Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ chín
Đời Đường, Tam Tạng pháp sư
Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ
金光明最勝王經疏
卷第九
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Phần 15
5.25. Phẩm thứ
hai mươi lăm: Trưởng giả tử Lưu Thủy
(Trưởng giả tử Lưu Thủy phẩm đệ
nhị thập ngũ, 長者子流水品第二十五)
Phẩm
thứ hai mươi lăm là Trưởng Giả Tử
Lưu Thủy, bao gồm ba môn phân biệt.
5.25.1. Ư nghĩa v́
sao có phẩm này?
Nói đến ư
nghĩa v́ sao có phẩm này, [trong phẩm Thọ Kư, đối
với nhân duyên] mười ngàn thiên tử được
thọ kư, thiên nữ sanh nghi, cuối phẩm Thọ Kư
trong phần trước tuy đă trần thuật đại
lược, nhưng chưa thể giải thích rơ rệt.
V́ thế, hai phẩm Trừ Bệnh và Lưu Thủy nhằm
biện định cặn kẽ hơn, khiến cho đại
chúng biết rơ. Phẩm trước (Trừ Bệnh) nói rộng
duyên khởi ấy, c̣n phẩm này trực tiếp nói về
cái nhân thọ kư; do vậy, có phẩm này. V́ thế, trong phần
sau, kinh văn chép: “Nhân ngă văng tích dĩ thủy tế
ngư, dữ thực linh băo, vị thuyết thậm thâm
thập nhị duyên khởi, tịnh thử tương ứng
Đà La Ni chú, hựu vị xưng Bảo Kế Phật
danh, nhân thử thiện căn, đắc sanh thiên thượng.
Kim lai ngă sở, hoan hỷ thính pháp, ngă giai đương dữ
thọ Bồ Đề kư” (Do ta khi xưa dùng nước
cứu cá, cho ăn no nê, v́ chúng nó nói mười hai duyên khởi
rất sâu, và chú Đà La Ni tương ứng này, lại
c̣n v́ chúng nó xưng danh hiệu Bảo Kế Phật. Do thiện
căn ấy, chúng nó được sanh lên trời. Nay
đến chỗ ta, hoan hỷ nghe pháp, ta đều sẽ
thọ kư Bồ Đề cho họ).
5.25.2. Giải thích
danh xưng của phẩm này
“Trưởng
giả tử” (con ông trưởng giả) là nêu ra cha
để nói về con, biểu thị chủng tánh tôn quư.
Lưu Thủy: Dùng hạnh để nêu tên. Nêu rơ hạnh ấy
thù thắng. Lại nữa, bản thân ông ta cũng là
trưởng giả; v́ để phân biệt với cha mà
lại gọi thêm là Tử. Do có đức nuôi nấng
người khác, kéo dài mạng sống của cá, nên hiệu
là Trưởng Giả. Lưu Thủy có hai nghĩa: Một
là có thể khiến cho nước chảy, hai là có thể
ban cho nước. Từ hạnh mà đặt tên, ở
đây là cùng nêu bày đức và hạnh. Phẩm này nói cặn
kẽ chuyện ấy; do vậy, đặt tên như thế.
5.25.3. Giải thích vấn
nạn
Hỏi:
V́ sao chẳng gọi là phẩm Cứu Ngư?
Đáp: Lưu Thủy
có ư nghĩa rộng răi, v́ cứu cá mà cũng dính dáng đến
các loài khác. Do vậy, chẳng chỉ gọi tên [phẩm
này] là phẩm Cứu Ngư!
5.25.4. Giải thích kinh
văn
5.25.4.1. Tán thán tổng
kết khả năng y thuật của trưởng giả
tử
(Kinh)
Nhĩ thời, Phật cáo Bồ Đề thụ thần:
- Thiện Nữ Thiên! Nhĩ thời, trưởng giả
tử Lưu Thủy, ư văng tích thời, tại Thiên Tự
Tại Quang vương quốc nội, liệu chư chúng
sanh sở hữu bệnh khổ, linh đắc b́nh phục,
thọ an ổn lạc. Thời, chư chúng sanh dĩ bệnh
trừ cố, đa tu phước nghiệp, quảng hành
huệ thí, dĩ tự hoan ngu, tức cộng văng nghệ
trưởng giả tử sở, hàm sanh tôn kính, tác như
thị ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Đại trưởng
giả tử! Thiện năng tư trưởng phước
đức chi sự, tăng ích ngă đẳng an ổn thọ
mạng. Nhân kim thật thị đại lực y
vương, từ bi Bồ Tát diệu nhàn y dược,
thiện liệu chúng sanh vô lượng bệnh khổ”.
Như thị xưng thán châu biến thành ấp.
(經)爾時佛告菩提樹神:善女天!爾時長者子流水,於往昔時在天自在光王國內療諸眾生所有病苦,令得平復受安隱樂。時諸眾生以病除故多修福業,廣行惠施以自歡娛。即共往詣長者子所,咸生尊敬,作如是言:善哉善哉!大長者子!善能滋長福德之事,增益我等安隱壽命。仁今實是大力醫王,慈悲菩薩妙閑醫藥,善療眾生無量病苦。如是稱歎周遍城邑。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo thần cây Bồ
Đề: - Thiện Nữ Thiên! Lúc bấy giờ,
trưởng giả tử Lưu Thủy trong thời
xưa kia, ở trong nước của vua Thiên Tự Tại
Quang, chữa trị tất cả bệnh khổ của
các chúng sanh, khiến cho họ được b́nh phục,
hưởng niềm vui an ổn. Khi đó, các chúng sanh do bệnh
đă trừ, tu nhiều phước nghiệp, rộng
hành bố thí rộng răi để tự vui sướng,
liền cùng nhau đến chỗ trưởng giả tử,
đều sanh ḷng tôn kính, nói như thế này: “Lành thay! Lành
thay! Đại trưởng giả tử khéo có thể vun
bồi sự phước đức, tăng thêm an ổn
và thọ mạng cho chúng tôi. Nhân giả thật sự là bậc
y vương đại lực, là bậc Bồ Tát từ
bi khéo thông hiểu y dược, khéo chữa trị vô
lượng bệnh khổ cho chúng sanh”. Ca ngợi như
thế trọn khắp các thành ấp).
Kinh văn của phẩm
này được chia thành bốn phần:
- Một, tán thán để
kết lại khả năng y thuật [của trưởng
giả tử Lưu Thủy].
- Hai, từ “Thiện
Nữ Thiên” trở đi nói về hạnh cứu cá.
- Ba, từ “nhĩ thời,
Phật cáo” (lúc bấy giờ, đức Phật bảo)
trở đi, dung hội xưa nay để kết lại.
- Bốn, từ “nhĩ
thời, đại chúng” (lúc bấy giờ, đại
chúng) trở đi, lănh ngộ, nương theo [pháp đă
nói] mà học.
Phần thứ nhất
lại gồm có bốn ư:
- Một, kết lại
ư: Các bệnh đều trừ.
- Hai, từ “thời
chư chúng sanh” (khi đó,
các chúng sanh) trở đi, nói rơ: Đại chúng tăng thêm
phước nghiệp.
- Ba, từ “tức cộng
văng nghệ” (liền cùng nhau đi tới), đại
chúng đến lễ bái, tán thán [trưởng giả tử
Lưu Thủy].
- Bốn, từ “như
thị xưng thán” (ca ngợi như thế) trở
đi, tổng kết danh tiếng [của Lưu Thủy].
5.25.4.2. Nói về hạnh
cứu cá
5.25.4.2.1. Quyến thuộc
của Bồ Tát
(Kinh)
Thiện Nữ Thiên! Thời trưởng giả tử thê
danh Thủy Kiên Tạng, hữu kỳ nhị tử, nhất
danh Thủy Măn, nhị danh Thủy Tạng.
(經)善女天!時長者子妻名水肩藏,有其二子,一名水滿、二名水藏。
(Kinh:
Thiện Nữ Thiên! Khi đó, vợ của trưởng
giả tử tên là Thủy Kiên Tạng, có hai con, một tên
là Thủy Măn, hai tên là Thủy Tạng).
Kế
đó, nói về hạnh cứu cá. Kinh văn cũng chia thành
bốn phần:
- Một,
[chỉ ra] quyến
thuộc của Bồ Tát.
-
Hai, từ “thị thời, Lưu Thủy” (khi đó,
Lưu Thủy) nói về chuyện cứu cá.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn) trở đi, chư thiên nghe xong đều
tán thán.
- Bốn,
từ “Phật cáo Thiện Nữ Thiên” (đức Phật
bảo Thiện Nữ Thiên) trở đi, nói về chuyện
cá báo ân.
Đoạn
này chính là phần thứ nhất.
5.25.4.2.2. Cứu cá
5.25.4.2.2.1. Bi tâm cứu
khổ
5.25.4.2.2.1.1. Cứu nỗi
khổ v́ nước khô cạn
(Kinh) Thị thời, Lưu Thủy
tương kỳ nhị tử, tiệm thứ du hành
thành, ấp, tụ lạc, quá không trạch trung, thâm hiểm
chi xứ, kiến chư cầm thú, sài lang, hồ, quắc,
điêu thứu chi thuộc, thực huyết nhục giả,
giai tất bôn phi, nhất hướng
nhi khứ. Thời trưởng giả tử tác như thị
niệm: “Thử chư cầm thú hà nhân duyên cố, nhất
hướng phi khởi? Ngă đương tùy hậu, tạm
văng quán chi”. Tức tiện tùy khứ, kiến hữu đại
tŕ, danh viết Dă Sanh. Kỳ thủy tương tận.
Ư thử tŕ trung, đa hữu chúng ngư. Lưu Thủy
kiến dĩ, sanh đại bi tâm. Thời hữu thụ
thần, thị hiện bán thân, tác như thị ngữ:
“Thiện tai! Thiện tai! Thiện nam tử! Nhữ hữu
thật nghĩa danh Lưu Thủy giả, khả mẫn
thử ngư, ưng dữ kỳ thủy. Hữu nhị
nhân duyên, danh vi Lưu Thủy: Nhất, năng lưu thủy; nhị, năng dữ thủy. Nhữ kim ưng
đương tùy danh nhi tác”. Thị thời, Lưu Thủy
vấn thụ thần ngôn: “Thử ngư đầu số
vi hữu kỷ hà?” Thụ
thần đáp viết: “Số măn thập thiên”. Thiện Nữ
Thiên! Thời trưởng giả tử văn thị số
dĩ, bội ích bi tâm. Thời thử đại tŕ vị
nhật sở bạo, dư thủy vô kỷ. Thị thập
thiên ngư tương nhập tử môn, toàn thân uyển
chuyển, kiến thị trưởng giả, dĩ hữu
sở hy, tùy trục chiêm thị, mục vị tằng xả.
Thời trưởng giả tử kiến thị sự
dĩ, tŕ thú tứ phương, dục mịch ư thủy,
cánh bất năng đắc. Phục vọng nhất biên,
kiến hữu đại thụ, tức tiện thăng
thượng, chiết thủ chi diệp vị
tác ấm lương. Phục cánh thôi cầu thị tŕ
trung thủy tùng hà xứ lai. Tầm mịch bất dĩ,
kiến nhất đại hà, danh viết Thủy Sanh. Thời
thử hà biên hữu chư ngư nhân, vị thủ ngư
cố, ư hà thượng lưu, huyền hiểm chi xứ,
quyết khí kỳ thủy, bất linh hạ quá. Ư sở
quyết xứ, tốt nan tu bổ, tiện tác thị niệm:
“Thử nhai thâm tuấn, thiết bách thiên nhân, thời kinh
tam nguyệt, diệc vị năng đoạn, huống
ngă nhất nhân nhi kham tế biện”. Thời trưởng
giả tử tốc hoàn bổn thành, chí đại
vương sở, đầu diện lễ túc, khước
trụ nhất diện, hiệp chưởng cung kính, tác
như thị ngôn: “Ngă vị đại vương quốc
độ nhân dân, trị chủng chủng bệnh, tất
linh an ổn. Tiệm thứ du hành, chí kỳ không trạch,
kiến hữu nhất tŕ, danh viết Dă Sanh. Kỳ thủy
dục hạt, hữu thập thiên ngư, vị nhật sở
bạo, tương tử bất cửu. Duy nguyện
đại vương từ bi mẫn niệm, dữ nhị
thập đại tượng, tạm văng phụ thủy,
tế bỉ ngư mạng, như ngă dữ chư bệnh
nhân thọ mạng”. Nhĩ thời, đại vương
tức sắc đại thần tốc tật dữ thử
y vương đại tượng. Thời bỉ đại
thần, phụng vương sắc dĩ, bạch trưởng
giả tử: “Thiện tai đại sĩ! Nhân kim tự
khả chí tượng cứu trung, tùy ư tuyển thủ nhị
thập đại tượng, lợi ích chúng sanh, linh
đắc an lạc”. Thị thời, Lưu Thủy cập
kỳ nhị tử tương nhị thập đại
tượng, hựu tùng tửu gia, đa tá b́ nang, văng quyết
thủy xứ, dĩ nang thịnh thủy, tượng phụ
chí tŕ, tả trí tŕ trung. Thủy tức di măn, hoàn phục
như cố.
(經)是時流水將其二子漸次遊行城邑聚落,過空澤中深險之處,見諸禽獸犲狼狐玃鵰鷲之屬食血肉者,皆悉奔飛一向而去。時長者子作如是念:此諸禽獸何因緣故一向飛起?我當隨後暫往觀之。即便隨去,見有大池名曰野生,其水將盡。於此池中多有眾魚,流水見已生大悲心。時有樹神示現半身作如是語:善哉善哉!善男子!汝有實義名流水者,可愍此魚,應與其水。有二因緣名為流水:一能流水、二能與水。汝今應當隨名而作。是時流水問樹神言:此魚頭數為有幾何?樹神答曰:數滿十千。善女天!時長者子聞是數已,倍益悲心。時此大池為日所暴,餘水無幾。是十千魚將入死門,旋身宛轉,見是長者以有所希,隨逐瞻視目未曾捨。時長者子見是事已,馳趣四方欲覓於水,竟不能得。復望一邊見有大樹,即便昇上折取枝葉為作蔭涼。復更推求是池中水從何處來。尋覓不已,見一大河名曰水生。時此河邊有諸漁人,為取魚故於河上流懸險之處決棄其水,不令下過。於所決處卒難修補,便作是念:此崖深峻,設百千人時經三月亦未能斷,況我一人而堪濟辨。時長者子速還本城,至大王所,頭面禮足却住一面,合掌恭敬作如是言:我為大王國土人民治種種病悉令安隱。漸次遊行至其空澤,見有一池名曰野生,其水欲涸,有十千魚為日所暴,將死不久。唯願大王慈悲愍念,與二十大象暫往負水濟彼魚命,如我與諸病人壽命。爾時大王即勅大臣速疾與此醫王大象。時彼大臣奉王勅已,白長者子:善哉大士?仁今自可至象厩中隨意選取二十大象,利益眾生令得安樂。是時流水及其二子將二十大象,又從酒家多借皮囊,往決水處以囊盛水,象負至池瀉置池中,水即彌滿還復如故。
(Kinh:
Khi đó, Lưu Thủy dẫn hai con lần lượt du
hành thành, ấp, xóm làng, qua nơi chằm[1]
trống là chỗ sâu hiểm, thấy các loài cầm thú,
sói, cáo, khỉ đột, chim ưng, kên kên, là các loài ăn
máu thịt, thảy đều rảo chạy, hoặc bay theo một
hướng. Khi đó, trưởng giả tử nghĩ
như thế này: “Các cầm thú này do nhân duyên nào mà bay, chạy
theo cùng một hướng? Ta hăy nên theo sau để tạm
đến xem sao”. Liền đi theo chúng, thấy có một
cái ao lớn, tên là Dă Sanh, nước ao sắp cạn. Ở
trong cái ao ấy, có khá nhiều cá. Lưu Thủy thấy rồi,
sanh tâm đại bi. Khi đó, có
thần cây thị hiện nửa
người, nói như thế này: “Lành thay! Lành thay! Thiện
nam tử! Ông có tên mang ư nghĩa chân thật là Lưu Thủy,
đáng nên thương xót những con cá này, hăy nên cho chúng nó
nước. Có hai nhân duyên mà tên là Lưu Thủy: Một, có
thể khiến cho nước chảy, hai là có thể ban cho
nước. Ông nay hăy nên thuận theo tên mà làm”. Khi đó,
Lưu Thủy hỏi thần cây rằng: “Số lượng
cá này là bao nhiêu?” Thần cây đáp rằng: “Số tṛn
mười ngàn”. Thiện Nữ Thiên! Khi đó, trưởng
giả nghe con số ấy xong, bi tâm càng tăng gấp bội.
Khi đó, cái ao lớn ấy bị mặt trời nung,
nước chẳng c̣n sót lại được mấy!
Mười ngàn con cá ấy sắp lâm vào chỗ chết, xoay ḿnh
quằn quại, thấy vị trưởng giả ấy
cho là có hy vọng, dơi mắt nh́n theo, mắt chưa từng
lơi. Khi đó, trưởng giả tử thấy chuyện
ấy rồi, lục t́m bốn phương, muốn t́m kiếm
nước, trọn chẳng thể được. Lại
nh́n ra xa, thấy một bên ao có cây to, liền trèo lên đó,
bẻ lấy cành lá để che mát. Lại c̣n truy t́m
nước trong ao ấy từ đâu chảy đến.
Dơi t́m chẳng ngơi, thấy một con sông lớn, tên là
Thủy Sanh. Khi đó, bên sông ấy có các ngư dân, v́ muốn
bắt cá, ở trên thượng nguồn của sông, ở
chỗ hiểm trở, đào bới cho nước [chảy
sang chỗ khác], chẳng để cho chảy xuống hạ
lưu. Ở chỗ họ đào phá, rốt cuộc khó thể
tu bổ, [Lưu Thủy] liền nghĩ thế này: “Vách
núi này cao hiểm, dẫu trăm ngàn người suốt cả
ba tháng cũng chưa thể sửa chữa xong, huống hồ
một ḿnh ta mà có thể làm nổi ư!” Khi đó, trưởng
giả tử mau chóng trở về thành của ḿnh, tới
chỗ đại vương, đầu mặt lễ
dưới chân vua, đứng qua một bên, chắp tay,
cung kính, tâu như thế này: “Thần v́ nhân dân trong cơi
nước của đại vương trị các thứ
bệnh, khiến họ đều an ổn. Thần lần
lượt du hành, đến chỗ chằm vắng, thấy
có một cái ao, tên là Dă Sanh. Nước ao sắp khô cạn,
có mười ngàn con cá bị mặt trời hun, chẳng
bao lâu sẽ chết hết. Kính mong đại vương
từ bi nghĩ tưởng thương xót, ban cho thần hai
mươi con voi lớn để tạm đi chở
nước cứu mạng lũ
cá ấy, như thần đă ban thọ
mạng cho các bệnh nhân”. Lúc bấy giờ, đại
vương liền sắc truyền đại thần
nhanh chóng trao voi lớn cho vị y vương này. Khi đó,
vị đại thần ấy vâng theo sắc chỉ của
nhà vua, thưa với trưởng giả tử: “Lành thay
đại sĩ! Nhân giả nay
có thể tự tới chỗ chuồng
voi, tùy ư chọn lựa hai mươi con voi lớn để
lợi ích chúng sanh, khiến cho họ được an
vui”. Lúc ấy, Lưu Thủy và hai con dẫn hai mươi
con voi lớn, lại mượn từ tiệm rượu
nhiều túi da, đến chỗ bị đào bới, dùng
túi đựng nước, voi chở tới ao, đổ
nước vào trong ao. Nước liền tràn đầy,
trở lại như cũ).
Kế
đó, nói về chuyện cứu cá, có tám đoạn:
- Một,
cha và con đi khắp nơi.
-
Hai, từ “kiến chư cầm thú” (thấy các cầm
thú) trở đi, nói về chuyện thấy tướng lạ.
-
Ba, từ “thời trưởng giả tử” (khi
đó, trưởng giả tử) trở đi, Bồ Tát
suy nghĩ.
- Bốn,
từ “tức tiện tùy khứ” (liền đi theo) trở
đi, nghĩ xong, bèn đi xem.
-
Năm, từ “kiến hữu đại tŕ” (thấy
có cái ao lớn) trở đi, liền thấy cá sắp chết
khô.
-
Sáu, từ “Lưu Thủy kiến dĩ” (Lưu Thủy
thấy rồi) trở đi, liền khởi bi tâm.
- Bảy,
từ “thời hữu thụ thần” (khi đó, có thần
cây) trở đi, thần cây khuyên cứu mạng. Trong ấy,
có ba tiểu đoạn:
a) Một
là [thần cây] hiện thân, v́ là nạn gấp.
b)
Hai, từ “tác như thị ngữ” (nói như thế
này) trở đi là [thần cây] tán thán ḥng dẫn dụ, mong mỏi [Lưu
Thủy] sẽ phát tâm [cứu cá].
c)
Ba, từ “thiện nam tử! Nhữ hữu thật
nghĩa” (thiện nam tử! Ông có ư nghĩa chân thật)
trở đi, [thần cây khuyên Lưu Thủy hăy hành xử]
phù hợp với ư nghĩa của tên gọi. Trong tiểu
đoạn này, lại có ba ư: Thứ nhất là nêu ra lời
khuyên. Kế đó từ “hữu
nhị nhân duyên” (có hai nhân duyên) trở đi, giải
thích v́ sao khuyên bảo. Từ
“nhữ kim ưng đương” (ông nay hăy nên) trở
đi là kết lại lời khuyên.
-
Tám, từ “thị thời Lưu Thủy” (khi đó,
Lưu Thủy) trở đi, nương theo lời thỉnh
mà cứu giúp. Trong ấy, lại có sáu ư:
a) Một,
[Lưu Thủy] hỏi số lượng [cá trong ao] là bao
nhiêu.
b)
Hai, từ “thụ thần đáp viết” (thụ thần
đáp rằng) trở đi, đáp có mười ngàn.
c)
Ba, từ “Thiện Nữ Thiên” trở đi, [trưởng
giả tử] càng tăng thêm ḷng từ bi.
d) Bốn,
từ “thời thử đại tŕ” (khi đó, cái ao
to ấy) trở đi, nói về lũ cá đang chịu khổ.
e)
Năm, từ “kiến thị trưởng giả”
(thấy vị trưởng giả ấy), các con cá mong
được cứu.
f)
Sáu, từ “thời trưởng giả tử” (khi
đó trưởng giả tử) trở đi, từ bi ra
sức cứu giúp. Trong ấy, lại có hai điều: Một
là bi tâm cứu khổ, hai là từ “phục cánh tư duy”
(lại tư duy) trở đi, từ tâm ban vui. Do vậy,
kinh nói: “Diễn thuyết chánh pháp lạc, năng vi hậu
thế thọ lạc nhân cố” (diễn nói niềm vui
chánh pháp, sẽ có thể là cái nhân để được
hưởng vui trong đời sau).
Điều
thứ nhất là “cứu khổ” gồm có hai đoạn:
Một là “cho nước”, hai là từ “Thiện Nữ
Thiên! Thời trưởng giả” (Thiện Nữ Thiên!
Khi đó, trưởng giả) trở đi, là thí thực.
“Cho
nước” gồm mười một ư:
*
Thoạt đầu là t́m cầu khắp nơi, nhưng chẳng
có nước.
*
Hai, từ “phục vọng nhất biên” (lại dơi
nh́n thấy một bên) trở đi, [bẻ cành lá] che
mát [ao cá].
*
Ba, từ “phục cánh thôi cầu” (lại truy t́m) trở
đi, t́m ṭi nguồn nước của ao.
* Bốn,
từ “thời thử hà biên” (khi đó, ở bên sông ấy)
trở đi, thấy nguồn nước bị triệt
phá.
*
Năm, từ “tiện tác thị niệm” (liền
nghĩ như thế này) trở đi, nghĩ khó thể tu
bổ.
*
Sáu, từ “thời trưởng giả tử” (khi
đó, trưởng giả tử) trở đi, xin voi từ
nơi vua.
* Bảy,
từ “nhĩ thời, đại
vương” (lúc bấy giờ,
đại vương) trở đi, vua sắc truyền
ban cho.
*
Tám, từ “thời bỉ đại thần” (khi
đó, vị đại thần đó) trở đi, viên quan chưởng
quản cho tùy ư chọn lựa.
*
Chín, từ “thị thời Lưu Thủy” (khi đó,
Lưu Thủy) trở đi, được voi toại
nguyện.
*
Mười, từ “hựu tùng tửu gia” (lại từ
tiệm rượu) trở đi, mượn túi rượu.
*
Mười một, “văng quyết thủy xứ”
(đến chỗ nguồn nước bị đào phá) trở
đi, chở nước đổ thêm vào ao để ao
được đầy nước trở lại.
5.25.4.2.2.1.2. Thí thức
ăn
(Kinh) Thiện Nữ Thiên! Thời trưởng
giả tử ư tŕ tứ biên, châu toàn nhi thị, thời
bỉ chúng ngư diệc phục tùy trục, tuần ngạn
nhi hành. Thời trưởng giả tử phục tác thị
niệm: “Chúng ngư hà cố tùy ngă nhi hành? Tất vị
cơ hỏa chi sở năo bức, phục dục tùng ngă cầu
sách ư thực. Ngă kim đương dữ”. Nhĩ thời,
trưởng giả tử Lưu Thủy cáo kỳ tử
ngôn: “Nhữ thủ nhất tượng tối đại
lực giả, tốc chí gia trung, khải phụ trưởng
giả, gia trung sở hữu khả thực chi vật, năi
chí phụ mẫu thực đạm chi phần, cập
dĩ thê tử, nô tỳ chi phần, tất giai thâu thủ,
tức khả tŕ lai”. Nhĩ thời, nhị tử thọ
phụ giáo dĩ, thừa tối đại tượng, tốc
văng gia trung, chí tổ phụ sở, thuyết như thượng
sự, thâu thủ gia trung khả thực chi vật, trí
ư tượng thượng, tật hoàn phụ sở,
chí bỉ tŕ biên. Thị thời, Lưu Thủy kiến kỳ
tử lai, thân tâm hỷ dược, toại thủ phạn
thực, biến tán tŕ trung, ngư đắc thực
dĩ, tất giai băo túc.
(經)善女天!時長者子於池四邊周旋而視,時彼眾魚亦復隨逐循岸而行。時長者子復作是念:眾魚何故隨我而行?必為饑火之所惱逼,復欲從我求索於食。我今當與。爾時長者子流水告其子言:汝取一象最大力者,速至家中啟父長者,家中所有可食之物,乃至父母食啗之分,及以妻子奴婢之分,悉皆收取,即可持來。爾時二子受父教已,乘最大象速往家中,至祖父所說如上事,收取家中可食之物,置於象上疾還父所至彼池邊。是時流水見其子來身心喜躍,遂取飯食遍散池中,魚得食已悉皆飽足。
(Kinh:
Thiện Nữ Thiên! Khi đó, trưởng giả tử
đi ṿng quanh bốn phía của ao để nh́n ngắm,
các con cá lúc ấy cũng lại bơi theo ṿng quanh bờ.
Lúc ấy, trưởng giả tử lại nghĩ như
thế này: “Lũ cá
v́ sao bơi theo ta? Ắt là bị lửa đói bức bách
khổ năo, lại muốn t́m kiếm thức ăn từ
nơi ta. Ta nay sẽ ban cho”. Lúc bấy giờ, trưởng
giả tử Lưu Thủy bảo con rằng: “Con lấy
một con voi có sức mạnh lớn
nhất, mau chóng về nhà, thưa với
ông nội rằng: Trong nhà tất cả thứ có thể
ăn được, cho đến thứ để cha mẹ
ăn uống, cùng với phần thức ăn thuộc về
vợ con, nô tỳ, thảy đều thu thập, lập
tức mang đến đây”. Lúc bấy giờ, hai con vâng
lời cha dạy, cỡi con voi to nhất, mau chóng trở về
nhà, tới chỗ ông nội, thưa chuyện trên đây,
thâu thập các thứ có thể ăn được trong
nhà, đặt lên voi, nhanh chóng trở về chỗ cha, tới
bên bờ ao đó. Khi ấy, Lưu Thủy thấy con
đến, thân tâm mừng rỡ, hớn hở, liền lấy
cơm và thức ăn rải khắp trong ao. Cá được
ăn rồi, thảy đều no đủ).
Kế
đó, điều thứ hai trong “bi tâm cứu khổ”
là “thí thức ăn”, có mười
hai ư:
- Một,
trưởng giả đi quanh ao nh́n ngó.
-
Hai, từ “thời bỉ chúng ngư” (khi đó, các con
cá) trở đi, cá cũng bơi theo nh́n [trưởng giả].
-
Ba, từ “thời trưởng giả tử” (khi
đó, trưởng giả tử) trở đi, trưởng
giả quán niệm.
- Bốn,
từ “tất vị cơ hỏa” (ắt bị lửa
đói) trở đi, biết cá
khốn khổ.
-
Năm, từ “ngă kim đương dữ” (ta nay sẽ
ban cho) trở đi, từ tâm nghĩ ban cho cá [thức
ăn].
-
Sáu, từ “nhĩ thời, trưởng giả tử”
(lúc bấy giờ, trưởng giả tử) trở
đi, sai con [trở về nhà] lấy thức ăn.
- Bảy,
từ “nhĩ thời, nhị tử” (lúc bấy giờ,
hai con) trở đi, con đến chỗ ông nội
thưa chuyện.
-
Tám, “từ thâu thủ gia trung” (thâu thập trong nhà) trở
đi, lấy được lương thực trở về.
-
Chín, từ “thị thời Lưu Thủy” (khi đó,
Lưu Thủy) trở đi, trưởng giả tâm hoan hỷ.
-
Mười, từ “toại thủ phạn thực”
(liền lấy cơm và thức ăn) trở đi, thí khắp
cho cá.
-
Mười một, từ “ngư đắc thực
dĩ” (cá được ăn rồi) trở đi, cá
do vậy được no đủ.
(Kinh)
Tiện tác thị niệm: - Ngă kim thí thực, linh ngư
đắc mạng. Nguyện ư lai thế,
đương thí pháp thực, sung tế vô biên.
(經)便作是念:我今施食令魚得命,願於來世當施法食充濟無邊。
(Kinh:
Liền nghĩ như thế này: - Ta nay thí thực, khiến cho cá
được sống, nguyện trong đời sau sẽ
thí pháp thực cứu trọn khắp vô biên).
Kế
đó, ư thứ mười hai [trong phần “thí thực”] là
trưởng giả phát nguyện.
5.25.4.2.2.2. Từ tâm ban
vui
5.25.4.2.2.2.1. Trưởng
giả tử tự suy nghĩ
(Kinh)
Phục cánh tư duy: - Ngă tiên tằng ư không nhàn lâm xứ,
kiến nhất bật-sô độc Đại Thừa
kinh, thuyết thập nhị duyên sanh thậm thâm pháp yếu.
Hựu kinh trung thuyết: “Nhược hữu chúng sanh lâm mạng
chung thời, đắc văn Bảo Kế Như Lai danh
giả, tức sanh thiên thượng”. Ngă kim
đương vị thị thập thiên ngư diễn
thuyết thậm thâm thập nhị duyên khởi, diệc
đương xưng thuyết Bảo Kế Phật danh.
Nhiên Thiệm Bộ châu hữu nhị chủng nhân: Nhất
giả, thâm tín Đại Thừa; nhị giả, bất
tín hủy tư, diệc đương vị bỉ tăng
trưởng tín tâm.
(經)復更思惟:我先曾於空閑林處,見一苾芻讀大乘經,說十二緣生甚深法要。又經中說:若有眾生臨命終時,得聞寶髻如來名者,即生天上。我今當為是十千魚演說甚深十二緣起,亦當稱說寶髻佛名。然贍部洲有二種人:一者深信大乘;二者不信毀訾,亦當為彼增長信心。
(Kinh: Rồi lại
suy nghĩ: - Trước kia, ta từng ở chỗ rừng
vắng, thấy một vị bật-sô đọc kinh
Đại Thừa, nói pháp yếu mười hai duyên sanh rất
sâu. Trong kinh c̣n nói: “Nếu có chúng sanh khi sắp mạng
chung, được nghe danh hiệu của Bảo Kế
Như Lai, liền sanh lên trời”. Ta nay nên v́ mười
ngàn con cá này diễn nói mười hai duyên khởi rất
sâu, cũng nên xưng nói danh hiệu Bảo Kế Phật.
Nhưng châu Thiệm Bộ có hai loại người. Một
là tin sâu Đại Thừa, hai là chẳng tin, hủy báng, ta
cũng nên tăng trưởng tín tâm cho chúng nó).
Kế
đó, phần thứ hai trong chuyện cứu cá là “từ
tâm ban vui”, có hai ư:
- Một,
trong tâm tự tư duy.
-
Hai, từ “thời trưởng giả tử” (khi
đó, trưởng giả tử) trở đi, thực hiện chuyện lợi
lạc.
Trong
phần thứ nhất, lại có ba ư:
- Một,
nghĩ đến pháp trước kia đă được
nghe.
-
Hai, từ “ngă kim” (ta nay) trở đi, nghĩ sẽ
v́ cá mà nói.
-
Ba, từ “nhiên Thiệm Bộ” (nhưng châu Thiệm Bộ)
trở đi, cũng kiêm hành lợi người, tức là
phần kinh văn phía sau nói: Do cá được lợi ích
bèn báo ân; trưởng giả, vua quan v.v… do
nghe chuyện
ấy đều phát khởi
tín tâm sâu xa.
Ba
đoạn kinh văn theo thứ tự [dễ thấy]!
5.25.4.2.2.2.2. V́ cá thuyết
pháp
5.25.4.2.2.2.2.1. Xưng
danh hiệu Phật
(Kinh)
Thời trưởng giả tử tác như thị niệm:
“Ngă nhập tŕ trung, khả vị chúng ngư thuyết thâm
diệu pháp”. Tác thị niệm dĩ, tức tiện nhập
thủy, xướng ngôn: - Nam mô quá khứ Bảo Kế
Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Thử Phật văng tích tu Bồ Tát hạnh thời, tác thị
thệ nguyện: “Ư thập phương giới, sở
hữu chúng sanh, lâm mạng chung thời, văn ngă danh giả,
mạng chung chi hậu, đắc sanh Tam Thập Tam Thiên”.
(經)時長者子作如是念:我入池中,可為眾魚說深妙法。作是念已即便入水,唱言:南謨過去寶髻如來、應、正遍知、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。此佛往昔修菩薩行時作是誓願:於十方界所有眾生,臨命終時聞我名者,命終之後得生三十三天。
(Kinh: Khi đó,
trưởng giả tử nghĩ như thế này: “Ta vào
trong ao, có thể v́ lũ
cá nói pháp sâu mầu”. Nghĩ như thế xong, liền vào
trong nước, xướng rằng: - Nam-mô quá khứ Bảo
Kế Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật,
Thế Tôn. Vị Phật này xưa kia khi tu Bồ Tát hạnh,
đă thệ nguyện như thế này: “Trong mười
phương thế giới, tất cả chúng sanh, khi sắp
mạng chung, nghe danh hiệu của ta, sau khi mạng chung,
được sanh lên cơi trời Tam Thập Tam”).
Kế
đó là thực hiện lợi lạc bên ngoài, có hai phần:
- Một,
nghĩ muốn vào trong ao.
-
Hai, từ “tác thị niệm” (nghĩ như thế)
trở đi, tạo lợi ích cho cá. Trong ấy, lại có
hai ư:
a. Một
là xưng danh hiệu Phật.
b. Từ
“nhĩ thời, Lưu Thủy” (lúc bấy giờ,
Lưu Thủy) trở đi, v́ cá nói pháp sâu, cũng chính là
khiến cho kẻ chưa tin sẽ tin, khiến cho kẻ
đă tin sẽ hiểu.
Trong
phần thứ nhất, trước là xưng danh hiệu
Phật, từ “thử Phật văng tích” (vị Phật
này xưa kia) trở đi, giải thích nguyên do v́ sao
xưng danh hiệu vị Phật ấy.
5.25.4.2.2.2.2. V́ cá nói pháp
sâu xa
5.25.4.2.2.2.2.1. Hiển
thuyết
5.25.4.2.2.2.2.1.1. Nêu chung
duyên khởi
(Kinh)
Nhĩ thời, Lưu Thủy phục vị tŕ ngư, diễn
thuyết như thị thậm thâm diệu pháp.
(經)爾時流水復為池魚演說如是甚深妙法。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Lưu Thủy lại v́ cá trong ao diễn
nói diệu pháp rất sâu như thế này).
Kế
đó, v́ cá thuyết pháp, gồm hai phần:
- Một,
hiển thuyết.
-
Hai, mật thuyết.
Hoặc
có thể nói: Trước hết,
thuyết pháp khiến cho cá hiểu; sau đó, nói chú ngữ để
thủ hộ. Trong phần thứ nhất, lại có hai ư:
- Một
là nêu chung.
-
Hai là giải thích riêng biệt.
Đoạn
này là nêu chung.
(Kinh)
Thử hữu cố bỉ hữu, thử sanh cố bỉ
sanh.
(經)此有故彼有,此生故彼生。
(Kinh: Do cái này
có nên cái kia có, do cái này sanh nên cái kia sanh).
Kế
đó, có hai đoạn giải thích:
- Một,
tạp nhiễm duyên khởi, tức là xét theo thứ tự
lưu chuyển sanh tử [để luận định
duyên khởi].
-
Hai, từ “thử diệt, cố
bỉ diệt” (do cái này diệt
nên cái kia diệt), tức là nói về thanh tịnh duyên khởi,
tức là xét [duyên khởi] theo thứ tự hoàn diệt (từ
việc diệt mối duyên khởi sau cùng để truy
ngược lại về cội gốc của duyên khởi).
Nhưng
hai loại duyên khởi đều có hai loại quán hạnh
thuận và nghịch; ở đây, đều nói theo chiều
thuận, nhằm liên tưởng hai thứ nghịch quán.
Trong
phần thứ nhất, lại có hai ư:
- Một,
nêu riêng.
-
Hai, từ “sở vị” (tức là nói) trở đi
là giải thích riêng.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất. Theo quyển bốn của Tạp
Tập Luận, có ba loại duyên sanh: Một là vô tác duyên
sanh, hai là vô thường duyên sanh, ba là thế dụng duyên
sanh. Hai loại duyên sanh đầu tiên bao gồm
hết thảy hữu vi, loại duyên sanh thứ ba dựa
theo pháp hữu t́nh. Nhưng các kinh luận phần nhiều
dựa theo mười hai chi duyên khởi để biện
định, v́ đó là căn bản. Nói “thử hữu,
cố bỉ hữu” (do cái này có nên cái kia có) v.v… theo thứ
tự chính là hai loại đầu (vô tác duyên sanh và vô
thường duyên sanh). Đối Pháp
(A Tỳ Đạt Ma) nói: “[Nói] ‘do cái
này có, nên cái kia có’ là nói theo nghĩa vô tác duyên sanh, [hàm
nghĩa] chỉ do có duyên, nên mới có quả pháp, chẳng phải là duyên theo tác dụng
thật sự có thể sanh ra quả pháp. Nay v́ phá chấp
trước của ngoại đạo khăng khăng cho
rằng ‘Đại Phạm, Thần Ngă[2]
thật sự có tác dụng làm cái nhân cho muôn vật’, mà nói
‘chẳng phải là duyên
theo tác dụng thật sự có thể
sanh ra quả pháp’. Cũng nhằm phá chấp trước
hư vọng ‘không có nhân’ của ngoại đạo, cho
nên nói ‘do cái này có, nên cái kia có’. [Nói] ‘do cái này sanh, nên cái kia
sanh’ tức là nói theo ư nghĩa ‘vô thường duyên sanh’, chẳng
phải là do pháp vô sanh làm nhân, thiếu khuyết pháp
được sanh mà được thành lập. Điều
này nhằm phá [chấp trước của ngoại đạo
cho rằng] ‘thường pháp làm nhân có thể sanh ra các
pháp’, và cũng ngăn trở các
tông phái trong
vị lai như Hóa Địa Bộ[3]
v.v… do
chấp ‘mười hai chi duyên khởi
vô vi, có thể khiến cho duyên khởi sanh ra, chẳng bị
tạp loạn’, mà nói ‘cũng chẳng phải là pháp vô sanh
làm nhân, khuyết thiếu pháp được sanh mà
được thành lập’. Nói ‘rất sâu’ th́ có năm loại,
tức là nhân rất sâu, tướng rất sâu, sanh rất
sâu, trụ rất sâu, chuyển rất sâu; đấy
chính là ư nghĩa rất sâu vậy”. Nói
cặn kẽ th́ như bộ luận ấy đă nói.
5.25.4.2.2.2.2.1.2. Giải
thích riêng về duyên khởi
(Kinh)
Sở vị vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên
danh sắc, danh sắc duyên lục xứ, lục xứ
duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ
duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử ưu bi khổ
năo. Thử diệt cố bỉ diệt, sở vị vô
minh diệt tắc hành diệt, hành diệt tắc thức
diệt, thức diệt tắc danh sắc diệt, danh sắc
diệt tắc lục xứ diệt, lục xứ diệt
tắc xúc diệt, xúc diệt tắc thọ diệt, thọ
diệt tắc ái diệt, ái diệt tắc thủ diệt,
thủ diệt tắc hữu diệt, hữu diệt tắc
sanh diệt, sanh diệt tắc lăo tử diệt, lăo tử
diệt tắc ưu bi khổ năo diệt. Như thị
thuần cực khổ uẩn tất giai trừ diệt.
(經)所謂無明緣行,行緣識,識緣名色,名色緣六處,六處緣觸,觸緣受,受緣愛,愛緣取,取緣有,有緣生,生緣老死憂悲苦惱。此滅故彼滅,所謂無明滅則行滅,行滅則識滅,識滅則名色滅,名色滅則六處滅,六處滅則觸滅,觸滅則受滅,受滅則愛滅,愛滅則取滅,取滅則有滅,有滅則生滅,生滅則老死滅,老死滅則憂悲苦惱滅。如是純極苦蘊悉皆除滅。
(Kinh:
Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc,
danh sắc duyên lục xứ, lục xứ duyên xúc, xúc
duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu,
hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử ưu bi khổ năo. Do cái
này diệt nên cái kia diệt, chính là vô minh diệt nên hành diệt,
hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc
diệt, danh sắc diệt nên lục xứ diệt, lục
xứ diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt,
thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt,
thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt,
sanh diệt nên lăo tử diệt, lăo tử diệt nên
ưu bi khổ năo diệt. Thuần là khổ uẩn tột
cùng như thế thảy đều trừ diệt).
