Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh Sớ
Quyển thứ chín
Đời Đường,
Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch
kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ
Chiểu soạn sớ
金光明最勝王經疏
卷第九
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
Phần 14
5.21. Phẩm thứ hai mươi
mốt: Thiện Sanh Vương (Thiện Sanh Vương
phẩm đệ nhị thập nhất, 善生王品第二十一)
Phẩm Thiện Sanh
Vương gồm ba môn phân biệt.
5.21.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?
Nói về ư nghĩa v́ sao có phẩm
này, mười sáu phẩm thuộc phần Học Hạnh
Lưu Thông chia thành năm tiểu loại, loại thứ
tư là nói về Tŕ Học (thọ tŕ, học theo). Tŕ Học
lại có hai phần:
- Một, hai phẩm đầu
nêu ra chuyện cũ để tŕ học.
- Hai, một phẩm sau
đó nhằm khuyên người hiện thời hăy thọ
tŕ, tu học.
Phần “nêu ra chuyện
xưa” có hai ư:
- Một là cái quả thế
gian, tức là tăng thượng sanh đạo.
- Hai là cái quả xuất thế,
tức quyết định thắng đạo.
V́ mới tu và tu đă lâu là
hai thứ sai biệt, v́ tăng trưởng hai hạnh
đại bi và đại trí, phẩm trước nói
người khác vâng theo lời dạy tu hành ḥng đạt
được cái quả thế gian. Phẩm này nói chính
ḿnh thọ tŕ, học kinh này, để cầu cái quả
xuất thế. Lại có thể hiểu là: Phẩm trước
nhằm kết lại hạnh “để thủ hộ
quốc độ, phải nên lưu thông kinh này” như
đă nói trong phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc.
Phẩm này nhằm kết lại hạnh “được
thành Phật, chuyển pháp luân v.v… để lưu thông kinh
này”. Do vậy, có phẩm này sanh khởi.
5.21.2. Giải thích danh
xưng của phẩm này
Giải
thích danh xưng th́ Câu Xá La (Kauśalya) trong tiếng Phạn được phương này
dịch là Thiện. Xướng Bà Bà (Saṃbhava)
được phương này dịch
là Sanh. Các bản dịch cũ dịch [tên vị
vua này] là Thiện Tập (善集)
không đúng ư nghĩa. Phẩm này nói về hạnh cầu
pháp và tŕ kinh của Thiện Sanh thuở trước. Do vậy,
đặt tên như thế.
5.21.3. Giải trừ vấn
nạn
* Hỏi:
Bổn ư là muốn khuyên lơn tŕ kinh, bèn nêu ra chuyện
cũ để [đại chúng] thông hiểu. Phẩm này
đă nói về chuyện Thiện Sanh cầu pháp trong thuở
trước, sao không gọi là phẩm Thiện Sanh Cầu
Pháp?
Đáp:
Đúng là phải nên nói là Cầu Pháp, nhưng do đại
lược, nên chẳng nhắc tới. Lại c̣n không chỉ
cầu, mà c̣n được nghe pháp, cúng dường, hành
tŕ kinh. Nếu nói Cầu Pháp, sẽ thiếu các hạnh
khác! V́ thế, chỉ nói là Thiện Sanh!
* Hỏi:
Trong A-tăng-kỳ thứ hai, thoạt đầu [nhà vua]
gặp Bảo Kế Phật, cớ sao phẩm này nói Bảo
Kế Phật nhập Niết Bàn, Thiện Sanh Vương
mới ra đời?
Đáp:
Bảo Kế Phật gồm nhiều vị. Hơn nữa,
chưa ắt phải là vào đầu kiếp thứ hai,
vua Thiện Sanh đă được sanh ra, mà là trong thời
khác!
5.21.4. Giải thích kinh
văn
5.21.4.1. Kết lại
phần trước nhằm dẫn khởi phần sau
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn vị chư đại chúng thuyết
Vương Pháp Chánh luận dĩ, phục cáo đại
chúng: - Nhữ đẳng ưng thính, ngă kim vị nhữ
thuyết kỳ văng tích phụng pháp nhân duyên.
(經)爾時世尊為諸大眾說王法正論已,復告大眾:汝等應聽,我今為汝說其往昔奉法因緣。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn v́ các đại
chúng nói Vương Pháp Chánh Luận
xong, lại bảo đại chúng: - Các vị hăy nên nghe, ta
nay sẽ v́ các vị nói nhân duyên phụng pháp xưa kia).
Tán
rằng: Kinh văn của phẩm này được chia
thành ba phần:
- Một,
kết lại phần trước, dẫn khởi phần
sau.
-
Hai, trần thuật chuyện tu hành.
-
Ba, đại chúng nguyện học.
Đoạn
này thuộc phần thứ nhất.
5.21.4.2. Trần thuật
sự tu hành
5.21.4.2.1. Quá khứ cúng
dường Phật, cầu pháp
(Kinh)
Tức ư thị thời, thuyết già-tha viết: - Ngă
tích tằng vi Chuyển Luân Vương, xả thử đại
địa tịnh đại hải, tứ châu trân bảo
giai sung măn, tŕ dĩ cúng dường chư Như Lai. Ngă
ư văng tích vô lượng kiếp, vị cầu thanh tịnh
chân Pháp Thân, sở ái chi vật giai tất xả, năi chí thân
mạng tâm vô lận.
(經)即於是時說伽他曰:我昔曾為轉輪王,捨此大地并大海,四洲珍寶皆充滿,持以供養諸如來。我於往昔無量劫,為求清淨真法身,所愛之物皆悉捨,乃至身命心無悋。
(Kinh:
Liền ngay khi ấy, nói già-tha rằng: - Ta xưa từng
làm Chuyển Luân Vương, xả đại địa
này và biển cả, bốn châu trân bảo đều đầy
ắp. Cầm đem cúng dường các Như Lai. Xưa
kia ta trong vô lượng kiếp, v́ cầu chân Pháp Thân thanh
tịnh. Các vật yêu mến đều xả hết, thậm
chí thân mạng tâm chẳng tiếc).
Kế
đó, trần thuật sự tu hành, gồm ba mươi
hai bài tụng. Chia đại lược thành bốn phần:
- Một,
hai bài tụng nêu chung chuyện quá khứ đă cúng Phật,
cầu pháp.
-
Hai, hai mươi ba bài tụng tiếp theo nói rơ trong quá khứ
đă tu học kinh này.
-
Ba, hai bài tụng kế đó nhằm trừ nghi cho đại
chúng, dung hội xưa nay.
- Bốn,
năm bài tụng nói về lợi ích do tu học để
khuyên lơn, khích lệ đại chúng.
Trong
phần thứ nhất lại có hai đoạn:
- Một,
bài tụng thứ nhất, nói về chuyện thân cận
chư Phật.
-
Hai, bài tụng kế đó nêu rơ [thân cận chư Phật]
v́ cầu pháp thù thắng.
5.21.4.2.2. Trong quá khứ
đă tu học kinh này
(Kinh) Hựu ư quá khứ nan tư kiếp,
hữu Chánh
Biến Tri danh Bảo Kế, ư bỉ Như Lai Niết
Bàn hậu, hữu vương xuất thế danh Thiện
Sanh, vi Chuyển Luân Vương hóa tứ châu, tận đại
hải tế hàm quy phục. Hữu thành danh viết Diệu
Âm Thanh, thời bỉ Luân Vương ư thử trụ.
(經)又於過去難思劫,有正遍知名寶髻,於彼如來涅槃後,有王出世名善生,為轉輪王化四洲,盡大海際咸歸伏。有城名曰妙音聲,時彼輪王於此住。
(Kinh:
Lại trong quá khứ khó nghĩ kiếp, có Chánh Biến
Tri tên Bảo Kế, sau khi Như Lai ấy Niết Bàn, có
vua ra đời tên Thiện Sanh, làm Chuyển Luân giáo hóa bốn
châu, cùng tột biển cả đều quy phục. Có ṭa
thành tên Diệu Âm Thanh, khi ấy, Luân Vương ngự tại
đó).
Đoạn
thứ hai nêu riêng: “Trong quá khứ đă tu học kinh
này”. Trong ấy,
có bốn tiểu đoạn:
- Một,
hai bài tụng đầu nói về người cầu pháp.
-
Hai, mười sáu bài tụng kế đó nói về sự
cầu pháp.
-
Ba, bài tụng kế đó nêu ra nguyên nhân được
nghe [kinh này].
- Bốn,
bốn bài tụng tiếp đó nói về người y
theo [kinh này] mà tu học.
Tiểu
đoạn thứ nhất nói về người cầu
pháp có bốn ư:
- Một,
nêu ra lúc cầu pháp.
-
Hai, từ “hữu vương xuất” (có vua ra đời)
trở đi, nói về người cầu pháp.
-
Ba, từ “vi Chuyển Luân Vương” (làm vua Chuyển
Luân) trở đi, nói đến sự giáo hóa của nhà
vua.
- Bốn,
từ “hữu thành” (có ṭa thành) trở đi, nói về
trụ xứ [của nhà vua].
(Kinh) Dạ mộng văn thuyết Phật
phước trí, kiến hữu pháp sư danh Bảo Tích, xử
ṭa đoan nghiêm như nhật luân, diễn thuyết Kim Quang
vi diệu điển. Nhĩ thời, bỉ vương
tùng mộng giác, sanh đại hoan hỷ sung biến thân.
Chí thiên hiểu dĩ, xuất vương cung, văng nghệ
bật-sô tăng già xứ. Cung kính cúng dường thánh chúng
dĩ, tức tiện vấn bỉ chư đại chúng:
“Phả hữu pháp sư danh Bảo Tích, công đức
thành tựu hóa chúng sanh?” Nhĩ thời, Bảo Tích đại
pháp sư, tại nhất thất trung
nhi trụ chỉ, chánh niệm tụng tư vi diệu
điển, đoan nhiên bất động, thân tâm lạc.
Thời hữu bật-sô dẫn đạo vương, chí
bỉ Bảo Tích sở cư xứ. Kiến tại thất trung, đoan thân tọa, quang minh diệu
tướng biến kỳ thân. Bạch vương: “Thử
tức thị Bảo Tích, năng tŕ thậm thâm Phật hành
xứ, sở vị vi diệu Kim Quang Minh, chư kinh
trung vương tối đệ nhất”. Thời
vương tức tiện lễ Bảo Tích. Cung kính, hiệp
chưởng, nhi trí thỉnh: “Duy nguyện măn nguyệt diện
đoan nghiêm, vị thuyết Kim Quang vi diệu pháp”. Bảo
Tích pháp sư thọ vương thỉnh, hứa vị
thuyết thử Kim Quang Minh. Châu biến tam thiên thế giới
trung, chư thiên đại chúng hàm hoan hỷ. Vương
ư quảng bác thanh tịnh xứ, kỳ diệu trân bảo
nhi nghiêm sức. Thượng thắng hương thủy
sái du trần, chủng chủng tạp hoa giai tán bố. Tức
ư thắng xứ sổ cao ṭa, huyền tăng phan cái
dĩ trang nghiêm. Chủng chủng mạt hương cập
đồ hương, hương khí phân phức giai châu biến.
Thiên, long, Tu La, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già cập
Dược Xoa, chư thiên tất vũ mạn-đà hoa,
hàm lai cúng dường bỉ cao ṭa. Phục hữu thiên vạn
ức chư thiên, nhạo văn chánh pháp câu lai tập. Pháp
sư sơ tùng bổn tọa khởi, hàm tất cúng dường
dĩ thiên hoa. Thị thời, Bảo Tích đại pháp
sư, tịnh tẩy dục dĩ, trước tiên y, nghệ
bỉ đại chúng pháp ṭa sở, hiệp chưởng
kiền tâm nhi lễ kính. Thiên chúa, thiên chúng, cập thiên nữ,
tất giai cộng tán mạn-đà hoa. Bách
thiên thiên nhạc nan tư nghị,
trụ tại không trung xuất diệu hưởng.
Nhĩ thời, Bảo Tích đại pháp sư, tức
thăng cao ṭa, già phu tọa, niệm bỉ thập
phương chư sát-độ, bách thiên vạn ức
đại từ tôn, biến cập nhất thiết khổ
chúng sanh, giai khởi b́nh đẳng từ bi niệm, vị bỉ
thỉnh chủ Thiện Sanh cố, diễn thuyết vi diệu
Kim Quang Minh.
(經)夜夢聞說佛福智,見有法師名寶積,處座端嚴如日輪,演說金光微妙典。爾時彼王從夢覺,生大歡喜充遍身,至天曉已出王宮,往詣苾芻僧伽處。恭敬供養聖眾已,即便問彼諸大眾:頗有法師名寶積,功德成就化眾生?爾時寶積大法師,在一室中而住止,正念誦斯微妙典,端然不動身心樂。時有苾芻引導王,至彼寶積所居處,見在室中端身坐,光明妙相遍其身。白王:此即是寶積。能持甚深佛行處,所謂微妙金光明,諸經中王最第一。時王即便禮寶積,恭敬合掌而致請:唯願滿月面端嚴,為說金光微妙法。寶積法師受王請,許為說此金光明。周遍三千世界中,諸天大眾咸歡喜。王於廣博清淨處,奇妙珍寶而嚴飾,上勝香水灑遊塵,種種雜華皆散布。即於勝處數高座,懸繒旛蓋以莊嚴,種種粖香及塗香,香氣芬馥皆周遍。天龍修羅緊那羅,莫呼洛伽及藥叉,諸天悉雨曼陀華,咸來供養彼高座。復有千萬億諸天,樂聞正法俱來集,法師初從本座起,咸悉供養以天華。是時寶積大法師,淨洗浴已著鮮衣,詣彼大眾法座所,合掌虔心而禮敬。天主天眾及天女,悉皆共散曼陀華,百千天樂難思議,住在空中出妙響。爾時寶積大法師,即昇高座跏趺坐,念彼十方諸剎土,百千萬億大慈尊,遍及一切苦眾生,皆起平等慈悲念,為彼請主善生故,演說微妙金光明。
(Kinh:
Đêm mộng nghe nói Phật phước trí, thấy có
pháp sư tên Bảo Tích, ngồi ṭa đoan nghiêm như mặt
trời, diễn nói kinh Kim Quang vi diệu. Bấy giờ,
nhà vua từ mộng tỉnh, sanh đại
hoan hỷ tràn ngập thân. Tới khi trời sáng, rời
cung vua, đến chỗ bật-sô
tăng cư trụ. Cung kính cúng dường thánh chúng xong,
liền hỏi han các đại
chúng ấy: “Có chăng pháp sư tên Bảo Tích, thành tựu
công đức độ chúng sanh?” Bấy giờ, đại pháp
sư Bảo Tích, đang trụ ở trong một cái thất,
chánh niệm tụng kinh vi diệu ấy. Đoan nghiêm bất
động, thân tâm vui. Khi đó, bật-sô hướng dẫn
vua, đến chỗ sư Bảo Tích đang ở. Thấy
Ngài đoan nghiêm ngồi trong thất, diệu tướng
quang minh trọn khắp thân. Tâu vua: “Vị này là Bảo
Tích, hay tŕ hành xứ Phật rất sâu, tức kinh Kim Quang
Minh vi diệu, vua của các kinh tột bậc nhất”. Khi
đó, vua liền lễ Bảo Tích, cung kính, chắp tay,
dâng lời thỉnh: “Mong đấng măn nguyệt tướng
đoan nghiêm, hăy nói pháp Kim Quang vi diệu”. Pháp sư Bảo
Tích nhận lời thỉnh, hứa sẽ giảng Kim Quang
Minh này. Trong khắp cơi tam thiên thế giới, chư thiên,
đại chúng đều hoan hỷ. Vua nơi chỗ thanh
tịnh, rộng răi, trang hoàng bằng trân bảo kỳ diệu,
vẩy bụi bằng nước thơm thù thắng. Rải
khắp đủ loại các thứ hoa. Ở chỗ thù thắng,
bày ṭa cao. Treo phan, lọng lụa để trang nghiêm. Các loại
hương bột và hương bôi, mùi thơm ngào ngạt
đều tỏa khắp. Trời, rồng, Tu La, Khẩn
Na La, Mạc Hô Lạc Già và Dược Xoa, chư thiên
mưa hoa Mạn-đà-la, đều tới cúng dường
ṭa cao ấy. Lại có ngàn vạn ức chư thiên, thích
nghe chánh pháp đều nhóm tới. Pháp sư vừa từ
ṭa đứng dậy, thảy đều cúng dường
bằng hoa trời. Khi đó, đại pháp sư Bảo
Tích, tắm gội sạch xong, mặc áo sạch. Đến
chỗ pháp ṭa trong đại chúng, chắp tay, kiền thành
mà lễ kính. Chúa trời, chúng trời và thiên nữ, đều
cùng rải hoa Mạn-đà-la. Trăm ngàn nhạc trời
chẳng nghĩ bàn, trụ trong hư không vang tiếng diệu.
Lúc đó, đại pháp sư Bảo Tích, liền lên ṭa
cao, ngồi xếp bằng. Nghĩ tới mười
phương các cơi nước, trăm ngàn vạn ức
đấng đại từ, trọn khắp hết thảy
chúng sanh khổ, đều khởi niệm từ bi b́nh
đẳng, v́ người thỉnh là vua Thiện Sanh, diễn
nói Kim Quang Minh vi diệu).
Ư thứ
hai là cầu pháp, gồm mười một điều:
1)
Bài tụng thứ nhất là do mộng mà
được thấy nghe. Tiếng
Phạn là La Đát Na (Ratna), phương này dịch là Bảo.
Câu Sá (Kūṭa) được phương này dịch là Tích. Các bản
cũ dịch là Bảo Minh (寶明) hoặc Bảo
Minh (寶冥) đều là sai.
2)
Hai bài tụng kế đó, nói vua tỉnh giấc bèn t́m kiếm.
3) Một
bài tụng tiếp đó nói về trụ xứ của
pháp sư.
4)
Hai bài tụng kế đó là bạn lành chỉ dẫn. Trong
ấy, gồm có ba điều:
a. Nửa
bài tụng nói [nhà vua] đến chỗ pháp sư ở.
b. Nửa
bài tụng nói vua trông thấy h́nh tướng oai nghi [của
pháp sư Bảo Tích].
c. Một
bài tụng trần thuật danh xưng và hạnh [của
pháp sư].
5)
Bài tụng kế đó, vua đă thấy rồi bèn khải
thỉnh.
6) Nửa
bài tụng nói pháp sư hứa khả.
7) Nửa
bài tụng nói đại chúng nghe thấy [lời hứa khả
ấy] đều hoan hỷ.
8)
Ba bài tụng nói về chuyện trang nghiêm đạo tràng,
có hai đoạn: Một là vua, hai là tám bộ. “Vua [trang nghiêm đạo tràng]” lại
có hai ư: Bài tụng thứ nhất là trang nghiêm nơi chốn.
Bài tụng kế đó là trang nghiêm pháp ṭa. Kế đó, bài
tụng từ “thiên, long” trở đi, [nêu lên ư nghĩa] tám bộ
cúng dường.
9)
Nửa bài tụng [kế
đó nói] chư thiên cùng nhóm họp.
10)
Hai bài tụng rưỡi kế đó nói pháp
sư đến pháp hội, trong ấy lại có ba tiểu
đoạn:
a. Nửa
bài tụng đầu là sự cảm ứng khi pháp sư
khởi Định.
b.
Bài tụng kế đó nói về pháp tắc tới pháp ṭa.
c.
Bài tụng sau cùng là chúng hội cúng dường.
11)
Hai bài tụng kế đó nói [pháp sư] thăng ṭa thuyết
pháp, có ba điều:
a. Nửa
bài tụng nói về oai nghi.
b. Một
bài tụng nói về sự vận tâm quán tưởng.
c. Nửa
bài tụng nói pháp sư chánh thức giảng kinh.
(Kinh) Vương kư đắc văn như
thị pháp, hiệp chưởng, nhất tâm xướng
tùy hỷ, văn pháp hy hữu lệ giao lưu, thân tâm
đại hỷ giai sung biến.
(經)王既得聞如是法,合掌一心唱隨喜,聞法希有淚交流,身心大喜皆充遍。
(Kinh:
Vua đă được nghe pháp như thế, chắp tay,
một dạ, xướng tùy hỷ, nghe pháp hy hữu lệ
doanh tṛng, thân tâm mừng rỡ đều trọn khắp).
Bài
tụng kế đó nói về ư thứ ba: Do vậy, vua
được nghe pháp.
(Kinh)
Nhĩ thời, quốc chúa Thiện Sanh Vương, vị
dục cúng dường thử kinh cố, thủ tŕ Như
Ư Mạt-ni châu, phát nguyện hàm vị chư chúng sanh, kim khả
ư tư Thiệm Bộ châu, phổ vũ thất bảo
anh lạc cụ. Sở
hữu quỹ phạp tư tài giả, giai đắc tùy
tâm thọ an lạc. Tức tiện biến vũ ư thất
bảo, tất giai sung túc tứ châu trung: Anh
lạc nghiêm thân tùy sở tu, y phục, ẩm thực giai
vô phạp. Nhĩ thời, quốc chúa Thiện Sanh
Vương, kiến thử tứ châu vũ trân bảo, hàm
tŕ cúng dường Bảo Kế Phật, sở hữu di
giáo bật-sô tăng.
(經)爾時國主善生王,為欲供養此經故,手持如意末尼珠,發願咸為諸眾生,今可於斯贍部洲,普雨七寶瓔珞具,所有匱乏資財者,皆得隨心受安樂。即便遍雨於七寶,悉皆充足四洲中,瓔珞嚴身隨所須,衣服飲食皆無乏。爾時國主善生王,見此四洲雨珍寶,咸持供養寶髻佛,所有遺教苾芻僧。
(Kinh:
Khi đó, quốc chúa Thiện Sanh Vương, v́ muốn
cúng dường bộ kinh này, tay cầm châu Như Ư Mạt-ni,
phát nguyện đều v́ các chúng sanh, nay trong châu Thiệm
Bộ này, mưa khắp anh lạc, đồ bảy báu. Tất
cả kẻ thiếu thốn tài vật, đều
được tùy tâm hưởng an lạc. Châu liền
mưa khắp vật bảy báu, thảy đều sung túc
cả bốn châu, anh lạc nghiêm thân theo tâm cần, y phục,
thức ăn đều chẳng thiếu. Lúc ấy, quốc
chúa Thiện Sanh Vương, thấy cả bốn châu
mưa bảy báu, đều đem cúng dường Bảo
Kế Phật, tất cả di giáo bật-sô tăng).
