai câu đầu là thỉnh.

          - Một bài tụng rưỡi kế đó, nói rơ ư cầu biện tài.

          - Bài tụng kế đó nói ngược lại để kết luận: Do lời của thiên nữ chẳng hư dối, tôi cầu ắt được thành tựu.

 

          (Kinh) Hữu tác vô gián tội, Phật ngữ linh điều phục, cập dĩ A La Hán, sở hữu báo ân ngữ, Xá Lợi Tử, Mục Liên, Thế Tôn chúng đệ nhất, tư đẳng chân thật ngữ, nguyện ngă giai thành tựu.

          ()有作無間罪佛語令調伏及以阿羅漢所有報恩語舍利子目連世尊眾第一斯等真實語願我皆成就

          (Kinh: Kẻ gây tội vô gián, lời Phật khiến điều phục, cùng với A La Hán, tất cả lời báo ân, Xá Lợi Tử, Mục Liên, đệ tử Phật bậc nhất, lời chân thật của họ, nguyện tôi đều thành tựu).

 

          Kế đó, thỉnh cầu gia bị khiến cho tôi nhập biện tài của Phật và các vị Thanh Văn. Nửa đầu bài tụng là thỉnh đắc biện tài của Phật, một bài tụng rưỡi nhằm thỉnh cầu các thứ biện tài khác. Phật điều phục là vô gián ngữ, c̣n La Hán là báo ân ngữ, soi rọi lẫn nhau, cùng nêu ra hết thảy các lời nói. Nói “tư đẳng” tức là các vị khác như A La Hán, hoặc hai mươi hai loại biện tài như trong phần trước.

 

          (Kinh) Ngă kim giai triệu thỉnh, Phật chi Thanh Văn chúng, giai nguyện tốc lai chí, thành tựu ngă cầu tâm, sở cầu chân thật ngữ, giai nguyện vô hư cuống.

          ()我今皆召請佛之聲聞眾皆願速來至成就我求心所求真實語皆願無虛誑

          (Kinh: Tôi nay đều triệu thỉnh, chúng Thanh Văn của Phật, đều mong mau tới đây, thành tựu tâm tôi cầu, cầu mong chân thật ngữ, đều nguyện chẳng hư dối).

         

          Kế đó, thỉnh Thanh Văn gia hộ.

 

          (Kinh) Thượng tùng Sắc Cứu Cánh, cập dĩ Tịnh Cư Thiên, Đại Phạm cập Phạm Phụ, nhất thiết Phạm vương chúng, năi chí biến tam thiên, Sách Ha thế giới chủ, tịnh cập chư quyến thuộc, ngă kim giai thỉnh triệu. Duy nguyện giáng từ bi, ai lân đồng nhiếp thọ.

          ()上從色究竟及以淨居天大梵及梵輔一切梵王眾乃至遍三千索訶世界主并及諸眷屬我今皆請召惟願降慈悲哀憐同攝受

          (Kinh: Trên từ Sắc Cứu Cánh, cùng với Tịnh Cư Thiên, Đại Phạm và Phạm Phụ, hết thảy các Phạm vương, cho đến khắp tam thiên, chủ thế giới Sách Ha, cùng với các quyến thuộc, tôi thảy đều thỉnh vời. Kính mong giáng từ bi, xót thương cùng nhiếp thọ).

 

          Kế đó, thỉnh Sắc Giới Thiên gia bị.

 

          (Kinh) Tha Hóa Tự Tại thiên, cập dĩ Lạc Biến Hóa, Đổ Sử Đa thiên chúng, Từ Thị đương thành Phật, Dạ Ma chư thiên chúng, cập tam thập tam thiên, tứ thiên vương chúng thiên, nhất thiết chư thiên chúng.

          ()他化自在天及以樂變化覩史多天眾慈氏當成佛夜摩諸天眾及三十三天四天王眾天一切諸天眾

    (Kinh: Tha Hóa Tự Tại thiên, cùng với Lạc Biến Hóa, chư thiên Đổ Sử Đa, Từ Thị sẽ thành Phật, các thiên chúng Dạ Ma, ba mươi ba cơi trời, tứ thiên vương, chư thiên, hết thảy các thiên chúng).

 

          Kế đó, thỉnh Dục Giới Thiên gia bị.

