Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ nhất

Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh

Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ

金光明最勝王經疏

卷第一

唐三藏法師義淨奉制譯

翻經沙門慧沼撰

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

Phần 2

 

          (Kinh) Phục hữu Bồ Tát Ma Ha Tát bách thiên vạn ức nhân câu.

          ()復有菩薩摩訶薩百千萬億人俱

    (Kinh: Lại có Bồ Tát Ma Ha Tát trăm ngàn vạn ức người nhóm họp).

 

          Tán rằng: Kinh văn nói về các vị Bồ Tát cũng chia thành bốn [tiểu đoạn]:

          Ở đây là nêu ra loại và số, cũng giống như Pháp Hoa Sớ. Quyển bốn trăm tám mươi sáu của kinh Đại Bát Nhă nói rộng [về danh hiệu của] các vị Ma Ha Tát. Các kinh luận nói số lượng [Bồ Tát] nhiều hay ít khác biệt. Ở đây, phải nên nói là trăm phần ngàn vạn ức Bồ Tát.

          Tiểu đoạn thứ hai là tán thán phẩm đức, bao gồm hai mươi lăm câu kinh văn, chia thành hai mươi hai loại đức:

          - Một, có phẩm đức trọn đủ thần thông to lớn.

          - Hai, có phẩm đức danh tiếng cao trọng, khiến cho kẻ khác kính ngưỡng.

          - Ba, có phẩm đức tu nhân viên măn.

          - Bốn, phẩm đức hiện tướng lợi lạc chúng sanh.

          - Năm, phẩm đức trọn đủ biện tài thuyết pháp.

          - Sáu, phẩm đức ĺa các chướng nhiễm.

          - Bảy, phẩm đức nối tiếp Phật chủng chẳng đoạn.

          - Tám, phẩm đức hàng phục ma oán.

          - Chín, phẩm đức dẹp tan các ngoại đạo.

          - Mười, phẩm đức tiếp nối Phật tuyên dương [chánh pháp].

          - Mười một, phẩm đức trang nghiêm thanh tịnh cơi Phật.

          - Mười hai, phẩm đức lợi ích người khác chẳng hư dối.

          - Mười ba, phẩm đức tự lợi, trọn đủ các Nhẫn.

          - Mười bốn, phẩm đức thường nhiếp thọ hữu t́nh.

          - Mười lăm, phẩm đức hầu Phật chẳng diệt.

          - Mười sáu, phẩm đức hoằng thệ vô cùng.

          - Mười bảy, phẩm đức gieo sâu nhân lành.

          - Mười tám, phẩm đức hiểu pháp Vô Sanh.

          - Mười chín, phẩm đức duyên theo cảnh bất cộng.

          - Hai mươi, phẩm đức thiện xảo giáo hóa chúng sanh.

          - Hai mươi mốt, phẩm đức xiển dương thánh giáo.

          - Hai mươi hai, phẩm đức chứng pháp chẳng nghi.

 

          (Kinh) Hữu đại oai đức như đại long vương.

          ()有大威德如大龍王

          (Kinh: Có oai đức lớn như đại long vương).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ nhất, trọn đủ thần thông to lớn th́ gọi là “đại oai đức”, có thể trừ bất tín, có thể sanh căn lành, giống như rồng to có thể tuôn mưa đá dẹp trừ sự bất tín, có thể đổ mưa để sanh trưởng mầm thiện. Lại có oai lực như trong quyển ba mươi bảy của luận Du Già Sư Địa đă giải thích cặn kẽ về oai lực. Hoặc [có thể hiểu] câu “oai lực” ở đây chính là câu nói tổng quát cho các câu [kế tiếp], hàm nghĩa [bậc đại Bồ Tát] có nhiều loại oai lực vậy!

 

          (Kinh) Danh xưng phổ văn, chúng sở tri thức.

          ()名稱普聞眾所知識

          (Kinh: Tiếng tăm vang rền, mọi người hay biết).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ hai là tiếng tăm vang rền vô lượng thế giới, đều được hết thảy chúng sanh nhận biết.

 

          (Kinh) Thí, Giới thanh tịnh, thường nhạo phụng tŕ.

          ()施戒清淨常樂奉持

          (Kinh: Thí, Giới thanh tịnh, thường thích vâng giữ).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ ba gồm trọn Lục Độ. Tu nhân mới viên măn, tức là vô nhiễm tối thắng trong bảy món tối thắng[1], được gọi là “thanh tịnh”. Hoặc tam luân thanh tịnh[2] như các kinh Giải Thâm Mật v.v… đă nói. Mỗi Độ trong Lục Độ đều có mười loại thanh tịnh, chi tiết th́ như trong các kinh ấy đă nói. Luôn tu chẳng bỏ, nên gọi là “nhạo phụng tŕ” (ưa thích vâng giữ), tức là có ư yêu thích lâu dài. Trong bảy món tối thắng và sáu thứ ư nhạo[3] đều nêu ra một thứ để nêu tỏ các thứ khác.

 

          (Kinh) Nhẫn hạnh tinh cần kinh vô lượng kiếp.

          ()忍行精勤經無量劫

          (Kinh: Nhẫn hạnh siêng ṛng trải qua vô lượng kiếp).

 

          Tán rằng: Nêu ra đại tánh tinh tấn trong bảy đại tánh, cũng nhằm phô bày các điều c̣n lại.

 

          (Kinh) Siêu chư Tĩnh Lự, hệ niệm hiện tiền, khai xiển huệ môn, thiện tu phương tiện.

          ()超諸靜慮繫念現前,開闡慧門善修方便。

          (Kinh: Siêu việt các môn Tĩnh Lự, hệ niệm hiện tiền, mở mang, xiển dương huệ môn, khéo tu các phương tiện).

 

          Tán rằng: Các vị Bồ Tát này từ Bát Địa trở lên, niệm nào cũng gấp bội niệm trước, vượt xa Nhị Thừa, cho nên gọi là Siêu. Do luôn ở trong Định, cho nên gọi là “hệ niệm hiện tiền”. Phô bày, hoằng dương pháp giáo, gọi là “khai xiển huệ môn”. V́ thế, Pháp Hoa Luận viết: “Môn trí huệ này gọi là A Hàm rất sâu, do chọn lựa thấu hiểu thông suốt th́ gọi là ‘thiện tu phương tiện’. Lại c̣n khéo tu các thứ phương tiện, nguyện lực v.v… Hoặc lại c̣n tu trọn mười hai món thiện xảo”. Ư của đoạn kinh văn ấy chính là thanh tịnh phụng tŕ trải qua vô lượng kiếp, lại c̣n bao gồm các Độ. Giải thích đại lược Lục Độ th́ như trong Vô Cấu Xưng Sớ[4] [đă nói].

 

          (Kinh) Tự tại du hư, vi diệu thần thông.

          ()自在遊戲微妙神通

          (Kinh: Du hư tự tại, thần thông vi diệu).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ tư. Theo kinh Hoa Nghiêm, Phật tử (các vị Bồ Tát) có mười loại du hư thần thông, tức là:

          - Một là thị hiện xả tuổi thọ cơi trời.

          - Hai là thị hiện thọ sanh,

          - Ba là hiện làm đồng tử.

          - Bốn là hiện tướng xuất gia.

          - Năm là ưa thích khổ hạnh.

          - Sáu là đến cội Bồ Đề.

          - Bảy là thị hiện hàng ma.

          - Tám là thị hiện ưa thích tịch tĩnh, thành Vô Thượng Giác,

          - Chín là chuyển pháp luân.

          - Mười là nhập Niết Bàn.

          Có nghĩa là hiện bày các tướng để lợi ích chúng sanh, rộng như trong hội Tối Thắng Thiên Vương của kinh Đại Bát Nhă đă giải thích.

 

          (Kinh) Đăi đắc tổng tŕ, biện tài vô tận.

          ()逮得總持辯才無盡

          (Kinh: Đạt được tổng tŕ và biện tài vô tận).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ năm. “Đăi” () là “đạt đến”. Đạt được bốn món Tổng Tŕ (Pháp Tổng Tŕ, Nghĩa Tổng Tŕ, Nhẫn Tổng Tŕ, Chú Tổng Tŕ), và bốn thứ Biện Tài (Pháp Vô Ngại Biện, Nghĩa Vô Ngại Biện, Từ Vô Ngại Biện, Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện) thảy đều vô tận. Không chỉ là bảy thứ chẳng gián đoạn, mà c̣n trọn hết một sự thù thắng (tức xảo phương tiện thù thắng). Dotận, do lợi lạc người khác chẳng ngừng nghỉ thảy đều vô tận.

 

          (Kinh) Đoạn chư phiền năo, lụy nhiễm giai vong.

          ()斷諸煩惱累染皆亡。

          (Kinh: Đoạn các phiền năo, phiền lụy, đắm nhiễm đều mất).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ sáu. Ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ theo thứ tự đều là sự phiền lụy, nhuốm bẩn bởi phiền năo. Hay lại có thể hiểu “năo lụy” là chủng tử hiện hành, Nhiễm tức là tập khí và Sở Tri Chướng, được nói gộp chung với phiền năo. Do đă đoạn trừ, nên có thể nói là “giai” (đều).

 

          (Kinh) Bất cửu đương thành Nhất Thiết Chủng Trí.

          ()不久當成一切種智

          (Kinh: Không lâu sau sẽ thành Nhất Thiết Chủng Trí).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ bảy là tiếp nối Phật chủng chẳng dứt. Các vị Bồ Tát này qua khỏi hai kiếp, có lẽ sẽ thuộc vào Pháp Vân Địa, đều là bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, cho nên nói là “bất cửu” (chẳng bao lâu). Do chưa đắc Bồ Đề, nên nói là “đương thành” (sẽ thành). Đắc Tát Bà Nhă (Sarvajña) th́ gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. “Chủng” () là chủng loại. Dù Không hay Hữu, dù Sự hay Lư, đều được gọi là Nhất Thiết Chủng. Đều đạt được các điều ấy th́ gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Đó là xét theo chủ thể (Trí) để giải thích. Nhất Thiết Chủng chính là cảnh của cái trí ấy.

 

          (Kinh) Hàng ma quân chúng, nhi kích pháp cổ.

          ()降魔軍眾而擊法鼓

          (Kinh: Do hàng phục lũ quân ma mà đánh trống pháp).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ tám là hàng phục ma oán. Ma chính là Tứ Ma[5], Quân chính là mười quân, nói cặn kẽ th́ như chương Phá Ma của sách Pháp Uyển (Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương) đă biện định. Ma quân thuận theo sự giáo hóa. Thắng địch th́ trước hết bèn báo rơ, hiển Thật, khai Quyền; đó là “kích pháp cổ” (đánh trống pháp).

 

          (Kinh) Chế chư ngoại đạo, linh khởi tịnh tâm.

          ()制諸外道令起淨心

          (Kinh: Chế phục các ngoại đạo, khiến cho họ sanh khởi tâm thanh tịnh).


          Tán rằng: Phẩm đức thứ chín là
dẹp tan các ngoại đạo. Trọn đủ Tứ Vô Úy, dẹp tan các ngoại, khiến cho họ sanh chánh tín th́ gọi là “khởi tịnh tâm” (sanh khởi tâm thanh tịnh).

 

          (Kinh) Chuyển diệu pháp luân độ nhân thiên chúng.

          ()轉妙法輪度人天眾

          (Kinh: Chuyển pháp luân mầu nhiệm, độ đại chúng trời người).

         

          Tán rằng: Phẩm đức thứ mười là kế thừa Phật, tuyên dương [chánh pháp]. Đối với năm địa vị như Tư Lương v.v…, Chuyển Pháp Luân thuộc địa vị thứ tư, [địa vị] thứ hai là Bất Thoái Pháp Luân như trong Pháp Hoa Sớ đă biện định.

 

          (Kinh) Thập phương Phật độ tất dĩ trang nghiêm.

          ()十方佛土悉已莊嚴

          (Kinh: Mười phương cơi Phật đều đă trang nghiêm).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ mười một là trang nghiêm thanh tịnh cơi Phật, đóng chặt cửa hết thảy đường ác. Ư nghĩa của Tịnh Độ th́ như Vô Cấu Xưng Sớ [đă biện định].

 

          (Kinh) Lục thú hữu t́nh, vô bất mông ích.

          ()六趣有情無不蒙益

          (Kinh: Hữu t́nh trong sáu đường, không ai chẳng được lợi ích).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ mười hai là lợi ích người khác chẳng hư dối. Từ ngữ Để Lợi Cù Ni Đa (Tiryagyoni) trong tiếng Phạn được phương này dịch nghĩa là Bàng Sanh. Na Lệ Đa trong tiếng Phạn, dịch nghĩa là ngạ quỷ, c̣n gọi là Bế Lệ Đa (Preta). Mạt Nô Sa (Manuṣya) trong tiếng Phạn dịch nghĩa là Nhân. Đối với các tên gọi thiên thú (đường trời), Tu La, Na Lạc Ca (Naraka, địa ngục) và ư nghĩa của sáu đường th́ như Pháp Hoa Sớ [đă giảng]. Khéo biết căn tánh, hiện thân trong năm đường, dùng sức phương tiện thiện xảo để hiện thân thuyết pháp, người thấy, kẻ nghe, không ai chẳng được hưởng lợi ích. Do có thể thành tựu bốn loại pháp, có thể giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ đều được hưởng lợi ích. V́ thế, kinh Tư Ích[6], quyển thứ nhất có nói: “Nhất, thường cầu lợi an chúng sanh. Nhị, tự xả kỷ lạc. Tam, tâm ḥa nhẫn. T, trừ kiêu mạn” (Một là thường cầu lợi ích, an lạc chúng sanh. Hai là tự xả sự vui sướng của chính ḿnh. Ba là tâm ḥa hợp, nhẫn nại. Bốn là trừ kiêu mạn).

 

          (Kinh) Thành tựu trí huệ, cụ túc bất nhẫn.

          ()成就大智具足不忍

          (Kinh: Thành tựu trí huệ, trọn đủ bất nhẫn).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thứ mười ba là tự lợi, trọn đủ các món Nhẫn. Thành tựu trí tự lợi, sẽ có đủ ba món đại nhẫn, tức là do tương ứng với Thất Đại, cho nên đều gọi là Đại. Hoặc là đại trí, tức là trí đại tánh, do hiểu trọn vẹn hai món Không (Nhân Không và Pháp Không). Nhưng phần Nhiếp Dị Môn trong luận Du Già Sư Địa nói: “Trí huệ do đă trải qua vô lượng kiếp tu tập th́ gọi là đại trí”, tức là Thời Đại Tánh trong thất đại tánh[7]. V́ thế biết rằng Nhẫn được gọi là Đại cũng giống như Trí. Lại có thể giải thích như sau: Như Trí Độ Luận quyển sáu nói: “Người thành tựu đại nhẫn là do Đẳng Nhẫn và Pháp Nhẫn hai món cùng tăng tấn, cho nên gọi là Đại Nhẫn”.

          “Cụ túc” nghĩa là “thành tựu”, lại có nhiều cách hiểu: Hoặc có thể hiểu “thành tựu” “đắc” (đạt được), ư nói đạt được phẩm vị thù thắng th́ gọi là Đại Nhẫn. V́ thế, luận ấy giải thích rằng: “Hai món Nhẫn ấy tăng trưởng th́ gọi là Đại Nhẫn”. Lại có thể hiểu như sau: Nay nói “cụ túc”, tức là có đủ cả ba món Nhẫn, tức là Nại Oán Hại Nhẫn, An Thọ Khổ Nhẫn, và Đế Sát Pháp Nhẫn[8]. Nhưng xét theo kinh Vô Tận Ư, do trọn đủ Đại Nhẫn th́ mới có thể thành tựu đại trí. Kinh ấy dạy: “Tu Tứ Nhẫn cụ túc trí huệ: Nhất, ư cầu pháp thời, nhẫn tha ác mạ. Nhị, bất tỵ hàn, nhiệt, phong, vũ đẳng. Tam, tùy ḥa thượng A-xà-lê hành. Tứ, ư cầu pháp thời, nhẫn Không, Vô Tướng” (Tu bốn món Nhẫn trọn đủ trí huệ: Một là khi cầu pháp, sẽ nhẫn kẻ khác chửi rủa ác độc. Hai là chẳng tránh né lạnh, nóng, gió, mưa v.v… Ba là hành theo ḥa thượng A-xà-lê. Bốn là khi cầu pháp bèn nhẫn Không, Vô Tướng). Dựa theo đấy th́ đáng nên dùng [lời giải thích] trong phần dưới để giải thích nguyên do của “đại trí” trong phần trên.

 

          (Kinh) Trụ đại từ bi tâm, hữu đại kiên cố lực.

          ()住大慈悲心有大堅固力

          (Kinh: Trụ trong tâm đại từ bi, có sức kiên cố to lớn).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thường nhiếp thọ hữu t́nh. V́ thế, Pháp Hoa Kinh Luận viết: “Phương tiện để nhiếp th chúng sanh là như kinh [dạy] dùng ḷng Từ để tu thân, bởi Từ là có thể ban vui cho kẻ chẳng vui, Bi là dẹp khổ cho kẻ đang khổ. V́ vậy, có thể nhiếp thủ chúng sanh”. [Từ và bi] đều nói là Đại, [nhằm nhấn mạnh] khác với Nhị Thừa, chẳng phải là đại bi trong phẩm đức bất cộng của Phật, chỉ có [phẩm đức] được thành tựu bởi Phật mới gọi là “bất cộng”. “Hữu đại kiên cố lực” (có sức kiên cố to lớn): Thường hành chẳng xả th́ gọi là “kiên cố”. V́ thế, kinh Tư Ích, quyển một dạy: “Bồ Tát hữu tứ pháp kiên cố kỳ tâm, nhi bất b́ quyện: Nhất, ư chúng sanh khởi đại bi. Nhị, tinh tấn bất giải. Tam, tín giải sanh tử như mộng. T, chánh tư duy Phật chi trí huệ” (Bồ Tát có bốn pháp để kiên cố cái tâm, chẳng mệt chán: Một là đối với chúng sanh dấy ḷng đại bi, hai là tinh tấn chẳng lười nhác, ba là tin hiểu sanh tử như mộng, bốn là chánh tư duy trí huệ của Phật). Ư nói: Do thương xót chúng sanh mà tinh tấn chẳng lười nhác, thấy sanh tử như mộng chẳng thật mà suy cầu Phật trí. V́ thế, hành từ bi để kiên cố cái tâm.

 

          (Kinh) Lịch sự chư Phật, bất bát Niết Bàn.

          ()歷事諸佛不般涅槃

          (Kinh: Phụng sự khắp chư Phật, chẳng nhập Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Phẩm đức hầu Phật, chẳng nhập diệt. Đối với hết thảy chư Phật, thường tu chánh hạnh th́ gọi là “lịch sự chư Phật”. V́ độ chúng sanh không có lúc ngưng nghỉ, cho nên chẳng cầu nhập Niết Bàn. Luận Biện Trung Biên[9] viết: “Do lợi ích người khác chẳng ngưng nghỉ”.

 

          (Kinh) Phát hoằng thệ tâm tận vị lai tế.

          ()發弘誓心盡未來際

          (Kinh: Phát tâm hoằng thệ cho đến cùng tận đời vị lai).

 

     Tán rằng: Phẩm đức hoằng thệ vô cùng. Phát Tứ Hoằng Nguyện có thể tột cùng đời vị lai.

 

          (Kinh) Quảng ư Phật sở, thâm chủng tịnh nhân.

          ()廣於佛所深種淨因

          (Kinh: Ở nơi Phật, rộng gieo cái nhân thanh tịnh sâu xa).

 

          Tán rằng: Phẩm đức gieo sâu nhân lành, tức là như kinh Pháp Hoa nói: “Ư chư Phật sở, thực chúng đức bổn” (gieo các cội đức nơi chư Phật), tức là ở nơi Phật, tu mười thứ cúng dường[10] th́ gọi là “tịnh nhân” (cái nhân thanh tịnh). Cầu Bồ Đề, tu mười thứ cúng dường, hai loại ấy đều là Nhân. Có thể coi đó là cái nhân của sự thanh tịnh, hoặc cái nhân ấy chính là tịnh.

 

          (Kinh) Ư tam thế pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn.

          ()於三世法悟無生忍

          (Kinh: Đối với pháp ba đời, ngộ Vô Sanh Nhẫn).

 

          Tán rằng: Phẩm đức hiểu rơ pháp Vô Sanh, ngộ tam Vô Sanh Nhẫn. Nương theo Không Giải Thoát Môn mà quán Biến Kế Tánh[11], ngộ bổn tánh Vô Sanh Nhẫn. Nương theo Vô Nguyện Giải Thoát Môn mà quán Y Tha Khởi[12], ngộ tự nhiên Vô Sanh Nhẫn. Nương theo Vô Tướng Giải Thoát Môn mà quán Viên Thành Thật[13], ngộ Hoặc khổ Vô Sanh Nhẫn.

          Hỏi: Cái Thể của Biến Kế là không, Viên Thành th́ thường trụ, nay kinh này nói nương theo pháp ba đời, sao có thể quán ba tánh (Biến Kế, Y Tha, và Viên Thành Thật) để đắc ba loại Nhẫn?

          Đáp: Nơi Y Tha, quán nhị ngă (nhân ngă chấp và pháp ngă chấp) là Không, tức là trong Y Tha cũng có Viên Thành, chẳng phải là rời ĺa. V́ thế, kệ tụng trong luận Biện Trung Biên viết: “Do hư vọng phân biệt là có, đối với hai thứ ấy đều là không, trong ấy chỉ có Không”. Ư nói: Hữu là hư vọng phân biệt. Trong ấy, hai thứ Ngă đều là Không. Trong Y Tha chỉ có Chân Không. V́ thế, nêu ra “ba đời”, chỉ nói về Y Tha mà hiển lộ cả hai tánh kia.

 

          (Kinh) Du ư Nhị Thừa sở hành cảnh giới.

          ()逾於二乘所行境界

          (Kinh: Vượt ngoài cảnh giới do Nhị Thừa đă hành).

 

          Tán rằng: Phẩm đức duyên cảnh bất cộng. Nhị Thừa duyên theo cảnh, cho nên hành tướng có thể đạt được. Bồ Tát chẳng vậy. V́ thế, Vô Tánh Nhiếp Luận, quyển thứ tám viết: “Trí vô phân biệt hành tương tự nơi cảnh Chân Như”. Ư nói: Chân Như chẳng có hết thảy các tướng, trí tương xứng với Chân Như cũng chẳng có hành tướng. Lại nữa, đối với chuyện hiểu rơ Nhị Không, họ (hàng Tiểu Thừa) chỉ hiểu rơ một điều (tức Ngă Không), cho nên [cảnh giới của Bồ Tát] vượt xa Nhị Thừa.

 

          (Kinh) Dĩ đại thiện xảo hóa thế gian.

          ()以大善巧化世間

          (Kinh: Dùng đại thiện xảo giáo hóa thế gian).

 

          Tán rằng: Phẩm đức thiện xảo giáo hóa chúng sanh. Nương theo sáu thần thông và sáu loại ngoại phương tiện thuộc mười hai loại phương tiện thiện xảo để giáo hóa thế gian; hoặc nương theo các pháp thiện xảo như Uẩn, Giới v.v… được nói trong Đại Thừa để giáo hóa thế gian. Do vạch rơ khác với Tiểu Thừa mà gọi là “đại thiện xảo”.

 

          (Kinh) Ư đại sư giáo năng phu diễn.

          ()於大師教能敷演

          (Kinh: Có thể phô diễn giáo pháp của đấng đại sư).


          Tán rằng: Phẩm đức
xiển dương thánh giáo. Do có thể nương theo pháp được giải thích trong phần Nhiếp Thích thuộc quyển tám mươi mốt của luận Du Già Sư Địa, cho nên nói là “ư đại sư giáo, năng phu diễn” (đối với giáo pháp của đấng đại sư có thể phô diễn). Đă đạt được Tứ Biện Tài thù thắng, đắc Tổng Tŕ, cho nên có thể phô diễn, trụ trong địa vị Thiện Huệ.

 

          (Kinh) Bí mật chi pháp thậm thâm Không tánh, giai dĩ liễu tri, vô phục nghi hoặc.

          ()祕密之法甚深空性皆已了知無復疑惑

          (Kinh: Đối với pháp bí mật tánh Không rất sâu đă đều biết rơ, chẳng c̣n ngờ vực).

 

          Tán rằng: Phẩm đức hiểu rơ pháp chẳng nghi. Bí Mật chính là bốn thứ bí mật. Do chính là ba món tánh Không, cho nên gọi là “thậm thâm” (rất sâu) như trong Pháp Hoa Luận đă giải thích. Trí huệ của chư Phật có năm món rất sâu, tánh của trí huệ cũng được gọi là trí huệ: Một là nghĩa rất sâu, hai là Thể, ba là nội chứng, bốn là y chỉ, năm là vô thượng. Do chẳng phải là cảnh của Nhị Thừa, nên gọi là “thậm thâm”. Hậu Trí (Hậu Đắc Trí) có thể hiểu rơ, Căn Bản Trí đă biết, nỗi nghi đối với Sự và Lư đều đă hết. Do vậy, chẳng c̣n nghi hoặc!

 

          (Kinh) Kỳ danh viết Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát.

          ()其名曰無障礙轉法輪菩薩常發心轉法輪菩薩常精進菩薩不休息菩薩

          (Kinh: Tên các Ngài là Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát).

