Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ chín

Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh

Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ

金光明最勝王經疏

卷第

唐三藏法師義淨奉制譯

翻經沙門慧沼撰

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

Phần 15

 

 

5.25. Phẩm thứ hai mươi lăm: Trưởng giả tử Lưu Thủy (Trưởng giả tử Lưu Thủy phẩm đệ nhị thập ngũ, 長者子流水品第二十五)

 

          Phẩm thứ hai mươi lăm là Trưởng Giả Tử Lưu Thủy, bao gồm ba môn phân biệt.

 

5.25.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

Nói đến ư nghĩa v́ sao có phẩm này, [trong phẩm Thọ Kư, đối với nhân duyên] mười ngàn thiên tử được thọ kư, thiên nữ sanh nghi, cuối phẩm Thọ Kư trong phần trước tuy đă trần thuật đại lược, nhưng chưa thể giải thích rơ rệt. V́ thế, hai phẩm Trừ Bệnh và Lưu Thủy nhằm biện định cặn kẽ hơn, khiến cho đại chúng biết rơ. Phẩm trước (Trừ Bệnh) nói rộng duyên khởi ấy, c̣n phẩm này trực tiếp nói về cái nhân thọ kư; do vậy, có phẩm này. V́ thế, trong phần sau, kinh văn chép: “Nhân ngă văng tích dĩ thủy tế ngư, dữ thực linh băo, vị thuyết thậm thâm thập nhị duyên khởi, tịnh thử tương ứng Đà La Ni chú, hựu vị xưng Bảo Kế Phật danh, nhân thử thiện căn, đắc sanh thiên thượng. Kim lai ngă sở, hoan hỷ thính pháp, ngă giai đương dữ thọ Bồ Đề kư” (Do ta khi xưa dùng nước cứu cá, cho ăn no nê, v́ chúng nó nói mười hai duyên khởi rất sâu, và chú Đà La Ni tương ứng này, lại c̣n v́ chúng nó xưng danh hiệu Bảo Kế Phật. Do thiện căn ấy, chúng nó được sanh lên trời. Nay đến chỗ ta, hoan hỷ nghe pháp, ta đều sẽ thọ kư Bồ Đề cho họ).

 

5.25.2. Giải thích danh xưng của phẩm này

 

          “Trưởng giả tử” (con ông trưởng giả) là nêu ra cha để nói về con, biểu thị chủng tánh tôn quư. Lưu Thủy: Dùng hạnh để nêu tên. Nêu rơ hạnh ấy thù thắng. Lại nữa, bản thân ông ta cũng là trưởng giả; v́ để phân biệt với cha mà lại gọi thêm là Tử. Do có đức nuôi nấng người khác, kéo dài mạng sống của cá, nên hiệu là Trưởng Giả. Lưu Thủy có hai nghĩa: Một là có thể khiến cho nước chảy, hai là có thể ban cho nước. Từ hạnh mà đặt tên, ở đây là cùng nêu bày đức và hạnh. Phẩm này nói cặn kẽ chuyện ấy; do vậy, đặt tên như thế.

 

5.25.3. Giải thích vấn nạn

 

          Hỏi: V́ sao chẳng gọi là phẩm Cứu Ngư?

Đáp: Lưu Thủy có ư nghĩa rộng răi, v́ cứu cá mà cũng dính dáng đến các loài khác. Do vậy, chẳng chỉ gọi tên [phẩm này] là phẩm Cứu Ngư!

 

5.25.4. Giải thích kinh văn

5.25.4.1. Tán thán tổng kết khả năng y thuật của trưởng giả tử

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Bồ Đề thụ thần: - Thiện Nữ Thiên! Nhĩ thời, trưởng giả tử Lưu Thủy, ư văng tích thời, tại Thiên Tự Tại Quang vương quốc nội, liệu chư chúng sanh sở hữu bệnh khổ, linh đắc b́nh phục, thọ an ổn lạc. Thời, chư chúng sanh dĩ bệnh trừ cố, đa tu phước nghiệp, quảng hành huệ thí, dĩ tự hoan ngu, tức cộng văng nghệ trưởng giả tử sở, hàm sanh tôn kính, tác như thị ngôn: “Thiện tai! Thiện tai! Đại trưởng giả tử! Thiện năng tư trưởng phước đức chi sự, tăng ích ngă đẳng an ổn thọ mạng. Nhân kim thật thị đại lực y vương, từ bi Bồ Tát diệu nhàn y dược, thiện liệu chúng sanh vô lượng bệnh khổ”. Như thị xưng thán châu biến thành ấp.

          ()爾時佛告菩提樹神善女天爾時長者子流水於往昔時在天自在光王國內療諸眾生所有病苦令得平復受安隱樂時諸眾生以病除故多修福業廣行惠施以自歡即共往詣長者子所咸生尊敬作如是言善哉善哉大長者子善能滋長福德之事增益我等安隱壽命仁今實是大力醫王慈悲菩薩妙閑醫藥善療眾生無量病苦如是稱歎周遍城邑

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo thần cây Bồ Đề: - Thiện Nữ Thiên! Lúc bấy giờ, trưởng giả tử Lưu Thủy trong thời xưa kia, ở trong nước của vua Thiên Tự Tại Quang, chữa trị tất cả bệnh khổ của các chúng sanh, khiến cho họ được b́nh phục, hưởng niềm vui an ổn. Khi đó, các chúng sanh do bệnh đă trừ, tu nhiều phước nghiệp, rộng hành bố thí rộng răi để tự vui sướng, liền cùng nhau đến chỗ trưởng giả tử, đều sanh ḷng tôn kính, nói như thế này: “Lành thay! Lành thay! Đại trưởng giả tử khéo có thể vun bồi sự phước đức, tăng thêm an ổn và thọ mạng cho chúng tôi. Nhân giả thật sự là bậc y vương đại lực, là bậc Bồ Tát từ bi khéo thông hiểu y dược, khéo chữa trị vô lượng bệnh khổ cho chúng sanh”. Ca ngợi như thế trọn khắp các thành ấp).

 

Kinh văn của phẩm này được chia thành bốn phần:

- Một, tán thán để kết lại khả năng y thuật [của trưởng giả tử Lưu Thủy].

- Hai, từ “Thiện Nữ Thiên” trở đi nói về hạnh cứu cá.

- Ba, từ “nhĩ thời, Phật cáo” (lúc bấy giờ, đức Phật bảo) trở đi, dung hội xưa nay để kết lại.

- Bốn, từ “nhĩ thời, đại chúng” (lúc bấy giờ, đại chúng) trở đi, lănh ngộ, nương theo [pháp đă nói] mà học.

Phần thứ nhất lại gồm có bốn ư:

- Một, kết lại ư: Các bệnh đều trừ.

- Hai, từ “thời chư chúng sanh” (khi đó, các chúng sanh) trở đi, nói rơ: Đại chúng tăng thêm phước nghiệp.

- Ba, từ “tức cộng văng nghệ” (liền cùng nhau đi tới), đại chúng đến lễ bái, tán thán [trưởng giả tử Lưu Thủy].

- Bốn, từ “như thị xưng thán” (ca ngợi như thế) trở đi, tổng kết danh tiếng [của Lưu Thủy].

 

5.25.4.2. Nói về hạnh cứu cá

5.25.4.2.1. Quyến thuộc của Bồ Tát

 

          (Kinh) Thiện Nữ Thiên! Thời trưởng giả tử thê danh Thủy Kiên Tạng, hữu kỳ nhị tử, nhất danh Thủy Măn, nhị danh Thủy Tạng.

          ()善女天!時長者子妻名水肩藏有其二子一名水滿二名水藏

          (Kinh: Thiện Nữ Thiên! Khi đó, vợ của trưởng giả tử tên là Thủy Kiên Tạng, có hai con, một tên là Thủy Măn, hai tên là Thủy Tạng).

 

          Kế đó, nói về hạnh cứu cá. Kinh văn cũng chia thành bốn phần:

          - Một, [chỉ ra] quyến thuộc của Bồ Tát.

          - Hai, từ “thị thời, Lưu Thủy” (khi đó, Lưu Thủy) nói về chuyện cứu cá.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, chư thiên nghe xong đều tán thán.

          - Bốn, từ “Phật cáo Thiện Nữ Thiên” (đức Phật bảo Thiện Nữ Thiên) trở đi, nói về chuyện cá báo ân.

          Đoạn này chính là phần thứ nhất.

 

5.25.4.2.2. Cứu cá

5.25.4.2.2.1. Bi tâm cứu khổ

5.25.4.2.2.1.1. Cứu nỗi khổ v́ nước khô cạn

 

          (Kinh) Thị thời, Lưu Thủy tương kỳ nhị tử, tiệm thứ du hành thành, ấp, tụ lạc, quá không trạch trung, thâm hiểm chi xứ, kiến chư cầm thú, sài lang, hồ, quắc, điêu thứu chi thuộc, thực huyết nhục giả, giai tất bôn phi, nhất hướng nhi khứ. Thời trưởng giả tử tác như thị niệm: “Thử chư cầm thú hà nhân duyên cố, nhất hướng phi khởi? Ngă đương tùy hậu, tạm văng quán chi”. Tức tiện tùy khứ, kiến hữu đại tŕ, danh viết Dă Sanh. Kỳ thủy tương tận. Ư thử tŕ trung, đa hữu chúng ngư. Lưu Thủy kiến dĩ, sanh đại bi tâm. Thời hữu thụ thần, thị hiện bán thân, tác như thị ngữ: “Thiện tai! Thiện tai! Thiện nam tử! Nhữ hữu thật nghĩa danh Lưu Thủy giả, khả mẫn thử ngư, ưng dữ kỳ thủy. Hữu nhị nhân duyên, danh vi Lưu Thủy: Nhất, năng lưu thủy; nhị, năng dữ thủy. Nhữ kim ưng đương tùy danh nhi tác”. Thị thời, Lưu Thủy vấn thụ thần ngôn: “Thử ngư đầu số vi hữu kỷ hà?” Thụ thần đáp viết: “Số măn thập thiên”. Thiện Nữ Thiên! Thời trưởng giả tử văn thị số dĩ, bội ích bi tâm. Thời thử đại tŕ vị nhật sở bạo, dư thủy vô kỷ. Thị thập thiên ngư tương nhập tử môn, toàn thân uyển chuyển, kiến thị trưởng giả, dĩ hữu sở hy, tùy trục chiêm thị, mục vị tằng xả. Thời trưởng giả tử kiến thị sự dĩ, tŕ thú tứ phương, dục mịch ư thủy, cánh bất năng đắc. Phục vọng nhất biên, kiến hữu đại thụ, tức tiện thăng thượng, chiết thủ chi diệp v tác ấm lương. Phục cánh thôi cầu thị tŕ trung thủy tùng hà xứ lai. Tầm mịch bất dĩ, kiến nhất đại hà, danh viết Thủy Sanh. Thời thử hà biên hữu chư ngư nhân, vị thủ ngư cố, ư hà thượng lưu, huyền hiểm chi xứ, quyết khí kỳ thủy, bất linh hạ quá. Ư sở quyết xứ, tốt nan tu bổ, tiện tác thị niệm: “Thử nhai thâm tuấn, thiết bách thiên nhân, thời kinh tam nguyệt, diệc vị năng đoạn, huống ngă nhất nhân nhi kham tế biện”. Thời trưởng giả tử tốc hoàn bổn thành, chí đại vương sở, đầu diện lễ túc, khước trụ nhất diện, hiệp chưởng cung kính, tác như thị ngôn: “Ngă vị đại vương quốc độ nhân dân, trị chủng chủng bệnh, tất linh an ổn. Tiệm thứ du hành, chí kỳ không trạch, kiến hữu nhất tŕ, danh viết Dă Sanh. Kỳ thủy dục hạt, hữu thập thiên ngư, vị nhật sở bạo, tương tử bất cửu. Duy nguyện đại vương từ bi mẫn niệm, dữ nhị thập đại tượng, tạm văng phụ thủy, tế bỉ ngư mạng, như ngă dữ chư bệnh nhân thọ mạng”. Nhĩ thời, đại vương tức sắc đại thần tốc tật dữ thử y vương đại tượng. Thời bỉ đại thần, phụng vương sắc dĩ, bạch trưởng giả tử: “Thiện tai đại sĩ! Nhân kim tự khả chí tượng cứu trung, tùy ư tuyển thủ nhị thập đại tượng, lợi ích chúng sanh, linh đắc an lạc”. Thị thời, Lưu Thủy cập kỳ nhị tử tương nhị thập đại tượng, hựu tùng tửu gia, đa tá b́ nang, văng quyết thủy xứ, dĩ nang thịnh thủy, tượng phụ chí tŕ, tả trí tŕ trung. Thủy tức di măn, hoàn phục như cố.

          ()是時流水將其二子漸次遊行城邑聚落過空澤中深險之處見諸禽獸犲狼狐玃鵰鷲之屬食血肉者皆悉奔飛一向而去時長者子作如是念此諸禽獸何因緣故一向飛起我當隨後暫往觀之即便隨去見有大池名曰野生其水將盡於此池中多有眾魚流水見已生大悲心時有樹神示現半身作如是語善哉善哉善男子汝有實義名流水者可愍此魚應與其水有二因緣名為流水一能流水二能與水汝今應當隨名而作是時流水問樹神言此魚頭數為有幾何樹神答曰數滿十千善女天時長者子聞是數已倍益悲心時此大池為日所暴餘水無幾是十千魚將入死門旋身宛轉見是長者以有所希隨逐瞻視目未曾捨時長者子見是事已馳趣四方欲覓於水竟不能得復望一邊見有大樹即便昇上折取枝葉為作蔭涼復更推求是池中水從何處來尋覓不已見一大河名曰水生時此河邊有諸漁人為取魚故於河上流懸險之處決棄其水不令下過於所決處卒難修補便作是念此崖深峻設百千人時經三月亦未能斷況我一人而堪濟辨時長者子速還本城至大王所頭面禮足却住一面合掌恭敬作如是言我為大王國土人民治種種病悉令安隱漸次遊行至其空澤見有一池名曰野生其水欲涸有十千魚為日所暴將死不久唯願大王慈悲愍念與二十大象暫往負水濟彼魚命如我與諸病人壽命爾時大王即勅大臣速疾與此醫王大象時彼大臣奉王勅已白長者子善哉大士仁今自可至象厩中隨意選取二十大象利益眾生令得安樂是時流水及其二子將二十大象又從酒家多借皮囊往決水處以囊盛水象負至池瀉置池中水即彌滿還復如故

          (Kinh: Khi đó, Lưu Thủy dẫn hai con lần lượt du hành thành, ấp, xóm làng, qua nơi chằm[1] trống là chỗ sâu hiểm, thấy các loài cầm thú, sói, cáo, khỉ đột, chim ưng, kên kên, là các loài ăn máu thịt, thảy đều rảo chạy, hoặc bay theo một hướng. Khi đó, trưởng giả tử nghĩ như thế này: “Các cầm thú này do nhân duyên nào mà bay, chạy theo cùng một hướng? Ta hăy nên theo sau để tạm đến xem sao”. Liền đi theo chúng, thấy có một cái ao lớn, tên là Dă Sanh, nước ao sắp cạn. Ở trong cái ao ấy, có khá nhiều cá. Lưu Thủy thấy rồi, sanh tâm đại bi. Khi đó, thần cây thị hiện nửa người, nói như thế này: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông có tên mang ư nghĩa chân thật là Lưu Thủy, đáng nên thương xót những con cá này, hăy nên cho chúng nó nước. Có hai nhân duyên mà tên là Lưu Thủy: Một, có thể khiến cho nước chảy, hai là có thể ban cho nước. Ông nay hăy nên thuận theo tên mà làm”. Khi đó, Lưu Thủy hỏi thần cây rằng: “Số lượng cá này là bao nhiêu?” Thần cây đáp rằng: “Số tṛn mười ngàn”. Thiện Nữ Thiên! Khi đó, trưởng giả nghe con số ấy xong, bi tâm càng tăng gấp bội. Khi đó, cái ao lớn ấy bị mặt trời nung, nước chẳng c̣n sót lại được mấy! Mười ngàn con cá ấy sắp lâm vào chỗ chết, xoay ḿnh quằn quại, thấy vị trưởng giả ấy cho là có hy vọng, dơi mắt nh́n theo, mắt chưa từng lơi. Khi đó, trưởng giả tử thấy chuyện ấy rồi, lục t́m bốn phương, muốn t́m kiếm nước, trọn chẳng thể được. Lại nh́n ra xa, thấy một bên ao có cây to, liền trèo lên đó, bẻ lấy cành lá để che mát. Lại c̣n truy t́m nước trong ao ấy từ đâu chảy đến. Dơi t́m chẳng ngơi, thấy một con sông lớn, tên là Thủy Sanh. Khi đó, bên sông ấy có các ngư dân, v́ muốn bắt cá, ở trên thượng nguồn của sông, ở chỗ hiểm trở, đào bới cho nước [chảy sang chỗ khác], chẳng để cho chảy xuống hạ lưu. Ở chỗ họ đào phá, rốt cuộc khó thể tu bổ, [Lưu Thủy] liền nghĩ thế này: “Vách núi này cao hiểm, dẫu trăm ngàn người suốt cả ba tháng cũng chưa thể sửa chữa xong, huống hồ một ḿnh ta mà có thể làm nổi ư!” Khi đó, trưởng giả tử mau chóng trở về thành của ḿnh, tới chỗ đại vương, đầu mặt lễ dưới chân vua, đứng qua một bên, chắp tay, cung kính, tâu như thế này: “Thần v́ nhân dân trong cơi nước của đại vương trị các thứ bệnh, khiến họ đều an ổn. Thần lần lượt du hành, đến chỗ chằm vắng, thấy có một cái ao, tên là Dă Sanh. Nước ao sắp khô cạn, có mười ngàn con cá bị mặt trời hun, chẳng bao lâu sẽ chết hết. Kính mong đại vương từ bi nghĩ tưởng thương xót, ban cho thần hai mươi con voi lớn để tạm đi chở nước cứu mạng cá ấy, như thần đă ban thọ mạng cho các bệnh nhân”. Lúc bấy giờ, đại vương liền sắc truyền đại thần nhanh chóng trao voi lớn cho vị y vương này. Khi đó, vị đại thần ấy vâng theo sắc chỉ của nhà vua, thưa với trưởng giả tử: “Lành thay đại sĩ! Nhân giả nay có thể tự tới chỗ chuồng voi, tùy ư chọn lựa hai mươi con voi lớn để lợi ích chúng sanh, khiến cho họ được an vui”. Lúc ấy, Lưu Thủy và hai con dẫn hai mươi con voi lớn, lại mượn từ tiệm rượu nhiều túi da, đến chỗ bị đào bới, dùng túi đựng nước, voi chở tới ao, đổ nước vào trong ao. Nước liền tràn đầy, trở lại như cũ).

 

          Kế đó, nói về chuyện cứu cá, có tám đoạn:

          - Một, cha và con đi khắp nơi.

          - Hai, từ “kiến chư cầm thú” (thấy các cầm thú) trở đi, nói về chuyện thấy tướng lạ.

          - Ba, từ “thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng giả tử) trở đi, Bồ Tát suy nghĩ.

          - Bốn, từ “tức tiện tùy khứ” (liền đi theo) trở đi, nghĩ xong, bèn đi xem.

          - Năm, từ “kiến hữu đại tŕ” (thấy có cái ao lớn) trở đi, liền thấy cá sắp chết khô.

          - Sáu, từ “Lưu Thủy kiến dĩ” (Lưu Thủy thấy rồi) trở đi, liền khởi bi tâm.

          - Bảy, từ “thời hữu thụ thần” (khi đó, có thần cây) trở đi, thần cây khuyên cứu mạng. Trong ấy, có ba tiểu đoạn:

          a) Một là [thần cây] hiện thân, v́ là nạn gấp.

          b) Hai, từ “tác như thị ngữ” (nói như thế này) trở đi là [thần cây] tán thán ḥng dẫn d, mong mỏi [Lưu Thủy] sẽ phát tâm [cứu cá].

          c) Ba, từ “thiện nam tử! Nhữ hữu thật nghĩa” (thiện nam tử! Ông có ư nghĩa chân thật) trở đi, [thần cây khuyên Lưu Thủy hăy hành xử] phù hợp với ư nghĩa của tên gọi. Trong tiểu đoạn này, lại có ba ư: Thứ nhất là nêu ra lời khuyên. Kế đó từ “hữu nhị nhân duyên” (có hai nhân duyên) trở đi, giải thích v́ sao khuyên bảo. T“nhữ kim ưng đương” (ông nay hăy nên) trở đi là kết lại lời khuyên.

          - Tám, từ “thị thời Lưu Thủy” (khi đó, Lưu Thủy) trở đi, nương theo lời thỉnh mà cứu giúp. Trong ấy, lại có sáu ư:

          a) Một, [Lưu Thủy] hỏi số lượng [cá trong ao] là bao nhiêu.

          b) Hai, từ “thụ thần đáp viết” (thụ thần đáp rằng) trở đi, đáp có mười ngàn.

          c) Ba, từ “Thiện Nữ Thiên” trở đi, [trưởng giả tử] càng tăng thêm ḷng từ bi.

          d) Bốn, từ “thời thử đại tŕ” (khi đó, cái ao to ấy) trở đi, nói về lũ cá đang chịu khổ.

          e) Năm, từ “kiến thị trưởng giả” (thấy vị trưởng giả ấy), các con cá mong được cứu.

          f) Sáu, từ “thời trưởng giả tử” (khi đó trưởng giả tử) trở đi, từ bi ra sức cứu giúp. Trong ấy, lại có hai điều: Một là bi tâm cứu khổ, hai là từ “phục cánh tư duy” (lại tư duy) trở đi, từ tâm ban vui. Do vậy, kinh nói: “Diễn thuyết chánh pháp lạc, năng vi hậu thế thọ lạc nhân cố” (diễn nói niềm vui chánh pháp, sẽ có thể là cái nhân để được hưởng vui trong đời sau).

          Điều thứ nhất là “cứu khổ” gồm có hai đoạn: Một là “cho nước”, hai là từ “Thiện Nữ Thiên! Thời trưởng giả” (Thiện Nữ Thiên! Khi đó, trưởng giả) trở đi, là thí thực.

          “Cho nước” gồm mười một ư:

          * Thoạt đầu là t́m cầu khắp nơi, nhưng chẳng có nước.

          * Hai, từ “phục vọng nhất biên” (lại dơi nh́n thấy một bên) trở đi, [bẻ cành lá] che mát [ao cá].

          * Ba, từ “phục cánh thôi cầu” (lại truy t́m) trở đi, t́m ṭi nguồn nước của ao.

          * Bốn, từ “thời thử hà biên” (khi đó, ở bên sông ấy) trở đi, thấy nguồn nước bị triệt phá.

          * Năm, từ “tiện tác thị niệm” (liền nghĩ như thế này) trở đi, nghĩ khó thể tu bổ.

          * Sáu, từ “thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng giả tử) trở đi, xin voi từ nơi vua.

          * Bảy, từ “nhĩ thời, đại vương” (lúc bấy giờ, đại vương) trở đi, vua sắc truyền ban cho.

          * Tám, từ “thời bỉ đại thần” (khi đó, vị đại thần đó) trở đi, viên quan chưởng quản cho tùy ư chọn lựa.

          * Chín, từ “thị thời Lưu Thủy” (khi đó, Lưu Thủy) trở đi, được voi toại nguyện.

          * Mười, từ “hựu tùng tửu gia” (lại từ tiệm rượu) trở đi, mượn túi rượu.

          * Mười một, “văng quyết thủy xứ” (đến chỗ nguồn nước bị đào phá) trở đi, chở nước đổ thêm vào ao để ao được đầy nước trở lại.

 

5.25.4.2.2.1.2. Thí thức ăn

 

          (Kinh) Thiện Nữ Thiên! Thời trưởng giả tử ư tŕ tứ biên, châu toàn nhi thị, thời bỉ chúng ngư diệc phục tùy trục, tuần ngạn nhi hành. Thời trưởng giả tử phục tác thị niệm: “Chúng ngư hà cố tùy ngă nhi hành? Tất vị cơ hỏa chi sở năo bức, phục dục tùng ngă cầu sách ư thực. Ngă kim đương dữ”. Nhĩ thời, trưởng giả tử Lưu Thủy cáo kỳ tử ngôn: “Nhữ thủ nhất tượng tối đại lực giả, tốc chí gia trung, khải phụ trưởng giả, gia trung sở hữu khả thực chi vật, năi chí phụ mẫu thực đạm chi phần, cập dĩ thê tử, nô tỳ chi phần, tất giai thâu thủ, tức khả tŕ lai”. Nhĩ thời, nhị tử thọ phụ giáo dĩ, thừa tối đại tượng, tốc văng gia trung, chí tổ phụ sở, thuyết như thượng sự, thâu thủ gia trung khả thực chi vật, trí ư tượng thượng, tật hoàn phụ sở, chí bỉ tŕ biên. Thị thời, Lưu Thủy kiến kỳ tử lai, thân tâm hỷ dược, toại thủ phạn thực, biến tán tŕ trung, ngư đắc thực dĩ, tất giai băo túc.

          ()善女天時長者子於池四邊周旋而視時彼眾魚亦復隨逐循岸而行時長者子復作是念眾魚何故隨我而行必為饑火之所惱逼復欲從我求索於食我今當與爾時長者子流水告其子言汝取一象最大力者速至家中啟父長者家中所有可食之物乃至父母食啗之分及以妻子奴婢之分悉皆收取即可持來爾時二子受父教已乘最大象速往家中至祖父所如上事收取家中可食之物置於象上疾還父所至彼池邊是時流水見其子來身心喜躍遂取飯食遍散池中魚得食已悉皆飽足

          (Kinh: Thiện Nữ Thiên! Khi đó, trưởng giả tử đi ṿng quanh bốn phía của ao để nh́n ngắm, các con cá lúc ấy cũng lại bơi theo ṿng quanh bờ. Lúc ấy, trưởng giả tử lại nghĩ như thế này: “cá v́ sao bơi theo ta? Ắt là bị lửa đói bức bách khổ năo, lại muốn t́m kiếm thức ăn từ nơi ta. Ta nay sẽ ban cho”. Lúc bấy giờ, trưởng giả tử Lưu Thủy bảo con rằng: “Con lấy một con voi có sức mạnh lớn nhất, mau chóng về nhà, thưa với ông nội rằng: Trong nhà tất cả thứ có thể ăn được, cho đến thứ để cha mẹ ăn uống, cùng với phần thức ăn thuộc về vợ con, nô tỳ, thảy đều thu thập, lập tức mang đến đây”. Lúc bấy giờ, hai con vâng lời cha dạy, cỡi con voi to nhất, mau chóng trở về nhà, tới chỗ ông nội, thưa chuyện trên đây, thâu thập các thứ có thể ăn được trong nhà, đặt lên voi, nhanh chóng trở về chỗ cha, tới bên bờ ao đó. Khi ấy, Lưu Thủy thấy con đến, thân tâm mừng rỡ, hớn hở, liền lấy cơm và thức ăn rải khắp trong ao. Cá được ăn rồi, thảy đều no đủ).

         

          Kế đó, điều thứ hai trong “bi tâm cứu khổ”“thí thức ăn”,mười hai ư:

          - Một, trưởng giả đi quanh ao nh́n ngó.

          - Hai, từ “thời bỉ chúng ngư” (khi đó, các con cá) trở đi, cá cũng bơi theo nh́n [trưởng giả].

          - Ba, từ “thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng giả tử) trở đi, trưởng giả quán niệm.

          - Bốn, từ “tất vị cơ hỏa” (ắt bị lửa đói) trở đi, biết cá khốn khổ.

          - Năm, từ “ngă kim đương dữ” (ta nay sẽ ban cho) trở đi, từ tâm nghĩ ban cho cá [thức ăn].

          - Sáu, từ “nhĩ thời, trưởng giả tử” (lúc bấy giờ, trưởng giả tử) trở đi, sai con [trở về nhà] lấy thức ăn.

          - Bảy, từ “nhĩ thời, nhị tử” (lúc bấy giờ, hai con) trở đi, con đến chỗ ông nội thưa chuyện.

          - Tám, “từ thâu thủ gia trung” (thâu thập trong nhà) trở đi, lấy được lương thực trở về.

          - Chín, từ “thị thời Lưu Thủy” (khi đó, Lưu Thủy) trở đi, trưởng giả tâm hoan hỷ.

          - Mười, từ “toại thủ phạn thực” (liền lấy cơm và thức ăn) trở đi, thí khắp cho cá.

          - Mười một, từ “ngư đắc thực dĩ” (cá được ăn rồi) trở đi, cá do vậy được no đủ.

 

          (Kinh) Tiện tác thị niệm: - Ngă kim thí thực, linh ngư đắc mạng. Nguyện ư lai thế, đương thí pháp thực, sung tế vô biên.

          ()便作是念我今施食令魚得命願於來世當施法食充濟無邊

          (Kinh: Liền nghĩ như thế này: - Ta nay thí thực, khiến cho cá được sống, nguyện trong đời sau sẽ thí pháp thực cứu trọn khắp vô biên).

         

          Kế đó, ư thứ mười hai [trong phần “thí thực”] là trưởng giả phát nguyện.

 

5.25.4.2.2.2. Từ tâm ban vui

5.25.4.2.2.2.1. Trưởng giả tử tự suy nghĩ

 

          (Kinh) Phục cánh tư duy: - Ngă tiên tằng ư không nhàn lâm xứ, kiến nhất bật-sô độc Đại Thừa kinh, thuyết thập nhị duyên sanh thậm thâm pháp yếu. Hựu kinh trung thuyết: “Nhược hữu chúng sanh lâm mạng chung thời, đắc văn Bảo Kế Như Lai danh giả, tức sanh thiên thượng”. Ngă kim đương vị thị thập thiên ngư diễn thuyết thậm thâm thập nhị duyên khởi, diệc đương xưng thuyết Bảo Kế Phật danh. Nhiên Thiệm Bộ châu hữu nhị chủng nhân: Nhất giả, thâm tín Đại Thừa; nhị giả, bất tín hủy tư, diệc đương vị bỉ tăng trưởng tín tâm.

          ()復更思惟我先曾於空閑林處見一苾芻讀大乘經說十二緣生甚深法又經中若有眾生臨命終時得聞寶髻如來名者即生天上我今當為是十千魚演說甚深十二緣亦當稱說寶髻佛然贍部洲有二種人一者深信大乘二者不信毀訾亦當為彼增長信心

    (Kinh: Rồi lại suy nghĩ: - Trước kia, ta từng ở chỗ rừng vắng, thấy một vị bật-sô đọc kinh Đại Thừa, nói pháp yếu mười hai duyên sanh rất sâu. Trong kinh c̣n nói: “Nếu có chúng sanh khi sắp mạng chung, được nghe danh hiệu của Bảo Kế Như Lai, liền sanh lên trời”. Ta nay nên v́ mười ngàn con cá này diễn nói mười hai duyên khởi rất sâu, cũng nên xưng nói danh hiệu Bảo Kế Phật. Nhưng châu Thiệm Bộ có hai loại người. Một là tin sâu Đại Thừa, hai là chẳng tin, hủy báng, ta cũng nên tăng trưởng tín tâm cho chúng nó).

 

          Kế đó, phần thứ hai trong chuyện cứu cá là “từ tâm ban vui”, có hai ư:

          - Một, trong tâm tự tư duy.

          - Hai, từ “thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng giả tử) trở đi, thực hiện chuyện lợi lạc.

          Trong phần thứ nhất, lại có ba ư:

          - Một, nghĩ đến pháp trước kia đă được nghe.

          - Hai, từ “ngă kim” (ta nay) trở đi, nghĩ sẽ v́ cá mà nói.

          - Ba, từ “nhiên Thiệm Bộ” (nhưng châu Thiệm Bộ) trở đi, cũng kiêm hành lợi người, tức là phần kinh văn phía sau nói: Do cá được lợi ích bèn báo ân; trưởng giả, vua quan v.v… do nghe chuyện ấy đều phát khởi tín tâm sâu xa.

          Ba đoạn kinh văn theo thứ tự [dễ thấy]!

 

5.25.4.2.2.2.2. V́ cá thuyết pháp

5.25.4.2.2.2.2.1. Xưng danh hiệu Phật

 

          (Kinh) Thời trưởng giả tử tác như thị niệm: “Ngă nhập tŕ trung, khả vị chúng ngư thuyết thâm diệu pháp”. Tác thị niệm dĩ, tức tiện nhập thủy, xướng ngôn: - Nam mô quá khứ Bảo Kế Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thử Phật văng tích tu Bồ Tát hạnh thời, tác thị thệ nguyện: “Ư thập phương giới, sở hữu chúng sanh, lâm mạng chung thời, văn ngă danh giả, mạng chung chi hậu, đắc sanh Tam Thập Tam Thiên”.

          ()時長者子作如是念我入池中可為眾魚深妙法作是念已即便入水唱言南謨過去寶髻如來正遍知明行足善逝世間解無上士調御丈夫天人師世尊此佛往昔修菩薩行時作是誓願於十方界所有眾生臨命終時聞我名者命終之後得生三十三天

    (Kinh: Khi đó, trưởng giả tử nghĩ như thế này: “Ta vào trong ao, có thể v́ cá nói pháp sâu mầu”. Nghĩ như thế xong, liền vào trong nước, xướng rằng: - Nam-mô quá khứ Bảo Kế Như Lai, Ứng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị Phật này xưa kia khi tu Bồ Tát hạnh, đă thệ nguyện như thế này: “Trong mười phương thế giới, tất cả chúng sanh, khi sắp mạng chung, nghe danh hiệu của ta, sau khi mạng chung, được sanh lên cơi trời Tam Thập Tam”).

 

          Kế đó là thực hiện lợi lạc bên ngoài, có hai phần:

          - Một, nghĩ muốn vào trong ao.

          - Hai, từ “tác thị niệm” (nghĩ như thế) trở đi, tạo lợi ích cho cá. Trong ấy, lại có hai ư:

          a. Một là xưng danh hiệu Phật.

          b. Từ “nhĩ thời, Lưu Thủy” (lúc bấy giờ, Lưu Thủy) trở đi, v́ cá nói pháp sâu, cũng chính là khiến cho kẻ chưa tin sẽ tin, khiến cho kẻ đă tin sẽ hiểu.

          Trong phần thứ nhất, trước là xưng danh hiệu Phật, từ “thử Phật văng tích” (vị Phật này xưa kia) trở đi, giải thích nguyên do v́ sao xưng danh hiệu vị Phật ấy.

 

5.25.4.2.2.2.2. V́ cá nói pháp sâu xa

5.25.4.2.2.2.2.1. Hiển thuyết

5.25.4.2.2.2.2.1.1. Nêu chung duyên khởi

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Lưu Thủy phục vị tŕ ngư, diễn thuyết như thị thậm thâm diệu pháp.

          ()爾時流水復為池魚演說如是甚深妙

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Lưu Thủy lại v́ cá trong ao diễn nói diệu pháp rất sâu như thế này).

 

          Kế đó, v́ cá thuyết pháp, gồm hai phần:

          - Một, hiển thuyết.

          - Hai, mật thuyết.

          Hoặc có thể nói: Trước hết, thuyết pháp khiến cho cá hiểu; sau đó, nói chú ngữ để thủ hộ. Trong phần thứ nhất, lại có hai ư:

          - Một là nêu chung.

          - Hai là giải thích riêng biệt.

          Đoạn này là nêu chung.

 

          (Kinh) Thử hữu cố bỉ hữu, thử sanh cố bỉ sanh.

          ()此有故彼有此生故彼生

    (Kinh: Do cái này có nên cái kia có, do cái này sanh nên cái kia sanh).

 

          Kế đó, có hai đoạn giải thích:

          - Một, tạp nhiễm duyên khởi, tức là xét theo thứ tự lưu chuyển sanh tử [để luận định duyên khởi].

          - Hai, từ “thử diệt, cố bỉ diệt” (do cái này diệt nên cái kia diệt), tức là nói về thanh tịnh duyên khởi, tức là xét [duyên khởi] theo thứ tự hoàn diệt (từ việc diệt mối duyên khởi sau cùng để truy ngược lại về cội gốc của duyên khởi).

          Nhưng hai loại duyên khởi đều có hai loại quán hạnh thuận và nghịch; ở đây, đều nói theo chiều thuận, nhằm liên tưởng hai thứ nghịch quán.

          Trong phần thứ nhất, lại có hai ư:

          - Một, nêu riêng.

          - Hai, từ “sở vị” (tức là nói) trở đi là giải thích riêng.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất. Theo quyển bốn của Tạp Tập Luận, có ba loại duyên sanh: Một là vô tác duyên sanh, hai là vô thường duyên sanh, ba là thế dụng duyên sanh. Hai loại duyên sanh đầu tiên bao gồm hết thảy hữu vi, loại duyên sanh thứ ba dựa theo pháp hữu t́nh. Nhưng các kinh luận phần nhiều dựa theo mười hai chi duyên khởi để biện định, v́ đó là căn bản. Nói “thử hữu, cố bỉ hữu” (do cái này có nên cái kia có) v.v… theo thứ tự chính là hai loại đầu (vô tác duyên sanh và vô thường duyên sanh). Đối Pháp (A Tỳ Đạt Ma) nói: “[Nói] ‘do cái này có, nên cái kia có’ là nói theo nghĩa vô tác duyên sanh, [hàm nghĩa] chỉ do có duyên, nên mới có quả pháp, chẳng phải là duyên theo tác dụng thật sự có thể sanh ra quả pháp. Nay v́ phá chấp trước của ngoại đạo khăng khăng cho rằng ‘Đại Phạm, Thần Ngă[2] thật sự có tác dụng làm cái nhân cho muôn vật’, mà nói ‘chẳng phải là duyên theo tác dụng thật sự có thể sanh ra quả pháp’. Cũng nhằm phá chấp trước hư vọng ‘không có nhân’ của ngoại đạo, cho nên nói ‘do cái này có, nên cái kia có’. [Nói] ‘do cái này sanh, nên cái kia sanh’ tức là nói theo ư nghĩa ‘vô thường duyên sanh’, chẳng phải là do pháp vô sanh làm nhân, thiếu khuyết pháp được sanh mà được thành lập. Điều này nhằm phá [chấp trước của ngoại đạo cho rằng] ‘thường pháp làm nhân có thể sanh ra các pháp’, và cũng ngăn trở các tông phái trong vị lai như Hóa Địa Bộ[3] v.v… do chấp ‘mười hai chi duyên khởi vô vi, có thể khiến cho duyên khởi sanh ra, chẳng bị tạp loạn’, mà nói ‘cũng chẳng phải là pháp vô sanh làm nhân, khuyết thiếu pháp được sanh mà được thành lập’. Nói ‘rất sâu’ th́ có năm loại, tức là nhân rất sâu, tướng rất sâu, sanh rất sâu, trụ rất sâu, chuyển rất sâu; đấy chính là ư nghĩa rất sâu vậy”. Nói cặn kẽ th́ như bộ luận ấy đă nói.

 

5.25.4.2.2.2.2.1.2. Giải thích riêng về duyên khởi

 

          (Kinh) Sở vị vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục xứ, lục xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử ưu bi khổ năo. Thử diệt cố bỉ diệt, sở vị vô minh diệt tắc hành diệt, hành diệt tắc thức diệt, thức diệt tắc danh sắc diệt, danh sắc diệt tắc lục xứ diệt, lục xứ diệt tắc xúc diệt, xúc diệt tắc thọ diệt, thọ diệt tắc ái diệt, ái diệt tắc thủ diệt, thủ diệt tắc hữu diệt, hữu diệt tắc sanh diệt, sanh diệt tắc lăo tử diệt, lăo tử diệt tắc ưu bi khổ năo diệt. Như thị thuần cực khổ uẩn tất giai trừ diệt.

          ()所謂無明緣行行緣識識緣名色名色緣六處六處緣觸觸緣受受緣愛愛緣取取緣有有緣生生緣老死憂悲苦惱此滅故彼滅所謂無明滅則行滅行滅則識滅識滅則名色滅名色滅則六處滅六處滅則觸滅觸滅則受滅受滅則愛滅愛滅則取滅取滅則有滅有滅則生滅生滅則老死滅老死滅則憂悲苦惱滅如是純極苦蘊悉皆除滅

          (Kinh: Tức là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục xứ, lục xứ duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử ưu bi khổ năo. Do cái này diệt nên cái kia diệt, chính là vô minh diệt nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt, thức diệt nên danh sắc diệt, danh sắc diệt nên lục xứ diệt, lục xứ diệt nên xúc diệt, xúc diệt nên thọ diệt, thọ diệt nên ái diệt, ái diệt nên thủ diệt, thủ diệt nên hữu diệt, hữu diệt nên sanh diệt, sanh diệt nên lăo tử diệt, lăo tử diệt nên ưu bi khổ năo diệt. Thuần là khổ uẩn tột cùng như thế thảy đều trừ diệt).

