Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ hai
Đời Đường, Tam Tạng pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch
kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn sớ
金光明最勝王經疏
卷第二
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang
Phần 3
5.2.4.1.3. Phật Thích Ca
trần thuật Ngài thường an ổn
5.2.4.1.3.1. Ngài Diệu Tràng đến
chỗ đức Phật
(Kinh) Nhĩ thời,
Diệu Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát dữ vô lượng bách thiên
Bồ Tát, cập vô lượng ức na-dữu-đa bách
thiên chúng sanh câu, cộng văng nghệ Thứu Phong sơn
trung Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Chánh Biến Tri sở, đảnh
lễ Phật túc, tại nhất diện lập.
(經)爾時妙幢菩薩摩訶薩與無量百千菩薩,及無量億那庾多百千眾生俱,共往詣鷲峯山中釋迦牟尼如來、正遍知所,頂禮佛足,在一面立。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Diệu Tràng Bồ Tát Ma Ha Tát và vô lượng trăm
ngàn Bồ Tát, cùng với vô lượng ức na-dữu-đa
trăm ngàn chúng sanh, cùng đi đến chỗ Thích Ca Mâu Ni
Như Lai Chánh Biến Tri trong núi Thứu Phong, đảnh lễ
dưới chân Phật, đứng qua một bên).
Tán rằng: Phật
Thích Ca tự trần thuật Ngài thường an ổn. Phần
này gồm bốn đoạn:
- Một, ngài Diệu
Tràng đến chỗ Phật.
- Hai, [ngài Diệu Tràng] khải bạch điều
đă được nghe.
- Ba, bốn vị Phật
thỉnh [Phật Thích Ca] trần thuật.
- Bốn, Phật
Thích Ca giảng nói.
Đây là đoạn
thứ nhất.
5.2.4.1.3.2. Khải bạch
điều đă được nghe
(Kinh) Thời Diệu
Tràng Bồ Tát dĩ như thượng sự, cụ bạch
Thế Tôn.
(經)時妙幢菩薩以如上事具白世尊。
(Kinh: Khi đó,
Diệu Tràng Bồ Tát thưa trọn vẹn chuyện trên đây
với đức Thế Tôn).
Tán rằng: Khải
bạch điều đă được nghe.
5.2.4.1.3.3. Bốn vị Phật
thỉnh Phật Thích Ca trần thuật
5.2.4.1.3.3.1. Bốn vị Phật cùng đến
chỗ Phật Thích Ca
(Kinh) Thời tứ
Như Lai diệc nghệ Thứu Phong, chí Thích Ca Mâu Ni Phật
sở, các tùy bổn phương, tựu ṭa nhi tọa.
(經)時四如來亦詣鷲峯至釋迦牟尼佛所,各隨本方就座而坐。
(Kinh: Khi đó,
bốn vị Như Lai cũng tới Thứu Phong, đến
chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, mỗi vị theo đúng phương
vị của chính ḿnh mà đến ngồi nơi ṭa).
Tán rằng: Bốn
Phật thỉnh cầu trần thuật. Kinh văn được
chia thành ba phần:
- Một, bốn vị
Phật cùng đến.
- Hai, sai sứ đến [chỗ Phật Thích Ca] trần thuật
lời thỉnh cầu.
- Ba, sứ giả
thưa thỉnh.
Đây chính là tiểu
đoạn thứ nhất.
Hỏi: Khi bốn
vị Phật sắp đến thất của Diệu
Tràng, cái thất ấy bỗng hiện ra các ṭa. Đến
núi, [kinh văn] chẳng nói “biến hiện ra ṭa ngồi”,
xếp đặt bốn vị Phật như thế nào?
Đáp: Ở đây,
phải là do Phật Thích Ca biến ra ṭa, kinh văn lược
đi chẳng nói.
Hỏi: V́ sao tới
thất của ngài Diệu
Tràng th́ bốn vị Phật tự biến, tới Linh Sơn
th́ do Phật Thích Ca biến?
Đáp: Người
căn cơ thấp hơn chẳng thể suy lường
được bậc trên; do vậy, bốn đức Phật
tự biến. Phật Thích Ca có thể biết bốn vị
Phật sẽ tới, cho nên biến ra pháp ṭa để các
Ngài an tọa.
5.2.4.1.3.3.2. Sai sứ giả đến chỗ
Phật Thích Ca trần thuật lời thỉnh cầu
(Kinh) Cáo thị
giả Bồ Tát ngôn: “Thiện nam tử! Nhữ kim khả
nghệ Thích Ca Mâu Ni Phật sở, vị ngă trí vấn: - Thiểu bệnh, thiểu năo, khởi
cư khinh lợi, an lạc hạnh phủ?”
(經)告侍者菩薩言:善男子!汝今可詣釋迦牟尼佛所,為我致問:少病少惱,起居輕利,安樂行不?
(Kinh: Bảo
thị giả Bồ Tát rằng: - Thiện nam tử! Ông
nay hăy nên đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, v́ ta thưa
hỏi: “Ít bệnh,
ít năo, đi đứng nhẹ nhàng, được an lạc
hay không?”)
Tán rằng: Điều
thứ hai, sai sứ giả sang thưa thỉnh, có ba ư: Một
là hỏi chung, hai là trần thuật lời thỉnh cầu,
ba là tùy hỷ. Đây là ư thứ nhất.
(Kinh) Phục tác
thị ngôn: - Thiện tai! Thiện tai! Thích Ca Mâu Ni Như
Lai kim khả diễn thuyết Kim Quang Minh kinh thậm thâm
pháp yếu, vị dục nhiêu ích nhất thiết chúng sanh,
trừ khử cơ cẩn, linh đắc an lạc, ngă đương
tùy hỷ.
(經)復作是言:善哉善哉!釋迦牟尼如來今可演說金光明經甚深法要,為欲饒益一切眾生,除去饑饉令得安樂。我當隨喜。
(Kinh:
Lại nói như thế này: - Lành thay! Lành thay! Thích Ca Mâu Ni Như
Lai nay có thể diễn nói pháp yếu rất sâu là kinh Kim
Quang Minh, v́ muốn lợi ích hết thảy chúng sanh, trừ
bỏ đói kém, khiến [cho chúng sanh]
được an vui, ta sẽ tùy hỷ).
Tán rằng: Trần
thuật lời thỉnh cầu và tùy hỷ.
5.2.4.1.3.3.3. Sứ giả thỉnh cầu
(Kinh) Thời bỉ
thị giả các nghệ Thích Ca Mâu Ni Phật sở, đảnh
lễ song túc, khước trụ nhất diện, câu bạch
Phật ngôn: - Bỉ Thiên Nhân Sư trí vấn vô lượng:
Thiểu bệnh, thiểu năo, khởi cư khinh lợi, an
lạc hạnh phủ? Phục tác thị ngôn: - Thiện
tai! Thiện tai! Thích Ca Mâu Ni Như Lai kim khả diễn
thuyết Kim Quang Minh kinh thậm thâm pháp yếu, vị dục
lợi ích nhất thiết chúng sanh, trừ khử cơ cẩn,
linh đắc an lạc.
(經)時彼侍者各詣釋迦牟尼佛所,頂禮雙足,却住一面,俱白佛言:彼天人師致問無量:少病少惱,起居輕利,安樂行不?復作是言:善哉善哉!釋迦牟尼如來今可演說金光明經甚深法要,為欲利益一切眾生,除去饑饉令得安樂。
(Kinh: Khi đó,
các vị thị giả đều đến chỗ Thích
Ca Mâu Ni Phật, đảnh lễ dưới hai chân Ngài, đứng
qua một bên, cùng bạch Phật rằng: - Đấng Thiên
Nhân Sư kia hỏi thăm đức Vô Lượng: “Ít bệnh,
ít năo, đi đứng nhẹ nhàng, có được an lạc
hay không?” Lại
nói lời này: “Lành thay! Lành thay! Thích Ca Mâu Ni Như Lai nay có thể diễn
nói pháp yếu rất sâu là kinh Kim Quang Minh, v́ muốn lợi
ích hết thảy chúng sanh, trừ khử đói kém, khiến
cho họ được an lạc”).
Tán rằng: Sứ giả
truyền đạt lời được sai khiến.
5.2.4.1.3.4. Phật Thích Ca giảng nói
5.2.4.1.3.4.1. Tán thán
(Kinh) Nhĩ thời,
Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, cáo bỉ
thị giả chư Bồ Tát ngôn: - Thiện tai! Thiện
tai! Bỉ tứ Như Lai năi năng vị chư chúng sanh
nhiêu ích an lạc, khuyến thỉnh ư ngă tuyên
dương chánh pháp.
(經)爾時釋迦牟尼如來、應正等覺告彼侍者諸菩薩言:善哉善哉!彼四如來乃能為諸眾生饒益安樂,勸請於我宣揚正法。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng
Giác bảo các vị thị giả Bồ Tát ấy rằng:
- Lành thay! Lành thay! Bốn đức Như Lai ấy có thể
v́ lợi ích, an lạc các chúng sanh mà khuyến thỉnh ta tuyên dương chánh pháp).
Tán rằng: Phật
Thích Ca sẽ thuyết pháp. Kinh văn chia thành hai phần: Một
là tán thán, hai là trần thuật. Đoạn này là tán thán.
5.2.4.1.3.4.2. Trần thuật
(Kinh) Nhĩ thời,
Thế Tôn nhi thuyết tụng viết: - Ngă thường tại
Thứu Sơn, tuyên thuyết thử kinh bảo, thành tựu
chúng sanh cố, thị hiện bát Niết Bàn.
(經)爾時世尊而說頌曰:我常在鷲山,宣說此經寶,成就眾生故,示現般涅槃。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn bèn nói kệ tụng rằng:
- Ta thường ở núi Thứu, tuyên nói kinh báu này, do thành
tựu chúng sanh, thị hiện nhập Niết Bàn).
Tán rằng: Sau đó
là trần thuật. Kinh văn được chia thành hai đoạn:
- Hai câu đầu chỉ
rơ Pháp Thân và Báo Thân thường hằng. Dùng Báo Thân để hiển lộ Pháp Thân, trong Báo Pháp
Độ (cơi trụ
xứ của Pháp Thân và Báo Thân) tại
Linh Sơn, không dựa vào nơi chốn mà hiển lộ.
- Hai câu sau nói rơ sự
diệt độ của Hóa Thân.
(Kinh) Phàm phu khởi
ngă kiến, bất tín ngă sở thuyết, vị thành tựu
bỉ cố, thị hiện bát Niết Bàn.
(經)凡夫起邪見,不信我所說;為成就彼故,示現般涅槃。
(Kinh: Phàm phu
dấy ngă kiến, chẳng tin lời ta nói, v́ để thành
tựu họ, thị hiện nhập Niết Bàn).
Tán rằng: Bài kệ
tụng cuối cùng kết lại sự diệt độ
của Hóa Thân, nói “v́ chúng sanh” nhằm vạch rơ “chẳng
phải v́ Bồ Tát”.
5.2.4.1.4. Ngài Hỷ Kiến lại
kết thành giáo nghĩa về sự bất diệt [của
Như Lai]
5.2.4.1.4.1. Kiều Trần
Như thị hiện dấu tích mong cầu
(Kinh) Thời, đại
hội trung hữu Bà-la-môn tánh Kiều Trần Như, danh
viết Pháp Sư Thọ Kư, dữ vô lượng bách thiên Bà-la-môn
chúng cúng dường Phật dĩ.
(經)時大會中有婆羅門姓憍陳如,名曰法師授記,與無量百千婆羅門眾供養佛已。
(Kinh: Khi đó,
trong đại hội có Bà-la-môn họ Kiều Trần
Như, tên là Pháp Sư Thọ Kư, cùng với vô lượng trăm
ngàn các Bà-la-môn cúng dường đức Phật xong).
Tán rằng: [Đây là] phần thứ
tư, ngài Hỷ Kiến
lại kết thành giáo nghĩa về sự bất diệt. Kinh
văn chia làm tám đoạn:
- Một, Kiều
Trần Như thị hiện dấu tích mong cầu.
- Hai, Như Lai thị
hiện phương tiện bằng cách im lặng.
- Ba, đức Phật
gia hộ khiến cho Hỷ Kiến gạn hỏi.
- Bốn, Kiều
Trần Như trả
lời bằng ước mong có được xá-lợi
- Năm, Hỷ Kiến
riêng nêu bày sự tu phước.
- Sáu, Kiều Trần
Như lại cố ư cầu thỉnh.
- Bảy, Hỷ Kiến
đáp “chẳng thể được”.
- Tám, Kiều Trần
Như lănh ngộ, hiểu lẽ thường trụ.
Trong đoạn này,
người vấn đáp và pháp được nói giống
như trong quyển thứ tư của kinh Đại Phương
Đẳng Vô Tướng Đại Vân[1].
Trong kinh ấy, người có thể khải thỉnh tên là
Thiện Đức, người có thể giải đáp là
Nhất Thiết Chúng Sanh Nhạo Kiến, và nói túc duyên, chuyện
sẽ gặp gỡ trong mai sau, danh tự xưa và nay. V́ thế,
kinh ấy chép: “Nhĩ thời, Thiện Đức thỉnh
nguyện, Thế Tôn bất đáp. Thời chúng trung hữu
Lê Xa Tử, danh viết Nhất Thiết Chúng Sanh Nhạo Kiến,
ngữ Thiện Đức vân: ‘Như Lai mặc nhiên, dĩ
bất hứa đáp. Ngă kim đương đáp, tùy nghi
trí vấn’. Vấn ngôn: - Nhược năng cúng dường
Như Lai xá-lợi như giới tử hứa, phước
báo ưng đắc Đao Lợi Thiên Chúa” (Lúc bấy
giờ, Thiện Đức thỉnh nguyện, đức Thế
Tôn chẳng đáp. Khi đó, trong đại chúng có một
vị Lê Xa Tử, tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Nhạo Kiến,
bảo Thiện Đức rằng: “Như Lai im lặng chẳng
chấp thuận trả lời. Tôi nay sẽ đáp, ông hăy
tùy theo ḷng nghi mà nêu câu hỏi”. [Thiện
Đức hỏi rằng]: “Nếu có thể cúng dường
xá-lợi của Như Lai chừng bằng hạt cải,
phước báo đáng được làm chúa cơi trời Đao
Lợi”). Lê Xa Tử bèn v́ Thiện Đức nói Như Lai từng
có mười hai bài kệ, [so với kinh Kim Quang Minh này th́]
thiếu hai bài kệ [về thí dụ] “cây Thiệm Bộ
có thể sanh ra quả Đa La” và phần kết hợp
thí dụ [trong các bài tụng ấy] với
pháp. Những bài kệ khác là: “Mao tác tăng-già-lê, đông
nhật năng tiêu băng, thử duyên thố giác thê, tại
thượng nhi thực nguyệt. Giả sử dăng năng
ẩm, chung thạch thuần hảo tửu, mê hoang nhi đam
túy. Giả sử cức thích diệp, châu biến phú tam thiên.
Giả sử tiểu châu thuyền, năng tải Tu Di sơn,
độ ư đại hải thủy” (lông làm tăng-già-lê,
ngày đông băng tiêu tan, chuột nương theo sừng thỏ,
leo thang để ăn trăng. Giả sử ruồi uống
được, nhũ đá ủ rượu ngon, mê đắm
say bét nhè. Giả sử gai ghim lá, phủ trọn khắp
tam thiên. Giả sử chiếc thuyền bé, chở nổi
núi Tu Di, có thể vượt biển cả).
Khi đó, trong đại
chúng, có một thiên nữ tên là Tịnh Quang, hỏi đức
Thế Tôn rằng: “Hai vị hiền nhân như thế từ
chỗ nào đến? Kính mong hăy diễn nói cho!” Đức
Phật dạy: “Quá khứ vô lượng A-tăng-kỳ
kiếp, nhĩ thời, hữu Phật hiệu Đồng
Tánh Đăng. Kỳ địa quảng bác, tung quảng lục
vạn bát thiên do-tuần, hữu thất vạn bát thiên đại
thành. Nhĩ thời, đại thành danh viết Bảo Tụ,
tức thị kim chi Vương Xá thành dă. Thời, Đồng
Tánh Đăng Phật thuyết Đại Vân kinh. Thời
bỉ thành trung hữu vương danh Đại Tinh Tấn
Long Vương. Vương hữu phu nhân, danh viết Hộ
Pháp. Hữu nhất đại thần, danh Pháp Lâm Thụ
đại thần, bạch Phật: ‘Như Lai xá-lợi vi
khả đắc phủ?’ Thế Tôn bất đáp. Nhĩ
thời, đại vương vị chánh pháp cố, dữ
cộng đại thần luận giảng xá-lợi. Phật
hữu đệ tử danh Ma Ha Nam, tâm sanh hoan hỷ, Thế
Tôn tán thán. Vương văn tán dĩ, hoan hỷ phát nguyện:
‘Nguyện ư đương lai Thích Ca chánh pháp diệt thời,
ư trung xuất gia, vị chánh pháp cố, bất tích thân
mạng’. Đại thần diệc nguyện: ‘Thích Ca pháp
trung tác đại quốc vương, tŕ Như Lai pháp’.
Phu nhân diệc nguyện: ‘Thích Ca pháp trung năng phục tà kiến’.
Thời Ma Ha Nam nguyện: - Như vi bỉ Phật tác đại
đệ tử” (Vô lượng A-tăng-kỳ
kiếp trong quá khứ, lúc bấy giờ, có Phật hiệu
là Đồng Tánh Đăng. Cơi đất rộng lớn,
ngang dọc sáu vạn tám ngàn do-tuần, có bảy vạn tám
ngàn thành lớn. Lúc bấy giờ, có thành lớn tên là Bảo
Tụ, tức là thành Vương Xá hiện nay. Khi đó, Đồng
Tánh Đăng Phật nói kinh Đại Vân; lúc ấy, trong
thành đó có vua tên là Đại Tinh Tấn Long Vương.
