Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ nhất
Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch
kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ
金光明最勝王經疏
卷第一
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Phần 2
(Kinh) Phục hữu Bồ
Tát Ma Ha Tát bách thiên vạn ức nhân câu.
(經)復有菩薩摩訶薩百千萬億人俱。
(Kinh: Lại có Bồ Tát Ma Ha
Tát trăm ngàn vạn ức người nhóm họp).
Tán rằng: Kinh văn nói về
các vị Bồ Tát cũng chia thành bốn [tiểu đoạn]:
Ở đây là nêu ra loại
và số, cũng giống như Pháp Hoa Sớ. Quyển bốn
trăm tám mươi sáu của kinh Đại Bát Nhă nói rộng
[về danh hiệu của] các vị Ma Ha Tát. Các kinh luận
nói số lượng [Bồ Tát] nhiều hay ít khác biệt.
Ở đây, phải nên nói là “trăm
phần ngàn vạn ức Bồ Tát”.
Tiểu đoạn thứ hai
là tán thán phẩm đức, bao gồm hai mươi
lăm câu kinh văn, chia thành hai mươi
hai loại đức:
- Một, có phẩm đức
trọn đủ thần thông to lớn.
- Hai, có phẩm đức
danh tiếng cao trọng, khiến cho kẻ khác kính ngưỡng.
- Ba, có phẩm đức tu
nhân viên măn.
- Bốn, phẩm đức
hiện tướng lợi lạc chúng sanh.
- Năm, phẩm đức
trọn đủ biện tài thuyết pháp.
- Sáu, phẩm đức ĺa
các chướng nhiễm.
- Bảy, phẩm đức
nối tiếp Phật chủng chẳng đoạn.
- Tám, phẩm đức hàng
phục ma oán.
- Chín, phẩm đức dẹp
tan các ngoại đạo.
- Mười, phẩm đức
tiếp nối Phật tuyên dương [chánh pháp].
- Mười một, phẩm
đức trang nghiêm thanh tịnh cơi Phật.
- Mười hai, phẩm
đức lợi ích người khác chẳng hư dối.
- Mười ba, phẩm
đức tự lợi, trọn đủ các Nhẫn.
- Mười bốn, phẩm
đức thường nhiếp thọ hữu t́nh.
- Mười lăm, phẩm
đức hầu Phật chẳng
diệt.
- Mười sáu, phẩm
đức hoằng thệ vô cùng.
- Mười bảy, phẩm
đức gieo sâu nhân lành.
- Mười tám, phẩm
đức hiểu pháp Vô
Sanh.
- Mười chín, phẩm
đức duyên theo cảnh bất cộng.
- Hai mươi, phẩm
đức thiện xảo giáo hóa chúng sanh.
- Hai mươi mốt, phẩm
đức xiển dương thánh giáo.
- Hai mươi hai, phẩm
đức chứng pháp chẳng nghi.
(Kinh) Hữu đại
oai đức như đại long vương.
(經)有大威德如大龍王。
(Kinh: Có oai đức
lớn như đại long vương).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ nhất, trọn đủ thần thông to lớn
th́ gọi là “đại oai đức”, có thể trừ
bất tín, có thể sanh căn lành, giống như rồng
to có thể tuôn mưa đá dẹp trừ sự bất tín, có thể
đổ mưa để sanh trưởng mầm thiện.
Lại có oai lực như trong quyển ba mươi bảy
của luận Du Già Sư Địa đă giải thích cặn
kẽ về oai lực. Hoặc [có thể hiểu] câu “oai
lực” ở đây chính là câu nói tổng quát cho các câu [kế tiếp],
hàm nghĩa [bậc đại
Bồ Tát] có
nhiều loại oai lực vậy!
(Kinh) Danh xưng phổ
văn, chúng sở tri thức.
(經)名稱普聞眾所知識。
(Kinh: Tiếng tăm
vang rền, mọi người hay biết).
Tán rằng: Phẩm
đức thứ hai là “tiếng tăm
vang rền vô lượng thế giới”, đều
được hết thảy chúng sanh nhận biết.
(Kinh) Thí, Giới thanh tịnh, thường nhạo
phụng tŕ.
(經)施戒清淨常樂奉持。
(Kinh: Thí, Giới
thanh tịnh, thường thích vâng giữ).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ ba gồm trọn Lục Độ. Tu
nhân mới viên măn, tức là “vô
nhiễm tối thắng”
trong bảy món tối thắng[1], được gọi
là “thanh tịnh”. Hoặc tam luân thanh tịnh[2]
như các kinh Giải Thâm Mật v.v… đă nói. Mỗi Độ
trong Lục Độ đều có mười loại
thanh tịnh, chi tiết th́ như trong các kinh ấy đă
nói. Luôn tu chẳng bỏ, nên gọi là “nhạo phụng
tŕ” (ưa thích vâng giữ), tức là có ư yêu thích lâu dài.
Trong bảy món tối thắng và sáu thứ ư nhạo[3]
đều nêu ra một thứ để nêu tỏ các thứ
khác.
(Kinh) Nhẫn hạnh
tinh cần kinh vô lượng kiếp.
(經)忍行精勤經無量劫。
(Kinh: Nhẫn hạnh
siêng ṛng trải qua vô lượng kiếp).
Tán rằng: Nêu ra đại
tánh tinh tấn trong bảy đại tánh, cũng nhằm
phô bày các điều c̣n lại.
(Kinh) Siêu chư Tĩnh Lự,
hệ niệm hiện tiền, khai xiển huệ môn, thiện
tu phương tiện.
(經)超諸靜慮繫念現前,開闡慧門善修方便。
(Kinh: Siêu việt các
môn Tĩnh Lự, hệ niệm hiện tiền, mở
mang, xiển dương huệ môn, khéo tu các phương tiện).
Tán rằng: Các vị Bồ
Tát này từ Bát Địa trở lên, niệm nào cũng gấp
bội niệm trước, vượt xa Nhị Thừa,
cho nên gọi là Siêu. Do luôn ở trong Định, cho nên gọi là “hệ
niệm hiện tiền”. Phô bày, hoằng dương
pháp giáo, gọi là “khai xiển huệ môn”. V́ thế,
Pháp Hoa Luận viết: “Môn trí huệ này gọi là A Hàm rất
sâu, do chọn lựa thấu hiểu thông suốt th́ gọi
là ‘thiện tu phương tiện’. Lại c̣n khéo tu các thứ
phương tiện, nguyện lực v.v… Hoặc lại
c̣n tu trọn mười hai
món thiện xảo”. Ư của đoạn kinh văn ấy
chính là thanh tịnh phụng tŕ trải qua vô lượng kiếp,
lại c̣n bao gồm các Độ. Giải thích đại
lược Lục Độ th́ như trong Vô Cấu
Xưng Sớ[4]
[đă nói].
(Kinh) Tự tại du hư,
vi diệu thần thông.
(經)自在遊戲微妙神通。
(Kinh: Du hư tự tại,
thần thông vi diệu).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ tư. Theo kinh Hoa Nghiêm, Phật tử (các vị Bồ Tát) có mười loại du hư thần
thông, tức là:
- Một là thị hiện xả tuổi thọ
cơi trời.
- Hai là thị hiện thọ
sanh,
- Ba là hiện làm đồng
tử.
- Bốn là hiện tướng
xuất gia.
- Năm là ưa thích khổ
hạnh.
- Sáu là đến cội Bồ
Đề.
- Bảy là thị hiện
hàng ma.
- Tám là thị hiện ưa
thích tịch tĩnh, thành Vô Thượng Giác,
- Chín là chuyển pháp luân.
- Mười là nhập Niết
Bàn.
Có nghĩa là hiện bày các
tướng để lợi ích chúng sanh, rộng như trong hội Tối Thắng Thiên Vương của
kinh
Đại Bát Nhă đă giải thích.
(Kinh) Đăi đắc tổng
tŕ, biện tài vô tận.
(經)逮得總持辯才無盡。
(Kinh: Đạt
được tổng tŕ và biện tài vô tận).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ năm. “Đăi” (逮) là “đạt
đến”. Đạt được bốn món Tổng
Tŕ (Pháp Tổng Tŕ, Nghĩa Tổng Tŕ, Nhẫn Tổng Tŕ,
Chú Tổng Tŕ), và bốn thứ
Biện Tài (Pháp Vô Ngại Biện, Nghĩa Vô Ngại Biện,
Từ Vô Ngại Biện, Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện)
thảy đều vô tận. Không chỉ là bảy thứ
chẳng gián đoạn, mà c̣n trọn
hết một sự thù thắng (tức xảo phương tiện
thù thắng). Do vô tận, do lợi
lạc người khác chẳng ngừng nghỉ mà thảy
đều vô tận.
(Kinh) Đoạn chư
phiền năo, lụy nhiễm giai vong.
(經)斷諸煩惱累染皆亡。
(Kinh: Đoạn các
phiền năo, phiền lụy, đắm nhiễm đều mất).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ sáu. Ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ theo thứ
tự đều là sự phiền lụy, nhuốm bẩn
bởi phiền năo. Hay lại
có thể hiểu “năo lụy” là chủng tử hiện
hành, Nhiễm tức là tập khí và Sở Tri Chướng,
được nói gộp chung với phiền năo. Do đă
đoạn trừ, nên có thể nói là “giai” (đều).
(Kinh) Bất cửu
đương thành Nhất Thiết Chủng Trí.
(經)不久當成一切種智。
(Kinh: Không lâu sau sẽ
thành Nhất Thiết Chủng Trí).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ bảy là “tiếp nối Phật
chủng chẳng dứt”. Các vị Bồ
Tát này qua khỏi hai kiếp, có lẽ sẽ thuộc vào Pháp Vân Địa,
đều là bậc Nhất Sanh Bổ Xứ, cho nên nói là “bất
cửu” (chẳng bao lâu). Do chưa
đắc Bồ Đề, nên nói là “đương thành” (sẽ thành). Đắc
Tát Bà Nhă (Sarvajña) th́ gọi
là Nhất Thiết Chủng Trí. “Chủng” (種) là chủng
loại. Dù Không hay Hữu, dù Sự hay Lư, đều được
gọi là Nhất Thiết Chủng. Đều đạt được các điều
ấy th́ gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Đó là xét
theo chủ thể (Trí) để giải thích. Nhất Thiết
Chủng chính là cảnh của cái trí ấy.
(Kinh) Hàng ma quân chúng, nhi
kích pháp cổ.
(經)降魔軍眾而擊法鼓。
(Kinh: Do hàng phục
lũ quân ma mà đánh trống pháp).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ tám là “hàng phục ma oán”. Ma chính là Tứ
Ma[5],
“Quân”
chính là mười quân, nói cặn kẽ th́ như
chương Phá Ma của sách Pháp Uyển (Đại Thừa
Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương) đă biện
định. Ma quân thuận theo sự giáo hóa. Thắng
địch th́ trước hết bèn báo rơ, hiển Thật, khai Quyền; đó là “kích pháp cổ”
(đánh trống pháp).
(Kinh) Chế chư ngoại
đạo, linh khởi tịnh
tâm.
(經)制諸外道令起淨心。
(Kinh: Chế phục
các ngoại đạo, khiến cho họ sanh khởi
tâm thanh tịnh).
Tán rằng: Phẩm
đức thứ chín là “dẹp tan các ngoại
đạo”. Trọn đủ
Tứ Vô Úy, dẹp tan các ngoại, khiến cho họ
sanh chánh tín th́ gọi là “khởi tịnh tâm” (sanh khởi
tâm thanh tịnh).
(Kinh) Chuyển diệu
pháp luân độ nhân thiên chúng.
(經)轉妙法輪度人天眾。
(Kinh: Chuyển pháp
luân mầu nhiệm, độ đại chúng trời
người).
Tán rằng: Phẩm
đức thứ mười là “kế thừa Phật,
tuyên dương [chánh pháp]”. Đối với
năm địa vị như Tư Lương v.v…, Chuyển
Pháp Luân thuộc địa vị thứ tư, [địa vị] thứ hai là Bất
Thoái Pháp Luân như trong Pháp Hoa Sớ đă biện định.
(Kinh) Thập
phương Phật độ tất dĩ trang nghiêm.
(經)十方佛土悉已莊嚴。
(Kinh: Mười
phương cơi Phật đều đă trang nghiêm).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ mười một là “trang nghiêm thanh tịnh
cơi Phật, đóng chặt cửa hết thảy
đường ác”. Ư nghĩa của
Tịnh Độ th́ như Vô Cấu Xưng Sớ [đă
biện định].
(Kinh) Lục thú hữu
t́nh, vô bất mông ích.
(經)六趣有情無不蒙益。
(Kinh: Hữu t́nh trong
sáu đường, không ai chẳng
được lợi ích).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ mười hai là “lợi ích người
khác chẳng hư dối”. Từ ngữ
Để Lợi Cù Ni Đa (Tiryagyoni) trong tiếng Phạn
được phương này dịch nghĩa là Bàng Sanh.
Na Lệ Đa trong tiếng Phạn, dịch nghĩa là ngạ
quỷ, c̣n gọi là Bế Lệ Đa (Preta). Mạt Nô Sa
(Manuṣya)
trong
tiếng Phạn dịch nghĩa là Nhân. Đối với
các tên gọi thiên thú (đường trời), Tu La, Na Lạc
Ca (Naraka, địa ngục) và ư nghĩa của sáu
đường th́ như Pháp Hoa Sớ
[đă giảng]. Khéo biết căn tánh, hiện thân trong
năm đường, dùng sức phương tiện thiện
xảo để hiện thân thuyết pháp, người thấy,
kẻ nghe, không ai chẳng
được hưởng lợi ích. Do có thể thành tựu
bốn loại pháp, có thể giáo hóa chúng sanh,
khiến cho họ đều được hưởng lợi
ích. V́ thế, kinh Tư Ích[6],
quyển thứ nhất có nói: “Nhất, thường cầu
lợi an chúng sanh. Nhị,
tự xả kỷ lạc. Tam, tâm ḥa nhẫn. Tứ, trừ kiêu mạn” (Một là thường
cầu lợi ích, an lạc chúng sanh. Hai là tự xả sự
vui sướng của chính ḿnh. Ba là tâm ḥa hợp, nhẫn
nại. Bốn là trừ kiêu mạn).
(Kinh) Thành tựu trí huệ, cụ túc bất
nhẫn.
(經)成就大智具足不忍。
(Kinh: Thành tựu trí
huệ, trọn đủ bất nhẫn).
Tán rằng: Phẩm đức
thứ mười ba là “tự lợi, trọn
đủ các món Nhẫn”. Thành tựu trí tự
lợi, sẽ có đủ ba món đại nhẫn, tức
là do tương ứng với Thất Đại, cho nên
đều gọi là Đại. Hoặc là đại trí, tức
là trí đại tánh, do hiểu trọn vẹn hai món Không (Nhân
Không và Pháp Không). Nhưng phần Nhiếp Dị Môn trong luận
Du Già Sư Địa nói: “Trí huệ do đă trải qua
vô lượng kiếp tu tập th́ gọi là đại
trí”, tức là Thời Đại Tánh trong thất đại
tánh[7].
V́ thế biết rằng Nhẫn được gọi là
Đại cũng giống như Trí. Lại có thể giải
thích như sau: Như Trí Độ Luận quyển sáu nói: “Người
thành tựu đại nhẫn là do Đẳng Nhẫn và
Pháp Nhẫn hai món cùng tăng tấn, cho nên gọi là Đại
Nhẫn”.
“Cụ túc” nghĩa là “thành tựu”,
lại có nhiều cách hiểu: Hoặc có thể hiểu “thành
tựu” là “đắc” (đạt được),
ư nói đạt được phẩm vị thù thắng
th́ gọi là Đại Nhẫn. V́ thế, luận ấy
giải thích rằng: “Hai món Nhẫn ấy tăng trưởng
th́ gọi là Đại Nhẫn”. Lại có thể hiểu
như sau: Nay nói “cụ túc”, tức là có đủ cả
ba món Nhẫn, tức là Nại Oán Hại Nhẫn, An Thọ
Khổ Nhẫn, và Đế Sát Pháp Nhẫn[8].
Nhưng xét theo kinh Vô Tận Ư, do trọn đủ Đại Nhẫn th́ mới có thể thành tựu
đại trí. Kinh ấy dạy: “Tu Tứ Nhẫn cụ
túc trí huệ: Nhất, ư cầu pháp thời, nhẫn tha
ác mạ. Nhị, bất tỵ hàn, nhiệt, phong, vũ
đẳng. Tam, tùy ḥa thượng A-xà-lê hành. Tứ, ư
cầu pháp thời, nhẫn Không, Vô Tướng” (Tu bốn
món Nhẫn trọn đủ trí huệ: Một là khi cầu
pháp,
sẽ nhẫn kẻ khác chửi rủa ác độc. Hai
là chẳng tránh né lạnh, nóng, gió, mưa v.v… Ba là hành theo
ḥa thượng A-xà-lê. Bốn là khi cầu pháp bèn nhẫn
Không, Vô Tướng). Dựa theo đấy th́ đáng nên
dùng [lời giải thích] trong phần dưới để
giải thích nguyên do của “đại trí” trong phần
trên.
(Kinh) Trụ đại
từ bi tâm, hữu đại kiên cố lực.
(經)住大慈悲心,有大堅固力。
(Kinh: Trụ trong tâm
đại từ bi, có sức kiên cố to lớn).
Tán rằng: Phẩm đức
“thường
nhiếp thọ hữu t́nh”. V́ thế, Pháp Hoa
Kinh Luận viết: “Phương tiện để nhiếp
thủ chúng sanh là như kinh [dạy] dùng ḷng
Từ để tu thân, bởi Từ là có thể ban vui cho
kẻ chẳng vui, Bi là dẹp khổ cho kẻ đang khổ.
V́ vậy, có thể nhiếp thủ chúng sanh”. [Từ và bi]
đều nói là Đại, [nhằm nhấn mạnh] khác với
Nhị Thừa, chẳng phải là đại bi trong phẩm
đức bất cộng của Phật, chỉ có [phẩm đức] được thành tựu bởi
Phật mới gọi là “bất cộng”. “Hữu đại
kiên cố lực” (có sức kiên cố to lớn):
Thường hành chẳng xả th́ gọi là “kiên cố”.
V́ thế, kinh Tư Ích, quyển một dạy: “Bồ
Tát hữu tứ pháp kiên cố kỳ tâm, nhi bất b́ quyện: Nhất, ư chúng sanh khởi
đại bi. Nhị, tinh tấn bất
giải. Tam, tín giải sanh tử
như mộng. Tứ, chánh tư duy Phật
chi trí huệ” (Bồ Tát có bốn pháp để kiên
cố cái tâm, chẳng mệt chán: Một là đối với
chúng sanh dấy ḷng đại bi, hai là tinh tấn chẳng
lười nhác, ba là tin hiểu sanh tử như mộng, bốn
là chánh tư duy trí huệ của Phật). Ư
nói: Do thương xót chúng sanh mà tinh tấn chẳng lười
nhác, thấy sanh tử như mộng chẳng thật mà
suy cầu Phật trí. V́ thế, hành từ bi để kiên
cố cái tâm.
(Kinh) Lịch sự
chư Phật, bất bát Niết Bàn.
(經)歷事諸佛不般涅槃。
(Kinh: Phụng
sự khắp chư Phật, chẳng nhập Niết
Bàn).
Tán rằng: Phẩm đức
“hầu
Phật, chẳng nhập diệt”. Đối với
hết thảy chư Phật, thường tu chánh hạnh
th́ gọi là “lịch sự chư Phật”. V́ độ
chúng sanh không có lúc ngưng nghỉ,
cho nên chẳng cầu nhập Niết Bàn. Luận Biện
Trung Biên[9]
viết: “Do lợi ích người khác chẳng ngưng
nghỉ”.
(Kinh) Phát hoằng thệ
tâm tận vị lai tế.
(經)發弘誓心盡未來際。
(Kinh: Phát tâm hoằng
thệ cho đến cùng tận đời vị lai).
Tán rằng: Phẩm
đức “hoằng thệ vô cùng”. Phát Tứ Hoằng
Nguyện có thể tột cùng đời vị lai.
(Kinh) Quảng ư Phật
sở, thâm chủng tịnh nhân.
(經)廣於佛所深種淨因。
(Kinh: Ở nơi Phật,
rộng gieo cái nhân thanh tịnh sâu xa).
Tán rằng: Phẩm đức
“gieo
sâu nhân lành”, tức là như kinh Pháp Hoa nói: “Ư
chư Phật sở, thực chúng đức bổn” (gieo
các cội đức nơi chư Phật), tức là ở
nơi Phật, tu mười thứ cúng dường[10]
th́ gọi là “tịnh nhân” (cái nhân thanh tịnh). Cầu
Bồ Đề, tu mười thứ cúng dường, hai
loại ấy đều là Nhân. Có thể coi đó
là cái nhân của sự thanh tịnh, hoặc cái nhân ấy
chính là tịnh.
(Kinh) Ư tam thế
pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn.
(經)於三世法悟無生忍。
(Kinh: Đối với
pháp ba đời, ngộ Vô Sanh Nhẫn).
Tán rằng: Phẩm đức
“hiểu
rơ pháp Vô Sanh, ngộ tam Vô Sanh Nhẫn”. Nương theo
Không Giải Thoát Môn mà quán Biến Kế Tánh[11],
ngộ bổn tánh Vô Sanh Nhẫn. Nương theo Vô Nguyện
Giải Thoát Môn mà quán Y Tha Khởi[12],
ngộ tự nhiên Vô Sanh Nhẫn. Nương theo Vô Tướng
Giải Thoát Môn mà quán Viên Thành Thật[13],
ngộ Hoặc khổ Vô Sanh Nhẫn.
Hỏi: Cái Thể của Biến
Kế là không, Viên Thành th́ thường trụ, nay kinh này nói
nương theo pháp ba đời, sao có thể quán ba tánh (Biến
Kế, Y Tha, và Viên Thành Thật) để đắc ba loại
Nhẫn?
Đáp: Nơi Y Tha, quán nhị
ngă (nhân ngă chấp và pháp ngă chấp) là Không, tức là trong
Y Tha cũng có Viên Thành, chẳng phải là rời ĺa. V́ thế,
kệ tụng trong luận Biện Trung Biên viết: “Do
hư vọng phân biệt là có, đối với hai thứ
ấy đều là không, trong ấy chỉ có Không”. Ư
nói: “Hữu” là hư vọng phân biệt. Trong ấy, hai thứ Ngă đều là Không. Trong Y Tha chỉ có Chân
Không. V́ thế, nêu ra “ba đời”, chỉ nói về
Y Tha mà hiển lộ cả hai tánh kia.
(Kinh) Du ư Nhị Thừa
sở hành cảnh giới.
(經)逾於二乘所行境界。
(Kinh: Vượt ngoài
cảnh giới do Nhị Thừa đă hành).
Tán rằng: Phẩm đức
“duyên
cảnh bất cộng”. Nhị Thừa
duyên theo cảnh, cho nên hành tướng có thể đạt
được. Bồ Tát chẳng vậy. V́ thế, Vô Tánh
Nhiếp Luận, quyển thứ tám viết: “Trí vô phân
biệt hành tương tự nơi cảnh Chân Như”.
Ư nói: Chân Như chẳng có hết thảy các tướng,
trí tương xứng với Chân Như cũng chẳng có
hành tướng. Lại nữa, đối với chuyện hiểu rơ Nhị
Không, họ (hàng Tiểu Thừa) chỉ hiểu rơ một điều
(tức Ngă Không), cho nên [cảnh giới của Bồ Tát] vượt
xa Nhị Thừa.
(Kinh) Dĩ đại
thiện xảo hóa thế gian.
(經)以大善巧化世間。
(Kinh: Dùng đại
thiện xảo giáo hóa thế gian).
Tán rằng: Phẩm đức
“thiện
xảo giáo hóa chúng sanh”. Nương theo
sáu thần thông và sáu loại ngoại phương tiện
thuộc mười hai loại phương tiện thiện
xảo để giáo hóa thế gian; hoặc nương
theo các pháp thiện xảo như Uẩn, Giới v.v…
được nói trong Đại Thừa để giáo hóa
thế gian. Do vạch rơ khác với Tiểu
Thừa mà gọi là “đại thiện xảo”.
(Kinh) Ư đại
sư giáo năng phu diễn.
(經)於大師教能敷演。
(Kinh: Có thể phô diễn
giáo pháp của đấng đại sư).
Tán rằng: Phẩm
đức “xiển dương thánh giáo”. Do có thể
nương theo pháp được giải thích trong phần
Nhiếp Thích thuộc quyển tám mươi
mốt của luận Du Già Sư Địa, cho nên nói là “ư
đại sư giáo, năng phu diễn” (đối với
giáo pháp của đấng đại sư có thể phô diễn).
Đă đạt được Tứ Biện Tài thù thắng,
đắc Tổng Tŕ, cho nên có thể phô diễn, trụ
trong địa vị Thiện Huệ.
(Kinh) Bí mật chi pháp thậm
thâm Không tánh, giai dĩ liễu tri, vô phục nghi hoặc.
(經)祕密之法甚深空性皆已了知,無復疑惑。
(Kinh: Đối với
pháp bí mật tánh Không rất sâu đă đều biết
rơ, chẳng c̣n ngờ vực).
Tán rằng: Phẩm đức
“hiểu
rơ pháp chẳng nghi”. Bí Mật chính là
bốn thứ bí mật. Do chính là ba món tánh Không, cho nên gọi
là “thậm thâm” (rất sâu) như trong Pháp Hoa Luận
đă giải thích. Trí huệ của chư Phật có
năm món rất sâu, tánh của trí huệ
cũng được gọi là trí huệ: Một là nghĩa rất sâu, hai là Thể, ba là nội chứng, bốn
là y chỉ, năm là vô thượng. Do chẳng phải là
cảnh của Nhị Thừa,
nên gọi là “thậm thâm”. Hậu Trí (Hậu Đắc Trí) có thể hiểu rơ,
Căn Bản Trí đă biết, nỗi nghi đối với
Sự và Lư đều đă hết. Do vậy,
chẳng c̣n nghi hoặc!
(Kinh) Kỳ danh viết
Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường
Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường Tinh Tấn
Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát.
(經)其名曰無障礙轉法輪菩薩、常發心轉法輪菩薩、常精進菩薩、不休息菩薩。
(Kinh: Tên các
Ngài là Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân Bồ Tát,
Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân Bồ Tát, Thường
Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát).
Tán rằng: [Tiểu đoạn]
thứ ba là liệt kê danh hiệu [các vị Bồ Tát], gồm
năm mươi ba vị. Đức rộng, danh cao, [khiến
cho] kẻ thấy nghe đều đạt được
lợi ích, chẳng thể nêu trọn hết, chỉ nêu
đại lược vài vị. Trong số ấy, [các vị
Bồ Tát] lập danh hiệu hoặc do từ bổn nguyện,
hoặc do đức hạnh, lợi ích ta lẫn người
đều thù thắng, dùng các điều đó để
đặt tên. [Trong đoạn này], tên hai vị đầu
nói về sự thuyết pháp, tên hai vị sau nói về sự
siêng ṛng. Cặp đôi “thuyết pháp” và “siêng tu” có thể hàng
phục bốn loại ma; do vậy, chuyển pháp luân chẳng
bị chướng ngại, có thể thuyết pháp chẳng thoái chuyển.
