Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ tám

Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh

Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ

金光明最勝王經疏

卷第八

唐三藏法師義淨奉制譯

翻經沙門慧沼撰

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

Phần 13

 

5.16. Phẩm thứ mười sáu: Đại Cát Tường Thiên Nữ (Đại Cát Tường Thiên Nữ phẩm đệ thập lục, 大吉祥天女品第十六)

 

          Phẩm Đại Cát Tường Thiên Nữ gồm ba môn phân biệt:

          - Một, ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

          - Hai, giải thích tên gọi của phẩm này.

          - Ba, giải trừ vấn nạn.

 

5.16.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Nói tới ư nghĩa “v́ sao có phẩm này” th́ phần Tu Hành Lưu Thông có năm tiểu loại, đây là phần “ban cho y phục và tài vật” trong tiểu loại thứ hai, tức “dạy tu phước trí”. Nếu chẳng có phước lợi, sợ [hành nhân] sẽ mong cầu bên ngoài, trở ngại việc hoằng kinh. V́ thế, dạy [hành nhân] khi nương theo kinh này tu học, sẽ tự đạt được y phục. Đă không phải lo toan mong cầu từ bên ngoài, lại c̣n tu phước trí ḥng thành tựu hạnh thù thắng ấy. V́ vậy, có phẩm này sanh khởi.

 

5.16.2. Giải thích tên gọi của phẩm này

 

          Giải thích danh xưng của phẩm này, tiếng Phạn là Ma Ha (phương này dịch là Đại), Thất Lợi (Śrī, phương này dịch là Cát Tường), Đề Bà Tỷ (Devi) là Thiên Nữ. Gọi gộp chung là Đại Cát Tường thiên nữ. Phẩm này nói về chuyện của Cát Tường thiên nữ; do vậy, dùng danh hiệu của Ngài để đặt tên phẩm.

 

5.16.3. Giải trừ vấn nạn

 

          * Phẩm trước là tăng thêm biện tài [cho hành nhân], phẩm sau nhằm tăng thêm thức ăn, đều chẳng nên tách thành phẩm riêng. Phẩm này [nhằm dạy cách tăng thêm] y phục, có ǵ khác biệt mà tách ra?

          Đáp: So sánh với phẩm trước và phẩm sau th́ chẳng nên tách riêng ra, nhưng do có chi tiết hay đại lược khác nhau, cho nên có sự tách ra hay gộp vào khác biệt! Phẩm trước nói đại lược về chuyện tăng thêm biện tài. Do kinh văn ít, chẳng thể tách riêng ra, cho nên nói gộp chung với phần kinh văn dạy cách cầu biện tài. Phẩm sau [th́ nói] do hoằng kinh mà [Kiên Lao địa thần] tăng thêm chất dinh dưỡng nơi đất đai, chẳng nói tới chuyện [hành nhân] phải cầu rồi [địa thần] mới gia bị; cho nên cũng chẳng tách biệt. Phẩm này nói chuyện [thiên nữ gia bị] tăng thêm y phục [cho hành nhân], trước hết nói về chuyện tăng thêm y phục, [sau đó nói tới chuyện tăng thêm tài vật], do kinh văn đă dài, rộng, cho nên tách làm hai phẩm.

          * Hỏi: Đều là tạo lợi ích hoằng kinh, cớ sao đối với biện tài và y phục, mỗi đằng đều phải đợi thỉnh rồi mới tăng thêm? C̣n phẩm sau là tăng trưởng sự màu mỡ của đất đai, chẳng đợi cầu mà liền được?

          Đáp: Giáo hóa có vạn cách, lư chẳng nhất loạt như nhau. Lại nữa, tăng thêm biện tài và y phục th́ khó khăn, phải đợi cầu mới đạt được. Tăng trưởng sự màu mỡ của đất đai th́ dễ, cho nên chẳng đợi cầu! Địa thần tự làm chủ cơi đất, cho nên tăng thêm dễ dàng.

          * Hỏi: Người tŕ kinh tự phải nên cúng dường tất cả tứ sự, cớ sao đă cầu rồi mới tăng thêm tài vật?

          Đáp: Trước đó, do đă tŕ kinh, sẽ tự đạt được tứ sự; do muốn thành tựu phước hạnh, cho nên lại dạy hành nhân thỉnh cầu. Lại nữa, do người tự chuyên hoằng kinh sẽ chẳng cầu tứ sự. V́ khiến cho người cầu tứ sự sẽ tu tập kinh, bèn đợi [kẻ ấy] vâng theo kinh tu học để cầu rồi mới ban cho.

          * Hỏi: Cô Cát Tường này thuộc về đường trời, hay là thuộc đường quỷ?

          Đáp: Chân Đế Tam Tạng nói: “Vị này là Sơ Địa Bồ Tát, đáng làm thụ thần vương (vua của các thần cây), thống lănh các thần đến nơi đâu cũng đều ban cho họ sự vui sướng thù thắng. Sự vui sướng thù thắng chính là cái quả của công đức; v́ thế, tên là Công Đức Thiên. Ngoại quốc cũng gọi thần là Thiên vậy”. Chuẩn theo lời giải thích ấy, vị này chính là vua của các thần cây, nên thuộc loài quỷ. Nay tôi giải thích rằng: Theo kinh này, chỉ nói Ngài là thiên nữ, chẳng nói là thần. Như [Kiên Lao] Địa Thần trong phần sau được gọi là thần. Nếu có chỗ nói cô ta là thụ thần vương th́ giống như Tứ Thiên Vương c̣n được gọi là Tứ Thiên Thần Vương, do họ thống lănh các thần, nên gọi là Thần Vương, chứ họ chẳng thuộc vào đường quỷ. Thiên Nữ cũng thế, thuộc về thiên chúng.

 

5.16.4. Giải thích kinh văn

5.16.4.1. Thấy người hoằng kinh sẽ có thể cúng dường tứ sự

5.16.4.1.1. Ban cho lợi ích thế gian

5.16.4.1.1.1. Ban cho lợi ích trong hiện tại

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đại Cát Tường thiên nữ tức tùng ṭa khởi, tiền lễ Phật túc, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă nhược kiến hữu bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, thọ tŕ, độc tụng, vị nhân giải thuyết thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh giả, ngă đương chuyên tâm cung kính cúng dường thử đẳng pháp sư, sở vị ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dược, cập dư nhất thiết sở tu tư cụ, giai linh viên măn, vô hữu phạp thiểu.

          ()爾時大吉祥天女即從座起前禮佛足合掌恭敬白佛言世尊我若見有苾芻苾芻尼鄔波索迦鄔波斯迦受持讀誦為人解是金光明最勝王經者我當專心恭敬供養此等法師所謂飲食衣服臥具醫藥及餘一切所須資具皆令圓滿無有乏少

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đại Cát Tường thiên nữ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ dưới chân đức Phật, cung kính bạch với đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu con thấy có bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca thọ tŕ, đọc tụng, v́ người khác giải nói kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, con sẽ chuyên tâm cung kính cúng dường các vị pháp sư ấy, tức là thức ăn, y phục, đồ trải nằm, thuốc men, và hết thảy các vật dụng sinh hoạt cần thiết, đều khiến cho viên măn, chẳng có thiếu khuyết).

 

          Tán rằng: “Ban cho tài vật” gồm có hai phần. Phẩm này nói rơ người hoằng kinh đáng nên có tứ sự, phẩm sau sẽ nói về cách để đạt được. Phẩm này được chia thành bốn phần:

          - Một, thấy người hoằng kinh, [Đại Cát Tường thiên nữ] sẽ có thể cúng dường tứ sự.

          - Hai, từ “Thế Tôn” trở đi, biện định nguyên do cúng dường, và báo ân đức.

          - Ba, từ “nhược phục” (nếu lại) trở đi, khuyên hăy nên tu học.

          - Bốn, từ “Phật cáo” (đức Phật bảo) trở đi, đức Phật tán thán, khuyên lơn để kết lại.

          Đoạn này chính là phần thứ nhất. Phần này lại chia thành ba ư:

          - Một, nghi thức thỉnh cầu [đức Phật cho phép Đại Cát Tường thiên nữ tuyên nói] lợi ích.

          - Hai, từ “bạch Phật ngôn” (bạch với đức Phật rằng) trở đi, [thiên nữ] thấy có người tu hành.

          - Ba, từ “ngă đương” (con sẽ) trở đi, ban cho lợi ích.

          Trong phần “[ban cho] lợi ích”, có hai điều:

          - Một, ban cho lợi ích thế gian.

          - Hai, từ “diệc đắc trị ngộ” (cũng được gặp gỡ) trở đi, ban cho lợi ích xuất thế.

          Lợi ích thế gian gồm có hai điều:

          - Một, lợi ích trong hiện tại.

          - Hai, từ “phục ư” (lại trong) nói về lợi ích trong đời mai sau.

          Trong phần “lợi ích cho hiện tại”, trước hết là ban cho tài vật.

 

          (Kinh) Nhược trú, nhược dạ, ư thử kinh vương sở hữu cú nghĩa, quán sát, tư lượng, an lạc nhi trụ, linh thử kinh điển ư Thiệm Bộ châu quảng hành lưu bố, vị bỉ hữu t́nh dĩ ư vô lượng bách thiên Phật sở chủng thiện căn giả, thường sử đắc văn, bất tốc ẩn một.

          ()若晝若夜於此經王所有句義觀察思量安樂而住令此經典於贍部洲廣行流布為彼有情已於無量百千佛所種善根者常使得聞不速隱沒

          (Kinh: Nếu ngày hoặc đêm, đối với tất cả câu nghĩa trong kinh vương này, bèn quan sát, suy ngẫm, trụ trong an lạc, khiến cho kinh điển này được lưu truyền rộng khắp trong châu Thiệm Bộ, tức là kẻ hữu t́nh ấy đă gieo căn lành nơi vô lượng trăm ngàn đức Phật, thường khiến cho kinh này được nghe, chẳng nhanh chóng bị ẩn mất).

 

          Kế đó là “lợi ích nơi pháp”. Lợi ích nơi pháp gồm có hai điều:

          - Một, khiến cho người hành pháp trụ trong an lạc.

          - Hai, khiến cho giáo pháp được lưu truyền dài lâu, lại có ba ư:

          a) Khiến cho pháp trụ thế lâu dài.

          b) Biện định người ấy có thể tin nhận [kinh này].

          c) Kinh sẽ thường được nghe, chẳng bị ẩn mất.

         

5.16.4.1.1.2. Ban cho lợi ích trong vị lai

 

          (Kinh) Phục ư vô lượng bách thiên ức kiếp, đương thọ nhân thiên chủng chủng thắng lạc, thường đắc phong nhẫm, vĩnh trừ cơ cẩn, nhất thiết hữu t́nh hằng thọ an lạc.

          ()復於無量百千億劫當受人天種種勝樂常得豐稔永除饑饉一切有情恒受安樂

          (Kinh: Lại trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, sẽ hưởng các sự vui thù thắng trong cơi trời, người, thường được dư dật, vĩnh viễn trừ đói kém, hết thảy hữu t́nh thường hưởng an vui).

 

          Kế đó là “lợi ích trong đời sau”, có ba điều:

          - Một, [hành nhân sẽ] có được thân thể thù thắng.

          - Hai, từ “thường đắc phong nhẫm” (thường được dư dật) trở đi, thường dư dật, hoan hỷ.

          - Ba, từ “nhất thiết hữu t́nh” (hết thảy hữu t́nh) trở đi, có thể lợi lạc chúng sanh.

 

5.16.4.1.2. Ban cho lợi ích xuất thế gian

 

          (Kinh) Diệc phục trị ngộ chư Phật Thế Tôn, ư vị lai thế, tốc chứng Vô Thượng Đại Bồ Đề quả, vĩnh tuyệt tam đồ luân hồi khổ nạn.

          ()亦復值遇諸佛世於未來世速證無上大菩提果絕三塗輪迴苦

          (Kinh: Cũng lại gặp gỡ chư Phật Thế Tôn, trong đời vị lai, mau chóng chứng quả Vô Thượng Đại Bồ Đề, vĩnh viễn dứt bặt khổ nạn luân hồi trong tam đồ).

 

          Kế đó là ban cho lợi ích xuất thế, có ba điều:

          - Một, gặp Phật.

          - Hai, đắc Bồ Đề.

          - Ba, từ “vĩnh tuyệt tam đồ” (vĩnh viễn dứt tam đồ) trở đi, chứng Niết Bàn.

 

5.16.4.2. Biện định nguyên nhân cúng dường

 

          (Kinh) Thế Tôn! Ngă niệm quá khứ hữu Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác, thập hiệu cụ túc. Ngă ư bỉ sở, chủng chư thiện căn, do bỉ Như Lai từ bi mẫn niệm, oai thần lực cố, linh ngă kim nhật, tùy sở niệm xứ, tùy sở thị phương, tùy sở chí quốc, năng linh vô lượng bách thiên vạn ức chúng sanh thọ chư khoái lạc, năi chí sở tu y phục, ẩm thực, tư sanh chi cụ, kim, ngân, lưu ly, xa cừ, mă năo, san hô, hổ phách, chân châu đẳng bảo, tất linh sung túc.

          ()世尊我念過去有瑠璃金山寶華光照吉祥功德海如來正等覺十號具足我於彼所種諸善根由彼如來慈悲愍念威神力故令我今日隨所念處隨所視方隨所至國能令無量百千萬億眾生受諸快樂乃至所須衣服飲食資生之具琉璃硨磲碼碯珊瑚琥珀真珠等寶悉令充足

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Con nhớ quá khứ có Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác, mười hiệu trọn đủ. Con ở nơi vị ấy, gieo các căn lành, do sức oai thần từ bi nghĩ thương xót của đức Như Lai ấy, khiến cho con ngày nay tùy chỗ nghĩ tới, tùy theo phương nào nh́n tới, tùy nước nào con đến, đều có thể khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh hưởng các vui sướng, cho đến các thứ y phục, thực phẩm, vật dụng sinh hoạt cần thiết, các thứ báu như vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mă năo, san hô, hổ phách, chân châu v.v… thảy đều sung túc).

 

          Kế đó, biện định nguyên nhân cúng dường cũng là để báo ân đức. Có bốn điều:

          - Một, trần thuật chuyện gặp Phật trong đời trước.

          - Hai, từ “ngă ư” (con ở nơi) trở đi, trần thuật xưa kia [Thiên Nữ] đă gieo nhân.

          - Ba, từ “do bỉ” (do [đức Như Lai] ấy) trở đi, nghĩ tới ân của đức Phật ấy.

          - Bốn, từ “linh ngă” (khiến cho con) trở đi, [đức Phật ấy] khiến cho con có thể đạt được lợi ích, con v́ báo ân xưa của đức Phật, bèn cúng dường, lợi ích người hoằng kinh.

          Tiếp đó, đức Phật tán thán: “Nhữ năng như thị ức niệm tích nhân, báo ân, cúng dường” (bà có thể nghĩ nhớ ân xưa mà báo ân, cúng dường như thế) v.v… Thuận theo điều bà ta nghĩ, tức là chỗ để Tha Tâm Thông duyên theo. “Tùy sở thị phương” (tùy theo phương nào nh́n tới) chính là điều được thấy bởi Thiên Nhăn Thông. “Tùy sở chí quốc” (tùy theo nước nào con đến) tức là cảnh đạt tới của Thần Túc Thông. Ở đây nói tám chất báu, các kinh luận khác phần nhiều nói bảy thứ. Bảy báu được nhắc tới cũng lại khác nhau. Theo Phật Địa Luận: “Tùy theo thứ được coi trọng ở mỗi nơi mà nói bảy báu khác biệt”. V́ thế, chẳng mâu thuẫn!

         

5.16.4.3. Khuyên nên học tập, hành theo

 

          (Kinh) Nhược phục hữu nhân chí tâm độc tụng thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, diệc đương nhật nhật thiêu chúng danh hương, cập chư diệu hoa, vị ngă cúng dường bỉ Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác, phục đương mỗi nhật, ư tam thời trung, xưng niệm ngă danh, biệt dĩ hương, hoa, cập chư mỹ thực, cúng dường ư ngă, diệc đương thính thọ thử diệu kinh vương, đắc như thị phước.

          ()若復有人至心讀誦是金光明最勝王經亦當日日燒眾名香及諸妙華為我供養彼琉璃金山寶華光照吉祥功德海如來正等覺復當每日於三時中稱念我名別以香華及諸美食供養於我亦當聽受此妙經王得如是福

    (Kinh: Nếu lại có người chí tâm đọc, tụng kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, cũng sẽ hằng ngày đốt các loại hương quư và các loại hoa đẹp, v́ con cúng dường Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác. Lại c̣n mỗi ngày, trong ba thời, xưng niệm tên con, dùng riêng hương, hoa, và các đồ ăn ngon để cúng dường con, cũng nên nghe nhận vua trong các kinh mầu nhiệm này, sẽ được phước như thế).

 

          Kế đó, khuyên hăy nên học theo, tu tập. Nếu dựa theo [ư giảng giải của pháp sư] Chân Đế th́ phần trước là lợi ích pháp sư. Phần này là lợi ích cho người nghe. Nay tôi cho rằng: Đoạn này bao gồm cả hai điều ấy. [Phần này] trước là Trường Hàng, sau là kệ tụng. Trường Hàng gồm năm điều:

          - Một, khuyên hăy tự đọc tụng.

          - Hai, từ “diệc đương” (cũng sẽ) trở đi, dạy nghi thức đọc tụng.

          - Ba, từ “phục đương” (lại nên) trở đi, [khuyên hành nhân] lại nên cúng dường tôi (Cát Tường Thiên Nữ).

          - Bốn, từ “diệc thường” (cũng thường) trở đi, khuyên hăy nghe kinh, hàm ư: Đối với người đă hiểu th́ khuyên đọc tụng; đối với người chưa hiểu th́ khuyên nghe nhận.

          - Năm, từ “đắc như thị phước” (đạt được phước như thế) trở đi, kết lại chuyện đạt được lợi ích.

 

          (Kinh) Nhi thuyết tụng viết: - Do năng như thị tŕ kinh cố, tự thân quyến thuộc ly chư suy, sở tu y thực, vô phạp thời. Oai quang thọ linh nan cùng tận. Năng mạng địa vị thường tăng trưởng, chư thiên giáng vũ tùy thời tiết, linh chư thiên chúng hàm hoan duyệt, cập dĩ viên lâm cốc quả thần, tùng lâm quả thụ tịnh tư vinh, sở hữu miêu giá hàm thành tựu, dục cầu trân tài giai măn nguyện, tùy sở niệm giả toại kỳ tâm.

          ()說頌由能如是持經故自身眷屬離諸衰所須衣食無乏時威光壽令難窮盡能命地味常增長諸天降雨隨時節令諸天眾咸歡悅及以園林穀果神叢林果樹竝滋榮所有苗稼咸成就欲求珍財皆滿願隨所念者遂其心

          (Kinh: Bèn nói kệ tụng rằng: - Do có thể tŕ kinh như thế, bản thân, quyến thuộc ĺa suy hoại, cơm áo cần thiết chẳng lúc thiếu. Oai quang, thọ mạng khó cùng tận. Khiến đất màu mỡ thường tăng trưởng. Chư thiên tuôn mưa đúng theo thời. Khiến các vị trời đều vui thích. Cùng với thần vườn, rừng, thóc, quả, rừng rậm, cây trái đều sum suê, tất cả mùa màng đều chín rộ, muốn cầu của báu đều thỏa ḷng, hễ nghĩ tưởng ǵ đều toại nguyện).

 

          Kế đó là trùng tụng, có tám ư:  

          - Một, bản thân và quyến thuộc không suy bại.

          - Hai, áo cơm chẳng thiếu thốn.

          - Ba, oai quang, trường thọ.

          - Bốn, đất đai thêm màu mỡ.

          - Năm, mưa tuôn xuống đúng thời.

          - Sáu, các thiên thần vui sướng.

          - Bảy, mùa màng thịnh vượng.

          - Tám, điều mong nghĩ đều được thành tựu.

 

5.16.4.4. Đức Phật tán thán, khuyên bảo

         

          (Kinh) Phật cáo Đại Cát Tường thiên nữ: - Thiện tai! thiện tai! Nhữ năng như thị ức niệm tích nhân, báo ân cúng dường, lợi ích an lạc vô biên chúng sanh, lưu bố thị kinh, công đức vô tận.

          ()佛告大吉祥天女善哉善哉汝能如是憶念昔因報恩供養利益安樂無邊眾生流布是經功德無盡

          (Kinh: Đức Phật bảo Đại Cát Tường thiên nữ: - Lành thay! Lành thay! Bà có thể nghĩ nhớ cái nhân xưa kia mà báo ân cúng dường như thế, lợi ích an lạc vô biên chúng sanh, lưu truyền kinh này, công đức vô tận).

 

          Kế đó, đức Phật tán thán, khuyên bảo để kết lại.

 

5.17. Phẩm thứ mười bảy: Đại Cát Tường thiên nữ tăng trưởng tài vật (Đại Cát Tường thiên nữ tăng trưởng tài vật phẩm đệ thập thất, 大吉祥天女增長財物品

第十七)

 

          Phẩm Đại Cát Tường Thiên Nữ Tăng Trưởng Tài Vật gồm ba môn phân biệt:

 

5.17.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

         

          Giống như trong phẩm trước.


5.17.2. Giải thích tên gọi của phẩm này

 

          Trước kia có ít, nay được thêm nhiều th́ gọi là Tăng. Trước đó không có, khiến cho có th́ là Trưởng. “Tài” là thất trân (bảy món quư báu), Vật là tứ sự (cơm, áo, đồ trải nằm, thuốc men). Nếu [hành nhân] có thể hoằng kinh, thiên nữ sẽ có thể khiến cho tài vật tăng trưởng. Phẩm này nói rộng về chuyện ấy, cho nên nói là phẩm Tăng Trưởng Tài Vật. Các điều khác th́ như trong phần trước đă giải thích.

 

5.17.3. Giải trừ vấn nạn

 

          Hỏi: Phẩm này [nói Cát Tường Thiên Nữ] cũng có thể ban cho ẩm thực, tăng trưởng sự màu mỡ của đất đai, có ǵ khác với phẩm sau (phẩm Kiên Lao Địa Thần)?

          Đáp: Người có thể ban cho khác nhau. Chân Đế Tam Tạng lại nói: “Phẩm này chánh yếu ban cho y phục, c̣n của báu và thực phẩm là kèm thêm. Phẩm sau th́ chánh yếu là ban cho thực phẩm, các điều khác là kèm thêm”.

 

5.17.4. Giải thích kinh văn

5.17.4.1. Quy cách để thỉnh cầu

5.17.4.1.1. Chỉ bày trụ xứ của thiên nữ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đại Cát Tường thiên nữ phục bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Bắc phương Bệ Thất La Mạt Noa thiên vương, thành danh Hữu Tài. Khứ thành bất viễn, hữu viên danh viết Diệu Hoa Phước Quang, trung hữu thắng điện thất bảo sở thành. Thế Tôn! Ngă thường trụ bỉ.

          ()爾時大吉祥天女復白佛言世尊北方薜室羅末拏天王城名有財去城不遠有園名曰妙華福光中有勝殿七寶所成世尊我常住彼

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đại Cát Tường thiên nữ lại bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Thành của thiên vương Bệ Thất La Mạt Noa (Vaiśravaṇa, Đa Văn thiên vương) ở phương Bắc tên là Hữu Tài. Cách thành ấy không xa, có một khu vườn, tên là Diệu Hoa Phước Quang, trong ấy có ṭa điện thù thắng do bảy báu hợp thành. Bạch Thế Tôn! Con thường ở trong đó).

 

          Kế đó, nói về phương pháp để đạt được. Kinh văn chia thành bốn phần:

          - Một, nghi quỹ thỉnh cầu.

          - Hai, từ “ngă ư nhĩ thời” (con trong lúc ấy) trở đi, nói về lợi ích đạt được.

          - Ba, từ “kư đắc như thị” (đă được như thế) trở đi, dạy về thọ dụng.

          - Bốn, từ “nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở đi, đức Thế Tôn tán thán lợi ích.

          Trong phần Nghi Quỹ Thỉnh Cầu, lại chia thành ba đoạn. Đoạn thứ nhất là chỉ bày trụ xứ [của Đại Cát Tường thiên nữ] để hành nhân có chỗ dốc ḷng.

 

5.17.4.1.2. Người nguyện cầu

 

          (Kinh) Nhược phục hữu nhân dục cầu ngũ cốc nhật nhật tăng đa, thương khố doanh dật giả.

          ()若復有人欲求五穀日日增多倉庫盈溢者

          (Kinh: Nếu lại có người muốn cầu ngũ cốc hằng ngày tăng nhiều, kho đụn đầy ắp).

 

          Kế đó, đoạn thứ hai là nêu ra người cầu nguyện.

 

5.17.4.1.3. Chỉ dạy phương pháp

5.17.4.1.3.1. Khuyên tu cầu nguyện, ắt sẽ thỏa nguyện

 

          (Kinh) Ưng đương phát khởi kính tín chi tâm, tịnh trị nhất thất, cù-ma đồ địa, ưng họa ngă tượng, chủng chủng anh lạc châu táp trang nghiêm. Đương tẩy dục thân, trước tịnh y phục, đồ dĩ danh hương, nhập tịnh thất nội, phát tâm vị ngă mỗi nhật tam thời xưng bỉ Phật danh, cập thử kinh danh hiệu, nhi thân lễ kính Nam-mô Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai. Tŕ chư hương hoa, cập dĩ chủng chủng cam mỹ ẩm thực, chí tâm phụng hiến, diệc dĩ hương hoa, cập chư ẩm thực, cúng dường ngă tượng. Phục tŕ ẩm thực, tán trịch dư phương, thí chư thần đẳng, thật ngôn yêu thỉnh Đại Cát Tường Thiên, phát sở cầu nguyện: “Nhược như sở ngôn bất thị hư giả, ư ngă sở thỉnh, vật linh không nhĩ”. Vu thời, Cát Tường thiên nữ tri thị sự dĩ, tiện sanh mẫn niệm, linh kỳ trạch trung tài cốc tăng trưởng, tức đương tụng chú, thỉnh triệu ư ngă, tiên xưng Phật danh, cập Bồ Tát danh tự.