Vua có phu nhân tên là Hộ Pháp. Có một vị đại thần
tên là Pháp Lâm Thụ đại thần, bạch với Phật:
“Có thể đạt được xá-lợi của Như
Lai hay không?” Đức Thế Tôn chẳng trả lời. Lúc
bấy giờ, do v́ chánh pháp, đại vương cùng với
đại thần giảng luận xá-lợi. Phật có đệ
tử tên là Ma Ha Nam, tâm sanh hoan hỷ, đức
Thế Tôn tán thán. Vua nghe tán thán xong, hoan hỷ phát nguyện:
“Nguyện trong tương lai, khi chánh pháp của Phật Thích
Ca diệt, con sẽ xuất gia trong đó, do v́ chánh pháp mà
chẳng tiếc thân mạng”. Đại thần cũng nguyện:
“Làm đại quốc vương trong pháp của Phật Thích
Ca, ǵn giữ pháp của Như Lai”. Phu nhân cũng nguyện:
“Con có thể hàng phục tà kiến trong pháp của Phật
Thích Ca”. Khi đó, Ma Ha Nam nguyện: “Con sẽ làm đại
đệ tử của đức Phật ấy”).
Đức Phật
bảo thiên nữ: “Như thị tứ nhân, kim ư ngă thế,
vị pháp trọng nhậm, bất đản kim nhật,
phương ư vị lai, phục đương
hộ tŕ ngă chi chánh pháp. Thiên nữ! Nhĩ thời, đại
thần, kim Thiện Đức Bà-la-môn thị. Thị Bà-la-môn,
ngă diệt độ hậu bách nhị thập niên, vương
Diêm Phù Đề, tự A Thúc Ca, trụ Bà Lê Phất La thành
trung, tánh Vô Da Thị, đắc chuyển luân vương sở
hữu phước đức nhị phần chi nhất.
Thời, vương phu nhân, tức nhữ thiên nữ thị.
Nhữ đắc tạm văn, kim đắc trị ngă.
Xả thị thiên h́nh, tức dĩ nữ thân, đương
vương quốc độ, đắc chuyển luân
vương sở. Vương lănh xứ tứ phần chi
nhất, giáo hóa sở thuộc thọ tŕ Ngũ Giới, hộ
chánh pháp, tồi ngoại đạo. Nhĩ thời
vương giả, kim Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến
Lê Xa Tử thị, thâm đạt chánh pháp, năng khai diệu
nghĩa, hộ pháp vô tổn. Thời Ma Ha Nam, kim tức Đại
Vân Mật Tạng Bồ Tát thị, đắc ngă chân thân
nhị phần chi nhất, tri ân, báo ân, hộ tŕ chánh pháp, thâm
nghĩa vô trệ” (Bốn người
như thế, nay trong đời của ta, giữ trách nhiệm
trọng yếu nơi pháp, không chỉ ngày nay, mà c̣n trong vị
lai, sẽ lại hộ tŕ chánh pháp của ta. Này thiên nữ!
Đại thần lúc bấy giờ nay là Bà-la-môn Thiện Đức.
Vị Bà-la-môn ấy sau khi ta diệt độ một trăm
hai mươi năm, sẽ làm vua cơi Diêm Phù Đề, tên là
A Thúc Ca, trụ trong thành Bà Lê Phất La, họ là Vô Da Thị,
đạt được một nửa phước đức
mà Chuyển Luân Vương vốn có. Phu nhân của nhà vua
khi đó, chính là thiên nữ ngươi vậy. Ngươi
được tạm nghe, nay được gặp ta, bỏ
thân trời này, liền dùng thân nữ để làm vua trong quốc
độ, thống lănh một phần tư xứ sở cai trị của chuyển luân
vương, giáo hóa thần dân thọ tŕ Ngũ Giới, hộ tŕ
chánh pháp, dẹp tan ngoại đạo. Nhà vua thuở ấy
nay là Nhất
Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử, thông đạt
sâu xa chánh pháp, có thể khơi mở diệu nghĩa, hộ
tŕ chánh pháp chẳng tổn hại. Ma Ha Nam thuở đó nay
là Đại Vân Mật Tạng Bồ Tát, được một
phần hai chân thân của ta, biết ân, báo ân, hộ tŕ chánh
pháp, chẳng vướng mắc nơi nghĩa sâu).
Đoạn thứ
nhất (Kiều Trần Như thị hiện dấu tích)
gồm ba ư:
- Một, Kiều
Trần Như đến chỗ đức Phật cúng
dường.
- Hai, nghe nói Phật
sẽ nhập diệt bèn bi ai.
- Ba, nêu bày công đức
của Phật để làm nguyên do cầu nguyện.
Đoạn chánh kinh
này thuộc ư thứ nhất, gồm bốn ư:
- Một, nêu ra thời
và nơi chốn.
- Hai, nêu ra tên họ [của người cầu
thỉnh].
- Ba, nói về những
người có căn tánh cùng hàng [với Kiều Trần
Như].
- Bốn, trần
thuật sự cúng dường.
Nói “Pháp Sư Thọ
Kư” th́ Pháp Sư là Phật, trao thọ kư cho vị [Bà-la-môn
ấy] nhằm tỏ lộ đức hạnh lẫn phẩm
vị của ông ta đều thù thắng,
cho nên đặt tên như vậy. Trong địa vị Thập
Hồi Hướng, hễ thuộc vào địa vị ấy
th́ được Pháp Sư thọ kư. Do đó, bậc trụ
tại Linh Sơn đă là hóa Phật, do có thể đối
trước căn cơ ấy để thỉnh cầu
[đức Phật giảng giải] th́ [ngài Kiều Trần
Như] phải là bậc địa tiền (chưa chứng
Sơ Địa, nhưng đă thuộc vào Tam Hiền). Lại
có thể hiểu là Ngài đă nhập Thập Địa.
Bản dịch của
ngài Chân Đế ghi: “Phật thân như thị, như Như
Lai thuyết như thị chi nghĩa, ngă dĩ văn tri, vị
thỉnh Như Lai quảng khai phân biệt chân thật chi
nghĩa, cố cầu xá-lợi, khai phương tiện
môn” (Thân Phật như thế, đối với các nghĩa
do Như Lai đă nói như thế ấy, con đă nghe biết,
v́ thỉnh Như Lai rộng khơi mở, phân biệt nghĩa
chân thật, cho nên con cố ư cầu xá-lợi, ḥng mở
ra môn phương tiện). Đă nói “con đă nghe biết”,
rơ ràng là đă ngộ, chỉ v́ lợi lạc [chúng sanh] mà [thị
hiện] thuộc địa vị ấy.
“Thỉnh cúng dường”:
Đại Trang Nghiêm Luận nêu ra mười đại
nguyện, dùng hết thảy các thứ cúng dường [để
dâng lên] hết thảy chư Phật. Cúng dường có ba điều:
- Một, [đối
tượng được cúng dường là] hết thảy
chư Phật chẳng sót.
- Hai, [thực hiện
sự] cúng dường chẳng sót.
- Ba, cung kính chẳng
sót.
Cúng dường lại
có ba cách:
- Một, lợi cúng
dường, tức là [cúng dường] y phục v.v…
- Hai, kính cúng dường,
tức là [cúng dường] bằng hương, hoa.
- Ba, cúng dường
bằng cách tu hành, tức là tu Tín, Giới v.v… để cúng
dường.
Lại theo phẩm
Bồ Đề Địa của Du Già Sư Địa Luận,
có mười loại cúng dường, nhưng ba cách [cúng dường
trên đây] đă gồm trọn. “Kính cúng dường chẳng
thừa sót” cũng có ba loại:
- Một là hầu
hạ cung kính.
- Hai là đón, đưa
cung kính.
- Ba là tu hành cung
kính.
Cúng dường được
nói trong chánh kinh ở đây có đủ cả ba nghĩa
trên đây, do một vị
Phật chính là hết thảy các vị Phật.
(Kinh) Văn Thế
Tôn thuyết nhập Bát Niết Bàn, thế lệ giao lưu.
(經)聞世尊說入般涅槃,涕淚交流。
(Kinh: Nghe đức
Thế Tôn nói sẽ nhập Niết Bàn, nước mắt
đầm đ́a).
Tán rằng:
Nghe nói đức Phật sẽ nhập diệt liền bi
ai. Đây chính là nghe nói “thị hiện nhập Niết Bàn
trong phần trước cũng là tướng thị hiện”; do cho rằng đức Phật sắp nhập Niết
Bàn, cho nên ngài Kiều Trần Như thị hiện ứa
lệ. Như quyển thứ nhất của
kinh Niết Bàn đă nói các tướng buồn khổ v.v… Từ
mũi chảy ra th́ là Thế (涕), từ
mắt tuôn ra là Lệ (淚). Hai thứ ấy chảy quẩn quanh, quyện
vào nhau [gọi là “thế lệ giao lưu”].
(Kinh) Tiền lễ
Phật túc, bạch ngôn: - Thế Tôn! Nhược thật Như
Lai ư chúng sanh hữu đại từ bi, lân mẫn lợi
ích, linh đắc an lạc, do như phụ mẫu dư
vô đẳng giả.
(經)前禮佛足,白言:世尊!若實如來於諸眾生有大慈悲,憐愍利益令得安樂,猶如父母餘無等者。
(Kinh: Đối
trước đức Phật,
lễ dưới chân Ngài, bạch rằng: - Bạch Thế
Tôn! Nếu quả thật Như Lai đối với chúng
sanh có ḷng đại từ bi, thương xót, lợi ích, khiến
cho họ được an lạc, ví như
cha mẹ chẳng hề khác ǵ).
Tán rằng: Điều
thứ ba là nêu ra công đức của Phật để làm
nguyên do cho lời cầu nguyện. Trong ấy, chia thành ba
phần:
- Một, quy hướng,
chân thành kính lễ.
- Hai, trần thuật
những điều Phật có thể thực hiện để
làm nguyên do cho sự cầu thỉnh.
- Ba, chánh thức nêu
ra tâm nguyện mong cầu.
Đối trước
đức Phật, lễ dưới chân Ngài chính là quy hướng,
chân thành kính lễ. Từ “nhược thật Như Lai”
(nếu Như Lai quả thật) trở đi, trần thuật
“đức
Phật có các năng lực” để
làm nguyên do cho lời nguyện thỉnh pháp. Trong ấy, có hai ư:
- Một, nêu rơ đức
Thế Tôn có ḷng Từ, thương
xót, lợi ích [chúng sanh].
- Hai, nêu rơ: Do đức
Thế Tôn Tam Đức đều trọn đủ, cho nên
trần thuật lời thỉnh cầu.
Kinh văn ở đây thuộc ư thứ
nhất, gồm hai điều: Một là nói về pháp, hai
là thí dụ. Do đại từ, cho nên thương xót ban
vui. Do đại bi, cho nên xót thương dẹp khổ cho
họ. Theo quyển bốn mươi bảy của Du Già
Sư Địa Luận th́ chỗ nương vào để
xót thương gồm có năm loại:
- Một, hữu t́nh đang
chịu khổ.
- Hai, hữu t́nh ác hạnh.
- Ba, hữu t́nh buông lung,
- Bốn, hữu t́nh tà hạnh.
- Năm, hữu t́nh thuận
theo tùy miên[2]
phiền năo.
Tám nạn v.v… là “đang
chịu khổ”. Chẳng vâng theo luật nghi là “ác hạnh”.
Đắm nhiễm cảnh giới là “buông lung”. Nương
theo các kiến giải hư vọng và ác thuyết để
xuất gia th́ là “tà hạnh”. Đối với phiền
năo, [cũng suy luận tương tự] sẽ biết. Nói
“đại từ bi” tức là như quyển thứ
chín trong bộ Nhiếp Luận của
ngài Vô Tánh đă chép: “Ở đây
nói là Đại là do đă chứng viên măn tư lương
phước trí, khiến cho thoát khỏi
ba nỗi khổ. Đó là hành tướng. Hữu t́nh trong hai giới (Dục Giới và Sắc
Giới) là cái để duyên vào, do tâm b́nh
đẳng đối với các hữu t́nh, chắc chắn
chẳng có ai hơn được nổi. Do vậy, khiến
cho họ đạt được lợi ích an lạc”. “Lợi
ích an lạc” là cái quả thế gian và xuất thế gian.
Phước và trí tùy theo lẽ đáng nên mà tương ứng
với cái quả ấy chẳng sai chạy! Hoặc có thể
hiểu: “Lợi” chính là mười lợi, “lạc”
là năm thứ lạc.
“Lân mẫn” (thương
xót) lại có bảy loại:
- Một là
vô úy.
- Hai là như
lư.
- Ba là không mệt
mỏi.
- Bốn là vô cầu.
- Năm là
vô nhiễm.
- Sáu là rộng
lớn.
- Bảy là
b́nh đẳng.
Chẳng
v́ sợ kẻ đó mà thương xót, [đó
là “vô úy”]. Nương theo giáo pháp chân chính là “như
lư”. Luôn dấy tâm tạo lợi ích là “chẳng mệt
mỏi”. Chẳng đợi họ cầu xin rồi mới
thương xót th́ là “vô cầu”. Chẳng có tâm ái nhiễm,
cũng chẳng mong được báo đáp là “vô nhiễm”.
V́ lợi ích hữu t́nh, thà xả thân mạng, chẳng gieo
điều ác cho họ, nên gọi là “rộng lớn”.
Đối với hữu t́nh giới [thương
xót] chẳng có ngằn hạn th́ gọi “thương xót
b́nh đẳng”.
“Do như phụ
mẫu” (giống như cha mẹ) là thí dụ. Trang Nghiêm
Luận quyển mười hai viết: “Bồ Tát có bảy
điều tương tự lợi ích: Một là giống
như mẹ, hai là giống như cha, ba là giống như
bạn lành, bốn là giống như bạn lữ cùng hạnh,
năm là giống như tôi tớ mạnh mẽ, sáu là giống
như A-xà-lê, bảy là giống như ḥa thượng”.
Ví như từ mẫu tạo năm nghiệp để lợi
ích cho con: Một là mang thai, hai là sanh ra, ba là nuôi lớn, bốn
là ngăn ngừa họa hại,
năm là dạy nói. Năm nghiệp để Bồ Tát lợi
lạc chúng sanh cũng thế:
- Một là tâm b́nh
đẳng đối với chúng sanh.
- Hai là sanh ra địa
vị thánh.
- Ba là trưởng
dưỡng các căn lành.
- Bốn là pḥng ngừa
các hành vi ác.
- Năm là dạy
tu tập đa văn.
Ví như từ phụ
thực hiện năm điều lợi ích cho con:
- Một là gieo chủng
tử.
- Hai là dạy tài khéo.
- Ba là cưới vợ
cho con.
- Bốn là giao con cho
bạn lành.
- Năm là dứt sạch
nợ, chẳng khiến cho con phải đền trả sau này.
Năm nghiệp của
Bồ Tát cũng thế:
- Một là khiến
cho [chúng sanh] dấy ḷng tin, dùng đó làm chủng tử của
thánh thể.
- Hai là dạy họ
học Giới Định tăng thượng, coi đó là
tài khéo.
- Ba là khiến cho họ
đạt được giải thoát, hỷ lạc, coi đó
như cưới vợ cho con, coi pháp hỷ là vợ.
- Bốn là khuyến
thỉnh chư Phật, coi như là bạn lành.
- Năm là ngăn
chướng, coi như là dứt nợ.
Do các nghĩa ấy,
không có kẻ nào khác có thể sánh bằng được!
(Kinh) Năng dữ
thế gian tác quy y xứ, như tịnh măn nguyệt.
(經)能與世間作歸依處,如淨滿月。
(Kinh: Có thể
làm chỗ quy y cho thế gian, như vầng trăng tṛn sạch).
Tán rằng: Đây
là nói Phật trọn đủ Tam Đức. Câu này nói về
Đoạn Đức, như Nguyệt Ái tam-muội trong
kinh Niết Bàn có thể tạo sự thanh lương. Lại
nữa, Thi La (Śīla, Giới) được
cơi này dịch là Thanh Lương, “thanh lương” chính
là Niết Bàn. Do Giới có
thể làm cái nhân thanh lương cho Niết Bàn; cho nên gọi là “thanh lương”. V́ thế, dùng mặt
trăng để sánh ví Đoạn Đức của Niết
Bàn. Bởi vậy, có bài tụng như
sau: “Pháp quy phân biệt, thánh quy Niết Bàn” (pháp quy vào phân
biệt, thánh quy vào Niết Bàn). Thập Địa Luận
nói: “Như chúng phong y mật” (như các con ong bu vào mật).
“Dữ thế gian tác quy y xứ” (làm chỗ quy y thế
gian) tức là Niết Bàn, Niết Bàn tức là Đoạn Đức.
(Kinh) Dĩ đại
trí huệ năng vi chiếu minh, như nhật sơ xuất.
(經)以大智慧能為照明,如日初出。
(Kinh: Dùng đại
trí huệ có thể chiếu sáng, như mặt trời mới
mọc).
Tán rằng: [Câu này]
hiển thị Trí Đức. Trí có thể phá tối tăm, như
mặt trời mới mọc.
(Kinh) Phổ quán
chúng sanh, ái vô thiên đảng, như La Hỗ La.
(經)普觀眾生,愛無偏黨如羅怙羅。
(Kinh:
Quán trọn khắp chúng sanh, thương yêu chẳng thiên vị
như [thương yêu] La Hỗ La[3]) .
Tán rằng: Hiển
thị Ân Đức.
(Kinh) Duy nguyện
Thế Tôn, thí ngă nhất nguyện.
(經)惟願世尊施我一願。
(Kinh: Kính mong
đức Thế Tôn ban cho con một điều nguyện).