 

          Kế đó, giải thích riêng về duyên khởi; đây chính là loại thứ ba, tức thế dụng duyên sanh. Do các pháp hữu vi có nhân duyên khác biệt, mỗi pháp đều có thế dụng (thế lực và tác dụng) [riêng biệt], cho nên Đối Pháp nói: “Lại nữa, tuy các pháp là vô tác, vô thường, nhưng do chẳng tùy thuộc một pháp làm duyên mà hết thảy các quả sanh ra, v́ các pháp mỗi mỗi đều có công năng sai biệt”. Kinh Thập Địa dạy: “Tử biệt ly thời, ư căn tương đối danh Ưu, ngũ căn tương đối vi Khổ, xuất thanh đề khốc danh Bi, ngu nhân tâm nhiệt danh Năo” (Khi chết, biệt ly, đối ứng với ư căn mà nói là Ưu, đối ứng với năm căn mà nói là Khổ, khóc lóc phát ra tiếng là Bi, kẻ ngu tâm bứt rứt là Năo). Đấy là thứ tự sanh khởi do nương theo tạp nhiễm. Từ “thử diệt, cố bỉ diệt” (do cái này diệt, nên cái kia diệt) trở đi là nói theo thứ tự trừ diệt theo thanh tịnh thuận quán. Kinh văn gồm ba phần: Một là nêu ra, hai là giải thích, ba là từ “như thị thuần cực” trở đi nhằm kết lại phần biệt thích.

          Đối với ư nghĩa duyên khởi, đại lược dùng bốn môn phân biệt:

          - Một, nêu ra cái Thể.

          - Hai, giải thích danh xưng.

          - Ba, quán hạnh.

          - Bốn, vấn đáp.

 

5.25.4.2.2.2.2.1.2.1. Biện định cái Thể của từng chi duyên khởi

 

          Trước hết, đối với cái Thể của chi Vô Minh [trong mười hai chi duyên khởi] th́ trong Phiền Năo Chướng, từ trong sự chấp giữ, phân biệt của chánh chi, có thể phát khởi, cảm nhận tổng báo và biệt báo, hoặc chỉ cảm vời tổng báo. Đó là cái Thể của chi Vô Minh; kiêm chi th́ bao gồm cả câu sanh phân biệt (sự phân biệt sẵn có từ lúc mới sanh ra) để làm cái Thể của Vô Minh. Thành Duy Thức, quyển thứ tám chép: “Vô minh ở đây chỉ có thể chấp giữ cái có thể phát khởi cảm vời nghiệp thiện ác chánh yếu trong đời sau”. Lại nói: “Phát khởi nghiệp cảm chánh yếu chỉ thấy cái được đoạn trừ, c̣n phát khởi nghiệp cảm phụ trợ th́ bất định. Điều này cũng bao gồm tương ứng với bất cộng triền và tùy miên”.

          Thể của chi Hành bao gồm thân, ngữ, ư nghiệp thiện và bất thiện, chỉ cảm vời tổng báo, và bao gồm hai thứ tổng nghiệp và biệt nghiệp cảm vời làm tánh. Nếu chỉ cảm biệt báo th́ chẳng phải là chi Hành. V́ thế, Duy Thức nói: “Tức là cái được phát khởi bèn gọi là Hành. Do vậy, hết thảy thuận hiện thọ nghiệp (nghiệp lănh nhận theo chiều thuận trong hiện tại) và biệt trợ đương nghiệp (nghiệp để trợ giúp ḥng phát khởi cái quả trong tương lai) đều chẳng thuộc về chi Hành. Nó cũng bao gồm hiện chủng, nhờ vào biểu sắc[4] của cả hai nghiệp thân và ngữ, thật sự chỉ là Tư”.

          Thể của chi Thức chỉ chấp giữ chủng tử thuộc Dị Thục Thức[5] thứ tám. V́ thế, Duy Thức Luận viết: “Thức chủng (chủng tử của Thức) ở đây là cái nhân của bổn thức, chỉ chấp lấy chủng tử của Dị Thục Thức thứ tám được cảm vời bởi chi Hành. Thoạt đầu, do kết lại mà sanh khởi, tổng báo làm chủ, chẳng bao gồm hiện hành[6] và các chuyển thức khác”. Có chỗ nói bao gồm cả hiện hành và sáu thức, tức là nói chung về chi Thức, chẳng phải là luận định về Thể [của chi Thức trong mười hai chi duyên khởi]. Và dựa theo phần vị sanh khởi trong tương lai và hiện tại mà nói chung là “hiện hành”. V́ thế, Duy Thức Luận nói: “Do thời cố định mà chẳng có ư nghĩa hiện hành, cho đến chi Thọ cũng giống như thế”.

          Đối với cái Thể của chi Danh Sắc, Duy Thức Luận nói: “Trừ ba cái nhân sau đó, các nhân khác đều thuộc về chủng tử của Danh Sắc. Ba cái nhân sau đó, theo thứ tự tên gọi của chúng mà chính là ba loại sau”. Đấy là nói năm chi chẳng tạp loạn, nói theo duyên khởi thật sự được nhóm họp bởi Hành trong một sát-na. Thật ra, năm chi thuộc về nhân như Thức v.v… cũng chẳng có thứ tự. Duy Thức Luận nói: “Dựa theo thứ tự sẽ hiện hành mà nói. Nếu xét theo hiện hành, không chỉ nghiệp cảm chẳng phải là Thể của thật sự của mỗi chi. Nói theo phần vị, chủng tử dị thục của sáu căn được gọi là chi Lục Xứ. Chủng tử dị thục của Xúc và Thọ thuộc vào chi Xúc và chi Thọ. Ngoại trừ bốn thứ ấy, các pháp dị thục khác đều gọi là chi Danh Sắc”. Nhưng Khế Kinh hễ nói tới Danh th́ tức là bốn Uẩn (Thọ, Tưởng, Hành, Thức), chẳng phải là Sắc, c̣n Sắc th́ như Yết Lạt Lam[7] v.v… cũng là dựa theo hiện hành và phiếm chỉ danh sắc, chẳng phải thật sự là chi Danh Sắc. Như nói “Thức và Danh Sắc nương tựa lẫn nhau, giống như cỏ lau buộc lại thành bó”, cũng là nói theo hiện hành và phiếm chỉ danh sắc. Nói về Danh th́ nói thông thường, điều thứ bảy là Danh. Nếu không, thí dụ về bó lau sẽ chẳng thành được! Lại xét theo sự thật để bàn về cái Thể của chi Danh Sắc, Danh chỉ là hai Uẩn, Thọ là chi Thọ, c̣n Thức là Ư Xứ. Do luận nói Danh Sắc và Lục Xứ chẳng phải là giả, chẳng phải xen tạp, lại nói “trừ ba nhân sau”. Nếu như vậy, sao có thể nói “Danh tức là bốn Uẩn chẳng phải Sắc”? Điều này cũng chẳng mâu thuẫn, v́ trong phần trước đă dung thông rồi. Luận lại giải thích rằng: “Hoặc là nói Danh Sắc gồm chung cả năm cái nhân, trong số đó, tùy thuộc cái nhân nào thù thắng mà lập ra bốn thứ kia, tổng và biệt của Lục Xứ và Thức cũng thế. V́ thế, trong kinh chỉ nói Danh là bốn thứ Uẩn, tức là xét theo tên gọi chung. Nếu chia thành năm chi, tức là dựa theo sự sai biệt để nói”.

          Chánh thể của Ái cũng chỉ là câu sanh (vốn sẵn có từ lúc mới sanh), [tác dụng giúp đỡ] bổ trợ, tăng trưởng của nó th́ bất định. V́ thế, Duy Thức nói: “Chánh nhuận sanh[8] chỉ có tu mới đoạn được”. Luận Du Già Sư Địa c̣n nói: “Các phiền năo trong toàn thể các giới đều có thể nhuận sanh”, tức là nói bao gồm tác dụng bổ trợ. Lại c̣n chấp mê sự, tuy duyên chung với nội pháp và ngoại pháp, nhưng luận phần nhiều nói “duyên theo ngoại cảnh mà sanh” th́ gọi là chi Ái.

          Chánh thể của chi Thủ bao gồm hết thảy các câu sanh phiền năo, cái bổ trợ nó th́ gồm cả các phân biệt [phiền năo]. Có chỗ chỉ nói Ái tăng trưởng th́ gọi là Thủ. Duy Thức Luận nói: “Tuy trong chi Thủ bao gồm các phiền năo khác, nhưng Ái nhuận sanh thù thắng, nên nói là Ái tăng trưởng. Lại do dựa theo thứ tự trước sau mà tách Ái và Thủ thành hai, chứ nó thật sự bao gồm các món Hoặc (phiền năo) khác”. Hai chi Ái và Thủ đều bao gồm chủng tử và hiện hành, chi Hữu tức là chủng tử nơi cái quả của năm món trước đó như Hành, Thức v.v… được Ái và Thủ nhuận sanh, đổi thành tên gọi là Hữu. Có chỗ chỉ nói nghiệp được gọi là chi Hữu. Duy Thức Luận dung hội rằng: “Đấy là v́ có thể cảm vời dị thục quả”. Có chỗ chỉ nói năm món như Thức v.v… được gọi là chi Hữu. Duy Thức Luận viết: “Do năm món như Thức v.v… đích thân sanh ra Sanh, Lăo, Tử trong tương lai. Các thứ ấy chỉ là chủng tử, không bao gồm hiện hành”.

          Đối với Thể của Sanh, Thành Duy Thức nói: “Bắt đầu từ Trung Hữu cho đến Bổn Hữu[9] chưa từng suy biến, đều thuộc về chi Sanh”. Đối với cái Thể của Lăo Tử, Duy Thức Luận nói: “Các giai đoạn suy biến được gọi chung là Lăo, thân hoại mạng chung bèn gọi là Tử. Thể của hai chi này gồm chung Ngũ Uẩn, chỉ là hiện hành, thuộc về dị thục quả”. Thập Địa Luận nói: “Mười hai hữu chi đều có lúc kết nhân và lúc sanh quả”, tức là gộp chung chủng tử và hiện hành v.v… Kinh Duyên Khởi giải rằng: “Năng sở dẫn sanh nhất thời nhi hữu, thứ đệ tuyên thuyết, nghĩa loại vô biệt” (cái có thể dẫn khởi sanh thành và cái được dẫn khởi để sanh thành đều là cùng lúc mà có, tuy được tuyên nói theo thứ tự, nhưng ư nghĩa chẳng khác biệt). Duy Thức Luận cũng nói: “Dựa theo tính chất đă nhuận sanh (giúp sức cho sanh khởi thành tựu) và dẫn sanh (dẫn đến sự sanh khởi) đồng thời, lúc nhuận sanh và lúc chưa nhuận sanh, ắt chẳng đồng thời được”. Đó là nói theo tướng, chẳng phải là xét theo thật thể, đều là hiện hành và chủng tướng. Ưu bi khổ năo do lăo tử mà khởi, chẳng thuộc về Chi (chẳng thuộc vào mười hai chi duyên khởi).

 

5.25.4.2.2.2.2.1.2.2. Giải thích danh xưng

 

          Chỉ giải thích danh xưng chung, chẳng giải thích riêng biệt. Như kinh Duyên Khởi và Đối Pháp Luận đă giải thích khá nhiều, nay dựa theo luận Du Già Sư Địa, giải thích đại lược theo bốn cách:

          - Một, do phiền năo trói buộc, nhiều lượt sanh khởi, tiến vào các đường, nên gọi là Duyên Khởi. Đấy là cách giải thích dựa theo chữ Duyên và chữ Khởi.

          - Hai, dựa theo chuyện rành rành là các duyên nhanh chóng tan diệt rồi lại tiếp tục ḥa hợp mà sanh, nên gọi là Duyên Khởi. Đây là cách giải thích theo ư nghĩa “sanh diệt trong từng sát-na”. Cách giải thích này nhằm vạch rơ khác với quan niệm của Đại Chúng Bộ[10] v.v… cho là pháp vô vi, và cũng vạch rơ chẳng phải là thuyết “một kỳ có bốn tướng” của Chánh Lượng Bộ[11].

          - Ba, các duyên đă qua đi, nhưng chẳng ĺa bỏ, nương theo sự liên tục của chính nó mà sanh khởi. V́ thế, gọi là Duyên Khởi. Như nói “do cái này có mà cái kia có, do cái này sanh mà cái kia sanh”, chẳng phải là nghĩa nào khác, như đă giải thích trong phần trước.

          - Bốn, trong đời quá khứ đă hiểu biết tánh của duyên, b́nh đẳng, liên tục khởi lên, bèn gọi là Duyên Khởi. Như đức Thế Tôn nói: “Ngă dĩ giác ngộ, b́nh đẳng tuyên thuyết” (Ta đă giác ngộ, b́nh đẳng tuyên nói). Đó gọi là lần lượt truyền nói, nên gọi là Duyên Khởi.

 

5.25.4.2.2.2.2.1.2.3. Quán hạnh

 

          Đối với quán hạnh, có hai cách quán riêng biệt:

          - Một, nương theo cách quán tạp nhiễm.

          - Hai, nương theo cách quán thanh tịnh.

          Mỗi cách quán đều có hai loại thuận và nghịch. V́ thế, Đối Pháp quyển thứ tư chép rằng:

          “Do tạp nhiễm thuận nghịch, do thanh tịnh thuận nghịch. ‘Tạp nhiễm thuận’ là nói theo thứ tự lưu chuyển, tức là vô minh duyên hành cho tới sanh duyên lăo tử, tức là sanh khởi theo thứ tự của sanh tử.

          ‘Tạp nhiễm nghịch’ tức là dựa theo các Đế an lập để nói, có hai thứ khác nhau:

          - Một là viễn phương tiện quán trước khi đạt tới Kiến Đạo, tạo thành bảy mươi bảy loại trí.

          - Hai là cận phương tiện quán, tức là tạo thành bốn mươi bốn loại trí.

          Hoặc là do hai đạo tư lương và gia hạnh khác biệt. Hoặc đều là gia hạnh, nhưng trước sau sai khác. Hơn nữa, bảy mươi bảy trí quán tức là duyên hiện ‘già, chết’ do ai mà có? Chính là do hiện sanh mà có già, chết. Lại nữa, quán chẳng phải do hiện sanh mà có già, chết, mà là do tự thân trong hiện tại tự ḿnh tạo tác, liền thành hai trí. Duyên theo già chết trong quá khứ và vị lai cũng thế. Mỗi đằng đều có hai loại, tạo thành sáu phép Quán. Từ vô thỉ tới nay, hết thảy già chết đều do duyên nơi sanh, vị lai tuy chưa khởi, nhưng đă sẵn có ư nghĩa tạp nhiễm và hoàn diệt. V́ thế, nay quán tạp nhiễm, cũng thành hai trí. Trong tam tế (ba chặng thời gian, tức quá khứ, hiện tại, vị lai), thoạt đầu do chi Sanh mà có già chết, xét quả bèn có nhân, cái trí suy lường cái nhân. Điều thứ hai là lại quán “chẳng phải là không do sanh mà có già, chết”, đó là cái trí suy xét cái nhân. Trước là [chấp trước] “không có nhân mà sanh”, sau là phá [chấp trước] như tự nhiên sanh v.v… Ĺa khỏi sự suy lường hư vọng của ngoại đạo. Điều thứ bảy, lại quán các chi [trong mười hai chi duyên khởi] chẳng thâu nhiếp các trí hữu lậu, do ư nghĩa Biến Tri (biết trọn khắp), được gọi là Pháp Trụ Trí (trí trụ nơi pháp). Biết trọn khắp giáo pháp duyên khởi trong ba đời, gọi là “chi chẳng thâu nhiếp”. Đối với lư của sáu duyên trước đều biết như thật, chính là Tư Tu Huệ, gọi là Chân Thật Trí. Thứ bảy, duyên theo giáo là Văn Huệ, gọi là Pháp Trụ Trí, cũng gọi là Giả Trí. Hợp thành bảy trí, như quán lăo tử có bảy trí ấy, cho tới chi Hành cũng có bảy trí. Chỉ trừ vô minh, vô minh chẳng có nhân trí. Do sự khuyết thiếu ấy mà thành bảy mươi bảy trí[12]. Dị sanh và bậc thánh cũng đều cùng có.

          “Bốn mươi bốn trí” tức quán già chết là Khổ Đế, quán Tập của già chết, Diệt của già chết, hạnh sẽ hướng đến để diệt già chết, cho đến quán Hành khổ, Hành tập, Hành diệt, hạnh tiến đến diệt Hành… Mười một chi, mỗi chi đều có bốn điều ấy, nên thành bốn mươi bốn trí. Do vô minh chẳng có nhân, cho nên chẳng phải là bốn mươi tám trí. Đấy là cách quán hữu lậu, nên gọi là Tạp Nhiễm. Hoặc là quán thể hữu lậu, hoặc quán pháp hữu lậu, bao gồm cả thánh trí. Kinh văn chỉ nói về thuận, chẳng nói tới nghịch.

          Quán thanh tịnh thuận chính là do vô minh diệt nên hành diệt, cho đến do sanh diệt nên già chết diệt. Quán thuận theo thứ tự, đó là nói theo thứ tự đoạn trừ. Nghịch quán là [quán sát] do cái ǵ không có mà già chết không có? Do cái ǵ diệt mà già chết diệt? Cho đến do cái ǵ không có mà Hành không có? Do cái ǵ diệt mà Hành diệt? Đấy là dựa theo sự đắc quả, dựa theo tột cùng để quán. Do nói ngược thứ tự, khiến cho thành thục”.

 

5.25.4.2.2.2.2.1.2.4. Vấn đáp phân biệt

 

          Hỏi: V́ sao các chỗ (các kinh luận) nói các chi Duyên Khởi th́ [phán định] hoặc là hiện hành, hoặc là chủng tử, hoặc tổng, hoặc biệt, có nhiều thứ sai biệt?

          Đáp: Tất cả các thứ sai biệt, phần lớn đă được dung thông trong quyển thứ tám của Thành Duy Thức Luận. Nay ở đây, nêu ra cái Thể [của các chi duyên khởi], thật ra đă dựa theo cách nói chánh yếu về duyên khởi trong Đại Thừa. Các thuyết khác bất đồng là do nói gộp chung các phần vị tương lai và hiện khởi, giả hay thật, chẳng phải là thứ tự của các phần vị dấy khởi trong hiện tại đều do nghiệp cảm vời. Hoặc có khi nói chung theo cả ba thừa, như đều có các căn th́ gọi là Sắc, vô gián diệt ư v.v… th́ gọi là Danh v.v…

          Hỏi: Trong thứ tự quán, nếu nói là có Xứ, quán các chi Duyên Khởi cho đến Thức v.v… sẽ lui về đâu?

          Đáp: Trong cách nghịch quán của tạp nhiễm duyên khởi, địa vị tu tập ban đầu là cận phương tiện quán an lập Đế, bèn nói như thế. V́ sao? Như quán lăo tử khổ, lăo tử tập, lăo tử diệt, hạnh tiến nhập diệt của lăo tử, cho đến tùy theo lẽ đáng nên mà lần lượt quán các Đế từ nỗi khổ do chi “già, chết” thuộc vào Khổ Đế. Trong duyên khởi, trước hết quán sát theo chiều nghịch, dùng ba thứ tướng để quán chi Già Chết: Một là tế nhân duyên, hai là thô nhân duyên, ba là chẳng phải do nhân duyên bất định mà cảm vời sanh khởi. “Tế” tức là Ái, Thủ, Hữu; “thô” là nói tới cái Thể của chi Sanh. Do hai điều ấy sanh khởi mà có già, chết. Trong ấy có ư nói dựa theo chuyện gộp chung hai đời để quán tạp nhiễm duyên khởi. Quán “sẽ già chết”, tế sanh là nhân, tức Ái, Thủ, Hữu. Đối với pháp trong hiện tại là già chết, thô sanh là nhân th́ chính chi Sanh [trong mười hai chi duyên khởi]. Trừ hai thứ Sanh ấy ra, các thứ khác chắc chắn chẳng thể tạo ra cái quả già, chết, gọi là “chẳng phải bất định”. Đây cũng là suy xét cái nhân, gọi là “chẳng phải bất định”. Chuẩn theo đó, bèn biết hai thứ Sanh (tế sanh và thô sanh) là cái nhân của già chết, tức là suy t́m cái nhân vậy. Quán Tập của già chết, tuy quán Tập Đế của già chết cho đến Ái, đối với nỗi khổ trong đời sau và Tập Đế chưa phải là hỷ túc[13], lại quan sát các nhân duyên tụ tập sau đó, tạo thành các nỗi khổ trong hiện tại, gọi là “theo chiều nghịch, quán trọn khắp Thọ, Xúc, Lục Xứ, Danh Sắc và Thức”. Quán nỗi khổ trong vị lai là quán Khổ Đế trong tương lai, [quán] cái nhân của Tập là quán Tập Đế trong tương lai. Tập Đế của nỗi khổ trong tương lai do đâu mà có? Biết là do Tập trước kia sanh khởi, Thức là ngằn mé. Pháp hiện tại có khổ, đă biết khổ [trong hiện tại] là do Tập trước kia sanh khởi, chẳng cần lại quán điều ấy v́ sao mà có!

          Lại nữa, Danh Sắc ví như bó lau, lần lượt duyên theo nhau, chẳng có tác giả v.v… V́ thế, quan sát [theo chiều ngược] đến chi Thức th́ bèn trở lại, cho nên chẳng quán đến các chi Hành và Vô Minh. Quán sát mười chi Khổ Tập như thế; kế đó quán Diệt Đế khởi đầu từ già chết cho đến vô minh v́ sao sẽ diệt? Do chẳng tạo Vô Minh làm duyên cho chi Hành mới, sự khổ đó mới diệt. Theo thứ tự truy cầu mà chứng Diệt Đạo, nhớ lại xưa kia thầy tṛ trao truyền pháp duyên khởi, khiến cho chánh kiến thế gian được hiện khởi. Quán nhiều lượt như thế, khiến cho kiến tăng trưởng; đó là “nhiễm nghịch quán” (phép quán tạp nhiễm duyên khởi theo chiều nghịch). Đấy là quán già chết diệt và “hạnh dẫn đến Diệt” liền đạt tới vô minh. Trong ấy, lại dựa theo hai thứ thuộc chi già chết trong hiện tại và vị lai cùng cái nhân của chúng, lược đi không nói đến già chết và cái nhân của nó trong quá khứ. Lại nữa, đă diệt th́ chẳng mong cầu đoạn nó, do hữu tác Tứ Đế mà gộp lại để quan sát. Nếu vận dụng bảy mươi bảy trí th́ tức là ba đời khác biệt.

          Lại có thể hiểu: Hoặc là duyên theo già chết trong hiện tại để quán cận nhân và viễn nhân, các nhân ấy đều thuộc quá khứ, tức là [quán ngược lại] tới chi Ái. Nếu quán sự già chết trong vị lai, [sẽ quán] từ Hữu đến Ái. Trước Ái sẽ là nỗi khổ trong vị lai, tức là hăy nên quán theo thứ tự. Nếu không, chủng tử chẳng phải là cái duyên xoay vần. Nếu dựa theo cách giải thích trong phần trước, th́ đối với già chết trong hiện tại và vị lai chính là hợp quán (gộp chung lại để quán), quán cái nhân [của hai thứ già chết ấy] là biệt quán. Trong cách giải thích thuộc đoạn này th́ đối với cái nhân là hợp quán, đối với già chết là biệt quán. Không chỉ nghịch quán đối với chi Già Chết, mà quán Tập Khổ trong vị lai cũng là nghịch quán.

          Hỏi: Hoặc có chỗ nói “quán từ Vô Minh tới Sanh liền ngưng” là v́ sao vậy?

          Đáp: Đó là nói theo căn cơ và sự ham thích truy cầu nhân quả, do già chết chẳng có quả, cho nên chỉ nói đến Sanh.

          Hỏi: Có người nói “chỉ quán theo chiều nghịch đến chi Danh Sắc mà thôi” là v́ lẽ nào?

          Đáp: Dựa theo chi “chủng tử của nghiệp là Thức” để nói, do Thức được gồm thâu trong Danh Sắc.

 

5.25.4.2.2.2.2.2. Mật thuyết

 

          (Kinh) Thuyết thị pháp dĩ, phục vị thuyết thập nhị duyên khởi tương ứng Đà La Ni viết: - Đát điệt tha: Tỳ chiết nễ, tỳ chiết nễ, tỳ chiết nễ, tăng tắc chỉ nễ, tăng tắc chỉ nễ, tăng tắc chỉ nễ, tỳ nhĩ nễ, tỳ nhĩ nễ, tỳ nhĩ nễ, sa ha. Đát điệt tha: Na nhĩ nễ, na nhĩ nễ, na nhĩ nễ, sát trĩ nễ, sát trĩ nễ, sát trĩ nễ, táp bát rị thiết nễ, táp bát rị thiết nễ, táp bát rị thiết nễ, sa ha. Đát điệt tha: Bệ đạt nễ, bệ đạt nễ, bệ đạt nễ, trất lư sắt nễ nễ, trất lư sắt nễ nễ, trất lư sắt nễ nễ, ổ ba địa nễ, ổ ba địa nễ, ổ ba địa nễ, sa ha. Đát điệt tha: Bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, đồ để nễ, đồ để nễ, đồ để nễ, đồ ma nễ nễ, đồ ma nễ nễ, đồ ma nễ nễ, sa ha.

          ()說是法復為說十二緣起相應陀羅尼怛姪他毘折儞毘折儞毘折儞僧塞枳儞僧塞枳儞僧塞枳儞毘爾儞毘爾儞毘爾儞莎訶怛姪他那弭儞那弭儞那弭儞殺雉儞殺雉儞殺雉儞颯鉢哩設儞颯鉢哩設儞颯鉢哩設儞莎訶怛姪他薜達儞薜達儞薜達儞窒里瑟儞儞窒里瑟儞儞窒里瑟儞儞鄔波地儞鄔波地儞鄔波地儞莎訶怛姪他婆毘儞婆毘儞婆毘儞闍底儞闍底儞闍底儞闍摩儞儞闍摩儞儞闍摩儞儞莎訶

    (Kinh: Nói pháp ấy rồi, lại v́ chúng nó nói Đà La Ni tương ứng với mười hai duyên khởi rằng: - Đát điệt tha: Tỳ chiết nễ, tỳ chiết nễ, tỳ chiết nễ, tăng tắc chỉ nễ, tăng tắc chỉ nễ, tăng tắc chỉ nễ, tỳ nhĩ nễ, tỳ nhĩ nễ, tỳ nhĩ nễ, sa ha. Đát điệt tha: Na mi nễ, na mi nễ, na mi nễ, sát trĩ nễ, sát trĩ nễ, sát trĩ nễ, táp bát rị thiết nễ, táp bát rị thiết nễ, táp bát rị thiết nễ, sa ha. Đát điệt tha: Bệ đạt nễ, bệ đạt nễ, bệ đạt nễ, trất lư sắt nễ nễ, trất lư sắt nễ nễ, trất lư sắt nễ nễ, ổ ba địa nễ, ổ ba địa nễ, ổ ba địa nễ, sa ha. Đát điệt tha: Bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, bà tỳ nễ, đồ để nễ, đồ để nễ, đồ để nễ, đồ ma nễ nễ, đồ ma nễ nễ, đồ ma nễ nễ, sa ha).

 

          Kế đó, phần thứ hai [trong phần “v́ cá thuyết pháp”] là mật thuyết duyên khởi. Trước là kết lại phần trước, nêu bày [sẽ nói thần chú]; kế đó là nói thần chú.

 

5.25.4.2.2.3. Chư thiên nghe nói, tán thán

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn vị chư đại chúng thuyết trưởng giả tử tích duyên chi thời, chư nhân thiên chúng thán vị tằng hữu. Thời Tứ Đại Thiên Vương các ư kỳ xứ, dị khẩu đồng âm, tác như thị thuyết: - Thiện tai Thích Ca tôn, thuyết diệu pháp minh chú, sanh phước trừ chúng ác, thập nhị chi tương ứng. Ngă đẳng diệc thuyết chú, ủng hộ như thị pháp. Nhược hữu sanh vi nghịch, bất thiện tùy thuận giả, đầu phá tác thất phần, do như lan hương sao. Ngă đẳng ư Phật tiền, cộng thuyết kỳ chú viết: Đát điệt tha, hế lư mế, yết thê kiện đà rị, chiên đồ lư địa lệ, tao phạt lệ, thạch hế phạt lệ, bổ ra bố lệ đoản mạt để, khi ra mạt để, đạt địa mục khế, cũ rô bà, mẫu rô bà, cụ đồ mẫu rô kiện đề, đỗ rô, đỗ rô, tỳ lệ. Ế nê tất nê đạp bễ, đạt đạp bễ, ổ tất đát rị, ô suất trá la phạt để, át lạt sa phạt để, bát đỗ ma phạt để, câu tô ma phạt để, sa ha.

          ()爾時世尊為諸大眾說長者子昔緣之諸人天眾歎未曾有時四大天王各於其處異口同音作如是善哉釋迦尊說妙法明生福除眾惡十二支相應我等亦擁護如是法若有生違逆不善隨順者頭破作七分猶如蘭香梢我等於佛前說其呪怛姪他呬哩謎揭睇健陀哩旃荼里地騷伐囇 石呬伐𡆆囇短末底崎囉末達地目契寠嚕婆母嚕婆具荼母嚕健提杜嚕杜嚕翳泥悉泥達沓鄔悉怛哩烏率吒囉伐底頞剌娑伐底鉢杜摩伐底俱蘇摩伐底莎訶

          (Kinh: Lúc bấy giờ, khi đức Thế Tôn v́ các đại chúng nói duyên xưa kia của trưởng giả tử, các chúng trời, người than là “chưa từng có”. Khi đó, tứ đại thiên vương mỗi vị ở chỗ ḿnh, khác miệng cùng tiếng, nói như thế này: - Lành thay đấng Thích Ca, nói diệu pháp, minh chú, sanh phước, trừ các ác, tương ứng mười hai chi. Chúng con cũng nói chú, ủng hộ pháp như thế. Nếu kẻ sanh trái nghịch, kẻ chẳng khéo tùy thuận, đầu vỡ làm bảy miếng, giống như ngọn lan hương. Chúng con đối trước Phật, cùng nói chú ấy rằng: Đát điệt tha, hế lư mê, yết thê kiện đà rị, chiên đồ lư địa lệ, tao phạt lệ, thạch hế phạt lệ, bổ ra bố lệ đoản mạt để, khi ra mạt để, đạt địa mục khế, cũ rô bà, mẫu rô bà, cụ đồ mẫu rô kiện đề, đỗ rô, đỗ rô tỳ lệ. Ế nê tất nê đạp bễ, đạt đạp bễ, ổ tất đát rị, ô suất trá la phạt để, át lạt sa phạt để, bát đỗ ma phạt để, câu tô ma phạt để, sa ha).

 

          Kế đó, phần thứ ba trong “hạnh cứu cá” là chư thiên nghe nói đều tán thán, có ba ư:

          - Một, nêu ra [ư tán thán].

          - Hai, từ “thời chư đại chúng” (khi đó, các đại chúng) trở đi, đại chúng cùng hoan hỷ.

          - Ba, từ “thời, tứ thiên vương” (khi đó, bốn thiên vương) trở đi, tán thán riêng, lại gồm hai ư:

          a. Tán thán lời đức Phật nói.

          b. Nói chú, nguyện thủ hộ.

          Điều thứ nhất là “tán thán lời Phật dạy” lại có hai ư: Một là nêu ra, hai là tán thán. Sau đó, từ “ngă đẳng diệc thuyết chú” (chúng con cũng nói chú) trở đi, là nguyện ủng hộ lần thứ hai, có ba ư:

          - Hai câu đầu là nêu ra.

          - Bốn câu kế đó nhằm khuyên răn.

          - Từ “ngă đẳng ư Phật tiền” (chúng con đối trước Phật) trở đi là nói chú.

 

5.25.4.2.2.4. Cá báo ân

 

          (Kinh) Phật cáo Thiện Nữ Thiên: - Nhĩ thời, trưởng giả tử Lưu Thủy cập kỳ nhị tử, vị bỉ tŕ ngư thí thủy, thí thực, tịnh thuyết pháp dĩ, câu cộng hoàn gia. Thị trưởng giả tử Lưu Thủy phục ư hậu thời, nhân hữu tụ hội, thiết chúng kỹ nhạc, túy tửu nhi ngọa. Thời thập thiên ngư đồng thời mạng quá, sanh Tam Thập Tam Thiên, khởi như thị niệm: Ngă đẳng dĩ hà thiện nghiệp nhân duyên, sanh thử thiên trung? Tiện tương vị viết: “Ngă đẳng tiên ư Thiệm Bộ châu nội, đọa bàng sanh trung, cộng thọ ngư thân. Trưởng giả tử Lưu Thủy thí ngă đẳng thủy, cập dĩ phạn thực. Phục vị ngă đẳng thuyết thậm thâm pháp thập nhị duyên khởi, cập Đà La Ni, phục xưng Bảo Kế Như Lai danh hiệu. Dĩ thị nhân duyên, năng linh ngă đẳng đắc sanh thử thiên. Thị cố, ngă kim hàm ưng nghệ bỉ trưởng giả tử sở, báo ân cúng dường”. Nhĩ thời, thập thiên thiên tử tức ư thiên một, chí Thiệm Bộ châu đại y vương sở. Thời trưởng giả tử tại cao lâu thượng, an ổn nhi thụy. Thời thập thiên thiên tử cộng dĩ thập thiên chân châu anh lạc, trí kỳ đầu biên. Phục dĩ thập thiên trí kỳ túc xứ. Phục dĩ thập thiên trí ư hữu hiếp. Phục dĩ thập thiên trí tả hiếp biên. Vũ mạn-đà-la hoa, ma ha mạn-đà-la hoa, tích chí vu tất, quang minh phổ chiếu. Chủng chủng thiên nhạc xuất diệu âm thanh, linh Thiệm Bộ châu hữu thùy miên giả, giai tất giác ngụ. Trưởng giả tử Lưu Thủy diệc tùng thụy ngụ. Thị thời, thập thiên thiên tử vị cúng dường dĩ, tức ư không trung, phi đằng nhi khứ. Ư Thiên Tự Tại Quang vương quốc nội, xứ xứ giai vũ thiên diệu liên hoa. Thị chư thiên tử phục chí bổn xứ không trạch tŕ trung, vũ chúng thiên hoa, tiện ư thử một, hoàn thiên cung điện, tùy ư tự tại, thọ ngũ dục lạc. Thiên Tự Tại Quang vương chí thiên hiểu dĩ, vấn chư đại thần: “Tạc dạ hà duyên hốt hiện như thị hy hữu thụy tướng, phóng đại quang minh?” Đại thần đáp ngôn: “Đại vương đương tri: Hữu chư thiên chúng ư trưởng giả tử Lưu Thủy gia trung, vũ tứ thập thiên chân châu anh lạc, cập thiên mạn-đà-la hoa, tích chí vu tất”. Vương cáo thần viết: “Nghệ trưởng giả gia, hoán thủ kỳ tử”. Đại thần thọ sắc, tức chí kỳ gia, phụng tuyên vương mạng, hoán trưởng giả tử. Thời trưởng giả tử tức chí vương sở, vương viết: “Hà duyên tạc dạ thị hiện như thị hy hữu thụy tướng?” Trưởng giả tử ngôn: “Như ngă tư thổn, định ưng thị bỉ tŕ nội chúng ngư, như kinh sở thuyết mạng chung chi hậu, đắc sanh Tam Thập Tam Thiên. Bỉ lai báo ân, cố hiện như thị hy kỳ chi tướng”. Vương viết: “Hà dĩ đắc tri?” Lưu Thủy đáp viết: “Vương khả khiển sứ, tịnh ngă nhị tử, văng bỉ tŕ sở, nghiệm kỳ hư thật, bỉ thập thiên ngư vi tử, vi hoạt?” Vương văn thị ngữ, tức tiện khiển sứ cập tử, hướng bỉ tŕ biên, kiến kỳ tŕ trung đa hữu mạn-đà-la hoa tích thành đại tụ, chư ngư tịnh tử. Kiến dĩ tŕ hoàn, vị vương quảng thuyết. Vương văn thị dĩ, tâm sanh hoan hỷ, thán vị tằng hữu!

          ()佛告善女天爾時長者子流水及其二子為彼池魚施水施食并說法俱共還家是長者子流水復於後時因有聚會設眾妓樂醉酒而臥時十千魚同時命過生三十三天起如是念我等以何善業因緣生此天中便相謂曰我等先於贍部洲內墮傍生中共受魚長者子流水施我等水及以飯食復為我等說甚深法十二緣起及陀羅尼復稱寶髻如來名號以是因緣能令我等得生此天是故我今咸應詣彼長者子所報恩供養爾時十千天子即於天沒至贍部洲大醫王所時長者子在高樓上安隱而睡時十千天子共以十千真珠瓔珞置其頭邊復以十千置其足處復以十千置於右脇復以十千置左脇邊雨曼陀羅華摩訶曼陀羅華積至于膝光明普照種種天樂出妙音聲令贍部洲有睡眠者皆悉覺寤長者子流水亦從睡寤是時十千天子為供養已即於空中飛騰而去於天自在光王國內處處皆雨天妙蓮是諸天子復至本處空澤池中雨眾天華便於此沒還天宮殿隨意自在受五欲樂天自在光王至天曉已問諸大臣昨夜何緣忽現如是希有瑞相放大光明大臣答言大王當知有諸天眾於長者子流水家中雨四十千真珠瓔珞及天曼陀羅華積至于膝王告臣曰詣長者家喚取其子大臣受勅即至其家奉宣王命喚長者子時長者子即至王所王曰何緣昨夜示現如是希有瑞相長者子言如我思忖定應是彼池眾魚如經所說命終之後得生三十三彼來報恩故現如是希奇之相王曰何以得知流水答曰王可遣使并我二子往彼池所驗其虛實彼十千魚為死為活王聞是語即便遣使及子向彼池邊見其池中多有曼陀羅華積成大聚諸魚竝死見已馳還為王廣王聞是己心生歡喜歎未曾有

          (Kinh: Đức Phật cáo Thiện Nữ Thiên: - Lúc bấy giờ, trưởng giả tử Lưu Thủy và hai con v́ cá trong ao đó thí nước, thí thức ăn, và thuyết pháp xong, đều cùng trở về nhà. Vị trưởng giả tử Lưu Thủy ấy lại vào lúc sau, do có tụ hội, bày các thứ kỹ nhạc, say rượu mà nằm. Khi đó, mười ngàn con cá cùng lúc xả mạng, sanh lên Tam Thập Tam Thiên, dấy lên ư nghĩ như thế này: “Chúng ta do nhân duyên nghiệp lành nào mà sanh trong cơi trời này?” Liền nói với nhau rằng: “Chúng ta trước kia ở trong châu Thiệm Bộ, đọa làm bàng sanh, cùng mang thân cá. Trưởng giả tử Lưu Thủy thí nước và cho chúng ta ăn. Lại v́ chúng ta nói pháp rất sâu là mười hai duyên khởi và Đà La Ni, lại xưng danh hiệu Bảo Kế Như Lai. Do nhân duyên ấy, có thể khiến cho chúng ta được sanh lên cơi trời này. V́ thế, ta nay đều nên tới chỗ trưởng giả tử để báo ân, cúng dường”. Lúc bấy giờ, mười ngàn thiên tử liền biến mất trên trời, đến chỗ đại y vương trong châu Thiệm Bộ. Khi đó, trưởng giả tử ở trên lầu cao, nằm ngủ an ổn. Khi ấy, mười ngàn thiên tử cùng dùng mười ngàn chuỗi anh lạc bằng chân châu đặt bên cạnh đầu ông ta. Lại dùng mười ngàn chuỗi đặt ở nơi chân. Lại dùng mười ngàn chuỗi đặt ở hông phải. Lại dùng mười ngàn chuỗi đặt ở bên hông trái. Mưa hoa mạn-đà-la, hoa ma ha mạn-đà-la, dồn lại cao tới đầu gối, quang minh chiếu trọn khắp. Các thứ nhạc trời vang ra âm thanh mầu nhiệm, khiến cho kẻ đang ngủ trong châu Thiệm Bộ thảy đều tỉnh giấc. Trưởng giả tử Lưu Thủy cũng tỉnh giấc. Khi đó, mười ngàn thiên tử đă cúng dường xong, liền ở trong hư không bay đi. Trong nước của vua Thiên Tự Tại Quang, nơi nơi đều mưa hoa sen mầu nhiệm cơi trời. Các vị thiên tử ấy lại tới trong ao nơi chằm trống xứ ấy, mưa các thứ hoa trời, rồi biến mất tại đó, trở về cung điện trời, tùy ư tự tại hưởng năm thứ dục lạc. Vua Thiên Tự Tại Quang tới sáng, hỏi các đại thần: “Đêm qua do duyên ǵ mà bỗng hiện tướng tốt lành hiếm có như thế, tỏa quang minh lớn?” Đại thần tâu rằng: “Đại vương nên biết: Có các vị trời ở trong nhà của trưởng giả tử Lưu Thủy mưa bốn mươi ngàn chuỗi anh lạc chân châu và hoa mạn-đà-la cơi trời dồn lại cao đến đầu gối”. Vua bảo bầy tôi rằng: “Đến nhà trưởng giả, gọi con ông ta [vào chầu]”. Đại thần vâng theo sắc chỉ, liền đến nhà đó, tuyên nói lệnh vua đ̣i trưởng giả tử [vào chầu]. Khi đó, trưởng giả tử liền tới chỗ vua, vua nói: “Duyên ǵ mà đêm qua thị hiện tướng tốt lành hiếm có như thế?” Trưởng giả tử nói: “Như thần suy nghĩ, chắc chắn phải là cá trong cái ao đó, như kinh đă nói sau khi mạng chung, được sanh lên Tam Thập Tam Thiên. Họ đến báo ân, cho nên hiện tướng hiếm lạ như thế”. Vua nói: “Làm sao biết được?” Lưu Thủy đáp rằng: “Vua có thể sai sứ và hai con của thần đến chỗ ao ấy, kiểm nghiệm thật giả, xem mười ngàn con cá ấy c̣n sống hay đă chết rồi?” Vua nghe lời ấy, liền sai sứ giả và con ông ta tới bên ao ấy. Họ thấy trong ao có nhiều hoa mạn-đà-la tích tụ thành đống lớn, cá đều chết hết. Thấy rồi, họ vội vă trở về, tâu vua cặn kẽ. Vua nghe chuyện ấy xong, tâm sanh hoan hỷ, than là chưa từng có).