          ()應當發起敬信之心淨治一室瞿摩塗地應畫我像種種瓔珞周匝莊嚴當洗浴身著淨衣服塗以名香入淨室發心為我每日三時稱彼佛名及此經名號而申禮敬南謨瑠璃金山寶華光照吉祥功德海如來持諸香華及以種種甘美飲食至心奉獻亦以香華及諸飲食供養我像復持飲食散擲餘方施諸神等實言邀請大吉祥天發所求願若如所言是不虛者於我所請勿令空爾于時吉祥天女知是事已便生愍念令其宅中財穀增長即當誦呪請召於我先稱佛名及菩薩名字

          (Kinh: Hăy nên phát khởi tâm kính tín, xếp đặt một căn pḥng thanh tịnh, dùng phân ḅ trát đất, hăy nên vẽ tượng của con, các thứ anh lạc vây quanh để trang nghiêm. Hăy nên tắm gội thân thể, mặc y phục sạch sẽ, bôi hương quư, vào trong tịnh thất, phát tâm v́ con, mỗi ngày ba thời xưng danh đức Phật ấy, và danh hiệu của kinh này, rạp ḿnh lễ kính Nam-mô Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai. Cầm các hương hoa, và các thứ thức ăn ngon ngọt, chí tâm dâng hiến, cũng dùng hương, hoa, và các thực phẩm để cúng dường tượng của con. Lại cầm thực phẩm quăng rải các phương để thí cho các vị thần v.v… Dùng lời thật ḷng thỉnh vời Đại Cát Tường Thiên, thốt ra lời cầu nguyện: “Nếu như lời Ngài đă nói chẳng hư vọng, sẽ khiến cho điều con thỉnh cầu chẳng trở thành luống uổng vậy”. Ngay khi đó, Cát Tường thiên nữ đă biết chuyện ấy rồi, liền nghĩ xót thương, khiến cho trong nhà ấy, tài vật, ngũ cốc tăng trưởng. Liền hăy nên tụng chú thỉnh vời con. Trước hết, xưng danh hiệu của Phật và danh tự của Bồ Tát).

 

          Tiếp đó, ư thứ ba là “dạy phương pháp [cầu thỉnh]”. Trong phần này, lại có hai đoạn:

          - Một là nêu ra ư: Khuyên tu cầu thỉnh, ắt sẽ được toại nguyện.

          - Hai là từ “tức đương tụng chú” (liền hăy nên tụng chú) trở đi, dạy thẳng vào pháp này.

          Đoạn này thuộc phần “nêu ra”. Phải nên ở trong tịnh thất, trang nghiêm thân thể, cúng dường, cầu khẩn, tôi (Thiên Nữ) ắt sẽ măn nguyện [cho hành nhân]. Liền ở ngay trong tịnh thất ấy lập đàn. Sám lễ, cúng dường, tụng chú, bày ṭa, chẳng phải là [theo thứ tự] trước sau, mỗi điều được nói khác biệt. Chuẩn theo phần kinh văn dạy về cách thức, [sẽ thấy trong phần này] do thuận tiện mà nói, chẳng tuân theo thứ tự.

          Trong phần “nêu ra” này, có bảy điều:

          - Một, khuyên hăy phát khởi tín tâm th́ mới có thể tiếp nhận, hành theo.

          - Hai, từ “tịnh trị” (trang nghiêm thanh tịnh) trở đi, nêu ra cách lập đàn tràng.

          - Ba, từ “ưng đương tẩy dục” (hăy nên tắm gội) trở đi, dạy trang nghiêm thân thể.

          - Bốn, từ “nhập tịnh thất” (vào trong tịnh thất) trở đi, chỉ ra chỗ hành pháp.

          - Năm, từ “phát tâm vị ngă” (phát tâm v́ con) trở đi, dạy cách tu. Cách tu gồm năm ư:

          a) Nêu ra cái tâm để thực hiện.

          b) Từ “mỗi nhật” (mỗi ngày) trở đi, [nêu ra] thời hạn tu tŕ,

          c) Từ “xưng bỉ danh” (xưng danh hiệu ấy) trở đi, dạy đại lược sự quy mạng, lễ bái.

          d) Từ “tŕ chư hương hoa” (cầm các hương hoa) trở đi, dạy cách cúng dường. Cúng dường lại gồm ba thứ: Một, cúng Tam Bảo. Hai, từ “diệc dĩ hương hoa” (cũng dùng hương hoa) là cúng dường thiên nữ. Ba là từ “phục tŕ ẩm thực” (lại đem thức ăn) trở đi, cúng dường quyến thuộc và hết thảy các thần.

          e) Từ “thật ngôn” trở đi, sắc truyền thỉnh cầu.

          - Sáu, từ “ư thời, Cát Tường” (ngay khi đó, Cát Tường) trở đi, nêu ra ư nghĩa “do tu nhân mà đắc quả”.

          - Bảy, từ “tức đương” (ngay lập tức hăy nên) trở đi, dạy tụng chú, quy y lễ kính.

 

5.17.4.1.3.2. Dạy thẳng vào cách tu

 

          (Kinh) Nhất tâm kính lễ: Nam-mô nhất thiết thập phương tam thế chư Phật. Nam-mô Bảo Kế Phật. Nam-mô Vô Cấu Quang Minh Bảo Tràng Phật. Nam-mô Kim Tràng Quang Phật. Nam-mô Bách Kim Quang Tạng Phật. Nam-mô Kim Cái Bảo Tích Phật. Nam-mô Kim Hoa Quang Tràng Phật. Nam-mô Đại Đăng Quang Phật. Nam-mô Đại Bảo Tràng Phật. Nam-mô Đông phương Bất Động Phật. Nam-mô Nam phương Bảo Tràng Phật. Nam-mô Tây phương Vô Lượng Thọ Phật. Nam-mô Bắc phương Thiên Cổ Âm Phật. Nam-mô Diệu Tràng Bồ Tát. Nam-mô Kim Quang Bồ Tát. Nam-mô Kim Tạng Bồ Tát. Nam-mô Thường Đề Bồ Tát. Nam-mô Pháp Thượng Bồ Tát. Nam-mô Thiện An Bồ Tát.

          ()一心敬禮南謨一切十方三世諸佛南謨寶髻佛南謨無垢光明寶幢佛南謨金幢光佛南謨百金光藏佛南謨金蓋寶積佛南謨金華光幢佛南謨大燈光佛南謨大寶幢佛南謨東方不動佛南謨南方寶幢佛南謨西方無量壽佛南謨北方天鼓音佛南謨妙幢菩薩南謨金光菩薩南謨金藏菩薩南謨常啼菩薩南謨法上菩薩南謨善安菩薩

          (Kinh: Nhất tâm kính lễ: Nam-mô hết thảy mười phương ba đời chư Phật. Nam-mô Bảo Kế Phật. Nam-mô Vô Cấu Quang Minh Bảo Tràng Phật. Nam-mô Kim Tràng Quang Phật. Nam-mô Bách Kim Quang Tạng Phật. Nam-mô Kim Cái Bảo Tích Phật. Nam-mô Kim Hoa Quang Tràng Phật. Nam-mô Đại Đăng Quang Phật. Nam-mô Đại Bảo Tràng Phật. Nam-mô Đông phương Bất Động Phật. Nam-mô Nam phương Bảo Tràng Phật. Nam-mô Tây phương Vô Lượng Thọ Phật. Nam-mô Bắc phương Thiên Cổ Âm Phật. Nam-mô Diệu Tràng Bồ Tát. Nam-mô Kim Quang Bồ Tát. Nam-mô Kim Tạng Bồ Tát. Nam-mô Thường Đề Bồ Tát. Nam-mô Pháp Thượng Bồ Tát. Nam-mô Thiện An Bồ Tát).

 

          Kế đó, đoạn thứ hai là dạy thẳng vào cách tu. Chuẩn theo đó để tác pháp, có mười một thứ:

          - Một, trước hết dạy hăy nên tụng chú để thành tựu.

          - Hai, tạo đàn tràng.

          - Ba, nghiêm tịnh thân thể.

          - Bốn, hăy nên thọ tám giới (Bát Quan Trai Giới).

          - Năm, trong hai thời, v́ chính ḿnh và thiên nữ cúng dường Tam Bảo.

          - Sáu, v́ thiên nữ và chính ḿnh mà trong ba thời lễ Phật, Pháp, Tăng.

          - Bảy, tự sám hối tội khiên của chính ḿnh.

          - Tám, hồi hướng trọn khắp, phát khởi điều mong cầu.

          - Chín, đối trước thiên nữ quy y, lễ thỉnh danh hiệu.

          - Mười, tụng thần chú.

          - Mười một, mong thiên nữ măn nguyện.

          Nay kinh văn không nói theo thứ tự, dựa theo kinh văn mà chia thành chín điều. Điều đầu tiên là lễ kính Tam Bảo. Kinh này và Phật Bảo Hoa (Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai) cũng nên lễ kính. Do đă nói trước đó, ở đây lược đi, không bàn tới. Chuẩn theo phần kinh văn trước đó, khi cầu biện tài, cũng lễ kính Tam Bảo và chư thiên thần, đều thỉnh cầu gia bị, nay ở đây chẳng thỉnh [cầu gia bị] v́ tăng tài vật sẽ dễ hơn [cầu tăng biện tài]!

 

          (Kinh) Kính lễ như thị Phật, Bồ Tát dĩ, thứ đương tụng chú, thỉnh triệu ngă Đại Cát Tường thiên nữ, do thử chú lực, sở cầu chi sự giai đắc thành tựu.

          ()敬禮如是佛菩薩已次當誦呪請召我大吉祥天女由此呪力所求之事皆得成就

    (Kinh: Kính lễ chư Phật, Bồ Tát như thế xong. Kế đến hăy nên tụng chú thỉnh vời con là Đại Cát Tường thiên nữ. Do sức của chú ấy, việc mong cầu đều được thành tựu).

 

          Kế đó, ư thứ hai là dạy tụng chú, có năm ư. Ư thứ nhất là kết phần trước để dẫn khởi phần sau. Ư thứ hai, từ “thứ đương” (kế đó, hăy nên) trở đi, dạy cách thỉnh vời.

 

          (Kinh) Tức thuyết chú viết: - Nam-mô thất rị mạc ha thiên nữ, đát điệt tha. Bát rị bô luật noa chiết lệ, tam mạn đả, đạt rị thiết nê. Mạc ha tỳ ha ra yết đế. Tam mạn đá tỳ đàm mạt nê. Mạc ha ca lư dă. Bát lạt để sắt sá bát nê. Tát bà át tha bà đạn nê. Tô bát lạt để bô lệ. A da na đạt ma đa, mạc ha tỳ câu tỷ đế. Mạc ha mê đốt rô, ổ ba tăng hế đê. Mạc ha hiệt rị sử, tô tăng cận lư. Hế đê tam mạn đa át tha. A nô ba lạt nê, sa ha.

          ()說呪南謨室唎莫訶天女怛姪他鉢唎脯𠷈拏折三曼達唎設莫訶毘訶囉揭帝三曼哆毘曇末泥莫訶迦里也鉢喇底瑟侘鉢泥薩婆頞他婆彈泥蘇鉢喇底脯痾耶娜達摩莫訶毘俱比帝莫訶迷咄嚕鄔波僧呬羝莫訶頡唎使蘇僧近里呬羝三曼多頞他阿奴波剌泥莎訶

    (Kinh: Liền nói chú rằng: - Nam-mô thất rị mạc ha thiên nữ, đát điệt tha. Bát rị bô luật noa chiết lệ, tam mạn đả, đạt rị thiết nê. Mạc ha tỳ ha ra yết đế. Tam mạn đá tỳ đàm mạt nê. Mạc ha ca lư dă. Bát lạt để sắt sá bát nê. Tát bà át tha bà đạn nê. Tô bát lạt để bô lệ. A da na đạt ma đa, mạc ha tỳ câu tỷ đế. Mạc ha mê đốt rô, ổ ba tăng hế đê. Mạc ha hiệt rị sử, tô tăng cận lư. Hế đê tam mạn đa át tha. A nô ba lạt nê, sa ha).

 

          Kế đó, ư thứ ba là dạy tụng chú.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Nhược nhân tụng tŕ như thị thần chú thỉnh triệu ngă thời, ngă văn thỉnh dĩ, tức chí kỳ sở, linh nguyện đắc toại. Thế Tôn! Thị quán đảnh pháp cú, định thành tựu cú, chân thật chi cú, vô hư cuống cú, thị b́nh đẳng hạnh, ư chư chúng sanh thị chánh thiện căn.

          ()世尊若人誦持如是神呪請召我時我聞請已即至其所令願得遂世尊是灌頂法句定成就句真實之句無虛誑句是平等行於諸眾生是正善根

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có ai tụng tŕ thần chú như thế để thỉnh vời con, con nghe thỉnh rồi, liền đến chỗ kẻ đó, khiến cho kẻ đó toại nguyện. Bạch Thế Tôn! Pháp cú quán đảnh, câu quyết định thành tựu, câu chân thật, câu chẳng hư dối này là hạnh b́nh đẳng, là thiện căn chân chánh cho các chúng sanh).

 

          Tiếp đó, ư thứ tư là “có thể hành, th́ sẽ được toại nguyện”. Từ câu “Thế Tôn! Thị quán đảnh pháp cú” (Bạch Thế Tôn! Pháp cú quán đảnh này) trở đi, là năm câu tán thán công năng của thần chú, gồm sáu điều:

          - Một, quán đảnh pháp cú, nói rơ đây là pháp của bậc thù thắng, giống như [thái tử] tiếp nhận vương vị, quốc sư cưỡi voi đi lấy nước bốn biển, dùng cỏ cát tường rảy [nước ấy] lên đỉnh đầu [thái tử], biểu thị tướng cát tường. Điều này nhằm biểu thị người được nghe Đà La Ni này sẽ tiếp nhận ngôi vị Phật.

          - Hai, “câu quyết định thành tựu”: Chắc chắn thỏa măn điều mong cầu.

          - Ba, “câu chân thật”: Do nói khế hợp lẽ Chân.

          - Bốn, “không hư dối”: Do chẳng lường gạt người khác.

          - Năm, “hạnh b́nh đẳng”: Hết thảy hữu t́nh đều có thể hành.

          - Sáu, “thiện căn chân chánh”: Do là căn bản của các điều thiện thế gian và xuất thế gian.

 

          (Kinh) Nhược hữu thọ tŕ, độc tụng chú giả, ưng thất nhật, thất dạ, thọ Bát Chi Giới.

          ()若有受持讀誦呪者應七日七夜受八支戒

          (Kinh: Nếu có người thọ tŕ, đọc tụng chú này, hăy nên bảy ngày, bảy đêm, thọ tám chi giới).

 

          Kế đó, điều thứ ba là dạy “hăy nên thọ giới”. Đây là nói theo pháp của hai chúng tại gia, chứ năm chúng xuất gia th́ không cần phải thọ.

 

          (Kinh) Ư thần triêu thời, tiên tước xỉ mộc, tịnh tháo sấu dĩ.

          ()於晨朝時先嚼齒木淨澡漱已

          (Kinh: Vào lúc sáng sớm, trước hết nên chà răng, tắm rửa, súc miệng sạch sẽ).

 

          Kế đó, điều thứ tư là dạy “hăy nghiêm tịnh thân thể”, cũng nên tắm rửa, mặc y phục sạch sẽ.

 

          (Kinh) Cập ư bô hậu, hương hoa cúng dường nhất thiết chư Phật.

          ()及於晡後香華供養一切諸佛

          (Kinh: Cho tới buổi chiều, dùng hương, hoa cúng dường hết thảy chư Phật).

 

          Kế đó, điều thứ năm là “dạy tu cúng dường”. Tuy nói là “tới lúc buổi chiều”, nhưng sáng sớm cũng phải như vậy: Cúng dường Phật, Pháp, Bồ Tát, cùng với Cát Tường thiên nữ.

 

          (Kinh) Tự trần kỳ tội.

          ()自陳其罪

    (Kinh: Tự bày tỏ tội của chính ḿnh).

 

          Kế đó, điều thứ sáu là dạy “hăy sám hối tội khiên của chính ḿnh”.

 

          (Kinh) Đương vị kỷ thân, cập chư hàm thức, hồi hướng, phát nguyện, linh sở hy cầu tốc đắc thành tựu.

          ()當為己身及諸含識迴向發願令所希求速得成就

          (Kinh: Hăy nên chính ḿnh và các hàm thức mà hồi hướng phát nguyện, khiến cho điều mong cầu chóng được thành tựu).

 

          Kế đó, điều thứ bảy là “khắp v́ mọi loài mà phát nguyện”.

 

          (Kinh) Tịnh trị nhất thất, hoặc tại không nhàn A Lan Nhă xứ, cù-ma vi đàn, thiêu chiên đàn hương, nhi vị cúng dường. Trí nhất thắng ṭa, phan, cái trang nghiêm, dĩ chư danh hoa bố liệt đàn nội.

          ()治一室或在空閑阿蘭若處瞿摩為壇燒栴檀香而為供養置一勝座旛蓋莊嚴以諸名華布列壇

          (Kinh: Xếp đặt một căn pḥng thanh tịnh, hoặc ở chỗ A Lan Nhă thanh vắng, dùng phân ḅ làm đàn, đốt hương Chiên Đàn để cúng dường. Bày một cái ṭa thù thắng, dùng phan và lọng để trang nghiêm, dùng các thứ hoa quư để bày biện trong đàn).

 

          Kế đó, điều thứ tám là “dạy lập đàn tràng”. Cách lập đàn tràng gồm năm ư:

          - Một, nương vào chỗ thanh vắng, thanh tịnh.

          - Hai, dùng phân ḅ bôi lên mặt đất [để lập đàn].

          - Ba, vẽ h́nh Cát Tường thiên nữ.

          - Bốn, xếp đặt một cái ṭa cao.

          - Năm, treo bày phan, lọng, thắp hương, rải hoa.

 

          (Kinh) Ưng đương chí tâm tụng tŕ tiền chú, hy vọng ngă chí.

          ()應當至心誦持前呪希望我至

          (Kinh: Hăy nên chí tâm tụng tŕ chú trên đây, mong mỏi con tới).

 

          Kế đó, điều thứ chín là “mong mỏi thiên nữ sẽ măn nguyện”. Cách thỉnh vời thiên nữ đă được nói trong phần dạy về chú. Ở đây nói “chí tâm” tức là nói đến điều được nhắc tới trước đó.

 

5.17.4.2. Lợi ích đạt được

 

          (Kinh) Ngă ư nhĩ thời tức tiện hộ niệm, quán sát thị nhân, lai nhập kỳ thất, tựu ṭa nhi tọa, thọ kỳ cúng dường.

          ()我於爾時即便護念觀察是人來入其室就座而坐受其供養

    (Kinh: Con trong lúc ấy liền hộ niệm, quan sát người đó, vào trong thất ấy, đến ngồi trên ṭa, nhận lănh cúng dường).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ hai “do thỉnh cầu mà đạt được lợi ích”, có ba ư. Ư thứ nhất là Cát Tường thiên nữ tới ứng hiện.

 

          (Kinh) Tùng thị dĩ hậu, đương linh bỉ nhân, ư thụy mộng trung, đắc kiến ư ngă.          

          ()從是以後當令彼人於睡夢中得見於我

          (Kinh: Từ đấy trở đi, sẽ khiến cho người ấy trong mộng được thấy con).

 

          Kế đó, ư thứ hai là khiến cho “được thấy [thiên nữ] trong mộng”.

 

          (Kinh) Tùy sở cầu sự, dĩ thật cáo tri. Nhược tụ lạc, không trạch, cập tăng trụ xứ, tùy sở cầu giả, giai linh viên măn, kim, ngân, tài bảo, ngưu, dương, cốc mạch, ẩm thực, y phục, giai đắc tùy tâm, thọ chư khoái lạc.

          ()隨所求事以實告知若聚落空澤及僧住處隨所求者皆令圓滿金銀財寶牛羊穀麥飲食衣服皆得隨心受諸快樂

          (Kinh: Tùy theo chuyện mong cầu, dùng sự thật bảo cho biết. Nếu tại thành ấp, đầm trống, và chỗ tăng ở, tùy theo điều mong cầu, sẽ đều khiến cho viên măn: Vàng, bạc, của cải, trâu, dê, thóc lúa, thức ăn, y phục, đều được thỏa ḷng, hưởng các vui sướng).

 

          Kế đó, ư thứ ba là đắc quả.

 

5.17.4.3. Dạy về thọ dụng

 

          (Kinh) Kư đắc như thị thắng diệu quả báo, đương dĩ thượng phần cúng dường Tam Bảo, cập thí ư ngă, quảng tu pháp hội, thiết chư ẩm thực, bố liệt hương hoa.

          ()既得如是勝妙果報當以上分供養三寶及施於我廣修法會設諸飲食布列香華

          (Kinh: Đă đạt được quả báo thù thắng, nhiệm mầu như thế, hăy nên dùng các món thuộc bậc thượng để cúng dường Tam Bảo và thí cho con, rộng tu pháp hội, sắp đặt các thực phẩm, bày biện hương, hoa).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ ba là “dạy về thọ dụng”. Có sáu ư: Ư thứ nhất là [hành nhân] hăy nên dùng thứ thượng hảo để v́ chính ḿnh và tôi (thiên nữ) mà cúng dường. Ở đây, hành văn theo cách đảo ngữ, phải nên hiểu là: Hăy nên dùng vật phẩm bậc thượng để v́ chính ḿnh và Cát Tường thiên nữ rộng tu pháp hội, chuẩn bị các thứ thực phẩm, xếp đặt hương, hoa để cúng dường Tam Bảo.

 

          (Kinh) Kư cúng dường dĩ, sở hữu cúng dường hóa chi thủ trực, phục vị cúng dường ư ngă.

          ()既供養已所有供養貨之取直復為供養於我

          (Kinh: Đă cúng dường xong, tất cả các thứ cúng dường đều đem đổi lấy thứ ngang giá để cúng dường cho con).

 

          Sau đó, điều thứ hai là hăy nên đổi các thứ cúng dường c̣n lại [thành vật phẩm tương ứng] để cúng dường lần nữa.

 

          (Kinh) Ngă đương chung thân thường trụ ư thử, ủng hộ thị nhân, linh vô khuyết phạp, tùy sở hy cầu, tất giai xứng ư.

          ()我當終身常住於此擁護是人令無闕乏隨所希求悉皆稱意

          (Kinh: Con sẽ suốt đời thường ở nơi đó, ủng hộ người ấy, khiến cho chẳng thiếu hụt, mong cầu điều ǵ cũng đều được vừa ư).

 

          Kế đó, điều thứ ba là “kết lại các điều trên đây”, nêu ra lư do v́ sao khuyên cúng dường.

 

          (Kinh) Diệc đương thời thời cấp tế bần phạp, bất ưng xan tích, độc vị kỷ thân.

          ()亦當時時給濟貧乏不應慳惜獨為己身

    (Kinh: Cũng nên kịp thời giúp đỡ người nghèo thiếu, chớ nên keo tiếc, chỉ lo cho bản thân).

 

          Kế đó, điều thứ tư là “hăy nên chia sẻ cho kẻ bần cùng, đừng bo bo lo cho ḿnh!”

 

          (Kinh) Thường độc thị kinh, cúng dường bất tuyệt.

          ()常讀是經供養不

          (Kinh: Thường đọc kinh này, cúng dường chẳng dứt).

 

          Kế đó, điều thứ năm là “đă có được duyên giúp đỡ, phải nên chân chánh hoằng kinh”.

 

          (Kinh) Đương dĩ thử phước phổ thí nhất thiết, hồi hướng Bồ Đề, nguyện xuất sanh tử, tốc đắc giải thoát.

          ()當以此福普施一切迴向菩提願出生死速得解

          (Kinh: Hăy nên đem phước ấy thí cho hết thảy, hồi hướng Bồ Đề, nguyện thoát sanh tử, mau được giải thoát).

 

          Kế đó, điều thứ sáu là bố thí trọn hết các phước trên đây.

 

5.17.4.4. Đức Thế Tôn tán thán lợi ích

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn tán ngôn: - Thiện tai, Cát Tường thiên nữ! Nhữ năng như thị lưu bố thử kinh, bất khả tư nghị, tự tha câu ích.

          ()爾時世尊讚言善哉吉祥天女汝能如是流布此經不可思議自他俱益

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen rằng: - Lành thay! Cát Tường thiên nữ! Bà có thể lưu truyền kinh này như thế chẳng thể nghĩ bàn, ḿnh lẫn người đều được lợi ích).

 

          Đoạn lớn thứ tư là đức Thế Tôn tán thán lợi ích.

 

5.18. Phẩm thứ mười tám: Kiên Lao Địa Thần (Kiên Lao Địa Thần phẩm đệ thập bát, 堅牢地神品第十八)

 

          Phẩm Kiên Lao Địa Thần, gồm ba môn phân biệt.

 

5.18.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Trong phần trên, tuy tăng nhiều y phục, nhưng chưa giúp đỡ về ăn uống. Phẩm này [nói về chuyện Địa Thần giúp hành nhân] tăng ích ẩm thực, giúp cho họ thân thể an lạc để hoằng pháp. Do vậy, sau phẩm trước, bèn có phẩm này sanh khởi.

 

5.18.2. Giải thích danh xưng của phẩm này

 

           Tiếng Phạn là Kiên Lao (Dṛḍha), đó là ư nghĩa của đất, tức là thần đất kiên cố. Hoặc lại có thể [hiểu cách khác] là do thần có thể khiến cho đất kiên cố, nên gọi là Kiên Lao Địa Thần. Đây cũng là cách giải thích theo lối Y Chủ, v́ “có thể làm cho đất kiên cố” là tác dụng của thần.

 

5.18.3. Giải thích vấn nạn

 

          Thiên nữ tăng thêm tài vật, nên nói là phẩm Tăng Trưởng Tài Vật, trong phẩm này, địa thần tăng thêm thực phẩm, v́ sao chẳng gọi là phần Địa Thần Ích Ẩm Thực Tư Vị?

          Đáp: [Do phần kinh văn nói về Cát Tường] thiên nữ chia làm hai phần, cho nên dùng ư nghĩa Tăng Ích Tài Vật để phân biệt. Phẩm Địa Thần đă chẳng tách ra, lại không nói tràn lan sang ư khác, cho nên chẳng nói tới Ẩm Thực.