Kế
đó, giải thích riêng về duyên khởi; đây chính là loại
thứ ba, tức thế dụng duyên sanh. Do các pháp hữu
vi có nhân duyên khác biệt, mỗi pháp đều có thế dụng
(thế lực và tác dụng) [riêng biệt], cho nên Đối
Pháp nói: “Lại nữa, tuy các pháp là vô tác, vô thường,
nhưng do chẳng tùy thuộc một pháp làm duyên mà hết
thảy các quả sanh ra, v́ các pháp mỗi mỗi đều
có công năng sai biệt”. Kinh Thập Địa dạy:
“Tử biệt ly thời, ư căn tương đối
danh Ưu, ngũ căn tương đối vi Khổ, xuất
thanh đề khốc danh Bi, ngu nhân tâm nhiệt danh Năo”
(Khi chết, biệt ly, đối ứng với ư căn
mà nói là Ưu, đối ứng với năm căn mà nói
là Khổ, khóc lóc phát ra tiếng là Bi, kẻ ngu tâm bứt rứt là Năo). Đấy
là thứ tự sanh khởi do nương theo tạp nhiễm.
Từ “thử diệt, cố bỉ diệt” (do cái
này diệt,
nên cái kia diệt) trở đi là nói theo thứ tự trừ diệt theo
thanh tịnh thuận quán. Kinh văn gồm ba phần: Một
là nêu ra, hai là giải thích, ba là từ “như thị thuần
cực” trở đi nhằm kết lại phần biệt
thích.
Đối
với ư nghĩa duyên khởi, đại lược dùng bốn
môn phân biệt:
- Một,
nêu ra cái Thể.
-
Hai, giải thích danh xưng.
-
Ba, quán hạnh.
- Bốn,
vấn đáp.
5.25.4.2.2.2.2.1.2.1. Biện
định cái Thể của từng chi duyên khởi
Trước
hết, đối với cái Thể của chi Vô Minh [trong
mười hai chi duyên khởi] th́ trong Phiền Năo Chướng,
từ trong sự chấp giữ, phân biệt của chánh
chi, có thể phát khởi, cảm nhận tổng báo và biệt
báo, hoặc chỉ cảm vời tổng báo. Đó là cái Thể
của chi Vô Minh; kiêm chi th́ bao
gồm cả câu sanh phân biệt (sự phân biệt sẵn
có từ lúc mới sanh ra) để làm cái Thể của Vô
Minh. Thành Duy Thức, quyển thứ tám chép: “Vô minh ở
đây chỉ có thể chấp giữ cái có thể phát khởi
cảm vời nghiệp thiện ác chánh yếu trong đời
sau”. Lại nói: “Phát
khởi nghiệp cảm chánh yếu chỉ thấy cái
được đoạn trừ, c̣n phát khởi nghiệp
cảm phụ trợ th́ bất định. Điều
này cũng bao
gồm tương ứng với bất cộng
triền và tùy miên”.
Thể của chi Hành bao gồm
thân, ngữ, ư nghiệp thiện và bất thiện, chỉ
cảm vời tổng báo, và bao gồm
hai thứ tổng nghiệp và biệt nghiệp
cảm vời làm tánh. Nếu chỉ cảm biệt báo th́
chẳng phải là chi Hành. V́ thế, Duy Thức nói: “Tức
là cái được phát khởi bèn gọi là Hành. Do vậy,
hết thảy thuận hiện thọ nghiệp (nghiệp
lănh nhận theo chiều thuận trong hiện tại) và biệt
trợ đương nghiệp (nghiệp để trợ
giúp ḥng phát khởi cái quả trong tương lai) đều
chẳng thuộc về chi Hành. Nó cũng bao gồm hiện
chủng, nhờ vào biểu sắc[4]
của cả hai nghiệp thân và ngữ, thật sự chỉ
là Tư”.
Thể
của chi Thức chỉ chấp giữ chủng tử
thuộc Dị Thục Thức[5]
thứ tám. V́ thế, Duy Thức Luận viết: “Thức
chủng (chủng tử của Thức) ở đây là cái
nhân của bổn thức, chỉ chấp lấy chủng
tử của Dị Thục Thức thứ tám được
cảm vời bởi chi Hành. Thoạt đầu, do kết
lại mà sanh khởi, tổng báo làm chủ, chẳng bao gồm
hiện hành[6]
và các chuyển thức khác”. Có chỗ nói bao gồm cả
hiện hành và sáu thức, tức là nói chung về chi Thức,
chẳng phải là luận định về Thể [của
chi Thức trong mười hai chi duyên khởi]. Và dựa
theo phần vị sanh khởi trong tương lai và hiện
tại mà nói chung là “hiện hành”. V́ thế, Duy Thức
Luận nói: “Do thời cố định mà chẳng có ư
nghĩa hiện hành, cho đến chi Thọ cũng giống
như thế”.
Đối
với cái Thể của chi Danh Sắc, Duy Thức Luận
nói: “Trừ ba cái nhân sau đó, các nhân khác đều thuộc
về chủng tử của Danh Sắc. Ba cái nhân sau
đó, theo thứ tự tên gọi của chúng mà chính là ba
loại sau”. Đấy là nói năm chi chẳng tạp
loạn, nói theo duyên khởi thật sự được
nhóm họp bởi Hành trong một sát-na. Thật ra, năm
chi thuộc về nhân như Thức v.v… cũng chẳng có
thứ tự. Duy Thức Luận nói: “Dựa theo thứ
tự sẽ hiện hành mà nói. Nếu xét theo hiện hành,
không chỉ nghiệp cảm chẳng phải là Thể của
thật sự của mỗi chi. Nói theo phần vị, chủng
tử dị thục của sáu căn được gọi
là chi Lục Xứ. Chủng tử dị thục của
Xúc và Thọ thuộc vào chi Xúc và chi Thọ. Ngoại trừ
bốn thứ ấy, các pháp dị thục khác đều
gọi là chi Danh Sắc”. Nhưng Khế Kinh hễ nói tới
Danh th́ tức là bốn Uẩn (Thọ, Tưởng, Hành,
Thức), chẳng phải là Sắc, c̣n Sắc th́ như Yết
Lạt Lam[7]
v.v… cũng là dựa theo hiện hành và phiếm chỉ danh
sắc, chẳng phải thật sự là chi Danh Sắc.
Như nói “Thức và Danh Sắc nương tựa lẫn
nhau, giống như cỏ lau buộc lại thành bó”,
cũng là nói theo hiện hành và phiếm chỉ danh sắc.
Nói về Danh th́ nói thông
thường, điều thứ bảy là Danh. Nếu
không, thí dụ về bó lau sẽ chẳng thành được!
Lại xét theo sự thật để bàn về cái Thể
của chi
Danh Sắc, Danh chỉ là hai Uẩn, Thọ
là chi Thọ, c̣n Thức là Ư Xứ. Do luận nói Danh Sắc
và Lục Xứ chẳng phải là giả, chẳng phải
xen tạp, lại nói “trừ ba nhân sau”. Nếu như
vậy, sao có thể nói “Danh tức là bốn Uẩn chẳng
phải Sắc”? Điều này cũng chẳng mâu thuẫn,
v́ trong phần trước đă dung thông rồi. Luận lại
giải thích rằng: “Hoặc là nói Danh Sắc gồm
chung cả năm cái nhân, trong số đó, tùy thuộc cái
nhân nào thù thắng mà lập ra bốn thứ kia, tổng và
biệt của Lục Xứ và Thức cũng thế. V́
thế, trong kinh chỉ nói Danh là bốn thứ Uẩn, tức
là xét theo tên gọi chung. Nếu chia thành năm chi, tức
là dựa theo sự sai biệt để nói”.
Chánh thể của Ái cũng
chỉ là câu sanh (vốn sẵn có từ lúc mới sanh),
[tác dụng giúp đỡ] bổ trợ, tăng trưởng
của nó th́ bất định. V́ thế, Duy Thức nói: “Chánh
nhuận sanh[8]
chỉ có tu mới đoạn được”. Luận
Du Già Sư Địa c̣n nói: “Các phiền năo trong toàn thể
các giới đều có thể nhuận sanh”, tức là
nói bao gồm tác dụng bổ trợ.
Lại c̣n chấp mê sự, tuy duyên chung với nội pháp
và ngoại pháp, nhưng luận phần nhiều nói “duyên
theo ngoại cảnh mà sanh” th́ gọi là chi Ái.
Chánh
thể của chi Thủ bao gồm hết thảy các câu
sanh phiền năo, cái bổ trợ nó th́ gồm cả các phân
biệt [phiền năo]. Có chỗ chỉ nói Ái tăng trưởng
th́ gọi là Thủ. Duy Thức Luận nói: “Tuy trong chi
Thủ bao gồm các phiền năo khác, nhưng Ái nhuận
sanh thù thắng, nên nói là Ái tăng trưởng. Lại do dựa
theo thứ tự trước sau mà tách Ái và Thủ thành hai,
chứ nó thật sự bao gồm các món Hoặc (phiền
năo) khác”. Hai chi Ái và Thủ đều bao gồm
chủng tử và hiện hành,
chi Hữu tức là chủng tử nơi cái quả của
năm món trước đó như Hành, Thức v.v…
được Ái và Thủ nhuận sanh, đổi thành tên
gọi là Hữu. Có chỗ chỉ nói nghiệp được
gọi là chi Hữu. Duy Thức
Luận dung hội rằng: “Đấy là v́ có thể cảm
vời dị thục quả”. Có chỗ chỉ nói
năm món như Thức v.v… được gọi là chi Hữu.
Duy Thức Luận viết: “Do năm món như Thức
v.v… đích thân sanh ra Sanh, Lăo, Tử trong tương lai. Các
thứ ấy chỉ là chủng tử, không bao gồm hiện
hành”.
Đối
với Thể của Sanh, Thành Duy Thức nói: “Bắt
đầu từ Trung Hữu cho đến Bổn Hữu[9]
chưa từng suy biến, đều thuộc về chi Sanh”.
Đối với cái Thể của Lăo Tử, Duy Thức
Luận nói: “Các giai đoạn suy biến được
gọi chung là Lăo, thân hoại mạng chung bèn gọi là Tử.
Thể của hai chi này gồm chung Ngũ Uẩn, chỉ
là hiện hành, thuộc về dị thục quả”. Thập
Địa Luận nói: “Mười hai hữu chi đều
có lúc kết nhân và lúc sanh quả”, tức là gộp chung
chủng tử và hiện hành v.v… Kinh Duyên Khởi giải rằng:
“Năng sở dẫn sanh nhất thời nhi hữu, thứ
đệ tuyên thuyết, nghĩa loại vô biệt” (cái
có thể dẫn khởi sanh thành và cái được dẫn
khởi để sanh thành đều là cùng lúc mà có, tuy
được tuyên nói theo thứ tự, nhưng ư nghĩa
chẳng khác biệt). Duy Thức Luận cũng nói: “Dựa
theo tính chất đă nhuận sanh (giúp sức cho sanh khởi
thành tựu) và dẫn sanh (dẫn đến sự sanh khởi)
đồng thời, lúc nhuận sanh và lúc chưa nhuận
sanh, ắt chẳng đồng thời được”.
Đó là nói theo tướng, chẳng phải là xét theo thật
thể, đều là hiện hành và chủng tướng.
Ưu bi khổ năo do lăo tử mà khởi, chẳng thuộc
về Chi (chẳng thuộc vào mười hai chi duyên khởi).
5.25.4.2.2.2.2.1.2.2. Giải
thích danh xưng
Chỉ
giải thích danh xưng chung, chẳng giải thích riêng biệt.
Như kinh Duyên Khởi và Đối Pháp Luận đă giải
thích khá nhiều, nay dựa theo luận Du Già Sư Địa,
giải thích đại lược theo bốn cách:
- Một,
do phiền năo trói buộc, nhiều lượt sanh khởi, tiến vào các
đường, nên gọi là Duyên Khởi. Đấy là
cách giải thích dựa theo chữ Duyên và chữ Khởi.
-
Hai, dựa theo chuyện rành rành là các duyên nhanh chóng tan diệt
rồi lại tiếp tục ḥa hợp mà sanh, nên gọi
là Duyên Khởi. Đây là cách giải thích theo ư nghĩa “sanh
diệt trong từng sát-na”. Cách giải thích này nhằm vạch
rơ khác với quan niệm của Đại Chúng Bộ[10]
v.v… cho là pháp vô vi, và cũng vạch rơ chẳng phải là
thuyết “một kỳ có bốn tướng” của
Chánh Lượng Bộ[11].
-
Ba, các duyên đă qua đi, nhưng chẳng
ĺa bỏ, nương theo sự liên tục của chính nó
mà sanh khởi. V́ thế, gọi là Duyên Khởi. Như nói “do
cái này có mà cái kia có, do cái này sanh mà cái kia sanh”, chẳng phải
là nghĩa nào khác, như đă giải thích trong phần
trước.
- Bốn,
trong đời quá khứ đă hiểu biết tánh của
duyên, b́nh đẳng, liên tục khởi lên, bèn gọi là
Duyên Khởi. Như đức Thế Tôn nói: “Ngă dĩ
giác ngộ, b́nh đẳng tuyên thuyết” (Ta đă
giác ngộ, b́nh đẳng tuyên nói). Đó gọi là lần
lượt truyền nói, nên gọi là Duyên Khởi.
5.25.4.2.2.2.2.1.2.3. Quán hạnh
Đối
với quán hạnh, có hai cách quán riêng biệt:
- Một,
nương theo cách quán tạp nhiễm.
-
Hai, nương theo cách quán thanh tịnh.
Mỗi
cách quán đều có hai loại thuận và nghịch. V́ thế,
Đối Pháp quyển thứ tư chép rằng:
“Do
tạp nhiễm thuận nghịch, do thanh tịnh thuận
nghịch. ‘Tạp nhiễm thuận’ là nói theo thứ tự
lưu chuyển, tức là vô minh duyên hành cho tới sanh duyên
lăo tử, tức là sanh khởi theo thứ tự của
sanh tử.
‘Tạp
nhiễm nghịch’ tức là dựa theo các Đế an lập để
nói, có hai thứ khác nhau:
- Một
là viễn phương tiện quán trước khi đạt
tới Kiến Đạo, tạo thành bảy mươi bảy
loại trí.
-
Hai là cận phương tiện quán, tức là tạo thành
bốn mươi bốn loại trí.
Hoặc
là do hai
đạo tư lương và gia hạnh khác biệt. Hoặc
đều là gia hạnh, nhưng trước sau sai khác.
Hơn nữa, bảy mươi bảy trí quán tức là
duyên hiện ‘già, chết’ do ai mà có? Chính là do hiện sanh mà
có già, chết. Lại nữa, quán chẳng phải do hiện sanh
mà có già, chết, mà là do tự thân trong hiện tại tự
ḿnh tạo tác, liền thành hai trí. Duyên theo già chết trong
quá khứ và vị lai cũng thế. Mỗi đằng
đều có hai loại, tạo thành sáu phép Quán. Từ vô thỉ
tới nay, hết thảy già chết đều do duyên
nơi sanh, vị lai tuy chưa khởi, nhưng đă sẵn
có ư nghĩa tạp nhiễm và hoàn diệt. V́ thế, nay
quán tạp nhiễm, cũng thành hai trí. Trong tam tế (ba chặng
thời gian, tức quá khứ, hiện tại, vị lai),
thoạt đầu do chi Sanh mà có già chết, xét quả bèn
có nhân, cái trí suy lường cái nhân. Điều thứ hai
là lại quán “chẳng phải là không do sanh mà có già, chết”,
đó là cái trí suy xét cái nhân. Trước là [chấp trước]
“không có nhân mà sanh”, sau là phá [chấp trước] như tự
nhiên sanh v.v… Ĺa khỏi sự suy lường hư vọng
của ngoại đạo. Điều thứ bảy, lại quán các chi [trong mười
hai chi duyên khởi] chẳng thâu nhiếp các trí hữu lậu,
do ư nghĩa Biến Tri (biết trọn khắp), được
gọi là Pháp Trụ Trí (trí trụ nơi pháp). Biết trọn khắp giáo pháp duyên khởi trong ba
đời, gọi là “chi chẳng thâu nhiếp”. Đối
với lư của sáu duyên trước
đều biết
như thật, chính là Tư Tu Huệ, gọi là Chân Thật
Trí. Thứ bảy, duyên theo giáo là Văn Huệ, gọi là
Pháp Trụ Trí,
cũng gọi là Giả Trí. Hợp thành bảy trí, như
quán lăo tử có bảy trí ấy, cho tới chi Hành cũng
có bảy trí. Chỉ trừ vô minh, vô minh chẳng có nhân trí.
Do sự khuyết thiếu ấy mà thành bảy mươi
bảy trí[12].
Dị sanh và bậc thánh cũng
đều cùng có.
“Bốn
mươi bốn trí” tức quán già chết là Khổ Đế,
quán Tập của già chết, Diệt của già chết, hạnh
sẽ hướng đến để diệt già chết,
cho đến quán Hành khổ, Hành tập, Hành diệt, hạnh
tiến đến diệt Hành… Mười một chi, mỗi
chi đều có bốn điều ấy, nên thành bốn
mươi bốn trí. Do vô minh chẳng có nhân, cho nên chẳng
phải là bốn mươi tám trí. Đấy là cách quán hữu
lậu, nên gọi là Tạp Nhiễm. Hoặc là quán thể
hữu lậu, hoặc quán pháp hữu lậu, bao gồm cả
thánh trí. Kinh văn chỉ nói về thuận, chẳng nói tới
nghịch.
Quán
thanh tịnh thuận chính là do vô minh diệt nên hành diệt,
cho đến do sanh diệt nên già chết diệt. Quán thuận
theo thứ tự, đó là nói theo thứ tự đoạn
trừ. Nghịch quán là [quán sát] do cái ǵ không có mà già chết
không có? Do cái ǵ diệt mà già chết diệt? Cho đến
do cái ǵ không có mà Hành không có? Do cái ǵ diệt mà Hành diệt?
Đấy là dựa theo sự đắc quả, dựa
theo tột cùng để quán. Do nói ngược thứ tự,
khiến cho thành thục”.
5.25.4.2.2.2.2.1.2.4. Vấn
đáp phân biệt
Hỏi:
V́ sao các chỗ (các kinh luận) nói các chi Duyên Khởi th́
[phán định] hoặc là hiện hành, hoặc là chủng
tử, hoặc tổng, hoặc biệt, có nhiều thứ
sai biệt?
Đáp:
Tất cả các thứ sai biệt, phần lớn đă
được dung thông trong quyển thứ tám của Thành
Duy Thức Luận. Nay ở đây, nêu ra cái Thể [của
các chi duyên khởi], thật ra đă dựa theo cách nói chánh
yếu về duyên khởi trong Đại Thừa. Các thuyết
khác bất đồng là do nói gộp chung các phần vị
tương lai và hiện khởi, giả hay thật, chẳng
phải là thứ tự của các phần vị dấy khởi
trong hiện tại đều do nghiệp cảm vời.
Hoặc có khi nói chung theo cả ba thừa, như đều
có các căn th́ gọi là Sắc, vô gián diệt ư v.v… th́ gọi
là Danh v.v…
Hỏi:
Trong thứ tự quán, nếu nói là có Xứ,
quán các chi Duyên Khởi cho đến Thức
v.v… sẽ lui về đâu?
Đáp:
Trong cách nghịch quán của tạp nhiễm duyên khởi,
địa vị tu tập ban đầu là cận
phương tiện quán an lập Đế, bèn nói như
thế. V́ sao? Như quán lăo
tử khổ, lăo tử tập, lăo tử diệt, hạnh
tiến nhập diệt của lăo tử, cho đến tùy
theo lẽ đáng nên mà lần lượt quán các Đế
từ nỗi khổ do chi “già, chết” thuộc vào Khổ
Đế. Trong duyên khởi, trước hết là quán sát theo chiều
nghịch, dùng ba thứ tướng để quán chi Già Chết:
Một là tế nhân duyên, hai là thô nhân duyên, ba là chẳng phải
do nhân duyên bất định mà cảm vời sanh khởi.
“Tế” tức là Ái, Thủ, Hữu; “thô” là nói tới
cái Thể của chi Sanh. Do hai điều ấy sanh khởi
mà có già, chết. Trong ấy có ư nói dựa theo chuyện gộp
chung hai đời để quán tạp nhiễm duyên khởi.
Quán “sẽ già chết”, tế sanh là nhân, tức Ái, Thủ,
Hữu. Đối với pháp trong hiện tại là già chết,
thô sanh là nhân th́ chính là chi Sanh [trong mười
hai chi duyên khởi]. Trừ hai thứ Sanh ấy ra, các thứ
khác chắc chắn chẳng thể
tạo ra cái quả “già,
chết”,
gọi là “chẳng phải bất định”. Đây
cũng là suy xét cái nhân, gọi là “chẳng phải bất
định”. Chuẩn theo đó, bèn biết hai thứ
Sanh (tế sanh và thô sanh) là cái nhân của già chết, tức
là suy t́m cái nhân vậy. Quán Tập của già chết, tuy
quán Tập Đế của già chết cho đến Ái,
đối với nỗi khổ trong đời sau và Tập
Đế chưa phải là hỷ túc[13],
lại quan sát các nhân duyên tụ tập sau đó, tạo
thành các nỗi khổ trong hiện tại, gọi là “theo
chiều nghịch, quán trọn khắp Thọ, Xúc, Lục
Xứ, Danh Sắc và Thức”. Quán nỗi khổ trong vị
lai là quán Khổ Đế trong tương lai, [quán] cái nhân
của Tập là quán Tập Đế trong tương lai.
Tập Đế của nỗi khổ trong tương lai
do đâu mà có? Biết là do Tập trước kia sanh khởi,
Thức là ngằn mé. Pháp hiện tại có khổ, đă biết
khổ [trong hiện tại] là do Tập trước kia
sanh khởi, chẳng cần lại quán điều ấy
v́ sao mà có!
Lại
nữa, Danh Sắc ví như bó lau, lần lượt duyên
theo nhau, chẳng có tác giả v.v… V́ thế, quan sát [theo chiều
ngược] đến chi Thức th́ bèn trở lại,
cho nên chẳng quán đến các chi Hành và Vô Minh. Quán sát
mười chi Khổ Tập như thế; kế đó
quán Diệt Đế khởi đầu từ già chết
cho đến vô minh v́ sao sẽ diệt? Do chẳng tạo
Vô Minh làm duyên cho chi Hành mới, sự khổ đó mới
diệt. Theo thứ tự truy cầu mà chứng Diệt
Đạo, nhớ lại xưa kia thầy tṛ trao truyền
pháp duyên khởi, khiến cho chánh kiến thế gian
được hiện khởi. Quán nhiều lượt
như thế, khiến cho kiến tăng trưởng;
đó là “nhiễm nghịch quán” (phép quán tạp nhiễm
duyên khởi theo chiều nghịch). Đấy là quán già chết
diệt và “hạnh dẫn đến Diệt” liền
đạt tới vô minh. Trong ấy, lại dựa theo hai
thứ thuộc chi
già chết trong hiện tại và vị lai cùng cái nhân của
chúng, lược đi không nói đến già chết và cái
nhân của nó trong quá khứ. Lại nữa, đă diệt
th́ chẳng mong cầu đoạn nó, do hữu tác Tứ
Đế mà gộp lại để quan sát. Nếu vận
dụng bảy mươi bảy trí th́ tức là
ba đời khác biệt.
Lại
có thể hiểu: Hoặc là duyên theo già chết trong hiện
tại để quán cận nhân và viễn nhân, các nhân ấy
đều thuộc quá khứ, tức là [quán ngược lại]
tới chi Ái. Nếu quán sự già chết trong vị lai, [sẽ
quán] từ Hữu đến Ái. Trước Ái sẽ là nỗi
khổ trong vị lai, tức là hăy nên quán theo thứ tự.
Nếu không, chủng tử chẳng phải là cái duyên xoay
vần. Nếu dựa theo cách giải thích trong phần
trước, th́ đối với già chết trong hiện
tại và vị lai chính là hợp quán (gộp chung lại
để quán), quán cái nhân [của hai thứ già chết ấy]
là biệt quán. Trong cách giải thích thuộc đoạn này
th́ đối với cái nhân là hợp quán, đối với
già chết là biệt quán. Không chỉ nghịch quán đối
với chi Già Chết, mà quán Tập Khổ trong vị lai
cũng là nghịch quán.
Hỏi:
Hoặc có chỗ nói “quán từ Vô Minh tới Sanh liền
ngưng” là v́ sao vậy?
Đáp:
Đó là nói theo căn cơ và sự ham thích truy cầu nhân
quả, do già chết chẳng có quả, cho nên
chỉ nói đến Sanh.
Hỏi:
Có người nói “chỉ quán theo chiều nghịch đến
chi Danh Sắc mà thôi” là v́
lẽ nào?
Đáp:
Dựa theo chi “chủng tử của nghiệp là Thức”
để nói, do Thức được gồm thâu trong Danh
Sắc.
5.25.4.2.2.2.2.2. Mật
thuyết
(Kinh)
Thuyết thị pháp dĩ, phục vị thuyết thập
nhị duyên khởi tương ứng Đà La Ni viết:
- Đát điệt tha: Tỳ
chiết nễ, tỳ chiết nễ, tỳ chiết nễ,
tăng tắc chỉ nễ, tăng tắc chỉ nễ,
tăng tắc chỉ nễ, tỳ nhĩ nễ, tỳ
nhĩ nễ, tỳ nhĩ nễ, sa ha. Đát điệt
tha: Na nhĩ nễ, na nhĩ nễ, na nhĩ nễ, sát
trĩ nễ, sát trĩ nễ, sát trĩ nễ, táp bát rị
thiết nễ, táp bát rị thiết nễ, táp bát rị
thiết nễ, sa ha. Đát điệt tha: Bệ đạt
nễ, bệ đạt nễ, bệ đạt nễ,
trất lư sắt nễ nễ, trất lư sắt nễ nễ,
trất lư sắt nễ nễ, ổ ba địa nễ, ổ
ba địa nễ, ổ ba địa nễ, sa ha. Đát
điệt tha: Bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, bà tỳ nễ,
đồ để nễ, đồ để nễ,
đồ để nễ, đồ ma nễ nễ,
đồ ma nễ nễ, đồ ma nễ nễ, sa ha.
(經)說是法已,復為說十二緣起相應陀羅尼曰:怛姪他。毘折儞。毘折儞。毘折儞。僧塞枳儞。僧塞枳儞。僧塞枳儞。毘爾儞。毘爾儞。毘爾儞。莎訶。怛姪他。那弭儞。那弭儞。那弭儞。殺雉儞。殺雉儞。殺雉儞。颯鉢哩設儞。颯鉢哩設儞。颯鉢哩設儞。莎訶。怛姪他。薜達儞。薜達儞。薜達儞。窒里瑟儞儞。窒里瑟儞儞。窒里瑟儞儞。鄔波地儞。鄔波地儞。鄔波地儞。莎訶。怛姪他。婆毘儞。婆毘儞。婆毘儞。闍底儞。闍底儞。闍底儞。闍摩儞儞。闍摩儞儞。闍摩儞儞。莎訶。
(Kinh:
Nói pháp ấy rồi, lại v́ chúng nó nói Đà La Ni
tương ứng với mười hai duyên khởi rằng:
- Đát điệt tha: Tỳ
chiết nễ, tỳ chiết nễ, tỳ chiết nễ,
tăng tắc chỉ nễ, tăng tắc chỉ nễ,
tăng tắc chỉ nễ, tỳ nhĩ nễ, tỳ
nhĩ nễ, tỳ nhĩ nễ, sa ha. Đát điệt
tha: Na mi nễ, na mi nễ, na mi nễ, sát trĩ nễ, sát
trĩ nễ, sát trĩ nễ, táp bát rị thiết nễ,
táp bát rị thiết nễ, táp bát rị thiết nễ,
sa ha. Đát điệt tha: Bệ đạt nễ, bệ
đạt nễ, bệ đạt nễ, trất lư sắt
nễ nễ, trất lư sắt nễ nễ, trất lư sắt
nễ nễ, ổ ba địa nễ, ổ ba địa
nễ, ổ ba địa nễ, sa ha. Đát điệt
tha: Bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, đồ
để nễ, đồ để nễ, đồ
để nễ, đồ ma nễ nễ, đồ ma nễ
nễ, đồ ma nễ nễ, sa ha).
Kế đó, phần thứ hai [trong phần
“v́ cá thuyết pháp”] là mật thuyết duyên khởi. Trước
là kết lại phần trước, nêu bày [sẽ nói thần
chú]; kế đó là nói thần chú.
5.25.4.2.2.3.
Chư thiên nghe nói, tán thán
(Kinh) Nhĩ thời, Thế
Tôn vị chư đại chúng thuyết trưởng giả
tử tích duyên chi thời, chư nhân thiên chúng thán vị tằng
hữu. Thời Tứ Đại Thiên Vương các ư
kỳ xứ, dị khẩu đồng âm, tác như thị
thuyết: - Thiện tai Thích Ca tôn, thuyết diệu pháp minh
chú, sanh phước trừ chúng ác, thập nhị chi
tương ứng. Ngă đẳng diệc thuyết chú, ủng
hộ như thị pháp. Nhược hữu sanh vi nghịch,
bất thiện tùy thuận giả, đầu phá tác thất
phần, do như lan hương sao. Ngă đẳng ư Phật
tiền, cộng thuyết kỳ chú viết: Đát điệt
tha, hế lư mế, yết thê kiện
đà rị, chiên đồ lư địa lệ, tao phạt
lệ, thạch hế phạt lệ, bổ ra bố lệ đoản
mạt để, khi ra mạt để, đạt địa
mục khế, cũ rô bà, mẫu rô bà, cụ đồ mẫu
rô kiện đề, đỗ rô, đỗ rô, tỳ lệ.
Ế nê tất nê đạp bễ, đạt đạp
bễ, ổ tất đát rị, ô suất trá la phạt
để, át lạt sa phạt để, bát đỗ ma
phạt để, câu tô ma phạt để, sa ha.
(經)爾時世尊為諸大眾說長者子昔緣之時,諸人天眾歎未曾有。時四大天王各於其處,異口同音作如是說:善哉釋迦尊,說妙法明呪,生福除眾惡,十二支相應。我等亦說呪,擁護如是法,若有生違逆,不善隨順者,頭破作七分,猶如蘭香梢。我等於佛前,共說其呪曰。怛姪他。呬哩謎。揭睇健陀哩。旃荼里地囇。騷伐囇。 石呬伐囇。補𡆆布囇短末底。崎囉末底。達地目契。寠嚕婆。母嚕婆。具荼母嚕健提。杜嚕。杜嚕。毘囇。翳泥悉泥沓媲。達沓媲。鄔悉怛哩。烏率吒囉伐底。頞剌娑伐底。鉢杜摩伐底。俱蘇摩伐底。莎訶。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
khi đức Thế Tôn v́ các đại chúng nói duyên xưa
kia của trưởng giả tử, các chúng trời,
người than là “chưa từng có”. Khi đó, tứ
đại thiên vương mỗi vị ở chỗ ḿnh,
khác miệng cùng tiếng, nói như thế này: - Lành thay
đấng Thích Ca, nói diệu pháp, minh chú, sanh phước,
trừ các ác, tương ứng mười hai chi. Chúng con
cũng nói chú, ủng hộ pháp như thế. Nếu kẻ
sanh trái nghịch, kẻ chẳng khéo tùy thuận, đầu
vỡ làm bảy miếng, giống như ngọn lan
hương. Chúng con đối trước Phật, cùng nói
chú ấy rằng: “Đát
điệt tha, hế lư mê, yết thê kiện đà rị,
chiên đồ lư địa lệ, tao phạt lệ, thạch hế phạt lệ, bổ ra bố lệ đoản
mạt để, khi ra mạt để, đạt địa
mục khế, cũ rô bà, mẫu rô bà, cụ đồ mẫu
rô kiện đề, đỗ rô, đỗ rô tỳ lệ.
Ế nê tất nê đạp bễ, đạt đạp
bễ, ổ tất đát rị, ô suất trá la phạt
để, át lạt sa phạt để, bát đỗ ma
phạt để, câu tô ma phạt để, sa ha”).
Kế
đó, phần thứ ba trong “hạnh cứu cá” là chư
thiên nghe nói đều tán thán, có ba ư:
- Một,
nêu ra [ư tán thán].
-
Hai, từ “thời chư đại chúng” (khi đó,
các đại chúng) trở đi, đại chúng cùng hoan hỷ.
-
Ba, từ “thời, tứ thiên vương” (khi đó,
bốn thiên vương) trở đi, tán thán riêng, lại gồm
hai ư:
a.
Tán thán lời đức Phật nói.
b.
Nói chú, nguyện thủ hộ.
Điều
thứ nhất là “tán thán lời Phật dạy” lại
có hai ư: Một là nêu ra, hai là tán thán. Sau đó, từ “ngă
đẳng diệc thuyết chú” (chúng con cũng nói chú)
trở đi, là nguyện ủng hộ lần thứ hai,
có ba ư:
-
Hai câu đầu là nêu ra.
- Bốn
câu kế đó nhằm khuyên răn.
- Từ
“ngă đẳng ư Phật tiền” (chúng con đối
trước Phật) trở đi là nói chú.
5.25.4.2.2.4. Cá báo ân
(Kinh)
Phật cáo Thiện Nữ Thiên: - Nhĩ thời, trưởng
giả tử Lưu Thủy cập kỳ nhị tử, vị
bỉ tŕ ngư thí thủy, thí thực, tịnh thuyết
pháp dĩ, câu cộng hoàn gia. Thị trưởng giả tử
Lưu Thủy phục ư hậu thời, nhân hữu tụ
hội, thiết chúng kỹ nhạc, túy tửu nhi ngọa.
Thời thập thiên ngư đồng thời mạng quá,
sanh Tam Thập Tam Thiên, khởi như thị
niệm: “Ngă đẳng dĩ hà thiện nghiệp nhân duyên, sanh
thử thiên trung?” Tiện tương vị viết: “Ngă đẳng
tiên ư Thiệm Bộ
châu nội, đọa bàng sanh trung, cộng thọ ngư
thân. Trưởng giả tử Lưu Thủy thí ngă đẳng
thủy, cập dĩ phạn thực. Phục vị ngă
đẳng thuyết thậm thâm pháp thập nhị duyên khởi, cập
Đà La Ni, phục xưng Bảo Kế Như Lai danh hiệu.
Dĩ thị nhân duyên, năng linh ngă đẳng đắc
sanh thử thiên. Thị cố, ngă kim hàm ưng nghệ bỉ
trưởng giả tử sở, báo ân cúng dường”.
Nhĩ thời, thập thiên thiên tử tức ư thiên một,
chí Thiệm Bộ châu đại y vương sở. Thời
trưởng giả tử tại cao lâu thượng, an ổn
nhi thụy. Thời thập thiên thiên tử cộng dĩ
thập thiên chân châu anh lạc,
trí kỳ đầu biên. Phục dĩ thập thiên trí kỳ
túc xứ. Phục dĩ thập thiên trí ư hữu hiếp.
Phục dĩ thập thiên trí tả hiếp biên. Vũ mạn-đà-la
hoa, ma ha mạn-đà-la hoa, tích chí vu tất, quang minh phổ
chiếu. Chủng chủng thiên nhạc xuất diệu âm
thanh, linh Thiệm Bộ châu hữu thùy miên giả,
giai tất giác ngụ. Trưởng giả tử Lưu Thủy
diệc tùng thụy ngụ. Thị thời, thập thiên
thiên tử vị cúng dường dĩ, tức ư không
trung, phi đằng nhi khứ. Ư Thiên Tự Tại Quang
vương quốc nội, xứ xứ giai vũ thiên diệu
liên hoa. Thị chư thiên tử phục chí bổn xứ
không trạch tŕ trung, vũ chúng thiên hoa, tiện ư thử
một, hoàn thiên cung điện, tùy ư tự tại,
thọ ngũ dục lạc. Thiên Tự Tại Quang
vương chí thiên hiểu dĩ, vấn chư đại
thần: “Tạc dạ hà duyên hốt hiện như thị
hy hữu thụy tướng, phóng đại quang minh?”
Đại thần đáp ngôn: “Đại vương
đương tri: Hữu chư thiên chúng ư trưởng
giả tử Lưu Thủy gia trung, vũ tứ thập
thiên chân châu anh lạc, cập thiên mạn-đà-la hoa, tích
chí vu tất”. Vương cáo thần viết: “Nghệ
trưởng giả gia, hoán thủ kỳ tử”. Đại
thần thọ sắc, tức chí kỳ gia, phụng tuyên
vương mạng, hoán trưởng giả tử. Thời
trưởng giả tử tức chí vương sở,
vương viết: “Hà duyên tạc dạ thị hiện
như thị hy hữu thụy tướng?” Trưởng
giả tử ngôn: “Như ngă tư thổn, định
ưng thị bỉ tŕ nội chúng ngư, như kinh sở
thuyết mạng chung chi hậu, đắc sanh Tam Thập
Tam Thiên. Bỉ lai báo ân, cố hiện như thị hy kỳ
chi tướng”. Vương viết: “Hà dĩ đắc
tri?” Lưu Thủy đáp viết: “Vương khả khiển
sứ, tịnh
ngă nhị tử, văng bỉ tŕ sở, nghiệm kỳ
hư thật, bỉ thập thiên ngư vi tử, vi hoạt?”
Vương văn thị ngữ, tức tiện khiển sứ
cập tử, hướng bỉ tŕ biên, kiến kỳ tŕ
trung đa hữu mạn-đà-la hoa tích thành đại tụ,
chư ngư tịnh tử. Kiến dĩ tŕ hoàn, vị
vương quảng thuyết. Vương văn thị
dĩ, tâm sanh hoan hỷ, thán vị tằng hữu!
(經)佛告善女天:爾時長者子流水及其二子,為彼池魚施水施食并說法已,俱共還家。是長者子流水復於後時,因有聚會設眾妓樂醉酒而臥。時十千魚同時命過,生三十三天,起如是念:我等以何善業因緣生此天中?便相謂曰:我等先於贍部洲內墮傍生中共受魚身,長者子流水施我等水及以飯食,復為我等說甚深法十二緣起及陀羅尼,復稱寶髻如來名號,以是因緣能令我等得生此天。是故我今咸應詣彼長者子所報恩供養。爾時十千天子即於天沒至贍部洲大醫王所。時長者子在高樓上安隱而睡,時十千天子共以十千真珠瓔珞置其頭邊,復以十千置其足處,復以十千置於右脇,復以十千置左脇邊,雨曼陀羅華、摩訶曼陀羅華積至于膝,光明普照,種種天樂出妙音聲,令贍部洲有睡眠者皆悉覺寤。長者子流水亦從睡寤,是時十千天子為供養已,即於空中飛騰而去,於天自在光王國內處處皆雨天妙蓮華。是諸天子復至本處空澤池中雨眾天華,便於此沒還天宮殿,隨意自在受五欲樂。天自在光王至天曉已,問諸大臣:昨夜何緣忽現如是希有瑞相,放大光明?大臣答言:大王當知,有諸天眾於長者子流水家中雨四十千真珠瓔珞及天曼陀羅華積至于膝。王告臣曰:詣長者家,喚取其子。大臣受勅即至其家,奉宣王命喚長者子。時長者子即至王所,王曰:何緣昨夜示現如是希有瑞相?長者子言:如我思忖,定應是彼池內眾魚,如經所說命終之後得生三十三天。彼來報恩,故現如是希奇之相。王曰:何以得知?流水答曰:王可遣使并我二子往彼池所驗其虛實,彼十千魚為死為活?王聞是語,即便遣使及子向彼池邊,見其池中多有曼陀羅華積成大聚,諸魚竝死。見已馳還,為王廣說。王聞是己,心生歡喜,歎未曾有。
(Kinh:
Đức Phật cáo Thiện Nữ Thiên: - Lúc bấy giờ,
trưởng giả tử Lưu Thủy và hai con v́ cá trong
ao đó thí nước, thí thức ăn, và thuyết pháp
xong, đều cùng trở về nhà. Vị trưởng giả
tử Lưu Thủy ấy lại vào lúc sau, do có tụ hội,
bày các thứ kỹ nhạc, say rượu mà nằm. Khi
đó, mười ngàn con cá cùng lúc xả mạng, sanh lên Tam
Thập Tam Thiên, dấy lên ư nghĩ như thế này: “Chúng
ta do nhân duyên nghiệp lành nào mà sanh trong cơi trời này?” Liền
nói với nhau rằng: “Chúng ta trước kia ở trong
châu Thiệm Bộ, đọa làm bàng sanh, cùng mang thân cá.
Trưởng giả tử Lưu Thủy thí nước và
cho chúng ta ăn. Lại v́ chúng ta nói pháp rất sâu là mười
hai duyên khởi và Đà La Ni, lại xưng danh hiệu Bảo
Kế Như Lai. Do nhân duyên ấy, có thể khiến cho
chúng ta được sanh lên cơi trời này. V́ thế, ta nay
đều nên tới chỗ trưởng giả tử
để báo ân, cúng dường”. Lúc bấy giờ, mười
ngàn thiên tử liền biến mất trên trời, đến
chỗ đại y vương trong châu Thiệm Bộ. Khi
đó, trưởng giả tử ở trên lầu cao, nằm
ngủ an ổn. Khi ấy, mười ngàn thiên tử cùng
dùng mười ngàn chuỗi anh lạc bằng chân châu đặt
bên cạnh đầu ông ta. Lại dùng mười ngàn chuỗi
đặt ở nơi chân. Lại dùng mười ngàn chuỗi
đặt ở hông phải. Lại dùng mười ngàn chuỗi
đặt ở bên hông trái. Mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma
ha mạn-đà-la, dồn lại cao tới đầu gối,
quang minh chiếu trọn khắp. Các thứ nhạc trời
vang ra âm thanh mầu nhiệm, khiến cho kẻ đang ngủ
trong châu Thiệm Bộ thảy đều tỉnh giấc.
Trưởng giả tử Lưu Thủy cũng tỉnh
giấc. Khi đó, mười ngàn thiên tử đă cúng
dường xong, liền ở trong hư không bay đi. Trong
nước của vua Thiên Tự Tại Quang, nơi nơi
đều mưa hoa sen mầu nhiệm cơi trời.
Các vị thiên tử ấy lại tới trong ao nơi chằm
trống xứ ấy, mưa các thứ hoa trời, rồi
biến mất tại đó, trở về cung điện
trời, tùy ư tự tại hưởng năm thứ dục
lạc. Vua Thiên Tự Tại Quang tới sáng, hỏi các
đại thần: “Đêm qua do duyên ǵ mà bỗng hiện
tướng tốt lành hiếm có như thế, tỏa
quang minh lớn?” Đại thần tâu rằng: “Đại
vương nên biết: Có các vị trời ở trong nhà của
trưởng giả tử Lưu Thủy mưa bốn
mươi ngàn chuỗi anh lạc chân châu và hoa mạn-đà-la
cơi trời dồn lại cao đến đầu gối”.