 

          Kế đó, phần thứ tư trong chuyện cứu cá là “cá báo ân”. Kinh văn chia thành mười bốn đoạn:

          - Một, ba vị đại sĩ trở về nhà.

          - Hai, từ “thị trưởng giả tử” (vị trưởng giả tử ấy) trở đi, trưởng giả tử say rượu, nằm ngủ.

          - Ba, từ “thời, thập thiên ngư” (khi đó, mười ngàn con cá) trở đi, cá qua đời, sanh lên trời.

          - Bốn, từ “khởi như thị niệm” (dấy lên ư niệm như thế này) trở đi, nghĩ biết túc nghiệp.

          - Năm, từ “thị cố ngă kim” (v́ thế, ta nay) trở đi, bàn luận phải nên báo ân.

          - Sáu, từ “nhĩ thời, thập thiên” (lúc bấy giờ, mười ngàn) trở đi, chư thiên báo ân. Trong ấy, lại có ba ư:

          a. Từ trời giáng xuống.

          b. Từ “thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng giả tử) trở đi, báo đức.

          c. Từ “tiện ư thử một” (liền biến mất nơi đây) trở đi, xong việc, trở về trời.

          Trong phần “báo đức”, có ba ư:

          * Một là báo ân trưởng giả.      

          * Hai là từ “ư Thiên Tự Tại Quang vương” (ở chỗ vua Thiên Tự Tại Quang) trở đi, báo ơn quốc vương, do vua cho mượn voi, lại c̣n hộ tŕ Phật pháp, khiến cho ta được nghe.

          * Ba là từ “thị chư thiên tử” (các thiên tử ấy) trở đi, báo ân chỗ sanh.

          - Bảy, từ “Thiên Tự Tại Quang vương” trở đi, vua hỏi về điềm lành.

          - Tám, từ “đại thần đáp ngôn” (đại thần đáp rằng) trở đi, quần thần đáp cặn kẽ.

          - Chín, từ “vương cáo thần viết” (vua bảo bầy tôi rằng) trở đi, vua sai sứ giả gọi tới.

          - Mười, từ “thời trưởng giả tử” (khi đó, trưởng giả tử) trở đi, trưởng giả nghe theo lệnh đ̣i.

          - Mười một, từ “vương viết” (vua nói) trở đi, vua đích thân hỏi.

          - Mười hai, từ “trưởng giả tử ngôn” (trưởng giả tử nói) trở đi, trưởng giả trả lời cặn kẽ.

          - Mười ba, từ “vương viết hà dĩ” (vua nói v́ sao) trở đi, kiểm nghiệm thật giả.

          - Mười bốn, từ “vương văn thị” (vua nghe điều ấy) trở đi, sanh ḷng tin, hoan hỷ.

 

5.25.4.3. Kết lại, dung hội xưa nay

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Bồ Đề thụ thần: - Thiện Nữ Thiên! Nhữ kim đương tri, tích thời trưởng giả tử Lưu Thủy giả, tức ngă thân thị, Tŕ Thủy trưởng giả tức Diệu Tràng thị. Bỉ chi nhị tử, trưởng tử Thủy Măn tức Ngân Tràng thị. Thứ tử Thủy Tạng tức Ngân Quang thị. Bỉ Thiên Tự Tại Quang vương giả, tức nhữ Bồ Đề thụ thần thị. Thập thiên ngư giả tức thập thiên thiên tử thị. Nhân ngă văng tích dĩ thủy tế ngư, dữ thực linh băo, vị thuyết thậm thâm thập nhị duyên khởi, tịnh thử tương ứng Đà La Ni chú, hựu vị xưng bỉ Bảo Kế Phật danh. Nhân thử thiện căn, đắc sanh thiên thượng, kim lai ngă sở, hoan hỷ thính pháp. Ngă giai đương vị thọ ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề kư, thuyết kỳ danh hiệu. Thiện Nữ Thiên! Như ngă văng tích ư sanh tử trung, luân hồi chư hữu, quảng vi lợi ích, linh vô lượng chúng sanh tất linh thứ đệ thành Vô Thượng Giác, dữ kỳ thọ kư. Nhữ đẳng giai ưng cần cầu xuất ly, vật vi phóng dật.

          ()爾時佛告菩提樹神善女天汝今當知昔時長者子流水者即我身是持水長者即妙幢是彼之二子長子水滿即銀幢是次子水藏即銀光是彼天自在光王者即汝菩提樹神是十千魚者即十千天子是因我往昔以水濟魚與食令飽說甚深十二緣并此相應陀羅尼呪又為稱彼寶髻佛名因此善根得生天上今來我所歡喜聽法我皆當為授於阿耨多羅三藐三菩提記說其名善女天如我往昔於生死中輪迴諸有廣為利益令無量眾生悉令次第成無上覺與其授記汝等皆應勤求出離勿為放逸 

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo thần cây Bồ Đề: - Thiện Nữ Thiên! Bà nay nên biết, trưởng giả tử Lưu Thủy xưa kia chính là thân ta. Trưởng giả Tŕ Thủy nay chính là Diệu Tràng. Hai con của ông ta, con trưởng là Thủy Măn tức là Ngân Tràng. Con thứ là Thủy Tạng tức Ngân Quang. Vua Thiên Tự Tại Quang chính là bà, thần cây Bồ Đề. Mười ngàn con cá tức là mười ngàn thiên tử. Do ta xưa kia dùng nước cứu cá, cho chúng ăn no, v́ chúng nó nói mười hai duyên khởi rất sâu, và chú Đà La Ni tương ứng này, lại v́ chúng nó xưng danh hiệu Phật Bảo Kế. Do thiện căn ấy, chúng được sanh lên trời, nay đến chỗ ta, hoan hỷ nghe pháp, ta sẽ đều thọ kư Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho họ, nói ra danh hiệu. Thiện Nữ Thiên! Như ta xưa kia ở trong sanh tử, luân hồi các cơi, rộng tạo lợi ích, khiến cho vô lượng chúng sanh thảy đều theo thứ tự thành Vô Thượng Giác, và thọ kư cho họ. Các ngươi đều nên siêng cầu xuất ly, đừng buông lung).

 

          Kế đó, đoạn thứ ba là “kết lại bằng cách dung hội xưa nay”, gồm có bốn ư:

          - Một, kết lại bằng cách dung hội [thân hiện tại và xưa kia của] cha con Bồ Tát.

          - Hai, từ “bỉ Thiên Tự Tại” (Thiên Tự Tại ấy) trở đi, dung hội [thân xưa và thân hiện tại của] thần cây.

          - Ba, từ “thập thiên ngư” (mười ngàn con cá) trở đi, kết lại dung hội [thân xưa và hiện tại] của các thiên tử. Trong ấy, lại có ba điều:

          a. Trước hết, kết lại sự dung hội về người.

          b. Kế đó, từ “nhân ngă” (do ta) trở đi, kết hội về pháp.

          c. Sau đó, từ “nhân thử thiện căn” (do thiện căn ấy) trở đi, tổng kết nguyên do: Do cái nhân tốt lành mà được thọ kư.

          - Bốn, từ “Thiện Nữ Thiên” trở đi, khuyên nên tin tưởng, tu tập.

 

5.25.4.4. Đại chúng lănh ngộ, vâng theo đó tu học

 

          (Kinh) Nhĩ thời, đại chúng văn thuyết thị dĩ, tất giai ngộ giải “do đại từ bi cứu hộ nhất thiết, cần tu khổ hạnh, phương năng chứng hoạch Vô Thượng Bồ Đề”, hàm phát thâm tâm tín thọ, hoan hỷ.

          ()爾時大眾聞說是悉皆悟解由大慈悲救護一切勤修苦行方能證獲無上菩提咸發深心信受歡喜

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đại chúng nghe nói như thế xong, thảy đều ngộ giải “do đại từ bi cứu giúp, bảo vệ hết thảy, siêng tu khổ hạnh, th́ mới có thể chứng được Vô Thượng Bồ Đề”, đều phát tâm tin nhận sâu xa và hoan hỷ).

 

          Kế đó, đoạn thứ tư là “[đại chúng] lănh ngộ, vâng theo đó tu học”.

          Hỏi: Phẩm này đă nói cái nhân khiến cho các thiên tử được thọ kư nhằm trừ nghi cho đại chúng, cớ sao trong phần lănh ngộ lại nói đại chúng ngộ giải “do đại từ bi hành các khổ hạnh th́ mới chứng đắc Bồ Đề”?

          Đáp: Chuẩn theo phần “dung hội [thân xưa kia và hiện tại] để kết lại”, chỉ kết lại các thiên tử, rơ ràng chỉ v́ đại chúng trừ mối nghi đối với nguyên do các thiên tử được thọ kư. Nói hiểu “do hành đại từ bi v.v… mà đắc Bồ Đề” chính là ư nghĩa kèm theo. Lại biết mười ngàn vị thiên tử cũng hành khổ hạnh v.v… sau đó mới đắc Bồ Đề, cho nên [đại chúng] đều học tập, hành theo!

 

Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ mười

 

5.26. Phẩm thứ hai mươi sáu: Xả Thân (Xả thân phẩm đệ nhị thập lục, 捨身品第二十六)

 

          Phẩm Xả Thân gồm ba môn phân biệt.

 

5.26.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này?

 

          Nói tới ư nghĩa v́ sao có phẩm này, trong phần Học Hạnh Lưu Thông có năm tiểu loại. Tiểu loại thứ năm nhằm thành tựu ư nghĩa dạy học tập, hành theo trong các phẩm trước, gồm ba phẩm. Phẩm này chính là phẩm thứ ba nhằm khuyên lơn, khích lệ lần nữa, nên nói chuyện xả thân này. V́ sao vậy? Sợ người nghe do nghe nói “hành hạnh tự lợi sẽ được thành Phật”, vẫn chưa thể tu tập. V́ thế, nêu ra chuyện ngài Tát Đỏa chuyên chú trọng v́ lợi ích người khác mà xả thân mạng, [ngơ hầu thính chúng sẽ suy nghĩ]: Sao chẳng v́ chính ḿnh mà tu hành kinh này? V́ thế, nói xả thân. Do vậy, kinh văn trong phần sau chép: “Ngă vị nhữ đẳng thuyết văng tích lợi tha duyên, như thị Bồ Tát hành thành Phật nhân, đương học” (ta v́ các vị nói cái duyên lợi tha xưa, Bồ Tát hành cái nhân thành Phật như thế, hăy nên học theo) v.v… Lại sợ nghe nói “thiểu hành thành Phật” (hành đôi chút mà được thành Phật), tâm t́nh sẽ sanh khinh mạn; cho nên nêu lên chuyện xả thân, khuyên mọi người hăy học theo. Do đó, kinh văn trong phần sau dạy: “Bồ Tát thắng đức tương ứng huệ, dũng mănh tinh cần Lục Độ viên, thường tu bất tức vị Bồ Đề, nhập xả kiên cố tâm vô quyện” (đức thù thắng của Bồ Tát tương ứng huệ, dũng mănh siêng ṛng, hành Lục Độ viên măn, thường tu chẳng ngơi nghỉ. V́ Bồ Đề mà nhập xả kiên cố, tâm không mệt mỏi). Phẩm trước là chánh ư, phẩm này nói kèm thêm; đó đều là ư nghĩa v́ sao có phẩm này!

 

5.26.2. Giải thích tên gọi của phẩm

 

          V́ cầu đại giác, thường tu bi trí, gặp “khổ lương điền”, thề tổn thân mạng, chẳng giữ địa vị tôn quư. V́ rủ ḷng cứu kẻ bị treo ngược mà có thể hành hạnh khó thí. Nêu ra [các chuyện ấy] làm tên gọi của phẩm, bèn nói là phẩm Xả Thân.

 

5.26.3. Giải thích vấn nạn

 

          * Hỏi: Sự xả thân này là xả trong kiếp nào của ba A-tăng-kỳ?

          Đáp: Chưa thấy chánh văn [nói rơ thuộc kiếp nào]. Tương truyền Ngài xả thân trong A-tăng-kỳ kiếp thứ ba. Do trong kiếp đầu, hạnh c̣n kém, chẳng thể thực hiện chuyện xả thân mạng này. Chuẩn theo đó th́ phải nên thuộc vào hai A-tăng-kỳ sau!

          * Hỏi: Theo các bộ luận như luận Du Già Sư Địa v.v…, trong A-tăng-kỳ thứ ba, nhất định thọ thân Biến Dịch, sao có thể xả thân lưu lại hài cốt cho được?

          Đáp: Xả hóa thân.

          * Hỏi: Nếu vậy, sao không hóa thành các loại thịt khác để thí cho hổ đói, mà lại hóa hiện xả thân?

          Đáp: Hóa tự thân để thí sẽ lợi ích chúng sanh rất nhiều.

          * Hỏi: Nếu vậy, cớ sao kinh Kim Quang Minh trong bản dịch cũ nói: “Xả thân tự hổ siêu thập nhất kiếp” (Xả thân nuôi hổ siêu việt mười một kiếp)?

          Đáp: Cũng là biến hóa.

          * Hỏi: Nếu vậy, v́ sao các kinh như Phật Tạng v.v… nói: “Di Lặc Phật tại Thích Ca tiền tứ thập kiếp phát Bồ Đề tâm” (Phật Di Lặc phát Bồ Đề tâm trước Phật Thích Ca bốn mươi kiếp), các kinh như Hiền Kiếp v.v… nói: “Thích Ca do tinh tấn cố, siêu quá Di Lặc tứ thập kiếp, tại tiền thành Phật” (Thích Ca do tinh tấn, vượt hơn Di Lặc bốn mươi kiếp, thành Phật trước)?

          Đáp: V́ căn tánh của chúng sanh được giáo hóa chín muồi trước hay sau, cho nên hai vị Bồ Tát bèn nói có chuyện “vượt thoát kiếp số”. Nếu chẳng phải như vậy, sao lại nói “từ Bát Địa trở đi, tăng tấn địa vị trong mỗi sát-na”? Đều là tăng tấn gấp bội, sao lại siêu việt cho được? Lại giải rằng: Tăng tấn gấp bội là so với trước đó và hạnh tự lợi. Đối với hạnh lợi tha, chưa chắc đă tăng gấp bội. V́ thế nói nhập Cửu Địa th́ mới đoạn được chướng ngại “chẳng muốn hành hạnh lợi tha” của [Bát Địa]. Lại giải rằng: Do gộp chung cả hai nghĩa trên đây, nên có thể nói là “siêu việt”.

          * Hỏi: Đoạn trừ chướng ngại “chẳng lợi tha” trong Đệ Cửu Địa, cớ sao Phật Thích Ca tu trọn ba A-tăng-kỳ, trong một trăm kiếp, gặp Phất Sa Phật, do kiễng chân tán thán mà siêu việt chín kiếp?

          Đáp: V́ cơ nghi của chúng sanh [mà nói như vậy], cho nên chẳng phạm lỗi ǵ!

          * Hỏi: V́ sao xả thân chẳng thành cái quả thọ lượng của Như Lai, mà nói là “nêu ra khổ hạnh nhằm khuyên lơn, khuyến khích người tŕ kinh tu hạnh tự lợi” vậy?

          Đáp: Xét theo phần trước, Diệu Tràng Bồ Tát chỉ nghi thọ mạng, chẳng nêu ra cái nhân của trường thọ. Ngài chẳng nghi trường thọ do tu hạnh nào mà đạt được; do vậy, chẳng cần phải kết lại điều đó.

 

5.26.4. Giải thích kinh văn

5.26.4.1. Trần thuật chuyện xả thân xưa kia

5.26.4.1.1. Kết lại phần trước, dẫn khởi phần sau

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn dĩ vị đại chúng thuyết thử thập thiên thiên tử văng tích nhân duyên.

          ()爾時世尊已為大眾說此十千天子往昔因緣

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn đă v́ đại chúng nói nhân duyên xưa kia của mười ngàn vị thiên tử ấy).

 

          Tán rằng: Kinh văn của phẩm này, chia đại lược thành bốn phần:

          - Một, trần thuật chuyện xả thân xưa kia.

          - Hai, từ “phục cáo A Nan Đà” (lại bảo A Nan Đà) trở đi, dung hội xưa nay.

          - Ba, từ “ngă vị nhữ đẳng thuyết” (ta v́ các ngươi nói) trở đi, khuyên lơn, khích lệ tu học.

          - Bốn, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, đại chúng nghe xong, đạt được lợi ích.

          Phần thứ nhất lại chia thành ba đoạn:

          - Một, kết lại phần trước để dẫn khởi đầu mối sẽ nói trong phần sau.

          - Hai, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, hiện ra chế-để (tháp miếu) để dẫn khởi, ḥng trần thuật chuyện xả thân.

          - Ba, từ “phục cáo A Nan Đà” (lại bảo A Nan Đà) trở đi, đàm luận chuyện xả thân xưa kia ḥng lợi ích đại chúng trong hội thuở đó.

          Đoạn thứ nhất lại gồm ba ư, đoạn này thuộc ư thứ nhất, tức là người kết tập kinh kết lại phần trước.

 

          (Kinh) Phục cáo Bồ Đề thụ thần, cập chư đại chúng: - Ngă ư quá khứ hành Bồ Tát đạo, phi đản thí thủy cập thực, tế bỉ ngư mạng, năi chí diệc xả sở ái chi thân, như thị nhân duyên, khả cộng quán sát.

          ()復告菩提樹神及諸大眾我於過去行菩薩道非但施水及食濟彼魚命乃至亦捨所愛之身如是因緣可共觀察

          (Kinh: Lại bảo thần cây Bồ Đề và các đại chúng: - Ta trong quá khứ hành Bồ Tát đạo, không chỉ thí nước và thức ăn để cứu mạng cho cá, thậm chí cũng xả tấm thân đáng yêu mến, nhân duyên như thế, [các vị] có thể cùng quan sát).

 

          Kế đó, đức Thế Tôn dẫn khởi phần sau, có bốn ư:

          - Một, bảo ban thời cơ.

          - Hai, từ “phi đản” (không chỉ) trở đi, nhắc lại đại lược điều đă nói trước đó.

          - Ba, từ “năi chí” (thậm chí) trở đi, nêu cái nhân càng rộng lớn, thù thắng hơn.

          - Bốn, từ “như thị” (như thế) trở đi, khuyên răn đại chúng trong hội thuở ấy.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác, thiên thượng, thiên hạ tối thắng, tối tôn, bách thiên quang minh chiếu thập phương giới, cụ Nhất Thiết Trí, công đức viên măn, tương chư bật-sô, cập ư đại chúng, chí Bàn Giá La tụ lạc, nghệ nhất lâm trung. Kỳ địa b́nh chánh, vô chư kinh cức, danh hoa, nhuyễn thảo biến bố kỳ xứ. Phật cáo Cụ Thọ A Nan Đà: “Nhữ khả ư thử thụ hạ, vị ngă phu ṭa”. Thời A Nan Đà thọ giáo, phu dĩ, bạch ngôn: “Thế Tôn! Kỳ ṭa phu ngật, duy thánh tri thời”.

          ()爾時如來正等覺天上天下最勝最尊百千光明照十方界具一切智功德圓滿將諸苾芻及於大眾至般遮羅聚落詣一林中其地平正無諸荊棘名華軟草遍布其處佛告具壽阿難陀汝可於此樹下為我敷座時阿難陀受教敷已白言世尊其座敷訖唯聖知時

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Như Lai, Ứng, Chánh Đẳng Giác, là bậc tôn quư nhất, thù thắng nhất trên cơi trời và trong nhân gian, trăm ngàn quang minh chiếu mười phương thế giới, trọn Nhất Thiết Trí, công đức viên măn, dẫn các bật-sô và các đại chúng đến xóm Bàn Giá La, tới một khu rừng. Đất nơi đó bằng phẳng, ngay ngắn, không có các thứ gai góc, hoa quư và cỏ mịn phủ khắp nơi. Đức Phật bảo Cụ Thọ A Nan Đà: “Ông hăy nên v́ ta trải ṭa ở dưới cội cây”. Khi đó, A Nan Đà vâng lời dạy, trải xong, bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! Ṭa này đă trải xong, xin đức thánh biết thời).

 

          Kế đó là tạo đầu mối để nói, có hai phần:

          - Một, tán thán Phật đức tôn quư, hiện quang minh để nhóm họp đại chúng.

          - Hai, từ “tương chư bật-sô” (dẫn các bật-sô) trở đi, [đức Phật] hướng dẫn đại chúng trong hội thuở đó đến đạo tràng. Bàn Giá La (Pañcāla) được phương này dịch là Tổng Tập (總集), cũng có nghĩa là “dùng lồng để nhốt sư tử” th́ gọi là Bàn Giá La, tức là người xứ ấy bắt sư tử v.v… bèn dùng lồng để nhốt, nên đặt tên như vậy. Chỗ người t tập sinh sống th́ gọi là “tụ lạc” (聚落). “Lạc” cũng là đ́nh viện. Theo Tây Vực Truyện, tại nước Đát Xoa Thỉ La (Taksaśilā) thuộc vùng Bắc Ấn Độ, ở phía Tây Bắc của nước Ca Thấp Di La (Kāśmīra), tại miền Bắc của nước [Đát Xoa] Thỉ La, vượt qua sông Tín Độ (Sindhus) hai trăm dặm về phía Đông Nam, vượt qua một cửa đá lớn, chính là nơi vương tử Tát Đỏa xả thân để nuôi cọp đói. Tại đó, đất đai và các thảo mộc đều hơi có màu đỏ tươi, giống như nhiễm máu vậy. Người đi trên đất ấy, như bị gai đâm, bất luận là ngờ vực hay tin tưởng, không ai chẳng buồn thương!        

          - Ba, từ “Phật cáo Cụ Thọ” (đức Phật bảo Cụ Thọ) trở đi, đức Phật sắc truyền ngài A Nan trang nghiêm pháp ṭa, gồm ba ư: Một, đức Phật sắc truyền. Hai, [ngài A Nan] vâng theo lời truyền dạy. Ba, [ngài A Nan] khải thỉnh!

 

5.26.4.1.2. Hiện ra chế-để để dẫn khởi, ḥng trần thuật chuyện xả thân

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn tức ư ṭa thượng, già phu nhi tọa, đoan thân, chánh niệm, cáo chư bật-sô: “Nhữ đẳng nhạo dục kiến bỉ văng tích khổ hạnh Bồ Tát bổn xá-lợi phủ?” Chư bật-sô ngôn: “Ngă đẳng nhạo kiến”. Thế Tôn tức dĩ bách phước trang nghiêm tướng hảo chi thủ nhi án kỳ địa, vu thời đại địa lục chủng chấn động, tức tiện khai liệt, thất bảo chế-để hốt nhiên dũng xuất. Chúng bảo la vơng trang nghiêm kỳ thượng. Đại chúng kiến dĩ, sanh hy hữu tâm. Nhĩ thời, Thế Tôn tức tùng ṭa khởi, tác lễ, hữu nhiễu, hoàn tựu bổn tọa, cáo A Nan Đà: “Nhữ khả khai thử chế-để chi hộ”. Thời A Nan Đà tức khai kỳ hộ, kiến thất bảo hàm, kỳ trân gián sức, bạch ngôn: “Thế Tôn! Hữu thất bảo hàm, chúng bảo trang hiệu”. Phật ngôn: “Nhữ khả khai hàm”. Thời A Nan Đà phụng giáo, khai dĩ, kiến hữu xá-lợi bạch như kha tuyết, câu vật đầu hoa, tức bạch Phật ngôn: “Hàm hữu xá-lợi, sắc diệu dị thường”. Phật ngôn: “A Nan Đà! Nhữ khả tŕ thử đại sĩ cốt lai”. Thời A Nan Đà tức thủ kỳ cốt, phụng thọ Thế Tôn. Thế Tôn thọ dĩ, cáo chư bật-sô: “Nhữ đẳng ưng quán khổ hạnh Bồ Tát di thân xá-lợi”, nhi thuyết tụng viết: “Bồ Tát thắng đức tương ứng huệ, dũng mănh tinh cần Lục Độ viên, thường tu bất tức vị Bồ Đề, đại xả kiên cố tâm vô quyện. Nhữ đẳng bật-sô hàm ưng lễ kính Bồ Tát bổn thân. Thử chi xá-lợi năi thị vô lượng giới định huệ hương chi sở huân phức, tối thượng phước điền, cực nan phùng ngộ”. Thời chư bật-sô, cập chư đại chúng, hàm giai chí tâm, hiệp chưởng cung kính, đảnh lễ xá-lợi, thán vị tằng hữu. Thời A Nan Đà tiền lễ Phật túc, bạch ngôn: “Thế Tôn! Như Lai đại sư xuất quá nhất thiết, vi chư hữu t́nh chi sở cung kính, hà nhân duyên cố, lễ thử thân cốt?” Phật cáo A Nan Đà: - Ngă nhân thử cốt, tốc đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, vị báo văng ân, ngă kim trí lễ.

          ()爾時世尊即於座上跏趺而坐端身正念告諸苾芻汝等樂欲見彼往昔苦行菩薩本舍利不諸苾芻言我等樂見世尊即以百福莊嚴相好之手而按其地于時大地六種震動即便開裂七寶制底忽然涌出眾寶羅網莊嚴其上大眾見已生希有心爾時世尊即從座起作禮右遶還就本座告阿難陀汝可開此制底之時阿難陀即開其見七寶函奇珍間飾白言世尊有七寶函眾寶莊校佛言汝可開函時阿難陀奉教開已見有舍利白如珂雪拘物頭華即白佛言函有舍利色妙異常佛言阿難陀汝可持此大士骨來時阿難陀即取其骨奉授世尊世尊受已告諸苾芻汝等應觀苦行菩薩遺身舍利說頌菩薩勝德相應慧勇猛精勤六度圓常修不息為菩提大捨堅固心無倦汝等苾芻咸應禮敬菩薩本身此之舍利乃是無量戒定慧香之所熏馥最上福田極難逢遇時諸苾芻及諸大眾咸皆至心合掌恭敬頂禮舍利歎未曾有時阿難陀前禮佛足白言世尊如來大師出過一切為諸有情之所恭敬何因緣故禮此身骨佛告阿難陀我因此骨速得無上正等菩提為報往恩我今致禮

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền ngồi xếp bằng trên ṭa, đoan thân, chánh niệm, bảo các bật-sô: “Các ông có thích muốn thấy xá-lợi của vị Bồ Tát khổ hạnh xưa kia hay không?” Các bật-sô thưa: “Chúng con thích thấy”. Đức Thế Tôn liền dùng cánh tay trăm phước tướng hảo trang nghiêm ấn xuống đất. Ngay khi đó, đại địa chấn động sáu cách, lập tức nứt ra, tháp miếu bảy báu bỗng dưng vọt lên. Các thứ lưới mành báu trang nghiêm phía trên. Đại chúng thấy rồi, sanh tâm hy hữu. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, làm lễ, nhiễu theo chiều phải, trở về ṭa ngồi, bảo A Nan Đà: “Ông có thể mở cửa tháp này”. Khi đó, ngài A Nan Đà liền mở cửa, thấy hộp bằng bảy báu, các thứ báu hiếm lạ xen kẽ. Bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Có hộp bằng bảy báu, được trang hoàng bằng các thứ báu”. Đức Phật bảo: “Ông có thể mở hộp”. Khi đó, ngài A Nan Đà vâng lời, mở ra, thấy có xá-lợi trắng như kha tuyết, hoặc hoa Câu Vật Đầu, liền bạch cùng đức Phật rằng: “Trong hộp có xá lợi, màu sắc kỳ diệu lạ thường”. Đức Phật nói: “A Nan Đà! Ông nên đem xương của vị đại sĩ ấy lại đây”. Lúc đó, ngài A Nan Đà liền lấy xương ấy dâng lên đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn nhận lấy rồi, bảo các bật-sô: “Các ông hăy nên quán di thân xá-lợi của bậc Bồ Tát khổ hạnh”, bèn nói bài tụng rằng: “Bồ Tát thắng đức tương ứng huệ, dũng mănh, siêng ṛng, Lục Độ vẹn. Thường v́ Bồ Đề tu chẳng dứt, tâm đại xả kiên cố chẳng mệt. Hàng bật-sô các ông đều nên lễ kính bổn thân của Bồ Tát. Xá-lợi này được vô lượng hương Giới Định Huệ xông ướp thơm ngát, là ruộng phước tối thượng, tột bậc khó gặp gỡ”. Khi đó, các bật-sô và các đại chúng thảy đều chí tâm, chắp tay cung kính đảnh lễ xá-lợi, than là chưa từng có. Khi đó, ngài A Nan Đà đối trước đức Phật, lễ dưới chân Ngài, bạch rằng: “Bạch Thế Tôn! Như Lai đại sư vượt ngoài hết thảy, được các hữu t́nh cung kính, do nhân duyên nào mà lễ xương này?” Đức Phật bảo ngài A Nan Đà: - Ta do xương này mà mau chóng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, v́ báo ân xưa, nay ta kính lễ).

 

          Kế đó, hiện ra chế-để ḥng làm đầu mối trần thuật chuyện xả thân. Trong ấy, lại chia thành mười tám đoạn:

          - Một, [đức Phật] hỏi ư mong muốn của đại chúng.

          - Hai, từ “chư bật-sô ngôn” (các bật-sô nói) trở đi, đại chúng đáp thích thấy.

          - Ba, từ “Thế Tôn tức dĩ” (đức Thế Tôn liền dùng) trở đi, đức Phật hiện thần thông. Hỏi: Sao không trực tiếp khiến cho tháp vọt lên, hiện ra, mà dùng tay ấn đất, tháp mới vọt lên? Đáp: Nếu không dùng tay ấn, trực tiếp để tháp hiện lên, đại chúng sẽ không biết thần lực của Phật. [Đoạn này] có ba ư: Một là dùng tay ấn xuống đất, hai là đất chấn động, ba là đất nứt ra.

          - Bốn, từ “thất bảo chế-để” (tháp miếu bảy báu) trở đi, tháp báu vọt lên, hiện ra. Chế-để (Caitya) là tiếng Phạn, là từ ngữ để gọi chung chùa, tháp của Phật. Nếu gọi riêng biệt, Phật đường được gọi là Chế Đa (Chaitya), phương này dịch là Linh Thố (靈厝, pḥng ốc thiêng liêng), phiên âm theo lối cũ thành Chi Đề (支提) là sai! Tháp gọi là Tốt-đổ-ba (Stūpa), phương này dịch là Cao Hiển (cao tột và rạng rỡ), dịch theo lối cũ là Phật Tháp, Tháp Bà, Luân Bà v.v… đều sai. Trong đoạn này, có ba ư: Một, chế-để vọt ra; hai là [tháp được] trang nghiêm bằng các thứ báu; ba là đại chúng trông thấy. Hỏi: Tháp xả thân sao không ẩn trên hư không, mà ch́m trong đất? Đáp: Muốn hiển thị xá-lợi của Pháp Thân nơi nhân do bị các chướng ngăn che mà chẳng thể hiển hiện. Do phương tiện của Phật mới có thể hiển lộ. V́ thế, ẩn trong đất, phải ấn xuống đất th́ tháp mới vọt lên.

          - Năm, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, [đức Thế Tôn do] báo ân mà kính lễ. Như ngạ quỷ dùng roi đánh xác chết, chư thiên lễ xương khô[14], đều nhằm dụng ư khiến cho đại chúng tu nhân. V́ thế, báo ân xưa.

          - Sáu, từ “cáo A Nan Đà” (bảo A Nan Đà) trở đi, sắc truyền mở tháp.

          - Bảy, từ “thời A Nan Đà” (khi đó, A Nan Đà) trở đi, vâng mạng mở tháp. Trong ấy, có hai ư: Một là mở tháp, hai là thấy cái hộp [bảy báu đựng xá-lợi].

          - Tám, từ “bạch ngôn: - Thế Tôn” (bạch rằng: - Bạch Thế Tôn!) trở đi, thưa tŕnh dựa theo những ǵ trông thấy. Hiển thị Như Lai Tạng có trọn đủ tánh công đức; v́ thế, các báu trang nghiêm hộp [đựng xá-lợi].

          - Chín, từ “Phật ngôn” (đức Phật nói) trở đi, sắc truyền mở hộp.

          - Mười, từ “thời A Nan” (khi đó, A Nan) trở đi, ngài Khánh Hỷ (A Nan Đà) vâng theo lời dạy. [Đoạn này] có hai ư: Trước là mở hộp, sau là trông thấy, biểu thị lư tánh thanh tịnh, chẳng phải là vật bị ô nhiễm, giống như hoa sen trắng.

          - Mười một, từ “tức bạch” (liền bạch) trở đi, A Nan lại thưa tŕnh.

          - Mười hai, từ “Phật ngôn” (đức Phật nói) trở đi, đức Phật bảo mang [xá-lợi] đến.

          - Mười ba, từ “thời A Nan” (khi đó, ngài A Nan) trở đi, Khánh Hỷ dâng lên.

          - Mười bốn, từ “Thế Tôn thọ dĩ” (Thế Tôn nhận lấy xong) trở đi, đức Phật nhận lấy, nói ra nhân duyên, gồm ba ư: Một, đức Phật nhận lấy. Hai là khuyên [đại chúng hăy] nh́n xem. Ba là ca tụng, tán thán.

          - Mười lăm, từ “nhữ đẳng” (các ông) trở đi, đức Thế Tôn dạy hăy lễ bái. Trong ấy, có hai ư: Trước là dạy lễ bái, sau là giải thích nguyên do. Năm phần Pháp Thân hương, [chánh kinh chỉ] nêu ra ba phần để liên tưởng hai phần kia. Giới tức là Biệt Giải Thoát, Định là vô biểu định, Huệ là tên gọi khác của Như, Giải Thoát tức là Thắng Giải Số, Giải Thoát Tri Kiến là duyên vô vi Huệ. Nói cặn kẽ th́ như các bộ Tạp Tập, Đại Trang Nghiêm v.v… đă biện định.

          - Mười sáu, từ “thời chư” (khi đó, các [bật-sô]) trở đi, [các tỳ-kheo] vâng theo lời dạy, lễ bái, tán thán.

          - Mười bảy, từ “thời A Nan” (khi đó, A Nan) trở đi, A Nan hỏi đức Phật lư do Ngài lễ bái.

          - Mười tám, từ “Phật cáo” (đức Phật bảo) trở đi, giải đáp lư do lễ kính.

 

5.26.4.1.3. Trần thuật chuyện Bồ Tát xả thân khi xưa

5.26.4.1.3.1. Trường hàng

5.26.4.1.3.1.1. Nêu ra quyến thuộc của Bồ Tát

 

          (Kinh) Phục cáo A Nan Đà: “Ngô kim vị nhữ cập chư đại chúng đoạn trừ nghi hoặc, thuyết thị xá-lợi văng tích nhân duyên. Nhữ đẳng thiện tư, đương nhất tâm thính.” A Nan Đà viết: “Ngă đẳng nhạo văn, nguyện vị khai xiển”. “A Nan Đà! Quá khứ thế thời, hữu nhất quốc vương, danh viết Đại Xa, cự phú, đa tài, khố tạng doanh măn, quân binh vũ dũng, chúng sở khâm phục, thường dĩ chánh pháp thí hóa kiềm lê, nhân dân xí thịnh, vô hữu oán địch. Quốc thái phu nhân đản sanh tam tử, nhan dung đoan chánh, nhân sở nhạo quán. Thái tử danh viết Ma Ha Ba La, thứ tử danh viết Ma Ha Đề Bà, ấu tử danh viết Ma Ha Tát Đỏa”.

          ()復告阿難陀吾今為汝及諸大眾斷除疑惑說是舍利往昔因汝等善思當一心聽阿難陀曰我等樂聞願為開闡阿難陀過去世時有一國王名曰大車巨富多財庫藏盈滿軍兵武勇眾所欽伏常以正法施化黔黎人民熾盛無有怨敵國太夫人誕生三子顏容端正人所樂觀太子名曰摩訶波羅次子名曰摩訶提婆幼子名曰摩訶薩埵

          (Kinh: Lại bảo A Nan Đà: “Ta nay v́ ông và các đại chúng đoạn trừ nghi hoặc, nói nhân duyên xưa kia của xá-lợi này. Các ông khéo suy nghĩ, hăy nên nhất tâm nghe”. A Nan Đà thưa: “Chúng con thích nghe, xin hăy v́ chúng con khai xiển”. “A Nan Đà! Trong thời quá khứ, có một quốc vương, tên là Đại Xa, giàu to, nhiều tiền của, kho tàng đầy ắp, binh lính vũ dũng, mọi người khâm phục. Thường dùng chánh pháp để ban bố, giáo hóa dân đen. Nhân dân đông đảo, chẳng có oán địch. Quốc thái phu nhân sanh hạ ba trai, dung mạo đoan chánh, mọi người thích thấy. Thái tử tên là Ma Ha Ba La, con thứ tên là Ma Ha Đề Bà, con út tên là Ma Ha Tát Đỏa”).

 

          Kế đó, đàm luận chuyện xả thân xưa kia ḥng tạo lợi ích cho đại chúng trong hội thuở ấy. Kinh văn chia thành ba phần:

          - Một, [đức Phật] sắc truyền [đại chúng] lắng nghe, hứa sẽ nói.

          - Hai, đại chúng ưa thích muốn nghe.

          - Ba, đức Phật v́ họ khai diễn. Trong ấy, lại có hai phần: Một là trường hàng, hai là trùng tụng.

          Phần trường hàng gồm mười đoạn:

          - Một, trần thuật quyến thuộc xưa kia.

          - Hai, từ “thị thời đại vương” (khi đó, đại vương) trở đi, thuật chuyện [vua và quyến thuộc] đi chơi xưa kia.

          - Ba, từ “đệ nhất vương tử” (vương tử thứ nhất) trở đi, [các vương tử] gặp cảnh khổ sanh bi tâm.

          - Bốn, từ “nhĩ thời, Tát Đỏa” (lúc bấy giờ, Tát Đỏa) trở đi, [vương tử thứ ba] nghĩ nên xả mạng.

          - Năm, từ “nhĩ thời, vương tử” (lúc bấy giờ, vương tử) trở đi, [Tát Đỏa] xả thân cứu giúp.

          - Sáu, từ “thị thời đại địa” (khi đó, đại địa) trở đi, điềm lành cảm động trời đất.

          - Bảy, từ “thị thời ngạ hổ” (lúc ấy, cọp đói) trở đi, hổ có thể ăn.

          - Tám, từ “nhĩ thời, đại vương” (lúc bấy giờ, đại vương) trở đi, quyến thuộc thương khóc.

          - Chín, từ “nhĩ thời, đại vương” (lúc bấy giờ, đại vương) trở đi, [quyến thuộc] v́ [vương tử Tát Đỏa] lập chế-để.

          - Mười, từ “A Nan” trở đi, kết lại chuyện thị hiện lợi sanh.

          “Trần thuật quyến thuộc xưa kia” gồm ba ư:

          - Một, nói về thời tiết.

          - Hai, trần thuật cha mẹ.

          - Ba, nói về anh em.

          Phân đoạn kinh văn dễ thấy. Ma Ha Ba La được phương này dịch là Đại Cừ. Ma Ha Đề Bà được phương này dịch là Đại Thiên. Ma Ha Tát Đỏa phương này dịch là Đại Dũng Mănh, cầu đại Bồ Đề, phát tâm đại dũng mănh, chẳng sợ nơi chốn và thời gian, liều thân xả mạng ḥng cầu pháp, lợi ích chúng sanh, thường chẳng keo tiếc, lui sụt. V́ thế, gọi là Đại Dũng Mănh. Do vậy, kệ tụng trong phần sau có câu: “Vương tử danh Dũng Mănh, thường thí tâm vô lận” (Vương tử tên Dũng Mănh, thường thí, tâm chẳng keo tiếc).