 

5.18.4. Giải thích kinh văn

5.18.4.1. Giúp tăng thêm thực phẩm

5.18.4.1.1. Nêu ra lợi ích do hoằng kinh

5.18.4.1.1.1. Nghi quỹ thỉnh cầu được phép tuyên nói

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kiên Lao Địa Thần tức ư chúng trung, tùng ṭa nhi khởi, hiệp chưởng cung kính, nhi bạch Phật ngôn:

          ()爾時堅牢地神即於眾中從座而起合掌恭敬而白佛言

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần liền từ trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng lên, chắp tay cung kính, bạch cùng đức Phật rằng).

 

          Dưới đây, kinh văn trong phẩm này được chia thành hai phần:

          - Một, [địa thần] giúp tăng thêm thực phẩm, vật dụng.

          - Hai, từ “bạch Phật ngôn” (bạch Phật rằng) trở đi, [địa thần] ban thần chú và hiện thân gia bị.

          Phần thứ nhất lại gồm có bốn đoạn:

          - Một, nêu ra lợi ích do hoằng kinh.

          - Hai, từ “nhược hữu phương xứ” (nếu có nơi chốn) trở đi, nêu rơ lợi ích đạt được.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, đức Phật trần thuật lần nữa để kết lại.

          - Bốn, từ “nhĩ thời Kiên Lao” (lúc bấy giờ, Kiên Lao) trở đi, địa thần nguyện thủ hộ.

          Trong phần “nêu ra [lợi ích do hoằng kinh]”, có hai ư:

          - Một là nghi quỹ [thỉnh cầu đức Phật cho phép tuyên nói].

          - Hai, nêu ra lợi ích.

          Phần này chính là ư thứ nhất.

 

5.18.4.1.1.2. Nêu ra lợi ích

5.18.4.1.1.2.1. Thời điểm và nơi chốn hoằng kinh

 

          (Kinh) Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, nhược hiện tại thế, nhược vị lai thế, nhược tại thành ấp, tụ lạc, vương cung lâu quán, cập A Lan Nhă, sơn trạch, không lâm, hữu thử kinh vương lưu bố chi xứ. Thế Tôn! Ngă đương văng nghệ kỳ sở, cúng dường, cung kính, ủng hộ, lưu thông.

          ()世尊是金光明最勝王經若現在世若未來世若在城邑聚落王宮樓觀及阿蘭若山澤空林有此經王流布之處世尊我當往詣其所供養恭敬擁護流通

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này dù trong đời hiện tại, hay đời vị lai, dù ở tại thành, ấp, xóm làng, cung vua, điện, đài, và A Lan Nhă, núi, chằm, rừng vắng, hễ chỗ nào có kinh vương này lưu truyền. Bạch Thế Tôn! Con sẽ đến chỗ ấy, cúng dường, cung kính, ủng hộ, lưu thông).

 

          Kế đó, “nêu ra lợi ích” có hai ư:

          - Một, nêu ra thời điểm và nơi chốn hoằng kinh.

          - Hai, từ “Thế Tôn ngă đương” (bạch Thế Tôn! Con sẽ) trở đi, nêu rơ [địa thần] sẽ tạo lợi ích cho người hoằng kinh.

 

5.18.4.1.2.2. Nói rơ chuyện tạo lợi ích cho người hoằng kinh

5.18.4.1.2.2.1. Địa thần cúng dường người hoằng kinh

5.18.4.1.2.2.1.1. Chỉ ra người hoằng kinh và nơi chốn

 

          (Kinh) Nhược hữu phương xứ, vị thuyết pháp sư, phu trí cao ṭa, diễn thuyết kinh giả.

          ()若有方處為說法師敷置高座演說經

     (Kinh: Nếu có nơi chốn nào, v́ vị thầy thuyết pháp mà xếp đặt ṭa cao, diễn nói kinh này).

 

          Kế đó, điều thứ hai là nói về lợi ích đạt được, có ba ư:

          - Một, cúng dường người hoằng kinh.

          - Hai, “kư thọ như thị” (đă hưởng như thế) trở đi, nói rơ: Được cúng dường, càng hoằng dương kinh rộng răi.

          - Ba, từ “kư thính thọ dĩ” (đă nghe, nhận rồi) trở đi, nêu ra lợi ích do nghe kinh.

          Trong phần thứ nhất, lại có năm ư. Ư thứ nhất là chỉ ra người hoằng kinh và nơi chốn.

 

5.18.4.1.2.2.1.2. Địa thần sẽ tột bậc cung kính

 

          (Kinh) Ngă dĩ thần lực, bất hiện bổn thân, tại ư ṭa sở, đảnh đới kỳ túc.

          ()我以神力不現本身在於座所頂戴其足

          (Kinh: Con sẽ dùng thần lực, chẳng hiện thân ḿnh, ở nơi ṭa ấy, đầu đội chân người ấy).

         

          Kế đó, ư thứ hai là thần cung kính đội chân [người thuyết pháp].

 

5.18.4.1.2.2.1.3. Địa thần được hưởng lợi ích nơi pháp

 

          (Kinh) Ngă đắc văn pháp, thâm tâm hoan hỷ, đắc xan pháp vị, tăng ích oai quang, khánh duyệt vô lượng.

          ()我得聞法深心歡喜得餐法味增益威光慶悅無量

    (Kinh: Con được nghe pháp, tâm hoan hỷ sâu xa, được nếm pháp vị, tăng thêm oai quang, mừng vui vô lượng).

 

          Kế đó, ư thứ ba là địa thần được hưởng pháp lợi.

 

5.18.4.1.2.2.1.4. Tạo lợi ích để cúng dường

 

          (Kinh) Tự thân kư đắc như thị lợi ích, diệc linh đại địa thâm thập lục vạn bát thiên du-thiện-na chí kim cang luân tế, linh kỳ địa vị tất giai tăng ích, năi chí tứ hải sở hữu thổ địa, diệc sử ph́ nùng, điền trù ốc nhưỡng bội thắng thường nhật. Diệc phục linh thử Thiệm Bộ châu trung giang, hà, tŕ, chiểu, sở hữu chư thụ, dược thảo, tùng lâm, chủng chủng hoa, quả, căn, hành, chi, diệp, cập chư miêu giá, h́nh tướng khả ái, chúng sở nhạo quán, sắc hương cụ túc, giai kham thọ dụng. Nhược chư hữu t́nh thọ dụng như thị thắng ẩm thực dĩ, trưng mạng, sắc lực, chư căn an ổn, tăng ích quang huy, vô chư thống năo, tâm huệ dũng kiện, vô bất kham năng. Hựu thử đại địa phàm hữu sở tu, bách thiên sự nghiệp, tất giai châu bị.

          ()自身既得如是利益亦令大地深十六萬八千踰繕那至金剛輪際令其地味悉皆增益乃至四海所有土地亦使肥濃田疇沃壤倍勝常日亦復令此贍部洲中江河池沼所有諸樹藥草叢林種種華果根莖枝葉及諸苗稼形相可愛眾所樂觀色香具足皆堪受用若諸有情受用如是勝飲食已長命色力諸根安隱增益光暉無諸痛惱心慧勇健無不堪能又此大地凡有所須百千事業悉皆周備

          (Kinh: Bản thân đă được lợi ích như thế, cũng khiến cho đại địa sâu mười sáu vạn tám ngàn du-thiện-na (do-tuần) cho tới kim cang luân tế, khiến cho đất đai đều tăng thêm màu mỡ, cho đến tất cả đất đai trong bốn biển cũng đều khiến cho ph́ nhiêu, ruộng nương màu mỡ gấp bội thường ngày. Cũng khiến cho trong châu Thiệm Bộ, sông ng̣i, ao, chuôm, tất cả cây cối, cỏ thuốc, rừng lùm, các thứ hoa, quả, rễ, thân, cành, lá, và các loại mạ thóc, h́nh tướng đáng yêu, mọi người thích thấy, sắc hương đầy đủ, đều đáng hưởng dùng. Nếu các hữu t́nh hưởng thụ thực phẩm thù thắng như thế xong, sẽ tăng trưởng thọ mạng và sắc lực, các căn an ổn, [diện mạo] tăng thêm tươi sáng, không có các đau khổ, tâm huệ mạnh mẽ, không ǵ chẳng thể kham làm được. Lại c̣n phàm là các thứ cần có trong đại địa, trăm ngàn sự nghiệp, thảy đều trọn đủ).

 

          Kế đó, ư thứ tư là “tăng ích để cúng dường”. Cúng dường gồm năm điều:

          - Một, tăng ích độ màu mỡ của đất đai. Do độ ph́ nhiêu của đất tăng thêm, khiến cho các thứ sanh trưởng nơi đất thảy đều tốt đẹp.

          - Hai, từ “năi chí” (cho đến) trở đi, [chỉ rơ] phạm vi tạo lợi ích.

          - Ba, từ “diệc phục” (cũng lại) trở đi, tăng ích các loại ngũ cốc.

          - Bốn, từ “nhược chư hữu t́nh” (nếu các hữu t́nh) trở đi, tăng ích thọ dụng. Khiến cho vị thầy thuyết pháp và người trải ṭa, đại chúng nghe pháp, đều đạt được lợi ích này. V́ thế nói là “nhược chư hữu t́nh”.

          - Năm, từ “hựu thử đại địa” (lại c̣n đại địa này) trở đi, tăng ích các vật dụng sinh hoạt.

 

5.18.4.1.2.2.1.5. Kết lại các lợi ích đạt được

 

          (Kinh) Thế Tôn! Dĩ thị nhân duyên, chư Thiệm Bộ châu an ổn, phong lạc, nhân dân xí thịnh, vô chư suy năo, sở hữu chúng sanh, giai thọ an lạc.

          ()世尊以是因緣諸贍部洲安隱豐樂人民熾盛無諸衰惱所有眾生皆受安樂

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, các châu Thiệm Bộ an ổn, giàu vui, nhân dân đông đảo, hưng thịnh, không có các suy năo, tất cả chúng sanh đều hưởng an vui).

 

          Kế đó, ư thứ năm là “kết lại chuyện đạt được lợi ích”.

 

5.18.4.1.2.2.2. Người đă được hưởng lợi ích, càng phải nên hoằng kinh

5.18.4.1.2.2.2.1. Đă nghe nói càng thêm tôn kính, nguyện hộ tŕ

 

          (Kinh) Kư thọ như thị thân tâm khoái lạc, ư thử kinh vương, thâm gia ái kính, sở tại chi xứ, giai nguyện thọ tŕ, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.

          ()既受如是身心快樂於此經王深加愛敬所在之處皆願受持供養恭敬尊重讚歎

          (Kinh: Đă hưởng thân tâm vui sướng như thế, đối với kinh vương này, càng thêm yêu kính sâu đậm, chỗ nào có kinh đều nguyện hộ tŕ, cúng dường, cung kính tôn trọng, tán thán).

 

          Kế đó, điều thứ hai là “đă được [địa thần] cúng dường, càng phải nên hoằng dương kinh rộng răi”. Trong phần này, lại chia thành ba ư:

          - Một, nghe nói [kinh này], càng thêm tôn kính, phát nguyện hộ tŕ.

          - Hai, từ “hựu phục ư bỉ” (lại đối với [vị thầy thuyết pháp] ấy) trở đi, địa thần thỉnh [pháp sư] thuyết pháp, và nêu ra lợi ích [sẽ đạt được do nghe kinh].

          - Ba, từ “thị cố Thế Tôn” (v́ thế, đức Thế Tôn) trở đi, khuyên hăy nghe kinh.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

5.18.4.1.2.2.2.2. Địa thần thỉnh [pháp sư] nói kinh và nêu ra lợi ích [do nghe kinh]

 

          (Kinh) Hựu phục ư bỉ thuyết pháp đại sư pháp ṭa chi xứ, tất giai văng bỉ, vị chư chúng sanh, khuyến thỉnh thuyết thị tối thắng kinh vương. Hà dĩ cố? Thế Tôn! Do thuyết thử kinh, ngă chi tự thân, tịnh chư quyến thuộc, hàm mông lợi ích, quang huy khí lực, dũng mănh oai thế, nhan dung đoan chánh, bội thắng ư thường. Thế Tôn! Ngă Kiên Lao Địa Thần mông pháp vị dĩ, linh Thiệm Bộ châu tung quảng thất thiên du-thiện-na, địa giai tất ốc nhưỡng, năi chí như tiền, sở hữu chúng sanh giai thọ an lạc.

          ()又復於彼說法大師法座之悉皆往彼為諸眾生勸請說是最勝經何以故世尊此經我之自身并諸眷屬咸蒙利益光暉氣力勇猛威勢顏容端正倍勝於常世尊我堅牢地神蒙法味已令贍部洲縱廣七千踰繕那地皆悉沃壤乃至如前所有眾生皆受安樂

    (Kinh: Lại c̣n thảy đều tới chỗ có pháp ṭa của vị đại sư thuyết pháp ấy để v́ các chúng sanh mà khuyên mời [vị ấy] nói kinh vương tối thắng này. V́ sao vậy? Bạch Thế Tôn! Do nói kinh này, tự thân của con và các quyến thuộc đều được lợi ích, khí lực rạng rỡ, oai thế dũng mănh, diện mạo đoan chánh gấp bội thường nhật. Bạch Thế Tôn! Con là Kiên Lao Địa Thần đă được hưởng pháp vị rồi, sẽ khiến cho châu Thiệm Bộ ngang dọc bảy ngàn du-thiện-na, đất đai đều ph́ nhiêu, cho đến như trong phần trước [đă nói], tất cả chúng sanh đều hưởng an lạc).

 

          Kế đó, nói rơ địa thần thỉnh [pháp sư] nói kinh này, và lợi ích [đạt được do nghe kinh này], lại gồm hai ư:

          - Một, thỉnh nói kinh.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Ngă Kiên Lao” trở đi, [địa thần] ban cho lợi ích.

          Phần “thỉnh nói” gồm ba điều:

          - Một, nguyện thỉnh [pháp sư] thuyết kinh.

          - Hai, từ “hà dĩ cố” (v́ cớ sao) trở đi, gạn hỏi [lư do v́ sao thỉnh pháp sư thuyết kinh].

          - Ba, từ “Thế Tôn” trở đi, giải thích các lợi ích sẽ ban cho. Kinh văn dễ hiểu.

 

5.18.4.1.2.2.2.3. Khuyên nghe kinh

 

          (Kinh) Thị cố, Thế Tôn! Thời bỉ chúng sanh, vị báo ngă ân, ưng tác thị niệm: “Ngă đương tất định thính thọ thị kinh, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán”. Tác thị niệm dĩ, tức tùng trụ xứ, thành, ấp, tụ lạc, xá trạch, không địa, nghệ pháp hội sở, đảnh lễ pháp sư, thính thọ thị kinh.

          ()是故世尊時彼眾生為報我恩應作是念我當必定聽受是經恭敬供養尊重讚歎作是念已即從住處城邑聚落舍宅空地詣法會所頂禮法師聽受是經

          (Kinh: V́ vậy, bạch Thế Tôn! Khi đó, chúng sanh v́ báo ân con, hăy nên nghĩ như thế này: “Tôi nhất định sẽ nghe, nhận kinh này, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán”. Nghĩ như thế rồi, liền từ chỗ ở nơi thành, ấp, xóm làng, nhà cửa, đất trống, đến chỗ pháp hội, đảnh lễ pháp sư để nghe, nhận kinh này).

 

          Kế đó là khuyên nghe kinh, có ba ư:

          - Một, nghĩ báo ân.

          - Hai, từ “ưng tác thị niệm” (hăy nên nghĩ như thế này) trở đi, khởi quyết tâm nghe kinh.

          - Ba, từ “tác thị niệm dĩ” (nghĩ như thế xong) trở đi, đến pháp hội để nghe.

 

5.18.4.1.2.3. Nghe kinh đạt được lợi ích

5.18.4.1.2.3.1. Khuyên hăy cùng nhau vui mừng

 

          (Kinh) Kư thính thọ dĩ, các hoàn bổn xứ, tâm sanh khánh hỷ, cộng tác thị ngôn: - Ngă đẳng kim giả đắc văn thậm thâm vô thượng diệu pháp, tức thị nhiếp thọ bất khả tư nghị công đức chi tụ. Do kinh lực cố, ngă đẳng đương trị vô lượng vô biên bách thiên câu-chi na-dữu-đa Phật, thừa sự, cúng dường, vĩnh ly tam đồ cực khổ chi xứ. Phục ư lai thế, bách thiên sanh trung, thường sanh thiên thượng, cập tại nhân gian, thọ chư thắng lạc.

          ()既聽受已各還本處心生慶喜共作是言我等今者得聞甚深無上妙法即是攝受不可思議功德之聚由經力故我等當值無量無邊百千俱胝那庾多佛承事供養永離三塗極苦之處復於來世百千生中常生天上及在人間受諸勝樂

          (Kinh: Đă nghe, nhận rồi, ai nấy trở về chỗ ḿnh, sanh tâm vui mừng, cùng nói như thế này: - Chúng ta ngày nay được nghe vô thượng diệu pháp rất sâu, tức là nhiếp thọ chẳng thể nghĩ bàn khối công đức. Do sức của kinh, chúng ta sẽ gặp vô lượng vô biên trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa Phật để thừa sự, cúng dường, vĩnh viễn ĺa khỏi chốn tam đồ khổ sở cùng cực, lại c̣n trong trăm ngàn đời mai sau, thường sanh trên trời, hay trong nhân gian, hưởng các niềm vui thù thắng).

 

          Phần thứ ba là “nghe kinh đạt được lợi ích”, có ba đoạn:

          - Một, [thính chúng] khuyên bảo lẫn nhau cùng vui mừng.

          - Hai, từ “thời bỉ chư nhân” (khi đó, các người ấy) trở đi, [bảo ban lẫn nhau] truyền nói kinh này nhằm lợi lạc người khác.

          - Ba, từ “Thế Tôn! Tùy chư” (bạch Thế Tôn! Tùy theo các [chúng sanh]) trở đi, nói về lợi ích đạt được.

          Trong đoạn thứ nhất, lại có năm ư:

          - Một, [thính chúng] vui mừng v́ được nghe pháp sâu.

          - Hai, từ “tức thị” (tức là) trở đi, mừng vui v́ được phước rộng răi.

          - Ba, từ “do kinh lực” (do sức của kinh) trở đi, mừng v́ sẽ gặp Phật.

          - Bốn, từ “vĩnh ly” (vĩnh viễn ĺa khỏi) trở đi, mừng v́ thoát khỏi tam đồ.

          - Năm, từ “phục ư” (lại c̣n) trở đi, mừng v́ đạt được quả báo thù thắng.

 

5.18.4.1.2.3.2. Truyền nói kinh này ḥng lợi lạc người khác

         

          (Kinh) Thời bỉ chư nhân các hoàn bổn xứ, vị chư nhân chúng thuyết thị kinh vương, nhược nhất dụ, nhất phẩm, nhất tích nhân duyên, nhất Như Lai danh, nhất Bồ Tát danh, nhất tứ cú tụng, hoặc phục nhất cú, vị chư chúng sanh thuyết thị kinh điển, năi chí thủ đề danh tự.

          ()時彼諸人各還本處為諸人眾說是經若一喻一一昔因緣一如來名一菩薩名一四句頌或復一句為諸眾生說是經典乃至首題名字

          (Kinh: Khi đó, các người ấy trở về chỗ ḿnh, ai nấy đều v́ những người khác nói kinh vương này, hoặc là một thí dụ, một phẩm, một nhân duyên xưa, một danh hiệu Như Lai, một danh hiệu Bồ Tát, một bài tụng gồm bốn câu, hoặc là một câu, v́ các chúng sanh nói kinh điển này, cho đến [chỉ nói] tựa đề bộ kinh).

 

          Kế đó, truyền nói để lợi lạc người khác.

 

5.18.4.1.2.3.3. Nói rơ lợi ích đạt được

 

          (Kinh) “Thế Tôn! Tùy chư chúng sanh sở trụ chi xứ, kỳ địa tất giai ốc nhưỡng, ph́ nùng quá ư dư xứ. Phàm thị thổ địa sở sanh chi vật, tất đắc tăng trưởng, tư mậu quảng đại, linh chư chúng sanh thọ ư khoái lạc, đa nhiêu trân tài, hảo sanh huệ thí, tâm thường kiên cố, thâm tín Tam Bảo”. Tác thị ngữ dĩ.

          ()世尊隨諸眾生所住之處其地悉皆沃壤肥濃過於餘處凡是土地所生之物悉得增長滋茂廣大令諸眾生受於快樂多饒珍財好生惠施心常堅固深信三寶作是語已

          (Kinh: “Bạch Thế Tôn! Nơi các chúng sanh ấy cư trụ, đất đai thảy đều ph́ nhiêu, màu mỡ hơn hẳn các chỗ khác. Phàm là các vật sanh trưởng từ đất đai đều được tăng trưởng, tươi tốt, sum suê rộng lớn, khiến cho các chúng sanh hưởng vui sướng, của báu dồi dào, dễ sanh tâm bố thí rộng răi, tâm thường kiên cố, tin sâu Tam Bảo”. Nói lời ấy xong).

 

          Kế đó, nêu ra lợi ích đạt được.

 

5.18.4.1.3. Đức Phật trần thuật sự thành tựu

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Kiên Lao Địa Thần viết: “Nhược hữu chúng sanh văn thị Kim Quang Minh Tối Thắng kinh vương, năi chí nhất cú, mạng chung chi hậu, đương đắc văng sanh Tam Thập Tam Thiên, cập dư thiên xứ. Nhược hữu chúng sanh vị dục cúng dường thị kinh vương cố, trang nghiêm trạch vũ, năi chí trương nhất tán, cái, huyền nhất tăng phan, do thị nhân duyên, Lục Thiên chi thượng như niệm thọ sanh. Thất bảo diệu cung tùy ư thọ dụng. Các các tự nhiên hữu thất thiên thiên nữ, cộng tương ngu lạc, nhật dạ thường thọ bất khả tư nghị thù thắng chi lạc”. Tác thị ngữ dĩ.

          ()爾時世尊告堅牢地神曰若有眾生聞是金光明最勝經王乃至一句命終之後當得往生三十三天及餘天處若有眾生為欲供養是經王故莊嚴宅宇乃至張一傘蓋懸一繒旛由是因緣六天之上如念受生七寶妙宮隨意受用各各自然有七千天女共相日夜常受不可思議殊勝之樂作是語已

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Kiên Lao Địa Thần rằng: “Nếu có chúng sanh nghe kinh vương Kim Quang Minh Tối Thắng này, dù chỉ một câu, sau khi mạng chung, sẽ được sanh về Tam Thập Tam Thiên (trời Đao Lợi), và các cơi trời khác. Nếu có chúng sanh v́ muốn cúng dường kinh vương này, bèn trang nghiêm nhà cửa, cho đến căng một cái tàn, lọng, treo một lá phan lụa, do nhân duyên ấy, sẽ theo đúng ư niệm mà thọ sanh trong sáu tầng trời của Dục Giới, cung điện bảy báu tùy ư thọ dụng, ai nấy đều có bảy ngàn thiên nữ cùng nhau vui sướng, ngày đêm thường hưởng niềm vui thù thắng chẳng thể nghĩ bàn”. Nói lời ấy xong).

 

          Kế đó, phần thứ ba là “đức Phật trần thuật sự thành tựu”. Trong ấy, có hai ư:

          - Một, trần thuật để kết lại “lợi ích sẽ đạt được do nghe kinh”.

          - Hai, từ “nhược hữu chúng sanh” (nếu có chúng sanh) trở đi, trần thuật nhằm kết lại phần “lợi ích do cúng dường”. Phần kinh văn trần thuật “đạt được lợi ích là sanh lên cơi trên” chẳng nói tới chuyện hưởng vui là để [người nghe] tự liên tưởng vậy!

 

5.18.4.1.4. Địa thần nguyện thủ hộ

5.18.4.1.4.1. Nguyện thủ hộ pháp sư

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Dĩ thị nhân duyên, nhược hữu tứ chúng thăng ư pháp ṭa, thuyết thị pháp thời, ngă đương trú dạ, ủng hộ thị nhân, tự ẩn kỳ thân, tại ư ṭa sở, đảnh đới kỳ túc.

          ()爾時堅牢地神白佛言世尊以是因緣若有四眾昇於法座說是法我當晝夜擁護是人自隱其身在於座所頂戴其足

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, nếu khi nào có tứ chúng lên pháp ṭa, nói pháp này, con sẽ suốt ngày đêm ủng hộ người ấy, tự ẩn thân ḿnh, ở nơi pháp ṭa, đầu đội chân người ấy).

 

          Kế đó, điều thứ tư là “địa thần nguyện thủ hộ”. Trong ấy, có ba ư, ư thứ nhất là “nguyện thủ hộ pháp sư”.

 

5.18.4.1.4.2. Nguyện thủ hộ chánh pháp và khiến cho chúng sanh được lợi ích

 

          (Kinh) Thế Tôn! Như thị kinh điển vi bỉ chúng sanh dĩ ư bách thiên Phật sở chủng thiện căn giả, ư Thiệm Bộ châu lưu bố bất diệt. Thị chư chúng sanh thính tư kinh giả, ư vị lai thế, vô lượng bách thiên câu-chi na-dữu-đa kiếp, thiên thượng, nhân trung, thường thọ thắng lạc, đắc ngộ chư Phật, tốc thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, bất lịch tam đồ sanh tử chi khổ.

          ()世尊如是經典為彼眾生已於百千佛所種善根者於贍部洲流布不滅是諸眾生聽斯經者於未來世無量百千俱胝那庾多劫天上人中常受勝樂得遇諸佛速成阿耨多羅三藐三菩提不歷三塗生死之苦

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Kinh điển như thế là do các chúng sanh ấy đă gieo thiện căn nơi trăm ngàn chư Phật, lưu truyền bất diệt trong châu Thiệm Bộ. Các chúng sanh ấy nghe kinh này, nơi đời vị lai, sẽ trong vô lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa kiếp, thường hưởng niềm vui thù thắng trên cơi trời, hay trong nhân gian, được gặp chư Phật, chóng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, chẳng trải qua nỗi khổ sanh tử trong tam đồ).

 

          Kế đó, ư thứ hai là “nguyện thủ hộ chánh pháp”. Thủ hộ chánh pháp nhằm lợi ích hữu t́nh. Từ “thị chư chúng sanh” (các chúng sanh ấy) trở đi, nêu rơ: “Sẽ khiến cho chúng sanh đạt được lợi ích”, có hai điều:

          - Một, đạt được lạc quả.