V́ thế, chuyển pháp luân bất thoái, chẳng bị chướng
ngại. Hoằng pháp không ngơi nghỉ do nghĩ
thương xót hữu t́nh. Thường phát tâm v́ chúng sanh
chuyển pháp luân do đă đạt được biện
tài nhạo thuyết bất đoạn. Thường phát
tâm chuyển pháp luân, luôn siêng năng tự lợi. Do vậy,
gọi là Thường Tinh Tấn. Thường sách tấn
lợi lạc người khác, cho nên tên là Bất Hưu Tức.
Hoặc [có thể hiểu danh hiệu của bốn vị
Bồ Tát này] h́nh thành một cặp “tự lợi, lợi
tha”.
(Kinh) Từ Thị Bồ
Tát, Diệu Cát Tường Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ
Tát.
(經)慈氏菩薩、妙吉祥菩薩、觀自在菩薩。
(Kinh: Từ Thị Bồ
Tát, Diệu Cát Tường Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ
Tát).
Tán rằng: Từ Thị âm
tiếng Phạn là Mai Đát Lệ Duệ (Maitreya),
phương này dịch là Từ Thị, hoặc dịch là
Na, tức là Ngài sanh trong ḍng họ Từ, hoặc bản
tánh hành Từ.
Hoặc phiên âm là Duệ Ni, tức là nói về người
nữ, do mẹ Ngài sẵn có ḷng từ. Mạn Thù Thất
Lợi (Mañjuśrī), phương này
dịch là Diệu Cát Tường. A Phược Lô Chỉ
Đế Thấp Phạt Ra Da (Avalokiteśvara), phương này
dịch là Quán Tự Tại. Ba vị này chính là ban vui, dẹp
khổ, Cát Tường ban vui, Quán Âm dẹp khổ. Đây
là cặp ư nghĩa “ban vui, dẹp khổ”.
(Kinh) Tổng Tŕ Tự Tại
Vương Bồ Tát, Đại Biện Trang Nghiêm Vương
Bồ Tát.
(經)總持自在王菩薩、大辯莊嚴王菩薩。
(Kinh: Tổng Tŕ Tự
Tại Vương Bồ Tát, Đại Biện Trang Nghiêm
Vương Bồ Tát).
Tán rằng: Nơi Đệ
Cửu Địa, có thể ĺa hai thứ ngu[14],
trọn đủ bốn món biện tài. Do vậy, tổng
tŕ tự tại, trọn đủ bảy món biện tài[15],
thường v́ Đại Thừa, gọi là Đại Biện
Trang Nghiêm. Đây là cặp ư nghĩa “tŕ pháp, thuyết
pháp”.
(Kinh) Diệu Cao Sơn
Vương Bồ Tát, Đại Hải Thâm Vương Bồ
Tát.
(經)妙高山王菩薩、大海深王菩薩。
(Kinh: Diệu Cao
Sơn Vương Bồ Tát, Đại Hải Thâm
Vương Bồ Tát).
Tán rằng: Trí huệ khó ngửa đầu lên trông như núi chúa Diệu
Cao. Định chẳng lường dường như biển
cả. Trí và Định đều tự tại, đều
được ví như Vương. Đây là cặp ư
nghĩa “trí cao, định thẳm”.
(Kinh) Bảo Tràng Bồ
Tát, Đại Bảo Tràng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ
Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát.
(經)寶幢菩薩、大寶幢菩薩、地藏菩薩、虛空藏菩薩。
(Kinh: Bảo Tràng Bồ
Tát, Đại Bảo Tràng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ
Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát).
Tán rằng: Hiểu rơ Hữu
cao cả, thù thắng như Bảo Tràng (tràng báu). Hiểu
rơ Không cao cả, thù thắng th́ gọi là Đại Bảo
Tràng. Đây là cặp ư nghĩa “hiểu rơ Hữu, hiểu
rơ Không”. [Địa Tạng]: Đất đại bi
gánh vác trọn khắp là Tạng. Có thể dùng hư không
để làm tạng báu; [đó là ư nghĩa của Hư
Không Tạng]. Đây là cặp ư nghĩa “đại bi,
đại trí”.
(Kinh) Bảo Thủ Tự
Tại Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Hoan Hỷ Lực
Bồ Tát, Đại Pháp Lực Bồ Tát.
(經)寶手自在菩薩、金剛手菩薩、歡喜力菩薩、大法力菩薩。
(Kinh: Bảo Thủ Tự
Tại Bồ Tát, Kim Cang Thủ Bồ Tát, Hoan Hỷ Lực
Bồ Tát, Đại Pháp Lực Bồ Tát).
Tán rằng: Ở đây có
hai cặp ư nghĩa. [Bảo Thủ là] tay tuôn ra trân bảo,
có thể phá trừ bần cùng. Trí thủ (tay trí) có thể
phá hoại tự chướng (chướng của chính
ḿnh) và tha chướng (chướng của người
khác), th́ gọi là Kim Cang Thủ. Đây là cặp ư nghĩa “giúp
nghèo, phá chướng”. Hoan hỷ ưa thích thường
hành, khó thể khuất phục, th́ gọi là Hoan Hỷ Lực.
Pháp thí Đại Thừa có thể dẹp tan các chướng
như Vô Minh v.v… của kẻ khác, gọi là Đại Pháp
Lực. Đây là cặp ư nghĩa “khó thể khuất phục,
hàng phục kẻ khác”.
(Kinh) Đại Trang
Nghiêm Quang Bồ Tát, Đại Kim Quang Trang Nghiêm Bồ Tát.
(經)大莊嚴光菩薩、大金光莊嚴菩薩。
(Kinh: Đại Trang
Nghiêm Quang Bồ Tát, Đại Kim Quang Trang Nghiêm Bồ Tát).
Tán rằng: Dùng định
quang trí huệ để tự trang nghiêm, th́ gọi là
Đại Trang Nghiêm Quang. Dùng kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương để lợi lạc chúng sanh, th́ gọi là
Đại Kim Quang Trang Nghiêm. Giảm thiểu [sự thọ
dụng của] chính ḿnh để lợi lạc người
khác, cho nên gọi là Đại. Đây là cặp ư nghĩa “tự
trang nghiêm chính ḿnh, trang nghiêm người khác”.
(Kinh) Tịnh Giới Bồ
Tát, Thường Định Bồ Tát, Cực Thanh Tịnh
Huệ Bồ Tát.
(經)淨戒菩薩、常定菩薩、極清淨慧菩薩。
(Kinh: Tịnh Giới
Bồ Tát, Thường Định Bồ Tát, Cực Thanh Tịnh
Huệ Bồ Tát).
Tán rằng: Ba danh hiệu này
chính là cái nhân của Tam Học, mỗi điều đều
đạt được hoàn bị trọn vẹn. Dựa
theo sự thật để đều tu [Tam Học]. Nói
theo bổn nguyện, đây là cặp ư nghĩa “đại
phước, đại trí”. Giới là phước, Huệ
là Trí, Định gồm chung cả hai thứ. Hoặc [có
thể hiểu là] từ trong trí mà có thể phát khởi
trí.
(Kinh)
Kiên Cố Tinh Tấn Bồ Tát, Tâm Như Hư Không Bồ
Tát, Bất Đoạn Đại Nguyện Bồ Tát.
(經)堅固精進菩薩、心如虛空菩薩、不斷大願菩薩。
(Kinh: Kiên Cố
Tinh Tấn Bồ Tát, Tâm Như Hư Không Bồ Tát, Bất
Đoạn Đại Nguyện Bồ Tát).
Tán rằng: Do ba thứ
giồi mài, sách tấn và siêng năng đều chẳng
thoái thất th́ gọi là Kiên Cố Tinh Tấn. Cái tâm vô ngại
như hư không [là ư nghĩa của danh hiệu Tâm Như
Hư Không]. Chẳng xả Tứ Hoằng Nguyện th́ gọi
là Bất Đoạn Đại Nguyện. Đây là cặp
ư nghĩa “bất thoái, thường tu”. Như Không th́
bao gồm cả hai [ư nghĩa ấy].
(Kinh) Thí Dược Bồ
Tát, Liệu Chư Phiền Năo Bệnh Bồ Tát, Y
Vương Bồ Tát.
(經)施藥菩薩、療諸煩惱病菩薩、醫王菩薩。
(Kinh: Thí Dược Bồ
Tát, Liệu Chư Phiền Năo Bệnh Bồ Tát, Y
Vương Bồ Tát).
Tán rằng: Thí thuốc chữa
bệnh nơi thân, Liệu Phiền Năo là trừ bệnh
nơi tâm. Y Vương hành trọn đủ. Đây là cặp
ư nghĩa “chữa trị thân, chữa trị tâm”.
(Kinh) Hoan Hỷ Cao
Vương Bồ Tát, Đắc Thượng Thọ Kư Bồ
Tát.
(經)歡喜高王菩薩、得上授記菩薩。
(Kinh: Hoan Hỷ Cao
Vương Bồ Tát, Đắc Thượng Thọ Kư Bồ
Tát.
Tán rằng: Nếu trông thấy
chúng sanh bèn mỉm cười, trước hết là nói: Khiến cho họ sanh ḷng hoan hỷ, đạt
được tự tại, gọi là Cao Vương. Thuộc
địa vị Quán Đảnh, đạt được
thọ kư bậc thượng. Đây là cặp ư nghĩa “tăng
tấn người khác, tăng tấn chính ḿnh”.
(Kinh) Đại Vân Tịnh
Quang Bồ Tát, Đại Vân Tŕ Pháp Bồ Tát, Đại Vân
Danh Xưng Hỷ Nhạo Bồ Tát, Đại Vân Hiện Vô
Biên Xưng Bồ Tát.
(經)大雲淨光菩薩、大雲持法菩薩、大雲名稱喜樂菩薩、大雲現無邊稱菩薩。
(Kinh: Đại Vân Tịnh
Quang Bồ Tát, Đại Vân Tŕ Pháp Bồ Tát, Đại
Vân Danh Xưng Hỷ Nhạo Bồ Tát, Đại Vân Hiện Vô
Biên Xưng Bồ Tát.
Tán rằng: Mây đại
pháp trí chứa đựng mưa các đức, gọi là
Đại Vân. Các danh hiệu c̣n lại đều chuẩn
theo cách giải thích này. Trí có thể trừ cấu th́ gọi
là Tịnh Quang. Tham các công đức th́ gọi là Tŕ Pháp.
Đây là cặp ư nghĩa “trừ ám, tŕ pháp”. Tiếng
thơm lan xa, người nghe thấy đều sanh ḷng
ưa thích. Chữ “樂” ở đây phải
đọc là Nhạo. Tiếng tăm trọn khắp
mười phương, gọi là Hiện Vô Biên Xưng.
Đây là cặp ư nghĩa “người khác ưa thích, tiếng
tăm vang xa”.
(Kinh) Đại Vân
Sư Tử Hống Bồ Tát, Đại Vân Ngưu
Vương Hống Bồ Tát, Đại Vân Cát Tường
Bồ Tát, Đại Vân Bảo Đức Bồ Tát.
(經)大雲師子吼菩薩、大雲牛王吼菩薩、大雲吉祥菩薩、大雲寶德菩薩。
(Kinh: Đại Vân
Sư Tử Hống Bồ Tát, Đại Vân Ngưu
Vương Hống Bồ Tát, Đại Vân Cát Tường
Bồ Tát, Đại Vân Bảo Đức Bồ Tát).
Tán rằng: Việc làm quyết
định th́ gọi là Đại Sư Tử Hống. Có
thể dẹp tan oán địch, gọi là Đại Vân
Ngưu Vương Hống. Hai vị Bồ Tát này chính là cặp
ư nghĩa “có thể thực hiện, có thể hàng phục”.
Có thể sanh phước lợi to lớn th́ gọi là Cát
Tường; dùng thiện pháp để tự trang nghiêm th́
gọi là Bảo Đức. Đây là cặp ư nghĩa “ḿnh
và người đều đạt được lợi
ích”.
(Kinh) Đại Vân Nhật
Tạng Bồ Tát, Đại Vân Nguyệt Tạng Bồ
Tát, Đại Vân Tinh Quang Bồ Tát, Đại Vân Hỏa Quang Bồ
Tát.
(經)大雲日藏菩薩、大雲月藏菩薩、大雲星光菩薩、大雲火光菩薩。
(Kinh: Đại Vân Nhật
Tạng Bồ Tát, Đại Vân Nguyệt Tạng Bồ
Tát, Đại Vân Tinh Quang Bồ Tát, Đại Vân Hỏa Quang Bồ
Tát).
Tán rằng: Phá sự tối
tăm bất thiện như mặt trời, có thể khiến
cho an lạc như mặt trăng. Đây là cặp ư
nghĩa “phá ác, chứng chân”. Các thứ chiếu sáng
như tinh tú, tùy thuận t́nh kiến mà thành tựu
ánh lửa. Đây là cặp ư nghĩa “có thể chiếu,
có thể thành tựu”.
(Kinh) Đại Vân
Điện Quang Bồ Tát, Đại Vân Lôi Âm Bồ Tát.
(經)大雲電光菩薩、大雲雷音菩薩。
(Kinh: Đại
Vân Điện Quang Bồ Tát, Đại Vân Lôi Âm Bồ
Tát).
Tán rằng: Trong đêm sanh tử,
có thể soi sáng, chỉ bày chánh đạo th́ gọi là
Điện Quang (ánh sáng của
tia chớp).
Thuyết pháp chấn động mạnh mẽ như tiếng
sấm (Lôi Âm). Đây là cặp ư
nghĩa “chỉ bày đạo, khiến cho người
khác mạnh mẽ tỉnh ngộ”.
(Kinh) Đại Vân Huệ
Vũ Sung Biến Bồ Tát, Đại Vân Thanh Tịnh
Vũ Vương Bồ Tát.
(經)大雲慧雨充遍菩薩、大雲清淨雨王菩薩。
(Kinh: Đại Vân Huệ
Vũ Sung Biến Bồ Tát, Đại Vân Thanh Tịnh
Vũ Vương Bồ Tát).
Tán rằng: Pháp có thể sanh
ra trí th́ gọi là Huệ Vũ (mưa trí huệ). Pháp có thể trừ chướng
gọi là Thanh Tịnh Vũ (mưa thanh tịnh). Do có oai lực nên như mưa; do
không ǵ chẳng tạo lợi ích,
cho nên tràn trề trọn khắp (sung biến, 充遍). Đây là cặp ư nghĩa “sanh thiện,
diệt ác”.
(Kinh) Đại Vân Hoa Thụ
Vương Bồ Tát, Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương
Bồ Tát, Đại Vân Bảo Chiên Đàn Hương Thanh
Lương Thân Bồ Tát.
(經)大雲華樹王菩薩、大雲青蓮華香菩薩、大雲寶旃檀香清涼身菩薩。
(Kinh: Đại Vân
Hoa Thụ Vương Bồ Tát, Đại Vân Thanh Liên Hoa
Hương Bồ Tát, Đại Vân Bảo Chiên Đàn
Hương Thanh Lương Thân Bồ Tát).
Tán rằng: Nhân hạnh
đă viên măn, sắp đạt được giác quả,
gọi là Hoa Thụ Vương. Có thể phô diễn diệu
lư, mở mắt cho chúng sanh, công đức đồn xa, gọi
là Thanh Liên Hoa Hương. Đạt được thanh tịnh
Pháp Thân, trọn đủ ngũ phần hương (giới hương, định
hương, huệ hương, giải thoát hương, giải
thoát tri kiến hương), gọi là Bảo Chiên
Đàn Hương. Thân thanh lương thuộc địa
vị Pháp Thân, đạt được các công đức
trọn khắp Pháp Thân. Đây là cặp ư nghĩa “nhân
thành tựu, hiện quả”. Hai danh hiệu đầu
là nhân, v́ do hoa mà có quả. Một danh hiệu sau cùng là quả,
v́ nói là Thanh Lương Thân.
(Kinh) Đại Vân Trừ
Ám Bồ Tát, Đại Vân Phá Ế Bồ Tát.
(經)大雲除闇菩薩、大雲破翳菩薩。
(Kinh: Đại Vân Trừ
Ám Bồ Tát, Đại Vân Phá Ế Bồ Tát).
Tán rằng: Có thể phá si ám
th́ gọi là Trừ Ám. Có thể phá hai thứ chấp th́ gọi
là Phá Ế (phá trừ sự
che lấp).
Đây là cặp ư nghĩa “phá ám, trừ chấp”.
(Kinh) Như thị đẳng
vô lượng đại Bồ Tát chúng.
(經)如是等無量大菩薩眾。
(Kinh: Vô lượng
các vị đại Bồ Tát như thế).
Tán rằng: Tổng kết.
(Kinh)
Các ư bô thời, tùng Định nhi khởi, văng nghệ
Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu
tam táp, thoái tọa nhất diện.
(經)各於晡時從定而起,往詣佛所,頂禮佛足右繞三匝,退坐一面。
(Kinh: Mỗi vị
vào lúc buổi chiều, từ Định xuất, đi
đến chỗ đức Phật, đảnh lễ
dưới chân đức Phật, nhiễu theo chiều phải
ba ṿng, lui qua ngồi một bên).
Tán rằng: Đoạn kinh
văn [trần thuật các vị Bồ Tát] đến chỗ
đức Phật gồm bốn tiểu đoạn,
như trong phần trước đă phân biệt.
(Kinh) Phục hữu Lê
Xa Tỳ đồng tử ngũ ức bát thiên.
(經)復有梨車毘童子五億八千。
(Kinh: Lại
có năm ức tám ngàn đồng tử Lê Xa Tỳ).
Tán rằng: Trong đoạn
kinh văn thứ ba (tức phần nói về phàm chúng, sau
phần nói về Thanh Văn chúng và Bồ Tát chúng), chia thành
bốn tiểu đoạn. Ở đây là nêu ra loại và
số. Xưa kia [tộc người này] được dịch
là Ly Xa, hoặc Ly Cô Tỳ,
nay dịch là Lợi Xa Tỳ (Licchavī)[16], có thuyết nói họ
là hoàng tộc, có người nói họ là chủng tánh Bà La
Môn. Theo kinh Duy Ma Cật, ngài Vô Cấu Xưng (Duy Ma Cật)
nói “năm trăm trưởng giả tử [Ly Xa]”,
chẳng nói họ là hoàng tộc. Hoặc có khi [tuy họ là] gịng dơi
vua chúa, vẫn gọi là “trưởng
giả”, như trưởng
giả Kỳ Vực (Jīvaka Kaumārabhṛtya)[17]
[chẳng hạn].
(Kinh) Kỳ danh viết
Sư Tử Quang đồng tử, Sư Tử Huệ
đồng tử, Pháp Thọ đồng tử.
(經)其名曰師子光童子、師子慧童子、法授童子。
(Kinh: Tên họ
là đồng tử Sư Tử Quang, đồng tử
Sư Tử Huệ, đồng tử Pháp Thọ).
Tán rằng: Tiểu đoạn
thứ hai là liệt kê danh xưng, có hai phần: Một là
liệt kê, hai là tiểu kết. Có trí quang quyết định,
có huệ quyết định, có thể truyền trao chánh
pháp cho hữu t́nh, [danh xưng của ba đồng tử]
theo thứ tự tương ứng với ba điều
ấy.
(Kinh) Nhân Đà La Thọ
đồng tử, Đại Quang đồng tử, Đại
Mănh đồng tử, Phật Hộ đồng tử,
Pháp Hộ đồng tử, Tăng Hộ đồng tử.
(經)因陀羅授童子、大光童子、大猛童子、佛護童子、法護童子、僧護童子。
(Kinh: Đồng tử
Nhân Đà La Thọ, đồng tử Đại Quang,
đồng tử Đại Mănh, đồng tử Phật
Hộ, đồng tử Pháp Hộ, đồng tử
Tăng Hộ).
Tán rằng: Xin từ Thiên
Đế, Thiên Đế truyền trao, gọi là Nhân Đà
La Thọ. Có thể dùng trí hỏa để phá tối
tăm cho ḿnh lẫn người, gọi là Đại
Quang. Dũng mănh nhất quyết tu đạo, gọi là
Đại Mănh. Niệm Phật, Pháp, Tăng th́ gọi là Phật
Hộ v.v…
(Kinh) Kim Cang Hộ đồng
tử, Hư Không Hộ đồng tử, Hư Không Hống
đồng tử, Bảo Tạng đồng tử, Cát
Tường Diệu Tạng đồng tử.
(經)金剛護童子、虛空護童子、虛空吼童子、寶藏童子、吉祥妙藏童子。
(Kinh: Đồng
tử Kim Cang Hộ, đồng tử Hư Không Hộ,
đồng tử Hư Không Hống, đồng tử Bảo
Tạng, đồng tử Cát Tường Diệu Tạng).
Tán rằng: Dựa theo danh hiệu
mà giải thích.
(Kinh) Như thị đẳng
nhân nhi vi thượng thủ.
(經)如是等人而為上首。
(Kinh: Những người
như thế làm thượng thủ).
Tán rằng: Tiểu
kết.
(Kinh) Tất giai an trụ
Vô Thượng Bồ Đề, ư Đại Thừa
trung thâm tín, hoan hỷ.
(經)悉皆安住無上菩提,於大乘中深信歡喜。
(Kinh: Thảy
đều an trụ trong Vô Thượng Bồ Đề,
đối với Đại Thừa tin sâu, hoan hỷ).
Tán rằng: Ca ngợi phẩm
đức. Đạt tới địa vị Bất
Thoái th́ nói là “an trụ Bồ Đề”. Lại có thể
thủ hộ pháp thành, giữ vững chánh pháp, cho nên nói là “an
trụ Bồ Đề”. Chứng tín tâm bất hoại,
sanh ḷng hoan hỷ sâu xa.
(Kinh) Các ư bô thời,
văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu
nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.
(經)各於晡時往詣佛所,頂禮佛足,右繞三匝,退坐一面。
(Kinh: Mỗi người
vào lúc buổi chiều, đi đến chỗ Phật,
đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu
theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).
Tán rằng: Đến chỗ
đức Phật.
(Kinh) Phục hữu tứ
vạn nhị thiên thiên tử, kỳ danh viết: Hỷ Kiến
thiên tử, Hỷ Duyệt thiên tử, Nhật Quang thiên tử,
Nguyệt Kế thiên tử, Minh Huệ thiên tử, Hư
Không Tịnh Huệ thiên tử, Trừ Phiền Năo thiên tử,
Cát Tường thiên tử. Như thị đẳng thiên tử
nhi vi thượng thủ, giai phát hoằng nguyện hộ
tŕ Đại Thừa, thiệu long chánh pháp, năng sử
bất tuyệt, các ư bô thời, văng nghệ Phật sở,
đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa
nhất diện.
(經)復有四萬二千天子,其名曰:喜見天子、喜悅天子、日光天子、月髻天子、明慧天子、虛空淨慧天子、除煩惱天子、吉祥天子。如是等天子而為上首,皆發弘願護持大乘,紹隆正法能使不絕。各於晡時往詣佛所,頂禮佛足,右繞三匝,退坐一面。
(Kinh: Lại có bốn
vạn hai ngàn thiên tử, tên là Hỷ Kiến thiên tử, Hỷ
Duyệt thiên tử, Nhật Quang thiên tử, Nguyệt Kế
thiên tử, Minh Huệ thiên tử, Hư Không Tịnh Huệ
thiên tử, Trừ Phiền Năo thiên tử, Cát Tường
thiên tử. Các vị thiên tử như thế làm thượng
thủ, đều phát hoằng nguyện hộ tŕ Đại
Thừa, tiếp nối hưng thịnh chánh pháp, có thể
khiến cho [chánh pháp] chẳng dứt, mỗi vị đều
vào buổi chiều, đi đến chỗ đức Phật,
đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều
phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).
Tán rằng: Kế đó, liệt kê chư thiên, kinh văn
cũng gồm bốn đoạn giống như trong phần
trước. Đa phần là Tam Thập Tam Thiên và Tứ
Vương Thiên, do họ ở gần nên liệt kê trước.
Thế tục đặt tên, chẳng thể giải thích
cặn kẽ được. Trong phần tán thán phẩm
đức, có hai ư:
- Một, phát Tứ Hoằng
Nguyện.
- Hai, thủ hộ Đại
Thừa. Thủ hộ Đại Thừa, tức là nhiếp
thọ chánh pháp. Nhiếp thọ chánh pháp sẽ có thể
kham gánh vác bốn loại trọng trách như trong kinh Thắng
Man đă nói. V́ thế, có thể tiếp nối hưng thịnh
chánh pháp. Chánh pháp có ba loại là chánh chứng, chánh hạnh,
và chánh giáo. Tự ḿnh có thể khiến cho người khác
nương theo chánh giáo, khởi chánh hạnh, chứng chánh
quả; v́ thế khiến cho [chánh pháp] chẳng đoạn
tuyệt. Di Lặc Vấn Luận[18]
nói có năm pháp để nhiếp thủ diệu pháp:
- Một, v́ báo ân Phật.
- Hai, v́ tự thân mà khiến
cho diệu pháp trụ thế lâu dài.
- Ba, cúng dường chư
Phật.
- Bốn, v́ muốn lợi
ích chúng sanh.
- Năm, do diệu pháp khó
được.
Theo quyển mười của
kinh Bảo Vũ, thành tựu mười pháp sẽ có thể
nhiếp thọ chánh pháp:
- Một, trong đời Mạt
Pháp không có người có thể tŕ mà có thể thọ tŕ Đại
Tố Đát Lăm (kinh Đại Thừa), cung kính cúng dường.
- Hai, v́ người khác thuyết
pháp.
- Ba, thấy người có
thể tu học, liền sanh ḷng hoan hỷ
sâu xa.
- Bốn, lắng nghe chánh
pháp chẳng mong mỏi.
- Năm, đối với
pháp sư tưởng như bậc đạo sư.
- Sáu, có thể đối với
chánh pháp tưởng như cam lộ.
- Bảy, có thể đối
với chánh pháp, tưởng như thuốc tiên.
- Tám, có thể đối với
chánh pháp, tưởng như thuốc tốt lành.
- Chín, có thể chuyên cầu
chánh pháp, chẳng đoái hoài thân mạng.
- Mười, mong cầu chánh
pháp, dấy lên ư tưởng tu hành.