 

          (Kinh) Địa, thủy, hỏa, phong thần, y Diệu Cao sơn trụ, thất hải, sơn thần chúng, sở hữu chư quyến thuộc, măn tài cập ngũ đảnh, nhật nguyệt chư tinh thần, như thị chư thiên chúng, linh thế gian an ổn. Tư đẳng chư thiên thần, bất nhạo tác tội nghiệp. Kính lễ Quỷ Tử Mẫu, cập tối tiểu ái nhi, long, thiên, Dược Xoa chúng, Càn Thát, A Tô La, cập dĩ Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già đẳng, ngă dĩ Thế Tôn lực, tất giai thân thỉnh triệu, nguyện giáng từ bi tâm, dữ ngă vô ngại biện.

          ()地水火風神依妙高山住七海山神眾所有諸眷屬滿財及五頂日月諸星辰如是諸天眾令世間安隱斯等諸天神不樂作罪業敬禮鬼子母及最小愛兒龍天藥叉眾乾闥阿蘇羅及以緊那羅莫呼洛伽等我以世尊力悉皆申請召願降慈悲心與我無礙辨

          (Kinh: Thần đất, nước, lửa, gió, nương núi Diệu Cao trụ, bảy biển, các thần núi. Tất cả các quyến thuộc, măn tài và ngũ đảnh, nhật, nguyệt, các tinh tú. Các chúng trời như thế, khiến thế gian an ổn. Các thiên thần như thế, chẳng thích tạo tội nghiệp. Kính lễ Quỷ Tử Mẫu, và con yêu bé nhất, rồng, trời, các Dược Xoa, Càn Thát, A Tô La, cùng với Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già thảy. Tôi do sức Thế Tôn, thảy cùng đều thỉnh vời, nguyện rủ ḷng từ bi, ban cho vô ngại biện).

 

          Kế đó, thỉnh tám bộ gia bị. Bốn bài tụng đầu nhằm nêu tên, bài tụng cuối cùng là giăi bày lời thỉnh cầu.

 

          (Kinh) Nhất thiết nhân thiên chúng, năng liễu tha tâm giả, giai nguyện gia thần lực, dữ ngă diệu biện tài. Năi chí tận hư không, châu biến ư pháp giới, sở hữu hàm sanh loại, dữ ngă diệu biện tài.

          ()一切人天眾能了他心者皆願加神力與我妙辨才乃至盡虛空周遍於法界所有含生類與我妙辨才

          (Kinh: Hết thảy chúng trời, người, hiểu rơ tâm kẻ khác, nguyện đều tăng thần lực, ban tôi diệu biện tài. Cho đến tận hư không, trọn khắp trong pháp giới, tất cả loài hàm sanh, ban tôi diệu biện tài).

 

          Kế đó, thỉnh các trời người khác và pháp giới chúng sanh.

 

5.15.4.2.2.4.3. Thiên nữ tán thán, khuyên tu hành

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Biện Tài Thiên Nữ văn thị thỉnh dĩ, cáo Bà-la-môn ngôn: - Thiện tai đại sĩ! Nhược hữu nam tử, nữ nhân, năng y như thị chú cập chú tán, như tiền sở thuyết thọ tŕ pháp thức, quy kính Tam Bảo, kiền tâm chánh niệm, ư sở cầu sự, giai bất đường quyên, kiêm phục thọ tŕ, độc tụng thử Kim Quang Minh vi diệu kinh điển, sở nguyện cầu giả vô bất quả toại, tốc đắc thành tựu, trừ bất chí tâm.

          ()爾時辨才天女聞是請已告婆羅門言善哉大士若有男子女人能依如是呪及呪讚如前所說受持法歸敬三寶虔心正念於所求事皆不唐捐兼復受持讀誦此金光明微妙經典所願求者無不果遂速得成就除不至心

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Biện Tài Thiên Nữ nghe lời thỉnh ấy xong, bảo Bà-la-môn rằng: - Lành thay đại sĩ! Nếu có nam tử, nữ nhân có thể nương theo chú và chú tán như thế, thọ tŕ theo cách thức như đă nói trên đây, quy kính Tam Bảo, tâm kiền thành chánh niệm, đối với chuyện mong cầu, sẽ đều chẳng luống uổng. Lại c̣n thọ tŕ, đọc tụng kinh điển Kim Quang Minh vi diệu này, điều nguyện cầu không ǵ chẳng được thỏa, mau được thành tựu, trừ kẻ chẳng chí tâm).

 

          Đoạn thứ ba là thiên nữ tán thán, khuyên tu hành. Có hai ư:

          - Một, thiên nữ tán thán.