Vua bảo bầy tôi rằng: “Đến nhà trưởng
giả, gọi con ông ta [vào chầu]”. Đại thần vâng theo sắc
chỉ, liền đến nhà đó, tuyên nói lệnh vua
đ̣i trưởng giả tử [vào chầu]. Khi đó,
trưởng giả tử liền tới chỗ vua, vua
nói: “Duyên ǵ mà đêm qua thị hiện tướng tốt
lành hiếm có như thế?” Trưởng
giả tử nói: “Như thần
suy nghĩ, chắc chắn phải là lũ
cá trong cái ao đó, như kinh đă nói sau khi mạng chung,
được sanh lên Tam Thập Tam Thiên. Họ đến
báo ân, cho nên hiện tướng hiếm lạ như thế”.
Vua nói: “Làm sao biết được?” Lưu Thủy
đáp rằng: “Vua có thể sai sứ và hai con của thần
đến chỗ ao ấy, kiểm nghiệm thật giả, xem mười ngàn
con cá ấy c̣n sống hay đă chết rồi?” Vua nghe lời
ấy, liền sai sứ giả và con ông ta tới
bên ao ấy. Họ thấy trong ao có nhiều hoa mạn-đà-la
tích tụ
thành đống lớn, lũ
cá đều chết hết. Thấy rồi, họ vội
vă trở về, tâu vua cặn kẽ. Vua nghe chuyện ấy
xong, tâm sanh hoan hỷ, than là chưa từng có).
Kế
đó, phần thứ tư trong chuyện cứu cá là “cá
báo ân”. Kinh văn chia thành mười bốn đoạn:
- Một,
ba vị đại sĩ trở về nhà.
-
Hai, từ “thị trưởng giả tử” (vị
trưởng giả tử ấy) trở đi, trưởng
giả tử say rượu, nằm
ngủ.
-
Ba, từ “thời, thập thiên ngư” (khi đó,
mười ngàn con cá) trở đi, cá qua đời, sanh lên
trời.
- Bốn,
từ “khởi như thị niệm” (dấy lên ư niệm
như thế này) trở đi, nghĩ biết túc nghiệp.
-
Năm, từ “thị cố ngă kim” (v́ thế, ta nay)
trở đi, bàn luận phải nên báo ân.
-
Sáu, từ “nhĩ thời, thập thiên” (lúc bấy giờ,
mười ngàn) trở đi, chư thiên báo ân. Trong ấy,
lại có ba ư:
a. Từ
trời giáng xuống.
b. Từ
“thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng
giả tử) trở đi, báo đức.
c. Từ
“tiện ư thử một” (liền biến mất
nơi đây) trở đi, xong việc, trở về trời.
Trong
phần “báo đức”, có ba ư:
* Một là báo ân
trưởng giả.
* Hai
là từ “ư Thiên Tự Tại Quang vương” (ở
chỗ vua Thiên Tự Tại Quang) trở đi, báo ơn quốc
vương, do vua cho mượn voi, lại c̣n hộ tŕ Phật
pháp,
khiến cho ta được nghe.
* Ba
là từ “thị chư thiên tử” (các thiên tử ấy)
trở đi, báo ân chỗ sanh.
- Bảy,
từ “Thiên Tự Tại Quang vương” trở
đi, vua hỏi về điềm lành.
-
Tám, từ “đại thần đáp ngôn” (đại
thần đáp rằng) trở đi, quần thần
đáp cặn kẽ.
-
Chín, từ “vương cáo thần viết” (vua bảo
bầy tôi rằng) trở đi, vua sai sứ giả gọi
tới.
-
Mười, từ “thời trưởng giả tử”
(khi đó, trưởng giả tử) trở đi, trưởng
giả nghe theo lệnh đ̣i.
-
Mười một, từ “vương viết” (vua
nói) trở đi, vua đích thân hỏi.
-
Mười hai, từ “trưởng giả tử ngôn”
(trưởng giả tử nói) trở đi, trưởng
giả trả lời cặn kẽ.
-
Mười ba, từ “vương viết hà dĩ”
(vua nói v́ sao) trở đi, kiểm nghiệm thật giả.
-
Mười bốn, từ “vương văn thị”
(vua nghe điều ấy) trở đi, sanh ḷng tin, hoan hỷ.
5.25.4.3. Kết lại,
dung hội xưa nay
(Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Bồ Đề
thụ thần: - Thiện Nữ Thiên! Nhữ kim
đương tri, tích thời trưởng giả tử
Lưu Thủy giả, tức ngă thân thị,
Tŕ Thủy trưởng giả tức Diệu Tràng thị.
Bỉ chi nhị tử, trưởng tử Thủy Măn tức
Ngân Tràng thị. Thứ tử Thủy Tạng tức Ngân
Quang thị. Bỉ Thiên Tự Tại Quang vương giả,
tức nhữ Bồ Đề thụ thần thị. Thập
thiên ngư giả tức thập thiên thiên tử thị. Nhân ngă văng tích
dĩ thủy tế ngư, dữ thực linh băo, vị
thuyết thậm thâm thập nhị duyên khởi, tịnh
thử tương ứng Đà La Ni chú, hựu vị
xưng bỉ Bảo Kế Phật danh. Nhân thử thiện
căn, đắc sanh thiên thượng, kim lai ngă sở,
hoan hỷ thính pháp. Ngă giai đương vị thọ
ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề kư,
thuyết kỳ danh hiệu. Thiện Nữ Thiên! Như ngă
văng tích ư sanh tử trung, luân hồi chư hữu, quảng
vi lợi ích, linh vô lượng chúng sanh tất linh thứ
đệ thành Vô Thượng Giác, dữ kỳ thọ kư.
Nhữ đẳng giai ưng cần cầu xuất ly, vật
vi phóng dật.
(經)爾時佛告菩提樹神:善女天!汝今當知昔時長者子流水者即我身是,持水長者即妙幢是。彼之二子,長子水滿即銀幢是,次子水藏即銀光是。彼天自在光王者即汝菩提樹神是,十千魚者即十千天子是。因我往昔以水濟魚與食令飽,為說甚深十二緣起,并此相應陀羅尼呪,又為稱彼寶髻佛名,因此善根得生天上,今來我所歡喜聽法,我皆當為授於阿耨多羅三藐三菩提記、說其名號。善女天!如我往昔於生死中輪迴諸有廣為利益,令無量眾生悉令次第成無上覺,與其授記。汝等皆應勤求出離,勿為放逸。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo thần cây Bồ
Đề: - Thiện Nữ Thiên! Bà nay nên biết, trưởng
giả tử Lưu Thủy xưa kia chính là thân ta. Trưởng
giả Tŕ Thủy nay chính là Diệu Tràng. Hai con của ông
ta, con trưởng là Thủy Măn tức là Ngân Tràng. Con thứ
là Thủy Tạng tức Ngân Quang. Vua Thiên Tự Tại
Quang chính là bà, thần cây Bồ Đề. Mười ngàn
con cá tức là mười ngàn thiên tử. Do ta xưa kia
dùng nước cứu cá, cho chúng ăn no, v́ chúng nó nói
mười hai duyên khởi rất sâu, và chú Đà La Ni
tương ứng này, lại v́ chúng nó xưng danh hiệu
Phật Bảo Kế. Do thiện căn ấy, chúng
được sanh lên trời, nay đến chỗ ta, hoan
hỷ nghe pháp, ta sẽ đều thọ kư Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác cho họ, nói ra danh hiệu. Thiện
Nữ Thiên! Như ta xưa kia ở trong sanh tử, luân hồi
các cơi, rộng tạo lợi ích, khiến cho vô lượng
chúng sanh thảy đều theo thứ tự thành Vô Thượng
Giác, và thọ kư cho họ. Các ngươi đều nên
siêng cầu xuất ly, đừng buông lung).
Kế
đó, đoạn thứ ba là “kết lại bằng
cách dung hội xưa nay”, gồm có bốn ư:
- Một,
kết lại bằng cách dung hội [thân hiện tại
và xưa kia của] cha con Bồ Tát.
-
Hai, từ “bỉ Thiên Tự Tại” (Thiên Tự Tại
ấy) trở đi, dung hội
[thân xưa và thân hiện tại của]
thần cây.
-
Ba, từ “thập thiên ngư” (mười ngàn con cá)
trở đi, kết lại dung hội [thân xưa và hiện
tại] của các thiên tử. Trong ấy, lại có ba
điều:
a.
Trước hết, kết lại sự
dung hội về người.
b. Kế
đó, từ “nhân ngă” (do ta) trở đi, kết hội
về pháp.
c.
Sau đó, từ “nhân thử thiện căn” (do thiện
căn ấy) trở đi, tổng kết nguyên do: Do cái
nhân tốt lành mà được thọ kư.
- Bốn,
từ “Thiện Nữ Thiên” trở đi, khuyên nên tin
tưởng, tu tập.
5.25.4.4. Đại chúng
lănh ngộ, vâng theo đó tu học
(Kinh)
Nhĩ thời, đại chúng văn thuyết thị
dĩ, tất giai ngộ giải “do đại từ bi cứu
hộ nhất thiết, cần tu khổ hạnh,
phương năng chứng hoạch Vô Thượng Bồ
Đề”, hàm phát thâm tâm tín thọ, hoan hỷ.
(經)爾時大眾聞說是已,悉皆悟解由大慈悲救護一切勤修苦行方能證獲無上菩提,咸發深心信受歡喜。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đại chúng nghe nói như
thế xong, thảy đều ngộ giải “do đại
từ bi cứu giúp, bảo
vệ hết thảy, siêng tu khổ hạnh,
th́ mới có thể chứng được Vô Thượng
Bồ Đề”, đều phát tâm tin nhận sâu xa và hoan
hỷ).
Kế
đó, đoạn thứ tư là “[đại chúng] lănh
ngộ, vâng theo đó tu học”.
Hỏi:
Phẩm này đă nói cái nhân khiến cho các thiên tử
được thọ kư nhằm
trừ nghi cho đại chúng, cớ
sao trong phần lănh ngộ lại nói đại chúng ngộ
giải “do đại từ bi hành các khổ hạnh th́
mới chứng đắc Bồ Đề”?
Đáp:
Chuẩn theo phần “dung hội [thân xưa kia và hiện
tại] để kết lại”, chỉ kết lại
các thiên tử, rơ ràng chỉ v́ đại chúng trừ mối
nghi đối với nguyên do các thiên tử được
thọ kư. Nói hiểu “do hành đại từ bi v.v… mà
đắc Bồ Đề” chính là ư nghĩa kèm theo. Lại
biết mười ngàn vị thiên tử cũng hành khổ
hạnh v.v… sau đó mới đắc Bồ Đề,
cho nên [đại chúng] đều học tập, hành theo!
Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ
mười
5.26. Phẩm thứ
hai mươi sáu: Xả Thân (Xả thân phẩm đệ
nhị thập lục, 捨身品第二十六)
Phẩm Xả Thân gồm ba
môn phân biệt.
5.26.1. Ư nghĩa v́
sao có phẩm này?
Nói tới ư nghĩa v́ sao có
phẩm này, trong phần Học Hạnh Lưu Thông có
năm tiểu loại. Tiểu loại thứ năm nhằm
thành tựu ư nghĩa dạy học tập, hành theo trong các
phẩm trước, gồm ba phẩm. Phẩm này chính là
phẩm thứ ba nhằm khuyên lơn, khích lệ lần nữa,
nên nói chuyện xả thân này. V́ sao vậy? Sợ người
nghe do nghe nói “hành hạnh tự lợi sẽ được
thành Phật”, vẫn chưa thể tu tập. V́ thế, nêu ra chuyện
ngài Tát Đỏa chuyên chú trọng v́ lợi ích người
khác mà xả thân mạng, [ngơ hầu thính chúng sẽ suy
nghĩ]: Sao chẳng v́ chính ḿnh mà tu hành kinh này? V́ thế,
nói xả thân. Do vậy, kinh văn trong phần sau chép: “Ngă
vị nhữ đẳng thuyết văng tích lợi tha duyên,
như thị Bồ Tát hành thành Phật nhân,
đương học” (ta v́ các vị nói cái duyên lợi
tha xưa, Bồ Tát hành cái nhân thành Phật như thế,
hăy nên học theo) v.v… Lại sợ nghe nói “thiểu hành
thành Phật” (hành đôi chút mà được thành Phật),
tâm t́nh sẽ sanh khinh mạn; cho nên nêu lên chuyện xả
thân, khuyên mọi người hăy học theo. Do đó, kinh
văn trong phần sau dạy: “Bồ Tát thắng đức
tương ứng huệ, dũng mănh tinh cần
Lục Độ viên, thường tu bất tức vị
Bồ Đề, nhập xả kiên
cố tâm vô quyện” (đức thù thắng của Bồ
Tát tương ứng huệ, dũng mănh siêng ṛng, hành Lục Độ
viên măn, thường tu chẳng ngơi nghỉ. V́ Bồ Đề
mà nhập xả kiên cố, tâm không mệt mỏi). Phẩm
trước là chánh ư, phẩm này nói kèm thêm; đó đều là
ư nghĩa v́ sao có phẩm này!
5.26.2. Giải thích tên gọi của phẩm
V́ cầu đại giác,
thường tu bi trí, gặp “khổ lương điền”,
thề tổn thân mạng, chẳng giữ địa vị
tôn quư. V́ rủ ḷng cứu kẻ bị treo ngược mà
có thể hành hạnh khó thí. Nêu ra [các chuyện ấy] làm
tên gọi của phẩm, bèn nói là phẩm Xả Thân.
5.26.3. Giải thích vấn nạn
* Hỏi:
Sự xả thân này là xả trong kiếp nào của ba
A-tăng-kỳ?
Đáp:
Chưa thấy chánh văn [nói rơ thuộc kiếp nào].
Tương truyền Ngài xả thân trong A-tăng-kỳ kiếp
thứ ba. Do trong kiếp đầu, hạnh c̣n kém, chẳng
thể thực hiện chuyện xả thân mạng này. Chuẩn
theo đó th́ phải nên thuộc vào hai A-tăng-kỳ sau!
* Hỏi:
Theo các bộ luận như luận Du Già Sư Địa
v.v…, trong A-tăng-kỳ thứ ba, nhất định thọ
thân Biến Dịch, sao có thể xả thân lưu lại hài cốt cho
được?
Đáp:
Xả hóa thân.
* Hỏi:
Nếu vậy, sao không hóa thành các loại thịt khác để
thí cho hổ đói, mà lại hóa hiện xả thân?
Đáp:
Hóa tự thân để thí sẽ lợi ích chúng sanh rất
nhiều.
* Hỏi:
Nếu vậy, cớ sao kinh Kim Quang Minh trong bản dịch
cũ nói: “Xả thân tự hổ siêu thập nhất kiếp”
(Xả thân nuôi hổ siêu việt mười một kiếp)?
Đáp:
Cũng là biến hóa.
* Hỏi:
Nếu vậy, v́ sao các kinh như Phật Tạng v.v… nói: “Di
Lặc Phật tại Thích Ca tiền tứ thập kiếp
phát Bồ Đề tâm” (Phật Di Lặc phát Bồ
Đề tâm trước Phật Thích Ca bốn mươi
kiếp), các kinh như Hiền Kiếp v.v… nói: “Thích Ca do
tinh tấn cố, siêu quá Di Lặc tứ thập kiếp,
tại
tiền thành Phật” (Thích Ca do tinh tấn,
vượt hơn Di Lặc bốn mươi kiếp,
thành Phật trước)?
Đáp:
V́ căn tánh của chúng sanh được giáo hóa chín muồi
trước hay sau, cho nên hai vị Bồ Tát bèn nói có chuyện
“vượt thoát kiếp số”. Nếu chẳng phải
như
vậy, sao lại nói “từ Bát
Địa trở đi, tăng tấn địa vị
trong mỗi sát-na”? Đều là tăng tấn gấp bội,
sao lại siêu việt cho được? Lại giải rằng:
Tăng tấn gấp bội là so với trước
đó và hạnh tự lợi. Đối với hạnh lợi
tha, chưa chắc đă tăng gấp bội. V́ thế
nói nhập Cửu Địa th́ mới đoạn
được chướng ngại “chẳng muốn
hành hạnh lợi tha” của [Bát Địa]. Lại giải
rằng: Do gộp chung cả hai nghĩa trên đây, nên có thể
nói là “siêu việt”.
* Hỏi:
Đoạn trừ chướng ngại “chẳng lợi
tha” trong Đệ Cửu Địa, cớ sao Phật
Thích Ca tu trọn ba A-tăng-kỳ, trong một trăm kiếp,
gặp Phất Sa Phật, do kiễng chân tán thán mà siêu việt
chín kiếp?
Đáp:
V́ cơ nghi của chúng sanh [mà nói như vậy], cho nên chẳng
phạm lỗi ǵ!
* Hỏi:
V́ sao xả thân chẳng thành cái quả thọ lượng
của Như Lai, mà nói là “nêu ra khổ hạnh nhằm
khuyên lơn, khuyến khích người tŕ kinh tu hạnh tự
lợi” vậy?
Đáp:
Xét theo phần trước, Diệu Tràng Bồ Tát chỉ
nghi thọ mạng, chẳng nêu ra cái nhân của trường
thọ. Ngài chẳng nghi trường thọ do tu hạnh
nào mà đạt được; do vậy, chẳng cần
phải kết lại điều đó.
5.26.4. Giải thích kinh
văn
5.26.4.1. Trần thuật
chuyện xả thân xưa kia
5.26.4.1.1. Kết lại
phần trước, dẫn khởi phần sau
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn dĩ vị
đại chúng thuyết thử thập thiên thiên tử
văng tích nhân duyên.
(經)爾時世尊已為大眾說此十千天子往昔因緣。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đă v́ đại
chúng nói nhân duyên xưa kia của mười ngàn vị thiên
tử ấy).
Tán
rằng: Kinh văn của phẩm này, chia đại lược
thành bốn phần:
- Một,
trần thuật chuyện xả thân xưa kia.
-
Hai, từ “phục cáo A Nan Đà” (lại bảo A Nan
Đà) trở đi, dung hội xưa nay.
-
Ba, từ “ngă vị nhữ đẳng thuyết” (ta
v́ các ngươi nói) trở đi, khuyên lơn, khích lệ
tu học.
- Bốn,
từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn) trở đi, đại chúng nghe
xong, đạt được lợi ích.
Phần
thứ nhất lại chia thành ba đoạn:
- Một,
kết lại phần trước để dẫn khởi
đầu mối sẽ nói trong phần sau.
- Hai,
từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn) trở đi, hiện ra chế-để
(tháp miếu) để
dẫn khởi,
ḥng trần thuật chuyện xả thân.
-
Ba, từ “phục cáo A Nan Đà” (lại bảo A Nan
Đà) trở đi, đàm luận chuyện xả thân
xưa kia ḥng lợi ích đại chúng trong hội thuở
đó.
Đoạn
thứ nhất lại gồm ba ư, đoạn này thuộc
ư thứ nhất, tức là người kết tập kinh
kết lại phần trước.
(Kinh)
Phục cáo Bồ Đề thụ thần, cập chư
đại chúng: - Ngă ư quá khứ hành Bồ Tát đạo,
phi đản thí thủy cập thực, tế
bỉ ngư mạng, năi chí diệc xả sở ái chi thân,
như thị nhân duyên,
khả cộng quán sát.
(經)復告菩提樹神及諸大眾:我於過去行菩薩道,非但施水及食濟彼魚命,乃至亦捨所愛之身,如是因緣可共觀察。
(Kinh:
Lại bảo thần cây Bồ Đề và các đại
chúng: - Ta trong quá khứ hành Bồ Tát đạo, không chỉ
thí nước và thức ăn để cứu mạng
cho cá, thậm chí cũng xả tấm thân đáng yêu mến,
nhân duyên như thế, [các vị] có thể cùng quan sát).
Kế
đó, đức Thế Tôn dẫn khởi phần sau, có bốn
ư:
- Một,
bảo ban thời cơ.
-
Hai, từ “phi đản” (không chỉ) trở đi,
nhắc lại đại lược điều đă nói
trước đó.
-
Ba, từ “năi chí” (thậm chí) trở đi, nêu cái nhân
càng rộng lớn, thù thắng hơn.
- Bốn,
từ “như thị” (như thế) trở đi,
khuyên răn đại chúng trong hội thuở ấy.
(Kinh) Nhĩ thời, Như Lai, Ứng, Chánh
Đẳng Giác, thiên thượng, thiên hạ tối thắng,
tối tôn, bách thiên quang minh chiếu thập phương giới,
cụ Nhất Thiết Trí, công đức viên măn,
tương chư bật-sô, cập ư đại chúng,
chí Bàn Giá La tụ lạc, nghệ nhất lâm trung. Kỳ
địa b́nh chánh, vô chư kinh cức, danh hoa, nhuyễn thảo
biến bố kỳ xứ. Phật cáo Cụ Thọ A Nan
Đà: “Nhữ khả ư thử thụ hạ, vị ngă
phu ṭa”. Thời A Nan Đà thọ giáo, phu dĩ, bạch
ngôn: “Thế Tôn! Kỳ ṭa phu ngật, duy thánh tri thời”.
(經)爾時如來、應、正等覺,天上天下最勝最尊、百千光明照十方界、具一切智功德圓滿,將諸苾芻及於大眾至般遮羅聚落詣一林中,其地平正無諸荊棘,名華軟草遍布其處。佛告具壽阿難陀:汝可於此樹下為我敷座。時阿難陀受教敷已,白言:世尊!其座敷訖,唯聖知時。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng
Giác, là bậc tôn quư nhất, thù thắng nhất trên cơi trời
và trong nhân gian, trăm ngàn quang minh chiếu mười
phương thế giới, trọn Nhất Thiết Trí,
công đức viên măn, dẫn các bật-sô và các đại
chúng đến xóm Bàn Giá La, tới một khu rừng. Đất
nơi đó bằng phẳng, ngay ngắn, không có các thứ
gai góc, hoa quư và cỏ mịn phủ khắp nơi. Đức
Phật bảo Cụ Thọ A Nan Đà: “Ông hăy nên v́ ta trải
ṭa ở dưới cội cây”. Khi đó, A Nan Đà vâng lời
dạy, trải xong, bạch rằng: - Bạch Thế Tôn!
Ṭa này đă trải xong, xin đức thánh biết thời).
Kế
đó là tạo đầu mối để nói, có hai phần:
- Một,
tán thán Phật đức tôn quư, hiện quang minh để
nhóm họp đại chúng.
-
Hai, từ “tương chư bật-sô” (dẫn các bật-sô) trở đi, [đức
Phật] hướng dẫn đại chúng trong hội thuở
đó đến đạo tràng. Bàn Giá La (Pañcāla)
được phương này dịch
là Tổng Tập (總集), cũng có nghĩa là “dùng lồng
để nhốt sư tử” th́ gọi là Bàn Giá La, tức
là người xứ ấy bắt sư tử v.v… bèn dùng
lồng để nhốt, nên đặt tên như vậy.
Chỗ người tụ tập sinh sống th́ gọi là “tụ lạc” (聚落). “Lạc” cũng là đ́nh viện.
Theo Tây Vực Truyện, tại nước Đát Xoa Thỉ
La (Taksaśilā) thuộc vùng Bắc Ấn Độ, ở phía Tây Bắc
của nước Ca Thấp Di La (Kāśmīra), tại miền Bắc của nước [Đát Xoa]
Thỉ La, vượt qua sông Tín Độ (Sindhus) hai trăm
dặm về phía Đông Nam, vượt qua một cửa đá
lớn, chính là nơi vương tử Tát Đỏa xả
thân để nuôi cọp đói. Tại đó, đất đai
và các thảo mộc đều hơi
có màu đỏ tươi, giống như nhiễm máu vậy. Người
đi trên đất ấy, như bị gai đâm, bất
luận là ngờ vực hay tin tưởng, không ai chẳng
buồn thương!
-
Ba, từ “Phật cáo Cụ Thọ” (đức Phật bảo Cụ Thọ)
trở đi, đức Phật sắc
truyền ngài A Nan trang nghiêm pháp ṭa, gồm ba ư: Một,
đức Phật sắc truyền. Hai, [ngài A Nan] vâng theo lời
truyền dạy. Ba, [ngài A Nan] khải
thỉnh!
5.26.4.1.2. Hiện ra chế-để
để dẫn khởi, ḥng trần thuật chuyện xả
thân
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn tức ư ṭa thượng, già
phu nhi tọa, đoan thân, chánh niệm, cáo chư bật-sô:
“Nhữ đẳng nhạo dục kiến bỉ văng tích
khổ hạnh Bồ Tát bổn xá-lợi phủ?” Chư bật-sô
ngôn: “Ngă đẳng nhạo kiến”. Thế Tôn tức
dĩ bách phước trang nghiêm tướng hảo chi thủ
nhi án kỳ địa, vu thời đại địa lục
chủng chấn động, tức tiện khai liệt,
thất bảo chế-để hốt nhiên dũng xuất.
Chúng bảo la vơng trang nghiêm kỳ thượng. Đại
chúng kiến dĩ, sanh hy hữu tâm. Nhĩ thời, Thế
Tôn tức tùng ṭa khởi, tác lễ, hữu
nhiễu, hoàn tựu bổn tọa, cáo A Nan Đà: “Nhữ
khả khai thử chế-để chi hộ”. Thời A
Nan Đà tức khai kỳ hộ, kiến thất bảo
hàm, kỳ trân gián sức, bạch ngôn: “Thế Tôn! Hữu
thất bảo hàm, chúng bảo trang hiệu”. Phật ngôn:
“Nhữ khả khai hàm”. Thời A Nan Đà phụng giáo,
khai dĩ, kiến hữu xá-lợi bạch như kha tuyết,
câu vật đầu hoa, tức bạch Phật ngôn: “Hàm hữu
xá-lợi, sắc diệu dị thường”. Phật
ngôn: “A Nan Đà! Nhữ khả tŕ thử đại sĩ
cốt lai”. Thời A Nan Đà tức thủ kỳ cốt,
phụng thọ Thế Tôn. Thế Tôn thọ dĩ, cáo
chư bật-sô: “Nhữ đẳng ưng quán khổ hạnh
Bồ Tát di thân xá-lợi”, nhi thuyết tụng viết: “Bồ
Tát thắng đức tương ứng huệ, dũng
mănh tinh cần Lục Độ viên, thường tu bất
tức vị Bồ Đề, đại xả kiên cố
tâm vô quyện. Nhữ đẳng bật-sô hàm ưng lễ
kính Bồ Tát bổn thân. Thử chi xá-lợi năi thị
vô lượng giới định huệ hương chi sở
huân phức, tối thượng phước điền,
cực nan phùng ngộ”. Thời chư bật-sô, cập
chư đại chúng, hàm giai chí tâm, hiệp chưởng
cung kính,
đảnh lễ xá-lợi, thán vị tằng hữu. Thời
A Nan Đà tiền lễ Phật túc, bạch ngôn: “Thế
Tôn! Như Lai đại sư xuất quá nhất thiết,
vi chư hữu t́nh chi sở cung kính, hà nhân duyên cố, lễ
thử thân cốt?” Phật cáo A Nan Đà: - Ngă nhân thử cốt,
tốc đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề, vị báo văng ân, ngă kim trí lễ.
(經)爾時世尊即於座上跏趺而坐,端身正念,告諸苾芻:汝等樂欲見彼往昔苦行菩薩本舍利不?諸苾芻言:我等樂見。世尊即以百福莊嚴相好之手而按其地,于時大地六種震動即便開裂,七寶制底忽然涌出,眾寶羅網莊嚴其上。大眾見已,生希有心。爾時世尊即從座起,作禮右遶,還就本座,告阿難陀:汝可開此制底之戶。時阿難陀即開其戶,見七寶函奇珍間飾,白言:世尊!有七寶函眾寶莊校。佛言:汝可開函。時阿難陀奉教開已,見有舍利白如珂雪、拘物頭華,即白佛言:函有舍利,色妙異常。佛言:阿難陀!汝可持此大士骨來。時阿難陀即取其骨奉授世尊。世尊受已,告諸苾芻:汝等應觀苦行菩薩遺身舍利。而說頌曰:菩薩勝德相應慧,勇猛精勤六度圓,常修不息為菩提,大捨堅固心無倦。汝等苾芻咸應禮敬菩薩本身,此之舍利乃是無量戒定慧香之所熏馥最上福田,極難逢遇。時諸苾芻及諸大眾咸皆至心合掌恭敬頂禮舍利,歎未曾有。時阿難陀前禮佛足,白言:世尊!如來大師出過一切為諸有情之所恭敬,何因緣故禮此身骨?佛告阿難陀:我因此骨速得無上正等菩提,為報往恩我今致禮。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền ngồi
xếp bằng trên ṭa, đoan thân, chánh niệm, bảo các
bật-sô: “Các ông có thích muốn thấy xá-lợi của vị
Bồ Tát khổ hạnh xưa kia hay không?” Các bật-sô
thưa: “Chúng con thích thấy”. Đức Thế Tôn liền
dùng cánh tay trăm phước tướng hảo trang nghiêm
ấn xuống đất. Ngay khi đó, đại địa
chấn động sáu cách, lập tức nứt ra, tháp miếu
bảy báu bỗng dưng vọt lên. Các thứ lưới
mành báu trang nghiêm phía trên. Đại
chúng thấy rồi, sanh tâm hy hữu. Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, làm lễ, nhiễu theo chiều phải,
trở về ṭa ngồi, bảo A Nan Đà: “Ông có thể mở
cửa tháp này”. Khi đó, ngài A Nan Đà liền mở cửa,
thấy hộp bằng bảy báu, các thứ báu hiếm lạ
xen kẽ. Bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Có hộp bằng
bảy báu, được trang hoàng bằng các thứ báu”.
Đức Phật bảo: “Ông có thể mở hộp”. Khi
đó, ngài A Nan Đà vâng lời, mở ra, thấy có xá-lợi
trắng như kha tuyết, hoặc hoa Câu Vật Đầu,
liền bạch cùng đức Phật rằng: “Trong hộp
có xá lợi, màu sắc kỳ diệu lạ thường”.
Đức Phật nói: “A Nan Đà! Ông nên đem xương
của vị đại sĩ ấy lại đây”. Lúc
đó, ngài A Nan Đà liền lấy xương ấy dâng
lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nhận lấy
rồi, bảo các bật-sô: “Các ông hăy nên quán di thân xá-lợi
của bậc Bồ Tát khổ hạnh”, bèn nói bài tụng
rằng: “Bồ Tát thắng đức tương ứng
huệ, dũng mănh, siêng ṛng, Lục Độ vẹn.
Thường v́ Bồ Đề tu chẳng dứt, tâm
đại xả kiên cố chẳng mệt. Hàng bật-sô
các ông đều nên lễ kính bổn thân của Bồ Tát.
Xá-lợi này được vô lượng hương Giới
Định Huệ xông ướp thơm ngát, là ruộng
phước tối thượng, tột bậc khó gặp
gỡ”. Khi đó, các bật-sô và các đại chúng thảy
đều chí tâm, chắp tay cung kính đảnh lễ xá-lợi,
than là chưa từng có. Khi đó, ngài A Nan Đà đối
trước đức Phật, lễ dưới chân Ngài,
bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Như Lai đại
sư vượt ngoài hết thảy, được các hữu
t́nh cung kính, do nhân duyên nào mà lễ xương này?” Đức
Phật bảo ngài A Nan Đà: - Ta do xương này mà mau
chóng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề,
v́ báo ân xưa, nay ta kính lễ).
Kế
đó, hiện ra chế-để ḥng làm đầu mối
trần thuật chuyện xả thân. Trong ấy, lại
chia thành mười tám đoạn:
- Một,
[đức Phật] hỏi ư mong muốn của đại
chúng.
-
Hai, từ “chư bật-sô ngôn” (các bật-sô nói) trở
đi, đại chúng đáp thích thấy.
-
Ba, từ “Thế Tôn tức dĩ” (đức Thế
Tôn liền dùng) trở đi, đức Phật hiện thần
thông. Hỏi: Sao không trực tiếp khiến cho tháp vọt
lên, hiện ra, mà dùng tay ấn đất, tháp mới vọt
lên? Đáp: Nếu không dùng tay ấn, trực tiếp để
tháp hiện lên, đại chúng sẽ không biết thần
lực của Phật. [Đoạn này] có ba ư: Một là
dùng tay ấn xuống đất, hai là đất chấn
động, ba là đất nứt ra.
- Bốn,
từ “thất bảo chế-để” (tháp miếu
bảy báu) trở đi, tháp báu vọt lên, hiện ra. Chế-để
(Caitya) là tiếng Phạn, là từ ngữ để gọi
chung chùa, tháp của Phật. Nếu gọi riêng biệt, Phật
đường được gọi là Chế Đa
(Chaitya), phương này dịch là Linh Thố (靈厝, pḥng ốc thiêng liêng), phiên âm theo lối
cũ thành Chi Đề (支提)
là sai! Tháp gọi là Tốt-đổ-ba (Stūpa),
phương này dịch là Cao Hiển (cao tột và rạng
rỡ), dịch theo lối cũ là Phật Tháp, Tháp Bà, Luân
Bà v.v… đều sai. Trong đoạn này, có ba ư: Một, chế-để
vọt ra; hai là [tháp được] trang nghiêm bằng các thứ
báu; ba là đại chúng trông thấy. Hỏi: Tháp xả thân
sao không ẩn trên hư không, mà ch́m trong đất? Đáp:
Muốn hiển thị xá-lợi của Pháp Thân nơi nhân
do bị các chướng ngăn che mà chẳng thể hiển
hiện. Do phương tiện của Phật mới có thể
hiển lộ. V́ thế, ẩn trong đất, phải ấn
xuống đất th́ tháp mới vọt lên.
-
Năm, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn) trở đi, [đức Thế
Tôn do] báo ân mà kính lễ. Như ngạ quỷ dùng roi
đánh xác chết, chư thiên lễ xương khô[14],
đều
nhằm dụng ư khiến cho đại
chúng tu nhân. V́ thế, báo ân xưa.
-
Sáu, từ “cáo A Nan Đà” (bảo A Nan Đà) trở
đi, sắc truyền mở tháp.
- Bảy,
từ “thời A Nan Đà” (khi đó, A Nan Đà) trở
đi, vâng mạng mở tháp. Trong ấy, có hai ư: Một là
mở tháp, hai là thấy cái hộp [bảy báu đựng
xá-lợi].
-
Tám, từ “bạch ngôn: - Thế Tôn” (bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn!) trở đi, thưa tŕnh dựa theo
những ǵ trông thấy. Hiển thị Như Lai Tạng
có trọn đủ tánh công đức; v́ thế, các báu
trang nghiêm hộp [đựng xá-lợi].
-
Chín, từ “Phật ngôn” (đức Phật nói) trở
đi, sắc truyền mở hộp.
-
Mười, từ “thời A Nan” (khi đó, A Nan) trở
đi, ngài Khánh Hỷ (A Nan Đà) vâng theo lời dạy.
[Đoạn này] có hai ư: Trước là mở hộp, sau là
trông thấy, biểu thị lư tánh thanh tịnh, chẳng phải
là vật bị ô nhiễm, giống như hoa sen trắng.
-
Mười một, từ “tức bạch” (liền bạch)
trở đi, A Nan lại thưa tŕnh.
-
Mười hai, từ “Phật ngôn” (đức Phật
nói) trở đi, đức Phật bảo mang [xá-lợi]
đến.
-
Mười ba, từ “thời A Nan” (khi đó, ngài A
Nan) trở đi, Khánh Hỷ dâng lên.
-
Mười bốn, từ “Thế Tôn thọ dĩ” (Thế
Tôn nhận lấy xong) trở đi, đức Phật nhận
lấy, nói ra nhân duyên, gồm ba ư: Một, đức Phật
nhận lấy. Hai là khuyên [đại chúng hăy] nh́n xem. Ba là
ca tụng, tán thán.
-
Mười lăm, từ “nhữ đẳng” (các ông)
trở đi, đức Thế Tôn dạy hăy lễ bái.
Trong ấy, có hai ư: Trước là dạy lễ bái, sau là giải
thích nguyên do. Năm phần Pháp Thân hương, [chánh kinh chỉ]
nêu ra ba phần để liên tưởng hai phần kia. Giới
tức là Biệt Giải Thoát, Định là vô biểu
định, Huệ là tên gọi khác của Như, Giải
Thoát tức là Thắng Giải Số, Giải Thoát Tri Kiến
là duyên vô vi Huệ. Nói cặn kẽ th́ như các bộ Tạp
Tập, Đại Trang Nghiêm v.v… đă biện định.
-
Mười sáu, từ “thời chư” (khi đó, các [bật-sô])
trở đi, [các tỳ-kheo] vâng theo lời dạy, lễ
bái, tán thán.
-
Mười bảy, từ “thời A Nan” (khi đó, A
Nan) trở đi, A Nan hỏi đức Phật lư do Ngài lễ bái.
-
Mười tám, từ “Phật cáo” (đức Phật
bảo) trở đi, giải đáp lư do lễ kính.
5.26.4.1.3. Trần thuật
chuyện Bồ Tát xả thân khi xưa
5.26.4.1.3.1. Trường
hàng
5.26.4.1.3.1.1. Nêu ra quyến
thuộc của Bồ Tát
(Kinh)
Phục cáo A Nan Đà: “Ngô kim
vị nhữ cập chư đại
chúng đoạn trừ nghi hoặc, thuyết thị xá-lợi
văng tích nhân duyên. Nhữ đẳng thiện tư,
đương nhất tâm thính.” A Nan Đà viết: “Ngă
đẳng nhạo văn, nguyện vị khai xiển”. “A
Nan Đà! Quá khứ thế thời, hữu nhất quốc
vương, danh viết Đại Xa, cự phú, đa tài,
khố tạng doanh măn, quân binh vũ dũng, chúng sở
khâm phục, thường dĩ chánh pháp thí hóa kiềm lê,
nhân dân xí thịnh, vô hữu oán địch. Quốc thái phu
nhân đản sanh tam tử, nhan dung đoan chánh, nhân sở
nhạo quán. Thái tử danh viết Ma Ha Ba La, thứ tử
danh viết Ma Ha Đề Bà, ấu tử danh viết Ma Ha
Tát Đỏa”.
(經)復告阿難陀:吾今為汝及諸大眾斷除疑惑,說是舍利往昔因緣。汝等善思,當一心聽。阿難陀曰:我等樂聞,願為開闡。阿難陀!過去世時有一國王名曰大車,巨富多財庫藏盈滿,軍兵武勇眾所欽伏,常以正法施化黔黎,人民熾盛無有怨敵。國太夫人誕生三子,顏容端正人所樂觀,太子名曰摩訶波羅,次子名曰摩訶提婆,幼子名曰摩訶薩埵。
(Kinh:
Lại bảo A Nan Đà: “Ta nay v́ ông và các đại chúng
đoạn trừ nghi hoặc, nói nhân duyên xưa kia của
xá-lợi này. Các ông khéo suy nghĩ, hăy nên nhất tâm nghe”. A
Nan Đà thưa: “Chúng con thích nghe, xin hăy v́ chúng con khai xiển”.
“A Nan Đà! Trong thời quá khứ, có một quốc
vương, tên là Đại Xa, giàu to, nhiều tiền của,
kho tàng đầy ắp, binh lính vũ dũng, mọi
người khâm phục. Thường dùng chánh pháp để
ban bố, giáo hóa dân đen. Nhân dân đông đảo, chẳng
có oán địch. Quốc thái phu nhân sanh hạ ba trai, dung mạo
đoan chánh, mọi người thích thấy. Thái tử tên
là Ma Ha Ba La, con thứ tên là Ma Ha Đề Bà, con út tên là Ma
Ha Tát Đỏa”).
Kế
đó, đàm luận chuyện xả thân xưa kia ḥng tạo
lợi ích cho đại chúng trong hội thuở ấy.
Kinh văn chia thành ba phần:
- Một,
[đức Phật] sắc truyền [đại chúng] lắng
nghe, hứa sẽ nói.
-
Hai, đại chúng ưa thích muốn nghe.
-
Ba, đức Phật v́ họ khai diễn. Trong ấy, lại
có hai phần: Một là trường hàng, hai là trùng tụng.
Phần
trường hàng gồm mười đoạn:
- Một,
trần thuật quyến thuộc xưa kia.
-
Hai, từ “thị thời đại vương” (khi
đó, đại vương) trở đi, thuật chuyện
[vua và quyến thuộc] đi chơi xưa kia.
-
Ba, từ “đệ nhất vương tử”
(vương tử thứ nhất) trở đi, [các
vương tử] gặp cảnh khổ sanh bi tâm.
- Bốn,
từ “nhĩ thời, Tát Đỏa” (lúc bấy giờ,
Tát Đỏa) trở đi, [vương tử thứ ba]
nghĩ nên xả mạng.
-
Năm, từ “nhĩ thời, vương tử” (lúc
bấy giờ, vương tử) trở đi, [Tát Đỏa]
xả thân cứu giúp.
-
Sáu, từ “thị thời đại địa” (khi
đó, đại địa) trở đi, điềm lành
cảm động trời đất.
- Bảy,
từ “thị thời ngạ hổ” (lúc ấy, cọp
đói) trở đi, hổ có thể ăn.
-
Tám, từ “nhĩ thời, đại vương” (lúc
bấy giờ, đại vương) trở đi, quyến
thuộc thương khóc.
-
Chín, từ “nhĩ thời, đại vương”
(lúc bấy giờ, đại vương) trở đi,
[quyến thuộc] v́ [vương tử Tát Đỏa] lập
chế-để.
-
Mười, từ “A Nan” trở đi, kết lại
chuyện thị hiện lợi sanh.
“Trần
thuật quyến thuộc xưa kia” gồm ba ư:
- Một,
nói về thời tiết.
-
Hai, trần thuật cha mẹ.
-
Ba, nói về anh em.
Phân
đoạn kinh văn dễ thấy. Ma
Ha Ba La được phương này dịch là Đại
Cừ. Ma Ha Đề Bà được phương này dịch
là Đại Thiên. Ma Ha Tát Đỏa phương này dịch
là Đại Dũng Mănh, cầu đại Bồ Đề,
phát tâm đại dũng mănh, chẳng sợ nơi chốn
và thời gian, liều thân xả mạng ḥng cầu pháp, lợi
ích chúng sanh, thường chẳng keo tiếc, lui sụt. V́
thế, gọi là Đại Dũng Mănh. Do vậy, kệ tụng
trong phần sau có câu: “Vương tử danh Dũng Mănh,
thường thí tâm vô lận” (Vương tử tên
Dũng Mănh, thường thí, tâm chẳng keo tiếc).
