Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Quyển thứ hai

Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh

Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ

金光明最勝王經疏

卷第

唐三藏法師義淨奉制譯

翻經沙門慧沼撰

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

Phần 3

 

5.2.4.1.3. Phật Thích Ca trần thuật Ngài thường an ổn

5.2.4.1.3.1. Ngài Diệu Tràng đến chỗ đức Phật

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát dữ vô lượng bách thiên Bồ Tát, cập vô lượng ức na-dữu-đa bách thiên chúng sanh câu, cộng văng nghệ Thứu Phong sơn trung Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Chánh Biến Tri sở, đảnh lễ Phật túc, tại nhất diện lập.

          ()爾時妙幢菩薩摩訶薩與無量百千菩薩及無量億那庾多百千眾生俱共往詣鷲峯山中釋迦牟尼如來正遍知所頂禮佛足在一面立

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát và vô lượng trăm ngàn Bồ Tát, cùng với vô lượng ức na-dữu-đa trăm ngàn chúng sanh, cùng đi đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Như Lai Chánh Biến Tri trong núi Thứu Phong, đảnh lễ dưới chân Phật, đứng qua một bên).

 

          Tán rằng: Phật Thích Ca tự trần thuật Ngài thường an ổn. Phần này gồm bốn đoạn:

          - Một, ngài Diệu Tràng đến chỗ Phật.

          - Hai, [ngài Diệu Tràng] khải bạch điều đă được nghe.

          - Ba, bốn vị Phật thỉnh [Phật Thích Ca] trần thuật.

          - Bốn, Phật Thích Ca giảng nói.

          Đây là đoạn thứ nhất.

 

5.2.4.1.3.2. Khải bạch điều đă được nghe

 

          (Kinh) Thời Diệu Tràng Bồ Tát dĩ như thượng sự, cụ bạch Thế Tôn.

          ()時妙幢菩薩以如上事具白世尊

          (Kinh: Khi đó, Diệu Tràng Bồ Tát thưa trọn vẹn chuyện trên đây với đức Thế Tôn).

 

          Tán rằng: Khải bạch điều đă được nghe.

 

5.2.4.1.3.3. Bốn vị Phật thỉnh Phật Thích Ca trần thuật

5.2.4.1.3.3.1. Bốn vị Phật cùng đến chỗ Phật Thích Ca

 

          (Kinh) Thời tứ Như Lai diệc nghệ Thứu Phong, chí Thích Ca Mâu Ni Phật sở, các tùy bổn phương, tựu ṭa nhi tọa.

          ()時四如來亦詣鷲峯至釋迦牟尼佛所各隨本方就座而坐

          (Kinh: Khi đó, bốn vị Như Lai cũng tới Thứu Phong, đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, mỗi vị theo đúng phương vị của chính ḿnh mà đến ngồi nơi ṭa).

 

          Tán rằng: Bốn Phật thỉnh cầu trần thuật. Kinh văn được chia thành ba phần:

          - Một, bốn vị Phật cùng đến.

          - Hai, sai sứ đến [chỗ Phật Thích Ca] trần thuật lời thỉnh cầu.

          - Ba, sứ giả thưa thỉnh.

          Đây chính là tiểu đoạn thứ nhất.

          Hỏi: Khi bốn vị Phật sắp đến thất của Diệu Tràng, cái thất ấy bỗng hiện ra các ṭa. Đến núi, [kinh văn] chẳng nói “biến hiện ra ṭa ngồi”, xếp đặt bốn vị Phật như thế nào?

          Đáp: Ở đây, phải là do Phật Thích Ca biến ra ṭa, kinh văn lược đi chẳng nói.

          Hỏi: V́ sao tới thất của ngài Diệu Tràng th́ bốn vị Phật tự biến, tới Linh Sơn th́ do Phật Thích Ca biến?

          Đáp: Người căn cơ thấp hơn chẳng thể suy lường được bậc trên; do vậy, bốn đức Phật tự biến. Phật Thích Ca có thể biết bốn vị Phật sẽ tới, cho nên biến ra pháp ṭa để các Ngài an tọa.

 

5.2.4.1.3.3.2. Sai sứ giả đến chỗ Phật Thích Ca trần thuật lời thỉnh cầu

 

          (Kinh) Cáo thị giả Bồ Tát ngôn: “Thiện nam tử! Nhữ kim khả nghệ Thích Ca Mâu Ni Phật sở, vị ngă trí vấn: - Thiểu bệnh, thiểu năo, khởi cư khinh lợi, an lạc hạnh phủ?”

          ()告侍者菩薩言善男子汝今可詣釋迦牟尼佛所為我致問少病少惱起居輕利安樂行不

          (Kinh: Bảo thị giả Bồ Tát rằng: - Thiện nam tử! Ông nay hăy nên đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, v́ ta thưa hỏi: Ít bệnh, ít năo, đi đứng nhẹ nhàng, được an lạc hay không?)

 

          Tán rằng: Điều thứ hai, sai sứ giả sang thưa thỉnh, có ba ư: Một là hỏi chung, hai là trần thuật lời thỉnh cầu, ba là tùy hỷ. Đây là ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Phục tác thị ngôn: - Thiện tai! Thiện tai! Thích Ca Mâu Ni Như Lai kim khả diễn thuyết Kim Quang Minh kinh thậm thâm pháp yếu, vị dục nhiêu ích nhất thiết chúng sanh, trừ khử cơ cẩn, linh đắc an lạc, ngă đương tùy hỷ.

          ()復作是言善哉善哉釋迦牟尼如來今可演金光明經甚深法要為欲饒益一切眾生除去饑饉令得安樂我當隨喜

          (Kinh: Lại nói như thế này: - Lành thay! Lành thay! Thích Ca Mâu Ni Như Lai nay có thể diễn nói pháp yếu rất sâu là kinh Kim Quang Minh, v́ muốn lợi ích hết thảy chúng sanh, trừ bỏ đói kém, khiến [cho chúng sanh] được an vui, ta sẽ tùy hỷ).

 

          Tán rằng: Trần thuật lời thỉnh cầu và tùy hỷ.

 

5.2.4.1.3.3.3. Sứ giả thỉnh cầu

 

          (Kinh) Thời bỉ thị giả các nghệ Thích Ca Mâu Ni Phật sở, đảnh lễ song túc, khước trụ nhất diện, câu bạch Phật ngôn: - Bỉ Thiên Nhân Sư trí vấn vô lượng: Thiểu bệnh, thiểu năo, khởi cư khinh lợi, an lạc hạnh phủ? Phục tác thị ngôn: - Thiện tai! Thiện tai! Thích Ca Mâu Ni Như Lai kim khả diễn thuyết Kim Quang Minh kinh thậm thâm pháp yếu, vị dục lợi ích nhất thiết chúng sanh, trừ khử cơ cẩn, linh đắc an lạc.

          ()時彼侍者各詣釋迦牟尼佛所頂禮雙足却住一面俱白佛言彼天人師致問無量少病少惱起居輕利安樂行不復作是言善哉善哉釋迦牟尼如來今可演金光明經甚深法要為欲利益一切眾生除去饑饉令得安樂

          (Kinh: Khi đó, các vị thị giả đều đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, đảnh lễ dưới hai chân Ngài, đứng qua một bên, cùng bạch Phật rằng: - Đấng Thiên Nhân Sư kia hỏi thăm đức Vô Lượng: Ít bệnh, ít năo, đi đứng nhẹ nhàng, có được an lạc hay không? Lại nói lời này: Lành thay! Lành thay! Thích Ca Mâu Ni Như Lai nay có thể diễn nói pháp yếu rất sâu là kinh Kim Quang Minh, v́ muốn lợi ích hết thảy chúng sanh, trừ khử đói kém, khiến cho họ được an lạc).

 

          Tán rằng: Sứ giả truyền đạt lời được sai khiến.

 

5.2.4.1.3.4. Phật Thích Ca giảng nói

5.2.4.1.3.4.1. Tán thán

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, cáo bỉ thị giả chư Bồ Tát ngôn: - Thiện tai! Thiện tai! Bỉ tứ Như Lai năi năng vị chư chúng sanh nhiêu ích an lạc, khuyến thỉnh ư ngă tuyên dương chánh pháp.

          ()爾時釋迦牟尼如來應正等覺告彼侍者諸菩薩言善哉善哉彼四如來乃能為諸眾生饒益安樂勸請於我宣揚正法

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác bảo các vị thị giả Bồ Tát ấy rằng: - Lành thay! Lành thay! Bốn đức Như Lai ấy có thể v́ lợi ích, an lạc các chúng sanh khuyến thỉnh ta tuyên dương chánh pháp).

         

          Tán rằng: Phật Thích Ca sẽ thuyết pháp. Kinh văn chia thành hai phần: Một là tán thán, hai là trần thuật. Đoạn này là tán thán.

 

5.2.4.1.3.4.2. Trần thuật

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn nhi thuyết tụng viết: - Ngă thường tại Thứu Sơn, tuyên thuyết thử kinh bảo, thành tựu chúng sanh cố, thị hiện bát Niết Bàn.

          ()爾時世尊而說頌我常在鷲山此經寶成就眾生故示現般涅槃

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn nói kệ tụng rằng: - Ta thường ở núi Thứu, tuyên nói kinh báu này, do thành tựu chúng sanh, thị hiện nhập Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Sau đó là trần thuật. Kinh văn được chia thành hai đoạn:

          - Hai câu đầu chỉ rơ Pháp Thân và Báo Thân thường hằng. Dùng Báo Thân để hiển lộ Pháp Thân, trong Báo Pháp Độ (cơi trụ xứ của Pháp Thân và Báo Thân) tại Linh Sơn, không dựa vào nơi chốn mà hiển lộ.

          - Hai câu sau nói rơ sự diệt độ của Hóa Thân.

 

          (Kinh) Phàm phu khởi ngă kiến, bất tín ngă sở thuyết, vị thành tựu bỉ cố, thị hiện bát Niết Bàn.

          ()凡夫起邪見不信我所為成就彼故示現般涅槃

          (Kinh: Phàm phu dấy ngă kiến, chẳng tin lời ta nói, v́ để thành tựu họ, thị hiện nhập Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Bài kệ tụng cuối cùng kết lại sự diệt độ của Hóa Thân, nói “v́ chúng sanh” nhằm vạch rơ “chẳng phải v́ Bồ Tát”.

 

5.2.4.1.4. Ngài Hỷ Kiến lại kết thành giáo nghĩa về sự bất diệt [của Như Lai]

5.2.4.1.4.1. Kiều Trần Như thị hiện dấu tích mong cầu

 

          (Kinh) Thời, đại hội trung hữu Bà-la-môn tánh Kiều Trần Như, danh viết Pháp Sư Thọ Kư, dữ vô lượng bách thiên Bà-la-môn chúng cúng dường Phật dĩ.

          ()時大會中有婆羅門姓憍陳如名曰法師授記與無量百千婆羅門眾供養佛已

          (Kinh: Khi đó, trong đại hội có Bà-la-môn họ Kiều Trần Như, tên là Pháp Sư Thọ Kư, cùng với vô lượng trăm ngàn các Bà-la-môn cúng dường đức Phật xong).

 

          Tán rằng: [Đây là] phần thứ tư, ngài Hỷ Kiến lại kết thành giáo nghĩa về sự bất diệt. Kinh văn chia làm tám đoạn:

          - Một, Kiều Trần Như thị hiện dấu tích mong cầu.

          - Hai, Như Lai thị hiện phương tiện bằng cách im lặng.

          - Ba, đức Phật gia hộ khiến cho Hỷ Kiến gạn hỏi.

          - Bốn, Kiều Trần Như trả lời bằng ước mong có được xá-lợi

          - Năm, Hỷ Kiến riêng nêu bày sự tu phước.

          - Sáu, Kiều Trần Như lại cố ư cầu thỉnh.

          - Bảy, Hỷ Kiến đáp “chẳng thể được”.

          - Tám, Kiều Trần Như lănh ngộ, hiểu lẽ thường trụ.

          Trong đoạn này, người vấn đáp và pháp được nói giống như trong quyển thứ tư của kinh Đại Phương Đẳng Vô Tướng Đại Vân[1]. Trong kinh ấy, người có thể khải thỉnh tên là Thiện Đức, người có thể giải đáp là Nhất Thiết Chúng Sanh Nhạo Kiến, và nói túc duyên, chuyện sẽ gặp gỡ trong mai sau, danh tự xưa và nay. V́ thế, kinh ấy chép: “Nhĩ thời, Thiện Đức thỉnh nguyện, Thế Tôn bất đáp. Thời chúng trung hữu Lê Xa Tử, danh viết Nhất Thiết Chúng Sanh Nhạo Kiến, ngữ Thiện Đức vân: ‘Như Lai mặc nhiên, dĩ bất hứa đáp. Ngă kim đương đáp, tùy nghi trí vấn’. Vấn ngôn: - Nhược năng cúng dường Như Lai xá-lợi như giới tử hứa, phước báo ưng đắc Đao Lợi Thiên Chúa” (Lúc bấy giờ, Thiện Đức thỉnh nguyện, đức Thế Tôn chẳng đáp. Khi đó, trong đại chúng có một vị Lê Xa Tử, tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Nhạo Kiến, bảo Thiện Đức rằng: “Như Lai im lặng chẳng chấp thuận trả lời. Tôi nay sẽ đáp, ông hăy tùy theo ḷng nghi mà nêu câu hỏi. [Thiện Đức hỏi rằng]: “Nếu có thể cúng dường xá-lợi của Như Lai chừng bằng hạt cải, phước báo đáng được làm chúa cơi trời Đao Lợi”). Lê Xa Tử bèn v́ Thiện Đức nói Như Lai từng có mười hai bài kệ, [so với kinh Kim Quang Minh này th́] thiếu hai bài kệ [về thí dụ] “cây Thiệm Bộ có thể sanh ra quả Đa La” và phần kết hợp thí dụ [trong các bài tụng ấy] với pháp. Những bài kệ khác là: “Mao tác tăng-già-lê, đông nhật năng tiêu băng, thử duyên thố giác thê, tại thượng nhi thực nguyệt. Giả sử dăng năng ẩm, chung thạch thuần hảo tửu, mê hoang nhi đam túy. Giả sử cức thích diệp, châu biến phú tam thiên. Giả sử tiểu châu thuyền, năng tải Tu Di sơn, độ ư đại hải thủy” (lông làm tăng-già-lê, ngày đông băng tiêu tan, chuột nương theo sừng thỏ, leo thang để ăn trăng. Giả sử ruồi uống được, nhũ đá ủ rượu ngon, mê đắm say bét nhè. Giả sử gai ghim lá, phủ trọn khắp tam thiên. Giả sử chiếc thuyền bé, chở nổi núi Tu Di, có thể vượt biển cả).

          Khi đó, trong đại chúng, có một thiên nữ tên là Tịnh Quang, hỏi đức Thế Tôn rằng: “Hai vị hiền nhân như thế từ chỗ nào đến? Kính mong hăy diễn nói cho!” Đức Phật dạy: “Quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, nhĩ thời, hữu Phật hiệu Đồng Tánh Đăng. Kỳ địa quảng bác, tung quảng lục vạn bát thiên do-tuần, hữu thất vạn bát thiên đại thành. Nhĩ thời, đại thành danh viết Bảo Tụ, tức thị kim chi Vương Xá thành dă. Thời, Đồng Tánh Đăng Phật thuyết Đại Vân kinh. Thời bỉ thành trung hữu vương danh Đại Tinh Tấn Long Vương. Vương hữu phu nhân, danh viết Hộ Pháp. Hữu nhất đại thần, danh Pháp Lâm Thụ đại thần, bạch Phật: ‘Như Lai xá-lợi vi khả đắc phủ?’ Thế Tôn bất đáp. Nhĩ thời, đại vương vị chánh pháp cố, dữ cộng đại thần luận giảng xá-lợi. Phật hữu đệ tử danh Ma Ha Nam, tâm sanh hoan hỷ, Thế Tôn tán thán. Vương văn tán dĩ, hoan hỷ phát nguyện: ‘Nguyện ư đương lai Thích Ca chánh pháp diệt thời, ư trung xuất gia, vị chánh pháp cố, bất tích thân mạng’. Đại thần diệc nguyện: ‘Thích Ca pháp trung tác đại quốc vương, tŕ Như Lai pháp’. Phu nhân diệc nguyện: ‘Thích Ca pháp trung năng phục tà kiến’. Thời Ma Ha Nam nguyện: - Như vi bỉ Phật tác đại đệ tử” (Vô lượng A-tăng-kỳ kiếp trong quá khứ, lúc bấy giờ, có Phật hiệu là Đồng Tánh Đăng. Cơi đất rộng lớn, ngang dọc sáu vạn tám ngàn do-tuần, có bảy vạn tám ngàn thành lớn. Lúc bấy giờ, có thành lớn tên là Bảo Tụ, tức là thành Vương Xá hiện nay. Khi đó, Đồng Tánh Đăng Phật nói kinh Đại Vân; lúc ấy, trong thành đó có vua tên là Đại Tinh Tấn Long Vương. Vua có phu nhân tên là Hộ Pháp. Có một vị đại thần tên là Pháp Lâm Thụ đại thần, bạch với Phật: “Có thể đạt được xá-lợi của Như Lai hay không?” Đức Thế Tôn chẳng trả lời. Lúc bấy giờ, do v́ chánh pháp, đại vương cùng với đại thần giảng luận xá-lợi. Phật có đệ tử tên là Ma Ha Nam, tâm sanh hoan hỷ, đức Thế Tôn tán thán. Vua nghe tán thán xong, hoan hỷ phát nguyện: “Nguyện trong tương lai, khi chánh pháp của Phật Thích Ca diệt, con sẽ xuất gia trong đó, do v́ chánh pháp mà chẳng tiếc thân mạng”. Đại thần cũng nguyện: “Làm đại quốc vương trong pháp của Phật Thích Ca, ǵn giữ pháp của Như Lai”. Phu nhân cũng nguyện: “Con có thể hàng phục tà kiến trong pháp của Phật Thích Ca”. Khi đó, Ma Ha Nam nguyện: “Con sẽ làm đại đệ tử của đức Phật ấy”).

          Đức Phật bảo thiên nữ: “Như thị tứ nhân, kim ư ngă thế, vị pháp trọng nhậm, bất đản kim nhật, phương ư vị lai, phục đương hộ tŕ ngă chi chánh pháp. Thiên nữ! Nhĩ thời, đại thần, kim Thiện Đức Bà-la-môn thị. Thị Bà-la-môn, ngă diệt độ hậu bách nhị thập niên, vương Diêm Phù Đề, tự A Thúc Ca, trụ Bà Lê Phất La thành trung, tánh Vô Da Thị, đắc chuyển luân vương sở hữu phước đức nhị phần chi nhất. Thời, vương phu nhân, tức nhữ thiên nữ thị. Nhữ đắc tạm văn, kim đắc trị ngă. Xả thị thiên h́nh, tức dĩ nữ thân, đương vương quốc độ, đắc chuyển luân vương sở. Vương lănh xứ tứ phần chi nhất, giáo hóa sở thuộc thọ tŕ Ngũ Giới, hộ chánh pháp, tồi ngoại đạo. Nhĩ thời vương giả, kim Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử thị, thâm đạt chánh pháp, năng khai diệu nghĩa, hộ pháp vô tổn. Thời Ma Ha Nam, kim tức Đại Vân Mật Tạng Bồ Tát thị, đắc ngă chân thân nhị phần chi nhất, tri ân, báo ân, hộ tŕ chánh pháp, thâm nghĩa vô trệ” (Bốn người như thế, nay trong đời của ta, giữ trách nhiệm trọng yếu nơi pháp, không chỉ ngày nay, mà c̣n trong vị lai, sẽ lại hộ tŕ chánh pháp của ta. Này thiên nữ! Đại thần lúc bấy giờ nay là Bà-la-môn Thiện Đức. Vị Bà-la-môn ấy sau khi ta diệt độ một trăm hai mươi năm, sẽ làm vua cơi Diêm Phù Đề, tên là A Thúc Ca, trụ trong thành Bà Lê Phất La, họ là Vô Da Thị, đạt được một nửa phước đức mà Chuyển Luân Vương vốn có. Phu nhân của nhà vua khi đó, chính là thiên nữ ngươi vậy. Ngươi được tạm nghe, nay được gặp ta, bỏ thân trời này, liền dùng thân nữ để làm vua trong quốc độ, thống lănh một phần tư xứ sở cai trị của chuyển luân vương, giáo hóa thần dân thọ tŕ Ngũ Giới, hộ tŕ chánh pháp, dẹp tan ngoại đạo. Nhà vua thuở ấy nay là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử, thông đạt sâu xa chánh pháp, có thể khơi mở diệu nghĩa, hộ tŕ chánh pháp chẳng tổn hại. Ma Ha Nam thuở đó nay là Đại Vân Mật Tạng Bồ Tát, được một phần hai chân thân của ta, biết ân, báo ân, hộ tŕ chánh pháp, chẳng vướng mắc nơi nghĩa sâu).

          Đoạn thứ nhất (Kiều Trần Như thị hiện dấu tích) gồm ba ư:

          - Một, Kiều Trần Như đến chỗ đức Phật cúng dường.

          - Hai, nghe nói Phật sẽ nhập diệt bèn bi ai.

          - Ba, nêu bày công đức của Phật để làm nguyên do cầu nguyện.

          Đoạn chánh kinh này thuộc ư thứ nhất, gồm bốn ư:

          - Một, nêu ra thời và nơi chốn.

          - Hai, nêu ra tên họ [của người cầu thỉnh].

          - Ba, nói về những người có căn tánh cùng hàng [với Kiều Trần Như].

          - Bốn, trần thuật sự cúng dường.

          Nói “Pháp Sư Thọ Kư” th́ Pháp Sư là Phật, trao thọ kư cho vị [Bà-la-môn ấy] nhằm tỏ lộ đức hạnh lẫn phẩm vị của ông ta đều thù thắng, cho nên đặt tên như vậy. Trong địa vị Thập Hồi Hướng, hễ thuộc vào địa vị ấy th́ được Pháp Sư thọ kư. Do đó, bậc trụ tại Linh Sơn đă là hóa Phật, do có thể đối trước căn cơ ấy để thỉnh cầu [đức Phật giảng giải] th́ [ngài Kiều Trần Như] phải là bậc địa tiền (chưa chứng Sơ Địa, nhưng đă thuộc vào Tam Hiền). Lại có thể hiểu là Ngài đă nhập Thập Địa.

          Bản dịch của ngài Chân Đế ghi: “Phật thân như thị, như Như Lai thuyết như thị chi nghĩa, ngă dĩ văn tri, vị thỉnh Như Lai quảng khai phân biệt chân thật chi nghĩa, cố cầu xá-lợi, khai phương tiện môn” (Thân Phật như thế, đối với các nghĩa do Như Lai đă nói như thế ấy, con đă nghe biết, v́ thỉnh Như Lai rộng khơi mở, phân biệt nghĩa chân thật, cho nên con cố ư cầu xá-lợi, ḥng mở ra môn phương tiện). Đă nói “con đă nghe biết”, rơ ràng là đă ngộ, chỉ v́ lợi lạc [chúng sanh] mà [thị hiện] thuộc địa vị ấy.

          “Thỉnh cúng dường”: Đại Trang Nghiêm Luận nêu ra mười đại nguyện, dùng hết thảy các thứ cúng dường [để dâng lên] hết thảy chư Phật. Cúng dường có ba điều:

          - Một, [đối tượng được cúng dường là] hết thảy chư Phật chẳng sót.

          - Hai, [thực hiện sự] cúng dường chẳng sót.

          - Ba, cung kính chẳng sót.

          Cúng dường lại có ba cách:

          - Một, lợi cúng dường, tức là [cúng dường] y phục v.v…

          - Hai, kính cúng dường, tức là [cúng dường] bằng hương, hoa.

          - Ba, cúng dường bằng cách tu hành, tức là tu Tín, Giới v.v… để cúng dường.

          Lại theo phẩm Bồ Đề Địa của Du Già Sư Địa Luận, có mười loại cúng dường, nhưng ba cách [cúng dường trên đây] đă gồm trọn. “Kính cúng dường chẳng thừa sót” cũng có ba loại:

          - Một là hầu hạ cung kính.

          - Hai là đón, đưa cung kính.

          - Ba là tu hành cung kính.

          Cúng dường được nói trong chánh kinh ở đây có đủ cả ba nghĩa trên đây, do một vị Phật chính là hết thảy các vị Phật.

 

          (Kinh) Văn Thế Tôn thuyết nhập Bát Niết Bàn, thế lệ giao lưu.

          ()聞世尊說入般涅涕淚交流

          (Kinh: Nghe đức Thế Tôn nói sẽ nhập Niết Bàn, nước mắt đầm đ́a).

         

          Tán rằng: Nghe nói đức Phật sẽ nhập diệt liền bi ai. Đây chính là nghe nói “thị hiện nhập Niết Bàn trong phần trước cũng là tướng thị hiện”; do cho rằng đức Phật sắp nhập Niết Bàn, cho nên ngài Kiều Trần Như thị hiện ứa lệ. Như quyển thứ nhất của kinh Niết Bàn đă nói các tướng buồn khổ v.v… Từ mũi chảy ra th́ là Thế (), từ mắt tuôn ra là Lệ (). Hai thứ ấy chảy quẩn quanh, quyện vào nhau [gọi là “thế lệ giao lưu”].

 

          (Kinh) Tiền lễ Phật túc, bạch ngôn: - Thế Tôn! Nhược thật Như Lai ư chúng sanh hữu đại từ bi, lân mẫn lợi ích, linh đắc an lạc, do như phụ mẫu dư vô đẳng giả.

          ()前禮佛足白言世尊若實如來於諸眾生有大慈悲憐愍利益令得安樂猶如父母餘無等者

          (Kinh: Đối trước đức Phật, lễ dưới chân Ngài, bạch rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu quả thật Như Lai đối với chúng sanh có ḷng đại từ bi, thương xót, lợi ích, khiến cho họ được an lạc, ví như cha mẹ chẳng hề khác ǵ).

 

          Tán rằng: Điều thứ ba là nêu ra công đức của Phật để làm nguyên do cho lời cầu nguyện. Trong ấy, chia thành ba phần:

          - Một, quy hướng, chân thành kính lễ.

          - Hai, trần thuật những điều Phật có thể thực hiện để làm nguyên do cho sự cầu thỉnh.

          - Ba, chánh thức nêu ra tâm nguyện mong cầu.

          Đối trước đức Phật, lễ dưới chân Ngài chính là quy hướng, chân thành kính lễ. Từ “nhược thật Như Lai” (nếu Như Lai quả thật) trở đi, trần thuật đức Phật có các năng lực để làm nguyên do cho lời nguyện thỉnh pháp. Trong ấy, có hai ư:

          - Một, nêu rơ đức Thế Tôn có ḷng Từ, thương xót, lợi ích [chúng sanh].

          - Hai, nêu rơ: Do đức Thế Tôn Tam Đức đều trọn đủ, cho nên trần thuật lời thỉnh cầu.

          Kinh văn ở đây thuộc ư thứ nhất, gồm hai điều: Một là nói về pháp, hai là thí dụ. Do đại từ, cho nên thương xót ban vui. Do đại bi, cho nên xót thương dẹp khổ cho họ. Theo quyển bốn mươi bảy của Du Già Sư Địa Luận th́ chỗ nương vào để xót thương gồm có năm loại:

          - Một, hữu t́nh đang chịu khổ.

          - Hai, hữu t́nh ác hạnh.

          - Ba, hữu t́nh buông lung,

          - Bốn, hữu t́nh tà hạnh.