 

          Tán rằng: [Tiểu đoạn] thứ ba là liệt kê danh hiệu [các vị Bồ Tát], gồm năm mươi ba vị. Đức rộng, danh cao, [khiến cho] kẻ thấy nghe đều đạt được lợi ích, chẳng thể nêu trọn hết, chỉ nêu đại lược vài vị. Trong số ấy, [các vị Bồ Tát] lập danh hiệu hoặc do từ bổn nguyện, hoặc do đức hạnh, lợi ích ta lẫn người đều thù thắng, dùng các điều đó để đặt tên. [Trong đoạn này], tên hai vị đầu nói về sự thuyết pháp, tên hai vị sau nói về sự siêng ṛng. Cặp đôi “thuyết pháp” và “siêng tu” có thể hàng phục bốn loại ma; do vậy, chuyển pháp luân chẳng bị chướng ngại, có thể thuyết pháp chẳng thoái chuyển. V́ thế, chuyển pháp luân bất thoái, chẳng bị chướng ngại. Hoằng pháp không ngơi nghỉ do nghĩ thương xót hữu t́nh. Thường phát tâm v́ chúng sanh chuyển pháp luân do đă đạt được biện tài nhạo thuyết bất đoạn. Thường phát tâm chuyển pháp luân, luôn siêng năng tự lợi. Do vậy, gọi là Thường Tinh Tấn. Thường sách tấn lợi lạc người khác, cho nên tên là Bất Hưu Tức. Hoặc [có thể hiểu danh hiệu của bốn vị Bồ Tát này] h́nh thành một cặp “tự lợi, lợi tha”.

 

          (Kinh) Từ Thị Bồ Tát, Diệu Cát Tường Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát.

          ()慈氏菩薩妙吉祥菩薩觀自在菩薩

          (Kinh: Từ Thị Bồ Tát, Diệu Cát Tường Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Từ Thị âm tiếng Phạn là Mai Đát Lệ Duệ (Maitreya), phương này dịch là Từ Thị, hoặc dịch là Na, tức là Ngài sanh trong ḍng họ Từ, hoặc bản tánh hành Từ. Hoặc phiên âm là Duệ Ni, tức là nói về người nữ, do mẹ Ngài sẵn có ḷng từ. Mạn Thù Thất Lợi (Mañjuśrī), phương này dịch là Diệu Cát Tường. A Phược Lô Chỉ Đế Thấp Phạt Ra Da (Avalokiteśvara), phương này dịch là Quán Tự Tại. Ba vị này chính là ban vui, dẹp khổ, Cát Tường ban vui, Quán Âm dẹp khổ. Đây là cặp ư nghĩa “ban vui, dẹp khổ”.

 

          (Kinh) Tổng Tŕ Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Biện Trang Nghiêm Vương Bồ Tát.

          ()總持自在王菩薩大辯莊嚴王菩薩

          (Kinh: Tổng Tŕ Tự Tại Vương Bồ Tát, Đại Biện Trang Nghiêm Vương Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Nơi Đệ Cửu Địa, có thể ĺa hai thứ ngu[14], trọn đủ bốn món biện tài. Do vậy, tổng tŕ tự tại, trọn đủ bảy món biện tài[15], thường v́ Đại Thừa, gọi là Đại Biện Trang Nghiêm. Đây là cặp ư nghĩa “tŕ pháp, thuyết pháp”.

 

          (Kinh) Diệu Cao Sơn Vương Bồ Tát, Đại Hải Thâm Vương Bồ Tát.

          ()妙高山王菩薩大海深王菩薩

          (Kinh: Diệu Cao Sơn Vương Bồ Tát, Đại Hải Thâm Vương Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Trí huệ khó ngửa đầu lên trông như núi chúa Diệu Cao. Định chẳng lường dường như biển cả. Trí và Định đều tự tại, đều được ví như Vương. Đây là cặp ư nghĩa “trí cao, định thẳm”.

 

          (Kinh) Bảo Tràng Bồ Tát, Đại Bảo Tràng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát.

          ()寶幢菩薩大寶幢菩薩地藏菩薩虛空藏菩薩

          (Kinh: Bảo Tràng Bồ Tát, Đại Bảo Tràng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Hiểu rơ Hữu cao cả, thù thắng như Bảo Tràng (tràng báu). Hiểu rơ Không cao cả, thù thắng th́ gọi là Đại Bảo Tràng. Đây là cặp ư nghĩa “hiểu rơ Hữu, hiểu rơ Không”. [Địa Tạng]: Đất đại bi gánh vác trọn khắp là Tạng. Có thể dùng hư không để làm tạng báu; [đó là ư nghĩa của Hư Không Tạng]. Đây là cặp ư nghĩa “đại bi, đại trí”.

 

          (Kinh) Bảo Thủ Tự Tại Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Hoan Hỷ Lực Bồ Tát, Đại Pháp Lực Bồ Tát.

          ()寶手自在菩薩金剛手菩薩歡喜力菩薩大法力菩薩

          (Kinh: Bảo Thủ Tự Tại Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Hoan Hỷ Lực Bồ Tát, Đại Pháp Lực Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Ở đây có hai cặp ư nghĩa. [Bảo Thủ là] tay tuôn ra trân bảo, có thể phá trừ bần cùng. Trí thủ (tay trí) có thể phá hoại tự chướng (chướng của chính ḿnh) và tha chướng (chướng của người khác), th́ gọi là Kim Cang Thủ. Đây là cặp ư nghĩa “giúp nghèo, phá chướng”. Hoan hỷ ưa thích thường hành, khó thể khuất phục, th́ gọi là Hoan Hỷ Lực. Pháp thí Đại Thừa có thể dẹp tan các chướng như Vô Minh v.v… của kẻ khác, gọi là Đại Pháp Lực. Đây là cặp ư nghĩa “khó thể khuất phục, hàng phục kẻ khác”.

 

          (Kinh) Đại Trang Nghiêm Quang Bồ Tát, Đại Kim Quang Trang Nghiêm Bồ Tát.

          ()大莊嚴光菩薩大金光莊嚴菩薩

          (Kinh: Đại Trang Nghiêm Quang Bồ Tát, Đại Kim Quang Trang Nghiêm Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Dùng định quang trí huệ để tự trang nghiêm, th́ gọi là Đại Trang Nghiêm Quang. Dùng kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương để lợi lạc chúng sanh, th́ gọi là Đại Kim Quang Trang Nghiêm. Giảm thiểu [sự thọ dụng của] chính ḿnh để lợi lạc người khác, cho nên gọi là Đại. Đây là cặp ư nghĩa “tự trang nghiêm chính ḿnh, trang nghiêm người khác”.

 

          (Kinh) Tịnh Giới Bồ Tát, Thường Định Bồ Tát, Cực Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát.

          ()淨戒菩薩常定菩薩極清淨慧菩薩

          (Kinh: Tịnh Giới Bồ Tát, Thường Định Bồ Tát, Cực Thanh Tịnh Huệ Bồ Tát).

         

          Tán rằng: Ba danh hiệu này chính là cái nhân của Tam Học, mỗi điều đều đạt được hoàn bị trọn vẹn. Dựa theo sự thật để đều tu [Tam Học]. Nói theo bổn nguyện, đây là cặp ư nghĩa “đại phước, đại trí”. Giới là phước, Huệ là Trí, Định gồm chung cả hai thứ. Hoặc [có thể hiểu là] từ trong trí mà có thể phát khởi trí.

 

          (Kinh) Kiên Cố Tinh Tấn Bồ Tát, Tâm Như Hư Không Bồ Tát, Bất Đoạn Đại Nguyện Bồ Tát.

          ()堅固精進菩薩心如虛空菩薩不斷大願菩薩

          (Kinh: Kiên Cố Tinh Tấn Bồ Tát, Tâm Như Hư Không Bồ Tát, Bất Đoạn Đại Nguyện Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Do ba thứ giồi mài, sách tấn và siêng năng đều chẳng thoái thất th́ gọi là Kiên Cố Tinh Tấn. Cái tâm vô ngại như hư không [là ư nghĩa của danh hiệu Tâm Như Hư Không]. Chẳng xả Tứ Hoằng Nguyện th́ gọi là Bất Đoạn Đại Nguyện. Đây là cặp ư nghĩa “bất thoái, thường tu”. Như Không th́ bao gồm cả hai [ư nghĩa ấy].

 

          (Kinh) Thí Dược Bồ Tát, Liệu Chư Phiền Năo Bệnh Bồ Tát, Y Vương Bồ Tát.

          ()施藥菩薩療諸煩惱病菩薩醫王菩薩

          (Kinh: Thí Dược Bồ Tát, Liệu Chư Phiền Năo Bệnh Bồ Tát, Y Vương Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Thí thuốc chữa bệnh nơi thân, Liệu Phiền Năo là trừ bệnh nơi tâm. Y Vương hành trọn đủ. Đây là cặp ư nghĩa “chữa trị thân, chữa trị tâm”.

 

          (Kinh) Hoan Hỷ Cao Vương Bồ Tát, Đắc Thượng Thọ Kư Bồ Tát.

          ()歡喜高王菩薩得上授記菩薩

          (Kinh: Hoan Hỷ Cao Vương Bồ Tát, Đắc Thượng Thọ Kư Bồ Tát.

 

          Tán rằng: Nếu trông thấy chúng sanh bèn mỉm cười, trước hết là nói: Khiến cho họ sanh ḷng hoan hỷ, đạt được tự tại, gọi là Cao Vương. Thuộc địa vị Quán Đảnh, đạt được thọ kư bậc thượng. Đây là cặp ư nghĩa “tăng tấn người khác, tăng tấn chính ḿnh”.

 

          (Kinh) Đại Vân Tịnh Quang Bồ Tát, Đại Vân Tŕ Pháp Bồ Tát, Đại Vân Danh Xưng Hỷ Nhạo Bồ Tát, Đại Vân Hiện Vô Biên Xưng Bồ Tát.

          ()大雲淨光菩薩大雲持法菩薩大雲名稱喜樂菩薩大雲現無邊稱菩薩

          (Kinh: Đại Vân Tịnh Quang Bồ Tát, Đại Vân Tŕ Pháp Bồ Tát, Đại Vân Danh Xưng Hỷ Nhạo Bồ Tát, Đại Vân Hiện Vô Biên Xưng Bồ Tát.

 

          Tán rằng: Mây đại pháp trí chứa đựng mưa các đức, gọi là Đại Vân. Các danh hiệu c̣n lại đều chuẩn theo cách giải thích này. Trí có thể trừ cấu th́ gọi là Tịnh Quang. Tham các công đức th́ gọi là Tŕ Pháp. Đây là cặp ư nghĩa “trừ ám, tŕ pháp”. Tiếng thơm lan xa, người nghe thấy đều sanh ḷng ưa thích. Chữ “” ở đây phải đọc là Nhạo. Tiếng tăm trọn khắp mười phương, gọi là Hiện Vô Biên Xưng. Đây là cặp ư nghĩa “người khác ưa thích, tiếng tăm vang xa”.

 

          (Kinh) Đại Vân Sư Tử Hống Bồ Tát, Đại Vân Ngưu Vương Hống Bồ Tát, Đại Vân Cát Tường Bồ Tát, Đại Vân Bảo Đức Bồ Tát.

          ()大雲師子吼菩薩大雲牛王吼菩薩大雲吉祥菩薩大雲寶德菩薩    

          (Kinh: Đại Vân Sư Tử Hống Bồ Tát, Đại Vân Ngưu Vương Hống Bồ Tát, Đại Vân Cát Tường Bồ Tát, Đại Vân Bảo Đức Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Việc làm quyết định th́ gọi là Đại Sư Tử Hống. Có thể dẹp tan oán địch, gọi là Đại Vân Ngưu Vương Hống. Hai vị Bồ Tát này chính là cặp ư nghĩa “có thể thực hiện, có thể hàng phục”. Có thể sanh phước lợi to lớn th́ gọi là Cát Tường; dùng thiện pháp để tự trang nghiêm th́ gọi là Bảo Đức. Đây là cặp ư nghĩa “ḿnh và người đều đạt được lợi ích”.

 

          (Kinh) Đại Vân Nhật Tạng Bồ Tát, Đại Vân Nguyệt Tạng Bồ Tát, Đại Vân Tinh Quang Bồ Tát, Đại Vân Hỏa Quang Bồ Tát.

          ()大雲日藏菩薩大雲月藏菩薩大雲星光菩薩大雲火光菩薩

          (Kinh: Đại Vân Nhật Tạng Bồ Tát, Đại Vân Nguyệt Tạng Bồ Tát, Đại Vân Tinh Quang Bồ Tát, Đại Vân Hỏa Quang Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Phá sự tối tăm bất thiện như mặt trời, có thể khiến cho an lạc như mặt trăng. Đây là cặp ư nghĩa “phá ác, chứng chân”. Các thứ chiếu sáng như tinh tú, tùy thuận t́nh kiến mà thành tựu ánh lửa. Đây là cặp ư nghĩa “có thể chiếu, có thể thành tựu”.

 

          (Kinh) Đại Vân Điện Quang Bồ Tát, Đại Vân Lôi Âm Bồ Tát.

          ()大雲電光菩薩大雲雷音菩薩

                (Kinh: Đại Vân Điện Quang Bồ Tát, Đại Vân Lôi Âm Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Trong đêm sanh tử, có thể soi sáng, chỉ bày chánh đạo th́ gọi là Điện Quang (ánh sáng của tia chớp). Thuyết pháp chấn động mạnh mẽ như tiếng sấm (Lôi Âm). Đây là cặp ư nghĩa “chỉ bày đạo, khiến cho người khác mạnh mẽ tỉnh ngộ”.

 

          (Kinh) Đại Vân Huệ Vũ Sung Biến Bồ Tát, Đại Vân Thanh Tịnh Vũ Vương Bồ Tát.

          ()大雲慧雨充遍菩薩大雲清淨雨王菩薩

          (Kinh: Đại Vân Huệ Vũ Sung Biến Bồ Tát, Đại Vân Thanh Tịnh Vũ Vương Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Pháp có thể sanh ra trí th́ gọi là Huệ Vũ (mưa trí huệ). Pháp có thể trừ chướng gọi là Thanh Tịnh Vũ (mưa thanh tịnh). Do có oai lực nên như mưa; do không ǵ chẳng tạo lợi ích, cho nên tràn trề trọn khắp (sung biến, 充遍). Đây là cặp ư nghĩa “sanh thiện, diệt ác”.

 

          (Kinh) Đại Vân Hoa Thụ Vương Bồ Tát, Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương Bồ Tát, Đại Vân Bảo Chiên Đàn Hương Thanh Lương Thân Bồ Tát.

          ()大雲華樹王菩薩大雲青蓮華香菩薩大雲寶旃檀香清涼身菩薩

          (Kinh: Đại Vân Hoa Thụ Vương Bồ Tát, Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương Bồ Tát, Đại Vân Bảo Chiên Đàn Hương Thanh Lương Thân Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Nhân hạnh đă viên măn, sắp đạt được giác quả, gọi là Hoa Thụ Vương. Có thể phô diễn diệu lư, mở mắt cho chúng sanh, công đức đồn xa, gọi là Thanh Liên Hoa Hương. Đạt được thanh tịnh Pháp Thân, trọn đủ ngũ phần hương (giới hương, định hương, huệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương), gọi là Bảo Chiên Đàn Hương. Thân thanh lương thuộc địa vị Pháp Thân, đạt được các công đức trọn khắp Pháp Thân. Đây là cặp ư nghĩa “nhân thành tựu, hiện quả”. Hai danh hiệu đầu là nhân, v́ do hoa mà có quả. Một danh hiệu sau cùng là quả, v́ nói là Thanh Lương Thân.

 

          (Kinh) Đại Vân Trừ Ám Bồ Tát, Đại Vân Phá Ế Bồ Tát.

          ()大雲除闇菩薩大雲破翳菩薩

          (Kinh: Đại Vân Trừ Ám Bồ Tát, Đại Vân Phá Ế Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Có thể phá si ám th́ gọi là Trừ Ám. Có thể phá hai thứ chấp th́ gọi là Phá Ế (phá trừ sự che lấp). Đây là cặp ư nghĩa “phá ám, trừ chấp”.

 

          (Kinh) Như thị đẳng vô lượng đại Bồ Tát chúng.

          ()如是等無量大菩薩眾

          (Kinh: Vô lượng các vị đại Bồ Tát như thế).

 

          Tán rằng: Tổng kết.

 

          (Kinh) Các ư bô thời, tùng Định nhi khởi, văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.

          ()各於晡時從定而起往詣佛所頂禮佛足右繞三匝退坐一面

          (Kinh: Mỗi vị vào lúc buổi chiều, từ Định xuất, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một bên).

 

          Tán rằng: Đoạn kinh văn [trần thuật các vị Bồ Tát] đến chỗ đức Phật gồm bốn tiểu đoạn, như trong phần trước đă phân biệt.

 

          (Kinh) Phục hữu Lê Xa Tỳ đồng tử ngũ ức bát thiên.

          ()復有梨車毘童子五億八千

          (Kinh: Lại có năm ức tám ngàn đồng tử Lê Xa Tỳ).

 

          Tán rằng: Trong đoạn kinh văn thứ ba (tức phần nói về phàm chúng, sau phần nói về Thanh Văn chúng và Bồ Tát chúng), chia thành bốn tiểu đoạn. Ở đây là nêu ra loại và số. Xưa kia [tộc người này] được dịch là Ly Xa, hoặc Ly Cô Tỳ, nay dịch là Lợi Xa Tỳ (Licchavī)[16], có thuyết nói họ là hoàng tộc, có người nói họ là chủng tánh Bà La Môn. Theo kinh Duy Ma Cật, ngài Vô Cấu Xưng (Duy Ma Cật) nói “năm trăm trưởng giả tử [Ly Xa]”, chẳng nói họ là hoàng tộc. Hoặc có khi [tuy họ là] gịng dơi vua chúa, vẫn gọi là trưởng giả, như trưởng giả Kỳ Vực (Jīvaka Kaumārabhṛtya)[17] [chẳng hạn].

 

          (Kinh) Kỳ danh viết Sư Tử Quang đồng tử, Sư Tử Huệ đồng tử, Pháp Thọ đồng tử.

          ()其名曰師子光童子師子慧童子法授童子

          (Kinh: Tên họ là đồng tử Sư Tử Quang, đồng tử Sư Tử Huệ, đồng tử Pháp Thọ).

 

          Tán rằng: Tiểu đoạn thứ hai là liệt kê danh xưng, có hai phần: Một là liệt kê, hai là tiểu kết. Có trí quang quyết định, có huệ quyết định, có thể truyền trao chánh pháp cho hữu t́nh, [danh xưng của ba đồng tử] theo thứ tự tương ứng với ba điều ấy.

 

          (Kinh) Nhân Đà La Thọ đồng tử, Đại Quang đồng tử, Đại Mănh đồng tử, Phật Hộ đồng tử, Pháp Hộ đồng tử, Tăng Hộ đồng tử.

          ()因陀羅授童子大光童子大猛童子佛護童子法護童子僧護童子

          (Kinh: Đồng tử Nhân Đà La Thọ, đồng tử Đại Quang, đồng tử Đại Mănh, đồng tử Phật Hộ, đồng tử Pháp Hộ, đồng tử Tăng Hộ).

 

          Tán rằng: Xin từ Thiên Đế, Thiên Đế truyền trao, gọi là Nhân Đà La Thọ. Có thể dùng trí hỏa để phá tối tăm cho ḿnh lẫn người, gọi là Đại Quang. Dũng mănh nhất quyết tu đạo, gọi là Đại Mănh. Niệm Phật, Pháp, Tăng th́ gọi là Phật Hộ v.v…

 

          (Kinh) Kim Cang Hộ đồng tử, Hư Không Hộ đồng tử, Hư Không Hống đồng tử, Bảo Tạng đồng tử, Cát Tường Diệu Tạng đồng tử.

          ()金剛護童子虛空護童子虛空吼童子寶藏童子吉祥妙藏童子

     (Kinh: Đồng tử Kim Cang Hộ, đồng tử Hư Không Hộ, đồng tử Hư Không Hống, đồng tử Bảo Tạng, đồng tử Cát Tường Diệu Tạng).

 

          Tán rằng: Dựa theo danh hiệu mà giải thích.

 

          (Kinh) Như thị đẳng nhân nhi vi thượng thủ.

          ()如是等人而為上首

          (Kinh: Những người như thế làm thượng thủ).

         

          Tán rằng: Tiểu kết.

 

          (Kinh) Tất giai an trụ Vô Thượng Bồ Đề, ư Đại Thừa trung thâm tín, hoan hỷ.

          ()悉皆安住無上菩提於大乘中深信歡喜

          (Kinh: Thảy đều an trụ trong Vô Thượng Bồ Đề, đối với Đại Thừa tin sâu, hoan hỷ).

 

          Tán rằng: Ca ngợi phẩm đức. Đạt tới địa vị Bất Thoái th́ nói là “an trụ Bồ Đề”. Lại có thể thủ hộ pháp thành, giữ vững chánh pháp, cho nên nói là “an trụ Bồ Đề”. Chứng tín tâm bất hoại, sanh ḷng hoan hỷ sâu xa.

 

          (Kinh) Các ư bô thời, văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.

          ()各於晡時往詣佛所頂禮佛足右繞三匝退坐一面

          (Kinh: Mỗi người vào lúc buổi chiều, đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).

 

          Tán rằng: Đến chỗ đức Phật.

 

          (Kinh) Phục hữu tứ vạn nhị thiên thiên tử, kỳ danh viết: Hỷ Kiến thiên tử, Hỷ Duyệt thiên tử, Nhật Quang thiên tử, Nguyệt Kế thiên tử, Minh Huệ thiên tử, Hư Không Tịnh Huệ thiên tử, Trừ Phiền Năo thiên tử, Cát Tường thiên tử. Như thị đẳng thiên tử nhi vi thượng thủ, giai phát hoằng nguyện hộ tŕ Đại Thừa, thiệu long chánh pháp, năng sử bất tuyệt, các ư bô thời, văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.

          ()復有四萬二千天子其名曰喜見天子喜悅天子日光天子月髻天子明慧天子虛空淨慧天子除煩惱天子吉祥天子如是等天子而為上首皆發弘願護持大乘紹隆正法能使不各於晡時往詣佛所頂禮佛足右繞三匝退坐一面

          (Kinh: Lại có bốn vạn hai ngàn thiên tử, tên là Hỷ Kiến thiên tử, Hỷ Duyệt thiên tử, Nhật Quang thiên tử, Nguyệt Kế thiên tử, Minh Huệ thiên tử, Hư Không Tịnh Huệ thiên tử, Trừ Phiền Năo thiên tử, Cát Tường thiên tử. Các vị thiên tử như thế làm thượng thủ, đều phát hoằng nguyện hộ tŕ Đại Thừa, tiếp nối hưng thịnh chánh pháp, có thể khiến cho [chánh pháp] chẳng dứt, mỗi vị đều vào buổi chiều, đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).

 

          Tán rằng: Kế đó, liệt kê chư thiên, kinh văn cũng gồm bốn đoạn giống như trong phần trước. Đa phần là Tam Thập Tam Thiên và Tứ Vương Thiên, do họ ở gần nên liệt kê trước. Thế tục đặt tên, chẳng thể giải thích cặn kẽ được. Trong phần tán thán phẩm đức, có hai ư:

          - Một, phát Tứ Hoằng Nguyện.

          - Hai, thủ hộ Đại Thừa. Thủ hộ Đại Thừa, tức là nhiếp thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp sẽ có thể kham gánh vác bốn loại trọng trách như trong kinh Thắng Man đă nói. V́ thế, có thể tiếp nối hưng thịnh chánh pháp. Chánh pháp có ba loại là chánh chứng, chánh hạnh, và chánh giáo. Tự ḿnh có thể khiến cho người khác nương theo chánh giáo, khởi chánh hạnh, chứng chánh quả; v́ thế khiến cho [chánh pháp] chẳng đoạn tuyệt. Di Lặc Vấn Luận[18] nói có năm pháp để nhiếp thủ diệu pháp:

          - Một, v́ báo ân Phật.

          - Hai, v́ tự thân mà khiến cho diệu pháp trụ thế lâu dài.

          - Ba, cúng dường chư Phật.

          - Bốn, v́ muốn lợi ích chúng sanh.

          - Năm, do diệu pháp khó được.

          Theo quyển mười của kinh Bảo Vũ, thành tựu mười pháp sẽ có thể nhiếp thọ chánh pháp:

          - Một, trong đời Mạt Pháp không có người có thể tŕ mà có thể thọ tŕ Đại Tố Đát Lăm (kinh Đại Thừa), cung kính cúng dường.

          - Hai, v́ người khác thuyết pháp.

          - Ba, thấy người có thể tu học, liền sanh ḷng hoan hỷ sâu xa.

          - Bốn, lắng nghe chánh pháp chẳng mong mỏi.

          - Năm, đối với pháp sư tưởng như bậc đạo sư.

          - Sáu, có thể đối với chánh pháp tưởng như cam lộ.

          - Bảy, có thể đối với chánh pháp, tưởng như thuốc tiên.

          - Tám, có thể đối với chánh pháp, tưởng như thuốc tốt lành.

          - Chín, có thể chuyên cầu chánh pháp, chẳng đoái hoài thân mạng.

          - Mười, mong cầu chánh pháp, dấy lên ư tưởng tu hành.

 

          (Kinh) Phục hữu nhị vạn bát thiên long vương: Liên Hoa long vương, Ế La Diệp Năng vương, Đại Lực long vương, Đại Hống long vương, Tiểu Ba long vương, Tŕ Sử Thủy long vương, Kim Diện long vương, Như Ư long vương, như thị đẳng long vương nhi vi thượng thủ, ư Đại Thừa pháp thường nhạo thọ tŕ, phát thâm tín tâm, xưng dương, ủng hộ, các ư bô thời, văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.