          - Hai, từ “nhược hữu nam tử” (nếu có người nam) trở đi, ấn chứng, khuyên tu.

         

5.15.4.2.2.4.4. Kiều Trần Như hoan hỷ, cung kính nhận lănh

                   

          (Kinh) Thời Bà-la-môn thâm tâm hoan hỷ, hiệp chưởng đảnh thọ.

          ()時婆羅門深心歡喜合掌頂受

    (Kinh: Khi đó, Bà-la-môn thâm tâm hoan hỷ, chắp tay, cung kính tiếp nhận).

                             

          Điều thứ tư là Kiều Trần Như hoan hỷ lănh thọ.

 

5.15.4.3. Đức Thế Tôn tán thán, khuyến thỉnh

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Biện Tài Thiên Nữ: - Thiện tai, thiện tai! Thiện nữ thiên! Nhữ năng lưu bố thị diệu kinh vương, ủng hộ sở hữu thọ tŕ kinh giả, cập năng lợi ích nhất thiết chúng sanh, linh đắc an lạc, thuyết như thị pháp, thí dữ biện tài bất khả tư nghị, đắc phước vô lượng, chư phát tâm giả tốc thú Bồ Đề.

          ()爾時佛告辨才天女善哉善哉善女天汝能流布是妙經王擁護所有受持經者及能利益一切眾生令得安樂說如是法施與辨才不可思議得福無量諸發心者速趣菩提

 

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Biện Tài Thiên Nữ: - Lành thay! Lành thay! Thiện nữ thiên! Bà có thể lưu truyền kinh vương mầu nhiệm này, ủng hộ tất cả người thọ tŕ kinh, và có thể lợi ích hết thảy chúng sanh, khiến cho họ được an vui. Nói pháp như thế và thí cho biện tài chẳng thể nghĩ bàn, được phước vô lượng, các người phát tâm mau chóng tiến nhập Bồ Đề).

         

          Đoạn lớn thứ ba là Như Lai tán thán, khuyên bảo. Trước là tán thán thiên n, từ “chư phát tâm” trở đi là khuyên nương theo đó tu học.

Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Phần 12 hết

 

         



[1] Sáu cách giải thích c̣n gọi là Lục Ly Hợp Thích (Sat-samāsāh), chính là sáu phương pháp được sử dụng để giải thích các từ ngữ phức hợp trong tiếng Phạn. Các cách giải thích này đều tuân theo nguyên tắc là giải thích các yếu tố cấu tạo từ ngữ đó trước (điều này được gọi là Ly Thích), sau đó tổng hợp ư nghĩa của chúng (gọi là Hợp Thích). Theo từ điển Phật Quang Sơn, sáu cách giải thích ấy, nếu xét theo từng mục riêng, sẽ rất phức tạp. Bộ từ điển ấy đề ra cách giải thích đơn giản như sau:

- Y Chủ Thích (Tat-purusa), c̣n gọi là Y Sĩ Thích, Thuộc Chủ Thích, Tức Sĩ Thích, tức là coi chữ trước là bổ nghĩa cho chữ sau trong một danh từ. Chẳng hạn như nói Sơn Tự (chùa trong núi), tức là chữ Sơn bổ nghĩa cho chữ Tự.

- Tương Vi Thích (Dvajdva) tức là các từ ngữ bao gồm hai chữ trở lên, có ư nghĩa độc lập b́nh đẳng. Chẳng hạn như nói “sơn xuyên thảo mộc” th́ có thể hiểu là bốn sự vật riêng biệt tức núi, sông, cây cối và cỏ.

- Tŕ Nghiệp Thích (Karma-dhāraya), c̣n gọi là Đồng Y Thích, tức là chữ trước nhằm bổ nghĩa, hoặc là h́nh dung từ, hoặc là trạng từ cho chữ sau. Chẳng hạn như Cao Sơn có nghĩa là núi rất cao, Cực Viễn (rất xa).

- Đới Số Thích (Dvigu): Chữ đầu tiên là một con số, mang ư nghĩa tụ tập, chẳng hạn như Tam Giới, Tứ Phương, Tứ Thánh Đế v.v…

- Lân Cận Thích (Avyayī-bhāva): Chữ đầu tiên là trạng từ, mang ư nghĩa bất biến hóa, chẳng hạn như Như Pháp, Tùng Pháp v.v… Hoặc là do có ư nghĩa lân cận, chẳng hạn như Tứ Niệm Xứ lấy Huệ làm Thể, nhưng ư nghĩa của Huệ tiếp cận với Niệm, nên gọi là Niệm Xứ.

