Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ tám
Đời Đường, Tam Tạng pháp sư
Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ
金光明最勝王經疏
卷第八
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Phần 13
5.16. Phẩm thứ
mười sáu: Đại Cát Tường Thiên Nữ (Đại
Cát Tường Thiên Nữ phẩm đệ thập lục,
大吉祥天女品第十六)
Phẩm
Đại Cát Tường Thiên Nữ gồm ba môn phân biệt:
- Một,
ư nghĩa v́ sao có phẩm này?
-
Hai, giải thích tên gọi của phẩm này.
-
Ba, giải trừ vấn nạn.
5.16.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Nói
tới ư nghĩa “v́ sao có phẩm này” th́ phần Tu Hành
Lưu Thông có năm tiểu loại, đây là phần “ban
cho y phục và tài vật” trong tiểu loại thứ
hai, tức “dạy tu phước trí”. Nếu chẳng
có phước lợi, sợ [hành nhân] sẽ mong cầu bên
ngoài, trở ngại việc hoằng kinh. V́ thế, dạy
[hành nhân] khi nương theo kinh này tu học, sẽ tự
đạt được y phục. Đă không phải lo
toan mong cầu từ bên ngoài, lại c̣n tu phước trí
ḥng thành tựu hạnh thù thắng ấy. V́ vậy, có phẩm
này sanh khởi.
5.16.2. Giải thích tên gọi
của phẩm này
Giải
thích danh xưng của phẩm này,
tiếng Phạn là Ma Ha (phương này dịch là Đại),
Thất Lợi (Śrī, phương
này dịch là Cát Tường), Đề Bà Tỷ (Devi) là
Thiên Nữ. Gọi gộp chung là Đại Cát Tường
thiên nữ. Phẩm này nói về chuyện của Cát Tường
thiên nữ; do vậy, dùng danh hiệu của Ngài để
đặt tên phẩm.
5.16.3. Giải trừ vấn
nạn
* Phẩm
trước là tăng thêm biện tài [cho hành nhân], phẩm
sau nhằm tăng thêm thức ăn, đều chẳng
nên tách thành phẩm riêng. Phẩm này [nhằm dạy cách
tăng thêm] y phục, có ǵ khác biệt mà tách ra?
Đáp:
So sánh với phẩm trước và phẩm sau th́ chẳng
nên tách riêng ra, nhưng do có chi tiết hay đại lược
khác nhau, cho nên có sự tách ra hay gộp vào khác biệt! Phẩm
trước nói đại lược về chuyện
tăng thêm biện tài. Do kinh văn ít, chẳng thể tách
riêng ra, cho nên nói gộp chung với phần kinh văn dạy
cách cầu biện tài. Phẩm sau [th́
nói] do hoằng kinh mà [Kiên Lao địa
thần] tăng thêm chất dinh dưỡng nơi đất
đai, chẳng nói tới chuyện [hành nhân] phải cầu
rồi [địa thần] mới gia bị; cho nên cũng
chẳng tách biệt. Phẩm này nói chuyện [thiên nữ
gia bị] tăng thêm y phục [cho hành nhân], trước hết
nói về chuyện tăng thêm y phục, [sau đó nói tới chuyện
tăng thêm tài vật], do kinh văn đă dài, rộng, cho
nên tách làm hai phẩm.
* Hỏi:
Đều là tạo lợi ích hoằng kinh, cớ sao đối
với biện tài và y phục, mỗi đằng đều
phải đợi thỉnh rồi mới tăng thêm? C̣n
phẩm sau là tăng trưởng sự màu mỡ của
đất đai, chẳng đợi cầu mà liền
được?
Đáp:
Giáo hóa có vạn cách, lư chẳng nhất loạt như nhau.
Lại nữa, tăng thêm biện tài và y phục th́ khó
khăn, phải đợi cầu mới đạt
được. Tăng trưởng sự màu mỡ của
đất đai th́ dễ, cho nên chẳng đợi cầu!
Địa thần tự làm chủ cơi đất, cho nên
tăng thêm dễ dàng.
* Hỏi:
Người tŕ kinh tự phải nên cúng dường tất
cả tứ sự, cớ sao đă cầu rồi mới
tăng thêm tài vật?
Đáp:
Trước đó, do đă tŕ kinh, sẽ tự đạt
được tứ sự; do muốn thành tựu phước
hạnh, cho nên lại dạy hành nhân thỉnh cầu. Lại
nữa, do người tự chuyên hoằng kinh sẽ chẳng
cầu tứ sự. V́ khiến cho người cầu tứ
sự sẽ tu tập kinh, bèn đợi [kẻ ấy]
vâng theo kinh tu học để cầu rồi mới ban
cho.
* Hỏi:
Cô Cát Tường này thuộc về đường trời,
hay là thuộc đường quỷ?
Đáp:
Chân Đế Tam Tạng nói: “Vị này là Sơ Địa
Bồ Tát, đáng làm thụ thần vương (vua của
các thần cây), thống lănh các thần đến nơi
đâu cũng
đều ban cho họ sự vui sướng thù thắng.
Sự vui sướng thù thắng chính là cái quả của
công đức; v́ thế, tên là Công Đức Thiên. Ngoại
quốc cũng gọi thần là Thiên vậy”. Chuẩn
theo lời giải thích ấy, vị này chính là vua của
các thần cây, nên thuộc loài quỷ. Nay tôi giải thích rằng:
Theo kinh này, chỉ nói Ngài là thiên nữ, chẳng nói là thần.
Như [Kiên Lao] Địa
Thần trong phần
sau được gọi là thần. Nếu có chỗ nói cô
ta là “thụ
thần vương” th́ giống
như Tứ Thiên Vương c̣n được gọi là Tứ
Thiên Thần Vương, do họ thống lănh các thần,
nên gọi là Thần Vương, chứ họ chẳng thuộc
vào đường quỷ. Thiên Nữ cũng thế, thuộc
về thiên chúng.
5.16.4. Giải thích kinh
văn
5.16.4.1. Thấy người
hoằng kinh sẽ có thể cúng dường tứ sự
5.16.4.1.1. Ban cho lợi
ích thế gian
5.16.4.1.1.1. Ban cho lợi
ích trong hiện tại
(Kinh) Nhĩ thời, Đại
Cát Tường thiên nữ tức tùng ṭa khởi, tiền lễ
Phật túc, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Ngă nhược kiến hữu bật-sô, bật-sô-ni,
ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, thọ tŕ, độc tụng,
vị nhân giải thuyết thị Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh giả, ngă đương chuyên tâm cung kính cúng
dường thử
đẳng pháp sư, sở vị ẩm thực, y phục,
ngọa cụ, y dược, cập dư nhất thiết
sở tu tư cụ, giai linh viên măn, vô hữu phạp thiểu.
(經)爾時大吉祥天女即從座起,前禮佛足,合掌恭敬白佛言:世尊!我若見有苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦,受持讀誦、為人解說是金光明最勝王經者,我當專心恭敬供養此等法師,所謂飲食、衣服、臥具、醫藥,及餘一切所須資具,皆令圓滿無有乏少。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Đại Cát Tường thiên nữ liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, lễ dưới chân
đức Phật, cung kính bạch với đức Phật
rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu con thấy có bật-sô,
bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca thọ tŕ,
đọc tụng, v́ người khác giải nói kinh Kim
Quang Minh Tối Thắng Vương này, con sẽ chuyên tâm
cung kính cúng dường các vị pháp sư ấy, tức
là thức ăn, y phục, đồ trải nằm, thuốc
men, và hết thảy các vật dụng sinh hoạt cần
thiết, đều khiến cho viên măn, chẳng có thiếu
khuyết).
Tán
rằng: “Ban cho tài vật” gồm có hai phần. Phẩm này
nói rơ người hoằng kinh đáng nên có tứ sự, phẩm
sau sẽ nói về cách để đạt được.
Phẩm này được chia thành bốn phần:
- Một,
thấy người hoằng kinh, [Đại Cát Tường
thiên nữ] sẽ có thể cúng dường tứ sự.
-
Hai, từ “Thế Tôn” trở đi, biện định
nguyên do cúng dường, và báo ân đức.
-
Ba, từ “nhược phục” (nếu lại) trở
đi, khuyên hăy nên tu học.
- Bốn,
từ “Phật cáo” (đức Phật bảo) trở
đi, đức Phật tán thán, khuyên lơn để kết
lại.
Đoạn
này chính là phần thứ nhất. Phần này lại chia
thành ba ư:
- Một,
nghi thức thỉnh cầu [đức Phật cho phép Đại Cát Tường thiên
nữ tuyên nói] lợi ích.
-
Hai, từ “bạch Phật ngôn” (bạch với đức
Phật rằng) trở đi, [thiên nữ] thấy
có người tu hành.
-
Ba, từ “ngă đương” (con sẽ) trở
đi, ban cho lợi ích.
Trong
phần “[ban cho] lợi ích”, có hai điều:
- Một,
ban cho lợi ích thế gian.
-
Hai, từ “diệc đắc trị ngộ” (cũng
được gặp gỡ) trở đi, ban cho lợi
ích xuất thế.
Lợi
ích thế gian gồm có hai điều:
- Một,
lợi ích trong hiện tại.
-
Hai, từ “phục ư” (lại trong) nói về lợi
ích trong đời mai sau.
Trong
phần “lợi ích cho hiện tại”, trước hết
là ban cho tài vật.
(Kinh)
Nhược trú, nhược dạ, ư thử kinh
vương sở hữu cú nghĩa, quán sát, tư lượng,
an lạc nhi trụ, linh thử kinh điển ư Thiệm
Bộ châu quảng hành lưu bố, vị bỉ hữu
t́nh dĩ ư vô lượng bách thiên Phật sở chủng
thiện căn giả, thường sử đắc
văn, bất tốc ẩn một.
(經)若晝若夜於此經王所有句義觀察思量安樂而住,令此經典於贍部洲廣行流布,為彼有情已於無量百千佛所種善根者,常使得聞不速隱沒。
(Kinh:
Nếu ngày hoặc đêm, đối với tất cả
câu nghĩa trong kinh vương này, bèn quan sát, suy ngẫm, trụ
trong an lạc, khiến cho kinh điển này được
lưu truyền rộng khắp trong châu Thiệm Bộ, tức
là kẻ hữu t́nh ấy đă gieo căn lành nơi vô
lượng trăm ngàn đức Phật, thường
khiến cho kinh này được nghe, chẳng nhanh chóng bị
ẩn mất).
Kế
đó là “lợi ích nơi pháp”. Lợi ích nơi pháp gồm
có hai điều:
- Một,
khiến cho người hành pháp trụ trong an lạc.
-
Hai, khiến cho giáo pháp được lưu truyền dài
lâu, lại có ba ư:
a)
Khiến cho pháp trụ thế lâu dài.
b)
Biện định người ấy
có thể tin nhận [kinh này].
c)
Kinh sẽ thường được nghe, chẳng bị
ẩn mất.
5.16.4.1.1.2. Ban cho lợi
ích trong vị lai
(Kinh)
Phục ư vô lượng bách thiên ức kiếp,
đương thọ nhân thiên chủng chủng thắng lạc,
thường đắc phong nhẫm, vĩnh trừ cơ
cẩn, nhất thiết hữu t́nh hằng thọ an lạc.
(經)復於無量百千億劫當受人天種種勝樂,常得豐稔永除饑饉,一切有情恒受安樂。
(Kinh:
Lại trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, sẽ
hưởng các sự vui thù thắng trong cơi trời,
người, thường được dư dật,
vĩnh viễn trừ đói kém, hết thảy hữu
t́nh thường hưởng an vui).
Kế
đó là “lợi ích trong đời sau”, có ba điều:
- Một,
[hành nhân sẽ] có
được thân thể thù thắng.
-
Hai, từ “thường đắc phong nhẫm”
(thường được dư dật) trở đi,
thường dư dật, hoan hỷ.
-
Ba, từ “nhất thiết hữu t́nh” (hết thảy
hữu t́nh) trở đi, có thể lợi lạc chúng sanh.
5.16.4.1.2. Ban cho lợi
ích xuất thế gian
(Kinh) Diệc phục trị ngộ chư
Phật Thế Tôn, ư vị lai thế, tốc chứng
Vô Thượng Đại Bồ Đề quả, vĩnh
tuyệt tam đồ luân hồi khổ nạn.
(經)亦復值遇諸佛世尊,於未來世速證無上大菩提果,永絕三塗輪迴苦難。
(Kinh:
Cũng lại gặp gỡ chư Phật Thế Tôn, trong
đời vị lai, mau chóng chứng quả Vô Thượng
Đại Bồ Đề, vĩnh viễn dứt bặt
khổ nạn luân hồi trong tam đồ).
Kế
đó là ban cho lợi ích xuất thế, có ba điều:
- Một,
gặp Phật.
-
Hai, đắc Bồ Đề.
-
Ba, từ “vĩnh tuyệt tam đồ” (vĩnh viễn
dứt tam đồ) trở đi, chứng Niết Bàn.
5.16.4.2. Biện định
nguyên nhân cúng dường
(Kinh) Thế Tôn! Ngă niệm quá khứ hữu
Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường
Công Đức Hải Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng
Giác, thập hiệu cụ túc. Ngă ư bỉ sở, chủng
chư thiện căn, do bỉ Như Lai từ bi mẫn
niệm, oai thần lực cố, linh ngă kim nhật, tùy sở
niệm xứ, tùy sở thị phương, tùy sở chí
quốc, năng linh vô lượng bách thiên vạn ức
chúng sanh thọ chư khoái lạc, năi chí sở tu y phục,
ẩm thực, tư sanh chi cụ, kim, ngân, lưu ly, xa cừ,
mă năo, san hô, hổ phách, chân châu đẳng bảo, tất
linh sung túc.
(經)世尊!我念過去有瑠璃金山寶華光照吉祥功德海如來、應、正等覺,十號具足。我於彼所種諸善根,由彼如來慈悲愍念威神力故,令我今日隨所念處、隨所視方、隨所至國,能令無量百千萬億眾生受諸快樂,乃至所須衣服、飲食、資生之具,金、銀、琉璃、硨磲、碼碯、珊瑚、琥珀、真珠等寶悉令充足。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Con nhớ quá khứ có Lưu Ly Kim
Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức
Hải Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác, mười
hiệu trọn đủ. Con ở nơi vị ấy,
gieo các căn lành, do sức oai thần từ bi nghĩ
thương xót của đức Như Lai ấy, khiến
cho con ngày nay tùy chỗ nghĩ tới, tùy theo phương
nào nh́n tới, tùy nước nào con đến, đều
có thể khiến cho vô lượng trăm ngàn vạn ức
chúng sanh hưởng các vui sướng, cho đến các thứ
y phục, thực phẩm, vật dụng sinh hoạt cần
thiết, các thứ báu như vàng, bạc, lưu ly, xa cừ,
mă năo, san hô, hổ phách, chân châu v.v… thảy đều sung
túc).
Kế
đó, biện định nguyên nhân cúng dường cũng
là để báo ân đức. Có bốn điều:
- Một,
trần thuật chuyện gặp Phật trong đời
trước.
-
Hai, từ “ngă ư” (con ở nơi) trở đi, trần
thuật xưa kia [Thiên Nữ] đă gieo nhân.
-
Ba, từ “do bỉ” (do [đức Như Lai] ấy)
trở đi, nghĩ tới ân của đức Phật ấy.
- Bốn,
từ “linh ngă” (khiến cho con) trở đi, [đức
Phật ấy] khiến cho con có thể đạt
được lợi ích, con v́ báo ân xưa của đức
Phật, bèn cúng dường, lợi ích người hoằng
kinh.
Tiếp
đó, đức Phật tán thán: “Nhữ năng như
thị ức niệm tích nhân, báo ân, cúng dường” (bà
có thể nghĩ nhớ ân xưa mà báo ân, cúng dường
như thế) v.v… Thuận theo điều bà ta nghĩ, tức
là chỗ để Tha Tâm Thông duyên theo. “Tùy sở thị
phương” (tùy theo phương nào nh́n tới) chính là
điều được thấy bởi Thiên Nhăn Thông. “Tùy
sở chí quốc” (tùy theo nước nào con đến)
tức là cảnh đạt tới của Thần Túc
Thông. Ở đây nói tám chất báu, các kinh luận khác phần
nhiều nói bảy thứ. Bảy báu được nhắc
tới cũng lại khác nhau. Theo Phật Địa Luận:
“Tùy theo thứ được coi trọng ở mỗi
nơi mà nói bảy báu khác biệt”. V́ thế, chẳng
mâu thuẫn!
5.16.4.3. Khuyên nên học
tập, hành theo
(Kinh) Nhược phục hữu nhân chí tâm
độc tụng thị Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh, diệc đương nhật nhật
thiêu chúng danh hương, cập chư diệu hoa, vị
ngă cúng dường bỉ Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang
Chiếu Cát Tường Công Đức Hải Như Lai, Ứng,
Chánh Đẳng Giác, phục đương mỗi nhật,
ư tam thời trung, xưng niệm ngă danh, biệt dĩ
hương, hoa, cập chư mỹ thực, cúng dường
ư ngă, diệc đương thính thọ thử diệu
kinh vương, đắc như thị phước.
(經)若復有人至心讀誦是金光明最勝王經,亦當日日燒眾名香及諸妙華,為我供養彼琉璃金山寶華光照吉祥功德海如來、應、正等覺,復當每日於三時中稱念我名,別以香華及諸美食供養於我,亦當聽受此妙經王,得如是福。
(Kinh: Nếu
lại có người chí tâm đọc, tụng kinh Kim Quang
Minh Tối Thắng Vương này, cũng sẽ hằng
ngày đốt các loại hương quư và các loại hoa
đẹp, v́ con cúng dường Lưu Ly Kim Sơn Bảo
Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức Hải
Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác. Lại c̣n mỗi
ngày, trong ba thời, xưng niệm tên con, dùng riêng
hương, hoa, và các đồ ăn ngon để cúng
dường con, cũng nên nghe nhận vua trong các kinh mầu
nhiệm này, sẽ được phước như thế).
Kế
đó, khuyên hăy nên học theo, tu tập. Nếu dựa theo
[ư giảng giải của pháp sư] Chân Đế th́ phần
trước là lợi ích pháp sư. Phần này là lợi ích
cho người nghe. Nay tôi cho rằng: Đoạn này bao gồm
cả hai điều ấy. [Phần này] trước là
Trường Hàng, sau là kệ tụng. Trường Hàng gồm
năm điều:
- Một,
khuyên hăy tự đọc tụng.
-
Hai, từ “diệc đương” (cũng sẽ) trở
đi, dạy nghi thức đọc tụng.
-
Ba, từ “phục đương” (lại nên) trở
đi, [khuyên hành nhân] lại nên cúng dường tôi (Cát
Tường Thiên Nữ).
- Bốn,
từ “diệc thường” (cũng thường) trở
đi, khuyên hăy nghe kinh, hàm ư: Đối với người
đă hiểu th́ khuyên đọc tụng; đối với
người chưa hiểu th́ khuyên nghe nhận.
-
Năm, từ “đắc như thị phước”
(đạt được phước như thế) trở
đi, kết lại chuyện đạt được lợi
ích.
(Kinh) Nhi thuyết tụng viết: - Do
năng như thị tŕ kinh cố, tự thân quyến thuộc
ly chư suy, sở tu y thực, vô phạp thời. Oai quang
thọ linh nan cùng tận. Năng mạng địa vị
thường tăng trưởng, chư thiên giáng vũ tùy
thời tiết, linh chư thiên chúng hàm hoan duyệt, cập
dĩ viên lâm cốc quả thần, tùng lâm quả thụ tịnh
tư vinh, sở hữu miêu giá hàm thành tựu, dục cầu
trân tài giai măn nguyện, tùy sở niệm giả toại kỳ
tâm.
(經)而說頌曰:由能如是持經故,自身眷屬離諸衰,所須衣食無乏時,威光壽令難窮盡,能命地味常增長,諸天降雨隨時節,令諸天眾咸歡悅,及以園林穀果神,叢林果樹竝滋榮,所有苗稼咸成就,欲求珍財皆滿願,隨所念者遂其心。
(Kinh:
Bèn nói kệ tụng rằng: - Do có thể tŕ kinh như
thế, bản thân, quyến thuộc ĺa suy hoại, cơm
áo cần thiết chẳng lúc thiếu. Oai quang, thọ mạng
khó cùng tận. Khiến đất màu mỡ thường
tăng trưởng. Chư thiên tuôn mưa đúng theo thời.
Khiến các vị trời đều vui thích. Cùng với thần
vườn, rừng, thóc, quả, rừng rậm, cây trái
đều sum suê, tất cả mùa màng đều chín rộ,
muốn cầu của báu đều thỏa ḷng, hễ
nghĩ tưởng ǵ đều toại nguyện).
Kế
đó là trùng tụng, có tám ư:
- Một,
bản thân và quyến thuộc không suy bại.
-
Hai, áo cơm chẳng thiếu thốn.
-
Ba, oai quang, trường thọ.
- Bốn,
đất đai thêm màu mỡ.
-
Năm, mưa tuôn xuống
đúng thời.
-
Sáu, các thiên thần vui sướng.
- Bảy,
mùa màng thịnh vượng.
-
Tám, điều mong nghĩ đều được thành tựu.
5.16.4.4. Đức Phật
tán thán, khuyên bảo
(Kinh)
Phật cáo Đại Cát Tường thiên nữ: - Thiện
tai! thiện tai! Nhữ năng như thị ức niệm
tích nhân, báo ân cúng dường, lợi ích an lạc vô biên
chúng sanh, lưu bố thị kinh, công đức vô tận.
(經)佛告大吉祥天女:善哉善哉!汝能如是憶念昔因報恩供養,利益安樂無邊眾生,流布是經功德無盡。
(Kinh:
Đức Phật bảo Đại Cát Tường thiên nữ:
- Lành thay! Lành thay! Bà có thể nghĩ nhớ cái nhân xưa
kia mà báo ân cúng dường như thế, lợi ích an lạc
vô biên chúng sanh, lưu truyền kinh này, công đức vô tận).
Kế
đó, đức Phật tán thán, khuyên bảo để kết
lại.
5.17. Phẩm thứ
mười bảy: Đại Cát Tường thiên nữ
tăng trưởng tài vật (Đại Cát Tường
thiên nữ tăng trưởng tài vật phẩm đệ
thập thất, 大吉祥天女增長財物品
第十七)
Phẩm
Đại Cát Tường Thiên Nữ Tăng Trưởng
Tài Vật gồm ba môn phân biệt:
5.17.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Giống như trong
phẩm trước.
5.17.2. Giải thích tên gọi của phẩm này
Trước
kia có ít, nay được thêm nhiều th́ gọi là
Tăng. Trước đó không có, khiến cho có th́ là
Trưởng. “Tài” là thất trân (bảy món quư báu), Vật
là tứ sự (cơm, áo, đồ trải nằm, thuốc
men). Nếu [hành nhân] có
thể hoằng kinh, thiên nữ sẽ
có thể khiến cho tài vật
tăng trưởng. Phẩm này nói rộng về chuyện
ấy, cho nên nói là phẩm Tăng Trưởng Tài Vật.
Các điều khác th́ như trong phần trước đă
giải thích.
5.17.3. Giải trừ vấn
nạn
Hỏi: Phẩm này
[nói Cát Tường Thiên Nữ] cũng có thể ban cho ẩm
thực, tăng trưởng sự màu mỡ của đất
đai, có ǵ khác với phẩm sau (phẩm Kiên Lao Địa
Thần)?
Đáp:
Người có thể ban cho khác nhau. Chân Đế Tam Tạng
lại nói: “Phẩm này chánh yếu ban cho y phục, c̣n của
báu và thực phẩm là kèm thêm. Phẩm sau th́ chánh yếu là
ban cho thực phẩm, các điều khác là kèm thêm”.
5.17.4. Giải thích kinh
văn
5.17.4.1. Quy cách để
thỉnh cầu
5.17.4.1.1. Chỉ bày trụ
xứ của thiên nữ
(Kinh)
Nhĩ thời, Đại Cát Tường thiên nữ phục
bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Bắc phương Bệ
Thất La Mạt Noa thiên vương, thành danh Hữu Tài. Khứ
thành bất viễn, hữu viên danh viết Diệu Hoa
Phước Quang, trung hữu thắng điện
thất bảo sở thành. Thế Tôn! Ngă thường trụ
bỉ.
(經)爾時大吉祥天女復白佛言:世尊!北方薜室羅末拏天王,城名有財,去城不遠有園名曰妙華福光,中有勝殿七寶所成。世尊!我常住彼。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Đại Cát Tường thiên nữ lại bạch
cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Thành của
thiên vương Bệ Thất La Mạt Noa (Vaiśravaṇa,
Đa Văn thiên vương) ở
phương Bắc tên là Hữu Tài. Cách thành ấy không xa, có một
khu vườn, tên là Diệu Hoa Phước Quang, trong ấy
có ṭa điện thù thắng
do bảy báu hợp thành. Bạch Thế Tôn! Con thường
ở trong đó).
Kế
đó, nói về phương pháp để đạt
được. Kinh văn chia thành bốn phần:
- Một,
nghi quỹ thỉnh cầu.
-
Hai, từ “ngă ư nhĩ thời” (con trong lúc ấy)
trở đi, nói về lợi ích đạt được.
-
Ba, từ “kư đắc như thị” (đă
được như thế) trở đi, dạy về
thọ dụng.
- Bốn,
từ “nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở
đi, đức Thế Tôn tán thán lợi ích.
Trong
phần Nghi Quỹ Thỉnh Cầu, lại chia thành ba
đoạn. Đoạn thứ nhất là chỉ bày trụ
xứ [của Đại Cát Tường thiên nữ] để
hành nhân có chỗ dốc ḷng.
5.17.4.1.2. Người
nguyện cầu
(Kinh) Nhược phục hữu nhân dục
cầu ngũ cốc nhật nhật tăng đa,
thương khố doanh dật giả.
(經)若復有人欲求五穀日日增多倉庫盈溢者。
(Kinh:
Nếu lại có người muốn cầu ngũ cốc
hằng ngày tăng nhiều, kho đụn đầy ắp).
Kế
đó, đoạn thứ hai là nêu ra người cầu
nguyện.
5.17.4.1.3.
Chỉ dạy phương pháp
5.17.4.1.3.1.
Khuyên tu cầu nguyện, ắt sẽ thỏa nguyện
(Kinh) Ưng đương phát khởi kính
tín chi tâm, tịnh trị nhất thất, cù-ma đồ
địa, ưng họa ngă tượng, chủng chủng
anh lạc châu táp trang nghiêm. Đương tẩy dục
thân, trước tịnh y phục, đồ dĩ danh
hương, nhập tịnh thất nội, phát tâm vị
ngă mỗi nhật tam thời xưng bỉ Phật danh, cập
thử kinh danh hiệu, nhi thân lễ kính Nam-mô Lưu Ly Kim
Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức
Hải Như Lai. Tŕ chư hương hoa, cập dĩ chủng
chủng cam mỹ ẩm thực, chí tâm phụng hiến,
diệc dĩ hương hoa, cập chư ẩm thực,
cúng dường ngă tượng. Phục tŕ ẩm thực,
tán trịch dư phương, thí chư thần đẳng,
thật ngôn yêu thỉnh Đại Cát Tường Thiên, phát
sở cầu nguyện: “Nhược như sở ngôn bất
thị hư giả, ư ngă sở thỉnh, vật linh
không nhĩ”. Vu thời, Cát Tường thiên nữ tri thị
sự dĩ, tiện sanh mẫn niệm, linh kỳ trạch
trung tài cốc tăng trưởng, tức đương
tụng chú, thỉnh triệu ư ngă, tiên xưng Phật
danh, cập Bồ Tát danh tự.