          ()復有二萬八千龍王蓮華龍王𧫦羅葉能王大力龍王大吼龍王小波龍王持駛水龍王金面龍王如意龍王如是等龍王而為上首於大乘法常樂受持發深信心稱揚擁護各於晡時往詣佛所頂禮佛足右繞三匝退坐一面

    (Kinh: Lại có hai vạn tám ngàn long vương: Liên Hoa long vương, Ế La Diệp Năng vương, Đại Lực long vương, Đại Hống long vương, Tiểu Ba long vương, Tŕ Sử Thủy long vương, Kim Diện long vương, Như Ư long vương, các long vương như thế làm thượng thủ, đối với pháp Đại Thừa thường thích thọ tŕ, phát sanh tín tâm sâu xa, xưng dương, ủng hộ, ai nấy vào lúc buổi chiều đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).

 

          Tán rằng: Kinh văn cũng gồm bốn tiểu đoạn giống như phần trên. Liên Hoa [long vương] nương vào ao hoa sen để trụ. Chữ Ế La (Elā) được phương này dịch là Thụ (cây cối). Bát Noa (Pattra) được phương này dịch là Diệp (lá). Vị long vương này nương theo lá cây mà trụ, hoặc ăn lá cây, tức là Thiện Trụ long vương. C̣n Như Ư là do căn cứ theo [như ư] châu mà đặt tên. Phần tán thán phẩm đức có ba điều:

          - Một là thọ tŕ chánh pháp.

          - Hai là khởi tín tâm sâu đậm.

          - Ba là tán thán, diễn nói, và thủ hộ.

 

          (Kinh) Phục hữu tam vạn lục thiên chư Dược Xoa chúng, Tỳ Sa Môn thiên vương nhi vi thượng thủ, kỳ danh viết: Am Bà Dược Xoa, Tŕ Am Bà Dược Xoa, Liên Hoa Quang Tạng Dược Xoa, Liên Hoa Diện Dược Xoa, Tần Mi Dược Xoa, Hiện Đại Bố Dược Xoa, Động Địa Dược Xoa, Thôn Thực Dược Xoa, thị đẳng Dược Xoa tất giai ái nhạo Như Lai chánh pháp, thâm tâm hộ tŕ, bất sanh b́ giải, các ư bô thời, văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.

          ()復有三萬六千諸藥叉眾毘沙門天王而為上首其名曰菴婆藥叉持菴婆藥叉蓮華光藏藥叉蓮華面藥叉顰眉藥叉現大怖藥叉動地藥叉吞食藥叉是等藥叉悉皆愛樂如來正法深心護持不生疲懈各於晡時往詣佛所頂禮佛足右繞三匝退坐一面

          (Kinh: Lại có ba vạn sáu ngàn các vị Dược Xoa, Tỳ Sa Môn thiên vương làm thượng thủ, tên họ là Am Bà Dược Xoa, Tŕ Am Bà Dược Xoa, Liên Hoa Quang Tạng Dược Xoa, Liên Hoa Diện Dược Xoa, Tần Mi Dược Xoa, Hiện Đại Bố Dược Xoa, Động Địa Dược Xoa, Thôn Thực Dược Xoa. Các Dược Xoa ấy thảy đều yêu thích chánh pháp của Như Lai, thâm tâm hộ tŕ, chẳng sanh lười mệt, ai nấy đều vào buổi chiều đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).

 

          Tán rằng: Liệt kê đại chúng Dược Xoa (Yakṣa), kinh văn cũng chia thành bốn tiểu đoạn. Dược Xoa được phương này dịch là Dũng Kiện (勇健, mạnh mẽ), c̣n dịch là Tiệp Tật (捷疾, nhanh chóng), c̣n bao gồm các Địa Hành La Sát Sa. La Sát Sa (Rākṣasa, La Sát) được phương này dịch là Bạo Ác. Tán thán phẩm đức gồm ba điều: Một là yêu mến chánh pháp, hai là có thể hộ tŕ, ba là chẳng mệt mỏi.

 

          (Kinh) Phục hữu tứ vạn cửu thiên Yết Lộ Đồ vương, Hương Tượng Thế Lực vương nhi vi thượng thủ.

          ()復有四萬九千揭路荼王香象勢力王而為上首

          (Kinh: Lại có bốn vạn chín ngàn Yết Lộ Đồ (Garuḍa) vương, Hương Tượng Thế Lực vương làm thượng thủ).

 

          Tán rằng: Các điểu vương, phương này dịch là Diệu Xí (妙翅: Cánh đẹp đẽ). Nói theo cách dịch cũ th́ c̣n dịch là Kim Xí (金翅: cánh vàng). Có sức mạnh và oai thế như hương tượng, hoặc có thế lực khiến cho hương tượng hoảng sợ. Hoặc có thể hiểu là chim giống như loài hương tượng, tức là hương tượng vương.

 

          (Kinh) Cập dư Kiện Thát Bà, A Tô La, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già đẳng, sơn, lâm, hà, hải, nhất thiết thần tiên, tịnh chư đại quốc sở hữu vương chúng, trung cung hậu phi, thanh tín nam nữ, nhân thiên đại chúng, tất giai vân tập.

          ()及餘健闥婆阿蘇羅緊那羅莫呼洛伽等山林河海一切神仙并諸大國所有王眾中宮后妃淨信男女人天大眾悉皆雲集

          (Kinh: Và các loài Kiện Thát Bà (Gandharva, Càn Thát Bà), A Tô La (A Tu La), Khẩn Na La (Kiṃnara), Mạc Hô Lạc Già (Mahoraga, Ma Hầu La Già) v.v… hết thảy thần tiên trong núi, rừng, sông, biển, và tất cả các vua trong các nước lớn, hậu phi trong nội cung, thanh tín nam nữ, đại chúng trời, người, thảy đều như mây nhóm đến).

 

          Tán rằng: Nêu chung các loại đại chúng khác.

 

          (Kinh) Hàm nguyện ủng hộ Vô Thượng Đại Thừa, độc, tụng, thọ tŕ, thư tả, lưu bố.

          ()咸願擁護無上大乘讀誦受持書寫流布

          (Kinh: Đều nguyện ủng hộ Vô Thượng Đại Thừa, đọc, tụng, thọ tŕ, biên chép, lưu truyền).

 

          Tán rằng: Tán thán phẩm đức gồm bốn điều: Một là nguyện ủng hộ, hai là tự tụng tŕ, ba là biên chép, bốn là truyền bá.

 

          (Kinh) Các ư bô thời, văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.

          ()各於晡時往詣佛所頂禮佛足右繞三匝退坐一面

          (Kinh: Đều vào lúc sáng sớm, đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).

 

          Tán rằng: Đến chỗ đức Phật.

 

          (Kinh) Như thị đẳng Thanh Văn, Bồ Tát, nhân thiên đại chúng, long thần bát bộ kư vân tập dĩ, các các chí tâm hiệp chưởng cung kính, chiêm ngưỡng tôn dung, mục vị tằng xả.

          ()如是等聲聞菩薩人天大眾龍神八部既雲集已各各至心合掌恭敬瞻仰尊容目未曾捨

          (Kinh: Các vị Thanh Văn, Bồ Tát, đại chúng trời người, tám bộ long thần như thế đă vân tập, ai nấy chí tâm chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn dung, mắt chưa từng ĺa).

 

          Tán rằng: Đây là phần tổng kết, gồm hai tiểu đoạn: Một là tiểu kết, hai là nêu quy cách cầu pháp. Cầu pháp chuyên ṛng, chân thành, nên “chí tâm”, ngầm biểu lộ bằng cách chắp tay. Kính trọng là Cung, cung sâu xa là Kính. Ngắm thân tướng trang nghiêm, mong thành Phật quả; v́ thế, “chiêm ngưỡng tôn dung”. Trọn chẳng nh́n ǵ khác, nên nói là “vị tằng xả” (chưa từng bỏ).

 

          (Kinh) Nguyện nhạo dục văn thù thắng diệu pháp.

          ()願樂欲聞殊勝妙法

          (Kinh: Nguyện ưa thích muốn nghe diệu pháp thù thắng).

 

          Tán rằng: Nói về cái nhân thành tựu. Do mọi người muốn nghe, đức Phật mới có thể nói.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Bạc Già Phạm ư nhật bô thời, tùng Định nhi khởi, quán sát đại chúng.

          ()爾時薄伽梵於日晡時從定而起觀察大眾

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Bạc Già Phạm vào lúc buổi chiều, từ Định xuất, quan sát đại chúng).

 

          Tán rằng: Phát Khởi Tự gồm hai phần: Đây là phần thứ nhất, tức Thời Thành Tựu, và thuyết pháp sở y oai nghi thành tựu (sự thành tựu nơi oai nghi thuyết pháp), tức là soi xét cơ nghi. Hoặc có thể nói là ư nghĩa oai nghi thuyết pháp thành tựu cũng được bao gồm trong ấy.

 

          (Kinh) Nhi thuyết tụng viết: - Kim Quang Minh diệu pháp, tối thắng chư kinh vương, thậm thâm nan đắc văn, chư Phật chi cảnh giới. Ngă đương vị đại chúng, tuyên thuyết như thị kinh”.

          ()說頌金光明妙法最勝諸經王甚深難得聞諸佛之境界我當為大眾說如是

          (Kinh: Bèn nói bài tụng rằng: “Diệu pháp Kim Quang Minh, tối thắng vua các kinh, rất sâu khó được nghe, là cảnh giới chư Phật, ta sẽ v́ đại chúng, tuyên nói kinh như thế”).

 

          Tán rằng: Đây là nói đến Thuyết Thành Tựu. Có hai mươi bốn bài kệ tụng, chia đại lược thành ba phần:

          - Một bài kệ rưỡi đầu tiên, nêu chung sự sâu mầu, hứa sẽ v́ đại chúng tuyên nói.

          - Hai mươi bài kệ rưỡi sau đó, riêng nêu những điều sẽ được nói, ca ngợi sự thù thắng, khiến [cho đại chúng nghe xong sẽ] tu tập.

          - Hai bài cuối cùng, tổng kết lợi ích thù thắng, tán thán, khuyên học.

          Ở đây, thuộc phần thứ nhất. “Tụng” () dịch theo lối cũ là Kệ, tiếng Phạn là Già Tha (Gāthā), bị [phiên âm] sai ngoa thành Kệ (). “Tụng” có nghĩa là ca ngợi sự tốt đẹp, chính là “phúng tụng” (諷誦) ở phương này (Trung Hoa). Cuối phần Trường Hàng trong đoạn trên đây bèn lập ra bài tụng.         

          Hỏi: Phúng Tụng và ng Tụng, hai thể loại tụng có ǵ khác biệt?

          Đáp: Tụng trong Ứng Tụng có nghĩa là “giáo”, c̣n Tụng trong Phúng Tụng là “ngôn”.

          Hỏi: V́ sao phúng tụng là Ngôn? Ứng Tụng là giáo?

          Đáp: Du Già Sư Địa Luận, quyển thứ tám mươi mốt viết: “Ứng Tụng nghĩa là sau phần Trường Hàng bèn tuyên nói Già Đà”. Có nghĩa là: Già Đà nhằm nói thẳng thừng các nghĩa (nhắc lại các nghĩa vừa được nói trong phần Trường Hàng). Đối với Phúng Tụng, luận ghi: “Chính là dùng câu để nói”[19]. Ư nói: “Dùng câu văn để diễn tả điều muốn nói”.

          Trong một bài tụng rưỡi ở đây, hai câu đầu nêu ra “năng thuyên giáo” (giáo pháp có thể diễn nói, tức kinh Kim Quang Minh), hai câu kế nêu ra “sở thuyên nghĩa” (nghĩa lư được diễn nói trong giáo pháp ấy). Hai câu cuối là [đức Phật] hứa khả sẽ nói. Do [kinh Kim Quang Minh] có thể diễn nói nhân sâu, quả mầu của Bồ Đề Niết Bàn, cho nên là tối thắng, là vua của các kinh. Trong phần nêu bày “sở thuyên” (điều được diễn nói bởi giáo pháp), theo như Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận đă nói: “Cầu pháp có bốn nhân duyên: Một là sắc, hai là phi sắc, ba là thần thông, bốn là chánh pháp. ‘Là sắc’ tức là do tướng hảo làm cái nhân. ‘Là phi sắc’ v́ diệt cái nhân gây ra bệnh phiền năo. ‘Là thần thông’ v́ là cái nhân của tự tại. ‘Là chánh pháp’ v́ là cái nhân vô tận”. Như Phạm Thiên Vương Vấn Kinh[20] có nói: “Bồ Tát cầu pháp cụ túc tứ tưởng: Nhất giả, như diệu bảo tưởng, nan đắc nghĩa cố. Nhị, như lương dược tưởng, trừ bệnh nghĩa cố. Tam, như tài vật tưởng, bất tán nghĩa cố. Tứ giả, như Niết Bàn tưởng, khổ diệt nghĩa cố” (Bồ Tát cầu pháp trọn đủ bốn thứ tưởng: Một là tưởng như của báu mầu nhiệm, do có ư nghĩa khó được. Hai là tưởng như thuốc tốt lành, v́ có nghĩa trừ bệnh. Ba là tưởng như tài vật, v́ có ư nghĩa chẳng tan tác. Bốn là tưởng như Niết Bàn, v́ có ư nghĩa diệt khổ). Do pháp là cái nhân của tướng hảo trang nghiêm. Do vậy, tưởng pháp như của báu mầu nhiệm. Do pháp là cái nhân để diệt bệnh phiền năo, cho nên như thuốc tốt lành. Do pháp là cái nhân của thần thông tự tại, cho nên tưởng pháp như tài vật. Do pháp là cái nhân vô tận của chánh pháp, cho nên tưởng như Niết Bàn. Nay kinh này rất sâu, khó được nghe, nêu ra ba cái nhân đầu tiên đều là “khó được nghe”. Nói “cảnh giới của chư Phật” là nêu ra cái nhân thứ tư, do Đại Niết Bàn th́ chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu cùng tận, là sở đắc của Phật, [cho nên nói] “là cảnh giới của chư Phật”. Những nhân quả xuất thế gian và thế gian được nêu ra trong phần sau đều là như thế, tức là nói chung kinh này.

 

          (Kinh) Tịnh tứ phương tứ Phật, oai thần cộng gia hộ, Đông phương A Súc Tôn, Nam phương Bảo Tướng Phật, Tây phương Vô Lượng Thọ, Bắc phương Thiên Cổ Âm.

          ()并四方四佛威神共加護東方阿閦尊南方寶相佛西方無量壽北方天鼓音

          (Kinh: Và bốn phương bốn Phật, oai thần cùng gia hộ, phương Đông A Súc Phật, phương Nam Bảo Tướng Phật, phương Tây Vô Lượng Thọ, phương Bắc Thiên Cổ Âm).

 

          Tán rằng: Hai mươi bài kệ rưỡi sau đó là nêu riêng từng điều. Trong đó, chia làm bốn đoạn:

          - [Một], ba bài kệ rưỡi đầu tiên, tương ứng với phẩm Thọ Mạng cho đến phẩm Măn Nguyện, tức là phần Chánh Tông của kinh, chính là pháp được nói trong kinh này, tức là hai nhân và hai quả.

          - Hai, từ câu “chúng sanh thân bất cụ” (thân chúng sanh chẳng toàn vẹn) trở đi gồm sáu bài tụng, nêu ra sự khuyên học trong phần Chánh Tông.

          - Ba, năm bài tụng từ câu “hộ thế tứ vương chúng” (bốn vị vua hộ thế) trở đi, nêu ra pháp được tu hành trong phần Lưu Thông từ phẩm Quán Sát cho đến phẩm Phó Chúc.

          - Bốn, sáu bài tụng từ “nhược hữu văn thị kinh” (nếu ai nghe kinh này) trở đi, nêu ra sự khuyên lơn thọ tŕ và đọc tụng trong các phẩm.

          Ba bài tụng rưỡi đầu tiên lại chia thành bảy phần:

          - Một, một bài tụng rưỡi đầu tiên nêu bày phẩm Thọ Lượng.

          - Hai, câu “ngă phục diễn diệu pháp” (ta lại diễn diệu pháp), nêu bày phẩm Tam Thân.

          - Ba, hai câu từ “cát tường sám trung thắng” (pháp thù thắng trong pháp sám hối cát tường), nêu ra phẩm Sám Hối.

          - Bốn, hai câu từ “tịnh trừ chư ác nghiệp” (trừ sạch các ác nghiệp), nêu ra phẩm Diệt Nghiệp Chướng.

          - Năm, câu “thường dữ vô thượng lạc” (thường ban vô lượng lạc), nêu ra phẩm Tịnh Địa, phẩm Liên Hoa Dụ Tán, và phẩm Kim Thắng Đà La Ni.

          - Sáu, câu “nhất thiết trí căn bản” (hết thảy trí căn bản) nêu bày phẩm Trùng Hiển Tánh Không.

          - Bảy, câu “chư công đức trang nghiêm” (các công đức trang nghiêm), nêu bày phẩm Y Không Măn Nguyện.

          Đoạn kinh văn ở đây thuộc về phần đầu. Đức Thích Ca và bốn vị Phật cùng nói kinh này, cho nên nói là “tịnh tứ phương tứ Phật” (và bốn vị Phật trong bốn phương). Nhân duyên của bốn vị Phật như quyển thứ bảy trong kinh Quán Phật Tam Muội Hải đă nói. Bốn vị Phật như A Súc Phật v.v… nói: “Ngă niệm tằng tích Không Vương Phật sở, xuất gia, học đạo. Thời tứ tỳ-kheo cộng vi đồng học. Phật Niết Bàn hậu, nhập tháp quán tượng, kiến mi gian tướng như Phật vô dị, nguyện trừ ngă tội, như đại sơn băng, ngũ thể đầu địa, sám hối chư tội. Y thử nhân duyên, hậu bát thập ức A-tăng-kỳ kiếp bất đọa ác đạo, thường kiến chư Phật, ư chư Phật sở, thọ tŕ thậm thâm Niệm Phật tam-muội. Đắc tam-muội dĩ, chư Phật hiện tiền, thọ ngă kư biệt: Đông phương hữu quốc danh Diệu Hỷ, bỉ Phật danh A Súc, tức đệ nhất tỳ-kheo thị. Nam phương hữu quốc danh Hoan Hỷ, Phật danh Bảo Tướng, tức đệ nhị tỳ-kheo thị. Tây phương hữu quốc danh Cực Lạc, Phật danh Vô Lượng Thọ, tức đệ tam tỳ-kheo thị. Bắc phương hữu quốc, danh Liên Hoa Trang Nghiêm, Phật danh Vi Diệu Âm, tức đệ tứ tỳ-kheo thị” (Ta nhớ xưa kia, từng ở chỗ Không Vương Phật xuất gia, học đạo. Khi đó, bốn vị tỳ-kheo cùng làm đồng học. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, vào tháp quán tượng, thấy tướng [bạch hào] giữa hai mày [của tượng] giống hệt như Phật chẳng khác, nguyện trừ tội cho tôi. Như núi lớn sụp đổ, gieo năm vóc xuống đất, sám hối các tội. Nương vào nhân duyên ấy, tám mươi ức A-tăng-kỳ kiếp sau, chẳng đọa vào đường ác, thường thấy chư Phật, ở nơi chư Phật, thọ tŕ Niệm Phật tam-muội rất sâu. Đă đắc tam-muội, chư Phật hiện tiền thọ kư cho ta: Phương Đông có cơi nước tên là Diệu Hỷ, vị Phật nơi đó tên là A Súc, chính là vị tỳ-kheo thứ nhất. Phương Nam có cơi nước tên là Hoan Hỷ, Phật hiệu là Bảo Tướng, tức vị tỳ-kheo thứ hai. Phương Tây có cơi nước tên là Cực Lạc, Phật tên là Vô Lượng Thọ, tức vị tỳ-kheo thứ ba. Phương Bắc có cơi nước tên là Liên Hoa Trang Nghiêm, Phật tên là Vi Diệu Âm, tức là vị tỳ-kheo thứ tư).

          Hỏi: V́ sao bốn vị Phật cùng nói kinh này?

          Đáp: Nhằm chỉ rơ Tứ Đức và Thích Ca, tức là Phật quả có năm pháp, tức là Tứ Trí Chân Như nhiếp thủ Bồ Đề lẫn Niết Bàn đều trọn hết.

 

          (Kinh) Ngă phục diễn diệu pháp, cát tường sám trung thắng, năng diệt nhất thiết tội, tịnh trừ chư ác nghiệp.

          ()我復演妙法吉祥懺中勝能滅一切罪淨除諸惡業

          (Kinh: Ta lại diễn diệu pháp, sám hối thắng cát tường, hay diệt hết thảy tội, trừ sạch các ác nghiệp).

 

          Tán rằng: [Đây là] các tiểu đoạn thứ hai, ba và bốn trong [ba bài tụng rưỡi đầu tiên]. “Phục diễn diệu pháp” (lại diễn nói diệu pháp): Nêu ra tam thân Vô Thượng Bồ Đề, cho nên nói là “diệu pháp”. “Cát tường sám trung thắng” (pháp thù thắng trong cách sám hối cát tường): Nương vào nguyện của ba thân [Vô Thượng Bồ Đề] để hành sám hối, sẽ là thù thắng sám hối. “Năng diệt nhất thiết tội” (có thể diệt hết thảy tội): [Pháp sám hối ấy] có thể chiết phục, trừ diệt [các tội lỗi nơi] ba nghiệp trong ba đời, khổ quả trong tam giới, và ba phiền năo. V́ thế, kinh văn trong phần sau nói: “Kim Quang Minh cổ xuất diệu thanh, biến chí tam thiên đại thiên giới, năng diệt tam đồ cực trọng tội, cập dĩ thiên nhân chư khổ ách” (Cái trống Kim Quang Minh vang ra âm thanh mầu nhiệm, thấu tới trọn khắp cơi tam thiên đại thiên, có thể diệt tội cực nặng trong tam đồ, và các khổ ách của trời, người). Nói “tịnh trừ chư ác nghiệp” (trừ sạch các ác nghiệp) chính là nhắc tới phẩm Diệt Nghiệp Chướng trong phần sau. Nghiệp và nghiệp nhân (cái nhân tạo ra nghiệp) đều gọi là ác nghiệp. V́ thế, luận Duy Thức nói: “Quyến thuộc của nghiệp cũng được gọi là nghiệp. Hoặc là nghiệp được phát khởi bởi cái nhân ác, cảm vời ác quả nghiệp, cũng gọi là ác nghiệp. Do v́ nó đáng ghét, tam giới đều là vậy. Hoặc chẳng có chủng tánh, chỉ trừ nghiệp của tam đồ, bát nạn”.

 

          (Kinh) Cập tiêu chúng khổ hoạn, thường dữ vô lượng lạc, Nhất Thiết Trí căn bản, chư công đức trang nghiêm.

          ()及消眾苦患常與無量樂一切智根本諸功德莊嚴

          (Kinh: Và tiêu các khổ hoạn, thường ban vô lượng vui. Căn bản Nhất Thiết Trí, các công đức trang nghiêm).

 

          Tán rằng: Câu đầu tiên nêu ra phẩm Diệt Nghiệp Chướng. Câu “chư ác nghiệp” trong đoạn trước là nhân, ở đây là cảm vời ác quả trong khắp tam giới. Nếu xét theo vô tánh, chỉ có chút phần của tam đồ, tám nạn, và tám nỗi khổ, chẳng ĺa sanh lăo tử và Ngũ Thịnh Uẩn Khổ (nỗi khổ v́ Ngũ Uẩn hừng hực). Câu thường dữ vô lượng lạc” (thường ban vô lượng vui) nhắc đến ba phẩm Tịnh Địa, Liên Hoa Tán, và Kim Thắng trong phần sau, do tu Lục Độ hạnh, đắc thập vương quả và địa vị Phật. Đối với kẻ vô tánh bèn ban cho niềm vui nhân thiên; đối với người hữu tánh, bèn ban cho địa vị Phật v.v… “Nhất Thiết Trí căn bản” là nói tới phẩm Trùng Hiển Không Tánh. Do lư Chân Như là tánh Chân Không, bèn gọi là Như Lai Tạng, là chỗ nương giữ của các công đức. Luận Bảo Tánh[21] giải thích “vô thỉ thời giới”, [giảng rằng] giới () là pháp nhân (法因, cái nhân của các pháp), tức là lấy Chân Như làm “pháp nhân”. Nhân được gọi là “bn”, cho nên là “trí bổn” (cội gốc của trí). Do dùng Nhất Thiết Trí để chứng Chân Như; cho nên nói thiên lệch là “Nhất Thiết Trí bổn” (cái gốc của Nhất Thiết Trí). Dựa vào Chân để hiểu rơ Tục, chứng Chân cũng là cái gốc của Nhất Thiết Trí. Dựa theo Chứng Trí để nói đại lược Chủng Trí, hoặc [có thể hiểu] Nhất Thiết Trí chẳng phải là [Nhất Thiết Trí] trong hai thứ trí (Đạo Chủng Trí và Nhất Thiết Trí), mà là nói chung hết thảy các trí, tức là Thập Trí, Tứ Trí v.v… th́ gọi là “nhất thiết trí” (hết thảy các trí), Như (Chân Như) đều là Bổn [của các trí ấy]. Do vậy nói “Nhất Thiết Trí căn bản” (căn bản của Nhất Thiết Trí). “Chư công đức trang nghiêm” (các công đức trang nghiêm) là nhắc tới phẩm Y Không Măn Nguyện. Do nương theo chân lư mà khởi tu, đă chứng cội đức, cho nên có thể viên măn hết thảy công đức trang nghiêm chân thật. Như kinh Bát Nhă nói “trang nghiêm thân, trang nghiêm cơi nước”, đều phải quán lư th́ mới được viên măn. Kinh này cũng thế!