5.26.4.1.3.1.2.
Thuật chuyện đi chơi thuở trước
(Kinh)
Thị thời, đại vương vị dục du
quán, tung thưởng sơn lâm. Kỳ
tam vương tử diệc giai tùy tùng, vị cầu hoa
quả, xả phụ châu toàn, chí đại trúc lâm, ư
trung khế tức.
(經)是時大王為欲遊觀縱賞山林,其三王子亦皆隨從,為求華果捨父周旋,至大竹林於中憩息。
(Kinh: Khi đó, đại vương v́ muốn
dạo chơi, thưởng ngoạn cảnh núi rừng,
ba vương tử cũng đều đi theo, v́ t́m hoa
quả, rời khỏi đoàn tùy tùng của cha, đến
rừng trúc lớn, nghỉ ngơi trong đó).
Kế
đó, trần thuật chuyện đi
chơi thuở trước. Kinh văn có ba ư:
- Một,
vua rời cung đi chơi.
-
Hai, quần thần, thuộc hạ đều theo hầu.
-
Ba, các con riêng t́m thứ ưa thích.
Hỏi:
Đă nói là vua ra ngoài du ngoạn, vương tử đi
theo, cớ sao khi nghe nói con xả thân, kinh văn lại nói
là vua ở trong cung?
Đáp:
Chuẩn theo bản dịch cũ, chỉ có vương tử
ra ngoài, lược đi không bàn tới cha. Ở đây nói
là [ba vương tử] ĺa khỏi đoàn tùy tùng, lược
đi chẳng nói chuyện [vua cha] trở về [cung
trước]. Thật ra, con đi theo, vua trở về
trước; v́ thế, nghe tin con xả thân, vua đang ở
trong cung chẳng sai!
5.26.4.1.3.1.3. Gặp cảnh
khổ sanh bi tâm
(Kinh)
Đệ nhất vương tử tác như thị ngôn:
“Ngă ư kim nhật, tâm thậm kinh hoàng, ư thử lâm
trung, tương vô mănh thú, tổn hại ư ngă?” Đệ
nhị vương tử phục tác thị ngôn: “Ngă ư kỷ
thân, sơ vô lận tích, khủng ư sở ái,
hữu biệt ly khổ”. Đệ tam vương tử
bạch nhị huynh viết: “Thử thị thần tiên sở
cư xứ, ngă vô khủng bố biệt ly ưu, thân tâm
sung biến sanh hoan hỷ, đương hoạch thù thắng
chư công đức”. Thời chư vương tử các
thuyết bổn tâm sở niệm chi sự.
(經)第一王子作如是言:我於今日心甚驚惶,於此林中將無猛獸損害於我?第二王子復作是言:我於己身初無悋惜,恐於所愛有別離苦?第三王子白二兄曰:此是神仙所居處,我無恐怖別離憂,身心充遍生歡喜,當獲殊勝諸功德。時諸王子各說本心所念之事。
(Kinh:
Vương tử thứ nhất nói như thế này: “Ta
trong ngày nay, tâm rất kinh sợ, ở trong rừng này, sẽ có mănh thú, tổn hại ta ư?” Vương
tử thứ hai lại nói lời này: “Em đối với
bản thân, thoạt đầu chẳng
tiếc nuối, sợ với người yêu mến, khổ
v́ biệt ly chăng?” Vương tử thứ ba thưa với
hai anh: “Đây là chỗ thần tiên ở, chẳng sợ,
sầu biệt ly, thân tâm trọn hoan hỷ, đạt công
đức thù thắng”. Khi đó, các vương tử ai nấy
nói ra điều suy nghĩ trong tâm của chính ḿnh).
Đoạn
thứ ba là “gặp cảnh khổ, sanh ḷng bi”. Trong ấy,
có ba tiểu đoạn. Trước hết là trần thuật
điều suy nghĩ trước đó. Trong ấy, lại
có hai ư:
- Một,
mỗi vương tử trần thuật ư niệm.
- Hai,
từ “thời chư vương tử” (khi đó,
các vương tử) trở đi là lời tiểu kết
của người kết tập kinh điển.
(Kinh)
Thứ phục tiền hành, kiến hữu nhất hổ,
sản sanh thất tử, tài kinh thất nhật, chư tử
vi nhiễu, cơ khát sở bức, thân h́nh luy sấu,
tương tử bất cửu.
(經)次復前行,見有一虎產生七子纔經七日,諸子圍遶,飢渴所逼身形羸瘦,將死不久。
(Kinh:
Kế đó, lại tiến lên trước, thấy có một
con cọp sanh được bảy con, vừa mới qua
bảy ngày, các con vây quanh, bị đói khát bức bách, thân
h́nh gầy ṃn, chẳng bao lâu sẽ
chết).
Kế
đó, thấy hổ đói khát, gầy ṃn.
Hỏi:
Thấy hổ sanh con, sao biết là bảy ngày?
Đáp:
Chân Đế Tam Tạng có hai cách giải thích:
- Một
là ăn bằng cách
cắn xé th́ chỉ có thể nhịn
đói tới bảy ngày, qua khỏi [thời hạn
đó] sẽ chết. Do hổ đói như thế, liền
biết là bảy ngày.
- Một
cách giải thích khác: Lúc đó, sẽ có quỷ thần bảo
cho biết, nhưng người kết tập kinh không nêu
ra, cũng như phát nguyện xả thân, không có người
hay biết, sau đó, thiên thần báo tin, giống như thần
cây báo cho [trưởng giả tử Lưu Thủy] biết
số lượng cá trong ao.
(Kinh)
Đệ nhất vương tử tác như thị ngôn:
“Ai tai thử hổ, sản
lai thất nhật, thất tử vi nhiễu, vô hạ cầu
thực, cơ khát sở bức, tất hoàn đạm tử”.
Tát Đỏa vương tử vấn
ngôn: “Thử hổ mỗi thường sở thực hà vật?”
Đệ nhất vương tử đáp viết: “Hổ, báo, sài, sư tử, duy đạm
nhiệt huyết nhục, cánh vô dư ẩm thực, khả tế thử hổ luy”. Đệ nhị vương
tử văn thử ngữ
dĩ, tác như thị ngôn: “Thử hổ luy sấu,
cơ khát sở bức, dư mạng vô kỷ, ngă đẳng
hà năng, vị
cầu như thị,
nan đắc ẩm thực? Thùy phục vị tư, tự xả
thân mạng, tế kỳ cơ khổ?” Đệ nhất
vương tử ngôn: “Nhất thiết nan xả, vô quá kỷ
thân”. Tát Đỏa vương tử ngôn: “Ngă đẳng
kim giả,
ư tự kỷ thân,
các sanh ái luyến, phục vô trí huệ, bất năng
ư tha,
nhi hưng lợi ích”.
(經)第一王子作如是言:哀哉此虎產來七日,七子圍遶無暇求食,飢渴所逼必還啗子。薩埵王子問言:此虎每常所食何物?第一王子答曰:虎豹犲師子唯啗熱血肉,更無餘飲食可濟此虎羸。第二王子聞此語已作如是言:此虎羸瘦飢渴所逼餘命無幾,我等何能為求如是難得飲食?誰復為斯自捨身命濟其飢苦?第一王子言:一切難捨,無過己身。薩埵王子言:我等今者於自己身各生愛戀,復無智慧不能於他而興利益。
(Kinh:
Vương tử thứ nhất nói như thế này: “Buồn
thay cọp
này, sanh đă bảy
ngày, bảy con vây quanh, không rảnh kiếm ăn, đói khát bức
bách, ắt ăn thịt con”. Vương tử Tát Đỏa
hỏi rằng: “Cọp này thường ăn thứ ǵ?”
Vương tử thứ nhất đáp rằng: “Cọp,
báo, sói, sư tử,
chỉ ăn máu thịt nóng, chẳng có thứ nào khác, giúp được cọp
gầy này”. Vương tử thứ hai nghe lời ấy,
nói như thế này: “Cọp này gầy ṃn, đói khát bức
bách, mạng chẳng c̣n mấy!
Ta sao có thể, v́ nó t́m ṭi, thức ăn khó có, như thế
cho được? Ai lại v́ nó, tự
xả thân mạng,
giúp thoát đói khổ?”
Vương tử thứ nhất nói: “Hết
thảy thứ khó bỏ, không ǵ hơn thân ḿnh”.
Vương tử Tát Đỏa nói: “Nay chúng ta ai nấy, đối với
thân chính ḿnh,
đều sanh ḷng mến luyến, lại chẳng có trí huệ, tạo lợi ích người
khác”).
Kế
đó là “bi thương, cùng nhau bàn bạc”. Trong đoạn
này có bảy ư:
- Một,
thái tử thấy cảnh khổ, thương xót.
-
Hai, từ “Tát Đỏa vương tử” trở
đi, Tát Đỏa hỏi cọp ăn ǵ.
-
Ba, từ “đệ nhất vương tử” trở
đi, thái tử đáp cọp ăn máu thịt.
- Bốn,
từ “đệ nhị vương tử” trở
đi, Đại Thiên nghe nói, sanh tâm keo tiếc, kinh sợ.
-
Năm, từ “đệ nhất vương tử”
trở đi, thái tử trần thuật xả thân khó
khăn.
-
Sáu, từ “Tát Đỏa vương tử” trở
đi, Tát Đỏa bàn đi tính lại. Trong ấy có ba
điều:
a. Tự
trách chính ḿnh không có khả năng.
b.
Suy nghĩ người khác có sức.
c.
Tâm niệm tự kiểm điểm chính ḿnh.
Trong
điều thứ nhất, tự trách chính ḿnh không có khả
năng, do có ba nguyên nhân: Một là tham đắm, hai là từ
“phục vô trí huệ” (lại chẳng có trí huệ)
trở đi, do chẳng có đại trí. Ba là từ “vô
năng ư” (chẳng thể) trở đi, chẳng có
tâm đại bi. Do có tham đắm, sẽ chẳng thể
sanh ḷng chán nhàm hữu vi. Do không có đại trí, chẳng
thể sanh tâm cầu Bồ Đề. Do không có đại
bi, chẳng thể sanh tâm lợi ích hữu t́nh. V́ thế,
chẳng thể xả thân để tạo lợi ích cho
chúng sanh.
(Kinh) Nhiên hữu thượng sĩ,
hoài đại bi tâm, thường vị lợi tha, vong thân
tế vật.
(經)然有上士懷大悲心,常為利他忘身濟物。
(Kinh:
Nhưng có bậc thượng
sĩ, do ôm ḷng
đại bi, thường v́ ḷng
lợi tha,
quên thân giúp chúng sanh).
Kế
đó, suy nghĩ người khác có sức. Trong phần này, cũng có ba ư:
- Một
là có bậc đại trí, tức là có bậc thượng
sĩ.
-
Hai là [vị ấy] có tâm đại bi, ôm ḷng đại bi
v.v…
- Ba
là [vị đại sĩ ấy] quên thân giúp chúng sanh, tức
là chẳng tham, có thể chán nhàm hữu vi.
(Kinh)
Phục tác thị niệm: Ngă kim thử thân,
ư bách thiên sanh,
hư khí lạn hoại, nhật vô sở ích, vân hà kim nhật,
nhi bất năng xả,
dĩ tế cơ khổ, như quyên di thóa?
(經)復作是念:我今此身於百千生虛棄爛壞日無所益,云何今日而不能捨以濟飢苦,如捐洟唾?
(Kinh:
Lại nghĩ thế này: Nay thân này của ta, trăm ngàn đời
bỏ phí, hư nát, chẳng có ngày nào lợi ích, cớ sao
nay chẳng thể xả để giúp nỗi khổ
đói khát như vứt bỏ mũi răi?)
Kế
đó, tâm tự phản tỉnh. Trong ấy, có ba điều:
- Một,
nghĩ lại xưa kia đă phí uổng thân mạng vô cùng
tận.
-
Hai, từ “vân hà kim nhật” (cớ sao ngày nay) trở
đi, suy nghĩ sao nay chẳng thể xả thân lợi
ích chúng sanh?
-
Ba, từ “như quyên di thóa” (như vứt bỏ
mũi răi) trở đi, hăy nên sanh ḷng chán ĺa, giống
như [vứt bỏ] mũi răi, bỏ vô thường sắc
để đạt được thường sắc
v.v…
(Kinh)
Thời chư vương tử tác thị nghị dĩ,
các khởi từ tâm, thê thương mẫn niệm, cộng
quán luy hổ, mục bất tạm di, bồi hồi cửu
chi, câu xả nhi khứ.
(經)時諸王子作是議已,各起慈心悽傷愍念,共觀羸虎目不暫移,徘徊久之俱捨而去。
(Kinh:
Khi đó, các vương tử bàn luận như thế rồi,
ai nấy đều dấy ḷng từ, đau đớn
thương xót, cùng nh́n cọp gầy, mắt chẳng tạm
dời, bồi hồi lúc lâu rồi mới cùng nhau rời
đi).
Kế
đó, điều thứ bảy [trong phần “thấy cảnh
khổ, khởi bi tâm”] là các vương tử thương
xót, bồi hồi rời đi.
5.26.4.1.3.1.4. Suy nghĩ
hăy nên xả mạng
(Kinh) Nhĩ thời, Tát Đỏa
vương tử tiện tác thị niệm: - Ngă xả
thân mạng,
kim chánh thị thời. Hà dĩ cố? Ngă tùng cửu lai tŕ
thử thân, xú uế nùng lưu bất khả ái, cung cấp phu cụ, tịnh y thực, tượng,
mă, xa thặng, cập trân tài, biến hoại chi pháp thể
vô thường, hằng cầu nan măn, nan bảo thủ,
tuy thường cúng dường, hoài oán hại, chung quy khí
ngă bất tri ân. Phục thứ thử thân bất kiên, ư
ngă vô ích! Khả úy như tặc, bất tịnh như phẩn.
Ngă ư kim nhật, đương sử thử thân tu quảng
đại nghiệp, ư sanh tử hải, tác đại
châu hàng, khí xả luân hồi, linh đắc xuất ly.
(經)爾時薩埵王子便作是念:我捨身命今正是時。何以故?我從久來持此身,臭穢膿流不可愛。供給敷具并衣食,象馬車乘及珍財。變壞之法體無常,恒求難滿難保守,雖常供養懷怨害,終歸棄我不知恩。復次此身不堅,於我無益?可畏如賊、不淨如糞。我於今日當使此身修廣大業,於生死海作大舟航,棄捨輪迴令得出離。 (Kinh:
Lúc bấy giờ, vương tử Tát Đỏa liền
nghĩ thế này: - Nay đúng là lúc ta nên xả thân mạng.
V́ sao vậy? Từ bấy lâu nay, ta đă giữ thân này,
hôi thối, máu mủ tuôn chảy, chẳng đáng yêu mến.
Cung cấp ngọa cụ và cơm áo, voi, ngựa, xe cộ,
và các vật quư, [thân này] là pháp biến hoại, bản thể
vô thường, luôn cầu mà khó được thỏa,
khó giữ ǵn, tuy thường cúng dường mà nó ôm ḷng
oán hại,
rốt cuộc bỏ ta, chẳng biết ân. Lại nữa,
thân này chẳng cứng chắc, vô ích đối với ta!
Đáng sợ như giặc, bất tịnh như phân. Ngày
nay ta hăy nên khiến cho thân này tu nghiệp rộng lớn, làm
tàu thuyền lớn trong biển sanh tử, vứt bỏ
luân hồi để được thoát ĺa).
Đoạn
thứ tư [trong phần xả thân cứu cọp] là “suy
nghĩ hăy nên xả mạng”, gồm có sáu ư:
- Một,
dấy lên ư niệm bỏ mạng.
-
Hai, từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở
đi, suy nghĩ thôi thúc, tức là tiến nhập ư muốn
thực hiện thiện pháp, được sanh khởi bởi
căn bản tác ư, tức là như lư tác ư, suy nghĩ Tứ Niệm
Trụ. Hai câu đầu [trong phần kinh văn theo sau câu “hà
dĩ cố” (v́ sao vậy?)] là suy nghĩ [thân thể] bất
tịnh; ba câu kế đó là suy nghĩ vô thường, hai
câu kế đó là suy nghĩ có khổ. “Hằng cầu
nan măn” (luôn cầu mong mà khó được thỏa măn)
là Cầu Bất Đắc Khổ. “Nan bảo thủ”
(khó ǵn giữ) là Ái Biệt Ly Khổ. “Hoài oán hại”
(ôm ḷng oán hại) là nỗi khổ v́ bệnh, già, chết.
Câu kế tiếp là suy nghĩ vô ngă. Tâm tuy thường mong
mỏi, ưa thích, nhưng [thân thể] chẳng v́ ta, rốt
cuộc vứt bỏ ta luân hồi trong năm đường,
nó vứt bỏ ta chẳng biết ơn. V́ thế, vô ngă.
-
Ba, từ “phục thứ” (lại nữa) trở
đi, [suy nghĩ như thế xong, sanh tâm] chán bỏ và
ưa cầu, có hai điều: Trước là nhân, sau là quả.
Trong nhân có ba điều:
1) Một là chán ĺa hữu
vi, tức quán Tứ Niệm Trụ. “Thử thân bất
kiên” (Thân này chẳng cứng chắc), tức là vô
thường. “Vô ích ư ngă” (Vô ích đối với
ta) tức là vô ngă. “Khả úy như tặc” (đáng sợ
như giặc) là vô lạc. “Bất tịnh như phẩn”
(chẳng sạch như phân) là bất tịnh.
2) Kế đó, từ
“ngă ư kim nhật” (ta trong ngày nay) trở đi, cầu
Bồ Đề.
3) Sau
cùng, “ư sanh tử hải” (trong biển sanh tử)
trở đi, lợi ích hữu t́nh, tức là dùng thân này để tạo
nghiệp lợi sanh. V́ thế gọi là “tu
nhân”.
Nếu
xét từ đời sau trở đi th́ gọi là Quả.
(Kinh)
Phục tác thị niệm: “Nhược xả thử thân,
tắc xả vô lượng ung thư ác tật, bách thiên bố
úy. Thị thân duy hữu đại tiểu tiện lợi,
bất kiên như bào, chư trùng sở tập, huyết mạch
cân cốt, cộng
tương liên tŕ, thậm khả yếm hoạn. Thị
cố, ngă kim ưng đương khí xả, dĩ cầu
vô thượng cứu cánh Niết Bàn, vĩnh ly ưu hoạn,
vô thường khổ năo, sanh tử hưu tức, đoạn
chư trần lụy, dĩ Định Huệ lực viên
măn huân tu bách phước trang nghiêm, thành Nhất Thiết
Trí, chư Phật sở tán vi diệu Pháp Thân. Kư chứng
đắc dĩ, thí chư chúng sanh vô lượng pháp lạc”.
Thị thời vương tử hưng đại
dũng mănh, phát hoằng thệ nguyện, dĩ đại
bi niệm tăng ích kỳ tâm.
(經)復作是念:若捨此身則捨無量癰疽惡疾百千怖畏。是身唯有大小便利,不堅如泡,諸蟲所集,血脈筋骨共相連持,甚可厭患。是故我今應當棄捨,以求無上究竟涅槃,永離憂患無常苦惱,生死休息斷諸塵累,以定慧力圓滿熏修百福莊嚴成一切智,諸佛所讚微妙法身。既證得已,施諸眾生無量法樂。是時王子興大勇猛,發弘誓願,以大悲念增益其心。
(Kinh: Lại
nghĩ thế này: “Nếu bỏ thân này tức là xả vô
lượng bệnh ngặt ung nhọt, trăm ngàn nỗi
sợ hăi. Thân này chỉ có đại tiện, tiểu tiện,
chẳng chắc chắn như bọt nước, là chỗ
các loài trùng tụ tập, mạch máu, gân, xương, cùng
liên kết, chống đỡ nhau, rất đáng chán ngán.
V́ thế, nay ta hăy nên vứt bỏ, để cầu Niết
Bàn vô thượng rốt ráo, vĩnh viễn ĺa khỏi lo sầu,
vô thường khổ năo, ngưng dứt sanh tử, đoạn
các mệt mỏi v́ trần lao, dùng sức Định Huệ
huân tu viên măn Pháp Thân vi diệu trăm phước trang
nghiêm, thành Nhất Thiết Trí, được chư Phật
tán thán. Đă chứng đắc rồi, sẽ thí cho các chúng
sanh vô lượng pháp lạc”. Khi đó, vương tử
khởi tâm dũng mănh to lớn, phát hoằng thệ nguyện,
dùng ư niệm đại bi để tăng thêm cái tâm).
Kế
đó, nói về sự yêu thích cái quả, cũng có ba ư:
- Một,
chán ĺa hữu vi. Theo Giải Thoát Đạo Luận[15],
có mười thứ tưởng bất tịnh [đối
với xác chết]: Một là trương phềnh, hai là
xanh bầm, ba là ruỗng nát,
bốn là bị
quăng ném, năm là chim thú gặm xé,
sáu là thịt trên thân rời ră, bảy là bị chém chặt
ly tán, tám là máu đỏ đầm đ́a, chín là trùng thối,
mười là tưởng xương. Mười thứ ấy
chỉ là bất tịnh, c̣n kinh văn ở đây nói gộp
chung Tứ Niệm. “Ung thư” v.v… là không có lạc. “Duy
hữu đại tiểu tiện lợi” (chỉ có
đại tiện và tiểu tiện) v.v… là bất tịnh.
“Bất kiên như bào” (chẳng cứng chắc
như bọt nước) là vô thường. “Chư trùng
sở tập” (các trùng tụ tập) v.v… là vô ngă.
Nhưng luận ấy nói: “Tự tánh của thân trong sáu
mươi chỗ có tám vạn trùng”; v́ thế nói là “chư
trùng sở tập”.
-
Hai, “thị cố ngă kim” (v́ thế, ta nay) trở
đi là cầu Bồ Đề. Bồ Đề và Bồ
Đề đoạn đều gọi là Bồ Đề.
Ma Ha Bát Nhă, giải thoát, và Pháp Thân đều là Đại Niết
Bàn, đều bao gồm trí và lư. Ở đây, thoạt
đầu nói về Niết Bàn.
-
Ba, từ “dĩ Định
Huệ
lực” (do sức Định Huệ) trở
đi nói về Bồ Đề. “Kư chứng đắc
dĩ” (đă chứng đắc rồi) trở đi
nói về lợi ích hữu t́nh. Đoạn trí, ân đức,
nhân quả hai đoạn văn, theo thứ tự mà đối
ứng. Tu cầu Bồ Đề chẳng ra ngoài các thứ
ấy.
- Bốn,
từ “thị thời vương tử” (khi đó,
vương tử) trở đi, bi nguyện [của
vương tử Tát Đỏa] càng tha thiết.
(Kinh)
Lự bỉ nhị huynh t́nh hoài bố cụ, cộng vi
lưu nạn, bất quả sở kỳ.
(經)慮彼二兄情懷怖懼,共為留難,不果所祈。
(Kinh:
Sợ hai anh ôm ḷng sợ hăi, sẽ cùng ngăn cản, chẳng
thể thỏa điều mong ước).
Điều
thứ năm là sợ có khó khăn nẩy sanh.
(Kinh)
Tức tiện bạch ngôn: - Nhị
huynh tiền khứ, ngă thả ư hậu.
(經)即便白言:二兄前去,我且於後。
(Kinh:
Liền thưa rằng: - Hai anh đi trước, em sẽ
theo sau).
Kế
đó, điều thứ sáu là khéo tu phương tiện.
5.26.4.1.3.1.5. Hy sinh thân
ḿnh cứu giúp cọp đói
(Kinh)
Nhĩ thời, vương tử Ma Ha Tát Đỏa hoàn nhập
lâm trung, chí kỳ hổ sở, thoát khứ y phục, trí ư trúc thượng, tác thị
thệ ngôn: “Ngă vị pháp giới chư chúng sanh, chí cầu Vô Thượng Bồ Đề xứ,
khởi đại bi tâm bất khuynh động,
đương xả phàm phu sở ái thân, Bồ Đề
vô hoạn, vô nhiệt năo, chư hữu trí giả chi sở
nhạo. Tam giới khổ hải chư chúng sanh, ngă kim bạt
tế linh an lạc”. Thị vương tử tác thị ngôn dĩ, ư ngạ hổ tiền, ủy thân nhi ngọa.
Do thử Bồ Tát từ bi oai thế, hổ vô năng vi. Bồ
Tát kiến dĩ, tức thượng cao sơn, đầu
thân vu địa, phục tác thị niệm: “Hổ kim luy
tích, bất năng thực ngă”. Tức khởi cầu đao,
cánh bất năng đắc, tức dĩ can trúc thích cảnh
xuất huyết, tiệm cận hổ biên.
(經)爾時王子摩訶薩埵還入林中,至其虎所,脫去衣服置於竹上,作是誓言:我為法界諸眾生,志求無上菩提處,起大悲心不傾動,當捨凡夫所愛身。菩提無患無熱惱,諸有智者之所樂,三界苦海諸眾生,我今拔濟令安樂。是王子作是言已,於餓虎前委身而臥。由此菩薩慈悲威勢,虎無能為。菩薩見已,即上高山投身于地,復作是念:虎今羸瘠,不能食我。即起求刀竟不能得,即以乾竹刺頸出血,漸近虎邊。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, vương tử Ma Ha Tát Đỏa trở
vào trong rừng, tới chỗ cọp đó, cởi bỏ
y phục, máng trên cành trúc, thốt lời thề rằng:
“Ta v́ chúng
sanh trong các pháp giới, dốc chí
cầu Vô Thượng Bồ Đề xứ, dấy ḷng
đại bi, tâm
chẳng khuynh động, sẽ xả cái thân phàm phu yêu mến,
[để cầu] Bồ Đề không lo sợ, không nhiệt
năo, được những người có trí yêu thích. Ta nay
sẽ cứu bạt các chúng sanh trong biển khổ tam giới,
khiến cho họ an lạc”. Vị vương tử ấy
nói như thế xong, ở trước cọp đói, cuộn
thân mà nằm. Do oai thế từ bi của vị Bồ Tát
ấy, cọp chẳng thể làm ǵ được. Bồ
Tát thấy vậy, liền lên núi cao, gieo thân xuống đất,
lại nghĩ thế này: “Nay cọp gầy yếu, chẳng
thể ăn ta”. Liền đứng dậy t́m dao, trọn
chẳng t́m được, liền dùng cành trúc khô đâm cổ
ra máu, tới gần bên hổ).
Đoạn
lớn thứ năm là “hy sinh tấm thân để cứu
giúp”. Kinh văn gồm bốn phần:
- Một,
t́m đường tới chỗ cọp.
-
Hai, từ “thoát khứ y phục” (cởi bỏ y phục)
trở đi, khởi tiền phương tiện.
-
Ba, từ “tác thị thệ” (thề như thế
này) trở đi, phát Bồ Đề tâm. Hai câu đầu
là Tổng, sáu câu sau là Biệt. Trong phần Biệt, hai câu
đầu là tâm chán nhàm hữu vi. Hai câu kế đó là tâm cầu
Bồ Đề, hai câu sau là tâm lợi ích hữu t́nh.
- Bốn,
từ “thị thời vương tử” (khi đó,
vương tử) trở đi, xả thân mạng. Trong ấy,
lại có sáu ư:
a. Một,
gieo thân cho cọp ăn.
b. Từ
“thử do Bồ Tát” (đấy là do Bồ Tát) trở
đi, cọp chẳng thể ăn.
c. Từ
“Bồ Tát kiến dĩ” (Bồ Tát thấy vậy) trở
đi, từ núi cao lao xuống.
d. Từ
“phục tác thị niệm” (lại nghĩ thế
này) trở đi, nghĩ cọp suy yếu.
e. Từ
“tức khởi cầu đao” (lền đứng dậy
t́m dao) trở đi, lại khởi phương tiện.
f. Từ
“tiệm cận hổ biên” (tới gần bên cọp)
trở đi, [tự đâm cổ] chảy máu để cọp
ăn.
5.26.4.1.3.1.6. Điềm
lành cảm động cơi trời chư thiên
(Kinh)
Thị thời, đại địa lục chủng chấn
động, như phong kích thủy, dũng một bất
an. Nhật vô tinh minh, như La Hầu chướng. Chư
phương ám tế, vô phục quang huy. Thiên vũ danh hoa,
cập diệu hương mạt, tân phân loạn trụy,
biến măn lâm trung. Nhĩ thời, hư không hữu chư
thiên chúng kiến thị sự dĩ, sanh tùy hỷ tâm, thán
vị tằng hữu, hàm cộng tán ngôn: “Thiện tai đại
sĩ!” Tức thuyết tụng viết: - Đại
sĩ cứu hộ vận bi tâm, đẳng thị chúng
sanh như nhất tử, dũng mănh hoan hỷ t́nh vô lận,
xả thân tế khổ phước nan tư. Định
chí chân thường thắng diệu xứ, vĩnh ly sanh tử
chư triền phược, bất cửu đương
hoạch Bồ Đề quả, tịch tĩnh an lạc
chứng Vô Sanh.
(經)是時大地六種震動,如風激水涌沒不安。日無精明如羅睺障,諸方暗蔽無復光暉。天雨名華及妙香末,繽紛亂墜遍滿林中。爾時虛空有諸天眾見是事已,生隨喜心歎未曾有,咸共讚言:善哉大士!即說頌曰:大士救護運悲心,等視眾生如一子,勇猛歡喜情無悋,捨身濟苦福難思。定至真常勝妙處,永離生死諸纏縛,不久當獲菩提果,寂靜安樂證無生。
(Kinh: Lúc đó,
đại địa chấn động sáu cách, như gió
khuấy nước, trồi hụp chẳng yên. Mặt trời
không chói sáng như bị La Hầu[16]
ngăn che. Các phương tăm tối, chẳng c̣n sáng sủa.
Trời mưa hoa quư và bột hương quư, vần vũ rơi tán loạn trọn
khắp trong rừng. Lúc bấy giờ, trong hư không có
các vị trời thấy chuyện ấy rồi, sanh tâm
tùy hỷ, than là chưa từng có, đều cùng khen rằng:
“Lành thay đại sĩ!” Liền nói bài tụng rằng: -
Đại sĩ cứu giúp vận bi tâm, xem chúng sanh đều
như con một, dũng mănh hoan hỷ, không keo tiếc. Xả
thân cứu khổ, phước khó nghĩ. Quyết đạt
chân thường thắng diệu xứ, măi ĺa các trói buộc
sanh tử. Chẳng lâu sẽ đắc quả Bồ
Đề, an lạc tịch tĩnh chứng Vô Sanh).
Kế
đó, đoạn thứ sáu là “điềm lành cảm
động chư thiên”. Trong ấy, có hai đoạn:
- Một,
hiện điềm lành. Trong ấy có ba ư:
1)
Cơi đất chấn động sáu cách.
2) Mặt
trời, mặt trăng không có ánh sáng.
3)
Trời tuôn hoa hương trọn khắp rừng để
cúng dường.
- Hai,
từ “nhĩ thời, hư
không” (lúc bấy giờ, hư không) trở
đi, thiên chúng trông thấy, cũng có ba ư:
1) [Thiên chúng] trông
thấy.
2) [Chư thiên] tùy
hỷ.
3) [Chư thiên] tán
thán. Phần tán thán cũng có ba ư:
a.
Hai câu đầu tán thán ḷng bi b́nh đẳng.
b.
Hai câu kế đó tán thán sự bố thí ấy.
c. Bốn
câu sau đó tán thán [vương tử
Tát Đỏa] “sẽ đắc quả”.
Trong phần đắc quả, hai câu đầu cùng tán thán
Bồ Đề và Niết Bàn. Do dựa theo ba thứ đều
thường, mà gọi là Thường. Hai câu sau đó tán
thán riêng Bồ Đề và Niết Bàn. “Tịch tĩnh”
chính là Niết Bàn. Hoặc năng lẫn sở đều
vắng lặng th́ đều gọi là “tịch
tĩnh”. “Vô sanh” là Niết Bàn!
5.26.4.1.3.1.7. Cọp bèn
có thể ăn thịt Bồ Tát
(Kinh)
Thị thời ngạ hổ kư kiến Bồ Tát cảnh hạ
huyết lưu, tức tiện thỉ huyết, đạm
nhục giai tận, duy lưu dư cốt.
(經)是時餓虎既見菩薩頸下血流,即便舐血啗肉皆盡,唯留餘骨。
(Kinh:
Khi đó, cọp đói thấy dưới cổ Bồ
Tát chảy máu, liền liếm máu, thịt đều ăn
hết sạch, chỉ chừa lại xương thừa).
Kế
đó, đoạn thứ bảy là cọp bèn có thể
ăn [Bồ Tát].
5.26.4.1.3.1.8. Quyến
thuộc thương khóc
5.26.4.1.3.1.8.1. Hai anh than
khóc
(Kinh)
Nhĩ thời, đệ nhất vương tử kiến
địa động dĩ, cáo kỳ đệ viết:
“Đại địa, sơn hà, giai chấn động,
chư phương ám tế, nhật vô quang, thiên hoa loạn
trụy biến không trung, định thị ngă đệ
xả thân tướng”. Đệ nhị vương tử
văn huynh ngữ dĩ, thuyết già-đà viết: “Ngă
văn Tát Đỏa từ bi ngữ, kiến bỉ ngạ
hổ thân luy sấu, cơ khổ sở triền khủng
thực tử, ngă kim nghi đệ xả kỳ thân”. Thời
nhị vương tử sanh đại sầu khổ,
đề khấp,
bi thán, tức cộng tương tùy, hoàn chí hổ sở,
kiến đệ y phục tại trúc chi thượng, hài
cốt cập phát tại xứ tung hoành, lưu huyết
thành nê, triêm ô kỳ địa. Kiến dĩ muộn tuyệt,
bất năng tự tŕ, đầu thân cốt thượng,
cửu năi đắc tô, tức khởi cử thủ, ai
hào đại khốc, câu thời thán viết: “Ngă đệ
mạo đoan nghiêm, phụ mẫu thiên ái niệm, vân hà cộng
câu xuất, xả thân nhi bất quy? Phụ mẫu nhược
vấn thời, ngă đẳng như hà đáp? Ninh khả
đồng quyên mạng, khởi đắc tự tồn
thân”. Thời nhị vương tử bi khấp áo năo, tiệm
xả nhi khứ.
(經)爾時第一王子見地動已,告其弟曰:大地山河皆震動,諸方暗蔽日無光,天華亂墜遍空中,定是我弟捨身相。第二王子聞兄語已,說伽陀曰:我聞薩埵慈悲語,見彼餓虎身羸瘦,飢苦所纏恐食子,我今疑弟捨其身。時二王子生大愁苦啼泣悲歎,即共相隨還至虎所,見弟衣服在竹枝上,骸骨及髮在處縱橫,流血成泥霑污其地。見已悶絕不能自持,投身骨上久乃得甦,即起舉手哀號大哭,俱時歎曰:我弟貌端嚴,父母偏愛念,云何俱共出,捨身而不歸?父母若問時,我等如何答?寧可同捐命,豈得自存身。時二王子悲泣懊惱,漸捨而去。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, vương tử thứ nhất thấy đất
chấn động rồi, bảo em ḿnh rằng: “Đại
địa, núi, sông đều chấn động, các
phương tối tăm, không ánh nắng. Hoa trời
rơi loạn khắp hư không, chắc em ta đă xả
thân tướng”. Vương tử thứ hai nghe anh nói
xong, nói già-đà rằng: “Em nghe lời Tát Đỏa từ
bi, trông thấy cọp đói thân gầy c̣m, sợ bị
đói bức, sẽ
ăn con, ngờ rằng em út đă xả thân”. Khi đó,
hai vương tử sanh ḷng sầu khổ to lớn, khóc
lóc, buồn than, liền cùng nhau trở lại chỗ cọp,
thấy y phục của em ở trên cành trúc, hài cốt và
tóc tung tóe khắp nơi, máu chảy thành bùn nhơ thấm
đẫm mặt đất. Thấy rồi ngất
đi, chẳng thể tự chống chọi được,
gục ḿnh trên xương em, hồi lâu mới tỉnh lại,
liền giơ tay, gào khóc thê thảm, cùng lúc than thở: - Em
diện mạo đoan nghiêm, phụ mẫu riêng yêu
thương, v́ sao cùng ra đi, xả thân chẳng trở về?
Nếu lúc cha mẹ hỏi, chúng ta đáp thế nào? Chẳng
thà cùng bỏ mạng, há nên sống sót ư?” Khi đó, hai
vương tử buồn khóc áo năo, từ từ rời
đi).
Đoạn
thứ tám là “quyến thuộc khóc thương”, có ba
phần:
- Một,
huynh đệ buồn khóc.
-
Hai, từ “thời tiểu vương tử sở
tương” (khi đó, [các thị vệ] do tiểu
vương tử dẫn theo) trở đi, thị vệ
truy t́m.
-
Ba, từ “nhĩ thời, quốc đại phu nhân”
(lúc bấy giờ, quốc đại phu nhân) trở
đi, cha mẹ buồn than.
Trong
phần thứ nhất có sáu ư:
- Một,
trông thấy điềm lành cùng bàn
bạc.
-
Hai, từ “thời nhị vương tử” (khi
đó, hai vương tử) trở đi, buồn than truy
t́m.
-
Ba, từ “kiến đệ y phục” (thấy quần
áo của em) trở đi, thấy thi thể hỗn độn.
- Bốn,
từ “kiến dĩ muộn tuyệt” (thấy rồi
chết ngất) trở đi, ngất xỉu, gào khóc
đau thương.
-
Năm, từ “tức khởi cử thủ” (liền đứng dậy, giơ
tay) trở đi, hai anh than thở sầu
thương.
-
Sáu, từ “thời nhị vương tử” (khi
đó, hai vương tử) trở đi, buồn bă khóc
lóc rời đi.
5.26.4.1.3.1.8.2. Thị vệ
truy t́m
(Kinh)
Thời tiểu vương tử sở tương thị
tùng, hỗ
tương vị viết: - Vương tử hà tại?
Nghi cộng thôi cầu.
(經)時小王子所將侍從互相謂曰:王子何在?宜共推求。
(Kinh:
Khi đó, kẻ hầu do tiểu vương tử dẫn
theo nói với nhau: - Vương tử ở đâu? Hăy nên
cùng t́m kiếm).
Kế
đó là thị vệ truy tầm.
5.26.4.1.3.1.8.3. Cha mẹ
than khóc
(Kinh)
Nhĩ thời, quốc đại phu nhân tẩm cao lâu
thượng, tiện ư mộng trung, kiến bất
tường tướng, bị cát lưỡng nhũ, nha
xỉ đọa lạc, đắc tam cáp sồ, nhất
vị ưng đoạt, nhị bị kinh bố. Địa
động chi thời, phu nhân toại giác, tâm đại sầu
năo, tác như thị ngôn: “Hà cố kim thời đại
địa động? Giang
hà, lâm thụ giai dao chấn, nhật vô tinh quang như phú tế,
mục nhuần,
nhũ động dị thường thời. Như tiễn
xạ tâm, ưu khổ bức. Biến thân chiến điệu, bất
an ổn. Ngă
chi sở mộng bất tường trưng, tất hữu
phi thường tai biến sự”. Phu nhân lưỡng
nhũ hốt nhiên lưu xuất, niệm thử tất hữu
biến quái chi sự. Thời hữu thị nữ văn
ngoại nhân ngôn, cầu mịch vương tử kim do vị
đắc, tâm đại kinh bố, tức nhập cung
trung, bạch phu nhân viết: “Đại gia tri phủ? Ngoại
văn chư nhân tán mịch vương tử, biến cầu
bất đắc”. Thời bỉ phu nhân văn thị thuyết
dĩ, sanh đại ưu năo, bi lệ doanh mục, chí
đại vương sở, bạch ngôn: “Đại
vương! Ngă văn ngoại nhân, tác như thị ngữ:
Thất ngă tối tiểu sở ái chi tử”. Vương
văn ngữ dĩ, kinh hoàng thất sở, bi ngạnh nhi
ngôn: “Khổ tai! Kim nhật thất ngă ái tử!” Tức tiện
vấn lệ, ủy dụ phu nhân, cáo ngôn: “Hiền Thủ!
Nhữ vật ưu thích. Ngô kim cộng xuất cầu mịch
ái tử”. Vương dữ đại thần, cập
chư nhân chúng, tức cộng xuất thành, các các phân tán,
tùy xứ cầu mịch. Vị cửu chi khoảnh, hữu
nhất đại thần, tiền bạch vương viết:
“Văn vương tử tại, nguyện vật ưu sầu.
Kỳ tối tiểu giả, kim do vị kiến”.
Vương văn thị ngữ, bi thán nhi ngôn: “Khổ tai!
Khổ tai! Thất ngă ái tử. Sơ hữu tử thời
hoan hỷ thiểu, hậu thất tử thời ưu khổ
đa. Nhược sử ngă nhi trùng thọ mạng, túng ngă
thân vong bất vi khổ”. Phu nhân văn dĩ, ưu năo triền
hoài, như bị tiễn trúng, nhi ta thán viết: “Ngă chi tam
tử tịnh thị tùng, câu văng lâm trung cộng du thưởng,
tối tiểu ái tử độc bất hoàn, định
hữu quai ly tai ách sự”. Thứ đệ nhị thần
lai chí vương sở, vương vấn thần viết:
“Ái tử hà tại?” Đệ nhị đại thần
áo năo đề khấp, hầu thiệt can táo, khẩu bất
năng ngôn, cánh vô sở đáp. Phu nhân vấn viết: “Tốc
báo tiểu tử kim hà tại, ngă thân nhiệt năo biến
thiêu nhiên, muộn loạn hoang mê thất bổn tâm, vật
sử ngă hung kim phá liệt”. Thời đệ nhị thần
tức dĩ vương tử xả thân chi sự, cụ
bạch vương tri. Vương cập phu nhân văn kỳ
sự dĩ, bất thắng bi ế, vọng xả thân xứ,
sậu giá tiền hành. Nghệ trúc lâm sở, chí bỉ Bồ
Tát xả thân chi địa, kiến kỳ hài cốt tùy xứ
giao hoành, câu thời đầu địa, muộn tuyệt
tương tử, do như mănh phong xuy đảo đại
thụ, tâm mê thất tự, đô vô sở tri. Thời
đại thần đẳng dĩ thủy biến sái
vương cập phu nhân, lương cửu năi tô. Cử
thủ nhi khốc, tư ta thán viết: “Họa tai ái tử
đoan nghiêm tướng, nhân hà tử khổ tiên lai bức,
nhược ngă đắc tại nhữ tiền vong, khởi
kiến như tư đại khổ sự”. Nhĩ thời,
phu nhân mê muộn sảo chỉ, đầu phát bồng loạn,
lưỡng thủ trùy hung, uyển chuyển ư địa,
như ngư xử lục, nhược sanh thất tử,
bi khấp nhi ngôn: “Ngă tử thùy đồ cát, dư cốt
tán vu địa. Thất ngă sở ái tử, ưu bi bất
tự thắng. Khổ tai thùy sát tử, trí tư ưu năo
sự, ngă tâm phi kim cang, vân hà nhi bất phá? Ngă mộng trung
sở kiến, lưỡng nhũ giai bị cát, nha xỉ
tất đọa lạc, kim tao đại khổ thống.