          - Năm, hữu t́nh thuận theo tùy miên[2] phiền năo.

          Tám nạn v.v… là “đang chịu khổ”. Chẳng vâng theo luật nghi là “ác hạnh”. Đắm nhiễm cảnh giới là “buông lung”. Nương theo các kiến giải hư vọng và ác thuyết để xuất gia th́ là “tà hạnh”. Đối với phiền năo, [cũng suy luận tương tự] sẽ biết. Nói “đại từ bi” tức là như quyển thứ chín trong bộ Nhiếp Luận của ngài Vô Tánh đă chép: “Ở đây nói là Đại là do đă chứng viên măn tư lương phước trí, khiến cho thoát khỏi ba nỗi khổ. Đó là hành tướng. Hữu t́nh trong hai giới (Dục Giới và Sắc Giới) là cái để duyên vào, do tâm b́nh đẳng đối với các hữu t́nh, chắc chắn chẳng có ai hơn được nổi. Do vậy, khiến cho họ đạt được lợi ích an lạc”. “Lợi ích an lạc” là cái quả thế gian và xuất thế gian. Phước và trí tùy theo lẽ đáng nên mà tương ứng với cái quả ấy chẳng sai chạy! Hoặc có thể hiểu: “Lợi” chính là mười lợi, “lạc” là năm thứ lạc.

          “Lân mẫn” (thương xót) lại có bảy loại:

          - Một là vô úy.

          - Hai là như lư.

          - Ba là không mệt mỏi.

          - Bốn là vô cầu.

          - Năm là vô nhiễm.

          - Sáu là rộng lớn.

          - Bảy là b́nh đẳng.

          Chẳng v́ sợ kẻ đó mà thương xót, [đó là “vô úy”]. Nương theo giáo pháp chân chính là “như lư”. Luôn dấy tâm tạo lợi ích là “chẳng mệt mỏi”. Chẳng đợi họ cầu xin rồi mới thương xót th́ là “vô cầu”. Chẳng có tâm ái nhiễm, cũng chẳng mong được báo đáp là “vô nhiễm”. V́ lợi ích hữu t́nh, thà xả thân mạng, chẳng gieo điều ác cho họ, nên gọi là “rộng lớn”. Đối với hữu t́nh giới [thương xót] chẳng có ngằn hạn th́ gọi “thương xót b́nh đẳng”.

          “Do như phụ mẫu” (giống như cha mẹ) là thí dụ. Trang Nghiêm Luận quyển mười hai viết: “Bồ Tát có bảy điều tương tự lợi ích: Một là giống như mẹ, hai là giống như cha, ba là giống như bạn lành, bốn là giống như bạn lữ cùng hạnh, năm là giống như tôi tớ mạnh mẽ, sáu là giống như A-xà-lê, bảy là giống như ḥa thượng”. Ví như từ mẫu tạo năm nghiệp để lợi ích cho con: Một là mang thai, hai là sanh ra, ba là nuôi lớn, bốn là ngăn ngừa họa hại, năm là dạy nói. Năm nghiệp để Bồ Tát lợi lạc chúng sanh cũng thế:

          - Một là tâm b́nh đẳng đối với chúng sanh.

          - Hai là sanh ra địa vị thánh.

          - Ba là trưởng dưỡng các căn lành.

          - Bốn là pḥng ngừa các hành vi ác.

          - Năm là dạy tu tập đa văn.

          Ví như từ phụ thực hiện năm điều lợi ích cho con:

          - Một là gieo chủng tử.

          - Hai là dạy tài khéo.

          - Ba là cưới vợ cho con.

          - Bốn là giao con cho bạn lành.

          - Năm là dứt sạch nợ, chẳng khiến cho con phải đền trả sau này.

          Năm nghiệp của Bồ Tát cũng thế:

          - Một là khiến cho [chúng sanh] dấy ḷng tin, dùng đó làm chủng tử của thánh thể.

          - Hai là dạy họ học Giới Định tăng thượng, coi đó là tài khéo.

          - Ba là khiến cho họ đạt được giải thoát, hỷ lạc, coi đó như cưới vợ cho con, coi pháp hỷ là vợ.

          - Bốn là khuyến thỉnh chư Phật, coi như là bạn lành.

          - Năm là ngăn chướng, coi như là dứt nợ.

          Do các nghĩa ấy, không có kẻ nào khác có thể sánh bằng được!

 

          (Kinh) Năng dữ thế gian tác quy y xứ, như tịnh măn nguyệt.

          ()能與世間作歸依處如淨滿月

          (Kinh: Có thể làm chỗ quy y cho thế gian, như vầng trăng tṛn sạch).

 

          Tán rằng: Đây là nói Phật trọn đủ Tam Đức. Câu này nói về Đoạn Đức, như Nguyệt Ái tam-muội trong kinh Niết Bàn có thể tạo sự thanh lương. Lại nữa, Thi La (Śīla, Giới) được cơi này dịch là Thanh Lương, “thanh lương” chính là Niết Bàn. Do Giới có thể làm cái nhân thanh lương cho Niết Bàn; cho nên gọi là “thanh lương”. V́ thế, dùng mặt trăng để sánh ví Đoạn Đức của Niết Bàn. Bởi vậy, có bài tụng như sau: “Pháp quy phân biệt, thánh quy Niết Bàn” (pháp quy vào phân biệt, thánh quy vào Niết Bàn). Thập Địa Luận nói: “Như chúng phong y mật” (như các con ong bu vào mật). “Dữ thế gian tác quy y xứ” (làm chỗ quy y thế gian) tức là Niết Bàn, Niết Bàn tức là Đoạn Đức.

 

          (Kinh) Dĩ đại trí huệ năng vi chiếu minh, như nhật sơ xuất.

          ()以大智慧能為照明如日初出

    (Kinh: Dùng đại trí huệ có thể chiếu sáng, như mặt trời mới mọc).

 

          Tán rằng: [Câu này] hiển thị Trí Đức. Trí có thể phá tối tăm, như mặt trời mới mọc.

 

          (Kinh) Phổ quán chúng sanh, ái vô thiên đảng, như La Hỗ La.

          ()普觀眾生愛無偏黨如羅怙羅

          (Kinh: Quán trọn khắp chúng sanh, thương yêu chẳng thiên vị như [thương yêu] La Hỗ La[3]) .

 

          Tán rằng: Hiển thị Ân Đức.

 

          (Kinh) Duy nguyện Thế Tôn, thí ngă nhất nguyện.

          ()惟願世尊施我一願

          (Kinh: Kính mong đức Thế Tôn ban cho con một điều nguyện).

         

          Tán rằng: Tâm nguyện mong cầu Phật. Phật có ḷng từ bi, lại trọn đủ Tam Đức, có thể măn nguyện cho con. V́ thế, nay con cầu nguyện.

 

5.2.4.1.4.2. Đức Thế Tôn phương tiện im lặng

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn mặc nhiên nhi chỉ.

          ()爾時世尊默然而止

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn giữ im lặng).

 

          Tán rằng: Phương tiện im lặng. Im lặng có năm ư nghĩa:

          - Một là dứt trừ chê bai, sợ [có kẻ không hiểu, cho rằng] do được ca ngợi, [đức Phật] bèn thỏa nguyện kẻ khác.

          - Hai là [v́ căn cơ] “đáng nên nghe”.

          - Ba là tránh mâu thuẫn. Trước đó đă nói “sẽ nhập Niết Bàn”, nay lại nói “thường chẳng nhập Niết Bàn”, mâu thuẫn với lời trước đó.

          - Bốn là tỏ rơ Phật đức hạnh cao cả. Trong hàng đệ tử mà c̣n có người có thể giải đáp lời hỏi, huống hồ Như Lai ư?

          - Năm là để cho người khác trừ nghi [cho Kiều Trần Như], sẽ hơn hẳn các cách nói để làm chứng khác.

 

5.2.4.1.4.3. Đức Phật gia hộ khiến cho ngài Hỷ Kiến gạn hỏi

 

          (Kinh) Phật oai lực cố, ư thử chúng trung, hữu Lê Xa Tỳ đồng tử, danh Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến.

          ()佛威力故於此眾中有梨車毘童子名一切眾生喜見

          (Kinh: Do oai lực của Phật, trong đại chúng ấy có một đồng tử thuộc tộc Lê Xa Tỳ, tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến).

 

          Tán rằng: Điều thứ ba là đức Phật gia bị Hỷ Kiến gạn hỏi. Kinh văn được chia thành năm ư:

          - Một, nêu ra nơi chốn [tức đồng tử Hỷ Kiến xuất thân từ thành Ly Xa).

          - Hai, nói rơ tộc loại (đồng tử Hỷ Kiến thuộc tộc Ly Xa Tỳ).

          - Ba, kể ra danh xưng (tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến).

          - Bốn, Hỷ Kiến thấy lời hỏi, liền biết tâm nguyện [của Kiều Trần Như].

          - Năm, Hỷ Kiến có thể giải đáp.

          Đoạn này gồm ba ư đầu tiên.

 

          (Kinh) Ngữ Bà-la-môn Kiều Trần Như ngôn: “Đại Bà-la-môn! Nhữ kim tùng Phật dục khất hà nguyện? Ngă năng dữ nhữ!”

          ()語婆羅門憍陳如言大婆羅門汝今從佛欲乞何願我能與汝

          (Kinh: Nói với Bà-la-môn Kiều Trần Như rằng: - Đại Bà-la-môn! Ông nay nuốn xin Phật điều nguyện ǵ? Tôi có thể cho ông!)

 

          Tán rằng: [Chính là] hai ư sau [trong năm ư trên đây].

 

2.4.1.4.4. Kiều Trần Như đáp “mong cầu xá-lợi”

         

          (Kinh) Bà-la-môn ngôn: - Đồng tử! Ngă dục cúng dường vô thượng Thế Tôn, kim tùng Như Lai, cầu thỉnh xá-lợi như giới tử hứa.

          ()婆羅門言童子我欲供養無上世尊今從如來求請舍利如芥子許

          (Kinh: Bà-la-môn nói: - Này đồng tử! Tôi muốn cúng dường đức Thế Tôn vô thượng, nay từ Như Lai cầu thỉnh xá-lợi chừng bằng hạt cải).

 

          Tán rằng: Điều thứ tư, Kiều Trần Như đáp “mong cầu xá-lợi”. Mong muốn hiển lộ lẽ chân thường [th́ gọi là] “mong cầu xá-lợi. Trong phần kinh văn đầu tiên, chia thành ba ư:

          - Một, Kiều Trần Như đáp [lời gạn hỏi, nêu ra] ư nguyện.

          - Hai, giả lập lời gạn hỏi bên ngoài.

          - Ba, trả lời về nguyên do của lời nguyện.

          Đây là ư thứ nhất.

 

          (Kinh) Hà dĩ cố? Ngă tằng văn thuyết: “Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân đắc Phật xá-lợi như giới tử hứa, cung kính cúng dường, thị nhân đương sanh Tam Thập Tam Thiên, nhi vi Đế Thích”.

          ()何以故我曾聞若善男子善女人得佛舍利如芥子許恭敬供養是人當生三十三天而為帝釋

    (Kinh: V́ sao vậy? Tôi từng nghe nói: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân có được xá-lợi của Phật chừng bằng hạt cải, cung kính cúng dường, người ấy sẽ được sanh về Tam Thập Tam Thiên làm Đế Thích”).

 

          Tán rằng: Đây là phần kinh văn bao gồm hai ư sau. Nhờ vào sự ham muốn thô thiển, nông cạn để mong đáp lời Hỷ Kiến, ḥng hiển lộ: “Do cái nhân thường hằng, sẽ đạt được cái quả thường hằng”. Như trong kinh Bồ Tát Xử Thai, kinh Vô Thượng Y, kinh Mật Tích Lực Sĩ, Tây Vực Truyện[4] v.v… đều nói cúng dường xá-lợi nhiều hay ít, và công đức [do cúng dường] v.v…

 

5.2.4.1.4.5. Hỷ Kiến riêng chỉ bày phước đức

 

          (Kinh) Thị thời, đồng tử ngữ Bà-la-môn viết: - Nhược dục nguyện sanh Tam Thập Tam Thiên thọ thắng báo giả, ưng đương chí tâm thính thị Kim Quang Minh Tối Thắng Vương kinh.

          ()是時童子語婆羅門曰若欲願生三十三天受勝報者應當至心聽是金光明最勝王經

          (Kinh: Khi đó, đồng tử bảo Bà-la-môn rằng: - Nếu muốn nguyện sanh vào Tam Thập Tam Thiên, hưởng thụ quả báo thù thắng, hăy nên chí tâm nghe kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này).

 

          Tán rằng: Hỷ Kiến riêng dạy phước môn, tức là để hiển lộ cái nhân “thường hằng”. Phần Trường Hàng giải đáp theo ngôn ngữ [b́nh phàm] (nói theo sự tướng), phần kệ tụng đáp theo Lư. Phần Trường Hàng có ba ư:

          - Một, bảo [Kiều Trần Như] hăy nên nghe kinh này.

          - Hai, giải thích nguyên do [v́ sao nên nghe kinh này].

          - Ba, kết lại đại lược.

          Đoạn này chính là ư đầu tiên.

 

          (Kinh) Ư chư kinh trung, tối vi thù thắng, nan giải, nan nhập, Thanh Văn, Độc Giác sở bất năng tri.

          ()於諸經中最為殊勝難解難入聲聞獨覺所不能知

          (Kinh: Ở trong các kinh, [kinh này] thù thắng nhất, khó hiểu, khó nhập, Thanh Văn và Độc Giác chẳng thể biết được).

         

          Tán rằng: Nêu rơ nguyên do, có hai ư:

          - Một, chỉ rơ Nhị Thừa chẳng biết.

          - Hai, [kinh này] có thể làm cái nhân thù thắng.

          Đoạn này nói về ư nghĩa [hàng Nhị Thừa] chẳng thể biết, do nghe kinh này có thể là sanh nhân và liễu nhân của Pháp Thân và Báo Thân. Như trong luận Bát Nhă của Thiên Thân Bồ Tát đă nói: “Là liễu nhân của Pháp Thân, mà cũng là sanh nhân của các thân khác. Báo Thân chính là thân khác ngoài Pháp Thân, do nó có khởi đầu, cho nên là sanh nhân”. Đấy chính là diễn nói nhằm hiển lộ lư, hạnh, quả, nương theo điều được nói để khởi hạnh, bèn có thể chứng Pháp Thân. V́ vậy là liễu nhân và sanh nhân.

 

          (Kinh) Thử kinh năng sanh vô lượng vô biên phước đức quả báo, năi chí thành biện Vô Thượng Bồ Đề.

          ()此經能生無量無邊福德果報乃至成辦無上菩提

          (Kinh: Kinh này có thể sanh ra vô lượng vô biên quả báo phước đức, cho đến thực hiện thành tựu Vô Thượng Bồ Đề).

 

          Tán rằng: Có thể làm cái nhân thù thắng, có thể sanh ra quả báo là mười vương nhân (cái nhân tối thắng), hoàn thành (tu tập thành tựu) Bồ Đề là cái nhân của ba thân. [Nêu ra] quả báo thù thắng chân thật để khiến cho người hỏi (Kiều Trần Như) mong cầu.

 

          (Kinh) Ngă kim vị nhữ lược thuyết kỳ sự.

          ()我今為汝略說其

          (Kinh: Tôi nay sẽ v́ ông nói đại lược chuyện ấy).

 

          Tán rằng: Kết lại bằng cách hứa sẽ nói đại lược.

 

5.2.4.1.4.6. Ngài Kiều Trần Như thị hiện phương tiện cố ư thỉnh cầu lần nữa

 

          (Kinh) Bà-la-môn ngôn: - Thiện tai đồng tử! Thử Kim Quang Minh thậm thâm tối thượng, nan giải, nan nhập, Thanh Văn, Độc Giác thượng bất năng tri.

          ()婆羅門言善哉童子此金光明甚深最上難解難入聲聞獨覺尚不能知

          (Kinh: Bà-la-môn nói: - Lành thay đồng tử! Kim Quang Minh này rất sâu, tối thượng, khó hiểu, khó nhập, Thanh Văn và Độc Giác c̣n chẳng thể biết).

 

          Tán rằng: Kiều Trần Như thị hiện phương tiện, cố ư cầu lần nữa. Kinh văn chia thành ba phần:

          - Một, tán thán kinh này sâu xa, mầu nhiệm, thù thắng, chẳng thể biết.

          - Hai, trí của chúng ta nhỏ nhoi, chẳng thể nương theo kinh để tu tập được.

          - Ba, ân cần cầu xá-lợi.

          Đoạn này thuộc phần thứ nhất, nêu rơ: Lư Bồ Đề Niết Bàn nhị không (Ngă Không và Pháp Không) quá sâu, trừ hết sạch hai chướng (Sở Tri Chướng và Phiền Năo Chướng), cho nên là vô thượng. Phàm phu khó hiểu TTrí, khó nhập Hiện T[5], hàng Nhị Thừa định tánh chẳng thể tiến nhập, ngộ giải. Do vậy, chẳng thể biết.

 

          (Kinh) Hà huống ngă đẳng biên bỉ chi nhân, trí huệ vi thiển nhi năng giải liễu?

          ()何況我等邊鄙之人智慧微淺而能解了

          (Kinh: Huống hồ chúng ta thuộc hạng người kém cỏi, chấp vào nhị biên, trí huệ ít ỏi, nông cạn, sao có thể hiểu rơ được?)

 

          Tán rằng: Chúng ta trí ít, chẳng thể nương theo đó tu tập.

 

          (Kinh) Thị cố, ngă kim cầu Phật xá-lợi như giới tử hứa, tŕ hoàn bổn xứ, trí bảo hàm trung, cung kính cúng dường, mạng chung chi hậu, đắc vi Đế Thích, thường thọ an lạc.

          ()是故我今求佛舍利如芥子許持還本處置寶函中恭敬供養命終之後得為帝釋常受安樂

          (Kinh: V́ thế, nay tôi cầu xá-lợi của Phật chừng bằng hạt cải, đem về chỗ của ḿnh, đặt trong hộp báu, cung kính cúng dường, sau khi mạng chung, được làm Đế Thích, thường hưởng an vui).

 

          Tán rằng: Đây là ư sau cùng, ân cần cầu xá-lợi, chia thành hai ư nhỏ:

          - Một, trần thuật điều mong cầu.

          - Hai, gạn hỏi v́ sao chẳng v́ tôi mà xin?

          Đoạn này là trần thuật ư mong cầu, nhằm tương ứng với lời giải đáp “[Như Lai] thường trụ, thật sự chẳng có xá-lợi” [của ngài Hỷ Kiến].

 

          (Kinh) “Vân hà nhữ kim bất năng vị ngă tùng Minh Hạnh Túc cầu tư nhất nguyện?” Tác thị ngữ dĩ.

          ()云何汝今不能為我從明行足求斯一願作是語已

          (Kinh: “Sao nay ông chẳng v́ tôi cầu xin nguyện này nơi đấng Minh Hạnh Túc?” Nói lời ấy xong).

 

          Tán rằng: Đây là gạn hỏi sao không xin xá-lợi nơi thân Phật cho tôi để tôi cúng dường, ḥng đạt được cái quả thường lạc?

 

5.2.4.1.4.7. Hỷ Kiến đáp “chẳng thể được”

 

          (Kinh) Nhĩ thời, đồng tử tức vị Bà-la-môn nhi thuyết tụng viết: - Hằng hà sử lưu thủy, khả sanh bạch liên hoa.

          ()爾時童子即為婆羅門而說頌恒河駛流水可生白蓮華

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đồng tử liền v́ Bà-la-môn nói bài tụng rằng: - Sông Hằng nước chảy xiết, sanh được hoa sen trắng).

 

          Tán rằng: Hỷ Kiến đáp “chẳng thể được!” Đại ư của đoạn kinh văn này là xét theo nhân duyên, duy thức, vô tướng, và Chân Như, tức bốn loại Quán Môn, để nói “chẳng có xá-lợi”. Hoặc xét theo Tam Vô Tánh[6] Quán Môn để nói “chẳng có xá-lợi”, hoặc nương theo tam tánh (Biến Kế, Y Tha Khởi, Viên Thành Thật) để nói “không có xá-lợi”, hoặc xét tổng quát theo ba thân để nói “không có xá-lợi”, hoặc chỉ xét theo pháp [mà nói]: “Phải nên biết là không có [xá-lợi]”. Dụng ư là trừ tám món điên đảo[7] và tứ chướng[8], chỉ rơ Bồ Đề và Niết Bàn trọn đủ Tứ Đức”. V́ thế, thọ lượng của ba thân đều chẳng có ngằn hạn. Do Kiều Trần Như giả hiện chấp trước “Phật từ cái nhân hữu lậu mà sanh”, giống như quả báo trong cơi đời “chết rồi lưu lại xương nơi thân”, phải là vô thường. Nay đáp là “không” do xét theo các đạo lư trên đây, khiến cho [thính chúng] ngộ giải những điều c̣n lại, biết “Phật thường trụ là an lạc chân thật”, xứng lư mà tu. Đó chính là bổn ư ở đây!

          [Ngài Hỷ Kiến] có mười bốn bài tụng [sử dụng các thí dụ nói về chuyện chẳng thể được], chia thành bốn phần:

          - Ba bài đầu nhằm nói: Do ĺa tam tướng hữu lậu, cho nên chẳng có xá-lợi.

          - Ba bài kế tiếp nói: Do Niết Bàn trọn đủ Tam Đức, cho nên chẳng có xá-lợi.

          - Bốn bài kế tiếp nói bốn hạng người (Duyên Giác, Thanh Văn, ngoại đạo, Xiển Đề) có các chướng đều chẳng phải là chân thật, cho nên chẳng có xá-lợi.

          - Bốn bài cuối cùng nói rơ thân chân thật trọn đủ Tứ Đức, cho nên chẳng có xá-lợi.

          Đoạn [chánh kinh] này thuộc về phần thứ nhất. Nửa đầu bài tụng nói về tướng vô sanh của Pháp Thân. “Sông Hằng” sánh ví chân lư. Kinh Niết Bàn và luận Bảo Tánh đều dùng nước sông để sánh ví Chân Như. “Sử lưu” (nước chảy xiết) là sánh ví Như. Tự tánh chẳng có cấu nhiễm, tự tánh giải thoát, tự tánh trí huệ, chẳng giống như hữu vi có thể sanh ra các pháp. Do vậy, [trong tự tánh] chẳng có xá-lợi, giống như nước chảy xiết, hoa sen chẳng mọc được! Hoặc [có thể hiểu] là Tự Thọ Dụng Thân, do Đại Bi, Bát Nhă, Tín, và Định hợp thành, giống như nước chảy xiết liên tục đến tận đời vị lai. V́ thế, chẳng có xá-lợi! Chẳng giống như sự sanh diệt do Hoặc nghiệp hữu lậu tạo thành, sự sanh diệt ấy có thể lưu lại xương cốt nơi thân. Đây là xét theo Y Tha Tánh, chẳng phải là tự nhiên mà sanh, do phải nhờ vào các duyên [mà sanh khởi, cho nên gọi là Y Tha (nương vào các pháp khác)]. Thân vô lậu ấy [của Như Lai] chẳng do cái nhân hữu lậu [sanh khởi], cho nên chẳng thể có các thân máu thịt v.v…

          “Bạch liên hoa” (hoa sen trắng), tiếng Phạn là Bôn Đồ Lợi Ca (Puṇḍarīka). V́ thế, kinh dịch theo lối cũ hay mới đều dịch là Ưu Bát La hoa (Utpala, hoa sen xanh), Câu Vật Đầu hoa (Kumuda, hoa sen vàng), Bà Đầu Ma hoa (Padma, hoa sen đỏ), và Bôn Đà Lợi hoa, lần lượt là bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Nhưng bản dịch cũ [của kinh này] ghi là Câu Vật (tức Câu Vật Đầu), bản này ghi là Bạch Liên Hoa. Do trong nước chảy xiết, [các loại hoa sen ấy] đều chẳng mọc được, cho nên kinh văn lấy một loại để nói cho tiện. Thấy nước phải nên sanh ra vật, nước chảy xiết th́ [hoa sen] c̣n chẳng sanh trưởng được. Vô vi chẳng phải là sanh. Vô lậu chẳng phải nhiễm, trái nghịch với nhiễm pháp. V́ thế, chẳng có xá-lợi.

 

          (Kinh) Hoàng điểu tác bạch h́nh, hắc ô biến vi xích.

          ()黃鳥作白形黑烏變為赤

          (Kinh: Chim vàng biến thân trắng, quạ đen biến thành đỏ).

 

          Tán rằng: Nói rơ chẳng có tướng biến đổi khác, cho nên chẳng có xá-lợi. “Hoàng điểu” (chim vàng anh, chim hoàng ly) trong bản dịch cũ ghi là Câu Chỉ La (Kokila), phương này dịch là “hoàng điểu”, đúng ra phải là “hoàng lệ lâu điểu” trong cơi này. Lại c̣n có thể hiểu là: Không có từ ngữ tương đương để phiên dịch [tên gọi loài chim này trong tiếng Phạn, nên tạm dùng chữ “hoàng điểu”]. Phương Tây có loại chim ấy, h́nh dạng như con nhồng, nhưng h́nh vóc nhỏ hơn hoàng điểu. Ví như Sắc Uẩn lăo chẳng trọn khắp tam giới, Phần Đoạn lăo chẳng trọn khắp địa vị vô lậu. H́nh thể quạ to hơn, sánh ví Tứ Uẩn lăo trọn khắp tam giới, sánh ví Biến Dịch lăo trọn khắp các địa vị vô lậu. Đây là nói Pháp Thân lăo và Báo Thân lăo đều chẳng có. V́ thế, chẳng có xá-lợi.

 

          (Kinh) Giả sử Thiệm Bộ thụ, khả sanh Đa La quả, Khiết Thụ La chi trung, năng xuất Am La diệp.

          ()假使贍部樹可生多羅果朅樹羅枝中能出菴羅葉

          (Kinh: Giả sử cây Thiệm Bộ, sanh được trái Đa La. Nơi cành Khiết Thụ La, mọc được lá Am La).

 

          Tán rằng: Nói rơ Pháp Thân, Báo Thân v.v… chẳng có tướng diệt, cho nên không có xá-lợi. “Cây Thiệm Bộ” (Jambū): Ở phía Bắc của châu [Nam Diêm Phù Đề], chỗ giáp ranh với biển cả, có nhiều loại cây này. Hạt cây cực to, cũng có thể ăn được. Phía dưới cây, trong biển có nhiều chất vàng tốt, cựu dịch [tên của loại vàng này thành] Diêm Phù Đàn kim” là sai. Luận Du Già Sư Địa nói: “Vô Nhiệt Tŕ trắc hữu đại Thiệm Bộ thụ, thử châu nhân thụ nhi dĩ lập danh” (cạnh ao Vô Nhiệt có cây Thiệm Bộ to lớn, châu này do loại cây ấy mà đặt tên như vậy).

          “Cây Đa La” (Tāla): [Tây Vực] Truyện nói cây to lớn, lá hẹp dài, tức là lá cây Bối Đa La (Pattra). Tây quốc viết trên loại lá này. “Khiết Thụ La” (Kharjūra, chà là) cũng chẳng được dịch nghĩa. Bản dịch cũ ghi là Khư Thọ La Thụ Tử, giống như loại thóc Cô ()[9] nơi đất Hán, bên trong có nhiều hạt nhỏ. Hạt to như tép tỏi, ăn vào ngon ngọt. [Tây Vực] Truyện nói về Tây Quốc như sau: Nước Ma Yết Đề (Magadha) có nhiều loại cây này, những nơi khác chẳng nhiều. Am La (Āmra, xoài. [Tây Vực] Truyện ghi là: “Phương này dịch là Cam Tử, có hạt nhỏ”). Các loài khác nhau như thế tuy có sanh diệt, vẫn chẳng hề có chuyện từ loại quả này đă diệt mà sanh ra loại quả khác; vô vi Pháp Thân sao có thể diệt trước để lưu lại xá-lợi ư? Nếu xét theo tự tánh Pháp Thân, Bát Nhă Luận viết: “Tam tướng do khác thể, ĺa khỏi chúng th́ là Như Lai”.