Bốn
bài tụng kế nói về ư thứ tư “nương
theo đó mà tu học pháp hạnh”, gồm mười
điều. Ở đây chỉ có một loại, tức
trước hết là cúng dường. Cúng dường có
mười thứ, ở đây chính là loại thứ sáu “đều
cùng cúng dường” v́ dùng mưa bảy báu để
thí trọn khắp cho chúng sanh ḥng cùng cúng dường. Trong
ấy, có bốn chuyện:
- Nửa
bài tụng đầu tiên nói cách nhà vua thực hiện.
- Một
bài tụng rưỡi kế đó là phát nguyện.
-
Bài tụng kế đó là nguyện được thỏa.
-
Bài tụng kế đó nói về cúng dường.
Chuyện thứ nhất là những
điều nhà vua thực hiện, “v́
để cúng dường kinh này” chính là pháp. Trong sự
cúng dường ấy, bao gồm cả cúng dường Phật
và Tăng. Phật là vị thuyết chủ, Tăng là
người học, kinh
là cái để học. V́ thế, đều cúng dường.
Hỏi:
Sao không cúng dường Bảo Kế Thế Tôn, chỉ nói
là [cúng dường] tất cả Tăng?
Đáp:
Do Phật đă nhập diệt. Hoặc có thể hiểu
là câu trước nói về cúng Phật, câu sau nói về cúng
Tăng.
Nếu
là như vậy, Phật đă nhập diệt, cớ sao
nói cúng dường Phật?
Đáp:
Do biết Phật là thường trụ, hoặc là cúng
dường h́nh tượng Phật.
5.21.4.2.3. Trừ nghi cho
đại chúng, dung hội cổ kim
(Kinh) Ưng tri quá khứ Thiện Sanh
Vương, tức ngă Thích Ca Mâu Ni thị, vị ư tích
thời xả đại địa, cập chư trân bảo
măn tứ châu. Tích thời Bảo Tích đại pháp sư,
vị bỉ Thiện Sanh thuyết diệu pháp, nhân bỉ
khai diễn kinh vương cố, Đông phương hiện
thành Bất Động Phật.
(經)應知過去善生王,即我釋迦牟尼是,為於昔時捨大地,及諸珍寶滿四洲。昔時寶積大法師,為彼善生說妙法,因彼開演經王故,東方現成不動佛。
(Kinh:
Nên biết vua Thiện Sanh quá khứ, tức là ta Thích Ca Mâu
Ni. Trong thuở xưa kia, xả đại địa, cùng
với trân bảo đầy bốn châu. Đại pháp
sư Bảo Tích thuở trước, v́ vua Thiện Sanh nói
pháp mầu.
Do vậy, kinh vương được
khai diễn, nay
thành Đông phương Bất
Động Phật).
Hai
bài tụng kế đó dung hội xưa nay, có hai ư:
- Trong hội trước, [Phật Thích Ca]
là người cầu kinh.
- Trong hội sau (tức hội thuyết kinh Kim Quang
Minh trong hiện thời), [Phật Thích Ca]
là người thuyết pháp.
V́
sao như thế? Muốn chỉ rơ: Nói và nghe đều là
pháp hạnh, sẽ đều thành Phật.
5.21.4.2.3. Nêu ra lợi
ích do tu học, khuyên lơn, khích lệ đại chúng
(Kinh)
Dĩ ngă tằng thính thử kinh vương, hiệp
chưởng, nhất ngôn xưng tùy hỷ, cập thí thất
bảo chư công đức, hoạch thử tối thắng
kim cang thân, kim quang bách phước tướng trang nghiêm, sở
hữu kiến giả giai hoan hỷ, nhất thiết hữu
t́nh vô bất ái, câu-chi thiên chúng diệc đồng nhiên. Quá
khứ tằng kinh cửu thập cửu, câu-chi ức kiếp
tác Luân Vương. Diệc ư tiểu quốc vi nhân
vương, phục kinh vô lượng bách thiên kiếp.
Ư vô lượng kiếp vi Đế Thích, diệc phục
tằng vi Đại Phạm vương, cúng dường
Thập Lực đại từ tôn, bỉ chi số lượng
nan cùng tận. Ngă tích văn kinh tùy hỷ thiện, sở hữu
phước tụ lượng nan tri, do tư phước
cố chứng Bồ Đề, hoạch đắc Pháp
Thân chân diệu trí.
(經)以我曾聽此經王,合掌一言稱隨喜,及施七寶諸功德,獲此最勝金剛身,金光百福相莊嚴,所有見者皆歡喜,一切有情無不愛,俱胝天眾亦同然。過去曾經九十九,俱胝億劫作輪王,亦於小國為人王,復經無量百千劫。於無量劫為帝釋,亦復曾為大梵王,供養十力大慈尊,彼之數量難窮盡。我昔聞經隨喜善,所有福聚量難知,由斯福故證菩提,獲得法身真妙智。
(Kinh: Do ta từng
nghe kinh vương này. Chắp tay, một lời xưng
tùy hỷ, và các công đức thí bảy báu, được
thân kim cang tối thắng này. Tướng trang nghiêm
trăn phước kim quang, tất cả ai thấy đều
hoan hỷ, hết thảy hữu t́nh đều yêu mến.
Câu-chi thiên chúng cũng giống vậy.
Quá khứ đă trải chín mươi chín, câu-chi ức kiếp
làm Luân Vương. Cũng làm quốc vương của
nước nhỏ, lại trải vô lượng trăm
ngàn kiếp. Trong vô lượng kiếp làm Đế Thích,
cũng lại từng làm Đại Phạm vương,
cúng dường đấng đại từ Thập Lực,
số lượng ấy khó thể cùng tận. Do thiện
căn xưa nghe kinh tùy hỷ, tất cả khối
phước lượng khó hay, do v́ phước ấy chứng
Bồ Đề, đạt được Pháp Thân chân diệu
trí).
Năm
bài tụng kế đó nói về sự lợi ích do tu học,
có ba ư:
-
Hai bài tụng đầu tiên nói về chuyện tu pháp hạnh
để đạt được cái quả xuất thế.
-
Hai bài tụng kế đó, nói về chuyện tu pháp hạnh,
đạt được quả
báo thế gian.
- Một
bài tụng sau cùng kết lại: Do sức của kinh mà
đạt được Bồ Đề. Bồ Đề
là trí tướng. “Pháp Thân chân diệu trí” là trí tánh, do
Bồ Đề và Bồ Đề đoạn đều
gọi là Bồ Đề. Hoặc Bồ Đề là tổng,
Pháp Thân là Chân Như, diệu trí tức là tứ trí.
5.21.4.3. Đại chúng
nguyện học
(Kinh)
Nhĩ thời, đại chúng văn thị thuyết
dĩ, thán vị tằng hữu, giai nguyện phụng tŕ
Kim Quang Minh kinh, lưu thông bất tuyệt.
(經)爾時大眾聞是說已歎未曾有,皆願奉持金光明經流通不絕。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đại chúng nghe nói như thế xong,
than là chưa từng có, đều nguyện phụng tŕ
kinh Kim Quang Minh, lưu thông chẳng dứt).
Sau
đó, đại chúng nguyện học.
5.22. Phẩm thứ
hai mươi hai: Chư thiên, Dược Xoa hộ tŕ (Chư
thiên Dược Xoa hộ tŕ phẩm đệ nhị thập
nhị, 諸天藥叉護持品第二十二)
Phẩm
Chư Thiên Dược Xoa Hộ Tŕ gồm ba môn phân biệt.
5.22.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Nói
đến ư nghĩa v́ sao có phẩm này, phần Học Hạnh
Lưu Thông có năm tiểu loại, đây là tiểu loại
thứ tư nói về “tŕ học” (thọ tŕ, tu học).
Tiểu loại này lại chia thành hai phần:
- Một
là nêu ra chuyện xưa.
-
Hai là khuyên lơn [đại chúng] trong hiện thời.
Phần
“nêu ra chuyện xưa” gồm hai đoạn:
- Một,
nêu ra chuyện hành tŕ xưa kia của người khác.
-
Hai, nêu ra chuyện tự ḿnh hành tŕ trong xưa kia.
Phẩm
này nhằm khuyên lơn đại chúng trong hiện tại
hăy hành tŕ. Lại nhằm giải thích và kết lại hạnh
lưu thông của người tŕ kinh và bát bộ chúng trong
phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc trước
đó, cho nên có phẩm này sanh khởi.
5.22.2. Giải thích tên gọi
của phẩm
Chư
Thiên và Dược Xoa là người được khuyên.
Hai chữ Hộ Tŕ chính là hạnh để học. Hộ
tức là Hộ Hạnh (thực hiện sự thủ
hộ), Tŕ tức là Tŕ Hạnh, [Hộ Tŕ] tức là khuyên
tứ chúng thọ tŕ, khuyên tám bộ quỷ thần thủ
hộ. V́ thế, cuối phẩm chỉ nói “Đại
Cát Tường thiên nữ, cập chư thiên đẳng,
văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ,
ư thử kinh vương cập tŕ kinh giả, nhất
tâm ủng hộ” (Đại Cát Tường thiên nữ
và các vị trời v.v… nghe lời Phật dạy, đều
hết sức hoan hỷ, đối với kinh
vương này và người tŕ kinh, một dạ ủng
hộ), chẳng nói thọ tŕ!
Lại
giải thích rằng: Tức là
duy tŕ khiến cho kinh chẳng bị đoạn diệt
th́ gọi là Hộ. Hộ chính là Tŕ, như thủ hộ
pháp thành, như nhân
vương (quốc
vương nhân từ) thủ hộ đất
nước, như nói “Tŕ Quốc thiên vương thủ
hộ hạnh Thập Địa” v.v… V́ thế, phần
Trường Hàng chỉ dạy dâng hiến, và muốn hiểu
rơ hành xứ sâu xa của Phật, hăy nên v́ chúng sanh phô diễn,
lưu truyền [kinh này]; người nghe pháp hăy nên trừ
loạn tưởng. Chẳng nhắc tới người
khuyên hộ tŕ kinh! Do đó, Hộ Tŕ tức là “hộ
tŕ chánh pháp”. Trong phần sau, kinh nói “thường lai hộ
thử nhân” (thường đến thủ hộ
người ấy), nghĩa là do hộ tŕ kinh, người
ấy được chư thiên thủ hộ. V́ thế,
trong phần sau, kinh dạy: “Nhược thử Kim Quang
Minh kinh điển lưu bố
xứ, hữu năng xưng tụng
giả, tất đắc như thượng
phước” (Nếu
chỗ nào có kinh điển Kim Quang Minh này lưu truyền, có người có thể xưng tụng, ắt sẽ
được phước như trên đây), nói rơ “do hộ
tŕ kinh mà đạt được lợi ích”.
Lại
giải thích rằng: Hộ tŕ
bao gồm cả hai nghĩa, tức là hộ tŕ kinh và thủ
hộ người tŕ kinh. Phần sau, kinh dạy: “Ư
thử kinh vương, cập tŕ kinh giả, câu ủng hộ
cố” (do đối với kinh vương này và người
tŕ kinh đều ủng hộ). Cách giải thích này trọn
vẹn lư lẽ!
5.22.3. Giải trừ vấn
nạn
* Hỏi:
Đă nói phẩm này nhằm khuyên lơn đại chúng hiện
thời hành tŕ, tu học, cớ sao chỉ có chư thiên
hoan hỷ ủng hộ, chẳng nói tứ chúng cùng với sự tu
hành?
Đáp:
Kinh văn nói tỉnh lược để [người nghe]
tự liên tưởng. Trong phần trước đă nêu
rơ: “Tức vị chư thiên cập chư đại
chúng” (liền v́ chư thiên và các đại chúng), phần
sau lại nói “cập chư thiên đẳng văn Phật
sở thuyết giai đại hoan hỷ” (và các vị
trời v.v… nghe lời đức Phật
dạy đều hết sức hoan hỷ), “hoan hỷ”
bao hàm ư nghĩa “tu hành”.
5.22.4. Giải thích kinh
văn
5.22.4.1. Nêu đại
lược lời khuyên
5.22.4.1.1. Bảo ban
thiên nữ các điều [hành nhân] muốn thực hiện
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Đại
Cát Tường thiên nữ viết: - Nhược hữu tịnh
tín thiện nam tử, thiện nữ nhân, dục ư quá
khứ, vị lai, hiện tại chư Phật, dĩ bất
khả tư nghị quảng đại vi diệu cúng
dường chi cụ, nhi vi phụng hiến, cập dục
giải liễu tam thế chư Phật thậm thâm hành xứ.
(經)爾時世尊告大吉祥天女曰:若有淨信善男子善女人,欲於過去未來現在諸佛以不可思議廣大微妙供養之具而為奉獻,及欲解了三世諸佛甚深行處。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo thiên nữ
Đại Cát Tường rằng: - Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhân ḷng tin trong sạch, muốn dùng
các vật cúng dường rộng lớn vi diệu để
dâng cúng quá khứ, vị lai và hiện tại chư Phật,
cũng như
muốn hiểu rơ hành xứ sâu rất sâu của
chư Phật trong ba đời).
Tán
viết: Phẩm này đại lược chia thành ba phần:
- Một,
nêu đại lược lời khuyên.
-
Hai, nói cặn kẽ.
-
Ba, đại chúng nguyện thủ hộ.
Phần
thứ nhất chia thành ba ư:
- Một,
bảo thiên nữ.
-
Hai, từ “nhược hữu” (nếu có) trở
đi, nêu ra điều muốn thực hiện.
-
Ba, từ “thị nhân” (người ấy) trở
đi, khuyên hoằng truyền giáo pháp này.
Đoạn
này gồm hai ư đầu. Trước tiên là phước hạnh
“rộng tu cúng dường” và “liễu giải hành
xứ” để tu trí hạnh. Tư lương Bồ
Đề chẳng ngoài hai thứ ấy. “Hành xứ rất
sâu” tức là Nhị Không Như. V́ thế, kinh văn
trong phần sau nói: “Dục nhập thâm pháp giới,
ưng tiên thính thử kinh. Pháp tánh chi chế-để, thậm
thâm thiện an trụ” (Muốn nhập pháp giới sâu,
nên nghe kinh này trước. Tháp miếu thuộc pháp tánh, khéo
an trụ rất sâu).
5.22.4.1.2. Khuyên hoằng
truyền giáo pháp này
(Kinh) Thị nhân ưng đương quyết
định chí tâm, tùy thị kinh vương sở
tại chi xứ, thành, ấp, tụ lạc, hoặc
sơn trạch trung.
(經)是人應當決定至心,隨是經王所在之處,城邑聚落或山澤中。
(Kinh:
Người ấy hăy nên chí tâm quyết định, tùy theo
chỗ nào có kinh vương này,
nơi thành, ấp, xóm làng, hoặc trong núi, chằm).
Kế
đó, khuyên hoằng truyền kinh này, gồm ba phần:
- Một,
dạy hăy dấy khởi gia hạnh.
-
Hai, từ “tùy thị kinh vương” (tùy theo kinh
vương này) trở đi, nói về chỗ hoằng
kinh.
- Từ
“quảng vị chúng sanh” (rộng v́ chúng sanh) trở
đi là hạnh hoằng kinh.
Nói “quyết
định chí tâm” tức là dấy lên ư nghĩ quyết
định để làm “cận gia hạnh” (gia hạnh
gần). “Phu diễn” v.v… là đă dấy động ư
niệm, bèn thật sự khởi hạnh. Nói “chí tâm”
tức là chuyên niệm, bao gồm cả gia hạnh (hạnh
phụ trợ, hạnh thêm vào) và chánh hạnh, c̣n suy xét xa,
gần, thù thắng, kém cỏi v.v… đều lược
đi chẳng nói. Hơn nữa, “quyết định”
có nghĩa là “dũng mănh, chẳng lui sụt”. V́ thế,
luận Du Già Sư Địa quyển ba mươi tám viết:
“Thế nào là cầu nghe chánh pháp? Chính là các vị Bồ
Tát v́ muốn được nghe một người khéo
thuyết pháp [giảng nói], giả sử phải đi qua
con đường bằng sắt nung nóng đỏ, lửa
cháy hừng hực,
không có phương tiện nào khác để được
nghe người khéo thuyết pháp ấy, liền phát khởi
tâm dũng mănh, yêu chuộng sâu xa mà hoan hỷ tiến vào
đó, huống hồ là muốn nghe [người giảng
pháp] khéo nói nhiều lời lẽ, ư nghĩa”
v.v… Đấy cũng chính là như trong phần sau, chánh
kinh có nói: “Giả sử đại hỏa tụ, măn bách
du-thiện-na, vị thính thử kinh vương, trực
quá vô từ khổ” (Giả sử đống lửa lớn,
to đến trăm do-tuần, v́ nghe kinh vương này, liền
thẳng thừng vượt qua, chẳng hề sợ khổ
sở).
(Kinh)
Quảng vị chúng sanh phu diễn, lưu bố, kỳ
thính pháp giả ưng trừ loạn tưởng, nhiếp
nhĩ dụng tâm.
(經)廣為眾生敷演流布,其聽法者應除亂想,攝耳用心。
(Kinh: Rộng
v́ chúng sanh phô diễn, lưu truyền. Người nghe pháp
hăy nên trừ loạn tưởng, thâu nhiếp cái tai, dụng
tâm [lắng nghe]).
Kế
đó là “hạnh hoằng truyền”, gồm hai ư:
- Một,
người học đă lâu có thể thực hiện hạnh
khai diễn và lợi tha.
-
Hai, người mới học hăy nên lắng nghe, tức là
hạnh tự lợi.
Trong
mười pháp hạnh, nêu đại lược hai hạnh
ấy để liên tưởng tám hạnh kia. Hoặc có
thể hiểu là cùng khuyên người nói lẫn người
nghe. “Hựu tùy thị kinh vương sở tại chi xứ”
(lại hễ chỗ nào có kinh vương này) tức là nói
ra chỗ nào có kinh quyển và tu hành kinh này, đều nên
cúng dường, tu hạnh cúng dường. “Ưng trừ
loạn tưởng” (hăy nên trừ loạn tưởng)
v.v… Theo quyển ba mươi tám của luận Du Già Sư
Địa, trong khi nghe pháp, điều thứ ba là trừ
tán loạn, lắng nghe sâu xa pháp được nói. Cách thức
chi tiết th́ như trong phần trước đă nói.
5.22.4.2. Dùng kệ tụng
nói rộng
5.22.4.2.1. Giảng về
hai hạnh nghe và nói
5.22.4.2.1.1. Hạnh nghe
pháp
(Kinh) Thế Tôn tức vị bỉ thiên, cập
chư đại chúng, thuyết già-tha viết: - Nhược
dục thí chư Phật, bất tư nghị cúng dường,
phục liễu chư Như Lai, thậm thâm cảnh giới
giả. Nhược kiến diễn thuyết thử, tối
thắng Kim Quang Minh, ưng thân nghệ bỉ phương,
chí kỳ sở trụ xứ. Thử kinh nan tư nghị,
năng sanh chư công đức, vô biên đại khổ hải,
giải thoát chư hữu t́nh. Ngă quán thử kinh
vương, sơ, trung, hậu giai thiện, thậm thâm bất
khả trắc, thí dụ vô năng tỷ. Giả sử Hằng
hà sa, đại địa trần, hải thủy, hư
không, chư sơn thạch, vô năng dụ thiểu phần.
Dục
nhập thâm pháp giới, ưng tiên thính thị kinh, pháp tánh
chi chế-để, thậm thâm thiện an trụ. Ư
tư chế-để nội, kiến ngă Mâu Ni tôn, duyệt
ư diệu âm thanh, diễn thuyết tư kinh điển. Do
thử, câu-chi kiếp, số lượng nan tư nghị,
sanh tại nhân thiên trung, thường thọ thắng diệu
lạc. Nhược thính thị kinh giả, ưng tác
như thị tâm: Ngă đắc bất tư nghị, vô
biên công đức uẩn. Giả sử đại hỏa
tụ, măn bách du-thiện-na, vị thính thử kinh
vương, trực quá, vô từ khổ. Kư chí bỉ trụ
xứ, đắc văn như thị kinh, năng diệt
ư tội nghiệp, cập trừ chư ác mộng. Ác
tinh chư biến quái, cổ đạo, tà mị đẳng,
đắc văn thị kinh thời, chư ác giai xả
ly.