 

5.26.4.1.3.1.2. Thuật chuyện đi chơi thuở trước

 

          (Kinh) Thị thời, đại vương vị dục du quán, tung thưởng sơn lâm. Kỳ tam vương tử diệc giai tùy tùng, vị cầu hoa quả, xả phụ châu toàn, chí đại trúc lâm, ư trung khế tức.

          ()是時大王為欲遊觀縱賞山林其三王子亦皆隨從為求華果捨父周旋至大竹林於中憩息

          (Kinh: Khi đó, đại vương v́ muốn dạo chơi, thưởng ngoạn cảnh núi rừng, ba vương tử cũng đều đi theo, v́ t́m hoa quả, rời khỏi đoàn tùy tùng của cha, đến rừng trúc lớn, nghỉ ngơi trong đó).

 

          Kế đó, trần thuật chuyện đi chơi thuở trước. Kinh văn có ba ư:

          - Một, vua rời cung đi chơi.

          - Hai, quần thần, thuộc hạ đều theo hầu.

          - Ba, các con riêng t́m thứ ưa thích.

          Hỏi: Đă nói là vua ra ngoài du ngoạn, vương tử đi theo, cớ sao khi nghe nói con xả thân, kinh văn lại nói là vua ở trong cung?

          Đáp: Chuẩn theo bản dịch cũ, chỉ có vương tử ra ngoài, lược đi không bàn tới cha. Ở đây nói là [ba vương tử] ĺa khỏi đoàn tùy tùng, lược đi chẳng nói chuyện [vua cha] trở về [cung trước]. Thật ra, con đi theo, vua trở về trước; v́ thế, nghe tin con xả thân, vua đang ở trong cung chẳng sai!

 

5.26.4.1.3.1.3. Gặp cảnh khổ sanh bi tâm

 

          (Kinh) Đệ nhất vương tử tác như thị ngôn: “Ngă ư kim nhật, tâm thậm kinh hoàng, ư thử lâm trung, tương vô mănh thú, tổn hại ư ngă?” Đệ nhị vương tử phục tác thị ngôn: “Ngă ư kỷ thân, sơ vô lận tích, khủng ư sở ái, hữu biệt ly khổ”. Đệ tam vương tử bạch nhị huynh viết: “Thử thị thần tiên sở cư xứ, ngă vô khủng bố biệt ly ưu, thân tâm sung biến sanh hoan hỷ, đương hoạch thù thắng chư công đức”. Thời chư vương tử các thuyết bổn tâm sở niệm chi sự.

          ()第一王子作如是言我於今日心甚驚惶於此林中將無猛獸損害於我第二王子復作是言我於己身初無悋惜恐於所愛有別離苦第三王子白二兄曰此是神仙所居處我無恐怖別離憂身心充遍生歡喜當獲殊勝諸功德時諸王子各說本心所念之

          (Kinh: Vương tử thứ nhất nói như thế này: “Ta trong ngày nay, tâm rất kinh sợ, ở trong rừng này, sẽ có mănh thú, tổn hại ta ư?” Vương tử thứ hai lại nói lời này: “Em đối với bản thân, thoạt đầu chẳng tiếc nuối, sợ với người yêu mến, khổ v́ biệt ly chăng?” Vương tử thứ ba thưa với hai anh: “Đây là chỗ thần tiên ở, chẳng sợ, sầu biệt ly, thân tâm trọn hoan hỷ, đạt công đức thù thắng”. Khi đó, các vương tử ai nấy nói ra điều suy nghĩ trong tâm của chính ḿnh).

 

          Đoạn thứ ba là “gặp cảnh khổ, sanh ḷng bi”. Trong ấy, có ba tiểu đoạn. Trước hết là trần thuật điều suy nghĩ trước đó. Trong ấy, lại có hai ư:

          - Một, mỗi vương tử trần thuật ư niệm.

          - Hai, từ “thời chư vương tử” (khi đó, các vương tử) trở đi là lời tiểu kết của người kết tập kinh điển.

 

          (Kinh) Thứ phục tiền hành, kiến hữu nhất hổ, sản sanh thất tử, tài kinh thất nhật, chư tử vi nhiễu, cơ khát sở bức, thân h́nh luy sấu, tương tử bất cửu.

          ()次復前行見有一虎產生七子纔經七諸子圍遶飢渴所逼身形羸瘦將死不久

          (Kinh: Kế đó, lại tiến lên trước, thấy có một con cọp sanh được bảy con, vừa mới qua bảy ngày, các con vây quanh, bị đói khát bức bách, thân h́nh gầy ṃn, chẳng bao lâu sẽ chết).

 

          Kế đó, thấy hổ đói khát, gầy ṃn.

          Hỏi: Thấy hổ sanh con, sao biết là bảy ngày?

          Đáp: Chân Đế Tam Tạng có hai cách giải thích:

          - Một là ăn bằng cách cắn xé th́ chỉ có thể nhịn đói tới bảy ngày, qua khỏi [thời hạn đó] sẽ chết. Do hổ đói như thế, liền biết là bảy ngày.

          - Một cách giải thích khác: Lúc đó, sẽ có quỷ thần bảo cho biết, nhưng người kết tập kinh không nêu ra, cũng như phát nguyện xả thân, không có người hay biết, sau đó, thiên thần báo tin, giống như thần cây báo cho [trưởng giả tử Lưu Thủy] biết số lượng cá trong ao.

 

          (Kinh) Đệ nhất vương tử tác như thị ngôn: “Ai tai thử hổ, sản lai thất nhật, thất tử vi nhiễu, vô hạ cầu thực, cơ khát sở bức, tất hoàn đạm tử”. Tát Đỏa vương tử vấn ngôn: “Thử hổ mỗi thường sở thực hà vật?” Đệ nhất vương tử đáp viết: “Hổ, báo, sài, sư tử, duy đạm nhiệt huyết nhục, cánh vô dư ẩm thực, khả tế thử hổ luy”. Đệ nhị vương tử văn thử ngữ dĩ, tác như thị ngôn: “Thử hổ luy sấu, cơ khát sở bức, dư mạng vô kỷ, ngă đẳng hà năng, vị cầu như thị, nan đắc ẩm thực? Thùy phục vị tư, tự xả thân mạng, tế kỳ cơ khổ?” Đệ nhất vương tử ngôn: “Nhất thiết nan xả, vô quá kỷ thân”. Tát Đỏa vương tử ngôn: “Ngă đẳng kim giả, ư tự kỷ thân, các sanh ái luyến, phục vô trí huệ, bất năng ư tha, nhi hưng lợi ích”.

          ()第一王子作如是言哀哉此虎產來七七子圍遶無暇求食飢渴所逼必還啗子薩埵王子問言此虎每常所食何物第一王子答曰虎豹犲師子唯啗熱血肉更無餘飲食可濟此虎羸第二王子聞此語已作如是言此虎羸瘦飢渴所逼餘命無幾我等何能為求如是難得飲食誰復為斯自捨身命濟其飢苦第一王子言一切難捨無過己身薩埵王子言我等今者於自己身各生愛戀復無智慧不能於他而興利益

          (Kinh: Vương tử thứ nhất nói như thế này: “Buồn thay cọp này, sanh đă bảy ngày, bảy con vây quanh, không rảnh kiếm ăn, đói khát bức bách, ắt ăn thịt con”. Vương tử Tát Đỏa hỏi rằng: “Cọp này thường ăn thứ ǵ?” Vương tử thứ nhất đáp rằng: “Cọp, báo, sói, sư tử, chỉ ăn máu thịt nóng, chẳng có thứ nào khác, giúp được cọp gầy này”. Vương tử thứ hai nghe lời ấy, nói như thế này: “Cọp này gầy ṃn, đói khát bức bách, mạng chẳng c̣n mấy! Ta sao có thể, v́ nó t́m ṭi, thức ăn khó có, như thế cho được? Ai lại v́ nó, tự xả thân mạng, giúp thoát đói khổ?” Vương tử thứ nhất nói: “Hết thảy thứ khó bỏ, không ǵ hơn thân ḿnh”. Vương tử Tát Đỏa nói: “Nay chúng ta ai nấy, đối với thân chính ḿnh, đều sanh ḷng mến luyến, lại chẳng có trí huệ, tạo lợi ích người khác”).

         

          Kế đó là “bi thương, cùng nhau bàn bạc”. Trong đoạn này có bảy ư:

          - Một, thái tử thấy cảnh khổ, thương xót.

          - Hai, từ “Tát Đỏa vương tử” trở đi, Tát Đỏa hỏi cọp ăn ǵ.

          - Ba, từ “đệ nhất vương tử” trở đi, thái tử đáp cọp ăn máu thịt.

          - Bốn, từ “đệ nhị vương tử” trở đi, Đại Thiên nghe nói, sanh tâm keo tiếc, kinh sợ.

          - Năm, từ “đệ nhất vương tử” trở đi, thái tử trần thuật xả thân khó khăn.

          - Sáu, từ “Tát Đỏa vương tử” trở đi, Tát Đỏa bàn đi tính lại. Trong ấy có ba điều:

          a. Tự trách chính ḿnh không có khả năng.

          b. Suy nghĩ người khác có sức.

          c. Tâm niệm tự kiểm điểm chính ḿnh.

          Trong điều thứ nhất, tự trách chính ḿnh không có khả năng, do có ba nguyên nhân: Một là tham đắm, hai là từ “phục vô trí huệ” (lại chẳng có trí huệ) trở đi, do chẳng có đại trí. Ba là từ “vô năng ư” (chẳng thể) trở đi, chẳng có tâm đại bi. Do có tham đắm, sẽ chẳng thể sanh ḷng chán nhàm hữu vi. Do không có đại trí, chẳng thể sanh tâm cầu Bồ Đề. Do không có đại bi, chẳng thể sanh tâm lợi ích hữu t́nh. V́ thế, chẳng thể xả thân để tạo lợi ích cho chúng sanh.

 

          (Kinh) Nhiên hữu thượng sĩ, hoài đại bi tâm, thường vị lợi tha, vong thân tế vật.

          ()然有上士懷大悲心常為利他忘身濟物

          (Kinh: Nhưng có bậc thượng sĩ, do ôm ḷng đại bi, thường v́ ḷng lợi tha, quên thân giúp chúng sanh).

 

          Kế đó, suy nghĩ người khác có sức. Trong phần này, cũng có ba ư:

          - Một là có bậc đại trí, tức là có bậc thượng sĩ.

          - Hai là [vị ấy] có tâm đại bi, ôm ḷng đại bi v.v…

          - Ba là [vị đại sĩ ấy] quên thân giúp chúng sanh, tức là chẳng tham, có thể chán nhàm hữu vi.

 

          (Kinh) Phục tác thị niệm: Ngă kim thử thân, ư bách thiên sanh, hư khí lạn hoại, nhật vô sở ích, vân hà kim nhật, nhi bất năng xả, dĩ tế cơ khổ, như quyên di thóa?

          ()復作是念我今此身於百千生虛棄爛壞日無所益云何今日而不能捨以濟飢苦如捐洟唾

          (Kinh: Lại nghĩ thế này: Nay thân này của ta, trăm ngàn đời bỏ phí, hư nát, chẳng có ngày nào lợi ích, cớ sao nay chẳng thể xả để giúp nỗi khổ đói khát như vứt bỏ mũi răi?)

 

          Kế đó, tâm tự phản tỉnh. Trong ấy, có ba điều:

          - Một, nghĩ lại xưa kia đă phí uổng thân mạng vô cùng tận.

          - Hai, từ “vân hà kim nhật” (cớ sao ngày nay) trở đi, suy nghĩ sao nay chẳng thể xả thân lợi ích chúng sanh?

          - Ba, từ “như quyên di thóa” (như vứt bỏ mũi răi) trở đi, hăy nên sanh ḷng chán ĺa, giống như [vứt bỏ] mũi răi, bỏ vô thường sắc để đạt được thường sắc v.v…

 

          (Kinh) Thời chư vương tử tác thị nghị dĩ, các khởi từ tâm, thê thương mẫn niệm, cộng quán luy hổ, mục bất tạm di, bồi hồi cửu chi, câu xả nhi khứ.

          ()時諸王子作是議已各起慈心悽傷愍念共觀羸虎目不暫移徘徊久之俱捨而去

          (Kinh: Khi đó, các vương tử bàn luận như thế rồi, ai nấy đều dấy ḷng từ, đau đớn thương xót, cùng nh́n cọp gầy, mắt chẳng tạm dời, bồi hồi lúc lâu rồi mới cùng nhau rời đi).

 

          Kế đó, điều thứ bảy [trong phần “thấy cảnh khổ, khởi bi tâm”] là các vương tử thương xót, bồi hồi rời đi.

 

5.26.4.1.3.1.4. Suy nghĩ hăy nên xả mạng

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tát Đỏa vương tử tiện tác thị niệm: - Ngă xả thân mạng, kim chánh thị thời. Hà dĩ cố? Ngă tùng cửu lai tŕ thử thân, xú uế nùng lưu bất khả ái, cung cấp phu cụ, tịnh y thực, tượng, mă, xa thặng, cập trân tài, biến hoại chi pháp thể vô thường, hằng cầu nan măn, nan bảo thủ, tuy thường cúng dường, hoài oán hại, chung quy khí ngă bất tri ân. Phục thứ thử thân bất kiên, ư ngă vô ích! Khả úy như tặc, bất tịnh như phẩn. Ngă ư kim nhật, đương sử thử thân tu quảng đại nghiệp, ư sanh tử hải, tác đại châu hàng, khí xả luân hồi, linh đắc xuất ly.

          ()爾時薩埵王子便作是念我捨身命今正是時何以故我從久來持此身臭穢膿流不可愛供給敷具并衣食象馬車乘及珍財變壞之法體無常恒求難滿難保守雖常供養懷怨害終歸棄我不知恩復次此身不堅於我無益可畏如賊不淨如糞我於今日當使此身修廣大業於生死海作大舟航棄捨輪迴令得出離     (Kinh: Lúc bấy giờ, vương tử Tát Đỏa liền nghĩ thế này: - Nay đúng là lúc ta nên xả thân mạng. V́ sao vậy? Từ bấy lâu nay, ta đă giữ thân này, hôi thối, máu mủ tuôn chảy, chẳng đáng yêu mến. Cung cấp ngọa cụ và cơm áo, voi, ngựa, xe cộ, và các vật quư, [thân này] là pháp biến hoại, bản thể vô thường, luôn cầu mà khó được thỏa, khó giữ ǵn, tuy thường cúng dường mà nó ôm ḷng oán hại, rốt cuộc bỏ ta, chẳng biết ân. Lại nữa, thân này chẳng cứng chắc, vô ích đối với ta! Đáng sợ như giặc, bất tịnh như phân. Ngày nay ta hăy nên khiến cho thân này tu nghiệp rộng lớn, làm tàu thuyền lớn trong biển sanh tử, vứt bỏ luân hồi để được thoát ĺa).

 

          Đoạn thứ tư [trong phần xả thân cứu cọp] là “suy nghĩ hăy nên xả mạng”, gồm có sáu ư:

          - Một, dấy lên ư niệm bỏ mạng.

          - Hai, từ “hà dĩ cố” (v́ sao vậy) trở đi, suy nghĩ thôi thúc, tức là tiến nhập ư muốn thực hiện thiện pháp, được sanh khởi bởi căn bản tác ư, tức là như lư tác ư, suy nghĩ Tứ Niệm Trụ. Hai câu đầu [trong phần kinh văn theo sau câu “hà dĩ cố” (v́ sao vậy?)] là suy nghĩ [thân thể] bất tịnh; ba câu kế đó là suy nghĩ vô thường, hai câu kế đó là suy nghĩ có khổ. “Hằng cầu nan măn” (luôn cầu mong mà khó được thỏa măn) là Cầu Bất Đắc Khổ. “Nan bảo thủ” (khó ǵn giữ) là Ái Biệt Ly Khổ. “Hoài oán hại” (ôm ḷng oán hại) là nỗi khổ v́ bệnh, già, chết. Câu kế tiếp là suy nghĩ vô ngă. Tâm tuy thường mong mỏi, ưa thích, nhưng [thân thể] chẳng v́ ta, rốt cuộc vứt bỏ ta luân hồi trong năm đường, nó vứt bỏ ta chẳng biết ơn. V́ thế, vô ngă.

          - Ba, từ “phục thứ” (lại nữa) trở đi, [suy nghĩ như thế xong, sanh tâm] chán bỏ và ưa cầu, có hai điều: Trước là nhân, sau là quả. Trong nhân có ba điều:

          1) Một là chán ĺa hữu vi, tức quán Tứ Niệm Trụ. “Thử thân bất kiên” (Thân này chẳng cứng chắc), tức là vô thường. “Vô ích ư ngă” (Vô ích đối với ta) tức là vô ngă. “Khả úy như tặc” (đáng sợ như giặc) là vô lạc. “Bất tịnh như phẩn” (chẳng sạch như phân) là bất tịnh.

          2) Kế đó, từ “ngă ư kim nhật” (ta trong ngày nay) trở đi, cầu Bồ Đề.

          3) Sau cùng, “ư sanh tử hải” (trong biển sanh tử) trở đi, lợi ích hữu t́nh, tức là dùng thân này để tạo nghiệp lợi sanh. V́ thế gọi là “tu nhân”.

          Nếu xét từ đời sau trở đi th́ gọi là Quả.

                   

          (Kinh) Phục tác thị niệm: “Nhược xả thử thân, tắc xả vô lượng ung thư ác tật, bách thiên bố úy. Thị thân duy hữu đại tiểu tiện lợi, bất kiên như bào, chư trùng sở tập, huyết mạch cân cốt, cộng tương liên tŕ, thậm khả yếm hoạn. Thị cố, ngă kim ưng đương khí xả, dĩ cầu vô thượng cứu cánh Niết Bàn, vĩnh ly ưu hoạn, vô thường khổ năo, sanh tử hưu tức, đoạn chư trần lụy, dĩ Định Huệ lực viên măn huân tu bách phước trang nghiêm, thành Nhất Thiết Trí, chư Phật sở tán vi diệu Pháp Thân. Kư chứng đắc dĩ, thí chư chúng sanh vô lượng pháp lạc”. Thị thời vương tử hưng đại dũng mănh, phát hoằng thệ nguyện, dĩ đại bi niệm tăng ích kỳ tâm.

          ()復作是念若捨此身則捨無量癰疽惡疾百千怖畏是身唯有大小便利不堅如泡諸蟲所集血脈筋骨共相連持甚可厭患是故我今應當棄捨以求無上究竟涅槃永離憂患無常苦惱生死休息斷諸塵累以定慧力圓滿熏修百福莊嚴成一切智諸佛所讚微妙法身既證得已施諸眾生無量法樂是時王子興大勇猛發弘誓願以大悲念增益其心

    (Kinh: Lại nghĩ thế này: “Nếu bỏ thân này tức là xả vô lượng bệnh ngặt ung nhọt, trăm ngàn nỗi sợ hăi. Thân này chỉ có đại tiện, tiểu tiện, chẳng chắc chắn như bọt nước, là chỗ các loài trùng tụ tập, mạch máu, gân, xương, cùng liên kết, chống đỡ nhau, rất đáng chán ngán. V́ thế, nay ta hăy nên vứt bỏ, để cầu Niết Bàn vô thượng rốt ráo, vĩnh viễn ĺa khỏi lo sầu, vô thường khổ năo, ngưng dứt sanh tử, đoạn các mệt mỏi v́ trần lao, dùng sức Định Huệ huân tu viên măn Pháp Thân vi diệu trăm phước trang nghiêm, thành Nhất Thiết Trí, được chư Phật tán thán. Đă chứng đắc rồi, sẽ thí cho các chúng sanh vô lượng pháp lạc”. Khi đó, vương tử khởi tâm dũng mănh to lớn, phát hoằng thệ nguyện, dùng ư niệm đại bi để tăng thêm cái tâm).

 

          Kế đó, nói về sự yêu thích cái quả, cũng có ba ư:

          - Một, chán ĺa hữu vi. Theo Giải Thoát Đạo Luận[15], có mười thứ tưởng bất tịnh [đối với xác chết]: Một là trương phềnh, hai là xanh bầm, ba là ruỗng nát, bốn là bị quăng ném, năm là chim thú gặm xé, sáu là thịt trên thân rời ră, bảy là bị chém chặt ly tán, tám là máu đỏ đầm đ́a, chín là trùng thối, mười là tưởng xương. Mười thứ ấy chỉ là bất tịnh, c̣n kinh văn ở đây nói gộp chung Tứ Niệm. “Ung thư” v.v… là không có lạc. “Duy hữu đại tiểu tiện lợi” (chỉ có đại tiện và tiểu tiện) v.v… là bất tịnh. “Bất kiên như bào” (chẳng cứng chắc như bọt nước) là vô thường. “Chư trùng sở tập” (các trùng tụ tập) v.v… là vô ngă. Nhưng luận ấy nói: “Tự tánh của thân trong sáu mươi chỗ có tám vạn trùng”; v́ thế nói là “chư trùng sở tập”.

          - Hai, “thị cố ngă kim” (v́ thế, ta nay) trở đi là cầu Bồ Đề. Bồ Đề và Bồ Đề đoạn đều gọi là Bồ Đề. Ma Ha Bát Nhă, giải thoát, và Pháp Thân đều là Đại Niết Bàn, đều bao gồm trí và lư. Ở đây, thoạt đầu nói về Niết Bàn.

          - Ba, từ “dĩ Định Huệ lực” (do sức Định Huệ) trở đi nói về Bồ Đề. “Kư chứng đắc dĩ” (đă chứng đắc rồi) trở đi nói về lợi ích hữu t́nh. Đoạn trí, ân đức, nhân quả hai đoạn văn, theo thứ tự mà đối ứng. Tu cầu Bồ Đề chẳng ra ngoài các thứ ấy.

          - Bốn, từ “thị thời vương tử” (khi đó, vương tử) trở đi, bi nguyện [của vương tử Tát Đỏa] càng tha thiết.

 

          (Kinh) Lự bỉ nhị huynh t́nh hoài bố cụ, cộng vi lưu nạn, bất quả sở kỳ.

          ()慮彼二兄情懷怖懼共為留難不果所祈

          (Kinh: Sợ hai anh ôm ḷng sợ hăi, sẽ cùng ngăn cản, chẳng thể thỏa điều mong ước).

 

          Điều thứ năm là sợ có khó khăn nẩy sanh.

 

          (Kinh) Tức tiện bạch ngôn: - Nhị huynh tiền khứ, ngă thả ư hậu.

          ()即便白言二兄前去我且於後

          (Kinh: Liền thưa rằng: - Hai anh đi trước, em sẽ theo sau).

 

          Kế đó, điều thứ sáu là khéo tu phương tiện.

 

5.26.4.1.3.1.5. Hy sinh thân ḿnh cứu giúp cọp đói

 

          (Kinh) Nhĩ thời, vương tử Ma Ha Tát Đỏa hoàn nhập lâm trung, chí kỳ hổ sở, thoát khứ y phục, trí ư trúc thượng, tác thị thệ ngôn: “Ngă vị pháp giới chư chúng sanh, chí cầu Vô Thượng Bồ Đề xứ, khởi đại bi tâm bất khuynh động, đương xả phàm phu sở ái thân, Bồ Đề vô hoạn, vô nhiệt năo, chư hữu trí giả chi sở nhạo. Tam giới khổ hải chư chúng sanh, ngă kim bạt tế linh an lạc”. Thị vương tử tác thị ngôn dĩ, ư ngạ hổ tiền, ủy thân nhi ngọa. Do thử Bồ Tát từ bi oai thế, hổ vô năng vi. Bồ Tát kiến dĩ, tức thượng cao sơn, đầu thân vu địa, phục tác thị niệm: “Hổ kim luy tích, bất năng thực ngă”. Tức khởi cầu đao, cánh bất năng đắc, tức dĩ can trúc thích cảnh xuất huyết, tiệm cận hổ biên.

          ()爾時王子摩訶薩埵還入林中至其虎所去衣服置於竹上作是誓言我為法界諸眾生志求無上菩提處起大悲心不傾動當捨凡夫所愛身菩提無患無熱惱諸有智者之所樂三界苦海諸眾生我今拔濟令安樂是王子作是言已於餓虎前委身而由此菩薩慈悲威勢虎無能為菩薩見已即上高山投身于地復作是念虎今羸瘠不能食我即起求刀竟不能得即以乾竹刺頸出血漸近虎邊

          (Kinh: Lúc bấy giờ, vương tử Ma Ha Tát Đỏa trở vào trong rừng, tới chỗ cọp đó, cởi bỏ y phục, máng trên cành trúc, thốt lời thề rằng: “Ta v́ chúng sanh trong các pháp giới, dốc chí cầu Vô Thượng Bồ Đề xứ, dấy ḷng đại bi, tâm chẳng khuynh động, sẽ xả cái thân phàm phu yêu mến, [để cầu] Bồ Đề không lo sợ, không nhiệt năo, được những người có trí yêu thích. Ta nay sẽ cứu bạt các chúng sanh trong biển khổ tam giới, khiến cho họ an lạc”. Vị vương tử ấy nói như thế xong, ở trước cọp đói, cuộn thân mà nằm. Do oai thế từ bi của vị Bồ Tát ấy, cọp chẳng thể làm ǵ được. Bồ Tát thấy vậy, liền lên núi cao, gieo thân xuống đất, lại nghĩ thế này: “Nay cọp gầy yếu, chẳng thể ăn ta”. Liền đứng dậy t́m dao, trọn chẳng t́m được, liền dùng cành trúc khô đâm cổ ra máu, tới gần bên hổ).

 

          Đoạn lớn thứ năm là “hy sinh tấm thân để cứu giúp”. Kinh văn gồm bốn phần:

          - Một, t́m đường tới chỗ cọp.

          - Hai, từ “thoát khứ y phục” (cởi bỏ y phục) trở đi, khởi tiền phương tiện.

          - Ba, từ “tác thị thệ” (thề như thế này) trở đi, phát Bồ Đề tâm. Hai câu đầu là Tổng, sáu câu sau là Biệt. Trong phần Biệt, hai câu đầu là tâm chán nhàm hữu vi. Hai câu kế đó là tâm cầu Bồ Đề, hai câu sau là tâm lợi ích hữu t́nh.

          - Bốn, từ “thị thời vương tử” (khi đó, vương tử) trở đi, xả thân mạng. Trong ấy, lại có sáu ư:

          a. Một, gieo thân cho cọp ăn.

          b. Từ “thử do Bồ Tát” (đấy là do Bồ Tát) trở đi, cọp chẳng thể ăn.

          c. Từ “Bồ Tát kiến dĩ” (Bồ Tát thấy vậy) trở đi, từ núi cao lao xuống.

          d. Từ “phục tác thị niệm” (lại nghĩ thế này) trở đi, nghĩ cọp suy yếu.

          e. Từ “tức khởi cầu đao” (lền đứng dậy t́m dao) trở đi, lại khởi phương tiện.

          f. Từ “tiệm cận hổ biên” (tới gần bên cọp) trở đi, [tự đâm cổ] chảy máu để cọp ăn.

 

5.26.4.1.3.1.6. Điềm lành cảm động cơi trời chư thiên

 

          (Kinh) Thị thời, đại địa lục chủng chấn động, như phong kích thủy, dũng một bất an. Nhật vô tinh minh, như La Hầu chướng. Chư phương ám tế, vô phục quang huy. Thiên vũ danh hoa, cập diệu hương mạt, tân phân loạn trụy, biến măn lâm trung. Nhĩ thời, hư không hữu chư thiên chúng kiến thị sự dĩ, sanh tùy hỷ tâm, thán vị tằng hữu, hàm cộng tán ngôn: “Thiện tai đại sĩ!” Tức thuyết tụng viết: - Đại sĩ cứu hộ vận bi tâm, đẳng thị chúng sanh như nhất tử, dũng mănh hoan hỷ t́nh vô lận, xả thân tế khổ phước nan tư. Định chí chân thường thắng diệu xứ, vĩnh ly sanh tử chư triền phược, bất cửu đương hoạch Bồ Đề quả, tịch tĩnh an lạc chứng Vô Sanh.

          ()是時大地六種震動如風激水涌沒不安日無精明如羅睺障諸方暗蔽無復光暉天雨名華及妙香末繽紛亂墜遍滿林中爾時虛空有諸天眾見是事已生隨喜心歎未曾有咸共讚言善哉大士說頌大士救護運悲心等視眾生如一子勇猛歡喜情無悋捨身濟苦福難思定至真常勝妙處永離生死諸纏縛不久當獲菩提果寂靜安樂證無生

    (Kinh: Lúc đó, đại địa chấn động sáu cách, như gió khuấy nước, trồi hụp chẳng yên. Mặt trời không chói sáng như bị La Hầu[16] ngăn che. Các phương tăm tối, chẳng c̣n sáng sủa. Trời mưa hoa quư và bột hương quư, vần vũ rơi tán loạn trọn khắp trong rừng. Lúc bấy giờ, trong hư không có các vị trời thấy chuyện ấy rồi, sanh tâm tùy hỷ, than là chưa từng có, đều cùng khen rằng: “Lành thay đại sĩ!” Liền nói bài tụng rằng: - Đại sĩ cứu giúp vận bi tâm, xem chúng sanh đều như con một, dũng mănh hoan hỷ, không keo tiếc. Xả thân cứu khổ, phước khó nghĩ. Quyết đạt chân thường thắng diệu xứ, măi ĺa các trói buộc sanh tử. Chẳng lâu sẽ đắc quả Bồ Đề, an lạc tịch tĩnh chứng Vô Sanh).

 

          Kế đó, đoạn thứ sáu là “điềm lành cảm động chư thiên”. Trong ấy, có hai đoạn:

          - Một, hiện điềm lành. Trong ấy có ba ư:

          1) Cơi đất chấn động sáu cách.

          2) Mặt trời, mặt trăng không có ánh sáng.

          3) Trời tuôn hoa hương trọn khắp rừng để cúng dường.

          - Hai, từ “nhĩ thời, hư không” (lúc bấy giờ, hư không) trở đi, thiên chúng trông thấy, cũng có ba ư:

          1) [Thiên chúng] trông thấy.

          2) [Chư thiên] tùy hỷ.

          3) [Chư thiên] tán thán. Phần tán thán cũng có ba ư:

          a. Hai câu đầu tán thán ḷng bi b́nh đẳng.

          b. Hai câu kế đó tán thán sự bố thí ấy.

          c. Bốn câu sau đó tán thán [vương tử Tát Đỏa] “sẽ đắc quả”. Trong phần đắc quả, hai câu đầu cùng tán thán Bồ Đề và Niết Bàn. Do dựa theo ba thứ đều thường, mà gọi là Thường. Hai câu sau đó tán thán riêng Bồ Đề và Niết Bàn. “Tịch tĩnh” chính là Niết Bàn. Hoặc năng lẫn sở đều vắng lặng th́ đều gọi là “tịch tĩnh”. “Vô sanh” là Niết Bàn!

 

5.26.4.1.3.1.7. Cọp bèn có thể ăn thịt Bồ Tát

 

          (Kinh) Thị thời ngạ hổ kư kiến Bồ Tát cảnh hạ huyết lưu, tức tiện thỉ huyết, đạm nhục giai tận, duy lưu dư cốt.

          ()是時餓虎既見菩薩頸下血流即便舐血啗肉皆盡唯留餘骨

          (Kinh: Khi đó, cọp đói thấy dưới cổ Bồ Tát chảy máu, liền liếm máu, thịt đều ăn hết sạch, chỉ chừa lại xương thừa).

 

          Kế đó, đoạn thứ bảy là cọp bèn có thể ăn [Bồ Tát].

 

5.26.4.1.3.1.8. Quyến thuộc thương khóc

5.26.4.1.3.1.8.1. Hai anh than khóc

 

          (Kinh) Nhĩ thời, đệ nhất vương tử kiến địa động dĩ, cáo kỳ đệ viết: “Đại địa, sơn hà, giai chấn động, chư phương ám tế, nhật vô quang, thiên hoa loạn trụy biến không trung, định thị ngă đệ xả thân tướng”. Đệ nhị vương tử văn huynh ngữ dĩ, thuyết già-đà viết: “Ngă văn Tát Đỏa từ bi ngữ, kiến bỉ ngạ hổ thân luy sấu, cơ khổ sở triền khủng thực tử, ngă kim nghi đệ xả kỳ thân”. Thời nhị vương tử sanh đại sầu khổ, đề khấp, bi thán, tức cộng tương tùy, hoàn chí hổ sở, kiến đệ y phục tại trúc chi thượng, hài cốt cập phát tại xứ tung hoành, lưu huyết thành nê, triêm ô kỳ địa. Kiến dĩ muộn tuyệt, bất năng tự tŕ, đầu thân cốt thượng, cửu năi đắc tô, tức khởi cử thủ, ai hào đại khốc, câu thời thán viết: “Ngă đệ mạo đoan nghiêm, phụ mẫu thiên ái niệm, vân hà cộng câu xuất, xả thân nhi bất quy? Phụ mẫu nhược vấn thời, ngă đẳng như hà đáp? Ninh khả đồng quyên mạng, khởi đắc tự tồn thân”. Thời nhị vương tử bi khấp áo năo, tiệm xả nhi khứ.

          ()爾時第一王子見地動已告其弟曰大地山河皆震動諸方暗蔽日無光天華亂墜遍空中定是我弟捨身相第二王子聞兄語已說伽陀曰我聞薩埵慈悲語見彼餓虎身羸瘦飢苦所纏恐食子我今疑弟捨其身時二王子生大愁苦啼泣悲歎即共相隨還至虎所見弟衣服在竹枝上骸骨及髮在處縱橫流血成泥霑其地見已悶絕不能自投身骨上久乃得甦即起舉手哀號大哭俱時歎曰我弟貌端嚴父母偏愛念云何俱共出捨身而不歸父母若問時我等如何答寧可同捐命豈得自存身時二王子悲泣懊惱漸捨而去

    (Kinh: Lúc bấy giờ, vương tử thứ nhất thấy đất chấn động rồi, bảo em ḿnh rằng: “Đại địa, núi, sông đều chấn động, các phương tối tăm, không ánh nắng. Hoa trời rơi loạn khắp hư không, chắc em ta đă xả thân tướng”. Vương tử thứ hai nghe anh nói xong, nói già-đà rằng: “Em nghe lời Tát Đỏa từ bi, trông thấy cọp đói thân gầy c̣m, sợ bị đói bức, sẽ ăn con, ngờ rằng em út đă xả thân”. Khi đó, hai vương tử sanh ḷng sầu khổ to lớn, khóc lóc, buồn than, liền cùng nhau trở lại chỗ cọp, thấy y phục của em ở trên cành trúc, hài cốt và tóc tung tóe khắp nơi, máu chảy thành bùn nhơ thấm đẫm mặt đất. Thấy rồi ngất đi, chẳng thể tự chống chọi được, gục ḿnh trên xương em, hồi lâu mới tỉnh lại, liền giơ tay, gào khóc thê thảm, cùng lúc than thở: - Em diện mạo đoan nghiêm, phụ mẫu riêng yêu thương, v́ sao cùng ra đi, xả thân chẳng trở về? Nếu lúc cha mẹ hỏi, chúng ta đáp thế nào? Chẳng thà cùng bỏ mạng, há nên sống sót ư?” Khi đó, hai vương tử buồn khóc áo năo, từ từ rời đi).

 

          Đoạn thứ tám là “quyến thuộc khóc thương”, có ba phần:

          - Một, huynh đệ buồn khóc.

          - Hai, từ “thời tiểu vương tử sở tương” (khi đó, [các thị vệ] do tiểu vương tử dẫn theo) trở đi, thị vệ truy t́m.

          - Ba, từ “nhĩ thời, quốc đại phu nhân” (lúc bấy giờ, quốc đại phu nhân) trở đi, cha mẹ buồn than.

          Trong phần thứ nhất có sáu ư:

          - Một, trông thấy điềm lành cùng bàn bạc.

          - Hai, từ “thời nhị vương tử” (khi đó, hai vương tử) trở đi, buồn than truy t́m.

          - Ba, từ “kiến đệ y phục” (thấy quần áo của em) trở đi, thấy thi thể hỗn độn.

          - Bốn, từ “kiến dĩ muộn tuyệt” (thấy rồi chết ngất) trở đi, ngất xỉu, gào khóc đau thương.

          - Năm, từ “tức khởi cử thủ” (liền đứng dậy, giơ tay) trở đi, hai anh than thở sầu thương.

          - Sáu, từ “thời nhị vương tử” (khi đó, hai vương tử) trở đi, buồn bă khóc lóc rời đi.

 

5.26.4.1.3.1.8.2. Thị vệ truy t́m

 

          (Kinh) Thời tiểu vương tử sở tương thị tùng, hỗ tương vị viết: - Vương tử hà tại? Nghi cộng thôi cầu.

          ()時小王子所將侍從互相謂曰王子何在宜共推求

          (Kinh: Khi đó, kẻ hầu do tiểu vương tử dẫn theo nói với nhau: - Vương tử ở đâu? Hăy nên cùng t́m kiếm).

 

          Kế đó là thị vệ truy tầm.

 

5.26.4.1.3.1.8.3. Cha mẹ than khóc

 

          (Kinh) Nhĩ thời, quốc đại phu nhân tẩm cao lâu thượng, tiện ư mộng trung, kiến bất tường tướng, bị cát lưỡng nhũ, nha xỉ đọa lạc, đắc tam cáp sồ, nhất vị ưng đoạt, nhị bị kinh bố. Địa động chi thời, phu nhân toại giác, tâm đại sầu năo, tác như thị ngôn: “Hà cố kim thời đại địa động? Giang hà, lâm thụ giai dao chấn, nhật vô tinh quang như phú tế, mục nhuần, nhũ động dị thường thời. Như tiễn xạ tâm, ưu khổ bức. Biến thân chiến điệu, bất an ổn. Ngă chi sở mộng bất tường trưng, tất hữu phi thường tai biến sự”. Phu nhân lưỡng nhũ hốt nhiên lưu xuất, niệm thử tất hữu biến quái chi sự. Thời hữu thị nữ văn ngoại nhân ngôn, cầu mịch vương tử kim do vị đắc, tâm đại kinh bố, tức nhập cung trung, bạch phu nhân viết: “Đại gia tri phủ? Ngoại văn chư nhân tán mịch vương tử, biến cầu bất đắc”. Thời bỉ phu nhân văn thị thuyết dĩ, sanh đại ưu năo, bi lệ doanh mục, chí đại vương sở, bạch ngôn: “Đại vương! Ngă văn ngoại nhân, tác như thị ngữ: Thất ngă tối tiểu sở ái chi tử”. Vương văn ngữ dĩ, kinh hoàng thất sở, bi ngạnh nhi ngôn: “Khổ tai! Kim nhật thất ngă ái tử!” Tức tiện vấn lệ, ủy dụ phu nhân, cáo ngôn: “Hiền Thủ! Nhữ vật ưu thích. Ngô kim cộng xuất cầu mịch ái tử”. Vương dữ đại thần, cập chư nhân chúng, tức cộng xuất thành, các các phân tán, tùy xứ cầu mịch. Vị cửu chi khoảnh, hữu nhất đại thần, tiền bạch vương viết: “Văn vương tử tại, nguyện vật ưu sầu. Kỳ tối tiểu giả, kim do vị kiến”. Vương văn thị ngữ, bi thán nhi ngôn: “Khổ tai! Khổ tai! Thất ngă ái tử. Sơ hữu tử thời hoan hỷ thiểu, hậu thất tử thời ưu khổ đa. Nhược sử ngă nhi trùng thọ mạng, túng ngă thân vong bất vi khổ”. Phu nhân văn dĩ, ưu năo triền hoài, như bị tiễn trúng, nhi ta thán viết: “Ngă chi tam tử tịnh thị tùng, câu văng lâm trung cộng du thưởng, tối tiểu ái tử độc bất hoàn, định hữu quai ly tai ách sự”. Thứ đệ nhị thần lai chí vương sở, vương vấn thần viết: “Ái tử hà tại?” Đệ nhị đại thần áo năo đề khấp, hầu thiệt can táo, khẩu bất năng ngôn, cánh vô sở đáp. Phu nhân vấn viết: “Tốc báo tiểu tử kim hà tại, ngă thân nhiệt năo biến thiêu nhiên, muộn loạn hoang mê thất bổn tâm, vật sử ngă hung kim phá liệt”. Thời đệ nhị thần tức dĩ vương tử xả thân chi sự, cụ bạch vương tri. Vương cập phu nhân văn kỳ sự dĩ, bất thắng bi ế, vọng xả thân xứ, sậu giá tiền hành. Nghệ trúc lâm sở, chí bỉ Bồ Tát xả thân chi địa, kiến kỳ hài cốt tùy xứ giao hoành, câu thời đầu địa, muộn tuyệt tương tử, do như mănh phong xuy đảo đại thụ, tâm mê thất tự, đô vô sở tri. Thời đại thần đẳng dĩ thủy biến sái vương cập phu nhân, lương cửu năi tô. Cử thủ nhi khốc, tư ta thán viết: “Họa tai ái tử đoan nghiêm tướng, nhân hà tử khổ tiên lai bức, nhược ngă đắc tại nhữ tiền vong, khởi kiến như tư đại khổ sự”. Nhĩ thời, phu nhân mê muộn sảo chỉ, đầu phát bồng loạn, lưỡng thủ trùy hung, uyển chuyển ư địa, như ngư xử lục, nhược sanh thất tử, bi khấp nhi ngôn: “Ngă tử thùy đồ cát, dư cốt tán vu địa. Thất ngă sở ái tử, ưu bi bất tự thắng. Khổ tai thùy sát tử, trí tư ưu năo sự, ngă tâm phi kim cang, vân hà nhi bất phá? Ngă mộng trung sở kiến, lưỡng nhũ giai bị cát, nha xỉ tất đọa lạc, kim tao đại khổ thống. Hựu mộng tam cáp sồ, nhất bị ưng cầm khứ, kim thất sở ái tử, ác tướng biểu phi hư”.