 

          (Kinh) Chúng sanh thân bất cụ, thọ mạng tương tổn giảm, chư ác tướng hiện tiền, thiên thần giai xả ly.

          ()眾生身不具,壽命將損減,諸惡相現前,天神皆捨離。

          (Kinh: Chúng sanh thân chẳng vẹn, thọ mạng sắp tổn giảm, các tướng ác hiện tiền, thiên thần đều ĺa bỏ).

 

          Tán rằng: Kế đó, nêu ra phần Có Thể Khuyên Học trong phần Chánh Tông. Trong ấy, chia thành hai phần:

          1) Ba bài tụng rưỡi đầu tiên, nêu ra các khổ nạn khiến cho [người nghe] sanh tâm chán ĺa.

          2) Hai bài tụng rưỡi sau đó, nêu rơ kinh có thể trừ [các khổ nạn ấy], khiến cho [người nghe] vui thích tu học.

          Phần thứ nhất lại chia thành hai đoạn:

          - Hai bài tụng đầu nói về ác quả.

          - Bài tụng rưỡi sau đó nói về khổ nhân (cái nhân gây ra khổ).

          Phần thứ nhất lại chia thành hai:

          - Bài tụng thứ nhất nói về nỗi khổ trong thân.

          - Bài tụng thứ hai nói đến nỗi khổ do duyên bên ngoài.

          Đoạn kinh văn này chính là [nỗi khổ] nội thân: Thân chẳng toàn vẹn, các căn thiếu khuyết, tức là thuộc về Sanh Khổ hay Bệnh Khổ. “Thọ mạng sắp diệt” là nghiệp tận, duyên chấm dứt, hoặc bị chết ngang xương, phải xả thọ, tức là Tử Khổ. “Chư ác tướng hiện” (các tướng ác hiện ra): Chim kêu trăm điều quái lạ, hoa trên đầu héo, Tứ Đại trái nghịch, sắc tướng suy biến, tức là nỗi khổ già bệnh, theo thứ tự sanh, lăo, bệnh, khổ. Thọ mạng chưa hết, do tu phước nghiệp, trăm thần nâng đỡ, hộ vệ. Khi các nghiệp tận, nếu hiện tiền chẳng thể tu điều thiện, thiện thần sẽ ĺa bỏ!

 

          (Kinh) Thân hữu hoài sân hận, quyến thuộc tất phân ly, bỉ thử cộng quai vi, trân tài giai tán thất.

          ()親友懷瞋恨眷屬悉分離彼此共乖違珍財皆散失

          (Kinh: Thân hữu ôm sân hận, quyến thuộc đều chia ĺa, đôi bên cùng chống trái, của báu đều thất lạc).

 

          Tán rằng: Nỗi khổ thuộc ngoại duyên. Thân hữu ôm ḷng sân hận, tức là Oán Tăng Hội Khổ. Quyến thuộc đều chia ĺa là Ái Biệt Ly Khổ. Hai câu từ “bỉ thử cộng quai vi” (đôi bên cùng chống đối lẫn nhau) là Cầu Bất Đắc Khổ.

 

          (Kinh) Ác tinh vi biến quái, hoặc bị tà cổ xâm, nhược phục đa ưu sầu, chúng khổ chi sở bách.

          ()惡星為變怪或被邪蠱侵若復多憂愁眾苦之所逼

          (Kinh: Sao ác biến lạ lùng, hoặc bị tà cổ[22] hại, hoặc lắm nỗi ưu sầu, các nỗi khổ bức bách).

 

          Tán rằng: Nói về các nhân gây khổ. Nửa đầu nói về cái nhân gây khổ ở bên ngoài; nửa sau nói về cái nhân gây khổ bên trong.

 

          (Kinh) Thụy miên kiến ác mộng, nhân thử sanh phiền năo.

          ()睡眠見惡夢因此生煩惱

          (Kinh: Ngủ nghê thấy ác mộng, do vậy sanh phiền năo).

 

          Tán rằng: Cái nhân gây ra nỗi khổ bên trong.

 

          (Kinh) Thị nhân đương tháo dục, ưng trước tiễn khiết y, ư thử diệu kinh vương, thậm thâm Phật sở tán, chuyên chú tâm vô loạn, độc, tụng, thính, thọ tŕ.

          ()是人當澡浴應著鮮潔衣於此妙經王甚深佛所讚專注心無亂讀誦聽受持

          (Kinh: Người ấy nên tắm gội, nên mặc áo tinh sạch. Đối diệu kinh vương này, được Phật khen rất sâu, chuyên chú, tâm chẳng loạn, đọc, tụng, nghe, thọ tŕ).

 

          Tán rằng: Tiếp đó, nói sức của kinh có thể trừ khử [các chướng duyên], khiến [cho người nghe] vui thích tu học. Phần này gồm ba đoạn:

          - Nửa đầu nói về nghi thức tu hành.

          - Hàng kế tiếp nói đến cách tu hành chánh yếu.

          - Hàng cuối nói về công lực của kinh.

          Trong phần tu hành chánh yếu, hai câu đầu nói về pháp để học. Hai câu sau nói thẳng vào cách tu hành. Đối với chuyện đọc, tụng, hoặc nghe và thọ tŕ, đều cần phải chuyên chú, tâm chẳng tán loạn, tức đọc, tụng v.v… sanh ra Văn Huệ, thọ tŕ sanh ra Tư Huệ, dẫn đến Tư Huệ hiển lộ. Hoặc là do tâm chuyên chú, chẳng loạn, mà sanh ra Tư Huệ, những điều khác là Văn Huệ và Tu Huệ. Tam Huệ trọn đủ! Lại nữa, tắm gội, mặc áo sạch là Giới Học, chuyên chú là Định Học, đọc, tụng v.v… là Huệ Học, khiến cho [người nghe] nương theo kinh này để tu Tam Học.

 

          (Kinh) Do thử kinh oai lực, năng ly chư tai hoạnh, cập dư chúng khổ nạn, vô bất giai trừ diệt.

          ()由此經威力能離諸災橫及餘眾苦難無不皆除滅

          (Kinh: Do oai lực kinh này, hay ĺa các tai ương, và các thứ khổ nạn, không ǵ chẳng trừ diệt).

 

          Tán rằng: Tổng kết sức công đức.

 

          (Kinh) Hộ thế tứ vương chúng, cập đại thần quyến thuộc, vô lượng chư Dược Xoa, nhất tâm giai ủng vệ.

          ()護世四王眾及大臣眷屬無量諸藥叉一心皆擁衛

          (Kinh: Hộ thế tứ vương chúng, và đại thần quyến thuộc, vô lượng các Dược Xoa, đều nhất tâm ủng hộ).

 

          Tán rằng: Kế đó, nói đến phần Lưu Thông, gồm năm bài kệ nêu ra sự tu hành chánh yếu. Đoạn này nói đến phẩm Quán Sát Nhân Thiên, phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc, phẩm Vô Nhiễm Trước, và phẩm Như Ư.

 

          (Kinh) Đại Biện Tài thiên nữ, Ni Liên Hà thủy thần, Ha Lợi Để mẫu thần, Kiên Lao địa thần chúng.

          ()大辯財天女尼連河水神訶利底母神堅牢地神眾

          (Kinh: Thiên nữ Đại Biện Tài, thủy thần sông Ni Liên[23], và thần Quỷ Tử Mẫu, cùng địa thần Kiên Lao).

 

          Tán rằng: Bài tụng này nhắc đến phẩm Đại Biện Tài Thiên Nữ, phẩm Cát Tường Thiên Nữ, phẩm Tăng Trưởng Tài Vật, và phẩm Kiên Lao Địa Thần. Ha Lợi Để (Hārītī, Quỷ Tử Mẫu) được phương này dịch là Thanh Sắc, tức là La Xoa (La Sát) quỷ mẫu, có năm trăm đứa con, cực lực ủng hộ Tam Bảo và trẻ nhỏ dù trai hay gái.

 

          (Kinh) Phạm vương, Đế Thích chủ, long vương, Khẩn Na La, cập Kim Xí Điểu vương, A Tô La, thiên chúng, như thị thiên thần đẳng, tịnh tương kỳ quyến thuộc, giai lai hộ thị nhân, trú dạ thường bất ly.

          ()梵王帝釋主龍王緊那羅及金翅鳥王阿穌羅天眾如是天神等并將其眷屬皆來護是人晝夜常不離

          (Kinh: Phạm vương, Đế Thích chủ. Long vương, Khẩn Na La, và vua chim cánh vàng, A Tô La, các trời, các thiên thần như thế, cũng dẫn theo quyến thuộc, đều hộ tŕ người ấy, đêm ngày thường chẳng rời).

 

          Tán rằng: Nhắc tới phẩm Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa Đại Tướng, phẩm Vương Pháp Chánh Luận, phẩm Thiện Sanh Vương, và phẩm Chư Thiên Dược Xoa Thủ Hộ. Lại giải rằng: Chánh liễu tri được nhắc tới trong phần nói về Ha Lợi Để Mẫu Thần. C̣n Vương Pháp Chánh Luận và phẩm Thiện Sanh Vương đều được nêu ra trong bài tụng “ngă đương thuyết thị kinh” (ta sẽ nói kinh này). Do cùng được đức Phật nói, cho nên nêu chung một chỗ.

 

          (Kinh) Ngă đương thuyết thị kinh, thậm thâm Phật hành xứ, chư Phật bí mật giáo, thiên vạn kiếp nan phùng.

          ()我當說是甚深佛行處諸佛祕密教千萬劫難逢

     (Kinh: Ta sẽ nói kinh này, Phật hành xứ rất sâu, bí mật giáo chư Phật, ngàn vạn kiếp khó gặp).

 

          Tán rằng: Nêu ra [các phẩm] từ phẩm Thọ Kư trở đi. “Thậm thâm Phật hành xứ” (hành xứ rất sâu của Phật) là nói đến phẩm Thọ Kư, phẩm Liệu Bệnh, phẩm Trưởng Giả Tử Lưu Thủy, và phẩm Xả Thân. Vô Thượng Bồ Đề th́ chỉ ḿnh Phật có thể hiểu rơ, được gọi là hành xứ của Phật. Các phẩm như Liệu Bệnh v.v… là nhân hạnh của Phật. Hai câu “chư Phật bí mật giáo…” nói đến các phẩm sau đó. [Giáo pháp được] chư Phật thủ hộ, phải là căn cơ Đại Thừa chín muồi th́ mới trao cho, nên gọi là Bí. Sâu xa, huyền diệu, khó hiểu là Mật. Do vậy, ngàn vạn kiếp khó được lắng nghe. V́ thế, nay được nghe đọc, bèn tán thán và phó chúc.

 

          (Kinh) Nhược hữu văn thị kinh, năng vị tha diễn thuyết, nhược tâm sanh tùy hỷ, hoặc thiết ư cúng dường.

          ()有聞是經能為他演若心生隨喜或設於供養

     (Kinh: Nếu ai nghe kinh này, v́ người khác diễn nói, nếu sanh ḷng tùy hỷ, hoặc sắp đặt cúng dường).

 

          Tán rằng: Sáu bài tụng kế tiếp thuộc về đoạn thứ tư, tức là thuộc về phần khuyên lơn, tán thán thọ tŕ và đọc tụng trong Lưu Thông Phần. Trong ấy, chia thành ba phần:

          - Bài tụng thứ nhất khuyên thọ tŕ, đọc tụng.

          - Ba bài tụng kế tiếp nêu ra lợi ích đạt được.

          - Hai bài tụng cuối cùng dạy bảo khuôn phép để nương theo.

          Đoạn này chính là phần thứ nhất. Luận Biện Trung Biên có phần trùng tụng về mười pháp hạnh [như sau]: “Tức là cúng dường, biên chép, bố thí cho người khác, nghe, mở ra xem đọc, thọ tŕ, khai diễn, phúng tụng và Tư, Tu”, có ư nói: Một là cúng dường, hai là biên chép, ba là bố thí cho người khác, bốn là lắng nghe, năm là xem đọc, sáu là thọ tŕ, bảy là khai diễn (giảng giải), tám là phúng tụng, chín là tư duy, mười là tu tập. Tám món đầu thuộc về Văn Huệ, tư duy là Tư Huệ, tu tập là Tu Huệ. Ở đây, nghe kinh này chính là “lắng nghe”, diễn nói chính là “khai diễn”, cúng dường chính là sơ hạnh. Nêu đại lược ba hạnh, tức lắng nghe và cúng dường thuộc về tự lợi, c̣n diễn nói là lợi tha. V́ thế, chỉ nêu ra ba loại, nhưng thật ra trọn đủ mười loại. “Tùy hỷ” là đối với mười pháp hạnh, mỗi hạnh đều có bốn loại: Một là tự thực hiện mười pháp hạnh, hai là dạy bảo người khác, ba là vui mừng và an ủi, bốn là tùy hỷ. Nêu ra những điều dễ thực hiện ḥng liên tưởng các điều khác.

 

          (Kinh) Như thị chư nhân đẳng, đương ư vô lượng kiếp, thường vị chư thiên nhân, long thần sở cung kính.

          ()如是諸人等當於無量劫常為諸天人龍神所恭敬

          (Kinh: Những người như thế đó, sẽ trong vô lượng kiếp, thường được các trời, người, rồng, thần đều cung kính).

 

          Tán rằng: Phần thứ hai, nói về chuyện đạt được lợi ích, có ba ư. Ư đầu tiên là được bảo vệ, hộ tŕ. Đoạn này thuộc ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Thử phước tụ vô lượng, số quá ư hằng sa, độc tụng thị kinh giả, đương hoạch tư công đức.

          ()此福聚無量數過於恒沙讀誦是經者當獲斯功德

          (Kinh: Khối phước ấy vô lượng, số hơn cát sông Hằng. Người đọc tụng kinh này, sẽ đạt công đức ấy).

 

          Tán rằng: Ư thứ hai [trong phần nói đến chuyện đạt được lợi ích] chính là thành tựu cái nhân thù thắng.

 

          (Kinh) Diệc vị thập phương tôn, thâm hạnh chư Bồ Tát, ủng hộ tŕ kinh giả, linh ly chư khổ nạn.

          ()亦為十方尊深行諸菩薩擁護持經者令離諸苦難

          (Kinh: Cũng được các Bồ Tát, hạnh sâu đáng tôn quư, ở trong khắp mười phương, ủng hộ người tŕ kinh, khiến ĺa các khổ nạn).

 

          Tán rằng: [Lợi ích] thứ ba là chư thánh thủ hộ.

 

          (Kinh) Cúng dường thị kinh giả, như tiền tháo dục thân, ẩm thực, cập hương hoa, hằng khởi từ bi ư. Nhược dục thính thị kinh, linh tâm tịnh, vô cấu, thường sanh hoan hỷ niệm, năng trưởng chư công đức.

          ()供養是經者如前澡浴身飲食及香華恒起慈悲意若欲聽是經令心淨無垢常生歡喜念能長諸功德

          (Kinh: Để cúng dường kinh này, như trước thân tắm gội, thức ăn và hương hoa, luôn dấy niệm từ bi. Nếu muốn nghe kinh này, khiến tâm tịnh, vô cấu, thường sanh ư hoan hỷ, tăng trưởng các công đức).

 

          Tán rằng: Dạy phép tắc tŕ kinh, chia thành hai phần: Bài tụng đầu là lợi tha, bài tụng sau là tự lợi.

 

          (Kinh) Nhược dĩ tôn trọng tâm, thính văn thị kinh giả, nhược sanh ư nhân thú, viễn ly chư khổ nạn. Bỉ nhân thiện căn thục, chư Phật chi sở tán, phương đắc văn thị kinh, cập dĩ sám hối pháp.

          ()若以尊重心聽聞是經者若生於人趣遠離諸苦難彼人善根熟諸佛之所讚方得聞是經及以懺悔法

          (Kinh: Nếu dùng tâm tôn trọng, lắng nghe bộ kinh này, hoặc sanh trong loài người, xa ĺa các khổ nạn. Người thiện căn chín muồi, được chư Phật khen ngợi, mới được nghe kinh này, cùng với pháp sám hối).

 

          Tán rằng: Tổng kết lời khuyên, có hai phần:

          - Bài tụng thứ nhất là tổng kết lời khuyên về cái quả thù thắng.

          - Bài tụng sau kết lại lời khuyên về cái nhân thù thắng.

          Phần đắc quả lại có hai ư:

          - Một, sanh trong loài người, đạt được cái quả hữu lậu, xa ĺa các khổ nạn.

          - Hai, không chỉ ĺa nạn, mà c̣n đạt được cái quả Niết Bàn.

          Chắc là vừa mới khởi đầu, chỉ nêu ra tông chỉ, chưa nói đến cái quả sâu, chỉ nói được xa ĺa tám nạn trong nhân loại. Nếu nói tới cái quả thù thắng, sợ rằng kẻ sơ cơ chưa thể tin tưởng.

 

5.2. Phẩm thứ hai: Thọ Lượng (Như Lai Thọ Lượng phẩm đệ nhị,

如來壽量品第二)

 

          Đối với phẩm Như Lai Thọ Lượng, đại lược dùng ba môn để phân biệt:

          - Một, do ư nghĩa nào mà có [phẩm này và các phẩm sau đó].

          - Hai, giải thích tên gọi [của phẩm này].

          - Ba, giải đáp các lời vấn nạn.

 

5.2.1. Do ư nghĩa nào mà có phẩm này?

 

          Nói đến chuyện “do ư nghĩa nào mà có phẩm này”, đại lược có năm ư:

          - Một, khiến cho [người nghe] sanh chánh giải.

          - Hai, khiến cho họ đắc Bồ Đề,

          - Ba, khiến cho họ đắc Niết Bàn.

          - Bốn, khiến cho họ khởi diệu hạnh.

          - Năm, v́ sự cơ cảm.

 

5.2.1.1. Khiến cho [người nghe] sanh chánh giải

         

          Nói đến chuyện “sanh chánh giải” (sanh khởi sự hiểu biết chân chánh) th́ từ phẩm này trở đi cho đến phẩm Y Không Măn Nguyện bao gồm chín phẩm, nêu ra phần Chánh Tông của kinh này. Hai phẩm đầu tiên nói về cái quả, năm phẩm kế tiếp nói về cái hạnh, hai phẩm cuối nói về cảnh.

          Lại giải rằng: Hai phẩm đầu nói về cái quả tổng và biệt, khiến cho [thính chúng] sanh tâm ưa thích. Kế đó, phẩm Mộng Kiến Sám Hối trở đi nhằm khiến cho họ tu hành. Căn bản tu hành chẳng vượt ngoài đoạn ác, tu thiện. Hai phẩm Sám Hối và Diệt Chướng chính là đoạn ác, các phẩm sau đó là tu thiện. Trong sự tu thiện, thoạt đầu là tịnh tu các địa vị. Kế đó, phẩm Liên Hoa Dụ Tán nhằm trừ nghi, nêu ra cái nhân. Phẩm Kim Thắng Đà La Ni nhằm khiến cho hành nhân được thấy chư Phật, khiến cho hạnh bất thoái. Phẩm Trùng Hiển Tánh Không nhằm khiến cho hạnh khế hợp lẽ Chân. Phẩm Y Không Măn Nguyện là chứng lư, hạnh viên (chứng nhập lư, viên măn hạnh). Phẩm này (Như Lai Thọ Lượng) chính là nói chung về Bồ Đề và Niết Bàn, cũng như nói riêng về Niết Bàn. Nếu đại chúng chẳng được nghe Như Lai nói về Bồ Đề và Niết Bàn, sẽ không thể hiểu chánh đáng. Đă chẳng có chánh kiến, sao có thể cầu tu tập quả Bồ Đề Niết Bàn vô thượng thù thắng? V́ vậy, trước hết nêu ra cái quả để họ sanh giải ngộ. Do đó, kinh văn trong phần sau có nói: “Vị dục lợi ích thử chư dị sanh, cập chúng ngoại đạo như đẳng loại, linh sanh chánh giải” (V́ muốn lợi ích các loài dị sanh ấy và các loại ngoại đạo như thế,a khiến cho họ sanh sự hiểu biết chân chánh).

 

5.2.1.2. Khiến cho họ đắc Bồ Đề

 

          Chư Phật xuất thế vốn muốn cho chúng sanh đạt được cái quả Bồ Đề. Để đạt được cái quả chẳng hư dối, ắt phải nhờ vào hạnh nhân. Nhân phải nhờ vào cảnh để sanh th́ hạnh mới được thành lập. Nếu trước hết chẳng nêu rơ cái quả ấy, sẽ chẳng thể khiến cho họ sanh khởi ḷng yêu thích. Cái tâm yêu thích đă sanh, sẽ nguyện tu hành. Đă khiến cho họ tu hành th́ kế đó nói về cảnh. Phần trước đă trần thuật nguyên do mà có [các phẩm kinh này], đại chúng ai nấy khát ngưỡng muốn nghe kinh, đức Thế Tôn bèn lập tức v́ họ nêu bày tông chỉ; trước hết Ngài nói về thọ lượng của Như Lai, v́ muốn cho người nghe sẽ chứng đắc Bồ Đề. Do vậy, kinh văn trong phần sau nói: “V́ muốn lợi ích các loài dị sanh ấy và các ngoại đạo như thế, khiến cho họ sanh chánh giải, nhanh chóng thành tựu Vô Thượng Bồ Đề”. Do vậy, sau phẩm Tự, bèn có phẩm này sanh khởi!

 

5.2.1.3. V́ đắc Niết Bàn

 

          Kinh văn trong phần sau nói: “Nhiên bỉ Như Lai dục linh chúng sanh kiến Niết Bàn dĩ, sanh nan tao tưởng” (nhưng đức Như Lai muốn khiến cho chúng sanh đă thấy Niết Bàn rồi sẽ sanh ư tưởng khó gặp gỡ). Nhiếp Đại Thừa Luận lại nói: “V́ kẻ thấy Như Lai thường trụ, sẽ chẳng ưa thích Niết Bàn, đức Phật bèn thị hiện nhập Niết Bàn, khiến cho họ ưa thích Viên Tịch”. V́ thế, sau phẩm Tự bèn nói phẩm Như Lai Thọ Lượng.

 

5.2.1.4. Khiến cho dấy khởi diệu hạnh

 

          Kinh văn trong phần sau nói: “Ư Phật Thế Tôn sở thuyết kinh giáo, tốc đương thọ tŕ, độc tụng thông lợi, vị nhân giải thuyết, bất sanh báng hủy” (đối với kinh giáo do Phật Thế Tôn đă nói, hăy mau thọ tŕ, đọc tụng thông suốt, v́ người khác giải nói, chẳng sanh hủy báng). Do vậy, Như Lai thị hiện tuổi thọ ngắn ngủi để [chúng sanh] khởi hạnh, cho nên có phẩm này sanh khởi.

 

5.2.1.5. V́ cơ cảm

 

          Ba vạn hai ngàn vị thiên tử nghe nói thọ lượng đều phát Bồ Đề tâm. V́ cơ cảm đáng nên nghe, hễ nghe liền được lợi ích. Những điều lợi ích khác cứ chuẩn theo đó mà biết.

 

5.2.2. Giải thích danh xưng [của phẩm này]

 

          Ba thân của chư Phật đều gọi là Như Lai. Thọ chính là mạng, Lượng là hạn lượng, hoặc nói là “lượng độ”, tức là suy lường, đánh giá đối với ngằn hạn tuổi thọ của Phật, th́ [hạn lượng do sự suy lường] đó [được gọi] là thọ lượng của Như Lai, hoặc tính toán tuổi thọ của Như Lai. [Các cách hiểu Thọ Lượng như thế] đều là giải thích theo lối Y Chủ[24], tức là pháp tánh tùy duyên nhưng ngưng lặng (bất động), thuận theo nguyện duyên mà tiếp nối, ứng theo căn cơ của chúng sanh chẳng đoạn. Thọ đức khó suy lường, tức là nương theo pháp tánh để duy tŕ tướng công đức, nhưng quyết định trong lặng (tức là tuy khởi tác dụng tùy duyên, nhưng bất biến). Đó chính là mạng căn của Pháp Thân, như Phật và cơi nước, tánh và tướng có khác biệt, ở đây cũng như thế!

          Hoặc là tướng công đức tự tĩnh lặng, có thể duy tŕ tự thể th́ gọi là Thọ Lượng. Nương theo Kính Trí Chủng (chủng tử của Đại Viên Kính Trí), do sức của đại nguyện chủng (chủng tử của đại nguyện), khiến cho bốn trí phẩm[25] quyết định tiếp nối cùng tận chúng sanh giới. Đó là tuổi thọ của Báo Thân. Do sức của chủng tử đại bi, thuận theo cái duyên cơ cảm của chúng sanh, hiện ra thân Sắc Uẩn có hạn lượng quyết định, đó là thọ mạng của hai thân Tha Thọ Dụng và Biến Hóa. Do cái Thể là giả lập, cho nên Tư (tư duy) cũng thuộc vào Nguyện, chẳng mâu thuẫn với thuyết “do nghiệp dẫn khởi [mà có thọ mạng]” trong Duy Thức.

 

5.2.3. Giải thích vấn nạn

         

          * Hỏi: Phật có ba thân, nay nói về thọ mạng của thân nào?