(Kinh) Phục hữu nhị
vạn bát thiên long vương: Liên Hoa long vương, Ế
La Diệp Năng vương, Đại Lực long
vương, Đại Hống long vương, Tiểu Ba
long vương, Tŕ Sử Thủy long vương, Kim Diện
long vương, Như Ư long vương, như thị
đẳng long vương nhi vi thượng thủ, ư
Đại Thừa pháp thường nhạo thọ tŕ, phát
thâm tín tâm, xưng dương, ủng hộ, các ư bô thời,
văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu
nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.
(經)復有二萬八千龍王,蓮華龍王、𧫦羅葉能王、大力龍王、大吼龍王、小波龍王、持駛水龍王、金面龍王、如意龍王,如是等龍王而為上首,於大乘法常樂受持,發深信心稱揚擁護。各於晡時往詣佛所,頂禮佛足,右繞三匝,退坐一面。
(Kinh: Lại có hai vạn tám
ngàn long vương: Liên Hoa long vương, Ế La Diệp
Năng vương, Đại Lực long vương,
Đại Hống long vương, Tiểu Ba long
vương, Tŕ Sử Thủy long vương, Kim Diện
long vương, Như Ư long vương, các long vương
như thế làm thượng thủ, đối với
pháp Đại Thừa thường thích thọ tŕ, phát sanh
tín tâm sâu xa, xưng dương, ủng hộ, ai nấy vào
lúc buổi chiều đi đến chỗ đức Phật,
đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều
phải ba ṿng, lui qua ngồi một phía).
Tán rằng: Kinh văn
cũng gồm bốn tiểu đoạn giống như
phần trên. Liên Hoa [long vương] nương vào ao hoa sen
để trụ. Chữ Ế La (Elā) được phương này dịch
là Thụ (cây cối). Bát Noa (Pattra) được phương này dịch
là Diệp (lá). Vị long vương này nương theo lá
cây mà trụ, hoặc ăn lá cây, tức là Thiện Trụ
long vương. C̣n Như Ư là do căn cứ theo [như ư]
châu mà đặt tên. Phần tán thán phẩm đức có ba
điều:
- Một là thọ tŕ chánh
pháp.
- Hai là khởi tín tâm sâu đậm.
- Ba là tán thán, diễn nói, và
thủ hộ.
(Kinh) Phục hữu tam
vạn lục thiên chư Dược Xoa chúng, Tỳ Sa Môn
thiên vương nhi vi thượng thủ, kỳ danh viết:
Am Bà Dược Xoa, Tŕ Am Bà Dược Xoa, Liên Hoa Quang Tạng
Dược Xoa, Liên Hoa Diện Dược Xoa, Tần Mi
Dược Xoa, Hiện Đại Bố Dược Xoa,
Động Địa Dược Xoa, Thôn Thực Dược
Xoa, thị đẳng Dược Xoa tất giai ái nhạo
Như Lai chánh pháp, thâm tâm hộ tŕ, bất sanh b́ giải,
các ư bô thời, văng nghệ Phật sở, đảnh
lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, thoái tọa nhất
diện.
(經)復有三萬六千諸藥叉眾,毘沙門天王而為上首,其名曰:菴婆藥叉、持菴婆藥叉、蓮華光藏藥叉、蓮華面藥叉、顰眉藥叉、現大怖藥叉、動地藥叉、吞食藥叉,是等藥叉悉皆愛樂如來正法,深心護持不生疲懈。各於晡時往詣佛所,頂禮佛足,右繞三匝,退坐一面。
(Kinh: Lại có ba vạn
sáu ngàn các vị Dược Xoa, Tỳ Sa Môn thiên
vương làm thượng thủ, tên họ là Am Bà Dược
Xoa, Tŕ Am Bà Dược Xoa, Liên Hoa Quang Tạng Dược
Xoa, Liên Hoa Diện Dược Xoa, Tần Mi Dược Xoa,
Hiện Đại Bố Dược Xoa, Động Địa
Dược Xoa, Thôn Thực Dược Xoa. Các Dược
Xoa ấy thảy đều yêu thích chánh pháp của Như
Lai, thâm tâm hộ tŕ, chẳng sanh lười mệt, ai nấy
đều vào buổi chiều đi đến chỗ
đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
nhiễu theo chiều phải ba ṿng, lui qua ngồi một
phía).
Tán rằng: Liệt kê đại
chúng Dược Xoa (Yakṣa), kinh văn
cũng chia thành bốn tiểu đoạn. Dược Xoa
được phương này dịch là Dũng Kiện (勇健, mạnh mẽ), c̣n dịch
là Tiệp Tật (捷疾, nhanh chóng), c̣n bao gồm
các Địa Hành La Sát Sa. La Sát Sa (Rākṣasa,
La Sát)
được phương này dịch là Bạo Ác. Tán thán
phẩm đức gồm ba điều: Một là yêu mến
chánh pháp, hai là có thể hộ tŕ, ba là chẳng mệt mỏi.
(Kinh) Phục hữu tứ
vạn cửu thiên Yết Lộ Đồ vương,
Hương Tượng Thế Lực vương nhi vi
thượng thủ.
(經)復有四萬九千揭路荼王,香象勢力王而為上首。
(Kinh: Lại có bốn
vạn chín ngàn Yết Lộ Đồ (Garuḍa) vương,
Hương Tượng Thế Lực vương làm
thượng thủ).
Tán rằng: Các
điểu vương, phương này dịch là Diệu
Xí (妙翅: Cánh đẹp đẽ). Nói theo cách dịch cũ th́
c̣n dịch là Kim Xí (金翅: cánh
vàng). Có sức mạnh và oai thế như hương tượng,
hoặc có thế lực khiến cho hương tượng
hoảng sợ. Hoặc có thể hiểu là chim giống
như loài hương tượng, tức là hương
tượng vương.
(Kinh) Cập dư Kiện
Thát Bà, A Tô La, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già đẳng,
sơn, lâm, hà, hải, nhất thiết thần tiên, tịnh
chư đại quốc sở hữu vương chúng,
trung cung hậu phi, thanh tín nam nữ, nhân thiên đại
chúng, tất giai vân tập.
(經)及餘健闥婆、阿蘇羅、緊那羅、莫呼洛伽等山林河海一切神仙,并諸大國所有王眾、中宮后妃,淨信男女,人天大眾悉皆雲集。
(Kinh: Và các loài Kiện
Thát Bà (Gandharva, Càn Thát Bà), A Tô La (A Tu La), Khẩn Na La (Kiṃnara), Mạc Hô Lạc
Già (Mahoraga, Ma Hầu La Già) v.v… hết thảy
thần tiên trong núi, rừng, sông, biển, và tất cả
các vua trong các nước lớn, hậu phi trong nội
cung, thanh tín nam nữ, đại chúng trời, người,
thảy đều như mây nhóm đến).
Tán rằng: Nêu chung các loại
đại chúng khác.
(Kinh) Hàm nguyện ủng
hộ Vô Thượng Đại Thừa, độc, tụng,
thọ tŕ, thư tả, lưu bố.
(經)咸願擁護無上大乘,讀誦受持書寫流布。
(Kinh: Đều
nguyện ủng hộ Vô Thượng Đại Thừa,
đọc, tụng, thọ tŕ, biên chép, lưu truyền).
Tán rằng: Tán thán phẩm
đức gồm bốn điều: Một là nguyện ủng
hộ, hai là tự tụng tŕ, ba là biên chép, bốn là truyền
bá.
(Kinh) Các ư bô thời,
văng nghệ Phật sở, đảnh lễ Phật túc, hữu
nhiễu tam táp, thoái tọa nhất diện.
(經)各於晡時往詣佛所,頂禮佛足,右繞三匝,退坐一面。
(Kinh: Đều vào
lúc sáng sớm, đi đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải
ba ṿng, lui qua ngồi một phía).
Tán rằng: Đến chỗ
đức Phật.
(Kinh) Như thị đẳng
Thanh Văn, Bồ Tát, nhân thiên đại chúng, long thần
bát bộ kư vân tập dĩ, các các chí tâm hiệp chưởng
cung kính, chiêm ngưỡng tôn dung, mục vị tằng xả.
(經)如是等聲聞、菩薩、人天大眾、龍神八部既雲集已,各各至心合掌恭敬,瞻仰尊容目未曾捨。
(Kinh: Các vị Thanh
Văn, Bồ Tát, đại chúng trời người, tám bộ
long thần như thế đă vân tập, ai nấy chí tâm
chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn dung, mắt chưa
từng ĺa).
Tán rằng: Đây là phần
tổng kết, gồm hai tiểu đoạn: Một là tiểu
kết, hai là nêu quy cách cầu pháp. Cầu pháp chuyên ṛng, chân
thành,
nên
“chí tâm”, ngầm biểu lộ bằng cách chắp
tay. Kính trọng là Cung, cung sâu xa là Kính. Ngắm thân tướng
trang nghiêm, mong thành Phật quả; v́ thế, “chiêm ngưỡng
tôn dung”. Trọn chẳng nh́n ǵ khác, nên nói là “vị tằng
xả” (chưa từng bỏ).
(Kinh) Nguyện nhạo dục
văn thù thắng diệu pháp.
(經)願樂欲聞殊勝妙法。
(Kinh: Nguyện ưa
thích muốn nghe diệu pháp thù thắng).
Tán rằng: Nói về cái nhân
thành tựu. Do mọi người
muốn nghe, đức Phật mới có thể nói.
(Kinh) Nhĩ thời, Bạc
Già Phạm ư nhật bô thời, tùng Định nhi khởi,
quán sát đại chúng.
(經)爾時薄伽梵於日晡時從定而起,觀察大眾。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
đức Bạc Già Phạm vào lúc buổi chiều, từ
Định xuất, quan sát đại chúng).
Tán rằng: Phát Khởi Tự
gồm hai phần: Đây là phần thứ nhất, tức
Thời Thành Tựu, và thuyết pháp sở y oai nghi thành tựu (sự thành tựu nơi oai nghi
thuyết pháp), tức là soi xét cơ nghi. Hoặc có
thể nói là ư nghĩa “oai
nghi thuyết pháp thành tựu”
cũng được bao gồm trong ấy.
(Kinh) Nhi thuyết tụng
viết: - Kim Quang Minh diệu pháp, tối thắng
chư kinh vương, thậm thâm nan đắc văn,
chư Phật chi cảnh giới. Ngă đương vị
đại chúng, tuyên thuyết như thị kinh”.
(經)而說頌曰:金光明妙法,最勝諸經王,甚深難得聞,諸佛之境界。我當為大眾,宣說如是經。
(Kinh: Bèn nói bài tụng
rằng: “Diệu pháp Kim Quang Minh, tối thắng vua các
kinh, rất sâu khó được nghe, là cảnh giới
chư Phật, ta sẽ v́ đại chúng, tuyên nói kinh
như thế”).
Tán rằng: Đây là nói đến
Thuyết Thành Tựu. Có hai mươi bốn bài kệ tụng,
chia đại lược thành ba phần:
- Một bài kệ rưỡi
đầu tiên, nêu chung sự sâu mầu, hứa sẽ v́
đại chúng tuyên nói.
- Hai mươi bài kệ
rưỡi sau đó, riêng nêu những điều sẽ
được nói, ca ngợi sự thù thắng, khiến [cho đại
chúng nghe xong sẽ] tu tập.
- Hai bài cuối cùng, tổng
kết lợi ích thù thắng, tán thán, khuyên học.
Ở đây,
thuộc phần thứ nhất. “Tụng” (頌)
dịch theo lối cũ là Kệ, tiếng Phạn là Già
Tha (Gāthā), bị [phiên âm] sai ngoa thành Kệ (偈).
“Tụng” có nghĩa là ca ngợi sự tốt đẹp,
chính là “phúng tụng” (諷誦) ở
phương này (Trung Hoa). Cuối phần
Trường Hàng trong đoạn trên đây bèn lập ra bài
tụng.
Hỏi: Phúng Tụng và Ứng
Tụng, hai thể
loại tụng có ǵ khác biệt?
Đáp: Tụng trong Ứng Tụng
có nghĩa là “giáo”, c̣n Tụng trong Phúng Tụng là “ngôn”.
Hỏi: V́ sao phúng tụng là
Ngôn? Ứng Tụng là giáo?
Đáp: Du Già Sư Địa
Luận, quyển thứ tám mươi mốt viết: “Ứng
Tụng nghĩa là sau phần Trường Hàng bèn tuyên nói
Già Đà”. Có nghĩa là: Già Đà nhằm nói thẳng thừng
các nghĩa (nhắc lại các nghĩa vừa được
nói trong phần Trường Hàng). Đối với Phúng Tụng,
luận ghi: “Chính là dùng câu để nói”[19].
Ư nói: “Dùng câu văn để diễn tả điều muốn
nói”.
Trong một bài tụng rưỡi
ở đây, hai câu đầu nêu ra “năng thuyên giáo”
(giáo pháp có thể diễn nói, tức kinh Kim Quang Minh), hai câu
kế nêu ra “sở thuyên nghĩa” (nghĩa lư được
diễn nói trong giáo pháp ấy). Hai câu cuối là [đức Phật] hứa khả sẽ nói. Do [kinh Kim Quang Minh] có thể diễn
nói nhân sâu, quả mầu của Bồ Đề và Niết Bàn, cho nên
là tối thắng, là vua của các kinh. Trong phần nêu bày “sở
thuyên” (điều được diễn nói bởi giáo
pháp), theo như Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận
đă nói: “Cầu pháp có bốn nhân duyên: Một là sắc,
hai là phi sắc, ba là thần thông, bốn là chánh pháp. ‘Là sắc’
tức là do tướng hảo làm cái nhân. ‘Là phi sắc’ v́
diệt cái nhân gây ra bệnh phiền năo. ‘Là thần thông’ v́
là cái nhân của tự tại. ‘Là chánh pháp’ v́ là cái nhân vô tận”.
Như Phạm Thiên Vương Vấn Kinh[20]
có nói: “Bồ Tát cầu pháp cụ túc tứ tưởng:
Nhất giả, như diệu bảo tưởng, nan
đắc nghĩa cố. Nhị, như lương dược
tưởng, trừ bệnh nghĩa cố. Tam, như tài vật
tưởng, bất tán nghĩa cố. Tứ giả,
như Niết Bàn tưởng, khổ diệt nghĩa cố”
(Bồ Tát cầu pháp trọn đủ bốn thứ
tưởng: Một là tưởng như của báu mầu
nhiệm, do có ư nghĩa khó được. Hai là tưởng
như thuốc tốt lành, v́ có nghĩa trừ bệnh. Ba
là tưởng như tài vật, v́ có ư nghĩa chẳng tan
tác. Bốn là tưởng như Niết Bàn, v́ có ư nghĩa
diệt khổ). Do pháp là cái nhân của tướng hảo
trang nghiêm. Do vậy, tưởng pháp như của báu mầu
nhiệm. Do pháp là cái nhân để diệt bệnh phiền
năo, cho nên như thuốc tốt lành. Do pháp là cái nhân của
thần thông tự tại, cho nên tưởng pháp như tài
vật. Do pháp là cái nhân vô tận của chánh pháp, cho nên
tưởng như Niết Bàn. Nay kinh này rất sâu,
khó được nghe, nêu ra ba cái nhân đầu tiên đều
là “khó được nghe”. Nói “cảnh giới của
chư Phật” là nêu ra cái nhân thứ tư, do Đại Niết Bàn th́ chỉ có Phật và Phật
mới có thể thấu hiểu cùng tận, là sở đắc
của Phật, [cho nên nói] “là cảnh giới của
chư Phật”. Những nhân quả xuất thế gian
và thế gian được nêu ra trong phần sau đều
là như thế, tức là nói chung kinh này.
(Kinh) Tịnh tứ phương tứ Phật, oai thần cộng
gia hộ, Đông phương A Súc Tôn, Nam phương Bảo
Tướng Phật, Tây phương
Vô Lượng Thọ, Bắc phương Thiên Cổ Âm.
(經)并四方四佛,威神共加護,東方阿閦尊、南方寶相佛、西方無量壽、北方天鼓音。
(Kinh:
Và bốn phương bốn Phật, oai thần cùng gia hộ,
phương Đông A Súc Phật, phương Nam Bảo
Tướng Phật, phương Tây Vô Lượng Thọ,
phương Bắc Thiên Cổ Âm).
Tán rằng: Hai
mươi bài kệ rưỡi sau đó là nêu riêng từng
điều. Trong đó, chia làm bốn
đoạn:
- [Một], ba bài kệ
rưỡi đầu tiên, tương ứng với phẩm
Thọ Mạng cho đến phẩm Măn Nguyện, tức
là phần Chánh Tông của kinh, chính là pháp được nói
trong kinh này, tức là hai nhân và hai quả.
- Hai, từ câu “chúng
sanh thân bất cụ” (thân chúng sanh chẳng toàn vẹn)
trở đi gồm sáu bài tụng, nêu ra sự khuyên học
trong phần Chánh Tông.
- Ba, năm bài tụng
từ câu “hộ thế tứ vương chúng” (bốn
vị vua hộ thế) trở đi, nêu ra pháp được
tu hành trong phần Lưu Thông từ phẩm Quán Sát cho đến
phẩm Phó Chúc.
- Bốn, sáu bài tụng
từ “nhược hữu văn thị kinh” (nếu
ai nghe kinh này) trở đi, nêu ra sự khuyên lơn thọ
tŕ và đọc tụng trong các phẩm.
Ba bài tụng rưỡi
đầu tiên lại chia thành bảy phần:
- Một, một bài tụng
rưỡi đầu tiên nêu bày phẩm Thọ Lượng.
- Hai, câu “ngă phục diễn
diệu pháp” (ta lại diễn diệu pháp), nêu bày phẩm
Tam Thân.
- Ba, hai câu từ “cát tường
sám trung thắng” (pháp thù thắng trong pháp sám hối cát
tường), nêu ra phẩm Sám Hối.
- Bốn, hai câu từ “tịnh
trừ chư ác nghiệp” (trừ sạch các ác nghiệp),
nêu ra phẩm Diệt Nghiệp Chướng.
- Năm, câu “thường
dữ vô thượng lạc” (thường ban vô lượng
lạc), nêu ra phẩm Tịnh Địa, phẩm Liên Hoa Dụ
Tán, và phẩm Kim Thắng Đà La Ni.
- Sáu, câu “nhất thiết
trí căn bản” (hết thảy trí căn bản) nêu
bày phẩm Trùng Hiển Tánh Không.
- Bảy, câu “chư công
đức trang nghiêm” (các công đức trang nghiêm), nêu
bày phẩm Y Không Măn Nguyện.
Đoạn kinh văn ở
đây thuộc về phần đầu. Đức Thích
Ca và bốn vị Phật cùng nói kinh này, cho nên nói là “tịnh
tứ phương tứ Phật” (và bốn vị Phật
trong bốn phương). Nhân duyên của bốn vị Phật
như quyển thứ bảy trong kinh Quán Phật Tam Muội
Hải đă nói. Bốn vị Phật như A Súc Phật
v.v… nói: “Ngă niệm tằng tích Không Vương Phật sở,
xuất gia, học đạo. Thời tứ tỳ-kheo cộng
vi đồng học. Phật Niết Bàn hậu, nhập
tháp quán tượng, kiến mi gian tướng như Phật
vô dị, nguyện trừ ngă tội, như đại
sơn băng, ngũ thể đầu địa, sám hối
chư tội. Y thử nhân duyên, hậu bát thập ức
A-tăng-kỳ kiếp bất đọa ác đạo,
thường kiến chư Phật, ư chư Phật sở,
thọ tŕ thậm thâm Niệm Phật tam-muội. Đắc
tam-muội dĩ, chư Phật hiện tiền, thọ
ngă kư biệt: Đông phương hữu quốc danh Diệu
Hỷ, bỉ Phật danh A Súc, tức đệ nhất tỳ-kheo
thị. Nam phương hữu quốc danh Hoan Hỷ, Phật
danh Bảo Tướng, tức đệ nhị tỳ-kheo
thị. Tây phương hữu quốc danh Cực Lạc,
Phật danh Vô Lượng Thọ, tức đệ tam tỳ-kheo
thị. Bắc phương hữu quốc, danh Liên Hoa Trang
Nghiêm, Phật danh Vi Diệu Âm, tức đệ tứ tỳ-kheo
thị” (Ta nhớ xưa kia, từng ở chỗ Không
Vương Phật xuất gia, học đạo. Khi
đó, bốn vị tỳ-kheo cùng làm đồng học.
Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, vào tháp quán
tượng, thấy tướng [bạch hào] giữa hai
mày [của tượng] giống hệt như Phật chẳng
khác, nguyện trừ tội cho tôi. Như núi lớn
sụp đổ, gieo năm vóc xuống đất, sám
hối các tội. Nương vào nhân duyên ấy, tám
mươi ức A-tăng-kỳ kiếp sau, chẳng đọa
vào đường ác, thường thấy chư Phật,
ở nơi chư Phật, thọ tŕ Niệm Phật
tam-muội rất sâu. Đă đắc tam-muội, chư
Phật hiện tiền thọ kư cho ta: “Phương Đông có cơi nước
tên là Diệu Hỷ, vị Phật nơi đó tên là A Súc,
chính là vị tỳ-kheo thứ nhất. Phương Nam có
cơi nước tên là Hoan Hỷ, Phật hiệu là Bảo
Tướng, tức vị tỳ-kheo thứ hai.
Phương Tây có cơi nước tên là Cực Lạc, Phật
tên là Vô Lượng Thọ, tức vị tỳ-kheo thứ
ba. Phương Bắc có cơi nước tên là Liên Hoa Trang
Nghiêm, Phật tên là Vi Diệu Âm, tức là vị tỳ-kheo
thứ tư”).
Hỏi: V́ sao bốn vị
Phật cùng nói kinh này?
Đáp: Nhằm chỉ rơ Tứ
Đức và Thích Ca, tức là Phật quả có năm pháp,
tức là Tứ Trí và Chân Như nhiếp thủ
Bồ Đề lẫn Niết Bàn đều
trọn hết.
(Kinh) Ngă phục diễn
diệu pháp, cát tường sám trung thắng, năng diệt
nhất thiết tội, tịnh trừ chư ác nghiệp.
(經)我復演妙法,吉祥懺中勝,能滅一切罪,淨除諸惡業。
(Kinh: Ta lại diễn
diệu pháp, sám hối thắng cát tường, hay diệt
hết thảy tội, trừ sạch các ác nghiệp).
Tán rằng: [Đây là] các tiểu
đoạn thứ hai, ba và bốn trong [ba bài tụng rưỡi
đầu tiên]. “Phục diễn diệu pháp” (lại
diễn nói diệu pháp): Nêu ra tam thân Vô Thượng Bồ
Đề, cho nên nói là “diệu pháp”. “Cát tường sám
trung thắng” (pháp thù thắng trong cách sám hối cát
tường): Nương vào nguyện của ba thân [Vô Thượng
Bồ Đề] để hành sám hối, sẽ là thù thắng
sám hối. “Năng diệt nhất thiết tội”
(có thể diệt hết thảy tội): [Pháp
sám hối ấy] có thể chiết phục, trừ diệt
[các tội lỗi
nơi]
ba nghiệp trong ba đời, khổ quả trong tam giới, và ba phiền năo. V́ thế, kinh văn trong phần
sau nói: “Kim Quang Minh cổ xuất diệu thanh, biến
chí tam thiên đại thiên giới, năng diệt tam đồ
cực trọng tội, cập dĩ thiên nhân chư khổ
ách” (Cái trống Kim Quang Minh vang ra âm thanh mầu nhiệm,
thấu tới trọn khắp cơi tam thiên đại
thiên, có thể diệt tội cực nặng trong tam đồ, và các khổ ách của
trời,
người). Nói “tịnh trừ chư ác nghiệp”
(trừ sạch các ác nghiệp) chính là nhắc tới
phẩm
Diệt Nghiệp Chướng trong phần sau. Nghiệp và
nghiệp nhân (cái nhân tạo ra nghiệp) đều gọi
là ác nghiệp. V́ thế, luận Duy Thức nói: “Quyến
thuộc của nghiệp cũng được gọi là
nghiệp. Hoặc là nghiệp được phát khởi bởi
cái nhân ác, cảm vời ác quả nghiệp, cũng gọi
là ác nghiệp. Do v́ nó đáng ghét, tam giới đều là vậy.
Hoặc chẳng có chủng tánh, chỉ trừ nghiệp của
tam đồ, bát nạn”.
(Kinh) Cập tiêu chúng khổ
hoạn, thường dữ vô lượng lạc, Nhất
Thiết Trí căn bản, chư công đức trang nghiêm.
(經)及消眾苦患,常與無量樂,一切智根本,諸功德莊嚴。
(Kinh: Và tiêu các khổ
hoạn, thường ban vô lượng vui. Căn bản
Nhất Thiết Trí, các công đức trang nghiêm).
Tán rằng: Câu đầu
tiên nêu ra phẩm Diệt Nghiệp Chướng. Câu “chư
ác nghiệp” trong đoạn trước là nhân, ở
đây là cảm vời ác quả trong khắp tam giới. Nếu
xét theo vô tánh, chỉ có chút phần của tam đồ, tám
nạn, và tám nỗi khổ, chẳng ĺa sanh lăo tử và Ngũ
Thịnh Uẩn Khổ (nỗi khổ v́ Ngũ Uẩn hừng
hực). Câu “thường dữ
vô lượng lạc” (thường ban vô lượng vui)
nhắc đến ba phẩm Tịnh Địa, Liên Hoa
Tán, và Kim Thắng trong phần sau, do tu Lục Độ hạnh,
đắc thập vương quả và địa vị
Phật. Đối với kẻ vô tánh bèn ban cho niềm
vui nhân thiên; đối với người hữu tánh, bèn
ban cho địa vị Phật v.v… “Nhất Thiết Trí
căn bản” là nói tới phẩm Trùng Hiển Không
Tánh. Do lư Chân Như là tánh Chân Không, bèn gọi là Như Lai Tạng,
là chỗ nương giữ của các công đức. Luận
Bảo Tánh[21]
giải thích “vô thỉ thời giới”, [giảng rằng] giới (界)
là pháp nhân (法因, cái nhân của các pháp),
tức là lấy Chân Như làm “pháp nhân”. Nhân được
gọi là “bổn”, cho nên là “trí bổn”
(cội gốc của trí). Do dùng Nhất Thiết Trí
để chứng Chân Như; cho nên nói thiên lệch là “Nhất
Thiết Trí bổn” (cái gốc của Nhất Thiết Trí). Dựa vào Chân
để hiểu rơ Tục, v́
chứng Chân cũng là cái gốc của Nhất Thiết
Trí. Dựa theo Chứng Trí để nói đại lược
Chủng Trí, hoặc [có thể hiểu] Nhất Thiết Trí chẳng phải
là [Nhất Thiết
Trí]
trong hai thứ trí (Đạo Chủng Trí và Nhất Thiết
Trí), mà là nói chung hết thảy các trí, tức là Thập
Trí, Tứ Trí v.v… th́ gọi là “nhất thiết trí” (hết
thảy các trí), Như (Chân Như)
đều
là Bổn [của các trí ấy]. Do vậy nói “Nhất
Thiết Trí căn bản” (căn bản của Nhất Thiết Trí). “Chư công đức
trang nghiêm”
(các công đức trang nghiêm) là nhắc tới phẩm Y
Không Măn Nguyện. Do nương theo chân lư mà khởi tu,
đă chứng cội đức, cho nên có thể viên măn hết
thảy công đức trang nghiêm chân thật. Như kinh Bát
Nhă nói “trang nghiêm thân, trang nghiêm cơi nước”, đều
phải quán lư th́ mới được viên măn. Kinh này
cũng thế!