 

          (Kinh) Tư đẳng hy hữu vật, hoặc dung khả chuyển biến. Thế Tôn chi xá-lợi, tất cánh bất khả đắc.

          ()斯等希有物或容可轉變世尊之舍利畢竟不可得

          (Kinh: Các vật hy hữu ấy, họa chăng có chuyển biến. Xá-lợi của Thế Tôn, rốt ráo chẳng thể được!)

 

          Tán rằng: Kết hợp [thí dụ] với pháp. Các thứ hữu vi ấy giả sử có thể chuyển biến, v́ thế nói là “hoặc dung” (không chừng), “dung” hàm nghĩa bất định. Pháp Thân của Như Lai ắt là vô sanh diệt, chẳng lưu lại xá-lợi từ xương. Đối với Hóa Thân và Báo Thân, cứ chuẩn theo đó mà biết.

 

          (Kinh) Giả sử dụng quy mao, chức thành thượng diệu phục, hàn thời khả phi trước, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()假使用龜毛織成上妙服寒時可披著方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử dùng lông rùa, dệt thành áo thượng diệu, khi lạnh khoác, mặc được, mới cầu xá-lợi Phật).

 

          Tán rằng: Ba bài tụng từ đây trở đi đều nói rơ: Do có đủ Tam Đức, cho nên chẳng có xá-lợi. Bài thứ nhất nói Bát Nhă chân thật do ĺa hư vọng. Lông rùa vốn chẳng có, ví như Thật Tánh Bát Nhă chẳng có xương xẩu. Dệt thành áo đẹp đẽ, ví như do xá-lợi mà tu hạnh thù thắng. Lúc lạnh có thể đắp hay khoác, ví như lầm lạc, coi đó là thường quả (cái quả thường hằng). Nếu cái tâm so đo hư vọng, cho là chân thân của Phật thật sự có xương, thịt v.v… Thân hữu lậu như lông, “chấp có ngă để có thể nương theo mà tu tập, ḥng đạt được thật quả” như áo; đấy chính là Biến Kế Vọng Chấp. Các vọng chính là chẳng có. V́ thế, xét theo sự thật, Tnh Bát Nhă sẽ chẳng có xá-lợi. Hoặc có thể coi máu, thịt, gân, xương hợp thành Pháp Thân th́ giống như dùng lông rùa gom góp thành y phục để có thể chống lạnh. Chuyện ấy đă chẳng có, cho nên không có xá-lợi, ĺa khỏi tướng sanh trong phần trước.

 

          (Kinh) Giả sử văn nhuế túc, khả sử thành lâu quán, kiên cố bất dao động, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()假使蚊蚋足可使成樓觀堅固不搖動方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử chân muỗi, ruồi, có thể dựng lầu, quán, kiên cố, chẳng động lay, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Sánh ví Pháp Thân là pháp vi tế chân thật, chẳng thể đổi khác thành có xá-lợi máu thịt thô thiển, tức là ĺa dị tướng như đă nói trong phần trước.

 

          (Kinh) Giả sử thủy điệt trùng, khẩu trung sanh bạch xỉ, trưởng đại lợi như phong, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()使水蛭蟲口中生白齒長大利如鋒方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử con đỉa nước, trong miệng sanh răng trắng, mọc lớn bén như dao, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Sánh ví giải thoát tự tánh chẳng thể có pháp hữu lậu huyết nhục trói buộc, như đỉa mọc răng là bị trói buộc, trở ngại. Đă chẳng có sanh, cho nên chắc chắn chẳng có diệt, ĺa diệt tướng nói trong phần trước. Hoặc là thoạt đầu sánh ví Chân Như nơi Địa Tiền, do chẳng bị khách trần nhuốm bẩn, cho nên chẳng sanh. V́ thế, kinh nói “bất sanh, bất diệt”. Chân Như nơi Thập Địa tuy phần nào đă lắng sạch, nhưng do chẳng phải là “chuyển nhiễm thành tịnh”, cho nên chẳng khác. V́ thế, kinh nói “chẳng tăng, chẳng giảm”. Chẳng phải là thuận theo công đức mà sanh tăng, chẳng thuận theo phiền năo mà diệt giảm. Thí dụ sau nói về cái thân giải thoát thuộc đạo hậu (sau khi đă chứng đạo) đă ĺa khỏi trói buộc, cho nên chẳng có xá-lợi. Lại có thể hiểu là ba bài tụng trước sánh ví tánh của sanh là vô tự tánh, ba bài tụng kế tiếp sánh ví tánh của tướng là vô tự tánh, tám bài kệ trong phần sau sánh ví tánh của thắng nghĩa là vô tự tánh, [tức là] theo thứ tự chính là ba tánh Y Tha, Biến Kế, và Viên Thành, ḥng khiến cho [hành nhân] tu quán hạnh.

 

          (Kinh) Giả sử tŕ thố giác, dụng thành ư thê đăng, khả thăng thượng thiên cung, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()假使持兔角用成於梯磴可升上天宮方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử dùng sừng thỏ, để tạo thành thang, thềm, lên được cơi thiên cung, mới cầu xá-lợi Phật).

 

          Tán rằng: Bốn bài tụng sau đó nói rơ bốn loại người do có chướng, chẳng đạt được Tứ Đức, dụng ư vạch rơ Pháp Thân là thường, lạc v.v… Ở đây, dùng thỏ để sánh ví Pháp Thân. Ngỡ Thường là vô thường, giống như t́m cầu sừng nơi thỏ. Dùng [“sừng thỏ”] làm cái thang để lên được cung trời, ví như [đối với] Thường đức của Niết Bàn, ngỡ vô thường là cái thang, mong được vào cung Niết Bàn, chẳng có lẽ ấy! V́ thế, biết: Chẳng có xá-lợi! Dựa theo điều này liền hiểu rơ: Muốn cầu xá-lợi nơi Pháp Thân, rốt ráo chẳng thể được! Đây chính là loại người thứ nhất: Do trừ xả tâm của hàng Duyên Giác, đức Thế Tôn dạy vô thường tưởng. V́ thế, muốn dùng xả tâm để nhập Đại Niết Bàn, chắc chắn là chẳng được! Do vậy biết Pháp Thân ắt chẳng phải là vô thường; bởi lẽ Vô Thường Quán giống như nương vào thỏ để t́m sừng ḥng làm cái thang mong lên được cung trời, chắc chắn chẳng thể được! V́ thế, đối với hàng Nhị Thừa nói là “đắc” chính là nói phương tiện! Như kinh Thắng Man[10] dạy: “Khứ Niết Bàn giới cận, ngôn đắc Niết Bàn, thật bất đắc dă” (Gần với Niết Bàn giới, nói là đắc Niết Bàn, thật sự chẳng đắc). Nay dạy quán Thường, tu đại bi, trừ xả tâm gây chướng, ḥng làm cái nhân cho Thường để chứng Thường đức của Phật. Lại nương theo Pháp Thân, quán có xá-lợi từ xương thịt vô thường, mong cầu cúng dường [xá-lợi], ḥng làm cái nhân của Pháp Thân, ắt cũng chẳng thể được! Như dựa vào thỏ mà t́m sừng làm thành cái thang ḥng lên cơi trời, cố nhiên là chẳng thể được! Trong phần trước là do cái nh́n điên đảo tạo thành chướng, tự chẳng đạt được Thường đức của Pháp Thân. Trong phần này, dựa theo tà quán để cầu xá-lợi của Phật, sẽ chẳng thể được! Đă chẳng có xá-lợi, nương vào sự tu hành nào để làm cái nhân cho Thường vậy?

 

          (Kinh) Thử duyên thử thê thượng, trừ khử A Tô La, năng chướng không trung nguyệt, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()鼠緣此梯上除去阿蘇羅能障空中月方求佛舍利

          (Kinh: Chuột leo theo thang ấy, trừ khử A Tu La, chướng ngại trăng giữa trời, mới cầu xá-lợi Phật).

 

          Tán rằng: Trừ khử chướng ngại do sợ khổ của Thanh Văn. Hàng Thanh Văn quán Pháp Thân của Phật, ngỡ là hữu lậu khổ, giống như chuột. [Thanh Văn] chẳng có Lạc đức của Pháp Thân, như dùng sừng thỏ làm thang, chấp rằng do khổ tưởng mà có thể trừ các chướng, có thể hàng phục các ma, đắc đại Niết Bàn. [Chấp trước ấy] giống như con chuột ḅ theo sừng thỏ để lên trời trừ kẻ oán, chắc chắn sẽ không được! Hoặc chuột ví như Thanh Văn, sừng thỏ ví như đối với Lạc đức mà tưởng là sự khổ chân thật. Thật sự chẳng có khổ mà chấp là có khổ. Do có khổ, cho nên có vô thường, cho rằng có xá-lợi từ xương, thịt; do vậy, nay mới t́m cầu. Tức là dùng cái nhân ấy để mong đạt được Lạc đức, sẽ giống như nương theo cái thang làm từ sừng thỏ để trừ bỏ A Tu La chướng lấp mặt trăng[11]. Mặt trăng ví như Niết Bàn. Đă chẳng xứng thật, chắc chắn là chẳng thể được. Dạy họ tu đại định, v́ có thể chứng đắc cái nhân của Đại Lạc đức.

 

          (Kinh) Nhược dăng ẩm tửu túy, châu hành thôn ấp trung, quảng tạo ư xá trạch, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()若蠅飲酒醉周行村邑中廣造於舍宅方求佛舍利

          (Kinh: Nếu ruồi uống rượu say, đi khắp trong thôn ấp, xây thật nhiều nhà cửa, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Trừ ngă chướng của ngoại đạo. Do trừ [kiến chấp v́ thấy] đức Thế Tôn có các môn hữu lậu quán khác, bèn cho là có Ngă lạc v́ điên đảo, như ruồi nhặng uống say, liền nằm lăn ra đó, chẳng thể bay khắp thôn ấp kiến tạo sào huyệt. Pháp Thập Địa trong khi tu nhân như thành, Trạch Diệt[12] như thôn ấp. Lạc đức của Niết Bàn như nhà cửa. Trí Độ Luận trích dẫn một bài tụng do một gă ngoại đạo nói với ngài Xá-lợi Tử như sau: “Ngă ẩm cánh mễ tửu, thiết tŕ nhất b́nh lai, sơn địa chư thảo mộc, thị chi như kim sắc” (tôi uống rượu gạo tẻ, trộm cầm đi một b́nh, cỏ cây trong vùng núi, đều thấy như sắc vàng). Đấy là sánh ví ngoại đạo đối với pháp hữu lậu thấy là “chẳng không, có tướng, có nguyện. Nay xét theo vô vi, chẳng thể nói là “tạo tác nhà cửa”, chỉ nói là “tạo nghệ” (造詣, bản lănh), hoặc nương theo liễu nhân để giả dụ là “dựng nhà”. Nay trừ khử nỗi điên đảo chấp trước hư vọng, tu trí huệ minh giác Bát Nhă, có thể đạt được Đại Ngă nơi Niết Bàn của Như Lai. Hoặc như ngoại đạo tuy chấp Ngă là thường, nhưng có nghĩa “xả thân”“thọ thân”, cho nên tưởng rằng thân Thường Ngă của Thế Tôn có xá-lợi. Do [kiến chấp ấy] đă là điên đảo, cho nên chẳng có xá-lợi.

 

          (Kinh) Nhược sử lư thần sắc, xích như tần bà quả, thiện tác ư ca vũ, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()若使驢脣色赤如頻婆果善作於歌舞方求佛舍利

          (Kinh: Nếu khiến màu môi lừa, đỏ như quả tần bà, khéo có thể ca múa, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Trừ chướng ngại “bất tín” của hàng Xiển Đề. Do si, chẳng tin Tứ Đức của Pháp Thân. Do ngu ám, ví như môi lừa đen x́. Do chẳng tin, cho nên chẳng đắc đại tịnh nơi Niết Bàn của Như Lai. Như môi lừa đen, chẳng thể khiến cho nó đỏ như quả tần bà (Bimba)[13]. Xiển Đề chẳng tin, đối với Pháp Thân “chẳng thể đạt được” mà nói là có xá-lợi. V́ thế, dạy họ tu tập, tin tưởng: “Có thể do cái nhân tịnh đức mà chứng đắc đại tịnh”. Tứ Đức đều là dựa trên tăng chướng và tăng nhân mà nói. Xét theo địa vị tu hành th́ theo thứ tự ngược (tức là giảm chướng, giảm thiểu cái nhân hữu lậu). Do nói theo thứ tự của Tứ Đức, trước hết nói xả tâm v.v…

          “Thiện tác ư ca vũ” (khéo có thể ca múa): “Ca” ví như thuyết pháp, tức hạnh lợi tha. “Vũ” ví như hạnh tự lợi. Xét theo kinh văn ở đây, dường như chỉ là thí dụ chung cho điều thứ tư. Xét theo bản dịch của ngài Chân Đế, từ chữ “tức thiện tác” trở đi là phần kết luận chung của cả bốn điều trước đó. V́ thế, kinh ấy (bản dịch của ngài Chân Đế) ghi: “Phàm phu cập nhị vô năng thuyết, cập năng hành tự tha, vô thị xứ cố. Tổng bất năng thuyết Như Lai Tứ Đức, cập tu tứ nhân” (Phàm phu và Nhị Thừa chẳng thể nói, và có thể hành hạnh lợi lạc ta lẫn người, do chẳng có lẽ ấy! Nói chung là chẳng thể nói Tứ Đức của Như Lai và tu bốn cái nhân được). Nhưng đoạn kinh văn ở đây có nghĩa là: Tạm thời, họ chẳng thể nói và tu hành, hoặc là xét theo định tánh Nhị Thừa, vô tánh Xiển Đề, và ngoại đạo. [Tuy họ chẳng thể tu hành Tứ Đức được], nhưng có thể nói: Do v́ trừ chướng cho hàng bất định tánh và những ai có chủng tánh, bèn dạy họ tu tập cái nhân của Tứ Đức ḥng chứng Tứ Đức. Hoặc có thể hiểu là đối với kẻ định tánh [Nhị Thừa], nhưng chẳng ngu muội đối với pháp, cũng có thể nói [Tứ Đức] khiến cho họ biết, giáo hóa họ đôi chút. Hoặc có thể hiểu kinh văn trong phần này chỉ nhằm kết lại thí dụ về hạng người thứ tư, liên hệ đến ba loại người trước đó.

 

          (Kinh) Ô dữ hưu lưu điểu, đồng cộng nhất xứ du, bỉ thử tương thuận tùng, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()烏與鵂鶹鳥同共一處遊彼此相順從方求佛舍利

          (Kinh: Quạ và chim cú vọ, cùng bay chung một chỗ, đôi bên tùy thuận nhau, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Nêu rơ Pháp Thân chân thật trọn đủ Tứ Đức, cho nên chẳng có xá-lợi. Đoạn này cũng chia thành bốn ư; đây là ư thứ nhất: Chỉ rơ thật đức Thường chẳng cùng ở chung với vô thường hư vọng, cho nên chẳng có xá-lợi. Lại do Vô Thường Quán, sẽ chẳng đạt được Thường đức. Nếu như đạt được th́ mới có thể cầu xá-lợi. Do đă chẳng thể đạt được, cho nên chẳng thể cầu!

 

          (Kinh) Giả sử Ba La diệp, khả thành ư tán cái, năng giá ư đại vũ, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()假使波羅葉可成於傘蓋能遮於大雨方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử lá Ba La, có thể thành dù, lọng, che được trận mưa to, mới cầu Phật xá-lợi.

 

          Tán rằng: Nói về Đại Lạc đức. Nếu bảo là khổ, như lá cây Ba La, Tây Vực Truyện nói mỗi lá Ba La đều tách thành ba phiến, chẳng thể dùng làm dù để che mưa to được. Mưa to ví như Biến Dịch Khổ. Thanh Văn cho là khổ, cho nên chẳng thể phá nỗi khổ do trận mưa to của Biến Dịch Tứ Ma. Nhị Thừa hành Vô Thường Quán và Khổ Quán, chẳng thể đạt được thường lạc.

 

          (Kinh) Giả sử đại thuyền bạc, thịnh măn chư tài bảo, năng linh lục địa hành, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()假使大船舶盛滿諸財寶能令陸地行方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử chiếc thuyền lớn, chứa đầy các của báu, có thể đi trên đất, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Nói về Đại Ngă đức. Do Ngă của Pháp Thân như chiếc thuyền to lớn, trọn đủ hằng sa đức như chứa đầy của báu. “Khiến cho đi trên đất” ví như ngă kiến của ngoại đạo. Do cái tâm ngă kiến, ngoại đạo chẳng thể thấy Chân Ngă. Chân Ngă như thuyền, chẳng thể đi trên đất bằng “ngă kiến” của ngoại đạo được!

 

          (Kinh) Giả sử tiêu liêu điểu, dĩ chủy hàm Hương Sơn, tùy xứ nhậm du hành, phương cầu Phật xá-lợi.

          ()假使鷦鷯鳥以嘴銜香山隨處任遊行方求佛舍利

          (Kinh: Giả sử chim tiêu liêu[14], dùng mỏ ngậm Hương Sơn, tùy ư đi khắp nơi, mới cầu Phật xá-lợi).

 

          Tán rằng: Nói về đại tịnh đức. Ngoại đạo chẳng tin tịnh đức của Niết Bàn, hư vọng so đo: “Do các thứ tịnh khác, sẽ có thể đạt được chân tịnh đức của Niết Bàn”. Giống như chim tiêu liêu chẳng thể ngậm Hương Sơn[15] bay đi được! Hương Sơn sánh ví tịnh đức của Niết Bàn. Chim ví như ngoại đạo. Chẳng tin lời Phật, cứ nương theo kiến giải của chính ḿnh để hành, cho là đă đạt được chân tịnh, chắc chắn chẳng thể được! Chân Pháp Thân đă chẳng có nỗi khổ “vô thường, vô ngă, bất tịnh”, biết rơ xá-lợi quyết chẳng thể được! V́ thế, cầu xá-lợi để nương vào đó mà cúng dường, ḥng làm cái nhân an lạc để thành tựu bổn nguyện, ắt chẳng thể được! Do vậy, phải nên quán Phật ĺa ba tướng, thành tựu ba đức, tu bốn cái nhân, chắc chắn được măn nguyện.

 

5.2.4.1.4.8. Kiều Trần Như lănh ngộ, thấu hiểu Pháp Thân thường trụ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Pháp Sư Thọ Kư Bà-la-môn văn thử tụng dĩ, diệc dĩ già-tha đáp Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến đồng tử viết:

          ()爾時法師授記婆羅門聞此頌已亦以伽他答一切眾生喜見童子曰

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Pháp Sư Thọ Kư Bà-la-môn nghe tụng xong, cũng dùng già-tha (kệ tụng) đáp lời đồng tử Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến rằng).

 

          Tán rằng: Điều thứ tám, Kiều Trần Như lănh ngộ, thấu hiểu sự thường trụ. Kinh văn chia thành hai phần:

          - Một, người kết tập kinh nêu bày.

          - Hai, phần lănh ngộ, thấu hiểu [của ngài Kiều Trần Như].

          Đoạn này thuộc phần đầu.

 

          (Kinh) Thiện tai đại đồng tử, thử chúng trung cát tường, thiện xảo phương tiện tâm, đắc Phật vô thượng kư.

          ()善哉大童子此眾中吉祥善巧方便心得佛無上記

          (Kinh: Lành thay đại đồng tử, cát tường trong chúng này, tâm phương tiện thiện xảo, Phật thọ kư vô thượng).

 

          Tán rằng: Chánh thức trần thuật sự lănh ngộ, thấu hiểu. Bảy bài tụng [trong phần này] được chia thành ba đoạn:

          - Hai bài tụng đầu tán thán phẩm đức sẽ được trần thuật.

          - Bốn bài tụng kế đó nói rơ sự giải ngộ.

          - Bài tụng cuối cùng kết lại ư nghĩa “thân Phật thường trụ”.

          Kinh văn thuộc phần thứ nhất chia thành ba phần:

          - Bài tụng đầu tiên tán thán đức của Hỷ Kiến.

          - Nửa bài tụng kế đó nêu ra sự thành tựu của Phật.

          - Nửa bài tụng kế đó, răn bảo hăy nghe v́ sẽ nói.

          Đoạn này chính là tán thán Hỷ Kiến, [lại gồm hai tiểu đoạn]:

          - Một là tán thán chung.

          - Hai là tán thán riêng biệt.

          Phần tán thán chung th́ tán thán sự thuyết pháp trên đây và tán thán nội đức. Do các điều được nói trong phần trước là nương theo Vô Nhiễm Trí để nói Tứ Đức của Phật. Đời này trừ chướng, tu nhân sẽ chứng. V́ thế, khen rằng “lành thay!”

          Tán thán nội đức chính là phần tán thán các công đức trong phần sau, gồm sáu đức thù thắng:

          - Một, tương ứng phẩm đức thù thắng.

          - Hai, phẩm đức sanh trong địa vị thù thắng.

          - Ba, phát nguyện thù thắng.

          - Bốn, thiện xảo thù thắng.

          - Năm, phương tiện thù thắng.

          - Sáu, nhiếp thọ thù thắng.

          Nói “đại đồng tử” là do tương ứng với bảy đại tánh. Như trong Bát Nhă Luận của ngài Vô Trước có nói: “Vị Bồ Tát ấy tương ứng với bảy đại tánh, cho nên gọi là Đại”. Ở đây, cũng có ư nghĩa giống như vậy. Nói “đồng tử” nhằm tỏ rơ [Hỷ Kiến] đă sanh trong địa vị thù thắng: Do dự vào Sơ Địa, sanh trong nhà Như Lai, th́ gọi là “đồng tử”, nghĩa là chân Phật tử. Điều này lại có bốn ư:

          - Một, chủng tử thù thắng, do tin đại pháp làm chủng tử.

          - Hai, sanh mẫu (mẹ đẻ) thù thắng, do lấy Bát Nhă làm mẹ ruột.

          - Ba, thai tạng thù thắng, do dùng Thiền Định làm thai tạng.

          - Bốn, nhũ mẫu thù thắng, dùng đại bi trưởng dưỡng làm nhũ mẫu.

          “Chúng trung cát tường” (cát tường trong đại chúng), tức là đại nguyện thù thắng, nghĩa là đă phát mười đại nguyện hoặc tứ hoằng nguyện. Nói “thiện xảo” tức là thiện xảo thù thắng, đạt được phương tiện để tiến lên địa vị cao hơn. Nói “phương tiện tâm” tức là phương tiện thù thắng. Nương vào hai thứ để lợi sanh: Một là biết chính ḿnh gần với Bồ Đề, hai là do biết phương tiện lợi tha. Nói “được Phật thọ kư” tức là nhiếp thọ thù thắng, tức là được chư Như Lai nhiếp thọ thọ kư.

 

          (Kinh) Như Lai đại oai đức, năng cứu hộ thế gian. Nhân khả chí tâm thính, ngă kim thứ đệ thuyết.

          ()如來大威德能救護世間仁可至心聽我今次第

          (Kinh: Như Lai oai đức lớn, hay cứu hộ thế gian. Nhân giả chí tâm nghe, nay tôi lần lượt nói).

 

          Tán rằng: Hai câu đầu tán thán bi và trí của Phật. “Đại oai đức”TĐức, có đủ các thần thông v.v… “Năng cứu hộ” (có thể cứu vớt, bảo vệ) là Bi Đức, do lợi ích thế gian. “Ngă kim thứ đệ thuyết” (tôi nay nói theo thứ tự): Trần thuật các điều sẽ nói. Các điều sẽ nói chính là ba thân của Phật. Phần Quả Trí trong Vô Tánh Nhiếp Luận[16] nói: “Hăy nên biết Pháp Thân đại lược có năm tướng: Một là chuyển y[17] tướng, hai là tướng do bạch pháp (thiện pháp) tạo thành, ba là tướng vô nhị, bốn là tướng thường trụ, năm là tướng chẳng thể nghĩ bàn”. Năm nghĩa ấy tôi sẽ lần lượt nói.

 

          (Kinh) Chư Phật cảnh nan tư, thế gian vô dữ đẳng, Pháp Thân tánh thường trụ, tu hành vô sai biệt.

          ()諸佛境難思世間無與等法身性常住修行無差別

          (Kinh: Cảnh chư Phật khó nghĩ, thế gian chẳng sánh bằng. Tánh Pháp Thân thường trụ, tu hành chẳng sai biệt).

 

          Tán rằng: Bốn bài kệ sau đây nhằm nêu bày sự lănh ngộ, thấu hiểu. Hai bài đầu [trần thuật sự] thấu hiểu lẽ thường trụ, hai bài sau trần thuật v́ sao không có xá-lợi.

          Phần đầu [nói về sự] thấu hiểu thường trụ, tức là Quả Trí Phần [trong Nhiếp Luận]. Trong Quả Trí Phần, đại lược có năm tướng:

          - Chư Phật cảnh nan tư” (cảnh của chư Phật khó nghĩ) chính là tướng chẳng thể nghĩ bàn.

          - “Thế gian vô dữ đẳng” (thế gian chẳng sánh bằng) là tướng chuyển y.

          - “Pháp Thân tánh thường trụ” (tánh của Pháp Thân là thường trụ) chính là tướng thường trụ.

          - “Tu hành vô sai biệt” là tướng do bạch pháp (thiện pháp) hợp thành.

          - Thể của chư Phật đều là cùng một hạnh, chính là “vô nhị vi tướng” (tướng chẳng hai), có nghĩa là dùng cội gốc của các pháp như thế để mê hay ngộ nương vào. V́ thế, trước hết, nêu ra tướng chẳng thể nghĩ bàn.

          Đă biết cái gốc rồi; kế đó, biện định Chuyển Y tướng. Đă “chuyển y” tức là đă đắc Pháp Thân. Kế đó, biện định tướng thường trụ của Pháp Thân. Thân do nhân mà chứng. Kế đó, biện định tướng do các bạch pháp hợp thành. Đă là do các bạch pháp hợp thành, chẳng biết là giống hay khác. Kế đó, biện định tướng vô nhị. Luận ấy dựa theo thứ tự của năng y (chủ thể nương vào) và sở y (cái được nương vào), cho nên theo thứ tự nói riêng biệt [từng điều]. Cảnh giới của Phật khó thể nghĩ bàn chính là tướng thứ năm trong luận ấy (Nhiếp Luận). Luận ấy viết: “Nói Chân Như thanh tịnh chính là tự nội chứng, chẳng phải là cảnh hiện hành bởi tầm, tư”. Các thứ tầm[18], tư (, suy nghĩ) chỉ nên tin hiểu, chớ nên nghĩ bàn; [do vậy] được gọi là “khó nghĩ bàn”.

          “Thế gian vô dữ đẳng” (thế gian chẳng có ai sánh bằng) tức là tướng thứ nhất, tức Chuyển Y Tướng; nghĩa là chuyển diệt Y Tha Khởi Tánh thuộc vào phần tạp nhiễm trong hết thảy các chướng, chuyển thành giải thoát hết thảy các chướng nơi Y Tha Khởi Tánh thuộc vào pháp tự tại chuyển hiện tiền thanh tịnh. Điều này có nghĩa là chuyển y đă viên măn, trong thế gian chẳng có ai sánh bằng!