Tán rằng:
Tâm nguyện mong cầu Phật. Phật có ḷng từ bi, lại
trọn đủ Tam Đức, có thể măn nguyện cho
con. V́ thế, nay con cầu nguyện.
5.2.4.1.4.2. Đức Thế
Tôn phương tiện im lặng
(Kinh) Nhĩ thời,
Thế Tôn mặc nhiên nhi chỉ.
(經)爾時世尊默然而止。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đức Thế Tôn giữ im lặng).
Tán rằng: Phương
tiện im lặng. Im lặng có năm ư nghĩa:
- Một là dứt trừ
chê bai, sợ [có kẻ không hiểu, cho rằng] do
được ca ngợi, [đức Phật] bèn thỏa
nguyện kẻ khác.
- Hai là [v́ căn cơ] “đáng
nên nghe”.
- Ba là tránh mâu thuẫn.
Trước đó đă nói “sẽ nhập Niết Bàn”, nay
lại nói “thường chẳng nhập Niết Bàn”, mâu thuẫn
với lời trước đó.
- Bốn là tỏ rơ
Phật có đức hạnh cao cả.
Trong hàng đệ tử mà c̣n có người có thể giải
đáp lời hỏi, huống hồ Như Lai ư?
- Năm là để
cho người khác trừ nghi [cho Kiều Trần Như],
sẽ hơn hẳn các cách nói để làm chứng khác.
5.2.4.1.4.3. Đức Phật
gia hộ khiến cho ngài
Hỷ Kiến
gạn hỏi
(Kinh) Phật oai
lực cố, ư thử chúng trung, hữu Lê Xa Tỳ đồng tử, danh Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ
Kiến.
(經)佛威力故,於此眾中有梨車毘童子名一切眾生喜見。
(Kinh: Do oai lực
của Phật, trong đại chúng ấy có một đồng
tử thuộc tộc Lê Xa Tỳ, tên là Nhất Thiết Chúng
Sanh Hỷ Kiến).
Tán rằng: Điều
thứ ba là đức Phật gia bị Hỷ Kiến gạn
hỏi. Kinh văn được chia thành năm ư:
- Một, nêu ra nơi
chốn [tức
đồng tử Hỷ Kiến xuất thân từ thành Ly
Xa).
- Hai, nói rơ tộc loại (đồng tử Hỷ
Kiến thuộc tộc Ly Xa Tỳ).
- Ba, kể ra danh xưng (tên là Nhất Thiết
Chúng Sanh Hỷ Kiến).
- Bốn, Hỷ Kiến
thấy lời hỏi, liền biết tâm nguyện [của
Kiều Trần Như].
- Năm, Hỷ Kiến
có thể giải đáp.
Đoạn này gồm
ba ư đầu tiên.
(Kinh) Ngữ Bà-la-môn
Kiều Trần Như ngôn: “Đại Bà-la-môn! Nhữ kim tùng
Phật dục khất hà nguyện? Ngă năng dữ nhữ!”
(經)語婆羅門憍陳如言:大婆羅門!汝今從佛欲乞何願?我能與汝。
(Kinh: Nói với
Bà-la-môn Kiều Trần Như rằng: - Đại Bà-la-môn!
Ông nay nuốn xin Phật điều nguyện ǵ? Tôi có thể
cho ông!)
Tán rằng: [Chính là]
hai ư sau [trong năm ư trên đây].
2.4.1.4.4. Kiều Trần Như
đáp “mong cầu xá-lợi”
(Kinh) Bà-la-môn ngôn:
- Đồng tử! Ngă dục cúng dường vô thượng
Thế Tôn, kim tùng Như Lai, cầu thỉnh xá-lợi
như giới tử hứa.
(經)婆羅門言:童子!我欲供養無上世尊,今從如來求請舍利如芥子許。
(Kinh: Bà-la-môn
nói: - Này đồng tử! Tôi muốn cúng dường đức
Thế Tôn vô thượng, nay từ Như Lai cầu thỉnh
xá-lợi chừng bằng hạt cải).
Tán rằng: Điều
thứ tư, Kiều Trần Như đáp “mong cầu xá-lợi”.
Mong muốn hiển lộ lẽ chân thường [th́ gọi là] “mong cầu
xá-lợi”. Trong phần
kinh văn đầu tiên, chia thành ba ư:
- Một, Kiều
Trần Như đáp [lời gạn hỏi, nêu ra] ư nguyện.
- Hai, giả lập
lời gạn hỏi bên ngoài.
- Ba, trả lời
về nguyên do của lời nguyện.
Đây là ư thứ
nhất.
(Kinh) Hà dĩ cố?
Ngă tằng văn thuyết: “Nhược thiện nam tử,
thiện nữ nhân đắc Phật xá-lợi như giới
tử hứa, cung kính cúng dường, thị nhân đương
sanh Tam Thập Tam Thiên, nhi vi Đế Thích”.
(經)何以故?我曾聞說:若善男子善女人得佛舍利如芥子許,恭敬供養,是人當生三十三天而為帝釋。
(Kinh: V́ sao vậy?
Tôi từng nghe nói: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ
nhân có được xá-lợi của Phật chừng bằng
hạt cải, cung kính cúng dường, người ấy
sẽ được sanh về Tam Thập
Tam Thiên làm Đế Thích”).
Tán rằng: Đây
là phần kinh văn bao gồm hai ư sau. Nhờ vào sự ham
muốn thô thiển, nông cạn để mong đáp lời
Hỷ Kiến, ḥng hiển lộ: “Do cái nhân thường
hằng, sẽ đạt được cái quả thường
hằng”. Như trong kinh Bồ Tát Xử Thai, kinh Vô Thượng
Y, kinh Mật Tích Lực Sĩ, Tây Vực Truyện[4]
v.v… đều nói cúng dường xá-lợi nhiều hay ít, và công
đức [do cúng dường] v.v…
5.2.4.1.4.5. Hỷ Kiến
riêng chỉ bày phước đức
(Kinh) Thị thời,
đồng tử ngữ Bà-la-môn viết: - Nhược dục
nguyện sanh Tam Thập Tam Thiên thọ thắng báo giả,
ưng đương chí tâm thính thị Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương kinh.
(經)是時童子語婆羅門曰:若欲願生三十三天受勝報者,應當至心聽是金光明最勝王經。
(Kinh: Khi đó,
đồng tử bảo Bà-la-môn rằng: - Nếu muốn
nguyện sanh vào Tam Thập Tam Thiên, hưởng thụ quả
báo thù thắng, hăy nên chí tâm nghe kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương này).
Tán rằng: Hỷ
Kiến riêng dạy phước môn, tức là để hiển
lộ cái nhân “thường hằng”. Phần Trường
Hàng giải đáp theo ngôn ngữ [b́nh phàm] (nói theo sự tướng),
phần kệ tụng đáp theo Lư. Phần
Trường Hàng có ba ư:
- Một, bảo [Kiều Trần Như] hăy nên
nghe kinh này.
- Hai, giải thích
nguyên do [v́ sao nên nghe kinh này].
- Ba, kết lại
đại lược.
Đoạn này chính
là ư đầu tiên.
(Kinh) Ư chư
kinh trung, tối vi thù thắng, nan giải, nan nhập, Thanh
Văn, Độc Giác sở bất năng tri.
(經)於諸經中最為殊勝難解難入,聲聞獨覺所不能知。
(Kinh: Ở
trong các kinh, [kinh này] thù thắng nhất, khó hiểu, khó nhập,
Thanh Văn và Độc Giác chẳng thể biết được).
Tán rằng:
Nêu rơ nguyên do, có hai ư:
- Một, chỉ rơ
Nhị Thừa chẳng biết.
- Hai, [kinh này] có thể
làm cái nhân thù thắng.
Đoạn này nói về ư nghĩa “[hàng Nhị
Thừa] chẳng thể biết”, do nghe
kinh này có thể là sanh nhân và liễu nhân của Pháp Thân và Báo
Thân. Như trong luận Bát Nhă của Thiên Thân Bồ Tát đă
nói: “Là liễu nhân của Pháp Thân, mà cũng là sanh nhân của
các thân khác. Báo Thân chính là thân khác ngoài Pháp Thân, do nó có khởi
đầu, cho nên là sanh nhân”. Đấy chính là diễn nói
nhằm hiển lộ “lư, hạnh,
quả”, nương theo điều được nói để
khởi hạnh, bèn có thể chứng Pháp Thân. V́ vậy là
liễu nhân và sanh nhân.
(Kinh) Thử
kinh năng sanh vô lượng vô biên phước đức
quả báo, năi chí thành biện Vô Thượng Bồ Đề.
(經)此經能生無量無邊福德果報,乃至成辦無上菩提。
(Kinh: Kinh này
có thể sanh ra vô lượng vô biên quả báo phước
đức, cho đến thực hiện thành tựu Vô Thượng
Bồ Đề).
Tán rằng: Có thể
làm cái nhân thù thắng, có thể sanh ra quả báo là mười
“vương nhân” (cái nhân
tối thắng), hoàn thành (tu tập thành
tựu) Bồ Đề là cái nhân của ba thân. [Nêu ra] quả
báo thù thắng chân thật để khiến cho người
hỏi (Kiều Trần Như) mong cầu.
(Kinh) Ngă kim vị
nhữ lược thuyết kỳ sự.
(經)我今為汝略說其事。
(Kinh:
Tôi nay sẽ v́ ông nói đại lược chuyện ấy).
Tán rằng: Kết
lại bằng cách hứa sẽ nói đại lược.
5.2.4.1.4.6. Ngài Kiều Trần
Như thị hiện phương tiện cố ư thỉnh
cầu lần nữa
(Kinh) Bà-la-môn
ngôn: - Thiện tai đồng tử! Thử Kim Quang Minh thậm
thâm tối thượng, nan giải, nan nhập, Thanh
Văn, Độc Giác thượng bất năng tri.
(經)婆羅門言:善哉童子!此金光明甚深最上、難解難入,聲聞獨覺尚不能知。
(Kinh: Bà-la-môn
nói: - Lành thay đồng tử! Kim Quang Minh này rất sâu, tối
thượng, khó hiểu, khó nhập, Thanh Văn và Độc
Giác c̣n chẳng thể biết).
Tán rằng: Kiều
Trần Như thị hiện phương tiện, cố ư
cầu lần nữa. Kinh văn chia thành ba phần:
- Một, tán thán kinh
này sâu xa, mầu nhiệm, thù thắng, chẳng thể biết.
- Hai, trí của chúng
ta nhỏ nhoi, chẳng thể nương theo kinh để
tu tập được.
- Ba, ân cần cầu
xá-lợi.
Đoạn này thuộc
phần thứ nhất, nêu rơ: Lư Bồ Đề Niết Bàn
nhị không (Ngă Không và Pháp Không) quá sâu, trừ hết sạch
hai chướng (Sở Tri Chướng và Phiền Năo
Chướng), cho nên là vô thượng. Phàm phu khó hiểu Tỷ Trí, khó nhập
Hiện Trí[5],
hàng Nhị Thừa định
tánh chẳng thể tiến nhập, ngộ giải. Do vậy,
chẳng thể biết.
(Kinh) Hà huống
ngă đẳng biên bỉ chi nhân, trí huệ vi thiển nhi năng
giải liễu?
(經)何況我等邊鄙之人,智慧微淺而能解了?
(Kinh: Huống
hồ chúng ta thuộc hạng người kém cỏi, chấp
vào nhị biên, trí huệ ít ỏi, nông cạn, sao có thể
hiểu rơ được?)
Tán rằng: Chúng ta
trí ít, chẳng thể nương theo đó tu tập.
(Kinh) Thị cố, ngă kim cầu
Phật xá-lợi như giới tử hứa, tŕ hoàn bổn
xứ, trí bảo hàm trung,
cung kính cúng dường, mạng chung chi hậu, đắc
vi Đế Thích, thường thọ an lạc.
(經)是故我今求佛舍利如芥子許,持還本處置寶函中恭敬供養,命終之後得為帝釋,常受安樂。
(Kinh: V́ thế,
nay tôi cầu xá-lợi của Phật chừng bằng hạt
cải, đem về chỗ của ḿnh, đặt trong hộp
báu, cung kính cúng dường, sau khi mạng chung, được
làm Đế Thích, thường hưởng an vui).
Tán rằng: Đây
là ư sau cùng, ân cần cầu xá-lợi, chia thành hai ư nhỏ:
- Một, trần
thuật điều mong cầu.
- Hai, gạn hỏi
v́ sao chẳng v́ tôi mà xin?
Đoạn này là trần
thuật ư mong cầu, nhằm tương ứng với lời
giải đáp “[Như Lai] thường trụ, thật sự
chẳng có xá-lợi” [của ngài Hỷ Kiến].
(Kinh) “Vân hà nhữ
kim bất năng vị ngă tùng Minh Hạnh Túc cầu tư
nhất nguyện?” Tác thị ngữ dĩ.
(經)云何汝今不能為我從明行足求斯一願?作是語已。
(Kinh: “Sao nay
ông chẳng v́ tôi cầu xin nguyện này nơi đấng
Minh Hạnh Túc?” Nói lời ấy xong).
Tán rằng: Đây
là gạn hỏi sao không xin xá-lợi nơi thân Phật cho
tôi để tôi cúng dường, ḥng đạt được
cái quả thường lạc?
5.2.4.1.4.7. Hỷ Kiến
đáp “chẳng thể được”
(Kinh) Nhĩ thời,
đồng tử tức vị Bà-la-môn nhi thuyết tụng
viết: - Hằng hà sử lưu thủy, khả sanh bạch
liên hoa.
(經)爾時童子即為婆羅門而說頌曰:恒河駛流水,可生白蓮華。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, đồng tử liền v́ Bà-la-môn nói bài tụng
rằng: - Sông Hằng nước chảy xiết, sanh được hoa sen trắng).
Tán rằng: Hỷ
Kiến đáp “chẳng thể được!” Đại
ư của đoạn kinh văn này là xét theo nhân duyên, duy thức,
vô tướng, và Chân Như, tức bốn loại Quán Môn, để
nói “chẳng có xá-lợi”. Hoặc xét theo Tam Vô Tánh[6]
Quán Môn để nói “chẳng có xá-lợi”, hoặc nương
theo tam tánh (Biến Kế, Y Tha Khởi, Viên Thành Thật) để
nói “không có xá-lợi”, hoặc xét tổng quát theo ba thân để
nói “không có xá-lợi”, hoặc chỉ xét theo pháp [mà nói]: “Phải
nên biết là không có [xá-lợi]”. Dụng ư là trừ tám món điên
đảo[7] và tứ chướng[8],
chỉ rơ “Bồ
Đề và Niết Bàn trọn đủ Tứ Đức”. V́ thế,
thọ lượng của ba thân đều chẳng có ngằn
hạn. Do Kiều Trần Như giả hiện chấp trước
“Phật từ cái nhân hữu lậu mà sanh”, giống
như quả báo trong cơi đời “chết rồi lưu
lại xương nơi thân”, phải là vô thường.
Nay đáp là “không” do xét theo các đạo lư trên đây, khiến
cho [thính chúng] ngộ giải những điều
c̣n lại, biết “Phật thường trụ là an lạc
chân thật”, xứng lư mà tu. Đó chính là bổn ư ở
đây!
[Ngài Hỷ Kiến]
có mười bốn bài tụng [sử dụng các thí dụ
nói về chuyện “chẳng
thể được”], chia thành
bốn phần:
- Ba bài đầu
nhằm nói: Do ĺa tam tướng hữu lậu, cho nên chẳng
có xá-lợi.
- Ba bài kế tiếp
nói: Do Niết Bàn trọn đủ Tam Đức, cho nên chẳng
có xá-lợi.
- Bốn bài kế
tiếp nói bốn hạng người (Duyên Giác, Thanh
Văn, ngoại đạo, Xiển Đề) có các chướng
đều chẳng phải là chân thật, cho nên chẳng
có xá-lợi.
- Bốn bài cuối
cùng nói rơ thân chân thật trọn đủ Tứ Đức,
cho nên chẳng có xá-lợi.
Đoạn [chánh
kinh] này thuộc về phần thứ nhất. Nửa đầu
bài tụng nói về tướng vô sanh của Pháp Thân. “Sông
Hằng” sánh ví chân lư. Kinh Niết Bàn và luận Bảo Tánh
đều dùng nước sông để sánh ví Chân Như. “Sử
lưu” (nước chảy xiết) là sánh ví Như. Tự
tánh chẳng có cấu nhiễm, tự tánh giải thoát, tự
tánh trí huệ, chẳng giống như hữu vi có thể sanh
ra các pháp. Do vậy, [trong tự tánh] chẳng có xá-lợi,
giống như nước chảy xiết, hoa sen chẳng
mọc được! Hoặc [có thể hiểu] là Tự
Thọ Dụng Thân, do Đại Bi, Bát Nhă, Tín, và Định
hợp thành, giống như nước chảy
xiết liên tục đến tận đời vị lai.
V́ thế, chẳng có xá-lợi! Chẳng giống như sự
sanh diệt do Hoặc nghiệp hữu lậu tạo thành,
sự sanh diệt ấy có thể lưu lại xương
cốt nơi thân. Đây là xét theo Y Tha Tánh, chẳng phải
là tự nhiên mà sanh, do phải nhờ vào các duyên [mà sanh khởi, cho nên gọi là Y Tha (nương vào các
pháp khác)]. Thân vô lậu ấy [của Như Lai] chẳng do cái
nhân hữu lậu [sanh khởi], cho nên chẳng thể có các
thân máu thịt v.v…
“Bạch liên hoa”
(hoa sen trắng), tiếng Phạn là Bôn Đồ Lợi Ca (Puṇḍarīka). V́ thế,
kinh dịch theo lối cũ hay mới đều dịch
là Ưu Bát La hoa (Utpala, hoa sen xanh), Câu Vật Đầu hoa
(Kumuda, hoa sen vàng), Bà Đầu Ma hoa (Padma, hoa sen đỏ),
và Bôn Đà Lợi hoa, lần lượt là bốn màu xanh,
vàng, đỏ, trắng. Nhưng bản dịch cũ [của
kinh này] ghi là Câu Vật (tức Câu Vật Đầu), bản
này ghi là Bạch Liên Hoa. Do trong nước chảy xiết,
[các loại hoa sen ấy] đều chẳng mọc được, cho nên
kinh văn lấy một loại để nói cho tiện. Thấy
nước phải nên sanh ra vật, nước chảy xiết
th́ [hoa sen] c̣n chẳng sanh trưởng được. Vô
vi chẳng phải là sanh. Vô lậu chẳng phải nhiễm,
trái nghịch với nhiễm pháp. V́ thế, chẳng có xá-lợi.