- Hữu Tài Thích (Bahu-vrīhi), c̣n gọi là Đa Tài Thích, tức là từ ngữ có h́nh dung từ đi kèm. Chẳng hạn như Trường Tụ (tay áo dài). Chỗ khác biệt giữa Hữu Tài và Tŕ Nghiệp là Tŕ Nghiệp nhấn mạnh đến tác dụng chủ yếu của một sự vật. Chẳng hạn như Nhăn Thức không thể hiểu là Hữu Tài Thích mà phải là Tŕ Nghiệp Thích, v́ Nhăn Thức là cái Thức do con mắt sanh ra, tức là nói đến chủ thể sanh ra tác dụng ấy.

[2] Chính là Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Hội trong kinh Bảo Tích, từ quyển tám tới quyển mười bốn. Kinh này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch sang tiếng Hán. Kinh xiển dương tam mật của Như Lai và Bồ Tát (thân mật, ngữ mật và ư mật). Cuối cùng Bí Mật Chủ thỉnh cầu đức Phật cho phép thủ hộ kinh Bảo Tích sau khi đức Phật nhập diệt. Một bản dịch khác của kinh này có tên là Phật Thuyết Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh do ngài Pháp Hộ dịch vào đời Tống.

[3] Xương Bồ là một loại cỏ, thường được biết dưới tên là Sweet Flag, Sway, hoặc Muskrat root, c̣n gọi là thủy xương bồ, bạch xương bồ, tạng xương bồ, hoặc bồ bồ, thường mọc ở vùng nước lặng, khá phổ biến ở Đông và Nam Á, Bắc Âu, và Bắc Mỹ. Cây có thể cao đến 2m. Lá dài, mọc thẳng từ củ, h́nh lưỡi kiếm, có các đường gân song song, cuối gốc lá hơi hồng, có mùi thơm nhẹ khi bị ṿ nát. Phần làm thuốc chủ yếu là rễ xương bồ (thực chất là củ của nó). Xương bồ thường được dùng để nấu nước tắm cùng với cỏ ngải trong lễ Đoan Ngọ.

[4] Ngưu Hoàng (Calculus bovis, cow bezoar) là một loại sỏi trong gan ḅ hoặc trâu, đem phơi khô dùng làm thuốc. Trung Y cho rằng ngưu hoàng có tác dụng giải nhiệt, giải độc, trấn tĩnh người bị kinh phong, sốt cao.

[5] Mục Túc Hương (tên khoa học là Medicago, tên tiếng Anh là Medick, hoặc Burclover), c̣n gọi là Tam Diệp Thảo, Liên Chi Thảo, gồm hơn tám mươi loài khác nhau. Loại cỏ này có thể dùng để ăn như rau, nhưng vị rất tanh.

[6] Xạ Hương (Deer musk) là chất thơm lấy từ tuyến hương của một số động vật đực đă trưởng thành thuộc loại chồn hương, nai xạ v.v…

[7] Hùng Hoàng (Realgar), c̣n gọi là Kê Quan Thạch, chính là chất sulfide arsenic (As4S4), có màu đỏ tươi hoặc vàng cam, rất mềm, có thể đốt cháy. Hùng hoàng thường t́m thấy ở các suối nước nóng, cũng như trong các mỏ quặng ch́, vàng, bạc. Đây là một chất rất độc, có thể gây ra bệnh ung thư. Trước kia, người Âu Châu dùng để diệt chuột, dùng để xua đuổi rắn. Trong quá khứ, vào Đoan Ngọ, người Hoa hay pha hùng hoàng với rượu để uống nhằm pḥng ngừa xui xẻo.

[8] Hợp Hôn Thụ (c̣n gọi là Hợp Hoan, Albizia Julibrissin, Persian silk tree) là một loại cây rụng lá vào mùa Đông, có tán rộng, có thể cao tới 16 m. Vỏ màu xám xanh đậm, lá to, nở hoa màu hồng có nhiều tua suốt mùa Hè, thu hút ong, bướm, ruồi tới hút mật. Do lá xếp lại vào lúc ban đêm, nên có tên là Hợp Hôn (xếp lại vào lúc tối tăm).