          Đáp: Nói cả ba thân! V́ thế, ngài Kiều Trần Như lănh ngộ, thấu hiểu “Pháp Thân tánh thường trụ, tu hành chẳng sai biệt, Thể chư Phật đều đồng, pháp nói ra cũng thế”; đó là Pháp Thân. Chư Phật chẳng tạo tác, cũng lại vốn là vô sanh, giải rằng: “Các thứ đều không có người tạo tác, chẳng phải do nghiệp phiền năo tạo tác. Cũng lại vốn là vô sanh, do chẳng sanh phiền năo”. Trong Bát Nhă Luận, ngài Thế Thân giải thích Thọ Lạc Báo Phật (Tự Thọ Dụng Báo Thân) như sau: “Do xa ĺa các lậu và pháp hữu vi”. “Xa ĺa các lậu” chính là “vốn vô sanh” ở đây, “và pháp hữu vi” chính là không có tác giả (không có người tạo tác) ở đây. Hoặc có thể hiểu là chẳng có nghiệp hữu lậu tạo tác, chẳng sanh phiền năo. [Bát Nhă Luận] lại nói: “Cái Thể kim cang của chư Phật quyền biến hóa hiện nơi Hóa Thân”, tức là [luận về cái Thể của] Hóa Thân. V́ thế, [thọ lượng nói ở đây] chung cho cả ba loại Phật (Pháp Thân, Báo Thân, và Hóa Thân).

          * Hỏi: Hành pháp ứng hóa do hai cái nhân cảm vời, thấy như vậy đáng sanh nghi! Tự tánh chẳng phải do cái nhân sanh ra, Tự Thọ Dụng Thân chẳng phải là thấy các cảnh khác, chẳng nghi điều ấy, cần ǵ mà phải nói đến Thọ?[26]

          Đáp: Tuy tự tánh chẳng phải sanh bởi nhân, nhưng do nhân mà chứng. Tự Thọ Dụng Thân tuy chẳng do kẻ khác thấy mà nói [Báo Thân] thành hai thân (Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng), nhưng v́ muốn cho chúng sanh ưa thích mong cầu, ngài Diệu Tràng giả hóa hiện sanh khởi tâm nghi để đức Phật thừa cơ nói trọn đủ cả ba loại thọ.

          * Hỏi: V́ sao Phật Thích Ca thị hiện ngự trong cơi này chẳng tự nói thọ lượng, lại để cho người khác nói?

          Đáp: Do chúng sanh đáng nên nghe, do phô rơ Tứ Đức, do trừ nghi thù thắng. Nếu chỉ do Ngài tự nói, họ sẽ chẳng [sanh khởi tín tâm] quyết định!

          * Hỏi: Bốn vị Phật nói thọ lượng, ngài Diệu Tràng sanh tín giải, sao lại phiền Phật Thích Ca nói cặn kẽ lần nữa?

          Đáp: Diệu quả Vô Thượng Bồ Đề Niết Bàn nếu chẳng nói đủ cả ba lượt, kẻ khác sẽ chẳng thể hiểu. V́ thế, bốn vị Phật nói ra trước tiên, Phật Thích Ca nhắc lại, ngài Kiều Trần Như lại thưa hỏi ngài Hỷ Kiến (Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử) để càng nêu rơ hơn. Bốn vị Phật hiển thị Tứ Đức, ba lượt nói chính v́ Tam Thân. Do có nhiều cái nhân như vậy, chẳng thể chỉ nói một lượt!

          * Hỏi: Xét theo kinh văn để suy nghiệm nghĩa lư th́ [đức Phật] chỉ nói về Bồ Đề, nay v́ sao cũng luận định rằng [đức Phật] cũng nói đến Viên Tịch (Niết Bàn)?

          Đáp: Xét theo kinh văn trong phẩm này! Trong phần sau, do nghe nói thọ lượng mà đại chúng trong pháp hội thuở ấy đạt được lợi ích. Ngài Diệu Tràng lại đích thân đối trước đức Phật và bốn vị Như Lai cùng hai vị đại sĩ (Kiều Trần Như và Hỷ Kiến), các thiên tử, nghe nói thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Như Lai xong, lại từ chỗ ngồi đứng lên, bạch rằng: “Thế Tôn! Nhược thật như thị bất Bát Niết Bàn, vô xá-lợi giả, vân hà kinh trung thuyết hữu Niết Bàn cập Phật xá-lợi?” (Bạch Thế Tôn! Nếu thật sự chẳng nhập Niết Bàn như thế, chẳng có xá-lợi, v́ sao trong kinh nói có Niết Bàn và xá-lợi của Phật?”) Đấy chính là đại chúng khi ấy đạt được lợi ích, [kinh văn] lại c̣n nói là “thuyết dĩ” (đă nói xong), tức là nói rơ họ đối trước đức Phật nghe nói thọ mạng xong, nay lại thưa hỏi về Niết Bàn. Đức Phật lại đáp rằng: “Như thị ưng tri kỳ hữu thập pháp, năng giải Như Lai Ứng, Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu cánh Đại Bát Niết Bàn” (Hăy nên biết có mười pháp như thế để có thể hiểu lư thú chân thật của đấng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác nói có Đại Bát Niết Bàn rốt ráo).

          Lại xét theo phần kinh văn giải thích phẩm Thọ Lượng trong bộ Pháp Hoa Kinh Luận của ngài Thiên Thân th́: Trước hết nói thọ lượng để nêu rơ Bồ Đề vô thượng, [tiếp đó] nói thí dụ vị thầy thuốc để sánh ví Niết Bàn vô thượng. Nay trong kinh này, thoạt đầu nói tuổi thọ lâu dài để nói về Bồ Đề; sau đó nói thí dụ cha mẹ nhiều tiền của v.v… để giảng giải Niết Bàn vậy!

          * Hỏi: Nếu là như vậy, cớ sao [hai kinh sử dụng] hai thí dụ khác nhau?

          Đáp: Kinh kia (kinh Pháp Hoa) xét theo phương diện trừ ác, cho nên dùng thí dụ y vương. Kinh này thí dụ về sanh thiện, nên dùng thí dụ cha mẹ. Hơn nữa, cha mẹ và y vương hai đằng tuy khác nhau, [nhưng đều là] chẳng diệt mà thị hiện [có diệt] để [chúng sanh] sanh ḷng ngưỡng mộ!

          * Hỏi: Bốn vị Phật Như Lai nói trong thất của ngài Diệu Tràng. Lúc bấy giờ, ngài Khánh Hỷ (A Nan) ở núi Thứu Phong, sao khi kết tập lại nói là “tôi nghe”?

          Đáp: Theo kinh văn trong phần sau, “Diệu Tràng Bồ Tát dữ vô lượng đại chúng nghệ Thứu Phong sơn, đảnh lễ Phật túc, dĩ như thượng sự cụ bạch Thế Tôn” (Diệu Tràng Bồ Tát cùng vô lượng đại chúng đến núi Thứu Phong, đảnh lễ dưới chân đức Phật, bạch Thế Tôn cặn kẽ chuyện trên đây). Do vậy, ngài A Nan được quyền nói là “như thị ngă văn”.

          * Hỏi: Trong kinh đă có Tổng và Biệt khác nhau, v́ sao Niết Bàn chẳng có phẩm loại khác biệt như ba thân?

          Đáp: Do kinh văn nói tỉnh lược, do sự tướng giống như nhau, nên nói gộp chung thành một phẩm.

 

5.2.4. Giải thích kinh văn

 

          Tán rằng: Xét theo phẩm này, kinh văn được chia thành hai phần.

          - Một, nêu chung Bồ Đề và Niết Bàn.

          - Hai, từ câu “nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát thân ư Phật tiền” (lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát đích thân đối trước Phật) trở đi, nói riêng về Niết Bàn.

 

5.2.4.1. Nêu chung Bồ Đề và Niết Bàn

 

          Phần thứ nhất lại gồm năm đoạn:

          - Một, Diệu Tràng Bồ Tát nghi đức Phật thọ mạng ngắn ngủi.

          - Hai, Phật ở phương khác nói thọ mạng vô cùng.

          - Ba, Phật Thích Ca tự trần thuật Ngài thường an trụ.

          - Bốn, Hỷ Kiến Lê Xa Tử nhắc lại ư [Như Lai] bất diệt.

          - Năm, đại chúng khi ấy lănh ngộ, thấu hiểu, đạt được lợi ích và tổng kết.

 

5.2.4.1.1. Diệu Tràng Bồ Tát nghi đức Phật thọ mạng ngắn ngủi

 

          Phần này lại gồm ba phần:

          - Một, nêu ra người suy nghĩ, thỉnh cầu.

          - Hai, cảnh bị nghi ngờ.

          - Ba, trần thuật cái nhân gây nên nghi ngờ

 

5.2.4.1.1.1. Nêu ra người suy nghĩ thỉnh cầu

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Vương Xá đại thành hữu nhất Bồ Tát Ma Ha Tát, danh viết Diệu Tràng.

          ()爾時王舍大城有一菩薩摩訶薩名曰妙幢

          (Kinh: Lúc bấy giờ, trong thành lớn Vương Xá, có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Diệu Tràng).

 

          Phần này lại có ba ư:

          - Một là nói về trụ xứ.

          - Hai là nêu tên.

          - Ba là tán thán đại lược phẩm đức.

          Đoạn này bao gồm ư thứ nhất và thứ hai. Trí thù thắng lỗi lạc, riêng vượt xa mọi loài, mượn thí dụ để đặt tên, nên gọi là Diệu Tràng. Cù Rô Chỉ Ra trong tiếng Phạn, được phương này dịch là Diệu. Kê Đầu (Ketu) dịch là Tràng. Sao chổi gọi là Tràng. Bản dịch cũ dịch [danh hiệu vị Bồ Tát này] là Tín Tướng. Chữ Tướng trong tiếng Phạn là Da Sắt Trí, nay đă nói là Cù Rô Chỉ Ra Kê Đầu, cho nên dịch là Diệu Tràng. Tánh của Tín là tịnh, có ư nghĩa tương tự với chữ Diệu. Tràng có nghĩa là “cao rạng”; do vậy, bị nói lầm thành Tướng.

 

          (Kinh) Dĩ ư quá khứ vô lượng câu-chi na-dữu-đa bách thiên Phật sở, thừa sự, cúng dường, thực chư thiện căn.

          ()已於過去無量俱胝那庾多百千佛所承事供養植諸善根

          (Kinh: Đă ở nơi vô lượng câu-chi na-dữu-đa (na-do-tha) trăm ngàn chư Phật trong quá khứ mà thừa sự, cúng dường, gieo các căn lành).

 

          Tán rằng: Tán thán phẩm đức. “Câu-chi” (koṭi): Theo Câu Xá Luận, mười ức là một câu-chi. Theo phẩm Tâm Vương Bồ Tát Vấn Tăng Kỳ trong kinh Hoa Nghiêm, một vạn vạn là một ức, ức ức là một Câu-lê. Câu-lê chính là câu-chi, hơi sai âm đôi chút. “Vô lượng” là tên một con số. Dùng con số Vô Lượng để đếm câu-chi na-dữu-đa. Nếu hiểu mười ngàn là một vạn, th́ “bách thiên” (trăm ngàn) là mười vạn. Tức là vô lượng lần câu-chi na-dữu-đa (na-do-tha, nayuta) mười vạn chư Phật. Luận Câu Xá coi mười vạn là một ức, Đại Trí Độ Luận coi một ngàn vạn là một ức, kinh Hoa Nghiêm coi một vạn vạn là một ức. Con số Ức này có ba loại là tiểu, trung, đại. Luận Câu Xá, Trí Độ Luận và kinh Hoa Nghiêm lần lượt nói theo các con số tiểu, trung, đại. Ở đây, không thể nói nhất quyết [Ức được tính theo cách nào]. “Thừa sự” tức là thân cận. “Cúng dường”: Tu mười loại cúng dường. “Thiện căn” tức là phước và trí. “Thực” () có nghĩa là “gieo trồng”.

 

5.2.4.1.1.2. Cảnh bị nghi ngờ

 

          (Kinh) Thị thời, Diệu Tràng Bồ Tát độc ư tĩnh xứ, tác thị tư duy: “Dĩ hà nhân duyên, Thích Ca Mâu Ni Như Lai thọ mạng đoản xúc, duy bát thập niên?”

          ()是時妙幢菩薩獨於靜處作是思惟以何因緣釋迦牟尼如來壽命短促唯八十年

          (Kinh: Khi đó, Diệu Tràng Bồ Tát ở một ḿnh nơi yên vắng, nghĩ như thế này: “Do nhân duyên ǵ mà Thích Ca Mâu Ni Như Lai thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm?”)

 

          Tán rằng: Đây là cảnh bị nghi ngờ.

 

5.2.4.1.1.3. Trần thuật cái nhân gây nên nghi ngờ

 

          (Kinh) Phục tác thị niệm: “Như Phật sở thuyết, hữu nhị nhân duyên đắc thọ mạng trường”.

          ()復作是念如佛所有二因緣得壽命長

          (Kinh: Lại nghĩ như thế này: “Như đức Phật đă nói, có hai nhân duyên để đạt được thọ mạng dài”).

 

          Tán rằng: Trần thuật cái nhân gây nên nỗi nghi, có ba ư:

          - Một, nhắc lại cái nhân gây nên nỗi nghi.

          - Hai, giả lập sự gạn hỏi, giải thích.

          - Ba, kết lại ư nghi ngờ trước đó.

          Đoạn này chính là ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Vân hà vi nhị? Nhất giả, bất hại sanh mạng; nhị giả, thí tha ẩm thực.

          ()云何為二一者不害生命二者施他飲食

          (Kinh: Những ǵ là hai? Một là chẳng hại sanh mạng, hai là thí thức ăn cho người khác).

         

          Tán rằng: [Đây chính là phần] giả lập sự gạn hỏi để giải thích.

 

          (Kinh) Nhiên Thích Ca Mâu Ni Như Lai tằng ư vô lượng bách thiên vạn ức vô số đại kiếp, bất hại sanh mạng, hành Thập Thiện Đạo, thường dĩ ẩm thực huệ thí nhất thiết cơ ngạ chúng sanh, năi chí kỷ thân huyết, nhục, cốt, tủy diệc tŕ thí dữ, linh đắc bảo măn, huống dư ẩm thực!

          ()然釋迦牟尼如來曾於無量百千萬億無數大劫不害生命行十善道常以飲食惠施一切饑餓眾生乃至己身血肉骨髓亦持施與令得飽滿況餘飲食

          (Kinh: Nhưng Thích Ca Mâu Ni Như Lai từng trong vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số đại kiếp, chẳng hại sanh mạng, hành Thập Thiện Đạo, thường dùng thức ăn để bố thí rộng răi cho hết thảy chúng sanh đói khát, thậm chí máu, thịt, xương, tủy của chính ḿnh cũng đem bố thí, khiến cho họ được no đủ, huống hồ các thức ăn khác).


          Tán rằng: Đây là kết lại ư nghi trước đó. Theo kinh văn của kinh
này và quyển ba của kinh Niết Bàn, vạn hạnh đều là nhân duyên để trường thọ và đạt được ba thân; nhưng chỉ nêu ra thí thức ănchẳng sát sanh, v́ điều này áp dụng chung cho nhân duyên thọ mạng của hữu t́nh. V́ thế, riêng nêu ra để hỏi, v́ sợ chúng sanh thấy Phật thọ tám mươi tuổi, sẽ nghi “chẳng sát sanh” và “bố thí thức ăn” chẳng cảm vời trường thọ. Do muốn dựa vào cái thân để tăng trưởng đạo, ḥng tiếp độ chúng sanh, cho nên nghi vậy!

 

5.2.4.1.2. Các đức Phật ở phương khác nói thọ mạng

 

          (Kinh) Thời bỉ Bồ Tát ư Thế Tôn sở tác thị niệm thời.

          ()時彼菩薩於世尊所作是念時

          (Kinh: Khi đó, lúc vị Bồ Tát ấy đối với đức Thế Tôn nghĩ như thế).

 

          Tán rằng: Đây là phần thứ hai, tức phần “các đức Phật ở phương khác nói thọ mạng vô cùng”, gồm có sáu ư:

          - Một, chư Phật ở phương khác hiện thân.

          - Hai, ngài Diệu Tràng hoan hỷ thưa hỏi.

          - Ba, các đức Phật ấy giải đáp.

          - Bốn, ngài Diệu Tràng lại thưa hỏi.

          - Năm, các đức Phật lại v́ Bồ Tát trần thuật.

          - Sáu, [chư Phật] nói xong chẳng hiện nữa.

 

5.2.4.1.2.1. Chư Phật từ phương khác hiện thân

 

          Kinh văn chia làm tám đoạn:

          - Một, đúng thời tiết liền hiện ra.

          - Hai, [chỗ của Diệu Tràng Bồ Tát] biến thành cuộc đất thanh tịnh.

          - Ba, ṭa báu trang nghiêm.

          - Bốn, Phật thân giáng hiện.

          - Năm, phóng quang chiếu cảnh.

          - Sáu, quang minh hiện điềm tốt lành.

          - Bảy, quang minh lợi lạc quần sanh.

          - Tám, nêu đại lược và tổng kết.

          Ở đây chính là đoạn thứ nhất. Do Phật thuyết pháp không ngăn ngại, cho nên ứng với lúc Bồ Tát suy niệm bèn hiện ra.

 

          (Kinh) Dĩ Phật oai lực, kỳ thất hốt nhiên quảng bác, nghiêm tịnh. Đế thanh lưu ly, chủng chủng chúng bảo tạp thái, gián sức như Phật Tịnh Độ, hữu diệu hương khí, quá chư thiên hương phân phức sung măn.

          ()以佛威力其室忽然廣博嚴淨帝青瑠璃種種眾寶雜彩閒飾如佛淨土有妙香氣過諸天香芬馥充滿

          (Kinh: Do oai lực của Phật, cái thất ấy bỗng rộng răi, trang nghiêm, thanh tịnh. Đế thanh lưu ly, các thứ chất báu nhiều màu xen kẽ tô điểm như Tịnh Độ của Phật, có mùi thơm mầu nhiệm hơn hẳn hương trời ngào ngạt trọn khắp).

 

          Tán rằng: Biến thành cơi đất thanh tịnh, gồm bốn ư:

          - Một, nêu ra người có thể biến hiện.

          - Hai, nêu ra hạn lượng của cuộc đất được biến hiện.

          - Ba, tướng trạng của cuộc đất được biến hiện.

          - Bốn, hương xông ngát.

          Hỏi: Những điều ấy do vị Phật nào biến ra?

          Đáp: Một cách giải thích là do Phật Thích Ca biến ra. Như trong kinh Pháp Hoa, khi các hóa Phật sắp nhóm họp, Phật Thích Ca liền biến hiện [cơi Sa Bà thành cơi nước nghiêm tịnh]. Một cách hiểu khác là [các tướng trang nghiêm ở đây] do bốn vị Phật biến hiện, cũng giống như khi ngài Diệu Âm sắp tới cơi này, đă hiện trước các hoa ṭa v.v… Cách hiểu thứ hai là đúng, v́ lẽ nào vậy? Chuyện phóng quang, hiện điềm lành khiến cho chúng sanh yêu thích trong phần sau đều do bốn đức Như Lai [biến hiện]. V́ thế biết Tịnh Độ cũng do bốn vị Phật biến ra. Nói “đế thanh lưu ly” chính là chất báu lưu ly màu xanh của trời Đế Thích, thù thắng nhất trong các chất báu, cho nên riêng nêu ra. Hữu lậu t́nh kiến hạn cuộc, c̣n vô lậu th́ tâm thông suốt, cho nên “quảng bác nghiêm tịnh” (rộng răi, trang nghiêm, thanh tịnh). Do Vô Phân Biệt Trí, cho nên có đế thanh. Tuy là nhà của ngài Diệu Tràng mà thanh tịnh như cơi Phật, trọn đủ ngũ phần hương, lời văn dễ hiểu!

 

          (Kinh) Ư kỳ tứ diện, các hữu thượng diệu sư tử chi ṭa, tứ bảo sở thành, dĩ thiên bảo y nhi phu kỳ thượng. Phục ư thử ṭa, hữu diệu liên hoa, chủng chủng trân bảo dĩ vi nghiêm sức, lượng đẳng Như Lai, tự nhiên hiển hiện.

          ()於其四面各有上妙師子之座四寶所成以天寶衣而敷其上復於此座有妙蓮華種種珍寶以為嚴飾量等如來自然顯現

          (Kinh: Nơi bốn phía đều có ṭa sư tử thượng diệu, do bốn thứ báu hợp thành, dùng y báu cơi trời phủ lên trên. Trên ṭa ấy lại có hoa sen mầu nhiệm, các thứ trân bảo dùng để trang hoàng, lượng bằng Như Lai, tự nhiên hiển hiện).

 

          Tán rằng: Đoạn thứ ba là biến ra ṭa báu, gồm bốn ư:

          - Một là thể chất của ṭa. Có bốn ṭa nhằm biểu thị các loài thuộc tứ sanh (noăn, thai, thấp, hóa) đều được thành Phật. V́ thế, dùng bốn báu hợp thành, như chỗ ở của sư tử chúa. Nói “tứ bảo” th́ một là vàng, hai là bạc, ba là phệ-lưu-ly (Vaidūrya)[27], bốn là pha-chi-ca (Sphaṭika)[28], biểu thị Tứ Vô Úy.

          - Hai, “dĩ thiên bảo y” (dùng y báu cơi trời) v.v… nói về sự trải phủ, sắp đặt, biểu thị tịnh mạng.

          - Ba, “phục ư thử ṭa…” (lại trên ṭa ấy…), [nêu ra] ba thứ trang nghiêm, biểu thị xuất sanh tử, đạt được Thất Giác Hoa. Dùng trân bảo để trang hoàng, cũng chính là dùng Thất Thánh Tài để trang nghiêm.

          - Bốn, ṭa lượng (kích thước của ṭa): Ṭa báu tương xứng với thân, cho nên [kinh chép là] “lượng đẳng Như Lai” (lượng bằng với Như Lai).

          Chẳng do sức của ngài Diệu Tràng, nên nói là “tự nhiên hiển hiện”.

 

          (Kinh) Ư liên hoa thượng, hữu tứ Như Lai, Đông phương Bất Động, Nam phương Bảo Tướng, Tây Vô Lượng Thọ, Bắc Thiên Cổ Âm. Thị tứ Như Lai, các ư kỳ ṭa, gia phu nhi tọa.

          ()於蓮華上有四如來東方不動南方寶相西無量壽北天鼓音是四如來各於其座加趺而坐

          (Kinh: Trên hoa sen, có bốn đức Như Lai, phương Đông là Bất Động, phương Nam là Bảo Tướng, phương Tây là Vô Lượng Thọ, phương Bắc là Thiên Cổ Âm. Bốn đức Như Lai ấy, mỗi vị đều ngồi xếp bằng trên các ṭa ấy).

 

          Tán rằng: Bốn đức Như Lai giáng hiện ngồi trên hoa, ví như Pháp Thân. Bốn vị Phật biểu thị Tứ Đức.

          V́ sao mỗi phương trong bốn phương đều hiện một vị Phật để biểu thị Tứ Đức?

          Đáp: Như trong kinh có nói, bốn phương ví như sanh, trụ, dị, diệt. Đó là tướng hữu vi. Tứ Đức lật ngược nó, chẳng có sanh, trụ, dị, diệt. V́ thế, Phật hiện trong bốn phương.

          Hỏi: Trong bốn oai nghi đều có thể thuyết pháp, v́ sao phải hiện tướng ngồi xếp bằng?

          Đáp: Thuận theo cơ nghi yêu thích [của chúng sanh] mà hiện. Theo quyển ba mươi của Du Già Sư Địa Luận, có nói năm nhân duyên:

          - Một, do thân được thâu liễm, sẽ nhanh chóng phát sanh sự khinh an.

          - Hai, do ngồi yên sẽ có thể duy tŕ lâu dài.

          - Ba, do ngồi yên là pháp bất cộng.

          - Bốn, do ngồi yên lặng như thế, h́nh tướng đoan nghiêm.

          - Năm, do ngồi yên như thế được Phật và đệ tử cùng hứa khả.

          Theo Trí Độ Luận th́ là v́ hàng ma. Luận ấy chép: “Thấy h́nh vẽ [Phật, Bồ Tát] ngồi xếp bằng, ma vương tự kinh hăi, huống hồ người nhập đạo ngồi ngay ngắn, chẳng lay động ư?” Bát Nhă Luận của ngài Vô Trước viết: “Chỉ có ngồi yên tĩnh là có thể giác ngộ, nói các pháp, v́ đó là thuận theo tướng ngồi trong oai nghi trụ trong Định, v́ biểu thị có thể giác các pháp. Để có thể nói các pháp th́ phải do đắc Định, đắc Định là do ngồi”.

 

          (Kinh) Phóng đại quang minh, châu biến chiếu diệu Vương Xá đại thành, cập thử tam thiên đại thiên thế giới, năi chí thập phương Hằng hà sa đẳng chư Phật quốc độ.

          ()放大光明周遍照曜王舍大城及此三千大千世界乃至十方恒河沙等諸佛國土

          (Kinh: Phóng quang minh lớn, chiếu sáng ngời trọn khắp thành lớn Vương Xá và tam thiên đại thiên thế giới này, cho đến các quốc độ của chư Phật nhiều như cát sông Hằng trong mười phương).