(Kinh) Chúng sanh thân bất
cụ, thọ mạng tương tổn giảm, chư
ác tướng hiện tiền, thiên thần giai xả ly.
(經)眾生身不具,壽命將損減,諸惡相現前,天神皆捨離。
(Kinh: Chúng
sanh thân chẳng vẹn, thọ mạng sắp tổn giảm,
các tướng ác hiện tiền, thiên thần đều
ĺa bỏ).
Tán rằng: Kế đó, nêu
ra phần Có Thể Khuyên Học trong phần Chánh Tông. Trong ấy,
chia thành hai phần:
1) Ba bài tụng rưỡi
đầu tiên, nêu ra các khổ nạn khiến cho [người
nghe] sanh tâm chán ĺa.
2) Hai bài tụng rưỡi
sau đó, nêu rơ kinh có thể trừ [các khổ nạn ấy],
khiến cho [người nghe] vui thích mà tu học.
Phần thứ nhất lại
chia thành hai đoạn:
- Hai bài tụng đầu
nói về ác quả.
- Bài tụng rưỡi sau
đó nói về khổ nhân (cái nhân gây ra khổ).
Phần thứ nhất lại
chia thành hai:
- Bài tụng thứ nhất
nói về nỗi khổ trong thân.
- Bài tụng thứ hai nói
đến nỗi khổ do duyên bên ngoài.
Đoạn kinh văn này
chính là [nỗi khổ] nội thân: Thân chẳng toàn vẹn,
các căn thiếu khuyết, tức là thuộc về Sanh
Khổ hay Bệnh Khổ. “Thọ mạng sắp diệt”
là nghiệp tận, duyên chấm dứt, hoặc bị chết ngang
xương, phải xả thọ, tức
là Tử Khổ. “Chư ác tướng hiện” (các
tướng ác hiện ra): Chim kêu trăm điều quái lạ,
hoa trên đầu héo, Tứ Đại trái nghịch, sắc
tướng suy biến, tức là nỗi khổ già bệnh,
theo thứ tự sanh, lăo, bệnh, khổ. Thọ mạng
chưa hết, do tu phước nghiệp, trăm thần
nâng đỡ, hộ vệ. Khi các nghiệp tận, nếu
hiện tiền chẳng thể tu điều thiện, thiện
thần sẽ ĺa bỏ!
(Kinh) Thân hữu hoài sân hận,
quyến thuộc tất phân ly, bỉ thử cộng quai
vi, trân tài giai tán thất.
(經)親友懷瞋恨,眷屬悉分離,彼此共乖違,珍財皆散失。
(Kinh: Thân hữu ôm sân
hận, quyến thuộc đều chia ĺa, đôi bên cùng
chống trái, của báu đều thất lạc).
Tán rằng: Nỗi khổ
thuộc ngoại duyên. Thân hữu ôm ḷng sân hận, tức
là Oán Tăng Hội Khổ. Quyến thuộc đều
chia ĺa là Ái Biệt Ly Khổ. Hai câu từ “bỉ thử
cộng quai vi” (đôi bên cùng chống đối lẫn
nhau) là Cầu Bất Đắc Khổ.
(Kinh) Ác tinh vi biến
quái, hoặc bị tà cổ xâm, nhược phục đa
ưu sầu, chúng khổ chi sở bách.
(經)惡星為變怪,或被邪蠱侵,若復多憂愁,眾苦之所逼。
(Kinh: Sao ác biến
lạ lùng, hoặc bị tà cổ[22]
hại, hoặc lắm nỗi ưu sầu, các nỗi khổ
bức bách).
Tán rằng: Nói về các nhân
gây khổ. Nửa đầu nói về cái nhân gây khổ ở
bên ngoài; nửa sau nói về cái nhân gây khổ bên trong.
(Kinh) Thụy miên kiến
ác mộng, nhân thử sanh phiền năo.
(經)睡眠見惡夢,因此生煩惱。
(Kinh: Ngủ
nghê thấy ác mộng, do vậy sanh phiền năo).
Tán rằng: Cái nhân gây ra nỗi
khổ bên trong.
(Kinh) Thị nhân
đương tháo dục, ưng trước tiễn khiết
y, ư thử diệu kinh vương, thậm thâm Phật
sở tán, chuyên chú tâm vô loạn, độc, tụng, thính,
thọ tŕ.
(經)是人當澡浴,應著鮮潔衣,於此妙經王,甚深佛所讚,專注心無亂,讀誦聽受持。
(Kinh: Người ấy
nên tắm gội, nên mặc áo tinh sạch. Đối diệu
kinh vương này, được Phật khen rất sâu,
chuyên chú, tâm chẳng loạn, đọc, tụng, nghe, thọ
tŕ).
Tán rằng: Tiếp đó,
nói sức của kinh có thể trừ khử [các chướng
duyên], khiến [cho
người nghe] vui thích tu học. Phần này gồm ba
đoạn:
- Nửa đầu nói về
nghi thức tu hành.
- Hàng kế tiếp nói đến
cách tu hành chánh yếu.
- Hàng cuối nói về công lực
của kinh.
Trong phần tu hành chánh yếu,
hai câu đầu nói về pháp để học. Hai câu sau
nói thẳng vào cách tu hành. Đối với chuyện đọc,
tụng, hoặc nghe và thọ tŕ, đều cần phải
chuyên chú, tâm chẳng tán loạn, tức đọc, tụng
v.v… sanh ra Văn Huệ, thọ tŕ sanh ra Tư Huệ, dẫn
đến Tư Huệ hiển lộ. Hoặc là do tâm
chuyên chú, chẳng loạn, mà sanh ra Tư Huệ, những
điều khác là Văn Huệ và Tu Huệ. Tam Huệ trọn
đủ! Lại nữa, tắm gội, mặc áo sạch
là Giới Học, chuyên chú là Định Học, đọc,
tụng v.v… là Huệ Học, khiến cho [người nghe]
nương theo kinh này để tu Tam Học.
(Kinh) Do thử kinh oai lực,
năng ly chư tai hoạnh, cập dư chúng khổ nạn,
vô bất giai trừ diệt.
(經)由此經威力,能離諸災橫,及餘眾苦難,無不皆除滅。
(Kinh: Do oai lực kinh
này, hay ĺa các tai ương, và các thứ khổ nạn,
không ǵ chẳng trừ diệt).
Tán rằng: Tổng kết sức
công đức.
(Kinh) Hộ thế tứ
vương chúng, cập đại thần quyến thuộc,
vô lượng chư Dược Xoa, nhất tâm giai ủng
vệ.
(經)護世四王眾,及大臣眷屬,無量諸藥叉,一心皆擁衛。
(Kinh: Hộ thế tứ
vương chúng, và đại thần quyến thuộc, vô
lượng các Dược Xoa, đều nhất tâm ủng
hộ).
Tán rằng: Kế đó, nói
đến phần Lưu Thông, gồm năm bài kệ nêu ra sự
tu hành chánh yếu. Đoạn này nói đến phẩm Quán
Sát Nhân Thiên, phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc,
phẩm Vô Nhiễm Trước, và phẩm Như Ư.
(Kinh) Đại Biện
Tài thiên nữ, Ni Liên Hà thủy thần, Ha Lợi Để
mẫu thần, Kiên Lao địa thần chúng.
(經)大辯財天女、尼連河水神、訶利底母神、堅牢地神眾。
(Kinh: Thiên nữ Đại
Biện Tài, thủy thần sông Ni Liên[23],
và thần Quỷ Tử Mẫu, cùng địa thần Kiên
Lao).
Tán rằng: Bài tụng này nhắc đến phẩm Đại
Biện Tài Thiên Nữ, phẩm Cát Tường Thiên Nữ, phẩm Tăng Trưởng Tài
Vật, và phẩm Kiên Lao Địa Thần. Ha Lợi Để
(Hārītī, Quỷ Tử Mẫu) được
phương này dịch là Thanh Sắc, tức là La Xoa (La Sát) quỷ
mẫu, có năm trăm đứa con, cực lực ủng
hộ Tam
Bảo và trẻ nhỏ dù trai hay gái.
(Kinh) Phạm
vương, Đế Thích chủ, long vương, Khẩn
Na La, cập Kim Xí Điểu vương, A Tô La, thiên chúng,
như thị thiên thần đẳng, tịnh tương kỳ
quyến thuộc, giai lai hộ thị nhân, trú dạ
thường bất ly.
(經)梵王帝釋主,龍王緊那羅,及金翅鳥王,阿穌羅天眾,如是天神等,并將其眷屬,皆來護是人,晝夜常不離。
(Kinh: Phạm
vương, Đế Thích chủ. Long vương, Khẩn
Na La, và vua chim cánh vàng, A Tô La, các trời, các thiên thần
như thế, cũng dẫn theo quyến thuộc, đều
hộ tŕ người ấy, đêm ngày thường chẳng
rời).
Tán rằng: Nhắc tới
phẩm Tăng Thận Nhĩ Da Dược Xoa Đại
Tướng, phẩm Vương Pháp Chánh Luận, phẩm
Thiện Sanh Vương, và phẩm Chư Thiên Dược
Xoa Thủ Hộ. Lại giải rằng: Chánh liễu tri
được nhắc tới trong phần nói về Ha Lợi
Để Mẫu Thần. C̣n Vương Pháp Chánh Luận
và phẩm Thiện Sanh Vương đều được
nêu ra trong bài tụng “ngă đương thuyết thị
kinh” (ta sẽ nói kinh này). Do cùng được đức
Phật nói, cho nên nêu chung một chỗ.
(Kinh) Ngă đương
thuyết thị kinh, thậm thâm Phật hành xứ, chư
Phật bí mật giáo, thiên vạn kiếp nan phùng.
(經)我當說是經,甚深佛行處,諸佛祕密教,千萬劫難逢。
(Kinh: Ta sẽ
nói kinh này, Phật hành xứ rất sâu, bí mật giáo
chư Phật, ngàn vạn kiếp khó gặp).
Tán rằng: Nêu ra [các phẩm]
từ phẩm Thọ Kư trở đi. “Thậm thâm Phật
hành xứ” (hành xứ rất sâu của Phật) là nói
đến phẩm Thọ Kư, phẩm Liệu Bệnh, phẩm
Trưởng Giả Tử Lưu Thủy, và phẩm Xả
Thân. Vô Thượng Bồ Đề th́ chỉ ḿnh Phật
có thể hiểu rơ, được gọi là “hành xứ của
Phật”. Các phẩm như
Liệu Bệnh v.v… là nhân hạnh của Phật. Hai câu “chư
Phật bí mật giáo…” nói đến các phẩm sau
đó. [Giáo pháp được] chư Phật thủ hộ,
phải là căn cơ Đại Thừa chín muồi th́ mới
trao cho, nên gọi là Bí. Sâu xa, huyền diệu, khó hiểu
là Mật. Do vậy, ngàn vạn kiếp khó được
lắng nghe. V́ thế, nay được nghe đọc,
bèn tán thán và phó chúc.
(Kinh) Nhược
hữu văn thị kinh, năng vị tha diễn thuyết,
nhược tâm sanh tùy hỷ, hoặc thiết ư cúng
dường.
(經)若有聞是經,能為他演說,若心生隨喜,或設於供養。
(Kinh: Nếu
ai nghe kinh này, v́ người khác diễn nói, nếu sanh ḷng
tùy hỷ, hoặc sắp đặt cúng dường).
Tán rằng: Sáu bài tụng kế tiếp thuộc
về đoạn thứ tư, tức là thuộc về
phần khuyên lơn, tán thán thọ tŕ và đọc tụng
trong Lưu Thông Phần. Trong ấy, chia thành ba phần:
- Bài tụng thứ nhất khuyên thọ tŕ,
đọc tụng.
- Ba bài tụng kế tiếp nêu ra lợi
ích đạt được.
- Hai bài tụng cuối cùng dạy bảo
khuôn phép để nương theo.
Đoạn này chính là phần thứ nhất.
Luận Biện Trung Biên có phần trùng tụng về
mười pháp hạnh [như sau]: “Tức là cúng dường,
biên chép, bố thí cho người khác, nghe, mở ra xem đọc,
thọ tŕ, khai diễn, phúng tụng và Tư, Tu”, có ư nói: Một là cúng dường, hai là biên chép, ba là bố
thí cho người khác, bốn là lắng nghe, năm là xem
đọc, sáu là thọ tŕ, bảy là khai diễn (giảng giải), tám là phúng tụng, chín là tư duy,
mười là tu tập. Tám món đầu thuộc về
Văn Huệ, tư duy là Tư Huệ, tu tập là Tu Huệ.
Ở đây, nghe kinh này chính là “lắng nghe”, diễn
nói chính là “khai diễn”, cúng dường chính là
sơ hạnh. Nêu đại lược ba hạnh, tức
lắng nghe và cúng dường thuộc về tự lợi,
c̣n diễn nói là lợi tha. V́ thế, chỉ nêu
ra ba loại, nhưng thật ra trọn đủ mười
loại. “Tùy hỷ” là đối với mười
pháp hạnh, mỗi hạnh đều có bốn loại: Một
là tự thực hiện mười pháp hạnh, hai là dạy
bảo người khác, ba là vui mừng và an ủi, bốn
là tùy hỷ. Nêu ra những điều dễ thực hiện
ḥng liên tưởng các điều khác.
(Kinh) Như thị
chư nhân đẳng, đương ư vô lượng
kiếp, thường vị chư thiên nhân, long thần sở
cung kính.
(經)如是諸人等,當於無量劫,常為諸天人,龍神所恭敬。
(Kinh: Những người
như thế đó, sẽ trong vô lượng kiếp,
thường được các trời, người, rồng,
thần đều cung kính).
Tán rằng: Phần thứ
hai, nói về chuyện đạt được lợi
ích, có ba ư. Ư đầu tiên là được bảo vệ,
hộ tŕ. Đoạn này thuộc ư thứ nhất.
(Kinh) Thử phước
tụ vô lượng, số quá ư hằng sa, độc
tụng thị kinh giả, đương hoạch tư
công đức.
(經)此福聚無量,數過於恒沙,讀誦是經者,當獲斯功德。
(Kinh: Khối phước
ấy vô lượng, số hơn cát sông Hằng. Người
đọc tụng kinh này, sẽ đạt công đức
ấy).
Tán rằng: Ư thứ hai [trong
phần nói đến chuyện đạt được
lợi ích] chính là thành tựu cái nhân thù thắng.
(Kinh) Diệc vị thập
phương tôn, thâm hạnh chư Bồ Tát, ủng hộ
tŕ kinh giả, linh ly chư khổ nạn.
(經)亦為十方尊,深行諸菩薩,擁護持經者,令離諸苦難。
(Kinh: Cũng
được các Bồ Tát, hạnh sâu đáng tôn quư, ở
trong khắp mười phương, ủng hộ người
tŕ kinh, khiến ĺa các khổ nạn).
Tán rằng: [Lợi ích] thứ
ba là chư thánh thủ hộ.
(Kinh) Cúng dường thị
kinh giả, như tiền tháo dục thân, ẩm thực, cập
hương hoa, hằng khởi từ bi ư. Nhược dục
thính thị kinh, linh tâm tịnh, vô cấu, thường sanh
hoan hỷ niệm, năng trưởng chư công đức.
(經)供養是經者,如前澡浴身,飲食及香華,恒起慈悲意。若欲聽是經,令心淨無垢,常生歡喜念,能長諸功德。
(Kinh: Để cúng
dường kinh này, như trước thân tắm gội,
thức ăn và hương hoa, luôn dấy niệm từ
bi. Nếu muốn nghe kinh này, khiến tâm tịnh, vô cấu,
thường sanh ư hoan hỷ, tăng trưởng các công
đức).
Tán rằng: Dạy phép tắc
tŕ kinh, chia thành hai phần: Bài tụng đầu
là lợi tha, bài tụng sau là tự lợi.
(Kinh) Nhược dĩ
tôn trọng tâm, thính văn thị kinh giả, nhược
sanh ư nhân thú, viễn ly chư khổ nạn. Bỉ nhân
thiện căn thục, chư Phật chi sở tán,
phương đắc văn thị kinh, cập dĩ sám
hối pháp.
(經)若以尊重心,聽聞是經者,若生於人趣,遠離諸苦難。彼人善根熟,諸佛之所讚,方得聞是經,及以懺悔法。
(Kinh: Nếu dùng tâm
tôn trọng, lắng nghe bộ kinh này, hoặc sanh trong loài
người, xa ĺa các khổ nạn. Người thiện
căn chín muồi, được chư Phật khen ngợi,
mới được nghe kinh này, cùng với pháp sám hối).
Tán rằng: Tổng kết lời
khuyên, có hai phần:
- Bài tụng thứ nhất
là tổng kết lời khuyên về cái quả thù thắng.
- Bài tụng sau kết lại
lời khuyên về cái nhân thù thắng.
Phần “đắc quả” lại có hai ư:
- Một, sanh trong loài người,
đạt được cái quả hữu lậu, xa ĺa
các khổ nạn.
- Hai, không chỉ ĺa nạn,
mà c̣n đạt được cái quả Niết Bàn.
Chắc là vừa mới khởi
đầu, chỉ nêu ra tông chỉ, chưa nói đến
cái quả sâu, chỉ nói được xa ĺa tám nạn trong
nhân loại. Nếu nói tới cái quả thù thắng, sợ
rằng kẻ sơ cơ chưa thể tin tưởng.
5.2. Phẩm thứ
hai: Thọ Lượng (Như Lai Thọ Lượng phẩm
đệ nhị,
如來壽量品第二)
Đối với phẩm Như Lai Thọ
Lượng, đại lược dùng ba môn để phân
biệt:
- Một, do ư nghĩa nào mà có [phẩm này và
các phẩm sau đó].
- Hai, giải thích tên gọi [của phẩm
này].
- Ba, giải đáp các lời vấn nạn.
5.2.1. Do ư nghĩa nào mà có phẩm này?
Nói đến chuyện “do ư nghĩa
nào mà có phẩm này”,
đại lược có năm ư:
- Một, khiến cho [người nghe] sanh chánh giải.
- Hai, khiến cho họ đắc
Bồ Đề,
- Ba, khiến cho họ đắc
Niết Bàn.
- Bốn, khiến cho họ khởi
diệu hạnh.
- Năm, v́ sự cơ cảm.
5.2.1.1. Khiến cho [người nghe] sanh chánh giải
Nói đến chuyện “sanh
chánh giải” (sanh khởi sự hiểu biết chân chánh)
th́ từ phẩm này trở đi cho đến phẩm Y
Không Măn Nguyện bao gồm chín phẩm,
nêu ra phần Chánh Tông của kinh này. Hai phẩm đầu
tiên nói về cái quả, năm phẩm kế tiếp nói về
cái hạnh, hai phẩm cuối nói về cảnh.
Lại giải rằng: Hai
phẩm đầu nói về cái quả tổng và biệt,
khiến cho [thính chúng] sanh tâm ưa thích. Kế đó, phẩm
Mộng Kiến Sám Hối trở
đi nhằm khiến cho họ tu hành. Căn bản tu hành
chẳng vượt ngoài đoạn ác, tu thiện. Hai phẩm
Sám Hối và Diệt Chướng chính là đoạn ác, các
phẩm sau đó là tu thiện. Trong sự tu thiện, thoạt
đầu là tịnh tu các địa vị. Kế đó,
phẩm Liên Hoa Dụ Tán nhằm trừ nghi, nêu ra cái nhân. Phẩm
Kim Thắng Đà La Ni nhằm khiến cho hành
nhân được thấy chư Phật, khiến cho hạnh
bất thoái. Phẩm Trùng Hiển Tánh Không nhằm khiến
cho hạnh khế hợp lẽ Chân. Phẩm Y Không Măn Nguyện
là “chứng lư, hạnh
viên” (chứng nhập
lư, viên măn hạnh). Phẩm này (Như Lai Thọ
Lượng) chính là nói chung về Bồ Đề
và Niết Bàn, cũng như nói riêng về Niết Bàn. Nếu
đại chúng chẳng được nghe Như Lai nói về
Bồ Đề và Niết Bàn, sẽ không thể hiểu
chánh đáng. Đă chẳng có chánh kiến, sao có thể cầu
tu tập quả Bồ Đề Niết Bàn vô thượng
thù thắng? V́ vậy, trước hết nêu ra cái quả
để họ sanh giải ngộ. Do đó, kinh văn
trong phần sau có nói: “Vị dục lợi ích thử
chư dị sanh,
cập chúng ngoại đạo như đẳng loại,
linh sanh chánh giải” (V́ muốn lợi ích các loài dị
sanh ấy và các loại ngoại đạo như thế,a khiến cho họ sanh
sự hiểu biết chân chánh).
5.2.1.2. Khiến cho họ đắc Bồ Đề
Chư Phật xuất thế
vốn muốn cho chúng sanh đạt được cái quả
Bồ Đề. Để đạt được cái
quả chẳng hư dối, ắt phải nhờ vào hạnh
nhân. Nhân phải nhờ vào cảnh để sanh th́ hạnh
mới được thành lập. Nếu trước hết
chẳng nêu rơ cái quả ấy, sẽ chẳng thể khiến
cho họ sanh khởi ḷng yêu thích. Cái tâm yêu thích đă sanh, sẽ
nguyện tu hành. Đă khiến cho họ tu hành th́ kế
đó nói về cảnh. Phần trước đă trần
thuật nguyên do mà có [các phẩm kinh này], đại chúng ai
nấy khát ngưỡng muốn nghe kinh, đức Thế
Tôn bèn lập tức v́ họ nêu bày tông chỉ; trước
hết Ngài nói về thọ
lượng của Như Lai, v́ muốn cho người
nghe sẽ chứng đắc Bồ Đề. Do vậy,
kinh văn trong phần sau có nói: “V́ muốn
lợi ích các loài dị sanh ấy và các ngoại đạo
như thế, khiến cho họ sanh chánh giải, nhanh chóng
thành tựu Vô Thượng Bồ Đề”. Do vậy,
sau phẩm Tự, bèn có phẩm này sanh khởi!
5.2.1.3. V́ đắc
Niết Bàn
Kinh
văn trong phần sau nói: “Nhiên bỉ Như Lai dục
linh chúng sanh kiến Niết Bàn dĩ, sanh nan tao tưởng”
(nhưng đức Như Lai muốn khiến cho chúng sanh
đă thấy Niết Bàn rồi sẽ sanh ư tưởng
khó gặp gỡ). Nhiếp Đại Thừa Luận lại
nói: “V́ kẻ thấy Như Lai thường trụ, sẽ
chẳng ưa thích Niết Bàn, đức Phật bèn thị
hiện nhập Niết Bàn, khiến
cho họ ưa thích Viên Tịch”. V́ thế, sau phẩm Tự bèn nói phẩm
Như Lai Thọ Lượng.
5.2.1.4. Khiến
cho dấy khởi diệu hạnh
Kinh văn trong phần
sau nói: “Ư Phật Thế Tôn sở thuyết kinh giáo, tốc
đương thọ tŕ, độc tụng thông lợi,
vị nhân giải thuyết, bất sanh báng hủy”
(đối với kinh giáo do Phật Thế Tôn đă nói,
hăy mau thọ tŕ, đọc tụng thông suốt, v́ người
khác giải nói, chẳng sanh hủy báng). Do vậy, Như
Lai thị
hiện tuổi thọ ngắn ngủi để
[chúng sanh] khởi hạnh, cho nên có phẩm này sanh khởi.
5.2.1.5. V́ cơ cảm
Ba vạn hai ngàn vị
thiên tử nghe nói thọ lượng đều phát Bồ
Đề tâm. V́ cơ cảm đáng nên nghe, hễ nghe liền
được lợi ích. Những điều lợi ích
khác cứ chuẩn theo đó mà biết.
5.2.2. Giải thích
danh xưng [của phẩm này]
Ba thân của chư Phật
đều gọi là Như Lai. Thọ chính là mạng,
Lượng là hạn lượng, hoặc nói là “lượng
độ”, tức là suy lường, đánh giá đối
với ngằn hạn tuổi thọ của Phật,
th́ [hạn lượng
do sự suy lường] đó [được
gọi] là
thọ lượng của Như Lai, hoặc tính toán tuổi
thọ của Như Lai. [Các cách hiểu Thọ Lượng như thế] đều là giải thích theo lối Y Chủ[24],
tức là
pháp tánh tùy duyên nhưng ngưng lặng (bất động),
thuận theo nguyện duyên mà tiếp nối, ứng theo
căn cơ của chúng sanh chẳng đoạn. Thọ
đức khó suy lường, tức là nương theo pháp
tánh để duy tŕ tướng công đức, nhưng quyết
định trong lặng (tức là tuy khởi tác dụng tùy
duyên, nhưng bất
biến). Đó chính là mạng căn của Pháp Thân, như Phật và cơi
nước, tánh và tướng có khác biệt, ở đây
cũng như thế!
Hoặc là tướng
công đức tự tĩnh lặng, có thể duy tŕ tự
thể th́ gọi là Thọ Lượng. Nương theo
Kính Trí Chủng (chủng tử của Đại Viên
Kính Trí), do sức của đại nguyện chủng (chủng
tử của đại nguyện), khiến cho bốn trí
phẩm[25]
quyết định tiếp nối cùng tận chúng sanh giới.
Đó là tuổi thọ của Báo Thân. Do sức của chủng
tử đại bi, thuận theo cái duyên cơ cảm của
chúng sanh, hiện ra thân Sắc Uẩn có hạn lượng
quyết định, đó là thọ mạng của hai thân
Tha Thọ Dụng và Biến Hóa. Do cái Thể là giả lập,
cho nên Tư (tư duy) cũng thuộc vào Nguyện, chẳng
mâu thuẫn với thuyết “do nghiệp dẫn khởi
[mà có thọ mạng]” trong Duy Thức.
5.2.3. Giải thích vấn
nạn
* Hỏi:
Phật có ba thân, nay nói về thọ mạng của thân
nào?