[9] Bạch Cập (Chinese ground orchid, Hyacinth orchid) là một loại thực vật thuộc loài lan đất, có hoa màu tím hồng, phổ biến ở Trung Hoa (Quảng Đông, Cam Túc, Giang Tây, Quư Châu, Hà Bắc) Miến Điện, Nhật và Đại Hàn. Lá dài, h́nh lưỡi mác nhọn, có nhiều vạch. Hoa năm cánh dài rất thanh nhă. Có một số loài có hoa trắng nên gọi là Bạch Hoa Bạch Cập. Củ của loài này được dùng làm thuốc để trị loét đường ruột, tiêu phù thũng…

[10] Khung Cùng là một loại thực vật, toàn thân có hương thơm rất nồng. Chủ yếu mọc tại Tứ Xuyên (do vậy c̣n gọi là Xuyên Khung). Củ có h́nh dáng gồ ghề, to như nắm tay, có nhiều rễ con. Thân cây mọc thẳng từ củ, trổ hoa từ tháng Bảy đến hết tháng Tám. Phần thường được dùng làm thuốc là củ của nó.

[11] Tế Đậu Khấu c̣n được gọi là tiểu đậu khấu, lục đậu khấu, thanh sa nhân, tức là cardamom, thuộc họ Gừng. Thường mọc ở vùng rừng núi chỗ có bóng rợp, ẩm ướt. Phần dùng làm hương liệu chính là hạt của nó, có mùi hương rất nồng. Tế đậu khấu chủ yếu dùng làm gia vị. Hạt đậu khấu xay thành bột là thành phần chủ yếu để tạo nên hương vị món trà Chai của người Ấn Độ. Người Iran c̣n dùng nó để ḥa vào cà phê. Loại thô đậu khấu chính là loại to hơn, c̣n gọi là hương đậu khấu, hay black cardamom.

[12] Cam Tùng (spikenard, nardin, muskroot) là một loại thảo mộc, chỉ mọc ở vùng cao nguyên, có độ cao tối thiểu là 2.500 so với mực nước biển. Loại thảo mộc này thuộc loại thân thảo, mọc thành bụi, c̣n có tên gọi là Mă Đề Hương, Đại Cứu Hạ, Lăo Quân Tu, Tri Thù Hương v.v… Sở dĩ gọi là cam tùng v́ thân nó tiết ra chất dầu như mùi gỗ thông, có vị thơm ngọt. Phần thường dùng để chế hương liệu là phần củ, khi nghiền nát và chiết xuất sẽ thu được chất dầu có màu hổ phách, rất thơm. Cam tùng được dùng để làm nhang, làm nước hoa, hoặc dùng làm thuốc để chữa mất ngủ, sanh khó v.v…

[13] Ngải Nạp là một loại thảo mộc thuộc họ Cúc, có nhiều tên gọi như đại phong thảo, đại đinh hoàng, đại hoàng thảo, bạch thủ long năo, hoặc cái thủ hương… Loại thảo mộc này có thân ngầm to lớn, mọc thẳng. Cây có thể cao đến 3 mét, lá có h́nh bầu dục, thuôn dài. Lá phía trên có h́nh mác, thuôn dài. Hoa trổ thành cụm, h́nh tổ ong, màu vàng. Toàn thể các phần của loại cây này đều có thể làm thuốc.

[14] Gọi là sao Quỷ, nhưng thật ra đây là một cḥm sao, tương ứng với cḥm sao Cự Giải (Cancer), bao gồm mười tám ngôi sao, trong đó có bốn ngôi là hằng tinh.

[15] Khủy tay (Trửu) là đơn vị đo độ dài, c̣n gọi là Trửu Xích (thường được dịch thành Cubit trong tiếng Anh), tức là khoảng cách đo từ khủy tay cho đến đầu ngón giữa trong bàn tay, dao động từ 45 đến 55 cm.

[16] Tần Đà (Pāṇḍava) là một trong năm quả núi tại thành Vương Xá. Thành Vương Xá có năm quả núi là Tỳ Đà La (Vaibhāra) ở phía Tây Bắc, Tiên Nhân Sơn (Ṛṣigiri) ở Đông Bắc, núi Tỳ Phú La (Vaipulya) ở phương Đông (núi này cao và to nhất), Kỳ Xà Quật (Gṛdhrakūṭa) ở phương Đông Nam (hiểm trở nhất), và núi Tần Đà (núi rộng nhất).

[17] Bà Tô đại thiên (Vāsudeva) là cha của Krishna (một hóa thân của thần Vishnu).

[18] Đại Thế Vương là cách gọi khác của Đại Thế Chủ, tức danh xưng của Đại Phạm thiên vương.

[19] Vô trần tập: Không có các trần cấu tụ tập.