(經)世尊即為彼天及諸大眾說伽他曰:若欲施諸佛,不思議供養,復了諸如來,甚深境界者。若見演說此,最勝金光明,應親詣彼方,至其所住處。此經難思議,能生諸功德,無邊大苦海,解脫諸有情。我觀此經王,初中後皆善,甚深不可測,譬喻無能比。假使恒河沙,大地塵海水,虛空諸山石,無能喻少分。欲入深法界,應先聽是經,法性之制底,甚深善安住。於斯制底內,見我牟尼尊,悅意妙音聲,演說斯經典。由此俱胝劫,數量難思議,生在人天中,常受勝妙樂。若聽是經者,應作如是心:我得不思議,無邊功德蘊。假使大火聚,滿百踰繕那,為聽此經王,直過無辭苦。既至彼住處,得聞如是經,能滅於罪業,及除諸惡夢。惡星諸變怪,蠱道邪魅等,得聞是經時,諸惡皆捨離。
(Kinh:
Đức Thế Tôn liền v́ vị trời ấy và
các đại chúng đó, nói già-tha rằng: - Nếu muốn
thí chư Phật, cúng dường chẳng nghĩ bàn, lại
hiểu rơ cảnh giới, rất sâu của Như Lai. Nếu
thấy kẻ diễn nói, Kim Quang Minh tối thắng, nên
đích thân tới đó, đến chỗ người ấy
ở. Kinh này khó nghĩ bàn, hay sanh các công đức, giải
thoát các hữu t́nh, khỏi biển khổ vô biên. Ta quán kinh
vương này, đầu, giữa, cuối đều
lành, rất sâu chẳng thể lường, thí dụ chẳng
thể sánh. Giả sử cát sông Hằng, vi trần nơi
cơi đất, cùng với nước biển cả, hư
không, các núi đá, chẳng thể ví chút phần. Muốn
vào pháp giới sâu, nên nghe kinh này trước, nơi tháp miếu
pháp tánh, khéo an trụ rất sâu. Ở trong tháp miếu ấy,
thấy ta đấng Mâu Ni, vui sướng, âm thanh mầu,
diễn nói kinh điển này. Do vậy, câu-chi kiếp, số
lượng khó nghĩ bàn, sanh trong cơi trời người,
thường hưởng vui thắng diệu. Nếu thấy,
nghe kinh này, hăy nên nghĩ như sau: Ta tích tụ công đức,
vô biên chẳng nghĩ bàn. Giả sử đống lửa
lớn, to đến trăm do-tuần, v́ nghe kinh
vương này, vượt qua, chẳng sợ khổ!
Đă đến trụ xứ đó, được nghe
kinh như thế, hay diệt sạch tội nghiệp, và
trừ các ác mộng. Sao ác, các quái lạ, trùng cổ, tà mị
thảy. Khi được nghe kinh này, đều ĺa bỏ
các ác).
Phần
thứ hai là “dùng kệ tụng để nói cặn kẽ”.
Có tất cả bảy mươi chín bài tụng, chia thành
bốn đoạn:
- Một,
hai mươi ba bài tụng đầu nói về hai hạnh
Nói và Nghe.
-
Hai, bốn mươi mốt bài tụng từ “Phạm
vương, Đế Thích chúa” trở đi, nói rơ các
thiên thần ủng hộ.
-
Ba, mười bốn bài tụng từ “ư thử Nam
Châu nội” (ở trong Nam châu này) trở đi, nói về
oai lực của kinh.
- Bốn,
bài tụng cuối cùng là tổng kết, khuyên hăy nghe.
Đoạn
thứ nhất chia thành hai tiểu đoạn:
- Một,
mười hai bài tụng đầu nói về hạnh nghe
pháp.
-
Hai, mười một bài tụng từ “ưng nghiêm thắng
cao ṭa” (hăy nên trang nghiêm ṭa cao thù thắng) trở đi,
nói về hạnh diễn thuyết.
Tiểu
đoạn thứ nhất lại chia thành năm phần:
1) Một
bài tụng nêu ra chuyện cầu phước trí.
2)
Bài tụng kế đó khuyên hăy đến pháp hội.
3)
Ba bài tụng kế đó nhằm tán thán công đức của
kinh. Trong đó, có ba ư:
a. Một
bài tụng nói về sanh thiện, diệt ác.
b. Một
bài tụng thán thán mười đức của pháp. Ở
đây chỉ nêu ra bốn đức, tức là “sơ,
trung, hậu thiện” (cộng với “sanh thiện diệt
ác” thành bốn đức), nghĩa này rất sâu, nêu ra
để liên tưởng sáu đức kia (đức thứ
năm là “văn từ khéo léo”, đức thứ
sáu là “chẳng xen tạp”, đức thứ
bảy là “trọn đủ”, đức thứ
tám là “thanh tịnh”, đức thứ
chín là “trắng sạch,
đức thứ mười là “tướng
phạm hạnh”).
Nói cặn kẽ th́ như quyển tám mươi ba của
luận Du Già Sư Địa đă giải thích trong phần
Nhiếp Sự.
c. Một
bài tụng dùng thí dụ để nói rơ.
4)
Năm bài tụng kế đó nhằm khuyên nên nghe pháp. Trong
ấy có năm điều:
a. Một
bài tụng khuyên hăy nghe. “Pháp tánh chế-để” là
như v́ kinh Pháp Hoa mà dựng một ṭa tháp báu, chẳng cần
đặt xá-lợi, mà [trong tháp ấy]
đă có toàn thân [xá-lợi của Phật]. Ở đây
cũng thế, hễ có thể diễn nói, hiển bày, tức
là đă thấy Pháp Thân.
b. Một
bài tụng nói về thấy Báo Thân, do nói tương tự.
c. Một
bài tụng nói đạt được thiện báo.
d. Một
bài tụng dạy hăy vui mừng.
e. Một
bài tụng dạy hăy quyết chí đến nghe.
5)
Hai bài tụng sau đó nêu ra lợi ích do nghe kinh.
5.22.4.2.1.2. Hạnh diễn
nói
(Kinh)
Ưng nghiêm thắng cao ṭa, tịnh diệu nhược
liên hoa, pháp sư xử kỳ thượng, do như đại
long ṭa. Ư tư an tọa dĩ, thuyết thử thậm
thâm kinh, thư tả, cập tụng tŕ, tịnh vị giải
kỳ nghĩa. Pháp sư xả thử ṭa, văng nghệ
dư phương sở. Ư thử cao ṭa trung, thần
thông phi nhất tướng, hoặc kiến pháp sư
tượng, do tại cao ṭa thượng. Hoặc thời
kiến Thế Tôn, cập dĩ chư Bồ Tát. Hoặc
tác Phổ Hiền tượng, hoặc như Diệu Cát
Tường, hoặc kiến Từ Thị tôn, thân xử
ư cao ṭa. Hoặc kiến hy kỳ tướng, cập
dĩ chư thiên tượng, tạm đắc đổ
dung nghi, hốt nhiên hoàn bất hiện, thành tựu chư
cát tường, sở tác giai tùy ư, công đức tất
viên măn. Thế Tôn như thị thuyết, tối thắng
hữu danh xưng, năng diệt chư phiền năo, tha quốc
tặc giai trừ, chiến thời thường đắc
thắng, ác mộng tất giai vô, cập tiêu chư độc
hại. Sở tác tam nghiệp tội, kinh lực năng trừ
diệt. Ư thử Thiệm Bộ châu, danh xưng hàm sung
măn. Sở hữu chư oán kết, tất giai tương
xả ly. Thiết hữu oán địch chí, văn danh tiện
thoái tán, bất giả động binh qua, lưỡng trận
sanh hoan hỷ.
(經)應嚴勝高座,淨妙若蓮華,法師處其上,猶如大龍座。於斯安坐已,說此甚深經,書寫及誦持,并為解其義。法師捨此座,往詣餘方所。於此高座中,神通非一相,或見法師像,猶在高座上。或時見世尊,及以諸菩薩。或作普賢像,或如妙吉祥,或見慈氏尊,身處於高座。或見希奇相,及以諸天像,暫得覩容儀,忽然還不現。成就諸吉祥,所作皆隨意,功德悉圓滿,世尊如是說。最勝有名稱,能滅諸煩惱,他國賊皆除,戰時常得勝,惡夢悉皆無,及消諸毒害。所作三業罪,經力能除滅,於此贍部洲,名稱咸充滿。所有諸怨結,悉皆相捨離。設有怨敵至,聞名便退散,不假動兵戈,兩陣生歡喜。
(Kinh:
Nghiêm tịnh ṭa cao trội, sạch đẹp dường
hoa sen. Pháp sư ngự trên đó, ví như ṭa rồng lớn.
An tọa trên đó xong, nói kinh rất sâu này. Biên chép, và tŕ tụng,
v́ người khác giải nghĩa. Pháp sư ĺa ṭa ấy,
đi sang nơi chốn khác. Ở trên ṭa cao ấy, tướng
thần thông chẳng một, hoặc thấy h́nh pháp
sư, vẫn ngự trên ṭa cao. Có lúc thấy Thế Tôn,
cùng các vị Bồ Tát. Hoặc thấy tượng Phổ
Hiền, hoặc như Diệu Cát Tường, hoặc thấy
đấng Từ Thị, thân ngự trên ṭa cao. Hoặc thấy
tướng hiếm lạ, và h́nh tượng chư thiên.
Tạm thấy dung nghi đó, bỗng chốc chẳng hiện
nữa! Thành tựu các cát tường, việc làm đều
tùy ư, công đức đều viên măn. Thế Tôn nói như
thế, tối thắng, thanh danh vang, hay diệt các phiền
năo, giặc nước khác đều trừ, chiến trận
thường thắng lợi, ác mộng thảy đều
không, tiêu trừ các độc hại. Tội tam nghiệp
trót tạo, sức kinh hay trừ diệt. Trong châu Thiệm
Bộ này, thanh danh rền trọn khắp. Tất cả
các oán kết, thảy đều ĺa bỏ cả. Dẫu
oán địch t́m tới, nghe danh liền lui tan, chẳng
phiền động binh đao, hai đằng sanh hoan hỷ).
Mười
một bài tụng kế đó nói về hạnh diễn
thuyết. Lại chia thành năm tiểu đoạn:
1) Nửa
bài tụng nói về trang nghiêm pháp ṭa.
2) Nửa
bài tụng kế đó nói về nghi quỹ của pháp
sư.
3)
Bài tụng kế đó, diễn nói kinh, tức là dạy
người khác biên chép, đọc tụng, thọ tŕ.
4) Bốn
bài tụng kế đó nói về điềm lành do thuyết
pháp.
5)
Năm bài tụng kế đó nói về lợi ích do diễn
nói pháp, gồm mười điều:
a.
Được cát tường.
b.
Việc làm thành tựu.
c.
Công đức viên măn.
d. Nổi
tiếng.
e.
Diệt phiền năo.
f.
Trừ oán địch.
g.
Không có ác mộng.
h.
Tiêu trừ độc hại.
i.
Diệt các tội.
j.
Chẳng có oán thù.
Ba
bài tụng đầu, mỗi bài nói về ba điều lợi,
hai bài tụng sau mỗi bài nói về một điều lợi,
kinh văn dễ thấy.
5.22.4.2.2. Thiên thần ủng
hộ
(Kinh)
Phạm vương Đế Thích chúa, hộ thế tứ
thiên vương, cập Kim Cang Dược Xoa, Chánh Liễu
Tri đại tướng, Vô Nhiệt Tŕ long vương, cập
dĩ Sa Yết La, Khẩn Na La nhạc thần, Tô La, Kim Xí
vương, Đại Biện Tài thiên nữ, tịnh
Đại Cát Tường Thiên. Tư đẳng thượng
thủ thiên, các lănh chư thiên chúng, thường cúng dường
chư Phật. Pháp bảo bất tư nghị, hằng
sanh hoan hỷ tâm, ư kinh khởi cung kính. Tư đẳng
chư thiên chúng, giai tất cộng tư duy, biến quán tu
phước giả, cộng tác như thị thuyết:
“Ưng quán thử hữu t́nh, hàm thị đại phước
đức, thiện căn tinh tấn lực,
đương lai sanh ngă thiên. Vị thính thậm thâm kinh,
kính tâm lai chí thử,
cúng dường pháp chế-để, tôn trọng chánh pháp
cố. Lân mẫn ư chúng sanh, nhi tác đại nhiêu ích.
Ư thử thâm kinh điển, năng vi pháp bảo khí. Nhập
thử pháp môn giả, năng nhập ư pháp tánh. Ư thử
Kim Quang Minh, chí tâm ưng thính thọ. Thị nhân tằng cúng
dường, vô lượng bách thiên Phật, do bỉ
chư thiện căn, đắc văn thử kinh điển”.
Như thị chư thiên vương, thiên nữ Đại
Biện Tài, tịnh bỉ Cát Tường Thiên, cập
dĩ tứ vương chúng, vô số Dược Xoa chúng,
dũng mănh hữu thần thông, các ư kỳ tứ
phương, thường lai tương ủng hộ. Nhật,
nguyệt, Thiên Đế Thích, phong, thủy, hỏa chư
thần, Phệ Suất Nộ đại kiên, Diêm La biện
tài đẳng. Nhất thiết chư hộ thế,
dũng mănh cụ oai thần, ủng hộ tŕ kinh giả,
trú dạ thường bất ly. Đại lực Dược
Xoa vương, Na La Diên tự tại, Chánh Liễu Tri vi thủ,
nhị thập bát Dược Xoa, dư Dược Xoa bách
thiên, thần thông hữu đại lực, hằng ư
khủng bố xứ, thường lai hộ thử nhân.
Kim Cang Dược Xoa vương, tịnh ngũ bách quyến
thuộc, chư đại Bồ Tát chúng, thường lai
hộ thử nhân. Bảo Vương Dược Xoa chủ,
cập dĩ Măn Hiền vương, Khoáng Dă, Kim Tỳ La,
Tân Độ La hoàng sắc. Thử đẳng Dược
Xoa vương, các ngũ bách quyến thuộc, kiến
thính thử kinh giả, giai lai cộng ủng hộ. Thái
Quân Càn Thát Bà, Vi Vương Thường Chiến Thắng,
Châu Cảnh cập Thanh Cảnh, tịnh Bột Lư Sa
vương, đại tối thắng Đại Hắc,
Tô Bạt Noa Kê Xá, Bán Chi Ca dương túc, cập dĩ
Đại Bà Già, Tiểu Cừ tịnh hộ pháp, cập
dĩ Mi Hầu vương, Châm Mao cập Mục Khuyển,
Bảo Phát giai lai hộ. Đại Cừ, Nặc Câu La,
Chiên Đàn, Dục Trung Thắng, Xá La cập Tuyết
Sơn, cập dĩ Sa
Đa Sơn, giai hữu đại thần thông, hùng mănh cụ
đại lực, kiến tŕ thử kinh giả, giai lai
tương ủng hộ. A Na Bà Đáp Đa, cập dĩ
Sa Yết La, Mục Chân, Ế La Diệp, Nan Đà, Tiểu Nan Đà, ư bách
thiên long trung, thần thông cụ oai đức, cộng hộ
tŕ kinh nhân, trú dạ thường bất ly. Bà Trĩ La Hầu
La, Tỳ Ma Chất Đa La, Mẫu Chỉ, Thiêm Bạt La,
Đại Kiên cập Hoan Hỷ, cập dư Tô La
vương, tịnh vô số thiên chúng, đại lực,
hữu dũng kiện, giai lai hộ thị nhân. Ha Lợi
Để mẫu thần, ngũ bách Dược Xoa chúng,
ư bỉ nhân thụy giác, thường lai tương ủng
hộ. Chiên Đồ, Chiên Đồ Lợi, Dược
Xoa Chiên Trĩ Nữ, Côn Đế, Câu Trá Xỉ, Hấp
Chúng Sanh Tinh Khí, như thị chư thần đẳng,
đại lực hữu thần thông, thường hộ
tŕ kinh giả, trú dạ hằng bất ly.
Thượng thủ Biện Tài Thiên, vô lượng chư
thiên nữ, Cát Tường Thiên vi thủ, tịnh dư chư quyến thuộc,
thử đại địa thần nữ, quả thật,
viên lâm thần, thụ thần, giang hà thần, chế-để
chư thần đẳng. Như thị chư đại
thần, tâm sanh đại hoan hỷ, bỉ giai lai ủng
hộ, độc tụng thử kinh nhân. Kiến hữu
tŕ kinh giả, tăng thọ mạng sắc lực, oai
quang cập phước đức, diệu tướng
dĩ trang nghiêm. Tinh tú hiện tai biến, khốn ách
đương thử nhân, mộng kiến ác trưng
tường, giai tất linh trừ diệt. Thử đại
địa thần nữ, kiên cố hữu oai thế, do
thử kinh lực cố, pháp vị thường sung túc.
Địa ph́ nhược lưu hạ, quá bách du-thiện-na,
địa thần linh vị thượng, tư nhuận
ư đại địa. Thử địa hậu lục
thập, bát ức du-thiện-na, năi chí kim cang tế, địa
vị giai linh thượng.
(經)梵王帝釋主,護世四天王,及金剛藥叉,正了知大將,無熱池龍王,及以娑揭羅,緊那羅樂神,蘇羅金翅王,大辯才天女,并大吉祥天,斯等上首天,各領諸天眾,常供養諸佛。法寶不思議,恒生歡喜心,於經起恭敬。斯等諸天眾,皆悉共思惟,遍觀修福者,共作如是說:應觀此有情,咸是大福德,善根精進力,當來生我天。為聽甚深經,敬心來至此,供養法制底,尊重正法故。憐愍於眾生,而作大饒益,於此深經典,能為法寶器。入此法門者,能入於法性,於此金光明,至心應聽受。是人曾供養,無量百千佛,由彼諸善根,得聞此經典。如是諸天王,天女大辯才,并彼吉祥天,及以四王眾,無數藥叉眾,勇猛有神通,各於其四方,常來相擁護。日月天帝釋,風水火諸神,吠率怒大肩,閻羅辯才等,一切諸護世,勇猛具威神,擁護持經者,晝夜常不離。大力藥叉王,那羅延自在,正了知為首,二十八藥叉,餘藥叉百千,神通有大力,恒於恐怖處,常來護此人。金剛藥叉王,并五百眷屬,諸大菩薩眾,常來護此人。寶王藥叉主,及以滿賢王,曠野金毘羅,賓度羅黃色,此等藥叉王,各五百眷屬,見聽此經者,皆來共擁護。彩軍乾闥婆,葦王常戰勝,珠頸及青頸,并勃里沙王,大最勝大黑,蘇跋拏雞舍,半之迦羊足,及以大婆伽,小渠并護法,及以獼猴王,針毛及目犬,寶髮皆來護。大渠諾拘羅,栴檀欲中勝,舍羅及雪山,及以娑多山,皆有大神通,雄猛具大力,見持此經者,皆來相擁護。阿那婆答多,及以娑揭羅,目真𧫦羅葉,難陀小難陀,於百千龍中,神通具威德,共護持經人,晝夜常不離。婆稚羅睺羅,毘摩質多羅,母旨苫跋羅,大肩及歡喜,及餘蘇羅王,并無數天眾,大力有勇健,皆來護是人。訶利底母神,五百藥叉眾,於彼人睡覺,常來相擁護。旃荼旃荼利,藥叉旃稚女,昆帝拘吒齒,吸眾生精氣,如是諸神等,大力有神通,常護持經者,晝夜恒不離。上首辯才天,無量諸天女,吉祥天為首,并餘諸眷屬,此大地神女,果實園林神,樹神江河神,制底諸神等,如是諸大神,心生大歡喜,彼皆來擁護,讀誦此經人。見有持經者,增壽命色力,威光及福德,妙相以莊嚴。星宿現災變,困厄當此人,夢見惡徵祥,皆悉令除滅。此大地神女,堅固有威勢,由此經力故,法味常充足。地肥若流下,過百踰繕那,地神令味上,滋潤於大地。此地厚六十,八億踰繕那,乃至金剛際,地味皆令上。
(Kinh: Phạm
vương, Đế Thích chúa, bốn thiên vương hộ
thế, và Kim Cang Dược Xoa, đại tướng Chánh Liễu
Tri, vua rồng Vô Nhiệt Tŕ, cùng với Sa Yết La
(Sāgara), nhạc thần Khẩn Na
La, Tô La, vua Kim Xí (Garuḍendra, Ca Lâu La vương). Thiên nữ
Đại Biện Tài, và Đại Cát Tường Thiên.
Các trời thượng thủ ấy, đều suất
lănh thiên chúng, thường cúng dường chư Phật.
Pháp bảo chẳng nghĩ bàn, luôn sanh ḷng hoan hỷ, dấy
tâm cung kính kinh. Các vị thiên chúng đó, đều cùng nhau
tư duy, quán khắp người tu phước, cùng bảo
như thế này: “Nên quán hữu t́nh này, đều có
phước đức lớn, sức thiện căn, tinh
tấn, sẽ
sanh cơi trời ta. V́ nghe kinh rất sâu,
kính tâm tới nơi
đây, cúng dường tháp miếu pháp, v́
tôn trọng chánh pháp. Thương xót các chúng sanh, tạo tác
lợi ích lớn. Với kinh điển sâu này, làm vật
truyền pháp bảo. Người nhập pháp môn này, có thể
nhập pháp tánh. Với kinh Kim Quang Minh, nên chí tâm nghe nhận.
Người này từng cúng dường, vô lượng
trăm ngàn Phật. Do các thiện căn đó, được
nghe kinh điển này”. Các thiên vương như thế,
thiên nữ Đại Biện Tài, cùng với Cát Tường
Thiên, đại chúng của tứ vương, vô số các
Dược Xoa, dũng mănh, có thần thông, đều từ
trong bốn phương, thường tới cùng ủng hộ.