(經)應當發起敬信之心,淨治一室瞿摩塗地,應畫我像,種種瓔珞周匝莊嚴。當洗浴身,著淨衣服、塗以名香,入淨室內,發心為我每日三時稱彼佛名及此經名號,而申禮敬南謨瑠璃金山寶華光照吉祥功德海如來。持諸香華及以種種甘美飲食至心奉獻,亦以香華及諸飲食供養我像。復持飲食散擲餘方施諸神等,實言邀請大吉祥天,發所求願:若如所言是不虛者,於我所請勿令空爾。于時吉祥天女知是事已,便生愍念。令其宅中財穀增長。即當誦呪請召於我,先稱佛名及菩薩名字。
(Kinh:
Hăy nên phát khởi tâm kính tín, xếp đặt một
căn pḥng thanh tịnh, dùng phân ḅ trát đất, hăy nên vẽ
tượng của con, các thứ anh lạc vây quanh để
trang nghiêm. Hăy nên tắm gội thân thể, mặc y phục
sạch sẽ, bôi hương quư, vào trong tịnh thất,
phát tâm v́ con, mỗi ngày ba thời xưng danh đức Phật
ấy, và danh hiệu của kinh này, rạp ḿnh lễ kính
Nam-mô Lưu Ly Kim Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường
Công Đức Hải Như Lai. Cầm các hương hoa,
và các thứ thức ăn ngon ngọt, chí tâm dâng hiến,
cũng dùng hương, hoa, và các thực phẩm để
cúng dường tượng của con. Lại cầm thực
phẩm quăng rải các phương để thí cho các
vị thần v.v… Dùng lời thật ḷng thỉnh vời
Đại Cát Tường Thiên, thốt ra lời cầu
nguyện: “Nếu như lời Ngài đă nói chẳng
hư vọng, sẽ khiến cho điều con thỉnh cầu
chẳng trở thành luống uổng vậy”. Ngay khi
đó, Cát Tường thiên nữ đă biết chuyện ấy
rồi, liền nghĩ xót thương, khiến cho trong nhà
ấy, tài vật, ngũ cốc tăng trưởng. Liền
hăy nên tụng chú thỉnh vời con. Trước hết,
xưng danh hiệu của Phật và danh tự của Bồ
Tát).
Tiếp
đó, ư thứ ba là “dạy phương pháp [cầu thỉnh]”.
Trong phần này, lại có hai đoạn:
- Một
là nêu ra ư: Khuyên tu cầu thỉnh, ắt sẽ được
toại nguyện.
-
Hai là từ “tức đương tụng chú” (liền
hăy nên tụng chú) trở đi, dạy thẳng vào pháp này.
Đoạn
này thuộc phần “nêu ra”. Phải nên ở trong tịnh
thất, trang nghiêm thân thể, cúng dường, cầu khẩn,
tôi (Thiên Nữ) ắt sẽ măn nguyện [cho hành nhân]. Liền
ở ngay trong tịnh thất ấy lập đàn. Sám lễ,
cúng dường, tụng chú, bày ṭa, chẳng phải là [theo
thứ tự] trước sau, mỗi điều
được nói khác biệt. Chuẩn theo phần kinh
văn dạy về cách thức, [sẽ thấy trong phần
này] do thuận tiện mà nói, chẳng tuân theo thứ tự.
Trong
phần “nêu ra” này, có bảy điều:
- Một,
khuyên hăy phát khởi tín tâm th́ mới có thể tiếp nhận,
hành theo.
-
Hai, từ “tịnh trị” (trang nghiêm thanh tịnh) trở
đi, nêu ra cách lập đàn tràng.
-
Ba, từ “ưng đương tẩy dục” (hăy
nên tắm gội) trở đi, dạy trang nghiêm thân thể.
- Bốn,
từ “nhập tịnh thất” (vào trong tịnh
thất) trở đi, chỉ ra chỗ hành
pháp.
-
Năm, từ “phát tâm vị ngă” (phát tâm v́ con) trở
đi, dạy cách tu. Cách tu gồm năm ư:
a)
Nêu ra cái tâm để thực hiện.
b) Từ
“mỗi nhật” (mỗi ngày) trở đi, [nêu ra]
thời hạn tu tŕ,
c) Từ
“xưng bỉ danh” (xưng danh hiệu ấy) trở
đi, dạy đại lược sự quy mạng, lễ
bái.
d) Từ
“tŕ chư hương hoa” (cầm các hương hoa)
trở đi, dạy cách cúng dường. Cúng dường
lại gồm ba thứ: Một, cúng Tam Bảo. Hai, từ “diệc
dĩ hương hoa” (cũng dùng hương hoa) là cúng
dường thiên nữ. Ba
là từ “phục tŕ ẩm thực” (lại đem thức
ăn) trở đi, cúng dường quyến thuộc và hết
thảy các thần.
e) Từ
“thật ngôn” trở đi, sắc truyền thỉnh
cầu.
-
Sáu, từ “ư thời, Cát Tường” (ngay khi
đó, Cát Tường) trở đi, nêu ra ư nghĩa “do tu
nhân mà đắc quả”.
- Bảy,
từ “tức đương” (ngay lập tức hăy
nên) trở đi, dạy tụng chú, quy y lễ kính.
5.17.4.1.3.2.
Dạy thẳng vào cách tu
(Kinh)
Nhất tâm kính lễ: Nam-mô nhất thiết thập
phương tam thế chư Phật. Nam-mô Bảo Kế
Phật. Nam-mô Vô Cấu Quang Minh Bảo Tràng Phật. Nam-mô
Kim Tràng Quang Phật. Nam-mô Bách Kim Quang Tạng Phật. Nam-mô
Kim Cái Bảo Tích Phật. Nam-mô Kim Hoa Quang Tràng Phật.
Nam-mô Đại Đăng Quang Phật. Nam-mô Đại Bảo
Tràng Phật. Nam-mô Đông phương Bất Động
Phật. Nam-mô Nam phương Bảo Tràng Phật. Nam-mô Tây
phương Vô Lượng Thọ Phật. Nam-mô Bắc
phương Thiên Cổ Âm Phật. Nam-mô Diệu Tràng Bồ
Tát. Nam-mô Kim Quang Bồ Tát. Nam-mô Kim Tạng Bồ Tát. Nam-mô
Thường Đề Bồ Tát. Nam-mô Pháp Thượng Bồ
Tát. Nam-mô Thiện An Bồ Tát.
(經)一心敬禮。南謨一切十方三世諸佛。南謨寶髻佛。南謨無垢光明寶幢佛。南謨金幢光佛。南謨百金光藏佛。南謨金蓋寶積佛。南謨金華光幢佛。南謨大燈光佛。南謨大寶幢佛。南謨東方不動佛。南謨南方寶幢佛。南謨西方無量壽佛。南謨北方天鼓音佛。南謨妙幢菩薩。南謨金光菩薩。南謨金藏菩薩。南謨常啼菩薩。南謨法上菩薩。南謨善安菩薩。
(Kinh:
Nhất tâm kính lễ: Nam-mô hết thảy mười
phương ba đời chư Phật. Nam-mô Bảo Kế
Phật. Nam-mô Vô Cấu Quang Minh Bảo Tràng Phật. Nam-mô
Kim Tràng Quang Phật. Nam-mô Bách Kim Quang Tạng Phật. Nam-mô
Kim Cái Bảo Tích Phật. Nam-mô Kim Hoa Quang Tràng Phật.
Nam-mô Đại Đăng Quang Phật. Nam-mô Đại Bảo
Tràng Phật. Nam-mô Đông phương Bất Động
Phật. Nam-mô Nam phương Bảo Tràng Phật. Nam-mô Tây
phương Vô Lượng Thọ Phật. Nam-mô Bắc
phương Thiên Cổ Âm Phật. Nam-mô Diệu Tràng Bồ
Tát. Nam-mô Kim Quang Bồ Tát. Nam-mô Kim Tạng Bồ Tát. Nam-mô
Thường Đề Bồ Tát. Nam-mô Pháp Thượng Bồ
Tát. Nam-mô Thiện An Bồ Tát).
Kế
đó, đoạn thứ hai là dạy thẳng vào cách tu.
Chuẩn theo đó để tác pháp, có mười một
thứ:
- Một,
trước hết dạy hăy nên tụng chú để thành
tựu.
-
Hai, tạo đàn tràng.
-
Ba, nghiêm tịnh thân thể.
- Bốn,
hăy nên thọ tám giới (Bát Quan Trai Giới).
-
Năm, trong hai thời, v́ chính ḿnh và thiên nữ mà cúng dường Tam
Bảo.
-
Sáu, v́ thiên nữ và chính ḿnh mà trong ba thời lễ Phật,
Pháp, Tăng.
- Bảy,
tự sám hối tội khiên của chính ḿnh.
-
Tám, hồi hướng trọn khắp, phát khởi điều
mong cầu.
-
Chín, đối trước thiên nữ quy y, lễ thỉnh
danh hiệu.
-
Mười, tụng thần chú.
-
Mười một, mong thiên nữ măn nguyện.
Nay
kinh văn không nói theo thứ tự, dựa theo kinh văn
mà chia thành chín điều. Điều đầu tiên là lễ
kính Tam Bảo. Kinh này và Phật Bảo Hoa (Lưu Ly Kim
Sơn Bảo Hoa Quang Chiếu Cát Tường Công Đức
Hải Như Lai) cũng nên lễ kính. Do đă nói
trước đó, ở đây lược đi, không bàn tới.
Chuẩn theo phần kinh văn trước đó, khi cầu
biện tài, cũng lễ kính Tam Bảo và chư thiên thần,
đều thỉnh cầu gia bị, nay ở đây chẳng
thỉnh [cầu gia bị] v́ tăng tài vật sẽ dễ
hơn [cầu tăng biện tài]!
(Kinh)
Kính lễ như thị Phật, Bồ Tát dĩ, thứ
đương tụng chú, thỉnh triệu ngă Đại
Cát Tường thiên nữ, do thử chú lực, sở cầu
chi sự giai đắc thành tựu.
(經)敬禮如是佛菩薩已,次當誦呪請召我大吉祥天女,由此呪力,所求之事皆得成就。
(Kinh: Kính lễ
chư Phật, Bồ Tát như thế xong. Kế
đến hăy nên tụng chú thỉnh vời con là Đại
Cát Tường thiên nữ. Do sức của chú ấy, việc
mong cầu đều được thành tựu).
Kế
đó, ư thứ hai là dạy tụng chú, có năm ư. Ư thứ
nhất là kết phần trước để dẫn khởi
phần sau. Ư thứ hai, từ “thứ đương”
(kế đó, hăy nên) trở đi, dạy cách thỉnh vời.
(Kinh)
Tức thuyết chú viết: - Nam-mô thất rị mạc
ha thiên nữ, đát điệt tha. Bát rị bô luật noa chiết lệ,
tam mạn đả, đạt
rị thiết nê. Mạc ha tỳ ha ra yết đế.
Tam mạn đá tỳ đàm mạt nê. Mạc ha ca lư dă.
Bát lạt để sắt sá bát nê. Tát bà át tha bà đạn
nê. Tô bát lạt để bô lệ. A da na đạt ma
đa, mạc ha tỳ câu tỷ đế. Mạc ha mê
đốt rô, ổ ba tăng hế đê. Mạc ha hiệt
rị sử, tô tăng cận lư. Hế đê tam mạn
đa át tha. A nô ba lạt nê, sa ha.
(經)即說呪曰:南謨室唎莫訶天女。怛姪他。鉢唎脯𠷈拏折囇。三曼䫂。達唎設泥。莫訶毘訶囉揭帝。三曼哆毘曇末泥。莫訶迦里也。鉢喇底瑟侘鉢泥。薩婆頞他婆彈泥。蘇鉢喇底脯囇。痾耶娜達摩多。莫訶毘俱比帝。莫訶迷咄嚕。鄔波僧呬羝。莫訶頡唎使。蘇僧近里。呬羝三曼多頞他。阿奴波剌泥。莎訶。
(Kinh: Liền
nói chú rằng: - Nam-mô thất rị mạc ha thiên nữ,
đát điệt tha. Bát rị bô luật noa chiết lệ,
tam mạn đả, đạt
rị thiết nê. Mạc ha tỳ ha ra yết đế.
Tam mạn đá tỳ đàm mạt nê. Mạc ha ca lư dă.
Bát lạt để sắt sá bát nê. Tát bà át tha bà đạn
nê. Tô bát lạt để bô lệ. A da na đạt ma
đa, mạc ha tỳ câu tỷ đế. Mạc ha mê
đốt rô, ổ ba tăng hế đê. Mạc ha hiệt
rị sử, tô tăng cận lư. Hế đê tam mạn
đa át tha. A nô ba lạt nê, sa ha).
Kế
đó, ư thứ ba là dạy tụng chú.
(Kinh)
Thế Tôn! Nhược nhân tụng tŕ như thị thần
chú thỉnh triệu ngă thời, ngă văn thỉnh dĩ, tức
chí kỳ sở, linh nguyện đắc toại. Thế
Tôn! Thị quán đảnh pháp cú, định thành tựu
cú, chân thật chi cú, vô hư cuống cú, thị b́nh đẳng
hạnh, ư chư chúng sanh thị chánh thiện căn.
(經)世尊!若人誦持如是神呪請召我時,我聞請已即至其所令願得遂。世尊!是灌頂法句、定成就句、真實之句、無虛誑句,是平等行,於諸眾生是正善根。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Nếu có ai tụng tŕ thần chú
như thế để thỉnh vời con, con nghe thỉnh
rồi, liền đến chỗ kẻ đó, khiến
cho kẻ đó toại nguyện. Bạch Thế Tôn! Pháp cú
quán đảnh, câu quyết định thành tựu, câu chân
thật, câu chẳng hư dối này là hạnh b́nh đẳng,
là thiện căn chân chánh cho các chúng
sanh).
Tiếp
đó, ư thứ tư là “có thể hành, th́ sẽ được
toại nguyện”. Từ câu “Thế Tôn! Thị quán đảnh
pháp cú” (Bạch Thế Tôn! Pháp cú quán đảnh này) trở
đi, là
năm câu tán thán công năng của thần chú, gồm
sáu điều:
- Một,
quán đảnh pháp cú, nói rơ đây là pháp của bậc thù
thắng, giống như [thái tử] tiếp nhận
vương vị, quốc sư cưỡi voi đi lấy
nước bốn biển, dùng cỏ cát tường rảy
[nước ấy] lên đỉnh đầu [thái tử],
biểu thị tướng cát tường. Điều này
nhằm biểu thị người được nghe
Đà La Ni này sẽ tiếp nhận ngôi vị Phật.
-
Hai, “câu quyết định thành tựu”: Chắc chắn
thỏa măn điều mong cầu.
-
Ba, “câu chân thật”: Do nói khế hợp lẽ Chân.
- Bốn,
“không hư dối”: Do chẳng lường gạt
người khác.
-
Năm, “hạnh b́nh đẳng”: Hết thảy hữu
t́nh đều có thể hành.
-
Sáu, “thiện căn chân chánh”: Do là căn bản của
các điều thiện thế gian và xuất thế gian.
(Kinh) Nhược hữu thọ tŕ, độc
tụng chú giả, ưng thất nhật, thất dạ,
thọ Bát Chi Giới.
(經)若有受持讀誦呪者,應七日七夜受八支戒。
(Kinh:
Nếu có người thọ tŕ, đọc tụng chú này,
hăy nên bảy ngày, bảy
đêm,
thọ tám chi giới).
Kế
đó, điều thứ ba là dạy “hăy nên thọ giới”.
Đây là nói theo pháp của hai chúng tại gia, chứ năm
chúng xuất gia th́ không cần phải thọ.
(Kinh)
Ư thần triêu thời, tiên tước xỉ mộc, tịnh
tháo sấu dĩ.
(經)於晨朝時先嚼齒木淨澡漱已。
(Kinh:
Vào lúc sáng sớm, trước hết nên chà răng, tắm
rửa, súc miệng sạch sẽ).
Kế
đó, điều thứ tư là dạy “hăy nghiêm tịnh
thân thể”, cũng nên tắm rửa, mặc y phục sạch
sẽ.
(Kinh)
Cập ư bô hậu, hương hoa cúng dường nhất
thiết chư Phật.
(經)及於晡後香華供養一切諸佛。
(Kinh:
Cho tới buổi chiều, dùng hương, hoa cúng dường
hết thảy chư Phật).
Kế
đó, điều thứ năm là “dạy tu cúng dường”.
Tuy nói là “tới lúc buổi chiều”, nhưng sáng sớm
cũng phải như vậy: Cúng dường Phật,
Pháp, Bồ Tát, cùng với Cát Tường thiên nữ.
(Kinh)
Tự trần kỳ tội.
(經)自陳其罪。
(Kinh: Tự bày
tỏ tội của chính ḿnh).
Kế
đó, điều thứ sáu là dạy “hăy sám hối tội
khiên của chính ḿnh”.
(Kinh)
Đương vị kỷ thân, cập chư hàm thức,
hồi hướng,
phát nguyện, linh sở hy cầu tốc đắc thành tựu.
(經)當為己身及諸含識迴向發願,令所希求速得成就。
(Kinh: Hăy nên v́ chính ḿnh và các hàm thức mà hồi hướng
phát nguyện, khiến cho điều mong cầu chóng được
thành tựu).
Kế
đó, điều thứ bảy là “khắp v́ mọi loài
mà phát nguyện”.
(Kinh)
Tịnh trị nhất thất, hoặc tại không nhàn A
Lan Nhă xứ, cù-ma vi đàn, thiêu chiên đàn hương, nhi
vị cúng dường. Trí nhất thắng ṭa, phan, cái trang
nghiêm, dĩ chư danh hoa bố liệt đàn nội.
(經)淨治一室,或在空閑阿蘭若處,瞿摩為壇,燒栴檀香而為供養。置一勝座,旛蓋莊嚴,以諸名華布列壇內。
(Kinh:
Xếp đặt một căn pḥng thanh tịnh, hoặc ở
chỗ A Lan Nhă thanh vắng, dùng phân ḅ làm đàn, đốt
hương Chiên Đàn để cúng dường. Bày một
cái ṭa thù thắng, dùng phan và lọng để trang nghiêm,
dùng các thứ hoa quư để bày biện trong đàn).
Kế
đó, điều thứ tám là “dạy lập đàn
tràng”. Cách lập đàn tràng gồm năm ư:
- Một,
nương vào chỗ thanh vắng, thanh tịnh.
-
Hai, dùng phân ḅ bôi lên mặt đất
[để lập đàn].
-
Ba, vẽ h́nh Cát Tường thiên nữ.
- Bốn,
xếp đặt một cái ṭa cao.
-
Năm, treo bày phan, lọng, thắp hương, rải hoa.
(Kinh)
Ưng đương chí tâm tụng tŕ tiền chú, hy vọng
ngă chí.
(經)應當至心誦持前呪,希望我至。
(Kinh:
Hăy nên chí tâm tụng tŕ chú trên đây, mong mỏi con tới).
Kế
đó, điều thứ chín là “mong mỏi thiên nữ sẽ
măn nguyện”. Cách thỉnh vời thiên nữ đă
được nói trong phần dạy về chú. Ở
đây nói “chí tâm” tức là nói đến điều
được nhắc tới trước đó.
5.17.4.2. Lợi ích đạt
được
(Kinh) Ngă ư nhĩ thời tức tiện
hộ niệm, quán sát thị nhân, lai nhập kỳ thất,
tựu ṭa nhi tọa, thọ kỳ cúng dường.
(經)我於爾時即便護念,觀察是人來入其室,就座而坐受其供養。
(Kinh: Con trong
lúc ấy liền hộ niệm, quan sát người đó,
vào trong thất ấy, đến ngồi trên ṭa, nhận
lănh cúng dường).
Kế
đó, đoạn lớn thứ hai “do thỉnh cầu mà
đạt được lợi ích”, có ba ư. Ư thứ nhất
là Cát Tường thiên nữ tới
ứng hiện.
(Kinh)
Tùng thị dĩ hậu, đương linh bỉ nhân,
ư thụy mộng trung, đắc kiến ư ngă.
(經)從是以後,當令彼人於睡夢中得見於我。
(Kinh:
Từ đấy trở đi, sẽ khiến cho người
ấy trong mộng được thấy con).
Kế
đó, ư thứ hai là khiến cho “được thấy
[thiên nữ] trong mộng”.
(Kinh)
Tùy sở cầu sự, dĩ thật cáo tri. Nhược tụ
lạc, không trạch, cập tăng trụ xứ, tùy sở
cầu giả, giai linh viên măn, kim, ngân, tài bảo, ngưu,
dương, cốc mạch, ẩm thực, y phục, giai
đắc tùy tâm, thọ chư khoái lạc.
(經)隨所求事以實告知,若聚落空澤及僧住處,隨所求者皆令圓滿,金銀財寶牛羊穀麥飲食衣服皆得隨心受諸快樂。
(Kinh:
Tùy theo chuyện mong cầu, dùng sự thật bảo cho biết.
Nếu tại thành ấp, đầm trống, và chỗ tăng ở, tùy
theo điều mong cầu, sẽ đều khiến cho
viên măn: Vàng, bạc, của cải, trâu, dê, thóc lúa, thức ăn,
y phục, đều được thỏa ḷng, hưởng
các vui sướng).
Kế
đó, ư thứ ba là đắc quả.
5.17.4.3. Dạy về
thọ dụng
(Kinh)
Kư đắc như thị thắng diệu quả báo,
đương dĩ thượng phần cúng dường
Tam Bảo, cập thí ư ngă, quảng tu pháp hội, thiết
chư ẩm thực, bố liệt hương hoa.
(經)既得如是勝妙果報,當以上分供養三寶及施於我,廣修法會,設諸飲食布列香華。
(Kinh:
Đă đạt được quả báo thù thắng, nhiệm
mầu như thế, hăy nên dùng các món
thuộc bậc thượng để cúng dường Tam
Bảo và thí cho con, rộng tu pháp hội, sắp đặt
các thực phẩm, bày biện hương, hoa).
Kế
đó, đoạn lớn thứ ba là “dạy về thọ
dụng”. Có sáu ư: Ư thứ nhất là
[hành nhân] hăy nên dùng thứ thượng hảo
để v́ chính ḿnh và tôi
(thiên nữ) mà cúng dường. Ở đây, hành văn theo
cách đảo ngữ, phải nên hiểu là: Hăy nên dùng vật
phẩm bậc thượng để v́ chính ḿnh và Cát
Tường thiên nữ mà rộng tu pháp hội,
chuẩn bị các thứ thực phẩm, xếp đặt
hương, hoa để cúng dường Tam Bảo.
(Kinh)
Kư cúng dường dĩ, sở hữu cúng dường hóa
chi thủ trực, phục vị cúng dường ư ngă.
(經)既供養已,所有供養貨之取直,復為供養於我。
(Kinh:
Đă cúng dường xong, tất cả các thứ cúng
dường đều đem đổi lấy thứ
ngang giá để cúng dường cho con).
Sau
đó, điều thứ hai là hăy nên đổi các thứ
cúng dường c̣n lại [thành vật phẩm tương
ứng] để cúng dường lần nữa.
(Kinh)
Ngă đương chung thân thường trụ ư thử,
ủng hộ thị nhân, linh vô khuyết phạp, tùy sở
hy cầu, tất giai xứng ư.
(經)我當終身常住於此,擁護是人令無闕乏,隨所希求悉皆稱意。
(Kinh:
Con sẽ suốt đời thường ở nơi đó,
ủng hộ người ấy, khiến cho chẳng thiếu
hụt, mong cầu điều ǵ cũng đều
được vừa ư).
Kế
đó, điều thứ ba là “kết lại các điều
trên đây”, nêu ra lư do v́ sao khuyên cúng dường.
(Kinh)
Diệc đương thời
thời cấp tế bần phạp,
bất ưng xan tích, độc vị kỷ thân.
(經)亦當時時給濟貧乏,不應慳惜獨為己身。
(Kinh: Cũng nên
kịp thời giúp đỡ người nghèo thiếu, chớ
nên keo tiếc, chỉ lo cho bản thân).
Kế
đó, điều thứ tư là “hăy nên chia sẻ cho kẻ
bần cùng, đừng bo bo lo cho ḿnh!”
(Kinh)
Thường độc thị kinh, cúng dường bất
tuyệt.
(經)常讀是經,供養不絕。
(Kinh:
Thường đọc kinh này, cúng dường chẳng dứt).
Kế
đó, điều thứ năm là “đă có được
duyên giúp đỡ, phải nên chân chánh hoằng kinh”.
(Kinh)
Đương dĩ thử phước phổ thí nhất
thiết, hồi hướng Bồ Đề, nguyện xuất
sanh tử, tốc đắc giải thoát.
(經)當以此福普施一切,迴向菩提願出生死速得解脫。
(Kinh:
Hăy nên đem phước ấy thí cho hết thảy, hồi
hướng Bồ Đề, nguyện thoát sanh tử, mau
được giải thoát).
Kế
đó, điều thứ sáu là bố thí trọn hết các
phước trên đây.
5.17.4.4. Đức Thế
Tôn tán thán lợi ích
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn tán ngôn: - Thiện tai, Cát Tường
thiên nữ! Nhữ năng như thị lưu bố thử
kinh, bất khả tư nghị, tự tha câu ích.
(經)爾時世尊讚言:善哉吉祥天女!汝能如是流布此經,不可思議自他俱益。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen rằng: - Lành
thay! Cát Tường thiên nữ! Bà có thể lưu truyền
kinh này như thế chẳng thể nghĩ bàn, ḿnh lẫn
người đều được lợi ích).
Đoạn
lớn thứ tư là đức Thế Tôn tán thán lợi
ích.
5.18.
Phẩm thứ mười tám: Kiên Lao Địa Thần
(Kiên Lao Địa Thần phẩm đệ thập bát, 堅牢地神品第十八)
Phẩm
Kiên Lao Địa Thần, gồm ba môn phân biệt.
5.18.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Trong
phần trên, tuy tăng nhiều y phục, nhưng chưa
giúp đỡ về ăn uống. Phẩm này [nói về
chuyện Địa Thần giúp hành nhân] tăng ích ẩm
thực, giúp cho họ
thân thể an lạc để hoằng
pháp. Do vậy, sau phẩm trước, bèn
có phẩm này sanh khởi.
5.18.2. Giải thích danh
xưng của phẩm này
Tiếng Phạn
là Kiên Lao (Dṛḍha),
đó là ư nghĩa của đất,
tức là “thần đất kiên cố”. Hoặc
lại có thể [hiểu cách khác] là do thần có thể khiến
cho đất kiên cố, nên gọi là Kiên Lao Địa Thần.
Đây cũng là cách giải thích theo lối Y Chủ, v́ “có
thể làm cho đất kiên cố” là tác dụng của
thần.
5.18.3. Giải thích vấn
nạn
Thiên nữ
tăng thêm tài vật, nên nói là phẩm Tăng Trưởng
Tài Vật, trong phẩm này, địa thần tăng thêm
thực phẩm, v́ sao chẳng gọi là phần Địa
Thần Ích Ẩm Thực Tư Vị?
Đáp:
[Do phần kinh văn nói về Cát Tường] thiên nữ
chia làm hai phần, cho nên dùng ư nghĩa Tăng Ích Tài Vật
để phân biệt. Phẩm Địa Thần đă chẳng
tách ra, lại không nói tràn lan sang ư khác, cho nên chẳng nói tới Ẩm Thực.