          “Pháp Thân tánh thường trụ” chính là tướng thường trụ thứ tư trong luận ấy. Luận ấy viết: “Nói đến tướng Chân Như thanh tịnh th́ do bổn nguyện dẫn khởi, đối với chuyện đă nên làm chẳng c̣n mong mỏi nữa”. Ngài Vô Tánh giảng rằng: “Đấy là nêu rơ tánh Chân Như thường hằng, chẳng biến đổi, tỏ rơ thành tựu Phật quả th́ được gọi là Pháp Thân. Nếu tánh ấy biến đổi, sẽ chẳng phải là Chân Như. V́ thế là thường trụ. Do bổn nguyện dẫn khởi, đối với việc cần làm chẳng mong mỏi, hiển hiện các vị Phật ứng hóa khác”.

          “Tu hành vô sai biệt” chính là tướng thứ hai, tức “tướng do các bạch pháp hợp thành”, nghĩa là Lục Ba La Mật Đa viên măn, đạt được mười món tự tại. Mười nghĩa tự tại ấy sẽ được giải thích trong phần sau.

 

          (Kinh) Chư Phật thể giai đồng, sở thuyết pháp diệc nhĩ, chư Phật vô tác giả, diệc phục bổn vô sanh.

          ()諸佛體皆同說法亦諸佛無作者亦復本無生

          (Kinh: Chư Phật Thể đều đồng, pháp nói ra cũng thế. Chư Phật chẳng tạo tác, lại cũng vốn vô sanh).

 

          Tán rằng: Đây là tướng thứ ba, tức vô nhị. Có ba thứ vô nhị:

          - Một, Hữu và Vô vô nhị.

          - Hai, hữu vi và vô vi vô nhị.

          - Ba, hết thảy chư Phật vô nhị.

          “Đồng” được nói ở đây chính là ư nghĩa “vô nhị”. “Chư Phật thể giai đồng” (bản thể của chư Phật đều giống nhau) chính là câu tổng quát, cũng chính là Hữu và Vô đều vô nhị. Câu “chư Phật vô nhị” là câu nói riêng, hàm ư: “Hữu và Vô vô nhị” chính là tướng, do hết thảy các pháp vô sở hữu. Giải rằng: Nơi Pháp Thân chẳng có Biến Kế, cho nên chẳng phải là hữu tướng. Do tự tánh được hiển thị bởi Không, cho nên chẳng phải là vô tướng.

          Từ “chư Phật vô tác giả” trở đi, chỉ rơ hữu vi và vô vi chẳng hai. “Diệc phục bổn vô sanh” (cũng lại vốn là vô sanh) nêu rơ nơi Ứng Hóa Thân th́ hữu vi và vô vi chẳng phải là hai tướng. V́ thế, luận nói: “Do nghiệp phiền năo chẳng phải là cái được thực hiện, cho nên gọi là ‘vô tác giả’ (chẳng có người tạo tác). Đă chẳng phải do phiền năo tạo tác, mà cũng chẳng phải sanh từ Hoặc nghiệp; cho nên nói là Vô Sanh. Điều này cũng chỉ rơ: Cái Thể của tự tánh Pháp Thân là vốn có, chẳng phải là mới sanh hay tạo tác”. Pháp được nói ra cũng thế, do vậy giải thích là “thuyết pháp cũng chẳng sai khác”, v́ chư Phật Như Lai có cùng sự nghiệp. Lại c̣n có thể hiểu là: Đoạn kinh văn này nhằm giải thích sự cứu vớt, bảo vệ thế gian trong đoạn trước. Nếu chẳng thuyết pháp, sao có thể cứu vớt, bảo vệ? Do đó, trong phần sau, kinh này nhiều lượt nói: “Thử kinh lưu bố ư thế gian trung, hữu đa lợi ích” (kinh này lưu truyền trong thế gian, có nhiều lợi ích).

 

          (Kinh) Thế Tôn kim cang thể, quyền hiện ư hóa thân. Thị cố Phật xá-lợi, vô như giới tử hứa. Phật phi huyết nhục thân, vân hà hữu xá-lợi?

          ()世尊金剛體權現於化身是故佛舍利無如芥子許佛非血肉身云何有舍利

          (Kinh: Thế Tôn kim cang thể, quyền hiện nơi hóa thân. V́ thế, xá-lợi Phật, chừng hạt cải chẳng có! Phật chẳng thân máu thịt, làm sao có xá-lợi?)

 

          Tán rằng: Hai bài tụng kế đó, giảng giải [v́ sao] không có xá-lợi. Một bài tụng rưỡi đầu trần thuật sự lănh ngộ, thấu hiểu [Phật thật sự chẳng có xá-lợi], nửa bài tụng sau đó nêu ra sự thấu hiểu về [chuyện đức Phật] thị hiện có [xá-lợi]. Đoạn này thuộc về phần thứ nhất. Do ba nghĩa mà chẳng có xá-lợi:

          - Một là kiên cố khó phá hoại, do kim cang thể khó thể phá hoại.

          - Hai, thân quyền biến hóa hiện. Các vị hóa sanh c̣n chẳng có xương sót lại. V́ thế, thân quyền biến thị hiện của đức Phật chẳng có xá-lợi chừng bằng hạt cải.

          - Ba, [thân Phật] chẳng phải là thân máu thịt, sao có xá-lợi cho được?

          Hỏi: Nếu bảo là quyền biến thị hiện, cớ sao Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) làm cho thân Phật chảy máu vậy?

          Đáp: Theo quyển bốn kinh Đại Phương Đẳng Vô Tướng Đại Vân, Thiện Đức đă hỏi [chuyện này], đức Thế Tôn đáp rằng: “Như Lai thân huyết thật vô hữu xuất, Đề Bà Đạt Đa diệc bất năng xuất. Nhược ngôn thụ ảnh hữu xuất huyết giả, vô hữu thị xứ! Như Lai chi thân diệc phục như thị, nhược ngôn xuất huyết, đương tri tức thị thiện quyền phương tiện bất khả tư nghị” (Thân Như Lai thật sự không có chảy máu. Đề Bà Đạt Đa cũng chẳng thể làm thân Phật chảy máu. Nếu nói bóng cây có chảy máu th́ chẳng có lẽ ấy! Thân Như Lai cũng giống như thế, nếu nói là chảy máu, hăy nên biết đó chính là phương tiện thiện xảo quyền biến chẳng thể nghĩ bàn vậy!)

 

          (Kinh) Phương tiện lưu thân cốt, vị ích chư chúng sanh.

          ()方便留身骨為益諸眾生

          (Kinh: Phương tiện lưu xương cốt, v́ lợi ích chúng sanh).

 

          Tán rằng: Thấu hiểu sự thị hiện. Dùng phương tiện thần thông trí lực thiện xảo để thị hiện lưu lại xá-lợi ḥng lợi ích chúng sanh.

 

          (Kinh) Pháp Thân thị Chánh Giác, pháp giới tức Như Lai, thử thị Phật chân thân, diệc thuyết như thị pháp.

          ()法身是正覺法界即如來此是佛真身說如是

          (Kinh: Pháp Thân là Chánh Giác, pháp giới tức Như Lai, đó là chân thân Phật, cũng nói pháp như thế).

 

          Tán rằng: Ư thứ ba là kết lại phần nói “thân Phật là thường hằng”. Do là chỗ để công đức nương vào và tích tụ, nên gọi là Pháp Thân. Do thông cả ba thân, giác tánh và giác tướng đều gọi là Chánh Giác. Nhân của các pháp chính là chỗ để các pháp nương vào, cho nên gọi là pháp giới. “Đó là chân thân [của Phật] có hai nghĩa:

          - Một là đối với xá-lợi, cả ba thân đều là chân thật.

          - Tương ứng với điều được biến hóa, Ứng Thân và Hóa Thân chẳng thật. Thân đă là như thế, đức Phật cũng nói như thế, ḥng để hiển thị, chứng tỏ lời dạy, cả hai đều như nhau.

 

5.2.4.1.5. Đại chúng trong pháp hội thuở ấy lănh ngộ, thấu hiểu, đạt được lợi ích

 

          (Kinh) Nhĩ thời, hội trung tam vạn nhị thiên thiên tử, văn thuyết Như Lai thọ mạng trường viễn, giai phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, hoan hỷ, dũng dược, đắc vị tằng hữu.

          ()爾時會中三萬二千天子說如來壽命長遠皆發阿耨多羅三藐三菩提心歡喜踊躍得未曾有

          (Kinh: Lúc bấy giờ, trong hội có ba vạn hai ngàn thiên tử, nghe nói Như Lai thọ mạng dài lâu, đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, hoan hỷ, hớn hở, đạt được điều chưa từng có).

 

          Tán rằng: Đại chúng thuở đó lănh ngộ, thấu hiểu, đạt được lợi ích. Kinh văn chia làm hai đoạn:

          - Một là Trường Hàng, [trần thuật chuyện do] nghe pháp đạt được lợi ích.

          - Hai, kệ tụng, trần thuật sự lănh ngộ, thấu hiểu ấy.

          Trong phần kinh văn thứ nhất, có bốn ư:

          - Một, nêu ra số lượng người đạt được lợi ích, tức là ba vạn hai ngàn thiên tử.

          - Hai, trần thuật pháp được nghe, tức là nghe nói thọ lượng của Như Lai.

          - Ba, đạt được lợi ích thù thắng, tức là phát Bồ Đề tâm.

          - Bốn, tâm hoan hỷ, phát Bồ Đề tâm.

          Kinh luật nói [phát Bồ Đề tâm] đại lược hay cặn kẽ khác nhau, nay đại lược phân biệt thành bảy môn:

          - Một, nhân duyên phát tâm.

          - Hai, phận vị phát tâm.

          - Ba, nghi quỹ phát tâm.

          - Bốn, phát tâm thù thắng hay kém cỏi.

          - Năm, phát tâm sai biệt.

          - Sáu, lợi ích thù thắng do phát tâm.

          - Bảy, thí dụ về phát tâm.

          1) Nói tới nhân duyên, lại có ba loại: Một là do bốn nhân[19], hai là do bốn duyên[20], ba là do bốn lực[21], chi tiết như trong quyển ba mươi lăm luận Du Già Sư Địa đă nói.

          2) Phận vị phát tâm th́ như Đại Trang Nghiêm Luận quyển hai và luận Hiển Dương Thánh Giáo[22] quyển thứ hai đều nói: “Một là thế tục phát tâm. Hai là thắng nghĩa phát tâm”. Theo quyển thứ bảy mươi hai của Du Già Sư Địa Luận, có mười thứ phát tâm, tức là phát tâm do tiếp nhận thế tục, do đạt được pháp tánh mà phát tâm, phát tâm chẳng quyết định, phát tâm quyết định, phát tâm chẳng thanh tịnh, phát tâm thanh tịnh, phát tâm yếu kém, phát tâm mạnh mẽ, phát tâm chưa thành tựu cái quả, phát tâm đă thành tựu cái quả. Trong ấy, có năm cặp:

          - Một, cặp địa tiền và địa thượng.

          - Hai, cặp thoái và bất thoái.

          - Ba, cặp hữu nhiễm và nhiễm.

          - Bốn, cặp bị che lấp và không che lấp.

          - Năm, cặp nhân quả địa vị khác biệt.

          “Thoái và bất thoái” là xét theo bốn địa vị để nói, tức là Tín Bất Thoái v.v… Cặp “nhiễm và bất nhiễm” xét theo lúc chưa trụ trong Bất Thoái. Trước khi trụ trong Bất Thoái th́ có khi là do thuận theo người khác, hoặc do bị kẻ khác bức bách, hoặc v́ hoảng sợ, hoặc dối trá, hoặc v́ cầu lợi lộc thế gian mà phát tâm th́ gọi là Nhiễm. Tương phản những điều đó th́ gọi là Bất Nhiễm. Trước khi đạt tới địa vị Noăn, Đảnh, bị các thứ như tham v.v… phủ lấp, chế phục th́ gọi là kém. Trụ trong Nhẫn Đệ Nhất Vị, chẳng bị che lấp th́ gọi là thù thắng. Thập Địa th́ gọi là chưa đắc quả, địa vị Phật th́ gọi là thành tựu quả.

          3) Nói tới nghi quỹ, luận Du Già Sư Địa chỉ nói: “Phát tâm như thế, nói lời như thế này: Nguyện con quyết định sẽ chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề”, [tức là] chẳng nói tới nghi quỹ, chỉ biện định hành tướng. Theo luận Hiển Dương Thánh Giáo quyển thứ hai có nói: “Tức là như thế này: Lần thứ nhất, cung kính đối trước bậc có trí, khởi ư tăng thượng, phát lời thệ nguyện rằng: ‘Trưởng lăo nghĩ nhớ’. Hoặc nói ‘thánh giả nghĩ nhớ’, hoặc nói: ‘Ổ-ba-đả-da (Upādhyāya, ḥa thượng), con tên là như thế, từ ngày nay bắt đầu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, v́ muốn lợi ích các hữu t́nh. Từ hôm nay trở đi, con nguyện tu Lục Ba La Mật, hết thảy vạn hạnh, đều v́ chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Con nay cùng với các Bồ Tát Ma Ha Tát ḥa hợp xuất gia, nguyện đức Thế Tôn chứng tri con là Bồ Tát’. Lần thứ hai, thứ ba cũng như thế”. Đó là nói đến nghi quỹ phát tâm của thế tục, chẳng thấy nghi quỹ phát tâm xuất thế.

          4) Phát tâm thù thắng hay kém cỏi. Trang Nghiêm Luận[23] viết: “Đệ Nhất Nghĩa phát tâm có ba loại thù thắng: Một là giáo thọ thù thắng, do thân cận đấng Chánh Biến Tri. Hai là tùy thuận tu tập thù thắng, do khéo tụ tập phước trí. Ba là đắc quả thù thắng, do sanh ra Vô Phân Biệt Trí”. Lại có sáu thứ thù thắng:

          - Một là chỗ sanh.

          - Hai là nguyện.

          - Ba là dũng mănh.

          - Bốn nương cậy thanh tịnh.

          - Năm là các sự khéo léo khác.

          - Bảy là các thứ thoát ly khác.

          Chỗ sanh thù thắng gồm bốn điều:

          - Một, chủng tử thù thắng, do tin tưởng đại pháp làm chủng tử.

          - Hai, sanh mẫu thù thắng, do dùng Bát Nhă làm mẹ đẻ.

          - Ba, thai tạng thù thắng, do đại Thiền Định lạc làm thai tạng.

          - Bốn, nhũ mẫu thù thắng, do đại bi trưởng dưỡng làm nhũ mẫu.

          “Nguyện” tức là mười đại nguyện v.v… đều như luận ấy đă nói.

          5) Phát tâm sai biệt: Theo kinh Kim Cang Bát Nhă dạy th́ có ba loại, tức là “vân hà trụ” (trụ như thế nào, đó là ước nguyện), “vân hà tu hành” (tu hành như thế nào, tức là do đă nguyện nên tu hành), và “vân hà hàng phục kỳ tâm” (hàng phục cái tâm như thế nào, tức là do tu hành nên đoạn chướng). V́ thế, kinh ấy dạy: “Ưng đương phát khởi như thị chi tâm” (hăy nên phát khởi cái tâm như thế). Luận Du Già Sư Địa, quyển ba mươi lăm nói có năm loại:

          - Một là tự tánh.

          - Hai là hành tướng.

          - Ba là sở duyên.

          - Bốn là công đức.

          - Năm là tối thắng. Tức là dùng chánh nguyện làm tự tánh, đối với Bồ Đề và Niết Bàn nhất định tự mong cầu, và cầu có thể tạo tác nghĩa lợi cho hữu t́nh. Mong cầu là hành tướng, dùng Đại Bồ Đề và các hữu t́nh để làm cảnh ḥng duyên theo. Thoạt đầu phát tâm sẽ có thể thâu nhiếp thiện căn thù thắng của hết thảy các pháp thuộc vào Bồ Đề phần, là các công đức thượng thủ v.v… tương ứng với chánh nguyện tối sơ. Đó là điều mong cầu bậc nhất trong các điều thiện mầu nhiệm và ư nguyện chân chánh thuộc thế gian và xuất thế gian.

          Đại Trang Nghiêm Luận, quyển thứ hai nói: “Bồ Tát phát tâm, dùng ǵ làm căn bản? Cho đến dùng ǵ để rốt ráo? Nói chung, có mười một điều: Dùng đại bi làm căn bản, dùng lợi lạc chúng sanh để làm y chỉ, dùng pháp Đại Thừa làm đối tượng để tin tưởng, dùng Chủng Trí làm đối tượng để duyên theo. V́ cầu điều đó mà dùng thắng dục để nương vào. Do mong muốn Vô Thượng Thừa mà dùng đại hộ (sự thủ hộ to lớn) để làm chỗ trụ. Trụ trong Bồ Tát giới để tiếp nhận chướng nạn. Do tâm khởi thừa khác, cho nên dùng sự tăng trưởng điều thiện làm công đức. Dùng phước trí làm tự tánh. Dùng tu tập các Độ (Ba La Mật) để xuất ly. Coi viên măn địa vị là rốt ráo. Do trong mỗi địa vị đều siêng tu phương tiện để tương ứng với địa vị ấy”.

          Theo kinh Văn Thù Vấn Bồ Đề Tâm[24], có mười loại phát:

          - Một là thân phát, hai là khẩu phát, ba là ư phát, do khiến cho ba nghiệp thanh tịnh.

          - Bốn là nội phát, do chẳng hư luống phân biệt hết thảy chúng sanh.

          - Năm là ngoại phát, tức là đối với hết thảy chúng sanh đều hành b́nh đẳng.

          - Sáu là trí phát, do trọn đủ Phật trí thanh tịnh.

          - Bảy là quốc độ thanh tịnh phát, do chỉ bày sự trang nghiêm trong hết thảy các cơi nước của chư Phật.

          - Tám là giáo hóa chúng sanh phát, do biết đó là thuốc trị hết thảy các bệnh phiền năo. Đấy chính là hiểu cách đối trị, trừ khử.

          - Chín là thật phát, do thành tựu Định Tụ, liền tùy theo căn cơ mà thuyết pháp.

          - Mười là trí vô vi trọn vẹn phát tâm, do chẳng chấp trước tam giới.

          Theo Phát Bồ Đề Tâm Luận[25], có bốn thứ phát tâm:

          - Một, tư duy chư Phật phát Bồ Đề tâm.

          - Hai, quán các lỗi lầm nơi thân.

          - Ba, từ mẫn chúng sanh.

          - Bốn, cầu cái quả tối thắng.

          Bốn thứ phát tâm ấy, mỗi thứ lại có năm điều, chi tiết th́ như trong hai bộ luận ấy đă nói.

          6) Hai môn lợi ích thù thắng và thí dụ th́ chi tiết như trong Đại Trang Nghiêm Kinh Luận và Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận đă nói.

          Nay đối với sự phát tâm ở đây, trong bốn duyên th́ là duyên thứ nhất, [tức là] do thấy, nghe công đức, thần thông của Phật và Bồ Tát. Trong bốn nhân th́ là hai cái nhân đầu tiên, [tức là] “do có đủ các chủng tánh và “được Phật, Bồ Tát, bạn lành nhiếp thọ. Trong bốn lực th́ có thể là trọn đủ bốn lực: Do thế lực từ công năng nơi chủng tử của chính ḿnh, do tu tập Đại Thừa từ trước, do từ sức nghe người khác nói, và do thân cận bạn lành.

          “Hoan hỷ, hớn hở”: Theo Văn Thù Sở Vấn Kinh Luận: “Do ba loại nghĩa, cho nên hoan hỷ phụng hành: Một là người nói thanh tịnh, do được tự tại trong các pháp. Hai là pháp được nói thanh tịnh, do như thật biết pháp thể thanh tịnh, lại c̣n tương ứng với mười loại thù thắng thanh tịnh thuộc chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối. Ba là nương theo pháp đă nói mà đạt được cái quả thanh tịnh, v́ đạt được cảnh giới mầu nhiệm”. Điều này có nghĩa là nương theo giáo pháp để chứng lư, đắc quả vậy!

 

          (Kinh) Dị khẩu đồng âm nhi thuyết tụng viết: “Phật bất bát Niết Bàn, chánh pháp diệc bất diệt, vị lợi chúng sanh cố, thị hiện hữu diệt tận. Thế Tôn bất tư nghị, diệu thể vô dị tướng, vị lợi chúng sanh cố, hiện chủng chủng trang nghiêm”.

          ()異口同音而說頌佛不般涅槃正法亦不滅為利眾生故示現有滅盡世尊不思議妙體無異相為利眾生故現種種莊嚴

          (Kinh: Khác miệng cùng tiếng mà nói kệ tụng rằng: - Phật chẳng bát Niết Bàn, chánh pháp cũng chẳng diệt, v́ lợi ích chúng sanh, thị hiện có diệt tận. Thế Tôn chẳng nghĩ bàn, diệu thể chẳng tướng khác. V́ lợi ích chúng sanh, hiện các thứ trang nghiêm).

         

          Tán rằng: Trần thuật sự giải ngộ. Bài tụng thứ nhất nói về sự lănh ngộ thường trụ, bài thứ hai nói về sự lănh ngộ các tướng thị hiện.

 

5.2.4.2. Riêng nói về Niết Bàn

5.2.4.2.1. Trần thuật điều nghi, khải thỉnh

5.2.4.2.1.1. Kết lại điều đă được nghe trên đây

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát thân ư Phật tiền, cập tứ Như Lai, tịnh nhị đại sĩ, chư thiên tử sở, văn thuyết Thích Ca Mâu Ni Như Lai thọ lượng sự dĩ.      ()時妙幢菩薩親於佛前及四如來并二大士諸天子所說釋迦牟尼如來壽量事已

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát đích thân đối trước Phật và bốn đức Như Lai, cùng hai vị đại sĩ[26], các thiên tử, nghe nói thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Như Lai xong).

 

          Tán rằng: Đoạn lớn thứ hai từ đây trở đi, [là phần] “riêng nói về Niết Bàn. Kinh văn được chia thành ba phần:

          - Một, trần thuật điều nghi, khải thỉnh.

          - Hai, đức Phật giải thích cho Bồ Tát.

          - Ba, lănh ngộ, đạt được lợi ích.         

          Phần thứ nhất lại có hai đoạn:

          - Một, kết lại điều đă được nghe trên đây.

          - Hai, thỉnh vấn điều nghi ngờ.

          Đoạn này chính là ư thứ nhất.


5.2.4.2.1.2. Thỉnh vấn điều nghi ngờ

         

          (Kinh) Phục tùng ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược thật như thị, chư Phật Như Lai bất Bát Niết Bàn, vô xá-lợi giả.

          ()復從座起合掌恭敬白佛言世尊若實如是諸佛如來不般涅槃無舍利者

          (Kinh: Lại từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung kính bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế Tôn! Nếu thật sự là như thế, chư Phật Như Lai chẳng Bát Niết Bàn, chẳng có xá-lợi).

 

          Phần chánh thỉnh gồm năm điều:

          - Một, nghi thức thỉnh pháp.

          - Hai, nhắc lại điều được nghe.

          - Ba, nêu ra điều vấn nạn về chỗ mâu thuẫn.

          - Bốn, kết lại ư nghi.

          - Năm, thỉnh cầu quyết nghi.

          Ở đây đă gồm hai điều đầu.

 

          (Kinh) Vân hà kinh trung thuyết hữu Niết Bàn, cập Phật xá-lợi, linh chư nhân thiên cung kính cúng dường; quá khứ chư Phật hiện hữu thân cốt lưu bố ư thế, nhân thiên cúng dường, đắc phước vô biên?

          ()云何經中說有涅槃及佛舍令諸人天恭敬供養過去諸佛現有身骨流布於世人天供養得福無邊

          (Kinh: V́ sao trong kinh nói có Niết Bàn và xá-lợi của Phật, dạy các trời, người cung kính, cúng dường, quá khứ chư Phật hiện có xá-lợi lưu truyền trong cơi đời, trời, người cúng dường, được phước vô biên?)

 

          Tán rằng: Nêu ra vấn nạn về chuyện mâu thuẫn, có ba ư:

          - Một, v́ sao gọi là Niết Bàn?

          - Hai, v́ sao chẳng nhập [Niết Bàn]?

          - Ba, nếu đă chẳng nhập, sao lại nói “lưu lại xá-lợi nơi thân?”

          Ở đây, nêu ra hai điều mâu thuẫn:

          - Một là mâu thuẫn với giáo pháp.

          - Hai là mâu thuẫn với thế gian. Nói “thế gian” tức là [thế gian đều thấy] quá khứ chư Phật thị hiện có xá-lợi.

 

          (Kinh) Kim phục ngôn vô, trí sanh nghi hoặc. Duy nguyện Thế Tôn ai mẫn ngă đẳng, quảng vị phân biệt.

          ()今復言無致生疑惑惟願世尊哀愍我等廣為分別

          (Kinh: Nay lại nói là không, khiến cho con sanh nghi hoặc. Kính mong đức Thế Tôn thương xót chúng con, rộng phân biệt cho).

 

          Tán rằng: Đoạn này bao gồm hai ư “kết lại lời nghi’ và “thỉnh cầu giải quyết mối nghi”.

 

5.2.4.2.2. Đức Phật giải thích cho Diệu Tràng Bồ Tát

5.2.4.2.2.1. Nhắc lại nghi t́nh, sắc truyền hăy nghe

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Phật cáo Diệu Tràng Bồ Tát, cập chư đại chúng: - Nhữ đẳng đương tri, vân Bát Niết Bàn, hữu xá-lợi giả, thị mật ư thuyết. Như thị chi nghĩa, đương nhất tâm thính.

          ()爾時佛告妙幢菩薩及諸大眾汝等當知云般涅槃有舍利者是密意如是之義當一心聽

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát và các đại chúng: - Các ông nên biết, nói Bát Niết Bàn và có xá-lợi là nói theo mật ư. Nghĩa như thế, hăy nên nhất tâm nghe).

 

          Tán rằng: Đức Phật giải thích cho Bồ Tát. Kinh văn chia thành ba phần:

          - Một, nhắc lại nỗi nghi t́nh, sắc truyền hăy nghe.

          - Hai, giải thích thẳng vào vấn đề.

          - Ba, từ “như thị diệu hạnh, nhữ đẳng cần tu” (diệu hạnh như thế, các ông hăy nên siêng tu) trở đi là phần kết lại, khuyên hăy học tập.

          Ở đây là phần thứ nhất.

          Nói “có xá-lợi” là nói theo mật ư th́ như trong quyển thứ mười hai của Tạp Tập Luận[27] nói có bốn loại bí mật:

          - Một là khiến nhập.

          - Hai là tướng.

          - Ba là đối trị.

          - Bốn là chuyển biến.

          Đối trị gồm tám ư:

          - Một, chướng ngại do khinh Phật.

          - Hai, chướng ngại do khinh Pháp.

          - Ba, chướng ngại do giải đăi.

          - Bốn, chướng ngại do được chút ít thiện căn đă sanh ḷng vui mừng, cho là đủ.

          - Năm là chướng ngại do tham hạnh.

          - Sáu là chướng ngại gây ra bởi mạn hạnh.

          - Bảy là chướng ngại bởi ác hạnh.

          - Tám là chướng ngại do bất định tánh.        