Đáp: Nói cả ba thân! V́ thế,
ngài Kiều Trần Như lănh ngộ, thấu hiểu “Pháp
Thân tánh thường trụ, tu hành chẳng sai biệt, Thể
chư Phật đều đồng, pháp nói ra cũng thế”;
đó là Pháp Thân. Chư Phật chẳng tạo tác, cũng
lại vốn là vô sanh, giải rằng: “Các thứ đều
không có người tạo tác, chẳng phải do nghiệp
phiền năo tạo tác. Cũng lại vốn là vô sanh, do chẳng
sanh phiền năo”. Trong Bát Nhă Luận, ngài Thế Thân giải
thích Thọ Lạc Báo Phật (Tự Thọ Dụng Báo
Thân) như sau: “Do xa ĺa các lậu và pháp hữu vi”. “Xa
ĺa các lậu” chính là “vốn vô sanh” ở đây, “và
pháp hữu vi” chính là không có tác giả (không có người
tạo tác) ở đây. Hoặc có thể hiểu là chẳng
có nghiệp hữu lậu tạo tác, chẳng sanh phiền
năo. [Bát Nhă Luận] lại nói: “Cái Thể kim cang của
chư Phật quyền biến hóa hiện nơi Hóa Thân”,
tức là [luận về cái Thể của] Hóa Thân. V́ thế,
[thọ lượng nói ở đây] chung cho cả ba loại
Phật (Pháp Thân, Báo Thân, và Hóa Thân).
* Hỏi: Hành pháp ứng hóa do hai cái nhân cảm
vời, thấy như vậy đáng sanh nghi! Tự tánh chẳng
phải do cái nhân sanh ra, Tự Thọ Dụng Thân chẳng
phải là thấy các cảnh khác, chẳng nghi điều ấy,
cần ǵ mà phải nói đến Thọ?[26]
Đáp:
Tuy tự tánh chẳng phải sanh bởi nhân, nhưng do
nhân mà chứng. Tự Thọ Dụng Thân tuy chẳng do kẻ
khác thấy mà nói [Báo Thân] thành hai thân (Tự Thọ Dụng
và Tha Thọ Dụng), nhưng v́ muốn cho chúng sanh ưa
thích mong cầu, ngài Diệu Tràng giả hóa hiện sanh khởi tâm nghi
để đức Phật thừa
cơ nói trọn đủ cả ba loại thọ.
* Hỏi:
V́ sao Phật Thích Ca thị hiện ngự trong cơi này chẳng
tự nói thọ lượng, lại để cho người
khác nói?
Đáp: Do chúng sanh
đáng nên nghe, do phô rơ Tứ Đức, do trừ nghi thù thắng.
Nếu chỉ do Ngài tự nói, họ sẽ chẳng [sanh
khởi tín tâm] quyết định!
* Hỏi:
Bốn vị Phật nói thọ lượng, ngài Diệu
Tràng sanh tín giải, sao lại phiền Phật Thích Ca
nói cặn kẽ lần nữa?
Đáp: Diệu quả
Vô Thượng Bồ Đề Niết Bàn nếu chẳng
nói đủ cả ba lượt, kẻ khác sẽ chẳng
thể hiểu. V́ thế, bốn vị Phật nói ra
trước tiên, Phật Thích Ca nhắc lại, ngài Kiều
Trần Như lại thưa hỏi ngài Hỷ Kiến (Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử) để
càng nêu rơ hơn. Bốn vị Phật hiển thị Tứ
Đức,
ba lượt nói chính v́ Tam Thân. Do có nhiều cái nhân như vậy,
chẳng thể chỉ nói một lượt!
* Hỏi:
Xét theo kinh văn để suy nghiệm nghĩa lư th́ [đức
Phật] chỉ nói về Bồ Đề, nay v́ sao cũng
luận định rằng [đức Phật] cũng nói
đến Viên Tịch (Niết Bàn)?
Đáp: Xét theo kinh văn trong
phẩm này! Trong phần sau, do
nghe nói thọ lượng mà đại chúng trong pháp hội
thuở ấy đạt được lợi ích. Ngài Diệu
Tràng lại đích thân đối trước đức
Phật và bốn vị Như Lai cùng hai vị đại
sĩ (Kiều Trần Như và Hỷ Kiến), các thiên tử,
nghe nói thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Như Lai
xong, lại từ chỗ ngồi đứng lên, bạch rằng:
“Thế Tôn! Nhược thật như thị bất Bát
Niết Bàn, vô xá-lợi giả, vân hà kinh trung thuyết hữu
Niết Bàn cập Phật xá-lợi?” (Bạch Thế
Tôn! Nếu thật sự chẳng nhập Niết Bàn
như thế, chẳng có xá-lợi, v́ sao trong kinh nói có Niết
Bàn và xá-lợi của Phật?”) Đấy chính là đại
chúng khi ấy đạt được lợi ích, [kinh
văn] lại c̣n nói là “thuyết dĩ” (đă nói
xong), tức là nói rơ họ đối
trước đức Phật nghe nói thọ mạng
xong, nay
lại thưa hỏi về Niết Bàn. Đức Phật
lại đáp rằng: “Như
thị ưng tri kỳ hữu thập pháp, năng giải
Như Lai Ứng, Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết
hữu cứu cánh Đại Bát Niết Bàn” (Hăy nên biết
có mười pháp như thế để có thể hiểu
lư thú chân thật của đấng Như Lai Ứng Chánh
Đẳng Giác nói có Đại Bát Niết Bàn rốt ráo).
Lại xét theo phần kinh
văn giải thích phẩm Thọ Lượng trong bộ
Pháp Hoa Kinh Luận của ngài Thiên Thân th́: Trước hết
nói thọ lượng để nêu rơ Bồ Đề vô
thượng, [tiếp đó] nói thí dụ vị thầy
thuốc để sánh ví Niết Bàn vô thượng. Nay
trong kinh này, thoạt đầu nói tuổi thọ lâu dài
để nói về Bồ Đề; sau đó nói thí dụ cha mẹ nhiều
tiền của v.v… để giảng giải Niết Bàn vậy!
* Hỏi:
Nếu là như vậy, cớ sao [hai kinh sử dụng]
hai thí dụ khác nhau?
Đáp: Kinh kia (kinh Pháp Hoa) xét
theo phương diện trừ ác, cho nên dùng thí dụ y vương. Kinh
này thí dụ về sanh thiện, nên dùng thí dụ cha mẹ.
Hơn nữa, cha mẹ và y vương hai đằng tuy
khác nhau, [nhưng đều là] chẳng diệt mà thị
hiện [có diệt] để [chúng sanh] sanh ḷng ngưỡng
mộ!
* Hỏi:
Bốn vị Phật Như Lai nói trong thất của ngài
Diệu Tràng. Lúc bấy giờ, ngài Khánh Hỷ (A Nan) ở
núi Thứu Phong, sao khi kết tập lại nói là “tôi nghe”?
Đáp: Theo kinh văn trong phần
sau, “Diệu Tràng Bồ Tát dữ vô lượng đại
chúng nghệ Thứu Phong sơn, đảnh lễ
Phật túc, dĩ như thượng sự cụ bạch
Thế Tôn” (Diệu Tràng Bồ Tát cùng vô lượng
đại chúng đến núi Thứu Phong, đảnh lễ dưới chân đức Phật,
bạch Thế Tôn cặn kẽ chuyện trên đây). Do vậy,
ngài A Nan được quyền nói là “như thị ngă
văn”.
* Hỏi:
Trong kinh đă có Tổng và Biệt khác nhau, v́ sao Niết Bàn chẳng
có phẩm loại khác biệt như ba thân?
Đáp: Do kinh văn nói tỉnh
lược, do sự tướng giống như nhau, nên
nói gộp chung thành một phẩm.
5.2.4. Giải thích
kinh văn
Tán rằng: Xét theo phẩm
này, kinh văn được chia thành hai phần.
- Một, nêu chung Bồ Đề
và Niết Bàn.
- Hai, từ câu “nhĩ thời,
Diệu Tràng Bồ Tát thân ư Phật tiền” (lúc bấy
giờ, Diệu Tràng Bồ Tát đích thân đối trước
Phật) trở đi, nói riêng về Niết Bàn.
5.2.4.1. Nêu chung Bồ
Đề và Niết Bàn
Phần thứ nhất lại
gồm năm đoạn:
- Một, Diệu Tràng Bồ
Tát nghi đức Phật thọ mạng ngắn ngủi.
- Hai, Phật ở
phương khác nói thọ mạng vô cùng.
- Ba, Phật Thích Ca tự trần
thuật Ngài thường an trụ.
- Bốn, Hỷ Kiến Lê Xa Tử nhắc lại ư [Như Lai] bất
diệt.
- Năm, đại chúng khi ấy
lănh ngộ, thấu hiểu, đạt được lợi
ích và tổng kết.
5.2.4.1.1. Diệu
Tràng Bồ Tát nghi đức Phật thọ mạng ngắn
ngủi
Phần này lại gồm ba
phần:
- Một, nêu ra
người suy nghĩ, thỉnh cầu.
- Hai, cảnh bị nghi ngờ.
- Ba, trần thuật cái nhân
gây nên nghi ngờ
5.2.4.1.1.1. Nêu ra
người suy nghĩ thỉnh cầu
(Kinh)
Nhĩ thời, Vương Xá đại thành hữu nhất
Bồ Tát Ma Ha Tát, danh viết Diệu
Tràng.
(經)爾時王舍大城有一菩薩摩訶薩名曰妙幢。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
trong thành lớn Vương Xá, có một vị Bồ Tát Ma
Ha Tát tên là Diệu Tràng).
Phần này lại có ba ư:
- Một là nói về
trụ xứ.
- Hai là nêu tên.
- Ba là tán thán đại
lược phẩm đức.
Đoạn này bao gồm ư thứ
nhất và thứ hai. Trí thù thắng lỗi lạc, riêng
vượt xa mọi loài,
mượn thí dụ để đặt tên, nên gọi là
Diệu Tràng. Cù Rô Chỉ Ra trong tiếng Phạn, được
phương này dịch là Diệu. Kê Đầu (Ketu) dịch
là Tràng. Sao chổi gọi là Tràng. Bản dịch cũ dịch
[danh hiệu vị Bồ Tát này] là Tín Tướng. Chữ
Tướng trong tiếng Phạn là Da Sắt Trí, nay đă
nói là Cù Rô Chỉ Ra Kê Đầu, cho nên dịch là Diệu
Tràng. Tánh của Tín là tịnh, có ư nghĩa tương tự
với chữ Diệu. Tràng có nghĩa là “cao rạng”;
do vậy, bị nói lầm thành Tướng.
(Kinh) Dĩ ư quá khứ
vô lượng câu-chi na-dữu-đa bách thiên Phật sở,
thừa sự, cúng dường, thực chư thiện
căn.
(經)已於過去無量俱胝那庾多百千佛所承事供養植諸善根。
(Kinh: Đă ở
nơi vô lượng câu-chi na-dữu-đa (na-do-tha) trăm ngàn
chư Phật trong quá khứ mà thừa sự, cúng dường,
gieo các căn lành).
Tán rằng: Tán thán phẩm
đức. “Câu-chi” (koṭi): Theo Câu Xá Luận,
mười ức là một câu-chi. Theo phẩm Tâm
Vương Bồ Tát Vấn Tăng Kỳ trong kinh Hoa
Nghiêm, một vạn vạn là một ức, ức ức
là một Câu-lê. Câu-lê chính là câu-chi, hơi sai âm đôi chút. “Vô
lượng” là tên một con số. Dùng con số Vô
Lượng để đếm câu-chi na-dữu-đa. Nếu
hiểu mười ngàn là một vạn, th́ “bách thiên”
(trăm ngàn) là mười vạn. Tức là vô lượng
lần câu-chi na-dữu-đa (na-do-tha, nayuta) mười vạn
chư Phật. Luận Câu Xá coi mười vạn là một
ức, Đại Trí Độ Luận coi một ngàn vạn
là một ức, kinh Hoa Nghiêm coi một vạn vạn là một
ức. Con số Ức này có ba loại là tiểu, trung,
đại. Luận Câu Xá, Trí Độ Luận và kinh Hoa
Nghiêm lần lượt nói theo các con số tiểu, trung,
đại. Ở đây, không thể nói nhất quyết [Ức
được tính theo cách nào]. “Thừa sự” tức
là thân cận. “Cúng dường”: Tu mười loại
cúng dường. “Thiện căn” tức là phước
và trí. “Thực” (植) có nghĩa là
“gieo trồng”.
5.2.4.1.1.2. Cảnh bị
nghi ngờ
(Kinh) Thị thời, Diệu Tràng Bồ
Tát độc ư tĩnh xứ, tác thị tư duy:
“Dĩ hà nhân duyên, Thích Ca Mâu Ni Như Lai thọ mạng
đoản xúc, duy bát thập niên?”
(經)是時妙幢菩薩獨於靜處作是思惟:以何因緣,釋迦牟尼如來壽命短促唯八十年?
(Kinh: Khi đó, Diệu
Tràng Bồ Tát ở một ḿnh nơi yên vắng, nghĩ
như thế này: “Do nhân duyên ǵ mà Thích Ca Mâu Ni Như Lai thọ
mạng ngắn ngủi, chỉ có tám mươi năm?”)
Tán rằng: Đây là cảnh
bị nghi ngờ.
5.2.4.1.1.3. Trần
thuật cái nhân gây nên nghi ngờ
(Kinh) Phục tác thị
niệm: “Như Phật sở thuyết, hữu nhị
nhân duyên đắc thọ mạng trường”.
(經)復作是念:如佛所說,有二因緣得壽命長。
(Kinh: Lại nghĩ như
thế này: “Như đức Phật đă nói, có hai nhân
duyên để đạt được thọ mạng
dài”).
Tán rằng: Trần thuật
cái nhân gây nên nỗi nghi, có ba ư:
- Một, nhắc lại cái
nhân gây nên nỗi nghi.
- Hai, giả lập sự gạn
hỏi, giải thích.
- Ba, kết lại ư nghi ngờ
trước đó.
Đoạn này chính là ư thứ
nhất.
(Kinh) Vân hà vi nhị? Nhất
giả, bất hại sanh mạng; nhị giả, thí tha ẩm
thực.
(經)云何為二?一者不害生命、二者施他飲食。
(Kinh: Những ǵ là
hai? Một là chẳng hại sanh mạng, hai là thí thức
ăn cho người khác).
Tán rằng: [Đây chính là phần]
giả lập sự gạn hỏi để giải
thích.
(Kinh) Nhiên Thích Ca Mâu Ni
Như Lai tằng ư vô lượng bách thiên vạn ức
vô số đại kiếp, bất hại sanh mạng,
hành Thập Thiện Đạo, thường dĩ ẩm
thực huệ thí nhất thiết cơ ngạ chúng sanh,
năi chí kỷ thân huyết, nhục, cốt, tủy diệc
tŕ thí dữ, linh đắc bảo măn, huống dư ẩm
thực!
(經)然釋迦牟尼如來,曾於無量百千萬億無數大劫,不害生命、行十善道,常以飲食惠施一切饑餓眾生,乃至己身血肉骨髓亦持施與令得飽滿,況餘飲食。
(Kinh: Nhưng Thích Ca
Mâu Ni Như Lai từng trong vô lượng trăm ngàn vạn
ức vô số đại kiếp, chẳng hại sanh mạng,
hành Thập Thiện Đạo, thường dùng thức
ăn để bố thí rộng răi cho hết thảy
chúng sanh đói khát, thậm chí máu, thịt, xương, tủy
của chính ḿnh cũng đem bố thí, khiến cho họ
được no đủ, huống hồ các thức
ăn khác).
Tán rằng: Đây là kết
lại ư nghi trước đó. Theo kinh văn của kinh này và
quyển ba của kinh Niết Bàn, vạn hạnh đều
là nhân duyên để trường thọ và đạt
được ba thân; nhưng chỉ nêu ra “thí
thức ăn” và “chẳng
sát sanh”, v́ điều này áp dụng chung cho nhân duyên thọ mạng
của hữu t́nh. V́ thế, riêng nêu ra để hỏi,
v́ sợ chúng sanh thấy Phật
thọ tám mươi tuổi, sẽ nghi “chẳng sát
sanh” và “bố thí thức ăn” chẳng cảm vời trường
thọ. Do muốn dựa vào cái thân để tăng trưởng
đạo, ḥng tiếp độ chúng sanh, cho nên
nghi vậy!
5.2.4.1.2. Các đức
Phật ở phương khác nói thọ mạng
(Kinh) Thời bỉ Bồ
Tát ư Thế Tôn sở tác thị niệm thời.
(經)時彼菩薩於世尊所作是念時。
(Kinh: Khi đó, lúc vị
Bồ Tát ấy đối với đức Thế Tôn
nghĩ như thế).
Tán rằng: Đây là phần
thứ hai, tức phần “các đức Phật ở
phương khác nói thọ mạng vô cùng”, gồm có sáu ư:
- Một, chư Phật ở
phương khác hiện thân.
- Hai, ngài Diệu Tràng hoan hỷ
thưa hỏi.
- Ba, các đức Phật ấy
giải đáp.
- Bốn, ngài Diệu Tràng lại
thưa hỏi.
- Năm, các đức Phật
lại v́ Bồ Tát trần thuật.
- Sáu, [chư Phật] nói xong
chẳng hiện nữa.
5.2.4.1.2.1. Chư Phật
từ phương khác hiện thân
Kinh văn chia làm tám đoạn:
- Một, đúng thời tiết
liền hiện ra.
- Hai, [chỗ của Diệu
Tràng Bồ Tát] biến thành cuộc đất thanh tịnh.
- Ba, ṭa báu trang nghiêm.
- Bốn, Phật thân giáng hiện.
- Năm, phóng quang chiếu cảnh.
- Sáu, quang minh hiện điềm
tốt lành.
- Bảy, quang minh lợi lạc
quần sanh.
- Tám, nêu đại lược
và tổng kết.
Ở đây chính là đoạn
thứ nhất. Do Phật thuyết pháp không ngăn ngại,
cho nên ứng với lúc Bồ Tát suy niệm bèn hiện ra.
(Kinh) Dĩ Phật oai lực,
kỳ thất hốt nhiên quảng bác, nghiêm tịnh. Đế
thanh lưu ly, chủng chủng chúng bảo tạp thái, gián sức như Phật Tịnh
Độ, hữu diệu hương khí, quá chư thiên
hương phân phức sung măn.
(經)以佛威力,其室忽然廣博嚴淨,帝青瑠璃種種眾寶雜彩閒飾如佛淨土,有妙香氣,過諸天香芬馥充滿。
(Kinh: Do oai lực của
Phật, cái thất ấy bỗng rộng răi, trang nghiêm,
thanh tịnh. Đế thanh lưu ly, các thứ chất báu
nhiều màu xen kẽ tô điểm như Tịnh Độ
của Phật, có mùi thơm mầu nhiệm hơn hẳn
hương trời ngào ngạt trọn khắp).
Tán rằng: Biến
thành cơi đất thanh tịnh, gồm bốn ư:
- Một, nêu ra người
có thể biến hiện.
- Hai, nêu ra hạn lượng
của cuộc đất được biến hiện.
- Ba, tướng trạng của
cuộc đất được biến hiện.
- Bốn, hương xông
ngát.
Hỏi: Những điều
ấy do vị Phật nào biến ra?
Đáp: Một cách giải
thích là do Phật Thích Ca biến ra. Như trong kinh Pháp Hoa,
khi các hóa Phật sắp nhóm họp, Phật Thích Ca liền
biến hiện [cơi Sa Bà thành cơi nước nghiêm tịnh].
Một cách hiểu khác là [các tướng trang
nghiêm ở đây] do bốn vị Phật biến hiện,
cũng giống như khi ngài Diệu Âm sắp tới cơi
này, đă hiện trước các hoa ṭa v.v… Cách hiểu thứ
hai là đúng, v́ lẽ nào vậy? Chuyện phóng quang, hiện
điềm lành khiến cho chúng sanh yêu thích trong phần sau
đều do bốn đức Như Lai [biến hiện].
V́ thế biết Tịnh Độ cũng do bốn vị
Phật biến ra. Nói “đế thanh lưu ly” chính là
chất báu lưu ly màu xanh của trời Đế Thích,
thù thắng nhất trong các chất báu, cho nên riêng nêu ra. Hữu
lậu t́nh kiến hạn cuộc, c̣n vô lậu th́ tâm thông
suốt, cho nên “quảng bác nghiêm tịnh” (rộng răi,
trang nghiêm, thanh tịnh). Do Vô Phân Biệt Trí, cho nên có đế thanh. Tuy là nhà của
ngài Diệu Tràng mà thanh tịnh như cơi Phật, trọn
đủ ngũ phần hương, lời văn dễ
hiểu!
(Kinh) Ư kỳ tứ
diện, các hữu thượng diệu sư tử chi
ṭa, tứ bảo sở thành, dĩ thiên bảo y nhi phu kỳ
thượng. Phục ư thử ṭa, hữu diệu
liên hoa, chủng chủng trân bảo dĩ vi nghiêm sức,
lượng đẳng Như Lai, tự nhiên hiển hiện.
(經)於其四面各有上妙師子之座,四寶所成,以天寶衣而敷其上。復於此座有妙蓮華,種種珍寶以為嚴飾,量等如來,自然顯現。
(Kinh: Nơi bốn
phía đều có ṭa sư tử thượng diệu, do bốn
thứ báu hợp thành, dùng y báu cơi trời phủ lên trên. Trên ṭa ấy lại có hoa sen mầu
nhiệm, các thứ trân bảo dùng để trang hoàng,
lượng bằng Như Lai, tự nhiên hiển hiện).
Tán rằng: Đoạn thứ ba là “biến ra ṭa báu”, gồm bốn ư:
- Một là thể chất của
ṭa. Có bốn ṭa nhằm biểu thị các loài thuộc tứ
sanh (noăn, thai, thấp, hóa) đều được thành Phật.
V́ thế, dùng bốn báu hợp thành, như chỗ ở của
sư tử chúa. Nói “tứ bảo” th́ một là vàng,
hai là bạc, ba là phệ-lưu-ly (Vaidūrya)[27], bốn là
pha-chi-ca (Sphaṭika)[28], biểu thị
Tứ Vô Úy.
- Hai, “dĩ thiên bảo y”
(dùng y báu cơi trời) v.v… nói về sự trải phủ, sắp
đặt, biểu thị tịnh mạng.
- Ba, “phục ư thử
ṭa…” (lại trên ṭa ấy…), [nêu ra] ba thứ trang nghiêm,
biểu thị xuất sanh tử, đạt được
Thất Giác Hoa. Dùng trân bảo để trang hoàng, cũng
chính là dùng Thất Thánh Tài để trang nghiêm.
- Bốn, ṭa lượng
(kích thước của ṭa): Ṭa báu tương xứng với
thân, cho nên [kinh chép là] “lượng đẳng Như Lai”
(lượng bằng với Như Lai).
Chẳng do sức của
ngài Diệu Tràng, nên nói là “tự
nhiên hiển hiện”.
(Kinh) Ư liên hoa thượng,
hữu tứ Như Lai, Đông phương Bất Động,
Nam phương Bảo Tướng, Tây Vô Lượng Thọ,
Bắc Thiên Cổ Âm. Thị tứ Như Lai, các ư kỳ
ṭa, gia phu nhi tọa.
(經)於蓮華上有四如來,東方不動、南方寶相、西無量壽、北天鼓音。是四如來,各於其座加趺而坐。
(Kinh: Trên hoa sen, có bốn đức
Như Lai, phương Đông là Bất Động,
phương Nam là Bảo Tướng, phương Tây là Vô
Lượng Thọ, phương Bắc là Thiên Cổ Âm. Bốn
đức Như Lai ấy, mỗi vị đều ngồi
xếp bằng trên các ṭa ấy).
Tán rằng: Bốn đức
Như Lai giáng hiện ngồi trên hoa, ví như Pháp Thân. Bốn
vị Phật biểu thị Tứ Đức.
V́ sao mỗi phương
trong bốn phương đều hiện một vị
Phật để biểu thị Tứ Đức?
Đáp: Như trong kinh có nói,
bốn phương ví như sanh, trụ, dị, diệt.
Đó là tướng hữu vi. Tứ Đức lật
ngược nó, chẳng có sanh, trụ, dị, diệt. V́
thế, Phật hiện trong
bốn phương.
Hỏi: Trong bốn oai nghi
đều có thể thuyết pháp, v́ sao phải hiện
tướng ngồi xếp bằng?
Đáp: Thuận theo cơ
nghi yêu thích [của chúng sanh] mà hiện. Theo quyển ba
mươi của Du Già Sư Địa Luận, có nói
năm nhân duyên:
- Một, do thân được
thâu liễm,
sẽ nhanh chóng phát sanh sự khinh an.
- Hai, do ngồi yên sẽ có
thể duy tŕ lâu dài.
- Ba, do ngồi yên là pháp bất
cộng.
- Bốn, do ngồi yên lặng
như thế, h́nh tướng đoan nghiêm.
- Năm, do ngồi yên như
thế được Phật và đệ tử cùng hứa
khả.
Theo Trí Độ Luận th́
là v́ hàng ma. Luận ấy chép: “Thấy h́nh vẽ [Phật, Bồ Tát] ngồi xếp bằng,
ma vương tự kinh hăi, huống hồ người nhập
đạo ngồi ngay ngắn, chẳng lay động
ư?”
Bát Nhă Luận của ngài Vô Trước viết: “Chỉ
có ngồi yên tĩnh là có thể giác ngộ, nói các pháp, v́
đó là thuận theo tướng ngồi trong oai nghi trụ
trong Định, v́ biểu thị có thể giác các pháp.
Để có thể nói các pháp th́ phải do đắc Định,
đắc Định là do ngồi”.
(Kinh) Phóng đại
quang minh, châu biến chiếu diệu Vương Xá đại
thành, cập thử tam thiên đại thiên thế giới,
năi chí thập phương Hằng hà sa đẳng chư
Phật quốc độ.
(經)放大光明,周遍照曜王舍大城及此三千大千世界,乃至十方恒河沙等諸佛國土。
(Kinh: Phóng quang minh lớn,
chiếu sáng ngời trọn khắp thành lớn
Vương Xá và tam thiên đại thiên thế giới này,
cho đến các quốc độ của chư Phật
nhiều như cát sông Hằng trong mười
phương).
Tán rằng: Đây là điều
thứ năm, “phóng quang chiếu cảnh”. Theo Già Da
Sơn Đảnh Kinh Luận, phóng quang có bảy nghĩa:
Một, khiến sanh tịnh tín, biết là bậc thù thắng.
Hai, phá tối tăm, dẹp tan ngu si… Nói chi tiết th́
như trong Pháp Hoa Kinh Sớ đă thuật. Quang minh có ba phần:
Một là Vương Xá, hai là đại thiên thế giới,
ba là mười phương. Do muốn hiển thị tam
thân, cho nên hiện ra ba thứ v.v… Lại c̣n nói thấy ba
thân có trước, có sau. V́ thế, thoạt đầu là
thấy Hóa Thân, kế đó thấy Ứng Thân, sau là thấy
Pháp Thân. Nêu ra con số “Hằng hà sa” là có năm
nghĩa cũng giống như Pháp Hoa Sớ đă nói: Số
lượng cảnh trong một đại thiên thế giới
không nhất định, xin hăy kiểm trong bộ Du Già Sao[29].