          - Hai, ĺa khổ báo.

          Lạc quả có hai:

          - Một, hưởng quả thế gian.

          - Hai, từ “đắc ngộ chư Phật” (được gặp chư Phật) trở đi, nói về cái quả xuất thế.

          Đối với chuyện “ĺa khổ báo” kế đó, kinh văn dễ hiểu.

 

5.18.4.2. Ban thần chú và hiện thân gia bị

5.18.4.2.1. Khải bạch    

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă hữu tâm chú, năng lợi nhân thiên, an lạc nhất thiết.

          ()爾時堅牢地神白佛言世尊我有心呪能利人天安樂一切

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Con có tâm chú có thể lợi ích trời người, an lạc hết thảy).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ hai là “ban cho thần chú, và hiện thân gia bị”. Trong ấy, chia thành ba phần:

          - Một, khải bạch.

          - Hai, từ “nhược hữu” (nếu có) trở đi, nói thần chú.

          - Ba, đức Phật tán thán.

          Đoạn này thuộc phần thứ nhất.

 

5.18.4.2.2. Thuyết chú

5.18.4.2.2.1. Bảo ban dạy pháp

 

          (Kinh) Nhược hữu nam tử, nữ nhân, cập chư tứ chúng, dục đắc thân kiến ngă chân thân giả, ưng đương chí tâm tŕ thử Đà La Ni, tùy kỳ sở nguyện, giai tất toại tâm, sở vị: Tư tài, trân bảo, phục tạng, cập cầu thần thông, trường niên diệu dược, tịnh liệu chúng bệnh, hàng phục oán địch, chế chư dị luận. Đương ư tịnh thất, an trí đạo tràng, tẩy dục thân dĩ, trước tiễn khiết y, cứ thảo ṭa thượng. Ư hữu xá-lợi tôn tượng chi tiền, hoặc hữu xá-lợi chế-để chi sở, thiêu hương, tán hoa, ẩm thực cúng dường, ư bạch nguyệt bát nhật Bố-sái tinh hợp.

          ()若有男子女人及諸四眾欲得親見我真身者應當至心持此陀羅尼隨其所願皆悉遂心所謂資財珍寶伏藏及求神通長年妙藥并療眾病降伏怨敵制諸異論當於淨室安置道場洗浴身已著鮮潔衣踞草座上於有舍利尊像之前或有舍利制底之所燒香散華飲食供養於白月八日布灑星合

          (Kinh: Nếu có người nam, kẻ nữ, và các tứ chúng muốn được thấy chân thân của con, hăy nên chí tâm tŕ Đà La Ni này, sở nguyện nào cũng thảy đều toại ư, như là các vật dụng sinh hoạt, trân bảo, kho tàng, và cầu thần thông, thuốc mầu nhiệm để tăng thọ, và chữa trị các bệnh, hàng phục oán địch, chế phục các dị luận. Hăy nên ở trong tịnh thất, xếp đặt đạo tràng, tắm gội thân thể xong, mặc áo sạch sẽ, ngồi xổm trên ṭa cỏ. Đối trước tôn tượng có xá-lợi, hoặc chỗ chùa tháp thờ Phật có xá-lợi, đốt hương, rải hoa, cúng dường thức ăn, trong ngày mồng Tám của bạch nguyệt, nhằm lúc có sao Bố-sái).

 

          Kế đó, nói chú, lại có ba phần:

          - Một, bảo ban dạy pháp.

          - Hai, nói riêng từng điều để dạy.

          - Ba, kết lại, khuyên học.

          Phần thứ nhất có ba đoạn:

          - Một, nói chung.

          - Hai, từ “tùy kỳ sở nguyện” (tùy theo điều ước nguyện) trở đi, trần thuật công năng của chú.

          - Ba, từ “đương trị tịnh thất” (hăy nên xếp dọn tịnh thất), dạy cách tŕ chú.

          Cách ấy gồm sáu điều:

          - Một, thanh tịnh một căn thất, lập đàn tràng.

          - Hai, tắm gội trang nghiêm thân ḿnh.

          - Ba, ngồi ở nơi ṭa.

          - Bốn, đối trước tôn nghi [của Phật, Bồ Tát].

          - Năm, sắp đặt cúng dường.

          - Sáu, lúc tụng chú là mồng Tám của bạch nguyệt. Trong cách tính tháng của phương Tây (Ấn Độ), nửa tháng hắc nguyệt ở trước, nửa tháng bạch nguyệt tại sau, khác với phương này, chỉ xét theo ngày mồng Tám của bạch nguyệt để tụng chú. Sao Bố-sái (Puṣya) chính là sao Quỷ ở phương này. Nhưng chẳng cần biết là tháng thiếu hay đủ, nếu là ngày mồng tám thuộc bạch nguyệt sẽ thường ứng với sao Quỷ. Chỉ nên chuẩn theo ngày mồng Tám thuộc bạch nguyệt trùng với ngày có sao Quỷ, bởi chưa chắc ngày mồng Tám trong bạch nguyệt luôn luôn tương ứng với sao Quỷ. Trước hết, tụng chú hộ thân; sau đó tụng chú thấy thân [địa thần], cuối cùng là tụng chú để cùng tṛ chuyện [với địa thần].

 

5.18.4.2.2.2. Nói riêng từng bài chú để dạy

5.18.4.2.2.2.1. Chú thỉnh vời

 

          (Kinh) Tức khả tụng thử thỉnh triệu chi chú: - Đát điệt tha, chỉ lư, chỉ lư, chủ rô, chủ rô, cú rô, cú rô, câu trụ, câu trụ, đổ trụ, đổ trụ, phược ha, phược ha, phạt xả, phạt xả, sa ha. Thế Tôn! Thử chi thần chú, nhược hữu tứ chúng tụng nhất bách bát biến, thỉnh triệu ư ngă, ngă vị thị nhân, tức lai phó thỉnh.

          ()即可誦此請召之呪怛姪他只里只里主嚕主嚕句嚕句嚕拘柱拘柱覩柱覩柱縛訶縛訶伐捨伐捨莎訶世尊此之神呪若有四眾誦一百八遍請召於我我為是人即來赴請

          (Kinh: Liền có thể tụng chú thỉnh vời này: - Đát điệt tha, chỉ lư, chỉ lư, chủ rô, chủ rô, cú rô, cú rô, câu trụ, câu trụ, đổ trụ, đổ trụ, phược ha, phược ha, phạt xả, phạt xả, sa ha. Bạch Thế Tôn! Thần chú này nếu có tứ chúng tụng một trăm lẻ tám lần, thỉnh vời con, con sẽ v́ người đó liền đến đáp ứng lời thỉnh).

                   

          Kế đó, dạy nói từng điều riêng biệt. Ba bài chú hợp thành ba đoạn. Đây là đoạn thứ nhất, gồm ba phần: Một là nêu ra, hai là nói chú, ba là cách tụng. Nói “tức khả” chẳng phải là ngày mồng Tám trước hết liền tụng chú này, mà là thuận theo mạch văn liền nói “tức khả” (liền có thể) tụng chú này. Nếu chẳng phải vậy, chú hộ thân nói vào lúc nào? V́ thế, trước hết phải nên tụng chú hộ thân.

 

5.18.4.2.2.2.2. Chú thỉnh cùng Địa Thần tṛ chuyện

 

          (Kinh) Hựu phục Thế Tôn! Nhược hữu chúng sanh dục đắc kiến ngă hiện thân cộng ngữ giả, diệc phục như tiền an trí pháp thức, tụng thử thần chú: “Đát điệt tha. Át chiết nê, hiệt lực sát nê thất thi đạt rị, ha ha hế hế, khu rô, phạt lệ, sa ha”. Thế Tôn! Nhược nhân tŕ thử chú thời, ưng tụng nhất bách bát biến, tịnh tụng tiền chú, ngă tất hiện thân, tùy kỳ sở nguyện, tất đắc thành tựu, chung bất hư nhiên!

          ()又復世尊若有眾生欲得見我現身共語者亦復如前安置法式誦此神呪怛姪他頞折泥頡力剎泥室尸達哩訶訶呬呬區嚕若人持此呪時應誦一百八遍并誦前呪我必現身隨其所願悉得成就終不虛然

          (Kinh: Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh muốn thấy con hiện thân và cùng tṛ chuyện, cũng lại xếp đặt theo cách thức như trên, tụng thần chú này: “Đát điệt tha. Át chiết nê, hiệt lực sát nê thất thi đạt rị, ha ha hế hế, khu rô, phạt lệ, sa ha”. Bạch Thế Tôn! Nếu người lúc tŕ chú này, hăy nên tụng một trăm lẻ tám lượt, và tụng chú trên đây, con ắt hiện thân, tùy theo nguyện của người ấy mà đều được thành tựu trọn chẳng hư dối!)

 

          Kế đó là chú thỉnh cùng tṛ chuyện [với địa thần], kinh văn chia thành ba phần như trên. Trong phần cách tụng, nói rơ “phải đọc [chú này] cùng với chú [thỉnh triệu] trong phần trước”, chẳng phải tụng chú “thỉnh nói” th́ thần liền tới tṛ chuyện! Trước hết, phải tụng chú thỉnh hiện thân rồi mới tụng chú này. Lại chẳng phải chỉ tụng chú hiện thân một trăm lẻ tám lượt, mà là khi tụng chú thỉnh nói chuyện, lại tụng bài chú trên đây [tức chú hiện thân] một trăm lẻ tám lượt.

 

5.18.4.2.2.2.3. Chú hộ thân

 

          (Kinh) Nhược dục tụng thử chú thời, tiên tụng hộ thân chú viết: - Đát điệt tha, nhĩ thất lư, vị xả yết trí nại trí củ trí, bột địa, bột địa lệ. Tỳ trí, tỳ trí, củ cú trí, khư bà, chỉ rị, sa ha. Thế Tôn! Tụng thử chú thời, thủ ngũ sắc tuyến, tụng chú nhị thập nhất biến, tác nhị thập nhất kết, hệ tại tả tư trửu hậu, tức tiện hộ thân, vô hữu sở cụ.

          ()若欲誦此呪時先誦護身呪曰怛姪他爾室里未捨羯勃地矩句只哩莎訶世尊誦此呪時取五色線誦呪二十一遍作二十一結繫在左臂肘後即便護身無有所懼

          (Kinh: Nếu muốn tụng chú này, trước hết tụng chú hộ thân như sau: - Đát điệt tha, nhĩ thất lư, vị xả yết trí nại trí củ trí, bột địa, bột địa lệ. Tỳ trí, tỳ trí, củ cú trí, khư bà, chỉ rị, sa ha. Bạch Thế Tôn! Khi tụng chú này, hăy lấy chỉ năm màu, tụng chú [vào đó] hai mươi mốt lượt, thắt hai mươi mốt nút, buộc vào tay trái sau khủy tay, sẽ liền hộ thân, chẳng có ǵ sợ hăi).

 

          Kế đó, dạy chú hộ thân. Kinh văn chia thành ba phần giống như phần trước.

 

5.18.4.2.2.3. Kết lại, khuyên hăy học

 

          (Kinh) Nhược hữu chí tâm tụng thử chú giả, sở cầu tất toại, ngă bất vọng ngữ! Ngă dĩ Phật, Pháp, Tăng Bảo nhi vi yếu khế, chứng tri thị thật.

          ()若有至心誦此呪者所求必遂我不妄語我以佛法僧寶而為要契證知是實

    (Kinh: Nếu có người chí tâm tụng chú này, sở cầu ắt toại, con chẳng nói dối! Con lấy Phật, Pháp, Tăng Bảo để làm chứng cớ trọng yếu ḥng chứng biết đấy là sự thật).

 

          Kế đó là kết lại, khuyên học.

 

5.18.4.2.3. Đức Phật tán thán

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo địa thần viết: - Thiện tai, thiện tai! Nhữ năng dĩ thị thật ngữ thần chú hộ thử kinh vương, cập thuyết pháp giả, dĩ thị nhân duyên, linh nhữ hoạch đắc vô lượng phước báo.

          ()爾時世尊告地神曰善哉善哉汝能以是實語神呪護此經王及說法以是因緣令汝獲得無量福報

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo địa thần rằng: - Lành thay! Lành thay! Bà có thể dùng thần chú thật ngữ như thế để thủ hộ kinh vương này và người thuyết pháp, do nhân duyên ấy, sẽ khiến cho bà đạt được vô lượng phước báo).

 

          Sau cùng, đức Phật tán thán để kết lại.

 

5.19. Phẩm thứ mười chín: Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng (Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng phẩm đệ thập cửu, 僧慎爾耶藥叉大將品第十

)

 

          Phẩm Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa Đại Tướng gồm ba môn phân biệt.

         

5.19.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Nói tới ư nghĩa “v́ sao có phẩm này” th́ trong năm phẩm tăng phước, bốn phẩm trước là tăng trưởng tứ biện tài và y phục, thực phẩm, c̣n phẩm này nhằm tăng trưởng trí huệ. Do có trí lực, sẽ có thể thuyết pháp chân chánh, thọ dụng cơm áo. Nếu chẳng có trí huệ, sợ rằng sẽ thuyết pháp điên đảo, đắm nhiễm cơm áo. Nhằm ĺa lỗi ấy, bèn ban cho trí huệ, nên có phẩm này sanh khởi.

          Lại có thể hiểu rằng: Phẩm Biện Tài Thiên trước đó nhằm tăng thêm biện tài tức là trí. Phẩm Cát Tường Thiên Nữ và Kiên Lao Địa Thần tăng thêm cơm áo, đó là phước. Nay v́ lợi ích cả hai, cho nên có phẩm này sanh khởi. Vị thần này hoặc là Tam Địa Bồ Tát, do đă đạt được trí quang. Trí quang là huệ sáng chói, danh lẫn nghĩa đều vẹn toàn. Hoặc Ngài thuộc Ngũ Địa, do đă liễu Chân đạt Tục. Hoặc là Đệ Thập Địa, do có thể thông đạt cảnh khó nghĩ biết. Theo quyển hai mươi mốt của kinh Đại Tập, vị đại sĩ này trong thời quá khứ đă ở chỗ các vị như Thi Khí Phật v.v… phát nguyện làm thân quỷ thần, tức là như trong các bản dịch cũ gọi vị này là Tán Chi đại tướng.

 

5.19.2. Giải thích tên gọi của phẩm này

 

          Giải thích tên gọi của phẩm này: Tăng Thận Nhĩ Da (Saṃjñeya) được phương này dịch là Chánh Liễu Tri. Dược Xoa (Yakṣa) được phương này dịch là Dũng Kiện (勇健, mạnh mẽ). Oai thế nhiếp phục các quỷ, trí khác các thần, thống lănh hàng oán; v́ thế, gọi là Đại Tướng. Nay nói rơ vị tướng này có thể tăng thêm trí huệ; do vậy, gọi phẩm này bằng danh xưng ấy.

 

5.19.3. Giải thích vấn nạn

 

          * Hỏi: Phẩm trước ban cho biện tài, đấy cũng là trí huệ; phẩm này nói “ban cho trí”, th́ có ǵ khác với phẩm trước?

          Đáp: Tuy đều là trí, nhưng Thể và Dụng khác biệt. Tứ biện tài là nói về Dụng, phẩm này nói về Thể. Tứ Biện Tài là Hậu Đắc Trí, phẩm này bao gồm Căn Bản Trí. Đấy là dựa theo ư nghĩa thứ nhất trong phần [biện định] v́ sao có phẩm này, c̣n lời cật vấn là dựa theo ư thứ hai, Tổng và Biệt sai khác cũng chẳng mâu thuẫn với phần trước!

 

5.19.4. Giải thích kinh văn

5.19.4.1. Dùng trí để tăng thêm huệ

5.19.4.1.1. Nêu bày [Dược Xoa đại tướng] có thể ủng hộ

5.19.4.1.1.1. Nghi thức xin phép thủ hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng, tịnh dữ nhị thập bát bộ Dược Xoa chư thần, ư đại chúng trung, giai tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng hướng Phật.

          ()爾時僧慎爾耶藥叉大將并與二十八部藥叉諸神於大眾中皆從座起偏袒右肩右膝著地合掌向佛

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng, cùng với các thần thuộc hai mươi tám bộ Dược Xoa, ở trong đại chúng, đều từ chỗ ngồi đứng lên, trật vai áo phải, gối phải đặt sát đất, chắp tay hướng về đức Phật).

 

          Tán rằng: Phẩm này được chia thành hai phần:

          - Một, dùng trí để tăng thêm huệ.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Chánh Liễu Tri” (lúc bấy giờ, Chánh Liễu Tri) trở đi, lại dùng chú lực để gia tŕ.

          Đoạn thứ nhất chia thành ba ư:

          - Một, nêu ra [Dược Xoa đại tướng] có thể ủng hộ.

          - Hai, từ “Thế Tôn! Hà cố” (bạch Thế Tôn! V́ sao) nêu nguyên do [các vị Dược Xoa] có thể ủng hộ.

          - Ba, từ “dĩ thị nghĩa cố” (do v́ nghĩa ấy) trở đi, nói tới lợi ích đạt được do thủ hộ.

          Ư thứ nhất lại chia thành hai phần, phần này là nghi thức [mà Dược Xoa đại tướng dùng để] thỉnh cầu [đức Phật cho phép] ủng hộ [kinh này].

 

5.19.4.1.1.2. Nói rơ chính ḿnh có thể ủng hộ

5.19.4.1.1.2.1. Ủng hộ pháp sư

 

          (Kinh) Bạch ngôn: - Thế Tôn! Thử Kim Quang Minh tối thắng kinh vương, nhược hiện tại thế, cập vị lai thế, sở tại tuyên dương, lưu bố chi xứ, nhược ư thành, ấp, tụ lạc, sơn trạch, không lâm, hoặc vương cung điện, hoặc tăng trụ xứ, Thế Tôn! Ngă Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng, tịnh dữ nhị thập bát bộ Dược Xoa chư thần, câu nghệ kỳ sở, các tự ẩn h́nh, tùy xứ ủng hộ bỉ thuyết pháp sư, linh ly suy năo, thường thọ an lạc.

          ()白言世尊此金光明最勝經王若現在世及未來世所在宣揚流布之處若於城邑聚落山澤空林或王宮殿或僧住處世尊我僧慎爾耶藥叉大將并與二十八部藥叉諸神俱詣其所各自隱形隨處擁護彼說法令離衰惱常受安樂

          (Kinh: Bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu trong đời hiện tại và đời vị lai, hễ có chỗ nào tuyên dương và lưu truyền kinh vương Kim Quang Minh tối thắng này, hoặc là trong thành, ấp, xóm làng, núi, chằm, rừng vắng, hoặc cung điện của vua, hoặc chỗ tăng cư trụ, bạch Thế Tôn! Con là Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại tướng, cùng với các thần thuộc hai mươi tám bộ Dược Xoa sẽ đều cùng tới chỗ đó, ai nấy tự ẩn thân, luôn theo ủng hộ vị thầy thuyết pháp ấy, khiến cho vị ấy ĺa suy năo, thường hưởng an vui).

 

          Kế đó, nêu ra sự ủng hộ, có hai đoạn:

          - Một, ủng hộ pháp sư.

          - Hai, từ “cập thính giả” (và người nghe) trở đi, ủng hộ thính chúng.

          Trong phần “ủng hộ pháp sư” có ba điều:

          - Một, kinh được hoằng dương và thời điểm [hoằng kinh].

          - Hai, từ “sở tại tuyên dương” trở đi, nói về chỗ hoằng kinh.

          - Ba, từ “Thế Tôn” trở đi, nêu ra sự ủng hộ.

 

5.19.4.1.1.2.1. Ủng hộ thính chúng

 

          (Kinh) Cập thính pháp giả, nhược nam, nhược nữ, đồng nam, đồng nữ, ư thử kinh trung, năi chí thọ tŕ nhất tứ tụng, hoặc tŕ nhất cú, hoặc thử kinh vương thủ đề danh hiệu, cập thử kinh trung nhất Như Lai danh, nhất Bồ Tát danh, phát tâm xưng niệm, cung kính cúng dường giả, ngă đương cứu hộ, nhiếp thọ, linh vô tai hoạnh, ly khổ, đắc lạc.

          ()及聽法者若男若女童男童女於此經中乃至受持一四句頌或持一句或此經王首題名號及此經中一如來名一菩薩名發心稱念恭敬供養者我當救護攝受令無災橫離苦得樂

          (Kinh: Và người nghe pháp, dù nam hay nữ, bé trai, bé gái, đối với kinh này, dù chỉ thọ tŕ một bài tụng gồm bốn câu, hoặc tŕ một câu, hoặc tŕ danh hiệu tựa đề của kinh vương, và một danh hiệu Như Lai, một danh hiệu Bồ Tát trong kinh này, phát tâm xưng niệm, cung kính cúng dường, con sẽ cứu giúp, che chở, nhiếp thọ, khiến cho kẻ đó chẳng có tai nạn bất ngờ, ĺa khổ, được vui).

 

          Kế đó, [Dược Xoa đại tướng] nói sẽ thủ hộ các thính chúng. Kinh văn cũng gồm có ba đoạn:

          - Một, nói về người nghe, nhận.

          - Hai, từ “ư thử” (đối với kinh này) trở đi, nói về pháp được họ thọ tŕ.

          - Ba, từ “ngă đương” (con sẽ) trở đi, nêu ra sự ủng hộ.

 

5.19.4.1.2. Nguyên do có thể ủng hộ

 

          (Kinh) Thế Tôn! Hà cố ngă danh Chánh Liễu Tri?

          ()世尊何故我名正了知

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! V́ sao con tên là Chánh Liễu Tri?)

 

          Kế đó, nêu rơ nguyên do [v́ sao Dược Xoa đại tướng] có thể ủng hộ. Trong ấy, có ba ư:

          - Một, gạn hỏi.

          - Hai, từ “thử chi nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở đi là giải thích.

          - Ba, từ “Thế Tôn! Như ngă” (bạch Thế Tôn! Như con) trở đi, kết lại.

 

          (Kinh) Thử chi nhân duyên thị Phật thân chứng, ngă tri chư pháp, ngă hiểu nhất thiết pháp, tùy sở hữu nhất thiết pháp, như sở hữu nhất pháp, chư pháp chủng loại, thể tánh sai biệt.

          ()此之因緣是佛親證我知諸法我曉一切法隨所有一切法如所有一法諸法種類體性差別

    (Kinh: Nhân duyên ấy Phật đă đích thân chứng, con biết các pháp, con hiểu hết thảy các pháp, thuận theo tất cả hết thảy các pháp như tất cả chủng loại và thể tánh sai biệt của một pháp và các pháp).

 

          Kế đó là giải thích, gồm hai phần:

          - Một, nói rơ đó là điều đức Phật chứng biết.

          - Hai, từ “Thế Tôn” trở đi, tự trần thuật nguyên do. Đó chính là pháp đức Phật đă chứng.

          Trước hết là nói [chính ḿnh] có thể biết hai loại trí, từ “tùy sở hữu” trở đi là nói đến pháp được biết. Biết đă chứng tri Hậu Đắc Trí, sẽ hiểu rơ, thông đạt Căn Bản Trí. “Tùy sở hữu”: Thuận theo phước của tất cả hết thảy chủng loại, tức là trọn hết tất cả các tánh. “Như sở hữu”: Đúng như tất cả hết thảy các đạo lư, đúng như tất cả các tánh. Điều trước là Thể và Sự của các pháp, điều sau là đạo lư của các pháp. Điều trước là pháp Tục Đế, điều sau là pháp thuộc Chân Đế. Theo kinh Giải Thâm Mật, “như tất cả các tánh” do thuận theo Thắng Nghĩa Tánh mà chỉ nói là Chân Như. Theo thứ tự th́ chính là hai trí được hành trên đây. Điều trước là nói riêng về pháp được biết; từ “chư pháp chủng loại” trở đi, nói chung về các pháp được biết. Nếu là pháp thuộc Tục Đế, sẽ có nhiều chủng loại thể tánh sai biệt. Chân Đế tuy không có thể tánh sai biệt, bởi đó là chân tánh của nó, nhưng có thể thuận theo chủ thể có thể nương tựa (năng y) mà nói nghĩa được dựa vào (sở y nghĩa) cũng có sai biệt. Lại xét theo Đối Pháp[1], Tận Sở Hữu chính là Uẩn, Xứ, Giới, c̣n Như Sở Hữu chính là Tứ Đế, mười sáu hạnh v.v… Do vậy, có sai biệt!

 

          (Kinh) Thế Tôn! Như thị chư pháp ngă năng liễu tri. Ngă hữu nan tư trí quang, ngă hữu nan tư trí cự, ngă hữu nan tư trí hạnh, ngă hữu nan tư trí tụ, ngă ư nan tư trí cảnh, nhi năng thông đạt.

          ()世尊如是諸法我能了知我有難思智光我有難思智炬我有難思智行我有難思智聚我於難思智境而能通達

    (Kinh: Bạch Thế Tôn! Các pháp như thế, con có thể biết rơ. Con có trí quang khó nghĩ, con có đuốc trí khó nghĩ, con có trí hạnh khó nghĩ, con có khối trí khó nghĩ, con có thể thông đạt trí cảnh khó nghĩ).

 

          Kế đó, tự thuật nguyên do, có ba đoạn:

          - Một, nêu ra, “ngă năng liễu” (con có thể hiểu) là nói về Căn Bản Trí. “Ngă năng tri” (con có thể biết) là Hậu Đắc Trí.

          - Hai, kế đó, giải thích “cai có thể hiểu biết”, trí quang” là Hậu Đắc Trí chiếu thấu giáo, lư, hạnh, quả Đại Thừa. Kẻ căn tánh thấp hơn sẽ chẳng thể ḍ lường được, nên nói là “nan tư” (khó nghĩ). “Trí cự” là Căn Bản Trí, phá tối tăm vô minh. “Trí hạnh” là hiểu rơ hạnh sai biệt. “Trí tụ” là hiểu rơ tự thể tụ.

          - Ba, kết lại ư “năng liễu”: Con đối với trí cảnh th́ Căn Bản Trí có thể thông hiểu, Hậu Đắc Trí có thể liễu đạt. Hoặc trí chính là hạnh, hạnh giải là tác dụng của trí. Trí tụ chính là thể tánh. V́ thế, Duy Thức Luận nói: “Thể y tụ nghĩa danh chi vi thân” (Do các nghĩa Thể, Y, Tụ, mà gọi là Thân)[2], thân tức là Thể vậy. Những điều khác th́ như trước đó đă giải thích.