5.18.4. Giải thích
kinh văn
5.18.4.1. Giúp tăng
thêm thực phẩm
5.18.4.1.1. Nêu ra lợi
ích do hoằng kinh
5.18.4.1.1.1. Nghi quỹ
thỉnh cầu được phép tuyên nói
(Kinh) Nhĩ thời, Kiên Lao Địa Thần
tức ư chúng trung, tùng ṭa nhi khởi, hiệp chưởng
cung kính, nhi bạch Phật ngôn:
(經)爾時堅牢地神即於眾中從座而起,合掌恭敬而白佛言:
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần liền từ
trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng lên,
chắp tay cung kính, bạch cùng đức Phật rằng).
Dưới
đây, kinh văn
trong phẩm này được chia
thành hai phần:
- Một,
[địa thần] giúp tăng thêm thực phẩm, vật dụng.
-
Hai, từ “bạch Phật ngôn” (bạch Phật rằng)
trở đi, [địa thần] ban thần chú và hiện
thân gia bị.
Phần
thứ nhất lại gồm có bốn đoạn:
- Một,
nêu ra lợi ích do hoằng kinh.
-
Hai, từ “nhược hữu phương xứ” (nếu
có nơi chốn) trở đi, nêu rơ lợi ích đạt
được.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn) trở đi, đức Phật trần
thuật lần nữa để kết lại.
- Bốn,
từ “nhĩ thời Kiên Lao” (lúc bấy giờ, Kiên
Lao) trở đi, địa thần nguyện thủ hộ.
Trong
phần “nêu ra [lợi ích do hoằng kinh]”, có hai ư:
- Một
là nghi quỹ [thỉnh cầu đức Phật cho phép
tuyên nói].
-
Hai, nêu ra lợi ích.
Phần
này chính là ư thứ nhất.
5.18.4.1.1.2. Nêu ra lợi
ích
5.18.4.1.1.2.1. Thời
điểm và nơi chốn hoằng kinh
(Kinh) Thế Tôn! Thị Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh, nhược hiện tại thế, nhược
vị lai thế, nhược tại thành ấp, tụ lạc,
vương cung lâu quán, cập A Lan Nhă, sơn trạch, không
lâm, hữu thử kinh vương lưu bố chi xứ.
Thế Tôn! Ngă đương văng nghệ kỳ sở, cúng
dường, cung kính, ủng hộ, lưu thông.
(經)世尊!是金光明最勝王經,若現在世、若未來世,若在城邑聚落、王宮樓觀,及阿蘭若、山澤空林,有此經王流布之處,世尊!我當往詣其所,供養恭敬擁護流通。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương này dù trong đời hiện tại, hay đời
vị lai, dù ở tại thành, ấp, xóm làng, cung vua, điện,
đài, và A Lan Nhă, núi, chằm, rừng vắng, hễ chỗ
nào có kinh vương này lưu truyền. Bạch Thế
Tôn! Con sẽ đến chỗ ấy, cúng dường,
cung kính, ủng hộ, lưu thông).
Kế
đó, “nêu ra lợi ích” có hai ư:
- Một,
nêu ra thời điểm và nơi chốn hoằng kinh.
-
Hai, từ “Thế Tôn ngă đương” (bạch Thế
Tôn! Con sẽ) trở đi, nêu rơ [địa thần] sẽ
tạo lợi ích cho người hoằng kinh.
5.18.4.1.2.2.
Nói rơ chuyện tạo lợi ích cho người hoằng
kinh
5.18.4.1.2.2.1. Địa
thần cúng dường người hoằng kinh
5.18.4.1.2.2.1.1. Chỉ
ra người hoằng kinh và nơi chốn
(Kinh)
Nhược hữu phương xứ, vị thuyết
pháp sư, phu trí cao ṭa, diễn thuyết kinh giả.
(經)若有方處為說法師敷置高座演說經者。
(Kinh: Nếu có nơi chốn nào, v́ vị thầy
thuyết pháp mà xếp đặt ṭa cao, diễn nói kinh
này).
Kế
đó, điều thứ hai là nói về lợi ích đạt
được, có ba ư:
- Một,
cúng dường người hoằng kinh.
-
Hai, “kư thọ như thị” (đă hưởng
như thế) trở đi, nói rơ: Được cúng
dường, càng hoằng dương kinh rộng răi.
-
Ba, từ “kư thính thọ dĩ” (đă nghe, nhận rồi)
trở đi, nêu ra lợi ích do nghe kinh.
Trong
phần thứ nhất, lại có năm ư. Ư thứ nhất
là chỉ ra người hoằng kinh và nơi chốn.
5.18.4.1.2.2.1.2. Địa
thần sẽ tột bậc cung kính
(Kinh)
Ngă dĩ thần lực, bất hiện bổn thân, tại
ư ṭa sở, đảnh đới kỳ túc.
(經)我以神力不現本身,在於座所頂戴其足。
(Kinh:
Con sẽ dùng thần lực, chẳng hiện thân ḿnh, ở
nơi ṭa ấy, đầu đội chân người ấy).
Kế
đó, ư thứ hai là thần cung kính đội chân [người
thuyết pháp].
5.18.4.1.2.2.1.3. Địa
thần được hưởng lợi ích nơi pháp
(Kinh) Ngă đắc văn pháp, thâm tâm hoan hỷ,
đắc xan pháp vị, tăng ích oai quang, khánh duyệt vô
lượng.
(經)我得聞法深心歡喜,得餐法味增益威光,慶悅無量。
(Kinh: Con
được nghe pháp, tâm hoan hỷ sâu xa, được
nếm pháp vị, tăng thêm oai quang, mừng vui vô lượng).
Kế
đó, ư thứ ba là địa thần được
hưởng pháp lợi.
5.18.4.1.2.2.1.4. Tạo lợi
ích để cúng dường
(Kinh) Tự thân kư đắc như thị lợi
ích, diệc linh đại địa thâm thập lục vạn
bát thiên du-thiện-na chí kim cang luân tế, linh kỳ địa
vị tất giai tăng ích, năi chí tứ hải sở hữu
thổ địa, diệc sử ph́ nùng, điền trù ốc
nhưỡng bội thắng thường nhật. Diệc
phục linh thử Thiệm Bộ châu trung giang, hà, tŕ,
chiểu, sở hữu chư thụ, dược thảo,
tùng lâm, chủng chủng hoa, quả, căn, hành, chi, diệp,
cập chư miêu giá, h́nh tướng khả ái, chúng sở
nhạo quán, sắc hương cụ túc, giai kham thọ dụng.
Nhược chư hữu t́nh thọ dụng như thị
thắng ẩm thực dĩ, trường
mạng, sắc lực, chư căn an ổn, tăng ích
quang huy, vô chư thống năo, tâm huệ dũng kiện, vô
bất kham năng. Hựu thử đại địa
phàm hữu sở tu, bách thiên sự nghiệp, tất giai
châu bị.
(經)自身既得如是利益,亦令大地深十六萬八千踰繕那至金剛輪際,令其地味悉皆增益,乃至四海所有土地亦使肥濃,田疇沃壤倍勝常日。亦復令此贍部洲中江河池沼所有諸樹藥草叢林、種種華果根莖枝葉及諸苗稼,形相可愛眾所樂觀,色香具足皆堪受用。若諸有情受用如是勝飲食已,長命色力諸根安隱,增益光暉無諸痛惱,心慧勇健無不堪能。又此大地凡有所須,百千事業悉皆周備。
(Kinh:
Bản thân đă được lợi ích như thế,
cũng khiến cho đại địa sâu mười sáu
vạn tám ngàn du-thiện-na (do-tuần) cho tới kim cang luân
tế, khiến cho đất đai đều tăng thêm
màu mỡ, cho đến tất cả đất đai
trong bốn biển cũng đều khiến cho ph́ nhiêu,
ruộng nương màu mỡ gấp bội thường
ngày. Cũng khiến cho trong châu Thiệm Bộ, sông ng̣i, ao,
chuôm, tất cả cây cối, cỏ thuốc, rừng lùm,
các thứ hoa, quả, rễ, thân, cành, lá, và các loại mạ
thóc, h́nh tướng đáng yêu, mọi người thích thấy,
sắc hương đầy đủ, đều
đáng hưởng dùng. Nếu các hữu t́nh hưởng
thụ thực phẩm thù thắng như thế xong, sẽ
tăng trưởng thọ mạng và sắc lực, các
căn an ổn, [diện mạo] tăng thêm tươi
sáng, không có các đau khổ, tâm huệ mạnh mẽ, không
ǵ chẳng thể kham làm được. Lại c̣n phàm là
các thứ cần có trong đại địa, trăm ngàn
sự nghiệp, thảy đều trọn đủ).
Kế
đó, ư thứ tư là “tăng ích để cúng dường”.
Cúng dường gồm năm điều:
- Một,
tăng ích độ màu mỡ của đất đai. Do
độ ph́ nhiêu của đất tăng thêm, khiến
cho các thứ sanh trưởng nơi đất thảy
đều tốt đẹp.
-
Hai, từ “năi chí” (cho đến) trở đi, [chỉ
rơ] phạm vi tạo lợi ích.
-
Ba, từ “diệc phục” (cũng lại) trở
đi, tăng ích các loại ngũ cốc.
- Bốn,
từ “nhược chư hữu t́nh” (nếu các hữu
t́nh) trở đi, tăng ích thọ dụng. Khiến cho vị
thầy thuyết pháp và người trải ṭa, đại
chúng nghe pháp, đều đạt được lợi
ích này. V́ thế nói là “nhược chư hữu t́nh”.
-
Năm, từ “hựu thử đại địa” (lại
c̣n đại địa này) trở
đi, tăng ích các vật dụng
sinh hoạt.
5.18.4.1.2.2.1.5. Kết lại
các lợi ích đạt được
(Kinh) Thế Tôn! Dĩ thị nhân duyên,
chư Thiệm Bộ châu an ổn, phong lạc, nhân dân xí thịnh,
vô chư suy năo, sở hữu chúng sanh, giai thọ an lạc.
(經)世尊!以是因緣,諸贍部洲安隱豐樂,人民熾盛無諸衰惱,所有眾生皆受安樂。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, các châu Thiệm Bộ
an ổn, giàu vui, nhân dân đông đảo, hưng thịnh,
không có các suy năo, tất cả chúng sanh đều hưởng
an vui).
Kế
đó, ư thứ năm là “kết lại chuyện đạt
được lợi ích”.
5.18.4.1.2.2.2. Người
đă được hưởng lợi ích, càng phải
nên hoằng kinh
5.18.4.1.2.2.2.1. Đă nghe
nói càng thêm tôn kính, nguyện hộ tŕ
(Kinh)
Kư thọ như thị thân tâm khoái lạc, ư thử kinh
vương, thâm gia ái kính, sở tại chi xứ,
giai nguyện thọ tŕ, cúng dường, cung kính, tôn trọng,
tán thán.
(經)既受如是身心快樂,於此經王深加愛敬,所在之處皆願受持供養恭敬尊重讚歎。
(Kinh:
Đă hưởng thân tâm vui sướng như thế,
đối với kinh vương này, càng thêm yêu kính sâu
đậm, chỗ nào có kinh đều nguyện hộ tŕ,
cúng dường, cung kính tôn trọng, tán thán).
Kế
đó, điều thứ hai là “đă được [địa
thần] cúng dường, càng phải nên hoằng
dương kinh rộng răi”. Trong phần này, lại chia
thành ba ư:
- Một,
nghe nói [kinh này], càng thêm tôn kính, phát nguyện hộ tŕ.
-
Hai, từ “hựu phục ư bỉ” (lại đối
với [vị thầy thuyết pháp] ấy) trở đi,
địa thần thỉnh [pháp sư] thuyết pháp,
và nêu ra lợi ích [sẽ đạt được do nghe
kinh].
-
Ba, từ “thị cố Thế Tôn” (v́ thế, đức
Thế Tôn) trở đi, khuyên hăy nghe kinh.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
5.18.4.1.2.2.2.2. Địa
thần thỉnh [pháp sư] nói kinh và nêu ra lợi ích [do nghe
kinh]
(Kinh)
Hựu phục ư bỉ thuyết pháp đại sư
pháp ṭa chi xứ, tất giai văng bỉ, vị chư chúng
sanh, khuyến thỉnh thuyết thị tối thắng
kinh vương. Hà dĩ cố? Thế Tôn! Do thuyết thử
kinh, ngă chi tự thân, tịnh chư quyến thuộc, hàm
mông lợi ích, quang huy khí lực, dũng mănh oai thế, nhan
dung đoan chánh, bội thắng ư thường. Thế
Tôn! Ngă Kiên Lao Địa Thần mông pháp vị dĩ, linh
Thiệm Bộ châu tung quảng thất thiên du-thiện-na,
địa giai tất ốc nhưỡng, năi chí như tiền,
sở hữu chúng sanh giai thọ an lạc.
(經)又復於彼說法大師法座之處,悉皆往彼為諸眾生勸請說是最勝經王。何以故?世尊!由說此經,我之自身并諸眷屬咸蒙利益,光暉氣力、勇猛威勢、顏容端正倍勝於常。世尊!我堅牢地神蒙法味已,令贍部洲縱廣七千踰繕那地皆悉沃壤,乃至如前所有眾生皆受安樂。
(Kinh: Lại
c̣n thảy đều tới chỗ có pháp ṭa của vị
đại sư
thuyết pháp ấy để v́ các chúng sanh mà khuyên mời
[vị ấy] nói kinh vương tối thắng này. V́ sao
vậy? Bạch Thế Tôn! Do nói kinh này, tự thân của
con và các quyến thuộc đều được lợi
ích, khí lực rạng rỡ, oai thế dũng mănh, diện
mạo đoan chánh gấp bội thường nhật. Bạch
Thế Tôn! Con là Kiên Lao Địa Thần đă được
hưởng pháp vị rồi, sẽ khiến cho châu Thiệm
Bộ ngang dọc bảy ngàn du-thiện-na, đất
đai đều ph́ nhiêu, cho đến như trong phần
trước [đă nói], tất cả chúng sanh đều
hưởng an lạc).
Kế
đó, nói rơ địa thần thỉnh [pháp sư] nói kinh
này,
và lợi ích [đạt được do nghe kinh này], lại
gồm hai ư:
- Một,
thỉnh nói kinh.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Ngă Kiên Lao” trở đi, [địa
thần] ban cho lợi ích.
Phần
“thỉnh nói” gồm ba điều:
- Một,
nguyện thỉnh [pháp sư] thuyết kinh.
-
Hai, từ “hà dĩ cố” (v́ cớ sao) trở đi,
gạn hỏi [lư do v́ sao thỉnh pháp sư thuyết kinh].
-
Ba, từ “Thế Tôn” trở đi, giải thích các lợi
ích sẽ ban cho. Kinh văn dễ hiểu.
5.18.4.1.2.2.2.3. Khuyên nghe
kinh
(Kinh)
Thị cố, Thế Tôn! Thời bỉ chúng sanh, vị báo
ngă ân, ưng tác thị niệm: “Ngă đương tất
định thính thọ thị kinh, cung kính, cúng dường,
tôn trọng, tán thán”. Tác thị niệm dĩ, tức tùng trụ
xứ, thành, ấp, tụ lạc, xá trạch, không địa,
nghệ pháp hội sở, đảnh lễ pháp sư,
thính thọ thị kinh.
(經)是故世尊!時彼眾生為報我恩,應作是念:我當必定聽受是經,恭敬供養尊重讚歎。作是念已,即從住處城邑聚落舍宅空地詣法會所,頂禮法師聽受是經。
(Kinh:
V́ vậy, bạch Thế Tôn! Khi đó, chúng sanh v́ báo ân con,
hăy nên nghĩ như thế này: “Tôi nhất định sẽ
nghe, nhận kinh này, cung kính, cúng dường, tôn trọng,
tán thán”. Nghĩ như thế rồi, liền từ chỗ
ở nơi thành, ấp, xóm làng, nhà cửa, đất trống,
đến chỗ pháp hội, đảnh lễ pháp sư
để nghe, nhận kinh này).
Kế
đó là khuyên nghe kinh, có ba ư:
- Một,
nghĩ báo ân.
-
Hai, từ “ưng tác thị niệm” (hăy nên nghĩ
như thế này) trở đi, khởi quyết tâm nghe
kinh.
-
Ba, từ “tác thị niệm dĩ” (nghĩ như thế
xong) trở đi, đến pháp hội để nghe.
5.18.4.1.2.3. Nghe kinh đạt
được lợi ích
5.18.4.1.2.3.1. Khuyên hăy
cùng nhau vui mừng
(Kinh)
Kư thính thọ dĩ, các hoàn bổn xứ, tâm sanh khánh hỷ,
cộng tác thị ngôn: - Ngă đẳng kim giả đắc
văn thậm thâm vô thượng diệu pháp, tức thị
nhiếp thọ bất khả tư nghị công đức
chi tụ. Do kinh lực cố, ngă đẳng đương
trị vô lượng vô biên bách thiên câu-chi na-dữu-đa
Phật, thừa sự, cúng dường, vĩnh ly tam đồ
cực khổ chi xứ. Phục ư lai thế, bách thiên
sanh trung, thường sanh thiên thượng, cập tại nhân
gian, thọ chư thắng lạc.
(經)既聽受已各還本處,心生慶喜共作是言:我等今者得聞甚深無上妙法,即是攝受不可思議功德之聚。由經力故,我等當值無量無邊百千俱胝那庾多佛,承事供養,永離三塗極苦之處,復於來世百千生中,常生天上及在人間受諸勝樂。
(Kinh:
Đă nghe, nhận rồi, ai nấy trở về chỗ ḿnh, sanh tâm vui mừng, cùng nói
như thế này: - Chúng ta ngày nay được nghe vô
thượng diệu pháp rất sâu, tức là nhiếp thọ
chẳng thể nghĩ bàn khối công đức. Do sức
của kinh, chúng ta sẽ gặp vô lượng vô biên
trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa Phật để thừa
sự, cúng dường, vĩnh viễn ĺa khỏi chốn
tam đồ khổ sở cùng cực, lại c̣n trong
trăm ngàn đời mai sau, thường sanh trên trời, hay trong nhân gian,
hưởng các niềm vui thù thắng).
Phần
thứ ba là “nghe kinh đạt được lợi ích”,
có ba đoạn:
- Một,
[thính chúng] khuyên bảo lẫn nhau cùng vui mừng.
-
Hai, từ “thời bỉ chư nhân” (khi đó, các
người ấy) trở đi, [bảo ban lẫn nhau]
truyền nói kinh này nhằm lợi lạc người khác.
-
Ba, từ “Thế Tôn! Tùy chư” (bạch Thế Tôn!
Tùy theo các [chúng sanh]) trở đi, nói về lợi ích đạt
được.
Trong
đoạn thứ nhất, lại có năm ư:
- Một,
[thính chúng] vui mừng v́ được nghe pháp sâu.
-
Hai, từ “tức thị” (tức là) trở đi, mừng
vui v́ được phước rộng răi.
-
Ba, từ “do kinh lực” (do sức của kinh) trở
đi, mừng v́ sẽ gặp Phật.
- Bốn,
từ “vĩnh ly” (vĩnh viễn ĺa khỏi) trở
đi, mừng v́ thoát khỏi tam đồ.
-
Năm, từ “phục ư” (lại c̣n) trở
đi, mừng v́ đạt được quả báo thù thắng.
5.18.4.1.2.3.2. Truyền
nói kinh này ḥng lợi lạc người khác
(Kinh) Thời bỉ chư nhân các hoàn bổn
xứ, vị chư nhân chúng thuyết thị kinh vương,
nhược nhất dụ, nhất phẩm, nhất tích
nhân duyên, nhất Như Lai danh, nhất Bồ Tát danh, nhất
tứ cú tụng,
hoặc phục nhất cú, vị chư chúng sanh thuyết
thị kinh điển, năi chí thủ đề danh tự.
(經)時彼諸人各還本處,為諸人眾說是經王,若一喻一品、一昔因緣、一如來名、一菩薩名、一四句頌或復一句,為諸眾生說是經典乃至首題名字。
(Kinh:
Khi đó, các người ấy trở về chỗ ḿnh,
ai nấy đều v́ những người khác nói kinh
vương này, hoặc là một thí dụ, một phẩm,
một nhân duyên xưa, một danh hiệu Như Lai, một
danh hiệu Bồ Tát, một bài tụng gồm bốn câu,
hoặc là một câu, v́ các chúng sanh nói kinh điển này,
cho đến [chỉ nói] tựa đề bộ kinh).
Kế
đó, truyền nói để lợi lạc người
khác.
5.18.4.1.2.3.3. Nói rơ lợi
ích đạt được
(Kinh) “Thế Tôn! Tùy chư chúng sanh sở trụ
chi xứ, kỳ địa tất giai ốc nhưỡng,
ph́ nùng quá ư dư xứ. Phàm thị thổ địa sở
sanh chi vật, tất đắc tăng trưởng,
tư mậu quảng đại, linh chư chúng sanh thọ
ư khoái lạc, đa nhiêu trân tài, hảo sanh huệ thí,
tâm thường kiên cố, thâm tín Tam Bảo”. Tác thị ngữ
dĩ.
(經)世尊!隨諸眾生所住之處,其地悉皆沃壤肥濃過於餘處,凡是土地所生之物悉得增長滋茂廣大,令諸眾生受於快樂,多饒珍財好生惠施,心常堅固深信三寶。作是語已。
(Kinh:
“Bạch Thế Tôn! Nơi các chúng sanh ấy cư trụ,
đất đai thảy đều ph́ nhiêu, màu mỡ
hơn hẳn các chỗ khác. Phàm là các vật sanh trưởng
từ đất đai đều được tăng
trưởng, tươi tốt, sum suê rộng lớn, khiến
cho các chúng sanh hưởng vui sướng, của báu dồi
dào, dễ sanh tâm bố thí rộng răi, tâm thường kiên
cố, tin sâu Tam Bảo”. Nói lời ấy xong).
Kế
đó, nêu ra lợi ích đạt được.
5.18.4.1.3. Đức Phật
trần thuật sự thành tựu
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Kiên Lao Địa Thần viết:
“Nhược hữu chúng sanh văn thị Kim Quang Minh Tối
Thắng kinh vương, năi chí nhất cú, mạng chung chi hậu,
đương đắc văng sanh Tam Thập Tam Thiên, cập
dư thiên xứ. Nhược hữu chúng sanh vị dục
cúng dường thị kinh vương cố, trang nghiêm trạch
vũ, năi chí trương nhất tán, cái, huyền nhất
tăng phan, do thị nhân duyên, Lục Thiên chi thượng
như niệm thọ sanh. Thất bảo diệu cung tùy ư
thọ dụng. Các các tự nhiên hữu thất thiên thiên nữ,
cộng tương ngu lạc, nhật dạ thường
thọ bất khả tư nghị thù thắng chi lạc”.
Tác thị ngữ dĩ.
(經)爾時世尊告堅牢地神曰:若有眾生聞是金光明最勝經王乃至一句,命終之後當得往生三十三天及餘天處。若有眾生為欲供養是經王故,莊嚴宅宇乃至張一傘蓋、懸一繒旛,由是因緣六天之上如念受生,七寶妙宮隨意受用,各各自然有七千天女共相娛樂,日夜常受不可思議殊勝之樂。作是語已。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Kiên Lao Địa
Thần rằng: “Nếu có chúng sanh nghe kinh vương Kim
Quang Minh Tối Thắng này, dù chỉ một câu, sau khi mạng
chung, sẽ được sanh về Tam Thập Tam Thiên (trời
Đao Lợi), và các cơi trời khác. Nếu có chúng sanh v́ muốn
cúng dường kinh vương này, bèn trang nghiêm nhà cửa,
cho đến căng một cái tàn, lọng, treo một lá
phan lụa, do nhân duyên ấy, sẽ theo đúng ư niệm mà
thọ sanh trong sáu tầng trời
của Dục Giới, cung
điện bảy báu tùy ư thọ dụng, ai nấy đều
có bảy ngàn thiên nữ cùng nhau vui sướng, ngày đêm
thường hưởng niềm vui thù thắng chẳng
thể nghĩ bàn”. Nói lời ấy xong).
Kế
đó, phần thứ ba là “đức Phật trần thuật
sự thành tựu”. Trong ấy, có hai ư:
- Một,
trần thuật để kết lại “lợi ích sẽ
đạt được do nghe kinh”.
-
Hai, từ “nhược hữu chúng sanh” (nếu có
chúng sanh) trở đi, trần thuật nhằm kết lại
phần “lợi ích do cúng dường”. Phần kinh văn trần
thuật “đạt được lợi ích là sanh lên cơi
trên” chẳng nói tới chuyện hưởng vui là để
[người nghe] tự liên tưởng vậy!
5.18.4.1.4. Địa thần
nguyện thủ hộ
5.18.4.1.4.1. Nguyện thủ
hộ pháp sư
(Kinh)
Nhĩ thời, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Dĩ thị nhân duyên, nhược hữu
tứ chúng thăng ư pháp ṭa, thuyết thị pháp thời,
ngă đương trú dạ, ủng hộ thị nhân, tự
ẩn kỳ thân, tại ư ṭa sở, đảnh đới
kỳ túc.
(經)爾時堅牢地神白佛言:世尊!以是因緣,若有四眾昇於法座說是法時,我當晝夜擁護是人,自隱其身在於座所頂戴其足。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật
rằng: - Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên ấy, nếu khi
nào có tứ chúng lên pháp ṭa, nói pháp này, con sẽ suốt ngày
đêm ủng hộ người ấy, tự ẩn thân
ḿnh, ở nơi pháp ṭa, đầu đội chân người
ấy).
Kế
đó, điều thứ tư là “địa thần nguyện
thủ hộ”. Trong ấy, có ba ư, ư thứ nhất là “nguyện
thủ hộ pháp sư”.
5.18.4.1.4.2. Nguyện thủ
hộ chánh pháp và khiến cho chúng sanh được lợi
ích
(Kinh)
Thế Tôn! Như thị kinh điển vi bỉ chúng sanh
dĩ ư bách thiên Phật sở chủng thiện căn
giả, ư Thiệm Bộ châu lưu bố bất diệt.
Thị chư chúng sanh thính tư kinh giả, ư vị lai
thế, vô lượng bách thiên câu-chi na-dữu-đa kiếp,
thiên thượng, nhân trung, thường thọ thắng lạc,
đắc ngộ chư Phật, tốc thành A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, bất lịch tam
đồ sanh tử chi khổ.
(經)世尊!如是經典為彼眾生已於百千佛所種善根者於贍部洲流布不滅,是諸眾生聽斯經者,於未來世無量百千俱胝那庾多劫天上人中常受勝樂,得遇諸佛速成阿耨多羅三藐三菩提,不歷三塗生死之苦。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Kinh điển như thế là do các
chúng sanh ấy đă gieo thiện căn nơi trăm ngàn
chư Phật, lưu truyền bất diệt trong châu Thiệm
Bộ. Các chúng sanh ấy nghe kinh này, nơi đời vị
lai, sẽ trong vô lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa
kiếp, thường hưởng niềm vui thù thắng
trên cơi trời, hay trong nhân gian,
được gặp chư Phật, chóng thành Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, chẳng trải qua nỗi khổ
sanh tử trong tam đồ).
Kế
đó, ư thứ hai là “nguyện thủ hộ chánh pháp”.