(Kinh) Hoàng điểu
tác bạch h́nh, hắc ô biến vi xích.
(經)黃鳥作白形,黑烏變為赤。
(Kinh: Chim vàng
biến thân trắng, quạ đen biến thành đỏ).
Tán rằng: Nói rơ chẳng
có tướng biến đổi khác, cho nên chẳng có xá-lợi.
“Hoàng điểu” (chim vàng anh, chim
hoàng ly) trong bản dịch cũ ghi là Câu Chỉ La (Kokila),
phương này dịch là “hoàng điểu”, đúng ra
phải là “hoàng lệ lâu điểu” trong cơi này. Lại
c̣n có thể hiểu là: Không có từ ngữ tương
đương để phiên dịch [tên gọi
loài chim này trong tiếng Phạn, nên tạm dùng chữ “hoàng
điểu”]. Phương Tây có loại chim ấy, h́nh dạng
như con nhồng, nhưng h́nh vóc nhỏ hơn hoàng điểu.
Ví như Sắc Uẩn lăo chẳng trọn khắp tam giới,
Phần Đoạn lăo chẳng trọn khắp địa
vị vô lậu. H́nh thể quạ to hơn, sánh ví Tứ Uẩn
lăo trọn khắp tam giới, sánh ví Biến Dịch lăo trọn
khắp các địa vị vô lậu. Đây là nói Pháp Thân
lăo và Báo Thân lăo đều chẳng có. V́ thế, chẳng có
xá-lợi.
(Kinh) Giả sử
Thiệm Bộ thụ, khả sanh Đa La quả, Khiết
Thụ La chi trung, năng xuất Am La diệp.
(經)假使贍部樹,可生多羅果;朅樹羅枝中,能出菴羅葉。
(Kinh: Giả
sử cây Thiệm Bộ, sanh được trái Đa La. Nơi
cành Khiết Thụ La, mọc được lá Am La).
Tán rằng: Nói rơ Pháp Thân, Báo Thân v.v… chẳng có tướng
diệt, cho nên không có xá-lợi. “Cây Thiệm Bộ”
(Jambū): Ở phía Bắc của châu [Nam Diêm Phù Đề],
chỗ giáp ranh với biển cả, có nhiều loại
cây này. Hạt cây cực to, cũng có thể ăn
được. Phía dưới cây, trong biển có nhiều chất vàng tốt, cựu
dịch [tên của loại vàng này
thành] “Diêm Phù Đàn kim” là sai. Luận Du Già Sư Địa
nói: “Vô Nhiệt Tŕ trắc hữu đại Thiệm Bộ
thụ, thử châu nhân thụ nhi dĩ lập danh” (cạnh
ao Vô Nhiệt có cây Thiệm Bộ to lớn, châu này do loại
cây ấy mà đặt tên như vậy).
“Cây Đa La” (Tāla): [Tây Vực] Truyện nói cây to lớn, lá hẹp dài, tức
là lá cây Bối Đa La (Pattra). Tây quốc viết trên loại lá
này. “Khiết Thụ La” (Kharjūra, chà là)
cũng chẳng được dịch nghĩa. Bản dịch
cũ ghi là Khư Thọ La Thụ Tử, giống như loại
thóc Cô (苽)[9]
nơi đất Hán, bên trong có nhiều
hạt nhỏ. Hạt to như tép tỏi, ăn vào ngon ngọt.
[Tây Vực] Truyện nói về Tây Quốc
như sau: Nước Ma Yết Đề (Magadha) có nhiều loại cây này, những nơi khác chẳng
nhiều. Am La (Āmra, xoài. [Tây Vực] Truyện ghi là: “Phương này dịch
là Cam Tử, có hạt nhỏ”). Các loài khác nhau như thế
tuy có sanh diệt, vẫn chẳng hề có chuyện từ
loại quả này đă diệt
mà sanh ra loại quả khác; vô vi Pháp Thân sao có thể diệt
trước để lưu lại xá-lợi ư? Nếu
xét theo tự tánh Pháp Thân, Bát Nhă Luận viết: “Tam tướng
do khác thể, ĺa khỏi chúng th́ là Như Lai”.
(Kinh) Tư đẳng
hy hữu vật, hoặc dung khả chuyển biến. Thế
Tôn chi xá-lợi, tất cánh bất khả đắc.
(經)斯等希有物,或容可轉變;世尊之舍利,畢竟不可得。
(Kinh: Các vật
hy hữu ấy, họa chăng có chuyển biến. Xá-lợi
của Thế Tôn, rốt ráo chẳng thể được!)
Tán rằng: Kết
hợp [thí dụ] với pháp. Các thứ hữu vi ấy giả
sử có thể chuyển biến, v́ thế nói là “hoặc
dung” (không chừng), “dung” hàm nghĩa “bất định”. Pháp Thân
của Như Lai ắt là vô sanh diệt, chẳng lưu lại
xá-lợi từ xương. Đối với Hóa Thân và Báo
Thân, cứ chuẩn theo đó mà biết.
(Kinh) Giả sử
dụng quy mao, chức thành thượng diệu phục, hàn
thời khả phi trước, phương cầu Phật
xá-lợi.
(經)假使用龜毛,織成上妙服,寒時可披著,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử dùng lông rùa, dệt thành áo thượng diệu, khi lạnh
khoác, mặc được, mới cầu xá-lợi Phật).
Tán rằng: Ba bài tụng
từ đây trở đi đều nói rơ: Do có đủ
Tam Đức, cho nên chẳng có xá-lợi. Bài thứ nhất
nói Bát Nhă chân thật do ĺa hư vọng. Lông rùa vốn chẳng
có, ví như Thật Tánh Bát Nhă chẳng có xương xẩu.
Dệt thành áo đẹp đẽ, ví như do xá-lợi mà
tu hạnh thù thắng. Lúc lạnh có thể đắp hay khoác,
ví như lầm lạc, coi đó
là thường quả (cái quả thường hằng). Nếu
cái tâm so đo hư vọng, cho là chân thân của Phật thật
sự có xương, thịt v.v… Thân hữu lậu như
lông, “chấp có ngă để có thể nương theo mà tu
tập, ḥng đạt được thật quả” như
áo; đấy chính là Biến Kế Vọng Chấp. Các vọng
chính là chẳng có. V́ thế, xét theo sự thật, Tự Tánh Bát Nhă sẽ chẳng
có xá-lợi. Hoặc có thể coi máu, thịt, gân, xương
hợp thành Pháp Thân th́ giống như dùng lông rùa gom góp thành
y phục để có thể chống lạnh. Chuyện ấy
đă chẳng có, cho nên không có xá-lợi, ĺa khỏi tướng
sanh trong phần trước.
(Kinh) Giả sử
văn nhuế túc, khả sử thành lâu quán, kiên cố bất
dao động, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)假使蚊蚋足,可使成樓觀,堅固不搖動,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử chân muỗi, ruồi, có thể dựng lầu, quán,
kiên cố, chẳng động lay, mới cầu Phật xá-lợi).
Tán rằng: Sánh ví Pháp
Thân là pháp vi tế chân thật, chẳng thể đổi
khác thành có xá-lợi máu thịt thô thiển, tức là “ĺa dị
tướng” như đă nói trong phần trước.
(Kinh) Giả sử
thủy điệt trùng, khẩu trung sanh bạch xỉ, trưởng
đại lợi như phong, phương cầu Phật
xá-lợi.
(經)假使水蛭蟲,口中生白齒,長大利如鋒,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử con đỉa nước, trong miệng sanh răng
trắng, mọc lớn bén như dao, mới cầu Phật
xá-lợi).
Tán rằng: Sánh ví
giải thoát tự tánh chẳng thể có pháp hữu lậu
huyết nhục trói buộc, “như đỉa
mọc răng” là bị trói buộc, trở ngại. Đă chẳng có
sanh, cho nên chắc chắn chẳng có diệt, ĺa diệt tướng
nói trong phần trước. Hoặc là thoạt đầu
sánh ví Chân Như nơi Địa Tiền,
do chẳng bị khách trần nhuốm bẩn, cho nên chẳng
sanh. V́ thế, kinh nói “bất sanh, bất diệt”. Chân
Như nơi Thập Địa tuy phần nào đă lắng
sạch, nhưng do chẳng phải là “chuyển nhiễm
thành tịnh”, cho nên chẳng khác. V́ thế, kinh nói “chẳng
tăng, chẳng giảm”. Chẳng phải là thuận
theo công đức mà sanh tăng, chẳng thuận theo phiền
năo mà diệt giảm. Thí dụ sau nói về cái thân giải
thoát thuộc đạo hậu (sau khi đă chứng đạo)
đă ĺa khỏi trói buộc, cho nên chẳng có xá-lợi. Lại
có thể hiểu là ba bài tụng trước sánh ví tánh của
sanh là vô tự tánh, ba bài tụng kế tiếp sánh ví tánh của
tướng là vô tự tánh, tám bài kệ trong phần sau sánh
ví tánh của thắng nghĩa là vô tự
tánh, [tức là] theo thứ tự chính là ba tánh Y Tha, Biến
Kế, và Viên Thành, ḥng khiến
cho [hành nhân] tu quán hạnh.
(Kinh) Giả sử
tŕ thố giác, dụng thành ư thê đăng, khả
thăng thượng thiên cung, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)假使持兔角,用成於梯磴,可升上天宮,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử dùng sừng thỏ, để tạo thành thang, thềm,
lên được cơi thiên cung, mới cầu xá-lợi Phật).
Tán rằng: Bốn
bài tụng sau đó nói rơ bốn loại người do có chướng,
chẳng đạt được Tứ Đức, dụng ư là vạch
rơ Pháp Thân là thường, lạc v.v… Ở đây, dùng thỏ
để sánh ví Pháp Thân. Ngỡ Thường là vô thường,
giống như t́m cầu sừng nơi thỏ. Dùng [“sừng
thỏ”] làm cái thang để lên được cung trời,
ví như [đối với] Thường đức của
Niết Bàn, ngỡ vô thường là cái thang, mong được
vào cung Niết Bàn, chẳng có lẽ ấy! V́ thế, biết:
Chẳng có xá-lợi! Dựa theo điều này liền hiểu
rơ: Muốn cầu xá-lợi nơi Pháp Thân, rốt ráo chẳng
thể được! Đây chính là loại người
thứ nhất: Do trừ xả tâm của hàng Duyên Giác, đức
Thế Tôn dạy vô thường tưởng. V́ thế, muốn
dùng xả tâm để nhập Đại Niết Bàn, chắc
chắn là chẳng được! Do vậy biết Pháp
Thân ắt chẳng phải là vô thường; bởi lẽ
Vô Thường Quán giống như nương vào thỏ để
t́m sừng ḥng làm cái thang mong lên được cung trời,
chắc chắn chẳng thể được! V́ thế,
đối
với hàng Nhị Thừa mà nói là “đắc”
chính là nói phương tiện! Như kinh Thắng Man[10]
dạy: “Khứ Niết Bàn giới cận, ngôn đắc
Niết Bàn, thật bất đắc dă” (Gần với
Niết Bàn giới, nói là “đắc
Niết Bàn”, thật sự chẳng đắc). Nay dạy quán Thường,
tu đại bi, trừ xả tâm gây chướng, ḥng làm cái
nhân cho Thường để chứng Thường đức
của Phật. Lại nương theo Pháp Thân, quán có xá-lợi
từ xương thịt vô thường, mong cầu cúng
dường [xá-lợi], ḥng làm cái nhân của Pháp Thân, ắt cũng chẳng
thể được! Như dựa vào thỏ mà t́m sừng
làm thành cái thang ḥng lên cơi trời, cố nhiên là
chẳng thể được! Trong phần trước là
do cái nh́n điên đảo tạo thành chướng, tự chẳng
đạt được Thường đức của Pháp
Thân. Trong phần này, dựa theo tà quán để cầu xá-lợi
của Phật, sẽ chẳng
thể được! Đă chẳng
có xá-lợi, nương vào sự tu hành nào để làm cái nhân
cho Thường vậy?
(Kinh) Thử
duyên thử thê thượng, trừ khử A Tô La, năng
chướng không trung nguyệt, phương cầu Phật
xá-lợi.
(經)鼠緣此梯上,除去阿蘇羅,能障空中月,方求佛舍利。
(Kinh:
Chuột leo theo thang ấy, trừ khử A Tu La, chướng
ngại trăng giữa trời, mới cầu xá-lợi Phật).
Tán rằng: Trừ
khử chướng ngại do sợ khổ của Thanh
Văn. Hàng Thanh Văn quán Pháp Thân của Phật, ngỡ là
hữu lậu khổ, giống như chuột. [Thanh Văn]
chẳng có Lạc đức của Pháp Thân, như dùng sừng
thỏ làm thang, chấp rằng do khổ tưởng mà có
thể trừ các chướng, có thể hàng phục các ma,
đắc đại Niết Bàn. [Chấp trước ấy]
giống như con chuột ḅ theo sừng thỏ để
lên trời trừ kẻ oán, chắc chắn sẽ không được! Hoặc
chuột ví như Thanh Văn, sừng thỏ ví như đối
với Lạc đức mà tưởng là sự khổ chân
thật. Thật sự chẳng có khổ mà chấp là có khổ.
Do có khổ, cho nên có vô thường, cho rằng có xá-lợi
từ xương, thịt; do vậy, nay mới t́m cầu.
Tức là dùng cái nhân ấy để mong đạt được
Lạc đức, sẽ giống như nương theo cái
thang làm từ sừng thỏ để trừ bỏ A Tu
La chướng lấp mặt trăng[11].
Mặt trăng ví như Niết Bàn. Đă chẳng xứng
thật, chắc chắn là chẳng thể được.
Dạy họ tu đại định, v́ có thể chứng
đắc cái nhân của Đại Lạc đức.
(Kinh) Nhược
dăng ẩm tửu túy, châu hành thôn ấp trung, quảng tạo
ư xá trạch, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)若蠅飲酒醉,周行村邑中,廣造於舍宅,方求佛舍利。
(Kinh:
Nếu ruồi uống rượu say, đi khắp trong thôn
ấp, xây thật nhiều nhà cửa, mới cầu Phật
xá-lợi).
Tán rằng: Trừ
ngă chướng của ngoại đạo. Do trừ [kiến
chấp v́ thấy] đức Thế Tôn có các môn hữu lậu
quán khác, bèn cho là có Ngă lạc
v́ điên đảo, như ruồi nhặng uống say, liền
nằm lăn ra đó, chẳng thể bay khắp thôn ấp
kiến tạo sào huyệt. Pháp Thập Địa trong khi
tu nhân như thành, Trạch Diệt[12]
như thôn ấp. Lạc đức của Niết Bàn như
nhà cửa. Trí Độ Luận trích dẫn một bài tụng do một gă ngoại đạo nói với
ngài Xá-lợi Tử như sau: “Ngă ẩm cánh mễ tửu,
thiết tŕ nhất b́nh lai, sơn địa chư thảo
mộc, thị chi như kim sắc” (tôi uống rượu
gạo tẻ, trộm cầm đi một b́nh, cỏ cây
trong vùng núi, đều thấy như sắc vàng). Đấy
là sánh ví ngoại đạo đối với pháp hữu lậu
thấy là “chẳng
không, có tướng, có nguyện”. Nay xét
theo vô vi, chẳng thể nói là “tạo tác nhà cửa”,
chỉ nói là “tạo nghệ” (造詣, bản lănh), hoặc
nương theo liễu nhân để giả dụ là “dựng
nhà”. Nay trừ khử nỗi điên đảo chấp
trước hư vọng, tu trí huệ minh giác Bát Nhă, có thể
đạt được Đại Ngă nơi Niết Bàn
của Như Lai. Hoặc như ngoại đạo tuy chấp
Ngă là thường, nhưng v́ có nghĩa
“xả thân” và “thọ thân”, cho nên tưởng rằng thân Thường
Ngă của Thế Tôn có xá-lợi. Do [kiến chấp ấy] đă là điên đảo,
cho nên chẳng có xá-lợi.
(Kinh) Nhược
sử lư thần sắc, xích như tần bà quả, thiện
tác ư ca vũ, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)若使驢脣色,赤如頻婆果,善作於歌舞,方求佛舍利。
(Kinh: Nếu
khiến màu môi lừa, đỏ như quả tần bà,
khéo có thể ca múa, mới cầu Phật xá-lợi).
Tán rằng: Trừ
chướng ngại “bất tín” của hàng Xiển Đề.
Do si, chẳng tin Tứ Đức của Pháp Thân. Do ngu ám,
ví như môi lừa đen x́. Do chẳng tin, cho nên chẳng
đắc đại tịnh nơi Niết Bàn của Như
Lai. Như môi lừa đen, chẳng thể khiến cho nó đỏ
như quả tần bà (Bimba)[13].