 

          (Kinh) Thế Tôn! Như ngă ư nhất thiết pháp chánh tri, chánh hiểu, chánh giác, năng chánh quán sát. Thế Tôn! Dĩ thị nhân duyên, ngă Dược Xoa đại tướng danh Chánh Liễu Tri.

          ()世尊如我於一切法正知正曉正覺能正觀察世尊以是因緣我藥叉大將名正了知

          (Kinh: Bạch Thế Tôn! Như con đối với hết thảy các pháp đều biết chân chánh, hiểu chân chánh, giác ngộ chân chánh, có thể quan sát chân chánh. Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, con là Dược Xoa đại tướng có tên là Chánh Liễu Tri).

 

          Kế đó, kết lại. Trước hết, nhắc lại bốn trí trước đó, tương ứng với biết, hiểu, giác ngộ, và quan sát. Giải thích các điều này giống như trên đây đă nói. Kế đó, từ “Thế Tôn! Dĩ thị” (bạch Thế Tôn! Do [nhân duyên] ấy) trở đi, kết lại nguyên do có tên gọi như thế.

 

5.19.4.1.3. Lợi ích [mà hành nhân sẽ] đạt được do ủng hộ

5.19.4.1.3.1. Lợi ích pháp sư

 

          (Kinh) Dĩ thị nghĩa cố, ngă năng linh bỉ thuyết pháp chi sư ngôn từ biện liễu cụ túc trang nghiêm, diệc linh tinh khí tùng mao khổng nhập, thân lực sung túc, oai quang dũng kiện, nan tư trí quang giai đắc thành tựu, đắc chánh ức niệm vô hữu thoái khuất, tăng ích bỉ thân, linh vô suy giảm, chư căn an lạc, thường sanh hoan hỷ.

          ()以是義故我能令彼說法之師言辭辯了具足莊嚴亦令精氣從毛孔入身力充足威光勇健難思智光皆得成就得正憶念無有退屈增益彼身令無衰減諸根安樂常生歡喜

          (Kinh: Do bởi nghĩa ấy, con có thể khiến cho vị thầy thuyết pháp ấy ngôn từ biện tài đều trang nghiêm trọn đủ, cũng khiến cho tinh khí lọt vào lỗ chân lông, sức mạnh nơi thân thể sung túc, oai quang mạnh mẽ, trí quang khó nghĩ đều được thành tựu, đạt được ức niệm chân chánh, chẳng bị lui sụt, tăng thêm thân thể vị ấy, khiến cho chẳng bị suy giảm, các căn an lạc, thường sanh hoan hỷ).

 

          Kế đó, nói về lợi ích đạt được, lại chia thành hai phần:

          - Một, lợi ích pháp sư.

          - Hai, từ “dĩ thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở đi, lợi ích thính chúng.

          Trong phần “lợi ích pháp sư”, trước hết là nhắc lại nguyên do: Do tôi có bốn loại trí, cho nên có thể lợi ích pháp sư. “Có thể lợi ích pháp sư” gồm tám điều:

          - Một, tăng thêm biện tài.

          - Hai, từ “diệc linh” (cũng khiến cho) trở đi, tăng thêm sức lực nơi thân.

          - Ba, tăng thêm oai quang.

          - Bốn, tăng thêm trí huệ. Chỉ nêu ra trí quang, nhưng các trí khác đều sáng tỏ, cho nên nói là “giai đắc” (đều đạt được).

          - Năm, tăng thêm niệm lực.

          - Sáu, tăng thêm bất thoái.

          - Bảy, từ “tăng ích bỉ thân” (tăng ích thân người đó) trở đi, tăng thọ, chẳng giảm.

          - Tám, từ “chư căn” (các căn) trở đi, tăng thêm an lạc.

 

5.19.4.1.3.2. Lợi ích thính chúng

 

          (Kinh) Dĩ thị nhân duyên, vi bỉ hữu t́nh dĩ ư bách thiên Phật sở, thực chư thiện căn, tu phước nghiệp giả, ư Thiệm Bộ châu, quảng tuyên lưu bố, bất tốc ẩn một. Bỉ chư hữu t́nh văn thị kinh dĩ, đắc bất khả tư nghị đại trí quang minh, cập dĩ vô lượng phước trí chi tụ, ư vị lai thế, đương thọ vô lượng câu-chi na-dữu-đa kiếp bất khả tư lượng nhân thiên thắng lạc, thường dữ chư Phật cộng tương trị ngộ, tốc chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, Diêm La chi giới tam đồ cực khổ bất phục kinh quá.

          ()以是因緣為彼有情已於百千佛所植諸善根修福業者於贍部洲廣宣流布不速隱沒彼諸有情聞是經已得不可思議大智光明及以無量福智之聚於未來世當受無量俱胝那庾多劫不可思量人天勝樂常與諸佛共相速證無上正等菩提閻羅之界三塗極苦不復經過

    (Kinh: Do nhân duyên ấy, v́ các hữu t́nh đó đă ở nơi trăm ngàn vị Phật gieo các thiện căn, tu phước nghiệp, nên ở trong châu Thiệm Bộ, rộng tuyên dương, lưu truyền [kinh này], khiến cho kinh chẳng bị nhanh chóng ẩn mất. Các hữu t́nh ấy đă nghe kinh này xong, đạt được quang minh đại trí chẳng thể nghĩ bàn, và vô lượng khối phước trí, trong đời vị lai, sẽ hưởng sự vui thù thắng chẳng thể nghĩ lường trong cơi trời người suốt vô lượng câu-chi na-dữu-đa kiếp, thường cùng chư Phật gặp gỡ, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, chẳng c̣n trải qua các nỗi khổ cùng cực trong cơi Diêm La và tam đồ).

 

          Kế đó, nói về “lợi ích thính chúng”. Trong ấy, lại có hai đoạn:

          - Một, do ư nghĩa “lợi ích pháp sư khiến cho pháp trụ thế lâu dài”, và cũng do người nghe nhận đă gieo các thiện căn nơi trăm ngàn vị Phật, cho nên cảm vời người thuyết pháp và nhân duyên của kinh pháp này, mà đạt được các trí ấy. V́ vậy, có thể khiến cho kinh được lưu truyền, và do sức thiện căn của người nghe nhận kinh này, kinh sẽ chẳng bị nhanh chóng ẩn mất.

          - Hai, từ “bỉ chư” (các [hữu t́nh] ấy) trở đi, nói về lợi ích đạt được do nghe pháp, gồm có sáu điều:

          a) Đạt được bốn trí trên đây.

          b) Từ “cập dĩ” (cùng với) trở đi, thành tựu phước trí.

          c) Được sanh trong cơi trời, người.

          d) Được gặp gỡ chư Phật.

          e) Chứng Bồ Đề.

          f) Ĺa ác đạo.

          Kinh văn dễ hiểu. Do người nghe đạt được lợi ích này, có thể suy ra mà biết: Pháp sư cũng đạt được các lợi ích ấy. Dùng điều kém hơn để suy ra điều thù thắng hơn, xét theo ư nghĩa ấy, sẽ nhất định đạt được!

 

5.19.4.2. Dùng chú lực để gia hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Chánh Liễu Tri Dược Xoa đại tướng bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă hữu Đà La Ni, kim đối Phật tiền, thân tự trần thuyết, vị dục nhiêu ích, lân mẫn chư hữu t́nh cố”. Tức thuyết chú viết: “Nam-mô Phật-đà-da, nam-mô Đạt-ma-da, nam-mô Tăng-già-da. Nam-mô bạt ra hám ma da. Nam-mô nhân đạt ra da. Nam-mô chiết đốt nẫm, mạc hát ra xà nẫm, đát điệt tha: Hế rị, hế rị, mi rị, mi rị, cù rị. Mạc ha cù rị, kiện đà lư. Mạc ha kiện đà lư, đạt la mi trĩ. Mạc ha đạt la mi trĩ. Đan đồ khúc khuyến đệ. Ha ha ha ha ha, hế hế hế hế hế, hô hô hô hô hô, hán lỗ đàm mế, cù đàm mế, giả giả giả giả, chỉ chỉ chỉ chỉ, chủ chủ chủ chủ, chiên đồ triếp, bát la, thi yết ra, thi yết ra, ốt để sắt tha hế, bạc già phạm tăng thận nhĩ da, sa ha”. Nhược phục hữu nhân ư thử minh chú, năng thọ tŕ giả, ngă đương cấp dữ tư sanh lạc cụ, ẩm thực, y phục, hoa quả trân dị, hoặc cầu nam, nữ, đồng nam, đồng nữ, kim, ngân, trân bảo, chư anh lạc cụ, ngă giai cung cấp, tùy sở nguyện cầu, linh vô khuyết phạp. Thử chi minh chú hữu đại oai lực, nhược tụng chú thời, ngă đương tốc chí kỳ sở, linh vô chướng ngại, tùy ư thành tựu. Nhược tŕ thử chú thời, ưng tri kỳ pháp. Tiên họa nhất phô Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa h́nh tượng, cao tứ ngũ xích, thủ chấp mâu thoán. Ư thử tượng tiền, tác tứ phương đàn, an tứ măn b́nh mật thủy, hoặc sa đường thủy, đồ hương, mạt hương, thiêu hương, cập chư hoa man. Hựu ư đàn tiền, tác địa hỏa lô. Trung an thán hỏa, dĩ tô-ma, giới tử, thiêu ư lô trung, khẩu tụng tiền chú nhất bách bát biến, nhất biến nhất thiêu. Năi chí ngă Dược Xoa đại tướng tự lai hiện thân, vấn chú nhân viết: “Nhĩ sở hà tu?” Ư sở cầu giả tức dĩ sự đáp, ngă tức tùy viết: “Ư sở cầu sự, giai linh măn túc”. Hoặc tu kim, ngân, cập chư phục tạng, hoặc dục thần tiên thừa không nhi khứ, hoặc cầu Thiên Nhăn Thông, hoặc tri tha tâm sự. Ư nhất thiết hữu t́nh, tùy ư tự tại, linh đoạn phiền năo, tốc đắc giải thoát, giai đắc thành tựu.

          ()爾時正了知藥叉大將白佛言世尊我有陀羅尼今對佛前親自陳為欲饒益憐愍諸有情故說呪南謨佛陀耶南謨達摩耶南謨僧伽耶南謨跋囉蚶摩耶南謨因達囉耶南謨折咄喃莫喝囉闍喃怛姪他呬哩呬哩弭哩弭哩瞿哩莫訶瞿哩健陀里莫訶健陀里達羅弭雉莫訶達羅弭雉單荼曲勸第訶訶訶訶訶呬呬呬呬呬呼呼呼呼呼漢魯曇謎瞿曇謎者者者者只只只只主主主主旃荼欇鉢攞尸揭囉尸揭囉嗢底瑟他呬薄伽梵僧慎爾耶莎訶若復有人於此明呪能受持者我當給與資生樂具飲食衣服華果珍異或求男女童男童女金銀珍寶諸瓔珞具我皆供給隨所願求令無闕乏此之明呪有大威力若誦呪時我當速至其所令無障礙隨意成就若持此呪時應知其法先畫一鋪僧慎爾耶藥叉形像高四五尺手執鉾於此像前作四方壇安四滿瓶蜜水或沙糖水塗香末香燒香及諸華鬘又於壇前作地火鑪中安炭火以蘇摩芥子燒於罏中口誦前呪一百八遍一遍一燒乃至我藥叉大將自來現身問呪人曰爾何所須意所求者即以事答我即隨言於所求事皆令滿足或須金銀及諸伏藏或欲神仙乘空而去或求天眼通或知他心事於一切有情隨意自在令斷煩惱速得解皆得成就

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Chánh Liễu Tri Dược Xoa đại tướng bạch Phật rằng: - “Bạch Thế Tôn! Con có Đà La Ni, nay đối trước Phật, đích thân tự thưa bày, v́ muốn lợi ích, thương xót các hữu t́nh vậy”. Liền nói chú rằng: “Nam-mô Phật-đà-da, nam-mô Đạt-ma-da, nam-mô Tăng-già-da. Nam-mô bạt ra hám ma da. Nam-mô nhân đạt ra da. Nam-mô chiết đốt nẫm, mạc hát ra xà nẫm, đát điệt tha: Hế rị, hế rị, mi rị, mi rị, cù rị. Mạc ha cù rị, kiện đà lư. Mạc ha kiện đà lư, đạt la mi trĩ. Mạc ha đạt la mi trĩ. Đan đồ khúc khuyến đệ. Ha ha ha ha ha, hế hế hế hế hế, hô hô hô hô hô, hán lỗ đàm mế, cù đàm mế, giả giả giả giả, chỉ chỉ chỉ chỉ, chủ chủ chủ chủ, chiên đồ triếp, bát la, thi yết ra, thi yết ra. Ốt để sắt tha hế, bạc già phạm, tăng thận nhĩ da, sa ha”. Nếu lại có người đối với minh chú này mà có thể thọ tŕ, con sẽ ban cho các vật dụng ưa thích cần thiết cho cuộc sống, thực phẩm, y phục, hoa quả quư lạ, hoặc cầu con trai, con gái, trẻ trai, trẻ gái, vàng, bạc, trân bảo, các chuỗi anh lạc, con đều cung cấp, thuận ḷng nguyện cầu, chẳng để thiếu khuyết. Minh chú này có oai lực lớn, nếu lúc tụng chú, con sẽ mau đến chỗ người ấy, khiến cho chẳng có chướng ngại, tùy ư thành tựu. Nếu lúc tŕ chú này, hăy nên biết pháp tắc. Trước hết, vẽ một bức h́nh tượng Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa, cao bốn năm thước, tay cầm mâu và giáo nhỏ. Đối trước h́nh tượng ấy, làm bốn cái đàn vuông, đặt bốn cái b́nh chứa đầy nước mật, hoặc nước đường cát, hương bôi, hương bột, hương đốt, và các tràng hoa. Ở trước đàn, lại làm bốn ḷ than. Trong đó đặt than, lửa, dùng tô-ma[3], hạt cải, đốt ở trong ḷ, miệng tụng chú trên đây một trăm lẻ tám lượt. Cứ một lượt [tụng chú] là thiêu một lần. [Tụng] cho đến khi Dược Xoa đại tướng con tự đến hiện thân, hỏi người tŕ chú rằng: “Ngươi cần điều ǵ?” Người ấy liền đáp bằng chuyện mong cầu trong tâm, con liền nói: “Chuyện ngươi mong cầu ta đều khiến cho toại ư”. Hoặc là cần vàng, bạc, và các kho tàng, hoặc muốn như thần tiên nương hư không mà đi, hoặc cầu Thiên Nhăn Thông, hoặc biết chuyện trong tâm người khác. Đối với hết thảy hữu t́nh, tùy ư tự tại, khiến cho đoạn phiền năo, mau được giải thoát, đều được thành tựu).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ hai là “dùng chú lực để gia bị”, có sáu ư:

          - Một, [Dược Xoa đại tướng] tỏ ư xin được phép nói.

          - Hai, từ “tức thuyết” (liền nói) trở đi là nói thần chú.

          - Ba, từ “nhược phục” (nếu lại) trở đi, lợi ích do khuyên tu.

          - Bốn, từ “nhược tŕ thử” (nếu tŕ chú này) trở đi, dạy cách hành tŕ.

          - Năm, từ “năi chí” (cho đến) trở đi, nêu ra lợi ích đạt được, gồm ba điều:

          a) Một là hiện thân.

          b) Hai là hỏi đáp.

          c) Ba là từ “hoặc tu” (hoặc cần) trở đi, tùy theo ḷng mong cầu mà ban cho: Một là bảy thứ báu, hai là kho tàng, ba là thần thông, bốn là ban cho tự tại, năm là ban cho giải thoát.

          - [Sáu, đức Phật tán thán để kết lại, được nói trong đoạn kế tiếp].

          Chuẩn theo phẩm trước [dạy về] sự ban cho biện tài, để có được trí huệ, cũng nên tụng chú thỉnh [Dược Xoa đại tướng] hiện thân gia bị, khiến cho [hành nhân] đắc trí huệ. Do v́ lược đi, nên chẳng nói. Nói “linh đoạn phiền năo, tốc đắc giải thoát” (khiến cho đoạn phiền năo, mau được giải thoát) chính là ư nghĩa cầu trí huệ.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Chánh Liễu Tri Dược Xoa đại tướng viết: - Thiện tai! Thiện tai! Nhữ năng như thị lợi ích nhất thiết chúng sanh, thuyết thử thần chú, ủng hộ chánh pháp, phước lợi vô biên.

          ()爾時世尊告正了知藥叉大將曰善哉善哉汝能如是利益一切眾生說此神呪擁護正福利無邊

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Chánh Liễu Tri Dược Xoa đại tướng rằng: - Lành thay! Lành thay! Ông có thể lợi ích hết thảy chúng sanh như thế, nói thần chú này ủng hộ chánh pháp, phước lợi vô biên).

 

          Kế đó, điều thứ sáu là đức Phật tán thán để kết lại.

 

5.20. Phẩm thứ hai mươi: Vương Pháp Chánh Luận (Vương Pháp Chánh Luận phẩm đệ thập nhị, 王法正論品第二十)

 

          Phẩm Vương Pháp Chánh Luận gồm ba môn phân biệt.

         

5.20.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

           Nói đến ư nghĩa v́ sao có phẩm này, th́ phần Lưu Thông gồm ba loại, mười sáu phẩm đầu thuộc loại Học Hạnh Lưu Thông. Trong loại ấy, lại chia làm năm tiểu loại. Phẩm này nói về tiểu loại thứ ba, tức nói về THọc. Phần THọc [gồm ba phẩm], chia thành hai tiểu loại:

          - Một, hai phẩm đầu nêu ra chuyện xưa.

          - Hai, một phẩm sau nhằm khuyên bảo [đại chúng trong] hiện thời.

          Trong phần “nêu ra chuyện xưa”, lại có hai ư:

          - Một, v́ tăng thượng sanh đạo[4].

          - Hai, v́ quyết định thắng đạo.

          Phẩm này thuộc về ư đầu.

          Lại có thể hiểu như sau: Do phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc nói vua trong nhân gian nếu có thể tôn trọng người [hoằng pháp], kính trọng pháp, có chánh hạnh hoằng kinh, th́ chư thiên, quỷ thần v.v… sẽ ủng hộ. Nếu chẳng như vậy, chư thiên, quỷ thần v.v… sẽ ĺa bỏ. V́ thế, nay phẩm này nêu ra chuyện xưa về chánh hạnh hoằng kinh của quốc vương để khuyên lơn, khích lệ đại chúng trong đại hội thuở ấy. Do vậy mà có phẩm này sanh khởi.

 

5.20.2. Giải thích tên gọi của phẩm này

 

          Giải thích tên gọi của phẩm này th́ trước là tách ra, sau là hợp lại.

          “Vương” có ba hiệu:

          - Một là Hoàng (), Hoàng tức là vua cơi trời.

          - Hai là Đế (). Đế tức là chúa tể.

          - Ba là Vương (). Vương tức là “quy thuộc”, do vua được đại chúng quy thuộc. C̣n gọi là Quân ().

          Hơn nữa, tùy ư tự tại th́ gọi là Vương.

          “Pháp” là quỹ tắc (軌則, khuôn phép).

          “Chánh” nhằm vạch rơ chẳng tà, cũng gọi là Thánh. Như trong Ái Ngữ, dấy lên bốn thứ tịnh ngữ và tám loại thánh ngữ. Tịnh ngữ tức là chẳng nói dối v.v… Thánh ngữ tức là “thấy bèn nói là thấy” v.v…

          “Luận” là quyết trạch (chọn lựa dứt khoát), xem đi xét lại đạo lư của các pháp.

          Vương tức là người có thể hành pháp. Pháp Chánh Luận tức là pháp được hành [bởi Vương]. Phải nên nói là Vương Chánh Pháp Chánh Luận (chánh luận về chánh pháp của nhà vua), nhưng thuận theo ngữ pháp của Thiên Trúc mà nói là Pháp Chánh Luận. Luận là chủ thể có thể luận định, c̣n Chánh Pháp là điều được luận định. [Bàn về] chánh pháp của vua, luận định về chánh pháp; đó đều là cách giải thích theo lối Y Chủ. Nay phẩm này biện định chánh pháp luận của nhà vua, chẳng mong giải thích riêng nhà vua và luận định về chánh pháp.

 

5.20.3. Giải đáp vấn nạn

 

          * Hỏi: Địa Thần thỉnh đức Phật nói chánh pháp của vua, sao không tự nói để chỉ bày các chuyện đáng nên trụ vào vậy?

          Đáp: Muốn chỉ rơ ba đời, pháp đều như nhau. Do pháp là tôn quư, thù thắng, chẳng nói về bản thân, chỉ nêu lên chuyện xưa kia.

          * Hỏi: Nếu vậy, cớ sao không nêu lên lời của quá khứ Phật, lại dẫn lời của vua Lực Tôn Tràng?

          Đáp: Cai trị đất nước th́ nương theo chuyện thế tục. V́ thế, nêu ra lời của Phạm vương đă nói trong quá khứ. Thật ra, Phạm vương cũng được nghe từ bên đức Phật nói với tứ thiên vương. Như trong phần sau, [kinh chép] vua Thiện Sanh từ nơi ngài Bảo Tích mà nghe kinh Kim Quang Minh, nhưng chẳng nói là “Phật thuyết”.

          * Hỏi: Xưa kia, vua Lực Tôn Tràng và con là Diệu Tràng, nay là ai vậy?

          Đáp: Có người giải thích Diệu Tràng [thuở đó] chính là Diệu Tràng [Bồ Tát] hiện thời. Có người lại nói: Chính là Phật Thích Ca. Xét ra hai cách giải thích ấy, không có kinh văn để xác định hay phủ nhận, tùy ư chấp nhận thuyết nào cũng được!

 

5.20.4. Giải thích kinh văn

5.20.4.1. Địa thần nêu lời thỉnh

 

          (Kinh) Nhĩ thời, thử đại địa thần nữ, danh viết Kiên Lao, ư đại chúng trung, tùng ṭa nhi khởi, đảnh lễ Phật túc, hiệp chưởng cung kính.

          ()爾時此大地神女名曰堅牢於大眾中從座而起頂禮佛足合掌恭敬

          (Kinh: Lúc bấy giờ, nữ thần đất trong cơi này tên là Kiên Lao, ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng lên, chắp tay cung kính).

 

          Tán rằng: Kinh văn của phẩm này, chia đại lược thành ba phần:

          - Một, địa thần nêu bày lời thỉnh.

          - Hai, đức Thế Tôn giảng nói.

          - Ba, đại chúng hoan hỷ phụng hành.

          Phần thứ nhất lại chia làm bốn tiểu đoạn, tiểu đoạn thứ nhất là nghi thức cầu thỉnh.

 

          (Kinh) Bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ư chư quốc trung, vi nhân vương giả, nhược vô chánh pháp, bất năng trị quốc, an dưỡng chúng sanh, cập dĩ tự thân trường cư thắng vị.

          ()白佛言世尊於諸國中為人王者若無正法不能治國安養眾生及以自身長居勝位

          (Kinh: Bạch với đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Trong các nước, nếu kẻ làm quốc vương mà chẳng có chánh pháp, sẽ chẳng thể cai trị đất nước, nuôi nấng chúng sanh an vui, và bản thân sẽ chẳng thể giữ măi địa vị thù thắng).

 

          Kế đó, tiểu đoạn thứ hai là nêu ra nguyên do [thưa thỉnh].

 

          (Kinh) Duy nguyện Thế Tôn từ bi ai mẫn, đương vị ngă thuyết Vương Pháp Chánh Luận trị quốc chi yếu.

          ()惟願世尊慈悲哀愍當為我說王法正論治國之要

          (Kinh: Kính mong đức Thế Tôn từ bi thương xót, sẽ v́ con nói lẽ trọng yếu trong cách cai trị đất nước thuộc Vương Pháp Chánh Luận).

 

          Kế đó, tiểu đoạn thứ ba là trần thuật điều thỉnh cầu.

 

          (Kinh) Linh chư nhân vương đắc văn pháp dĩ, như thuyết tu hành, chánh hóa ư thế, năng linh thắng vị vĩnh bảo an ninh, quốc nội cư nhân hàm mông lợi ích.

          ()令諸人王得聞法已說修行正化於能令勝位永保安寧內居人咸蒙利

          (Kinh: Khiến cho các quốc vương được nghe pháp xong, sẽ tu hành đúng như lời dạy, giáo hóa chánh đáng trong cơi đời, có thể giữ cho địa vị thù thắng vĩnh viễn được an ổn, người dân sống trong nước đều được lợi ích).

 

          Kế đó, điều thứ tư là nêu ra lợi ích.

 

5.20.4.2. Đức Thế Tôn giảng nói

5.20.4.2.1. Sắc truyền lắng nghe và trần thuật duyên khởi xưa kia

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn ư đại chúng trung, cáo Kiên Lao Địa Thần viết: - Nhữ đương đế thính. Quá khứ hữu vương, danh Lực Tôn Tràng. Kỳ vương hữu tử, danh viết Diệu Tràng, thọ quán đảnh vị, vị cửu chi khoảnh. Nhĩ thời, phụ vương cáo Diệu Tràng ngôn: “Hữu Vương Pháp Chánh Luận, danh Thiên Chúa Giáo Pháp, ngă ư tích thời, thọ quán đảnh vị, nhi vi quốc chúa, ngă chi phụ vương danh Trí Lực Tôn Tràng, vị ngă thuyết thị Vương Pháp Chánh Luận. Ngă y thử luận, ư nhị vạn tuế, thiện trị quốc độ, ngă bất tằng ức khởi nhất niệm tâm hạnh ư phi pháp. Nhữ ư kim nhật, diệc ưng như thị, vật dĩ phi pháp nhi trị ư quốc. Vân hà danh vi Vương Pháp Chánh Luận? Nhữ kim thiện thính, đương vị nhữ thuyết”.