Hựu mộng tam cáp sồ, nhất bị ưng cầm
khứ, kim thất sở ái tử, ác tướng biểu
phi hư”.
(經)爾時國大夫人寢高樓上,便於夢中見不祥相,被割兩乳芽齒墮落。得三鴿鶵,一為鷹奪、二被驚怖。地動之時夫人遂覺,心大愁惱,作如是言:何故今時大地動,江河林樹皆搖震,日無精光如覆蔽,目瞤乳動異常時。如箭射心憂苦逼,遍身戰掉不安隱,我之所夢不祥徵,必有非常災變事。夫人兩乳忽然流出,念此必有變怪之事。時有侍女聞外人言,求覓王子今猶未得,心大驚怖,即入宮中白夫人曰:大家知不?外聞諸人散覓王子遍求不得。時彼夫人聞是說已,生大憂惱悲淚盈目,至大王所白言:大王!我聞外人作如是語:失我最小所愛之子。王聞語已驚惶失所,悲哽而言:苦哉!今日失我愛子。即便抆淚慰喻夫人,告言:賢首!汝勿憂慼。吾今共出求覓愛子。王與大臣及諸人眾即共出城,各各分散隨處求覓。未久之頃,有一大臣前白王曰:聞王子在,願勿憂愁。其最小者今猶未見。王聞是語悲歎而言:苦哉苦哉!失我愛子。初有子時歡喜少,後失子時憂苦多。若使我兒重壽命,縱我身亡不為苦。夫人聞已,憂惱纏懷如被箭中,而嗟歎曰:我之三子并侍從,俱往林中共遊賞,最小愛子獨不還,定有乖離災厄事。次第二臣來至王所,王問臣曰:愛子何在?第二大臣懊惱啼泣,喉舌乾燥口不能言,竟無所答。夫人問曰:速報小子今何在,我身熱惱遍燒然,悶亂荒迷失本心,勿使我胸今破裂。時第二臣即以王子捨身之事具白王知。王及夫人聞其事已,不勝悲噎,望捨身處驟駕前行。詣竹林所,至彼菩薩捨身之地,見其骸骨隨處交橫,俱時投地悶絕將死,猶如猛風吹倒大樹,心迷失緒都無所知。時大臣等以水遍灑王及夫人,良久乃甦。舉手而哭,咨嗟歎曰:禍哉愛子端嚴相,因何死苦先來逼,若我得在汝前亡,豈見如斯大苦事。爾時夫人迷悶稍止,頭髮蓬亂兩手搥胸,宛轉于地如魚處陸、若生失子,悲泣而言:我子誰屠割,餘骨散于地。失我所愛子,憂悲不自勝。苦哉誰殺子,致斯憂惱事,我心非金剛,云何而不破。我夢中所見,兩乳皆被割,牙齒悉墮落,今遭大苦痛。又夢三鴿鶵,一被鷹擒去,今失所愛子,惡相表非虛。
(Kinh: Lúc bấy giờ, quốc đại
phu nhân ngủ trên lầu cao, liền ở trong mộng thấy
tướng bất tường: Bị cắt hai vú,
răng rơi rụng; có được ba con
chim bồ câu non, một con bị chim ưng bắt, hai
con bị kinh sợ. Lúc động đất, phu nhân liền
tỉnh giấc, tâm hết sức sầu năo, nói như thế
này: “Cớ sao lúc này đại địa động? Sông
ng̣i, rừng cây đều rúng động. Mặt trời ảm
đạm như bị che. Mắt nháy, vú rung thật dị
thường. Như tên trúng tim, ưu khổ bức, khắp
thân run rẩy chẳng an ổn. Ta nằm mộng thấy
điềm chẳng lành, ắt có chuyện tai biến phi
thường!” Hai vú phu nhân bỗng dưng tuôn sữa, bà
nghĩ điều này ắt có chuyện biến đổi
quái dị. Khi đó, có thị nữ nghe người bên
ngoài nói “t́m kiếm vương tử cho đến nay vẫn
chưa thấy”, tâm hết sức kinh sợ, liền vào
trong cung, thưa cùng phu nhân rằng: “Ngài có biết hay
chăng? Con ở bên ngoài nghe mọi người chia nhau t́m
kiếm vương tử, t́m khắp nơi chẳng thấy”.
Khi đó, phu nhân nghe nói như thế xong, sanh ḷng ưu năo
to lớn, lệ buồn đẫm mắt, tới chỗ
đại vương, tâu rằng: “Tâu đại
vương! Thiếp nghe người bên ngoài nói như thế
này: Đứa con đáng yêu nhỏ nhất của thiếp
mất tích”. Vua nghe nói xong, kinh hoảng, bối rối, nghẹn
ngào nói: “Khổ thay! Hôm nay lạc mất
con yêu của ta”. Vua liền gạt lệ, an ủi, khuyên
nhủ phu nhân, bảo rằng: “Này Hiền Thủ! Nàng
đừng lo buồn, nay ta cùng xuất cung t́m kiếm con
yêu”. Vua cùng đại thần và các dân chúng liền cùng ra khỏi
thành, ai nấy tách ra, t́m kiếm khắp nơi. Trong khoảng
chưa lâu, có một đại thần, đến trước
vua tâu rằng: “Nghe nói vương tử c̣n sống, xin bệ
hạ đừng ưu sầu. Vương tử nhỏ
nhất nay vẫn chưa thấy”. Vua nghe lời ấy, buồn
than mà nói: “Khổ thay! Khổ thay! Mất đứa con yêu
của ta. Thoạt đầu lúc có con th́ hoan hỷ ít, về
sau mất con ưu khổ nhiều! Nếu như con ta được toàn
mạng, dẫu ta mất mạng cũng chẳng khổ!”
Phu nhân nghe xong, ưu năo vấn vít trong tâm, như bị
trúng tên, bèn than thở rằng: “Ba đứa con ta và kẻ
hầu, đều vào rừng chơi để ngoạn cảnh,
con yêu nhỏ nhất riêng chẳng về, chắc có chuyện
trái ngang, tai ách!” Kế đó, kẻ bầy tôi thứ hai
đến chỗ nhà vua, vua hỏi viên quan ấy: “Con yêu ở
đâu?” Vị đại thần thứ hai áo năo, nức nở,
họng lưỡi khô ran, chẳng thể nói năng, trọn
chẳng đáp lời. Phu nhân hỏi rằng: “Mau
báo con út nay
ở đâu, thân ta nóng nảy thiêu
đốt khắp, mờ mịt mê mẩn, tâm ngơ ngẩn,
đừng khiến ngực ta bị xé rách!” Khi đó, vị
đại thần thứ hai liền tâu cặn kẽ chuyện
vương tử xả thân cho vua biết. Vua và phu nhân nghe
chuyện ấy xong, khôn ngăn buồn thảm, nghẹn
ngào, hướng đến chỗ xả thân, vội vă ruổi
xe đến đó. Tới chỗ rừng trúc, đến
chỗ Bồ Tát xả thân, thấy hài cốt vung văi khắp
nơi, đều cùng nhau ngă lăn ra đất, ngất
đi, sắp chết, giống như gió mạnh thổi
trốc cây to, tâm mê man, mờ mịt, chẳng hay biết
ǵ nữa! Khi đó, các đại thần lấy nước
rưới vua và phu nhân, hồi lâu mới tỉnh, giơ
tay khóc lóc, nức nở than rằng: “Khốn thay! Con yêu
tướng đoan nghiêm, do đâu tử khổ bức bách
trước? Nếu cha mẹ được chết
trước con, há gặp chuyện khổ to như thế?”
Lúc bấy giờ, phu nhân hơi bớt mê loạn, đầu
tóc rối tung,
hai tay đấm ngực, quằn quại trên mặt đất,
như cá mắc cạn, như sanh xong mất con, buồn
khóc mà nói: “Con ta ai giết chặt, xương thừa vung
văi đất? Ta mất đi con yêu, buồn sầu khôn
ngăn nổi. Khổ thay, ai giết con, khiến chuyện
ưu năo vậy! Tâm mẹ chẳng kim cang, cớ sao không
nát vụn? Điều mẹ thấy trong mộng, hai vú
đều bị cắt, hàm răng đều rụng sạch,
nay gặp đau khổ lớn. Lại mộng ba chim non, một
bị ưng quắp đi, nay bị mất con yêu, ác
tướng chẳng hư dối!”).
Kế
đó, phần thứ ba trong đoạn “quyến thuộc
thương khóc” là “cha mẹ sầu thương”. Trong ấy,
có mười một điều:
- Một,
phu nhân kinh dị, có tám ư:
1) Nằm
ngủ mộng thấy điềm bất tường.
2) Từ
“địa động chi thời” (khi đất chấn
động) trở đi, đất rúng động khiến
[phu nhân] giật
ḿnh tỉnh giấc.
3) Từ
“tác như thị ngôn” (nói như thế này) trở
đi, [phu
nhân] nói đến ác tướng ấy.
4) Từ
“phu nhân lưỡng nhũ” (hai vú phu nhân) trở
đi, bị kích động sữa tuôn chảy.
5) Từ
“thời hữu thị nữ” (khi đó, có thị nữ)
trở đi, thị nữ nghe nói [bên ngoài đang nháo nhác
t́m kiếm vương tử].
6) Từ
“tâm đại kinh bố” (tâm hết sức kinh sợ)
trở đi, [thị nữ] chạy vào vội vă báo
tin.
7) Từ
“thời bỉ phu nhân” (khi đó, vị phu nhân ấy)
trở đi, mẹ nghe tin sầu năo.
8) Từ
“chí đại vương sở” (tới chỗ
đại vương) trở đi, [hoàng hậu] buồn
khóc tới chỗ nhà vua. Xét theo kệ tụng, phu nhân
đă tâu rơ điềm mộng, nhưng ở đây kinh
văn lược đi.
-
Hai, từ “vương văn ngữ dĩ” (vua nghe nói
xong) trở đi, cha bèn buồn rầu, hốt hoảng.
-
Ba, từ “tức tiện vấn lệ” (liền gạt
lệ) trở đi, vua an ủi phu nhân. Lệ thường
tại Ấn Độ, gặp nhau liền khen ngợi là
Hiền Thủ.
- Bốn,
từ “vương dữ đại thần” (vua và
đại thần) trở đi, xuất cung t́m kiếm.
Theo phần kệ tụng, phải là trước hết
quần thần t́m kiếm; kế đó, vua và vợ xuất
cung. Nay kinh văn lược đi, chỉ nói “xuất mịch”
(ra [khỏi cung] t́m kiếm). Trong ấy, lại có bảy
điều:
1)
Chia nhau t́m cầu khắp nơi.
2) Từ
“vị cửu chi khoảnh” (trong khoảng chưa lâu)
trở đi, đại thần
[thứ nhất] đến tâu.
3) Từ
“vương văn thị ngữ” (vua nghe lời ấy)
trở đi, cha nghe tâu buồn than.
4) Từ
“phu nhân văn dĩ” (phu nhân nghe xong) trở đi, mẹ
lại than thở bi thương.
5) Từ
“thứ đệ nhị thần” (kế đó, vị
đại thần thứ hai) trở đi, bầy tôi
đến, vua hỏi con c̣n hay mất.
6) Từ
“đệ nhị đại thần” (vị đại
thần thứ hai) trở đi, đại thần nức
nở, nghẹn ngào không đáp.
7) Từ
“phu nhân vấn viết” (phu nhân hỏi rằng) trở
đi, phu nhân mê loạn, thúc giục trả lời.
-
Năm, từ “thời đệ nhị thần” (khi
đó, vị đại thần thứ hai) trở đi,
biết được tin tức của con. Theo kệ tụng,
có hai vị bầy tôi đến báo tin, phần Trường
Hàng lược đi một vị quan.
-
Sáu, từ “vương cập phu nhân” (vua và phu nhân) trở
đi, [vua và hoàng hậu] đă biết tin bèn bi
thương, nghẹn ngào.
- Bảy,
từ “vọng xả thân xứ” (hướng đến
chỗ xả thân) trở đi, đến chỗ xả
thân.
-
Tám, từ “kiến kỳ hài cốt” (thấy hài cốt
của vương tử) trở đi, trông thấy [hài cốt]
tan nát.
-
Chín, từ “thời đại thần đẳng”
(khi đó, các đại thần) trở đi, bầy tôi rảy
nước.
- Mười,
từ “vương cập phu nhân” (vua và phu nhân) trở
đi, tỉnh lại, than văn.
-
Mười một, từ “nhĩ thời, phu nhân” (lúc
đó, phu nhân) trở đi, mẹ khóc lóc, giăi bày nỗi bi
thương. [Trong phần này], thoạt đầu là
người kết tập kinh dẫn giải; kế
đó, mẹ bày tỏ nỗi bi thương. Hai bài tụng
trong ấy trần thuật nỗi bi thương, hai bài
c̣n lại nói về tướng ác.
5.26.4.1.3.1.9. V́
vương tử lập chế-để
(Kinh)
Nhĩ thời, đại vương cập ư phu nhân,
tịnh nhị vương tử, tận ai hào khốc, anh
lạc bất ngự, dữ chư nhân chúng, cộng thâu Bồ
Tát di thân xá-lợi, vị ư cúng dường, trí tốt-đổ-ba
trung.
(經)爾時大王及於夫人,并二王子盡哀號哭,瓔珞不御,與諸人眾共收菩薩遺身舍利,為於供養置窣堵波中。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đại vương cùng với phu nhân và hai
vương tử, gào khóc tột bậc bi ai, chẳng
đeo chuỗi anh lạc, cùng với mọi người
cùng thu thập di thân xá-lợi của Bồ Tát, v́ để
cúng dường, bèn đặt trong tháp).
Đoạn
thứ chín là [quyến thuộc] v́ vương tử lập
chế-để.
5.26.4.1.3.1.10. Kết lại
lời dạy về lợi sanh
(Kinh) “A Nan Đà! Nhữ đẳng ưng
tri, thử tức thị bỉ Bồ Tát xá-lợi”. Phục
cáo A Nan Đà: - Ngă ư tích thời, tuy cụ phiền năo,
tham, sân, si đẳng, năng ư địa ngục, ngạ
quỷ, bàng sanh, ngũ thú chi trung, tùy duyên cứu tế,
linh đắc xuất ly. Hà huống kim thời, phiền
năo đô tận, vô phục dư tập, hiệu Thiên Nhân
Sư, cụ Nhất Thiết Trí, nhi bất năng vị
nhất nhất chúng sanh kinh ư đa kiếp, tại
địa ngục trung, cập ư dư xứ, đại
thọ chúng khổ, linh xuất sanh tử, phiền năo, luân
hồi?
(經)阿難陀!汝等應知,此即是彼菩薩舍利。復告阿難陀:我於昔時雖具煩惱貪瞋癡等,能於地獄餓鬼旁生五趣之中隨緣救濟令得出離。何況今時煩惱都盡無復餘習,號天人師具一切智,而不能為一一眾生經於多劫在地獄中及於餘處代受眾苦,令出生死煩惱輪迴?
(Kinh: “A Nan
Đà! Các ông nên biết, đây chính là xá-lợi của vị
Bồ Tát ấy”. Lại bảo A Nan Đà: - Ta trong thuở
xưa, tuy có đủ phiền năo, tham, sân, si v.v... mà có thể
ở trong địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh,
năm đường, tùy duyên cứu tế, khiến cho họ
được thoát ĺa. Huống hồ hiện thời, phiền
năo đều hết, chẳng c̣n tập khí sót lại, hiệu
là Thiên Nhân Sư, đầy đủ Nhất Thiết Trí,
mà chẳng thể v́ mỗi một chúng sanh trải qua nhiều
kiếp, ở trong địa ngục, và các chỗ khác, chịu
thay các nỗi khổ, khiến họ thoát khỏi sanh tử,
phiền năo, luân hồi ư?)
Đoạn
lớn thứ mười là “kết lại và chỉ dạy
lợi sanh”. Có ba ư:
- Một,
kết lại phần nói về xá-lợi.
-
Hai, từ “phục cáo A Nan Đà” (lại bảo A Nan
Đà) trở đi, dạy đại lược cái nhân
xưa kia. Tuy nói kèm về sự được mất, trọn
đủ phiền năo là “mất”, nhưng có thể tu hành
là “được”, dụng ư là khuyên lơn, khích lệ
người trọn đủ phiền năo hăy tu hành, tức
là rèn luyện kẻ sơ học, và cũng nhằm khuyên bậc
thánh: Ta xưa kia thuộc địa vị phàm phu mà c̣n có thể
lợi ích chúng sanh, các vị đă chứng thánh,
sao chẳng siêng ṛng?
-
Ba, từ “hà huống kim thời” (huống hồ ngày
nay) trở đi, trần thuật hiện thời có thể
lợi ích, tức là tùy theo sự cảm ứng mà đều
có thể lợi ích chúng sanh. Ư nói: [Khi xưa, đang c̣n là
phàm phu] mà c̣n có thể thay chúng sanh chịu khổ, khiến
cho họ xuất ly; v́ thế, những điều nói trong
hiện thời nhất định sẽ là cái nhân để
tạo phương tiện lợi lạc, các ông hăy nên
lưu truyền, tu học [bộ kinh Kim Quang Minh này].
5.26.4.1.3.2. Kệ tụng
trùng tuyên chuyện cứu cọp
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa,
nhi thuyết tụng ngôn: - Ngă niệm quá khứ thế, vô
lượng vô số kiếp, hoặc thời tác quốc
vương, hoặc phục vi vương tử, thường
hành ư đại thí, cập xả sở ái thân, nguyện
xuất ly sanh tử, chí diệu Bồ Đề xứ.
Tích thời hữu đại quốc, quốc chúa danh
Đại Xa, vương tử danh Dũng Mănh, thường
thí, tâm vô lận. Vương tử hữu nhị huynh, hiệu
Đại Cừ, Đại Thiên. Tam nhân đồng xuất
du, tiệm chí xuất lâm sở. Kiến hổ cơ sở
bức, tiện sanh như thị tâm: “Thử hổ cơ
hỏa thiêu, cánh vô dư khả thực”. Đại sĩ
đổ như thị, khủng kỳ tương thực
tử, xả thân vô sở cố, cứu tử bất linh
thương. Đại địa cập chư sơn, nhất
thời giai chấn động. Giang hải giai đằng
dược, kinh ba thủy nghịch lưu. Thiên địa
thất quang minh, hôn minh vô sở kiến. Lâm dă chư cầm
thú, phi
bôn, táng sở y. Nhị huynh quái bất hoàn, ưu thích sanh
bi khổ, tức dữ chư thị tùng, lâm tẩu biến
tầm cầu.
Huynh đệ cộng trù nghị, phục văng thâm sơn xứ.
Tứ cố, vô sở hữu, kiến hổ xứ không
lâm, kỳ mẫu tịnh thất tử, khẩu giai hữu
huyết ô. Tàn cốt tịnh dư phát, tung hoành tại
địa trung. Phục kiến hữu lưu huyết, tán
tại trúc lâm sở. Nhị huynh kư kiến dĩ, tâm sanh
đại khủng bố, muộn tuyệt câu tịch
địa, hoang mê bất giác tri, trần thổ bộn kỳ
thân, lục t́nh giai thất niệm. Vương tử
chư thị tùng, đề khấp, tâm ưu năo. Dĩ thủy
sái linh tô, cử thủ, hào đào khốc. Bồ Tát xả
thân thời, từ mẫu tại cung nội, ngũ bách
chư thể nữ, cộng thọ ư diệu lạc.
Phu nhân chi lưỡng nhũ, hốt nhiên tự lưu xuất,
biến thể như châm thích, khổ thống, bất
năng an. Soát sanh thất tử tưởng, ưu tiễn
khổ thương tâm, tức bạch đại
vương tri, trần tư khổ năo sự, bi khấp bất
kham nhẫn, ai thanh hướng vương thuyết:
“Đại vương kim đương tri, ngă sanh đại
khổ năo. Lưỡng nhũ hốt lưu xuất, cấm
chỉ bất ưng tâm, như châm biến thích thân, phiền
oản hung dục phá. Ngă tiên mộng ác trưng, tất
đương thất ái tử. Nguyện vương tế
ngă mạng, tri nhi dữ tồn vong. Mộng kiến tam cáp
sồ, tiểu giả thị ái tử, hốt bị
ưng đoạt khứ, sầu bi nan cụ trần! Ngă
kim một ưu hải, thú tử tương bất cửu,
khủng tử mạng bất toàn, nguyện vị tốc
cầu mịch. Hựu văn ngoại nhân ngữ, tiểu
tử cầu bất đắc. Ngă kim ư bất an, nguyện
vương ai mẫn ngă!” Phu nhân bạch vương dĩ,
cử thân nhi tịch địa, bi thống tâm muộn tuyệt,
hoang mê bất giác tri. Thể nữ kiến phu nhân, muộn
tuyệt tại ư địa, cử thanh giai đại
khốc. Ưu hoàng thất sở y. Vương văn
như thị ngữ, hoài ưu bất tự thắng, nhân
mạng chư quần thần, tầm cầu sở ái tử,
giai cộng xuất thành ngoại, tùy xứ nhi truy mịch.
Thế khấp, vấn chư nhân: “Vương tử kim hà
tại? Kim giả vi tồn vong? Thùy tri sở khứ xứ?
Vân hà linh đắc kiến, giải ngă ưu năo tâm”.
Chư nhân tất cộng truyền, hàm ngôn vương tử
tử. Văn giả giai thương điệu, bi thán khổ
nan tài. Nhĩ thời, Đại Xa vương, bi hào tùng
ṭa khởi, tức tựu phu nhân xứ, dĩ thủy sái kỳ
thân. Phu nhân mông thủy sái, cửu năi đắc tỉnh ngộ,
bi đề dĩ vấn vương: “Ngă nhi kim tại phủ?”
Vương cáo phu nhân viết: “Ngă dĩ sử chư nhân, tứ
hướng cầu vương tử. Thượng vị
hữu tiêu tức”. Vương hựu cáo phu nhân: “Nhữ mạc
sanh phiền năo, thả đương tự an ủy, khả
cộng xuất truy tầm”.
Vương tức dữ phu nhân, nghiêm giá nhi tiền tiến.
Hào đỗng thanh thê cảm, ưu tâm nhược hỏa
nhiên. Sĩ thứ bách thiên vạn, diệc tùy vương
xuất thành, các dục cầu vương tử. Bi hào
thanh bất tuyệt. Vương cầu ái tử cố, mục
thị ư tứ phương. Kiến hữu nhất
nhân lai, bị phát, thân đồ huyết, biến thể
mông trần thổ, bi khốc nghịch tiền lai.
Vương kiến thị ác tướng, bội phục
sanh ưu năo. Vương tiện cử lưỡng thủ,
ai hào bất tự tài. Sơ hữu nhất đại thần,
hốt mang chí vương sở, tấn bạch đại
vương viết: “Hạnh nguyện hốt bi ai!
Vương chi sở ái tử, kim tuy cầu vị hoạch,
bất cửu đương lai chí, dĩ thích đại
vương ưu”. Vương phục cánh tiền hành. Kiến
thứ đại thần chí, kỳ thần nghệ
vương sở, lưu lệ bạch vương ngôn:
“Nhị tử kim hiện tồn, bị ưu hỏa sở
bức. Kỳ đệ tam vương tử, dĩ bị
vô thường thôn. Kiến ngạ hổ sơ sanh,
tương dục thực kỳ tử. Bỉ Tát Đỏa
vương tử, kiến thử khởi bi tâm, nguyện
cầu vô thượng đạo, đương độ
nhất thiết chúng. Hệ tưởng diệu Bồ
Đề, quảng đại thâm như hải, tức
thượng cao sơn đảnh, đầu thân ngạ hổ
tiền. Hổ luy bất năng thực, dĩ trúc tự
thương cảnh, toại đạm vương tử
thân, duy hữu dư hài cốt”. Thời vương cập
phu nhân, văn dĩ câu muộn tuyệt, tâm một ư
ưu hải, phiền năo hỏa thiêu nhiên. Thần dĩ
chiên đàn thủy, sái vương cập phu nhân, câu khởi
đại bi hào, cử thủ trùy hung ức. Đệ tam
đại thần lai, bạch vương như thị ngữ:
“Ngă kiến nhị vương tử, muộn tuyệt tại
lâm trung, thần dĩ lănh thủy sái, nhĩ năi tạm tô tức,
cố thị ư tứ phương, như mănh hỏa
châu biến, tạm khởi nhi hoàn phục, bi hào bất tự
thắng, cử thủ dĩ ai ngôn, xưng thán đệ
hy hữu”. Vương văn như thị thuyết, bội
tăng ưu hỏa tiên. Phu nhân đại hào đào, cao
thanh tác thị ngữ: “Ngă chi tiểu tử biến chung
ái, dĩ vi vô thường La Sát thôn. Dư hữu nhị tử
kim hiện tồn, phục bị ưu hỏa sở thiêu
bức. Ngă kim tốc khả chí sơn hạ, an ủy linh
kỳ bảo dư mạng”. Tức tiện tŕ giá vọng
tiền lộ, nhất tâm nghệ bỉ xả thân nhai. Lộ
phùng nhị tử hành đề khấp, trùy hung áo năo thất
dung nghi. Phụ mẫu kiến dĩ băo ưu bi, câu văng
sơn lâm xả thân xứ. Kư chí Bồ Tát xả thân địa,
cộng tụ bi hào sanh đại khổ, thoát khứ anh lạc
tận ai tâm, thâu thủ Bồ Tát thân dư cốt. Dữ
chư nhân chúng đồng cúng dường, cộng tạo
thất bảo tốt-đổ-ba, dĩ bỉ xá-lợi
trí hàm trung, chỉnh giá hoài ưu thú thành ấp.
(經)爾時世尊欲重宣此義而說頌言:我念過去世,無量無數劫,或時作國王,或復為王子,常行於大施,及捨所愛身,願出離生死,至妙菩提處。昔時有大國,國主名大車,王子名勇猛,常施心無悋。王子有二兄,號大渠大天,三人同出遊,漸至出林所。見虎飢所逼,便生如是心:此虎飢火燒,更無餘可食。大士覩如斯,恐其將食子,捨身無所顧,救子不令傷。大地及諸山,一時皆震動,江海皆騰躍,驚波水逆流。天地失光明,昏冥無所見,林野諸禽獸,飛奔喪所依。二兄怪不還,憂慼生悲苦,即與諸侍從,林藪遍尋求。兄弟共籌議,復往深山處,四顧無所有,見虎處空林。其母并七子,口皆有血污,殘骨并餘髮,縱橫在地中,復見有流血,散在竹林所。二兄既見已,心生大恐怖,悶絕俱躄地,荒迷不覺知,塵土坌其身,六情皆失念。王子諸侍從,啼泣心憂惱,以水灑令甦,舉手號咷哭。菩薩捨身時,慈母在宮內,五百諸婇女,共受於妙樂。夫人之兩乳,忽然自流出,遍體如針刺,苦痛不能安。欻生失子想,憂箭苦傷心,即白大王知,陳斯苦惱事,悲泣不堪忍,哀聲向王說:大王今當知,我生大苦惱。兩乳忽流出,禁止不應心,如針遍刺身,煩惋胸欲破。我先夢惡徵,必當失愛子。願王濟我命,知兒存與亡。夢見三鴿鶵,小者是愛子,忽被鷹奪去,悲愁難具陳。我今沒憂海,趣死將不久,恐子命不全,願為速求覓。又聞外人語,小子求不得,我今意不安,願王哀愍我。夫人白王已,舉身而躄地,悲痛心悶絕,荒迷不覺知。婇女見夫人,悶絕在於地,舉聲皆大哭,憂惶失所依。王聞如是語,懷憂不自勝,因命諸群臣,尋求所愛子。皆共出城外,隨處而追覓,涕泣問諸人:王子今何在?今者為存亡?誰知所去處?云何令得見,解我憂惱心。諸人悉共傳,咸言王子死。聞者皆傷悼,悲歎苦難裁。爾時大車王,悲號從座起,即就夫人處,以水灑其身。夫人蒙水灑,久乃得醒悟,悲啼以問王:我兒今在不?王告夫人曰。我已使諸人。四向求王子。尚未有消息。王又告夫人:汝莫生煩惱,且當自安慰,可共出追尋。王即與夫人,嚴駕而前進,號慟聲悽感,憂心若火然。士庶百千萬,亦隨王出城,各欲求王子,悲號聲不絕。王求愛子故,目視於四方,見有一人來,被髮身塗血,遍體蒙塵土,悲哭逆前來。王見是惡相,倍復生憂惱,王便舉兩手,哀號不自裁。初有一大臣,怱忙至王所,進白大王曰:幸願忽悲哀!王之所愛子,今雖求未獲,不久當來至,以釋大王憂。王復更前行,見次大臣至,其臣詣王所,流淚白王言:二子今現存,被憂火所逼。其第三王子,已被無常吞。見餓虎初生,將欲食其子,彼薩埵王子,見此起悲心,願求無上道,當度一切眾。繫想妙菩提,廣大深如海,即上高山頂,投身餓虎前。虎羸不能食,以竹自傷頸,遂啗王子身,唯有餘骸骨。時王及夫人,聞已俱悶絕,心沒於憂海,煩惱火燒然。臣以栴檀水,灑王及夫人,俱起大悲號,舉手搥胸臆。第三大臣來,白王如是語:我見二王子,悶絕在林中,臣以冷水灑,爾乃暫甦息。顧視於四方,如猛火周遍,暫起而還伏,悲號不自勝,舉手以哀言,稱歎弟希有。王聞如是說,倍增憂火煎。夫人大號咷,高聲作是語:我之小子遍鍾愛,已為無常羅剎吞。餘有二子今現存,復被憂火所燒逼。我今速可至山下,安慰令其保餘命。即便馳駕望前路,一心詣彼捨身崖。路逢二子行啼泣,搥胸懊惱失容儀,父母見已抱憂悲,俱往山林捨身處。既至菩薩捨身地,共聚悲號生大苦,脫去瓔珞盡哀心,收取菩薩身餘骨。與諸人眾同供養,共造七寶窣堵波,以彼舍利置函中,整駕懷憂趣城邑。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn nhắc lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Ta nhớ đời
quá khứ, vô lượng vô số kiếp, có lúc làm quốc
vương, hoặc lại làm vương tử, thường
hành bố thí lớn, xả thân đáng yêu mến, nguyện
xuất ly sanh tử, tới chỗ diệu Bồ Đề.
Xưa kia có nước lớn, quốc chúa tên Đại
Xa, vương tử tên Dũng Mănh, thường thí, tâm chẳng
keo. Vương tử có hai anh, tên Đại Cừ, Đại
Thiên. Ba người cùng đi chơi, dần đến chỗ
rừng rậm. Thấy hổ bị đói khát, liền
sanh tâm thế này: “Cọp này lửa đói đốt, trọn
chẳng có ǵ ăn”. Đại sĩ thấy như thế,
sợ nó ăn thịt con, xả thân chẳng đoái hoài, cứu
cọp con an toàn. Đại địa và các núi, cùng lúc
đều chấn động, sông, biển
đều trào vọt, sóng dữ cuốn ngược ḍng.
Đất trời mất ánh sáng, tối tăm chẳng thấy
ǵ. Cầm thú chốn rừng hoang, bay,
chạy, mất chỗ nương. Hai anh lấy
làm lạ, em đâu sao chẳng về. Sầu lo sanh buồn
khổ. Liền cùng các kẻ hầu, t́m kiếm khắp rừng
rậm. Anh em cùng bàn bạc, lại đến chỗ núi
sâu, bốn phía chẳng thấy ǵ, thấy chỗ hổ rừng
trống, cọp mẹ và bảy con, miệng chúng đều
nhuốm máu, xương tàn cùng tóc thừa, vung văi trên mặt
đất. Lại thấy có máu chảy, tung tóe trong rừng
trúc. Hai anh đă thấy rồi, tâm
sanh sợ hăi lớn, chết ngất
lăn ra đất, mê man chẳng biết ǵ. Bụi đất
lem luốc thân, các giác quan ngơ ngẩn. Kẻ hầu của
vương tử, khóc lóc, tâm ưu năo. Rảy nước
để lay tỉnh, giơ tay, gào khóc than. Khi Bồ Tát xả
thân, mẹ hiền ở trong cung, và năm trăm thể nữ,
cùng vui hưởng diệu lạc. Hai vú của phu nhân, bỗng
nhiên sữa tuôn chảy. Khắp thân như kim đâm, khổ
đau chẳng thể yên. Bỗng nghĩ bị mất
con, tên sầu găm buốt tim, liền tâu đại
vương biết, thuật chuyện khổ năo ấy, buồn
khóc chẳng nhịn nổi, giọng ai oán tâu vua: “Đại
vương nay nên biết. Thiếp sanh đại khổ
năo, hai vú bỗng chảy sữa, khôn ngăn tâm bức bối.
Như kim đâm khắp thân, phiền lo muốn vỡ ngực.
Thiếp trước mộng điềm xấu, ắt sẽ
mất con yêu! Mong vua cứu mạng thiếp, biết con
c̣n hay mất. Mộng thấy ba chim non, chim nhỏ là con
yêu, bỗng bị ưng đoạt mất, sầu bi khó
thuật trọn! Thiếp ch́m trong biển lo, chẳng lâu sẽ
chết mất, sợ con mạng chẳng toàn, xin hăy mau t́m
kiếm. Lại nghe người ngoài nói, t́m chẳng
được con thơ. Nay ư
thiếp bất an, xin vua thương xót thiếp”. Phu nhân
tâu vua xong, toàn thân lăn ra đất, đau buồn, tâm mê
muội, mơ màng chẳng biết hay. Thể nữ thấy
phu nhân, mê man lăn ra đất, lớn tiếng khóc ầm
lên. Sợ hoảng đều thất thố. Vua nghe nói
như thế, ôm ḷng sầu khôn xiết, liền sai các quần
thần, kiếm t́m con yêu dấu, đều cùng ra ngoài thành,
truy t́m khắp mọi nơi. Khóc lóc, hỏi mọi người:
“Vương tử ở nơi đâu? Nay c̣n sống hay chết?
Ai biết đi chỗ nào? Làm sao để được
thấy? Dịu ḷng ta ưu năo!” Mọi người cùng
đồn đại, đều nói vương tử chết!
Người nghe đều bi thương, buồn than, khổ
khó đoạn. Lúc ấy vua Đại Xa, rên xiết mà
đứng dậy, liền đến chỗ phu nhân, dùng
nước rưới thân bà. Phu nhân được rưới
nước, hồi lâu mới tỉnh lại, buồn khóc
mà hỏi vua: “Con thiếp nay ở đâu?” Vua bảo phu
nhân rằng: “Ta đă sai mọi người, t́m
vương tử bốn phương, vẫn chưa có tin
tức”. Vua lại bảo phu nhân: “Nàng đừng sanh phiền
năo, hăy tự nên dằn ḷng, cùng nhau đi t́m kiếm”. Vua liền
cùng phu nhân, xa giá tiến lên trước. Tiếng gào khóc thảm
thê, bồn chồn như lửa đốt. Trăm ngàn vạn
dân chúng, cũng theo vua xuất thành, đều muốn t́m
vương tử. Tiếng buồn than chẳng dứt.
Vua do t́m con yêu, dơi mắt nh́n bốn phương. Thấy
có một người đến, xơa tóc, thân lấm máu, khắp
thân đầy
bụi đất, buồn khóc, đến trước vua.
Vua thấy tướng ác ấy, sanh ưu năo gấp bội!
Vua liền giơ hai tay, buồn than chẳng ḱm nổi. Thoạt tiên, một
đại thần, gấp rút đến chỗ vua, tâu cùng
đại vương rằng: “Mong vua đừng bi ai, con
yêu dấu của ngài, nay tuy chưa kiếm được,
chẳng lâu sẽ đến đây, khiến đại
vương khỏi lo”. Vua lại tiến lên trước,
thấy một đại thần đến, rơi lệ
tâu vua rằng: “Hai vương tử
c̣n sống, bị lửa ưu bức bách. Nhưng
vương tử thứ ba, đă bị vô thường nuốt.
Thấy cọp đói mới sanh, sắp sửa ăn thịt
con. Vương tử Tát Đỏa ấy, thấy vậy
khởi bi tâm, nguyện cầu vô thượng đạo,
sẽ độ hết thảy chúng. Suy tưởng diệu
Bồ Đề, rộng lớn sâu như biển, liền
lên đỉnh núi cao, gieo thân trước hổ đói. Hổ
yếu, chẳng thể ăn, dùng tre tự đâm cổ,
hổ bèn ăn vương tử, chỉ sót lại hài cốt”.
Khi đó, vua, phu nhân, nghe xong đều chết ngất, tâm
ch́m trong biển sầu, lửa phiền năo thiêu đốt.
Quan dùng nước chiên đàn, rưới vua và phu nhân. Tỉnh
dậy, gào bi thiết, giơ tay đấm ngực ḿnh.
Đại thần thứ ba tới, tâu vua như thế
này: “Thần thấy hai vương tử, ngất xỉu ở
trong rừng. Thần dùng nước lạnh rưới,
nhờ đó tạm tỉnh lại. Ngóng nh́n khắp bốn
phương, như lửa dữ trọn khắp. Tạm
đứng, lại gục xuống, buồn gào, khó tự
dằn. Giơ tay, thốt lời buồn, ca ngợi em hy hữu”.
Vua nghe nói như thế, lửa ưu càng nung nấu. Phu
nhân gào khóc thảm, lớn tiếng nói thế này: “Đứa
con út ta riêng nâng niu, đă bị vô thường La Sát nuốt.
Hai đứa con kia nay vẫn c̣n, lại bị lửa
ưu sầu nung đốt. Ta nay mau đến dưới
chân núi, an ủi để giữ tánh mạng chúng”. Liền
ruổi xa giá theo đường trước, nhất tâm
đến vách con xả thân, gặp hai con khóc đi trên
đường, đấm ngực áo năo, dáng nhếch nhác.
Cha mẹ thấy rồi ôm sầu bi, cùng tới núi rừng
chỗ xả thân. Đă tới chỗ Bồ Tát xả
thân, tụ tập xót gào, rất khổ sở. Tháo bỏ
chuỗi ngọc, tột xót thương, thu thập dư
cốt của Bồ Tát. Cùng với dân chúng đồng cúng
dường, cùng tạo tốt-đổ-ba bảy báu,
đem xá lợi ngài đặt trong ấy, xa giá ôm sầu về
kinh thành).
Kế
đó, nói kệ tụng gồm năm mươi sáu bài tụng,
chia thành hai phần:
- Một,
hai bài tụng đầu nêu chung sự tu hành.
-
Hai, năm mươi bốn bài tụng sau đó nói riêng
chuyện xả thân.
Trường
Hàng trong phần trước gồm mười đoạn,
nay trong kệ tụng lược đi không nói đoạn
thứ tư “suy nghĩ nên xả mạng”, đoạn thứ
bảy “cọp ăn thịt [vương tử]” và đoạn
thứ mười “kết lại, dạy về lợi
sanh”, tức là chia thành bảy đoạn:
- Một,
một bài tụng rưỡi trần thuật đoạn thứ
nhất [trong phần Trường Hàng], tức
quyến thuộc xưa kia.
-
Hai, nửa bài tụng kế đó trùng tụng đoạn
thứ hai, trần thuật chuyến đi chơi xưa
kia.
-
Ba, một bài tụng kế đó trùng tụng đoạn
thứ ba, “gặp cảnh khổ,
sanh bi tâm”.
- Bốn,
một bài tụng trùng tụng đoạn thứ năm “xả
thân cứu tế”.
-
Năm, hai bài tụng trùng tụng đoạn thứ sáu
“điềm lành cảm động trời, người”.
-
Sáu, bốn mươi sáu bài tụng rưỡi trùng tụng
đoạn thứ tám “quyến
thuộc khóc thương”.
- Bảy,
một bài tụng rưỡi trùng tụng đoạn
thứ chín “v́ vương tử lập chế-để”.
Năm
đoạn đầu, xét theo kinh văn dễ thấy. Phần
trùng tụng “quyến thuộc thương khóc” có ba ư thuộc
phần Trường Hàng:
- Một,
sáu bài tụng từ “nhị huynh quái bất hoàn” (hai
anh kinh ngạc sao em không trở về) trở đi, trùng tụng
chuyện
anh em buồn khóc, chia nhỏ ra dễ thấy, lược
đi không nói ư “thị vệ truy t́m”.
-
Hai, bốn mươi bài tụng rưỡi từ “Bồ
Tát xả thân thời” (lúc Bồ Tát xả thân) trở
đi, cha mẹ buồn khóc. Phần Trường Hàng
trước đó gồm mười một ư, không có ư
“trước hết, sai bầy tôi đi t́m”, trong kệ tụng
có ư này, nhưng không có ư thứ mười, ư thứ mười một là “mẹ khóc
lóc, giăi bày ḷng bi thương”, ư thứ mười ba “vua an
ủi phu nhân”, ư thứ mười bốn “vua và quần thần
đi kiếm”, cho nên chỉ gồm mười ư:
1)
Mười một bài tụng đầu tiên trùng tụng ư
phu nhân kinh dị.
2) Nửa
bài tụng kế đó, trùng tụng ư thứ hai, “hai
vương tử bi thương, hoảng sợ”.
3) Kế
đó, mười bốn bài tụng rưỡi từ “nhân
mạng chư quần thần” (do vậy, sai quần thần)
trở đi, trùng tụng ư thứ tư “vua và quần thần
ra khỏi thành t́m kiếm”.
4) Kế
đó, năm bài tụng rưỡi từ “vương
phục cánh tiền hành” (vua lại tiến lên trước)
trở đi, biết nguyên do con xả ḿnh.
5) Bảy
bài tụng từ “thời vương cập phu nhân”
(khi đó, vua và phu nhân) trở đi, trùng tụng ư thứ
sáu, “biết rồi bi thương, nghẹn ngào”.