Thủ hộ chánh pháp nhằm lợi ích hữu t́nh. Từ
“thị chư chúng sanh” (các chúng sanh ấy) trở
đi, nêu rơ: “Sẽ khiến cho chúng sanh đạt
được lợi ích”, có hai điều:
- Một,
đạt được lạc quả.
-
Hai, ĺa khổ báo.
Lạc
quả có hai:
- Một,
hưởng quả thế gian.
-
Hai, từ “đắc ngộ chư Phật”
(được gặp chư Phật) trở đi, nói về
cái quả xuất thế.
Đối
với chuyện “ĺa khổ báo” kế đó, kinh văn dễ
hiểu.
5.18.4.2. Ban thần chú
và hiện thân gia bị
5.18.4.2.1. Khải bạch
(Kinh)
Nhĩ thời, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Ngă hữu tâm chú, năng lợi nhân thiên,
an lạc nhất thiết.
(經)爾時堅牢地神白佛言:世尊!我有心呪能利人天安樂一切。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Kiên Lao Địa Thần bạch Phật
rằng: - Bạch Thế Tôn! Con có tâm chú có thể lợi
ích trời người, an lạc hết thảy).
Kế
đó, đoạn lớn thứ hai là “ban cho thần chú, và
hiện thân gia bị”. Trong ấy, chia thành ba phần:
- Một,
khải bạch.
-
Hai, từ “nhược hữu” (nếu có) trở
đi, nói thần chú.
-
Ba, đức Phật tán thán.
Đoạn
này thuộc phần thứ nhất.
5.18.4.2.2. Thuyết chú
5.18.4.2.2.1. Bảo ban dạy
pháp
(Kinh)
Nhược hữu nam tử, nữ nhân, cập chư tứ
chúng, dục đắc thân kiến ngă chân thân giả,
ưng đương chí tâm tŕ thử Đà La Ni, tùy kỳ
sở nguyện, giai tất toại tâm, sở vị:
Tư tài, trân bảo, phục tạng, cập cầu thần
thông, trường niên diệu dược, tịnh liệu
chúng bệnh, hàng phục oán địch, chế chư dị
luận. Đương ư tịnh thất, an trí đạo
tràng, tẩy dục thân dĩ, trước tiễn khiết
y, cứ thảo ṭa thượng. Ư hữu xá-lợi tôn
tượng chi tiền, hoặc hữu xá-lợi chế-để
chi sở, thiêu hương, tán hoa, ẩm thực cúng dường,
ư bạch nguyệt bát nhật Bố-sái tinh hợp.
(經)若有男子女人及諸四眾,欲得親見我真身者,應當至心持此陀羅尼,隨其所願皆悉遂心,所謂資財珍寶伏藏,及求神通長年妙藥,并療眾病、降伏怨敵、制諸異論。當於淨室安置道場,洗浴身已,著鮮潔衣,踞草座上。於有舍利尊像之前或有舍利制底之所,燒香散華飲食供養,於白月八日布灑星合。
(Kinh:
Nếu có người nam, kẻ nữ, và các tứ chúng muốn
được thấy chân thân của con, hăy nên
chí tâm tŕ Đà La Ni này, sở nguyện nào cũng thảy
đều toại ư, như là các vật dụng sinh hoạt,
trân bảo, kho tàng, và cầu thần thông, thuốc mầu
nhiệm để tăng thọ, và chữa trị các bệnh,
hàng phục oán địch, chế phục các dị luận.
Hăy nên ở trong tịnh thất, xếp đặt đạo
tràng, tắm gội thân thể xong, mặc áo sạch sẽ,
ngồi xổm trên ṭa cỏ. Đối trước tôn
tượng có xá-lợi, hoặc chỗ chùa tháp thờ Phật
có xá-lợi, đốt hương, rải hoa, cúng dường
thức ăn, trong ngày mồng Tám của bạch nguyệt, nhằm lúc có sao Bố-sái).
Kế
đó, nói chú, lại có ba phần:
- Một,
bảo ban dạy pháp.
-
Hai, nói riêng từng điều để dạy.
-
Ba, kết lại, khuyên học.
Phần
thứ nhất có ba đoạn:
- Một,
nói chung.
-
Hai, từ “tùy kỳ sở nguyện” (tùy theo điều
ước nguyện) trở đi, trần thuật công
năng của chú.
-
Ba, từ “đương trị tịnh thất” (hăy
nên xếp dọn tịnh thất), dạy cách tŕ chú.
Cách
ấy gồm sáu điều:
- Một,
thanh tịnh một căn thất, lập đàn tràng.
-
Hai, tắm gội trang nghiêm thân ḿnh.
- Ba,
ngồi ở nơi ṭa.
- Bốn,
đối trước tôn nghi [của Phật, Bồ Tát].
-
Năm, sắp đặt cúng dường.
-
Sáu, lúc tụng chú là mồng Tám
của bạch nguyệt. Trong cách tính tháng của
phương Tây (Ấn Độ), nửa tháng hắc nguyệt
ở trước, nửa tháng bạch nguyệt tại
sau, khác với phương này, chỉ xét theo ngày mồng
Tám của bạch nguyệt để tụng chú. Sao Bố-sái
(Puṣya)
chính là sao Quỷ ở phương này. Nhưng chẳng cần
biết là tháng thiếu hay đủ, nếu là ngày mồng
tám thuộc bạch nguyệt sẽ thường ứng với
sao Quỷ. Chỉ nên chuẩn theo ngày mồng Tám thuộc bạch
nguyệt trùng với ngày có sao Quỷ,
bởi chưa chắc ngày mồng Tám trong bạch
nguyệt luôn luôn
tương
ứng với sao Quỷ. Trước hết,
tụng chú hộ thân; sau đó tụng chú thấy thân
[địa thần], cuối cùng là tụng chú để
cùng tṛ chuyện [với địa thần].
5.18.4.2.2.2. Nói riêng từng
bài chú để dạy
5.18.4.2.2.2.1. Chú thỉnh
vời
(Kinh)
Tức khả tụng thử thỉnh triệu chi chú: -
Đát điệt tha, chỉ lư, chỉ lư, chủ rô, chủ
rô, cú rô, cú rô, câu trụ, câu trụ, đổ trụ, đổ
trụ, phược ha, phược ha, phạt xả, phạt
xả, sa ha. Thế Tôn! Thử chi thần chú, nhược
hữu tứ chúng tụng nhất bách bát biến, thỉnh
triệu ư ngă, ngă vị thị nhân, tức
lai phó thỉnh.
(經)即可誦此請召之呪:怛姪他。只里。只里。主嚕。主嚕。句嚕。句嚕。拘柱。拘柱。覩柱。覩柱。縛訶。縛訶。伐捨。伐捨。莎訶。世尊!此之神呪,若有四眾誦一百八遍請召於我,我為是人即來赴請。
(Kinh:
Liền có thể tụng chú thỉnh vời này: - Đát
điệt tha, chỉ lư, chỉ lư, chủ rô, chủ rô, cú
rô, cú rô, câu trụ, câu trụ, đổ trụ, đổ
trụ, phược ha, phược ha, phạt xả, phạt
xả, sa ha. Bạch Thế Tôn! Thần chú này nếu có tứ
chúng tụng một trăm lẻ tám lần, thỉnh vời
con, con sẽ v́ người đó liền đến
đáp ứng lời thỉnh).
Kế đó, dạy nói từng
điều riêng biệt.
Ba bài chú hợp thành ba đoạn. Đây là đoạn thứ
nhất, gồm ba phần: Một là nêu ra, hai là nói chú, ba là
cách tụng. Nói “tức khả” chẳng phải là
ngày mồng Tám trước hết liền tụng chú này,
mà là thuận theo mạch văn liền nói “tức khả”
(liền có thể) tụng chú này. Nếu chẳng phải
vậy, chú hộ thân nói vào lúc nào? V́ thế, trước hết
phải nên tụng chú hộ thân.
5.18.4.2.2.2.2. Chú thỉnh
cùng Địa Thần tṛ
chuyện
(Kinh)
Hựu phục Thế Tôn! Nhược hữu chúng sanh dục
đắc kiến ngă hiện thân cộng ngữ giả,
diệc phục như tiền an trí pháp thức, tụng thử
thần chú: “Đát điệt tha. Át chiết nê, hiệt lực
sát nê thất thi đạt rị, ha ha hế hế, khu rô,
phạt lệ, sa ha”. Thế Tôn! Nhược nhân tŕ thử
chú thời, ưng tụng nhất bách bát biến, tịnh
tụng tiền chú, ngă tất hiện thân, tùy kỳ sở
nguyện, tất đắc thành tựu, chung bất hư
nhiên!
(經)又復世尊!若有眾生欲得見我現身共語者,亦復如前安置法式,誦此神呪:怛姪他。頞折泥。頡力剎泥室尸達哩。訶訶呬呬。區嚕。伐囇。莎訶。世尊!若人持此呪時,應誦一百八遍,并誦前呪,我必現身,隨其所願悉得成就,終不虛然。
(Kinh:
Lại nữa, bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh muốn
thấy con hiện thân và cùng tṛ chuyện, cũng lại xếp
đặt theo cách thức như trên, tụng thần chú
này: “Đát điệt tha. Át chiết nê, hiệt lực sát
nê thất thi đạt rị, ha ha hế hế, khu rô, phạt
lệ, sa ha”. Bạch Thế Tôn! Nếu người lúc tŕ
chú này, hăy nên tụng một trăm lẻ tám lượt,
và tụng chú trên đây, con ắt hiện thân, tùy theo nguyện
của người ấy mà đều được
thành tựu trọn chẳng hư dối!)
Kế
đó là chú thỉnh cùng tṛ chuyện [với địa thần],
kinh văn chia thành ba phần như trên. Trong phần cách tụng,
nói rơ “phải đọc [chú này] cùng với chú [thỉnh triệu]
trong phần trước”, chẳng phải tụng chú “thỉnh
nói” th́ thần liền tới tṛ chuyện! Trước hết,
phải tụng chú thỉnh hiện thân rồi mới tụng
chú này. Lại chẳng phải chỉ tụng chú hiện
thân một trăm lẻ tám lượt, mà là khi tụng chú
thỉnh nói chuyện, lại tụng bài chú trên đây [tức
chú hiện thân] một trăm lẻ tám lượt.
5.18.4.2.2.2.3. Chú hộ
thân
(Kinh)
Nhược dục tụng thử chú thời, tiên tụng
hộ thân chú viết: - Đát điệt tha, nhĩ thất
lư, vị xả yết trí nại trí củ trí, bột
địa, bột địa lệ. Tỳ trí, tỳ trí, củ
cú trí, khư bà, chỉ rị, sa ha. Thế Tôn! Tụng thử
chú thời, thủ ngũ sắc tuyến, tụng chú nhị
thập nhất biến, tác nhị thập nhất kết,
hệ tại tả tư trửu hậu, tức tiện hộ
thân, vô hữu sở cụ.
(經)若欲誦此呪時,先誦護身呪曰:怛姪他。爾室里。未捨羯㨖捺㨖矩㨖。勃地。勃地囇。婢㨖。婢㨖。矩句㨖。佉婆。只哩。莎訶。世尊!誦此呪時,取五色線誦呪二十一遍作二十一結,繫在左臂肘後,即便護身,無有所懼。
(Kinh:
Nếu muốn tụng chú này, trước hết tụng
chú hộ thân như sau: - Đát điệt tha, nhĩ thất
lư, vị xả yết trí nại trí củ trí, bột
địa, bột địa lệ. Tỳ trí, tỳ trí,
củ cú trí, khư bà, chỉ rị, sa ha. Bạch Thế
Tôn! Khi tụng chú này, hăy lấy chỉ năm màu, tụng chú
[vào đó] hai mươi mốt lượt, thắt hai
mươi mốt nút, buộc vào tay trái sau khủy tay, sẽ
liền hộ thân, chẳng có ǵ sợ hăi).
Kế
đó, dạy chú hộ thân. Kinh văn chia thành ba phần giống
như phần trước.
5.18.4.2.2.3. Kết lại,
khuyên hăy học
(Kinh)
Nhược hữu chí tâm tụng thử chú giả, sở
cầu tất toại, ngă bất vọng ngữ! Ngă dĩ
Phật, Pháp, Tăng Bảo nhi vi yếu khế, chứng
tri thị thật.
(經)若有至心誦此呪者,所求必遂。我不妄語,我以佛法僧寶而為要契證知是實。
(Kinh: Nếu có
người chí tâm tụng chú này, sở cầu ắt toại,
con chẳng nói dối! Con lấy Phật, Pháp, Tăng Bảo
để làm chứng cớ trọng yếu ḥng chứng
biết đấy là sự thật).
Kế
đó là kết lại, khuyên học.
5.18.4.2.3. Đức Phật
tán thán
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo địa thần viết: -
Thiện tai, thiện tai! Nhữ năng dĩ thị thật
ngữ thần chú hộ thử kinh vương, cập
thuyết pháp giả, dĩ thị nhân duyên, linh nhữ hoạch
đắc vô lượng phước báo.
(經)爾時世尊告地神曰:善哉善哉!汝能以是實語神呪護此經王及說法者,以是因緣,令汝獲得無量福報。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo địa
thần rằng: - Lành thay! Lành thay! Bà có thể dùng thần
chú thật ngữ như thế để thủ hộ
kinh vương này và người thuyết pháp, do nhân duyên ấy,
sẽ khiến cho bà đạt được vô lượng
phước báo).
Sau
cùng, đức Phật tán thán để kết lại.
5.19. Phẩm thứ
mười chín: Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa
đại tướng (Tăng Thận Nhĩ Da Dược
Xoa đại tướng phẩm đệ thập cửu, 僧慎爾耶藥叉大將品第十
九)
Phẩm
Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa Đại Tướng
gồm ba môn phân biệt.
5.19.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Nói tới ư nghĩa “v́ sao có phẩm này” th́ trong năm
phẩm tăng phước, bốn phẩm trước là
tăng trưởng tứ biện tài và y phục, thực
phẩm, c̣n phẩm này nhằm tăng trưởng trí huệ.
Do có trí lực, sẽ có thể thuyết pháp chân chánh, thọ
dụng cơm áo. Nếu chẳng có trí huệ, sợ rằng
sẽ thuyết pháp điên đảo, đắm nhiễm
cơm áo. Nhằm ĺa lỗi ấy, bèn ban cho trí
huệ, nên có phẩm này sanh khởi.
Lại
có thể hiểu rằng: Phẩm Biện Tài Thiên trước
đó nhằm tăng thêm biện tài tức là trí. Phẩm
Cát Tường Thiên Nữ và Kiên Lao Địa Thần tăng
thêm cơm áo, đó là phước. Nay v́ lợi ích cả
hai, cho nên có phẩm này sanh khởi. Vị thần này hoặc là Tam Địa Bồ Tát,
do đă đạt được trí quang. Trí quang là huệ
sáng chói, danh lẫn nghĩa đều vẹn toàn. Hoặc
Ngài thuộc Ngũ Địa, do đă liễu Chân đạt
Tục. Hoặc là Đệ Thập Địa, do có thể
thông đạt cảnh khó nghĩ biết. Theo quyển hai
mươi mốt của kinh Đại Tập, vị
đại sĩ này trong thời quá khứ đă ở chỗ
các vị như Thi Khí Phật v.v… phát nguyện làm thân quỷ
thần, tức là như trong các bản dịch cũ gọi
vị này là Tán Chi đại tướng.
5.19.2. Giải thích tên gọi
của phẩm này
Giải
thích tên gọi của phẩm này: Tăng Thận Nhĩ Da (Saṃjñeya) được
phương này dịch là Chánh Liễu Tri. Dược Xoa (Yakṣa) được phương
này dịch là Dũng Kiện (勇健, mạnh mẽ). Oai thế nhiếp phục các quỷ, trí khác các thần,
thống lănh hàng oán; v́ thế, gọi
là Đại Tướng. Nay nói rơ vị tướng này có
thể tăng thêm trí huệ; do vậy, gọi phẩm này
bằng danh xưng ấy.
5.19.3. Giải thích vấn
nạn
* Hỏi:
Phẩm trước ban cho biện tài, đấy cũng là
trí huệ; phẩm này nói “ban cho trí”, th́ có ǵ khác với phẩm
trước?
Đáp:
Tuy đều là trí, nhưng Thể và Dụng khác biệt.
Tứ biện tài là nói về Dụng,
phẩm này nói về Thể. Tứ Biện
Tài là Hậu Đắc Trí, phẩm này bao gồm Căn Bản
Trí. Đấy là dựa theo ư nghĩa thứ nhất trong
phần [biện định] v́ sao có phẩm này, c̣n lời
cật vấn là dựa theo ư thứ hai, Tổng và Biệt
sai khác cũng chẳng mâu thuẫn với phần trước!
5.19.4. Giải thích kinh
văn
5.19.4.1. Dùng trí để
tăng thêm huệ
5.19.4.1.1. Nêu bày [Dược
Xoa đại tướng] có thể ủng hộ
5.19.4.1.1.1. Nghi thức
xin phép thủ hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa
đại tướng, tịnh dữ nhị thập bát bộ
Dược Xoa chư thần, ư đại chúng trung, giai
tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất
trước địa, hiệp chưởng hướng
Phật.
(經)爾時僧慎爾耶藥叉大將并與二十八部藥叉諸神,於大眾中皆從座起,偏袒右肩右膝著地合掌向佛。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa
đại tướng, cùng với các thần thuộc hai
mươi tám bộ Dược Xoa, ở trong đại
chúng, đều từ chỗ ngồi đứng lên, trật
vai áo phải, gối phải đặt sát đất, chắp
tay hướng về đức Phật).
Tán
rằng: Phẩm này được chia thành hai phần:
- Một,
dùng trí để tăng thêm huệ.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Chánh Liễu Tri” (lúc bấy
giờ, Chánh Liễu Tri) trở đi, lại dùng chú lực
để gia tŕ.
Đoạn
thứ nhất chia thành ba ư:
- Một,
nêu ra [Dược Xoa đại tướng] có thể ủng
hộ.
-
Hai, từ “Thế Tôn! Hà cố” (bạch Thế Tôn! V́
sao) nêu nguyên do [các vị Dược
Xoa] có thể ủng hộ.
-
Ba, từ “dĩ thị nghĩa cố” (do v́ nghĩa ấy)
trở đi, nói tới lợi ích đạt được
do thủ hộ.
Ư thứ
nhất lại chia thành hai phần, phần này là nghi thức
[mà Dược Xoa đại tướng dùng để] thỉnh
cầu [đức Phật cho phép] ủng hộ [kinh này].
5.19.4.1.1.2. Nói rơ chính
ḿnh có thể ủng hộ
5.19.4.1.1.2.1. Ủng hộ
pháp sư
(Kinh) Bạch ngôn: - Thế Tôn! Thử Kim
Quang Minh tối thắng kinh vương, nhược hiện
tại thế, cập vị lai thế, sở tại tuyên
dương, lưu bố chi xứ, nhược ư thành,
ấp, tụ lạc, sơn trạch, không lâm, hoặc
vương cung điện, hoặc tăng trụ xứ,
Thế Tôn! Ngă Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại
tướng, tịnh dữ nhị thập bát bộ Dược
Xoa chư thần, câu nghệ kỳ sở, các tự ẩn
h́nh, tùy xứ ủng hộ bỉ thuyết pháp sư, linh
ly suy năo, thường thọ an lạc.
(經)白言:世尊!此金光明最勝經王,若現在世及未來世,所在宣揚流布之處,若於城邑聚落、山澤空林、或王宮殿、或僧住處,世尊!我僧慎爾耶藥叉大將并與二十八部藥叉諸神俱詣其所,各自隱形,隨處擁護彼說法師,令離衰惱常受安樂。
(Kinh:
Bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu trong đời
hiện tại và đời vị lai, hễ có chỗ nào
tuyên dương và lưu truyền kinh vương Kim Quang
Minh tối thắng này, hoặc là trong thành, ấp, xóm làng,
núi, chằm, rừng vắng, hoặc cung điện của
vua, hoặc chỗ tăng cư trụ, bạch Thế
Tôn! Con là Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa đại
tướng, cùng với các thần thuộc hai mươi
tám bộ Dược Xoa sẽ đều cùng tới chỗ
đó, ai nấy tự ẩn thân, luôn theo ủng hộ vị
thầy thuyết pháp ấy, khiến cho vị ấy ĺa
suy năo, thường hưởng an vui).
Kế
đó, nêu ra sự ủng hộ, có hai đoạn:
- Một,
ủng hộ pháp sư.
-
Hai, từ “cập thính giả” (và người nghe) trở
đi, ủng hộ thính chúng.
Trong
phần “ủng hộ pháp sư” có ba điều:
- Một,
kinh được hoằng dương và thời điểm
[hoằng kinh].
-
Hai, từ “sở tại tuyên dương” trở
đi, nói về chỗ
hoằng kinh.
-
Ba, từ “Thế Tôn” trở đi, nêu ra sự ủng
hộ.
5.19.4.1.1.2.1. Ủng hộ
thính chúng
(Kinh)
Cập thính pháp giả, nhược nam, nhược nữ,
đồng nam, đồng nữ, ư thử kinh trung, năi
chí thọ tŕ nhất tứ cú tụng,
hoặc tŕ nhất cú, hoặc thử kinh vương thủ
đề danh hiệu, cập thử kinh trung nhất
Như Lai danh, nhất Bồ Tát danh, phát tâm xưng niệm,
cung kính cúng dường giả, ngă đương cứu hộ,
nhiếp thọ, linh vô tai hoạnh, ly khổ,
đắc lạc.
(經)及聽法者,若男若女、童男童女,於此經中乃至受持一四句頌、或持一句、或此經王首題名號,及此經中一如來名、一菩薩名,發心稱念恭敬供養者,我當救護攝受,令無災橫離苦得樂。
(Kinh:
Và người nghe pháp, dù nam hay nữ, bé trai, bé gái, đối
với kinh này, dù chỉ thọ tŕ một bài tụng gồm
bốn câu, hoặc tŕ một câu, hoặc tŕ danh hiệu tựa
đề của kinh vương, và một danh hiệu
Như Lai, một danh hiệu Bồ Tát trong kinh này, phát tâm
xưng niệm, cung kính cúng dường, con sẽ cứu
giúp, che chở, nhiếp thọ, khiến cho kẻ đó chẳng
có tai nạn bất ngờ, ĺa khổ, được vui).
Kế
đó, [Dược Xoa đại tướng] nói sẽ thủ
hộ các thính chúng. Kinh văn cũng gồm có ba đoạn:
- Một,
nói về người nghe, nhận.
-
Hai, từ “ư thử” (đối với kinh này) trở
đi, nói về pháp được họ thọ tŕ.
-
Ba, từ “ngă đương” (con sẽ) trở
đi, nêu ra sự ủng hộ.
5.19.4.1.2. Nguyên do có thể
ủng hộ
(Kinh)
Thế Tôn! Hà cố ngă danh Chánh Liễu Tri?
(經)世尊!何故我名正了知?
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! V́ sao con tên là Chánh Liễu Tri?)
Kế
đó, nêu rơ nguyên do [v́ sao Dược Xoa đại tướng]
có thể ủng hộ. Trong ấy, có ba ư:
- Một,
gạn hỏi.
-
Hai, từ “thử chi nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở
đi là giải thích.
-
Ba, từ “Thế Tôn! Như ngă” (bạch Thế Tôn!
Như con) trở đi, kết lại.
(Kinh)
Thử chi nhân duyên thị Phật thân chứng, ngă tri
chư pháp, ngă hiểu nhất thiết pháp, tùy sở hữu
nhất thiết pháp, như sở hữu nhất pháp,
chư pháp chủng loại, thể tánh sai biệt.
(經)此之因緣是佛親證,我知諸法、我曉一切法,隨所有一切法、如所有一法,諸法種類體性差別。
(Kinh: Nhân duyên ấy
Phật đă đích thân chứng, con biết các pháp, con hiểu
hết thảy các pháp, thuận theo tất cả hết thảy
các pháp như tất cả
chủng loại và thể tánh sai biệt của một pháp và các
pháp).
Kế
đó là giải thích, gồm hai phần:
- Một,
nói rơ đó là điều đức Phật chứng biết.
-
Hai, từ “Thế Tôn” trở đi, tự trần thuật
nguyên do. Đó chính là pháp đức Phật đă chứng.
Trước
hết là nói [chính ḿnh] có thể biết hai loại trí, từ
“tùy sở hữu” trở đi là nói
đến pháp được biết. Biết
đă chứng tri Hậu Đắc Trí, sẽ hiểu rơ,
thông đạt Căn Bản Trí. “Tùy sở hữu”:
Thuận theo phước của tất cả hết thảy
chủng loại, tức là trọn hết tất cả
các tánh. “Như sở hữu”: Đúng như tất cả
hết thảy các đạo lư, đúng như tất cả
các tánh. Điều trước là Thể và Sự của các
pháp, điều sau là đạo lư của các pháp. Điều
trước là pháp Tục Đế, điều sau là pháp
thuộc Chân Đế. Theo kinh Giải Thâm Mật, “như
tất cả các tánh” do thuận theo Thắng Nghĩa
Tánh mà chỉ nói là Chân Như. Theo
thứ tự th́
chính là hai trí được hành trên
đây. Điều trước là nói riêng về
pháp được biết; từ “chư pháp chủng loại”
trở đi, nói chung về các pháp được biết.
Nếu là pháp thuộc Tục Đế, sẽ có nhiều
chủng loại thể tánh sai biệt. Chân Đế tuy
không có thể tánh sai biệt, bởi đó là chân tánh của
nó, nhưng có thể thuận theo “chủ
thể có thể nương tựa”
(năng y) mà nói “nghĩa
được dựa vào” (sở y nghĩa)
cũng có sai biệt. Lại xét theo Đối Pháp[1],
Tận Sở Hữu chính là Uẩn, Xứ, Giới, c̣n
Như Sở Hữu chính là Tứ Đế, mười
sáu hạnh v.v… Do vậy, có sai biệt!
(Kinh)
Thế Tôn! Như thị chư pháp ngă năng liễu tri.
Ngă hữu nan tư trí quang, ngă hữu nan tư trí cự,
ngă hữu nan tư trí hạnh, ngă hữu nan tư trí tụ,
ngă ư nan tư trí cảnh, nhi năng thông đạt.
(經)世尊!如是諸法我能了知。我有難思智光、我有難思智炬、我有難思智行、我有難思智聚,我於難思智境而能通達。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Các pháp như thế, con có thể biết
rơ. Con có trí quang khó nghĩ, con có đuốc trí khó nghĩ,
con có trí hạnh khó nghĩ, con có khối trí khó nghĩ, con
có thể thông đạt trí cảnh khó nghĩ).
Kế
đó, tự thuật nguyên do, có ba đoạn:
- Một,
nêu ra, “ngă năng liễu” (con có thể hiểu) là nói
về Căn Bản Trí. “Ngă năng tri” (con có thể
biết) là Hậu Đắc Trí.
-
Hai, kế
đó, giải thích “cai có thể hiểu biết”, “trí
quang” là Hậu Đắc Trí chiếu thấu
giáo, lư, hạnh, quả Đại Thừa. Kẻ căn
tánh thấp hơn sẽ chẳng thể ḍ lường
được, nên nói là “nan tư” (khó nghĩ). “Trí
cự” là Căn Bản Trí, phá tối tăm vô minh. “Trí
hạnh” là hiểu rơ hạnh sai biệt. “Trí tụ”
là hiểu rơ tự thể tụ.