          ()爾時國大夫人寢高樓上便於夢中見不祥相被割兩乳芽齒墮落得三鴿鶵一為鷹奪二被驚怖地動之時夫人遂覺心大愁惱作如是言何故今時大地動江河林樹皆搖震日無精光如覆蔽目瞤乳動異常時如箭射心憂苦逼遍身戰掉不安隱我之所夢不祥徵必有非常災變事夫人兩乳忽然流出念此必有變怪之事時有侍女聞外人言求覓王子今猶未得心大驚怖即入宮中白夫人曰大家知不外聞諸人散覓王子遍求不得時彼夫人聞是生大憂惱悲淚盈目至大王所白言大王我聞外人作如是語失我最小所愛之子王聞語已驚惶失所悲哽而言苦哉今日失我愛子即便淚慰喻夫告言賢首汝勿憂慼吾今共出求覓愛子王與大臣及諸人眾即共出城各各分散隨處求覓未久之頃有一大臣前白王曰聞王子在願勿憂愁其最小者今猶未見王聞是語悲歎而言苦哉苦哉失我愛子初有子時歡喜少後失子時憂苦多若使我兒重壽命縱我身亡不為苦夫人聞已憂惱纏懷如被箭中而嗟歎曰我之三子并侍從俱往林中共遊賞最小愛子獨不還定有乖離災厄事次第二臣來至王所王問臣曰愛子何在第二大臣懊惱啼泣喉舌乾燥口不能言竟無所答夫人問曰速報小子今何在我身熱惱遍燒然悶亂荒迷失本心勿使我胸今破裂第二臣即以王子捨身之事具白王知王及夫人聞其事已不勝悲噎望捨身處驟駕前行詣竹林所至彼菩薩捨身之地見其骸骨隨處交橫俱時投地悶將死猶如猛風吹倒大樹心迷失緒都無所知時大臣等以水遍灑王及夫人良久乃甦舉手而哭咨嗟歎曰禍哉愛子端嚴相因何死苦先來逼若我得在汝前亡豈見如斯大苦事爾時夫人迷悶稍止頭髮蓬亂兩手搥胸宛轉于地如魚處陸若生失子悲泣而言我子誰屠割餘骨散于地失我所愛子憂悲不自勝苦哉誰殺子致斯憂惱事我心非金剛云何而不破我夢中所見兩乳皆被割牙齒悉墮落今遭大苦痛又夢三鴿鶵一被鷹擒去今失所愛子惡相表非虛

          (Kinh: Lúc bấy giờ, quốc đại phu nhân ngủ trên lầu cao, liền ở trong mộng thấy tướng bất tường: Bị cắt hai vú, răng rơi rụng; có được ba con chim bồ câu non, một con bị chim ưng bắt, hai con bị kinh sợ. Lúc động đất, phu nhân liền tỉnh giấc, tâm hết sức sầu năo, nói như thế này: “Cớ sao lúc này đại địa động? Sông ng̣i, rừng cây đều rúng động. Mặt trời ảm đạm như bị che. Mắt nháy, vú rung thật dị thường. Như tên trúng tim, ưu khổ bức, khắp thân run rẩy chẳng an ổn. Ta nằm mộng thấy điềm chẳng lành, ắt có chuyện tai biến phi thường!” Hai vú phu nhân bỗng dưng tuôn sữa, bà nghĩ điều này ắt có chuyện biến đổi quái dị. Khi đó, có thị nữ nghe người bên ngoài nói “t́m kiếm vương tử cho đến nay vẫn chưa thấy”, tâm hết sức kinh sợ, liền vào trong cung, thưa cùng phu nhân rằng: “Ngài có biết hay chăng? Con ở bên ngoài nghe mọi người chia nhau t́m kiếm vương tử, t́m khắp nơi chẳng thấy”. Khi đó, phu nhân nghe nói như thế xong, sanh ḷng ưu năo to lớn, lệ buồn đẫm mắt, tới chỗ đại vương, tâu rằng: “Tâu đại vương! Thiếp nghe người bên ngoài nói như thế này: Đứa con đáng yêu nhỏ nhất của thiếp mất tích”. Vua nghe nói xong, kinh hoảng, bối rối, nghẹn ngào nói: “Khổ thay! Hôm nay lạc mất con yêu của ta”. Vua liền gạt lệ, an ủi, khuyên nhủ phu nhân, bảo rằng: “Này Hiền Thủ! Nàng đừng lo buồn, nay ta cùng xuất cung t́m kiếm con yêu”. Vua cùng đại thần và các dân chúng liền cùng ra khỏi thành, ai nấy tách ra, t́m kiếm khắp nơi. Trong khoảng chưa lâu, có một đại thần, đến trước vua tâu rằng: “Nghe nói vương tử c̣n sống, xin bệ hạ đừng ưu sầu. Vương tử nhỏ nhất nay vẫn chưa thấy”. Vua nghe lời ấy, buồn than mà nói: “Khổ thay! Khổ thay! Mất đứa con yêu của ta. Thoạt đầu lúc có con th́ hoan hỷ ít, về sau mất con ưu khổ nhiều! Nếu như con ta được toàn mạng, dẫu ta mất mạng cũng chẳng khổ!” Phu nhân nghe xong, ưu năo vấn vít trong tâm, như bị trúng tên, bèn than thở rằng: “Ba đứa con ta và kẻ hầu, đều vào rừng chơi để ngoạn cảnh, con yêu nhỏ nhất riêng chẳng về, chắc có chuyện trái ngang, tai ách!” Kế đó, kẻ bầy tôi thứ hai đến chỗ nhà vua, vua hỏi viên quan ấy: “Con yêu ở đâu?” Vị đại thần thứ hai áo năo, nức nở, họng lưỡi khô ran, chẳng thể nói năng, trọn chẳng đáp lời. Phu nhân hỏi rằng: “Mau báo con út nay ở đâu, thân ta nóng nảy thiêu đốt khắp, mờ mịt mê mẩn, tâm ngơ ngẩn, đừng khiến ngực ta bị xé rách!” Khi đó, vị đại thần thứ hai liền tâu cặn kẽ chuyện vương tử xả thân cho vua biết. Vua và phu nhân nghe chuyện ấy xong, khôn ngăn buồn thảm, nghẹn ngào, hướng đến chỗ xả thân, vội vă ruổi xe đến đó. Tới chỗ rừng trúc, đến chỗ Bồ Tát xả thân, thấy hài cốt vung văi khắp nơi, đều cùng nhau ngă lăn ra đất, ngất đi, sắp chết, giống như gió mạnh thổi trốc cây to, tâm mê man, mờ mịt, chẳng hay biết ǵ nữa! Khi đó, các đại thần lấy nước rưới vua và phu nhân, hồi lâu mới tỉnh, giơ tay khóc lóc, nức nở than rằng: “Khốn thay! Con yêu tướng đoan nghiêm, do đâu tử khổ bức bách trước? Nếu cha mẹ được chết trước con, há gặp chuyện khổ to như thế?” Lúc bấy giờ, phu nhân hơi bớt mê loạn, đầu tóc rối tung, hai tay đấm ngực, quằn quại trên mặt đất, như cá mắc cạn, như sanh xong mất con, buồn khóc mà nói: “Con ta ai giết chặt, xương thừa vung văi đất? Ta mất đi con yêu, buồn sầu khôn ngăn nổi. Khổ thay, ai giết con, khiến chuyện ưu năo vậy! Tâm mẹ chẳng kim cang, cớ sao không nát vụn? Điều mẹ thấy trong mộng, hai vú đều bị cắt, hàm răng đều rụng sạch, nay gặp đau khổ lớn. Lại mộng ba chim non, một bị ưng quắp đi, nay bị mất con yêu, ác tướng chẳng hư dối!”).

 

          Kế đó, phần thứ ba trong đoạn “quyến thuộc thương khóc” là “cha mẹ sầu thương”. Trong ấy, có mười một điều:

          - Một, phu nhân kinh dị, có tám ư:

          1) Nằm ngủ mộng thấy điềm bất tường.

          2) Từ “địa động chi thời” (khi đất chấn động) trở đi, đất rúng động khiến [phu nhân] giật ḿnh tỉnh giấc.

          3) Từ “tác như thị ngôn” (nói như thế này) trở đi, [phu nhân] nói đến ác tướng ấy.

          4) Từ “phu nhân lưỡng nhũ” (hai vú phu nhân) trở đi, bị kích động sữa tuôn chảy.

          5) Từ “thời hữu thị nữ” (khi đó, có thị nữ) trở đi, thị nữ nghe nói [bên ngoài đang nháo nhác t́m kiếm vương tử].

          6) Từ “tâm đại kinh bố” (tâm hết sức kinh sợ) trở đi, [thị nữ] chạy vào vội vă báo tin.

          7) Từ “thời bỉ phu nhân” (khi đó, vị phu nhân ấy) trở đi, mẹ nghe tin sầu năo.

          8) Từ “chí đại vương sở” (tới chỗ đại vương) trở đi, [hoàng hậu] buồn khóc tới chỗ nhà vua. Xét theo kệ tụng, phu nhân đă tâu rơ điềm mộng, nhưng ở đây kinh văn lược đi.

          - Hai, từ “vương văn ngữ dĩ” (vua nghe nói xong) trở đi, cha bèn buồn rầu, hốt hoảng.

          - Ba, từ “tức tiện vấn lệ” (liền gạt lệ) trở đi, vua an ủi phu nhân. Lệ thường tại Ấn Độ, gặp nhau liền khen ngợi là Hiền Thủ.

          - Bốn, từ “vương dữ đại thần” (vua và đại thần) trở đi, xuất cung t́m kiếm. Theo phần kệ tụng, phải là trước hết quần thần t́m kiếm; kế đó, vua và vợ xuất cung. Nay kinh văn lược đi, chỉ nói “xuất mịch” (ra [khỏi cung] t́m kiếm). Trong ấy, lại có bảy điều:

          1) Chia nhau t́m cầu khắp nơi.

          2) Từ “vị cửu chi khoảnh” (trong khoảng chưa lâu) trở đi, đại thần [thứ nhất] đến tâu.

          3) Từ “vương văn thị ngữ” (vua nghe lời ấy) trở đi, cha nghe tâu buồn than.

          4) Từ “phu nhân văn dĩ” (phu nhân nghe xong) trở đi, mẹ lại than thở bi thương.

          5) Từ “thứ đệ nhị thần” (kế đó, vị đại thần thứ hai) trở đi, bầy tôi đến, vua hỏi con c̣n hay mất.

          6) Từ “đệ nhị đại thần” (vị đại thần thứ hai) trở đi, đại thần nức nở, nghẹn ngào không đáp.

          7) Từ “phu nhân vấn viết” (phu nhân hỏi rằng) trở đi, phu nhân mê loạn, thúc giục trả lời.

          - Năm, từ “thời đệ nhị thần” (khi đó, vị đại thần thứ hai) trở đi, biết được tin tức của con. Theo kệ tụng, có hai vị bầy tôi đến báo tin, phần Trường Hàng lược đi một vị quan.

          - Sáu, từ “vương cập phu nhân” (vua và phu nhân) trở đi, [vua và hoàng hậu] đă biết tin bèn bi thương, nghẹn ngào.

          - Bảy, từ “vọng xả thân xứ” (hướng đến chỗ xả thân) trở đi, đến chỗ xả thân.

          - Tám, từ “kiến kỳ hài cốt” (thấy hài cốt của vương tử) trở đi, trông thấy [hài cốt] tan nát.

          - Chín, từ “thời đại thần đẳng” (khi đó, các đại thần) trở đi, bầy tôi rảy nước.

          - Mười, từ “vương cập phu nhân” (vua và phu nhân) trở đi, tỉnh lại, than văn.

          - Mười một, từ “nhĩ thời, phu nhân” (lúc đó, phu nhân) trở đi, mẹ khóc lóc, giăi bày nỗi bi thương. [Trong phần này], thoạt đầu là người kết tập kinh dẫn giải; kế đó, mẹ bày tỏ nỗi bi thương. Hai bài tụng trong ấy trần thuật nỗi bi thương, hai bài c̣n lại nói về tướng ác.

         

5.26.4.1.3.1.9. V́ vương tử lập chế-để

 

          (Kinh) Nhĩ thời, đại vương cập ư phu nhân, tịnh nhị vương tử, tận ai hào khốc, anh lạc bất ngự, dữ chư nhân chúng, cộng thâu Bồ Tát di thân xá-lợi, vị ư cúng dường, trí tốt-đổ-ba trung.

          ()爾時大王及於夫人并二王子盡哀號哭瓔珞不御與諸人眾共收菩薩遺身舍利為於供養置窣堵波中

    (Kinh: Lúc bấy giờ, đại vương cùng với phu nhân và hai vương tử, gào khóc tột bậc bi ai, chẳng đeo chuỗi anh lạc, cùng với mọi người cùng thu thập di thân xá-lợi của Bồ Tát, v́ để cúng dường, bèn đặt trong tháp).

 

          Đoạn thứ chín là [quyến thuộc] v́ vương tử lập chế-để.

 

5.26.4.1.3.1.10. Kết lại lời dạy về lợi sanh   

 

          (Kinh) “A Nan Đà! Nhữ đẳng ưng tri, thử tức thị bỉ Bồ Tát xá-lợi”. Phục cáo A Nan Đà: - Ngă ư tích thời, tuy cụ phiền năo, tham, sân, si đẳng, năng ư địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, ngũ thú chi trung, tùy duyên cứu tế, linh đắc xuất ly. Hà huống kim thời, phiền năo đô tận, vô phục dư tập, hiệu Thiên Nhân Sư, cụ Nhất Thiết Trí, nhi bất năng vị nhất nhất chúng sanh kinh ư đa kiếp, tại địa ngục trung, cập ư dư xứ, đại thọ chúng khổ, linh xuất sanh tử, phiền năo, luân hồi?

          ()阿難陀汝等應知此即是彼菩薩舍利復告阿難陀我於昔時雖具煩惱貪瞋癡等能於地獄餓鬼旁生五趣之中隨緣救濟令得出離何況今時煩惱都盡無復餘習號天人師具一切智而不能為一一眾生經於多劫在地獄中及於餘處代受眾苦令出生死煩惱輪迴

    (Kinh: “A Nan Đà! Các ông nên biết, đây chính là xá-lợi của vị Bồ Tát ấy”. Lại bảo A Nan Đà: - Ta trong thuở xưa, tuy có đủ phiền năo, tham, sân, si v.v... mà có thể ở trong địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, năm đường, tùy duyên cứu tế, khiến cho họ được thoát ĺa. Huống hồ hiện thời, phiền năo đều hết, chẳng c̣n tập khí sót lại, hiệu là Thiên Nhân Sư, đầy đủ Nhất Thiết Trí, mà chẳng thể v́ mỗi một chúng sanh trải qua nhiều kiếp, ở trong địa ngục, và các chỗ khác, chịu thay các nỗi khổ, khiến họ thoát khỏi sanh tử, phiền năo, luân hồi ư?)

 

          Đoạn lớn thứ mười là “kết lại và chỉ dạy lợi sanh”. Có ba ư:

          - Một, kết lại phần nói về xá-lợi.

          - Hai, từ “phục cáo A Nan Đà” (lại bảo A Nan Đà) trở đi, dạy đại lược cái nhân xưa kia. Tuy nói kèm về sự được mất, trọn đủ phiền năo là “mất”, nhưng có thể tu hành là “được”, dụng ư là khuyên lơn, khích lệ người trọn đủ phiền năo hăy tu hành, tức là rèn luyện kẻ sơ học, và cũng nhằm khuyên bậc thánh: Ta xưa kia thuộc địa vị phàm phu mà c̣n thể lợi ích chúng sanh, các vị đă chứng thánh, sao chẳng siêng ṛng?

          - Ba, từ “hà huống kim thời” (huống hồ ngày nay) trở đi, trần thuật hiện thời có thể lợi ích, tức là tùy theo sự cảm ứng mà đều có thể lợi ích chúng sanh. Ư nói: [Khi xưa, đang c̣n là phàm phu] mà c̣n có thể thay chúng sanh chịu khổ, khiến cho họ xuất ly; v́ thế, những điều nói trong hiện thời nhất định sẽ là cái nhân để tạo phương tiện lợi lạc, các ông hăy nên lưu truyền, tu học [bộ kinh Kim Quang Minh này].

 

5.26.4.1.3.2. Kệ tụng trùng tuyên chuyện cứu cọp

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết tụng ngôn: - Ngă niệm quá khứ thế, vô lượng vô số kiếp, hoặc thời tác quốc vương, hoặc phục vi vương tử, thường hành ư đại thí, cập xả sở ái thân, nguyện xuất ly sanh tử, chí diệu Bồ Đề xứ. Tích thời hữu đại quốc, quốc chúa danh Đại Xa, vương tử danh Dũng Mănh, thường thí, tâm vô lận. Vương tử hữu nhị huynh, hiệu Đại Cừ, Đại Thiên. Tam nhân đồng xuất du, tiệm chí xuất lâm sở. Kiến hổ cơ sở bức, tiện sanh như thị tâm: “Thử hổ cơ hỏa thiêu, cánh vô dư khả thực”. Đại sĩ đổ như thị, khủng kỳ tương thực tử, xả thân vô sở cố, cứu tử bất linh thương. Đại địa cập chư sơn, nhất thời giai chấn động. Giang hải giai đằng dược, kinh ba thủy nghịch lưu. Thiên địa thất quang minh, hôn minh vô sở kiến. Lâm dă chư cầm thú, phi bôn, táng sở y. Nhị huynh quái bất hoàn, ưu thích sanh bi khổ, tức dữ chư thị tùng, lâm tẩu biến tầm cầu. Huynh đệ cộng trù nghị, phục văng thâm sơn xứ. Tứ cố, vô sở hữu, kiến hổ xứ không lâm, kỳ mẫu tịnh thất tử, khẩu giai hữu huyết ô. Tàn cốt tịnh dư phát, tung hoành tại địa trung. Phục kiến hữu lưu huyết, tán tại trúc lâm sở. Nhị huynh kư kiến dĩ, tâm sanh đại khủng bố, muộn tuyệt câu tịch địa, hoang mê bất giác tri, trần thổ bộn kỳ thân, lục t́nh giai thất niệm. Vương tử chư thị tùng, đề khấp, tâm ưu năo. Dĩ thủy sái linh tô, cử thủ, hào đào khốc. Bồ Tát xả thân thời, từ mẫu tại cung nội, ngũ bách chư thể nữ, cộng thọ ư diệu lạc. Phu nhân chi lưỡng nhũ, hốt nhiên tự lưu xuất, biến thể như châm thích, khổ thống, bất năng an. Soát sanh thất tử tưởng, ưu tiễn khổ thương tâm, tức bạch đại vương tri, trần tư khổ năo sự, bi khấp bất kham nhẫn, ai thanh hướng vương thuyết: “Đại vương kim đương tri, ngă sanh đại khổ năo. Lưỡng nhũ hốt lưu xuất, cấm chỉ bất ưng tâm, như châm biến thích thân, phiền oản hung dục phá. Ngă tiên mộng ác trưng, tất đương thất ái tử. Nguyện vương tế ngă mạng, tri nhi dữ tồn vong. Mộng kiến tam cáp sồ, tiểu giả thị ái tử, hốt bị ưng đoạt khứ, sầu bi nan cụ trần! Ngă kim một ưu hải, thú tử tương bất cửu, khủng tử mạng bất toàn, nguyện vị tốc cầu mịch. Hựu văn ngoại nhân ngữ, tiểu tử cầu bất đắc. Ngă kim ư bất an, nguyện vương ai mẫn ngă!” Phu nhân bạch vương dĩ, cử thân nhi tịch địa, bi thống tâm muộn tuyệt, hoang mê bất giác tri. Thể nữ kiến phu nhân, muộn tuyệt tại ư địa, cử thanh giai đại khốc. Ưu hoàng thất sở y. Vương văn như thị ngữ, hoài ưu bất tự thắng, nhân mạng chư quần thần, tầm cầu sở ái tử, giai cộng xuất thành ngoại, tùy xứ nhi truy mịch. Thế khấp, vấn chư nhân: “Vương tử kim hà tại? Kim giả vi tồn vong? Thùy tri sở khứ xứ? Vân hà linh đắc kiến, giải ngă ưu năo tâm”. Chư nhân tất cộng truyền, hàm ngôn vương tử tử. Văn giả giai thương điệu, bi thán khổ nan tài. Nhĩ thời, Đại Xa vương, bi hào tùng ṭa khởi, tức tựu phu nhân xứ, dĩ thủy sái kỳ thân. Phu nhân mông thủy sái, cửu năi đắc tỉnh ngộ, bi đề dĩ vấn vương: “Ngă nhi kim tại phủ?” Vương cáo phu nhân viết: “Ngă dĩ sử chư nhân, tứ hướng cầu vương tử. Thượng vị hữu tiêu tức”. Vương hựu cáo phu nhân: “Nhữ mạc sanh phiền năo, thả đương tự an ủy, khả cộng xuất truy tầm”. Vương tức dữ phu nhân, nghiêm giá nhi tiền tiến. Hào đỗng thanh thê cảm, ưu tâm nhược hỏa nhiên. Sĩ thứ bách thiên vạn, diệc tùy vương xuất thành, các dục cầu vương tử. Bi hào thanh bất tuyệt. Vương cầu ái tử cố, mục thị ư tứ phương. Kiến hữu nhất nhân lai, bị phát, thân đồ huyết, biến thể mông trần thổ, bi khốc nghịch tiền lai. Vương kiến thị ác tướng, bội phục sanh ưu năo. Vương tiện cử lưỡng thủ, ai hào bất tự tài. Sơ hữu nhất đại thần, hốt mang chí vương sở, tấn bạch đại vương viết: “Hạnh nguyện hốt bi ai! Vương chi sở ái tử, kim tuy cầu vị hoạch, bất cửu đương lai chí, dĩ thích đại vương ưu”. Vương phục cánh tiền hành. Kiến thứ đại thần chí, kỳ thần nghệ vương sở, lưu lệ bạch vương ngôn: “Nhị tử kim hiện tồn, bị ưu hỏa sở bức. Kỳ đệ tam vương tử, dĩ bị vô thường thôn. Kiến ngạ hổ sơ sanh, tương dục thực kỳ tử. Bỉ Tát Đỏa vương tử, kiến thử khởi bi tâm, nguyện cầu vô thượng đạo, đương độ nhất thiết chúng. Hệ tưởng diệu Bồ Đề, quảng đại thâm như hải, tức thượng cao sơn đảnh, đầu thân ngạ hổ tiền. Hổ luy bất năng thực, dĩ trúc tự thương cảnh, toại đạm vương tử thân, duy hữu dư hài cốt”. Thời vương cập phu nhân, văn dĩ câu muộn tuyệt, tâm một ư ưu hải, phiền năo hỏa thiêu nhiên. Thần dĩ chiên đàn thủy, sái vương cập phu nhân, câu khởi đại bi hào, cử thủ trùy hung ức. Đệ tam đại thần lai, bạch vương như thị ngữ: “Ngă kiến nhị vương tử, muộn tuyệt tại lâm trung, thần dĩ lănh thủy sái, nhĩ năi tạm tô tức, cố thị ư tứ phương, như mănh hỏa châu biến, tạm khởi nhi hoàn phục, bi hào bất tự thắng, cử thủ dĩ ai ngôn, xưng thán đệ hy hữu”. Vương văn như thị thuyết, bội tăng ưu hỏa tiên. Phu nhân đại hào đào, cao thanh tác thị ngữ: “Ngă chi tiểu tử biến chung ái, dĩ vi vô thường La Sát thôn. Dư hữu nhị tử kim hiện tồn, phục bị ưu hỏa sở thiêu bức. Ngă kim tốc khả chí sơn hạ, an ủy linh kỳ bảo dư mạng”. Tức tiện tŕ giá vọng tiền lộ, nhất tâm nghệ bỉ xả thân nhai. Lộ phùng nhị tử hành đề khấp, trùy hung áo năo thất dung nghi. Phụ mẫu kiến dĩ băo ưu bi, câu văng sơn lâm xả thân xứ. Kư chí Bồ Tát xả thân địa, cộng tụ bi hào sanh đại khổ, thoát khứ anh lạc tận ai tâm, thâu thủ Bồ Tát thân dư cốt. Dữ chư nhân chúng đồng cúng dường, cộng tạo thất bảo tốt-đổ-ba, dĩ bỉ xá-lợi trí hàm trung, chỉnh giá hoài ưu thú thành ấp.

          ()爾時世尊欲重宣此義而說頌我念過去世無量無數劫或時作國王或復為王子常行於大施及捨所愛身願出離生死至妙菩提處昔時有大國國主名大車王子名勇猛常施心無悋王子有二兄號大渠大天三人同出遊漸至出林所見虎飢所逼便生如是心此虎飢火燒更無餘可食大士覩如斯恐其將食子捨身無所顧救子不令傷大地及諸山一時皆震動江海皆騰躍驚波水逆流天地失光明昏冥無所見林野諸禽獸飛奔喪所依二兄怪不還憂慼生悲苦即與諸侍從林藪遍尋求兄弟共籌議復往深山處四顧無所有見虎處空林其母并七子口皆有血殘骨并餘髮縱橫在地中復見有流血散在竹林所二兄既見已心生大恐怖絕俱躄荒迷不覺知塵土坌其身六情皆失念王子諸侍從啼泣心憂惱以水灑令甦舉手號咷哭菩薩捨身時慈母在宮五百諸婇女共受於妙樂夫人之兩乳忽然自流出遍體如針刺苦痛不能安欻生失子想憂箭苦傷心即白大王知陳斯苦惱事悲泣不堪忍哀聲向王大王今當知我生大苦惱兩乳忽流出禁止不應心如針遍刺身煩惋胸欲破我先夢惡徵必當失愛子願王濟我命知兒存與亡夢見三鴿鶵小者是愛子忽被鷹奪去悲愁難具陳我今沒憂海趣死將不久恐子命不全願為速求覓又聞外人語小子求不得我今意不安願王哀愍我夫人白王已舉身而躄地悲痛心悶荒迷不覺知婇女見夫人絕在於舉聲皆大哭憂惶失所依王聞如是語懷憂不自勝因命諸群臣尋求所愛子皆共出城外隨處而追覓涕泣問諸人王子今何在今者為存亡誰知所去處云何令得見解我憂惱心諸人悉共傳咸言王子死聞者皆傷悼悲歎苦難裁爾時大車王悲號從座起即就夫人處以水灑其身夫人蒙水灑久乃得醒悟悲啼以問王我兒今在不王告夫人曰我已使諸人四向求王子尚未有消息王又告夫人汝莫生煩惱且當自安慰可共出追尋王即與夫人嚴駕而前進號慟聲悽感憂心若火然士庶百千萬亦隨王出城各欲求王子悲號聲不王求愛子故目視於四方見有一人來被髮身塗血遍體蒙塵土悲哭逆前來王見是惡相倍復生憂惱王便舉兩手哀號不自裁初有一大臣怱忙至王所進白大王曰幸願忽悲哀王之所愛子今雖求未獲不久當來至以釋大王憂王復更前行見次大臣至其臣詣王所流淚白王言二子今現存被憂火所逼其第三王子已被無常吞見餓虎初生將欲食其子彼薩埵王子見此起悲心願求無上道當度一切眾繫想妙菩提廣大深如海即上高山頂投身餓虎前虎羸不能食以竹自傷頸遂啗王子身唯有餘骸骨時王及夫人聞已俱悶心沒於憂海煩惱火燒然臣以栴檀水灑王及夫人俱起大悲號舉手搥胸臆第三大臣來白王如是語我見二王子在林中臣以冷水灑爾乃暫甦息顧視於四方如猛火周遍暫起而還伏悲號不自勝舉手以哀言稱歎弟希有王聞如是倍增憂火煎夫人大號咷高聲作是語我之小子遍鍾愛已為無常羅餘有二子今現存復被憂火所燒逼我今速可至山下安慰令其保餘命即便馳駕望前路一心詣彼捨身崖路逢二子行啼泣搥胸懊惱失容儀父母見已抱憂悲俱往山林捨身處既至菩薩捨身地共聚悲號生大苦去瓔珞盡哀心收取菩薩身餘骨與諸人眾同供養共造七寶窣堵波以彼舍利置函中整駕懷憂趣城邑

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Ta nhớ đời quá khứ, vô lượng vô số kiếp, có lúc làm quốc vương, hoặc lại làm vương tử, thường hành bố thí lớn, xả thân đáng yêu mến, nguyện xuất ly sanh tử, tới chỗ diệu Bồ Đề. Xưa kia có nước lớn, quốc chúa tên Đại Xa, vương tử tên Dũng Mănh, thường thí, tâm chẳng keo. Vương tử có hai anh, tên Đại Cừ, Đại Thiên. Ba người cùng đi chơi, dần đến chỗ rừng rậm. Thấy hổ bị đói khát, liền sanh tâm thế này: “Cọp này lửa đói đốt, trọn chẳng có ǵ ăn”. Đại sĩ thấy như thế, sợ nó ăn thịt con, xả thân chẳng đoái hoài, cứu cọp con an toàn. Đại địa và các núi, cùng lúc đều chấn động, sông, biển đều trào vọt, sóng dữ cuốn ngược ḍng. Đất trời mất ánh sáng, tối tăm chẳng thấy ǵ. Cầm thú chốn rừng hoang, bay, chạy, mất chỗ nương. Hai anh lấy làm lạ, em đâu sao chẳng về. Sầu lo sanh buồn khổ. Liền cùng các kẻ hầu, t́m kiếm khắp rừng rậm. Anh em cùng bàn bạc, lại đến chỗ núi sâu, bốn phía chẳng thấy ǵ, thấy chỗ hổ rừng trống, cọp mẹ và bảy con, miệng chúng đều nhuốm máu, xương tàn cùng tóc thừa, vung văi trên mặt đất. Lại thấy có máu chảy, tung tóe trong rừng trúc. Hai anh đă thấy rồi, tâm sanh sợ hăi lớn, chết ngất lăn ra đất, mê man chẳng biết ǵ. Bụi đất lem luốc thân, các giác quan ngơ ngẩn. Kẻ hầu của vương tử, khóc lóc, tâm ưu năo. Rảy nước để lay tỉnh, giơ tay, gào khóc than. Khi Bồ Tát xả thân, mẹ hiền ở trong cung, và năm trăm thể nữ, cùng vui hưởng diệu lạc. Hai vú của phu nhân, bỗng nhiên sữa tuôn chảy. Khắp thân như kim đâm, khổ đau chẳng thể yên. Bỗng nghĩ bị mất con, tên sầu găm buốt tim, liền tâu đại vương biết, thuật chuyện khổ năo ấy, buồn khóc chẳng nhịn nổi, giọng ai oán tâu vua: “Đại vương nay nên biết. Thiếp sanh đại khổ năo, hai vú bỗng chảy sữa, khôn ngăn tâm bức bối. Như kim đâm khắp thân, phiền lo muốn vỡ ngực. Thiếp trước mộng điềm xấu, ắt sẽ mất con yêu! Mong vua cứu mạng thiếp, biết con c̣n hay mất. Mộng thấy ba chim non, chim nhỏ là con yêu, bỗng bị ưng đoạt mất, sầu bi khó thuật trọn! Thiếp ch́m trong biển lo, chẳng lâu sẽ chết mất, sợ con mạng chẳng toàn, xin hăy mau t́m kiếm. Lại nghe người ngoài nói, t́m chẳng được con thơ. Nay ư thiếp bất an, xin vua thương xót thiếp”. Phu nhân tâu vua xong, toàn thân lăn ra đất, đau buồn, tâm mê muội, mơ màng chẳng biết hay. Thể nữ thấy phu nhân, mê man lăn ra đất, lớn tiếng khóc ầm lên. Sợ hoảng đều thất thố. Vua nghe nói như thế, ôm ḷng sầu khôn xiết, liền sai các quần thần, kiếm t́m con yêu dấu, đều cùng ra ngoài thành, truy t́m khắp mọi nơi. Khóc lóc, hỏi mọi người: “Vương tử ở nơi đâu? Nay c̣n sống hay chết? Ai biết đi chỗ nào? Làm sao để được thấy? Dịu ḷng ta ưu năo!” Mọi người cùng đồn đại, đều nói vương tử chết! Người nghe đều bi thương, buồn than, khổ khó đoạn. Lúc ấy vua Đại Xa, rên xiết mà đứng dậy, liền đến chỗ phu nhân, dùng nước rưới thân bà. Phu nhân được rưới nước, hồi lâu mới tỉnh lại, buồn khóc mà hỏi vua: “Con thiếp nay ở đâu?” Vua bảo phu nhân rằng: “Ta đă sai mọi người, t́m vương tử bốn phương, vẫn chưa có tin tức”. Vua lại bảo phu nhân: “Nàng đừng sanh phiền năo, hăy tự nên dằn ḷng, cùng nhau đi t́m kiếm”. Vua liền cùng phu nhân, xa giá tiến lên trước. Tiếng gào khóc thảm thê, bồn chồn như lửa đốt. Trăm ngàn vạn dân chúng, cũng theo vua xuất thành, đều muốn t́m vương tử. Tiếng buồn than chẳng dứt. Vua do t́m con yêu, dơi mắt nh́n bốn phương. Thấy có một người đến, xơa tóc, thân lấm máu, khắp thân đầy bụi đất, buồn khóc, đến trước vua. Vua thấy tướng ác ấy, sanh ưu năo gấp bội! Vua liền giơ hai tay, buồn than chẳng ḱm nổi. Thoạt tiên, một đại thần, gấp rút đến chỗ vua, tâu cùng đại vương rằng: “Mong vua đừng bi ai, con yêu dấu của ngài, nay tuy chưa kiếm được, chẳng lâu sẽ đến đây, khiến đại vương khỏi lo”. Vua lại tiến lên trước, thấy một đại thần đến, rơi lệ tâu vua rằng: “Hai vương tử c̣n sống, bị lửa ưu bức bách. Nhưng vương tử thứ ba, đă bị vô thường nuốt. Thấy cọp đói mới sanh, sắp sửa ăn thịt con. Vương tử Tát Đỏa ấy, thấy vậy khởi bi tâm, nguyện cầu vô thượng đạo, sẽ độ hết thảy chúng. Suy tưởng diệu Bồ Đề, rộng lớn sâu như biển, liền lên đỉnh núi cao, gieo thân trước hổ đói. Hổ yếu, chẳng thể ăn, dùng tre tự đâm cổ, hổ bèn ăn vương tử, chỉ sót lại hài cốt”. Khi đó, vua, phu nhân, nghe xong đều chết ngất, tâm ch́m trong biển sầu, lửa phiền năo thiêu đốt. Quan dùng nước chiên đàn, rưới vua và phu nhân. Tỉnh dậy, gào bi thiết, giơ tay đấm ngực ḿnh. Đại thần thứ ba tới, tâu vua như thế này: “Thần thấy hai vương tử, ngất xỉu ở trong rừng. Thần dùng nước lạnh rưới, nhờ đó tạm tỉnh lại. Ngóng nh́n khắp bốn phương, như lửa dữ trọn khắp. Tạm đứng, lại gục xuống, buồn gào, khó tự dằn. Giơ tay, thốt lời buồn, ca ngợi em hy hữu”. Vua nghe nói như thế, lửa ưu càng nung nấu. Phu nhân gào khóc thảm, lớn tiếng nói thế này: “Đứa con út ta riêng nâng niu, đă bị vô thường La Sát nuốt. Hai đứa con kia nay vẫn c̣n, lại bị lửa ưu sầu nung đốt. Ta nay mau đến dưới chân núi, an ủi để giữ tánh mạng chúng”. Liền ruổi xa giá theo đường trước, nhất tâm đến vách con xả thân, gặp hai con khóc đi trên đường, đấm ngực áo năo, dáng nhếch nhác. Cha mẹ thấy rồi ôm sầu bi, cùng tới núi rừng chỗ xả thân. Đă tới chỗ Bồ Tát xả thân, tụ tập xót gào, rất khổ sở. Tháo bỏ chuỗi ngọc, tột xót thương, thu thập dư cốt của Bồ Tát. Cùng với dân chúng đồng cúng dường, cùng tạo tốt-đổ-ba bảy báu, đem xá lợi ngài đặt trong ấy, xa giá ôm sầu về kinh thành).

 

          Kế đó, nói kệ tụng gồm năm mươi sáu bài tụng, chia thành hai phần:

          - Một, hai bài tụng đầu nêu chung sự tu hành.

          - Hai, năm mươi bốn bài tụng sau đó nói riêng chuyện xả thân.

          Trường Hàng trong phần trước gồm mười đoạn, nay trong kệ tụng lược đi không nói đoạn thứ tư “suy nghĩ nên xả mạng”, đoạn thứ bảy “cọp ăn thịt [vương tử]” và đoạn thứ mười “kết lại, dạy về lợi sanh”, tức là chia thành bảy đoạn:

          - Một, một bài tụng rưỡi trần thuật đoạn thứ nhất [trong phần Trường Hàng], tức quyến thuộc xưa kia.

          - Hai, nửa bài tụng kế đó trùng tụng đoạn thứ hai, trần thuật chuyến đi chơi xưa kia.

          - Ba, một bài tụng kế đó trùng tụng đoạn thứ ba, “gặp cảnh khổ, sanh bi tâm”.

          - Bốn, một bài tụng trùng tụng đoạn thứ năm “xả thân cứu tế”.

          - Năm, hai bài tụng trùng tụng đoạn thứ sáu “điềm lành cảm động trời, người”.

          - Sáu, bốn mươi sáu bài tụng rưỡi trùng tụng đoạn thứ tám “quyến thuộc khóc thương.

          - Bảy, một bài tụng rưỡi trùng tụng đoạn thứ chín “v́ vương tử lập chế-để”.

          Năm đoạn đầu, xét theo kinh văn dễ thấy. Phần trùng tụng “quyến thuộc thương khóc” có ba ư thuộc phần Trường Hàng:

          - Một, sáu bài tụng từ “nhị huynh quái bất hoàn” (hai anh kinh ngạc sao em không trở về) trở đi, trùng tụng chuyện anh em buồn khóc, chia nhỏ ra dễ thấy, lược đi không nói ư “thị vệ truy t́m”.

          - Hai, bốn mươi bài tụng rưỡi từ “Bồ Tát xả thân thời” (lúc Bồ Tát xả thân) trở đi, cha mẹ buồn khóc. Phần Trường Hàng trước đó gồm mười một ư, không có ư “trước hết, sai bầy tôi đi t́m”, trong kệ tụng có ư này, nhưng không có ư thứ mười, ư thứ mười một là “mẹ khóc lóc, giăi bày ḷng bi thương”, ư thứ mười ba “vua an ủi phu nhân”, ư thứ mười bốn “vua và quần thần đi kiếm”, cho nên chỉ gồm mười ư:

          1) Mười một bài tụng đầu tiên trùng tụng ư phu nhân kinh dị.

          2) Nửa bài tụng kế đó, trùng tụng ư thứ hai, “hai vương tử bi thương, hoảng sợ”.

          3) Kế đó, mười bốn bài tụng rưỡi từ “nhân mạng chư quần thần” (do vậy, sai quần thần) trở đi, trùng tụng ư thứ tư “vua và quần thần ra khỏi thành t́m kiếm”.

          4) Kế đó, năm bài tụng rưỡi từ “vương phục cánh tiền hành” (vua lại tiến lên trước) trở đi, biết nguyên do con xả ḿnh.

          5) Bảy bài tụng từ “thời vương cập phu nhân” (khi đó, vua và phu nhân) trở đi, trùng tụng ư thứ sáu, “biết rồi bi thương, nghẹn ngào”.

          6) Hai bài tụng kế đó từ “ngă kim tốc khả chí sơn hạ” (ta nay mau đến dưới chân núi) trở đi, trùng tụng ư thứ bảy “đến chỗ [vương tử] xả thân”.

          7) Nửa bài tụng kế đó, trùng tụng ư thứ tám “trông thấy bèn sụp đổ.