Nhật, nguyệt, Thiên Đế Thích, các thần gió,
nước, lửa, Phệ Suất Nộ Đại Kiên,
Diêm La biện tài thảy. Hết thảy các hộ thế,
dũng mănh, trọn oai thần, ủng hộ người
tŕ kinh, ngày đêm thường chẳng ĺa. Vua Dược
Xoa đại lực, Na La Diên tự tại, Chánh Liễu
Tri cầm đầu, hăm tám vị Dược Xoa,
trăm ngàn Dược Xoa khác, thần thông, có đại lực,
luôn ở nơi kinh sợ, thường thủ hộ
người ấy. Kim Cang Dược Xoa vương, có
năm trăm quyến thuộc, các vị đại Bồ
Tát, thường thủ hộ người ấy. Bảo
Vương (Maṇibhadra)
Dược Xoa chủ, cùng với vua Măn Hiền (Pūrṇabhadra)[1],
Khoáng Dă (Aṭāvaka)[2] Kim
Tỳ La (Kumbhīra)[3], Tân
Độ La (Piṅgala)[4] sắc
vàng. Mỗi vua Dược Xoa ấy, có năm trăm quyến
thuộc, hễ thấy, nghe kinh này, đều cùng tới ủng
hộ. Thái Quân (Citra-sena)[5] Càn
Thát Bà, Vi Vương (Jinarāja) Thường Chiến Thắng
(Jinarṣabha), Châu Cảnh (Maṇi-kaṇṭha) và Thanh Cảnh
(Nīla-kaṇṭha), cùng Bột Lư Sa vương (Varṣādhipati),
đại tối thắng Đại Hắc
(Mahākāla)[6], Tô
Bạt Noa Kê Xá (Suvarṇa-keśī), Bán Chi Ca (Pāñcika)
chân dê, cùng với Đại Bà Già (Mahā-bhāga), Tiểu
Cừ (Praṇālī) và Hộ Pháp, cùng với Mi Hầu
vương (Markaṭa), Châm Mao (Sūciroma), và Mục Khuyển,
Bảo Phát (Ratna-keśa) đều thủ hộ. Đại
Cừ Nặc Câu La (Mahā-praṇālī Nakula), Chiên
Đàn (Candana), Dục Trung Thắng (Kāma-śreṣṭha),
Xá La và Tuyết Sơn (Haimavata), cùng với Sa Đa Sơn, đều có thần
thông lớn, hùng mănh, trọn đại lực, thấy
người tŕ kinh này, đều cùng tới ủng hộ.
A Na Bà Đáp Đa (Anavatapta), cùng với Sa Yết La, Mục
Chân (Mucilinda), Ế La Diệp (Elāpatra), Nan Đà, Tiểu
Nan Đà (Upananda), ở trong trăm ngàn rồng, thần
thông, trọn oai đức, thủ hộ người tŕ
kinh, ngày đêm thường chẳng ĺa. Bà Trĩ (Valī)
La Hầu La, Tỳ Ma Chất Đa La (Vemcitra), Mẫu Chỉ
(Muci), Thiêm Bạt La (Saṃvara), Đại Kiên (Khara-skandha)
và Hoan Hỷ (Prahrāda), cùng Tu La vương khác, và vô số
các trời, đại lực, rất mạnh mẽ, đều
thủ hộ người ấy. Thần Ha Lợi Để
(Hārītī) mẫu, năm trăm vị Dược
Xoa, khi người ấy ngủ say, thường đến
cùng ủng hộ. Chiên Đồ (Caṇḍa), Chiên Đồ
Lợi (Caṇḍalika), Dược Xoa Chiên Trĩ Nữ
(Yakṣiṇī-caṇḍikā), Côn Đế
(Dantī), Câu Trá Xỉ (Kūṭadantī), Hấp Chúng
Sanh Tinh Khí (Sarvasattva-ujahāriṇī), các vị
thần như thế, đại lực, có thần thông,
thường hộ người tŕ kinh, ngày đêm luôn chẳng
ĺa. Thượng thủ Biện Tài Thiên, vô lượng các
thiên nữ, Cát Tường Thiên cầm đầu, và các quyến
thuộc khác, nữ thần đất cơi này, thần quả,
hạt, vườn, rừng, thần cây, thần sông ng̣i,
thần thủ hộ tháp miếu… Các đại thần
như thế, tâm hết sức hoan hỷ, họ đều
tới ủng hộ, người đọc tụng kinh
này. Thấy có kẻ tŕ kinh, tăng thọ mạng, sắc
lực, oai quang và phước đức, diệu tướng
để trang nghiêm. Tinh tú hiện tai biến, người
ấy gặp khốn khổ, mộng thấy điềm
báo xấu, thảy đều trừ hết sạch. Nữ
thần đất cơi này, kiên cố, có oai thế. Do bởi
sức kinh này, pháp vị thường sung túc. Đất
màu mỡ tuôn tràn, hơn một trăm do-tuần. Địa
thần khiến chất màu, đại địa
được ph́ nhiêu. Đất dày đến sáu
mươi, tám ức du-thiện-na, cho tới kim cang tế,
đều màu mỡ tăng thượng).
Bốn
mươi mốt bài tụng kế đó, nói [người
tŕ tụng, lưu thông, giảng nói kinh] sẽ được
thiên thần ủng hộ. Lại chia thành hai phần:
- Ba
mươi chín bài tụng đầu nói rơ người nói
và kẻ nghe sẽ được [chư thiên, quỷ thần]
ủng hộ.
-
Hai bài tụng cuối nêu ra nguyên do thủ hộ.
Phần
thứ nhất “được thủ hộ” gồm
sáu đoạn:
1)
Mười hai bài tụng đầu chỉ ra “thủ hộ
người nghe”, lại gồm ba ư:
a.
Bốn bài tụng đầu nêu rơ thiên thần kính trọng,
hoan hỷ.
b.
Sáu bài tụng kế đó nói họ sẽ thủ hộ
người nghe kinh, gồm bốn điều:
-
Một bài tụng nói [chư thiên] suy nghĩ, quan sát hành
nhân.
-
Bài tụng kế đó, thấy rồi, tán thán hành nhân “sẽ
sanh thiên”.
- Ba
bài tụng nhằm tán thán, khuyên hăy nghe kinh.
-
Bài tụng kế đó tán thán thiện căn thuở
trước [của hành nhân].
c. Hai
bài tụng sau đó, nói rơ sự bảo vệ, thủ hộ.
2)
Năm bài tụng kế đó cho biết [chư thiên, quỷ
thần] sẽ thủ hộ người nói kinh. Phệ Suất
Nộ (Viṣṇu)
là tên khác của Na La Diên Thiên (Narayana). Lại do vị ấy
thân h́nh to lớn, nên gọi là Đại Kiên (vai to).
3)
Hai bài tụng kế đó cho
biết [chư thiên, quỷ thần] sẽ thủ hộ
người nghe kinh. Kim Tỳ La được
phương này dịch là Khổng. Tân Độ La,
phương này dịch là Khổng Tước.
4)
Mười hai bài tụng kế đó lại nói về chuyện
thủ hộ người nói kinh. [Sở dĩ có tên là] Thái Quân Càn Thát Bà là
do cho
quân binh mặc áo nhiều màu.
Vi Vương là thần vương của các loài cỏ.
Do cổ đeo châu, nên [vị thần ấy được]
gọi là Châu Cảnh. Thanh Cảnh là vị thần cổ
màu xanh. Bột Lư Sa Bà được phương này dịch
là Ngưu, tức ngưu thần vương. Do số chữ
trong lời tụng hạn chế, bỏ bớt chữ
Bà. Chữ Tô được phương này dịch là Hảo,
Bạt Noa dịch là Kim. Kê Xá được phương
này dịch là Phát (tóc), tức là vị quỷ thần có tóc
đẹp ánh sắc vàng. Bán Chi Ca tức là năm, tức
năm vị thần. Chân thần giống như chân dê, [nên nói là “Bán Chi Ca dương
túc” (năm vị thần
chân dê)]. Đại Bà Già phương này dịch
là Đại Oai Đức, là thần khe suối. Nặc Củ
La dịch sát nghĩa là Thử Lang (鼠狼, một loại chồn, Siberian weasel),
tên một vị thần. Xá La, phương này dịch là Ốc
(nhà), là tên một quả núi. Do thần nương vào núi ấy,
lấy tên núi làm tên. Sa
Đa Sơn (Sātāgiri), phương này dịch là Kham Đảo (堪倒, có thể lật ngược). A Na Bà Đáp Đa (Anavatapta)
phương này dịch là Vô Nhiệt
Năo (không nóng bức). Sa Yết La (Sāgara) phương này dịch là Hàm Hải (biển nước
mặn). Mục Chân phương này dịch là Giải Thoát.
Ế La Diệp, tức là cây Y Lan trong
cách dịch cũ. Bà Trĩ được phương này
dịch là Đoàn Viên. Tỳ Ma Chất Đa La,
phương này dịch là Ỷ Họa (綺畫,
vẽ vời đẹp đẽ). Mẫu Chỉ
phương này dịch là Hảo (tốt đẹp). Thiêm
Bạt La phương này dịch là Thực (ăn), cũng
chẳng phải là tên của thiên chúng, cũng có người
nói là thần ẩm thực. Ha Lợi Để quỷ mẫu
như đă giải thích trong phần trước. Chiên
Đồ là danh xưng gọi giống đực, tức
Dược Xoa. Chiên Đồ Lợi là danh xưng gọi
giống cái. Côn Đế Câu Trá Xỉ tức là Xỉ
Trưởng Bao.
5)
Ba bài tụng kế đó, nói về sự thủ hộ
người đọc tụng.
6)
Năm bài tụng lại nói về sự thủ hộ
người giảng kinh.
(Kinh)
Do thính thử kinh vương, hoạch đại công đức
uẩn, năng sử chư thiên chúng, tất mông kỳ lợi
ích. Phục linh chư thiên chúng, oai lực hữu quang minh,
hoan hỷ thường an lạc, xả ly ư suy tướng.
(經)由聽此經王,獲大功德蘊,能使諸天眾,悉蒙其利益。復令諸天眾,威力有光明,歡喜常安樂,捨離於衰相。
(Kinh: Do nghe kinh vương này, đạt
khối công đức lớn, khiến cho các thiên chúng,
đều được hưởng lợi ích. Lại
khiến các vị trời, oai
lực có quang minh, hoan hỷ, thường an lạc, ĺa bỏ
tướng suy bại).
Hai
bài tụng kế đó nêu ra nguyên do thủ hộ. [Chánh
kinh chỉ] nêu ra người nói kinh để [thính chúng]
liên tưởng người tŕ kinh.
5.22.4.2.3. Oai lực của
kinh
(Kinh) Ư thử Nam châu nội, lâm quả
miêu giá thần, do thử kinh oai lực, tâm thường
đắc hoan hỷ, miêu thật giai thành tựu, xứ xứ
hữu diệu hoa, quả thật tịnh tư phồn,
sung măn ư đại địa. Sở hữu chư quả
thụ, cập dĩ chúng viên lâm, tất giai sanh diệu
hoa, hương khí thường phân phức. Chúng thảo,
chư thụ mộc, hàm xuất vi diệu hoa, cập sanh
cam mỹ quả. Tùy xứ giai sung biến. Ư thử Thiệm
Bộ châu, vô lượng chư long nữ, tâm sanh đại
hoan hỷ, giai cộng nhập tŕ trung, chủng thực Bát
Đầu Ma, cập dĩ Phân Đà Lợi, thanh bạch
nhị liên hoa, tŕ trung giai biến măn. Do thử kinh oai lực,
hư không tịnh, vô ế, vân vụ giai trừ khiển,
minh ám tất quang minh. Nhật xuất
phóng thiên quang, vô cấu diễm thanh tịnh. Do thử kinh
vương lực, lưu huy nhiễu tứ thiên. Thử
kinh oai đức lực, tư trợ ư thiên tử,
giai dụng Thiệm Bộ
kim, nhi tác ư cung điện. Nhật thiên tử sơ xuất,
kiến thử châu hoan hỷ, thường dĩ đại
quang minh, châu biến giai chiếu diệu. Ư tư đại
địa nội, sở hữu liên hoa tŕ, nhật quang chiếu
cập thời, vô bất tận khai phát. Ư thử Thiệm
Bộ châu, điền trù chư quả dược, tất
giai linh thiện thục, sung măn ư đại địa.
Do thử kinh oai lực, nhật nguyệt sở chiếu xứ,
tinh thần bất thất độ, phong vũ giai thuận
thời. Biến thử Thiệm Bộ châu, quốc độ
hàm phong lạc, tùy hữu thử kinh xứ, thù thắng bội
dư phương.
(經)於此南洲內,林果苗稼神,由此經威力,心常得歡喜,苗實皆成就,處處有妙華,果實竝滋繁,充滿於大地。所有諸果樹,及以眾園林,悉皆生妙華,香氣常芬馥。眾草諸樹木,咸出微妙華,及生甘美果,隨處皆充遍。於此贍部洲,無量諸龍女,心生大歡喜,皆共入池中。種植鉢頭摩,及以分陀利,青白二蓮華,池中皆遍滿。由此經威力,虛空淨無翳,雲霧皆除遣,冥闇悉光明,日出放千光,無垢焰清淨。由此經王力,流暉遶四天。此經威德力,資助於天子,皆用贍部金,而作於宮殿。日天子初出,見此洲歡喜,常以大光明,周遍皆照曜。於斯大地內,所有蓮華池,日光照及時,無不盡開發。於此贍部洲,田疇諸果藥,悉皆令善熟,充滿於大地。由此經威力,日月所照處,星辰不失度,風雨皆順時。遍此贍部洲,國土咸豐樂,隨有此經處,殊勝倍餘方。
(Kinh:
Ở trong Nam châu này, thần rừng, quả, thóc mạ, do
oai lực kinh này, tâm thường được hoan hỷ,
thóc lúa đều
chín rộ. Nơi nơi có hoa đẹp, quả, hạt
đều lúc lỉu, đầy ắp khắp đại
địa. Tất cả cây ăn quả, và các loại
vườn rừng, đều trổ hoa xinh đẹp,
mùi thơm thường sực nức. Các cỏ, các cây cối,
đều đơm hoa vi diệu, và sanh quả ngon ngọt,
khắp nơi đều tràn đầy! Trong châu Thiệm Bộ
này, vô lượng các long nữ, tâm sanh hoan hỷ lớn,
đều cùng vào trong ao, gieo trồng Bát Đầu Ma, và
hoa Phân Đà Lợi, hai loại sen xanh, trắng, trong ao mọc
đầy khắp. Do oai lực kinh này, hư không sạch,
quang đăng, mây mù đều trừ sạch, tối tăm
đều sáng bừng. Mặt trời mọc rạng rỡ,
chiếu vô cấu, thanh tịnh. Do sức kinh vương
này, chiếu sáng quanh tứ thiên. Sức oai đức kinh
này, giúp đỡ các thiên tử, đều dùng vàng Thiệm
Bộ, để tạo nên cung điện. Nhật thiên tử
vừa mọc,
thấy châu này hoan hỷ, thường dùng đại quang
minh, đều chiếu rực trọn khắp. Ở trong
đại địa này, tất cả ao hoa sen, khi ánh nắng
chiếu tới, không đâu chẳng nở trọn. Trong châu
Thiệm Bộ này, ruộng nương, các quả, thuốc,
thảy đều được chín mọng, đầy
khắp các đại địa. Do oai lực kinh này,
nơi nhật, nguyệt chiếu thấu, tinh tú chẳng sai lệch,
mưa gió đều đúng thời. Khắp châu Thiệm Bộ
này, cơi nước đều giàu vui, chỗ nào có kinh này,
thù thắng hơn phương khác).
Mười
bốn bài tụng kế đó tán thán oai lực của
kinh, có tám ư:
- Bốn
bài tụng nói rơ: Do oai lực của kinh mà các loại cây
lương thực dồi dào, tốt đẹp.
-
Hai bài tụng kế đó, ao chuôm có nhiều hoa.
- Một
bài tụng kế đó nói hư không thanh tịnh, thường
sáng sủa.
- Ba
bài tụng kế đó nói cung điện của mặt trời
sáng ngời thêm.
-
Bài tụng kế tiếp nói hoa sen theo mặt trời mà
tăng trưởng gấp bội.
-
Bài tụng kế đó nói quả, thuốc luôn dồi dào.
-
Bài tụng kế tiếp nói mưa gió đúng thời, tinh
tú vận hành đúng quỹ đạo.
-
Bài tụng cuối cùng tổng kết kinh lực.
5.22.4.2.4. Tổng kết,
khuyên hăy nghe
(Kinh)
Nhược thử Kim Quang Minh, kinh điển lưu bố
xứ, hữu năng giảng tụng giả, tất
đắc như thượng phước.
(經)若此金光明,經典流布處,有能講誦者,悉得如上福。
(Kinh:
Nếu kinh Kim Quang Minh, lưu hành tại chỗ nào, có
người hay giảng, tụng, đều được
phước như trên).
Bài
tụng kế đó tổng kết công đức đạt
được do nghe kinh.
5.22.4.3. Đại chúng
nguyện thủ hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, Đại Cát Tường thiên nữ cập
chư thiên đẳng, văn Phật sở thuyết, giai
đại hoan hỷ, ư thử kinh vương cập
thọ tŕ giả, nhất tâm ủng hộ, linh vô ưu
năo, thường đắc an lạc.
(經)爾時大吉祥天女及諸天等,聞佛所說皆大歡喜,於此經王及受持者一心擁護,令無憂惱常得安樂。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, thiên nữ Đại Cát Tường Thiên và chư
thiên v.v… nghe lời Phật dạy đều hết sức
hoan hỷ, đối với kinh vương này và người
thọ tŕ, một dạ ủng hộ, khiến cho người
ấy chẳng ưu năo, thường được an
vui).
Đoạn
lớn thứ ba là đại chúng nguyện hộ tŕ.
5.23. Phẩm thứ
hai mươi ba: Thọ Kư (Thọ kư phẩm đệ nhị
thập tam, 授記品第二十三)
Phẩm
thứ hai mươi ba là Thọ Kư, gồm ba môn phân biệt.
5.23.1. Ư nghĩa v́
sao có phẩm này?
Nói đến
ư nghĩa v́ sao có phẩm này, trong phần Học Hạnh Lưu
Thông có năm tiểu loại, đây chính là phẩm thuộc
tiểu loại thứ năm nhằm kết lại ư nghĩa
học hạnh của các phẩm trước đó. Có ba ư
nghĩa:
-
Một là để thọ kư.
-
Hai là để trừ nghi,
- Ba
là khuyên lơn lần nữa.
Phẩm
này thuộc ư thứ nhất. Thọ kư nhằm chỉ rơ “hễ
hành, ắt sẽ đắc quả”, quả nhất
định do nhân mà thành tựu. V́ thế, sau phẩm
[Chư Thiên Dược Xoa] Hộ Tŕ, bèn có phẩm Thọ
Kư.
5.23.2. Giải thích
danh xưng
Giải thích danh
xưng, Thọ là “trao cho, ban cho”. Kư là phân biệt, là
chứng nghiệm. Tức là v́ [người được
thọ kư] mà phân biệt, chứng nghiệm cái quả ấy,
giao phó cho người đó, nên gọi là Thọ Kư.
5.23.3. Giải trừ
vấn nạn
* Hỏi:
Ngài Diệu Tràng nghe kinh
chưa từng được thọ kư, cớ sao nay nói “nhằm
kết lại các hạnh trong phần trước mà có phẩm
này sanh khởi?”
Đáp:
Chẳng phải là ư chủ yếu thọ kư cho Diệu
Tràng và hai con. Như hai loại ni chúng trong kinh Pháp Hoa, v́
[đức Phật] khuyên tŕ kinh, họ muốn nghe thọ
kư rồi mới có thể tu học, nên [đức Phật]
thọ kư cho họ. Chẳng phải là đến lúc ấy
Ngài mới thọ kư, v́ trước đó đă thọ kư rồi.
Do
vậy, kinh ấy nói: “Ngă tiên dĩ thuyết
nhất thiết Thanh Văn giai đắc tác Phật”
(Ta trước đó đă nói hết thảy Thanh Văn
đều được thành Phật). Nay đại chúng
ở đây cũng lại giống như thế. Nói “nếu
tŕ kinh sẽ được thành Phật”, những người
ấy là ai? Hễ có tâm nghi ấy, sẽ chẳng thể
quyết chí tu hành
được! V́ thế, để đoạn trừ,
bèn thọ kư cho Diệu Tràng v.v… Muốn khiến cho đại
chúng thuở đó đều biết “sẽ thành Phật”,
sẽ có thể quyết định hành tŕ. Nếu không,
sau phẩm Diệt Nghiệp Chướng, hoặc sau phẩm
Liên Hoa Dụ Tán trong phần trước, phải nên thọ
kư. Lúc đó đă ngộ, sao chẳng thọ kư? Như trong
tam châu thuyết pháp[7]
của thời Pháp Hoa, sau mỗi châu, đều có thọ
kư, chẳng để ra sau.
* Hỏi:
Nếu là như vậy, sao chẳng thọ kư trong phần
trước?
Đáp:
Diệu Tràng Bồ Tát đă nhập Bát Địa, trước
đó,
Ngài đă được thọ kư, do khuyên [thính chúng] tŕ kinh,
cho nên nhắc lại. Lại có thể hiểu là: Phải
là [Diệu Tràng Bồ Tát] đă được thọ kư
trước đó (trong các pháp hội giảng kinh khác), ở
đây mới nói thọ kư [lần nữa], nhằm bao hàm nhiều
nghĩa: Một là thọ kư cho các vị giống
như Diệu Tràng v.v… Hai là nhằm kết
lại phần trước. Lại nữa, trong phần
trước,
khi mười ngàn vị thiên tử chưa đến tham
dự pháp hội, cũng nêu rơ “hễ được
nghe [kinh Kim Quang Minh], th́ sẽ
được thành Phật”,
huống hồ người tu học đă lâu mà chẳng
được thành Phật ư? Do vậy, thọ kư vào
lúc này, do nói một người [sẽ thành Phật] mà nhiều
người đạt được
lợi ích. V́ thế, [tới đây mới nói thọ kư]
cũng chẳng có khuyết điểm ǵ!
* Hỏi:
Mười ngàn vị thiên tử tạm nghe liền
được thọ kư, sao đại chúng trong hội chẳng
được thọ kư?
Đáp:
Do căn cơ của họ đă thành thục, c̣n các đại chúng khác
trong hội này căn cơ chưa chín muồi. Hơn nữa,
đại chúng đă nghe “do tŕ kinh, sẽ được
thành Phật”, c̣n những người này do chưa nghe,
lại phải nên làm như thế!
5.23.4. Giải thích kinh
văn
5.23.4.1. Đại chúng
nhóm họp
(Kinh)
Nhĩ thời, Như Lai ư đại chúng trung, quảng
thuyết pháp dĩ, dục vị Diệu Tràng Bồ Tát, cập
kỳ nhị tử Ngân Tràng, Ngân Quang, thọ A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề kư.