          ()爾時世尊於大眾中告堅牢地神曰汝當諦聽過去有王名力尊幢其王有子名曰妙幢受灌頂位未久之頃爾時父王告妙幢言有王法正論名天主教法我於昔時受灌頂位而為國主我之父王名智力尊幢為我說是王法正我依此論於二萬歲善治國我不曾憶起一念心行於非法汝於今日亦應如是勿以非法而治於國云何名為王法正論汝今善聽當為汝

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đại chúng, bảo Kiên Lao Địa Thần rằng: - Bà hăy nên lắng nghe. Trong quá khứ, có vua tên là Lực Tôn Tràng. Nhà vua ấy có con tên là Diệu Tràng, nhận địa vị quán đảnh trong khoảng thời gian chưa lâu. Lúc bấy giờ, vua cha bảo Diệu Tràng rằng: “Có Vương Pháp Chánh Luận tên là Giáo Pháp của Chúa Cơi Trời. Khi xưa, lúc ta thọ địa vị quán đảnh làm quốc chúa, vua cha ta tên là Trí Lực Tôn Tràng, đă v́ ta nói Vương Pháp Chánh Luận này. Ta vâng theo luận ấy, trong hai vạn năm, khéo cai trị đất nước. Ta nhớ chưa từng dấy lên một niệm tâm hạnh phi pháp. Con nay cũng nên như thế, đừng dùng phi pháp để cai trị nước. Thế nào là Vương Pháp Chánh Luận? Con nay hăy lắng nghe, cha sẽ v́ con nói”).

 

          Kế đó, đức Thế Tôn v́ địa thần giảng nói, có ba đoạn:

          - Một, đức Thế Tôn đối trước đại chúng, sắc truyền hăy nghe.

          - Hai, từ “quá khứ” trở đi, thuật lại duyên khởi xưa kia.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Lực Tôn” trở đi, trần thuật chánh pháp xưa kia.

           Trần thuật duyên khởi xưa kia gồm tám điều:

          - Một, nêu ra người có thể dạy bảo (vua Lực Tôn Tràng), và người được dạy bảo (thái tử Diệu Tràng).

          - Hai, từ “nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở đi, truyền dạy phương pháp. Thế Chúa (chúa tể thế gian) tức Phạm vương, tu Tứ Vô Lượng mới thành bậc Thế Chúa, dạy : Khởi từ bi sẽ nhất định có thể dẹp khổ, ban vui.

          - Ba, từ “ngă ư” (ta trong) trở đi, nêu ra cái duyên đắc pháp.

          - Bốn, từ “ngă chi phụ” (cha ta) trở đi, nêu rơ chỗ được nghe pháp.

          - Năm, từ “ngă y” (ta nương vào đó) trở đi, nói rơ ta (vua Lực Tôn Tràng) có thể học và hành theo.

          - Sáu, từ “nhữ ư kim” (con nay) trở đi, răn con hăy học theo.

          - Bảy, từ “vân hà danh vi” (thế nào gọi là) trở đi, [thái tử nghe lời sắc truyền, thỉnh giáo.

          - Tám, từ “nhữ kim” (con nay) trở đi, sắc truyền lắng nghe, hứa sẽ nói.

          Có ư nói: Ta được nghe [Vương Pháp Chánh Luận] từ chỗ cha ta, nay lại dạy cho con. Nêu rơ: Cha con ân nghĩa sâu nặng, [lời cha] dạy bảo ắt là lợi ích thật sự. V́ thế, khuyên người nghe hăy kính trọng, hành theo.

 

5.20.4.2.2. Trần thuật chánh pháp xưa kia

5.20.4.2.2.1. Đức Phật nêu lời dẫn khởi

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Lực Tôn Tràng vương tức vị kỳ tử, dĩ diệu già-tha, thuyết chánh luận viết:

          ()爾時力尊幢王即為其子以妙伽他說正論曰

          (Kinh: Lúc bấy giờ, vua Lực Tôn Tràng liền v́ con ḿnh, dùng kệ tụng mầu nhiệm để nói chánh luận như sau).

 

          Kế đó, trần thuật chánh pháp xưa kia. Kinh văn chia thành hai phần. Phần này là đức Phật nêu ra lời dẫn khởi.

 

5.20.4.2.2.2. Trần thuật phần chánh luận

5.20.4.2.2.2.1. Vua Lực Tôn Tràng sắc truyền lắng nghe

 

          (Kinh) Ngă thuyết vương pháp luận, lợi an chư hữu t́nh, vị đoạn thế gian nghi, diệt trừ chúng quá thất. Nhất thiết chư thiên vương, cập dĩ nhân trung vương, đương sanh hoan hỷ tâm, hiệp chưởng thính ngă thuyết.

          ()說王法利安諸有情為斷世間疑滅除眾過失一切諸天王及以人中王當生歡喜心合掌聽我

          (Kinh: Ta nói vương pháp luận, lợi ích, an hữu t́nh. V́ đoạn nghi cho đời, diệt trừ các lầm lỗi. Hết thảy các thiên vương, và các vua nhân loại, hăy sanh tâm hoan hỷ, chắp tay nghe ta nói).

 

          Kế đó là trần thuật pháp ấy, gồm bảy mươi ba bài tụng, chia thành hai phần:

          - Một, hai bài tụng đầu, vua Lực Tôn Tràng sắc truyền [thái tử Diệu Tràng, các thiên vương, quốc vương] hăy lắng nghe.

          - Hai, bảy mươi mốt bài tụng sau đó là trần thuật chánh luận.

          Trong phần “sắc truyền hăy nghe”: Bài thứ nhất trần thuật lợi ích của lời luận. Ba câu kế đó nói về căn cơ được giáo hóa, câu cuối cùng là sắc truyền lắng nghe.

          Hỏi: Trong phần Trường Hàng trước đó, [đă nói nhà vua] chỉ v́ con ḿnh, cớ sao khi khuyên nghe c̣n bao gồm cả chúa cơi trời và quốc vương?

          Đáp: Phần Trường Hàng kinh văn đại lược, phần Kệ Tụng th́ kinh văn nói rộng. Lại có thể giải thích rằng: Chính v́ răn dạy con. Vua có ư nói: Luận này xứng lư, lợi ích rộng răi. Chúa cơi trời và quốc vương [hễ nghe thấy], đều nên hoan hỷ. V́ thế, nay con phải nên chắp tay nghe cha nói.

 

5.20.4.2.2.2.2. Trần thuật Vương Pháp Chánh Luận

5.20.4.2.2.2.2.1. Cái nhân phát khởi của luận này

 

          (Kinh) Văng tích chư thiên chúng, tập tại Kim Cang sơn, tứ vương tùng ṭa khởi, thỉnh vấn ư Đại Phạm: - Phạm chúa tối thắng tôn, thiên trung đại tự tại, nguyện ai mẫn ngă đẳng, vị đoạn chư nghi hoặc.

          ()往昔諸天眾集在金剛山四王從座起請問於大梵梵主最勝尊天中大自在願哀愍我等為斷諸疑惑

          (Kinh: Xưa kia các thiên chúng, nhóm về núi Kim Cang, bốn vua từ ṭa dậy, thưa hỏi Đại Phạm rằng: - Đấng Phạm chúa tối thắng, đại tự tại trong trời, nguyện thương xót chúng tôi, đoạn trừ các nghi hoặc).

 

          Bảy mươi mốt bài tụng kế đó nhằm trần thuật [nội dung của] chánh luận. Kinh văn chia đại lược thành ba phần:

          - Hai bài tụng đầu tiên nêu ra cái nhân phát khởi.

          - Hai bài tụng kế đó nói về sự sanh khởi của lời thưa hỏi.

          - Sáu mươi bảy bài tụng kế đó, nêu ra nội dung bài luận.

          Trong phần thứ nhất, có năm ư:

          - Hai câu đầu nói về chỗ thiên chúng tụ tập.

          - Câu kế đó nêu ra người khải thỉnh (tứ thiên vương).

          - Câu kế đó nêu ra điều thưa hỏi.

          - Hai câu kế đó nhằm tán thán luận ấy.

          - Hai câu kế đó thỉnh cầu hăy nói.

 

5.20.4.2.2.2.2.2. Thưa hỏi sanh khởi

 

          (Kinh) Vân hà xử nhân thế, nhi đắc danh vi Thiên? Phục dĩ hà nhân duyên, hiệu danh viết thiên tử? Vân hà sanh nhân gian, độc đắc vi nhân chủ? Vân hà tại thiên thượng, phục đắc tác thiên vương?

          ()云何處人世而得名為天復以何因緣號名曰天子云何生人間獨得為人主云何在天上復得作天王

    (Kinh: Làm sao sống cơi người, mà được gọi là Trời? Lại do nhân duyên nào, được gọi là thiên tử? Thế nào sanh làm người, riêng ḿnh làm vua chúa? Thế nào trên cơi trời, lại được làm thiên vương?)

 

          Kế đó, sanh khởi lời thưa hỏi. Nói chung, có bốn câu hỏi, theo kinh văn dễ thấy. Mỗi câu hỏi đều có ba ư:

          - Một, hỏi danh hiệu ấy do nương vào đức nào mà lập ra, tức là hỏi kèm theo nguyên do đặt hiệu như thế.

          - Nói đến nguyên do, tức là vua đă hành chánh pháp nào mà được gọi là vua v.v…? Nếu chẳng phải như vậy, tứ thiên vương chỉ hỏi danh xưng, cớ sao thiên chúa nói “hỏi ta đạo trị quốc”. V́ thế, kinh Tát Giá Ni Càn Tử, quyển thứ hai chép: “Vương ngôn: - Đại sư! Bỉ chư vương đẳng hà cố danh vương? Đáp ngôn: - Đại vương! Vương giả dân chi phụ mẫu, dĩ năng y pháp nhiếp hộ chúng sanh, linh an lạc cố, danh chi vi vương” (Vua nói: “Thưa đại sư! Các vị vua ấy v́ sao gọi là vua?” Đáp rằng: “Thưa đại vương! Vua là cha mẹ của dân. V́ có thể nương theo pháp để nhiếp thọ, thủ hộ, khiến cho chúng sanh an lạc, nên gọi là vua). Đó chính là nói chung.

          Kế đó, giải thích rằng: “Đại vương đương tri, vương chi dưỡng dân đương như xích tử, di can, khử thấp, bất đăi kỳ ngôn. Hà dĩ cố? Đại vương đương tri, vương giả đắc lập, dĩ dân vi quốc; dân tâm bất an, quốc tương diệt hỹ! Thị cố, vương thường đương lự dân, như niệm xích tử, bất ly ư tâm. Đương tri quốc nội nhân dân khổ, lạc, thủy, hạn, phong, vũ, ngạ, băo, lăo, thiếu, bệnh hoạn, ngục tụng, hữu tội, vô tội, hữu công, vô công, như thị tri giả, danh bất ly tâm. Như thị tri dĩ, dĩ lực tương hộ. Sở ưng dữ giả, cập thời cấp dữ. Sở ưng thủ giả, niệm đương trù lượng, dịch sử tri thời, bất đoạt nhân lợi, cấm túc tham bạo, nhân đắc an lạc. Thị danh hộ quốc, danh chi vi vương” (Đại vương hăy nên biết, vua hăy nên nuôi dân như con đỏ, dời sang chỗ khô ráo, bỏ chỗ ướt, chẳng đợi họ nói. V́ sao vậy? Đại vương hăy nên biết: Vua được lập nên là do lấy dân để dựng nước. Ḷng dân chẳng yên, nước sẽ diệt vong. V́ thế, nhà vua phải thường nên lo nghĩ cho dân, như nghĩ tới con thơ, canh cánh bên ḷng. Hăy nên biết nhân dân trong nước khổ, vui, lụt lội, hạn hán, mưa, gió, đói, no, già, trẻ, bệnh hoạn, tù ngục, thưa kiện, có tội, vô tội, có công, không công. Biết như thế th́ gọi là “canh cánh bên ḷng”. Đă biết như thế rồi, dùng sức che chở. Điều ǵ đáng nên cho, bèn đúng thời ban cho. Điều ǵ đáng nên lấy, hăy nghĩ cách trù tính, sai họ làm lụng đều biết thời, chẳng đoạt mất lợi ích của người ta, ngăn cấm kẻ tham bạo, khiến cho dân được an vui. Đó gọi là hộ quốc, được gọi là vương). Nay cuộc vấn đáp ở đây cũng có ư nghĩa giống như thế.

          - Ư hỏi thứ ba là hiện thời và trong tương lai, do nghiệp hạnh ǵ mà sanh trong nhân gian lại được gọi là trời? Do hạnh nghiệp ǵ mà được sanh lên trời làm thiên vương?

          V́ thế, trong phần sau, đáp rằng: Do thiện nghiệp lực trước kia mà sanh lên trời làm vua v.v… Pháp tắc ở Ấn Độ là mỗi sự vật đều có mười danh xưng. Nay đối với vua trong nhân gian, nêu ra ba danh xưng, đối với thiên vương, nêu ra một danh xưng để liên tưởng các danh xưng khác.

 

5.20.4.2.2.2.2.3. Nói thẳng vào nội dung của luận

5.20.4.2.2.2.2.3.1. Nhắc lại chuyện xưa, hứa nói

 

          (Kinh) Như thị hộ thế gian? Vấn bỉ Phạm vương dĩ. Nhĩ thời, Phạm thiên chúa, tức tiện vị bỉ thuyết: - Hộ thế nhữ đương tri, vị lợi hữu t́nh cố, vấn ngă trị quốc pháp, ngă thuyết, ưng thiện thính.

          ()如是護世間問彼梵王已爾時梵天主即便為彼護世汝當知為利有情故問我治國法說應善

          (Kinh: Hộ thế gian như thế? Đă hỏi Phạm vương xong; lúc đó, Phạm thiên chúa, liền v́ họ nói rằng: - Hộ thế, ông nên biết, v́ lợi lạc hữu t́nh, hỏi ta cách trị quốc. Ta nói, hăy khéo nghe).

         

          Kế đó, sáu mươi bảy bài tụng nói thẳng vào nội dung của luận ấy, gồm ba phần:

          - Hai bài tụng đầu trần thuật chuyện cũ và hứa nói.

          - Sáu mươi bài tụng rưỡi kế đó, thiên chúa trần thuật.

          - Bốn bài tụng rưỡi từ “thị cố, nhữ nhân vương” (v́ thế, quốc vương các ông), khuyên lơn, khích lệ [thính chúng] hăy học theo.

          Trong phần thứ nhất, lại chia thành hai đoạn: Bài tụng thứ nhất là vua Lực Tôn trần thuật; bài tụng kế đó là thiên chúa hứa sẽ nói, răn hăy lắng nghe.

 

5.20.4.2.2.2.2.3.2. Thiên chúa trần thuật

 

          (Kinh) Do tiên thiện nghiệp lực, sanh thiên đắc tác vương. Nhược tại ư nhân trung, thống lănh vi nhân chủ.

          ()由先善業力生天得作王若在於人中統領為人主

          (Kinh: Do sức thiện nghiệp xưa, sanh thiên được làm vua. Nếu ở trong loài người, thống lănh làm chúa tể).

 

          Kế đó là thiên chúa trần thuật [nội dung của Vương Pháp Chánh Luận], có hai phần:

          - Ba bài tụng đầu tiên trả lời hai câu hỏi về danh xưng và nghiệp. Tức là dạy tu thiện để làm cái nhân cho tương lai.

          - Năm mươi bảy bài tụng rưỡi từ “Tam Thập Tam thiên chúa” trở đi, trả lời câu hỏi về nguyên do có được danh hiệu, liền trần thuật chánh luận, tức là dạy tu ḥng đạt được lợi ích trong hiện tại.

          Phần thứ nhất lại có hai ư:

          - Bài tụng đầu tiên nhằm giải đáp hai câu hỏi sau đó.

          - Hai bài tụng kế đó nhằm giải đáp hai câu hỏi đầu tiên.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Chư thiên cộng gia hộ, nhiên hậu nhập mẫu thai. Kư chí mẫu thai trung, chư thiên phục thủ hộ. Tuy sanh tại nhân thế, tôn thắng cố danh Thiên. Do chư thiên hộ tŕ, diệc đắc danh thiên tử.

          ()諸天共加護然後入母胎既至母胎中諸天復守護雖生在人世尊勝故名天由諸天護持亦得名天子

          (Kinh: Chư thiên cùng gia hộ, sau đó vào thai mẹ. Đă vào trong thai mẹ, chư thiên lại thủ hộ. Tuy sanh trong nhân gian, tôn thắng nên gọi Trời. Do chư thiên hộ tŕ, cũng gọi là thiên tử).

 

          Kế đó, đáp câu hỏi trong phần trước. Có hai phần:

          - Một bài tụng rưỡi đầu tiên trả lời câu hỏi thứ nhất.

          - Nửa sau bài tụng trả lời câu hỏi thứ hai.

          Do sức thiện nghiệp trước kia, cũng dẫn tới chư thiên cùng gia hộ.

 

          (Kinh) Tam Thập Tam thiên chúa, phân lực trợ nhân vương, cập nhất thiết chư thiên, diệc tư tự tại lực, trừ diệt chư phi pháp, ác nghiệp linh bất sanh, giáo hữu t́nh tu thiện, sử đắc sanh thiên thượng. Nhân cập Tô La chúng, tịnh Kiện Thát Bà đẳng, La Sát Chiên Đồ La, tất giai tư bán lực, phụ mẫu tư bán lực, linh xả ác tu thiện. Chư thiên cộng hộ tŕ, thị kỳ chư thiện báo. Nhược tạo chư ác nghiệp, linh ư hiện thế trung, chư thiên bất hộ tŕ, thị kỳ chư ác báo.

          ()三十三天主分力助人王及一切諸天亦資自在力除滅諸非法惡業令不生教有情修善使得生天上人及蘇羅眾并健闥婆等旃荼羅悉皆資半力父母資半力令捨惡修善諸天共護持示其諸善報若造諸惡業令於現世中諸天不護持示其諸惡報

          (Kinh: Chúa trời Tam Thập Tam, chia sức giúp quốc vương. Và hết thảy chư thiên, cũng giúp sức tự tại, trừ diệt các phi pháp, khiến ác nghiệp chẳng sanh, dạy hữu t́nh tu thiện, khiến được sanh lên trời. Người và A Tô La, và Kiện Thát Bà thảy, La Sát Chiên Đồ La, đều giúp cho nửa sức. Cha mẹ giúp nửa sức, khiến bỏ ác, tu lành. Chư thiên cùng hộ tŕ, hiện ra các thiện báo. Nếu tạo các ác nghiệp, khiến cho trong hiện đời, chư thiên chẳng hộ tŕ, hiện ra các ác báo).

 

          Kế đó, đáp chung về nguyên do có được xưng hiệu là “vua”, trần thuật chánh luận. Kinh văn lại chia thành hai phần:

          - Năm bài tụng đầu tiên là nêu đại lược.

          - Năm mươi hai bài tụng rưỡi kế đó nhằm giải thích cặn kẽ.

          Trong phần “nêu đại lược” có ba ư:

          - Hai bài tụng đầu tiên nói chư thiên giúp vua hành chánh pháp ḥng lợi ích người khác, gồm ba điều:

          a) Bài tụng thứ nhất nói chư thiên phụ trợ [nhà vua].

          b) Bài tụng kế tiếp nói về sự giáo hóa của nhà vua. Trong phần giáo hóa th́ nửa đầu nói về sự diệt ác, nửa sau nói về sanh thiện.

          c) Bài tụng rưỡi kế tiếp nêu ra người và thần cùng thủ hộ sự lợi ích cho chính ḿnh, mà cũng là lợi ích người khác. Do người và thần giúp sức, khiến cho nhà vua giáo hóa kẻ khác bỏ ác, tu thiện, cùng đạt được lợi ích cho chính ḿnh. Nói “La Sát Chiên Đồ La” th́ Chiên Đồ La (Caṇḍāla) được phương này dịch là Nghiêm Xí Chấp Thủ Ác Giả, tức là kẻ chấp giữ điều ác trong các La Sát. Có nghĩa là kẻ ác [trong loài La Sát] mà c̣n hộ tŕ, huống hồ những người thiện khác!

          - Sau đó, một bài tụng rưỡi từ “chư thiên cộng hộ” (chư thiên cùng thủ hộ) trở đi, nêu ra ư nghĩa: Do [nhà vua] hành thiện giáo hóa người khác mà được chư thiên thủ hộ. Nửa đầu bài tụng nhằm nêu bày [ư nghĩa đó], bài tụng kế đó riêng chỉ bày nhân quả thiện ác đạt được.

          Hỏi: Tạo thiện th́ có thể thủ hộ, tạo ác th́ thủ hộ như thế nào?

          Đáp: Do xưa kia tu thiện, nay được làm vua. V́ thế, khi tạo ác th́ trời hiện tướng ác để thủ hộ, khiến cho [nhà vua] sửa đổi.

 

          (Kinh) Quốc nhân tạo ác nghiệp, vương xả, bất cấm chế. Tư phi thuận chánh lư, trị tẫn đương như pháp. Nhược kiến ác bất giá, phi pháp tiện tư trưởng, toại linh vương quốc nội, gian trá nhật tăng đa. Vương kiến quốc trung nhân, tạo ác bất giá chỉ, Tam Thập Tam Thiên chúng, hàm sanh phẫn nộ tâm. Nhân thử, tổn quốc chánh, siểm ngụy hành thế gian, bị tha oán địch xâm, phá hoại kỳ quốc độ. Cư gia cập tư cụ, tích tài giai tán thất. Chủng chủng siểm cuống sanh, cánh hỗ tương xâm đoạt. Do chánh pháp đắc vương, nhi bất hành kỳ pháp, quốc nhân giai phá tán, như tượng đạp liên tŕ. Ác phong khởi vô hằng, bạo vũ phi thời hạ, yêu tinh đa biến quái, nhật nguyệt thực vô quang. Ngũ cốc, chúng hoa quả, miêu thật giai bất thành, quốc độ tao cơ cẩn, do vương xả chánh pháp.

          ()國人造惡業王捨不禁制斯非順正理治擯當如法若見惡不遮非法便滋長遂令王國姧詐日增多王見國中人造惡不遮止三十三天眾咸生忿怒心因此損國政諂偽行世間被他怨敵侵破壞其國土居家及資具積財皆散失種種諂誑生更互相侵奪由正法得王而不行其法國人皆破散如象踏蓮池惡風起無恒暴雨非時下妖星多變怪日月蝕無光五穀眾華果苗實皆不成國土遭饑饉由王捨正法

          (Kinh: Dân chúng tạo ác nghiệp, vua bỏ mặc, chẳng cấm. Đó chẳng thuận chánh lư, trị phạt đúng như pháp. Nếu thấy ác chẳng ngăn, phi pháp sẽ tăng trưởng, khiến cho trong nước nhà, gian trá ngày tăng nhiều. Vua thấy dân trong nước, tạo ác, chẳng cấm ngăn, chúng trời Tam Thập Tam, đều sanh ḷng phẫn nộ. Do vậy, quốc chánh suy, siểm ngụy lừng thế gian, bị oán địch xâm lấn, phá hoại đất nước ấy. Nhà cửa và đồ đạc, tài sản đều tan tác. Các thứ siểm cuống sanh, cùng xâm đoạt lẫn nhau. Do chánh pháp làm vua, nhưng chẳng hành pháp ấy, dân chúng đều hư tan, như voi giày ao sen. Gió dữ nổi trái thời, mưa to trút bất ngờ, sao quái nhiều lượt hiện, nhật nguyệt ṃn, không sáng. Ngũ cốc, các hoa quả, thóc lúa chẳng được mùa, quốc độ gặp nạn đói, do vua bỏ chánh pháp).

 

          Năm mươi hai bài tụng rưỡi kế tiếp nhằm nói rộng, chia thành hai phần:

          - Ba mươi lăm bài tụng đầu nói rơ: Do vua trái nghịch chánh pháp, dẫn đến tai họa.

          - Mười bảy bài tụng rưỡi sau đó nói: Do vua vâng theo chánh pháp mà phước đưa đến.

          Theo Du Già Sư Địa Luận quyển sáu mươi mốt và Vương Pháp Chánh Lư Luận[5], đă nói về lầm lỗi của nhà vua, công đức của vua chúa, các loại suy tổn của vua, các phương tiện của vua, pháp đáng yêu mến, và các pháp có thể dẫn tới sự đáng yêu mến của nhà vua. Trong mỗi loại, đều có nhiều môn như các luận ấy đă biện định. Nếu đem so sánh với kinh này, hành tướng sẽ hơi khó [tương ứng]!

          Hỏi: Phẩm này có tên là Vương Pháp Chánh Luận có cùng danh mục với luận Du Già và Vương Pháp Chánh Lư Luận, sao không dựa theo các bộ luận ấy để giải thích?

          Đáp: Do lư chẳng đồng nhất! Các kinh như Nhân Vương Bát Nhă, Tát Giá Ni Càn Tử v.v… đều nói vua hành pháp trị quốc chẳng giống các bộ luận ấy, nhưng phối ứng [kinh này với các kinh ấy] th́ chẳng mâu thuẫn. Hơn nữa, xét theo kinh này, chia thành hai phần:

          - Ba mươi hàng đầu nói cặn kẽ [nhà vua trị quốc] trái nghịch chánh luận.

          - Sau đó, năm bài tụng từ “như thị vô biên quá” (vô biên lỗi như thế) trở đi, kết lại chuyện trái nghịch chánh pháp.

          Phần nói cặn kẽ [nhà vua hành xử trái nghịch chánh luận] chia thành ba đoạn:

          - Tám bài tụng đầu tiên nói rơ: Sai lầm do thấy kẻ ác tạo ác mà chẳng ngăn cấm.

          - Chín bài tụng từ “nhược vương xả chánh pháp” (nếu vua bỏ chánh pháp) trở đi, nêu rơ lỗi lầm do nhà vua tự hành phi pháp.

          - Mười ba bài tụng từ “quốc trung tối đại thần” (quan chức lớn nhất trong nước) trở đi, nói rơ lỗi lầm do thấy bầy tôi tạo ác mà không trừ bỏ.

          Trong đoạn thứ nhất, lại có bốn ư:

          - Bài tụng đầu tiên chỉ rơ: Thấy kẻ tạo ác, phải nên ngăn cấm.

          - Bài tụng kế đó từ “nhược kiến ác” (nếu thấy kẻ ác) trở đi, nói rơ: Không ngăn trở, điều ác sẽ rộng lớn hơn.

          - Từ “vương kiến quốc trung” (vua thấy dân trong nước) trở đi, do vậy, chư thiên phẫn nộ.