          Ở đây, do trừ hai thứ chướng ngại do khinh Phật và giải đăi mà nói bát Niết Bàn, lưu lại xá-lợi nơi thân, đó gọi là “mật ư” (ư nghĩa bí mật). “Nhất tâm thính” (hăy nhất tâm nghe) là sắc truyền hăy nghe. Nghe âm thanh lọt vào tai, hăy quét sạch [nghi nan], nhiếp tŕ [lời dạy] ḥng sanh Tam Huệ vậy!

 

5.2.4.2.2.2. Giải thích thẳng vào vấn đề

5.2.4.2.2.2.1. Giải thích cái Thể của Niết Bàn

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát như thị ưng tri, hữu kỳ thập pháp, năng giải Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu cánh Đại Bát Niết Bàn.

          ()善男子菩薩摩訶薩如是應知有其十法能解如來正等覺真實理趣說有究竟大般涅槃

          (Kinh: Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên biết có mười pháp như thế để có thể hiểu lư thú chân thật của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có rốt ráo Đại Bát Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Chính thức giải thích, có ba phần:

          - Đầu tiên, giải thích cái Thể của Niết Bàn,

          - Kế đó, nói về tướng của nó, tức là chỉ rơ [v́ sao] “chẳng nhập [Niết Bàn]”.

          - Sau cùng, giải thích nguyên do nói “nhập Niết Bàn” “lưu xá-lợi”.

          Đoạn này thuộc phần đầu.

          Hỏi: V́ sao trước là nói về cái Thể của Niết Bàn, sau là nói về tướng của Niết Bàn?

          Đáp: Nói về Thể nhằm nêu rơ: Nương theo ba sự mà nói có Niết Bàn bất đồng. Nhị Thừa ở trong chỗ diệt thân trí th́ gọi là Niết Bàn. Nói về tướng tức là nêu rơ: Có đại bi và đại trí khác nhau. Nhị Thừa nhập vĩnh diệt (vĩnh viễn diệt độ), cho nên hành hy hữu.

          Nói về Thể, có ba lượt giải thích:

          - Đầu tiên, dựa theo ba sự và bản thể của bốn loại Niết Bàn để giải thích.

          - Kế đó, dựa theo sự lần lượt chứng đắc để giải thích.

          - Cuối cùng, xét theo “do cái nhân viên măn bèn có thể chứng để giải thích.

          Đối với nghĩa Niết Bàn, đại lược dùng năm môn để phân biệt:

          - Một, liệt kê để giải thích danh xưng.

          - Hai, nêu ra cái Thể [của Niết Bàn].

          - Ba, biện định sự tấn nhập.

          - Bốn, biện định thời điểm đạt được.

          - Năm, vấn đáp.

 

5.2.4.2.2.2.1.1. Liệt kê để giải thích danh xưng Niết Bàn

 

          Gồm hai phần: Một là liệt kê, hai là giải thích.

          1) Trong phần liệt kê th́ trước là Tổng, sau là Biệt.

          a. Tổng th́ như các kinh Nê Hoàn v.v… gọi [Niết Bàn] là Nê Hoàn, cũng gi là Nê Viết, đều là phiên âm sai tiếng Phạn, nói cho đúng th́ phải là Ba Lợi Nê Phược Nam (Parinirvāṇa), dịch sang nghĩa tiếng Hán là Viên Tịch. C̣n phiên âm là Ba Lợi Niết Bà Nam, lại cũng dịch là Diệt Độ, hoặc dịch là Thanh Tịnh, c̣n dịch là Bỉ Ngạn (bờ kia). Kinh Niết Bàn cũng nói nhiều danh xưng như “vô sanh, vô xuất, vô tác, vô vi, quy y quật trạch, giải thoát chuyển y” v.v…

          b. Liệt kê biệt danh th́ chỉ dựa vào bất cộng [để phân định]. Trong Đoạn Quả Phần của Nhiếp Luận, chỉ nói Vô Trụ. Trong kinh Niết Bàn và kinh này th́ nói là Đại Niết Bàn. Có khi dựa theo chuyện có thể chứng đại hay tiểu [Niết Bàn] để phân biệt, như trong kinh Niết Bàn nói có hai loại: Một là tiểu, hai là đại. [Niết Bàn] do hàng Nhị Thừa đạt được th́ gọi là Tiểu Niết Bàn, c̣n [Niết Bàn] do hàng Đại Thừa đạt được th́ gọi là Đại Niết Bàn. Có khi dựa theo Tổng và Biệt để so sánh, như trong Thập Địa Luận nói có hai thứ: Một là đồng tướng, hai là biệt tướng. “Biệt tướng” tức là ba loại Niết Bàn kia. Có khi xét theo tam thừa cùng đoạn nhân quả của phiền năo để nói thành hai loại. [Chẳng hạn như] trong kinh Thắng Man chỉ nói hai loại, tức là Hữu Dư Y và Vô Dư Y. Lại có khi do dựa theo chứngchẳng chứng phân biệt để chỉ nói thành hai loại, tức như bộ Nhiếp Luận đời Lương[28] viết: “Một là tự tánh tịnh, tức điều thứ nhất trong bốn điều. Hai là phương tiện tịnh, tức ba điều sau trong bốn điều”. Có khi dựa theo cộngbất cộng để nói có ba loại, chính là ba loại [Niết Bàn] trong kinh này, tức là Hữu Dư, Vô Dư, và Vô Trụ Xứ. Có khi dựa theo “chứng, không chứng, tận lư, thông biệt” trong ba thừa mà nói thành bốn loại Niết Bàn, tức là như trong Nhiếp Luận đời Lương, hoặc Thành Duy Thức Luận v.v… [Bốn loại Niết Bàn] th́ một là tự tánh thanh tịnh, hai là Hữu Dư Y, ba là Vô Dư Y, bốn là Vô Trụ Xứ.

          2) Giải thích danh xưng, th́ âm chính xác là Ba Lợi N Phược Nam (Parinirvāṇa, Đại Bát Niết Bàn), hoặc Niết Ba Nam (Nirvāṇa), dịch sát nghĩa là Viên Tịch. “Viên” là viên măn, [hàm nghĩa] các công đức viên măn, lư được chứng viên măn, năng chứng (người chứng) và sở chứng (pháp được chứng) đều viên măn. “Tịch” là tịch tĩnh. Tự thể lặng trong, ĺa khỏi nhuốm bẩn, náo động, cũng thông với năng chứng và sở chứng. Nhưng từ phương diện công đức tăng trưởng thù thắng mà nói là Viên; do quả vị viên măn mà lư thể được gọi là Tịch, vốn luôn tĩnh lặng. Do trọn vẹn các đức th́ mới chứng lư tịch. V́ thế, gọi là Viên Tịch. Nếu đều là viên tịch, tức là vừa Viên vừa Tịch th́ gọi là Viên Tịch, đó là giải thích theo lối TNghiệp (cách giải thích dựa theo tác dụng từ bản thể của một pháp). Nếu do Viên mà có thể chứng Tịch trong Viên th́ gọi là Viên Tịch, đó là Y Chủ Thích[29].

          Lại nữa, nếu công đức có thể viên, có thể tịch, nếu cái để nương vào (sở y, tức pháp để tu chứng) giống như cái được viên, cái được tịch (sở viên, sở tịch, tức là công đức viên tịch) [th́ gọi là Viên Tịch]; đó đều là giải thích theo lối TNghiệp. Nếu dựa theo Duy Thức, chỉ có lư Chân Như là cái Thể của Niết Bàn, hoặc là Tịch trong Viên, hoặc là cái được Viên cũng là cái được Tịch. Nếu dựa theo ba sự (Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát) của kinh Niết Bàn để nói về danh xưng Đại Niết Bàn th́ chính là “trí, như, giải thoát đều viên tịch”; đấy đều là giải thích theo lối TNghiệp. Lại như trong kinh ấy (kinh Niết Bàn) nói: Như [ba chấm của] chữ Y [trong văn tự Tất Đàm (Siddhaṃ) của tiếng Phạn, chữ này do ba chấm hợp lại] chẳng đồng, chẳng dị, thông với các pháp “giả, thật, tánh, tướng”, đều gọi là Viên Tịch. Đó đều là giải thích danh xưng theo lối TNghiệp. Giải thoát là nghĩa Giả, Bát Nhă là tướng, Pháp Thân là tánh. Nếu xét theo nghĩa, có ba thứ được gọi là “tam sự”, tức Bát Nhă là [giải thích theo lối] Y Chủ, c̣n hai thứ kia (giải thoát và Pháp Thân) là TNghiệp; nhưng gọi là Niết Bàn th́ chính là giải thích theo lối TNghiệp.

          Nói “diệt độ” th́ Độ chính là “đến”. Dùng hai nghĩa để giải thích th́:

          - Một, Chân Như vốn sẵn thanh tịnh, tánh là “bờ kia”, cho nên gọi là “đến”. V́ thế, kinh Duy Ma dạy: “Nhất thiết chúng sanh tức Niết Bàn tướng, bất phục cánh diệt” (hết thảy chúng sanh chính là tướng Niết Bàn, chẳng c̣n diệt nữa).

          - Hai, Diệt là cái để đạt đến, Độ là chủ thể [thực hiện hành động] “đạt đến” ấy, tức là nói Diệt nơi Độ th́ là giải thích theo lối Y Chủ. Lại nữa, đối với cái có thể diệt, cái có thể độ, cái được diệt, cái được độ th́ Độ là đến, cho nên đều bao gồm Năng (chủ thể thực hiện) và Sở (đối tượng được tác động bởi chủ thể). Cái có thể diệt, có thể độ (năng diệt, năng độ) chính là Niết Bàn tướng. Cái được diệt, cái được độ (sở diệt, sở độ) chính là Niết Bàn tánh, giống như do ba sự trong Đại Niết Bàn mà được thành lập. Kinh Niết Bàn dạy: “Vô nhân duyên cố, danh Vô Sanh. Dĩ vô vi cố, danh Vô Xuất. Vô tạo nghiệp cố, danh Vô Tác” (Do không có nhân duyên, nên gọi là Vô Sanh. Do vô vi, nên gọi là Vô Xuất. Do chẳng tạo nghiệp, nên gọi là Vô Tác). Những danh xưng khác cứ dựa theo đó mà suy ra.

          Giải thích biệt danh, th́ chẳng do huệ chọn lựa, bản thể vô nhiễm, bèn gọi là “tự tánh thanh tịnh Niết Bàn”, giống như [cách nói] “tự tánh thanh tịnh th́ gọi là Niết Bàn” trong phần trước. Đó là giải thích theo lối TNghiệp. “Dư” [trong Hữu Dư và Vô Dư] là nói đến Khổ Đế, chính là cái c̣n sót lại của Tập. Hữu tức là “chẳng phải không có”, Y là “nương dựa vào”. Có hai thứ để nương vào:

          - Một, thân hiện tại, giống như nương vào các Hành Khổ c̣n sót lại.

          - Hai, Hữu Dư Y tức là loại Niết Bàn mà vẫn c̣n có những thứ khổ sót lại để nương vào[30].

          Niết Bàn [được giải thích theo kiểu đó] th́ đều là giải thích theo cách Y Chủ.

          Khổ và Tập đều hết th́ gọi là Vô Dư, tức là chẳng c̣n sót lại Khổ để nương vào. “Vô” tức là “chẳng có”. [Vô Dư] hàm nghĩa “chẳng có khổ để nương vào”. Tứ Trí (Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, và Thành Sở Tác Trí) cũng thế, được gọi là Vô Dư Y, tức là chẳng c̣n có sự khổ nào sót lại để nương vào. Niết Bàn [được giải thích theo kiểu này] đều là giải thích theo lối Y Chủ, do nói về cái hiển lộ.

          Lại có thể hiểu rằng: Hữu Dư và Vô Dư là chủ thể có thể chứng (năng chứng), cho nên nêu ra cái này ḥng làm rơ cái kia, chủ yếu dựa theo đối tượng nương vào mà gọi là Niết Bàn, nghĩa là:     

          - C̣n có khổ sót lại để nương vào th́ gọi là [Hữu Dư Y] Niết Bàn.

          - Chẳng có khổ c̣n sót lại để nương vào th́ gọi là [Vô Dư Y] Niết Bàn.

          Đấy đều là giải thích theo lối TNghiệp. Xét theo hàng Nhị Thừa, chẳng thể nói [Niết Bàn do họ chứng đắc] là Vô Dư Y. Nếu là Đại Thừa th́ Tứ Trí chẳng nương vào khổ, cho nên cũng có thể chứng, có thể y trụ được. Cách giải thích này là đúng, do Bi chẳng trụ Niết Bàn, do Trí chẳng trụ trong sanh tử. Do nếu có thể thông đạt cái năng chứng, th́ v́ đều chẳng trụ [sanh tử lẫn Niết Bàn], cho nên gọi là Vô Trụ, sở y (cái để nương vào) chính là Niết Bàn. Hoặc từ phương diện Chân Như như hư không, ở trong sanh tử mà chẳng vướng mắc, ở trong Niết Bàn mà chẳng chấp trước, Niết Bàn là tướng, Chân Như là tánh, ví như tự tánh Pháp Thân và tánh tướng của Chân Như khác biệt, tức là tướng thuộc tánh. Vô Trụ Niết Bàn là cách giải thích theo lối Y Chủ. Lại nữa, ngay cả cái tướng ấy cũng đều vô trụ; do vậy, cũng có thể nói “vô trụ chính là Niết Bàn”. Nhưng Duy Thức Luận nói bốn thứ Niết Bàn đều lấy Như làm Thể, tức là thâu nhiếp nghĩa vào tánh, đều là giải thích theo lối TNghiệp.

 

5.2.4.2.2.2.1.2. Nêu ra cái Thể của Niết Bàn

 

          Trước là trần thuật [sự biện định Thể] theo lối cổ; kế đó, trần thuật theo cách hiện thời.

          1) Biện định theo lối cổ th́ Cơ pháp sư ở đất Thục nói: “Pháp sư Đàm Vô Sấm và pháp sư Đạo Lăng[31] ở Hà Tây v.v… cho rằng: V́ Niết Bàn là nơi tụ tập tông nghĩa[32] ‘thường, lạc, ngă, tịnh, mở ra chỉ thú sâu xa huyền diệu rốt ráo làm cái gốc cho Niết Bàn”. Cách nói ấy nhằm giải thích ư nghĩa, chẳng phải là thật sự biện định cái Thể [của Niết Bàn]. Chân Đế Tam Tạng nói: “Niết Bàn có bốn thứ, ba thứ là đạo quả, một thứ chẳng phải là đạo quả. Thành tựu Bát Nhă, đại bi Niết Bàn của Bồ Tát để làm đạo quả. Từ Sơ Địa trở lên, dùng trí vô phân biệt làm cái Thể của Niết Bàn”. Cũng có người cho rằng: “Bi và Trí làm Thể [của Niết Bàn]”. Nhưng đấy chỉ là tướng, đấy chỉ là năng chứng (chủ thể có thể chứng), chẳng chánh xác! Kinh Niết Bàn dạy: “Niết Bàn liễu nhân chi sở đắc, phi sanh nhân đắc cố. Nhược trí vi Niết Bàn, tức ưng sanh nhân đắc” (Sở đắc (cái đạt được) bởi liễu nhân của Niết Bàn chẳng phải là sở đắc của sanh nhân. Nếu trí là Niết Bàn th́ nó phải là sở đắc của sanh nhân). V́ thế, các sư ở Nghiệp Thành, Hà Sóc[33], hoặc là nói Niết Bàn có bốn loại Thể:

          - Một là lư diệt, tức là Chân Như pháp giới.

          - Ha là sự diệt, tức là Diệt do ĺa tam chướng nhiều lần mà diệt.

          - Ba là đức diệt, tức là công đức tịch diệt.

          - Bốn là ứng diệt, tức là [đức Phật Thích Ca] ở nơi Song Lâm (rừng Sa La Song Thụ), thị hiện vô thường diệt giống như chúng sanh.

          Đối với ba loại đầu [của Niết Bàn] th́ có thể là như thế (tức “lấy Chân Như làm Thể), như luận Thành Duy Thức đă nói: “Đều lấy như làm Thể”, tức là lư diệt. Lại nói “hai thứ giữa thuộc về Trạch Diệt”, tức là diệt nhiều lần. Theo ư của cổ nhân, Trạch Diệt chính là do Sự Thức[34] biến ra, cho nên chẳng phải là Niết Bàn.

          Đối với Đại Bát Niết Bàn, cổ nhân phần nhiều coi Như được nói theo tánh Bát Nhă như thế chính là Bát Nhă, do chẳng khác lư, cho nên chẳng cần phải mất công nói riêng! Nếu xét theo ba sự (Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát) để gọi là Đại Niết Bàn th́ Bát Nhă chính là đức diệt, nhưng sở dĩ chẳng nói là v́ trái nghịch với sở đắc của liễu nhân, cho nên nóichẳng rốt ráo!

          Nay thật sự nêu ra cái Thể [của Niết Bàn] th́ có bốn môn:

          - Một, dùng tánh và tướng khác biệt để luận định cái Thể.

          - Hai, dùng tánh tướng ḥa hợp để luận định cái Thể.

          - Ba, [biện định] cái Thể bằng cách thâu nhiếp Giả về Thật.

          - Bốn, hợp chung Giả và Thật để luận định cái Thể.

          1) Coi tánh và tướng là khác biệt để luận định cái Thể: Thành Duy Thức Luận nói: “Bốn loại Niết Bàn đều lấy Chân Như làm Thể, chẳng phải là phẩm đức hữu vi. Lại nữa, xét theo ư nghĩa của Thể, tự tánh vô trụ chính là cái Thể của Chân Như. Hai thứ trong ấy đều là Trạch Diệt. Lại nữa, đoạn trí chướng th́ sẽ đạt được Trạch Diệt, tức là Vô Trụ Xứ cũng thuộc vào Trạch Diệt. Tuy chúng nó là giả, nhưng so với tướng Y Tha th́ đều được gọi là Tánh, đều do liễu nhân mà đạt được. Xét theo ư nghĩa của Thể th́ đều là Thường”. V́ thế, tam sự Đại Bát Niết Bàn (tức Niết Bàn có ba đặc tánh Pháp Thân, Bát Nhă và giải thoát) đều chấp nhận cả ba nghĩa ấy, đều coi Chân Như là Thể.

          2) Ḥa hợp tánh và tướng để luận định cái Thể [của Niết Bàn]: Chính là Bát Nhă, Giải Thoát và Chân Như đều là Thể của Niết Bàn. Tức là ba sự trong kinh Niết Bàn đều được gọi là Đại Bát, được diễn tả là “như chữ Y [gồm ba điểm hợp lại], cũng giống như ba con mắt [trên mặt của Đại Phạm Vương]”. Nếu chỉ nói Như là duy nhất, chẳng khác, th́ Tạp Tập Luận nói: “Tướng của Diệt Đế được gọi là Chân Như thánh đạo, chẳng sanh phiền năo. Dù là diệt y (pháp để Diệt nương vào) hay năng diệt (chủ thể thực hiện hành động diệt), hay diệt tánh (tánh của Diệt), đều là tướng của Diệt Đế. ‘Tướng’ là thể tướng. Cái có thể diệt (năng diệt), cái bị diệt (sở diệt), và cái để diệt nương vào (diệt y) đều gọi là Diệt Đế. Cái có thể diệt là Bát Nhă, diệt tánh chính là Giải Thoát Trạch Diệt, cái để diệt nương vào chính là Chân Như”. Nhưng luận ấy lại nói: “Ư nói nơi cảnh, Chân Như chẳng sanh hữu lậu th́ gọi là Diệt Đế, tức là xét khít khao theo tánh để nói. Trên đây là dựa theo tướng, nói gộp chung tánh và tướng”.

          3) Nhiếp Giả về Thật để biện định cái Thể: Tức là như Duy Thức Luận nói: “Đấy chính là nương vào Chân Như ĺa chướng mà lập bày, do Thể chính là pháp giới thanh tịnh, cho nên bốn loại Niết Bàn đều dùng Chân Như làm Thể”.

          4) Gộp chung Giả và Thật để luận định cái Thể: Tức là như Duy Thức Luận nói: “Trong bốn thứ Niết Bàn, thứ đầu tiên và cuối cùng chính là Chân Như. Xét theo thật thể, hai thứ giữa thuộc về Trạch Diệt. Trạch Diệt là Giả, hoặc nói Vô Trụ Xứ là Trạch Diệt, tức ba Giả một Thật đều là cái Thể của Niết Bàn”. Lại theo quyển hai của Thành Duy Thức, có hai loại vô vi:

          - Một là nương vào thức mà biến.

          - Hai là nương vào Chân Như.

          Trong bốn loại Niết Bàn, cũng có thể coi ba loại sau thuộc về Vô Vi, mà cũng là thức biến. Lại nữa, sáu thứ vô vi[35] đều có thể coi là do thức biến. Cái Thể của tự tánh thanh tịnh chính là Chân Như, cũng nên giống như Trạch Diệt v.v… đều có thể coi là do thức biến.

          Lại giải rằng: Kinh Giải Thâm Mật[36] dạy: “Chư thức sở duyên, duy thức sở hiện cố, khả thông hứa thức biến” (Do duyên theo các thức, chỉ do thức hiện, nên đều có thể coi là do thức biến ra). Do Niết Bàn chẳng phải là thật, chẳng phải do liễu nhân mà đạt được, các kinh luận chẳng nói Niết Bàn cũng do Diệt biến thành. Thế nhưng, tuy Hữu Dư và Vô Dư đều là Trạch Diệt, xét theo ư nghĩa th́ có khác biệt. Do đó, chúng được chia thành hai loại, gồm năm cặp:

          - Một, cặp nhân quả phiền năo: Do cái nhân phiền năo đă hết th́ gọi là Hữu Dư, nếu cái quả phiền năo đă hết th́ gọi là Vô Dư.

          - Hai, cặp Đại Thừa, Tiểu Thừa”: [Niết Bàn] đạt được bởi Tiểu Thừa th́ gọi là Hữu Dư, bởi Đại Thừa th́ gọi là Vô Dư. Kinh Thắng Man dạy: “A La Hán nhân đoạn hữu dư Tập, chứng hữu dư Diệt” (Bậc A La Hán đoạn hữu dư Tập, chứng hữu dư Diệt).

          - Ba, cặp Nhị Tử (Phần Đoạn và Biến Dịch): Diệt Phần Đoạn sanh tử th́ gọi là Hữu Dư, diệt Biến Dịch sanh tử th́ gọi là Vô Dư. Đấy cũng chính là cặp Đại Thừa và Tiểu Thừa trên đây.

          - Bốn, cặp viên măn, chẳng viên măn”: [Niết Bàn] do Bồ Tát đạt được th́ gọi là Hữu Dư, [Niết Bàn] do Như Lai đạt được th́ gọi là Vô Dư. Kinh Thắng Man dạy: “Hậu thân Bồ Tát vô minh sở phú, đoạn hữu dư Tập, chứng Hữu Dư diệt, danh Tiểu Phần Niết Bàn” (Hậu thân Bồ Tát bị vô minh che lấp, đoạn hữu dư Tập, chứng hữu dư Diệt, được gọi là Tiểu Phần Niết Bàn). Tiểu Phần tức là Hữu Dư.

          - Năm, cặp tướng tam thân. Kinh này nói Ứng Thân và Hóa Thân được gọi là Hữu Dư, Pháp Thân được gọi là Vô Dư.

          Trong các kinh luận, phần nhiều coi cặp đầu tiên là hai loại Niết Bàn. Ư nghĩa của các môn khác được biện định trong Bổn Pháp Hoa và Duy Thức Sớ. Nay trong phần kinh văn này, phần nhiều dựa theo Vô Trụ mà gọi là Đại Niết Bàn. Phần biện định về Quả Đoạn trong Nhiếp Luận cũng giống như thế. Theo lời Vô Sở Phát Bồ Tát giải đáp cho Phấn Tấn Huệ Bồ Tát trong quyển một của kinh Pháp Tập th́ do có mười pháp mà biết Như Lai là thường, do mười pháp mà biết Như Lai là thật, do mười pháp mà biết Như Lai Niết Bàn. [Trong kinh ấy], lại có ba đoạn bắt đầu bằng chữ “phục thứ” (lại nữa) tương đồng với các ư nghĩa được nói trong kinh này, nhưng nói hơi rộng hơn! Lại c̣n có hai đoạn “phục thứ” nêu ra mười pháp để biết Như Lai hạnh. Kinh văn trong lần thứ nhất [nói “phục thứ” của kinh Pháp Tập] giản lược, kinh văn trong lần thứ hai đại để tương đồng kinh này, nhưng văn từ hơi rộng hơn. Trong ba đoạn “phục thứ” giảng về Niết Bàn [trong kinh Pháp Tập], đoạn “phục thứ” thứ nhất kinh văn hơi rộng hơn, chỉ có điều trong ḍng thứ tư, kinh ấy nói là “bất tức” (chẳng nghỉ ngơi), kinh này nói là “hưu tức” (nghỉ ngơi). Kiểm lại trong Tam Tạng cũng thấy nói là “bất tri” (chẳng biết), những điều khác đều tương đồng.

 

5.2.4.2.2.2.2. Tánh và tướng của Niết Bàn

 

          Lại có mười pháp để biết Không, mười pháp để biết tướng thí dụ v.v… Nhưng trong bốn đoạn “phục thứ”, mỗi đoạn đều gồm bốn phần: Một là nêu ra [đề mục], hai là gạn hỏi, ba là giải thích, bốn là kết lại. Trong phần nêu ra, trước hết là đối ứng với căn cơ, kế đó là trần thuật, cuối cùng là liệu giản. Nói “Bồ Tát” tức là đối ứng với căn cơ. V́ hàng Nhị Thừa mà nói giả Niết Bàn, v́ hàng Đại Thừa mà nói đại Niết Bàn. [Chánh kinh nói] “mười pháp” tức là vừa mở đầu chương này, bèn nói “hữu cứu cánh Đại Bát Niết Bàn” (có Đại Bát Niết Bàn rốt ráo), nhằm vạch rơ [Niết Bàn được nhắc đến ở đây] khác với Niết Bàn do Tiểu Thừa đạt được, cho nên gọi là Đại Bát.

          Kinh văn nói “mười pháp”, đúng ra phải nên nói là “do mười nghĩa mà gọi là Niết Bàn”. Có thể biết như thế tức là có thể hiểu [nghĩa chân thật của] Niết Bàn đúng như Như Lai đă nói. Ư chánh yếu trong phần này là “tánh và tướng của Niết Bàn đều gọi là Niết Bàn”, giống như Tương Tự Bồ Đề và Bồ Đề Đoạn đều được gọi là Bồ Đề. Ba sự trong kinh Niết Bàn đều là Niết Bàn. Nếu xét theo Thành Duy Thức v.v… bốn loại Niết Bàn đều là lư Chân Như. Tứ trí tâm phẩm được gọi là Bồ Đề chính là luận định bằng cách tách riêng tánh và tướng. Mười pháp chính là mười đoạn; [đối với] các đoạn “phục thứ” [trong phần sau], đều chuẩn theo đó để biết.

 

          (Kinh) Vân hà vi thập?

          ()云何為十

          (Kinh: Những ǵ là mười?)

 

          Tán rằng: Gạn hỏi.