 

          Tán rằng: Đây là điều thứ năm, “phóng quang chiếu cảnh”. Theo Già Da Sơn Đảnh Kinh Luận, phóng quang có bảy nghĩa: Một, khiến sanh tịnh tín, biết là bậc thù thắng. Hai, phá tối tăm, dẹp tan ngu si… Nói chi tiết th́ như trong Pháp Hoa Kinh Sớ đă thuật. Quang minh có ba phần: Một là Vương Xá, hai là đại thiên thế giới, ba là mười phương. Do muốn hiển thị tam thân, cho nên hiện ra ba thứ v.v… Lại c̣n nói thấy ba thân có trước, có sau. V́ thế, thoạt đầu là thấy Hóa Thân, kế đó thấy Ứng Thân, sau là thấy Pháp Thân. Nêu ra con số “Hằng hà sa” là có năm nghĩa cũng giống như Pháp Hoa Sớ đă nói: Số lượng cảnh trong một đại thiên thế giới không nhất định, xin hăy kiểm trong bộ Du Già Sao[29].

 

          (Kinh) Vũ chư thiên hoa, tấu chư thiên nhạc.

          ()雨諸天華奏諸天樂

          (Kinh: Mưa các hoa trời, tấu các nhạc trời).

 

          Tán rằng: Điều thứ sáu là “quang minh hiện tướng tốt lành”. “Mưa hoa” có năm ư nghĩa như Pháp Hoa Sớ [đă nói]. Tấu nhạc: Biểu thị được nghe pháp, càng thêm vui sướng.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, ư thử Thiệm Bộ Châu trung, cập tam thiên đại thiên thế giới sở hữu chúng sanh, dĩ Phật oai lực, thọ thắng diệu lạc, vô hữu phạp thiểu.

          ()爾時於此瞻部洲中及三千大千世界所有眾生以佛威力受勝妙樂無有乏少

          (Kinh: Lúc bấy giờ, tất cả chúng sanh trong Thiệm Bộ Châu này và tam thiên đại thiên thế giới, do oai lực của Phật, hưởng sự vui mầu nhiệm thù thắng, chẳng bị thiếu sót).

 

          Tán rằng: Điều thứ bảy là “quang minh lợi lạc quần sanh”, gồm hai điều: Một là được vui, hai là ĺa khổ. Đoạn này là điều thứ nhất.

          Hỏi: Quang minh chiếu sáng ngời cơi này, [chúng sanh] trong cơi này thấy quang minh đạt được lợi ích. [Thế nhưng] quang minh cũng chiếu thấu mười phương, cớ sao mười phương chẳng được lợi ích?

          Đáp: Xét ra, phải nên là đều đạt được lợi ích, chỉ là [kinh văn] lược đi chẳng bàn tới!

 

          (Kinh) Nhược thân bất cụ, giai mông cụ túc, manh giả năng thị, lung giả đắc văn, á giả năng ngôn, ngu giả đắc trí, nhược tâm loạn giả đắc bổn tâm, nhược vô y giả đắc y phục, bị ố tiện giả nhân sở kính, hữu cấu uế giả thân thanh khiết.

          ()若身不具皆蒙具足盲者能視聾者得聞瘂者能言愚者得智若心亂者得本心若無衣者得衣服被惡賤者人所敬有垢穢者身清潔

          (Kinh: Nếu thân chẳng toàn vẹn, sẽ đều được toàn vẹn, kẻ mù có thể thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ câm có thể nói, kẻ ngu trở thành trí. Nếu là kẻ loạn tâm, sẽ được khôi phục bổn tâm. Nếu là kẻ không có y phục, sẽ được y phục. Kẻ bị ghét bỏ, khinh thường, sẽ được người khác cung kính. Kẻ có cấu uế, thân sẽ được thanh khiết).

 

          Tán rằng: Đây là ĺa khổ. Tuy lúc ĺa khổ th́ chính là lúc trở thành được vui, nhưng vẫn nói đến chuyện ĺa khổ. Ở đây là ĺa chín nỗi khổ, kinh văn dễ hiểu. Theo Du Già Sư Địa Luận, oai lực vốn sẵn có của chư Phật có thể khiến cho hữu t́nh trông thấy [chư Phật] đều đạt được các lợi ích ấy. Nếu thân chẳng toàn vẹn, tức là thiếu tay chân, hoàng môn, nhị h́nh[30] v.v… Cái nhân của các quả báo ác ấy dễ biết; nhưng quyển tám của Trí Độ Luận đối với nghiệp báo sai biệt v.v… thảy đều nói cặn kẽ.

 

          (Kinh) Ư thử thế gian sở hữu lợi ích vị tằng hữu sự, tất giai hiển hiện.

          ()於此世間所有利益未曾有事悉皆顯現

          (Kinh: Tất cả chuyện lợi ích chưa từng có trong thế gian này thảy đều hiển hiện).

 

          Tán rằng: Tiểu kết đại lược.

 

5.2.4.1.2.2. Diệu Tràng hoan hỷ thưa hỏi

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát kiến tứ Như Lai, cập hy hữu sự, hoan hỷ, dũng dược, hiệp chưởng, nhất tâm chiêm ngưỡng chư Phật thù thắng chi tướng.

          ()爾時妙幢菩薩見四如來及希有事歡喜踊躍合掌一心瞻仰諸佛殊勝之相

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát thấy bốn đức Như Lai và chuyện hy hữu, bèn hoan hỷ, hớn hở, chắp tay nhất tâm chiêm ngưỡng tướng thù thắng của chư Phật).

 

          Tán rằng: Điều thứ hai là ngài Diệu Tràng hoan hỷ thưa hỏi. Trong phần này, có hai ư:

          - Một, trông thấy Phật, tâm t́nh vui sướng,

          - Hai, thỉnh cầu trừ nghi hoặc.

          Đoạn này thuộc về ư thứ nhất. [Chư Phật] thị hiện ngồi thanh tịnh trên hoa ṭa, phóng quang lợi ích chúng sanh, và các chuyện hy hữu. Quán tướng đại nhân của bốn đức Như Lai th́ gọi là [chiêm ngưỡng] “thù thắng tướng”.

 

          (Kinh) Diệc phục tư duy Thích Ca Mâu Ni Như Lai vô lượng công đức, duy ư thọ mạng, sanh nghi hoặc tâm: “Vân hà Như Lai công đức vô lượng, thọ mạng đoản xúc, duy bát thập niên?”

          ()亦復思惟釋迦牟尼如來無量功德唯於壽命生疑惑心云何如來功德無量壽命短促唯八十年

          (Kinh: Cũng lại tư duy vô lượng công đức của Thích Ca Mâu Ni Như Lai, chỉ có đối với thọ mạng bèn sanh tâm nghi hoặc: “Cớ sao Như Lai công đức vô lượng, thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có tám chục năm?”)

 

          Tán rằng: Cầu thỉnh trừ nghi hoặc, gồm hai ư:

          - Một là tâm nghi.

          - Hai là thốt lời cầu thỉnh.

          Đối với các thứ như tướng hảo v.v… [do Phật Thích Ca đều] giống như chư Phật, cho nên Bồ Tát chẳng sanh ḷng nghi, nhưng do thọ mạng của Ngài khác với các vị như Di Đà v.v… cho nên nói “duy ư thọ mạng sanh nghi” (chỉ sanh ḷng nghi đối với thọ mạng).

 

5.2.4.1.2.3. Các đức Phật ấy giải đáp

 

          (Kinh) Nhĩ thời, tứ Phật cáo Diệu Tràng Bồ Tát ngôn: - Thiện nam tử! Nhữ kim bất ưng tư thổn Như Lai thọ mạng trường đoản. Hà dĩ cố? Thiện nam tử! Ngă đẳng bất kiến chư thiên, thế gian Phạm, ma, sa-môn, Bà-la-môn đẳng, nhân cập phi nhân, hữu năng toán tri Phật chi thọ lượng, tri kỳ tề hạn!

          ()爾時四佛告妙幢菩薩言善男子汝今不應思忖如來壽命長短何以故善男子我等不見諸天世間梵魔沙門婆羅門等人及非人有能算知佛之壽量知其齊限

          (Kinh: Lúc bấy giờ, bốn đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát rằng: - Thiện nam tử! Nay ông chớ nên suy nghĩ thọ mạng của Như Lai là dài hay ngắn. V́ sao vậy? Chúng ta chẳng thấy có chư thiên, Phạm vương, ma, sa-môn, Bà-la-môn v.v… người và phi nhân trong thế gian có thể tính biết thọ lượng của Phật, biết được chừng hạn).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn thứ ba, “các vị Phật ấy giải đáp”, có ba phần:

          - Một, nêu đại lược [thọ mạng của Như Lai] khó thể suy nghĩ.

          - Hai, nhóm họp đại chúng để giải thích.

          - Ba, sau khi kết lại nhân quả, khuyên đừng sanh nghi, bèn nói ba bài tụng.

          Trong phần thứ nhất này, cũng có hai ư:

          - Một, những kẻ khác chẳng thể suy lường [thọ mạng của Phật].

          - Hai, chỉ Phật có thể biết [thọ mạng của chư Phật].

          Trong ư thứ nhất, lại có ba điều:

          - Một là [khuyên dạy hăy] dứt niềm nghi ngờ sai lầm.

          - Hai, kết lại.

          - Ba, giải thích.

 

          (Kinh) Duy trừ vô thượng Chánh Biến Tri giả.

          ()唯除無上正遍知者

          (Kinh: Chỉ trừ đấng Vô Thượng Chánh Biến Tri).

 

          Tán rằng: Chỉ đức Phật có thể biết.

 

          (Kinh) Thời tứ Như Lai dục thuyết Thích Ca Mâu Ni Phật sở hữu thọ lượng, dĩ Phật oai lực, Dục, Sắc Giới thiên, chư long, quỷ thần, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già, cập vô lượng bách thiên ức na-dữu-đa Bồ Tát Ma Ha Tát tất lai tập hội, nhập Diệu Tràng Bồ Tát tịnh diệu thất trung.

          ()時四如來欲說釋迦牟尼佛所有壽以佛威力欲色界天諸龍鬼神健闥婆阿蘇羅揭路茶緊那羅莫呼洛伽及無量百千億那庾多菩薩摩訶薩悉來集會入妙幢菩薩淨妙室中

          (Kinh: Khi đó, bốn đức Như Lai muốn nói tất cả thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Phật, do oai lực của Phật, chư thiên trong Dục Giới, Sắc Giới, các rồng, quỷ thần, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già, và vô lượng trăm ngàn ức na-dữu-đa (na-do-tha) Bồ Tát Ma Ha Tát thảy đều nhóm đến, vào trong cái thất thanh tịnh, nhiệm mầu của Diệu Tràng Bồ Tát).

 

          Tán rằng: Nhóm họp đại chúng để giải thích. Trước hết là nhóm họp đại chúng, sau đó là biện định. Ở đây là phần nhóm họp đại chúng. Tuy trong phần trước, [kinh văn] đă liệt kê đại chúng thuộc tám bộ, nhưng có người không đến. Nay do oai lực phóng quang gia hộ, triệu thỉnh của chư Phật, họ mới có thể nhóm đến.

          Hỏi: Trong các kinh khác, hễ [đức Phật] phóng quang, đại chúng trông thấy liền nhóm đến, v́ sao đại chúng ở đây chẳng đến?

          Đáp: Căn cơ chín muồi có trước hay sau. Tuy được quang minh chiếu đến, thoạt đầu [do căn cơ chưa chín muồi, cho nên] chẳng thể tới. Do Phật gia hộ th́ mới có thể đến, hoặc do oai lực của Phật dùng quang minh triệu thỉnh.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, tứ Phật ư đại chúng trung, dục hiển Thích Ca Mâu Ni Như Lai sở hữu thọ lượng, nhi thuyết tụng viết:

          ()爾時四佛於大眾中欲顯釋迦牟尼如來所有壽量說頌

          (Kinh: Lúc bấy giờ, bốn vị Phật ở trong đại chúng, muốn nêu rơ tất cả thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Như Lai, bèn nói kệ tụng rằng).

 

          Tán rằng: Lời giải thích gồm hai phần: Một, kết lại phần nhóm họp, hai là chư Phật giải thích. Đây là phần thứ nhất.

 

          (Kinh) Nhất thiết chư hải thủy, khả tri kỳ trích số, vô hữu năng sổ tri, Thích Ca chi thọ lượng. Tích chư Diệu Cao sơn, như giới khả tri số, vô hữu năng sổ tri, Thích Ca chi thọ lượng. Nhất thiết đại địa thổ, khả tri kỳ trần số, vô hữu năng toán tri, Thích Ca chi thọ lượng. Giả sử lượng hư không, khả đắc tận biên tế, vô hữu năng sổ tri, Thích Ca chi thọ lượng.

          ()一切諸海水可知其滴數無有能數知釋迦之壽量析諸妙高山如芥可知數無有能數知釋迦之壽量一切大地土可知其塵數無有能算知釋迦之壽量假使量虛空可得盡邊際無有能數知釋迦之壽量

          (Kinh: Nước hết thảy các biển, có thể biết số giọt, không ai đếm biết được, thọ lượng Phật Thích Ca. Phá các núi Diệu Cao, vụn như các hạt cải, có thể biết số lượng, không ai đếm biết được, thọ lượng Phật Thích Ca. Hết thảy đất đại địa, có thể biết số bụi, không ai tính biết nổi, thọ lượng Phật Thích Ca. Giả sử đo hư không, biết trọn hết ngằn mé, không ai đếm biết được, thọ lượng Phật Thích Ca).

 

          Tán rằng: [Đây là] phần [chư Phật] giải thích. Chia thành hai đoạn:

          - Một, bốn bài kệ đầu nói rơ [thọ lượng ấy] vượt ngoài thí dụ.

          - Hai, bài kệ thứ năm nói rơ [thọ lượng ấy ] vượt ngoài sự tính toán.

          Trong bốn bài tụng thuộc phần thí dụ, tương truyền có hai cách giải thích:

          - Một, bốn bài tụng ấy theo thứ tự hiển thị Tứ Đức “thường, lạc, ngă, tịnh”. Theo thứ tự, [bốn đức ấy] có thể trừ bốn thứ chướng là bất tín, chấp ngă, sợ khổ, xả tâm.

          - Cách giải thích khác là dựa theo bốn thân của Phật để hiển thị thọ lượng, [bốn thân] chính là Hóa Thân, ng Thân, vừa ng vừa Hóa, chẳng phải ng chẳng phải Hóa, theo thứ tự mà lập thí dụ. Hóa Thân mất nơi đây, hiện nơi kia, nên dùng nước để sánh ví. Hóa Thân nương vào ng Thân để hiện, như nước ra khỏi núi. V́ thế dùng núi làm thí dụ. Câu “cả hai” (tức vừa ng vừa Hóa) là Tự Thọ Dụng Thân như đất, nương vào hai thứ núi và nước. Câu thứ tư (chẳng phải ng, chẳng phải Hóa) nhằm sánh ví Pháp Thân do không có h́nh tướng.

 

          (Kinh) Nhược nhân trụ ức kiếp, tận lực thường toán số, diệc phục bất năng tri, Thế Tôn chi thọ lượng.

          ()若人住億劫盡力常算數亦復不能知世尊之壽量

          (Kinh: Như người trụ ức kiếp, tận lực thường tính đếm, cũng lại chẳng thể biết, thọ lượng của Thế Tôn).

 

          Tán rằng: Vượt khỏi sự tính toán.

 

          (Kinh) Bất hại chúng sanh mạng, cập thí ư ẩm thực, do tư nhị chủng nhân, đắc thọ mạng trường viễn. Thị cố Đại Giác tôn, thọ mạng nan tri số, như kiếp vô biên tế, thọ lượng diệc như thị.

          ()不害眾生命及施於飲食由斯二種因得壽命長遠是故大覺尊壽命難知數如劫無邊際壽量亦如是

          (Kinh: Chẳng hại mạng chúng sanh, và bố thí thức ăn, do hai thứ nhân ấy, được thọ mạng dài lâu. V́ thế, đấng Đại Giác, thọ mạng khó biết số, như kiếp không ngằn mé, thọ lượng cũng như thế).

         

          Tán rằng: Kết lại nhân quả, khuyên đừng sanh nghi. Hai bài tụng này nhằm kết lại ư nghĩa: Do hai cái nhân mà cảm cái quả trường thọ.

 

          (Kinh) Diệu Tràng nhữ đương tri, bất ưng khởi nghi hoặc, tối thắng thọ vô lượng, mạc năng tri số giả.

          ()妙幢汝當知不應起疑惑最勝壽無量莫能知數者

    (Kinh: Diệu Tràng! Ông nên biết, chớ nên dấy nghi hoặc, thọ vô lượng tối thắng, không ai biết nổi số).

         

          Tán rằng: Khuyên đừng sanh nghi.

 

5.2.4.1.2.4. Diệu Tràng lại thỉnh vấn

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát văn tứ Như Lai thuyết Thích Ca Mâu Ni Phật thọ lượng hạn, bạch ngôn: - Thế Tôn! Vân hà Như Lai thị hiện như thị đoản xúc thọ lượng?

          ()爾時妙幢菩薩聞四如來說釋迦牟尼佛壽量無限白言世尊云何如來示現如是短促壽量

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát nghe bốn đức Như Lai nói Thích Ca Mâu Ni Phật thọ lượng vô hạn, bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! V́ sao Như Lai thị hiện thọ lượng ngắn ngủi như thế?)

 

          Tán rằng: Đây là tiểu đoạn thứ tư, “Diệu Tràng lại thưa hỏi”: Phật thật sự thọ dài lâu, con đă hiểu đại lược. Do có nguyên do nào mà thị hiện ngắn ngủi như thế? Trên đây đă giải đáp [thọ mạng] dài lâu, nhưng chưa giải thích nguyên do rút ngắn tuổi thọ. V́ thế, nay con hỏi lại. Theo quyển tám mươi mốt luận Du Già Sư Địa đă nói: “Giải đáp nghi nan th́ dù là nghi nan của chính ḿnh hay người khác, đều nên giải trừ. Hăy nên biết nghi nan đại lược có năm tướng: Một là v́ để bất liễu nghĩa được hiển lộ liễu nghĩa, như nói đoạn văn này có ư nghĩa ǵ? Hai là do lời lẽ mâu thuẫn, [chẳng hạn như] nói ‘v́ sao trước kia nói khác?’ Ba là do đạo lư mâu thuẫn, như có ư nghĩa được hiển thị mâu thuẫn với bốn đạo lư. Bốn là do chẳng quyết định hiển thị, như nói v́ sao đối với một loại nghĩa lư lại hiển thị các thứ môn sai biệt khác nhau? Năm là do thoạt nh́n th́ thấy rốt ráo là phi lư, như nói ‘nội ngă có thể tánh ǵ, có sắc tướng ǵ mà nói là thường hằng’ v.v… Đối với năm sự vấn nạn ấy, phải nên theo thứ tự mà giải thích. Tức là đối với vấn nạn bất liễu nghĩa, bèn dùng phương tiện để hiển hiện liễu nghĩa. Đối với vấn nạn về ngôn từ mâu thuẫn, bèn hiển thị ư thú để tùy thuận dung hội. Đối với các vấn nạn về chẳng quyết định hiển thị, hoặc thoạt nh́n th́ thấy là rốt ráo phi lư, cũng nên như thế. Đối với vấn nạn về đạo lư mâu thuẫn, hoặc dùng hắc giáo để phán quyết. Hàm ư: Chẳng phải là liễu nghĩa, dựa theo Tiểu Thừa để nói, th́ gọi là ‘hắc giáo’. Hoặc nương theo đạo lư, hoặc v́ tăng thêm cái quả, hoặc v́ tăng thêm cái nhân, hàm ư: Hoặc là tùy thuận xoay chuyển, hoặc là dùng phương tiện nhằm đoạn ác, tu thiện. Tất cả nhân quả nói [theo phương diện sự tướng] th́ có mâu thuẫn, nhưng đối với lư th́ thật sự chẳng mâu thuẫn”.

          Tuy có năm loại vấn nạn, nhưng chuẩn theo cách giải thích luận Du Già Sư Địa th́ mỗi điều vấn nạn đều có năm ư:

          - Một, v́ chẳng hiểu.

          - Hai, v́ nghi hoặc.

          - Ba, v́ thí nghiệm.

          - Bốn, v́ hời hợt.

          - Năm, v́ lợi lạc.

          Nay trong năm loại vấn nạn, th́ [nghi nan của Diệu Tràng Bồ Tát] thuộc loại vấn nạn do ngôn từ mâu thuẫn: Phật Thích Ca nói [thọ mạng ngắn], bốn vị Phật nói [thọ mạng] dài. Do có sự mâu thuẫn ấy, cho nên Bồ Tát nêu lên chỗ nghi nan. Trong năm ư, [lời vấn nạn của Diệu Tràng Bồ Tát] là v́ lợi ích [quần sanh] mà thưa hỏi.

 

2.4.1.2.5. Các đức Phật ấy rộng trần thuật

 

          (Kinh) Thời, tứ Thế Tôn cáo Diệu Tràng Bồ Tát ngôn: - Thiện nam tử! Bỉ Thích Ca Mâu Ni Phật ư Ngũ Trược thế xuất hiện chi thời.

          ()時四世尊告妙幢菩薩言善男子彼釋迦牟尼佛於五濁世出現之時 

          (Kinh: Khi đó, bốn vị Thế Tôn bảo Diệu Tràng Bồ Tát rằng: - Thiện nam tử! Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện [trong cơi đời] nhằm lúc đời Ngũ Trược).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn thứ năm, “các đức Phật ấy rộng trần thuật”. Kinh văn được chia thành ba phần: Một là nêu ra, hai là giải thích, ba là tổng kết. Từ “thiện nam tử, thị chư Như Lai” (thiện nam tử, các đức Như Lai ấy) trở đi chính là phần thứ nhất, tức nêu ra [nguyên do v́ sao Phật Thích Ca thị hiện thọ mạng ngắn ngủi]. Trong ấy, lại có ba ư:

          - Một, nêu ra thời thế thị hiện đoản thọ.

          - Hai, nêu ra nguyên do thị hiện [thọ mạng] ngắn ngủi.

          - Ba, kết lại về chuyện nêu bày sự đoản thọ.

          Ở đây, nêu ra thời thế. Ư nghĩa của Ngũ Trược th́ như đă biện định trong Pháp Hoa Sớ. [Nêu ra thời tiết thị hiện thọ mạng ngắn ngủi, chính là nói đến Mạng Trược]. Đó cũng chính là nêu chung Ngũ Trược.

 

          (Kinh) Nhân thọ bách niên, bẩm tánh hạ liệt, thiện căn vi bạc, phục vô tín giải.

          ()人壽百年稟性下劣善根微薄復無信解

          (Kinh: Con người thọ trăm tuổi, bẩm tánh kém hèn, thiện căn ít mỏng, lại chẳng có tín giải).

 

          Tán rằng: Nêu bày nguyên do thị hiện rút ngắn [tuổi thọ]. Nguyên do có hai:

          - Một là v́ diệt ác, tức là xả sanh tử.

          - Hai là v́ sanh thiện, tức là khiến cho [chúng sanh] đắc Bồ Đề.

          Đoạn này là diệt ác, và cũng nhằm riêng giải thích Ngũ Trược. Trược có năm loại, ở đây nêu ra bốn món:

          - Một là Mạng Trược, tức là con người thọ trăm tuổi.

          - Hai là Hữu T́nh Trược (Chúng Sanh Trược). Trong Hữu T́nh Trược có ba thứ:

          - Một, sự ưa thích chẳng rộng lớn, tức là bẩm tánh hèn kém.

          - Hai, đời trước chẳng có phước huệ, tức là thiện căn mỏng ít.

          - Ba, nhiều nỗi ngu mê, tức là chẳng có tín giải.

 

          (Kinh) Thử chư chúng sanh đa hữu ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh, thọ giả, dưỡng dục tà kiến, ngă ngă sở kiến, đoạn thường kiến đẳng.

          ()此諸眾生多有我見人見眾生壽者養育邪見我我所見斷常見等

          (Kinh: Các chúng sanh ấy có nhiều ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh, thọ giả, dưỡng dục tà kiến, kiến chấp về ta và cái của ta, đoạn thường kiến v.v…)

 

          Tán rằng: Đây chính là Kiến Trược. Trong các kinh luận, ngă kiến được nói theo nhiều cách khác nhau, như trong sách Thành Duy Thức Nghĩa Đăng đă nói cặn kẽ. Nay dựa theo kinh văn để giải thích đại lược. Nói về ngă kiến th́ theo quyển tám mươi ba của luận Du Già Sư Địa, nói chung có tám loại, ở đây chỉ nêu ra năm thứ.

          1) Ngă kiến: Luận viết: “Nương vào ngũ thủ uẩn, ngă kiến và ngă sở kiến hiện tiền hiện hành”. Nay kinh văn ở đây nói riêng ngă kiến và ngă sở kiến, tức là sự sai khác giữa tổng và biệt. Luận Du Già xét theo tổng, c̣n kinh này bao gồm cả tổng lẫn biệt. Ngă kiến được nói ở đây tức là không có ngă và ngă sở (cái của ta).

          2) Nhân kiến tức là hữu t́nh kiến, tức là các hiền thánh như thật biết rơ chỉ có pháp này, chẳng c̣n pháp nào khác. Lại c̣n có sự yêu đắm.

          3) Chúng sanh kiến, tức là Sổ Thủ Thú Kiến (數取趣見), tức là nhiều lần chấp giữ [sự tái sanh trong] các đường, chẳng biết chán đủ.

          Ba món kiến chấp này được ngài La Thập dịch là “ngă, nhân, chúng sanh”.