(經)爾時如來於大眾中廣說法已,欲為妙幢菩薩及其二子銀幢、銀光授阿耨多羅三藐三菩提記。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Như Lai ở trong đại
chúng, rộng thuyết pháp xong, muốn thọ kư Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác cho Diệu Tràng Bồ Tát và hai con
là Ngân Tràng và Ngân Quang).
Tán
rằng: Kinh văn trong phẩm này chia thành hai phần:
- Một,
đại chúng tụ tập.
-
Hai, thọ kư.
Phần
“đại chúng nhóm họp” có hai tiểu đoạn; ở
đây là phần dẫn khởi nhằm giới thiệu
đại chúng tụ tập.
(Kinh)
Thời hữu thập thiên thiên tử, Tối Thắng
Quang Minh nhi vi thượng thủ, câu tùng Tam Thập Tam
Thiên,
lai chí Phật sở, đỉnh lễ Phật túc, khước
tọa nhất diện, thính Phật thuyết pháp.
(經)時有十千天子,最勝光明而為上首,俱從三十三天來至佛所,頂禮佛足,却坐一面聽佛說法。
(Kinh:
Khi đó có mười ngàn thiên tử, Tối Thắng Quang
Minh làm thượng thủ, đều từ Tam Thập
Tam Thiên, tới chỗ đức Phật, đảnh lễ
dưới chân đức Phật, lui qua ngồi một
bên, nghe đức Phật thuyết pháp).
Kế
đó, nói đến đại chúng tụ tập.
5.23.4.2.
Thọ kư
5.23.4.2.1. Thọ kư
cho ba vị đại sĩ
5.23.4.2.1.1. Thọ kư
cho Diệu Tràng Bồ Tát
(Kinh)
Nhĩ thời, Phật cáo Diệu Tràng Bồ Tát ngôn: - Nhữ
ư lai thế, quá vô lượng vô số bách thiên vạn ức
na-dữu-đa kiếp dĩ, ư Kim Quang Minh thế giới,
đương thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, hiệu Kim Bảo Sơn Vương Như Lai, Ứng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, xuất
hiện ư thế.
(經)爾時佛告妙幢菩薩言:汝於來世過無量無數百千萬億那庾多劫已,於金光明世界當成阿耨多羅三藐三菩提,號金寶山王如來、應、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊,出現於世。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ
Tát rằng: - Ông trong đời tương lai, sau vô lượng
vô số trăm ngàn vạn ức na-dữu-đa kiếp,
sẽ ở trong thế giới Kim Quang Minh, thành Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, hiệu là Kim Bảo Sơn
Vương Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn, xuất hiện trong đời).
Tiếp
đó là thọ kư, gồm hai phần:
- Một,
thọ kư cho ba vị đại sĩ.
-
Hai, thọ kư cho mười ngàn vị thiên tử.
Phần “thọ
kư cho ba vị đại sĩ” gồm
ba tiểu đoạn. Tiểu đoạn thứ nhất
lại có năm ư:
- Một,
nêu ra danh xưng [của người sẽ được
thọ kư, tức Diệu Tràng Bồ Tát].
-
Hai, thọ kư “thời” (lúc Bồ
Tát sẽ thành Phật).
-
Ba, thọ kư quốc độ.
- Bốn,
thọ kư cái quả, tức Vô Thượng Bồ Đề.
-
Năm, thọ kư danh hiệu, tức Kim Bảo Sơn v.v…
Danh hiệu có Thông (Như Lai, Ứng,
Chánh Đẳng Giác v.v…) và Biệt
(Kim Bảo Sơn Vương), kinh
văn dễ thấy. Xét theo ư nghĩa “thọ
kư”,
đại lược có bốn môn phân biệt:
- Một,
nguyên do thọ kư.
-
Hai, người thọ kư.
-
Ba, người được thọ kư.
- Bốn,
thọ kư sai biệt.
1)
Nói đến nguyên do [thọ kư] th́ gồm ba nghĩa:
- Một, do Bồ Tát tu nhiều công đức,
chứng đắc pháp tánh, nên bèn thọ kư. V́ thế, Pháp
Hoa Luận viết: “Do các vị Thanh Văn ấy thật
sự thành Phật, bèn thọ kư ư? Hay là do chẳng thành Phật mà thọ
kư ư? Nếu thật sự thành Phật, cớ sao Bồ
Tát trong vô lượng kiếp tu tập công đức?” Luận giải đáp: “Các vị Thanh Văn
được thọ kư đó do đạt được
tâm quyết định, chẳng phải là thành tựu pháp
tánh”. Ư nói: Do các vị Bồ Tát tu hành vô lượng công
đức trong nhiều kiếp, thành tựu pháp tánh, nên
được thọ kư, tức là từ Bát Địa trở
lên. Do vậy, luận Du Già Sư Địa quyển bốn
mươi sáu chép: “Lại nữa, các Bồ Tát có ba thứ
quyết định: Một là chủng tánh định, hai
là phát tâm định, ba là bất hư hạnh định
(hạnh quyết định chẳng hư dối)”.
Cho tới nói: “Do cuối cùng rơi vào địa vị
quyết định, chư Phật Như Lai bèn thọ kư
quyết định cho Bồ Tát”.
-
Hai, trừ nghi cho hàng tiểu Bồ Tát bất định.
V́ thế, các bộ luận như Nhiếp Đại Thừa
Luận v.v… viết: “V́ dẫn khởi, nhiếp thọ
một loại [căn tánh], và duy
tŕ một
loại bất định tánh Thanh Văn khác, [cũng như v́] các loại
bất định tánh Bồ Tát khác, sợ các vị Bồ
Tát ấy sẽ
thoái Đại theo Tiểu, cho nên thọ
kư, nói họ sẽ được làm Phật”.
-
Ba, v́ người vui thích Phật trông thấy sự thọ
kư ấy, sẽ mừng rỡ
“chính ta cũng sẽ đạt được”. Lại
c̣n chỉ rơ: Do nghe kinh mà quyết định được
thành Phật, hăy hành tŕ kinh này để tu cái nhân thành Phật.
Do vậy, kinh Pháp Hoa nói: “Đại trí Xá Lợi Phất,
kim đắc thọ tôn kư, ngă đẳng diệc giai đắc,
tối diệu đệ nhất pháp” (Đại trí Xá
Lợi Phất, được thọ kư tôn quư, chúng ta
cũng đều được, pháp mầu nhiệm bậc
nhất). Kinh này cũng nói: “Thời thập thiên thiên tử
văn tam đại sĩ đắc thọ kư dĩ, phục
văn như thị tối thắng vương kinh, tâm
sanh hoan hỷ, thanh tịnh vô cấu, do như hư không”
(Khi đó, mười ngàn thiên tử nghe ba vị đại
sĩ được thọ kư rồi, lại nghe kinh tối
thắng vương như thế, sanh ḷng hoan hỷ, thanh
tịnh vô cấu dường như hư không). Đấy
là tâm hoan hỷ, chẳng nghi, tức là “vui thích thành Phật,
tin tưởng pháp mà tu hành”.
2)
Điều thứ hai là “người có thể thọ
kư”, lại gồm có ba nghĩa:
- Một,
chỗ nương cậy của người có thể thọ
kư.
-
Hai, Thể của người có thể thọ kư.
-
Ba, Dụng của người có thể thọ kư.
a.
Nói đến “cái để người thọ kư
nương vào” th́ theo
luận Du Già Sư Địa, quyển
bốn mươi chín, [do người ấy] có thể
thành tựu sáu thứ:
- Một,
thắng giải hạnh địa.
-
Hai, tăng thượng ư lạc địa.
-
Ba, chánh hạnh địa.
- Bốn,
quyết định địa.
-
Năm, quyết định hạnh địa.
-
Sáu, cứu cánh địa.
Sáu
địa vị ấy đều có thể thọ kư,
nhưng đối với Cứu
Cánh Địa th́ Phật và Bồ Tát khác biệt. Phật
có ba thân, nhưng chỉ có hai giả thân là Tha Thọ Dụng
và Biến Hóa Thân có thể đối trước hàng Thập
Địa và Địa Tiền mà thọ kư. Nhưng trong
địa vị Cứu Cánh, Đệ Thập Địa
Bồ Tát và năm địa vị đầu chỉ là tổng
tướng thọ kư (tức là thọ
kư chung người nào đó chắc chắn sẽ thành Phật),
chẳng thể biết người ấy sẽ thành Phật
vào lúc nào, danh hiệu và quốc độ v.v… [như thế
nào], do kẻ ở bậc dưới (địa vị thấp
hơn) chẳng thể biết chuyện của người
thuộc bậc trên. Nếu dựa theo tổng tướng
để quan sát cái nhân mà thọ kư cái quả, bảo
người ấy sẽ thành Phật, th́ Bồ Tát cũng
có thể [làm như vậy]. Do đó, trong kinh Pháp Hoa,
Thường Bất Khinh Bồ Tát thọ kư tứ chúng sẽ
đều thành Phật. V́ vậy, người có thể thọ
kư chẳng ngoài sáu [địa vị trên đây]. Hoặc
hàng định tánh Nhị Thừa chẳng ngu muội
đối với pháp, tin có Đại Thừa, cũng có
thể thọ kư chung, như trong kinh Bồ Tát Giới
đă nói: Xưa kia có vị La Hán dẫn một vị sa-di [đi đường],
do sa-di phát đại tâm mà [vị La Hán ấy] sanh ḷng tôn trọng,
cho nên [sa-di]
được tổng kư (thọ kư
chung, tức thọ kư sẽ thành Phật, không nói rơ thời
gian, quốc độ, danh hiệu, thọ lượng
v.v…)
b.
Đối với cái Thể của người có thể
thọ kư, chính là Hậu Đắc Tục Trí, do biết
căn tánh, Hậu Đắc Trí quán Lư cũng chẳng thể
thọ kư. Nếu xét theo bậc thánh, nếu thuộc Địa
Tiền th́ chỉ là Tỷ Lượng Trí.
c.
Thứ ba là Dụng của người thọ kư, tức
là ngôn giáo, do có thể diễn nói, biểu thị ư
nghĩa.
3)
Điều thứ ba là “người được thọ
kư”, có hai nghĩa:
- Một,
chỗ để nương vào của người
được thọ kư.
-
Hai, cái Thể của người được thọ
kư.
a.
Chỗ nương vào của người được
thọ kư gồm bốn điều:
- Một,
chủng tánh vị.
-
Hai, phát tâm vị.
-
Ba, bất định Nhị Thừa.
- Bốn,
các vị đại Bồ Tát.
Đó
là nói theo phương diện [thọ kư] rơ rệt dễ thấy.
Nếu là thọ kư ẩn mật và b́nh đẳng ư nhạo
mà thọ kư, cũng bao gồm người định tánh và
vô tánh.
b.
Thể của người được thọ kư chính là
Vô Lậu Thiện, bao gồm cái
quả đạt được do hiện tại [tu tập]
và chủng tử. Quả bao gồm
Báo và Hóa, ngoại trừ Pháp
Tánh Thân. Nếu xét theo
Báo Thân th́ phần nhiều nói về Tha Thọ Dụng Thân,
do có quốc độ, quyến thuộc v.v… Do hiển lộ
ḷng từ bi, do có
sai biệt vậy.
4)
Điều thứ tư là thọ kư sai biệt. Trong kinh Thủ
Lăng Nghiêm, đức Phật bảo Kiên Ư Bồ Tát: “Thọ
kư tức hữu tứ chủng: Hữu vị phát tâm nhi dữ
thọ kư, hữu thích phát tâm nhi dữ thọ kư, hữu mật
thọ kư, hữu đắc Vô Sanh Nhẫn hiện tiền
thọ kư. Thị danh tứ chủng. Duy hữu Như Lai
năng tri thử sự” (Thọ kư có bốn loại: Có
người chưa phát tâm mà được thọ kư, có
người vừa mới phát tâm liền được
thọ kư, có người được ngầm thọ kư,
có người do đắc Vô Sanh Nhẫn mà hiện tiền
thọ kư. Đó gọi là bốn loại. Chỉ có Như
Lai có thể biết chuyện ấy)[8].
Kinh Bảo Vân luận định giống như quyển
bốn mươi sáu của luận Du Già Sư Địa,
nêu đại lược “do sáu tướng mà được
các đức Như Lai thọ kư Vô Thượng Bồ
Đề”. Những ǵ là sáu?
- Một
là địa vị an trụ chủng tánh, chưa phát tâm.
-
Hai là địa vị đă phát tâm.
- Ba
là địa vị hiện tiền.
- Bốn
là địa vị chẳng hiện tiền.
Bốn
loại trên đây giống như kinh Thủ Lăng Nghiêm
đă nói. Mật thọ kư tức là chẳng hiện tiền,
do ở chỗ ẩn mật. Hoặc đắc Vô Sanh Nhẫn
gọi là Hiện Tiền, chưa đắc th́ gọi là Bất
Hiện Tiền. Hoặc [người được thọ
kư] hiện diện [trong khi thọ kư] th́ gọi là Hiện
Tiền, không đích thân có mặt tại đó th́ gọi
là Bất Hiện Tiền.
-
Năm là có định thời hạn, tức là [nói rơ]
trong chừng bao lâu đó sẽ chứng Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề.
-
Sáu là chẳng định thời hạn, tức là chẳng
tuyên thuyết thời hạn quyết định khi thọ
kư.
Luận
Đại Trang Nghiêm quyển mười hai cũng nói sáu
loại giống như thế. Luận ấy viết: “Thọ
kư có hai loại, người khác và thời khác”. “Người
khác” tức là bốn loại đầu, “thời
khác” tức là hai loại sau [trong sáu loại thọ kư
nơi đoạn trước]. Luận ấy lại nói: “Chuyển
kư và đại kư, lại có hai thứ. Chuyển kư tức
là [nói rơ] vị Bồ Tát sau này sẽ ở chỗ đức
Như Lai như thế đó, vào lúc như thế đó mà
được thọ kư. Đại kư là người thuộc
Đệ Bát Địa đắc Vô Sanh Nhẫn, do đoạn
được kiêu mạn ‘ta sẽ thành Phật’ và đoạn
hết thảy
các tướng phân biệt” v.v…
Chuyển kư thuộc vào ba loại thọ kư trước
được nói trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, c̣n đại
kư thuộc loại thứ tư trong kinh ấy. Luận ấy
lại nói sáu loại thọ kư khác với kinh Thủ
Lăng Nghiêm và luận Du Già Sư Địa. Những ǵ là
sáu? Một là sát-độ, hai là danh tự,
ba là thời tiết, bốn là tên kiếp, năm là quyến
thuộc, sáu là pháp trụ (tức pháp của vị Phật
ấy sẽ tồn tại bao lâu).
Nay
kinh văn trong phần thọ kư cho các vị như Diệu
Tràng v.v… nói ba điều: Thế giới Kim Quang Minh v.v… là
tên của cơi nước, Kim Bảo Sơn Vương
v.v… là danh hiệu [của
Phật], “nhữ ư lai thế quá vô lượng vô số”
(ông trong tương lai, qua khỏi vô lượng vô số)
v.v… là thời tiết. Lược đi chẳng nói tới
tên kiếp, quyến thuộc, và pháp trụ (chánh pháp trụ thế trong bao lâu).
5.23.4.2.1.2. Thọ kư cho
Ngân Tràng
(Kinh)
Thời thử Như Lai bát Niết Bàn hậu, sở hữu
giáo pháp diệc giai diệt tận. Thời bỉ trưởng
tử,
danh viết Ngân Tràng, tức ư thử giới, thứ bổ
Phật xứ. Thế giới nhĩ thời chuyển danh
Tịnh Tràng, đương đắc tác Phật, danh viết Kim
Tràng Quang Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế Tôn.
(經)時此如來般涅槃後,所有教法亦皆滅盡。時彼長子名曰銀幢,即於此界次補佛處,世界爾時轉名淨幢,當得作佛,名曰金幢光如來、應、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。
(Kinh:
Sau khi đức Như Lai ấy nhập Niết Bàn, tất
cả giáo pháp cũng đều diệt hết. Khi đó,
con cả của Ngài tên là Ngân Tràng, liền bổ xứ làm
Phật trong thế giới này. Lúc bấy giờ, thế
giới đổi tên thành Tịnh Tràng, Ngài sẽ thành Phật,
danh hiệu là Kim Tràng Quang Như Lai, Ứng, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn).
Thọ
kư cho vị đại sĩ thứ hai, kinh văn cũng
chia thành năm ư:
- Một,
thọ kư thời tiết.
-
Hai, nhắc lại tên gọi
[của người được thọ kư].
-
Ba, thọ kư nơi chốn.
- Bốn,
thọ kư quốc độ.
-
Năm, thọ kư danh hiệu, cũng có Thông và Biệt.
5.23.4.2.1.3. Thọ kư cho
Ngân Quang
(Kinh)
Thời thử Như Lai bát Niết Bàn hậu, sở hữu
giáo pháp diệc giai diệt tận. Thứ tử Ngân Quang tức
bổ Phật xứ, hoàn ư thử giới,
đương đắc tác Phật, hiệu viết Kim
Quang Minh Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế Tôn.
(經)時此如來般涅槃後,所有教法亦皆滅盡。次子銀光即補佛處,還於此界當得作佛,號曰金光明如來、應、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。
(Kinh:
Sau khi đức Như Lai ấy nhập Niết Bàn, tất
cả giáo pháp cũng đều diệt hết. Con trai thứ
là Ngân Quang liền bổ xứ làm Phật, vẫn ở
trong thế giới này, sẽ được làm Phật,
hiệu là Kim Quang Minh Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn).
Kế
đó, thọ kư cho vị đại sĩ thứ ba, kinh
văn cũng chia thành năm ư:
- Một,
thọ kư thời tiết.
-
Hai, nhắc lại tên [của người
được thọ kư, tức Ngân Quang].
-
Ba, thọ kư quả vị, tức bổ xứ làm Phật.
- Bốn,
thọ kư quốc độ: Vẫn ở trong thế giới
này!
- Năm,
thọ kư danh hiệu.
5.23.4.2.2. Thọ kư cho
mười ngàn thiên tử
5.23.4.2.2.1. Thọ kư
(Kinh)
Thị thời, thập thiên thiên tử văn tam đại
sĩ đắc thọ kư dĩ, phục văn như thị
tối thắng vương kinh, tâm sanh hoan hỷ, thanh tịnh
vô cấu, do như hư không. Nhĩ thời, Như Lai tri
thị thập thiên thiên tử thiện căn thành thục,
tức tiện dữ thọ đại Bồ Đề
kư: - Nhữ đẳng thiên tử! Ư đương lai
thế, quá vô lượng vô số bách thiên vạn ức
na-dữu-đa kiếp.
(經)是時十千天子聞三大士得授記已,復聞如是最勝王經,心生歡喜,清淨無垢猶如虛空。爾時如來知是十千天子善根成熟,即便與授大菩提記:汝等天子!於當來世過無量無數百千萬億那庾多劫。
(Kinh: Khi đó,
mười ngàn thiên tử nghe ba vị đại sĩ
được thọ kư xong, lại nghe kinh Tối Thắng
Vương như thế, sanh ḷng hoan hỷ, thanh tịnh
vô cấu dường như hư không. Lúc bấy giờ,
Như Lai biết mười ngàn thiên tử ấy thiện
căn đă thành thục, liền thọ kư đại Bồ
Đề cho họ: - Thiên tử các ông! Trong đời
tương lai, qua khỏi vô lượng vô số trăm
ngàn vạn ức na-dữu-đa kiếp).
Đây
là đoạn lớn thứ hai, kinh văn được
chia thành bốn phần:
- Một,
thọ kư [cho mười ngàn thiên tử].
-
Hai, [đại chúng, đại biểu là
Bồ Tát thụ thần, nghe mười ngàn thiên tử
được thọ kư liền] sanh
nghi.
-
Ba, [đức
Phật] v́ họ đoạn trừ
[nghi hoặc].
- Bốn,
[nghe đức Phật giảng giải
nguyên do, đại chúng] hoan hỷ tin tưởng.
Trong
phần thứ nhất có ba đoạn:
- Một,
thiên tử thấy nghe, tâm vui sướng.
-
Hai, từ “nhĩ thời, Như Lai” (lúc bấy giờ, đức Như
Lai) trở đi, Như Lai biết căn
cơ của họ đă chín muồi.
-
Ba, từ “tức tiện”
(liền) trở đi, thọ kư. Phần này có tám ư:
1) Một là dẫn khởi.
2) Hai là nhắc lại
tên của người được thọ kư.
3) Ba là thọ kư thời
tiết (thọ kư sẽ thành Phật khi nào). Nhưng kiếp
có nhiều loại, như Pháp Hoa Luận nói có năm loại,
tức là ngày, đêm, tháng, giờ, năm. Hoặc nói ba kiếp
là đói kém, bệnh dịch, chiến tranh. Hoặc coi chu kỳ
một tăng một giảm là một kiếp, như hai
mươi trụ kiếp v.v… Hoặc nói tám mươi chu
kỳ tăng giảm là một kiếp, tức hỏa tai
kiếp. Hoặc nói bảy lượt hỏa tai dấy
lên là một kiếp, tức là thủy tai kiếp. Hoặc
nói tám lượt tai ương, tức bảy lượt
hỏa tai và một lượt thủy tai là một kiếp,
tức phong tai kiếp. Hoặc nói vô lượng phong tai là
một kiếp, tức tam đại A-tăng-kỳ kiếp.
Hoặc nói hai mươi tám kiếp là một kiếp, như Hiền Kiếp
này. Hoặc nói nhiều đến tám
mươi kiếp là một kiếp, tức là Tinh Tú Kiếp
v.v… Tức là trọn hết thời lượng một
ngàn vị Phật xuất thế, được gọi
chung là Tinh Tú Kiếp. Như kiếp số được
nói trong kinh Pháp Hoa, phần nhiều xét theo ngày, đêm, tháng,
giờ, năm. Như nói mỗi giai vị trong Thập Trụ
đều trải qua bao nhiêu kiếp, tức là nói theo phong
tai kiếp v.v… Ở đây nói “quá vô lượng vô số”
v.v… tức là vượt ngoài các thứ kiếp tăng giảm,
hoặc phong tai v.v… chẳng phải là đại
A-tăng-kỳ, tu hành thành Phật chẳng vượt
ngoài ba đại A-tăng-kỳ.