6)
Hai bài tụng kế đó từ “ngă kim tốc khả
chí sơn hạ” (ta nay mau đến dưới chân núi)
trở đi, trùng tụng ư thứ bảy “đến chỗ
[vương tử] xả thân”.
7) Nửa
bài tụng kế đó, trùng tụng ư thứ
tám “trông thấy bèn sụp đổ”.
Đoạn
nói về “phu nhân kinh dị” chia thành năm tiểu đoạn:
a.
Bài tụng thứ nhất, [phu nhân và các
cung nữ] ở trong cung hoan hỷ.
b. Một
bài tụng rưỡi kế đó, [phu nhân] cảm nhận
sự bồn chồn, vú chảy sữa.
c.
Sáu bài tụng rưỡi kế đó là [phu
nhân] buồn khóc tâu vua. Trong Trường
Hàng thuộc phần trước, [có các ư]: [Phu nhân] trong khi
ngủ mộng thấy điềm xấu, thị nữ
nghe nói, vội vào tâu
lại, mẹ nghe nói sầu năo,
[các ư ấy] đều được gom vào trong đoạn
tâu vua này, chẳng cần phải trùng tụng riêng, do
kinh văn soi rọi lẫn nhau, chẳng cần tốn
công trùng tụng.
d. Một
bài tụng kế đó, nói [phu nhân] tâu xong ngất đi.
e.
Bài tụng kế đó nói các thể nữ lo âu, hoảng sợ.
8) Từ
“vương văn như thị ngữ” (vua nghe lời
như thế) trở đi, trùng tụng ư thứ hai “vua
bèn bi thương”.
9)
Mười bốn bài tụng từ “nhân mạng chư
quần thần” (liền sai các quần thần) trở
đi, vua và quan cùng ra khỏi thành t́m kiếm. Phần
Trường Hàng có bảy ư, nay kệ tụng chia thành ba:
a. Nửa
bài tụng nói vua sai quan truy t́m, Trường Hàng không có ư
này.
b.
Chín bài tụng kế đó, th́ đầu tiên là chia nhau truy
t́m bốn phương. Trong ấy, ba bài tụng đầu
tiên là bầy tôi truy t́m. Kế đó, bốn bài tụng từ
“nhĩ thời, Đại Xa” (lúc bấy giờ, vua
Đại Xa) trở đi, trùng tụng ư thứ ba trong phần
trước, tức “vua an ủi phu nhân”, do nói cho tiện.
Hơn nữa, phần “buồn khóc, rơi lệ” trong Trường
Hàng chẳng nói phu nhân ngất đi, [kẻ hầu] rưới
nước cho tỉnh lại, trong phần Trùng Tụng th́
có, đó là do kinh văn nói rơ hay lược đi. Hai bài tụng
từ “vương tức dữ phu nhân” (vua liền cùng
phu nhân) trở đi, trùng tụng chuyện
vua ra ngoài thành t́m kiếm. [Trong đó],
bài thứ nhất nói về vua, bài thứ hai nói về các
quần thần.
c. Bốn
bài tụng rưỡi từ “vương cầu ái tử
cố” (do vua t́m con yêu) trở đi, trùng tụng ư thứ
hai trong phần vua và các quan ra ngoài thành t́m kiếm, tức
là “đại thần đến báo”. Trong đó,
chia thành ba ư: Một bài tụng rưỡi trùng tụng chuyện
vua thấy sứ giả đến. Bài tụng kế tiếp
nói vua giơ tay gọi lại hỏi. Hai bài tụng kế
đó trùng tụng đại thần tiến đến bẩm
bạch.
Năm
bài tụng rưỡi từ “vương phục cánh tiền
hành” (vua lại tiến lên trước) trở đi,
trùng tụng ư thứ năm trong đoạn trước là
“biết nguyên do con chết”. Trong ấy, chia thành bốn ư:
- Một,
nửa bài tụng nói vua thấy bầy tôi đến.
-
Hai, một bài tụng
kế đó, quần thần tâu hai vương tử c̣n sống.
-
Ba, nửa bài tụng kế đó, báo tin Tát Đỏa
đă chết.
- Bốn,
ba bài tụng
rưỡi kế
đó, trần thuật nguyên do của cái chết.
Bài
tụng kế đó, từ “thời vương cập
phu nhân” (khi đó, vua và phu nhân) trở đi, trùng tụng
ư “biết tin rồi bi thương, nghẹn ngào”,
được chia thành bốn ư:
- Một,
một bài tụng nói cha mẹ ngất xỉu.
-
Hai, một bài tụng nói quần thần rảy nước
[cho tỉnh lại].
-
Ba, ba bài tụng kế đó nói bầy tôi lại bẩm
báo [tin tức hai vương tử c̣n sống, đau
thương quá độ].
- Bốn,
hai bài tụng kế đó nói cha mẹ gào khóc, than văn. Hai bài tụng kế đó trùng tụng
điều thứ bảy “đến chỗ vương tử
xả thân”. Nửa bài tụng kế đó trùng tụng ư thứ
tám “cha mẹ trông
thấy [hài cốt của con bèn] sụp
đổ”.
10) Một
bài tụng rưỡi kế đó chính là đoạn thứ
chín “v́ vương tử lập chế-để”.
5.26.4.2. Dung hội
xưa nay
(Kinh)
Phục cáo A Nan Đà: - Văng thời Tát Đỏa giả, tức
ngă Mâu Ni thị, vật sanh ư dị niệm.
Vương thị phụ Tịnh Phạn, hậu thị
mẫu Ma Da, thái tử vị Từ Thị, thứ Mạn
Thù Thất Lợi. Hổ thị Đại Thế Chúa,
ngũ nhi ngũ bật-sô, nhất thị Đại Mục
Liên, nhất thị Xá Lợi Tử.
(經)復告阿難陀:往時薩埵者即我牟尼是,勿生於異念。王是父淨飯、后是母摩耶,太子謂慈氏、次曼殊室利。虎是大世主,五兒五苾芻,一是大目連、一是舍利子。
(Kinh:
Lại bảo A Nan Đà: - Tát Đỏa thuở trước tức là
ta, Mâu Ni, đừng sanh ư niệm khác. Vua là cha ta, Tịnh
Phạn. Hoàng hậu là mẹ ta, Ma Da. Thái tử là Từ Thị,
kế đó là Mạn Thù Thất Lợi. Cọp là Đại
Thế Chúa, năm con là năm bật-sô, [hai con c̣n lại
th́] một là Đại Mục Liên, con kia là Xá Lợi Tử).
Đoạn
lớn thứ hai là dung hội xưa nay.
5.26.4.3. Khuyên lơn,
khích lệ tu học
(Kinh)
Ngă vị nhữ đẳng thuyết văng tích lợi tha duyên,
như thị Bồ Tát hạnh, thành Phật nhân
đương học. Bồ Tát xả thân thời, phát
như thị hoằng thệ: “Nguyện ngă thân dư cốt,
lai thế ích chúng sanh”. Thử thị xả thân xứ, thất
bảo tốt-đổ-ba, dĩ kinh vô lượng thời,
toại trầm ư hậu địa. Do tích bổn nguyện
lực, tùy duyên hưng tế độ, vị lợi
ư nhân thiên, tùng địa nhi dũng xuất.
(經)我為汝等說,往昔利他緣,如是菩薩行,成佛因當學。菩薩捨身時,發如是弘誓:願我身餘骨,來世益眾生。此是捨身處,七寶窣堵波,以經無量時,遂沈於厚地。由昔本願力,隨緣興濟度,為利於人天,從地而涌出。
(Kinh:
Ta v́ các ông nói, duyên lợi tha xưa kia, hạnh Bồ Tát như
thế, nhân thành Phật nên học. Khi Bồ Tát xả thân,
phát hoằng nguyện thế này: “Nguyện xương thừa
của ta, đời sau ích chúng sanh”. Đó là chỗ xả
thân, tốt-đổ ba bảy báu, trải qua vô lượng
thời, bèn ch́m trong đất dày. Do sức bổn nguyện
xưa, tùy duyên khởi tế độ, nhằn lợi ích
trời, người, từ đất mà vọt lên).
Kế
đó, đoạn lớn thứ ba là “khuyên lơn, khích lệ
tu học”. Trong ấy, bài tụng thứ nhất nêu ra sự
khuyên tu trong thuở trước; ba bài tụng kế
đó, kết lại ư nghĩa “chỉ bày chế-để”.
5.26.4.4. Đại chúng
nghe xong đạt được lợi ích
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn thuyết thị văng tích nhân duyên chi thời, vô lượng A-tăng-xí-da
nhân thiên đại chúng giai đại bi hỷ, thán vị
tằng hữu, tất phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề tâm. Phục cáo thụ thần: “Ngă vị
báo ân, cố trí lễ kính”. Phật nhiếp thần lực,
kỳ tốt-đổ-ba hoàn một vu
địa.
(經)爾時世尊說是往昔因緣之時,無量阿僧企耶人天大眾皆大悲喜,歎未曾有,悉發阿耨多羅三藐三菩提心。復告樹神:我為報恩故致禮敬。佛攝神力,其窣堵波還沒于地。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, khi đức Thế Tôn nói nhân duyên xưa kia ấy,
vô lượng A-tăng-xí-da (A-tăng-kỳ) đại
chúng trời người đều buồn vui to lớn, than
là chưa từng có, đều phát tâm Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác. Lại bảo thần cây: “Ta v́ báo ân
cho nên lễ kính”. Đức Phật thâu nhiếp thần lực,
tháp ấy lại ch́m mất trong đất).
Đoạn
lớn thứ tư là đại chúng nghe giảng,
được lợi ích. Kinh văn chia thành ba phần:
- Một,
nhắc lại điều đă nói trước đó.
-
Hai, từ “vô lượng A-tăng-xí-da” trở đi,
nói rơ được lợi ích bao nhiêu.
-
Ba, từ “phục cáo thụ thần” (lại bảo
thần cây) trở đi, tổng kết lại lời
đáp cho câu hỏi.
Xét
theo phần Trường Hàng trước đó, chỉ có ngài
A Nan hỏi đức Phật nguyên do lễ tháp, ở
đây liền đáp lời hỏi của thụ thần,
tức là trong lời hỏi thuộc phần trước,
phải nên đồng thời có lời hỏi của thần
cây về chuyện lễ tháp, nhưng [kinh văn] lược
đi không nói.
Sau
đó, từ “Phật nhiếp thần lực” trở
đi, tháp trở về như cũ do đă xong việc rồi.
5.27. Phẩm thứ hai mươi bảy:
Mười phương Bồ Tát tán thán (Thập Phương Bồ Tát Tán Thán phẩm
đệ nhị thập thất, 十方菩薩讚歎品第二十七)
Phẩm Thập Phương
Bồ Tát Tán Thán gồm ba môn phân biệt.
5.27.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này
Phần Lưu Thông
gồm ba phần khác nhau, tức là Học Hạnh, Tán Trọng (tán thán, tôn trọng) và Phó Chúc, khiến
cho người đời sau nương theo pháp mà tu hành.
Đạt lợi ích đă nhiều; v́ thế, [thính chúng]
bày tỏ ư vui mừng, tán thán. Do vậy, sau phẩm trước,
bèn có phẩm này sanh khởi.
5.27.2. Giải thích danh xưng
“Tán” là khen ngợi, “Thán” là ca ngâm, tức xưng dương
ngâm vịnh. Phải nên nói là: Gặp chuyện bèn ca ngợi
đức đẹp; đó là Tán. Dùng lư để công bố,
tuyên dương là Thán. Điều trước là nhân,
điều sau là pháp. Hoặc bao gồm cả nhân và pháp
đều gọi là Tán Thán. Bồ Tát là người tán
thán. Thập Phương là nói nơi họ đến. Muốn
khiến cho hữu t́nh ân cần, trân trọng, cho nên nêu ra
[các vị Bồ Tát] từ mười phương xa xôi
t́m đến. Bậc thù thắng mà c̣n ca ngợi, tuyên
dương, kẻ kém hơn sao không ca vịnh? Lại c̣n
nêu rơ: Bậc thù thắng mới có thể làm vậy, kẻ
kém hèn chẳng thể, muốn khiến cho [người
nghe] sẽ hâm mộ sự thù thắng mà tăng tấn tu
tập. V́ thế, trong phần sau có nói: “Linh vị tri giả
tùy thuận tu học” (khiến cho người chưa
biết tùy thuận tu học).
5.27.3. Giải thích vấn nạn
* Hỏi: V́ sao bản dịch
cũ gộp thành một phẩm mà bản dịch mới
tách thành bốn phẩm?
Đáp: Dựa theo bản tiếng
Phạn, đầu mỗi phẩm đều ghi một vị
Bồ Tát, hoặc là đánh dấu. Nay dựa theo bản
tiếng Phạn, bốn người tán thán, mỗi vị đều
được chép riêng. V́ thế, nay chia thành bốn phẩm.
Người xưa do thấy cùng là tán Phật, nên gộp
chung thành một phẩm. Lại có thể hiểu là:
Văn bản gốc dùng cho bản dịch cũ bị sót
phần ghi chép ấy, nên [dường như đều là
cùng một ư] tán thán. Bản dịch mới [có bản gốc
ghi rơ] bốn người [riêng biệt], bản dịch
cũ không có phần Đại Biện Tài tán thán, cho nên có
tách ra hay gộp vào sai khác.
* Hỏi: Theo bản dịch
cũ của kinh này, vô lượng Bồ Tát từ thế
giới này tới quốc độ của Kim Bảo Cái
Sơn Như Lai để lễ bái, tán thán đức Phật
ấy. Bản dịch mới th́ ghi: “Các tùng bổn độ,
nghệ Thứu Phong sơn, lễ Thế Tôn dĩ, đồng
âm nhi tán” (Đều từ cơi ḿnh đến núi Thứu
Phong, lễ đức Thế Tôn xong, đồng âm tán
thán). V́ sao trái ngược?
Đáp: Bản dịch cũ
sai lầm, bản dịch mới này là
đúng. V́ sao? Nghe kinh ở nơi đây, theo đúng lẽ
th́ phải tán vị
Phật
ở nơi đây. Lại dựa theo các phần trước
th́ chính là có mười phương Bồ Tát, sao lại
đều cùng qua cơi Kim Bảo Sơn tán thán vị Phật
ấy? Nếu nói kinh này do Tín Tướng [Bồ Tát phát khởi],
sau này Tín Tướng sẽ thành Phật tên là Kim Bảo
Sơn, cho nên qua đó tán thán vị Phật ấy. Nói
như thế cũng chẳng suông, v́ sao? Bảo Sơn Phật
trong hiện tại chẳng phải là thân của Tín Tướng!
Vị Phật ấy lại chẳng phải là vị chánh
yếu nói lời thọ kư. Hơn nữa, sau đó chẳng
nói các vị Bồ Tát ấy đến từ cơi đó, sao
có thể nói là nương vào Phật lực của vị
ấy? V́ thế, [kinh này] tuy do Diệu Tràng khải thỉnh,
mà vị nói pháp là Phật Thích Ca, [thính chúng] nghe pháp đến
nơi đây cũng do sức của Phật Thích Ca, Ngài là
thầy của Diệu Tràng, cho nên [Diệu Tràng] tán thán Phật
Thích Ca. [Do vậy] bản dịch mới
chép đúng!
5.27.4. Giải thích kinh văn
Kinh
văn chia thành ba phần:
- Một, Bồ Tát vân tập.
- Hai, Bồ Tát lễ tán.
- Ba, Như Lai tán thán, ấn
khả.
5.27.4.1. Bồ Tát vân tập
(Kinh) Nhĩ thời,
Thích Ca Mâu Ni Như Lai thuyết thị kinh thời, ư thập
phương thế giới, hữu vô lượng bách thiên
vạn ức chư Bồ Tát chúng, các tùng bổn độ,
nghệ Thứu Phong sơn.
(經)爾時釋迦牟尼如來說是經時,於十方世界有無量百千萬億諸菩薩眾,各從本土詣鷲峯山。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
khi Thích Ca Mâu Ni Như Lai nói kinh này, từ mười
phương thế giới có vô lượng trăm ngàn vạn
ức các vị Bồ Tát ai nấy từ cơi ḿnh đến
núi Thứu Phong).
Đây chính là đoạn thứ
nhất. Trước tiên là lời dẫn khởi của
người kết tập kinh, sau đó từ “ư thập
phương thế giới” (trong mười
phương thế giới) trở đi là Bồ Tát như
mây nhóm đến.
5.27.4.2. Bồ Tát lễ tán
5.27.4.2.1. Thân nghiệp lễ bái
(Kinh) Chí Thế Tôn sở,
ngũ luân trước địa, lễ Thế Tôn dĩ.
(經)至世尊所,五輪著地禮世尊已。
(Kinh: Tới chỗ
đức Thế Tôn, năm vóc mọp sát đất, lễ
đức Thế Tôn xong).
Kế đó là lễ bái, tán
thán. Trước là dùng thân lễ bái, sau là dùng lời lẽ
tán thán. Đoạn này thuộc ư thứ nhất. Có thể
phát khởi thân và ngữ chính là ư nghiệp. Ba nghiệp lễ
tán biểu thị ḷng tôn kính sâu đậm.
5.27.4.2.2. Ngữ nghiệp tán thán
(Kinh) Nhất tâm hiệp
chưởng, dị khẩu đồng âm, nhi tán thán viết.
(經)一心合掌異口同音而讚歎曰:
(Kinh: Nhất tâm chắp
tay, khác miệng cùng lời, mà tán thán rằng).
Kế đó, dâng lời tán
thán. Trước là nêu ra, sau là tán thán. Đoạn này thuộc
ư thứ nhất. Đối với cảnh chuyên niệm
th́ gọi là “nhất tâm”. T́nh tôn trọng sâu xa cho nên
chắp tay, thân khác nên “dị khẩu”, cùng tán thán nên “đồng
âm”.
5.27.4.2.2.1. Tán thán ba thân
5.27.4.2.2.1.1. Tán thán ân đức của Hóa Thân
5.27.4.2.2.1.1.1. Tán thán thân hiện tại
(Kinh) Phật thân vi diệu
chân kim sắc, kỳ quang phổ chiếu đẳng kim
sơn, thanh tịnh nhu nhuyễn nhược liên hoa, vô
lượng diệu thái nhi nghiêm sức. Tam thập nhị
tướng biến trang nghiêm, bát thập chủng hảo
giai viên bị, quang minh bỉnh trước vô dữ đẳng,
ly cấu do như tịnh măn nguyệt.
(經)佛身微妙真金色,其光普照等金山,清淨柔軟若蓮華,無量妙彩而嚴飾。三十二相遍莊嚴,八十種好皆圓備,光明炳著無與等,離垢猶如淨滿月。
(Kinh: Thân Phật vi diệu,
chân kim sắc. Quang minh chiếu khắp tợ núi vàng. Thanh
tịnh mềm mại như hoa sen, vô lượng diệu
sắc để trang nghiêm. Ba mươi hai tướng
trang nghiêm khắp, tám mươi thứ hảo đều
trọn vẹn. Quang minh chói lọi không ai bằng, ĺa cấu
giống như mặt trăng sạch).
Kế đó, có mười một
bài tụng để tán thán, chia thành hai phần:
- Một, mười bài tụng
tán thán ba thân.
- Hai, một bài tụng sau
đó đại lược kết lại và phát nguyện.
Trong phần “tán thán ba thân”,
tám bài tụng đầu tán thán ân đức của Hóa
Thân, bài tụng kế đó tán thán Trí Đức của Báo
Thân, một bài tụng sau đó là Đoạn Đức của
Pháp Thân. Trong phần tán thán Ân Đức, hai bài tụng
đầu tán thán thân hiện tại, bài tụng kế
đó tán thán sự thuyết pháp, bài tụng kế đó
tán thán phước trí, bốn bài tụng kế
đó tán thán
lợi sanh. Trong phần tán thán “thân hiện tại”,
bài tụng thứ nhất tán thán chung thân để
nương vào (Hóa Thân), bài tụng kế tiếp nói về
tướng tốt và tùy hảo, chi tiết th́ như trong
phần trước đă biện định.
5.27.4.2.2.1.1.2. Tán thán sự thuyết pháp của Hóa Thân
(Kinh) Kỳ thanh thanh triệt
thậm vi diệu, như sư tử hống chấn lôi
âm, bát chủng vi diệu ứng quần cơ, siêu thắng
Ca Lăng Tần Già đẳng.
(經)其聲清徹甚微妙,如師子吼震雷音,八種微妙應群機,超勝迦陵頻伽等。
(Kinh: Tiếng Ngài
trong trẻo rất vi diệu, như sư tử rống,
rền tiếng sấm, tám thứ vi diệu ứng quần
cơ, vượt xa Ca Lăng Tần Già thảy).
Kế đó, tán thán sự
thuyết pháp. Đối với “bát chủng vi diệu
thanh” (tám loại âm thanh vi diệu), ba kinh [giải thích]
bất đồng:
- Một, theo kinh Phạm Ma Dụ[17]
nói: Một là âm thanh mầu nhiệm nhất, hai là dễ hiểu,
ba là sâu xa, bốn là mềm mại, năm
là chẳng hư dối, sáu là chẳng sai lầm, bảy
là tôn huệ (trọn đủ trí huệ cao quư), tám là
điều ḥa.
-
Hai là kinh Trung Ấm[18]
nói: Một, chẳng phải nam, hai là chẳng phải nữ,
ba là chẳng dài, bốn là chẳng ngắn, năm là chẳng
quư, sáu là chẳng hèn, bảy là chẳng khổ, tám là chẳng
lạc.
- Ba
là theo kinh Thập Trụ Đoạn Kết th́ một là chẳng
nam, hai là chẳng nữ, ba là chẳng mạnh, bốn là chẳng
mềm mại, năm là chẳng trong, sáu là chẳng đục,
bảy là chẳng đực, tám là chẳng cái.
Hai
kinh trước là Tiểu Thừa. Thập Trụ Đoạn
Kết là Đại Thừa, cho thấy nghe khác biệt. “Ca
Lăng Tần Già” v.v… là loài
chim hót tuyệt hay!
5.27.4.2.2.1.1.3. Tán thán phước trí
(Kinh)
Bách phước diệu tướng dĩ nghiêm dung, quang
minh cụ túc tịnh vô cấu, trí huệ trừng minh
như đại hải, công đức quảng đại
nhược hư không.
(經)百福妙相以嚴容,光明具足淨無垢,智慧澄明如大海,功德廣大若虛空。
(Kinh:
Diệu tướng trăm phước để nghiêm
dung, quang minh trọn đủ, sạch vô cấu, trí huệ
trong sáng như biển cả, công đức rộng lớn
dường hư không).
Kế
đó, tán thán phước trí, nửa đầu nói về
phước, nửa sau nói về trí. Mỗi tướng hảo
đều được trang nghiêm bằng trăm phước.
Trong phần trước, tán thán quang minh nơi thân là dựa
trên tổng thân, phần này tán thán quang minh là [tán thán theo] từng
tướng hảo riêng biệt. Nói “trăm phước”
th́ theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, quyển một
trăm bảy mươi bảy giảng: “Thế nào là
trăm phước? Đáp: Trăm điều tư duy
trong ấy gọi là trăm phước. Trăm điều
tư duy là ǵ? Tức là như khi Bồ Tát tạo tác nghiệp
tăng trưởng túc thiện trụ tướng,
năm mươi điều tư duy đầu tiên nhằm
tu tập, đối trị, khiến cho thân khí (thân
căn) thanh tịnh, điều ḥa, mềm mỏng. Kế
đó, khởi một ư niệm tư duy để dẫn
dắt, sau đấy, khởi lên năm mươi ư niệm
tư duy khiến cho viên măn. Cho đến đối với
nghiệp tướng ô-sắt-nị-sa (uṣṇīṣa, nhục
kế) trên đỉnh đầu cũng giống như thế.
V́ vậy, nói ‘mỗi tướng
của đức Phật đều được trang
nghiêm bởi trăm phước’. Năm mươi ư niệm
tư duy là ǵ? Đáp: Nương vào Thập Thiện Nghiệp
Đạo, đối với mỗi điều thiện
đều có năm tư duy: Một là suy nghĩ ĺa giết
chóc, hai là suy nghĩ khuyên [chúng sanh] hướng về đạo,
ba là suy nghĩ tán thán, bốn là tùy hỷ, năm là hồi
hướng. Nói ‘hồi hướng’ tức là những
điều đă tu đều hướng về Bồ
Đề. Cho đến chánh kiến cũng giống
như thế, th́ gọi là năm mươi ư niệm
tư duy. Có người nói:
Đối với mỗi nghiệp trong mười nghiệp,
đều khởi lên năm phẩm thiện tư duy là hạ,
trung, thượng, thượng thắng, thượng cực,
như tu xen tạp các thứ Tĩnh Lự. Có người
nói: Đối với mỗi nghiệp trong Thập Thiện,
đều khởi lên năm sự tư duy: Một là gia hạnh
tịnh, hai là căn bản tịnh, ba là hậu khởi tịnh,
bốn là chẳng t́m ṭi kẻ gây hại, năm là niệm
nhiếp thọ. Có người nói: Duyên theo mỗi tướng
của Phật, khởi lên năm mươi suy nghĩ
chưa từng tu tập trong mỗi sát-na, liên tục mà
chuyển”.
Tuy
không có người b́nh luận [các cách nói trên đây],
nhưng xét theo đạo lư, cách nói đầu tiên hay nhất.
Nếu là hạ, trung, thượng v.v… giống như cách
tu Tĩnh Lự xen tạp, phải nên có tướng hảo
hơn kém khác nhau! Nếu nói là năm thứ gia hạnh,
căn bản, hậu khởi v.v… tức là phương tiện
khởi lên về sau, phải nên cảm vời giống
như nhau chẳng khác. Đă chấp thuận là “cùng cảm
vời”, lẽ ra ba thời há có sự khác biệt hơn,
kém? Đối với cách nói “tướng hảo” cũng
thế, nếu nói là “khởi năm mươi suy nghĩ
chưa từng tu tập [trong mỗi sát-na]”, do nhân nào mà chẳng
chấp nhận có tăng giảm?
Nếu
xét theo Đại Thừa, tuy chưa thấy nghe [kinh
văn để xác chứng], nhưng tương truyền
có hai cách giải thích. Tức là đối với Thập
Thiện nghiệp, do giúp đỡ lẫn nhau, bèn thành một
trăm nghiệp. Một cách giải thích khác là mỗi nghiệp
[trong Thập Thiện Nghiệp] đều có mười
loại, tức là: Một là tự làm, hai là dạy người
khác làm, ba là cảm thấy mừng rỡ, an ủi, bốn
là tùy hỷ, năm là thực hiện ít phần, sáu là nhiều
phần, bảy là thực hiện toàn bộ, tám là [thực
hiện] ít thời, chín là [thực hiện trong] thời
gian lâu dài, mười là [thực hiện cho đến] hết
tuổi thọ. Do vậy, thành một trăm nghiệp!
5.27.4.2.2.1.1.4. Tán thán lợi sanh
(Kinh)
Viên quang biến măn thập phương giới, tùy duyên phổ
tế chư hữu t́nh, phiền năo ái nhiễm tập giai
trừ, pháp cự hằng nhiên bất hưu tức.
(經)圓光遍滿十方界,隨緣普濟諸有情,煩惱愛染集皆除,法炬恒然不休息。
(Kinh:
Viên quang trọn khắp mười phương cơi, tùy duyên
cứu khắp các hữu t́nh, phiền năo ái nhiễm tập
đều trừ, thường thắp đuốc pháp chẳng
ngưng nghỉ).
Kế
đó, tán thán lợi sanh. Bài tụng đầu tiên là tổng
tán. V́ lợi sanh nên hiện thân thuyết pháp. Câu đầu
nói về thân [trọn khắp mười phương thế
giới], câu thứ hai nói về lợi ích (cứu độ
trọn khắp các hữu t́nh), câu thứ ba tán thán [tâm Phật]
thanh tịnh, câu thứ tư nói về pháp (đuốc pháp
luôn cháy rực). Tức là hai câu trong ấy bao gồm cả
thân và pháp.
(Kinh)
Ai mẫn lợi ích chư chúng sanh, hiện tại, vị
lai năng dữ lạc, thường vị tuyên thuyết
Đệ Nhất Nghĩa, linh chứng Niết Bàn chân tịch
tĩnh. Phật thuyết cam lộ thù thắng pháp, năng
dữ cam lộ vi diệu nghĩa, dẫn nhập cam lộ
Niết Bàn thành, linh thọ cam lộ vô vi lạc.
(經)哀愍利益諸眾生,現在未來能與樂,常為宣說第一義,令證涅槃真寂靜。佛說甘露殊勝法,能與甘露微妙義,引入甘露涅槃城,令受甘露無為樂。
(Kinh:
Thương xót lợi ích các chúng sanh, hiện tại,
tương lai, ban cho lạc. Thường v́ tuyên nói Đệ
Nhất Nghĩa, khiến chứng Niết Bàn chân tịch
tĩnh. Phật nói pháp cam lộ thù thắng, hay ban nghĩa
cam lộ vi diệu, dẫn nhập thành cam lộ Niết
Bàn, khiến thọ vô vi lạc cam lộ).
Kế
đó là tán thán riêng. Hai bài tụng đầu tán thán “nhờ
pháp do đức Phật nói mà có thể đạt
được Niết Bàn”. Bài tụng sau đó tán thán “do
pháp đă nói, có thể đạt được Bồ
Đề”. Trong phần “đạt được Niết
Bàn”, một bài tụng nói “sẽ khiến cho [người
nghe pháp và hành tŕ theo đó, sẽ]
đạt được [Niết Bàn]”, một bài tụng
nhằm nhắc lại lần nữa [ư đó]: Pháp
được nói và quả đạt được
đều có thể trừ khổ, ban
cho an lạc, nên như cam lộ!
(Kinh)
Thường ư sanh tử đại hải trung, giải
thoát nhất thiết chúng sanh khổ, linh bỉ năng trụ
an ổn lộ, hằng dữ nan tư như ư lạc.
(經)常於生死大海中,解脫一切眾生苦,令彼能住安隱路,恒與難思如意樂。
(Kinh:
Thường ở trong biển cả sanh tử, giải
thoát hết thảy chúng sanh khổ, khiến họ trụ
trong đường an ổn, luôn ban vui như ư khó
nghĩ).
Tiếp
theo đó là kệ tụng “khiến
đắc Bồ Đề”, tức là Bát Chánh Đạo
được gọi là “an ổn lộ” (con
đường an ổn).
5.27.4.2.2.1.2. Tán thán trí đức của Báo Thân
(Kinh)
Như Lai đức hải thậm thâm quảng, phi chư
thí dụ sở năng tri, ư chúng thường khởi đại
bi tâm, phương tiện tinh cần hằng bất tức.
(經)如來德海甚深廣,非諸譬喻所能知,於眾常起大悲心,方便精勤恒不息。
(Kinh:
Biển đức Như Lai rất sâu rộng, dẫu các
thí dụ chẳng thể biết, với chúng, thường
khởi tâm đại bi, phương tiện siêng ṛng luôn
chẳng dứt).
Bài
tụng tiếp theo tán thán Trí Đức của Báo Thân. Do
đại bi nên thường lợi ích hữu t́nh, chẳng
nhập Niết Bàn, luôn không ngưng nghỉ. V́ thế, luận
Biện Trung Biên tụng rằng: “Do thù thắng cho nên vô
tận, do lợi tha nên chẳng ngưng dứt”.
5.27.4.2.2.1.3. Tán thán đoạn đức của Pháp
Thân
(Kinh)
Như Lai trí hải vô biên tế, nhất thiết nhân thiên
cộng trắc lượng, giả sử thiên vạn ức
kiếp trung, bất năng đắc tri kỳ thiểu
phần.
(經)如來智海無邊際,一切人天共測量,假使千萬億劫中,不能得知其少分。
(Kinh:
Biển trí Như Lai chẳng ngằn mé, hết thảy trời
người cùng ḍ lường, giả sử trong ngàn vạn
ức kiếp, chẳng hề biết được một
chút phần).
Kế
đó, tán thán Đoạn Đức của Pháp Thân.
5.27.4.2.2.2. Kết lại, phát nguyện
(Kinh)
Ngă kim lược tán Phật công đức, ư đức
hải trung duy nhất đế, hồi tư phước
tụ thí quần sanh, giai nguyện tốc chứng Bồ
Đề quả.
(經)我今略讚佛功德,於德海中唯一渧,迴斯福聚施群生,皆願速證菩提果。
(Kinh:
Nay con lược tán công đức Phật, chỉ một
giọt nước trong biển đức, khối phước
này hồi thí quần sanh, đều nguyện mau chứng
quả Bồ Đề).
Kế
đó, đại lược phát nguyện.
5.27.4.3. Như Lai tán thán, ấn khả
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo chư Bồ Tát ngôn: - Thiện
tai! Thiện tai! Nhữ đẳng thiện năng như
thị tán Phật công đức, lợi ích hữu t́nh, quảng
hưng Phật sự, năng diệt chư tội, sanh vô
lượng phước.
(經)爾時世尊告諸菩薩言:善哉善哉!汝等善能如是讚佛功德、利益有情、廣興佛事,能滅諸罪,生無量福。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Bồ
Tát rằng: - Lành thay! Lành thay! Các ông có thể khéo tán thán công
đức của Phật như thế, lợi ích hữu
t́nh, rộng hưng khởi Phật sự, có thể diệt
các tội, sanh vô lượng phước).
Kế
đó, Như Lai tán thán, ấn khả. Trước là tán
thán, sau đó từ “nhữ đẳng” trở đi
là ấn khả. Tâm vô nhiễm nên tán thán, xứng lư, ích lợi
chúng sanh, nên ấn khả!
5.28. Phẩm thứ
hai mươi tám: Diệu Tràng Bồ Tát tán thán (Diệu
Tràng Bồ Tát tán thán phẩm đệ nhị thập bát, 妙幢菩薩讚歎品第二十八)
5.28.1. Dẫn khởi
Ư
nghĩa v́ sao có phẩm Diệu Tràng Bồ Tát Tán Thán giống
như trong phần trước. Giải thích tên gọi th́
Cù Rô Chỉ Ra [trong tiếng Phạn], phương này dịch
là Diệu. Kê Đầu được phương này dịch
là Tràng. Tức là trí thù thắng lỗi lạc được
ví như tràng cao, riêng siêu việt trần lụy nên gọi
là Diệu. Tràng được xưng là diệu, nên gọi
là Diệu Tràng. Đó là cách giải thích theo lối Tŕ Nghiệp.
Từ thí dụ mà lập danh xưng, nên gọi là Diệu
Tràng. Bản dịch cũ dịch [Diệu Tràng] thành Tín
Tướng. Tướng trong tiếng Phạn là Da Sắt
Trí, nay đă nói là Cù Rô Chỉ Ra, nên dịch thành Tràng. Tánh của
tín là tịnh, có ư nghĩa tương tự với Diệu.
Tràng là “cao rạng”; v́ thế nói lầm thành Tướng.
Giải
thích vấn nạn, hỏi: Nghe pháp đạt được
lợi ích, không phải chỉ là Diệu Tràng, v́ sao phần
tán thán chỉ riêng nêu ra vị đại sĩ này? Đáp:
Do Ngài đứng đầu.
5.28.2. Giải thích kinh
văn
5.28.2.1. Nghi quỹ
để tán thán
(Kinh)
Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát tức tùng ṭa khởi,
thiên đản hữu kiên, hữu tất trước
địa, hiệp chưởng hướng Phật.
(經)爾時妙幢菩薩即從座起,偏袒右肩右膝著地,合掌向佛。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối
phải đặt sát đất, chắp tay hướng về
Phật).
Kế
đó, kinh văn được chia thành ba phần:
- Một,
nghi quỹ của người tán thán.
-
Hai, từ “nhi thuyết tán viết” (mà nói lời tán
thán rằng), giăi bày lời tán thán.
-
Ba, từ “Phật cáo Diệu Tràng” (đức Phật
bảo Diệu Tràng) trở đi, đức Thế Tôn tán
thán, ấn khả.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất.
5.28.2.2. Giăi bày lời
tán thán
5.28.2.2.1. Tán thán Biến
Hóa Phật
(Kinh)
Nhi thuyết tán viết: - Mâu Ni bách phước tướng
viên măn, vô lượng công đức dĩ nghiêm thân, quảng
đại thanh tịnh nhân nhạo quán, do như thiên nhật
quang minh chiếu. Diễm thái vô biên quang xí thịnh, như
diệu bảo tụ tướng đoan nghiêm, như nhật
sơ xuất ánh hư không. Hồng bạch phân minh gián kim
sắc, diệc như kim sơn quang phổ chiếu, tất
năng châu biến bách thiên độ, năng diệt chúng
sanh vô lượng khổ, giai dữ vô biên thắng diệu
lạc. Chư tướng cụ túc tất nghiêm tịnh,
chúng sanh nhạo đổ vô yếm túc, đầu phát nhu
nhuyễn cám thanh sắc, do như hắc phong tập diệu
hoa.
(經)而說讚曰:牟尼百福相圓滿,無量功德以嚴身,廣大清淨人樂觀,猶如千日光明照。焰彩無邊光熾盛,如妙寶聚相端嚴,如日初出映虛空,紅白分明間金色。亦如金山光普照,悉能周遍百千土,能滅眾生無量苦,皆與無邊勝妙樂。諸相具足悉嚴淨,眾生樂覩無厭足,頭髮柔軟紺青色,猶如黑蜂集妙華。
(Kinh:
Bèn nói lời tán thán rằng: - Mâu Ni tướng trăm
phước viên măn, vô lượng công đức trang nghiêm
thân, rộng lớn thanh tịnh người thích thấy,
như ngàn vầng nhật chiếu quang minh. Vô biên quang chiếu
sáng rực rỡ, như khối diệu bảo, tướng
đoan nghiêm, vầng dương vừa mọc rạng
hư không. Trắng đỏ phân minh, chen sắc vàng,
cũng như núi vàng chiếu trọn khắp, đều
soi trọn khắp trăm ngàn cơi. Diệt trừ chúng sanh
vô lượng khổ, đều ban vô biên vui thắng diệu.
Các tướng trọn đủ đều nghiêm tịnh,
chúng sanh thích thấy không chán đủ. Đầu tóc mềm
mại sắc xanh biếc, ví như ong đen gom diệu
hoa).
Kế đó, có tám bài tụng rưỡi,
chia thành ba phần:
-
Một, bốn bài tụng tán thán Biến Hóa Phật.
-
Hai, ba bài tụng từ “đại hỷ” trở
đi, tán thán Thọ Dụng Phật.
-
Ba, một bài tụng rưỡi từ “Như Lai kim khẩu”
trở đi, tán tụng cả hai loại Phật. Lược
đi, không tán thán Pháp Thân, do ẩn sâu. Tán thán năng y (thân
có thể nương tựa) để liên tưởng sở
y[19].
Trước
hết là [tán thán] Hóa Thân, chia thành bốn phần:
-
Bài tụng thứ nhất tán thán thân tướng [của
Hóa Thân].
-
Bài tụng kế đó tán thán quang minh,
-
Bài kệ tụng kế đó tán thán chung thân và quang minh. Nửa
đầu [bài tụng] tán thán [quang minh] có thể trọn
khắp, nửa sau tán thán [thân Phật và quang minh của Ngài đều] có thể lợi ích.
-
Bài tụng kế đó tán thán tướng hảo.
5.28.2.2.2. Tán thán Thọ
Dụng Phật
(Kinh)
Đại hỷ đại xả tịnh trang nghiêm, đại
từ đại bi giai cụ túc, chúng diệu tướng
hảo vi nghiêm sức, Bồ Đề phần pháp chi sở
thành. Như Lai năng thí chúng phước lợi, linh bỉ
thường hoạch đại an lạc, chủng chủng
diệu đức cộng trang nghiêm, quang minh phổ chiếu
thiên vạn độ. Như Lai quang minh cực viên măn, do
như hách nhật biến không trung. Phật như Tu Di công
đức cụ, thị hiện năng châu ư thập
phương.
(經)大喜大捨淨莊嚴,大慈大悲皆具足,眾妙相好為嚴飾,菩提分法之所成。如來能施眾福利,令彼常獲大安樂,種種妙德共莊嚴,光明普照千萬土。如來光明極圓滿,猶如赫日遍空中,佛如須彌功德具,示現能周於十方。
(Kinh:
Đại hỷ đại xả tịnh trang nghiêm, đại
từ đại bi đều trọn đủ, các diệu
tướng hảo để trang nghiêm, do Bồ Đề
phần pháp tạo thành. Như Lai ban thí các phước lợi,
khiến họ thường được đại an lạc,
các thứ diệu đức cùng trang nghiêm, quang minh chiếu
khắp ngàn vạn cơi. Quang minh Như Lai cực viên măn,
như mặt trời rạng rỡ trên không. Phật
như Tu Di, công đức vẹn, thị hiện trọn
khắp cả mười phương).
Kế
đó, tán thán Thọ Dụng Thân, bao gồm cả Tha Thọ
Dụng, chia thành bốn phần:
- Nửa
bài tụng đầu tán thán tứ vô lượng (từ,
bi, hỷ, xả).
- Nửa
bài tụng kế đó tán thán tướng hảo. Nói “Bồ
Đề phần pháp chi sở thành” (do Bồ Đề
phần pháp tạo thành) tức là tán thán cái nhân của
tướng hảo.
- Nửa
bài tụng kế đó tán thán [Như Lai ban thí chúng sanh các]
lợi ích.
- Một
bài tụng rưỡi kế đó tán thán thân và quang minh.
Trong
phần [tán thán] thân và quang minh, nửa đầu là Tổng,
một bài tụng sau đó là Biệt. Trong phần đầu,
câu thứ nhất tán thán thân, bao gồm Ngũ Uẩn. Câu
sau tán thán quang minh, cũng bao gồm trí sắc. Từ “Như
Lai quang tướng” trở đi là tán thán riêng, nửa
đầu tán thán quang minh, nửa kế đó tán thán thân.
5.28.2.2.3. Tán thán chung hai
loại Phật
(Kinh)
Như Lai kim khẩu diệu đoan nghiêm, xỉ bạch tề
mật như kha tuyết, Như Lai diện mạo vô luân
thất, mi gian hào tướng thường hữu toàn,
quang nhuận tiễn bạch đẳng pha lê, do như măn
nguyệt cư không giới.
(經)如來金口妙端嚴,齒白齊密如珂雪,如來面貌無倫匹,眉間毫相常右旋,光潤鮮白等玻瓈,猶如滿月居空界。
(Kinh:
Như Lai miệng vàng, diệu đoan nghiêm, răng trắng
khít bằng như kha tuyết, Như Lai diện mạo
khôn sánh bằng. Hào tướng giữa mày xoay bên phải,
tươi sáng, trắng sạch dường pha lê, ví
như trăng tṛn trên không trung).