-
Ba, kết lại ư “năng liễu”: Con đối với
trí cảnh th́ Căn Bản Trí có thể thông hiểu, Hậu
Đắc Trí có thể liễu đạt. Hoặc trí chính
là hạnh, hạnh giải là tác dụng của trí. “Trí
tụ”
chính là thể tánh. V́ thế, Duy Thức Luận
nói: “Thể y tụ nghĩa danh chi vi thân” (Do các
nghĩa Thể, Y, Tụ, mà gọi là Thân)[2],
thân tức là Thể vậy. Những điều khác th́
như trước đó đă giải thích.
(Kinh)
Thế Tôn! Như ngă ư nhất thiết pháp chánh tri, chánh
hiểu, chánh giác, năng chánh quán sát. Thế Tôn! Dĩ thị
nhân duyên, ngă Dược Xoa đại tướng danh Chánh
Liễu Tri.
(經)世尊!如我於一切法正知、正曉、正覺、能正觀察。世尊!以是因緣,我藥叉大將名正了知。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Như con đối với hết thảy
các pháp đều biết chân chánh, hiểu chân chánh, giác ngộ
chân chánh, có thể quan sát chân chánh. Bạch Thế Tôn! Do nhân
duyên ấy, con là Dược Xoa đại tướng có tên
là Chánh Liễu Tri).
Kế
đó, kết lại. Trước hết, nhắc lại
bốn trí trước đó, tương ứng với biết,
hiểu, giác ngộ, và
quan sát. Giải thích các điều này giống như trên
đây đă nói. Kế đó, từ “Thế Tôn! Dĩ thị”
(bạch Thế Tôn! Do [nhân duyên] ấy) trở đi, kết
lại nguyên do có tên gọi như thế.
5.19.4.1.3. Lợi ích [mà
hành nhân sẽ] đạt được do ủng hộ
5.19.4.1.3.1. Lợi ích
pháp sư
(Kinh)
Dĩ thị nghĩa cố, ngă năng linh bỉ thuyết
pháp chi sư ngôn từ biện liễu cụ túc trang nghiêm,
diệc linh tinh khí tùng mao khổng nhập, thân lực sung
túc, oai quang dũng kiện, nan tư trí quang giai đắc
thành tựu, đắc chánh ức niệm vô hữu thoái
khuất, tăng ích bỉ thân, linh vô suy giảm, chư
căn an lạc,
thường sanh hoan hỷ.
(經)以是義故,我能令彼說法之師言辭辯了具足莊嚴,亦令精氣從毛孔入,身力充足威光勇健,難思智光皆得成就,得正憶念無有退屈,增益彼身令無衰減,諸根安樂常生歡喜。
(Kinh:
Do bởi nghĩa ấy, con có thể khiến cho vị thầy
thuyết pháp ấy ngôn từ biện tài đều trang
nghiêm trọn đủ, cũng khiến cho tinh khí lọt
vào lỗ chân lông, sức mạnh nơi thân thể sung túc,
oai quang mạnh mẽ, trí quang khó nghĩ đều
được thành tựu, đạt được ức
niệm chân chánh, chẳng bị lui sụt, tăng thêm thân
thể vị ấy, khiến cho chẳng bị suy giảm,
các căn an lạc, thường sanh hoan hỷ).
Kế
đó, nói về lợi ích đạt được, lại
chia thành hai phần:
- Một,
lợi ích pháp sư.
-
Hai, từ “dĩ thị nhân duyên” (do nhân duyên ấy) trở
đi, lợi ích thính chúng.
Trong
phần “lợi ích pháp sư”, trước hết là nhắc
lại nguyên do: Do tôi có bốn loại trí, cho nên có thể lợi
ích pháp sư. “Có thể lợi ích pháp sư” gồm tám
điều:
- Một,
tăng thêm biện tài.
- Hai,
từ “diệc linh” (cũng khiến cho) trở
đi, tăng thêm sức lực nơi thân.
-
Ba, tăng thêm oai quang.
- Bốn,
tăng thêm trí huệ. Chỉ nêu ra trí quang, nhưng các trí
khác đều sáng tỏ, cho nên nói là “giai đắc”
(đều đạt được).
-
Năm, tăng thêm niệm lực.
-
Sáu, tăng thêm bất thoái.
- Bảy,
từ “tăng ích bỉ thân” (tăng ích thân người
đó) trở đi, tăng thọ, chẳng giảm.
-
Tám, từ “chư căn” (các căn) trở đi,
tăng thêm an lạc.
5.19.4.1.3.2. Lợi ích
thính chúng
(Kinh) Dĩ thị nhân duyên, vi bỉ hữu
t́nh dĩ ư bách thiên Phật sở, thực chư thiện
căn, tu phước nghiệp giả, ư Thiệm Bộ
châu,
quảng tuyên lưu bố, bất tốc ẩn một. Bỉ
chư hữu t́nh văn thị kinh dĩ, đắc bất
khả tư nghị đại trí quang minh, cập dĩ
vô lượng phước trí chi tụ, ư vị lai thế,
đương thọ vô lượng câu-chi na-dữu-đa
kiếp bất khả tư lượng nhân thiên thắng
lạc, thường dữ chư Phật cộng
tương trị ngộ, tốc chứng Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề, Diêm La chi giới tam đồ
cực khổ bất phục kinh quá.
(經)以是因緣,為彼有情已於百千佛所植諸善根修福業者,於贍部洲廣宣流布,不速隱沒。彼諸有情聞是經已,得不可思議大智光明,及以無量福智之聚,於未來世當受無量俱胝那庾多劫不可思量人天勝樂,常與諸佛共相值遇,速證無上正等菩提,閻羅之界三塗極苦不復經過。
(Kinh: Do nhân
duyên ấy, v́ các hữu t́nh đó đă ở nơi
trăm ngàn vị Phật gieo các thiện căn, tu phước
nghiệp, nên ở trong châu Thiệm Bộ, rộng tuyên
dương, lưu truyền [kinh này], khiến cho kinh chẳng
bị nhanh chóng ẩn mất. Các hữu t́nh ấy đă
nghe kinh này xong, đạt được quang minh đại
trí chẳng thể nghĩ bàn, và vô lượng khối
phước trí, trong đời vị lai, sẽ hưởng
sự vui thù thắng chẳng thể nghĩ lường
trong cơi trời người suốt vô lượng câu-chi
na-dữu-đa kiếp, thường cùng chư Phật gặp
gỡ, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề, chẳng c̣n trải qua các nỗi khổ cùng cực
trong cơi Diêm La và tam đồ).
Kế
đó, nói về “lợi ích thính chúng”. Trong ấy, lại có
hai đoạn:
- Một,
do ư nghĩa “lợi ích pháp sư khiến cho pháp trụ
thế lâu dài”, và cũng do người nghe nhận
đă gieo các thiện căn
nơi trăm ngàn vị Phật, cho nên cảm vời
người thuyết pháp và nhân duyên của kinh pháp này, mà
đạt được các trí ấy. V́ vậy, có thể
khiến cho kinh được lưu truyền, và do sức
thiện căn của người nghe nhận kinh này, kinh sẽ chẳng
bị nhanh chóng ẩn mất.
-
Hai, từ “bỉ chư” (các [hữu t́nh] ấy) trở
đi, nói về lợi ích đạt được do nghe
pháp, gồm có sáu điều:
a)
Đạt được bốn trí trên đây.
b) Từ
“cập dĩ” (cùng với) trở đi, thành tựu
phước trí.
c)
Được sanh trong cơi trời, người.
d)
Được gặp gỡ chư Phật.
e)
Chứng Bồ Đề.
f)
Ĺa ác đạo.
Kinh
văn dễ hiểu. Do người nghe đạt
được lợi ích này, có thể suy ra mà biết: Pháp
sư cũng đạt được các lợi ích ấy.
Dùng điều kém hơn để suy ra điều thù thắng
hơn, xét theo ư nghĩa ấy, sẽ nhất định
đạt được!
5.19.4.2. Dùng chú lực
để gia hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, Chánh Liễu Tri Dược Xoa đại
tướng bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă hữu
Đà La Ni, kim đối Phật tiền, thân tự trần
thuyết, vị dục nhiêu ích, lân mẫn chư hữu
t́nh cố”. Tức thuyết chú viết: “Nam-mô Phật-đà-da,
nam-mô Đạt-ma-da, nam-mô Tăng-già-da. Nam-mô bạt ra hám
ma da. Nam-mô nhân đạt ra da. Nam-mô chiết đốt nẫm,
mạc hát ra xà nẫm, đát điệt tha: Hế rị,
hế rị, mi rị, mi rị, cù rị. Mạc ha cù rị,
kiện đà lư. Mạc ha kiện đà lư, đạt la mi
trĩ. Mạc ha đạt la mi trĩ. Đan đồ
khúc khuyến đệ. Ha ha ha ha ha, hế hế hế hế
hế, hô hô hô hô hô, hán lỗ đàm mế, cù đàm mế,
giả giả giả giả, chỉ chỉ chỉ chỉ,
chủ chủ chủ chủ, chiên đồ triếp, bát la,
thi yết ra, thi yết ra, ốt
để sắt tha hế, bạc già phạm tăng thận
nhĩ da, sa ha”. Nhược phục hữu nhân ư thử
minh chú, năng thọ tŕ giả, ngă đương cấp
dữ tư sanh lạc cụ, ẩm thực, y phục,
hoa quả trân dị, hoặc cầu nam, nữ, đồng
nam, đồng nữ, kim, ngân, trân bảo, chư anh lạc
cụ, ngă giai cung cấp, tùy sở nguyện cầu, linh vô
khuyết phạp. Thử chi minh chú hữu đại oai lực,
nhược tụng chú thời, ngă đương tốc
chí kỳ sở, linh vô chướng ngại, tùy ư thành tựu.
Nhược tŕ thử chú thời, ưng tri kỳ pháp. Tiên
họa nhất phô Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa
h́nh tượng, cao tứ ngũ xích, thủ chấp mâu
thoán. Ư thử tượng tiền, tác tứ phương
đàn, an tứ măn b́nh mật thủy, hoặc sa đường
thủy, đồ hương, mạt hương, thiêu
hương, cập chư hoa man. Hựu ư đàn tiền,
tác địa hỏa lô. Trung an thán hỏa, dĩ tô-ma,
giới tử, thiêu ư lô trung, khẩu tụng tiền
chú nhất bách bát biến, nhất biến nhất thiêu. Năi
chí ngă Dược Xoa đại tướng tự lai hiện
thân, vấn chú nhân viết: “Nhĩ sở hà tu?” Ư sở cầu
giả tức dĩ sự đáp, ngă tức tùy viết:
“Ư sở cầu sự, giai linh măn túc”. Hoặc tu kim,
ngân, cập chư phục tạng, hoặc dục thần
tiên thừa không nhi khứ, hoặc cầu Thiên
Nhăn
Thông,
hoặc tri tha tâm sự. Ư nhất thiết hữu t́nh,
tùy ư tự tại, linh đoạn phiền năo, tốc
đắc giải thoát, giai đắc thành tựu.
(經)爾時正了知藥叉大將白佛言:世尊!我有陀羅尼,今對佛前親自陳說,為欲饒益憐愍諸有情故。即說呪曰:南謨佛陀耶。南謨達摩耶。南謨僧伽耶。南謨跋囉蚶摩耶。南謨因達囉耶。南謨折咄喃。莫喝囉闍喃。怛姪他。呬哩。呬哩。弭哩。弭哩。瞿哩。莫訶瞿哩。健陀里。莫訶健陀里達羅弭雉。莫訶達羅弭雉。單荼曲勸第。訶訶訶訶訶。呬呬呬呬呬。呼呼呼呼呼。漢魯曇謎。瞿曇謎。者者者者。只只只只。主主主主。旃荼欇。鉢攞。尸揭囉。尸揭囉。嗢底瑟他呬。薄伽梵。僧慎爾耶。莎訶。若復有人於此明呪能受持者,我當給與資生樂具、飲食衣服、華果珍異,或求男女童男童女,金銀珍寶諸瓔珞具,我皆供給,隨所願求令無闕乏。此之明呪有大威力,若誦呪時,我當速至其所令無障礙,隨意成就。若持此呪時,應知其法。先畫一鋪僧慎爾耶藥叉形像,高四五尺,手執鉾鑹。於此像前作四方壇,安四滿瓶蜜水或沙糖水,塗香末香燒香及諸華鬘。又於壇前作地火鑪,中安炭火,以蘇摩芥子燒於罏中,口誦前呪一百八遍,一遍一燒。乃至我藥叉大將自來現身,問呪人曰:爾何所須?意所求者即以事答,我即隨言:於所求事皆令滿足。或須金銀及諸伏藏、或欲神仙乘空而去、或求天眼通、或知他心事,於一切有情隨意自在,令斷煩惱速得解脫,皆得成就。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Chánh Liễu Tri Dược Xoa đại tướng
bạch Phật rằng: - “Bạch Thế Tôn! Con có Đà
La Ni, nay đối trước Phật, đích thân tự
thưa bày, v́ muốn lợi ích, thương xót các hữu
t́nh vậy”. Liền nói chú rằng: “Nam-mô Phật-đà-da,
nam-mô Đạt-ma-da, nam-mô Tăng-già-da. Nam-mô bạt ra hám
ma da. Nam-mô nhân đạt ra da. Nam-mô chiết đốt nẫm,
mạc hát ra xà nẫm, đát điệt tha: Hế rị,
hế rị, mi rị, mi rị, cù rị. Mạc ha cù rị,
kiện đà lư. Mạc ha kiện đà lư, đạt la mi
trĩ. Mạc ha đạt la mi trĩ. Đan đồ
khúc khuyến đệ. Ha ha ha ha ha, hế hế hế hế
hế, hô hô hô hô hô, hán lỗ đàm mế, cù đàm mế,
giả giả giả giả, chỉ chỉ chỉ chỉ,
chủ chủ chủ chủ, chiên đồ triếp, bát la, thi yết ra, thi yết ra. Ốt
để sắt tha hế, bạc già phạm,
tăng thận nhĩ da, sa ha”. Nếu lại có người
đối với minh chú này mà có thể thọ tŕ, con sẽ
ban cho các vật dụng ưa thích cần thiết cho cuộc
sống, thực phẩm, y phục, hoa quả quư lạ, hoặc
cầu con trai, con gái, trẻ trai, trẻ gái, vàng, bạc,
trân bảo, các chuỗi anh lạc, con đều cung cấp,
thuận ḷng nguyện cầu, chẳng để thiếu
khuyết. Minh chú này có oai lực lớn, nếu lúc tụng
chú, con sẽ mau đến chỗ người ấy, khiến
cho chẳng có chướng ngại, tùy ư thành tựu. Nếu
lúc tŕ chú này, hăy nên biết pháp tắc. Trước hết,
vẽ một bức h́nh tượng Tăng Thận
Nhĩ Da Dược Xoa, cao bốn năm thước, tay cầm
mâu và giáo nhỏ. Đối trước h́nh tượng ấy,
làm bốn cái đàn vuông, đặt bốn cái b́nh chứa
đầy nước mật, hoặc nước
đường cát, hương bôi, hương bột,
hương đốt, và các tràng hoa. Ở trước
đàn, lại làm bốn ḷ than. Trong đó đặt than, lửa,
dùng tô-ma[3],
hạt cải, đốt ở trong ḷ, miệng tụng
chú trên đây một trăm lẻ tám lượt. Cứ
một lượt [tụng chú] là thiêu một lần. [Tụng]
cho đến khi Dược Xoa đại tướng con
tự đến hiện thân, hỏi người tŕ chú rằng:
“Ngươi cần điều ǵ?” Người ấy liền
đáp bằng chuyện mong cầu trong tâm, con liền nói:
“Chuyện ngươi mong cầu ta đều khiến cho
toại ư”. Hoặc là cần vàng, bạc, và các kho tàng, hoặc
muốn như thần tiên nương hư không mà đi,
hoặc cầu Thiên
Nhăn Thông, hoặc biết
chuyện trong tâm người khác. Đối với hết
thảy hữu t́nh, tùy ư tự tại, khiến cho đoạn
phiền năo, mau được giải thoát, đều
được thành tựu).
Kế
đó, đoạn lớn thứ hai là “dùng chú lực để
gia bị”, có sáu ư:
- Một,
[Dược Xoa đại tướng] tỏ ư xin
được phép nói.
-
Hai, từ “tức thuyết” (liền nói) trở
đi là nói thần chú.
-
Ba, từ “nhược phục” (nếu lại) trở
đi, lợi ích do khuyên tu.
- Bốn,
từ “nhược tŕ thử” (nếu tŕ chú này) trở
đi, dạy cách hành tŕ.
-
Năm, từ “năi chí” (cho đến) trở đi, nêu
ra lợi ích đạt được, gồm ba điều:
a) Một
là hiện thân.
b)
Hai là hỏi đáp.
c)
Ba là từ “hoặc tu” (hoặc cần) trở
đi, tùy theo ḷng mong cầu mà ban cho: Một là bảy thứ
báu, hai là kho tàng, ba là thần thông, bốn là ban cho tự tại,
năm là ban cho giải thoát.
- [Sáu, đức Phật tán
thán để kết lại, được nói trong đoạn
kế tiếp].
Chuẩn
theo phẩm trước [dạy về] sự ban cho biện
tài, để có được trí huệ, cũng nên tụng
chú thỉnh [Dược Xoa đại tướng] hiện
thân gia bị, khiến cho [hành nhân] đắc trí huệ. Do
v́ lược đi, nên chẳng nói. Nói “linh đoạn
phiền năo, tốc đắc giải thoát” (khiến
cho đoạn phiền năo, mau được giải thoát)
chính là ư nghĩa cầu trí huệ.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Chánh Liễu Tri Dược Xoa
đại tướng viết: - Thiện tai! Thiện tai!
Nhữ năng như thị lợi ích nhất thiết
chúng sanh, thuyết thử thần chú, ủng hộ chánh
pháp, phước lợi vô biên.
(經)爾時世尊告正了知藥叉大將曰:善哉善哉!汝能如是利益一切眾生,說此神呪擁護正法,福利無邊。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Chánh Liễu
Tri Dược Xoa đại tướng rằng: - Lành
thay! Lành thay! Ông có thể lợi ích hết thảy chúng sanh
như thế, nói thần chú này ủng hộ chánh pháp,
phước lợi vô biên).
Kế
đó, điều thứ sáu là đức Phật tán thán
để kết lại.
5.20. Phẩm thứ
hai mươi: Vương Pháp Chánh Luận (Vương Pháp
Chánh Luận phẩm đệ thập nhị, 王法正論品第二十)
Phẩm
Vương Pháp Chánh Luận gồm ba môn phân biệt.
5.20.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Nói đến ư nghĩa v́ sao có phẩm
này, th́ phần Lưu Thông gồm ba loại, mười sáu
phẩm đầu thuộc loại Học
Hạnh Lưu Thông. Trong loại ấy,
lại chia làm năm tiểu loại. Phẩm này nói về
tiểu loại thứ ba, tức nói về Tŕ Học. Phần Tŕ Học [gồm ba phẩm], chia thành hai tiểu
loại:
- Một,
hai phẩm đầu nêu ra chuyện xưa.
-
Hai, một phẩm sau nhằm khuyên bảo [đại chúng
trong] hiện thời.
Trong
phần “nêu ra chuyện xưa”, lại có hai ư:
- Một,
v́ tăng thượng sanh đạo[4].
-
Hai, v́ quyết định thắng đạo.
Phẩm
này thuộc về ư đầu.
Lại
có thể hiểu như sau: Do phẩm Tứ Thiên
Vương Hộ Quốc nói vua trong nhân gian nếu có thể
tôn trọng người [hoằng pháp], kính trọng pháp, có
chánh hạnh hoằng kinh, th́ chư thiên, quỷ
thần v.v… sẽ ủng hộ. Nếu chẳng như vậy,
chư thiên, quỷ thần v.v… sẽ ĺa bỏ. V́ thế,
nay phẩm này nêu ra chuyện xưa về chánh hạnh hoằng
kinh của quốc vương để khuyên lơn, khích
lệ đại chúng trong đại hội thuở ấy.
Do vậy mà có phẩm này sanh khởi.
5.20.2. Giải thích tên gọi
của phẩm này
Giải
thích tên gọi của phẩm này th́ trước là tách ra,
sau là hợp lại.
“Vương”
có ba hiệu:
- Một
là Hoàng (皇),
Hoàng tức là vua cơi trời.
-
Hai là Đế (帝). Đế
tức là chúa tể.
- Ba
là Vương (王).
Vương tức là “quy thuộc”, do vua được
đại chúng quy thuộc. C̣n gọi là Quân (君).
Hơn
nữa, tùy ư tự tại th́ gọi là Vương.
“Pháp”
là quỹ tắc (軌則,
khuôn phép).
“Chánh”
nhằm vạch rơ
chẳng tà, cũng gọi là Thánh. Như trong Ái Ngữ, dấy
lên bốn thứ tịnh ngữ và tám loại thánh ngữ.
Tịnh ngữ tức là chẳng nói dối v.v… Thánh ngữ
tức là “thấy bèn nói là thấy” v.v…
“Luận”
là quyết trạch (chọn lựa dứt khoát), xem đi
xét lại đạo lư của các pháp.
Vương
tức là người có thể hành pháp. Pháp Chánh Luận tức
là pháp được hành [bởi Vương]. Phải nên
nói là Vương Chánh Pháp Chánh Luận (chánh luận về
chánh pháp của nhà vua), nhưng thuận theo ngữ pháp của
Thiên Trúc mà nói là Pháp Chánh Luận. Luận là chủ thể
có thể luận định, c̣n Chánh Pháp là điều
được luận định. [Bàn về] chánh pháp của
vua, luận định về chánh pháp; đó đều là
cách giải thích theo lối Y Chủ. Nay phẩm này biện
định chánh pháp luận của nhà vua, chẳng mong giải
thích riêng nhà vua và luận định về chánh pháp.
5.20.3. Giải đáp vấn
nạn
* Hỏi:
Địa Thần
thỉnh đức Phật nói chánh pháp của vua, sao không tự
nói để
chỉ bày các chuyện đáng nên trụ
vào vậy?
Đáp:
Muốn chỉ rơ “ba
đời,
pháp đều như nhau”.
Do pháp là tôn quư, thù thắng, chẳng nói về bản thân, chỉ
nêu lên chuyện xưa kia.
* Hỏi:
Nếu vậy, cớ sao không nêu lên lời của quá khứ
Phật, lại dẫn lời của vua Lực Tôn Tràng?
Đáp:
Cai trị đất nước th́ nương theo chuyện
thế tục. V́ thế, nêu ra lời của Phạm
vương đă nói trong quá khứ. Thật ra, Phạm
vương cũng được nghe từ bên đức
Phật nói với tứ thiên vương. Như trong phần
sau, [kinh chép] vua Thiện Sanh từ nơi ngài Bảo
Tích mà nghe kinh Kim Quang Minh, nhưng chẳng nói là “Phật
thuyết”.
* Hỏi:
Xưa kia, vua Lực Tôn Tràng và con là Diệu Tràng, nay là ai vậy?
Đáp:
Có người giải thích Diệu Tràng [thuở đó]
chính là Diệu Tràng [Bồ Tát] hiện thời. Có người
lại nói: Chính là Phật Thích Ca. Xét ra hai cách giải thích ấy,
không có kinh văn để xác định hay phủ nhận,
tùy ư chấp nhận thuyết nào cũng được!
5.20.4. Giải thích kinh
văn
5.20.4.1. Địa thần
nêu lời thỉnh
(Kinh)
Nhĩ thời, thử đại địa thần nữ,
danh viết Kiên Lao, ư đại chúng trung, tùng ṭa nhi khởi,
đảnh lễ Phật túc, hiệp chưởng cung
kính.
(經)爾時此大地神女名曰堅牢,於大眾中從座而起,頂禮佛足合掌恭敬。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, nữ thần đất trong cơi này tên
là Kiên Lao, ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi
đứng lên, chắp tay cung kính).
Tán
rằng: Kinh văn của phẩm này, chia đại lược
thành ba phần:
- Một,
địa thần nêu bày lời thỉnh.
-
Hai, đức Thế Tôn giảng nói.
-
Ba, đại chúng hoan hỷ phụng hành.
Phần
thứ nhất lại chia làm bốn tiểu đoạn,
tiểu đoạn thứ nhất là nghi thức cầu thỉnh.
(Kinh)
Bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ư chư quốc trung,
vi nhân vương giả, nhược vô chánh pháp, bất
năng trị quốc, an dưỡng chúng sanh, cập
dĩ tự thân trường cư thắng vị.
(經)白佛言:世尊!於諸國中為人王者,若無正法,不能治國安養眾生及以自身長居勝位。
(Kinh:
Bạch với đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Trong các nước, nếu kẻ làm quốc
vương mà chẳng có chánh pháp, sẽ chẳng thể
cai trị đất nước, nuôi nấng chúng sanh an
vui, và bản thân sẽ chẳng thể giữ măi địa
vị thù thắng).
Kế
đó, tiểu đoạn thứ hai là nêu ra nguyên do
[thưa thỉnh].
(Kinh)
Duy nguyện Thế Tôn từ bi ai mẫn, đương vị
ngă thuyết Vương Pháp Chánh Luận trị quốc chi
yếu.
(經)惟願世尊慈悲哀愍,當為我說王法正論治國之要。
(Kinh:
Kính mong đức Thế Tôn từ bi thương xót, sẽ
v́ con nói lẽ trọng yếu trong cách cai trị đất
nước thuộc Vương Pháp Chánh Luận).
Kế
đó, tiểu đoạn thứ ba là trần thuật
điều thỉnh cầu.
(Kinh)
Linh chư nhân vương đắc văn pháp dĩ,
như thuyết tu hành, chánh hóa ư thế, năng linh thắng
vị vĩnh bảo an ninh, quốc nội cư nhân hàm
mông lợi ích.
(經)令諸人王得聞法已,如說修行正化於世,能令勝位永保安寧,國內居人咸蒙利益。
(Kinh:
Khiến cho các quốc vương được nghe pháp
xong, sẽ tu hành đúng như lời dạy, giáo hóa chánh
đáng trong cơi đời, có thể giữ cho địa vị
thù thắng vĩnh viễn được an ổn, người
dân sống trong nước đều được lợi
ích).
Kế
đó, điều thứ tư là nêu ra lợi ích.
5.20.4.2. Đức Thế
Tôn giảng nói
5.20.4.2.1. Sắc truyền
lắng nghe và trần thuật duyên khởi xưa kia
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn ư đại
chúng trung, cáo Kiên Lao Địa Thần viết: - Nhữ
đương đế thính. Quá khứ hữu
vương, danh Lực Tôn Tràng. Kỳ vương hữu tử,
danh viết Diệu Tràng, thọ quán đảnh vị, vị
cửu chi khoảnh. Nhĩ thời, phụ vương cáo
Diệu Tràng ngôn: “Hữu Vương Pháp Chánh Luận, danh
Thiên Chúa Giáo Pháp, ngă ư tích thời, thọ quán đảnh
vị, nhi vi quốc chúa, ngă chi phụ vương danh Trí Lực
Tôn Tràng, vị ngă thuyết thị Vương Pháp Chánh Luận.
Ngă y thử luận, ư nhị vạn tuế, thiện
trị quốc độ, ngă bất tằng
ức khởi nhất niệm tâm hạnh ư phi pháp. Nhữ
ư kim nhật, diệc ưng như thị, vật
dĩ phi pháp nhi trị ư quốc. Vân hà danh vi
Vương Pháp Chánh Luận? Nhữ kim thiện thính,
đương vị nhữ thuyết”.