          - Năm bài tụng từ “nhân thử, tổn quốc chánh” (do vậy, nền chánh trị nước nhà suy tổn) trở đi, nói rơ [do vậy, bèn có] tai họa nẩy sanh. Phần nói về tai họa sanh ra có năm điều:

          a) Bài tụng thứ nhất nói oán địch phá hoại đất nước.

          b) Tài sản tán thất, [dân chúng] xâm đoạt lẫn nhau.

          c) [Nêu ra] cái nhân khiến cho tai họa dấy lên.

          d) Các tai biến cùng hiện ra.

          e) Đất nước đói kém.

          Năm hàng [trong kệ tụng] theo thứ tự tương xứng [với năm điều trên đây] dễ nhận thấy. Trong điều thứ ba là “cái nhân gây họa” th́ nửa đầu bài tụng là nêu ra cái nhân (tức là vua do chánh pháp mà được làm vua, nhưng chẳng tuân theo pháp ấy), nửa sau là thí dụ (dân chúng tan tác như voi giày xéo ao hoa sen).       

         

          (Kinh) Nhược vương xả chánh pháp, dĩ ác pháp hóa nhân, chư thiên xử bổn cung, kiến dĩ, sanh ưu năo. Bỉ chư thiên vương chúng, cộng tác như thị ngôn: “Thử vương tác phi pháp, ác đảng tương thân phụ, vương vị bất cửu an”. Chư thiên giai phẫn hận. Do bỉ hoài phẫn cố, kỳ quốc đương bại vong. Dĩ phi pháp giáo nhân, lưu hành ư quốc nội, đấu tránh, đa gian ngụy, tật dịch sanh chúng khổ. Thiên chúa bất hộ niệm, dư thiên hàm xả khí, quốc độ đương diệt vong, vương thân thọ khổ ách. Phụ mẫu cập thê tử, huynh đệ tịnh tỷ muội, câu tao ái biệt ly, năi chí thân vong một. Biến quái lưu tinh đọa, nhị nhật câu thời xuất, tha phương oán tặc lai, quốc nhân tao tang loạn. Quốc sở trọng đại thần, uổng hoạnh nhi thân tử, sở ái tượng mă đẳng, diệc phục giai tán thất. Xứ xứ hữu binh qua, nhân đa phi pháp tử, ác quỷ lai nhập quốc, tật dịch biến lưu hành.

          ()若王捨正法以惡法化人諸天處本宮見已生憂惱彼諸天王眾共作如是言此王作非法惡黨相親附王位不久安諸天皆忿恨由彼懷忿故其國當敗亡以非法教人流行於國鬪諍多姧偽疾疫生眾苦天主不護念餘天咸捨棄國土當滅亡王身受苦厄父母及妻子兄弟并姊妹俱遭愛別離乃至身亡歿變怪流星墮二日俱時出他方怨賊來國人遭喪亂國所重大臣枉橫而身死所愛象馬等亦復皆散失處處有兵戈人多非法死惡鬼來入國疾疫遍流行

          (Kinh: Nếu vua bỏ chánh pháp, dùng ác pháp dạy người, chư thiên ở cung ḿnh, thấy rồi, sanh ưu năo. Các vị thiên vương ấy, cùng nói như thế này: “Vua này hành phi pháp, thân cận bè lũ ác, ngôi vua khó giữ bền”. Chư thiên đều phẫn hận. Do họ ôm ḷng giận, nước ấy sẽ bại vong. Dùng phi pháp dạy người, lưu hành trong đất nước, đấu tranh, lắm gian ngụy. Dịch bệnh, sanh các khổ. Vua trời chẳng hộ niệm, chư thiên đều vứt bỏ. Đất nước sẽ diệt vong, vua hứng chịu khổ ách. Cha mẹ và vợ con, anh em cùng chị em, yêu thương phải chia ĺa, thậm chí thân chết mất. Sao băng biến quái dị, hai mặt trời cùng mọc, oán tặc phương khác đến, dân loạn lạc, tang tóc. Đại thần vua coi trọng, gặp nạn, chết bất ngờ, voi, ngựa… vua yêu quư, cũng đều thất tán cả! Khắp nơi dấy binh đao, nhiều người chết phi pháp. Ác quỷ vào trong nước, bệnh dịch lan tràn khắp).

 

          Kế đó, nói về lỗi hại do vua tự làm chuyện phi pháp, chia thành bốn đoạn:

          - Hai bài tụng đầu nêu rơ vua vứt bỏ chánh pháp.

          - Hai câu kế đó nói chư thiên trông thấy [t́nh trạng ấy], tâm ưu sầu.

          - Hai bài tụng kế đó, chư thiên cùng bàn bạc.

          - Sáu bài tụng tiếp đó, nói về cái tai họa dấy lên. Trong ấy, lại có chín điều:

          a) Bài tụng thứ nhất nói các chuyện như đấu đá v.v… rất nhiều.

          b) Nửa bài tụng kế đó nói chư thiên vứt bỏ [nhà vua và đất nước ấy].

          c) Một bài tụng rưỡi kế đó, nói chuyện trái nghịch, bức bách nẩy sanh, quốc độ diệt vong, đó là nỗi khổ v́ cầu mà chẳng được! Thân vua chịu khổ tức là oán tắng hội khổ (khổ v́ chán ghét mà cứ phải gặp gỡ). Phải biệt ly cha mẹ v.v… tức là ái biệt ly khổ (khổ v́ yêu thương mà bị chia ĺa). Cho đến bỏ ḿnh, chính là Tử Khổ!

          d) Nửa bài tụng kế đó, nói các thứ tai quái đều cùng sanh ra.

          e) Nửa bài tụng kế đó nói oán tặc đến xâm phạm.

          f) Nửa bài tụng kế đó nói đại thần chết bất ngờ.

          g) Nửa bài tụng kế đó nói tài sản tích cóp bị mất mát.

          h) Nửa bài tụng đó nói người chết phi pháp.

          i) Nửa bài tụng kế đó nói bệnh dịch lan tràn khắp nước!

 

          (Kinh) Quốc trung tối đại thần, cập dĩ chư phụ tướng, kỳ tâm hoài siểm nịnh, tịnh tất hành phi pháp. Kiến hành phi pháp giả, nhi sanh ư ái kính; ư hành thiện pháp nhân, khổ sở nhi trị phạt.

          ()國中最大臣及以諸輔相其心懷諂佞竝悉行非法見行非法者而生於愛敬於行善法人苦楚而治罰

          (Kinh: Quan chức lớn nhất nước, cùng với các phụ tá, vốn ôm ḷng siểm nịnh, cùng nhau hành phi pháp. Thấy kẻ hành phi pháp, bèn sanh tâm kính yêu. Thấy người hành thiện pháp, bèn trừng trị khổ sở).

 

          Mười ba bài tụng kế đó nói lên lỗi lầm [của nhà vua] là thấy bầy tôi làm quấy mà không trừ bỏ, chia thành bốn đoạn:

          - Một bài tụng nói về chuyện đại thần càn quấy.

          - Bài tụng kế đó nói thưởng phạt điên đảo.

          - Mười bài tụng kế đó nói về ác quả sanh khởi.

          - Một bài tụng từ “nhược vương tác phi pháp” (nếu vua làm chuyện phi pháp) trở đi, kết lại lỗi lầm ấy.

          Phần kinh văn này thuộc hai đoạn đầu.

 

          (Kinh) Do ái kính ác nhân, trị phạt thiện nhân cố, tinh tú cập phong vũ, giai bất dĩ thời hành. Hữu tam chủng quá sanh, chánh pháp đương ẩn một. Chúng sanh vô quang sắc, địa ph́ giai hạ trầm. Do kính ác, khinh thiện, phục hữu tam chủng quá, phi thời giáng sương bạc, cơ dịch khổ lưu hành, cốc giá, chư quả thật, tư vị giai tổn giảm. Ư kỳ quốc độ trung, chúng sanh đa tật bệnh. Quốc trung chư thụ lâm, tiên sanh cam mỹ quả, do tư giai tổn giảm, khổ sáp vô tư vị. Tiên hữu diệu viên lâm, khả ái du hư xứ, hốt nhiên giai khô tụy, kiến giả sanh ưu năo. Đạo mạch chư quả thật, mỹ vị tiệm tiêu vong, thực thời tâm bất hỷ. Hà năng trưởng chư đại? Chúng sanh quang sắc giảm, thế lực tận suy vi, thực đạm tuy phục đa, bất năng linh băo túc. Ư kỳ quốc giới trung, sở hữu chúng sanh loại, thiểu lực, vô dũng thế, sở tác bất kham năng. Quốc nhân đa tật hoạn, chúng khổ bức kỳ thân, quỷ mị biến lưu hành, tùy xứ sanh La Sát.

          ()由愛敬惡人治罰善人故星宿及風雨皆不以時行有三種過生正法當隱沒眾生無光色地肥皆下沈由敬惡輕善復有三種過非時降霜雹饑疫苦流行穀稼諸果實滋味皆損減於其國土中眾生多疾病國中諸樹林先生甘美果由斯皆損減苦澁無滋味先有妙園林可愛遊戲處忽然皆枯悴見者生憂惱稻麥諸果實美味漸消亡食時心不喜何能長諸大眾生光色減勢力盡衰微食啗雖復多不能令飽足於其國界中所有眾生類少力無勇勢所作不堪能國人多疾患眾苦逼其身鬼魅遍流行隨處生羅

    (Kinh: Do yêu kính kẻ ác, và trừng phạt người lành, tinh tú và mưa, gió, đều vận hành trái thời. Có ba loại lỗi sanh, chánh pháp sẽ ẩn mất. Chúng sanh chẳng tươi sáng, chất màu đất lắng ch́m. Do kính ác, khinh thiện, lại có ba thứ lỗi: Sương, mưa đá trái thời, đói, bệnh dịch lan tràn, mùa màng, các quả hạt, hương vị đều tổn giảm. Ở trong quốc độ ấy, chúng sanh lắm tật bệnh. Các rừng cây trong nước, xưa sanh quả ngon ngọt, do vậy, đều tổn giảm, đắng, rít, không mùi vị. Vườn rừng đẹp trước kia, chỗ vui chơi đáng ưa, bỗng dưng đều khô héo, người thấy sanh ưu năo. Thóc lúa, các quả hạt, vị ngon dần tiêu mất. Ăn vào tâm chẳng vui, sao trưởng dưỡng các Đại? Chúng sanh quang sắc giảm, thế lực suy vi sạch. Dẫu ăn uống nhiều hơn, chẳng thể khiến no đủ. Ở trong cơi nước ấy, tất cả loài chúng sanh, sức kém, không oai thế, chẳng kham làm lụng được. Nhân dân lắm bệnh tật, các khổ bức bách thân, quỷ mị lan tràn khắp, La Sát mọi nơi sanh).

 

          Kế đó là có ác quả sanh ra. Trong ấy, chia thành năm đoạn:

          1) Bài tụng đầu tiên nói có ba sự chẳng [vận hành] đúng thời, một là tinh tú, hai là gió, ba là mưa.

          2) Bài tụng kế tiếp nói có ba thứ sai trái nổi lên: Một là chánh pháp ẩn mất, hai là hữu t́nh ủ dột, ba là đất giảm độ màu mỡ.

          3) Hai bài tụng kế đó nói, lại có ba điều ác sanh khởi: Một là sương tuôn xuống, mưa đá trái thời; hai là mùa màng tổn hại, thất bát, ba là chúng sanh bệnh hoạn.

          4) Ba bài tụng kế tiếp nói về sự suy vi nơi quả báo bên ngoài, gồm ba điều:

          a. Bài tụng thứ nhất nói các thứ trái cây không có mùi vị.

          b. Một bài tụng nói rừng cây đều khô tàn.

          c. Một bài tụng nói thực phẩm chẳng có tác dụng bồi bổ to lớn.

          5) Ba bài tụng kế tiếp nói quả báo bên trong cũng suy thoái, gồm bốn điều:

          a. Một bài tụng nói [dân chúng] h́nh sắc đói khát, c̣m cơi, ṃn mỏi, yếu ớt.

          b. Một bài tụng nói thân thể chẳng dũng mănh.

          c. Nửa bài tụng nói [nhân dân] bị bệnh khổ bức bách.

          d. Nửa bài tụng nói quỷ mỵ lưu hành.

 

          (Kinh) Nhược vương tác phi pháp, thân cận ư ác nhân, linh tam chủng thế gian, nhân tư thọ suy tổn.

          ()若王作非法親近於惡人令三種世間因斯受衰損

          (Kinh: Nếu vua làm phi pháp, thân cận với kẻ ác, khiến ba loại thế gian, do vậy bị suy tổn).

 

          Kế đó, phần thứ tư là kết lại các lầm lỗi. “Tam chủng thế gian” tức là tam giới. Do vua vâng theo chánh pháp, sẽ tăng ích trời, người. Do vua hành phi pháp, tam giới bị suy tổn. Hoặc [có thể hiểu] người, súc vật, các loại thóc lúa là “tam thế gian”. Người bị dịch bệnh, súc vật tổn giảm, các loại ngũ cốc chẳng chín rộ. Nói cặn kẽ th́ như trong phần trên đă biện định.

 

          (Kinh) Như thị vô biên quá, xuất tại ư quốc trung, giai do kiến ác nhân, khí xả bất trị tẫn. Do chư thiên gia hộ, đắc tác ư quốc vương, nhi bất dĩ chánh pháp, thủ hộ ư quốc giới. Nhược nhân tu thiện hạnh, đương đắc sanh thiên thượng, nhược tạo ác nghiệp giả, tử tất đọa tam đồ. Nhược vương kiến quốc nhân, túng kỳ tạo quá thất, Tam Thập Tam Thiên chúng, giai sanh nhiệt năo tâm. Bất thuận chư thiên giáo, cập dĩ phụ mẫu ngôn, thử thị phi pháp nhân, phi vương, phi hiếu tử.

          ()如是無邊過出在於國中皆由見惡人棄捨不治擯由諸天加護得作於國王而不以正法守護於國界若人修善行當得生天上若造惡業者死必墮三塗若王見國人縱其造過失三十三天眾皆生熱惱心不順諸天教及以父母言此是非法人非王非孝子

          (Kinh: Vô biên lỗi như thế, xuất hiện ở trong nước, đều do thấy kẻ ác, bỏ mặc, chẳng phạt đuổi! Do chư thiên gia hộ, được làm bậc quốc vương, nhưng chẳng dùng chánh pháp, để thủ hộ nước nhà. Nếu ai tu thiện hạnh, sẽ sanh lên cơi trời. Nếu tạo tác ác nghiệp, chết ắt đọa tam đồ. Nếu vua thấy dân chúng, mặc cho họ phạm sai trái, chúng trời Tam Thập Tam, đều sanh tâm bức bối. Do chẳng thuận thiên giáo, và lời cha mẹ dạy, kẻ phi pháp thế ấy, chẳng phải vua, con hiếu!)

 

          Năm bài tụng kế tiếp là đoạn lớn thứ hai nhằm kết lại chuyện trái nghịch chánh pháp. Có bốn ư:

          - Một bài tụng kết lại chuyện vua chẳng trừng phạt kẻ ác.

          - Một bài tụng kết lại chuyện chẳng tu thiện.

          - Một bài tụng kết lại quả báo thiện ác.

          - Hai ba tụng kết lại chuyện kẻ trái nghịch giáo pháp sẽ chẳng xứng là người.

 

          (Kinh) Nhược ư tự quốc trung, kiến hành phi pháp giả, như pháp đương trị phạt, bất ưng sanh xả khí. Thị cố chư thiên chúng, giai hộ tŕ thử vương, dĩ diệt chư ác pháp, năng tu thiện căn cố. Vương ư thử thế trung, tất chiêu ư hiện báo. Do ư thiện ác nghiệp, hành xả, khuyến chúng sanh, vị thị thiện ác báo, cố đắc tác nhân vương, chư thiên cộng hộ tŕ, nhất thiết hàm tùy hỷ.

          ()若於自國中見行非法者如法當治罰不應生捨棄是故諸天眾皆護持此王以滅諸惡法能修善根故王於此世中必招於現報由於善惡業行捨勸眾生為示善惡報故得作人王諸天共護持一切咸隨喜

    (Kinh: Nếu ở trong nước ḿnh, thấy kẻ hành phi pháp, theo đúng pháp trừng phạt, chớ nên bỏ mặc đó! V́ thế, các vị trời, đều hộ tŕ vua ấy. Do diệt các pháp ác, do tu căn lành vậy. Vua ở trong đời này, ắt chuốc vời hiện báo. Do v́ nghiệp thiện ác, hành xả, khuyên chúng sanh, chỉ dạy báo thiện ác, nên được làm quốc vương, chư thiên cùng hộ tŕ, hết thảy đều tùy hỷ).

 

          Mười bảy bài tụng rưỡi kế đó nói rơ: Do [nhà vua] nương theo chánh pháp mà phước đưa tới, chia thành hai phần:

          - Bốn bài tụng đầu nói rơ [vua] hành theo chánh pháp.

          - Mười ba bài tụng rưỡi sau đó, dựa theo ư đă nêu trên đây mà giải thích cặn kẽ.

          Trong phần “nêu ra” [vua hành theo chánh pháp], có hai đoạn:

          - Hai bài tụng đầu tiên nói về chuyện phạt ác. “Phạt ác” gồm hai ư:

          a) Bài tụng thứ nhất nói về chuyện trừng phạt kẻ ác.

          b) Bài tụng sau đó nói về chuyện được chư thiên thủ hộ.

          - Hai bài tụng sau đó nói về khuyến thiện. Khuyến thiện có hai ư:

          a) Bài tụng thứ nhất khuyên tu thiện.

          b) Bài tụng thứ hai nói sẽ đắc Bồ Đề.

 

          (Kinh) Do tự lợi, lợi tha, trị quốc dĩ chánh pháp, kiến hữu siểm nịnh giả, ưng đương như pháp trị. Giả sử thất vương vị, cập dĩ hại mạng duyên, chung bất hành ác pháp. Kiến ác nhi xả khí, hại trung cực trọng giả, vô quá thất quốc vị, giai nhân siểm nịnh nhân. Vị thử, đương trị phạt. Nhược hữu siểm cuống nhân, đương thất ư quốc vị. Do tư, tổn vương chánh, như tượng nhập hoa viên, thiên chúa giai sân hận. A Tô La diệc nhiên. Dĩ bỉ vi nhân vương, bất dĩ pháp trị quốc. Thị cố ưng như pháp, trị phạt ư ác nhân.

          ()由自利利他治國以正法見有諂佞者應當如法治假使失王位及以害命緣終不行惡法見惡而捨棄害中極重者無過失國位皆因諂佞人為此當治罰若友諂誑人當失於國位由斯損王政如象入華園天主皆瞋恨阿蘇羅亦然以彼為人王不以法治國是故應如法治罰於惡人

          (Kinh: Do tự lợi, lợi tha, trị quốc bằng chánh pháp, thấy có kẻ siểm nịnh, hăy nên đúng pháp phạt. Giả sử mất ngôi vua, cùng duyên gây hại mạng, trọn chẳng hành ác pháp! Thấy ác mà bỏ mặc, tai hại nặng nề nhất! Không lỗi mà mất ngôi, đều do kẻ siểm nịnh. V́ vậy, nên trừng phạt. Bạn cùng kẻ siểm dối, sẽ đánh mất ngôi vua. Do vậy, tổn quyền vua, như voi vào vườn hoa, chúa trời đều sân hận. A Tô La cũng thế. Do kẻ làm vua ấy, chẳng dùng pháp trị quốc. V́ thế, nên như pháp, trừng phạt các kẻ ác).

 

          Kế đó là giải thích rộng, gồm hai phần:

          - Năm bài tụng rưỡi đầu nhằm giải thích chuyện phạt ác.

          - Tám bài tụng rưỡi nhằm giải thích hành thiện.

          Phần giải thích đầu tiên (phạt ác) gồm hai ư:

          - Bài tụng đầu tiên, nêu rơ: Thấy ác, ắt phải trừng trị.

          - Bài tụng kế đó, [nói rơ ư] chớ nên bỏ qua.

          - Bài tụng kế đó nêu rơ nguyên do phải trừng phạt.

          - Bài tụng kế đó, nhắc lại nhằm kết luận phần trước, gồm ba câu là pháp thuyết, một câu là thí dụ.

          Hỏi: Hành ác có mấy loại? Có mấy loại trị phạt?

          Đáp: Chuẩn theo kinh Tát Giá Ni Càn Tử, quyển thứ tư chép: “Hành ác chúng sanh hữu ngũ: Nhất, ư vương vô ích, nhị giả, tạo tác vô lợi, tam giả khởi nghịch, tứ giả, khởi tà hạnh, ngũ giả, tà mạng. Ư vương vô ích, hữu thập nhất chủng: Nhất giả, phản nghịch. Nhị giả, giáo tha phản nghịch. Tam, dữ vương độc dược. Tứ, đoạt vương tư sanh. Ngũ, phá sở ưng tác. Lục, xâm đoạt vương thê. Thất, vi vương mạng. Bát, xuất vương mật ngữ. Cửu, siêm tư quốc độ. Thập giả, mạ vương. Thập nhất, hủy tư. Tạo tác vô lợi, phục hữu thập chủng: Nhất, điệt cộng tương sát. Nhị, điệt tương kiếp đoạt. Tam, điệt tương xâm thê. Tứ, hư cuống chứng tha. Ngũ, hư vọng cuống tha. Lục, hoại tha thân hữu. Thất, ác khẩu mạ tha. Bát, đẩu xứng khi cuống. Cửu, điệt tương hủy tư. Thập, điệt tương phần thiêu” (Chúng sanh làm ác có năm điều: Một, vô ích đối với vua. Hai, tạo tác chuyện không lợi ích. Ba là dấy lên chuyện phản nghịch. Bốn là dấy lên tà hạnh. Năm là tà mạng. Vô ích đối với vua có mười một loại: Một là phản nghịch. Hai là dạy kẻ khác phản nghịch. Ba là cho vua dùng thuốc độc. Bốn là đoạt vật dụng cần dùng cho sinh hoạt của vua. Năm là phá hoại chuyện đáng nên làm. Sáu là xâm đoạt vợ vua. Bảy, chống trái lệnh vua. Tám, tiết lộ lời bí mật của vua. Chín, ḍm ngó quốc độ. Mười, chửi vua. Mười một, chê gièm. Tạo tác chuyện chẳng lợi ích lại có mười thứ: Một, giết chóc lẫn nhau. Hai, cướp đoạt lẫn nhau. Ba, xâm phạm vợ của nhau. Bốn, làm chứng hư dối cho kẻ khác. Năm, hư vọng dối gạt người khác. Sáu, phá hoại bạn thân của người khác. Bảy, ác khẩu chửi người khác. Tám, cân đong lừa dối. Chín, gièm chê lẫn nhau. Mười, thiêu đốt nhau).

          “Phản nghịch chúng sanh” là những tiểu vương các thành ấp nơi biên địa, chủ xóm làng v.v… chẳng tuân theo mạng lệnh căn bản của đại vương. “Tà hạnh” là những kẻ không có giới, tức là hành các ác luật nghi, đồ tể, thợ săn, nuôi nấng lợn, dê, gà, chó, ngỗng, vịt, buông lung làm điều ác tổn hại người khác. “Tà mạng” là các thứ phi pháp để cầu các lợi dưỡng phi pháp để nuôi mạng, mỗi mỗi đều chẳng thể tự sống yên được!

          Trị phạt có ba loại:

          - Một, quở trách.

          - Hai, cướp đoạt vật dụng sinh hoạt.

          - Ba, lao ngục, đánh đập, trói buộc, chửi mắng, xua đuổi.

          Đối với năm loại chúng sanh [hành ác trên đây], tùy theo [tội ác đă phạm thuộc loại] thượng, trung, hạ mà sử dụng ba loại trị phạt. Đối với kẻ phản nghịch, vị vua vâng theo pháp để hành th́ sẽ trước hết dùng lời lẽ tốt lành để như pháp chỉ bảo. Nếu họ nghe lời vua, bỏ tâm đối nghịch, xin vua tha thứ các tội, vua ban đại ân dung thứ trọng tội, cho họ sống trong chỗ thuộc quyền thống lănh của vua, chẳng giảm, chẳng đoạt [tài sản của họ], chẳng trục xuất. V́ sao vậy? V́ để cho họ biết có ba thứ sự: Một là hữu tín, hai là hữu ân, ba là đại lực. Khiến cho kẻ chưa hàng phục sẽ hàng phục, kẻ đă hàng phục sẽ chẳng đổi dạ, kẻ muốn phản nghịch sẽ chẳng dám khởi tâm. Kẻ có tội được miễn tội ấy, khôi phục vương vị, nhân dân an ổn. Vị vua ấy sẽ được như đấng pháp vương, đạt được phước vô lượng, tiếng tốt lan rộng. Nếu kẻ đó nghe vua dạy bảo mà chẳng nhận tội, hăy nên trừng trị nặng. Ngoại trừ chẳng đoạn mạng, chẳng hoại các căn, [vua có thể cân nhắc mà] tận lực đoạt sạch tài sản, quốc độ, nhân dân của kẻ đó, xua đuổi sang xứ khác. V́ sao vậy? Để các chúng sanh khác [thấy kẻ đó bị trừng phạt như thế], sẽ chẳng dấy ḷng phản nghịch. Đó là vị vua hành theo chánh pháp trị tội các chúng sanh phản nghịch.