Xiển Đề chẳng tin, đối với Pháp Thân “chẳng thể đạt được” mà nói là
có xá-lợi. V́ thế, dạy họ tu tập, tin tưởng:
“Có thể do cái nhân tịnh đức mà chứng đắc
đại tịnh”. Tứ Đức đều là dựa
trên tăng chướng và tăng nhân mà nói. Xét theo địa
vị tu hành th́ theo thứ tự ngược (tức là giảm
chướng, giảm thiểu cái nhân hữu lậu). Do nói
theo thứ tự của Tứ Đức, trước hết
nói xả tâm v.v…
“Thiện tác ư
ca vũ” (khéo có thể ca múa): “Ca” ví như thuyết
pháp, tức hạnh lợi tha. “Vũ” ví như hạnh
tự lợi. Xét theo kinh văn ở đây, dường
như chỉ là thí dụ chung cho điều thứ tư.
Xét theo bản dịch của ngài Chân Đế, từ chữ
“tức thiện tác” trở đi là phần kết luận
chung của cả bốn điều trước đó. V́ thế,
kinh ấy (bản dịch của ngài Chân Đế) ghi: “Phàm
phu cập nhị vô năng thuyết, cập năng hành tự
tha, vô thị xứ cố. Tổng bất năng thuyết
Như Lai Tứ Đức, cập tu tứ nhân” (Phàm phu
và Nhị Thừa chẳng thể nói, và có thể
hành hạnh lợi lạc ta lẫn người, do chẳng
có lẽ ấy! Nói chung là chẳng thể nói Tứ Đức
của Như Lai và tu bốn cái nhân được). Nhưng
đoạn kinh văn ở đây có nghĩa là: Tạm thời,
họ chẳng thể nói và tu hành, hoặc là
xét theo định tánh Nhị Thừa, vô tánh Xiển Đề, và ngoại
đạo. [Tuy họ chẳng
thể tu hành Tứ Đức được], nhưng có
thể nói: Do v́ trừ chướng cho hàng bất định
tánh và những ai có chủng tánh, bèn dạy họ tu tập
cái nhân của Tứ Đức ḥng chứng Tứ Đức.
Hoặc có thể hiểu là đối với kẻ định
tánh [Nhị Thừa], nhưng chẳng ngu muội đối
với pháp, cũng có thể nói [Tứ Đức] khiến
cho họ biết, giáo hóa họ đôi chút. Hoặc có thể
hiểu kinh văn trong phần này chỉ nhằm kết lại
thí dụ về hạng người thứ tư, liên hệ
đến ba loại người trước đó.
(Kinh) Ô dữ hưu
lưu điểu, đồng cộng nhất xứ du, bỉ
thử tương thuận tùng, phương cầu Phật
xá-lợi.
(經)烏與鵂鶹鳥,同共一處遊,彼此相順從,方求佛舍利。
(Kinh: Quạ
và chim cú vọ, cùng bay chung một chỗ, đôi bên tùy thuận
nhau, mới cầu Phật xá-lợi).
Tán rằng: Nêu rơ Pháp
Thân chân thật trọn đủ Tứ Đức, cho nên chẳng
có xá-lợi. Đoạn này cũng chia thành bốn ư; đây là ư thứ
nhất: Chỉ rơ thật đức Thường chẳng
cùng ở chung với vô thường hư vọng, cho nên
chẳng có xá-lợi. Lại do Vô Thường Quán, sẽ chẳng đạt được Thường đức. Nếu như
đạt được th́ mới có thể cầu xá-lợi.
Do đă chẳng thể đạt được, cho nên
chẳng thể cầu!
(Kinh) Giả sử
Ba La diệp, khả thành ư tán cái, năng giá ư đại
vũ, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)假使波羅葉,可成於傘蓋,能遮於大雨,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử lá Ba La, có thể thành dù, lọng, che được
trận mưa to, mới cầu Phật xá-lợi.
Tán rằng: Nói về
Đại Lạc đức. Nếu bảo là khổ, như
lá cây Ba La, Tây Vực Truyện nói mỗi lá Ba La đều
tách thành ba phiến, chẳng thể dùng làm dù để che
mưa to được. Mưa to ví như Biến Dịch
Khổ. Thanh Văn cho là khổ, cho nên chẳng thể phá nỗi
khổ do trận mưa to của Biến Dịch Tứ Ma. Nhị
Thừa hành Vô Thường Quán và Khổ Quán, chẳng thể
đạt được thường lạc.
(Kinh) Giả sử
đại thuyền bạc, thịnh măn chư tài bảo, năng
linh lục địa hành, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)假使大船舶,盛滿諸財寶,能令陸地行,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử chiếc thuyền lớn, chứa đầy các của
báu, có thể đi trên đất, mới cầu Phật xá-lợi).
Tán rằng: Nói về
Đại Ngă đức. Do Ngă của Pháp Thân như chiếc
thuyền to lớn, trọn đủ hằng sa đức
như chứa đầy của báu. “Khiến cho đi
trên đất” ví như ngă kiến của ngoại
đạo. Do cái tâm ngă kiến, ngoại đạo chẳng
thể thấy Chân Ngă. Chân Ngă như thuyền, chẳng thể
đi trên đất bằng “ngă kiến” của ngoại
đạo được!
(Kinh) Giả sử
tiêu liêu điểu, dĩ chủy hàm Hương Sơn, tùy
xứ nhậm du hành, phương cầu Phật xá-lợi.
(經)假使鷦鷯鳥,以嘴銜香山,隨處任遊行,方求佛舍利。
(Kinh: Giả
sử chim tiêu liêu[14], dùng mỏ ngậm
Hương Sơn, tùy ư đi khắp nơi, mới cầu
Phật xá-lợi).
Tán rằng: Nói về
đại tịnh đức. Ngoại đạo chẳng
tin tịnh đức của Niết Bàn, hư vọng so đo:
“Do các thứ tịnh khác, sẽ có thể đạt được
chân tịnh đức của Niết Bàn”. Giống như
chim tiêu liêu chẳng thể ngậm Hương Sơn[15]
bay đi được! Hương Sơn sánh ví tịnh đức
của Niết Bàn. Chim ví như ngoại đạo. Chẳng
tin lời Phật, cứ nương theo kiến giải của
chính ḿnh để hành, cho là đă đạt được
chân tịnh, chắc chắn chẳng thể được!
Chân Pháp Thân đă chẳng có nỗi khổ “vô thường,
vô ngă, bất tịnh”, biết rơ xá-lợi quyết chẳng
thể được! V́ thế, cầu xá-lợi để
nương vào đó mà cúng dường, ḥng làm cái nhân an lạc
để thành tựu bổn nguyện, ắt chẳng thể
được! Do vậy, phải
nên quán Phật ĺa ba tướng, thành tựu ba đức,
tu bốn cái nhân, chắc chắn được măn nguyện.
5.2.4.1.4.8. Kiều Trần
Như lănh ngộ, thấu hiểu Pháp Thân thường trụ
(Kinh) Nhĩ thời,
Pháp Sư Thọ Kư Bà-la-môn văn thử tụng dĩ, diệc
dĩ già-tha đáp Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến
đồng tử viết:
(經)爾時法師授記婆羅門聞此頌已,亦以伽他答一切眾生喜見童子曰:
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Pháp Sư Thọ Kư Bà-la-môn nghe tụng xong, cũng
dùng già-tha (kệ tụng) đáp lời đồng tử Nhất
Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến rằng).
Tán rằng: Điều
thứ tám, Kiều Trần Như lănh ngộ, thấu hiểu
sự thường trụ. Kinh văn chia thành hai phần:
- Một, người
kết tập kinh nêu bày.
- Hai, phần lănh ngộ,
thấu hiểu [của
ngài Kiều Trần Như].
Đoạn này thuộc
phần đầu.
(Kinh) Thiện
tai đại đồng tử, thử chúng trung cát tường,
thiện xảo phương tiện tâm, đắc Phật
vô thượng kư.
(經)善哉大童子,此眾中吉祥,善巧方便心,得佛無上記。
(Kinh: Lành
thay đại đồng tử, cát tường trong chúng
này, tâm phương tiện thiện xảo, Phật thọ
kư vô thượng).
Tán rằng: Chánh thức
trần thuật sự lănh ngộ, thấu hiểu. Bảy
bài tụng [trong phần này] được chia thành ba
đoạn:
- Hai bài tụng
đầu tán thán phẩm đức sẽ
được trần thuật.
- Bốn bài tụng
kế đó nói rơ sự giải ngộ.
- Bài tụng cuối
cùng kết lại ư nghĩa “thân Phật thường trụ”.
Kinh văn thuộc
phần thứ nhất chia thành ba phần:
- Bài tụng đầu
tiên tán thán đức của Hỷ Kiến.
- Nửa bài tụng
kế đó nêu ra sự thành tựu của Phật.
- Nửa bài tụng
kế đó, răn bảo hăy nghe v́ sẽ nói.
Đoạn này chính
là “tán thán Hỷ
Kiến”, [lại
gồm hai tiểu đoạn]:
- Một là
tán thán chung.
- Hai là tán
thán riêng biệt.
Phần tán thán chung
th́ tán thán sự thuyết pháp trên đây và tán thán nội đức.
Do các điều được nói trong phần trước
là nương theo Vô Nhiễm Trí để nói Tứ Đức
của Phật. Đời này trừ chướng, tu nhân sẽ
chứng. V́ thế, khen rằng “lành thay!”
Tán thán nội đức
chính là phần tán thán các công đức trong phần sau, gồm
sáu đức thù thắng:
- Một, tương
ứng phẩm đức thù thắng.
- Hai, phẩm đức
sanh trong địa vị thù thắng.
- Ba, phát nguyện thù
thắng.
- Bốn, thiện
xảo thù thắng.
- Năm, phương
tiện thù thắng.
- Sáu, nhiếp thọ
thù thắng.
Nói “đại đồng
tử” là do tương ứng với bảy đại
tánh. Như trong Bát Nhă Luận của ngài Vô Trước có nói:
“Vị Bồ Tát ấy tương ứng với bảy
đại tánh, cho nên gọi là Đại”. Ở đây,
cũng có ư nghĩa giống như vậy. Nói “đồng
tử” nhằm tỏ rơ [Hỷ Kiến] đă sanh trong địa
vị thù thắng: Do dự vào Sơ Địa, sanh trong nhà
Như Lai, th́ gọi là “đồng tử”, nghĩa là
“chân Phật tử”. Điều
này lại có bốn ư:
- Một, chủng
tử thù thắng, do tin đại pháp làm chủng tử.
- Hai, sanh mẫu (mẹ
đẻ) thù thắng, do lấy Bát Nhă làm mẹ ruột.
- Ba, thai tạng thù
thắng, do dùng Thiền Định làm thai tạng.
- Bốn, nhũ mẫu
thù thắng, dùng đại bi trưởng dưỡng làm
nhũ mẫu.
“Chúng trung cát tường”
(cát tường trong đại chúng), tức là đại nguyện
thù thắng, nghĩa là đă phát mười đại nguyện
hoặc tứ hoằng nguyện. Nói “thiện xảo”
tức là thiện xảo thù thắng, đạt được
phương tiện để tiến lên địa vị
cao hơn. Nói “phương tiện tâm” tức là phương
tiện thù thắng. Nương vào hai thứ để lợi
sanh: Một là biết chính ḿnh gần với Bồ Đề,
hai là do biết phương tiện lợi tha. Nói “được
Phật thọ kư” tức là nhiếp thọ thù thắng,
tức là được chư Như Lai nhiếp
thọ và thọ kư.
(Kinh) Như Lai
đại oai đức, năng cứu hộ thế gian.
Nhân khả chí tâm thính, ngă kim thứ đệ thuyết.
(經)如來大威德,能救護世間。仁可至心聽,我今次第說。
(Kinh: Như
Lai oai đức lớn, hay cứu hộ thế gian. Nhân
giả chí tâm nghe, nay tôi lần
lượt nói).
Tán rằng: Hai câu đầu
tán thán bi và trí của Phật. “Đại oai đức”
là Trí Đức, có đủ các thần thông v.v… “Năng cứu
hộ” (có thể cứu vớt, bảo vệ) là Bi Đức, do lợi ích thế gian. “Ngă kim thứ đệ
thuyết” (tôi nay nói theo thứ tự): Trần thuật
các điều sẽ nói. Các điều sẽ nói chính là ba
thân của Phật. Phần Quả Trí trong Vô Tánh Nhiếp Luận[16]
nói: “Hăy nên biết Pháp Thân đại lược có năm
tướng: Một là chuyển y[17] tướng, hai
là tướng do bạch pháp (thiện
pháp) tạo thành, ba là tướng vô nhị, bốn là tướng
thường trụ, năm là tướng chẳng thể
nghĩ bàn”. Năm nghĩa ấy tôi sẽ lần
lượt nói.
(Kinh) Chư Phật
cảnh nan tư, thế gian vô dữ đẳng, Pháp Thân tánh
thường trụ, tu hành vô sai biệt.
(經)諸佛境難思,世間無與等,法身性常住,修行無差別。
(Kinh:
Cảnh chư Phật khó nghĩ, thế gian chẳng sánh
bằng. Tánh Pháp Thân thường trụ, tu hành chẳng sai
biệt).
Tán rằng: Bốn
bài kệ sau đây nhằm nêu bày sự lănh ngộ, thấu
hiểu. Hai bài đầu [trần thuật sự] thấu
hiểu lẽ thường trụ, hai bài sau trần thuật v́ sao không
có xá-lợi.
Phần đầu
[nói về sự] thấu hiểu thường trụ, tức
là Quả Trí Phần [trong Nhiếp Luận]. Trong Quả Trí
Phần, đại lược có năm tướng:
- “Chư Phật cảnh nan tư” (cảnh
của chư Phật khó nghĩ) chính là tướng chẳng
thể nghĩ bàn.
- “Thế
gian vô dữ đẳng” (thế gian
chẳng sánh bằng) là tướng chuyển y.
- “Pháp Thân tánh
thường trụ” (tánh của Pháp Thân là
thường trụ) chính là tướng thường trụ.
- “Tu hành vô
sai biệt” là tướng do bạch pháp (thiện
pháp) hợp thành.
- Thể của
chư Phật đều là cùng một hạnh, chính là “vô
nhị vi tướng” (tướng chẳng hai), có nghĩa
là dùng cội gốc của các pháp như thế để
mê hay ngộ nương vào. V́ thế, trước hết,
nêu ra tướng chẳng thể nghĩ bàn.
Đă biết cái gốc
rồi; kế đó, biện định Chuyển Y tướng.
Đă “chuyển y” tức là đă đắc Pháp Thân.
Kế đó, biện định tướng thường
trụ của Pháp Thân. Thân do nhân mà chứng. Kế đó, biện
định tướng do các bạch pháp hợp thành. Đă
là do các bạch pháp hợp thành, chẳng biết là giống
hay khác. Kế đó, biện định tướng vô nhị.
Luận ấy dựa theo thứ tự của năng y (chủ
thể nương vào) và sở y (cái được nương
vào), cho nên theo thứ tự nói riêng biệt [từng điều].
Cảnh giới của Phật khó thể nghĩ bàn chính là
tướng thứ năm trong luận ấy (Nhiếp Luận).
Luận ấy viết: “Nói Chân Như thanh tịnh chính là
tự nội chứng, chẳng phải là cảnh hiện
hành bởi tầm, tư”. Các thứ tầm[18],
tư (思, suy nghĩ) chỉ nên tin hiểu, chớ nên
nghĩ bàn; [do vậy] được gọi là “khó nghĩ bàn”.
“Thế gian vô dữ
đẳng” (thế gian chẳng có ai sánh bằng) tức
là tướng thứ nhất, tức
Chuyển Y Tướng; nghĩa là chuyển diệt Y
Tha Khởi Tánh thuộc vào phần tạp nhiễm trong hết
thảy các chướng, chuyển thành giải thoát hết
thảy các chướng nơi Y Tha Khởi Tánh thuộc vào
pháp tự tại chuyển hiện tiền thanh tịnh. Điều
này có nghĩa là chuyển y đă viên măn, trong thế gian chẳng
có ai sánh bằng!
“Pháp Thân tánh thường
trụ” chính là tướng thường trụ thứ
tư trong luận ấy. Luận ấy viết: “Nói đến
tướng Chân Như thanh tịnh th́ do bổn nguyện dẫn
khởi, đối với chuyện đă nên làm chẳng c̣n
mong mỏi nữa”. Ngài Vô Tánh giảng rằng: “Đấy
là nêu rơ tánh Chân Như thường hằng, chẳng biến
đổi, tỏ
rơ thành tựu Phật quả th́ được gọi
là Pháp Thân. Nếu tánh ấy biến đổi, sẽ chẳng
phải là Chân Như. V́ thế là thường trụ. Do bổn
nguyện dẫn khởi, đối với việc cần
làm chẳng mong mỏi, hiển hiện các vị Phật ứng
hóa khác”.
“Tu hành vô sai biệt” chính là tướng
thứ hai, tức “tướng do các bạch pháp hợp
thành”, nghĩa là Lục Ba La Mật Đa viên măn, đạt
được mười món tự tại. Mười nghĩa
tự tại ấy sẽ được giải thích trong
phần sau.
(Kinh) Chư Phật
thể giai đồng, sở thuyết pháp diệc nhĩ,
chư Phật vô tác giả, diệc phục bổn vô sanh.
(經)諸佛體皆同,所說法亦爾,諸佛無作者,亦復本無生。
(Kinh: Chư
Phật Thể đều
đồng, pháp nói ra cũng thế. Chư Phật chẳng
tạo tác, lại cũng vốn vô sanh).
Tán rằng: Đây
là tướng thứ ba, tức vô nhị. Có ba thứ vô nhị:
- Một, Hữu và
Vô vô nhị.
- Hai, hữu vi và vô
vi vô nhị.
- Ba, hết thảy
chư Phật vô nhị.