(Kinh) Vũ chư thiên
hoa, tấu chư thiên nhạc.
(經)雨諸天華,奏諸天樂。
(Kinh: Mưa các hoa trời,
tấu các nhạc trời).
Tán rằng: Điều thứ
sáu là “quang minh hiện tướng tốt lành”. “Mưa
hoa” có năm ư nghĩa như Pháp Hoa Sớ [đă nói]. Tấu
nhạc: Biểu thị được nghe pháp, càng thêm vui
sướng.
(Kinh) Nhĩ thời,
ư thử Thiệm Bộ Châu trung, cập tam thiên đại
thiên thế giới sở hữu chúng sanh, dĩ Phật
oai lực, thọ thắng diệu lạc, vô hữu phạp
thiểu.
(經)爾時於此瞻部洲中及三千大千世界所有眾生,以佛威力受勝妙樂,無有乏少。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
tất cả chúng sanh trong Thiệm Bộ Châu này và tam thiên
đại thiên thế giới, do oai lực của Phật,
hưởng sự vui mầu nhiệm thù thắng, chẳng
bị thiếu sót).
Tán rằng: Điều thứ
bảy là “quang minh lợi lạc quần sanh”, gồm
hai điều: Một là được vui, hai là ĺa khổ.
Đoạn này là điều thứ nhất.
Hỏi: Quang minh chiếu sáng
ngời cơi này, [chúng sanh] trong cơi này thấy quang minh đạt
được lợi ích. [Thế nhưng] quang minh cũng
chiếu thấu mười phương, cớ sao mười
phương chẳng được lợi ích?
Đáp: Xét ra,
phải nên là đều đạt được lợi
ích, chỉ là [kinh văn] lược đi chẳng bàn tới!
(Kinh) Nhược thân bất
cụ, giai mông cụ túc, manh giả năng thị, lung giả
đắc văn, á giả năng ngôn, ngu giả đắc
trí, nhược tâm loạn giả đắc bổn tâm,
nhược vô y giả đắc y phục, bị ố
tiện giả nhân sở kính, hữu cấu uế giả
thân thanh khiết.
(經)若身不具皆蒙具足,盲者能視、聾者得聞、瘂者能言、愚者得智,若心亂者得本心,若無衣者得衣服,被惡賤者人所敬,有垢穢者身清潔。
(Kinh: Nếu
thân chẳng toàn vẹn, sẽ đều được
toàn vẹn, kẻ mù có thể thấy, kẻ điếc
được nghe, kẻ câm có thể nói, kẻ ngu trở
thành trí. Nếu là kẻ loạn tâm, sẽ được
khôi phục bổn tâm. Nếu là kẻ không có y phục, sẽ
được y phục. Kẻ bị ghét bỏ, khinh
thường, sẽ được người khác cung
kính. Kẻ có cấu uế, thân sẽ được thanh
khiết).
Tán rằng: Đây là ĺa khổ.
Tuy lúc ĺa khổ th́ chính là lúc trở thành được
vui, nhưng vẫn nói đến chuyện ĺa khổ. Ở
đây là ĺa chín nỗi khổ, kinh văn dễ hiểu.
Theo Du Già Sư Địa Luận, oai lực vốn sẵn
có của chư Phật có thể khiến cho hữu t́nh
trông thấy [chư Phật] đều đạt
được các lợi ích ấy. Nếu thân chẳng
toàn vẹn, tức là thiếu tay chân, hoàng môn, nhị h́nh[30]
v.v… Cái nhân của các quả báo ác ấy dễ biết; nhưng quyển tám của
Trí Độ Luận đối với nghiệp báo sai biệt
v.v… thảy đều nói cặn kẽ.
(Kinh) Ư thử thế
gian sở hữu lợi ích vị tằng hữu sự, tất
giai hiển hiện.
(經)於此世間所有利益未曾有事,悉皆顯現。
(Kinh: Tất cả
chuyện lợi ích chưa từng có trong thế gian này thảy
đều hiển hiện).
Tán rằng: Tiểu
kết đại lược.
5.2.4.1.2.2. Diệu
Tràng hoan hỷ thưa hỏi
(Kinh) Nhĩ thời, Diệu
Tràng Bồ Tát kiến tứ Như Lai, cập hy hữu sự, hoan hỷ,
dũng dược, hiệp chưởng, nhất tâm chiêm
ngưỡng chư Phật thù thắng chi tướng.
(經)爾時妙幢菩薩見四如來及希有事,歡喜踊躍,合掌一心瞻仰諸佛殊勝之相。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
Diệu Tràng Bồ Tát thấy bốn đức Như Lai
và chuyện hy hữu, bèn hoan hỷ, hớn hở, chắp tay
nhất tâm chiêm ngưỡng tướng thù thắng của
chư Phật).
Tán rằng: Điều thứ
hai là “ngài Diệu Tràng
hoan hỷ thưa hỏi”. Trong phần này,
có hai ư:
- Một, trông thấy Phật,
tâm t́nh vui sướng,
- Hai, thỉnh cầu trừ
nghi hoặc.
Đoạn này thuộc về
ư thứ nhất. [Chư Phật] thị hiện ngồi
thanh tịnh trên hoa ṭa, phóng quang lợi ích chúng sanh, và các
chuyện hy hữu. Quán tướng
đại nhân của bốn đức Như Lai th́ gọi
là [chiêm ngưỡng] “thù thắng tướng”.
(Kinh) Diệc phục
tư duy Thích Ca Mâu Ni Như Lai vô lượng công đức,
duy ư thọ mạng, sanh nghi hoặc tâm: “Vân hà Như Lai
công đức vô lượng, thọ mạng đoản
xúc, duy bát thập niên?”
(經)亦復思惟釋迦牟尼如來無量功德,唯於壽命生疑惑心:云何如來功德無量,壽命短促唯八十年?
(Kinh: Cũng lại
tư duy vô lượng công đức của Thích Ca Mâu Ni
Như Lai, chỉ có đối với thọ mạng bèn
sanh tâm nghi hoặc: “Cớ sao Như Lai công đức vô
lượng, thọ mạng ngắn ngủi, chỉ có tám
chục năm?”)
Tán rằng: Cầu thỉnh
trừ nghi hoặc, gồm hai ư:
- Một
là tâm nghi.
- Hai là thốt lời
cầu thỉnh.
Đối với các thứ
như tướng hảo v.v… [do Phật Thích Ca đều]
giống như chư Phật, cho nên Bồ Tát chẳng sanh ḷng
nghi, nhưng do thọ mạng của Ngài khác với các vị
như Di Đà v.v… cho nên nói “duy ư thọ mạng sanh
nghi” (chỉ sanh ḷng nghi đối với thọ mạng).
5.2.4.1.2.3. Các đức
Phật ấy giải đáp
(Kinh) Nhĩ thời, tứ
Phật cáo Diệu Tràng Bồ Tát ngôn: - Thiện nam tử!
Nhữ kim bất ưng tư thổn Như Lai thọ mạng
trường đoản. Hà dĩ cố? Thiện nam tử!
Ngă đẳng bất kiến chư thiên, thế gian Phạm,
ma, sa-môn, Bà-la-môn đẳng, nhân cập phi
nhân, hữu năng toán tri Phật chi thọ lượng,
tri kỳ tề hạn!
(經)爾時四佛告妙幢菩薩言:善男子!汝今不應思忖如來壽命長短。何以故?善男子!我等不見諸天世間梵魔沙門婆羅門等人及非人,有能算知佛之壽量,知其齊限。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
bốn đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát rằng:
- Thiện nam tử! Nay ông chớ nên suy nghĩ thọ mạng
của Như Lai là dài hay ngắn. V́ sao vậy? Chúng ta chẳng
thấy có chư thiên, Phạm vương, ma, sa-môn, Bà-la-môn
v.v… người và phi nhân trong thế gian có thể tính biết
thọ lượng của Phật, biết được
chừng hạn).
Tán rằng: Đây là đoạn
thứ ba, “các vị Phật ấy giải đáp”, có
ba phần:
- Một, nêu đại
lược [thọ mạng của Như Lai] khó thể suy nghĩ.
- Hai, nhóm họp đại
chúng để giải thích.
- Ba, sau khi kết lại nhân
quả, khuyên đừng sanh nghi, bèn nói ba bài tụng.
Trong phần thứ nhất
này, cũng có hai ư:
- Một, những kẻ khác
chẳng thể suy lường [thọ mạng của Phật].
- Hai, chỉ Phật có thể
biết [thọ mạng của chư Phật].
Trong ư thứ nhất, lại
có ba điều:
- Một là [khuyên dạy hăy]
dứt niềm nghi ngờ sai lầm.
- Hai, kết lại.
- Ba, giải thích.
(Kinh) Duy trừ vô thượng
Chánh Biến Tri giả.
(經)唯除無上正遍知者。
(Kinh: Chỉ trừ
đấng Vô Thượng Chánh Biến Tri).
Tán rằng: Chỉ đức
Phật có thể biết.
(Kinh) Thời tứ
Như Lai dục thuyết Thích Ca Mâu Ni Phật sở hữu
thọ lượng, dĩ Phật oai lực, Dục, Sắc
Giới thiên, chư long, quỷ thần, Kiện Thát Bà, A Tô
La, Yết Lộ Trà, Khẩn Na La, Mạc Hô Lạc Già, cập
vô lượng bách thiên ức na-dữu-đa Bồ Tát Ma Ha
Tát tất lai tập hội, nhập Diệu Tràng Bồ Tát
tịnh diệu thất trung.
(經)時四如來欲說釋迦牟尼佛所有壽量,以佛威力,欲色界天、諸龍鬼神、健闥婆、阿蘇羅、揭路茶、緊那羅、莫呼洛伽,及無量百千億那庾多菩薩摩訶薩悉來集會,入妙幢菩薩淨妙室中。
(Kinh: Khi đó, bốn
đức Như Lai muốn nói tất cả thọ lượng
của Thích Ca Mâu Ni Phật, do oai lực của Phật,
chư thiên trong Dục Giới, Sắc Giới, các rồng,
quỷ thần, Kiện Thát Bà, A Tô La, Yết Lộ Trà, Khẩn
Na La, Mạc Hô Lạc Già, và vô lượng trăm ngàn ức na-dữu-đa
(na-do-tha) Bồ Tát Ma Ha Tát thảy đều nhóm đến,
vào trong cái thất thanh tịnh, nhiệm mầu của Diệu
Tràng Bồ Tát).
Tán rằng: Nhóm họp đại
chúng để giải thích. Trước hết là nhóm họp
đại chúng, sau đó là biện định. Ở
đây là phần nhóm họp đại chúng. Tuy trong phần
trước, [kinh văn] đă liệt kê đại chúng
thuộc tám bộ, nhưng có người không đến. Nay
do oai lực phóng quang gia hộ, triệu thỉnh của
chư Phật, họ mới có thể
nhóm đến.
Hỏi: Trong các kinh khác, hễ [đức Phật] phóng quang, đại chúng
trông thấy liền nhóm đến, v́ sao đại chúng ở
đây chẳng đến?
Đáp: Căn cơ chín muồi
có trước hay sau. Tuy được quang minh chiếu
đến, thoạt đầu [do căn cơ chưa chín
muồi, cho nên] chẳng thể
tới. Do Phật gia hộ
th́ mới có thể đến, hoặc do oai lực của
Phật dùng quang minh triệu thỉnh.
(Kinh) Nhĩ thời, tứ
Phật ư đại chúng trung, dục hiển Thích Ca Mâu
Ni Như Lai sở hữu thọ lượng, nhi thuyết
tụng viết:
(經)爾時,四佛於大眾中欲顯釋迦牟尼如來所有壽量,而說頌曰:
(Kinh: Lúc bấy giờ,
bốn vị Phật ở trong đại chúng, muốn
nêu rơ tất cả thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni
Như Lai, bèn nói kệ tụng rằng).
Tán rằng: Lời giải
thích gồm hai phần: Một, kết lại phần nhóm
họp, hai là chư Phật giải thích. Đây là phần
thứ nhất.
(Kinh) Nhất thiết
chư hải thủy, khả tri kỳ trích số, vô hữu
năng sổ tri, Thích Ca chi thọ lượng. Tích chư
Diệu Cao sơn, như giới khả tri số, vô hữu
năng sổ tri, Thích Ca chi thọ lượng. Nhất thiết
đại địa thổ, khả tri kỳ trần số,
vô hữu năng toán tri, Thích Ca chi thọ lượng. Giả
sử lượng hư không, khả đắc tận
biên tế, vô hữu năng sổ tri, Thích Ca chi thọ
lượng.
(經)一切諸海水,可知其滴數,無有能數知,釋迦之壽量。析諸妙高山,如芥可知數,無有能數知,釋迦之壽量。一切大地土,可知其塵數,無有能算知,釋迦之壽量。假使量虛空,可得盡邊際,無有能數知,釋迦之壽量。
(Kinh: Nước hết
thảy các biển, có thể biết số giọt, không ai
đếm biết được, thọ lượng Phật
Thích Ca. Phá các núi Diệu Cao, vụn như các hạt cải,
có thể biết số lượng, không ai đếm biết
được, thọ lượng Phật Thích Ca. Hết
thảy đất đại địa, có thể biết
số bụi, không ai tính biết nổi, thọ lượng
Phật Thích Ca. Giả sử đo hư không, biết
trọn hết ngằn mé, không ai đếm biết
được, thọ lượng Phật Thích Ca).
Tán rằng: [Đây là] phần
[chư Phật] giải thích. Chia thành hai đoạn:
- Một, bốn bài kệ
đầu nói rơ [thọ lượng ấy] vượt
ngoài thí dụ.
- Hai, bài kệ thứ năm
nói rơ [thọ lượng ấy ] vượt ngoài sự
tính toán.
Trong bốn bài tụng thuộc
phần thí dụ, tương truyền có hai cách giải
thích:
- Một, bốn bài tụng ấy
theo thứ tự hiển thị Tứ Đức “thường,
lạc, ngă, tịnh”. Theo thứ tự, [bốn đức
ấy] có thể trừ bốn thứ chướng là bất
tín, chấp ngă, sợ khổ, xả tâm.
- Cách giải thích khác là dựa
theo bốn thân của Phật để
hiển thị thọ lượng, [bốn thân] chính là Hóa
Thân,
Ứng
Thân,
vừa Ứng
vừa Hóa,
chẳng phải Ứng chẳng phải Hóa,
theo thứ tự mà lập thí dụ. Hóa Thân mất nơi
đây, hiện nơi kia, nên dùng nước để sánh
ví. Hóa Thân
nương vào Ứng Thân để hiện,
như nước ra khỏi núi. V́ thế dùng núi làm thí dụ.
Câu “cả hai” (tức vừa Ứng vừa Hóa)
là Tự Thọ Dụng Thân như đất, nương
vào hai thứ núi và nước. Câu thứ tư (chẳng phải
Ứng,
chẳng phải Hóa) nhằm sánh ví Pháp Thân do không có
h́nh tướng.
(Kinh) Nhược nhân trụ
ức kiếp, tận lực thường toán số, diệc
phục bất năng tri, Thế Tôn chi thọ lượng.
(經)若人住億劫,盡力常算數,亦復不能知,世尊之壽量。
(Kinh: Như người
trụ ức kiếp, tận lực thường tính
đếm, cũng lại chẳng thể biết, thọ
lượng của Thế Tôn).
Tán rằng: Vượt khỏi
sự tính toán.
(Kinh) Bất hại chúng
sanh mạng, cập thí ư ẩm thực, do tư nhị
chủng nhân, đắc thọ mạng trường viễn.
Thị cố Đại Giác tôn, thọ mạng nan tri số,
như kiếp vô biên tế, thọ lượng diệc
như thị.
(經)不害眾生命,及施於飲食,由斯二種因,得壽命長遠。是故大覺尊,壽命難知數,如劫無邊際,壽量亦如是。
(Kinh: Chẳng hại
mạng chúng sanh, và bố thí thức ăn, do hai thứ
nhân ấy, được thọ mạng dài lâu. V́ thế,
đấng Đại Giác, thọ mạng khó biết số,
như kiếp không ngằn mé, thọ lượng cũng
như thế).
Tán rằng: Kết lại
nhân quả, khuyên đừng sanh nghi. Hai bài tụng này nhằm
kết lại ư nghĩa: Do hai cái nhân mà cảm cái quả
trường thọ.
(Kinh) Diệu Tràng nhữ
đương tri, bất ưng khởi nghi hoặc, tối
thắng thọ vô lượng, mạc năng tri số giả.
(經)妙幢汝當知,不應起疑惑,最勝壽無量,莫能知數者。
(Kinh: Diệu Tràng! Ông nên biết,
chớ nên dấy nghi hoặc, thọ vô lượng tối
thắng, không ai biết nổi số).
Tán rằng: Khuyên đừng
sanh nghi.
5.2.4.1.2.4. Diệu
Tràng lại thỉnh vấn
(Kinh) Nhĩ thời, Diệu
Tràng Bồ Tát văn tứ Như Lai thuyết Thích Ca Mâu Ni
Phật thọ lượng vô hạn, bạch ngôn: - Thế Tôn! Vân hà
Như Lai thị hiện như thị đoản xúc thọ
lượng?
(經)爾時妙幢菩薩聞四如來說釋迦牟尼佛壽量無限,白言:世尊!云何如來示現如是短促壽量?
(Kinh: Lúc bấy giờ,
Diệu Tràng Bồ Tát nghe bốn đức Như Lai nói
Thích Ca Mâu Ni Phật thọ lượng vô
hạn,
bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! V́ sao Như Lai thị
hiện thọ lượng ngắn ngủi như thế?)
Tán rằng: Đây là tiểu
đoạn thứ tư, “Diệu Tràng lại thưa hỏi”:
Phật thật sự thọ dài lâu, con đă hiểu đại
lược. Do có nguyên do nào mà thị
hiện ngắn ngủi như thế? Trên đây đă giải
đáp [thọ
mạng]
dài lâu, nhưng chưa giải thích nguyên do rút ngắn tuổi
thọ. V́ thế, nay con hỏi lại. Theo quyển tám
mươi mốt luận Du Già Sư Địa đă nói: “Giải
đáp nghi nan th́ dù là nghi nan của chính ḿnh hay người
khác, đều nên giải trừ. Hăy nên biết nghi nan
đại lược có năm tướng: Một là v́
để bất liễu nghĩa được hiển lộ
liễu nghĩa, như nói đoạn văn này có ư
nghĩa ǵ? Hai là do lời lẽ mâu thuẫn, [chẳng hạn
như] nói ‘v́ sao trước kia nói khác?’ Ba là do đạo
lư mâu thuẫn, như có ư nghĩa được hiển thị
mâu thuẫn với bốn đạo lư. Bốn là do chẳng
quyết định hiển thị, như nói v́ sao đối
với một loại nghĩa lư lại hiển thị các
thứ môn sai biệt khác nhau? Năm là do thoạt
nh́n th́ thấy rốt ráo là phi lư, như nói ‘nội ngă có thể
tánh ǵ, có sắc tướng ǵ mà nói là thường hằng’
v.v… Đối với năm sự vấn nạn ấy,
phải nên theo thứ tự mà giải thích. Tức là đối
với vấn nạn bất liễu nghĩa, bèn dùng
phương tiện để hiển hiện liễu
nghĩa. Đối với vấn nạn về ngôn từ
mâu thuẫn, bèn hiển thị ư thú để tùy thuận
dung hội. Đối với các vấn nạn về chẳng
quyết định hiển thị, hoặc thoạt nh́n
th́ thấy là rốt ráo phi lư, cũng nên như thế.
Đối với vấn nạn về đạo lư mâu thuẫn,
hoặc dùng hắc giáo để phán quyết. Hàm ư: Chẳng
phải là liễu nghĩa, dựa theo Tiểu Thừa
để nói, th́ gọi là ‘hắc giáo’. Hoặc
nương theo đạo lư, hoặc v́ tăng thêm cái quả,
hoặc v́ tăng thêm cái nhân, hàm ư: Hoặc
là tùy thuận xoay chuyển, hoặc là dùng
phương tiện nhằm đoạn ác, tu thiện. Tất
cả nhân quả nói [theo phương diện sự tướng]
th́ có mâu thuẫn, nhưng đối với lư th́ thật sự
chẳng mâu thuẫn”.
Tuy có năm loại vấn nạn,
nhưng chuẩn theo cách giải thích luận Du Già Sư
Địa th́ mỗi điều vấn nạn đều
có năm ư:
- Một, v́ chẳng hiểu.
- Hai, v́ nghi hoặc.
- Ba, v́ thí nghiệm.
- Bốn, v́ hời hợt.
- Năm, v́ lợi lạc.
Nay trong năm loại vấn
nạn, th́ [nghi nan của Diệu Tràng Bồ Tát] thuộc
loại vấn nạn do ngôn từ mâu thuẫn: Phật Thích
Ca nói [thọ mạng ngắn], bốn vị Phật nói [thọ
mạng] dài. Do có sự mâu thuẫn ấy, cho nên Bồ Tát nêu lên chỗ nghi
nan. Trong năm ư, [lời vấn nạn của Diệu
Tràng Bồ Tát] là v́ lợi ích [quần sanh] mà thưa hỏi.
2.4.1.2.5. Các đức Phật ấy rộng
trần thuật
(Kinh) Thời, tứ Thế
Tôn cáo Diệu Tràng Bồ Tát ngôn: - Thiện nam tử! Bỉ
Thích Ca Mâu Ni Phật ư Ngũ Trược thế xuất
hiện chi thời.
(經)時四世尊告妙幢菩薩言:善男子!彼釋迦牟尼佛於五濁世出現之時。
(Kinh: Khi
đó, bốn vị Thế Tôn bảo Diệu Tràng Bồ
Tát rằng: - Thiện nam tử! Thích Ca Mâu Ni Phật xuất hiện [trong cơi đời] nhằm lúc đời
Ngũ Trược).
Tán rằng: Đây là đoạn
thứ năm, “các đức Phật ấy rộng trần
thuật”. Kinh văn được chia thành ba phần:
Một là nêu ra, hai là giải thích, ba là tổng kết. Từ
“thiện nam tử, thị chư Như Lai” (thiện nam tử, các đức
Như Lai ấy) trở đi chính là phần thứ nhất,
tức nêu ra [nguyên do v́ sao Phật Thích Ca thị hiện thọ
mạng ngắn ngủi]. Trong ấy, lại có ba ư:
- Một, nêu ra thời thế
thị hiện đoản thọ.
- Hai, nêu ra nguyên do thị hiện
[thọ mạng] ngắn ngủi.
- Ba, kết lại về
chuyện nêu bày sự đoản thọ.
Ở đây, nêu ra thời thế.
Ư nghĩa của Ngũ Trược th́ như đă biện
định trong Pháp Hoa Sớ. [Nêu ra thời tiết thị
hiện thọ mạng ngắn ngủi, chính là nói đến
Mạng Trược]. Đó cũng chính là nêu chung Ngũ
Trược.
(Kinh) Nhân thọ bách niên, bẩm tánh hạ liệt, thiện
căn vi bạc, phục vô tín giải.
(經)人壽百年,稟性下劣,善根微薄,復無信解。
(Kinh: Con người
thọ trăm tuổi, bẩm tánh kém hèn, thiện căn ít
mỏng, lại chẳng có tín giải).
Tán rằng: Nêu bày nguyên do thị
hiện rút ngắn [tuổi thọ]. Nguyên do có hai:
- Một là v́ diệt ác, tức
là xả sanh tử.
- Hai là v́ sanh thiện, tức
là khiến cho [chúng sanh] đắc Bồ Đề.
Đoạn này là diệt ác,
và cũng nhằm riêng giải thích Ngũ Trược.
Trược có năm loại, ở đây nêu ra bốn món:
- Một là Mạng Trược,
tức là con người thọ trăm tuổi.
- Hai là Hữu T́nh Trược
(Chúng Sanh Trược). Trong Hữu T́nh Trược có ba thứ:
- Một, sự ưa thích chẳng
rộng lớn, tức là bẩm tánh hèn kém.
- Hai, đời trước
chẳng có phước huệ, tức là thiện căn mỏng
ít.
- Ba, nhiều nỗi ngu mê, tức
là chẳng có tín giải.
(Kinh) Thử chư chúng
sanh đa hữu ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh, thọ
giả, dưỡng dục tà kiến, ngă ngă sở kiến,
đoạn thường kiến đẳng.
(經)此諸眾生多有我見、人見、眾生、壽者、養育邪見、我我所見、斷常見等。
(Kinh: Các chúng sanh ấy
có nhiều ngă kiến, nhân kiến, chúng sanh, thọ giả,
dưỡng dục tà kiến, kiến chấp về ta và
cái của ta, đoạn thường kiến v.v…)
Tán rằng: Đây chính là Kiến
Trược. Trong các kinh luận, ngă kiến được
nói theo nhiều cách khác nhau, như trong sách Thành Duy Thức
Nghĩa Đăng đă nói cặn kẽ. Nay dựa theo
kinh văn để giải thích đại lược.
Nói về ngă kiến th́ theo quyển tám mươi ba của
luận Du Già Sư Địa, nói chung có tám loại, ở
đây chỉ nêu ra năm thứ.
1)
Ngă kiến: Luận viết: “Nương vào
ngũ thủ uẩn, ngă kiến và ngă sở kiến hiện
tiền hiện hành”. Nay kinh văn ở đây nói riêng
ngă kiến và ngă sở kiến, tức là sự sai khác giữa
tổng và biệt. Luận Du Già xét theo tổng, c̣n kinh này
bao gồm cả tổng lẫn biệt. Ngă kiến
được nói ở đây tức là không có ngă và ngă sở
(cái của ta).
2) Nhân
kiến tức là hữu t́nh kiến, tức là các hiền
thánh như thật biết rơ chỉ có pháp này, chẳng c̣n
pháp nào khác. Lại c̣n có sự yêu đắm.
3) Chúng
sanh kiến, tức là Sổ Thủ Thú Kiến (數取趣見),
tức là nhiều lần chấp giữ [sự tái sanh
trong] các đường, chẳng biết chán đủ.
Ba món kiến chấp này
được ngài La Thập dịch là “ngă, nhân, chúng
sanh”.
4) Thọ
giả kiến, tức là Mạng được nói trong luận
Du Già, nghĩa là thọ ḥa hợp mà sống c̣n th́ gọi
là Mạng. Trong Bát Nhă Luận, Thiên Thân Bồ Tát nói: “Ngă, chúng
sanh, mạng giả”. Giải rằng: Thấy Ngũ Uẩn
sai biệt, mỗi Ấm đều là Ngă. Hư vọng chấp
giữ như thế th́ gọi là Ngă Kiến. Điều
này có nghĩa là: Coi chung Ngũ Uẩn sai biệt trong ba
đời là Ngă Kiến, thân tướng liên tục chẳng
dứt th́ gọi là Chúng Sanh. Đây chính là so đo Ngũ Uẩn
từ tiền tế[31]
đến nay liên tục chẳng dứt th́ gọi là Chúng
Sanh. Mạng căn trong báo thân thuộc một đời tồn
tại chẳng dứt th́ gọi là Mạng. Đây chính là chấp
theo hiện tại đang có mạng sống vậy. Sau khi
mạng căn đă đoạn, sẽ sanh trong sáu
đường, gọi là “thọ giả”. Đây là thấy thọ mạng sẽ
sanh khởi trong vị lai mà dấy lên [kiến chấp này]. Đó là xét theo sự sai khác riêng biệt
của Ngũ Uẩn.