(經)爾時世尊於大眾中告堅牢地神曰:汝當諦聽。過去有王名力尊幢,其王有子名曰妙幢,受灌頂位未久之頃。爾時父王告妙幢言:有王法正論名天主教法,我於昔時受灌頂位而為國主,我之父王名智力尊幢,為我說是王法正論。我依此論,於二萬歲善治國土,我不曾憶起一念心行於非法。汝於今日亦應如是,勿以非法而治於國。云何名為王法正論?汝今善聽,當為汝說。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở trong đại
chúng, bảo Kiên Lao Địa Thần rằng:
- Bà hăy nên lắng nghe. Trong quá khứ, có vua tên là Lực Tôn
Tràng. Nhà vua ấy có con tên là Diệu Tràng, nhận địa
vị quán đảnh trong khoảng thời gian chưa lâu.
Lúc bấy giờ, vua cha bảo Diệu Tràng rằng: “Có
Vương Pháp Chánh Luận tên là Giáo Pháp của Chúa
Cơi Trời. Khi xưa, lúc ta thọ
địa vị quán đảnh làm quốc chúa, vua cha ta
tên là Trí Lực Tôn Tràng, đă v́ ta nói Vương Pháp Chánh Luận
này. Ta vâng theo luận ấy, trong hai vạn năm, khéo cai
trị đất nước. Ta nhớ chưa từng dấy
lên một niệm tâm hạnh phi pháp. Con nay cũng nên
như thế, đừng dùng phi pháp để cai trị
nước. Thế nào là Vương Pháp Chánh Luận? Con
nay hăy lắng nghe, cha sẽ v́ con nói”).
Kế
đó, đức Thế Tôn v́ địa thần giảng
nói, có ba đoạn:
- Một,
đức Thế Tôn đối trước đại
chúng, sắc truyền hăy nghe.
-
Hai, từ “quá khứ” trở đi, thuật lại
duyên khởi xưa kia.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Lực Tôn” trở đi, trần
thuật chánh pháp xưa kia.
Trần thuật duyên khởi
xưa kia gồm tám điều:
- Một,
nêu ra người có thể dạy bảo (vua Lực Tôn
Tràng), và người
được dạy bảo (thái tử Diệu Tràng).
-
Hai, từ “nhĩ thời” (lúc
bấy giờ) trở đi, truyền
dạy phương pháp. Thế Chúa (chúa tể thế gian)
tức Phạm vương, tu Tứ Vô Lượng mới
thành bậc Thế Chúa, dạy rơ: Khởi từ bi sẽ
nhất định có thể dẹp khổ, ban vui.
-
Ba, từ “ngă ư” (ta trong) trở đi, nêu ra cái duyên
đắc pháp.
- Bốn,
từ “ngă chi phụ” (cha ta) trở đi, nêu rơ chỗ
được nghe pháp.
-
Năm, từ “ngă y” (ta nương vào đó) trở
đi, nói rơ ta (vua Lực Tôn Tràng) có thể học và hành
theo.
-
Sáu, từ “nhữ ư kim” (con nay) trở đi,
răn con hăy học theo.
- Bảy,
từ “vân hà danh vi” (thế nào gọi là) trở
đi, [thái tử nghe lời sắc truyền, thỉnh
giáo.
-
Tám, từ “nhữ kim” (con nay) trở đi, sắc
truyền lắng nghe, hứa sẽ nói.
Có ư
nói: Ta được nghe [Vương Pháp Chánh Luận] từ
chỗ cha ta, nay lại dạy cho con.
Nêu rơ: Cha con ân nghĩa sâu nặng, [lời
cha] dạy bảo ắt là lợi ích thật sự. V́ thế,
khuyên người nghe hăy kính trọng, hành theo.
5.20.4.2.2. Trần thuật
chánh pháp xưa kia
5.20.4.2.2.1. Đức
Phật nêu lời dẫn khởi
(Kinh) Nhĩ thời, Lực Tôn Tràng
vương tức vị kỳ tử, dĩ diệu
già-tha, thuyết chánh luận viết:
(經)爾時力尊幢王即為其子以妙伽他說正論曰:
(Kinh:
Lúc bấy giờ, vua Lực Tôn Tràng liền v́ con ḿnh, dùng kệ
tụng mầu nhiệm để nói chánh luận như
sau).
Kế
đó, trần thuật chánh pháp xưa kia. Kinh văn chia
thành hai phần. Phần này là đức Phật nêu ra lời
dẫn khởi.
5.20.4.2.2.2. Trần thuật
phần chánh luận
5.20.4.2.2.2.1. Vua Lực
Tôn Tràng sắc truyền lắng nghe
(Kinh)
Ngă thuyết vương pháp luận, lợi an chư hữu
t́nh, vị đoạn thế gian nghi, diệt trừ chúng
quá thất. Nhất thiết chư thiên vương, cập
dĩ nhân trung vương, đương sanh hoan hỷ
tâm, hiệp chưởng thính ngă thuyết.
(經)我說王法論,利安諸有情,為斷世間疑,滅除眾過失。一切諸天王,及以人中王,當生歡喜心,合掌聽我說。
(Kinh:
Ta nói vương pháp luận, lợi ích, an hữu t́nh. V́
đoạn nghi cho đời, diệt trừ các lầm lỗi.
Hết thảy các thiên vương, và các vua nhân loại, hăy
sanh tâm hoan hỷ, chắp tay nghe ta nói).
Kế
đó là trần thuật pháp ấy, gồm bảy
mươi ba bài tụng, chia thành hai phần:
- Một,
hai bài tụng đầu, vua Lực Tôn Tràng sắc truyền
[thái tử Diệu Tràng, các thiên vương, quốc
vương] hăy lắng nghe.
-
Hai, bảy mươi mốt bài tụng sau đó là trần
thuật chánh luận.
Trong
phần “sắc truyền hăy nghe”: Bài thứ nhất trần
thuật lợi ích của lời luận. Ba câu kế
đó nói về căn cơ được giáo hóa, câu cuối
cùng là sắc truyền lắng nghe.
Hỏi:
Trong phần Trường Hàng trước đó, [đă nói
nhà vua] chỉ v́ con ḿnh, cớ sao khi khuyên nghe c̣n bao gồm
cả chúa
cơi trời và quốc vương?
Đáp:
Phần Trường Hàng kinh văn đại lược,
phần Kệ Tụng th́
kinh văn nói rộng. Lại có thể giải thích rằng:
Chính v́ răn dạy con. Vua có ư nói: Luận này xứng lư, lợi
ích rộng răi. Chúa
cơi trời và quốc vương [hễ nghe thấy],
đều nên hoan hỷ. V́ thế, nay con phải nên chắp
tay nghe cha nói.
5.20.4.2.2.2.2. Trần thuật
Vương Pháp Chánh Luận
5.20.4.2.2.2.2.1. Cái nhân
phát khởi của luận này
(Kinh) Văng tích chư thiên chúng, tập tại
Kim Cang sơn, tứ vương tùng ṭa khởi, thỉnh vấn
ư Đại Phạm: - Phạm chúa tối thắng tôn, thiên
trung đại tự tại, nguyện ai mẫn ngă đẳng,
vị đoạn chư nghi hoặc.
(經)往昔諸天眾,集在金剛山,四王從座起,請問於大梵:梵主最勝尊,天中大自在,願哀愍我等,為斷諸疑惑。
(Kinh:
Xưa kia các thiên chúng, nhóm về núi Kim Cang, bốn vua từ
ṭa dậy, thưa hỏi Đại Phạm rằng: -
Đấng Phạm chúa tối thắng, đại tự
tại trong trời, nguyện thương xót chúng tôi,
đoạn trừ các nghi hoặc).
Bảy
mươi mốt bài tụng kế đó nhằm trần
thuật [nội dung của] chánh luận. Kinh văn chia
đại lược thành ba phần:
-
Hai bài tụng đầu tiên nêu ra cái nhân phát khởi.
-
Hai bài tụng kế đó nói về sự sanh khởi của lời
thưa hỏi.
-
Sáu mươi bảy bài tụng kế đó, nêu ra nội
dung bài luận.
Trong
phần thứ nhất, có năm ư:
-
Hai câu đầu nói về chỗ thiên chúng tụ tập.
-
Câu kế đó nêu ra người khải thỉnh (tứ
thiên vương).
-
Câu kế đó nêu ra điều thưa hỏi.
-
Hai câu kế đó nhằm tán thán luận ấy.
-
Hai câu kế đó thỉnh cầu hăy nói.
5.20.4.2.2.2.2.2. Thưa hỏi
sanh khởi
(Kinh) Vân hà xử nhân thế, nhi đắc
danh vi Thiên? Phục dĩ hà nhân duyên, hiệu danh viết
thiên tử? Vân hà sanh nhân gian, độc đắc vi nhân chủ?
Vân hà tại thiên thượng, phục đắc tác thiên
vương?
(經)云何處人世,而得名為天?復以何因緣,號名曰天子?云何生人間,獨得為人主?云何在天上,復得作天王?
(Kinh: Làm sao sống
cơi người, mà được gọi là Trời? Lại
do nhân duyên nào, được gọi là thiên tử? Thế
nào sanh làm người, riêng ḿnh làm vua chúa? Thế nào trên cơi
trời, lại được làm thiên vương?)
Kế
đó, sanh khởi lời thưa hỏi. Nói chung, có bốn
câu hỏi, theo kinh văn dễ thấy. Mỗi câu hỏi
đều có ba ư:
- Một,
hỏi danh hiệu ấy do nương vào đức nào mà
lập ra, tức là hỏi kèm theo nguyên do đặt hiệu
như thế.
- Nói
đến nguyên do, tức là vua đă hành chánh pháp nào mà
được gọi là vua v.v…? Nếu chẳng phải
như vậy, tứ thiên vương chỉ hỏi danh
xưng, cớ sao thiên
chúa nói “hỏi ta đạo trị quốc”.
V́ thế, kinh Tát Giá Ni Càn Tử, quyển thứ hai chép: “Vương
ngôn: - Đại sư! Bỉ chư vương đẳng
hà cố danh vương? Đáp ngôn: - Đại
vương! Vương giả dân chi phụ mẫu, dĩ
năng y pháp nhiếp hộ chúng sanh,
linh an lạc cố, danh chi vi vương”
(Vua nói: “Thưa đại sư! Các vị vua ấy v́ sao gọi
là vua?” Đáp rằng: “Thưa đại vương! Vua là
cha mẹ của dân. V́ có thể nương theo pháp để
nhiếp thọ, thủ hộ, khiến cho chúng sanh an lạc,
nên gọi là vua”).
Đó chính là nói chung.
Kế
đó, giải thích rằng: “Đại vương
đương tri, vương chi dưỡng dân
đương như xích tử, di can, khử thấp, bất
đăi kỳ ngôn. Hà dĩ cố? Đại vương
đương tri, vương giả đắc lập,
dĩ dân vi quốc; dân tâm bất an, quốc tương diệt
hỹ! Thị cố, vương thường
đương lự dân, như niệm xích tử, bất
ly ư tâm. Đương tri quốc nội nhân dân khổ,
lạc, thủy, hạn, phong, vũ, ngạ, băo, lăo, thiếu,
bệnh hoạn, ngục tụng, hữu tội, vô tội,
hữu công, vô công, như thị tri giả, danh bất ly
tâm. Như thị tri dĩ, dĩ lực tương hộ.
Sở ưng dữ giả, cập thời cấp dữ.
Sở ưng thủ giả, niệm đương trù
lượng, dịch sử tri thời, bất đoạt
nhân lợi, cấm túc tham bạo, nhân đắc an lạc.
Thị danh hộ quốc, danh chi vi vương”
(Đại vương hăy nên biết, vua hăy nên nuôi dân
như con đỏ, dời sang chỗ khô ráo, bỏ chỗ
ướt, chẳng đợi họ nói. V́ sao vậy?
Đại vương hăy nên biết: Vua được lập
nên là do lấy dân để dựng nước. Ḷng dân chẳng
yên, nước sẽ diệt vong. V́ thế, nhà vua phải
thường nên lo nghĩ cho dân, như nghĩ tới con
thơ, canh cánh bên ḷng. Hăy nên biết nhân dân trong nước
khổ, vui, lụt lội, hạn hán, mưa, gió, đói,
no, già, trẻ, bệnh hoạn, tù ngục, thưa kiện,
có tội, vô tội, có công, không công. Biết như thế
th́ gọi là “canh cánh bên ḷng”. Đă biết như thế rồi,
dùng sức che chở. Điều ǵ đáng nên cho, bèn
đúng thời ban cho. Điều ǵ đáng nên lấy, hăy
nghĩ cách trù tính, sai họ làm lụng đều biết
thời, chẳng đoạt mất lợi ích của
người ta, ngăn cấm kẻ tham bạo, khiến
cho dân được an vui. Đó gọi là hộ quốc,
được gọi là vương). Nay cuộc vấn
đáp ở đây cũng có ư nghĩa giống như thế.
- Ư
hỏi thứ ba là hiện thời và trong tương lai,
do nghiệp hạnh ǵ mà sanh trong nhân gian lại được
gọi là trời? Do hạnh nghiệp ǵ mà được
sanh lên trời làm thiên vương?
V́
thế, trong phần sau, đáp rằng: Do thiện nghiệp
lực trước kia mà sanh lên trời làm vua v.v… Pháp tắc
ở Ấn Độ là mỗi sự vật đều
có mười danh xưng. Nay đối với vua trong nhân
gian, nêu ra ba danh xưng, đối với thiên vương,
nêu ra một danh xưng để liên tưởng các danh
xưng khác.
5.20.4.2.2.2.2.3. Nói thẳng
vào nội dung của luận
5.20.4.2.2.2.2.3.1. Nhắc
lại chuyện xưa, hứa nói
(Kinh) Như thị hộ thế gian? Vấn
bỉ Phạm vương dĩ. Nhĩ thời, Phạm
thiên chúa, tức tiện vị bỉ thuyết: - Hộ thế
nhữ đương tri, vị lợi hữu t́nh cố,
vấn ngă trị quốc pháp, ngă thuyết, ưng thiện
thính.
(經)如是護世間?問彼梵王已,爾時梵天主,即便為彼說:護世汝當知,為利有情故,問我治國法,我說應善聽。
(Kinh:
Hộ thế gian như thế? Đă hỏi Phạm
vương xong;
lúc đó, Phạm thiên chúa, liền v́ họ nói rằng: - Hộ
thế, ông nên biết, v́ lợi lạc hữu t́nh, hỏi
ta cách trị quốc. Ta
nói, hăy khéo nghe).
Kế
đó, sáu mươi bảy bài tụng nói thẳng vào nội
dung của luận ấy, gồm ba phần:
-
Hai bài tụng đầu trần thuật chuyện cũ
và hứa nói.
-
Sáu mươi bài tụng rưỡi kế đó, thiên chúa
trần thuật.
- Bốn
bài tụng rưỡi từ “thị cố, nhữ nhân
vương” (v́ thế, quốc vương các ông), khuyên lơn, khích lệ
[thính chúng] hăy học theo.
Trong
phần thứ nhất, lại chia thành hai đoạn: Bài
tụng thứ nhất là vua Lực Tôn trần thuật;
bài tụng kế đó là thiên chúa hứa sẽ nói, răn
hăy lắng nghe.
5.20.4.2.2.2.2.3.2. Thiên chúa
trần thuật
(Kinh) Do tiên thiện nghiệp lực, sanh
thiên đắc tác vương. Nhược tại ư
nhân trung, thống lănh vi nhân chủ.
(經)由先善業力,生天得作王;若在於人中,統領為人主。
(Kinh:
Do sức thiện nghiệp xưa, sanh thiên được
làm vua. Nếu ở trong loài người, thống lănh làm
chúa tể).
Kế
đó là thiên chúa trần thuật [nội dung của Vương
Pháp
Chánh
Luận],
có hai phần:
- Ba
bài tụng đầu tiên trả lời hai câu hỏi về
danh xưng và nghiệp. Tức là dạy tu thiện để
làm cái nhân cho tương lai.
-
Năm mươi bảy bài tụng rưỡi từ “Tam
Thập Tam thiên chúa” trở đi, trả lời câu hỏi
về nguyên do có được danh hiệu, liền trần thuật chánh luận, tức
là dạy tu ḥng đạt được lợi ích trong hiện
tại.
Phần
thứ nhất lại có hai ư:
-
Bài tụng đầu tiên nhằm giải đáp hai câu hỏi
sau đó.
-
Hai bài tụng kế đó nhằm giải đáp
hai câu hỏi đầu tiên.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
(Kinh)
Chư thiên cộng gia hộ, nhiên hậu nhập mẫu
thai. Kư chí mẫu thai trung, chư thiên phục thủ hộ.
Tuy sanh tại nhân thế, tôn thắng cố danh Thiên. Do
chư thiên hộ tŕ, diệc đắc danh thiên tử.
(經)諸天共加護,然後入母胎。既至母胎中,諸天復守護。雖生在人世,尊勝故名天。由諸天護持,亦得名天子。
(Kinh:
Chư thiên cùng gia hộ, sau đó vào thai mẹ. Đă vào
trong thai mẹ, chư thiên lại thủ hộ. Tuy sanh
trong nhân gian, tôn thắng nên gọi Trời. Do chư thiên hộ
tŕ, cũng gọi là “thiên tử”).
Kế
đó, đáp câu hỏi trong phần trước. Có hai phần:
- Một
bài tụng rưỡi đầu tiên trả lời câu hỏi
thứ nhất.
- Nửa
sau bài tụng trả lời câu hỏi thứ hai.
Do sức
thiện nghiệp trước kia, cũng dẫn tới
chư thiên cùng gia hộ.
(Kinh)
Tam Thập Tam thiên chúa, phân lực trợ nhân vương, cập
nhất thiết chư thiên, diệc tư tự tại lực,
trừ diệt chư phi pháp, ác nghiệp linh bất sanh,
giáo hữu t́nh tu thiện, sử đắc sanh thiên thượng.
Nhân cập Tô La chúng, tịnh Kiện
Thát Bà đẳng, La Sát Chiên Đồ La, tất giai tư
bán lực, phụ mẫu tư bán lực, linh xả ác tu
thiện. Chư thiên cộng hộ tŕ, thị kỳ
chư thiện báo. Nhược tạo chư ác nghiệp,
linh ư hiện thế trung, chư thiên bất hộ tŕ,
thị kỳ chư ác báo.
(經)三十三天主,分力助人王,及一切諸天,亦資自在力,除滅諸非法,惡業令不生,教有情修善,使得生天上。人及蘇羅眾,并健闥婆等,羅剎旃荼羅,悉皆資半力,父母資半力,令捨惡修善,諸天共護持,示其諸善報;若造諸惡業,令於現世中,諸天不護持,示其諸惡報。
(Kinh:
Chúa trời Tam Thập Tam, chia sức giúp quốc
vương. Và hết thảy chư thiên, cũng giúp sức
tự tại, trừ diệt các phi pháp, khiến ác nghiệp
chẳng sanh, dạy hữu t́nh tu thiện, khiến
được sanh lên trời. Người và A Tô La, và Kiện
Thát Bà thảy, La Sát Chiên Đồ La, đều giúp cho nửa
sức. Cha mẹ giúp nửa sức, khiến bỏ ác, tu
lành. Chư thiên cùng hộ tŕ, hiện ra các thiện báo. Nếu
tạo các ác nghiệp, khiến cho trong hiện đời,
chư thiên chẳng hộ tŕ, hiện ra các ác báo).
Kế
đó, đáp chung về nguyên do có được xưng hiệu
là “vua”, trần thuật chánh luận. Kinh văn lại chia
thành hai phần:
-
Năm bài tụng đầu tiên là nêu đại lược.
-
Năm mươi hai bài tụng rưỡi kế đó nhằm
giải thích cặn kẽ.
Trong
phần “nêu đại lược” có ba ư:
-
Hai bài tụng đầu tiên nói chư thiên giúp vua hành chánh
pháp ḥng lợi ích người khác, gồm có ba
điều:
a)
Bài tụng thứ nhất nói chư thiên phụ trợ [nhà
vua].
b)
Bài tụng kế tiếp nói về sự giáo hóa của nhà
vua. Trong phần giáo hóa th́ nửa đầu nói về sự
diệt ác, nửa sau nói về sanh thiện.
c)
Bài tụng rưỡi kế tiếp nêu ra người và
thần cùng thủ hộ sự lợi ích cho chính ḿnh, mà
cũng là lợi ích người khác. Do người
và thần giúp sức, khiến cho nhà vua giáo hóa kẻ khác bỏ
ác, tu thiện, cùng đạt được lợi ích cho chính
ḿnh. Nói “La Sát Chiên Đồ La” th́ Chiên Đồ La (Caṇḍāla)
được phương này dịch
là Nghiêm Xí Chấp Thủ Ác Giả, tức là kẻ chấp
giữ điều ác trong các La Sát. Có nghĩa là kẻ ác [trong
loài La Sát] mà c̣n hộ tŕ, huống hồ những người
thiện khác!
-
Sau đó, một bài tụng rưỡi từ “chư
thiên cộng hộ” (chư thiên cùng thủ hộ) trở
đi, nêu ra ư nghĩa: Do [nhà vua] hành thiện giáo hóa người
khác mà được chư thiên thủ hộ. Nửa
đầu bài tụng nhằm nêu bày [ư nghĩa đó], bài tụng
kế đó riêng chỉ bày nhân quả thiện ác đạt
được.
Hỏi:
Tạo thiện th́ có thể thủ hộ, tạo ác th́ thủ
hộ như thế nào?
Đáp:
Do xưa kia tu thiện, nay được làm vua. V́ thế,
khi tạo ác th́ trời hiện tướng ác để thủ
hộ, khiến cho [nhà vua] sửa đổi.
(Kinh)
Quốc nhân tạo ác nghiệp, vương xả, bất
cấm chế. Tư phi thuận chánh lư, trị tẫn
đương như pháp. Nhược kiến ác bất
giá, phi pháp tiện tư trưởng, toại linh
vương quốc nội, gian trá nhật tăng đa.
Vương kiến quốc trung nhân, tạo ác bất giá chỉ,
Tam Thập Tam Thiên chúng, hàm sanh phẫn nộ tâm. Nhân thử,
tổn quốc chánh, siểm ngụy hành thế gian, bị
tha oán địch xâm, phá hoại kỳ quốc độ.
Cư gia cập tư cụ, tích tài giai tán thất. Chủng
chủng siểm cuống sanh, cánh hỗ tương xâm
đoạt. Do chánh pháp đắc vương, nhi bất
hành kỳ pháp, quốc nhân giai phá tán, như tượng
đạp liên tŕ. Ác phong khởi vô hằng, bạo vũ
phi thời hạ, yêu tinh đa biến quái, nhật nguyệt
thực vô quang. Ngũ cốc, chúng hoa quả, miêu thật
giai bất thành, quốc độ tao cơ cẩn, do
vương xả chánh pháp.
(經)國人造惡業,王捨不禁制,斯非順正理,治擯當如法。若見惡不遮,非法便滋長,遂令王國內,姧詐日增多。王見國中人,造惡不遮止,三十三天眾,咸生忿怒心。因此損國政,諂偽行世間,被他怨敵侵,破壞其國土。居家及資具,積財皆散失,種種諂誑生,更互相侵奪。由正法得王,而不行其法,國人皆破散,如象踏蓮池。惡風起無恒,暴雨非時下,妖星多變怪,日月蝕無光。五穀眾華果,苗實皆不成,國土遭饑饉,由王捨正法。
(Kinh:
Dân chúng tạo ác nghiệp, vua bỏ mặc, chẳng cấm.
Đó chẳng thuận chánh lư, trị phạt đúng
như pháp. Nếu thấy ác chẳng ngăn, phi pháp sẽ
tăng trưởng, khiến cho trong nước nhà, gian
trá ngày tăng nhiều.
Vua thấy dân trong nước, tạo ác, chẳng cấm
ngăn, chúng trời Tam Thập Tam, đều sanh ḷng phẫn
nộ. Do vậy, quốc chánh suy, siểm ngụy lừng
thế gian, bị oán địch xâm lấn, phá hoại
đất nước ấy. Nhà cửa và đồ đạc,
tài sản đều tan tác. Các thứ siểm cuống
sanh, cùng xâm đoạt lẫn nhau. Do chánh pháp làm vua,
nhưng chẳng hành pháp ấy, dân chúng đều hư
tan, như voi giày ao sen. Gió dữ nổi trái thời, mưa
to trút bất ngờ, sao quái nhiều lượt hiện,
nhật nguyệt ṃn, không sáng. Ngũ cốc, các hoa quả,
thóc lúa chẳng được mùa, quốc độ gặp
nạn đói, do vua bỏ chánh pháp).
Năm
mươi hai bài tụng rưỡi kế tiếp nhằm
nói rộng, chia thành hai phần:
- Ba
mươi lăm bài tụng đầu nói rơ: Do vua trái nghịch
chánh pháp, dẫn đến tai họa.
-
Mười bảy bài tụng rưỡi sau đó nói: Do
vua vâng theo chánh pháp mà phước đưa đến.
Theo
Du Già Sư Địa Luận quyển sáu mươi mốt
và Vương Pháp Chánh Lư Luận[5],
đă nói về lầm lỗi của nhà vua, công đức
của vua chúa, các loại suy tổn của vua, các
phương tiện của vua, pháp đáng yêu mến, và các
pháp có thể dẫn tới sự đáng yêu mến của
nhà vua. Trong mỗi loại, đều có nhiều
môn như các luận ấy đă biện định. Nếu
đem so sánh với kinh này, hành tướng sẽ hơi
khó [tương ứng]!
Hỏi:
Phẩm này có tên là Vương Pháp Chánh Luận có cùng danh mục
với luận Du Già và Vương Pháp Chánh Lư Luận, sao
không dựa theo các bộ luận ấy để giải
thích?
Đáp:
Do lư chẳng đồng nhất! Các kinh như Nhân
Vương Bát Nhă, Tát Giá Ni Càn Tử v.v… đều nói vua
hành pháp trị quốc chẳng giống các bộ luận ấy,
nhưng phối ứng [kinh này với các kinh ấy] th́ chẳng
mâu thuẫn. Hơn nữa, xét theo kinh này, chia thành hai phần:
- Ba
mươi hàng đầu
nói cặn kẽ [nhà vua trị quốc]
trái nghịch chánh luận.
-
Sau đó, năm bài tụng từ “như thị vô biên
quá” (vô biên lỗi như thế) trở đi, kết lại
chuyện trái nghịch chánh pháp.
Phần
nói cặn kẽ [nhà vua hành xử trái nghịch chánh luận]
chia thành ba đoạn:
-
Tám bài tụng đầu tiên nói rơ: Sai lầm do thấy kẻ
ác tạo ác mà chẳng ngăn cấm.
-
Chín bài tụng từ “nhược vương xả
chánh pháp” (nếu vua bỏ chánh pháp) trở đi, nêu rơ lỗi
lầm do nhà vua tự hành phi pháp.
-
Mười ba bài tụng từ “quốc trung tối
đại thần” (quan chức lớn nhất trong
nước) trở đi, nói rơ lỗi lầm do thấy bầy
tôi tạo ác mà không trừ bỏ.
Trong
đoạn thứ nhất, lại có bốn ư:
-
Bài tụng đầu tiên chỉ rơ: Thấy kẻ tạo
ác, phải nên ngăn cấm.
-
Bài tụng kế đó từ “nhược kiến ác”
(nếu thấy kẻ ác) trở đi, nói rơ: Không ngăn
trở, điều ác sẽ rộng lớn hơn.