“Đồng” được
nói ở đây chính là ư nghĩa “vô nhị”. “Chư Phật
thể giai đồng” (bản thể của chư Phật
đều giống nhau) chính là câu tổng quát, cũng chính là “Hữu và Vô đều
vô nhị”. Câu “chư
Phật vô nhị” là câu nói riêng, hàm ư: “Hữu và Vô vô nhị”
chính là tướng, do hết thảy các pháp vô sở hữu.
Giải rằng: Nơi Pháp Thân chẳng có Biến Kế,
cho nên chẳng phải là hữu tướng. Do tự tánh được
hiển thị bởi Không, cho nên chẳng phải là vô tướng.
Từ “chư Phật
vô tác giả” trở đi, chỉ rơ hữu vi và vô vi chẳng
hai. “Diệc phục bổn vô sanh” (cũng lại vốn
là vô sanh) nêu rơ nơi Ứng Hóa Thân th́ hữu vi và vô vi chẳng
phải là hai tướng. V́ thế, luận nói: “Do nghiệp
phiền năo chẳng phải là cái được thực hiện,
cho nên gọi là ‘vô tác giả’ (chẳng có người tạo
tác). Đă chẳng phải do phiền năo tạo tác, mà cũng
chẳng phải sanh từ Hoặc nghiệp; cho nên nói là Vô
Sanh. Điều này cũng chỉ rơ: Cái Thể của tự
tánh Pháp Thân là vốn có, chẳng phải là mới sanh hay tạo
tác”. Pháp được nói ra cũng thế, do vậy giải
thích là “thuyết pháp cũng chẳng sai khác”, v́ chư
Phật Như Lai có cùng sự nghiệp. Lại c̣n có thể
hiểu là: Đoạn kinh văn này nhằm giải thích sự
cứu vớt, bảo vệ thế gian trong đoạn trước.
Nếu chẳng thuyết pháp, sao có thể cứu vớt, bảo
vệ? Do đó, trong phần sau, kinh này nhiều lượt
nói: “Thử kinh lưu bố ư thế gian trung, hữu
đa lợi ích” (kinh này lưu truyền trong thế gian,
có nhiều lợi ích).
(Kinh) Thế Tôn
kim cang thể, quyền hiện ư hóa thân. Thị cố Phật
xá-lợi, vô như giới tử hứa. Phật phi huyết
nhục thân, vân hà hữu xá-lợi?
(經)世尊金剛體,權現於化身,是故佛舍利,無如芥子許。佛非血肉身,云何有舍利?
(Kinh: Thế
Tôn kim cang thể, quyền hiện nơi hóa thân. V́ thế,
xá-lợi Phật, chừng hạt cải chẳng có! Phật
chẳng thân máu thịt, làm sao có xá-lợi?)
Tán rằng: Hai bài tụng
kế đó, giảng giải [v́ sao] “không có xá-lợi”. Một bài tụng rưỡi đầu trần thuật
sự lănh ngộ, thấu hiểu [Phật thật sự
chẳng có xá-lợi], nửa bài tụng sau đó nêu ra sự
thấu hiểu về [chuyện đức Phật] thị
hiện có [xá-lợi]. Đoạn này thuộc về phần
thứ nhất. Do ba nghĩa mà chẳng có xá-lợi:
- Một là kiên cố
khó phá hoại, do kim cang thể khó thể phá hoại.
- Hai, thân quyền
biến hóa hiện. Các vị hóa sanh c̣n chẳng có xương
sót lại. V́ thế, thân quyền biến thị hiện của
đức Phật chẳng có xá-lợi chừng bằng hạt
cải.
- Ba, [thân Phật] chẳng
phải là thân máu thịt, sao có xá-lợi cho được?
Hỏi: Nếu bảo
là quyền biến thị hiện, cớ sao Điều Đạt
(Đề Bà Đạt Đa) làm cho thân Phật
chảy máu vậy?
Đáp: Theo quyển
bốn kinh Đại Phương Đẳng Vô Tướng
Đại Vân, Thiện Đức đă hỏi [chuyện
này], đức Thế Tôn đáp rằng: “Như Lai thân
huyết thật vô hữu xuất, Đề Bà Đạt
Đa diệc bất năng xuất. Nhược ngôn thụ
ảnh hữu xuất huyết giả, vô hữu thị xứ!
Như Lai chi thân diệc phục như thị, nhược
ngôn xuất huyết, đương tri tức thị thiện
quyền phương tiện bất khả tư nghị”
(Thân Như Lai thật sự không có chảy máu. Đề
Bà Đạt Đa cũng
chẳng thể làm thân Phật chảy máu. Nếu nói bóng cây
có chảy máu th́ chẳng có lẽ ấy! Thân Như Lai cũng
giống như thế, nếu nói là “chảy máu”, hăy nên
biết đó chính là phương tiện thiện xảo quyền
biến chẳng thể nghĩ bàn vậy!)
(Kinh) Phương
tiện lưu thân cốt, vị ích chư chúng sanh.
(經)方便留身骨,為益諸眾生。
(Kinh: Phương
tiện lưu xương cốt, v́ lợi ích chúng sanh).
Tán rằng: Thấu
hiểu sự thị hiện. Dùng phương tiện thần
thông trí lực thiện xảo để thị hiện lưu
lại xá-lợi ḥng lợi ích chúng sanh.
(Kinh) Pháp Thân thị
Chánh Giác, pháp giới tức Như Lai, thử thị Phật
chân thân, diệc thuyết như thị pháp.
(經)法身是正覺,法界即如來,此是佛真身,亦說如是法。
(Kinh: Pháp
Thân là Chánh Giác, pháp giới tức Như Lai, đó là chân thân
Phật, cũng nói pháp như thế).
Tán rằng:
Ư thứ ba là kết lại phần nói “thân Phật là thường
hằng”. Do là chỗ để công
đức nương vào và tích tụ, nên
gọi là Pháp Thân. Do thông cả ba thân, giác tánh và giác tướng
đều gọi là Chánh Giác. Nhân của các pháp chính là chỗ
để các pháp nương vào, cho nên gọi là “pháp giới”. “Đó
là chân thân [của Phật]” có hai nghĩa:
- Một là đối
với xá-lợi, cả ba thân đều là chân thật.
- Tương ứng
với điều được biến hóa, Ứng Thân và
Hóa Thân chẳng thật. Thân đă là như thế, đức
Phật cũng nói như thế, ḥng để hiển thị, chứng tỏ lời dạy,
cả hai đều như nhau.
5.2.4.1.5. Đại chúng
trong pháp hội thuở ấy lănh ngộ, thấu hiểu,
đạt được lợi ích
(Kinh) Nhĩ thời,
hội trung tam vạn nhị thiên thiên tử, văn thuyết
Như Lai thọ mạng trường viễn, giai phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, hoan hỷ, dũng
dược, đắc vị tằng hữu.
(經)爾時會中三萬二千天子,聞說如來壽命長遠,皆發阿耨多羅三藐三菩提心,歡喜踊躍,得未曾有。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, trong hội có ba vạn hai ngàn thiên tử, nghe nói Như
Lai thọ mạng dài lâu, đều phát tâm Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác, hoan hỷ, hớn hở, đạt được
điều chưa từng có).
Tán rằng: Đại
chúng thuở đó lănh ngộ, thấu hiểu, đạt được
lợi ích. Kinh văn chia làm hai đoạn:
- Một là Trường
Hàng, [trần thuật chuyện do] nghe pháp đạt được
lợi ích.
- Hai, kệ tụng,
trần thuật sự lănh ngộ, thấu hiểu ấy.
Trong phần kinh
văn thứ nhất, có bốn ư:
- Một, nêu ra số
lượng người đạt được lợi
ích, tức là ba vạn hai ngàn thiên tử.
- Hai, trần thuật
pháp được nghe, tức là nghe nói thọ lượng
của Như Lai.
- Ba, đạt được
lợi ích thù thắng, tức là phát Bồ Đề tâm.
- Bốn, tâm hoan hỷ,
phát Bồ Đề tâm.
Kinh luật nói [phát Bồ Đề tâm]
đại lược hay cặn kẽ khác nhau, nay đại
lược phân biệt thành bảy môn:
- Một, nhân duyên
phát tâm.
- Hai, phận vị
phát tâm.
- Ba, nghi quỹ phát
tâm.
- Bốn, phát tâm thù
thắng hay kém cỏi.
- Năm, phát tâm sai
biệt.
- Sáu, lợi ích thù
thắng do phát tâm.
- Bảy, thí dụ
về phát tâm.
1) Nói tới nhân duyên,
lại có ba loại: Một là do bốn nhân[19],
hai là do bốn duyên[20],
ba là do bốn lực[21],
chi tiết như trong quyển ba mươi lăm luận
Du Già Sư Địa đă nói.
2) Phận vị phát
tâm th́ như Đại Trang Nghiêm Luận quyển hai và luận
Hiển Dương Thánh Giáo[22]
quyển thứ hai đều nói: “Một là thế tục
phát tâm. Hai là thắng nghĩa phát tâm”. Theo quyển thứ
bảy mươi hai của Du Già Sư Địa Luận,
có mười thứ phát tâm, tức là phát tâm do tiếp nhận
thế tục, do đạt được pháp tánh mà phát tâm,
phát tâm
chẳng quyết định, phát tâm quyết
định, phát tâm chẳng
thanh tịnh, phát tâm thanh tịnh, phát tâm yếu kém, phát tâm mạnh
mẽ, phát tâm chưa thành tựu cái quả, phát tâm đă thành
tựu cái quả. Trong ấy, có năm cặp:
- Một, cặp địa
tiền và địa thượng.
- Hai, cặp thoái và
bất thoái.
- Ba, cặp hữu
nhiễm và vô nhiễm.
- Bốn, cặp bị
che lấp và không che lấp.
- Năm, cặp nhân
quả địa vị khác biệt.
“Thoái và bất thoái”
là xét theo bốn địa vị để nói, tức là Tín
Bất Thoái v.v… Cặp “nhiễm và bất nhiễm” xét
theo lúc chưa trụ trong Bất Thoái. Trước khi trụ
trong Bất Thoái th́ có khi là do thuận theo người khác,
hoặc do bị kẻ khác bức bách, hoặc v́ hoảng
sợ, hoặc dối trá, hoặc v́ cầu lợi lộc
thế gian mà phát tâm th́ gọi là Nhiễm. Tương phản
những điều đó th́ gọi là Bất Nhiễm. Trước
khi đạt tới địa vị Noăn, Đảnh, bị
các thứ như tham v.v… phủ lấp, chế phục th́ gọi
là “kém”. Trụ
trong Nhẫn Đệ Nhất Vị, chẳng bị che lấp
th́ gọi là “thù thắng”. Thập
Địa th́ gọi là “chưa đắc quả”, địa
vị Phật th́ gọi là “thành tựu quả”.
3) Nói tới nghi quỹ,
luận Du Già Sư Địa chỉ nói: “Phát tâm như
thế, nói lời như thế này: Nguyện con quyết định
sẽ chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề”, [tức là] chẳng nói tới nghi quỹ, chỉ
biện định hành tướng. Theo luận Hiển Dương
Thánh Giáo quyển thứ hai có nói: “Tức là như thế
này: Lần thứ nhất, cung kính đối trước
bậc có trí, khởi ư tăng thượng, phát lời thệ
nguyện rằng: ‘Trưởng lăo nghĩ nhớ’. Hoặc
nói ‘thánh giả nghĩ nhớ’, hoặc nói: ‘Ổ-ba-đả-da
(Upādhyāya,
ḥa thượng), con tên là như thế, từ ngày nay
bắt đầu phát tâm Vô Thượng Bồ Đề,
v́ muốn lợi ích các hữu t́nh. Từ hôm nay trở đi,
con nguyện tu Lục Ba La Mật, hết thảy vạn hạnh,
đều v́ chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề. Con nay cùng với các Bồ Tát Ma Ha Tát ḥa hợp
xuất gia, nguyện đức Thế Tôn chứng tri con là
Bồ Tát’. Lần thứ hai, thứ ba cũng như thế”. Đó là
nói đến nghi quỹ phát tâm của thế tục, chẳng
thấy nghi quỹ phát tâm xuất thế.
4) Phát tâm thù thắng
hay kém cỏi. Trang Nghiêm Luận[23]
viết: “Đệ Nhất Nghĩa phát tâm có ba loại
thù thắng: Một là giáo thọ thù thắng, do thân cận
đấng Chánh Biến Tri. Hai là tùy thuận tu tập thù
thắng, do khéo tụ tập phước trí. Ba là đắc
quả thù thắng, do sanh ra Vô Phân Biệt Trí”. Lại có
sáu thứ thù thắng:
- Một là
chỗ sanh.
- Hai là nguyện.
- Ba là dũng
mănh.
- Bốn là nương cậy thanh tịnh.
- Năm là các sự
khéo léo khác.
- Bảy là
các thứ thoát ly khác.
Chỗ sanh thù thắng
gồm bốn điều:
- Một, chủng
tử thù thắng, do tin tưởng đại pháp làm chủng
tử.
- Hai, sanh mẫu thù
thắng, do dùng Bát Nhă làm mẹ đẻ.
- Ba, thai tạng thù
thắng, do đại Thiền Định lạc làm thai tạng.
- Bốn, nhũ mẫu
thù thắng, do đại bi trưởng dưỡng làm nhũ
mẫu.
“Nguyện” tức
là mười đại nguyện v.v… đều
như luận ấy đă nói.
5) Phát tâm sai biệt:
Theo kinh Kim Cang Bát Nhă dạy th́ có ba loại, tức là “vân
hà trụ” (trụ như thế nào, đó là ước nguyện),
“vân hà tu hành” (tu hành như thế nào, tức là do đă
nguyện nên tu hành), và “vân hà hàng phục kỳ tâm” (hàng
phục cái tâm như thế nào, tức là do tu hành nên đoạn
chướng). V́ thế, kinh ấy dạy: “Ưng đương
phát khởi như thị chi tâm” (hăy nên phát khởi cái tâm
như thế). Luận Du Già Sư Địa, quyển ba mươi
lăm nói có năm loại:
- Một là tự tánh.
- Hai là hành tướng.
- Ba là sở duyên.
- Bốn là công đức.
- Năm là tối
thắng. Tức là dùng chánh nguyện làm tự tánh, đối
với Bồ Đề và Niết Bàn nhất định tự
mong cầu, và cầu “có thể tạo tác nghĩa lợi cho hữu t́nh”. “Mong cầu” là hành tướng,
dùng Đại Bồ Đề và các hữu t́nh để
làm cảnh ḥng duyên theo. Thoạt đầu phát tâm sẽ có
thể thâu nhiếp thiện căn thù thắng của hết
thảy các pháp thuộc vào Bồ Đề phần, là các công
đức thượng thủ v.v… tương ứng với
chánh nguyện tối sơ. Đó là điều mong cầu
bậc nhất trong các điều thiện mầu nhiệm
và ư nguyện chân chánh thuộc thế gian và xuất thế
gian.
Đại Trang Nghiêm
Luận, quyển thứ hai nói: “Bồ Tát phát tâm, dùng ǵ làm
căn bản? Cho đến dùng ǵ để rốt ráo? Nói
chung, có mười một điều: Dùng đại bi làm
căn bản, dùng lợi lạc chúng sanh để làm y chỉ,
dùng pháp Đại Thừa làm đối tượng để
tin tưởng, dùng Chủng Trí làm đối tượng để
duyên theo. V́ cầu điều đó mà dùng thắng dục để
nương vào. Do mong muốn Vô Thượng Thừa mà dùng
đại hộ (sự thủ hộ to lớn) để
làm chỗ trụ. Trụ trong Bồ Tát giới để
tiếp nhận chướng nạn. Do tâm khởi thừa
khác, cho nên dùng sự tăng trưởng điều thiện
làm công đức. Dùng phước trí làm tự tánh. Dùng tu tập
các Độ (Ba La Mật) để xuất ly. Coi viên măn địa
vị là rốt ráo. Do trong mỗi địa vị đều
siêng tu phương tiện để tương ứng với
địa vị ấy”.
Theo kinh Văn
Thù Vấn Bồ Đề Tâm[24],
có mười loại phát:
- Một là thân phát,
hai là khẩu phát, ba là ư phát, do khiến cho ba nghiệp thanh
tịnh.
- Bốn là nội phát,
do chẳng hư luống phân biệt hết thảy chúng sanh.
- Năm là ngoại
phát, tức là đối với hết thảy chúng sanh đều
hành b́nh đẳng.
- Sáu là trí phát, do trọn
đủ Phật trí thanh tịnh.
- Bảy là quốc
độ thanh tịnh phát, do chỉ bày sự trang nghiêm
trong hết thảy các cơi nước của chư Phật.
- Tám là giáo hóa chúng sanh
phát, do biết đó là thuốc trị hết thảy các bệnh
phiền năo. Đấy chính là hiểu cách đối trị, trừ khử.
- Chín là thật phát,
do thành tựu Định Tụ, liền tùy theo căn cơ
mà thuyết pháp.
- Mười là trí
vô vi trọn vẹn phát tâm, do chẳng chấp trước tam giới.
Theo Phát Bồ Đề
Tâm Luận[25], có bốn
thứ phát tâm:
- Một, tư
duy chư Phật mà phát Bồ Đề tâm.
- Hai, quán các lỗi
lầm nơi thân.
- Ba, từ mẫn chúng
sanh.
- Bốn, cầu cái
quả tối thắng.
Bốn thứ phát
tâm ấy, mỗi thứ lại có năm điều, chi tiết
th́ như trong hai bộ luận ấy đă nói.
6) Hai môn lợi ích
thù thắng và thí dụ th́ chi tiết như trong Đại
Trang Nghiêm Kinh Luận và Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận
đă nói.