Hỏi:
Căn tánh tu hành có siêng năng hay lười nhác sai khác, v́
sao nói chắc chắn là ba đại A-tăng-kỳ?
Đáp:
Xét theo thời lượng khi tác ư, phương tiện thiện
tâm từng sát-na liên tục th́ là trải qua ba đại kiếp,
hoàn toàn chẳng phải là tính gộp chung lúc tu và không tu, do
tác ư và chẳng tác ư trải qua ngần ấy kiếp, dẫu có
căn tánh siêng năng hay lười nhác khác nhau, đều
nói là “ba A-tăng-kỳ kiếp”.
Hỏi:
Nếu là như vậy, từ Bát Địa trở lên, vô
lậu quán tâm liên tục trong hết thảy các thời,
như thế nào mà nói là có chuyện “vượt ngoài kiếp”?
Như Phật Thích Ca trong kiếp thứ ba, vừa gặp
Nhiên Đăng Phật, liền trải
tóc phủ bùn [để Phật đi qua không bị bẩn
chân] mà siêu việt tám kiếp. Trọn hết kiếp thứ
ba, [Phật Thích Ca] tu trọn vẹn nghiệp tướng
hảo, thoạt đầu gặp Thắng Quán Phật,
c̣n gọi là Phất Sa Phật, do kiễng chân tán thán bèn
vượt thoát chín kiếp!
Đáp:
Có hai cách giải thích. Hoặc là có một loại trụ
trong du quán tâm nhiều, hoặc đắm ch́m trong Diệt
Định lâu ngày, đối với hạng người ấy
mà nói là “có siêu”.
Nếu
là như vậy, như thế nào mà nói là từ Bát Địa
trở lên, trong từng sát-na đều chuyển tăng tấn
vậy?
Đáp:
Dựa theo từ Bát Địa trở lên, sau khi đă trụ
xuất, trường thời mà nói.
Nếu
vậy, như thế nào mà lại nói “từ Sơ Địa
trở lên đă nhập trụ xuất tâm, mỗi mỗi
đều bằng nhau”?
Đáp:
Dựa theo chẳng tác ư, th́ công đức là như nhau, chẳng giống
như Địa Tiền. Nếu là lúc tác ư, lực dụng
sẽ khác nhau. Nếu chấp là [dù tác ư hay không] đều
bằng nhau, sao có thể nói là trí tăng, bi tăng, sợ
hay chẳng sợ phiền năo có khác biệt? Có thuyết
cho rằng: Đối với “bi tăng, trí tăng, sợ,
chẳng sợ”, địa vị nào cũng đều
như nhau. Nhưng nói “siêu việt” là do so với bi th́ trí
tăng nhiều hơn mà nói là “siêu”.
Nếu vậy, trí
tăng so với bi tăng sẽ tự thành “siêu việt”,
cần ǵ phải nói Ngài trải tóc [lót đất
cho Phật đi qua] v.v… nữa ư?
Đáp:
Do những thứ ấy siêu việt tăng tấn, cho nên
đặc biệt nói. Hoặc là do phương tiện
nơi h́nh tướng giáo hóa mà nói là Siêu, chứ chẳng
phải là thật
như thế! V́ lẽ nào? Từ
Bát Địa trở lên, cơi nước mà vị Bồ Tát ấy
thọ dụng há chỗ nào có
bùn để dùng tóc phủ lên ư? Há có hang đá để
Phật ngồi yên tọa Thiền ư?
Nếu vậy, hạnh
nghiệp tu tập trong Tăng-kỳ tăng tấn bi và
trí sẽ dựa theo đâu để nói?
Đáp:
Dựa theo trí tăng.
(Kinh)
Ư Tối Thắng Nhân Đà La Cao Tràng thế giới,
đắc thành A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề,
đồng nhất chủng tánh, hựu đồng nhất
danh hiệu, viết Diện Mục Thanh Tịnh Ưu Bát
La Hương Sơn, thập hiệu cụ túc. Như thị
thứ đệ thập thiên chư Phật xuất hiện
ư thế.
(經)於最勝因陀羅高幢世界得成阿耨多羅三藐三菩提,同一種姓,又同一名號,曰面目清淨優鉢羅香山,十號具足。如是次第十千諸佛出現於世。
(Kinh: Trong thế giới Tối Thắng
Nhân Đà La Cao Tràng, được thành Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, cùng một chủng tánh, lại có
cùng một danh hiệu là Diện Mục Thanh Tịnh Ưu
Bát La Hương Sơn, mười hiệu trọn đủ.
Theo thứ tự như thế, mười ngàn vị Phật
xuất hiện trong cơi đời).
Kế
đó, ư thứ tư là thọ kư tên quốc
độ. Nhân Đà La (Indra) là tiếng Phạn,
phương này dịch là Đế Cao Tràng Giới. Kế
đó, từ “đắc thành A Nậu” trở đi, [là thứ
thứ năm], tức thọ
kư cái quả. “Đồng nhất chủng tánh” (có cùng
một chủng tánh) là [ư thứ sáu, tức] thọ kư ḍng họ. Ư thứ bảy là thọ kư danh hiệu. Ư thứ tám từ “như thị” (như thế)
trở đi, thọ kư thứ tự.
5.23.4.2.2.2. Thần
cây Bồ Đề sanh nghi
(Kinh)
Nhĩ thời, Bồ Đề thụ thần bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Thị thập thiên thiên tử tùng Tam Thập
Tam Thiên, vị
thính pháp cố, lai nghệ Phật sở, vân hà Như Lai tiện
dữ thọ kư đương đắc thành Phật? Thế
Tôn! Ngă vị tằng văn thị chư thiên tử cụ
túc tu tập Lục Ba La Mật Đa, nan hành khổ hạnh,
xả ư thủ, túc, đầu, mục, tủy, năo, quyến
thuộc, thê tử, tượng, mă, xa thặng, nô tỳ, bộc
sử, cung điện, viên lâm, kim, ngân, lưu ly, xa cừ,
mă năo, san hô, hổ phách, bích ngọc, kha bối, ẩm thực,
y phục, ngọa cụ, y dược, như dư vô
lượng bách thiên Bồ Tát dĩ chư cúng cụ cúng
dường quá khứ vô số
bách thiên vạn ức na-dữu-đa Phật. Như thị
Bồ Tát các kinh vô lượng vô biên kiếp số, nhiên hậu
phương đắc thọ Bồ Đề kư. Thế
Tôn! Thị chư thiên tử dĩ hà nhân duyên, tu hà thắng
hạnh, chủng hà thiện căn, tùng bỉ thiên lai, tạm
thời văn pháp, tiện đắc thọ kư? Duy nguyện
Thế Tôn vị ngă giải thuyết, đoạn trừ
nghi vơng.
(經)爾時菩提樹神白佛言:世尊!是十千天子從三十三天為聽法故來詣佛所,云何如來便與授記當得成佛?世尊!我未曾聞是諸天子具足修習六波羅蜜多、難行苦行,捨於手足頭目髓腦、眷屬妻子、象馬車乘、奴婢僕使、宮殿園林、金銀瑠璃硨磲碼碯、珊瑚琥珀璧玉珂貝、飲食衣服臥具醫藥,如餘無量百千菩薩以諸供具供養過去無數百千萬億那庾多佛。如是菩薩各經無量無邊劫數,然後方得受菩提記。世尊!是諸天子以何因緣、修何勝行、種何善根,從彼天來暫時聞法便得授記?惟願世尊為我解說,斷除疑網。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, thần cây Bồ Đề bạch với đức
Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Mười ngàn thiên tử
này từ Tam Thập Tam Thiên v́ nghe pháp mà đến chỗ
Phật, cớ sao Như Lai liền thọ kư họ sẽ
được thành Phật? Bạch Thế Tôn! Con chưa
từng nghe các vị thiên tử này tu tập trọn đủ
Lục Ba La Mật Đa, khổ hạnh khó hành, xả tay,
chân, đầu, mắt, tủy, năo, quyến thuộc, vợ
con, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, kẻ hầu, cung
điện, vườn, rừng, vàng, bạc, lưu ly, xa
cừ, mă năo, san hô, hổ phách, bích ngọc, kha bối, thức
ăn, y phục, đồ trải nằm, thuốc thang,
như vô lượng trăm ngàn vị Bồ Tát khác đă
dùng vật cúng để cúng dường vô số trăm
ngàn vạn ức na-dữu-đa Phật trong quá khứ.
Các vị Bồ Tát như thế ai nấy đều trải
qua vô lượng vô biên kiếp số, sau đấy mới
được thọ kư Bồ Đề. Bạch Thế
Tôn! Các vị thiên tử này do nhân duyên nào, tu hạnh thù thắng
nào, gieo thiện căn nào, từ cơi trời kia tới, tạm
thời nghe pháp, liền được thọ kư? Kính mong
đức Thế Tôn v́ con giải nói,
ḥng đoạn trừ lưới nghi).
Kế
đó, phần thứ hai là sanh nghi, có hai tiểu đoạn:
Một là nêu ra, hai là hỏi han. Trong phần “nêu ra [nỗi
nghi]”, có bốn đoạn:
- Một,
nêu ra cái nhân [chư thiên] đến [dự pháp hội].
-
Hai, từ “vân hà” (cớ sao) trở đi là nêu đại
lược các điều gạn hỏi. Họ v́ nghe pháp
mà tới, cớ sao được thọ kư?
-
Ba, từ “Thế Tôn! Ngă vị tằng” (bạch Thế
Tôn! Con chưa từng) trần thuật nỗi nghi trong tâm.
- Bốn,
từ “như dư vô lượng” (như vô lượng
[Bồ Tát] khác) trở đi,
nêu rơ ư nghi.
Kế
đó, từ “Thế Tôn” trở đi, nêu ra câu hỏi
thứ hai, gồm ba ư:
- Một
là hỏi chung.
-
Hai là hỏi riêng.
- Ba
là xin Phật giải đáp.
“Dĩ
hà nhân duyên” (do nhân duyên nào) mang ư nghĩa hỏi chung về
nguyên do. Hoặc tự hành gọi là nhân, bạn lành là duyên.
“Tu hà thắng hạnh” (tu hạnh thù thắng nào) v.v…
là hỏi riêng:
- Một
là hỏi tu hạnh thù thắng nào, tức là hỏi về
tu hạnh Lục Độ.
-
Hai là hỏi gieo thiện căn nào, tức là hỏi về
tu hạnh phước đức.
Hoặc
do ư nghĩa “khởi tu sẽ đắc quả” là Hạnh,
ư nghĩa “cái nhân có thể sanh ra điều thiện về
sau” th́ gọi là Căn. Hoặc sơ khởi th́ gọi
là Căn, sau đó tu hành th́ gọi là Hạnh, tức là cái
Thể chẳng khác. Lại nữa, Thập Độ gọi
là Hạnh, Thập Cúng Dường là Căn, tức là
nghĩa khác biệt đôi chút.
Nói “tùng
bỉ thiên lai” (từ cơi trời ấy đến) trở
đi nhằm kết lại ư nghĩa ấy, như hỏi:
Do nhân duyên ǵ mà từ cơi trời ấy tới, liền
được thọ kư, tu hạnh thù thắng nào, gieo thiện
căn nào, mà từ cơi trời ấy đến v.v… Lại
thấy rằng: Nếu do nghe [kinh này] mà được thọ
kư, th́ chẳng đáng ngờ, chỉ nghi do nhân nào mà
[chư thiên] từ cơi trời ấy xuống để
được nghe kinh này rồi được thọ kư?
Sau đó từ “duy nguyện Thế Tôn” (kính mong Thế
Tôn) trở đi là xin giải đáp.
5.23.4.2.2.3. Đức
Phật giải đáp
(Kinh)
Phật cáo địa thần: - Thiện nữ thiên!
Như nhữ sở thuyết, giai tùng thắng diệu thiện
căn nhân duyên cần khổ tu dĩ, phương đắc
thọ kư. Thử chư thiên tử ư diệu thiên cung, xả
ngũ dục lạc, cố lai thính thị Kim Quang Minh kinh.
Kư văn pháp dĩ, ư thị kinh trung, tâm sanh ân trọng,
như tịnh lưu ly vô chư hà uế, phục đắc
văn thử tam đại Bồ Tát thọ kư chi sự.
(經)佛告地神:善女天!如汝所說,皆從勝妙善根因緣勤苦修已方得授記。此諸天子於妙天宮捨五欲樂,故來聽是金光明經。既聞法已,於是經中心生殷重,如淨瑠璃無諸瑕穢,復得聞此三大菩薩授記之事。
(Kinh:
Đức Phật bảo địa thần: - Thiện nữ
thiên! Đúng như bà nói, đều từ nhân duyên thiện
căn thù thắng, nhiệm mầu siêng khổ tu tập rồi
mới được thọ kư. Các thiên tử này đă bỏ
năm món dục lạc nơi cung trời mầu nhiệm,
cố ư đến nghe kinh Kim Quang Minh này. Đă nghe pháp rồi,
đối với kinh này, sanh tâm ân cần, trân trọng,
như lưu ly sạch không tỳ vết, nhơ bẩn, lại
được nghe chuyện thọ kư của ba vị
đại Bồ Tát này).
Kế
đó, đoạn thứ ba là đức Phật giải
đáp, gồm hai
tiểu đoạn:
- Một,
đức Phật ấn khả lời hỏi [của thần
cây Bồ Đề].
-
Hai, từ “thử chư thiên tử” (các thiên tử
này) trở đi, chánh thức giải đáp câu hỏi, có
hai ư: Trước là giải đáp đại lược,
hai phẩm sau (Trừ Bệnh và Lưu Thủy) sẽ giải
đáp cặn kẽ.
Trong
ư thứ nhất, lại có hai điều: Trước tiên
là riêng đáp về hạnh thù thắng trong hiện tại,
nhằm nêu rơ cái nhân “do nghe kinh, ắt sẽ thành Phật”
[được nói] trong phần trước. Do vậy, có
ba hạnh:
- Một,
từ “ư
diệu thiên cung”
trở đi là hạnh xả dục lạc, có thể
đến pháp hội.
-
Hai, từ “cố lai thính thị” (cố ư đến
nghe kinh này) trở đi là hạnh nghe kinh, pháp chính là cái
nhân để thành Phật.
-
Ba, từ “phục đắc văn thử” (lại
được nghe điều này) trở đi là hạnh
tùy hỷ, do có thể nguyện cầu [cũng được
thành Phật].
(Kinh)
Diệc do quá khứ cửu tu chánh hạnh thệ nguyện
nhân duyên, thị cố ngă kim giai dữ thọ kư, ư vị
lai thế đương thành A Nậu Đa La Tam Miệu
Tam Bồ Đề.
(經)亦由過去久修正行誓願因緣,是故我今皆與授記,於未來世當成阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh:
Cũng do nhân duyên tu chánh hạnh thệ nguyện đă lâu
trong quá khứ. V́ thế, nay ta đều thọ kư cho họ,
trong đời vị lai sẽ thành Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác).
Sau
đó, cùng đáp đại lược hai câu hỏi về
hạnh thù thắng và gieo thiện căn trong quá khứ. Kế
đó, từ “thị cố ngă kim” (v́ thế, nay ta) trở
đi, là lời đáp nhằm kết lại.
5.23.4.2.2.4. Thụ thần hoan hỷ, tin nhận
(Kinh)
Thời, bỉ thụ thần văn Phật thuyết
dĩ, hoan hỷ tín thọ.
(經)時彼樹神聞佛說已,歡喜信受。
(Kinh:
Khi đó,
vị thần cây ấy nghe
đức Phật nói rồi, hoan hỷ tin nhận).
Kế
đó, thần cây vui mừng tin tưởng.
5.24. Phẩm thứ
hai mươi bốn: Trừ bệnh (Trừ bệnh phẩm
đệ nhị thập tứ, 除病品第二十四)
Phẩm
thứ hai mươi bốn là Trừ Bệnh, gồm ba
môn phân biệt.
5.24.1. Ư nghĩa v́ sao có
phẩm này?
Nói
tới ư nghĩa v́ sao có phẩm này th́ phẩm này nhằm
trừ nghi. Phẩm trước là kết lại, khuyên
lơn, khích lệ “nói và nghe [bộ kinh này], đều sẽ
thành Phật”. V́ thế, có thọ kư. Ba vị đại
sĩ do trước kia
đă từng nghe kinh này, nên được thọ kư, đại
chúng khi đó chẳng nghi hoặc. Mười ngàn vị
thiên tử vừa đến pháp hội, liền được
thọ kư, cho nên có người nẩy sanh ngờ vực.
Trong phẩm trước, tuy [đức
Phật] đă giải đáp đại lược,
nhưng chỉ nói chung cái nhân xưa kia, sợ rằng
người nghe sẽ khó hiểu. Ở đây, [đức
Phật] lại v́ họ nói cặn kẽ, cho nên có hai phẩm
Trừ Bệnh và Lưu Thủy sanh khởi. Điểm
khác biệt là do [đức Phật] sắp nói về cái
nhân xưa kia của mười ngàn vị thiên tử, liền
trước hết trần thuật duyên khởi của
chuyện đó, cho nên có phẩm Trừ Bệnh. Lại sợ
do [chúng sanh] bệnh khổ sẽ trở ngại nghe kinh,
bèn nói kèm thêm cách trừ bệnh, để [người
nghe] sẽ học theo. Duyên khởi đă được
nêu tỏ; kế đó, cần phải thật sự biện
định [cái nhân xưa kia], nên có phẩm Lưu Thủy
sanh khởi.
Ngài Chân Đế giảng
rằng: “Phẩm Trừ Bệnh này chánh yếu nói về
cái nhân của thọ kư, nhằm kết
lại phẩm Thọ Kư, nói kèm thêm sự tu hành của Phật
Thích Ca ḥng kết lại phẩm Thọ Lượng. Nói
kèm thêm sự tu hành của hàng đệ tử để kết
lại phẩm Thọ Kư”. Nhưng
trị bệnh là viễn duyên, Lưu Thủy là cận
duyên. Nay tôi
nói: Tuy có thể hiểu
nghĩa như thế, nhưng mạch văn đă hơi
xa rồi! Cái nhân của Thọ Lượng đă
được nói cặn kẽ trong phần trước
như Thập Độ v.v… lẽ
nào đến nay mới lại nói rơ cái nhân của nó? Cùng
tu trong một đời, sao lại chia thành xa và gần? Do
đối với các nghĩa thượng, trung, hạ,
đều chẳng trở ngại, hoặc là do xét theo
hơn kém mà chia thành xa gần th́ cũng chẳng mâu thuẫn,
nhưng nếu phán định phẩm này [nói về] cái
nhân của Thọ Lượng th́ mạch văn quá xa xôi, rời
rạc!
5.24.2. Giải thích tên gọi
của phẩm này
Giải
thích tên gọi của phẩm này th́ các Đại trái nghịch, gây tổn
hại gọi là Bệnh. Thuốc có thể chấm dứt
[các chứng bệnh ấy] gọi là Trừ. Phẩm này
nói cặn kẽ về chuyện đó, nên gọi là phẩm
Trừ Bệnh.
5.24.3. Giải thích vấn
nạn
* Hỏi:
Trong phẩm Thọ Lượng thuộc phần trước,
ngài Diệu Tràng tư duy: “Như Lai hành cái nhân trường
thọ, từ bi, chẳng tổn hại, cớ sao thọ
mạng ngắn ngủi chỉ có tám mươi năm?”
Trong phần trước, tuy đă nói Phật thọ vô
biên, chưa giải thích hạnh “từ bi, chẳng hại”.
Nay ba phẩm này nhằm nói về việc ấy, sao chẳng
thuộc vào phần Chánh Tông?
Đáp:
Ngài Diệu Tràng chỉ nghi “đă hành cái nhân ấy,
đáng nên trường thọ”, chẳng nghi trường
thọ là do cái nhân xưa kia nào! Phẩm này lại nói: “Thập
thiên thiên tử bổn nguyện nhân duyên, kim vị nhữ
thuyết” (nay ta sẽ v́ bà nói nhân duyên bổn nguyện
của mười ngàn thiên tử), chẳng nói về nhân
duyên trường thọ. Hơn nữa, phẩm Lưu Thủy
nói: “Do văn Bảo Kế thập nhị nhân duyên, thính
văn thử kinh, dĩ thử thiện căn, nhân duyên,
kim đắc thọ kư” (Do nghe mười hai nhân duyên từ
Phật Bảo Kế, lắng nghe kinh này, do thiện
căn và nhân duyên ấy, nay được thọ kư). Chẳng
nói do vậy mà được thọ mạng lâu dài. V́ thế,
[hai phẩm này] thuộc vào phần Lưu Thông, chẳng phải
là Chánh Tông!
5.24.4. Giải thích kinh
văn
5.24.4.1. Sắc truyền
hăy lắng nghe, hứa sẽ nói
(Kinh)
Phật cáo Bồ Đề thụ thần: - Thiện nữ
thiên! Đế thính, đế thính, thiện tư niệm
chi, thị thập thiên thiên tử bổn nguyện nhân
duyên, kim vị nhữ thuyết.
(經)佛告菩提樹神:善女天!諦聽諦聽,善思念之,是十千天子本願因緣今為汝說。
(Kinh:
Đức Phật bảo thần cây Bồ Đề: -
Thiện nữ thiên! Lắng nghe, lắng nghe! Khéo suy
nghĩ lấy, ta nay sẽ v́ bà nói bổn nguyện nhân
duyên của mười ngàn thiên tử này).