          Đoạn nói về “phu nhân kinh dị” chia thành năm tiểu đoạn:

          a. Bài tụng thứ nhất, [phu nhân và các cung nữ] ở trong cung hoan hỷ.

          b. Một bài tụng rưỡi kế đó, [phu nhân] cảm nhận sự bồn chồn, vú chảy sữa.

          c. Sáu bài tụng rưỡi kế đó là [phu nhân] buồn khóc tâu vua. Trong Trường Hàng thuộc phần trước, [có các ư]: [Phu nhân] trong khi ngủ mộng thấy điềm xấu, thị nữ nghe nói, vội vào tâu lại, mẹ nghe nói sầu năo, [các ư ấy] đều được gom vào trong đoạn tâu vua này, chẳng cần phải trùng tụng riêng, do kinh văn soi rọi lẫn nhau, chẳng cần tốn công trùng tụng.

          d. Một bài tụng kế đó, nói [phu nhân] tâu xong ngất đi.

          e. Bài tụng kế đó nói các thể nữ lo âu, hoảng sợ.

          8) Từ “vương văn như thị ngữ” (vua nghe lời như thế) trở đi, trùng tụng ư thứ hai “vua bèn bi thương”.

          9) Mười bốn bài tụng từ “nhân mạng chư quần thần” (liền sai các quần thần) trở đi, vua và quan cùng ra khỏi thành t́m kiếm. Phần Trường Hàng có bảy ư, nay kệ tụng chia thành ba:

          a. Nửa bài tụng nói vua sai quan truy t́m, Trường Hàng không có ư này.

          b. Chín bài tụng kế đó, th́ đầu tiên là chia nhau truy t́m bốn phương. Trong ấy, ba bài tụng đầu tiên là bầy tôi truy t́m. Kế đó, bốn bài tụng từ “nhĩ thời, Đại Xa” (lúc bấy giờ, vua Đại Xa) trở đi, trùng tụng ư thứ ba trong phần trước, tức “vua an ủi phu nhân”, do nói cho tiện. Hơn nữa, phần “buồn khóc, rơi lệ” trong Trường Hàng chẳng nói phu nhân ngất đi, [kẻ hầu] rưới nước cho tỉnh lại, trong phần Trùng Tụng th́ có, đó là do kinh văn nói rơ hay lược đi. Hai bài tụng từ “vương tức dữ phu nhân” (vua liền cùng phu nhân) trở đi, trùng tụng chuyện vua ra ngoài thành t́m kiếm. [Trong đó], bài thứ nhất nói về vua, bài thứ hai nói về các quần thần.

          c. Bốn bài tụng rưỡi từ “vương cầu ái tử cố” (do vua t́m con yêu) trở đi, trùng tụng ư thứ hai trong phần vua và các quan ra ngoài thành t́m kiếm, tức là “đại thần đến báo”. Trong đó, chia thành ba ư: Một bài tụng rưỡi trùng tụng chuyện vua thấy sứ giả đến. Bài tụng kế tiếp nói vua giơ tay gọi lại hỏi. Hai bài tụng kế đó trùng tụng đại thần tiến đến bẩm bạch.

          Năm bài tụng rưỡi từ “vương phục cánh tiền hành” (vua lại tiến lên trước) trở đi, trùng tụng ư thứ năm trong đoạn trước là “biết nguyên do con chết”. Trong ấy, chia thành bốn ư:

          - Một, nửa bài tụng nói vua thấy bầy tôi đến.

          - Hai, một bài tụng kế đó, quần thần tâu hai vương tử c̣n sống.

          - Ba, nửa bài tụng kế đó, báo tin Tát Đỏa đă chết.

          - Bốn, ba bài tụng rưỡi kế đó, trần thuật nguyên do của cái chết.

          Bài tụng kế đó, từ “thời vương cập phu nhân” (khi đó, vua và phu nhân) trở đi, trùng tụng ư “biết tin rồi bi thương, nghẹn ngào”, được chia thành bốn ư:

          - Một, một bài tụng nói cha mẹ ngất xỉu.

          - Hai, một bài tụng nói quần thần rảy nước [cho tỉnh lại].

          - Ba, ba bài tụng kế đó nói bầy tôi lại bẩm báo [tin tức hai vương tử c̣n sống, đau thương quá độ].

          - Bốn, hai bài tụng kế đó nói cha mẹ gào khóc, than văn. Hai bài tụng kế đó trùng tụng điều thứ bảy “đến chỗ vương tử xả thân”. Nửa bài tụng kế đó trùng tụng ư thứ tám “cha mẹ trông thấy [hài cốt của con bèn] sụp đổ”.

          10) Một bài tụng rưỡi kế đó chính là đoạn thứ chín “v́ vương tử lập chế-để”.

 

5.26.4.2. Dung hội xưa nay

         

          (Kinh) Phục cáo A Nan Đà: - Văng thời Tát Đỏa giả, tức ngă Mâu Ni thị, vật sanh ư dị niệm. Vương thị phụ Tịnh Phạn, hậu thị mẫu Ma Da, thái tử vị Từ Thị, thứ Mạn Thù Thất Lợi. Hổ thị Đại Thế Chúa, ngũ nhi ngũ bật-sô, nhất thị Đại Mục Liên, nhất thị Xá Lợi Tử.

          ()復告阿難陀往時薩埵者即我牟尼是勿生於異念王是父淨飯后是母摩耶太子謂慈氏次曼殊室利虎是大世主五兒五苾芻一是大目連一是舍利子

          (Kinh: Lại bảo A Nan Đà: - Tát Đỏa thuở trước tức là ta, Mâu Ni, đừng sanh ư niệm khác. Vua là cha ta, Tịnh Phạn. Hoàng hậu là mẹ ta, Ma Da. Thái tử là Từ Thị, kế đó là Mạn Thù Thất Lợi. Cọp là Đại Thế Chúa, năm con là năm bật-sô, [hai con c̣n lại th́] một là Đại Mục Liên, con kia là Xá Lợi Tử).

 

          Đoạn lớn thứ hai là dung hội xưa nay.

 

5.26.4.3. Khuyên lơn, khích lệ tu học

 

          (Kinh) Ngă vị nhữ đẳng thuyết văng tích lợi tha duyên, như thị Bồ Tát hạnh, thành Phật nhân đương học. Bồ Tát xả thân thời, phát như thị hoằng thệ: “Nguyện ngă thân dư cốt, lai thế ích chúng sanh”. Thử thị xả thân xứ, thất bảo tốt-đổ-ba, dĩ kinh vô lượng thời, toại trầm ư hậu địa. Do tích bổn nguyện lực, tùy duyên hưng tế độ, vị lợi ư nhân thiên, tùng địa nhi dũng xuất.

          ()我為汝等往昔利他緣如是菩薩行成佛因當學菩薩捨身時發如是弘誓願我身餘骨來世益眾生此是捨身處七寶窣堵波以經無量時遂沈於厚地由昔本願力隨緣興濟度為利於人天從地而涌出

          (Kinh: Ta v́ các ông nói, duyên lợi tha xưa kia, hạnh Bồ Tát như thế, nhân thành Phật nên học. Khi Bồ Tát xả thân, phát hoằng nguyện thế này: “Nguyện xương thừa của ta, đời sau ích chúng sanh”. Đó là chỗ xả thân, tốt-đổ ba bảy báu, trải qua vô lượng thời, bèn ch́m trong đất dày. Do sức bổn nguyện xưa, tùy duyên khởi tế độ, nhằn lợi ích trời, người, từ đất mà vọt lên).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ ba là “khuyên lơn, khích lệ tu học”. Trong ấy, bài tụng thứ nhất nêu ra sự khuyên tu trong thuở trước; ba bài tụng kế đó, kết lại ư nghĩa “chỉ bày chế-để”.

 

5.26.4.4. Đại chúng nghe xong đạt được lợi ích

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn thuyết thị văng tích nhân duyên chi thời, vô lượng A-tăng-xí-da nhân thiên đại chúng giai đại bi hỷ, thán vị tằng hữu, tất phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm. Phục cáo thụ thần: “Ngă vị báo ân, cố trí lễ kính”. Phật nhiếp thần lực, kỳ tốt-đổ-ba hoàn một vu địa.

          ()爾時世尊說是往昔因緣之無量阿僧企耶人天大眾皆大悲喜歎未曾有悉發阿耨多羅三藐三菩提心復告樹神我為報恩故致禮敬佛攝神力其窣堵波還沒于地

    (Kinh: Lúc bấy giờ, khi đức Thế Tôn nói nhân duyên xưa kia ấy, vô lượng A-tăng-xí-da (A-tăng-kỳ) đại chúng trời người đều buồn vui to lớn, than là chưa từng có, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lại bảo thần cây: “Ta v́ báo ân cho nên lễ kính”. Đức Phật thâu nhiếp thần lực, tháp ấy lại ch́m mất trong đất).

 

          Đoạn lớn thứ tư là đại chúng nghe giảng, được lợi ích. Kinh văn chia thành ba phần:

          - Một, nhắc lại điều đă nói trước đó.

          - Hai, từ “vô lượng A-tăng-xí-da” trở đi, nói rơ được lợi ích bao nhiêu.

          - Ba, từ “phục cáo thụ thần” (lại bảo thần cây) trở đi, tổng kết lại lời đáp cho câu hỏi.

          Xét theo phần Trường Hàng trước đó, chỉ có ngài A Nan hỏi đức Phật nguyên do lễ tháp, ở đây liền đáp lời hỏi của thụ thần, tức là trong lời hỏi thuộc phần trước, phải nên đồng thời có lời hỏi của thần cây về chuyện lễ tháp, nhưng [kinh văn] lược đi không nói.

          Sau đó, từ “Phật nhiếp thần lực” trở đi, tháp trở về như cũ do đă xong việc rồi.

 

5.27. Phẩm thứ hai mươi bảy: Mười phương Bồ Tát tán thán (Thập Phương Bồ Tát Tán Thán phẩm đệ nhị thập thất, 十方菩薩讚歎品第二十七)

 

          Phẩm Thập Phương Bồ Tát Tán Thán gồm ba môn phân biệt.

         

5.27.1. Ư nghĩa v́ sao có phẩm này

 

          Phần Lưu Thông gồm ba phần khác nhau, tức là Học Hạnh, Tán Trọng (tán thán, tôn trọng) và Phó Chúc, khiến cho người đời sau nương theo pháp mà tu hành. Đạt lợi ích đă nhiều; v́ thế, [thính chúng] bày tỏ ư vui mừng, tán thán. Do vậy, sau phẩm trước, bèn có phẩm này sanh khởi.

 

5.27.2. Giải thích danh xưng

 

          Tán là khen ngợi, Thán là ca ngâm, tức xưng dương ngâm vịnh. Phải nên nói là: Gặp chuyện bèn ca ngợi đức đẹp; đó là Tán. Dùng lư để công bố, tuyên dương là Thán. Điều trước là nhân, điều sau là pháp. Hoặc bao gồm cả nhân và pháp đều gọi là Tán Thán. Bồ Tát là người tán thán. Thập Phương là nói nơi họ đến. Muốn khiến cho hữu t́nh ân cần, trân trọng, cho nên nêu ra [các vị Bồ Tát] từ mười phương xa xôi t́m đến. Bậc thù thắng mà c̣n ca ngợi, tuyên dương, kẻ kém hơn sao không ca vịnh? Lại c̣n nêu rơ: Bậc thù thắng mới có thể làm vậy, kẻ kém hèn chẳng thể, muốn khiến cho [người nghe] sẽ hâm mộ sự thù thắng mà tăng tấn tu tập. V́ thế, trong phần sau có nói: “Linh vị tri giả tùy thuận tu học” (khiến cho người chưa biết tùy thuận tu học).

 

5.27.3. Giải thích vấn nạn

 

          * Hỏi: V́ sao bản dịch cũ gộp thành một phẩm mà bản dịch mới tách thành bốn phẩm?

          Đáp: Dựa theo bản tiếng Phạn, đầu mỗi phẩm đều ghi một vị Bồ Tát, hoặc là đánh dấu. Nay dựa theo bản tiếng Phạn, bốn người tán thán, mỗi vị đều được chép riêng. V́ thế, nay chia thành bốn phẩm. Người xưa do thấy cùng là tán Phật, nên gộp chung thành một phẩm. Lại có thể hiểu là: Văn bản gốc dùng cho bản dịch cũ bị sót phần ghi chép ấy, nên [dường như đều là cùng một ư] tán thán. Bản dịch mới [có bản gốc ghi rơ] bốn người [riêng biệt], bản dịch cũ không có phần Đại Biện Tài tán thán, cho nên có tách ra hay gộp vào sai khác.

          * Hỏi: Theo bản dịch cũ của kinh này, vô lượng Bồ Tát từ thế giới này tới quốc độ của Kim Bảo Cái Sơn Như Lai để lễ bái, tán thán đức Phật ấy. Bản dịch mới th́ ghi: “Các tùng bổn độ, nghệ Thứu Phong sơn, lễ Thế Tôn dĩ, đồng âm nhi tán” (Đều từ cơi ḿnh đến núi Thứu Phong, lễ đức Thế Tôn xong, đồng âm tán thán). V́ sao trái ngược?

          Đáp: Bản dịch cũ sai lầm, bản dịch mới này là đúng. V́ sao? Nghe kinh ở nơi đây, theo đúng lẽ th́ phải tán vị Phật ở nơi đây. Lại dựa theo các phần trước th́ chính là có mười phương Bồ Tát, sao lại đều cùng qua cơi Kim Bảo Sơn tán thán vị Phật ấy? Nếu nói kinh này do Tín Tướng [Bồ Tát phát khởi], sau này Tín Tướng sẽ thành Phật tên là Kim Bảo Sơn, cho nên qua đó tán thán vị Phật ấy. Nói như thế cũng chẳng suông, v́ sao? Bảo Sơn Phật trong hiện tại chẳng phải là thân của Tín Tướng! Vị Phật ấy lại chẳng phải là vị chánh yếu nói lời thọ kư. Hơn nữa, sau đó chẳng nói các vị Bồ Tát ấy đến từ cơi đó, sao có thể nói là nương vào Phật lực của vị ấy? V́ thế, [kinh này] tuy do Diệu Tràng khải thỉnh, mà vị nói pháp là Phật Thích Ca, [thính chúng] nghe pháp đến nơi đây cũng do sức của Phật Thích Ca, Ngài là thầy của Diệu Tràng, cho nên [Diệu Tràng] tán thán Phật Thích Ca. [Do vậy] bản dịch mới chép đúng!

 

5.27.4. Giải thích kinh văn

 

          Kinh văn chia thành ba phần:

          - Một, Bồ Tát vân tập.

          - Hai, Bồ Tát lễ tán.

          - Ba, Như Lai tán thán, ấn khả.

 

5.27.4.1. Bồ Tát vân tập

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thích Ca Mâu Ni Như Lai thuyết thị kinh thời, ư thập phương thế giới, hữu vô lượng bách thiên vạn ức chư Bồ Tát chúng, các tùng bổn độ, nghệ Thứu Phong sơn.

          ()爾時釋迦牟尼如來說是經於十方世界有無量百千萬億諸菩薩眾各從本土詣鷲峯山

          (Kinh: Lúc bấy giờ, khi Thích Ca Mâu Ni Như Lai nói kinh này, từ mười phương thế giới có vô lượng trăm ngàn vạn ức các vị Bồ Tát ai nấy từ cơi ḿnh đến núi Thứu Phong).

 

          Đây chính là đoạn thứ nhất. Trước tiên là lời dẫn khởi của người kết tập kinh, sau đó từ “ư thập phương thế giới” (trong mười phương thế giới) trở đi là Bồ Tát như mây nhóm đến.

 

5.27.4.2. Bồ Tát lễ tán

5.27.4.2.1. Thân nghiệp lễ bái

 

          (Kinh) Chí Thế Tôn sở, ngũ luân trước địa, lễ Thế Tôn dĩ.

          ()至世尊所五輪著地禮世尊已

          (Kinh: Tới chỗ đức Thế Tôn, năm vóc mọp sát đất, lễ đức Thế Tôn xong).

 

          Kế đó là lễ bái, tán thán. Trước là dùng thân lễ bái, sau là dùng lời lẽ tán thán. Đoạn này thuộc ư thứ nhất. Có thể phát khởi thân và ngữ chính là ư nghiệp. Ba nghiệp lễ tán biểu thị ḷng tôn kính sâu đậm.

 

5.27.4.2.2. Ngữ nghiệp tán thán

 

          (Kinh) Nhất tâm hiệp chưởng, dị khẩu đồng âm, nhi tán thán viết.

          ()一心合掌異口同音而讚歎曰

          (Kinh: Nhất tâm chắp tay, khác miệng cùng lời, mà tán thán rằng).

 

          Kế đó, dâng lời tán thán. Trước là nêu ra, sau là tán thán. Đoạn này thuộc ư thứ nhất. Đối với cảnh chuyên niệm th́ gọi là “nhất tâm”. T́nh tôn trọng sâu xa cho nên chắp tay, thân khác nên “dị khẩu”, cùng tán thán nên “đồng âm”.

 

5.27.4.2.2.1. Tán thán ba thân

5.27.4.2.2.1.1. Tán thán ân đức của Hóa Thân

5.27.4.2.2.1.1.1. Tán thán thân hiện tại

 

          (Kinh) Phật thân vi diệu chân kim sắc, kỳ quang phổ chiếu đẳng kim sơn, thanh tịnh nhu nhuyễn nhược liên hoa, vô lượng diệu thái nhi nghiêm sức. Tam thập nhị tướng biến trang nghiêm, bát thập chủng hảo giai viên bị, quang minh bỉnh trước vô dữ đẳng, ly cấu do như tịnh măn nguyệt.

          ()佛身微妙真金色其光普照等金山清淨柔軟若蓮華無量妙彩而嚴飾三十二相遍莊嚴八十種好皆圓備光明炳著無與等離垢猶如淨滿月

          (Kinh: Thân Phật vi diệu, chân kim sắc. Quang minh chiếu khắp tợ núi vàng. Thanh tịnh mềm mại như hoa sen, vô lượng diệu sắc để trang nghiêm. Ba mươi hai tướng trang nghiêm khắp, tám mươi thứ hảo đều trọn vẹn. Quang minh chói lọi không ai bằng, ĺa cấu giống như mặt trăng sạch).

         

          Kế đó, có mười một bài tụng để tán thán, chia thành hai phần:

          - Một, mười bài tụng tán thán ba thân.

          - Hai, một bài tụng sau đó đại lược kết lại và phát nguyện.

          Trong phần “tán thán ba thân”, tám bài tụng đầu tán thán ân đức của Hóa Thân, bài tụng kế đó tán thán Trí Đức của Báo Thân, một bài tụng sau đó là Đoạn Đức của Pháp Thân. Trong phần tán thán Ân Đức, hai bài tụng đầu tán thán thân hiện tại, bài tụng kế đó tán thán sự thuyết pháp, bài tụng kế đó tán thán phước trí, bốn bài tụng kế đó tán thán lợi sanh. Trong phần tán thán “thân hiện tại”, bài tụng thứ nhất tán thán chung thân để nương vào (Hóa Thân), bài tụng kế tiếp nói về tướng tốt và tùy hảo, chi tiết th́ như trong phần trước đă biện định.

 

5.27.4.2.2.1.1.2. Tán thán sự thuyết pháp của Hóa Thân

 

          (Kinh) Kỳ thanh thanh triệt thậm vi diệu, như sư tử hống chấn lôi âm, bát chủng vi diệu ứng quần cơ, siêu thắng Ca Lăng Tần Già đẳng.

          ()其聲清徹甚微妙如師子吼震雷音八種微妙應群機超勝迦陵頻伽等

          (Kinh: Tiếng Ngài trong trẻo rất vi diệu, như sư tử rống, rền tiếng sấm, tám thứ vi diệu ứng quần cơ, vượt xa Ca Lăng Tần Già thảy).

 

          Kế đó, tán thán sự thuyết pháp. Đối với “bát chủng vi diệu thanh” (tám loại âm thanh vi diệu), ba kinh [giải thích] bất đồng:

          - Một, theo kinh Phạm Ma Dụ[17] nói: Một là âm thanh mầu nhiệm nhất, hai là dễ hiểu, ba là sâu xa, bốn là mềm mại, năm là chẳng hư dối, sáu là chẳng sai lầm, bảy là tôn huệ (trọn đủ trí huệ cao quư), tám là điều ḥa.

          - Hai là kinh Trung Ấm[18] nói: Một, chẳng phải nam, hai là chẳng phải nữ, ba là chẳng dài, bốn là chẳng ngắn, năm là chẳng quư, sáu là chẳng hèn, bảy là chẳng khổ, tám là chẳng lạc.

          - Ba là theo kinh Thập Trụ Đoạn Kết th́ một là chẳng nam, hai là chẳng nữ, ba là chẳng mạnh, bốn là chẳng mềm mại, năm là chẳng trong, sáu là chẳng đục, bảy là chẳng đực, tám là chẳng cái.

          Hai kinh trước là Tiểu Thừa. Thập Trụ Đoạn Kết là Đại Thừa, cho thấy nghe khác biệt. “Ca Lăng Tần Già” v.v… là loài chim hót tuyệt hay!

 

5.27.4.2.2.1.1.3. Tán thán phước trí

 

          (Kinh) Bách phước diệu tướng dĩ nghiêm dung, quang minh cụ túc tịnh vô cấu, trí huệ trừng minh như đại hải, công đức quảng đại nhược hư không.

          ()百福妙相以嚴容光明具足淨無垢智慧澄明如大海功德廣大若虛空

     (Kinh: Diệu tướng trăm phước để nghiêm dung, quang minh trọn đủ, sạch vô cấu, trí huệ trong sáng như biển cả, công đức rộng lớn dường hư không).

 

          Kế đó, tán thán phước trí, nửa đầu nói về phước, nửa sau nói về trí. Mỗi tướng hảo đều được trang nghiêm bằng trăm phước. Trong phần trước, tán thán quang minh nơi thân là dựa trên tổng thân, phần này tán thán quang minh là [tán thán theo] từng tướng hảo riêng biệt. Nói “trăm phước” th́ theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, quyển một trăm bảy mươi bảy giảng: “Thế nào là trăm phước? Đáp: Trăm điều tư duy trong ấy gọi là trăm phước. Trăm điều tư duy là ǵ? Tức là như khi Bồ Tát tạo tác nghiệp tăng trưởng túc thiện trụ tướng, năm mươi điều tư duy đầu tiên nhằm tu tập, đối trị, khiến cho thân khí (thân căn) thanh tịnh, điều ḥa, mềm mỏng. Kế đó, khởi một ư niệm tư duy để dẫn dắt, sau đấy, khởi lên năm mươi ư niệm tư duy khiến cho viên măn. Cho đến đối với nghiệp tướng ô-sắt-nị-sa (uṣṇīṣa, nhục kế) trên đỉnh đầu cũng giống như thế. V́ vậy, nói ‘mỗi tướng của đức Phật đều được trang nghiêm bởi trăm phước’. Năm mươi ư niệm tư duy là ǵ? Đáp: Nương vào Thập Thiện Nghiệp Đạo, đối với mỗi điều thiện đều có năm tư duy: Một là suy nghĩ ĺa giết chóc, hai là suy nghĩ khuyên [chúng sanh] hướng về đạo, ba là suy nghĩ tán thán, bốn là tùy hỷ, năm là hồi hướng. Nói ‘hồi hướng’ tức là những điều đă tu đều hướng về Bồ Đề. Cho đến chánh kiến cũng giống như thế, th́ gọi là năm mươi ư niệm tư duy. Có người nói: Đối với mỗi nghiệp trong mười nghiệp, đều khởi lên năm phẩm thiện tư duy là hạ, trung, thượng, thượng thắng, thượng cực, như tu xen tạp các thứ Tĩnh Lự. Có người nói: Đối với mỗi nghiệp trong Thập Thiện, đều khởi lên năm sự tư duy: Một là gia hạnh tịnh, hai là căn bản tịnh, ba là hậu khởi tịnh, bốn là chẳng t́m ṭi kẻ gây hại, năm là niệm nhiếp thọ. Có người nói: Duyên theo mỗi tướng của Phật, khởi lên năm mươi suy nghĩ chưa từng tu tập trong mỗi sát-na, liên tục mà chuyển”.

          Tuy không có người b́nh luận [các cách nói trên đây], nhưng xét theo đạo lư, cách nói đầu tiên hay nhất. Nếu là hạ, trung, thượng v.v… giống như cách tu Tĩnh Lự xen tạp, phải nên có tướng hảo hơn kém khác nhau! Nếu nói là năm thứ gia hạnh, căn bản, hậu khởi v.v… tức là phương tiện khởi lên về sau, phải nên cảm vời giống như nhau chẳng khác. Đă chấp thuận là “cùng cảm vời”, lẽ ra ba thời há có sự khác biệt hơn, kém? Đối với cách nói “tướng hảo” cũng thế, nếu nói là “khởi năm mươi suy nghĩ chưa từng tu tập [trong mỗi sát-na]”, do nhân nào mà chẳng chấp nhận có tăng giảm?

          Nếu xét theo Đại Thừa, tuy chưa thấy nghe [kinh văn để xác chứng], nhưng tương truyền có hai cách giải thích. Tức là đối với Thập Thiện nghiệp, do giúp đỡ lẫn nhau, bèn thành một trăm nghiệp. Một cách giải thích khác là mỗi nghiệp [trong Thập Thiện Nghiệp] đều có mười loại, tức là: Một là tự làm, hai là dạy người khác làm, ba là cảm thấy mừng rỡ, an ủi, bốn là tùy hỷ, năm là thực hiện ít phần, sáu là nhiều phần, bảy là thực hiện toàn bộ, tám là [thực hiện] ít thời, chín là [thực hiện trong] thời gian lâu dài, mười là [thực hiện cho đến] hết tuổi thọ. Do vậy, thành một trăm nghiệp!

 

5.27.4.2.2.1.1.4. Tán thán lợi sanh

 

          (Kinh) Viên quang biến măn thập phương giới, tùy duyên phổ tế chư hữu t́nh, phiền năo ái nhiễm tập giai trừ, pháp cự hằng nhiên bất hưu tức.

          ()圓光遍滿十方界隨緣普濟諸有情煩惱愛染集皆除法炬恒然不休息

          (Kinh: Viên quang trọn khắp mười phương cơi, tùy duyên cứu khắp các hữu t́nh, phiền năo ái nhiễm tập đều trừ, thường thắp đuốc pháp chẳng ngưng nghỉ).

 

          Kế đó, tán thán lợi sanh. Bài tụng đầu tiên là tổng tán. V́ lợi sanh nên hiện thân thuyết pháp. Câu đầu nói về thân [trọn khắp mười phương thế giới], câu thứ hai nói về lợi ích (cứu độ trọn khắp các hữu t́nh), câu thứ ba tán thán [tâm Phật] thanh tịnh, câu thứ tư nói về pháp (đuốc pháp luôn cháy rực). Tức là hai câu trong ấy bao gồm cả thân và pháp.

 

          (Kinh) Ai mẫn lợi ích chư chúng sanh, hiện tại, vị lai năng dữ lạc, thường vị tuyên thuyết Đệ Nhất Nghĩa, linh chứng Niết Bàn chân tịch tĩnh. Phật thuyết cam lộ thù thắng pháp, năng dữ cam lộ vi diệu nghĩa, dẫn nhập cam lộ Niết Bàn thành, linh thọ cam lộ vô vi lạc.

          ()哀愍利益諸眾生現在未來能與樂常為宣說第一令證涅槃真寂靜說甘露殊勝能與甘露微妙義引入甘露涅槃城令受甘露無為樂

          (Kinh: Thương xót lợi ích các chúng sanh, hiện tại, tương lai, ban cho lạc. Thường v́ tuyên nói Đệ Nhất Nghĩa, khiến chứng Niết Bàn chân tịch tĩnh. Phật nói pháp cam lộ thù thắng, hay ban nghĩa cam lộ vi diệu, dẫn nhập thành cam lộ Niết Bàn, khiến thọ vô vi lạc cam lộ).

 

          Kế đó là tán thán riêng. Hai bài tụng đầu tán thán “nhờ pháp do đức Phật nói mà có thể đạt được Niết Bàn”. Bài tụng sau đó tán thán “do pháp đă nói, có thể đạt được Bồ Đề”. Trong phần “đạt được Niết Bàn”, một bài tụng nói “sẽ khiến cho [người nghe pháp và hành tŕ theo đó, sẽ] đạt được [Niết Bàn]”, một bài tụng nhằm nhắc lại lần nữa [ư đó]: Pháp được nói và quả đạt được đều có thể trừ khổ, ban cho an lạc, nên như cam lộ!

 

          (Kinh) Thường ư sanh tử đại hải trung, giải thoát nhất thiết chúng sanh khổ, linh bỉ năng trụ an ổn lộ, hằng dữ nan tư như ư lạc.

          ()常於生死大海中脫一切眾生令彼能住安隱路恒與難思如意樂

          (Kinh: Thường ở trong biển cả sanh tử, giải thoát hết thảy chúng sanh khổ, khiến họ trụ trong đường an ổn, luôn ban vui như ư khó nghĩ).

 

          Tiếp theo đó là kệ tụng “khiến đắc Bồ Đề”, tức là Bát Chánh Đạo được gọi là “an ổn lộ” (con đường an ổn).

 

5.27.4.2.2.1.2. Tán thán trí đức của Báo Thân

 

          (Kinh) Như Lai đức hải thậm thâm quảng, phi chư thí dụ sở năng tri, ư chúng thường khởi đại bi tâm, phương tiện tinh cần hằng bất tức.

          ()如來德海甚深廣非諸譬喻所能於眾常起大悲心方便精勤恒不息

          (Kinh: Biển đức Như Lai rất sâu rộng, dẫu các thí dụ chẳng thể biết, với chúng, thường khởi tâm đại bi, phương tiện siêng ṛng luôn chẳng dứt).

 

          Bài tụng tiếp theo tán thán Trí Đức của Báo Thân. Do đại bi nên thường lợi ích hữu t́nh, chẳng nhập Niết Bàn, luôn không ngưng nghỉ. V́ thế, luận Biện Trung Biên tụng rằng: “Do thù thắng cho nên vô tận, do lợi tha nên chẳng ngưng dứt”.

 

5.27.4.2.2.1.3. Tán thán đoạn đức của Pháp Thân

 

          (Kinh) Như Lai trí hải vô biên tế, nhất thiết nhân thiên cộng trắc lượng, giả sử thiên vạn ức kiếp trung, bất năng đắc tri kỳ thiểu phần.

          ()如來智海無邊際一切人天共測量假使千萬億劫中不能得知其少分

          (Kinh: Biển trí Như Lai chẳng ngằn mé, hết thảy trời người cùng ḍ lường, giả sử trong ngàn vạn ức kiếp, chẳng hề biết được một chút phần).

 

          Kế đó, tán thán Đoạn Đức của Pháp Thân.

 

5.27.4.2.2.2. Kết lại, phát nguyện

 

          (Kinh) Ngă kim lược tán Phật công đức, ư đức hải trung duy nhất đế, hồi tư phước tụ thí quần sanh, giai nguyện tốc chứng Bồ Đề quả.

          ()我今略讚佛功德於德海中唯一渧迴斯福聚施群生皆願速證菩提果

          (Kinh: Nay con lược tán công đức Phật, chỉ một giọt nước trong biển đức, khối phước này hồi thí quần sanh, đều nguyện mau chứng quả Bồ Đề).

 

          Kế đó, đại lược phát nguyện.

 

5.27.4.3. Như Lai tán thán, ấn khả

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo chư Bồ Tát ngôn: - Thiện tai! Thiện tai! Nhữ đẳng thiện năng như thị tán Phật công đức, lợi ích hữu t́nh, quảng hưng Phật sự, năng diệt chư tội, sanh vô lượng phước.

          ()爾時世尊告諸菩薩言善哉善哉汝等善能如是讚佛功德利益有情廣興佛事能滅諸罪生無量福

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Bồ Tát rằng: - Lành thay! Lành thay! Các ông có thể khéo tán thán công đức của Phật như thế, lợi ích hữu t́nh, rộng hưng khởi Phật sự, có thể diệt các tội, sanh vô lượng phước).

 

          Kế đó, Như Lai tán thán, ấn khả. Trước là tán thán, sau đó từ “nhữ đẳng” trở đi là ấn khả. Tâm vô nhiễm nên tán thán, xứng lư, ích lợi chúng sanh, nên ấn khả!

 

 

5.28. Phẩm thứ hai mươi tám: Diệu Tràng Bồ Tát tán thán (Diệu Tràng Bồ Tát tán thán phẩm đệ nhị thập bát, 妙幢菩薩讚歎品第二十八)

5.28.1. Dẫn khởi

 

          Ư nghĩa v́ sao có phẩm Diệu Tràng Bồ Tát Tán Thán giống như trong phần trước. Giải thích tên gọi th́ Cù Rô Chỉ Ra [trong tiếng Phạn], phương này dịch là Diệu. Kê Đầu được phương này dịch là Tràng. Tức là trí thù thắng lỗi lạc được ví như tràng cao, riêng siêu việt trần lụy nên gọi là Diệu. Tràng được xưng là diệu, nên gọi là Diệu Tràng. Đó là cách giải thích theo lối Tŕ Nghiệp. Từ thí dụ mà lập danh xưng, nên gọi là Diệu Tràng. Bản dịch cũ dịch [Diệu Tràng] thành Tín Tướng. Tướng trong tiếng Phạn là Da Sắt Trí, nay đă nói là Cù Rô Chỉ Ra, nên dịch thành Tràng. Tánh của tín là tịnh, có ư nghĩa tương tự với Diệu. Tràng là “cao rạng”; v́ thế nói lầm thành Tướng.

          Giải thích vấn nạn, hỏi: Nghe pháp đạt được lợi ích, không phải chỉ là Diệu Tràng, v́ sao phần tán thán chỉ riêng nêu ra vị đại sĩ này? Đáp: Do Ngài đứng đầu.

 

5.28.2. Giải thích kinh văn

5.28.2.1. Nghi quỹ để tán thán

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng hướng Phật.

          ()爾時妙幢菩薩即從座起偏袒右肩右膝著地合掌向佛

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối phải đặt sát đất, chắp tay hướng về Phật).

 

          Kế đó, kinh văn được chia thành ba phần:

          - Một, nghi quỹ của người tán thán.

          - Hai, từ “nhi thuyết tán viết” (mà nói lời tán thán rằng), giăi bày lời tán thán.

          - Ba, từ “Phật cáo Diệu Tràng” (đức Phật bảo Diệu Tràng) trở đi, đức Thế Tôn tán thán, ấn khả.

          Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

5.28.2.2. Giăi bày lời tán thán

5.28.2.2.1. Tán thán Biến Hóa Phật

 

          (Kinh) Nhi thuyết tán viết: - Mâu Ni bách phước tướng viên măn, vô lượng công đức dĩ nghiêm thân, quảng đại thanh tịnh nhân nhạo quán, do như thiên nhật quang minh chiếu. Diễm thái vô biên quang xí thịnh, như diệu bảo tụ tướng đoan nghiêm, như nhật sơ xuất ánh hư không. Hồng bạch phân minh gián kim sắc, diệc như kim sơn quang phổ chiếu, tất năng châu biến bách thiên độ, năng diệt chúng sanh vô lượng khổ, giai dữ vô biên thắng diệu lạc. Chư tướng cụ túc tất nghiêm tịnh, chúng sanh nhạo đổ vô yếm túc, đầu phát nhu nhuyễn cám thanh sắc, do như hắc phong tập diệu hoa.

          ()說讚牟尼百福相圓滿無量功德以嚴身廣大清淨人樂觀猶如千日光明照焰彩無邊光熾盛如妙寶聚相端嚴如日初出映虛空紅白分明間金色亦如金山光普照悉能周遍百千土能滅眾生無量苦皆與無邊勝妙樂諸相具足悉嚴淨眾生樂覩無厭足頭髮柔軟紺青色猶如黑蜂集妙華

          (Kinh: Bèn nói lời tán thán rằng: - Mâu Ni tướng trăm phước viên măn, vô lượng công đức trang nghiêm thân, rộng lớn thanh tịnh người thích thấy, như ngàn vầng nhật chiếu quang minh. Vô biên quang chiếu sáng rực rỡ, như khối diệu bảo, tướng đoan nghiêm, vầng dương vừa mọc rạng hư không. Trắng đỏ phân minh, chen sắc vàng, cũng như núi vàng chiếu trọn khắp, đều soi trọn khắp trăm ngàn cơi. Diệt trừ chúng sanh vô lượng khổ, đều ban vô biên vui thắng diệu. Các tướng trọn đủ đều nghiêm tịnh, chúng sanh thích thấy không chán đủ. Đầu tóc mềm mại sắc xanh biếc, ví như ong đen gom diệu hoa).

 

          Kế đó, có tám bài tụng rưỡi, chia thành ba phần:

          - Một, bốn bài tụng tán thán Biến Hóa Phật.

          - Hai, ba bài tụng từ “đại hỷ” trở đi, tán thán Thọ Dụng Phật.

          - Ba, một bài tụng rưỡi từ “Như Lai kim khẩu” trở đi, tán tụng cả hai loại Phật. Lược đi, không tán thán Pháp Thân, do ẩn sâu. Tán thán năng y (thân có thể nương tựa) để liên tưởng sở y[19].

          Trước hết là [tán thán] Hóa Thân, chia thành bốn phần:

          - Bài tụng thứ nhất tán thán thân tướng [của Hóa Thân].

          - Bài tụng kế đó tán thán quang minh,

          - Bài kệ tụng kế đó tán thán chung thân và quang minh. Nửa đầu [bài tụng] tán thán [quang minh] có thể trọn khắp, nửa sau tán thán [thân Phật và quang minh của Ngài đều] có thể lợi ích.

          - Bài tụng kế đó tán thán tướng hảo.

 

5.28.2.2.2. Tán thán Thọ Dụng Phật

 

          (Kinh) Đại hỷ đại xả tịnh trang nghiêm, đại từ đại bi giai cụ túc, chúng diệu tướng hảo vi nghiêm sức, Bồ Đề phần pháp chi sở thành. Như Lai năng thí chúng phước lợi, linh bỉ thường hoạch đại an lạc, chủng chủng diệu đức cộng trang nghiêm, quang minh phổ chiếu thiên vạn độ. Như Lai quang minh cực viên măn, do như hách nhật biến không trung. Phật như Tu Di công đức cụ, thị hiện năng châu ư thập phương.

          ()大喜大捨淨莊嚴大慈大悲皆具足眾妙相好為嚴飾菩提分法之所成如來能施眾福利令彼常獲大安樂種種妙德共莊嚴光明普照千萬土如來光明極圓滿猶如赫日遍空中佛如須彌功德具示現能周於十方

          (Kinh: Đại hỷ đại xả tịnh trang nghiêm, đại từ đại bi đều trọn đủ, các diệu tướng hảo để trang nghiêm, do Bồ Đề phần pháp tạo thành. Như Lai ban thí các phước lợi, khiến họ thường được đại an lạc, các thứ diệu đức cùng trang nghiêm, quang minh chiếu khắp ngàn vạn cơi. Quang minh Như Lai cực viên măn, như mặt trời rạng rỡ trên không. Phật như Tu Di, công đức vẹn, thị hiện trọn khắp cả mười phương).

 

          Kế đó, tán thán Thọ Dụng Thân, bao gồm cả Tha Thọ Dụng, chia thành bốn phần:

          - Nửa bài tụng đầu tán thán tứ vô lượng (từ, bi, hỷ, xả).

          - Nửa bài tụng kế đó tán thán tướng hảo. Nói “Bồ Đề phần pháp chi sở thành” (do Bồ Đề phần pháp tạo thành) tức là tán thán cái nhân của tướng hảo.

          - Nửa bài tụng kế đó tán thán [Như Lai ban thí chúng sanh các] lợi ích.

          - Một bài tụng rưỡi kế đó tán thán thân và quang minh.

          Trong phần [tán thán] thân và quang minh, nửa đầu là Tổng, một bài tụng sau đó là Biệt. Trong phần đầu, câu thứ nhất tán thán thân, bao gồm Ngũ Uẩn. Câu sau tán thán quang minh, cũng bao gồm trí sắc. Từ “Như Lai quang tướng” trở đi là tán thán riêng, nửa đầu tán thán quang minh, nửa kế đó tán thán thân.

 

5.28.2.2.3. Tán thán chung hai loại Phật

 

          (Kinh) Như Lai kim khẩu diệu đoan nghiêm, xỉ bạch tề mật như kha tuyết, Như Lai diện mạo vô luân thất, mi gian hào tướng thường hữu toàn, quang nhuận tiễn bạch đẳng pha lê, do như măn nguyệt cư không giới.

          ()如來金口妙端嚴齒白齊密如珂雪如來面貌無倫匹眉間毫相常右旋光潤鮮白等玻瓈猶如滿月居空界

          (Kinh: Như Lai miệng vàng, diệu đoan nghiêm, răng trắng khít bằng như kha tuyết, Như Lai diện mạo khôn sánh bằng. Hào tướng giữa mày xoay bên phải, tươi sáng, trắng sạch dường pha lê, ví như trăng tṛn trên không trung).