Nay đối với
sự phát tâm ở đây, trong bốn duyên th́ là duyên thứ
nhất, [tức
là] do thấy, nghe công đức, thần thông của Phật
và Bồ Tát. Trong bốn nhân th́ là hai cái nhân đầu tiên, [tức là] “do có đủ
các chủng tánh” và “được
Phật, Bồ Tát, bạn lành nhiếp thọ”. Trong bốn
lực th́ có thể là trọn đủ bốn lực: Do thế
lực từ công năng nơi chủng tử của chính
ḿnh, do tu tập Đại Thừa từ trước, do từ
sức nghe người khác nói, và do thân cận bạn lành.
“Hoan hỷ, hớn
hở”: Theo Văn Thù Sở Vấn Kinh Luận: “Do ba
loại nghĩa, cho nên hoan hỷ phụng hành: Một là người
nói thanh tịnh, do được tự tại trong các pháp.
Hai là pháp được nói thanh tịnh, do như thật
biết pháp thể thanh tịnh, lại c̣n tương ứng
với mười loại thù thắng thanh tịnh thuộc
chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối. Ba
là nương theo pháp đă nói mà đạt được
cái quả thanh tịnh, v́ đạt được cảnh
giới mầu nhiệm”. Điều này có nghĩa là nương
theo giáo pháp để chứng lư, đắc quả vậy!
(Kinh) Dị khẩu
đồng âm nhi thuyết tụng viết: “Phật bất
bát Niết Bàn, chánh pháp diệc bất diệt, vị lợi
chúng sanh cố, thị hiện hữu diệt tận. Thế
Tôn bất tư nghị, diệu thể vô dị tướng,
vị lợi chúng sanh cố, hiện chủng chủng trang
nghiêm”.
(經)異口同音而說頌曰:佛不般涅槃,正法亦不滅,為利眾生故,示現有滅盡。世尊不思議,妙體無異相,為利眾生故,現種種莊嚴。
(Kinh: Khác miệng
cùng tiếng mà nói kệ tụng rằng: - Phật chẳng
bát Niết Bàn, chánh pháp cũng chẳng diệt, v́ lợi ích
chúng sanh, thị hiện có diệt tận. Thế Tôn chẳng
nghĩ bàn, diệu thể chẳng tướng khác. V́ lợi
ích chúng sanh, hiện các thứ trang nghiêm).
Tán rằng:
Trần
thuật sự giải ngộ. Bài tụng thứ
nhất nói về sự lănh ngộ thường trụ, bài
thứ hai nói về sự lănh ngộ các tướng thị
hiện.
5.2.4.2. Riêng
nói về Niết Bàn
5.2.4.2.1. Trần
thuật điều nghi, khải thỉnh
5.2.4.2.1.1. Kết
lại điều đă được nghe trên đây
(Kinh) Nhĩ thời,
Diệu Tràng Bồ Tát thân ư Phật tiền, cập tứ
Như Lai, tịnh nhị đại sĩ, chư thiên tử
sở, văn thuyết Thích Ca Mâu Ni Như Lai thọ lượng
sự dĩ. (經)爾時妙幢菩薩親於佛前,及四如來并二大士、諸天子所,聞說釋迦牟尼如來壽量事已。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Diệu Tràng Bồ Tát đích thân đối trước
Phật và bốn đức Như Lai, cùng hai vị đại
sĩ[26], các thiên tử,
nghe nói thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Như Lai xong).
Tán rằng: Đoạn
lớn thứ hai từ đây trở đi, [là phần] “riêng nói về
Niết Bàn”. Kinh văn
được chia thành ba phần:
- Một, trần
thuật điều nghi, khải thỉnh.
- Hai, đức Phật
giải thích cho Bồ Tát.
- Ba, lănh ngộ, đạt
được lợi ích.
Phần thứ nhất
lại có hai đoạn:
- Một, kết lại
điều đă được nghe trên đây.
- Hai, thỉnh vấn
điều nghi ngờ.
Đoạn này chính
là ư thứ nhất.
5.2.4.2.1.2. Thỉnh
vấn điều nghi ngờ
(Kinh) Phục tùng
ṭa khởi, hiệp chưởng, cung kính bạch Phật
ngôn: - Thế Tôn! Nhược thật như thị, chư
Phật Như Lai bất Bát Niết Bàn, vô xá-lợi giả.
(經)復從座起,合掌恭敬白佛言:世尊!若實如是,諸佛如來不般涅槃、無舍利者。
(Kinh: Lại
từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay, cung
kính bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Nếu thật sự là như thế, chư Phật Như
Lai chẳng Bát Niết Bàn, chẳng có xá-lợi).
Phần chánh thỉnh
gồm năm điều:
- Một, nghi thức
thỉnh pháp.
- Hai, nhắc lại
điều được nghe.
- Ba, nêu ra điều
vấn nạn về chỗ mâu thuẫn.
- Bốn, kết lại
ư nghi.
- Năm, thỉnh cầu
quyết nghi.
Ở đây đă
gồm hai điều đầu.
(Kinh) Vân hà kinh trung thuyết
hữu Niết Bàn, cập Phật xá-lợi,
linh chư nhân thiên cung kính cúng dường; quá khứ
chư Phật hiện hữu thân cốt lưu bố ư
thế, nhân thiên cúng dường, đắc phước vô
biên?
(經)云何經中說有涅槃及佛舍利,令諸人天恭敬供養;過去諸佛現有身骨流布於世,人天供養得福無邊?
(Kinh: V́ sao trong kinh nói
có Niết Bàn và xá-lợi của Phật, dạy các trời,
người cung kính, cúng dường, quá khứ chư Phật
hiện có xá-lợi lưu truyền trong cơi đời, trời,
người cúng dường, được phước vô
biên?)
Tán rằng: Nêu ra vấn nạn
về chuyện mâu thuẫn, có ba ư:
- Một, v́ sao gọi là Niết
Bàn?
- Hai, v́ sao chẳng nhập [Niết Bàn]?
- Ba, nếu đă chẳng nhập,
sao lại nói “lưu lại xá-lợi nơi thân?”
Ở đây, nêu ra hai điều mâu
thuẫn:
- Một là mâu thuẫn với giáo pháp.
- Hai là mâu thuẫn với thế
gian. Nói “thế gian” tức là [thế gian đều thấy] quá khứ chư Phật
thị hiện có xá-lợi.
(Kinh) Kim phục ngôn vô, trí
sanh nghi hoặc. Duy nguyện Thế Tôn ai mẫn ngă đẳng,
quảng vị phân biệt.
(經)今復言無,致生疑惑。惟願世尊哀愍我等,廣為分別。
(Kinh: Nay lại nói là
không, khiến cho con sanh nghi hoặc. Kính mong đức Thế
Tôn thương xót chúng con, rộng phân biệt cho).
Tán rằng: Đoạn này
bao gồm hai ư “kết lại lời nghi’ và “thỉnh cầu
giải quyết mối nghi”.
5.2.4.2.2. Đức
Phật giải thích cho Diệu Tràng Bồ Tát
5.2.4.2.2.1.
Nhắc lại nghi t́nh, sắc truyền hăy nghe
(Kinh) Nhĩ thời, Phật
cáo Diệu Tràng Bồ Tát, cập chư đại chúng: - Nhữ
đẳng đương tri, vân “Bát Niết Bàn, hữu xá-lợi” giả, thị mật ư
thuyết. Như thị chi nghĩa, đương nhất
tâm thính.
(經)爾時佛告妙幢菩薩及諸大眾:汝等當知,云般涅槃有舍利者,是密意說。如是之義,當一心聽。
(Kinh: Lúc bấy giờ,
đức Phật bảo Diệu Tràng Bồ Tát và các đại
chúng: - Các ông nên biết, nói “Bát Niết Bàn và có xá-lợi” là nói theo mật ư. Nghĩa như thế,
hăy nên nhất tâm nghe).
Tán rằng: Đức Phật
giải thích cho Bồ Tát. Kinh văn chia thành ba phần:
- Một, nhắc lại nỗi
nghi t́nh, sắc truyền hăy nghe.
- Hai, giải thích thẳng vào
vấn đề.
- Ba, từ “như thị
diệu hạnh, nhữ đẳng cần tu” (diệu
hạnh như thế, các ông hăy nên siêng tu) trở đi là
phần kết lại, khuyên hăy học tập.
Ở đây là phần thứ
nhất.
Nói “có xá-lợi” là nói
theo mật ư th́ như trong quyển thứ mười hai của
Tạp Tập Luận[27]
nói có bốn loại bí mật:
- Một là khiến nhập.
-
Hai là tướng.
-
Ba là đối trị.
- Bốn là
chuyển biến.
Đối trị
gồm tám ư:
- Một, chướng
ngại do khinh Phật.
- Hai, chướng
ngại do khinh Pháp.
- Ba, chướng
ngại do giải đăi.
- Bốn, chướng
ngại do được chút ít thiện căn đă sanh ḷng
vui mừng, cho là đủ.
- Năm là chướng
ngại do tham hạnh.
- Sáu là chướng
ngại gây ra bởi mạn hạnh.
- Bảy là chướng ngại
bởi ác hạnh.
- Tám là chướng
ngại do bất định tánh.
Ở đây, do trừ hai thứ chướng ngại do khinh Phật
và giải đăi mà nói bát Niết Bàn, lưu lại xá-lợi
nơi thân, đó gọi là “mật ư” (ư nghĩa bí mật).
“Nhất tâm thính” (hăy nhất tâm nghe) là sắc truyền
hăy nghe. Nghe âm thanh lọt vào tai, hăy quét sạch [nghi nan], nhiếp tŕ [lời
dạy] ḥng sanh Tam Huệ vậy!
5.2.4.2.2.2. Giải thích thẳng vào vấn đề
5.2.4.2.2.2.1. Giải thích
cái Thể của Niết Bàn
(Kinh) Thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát như thị ưng tri, hữu
kỳ thập pháp, năng giải Như Lai, Ứng Chánh Đẳng
Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu cánh Đại
Bát Niết Bàn.
(經)善男子!菩薩摩訶薩如是應知有其十法,能解如來、應、正等覺真實理趣,說有究竟大般涅槃。
(Kinh: Thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên biết có mười pháp
như thế để có thể hiểu lư thú chân thật
của Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có rốt
ráo Đại Bát Niết Bàn).
Tán rằng: Chính thức
giải thích, có ba phần:
- Đầu tiên, giải thích cái Thể
của Niết Bàn,
- Kế đó, nói về tướng của nó, tức
là chỉ rơ [v́
sao] “chẳng nhập [Niết Bàn]”.
- Sau cùng, giải thích nguyên do nói “nhập Niết Bàn” và “lưu
xá-lợi”.
Đoạn này thuộc
phần đầu.
Hỏi: V́ sao trước
là nói về cái Thể của Niết Bàn, sau là nói về tướng
của Niết Bàn?
Đáp: Nói về Thể
nhằm nêu rơ: Nương theo ba sự mà nói có Niết Bàn bất
đồng. Nhị Thừa ở trong chỗ diệt thân
trí th́ gọi là Niết Bàn. Nói về tướng tức là
nêu rơ: Có đại bi và đại trí khác nhau. Nhị Thừa
nhập vĩnh diệt (vĩnh viễn diệt
độ), cho nên hành hy hữu.
Nói về Thể, có
ba lượt giải thích:
- Đầu tiên, dựa theo ba sự và
bản thể của bốn loại Niết Bàn để
giải thích.
- Kế đó, dựa
theo sự lần lượt chứng đắc để
giải thích.
- Cuối cùng, xét theo “do cái nhân viên
măn bèn có thể chứng” để giải thích.
Đối với
nghĩa Niết Bàn, đại lược dùng năm môn để
phân biệt:
- Một, liệt kê
để giải thích danh xưng.
- Hai, nêu ra cái Thể
[của Niết Bàn].
- Ba, biện định
sự tấn nhập.
- Bốn, biện định
thời điểm đạt được.
- Năm, vấn đáp.
5.2.4.2.2.2.1.1. Liệt
kê để giải thích danh xưng Niết Bàn
Gồm hai phần:
Một là liệt kê, hai là giải thích.
1) Trong phần liệt
kê th́ trước là Tổng, sau là Biệt.
a. Tổng th́ như
các kinh Nê Hoàn v.v… gọi [Niết Bàn] là Nê Hoàn, cũng gọi là Nê Viết, đều là phiên âm sai tiếng Phạn,
nói cho đúng th́ phải là Ba Lợi
Nê Phược Nam (Parinirvāṇa), dịch
sang nghĩa tiếng Hán là Viên Tịch. C̣n phiên âm là Ba Lợi
Niết Bà Nam, lại cũng dịch là Diệt Độ,
hoặc dịch là Thanh Tịnh, c̣n dịch là Bỉ Ngạn
(bờ kia). Kinh Niết Bàn cũng nói nhiều danh xưng như
“vô sanh, vô xuất, vô tác, vô vi, quy y quật trạch, giải
thoát chuyển y” v.v…
b. Liệt kê biệt
danh th́ chỉ dựa vào bất cộng [để phân định].
Trong Đoạn Quả Phần của Nhiếp Luận, chỉ
nói Vô Trụ. Trong kinh Niết Bàn và kinh này th́ nói là Đại
Niết Bàn. Có khi dựa theo chuyện có thể chứng đại
hay tiểu [Niết Bàn] để phân biệt, như trong
kinh Niết Bàn nói có hai loại: Một là tiểu, hai là đại.
[Niết Bàn] do hàng Nhị Thừa đạt được
th́ gọi là Tiểu Niết Bàn, c̣n [Niết Bàn] do hàng Đại Thừa đạt được th́ gọi
là Đại Niết Bàn. Có khi dựa theo Tổng và Biệt
để so sánh, như trong Thập Địa Luận nói
có hai thứ: Một là đồng tướng, hai là biệt
tướng. “Biệt tướng” tức là ba loại
Niết Bàn kia. Có khi xét theo tam thừa cùng đoạn nhân quả
của phiền năo để nói thành hai loại. [Chẳng hạn như]
trong kinh Thắng Man chỉ nói hai loại, tức là Hữu
Dư Y và Vô Dư Y. Lại có khi do dựa theo “chứng” và “chẳng chứng” mà phân biệt để chỉ nói thành hai loại, tức
như bộ Nhiếp Luận đời Lương[28]
viết: “Một là tự tánh tịnh, tức điều
thứ nhất trong bốn điều. Hai là phương
tiện tịnh, tức ba điều sau trong bốn điều”.
Có khi dựa theo “cộng” và “bất cộng” để
nói có ba loại, chính là ba loại [Niết Bàn] trong kinh này, tức
là Hữu Dư, Vô Dư, và Vô Trụ Xứ. Có khi dựa theo
“chứng, không chứng, tận lư, thông biệt” trong ba thừa
mà nói thành bốn loại Niết Bàn, tức là như trong
Nhiếp Luận đời Lương, hoặc Thành Duy Thức
Luận v.v… [Bốn loại Niết Bàn] th́ một là tự
tánh thanh tịnh, hai là Hữu Dư Y, ba là Vô Dư Y, bốn
là Vô Trụ Xứ.
2) Giải thích danh
xưng, th́ âm chính xác là Ba Lợi Nệ Phược
Nam (Parinirvāṇa,
Đại Bát Niết Bàn), hoặc Niết Ba Nam (Nirvāṇa), dịch
sát nghĩa là Viên Tịch. “Viên” là viên măn, [hàm nghĩa]
các công đức viên măn, lư được chứng viên măn,
năng chứng (người chứng)
và sở chứng (pháp được
chứng) đều viên măn. “Tịch” là tịch tĩnh. Tự
thể lặng trong, ĺa khỏi nhuốm bẩn, náo động,
cũng thông với năng chứng và sở chứng. Nhưng
từ phương diện công đức tăng trưởng
thù thắng mà nói là Viên; do quả
vị viên măn mà lư thể được gọi là Tịch,
vốn luôn tĩnh lặng. Do trọn vẹn các đức
th́ mới chứng lư tịch. V́ thế, gọi là Viên Tịch.
Nếu đều là viên tịch, tức là vừa Viên vừa
Tịch th́ gọi là Viên Tịch, đó là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp
(cách giải thích dựa theo tác dụng từ bản thể
của một pháp). Nếu do Viên mà có thể chứng Tịch
trong Viên th́ gọi là Viên Tịch, đó là Y Chủ Thích[29].
Lại nữa, nếu
công đức có thể viên, có thể tịch, nếu cái để
nương vào (sở y, tức pháp để tu
chứng) giống như cái được viên, cái được
tịch (sở viên, sở tịch, tức là công đức
viên tịch) [th́ gọi là Viên Tịch]; đó đều
là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp.
Nếu dựa theo Duy Thức, chỉ có lư Chân Như là cái
Thể của Niết Bàn, hoặc là Tịch trong Viên, hoặc
là cái được Viên cũng là cái được Tịch.
Nếu dựa theo ba sự (Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát) của
kinh Niết Bàn để nói về danh xưng Đại Niết
Bàn th́ chính là “trí, như, giải thoát đều viên tịch”; đấy đều
là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp.
Lại như trong kinh ấy (kinh Niết Bàn) nói: Như [ba chấm của] chữ Y
[trong văn tự Tất Đàm (Siddhaṃ) của tiếng Phạn,
chữ
này do ba chấm hợp lại] chẳng đồng, chẳng
dị, thông với các pháp “giả, thật, tánh, tướng”, đều gọi là Viên Tịch. Đó đều là giải thích danh xưng theo lối Tŕ Nghiệp.
Giải thoát là nghĩa Giả, Bát Nhă là tướng, Pháp
Thân là tánh. Nếu xét theo nghĩa, có ba thứ được
gọi là “tam sự”, tức Bát Nhă là [giải thích theo lối]
Y Chủ, c̣n
hai thứ kia (giải thoát và Pháp Thân) là Tŕ Nghiệp; nhưng gọi
là Niết Bàn th́ chính là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp.