Tán
rằng: Hai phẩm kế tiếp nói cặn kẽ về
nhân duyên được thọ kư của mười ngàn
thiên tử, gồm hai phần:
- Phẩm
này nói về nhân duyên phát khởi.
- Phẩm
Lưu Thủy nói về nhân duyên được thọ kư.
Phần
duyên khởi được chia thành hai đoạn, đoạn
thứ nhất là [đức Phật] sắc truyền [thần cây Bồ
Đề và đại chúng] hăy lắng
nghe ,
hứa giảng nói.
5.24.4.2. Trần thuật
duyên khởi
5.24.4.2.1. Thời điểm
và quốc giới
(Kinh)
Thiện nữ thiên! Quá khứ vô lượng bất khả
tư nghị A-tăng-xí-da kiếp, nhĩ thời, hữu
Phật xuất hiện ư thế, danh viết Bảo Kế
Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Thiện nữ thiên! Thời bỉ Thế Tôn bát Niết
Bàn hậu, Chánh Pháp diệt dĩ, ư Tượng Pháp
trung.
(經)善女天!過去無量不可思議阿僧企耶劫,爾時有佛出現於世,名曰寶髻如來、應、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。善女天!時彼世尊般涅槃後正法滅已,於像法中。
(Kinh: Thiện
nữ thiên! Vô lượng chẳng thể nghĩ bàn
A-tăng-xí-da (A-tăng-kỳ)
kiếp trong quá khứ, khi đó có Phật xuất hiện
trong cơi đời, tên là Bảo Kế Như Lai, Ứng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thiện
nữ thiên! Sau khi đức Thế Tôn ấy nhập Niết
Bàn, Chánh Pháp đă diệt, trong thời Tượng Pháp).
Kế
đó, trần thuật duyên khởi, có mười hai ư.
Điều thứ nhất là nói về thời tiết, lại
gồm ba ư:
- Một, nói chung về
kiếp.
-
Hai, nói về Phật.
-
Ba, nói về thời.
Từ
“nhĩ thời” (lúc bấy giờ) trở đi là nói
riêng.
(Kinh)
Hữu vương danh viết Thiên Tự Tại Quang,
thường dĩ chánh pháp hóa ư nhân dân, do như phụ
mẫu.
(經)有王名曰天自在光,常以正法化於人民,猶如父母。
(Kinh:
Có vua tên là Thiên Tự Tại Quang, thường dùng chánh pháp
để giáo hóa nhân dân giống như cha mẹ).
Kế
đó nói về quốc giới.
5.24.4.2.2. Giới thiệu
trưởng giả Tŕ Thủy và con
(Kinh)
Thị vương quốc trung, hữu nhất trưởng
giả,
danh viết Tŕ Thủy, thiện giải y phương, diệu
thông bát thuật, chúng sanh bệnh khổ, Tứ
Đại
bất điều, hàm năng cứu liệu. Thiện nữ
thiên!
(經)是王國中有一長者名曰持水,善解醫方妙通八術,眾生病苦、四大不調咸能救療。善女天!
(Kinh:
Trong nước của nhà vua ấy, có một vị trưởng
giả tên là Tŕ Thủy, khéo hiểu các phương thuốc,
tinh thông tám thuật. Chúng sanh bệnh khổ, Tứ
Đại
chẳng điều ḥa, ông ta đều có thể cứu
chữa. Thiện nữ thiên!)
Điều
thứ hai là nói về cha của Bồ Tát, có bốn ư:
- Một
là trụ xứ.
-
Hai, từ “hữu nhất trưởng giả” (có một
vị trưởng giả) trở đi, nói về đức
hiệu.
-
Ba, “danh viết Tŕ Thủy” (tên là Tŕ Thủy) là nêu ra
tên gọi.
- Bốn,
từ “thiện giải” (khéo hiểu) trở đi,
nói về bản lănh y học.
“Bát
thuật” như trong phần sau [sẽ giải thích].
(Kinh)
Nhĩ thời, Tŕ Thủy trưởng giả duy hữu
nhất tử, danh viết Lưu Thủy, nhan dung đoan
chánh, nhân sở nhạo quán, thọ tánh thông mẫn, diệu
nhàn chư luận, thư, họa, toán, ấn, vô bất
thông đạt.
(經)爾時持水長者唯有一子,名曰流水,顏容端正人所樂觀,受性聰敏妙閑諸論,書畫算印無不通達。
(Kinh:
Khi đó, trưởng giả Tŕ Thủy chỉ có một
người con tên là Lưu Thủy, sắc diện, dung
nghi đoan chánh, mọi người thích thấy, bẩm
tánh thông minh, nhạy bén, viết lách, vẽ vời, tính
toán, ấn chương, không ǵ chẳng thông đạt).
Kế
đó, nói về con của Bồ Tát, có năm ư:
- Một,
nêu ra tên họ.
-
Hai, dung
nhan đoan chánh; đó là h́nh mạo.
-
Ba, người khác thích thấy, đó là Tư Huệ.
- Bốn,
bẩm tánh thông mẫn, tức là căn tánh.
-
Năm, tinh thông các loại nghề khéo v.v… tức là tài nghệ.
5.24.4.2.4. Nhân duyên học
tập y thuật
(Kinh)
Thời vương quốc nội, hữu vô lượng
bách thiên chư chúng sanh loại giai ngộ dịch tật,
chúng khổ sở bức, năi chí vô hữu hoan hỷ chi tâm.
Thiện nữ thiên! Nhĩ thời, trưởng giả tử
Lưu Thủy, kiến thị vô lượng bách thiên chúng
sanh thọ chư bệnh khổ, khởi đại bi tâm,
tác như thị niệm: “Vô
lượng chúng sanh vị chư cực khổ chi sở
bức bách, ngă phụ trưởng giả tuy thiện y
phương, diệu thông bát thuật, giai liệu chúng bệnh
Tứ
Đại
tăng tổn, nhiên dĩ suy mại, lăo mạo, hư luy, yếu
giả phù sách,
phương năng tấn bộ, bất phục năng
văng thành, ấp, tụ lạc, cứu chư bệnh khổ.
Kim hữu vô lượng bách thiên chúng sanh giai ngộ trọng
bệnh, vô năng cứu giả, ngă kim đương chí
đại y phụ sở, tư vấn trị bệnh y
phương bí pháp. Nhược đắc giải dĩ,
đương văng thành, ấp, tụ lạc chi sở, cứu
chư chúng sanh chủng chủng tật bệnh, linh ư
trường dạ, đắc thọ an lạc.
(經)時王國內有無量百千諸眾生類皆遇疫疾,眾苦所逼,乃至無有歡喜之心。善女天!爾時長者子流水,見是無量百千眾生受諸病苦,起大悲心作如是念:無量眾生為諸極苦之所逼迫,我父長者雖善醫方妙通八術,皆療眾病四大增損,然已衰邁老耄虛羸,要假扶策方能進步,不復能往城邑聚落救諸病苦。今有無量百千眾生皆遇重病無能救者,我今當至大醫父所諮問治病醫方祕法。若得解已,當往城邑聚落之所救諸眾生種種疾病,令於長夜得受安樂。
(Kinh: Khi đó,
trong nước của vị vua ấy có vô lượng trăm
ngàn các loài chúng sanh đều bị bệnh dịch, bị
các sự khổ bức bách, thậm chí chẳng có tâm hoan hỷ.
Thiện nữ thiên! Lúc bấy giờ, trưởng giả
tử Lưu Thủy thấy vô lượng trăm ngàn
chúng sanh bị các bệnh khổ ấy,
dấy ḷng đại bi, nghĩ như thế này: “Vô lượng
chúng sanh bị các nỗi khổ tột cùng bức bách. Vị trưởng giả cha ta tuy giỏi y thuật, tinh
thông tám thuật, đều chữa được các bệnh
do Tứ Đại tăng hay tổn. Nhưng cha đă suy
yếu, già nua, ṃn mỏi, phải có người d́u đỡ
mới có thể bước đi, chẳng c̣n có thể
đến các thành, ấp, xóm làng để chữa các bệnh
khổ. Nay có vô lượng trăm ngàn chúng sanh đều
mắc bệnh nặng, không người có thể cứu.
Ta hăy nên đến chỗ cha ta là bậc đại
y để thưa hỏi các phương
thuốc và pháp bí yếu để chữa bệnh. Nếu
ta đă thông
hiểu, sẽ đến các nơi thành, ấp, xóm làng
để cứu chữa các thứ bệnh tật của
các chúng sanh, khiến cho họ được hưởng
an vui trong đêm dài).
Điều
thứ tư là nói về cái duyên [Lưu Thủy] học y,
gồm có sáu ư:
- Một,
khi đó chúng sanh mắc bệnh.
-
Hai, từ “thiện nữ thiên” trở đi, Bồ
Tát dấy ḷng bi.
-
Ba, từ “ngă phụ” (cha ta) trở đi, nghĩ cha
già nua.
- Bốn,
từ “kim hữu vô lượng” (nay có vô lượng)
trở đi, nghĩ tới người bệnh không
được chữa trị.
-
Năm, từ “ngă kim đương chí” (nay ta nên tới)
trở đi, ta [phải nên] t́m cầu phương
thuốc hay.
-
Sáu, từ “nhược đắc giải dĩ” (nếu
đă thông hiểu) trở đi, nghĩ đến đó
trị liệu.
5.24.4.2.5. Đến chỗ
cha thưa hỏi
(Kinh)
Thời trưởng giả tử tác thị niệm
dĩ, tức nghệ phụ sở, khể thủ lễ
túc, hiệp chưởng, cung kính, khước trụ nhất
diện, tức dĩ già-tha, thỉnh kỳ phụ viết:
- Từ phụ đương ai mẫn, ngă dục cứu
chúng sanh. Kim thỉnh chư y phương, hạnh nguyện
vị ngă thuyết. Vân hà thân suy mại, chư đại hữu
tăng tổn? Phục tại hà thời trung, năng sanh
chư tật bệnh? Vân hà đạm ẩm thực,
đắc thọ ư an lạc, năng sử nội thân
trung, hỏa thế bất suy tổn? Chúng sanh hữu tứ
bệnh, phong, hoàng, nhiệt, đàm ấm, cập dĩ tổng
tập bệnh, vân hà nhi liệu trị? Hà thời phong bệnh
khởi? Hà thời nhiệt bệnh phát? Hà thời động
đàm ấm? Hà thời tổng tập sanh?
(經)時長者子作是念已即詣父所,稽首禮足,合掌恭敬却住一面,即以伽他請其父曰:慈父當哀愍,我欲救眾生。今請諸醫方,幸願為我說。云何身衰邁,諸大有增損?復在何時中,能生諸疾病?云何啗飲食,得受於安樂,能使內身中,火勢不衰損?眾生有四病,風黃熱痰癊,及以總集病,云何而療治?何時風病起?何時熱病發?何時動痰癊?何時總集生?
(Kinh:
Khi đó, con ông trưởng giả nghĩ như thế
xong, liền tới chỗ cha, dập đầu lễ
dưới chân, chắp tay, cung kính, lui qua đứng một
bên, liền dùng già-tha hỏi cha ḿnh rằng: - Từ phụ
nên xót thương, con muốn cứu chúng sanh. Nay hỏi
các phương thuốc, mong cha dạy cho con. Cớ sao thân
suy yếu, các đại có tăng, tổn? Lại sẽ
vào lúc nào, sanh ra các bệnh tật? Ăn uống như thế
nào, để sẽ được an lạc, khiến cho
trong thân ḿnh, thế lửa chẳng suy tổn? Chúng sanh có bốn
bệnh, chứng phong, hoàng, nhiệt, bệnh đàm, cùng bệnh
chung bốn thứ, trị liệu bằng cách nào? Khi nào bệnh
phong khởi? Khi nào bệnh nhiệt phát? Khi nào dấy bệnh
đàm? Khi nào bệnh chung sanh?)
Điều
thứ năm là đến chỗ cha học hỏi, có hai
phần:
- Một,
nghi thức thưa hỏi.
-
Hai, từ “tức dĩ già-tha” (liền dùng kệ tụng)
trở đi, dùng kệ tụng để thưa hỏi.
Năm
bài tụng chia thành hai đoạn:
- Một,
bài tụng đầu tiên là nguyện xót thương dạy
cho.
-
Hai, bốn bài tụng kế tiếp là thỉnh cầu, gồm
năm ư:
1) Nửa bài tụng
đầu tiên hỏi về nguyên nhân bị bệnh.
2) Nửa bài tụng kế đó hỏi
về lúc sanh bệnh.
3) Một bài tụng
kế đó hỏi về phương cách bồi dưỡng
[cơ thể để tránh bệnh tật nẩy sanh].
4) Bài tụng kế
tiếp hỏi về phương pháp chữa trị.
5) Bài tụng sau cùng hỏi
về lúc nào bệnh sẽ dấy lên. Câu hỏi trước
đó là lúc bệnh mới phát ra, c̣n bài tụng này nhằm
hỏi khi đă bệnh rồi, lúc nào sẽ trở nặng.
Có hai thời: Một là xét theo bốn mùa để hỏi,
hai là hỏi theo lúc trước hay sau khi ăn.
5.24.4.2.6. Cha giải
thích cách chữa bệnh
(Kinh)
Thời bỉ trưởng giả văn tử thỉnh
dĩ, phục dĩ già-tha,
nhi đáp chi viết: - Ngă kim y cổ tiên, sở hữu liệu
bệnh pháp, thứ đệ vị nhữ thuyết, thiện
thính cứu chúng sanh. Tam nguyệt thị Xuân thời, tam
nguyệt danh vi Hạ, tam nguyệt danh Thu phần,
tam nguyệt vị Đông thời. Thử cứ nhất
niên trung, tam tam nhi biệt thuyết, nhị nhị vi nhất
tiết, tiện thành tuế lục thời. Sơ nhị
thị hoa thời. Tam
tứ danh nhiệt tế. Ngũ lục danh vũ tế. Thất
bát vị Thu thời. Cửu
thập thị hàn thời. Hậu
nhị danh băng tuyết. Kư tri như thị biệt, thọ
dược vật linh sai. Đương tùy thử thời
trung, điều tức ư ẩm thực, nhập phúc
linh tiêu tán, chúng bệnh tắc bất sanh. Tiết khí
nhược biến cải, tứ đại hữu thôi
di, thử thời vô dược tư, tất sanh ư bệnh
khổ. Y nhân giải tứ thời, phục tri kỳ lục
tiết, minh nhàn thân thất giới, thực dược sử
vô sai. Vị vị giới huyết nhục, cao, cốt, cập
tủy năo, bệnh nhập thử trung thời, tri kỳ
khả liệu phủ? Bệnh hữu tứ chủng biệt,
vị phong, nhiệt, đàm ấm, cập dĩ tổng tập
bệnh, ưng tri phát động thời. Xuân trung đàm ấm
động, Hạ nội phong bệnh sanh, Thu thời hoàng
nhiệt tăng, Đông tiết tam câu khởi. Xuân thực
sáp nhiệt tân, Hạ nị nhiệt hàm thố, Thu thời
lănh điềm nị, Đông toan sáp nị điềm.
Ư thử tứ thời trung, phục dược
cập ẩm thực, nhược y như thị vị,
chúng bệnh vô do sanh. Thực hậu bệnh do ấm, thực
tiêu thời do nhiệt, tiêu hậu khởi do phong, chuẩn
thời tu thức bệnh. Kư thức bệnh nguyên dĩ,
tùy bệnh nhi thiết dược, giả linh hoạn trạng
thù, tiên tu liệu kỳ bổn. Phong bệnh phục du nị,
hoạn nhiệt lợi vi lương, ấm bệnh
ưng biến thổ, tổng tập tu tam dược.
Phong nhiệt ấm câu hữu, thị danh vi tổng tập.
Tuy tri bệnh khởi thời, ưng quán kỳ bổn
tánh. Như thị quán tri dĩ, thuận thời nhi thọ
dược. Ẩm thực dược vô sai, tư danh thiện
y giả.
(經)時彼長者聞子請已,復以伽他而答之曰:我今依古仙,所有療病法,次第為汝說,善聽救眾生。三月是春時,三月名為夏,三月名秋分,三月謂冬時。此據一年中,三三而別說,二二為一節,便成歲六時。初二是華時,三四名熱際,五六名雨際,七八謂秋時,九十是寒時,後二名氷雪。既知如是別,授藥勿令差。當隨此時中,調息於飲食,入腹令消散,眾病則不生。節氣若變改,四大有推移,此時無藥資,必生於病苦。醫人解四時,復知其六節,明閑身七界,食藥使無差。謂味界血肉,膏骨及髓腦,病入此中時,知其可療不?病有四種別,謂風熱痰癊,及以總集病,應知發動時。春中痰癊動,夏內風病生,秋時黃熱增,冬節三俱起。春食澁熱辛,夏膩熱鹹醋,秋時冷甜膩,冬酸澁膩甜。於此四時中,服藥及飲食,若依如是味,眾病無由生。食後病由癊,食消時由熱,消後起由風,準時須識病。既識病源已,隨病而設藥,假令患狀殊,先須療其本。風病服油膩,患熱利為良,癊病應變吐,總集須三藥,風熱癊俱有,是名為總集。雖知病起時,應觀其本性。如是觀知已,順時而授藥,飲食藥無差,斯名善醫者。
(Kinh: Khi đó,
trưởng giả nghe con thỉnh rồi, lại dùng
già-tha để đáp rằng: - Ta nay theo cổ tiên, tất
cả cách chữa bệnh. Theo thứ tự mà nói, khéo nghe
cứu chúng sanh. Ba tháng là mùa Xuân, ba tháng gọi là Hạ, ba
tháng gọi mùa Thu, ba tháng nhằm mùa Đông. Xét ra, trong một
năm, cứ ba tháng một mùa, mỗi hai tháng một tiết,
thành một năm sáu tiết. Giêng, Hai là tiết hoa, Ba,
Tư là trời nóng. Năm, Sáu nhằm tiết mưa, Bảy,
Tám vào tiết Thu, Chín, Mười nhằm lúc lạnh, hai
tháng cuối băng tuyết. Biết sai khác như thế,
đừng cho thuốc sai chạy. Nên tùy thuộc lúc ấy,
điều chỉnh chuyện uống ăn, vào bụng liền
tiêu ngay, các bệnh sẽ chẳng sanh. Nếu tiết khí
biến đổi, Tứ
Đại
có chuyển dời, lúc đó không thuốc giúp, ắt sẽ
sanh bệnh khổ. Thầy thuốc hiểu bốn mùa, lại
hiểu rơ sáu tiết, hiểu bảy giới nơi thân,
ăn, dùng thuốc chẳng sai. Tức vị giới, máu,
thịt; mỡ,
xương, và tủy, năo. Khi
bệnh vào trong ấy, biết chữa
được hay không? Bốn thứ bệnh sai khác, là
phong, nhiệt, bệnh đàm, cùng với bệnh gộp
chung, nên biết lúc phát động. Mùa Xuân, bệnh đàm dấy.
Tiết Hạ, bệnh phong sanh. Trời Thu, hoàng nhiệt
tăng. Tiết Đông, ba bệnh khởi. Xuân ăn chát,
nóng, cay. Hạ béo, nóng, mặn, dấm. Trời thu lạnh,
ngọt, béo. Đông chua, chát, béo, ngọt. Trong lúc bốn mùa
đó, uống thuốc và ăn uống, nếu theo vị
như thế, các bệnh không thể sanh. Ăn xong, bệnh
do ấm[9].
Thức ăn tiêu do nhiệt. Tiêu rồi, bệnh do phong.
Theo thời mà biết bệnh. Đă biết gốc bệnh
rồi, tùy bệnh mà cắt thuốc. Nếu bệnh trạng
sai khác, cần
chữa đằng gốc
trước. Bệnh phong uống
dầu béo, bệnh nhiệt thông
tiêu tiểu, bệnh đàm nên cho
ói, bệnh chung: ba loại thuốc. Phong, nhiệt, đàm
đều có, th́ gọi là bệnh chung. Tuy biết lúc bệnh
khởi, hăy xem xét bổn tánh. Xem biết như thế rồi,
tùy thời mà cho thuốc. Ăn uống, thuốc chẳng
sai, th́ là thầy thuốc giỏi).
Điều
thứ sáu là cha giải thích cho con [cách chữa bệnh].
Trước hết là nêu chung, ba mươi hai bài tụng từ
“ngă kim y cổ tiên” (ta nay dựa theo bậc cổ
tiên) trở đi, cha dùng kệ tụng để giải
thích. Chia thành ba phần:
- Một,
bài tụng đầu tiên là hứa sẽ nói.
-
Hai, ba mươi bài tụng kế đó chủ yếu là
giải đáp câu hỏi.
-
Ba, một bài tụng nhằm tổng kết.
Trong
phần giải thích, lại chia thành ba đoạn:
- Một,
bốn bài tụng đầu tiên phân
định thời tiết. “Tam tam nhi biệt thuyết”
tức là cứ mỗi ba tháng là một mùa, nhằm kết
lại đoạn nói về bốn mùa trước đó. “Nhị
nhị vi nhất tiết” tức cứ mỗi hai tháng
là một tiết, nhằm nêu ra sáu thời sau đó.
-
Hai, mười ba bài tụng kế đó là phần giải
đáp chánh yếu cho các câu hỏi.
-
Ba, mười hai bài tụng từ “phục ưng tri”
(lại cần nên biết) trở đi là phần liệu
giản.
Trong
phần vấn đáp th́:
-
Bài tụng đầu tiên nhằm dạy cách điều chỉnh,
nghỉ ngơi.
- Ba
bài tụng kế đó nhằm trả lời câu hỏi thứ
nhất. Trong ấy:
1)
Bài tụng đầu tiên giải đáp nguyên nhân sanh bệnh.
2)
Hai bài tụng kế đó dạy hăy biết chỗ bị
bệnh:
a. “Vị
giới”: Tiếng Phạn là A La Bà, nằm trong khoảng
lá lách và bao tử. Thức ăn đến đó lại
chia thành hai phần: Một là Khư La Giới, tức chất
cặn bă, trở thành đại tiểu tiện. Hai là Vị
Giới, tức là chất dịch, sẽ bồi bổ các
phần trong thân thể.
b.