 

          (Kinh) Nhất giả, chư Phật Như Lai cứu cánh đoạn tận chư Phiền Năo Chướng, Sở Tri Chướng cố, danh vi Niết Bàn. Nhị giả, chư Phật Như Lai thiện năng giải liễu hữu t́nh vô tánh cập pháp vô tánh cố, danh vi Niết Bàn. Tam giả, năng chuyển thân y cập pháp y cố, danh vi Niết Bàn. Tứ giả, ư chư hữu t́nh, nhậm vận hưu tức hóa nhân duyên cố, danh vi Niết Bàn. Ngũ giả, chứng đắc chân thật vô sai biệt tướng b́nh đẳng Pháp Thân cố, danh vi Niết Bàn. Lục giả, liễu tri sanh tử, cập dĩ Niết Bàn vô nhị tánh cố, danh vi Niết Bàn. Thất giả, ư nhất thiết pháp, liễu kỳ căn bản, chứng thanh tịnh cố, danh vi Niết Bàn. Bát giả, ư nhất thiết pháp vô sanh, vô diệt, thiện tu hành cố, danh vi Niết Bàn. Cửu giả, Chân Như pháp giới Thật Tế b́nh đẳng, đắc chánh trí cố, danh vi Niết Bàn. Thập giả, ư chư pháp tánh cập Niết Bàn tánh, đắc vô sai biệt cố, danh vi Niết Bàn. Thị vị thập pháp thuyết hữu Niết Bàn.

          ()一者諸佛如來究竟斷盡諸煩惱障所知障故名為涅槃二者諸佛如來善能解了有情無性及法無性故名為涅槃三者能轉身依及法依故名為涅槃四者於諸有情任運休息化因緣故名為涅槃五者證得真實無差別相平等法身故名為涅槃六者了知生死及以涅槃無二性故名為涅槃七者於一切法了其根本證清淨故名為涅槃八者於一切法無生無滅善修行故名為涅槃九者真如法界實際平等得正智故名為涅槃十者於諸法性及涅槃性得無差別故名為涅槃是謂十法說有涅

          (Kinh: Một là do chư Phật Như Lai rốt ráo đoạn hết các Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng mà gọi là Niết Bàn. Hai là do chư Phật Như Lai có thể khéo hiểu rơ hữu t́nh vô tánh và pháp vô tánh mà gọi là Niết Bàn. Ba là do có thể chuyển thân y (chỗ để thân nương vào) và pháp y (chỗ để pháp nương vào) mà gọi là Niết Bàn. Bốn là do đối với các hữu t́nh, tùy ư ngưng dứt nhân duyên giáo hóa mà gọi là Niết Bàn. Năm là do chứng đắc Pháp Thân chân thật, b́nh đẳng, chẳng có tướng sai biệt mà gọi là Niết Bàn. Sáu là do biết rơ sanh tử và Niết Bàn tánh chẳng hai mà gọi là Niết Bàn. Bảy là do đối với hết thảy các pháp, hiểu rơ căn bản của chúng, chứng thanh tịnh mà gọi là Niết Bàn. Tám là đối với hết thảy các pháp chẳng sanh, chẳng diệt, khéo tu hành mà gọi là Niết Bàn. Chín là do đối với Chân Như pháp giới Thật Tế b́nh đẳng mà đắc chánh trí, nên gọi là Niết Bàn. Mười là do đối với tánh của các pháp và tánh của Niết Bàn đạt được chẳng sai biệt, mà gọi là Niết Bàn. Đó gọi là do mười pháp mà nói có Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Ba pháp đầu là dựa theo ba sự để giải thích:

          - Rốt ráo đoạn hết Phiền Năo và Sở Tri chính là Giải Thoát.

          - Liễu giải hữu t́nh và pháp tánh đều vô tánh th́ chính là Bát Nhă.

          - Có thể chuyển thân y và pháp y th́ là Pháp Thân.

          Ba chuyện ấy chẳng một, chẳng khác, gọi là Đại Bát Niết Bàn.

          Thân chính là chỗ để thức thứ tám nương vào mà lưu chuyển và hoàn diệt; [đó gọi là “thân y”]. Pháp tức là Chân Như, chính là chỗ để mê hay ngộ nương vào; [do vậy, Chân Như được gọi là “pháp y”]. Do Tạng Thức nắm giữ chủng tử của các chướng, chướng ngại Pháp Thân thù thắng, cho nên gộp chung sự chuyển biến thức thứ tám và Chân Như để nói.

          Ba pháp tiếp đó chính là xét theo bốn loại Niết Bàn:

          - Pháp thứ tư là thị hiện giáo hóa chẳng thừa sót (giáo hóa đă hoàn tất) bèn ngưng nghỉ, tức là tướng thứ tám [trong tám tướng thành đạo] “thị hiện nhập Vô Dư [Niết Bàn]”. Theo như kinh Pháp Tập nói “hóa sanh vô hưu tức” (giáo hóa chúng sanh chẳng ngưng nghỉ), tức là Hữu Dư Niết Bàn.

          - Pháp thứ năm chính là Vô Dư, do nói “chứng đắc”.

          Hoặc [có thể hiểu] pháp thứ tư cũng giống như kinh Pháp Tập nói, hoặc pháp thứ năm giống như luận Biện Trung Biên nói “nhị Thật Tướng, chân thật tự tánh thanh tịnh Niết Bàn vô sai biệt tướng tướng” (hai thứ Thật Tướng là tướng “chẳng có tướng sai biệt của tự tánh thanh tịnh Niết Bàn chân thật”). Tức là như Duy Thức Luận nói: “Lư Chân Như nơi tướng, phàm phu chẳng thể chứng đắc, nhưng chư Phật đă chứng”.

          - Pháp thứ sáu là Vô Trụ Niết Bàn, biết rơ sanh tử và Niết Bàn chẳng có hai tánh. “Tánh” chính là Chân Như; do tánh chẳng khác, mà “hai” cũng chẳng khác. V́ vậy, chẳng trụ trong sanh tử hay Niết Bàn.

          - Bốn nghĩa từ pháp thứ bảy trở đi là do dựa theo ba tánh tổng hay biệt mà nói. Nói “ư nhất thiết pháp, liễu kỳ căn bản, chứng thanh tịnh cố” (do đối với hết thảy các pháp, hiểu rơ căn bản của chúng mà chứng thanh tịnh). Luận Biện Trung Biên viết: “Trong ấy, những ǵ là căn bản chân thật? Chính là sau khi đă đắc ba tự tánh, bèn có thể chứng Biến Kế và Y Tha thanh tịnh. Do trí năng vốn có bèn chứng tánh Viên Thành thanh tịnh”.

          - Pháp thứ tám dựa theo Biến Kế để tỏ lộ, [tức là] nói “hết thảy các pháp chẳng sanh, chẳng diệt”. Kinh Giải Thâm Mật nói: “Ư nhất thiết pháp vô sanh, vô diệt đẳng, dĩ hiển liễu tướng chuyển chánh pháp luân. Y Biến Kế thuyết liễu đạt bỉ vô, năng chánh tu hành” (Đối với hết thảy các pháp vô sanh, vô diệt v.v… do hiển lộ rơ tướng mà chuyển chánh pháp luân. Nương theo Biến Kế để nói liễu đạt các thứ ấy là không có, bèn có thể chân chánh tu hành).

          - Pháp thứ chín là do có thể giữ lấy chánh trí “có thể chứng Chân Như b́nh đẳng vô lậu”, nương theo phần thanh tịnh nơi Y Tha Khởi Tánh để nói tướng Niết Bàn, bèn gọi là Niết Bàn. Do nhiễm chẳng thể chứng, cho nên chẳng phải là Niết Bàn.

          - Pháp thứ mười là đối với hai tánh đều đạt được chẳng sai biệt, hàm ư chú trọng sở đắc (cái đạt được). Cái đạt được chính là chứng đắc lư vô sai biệt, chứng Viên Thành Thật tánh.

          Câu “thị vị” (đó là nói) nhằm kết lại [lư do v́ sao nói] có Niết Bàn.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát như thị ưng tri, phục hữu thập pháp năng giải Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu cánh Đại Bát Niết Bàn.

          ()復次善男子菩薩摩訶薩如是應知復有十法能解如來正等覺真實理趣說有究竟大般涅槃

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên biết như thế này: Lại có mười pháp để có thể hiểu lư thú chân thật của Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có Đại Bát Niết Bàn rốt ráo).

 

          Tán rằng: Đoạn “phục thứ” thứ hai, lần lượt giải thích, phân đoạn kinh văn giống như trong phần trên.

 

          (Kinh) Vân hà vi thập?

          ()云何為十

          (Kinh: Những ǵ là mười?)

 

          Tán rằng: Gạn hỏi.

 

          (Kinh) Nhất giả, nhất thiết phiền năo dĩ lạc dục vi bổn, tùng lạc dục sanh. Chư Phật Thế Tôn đoạn lạc dục cố, danh vi Niết Bàn. Nhị giả, dĩ chư Như Lai đoạn chư lạc dục, bất thủ nhất pháp. Dĩ bất thủ cố, vô khứ, vô lai, vô sở thủ cố, danh vi Niết Bàn. Tam giả, dĩ vô khứ lai, cập vô sở thủ, thị tắc Pháp Thân bất sanh, bất diệt. Vô sanh diệt cố, danh vi Niết Bàn. Tứ giả, thử vô sanh diệt phi ngôn sở tuyên, ngôn ngữ đoạn cố, danh vi Niết Bàn. Ngũ giả, vô hữu ngă nhân, duy pháp sanh diệt, đắc chuyển y cố, danh vi Niết Bàn. Lục giả, phiền năo tùy Hoặc, giai thị khách trần, pháp tánh thị chủ, vô lai, vô khứ, Phật liễu tri cố, danh vi Niết Bàn. Thất giả, Chân Như thị thật, dư giai hư vọng, thật tánh Thể giả, tức thị Chân Như. Chân Như tánh giả tức thị Như Lai, danh vi Niết Bàn. Bát giả, Thật Tế chi tánh vô hữu hư luận, duy độc Như Lai chứng Thật Tế pháp, hư luận vĩnh đoạn, danh vi Niết Bàn. Cửu giả, vô sanh thị thật, sanh thị hư vọng, ngu si chi nhân phiêu nịch sanh tử, Như Lai thể thật vô hữu hư vọng, danh vi Niết Bàn. Thập giả, bất thật chi pháp thị tùng duyên sanh, chân thật chi pháp bất tùng duyên khởi. Như Lai Pháp Thân thể thị chân thật, danh vi Niết Bàn. Thiện nam tử! Thị vị thập pháp thuyết hữu Niết Bàn.

          ()一者一切煩惱以樂欲為本從樂欲生諸佛世尊斷樂欲故名為涅槃二者以諸如來斷諸樂欲不取一法以不取故無去無來無所取故名為涅槃三者以無去來及無所取是則法身不生不滅無生滅故名為涅槃四者此無生滅非言所宣言語斷故名為涅槃五者無有我人唯法生滅得轉依故名為涅槃六者煩惱隨惑皆是客塵法性是主無來無去佛了知故名為涅槃七者真如是實餘皆虛妄實性體者即是真如真如性者即是如來名為涅槃八者實際之性無有戲論唯獨如來證實際法戲論永斷名為涅槃九者無生是實生是虛妄愚癡之人漂溺生死如來體實無有虛妄名為涅槃十者不實之法是從緣生真實之法不從緣起如來法身體是真實名為涅槃善男子是謂十法說有涅

          (Kinh: Một là hết thảy phiền năo lấy lạc dục làm gốc, từ lạc dục mà sanh. Do chư Phật Thế Tôn đoạn lạc dục, gọi là Niết Bàn. Hai là do các đức Như Lai đoạn các lạc dục, chẳng chấp lấy một pháp nào. Do chẳng chấp giữ, chẳng đến, chẳng đi. Do chẳng chấp giữ, gọi là Niết Bàn. Ba là do chẳng đến đi và chẳng có ǵ chấp giữ, cho nên Pháp Thân chẳng sanh, chẳng diệt. Do chẳng sanh diệt, gọi là Niết Bàn. Bốn là sự vô sanh diệt ấy chẳng thể tuyên nói được. Do ngôn ngữ dứt bặt, gọi là Niết Bàn. Năm là chẳng có ta, người, chỉ có pháp sanh diệt, do được chuyển y mà gọi là Niết Bàn. Sáu là phiền năo, tùy Hoặc, đều là khách trần, pháp tánh là chủ, chẳng đến, chẳng đi, do Phật biết rơ, gọi là Niết Bàn. Bảy là Chân Như là thật, các thứ khác đều là hư vọng, cái Thể của thật tánh chính là Chân Như. Tánh của Chân Như chính là Như Lai, gọi là Niết Bàn. Tám là tánh của Thật Tế chẳng có hư luận, chỉ riêng Như Lai chứng pháp Thật Tế, vĩnh viễn đoạn dứt hư luận, gọi là Niết Bàn. Chín là vô sanh là thật, sanh là hư vọng, kẻ ngu si trôi giạt, chết ch́m trong sanh tử, Thể của Như Lai là chân thật, chẳng có hư vọng, gọi là Niết Bàn. Mười là pháp chẳng thật sanh từ duyên, pháp chân thật chẳng do duyên khởi. Cái Thể của Như Lai Pháp Thân là chân thật, gọi là Niết Bàn. Thiện nam tử! Đó gọi là do mười pháp mà nói có Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Giải thích.

          - “Lạc dục là gốc của hết thảy phiền năo”: Như kinh Niết Bàn dạy: “Nhiễm tịnh đẳng pháp giai dục vi bổn, như nhập Thập Thiện pháp, dục vi căn bản” (Hết thảy các pháp nhiễm hay tịnh đều do dục làm gốc, như nhập pháp Thập Thiện, dục là căn bản). Khởi lên các nhiễm pháp th́ cũng giống như nói về tịnh, hăy nên kiểm xem bản kinh ấy. Do Phật có thể đoạn, chứng cái lư đă được hiển lộ th́ gọi là Niết Bàn.

          - Nói “bất thủ pháp” (chẳng chấp giữ pháp) th́ đó là vô dục (không ham muốn). Đối với hết thảy các cảnh, chẳng sanh yêu đắm. Do đă chẳng yêu đắm, sẽ chẳng sanh. V́ thế, chẳng đến sanh vào đường kia, chẳng sanh trở lại trong đường này. Cái bị chấp giữ chính là Ngũ Uẩn. Trong phần trước là xét theo cái nhân đă mất, ở đây là xét theo cái quả đă diệt, cái lư được hiển lộ bèn gọi là Niết Bàn.

          - Pháp thứ ba, Chân Như được hiển lộ do nương vào chuyện diệt hết hữu lậu chính là công đức y (nương vào công đức), được gọi là Pháp Thân. V́ thế, kinh Thắng Man nói: “Tại triền danh Như Lai Tạng, xuất triền danh Pháp Thân” (khi c̣n bị [phiền năo] trói buộc th́ gọi là Như Lai Tạng, khi thoát khỏi phiền năo trói buộc th́ gọi là Pháp Thân). “Chẳng đến đi” là nói theo chuyện “chẳng có tướng hữu vi”. “Vô sở thủ” (chẳng có ǵ để chấp giữ) là nói theo cái Thể của Sắc Uẩn v.v… Cái chẳng được hiển lộ ở đây chính là Niết Bàn.

          - Pháp thứ tư xét theo tánh chất “ĺa nói năng” nơi cái Thể của Niết Bàn mà gọi là Niết Bàn.

          - Pháp thứ năm là “ĺa nói năng” chính là chuyển y lư “nhị vô ngă”. “Vô ngă nhân” (chẳng có ta hay người) là chẳng có Sanh Chấp (chấp trước có chúng sanh), chỉ có pháp sanh diệt tức là ngộ pháp vô ngă. V́ cớ sao vậy? Bát Nhă Luận của ngài Vô Trước giải thích rằng: “Nếu tùy thuận Pháp Chấp th́ chính là có NChấp”. V́ thế, do ngộ lư luận này mà được chuyển y, gọi là Niết Bàn. Đấy là sự chuyển y thô nặng.

          - Pháp thứ sáu, do nhị chấp Hoặc Trần là khách, cho nên có sanh diệt, đến đi. Chân Như là chủ, do Thể là thường trụ, mà chẳng có sanh, diệt, đến, đi. Nay Phật đă biết rơ, chứng đắc chuyển y, [tức là] chuyển y cái tâm này.

          - Pháp thứ bảy, do Hoặc điên đảo sanh khởi th́ được gọi là hư vọng”. Nếu chẳng do điên đảo sanh th́ gọi là Thật. Thật thường hằng, chẳng điên đảo, bèn gọi là Chân Như. Thể tánh của Chân Như chính là Pháp Thân Như Lai, cũng là tâm chuyển y, chỉ chuyển đổi để giải thích sự khác biệt đó thôi.

          - Pháp thứ tám, Chân Như Pháp Thân chính là Thật Tế, do ĺa điên đảo hư vọng mà được hiển lộ, cho nên chẳng có hư luận. Do Phật đă chứng Thật Tế nên đoạn trừ hư luận, gọi là Niết Bàn, tức là Đạo chuyển y (chuyển sang nương vào Đạo, chẳng c̣n tùy thuận Tập và Khổ).

          - Pháp thứ chín, Phật vĩnh viễn đoạn trừ hư vọng, hư luận; do vậy đắc Vô Sanh. Vô Sanh là thật, nhưng ngu phu chưa đoạn [hư vọng, điên đảo], do sanh khởi hư vọng nên trôi giạt, ch́m đắm trong sanh tử. Như Lai chẳng có chuyện ấy, gọi đó là Niết Bàn, đấy chính là “chuyển rộng lớn.

          - Pháp thứ mười, hữu vi chẳng chân thật, do duyên sanh ra. Thật thể của Pháp Thân chẳng do duyên sanh, nên gọi là Niết Bàn. Quy vào Viên Thành Thật là chỗ quy hướng của hết thảy các pháp.

 

          (Kinh) Phục thứ, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát như thị ưng tri, phục hữu thập pháp năng giải Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu cánh Đại Bát Niết Bàn. Vân hà vi thập? Nhất giả, Như Lai thiện tri thí cập thí quả vô ngă, ngă sở. Thử thí cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Nhị giả, Như Lai thiện tri giới cập giới quả vô ngă, ngă sở. Thử giới cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Tam giả, Như Lai thiện tri nhẫn cập nhẫn quả vô ngă, ngă sở. Thử nhẫn cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Tứ giả, Như Lai thiện tri cần cập cần quả vô ngă, ngă sở. Thử cần cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Ngũ giả, Như Lai thiện tri định cập định quả vô ngă, ngă sở. Thử định cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Lục giả, Như Lai thiện tri huệ cập huệ quả vô ngă, ngă sở. Thử huệ cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Thất giả, chư Phật Như Lai thiện năng liễu tri nhất thiết hữu t́nh phi hữu t́nh, nhất thiết chư pháp giai vô tánh, bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Bát giả, nhược tự ái giả, tiện khởi truy cầu. Do truy cầu cố, thọ chúng khổ năo, chư Phật Như Lai trừ tự ái cố, vĩnh tuyệt truy cầu. Vô truy cầu cố, danh vi Niết Bàn. Cửu giả, hữu vi chi pháp giai hữu số lượng, vô vi pháp giả, số lượng giai trừ. Phật ly hữu vi, chứng vô vi pháp. Vô số lượng cố, danh vi Niết Bàn. Thập giả, Như Lai liễu tri hữu t́nh cập pháp thể tánh giai không, ly không phi hữu Không tánh, tức thị chân Pháp Thân cố, danh vi Niết Bàn. Thiện nam tử! Thị vị thập pháp thuyết hữu Niết Bàn.

          ()復次善男子菩薩摩訶薩如是應知復有十法能解如來正等覺真實理趣說有究竟大般涅槃云何為十一者如來善知施及施果無我我所此施及果不正分別永除滅故名為涅槃二者如來善知戒及戒果無我我所此戒及果不正分別永除滅故名為涅槃三者如來善知忍及忍果無我我所此忍及果不正分別永除滅故名為涅槃四者如來善知勤及勤果無我我所此勤及果不正分別永除滅故名為涅槃五者如來善知定及定果無我我所此定及果不正分別永除滅故名為涅槃六者如來善知慧及慧果無我我所此慧及果不正分別永除滅故名為涅槃七者諸佛如來善能了知一切有情非有情一切諸法皆無性不正分別永除滅故名為涅槃八者若自愛者便起追求由追求故受眾苦惱諸佛如來除自愛故永追求無追求故名為涅槃九者有為之法皆有數量無為法者數量皆除佛離有為證無為法無數量故名為涅槃十者如來了知有情及法體性皆空離空非有空性即是真法身故名為涅槃善男子是謂十法說有涅

    (Kinh: Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên biết như thế này: Lại có mười pháp có thể hiểu lư thú chân thật của Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có rốt ráo Đại Bát Niết Bàn. Những ǵ là mười? Một là Như Lai khéo biết thí và quả của thí là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối với thí và quả ấy, gọi là Niết Bàn. Hai là Như Lai khéo biết giới và quả của giới vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối với giới và quả ấy, gọi là Niết Bàn. Ba là Như Lai khéo biết nhẫn và quả của nhẫn là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn diệt trừ diệt phân biệt bất chánh đối với nhẫn và quả ấy, gọi là Niết Bàn. Bốn là Như Lai khéo biết siêng năng và cái quả của siêng năng là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối với sự siêng năng và cái quả ấy, gọi là Niết Bàn. Năm là Như Lai khéo biết định và cái quả của định là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối với định và cái quả ấy, gọi là Niết Bàn. Sáu là Như Lai khéo biết huệ và cái quả của huệ là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối với huệ và cái quả ấy, gọi là Niết Bàn. Bảy là chư Phật Như Lai có thể khéo biết rơ hết thảy hữu t́nh, chẳng phải hữu t́nh, và hết thảy các pháp đều là vô tánh, vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh, gọi là Niết Bàn. Tám là nếu kẻ tự yêu mến chính ḿnh liền dấy lên sự truy cầu, do truy cầu mà hứng chịu các thứ khổ năo. Chư Phật Như Lai do trừ tự ái, vĩnh viễn dứt bặt sự truy cầu. Do chẳng truy cầu, gọi là Niết Bàn. Chín là pháp hữu vi đều có số lượng, pháp vô vi th́ số lượng đều trừ. Phật ĺa hữu vi, chứng pháp vô vi, chẳng có số lượng, gọi là Niết Bàn. Mười là Như Lai biết rơ thể tánh của hữu t́nh và pháp đều là Không. Ĺa khỏi Không chẳng có tánh Không, tức là chân Pháp Thân, gọi là Niết Bàn. Thiện nam tử! Đó gọi là do mười pháp nên nói có Niết Bàn).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn “phục thứ” thứ ba, kinh văn chia làm bốn phần như trong đoạn trước. Đây là giải thích [Niết Bàn] dựa theo “do cái nhân viên măn, bèn có thể chứng”, tức là do cái nhân Thập Độ viên măn, sẽ có thể chứng Đại Bát Niết Bàn. Sáu pháp đầu chính là Lục Độ trong phần trước. Tu hành Thí, Giới v.v… sẽ thành tựu pháp thứ bảy là pháp tối thắng thuộc về các Độ thành tựu. Nay trong kinh này lại nêu ra một pháp tối thắng thiện xảo, tam luân thanh tịnh tiến hướng Niết Bàn thù thắng để nêu bày những điều c̣n lại. Nếu tu chưa viên măn, chưa chứng Niết Bàn, đối với Thí, sẽ thấy có người bố thí, vật để bố thí, và người nhận bố thí. “Quả” chính là thấy có quả, tức là mong báo ân, và các loại quả Đẳng Lưu, Dị Thục, Sĩ Dụng, Ly Hệ[37]. Ngă Pháp Chấp ấy được là “phân biệt bất chánh”, do thấy có người thí và người được thí, cho nên gọi là Ngă Chấp. Thấy có vật để bố thí tức là Ngă Sở. Vĩnh viễn trừ diệt những thứ ấy th́ lư được hiển, hoặc tướng Niết Bàn của Lục Độ đều được gọi là Niết Bàn. Đối với những điều kia, hăy dựa theo cách giải thích này [để hiểu].

          Điều thứ bảy là do phương tiện dẹp trừ, cứu vớt, biết các hữu t́nh và hết thảy các pháp đều chẳng thật, tam luân thanh tịnh. Do vậy, cứu giúp vô phân biệt, vô nhiễm.

          Điều thứ tám là nếu thấy tự thân v́ cầu Bồ Đề, do ái chưa mất, bèn dấy lên sự truy cầu, tức là nhiễm nguyện, do chẳng vong tướng cho nên hứng chịu các khổ năo. Tam luân đă là Không, chẳng yêu mến bản thân. Chẳng c̣n nhiễm đắm truy cầu tức là chánh nguyện viên măn.

          Điều thứ chín là sức suy nghĩ, quyết trạch biết pháp hữu vi có số lượng, v́ có số lượng sanh diệt, h́nh thành và diệt mất. Vô vi chẳng vậy, cho nên tương xứng với Như (Chân Như). Do chẳng có suy nghĩ chọn lựa năng hay sở, bèn nói là “pháp vô vi chẳng có số lượng”.

          Điều thứ mười là do có thể biết rơ hữu t́nh là Không, thành thục hữu t́nh trí; biết rơ pháp là Không, thành thục Phật pháp trí. Do đều cùng vong tướng, cho nên đều là Không. Do ĺa Không, chẳng có tánh Hữu. Cái lư được chứng ấy gọi là Pháp Thân, gọi là Niết Bàn.

 

          (Kinh) Phục thứ, thiện nam tử! Khởi duy Như Lai bất bát Niết Bàn thị vi hy hữu? Phục hữu thập chủng hy hữu chi pháp thị Như Lai hạnh. Vân hà vi thập?

          ()復次善男子豈唯如來不般涅槃是為希有復有十種希有之法是如來行云何為十

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Há có phải chỉ Như Lai không nhập Niết Bàn là điều hy hữu ư? Lại có mười loại pháp hy hữu là Như Lai hạnh. Những ǵ là mười?)

         

          Tán rằng: Nói về tướng của Niết Bàn nhằm giải đáp [thắc mắc] “chẳng nhập Niết Bàn”. Kinh văn cũng được chia thành bốn phần: Một là nêu bày [đề mục], hai là gạn hỏi, ba là giải thích, bốn là kết lại. Trước hết là nêu ra chuyện “chẳng nhập Niết Bàn”. Kế đó, từ “phục hữu thập chủng” (lại có mười loại) trở đi, nêu ra lư do [v́ sao] chẳng nhập. Phần kinh văn gạn hỏi dễ hiểu!

 

          (Kinh) Nhất giả, sanh tử quá thất, Niết Bàn tịch tĩnh, do ư sanh tử cập dĩ Niết Bàn, chứng b́nh đẳng cố, bất xử lưu chuyển, bất trụ Niết Bàn, ư chư hữu t́nh, bất sanh yếm bối, thị Như Lai hạnh.

          ()一者生死過失涅槃寂靜由於生死及以涅槃證平等故不處流轉不住涅槃於諸有情不生厭背是如來行

          (Kinh: Một là sanh tử lầm lỗi, Niết Bàn tịch tĩnh. Do chứng b́nh đẳng đối với sanh tử và Niết Bàn, chẳng ở trong lưu chuyển, chẳng trụ trong Niết Bàn, chẳng sanh mệt mỏi, chống trái đối với các hữu t́nh. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Kế đó, giải thích hạnh thứ nhất là “chẳng trụ nhị biên”, gồm ba ư:

          - Một, chứng sanh tử và Niết Bàn b́nh đẳng.

          - Hai, từ “bất xử lưu chuyển” (chẳng ở trong lưu chuyển) trở đi, nêu rơ chẳng trụ vào nhị biên.

          - Ba, từ “ư chư hữu t́nh” (đối với các hữu t́nh) trở đi, nói rơ chẳng xả hữu t́nh. Nếu hàng Nhị Thừa thấy lỗi họa của sanh tử, thấy Niết Bàn tịch tĩnh, sẽ liền chán, bỏ [sanh tử], nhập vào Niết Bàn.