 

          Kế đó, tán thán chung tướng và hảo của hai loại Phật.

 

5.28.2.3. Như Lai tán thán, ấn khả

 

          (Kinh) Phật cáo Diệu Tràng Bồ Tát: - Nhữ năng như thị tán Phật công đức bất khả tư nghị, lợi ích nhất thiết, linh vị tri giả tùy thuận tu học.

          ()佛告妙幢菩薩汝能如是讚佛功德不可思議利益一切令未知者隨順修學

          (Kinh: Đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát: - Ông có thể tán thán công đức của Phật chẳng thể nghĩ bàn như thế, lợi ích hết thảy, khiến cho người chưa biết sẽ tùy thuận tu học).

 

          Kế đó, Như Lai tán thán, ấn khả.

 

5.29. Phẩm thứ hai mươi chín: Thần cây Bồ Đề tán thán (Bồ Đề thụ thần tán thán phẩm đệ nhị thập cửu, 菩提樹神讚歎品第二十九)

5.29.1. Dẫn khởi

         

          Ư nghĩa v́ sao có phẩm Bồ Đề Thụ Thần Tán Thán giống như trên. Giải thích danh xưng th́ như Tây Vực Truyện chép: “Cây vốn tên là cây Tất Bát La (Pipala), ở trên ṭa kim cang. Ṭa kim cang ấy đă h́nh thành từ xưa kia trong Hiền Kiếp, cùng nổi lên với đại địa. Xét trong tam thiên đại thiên thế giới, [ṭa ấy] dưới thấu tột kim luân, trên thấu tận địa tế, do kim cang hợp thành, kích thước mỗi bề hơn một trăm bước. Một ngàn vị Phật trong Hiền Kiếp ngồi đó nhập Kim Cang Định, v́ thế gọi là Kim Cang Ṭa. Đức Phật ngồi dưới cây Tất Bát La thành Đẳng Chánh Giác, cho nên gọi là cây Bồ Đề. Thân cây sắc trắng pha vàng, cành lá xanh biếc, tiết Đông hay trời Hạ đều chẳng tiêu điều, tươi nhuận chẳng biến đổi. Mỗi khi đến ngày Như Lai nhập Niết Bàn, lá đều rụng sạch, trong chốc lát mọc lại như cũ”. Đại địa Bồ Tát làm thiên nữ, làm thần cai quản cây Bồ Đề ấy. Đó là giải thích theo lối Y Chủ.

          Giải thích vấn nạn th́ hỏi: Sao không nói tới các vị thần khác? Đáp: [Do vị thần này] thấy Phật trước hết, do thường chẳng ĺa Phật.

          Hỏi: Thần cây Bồ Đề và thần đại địa là một hay khác?

          Đáp: Có người nói là một, có người nói là khác.

 

5.29.2. Giải thích kinh văn

5.29.2.1. Nêu ra người tán thán

         

          (Kinh) Nhĩ thời, Bồ Đề thụ thần.

          ()爾時菩提樹神

          (Kinh: Lúc bấy giờ, thần cây Bồ Đề).

 

          Kế đó, kinh văn chia thành ba phần:

          - Một, nêu ra người tán thán.

          - Hai, từ “diệc dĩ già-đà” (cũng dùng kệ tụng) trở đi, trần thuật lời tán thán.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, Như Lai tán thán, ấn khả.

          Đoạn này thuộc phần thứ nhất.

 

5.29.2.2. Trần thuật lời tán thán

5.29.2.2.1. Tán thán

5.29.2.2.1.1. Tán thán trí thể

 

          (Kinh) Diệc dĩ già-đà tán Thế Tôn viết: - Kính lễ Như Lai thanh tịnh huệ, kính lễ thường cầu chánh pháp huệ, kính lễ năng ly phi pháp huệ, kính lễ hằng vô phân biệt huệ.

          ()亦以伽陀讚世尊曰敬禮如來清淨慧敬禮常求正法慧敬禮能離非法慧敬禮恒無分別慧

          (Kinh: Cũng dùng già-đà tán thán đức Thế Tôn rằng: - Kính lễ Như Lai thanh tịnh huệ, kính lễ huệ thường cầu chánh pháp, kính lễ huệ hay ĺa phi pháp, kính lễ huệ thường chẳng phân biệt).

 

          Kế đó, lời tán thán có mười một bài tụng, đại lược chia thành hai phần:

          - Năm bài tụng đầu là tán thán.

          - Sáu bài tụng sau đó là phát nguyện.

          Trong phần tán thán, một bài tụng tán thán trí thể (bản thể của trí), bốn bài sau tán thán trí dụng (tác dụng của trí).

          Trong phần “tán thán trí thể”, câu thứ nhất tán thán chung trí thể. Trí viên măn ĺa chướng gọi là “thanh tịnh huệ”. Hai câu kế đó tán thán trí năng (năng lực của trí huệ): Có thể khiến cho chúng sanh tu thiện. V́ thế nói là “thường cầu chánh pháp”. Nếu không, quả đă măn, c̣n có ǵ để cầu nữa? Có thể khiến cho chúng sanh xả ác, v́ thế nói là “ly phi pháp huệ”. Tuy có thể [có tác dụng] như thế, nhưng tam luân thanh tịnh, luôn chẳng phân biệt. Hoặc câu thứ nhất tán thán cái quả, ba câu sau tán thán cái nhân. Trong [phần tán thán cái] nhân, câu đầu tiên là gia hạnh trí. Câu kế tiếp là Bổn Trí (Căn Bản Trí), câu cuối là Hậu Đắc Trí. Do ĺa tà phân biệt, nên nói là “vô phân biệt”. Hoặc theo thứ tự, thường có thể tiến nhập điều thiện, bèn có thể ĺa các ác, thường thuận theo vô vi, nên “hằng vô phân biệt” (luôn vô phân biệt). Hoặc có thể hiểu câu thứ nhất bao gồm Pháp và Báo, ba câu c̣n lại chỉ tán thán Báo Thân. Tán thán trí dụng tức là [tán thán] Hóa Thân. V́ thế, bản dịch cũ của kinh này có câu: “Nam-mô thanh tịnh vô thượng chánh giác thậm thâm diệu pháp”. Do đó, thanh tịnh huệ bao gồm Pháp Thân.

 

5.29.2.2.1.2. Tán thán trí dụng

5.29.2.2.1.2.1. Tán thán tác dụng lợi tha

 

          (Kinh) Hy hữu Thế Tôn vô biên hạnh, hy hữu nan kiến tỷ ưu đàm, hy hữu như hải trấn sơn huyền, hy hữu Thiện Thệ quang vô lượng. Hy hữu điều ngự hoằng từ nguyện, hy hữu Thích chủng minh du nhật, năng thuyết như thị kinh trung bảo, ai mẫn lợi ích chư quần sanh.

          ()希有世尊無邊行希有難見比優曇希有如海鎮山玄希有善逝光無量希有調御弘慈願希有釋種明逾日說如是經中哀愍利益諸群生

          (Kinh: Hy hữu Thế Tôn vô biên hạnh, hy hữu khó thấy hơn Ưu Đàm, hy hữu như núi trấn trên biển, hy hữu Thiện Thệ quang vô lượng. Hy hữu điều ngự từ nguyện lớn. Thích chủng hy hữu hơn mặt trời, hay thuyết kinh báu như thế này, xót thương lợi ích các quần sanh).

 

          Kế đó, tán thán trí dụng. Hai bài tụng đầu tán thán tác dụng lợi tha, hai bài sau tán thán tác dụng tự lợi. Trong phần lợi tha, câu thứ nhất tán thán [Như Lai] trọn đủ hạnh hy hữu. Câu kế đó tán thán [Như Lai] xuất hiện hy hữu, thân ngự trong đại chúng, như núi Diệu Cao trấn ngự trong biển cả. Câu kế đó tán thán quang minh vô lượng hy hữu. Câu kế đó tán thán hoằng nguyện hy hữu. Câu kế đó tán thán chủng tánh hy hữu. Đức Thế Tôn sanh trong ḍng họ Nhật Chích (mặt trời nung nấu, Sūryavaṃśa)[20], nên nói là “du nhật’ (vượt hơn mặt trời). Câu kế đó nói kinh này hy hữu. Câu kế đó là [tán thán đức Phật] có thể lợi sanh hy hữu. Tức là đủ tám điều hy hữu.

 

5.29.2.2.1.2.2. Tán thán tác dụng tự lợi

 

          (Kinh) Mâu Ni tịch tĩnh chư căn định, năng nhập tịch tĩnh Niết Bàn thành, năng trụ tịch tĩnh Đẳng Tŕ môn, năng tri tịch tĩnh thâm cảnh giới. Lưỡng Túc trung tôn trụ không tịch, Thanh Văn đệ tử thân diệc không, nhất thiết pháp thể tánh giai vô. Nhất thiết chúng sanh tất không tịch.

          ()牟尼寂靜諸根定能入寂靜涅槃城能住寂靜等持門能知寂靜深境界兩足中尊住空寂聲聞弟子身亦空一切法體性皆無一切眾生悉空寂

          (Kinh: Mâu Ni tịch tĩnh, các căn định, hay nhập thành Niết Bàn tịch tĩnh, hay trụ trong môn Đẳng Tŕ tịch tĩnh, hay biết cảnh giới tịch tĩnh sâu. Lưỡng Túc Tôn trụ trong không tịch, đệ tử Thanh Văn thân cũng không, thể tánh hết thảy pháp đều không, hết thảy chúng sanh đều không tịch).

 

          Hai bài tụng kế đó tán thán tác dụng tự lợi. Hóa tướng trụ trong tịch tĩnh, có thể nhập Niết Bàn v.v… là nói tới Mâu Ni và đệ tử Thanh Văn. Hoặc có thể hiểu là bao gồm tác dụng tự lợi và lợi tha, do nói “chư căn định, trụ Đẳng Tŕ môn” v.v… Nhưng Chân Đế Tam Tạng bảo đó là tán thán Pháp Thân th́ ư nghĩa của đoạn văn này hơi xa! Hai bài tụng này được chia thành ba tiểu đoạn:

          - Bài tụng thứ nhất tán thán tự lợi, trụ trong Tịch đức.

          - Nửa bài tụng kế đó nêu ra nguyên do có thể trụ trong tịch tĩnh.

          - Nửa bài tụng sau đó, kết lại nguyên do. Do pháp thể là Không, tự tánh đều tịch, cho nên trụ trong không tịch. Do trụ trong không tịch, nên có thể tĩnh các căn, có thể nhập viên tịch, có thể ở trong tịch định, có thể chứng tịch cảnh. Do vậy, kinh Vô Cấu Xưng chép: “Kỳ luân năng tịch, bổn tánh tịch dă” (pháp luân có thể tịch tĩnh [các căn cơ được nghe pháp] v́ bổn tánh của nó là tịch tĩnh)[21]. Lại có thể hiểu là: Bài tụng đầu tiên nhằm tán thántrụ trong tịch tĩnh[như đă nói] trên đây. Bài tụng sau tán thán đắc “đạt được tứ b́nh đẳng”: Một là pháp b́nh đẳng, hai là chúng sanh, ba là đối tượng được hóa độ, bốn là Phật thể. Chuẩn theo kinh văn sẽ biết.

 

5.29.2.2. Phát nguyện

 

          (Kinh) Ngă thường ức niệm ư chư Phật, ngă thường nhạo kiến chư Thế Tôn, ngă thường phát khởi ân trọng tâm, thường đắc trị ngộ Như Lai nhật. Ngă thường đảnh lễ ư Thế Tôn, nguyện thường khát ngưỡng, tâm bất xả, bi khấp lưu lệ, t́nh vô gián, thường đắc phụng sự bất tri yếm. Duy nguyện Thế Tôn khởi bi tâm, ḥa nhan thường đắc linh ngă kiến, Phật cập Thanh Văn chúng thanh tịnh, nguyện thường phổ tế ư nhân thiên. Phật thân bổn tịnh nhược hư không, diệc như huyễn diễm cập thủy nguyệt. Nguyện thuyết Niết Bàn cam lộ pháp, năng sanh nhất thiết công đức tụ. Thế Tôn sở hữu tịnh cảnh giới, từ bi chánh hạnh bất tư nghị, Thanh Văn, Độc Giác phi sở lượng, đại tiên Bồ Tát bất năng trắc. Duy nguyện Như Lai ai mẫn ngă, thường linh đổ kiến đại bi thân. Tam nghiệp vô quyện phụng từ tôn, tốc xuất sanh tử, quy Chân Tế.

          ()我常憶念於諸佛我常樂見諸世尊我常發起殷重心常得值遇如來我常頂禮於世尊願常渴仰心不捨悲泣流淚情無間常得奉事不知厭唯願世尊起悲心和顏常得令我見佛及聲聞眾清淨願常普濟於人天佛身本淨若虛空亦如幻焰及水月說涅槃甘露能生一切功德聚世尊所有淨境界慈悲正行不思議聲聞獨覺非所量大仙菩薩不能測唯願如來哀愍我常令覩見大悲身三業無倦奉慈尊速出生死歸真際

    (Kinh: Con thường nghĩ nhớ các đức Phật, con thường thích thấy các Thế Tôn. Con thường phát khởi tâm trân trọng, thường được gặp mặt trời Như Lai. Con thường đảnh lễ đức Thế Tôn, nguyện thường khát ngưỡng, tâm chẳng xả, buồn khóc, tâm t́nh chẳng gián đoạn. Thường được phụng sự, chẳng biết chán. Kính mong Thế Tôn khởi bi tâm, con thường thấy dung nhan từ ḥa. Phật và các Thanh Văn thanh tịnh, nguyện thường cứu độ khắp trời, người. Thân Phật vốn tịnh như hư không, cũng như huyễn diễm, trăng trong nước. Nguyện nói pháp cam lộ Niết Bàn. Hay sanh hết thảy khối công đức. Thế Tôn tất cả cảnh giới tịnh, từ bi, chánh hạnh chẳng nghĩ bàn. Thanh Văn, Độc Giác chẳng lường được, đại tiên Bồ Tát chẳng thể suy. Kính mong Như Lai thương xót con, thường cho con thấy thân đại bi. Ba nghiệp chẳng mệt phụng từ tôn, mau thoát sanh tử, về Chân Tế).

 

          Kế đó là phát nguyện, có sáu điều:

          - Nửa bài tụng đầu tiên là nghĩ nhớ, nguyện thường được thấy [chư Phật Thế Tôn] nơi chỗ [hành nhân đang] ở.

          - Nửa bài tụng kế tiếp là trân trọng, nguyện trong cuộc sống thường được gặp gỡ.

          - Bài tụng kế đó là nguyện cúng dường phụng sự [Như Lai], luôn cúng dường không chán ngán.

          - Nửa bài tụng kế đó là nguyện [Như Lai] luôn gia hộ khiến cho [chúng sanh] được thấy. Phải nên nói là “kiến đẳng” (thấy, nghe v.v…) do số chữ của bài kệ hạn chế, lược bớt chữ Đẳng v.v…

          - Một bài tụng rưỡi kế đó là nguyện luôn lợi ích hữu t́nh. Nói “nhân, thiên” là xét theo phương diện có thể chứng ngộ. Nói “bổn tịnh như không” (vốn thanh tịnh như hư không) là nói theo Pháp Thân. “Thọ dụng như huyễn” v.v… là [nói về] thân Biến Hóa.

          - Hai bài tụng kế đó là nguyện được chứng nhập. Trong ấy, bài tụng đầu tiên tán thán sự thù thắng mầu nhiệm. Cảnh sở hành tức pháp tánh thân. Từ bi chánh hạnh tức là bi trí, đều chẳng thể nghĩ bàn. “Đại tiên Bồ Tát” tức là Đẳng Giác Bồ Tát. Nửa bài tụng kế đó là nguyện gia bị. Nửa bài tụng tiếp đó nhằm nêu rơ: Do tu mà được chứng.

 

5.29.2.3. Đức Thế Tôn tán thán, ấn khả

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn văn thị tán dĩ, dĩ phạm âm thanh, cáo thụ thần viết: - Thiện tai! Thiện tai! Thiện nữ nhân! Nhữ năng ư ngă chân thật vô vọng thanh tịnh Pháp Thân tự lợi, lợi tha, tuyên dương diệu tướng, dĩ thử công đức, linh nhữ tốc chứng tối thượng Bồ Đề, nhất thiết hữu t́nh đồng sở tu tập, nhược đắc văn giả, giai nhập cam lộ vô sanh pháp môn.

          ()爾時世尊聞是讚已以梵音聲告樹神曰善哉善哉善女人汝能於我真實無妄清淨法身自利利他宣揚妙相以此功德令汝速證最上菩提一切有情同所修習若得聞者皆入甘露無生法門

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nghe lời tán thán ấy xong, dùng phạm âm thanh bảo thần cây rằng: - Lành thay! Lành thay! Thiện nữ nhân! Bà có thể đối với Pháp Thân thanh tịnh chân thật chẳng vọng, tự lợi, lợi tha của ta mà tuyên dương diệu tướng, do công đức này khiến cho bà mau chứng Bồ Đề tối thượng, hết thảy hữu t́nh cùng tu tập. Nếu ai được nghe, sẽ đều nhập pháp môn vô sanh cam lộ).

 

          Kế đó, là tán thán, ấn khả. Trước là tán thán, sau là từ “Thiện Nữ Thiên” trở đi th́:

          - Một là ấn khả lời tán thán.

          - Hai, từ “dĩ thử công đức” (do công đức này) trở đi, ấn khả sở nguyện.

 

5.30. Phẩm thứ ba mươi: Đại Biện Tài thiên nữ tán thán (Đại Biện Tài thiên nữ tán thán phẩm đệ tam thập, 大辯才天女讚歎品第三十)

5.30.1. Dẫn khởi

 

          Ư nghĩa v́ sao có phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ Tán Thán này giống như trong phần trên. Do trọn đủ bốn thứ biện tài của Bồ Tát, nên gọi là Đại Biện Tài. Do tự tại nên gọi là Thiên, hiện làm thiên nữ. Đấy là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp. Hoặc chỉ rơ vị này khác với các thiên nữ khác, vị này là thiên nữ Đại Biện Tài, cũng là giải thích theo lối Y Chủ.

          * Hỏi: V́ sao không nói các vị khác, mà [chỉ nói] vị thiên nữ này tán thán?

          Đáp: Do vị này có biện tài thù thắng trong các thần. Do vậy, không nói các vị khác.

 

5.30.2. Giải thích kinh văn

5.30.2.1. Chỉ ra người tán thán

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đại Biện Tài thiên nữ tức tùng ṭa khởi, hiệp chưởng cung kính, dĩ trực ngôn từ.

          ()爾時大辯才天女即從座起合掌恭敬以直言辭

    (Kinh: Lúc bấy giờ, Đại Biện Tài thiên nữ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính, dùng ngôn từ trực tiếp).

 

          Kế đó, kinh văn được chia thành ba phần. Phần này nêu ra người tán thán, gồm ba ư:

          - Một là nêu ra người [thực hiện sự tán thán].

          - Hai là oai nghi.

          - Ba là dùng ngôn từ trực tiếp để biểu lộ chẳng giống người khác. Chẳng dùng kệ tụng để tán thán, nên nói là “trực ngôn từ”.

 

5.30.2.2. Tán thán

 

          (Kinh) Tán Thế Tôn viết: - Nam-mô Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, thân chân kim sắc, yết như loa bối, diện như măn nguyệt, mục loại thanh liên, thần khẩu xích hảo như pha lê sắc, tỵ cao tu trực như tải kim đĩnh, xỉ bạch tề mật như Câu Vật Đầu hoa, thân quang phổ chiếu như bách thiên nhật, quang thái ánh triệt như Thiệm Bộ kim. Sở hữu ngôn từ giai vô mậu thất, thị tam giải thoát môn, khai Tam Bồ Đề lộ, tâm thường thanh tịnh, ư lạc diệc nhiên. Phật sở trụ xứ cập sở hành cảnh, diệc thường thanh tịnh, ly phi oai nghi, tấn chỉ vô mậu. Lục niên khổ hạnh, tam chuyển pháp luân, độ khổ chúng sanh, linh quy bỉ ngạn. Thân tướng viên măn, như Câu Đà thụ. Lục Độ huân tu, tam nghiệp vô thất. Cụ Nhất Thiết Trí, tự tha lợi măn. Sở hữu tuyên thuyết thường vị chúng sanh, ngôn bất hư thiết. Ư Thích chủng trung, vi đại sư tử, kiên cố dũng mănh, cụ bát giải thoát.

          ()讚世尊曰南謨釋迦牟尼如來正等覺身真金色咽如螺貝面如滿月目類青蓮脣口赤好如玻鼻高修直如載金鋌齒白齊密如拘物頭華身光普照如百千日光彩映徹如贍部金所有言辭皆無謬失示三解開三菩提路心常清淨意樂亦然佛所住處及所行境亦常清淨離非威儀進止無謬六年苦行三轉法輪度苦眾生令歸彼岸身相圓滿如拘陀樹六度熏修三業無失具一切智自他利滿所有宣說常為眾生言不虛設於釋種中為大師子堅固勇猛具八解

    (Kinh: Tán thán đức Thế Tôn rằng: - Nam-mô Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, thân màu vàng ṛng, họng như vỏ ốc, mặt như trăng tṛn, mắt như sen xanh, môi miệng đỏ đẹp như sắc pha lê, mũi cao ngay thẳng như đĩnh vàng cắt, răng trắng khít bằng như hoa Câu Vật Đầu[22], quang minh nơi thân chiếu khắp như trăm ngàn mặt trời, màu sắc chói lọi như vàng Thiệm Bộ. Tất cả lời nói đều chẳng sai lầm, chỉ bày ba môn giải thoát, mở đường Chánh Giác, tâm thường thanh tịnh, ư lạc cũng thế. Trụ xứ và cảnh sở hành của Phật cũng thường thanh tịnh, ĺa chẳng oai nghi, hành xử không sai lầm. Sáu năm khổ hạnh, tam chuyển pháp luân, độ chúng sanh khổ, khiến họ trở về bờ kia. Thân tướng viên măn như cây Câu Đà[23]. Lục Độ huân tu, ba nghiệp chẳng sai sót. Trọn đủ Nhất Thiết Trí, tự lợi và lợi tha viên măn. Tất cả tuyên thuyết thường v́ chúng sanh, lời nói chẳng dối lập. Là đại sư tử trong ḍng họ Thích, kiên cố, dũng mănh, đủ tám giải thoát).

 

    Kế đó là tán thán, có hai phần:

          - Một là tán thán đức.

          - Hai, từ “nguyện dĩ thử phước” (nguyện dùng phước này) là phát nguyện.

          Trong phần tán thán có ba ư:

          - Một là thân lễ.

          - Hai là tán thán riêng biệt.

          - Ba, từ “ngă kim tùy lực” (con nay tùy sức) trở đi, kết lại.

          Phần tán thán riêng biệt có mười ư:

          - Một, từ “thân chân kim sắc” trở đi, tán thán tướng hảo.

          - Hai, từ “sở hữu” (tất cả) trở đi, tán thán lời lẽ chẳng sai lầm. Trong mười tám pháp bất cộng th́ thuyết pháp thù thắng nhất, nên riêng tán thán ngữ nghiệp của Phật.

          - Ba, từ “thị tam giải thoát môn” (chỉ bày ba môn giải thoát) trở đi, tán thán đức thuyết pháp hóa độ người bên ngoài, có hai ư:

          a. Một là chỉ dạy ba môn giải thoát, tức Niết Bàn môn.

          b. Hai là mở ra đường Tam Bồ Đề (ứng hóa Phật Bồ Đề, báo Phật Bồ Đề, pháp Phật Bồ Đề), tức là ba món Bồ Đề của Phật. Hai thừa kia do nương vào đây mà có.

          - Bốn, từ “tâm thường” trở đi, tán thán bốn đức thanh tịnh nội chứng. Bốn thanh tịnh: Một là tự tánh tịnh, hai là ly cấu tịnh, ba là đắc đạo tịnh, bốn là thanh tịnh do sanh vào cảnh này, tức là phối ứng theo chiều ngược. Do tâm thanh tịnh lưu xuất giáo pháp, có thể sanh ra hết thảy Bồ Đề phần pháp (các pháp thuộc về Bồ Đề), tức là cái có thể sanh và cái được sanh, hết thảy đều thanh tịnh. V́ thế, kinh Vô Cấu Xưng nói: “Tùy kỳ tâm tịnh, tức hữu thanh tịnh Phật độ. Tùy kỳ thanh tịnh Phật độ, tức hữu thanh tịnh pháp giáo” (Tùy thuận tâm tịnh liền có cơi Phật thanh tịnh. Thuận theo cơi Phật thanh tịnh, bèn có giáo pháp thanh tịnh). Cho đến nói: “Thanh tịnh công đức ư lạc, tức đắc thử đạo tịnh” (Do công đức ư lạc thanh tịnh liền đạt được đạo này thanh tịnh). Chỗ Phật trụ chính là chỗ trụ của Chân Như Pháp Thân ly cấu. Tánh và tướng chia làm hai; v́ thế, kinh Thắng Man dạy: “Tại triền, danh Như Lai Tạng; xuất triền, danh Pháp Thân” (C̣n bị trói buộc trong phiền năo th́ gọi là Như Lai Tạng, thoát khỏi trói buộc th́ gọi là Pháp Thân). Cảnh được hành chính là tự tánh tịnh. Nhất Chân pháp giới chính là hành cảnh của Phật. Vô Tánh Nhiếp Luận, quyển thứ năm viết: “Bốn thứ thanh tịnh ấy chính là Viên Thành Thật”. Lại giải thích rằng: “Đấy là bốn món hết thảy các tướng thanh tịnh”. Theo quyển thứ chín của Vô Tánh Nhiếp Luận nói: “Do cái để nương vào là thanh tịnh, tức là y chỉ Tĩnh Lự. Hai là cái để duyên theo là thanh tịnh, tức biến hóa thành hết thảy các sắc. Ba là tâm thanh tịnh, tức thuận theo môn Tam-ma-địa mong muốn mà tự tại chuyển, tức là tự tại xuất nhập các Định. Bốn là trí tự tại, tức là trụ tŕ tự tại trong Đà La Ni môn như tâm mong muốn”. Ở đây, tâm thanh tịnh là điều thứ ba, ư lạc là điều thứ tư, “sở trụ” chính là điều thứ nhất, “sở hành” là điều thứ hai. Lại giải rằng: “Tâm” tức là tâm vương, “ư lạc” tức là thắng giải. Nêu ra môn thắng giải này để nói chung các tâm sở khác. “Sở trụ” chính là Chân Như, “sở hành” chính là tục cảnh.

          - Năm, từ “ly phi oai nghi” (ĺa các thứ chẳng phải là oai nghi) trở đi, tán thán sự vĩnh viễn dẹp trừ [các lầm lỗi]. “Tập” chính là tập khí. Vô Tánh Nhiếp Luận viết: “Trọn khắp hết thảy đi, đứng, nghĩa là khất thực trong thành, ấp, xóm làng, qua lại, kinh hành, bốn oai nghi nơi thân đều trụ trong tịch tĩnh”. Lại nữa, thân chẳng sai phạm, trong bốn oai nghi thường lợi lạc chúng sanh. V́ thế, kinh Vô Cấu Xưng nói: “Như Lai sở hữu tấn chỉ, oai nghi, vô phi Phật sự, hàm linh sở hóa hữu t́nh nhiêu ích” (Tất cả cử chỉ và oai nghi của Như Lai, không ǵ chẳng phải là Phật sự, đều nhằm lợi ích hữu t́nh được giáo hóa).

          - Sáu, “sáu năm khổ hạnh” v.v… là tán thán [đức Phật đă thị] hiện tám tướng [thành đạo]. Trong tám tướng, chỉ nêu ra hai tướng khổ hạnh và chuyển pháp luân. Từ “vị độ khổ sanh” (v́ độ chúng sanh khổ sở) trở đi, tán thán sự hiện tướng, mang ư nghĩa “khiến cho [người được hóa độ] trở về bờ kia” để làm mẫu cho các tướng khác.

          - Bảy, “thân tướng viên măn” là tán thán thân tướng.

          - Tám, “Lục Độ huân tu”, tán thán sự tu hành.

          - Chín, “tam nghiệp vô thất” (ba nghiệp không lầm lỗi), tán thán đức bất cộng của ba nghiệp, nêu ra ba điều để đại biểu cho các điều khác.

          - Mười, từ “cụ Nhất Thiết Trí” (trọn đủ Nhất Thiết Trí) trở đi, tán thán Trí Đức. Trước là nêu chung; sau đó từ “sở hữu tuyên thuyết” (tất cả tuyên nói) trở đi là giải thích riêng biệt. Trong phần giải thích riêng biệt, trước là lợi tha, c̣n từ “ư Thích Chủng” (trong ḍng họ Thích) trở đi là tự lợi. Thật ra, hiện sanh đều v́ lợi tha, do xét theo tướng mà nói là “tự lợi”.

 

          (Kinh) Ngă kim tùy lực xưng tán Như Lai thiểu phần công đức, do như văn tử ẩm đại hải thủy.

          ()我今隨力稱讚如來少分功德猶如蚊子飲大海水

          (Kinh: Con nay tùy sức ca ngợi chút phần công đức của Như Lai, ví như con muỗi uống nước trong biển cả).

 

          Kế đó là tiểu kết.

 

          (Kinh) Nguyện dĩ thử phước, quảng cập hữu t́nh, vĩnh ly sanh tử, thành vô thượng đạo.

          ()願以此福廣及有情永離生死成無上道

          (Kinh: Nguyện do phước này, rộng lợi lạc hữu t́nh, vĩnh viễn ĺa sanh tử, thành vô thượng đạo).

 

          Kế đó là phát nguyện.

 

5.30.2.3. Đức Thế Tôn tán thán, ấn khả

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Đại Biện Tài Thiên viết: - Thiện tai! Thiện tai! Nhữ cửu tu tập, cụ đại biện tài, kim phục ư ngă, quảng trần tán thán, linh nhữ tốc chứng vô thượng pháp môn, tướng hảo viên minh, phổ lợi nhất thiết.

          ()爾時世尊告大辯才天曰善哉善哉汝久修習具大辯才今復於我廣陳讚歎令汝速證無上法門相好圓明普利一切

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Đại Biện Tài Thiên rằng: - Lành thay! Lành thay! Bà tu tập đă lâu, trọn đủ đại biện tài, nay lại ở nơi ta rộng trần thuật tán thán, khiến cho bà mau chứng pháp môn vô thượng, tướng hảo viên minh lợi khắp hết thảy).

 

          Kế đó là tán thán, ấn khả. Trong phần tán thán, trước là tán thán chung, từ “nhữ cửu tu tập” (bà tu tập đă lâu) trở đi là tán thán riêng. Trong phần tán thán riêng, trước là tán thán cái nhân, tức do tu tập đă lâu nên trọn đủ biện tài; sau là tán thán cái quả, nay [do thiên nữ] lại có thể tán thán [vi diệu như thế, nên sẽ đắc quả vi diệu như thế]. Từ “linh nhữ tốc chứng” (khiến cho bà mau chứng) trở đi là ấn khả, phát nguyện.

 

5.31. Phẩm thứ ba mươi mốt: Phó Chúc (Phó Chúc phẩm đệ tam thập nhất, 付囑品第三十一)

5.31.1. Dẫn khởi

 

          Phẩm Phó Chúc gồm hai môn phân biệt. Nói về ư nghĩa v́ sao có phẩm này th́ từ phẩm Tứ Thiên Vương trở đi, thuộc vào Lưu Thông Phần, có ba tiểu loại. Trong phần trên là Học Hạnh Lưu Thông, đại chúng nghe nói tâm sanh hoan hỷ tán thán. V́ thế, nay là loại thứ ba, tức [đức Phật] sẽ phó chúc (căn dặn, giao phó), khiến cho họ hộ tŕ, truyền tới đời Mạt. V́ thế sau phẩm trước, bèn có phẩm này sanh khởi.

          Giải thích danh xưng: Phó () là trao cho, Chúc () là cậy nhờ. Dùng pháp để phó thác, trao cho, khiến cho [người được phó thác sẽ] hộ tŕ, lưu thông trong đời Mạt. V́ thế nói là Phó Chúc.

 

5.31.2. Giải thích kinh văn

5.31.2.1. Phật tuyển mộ người phát tâm hộ tŕ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn phổ cáo vô lượng Bồ Tát, cập chư nhân thiên, nhất thiết đại chúng: - Nhữ đẳng đương tri, ngă ư vô lượng vô số đại kiếp, cần tu khổ hạnh, hoạch thậm thâm pháp Bồ Đề chánh nhân, dĩ vị nhữ thuyết.

          ()爾時世尊普告無量菩薩及諸人天一切大眾汝等當知我於無量無數大劫勤修苦行獲甚深法菩提正因已為汝

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo khắp vô lượng Bồ Tát và các trời, người, hết thảy đại chúng: - Các vị nên biết, ta trong vô lượng vô số đại kiếp, siêng tu khổ hạnh, đạt được pháp rất sâu, chánh nhân Bồ Đề, đă v́ các vị nói).

 

          Kế đó, kinh văn chia thành bốn phần:

          - Một, đức Phật tuyển mộ người [sẽ phát tâm] hộ tŕ.

          - Hai, từ “nhĩ thời, chúng trung” (lúc bấy giờ, trong đại chúng) trở đi, đại chúng nghe nói bèn phát nguyện hộ tŕ.

          - Ba, từ “nhĩ thời, Thế Tôn” (lúc bấy giờ, đức Thế Tôn) trở đi, đức Phật lại tán thán, khuyên lơn lần nữa.

          - Bốn, từ “nhĩ thời, vô lượng” (lúc bấy giờ, vô lượng) trở đi, [đại chúng] nghe dạy, hoan hỷ phụng hành.

          Trong phần thứ nhất có hai ư. Ư thứ nhất là bảo khắp đại chúng, kết lại các điều đă nói trên đây.

 

          (Kinh) Nhữ đẳng thùy năng phát dũng mănh tâm, cung kính thủ hộ, ngă Niết Bàn hậu, ư thử pháp môn, quảng tuyên lưu bố, năng linh chánh pháp cửu trụ thế gian?

          ()汝等誰能發勇猛心恭敬守護我涅槃後於此法門廣宣流布能令正法久住世間

          (Kinh: Trong các vị, ai có thể phát tâm dũng mănh, cung kính thủ hộ, sau khi ta Niết Bàn, đối với pháp môn này sẽ rộng tuyên nói, lưu truyền, khiến cho chánh pháp trụ lâu trong thế gian?)

 

          Kế đó, tuyển mộ người hộ tŕ trong trọn khắp đại chúng.

 

5.31.2.2. Đại chúng nghe [đức Phật nói] bèn phát nguyện hộ tŕ

5.31.2.2.1. Tổng nguyện

 

          (Kinh) Nhĩ thời, chúng trung hữu lục thập câu-chi chư đại Bồ Tát, lục thập câu-chi chư thiên đại chúng, dị khẩu đồng âm, tác như thị ngữ: - Thế Tôn! Ngă đẳng hàm hữu hân nhạo chi tâm, ư Phật Thế Tôn vô lượng đại kiếp cần tu khổ hạnh, sở hoạch thậm thâm vi diệu chi pháp Bồ Đề chánh nhân, cung kính hộ tŕ, bất tích thân mạng. Phật Niết Bàn hậu, ư thử pháp môn, quảng tuyên, lưu bố, đương linh chánh pháp cửu trụ thế gian.

          ()爾時眾中有六十俱胝諸大菩薩六十俱胝諸天大眾異口同音作如是語世尊我等咸有欣樂之心於佛世尊無量大劫勤修苦行所獲甚深微妙之法菩提正因恭敬護持不惜身命佛涅槃後於此法門廣宣流布當令正法久住世間

          (Kinh: Lúc bấy giờ, trong đại chúng có sáu mươi câu-chi các vị đại Bồ Tát, sáu mươi câu-chi đại chúng chư thiên, khác miệng cùng tiếng, nói như thế này: - Bạch Thế Tôn! Chúng con đều có tâm ưa thích, đối với chánh nhân Bồ Đề là pháp vi diệu rất sâu do Phật Thế Tôn đă đạt được v́ siêng tu khổ hạnh trong vô lượng đại kiếp, sẽ cung kính hộ tŕ, chẳng tiếc thân mạng. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, đối với pháp môn này, sẽ rộng tuyên nói, lưu truyền, khiến cho chánh pháp trụ lâu trong thế gian).

 

          Kế đó, hai hàng đại chúng nghe nói bèn nguyện thủ hộ. Có hai ư: Một là Tổng, hai là từ “nhĩ thời, chư đại Bồ Tát” (lúc bấy giờ, các đại Bồ Tát) trở đi là Biệt. Trong phần Tổng, có bốn ư:

          - Một, nêu ra số lượng đại chúng (sáu mươi câu-chi).

          - Hai, từ “dị khẩu đồng âm” trở đi, trần thuật tâm vui thích, phát nguyện.

          - Ba, từ “ư Phật Thế Tôn” (đối với đức Phật Thế Tôn) trở đi, thề tự hộ tŕ.

          - Bốn, từ “Phật Niết Bàn hậu” (sau khi đức Phật nhập Niết Bàn) trở đi, kiêm lưu truyền tới đời Mạt.

 

5.31.2.2.2. Biệt nguyện

5.31.2.2.2.1. Các đại Bồ Tát phát nguyện

 

          (Kinh) Nhĩ thời, chư đại Bồ Tát tức ư Phật tiền, thuyết già-đà viết:

          ()爾時諸大菩薩即於佛前說伽陀

          (Kinh: Lúc bấy giờ, các đại Bồ Tát liền đối trước Phật, nói già-đà rằng).

 

          Kế đó là biệt nguyện, có mười một đoạn. Đây chính là đoạn thứ nhất, “Bồ Tát nguyện thủ hộ”, lại bao gồm hai ư. Ư thứ nhất là người kết tập kinh dẫn giải.

 

          (Kinh) Thế Tôn chân thật ngữ, an trụ ư thật pháp, do bỉ chân thật cố, hộ tŕ ư thử kinh. Đại bi vi giáp trụ, an trụ ư đại từ, do bỉ từ bi lực, hộ tŕ ư thử kinh. Phước tư lương viên măn, sanh khởi trí tư lương, do tư lương măn cố, hộ tŕ ư thử kinh. Hàng phục nhất thiết ma, phá diệt chư tà luận, đoạn trừ ác kiến cố, hộ tŕ ư thử kinh. Hộ thế tịnh Thích Phạm, năi chí A Tô La, long thần Dược Xoa đẳng, hộ tŕ ư thử kinh. Địa thượng cập hư không, cửu trụ ư tư giả, phụng tŕ Phật giáo cố, hộ tŕ ư thử kinh. Tứ phạm trụ tương ứng, Tứ Thánh Đế nghiêm sức, hàng phục tứ ma cố, hộ tŕ ư thử kinh. Hư không thành chất ngại, chất ngại thành hư không, chư Phật sở hộ tŕ, vô năng khuynh động giả.

          ()世尊真實語安住於實法由彼真實故護持於此經大悲為甲冑安住於大慈由彼慈悲力護持於此經福資糧圓滿生起智資糧由資糧滿故護持於此經降伏一切魔破滅諸邪論斷除惡見故護持於此經護世并釋梵乃至阿蘇羅龍神藥叉等護持於此經地上及虛空久住於斯者奉持佛教故護持於此經四梵住相應四聖諦嚴飾降伏四魔故護持於此經虛空成質礙質礙成虛空諸佛所護持無能傾動者

    (Kinh: Thế Tôn chân thật ngữ, an trụ trong thật pháp, do sự chân thật ấy, hộ tŕ bộ kinh này. Đại bi làm giáp trụ, an trụ trong đại từ, do sức từ bi ấy, hộ tŕ bộ kinh này. Phước tư lương viên măn, sanh khởi trí tư lương, do tư lương viên măn, hộ tŕ bộ kinh này. Hàng phục hết thảy ma, phá diệt các tà luận, do đoạn trừ ác kiến, hộ tŕ bộ kinh này. Hộ thế và Thích Phạm, cho đến A Tô La, long, thần, Dược Xoa thảy, hộ tŕ bộ kinh này. Trên đất và hư không, trụ đă lâu nơi ấy, do phụng tŕ Phật giáo, hộ tŕ bộ kinh này. Tương ứng tứ phạm trụ[24], Tứ Thánh Đế trang nghiêm, do hàng phục tứ ma, hộ tŕ bộ kinh này. Hư không thành ngăn ngại, ngăn ngại thành hư không, được chư Phật hộ tŕ, không ai khuynh động được).

 

          Kế đó, trần thuật lời thệ nguyện, gồm tám bài tụng, chia thành hai phần:

          - Bốn bài tụng đầu, do thấy lợi ích, nên tự nguyện thủ hộ. Trong ấy, một bài tụng có ư nói: Do biết Phật ngữ là chân thật, bài tụng kế đó là do biết Phật đại bi, bài tụng kế đó là do biết trọn đủ tư lương, cho nên phát nguyện. Bài tụng kế đó, [ư nói] do biết có thể diệt chướng nên nguyện.