Kế
đó, tán thán chung tướng và hảo của hai loại
Phật.
5.28.2.3. Như Lai tán
thán, ấn khả
(Kinh)
Phật cáo Diệu Tràng Bồ Tát: - Nhữ năng như thị
tán Phật công đức bất khả tư nghị, lợi
ích nhất thiết, linh vị tri giả tùy thuận tu học.
(經)佛告妙幢菩薩:汝能如是讚佛功德不可思議,利益一切,令未知者隨順修學。
(Kinh:
Đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát: - Ông có thể
tán thán công đức của Phật chẳng thể
nghĩ bàn như thế, lợi ích hết thảy, khiến
cho người chưa biết sẽ tùy thuận tu học).
Kế
đó, Như Lai tán thán, ấn khả.
5.29. Phẩm thứ
hai mươi chín: Thần cây Bồ Đề tán thán (Bồ
Đề thụ thần tán thán phẩm
đệ nhị thập cửu, 菩提樹神讚歎品第二十九)
5.29.1. Dẫn khởi
Ư nghĩa v́ sao có phẩm Bồ
Đề Thụ Thần Tán Thán giống như trên. Giải
thích danh xưng th́ như Tây Vực Truyện chép: “Cây vốn
tên là cây Tất Bát La (Pipala), ở trên ṭa kim cang. Ṭa kim cang ấy
đă h́nh thành từ xưa kia trong Hiền Kiếp, cùng nổi
lên với đại địa. Xét trong tam thiên đại
thiên thế giới, [ṭa ấy] dưới
thấu tột kim luân, trên thấu tận địa tế,
do kim cang hợp thành, kích thước mỗi bề hơn
một trăm bước. Một ngàn vị Phật trong
Hiền Kiếp ngồi đó nhập Kim Cang Định,
v́ thế gọi là Kim
Cang Ṭa. Đức Phật
ngồi dưới cây Tất Bát La thành Đẳng Chánh
Giác, cho nên gọi là cây Bồ Đề. Thân cây sắc trắng
pha vàng, cành lá xanh biếc, tiết Đông hay trời Hạ
đều chẳng tiêu điều, tươi nhuận chẳng
biến đổi. Mỗi khi đến ngày Như Lai nhập
Niết Bàn, lá đều rụng sạch, trong chốc lát mọc
lại như cũ”. Đại địa
Bồ Tát làm thiên nữ, làm thần cai quản cây Bồ
Đề ấy. Đó là giải thích theo lối Y Chủ.
Giải
thích vấn nạn th́ hỏi: Sao không nói tới các vị
thần khác? Đáp: [Do vị thần
này] thấy Phật trước hết,
do thường chẳng ĺa Phật.
Hỏi:
Thần cây Bồ Đề và thần đại địa
là một hay khác?
Đáp:
Có người nói là một, có người nói là khác.
5.29.2. Giải thích kinh
văn
5.29.2.1. Nêu ra người
tán thán
(Kinh)
Nhĩ thời, Bồ Đề thụ thần.
(經)爾時菩提樹神。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, thần cây Bồ Đề).
Kế
đó, kinh văn chia thành ba phần:
- Một,
nêu ra người tán thán.
-
Hai, từ “diệc dĩ già-đà” (cũng dùng kệ
tụng) trở đi, trần thuật lời tán thán.
- Ba,
từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn) trở đi, Như Lai tán thán, ấn
khả.
Đoạn
này thuộc phần thứ nhất.
5.29.2.2. Trần thuật
lời tán thán
5.29.2.2.1. Tán thán
5.29.2.2.1.1. Tán thán trí
thể
(Kinh)
Diệc dĩ già-đà tán Thế Tôn viết: - Kính lễ
Như Lai thanh tịnh huệ, kính lễ thường cầu
chánh pháp huệ, kính lễ năng ly phi pháp huệ, kính lễ
hằng vô phân biệt huệ.
(經)亦以伽陀讚世尊曰:敬禮如來清淨慧,敬禮常求正法慧,敬禮能離非法慧,敬禮恒無分別慧。
(Kinh:
Cũng dùng già-đà tán thán đức Thế Tôn rằng: -
Kính lễ Như Lai thanh tịnh huệ, kính lễ huệ
thường cầu chánh pháp, kính lễ huệ hay ĺa phi
pháp, kính lễ huệ thường chẳng phân biệt).
Kế
đó, lời tán thán có mười một bài tụng, đại
lược chia thành hai phần:
-
Năm bài tụng đầu là tán thán.
-
Sáu bài tụng sau đó là phát nguyện.
Trong
phần tán thán, một bài tụng tán thán trí thể (bản
thể của trí), bốn bài sau tán thán trí dụng (tác dụng
của trí).
Trong
phần “tán thán trí thể”, câu thứ nhất tán thán chung trí thể.
Trí viên măn ĺa chướng gọi là “thanh
tịnh huệ”. Hai câu kế đó
tán thán trí năng (năng lực của trí huệ): Có thể
khiến cho chúng sanh tu thiện. V́ thế nói là “thường
cầu chánh pháp”. Nếu không, quả đă măn, c̣n có ǵ
để cầu nữa? Có thể khiến cho chúng sanh xả
ác, v́ thế nói là “ly phi pháp huệ”. Tuy có thể [có
tác dụng] như thế, nhưng tam luân thanh tịnh, luôn
chẳng phân biệt. Hoặc câu
thứ nhất tán thán cái quả, ba câu sau tán thán cái nhân. Trong
[phần tán thán cái] nhân, câu đầu tiên là gia hạnh trí.
Câu kế tiếp là Bổn Trí (Căn Bản Trí), câu cuối
là Hậu Đắc Trí. Do ĺa tà phân biệt, nên nói là “vô
phân biệt”. Hoặc theo thứ tự, thường có
thể tiến nhập điều thiện, bèn có thể
ĺa các ác, thường thuận theo
vô vi, nên “hằng vô phân biệt” (luôn vô phân biệt).
Hoặc có thể hiểu câu thứ nhất bao gồm Pháp
và Báo, ba câu c̣n lại chỉ tán thán Báo Thân. Tán thán trí dụng
tức là [tán thán] Hóa Thân. V́ thế, bản dịch cũ của
kinh này có câu: “Nam-mô thanh tịnh vô thượng chánh giác thậm
thâm diệu pháp”. Do đó, thanh tịnh huệ bao gồm
Pháp Thân.
5.29.2.2.1.2. Tán thán trí
dụng
5.29.2.2.1.2.1. Tán thán tác
dụng lợi tha
(Kinh)
Hy hữu Thế Tôn vô biên hạnh, hy hữu nan kiến tỷ
ưu đàm, hy hữu như hải trấn sơn huyền,
hy hữu Thiện Thệ quang vô lượng. Hy hữu
điều ngự hoằng từ nguyện, hy hữu Thích
chủng minh du nhật, năng thuyết như thị kinh
trung bảo, ai mẫn lợi ích chư quần sanh.
(經)希有世尊無邊行,希有難見比優曇,希有如海鎮山玄,希有善逝光無量。希有調御弘慈願,希有釋種明逾日,能說如是經中寶,哀愍利益諸群生。
(Kinh:
Hy hữu Thế Tôn vô biên hạnh, hy hữu khó thấy
hơn Ưu Đàm, hy hữu như núi trấn trên biển,
hy hữu Thiện Thệ quang vô lượng. Hy hữu
điều ngự từ nguyện lớn. Thích chủng hy
hữu hơn mặt trời, hay thuyết kinh báu như thế
này, xót thương lợi ích các quần sanh).
Kế
đó, tán thán trí dụng. Hai bài tụng đầu tán thán
tác dụng lợi tha, hai bài sau tán thán tác dụng tự lợi.
Trong phần lợi tha, câu thứ nhất tán thán [Như
Lai] trọn đủ hạnh hy hữu. Câu kế đó tán
thán [Như Lai] xuất hiện hy hữu, thân ngự trong
đại chúng, như núi Diệu Cao trấn ngự trong biển
cả. Câu kế đó tán thán quang minh vô lượng hy hữu.
Câu kế đó tán thán hoằng nguyện hy hữu. Câu kế
đó tán thán chủng tánh hy hữu. Đức
Thế Tôn sanh trong ḍng họ Nhật Chích (mặt trời
nung nấu, Sūryavaṃśa)[20], nên nói là “du nhật’ (vượt hơn mặt
trời). Câu kế đó nói kinh này hy hữu. Câu kế đó
là [tán thán đức Phật] có thể lợi sanh hy hữu.
Tức là đủ tám điều hy hữu.
5.29.2.2.1.2.2. Tán thán tác
dụng tự lợi
(Kinh)
Mâu Ni tịch tĩnh chư căn định, năng nhập
tịch tĩnh Niết Bàn thành, năng trụ tịch
tĩnh Đẳng Tŕ môn, năng tri tịch tĩnh thâm cảnh
giới. Lưỡng Túc trung tôn trụ không tịch, Thanh
Văn đệ tử thân diệc không, nhất thiết
pháp thể tánh giai vô. Nhất thiết chúng sanh tất không
tịch.
(經)牟尼寂靜諸根定,能入寂靜涅槃城,能住寂靜等持門,能知寂靜深境界。兩足中尊住空寂,聲聞弟子身亦空,一切法體性皆無,一切眾生悉空寂。
(Kinh:
Mâu Ni tịch tĩnh, các căn định, hay nhập thành
Niết Bàn tịch tĩnh, hay trụ trong môn Đẳng Tŕ
tịch tĩnh, hay biết cảnh giới tịch tĩnh
sâu. Lưỡng Túc Tôn trụ trong không tịch, đệ tử
Thanh Văn thân cũng không, thể tánh hết thảy pháp
đều không, hết thảy chúng sanh đều không tịch).
Hai
bài tụng kế đó tán thán tác dụng tự lợi. Hóa
tướng trụ trong tịch tĩnh, có thể nhập
Niết Bàn v.v… là nói tới Mâu Ni và đệ tử Thanh
Văn. Hoặc có thể hiểu là bao gồm tác dụng tự
lợi và lợi tha, do nói “chư căn định, trụ
Đẳng Tŕ môn” v.v… Nhưng Chân Đế Tam Tạng
bảo đó là tán thán Pháp Thân th́ ư nghĩa của đoạn
văn này hơi xa! Hai bài tụng này được chia
thành ba tiểu đoạn:
-
Bài tụng thứ nhất tán thán tự lợi, trụ trong Tịch
đức.
- Nửa
bài tụng kế đó nêu ra nguyên
do có thể trụ trong tịch tĩnh.
- Nửa
bài tụng sau đó, kết lại nguyên do. Do pháp thể là
Không, tự tánh đều tịch, cho nên trụ trong không tịch.
Do trụ trong không tịch, nên có thể tĩnh các căn,
có thể nhập
viên tịch, có thể ở trong tịch định, có thể
chứng tịch cảnh. Do vậy, kinh Vô Cấu Xưng
chép: “Kỳ luân năng tịch, bổn tánh tịch dă”
(pháp luân có thể tịch tĩnh [các căn cơ được
nghe pháp] v́ bổn tánh của nó là tịch tĩnh)[21].
Lại có thể hiểu là: Bài tụng đầu tiên nhằm
tán thán “trụ trong tịch
tĩnh” [như đă nói]
trên đây. Bài tụng sau tán thán đắc “đạt
được tứ b́nh đẳng”: Một là pháp b́nh
đẳng, hai là chúng sanh, ba là đối tượng
được hóa độ, bốn là Phật thể. Chuẩn
theo kinh văn sẽ biết.
5.29.2.2. Phát nguyện
(Kinh)
Ngă thường ức niệm ư chư Phật, ngă
thường nhạo kiến chư Thế Tôn, ngă thường
phát khởi ân trọng tâm, thường đắc trị
ngộ Như Lai nhật. Ngă thường đảnh lễ
ư Thế Tôn, nguyện thường khát ngưỡng,
tâm bất xả, bi khấp lưu lệ,
t́nh vô gián, thường đắc phụng sự bất
tri yếm. Duy nguyện Thế Tôn khởi bi tâm, ḥa nhan
thường đắc linh ngă kiến, Phật cập
Thanh Văn chúng thanh tịnh, nguyện thường phổ
tế ư nhân thiên. Phật thân bổn tịnh nhược
hư không, diệc như huyễn diễm cập thủy
nguyệt. Nguyện
thuyết Niết Bàn cam lộ pháp, năng sanh nhất thiết
công đức tụ. Thế Tôn sở hữu tịnh cảnh
giới, từ bi chánh hạnh bất tư nghị, Thanh
Văn, Độc Giác phi sở lượng, đại
tiên Bồ Tát bất năng trắc. Duy nguyện Như Lai
ai mẫn ngă, thường linh đổ kiến đại
bi thân. Tam nghiệp vô quyện phụng từ tôn, tốc xuất
sanh tử, quy Chân Tế.
(經)我常憶念於諸佛,我常樂見諸世尊,我常發起殷重心,常得值遇如來日。我常頂禮於世尊,願常渴仰心不捨,悲泣流淚情無間,常得奉事不知厭。唯願世尊起悲心,和顏常得令我見,佛及聲聞眾清淨,願常普濟於人天。佛身本淨若虛空,亦如幻焰及水月,願說涅槃甘露法,能生一切功德聚。世尊所有淨境界,慈悲正行不思議,聲聞獨覺非所量,大仙菩薩不能測。唯願如來哀愍我,常令覩見大悲身,三業無倦奉慈尊,速出生死歸真際。
(Kinh: Con thường
nghĩ nhớ các đức Phật, con thường thích
thấy các Thế Tôn. Con thường phát khởi tâm trân trọng,
thường được gặp mặt trời Như
Lai. Con thường đảnh lễ đức Thế
Tôn, nguyện thường khát ngưỡng, tâm chẳng xả,
buồn khóc, tâm t́nh chẳng gián đoạn. Thường
được phụng sự, chẳng biết chán. Kính
mong Thế Tôn khởi bi tâm, con thường thấy dung
nhan từ ḥa. Phật và các Thanh Văn thanh tịnh, nguyện
thường cứu độ khắp trời, người.
Thân Phật vốn tịnh như hư không, cũng như
huyễn diễm, trăng trong nước. Nguyện nói pháp
cam lộ Niết Bàn. Hay sanh hết thảy khối công
đức. Thế Tôn tất cả cảnh giới tịnh,
từ bi, chánh hạnh chẳng nghĩ bàn. Thanh Văn, Độc
Giác chẳng lường được, đại tiên Bồ
Tát chẳng thể suy. Kính mong Như Lai thương xót con,
thường cho con thấy thân đại bi. Ba nghiệp chẳng
mệt phụng từ tôn, mau thoát sanh tử, về Chân Tế).
Kế
đó là phát nguyện, có sáu điều:
- Nửa
bài tụng đầu tiên là nghĩ nhớ, nguyện
thường được thấy
[chư Phật Thế Tôn] nơi chỗ
[hành nhân đang] ở.
- Nửa
bài tụng kế tiếp là trân trọng, nguyện trong cuộc
sống thường được gặp gỡ.
-
Bài tụng kế đó là nguyện cúng dường phụng
sự [Như Lai], luôn cúng dường không chán ngán.
- Nửa
bài tụng kế đó là nguyện [Như Lai] luôn gia hộ
khiến cho [chúng sanh] được thấy. Phải nên
nói là “kiến đẳng” (thấy, nghe v.v…) do số
chữ của bài kệ hạn chế, lược bớt
chữ Đẳng v.v…
- Một
bài tụng rưỡi kế đó là nguyện luôn lợi
ích hữu t́nh. Nói “nhân, thiên” là xét theo phương diện
có thể chứng ngộ. Nói “bổn tịnh như
không” (vốn thanh tịnh như hư không) là nói theo Pháp
Thân. “Thọ dụng như huyễn” v.v… là [nói về] thân
Biến Hóa.
-
Hai bài tụng kế đó là nguyện được chứng
nhập. Trong ấy, bài tụng đầu tiên tán thán sự
thù thắng mầu nhiệm. Cảnh sở hành tức pháp
tánh thân. Từ bi chánh hạnh tức là bi trí, đều chẳng
thể nghĩ bàn. “Đại tiên Bồ Tát” tức là
Đẳng Giác Bồ Tát. Nửa bài tụng kế đó là
nguyện gia bị. Nửa bài tụng tiếp đó nhằm
nêu rơ: Do tu mà được chứng.
5.29.2.3. Đức
Thế Tôn tán thán, ấn khả
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn văn thị tán dĩ, dĩ phạm
âm thanh, cáo thụ thần viết: - Thiện tai! Thiện tai! Thiện nữ nhân! Nhữ năng ư ngă chân thật vô vọng thanh tịnh
Pháp Thân tự lợi, lợi tha, tuyên dương diệu tướng, dĩ
thử công đức, linh nhữ tốc chứng tối
thượng Bồ Đề, nhất thiết hữu t́nh
đồng sở tu tập, nhược đắc văn
giả, giai nhập cam lộ vô sanh pháp môn.
(經)爾時世尊聞是讚已,以梵音聲告樹神曰:善哉善哉!善女人!汝能於我真實無妄清淨法身自利利他宣揚妙相,以此功德,令汝速證最上菩提,一切有情同所修習,若得聞者,皆入甘露無生法門。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe lời tán thán ấy
xong, dùng phạm âm thanh bảo thần cây rằng: - Lành
thay! Lành thay! Thiện nữ
nhân! Bà có thể đối với Pháp Thân
thanh tịnh chân thật chẳng hư
vọng, tự lợi, lợi tha của
ta mà tuyên dương diệu tướng, do công đức
này khiến cho bà mau chứng Bồ Đề tối thượng,
hết thảy hữu t́nh cùng tu tập. Nếu ai
được nghe, sẽ đều nhập pháp môn vô sanh
cam lộ).
Kế
đó, là tán thán, ấn khả. Trước là tán thán, sau là
từ “Thiện Nữ Thiên”
trở đi th́:
-
Một là ấn khả lời tán thán.
-
Hai, từ “dĩ thử công đức” (do công đức
này) trở đi, ấn khả sở nguyện.
5.30. Phẩm thứ ba
mươi: Đại Biện Tài thiên nữ tán thán (Đại
Biện Tài thiên nữ tán thán phẩm đệ tam thập, 大辯才天女讚歎品第三十)
5.30.1. Dẫn khởi
Ư
nghĩa v́ sao có phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ
Tán Thán này giống như trong phần trên. Do trọn đủ
bốn thứ biện tài của Bồ Tát, nên gọi là
Đại Biện Tài. Do tự tại nên gọi là Thiên, hiện
làm thiên nữ. Đấy là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp.
Hoặc chỉ rơ vị này khác với các thiên nữ khác, vị này là thiên
nữ Đại Biện Tài, cũng là giải thích theo lối
Y Chủ.
* Hỏi:
V́ sao không nói các vị khác, mà [chỉ nói] vị thiên nữ
này tán thán?
Đáp:
Do vị này có biện tài thù thắng trong các thần. Do vậy,
không nói các vị khác.
5.30.2. Giải thích kinh
văn
5.30.2.1. Chỉ ra
người tán thán
(Kinh)
Nhĩ thời, Đại Biện Tài thiên nữ tức
tùng ṭa khởi, hiệp chưởng cung kính, dĩ trực
ngôn từ.
(經)爾時大辯才天女即從座起,合掌恭敬以直言辭。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Đại Biện Tài thiên nữ liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính, dùng ngôn từ
trực tiếp).
Kế
đó, kinh văn được chia thành ba phần. Phần
này nêu ra người tán thán, gồm ba ư:
- Một là nêu ra
người [thực hiện sự tán thán].
- Hai
là oai nghi.
- Ba
là dùng ngôn từ trực tiếp để biểu lộ
chẳng giống người khác. Chẳng dùng kệ tụng
để tán thán, nên nói là “trực ngôn từ”.
5.30.2.2. Tán thán
(Kinh)
Tán Thế Tôn viết: - Nam-mô Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, thân chân kim sắc, yết
như loa bối, diện như măn nguyệt, mục loại
thanh liên, thần khẩu xích hảo như pha lê sắc, tỵ
cao tu trực như tải kim đĩnh, xỉ bạch tề
mật như Câu Vật Đầu hoa, thân quang phổ chiếu
như bách thiên nhật, quang thái ánh triệt như Thiệm
Bộ kim. Sở hữu ngôn từ giai vô mậu thất, thị
tam giải thoát môn, khai Tam Bồ Đề lộ, tâm
thường thanh tịnh, ư lạc diệc nhiên. Phật sở
trụ xứ cập sở hành cảnh, diệc thường
thanh tịnh, ly phi oai nghi, tấn
chỉ vô mậu. Lục niên khổ hạnh, tam chuyển
pháp luân, độ khổ chúng sanh, linh quy bỉ ngạn.
Thân tướng viên măn, như Câu Đà thụ. Lục
Độ huân tu, tam nghiệp vô thất. Cụ Nhất Thiết
Trí, tự tha lợi măn. Sở hữu tuyên thuyết thường
vị chúng sanh, ngôn bất hư thiết. Ư Thích chủng
trung, vi đại sư tử, kiên cố dũng mănh, cụ
bát giải thoát.
(經)讚世尊曰:南謨釋迦牟尼如來、應、正等覺。身真金色,咽如螺貝,面如滿月,目類青蓮,脣口赤好如玻瓈色,鼻高修直如載金鋌,齒白齊密如拘物頭華,身光普照如百千日,光彩映徹如贍部金。所有言辭皆無謬失,示三解脫門,開三菩提路,心常清淨意樂亦然。佛所住處及所行境亦常清淨,離非威儀,進止無謬。六年苦行,三轉法輪,度苦眾生,令歸彼岸。身相圓滿,如拘陀樹。六度熏修,三業無失。具一切智,自他利滿。所有宣說常為眾生,言不虛設。於釋種中為大師子,堅固勇猛,具八解脫。
(Kinh:
Tán thán đức Thế Tôn rằng: - Nam-mô Thích Ca Mâu Ni Như
Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, thân màu vàng ṛng, họng
như vỏ ốc, mặt như trăng tṛn, mắt
như sen xanh, môi miệng đỏ đẹp như sắc
pha lê, mũi cao ngay thẳng như đĩnh vàng cắt,
răng trắng khít bằng như hoa Câu Vật Đầu[22],
quang minh nơi thân chiếu khắp như trăm ngàn mặt
trời, màu sắc chói lọi như vàng Thiệm Bộ. Tất
cả lời nói đều chẳng sai lầm, chỉ bày
ba môn giải thoát, mở đường Chánh Giác, tâm
thường thanh tịnh, ư lạc cũng thế. Trụ
xứ và cảnh sở hành của Phật cũng thường
thanh tịnh, ĺa chẳng oai nghi, hành xử không sai lầm.
Sáu năm khổ hạnh, tam chuyển pháp luân, độ
chúng sanh khổ, khiến họ trở về bờ kia.
Thân tướng viên măn như cây Câu Đà[23].
Lục Độ huân tu, ba nghiệp chẳng sai sót.
Trọn đủ Nhất Thiết Trí, tự lợi và lợi
tha viên măn. Tất cả tuyên thuyết thường v́ chúng
sanh, lời nói chẳng dối lập. Là đại sư
tử trong ḍng họ Thích, kiên cố, dũng mănh, đủ
tám giải thoát).
Kế
đó là tán thán, có hai phần:
- Một
là tán thán đức.
-
Hai, từ “nguyện dĩ thử phước” (nguyện
dùng phước này) là phát nguyện.
Trong
phần tán thán có ba ư:
- Một
là thân lễ.
-
Hai là tán thán riêng biệt.
-
Ba, từ “ngă kim tùy lực” (con nay tùy sức) trở
đi, kết lại.
Phần
“tán thán
riêng biệt”
có mười ư:
- Một,
từ “thân chân kim sắc” trở đi, tán thán tướng
hảo.
-
Hai, từ “sở hữu” (tất cả) trở
đi, tán thán lời lẽ chẳng sai lầm. Trong mười
tám pháp bất cộng th́ thuyết pháp thù thắng
nhất, nên riêng tán thán ngữ nghiệp của Phật.
-
Ba, từ “thị tam giải thoát môn” (chỉ bày ba môn
giải thoát) trở đi, tán thán đức thuyết pháp
hóa độ người bên ngoài, có hai ư:
a. Một
là chỉ dạy ba môn giải thoát, tức Niết Bàn môn.
b.
Hai là mở ra đường Tam Bồ Đề (ứng hóa Phật
Bồ Đề, báo Phật Bồ Đề, pháp Phật Bồ
Đề), tức là ba món Bồ Đề của
Phật. Hai thừa kia do nương vào đây mà có.
- Bốn,
từ “tâm thường” trở đi, tán thán bốn
đức thanh tịnh nội chứng. “Bốn thanh tịnh”: Một là tự
tánh tịnh, hai là ly cấu tịnh, ba là đắc đạo
tịnh, bốn là thanh tịnh do sanh vào cảnh này, tức là phối ứng theo chiều
ngược. Do tâm thanh tịnh lưu xuất giáo
pháp, có thể sanh ra hết thảy Bồ Đề phần
pháp (các pháp thuộc về Bồ Đề), tức là cái có thể sanh và cái được
sanh, hết thảy đều thanh
tịnh. V́ thế, kinh Vô Cấu Xưng nói: “Tùy kỳ tâm
tịnh, tức hữu thanh tịnh Phật độ. Tùy
kỳ thanh tịnh Phật độ, tức hữu thanh tịnh
pháp giáo” (Tùy thuận tâm tịnh liền có cơi Phật
thanh tịnh. Thuận theo cơi Phật thanh tịnh, bèn có giáo
pháp thanh tịnh). Cho đến nói: “Thanh tịnh công
đức ư lạc, tức đắc thử đạo tịnh”
(Do công đức ư lạc thanh tịnh liền đạt
được đạo này thanh tịnh). Chỗ Phật
trụ chính là chỗ trụ của Chân Như Pháp Thân ly cấu.
Tánh và tướng chia làm hai; v́ thế, kinh Thắng Man dạy:
“Tại triền, danh
Như Lai Tạng; xuất triền,
danh Pháp Thân” (C̣n bị trói buộc
trong phiền năo th́ gọi là Như Lai Tạng, thoát khỏi
trói buộc th́ gọi là Pháp Thân). Cảnh được
hành chính là tự tánh tịnh. Nhất Chân pháp giới chính
là hành cảnh của Phật. Vô Tánh Nhiếp Luận, quyển
thứ năm viết: “Bốn thứ thanh tịnh ấy
chính là Viên Thành Thật”. Lại giải thích rằng: “Đấy
là bốn món hết thảy các tướng thanh tịnh”.
Theo quyển thứ chín của Vô Tánh Nhiếp Luận nói: “Do
cái để nương vào là thanh tịnh, tức là y chỉ
Tĩnh Lự. Hai là cái để duyên theo là thanh tịnh, tức
biến hóa thành hết thảy các sắc. Ba là tâm thanh tịnh,
tức thuận theo môn Tam-ma-địa mong muốn mà tự
tại chuyển, tức là tự tại xuất nhập
các Định. Bốn là trí tự tại, tức là trụ
tŕ tự tại trong Đà La Ni môn như tâm mong muốn”.
Ở đây, tâm thanh tịnh là điều thứ ba, ư lạc
là điều thứ tư, “sở
trụ” chính là điều thứ nhất, “sở
hành” là điều thứ hai. Lại giải rằng:
“Tâm” tức là tâm vương, “ư lạc” tức
là thắng giải. Nêu ra môn thắng giải này để
nói chung các tâm sở khác. “Sở trụ” chính là Chân
Như, “sở hành” chính là tục cảnh.
-
Năm, từ “ly phi oai nghi” (ĺa các thứ chẳng phải
là oai nghi) trở đi, tán thán sự vĩnh viễn dẹp
trừ [các lầm lỗi]. “Tập” chính là tập khí.
Vô Tánh Nhiếp Luận viết: “Trọn khắp hết
thảy đi,
đứng, nghĩa là khất thực trong thành, ấp, xóm
làng, qua lại, kinh hành, bốn oai nghi nơi thân đều
trụ trong tịch tĩnh”. Lại
nữa, thân chẳng sai phạm,
trong bốn oai nghi thường v́ lợi lạc chúng
sanh. V́ thế, kinh Vô Cấu Xưng nói: “Như Lai sở
hữu tấn chỉ, oai nghi, vô phi Phật sự, hàm linh sở
hóa hữu t́nh nhiêu ích” (Tất cả cử chỉ và oai
nghi của Như Lai, không ǵ chẳng phải là Phật sự,
đều nhằm lợi ích hữu t́nh được
giáo hóa).
-
Sáu, “sáu năm khổ hạnh” v.v… là tán thán [đức Phật đă thị]
hiện tám tướng [thành đạo].
Trong tám tướng, chỉ nêu ra hai tướng khổ hạnh
và chuyển pháp luân. Từ “vị độ khổ sanh”
(v́ độ chúng sanh khổ sở) trở đi, tán thán sự hiện
tướng, mang ư nghĩa “khiến cho [người
được hóa độ] trở
về bờ kia” để làm mẫu cho các tướng
khác.
- Bảy,
“thân tướng viên măn” là tán thán thân tướng.
-
Tám, “Lục Độ huân tu”, tán thán sự tu hành.
-
Chín, “tam nghiệp vô thất” (ba nghiệp không lầm
lỗi), tán thán đức bất cộng của ba nghiệp,
nêu ra ba điều để đại
biểu cho các điều khác.
-
Mười, từ “cụ Nhất Thiết Trí” (trọn
đủ Nhất Thiết Trí) trở đi, tán thán Trí
Đức. Trước là nêu chung; sau đó từ “sở
hữu tuyên thuyết” (tất cả tuyên nói) trở
đi là giải thích riêng biệt. Trong phần giải thích
riêng biệt, trước là lợi tha, c̣n từ “ư
Thích Chủng” (trong ḍng họ Thích) trở đi là tự
lợi. Thật ra, hiện sanh đều v́ lợi tha, do xét
theo tướng mà nói là “tự lợi”.
(Kinh)
Ngă kim tùy lực xưng tán Như Lai thiểu phần công
đức, do như văn tử ẩm đại hải
thủy.
(經)我今隨力稱讚如來少分功德,猶如蚊子飲大海水。
(Kinh:
Con nay tùy sức ca ngợi chút phần công đức của
Như Lai, ví như con muỗi uống nước trong biển
cả).
Kế
đó là tiểu kết.
(Kinh)
Nguyện dĩ thử phước, quảng cập hữu
t́nh, vĩnh ly sanh tử, thành vô thượng đạo.
(經)願以此福,廣及有情,永離生死,成無上道。
(Kinh:
Nguyện do phước này, rộng lợi lạc hữu
t́nh, vĩnh viễn ĺa sanh tử, thành vô thượng đạo).
Kế
đó là phát nguyện.
5.30.2.3. Đức Thế
Tôn tán thán, ấn khả
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Đại Biện Tài Thiên viết:
- Thiện tai! Thiện tai! Nhữ cửu
tu tập, cụ đại biện tài, kim phục ư ngă, quảng trần tán thán, linh nhữ tốc chứng
vô thượng pháp môn, tướng hảo viên minh, phổ
lợi nhất thiết.
(經)爾時世尊告大辯才天曰:善哉善哉!汝久修習具大辯才,今復於我廣陳讚歎,令汝速證無上法門,相好圓明普利一切。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Đại
Biện Tài Thiên rằng: - Lành thay! Lành thay! Bà tu tập
đă lâu, trọn đủ đại biện tài, nay lại
ở nơi ta rộng trần thuật tán thán, khiến cho
bà mau chứng pháp môn vô thượng, tướng hảo
viên minh lợi khắp hết thảy).
Kế
đó là tán thán, ấn khả. Trong phần tán thán, trước
là tán thán chung, từ “nhữ cửu tu tập” (bà tu tập
đă lâu) trở đi là tán thán riêng. Trong
phần tán thán riêng, trước là tán thán cái nhân, tức do
tu tập đă lâu nên trọn đủ biện tài; sau là tán thán cái quả,
nay [do thiên nữ] lại
có thể tán thán [vi diệu
như thế, nên sẽ đắc quả vi diệu như
thế]. Từ “linh nhữ tốc chứng”
(khiến cho bà mau chứng) trở đi là ấn khả,
phát nguyện.
5.31. Phẩm thứ
ba mươi mốt: Phó Chúc (Phó Chúc phẩm đệ tam thập
nhất, 付囑品第三十一)
5.31.1. Dẫn khởi
Phẩm
Phó Chúc gồm hai môn phân biệt. Nói về ư nghĩa v́ sao có
phẩm này th́ từ phẩm Tứ Thiên Vương trở
đi, thuộc vào Lưu Thông Phần, có ba tiểu loại.
Trong phần trên là Học Hạnh Lưu Thông, đại
chúng nghe nói tâm sanh hoan hỷ tán thán. V́ thế, nay là loại
thứ ba, tức [đức Phật] sẽ phó chúc (căn
dặn, giao phó), khiến cho họ hộ tŕ, truyền tới
đời Mạt. V́ thế sau phẩm trước, bèn có
phẩm này sanh khởi.
Giải
thích danh xưng: Phó (付) là
trao cho, Chúc (囑) là cậy nhờ.
Dùng pháp để phó thác, trao cho, khiến cho [người
được phó thác sẽ] hộ tŕ, lưu thông trong
đời Mạt. V́ thế nói là Phó Chúc.
5.31.2. Giải thích kinh
văn
5.31.2.1. Phật tuyển
mộ người phát tâm hộ tŕ
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn phổ cáo vô lượng Bồ
Tát, cập chư nhân thiên, nhất thiết đại
chúng: - Nhữ đẳng đương tri, ngă ư vô
lượng vô số đại kiếp, cần tu khổ
hạnh, hoạch thậm thâm pháp Bồ Đề chánh nhân,
dĩ vị nhữ thuyết.
(經)爾時世尊普告無量菩薩及諸人天一切大眾:汝等當知,我於無量無數大劫勤修苦行獲甚深法菩提正因,已為汝說。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo khắp vô
lượng Bồ Tát và các trời, người, hết thảy
đại chúng: - Các vị nên biết, ta trong vô lượng
vô số đại kiếp, siêng tu khổ hạnh, đạt
được pháp rất sâu, chánh nhân Bồ Đề,
đă v́ các vị nói).
Kế
đó, kinh văn chia thành bốn phần:
- Một,
đức Phật tuyển mộ người [sẽ phát
tâm] hộ tŕ.
-
Hai, từ “nhĩ thời, chúng trung” (lúc bấy giờ,
trong đại chúng) trở đi, đại chúng nghe nói bèn phát
nguyện hộ tŕ.
-
Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn) trở đi, đức Phật lại
tán thán, khuyên lơn lần nữa.
- Bốn,
từ “nhĩ thời, vô lượng” (lúc bấy giờ,
vô lượng) trở đi, [đại chúng] nghe dạy,
hoan hỷ phụng hành.
Trong
phần thứ nhất có hai ư. Ư thứ nhất là bảo
khắp đại chúng, kết lại các điều
đă nói trên đây.
(Kinh)
Nhữ đẳng thùy năng phát dũng mănh tâm, cung kính thủ
hộ, ngă Niết Bàn hậu, ư thử pháp môn,
quảng tuyên lưu bố, năng linh chánh pháp cửu trụ
thế gian?
(經)汝等誰能發勇猛心恭敬守護,我涅槃後於此法門廣宣流布,能令正法久住世間?
(Kinh:
Trong các vị,
ai có thể phát tâm dũng mănh, cung kính thủ hộ, sau khi
ta Niết Bàn,
đối với pháp môn này sẽ rộng tuyên nói, lưu
truyền, khiến cho chánh pháp trụ lâu trong thế gian?)
Kế
đó, tuyển mộ người hộ tŕ trong trọn khắp
đại chúng.
5.31.2.2. Đại
chúng nghe [đức Phật nói] bèn phát nguyện hộ tŕ
5.31.2.2.1. Tổng nguyện
(Kinh)
Nhĩ thời, chúng trung hữu lục thập câu-chi
chư đại Bồ Tát, lục thập câu-chi chư
thiên đại chúng, dị khẩu đồng âm, tác
như thị ngữ: - Thế Tôn! Ngă đẳng hàm hữu
hân nhạo chi tâm, ư Phật Thế Tôn vô lượng
đại kiếp cần tu khổ hạnh, sở hoạch
thậm thâm vi diệu chi pháp Bồ Đề chánh nhân, cung
kính hộ tŕ, bất tích thân mạng. Phật Niết Bàn hậu,
ư thử pháp môn,
quảng tuyên, lưu bố, đương linh chánh pháp cửu
trụ thế gian.
(經)爾時眾中有六十俱胝諸大菩薩、六十俱胝諸天大眾,異口同音作如是語:世尊!我等咸有欣樂之心,於佛世尊無量大劫勤修苦行所獲甚深微妙之法菩提正因,恭敬護持不惜身命,佛涅槃後,於此法門廣宣流布,當令正法久住世間。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, trong đại chúng có sáu mươi
câu-chi các vị đại Bồ Tát, sáu mươi câu-chi
đại chúng chư thiên, khác miệng cùng tiếng, nói
như thế này: - Bạch Thế Tôn! Chúng con đều có
tâm ưa thích, đối với chánh nhân Bồ Đề
là pháp vi diệu rất sâu do Phật Thế Tôn đă đạt
được v́ siêng tu khổ hạnh trong vô lượng
đại kiếp, sẽ cung kính hộ tŕ, chẳng tiếc
thân mạng. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn,
đối với pháp môn này, sẽ rộng tuyên nói, lưu
truyền, khiến cho chánh pháp trụ lâu trong thế gian).
Kế
đó, hai hàng đại chúng nghe nói bèn nguyện thủ hộ.
Có hai ư: Một là Tổng, hai là từ “nhĩ thời,
chư đại Bồ Tát” (lúc bấy giờ, các đại
Bồ Tát) trở đi là Biệt. Trong phần Tổng,
có bốn ư:
- Một,
nêu ra số lượng đại chúng (sáu mươi
câu-chi).
-
Hai, từ “dị khẩu đồng âm” trở
đi, trần thuật tâm vui thích, phát nguyện.
-
Ba, từ “ư Phật Thế Tôn” (đối với
đức Phật Thế Tôn) trở đi, thề tự
hộ tŕ.
- Bốn,
từ “Phật Niết Bàn hậu” (sau khi đức
Phật nhập Niết Bàn) trở đi, kiêm lưu truyền
tới đời Mạt.
5.31.2.2.2. Biệt nguyện
5.31.2.2.2.1. Các đại
Bồ Tát phát nguyện
(Kinh)
Nhĩ thời, chư đại Bồ Tát tức ư Phật
tiền, thuyết già-đà viết:
(經)爾時諸大菩薩即於佛前說伽陀曰:
(Kinh:
Lúc bấy giờ, các đại Bồ Tát liền đối
trước Phật, nói già-đà rằng).
Kế
đó là biệt nguyện, có mười một đoạn.
Đây chính là đoạn thứ nhất, “Bồ Tát nguyện
thủ hộ”, lại bao gồm hai ư. Ư thứ nhất
là người kết tập kinh dẫn giải.
(Kinh)
Thế Tôn chân thật ngữ, an trụ ư thật pháp,
do bỉ chân thật cố, hộ tŕ ư thử kinh.
Đại bi vi giáp trụ, an trụ ư đại từ,
do bỉ từ bi lực, hộ tŕ ư thử kinh. Phước
tư lương viên măn, sanh khởi trí tư lương,
do tư lương măn cố, hộ tŕ ư thử kinh.
Hàng phục nhất thiết ma, phá diệt chư tà luận,
đoạn trừ ác kiến cố, hộ tŕ ư thử
kinh. Hộ thế tịnh Thích Phạm, năi chí A Tô La, long thần
Dược Xoa đẳng, hộ tŕ ư thử kinh. Địa
thượng cập hư không, cửu trụ ư tư
giả, phụng tŕ Phật giáo cố, hộ tŕ ư thử
kinh. Tứ phạm trụ tương ứng, Tứ Thánh
Đế nghiêm sức, hàng phục tứ ma cố, hộ
tŕ ư thử kinh. Hư không thành chất ngại, chất
ngại thành hư không, chư Phật sở hộ tŕ, vô
năng khuynh động giả.
(經)世尊真實語,安住於實法,由彼真實故,護持於此經。大悲為甲冑,安住於大慈,由彼慈悲力,護持於此經。福資糧圓滿,生起智資糧,由資糧滿故,護持於此經。降伏一切魔,破滅諸邪論,斷除惡見故,護持於此經。護世并釋梵,乃至阿蘇羅,龍神藥叉等,護持於此經。地上及虛空,久住於斯者,奉持佛教故,護持於此經。四梵住相應,四聖諦嚴飾,降伏四魔故,護持於此經。虛空成質礙,質礙成虛空,諸佛所護持,無能傾動者。
(Kinh: Thế
Tôn chân thật ngữ, an trụ trong thật pháp, do sự
chân thật ấy, hộ tŕ bộ
kinh này. Đại bi làm giáp trụ, an trụ trong đại
từ, do sức từ bi ấy, hộ tŕ bộ
kinh này. Phước tư lương viên măn, sanh khởi
trí tư lương, do tư lương viên măn, hộ tŕ bộ
kinh này. Hàng phục hết thảy ma, phá diệt các tà luận,
do đoạn trừ ác kiến, hộ tŕ bộ
kinh này. Hộ thế và Thích Phạm, cho đến A Tô La,
long, thần, Dược Xoa thảy, hộ tŕ bộ
kinh này. Trên đất và hư không, trụ đă lâu nơi ấy,
do phụng tŕ Phật giáo, hộ tŕ bộ kinh
này. Tương ứng tứ phạm trụ[24],
Tứ Thánh Đế trang nghiêm, do hàng phục tứ ma, hộ
tŕ bộ
kinh này. Hư không thành ngăn ngại, ngăn ngại thành
hư không, được chư Phật hộ tŕ, không ai
khuynh động được).
Kế
đó, trần thuật lời thệ nguyện, gồm tám
bài tụng, chia thành hai phần:
- Bốn
bài tụng đầu, do thấy lợi ích, nên tự nguyện
thủ hộ. Trong ấy, một bài tụng có ư nói: Do biết Phật ngữ
là chân thật, bài tụng kế đó là do biết
Phật đại bi, bài tụng kế đó là do biết
trọn đủ tư lương,
cho nên phát nguyện. Bài tụng
kế đó, [ư nói] do
biết có thể diệt chướng nên nguyện.
- Bốn
bài tụng kế đó là thấy người khác thủ hộ
bèn tùy hỷ. Trong ấy, bài tụng thứ nhất là thấy
Phạm vương, Đế Thích, tám bộ thủ hộ.