 

          (Kinh) Nhị giả, Phật ư chúng sanh bất tác thị niệm: Thử chư ngu phu hành điên đảo kiến, vị chư phiền năo chi sở triền bách, ngă kim khai ngộ, linh đắc giải thoát.

          ()二者佛於眾生不作是念此諸愚夫行顛倒見為諸煩惱之所纏迫我今開悟令得解

          (Kinh: Hai là đối với chúng sanh, Phật chẳng nghĩ như thế này: Các kẻ ngu này hành kiến giải điên đảo, bị các phiền năo trói buộc, bức bách, nay ta khai ngộ, khiến cho họ được giải thoát).

 

          Tán rằng: Hạnh “luôn độ hữu t́nh”. Trước là quán Không, sau là quán Hữu. Tức là do phương tiện Không, phát khởi hạnh Hữu. Đó là lúc thoạt đầu, giống như kinh Bát Nhă nói “nhi vô hữu t́nh đắc diệt độ giả” (nhưng chẳng có hữu t́nh được diệt độ).

 

          (Kinh) Nhiên do văng tích Từ thiện căn lực, ư bỉ hữu t́nh, tùy kỳ căn tánh, ư nhạo, thắng giải, bất khởi phân biệt, nhậm vận tế độ, thị giáo lợi hỷ tận vị lai tế, vô hữu cùng tận, thị Như Lai hạnh.

          ()然由往昔慈善根力於彼有情隨其根性意樂勝解不起分別任運濟度示教利喜盡未來際無有窮盡是如來行

          (Kinh: Nhưng do sức thiện căn của ḷng Từ xưa kia, đối với các hữu t́nh ấy, thuận theo căn tánh, ư thích, thắng giải[38] của họ, chẳng dấy lên phân biệt, tùy ư tế độ, dạy bảo, khiến cho họ được lợi ích, hoan hỷ tới tận cùng đời vị lai chẳng có cùng tận. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Quán Hữu. Do viên măn nguyện lực lợi tha từ xưa, như người biến hóa, hiện ra các thứ sự nghiệp, như Như Ư Châu tuôn ra các thứ vật, do trí lực tùy thuận căn tánh thù thắng hay kém cỏi, do tánh chủng chủng giới trí lực, do trí lực thuận theo ư thích của chúng sanh mà đến khắp các đường, hoặc trí lực thù thắng luôn thông hiểu ư thích và thắng giải [của chúng sanh] mà chỉ dạy vô phân biệt, tạo lợi ích, hoan hỷ, như quyển mười hai của luận Hiển Dương Thánh Giáo và quyển tám mươi mốt của Du Già Sư Địa Luận đă nói năm điều:

          - Một, khiến cho họ ĺa dục, tức là quở trách lỗi hại của hết thảy các dục.

          - Hai là Thị, tức thị hiện bốn loại đạo lư.

          - Ba là Giáo, tức răn dạy khiến cho họ học.

          - Bốn là Lợi, tức là thấy kẻ thoái thất, sẽ khuyến khích, cổ vũ, khiến cho họ đạt được lợi ích.

          - Năm là Hỷ, tức thấy họ tăng tấn, sẽ sanh ḷng vui mừng.

          “Tận vị lai tế…” (đến tột cùng đời vị lai) tức là thường độ.

 

          (Kinh) Tam giả, Phật vô thị niệm: Ngă kim diễn thuyết thập nhị phần giáo lợi ích hữu t́nh.

          ()三者佛無是念我今演說十二分教利益有情

          (Kinh: Ba là Phật chẳng nghĩ như thế này: Ta nay diễn nói mười hai phần giáo để lợi ích hữu t́nh).

 

          Tán rằng: Hạnh “chẳng thấy pháp được nói”. Trước hết là khuyên học Không.

 

          (Kinh) Nhiên do văng tích Từ thiện căn lực, ư bỉ hữu t́nh quảng thuyết, năi chí tận vị lai tế, vô hữu cùng tận, thị Như Lai hạnh.

          ()然由往昔慈善根力於彼有情廣乃至盡未來際無有窮盡是如來行

          (Kinh: Nhưng do sức thiện căn của ḷng Từ xưa kia, đối với các hữu t́nh bèn rộng nói cho đến tận cùng đời vị lai chẳng có cùng tận. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Quán Hữu. Giống như cái trống cơi trời vang ra các thứ tiếng. Nói “quảng thuyết năi chí” (rộng nói cho tới…) th́ phải nên hiểu là “ư bỉ hữu t́nh tùy kỳ căn tánh, ư nhạo, thắng giải, bất khởi phân biệt, nhậm vận tế bạt, thị giáo lợi hỷ tận vị lai tế” (đối với các hữu t́nh ư, tùy theo căn tánh, ư thích, thắng giải của họ, chẳng dấy lên phân biệt, tùy ư cứu vớt, dạy bảo khiến cho họ được lợi ích hoan hỷ đến tột cùng đời vị lai).

 

          (Kinh) Tứ giả, Phật vô thị niệm: Ngă kim văng bỉ thành ấp, tụ lạc, vương cập đại thần, Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Bệ-xá, Thú-đạt-la đẳng xá, tùng kỳ khất thực.

          ()四者佛無是念我今往彼城邑聚落王及大臣婆羅門剎帝薜舍戍達羅等舍從其乞食

          (Kinh: Bốn là Phật chẳng nghĩ thế này: Ta nay đến nhà của vua và đại thần, Bà-la-môn (Brāhmaṇa, tu sĩ, tư tế), Sát-đế-lợi (Kṣatriya, quư tộc cầm quyền), Bệ-xá (Vaiśya, thường dân và thương nhân), Thú-đạt-la (Śūdra, lao động, kẻ hầu, kể cả các nghệ sĩ) v.v… trong thành, ấp, xóm, làng để theo thứ tự khất thực).

 

          Tán rằng: Hạnh “chẳng nghĩ khất thực”. Trước hết là hạnh quán Không.

 

          (Kinh) Nhiên do văng tích thân ngữ ư hạnh quán tập lực cố, nhậm vận nghệ bỉ, vị lợi ích sự, nhi hành khất thực, thị Như Lai hạnh.

          ()然由往昔身語意行慣習力故任運詣彼為利益事而行乞食是如來行

     (Kinh: Nhưng do sức thói quen nơi thân, ngữ, ư hạnh mà tùy ư đến đó, v́ chuyện lợi ích mà đi khất thực. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Quán Hữu. Theo quyển tám mươi sáu của Du Già Sư Địa Luận, do mười nhân duyên mà Như Lai khất thực:

          - Một, v́ hiển thị công đức của hạnh Đỗ Đa (Đầu Đà, Dhūta).

          - Hai, v́ tỏ lộ một phần, ḥng dẫn khởi họ tiến nhập mà khất thực.

          - Ba, v́ muốn dùng sự hạnh thuộc cái nhân đó để phần nào nhiếp thọ họ.

          - Bốn, v́ ban sự sáng suốt to lớn cho chúng sanh trong đời vị lai.

          - Năm, v́ muốn dẫn dắt các ngoại đạo [là những kẻ vốn có] thắng giải thô tệ.

          - Sáu, v́ những kẻ do nương vào thanh giáo[39] dấy ḷng phỉ báng, liền hiện oai nghi diệu sắc tịch tĩnh, khiến cho họ kinh ngạc, tán thán, sanh tâm hồi hướng.

          - Bảy, v́ khiến cho chúng sanh sống trong đó, sẽ do chút công mà gieo nhiều phước.

          - Tám, v́ khiến cho kẻ hư hoại tín tâm, buông lung, sẽ sanh ḷng hổ thẹn sâu xa, tuy dùng công ít mà đạt được phước lớn.

          - Chín, v́ các chúng sanh mù, điếc v.v… bị các thứ tai hoạn sẽ đều được trừ yên, liền vào thành ấy để người trông thấy đều đạt được lợi ích như trong phẩm Oai Lực của Du Già Sư Địa Luận đă nói.

          - Mười, v́ khiến cho vô lượng vô biên các trời, rồng v.v… oai đức rộng lớn sẽ theo Như Lai vào nhà người ấy, [khiến cho người ấy] sanh ḷng khâm phục, ngưỡng mộ sâu xa, càng thêm siêng năng bảo vệ, chẳng năo hại.

 

          (Kinh) Ngũ giả, Như Lai chi thân vô hữu cơ khát, diệc vô tiện lợi, luy bại chi tướng, tuy hành khất thủ, nhi vô sở thực, diệc vô phân biệt.

          ()五者如來之身無有饑渴亦無便利羸憊之相雖行乞取而無所食亦無分別

          (Kinh: Năm là thân Như Lai chẳng có đói khát, cũng chẳng có các tướng đại tiểu tiện, gầy ṃn, hư hao, tuy hành khất thực, nhận lấy [thức ăn được cúng dường], nhưng chẳng ăn, cũng chẳng phân biệt).

 

          Tán rằng: Hạnh “chẳng nghĩ vun đắp cái thân”. Kinh văn chia thành hai phần như trước, phần này là Không hạnh. Chữ Bại () đọc là Bại, có nghĩa là “hư rỗng”.

 

          (Kinh) Nhiên vị nhậm vận lợi ích hữu t́nh, thị hữu thực tướng, thị Như Lai hạnh.

          ()然為任運利益有情示有食相是如來行

          (Kinh: Nhưng v́ tùy ư lợi ích hữu t́nh mà thị hiện có tướng ăn, đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Quán Hữu. Nhiếp Đại Thừa Luận nói có bốn loại ăn[40], ở đây là thị hiện có nương ở, cư trụ, ăn uống.

 

          (Kinh) Lục giả, Phật vô thị niệm: Thử chư chúng sanh hữu thượng, trung, hạ, tùy bỉ cơ tánh, nhi vị thuyết pháp.

          ()六者佛無是念此諸眾生有上中下隨彼機性而為

          (Kinh: Sáu là Phật chẳng nghĩ như thế này: Các chúng sanh này có thượng, trung, hạ, ta sẽ thuận theo căn cơ tánh t́nh của họ mà thuyết pháp cho họ).

 

          Tán rằng: Hạnh “chẳng nghĩ thuyết pháp”. Trong phần trước là không thấy có pháp để nói, phần này là chẳng nghĩ tới người được hóa độ. Kinh văn chia thành hai phần như trước; ở đây là quán Không.

 

          (Kinh) Nhiên Phật Thế Tôn vô hữu phân biệt, tùy kỳ khí lượng, thiện ứng cơ duyên, vị bỉ thuyết pháp, thị Như Lai hạnh.

          ()然佛世尊無有分別隨其器量善應機緣為彼是如來行

          (Kinh: Nhưng Phật Thế Tôn chẳng có phân biệt, thuận theo khí lượng của họ, khéo ứng cơ duyên, v́ họ thuyết pháp. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Quán Hữu.

 

          (Kinh) Thất giả, Phật vô thị niệm: Thử loại hữu t́nh bất cung kính ngă, thường ư ngă sở xuất ha mạ ngôn, bất năng dữ bỉ cộng vi ngôn luận; bỉ loại hữu t́nh cung kính ư ngă, thường ư ngă sở cộng tương tán thán, ngă đương dữ bỉ cộng v ngôn thuyết.

          ()七者佛無是念此類有情不恭敬我常於我所出訶罵言不能與彼共為言論彼類有情恭敬於我常於我所共相讚歎我當與彼共為言

     (Kinh: Bảy là Phật chẳng nghĩ như thế này: Loại hữu t́nh này chẳng cung kính ta, ở nơi ta thường thốt lời chửi bới, chẳng thể nói bàn cùng họ được. Loại hữu t́nh kia cung kính ta, thường ở chỗ ta cùng nhau tán thán, ta sẽ nói năng với họ).

 

          Tán rằng: Hạnh “chẳng nghĩ thiện ác”. Kinh văn chia thành hai phần như trước, đây là quán Không.

 

          (Kinh) Nhiên nhi Như Lai khởi từ bi tâm, b́nh đẳng vô nhị, thị Như Lai hạnh.

          ()然而如來起慈悲心平等無二是如來行

          (Kinh: Nhưng Như Lai khởi tâm từ bi, b́nh đẳng chng hai. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Tán rằng: Quán Hữu. Đây là ba Niệm Xứ[41].

 

          (Kinh) Bát giả, chư Phật Như Lai vô hữu ái, tăng, kiêu mạn, tham tích, cập chư phiền năo, nhiên nhi Như Lai thường nhạo tịch tĩnh, tán thán thiểu dục, ly chư huyên náo, thị Như Lai hạnh.

          ()八者諸佛如來無有愛憎憍慢貪惜及諸煩惱然而如來常樂寂靜讚歎少欲離諸諠鬧是如來行

          (Kinh: Tám là chư Phật Như Lai chẳng có yêu, ghét, kiêu mạn, tham tiếc, và các phiền năo, nhưng Như Lai thường chuộng tịch tĩnh, tán thán thiểu dục, ĺa các ồn náo. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Thứ tám là hạnh Đầu Đà vô nhiễm.

 

          (Kinh) Cửu giả, Như Lai vô hữu nhất pháp bất tri, bất thiện thông đạt, ư nhất thiết xứ, cảnh trí hiện tiền, vô hữu phân biệt, nhiên nhi Như Lai kiến bỉ hữu t́nh sở tác sự nghiệp, tùy bỉ ư chuyển phương tiện dụ dẫn, linh đắc xuất ly, thị Như Lai hạnh.

          ()九者如來無有一法不知不善通達於一切處境智現前無有分別然而如來見彼有情所作事業隨彼意轉方便誘引令得出離是如來行

          (Kinh: Chín là Như Lai chẳng có một pháp nào chẳng biết, hoặc chẳng khéo thông đạt. Trong hết thảy các chỗ, cảnh trí hiện tiền, chẳng có phân biệt, nhưng Như Lai thấy các hữu t́nh ấy tạo tác sự nghiệp, bèn thuận theo ư họ, vận dụng phương tiện ḥng dụ dẫn họ được xuất ly. Đó là Như Lai hạnh).

 

          Chín, hạnh “tùy ư lợi ích”. Không một pháp nào chẳng biết là do trí duyên vào. Không một pháp nào chẳng thông đạt, tức là cảnh được hiểu rơ bởi trí. Tùy ư có thể nhanh chóng hiểu biết, thông đạt, nhưng thuận theo ư [của đối tượng được hóa độ] mà chuyển, [tùy thuận] căn tánh, ư thích, [do căn cơ của họ] chín muồi trước hay sau mà phương tiện dẫn dụ, khiến cho họ thoát khỏi sanh tử.

 

          (Kinh) Thập giả, Như Lai nhược kiến nhất phần hữu t́nh đắc phú thịnh thời, bất sanh hoan hỷ, kiến kỳ suy tổn, bất khởi ưu thích, nhiên nhi Như Lai kiến bỉ hữu t́nh tu tập chánh hạnh, vô ngại đại từ, tự nhiên cứu nhiếp. Nhược kiến hữu t́nh tu tập tà hạnh, vô ngại đại bi tự nhiên cứu nhiếp, thị Như Lai hạnh.

          ()十者如來若見一分有情得富盛時不生歡喜見其衰損不起憂慼然而如來見彼有情修習正行無礙大慈自然救攝若見有情修習邪行無礙大悲自然救攝是如來行

          (Kinh: Mười là Như Lai nếu thấy một phần hữu t́nh giàu có, thịnh vượng, chẳng sanh hoan hỷ. Thấy họ suy bại, hao tổn, chẳng dấy ḷng sầu lo. Nhưng Như Lai thấy các hữu t́nh đó tu tập chánh hạnh, do ḷng đại từ vô ngại, sẽ tự nhiên cứu vớt, nhiếp thủ. Nếu thấy hữu t́nh tu tập tà hạnh, sẽ do ḷng vô ngại đại bi mà tự nhiên cứu vớt, nhiếp thủ. Đó là hạnh của Như Lai).

 

          Mười, hạnh “ban vui, dẹp khổ”. Kinh văn đều có hai phần, dựa theo phần trên để biết.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như thị đương tri, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác thuyết hữu như thị vô biên chánh hạnh, nhữ đẳng đương tri, thị vị Niết Bàn chân thật chi tướng.

          ()善男子如是當知如來正等覺說有如是無邊正行汝等當知是謂涅槃真實之相

          (Kinh: Thiện nam tử! Hăy nên biết như thế, Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác nói có vô biên chánh hạnh như thế, các ông hăy nên biết. Đó gọi là tướng Niết Bàn chân thật).

 

          Tán rằng: Kết lại.

 

5.2.4.2.2.2.3. Giải thích nguyên do nhập Niết Bàn

 

          (Kinh) Hoặc thời kiến hữu bát Niết Bàn giả, thị quyền phương tiện cập lưu xá-lợi.

          ()或時見有般涅槃者是權方便及留舍利

          (Kinh: Hoặc có lúc thấy bát Niết Bàn, th́ là thị hiện phương tiện quyền biến và lưu lại xá-lợi).

 

          Tán rằng: Đây là giải trừ mối nghi về chuyện thị hiện diệt độ và lưu xá-lợi. Trước tiên là nhắc lại chuyện thị hiện diệt độ và lưu xá-lợi; sau đó, giải thích nguyên do. Đoạn này là phần đầu. Không nói “hoặc thời Phật hiện Niết Bàn cập lưu xá-lợi” (hoặc có lúc Phật hiện Niết Bàn và lưu xá-lợi) mà nói là “kiến” (thấy), v́ muốn chỉ rơ: Phật thường trụ, thật sự chẳng có xá-lợi, nhưng do chúng sanh tâm tự cảm vời mà biến hiện, như thể chất từ xa chiếu xuống đài, liếc thấy bóng dáng bèn cúi ḿnh, do cưỡi chiếc thuyền bơi nhanh về phương Đông, sẽ thấy tuy nước ao yên tĩnh mà dường như đều chảy về Tây.

 

          (Kinh) Linh chư hữu t́nh cung kính cúng dường, giai thị Như Lai từ thiện căn lực.

          ()令諸有情恭敬供養皆是如來慈善根力

          (Kinh: Khiến cho các hữu t́nh cung kính cúng dường, đều là do sức thiện căn bởi ḷng Từ của Như Lai).

 

          Tán rằng: Giải thích nguyên do. Trước là nêu nguyên do, sau là đạt được lợi ích.

 

          (Kinh) Nhược cúng dường giả, ư vị lai thế, viễn ly bát nạn, phùng trị chư Phật, ngộ thiện tri thức, bất thất thiện tâm, phước báo vô biên, tốc đương xuất ly, bất vị sanh tử chi sở triền phược.

          ()若供養者於未來世遠離八難值諸遇善知識不失善心福報無邊速當出離不為生死之所纏縛

          (Kinh: Nếu người cúng dường, sẽ trong đời vị lai, xa ĺa tám nạn, gặp gỡ chư Phật, gặp thiện tri thức, chẳng mất tâm lành, phước báo vô biên, sẽ nhanh chóng thoát ĺa, chẳng bị sanh tử trói buộc).

 

          Tán rằng: Đạt được lợi ích. Đạt được lợi gồm bảy điều:

          - Một là ĺa tám nạn.

          - Hai là gặp gỡ, phụng sự chư Phật.

          - Ba là gặp bạn lành.

          - Bốn là chẳng đánh mất thiện tâm.

          - Năm là đạt được phước báo thế gian.

          - Sáu là chứng Niết Bàn.

          - Bảy là được giải thoát.

 

5.2.4.2.2.3. Kết lại, khuyên hăy tu học

 

          (Kinh) Như thị diệu hạnh, nhữ đẳng cần tu, bất vi phóng dật.

          ()如是妙行汝等勤修勿為放逸

          (Kinh: Diệu hạnh như thế, các ông hăy nên siêng tu, chớ nên buông lung).

 

          Tán rằng: Kết lại bằng cách khuyên tu học.

 

5.2.4.2.3. Lănh ngộ, đạt được lợi ích

5.2.4.2.3.1. Lănh ngộ

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Diệu Tràng Bồ Tát văn Phật thân thuyết bất bát Niết Bàn, cập thậm thâm hạnh, hiệp chưởng cung kính, bạch ngôn: - Ngă kim thỉ tri Như Lai đại sư bất bát Niết Bàn cập lưu xá-lợi, phổ ích chúng sanh, thân tâm dũng duyệt, thán vị tằng hữu.

          ()爾時妙幢菩薩聞佛親說不般涅槃及甚深行合掌恭敬白言我今始知如來大師不般涅槃及留舍利普益眾生身心踊悅歎未曾有

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Diệu Tràng Bồ Tát nghe đức Phật đích thân nói chẳng bát Niết Bàn và hạnh rất sâu, chắp tay cung kính, bạch rằng: - Con nay mới biết Như Lai đại sư chẳng bát Niết Bàn và lưu xá-lợi, lợi ích chúng sanh rộng khắp, thân tâm vui mừng, hớn hở, than là chưa từng có).

 

          Tán rằng: Đây là đoạn thứ ba, lănh ngộ, đạt được lợi ích. Điều thứ nhất là lănh ngộ.

 

5.2.4.2.3.2. Đại chúng đạt được lợi ích

 

          (Kinh) Thuyết thị Như Lai Thọ Lượng phẩm thời, vô lượng vô số vô biên chúng sanh giai phát vô đẳng đẳng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm.

          ()說是如來壽量品時無量無數無邊眾生皆發無等等阿耨多羅三藐三菩提心

          (Kinh: Khi nói phẩm Như Lai Thọ Lượng này, vô lượng vô số vô biên chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không ǵ sánh bằng).

 

          Tán rằng: Đạt được lợi ích.

 

5.2.4.2.4. Diệu Tràng nghe xong, ĺa khỏi pháp hội

 

          (Kinh) Thời tứ Như Lai hốt nhiên bất hiện. Diệu Tràng Bồ Tát lễ Phật túc dĩ, tùng ṭa nhi khởi, hoàn kỳ bổn xứ.

          ()時四如來忽然不現妙幢菩薩禮佛足已從座而起還其本處

          (Kinh: Khi đó, bốn vị Như Lai bỗng dưng chẳng hiện, Diệu Tràng Bồ Tát lễ dưới chân đức Phật xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, trở về nơi ở của ḿnh).

 

          Tán rằng: Đoạn lớn thứ tư của phẩm này“nghe xong, ĺa khỏi pháp hội”, chỉ nói “bốn vị Phật chẳng hiện, Diệu Tràng trở về thất”, chẳng nói đến các đại chúng khác. Có hai cách giải thích:

          - Một, nêu ra vị thượng thủ ấy [để người nghe] liên tưởng những người khác.

          - Hai, trong bản dịch cũ [có bản th́ chép là] trong hội ấy, chỉ có Phật Thích Ca ở lại, bản khác th́ nói chỉ có bốn vị Như Lai và Diệu Tràng trở về, những người khác vẫn c̣n đó. V́ lẽ nào? Do nói chưa trọn. Phần sau nói về tam thân, [nếu mọi người đă lui về hết, kinh lại] chẳng nói nhóm họp đại chúng lần nữa, sao có thể nói là ngài Hư Không Tạng từ trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy [thưa thỉnh] cho được?

          Hỏi: V́ sao riêng Diệu Tràng Bồ Tát trở về tuy chưa nói xong?

          Đáp: V́ muốn phát khởi hạnh sám hối. Nếu Ngài chẳng trở về nhà nằm ngủ, sao có thể mộng thấy cái trống bằng vàng?

          Hỏi: Sao không hỏi thẳng, mà cần phải đợi nằm mộng?

          Đáp: Ấy là v́ hạnh khó khăn, cho nên dùng mộng làm điềm báo trước, lại do cơ duyên như thế!

          Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ

Phần thứ ba hết



[1] Đại Phương Đẳng Vô Tưởng Đại Vân Kinh (c̣n gọi là Vô Tưởng Kinh, hoặc Đại Vân Kinh, Đại Vân Mật Tạng Kinh, Đại Phương Đẳng Vô Tướng Đại Vân Kinh, Phương Đẳng Đại Vân Kinh, Đại Vân Vô Tướng Kinh) do ngài Đàm Vô Sấm dịch sang tiếng Hán vào đời Bắc Lương. Trong kinh này, do lời thỉnh cầu của Đại Vân Bồ Tát, đức Phật chỉ dạy Thông Đạt Đà La Ni Môn, Đại Hải tam-muội, và chư Phật nói lời chân thật, Như Lai thường trụ, Như Lai bảo tạng v.v… Kinh được chia thành ba mươi bảy phẩm.

[2] Tùy Miên (Anuśaya) c̣n dịch là Sử, hoặc Sử phiền năo, cũng có nghĩa là Phiền Năo, nhưng ư nghĩa hẹp hơn so với từ ngữ Phiền Năo. Tùy Miên chính là phiền năo hiện hành, ẩn nấp trong chỗ sâu thẳm của nội tâm, như bóng theo h́nh (đó là nghĩa của chữ Tùy). Do nó kín nhiệm khó biệt, dường như say ngủ (Miên). V́ thế, gọi là Tùy Miên. Tùy Miên có ba loại chính là Tham, Sân, Si. Luận Hiển Dương Thánh Giáo chia nhỏ thành hai mươi loại, do quá rườm rà nên không ghi vào đây. Thông thường, Tùy Miên được hiểu là Thập Sử tức tham, sân, si, mạn nghi (ngũ độn sử, c̣n gọi là Tư Hoặc) và ngũ lợi sử (Kiến Hoặc) tức Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Cấm Thủ Kiến.

[3] La Hỗ La tức là cách phiên âm khác của La Hầu La (Rāhula).

[4] Kinh Bồ Tát Xử Thai có tên đầy đủ là Bồ Tát Tùng Đâu Suất Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng Độ Kinh (kinh Bồ Tát từ trời Đâu Suất giáng thần vào thai mẹ, nói chuyện cứu độ rộng lớn), gọi tắt là Xử Thai Kinh, hoặc Thai Kinh. Kinh này gồm bảy quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch sang tiếng Hán vào thời Diêu Tần. Kinh gồm ba mươi tám phẩm. Trong kinh này, đức Phật v́ ngài A Nan hiển lộ thần thông phô bày các trạng huống trong thai mẹ, khiến cho ngài A Nan biết Bồ Tát ở trong thai mẹ như ngự trong thiên cung, thuyết giảng cho các Bồ Tát vân tập vào thai mẹ để nghe pháp, hoằng xiển lư Không, cũng như phó chúc cho Di Lặc Bồ Tát thủ hộ, lưu thông kinh này, phân bố xá-lợi, dựng tháp v.v…

Kinh Vô Thượng Y do ngài Chân Đế dịch vào đời Nam Lương, gồm bảy phẩm. Kinh nói về công đức tạo tượng, cũng như miêu tả ba mươi hai tướng đại nhân, tám mươi thứ hảo của Phật, cũng như diễn nói tư tưởng Như Lai Tạng.

Mật Tích Lực Sĩ chính là Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Hội trong kinh Đại Bảo Tích. Hội này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn. Kinh này xiển dương Bồ Tát đạo, nói về Như Lai tam mật (thân mật, ngữ mật, ư mật). Cuối cùng vị Bí Mật Chủ (Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ) thỉnh cầu Phật cho phép vị Bồ Tát ấy thủ hộ kinh này sau khi đức Phật nhập diệt. Một bản dịch khác của kinh này có tựa đề là Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại Thừa Kinh do ngài Pháp Hộ dịch vào đời Bắc Tống.