“Dưỡng dục” tức
là nuôi nấng trong hiện tại, có thể tạo ra
Sĩ Phu Dụng[32].
Lại c̣n có thể tăng trưởng nghiệp hậu hữu
(thân trong đời sau).
5) “Tà
kiến”
chính là Tà Kiến trong năm thứ kiến chấp (Thân Kiến,
Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến,
Tà Kiến). “Ngă ngă sở kiến” tức là
nương theo Ngũ Uẩn mà dấy lên mười
lăm loại kiến chấp.
“Đoạn
thường kiến”
tức là Biên Kiến, Đoạn là nói tới bảy thứ
đoạn diệt. Thường là nói tới bốn thứ
Thường trọn khắp v.v… Lại c̣n nói Đẳng,
tức là Đẳng Thủ Kiến[33],
Hoặc Thủ Kiến, và Tùy Phiền Năo[34].
Lược đi chẳng nhắc tới Kiếp Trược,
do ngoại cảnh chẳng phải là được
hóa ra, bản
thể của nó chẳng phải là ác[35],
cho nên lược đi chẳng nêu ra.
(Kinh) Vị dục lợi
ích thử chư dị sanh, cập chư ngoại đạo
như thị đẳng loại, linh sanh chánh giải, tốc
đắc thành tựu Vô Thượng Bồ Đề.
(經)為欲利益此諸異生及諸外道如是等類,令生正解,速得成就無上菩提。
(Kinh: V́ muốn lợi
ích các loài dị sanh và các loại ngoại đạo
như thế, khiến cho họ sanh chánh giải, mau chóng
được thành tựu Vô Thượng Bồ Đề).
Tán rằng: V́ muốn khiến
cho họ sanh thiện, đắc Bồ Đề. “Dị
sanh, ngoại đạo” chính là loài người, [nói là “dị
sanh” nhằm] phân biệt họ chẳng phải là các vị
Bồ Tát đă nhập Địa (đă chứng từ
Sơ Địa trở lên). Từ bậc Sơ Địa
trở lên th́ đều đă thấy [thọ mạng của
Như Lai] dài lâu, cho nên chẳng cần thị hiện diệt
độ!
(Kinh) Thị cố, Thích Ca Mâu Ni Như Lai thị hiện
như thị đoản xúc thọ mạng.
(經)是故釋迦牟尼如來示現如是短促壽命。
(Kinh: V́ thế, Thích Ca
Mâu Ni Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi
như thế).
Tán rằng: Kết lại phần
nêu bày thọ mạng ngắn ngủi.
(Kinh) Thiện nam tử!
Nhiên bỉ Như Lai dục mạng chúng sanh kiến Niết
Bàn dĩ, sanh nan tao tưởng, ưu khổ đẳng
tưởng.
(經)善男子!然彼如來欲命眾生見涅槃已,生難遭想、憂苦等想。
(Kinh: Thiện nam tử!
Nhưng đức Như Lai ấy muốn khiến cho
chúng sanh thấy [Phật đă nhập] Niết Bàn rồi,
sẽ sanh ư tưởng khó gặp gỡ, ư tưởng
ưu khổ v.v…)
Tán rằng: Đây là tiểu
đoạn thứ hai nhằm giải thích [do ư nghĩa nào
mà đức Phật phải thị hiện thọ mạng
ngắn ngủi]. Kinh văn lại chia thành ba phần:
- Một là pháp thuyết.
- Hai là nêu thí dụ và kết
hợp đối ứng thí dụ với pháp.
- Ba là tổng kết.
Phần thứ nhất là
pháp thuyết, lại chia thành năm ư:
- Một là giải thích.
- Hai là giả lập sự
gạn hỏi.
- Ba là giải đáp lời
gạn hỏi.
- Bốn là lại cật vấn.
- Năm là giải thích lời
vấn nạn.
Trong phần giải thích, lại
có ba ư:
- Một, khiến cho [chúng
sanh] khởi tâm mong mỏi, ngưỡng mộ đối
với Phật.
- Hai, khiến cho họ sanh ư
tưởng tu tập đối với pháp.
- Ba, là tùy thuận kết lại.
Đoạn này chính là ư thứ
nhất. Bởi lẽ, kinh Pháp Hoa dạy: “Nhược
ngă cửu trụ, chúng sanh bất năng sanh nan tao tưởng,
khởi khát ngưỡng tâm” (nếu ta trụ thế
lâu dài, chúng sanh chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp
gỡ, dấy tâm khát ngưỡng) v.v… có cùng ư nghĩa với
đoạn kinh này. Nhưng đối với chuyện thị
hiện nhập Niết Bàn, theo hội Tối Thắng Thiên
Vương trong kinh Đại Bát Nhă th́ có một nguyên nhân:
V́ các hữu t́nh thích nghe Viên Tịch, cho nên
[đức Phật] hiện nhập Niết Bàn. Pháp Hoa Luận
viết: “V́ đối trị, trừ khử kẻ
chẳng có thiện căn tu tập Đại Thừa sanh
ḷng tăng thượng mạn. V́ đối trị hạng
người ấy mà nói thí dụ lương y để
sánh ví chuyện Như Lai thị hiện bát Niết Bàn”. Vô Tánh Nhiếp Luận
nói do có sáu nhân mà Hóa Thân của Như
Lai rốt cuộc chẳng trụ thế, chi tiết th́
như trong luận ấy đă biện định. Theo
như kinh Hoa Nghiêm dạy: “Cứu cánh Phật sự
dĩ, hữu thập chủng nghĩa thị hiện
Đại Niết Bàn: Nhất, minh nhất thiết hành tất
vô thường cố. Nhị, minh nhất thiết
hữu vi phi an ổn cố. Tam, minh Niết Bàn
thú tối an ổn cố. Tứ, minh Niết Bàn viễn
ly nhất thiết chư bố úy cố. Ngũ,
dĩ chư nhân thiên nhạo
trước sắc thân, minh sắc thân vô thường,
thị ma diệt pháp, linh bỉ cầu tịnh Pháp Thân cố” (Đă thực hiện
Phật sự rốt ráo xong, do có mười loại
nghĩa mà thị hiện Đại Niết Bàn: Một, v́
chỉ rơ hết thảy các hành đều vô thường.
Hai, v́ chỉ rơ hết thảy hữu vi chẳng phải
là an ổn. Ba, v́ chỉ rơ đường Niết Bàn là an ổn
nhất. Bốn, v́ chỉ rơ Niết Bàn xa ĺa hết thảy
các sợ hăi. Năm, do các trời, người yêu chấp sắc
thân, chỉ rơ sắc thân vô thường, là pháp ṃn diệt,
khiến cho họ cầu Pháp Thân thanh tịnh). Các pháp này
tương ứng với nghĩa thứ hai trong Nhiếp
Luận. “Lục, minh vô thường lực cường
bất khả chuyển cố. Thất, minh hữu vi pháp bất
tự tại cố. Bát, minh tam giới pháp tất như
hoại khí vô kiên lao cố. Cửu, minh bát Niết Bàn tối
vi chân thật bất khả hoại cố. Thập, minh
bát Niết Bàn viễn ly sanh tử, phi khởi diệt
cố. Dĩ thử thập nghĩa, thị hiện Niết
Bàn”
(Sáu, v́ chỉ rơ sức vô thường mạnh mẽ chẳng
thể chuyển. Bảy, v́ chỉ rơ pháp hữu vi chẳng
tự tại. Tám, v́ chỉ rơ các pháp trong tam giới đều
như dụng cụ hư nát, chẳng bền chắc.
Chín, v́ chỉ rơ Bát Niết Bàn chân thật nhất, chẳng
thể hoại. Mười, v́ chỉ rơ Bát Niết Bàn xa
ĺa sanh tử, chẳng dấy lên hay diệt mất. Do
mười nghĩa này mà thị hiện Niết Bàn).
Nay đoạn kinh văn ở
đây nói chung có sáu nghĩa:
- Một, v́ khiến cho [chúng
sanh] sanh chánh giải.
- Hai, v́ [khiến cho họ]
mau chóng được thành tựu Vô Thượng Bồ
Đề.
- Ba, v́ khiến cho [chúng sanh]
thấy Phật diệt độ, sẽ sanh khởi ư
tưởng khó gặp gỡ.
- Bốn, khiến cho họ nhanh
chóng tu hành theo lời Phật dạy. Tức là phần nêu
ra [nguyên do Phật thị hiện nhập diệt] trong phần
trước và phần giải thích có đủ cả bốn
ư này, cũng là v́ khiến cho chúng sanh gieo các thiện
căn, khởi sự tu tập, tín giải, đoạn trừ
tà kiến.
- Năm là v́ lưu lại
xá-lợi từ xương nơi thân để chúng sanh
cúng dường, ḥng đạt được phước,
tức là như trong phần sau, ngài Kiều Trần Như
thỉnh xá-lợi của Phật, và cho đến cuối
kinh, đức Phật đáp lời ngài Diệu Tràng rằng:
“Hoặc thời kiến hữu Bát Niết Bàn giả thị
quyền phương tiện, cập lưu xá-lợi, linh
chư hữu t́nh cung kính cúng dường. Nhược cúng
dường giả, ư vị lai thế, viễn ly bát nạn,
phùng sự chư Phật, ngộ thiện tri thức, bất
thất thiện tâm, phước báo vô biên” (Hoặc có
lúc hiện bát Niết Bàn làm phương tiện quyền
biến và lưu lại xá-lợi, khiến cho các hữu
t́nh cung kính cúng dường. Nếu cúng dường th́ trong
đời vị lai, sẽ xa ĺa tám nạn, gặp gỡ
phụng sự chư Phật và gặp thiện tri thức,
chẳng mất tâm lành, phước báo vô biên).
- Sáu, v́ khiến cho hữu
t́nh được chứng Viên Tịch,
tức là như phần cuối kinh có nói: “Tốc
đương xuất ly, bất vị sanh tử chi sở
triền phược” (Hăy mau chóng thoát ĺa, đừng bị
sanh tử quấn trói). Đó là xét theo
luận Nhiếp Đại Thừa, cũng v́ kẻ
thường ưa vui, chẳng mong cầu Viên
Tịch
mà thị hiện Niết Bàn.
(Kinh) Ư Phật Thế
Tôn sở thuyết kinh giáo, tốc đương thọ
tŕ, độc tụng thông lợi, vị nhân giải thuyết,
bất sanh báng hủy.
(經)於佛世尊所說經教,速當受持,讀誦通利,為人解說,不生謗毀。
(Kinh: Đối với
kinh giáo do Phật Thế Tôn đă nói, sẽ mau chóng thọ
tŕ, đọc tụng thông suốt, v́ người khác giải
nói, chẳng sanh hủy báng).
Tán rằng: Đây là ư thứ
hai, tức khiến cho [người nghe] đối với
pháp sẽ dấy lên ư tưởng tu tập. Có mười
pháp hạnh, ở đây nêu đại lược bốn
pháp: Một là thọ tŕ, hai là xem đọc, ba là phúng tụng,
bốn là giải nói. Ba món đầu là hạnh tự lợi,
một món sau là hạnh lợi tha, ngầm nêu các hạnh
c̣n lại. Trong mười pháp hạnh, mỗi pháp hạnh
đều có bốn điều, tức là tự làm, [dạy
người khác làm, thấy người khác làm bèn hoan hỷ]
v.v… Nay nói chẳng hủy báng, tức là sanh tâm tùy hỷ. Đối
với lời Phật dạy sanh tâm tùy hỷ, chỉ rơ:
Đối với người thọ tŕ, cũng sanh ḷng
tùy hỷ, chẳng hủy báng, lại c̣n nêu ra các hạnh dễ
thực hiện.
(Kinh) Thị cố, Như Lai hiện tư đoản thọ.
(經)是故如來現斯短壽。
(Kinh: V́ thế,
Như Lai hiện tuổi thọ ngắn ngủi ấy).
Tán rằng: Tổng
kết.
(Kinh) Hà dĩ cố?
(經)何以故?
(Kinh: V́ lẽ
nào?)
Tán rằng: Đây là giả
lập sự gạn hỏi. V́ sao thấy Phật nhập
Niết Bàn, [chúng sanh] sẽ sanh ư tưởng khó gặp gỡ,
dấy lên các tâm như thọ tŕ pháp v.v…
(Kinh) Bỉ chư chúng sanh
nhược kiến Như Lai bất bát Niết Bàn, bất
sanh cung kính, nan tao chi tưởng.
(經)彼諸眾生若見如來不般涅槃,不生恭敬難遭之想。
(Kinh: Các chúng sanh ấy
nếu thấy Như Lai chẳng bát Niết Bàn, sẽ chẳng
sanh ư tưởng cung kính, khó gặp gỡ).
Tán rằng: Đây là ư thứ
ba, giải thích lời gạn hỏi; đó là v́ để
sanh khởi ư tưởng khó gặp gỡ [cho chúng sanh].
(Kinh) Như Lai sở
thuyết thậm thâm kinh điển, diệc bất thọ
tŕ, độc tụng thông lợi, vị nhân tuyên thuyết.
(經)如來所說甚深經典,亦不受持讀誦通利為人宣說。
(Kinh: Đối với
kinh điển rất sâu do Như Lai đă nói, họ
cũng chẳng thọ tŕ, đọc tụng thông suốt,
v́ người khác tuyên nói).
Tán rằng: Đây là thông với
chuyện khởi tâm tŕ pháp.
(Kinh) Sở dĩ giả
hà?
(經)所以者何?
(Kinh: V́ lẽ nào vậy?)
Tán rằng: Ư thứ tư là
lại cật vấn. Nếu thấy Như Lai chẳng Bát
Niết Bàn, [chúng sanh] sẽ chẳng dấy
lên ư nghĩ khó gặp gỡ và tŕ pháp. “Sở dĩ giả hà?” (v́
lẽ nào vậy) [là lời gạn hỏi] nhằm giải
thích.
(Kinh) Dĩ thường
kiến Phật, bất tôn trọng cố.
(經)以常見佛,不尊重故。
(Kinh: Do thường
thấy Phật, sẽ chẳng tôn trọng).
Tán rằng: Giải thích
điều vấn nạn. Nếu thấy đức Phật
diệt độ, sợ sẽ chẳng c̣n gặp gỡ
nữa, liền sanh ư tưởng khó gặp gỡ. Đă
thấy Ngài trụ thế lâu dài, bèn cho là Ngài thường
hiện diện, chẳng sanh tâm tưởng là hy hữu
khó gặp, muốn cúng dường. V́ thế, chẳng tôn
trọng Phật. Đă chẳng tôn trọng th́ đối
với pháp [do đức Phật] đă nói, cũng chẳng nghĩ là hiếm
được nghe, cho nên chẳng tu hành.
(Kinh) Thiện nam tử!
Thí như hữu nhân kiến kỳ phụ mẫu đa hữu
tài sản, trân bảo phong doanh, tiện ư tài vật, bất sanh hy hữu
nan tao chi tưởng.
(經)善男子!譬如有人見其父母多有財產,珍寶豐盈,便於財物不生希有難遭之想。
(Kinh: Thiện nam tử!
Ví như có người thấy cha mẹ ḿnh có nhiều tài
sản, của báu tràn trề, liền chẳng sanh ư tưởng
hiếm có, khó gặp đối với tài vật).
Tán rằng: Đây là tiểu đoạn
thứ hai [trong phần chư Phật giải thích cặn
kẽ do ư nghĩa nào mà đức Phật phải thị
hiện thọ mạng ngắn ngủi], tức là tiểu
đoạn “nêu thí dụ” và “kết
hợp thí dụ với pháp”.
Trong phần này, có hai ư:
- Một, thí dụ về chuyện
Phật trụ thế lâu dài, chúng sanh sẽ không vui thích.
- Hai, thí dụ về chuyện
thấy Phật diệt độ, [chúng sanh] sẽ thọ tŕ, cung
kính.
Trong phần thứ nhất,
lại có hai đoạn: Một là nêu thí dụ, hai là kết
hợp thí dụ với pháp. Trong tiểu đoạn thứ
nhất [nêu thí dụ], lại có ba phần: Một là nêu thí
dụ, hai là gạn hỏi, ba là giải thích. “Hữu
nhân” (Có người) chính là sánh ví dị sanh và ngoại
đạo. “Cha mẹ” là sánh ví Phật, do có thể
sanh trưởng thân phước trí. “Đa
hữu tài sản” (Có nhiều tài sản) v.v… sánh ví Phật
trụ thế lâu dài, pháp tài dư dật, cho nên [chúng sanh]
chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp. Theo kinh văn
th́ [chúng sanh] chẳng thể sanh ư tưởng khó gặp
đối với pháp, nhưng thật ra cũng liên quan
đến Phật. V́ thế, trong phần kết hợp
thí dụ với pháp dưới đây, bèn chú trọng kết
hợp với Phật, trong phần giải thích th́ bao gồm
cả hai (Phật và Pháp).
(Kinh) Sở dĩ giả
hà?
(經)所以者何?
(Kinh: V́ lẽ nào vậy?)
Tán rằng: Gạn
hỏi.
(Kinh) Ư phụ tài vật,
sanh thường tưởng cố.
(經)於父財物生常想故。
(Kinh: Do đối với
tài vật của cha bèn tưởng là thường).
Tán rằng: [Đây là] lời
giải thích. Hăy nên nói là “đối với cha liền
sanh ư tưởng là thường, đối với tài vật
của cha bèn tưởng là thường”. Hợp cả
hai nghĩa để giải thích. Hoặc có thể hiểu
là do trong thí dụ trên đây, chỉ thí dụ “đối
với tài vật, chẳng sanh ư tưởng khó gặp”,
cho nên nay cũng chỉ gạn hỏi, giải thích về
tài vật.
(Kinh) Thiện nam tử!
Bỉ chư chúng sanh diệc phục như thị. Nhược
kiến Như Lai bất nhập Niết Bàn, bất sanh hy
hữu, nan tao chi tưởng. Sở dĩ giả hà? Do
thường kiến cố.
(經)善男子!彼諸眾生亦復如是。若見如來不入涅槃,不生希有難遭之想。所以者何?由常見故。
(Kinh: Thiện nam tử!
Các chúng sanh ấy cũng lại như vậy. Nếu thấy
Như Lai chẳng nhập Niết Bàn, sẽ chẳng sanh ư
tưởng hiếm có, khó gặp. V́ lẽ nào vậy? Do
thường trông thấy).
Tán rằng: Đây là kết
hợp [thí dụ với pháp]. Kinh văn cũng gồm ba
phần: Một là kết hợp [thí dụ với pháp], hai
là gạn hỏi, cuối cùng là giải thích. Kinh văn chia
thành ba phần riêng biệt.
(Kinh) Thiện nam tử!
Thí như hữu nhân, phụ mẫu bần cùng, tư tài phạp
thiểu.
(經)善男子!譬如有人,父母貧窮,資財乏少。
(Kinh: Thiện
nam tử! Ví như có người, cha mẹ nghèo túng, của
cải thiếu hụt).
Tán rằng: Đây là sánh ví
[chúng sanh] do thấy [đức Phật] nhập diệt, sẽ
sanh tâm ái kính. Kinh văn gồm hai phần giống như
phần trước. Kinh văn thuộc phần thí dụ
gồm năm ư:
- Một, thí dụ Phật
thị hiện nhập diệt.
- Hai, thí dụ Phật khó gặp
gỡ.
- Ba, thí dụ về yêu mến
pháp, cầu học.
- Bốn, gạn hỏi.
- Năm, giải thích.
Đoạn này thuộc về
ư thứ nhất.
(Kinh) Nhiên bỉ bần
nhân, hoặc nghệ vương gia, hoặc đại thần
xá, kiến kỳ thương khố chủng chủng trân
tài, tất giai doanh măn, sanh hy hữu tâm, nan tao chi tưởng.
(經)然彼貧人,或詣王家或大臣舍,見其倉庫種種珍財悉皆盈滿,生希有心、難遭之想。
(Kinh: Nhưng kẻ
nghèo ấy, hoặc đến nhà của vua, hoặc nhà
đại thần, trông thấy kho tàng của họ các
thứ vật quư thảy đều dư dật, sanh tâm
hy hữu, sanh ư tưởng khó gặp).
Tán rằng: Không có sự cứu
giúp, che chở ấy, cho nên yêu thích, mong cầu. Đây chính
là thí dụ về chuyện “tôn
kính Phật v́ khó gặp gỡ”. Nói tới kẻ nghèo ấy, tức
là sánh ví dị sanh ngoại đạo cái tâm hèn kém, thiện
căn mỏng ít. “Hoặc nghệ vương gia” (hoặc
đến nhà của vua) sánh ví sự giác ngộ, mới
đối với đức Thế Tôn nẩy sanh ư tưởng
khó gặp gỡ, v́ thế [sánh ví Phật]
như quốc vương. Hoặc là “đại thần”, tức là [sánh ví] bậc
đại Bồ Tát. Thọ mạng cũng dài, v́ chúng sanh
mà thị hiện ngắn ngủi, cũng là do đă giác ngộ.
(Kinh) Thời bỉ bần
nhân vị dục cầu tài, quảng thiết phương
tiện, cần sách vô đăi.
(經)時彼貧人為欲求財,廣設方便策勤無怠。
(Kinh: Khi
đó, kẻ nghèo ấy v́ muốn cầu tài vật, rộng
lập các phương tiện, siêng gắng, chẳng
lười nhác).
Tán rằng: Thí dụ về
yêu mến pháp, cầu học.
(Kinh) Sở dĩ giả
hà? Vị xả bần cùng, thọ an lạc cố.
(經)所以者何?為捨貧窮,受安樂故。
(Kinh: V́ lẽ
nào vậy? V́ bỏ bần cùng, hưởng an vui vậy).
Tán rằng: Gạn hỏi và
giải thích, [ư nghĩa] dễ hiểu.
(Kinh) Thiện nam tử!
Bỉ chư chúng sanh diệc phục như thị. Nhược
kiến Như Lai nhập ư Niết Bàn, sanh nan tao tưởng,
năi chí ưu khổ đẳng tưởng.
(經)善男子!彼諸眾生亦復如是。若見如來入於涅槃,生難遭想乃至憂苦等想。
(Kinh: Thiện nam tử!
Các chúng sanh ấy cũng giống như thế. Nếu thấy
Như Lai nhập Niết Bàn, sẽ sanh ư tưởng khó gặp,
cho đến ư tưởng ưu khổ v.v…)
Tán rằng:
Đây là kết hợp thí dụ với pháp, đoạn
này ứng hợp với thí dụ Phật thị hiện
diệt độ.
(Kinh) Phục tác thị
niệm, ư vô lượng kiếp, chư Phật Như
Lai xuất hiện ư thế, như Ô Đàm Bạt hoa thời
năi nhất hiện, bỉ chư chúng sanh phát hy hữu tâm,
khởi nan tao tưởng, nhược ngộ Như Lai,
tâm sanh kính tín.
(經)復作是念:於無量劫諸佛如來出現於世,如烏曇跋華時乃一現。彼諸眾生發希有心、起難遭想,若遇如來,心生敬信。
(Kinh: Lại nghĩ
như thế này, trong vô lượng kiếp, chư Phật
Như Lai xuất hiện trong cơi đời như hoa Ô
Đàm Bạt (Ưu Đàm Bát La hoa, Linh Thụy
hoa) đúng thời mới hiện một lần, các chúng
sanh ấy phát tâm hy hữu, dấy lên ư tưởng khó gặp,
nếu gặp Như Lai, sẽ sanh tâm kính tín).
Tán rằng: Ứng hợp với
thí dụ “kính Phật, khó gặp”. Kinh văn gồm
ba phần là pháp, dụ, hợp (đối ứng thí dụ
với pháp).
(Kinh) Văn thuyết
chánh pháp, sanh thật ngữ tưởng, sở hữu kinh
điển tất giai thọ tŕ, bất sanh hủy báng.
(經)聞說正法,生實語想,所有經典悉皆受持,不生毀謗。
(Kinh: Nghe nói chánh pháp,
sanh ư tưởng là lời chân thật, tất cả kinh
điển thảy đều thọ tŕ, chẳng sanh hủy
báng).
Tán rằng: Kết hợp
chuyện “do yêu mến pháp bèn cầu học” với thí dụ.
(Kinh) Thiện nam tử!
Dĩ thị nhân duyên, bỉ Phật Thế Tôn bất cửu
trụ thế, tốc nhập Niết Bàn.
(經)善男子!以是因緣,彼佛世尊不久住世,速入涅槃。
(Kinh: Thiện
nam tử! Do nhân duyên ấy, đức Phật Thế Tôn
đó chẳng trụ thế lâu dài mà mau chóng nhập Niết
Bàn).
Tán rằng: Kết lại
thí dụ.
(Kinh) Thiện nam tử!
Thị chư Như Lai dĩ như thị đẳng thiện
xảo phương tiện, thành tựu chúng sanh.
(經)善男子!是諸如來以如是等善巧方便成就眾生。
(Kinh: Thiện nam tử!
Các đức Như Lai ấy dùng phương tiện
như thế đó để thành tựu chúng sanh).
Tán rằng: Tổng kết.
5.2.4.1.2.6. Nói xong chẳng
hiện
(Kinh) Nhĩ thời, tứ
Phật thuyết thị ngữ dĩ, hốt nhiên bất
hiện.
(經)爾時四佛說是語已,忽然不現。
(Kinh: Lúc bấy giờ, bốn
đức Phật nói lời ấy xong, bỗng dưng chẳng
hiện).
Tán rằng: Đây là đoạn
thứ sáu, [chư Phật] nói xong chẳng hiện nữa.
Trên đây đều là đức Phật ở
phương khác nói thọ mạng vô cùng.
Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh Sớ
Phần 2 hết
[1] Thất tối thắng
là:
- An trụ tối thắng:
An trụ trong chủng tánh của Bồ Tát.
- Y chỉ tối thắng:
Y chỉ tâm đại Bồ Đề.
- Ư quả tối thắng:
Thương xót hết thảy hữu t́nh.
- Sự nghiệp tối
thắng: Hành hết thảy các hạnh, chẳng hạn cuộc
trong một hạnh nào.
- Xảo tiện tối
thắng (phương tiện thiện xảo tối thắng):
Trụ trong vô tướng trí, liễu đạt hết thảy
các pháp như không, như huyễn, ĺa chấp trước.
- Hồi hướng tối
thắng: Hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề.