Bài tụng kế đó là thấy các thần trên đất
và hư không thủ hộ. Hai bài tụng kế đó là thấy
Phật tự thủ hộ: Bài tụng thứ nhất tán
thán Phật trọn đủ công đức hộ tŕ kinh
này. Bài tụng kế
đó tỏ lộ ư nguyện thủ hộ quyết định.
Có nghĩa là do thấy đức Phật và Đế
Thích, Phạm vương v.v… hết thảy đều thủ
hộ, bèn sanh ḷng tùy hỷ sâu
xa. V́ thế, nguyện tự thủ hộ.
Hỏi:
Nếu [bảo là ở đây do đại chúng đă] thấy
Đế Thích, Phạm vương v.v… hộ tŕ kinh này, bèn
sanh tâm tùy hỷ, nhưng kinh văn trong phần sau mới
nói Phạm vương, Đế Thích v.v… nguyện thủ
hộ?
Đáp:
Do thấy phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Tŕ và các phẩm
Dược Xoa v.v... hộ tŕ đă nói [các vị ấy phát
tâm hộ tŕ], nên sanh ḷng tùy hỷ. Lại có thể hiểu:
Tức là nh́n vào phần
Tổng Nguyện thuộc phần Trường
Hàng trên đây, sáu mươi câu-chi chư thiên đại
chúng cung kính hộ tŕ, tức là Phạm vương, Đế
Thích v.v… [đă được gộp trong đó]; v́ thế,
[nói như vậy] chẳng có lầm lỗi.
5.31.2.2.2.2. Tứ đại
thiên vương phát nguện
(Kinh)
Nhĩ thời, Tứ Đại Thiên Vương văn Phật
thuyết thử hộ tŕ diệu pháp, các sanh tùy hỷ, hộ
chánh pháp tâm.
(經)爾時四大天王聞佛說此護持妙法,各生隨喜護正法心。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Tứ Đại Thiên Vương nghe
đức Phật nói hộ tŕ diệu pháp này, ai nấy
đều sanh tâm tùy hỷ, hộ tŕ chánh pháp).
Kế
đó, điều
thứ hai là bốn thiên vương hộ tŕ,
cũng có hai đoạn:
- Một,
nghe dạy sanh ḷng vui sướng.
-
Hai, từ “nhất tâm đồng thanh” trở đi,
đồng tâm nói thủ hộ.
Đoạn
này là ư đầu tiên.
Hỏi:
Người nói hộ tŕ trong phần trước là các vị Bồ
Tát, v́ sao nói “nghe đức Phật nói hộ tŕ diệu
pháp này, ai nấy đều sanh tâm tùy hỷ, thủ hộ
chánh pháp”?
Đáp:
Nghe trong phần trước, đức Phật khuyên hộ
tŕ diệu pháp, nên nói là “văn thuyết” (nghe nói).
(Kinh)
Nhất thời đồng thanh thuyết già-đà viết:
- Ngă kim ư thử kinh, cập nam nữ quyến thuộc,
giai nhất tâm ủng hộ, linh đắc quảng
lưu thông. Nhược hữu tŕ kinh giả, năng tác Bồ
Đề nhân, ngă thường ư tứ phương, ủng
hộ nhi thừa sự.
(經)一時同聲說伽陀曰:我今於此經,及男女眷屬,皆一心擁護,令得廣流通。若有持經者,能作菩提因,我常於四方,擁護而承事。
(Kinh:
Cùng lúc đồng thanh nói già-đà rằng: - Con nay với
kinh này, và nam nữ quyến thuộc, đều nhất
tâm ủng hộ, khiến được lưu truyền
rộng. Nếu có ai tŕ kinh, sẽ làm nhân Bồ Đề,
con thường ở bốn phương, ủng hộ và
phụng sự).
Kế
đó, đồng tâm nói thủ hộ. Trước là
người kết tập kinh dẫn giải, kế đến
là [tứ thiên vương] nói thủ hộ. Trong phần thủ
hộ, có hai bài tụng: Bài tụng đầu là hộ
pháp, bài sau đó là thủ hộ người.
5.31.2.2.2.3. Đế
Thích phát nguyện thủ hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, Thiên Đế Thích hiệp chưởng
cung kính, thuyết già-đà viết: - Chư Phật chứng
thử pháp, vị dục báo ân cố, nhiêu ích Bồ Tát chúng,
xuất thế diễn tư kinh. Ngă ư bỉ chư Phật,
báo ân thường cúng dường, hộ tŕ như thị
kinh, cập dĩ tŕ kinh giả.
(經)爾時天帝釋合掌恭敬說伽陀曰:諸佛證此法,為欲報恩故,饒益菩薩眾,出世演斯經。我於彼諸佛,報恩常供養,護持如是經,及以持經者。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Thiên Đế Thích chắp tay cung
kính, nói già-đà rằng: - Chư Phật chứng pháp này,
do v́ muốn báo ân, lợi ích các Bồ Tát, ra đời diễn
kinh này. Con đối với chư Phật, báo ân thường
cúng dường, hộ tŕ kinh như thế, cùng với người
tŕ kinh).
Kế
đó, loại đại chúng thủ hộ thứ ba.
Trước hết là nêu ra người thủ hộ. Từ
“thuyết già-đà” trở đi, nói đến
người hộ tŕ, gồm hai bài tụng:
- Bài tụng thứ
nhất trần thuật nguyên do thủ hộ.
-
Bài tụng sau đó trần thuật sự hộ pháp.
Xưa
kia đức Phật nghe pháp mà thành Bồ Đề, v́ báo
ân của kinh, bèn v́ Bồ Tát nói [pháp này]. Con nay được
nghe pháp, cũng nên báo ân, thọ tŕ, lưu truyền.
5.31.2.2.2.4. Đâu Suất
thiên phát nguyện ủng hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, Đổ Sử Đa thiên tử hiệp
chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: - Phật
thuyết như thị kinh, nhược hữu năng tŕ
giả, đương trụ Bồ Đề vị, lai
sanh Đổ Sử Thiên. Thế Tôn ngă khánh duyệt, xả
thiên thù thắng báo, trụ ư Thiệm Bộ châu, tuyên
dương thị kinh điển.
(經)爾時覩史多天子合掌恭敬說伽陀曰:佛說如是經,若有能持者,當住菩提位,來生覩史天。世尊我慶悅,捨天殊勝報,住於贍部洲,宣揚是經典。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Đổ Sử Đa thiên tử chắp
tay cung kính nói già-đà rằng: - Phật nói kinh như thế,
nếu ai hay thọ tŕ, sẽ trụ Bồ Đề vị,
sanh về Đổ Sử Thiên. Thế Tôn! Con vui mừng,
xả báo trời thù thắng, trụ trong châu Thiệm Bộ,
tuyên dương kinh điển này).
Kế
đến là [loại đại chúng thủ hộ kinh] thứ
tư: Trước là nêu ra người có thể thủ hộ.
Từ “thuyết già-đà” (nói kệ tụng) trở
đi, nói về sự hộ tŕ, gồm hai bài tụng: Bài
tụng thứ nhất trần thuật sự lợi ích,
bài sau đó trần thuật sự hộ pháp.
5.31.2.2.2.5. Phạm vương
phát nguyện thủ hộ
(Kinh) Nhĩ thời, Sách Ha thế giới chủ Phạm thiên vương
hiệp chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: -
Chư Tĩnh
Lự
vô lượng, chư thừa cập giải thoát, giai tùng
thử kinh xuất. Thị cố, diễn tư kinh.
Nhược thuyết thị kinh xứ, ngă xả Phạm
Thiên lạc, vị thính như thị kinh, diệc thường
vi ủng hộ.
(經)爾時索訶世界主梵天王合掌恭敬說伽陀曰:諸靜慮無量,諸乘及解脫,皆從此經出,是故演斯經。若說是經處,我捨梵天樂,為聽如是經,亦常為擁護。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, chủ của thế giới Sách Ha là Phạm thiên
vương chắp tay, cung kính, nói già-đà rằng: - Các
Tĩnh Lự vô lượng, các thừa và giải thoát,
đều từ kinh này ra. V́ thế, diễn kinh này. Nếu
chỗ nói kinh này, con bỏ vui Phạm Thiên, v́ nghe kinh
như thế, cũng thường luôn ủng hộ).
[Đây
là] loại [người thủ hộ] thứ năm, kinh
văn cũng phân đoạn giống như trên.
5.31.2.2.2.6. Ma tử phát
nguyện thủ hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, ma vương tử danh viết
Thương Chủ, hiệp chưởng cung kính, thuyết
già-đà viết: - Nhược hữu thọ tŕ thử,
chánh nghĩa tương ứng kinh, bất tùy ma sở
hành, tịnh trừ ma ác nghiệp. Ngă đẳng ư thử
kinh, diệc đương cần thủ hộ, phát đại
tinh tấn ư, tùy xứ quảng lưu thông.
(經)爾時魔王子名曰商主,合掌恭敬說伽陀曰:若有受持此,正義相應經,不隨魔所行,淨除魔惡業。我等於此經,亦當勤守護,發大精進意,隨處廣流通。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, con trai của ma vương tên là
Thương Chủ, chắp tay, cung kính, nói già-đà rằng:
- Nếu có người thọ tŕ, kinh tương ứng
chánh nghĩa, chẳng theo hạnh của ma, trừ sạch
ác nghiệp ma. Chúng con đối kinh này, cũng sẽ siêng
thủ hộ, phát đại tinh tấn ư, rộng lưu
thông khắp chốn).
Kế
đó là loại người [thủ hộ] thứ sáu, kinh
văn cũng [phân đoạn] giống như trên.
5.31.2.2.2.7. Ma vương,
Diệu Cát Tường, Di Lặc, Đại Ca Diếp, A
Nan phát nguyện thủ hộ
(Kinh)
Nhĩ thời, ma vương hiệp chưởng cung kính,
thuyết già-đà viết: “Nhược hữu tŕ thử
kinh, năng phục chư phiền năo, như thị chúng
sanh loại, ủng hộ linh an lạc. Nhược hữu
thuyết thị kinh, chư ma bất đắc tiện,
do Phật oai thần lực, ngă đương ủng hộ
bỉ”. Nhĩ thời, Diệu Cát Tường thiên tử
diệc ư Phật tiền, thuyết già-đà viết:
“Chư Phật diệu Bồ Đề, ư thử kinh
trung thuyết, nhược tŕ thử kinh giả, thị
cúng dường Như Lai. Ngă đương tŕ thử
kinh, vị câu-chi thiên thuyết. Cung kính thính văn giả,
khuyến chí Bồ Đề xứ”. Nhĩ thời, Từ
Thị Bồ Tát hiệp chưởng, cung kính thuyết
già-đà viết: “Nhược kiến trụ Bồ Đề,
dữ vi bất thỉnh hữu, năi chí xả thân mạng,
vị hộ thử kinh vương. Ngă văn như thị
pháp, đương văng Đổ Sử Thiên, do Thế Tôn
gia hộ, quảng vị nhân thiên thuyết”. Nhĩ thời,
thượng tọa Đại Ca Diếp Ba hiệp chưởng,
cung kính thuyết già-đà viết: “Phật ư Thanh
Văn thừa, thuyết ngă tiển
trí huệ. Ngă kim tùy tự lực, hộ tŕ như thị
kinh. Nhược hữu tŕ thử kinh, ngă đương
nhiếp thọ bỉ, thọ kỳ từ biện lực,
thường tùy tán thiện tai.” Nhĩ thời, Cụ Thọ
A Nan Đà hiệp chưởng, hướng Phật, thuyết
già-đà viết: “Ngă thân tùng Phật văn, vô lượng
chúng kinh điển, vị tằng văn như thị,
thâm diệu pháp trung vương. Ngă kim văn thị kinh,
thân ư Phật tiền thọ, chư nhạo Bồ
Đề giả, đương vị quảng tuyên
thông”.
(經)爾時魔王合掌恭敬說伽陀曰:若有持此經,能伏諸煩惱,如是眾生類,擁護令安樂。若有說是經,諸魔不得便,由佛威神力,我當擁護彼。爾時妙吉祥天子亦於佛前說伽陀曰:諸佛妙菩提,於此經中說,若持此經者,是供養如來。我當持此經,為俱胝天說,恭敬聽聞者,勸至菩提處。爾時慈氏菩薩合掌恭敬說伽陀曰:若見住菩提,與為不請友,乃至捨身命,為護此經王。我聞如是法,當往覩史天,由世尊加護,廣為人天說。爾時上座大迦葉波合掌恭敬說伽陀曰:佛於聲聞乘,說我鮮智慧,我今隨自力,護持如是經。若有持此經,我當攝受彼,授其辭辨力,常隨讚善哉。爾時具壽阿難陀合掌向佛說伽陀曰:我親從佛聞,無量眾經典,未曾聞如是,深妙法中王。我今聞是經,親於佛前受,諸樂菩提者,當為廣宣通。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, ma vương chắp tay cung kính, nói già-đà rằng:
“Nếu ai tŕ kinh này, chế phục các phiền năo, ủng
hộ chúng sanh ấy, khiến cho được an lạc.
Nếu người nói kinh này, các ma chẳng thừa dịp,
do sức Phật oai thần, con sẽ ủng hộ họ”.
Lúc bấy giờ, Diệu Cát Tường thiên tử
cũng đối trước Phật, nói già-đà rằng:
“Chư Phật diệu Bồ Đề, được
nói trong kinh này, nếu ai tŕ kinh này, là cúng dường
Như Lai. Con sẽ tŕ kinh này, v́ câu-chi trời nói. Kẻ
cung kính lắng nghe, khuyên tới chốn Bồ Đề”.
Lúc bấy giờ, Từ Thị Bồ Tát chắp tay, cung
kính nói già-đà rằng: “Nếu thấy trụ Bồ
Đề, sẽ làm bạn chẳng thỉnh, cho tới xả
thân mạng, v́ hộ kinh vương này. Con nghe pháp như thế,
sẽ về trời Đâu Suất, do Thế Tôn gia hộ,
rộng v́ trời, người nói”. Lúc bấy giờ,
thượng tọa Đại Ca Diếp Ba chắp tay,
cung kính nói già-đà rằng: “Phật trong Thanh Văn thừa,
nói con trí huệ kém. Con nay theo sức ḿnh, hộ tŕ kinh
như thế. Nếu ai tŕ kinh này, con nhiếp thọ
người ấy. Trao cho sức từ biện, thường
theo tán lành thay!” Lúc bấy giờ, Cụ Thọ A Nan Đà
chắp tay, hướng về đức Phật, nói
già-đà rằng: “Con được nghe từ Phật, vô
lượng các kinh điển, chưa từng nghe như
thế, vua các pháp sâu mầu. Nay con nghe kinh này, đích thân
nghe từ Phật, với người thích Bồ Đề,
sẽ rộng tuyên nói cho”).
Đối
với loại [người thủ hộ kinh] thứ bảy,
kinh văn cũng [chia đoạn] giống phần trên.
Trong phần trần thuật sự hộ pháp, bài tụng
đầu nói thủ hộ người tŕ kinh. Bài tụng
sau đó nói sẽ thủ
hộ người thuyết kinh, do thủ hộ người
th́ cũng chính là thủ hộ pháp. Mỗi phần đều
trước là trần thuật người có thể thực
hiện, sau đó mới trần thuật sự thủ hộ.
Đối với người thứ
tám là Diệu Cát Tường, kinh văn cũng [phân đoạn]
giống như trên. Trong phần trần thuật sự hộ
pháp, trước là trần thuật lợi ích của kinh,
sau là nói về sự hộ pháp. V́ câu-chi chư thiên nói pháp
th́ là hộ pháp, cung kính người nghe pháp th́ là hộ
nhân. [Người thủ hộ] thứ chín là Từ Thị,
kinh văn cũng [phân
đoạn] giống như trên. Trong phần trần
thuật sự hộ pháp, bài tụng đầu là người
thủ hộ, bài tụng sau đó là hộ pháp. [Đối
với người thủ hộ] thứ mười, kinh
văn cũng [phân đoạn] giống như phần trên.
Trong phần trần thuật hộ pháp, bài tụng thứ
nhất hộ pháp, bài tụng sau đó là hộ nhân. [Đối
với người thủ hộ kinh] thứ mười một,
kinh văn cũng [chia đoạn] giống như phần
trên. Trong phần trần thuật hộ pháp, bài tụng thứ
nhất là tán thán, bài tụng sau đó là sự thủ hộ.
“Nhạo Bồ Đề giả” (người ưa
thích Bồ Đề) là hộ nhân, “vị quảng tuyên
lưu thông” (v́ người ấy mà rộng tuyên nói,
lưu thông) là hộ pháp.
5.31.2.2.3. Đức
Thế Tôn tán thán và khuyên lơn lần nữa
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn kiến chư Bồ Tát, nhân thiên
đại chúng, các các phát tâm, ư thử kinh điển,
lưu thông, ủng hộ, khuyến tấn Bồ Tát quảng
lợi chúng sanh, tán
ngôn: - Thiện
tai! Thiện tai! Nhữ đẳng năng ư như thị
vi diệu kinh vương, kiền thành lưu bố, năi chí
ư ngă bát Niết Bàn hậu, bất linh tán diệt, tức
thị vô thượng Bồ Đề chánh nhân, sở hoạch
công đức, ư hằng sa kiếp,
thuyết bất năng tận. Nhược hữu bật-sô,
bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, cập dư
thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, cúng
dường, cung kính, thư tả, lưu thông, vị nhân
giải thuyết, sở hoạch công đức, diệc
phục như thị. Thị cố, nhữ đẳng
ưng cần tu tập.
(經)爾時世尊見諸菩薩人天大眾各各發心,於此經典流通擁護,勸進菩薩廣利眾生。讚言:善哉善哉!汝等能於如是微妙經王虔誠流布,乃至於我般涅槃後不令散滅,即是無上菩提正因,所獲功德於恒沙劫說不能盡。若有苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦,及餘善男子善女人等,供養、恭敬、書寫、流通、為人解說,所獲功德亦復如是。是故汝等應勤修習。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thấy các Bồ
Tát, đại chúng trời, người, ai nấy đều
phát tâm lưu thông, ủng hộ kinh điển này, khuyên
lơn, sách tấn Bồ Tát rộng lợi ích chúng sanh, tán rằng:
- Lành
thay! Lành thay! Các vị có thể đối với kinh
vương vi diệu như thế này mà kiền thành
lưu truyền, cho đến sau khi ta nhập Niết Bàn, chẳng bị tan
diệt, đấy tức
là chánh nhân của Vô Thượng Bồ Đề, đạt
được công đức trong hằng sa kiếp nói chẳng
thể hết. Nếu có bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca,
ổ-ba-tư-ca, và các thiện nam tử, thiện nữ
nhân khác cúng dường, cung kính, biên chép lưu truyền, v́ người khác giải
nói, đạt được công đức cũng giống
như thế. V́ vậy,
các vị đều nên siêng năng tu tập).
Kế
đó, đoạn lớn thứ ba là “đức Phật
lại tán thán và khuyên lơn lần nữa”. Kinh văn
chia thành ba phần: Một là tán thán, từ “nhữ đẳng”
(các vị) trở đi là ấn khả. Từ “nhược
hữu bật-sô” (nếu có tỳ-kheo) trở đi là
khuyên lơn. Trong phần khuyên lơn, trước là khuyên tứ
chúng: Nếu có thể hộ pháp, sẽ có thể đạt
được phước giống như trên. Hành mười
pháp hạnh đều là hộ pháp. Trong mười pháp hạnh
ấy, nêu đại lược bốn hạnh, tức: Một
là cúng dường, hai là biên chép, ba là lưu thông, tức thí
cho người khác, bốn là giải nói, tức khai diễn.
Lắng nghe, giở ra đọc, thọ tŕ, phúng tụng,
tư duy, tu tập đều thuộc về cung kính. Do
cung kính pháp mà lắng nghe. Từ “thị cố” (do vậy)
trở đi, kết lại lời khuyên đại chúng.
5.31.2.2.4. Đại
chúng nghe dạy, hoan hỷ phụng hành
(Kinh)
Nhĩ thời, vô lượng vô biên hằng sa đại
chúng văn Phật thuyết dĩ, giai đại hoan hỷ,
tín thọ phụng hành.
(經)爾時無量無邊恒沙大眾聞佛說已,皆大歡喜信受奉行。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, vô lượng vô biên hằng sa đại
chúng nghe đức Phật nói xong, đều hết sức
hoan hỷ, tin nhận, phụng hành).
Kế
đó, [đại chúng] nghe dạy, hoan hỷ hành tŕ. Theo
Văn Thù Vấn Kinh Luận: “Hữu tam chủng
nghĩa, thị cố hoan hỷ. Nhất, thuyết giả
thanh tịnh, dĩ ư chư pháp đắc tự tại
cố. Thử ư dĩ vô nhiễm trước, đắc
thuyết tự tại cố. Nhị sở thuyết pháp
thanh tịnh, dĩ như thật chứng tri thanh tịnh
pháp thể cố. Tam, y sở thuyết pháp đắc quả
thanh tịnh, dĩ đắc diệu cảnh giới”
(Có ba loại nghĩa cho nên hoan hỷ. Một, người
nói thanh tịnh, do được tự tại trong các
pháp. Đấy là do ư không nhiễm đắm, nên được
thuyết pháp tự tại. Hai, pháp được nói là
thanh tịnh, do như thật chứng biết pháp thể
thanh tịnh. Ba, nương vào pháp đă nói mà đắc quả
thanh tịnh, do đạt được cảnh giới
mầu nhiệm). Có nghĩa do nương vào pháp đă nói
mà chứng nhập chân lư, đạt được Niết
Bàn. Nói khế cơ, khế lư, quả tương ứng với
nhân. V́ thế, được một câu bèn vui v́ “sáng
nghe, tối chết”. Do vậy, thấy [diệu pháp]
được phơi bày trọn vẹn mà tích tụ niềm
vui mừng, học tập, hành tŕ.
Pháp
tối diệu chư Phật,
Đại
từ bi lưu xuất,
V́ lợi lạc quần
sanh,
Rất
sâu khó thể lường,
Nay
nhờ các gia hộ,
Tùy
sức tán kinh này,
Được
phước lợi ḿnh, người.
Cùng
thành vô thượng giác.
Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương Kinh Sớ
(trọn bộ)
Được
khắc ván nhằm ngày lành thuộc
tháng Sương (tháng 11) năm Bính Tuất trong niên hiệu
Bảo Vĩnh thứ ba (1707)[25].
Tàng
bản[26]
của Tỉnh Thượng Thu Nhàn (Inoue Shukan) tại Tuyên
Phong Phường Thư Lâm tại thành B́nh An[27].
Hoàn tất cảo bản ngày 23
tháng 10 năm 2023.
Hồi hướng
Do kiến thức chắp
vá, thiếu sự tu dưỡng, lại thiếu căn bản
về Duy Thức, chắc chắn bản chuyển ngữ
này sẽ có nhiều điều sai sót không thể chấp
nhận được. Chỉ mong việc làm liều
lĩnh này giúp ích phần nào cho những kẻ sơ cơ
như mạt nhân được gieo duyên t́m hiểu sơ
bộ về bản kinh quư báu này. Nếu có chút công đức
nào đều xin hồi hướng về tứ ân tam hữu
pháp giới hữu t́nh, lịch đại sư trưởng,
phụ mẫu, quyến thuộc, tông thân, cừu gia oán
đối, thiện ác tri thức, lũy thế oán thân trái
chủ, lục đạo quỳ thần đều
được ân triêm công đức đồng văng sanh Cực
Lạc. Kính nguyện thế giới an b́nh, dứt bặt
tai ương, chiến tranh, bệnh dịch, người
người phát tâm quy hướng diệu pháp của đức
Thế Tôn, phát tâm tu tŕ, mau thoát biển khổ. Nguyện các liên hữu
cùng tinh tấn tu hành, nhất tâm nhất ư phát nguyện kiên
cố, chánh niệm phân minh, thượng phẩm thượng
sanh nơi cố hương Thanh Thái.
[1] Chằm: Vùng đất
thấp rộng và bỏ hoang, thường bị ngập
nước, có thể là vùng đầm lầy. Nổi tiếng
nhất là chằm Dạ Trạch (thuộc xă Dạ Trạch,
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), căn cứ của
Triệu Quang Phục mai phục quân binh để tiến hành chiến
tranh du kích chống lại quân nhà Lương xâm lược
Giao Châu sau khi nhà Lương
sai tướng Trần Bá Tiên xâm lăng, chiếm đóng nước
ta dưới thời Lư Nam Đế (Lư Bí).
[2] Thần Ngă (Puruṣa, Atman) c̣n dịch là Nguyên Nhân (người
nguyên khởi), Chân Ngă, hoặc Sĩ Phu, là một
khái niệm bắt nguồn từ triết học Vệ Đà
của Ấn Độ thời cổ, được phái
Số Luận (Sāṅkhya) coi là nguồn
gốc của mọi hữu t́nh chúng sanh trên thế gian. Họ
cho rằng mọi sinh linh đều bắt nguồn từ
Tự Ngă (Thần Ngă), và mọi sự tu tập của họ
nhằm hồi quy Tự Ngă.
[3] Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka), c̣n được
phiên âm là Di Sa Tắc Bộ, hoặc dịch nghĩa là Chánh
Địa Bộ, Giáo Địa Bộ v.v… là một trong các
bộ phái trong sơ kỳ Phật giáo. Theo Dị Bộ Tông
Luân Luận, bộ phái này được thành lập sau khi
đức Phật diệt độ ba trăm năm. Theo
nghĩa gốc, Mahī là đất,
c̣n śās là “giáo hóa, răn dạy, nâng đỡ
chánh lư, thống trị”. V́ vậy dịch thành Hóa Địa
Bộ. Bộ phái này tách ra từ Nhất Thiết Hữu Bộ.
Mahīśāsaka vốn là tên một vị La Hán, do vị
này phù tá quốc vương, khuông pḥ nước ấy, nên
được gọi như vậy. Họ chủ trương
các thuyết “tâm tánh vốn tịnh”, “duyên khởi là vô vi”, “La
Hán nghĩa là bất thoái”.
[4] Theo Phật Quang Đại
Từ Điển, tất cả các thứ động tác,
trạng thái, h́nh tướng có thể biểu thị ra ngoài mà mắt con người
có thể thấy được như đi, đứng,
nằm, ngồi, cúi, ngửa v.v… đều gọi là Biểu
Sắc. Tức là Sắc mà con người có thể cảm
nhận bằng Nhăn Căn và Nhăn Thức gồm có ba loại:
1) Hiển Sắc: Như
xanh, vàng, đỏ, trắng, tối tăm, sáng sủa, mây,
khói, sương, mù…
2) H́nh Sắc: Như dài,
ngắn, vuông, tṛn, thô, tế, lớn, nhỏ, ngay, cong, cao,
thấp…
3) Biểu Sắc: Như
vừa mới nói trên đây.
[5] Dị Thục Thức
là tên khác của A Lại Da Thức (Tạng Thức). Do A Lại
Da Thức chứa đựng chủng tử của các nghiệp
thiện ác sẽ chiêu cảm thành cái quả dị thục
(kết thành cái quả khác thời với khi tạo nhân) nên
gọi là Dị Thục Thức.
[6] Hiện Hành (Abhisaṃskāra) có nghĩa là các pháp hữu vi hiển hiện
trước mắt. Theo Duy Thức, A Lại Da Thức chứa
đựng các chủng tử. Khi chủng tử hội đủ
nhân duyên, sẽ phát sanh thành cái quả. Cái quả ấy được
gọi là “hiện hành”.
Chuyển Thức có
nhiều cách hiểu, nhưng do ở đây ngài Huệ Chiểu
trích dẫn quan điểm Duy Thức, Chuyển Thức phải
hiểu theo cách phán định của Duy Thức: Trong tám
thức, A Lại Da Thức được gọi là Bổn
Thức, bảy thức kia được gọi là Chuyển
Thức.
[7] Yết Lạt Lam (Kalala)
c̣n phiên âm là Ca La La, Yết La Lam, dịch nghĩa là Ngưng
Hoạt, hoặc Tạp Uế, chỉ bào thai được
h́nh thành trong ṿng bảy ngày sau khi trứng của mẹ được
thụ tinh.
[8] Theo Phật Học Từ
Điển, phiền năo có hai thứ là Phân Biệt Khởi
và Câu Sanh Khởi. Phiền năo do nương theo tà sư, tà
giáo, tà tư duy mà khởi th́ gọi là Phân Biệt Khởi,
c̣n phiền năo do tập tánh mà tự nhiên dấy lên th́ gọi
là Câu Sanh Khởi. Khi chủng tử trong Tạng Thức dấy
khởi hiện hành, Phân Biệt Khởi Phiền Năo sẽ
tạo thành nghiệp thiện hay ác, Câu Sanh Khởi sẽ
vun bồi, giúp sức cho cái nghiệp được sanh khởi
thành công. Sự vun bồi, bổ trợ ấy được
gọi là Nhuận Sanh.
[9] Trung Hữu chính là
Trung Ấm, tức là giai đoạn trung gian khi thân trong đời
này đă chết đi và thân sau chưa sanh ra. Bổn Hữu
chính là thân tồn tại sau sát-na được sanh ra và trước
sát-na thân thể bị chết đi.
[10] Đại
Chúng Bộ (Mahāsāṃghika),
c̣n gọi là Ma Ha Tăng Kỳ Ni Ca Da, Ma Ha Tăng Kỳ Bộ,
hoặc Thánh Đại Chúng Bộ, là một trong mười
hai bộ phái Tiểu Thừa của sơ kỳ Phật
giáo. Theo Dị Bộ Tông Luân Luận, sau khi đức Phật
nhập diệt 100 năm, tỳ-kheo Đại Thiên đề
xuất năm điều, khiến cho nội bộ Tăng
đoàn chia rẽ v́ tán thán hay phản đối, tăng chúng
tách thành hai khối chính là Thượng Tọa Bộ (được
coi là phe bảo thủ) và Đại Chúng Bộ (phe cách tân).
Đại Chúng Bộ chủ trương: Thân Phật vô lậu,
sắc thân vô biên, Phật thọ vô lượng, sanh tử
và Niết Bàn đều là giả danh, tâm tánh con người
vốn sẵn thanh tịnh, chỉ do tập nhiễm mà bị
ô nhiễm v.v…
[11] Chánh Lượng
Bộ (Sammatīya) là một
trong mười hai bộ phái của Tiểu Thừa, c̣n
được gọi là Tam Ma Đề Bộ, Thánh Chánh
Lượng Bộ, Nhất Thiết Sở Quư Bộ, Tam Di
Để Bộ, Sa Ma Đế Bộ v.v… Sau khi đức
Phật nhập diệt ba trăm năm, từ Độc
Tử Bộ của Thượng Tọa Bộ, do bất
đồng quan điểm về luận tạng, tách thành
bốn bộ phái nhỏ là Pháp Thượng Bộ, Hiền
Trụ Bộ, Mật Lâm Sơn Bộ, và Chánh Lượng
Bộ. Do phái này chủ trương phân định thị
phi, nên gọi là Lượng. Do phân định không sai lầm,
tà vạy nên gọi là Chánh. Tổ của bộ phái này chính
là La Hán Chánh Lượng (Sammatīya). Họ chủ trương:
Nói chung, sanh diệt có chủ nhân và khách nhân (tức là cái nhân
chánh yếu và cái nhân bổ trợ). Chủ nhân chính là bốn
tướng sanh, trụ, dị, diệt, c̣n khách nhân là các
thứ nhân duyên khác. Khi sanh th́ cần phải có chủ nhân
lẫn khách nhân, diệt th́ không nhất định. Đối
với bách pháp th́ tâm vương và tâm sở chỉ có chủ
nhân, bất tương ứng hành pháp và sắc v.v… cần
phải có chủ nhân và khách nhân. Diệt th́ cần phải
có khách nhân v.v…
[12] Tức là mỗi Chi
trong mười hai chi duyên khởi đều có bảy trí,
ngoại trừ chi Vô Minh, nên mười một Chi hợp
thành 11x7 trí, tức bảy mươi bảy trí.
[13] Hỷ túc: Đối với sắc,
danh, hương, vị, xúc đă có, chẳng c̣n mong mỏi,
chẳng truy cầu nữa th́ gọi là Hỷ Túc. Có khi được
giải thích như sau: Chẳng mong mỏi, chẳng ham muốn th́ là Thiểu Dục, chẳng
truy cầu th́ là Hỷ Túc. Có người giải thích Thiểu
Dục chỉ hạn cuộc trong ư thức, c̣n Hỷ Túc
bao gồm cả sáu thức.
[14] Đây là hai câu chuyện
được trích từ Tứ Thập Nhị Phẩm Nhân
Quả Lục. Theo đó, một người tu hành đắc
Thiên Nhăn Thông đi qua một nghĩa địa, thấy một
người đang dùng roi hùng hục quật xác chết. Người
ấy xót xa, tiến lên ngăn cản kẻ đó ngưng
làm chuyện tàn nhẫn ấy. Đến gần, th́ ra đó
không phải là người, mà là một ngạ quỷ. Vị
tu hành hỏi ngạ quỷ có thù oán sâu nặng ǵ với người
chết mà ra tay tàn nhẫn thế? Ngạ quỷ đáp: “Đây chính là xác của
tôi. Do tôi chết đi, đọa làm ngạ quỷ, không được
ăn uống, luôn đói khát khổ sở không lúc nào ngơi.
Đó là do khi tôi c̣n có thân xác này đă buông lung, phóng túng vô độ,
chẳng biết bố thí, chỉ bo bo vun vén cho ḿnh, keo kiệt,
bất hiếu, phạm đủ thứ tội khó dung. Đó
đều là do tôi đă dung túng, chiều chuộng cái thân này làm ác, nên nay sao
tôi không căm hận nó cho được!” Trong câu chuyện
thứ hai, chư thiên xuống một nghĩa địa lễ
bái các bộ xương khô, tán thán thân trước do đă siêng năng tu tập,
rộng hành bố thí, ân cần giữ giới v.v… khiến
cho họ sau khi xả thân được sanh về thiên
cung, sung sướng.
[15] Giải Thoát Đạo
Luận (Vimutti-magga) do La Hán Ưu
Ba Để Sa (Upatissa) trước tác. Tác phẩm này được dịch
sang tiếng Hán bởi Tam Tạng pháp sư Tăng Già Bà La thành
mười hai quyển vào năm Thiên Giám 14 (515) đời
Lương. Luận chủ yếu phân tích Tam Vô Lậu Học
(Giới, Định, Huệ), chia thành mười hai phẩm.
[16] La Hầu (Rāhu) là tên của một A
Tu La chuyên môn che lấp ánh sáng của mặt trời. Theo thần
thoại cổ Ấn Độ, khi chư thiên và A Tu La hợp
sức khuấy biển sữa để cầu cam lộ
(Amrita) ḥng đạt tới bất tử. Khi đă t́m được
cam lộ, Mohini, hóa thân của thần Vishnu, phân chia cam lộ
cho chư thiên. Một A Tu La tên là Svarbhanu (Thiên Quang) đă
chen vào ngồi lẫn trong hàng ngũ chư thiên để
trộm uống cam lộ. Nhật Thần (Surya, thần mặt
trời) và Nguyệt Thần (Chandra) báo cho Mohini biết. V́ thế, Mohini bèn dùng vũ khí tùy thân là chiếc
đĩa báu, cắt đứt đầu Svarbhanu. Phần
đầu được gọi là Rāhu (La Hầu), phần
thân gọi là Ketu (Kê Đâu). Từ đó, Rāhu và Ketu căm
thù Nhật Thần và Nguyệt Thần. Rāhu luôn t́m cách đuổi
theo ngăn che, che lấp mặt trời, thậm chí nuốt
mặt trời và mặt trăng. Do Rāhu không có thân, nên mặt
trời mặt trăng trốn thoát theo đường cổ
họng của Rāhu. Rāhu liên tục đuổi theo và
mỗi khi nuốt được sẽ tạo thành hiện
tượng nhật thực và nguyệt thực trong chốc
lát. Khi thuyết pháp, tùy thuận niềm tin phổ biến
trong xă hội thuở ấy, kinh Phật cũng hay dùng tỷ
dụ “La Hầu che lấp mặt trời” khi nói về
nhật thực.
[17] Kinh Phạm
Ma Dụ do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô thời Tam
Quốc. Kinh chép Bà-la-môn Phạm Ma Dụ hoài nghi ba
mươi hai tướng của đức Phật là chân
hay ngụy, sau đó thấy tướng lưỡi rộng
dài v.v… bèn hoan hỷ tán thán, quy y đức Phật. Sau
đó, đức Phật giảng giải đạo chí yếu,
Phạm Ma Dụ nghe xong chứng quả A La Hán. Đây chính
là bản dịch khác của kinh Phạm Ma trong Trung A Hàm, tức
kinh số 91 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikāya).
[18] Kinh Trung Ấm
gồm mười hai phẩm, do ngài Trúc Phật Niệm dịch
vào đời Diêu Tần. Kinh chép đức Phật nhập
Trung Ấm, phóng đại quang minh, triệu tập hết
thảy chúng sanh trong thân Trung Ấm, nói pháp Đại Thừa.
Trong phẩm đầu, đức Phật c̣n cùng Di Lặc
Bồ Tát luận định về pháp Trung Ấm.
[19] Do Báo Thân và Hóa Thân lưu
xuất từ Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân nương vào Pháp Thân
để tồn tại nên gọi là năng y (thân có thể
nương vào), Pháp Thân là thân để hai thân kia nương
vào, nên Pháp Thân được gọi là Sở Y (cái để nương vào).
[20] Theo Phật Chủng Tánh
Kinh (Buddhavaṃsa) và Đại
Sử (Mahāvaṃsa), ḍng họ
Thích Ca bắt nguồn từ Cam Giá Vương (Áo Già Ca Lê vương,
Okkāka). Cam Giá vương là tổ tiên bảy đời
của Phật Thích Ca. Cam Giá Vương Triều c̣n gọi
là Thái Dương vương triều v́ theo truyền thuyết
họ là hậu duệ của thần mặt trời. Ḍng
họ Thích Ca là một nhánh của vương triều này,
do vua Ma Ha Tam Mạt Đa (Mahāsammata) sáng lập.
[21] Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách diễn giải trong bộ Thuyết Vô Cấu
Xưng Kinh Sớ, quyển hai do ngài Khuy Cơ soạn.
[22] Câu Vật Đầu
(Kumuda) là một loại hoa sen; đúng ra là hoa súng. Hoa này c̣n
được phiên âm là Cứu Mâu Địa, Củ Mẫu
Na, Văn Cú La, gồm hai loại: Loại có màu trắng, có
tên khoa học là Nymphanea Esculenta; loại màu đỏ có tên khoa
học là Nymphanea Rudra.
[23] Ni Câu Đà (Nigrodha) dịch nghĩa là Vô Tiết
(không có lóng đốt), Tung Quảng (rộng lớn), hoặc
Vô Căn (không có rễ). C̣n được phiên âm là Ni Câu Lâu
Đà, Ni Câu Ni Đà, Ni Câu Loại, Ni Câu Lô Đà, Nặc Cù Đà,
có tên khoa học là Ficus Indica, thuộc họ Dâu, h́nh dạng
giống cây đa, mọc nhiều ở Ấn Độ và
Tích Lan. Cây có thể cao đến 15m, lá thuôn dài, có chót nhọn.
Các nhánh cây khi mọc dài chạm đất sẽ sanh rễ,
cây rất rậm lá, cành x̣e khắp bốn phía, nhưng hạt
cây rất nhỏ. V́ thế, kinh Phật thường dùng hạt
Ni Câu Đà để sánh ví do cái nhân nhỏ nhoi mà đạt
được quả báo to lớn.
[24] Tứ phạm trụ
(Catvāri Brahmavihārāḥ) c̣n dịch là Tứ Phạm
Hạnh, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Vô Lượng Quán,
tức từ, bi, hỷ, xả.
[25] Bảo Vĩnh (Hōei) là niên hiệu của Higashiyama Tennō (Đông
Sơn Thiên Hoàng) sử dụng từ năm 1704 đến
năm 1710. Do năm 1703, Nhật Bản gặp một trận
động đất dữ dội, triều đ́nh
liền đổi
niên hiệu từ Nguyên Lộc (Genroku) sang Bảo Vĩnh để
cầu b́nh an, nhưng đến ngày 28 tháng Mười năm
1707, một trận động đất lớn nhất
trong lịch sử Nhật Bản đă tàn phá vùng Tây Nam các
đảo Honshu (Bổn Châu), Shikoku (Tứ Quốc),
và phần Đông Nam đảo Kyūshū (Cửu Châu), gây nên sóng thần khiến năm ngàn
người thương vong. Đồng thời, núi lửa
Phú Sĩ bùng nổ khiến con số thương vong càng lớn
hơn. Có lẽ v́ vậy, bản
kinh này được khắc in vào tháng Mười Một
năm đó để cầu quốc thái dân an.
[26] Bản khắc ván in
xong được cất giữ tại một tự viện
hoặc một phường in th́ gọi là Tàng Bản. Không rơ Tỉnh Thượng
Thu Nhàn là ai, nhưng do một số bản kinh sách của Phật
giáo Nhật Bản thường ghi là “Tỉnh Thượng Thu Nhàn tàng bản” như Câu Xá Luận Kư (Thích Phổ
Quang biên soạn), Đại Thừa Nghĩa Thập Chương,
Tam Tông Cương Nghĩa v.v… chúng tôi đoán có lẽ đây là chủ
nhân của một xưởng khắc ván
chuyên ấn tống các kinh sách thời ấy.
[27] B́nh An (Heian) là một
trong nhiều tên gọi xưa của Kyōto (Kinh Đô), tức cổ kinh đô của
Nhật Bản hơn một ngàn năm (774-1868). Thiên hoàng Hoàn
Vũ (Kanmu) đă dời kinh đô từ Nại Lương
(Nara) đến đây (khi đó,
nơi này có tên gọi là làng Uda), và đặt tên mới cho nơi này là B́nh An (do mô phỏng
theo tên gọi Trường An) của nhà Đường. Sử
Nhật Bản gọi thời kỳ này là B́nh An thời đại.
Măi cho đến năm 1868, hoàng gia chuyển kinh đô đến Giang Hộ
(Edo), và đổi tên
Giang Hộ thành Đông Kinh (Tokyo) dưới thời Minh Trị thiên hoàng,
Kyōto mới trở thành cổ
kinh đô của Nhật. Sử sách Nhật Bản đôi khi gọi
thành phố này là Saikyō (Tây Kinh), Keishi (Kinh Sư),
hoặc Chitose no Miyako (kinh đô ngàn năm).