          Đối với chúng sanh tà hạnh, chỉ nên trách phạt: “Ngươi c̣n làm nữa, ta sẽ giáng tội nặng”. Đối với chúng sanh tà mạng, hăy nên tùy thuận. [Nếu kẻ phạm tội thuộc tăng đoàn], Tăng chúng [hành xử] như pháp, hăy nên ḥa hợp, kêu gọi [kẻ phạm tội] đối trước tăng chúng hiện tiền, để người ấy tự thưa [lầm lỗi], tùy theo tội nặng hay nhẹ mà sẽ trị phạt đúng như pháp. Đối với kẻ kháng cự, chống trái tăng mạng, chẳng nghe lời thầy, bạn, thiện tri thức, năo loạn chúng tăng, chẳng thể tu đạo; nếu quốc vương là pháp vương, tăng chúng hăy nên đến tâu với vua để vua hạ lệnh. Nhà vua nên truyền gọi gă tỳ-kheo phá giới ấy, dùng lời tốt lành khuyên dụ, khiến cho hắn tuân theo mạng lệnh của tăng chúng. Nếu hắn vẫn chẳng nghe theo, hăy nên nhóm hai chúng hiện tiền biện định tội trạng là có thật hay không. Nếu hắn bị kết tội, hăy giúp cho tăng chúng như pháp trị phạt gă tỳ-kheo ấy. Chẳng được đoạn mạng, cho đến chẳng được tước đoạt vật dụng sinh sống của hắn, nhưng được phép quở trách, được phép trục xuất. Nếu đại vương thấy đó là sự tranh chấp, kiện tụng giữa hai phe đảng, hăy nên đúng pháp đoạn dứt chuyện tranh chấp. Nếu vua không biết, hăy nên hỏi bậc đại đức sa-môn trong nước [là những vị] biết pháp, biết nghĩa, có trí và bi to lớn, hành theo chánh pháp ḥng lợi ích chúng sanh, được tiếng là “bậc nói đúng như pháp đoạn dứt tranh chấp, yêu cầu họ xét theo chánh pháp để biết kẻ đó có phạm tội hay không? Đă biết như thế rồi, sẽ theo đúng pháp mà trừ diệt!

          Hỏi: Theo kinh Tát Giá Ni Càn Tử, quyển thứ năm dạy: “Hành pháp hạnh vương, hành bát chủng tâm, năng hộ chúng sanh. Nhất giả, niệm chư chúng sanh như niệm tử tưởng. Nhị giả, niệm ư ác hạnh chúng sanh như bệnh tử tưởng. Tam giả, niệm thọ khổ chúng sanh, sanh đại từ tâm. Tứ giả, niệm thọ thắng lạc chúng sanh, sanh hoan hỷ tâm. Ngũ giả, niệm ư oán gia chúng sanh, sanh hộ quá tưởng. Lục giả, năng ư thân hữu chúng sanh, sanh phú hộ tưởng. Thất giả, năng ư tư sanh chi trung, sanh như dược tưởng. Bát giả, năng ư tự thân, sanh vô ngă tưởng” (Vị vua hành theo pháp hạnh, sẽ hành tám loại tâm có thể thủ hộ chúng sanh: Một, nghĩ đến chúng sanh, tưởng như nghĩ đến con ḿnh. Hai là nghĩ đến chúng sanh ác hạnh, tưởng như đứa con đang bị bệnh. Ba là nghĩ tới chúng sanh đang chịu khổ, sanh tâm đại từ. Bốn là nghĩ tới chúng sanh đang hưởng vui thù thắng, sanh tâm hoan hỷ. Năm là nghĩ tới chúng sanh oán gia, sanh ư tưởng ngăn ngừa tội lỗi. Sáu là đối với chúng sanh thân hữu, sanh ư tưởng che chở, bảo vệ. Bảy là đối với các vật dụng sinh hoạt, sanh ư tưởng coi như thuốc. Tám là đối với bản thân, sanh ư tưởng vô ngă). Đă có đủ tám điều ấy th́ gọi là “pháp hạnh vương”, sao c̣n có thể làm chuyện giam cầm, đánh đập, trói buộc, xua đuổi v.v… ư?

          Đáp: Đối với các hữu t́nh phi pháp ác hạnh, do nghĩ thương xót, muốn khiến cho họ hối cải, bèn phương tiện trị phạt, cho nên chẳng mâu thuẫn! Do vậy, quyển ba trong kinh ấy có nói: “Thí như phụ mẫu ư ác hạnh tử, vị niệm tử cố, dục linh cải hối, phương tiện khổ trị, trừ bất đoạn mạng, bất hoại chư căn, dư đả mạ đẳng tùng tâm khổ trị, bất danh xả tâm, bất danh ác tâm, dĩ niệm tử trọng, vị linh cải hối, bất cánh phục tác, nhi bỉ phụ mẫu bất danh phi pháp, bất thất từ tâm. Hành pháp hạnh vương diệc phục như thị, vị linh xả ác tùng thiện, linh kỳ dư ác chúng sanh bất tác phi pháp, phi thường ác tâm xả thử chúng sanh, diệc bất cố tâm vi năo chúng sanh nhi hành năo thiết. Dĩ từ tâm hành ác khẩu đẳng trị phạt chúng sanh, bất danh phi pháp, bất thất từ tâm” (Ví như cha mẹ đối với đứa con làm ác, v́ nghĩ tới con, muốn cho nó cải hối, bèn phương tiện trừng phạt nặng nề, ngoại trừ chẳng hại mạng, tổn hoại các căn của nó, những chuyện khác như đánh, chửi v.v… đều do tâm [thương xót mà] trừng phạt nặng nề, chẳng gọi là tâm buông bỏ, chẳng gọi là ác tâm. Do đau đáu nghĩ tới con, muốn cho nó cải hối, chẳng c̣n làm quấy nữa, nên cha mẹ chẳng gọi là phi pháp, chẳng đánh mất tâm từ. Vị vua hành theo pháp hạnh cũng giống như thế, v́ khiến cho [chúng sanh hành ác] bỏ ác theo thiện, khiến cho các chúng sanh ác khác chẳng làm chuyện phi pháp, chẳng phải là do thường có ác tâm, ĺa bỏ các chúng sanh ấy, cũng chẳng cố ư v́ năo hại chúng sanh mà làm chuyện khổ năo. Do tâm từ bi mà làm các chuyện như ác khẩu v.v… để trị phạt chúng sanh, chẳng gọi là phi pháp, chẳng đánh mất tâm từ).

          Kinh ấy cũng nói: “Tri vi chánh giả, khí nhất ác nhân dĩ thành nhất gia, khí nhất ác gia dĩ thành nhất hương. Bất tri chánh giả, nhân vật thất sở, sử thiên hạ oán tụng” (Người biết cách cai trị th́ vứt b một kẻ ác để thành toàn cho một nhà, vứt bỏ một nhà ác để thành toàn cho một làng. Kẻ chẳng biết cai trị, người lẫn vật không thể sống yên vui, khiến cho thiên hạ oán thán).

          Hỏi: Vị vua hành theo pháp hạnh đă có ḷng từ bi, dùng các tâm ǵ để đối trị kẻ làm ác? Đáp: Chuẩn theo kinh Tát Già Ni Càn Từ quyển thứ ba dạy: “Tiên khởi từ tâm, trí huệ quán sát, tư duy ngũ pháp, nhiên hậu đương trị. Nhất, y thật, phi bất thật. Nhị, y thời, phi bất thời. Tam, y nghĩa, phi vô nghĩa. Tứ, y nhu ngữ, phi thô quánh. Ngũ, y từ tâm, phi sân tâm, vị y pháp cật vấn thủ tự ngôn, y thật quá trị. Vương hữu lực thời, ưng trị kỳ tội. Vô lực bất trị. Tùng ác tâm tác, đương như pháp trị, phi thử bất trị. Ưng tri kỳ quá, chánh thuyết bất ẩn, thiện thuyết khổ ngôn, như thị ha trách, phi bất ha trách, thị danh nhu ngữ. Phi đản ha trách, đoạn kỳ tội quá, trừ khước đoạn mạng đoạn mạng, cát tiệt chi thể, y từ bi tâm, hệ bế, đả phược, ha trách, đoạt tài, khu tẫn tha phương, vị linh cải hối, phi ác tâm xả” (Trước hết, hăy dấy tâm từ, dùng trí huệ quan sát, suy nghĩ năm pháp, sau đấy sẽ trị phạt. Một là dựa theo sự thật, chẳng dựa theo chuyện chẳng thật. Hai, dựa theo thời, chẳng xét theo trái thời. Ba, dựa theo nghĩa, chẳng dựa theo vô nghĩa. Bốn, nói năng mềm mỏng, chẳng nói thô tháp, hung tợn. Năm, nương theo từ tâm, chẳng theo sân tâm. Tức là theo đúng pháp gạn hỏi, để kẻ đó tự nói, dựa theo lỗi thật mà trị phạt. Khi vua có sức th́ hăy nên trị tội ấy, không có sức th́ chẳng trị. Kẻ do ác tâm mà làm, hăy nên theo đúng pháp mà trừng trị. Chẳng phải vậy th́ không trừng trị. Hăy nên biết tội lỗi ấy, nói năng chánh đáng, chẳng giấu diếm, khéo nói lời nặng nề. Quở trách như thế, chẳng phải là không quở trách, đó gọi là “nói mềm mỏng”. Chẳng phải chỉ quở trách, mà c̣n chấm dứt tội lỗi ấy. Ngoại trừ đoạn mạng, cắt chặt chi thể, nương theo tâm từ mà trói buộc, giam cầm, đánh đập, quở trách, tước đoạt tài sản, xua đuổi sang xứ khác, nhằm khiến cho kẻ đó cải hối, chẳng phải là do ác tâm mà vứt bỏ).

          Hỏi: Vị vua hành theo pháp hạnh đă là vô nhiễm từ tâm trị phạt kẻ ác, sao không đoạn mạng, cắt chặt các căn?

          Đáp: Kinh ấy nói: “Dĩ vô nhiễm tâm, vô ác tâm cố, bất năng đắc khởi như thị tâm niệm đoạn mạng, tiệt căn. Ưng quán chúng sanh chí ư tử thời, tự nghiệp quá sanh, sân hận tâm tử, dĩ đoạn mạng, sanh ác đạo trung, ác tâm tùy trục trường dạ bất đoạn. Thị cố, bất ưng đoạn mạng, tiệt căn. Đoạn mạng tiệt căn nhất tác dĩ hậu, bất khả cứu cố. Hệ bế mạ đẳng phi vĩnh khí cố. Thị cố, Phật thính” (Do tâm vô nhiễm, chẳng có ác tâm, chớ nên khởi lên tâm niệm đoạn mạng, cắt chặt các căn như thế. Hăy nên quán chúng sanh tới khi chết, do nghiệp của chính ḿnh mà phải mất mạng, ôm tâm sân hận mà chết. Đă đoạn mạng, sanh trong đường ác, ác tâm theo đuổi trong đêm dài chẳng ngừng. V́ thế, chớ nên đoạn mạng, chẳng cắt căn thân. Do hễ đă thực hiện, sẽ chẳng thể cứu được. Trói buộc, giam cầm, chửi mắng v.v… chẳng phải là vĩnh viễn vứt bỏ. Do vậy, đức Phật cho phép).

          Kinh ấy lại c̣n nêu câu hỏi rằng: “Sở hữu thần tá, tể quan, cấm ty, bất lự quốc kế, đản cầu lợi kỷ, hoặc phục tư phẫn dĩ hại công chánh, hoặc vân thọ hóa cầu, dĩ uổng trị chi, tăng trưởng bách tánh điệt tương khi loạn, dĩ cường lăng nhược, dĩ quư lăng tiện, dĩ phú khi bần, dĩ khúc uổng trực, phú giả hoạch giáp, bần giả thọ khuất, siểm nịnh chưởng chánh, trung hiền ẩn thoái. Hoặc thời tại triều, cụ tội tự mặc, hoặc hành tài hóa dĩ dụng an kỷ, bách tánh bần khổ, bất kham sung tế, yếm khổ tư loạn, bất văn vương mạng. Tư do thần lại bất hành trung tiết, khi thượng loạn hạ, mạo thọ vương lộc. Như thị chi nhân nhiếp tại hà đẳng chúng sanh số trung? Đáp ngôn: - Đại vương! Nhiếp tại kiếp đoạt chúng sanh số trung, thượng phẩm trị phạt. Hà dĩ cố? Dĩ kỳ thọ vương danh quan trọng lộc, xả công, niệm tư, bất tồn công chánh, họa loạn chi sanh mạc bất do chi! Thử thị quốc chi tối đại ác tặc. Vương thị pháp vương, bất đắc đoạn mạng. Thị cố, nhiếp tại kiếp đoạt số trung, thượng phẩm trị phạt” (Tất cả quan lại phù tá, tể quan, quan chức, chẳng nghĩ tới quốc sách, chỉ cầu lợi lộc cho chính ḿnh, hoặc do ḷng giận dữ riêng tư mà gây hại cho lẽ công chánh, hoặc lại do ăn của đút lót mà trị phạt oan uổng, khiến cho dân chúng tăng trưởng lừa lọc, gây loạn lẫn nhau, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ sang hiếp hèn, cậy giàu ép nghèo, dùng thói cong vạy khiến cho người thẳng thắn bị oan uổng, bao che kẻ giàu, khiến người nghèo chịu oan khuất, kẻ siểm nịnh nắm quyền cai trị, bậc trung hiền ẩn ḿnh, lui về. Hoặc có lúc họ vẫn ở trong triều đ́nh, nhưng sợ tội nên lặng câm, hoặc đút lót để được an thân. Dân chúng nghèo khổ, chẳng kham giúp cho họ no đủ. Sợ khổ, suy nghĩ lung tung, chẳng nghe theo lệnh vua. Đó đều là do bọn bầy tôi chẳng giữ ḷng trung và khí tiết, dối trên, loạn dưới, hưởng xằng lộc vua. Người như thế thuộc vào hạng chúng sanh nào vậy? Đáp rằng: - Đại vương! Thuộc vào hạng người cướp đoạt chúng sanh, trị phạt nặng nhất. V́ sao vậy? Do đă nhận quan cao lộc hậu từ vua, nhưng bỏ lẽ công, chuyên lo riêng tư, chẳng giữ ḷng công chánh, họa loạn sanh khởi, không ǵ chẳng do lẽ đó! Đó là ác tặc lớn nhất của đất nước. Vua là pháp vương, chẳng thể đoạn mạng. Do vậy, xếp chúng nó vào hạng cướp đoạt, trị phạt nặng nề nhất!) Nói cặn kẽ th́ có nhiều môn, như trong kinh Tát Giá Ni Càn Tử đă nói đầy đủ!

 

          (Kinh) Dĩ thiện hóa chúng sanh, bất thuận ư phi pháp, ninh xả ư thân mạng, bất tùy phi pháp hữu. Ư thân cập phi thân, b́nh đẳng quán nhất thiết.

          ()以善化眾生不順於非法寧捨於身命不隨非法友於親及非親平等觀一切

          (Kinh: Dùng thiện độ chúng sanh, chẳng thuận theo phi pháp, thà vứt bỏ thân mạng, chẳng theo bạn phi pháp. Đối người thân, kẻ sơ, xem hết thảy b́nh đẳng).

 

          Tám bài tụng kế đó giải thích về hành thiện, có hai phần:

          - Một bài tụng rưỡi giải thích hành thiện.

          - Sáu bài tụng rưỡi nói về lợi ích đạt được [do hành thiện].

          Trong phần thứ nhất, lại có ba ư:

          - Nửa đầu bài tụng nói về người giáo hóa, chẳng hành theo phi pháp.

          - Nửa bài tụng tiếp theo nói [người như thế] chẳng thuận theo bạn bè phi pháp.

          - Nửa bài tụng sau đó nói về chuyện thưởng phạt, [luôn đối xử b́nh đẳng], chẳng phân biệt là thân hay sơ.

 

          (Kinh) Nhược vi chánh pháp vương, quốc nội vô thiên đảng, pháp vương hữu danh xưng, phổ văn tam giới trung. Tam Thập Tam Thiên chúng, hoan hỷ tác thị ngôn: “Thiệm Bộ châu pháp vương, bỉ tức thị ngă tử. Dĩ thiện hóa chúng sanh, chánh pháp trị ư quốc. Khuyến hành ư chánh pháp, đương linh sanh ngă cung. Thiên cập chư thiên tử, cập dĩ Tô La chúng, nhân vương chánh pháp hóa, thường đắc tâm hoan hỷ. Thiên chúng giai hoan hỷ, cộng hộ ư nhân vương. Chúng tinh y vị hành, nhật nguyệt vô quai độ, ḥa phong thường ứng tiết, cam vũ thuận thời hành. Miêu thật giai thành thiện, nhân vô cơ cẩn giả. Nhất thiết chư thiên chúng, sung măn ư tự cung.

          ()若為正法王內無偏法王有名稱普聞三界中三十三天眾歡喜作是言贍部洲法王彼即是我子以善化眾生正法治於國勸行於正法當令生我宮天及諸天子及以蘇羅眾因王正法化常得心歡喜天眾皆歡喜共護於人王眾星依位行日月無乖度和風常應節甘雨順時行苗實皆成善人無饑饉者一切諸天眾充滿於自宮

          (Kinh: Nếu làm vua chánh pháp, trong nước không phe đảng. Pháp vương có tiếng tăm, vang dội khắp tam giới. Tam Thập Tam thiên chúng, hoan hỷ nói thế này: “Pháp vương châu Thiệm Bộ, chính là con của ta. Dùng thiện dạy chúng sanh, trị quốc bằng chánh pháp. Khuyên thực hành chánh pháp, sẽ sanh vào cung ta”. Thiên và các thiên tử, cùng các A Tô La, do vua chánh pháp hóa, tâm thường được hoan hỷ. Thiên chúng đều hoan hỷ, cùng thủ hộ nhân vương. Các sao xoay đúng phương, nhật nguyệt chẳng sai đường, gió lành thổi đúng thời, mưa ngọt tuôn đúng tiết. Thóc lúa đều chín rộ, dân chẳng bị đói kém. Hết thảy các chúng trời, sung măn trong cung họ).

 

          Kế đó, giải thích về lợi ích đạt được, gồm năm phần:

          1) Bài tụng đầu tiên nói về lợi ích thanh danh vang dội [do vua hành theo chánh pháp].

          2) Bài tụng kế tiếp nói về lợi ích được làm con của chư thiên.

          3) Bài tụng kế tiếp nói về lợi ích được sanh lên trời.

          4) Bài tụng rưỡi kế tiếp nói về lợi ích do được chư thiên hoan hỷ, thủ hộ.

          5) Hai bài tụng kế tiếp nói về lợi ích hộ quốc. Trong ấy, lại có bốn ư:

          a) Nửa bài tụng nói về lợi ích tinh tú vận hành đúng theo quỹ đạo.

          b) Nửa bài tụng nói về lợi ích mưa ḥa, gió thuận.

          c) Nửa bài tụng nói về lợi ích nhân dân giàu vui.

          d) Nửa bài tụng nói về lợi ích có thể gia hộ chư thiên, tức là do có thể làm cho thiên chúng thường sung măn.

          Hỏi: Vua có thể làm việc thiện th́ được chư thiên thủ hộ, cớ sao có lợi ích “có thể thủ hộ chư thiên”?

          Đáp: Vua hành theo chánh pháp, khiến cho Phật pháp được lưu truyền rộng răi, quốc thái dân an, thường dạy họ tu thiện. V́ thế, nhiều người sanh thiên. Lại c̣n hoằng dương Phật pháp, chư thiên nghe pháp đạt được lợi ích. V́ thế, kinh Tát Giá Ni Càn Tử nói: “Hành pháp hạnh vương vô lượng thiên hộ, vân hà hộ thiên? Do pháp hạnh vương năng dữ chư thiên chánh pháp tịnh thực, sở vị vị thuyết Như Lai chánh giáo cam lộ pháp môn, Thiền Định, giải thoát, thập thiện đạo đẳng, linh kỳ đắc ly chư ác đạo khổ, dĩ thị vi hộ” (Vua hành theo pháp hạnh sẽ được vô lượng thiên chúng thủ hộ, thủ hộ chư thiên như thế nào? Do pháp hạnh vương có thể ban cho chư thiên thức ăn thanh tịnh là chánh pháp, tức là v́ họ nói pháp môn cam lộ chánh giáo của Như Lai, Thiền Định, giải thoát, thập thiện đạo v.v… khiến cho họ được ĺa nỗi khổ trong các đường ác, coi đó là thủ hộ). V́ thế, pháp vương hành theo pháp hạnh th́ thân có thể nhóm họp vô lượng công đức để giúp ích cho hiện tại. Trong vị lai, lại có thể nhóm họp các thiện quả. Phần sau kinh này cũng nói: “Thị cố nhữ nhân vương, vong thân hoằng chánh pháp, ưng tôn trọng pháp bảo, do tư chúng an lạc” (V́ thế, các quốc vương, vong thân hoằng chánh pháp, nên tôn trọng pháp bảo. Do vậy, dân an lạc). Phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc cũng nói cặn kẽ chuyện này.

 

5.20.4.2.2.2.2.3.3. Khuyên lơn khích lệ [thính chúng] hăy học theo

 

          (Kinh) Thị cố, nhữ nhân vương, vong thân hoằng chánh pháp, ưng tôn trọng pháp bảo, do tư chúng an lạc. Thường đương thân chánh pháp, công đức tự trang nghiêm, quyến thuộc thường hoan hỷ, năng viễn ly chư ác. Dĩ pháp hóa chúng sanh, hằng linh đắc an ổn, linh bỉ nhất thiết nhân, tu hành ư Thập Thiện, suất độ thường phong lạc, quốc độ đắc an ninh. Vương dĩ pháp hóa nhân, thiện điều ư ác hạnh, đương đắc hảo danh xưng, an lạc chư chúng sanh.

          ()是故汝人王忘身弘正法應尊重法寶由斯眾安樂常當親正法功德自莊嚴眷屬常歡喜能遠離諸惡以法化眾生恒令得安隱令彼一切人修行於十善率土常豐樂國土得安寧王以法化人善調於惡行當得好名稱安樂諸眾生

          (Kinh: V́ thế, quốc vương ơi! Quên thân hoằng chánh pháp, nên tôn trọng pháp bảo, do vậy, chúng an lạc. Thường thân cận chánh pháp, công đức tự trang nghiêm, quyến thuộc thường hoan hỷ, hay xa ĺa các ác. Dùng pháp hóa chúng sanh, khiến luôn được an ổn, khiến hết thảy mọi người, đều tu hành Thập Thiện. Khắp cơi thường giàu vui, quốc độ được an ninh. Vua dùng pháp giáo hóa, khéo điều phục ác hạnh, sẽ được danh tiếng tốt, an lạc các chúng sanh).

 

          Tán rằng: Kinh văn nói về chánh pháp có ba phần, trên đây là phần thứ hai nói cặn kẽ về chánh luận. Phần thứ ba là “khuyên lơn, khích lệ nương theo đó tu học”, chia thành ba ư:

          1) Bài tụng thứ nhất khuyên hoằng pháp để lợi lạc người khác.

2)    Nửa bài tụng kế đó, khuyên thân cận pháp để tự lợi ích.

          3) Ba bài tụng sau đó nói về lợi ích, gồm bốn điều:

          a) Nửa đầu bài tụng nói về quyến thuộc ĺa sai trái.

          b) Nửa bài tụng kế đó là chúng sanh thân thể vui sướng.

          c) Bài tụng kế đó, nói đến lợi ích nước giàu có, dân an vui.

          d) Bài tụng kế đó, là quốc vương được danh tiếng tốt.

 

5.20.4.3. Đại chúng hoan hỷ phụng hành

 

          (Kinh) Nhĩ thời, đại địa nhất thiết nhân vương, cập chư đại chúng, văn Phật thuyết thử cổ tích nhân vương trị quốc yếu pháp, đắc vị tằng hữu, giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

          ()爾時大地一切人王及諸大眾聞佛說此古昔人王治國要法得未曾有皆大歡喜信受奉行

          (Kinh: Lúc bấy giờ, hết thảy vua loài người và các đại chúng trong đại địa nghe đức Phật nói pháp trọng yếu để trị quốc của bậc quốc vương xa xưa, đều đạt được điều chưa từng có, đều hết sức hoan hỷ, tin nhận, vâng làm theo).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ ba là đại chúng hoan hỷ hành theo.

 

          Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ quyển thứ tám hết



[1] Đối Pháp chính là dịch nghĩa của từ ngữ A Tỳ Đạt Ma, hàm nghĩa dùng trí huệ thuộc thánh đạo vô lậu để đối chiếu, quán sát lư Tứ Đế, đối ứng lư ấy với cái quả Niết Bàn. Hiểu theo nghĩa rộng, toàn thể Luận Tạng đều có thể gọi là Đối Pháp.

[2] Trong bộ Tâm Yếu, tổ Ngẫu Ích đă giảng như sau: “Tướng tuy có ba thứ khác biệt, nhưng đều gọi là Pháp Thân, tức tuy một mà là ba, chẳng ngang, chẳng dọc, chẳng cùng chỗ, chẳng tách biệt. Nói tách ra th́ Pháp Thân là nghĩa Y, Báo Thân và Ứng Thân là nghĩa Thể. Ba tướng được gọi chung là Pháp Thân, đó là nghĩa Tụ. Nói gộp chung lại th́ mỗi mỗi đều có các ư nghĩa Thể, Y và Tụ”.

[3]-ma (Soma) là một thứ thức uống đă có từ thời cổ tại Ấn Độ, và đă được nhắc tới trong Rig Veda. Thức uống này được trích từ chất ép từ một loại cây, cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn tranh căi cụ thể là loài cây nào. Thậm chí cổ thư Ấn Độ cho rằng uống Soma vào sẽ bất tử, và cho đó là loại thức uống của chư thiên hay thần tiên. Đối với Soma được dùng hiện thời trong các nghi lễ của Ấn Độ giáo, họ dùng chất nhựa từ cây Somalatha (tên tiếng Anh là Soma creeper, tên khoa học là Sarcostemma Acidum). Các nhà nghiên cứu thiên về khuynh hướng cho rằng Soma là sự pha trộn của mật ong, một số loại nấm, và các dược thảo gây ảo giác khác.

[4] Theo pháp sư Nhật Thường trong loạt bài giảng “Thành Phật tất kinh chi lộ” (Con đường ắt phải trải qua để thành Phật) giảng tại chùa Viên Minh (Đài Loan) vào ngày 27 tháng 6 năm 1993 th́ “tăng thượng sanh” có nghĩa là mỗi đời sau đều phải tốt đẹp hơn đời trước. Hiểu rộng hơn là mỗi ngày phải tốt đẹp hơn.

[5] Đây là bộ luận do Di Lặc Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán. Trong bộ luận này, Di Lặc Bồ Tát trần thuật câu chuyện đức Phật đă v́ quốc vương tên Xuất Ái mà giảng dạy chánh đạo, chánh lư của kẻ làm vua. Luận dạy rất chi tiết như chín loại sai trái của nhà vua, chín thứ công đức, năm thứ suy tổn, năm thứ phương tiện, năm loại pháp đáng quở trách v.v… Phần này tương ứng với quyển sáu mươi mốt của Du Già Sư Địa Luận.