          4) Thọ giả kiến, tức là Mạng được nói trong luận Du Già, nghĩa là thọ ḥa hợp mà sống c̣n th́ gọi là Mạng. Trong Bát Nhă Luận, Thiên Thân Bồ Tát nói: “Ngă, chúng sanh, mạng giả”. Giải rằng: Thấy Ngũ Uẩn sai biệt, mỗi Ấm đều là Ngă. Hư vọng chấp giữ như thế th́ gọi là Ngă Kiến. Điều này có nghĩa là: Coi chung Ngũ Uẩn sai biệt trong ba đời là Ngă Kiến, thân tướng liên tục chẳng dứt th́ gọi là Chúng Sanh. Đây chính là so đo Ngũ Uẩn từ tiền tế[31] đến nay liên tục chẳng dứt th́ gọi là Chúng Sanh. Mạng căn trong báo thân thuộc một đời tồn tại chẳng dứt th́ gọi là Mạng. Đây chính là chấp theo hiện tại đang có mạng sống vậy. Sau khi mạng căn đă đoạn, sẽ sanh trong sáu đường, gọi là “thọ giả”. Đây là thấy thọ mạng sẽ sanh khởi trong vị lai mà dấy lên [kiến chấp này]. Đó là xét theo sự sai khác riêng biệt của Ngũ Uẩn.

          “Dưỡng dục” tức là nuôi nấng trong hiện tại, có thể tạo ra Sĩ Phu Dụng[32]. Lại c̣n có thể tăng trưởng nghiệp hậu hữu (thân trong đời sau).

          5) “Tà kiến” chính là Tà Kiến trong năm thứ kiến chấp (Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, Tà Kiến). “Ngă ngă sở kiến” tức là nương theo Ngũ Uẩn mà dấy lên mười lăm loại kiến chấp.

          Đoạn thường kiến tức là Biên Kiến, Đoạn là nói tới bảy thứ đoạn diệt. Thường là nói tới bốn thứ Thường trọn khắp v.v… Lại c̣n nói Đẳng, tức là Đẳng Thủ Kiến[33], Hoặc Thủ Kiến, và Tùy Phiền Năo[34]. Lược đi chẳng nhắc tới Kiếp Trược, do ngoại cảnh chẳng phải là được hóa ra, bản thể của nó chẳng phải là ác[35], cho nên lược đi chẳng nêu ra.

 

          (Kinh) Vị dục lợi ích thử chư dị sanh, cập chư ngoại đạo như thị đẳng loại, linh sanh chánh giải, tốc đắc thành tựu Vô Thượng Bồ Đề.

          ()為欲利益此諸異生及諸外道如是等類令生正解速得成就無上菩提

          (Kinh: V́ muốn lợi ích các loài dị sanh và các loại ngoại đạo như thế, khiến cho họ sanh chánh giải, mau chóng được thành tựu Vô Thượng Bồ Đề).

 

          Tán rằng: V́ muốn khiến cho họ sanh thiện, đắc Bồ Đề. “Dị sanh, ngoại đạo” chính là loài người, [nói là “dị sanh” nhằm] phân biệt họ chẳng phải là các vị Bồ Tát đă nhập Địa (đă chứng từ Sơ Địa trở lên). Từ bậc Sơ Địa trở lên th́ đều đă thấy [thọ mạng của Như Lai] dài lâu, cho nên chẳng cần thị hiện diệt độ!

 

          (Kinh) Thị cố, Thích Ca Mâu Ni Như Lai thị hiện như thị đoản xúc thọ mạng.

          ()是故釋迦牟尼如來示現如是短促壽命

          (Kinh: V́ thế, Thích Ca Mâu Ni Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi như thế).

 

          Tán rằng: Kết lại phần nêu bày thọ mạng ngắn ngủi.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Nhiên bỉ Như Lai dục mạng chúng sanh kiến Niết Bàn dĩ, sanh nan tao tưởng, ưu khổ đẳng tưởng.

          ()善男子然彼如來欲命眾生見涅槃已生難遭想憂苦等想

          (Kinh: Thiện nam tử! Nhưng đức Như Lai ấy muốn khiến cho chúng sanh thấy [Phật đă nhập] Niết Bàn rồi, sẽ sanh ư tưởng khó gặp gỡ, ư tưởng ưu khổ v.v…)

 

          Tán rằng: Đây là tiểu đoạn thứ hai nhằm giải thích [do ư nghĩa nào mà đức Phật phải thị hiện thọ mạng ngắn ngủi]. Kinh văn lại chia thành ba phần:

          - Một là pháp thuyết.

          - Hai là nêu thí dụ và kết hợp đối ứng thí dụ với pháp.

          - Ba là tổng kết.

          Phần thứ nhất là pháp thuyết, lại chia thành năm ư:

          - Một là giải thích.

          - Hai là giả lập sự gạn hỏi.

          - Ba là giải đáp lời gạn hỏi.

          - Bốn là lại cật vấn.

          - Năm là giải thích lời vấn nạn.

          Trong phần giải thích, lại có ba ư:

          - Một, khiến cho [chúng sanh] khởi tâm mong mỏi, ngưỡng mộ đối với Phật.

          - Hai, khiến cho họ sanh ư tưởng tu tập đối với pháp.

          - Ba, là tùy thuận kết lại.

          Đoạn này chính là ư thứ nhất. Bởi lẽ, kinh Pháp Hoa dạy: “Nhược ngă cửu trụ, chúng sanh bất năng sanh nan tao tưởng, khởi khát ngưỡng tâm” (nếu ta trụ thế lâu dài, chúng sanh chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp gỡ, dấy tâm khát ngưỡng) v.v… có cùng ư nghĩa với đoạn kinh này. Nhưng đối với chuyện thị hiện nhập Niết Bàn, theo hội Tối Thắng Thiên Vương trong kinh Đại Bát Nhă th́ có một nguyên nhân: V́ các hữu t́nh thích nghe Viên Tịch, cho nên [đức Phật] hiện nhập Niết Bàn. Pháp Hoa Luận viết: “V́ đối trị, trừ khử kẻ chẳng có thiện căn tu tập Đại Thừa sanh ḷng tăng thượng mạn. V́ đối trị hạng người ấy mà nói thí dụ lương y để sánh ví chuyện Như Lai thị hiện bát Niết Bàn”. Vô Tánh Nhiếp Luận nói do có sáu nhân mà Hóa Thân của Như Lai rốt cuộc chẳng trụ thế, chi tiết th́ như trong luận ấy đă biện định. Theo như kinh Hoa Nghiêm dạy: “Cứu cánh Phật sự dĩ, hữu thập chủng nghĩa thị hiện Đại Niết Bàn: Nhất, minh nhất thiết hành tất vô thường cố. Nhị, minh nhất thiết hữu vi phi an ổn cố. Tam, minh Niết Bàn thú tối an ổn cố. Tứ, minh Niết Bàn viễn ly nhất thiết chư bố úy cố. Ngũ, dĩ chư nhân thiên nhạo trước sắc thân, minh sắc thân vô thường, thị ma diệt pháp, linh bỉ cầu tịnh Pháp Thân cố” (Đă thực hiện Phật sự rốt ráo xong, do có mười loại nghĩa mà thị hiện Đại Niết Bàn: Một, v́ chỉ rơ hết thảy các hành đều vô thường. Hai, v́ chỉ rơ hết thảy hữu vi chẳng phải là an ổn. Ba, v́ chỉ rơ đường Niết Bàn là an ổn nhất. Bốn, v́ chỉ rơ Niết Bàn xa ĺa hết thảy các sợ hăi. Năm, do các trời, người yêu chấp sắc thân, chỉ rơ sắc thân vô thường, là pháp ṃn diệt, khiến cho họ cầu Pháp Thân thanh tịnh). Các pháp này tương ứng với nghĩa thứ hai trong Nhiếp Luận. “Lục, minh vô thường lực cường bất khả chuyển cố. Thất, minh hữu vi pháp bất tự tại cố. Bát, minh tam giới pháp tất như hoại khí vô kiên lao cố. Cửu, minh bát Niết Bàn tối vi chân thật bất khả hoại cố. Thập, minh bát Niết Bàn viễn ly sanh tử, phi khởi diệt cố. Dĩ thử thập nghĩa, thị hiện Niết Bàn” (Sáu, v́ chỉ rơ sức vô thường mạnh mẽ chẳng thể chuyển. Bảy, v́ chỉ rơ pháp hữu vi chẳng tự tại. Tám, v́ chỉ rơ các pháp trong tam giới đều như dụng cụ hư nát, chẳng bền chắc. Chín, v́ chỉ rơ Bát Niết Bàn chân thật nhất, chẳng thể hoại. Mười, v́ chỉ rơ Bát Niết Bàn xa ĺa sanh tử, chẳng dấy lên hay diệt mất. Do mười nghĩa này mà thị hiện Niết Bàn).

          Nay đoạn kinh văn ở đây nói chung có sáu nghĩa:

          - Một, v́ khiến cho [chúng sanh] sanh chánh giải.

          - Hai, v́ [khiến cho họ] mau chóng được thành tựu Vô Thượng Bồ Đề.

          - Ba, v́ khiến cho [chúng sanh] thấy Phật diệt độ, sẽ sanh khởi ư tưởng khó gặp gỡ.

          - Bốn, khiến cho họ nhanh chóng tu hành theo lời Phật dạy. Tức là phần nêu ra [nguyên do Phật thị hiện nhập diệt] trong phần trước và phần giải thích có đủ cả bốn ư này, cũng là v́ khiến cho chúng sanh gieo các thiện căn, khởi sự tu tập, tín giải, đoạn trừ tà kiến.

          - Năm là v́ lưu lại xá-lợi từ xương nơi thân để chúng sanh cúng dường, ḥng đạt được phước, tức là như trong phần sau, ngài Kiều Trần Như thỉnh xá-lợi của Phật, và cho đến cuối kinh, đức Phật đáp lời ngài Diệu Tràng rằng: “Hoặc thời kiến hữu Bát Niết Bàn giả thị quyền phương tiện, cập lưu xá-lợi, linh chư hữu t́nh cung kính cúng dường. Nhược cúng dường giả, ư vị lai thế, viễn ly bát nạn, phùng sự chư Phật, ngộ thiện tri thức, bất thất thiện tâm, phước báo vô biên” (Hoặc có lúc hiện bát Niết Bàn làm phương tiện quyền biến và lưu lại xá-lợi, khiến cho các hữu t́nh cung kính cúng dường. Nếu cúng dường th́ trong đời vị lai, sẽ xa ĺa tám nạn, gặp gỡ phụng sự chư Phật và gặp thiện tri thức, chẳng mất tâm lành, phước báo vô biên).

          - Sáu, v́ khiến cho hữu t́nh được chứng Viên Tịch, tức là như phần cuối kinh có nói: “Tốc đương xuất ly, bất vị sanh tử chi sở triền phược” (Hăy mau chóng thoát ĺa, đừng bị sanh tử quấn trói). Đó là xét theo luận Nhiếp Đại Thừa, cũng v́ kẻ thường ưa vui, chẳng mong cầu Viên Tịch mà thị hiện Niết Bàn.

 

          (Kinh) Ư Phật Thế Tôn sở thuyết kinh giáo, tốc đương thọ tŕ, độc tụng thông lợi, vị nhân giải thuyết, bất sanh báng hủy.

          ()於佛世尊所說經速當受持讀誦通利為人解不生謗毀

          (Kinh: Đối với kinh giáo do Phật Thế Tôn đă nói, sẽ mau chóng thọ tŕ, đọc tụng thông suốt, v́ người khác giải nói, chẳng sanh hủy báng).

 

          Tán rằng: Đây là ư thứ hai, tức khiến cho [người nghe] đối với pháp sẽ dấy lên ư tưởng tu tập. Có mười pháp hạnh, ở đây nêu đại lược bốn pháp: Một là thọ tŕ, hai là xem đọc, ba là phúng tụng, bốn là giải nói. Ba món đầu là hạnh tự lợi, một món sau là hạnh lợi tha, ngầm nêu các hạnh c̣n lại. Trong mười pháp hạnh, mỗi pháp hạnh đều có bốn điều, tức là tự làm, [dạy người khác làm, thấy người khác làm bèn hoan hỷ] v.v… Nay nói chẳng hủy báng, tức là sanh tâm tùy hỷ. Đối với lời Phật dạy sanh tâm tùy hỷ, chỉ rơ: Đối với người thọ tŕ, cũng sanh ḷng tùy hỷ, chẳng hủy báng, lại c̣n nêu ra các hạnh dễ thực hiện.

 

          (Kinh) Thị cố, Như Lai hiện tư đoản thọ.

          ()是故如來現斯短壽

          (Kinh: V́ thế, Như Lai hiện tuổi thọ ngắn ngủi ấy).

         

          Tán rằng: Tổng kết.

 

          (Kinh) Hà dĩ cố?

          ()何以故

          (Kinh: V́ lẽ nào?)

 

          Tán rằng: Đây là giả lập sự gạn hỏi. V́ sao thấy Phật nhập Niết Bàn, [chúng sanh] sẽ sanh ư tưởng khó gặp gỡ, dấy lên các tâm như thọ tŕ pháp v.v…

 

          (Kinh) Bỉ chư chúng sanh nhược kiến Như Lai bất bát Niết Bàn, bất sanh cung kính, nan tao chi tưởng.

          ()彼諸眾生若見如來不般涅槃不生恭敬難遭之想

          (Kinh: Các chúng sanh ấy nếu thấy Như Lai chẳng bát Niết Bàn, sẽ chẳng sanh ư tưởng cung kính, khó gặp gỡ).

 

          Tán rằng: Đây là ư thứ ba, giải thích lời gạn hỏi; đó là v́ để sanh khởi ư tưởng khó gặp gỡ [cho chúng sanh].

 

          (Kinh) Như Lai sở thuyết thậm thâm kinh điển, diệc bất thọ tŕ, độc tụng thông lợi, vị nhân tuyên thuyết.

          ()如來所說甚深經亦不受持讀誦通利為人宣

          (Kinh: Đối với kinh điển rất sâu do Như Lai đă nói, họ cũng chẳng thọ tŕ, đọc tụng thông suốt, v́ người khác tuyên nói).

 

          Tán rằng: Đây là thông với chuyện khởi tâm tŕ pháp.

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà?

          ()所以者何

          (Kinh: V́ lẽ nào vậy?)

         

          Tán rằng: Ư thứ tư là lại cật vấn. Nếu thấy Như Lai chẳng Bát Niết Bàn, [chúng sanh] sẽ chẳng dấy lên ư nghĩ khó gặp gỡ và tŕ pháp. “Sở dĩ giả hà?” (v́ lẽ nào vậy) [là lời gạn hỏi] nhằm giải thích.

 

          (Kinh) Dĩ thường kiến Phật, bất tôn trọng cố.

          ()以常見佛不尊重故

          (Kinh: Do thường thấy Phật, sẽ chẳng tôn trọng).

 

          Tán rằng: Giải thích điều vấn nạn. Nếu thấy đức Phật diệt độ, sợ sẽ chẳng c̣n gặp gỡ nữa, liền sanh ư tưởng khó gặp gỡ. Đă thấy Ngài trụ thế lâu dài, bèn cho là Ngài thường hiện diện, chẳng sanh tâm tưởng là hy hữu khó gặp, muốn cúng dường. V́ thế, chẳng tôn trọng Phật. Đă chẳng tôn trọng th́ đối với pháp [do đức Phật] đă nói, cũng chẳng nghĩ là hiếm được nghe, cho nên chẳng tu hành.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Thí như hữu nhân kiến kỳ phụ mẫu đa hữu tài sản, trân bảo phong doanh, tiện ư tài vật, bất sanh hy hữu nan tao chi tưởng.

          ()善男子譬如有人見其父母多有財珍寶豐盈便於財物不生希有難遭之想

          (Kinh: Thiện nam tử! Ví như có người thấy cha mẹ ḿnh có nhiều tài sản, của báu tràn trề, liền chẳng sanh ư tưởng hiếm có, khó gặp đối với tài vật).

 

           Tán rằng: Đây là tiểu đoạn thứ hai [trong phần chư Phật giải thích cặn kẽ do ư nghĩa nào mà đức Phật phải thị hiện thọ mạng ngắn ngủi], tức là tiểu đoạn nêu thí dụkết hợp thí dụ với pháp. Trong phần này, có hai ư:

          - Một, thí dụ về chuyện Phật trụ thế lâu dài, chúng sanh sẽ không vui thích.

          - Hai, thí dụ về chuyện thấy Phật diệt độ, [chúng sanh] sẽ thọ tŕ, cung kính.

          Trong phần thứ nhất, lại có hai đoạn: Một là nêu thí dụ, hai là kết hợp thí dụ với pháp. Trong tiểu đoạn thứ nhất [nêu thí dụ], lại có ba phần: Một là nêu thí dụ, hai là gạn hỏi, ba là giải thích. “Hữu nhân” (Có người) chính là sánh ví dị sanh và ngoại đạo. “Cha mẹ” là sánh ví Phật, do có thể sanh trưởng thân phước trí. “Đa hữu tài sản” (Có nhiều tài sản) v.v… sánh ví Phật trụ thế lâu dài, pháp tài dư dật, cho nên [chúng sanh] chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp. Theo kinh văn th́ [chúng sanh] chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp đối với pháp, nhưng thật ra cũng liên quan đến Phật. V́ thế, trong phần kết hợp thí dụ với pháp dưới đây, bèn chú trọng kết hợp với Phật, trong phần giải thích th́ bao gồm cả hai (Phật và Pháp).

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà?

          ()所以者何

          (Kinh: V́ lẽ nào vậy?)

 

          Tán rằng: Gạn hỏi.

 

          (Kinh) Ư phụ tài vật, sanh thường tưởng cố.

          ()於父財物生常想故

          (Kinh: Do đối với tài vật của cha bèn tưởng là thường).

 

          Tán rằng: [Đây là] lời giải thích. Hăy nên nói là “đối với cha liền sanh ư tưởng là thường, đối với tài vật của cha bèn tưởng là thường”. Hợp cả hai nghĩa để giải thích. Hoặc có thể hiểu là do trong thí dụ trên đây, chỉ thí dụ “đối với tài vật, chẳng sanh ư tưởng khó gặp”, cho nên nay cũng chỉ gạn hỏi, giải thích về tài vật.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Bỉ chư chúng sanh diệc phục như thị. Nhược kiến Như Lai bất nhập Niết Bàn, bất sanh hy hữu, nan tao chi tưởng. Sở dĩ giả hà? Do thường kiến cố.

          ()善男子彼諸眾生亦復如是若見如來不入涅槃不生希有難遭之想所以者何由常見故

          (Kinh: Thiện nam tử! Các chúng sanh ấy cũng lại như vậy. Nếu thấy Như Lai chẳng nhập Niết Bàn, sẽ chẳng sanh ư tưởng hiếm có, khó gặp. V́ lẽ nào vậy? Do thường trông thấy).

 

          Tán rằng: Đây là kết hợp [thí dụ với pháp]. Kinh văn cũng gồm ba phần: Một là kết hợp [thí dụ với pháp], hai là gạn hỏi, cuối cùng là giải thích. Kinh văn chia thành ba phần riêng biệt.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Thí như hữu nhân, phụ mẫu bần cùng, tư tài phạp thiểu.

          ()善男子譬如有人父母貧窮資財乏少

     (Kinh: Thiện nam tử! Ví như có người, cha mẹ nghèo túng, của cải thiếu hụt).

 

          Tán rằng: Đây là sánh ví [chúng sanh] do thấy [đức Phật] nhập diệt, sẽ sanh tâm ái kính. Kinh văn gồm hai phần giống như phần trước. Kinh văn thuộc phần thí dụ gồm năm ư:

          - Một, thí dụ Phật thị hiện nhập diệt.

          - Hai, thí dụ Phật khó gặp gỡ.

          - Ba, thí dụ về yêu mến pháp, cầu học.

          - Bốn, gạn hỏi.

          - Năm, giải thích.

          Đoạn này thuộc về ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Nhiên bỉ bần nhân, hoặc nghệ vương gia, hoặc đại thần xá, kiến kỳ thương khố chủng chủng trân tài, tất giai doanh măn, sanh hy hữu tâm, nan tao chi tưởng.

          ()然彼貧人或詣王家或大臣舍見其倉庫種種珍財悉皆盈滿生希有心難遭之想

          (Kinh: Nhưng kẻ nghèo ấy, hoặc đến nhà của vua, hoặc nhà đại thần, trông thấy kho tàng của họ các thứ vật quư thảy đều dư dật, sanh tâm hy hữu, sanh ư tưởng khó gặp).

 

          Tán rằng: Không có sự cứu giúp, che chở ấy, cho nên yêu thích, mong cầu. Đây chính là thí dụ về chuyện tôn kính Phật khó gặp gỡ. Nói tới kẻ nghèo ấy, tức là sánh ví dị sanh ngoại đạo cái tâm hèn kém, thiện căn mỏng ít. “Hoặc nghệ vương gia” (hoặc đến nhà của vua) sánh ví sự giác ngộ, mới đối với đức Thế Tôn nẩy sanh ư tưởng khó gặp gỡ, v́ thế [sánh ví Phật] như quốc vương. Hoặc là đại thần, tức là [sánh ví] bậc đại Bồ Tát. Thọ mạng cũng dài, v́ chúng sanh mà thị hiện ngắn ngủi, cũng là do đă giác ngộ.

 

          (Kinh) Thời bỉ bần nhân vị dục cầu tài, quảng thiết phương tiện, cần sách vô đăi.

          ()時彼貧人為欲求財廣設方便策勤無怠

          (Kinh: Khi đó, kẻ nghèo ấy v́ muốn cầu tài vật, rộng lập các phương tiện, siêng gắng, chẳng lười nhác).

 

          Tán rằng: Thí dụ về yêu mến pháp, cầu học.

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà? Vị xả bần cùng, thọ an lạc cố.

          ()所以者何為捨貧窮受安樂故

          (Kinh: V́ lẽ nào vậy? V́ bỏ bần cùng, hưởng an vui vậy).

 

          Tán rằng: Gạn hỏi và giải thích, [ư nghĩa] dễ hiểu.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Bỉ chư chúng sanh diệc phục như thị. Nhược kiến Như Lai nhập ư Niết Bàn, sanh nan tao tưởng, năi chí ưu khổ đẳng tưởng.

          ()善男子彼諸眾生亦復如是若見如來入於涅槃生難遭想乃至憂苦等想

          (Kinh: Thiện nam tử! Các chúng sanh ấy cũng giống như thế. Nếu thấy Như Lai nhập Niết Bàn, sẽ sanh ư tưởng khó gặp, cho đến ư tưởng ưu khổ v.v…)

         

          Tán rằng: Đây là kết hợp thí dụ với pháp, đoạn này ứng hợp với thí dụ Phật thị hiện diệt độ.

 

          (Kinh) Phục tác thị niệm, ư vô lượng kiếp, chư Phật Như Lai xuất hiện ư thế, như Ô Đàm Bạt hoa thời năi nhất hiện, bỉ chư chúng sanh phát hy hữu tâm, khởi nan tao tưởng, nhược ngộ Như Lai, tâm sanh kính tín.

          ()復作是念於無量劫諸佛如來出現於世如烏曇跋華時乃一現彼諸眾生發希有心起難遭想若遇如來心生敬信

          (Kinh: Lại nghĩ như thế này, trong vô lượng kiếp, chư Phật Như Lai xuất hiện trong cơi đời như hoa Ô Đàm Bạt (Ưu Đàm Bát La hoa, Linh Thụy hoa) đúng thời mới hiện một lần, các chúng sanh ấy phát tâm hy hữu, dấy lên ư tưởng khó gặp, nếu gặp Như Lai, sẽ sanh tâm kính tín).

 

          Tán rằng: Ứng hợp với thí dụ “kính Phật, khó gặp”. Kinh văn gồm ba phần là pháp, dụ, hợp (đối ứng thí dụ với pháp).

 

          (Kinh) Văn thuyết chánh pháp, sanh thật ngữ tưởng, sở hữu kinh điển tất giai thọ tŕ, bất sanh hủy báng.

          ()說正生實語想所有經典悉皆受持不生毀謗

          (Kinh: Nghe nói chánh pháp, sanh ư tưởng là lời chân thật, tất cả kinh điển thảy đều thọ tŕ, chẳng sanh hủy báng).

 

          Tán rằng: Kết hợp chuyện “do yêu mến pháp bèn cầu học với thí dụ.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Dĩ thị nhân duyên, bỉ Phật Thế Tôn bất cửu trụ thế, tốc nhập Niết Bàn.

          ()善男子以是因緣彼佛世尊不久住世速入涅槃

          (Kinh: Thiện nam tử! Do nhân duyên ấy, đức Phật Thế Tôn đó chẳng trụ thế lâu dài mà mau chóng nhập Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Kết lại thí dụ.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Thị chư Như Lai dĩ như thị đẳng thiện xảo phương tiện, thành tựu chúng sanh.

          ()善男子是諸如來以如是等善巧方便成就眾生

          (Kinh: Thiện nam tử! Các đức Như Lai ấy dùng phương tiện như thế đó để thành tựu chúng sanh).

 

          Tán rằng: Tổng kết.

 

5.2.4.1.2.6. Nói xong chẳng hiện

 

          (Kinh) Nhĩ thời, tứ Phật thuyết thị ngữ dĩ, hốt nhiên bất hiện.

          ()爾時四佛說是語忽然不現

    (Kinh: Lúc bấy giờ, bốn đức Phật nói lời ấy xong, bỗng dưng chẳng hiện).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn thứ sáu, [chư Phật] nói xong chẳng hiện nữa. Trên đây đều là đức Phật ở phương khác nói thọ mạng vô cùng.

          Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Phần 2 hết

 



[1] Thất tối thắng là:

- An trụ tối thắng: An trụ trong chủng tánh của Bồ Tát.

- Y chỉ tối thắng: Y chỉ tâm đại Bồ Đề.

- Ư quả tối thắng: Thương xót hết thảy hữu t́nh.