- Từ
“vương kiến quốc trung” (vua thấy dân trong
nước) trở đi, do vậy, chư thiên phẫn nộ.
-
Năm bài tụng từ “nhân thử, tổn quốc
chánh” (do vậy, nền chánh trị nước nhà suy tổn)
trở đi, nói rơ [do vậy, bèn có] tai họa nẩy sanh.
Phần nói về tai họa sanh ra có năm điều:
a)
Bài tụng thứ nhất nói oán địch phá hoại
đất nước.
b)
Tài sản tán thất, [dân chúng] xâm
đoạt lẫn nhau.
c) [Nêu ra] cái nhân
khiến cho tai họa dấy lên.
d)
Các tai biến cùng hiện ra.
e)
Đất nước đói kém.
Năm
hàng [trong kệ tụng] theo thứ tự tương xứng
[với năm điều trên đây] dễ nhận thấy.
Trong điều thứ ba là “cái nhân gây họa” th́ nửa
đầu bài tụng là nêu ra cái nhân (tức là vua do chánh
pháp mà được làm vua, nhưng chẳng tuân theo pháp ấy),
nửa sau là thí dụ (dân chúng tan tác như voi giày xéo ao hoa
sen).
(Kinh)
Nhược vương xả chánh pháp, dĩ ác pháp hóa nhân,
chư thiên xử bổn cung, kiến dĩ, sanh ưu năo. Bỉ
chư thiên vương chúng, cộng tác như thị ngôn:
“Thử vương tác phi pháp, ác đảng tương
thân phụ, vương vị bất cửu an”. Chư
thiên giai phẫn hận. Do bỉ hoài phẫn cố, kỳ
quốc đương bại vong. Dĩ phi pháp giáo nhân,
lưu hành ư quốc nội, đấu tránh, đa gian
ngụy, tật dịch sanh chúng khổ. Thiên chúa bất hộ
niệm, dư thiên hàm xả khí, quốc độ
đương diệt vong, vương thân thọ khổ
ách. Phụ mẫu cập thê tử, huynh đệ tịnh
tỷ muội, câu tao ái biệt ly, năi chí thân vong một. Biến
quái lưu tinh đọa, nhị nhật câu thời xuất,
tha phương oán tặc lai, quốc
nhân tao tang loạn. Quốc sở trọng đại thần,
uổng hoạnh nhi thân tử, sở ái tượng mă
đẳng, diệc phục giai tán thất. Xứ xứ hữu
binh qua, nhân đa phi pháp tử, ác quỷ lai nhập quốc,
tật dịch biến lưu hành.
(經)若王捨正法,以惡法化人,諸天處本宮,見已生憂惱。彼諸天王眾,共作如是言:此王作非法,惡黨相親附,王位不久安,諸天皆忿恨。由彼懷忿故,其國當敗亡。以非法教人,流行於國內,鬪諍多姧偽,疾疫生眾苦。天主不護念,餘天咸捨棄,國土當滅亡,王身受苦厄。父母及妻子,兄弟并姊妹,俱遭愛別離,乃至身亡歿。變怪流星墮,二日俱時出,他方怨賊來,國人遭喪亂。國所重大臣,枉橫而身死,所愛象馬等,亦復皆散失。處處有兵戈,人多非法死,惡鬼來入國,疾疫遍流行。
(Kinh:
Nếu vua bỏ chánh pháp, dùng ác pháp dạy người,
chư thiên ở cung ḿnh, thấy rồi, sanh ưu năo. Các vị
thiên vương ấy, cùng nói như thế này: “Vua này hành
phi pháp, thân cận bè lũ ác, ngôi vua khó giữ bền”.
Chư thiên đều phẫn hận. Do họ ôm ḷng giận,
nước ấy sẽ bại vong. Dùng phi pháp dạy
người, lưu hành trong đất nước, đấu
tranh, lắm gian ngụy. Dịch bệnh, sanh các khổ.
Vua trời chẳng hộ niệm, chư thiên
đều vứt bỏ. Đất nước sẽ diệt
vong, vua hứng chịu khổ ách. Cha mẹ và vợ con,
anh em cùng chị em, yêu thương phải chia ĺa, thậm
chí thân chết mất. Sao băng biến quái dị, hai mặt
trời cùng mọc, oán tặc phương khác đến,
dân loạn lạc, tang tóc. Đại thần vua coi trọng,
gặp nạn, chết bất ngờ, voi, ngựa… vua yêu
quư, cũng đều thất tán cả! Khắp nơi dấy
binh đao, nhiều người chết phi pháp. Ác quỷ
vào trong nước, bệnh dịch lan tràn khắp).
Kế
đó, nói về lỗi hại do vua tự làm chuyện phi
pháp, chia thành bốn đoạn:
- Hai
bài tụng đầu nêu rơ vua vứt bỏ chánh pháp.
-
Hai câu kế đó nói chư thiên trông thấy [t́nh trạng ấy],
tâm ưu sầu.
-
Hai bài tụng kế đó, chư thiên cùng bàn bạc.
- Sáu bài tụng tiếp đó,
nói về cái tai họa dấy lên. Trong
ấy, lại có chín điều:
a)
Bài tụng thứ nhất nói các chuyện như đấu
đá v.v… rất nhiều.
b) Nửa
bài tụng kế đó nói chư thiên vứt bỏ [nhà vua
và đất nước ấy].
c) Một
bài tụng rưỡi kế đó, nói chuyện trái nghịch,
bức bách nẩy sanh, quốc độ
diệt vong, đó là nỗi khổ v́ cầu mà chẳng
được! Thân vua chịu khổ tức là oán tắng hội khổ (khổ v́ chán ghét mà cứ phải gặp
gỡ). Phải biệt ly cha mẹ v.v… tức là ái biệt
ly khổ (khổ
v́ yêu thương mà bị chia ĺa).
Cho đến bỏ ḿnh, chính là Tử Khổ!
d) Nửa
bài tụng kế đó, nói các thứ tai quái đều cùng
sanh ra.
e) Nửa
bài tụng kế đó nói oán tặc đến xâm phạm.
f) Nửa
bài tụng kế đó nói đại thần chết bất
ngờ.
g) Nửa
bài tụng kế đó nói tài sản tích cóp bị mất
mát.
h) Nửa
bài tụng đó nói người chết phi pháp.
i) Nửa
bài tụng kế đó nói bệnh dịch lan tràn khắp
nước!
(Kinh)
Quốc trung tối đại thần, cập dĩ chư
phụ tướng, kỳ tâm hoài siểm nịnh, tịnh
tất hành phi pháp. Kiến hành phi pháp giả, nhi sanh ư ái
kính; ư hành thiện pháp nhân, khổ sở nhi trị phạt.
(經)國中最大臣,及以諸輔相,其心懷諂佞,竝悉行非法。見行非法者,而生於愛敬;於行善法人,苦楚而治罰。
(Kinh:
Quan chức lớn nhất nước, cùng với các phụ
tá, vốn ôm ḷng siểm nịnh, cùng nhau hành phi pháp. Thấy
kẻ hành phi pháp, bèn sanh tâm kính yêu. Thấy người hành
thiện pháp, bèn trừng trị khổ sở).
Mười
ba bài tụng kế đó nói lên lỗi lầm [của nhà
vua] là thấy bầy tôi làm quấy mà không trừ bỏ,
chia thành bốn đoạn:
- Một
bài tụng nói về chuyện đại thần càn quấy.
-
Bài tụng kế đó nói thưởng phạt điên
đảo.
-
Mười bài tụng kế đó nói về ác quả sanh
khởi.
- Một
bài tụng từ “nhược vương tác phi pháp”
(nếu vua làm chuyện phi pháp) trở đi, kết lại
lỗi lầm ấy.
Phần
kinh văn này thuộc hai đoạn đầu.
(Kinh)
Do ái kính ác nhân, trị phạt thiện nhân cố, tinh tú cập
phong vũ, giai bất dĩ thời hành. Hữu tam chủng
quá sanh, chánh pháp đương ẩn một. Chúng sanh vô
quang sắc, địa ph́ giai hạ trầm. Do kính ác, khinh
thiện, phục hữu tam chủng quá, phi thời giáng
sương bạc, cơ dịch khổ lưu hành, cốc
giá, chư quả thật, tư vị giai tổn giảm.
Ư kỳ quốc độ trung, chúng sanh đa tật bệnh.
Quốc trung chư thụ lâm, tiên sanh cam mỹ quả, do
tư giai tổn giảm, khổ sáp vô tư vị. Tiên hữu
diệu viên lâm, khả ái du hư xứ, hốt nhiên giai khô tụy,
kiến giả sanh ưu năo. Đạo mạch chư quả
thật, mỹ vị tiệm tiêu vong, thực thời tâm bất
hỷ. Hà năng trưởng chư đại? Chúng sanh
quang sắc giảm, thế lực tận suy vi, thực
đạm tuy phục đa, bất năng linh băo túc. Ư
kỳ quốc giới trung, sở hữu chúng sanh loại,
thiểu lực,
vô dũng thế, sở tác bất kham năng. Quốc nhân
đa tật hoạn, chúng khổ bức kỳ thân, quỷ
mị biến lưu hành, tùy xứ sanh La Sát.
(經)由愛敬惡人、治罰善人故,星宿及風雨,皆不以時行。有三種過生,正法當隱沒,眾生無光色,地肥皆下沈。由敬惡輕善,復有三種過,非時降霜雹,饑疫苦流行,穀稼諸果實,滋味皆損減。於其國土中,眾生多疾病。國中諸樹林,先生甘美果,由斯皆損減,苦澁無滋味。先有妙園林,可愛遊戲處,忽然皆枯悴,見者生憂惱。稻麥諸果實,美味漸消亡,食時心不喜,何能長諸大?眾生光色減,勢力盡衰微,食啗雖復多,不能令飽足。於其國界中,所有眾生類,少力無勇勢,所作不堪能。國人多疾患,眾苦逼其身,鬼魅遍流行,隨處生羅剎。
(Kinh: Do yêu kính
kẻ ác, và trừng phạt người lành, tinh tú và
mưa, gió, đều
vận hành trái
thời. Có ba loại lỗi sanh, chánh pháp sẽ ẩn mất.
Chúng sanh chẳng tươi sáng, chất màu đất lắng
ch́m. Do kính ác, khinh thiện, lại có ba thứ lỗi:
Sương, mưa đá trái thời, đói, bệnh dịch
lan tràn, mùa màng, các quả hạt, hương vị đều
tổn giảm. Ở trong quốc độ ấy, chúng
sanh lắm tật bệnh. Các rừng cây trong nước,
xưa sanh quả ngon ngọt, do vậy, đều tổn
giảm, đắng, rít, không mùi vị. Vườn rừng
đẹp trước kia, chỗ vui chơi đáng ưa,
bỗng dưng đều khô héo, người thấy sanh ưu
năo. Thóc lúa, các quả hạt, vị ngon dần tiêu mất.
Ăn vào tâm chẳng vui, sao trưởng dưỡng các Đại?
Chúng sanh quang sắc giảm, thế lực suy vi sạch. Dẫu
ăn uống nhiều hơn, chẳng thể khiến no
đủ. Ở trong cơi nước ấy, tất cả
loài chúng sanh, sức kém, không oai thế, chẳng kham làm lụng
được. Nhân dân lắm bệnh tật, các khổ bức
bách thân, quỷ mị lan tràn khắp, La Sát mọi nơi
sanh).
Kế
đó là có ác quả sanh ra. Trong ấy, chia thành năm đoạn:
1)
Bài tụng đầu tiên nói có ba sự chẳng [vận
hành] đúng thời, một là tinh tú, hai là gió, ba là mưa.
2)
Bài tụng kế tiếp nói có ba thứ sai trái nổi lên:
Một là chánh pháp ẩn mất, hai là hữu t́nh ủ dột,
ba là đất giảm độ màu mỡ.
3)
Hai bài tụng kế đó nói, lại có ba điều ác
sanh khởi: Một là sương tuôn xuống, mưa
đá trái thời; hai là mùa màng tổn hại, thất
bát, ba là chúng sanh bệnh hoạn.
4)
Ba bài tụng kế tiếp nói về sự suy vi nơi quả
báo bên ngoài, gồm ba điều:
a. Bài
tụng thứ nhất nói các thứ trái cây không có mùi vị.
b. Một
bài tụng nói rừng cây đều khô tàn.
c. Một
bài tụng nói thực phẩm chẳng có tác dụng bồi
bổ to lớn.
5)
Ba bài tụng kế tiếp nói quả báo bên trong cũng suy
thoái, gồm bốn điều:
a. Một
bài tụng nói [dân chúng] h́nh sắc đói khát, c̣m cơi, ṃn mỏi, yếu ớt.
b. Một
bài tụng nói thân thể chẳng dũng mănh.
c. Nửa
bài tụng nói [nhân
dân] bị
bệnh khổ bức bách.
d. Nửa
bài tụng nói quỷ mỵ lưu hành.
(Kinh)
Nhược vương tác phi pháp, thân cận ư ác nhân,
linh tam chủng thế gian, nhân tư thọ suy tổn.
(經)若王作非法,親近於惡人,令三種世間,因斯受衰損。
(Kinh:
Nếu vua làm phi pháp, thân cận với kẻ ác, khiến
ba loại thế gian, do vậy bị suy tổn).
Kế
đó, phần thứ tư là kết lại các lầm lỗi.
“Tam chủng thế gian” tức là tam giới. Do vua
vâng theo chánh pháp, sẽ tăng ích trời, người. Do
vua hành phi pháp, tam giới bị suy tổn. Hoặc [có thể
hiểu] người, súc vật, và
các loại thóc lúa là “tam thế gian”.
Người bị dịch bệnh, súc vật tổn giảm,
các loại ngũ cốc chẳng chín rộ. Nói cặn kẽ
th́ như trong phần trên đă biện định.
(Kinh)
Như thị vô biên quá, xuất tại ư quốc trung,
giai do kiến ác nhân, khí xả bất trị tẫn. Do
chư thiên gia hộ, đắc tác ư quốc
vương, nhi bất dĩ chánh pháp, thủ hộ ư quốc
giới. Nhược nhân tu thiện hạnh,
đương đắc sanh thiên thượng, nhược
tạo ác nghiệp giả, tử tất đọa tam
đồ. Nhược vương kiến quốc nhân,
túng kỳ tạo quá thất, Tam Thập Tam Thiên chúng, giai
sanh nhiệt năo tâm. Bất thuận chư thiên giáo, cập
dĩ phụ mẫu ngôn, thử thị phi pháp nhân, phi
vương, phi hiếu tử.
(經)如是無邊過,出在於國中,皆由見惡人,棄捨不治擯。由諸天加護。得作於國王。而不以正法。守護於國界。若人修善行,當得生天上;若造惡業者,死必墮三塗。若王見國人,縱其造過失,三十三天眾,皆生熱惱心。不順諸天教,及以父母言,此是非法人,非王非孝子。
(Kinh:
Vô biên lỗi như thế, xuất hiện ở trong
nước, đều do thấy kẻ ác, bỏ mặc,
chẳng phạt đuổi! Do chư thiên gia hộ,
được làm bậc quốc vương, nhưng chẳng
dùng chánh pháp, để thủ hộ nước nhà. Nếu
ai tu thiện hạnh, sẽ sanh lên cơi trời. Nếu tạo
tác ác nghiệp, chết ắt đọa tam đồ. Nếu
vua thấy dân chúng, mặc cho họ phạm sai trái, chúng trời
Tam Thập Tam, đều sanh tâm bức bối. Do chẳng
thuận thiên giáo, và lời cha mẹ dạy, kẻ phi pháp
thế ấy, chẳng phải vua, con hiếu!)
Năm
bài tụng kế tiếp là đoạn lớn thứ hai
nhằm kết lại chuyện trái nghịch chánh pháp. Có bốn
ư:
- Một
bài tụng kết lại chuyện vua chẳng trừng phạt
kẻ ác.
- Một
bài tụng kết lại chuyện chẳng tu thiện.
- Một
bài tụng kết lại quả báo thiện ác.
-
Hai ba tụng kết lại chuyện kẻ trái nghịch
giáo pháp sẽ chẳng xứng là người.
(Kinh)
Nhược ư tự quốc trung, kiến hành phi pháp giả,
như pháp đương trị phạt, bất ưng
sanh xả khí.
Thị cố chư thiên chúng, giai hộ tŕ thử
vương, dĩ diệt chư ác pháp, năng tu thiện
căn cố. Vương ư thử thế trung, tất
chiêu ư hiện báo. Do ư thiện ác nghiệp, hành xả,
khuyến chúng sanh, vị thị thiện ác báo, cố đắc
tác nhân vương, chư thiên cộng hộ tŕ, nhất
thiết hàm tùy hỷ.
(經)若於自國中,見行非法者,如法當治罰,不應生捨棄。是故諸天眾,皆護持此王,以滅諸惡法,能修善根故。王於此世中,必招於現報。由於善惡業,行捨勸眾生,為示善惡報,故得作人王,諸天共護持,一切咸隨喜。
(Kinh: Nếu ở
trong nước ḿnh, thấy kẻ hành phi pháp, theo đúng
pháp trừng phạt, chớ nên bỏ mặc đó! V́ thế,
các vị trời, đều hộ tŕ vua ấy. Do diệt
các pháp ác, do tu căn lành vậy. Vua ở trong đời
này, ắt chuốc vời
hiện báo. Do v́ nghiệp thiện ác, hành xả, khuyên chúng
sanh, chỉ dạy báo thiện ác, nên được làm quốc
vương, chư thiên cùng hộ tŕ, hết thảy đều
tùy hỷ).
Mười
bảy bài tụng rưỡi kế đó nói rơ: Do [nhà vua]
nương theo chánh pháp mà phước đưa tới,
chia thành hai phần:
- Bốn
bài tụng đầu nói rơ [vua] hành theo chánh pháp.
-
Mười ba bài tụng rưỡi sau đó, dựa theo ư
đă nêu trên đây mà giải thích cặn kẽ.
Trong
phần “nêu ra” [vua hành theo chánh pháp], có hai đoạn:
-
Hai bài tụng đầu tiên nói về chuyện phạt ác.
“Phạt ác” gồm hai ư:
a)
Bài tụng thứ nhất nói về chuyện trừng phạt
kẻ ác.
b)
Bài tụng sau đó nói về chuyện được
chư thiên thủ hộ.
-
Hai bài tụng sau đó nói về khuyến thiện. Khuyến
thiện có hai ư:
a)
Bài tụng thứ nhất khuyên tu thiện.
b)
Bài tụng thứ hai nói sẽ đắc Bồ Đề.
(Kinh)
Do tự lợi, lợi tha, trị quốc dĩ chánh pháp,
kiến hữu siểm nịnh giả, ưng
đương như pháp trị. Giả sử thất
vương vị, cập dĩ hại mạng duyên, chung bất
hành ác pháp. Kiến ác nhi xả khí, hại trung cực trọng
giả, vô quá thất quốc vị, giai nhân siểm nịnh
nhân. Vị thử, đương trị phạt. Nhược
hữu siểm cuống nhân, đương thất ư
quốc vị. Do tư, tổn vương chánh, như
tượng nhập hoa viên, thiên chúa giai sân hận. A Tô La diệc
nhiên. Dĩ bỉ vi nhân vương, bất dĩ pháp trị
quốc. Thị cố ưng như pháp, trị phạt
ư ác nhân.
(經)由自利利他,治國以正法,見有諂佞者,應當如法治。假使失王位,及以害命緣,終不行惡法,見惡而捨棄。害中極重者,無過失國位,皆因諂佞人,為此當治罰;若友諂誑人,當失於國位。由斯損王政,如象入華園,天主皆瞋恨,阿蘇羅亦然,以彼為人王,不以法治國。是故應如法,治罰於惡人。
(Kinh:
Do tự lợi, lợi tha, trị quốc bằng chánh
pháp, thấy có kẻ siểm nịnh, hăy nên đúng pháp phạt.
Giả sử mất ngôi vua, cùng duyên gây hại mạng, trọn
chẳng hành ác pháp! Thấy ác mà bỏ mặc, tai hại nặng
nề nhất! Không lỗi mà mất ngôi, đều do kẻ
siểm nịnh. V́ vậy, nên trừng phạt. Bạn cùng
kẻ siểm dối, sẽ đánh mất ngôi vua. Do vậy,
tổn quyền vua, như voi vào vườn hoa, chúa trời
đều sân hận. A Tô La cũng thế. Do kẻ làm vua ấy,
chẳng dùng pháp trị quốc. V́ thế, nên như pháp, trừng
phạt các kẻ ác).
Kế
đó là giải thích rộng, gồm hai phần:
-
Năm bài tụng rưỡi đầu nhằm giải
thích chuyện phạt ác.
-
Tám bài tụng rưỡi nhằm giải thích hành thiện.
Phần
giải thích đầu tiên (phạt ác) gồm hai ư:
-
Bài tụng đầu tiên, nêu rơ: Thấy ác, ắt phải
trừng trị.
-
Bài tụng kế đó, [nói rơ ư] chớ nên bỏ qua.
-
Bài tụng kế đó nêu rơ nguyên do phải trừng phạt.
-
Bài tụng kế đó, nhắc lại nhằm kết luận
phần trước, gồm ba câu là
pháp thuyết, một câu là thí dụ.
Hỏi:
Hành ác có mấy loại? Có mấy loại trị phạt?
Đáp:
Chuẩn theo kinh Tát Giá Ni Càn Tử, quyển thứ tư
chép: “Hành ác chúng sanh hữu ngũ: Nhất, ư
vương vô ích, nhị giả, tạo tác vô lợi, tam giả
khởi nghịch, tứ giả, khởi tà hạnh, ngũ
giả, tà mạng. Ư vương vô ích, hữu thập
nhất chủng: Nhất giả, phản nghịch. Nhị
giả, giáo tha phản nghịch. Tam, dữ vương
độc dược. Tứ, đoạt vương
tư sanh. Ngũ, phá sở ưng tác. Lục, xâm đoạt
vương thê. Thất, vi vương mạng. Bát, xuất
vương mật ngữ. Cửu, siêm tư quốc độ.
Thập giả, mạ vương. Thập nhất, hủy
tư. Tạo tác vô lợi, phục hữu thập chủng: Nhất,
điệt cộng tương sát. Nhị, điệt
tương kiếp đoạt. Tam, điệt
tương xâm thê. Tứ, hư cuống chứng tha.
Ngũ, hư vọng cuống tha. Lục, hoại tha thân hữu.
Thất, ác khẩu mạ tha. Bát, đẩu xứng khi cuống.
Cửu, điệt tương hủy tư. Thập, điệt
tương phần thiêu” (Chúng sanh làm ác có năm điều:
Một, vô ích đối với vua. Hai, tạo tác chuyện
không lợi ích. Ba là dấy lên chuyện phản nghịch.
Bốn là dấy lên tà hạnh. Năm là tà mạng. Vô ích
đối với vua có mười một loại: Một
là phản nghịch. Hai là dạy kẻ khác phản nghịch.
Ba là cho vua dùng thuốc độc.
Bốn là đoạt vật dụng cần dùng cho sinh
hoạt của vua. Năm là phá hoại chuyện đáng nên
làm. Sáu là xâm đoạt vợ vua. Bảy, chống trái lệnh
vua. Tám, tiết lộ lời bí mật của vua. Chín, ḍm
ngó quốc độ. Mười, chửi vua. Mười
một, chê gièm. Tạo tác chuyện chẳng lợi ích lại
có mười thứ: Một, giết chóc lẫn
nhau. Hai, cướp đoạt lẫn nhau. Ba, xâm phạm vợ
của nhau. Bốn, làm chứng hư dối cho kẻ khác.
Năm, hư vọng dối gạt người khác. Sáu,
phá hoại bạn thân của người khác. Bảy, ác khẩu
chửi người khác. Tám, cân đong lừa dối. Chín,
gièm chê lẫn nhau. Mười, thiêu đốt nhau).
“Phản
nghịch chúng sanh” là những tiểu vương các
thành ấp nơi biên địa, chủ xóm làng v.v… chẳng
tuân theo mạng lệnh căn bản của đại
vương. “Tà hạnh” là những kẻ không có giới,
tức là hành các ác luật nghi, đồ tể, thợ
săn, nuôi nấng lợn, dê, gà, chó, ngỗng, vịt, buông
lung làm điều ác tổn hại người khác. “Tà mạng”
là các thứ phi pháp để cầu các lợi dưỡng
phi pháp để nuôi mạng, mỗi mỗi đều chẳng
thể tự sống yên được!
Trị
phạt có ba loại:
- Một,
quở trách.
-
Hai, cướp đoạt vật dụng sinh hoạt.
-
Ba, lao ngục, đánh đập, trói buộc, chửi mắng,
xua đuổi.
Đối
với năm loại chúng sanh [hành ác trên đây], tùy theo [tội
ác đă
phạm thuộc loại] thượng, trung, hạ
mà sử dụng ba loại trị phạt. Đối với
kẻ phản nghịch, vị vua vâng theo pháp để
hành th́ sẽ trước hết dùng lời lẽ tốt
lành để như
pháp chỉ bảo. Nếu họ nghe lời vua, bỏ tâm
đối nghịch, xin vua tha thứ các tội, vua ban
đại ân dung thứ trọng tội, cho họ sống
trong chỗ thuộc quyền thống lănh của vua, chẳng
giảm, chẳng đoạt [tài sản của họ], chẳng
trục xuất. V́ sao vậy? V́ để cho họ biết
có ba thứ sự: Một là hữu tín, hai là hữu ân, ba
là đại lực. Khiến cho kẻ chưa hàng phục
sẽ hàng phục, kẻ đă hàng phục sẽ chẳng
đổi dạ, kẻ muốn phản nghịch sẽ
chẳng dám khởi tâm. Kẻ có tội được miễn
tội ấy, khôi phục vương vị, nhân dân an ổn.
Vị vua ấy sẽ được như đấng
pháp vương, đạt được phước vô
lượng, tiếng tốt lan rộng. Nếu kẻ
đó nghe vua dạy bảo mà chẳng nhận tội, hăy
nên trừng trị nặng. Ngoại trừ chẳng đoạn
mạng, chẳng hoại các căn, [vua có thể cân nhắc
mà] tận lực đoạt sạch
tài sản, quốc độ, nhân dân của
kẻ đó, xua đuổi sang xứ khác. V́ sao vậy?
Để các chúng sanh khác [thấy kẻ đó bị trừng
phạt như thế], sẽ chẳng dấy ḷng phản
nghịch. Đó là vị vua hành theo chánh pháp trị tội
các chúng sanh phản nghịch.
Đối
với chúng sanh tà hạnh, chỉ nên trách phạt:
“Ngươi c̣n làm nữa, ta sẽ giáng tội nặng”.