- Thanh tịnh tối
thắng (vô nhiễm tối thắng): Chẳng bị Phiền
Năo Chướng và Sở Tri Chướng ngăn ngại.
[2] “Tam luân thanh tịnh” tức tam luân thể không, chẳng hạn
như bố thí chẳng thấy ta là người bố thí,
chẳng thấy có người nhận bố thí, chẳng
có vật dùng để bố thí.
[3] Lục Ư Nhạo, c̣n gọi là Tác
Tư Tu Ư Nhạo. Hễ trong tâm có ư yêu thích thực hiện
điều ǵ th́ đều gọi là Ư Nhạo. Theo Nhiếp
Đại Thừa Luận, có sáu thứ ư nhạo:
- Quảng đại ư
nhạo (yêu thích rộng lớn), tức là Bồ Tát dùng
bảy báu đầy ắp trong các thế giới nhiều
như cát sông Hằng để dâng cúng Như Lai, lại c̣n
có thể hành tŕ giới, nhẫn nhục v.v… cho đến
chứng Phật quả mà chẳng hề chán đủ.
- Trường thời
ư nhạo (yêu thích lâu dài): Bồ Tát hành Lục Độ,
cho đến chứng đắc Phật quả trong hiện
đời, tâm thường ưa thích, chẳng hề gián
đoạn, ngưng nghỉ.
- Hoan hỷ ư nhạo: Bồ
Tát có thể dùng Lục Độ tạo lợi ích cho hữu
t́nh. Do làm như vậy, tâm sanh hoan hỷ.
- Hà ân ư nhạo (yêu thích đền đáp ân, c̣n gọi hữu ân đức
ư nhạo): Bồ Tát dùng Lục Độ lợi lạc hữu
t́nh, không chỉ chẳng thấy chính ḿnh có ân đức đối
với họ.
- Đại chí ư nhạo:
Bồ Đề dùng các thiện căn và công đức do
Lục Độ chính ḿnh đă tu tập để thí cho hết
thảy chúng sanh, khiến cho họ đều đạt được
cái quả thù thắng.
- Thuần thiện ư nhạo
(c̣n gọi là thiện hảo ư nhạo): Bồ Đề đem
thiện căn công đức do tu tập Lục Độ
để hồi hướng cho chúng sanh cùng thành Phật
quả, tâm chẳng hề gián đoạn, xen tạp.
[4] Tác
phẩm này có tên gọi đầy đủ là Thuyết Vô
Cấu Xưng Kinh Sớ, đôi khi c̣n gọi là Thuyết Vô
Cấu Xưng Kinh Tán, gồm mười hai quyển, do ngài
Khuy Cơ soạn vào đời Đường trong niên hiệu
Hàm Thuần (672-674) để chú giải bản kinh Thuyết
Vô Cấu Xưng (bản dịch kinh Duy Ma Cật của ngài
Huyền Trang). Ngài Khuy Cơ vận dụng cách phán giáo của
Pháp Tướng Duy Thức Tông phán định kinh này thuộc
thời thứ hai (Không) và thời thứ ba (Trung) trong Tam
Thời Giáo, và là giáo thứ bảy trong Bát Tông, tức Thắng
Nghĩa Giai Không Tông và thứ tám, tức Ứng Lư Viên Thật
Tông.
[5] Tứ
Ma (Catvāro-mārāh) gồm
Ngũ Ấm Ma, Phiền Năo Ma, Tử Ma và Thiên Ma.
[6] Kinh này có tên gọi
đầy đủ là Tư Ích Phạm Thiên Sở Vấn
Kinh (Viśesacintabrahma-pariprcchā), do ngài
Cưu Ma La Thập dịch. Nội dung chủ yếu là lư “chư
pháp không tịch” giảng cho hai vị đương
cơ là Vơng Minh Bồ Tát và Tư Ích Phạm Thiên. Kinh này c̣n
có bản dịch khác là Tŕ Tâm Phạm Thiên Sở Vấn
Kinh do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn, và
Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh do ngài Bồ
Đề Lưu Chi dịch vào đời Bắc Ngụy.
[7] “Thất đại tánh” là bảy đặc tánh to lớn. Du
Già Sư Địa Luận quyển bốn mươi sáu
chép: “Các Bồ Tát Thừa cùng tương
ứng với thất đại tánh, nên gọi là Đại
Thừa. Những ǵ là bảy? Một là pháp đại tánh,
tức là trong mười hai phần giáo, Bồ Tát Tạng
bao gồm giáo pháp phương quảng. Hai là phát tâm đại
tánh, tức là có một loại người đối với
Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề bèn phát tâm
chánh nguyện. Ba là thắng giải đại tánh, tức
là có một loại người đối với pháp đại
tánh bèn sanh tín giải thù thắng. Bốn là tăng thượng
ư nhạo đại tánh, tức là có một loại người
đă vượt khỏi hạnh địa thắng giải,
chứng nhập địa vị tịnh thắng ư nhạo.
Năm là tư lương đại tánh, tức là tư lương
phước đức, tư lương trí năng đều
tu tập viên măn, có thể chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề. Sáu là thời đại tánh, tức là trải
qua ba vô số đại kiếp mới chứng Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề. Bảy là viên chứng đại
tánh, tức là Vô Thượng Bồ Đề đă chứng.
Do tự thể của các công đức viên chứng so ra đều
chẳng sánh bằng tự thể viên chứng Bồ Đề,
huống hồ có ǵ để
có thể vượt hơn được
ư? Hăy nên biết trong ấy, dù là pháp đại tánh, hay
phát tâm đại tánh, hay thắng giải đại tánh,
hay tăng thượng ư nhạo đại tánh, hoặc tư
lương đại tánh, hoặc thời đại tánh,
sáu thứ như thế, đều là cái nhân của viên chứng
đại tánh, và viên chứng đại tánh là cái quả của
sáu thứ đại tánh kia”.
[8] Theo lăo pháp sư Ấn
Thuận, đây là ba phẩm Nhẫn:
- Nại Oán Hại Nhẫn
tức là nhẫn thọ sự tổn hại, đả
thương, hoặc sự vu cáo hăm hại, hoặc lời
lẽ phỉ báng, chửi rủa của kẻ oán cừu.
Đối với những kẻ đó, Bồ Tát phải
phát tâm thương xót, nghĩ họ đang bị phiền năo ràng
buộc, bức bách, bị xoay chuyển bởi ác nghiệp.
Do vậy, Bồ Tát chẳng sanh tâm sân hận, chẳng
toan tính báo thù.
- An Thọ Khổ Nhẫn:
Chịu đựng các nỗi khổ từ ngoại giới
(thời tiết, muỗi ṃng, rắn rết, cọp, sói, tai
họa), cũng như các nỗi khổ phát sanh từ tự
thân như đói khát, bệnh tật v.v…
- Đế Sát Pháp Nhẫn:
“Pháp” ở
đây chính là Phật
pháp. Suy xét, quan sát cặn kẽ
để ngộ nhập Phật pháp. “Nhẫn” trong trường
hợp này là thông hiểu, chấp nhận, nhập lư. Nếu
chỉ hời hợt, cưỡi ngựa xem hoa đối
với Phật pháp, sẽ chẳng thể đạt được
lợi ích chân thật.
[9] Biện Trung Biên Luận
(Madhyāntavibhaṅgabhāṣya)
c̣n gọi là Trung Biên Phân Biệt Luận, tương truyền do Di Lặc Bồ
Tát tạo kệ tụng, Vô Trước Bồ Tát đích
thân được lănh thọ từ ngài Di Lặc. Những lời dạy ấy lại được
ngài Thế Thân viết lời giải thích cho mỗi bài kệ.
Đây là một tác phẩm trọng yếu trong Duy Thức.
Nội dung của bộ luận này nhằm biện định
chánh hạnh Trung Đạo của Đại Thừa, gồm
biện định tướng, biện định chướng,
biện định chân thật, biện định tu tập
đối trị, biện định phần vị, biện
định đắc quả, biện định vô thượng
thừa. Luận gồm bảy phẩm, bao gồm một trăm mười lăm
bài tụng. Tác phẩm này được dịch sang tiếng
Hán hai lần:
- Lần thứ
nhất do ngài Chân Đế khởi dịch vào năm Vĩnh
Định thứ hai (558) đời Trần, tới năm
Thiên Gia thứ ba (562) mới dịch xong. Bản dịch này
có tựa đề là Trung Biên Phân Biệt Luận.
- Bản dịch
thứ hai của ngài Huyền Trang dịch tại chùa Ngọc
Hoa vào năm Long Sóc nguyên niên (661) với tựa đề là
Biện Trung Biên Luận.
[10] Theo lăo pháp sư Tinh Vân, mười thứ cúng dường chính
là: Cúng dường hoa thơm, cúng dường hương
thanh tịnh, cúng dường đèn sáng, cúng dường dầu
bôi thân, cúng dường thức ăn, cúng dường trà nước,
cúng dường trái cây, cúng dường bảo vật, cúng
dường trân châu, cúng dường y phục.
[11] Biến Kế Tánh (c̣n
gọi là Biến Kế Sở Chấp Tánh): Do t́nh kiến
hư vọng, phàm phu đối với hết thảy các
pháp đều so đo, chấp trước. V́ thế gọi
là Biến Kế (so đo trọn khắp). Một thí dụ
thường dùng là như thấy sợi dây thừng tưởng
lầm là rắn, chứ không có thật thể của rắn,
nhưng do vọng t́nh mê chấp bèn thấy có rắn. Đó
là Biến Kế Chấp.
[12] Y Tha Khởi Tánh: Nương
theo nhân duyên mà sanh hết thảy vạn pháp. Chữ Tha
[trong Y Tha Khởi] hàm nghĩa “nhân duyên”. Do chủng tử trong A Lại Da Thức
làm cái nhân đầu tiên, nhờ vào các thứ trợ duyên
khác để sanh trưởng. Chẳng hạn như sợi
dây thừng do các sợi dây gai xe lại, kết hợp thành
thừng v.v...
[13] Viên Thành Thật: Tánh chân thật viên măn thành
tựu, c̣n gọi là Pháp Tánh, hoặc Chân Như. Nó chính là thể
tánh của hết thảy các pháp. Chẳng hạn như đối
với dây thừng, Viên Thành Thật tánh của nó là gai.
[14] “Nhị ngu” tức là hai thứ mê
hoặc của hàng Bồ Tát Thập Địa:
- Mê hoặc do chấp
trước ngă pháp, tức là chủ lẫn khách vốn đều
là không, chẳng có tự tánh, nhưng họ lại thấy đó là thật
thể, bèn dấy lên chấp
trước mê hoặc.
- Mê hoặc do chấp
trước đường ác, tạp nhiễm.
[15] Bảy loại biện
tài có hai cách hiểu:
1) Theo phẩm Huyễn
Thính Đại Phẩm Bát Nhă và Đại Trí Độ Luận,
thất biện tài là:
- Tiệp biện tài: Đối
với hết thảy các pháp vô ngại, cho nên đạt được
biện tài nhanh chóng.
- Lợi biện: Có người
tuy có thể nhanh chóng, nhưng do độn căn nên chẳng
thể thâm nhập. Do có thể thâm nhập cho nên nhạy bén.
- Bất tận biện:
Nói Thật Tướng của các pháp vô biên vô tận.
- Bất khả đoạn
biện: Trong Bát Nhă không có các hư luận, cho nên chẳng có
chuyện chấm dứt sự vấn nạn.
- Tùy ứng biện: Có
thể đoạn pháp ái, cho nên có thể tùy thuận chúng
sanh để thuyết pháp tương ứng.
- Nghĩa biện: V́ nói
đến các chuyện lợi ích ḥng tiến nhập Niết
Bàn.
- Nhất thiết thế
gian tối thượng biện: Nói về chuyện bậc
nhất trong hết thảy thế gian tức là Đại
Thừa.
2) Theo kinh Đại Bát
Nhă, bảy loại biện tài là:
- Vô ngại biện: Tương
ứng với lợi biện.
- Vô đoạn tận
biện: Tương ứng với bất tận biện.
- Vô sơ mậu biện:
Tương đương với bất khả đoạn
biện.
- Ứng biện: Tương
ứng với tùy ứng biện.
- Tấn biện: Tương
ứng với tiệp tật biện.
- Chư sở diễn
thuyết phong nghĩa vị biện: Tương ứng với
nghĩa biện.
- Nhất thiết thế
gian tối thắng diệu biện: Tương đương
với nhất thiết thế gian tối thượng biện.
[16] Ly Xa là một vương
triều thuộc vùng thung lũng Kathmandu của Nepal. Xuất
phát từ thành Vaishali, họ đă chinh phục thung lũng
Kathmandu của Nepal, và từng xây một tinh xá tráng lệ
để cúng dường đức Phật.
[17] Vị này c̣n được
phiên âm là Kỳ Bà Già, Kỳ Bà, Thời Bà, Thời Phược
Ca v.v… Ông là một lương y lỗi lạc thời đức
Phật, sống tại thành Vương Xá, có mỹ hiệu
là Y Vương. Ông là đệ tử tín thành của đức
Phật, làm ngự y cho vua Tần Bà Sa La và A Xà Thế. Theo
một số vị chú giải, Kỳ Bà là em cùng cha khác mẹ
của vua A Xà Thế, nhưng có người lại cho rằng
ông chỉ là con nuôi của vua Tần Bà Sa La sau khi bị mẹ
là một kỹ nữ vứt bỏ, và ông được hoàng
thân Abhaya mang về triều nuôi dưỡng. Khi trưởng
thành, do biết nguồn gốc thấp hèn của chính ḿnh,
ông đă quyết chí bỏ sang Takkhasilā
(là kinh đô của cổ vương quốc Gandhara
thời đó) để học y, và nhanh chóng nổi
tiếng về
y thuật. Do ḷng kính trọng
đức Phật, ông đă dâng cúng một tinh xá, được
gọi là Jivakavanarama (Kỳ Bà Già Lam) dưới
chân núi Kỳ Xà Quật. Là ngự y của A Xà Thế, ông đă từng khéo léo khuyên nhủ,
dẫn dắt vua A Xà Thế đến sám hối tội
ngũ nghịch với đức Phật.
[18] Đây là bộ
luận có tên là Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Kinh Luận,
không rơ ai là tác giả, được ngài Bồ Đề
Lưu Chi dịch sang tiếng Hán thời Nguyên Ngụy, nhằm
giải thích hội Di Lặc Bồ Tát Sở Vấn Bổn
Nguyện Kinh trong kinh Đại Bảo Tích.
[19] Lời giải
thích này không rơ ràng lắm, chúng tôi mạn phép rườm lời
như sau: Luận có ư nói, Ứng Tụng là phần tụng
nhắc lại các ư nghĩa chính yếu trong phần Trường
Hàng, hoặc có thể diễn nói thêm một số điều
chưa nói rơ trong phần Trường Hàng (như phần kệ
tụng trong phẩm Thí Dụ của kinh Pháp Hoa chẳng hạn),
c̣n Phúng Tụng là dùng h́nh thức kệ tụng để
diễn nói một hay nhiều ư nghĩa nào đó, độc
lập với phần Trường Hàng trước đó.
Phúng Tụng c̣n được gọi là Cô Khởi Tụng.
[20] Bộ kinh này
có tên gọi đầy đủ là Đại Phạm Thiên
Vương Vấn Phật Quyết Nghi Kinh, không rơ người
dịch và niên đại dịch.
[21] Luận Bảo
Tánh có tên gọi đầy đủ là Cứu Cánh Nhất
Thừa Bảo Tánh Luận (Ratnagotra-vibhāgo Mahāyānottaratantra-śāstra),
c̣n được gọi là Bảo Tánh Phân Biệt Nhất
Thừa Tăng Thượng Luận, hoặc Đại Thừa
Tối Thượng Yếu Nghĩa Luận. Tác giả của
bộ luận này theo Hán truyền Phật giáo là ngài Kiên Huệ
(Sāramati), nhưng Tạng truyền Phật giáo lại
cho rằng tác giả của luận này là Di Lặc Bồ
Tát. Theo họ, Di Lặc Bồ Tát nói kệ tụng, Vô Trước
Bồ Tát soạn lời chú giải. Đối với người
dịch sang tiếng Hán, cũng có hai thuyết: Một là do
ngài Lặc Na Ma Đề; thuyết kia cho rằng dịch
giả là ngài Bồ Đề Lưu Chi. Đây là một tác
phẩm trọng yếu trong Duy Thức Học luận định
về Như Lai Tạng.
[22] “Cổ” ở
đây là các loài độc trùng (sâu, bọ, rắn, rết,
nhện, ḅ cạp v.v…) được con người nuôi dưỡng
dùng để ám hại, hay khống chế người khác.
Người tinh thông độc thuật và cách nuôi dưỡng
cổ trùng gọi là vu sư. Truyền thuyết thường
nói là vu sư có thể cấy cổ trùng lên nạn nhân thông
qua thức ăn, nước uống, thậm chí huyền
hoặc như cho uống một viên thuốc, uống vào bụng,
thuốc ấy sẽ nở ra cổ trùng khống chế
tâm trí nạn nhân. Nếu nạn nhân không phục tùng, sẽ
bị cổ trùng hành hạ, phải cầu cạnh vu sư
cho uống thuốc khống chế để cổ trùng
không phát tác. Có lẽ là họ dùng các chất độc tiết
ra từ các thứ độc trùng để khống chế
nạn nhân, chứ côn trùng khó thể sống lâu dài trong cơ
thể con người được! Thậm chí Tùy Thư
c̣n chép các vùng như Nghi Xuân, Lô Lăng, Tân An, Vĩnh Gia, Kiến
An, Toại An, Bà Dương, Cửu Giang, Lâm Xuyên, Nam Khang
v.v… của miền Nam Trung Hoa, vào ngày mồng Năm tháng Năm,
vu sư bắt một trăm loại độc trùng bỏ
vào chum để chúng nó tàn sát lẫn nhau, con nào sống sót
cuối cùng sẽ là con độc địa nhất, dùng để
chế Cổ.
[23] Sông Ni Liên (Nairanjananadi), c̣n được phiên âm là sông Ni Liên Thiền,
hoặc Hy Liên Hà, tức là sông Falgu hiện thời. Con sông này được coi là một con sông thánh trong Ấn giáo
lẫn Phật giáo. Đoạn sông Falgu (c̣n viết là Phalgu) chảy qua thành phố Gaya được
tín đồ Ấn giáo coi là hiện thân của thần Vishnu.
Đức Phật thị hiện tu khổ hạnh suốt
sáu năm trong một khu rừng bên bờ sông này. Sau khi biết
tu khổ hạnh vô ích, Ngài xuống tắm ở sông này, và
nhận bát cháo sữa (kheera) cúng dường của cô gái chăn
ḅ Sujātā,
rồi nhập Định trong bốn mươi chín ngày, chứng
đắc Chánh Giác.
[24] Y Chủ Thích
(Tatpuruṣā), c̣n
gọi là Y Sĩ Thích, là một cách giải thích dựa theo
cái Thể của đối tượng được
nương vào (sở y) mà đặt tên cho cái pháp có thể
nương vào (năng y). Chẳng hạn như Nhăn Thức
là do nương vào con mắt mà sanh ra thức, nên thức ấy
được gọi là Nhăn Thức. Như vậy Nhăn là
cái Thể của sở y (chỗ nương vào của
Nhăn Thức), Thức là cái pháp có thể nương vào
(năng y, tức là Thức phải nương vào con mắt
mà sanh). Thức vốn là một pháp khác biệt với
Nhăn, do dựa trên cái Thể của đối tượng
bị nương vào (con mắt) mà đặt tên cho cái Thức
sanh bởi nó là Nhăn Thức. Cách giải thích như vậy
gọi là Y Chủ Thích.
[25] Bốn trí phẩm ở
đây chính là bốn loại trí huệ viên măn của Như
Lai, tức Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí, Diệu
Quán Sát Trí, và Thành Sở Tác Trí.
[26] Do câu hỏi này hơi khó hiểu, xin
mạn phép nêu ra ngu ư như sau:
Xét về hành pháp của Ứng Thân và Hóa Thân, chúng do hai cái nhân
cảm vời (tức là tùy theo căn tánh của chúng sanh,
cũng như nhằm để hóa độ chúng sanh, như
trong phần sau sẽ nói: Do chúng sanh thấy Phật thường
trụ trên thế gian, sẽ chẳng sanh ư tưởng khó gặp gỡ, chẳng
ưa cầu chánh pháp v.v…), cho nên thị
hiện thọ mạng
của hai cái thân ấy ngắn ngủi. V́ chúng sanh trông thấy
thọ mạng ngắn ngủi ấy sẽ khởi nghi hoặc,
cho nên phải nói phẩm này để giải trừ nghi
hoặc đối
với hai thân ấy; đó là lẽ
đương nhiên. C̣n như tự tánh (tức Pháp Thân) do
chẳng có nhân, và Tự Thọ Dụng Báo Thân th́ phàm phu chẳng
thấy được, cho nên họ chẳng sanh nghi, cần
ǵ phải nói đến tuổi thọ của Pháp Thân và Tự
Thọ Dụng Báo Thân? Tức là câu này nhằm căn vặn
lời giải đáp trước đó: Thọ lượng
được nói trong phẩm này áp dụng chung cho cả ba
thân.
[27] Phệ Lưu Ly chính là
Tỳ Lưu Ly, hoặc Tỳ Đầu Lê, đều là cách phiên âm
sai khác của chữ Vaidūrya, có nghĩa là chất bảo
thạch màu xanh xuất phát từ núi Tu Di. Theo Huệ Lâm Âm
Nghĩa, loại bảo thạch này có màu xanh nước biển
rất đậm, nhưng trong trẻo, thấu quang, hễ
vật nào đặt gần nó sẽ có cùng một màu với
bảo thạch. Viên bảo châu trong búi tóc của Đế
Thích chế bằng loại bảo thạch này. Sách Huệ
Uyển Nghĩa Âm th́ lại nói bảo thạch này xuất
phát từ một quả núi cách kinh thành Ba La Nại chẳng
xa, nên quả núi ấy được gọi là Bất Viễn
Sơn.
[28] Pha Chi Ca, c̣n được
phiên âm là Pha Lê, hoặc Phả Trí Ca, Sa Ba Trí Ca, Tắc Pha Trí
Ca, Tốt Ba Trí Ca v.v… là một loại khoáng thạch tự
nhiên, thường được dịch là Thủy Tinh hoặc
Thủy Ngọc (do trong suốt như từ nước kết
thành), không phải là pha lê (crystal) trong hiện thời.
[29] Du Già Sao là tên gọi tắt
của bộ Du Già Sư Địa Luận Lược Toản
Sớ, gồm mười sáu quyển, do ngài Khuy Cơ soạn.
Đây là chú sớ chủ yếu của bộ Du Già Sư Địa
Luận.
[30] Hoàng môn (Pandaka), c̣n gọi là Yêm
Nhân, tức kẻ không có nam căn hoặc nam căn bị hư hoại, thường gọi
bất nam. Luật Tăng Kỳ nói rất chi tiết, sợ
rườm rà nên không chép vào đây. Nhị h́nh (Ubhayavyañ-janaka) là người có cả hai bộ phận
sinh dục nam và nữ.
[31] Tiền tế: Tức
là quá khứ, là một thứ trong ba cách phân định thời
gian (Tam Tế). Tiền tế là quá khứ, hậu tế là
vị lai, trung tế là hiện tại. Thanh Long Nhân Vương
Sớ giảng: “Tế (際) có nghĩa là ngằn
hạn, ư nói pháp hữu vi luôn rơi vào một trong ba thời,
c̣n Vô Vi Thật Tướng chẳng có trước, sau, khoảng
giữa, nên gọi là Vô Tế”.
[32] Sĩ Phu Dụng là tác dụng tạo tác của
một chủ thể (chủ yếu là con người). Sĩ
Phu là dịch nghĩa của chữ
Purusakāra, hàm nghĩa là “người”, Dụng là tác dụng. Nói đến Sĩ
Phu Dụng là nói đến tác dụng tạo tác do một
cá nhân vận dụng công cụ hay ư tưởng, hoặc kỹ
năng của chính ḿnh để tạo tác một chuyện
ǵ đó. Cái quả việc tạo tác ấy sẽ được
gọi là Sĩ Dụng Quả. Thành Duy Thức Luận quyển
tám giảng: “Sĩ Dụng có nghĩa là các sự nghiệp
do người nào đó thực hiện nhờ vào công cụ
để hoàn thành”. Luận c̣n nêu ra hai thí dụ:
- Ví như
thóc gạo của nông phu, hay hàng hóa của thương nhân
đều do sức của người thực hiện (nông
phu hay thương nhân) mà tồn tại.
- Nói theo
pháp th́ cái nhân sanh ra các pháp đều là do các sự tạo
tác mà có, như do nông phu trồng trọt mà có thâu hoạch,
thương nhân do hàng hóa mà kiếm lợi. Người tạo
tác nương vào công cụ (ở đây
là các nhân duyên, vật liệu để thực hiện một
việc nào đó) mà hoàn thành sự việc ấy.
[33] Đẳng Thủ Kiến (Śīla-vrata-parāmarśa) chính là Giới Cấm Thủ Kiến, tức
là kiến chấp sai lầm đối với giới cấm,
chẳng phải nhân mà ngỡ là nhân, chẳng phải là đạo
mà coi là đạo. Như ngoại đạo thấy ḅ được
sanh lên trời, bèn thờ phụng ḅ, giữ giới
sống như ḅ, hoặc thấy gà, chó được sanh
lên trời bèn giữ cách sinh hoạt giống như gà, chó.
Hoặc cho rằng phải hành khổ hạnh mới được
sanh thiên bèn nằm bàn chông, đốt lửa nung thân v.v… Hiểu theo nghĩa rộng, hễ chấp
vào một kiến giải nào đó th́ đều gọi là
Đẳng Thủ Kiến.
[34] Tùy Phiền Năo: Các phiền
năo do tùy thuộc Căn Bản Phiền Năo mà sanh khởi, c̣n
gọi là Tùy Hoặc, hay Chi Mạt Hoặc. Nó
lại được chia thành ba loại:
- Đại Tùy Phiền
Năo: Phóng dật, giải đăi, bất tín, hôn trầm, điệu
cử (lao chao, xáo động).
- Trung Tùy Phiền Năo: Vô
Tàm, Vô Quư.
- Tiểu Tùy Phiền Năo:
Phẫn, Phú (giấu diếm), Xan (keo kiệt), Tật (ghen
ghét), Năo (quấy rối, làm người khác bực bội),
Hại, Hận, Siểm (bợ đỡ), Cuống (lừa
dối), Kiêu.
[35] Tức là do
trong kiếp ấy có bốn thứ trược (chúng sanh
trược, mạng trược, kiến trược, phiền
năo trược) nên gọi là Kiếp Trược, chứ
Kiếp chỉ là khái niệm thời gian, bản thể của
nó chẳng ô trược hay thanh tịnh.