Tây Vực Truyện có hai cách hiểu:

- Là một phần của bộ Hán Thư (sử nhà Hán) ghi chép t́nh h́nh các quốc gia tại Tây Vực, cũng như sau khi Ban Siêu b́nh định miền Tây Vực, lập Đô Hộ phủ thành công, đă sai sứ giả là Cam Anh đi sứ sang Đại Tần (tức đế quốc cổ La Mă), nhưng Cam Anh chỉ đến vùng đất thuộc cổ Ba Tư và Antiochia (sử Trung Hoa gọi là Điều Chi).

- Tên gọi khác của Tây Vực Kư của ngài Huyền Trang, hoặc có thể hiểu là bộ Tây Vực Kư do ngài Ngạn Tông soạn vào đời Tùy.

Do ngài Huệ Chiểu dẫn sách này để nói về xá-lợi, cho nên Tây Vực Truyện ở đây phải là Tây Vực Kư của ngài Huyền Trang.

[5] Tỷ Trí c̣n gọi là Loại Trí, chính là cái trí để quán Tứ Đế trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Hiện Tchính là trí vô lậu quan sát pháp Tứ Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo trong Dục Giới. Do là trí đầu tiên để nhận biết các pháp, nên Hiện Trí c̣n gọi là Pháp Trí. Trí ấy do biết pháp trong hiện tại, nên gọi là Hiện Trí. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương giảng: “Pháp Trí c̣n gọi là Hiện Trí, tự thể được gọi là pháp, do mới biết các pháp nên gọi là Pháp Trí. Do nó biết pháp trong hiện tại, nên c̣n gọi là Hiện Trí”.

[6] Theo Phật Quang Sơn Từ Điển, Tam Vô Tánh (Trividhā nihsvabhāvatā) chính là ba nghĩa Không nhằm đối trị chấp trước đối với Tam nh:

1) Tướng vô tánh (Laksana-nihsvabhāvatā): C̣n gọi là tướng vô tự tánh tánh (tánh của tướng là chẳng có tự tánh).

2) Sanh vô tánh (Utpatti-nihsvabhāvatā).

3 Thắng nghĩa vô tánh (Paramārtha-nihsvabhāvatā), c̣n gọi là Vô Chân Tánh, Đệ Nhất Nghĩa Đế Vô Tự Thể Tướng.

Ba tánh này nhằm đối trị kiến trị chấp đối với Biến Kế Tánh, Y Tha Khởi Tánh và Viên Thành Thật Tánh.

[7] Đối với sanh tử là vô thường, vô lạc, vô ngă, vô tịnh mà chấp là thường, lạc, ngă, tịnh. Đó là bốn món điên đảo của phàm phu. Đối với thường, lạc, ngă, tịnh của Niết Bàn, chấp chặt là chẳng có thường, lạc, ngă, tịnh, đó là bốn món điên đảo của Nhị Thừa. Hai loại điên đảo này gọi gộp chung là Bát Đảo (tám món điên đảo).

[8] Tứ chướng là:

- Hoặc chướng: Tư Hoặc như tham dục, sân khuể, ngu si v.v… có thể ngăn chướng chánh đạo.

- Nghiệp chướng: Ác nghiệp do thân, khẩu, ư đă tạo.

- Báo chướng: Khổ báo trong ba đường ác.

- Kiến chướng: Do các thứ tà kiến có thể ngăn lấp chánh đạo, nên gọi là Chướng.

[9] Không biết ở đây bản Hán có bị chép sai hay không, v́ theo các thư tịch cũ: là một loại thực vật thuộc bộ ḥa thảo, mọc ở vùng đất ẩm ướt, có thể dùng làm lương thực. Thân lúa (rơm) của nó có thể dùng để bện thành các vật dụng. Từ thời Hán đến đời Đường, gạo từ giống lúa Cô này là lương thực chủ yếu. Từ sau đời Đường trở đi, do giống lúa nước (lúa gạo) từ phương Nam dần dần được phổ biến lên miền Bắc Trung Hoa, Cô mới ít thấy. Nếu là một giống lúa th́ làm sao bên trong có hạt to như tép tỏi cho được?

[10] Kinh Thắng Man có tên gọi đầy đủ là Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (Śrīmālā-sihanāda-sūtra) do ngài Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra) dịch vào thời Lưu Tống. Kinh này c̣n được gọi Sư Tử Hống Kinh, Thắng Man Sư Tử Hống, Sư Tử Hống Phương Quảng Kinh v.v… Đây là một bộ kinh được coi là tiêu biểu cho hệ thống giáo thuyết Như Lai Tạng. Trong kinh này, phu nhân Thắng Man đối trước đức Thế Tôn lập đại thệ nguyện, và tự nói pháp môn Nhất Thừa trong Đại Thừa, xiển dương Thánh Đế, Pháp Thân, Như Lai Tạng v.v…

[11] Thần thoại Ấn Độ coi hiện tượng nguyệt thực là do La Hầu A Tu La Vương dùng tay che lấp mặt trăng. Ở đây, kinh chỉ nói thuận theo niềm tin phổ biến trong dân gian để làm thí dụ.

[12] Trạch Diệt (Pratisajkhyā-nirodha), c̣n dịch là Sở Diệt, hoặc Trí Duyên Diệt, là một loại pháp vô vi thuộc vào Bách Pháp trong Duy Thức. Trạch Diệt là tên gọi khác của Niết Bàn. Gọi là Trạch Diệt hàm ư sử dụng sức chọn lựa quyết đoán của trí huệ để đạt được Diệt Đế Niết Bàn. Diệt là diệt trừ sanh tử, khiến cho cái tâm trụ trong cảnh b́nh ḥa. Đạt đến cảnh giới trạch diệt, sẽ đoạn ĺa các phiền năo, vĩnh viễn chẳng c̣n luân hồi nữa.

[13] Tần Bà, c̣n phiên âm là Tần Loa, Tịch La, hoặc Tần Lăi, là một loại quả có màu đỏ tươi. Sách Huyền Ứng Âm Nghĩa viết: “Quả Tần Bà phươmg này dịch là Tương Tư, quả có h́nh dáng như trái cam tử, sắc vàng óng. Người ở Tây Vực khi tế trời, đa phần dùng gỗ cây này làm tràng để trang nghiêm cúng dường” (Cam tử là một loại trái có tên là Embellia Officnallis, ta thường gọi là me rừng, me mận, chùm ruột núi, hay trái mắc kham. Trái tṛn xoe, màu xanh nhạt, vỏ nhẵn và cứng, trong ruột có sáu múi. Vị chua, hơi đắng. Người Ấn dùng quả này làm mứt hoặc ngâm muối). Sách Du Già Lược Toản nói trái Tần Bà được phương này dịch là Cát Tường. Lại c̣n nói quả này giống như loại cam ba lá (trifoliate orange, bitter orange).

[14] Chim Tiêu Liêu (Eurasian Wren) là một loài chim rất nhỏ ăn côn trùng, thường thấy ở vùng Âu, Á và Bắc Phi. Chim nhỏ, trông hơi giống chim sẻ, có màu nâu đất, đuôi vểnh cao, cổ rất ngắn, mỏ dài nhọn, thường thích đào bới để kiếm sâu và rễ cây mục.

[15] Hương Sơn (Gandharmādana) là một rặng núi to ở phía Bắc ao Vô Nhiệt, tức là ở chỗ trung tâm của cơi Diêm Phù, thường bị người Hán coi là núi Côn Luân, tuy không phải vậy! Câu Xá Luận lại giảng ở phía Bắc của Đại Tuyết Sơn (Hy Mă Lạp Sơn) là rặng Hương Túy Sơn, giữa hai núi ấy, có một cái ao lớn (ao A Nậu Đạp, tức ao Vô Nhiệt) là nguồn của bốn con sông lớn tại Ấn Độ.

[16] Bộ luận này có tên gọi đầy đủ là Nhiếp Đại Thừa Luận Vô Tánh Thích do Vô Tánh Bồ Tát soạn. Trước đó, Vô Trước Bồ Tát soạn Nhiếp Đại Thừa Luận (Mahāyāna-samgraha) nhằm giải thích phẩm Nhiếp Đại Thừa trong bộ A Tỳ Đạt Ma Đại Thừa Kinh. Sau khi bộ Nhiếp Đại Thừa Luận ra đời, Thế Thân Bồ Đề lại soạn bộ Nhiếp Đại Thừa Luận Thích để chú giải bộ luận ấy. Sau đó, ngài Vô Tánh lại soạn bộ Nhiếp Đại Thừa Luận Vô Tánh Thích để chú giải Nhiếp Đại Thừa Luận Thích.

[17] Chuyển Y (Āśraya-parivrtti), có nghĩa là chuyển đổi cái để nương vào. Chuyển tức là chuyển bỏ, chuyển đổi. Y là nói tới các pháp nhiễm, tịnh, mê, ngộ được thành lập để nương vào. Chuyển Y hàm nghĩa chuyển đổi, bỏ đi chuyện nương tựa vào các pháp kém cỏi, chứng đắc pháp thanh tịnh thù thắng để nương vào. Chẳng hạn như Duy Thức nói: Do tu thánh đạo, bèn đoạn diệt Phiền Năo Chướng và STri Chướng, chứng đắc cái quả Niết Bàn và Bồ Đề. Hai cái quả ấy được gọi là Chuyển Y Quả, hoặc Chuyển Y Diệu Quả.

[18] Tầm (, Vitarka), c̣n gọi là Giác, có nghĩa là t́m cầu, suy lường, hay nói cách khác chính là tác dụng suy nghĩ, xem xét thô thiển, đại lược đối với một sự lư nào đó. Nếu suy nghĩ cặn kẽ, vi tế hơn th́ gọi là Tứ (, Vicāra). Như vậy, Tầm và Tứ đều là tác dụng suy lường, phân biệt đối với sự lư, nhưng Tầm ở mức độ thô thiển hơn Tứ.

[19] Theo Du Già Sư Địa Luận, bốn nhân phát tâm là:

- Chư Bồ Tát do chủng tánh trọn đủ nên phát tâm.

- Chư Bồ Tát nhờ vào thiện hữu là Phật và hàng Bồ Tát nhiếp thọ mà phát tâm.

- Chư Bồ Tát đối với chúng sanh khởi lên rất nhiều bi tâm nên phát tâm.

- Đối với các thứ lợi ích trong thời gian cực dài, và nỗi khổ sanh tử to lớn chẳng gián đoạn, đều hiểu rơ chẳng thiếu sót, đối với hạnh khó, hạnh khổ đều chẳng khiếp hăi, bèn phát Bồ Đề tâm.

[20] Bốn duyên theo luận Du Già là:

- Do sức thấy, nghe tăng thượng, mà sanh ḷng tín giải sâu xa đối với đại Bồ Đề; do vậy, phát khởi đại Bồ Đề tâm.

- Do sức tăng thượng v́ nghe chánh pháp và tin sâu, sanh ḷng tín giải sâu xa đối với Như Lai trí, bèn Bồ Đề tâm.

- Do sức tăng thượng hộ tŕ Bồ Tát tạng pháp, đối với Như Lai trí sanh ḷng tín giải sâu xa mà phát Bồ Đề tâm.

- Do sức tăng thượng v́ thấy đời Mạt khó thể phát tâm, mà sanh tín giải sâu xa đối với Bồ Đề, do vậy phát khởi đại Bồ Đề tâm.

[21] Bốn lực là công lực của chính ḿnh, công lực của người khác, do sức túc tập thiện pháp Đại Thừa, do trong hiện pháp thân cận thiện sĩ, lắng nghe chánh pháp, suy nghĩ cặn kẽ”.

[22] Hiển Dương Thánh Giáo Luận (Āryavācāprakaraṇa-śāstra) gồm mười hai quyển, c̣n gọi là Tổng Bao Chúng Nghĩa Luận, Quảng Bao Chúng Nghĩa Luận, hoặc chỉ gọi tắt là Hiển Dương Luận. Bộ luận này do ngài Vô Trước soạn, được ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán vào đời Đường. Bộ luận này nhằm hiển dương những ư nghĩa trọng yếu trong bộ Du Già Sư Địa Luận, được coi là một bộ luận trọng yếu trong mười một bộ luận căn bản của tông Duy Thức. Thành Duy Thức Luận do căn cứ vào bộ luận này mà soạn ra.

[23] Trang Nghiêm Luận là tên gọi tắt của bộ Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (Abhisamaya-alaṅkāra), c̣n gọi là Bát Nhă Kinh Luận Hiện Quán Trang Nghiêm Tụng. Tên gọi thật sự của tác phẩm này là Bát Nhă Ba La Mật Đa Yếu Quyết Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Tụng. Đôi khi c̣n gọi là Hiện Quán Trang Nghiêm Bát Nhă Ba La Mật Đa Ưu Ba Đề Xá Luận. Đây chính là sách chú giải kinh Đại Phẩm Bát Nhă bằng thể loại kệ tụng. Tương truyền luận này do Di Lặc Bồ Tát nói, Vô Trước Bồ Tát nhập định lên cung trời Đâu Suất nghe nói, nhớ nằm ḷng, đem về truyền bá trong thế gian.

[24] Kinh này c̣n có tên khác là Già Da Sơn Đảnh Kinh, do ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán. Kinh này c̣n có ba bản dịch khác:

- Già Da Sơn Đảnh Kinh, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang tiếng Hán vào đời Nguyên Ngụy.

- Phật Thuyết Tượng Đầu Tinh Xá Kinh do ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch vào đời Tùy.

- Đại Thừa Già Da Sơn Đảnh Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào đời Đường.

Nội dung kinh trần thuật khi đức Phật mới thành đạo tại núi Già Da, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là người đầu tiên thưa hỏi nghĩa sâu của việc phát Bồ Đề tâm. Sau đó, các vị thiên tử lần lượt thỉnh vấn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Ngài liền v́ họ giải đáp các thứ Bồ Đề đạo.

[25] Phát Bồ Đề Tâm Luận là tác phẩm nhằm khuyên tu tập Bồ Đề tâm, cũng như luận về cách phát tâm, thệ nguyện và tu tập Lục Độ, đồng thời nêu ra công đức của việc phát Bồ Đề tâm. Tác phẩm này do ngài Thiên Thân viết, ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán thành mười hai phẩm.

[26] Hai vị đại sĩ chính là Bà-la-môn Kiều Trần Như và Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử.

[27] Tạp Tập Luận là tên gọi tắt của bộ Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tập Luận (Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā) gồm mười sáu quyển, do ngài An Huệ Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán trong niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường. Bộ luận này c̣n được gọi là Đối Pháp Luận. Đây là tác phẩm chú giải bộ Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tập Luận của Vô Trước Bồ Tát, và được coi là một tác phẩm trọng yếu bắt buộc phải học trong Pháp Tướng Duy Thức Tông. Bộ luận này lại được nhiều vị tông sư Trung Hoa chú giải như Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Luận Thuật Lư của ngài Khuy Cơ, bộ Thuật Kư Quán Luyện Biên của ngài Tín Bồi v.v…

[28] Nhiếp Đại Thừa Luận là một bộ luận do ngài Vô Trước biên soạn, nhằm giải thích phm Nhiếp Đại Thừa của bộ A Tỳ Đạt Ma Đại Thừa Kinh. Ngài Thế Thân và Vô Tánh đều soạn luận để giải thích, dung hội ư nghĩa. Các bản ấy lần lượt được dịch sang tiếng Hán thành năm loại, nên gọi là Ngũ Nhiếp Luận như sau:

- Nhiếp Luận của ngài Vô Trước, do ngài Phật Đà Phiến Đa dịch vào thời Nguyên Ngụy với danh xưng Nhiếp Đại Thừa Luận.

- Thiên Thân Nhiếp Luận (chú giải Nhiếp Luận của ngài Vô Trước) do Thiên Thân Bồ Tát soạn, thường gọi là Đại Thừa Nhiếp Luận Thích.

- Vô Tánh Nhiếp Luận, tức bộ luận do ngài Vô Tánh biên soạn nhằm giải thích bộ Nhiếp Luận của ngài Vô Trước.

- Lương Nhiếp Luận tức bộ Thiên Thân Nhiếp Luận Thích (chú giải bộ Nhiếp Luận của ngài Thiên Thân) do ngài Chân Đế dịch vào đời Lương.

- Đường Nhiếp Luận tức hai bộ Vô Trước Nhiếp Luận và Vô Tánh Nhiếp Luận Thích.

[29] Y Chủ Thích (Tatpuruṣā) c̣n gọi là Y Sĩ Thích, là một cách giải thích dựa theo cái Thể của đối tượng được nương vào (sở y) mà kiến lập cái pháp có thể nương vào (năng y). Chẳng hạn như Nhăn Thức là do nương vào con mắt mà sanh ra thức, cho nên gọi là Nhăn Thức. Như vậy Nhăn là cái Thể của sở y (chỗ nương vào của Nhăn Thức), Thức là cái pháp có thể nương vào (năng y, tức là Thức phải nương vào con mắt mà sanh). Thức vốn là một pháp khác biệt với Nhăn, do dựa trên cái Thể của đối tượng bị nương vào (con mắt) mà đặt tên cho cái Thức sanh bởi nó là Nhăn Thức. Cách giải thích như vậy gọi là Y Chủ Thích.

[30] Do hàng Tiểu Thừa chỉ đoạn Kiến Tư Hoặc, chưa đoạn Trần Sa Hoặc và Vô Minh Hoặc, cho nên Niết Bàn của Tiểu Thừa hăy c̣n có khổ để cái tâm nương vào. V́ thế gọi là Hữu Dư Y.

[31] Đây là một vị cao tăng thời Đông Tấn, không rơ năm sanh và năm mất, không biết quê quán ở đâu. Vào năm Huyền Thỉ thứ mười (421), pháp sư Đàm Vô Sấm vâng lệnh Hà Tây Vương là Thư Cừ Mông Tốn dịch kinh Đại Bát Niết Bàn, hai vị nghĩa học trứ danh thời ấy là Đạo Lăng và Huệ Tung đă giúp phiên dịch, và sư Đạo Lăng c̣n viết lời tựa cho bản dịch ấy. Sau đó, ngài Đạo Lăng soạn Nghĩa Sớ để giải thích kinh đó. Cho đến khi ngài Phù Đà Bạt Ma dịch bộ A Tỳ Đàm Bà Sa Luận vào năm Vĩnh Ḥa thứ năm (437) nhà Bắc Lương, ngài Đạo Lăng cũng tham gia làm chứng nghĩa trong dịch trường. Các tác phẩm chú giải của Ngài đối với kinh Niết Bàn, Pháp Hoa, và Tam Luận đă thất truyền, chỉ c̣n thấy được trích dẫn trong các tác phẩm như Pháp Hoa Văn Cú của tổ Trí Giả, Pháp Hoa Huyền Luận và Trung Quán Luận Sớ của ngài Cát Tạng.

[32] Tông nghĩa là nghĩa lư chánh yếu, cốt lơi của một giáo pháp hoặc một bộ kinh.

[33] Nghiệp Thành là kinh đô của các triều đại Tào Ngụy, Hậu Triệu, Nhiễm Ngụy, Tiền Yên, Đông Ngụy và Bắc Tề, nay thuộc vùng đất thuộc phía Tây huyện Lâm Chương tỉnh Hà Bắc và phía Bắc thành phố An Dương tỉnh Hà Nam. Nghiệp Thành là một trong sáu ṭa thành lớn do Tề Hoàn Công kiến lập khi xưng bá thời Xuân Thu. Tới khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên, Nghiệp Thành bị xếp vào cấp huyện, trực thuộc quận Hàm Đan. Sau khi nhà Bắc Tề diệt vong, nhà Bắc Châu đóng đô tại Trường An, Nghiệp Thành mất hẳn tánh chất trọng yếu về mặt chính trị. Tới khi Dương Kiên diệt Bắc Châu, sáng lập nhà Tùy, nhằm trấn áp nguy cơ chống đối ngầm từ các thế lực quân sự tại Nghiệp Thành, đă hạ lệnh đốt rụi Nghiệp Thành. Hà Sóc tức là danh xưng phiếm chỉ phía Bắc sông Hoàng Hà. Nói chư sư tại Nghiệp Thành, Hà Sóc tức là nói tới các vị nghiên cứu, giảng diễn kinh Niết Bàn theo bản dịch của ngài Đàm Vô Sấm (Dharmakṣema, thường gọi là Bắc Bản Niết Bàn). Tuy vậy, bản này vẫn chưa hoàn chỉnh. Sau đó, các vị Huệ Quán, Huệ Nghiêm và cư sĩ Tạ Linh Vận đă tham cứu bản dịch kinh Đại Bát Nê Hoàn (do ngài Pháp Hiển và Phật Đà Bà La dịch) để bổ sung, châm chước, nhuận sắc bản dịch của ngài Đàm Vô Sấm, soạn thành một phiên bản gọi là Nam Bản Niết Bàn. Tuy vậy, miền Bắc Trung Hoa thời đó vẫn theo Bắc Bản, miền Nam th́ dựa theo Nam Bản.

[34] Sự Thức có hai cách hiểu:

- Sự Thức (gọi đầy đủ là Phân Biệt Sự Thức) là tên gọi chung của bảy thức đầu từ Nhăn Thức cho đến Mạt Na Thức. Do đối trước các cảnh, tâm thức dấy lên sự phân biệt hư vọng, chẳng phải là chân thức. Cho nên gọi là Sự Thức.

- Sự Thức là tên gọi khác của Ư Thức, tức là coi Nhăn Thức, Nhĩ Thức… chỉ là sáu khía cạnh của Ư Thức.

[35] Sáu thứ Vô Vi:

- Hư Không Vô Vi: Chân Như được hiển hiện do ĺa Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng, vô chướng ngại như hư không.

- Trạch Diệt Vô Vi: Trạch Diệt tức là ĺa khỏi trói buộc, đă đoạn chướng, do ĺa hết thảy các trói buộc hữu lậu mà hiển hiện chân lư. V́ thế gọi là Trạch Diệt Vô Vi.

- Phi Trạch Diệt Vô Vi: Tự tánh Chân Như vốn sẵn thanh tịnh, ĺa các tạp nhiễm. Do nó chẳng do sức phân biệt loại trừ của vô lậu trí mà h́nh thành, cho nên gọi là Phi Trạch Diệt Vô Vi.

- Bất Động Vô Vi: Vô Vi được hiển hiện bởi Đệ Tứ Tĩnh Lự (Tứ Thiền). Đệ Tứ Thiền chỉ có Xả Thọ, ĺa Khổ Thọ và Lạc Thọ.

- Thọ Tưởng Diệt Vô Vi: Chính là món Vô Vi hiển hiện Diệt Tận Định.

- Chân Như Vô Vi: Vô Vi chính là chân thật như thường, chẳng hư vọng, đổi khác.

Năm loại đầu là giả danh nhằm diễn tả Tướng của Pháp Tánh, loại sau cùng giả danh diễn tả Thể của Pháp Tánh.

[36] Kinh Giải Thâm Mật (Ārya-saṃdhi-nirmocana-sūtra), tựa đề này hàm nghĩa “giải thích, khai phóng những ư nghĩa sâu xa, kín nhiệm, khó thể thông đạt, khó thể giải thích”. Kinh này có bốn bản dịch:

- Thâm Mật Giải Thoát Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào năm Vĩnh Hy thứ hai (533) đời Bắc Ngụy.

- Giải Thâm Mật Kinh do ngài Huyền Trang dịch vào năm Trinh Quán 21 (674) đời Đường.

- Tương Tục Giải Thoát Kinh do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch (chỉ tương ứng với hai phẩm cuối của kinh Giải Thâm Mật).

- Giải Tiết Kinh do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần (chỉ tương đương hai phẩm đầu của bản Giải Thâm Mật do ngài Huyền Trang dịch).

Kinh này được dẫn chứng khá nhiều trong các bộ Du Già Sư Địa Luận, Nhiếp Đại Thừa Luận, và Nhiếp Đại Thừa Luận Thích.

Kinh này đề xuất tam tánh (Biến Kế, Y Tha, Viên Thành Thật), tam vô tánh, xiển dương giáo nghĩa chủ yếu “hết thảy các pháp chẳng có tự tánh” của Bát Nhă.

 

[37] Đẳng Lưu Quả (Nisyanda-phala) c̣n gọi là Tác Y Quả, hay Tập Quả. Đấy chính là cái quả được sanh từ cái nhân có cùng một loại; chẳng hạn như do nhân lành sinh ra quả lành, từ nhân ác sanh ra quả ác v.v… th́ gọi là Đẳng Lưu Quả. Nói cách khác, nhân và quả có cùng một tánh chất th́ gọi là Đẳng Lưu Quả.

Dị Thục Quả (Vipāka-phala) hàm nghĩa quả báo sẽ chín muồi khác thời với cái nhân. Chẳng hạn như do cái nhân ác trong hiện thời, sẽ cảm cái quả khổ trong tương lai. Quả khổ ấy được gọi là Dị Thục Quả.

Sĩ Dụng Quả (Purusakāra-phala), c̣n gọi là Sĩ Phu Quả hoặc Công Dụng Quả, tức là cái quả do sĩ phu tạo tác mà tạo thành. Sĩ Phu là từ ngữ chỉ con người. Dụng là tác dụng. Sĩ Phu Quả chính là các loại sự việc do con người sử dụng công cụ mà tạo tác ra.

Ly Hệ Quả (Visajyoga-phala) chính là giải thoát, đây là tên gọi khác của Trạch Diệt Vô Vi hay Niết Bàn, do trí huệ xa ĺa sự trói buộc của phiền năo mà đạt được cái quả này.

[38] Thắng Giải (Adhimoksa) c̣n gọi là Tín Giải, là tên của một món Tâm Sở, có nghĩa là sự liễu giải thù thắng, thường được hiểu là sự lư giải kiên định khắc sâu trong tâm của một cá nhân. Do nó chẳng dễ ǵ thay đổi, cho nên gọi là Thắng Giải, nhưng do phiền năo và vô minh có mức độ khác nhau mà mỗi cá nhân đối với Thắng Giải của chính ḿnh sẽ sanh chấp trước sâu hay cạn khác nhau.

[39] Do Phật dùng ngôn ngữ, âm thanh để thuyết pháp, cho nên giáo pháp của đức Phật được gọi là “thanh giáo”.

[40] Theo Câu Xá Luận, bốn loại ăn (Tứ Thực) là:

- Đoạn thực: C̣n dịch là Bác Thực (ăn bằng cách xé ra), tức là dùng môi, miệng, lưỡi, răng để ăn, lấy ba món Trần Hương, Vị, Xúc làm Thể. Đây chính là cách ăn phổ biến của chúng sanh.

- Xúc Thực, c̣n gọi là Lạc Thực, tức là sự trưởng dưỡng thân thể bằng sự vui sướng, chẳng hạn như nghe nhạc, xem kịch say sưa đến nỗi chẳng cần ăn.

- Tư Thực, c̣n gọi là Niệm Thực, tức là đối với cảnh ham muốn, bèn sanh ư niệm hy vọng.

- Thức Thực, Tiểu Thừa dùng sáu thức, Đại Thừa dùng tám thức, lấy A Lại Da Thức làm Thể, tám thức ấy có thể duy tŕ thân mạng của hữu t́nh, nên gọi là Thực.

[41] Tam Niệm Xứ c̣n gọi là Tam Niệm Trụ. Phật do đại bi, thường nhiếp hóa chúng sanh, thường trụ trong ba loại niệm:

- Chúng sanh tin Phật, Phật cũng chẳng sanh tâm hoan hỷ, thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.

- Chúng sanh chẳng tin Phật, Phật cũng chẳng sanh ưu năo, thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.

- Đồng thời có hai loại chúng sanh chẳng tin và tin Phật, Phật chẳng sanh ưu năo hay hoan hỷ, thường an trụ trong chánh niệm, chánh trí.