Đối với chúng sanh tà mạng, hăy nên tùy thuận. [Nếu
kẻ phạm tội thuộc tăng đoàn], Tăng chúng
[hành xử] như pháp, hăy nên ḥa hợp, kêu gọi [kẻ
phạm tội] đối trước tăng chúng hiện
tiền, để người ấy tự thưa [lầm
lỗi], tùy theo tội nặng hay nhẹ mà sẽ trị
phạt đúng như pháp. Đối với kẻ kháng cự,
chống trái tăng mạng, chẳng nghe lời thầy, bạn,
thiện tri thức, năo loạn chúng tăng, chẳng thể
tu đạo; nếu quốc vương là pháp vương,
tăng chúng hăy nên đến tâu với vua để vua hạ
lệnh. Nhà vua nên truyền gọi gă tỳ-kheo phá giới ấy,
dùng lời tốt lành khuyên dụ, khiến cho hắn tuân
theo mạng lệnh của tăng chúng. Nếu hắn vẫn
chẳng nghe theo, hăy nên nhóm hai chúng hiện tiền biện
định tội trạng là có thật hay không. Nếu hắn
bị kết tội, hăy giúp cho tăng chúng như pháp trị
phạt gă tỳ-kheo ấy. Chẳng được đoạn
mạng, cho đến chẳng được tước
đoạt vật dụng sinh sống của
hắn, nhưng được phép quở trách, được
phép trục xuất. Nếu đại vương thấy
đó là sự tranh chấp, kiện tụng giữa hai phe
đảng, hăy nên đúng pháp đoạn dứt chuyện
tranh chấp. Nếu vua không biết, hăy nên hỏi bậc
đại đức sa-môn trong nước [là những vị]
biết pháp, biết nghĩa, có trí và bi to lớn, hành theo
chánh pháp ḥng lợi ích chúng sanh, được tiếng là
“bậc nói đúng như pháp đoạn dứt tranh chấp”,
yêu cầu họ xét theo chánh pháp để biết kẻ
đó có phạm tội hay không? Đă biết như thế rồi,
sẽ theo đúng pháp mà trừ diệt!
Hỏi:
Theo kinh Tát Giá Ni Càn Tử, quyển thứ năm dạy: “Hành
pháp hạnh vương, hành bát chủng tâm, năng hộ
chúng sanh. Nhất giả, niệm chư chúng sanh như niệm
tử tưởng. Nhị giả, niệm ư ác hạnh
chúng sanh như bệnh tử tưởng. Tam giả, niệm
thọ khổ chúng sanh, sanh đại từ tâm. Tứ giả,
niệm thọ thắng lạc chúng sanh, sanh hoan hỷ tâm.
Ngũ giả, niệm ư oán gia chúng sanh, sanh hộ quá
tưởng. Lục giả, năng ư thân hữu chúng
sanh, sanh phú hộ tưởng. Thất giả, năng
ư tư sanh chi trung, sanh như dược tưởng.
Bát giả, năng ư tự thân, sanh vô ngă tưởng”
(Vị vua hành theo pháp hạnh, sẽ hành tám loại tâm có thể
thủ hộ chúng sanh: Một, nghĩ đến chúng sanh,
tưởng như nghĩ đến con ḿnh. Hai là nghĩ
đến chúng sanh ác hạnh, tưởng như đứa
con đang bị bệnh. Ba là nghĩ tới chúng sanh
đang chịu khổ, sanh tâm đại từ. Bốn là
nghĩ tới chúng sanh đang hưởng vui thù thắng,
sanh tâm hoan hỷ. Năm là nghĩ tới chúng sanh oán gia,
sanh ư tưởng ngăn ngừa tội lỗi. Sáu là đối
với chúng sanh thân hữu, sanh ư tưởng che chở, bảo
vệ. Bảy là đối với các vật dụng sinh
hoạt, sanh ư tưởng coi như thuốc. Tám là đối
với bản thân, sanh ư tưởng vô ngă). Đă có đủ
tám điều ấy th́ gọi là “pháp hạnh
vương”, sao c̣n có thể làm chuyện giam cầm,
đánh đập, trói buộc, xua đuổi v.v… ư?
Đáp:
Đối với các hữu t́nh phi pháp ác hạnh, do
nghĩ thương xót, muốn khiến cho
họ hối cải, bèn phương tiện trị phạt,
cho nên chẳng mâu thuẫn! Do vậy, quyển ba trong kinh ấy
có nói: “Thí như phụ mẫu ư ác hạnh tử, vị
niệm tử cố, dục linh cải hối,
phương tiện khổ trị, trừ bất đoạn
mạng, bất hoại chư căn, dư đả mạ
đẳng tùng tâm khổ trị, bất danh xả tâm, bất
danh ác tâm, dĩ niệm tử trọng, vị linh cải hối,
bất cánh phục tác, nhi bỉ phụ mẫu bất danh
phi pháp, bất thất từ tâm. Hành pháp hạnh
vương diệc phục như thị, vị linh xả
ác tùng thiện, linh kỳ dư ác chúng sanh bất tác phi
pháp, phi thường ác tâm xả thử chúng sanh, diệc bất
cố tâm vi năo chúng sanh nhi hành năo thiết. Dĩ từ tâm
hành ác khẩu đẳng trị phạt chúng sanh, bất
danh phi pháp, bất thất từ tâm” (Ví như cha mẹ
đối với đứa con làm ác, v́ nghĩ tới con,
muốn cho nó cải hối, bèn phương tiện trừng
phạt nặng nề, ngoại trừ chẳng hại mạng,
tổn hoại các căn của nó, những chuyện khác
như đánh, chửi v.v… đều do tâm [thương xót
mà] trừng phạt nặng nề, chẳng gọi là tâm buông
bỏ, chẳng gọi là ác tâm. Do đau đáu nghĩ tới
con, muốn cho nó cải hối, chẳng c̣n làm quấy nữa,
nên cha mẹ chẳng gọi là phi pháp, chẳng đánh mất
tâm từ. Vị vua hành theo pháp hạnh cũng giống
như thế, v́ khiến cho [chúng sanh hành ác] bỏ ác theo
thiện, khiến cho các chúng sanh ác khác chẳng làm chuyện
phi pháp, chẳng phải là do thường có ác tâm, ĺa bỏ
các chúng sanh ấy, cũng chẳng cố ư v́ năo hại
chúng sanh mà làm chuyện khổ năo. Do tâm từ bi mà làm các
chuyện như ác khẩu v.v… để trị phạt
chúng sanh, chẳng gọi là phi pháp, chẳng đánh mất
tâm từ).
Kinh
ấy cũng nói: “Tri vi chánh giả, khí nhất ác nhân
dĩ thành nhất gia, khí nhất ác gia dĩ thành nhất
hương. Bất tri chánh giả, nhân vật thất sở,
sử thiên hạ oán tụng” (Người biết cách
cai trị th́ vứt bỏ một
kẻ ác để thành toàn cho một nhà, vứt bỏ một
nhà ác để thành toàn cho một làng. Kẻ chẳng biết
cai trị, người lẫn vật không thể sống
yên vui, khiến cho thiên hạ oán thán).
Hỏi:
Vị vua hành theo pháp hạnh đă có ḷng từ bi, dùng các
tâm ǵ để đối trị kẻ làm ác? Đáp: Chuẩn
theo kinh Tát Già Ni Càn Từ quyển thứ ba dạy: “Tiên
khởi từ tâm, trí huệ quán sát,
tư duy ngũ pháp, nhiên hậu đương trị. Nhất,
y thật, phi bất thật. Nhị, y thời, phi bất
thời. Tam, y nghĩa, phi vô nghĩa. Tứ, y nhu ngữ,
phi thô quánh. Ngũ, y từ tâm, phi sân tâm, vị y pháp cật
vấn thủ tự ngôn, y thật quá trị. Vương
hữu lực thời, ưng trị kỳ tội. Vô lực
bất trị. Tùng ác tâm tác, đương như pháp trị,
phi thử bất trị. Ưng tri kỳ quá, chánh thuyết
bất ẩn, thiện thuyết khổ ngôn, như thị
ha trách, phi bất ha trách, thị danh nhu ngữ. Phi đản
ha trách, đoạn kỳ tội
quá, trừ khước đoạn mạng
đoạn mạng, cát tiệt chi thể, y từ bi tâm, hệ
bế, đả phược, ha trách, đoạt tài, khu tẫn
tha phương, vị linh cải hối, phi ác tâm xả”
(Trước hết, hăy dấy tâm từ, dùng trí huệ
quan sát, suy nghĩ năm pháp, sau đấy sẽ trị phạt.
Một là dựa theo sự thật, chẳng dựa theo
chuyện chẳng thật. Hai, dựa theo thời, chẳng
xét theo trái thời. Ba, dựa theo nghĩa, chẳng dựa
theo vô nghĩa. Bốn, nói năng mềm mỏng, chẳng
nói thô tháp, hung tợn. Năm, nương theo từ tâm, chẳng
theo sân tâm. Tức là theo đúng pháp gạn hỏi, để
kẻ đó tự nói, dựa theo lỗi
thật mà trị phạt. Khi vua có sức th́ hăy nên trị
tội ấy, không có sức th́ chẳng trị. Kẻ do
ác tâm mà làm, hăy nên theo đúng pháp mà trừng trị. Chẳng
phải vậy th́ không trừng trị. Hăy nên biết tội
lỗi ấy, nói năng chánh đáng, chẳng giấu diếm,
khéo nói lời nặng nề. Quở trách như thế, chẳng
phải là không quở trách, đó gọi là “nói mềm mỏng”.
Chẳng phải chỉ quở trách,
mà c̣n chấm dứt tội lỗi ấy.
Ngoại trừ đoạn mạng, cắt chặt chi thể,
nương theo tâm từ mà trói buộc, giam cầm, đánh
đập, quở trách, tước đoạt tài sản,
xua đuổi sang xứ khác, nhằm khiến cho kẻ
đó cải hối, chẳng phải là do ác tâm mà vứt bỏ).
Hỏi:
Vị vua hành theo pháp hạnh đă là vô nhiễm từ tâm
trị phạt kẻ ác, sao không đoạn mạng, cắt
chặt các căn?
Đáp:
Kinh ấy nói: “Dĩ vô nhiễm tâm, vô ác tâm cố, bất
năng đắc khởi như thị tâm niệm đoạn
mạng, tiệt căn. Ưng quán chúng sanh chí ư tử
thời, tự nghiệp quá sanh, sân hận tâm tử, dĩ
đoạn mạng, sanh ác đạo trung, ác tâm tùy trục
trường dạ bất đoạn. Thị cố, bất ưng
đoạn mạng, tiệt căn. Đoạn mạng tiệt
căn nhất tác dĩ hậu, bất khả cứu cố.
Hệ bế mạ đẳng phi vĩnh khí cố. Thị
cố, Phật thính” (Do tâm vô nhiễm,
chẳng có ác tâm, chớ nên khởi lên tâm niệm đoạn
mạng, cắt chặt các căn như thế. Hăy nên quán
chúng sanh tới khi chết, do nghiệp của chính ḿnh mà phải
mất mạng, ôm tâm sân hận mà chết. Đă đoạn
mạng, sanh trong đường ác, ác tâm theo đuổi
trong đêm dài chẳng ngừng. V́ thế, chớ nên đoạn
mạng, chẳng cắt căn thân. Do hễ đă thực
hiện, sẽ chẳng thể cứu được. Trói
buộc, giam cầm, chửi mắng v.v… chẳng phải
là vĩnh viễn vứt bỏ. Do vậy, đức Phật
cho phép).
Kinh
ấy lại c̣n nêu câu hỏi rằng: “Sở hữu thần
tá, tể quan, cấm ty, bất lự quốc kế, đản
cầu lợi kỷ, hoặc phục tư phẫn dĩ
hại công chánh, hoặc vân thọ hóa cầu, dĩ uổng
trị chi, tăng trưởng bách tánh điệt
tương khi loạn, dĩ cường lăng nhược,
dĩ quư lăng tiện, dĩ phú khi bần, dĩ khúc uổng
trực, phú giả hoạch giáp, bần giả thọ khuất,
siểm nịnh chưởng chánh, trung hiền ẩn thoái.
Hoặc thời tại triều, cụ tội tự mặc,
hoặc hành tài hóa dĩ dụng an kỷ, bách tánh bần khổ,
bất kham sung tế, yếm khổ tư loạn, bất
văn vương mạng. Tư do thần lại bất
hành trung tiết, khi thượng loạn hạ, mạo thọ
vương lộc. Như thị chi nhân nhiếp tại hà
đẳng chúng sanh số trung? Đáp ngôn: - Đại
vương! Nhiếp tại kiếp đoạt chúng sanh số
trung, thượng phẩm trị phạt. Hà dĩ cố?
Dĩ kỳ thọ vương danh quan trọng lộc, xả
công, niệm tư, bất tồn công chánh, họa loạn
chi sanh mạc bất do chi! Thử thị quốc chi tối
đại ác tặc. Vương thị pháp vương, bất
đắc đoạn mạng. Thị cố,
nhiếp tại kiếp đoạt số trung, thượng
phẩm trị phạt” (Tất cả quan
lại phù tá, tể quan, quan chức, chẳng nghĩ tới
quốc sách, chỉ cầu lợi lộc cho chính ḿnh, hoặc
do ḷng giận dữ riêng tư mà gây hại cho lẽ công
chánh, hoặc lại do ăn của đút lót mà trị phạt
oan uổng, khiến cho dân chúng tăng trưởng lừa
lọc, gây loạn lẫn nhau, ỷ mạnh hiếp yếu,
ỷ sang hiếp hèn, cậy giàu ép nghèo, dùng thói cong vạy
khiến cho người thẳng thắn bị oan uổng,
bao che kẻ giàu, khiến người nghèo chịu oan khuất,
kẻ siểm nịnh nắm quyền cai trị, bậc
trung hiền ẩn ḿnh, lui về. Hoặc có lúc họ vẫn
ở trong triều đ́nh, nhưng sợ tội nên lặng
câm, hoặc đút lót để được an thân. Dân
chúng nghèo khổ, chẳng kham giúp cho họ no đủ. Sợ
khổ, suy nghĩ lung tung, chẳng nghe theo lệnh vua.
Đó đều là do bọn bầy tôi chẳng giữ ḷng
trung và khí tiết, dối trên, loạn dưới,
hưởng xằng lộc vua. Người như thế
thuộc vào hạng chúng sanh nào vậy? Đáp rằng: - Đại vương!
Thuộc vào hạng người cướp
đoạt chúng sanh, trị phạt
nặng nhất. V́ sao vậy? Do đă
nhận quan cao lộc hậu từ vua, nhưng bỏ lẽ
công, chuyên lo riêng tư, chẳng giữ ḷng công chánh, họa
loạn sanh khởi, không ǵ chẳng do lẽ
đó! Đó là ác tặc lớn nhất của đất
nước. Vua là pháp vương, chẳng thể đoạn
mạng. Do vậy, xếp chúng nó vào hạng cướp
đoạt, trị phạt nặng nề nhất!) Nói cặn
kẽ th́ có nhiều môn, như trong kinh Tát Giá Ni Càn Tử
đă nói đầy đủ!
(Kinh)
Dĩ thiện hóa chúng sanh, bất thuận ư phi pháp, ninh
xả ư thân mạng, bất tùy phi pháp hữu. Ư thân
cập phi thân, b́nh đẳng quán nhất thiết.
(經)以善化眾生,不順於非法,寧捨於身命,不隨非法友。於親及非親,平等觀一切。
(Kinh:
Dùng thiện độ chúng sanh, chẳng thuận theo phi
pháp, thà vứt bỏ thân mạng, chẳng theo bạn phi
pháp. Đối người thân, kẻ sơ, xem hết thảy
b́nh đẳng).
Tám
bài tụng kế đó giải thích về hành thiện, có
hai phần:
- Một
bài tụng rưỡi giải thích hành thiện.
-
Sáu bài tụng rưỡi nói về lợi ích đạt
được [do hành thiện].
Trong
phần thứ nhất, lại có ba ư:
- Nửa
đầu bài tụng nói về người giáo hóa, chẳng
hành theo phi pháp.
- Nửa
bài tụng tiếp theo nói [người như thế] chẳng
thuận theo bạn bè phi pháp.
- Nửa
bài tụng sau đó nói về chuyện thưởng phạt,
[luôn đối xử b́nh đẳng], chẳng phân biệt
là thân hay sơ.
(Kinh)
Nhược vi chánh pháp vương, quốc nội vô thiên
đảng, pháp vương hữu danh xưng, phổ
văn tam giới trung. Tam Thập Tam Thiên chúng, hoan hỷ
tác thị ngôn: “Thiệm Bộ châu pháp vương, bỉ tức
thị ngă tử. Dĩ thiện hóa chúng sanh, chánh pháp trị
ư quốc. Khuyến hành ư chánh pháp, đương
linh sanh ngă cung. Thiên cập chư thiên tử, cập dĩ
Tô La chúng, nhân vương chánh pháp hóa, thường đắc
tâm hoan hỷ. Thiên chúng giai hoan hỷ, cộng hộ ư
nhân vương. Chúng tinh y vị hành, nhật nguyệt vô
quai độ, ḥa phong thường ứng tiết, cam
vũ thuận thời hành. Miêu thật giai thành thiện,
nhân vô cơ cẩn giả. Nhất thiết chư thiên
chúng, sung măn ư tự cung.
(經)若為正法王,國內無偏黨,法王有名稱,普聞三界中。三十三天眾,歡喜作是言:贍部洲法王,彼即是我子。以善化眾生,正法治於國。勸行於正法,當令生我宮。天及諸天子,及以蘇羅眾,因王正法化,常得心歡喜。天眾皆歡喜,共護於人王。眾星依位行,日月無乖度,和風常應節,甘雨順時行,苗實皆成善,人無饑饉者。一切諸天眾,充滿於自宮。
(Kinh:
Nếu làm vua chánh pháp, trong nước không phe đảng.
Pháp vương có tiếng tăm, vang dội khắp tam giới.
Tam Thập Tam thiên chúng, hoan hỷ nói thế này: “Pháp
vương châu Thiệm Bộ, chính là con của ta. Dùng thiện
dạy chúng sanh, trị quốc bằng chánh pháp. Khuyên thực
hành chánh pháp, sẽ sanh vào cung ta”. Thiên và các thiên tử, cùng
các A Tô La, do vua chánh pháp hóa, tâm thường được
hoan hỷ. Thiên chúng đều hoan hỷ, cùng thủ hộ
nhân vương. Các sao xoay đúng phương, nhật nguyệt
chẳng sai đường, gió lành thổi đúng thời,
mưa ngọt tuôn đúng tiết. Thóc lúa đều chín rộ,
dân chẳng bị đói kém. Hết thảy các chúng trời,
sung măn trong cung họ).
Kế
đó, giải thích về lợi ích đạt được,
gồm
năm phần:
1)
Bài tụng đầu tiên nói về lợi ích thanh danh vang dội
[do vua hành theo chánh pháp].
2)
Bài tụng kế tiếp nói về lợi ích được
làm con của chư thiên.
3)
Bài tụng kế tiếp nói về lợi ích được
sanh lên trời.
4)
Bài tụng rưỡi kế tiếp nói về lợi ích
do được chư thiên hoan hỷ, thủ hộ.
5)
Hai bài tụng kế tiếp nói về lợi ích hộ quốc.
Trong ấy, lại có bốn ư:
a) Nửa
bài tụng nói về lợi ích “tinh
tú vận hành đúng theo quỹ đạo”.
b) Nửa
bài tụng nói về lợi ích “mưa
ḥa, gió thuận”.
c) Nửa
bài tụng nói về lợi ích “nhân
dân giàu vui”.
d) Nửa
bài tụng nói về lợi ích “có
thể gia hộ chư thiên”, tức
là do có thể làm cho thiên chúng thường sung măn.
Hỏi:
Vua có thể làm việc thiện th́ được chư
thiên thủ hộ, cớ sao có lợi ích “có thể thủ
hộ chư thiên”?
Đáp:
Vua hành theo chánh pháp, khiến cho Phật pháp được
lưu truyền rộng răi, quốc thái dân an, thường
dạy họ tu thiện. V́ thế, nhiều người
sanh thiên. Lại c̣n hoằng dương Phật pháp, chư
thiên nghe pháp đạt được lợi ích. V́ thế,
kinh Tát Giá Ni Càn Tử nói: “Hành pháp hạnh vương vô
lượng thiên hộ, vân hà hộ thiên? Do pháp hạnh
vương năng dữ chư thiên chánh pháp tịnh thực,
sở vị vị thuyết Như Lai chánh giáo cam lộ
pháp môn, Thiền Định, giải thoát, thập thiện
đạo đẳng, linh kỳ đắc ly chư ác
đạo khổ, dĩ thị vi hộ” (Vua hành theo
pháp hạnh sẽ được vô lượng thiên chúng
thủ hộ, thủ hộ chư thiên như thế nào?
Do pháp hạnh vương có thể ban cho chư thiên thức
ăn thanh tịnh là chánh pháp, tức là v́ họ nói pháp môn
cam lộ chánh giáo của Như Lai, Thiền Định, giải
thoát, thập thiện đạo v.v… khiến cho họ
được ĺa nỗi khổ trong các đường
ác, coi đó là thủ hộ). V́ thế, pháp vương hành
theo pháp hạnh th́ thân có thể nhóm họp vô lượng
công đức để giúp ích cho hiện tại. Trong vị lai, lại có thể
nhóm họp các thiện quả. Phần sau kinh này cũng
nói: “Thị cố nhữ nhân vương, vong thân hoằng
chánh pháp, ưng tôn trọng pháp bảo, do tư chúng an lạc”
(V́ thế, các quốc vương, vong thân hoằng chánh
pháp, nên tôn trọng pháp bảo. Do vậy, dân an lạc). Phẩm
Tứ Thiên Vương Hộ Quốc cũng nói cặn kẽ
chuyện này.
5.20.4.2.2.2.2.3.3. Khuyên
lơn khích lệ [thính chúng] hăy học theo
(Kinh)
Thị cố, nhữ nhân vương, vong thân hoằng chánh
pháp, ưng tôn trọng pháp bảo, do tư chúng an lạc.
Thường đương thân chánh pháp, công đức tự
trang nghiêm, quyến thuộc thường hoan hỷ,
năng viễn ly chư ác. Dĩ pháp hóa chúng sanh, hằng
linh đắc an ổn, linh bỉ nhất thiết nhân, tu
hành ư Thập Thiện, suất độ thường
phong lạc, quốc độ đắc an ninh.
Vương dĩ pháp hóa nhân, thiện điều ư ác hạnh,
đương đắc hảo danh xưng, an lạc
chư chúng sanh.
(經)是故汝人王,忘身弘正法,應尊重法寶,由斯眾安樂。常當親正法,功德自莊嚴,眷屬常歡喜,能遠離諸惡。以法化眾生,恒令得安隱,令彼一切人,修行於十善,率土常豐樂,國土得安寧。王以法化人,善調於惡行,當得好名稱,安樂諸眾生。
(Kinh:
V́ thế, quốc vương ơi! Quên
thân hoằng chánh pháp, nên tôn trọng pháp bảo, do vậy,
chúng an lạc. Thường thân cận chánh pháp, công đức
tự trang nghiêm, quyến thuộc thường hoan hỷ,
hay xa ĺa các ác. Dùng pháp hóa chúng sanh, khiến luôn được
an ổn, khiến hết thảy mọi người,
đều tu hành Thập Thiện. Khắp cơi thường
giàu vui, quốc độ được an ninh. Vua dùng pháp
giáo hóa, khéo điều phục ác hạnh, sẽ được
danh tiếng tốt, an lạc các chúng sanh).
Tán
rằng: Kinh văn nói về chánh pháp có ba phần, trên
đây là phần thứ hai nói cặn kẽ về chánh luận.
Phần thứ ba là “khuyên lơn, khích lệ nương
theo đó tu học”, chia thành ba ư:
1)
Bài tụng thứ nhất khuyên hoằng pháp để lợi
lạc người khác.
2)
Nửa bài tụng kế
đó, khuyên thân cận pháp để tự lợi ích.
3)
Ba bài tụng sau đó nói về lợi ích, gồm bốn
điều:
a) Nửa
đầu bài tụng nói về quyến thuộc ĺa sai
trái.
b) Nửa
bài tụng kế đó là chúng sanh thân thể
vui sướng.
c)
Bài tụng kế đó, nói đến lợi ích nước
giàu có, dân an vui.
d)
Bài tụng kế đó, là quốc vương được
danh tiếng tốt.
5.20.4.3. Đại chúng
hoan hỷ phụng hành
(Kinh)
Nhĩ thời, đại địa nhất thiết nhân
vương, cập chư đại chúng, văn Phật
thuyết thử cổ tích nhân vương trị quốc
yếu pháp, đắc vị tằng hữu, giai đại
hoan hỷ, tín thọ phụng hành.
(經)爾時大地一切人王及諸大眾,聞佛說此古昔人王治國要法,得未曾有,皆大歡喜信受奉行。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, hết thảy vua loài người và các
đại chúng trong đại địa nghe đức Phật
nói pháp trọng yếu để trị quốc của bậc
quốc vương xa xưa, đều đạt
được điều chưa từng có, đều hết
sức hoan hỷ, tin nhận, vâng làm theo).
Kế
đó, đoạn lớn thứ ba là đại chúng hoan hỷ
hành theo.
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
quyển thứ tám hết
[1] Đối Pháp chính là dịch
nghĩa của từ ngữ A Tỳ Đạt Ma, hàm nghĩa
dùng trí huệ thuộc thánh đạo vô lậu để
đối chiếu, quán sát lư Tứ Đế, đối ứng
lư ấy với cái quả Niết Bàn. Hiểu theo nghĩa
rộng, toàn thể Luận Tạng đều có thể gọi
là Đối Pháp.
[2] Trong bộ Tâm Yếu, tổ Ngẫu
Ích đă giảng như sau: “Tướng tuy có ba thứ
khác biệt, nhưng đều gọi là Pháp Thân, tức
tuy một mà là ba, chẳng ngang, chẳng dọc, chẳng
cùng chỗ, chẳng tách biệt. Nói tách ra th́ Pháp Thân là
nghĩa Y, Báo Thân và Ứng Thân là nghĩa Thể. Ba tướng
được gọi chung là Pháp Thân, đó là nghĩa Tụ.
Nói gộp chung lại th́ mỗi mỗi đều có các ư
nghĩa Thể, Y và Tụ”.
[3] Tô-ma (Soma) là một thứ thức uống
đă có từ thời cổ tại Ấn Độ, và
đă được nhắc tới trong Rig Veda. Thức uống
này được trích từ chất
ép từ một loại cây, cho đến nay các nhà nghiên cứu
vẫn tranh căi cụ
thể là loài cây nào. Thậm chí cổ thư Ấn Độ cho rằng
uống Soma vào sẽ bất tử, và cho đó là loại
thức uống của chư thiên hay thần tiên. Đối với Soma được dùng hiện thời trong các nghi lễ của Ấn
Độ giáo, họ dùng chất nhựa
từ cây Somalatha (tên tiếng Anh là Soma creeper, tên khoa học là Sarcostemma Acidum). Các nhà nghiên cứu thiên về
khuynh hướng cho rằng Soma là sự pha trộn của
mật ong, một số loại nấm, và các dược
thảo gây ảo giác khác.
[4] Theo pháp sư Nhật Thường
trong loạt bài giảng “Thành Phật tất kinh chi lộ”
(Con đường ắt phải trải qua để
thành Phật) giảng tại chùa Viên Minh (Đài Loan) vào ngày 27 tháng 6 năm
1993 th́ “tăng thượng sanh” có nghĩa là mỗi
đời sau đều phải tốt đẹp hơn
đời trước. Hiểu rộng hơn là mỗi
ngày phải tốt đẹp hơn.
[5] Đây là bộ luận do Di Lặc
Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang tiếng
Hán. Trong bộ luận này, Di Lặc Bồ Tát trần thuật câu chuyện đức
Phật đă v́ quốc vương tên Xuất Ái mà giảng
dạy chánh đạo, chánh
lư của kẻ làm vua. Luận dạy rất
chi tiết như chín loại sai trái của nhà vua, chín thứ
công đức, năm thứ suy tổn, năm thứ
phương tiện, năm loại pháp đáng quở trách
v.v… Phần này tương ứng với quyển sáu
mươi mốt của Du Già Sư Địa Luận.