- Sự nghiệp tối thắng: Hành hết thảy các hạnh, chẳng hạn cuộc trong một hạnh nào.

- Xảo tiện tối thắng (phương tiện thiện xảo tối thắng): Trụ trong vô tướng trí, liễu đạt hết thảy các pháp như không, như huyễn, ĺa chấp trước.

- Hồi hướng tối thắng: Hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề.

- Thanh tịnh tối thắng (vô nhiễm tối thắng): Chẳng bị Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng ngăn ngại.

[2] Tam luân thanh tịnh tức tam luân thể không, chẳng hạn như bố thí chẳng thấy ta là người bố thí, chẳng thấy có người nhận bố thí, chẳng có vật dùng để bố thí.

[3] Lục Ư Nhạo, c̣n gọi là Tác Tư Tu Ư Nhạo. Hễ trong tâm có ư yêu thích thực hiện điều ǵ th́ đều gọi là Ư Nhạo. Theo Nhiếp Đại Thừa Luận, có sáu thứ ư nhạo:

- Quảng đại ư nhạo (yêu thích rộng lớn), tức là Bồ Tát dùng bảy báu đầy ắp trong các thế giới nhiều như cát sông Hằng để dâng cúng Như Lai, lại c̣n có thể hành tŕ giới, nhẫn nhục v.v… cho đến chứng Phật quả mà chẳng hề chán đủ.

- Trường thời ư nhạo (yêu thích lâu dài): Bồ Tát hành Lục Độ, cho đến chứng đắc Phật quả trong hiện đời, tâm thường ưa thích, chẳng hề gián đoạn, ngưng nghỉ.

- Hoan hỷ ư nhạo: Bồ Tát có thể dùng Lục Độ tạo lợi ích cho hữu t́nh. Do làm như vậy, tâm sanh hoan hỷ.

- Hà ân ư nhạo (yêu thích đền đáp ân, c̣n gọi hữu ân đức ư nhạo): Bồ Tát dùng Lục Độ lợi lạc hữu t́nh, không chỉ chẳng thấy chính ḿnh có ân đức đối với họ.

- Đại chí ư nhạo: Bồ Đề dùng các thiện căn và công đức do Lục Độ chính ḿnh đă tu tập để thí cho hết thảy chúng sanh, khiến cho họ đều đạt được cái quả thù thắng.

- Thuần thiện ư nhạo (c̣n gọi là thiện hảo ư nhạo): Bồ Đề đem thiện căn công đức do tu tập Lục Độ để hồi hướng cho chúng sanh cùng thành Phật quả, tâm chẳng hề gián đoạn, xen tạp.

[4] Tác phẩm này có tên gọi đầy đủ là Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ, đôi khi c̣n gọi là Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Tán, gồm mười hai quyển, do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường trong niên hiệu Hàm Thuần (672-674) để chú giải bản kinh Thuyết Vô Cấu Xưng (bản dịch kinh Duy Ma Cật của ngài Huyền Trang). Ngài Khuy Cơ vận dụng cách phán giáo của Pháp Tướng Duy Thức Tông phán định kinh này thuộc thời thứ hai (Không) và thời thứ ba (Trung) trong Tam Thời Giáo, và là giáo thứ bảy trong Bát Tông, tức Thắng Nghĩa Giai Không Tông và thứ tám, tức Ứng Lư Viên Thật Tông.

[5] Tứ Ma (Catvāro-mārāh) gồm Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma và Thiên Ma.

[6] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn Kinh (Viśesacintabrahma-pariprcchā), do ngài Cưu Ma La Thập dịch. Nội dung chủ yếu là lư “chư pháp không tịch” giảng cho hai vị đương cơ là Vơng Minh Bồ Tát và Tư Ích Phạm Thiên. Kinh này c̣n có bản dịch khác là Tŕ Tâm Phạm Thiên Sở Vấn Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, và Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Bắc Ngụy.

[7] Thất đại tánh là bảy đặc tánh to lớn. Du Già Sư Địa Luận quyển bốn mươi sáu chép: “Các Bồ Tát Thừa cùng tương ứng với thất đại tánh, nên gọi là Đại Thừa. Những ǵ là bảy? Một là pháp đại tánh, tức là trong mười hai phần giáo, Bồ Tát Tạng bao gồm giáo pháp phương quảng. Hai là phát tâm đại tánh, tức là có một loại người đối với Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề bèn phát tâm chánh nguyện. Ba là thắng giải đại tánh, tức là có một loại người đối với pháp đại tánh bèn sanh tín giải thù thắng. Bốn là tăng thượng ư nhạo đại tánh, tức là có một loại người đă vượt khỏi hạnh địa thắng giải, chứng nhập địa vị tịnh thắng ư nhạo. Năm là tư lương đại tánh, tức là tư lương phước đức, tư lương trí năng đều tu tập viên măn, có thể chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Sáu là thời đại tánh, tức là trải qua ba vô số đại kiếp mới chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề. Bảy là viên chứng đại tánh, tức là Vô Thượng Bồ Đề đă chứng. Do tự thể của các công đức viên chứng so ra đều chẳng sánh bằng tự thể viên chứng Bồ Đề, huống hồ có ǵ để có thể vượt hơn được ư? Hăy nên biết trong ấy, dù là pháp đại tánh, hay phát tâm đại tánh, hay thắng giải đại tánh, hay tăng thượng ư nhạo đại tánh, hoặc tư lương đại tánh, hoặc thời đại tánh, sáu thứ như thế, đều là cái nhân của viên chứng đại tánh, và viên chứng đại tánh là cái quả của sáu thứ đại tánh kia”.

[8] Theo lăo pháp sư Ấn Thuận, đây là ba phẩm Nhẫn:

- Nại Oán Hại Nhẫn tức là nhẫn thọ sự tổn hại, đả thương, hoặc sự vu cáo hăm hại, hoặc lời lẽ phỉ báng, chửi rủa của kẻ oán cừu. Đối với những kẻ đó, Bồ Tát phải phát tâm thương xót, nghĩ họ đang bị phiền năo ràng buộc, bức bách, bị xoay chuyển bởi ác nghiệp. Do vậy, Bồ Tát chẳng sanh tâm sân hận, chẳng toan tính báo thù.

- An Thọ Khổ Nhẫn: Chịu đựng các nỗi khổ từ ngoại giới (thời tiết, muỗi ṃng, rắn rết, cọp, sói, tai họa), cũng như các nỗi khổ phát sanh từ tự thân như đói khát, bệnh tật v.v…

- Đế Sát Pháp Nhẫn: Pháp ở đây chính là Phật pháp. Suy xét, quan sát cặn kẽ để ngộ nhập Phật pháp. Nhẫn trong trường hợp này là thông hiểu, chấp nhận, nhập lư. Nếu chỉ hời hợt, cưỡi ngựa xem hoa đối với Phật pháp, sẽ chẳng thể đạt được lợi ích chân thật.

[9] Biện Trung Biên Luận (Madhyāntavibhaṅgabhāṣya) c̣n gọi là Trung Biên Phân Biệt Luận, tương truyền do Di Lặc Bồ Tát tạo kệ tụng, Vô Trước Bồ Tát đích thân được lănh thọ từ ngài Di Lặc. Những lời dạy ấy lại được ngài Thế Thân viết lời giải thích cho mỗi bài kệ. Đây là một tác phẩm trọng yếu trong Duy Thức. Nội dung của bộ luận này nhằm biện định chánh hạnh Trung Đạo của Đại Thừa, gồm biện định tướng, biện định chướng, biện định chân thật, biện định tu tập đối trị, biện định phần vị, biện định đắc quả, biện định vô thượng thừa. Luận gồm bảy phẩm, bao gồm một trăm mười lăm bài tụng. Tác phẩm này được dịch sang tiếng Hán hai lần:

- Lần thứ nhất do ngài Chân Đế khởi dịch vào năm Vĩnh Định thứ hai (558) đời Trần, tới năm Thiên Gia thứ ba (562) mới dịch xong. Bản dịch này có tựa đề là Trung Biên Phân Biệt Luận.

- Bản dịch thứ hai của ngài Huyền Trang dịch tại chùa Ngọc Hoa vào năm Long Sóc nguyên niên (661) với tựa đề là Biện Trung Biên Luận.

[10] Theo lăo pháp sư Tinh Vân, mười thứ cúng dường chính là: Cúng dường hoa thơm, cúng dường hương thanh tịnh, cúng dường đèn sáng, cúng dường dầu bôi thân, cúng dường thức ăn, cúng dường trà nước, cúng dường trái cây, cúng dường bảo vật, cúng dường trân châu, cúng dường y phục.

[11] Biến Kế Tánh (c̣n gọi là Biến Kế Sở Chấp Tánh): Do t́nh kiến hư vọng, phàm phu đối với hết thảy các pháp đều so đo, chấp trước. V́ thế gọi là Biến Kế (so đo trọn khắp). Một thí dụ thường dùng là như thấy sợi dây thừng tưởng lầm là rắn, chứ không có thật thể của rắn, nhưng do vọng t́nh mê chấp bèn thấy có rắn. Đó là Biến Kế Chấp.

[12] Y Tha Khởi Tánh: Nương theo nhân duyên mà sanh hết thảy vạn pháp. Chữ Tha [trong Y Tha Khởi] hàm nghĩa nhân duyên. Do chủng tử trong A Lại Da Thức làm cái nhân đầu tiên, nhờ vào các thứ trợ duyên khác để sanh trưởng. Chẳng hạn như sợi dây thừng do các sợi dây gai xe lại, kết hợp thành thừng v.v...

[13] Viên Thành Thật: Tánh chân thật viên măn thành tựu, c̣n gọi là Pháp Tánh, hoặc Chân Như. Nó chính là thể tánh của hết thảy các pháp. Chẳng hạn như đối với dây thừng, Viên Thành Thật tánh của nó là gai.

[14] Nhị ngu tức là hai thứ mê hoặc của hàng Bồ Tát Thập Địa:

- Mê hoặc do chấp trước ngă pháp, tức là chủ lẫn khách vốn đều là không, chẳng có tự tánh, nhưng họ lại thấy đó là thật thể, bèn dấy lên chấp trước mê hoặc.

- Mê hoặc do chấp trước đường ác, tạp nhiễm.

[15] Bảy loại biện tài có hai cách hiểu:

1) Theo phẩm Huyễn Thính Đại Phẩm Bát Nhă và Đại Trí Độ Luận, thất biện tài là:

- Tiệp biện tài: Đối với hết thảy các pháp vô ngại, cho nên đạt được biện tài nhanh chóng.

- Lợi biện: Có người tuy có thể nhanh chóng, nhưng do độn căn nên chẳng thể thâm nhập. Do có thể thâm nhập cho nên nhạy bén.

- Bất tận biện: Nói Thật Tướng của các pháp vô biên vô tận.

- Bất khả đoạn biện: Trong Bát Nhă không có các hư luận, cho nên chẳng có chuyện chấm dứt sự vấn nạn.

- Tùy ứng biện: Có thể đoạn pháp ái, cho nên có thể tùy thuận chúng sanh để thuyết pháp tương ứng.

- Nghĩa biện: V́ nói đến các chuyện lợi ích ḥng tiến nhập Niết Bàn.

- Nhất thiết thế gian tối thượng biện: Nói về chuyện bậc nhất trong hết thảy thế gian tức là Đại Thừa.

2) Theo kinh Đại Bát Nhă, bảy loại biện tài là:

- Vô ngại biện: Tương ứng với lợi biện.

- Vô đoạn tận biện: Tương ứng với bất tận biện.

- Vô sơ mậu biện: Tương đương với bất khả đoạn biện.

- Ứng biện: Tương ứng với tùy ứng biện.

- Tấn biện: Tương ứng với tiệp tật biện.

- Chư sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện: Tương ứng với nghĩa biện.

- Nhất thiết thế gian tối thắng diệu biện: Tương đương với nhất thiết thế gian tối thượng biện.

[16] Ly Xa là một vương triều thuộc vùng thung lũng Kathmandu của Nepal. Xuất phát từ thành Vaishali, họ đă chinh phục thung lũng Kathmandu của Nepal, và từng xây một tinh xá tráng lệ để cúng dường đức Phật.

[17] Vị này c̣n được phiên âm là Kỳ Bà Già, Kỳ Bà, Thời Bà, Thời Phược Ca v.v… Ông là một lương y lỗi lạc thời đức Phật, sống tại thành Vương Xá, có mỹ hiệu là Y Vương. Ông là đệ tử tín thành của đức Phật, làm ngự y cho vua Tần Bà Sa La và A Xà Thế. Theo một số vị chú giải, Kỳ Bà là em cùng cha khác mẹ của vua A Xà Thế, nhưng có người lại cho rằng ông chỉ là con nuôi của vua Tần Bà Sa La sau khi bị mẹ là một kỹ nữ vứt bỏ, và ông được hoàng thân Abhaya mang về triều nuôi dưỡng. Khi trưởng thành, do biết nguồn gốc thấp hèn của chính ḿnh, ông đă quyết chí bỏ sang Takkhasilā (là kinh đô của cổ vương quốc Gandhara thời đó) để học y, và nhanh chóng nổi tiếng về y thuật. Do ḷng kính trọng đức Phật, ông đă dâng cúng một tinh xá, được gọi là Jivakavanarama (Kỳ Bà Già Lam) dưới chân núi Kỳ Xà Quật. Là ngự y của A Xà Thế, ông đă từng khéo léo khuyên nhủ, dẫn dắt vua A Xà Thế đến sám hối tội ngũ nghịch với đức Phật.

[18] Đây là bộ luận có tên là Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Kinh Luận, không rơ ai là tác giả, được ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang tiếng Hán thời Nguyên Ngụy, nhằm giải thích hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Bổn Nguyện Kinh trong kinh Đại Bảo Tích.

[19] Lời giải thích này không rơ ràng lắm, chúng tôi mạn phép rườm lời như sau: Luận có ư nói, Ứng Tụng là phần tụng nhắc lại các ư nghĩa chính yếu trong phần Trường Hàng, hoặc có thể diễn nói thêm một số điều chưa nói rơ trong phần Trường Hàng (như phần kệ tụng trong phẩm Thí Dụ của kinh Pháp Hoa chẳng hạn), c̣n Phúng Tụng là dùng h́nh thức kệ tụng để diễn nói một hay nhiều ư nghĩa nào đó, độc lập với phần Trường Hàng trước đó. Phúng Tụng c̣n được gọi là Cô Khởi Tụng.

[20] Bộ kinh này có tên gọi đầy đủ là Đại Phạm Thiên Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh, không rơ người dịch và niên đại dịch.

[21] Luận Bảo Tánh có tên gọi đầy đủ là Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận (Ratnagotra-vibhāgo Mahāyānottaratantra-śāstra), c̣n được gọi là Bảo Tánh Phân Biệt Nhất Thừa Tăng Thượng Luận, hoặc Đại Thừa Tối Thượng Yếu Nghĩa Luận. Tác giả của bộ luận này theo Hán truyền Phật giáo là ngài Kiên Huệ (Sāramati), nhưng Tạng truyền Phật giáo lại cho rằng tác giả của luận này là Di Lặc Bồ Tát. Theo họ, Di Lặc Bồ Tát nói kệ tụng, Vô Trước Bồ Tát soạn lời chú giải. Đối với người dịch sang tiếng Hán, cũng có hai thuyết: Một là do ngài Lặc Na Ma Đề; thuyết kia cho rằng dịch giả là ngài Bồ Đề Lưu Chi. Đây là một tác phẩm trọng yếu trong Duy Thức Học luận định về Như Lai Tạng.

[22] “Cổ” ở đây là các loài độc trùng (sâu, bọ, rắn, rết, nhện, ḅ cạp v.v…) được con người nuôi dưỡng dùng để ám hại, hay khống chế người khác. Người tinh thông độc thuật và cách nuôi dưỡng cổ trùng gọi là vu sư. Truyền thuyết thường nói là vu sư có thể cấy cổ trùng lên nạn nhân thông qua thức ăn, nước uống, thậm chí huyền hoặc như cho uống một viên thuốc, uống vào bụng, thuốc ấy sẽ nở ra cổ trùng khống chế tâm trí nạn nhân. Nếu nạn nhân không phục tùng, sẽ bị cổ trùng hành hạ, phải cầu cạnh vu sư cho uống thuốc khống chế để cổ trùng không phát tác. Có lẽ là họ dùng các chất độc tiết ra từ các thứ độc trùng để khống chế nạn nhân, chứ côn trùng khó thể sống lâu dài trong cơ thể con người được! Thậm chí Tùy Thư c̣n chép các vùng như Nghi Xuân, Lô Lăng, Tân An, Vĩnh Gia, Kiến An, Toại An, Bà Dương, Cửu Giang, Lâm Xuyên, Nam Khang v.v… của miền Nam Trung Hoa, vào ngày mồng Năm tháng Năm, vu sư bắt một trăm loại độc trùng bỏ vào chum để chúng nó tàn sát lẫn nhau, con nào sống sót cuối cùng sẽ là con độc địa nhất, dùng để chế Cổ.

[23] Sông Ni Liên (Nairanjananadi), c̣n được phiên âm là sông Ni Liên Thiền, hoặc Hy Liên Hà, tức là sông Falgu hiện thời. Con sông này được coi là một con sông thánh trong Ấn giáo lẫn Phật giáo. Đoạn sông Falgu (c̣n viết là Phalgu) chảy qua thành phố Gaya được tín đồ Ấn giáo coi là hiện thân của thần Vishnu. Đức Phật thị hiện tu khổ hạnh suốt sáu năm trong một khu rừng bên bờ sông này. Sau khi biết tu khổ hạnh vô ích, Ngài xuống tắm ở sông này, và nhận bát cháo sữa (kheera) cúng dường của cô gái chăn ḅ Sujātā, rồi nhập Định trong bốn mươi chín ngày, chứng đắc Chánh Giác.

[24] Y Chủ Thích (Tatpuruṣā), c̣n gọi là Y Sĩ Thích, là một cách giải thích dựa theo cái Thể của đối tượng được nương vào (sở y) mà đặt tên cho cái pháp có thể nương vào (năng y). Chẳng hạn như Nhăn Thức là do nương vào con mắt mà sanh ra thức, nên thức ấy được gọi là Nhăn Thức. Như vậy Nhăn là cái Thể của sở y (chỗ nương vào của Nhăn Thức), Thức là cái pháp có thể nương vào (năng y, tức là Thức phải nương vào con mắt mà sanh). Thức vốn là một pháp khác biệt với Nhăn, do dựa trên cái Thể của đối tượng bị nương vào (con mắt) mà đặt tên cho cái Thức sanh bởi nó là Nhăn Thức. Cách giải thích như vậy gọi là Y Chủ Thích.

[25] Bốn trí phẩm ở đây chính là bốn loại trí huệ viên măn của Như Lai, tức Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, và Thành Sở Tác Trí.

[26] Do câu hỏi này hơi khó hiểu, xin mạn phép nêu ra ngu ư như sau: Xét về hành pháp của Ứng Thân và Hóa Thân, chúng do hai cái nhân cảm vời (tức là tùy theo căn tánh của chúng sanh, cũng như nhằm để hóa độ chúng sanh, như trong phần sau sẽ nói: Do chúng sanh thấy Phật thường trụ trên thế gian, sẽ chẳng sanh ư tưởng khó gặp gỡ, chẳng ưa cầu chánh pháp v.v…), cho nên thị hiện thọ mạng của hai cái thân ấy ngắn ngủi. V́ chúng sanh trông thấy thọ mạng ngắn ngủi ấy sẽ khởi nghi hoặc, cho nên phải nói phẩm này để giải trừ nghi hoặc đối với hai thân ấy; đó là lẽ đương nhiên. C̣n như tự tánh (tức Pháp Thân) do chẳng có nhân, và Tự Thọ Dụng Báo Thân th́ phàm phu chẳng thấy được, cho nên họ chẳng sanh nghi, cần ǵ phải nói đến tuổi thọ của Pháp Thân và Tự Thọ Dụng Báo Thân? Tức là câu này nhằm căn vặn lời giải đáp trước đó: Thọ lượng được nói trong phẩm này áp dụng chung cho cả ba thân.

[27] Phệ Lưu Ly chính là Tỳ Lưu Ly, hoặc Tỳ Đầu Lê, đều là cách phiên âm sai khác của chữ Vaidūrya, có nghĩa là chất bảo thạch màu xanh xuất phát từ núi Tu Di. Theo Huệ Lâm Âm Nghĩa, loại bảo thạch này có màu xanh nước biển rất đậm, nhưng trong trẻo, thấu quang, hễ vật nào đặt gần nó sẽ có cùng một màu với bảo thạch. Viên bảo châu trong búi tóc của Đế Thích chế bằng loại bảo thạch này. Sách Huệ Uyển Nghĩa Âm th́ lại nói bảo thạch này xuất phát từ một quả núi cách kinh thành Ba La Nại chẳng xa, nên quả núi ấy được gọi là Bất Viễn Sơn.

[28] Pha Chi Ca, c̣n được phiên âm là Pha Lê, hoặc Phả Trí Ca, Sa Ba Trí Ca, Tắc Pha Trí Ca, Tốt Ba Trí Ca v.v… là một loại khoáng thạch tự nhiên, thường được dịch là Thủy Tinh hoặc Thủy Ngọc (do trong suốt như từ nước kết thành), không phải là pha lê (crystal) trong hiện thời.

[29] Du Già Sao là tên gọi tắt của bộ Du Già Sư Địa Luận Lược Toản Sớ, gồm mười sáu quyển, do ngài Khuy Cơ soạn. Đây là chú sớ chủ yếu của bộ Du Già Sư Địa Luận.

[30] Hoàng môn (Pandaka), c̣n gọi là Yêm Nhân, tức kẻ không có nam căn hoặc nam căn bị hư hoại, thường gọi bất nam. Luật Tăng Kỳ nói rất chi tiết, sợ rườm rà nên không chép vào đây. Nhị h́nh (Ubhayavyañ-janaka) là người có cả hai bộ phận sinh dục nam và nữ.

[31] Tiền tế: Tức là quá khứ, là một thứ trong ba cách phân định thời gian (Tam Tế). Tiền tế là quá khứ, hậu tế là vị lai, trung tế là hiện tại. Thanh Long Nhân Vương Sớ giảng: “Tế () có nghĩa là ngằn hạn, ư nói pháp hữu vi luôn rơi vào một trong ba thời, c̣n Vô Vi Thật Tướng chẳng có trước, sau, khoảng giữa, nên gọi là Vô Tế”.

[32] Sĩ Phu Dụng là tác dụng tạo tác của một chủ thể (chủ yếu là con người). Sĩ Phu là dịch nghĩa của chữ Purusakāra, hàm nghĩa là người, Dụng là tác dụng. Nói đến Sĩ Phu Dụng là nói đến tác dụng tạo tác do một cá nhân vận dụng công cụ hay ư tưởng, hoặc kỹ năng của chính ḿnh để tạo tác một chuyện ǵ đó. Cái quả việc tạo tác ấy sẽ được gọi là Sĩ Dụng Quả. Thành Duy Thức Luận quyển tám giảng: “Sĩ Dụng có nghĩa là các sự nghiệp do người nào đó thực hiện nhờ vào công cụ để hoàn thành”. Luận c̣n nêu ra hai thí dụ:

- Ví như thóc gạo của nông phu, hay hàng hóa của thương nhân đều do sức của người thực hiện (nông phu hay thương nhân) mà tồn tại.

- Nói theo pháp th́ cái nhân sanh ra các pháp đều là do các sự tạo tác mà có, như do nông phu trồng trọt mà có thâu hoạch, thương nhân do hàng hóa mà kiếm lợi. Người tạo tác nương vào công cụ (ở đây là các nhân duyên, vật liệu để thực hiện một việc nào đó) mà hoàn thành sự việc ấy.

[33] Đẳng Thủ Kiến (Śīla-vrata-parāmarśa) chính là Giới Cấm Thủ Kiến, tức là kiến chấp sai lầm đối với giới cấm, chẳng phải nhân mà ngỡ là nhân, chẳng phải là đạo mà coi là đạo. Như ngoại đạo thấy ḅ được sanh lên trời, bèn thờ phụng ḅ, giữ giới sống như ḅ, hoặc thấy gà, chó được sanh lên trời bèn giữ cách sinh hoạt giống như gà, chó. Hoặc cho rằng phải hành khổ hạnh mới được sanh thiên bèn nằm bàn chông, đốt lửa nung thân v.v… Hiểu theo nghĩa rộng, hễ chấp vào một kiến giải nào đó th́ đều gọi là Đẳng Thủ Kiến.

[34] Tùy Phiền Năo: Các phiền năo do tùy thuộc Căn Bản Phiền Năo mà sanh khởi, c̣n gọi là Tùy Hoặc, hay Chi Mạt Hoặc. Nó lại được chia thành ba loại:

- Đại Tùy Phiền Năo: Phóng dật, giải đăi, bất tín, hôn trầm, điệu cử (lao chao, xáo động).

- Trung Tùy Phiền Năo: Vô Tàm, Vô Quư.

- Tiểu Tùy Phiền Năo: Phẫn, Phú (giấu diếm), Xan (keo kiệt), Tật (ghen ghét), Năo (quấy rối, làm người khác bực bội), Hại, Hận, Siểm (bợ đỡ), Cuống (lừa dối), Kiêu.

[35] Tức là do trong kiếp ấy có bốn thứ trược (chúng sanh trược, mạng trược, kiến trược, phiền năo trược) nên gọi là Kiếp Trược, chứ Kiếp chỉ là khái niệm thời gian, bản thể của nó chẳng ô trược hay thanh tịnh.