Máu
c.
Thịt.
d. Mỡ.
e. Xương
f. Tủy
g.
Năo.
[Đó
là “thất giới” (bảy khu vực) trong thân thể].
3)
Hai bài tụng kế đó nhằm giải đáp
câu hỏi thứ hai, nói rơ bệnh trạng và lúc sanh bệnh.
Chuẩn theo ngũ hành để suy th́ đàm là Thủy,
phong thuộc Mộc, nhiệt là Hỏa. Thủy phát sanh vào
tháng Sáu, mất đi vào tháng Giêng. Mộc phát sanh vào tháng
Chín, mất đi vào tháng Năm. Hỏa bắt đầu
vào tháng Chạp, mất đi vào tháng Tám. V́ thế, sẽ
khiến cho người bệnh suy yếu bị chết.
Lúc bệnh bộc phát cũng vào khi
đó th́ có thể chữa trị. Phần này cũng nhằm
đồng thời giải đáp thắc mắc về bốn
mùa trong câu hỏi thứ năm.
4) Hai bài tụng kế đó trả lời
câu hỏi thứ ba.
5)
Bài tụng kế đó trả lời câu hỏi thứ
năm.
6)
Bốn bài tụng kế đó trả lời câu hỏi thứ
tư.
Hỏi:
V́ sao thứ tự giải đáp chẳng theo thứ tự
lời hỏi?
Đáp:
Do giải đáp câu hỏi thứ ba về cách dùng thức
ăn bồi dưỡng, nhân tiện bèn nói về lúc thời
tiết [chuyển biến mà bệnh] phát
động. Do vậy, thứ tự lời đáp khác biệt.
Trong
lời đáp về cách trị liệu, chia thành ba phần:
-
Bài tụng thứ nhất nhằm giới thiệu cách trị
liệu.
-
Hai bài tụng kế đó nói về cách trị liệu.
-
Bài tụng cuối cùng là kết lại.
(Kinh)
Phục ưng tri bát thuật, tổng nhiếp chư y
phương, ư thử nhược minh nhàn, khả liệu
chúng sanh bệnh. Vị châm thích, thương phá, thân tật, tịnh
quỷ thần, ác độc, cập
hài đồng, diên niên, tăng khí lực. Tiên quán bỉ
h́nh sắc, ngữ ngôn cập tánh hạnh. Nhiên
hậu vấn kỳ mộng, tri phong, nhiệt, ấm thù.
Càn sấu, thiểu đầu phát, kỳ tâm vô định
trụ. Đa ngữ mộng phi hành, tư nhân thị phong
tánh. Thiếu niên sanh bạch phát, đa hăn cập đa sân,
thông minh mộng kiến hỏa, tư nhân thị nhiệt
tánh. Tâm định, thân b́nh chỉnh. Lự thẩm đầu
tân nị, mộng kiến thủy, bạch vật, thị
ấm tánh ưng tri. Tổng tập tánh câu hữu, hoặc
nhị, hoặc cụ tam, tùy hữu nhất thiên tăng,
ưng tri thị kỳ tánh. Kư tri bổn tánh dĩ, chuẩn
bệnh nhi thọ dược. Nghiệm kỳ vô tử
tướng, phương danh khả cứu nhân. Chư
căn đảo thủ cảnh, tôn y nhân khởi mạn,
thân hữu sanh sân khuể, thị tử tướng
ưng tri: Tả nhăn bạch sắc biến, thiệt hắc,
tỵ lương y, nhĩ luân dữ cựu thù, hạ thần
sai hướng hạ. Ha Lê Lặc nhất chủng, cụ
túc hữu lực vị, năng trừ nhất thiết bệnh,
vô kỵ dược trung vương. Hựu tam quả, tam
tân, chư dược trung dị đắc. Sa
đường, mật, tô, nhũ, thử năng liệu
chúng bệnh. Tự
dư chư dược vật, tùy bệnh khả tăng
gia, tiên khởi từ mẫn tâm, mạc quy ư tài lợi.
(經)復應知八術,總攝諸醫方,於此若明閑,可療眾生病。謂針刺傷破,身疾并鬼神,惡毒及孩童,延年增氣力。先觀彼形色,語言及性行,然後問其夢,知風熱癊殊。乾瘦少頭髮,其心無定住。多語夢飛行,斯人是風性。少年生白髮,多汗及多瞋。聰明夢見火,斯人是熱性。心定身平整,慮審頭津膩。夢見水白物,是癊性應知。總集性俱有,或二或具三,隨有一偏增,應知是其性。既知本性已,準病而授藥,驗其無死相,方名可救人。諸根倒取境,尊醫人起慢,親友生瞋恚,是死相應知。左眼白色變,舌黑鼻梁欹,耳輪與舊殊,下脣差向下。訶梨勒一種,具足有六味,能除一切病,無忌藥中王。又三果三辛,諸藥中易得,沙糖蜜酥乳,此能療眾病。自餘諸藥物,隨病可增加。先起慈愍心,莫規於財利。
(Kinh: Lại
nên biết tám thuật, gồm chung các cách chữa. Nếu
hiểu rơ thuật ấy, sẽ trị bệnh chúng sanh. Tức:
Châm chích, bị thương, thân bệnh, quỷ thần
khuấy, trúng độc, bệnh trẻ nhỏ, tăng thọ,
thêm khí lực. Trước quán h́nh sắc họ, lời lẽ
và tánh t́nh, sau đó hỏi giấc mộng, biết phong,
nhiệt, ấm khác. Khô gầy, tóc lưa thưa, tâm chẳng
an định được. Nói nhiều, mộng bay
đi, người ấy là tánh phong. Tuổi trẻ tóc đă bạc, lắm
mồ hôi, hay giận, thông minh, mộng thấy lửa,
người ấy thuộc tánh nhiệt. Tâm định,
thân gọn gàng. Suy nghĩ,
đầu dầu nhờn, mộng thấy nước, vật
trắng, nên biết là tánh Thủy. Bệnh chung tánh đều
có, hoặc hai, hoặc đủ ba. Hễ một tánh riêng
tăng, nên biết là tánh đó. Đă biết bổn tánh
xong, đúng bệnh mà cho thuốc. Xét không có tướng chết,
mới biết có thể cứu. Các căn đảo lộn
cảnh, khinh mạn chê thầy thuốc, bực tức với
thân hữu, nên biết là tướng chết. Mắt trái
biến màu trắng, lưỡi đen, sống mũi lệch,
vành tai khác lúc trước, môi dưới quặp xuống
dưới. Một loại Ha Lê Lặc, có trọn đủ
sáu vị, trừ được hết thảy bệnh,
thuốc quư nhất không kỵ. Lại ba quả, ba cay, là vị
thuốc dễ được. Đường cát, mật,
tô, sữa, hay trị các thứ bệnh. Các thứ dược
vật khác, tùy bệnh mà tăng thêm, trước khởi
tâm từ mẫn, đừng ngả theo tài lợi).
Mười
ba bài tụng kế đó là liệu giản, chia thành
năm phần:
- Một,
hai bài tụng đầu dạy về bí thuật [trong cách
chữa trị], một bài tụng nêu ra [bí thuật ấy],
bài kia nhằm giải thích. “Bát thuật” gồm:
1) Một là cách chữa
trị thương tích do bị châm, chích.
2) Hai là cách chữa trị
bệnh tật do bị vết thương.
3) Ba
là cách chữa trị thân mắc bệnh, tức là bốn
loại bệnh đă nói trước đó.
4) Bốn
là bệnh do quỷ thần gây ra.
5)
Năm là trúng thuốc độc
6) Sáu
là chữa bệnh cho trẻ nhỏ.
7) Bảy
là kéo dài tuổi thọ.
8) Tám
là dưỡng thân.
-
Hai, năm bài tụng rưỡi kế đó dạy cách nhận
biết bệnh thể. Trong đó, bài tụng thứ nhất
nhằm nêu chung, bốn bài tụng kế đó biện
định cái Thể
[của từng chứng bệnh], nửa bài tụng
nhằm kết lại cách thức [biện
định bệnh].
-
Ba, hai bài tụng
rưỡi kế đó từ “nghiệm kỳ
vô tử tướng” (xét nghiệm người ấy
không có tướng chết) trở đi, dạy cách xem xét tử tướng.
- Bốn,
từ “Ha Lê” trở đi, dạy về diệu
dược. Ở đây là nói tổng quát, chẳng nói cách
trị riêng biệt. Bài tụng thứ nhất nói về
thuốc có tính công kích (để chữa bệnh), bài tụng
kế đó nói về thuốc bổ trợ. Quyển bốn
kinh Niết Bàn chép: “Lục vị: Nhất khổ, nhị
thố, tam cam, tứ tân, ngũ hàm, lục đạm” (Sáu vị:
Một là đắng, hai là chua, ba là ngọt, bốn là cay,
năm là mặn, sáu là nhạt). Ở Tây quốc (Ấn Độ),
loại thuốc tốt nhất, phải nên là thuốc Tỳ Niết Phược (Viśva) như kinh Giải Thâm Mật đă nói. “Tam
quả” (ba loại trái) th́ một là Ha Lê Lặc Ca (Harītaka)[10], hai là A Ma Lạc Ca (Āmalaka), c̣n gọi là A Vô La Ca, tức dịch theo lối cũ
thành Am Ma La quả là sai, ba là Tỷ Tỷ Đắc Ca, giống
như trái A Vô La, nhưng hơi to hơn. “Tam tân” (ba
thứ cay) th́ một là gừng khô, hai là hồ
tiêu, ba là tất bát, và đường cát v.v… là mười
thứ có tác dụng dễ trị liệu bổ sung.
-
Năm, một bài tụng nhằm đưa nêu ra thể lệ
[cân nhắc để tăng giảm các dược vật]
và khuyên răn.
(Kinh)
Ngă dĩ vị nhữ thuyết, liệu tật trung yếu
sự, dĩ thử cứu chúng sanh, đương hoạch
vô biên quả.
(經)我已為汝說,療疾中要事。以此救眾生,當獲無邊果。
(Kinh:
Ta đă v́ con nói, chuyện trọng yếu chữa bệnh,
dùng đó cứu chúng sanh, sẽ đạt vô biên quả).
Ư thứ
ba [trong phần “cha giải thích các chữa bệnh”] là tổng
kết.
5.24.4.2.7. Lưu Thủy
tự suy nghĩ đă học thành tài
(Kinh)
Thiện nữ thiên! Nhĩ thời, trưởng giả tử
Lưu Thủy thân vấn kỳ phụ bát thuật chi yếu,
Tứ
Đại
tăng tổn, thời tiết bất đồng, nhị
dược phương pháp, kư thiện liễu tri, tự
thổn kham năng cứu liệu chúng bệnh.
(經)善女天!爾時長者子流水親問其父八術之要,四大增損時節不同餌藥方法,既善了知,自忖堪能救療眾病。
(Kinh:
Thiện nữ thiên! Lúc bấy giờ, con ông trưởng
giả là Lưu Thủy đích thân hỏi cha lẽ trọng
yếu trong tám thuật, Tứ Đại
tăng lên hay tổn giảm, thời tiết khác nhau,
phương pháp dùng thuốc men, đă hiểu rành rẽ rồi,
tự nghĩ ḿnh có thể cứu chữa các bệnh).
Điều
thứ bảy là suy nghĩ đă học thành tài.
5.24.4.2.8. Lưu Thủy
bảo chúng sanh ḿnh có thể chữa trị
(Kinh)
Tức tiện biến chí thành, ấp, tụ lạc, sở
tại chi xứ, tùy hữu bách thiên vạn ức bệnh
khổ chúng sanh, giai chí kỳ sở, thiện ngôn úy dụ,
tác như thị ngữ: - Ngă thị y nhân, ngă thị y nhân,
thiện trị phương dược. Kim vị nhữ
đẳng liệu trị chúng bệnh, tất linh trừ
dũ.
(經)即便遍至城邑聚落,所在之處隨有百千萬億病苦眾生,皆至其所善言慰喻作如是語:我是醫人,我是醫人,善治方藥。今為汝等療治眾病,悉令除愈。
(Kinh:
Liền đến khắp các thành, ấp, xóm làng, hễ
nơi nào có trăm ngàn vạn ức chúng sanh bệnh khổ,
sẽ đều tới chỗ họ, dùng lời lẽ tốt
lành để an ủi, khuyên dụ, nói như thế này: -
Ta là thầy thuốc, ta là thầy thuốc, khéo thông hiểu
phương cách chữa trị và thuốc men, nay ta sẽ
v́ các vị chữa trị các bệnh khiến cho đều
lành mạnh).
Điều
thứ tám là bảo khắp “sẽ có thể trị liệu”.
5.24.4.2.9. Chúng sanh nghe lời,
được chữa lành
(Kinh)
Thiện nữ thiên! Nhĩ thời, chúng nhân văn trưởng
giả tử thiện ngôn úy dụ, hứa vị trị bệnh.
Thời hữu vô lượng bách thiên chúng sanh ngộ cực
trọng bệnh, văn thị ngữ dĩ, thân tâm
dũng dược, đắc vị tằng hữu,
dĩ thử nhân duyên, sở hữu bệnh khổ tất
đắc quyên trừ, khí lực sung thật, b́nh phục
như bổn.
(經)善女天!爾時眾人聞長者子善言慰喻,許為治病。時有無量百千眾生遇極重病,聞是語已身心踊躍得未曾有,以此因緣,所有病苦悉得蠲除,氣力充實平復如本。
(Kinh:
Thiện nữ thiên! Lúc bấy giờ, mọi người
nghe con ông trưởng giả khéo léo an ủi, khuyên dụ,
hứa sẽ chữa bệnh. Khi đó, có vô lượng
trăm ngàn chúng sanh mắc bệnh cực nặng, nghe lời
ấy xong, thân tâm hớn hở, đạt được
điều chưa từng có, do nhân duyên ấy, tất cả
bệnh khổ đều được trừ sạch,
khí lực sung măn, b́nh phục như cũ).
Kế
đó, điều thứ chín là đại chúng nghe lời,
được chữa lành bệnh.
5.24.4.2.10. Người
mắc bệnh nặng cầu thỉnh
(Kinh)
Thiện nữ thiên! Nhĩ thời, phục hữu vô
lượng bách thiên chúng sanh, bệnh khổ thâm trọng,
nan liệu trị giả, tức cộng văng nghệ
trưởng giả tử sở, trùng thỉnh y liệu.
(經)善女天!爾時復有無量百千眾生,病苦深重難療治者,即共往詣長者子所,重請醫療。
(Kinh:
Thiện nữ thiên! Lúc bấy giờ, lại có vô lượng
trăm ngàn chúng sanh bệnh khổ sâu nặng, khó thể chữa
trị, liền cùng đến chỗ con ông trưởng
giả, lại xin được chữa trị).
Kế
đó, điều thứ mười là người bệnh
nặng cầu thỉnh.
5.24.4.2.11. Được
cho thuốc, lành bệnh
(Kinh)
Thời trưởng giả tử tức dĩ diệu
dược linh phục, giai mông trừ sai.
(經)時長者子即以妙藥令服,皆蒙除差。
(Kinh:
Khi đó, con ông trưởng giả liền dùng diệu
dược cho họ uống, đều được hết
bệnh).
Kế
đó, điều thứ mười một là “nhờ thuốc,
đều được hết bệnh”.
5.24.4.2.12. Tổng kết
về chuyện lành bệnh
(Kinh)
Thiện nữ thiên! Thị trưởng giả tử
ư thử quốc nội, trị bách thiên vạn ức
chúng sanh bệnh khổ, tất đắc trừ sai.
(經)善女天!是長者子於此國內治百千萬億眾生病苦,悉得除差。
(Kinh:
Thiện nữ thiên! Con ông trưởng giả ấy ở
trong nước đó, chữa trị trăm ngàn vạn ức
chúng sanh bệnh khổ, đều được hết
bệnh).
Kế
đó, điều thứ mười hai là tổng kết
t́nh h́nh lành bệnh.
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Phần 14 hết
[1] Hai vị này là bộ thuộc của
Đa Văn thiên vương, là hai vị trong tám vị
Dược Xoa đại tướng thống lănh hai
mươi tám bộ Dược Xoa.
[2] Khoáng Dă, c̣n phiên âm là Ba Trá Bạc
Câu, A Trá Bà Câu, Át Trá Bạc Câu, Át Trá Bạc, có nghĩa là
đồng hoang, nơi hoang vu. Ở đây tên một loại
quỷ thường sống nơi hoang dă. Kinh Khởi Thế
nói Đa Văn thiên vương có năm Dược Xoa
thường theo sát bên cạnh làm thị giả là Ngũ
Trượng, Khoáng Dă, Kim Sơn, Trường Thân và Châm Mao.
[3] Kim Tỳ La c̣n được phiên
âm là Cấm Tỳ La, Câu Tỳ La, Câu Phệ Rô, Quân Tỳ
La, Cung Tỳ La, dịch nghĩa là Giao Long, Long Vương,
Ngạc Ngư, vốn là thần thủ hộ thành
Vương Xá. Vị này chính là một trong mười hai vị
Dược Xoa đại tướng thường theo hầu
Phật Dược Sư, phát nguyện thủ hộ Phật
pháp. Theo kinh Kim Tỳ La Đồng Tử Oai Đức, vị
này thân cao ngàn thước, ngàn đầu, ngàn tay, hàng phục
ma vương, cứu chúng sanh thoát khỏi tam đồ,
thường dùng quả Ha Lê Lặc cứu chữa bệnh
khổ cho chúng sanh.
[4] Tân Độ La có thể hiểu
theo hai nghĩa:
- Một vị thiên tử hầu cận
của Nhật thiên tử (thần mặt trời). Khi Nhật
thiên tử du hành thường ngồi trên cỗ xe do bảy
ngựa kéo, có hai thị giả: Bên phải là Đàn Trĩ
(Daṇḍī) cầm
lọ mực và bút, bên trái là Tân Độ La cầm gậy.
- Một vị Dược Xoa
vương là hộ vệ của thần Thấp Bà (Śiva).
[5] Vị này chính là thủ lănh của
các Càn Thát Bà, c̣n dịch là Họa Quân.
[6] Đại Hắc: Vị này là quyến
thuộc của Đại Tự Tại Thiên. Kinh Đại
Nhật nói vị này có tên khác là Lỗ Nại La (Rudra), là
hóa thân của Ma Hê Thủ La Thiên (Đại Tự Tại
Thiên). Đông Mật cho rằng đây là thân phẫn nộ
Dược Xoa do Đại Nhật Như Lai biến hóa
để hàng phục ma oán, thân đen đúa, h́nh dáng hung bạo,
mập phệ, chân tay vạm vỡ, nhe răng, tóc dựng
đứng, bốc lửa. Hoặc Ngài được tạc tượng
với h́nh dạng một mặt, tám tay, hoặc ba mặt sáu tay (truyền
thống Tây Tạng thường vẽ hay tạc h́nh vị
này có một mặt sáu tay), cổ đeo chuỗi anh lạc
làm bằng đầu lâu người. Vị này đặc
biệt được sùng bái trong Tạng truyền Phật
giáo, và được coi là vị hộ pháp chánh yếu, cao nhất trong các vị
hộ pháp. Tại Nhật Bản, vị này được
coi là phước thần bảo hộ thương nghiệp,
đem lại thịnh vượng, và thậm chí thần
bảo hộ của giới đầu bếp, nông dân và
ngân hàng. Trái với tạo h́nh phẫn nộ tại Ấn
Độ, Trung Hoa, Tây Tạng, Đại Hắc Thiên tại
Nhật Bản mang vẻ mặt tươi cười,
như một ông già, mập lùn, một tay cầm chùy vàng,
tay kia cầm túi đựng vật báu, đứng trên hai
bao gạo lớn.
[7] Phần Chánh Tông của kinh Pháp Hoa được
chia thành ba phần, mỗi phần gọi là một Châu, tức:
- Pháp thuyết châu: Nêu ra chân lư trực tiếp, chỉ
có bậc thượng trí lợi căn mới lănh ngộ
được.
- Thí dụ châu: Thuận theo căn
tánh mà nói các thí dụ để tiếp dẫn chúng sanh
trung căn, như thí dụ về nhà lửa, thí dụ
đứa con bỏ cha trốn đi v.v…
- Nhân duyên châu: Dùng nhân duyên và các câu
chuyện cũ để tiếp độ hạ căn,
như phẩm Hóa Thành, Ngũ Bách Đệ Tử Thọ
Kư v.v…
[8] Đoạn này
trích từ kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội (khác với
kinh Thủ Lăng Nghiêm), quyển hạ. Bộ kinh này do ngài
Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán. C̣n kinh Thủ Lăng
Nghiêm thường được nói đến có tên đầy
đủ là Đại Phật Đảnh Như Lai Mật
Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh
Thủ Lăng Nghiêm Kinh (mười quyển) do ngài Bát Lạt
Mật Đế dịch sang tiếng Hán.
[9] Chữ Ấm (癊) theo từ điển Khang Hy là tâm
bệnh, nhưng do ở đây đang nói về Tứ
Đại, chúng tôi đoán là nói về Thủy, v́ Đàm Ấm
là chứng có nhiều đàm răi. Hơn nữa, ngài Huệ
Chiểu cũng nói Đàm thuộc Thủy.
[10] Trái Ha Lê Lặc
Ca (Ha Lê Lặc, Ha tử) có tên khoa học là Terminalia Chebula,
thường gọi là Chebulic Myrobalan. Tiếng Việt gọi
là trái Chiêu Liêu, thuộc họ Trâm bầu. Do tác dụng
dược liệu nổi tiếng, trong truyền thống
Mật Giáo Tây Tạng, Phật Dược Sư thường
được vẽ hay tạc tay cầm nhánh cây này, và
trong b́nh bát Ngài ôm trên tay đặt một quả của
cây này.