          - Bốn bài tụng kế đó là thấy người khác thủ hộ bèn tùy hỷ. Trong ấy, bài tụng thứ nhất là thấy Phạm vương, Đế Thích, tám bộ thủ hộ. Bài tụng kế đó là thấy các thần trên đất và hư không thủ hộ. Hai bài tụng kế đó là thấy Phật tự thủ hộ: Bài tụng thứ nhất tán thán Phật trọn đủ công đức hộ tŕ kinh này. Bài tụng kế đó tỏ lộ ư nguyện thủ hộ quyết định. Có nghĩa là do thấy đức Phật và Đế Thích, Phạm vương v.v… hết thảy đều thủ hộ, bèn sanh ḷng tùy hỷ sâu xa. V́ thế, nguyện tự thủ hộ.

          Hỏi: Nếu [bảo là ở đây do đại chúng đă] thấy Đế Thích, Phạm vương v.v… hộ tŕ kinh này, bèn sanh tâm tùy hỷ, nhưng kinh văn trong phần sau mới nói Phạm vương, Đế Thích v.v… nguyện thủ hộ?

          Đáp: Do thấy phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Tŕ và các phẩm Dược Xoa v.v... hộ tŕ đă nói [các vị ấy phát tâm hộ tŕ], nên sanh ḷng tùy hỷ. Lại có thể hiểu: Tức là nh́n vào phần Tổng Nguyện thuộc phần Trường Hàng trên đây, sáu mươi câu-chi chư thiên đại chúng cung kính hộ tŕ, tức là Phạm vương, Đế Thích v.v… [đă được gộp trong đó]; v́ thế, [nói như vậy] chẳng có lầm lỗi.

 

5.31.2.2.2.2. Tứ đại thiên vương phát nguện

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Tứ Đại Thiên Vương văn Phật thuyết thử hộ tŕ diệu pháp, các sanh tùy hỷ, hộ chánh pháp tâm.

          ()爾時四大天王聞佛說此護持妙各生隨喜護正法心

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Tứ Đại Thiên Vương nghe đức Phật nói hộ tŕ diệu pháp này, ai nấy đều sanh tâm tùy hỷ, hộ tŕ chánh pháp).

 

          Kế đó, điều thứ hai là bốn thiên vương hộ tŕ, cũng có hai đoạn:

          - Một, nghe dạy sanh ḷng vui sướng.

          - Hai, từ “nhất tâm đồng thanh” trở đi, đồng tâm nói thủ hộ.

          Đoạn này là ư đầu tiên.

          Hỏi: Người nói hộ tŕ trong phần trước là các vị Bồ Tát, v́ sao nói “nghe đức Phật nói hộ tŕ diệu pháp này, ai nấy đều sanh tâm tùy hỷ, thủ hộ chánh pháp”?

          Đáp: Nghe trong phần trước, đức Phật khuyên hộ tŕ diệu pháp, nên nói là “văn thuyết” (nghe nói).

 

          (Kinh) Nhất thời đồng thanh thuyết già-đà viết: - Ngă kim ư thử kinh, cập nam nữ quyến thuộc, giai nhất tâm ủng hộ, linh đắc quảng lưu thông. Nhược hữu tŕ kinh giả, năng tác Bồ Đề nhân, ngă thường ư tứ phương, ủng hộ nhi thừa sự.

          ()一時同聲說伽陀我今於此經及男女眷屬皆一心擁護令得廣流通若有持經者能作菩提因我常於四方擁護而承事

          (Kinh: Cùng lúc đồng thanh nói già-đà rằng: - Con nay với kinh này, và nam nữ quyến thuộc, đều nhất tâm ủng hộ, khiến được lưu truyền rộng. Nếu có ai tŕ kinh, sẽ làm nhân Bồ Đề, con thường ở bốn phương, ủng hộ và phụng sự).

 

          Kế đó, đồng tâm nói thủ hộ. Trước là người kết tập kinh dẫn giải, kế đến là [tứ thiên vương] nói thủ hộ. Trong phần thủ hộ, có hai bài tụng: Bài tụng đầu là hộ pháp, bài sau đó là thủ hộ người.

 

5.31.2.2.2.3. Đế Thích phát nguyện thủ hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thiên Đế Thích hiệp chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: - Chư Phật chứng thử pháp, vị dục báo ân cố, nhiêu ích Bồ Tát chúng, xuất thế diễn tư kinh. Ngă ư bỉ chư Phật, báo ân thường cúng dường, hộ tŕ như thị kinh, cập dĩ tŕ kinh giả.

          ()爾時天帝釋合掌恭敬說伽陀諸佛證此法為欲報恩故饒益菩薩眾出世演斯經我於彼諸佛報恩常供養護持如是經及以持經者

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Thiên Đế Thích chắp tay cung kính, nói già-đà rằng: - Chư Phật chứng pháp này, do v́ muốn báo ân, lợi ích các Bồ Tát, ra đời diễn kinh này. Con đối với chư Phật, báo ân thường cúng dường, hộ tŕ kinh như thế, cùng với người tŕ kinh).

 

          Kế đó, loại đại chúng thủ hộ thứ ba. Trước hết là nêu ra người thủ hộ. Từ “thuyết già-đà” trở đi, nói đến người hộ tŕ, gồm hai bài tụng:

          - Bài tụng thứ nhất trần thuật nguyên do thủ hộ.

          - Bài tụng sau đó trần thuật sự hộ pháp.

          Xưa kia đức Phật nghe pháp mà thành Bồ Đề, v́ báo ân của kinh, bèn v́ Bồ Tát nói [pháp này]. Con nay được nghe pháp, cũng nên báo ân, thọ tŕ, lưu truyền.

 

5.31.2.2.2.4. Đâu Suất thiên phát nguyện ủng hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Đổ Sử Đa thiên tử hiệp chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: - Phật thuyết như thị kinh, nhược hữu năng tŕ giả, đương trụ Bồ Đề vị, lai sanh Đổ Sử Thiên. Thế Tôn ngă khánh duyệt, xả thiên thù thắng báo, trụ ư Thiệm Bộ châu, tuyên dương thị kinh điển.

          ()爾時覩史多天子合掌恭敬說伽陀如是經若有能持者當住菩提位來生覩史天世尊我慶悅捨天殊勝報住於贍部洲宣揚是經典

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Đổ Sử Đa thiên tử chắp tay cung kính nói già-đà rằng: - Phật nói kinh như thế, nếu ai hay thọ tŕ, sẽ trụ Bồ Đề vị, sanh về Đổ Sử Thiên. Thế Tôn! Con vui mừng, xả báo trời thù thắng, trụ trong châu Thiệm Bộ, tuyên dương kinh điển này).

 

          Kế đến là [loại đại chúng thủ hộ kinh] thứ tư: Trước là nêu ra người có thể thủ hộ. Từ “thuyết già-đà” (nói kệ tụng) trở đi, nói về sự hộ tŕ, gồm hai bài tụng: Bài tụng thứ nhất trần thuật sự lợi ích, bài sau đó trần thuật sự hộ pháp.

 

5.31.2.2.2.5. Phạm vương phát nguyện thủ hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Sách Ha thế giới chủ Phạm thiên vương hiệp chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: - Chư Tĩnh Lự vô lượng, chư thừa cập giải thoát, giai tùng thử kinh xuất. Thị cố, diễn tư kinh. Nhược thuyết thị kinh xứ, ngă xả Phạm Thiên lạc, vị thính như thị kinh, diệc thường vi ủng hộ.

          ()爾時索訶世界主梵天王合掌恭敬說伽陀曰諸靜慮無量諸乘及解皆從此經出是故演斯經說是經我捨梵天樂為聽如是經亦常為擁護

    (Kinh: Lúc bấy giờ, chủ của thế giới Sách Ha là Phạm thiên vương chắp tay, cung kính, nói già-đà rằng: - Các Tĩnh Lự vô lượng, các thừa và giải thoát, đều từ kinh này ra. V́ thế, diễn kinh này. Nếu chỗ nói kinh này, con bỏ vui Phạm Thiên, v́ nghe kinh như thế, cũng thường luôn ủng hộ).

 

          [Đây là] loại [người thủ hộ] thứ năm, kinh văn cũng phân đoạn giống như trên.

 

5.31.2.2.2.6. Ma tử phát nguyện thủ hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, ma vương tử danh viết Thương Chủ, hiệp chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: - Nhược hữu thọ tŕ thử, chánh nghĩa tương ứng kinh, bất tùy ma sở hành, tịnh trừ ma ác nghiệp. Ngă đẳng ư thử kinh, diệc đương cần thủ hộ, phát đại tinh tấn ư, tùy xứ quảng lưu thông.

          ()爾時魔王子名曰商主合掌恭敬說伽陀若有受持此正義相應經不隨魔所行淨除魔惡業我等於此經亦當勤守護發大精進意隨處廣流通

          (Kinh: Lúc bấy giờ, con trai của ma vương tên là Thương Chủ, chắp tay, cung kính, nói già-đà rằng: - Nếu có người thọ tŕ, kinh tương ứng chánh nghĩa, chẳng theo hạnh của ma, trừ sạch ác nghiệp ma. Chúng con đối kinh này, cũng sẽ siêng thủ hộ, phát đại tinh tấn ư, rộng lưu thông khắp chốn).

 

          Kế đó là loại người [thủ hộ] thứ sáu, kinh văn cũng [phân đoạn] giống như trên.

 

5.31.2.2.2.7. Ma vương, Diệu Cát Tường, Di Lặc, Đại Ca Diếp, A Nan phát nguyện thủ hộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, ma vương hiệp chưởng cung kính, thuyết già-đà viết: “Nhược hữu tŕ thử kinh, năng phục chư phiền năo, như thị chúng sanh loại, ủng hộ linh an lạc. Nhược hữu thuyết thị kinh, chư ma bất đắc tiện, do Phật oai thần lực, ngă đương ủng hộ bỉ”. Nhĩ thời, Diệu Cát Tường thiên tử diệc ư Phật tiền, thuyết già-đà viết: “Chư Phật diệu Bồ Đề, ư thử kinh trung thuyết, nhược tŕ thử kinh giả, thị cúng dường Như Lai. Ngă đương tŕ thử kinh, vị câu-chi thiên thuyết. Cung kính thính văn giả, khuyến chí Bồ Đề xứ”. Nhĩ thời, Từ Thị Bồ Tát hiệp chưởng, cung kính thuyết già-đà viết: “Nhược kiến trụ Bồ Đề, dữ vi bất thỉnh hữu, năi chí xả thân mạng, vị hộ thử kinh vương. Ngă văn như thị pháp, đương văng Đổ Sử Thiên, do Thế Tôn gia hộ, quảng vị nhân thiên thuyết”. Nhĩ thời, thượng tọa Đại Ca Diếp Ba hiệp chưởng, cung kính thuyết già-đà viết: “Phật ư Thanh Văn thừa, thuyết ngă tin trí huệ. Ngă kim tùy tự lực, hộ tŕ như thị kinh. Nhược hữu tŕ thử kinh, ngă đương nhiếp thọ bỉ, thọ kỳ từ biện lực, thường tùy tán thiện tai.” Nhĩ thời, Cụ Thọ A Nan Đà hiệp chưởng, hướng Phật, thuyết già-đà viết: “Ngă thân tùng Phật văn, vô lượng chúng kinh điển, vị tằng văn như thị, thâm diệu pháp trung vương. Ngă kim văn thị kinh, thân ư Phật tiền thọ, chư nhạo Bồ Đề giả, đương vị quảng tuyên thông”.

          ()爾時魔王合掌恭敬說伽陀若有持此經能伏諸煩惱如是眾生類擁護令安樂若有是經諸魔不得便由佛威神力我當擁護彼爾時妙吉祥天子亦於佛前說伽陀諸佛妙菩提於此經中若持此經者是供養如來我當持此經為俱胝天恭敬聽聞者勸至菩提處爾時慈氏菩薩合掌恭敬說伽陀若見住菩提與為不請友乃至捨身命為護此經王我聞如是法當往覩史天由世尊加護廣為人天爾時上座大迦葉波合掌恭敬說伽陀佛於聲聞乘說我鮮智我今隨自力護持如是經若有持此經我當攝受彼授其辭辨力常隨讚善哉爾時具壽阿難陀合掌向佛說伽陀我親從佛聞無量眾經典未曾聞如是深妙法中王我今聞是經親於佛前受諸樂菩提者當為廣宣通

    (Kinh: Lúc bấy giờ, ma vương chắp tay cung kính, nói già-đà rằng: “Nếu ai tŕ kinh này, chế phục các phiền năo, ủng hộ chúng sanh ấy, khiến cho được an lạc. Nếu người nói kinh này, các ma chẳng thừa dịp, do sức Phật oai thần, con sẽ ủng hộ họ”. Lúc bấy giờ, Diệu Cát Tường thiên tử cũng đối trước Phật, nói già-đà rằng: “Chư Phật diệu Bồ Đề, được nói trong kinh này, nếu ai tŕ kinh này, là cúng dường Như Lai. Con sẽ tŕ kinh này, v́ câu-chi trời nói. Kẻ cung kính lắng nghe, khuyên tới chốn Bồ Đề”. Lúc bấy giờ, Từ Thị Bồ Tát chắp tay, cung kính nói già-đà rằng: “Nếu thấy trụ Bồ Đề, sẽ làm bạn chẳng thỉnh, cho tới xả thân mạng, v́ hộ kinh vương này. Con nghe pháp như thế, sẽ về trời Đâu Suất, do Thế Tôn gia hộ, rộng v́ trời, người nói”. Lúc bấy giờ, thượng tọa Đại Ca Diếp Ba chắp tay, cung kính nói già-đà rằng: “Phật trong Thanh Văn thừa, nói con trí huệ kém. Con nay theo sức ḿnh, hộ tŕ kinh như thế. Nếu ai tŕ kinh này, con nhiếp thọ người ấy. Trao cho sức từ biện, thường theo tán lành thay!” Lúc bấy giờ, Cụ Thọ A Nan Đà chắp tay, hướng về đức Phật, nói già-đà rằng: “Con được nghe từ Phật, vô lượng các kinh điển, chưa từng nghe như thế, vua các pháp sâu mầu. Nay con nghe kinh này, đích thân nghe từ Phật, với người thích Bồ Đề, sẽ rộng tuyên nói cho”).

 

          Đối với loại [người thủ hộ kinh] thứ bảy, kinh văn cũng [chia đoạn] giống phần trên. Trong phần trần thuật sự hộ pháp, bài tụng đầu nói thủ hộ người tŕ kinh. Bài tụng sau đó nói sẽ thủ hộ người thuyết kinh, do thủ hộ người th́ cũng chính là thủ hộ pháp. Mỗi phần đều trước là trần thuật người có thể thực hiện, sau đó mới trần thuật sự thủ hộ. Đối với người thứ tám là Diệu Cát Tường, kinh văn cũng [phân đoạn] giống như trên. Trong phần trần thuật sự hộ pháp, trước là trần thuật lợi ích của kinh, sau là nói về sự hộ pháp. V́ câu-chi chư thiên nói pháp th́ là hộ pháp, cung kính người nghe pháp th́ là hộ nhân. [Người thủ hộ] thứ chín là Từ Thị, kinh văn cũng [phân đoạn] giống như trên. Trong phần trần thuật sự hộ pháp, bài tụng đầu là người thủ hộ, bài tụng sau đó là hộ pháp. [Đối với người thủ hộ] thứ mười, kinh văn cũng [phân đoạn] giống như phần trên. Trong phần trần thuật hộ pháp, bài tụng thứ nhất hộ pháp, bài tụng sau đó là hộ nhân. [Đối với người thủ hộ kinh] thứ mười một, kinh văn cũng [chia đoạn] giống như phần trên. Trong phần trần thuật hộ pháp, bài tụng thứ nhất là tán thán, bài tụng sau đó là sự thủ hộ. “Nhạo Bồ Đề giả” (người ưa thích Bồ Đề) là hộ nhân, “vị quảng tuyên lưu thông” (v́ người ấy mà rộng tuyên nói, lưu thông) là hộ pháp.

 

5.31.2.2.3. Đức Thế Tôn tán thán và khuyên lơn lần nữa

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn kiến chư Bồ Tát, nhân thiên đại chúng, các các phát tâm, ư thử kinh điển, lưu thông, ủng hộ, khuyến tấn Bồ Tát quảng lợi chúng sanh, tán ngôn: - Thiện tai! Thiện tai! Nhữ đẳng năng ư như thị vi diệu kinh vương, kiền thành lưu bố, năi chí ư ngă bát Niết Bàn hậu, bất linh tán diệt, tức thị vô thượng Bồ Đề chánh nhân, sở hoạch công đức, ư hằng sa kiếp, thuyết bất năng tận. Nhược hữu bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, cập dư thiện nam tử, thiện nữ nhân đẳng, cúng dường, cung kính, thư tả, lưu thông, vị nhân giải thuyết, sở hoạch công đức, diệc phục như thị. Thị cố, nhữ đẳng ưng cần tu tập.

          ()爾時世尊見諸菩薩人天大眾各各發心於此經典流通擁護勸進菩薩廣利眾生讚言善哉善哉汝等能於如是微妙經王虔誠流布乃至於我般涅槃後不令散滅即是無上菩提正因所獲功德於恒沙劫說不能若有苾芻苾芻尼鄔波索迦鄔波斯迦及餘善男子善女人等供養恭敬書寫流通為人解所獲功德亦復如是是故汝等應勤修習

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn thấy các Bồ Tát, đại chúng trời, người, ai nấy đều phát tâm lưu thông, ủng hộ kinh điển này, khuyên lơn, sách tấn Bồ Tát rộng lợi ích chúng sanh, tán rằng: - Lành thay! Lành thay! Các vị có thể đối với kinh vương vi diệu như thế này mà kiền thành lưu truyền, cho đến sau khi ta nhập Niết Bàn, chẳng bị tan diệt, đấy tức là chánh nhân của Vô Thượng Bồ Đề, đạt được công đức trong hằng sa kiếp nói chẳng thể hết. Nếu có bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, và các thiện nam tử, thiện nữ nhân khác cúng dường, cung kính, biên chép lưu truyền, v́ người khác giải nói, đạt được công đức cũng giống như thế. V́ vậy, các vị đều nên siêng năng tu tập).

 

          Kế đó, đoạn lớn thứ ba là “đức Phật lại tán thán và khuyên lơn lần nữa”. Kinh văn chia thành ba phần: Một là tán thán, từ “nhữ đẳng” (các vị) trở đi là ấn khả. Từ “nhược hữu bật-sô” (nếu có tỳ-kheo) trở đi là khuyên lơn. Trong phần khuyên lơn, trước là khuyên tứ chúng: Nếu có thể hộ pháp, sẽ có thể đạt được phước giống như trên. Hành mười pháp hạnh đều là hộ pháp. Trong mười pháp hạnh ấy, nêu đại lược bốn hạnh, tức: Một là cúng dường, hai là biên chép, ba là lưu thông, tức thí cho người khác, bốn là giải nói, tức khai diễn. Lắng nghe, giở ra đọc, thọ tŕ, phúng tụng, tư duy, tu tập đều thuộc về cung kính. Do cung kính pháp mà lắng nghe. Từ “thị cố” (do vậy) trở đi, kết lại lời khuyên đại chúng.

 

5.31.2.2.4. Đại chúng nghe dạy, hoan hỷ phụng hành

 

          (Kinh) Nhĩ thời, vô lượng vô biên hằng sa đại chúng văn Phật thuyết dĩ, giai đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

          ()爾時無量無邊恒沙大眾聞佛皆大歡喜信受奉行

          (Kinh: Lúc bấy giờ, vô lượng vô biên hằng sa đại chúng nghe đức Phật nói xong, đều hết sức hoan hỷ, tin nhận, phụng hành).

 

          Kế đó, [đại chúng] nghe dạy, hoan hỷ hành tŕ. Theo Văn Thù Vấn Kinh Luận: “Hữu tam chủng nghĩa, thị cố hoan hỷ. Nhất, thuyết giả thanh tịnh, dĩ ư chư pháp đắc tự tại cố. Thử ư dĩ vô nhiễm trước, đắc thuyết tự tại cố. Nhị sở thuyết pháp thanh tịnh, dĩ như thật chứng tri thanh tịnh pháp thể cố. Tam, y sở thuyết pháp đắc quả thanh tịnh, dĩ đắc diệu cảnh giới” (Có ba loại nghĩa cho nên hoan hỷ. Một, người nói thanh tịnh, do được tự tại trong các pháp. Đấy là do ư không nhiễm đắm, nên được thuyết pháp tự tại. Hai, pháp được nói là thanh tịnh, do như thật chứng biết pháp thể thanh tịnh. Ba, nương vào pháp đă nói mà đắc quả thanh tịnh, do đạt được cảnh giới mầu nhiệm). Có nghĩa do nương vào pháp đă nói mà chứng nhập chân lư, đạt được Niết Bàn. Nói khế cơ, khế lư, quả tương ứng với nhân. V́ thế, được một câu bèn vui v́ “sáng nghe, tối chết”. Do vậy, thấy [diệu pháp] được phơi bày trọn vẹn mà tích tụ niềm vui mừng, học tập, hành tŕ.

          Pháp tối diệu chư Phật,

          Đại từ bi lưu xuất,

          V́ lợi lạc quần sanh,

          Rất sâu khó thể lường,

          Nay nhờ các gia hộ,

          Tùy sức tán kinh này,

          Được phước lợi ḿnh, người.

          Cùng thành vô thượng giác.

Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

(trọn bộ)

 

          Được khắc ván nhằm ngày lành thuộc tháng Sương (tháng 11) năm Bính Tuất trong niên hiệu Bảo Vĩnh thứ ba (1707)[25].

          Tàng bản[26] của Tỉnh Thượng Thu Nhàn (Inoue Shukan) tại Tuyên Phong Phường Thư Lâm tại thành B́nh An[27].

 

Hoàn tất cảo bản ngày 23 tháng 10 năm 2023.

 

Hồi hướng

 

          Do kiến thức chắp vá, thiếu sự tu dưỡng, lại thiếu căn bản về Duy Thức, chắc chắn bản chuyển ngữ này sẽ có nhiều điều sai sót không thể chấp nhận được. Chỉ mong việc làm liều lĩnh này giúp ích phần nào cho những kẻ sơ cơ như mạt nhân được gieo duyên t́m hiểu sơ bộ về bản kinh quư báu này. Nếu có chút công đức nào đều xin hồi hướng về tứ ân tam hữu pháp giới hữu t́nh, lịch đại sư trưởng, phụ mẫu, quyến thuộc, tông thân, cừu gia oán đối, thiện ác tri thức, lũy thế oán thân trái chủ, lục đạo quỳ thần đều được ân triêm công đức đồng văng sanh Cực Lạc. Kính nguyện thế giới an b́nh, dứt bặt tai ương, chiến tranh, bệnh dịch, người người phát tâm quy hướng diệu pháp của đức Thế Tôn, phát tâm tu tŕ, mau thoát biển khổ. Nguyện các liên hữu cùng tinh tấn tu hành, nhất tâm nhất ư phát nguyện kiên cố, chánh niệm phân minh, thượng phẩm thượng sanh nơi cố hương Thanh Thái.



[1] Chằm: Vùng đất thấp rộng và bỏ hoang, thường bị ngập nước, có thể là vùng đầm lầy. Nổi tiếng nhất là chằm Dạ Trạch (thuộc xă Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), căn cứ của Triệu Quang Phục mai phục quân binh để tiến hành chiến tranh du kích chống lại quân nhà Lương xâm lược Giao Châu sau khi nhà Lương sai tướng Trần Bá Tiên xâm lăng, chiếm đóng nước ta dưới thời Lư Nam Đế (Lư Bí).

[2] Thần Ngă (Puruṣa, Atman) c̣n dịch là Nguyên Nhân (người nguyên khởi), Chân Ngă, hoặc Sĩ Phu, là một khái niệm bắt nguồn từ triết học Vệ Đà của Ấn Độ thời cổ, được phái Số Luận (Sāṅkhya) coi là nguồn gốc của mọi hữu t́nh chúng sanh trên thế gian. Họ cho rằng mọi sinh linh đều bắt nguồn từ Tự Ngă (Thần Ngă), và mọi sự tu tập của họ nhằm hồi quy Tự Ngă.

[3] Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka), c̣n được phiên âm là Di Sa Tắc Bộ, hoặc dịch nghĩa là Chánh Địa Bộ, Giáo Địa Bộ v.v… là một trong các bộ phái trong sơ kỳ Phật giáo. Theo Dị Bộ Tông Luân Luận, bộ phái này được thành lập sau khi đức Phật diệt độ ba trăm năm. Theo nghĩa gốc, Mahī là đất, c̣n śās là giáo hóa, răn dạy, nâng đỡ chánh lư, thống trị. V́ vậy dịch thành Hóa Địa Bộ. Bộ phái này tách ra từ Nhất Thiết Hữu Bộ. Mahīśāsaka vốn là tên một vị La Hán, do vị này phù tá quốc vương, khuông pḥ nước ấy, nên được gọi như vậy. Họ chủ trương các thuyết “tâm tánh vốn tịnh”, “duyên khởi là vô vi”, “La Hán nghĩa là bất thoái”.

[4] Theo Phật Quang Đại Từ Điển, tất cả các thứ động tác, trạng thái, h́nh tướng có thể biểu thị ra ngoài mà mắt con người có thể thấy được như đi, đứng, nằm, ngồi, cúi, ngửa v.v… đều gọi là Biểu Sắc. Tức là Sắc mà con người có thể cảm nhận bằng Nhăn Căn và Nhăn Thức gồm có ba loại:

1) Hiển Sắc: Như xanh, vàng, đỏ, trắng, tối tăm, sáng sủa, mây, khói, sương, mù…

2) H́nh Sắc: Như dài, ngắn, vuông, tṛn, thô, tế, lớn, nhỏ, ngay, cong, cao, thấp…

3) Biểu Sắc: Như vừa mới nói trên đây.

[5] Dị Thục Thức là tên khác của A Lại Da Thức (Tạng Thức). Do A Lại Da Thức chứa đựng chủng tử của các nghiệp thiện ác sẽ chiêu cảm thành cái quả dị thục (kết thành cái quả khác thời với khi tạo nhân) nên gọi là Dị Thục Thức.

[6] Hiện Hành (Abhisaṃskāra) có nghĩa là các pháp hữu vi hiển hiện trước mắt. Theo Duy Thức, A Lại Da Thức chứa đựng các chủng tử. Khi chủng tử hội đủ nhân duyên, sẽ phát sanh thành cái quả. Cái quả ấy được gọi là “hiện hành”.

Chuyển Thức có nhiều cách hiểu, nhưng do ở đây ngài Huệ Chiểu trích dẫn quan điểm Duy Thức, Chuyển Thức phải hiểu theo cách phán định của Duy Thức: Trong tám thức, A Lại Da Thức được gọi là Bổn Thức, bảy thức kia được gọi là Chuyển Thức.

[7] Yết Lạt Lam (Kalala) c̣n phiên âm là Ca La La, Yết La Lam, dịch nghĩa là Ngưng Hoạt, hoặc Tạp Uế, chỉ bào thai được h́nh thành trong ṿng bảy ngày sau khi trứng của mẹ được thụ tinh.

[8] Theo Phật Học Từ Điển, phiền năo có hai thứ là Phân Biệt Khởi và Câu Sanh Khởi. Phiền năo do nương theo tà sư, tà giáo, tà tư duy mà khởi th́ gọi là Phân Biệt Khởi, c̣n phiền năo do tập tánh mà tự nhiên dấy lên th́ gọi là Câu Sanh Khởi. Khi chủng tử trong Tạng Thức dấy khởi hiện hành, Phân Biệt Khởi Phiền Năo sẽ tạo thành nghiệp thiện hay ác, Câu Sanh Khởi sẽ vun bồi, giúp sức cho cái nghiệp được sanh khởi thành công. Sự vun bồi, bổ trợ ấy được gọi là Nhuận Sanh.

[9] Trung Hữu chính là Trung Ấm, tức là giai đoạn trung gian khi thân trong đời này đă chết đi và thân sau chưa sanh ra. Bổn Hữu chính là thân tồn tại sau sát-na được sanh ra và trước sát-na thân thể bị chết đi.

[10] Đại Chúng Bộ (Mahāsāṃghika), c̣n gọi là Ma Ha Tăng Kỳ Ni Ca Da, Ma Ha Tăng Kỳ Bộ, hoặc Thánh Đại Chúng Bộ, là một trong mười hai bộ phái Tiểu Thừa của sơ kỳ Phật giáo. Theo Dị Bộ Tông Luân Luận, sau khi đức Phật nhập diệt 100 năm, tỳ-kheo Đại Thiên đề xuất năm điều, khiến cho nội bộ Tăng đoàn chia rẽ v́ tán thán hay phản đối, tăng chúng tách thành hai khối chính là Thượng Tọa Bộ (được coi là phe bảo thủ) và Đại Chúng Bộ (phe cách tân). Đại Chúng Bộ chủ trương: Thân Phật vô lậu, sắc thân vô biên, Phật thọ vô lượng, sanh tử và Niết Bàn đều là giả danh, tâm tánh con người vốn sẵn thanh tịnh, chỉ do tập nhiễm mà bị ô nhiễm v.v…

[11] Chánh Lượng Bộ (Sammatīya) là một trong mười hai bộ phái của Tiểu Thừa, c̣n được gọi là Tam Ma Đề Bộ, Thánh Chánh Lượng Bộ, Nhất Thiết Sở Quư Bộ, Tam Di Để Bộ, Sa Ma Đế Bộ v.v… Sau khi đức Phật nhập diệt ba trăm năm, từ Độc Tử Bộ của Thượng Tọa Bộ, do bất đồng quan điểm về luận tạng, tách thành bốn bộ phái nhỏ là Pháp Thượng Bộ, Hiền Trụ Bộ, Mật Lâm Sơn Bộ, và Chánh Lượng Bộ. Do phái này chủ trương phân định thị phi, nên gọi là Lượng. Do phân định không sai lầm, tà vạy nên gọi là Chánh. Tổ của bộ phái này chính là La Hán Chánh Lượng (Sammatīya). Họ chủ trương: Nói chung, sanh diệt có chủ nhân và khách nhân (tức là cái nhân chánh yếu và cái nhân bổ trợ). Chủ nhân chính là bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt, c̣n khách nhân là các thứ nhân duyên khác. Khi sanh th́ cần phải có chủ nhân lẫn khách nhân, diệt th́ không nhất định. Đối với bách pháp th́ tâm vương và tâm sở chỉ có chủ nhân, bất tương ứng hành pháp và sắc v.v… cần phải có chủ nhân và khách nhân. Diệt th́ cần phải có khách nhân v.v…

[12] Tức là mỗi Chi trong mười hai chi duyên khởi đều có bảy trí, ngoại trừ chi Vô Minh, nên mười một Chi hợp thành 11x7 trí, tức bảy mươi bảy trí.

[13] Hỷ túc: Đối với sắc, danh, hương, vị, xúc đă có, chẳng c̣n mong mỏi, chẳng truy cầu nữa th́ gọi là Hỷ Túc. Có khi được giải thích như sau: Chẳng mong mỏi, chẳng ham muốn th́ là Thiểu Dục, chẳng truy cầu th́ là Hỷ Túc. Có người giải thích Thiểu Dục chỉ hạn cuộc trong ư thức, c̣n Hỷ Túc bao gồm cả sáu thức.

[14] Đây là hai câu chuyện được trích từ Tứ Thập Nhị Phẩm Nhân Quả Lục. Theo đó, một người tu hành đắc Thiên Nhăn Thông đi qua một nghĩa địa, thấy một người đang dùng roi hùng hục quật xác chết. Người ấy xót xa, tiến lên ngăn cản kẻ đó ngưng làm chuyện tàn nhẫn ấy. Đến gần, th́ ra đó không phải là người, mà là một ngạ quỷ. Vị tu hành hỏi ngạ quỷ có thù oán sâu nặng ǵ với người chết mà ra tay tàn nhẫn thế? Ngạ quỷ đáp: Đây chính là xác của tôi. Do tôi chết đi, đọa làm ngạ quỷ, không được ăn uống, luôn đói khát khổ sở không lúc nào ngơi. Đó là do khi tôi c̣n có thân xác này đă buông lung, phóng túng vô độ, chẳng biết bố thí, chỉ bo bo vun vén cho ḿnh, keo kiệt, bất hiếu, phạm đủ thứ tội khó dung. Đó đều là do tôi đă dung túng, chiều chuộng cái thân này làm ác, nên nay sao tôi không căm hận cho được!” Trong câu chuyện thứ hai, chư thiên xuống một nghĩa địa lễ bái các bộ xương khô, tán thán thân trước do đă siêng năng tu tập, rộng hành bố thí, ân cần giữ giới v.v… khiến cho họ sau khi xả thân được sanh về thiên cung, sung sướng.

[15] Giải Thoát Đạo Luận (Vimutti-magga) do La Hán Ưu Ba Để Sa (Upatissa) trước tác. Tác phẩm này được dịch sang tiếng Hán bởi Tam Tạng pháp sư Tăng Già Bà La thành mười hai quyển vào năm Thiên Giám 14 (515) đời Lương. Luận chủ yếu phân tích Tam Vô Lậu Học (Giới, Định, Huệ), chia thành mười hai phẩm.

[16] La Hầu (Rāhu) là tên của một A Tu La chuyên môn che lấp ánh sáng của mặt trời. Theo thần thoại cổ Ấn Độ, khi chư thiên và A Tu La hợp sức khuấy biển sữa để cầu cam lộ (Amrita) ḥng đạt tới bất tử. Khi đă t́m được cam lộ, Mohini, hóa thân của thần Vishnu, phân chia cam lộ cho chư thiên. Một A Tu La tên là Svarbhanu (Thiên Quang) đă chen vào ngồi lẫn trong hàng ngũ chư thiên để trộm uống cam lộ. Nhật Thần (Surya, thần mặt trời) và Nguyệt Thần (Chandra) báo cho Mohini biết. V́ thế, Mohini bèn dùng vũ khí tùy thân là chiếc đĩa báu, cắt đứt đầu Svarbhanu. Phần đầu được gọi là Rāhu (La Hầu), phần thân gọi là Ketu (Kê Đâu). Từ đó, Rāhu và Ketu căm thù Nhật Thần và Nguyệt Thần. Rāhu luôn t́m cách đuổi theo ngăn che, che lấp mặt trời, thậm chí nuốt mặt trời và mặt trăng. Do Rāhu không có thân, nên mặt trời mặt trăng trốn thoát theo đường cổ họng của Rāhu. Rāhu liên tục đuổi theo và mỗi khi nuốt được sẽ tạo thành hiện tượng nhật thực và nguyệt thực trong chốc lát. Khi thuyết pháp, tùy thuận niềm tin phổ biến trong xă hội thuở ấy, kinh Phật cũng hay dùng tỷ dụ “La Hầu che lấp mặt trời” khi nói về nhật thực.

[17] Kinh Phạm Ma Dụ do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô thời Tam Quốc. Kinh chép Bà-la-môn Phạm Ma Dụ hoài nghi ba mươi hai tướng của đức Phật là chân hay ngụy, sau đó thấy tướng lưỡi rộng dài v.v… bèn hoan hỷ tán thán, quy y đức Phật. Sau đó, đức Phật giảng giải đạo chí yếu, Phạm Ma Dụ nghe xong chứng quả A La Hán. Đây chính là bản dịch khác của kinh Phạm Ma trong Trung A Hàm, tức kinh số 91 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima-nikāya).

[18] Kinh Trung Ấm gồm mười hai phẩm, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần. Kinh chép đức Phật nhập Trung Ấm, phóng đại quang minh, triệu tập hết thảy chúng sanh trong thân Trung Ấm, nói pháp Đại Thừa. Trong phẩm đầu, đức Phật c̣n cùng Di Lặc Bồ Tát luận định về pháp Trung Ấm.

[19] Do Báo Thân và Hóa Thân lưu xuất từ Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân nương vào Pháp Thân để tồn tại nên gọi là năng y (thân có thể nương vào), Pháp Thân là thân để hai thân kia nương vào, nên Pháp Thân được gọi là Sở Y (cái để nương vào).

[20] Theo Phật Chủng Tánh Kinh (Buddhavaṃsa) và Đại Sử (Mahāvaṃsa), ḍng họ Thích Ca bắt nguồn từ Cam Giá Vương (Áo Già Ca Lê vương, Okkāka). Cam Giá vương là tổ tiên bảy đời của Phật Thích Ca. Cam Giá Vương Triều c̣n gọi là Thái Dương vương triều v́ theo truyền thuyết họ là hậu duệ của thần mặt trời. Ḍng họ Thích Ca là một nhánh của vương triều này, do vua Ma Ha Tam Mạt Đa (Mahāsammata) sáng lập.

[21] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải trong bộ Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ, quyển hai do ngài Khuy Cơ soạn.

[22] Câu Vật Đầu (Kumuda) là một loại hoa sen; đúng ra là hoa súng. Hoa này c̣n được phiên âm là Cứu Mâu Địa, Củ Mẫu Na, Văn Cú La, gồm hai loại: Loại có màu trắng, có tên khoa học là Nymphanea Esculenta; loại màu đỏ có tên khoa học là Nymphanea Rudra.

[23] Ni Câu Đà (Nigrodha) dịch nghĩa là Vô Tiết (không có lóng đốt), Tung Quảng (rộng lớn), hoặc Vô Căn (không có rễ). C̣n được phiên âm là Ni Câu Lâu Đà, Ni Câu Ni Đà, Ni Câu Loại, Ni Câu Lô Đà, Nặc Cù Đà, có tên khoa học là Ficus Indica, thuộc họ Dâu, h́nh dạng giống cây đa, mọc nhiều ở Ấn Độ và Tích Lan. Cây có thể cao đến 15m, lá thuôn dài, có chót nhọn. Các nhánh cây khi mọc dài chạm đất sẽ sanh rễ, cây rất rậm lá, cành x̣e khắp bốn phía, nhưng hạt cây rất nhỏ. V́ thế, kinh Phật thường dùng hạt Ni Câu Đà để sánh ví do cái nhân nhỏ nhoi mà đạt được quả báo to lớn.

[24] Tứ phạm trụ (Catvāri Brahmavihārāḥ) c̣n dịch là Tứ Phạm Hạnh, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Vô Lượng Quán, tức từ, bi, hỷ, xả.

[25] Bảo Vĩnh (Hōei) là niên hiệu của Higashiyama Tennō (Đông Sơn Thiên Hoàng) sử dụng từ năm 1704 đến năm 1710. Do năm 1703, Nhật Bản gặp một trận động đất dữ dội, triều đ́nh liền đổi niên hiệu từ Nguyên Lộc (Genroku) sang Bảo Vĩnh để cầu b́nh an, nhưng đến ngày 28 tháng Mười năm 1707, một trận động đất lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản đă tàn phá vùng Tây Nam các đảo Honshu (Bổn Châu), Shikoku (Tứ Quốc), và phần Đông Nam đảo Kyūshū (Cửu Châu), gây nên sóng thần khiến năm ngàn người thương vong. Đồng thời, núi lửa Phú Sĩ bùng nổ khiến con số thương vong càng lớn hơn. Có lẽ v́ vậy, bản kinh này được khắc in vào tháng Mười Một năm đó để cầu quốc thái dân an.

[26] Bản khắc ván in xong được cất giữ tại một tự viện hoặc một phường in th́ gọi là Tàng Bản. Không rơ Tỉnh Thượng Thu Nhàn là ai, nhưng do một số bản kinh sách của Phật giáo Nhật Bản thường ghi là Tỉnh Thượng Thu Nhàn tàng bản như Câu Xá Luận Kư (Thích Phổ Quang biên soạn), Đại Thừa Nghĩa Thập Chương, Tam Tông Cương Nghĩa v.v… chúng tôi đoán có lẽ đây là chủ nhân của một xưởng khắc ván chuyên ấn tống các kinh sách thời ấy.

[27] B́nh An (Heian) là một trong nhiều tên gọi xưa của Kyōto (Kinh Đô), tức cổ kinh đô của Nhật Bản hơn một ngàn năm (774-1868). Thiên hoàng Hoàn Vũ (Kanmu) đă dời kinh đô từ Nại Lương (Nara) đến đây (khi đó, nơi này có tên gọi là làng Uda), đặt tên mới cho nơi này là B́nh An (do mô phỏng theo tên gọi Trường An) của nhà Đường. Sử Nhật Bản gọi thời kỳ này là B́nh An thời đại. Măi cho đến năm 1868, hoàng gia chuyển kinh đô đến Giang Hộ (Edo), và đổi tên Giang Hộ thành Đông Kinh (Tokyo) dưới thời Minh Trị thiên hoàng, Kyōto mới trở thành cổ kinh đô của Nhật. Sử sách Nhật Bản đôi khi gọi thành phố này là Saikyō (Tây Kinh), Keishi (Kinh Sư), hoặc Chitose no Miyako (kinh đô ngàn năm).