Nói “diệt độ”
th́ Độ chính là “đến”. Dùng hai nghĩa để
giải thích th́:
- Một, Chân
Như vốn sẵn thanh tịnh, tánh là “bờ kia”,
cho nên gọi là “đến”. V́ thế, kinh Duy Ma dạy:
“Nhất thiết chúng sanh tức Niết Bàn tướng,
bất phục cánh diệt” (hết thảy chúng sanh chính
là tướng Niết Bàn, chẳng c̣n diệt nữa).
- Hai, Diệt là cái để
đạt đến, Độ là chủ thể [thực
hiện hành động] “đạt đến” ấy, tức là nói
Diệt nơi Độ th́ là giải
thích theo lối Y Chủ. Lại nữa, đối với
cái có thể diệt, cái có thể độ, cái được
diệt, cái được độ th́ Độ là đến,
cho nên đều bao gồm Năng (chủ thể thực
hiện) và Sở (đối
tượng được tác động bởi chủ
thể). Cái có thể diệt, có thể độ (năng
diệt, năng độ) chính là Niết Bàn tướng.
Cái được diệt, cái được độ (sở
diệt, sở độ) chính là Niết Bàn tánh, giống
như do ba sự
trong Đại Niết Bàn mà được thành lập. Kinh
Niết Bàn dạy: “Vô nhân duyên cố, danh Vô Sanh. Dĩ
vô vi cố, danh Vô Xuất. Vô tạo nghiệp cố, danh Vô Tác” (Do không
có nhân duyên, nên gọi là Vô Sanh. Do vô vi, nên gọi là Vô Xuất.
Do chẳng tạo nghiệp, nên gọi là Vô Tác). Những
danh xưng khác cứ dựa theo đó mà suy ra.
Giải thích biệt
danh, th́ chẳng
do huệ chọn lựa, bản thể vô nhiễm, bèn gọi là
“tự tánh thanh tịnh Niết Bàn”, giống như [cách nói] “tự tánh thanh tịnh th́ gọi là Niết Bàn” trong phần trước. Đó là giải thích theo lối
Tŕ Nghiệp.
“Dư” [trong Hữu Dư và Vô Dư] là nói đến Khổ
Đế, chính là cái c̣n sót lại của Tập. Hữu tức
là “chẳng phải không có”, Y là “nương dựa vào”.
Có hai thứ để nương vào:
- Một, thân hiện
tại, giống như nương vào các Hành Khổ c̣n sót
lại.
- Hai, Hữu Dư Y tức
là loại Niết Bàn mà vẫn c̣n có những thứ khổ
sót lại để nương vào[30].
Niết Bàn [được giải thích theo kiểu
đó] th́ đều là giải thích theo cách Y Chủ.
Khổ và Tập đều
hết th́ gọi là Vô Dư, tức là chẳng c̣n sót lại
Khổ để nương vào. “Vô” tức là “chẳng
có”. [Vô Dư] hàm nghĩa “chẳng có khổ để nương
vào”. Tứ Trí (Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí,
Diệu Quán Sát Trí, và Thành Sở Tác Trí) cũng thế, được
gọi là Vô Dư Y, tức là chẳng c̣n có sự khổ nào
sót lại để nương vào. Niết Bàn [được
giải thích theo kiểu này] đều là giải thích theo lối
Y Chủ, do nói về cái hiển lộ.
Lại có thể hiểu
rằng: Hữu Dư và Vô Dư là chủ thể có thể
chứng (năng chứng), cho nên nêu ra cái này ḥng làm rơ cái kia,
chủ yếu là dựa theo
đối tượng nương vào mà gọi là Niết
Bàn, nghĩa là:
- C̣n có khổ sót lại
để nương vào th́ gọi là [Hữu Dư Y] Niết
Bàn.
- Chẳng có khổ c̣n sót lại để nương
vào th́ gọi là [Vô Dư Y] Niết Bàn.
Đấy đều
là giải thích theo lối Tŕ Nghiệp.
Xét theo hàng Nhị Thừa, chẳng thể nói [Niết Bàn do họ chứng
đắc] là Vô Dư Y. Nếu là Đại
Thừa th́ Tứ Trí chẳng nương vào
khổ, cho nên cũng có thể chứng, có thể y trụ
được. Cách giải thích này là đúng, do Bi chẳng
trụ Niết Bàn, do Trí chẳng trụ trong sanh tử. Do nếu
có thể thông đạt cái năng chứng, th́ v́ đều
chẳng trụ [sanh tử lẫn Niết Bàn], cho nên gọi
là Vô Trụ, sở y (cái để nương
vào) chính là Niết Bàn. Hoặc từ phương
diện “Chân Như như hư không, ở trong
sanh tử mà chẳng vướng mắc, ở trong Niết
Bàn mà chẳng chấp trước”, Niết
Bàn là tướng, Chân Như là tánh, ví như tự tánh Pháp
Thân và tánh tướng của Chân Như khác biệt, tức
là tướng thuộc tánh. Vô Trụ Niết Bàn là cách
giải thích theo lối Y Chủ. Lại nữa,
ngay cả cái tướng ấy cũng đều vô trụ; do vậy, cũng có thể nói “vô trụ chính
là Niết Bàn”. Nhưng Duy Thức Luận nói bốn thứ
Niết Bàn đều lấy Như làm Thể, tức là thâu
nhiếp nghĩa vào tánh, đều là giải thích theo lối
Tŕ Nghiệp.
5.2.4.2.2.2.1.2. Nêu ra cái Thể của Niết Bàn
Trước là trần
thuật [sự biện định Thể] theo lối cổ;
kế đó, trần thuật theo cách hiện thời.
1) Biện
định theo lối cổ th́ Cơ pháp sư ở đất
Thục nói: “Pháp sư Đàm Vô Sấm và pháp sư Đạo
Lăng[31] ở Hà Tây v.v…
cho rằng: V́ Niết Bàn là nơi tụ tập tông
nghĩa[32]
‘thường, lạc, ngă, tịnh’, mở
ra chỉ thú sâu xa huyền diệu rốt ráo làm cái gốc cho Niết
Bàn”. Cách nói ấy nhằm giải thích ư nghĩa, chẳng
phải là thật
sự biện định cái Thể [của Niết Bàn].
Chân Đế Tam Tạng nói: “Niết Bàn có bốn thứ,
ba thứ là đạo quả, một thứ chẳng phải
là đạo quả. Thành tựu Bát Nhă, đại bi Niết
Bàn của Bồ Tát để làm đạo quả. Từ
Sơ Địa trở lên, dùng trí vô phân biệt làm cái Thể
của Niết Bàn”. Cũng có người cho rằng: “Bi
và Trí làm Thể [của Niết Bàn]”. Nhưng
đấy chỉ là tướng, đấy chỉ là
năng chứng (chủ thể có thể chứng), chẳng
chánh xác! Kinh Niết Bàn dạy: “Niết Bàn liễu nhân
chi sở đắc, phi sanh
nhân đắc cố. Nhược trí vi Niết Bàn, tức
ưng sanh nhân đắc” (Sở đắc
(cái đạt được) bởi liễu nhân của
Niết Bàn chẳng phải là sở đắc của sanh
nhân. Nếu trí là Niết Bàn th́ nó phải là sở đắc
của sanh nhân). V́ thế, các sư ở Nghiệp Thành, Hà
Sóc[33],
hoặc là nói Niết Bàn có bốn loại Thể:
- Một là lư diệt,
tức là Chân Như pháp giới.
- Ha là sự diệt,
tức là Diệt do ĺa tam chướng nhiều lần mà diệt.
- Ba là đức diệt,
tức là công đức tịch diệt.
- Bốn là ứng
diệt, tức là [đức Phật Thích Ca] ở nơi Song
Lâm (rừng Sa La Song Thụ), thị hiện vô thường
diệt giống như chúng sanh.
Đối
với ba loại đầu [của Niết Bàn] th́ có thể là như thế (tức
“lấy Chân Như làm Thể), như luận
Thành Duy Thức đă nói: “Đều lấy như làm Thể”,
tức là lư diệt. Lại nói
“hai thứ giữa thuộc về Trạch Diệt”,
tức là diệt nhiều lần. Theo ư của cổ nhân,
Trạch Diệt chính là do Sự Thức[34]
biến ra, cho nên chẳng phải là Niết Bàn.
Đối với Đại
Bát Niết Bàn, cổ nhân phần nhiều coi Như được
nói theo tánh Bát Nhă như thế chính là Bát Nhă, do chẳng khác
lư, cho nên chẳng cần phải mất công nói riêng! Nếu
xét theo ba sự (Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát) để gọi
là Đại Niết Bàn th́ Bát Nhă chính là đức diệt,
nhưng sở dĩ chẳng nói là v́ trái nghịch
với sở đắc của liễu nhân, cho nên nói là “chẳng rốt ráo!”
Nay thật sự nêu
ra cái Thể [của Niết Bàn] th́ có bốn môn:
- Một, dùng tánh và
tướng khác biệt để luận định cái Thể.
- Hai, dùng tánh tướng
ḥa hợp để luận định cái Thể.
- Ba, [biện định]
cái Thể bằng cách thâu nhiếp Giả về Thật.
- Bốn, hợp
chung Giả và Thật để luận định cái Thể.
1) Coi tánh và tướng
là khác biệt để luận định cái Thể: Thành
Duy Thức Luận nói: “Bốn loại Niết Bàn đều
lấy Chân Như làm Thể, chẳng phải là phẩm đức
hữu vi. Lại nữa, xét theo ư nghĩa của Thể, tự
tánh vô trụ chính là cái Thể của Chân Như. Hai thứ
trong ấy đều là Trạch Diệt. Lại nữa, đoạn
trí chướng th́ sẽ đạt được Trạch
Diệt, tức là Vô Trụ Xứ cũng
thuộc vào Trạch Diệt. Tuy chúng nó là giả, nhưng
so với tướng Y Tha th́ đều được gọi
là Tánh, đều do liễu nhân mà đạt được.
Xét theo ư nghĩa của Thể th́ đều là Thường”. V́ thế,
tam sự
Đại Bát Niết Bàn (tức Niết Bàn có ba đặc tánh
Pháp Thân, Bát Nhă và giải thoát) đều chấp
nhận cả ba nghĩa ấy, đều coi Chân Như là
Thể.
2) Ḥa hợp tánh và
tướng để luận định cái Thể [của
Niết Bàn]: Chính là Bát Nhă, Giải Thoát và Chân Như đều
là Thể của Niết Bàn. Tức là ba sự trong kinh Niết
Bàn đều được gọi là Đại Bát, được
diễn tả là “như chữ Y [gồm ba điểm hợp
lại], cũng
giống như ba con mắt [trên mặt của Đại
Phạm Vương]”. Nếu chỉ nói Như là duy nhất, chẳng khác, th́ Tạp
Tập Luận nói: “Tướng của Diệt Đế
được gọi là Chân Như thánh đạo, chẳng
sanh phiền năo. Dù là diệt y (pháp để Diệt nương
vào) hay năng diệt (chủ thể thực hiện hành động
diệt), hay diệt tánh (tánh của Diệt), đều là
tướng của Diệt Đế. ‘Tướng’ là thể
tướng. Cái có thể diệt (năng diệt), cái bị
diệt (sở diệt), và cái để diệt nương vào (diệt y) đều
gọi là Diệt Đế. Cái có thể diệt là Bát Nhă,
diệt tánh chính là Giải Thoát Trạch Diệt, cái để
diệt nương vào chính là Chân Như”. Nhưng
luận ấy lại nói: “Ư nói nơi cảnh, Chân Như
chẳng sanh hữu lậu th́ gọi là Diệt Đế,
tức là xét khít khao theo tánh để nói. Trên đây là dựa
theo tướng, nói gộp chung tánh và tướng”.
3) Nhiếp Giả
về Thật để biện định cái Thể: Tức
là như Duy Thức Luận nói: “Đấy chính là nương
vào Chân Như ĺa chướng mà lập bày, do Thể chính là
pháp giới thanh tịnh, cho nên bốn loại Niết Bàn đều
dùng Chân Như làm Thể”.
4) Gộp chung Giả
và Thật để luận định cái Thể: Tức
là như Duy Thức Luận nói: “Trong bốn thứ Niết
Bàn, thứ đầu tiên và cuối cùng chính là Chân Như. Xét
theo thật thể, hai thứ giữa thuộc về Trạch
Diệt. Trạch Diệt là Giả, hoặc nói Vô Trụ Xứ
là Trạch Diệt, tức ba Giả một Thật đều
là cái Thể của Niết Bàn”. Lại theo quyển hai
của Thành Duy Thức, có hai loại vô vi:
- Một là nương
vào thức mà biến.
- Hai là nương
vào Chân Như.
Trong bốn loại
Niết Bàn, cũng có thể coi ba loại sau thuộc về
Vô Vi, mà cũng là thức biến. Lại nữa, sáu thứ
vô vi[35]
đều có thể coi là do thức biến. Cái Thể của
tự tánh thanh tịnh chính là Chân Như, cũng nên giống
như Trạch Diệt v.v… đều có thể coi là do thức
biến.
Lại giải rằng:
Kinh Giải Thâm Mật[36]
dạy: “Chư thức sở duyên, duy thức sở hiện
cố, khả thông hứa thức biến” (Do duyên theo các
thức, chỉ do thức hiện, nên đều có thể
coi là do thức biến ra). Do Niết Bàn chẳng phải là
thật, chẳng phải do liễu nhân mà đạt được,
các kinh luận chẳng nói Niết Bàn cũng do Diệt biến thành. Thế
nhưng, tuy Hữu Dư và Vô Dư đều là Trạch
Diệt, xét theo ư nghĩa th́ có khác biệt. Do đó, chúng được
chia thành hai loại, gồm năm cặp:
- Một, cặp “nhân quả
phiền năo”: Do cái nhân
phiền năo đă hết th́ gọi là Hữu Dư, nếu
cái quả phiền năo đă hết th́ gọi là Vô Dư.
- Hai, cặp “Đại
Thừa, Tiểu Thừa”: [Niết Bàn] đạt
được bởi Tiểu Thừa th́ gọi là Hữu
Dư, bởi Đại Thừa th́ gọi là Vô Dư. Kinh
Thắng Man dạy: “A La Hán nhân đoạn hữu dư
Tập, chứng hữu dư Diệt” (Bậc A La Hán đoạn
hữu dư Tập, chứng hữu dư Diệt).
- Ba, cặp Nhị
Tử (Phần Đoạn và Biến Dịch): Diệt
Phần Đoạn sanh tử th́ gọi là Hữu Dư, diệt
Biến Dịch sanh tử th́ gọi là Vô Dư. Đấy
cũng chính là cặp Đại Thừa và Tiểu Thừa
trên đây.
- Bốn, cặp “viên măn, chẳng
viên măn”: [Niết
Bàn] do Bồ Tát đạt được th́ gọi là Hữu
Dư, [Niết Bàn] do Như Lai đạt được
th́ gọi là Vô Dư. Kinh Thắng Man dạy: “Hậu thân
Bồ Tát vô minh sở phú, đoạn hữu dư Tập,
chứng Hữu Dư diệt, danh Tiểu Phần Niết
Bàn” (Hậu thân Bồ Tát bị vô minh che lấp, đoạn
hữu dư Tập, chứng hữu dư Diệt, được
gọi là Tiểu Phần Niết Bàn). Tiểu Phần tức
là Hữu Dư.
- Năm, cặp tướng
tam thân. Kinh này nói Ứng Thân và Hóa Thân được gọi
là Hữu Dư, Pháp Thân được gọi là Vô Dư.
Trong các kinh luận,
phần nhiều coi cặp đầu tiên là hai loại Niết
Bàn. Ư nghĩa của các môn khác được biện định
trong Bổn Pháp Hoa và Duy Thức Sớ. Nay trong phần kinh văn này, phần
nhiều dựa theo Vô Trụ mà gọi là Đại Niết
Bàn. Phần biện định về Quả Đoạn
trong Nhiếp Luận cũng giống như thế. Theo lời
Vô Sở Phát Bồ Tát giải đáp cho Phấn Tấn Huệ
Bồ Tát trong quyển một của kinh Pháp Tập
th́ do có mười pháp mà biết Như Lai là thường,
do mười pháp mà biết Như Lai là thật, do mười
pháp mà biết Như Lai Niết Bàn. [Trong kinh ấy], lại
có ba đoạn bắt đầu bằng chữ “phục
thứ” (lại nữa) tương đồng
với các ư nghĩa được nói trong kinh này, nhưng nói hơi rộng hơn! Lại c̣n có
hai đoạn “phục thứ” nêu ra mười pháp để
biết Như Lai hạnh. Kinh văn trong lần thứ nhất
[nói “phục thứ” của kinh Pháp Tập] giản lược,
kinh văn trong lần thứ hai đại để tương
đồng kinh này, nhưng văn từ hơi rộng hơn.
Trong ba đoạn “phục thứ” giảng về Niết
Bàn [trong kinh Pháp Tập], đoạn “phục thứ”
thứ nhất kinh văn hơi rộng hơn, chỉ có điều
trong ḍng thứ tư, kinh ấy nói là “bất tức”
(chẳng nghỉ ngơi), kinh này nói là “hưu tức”
(nghỉ ngơi). Kiểm lại trong Tam Tạng cũng thấy
nói là “bất tri” (chẳng biết), những điều
khác đều tương đồng.
5.2.4.2.2.2.2. Tánh và tướng của
Niết Bàn
Lại có mười
pháp để biết Không, mười pháp để biết
tướng thí dụ v.v… Nhưng trong bốn đoạn “phục
thứ”, mỗi đoạn đều gồm bốn phần:
Một là nêu ra [đề mục], hai là gạn hỏi, ba là
giải thích, bốn là kết lại. Trong phần nêu ra, trước
hết là đối ứng với căn cơ, kế đó
là trần thuật, cuối cùng là liệu giản. Nói “Bồ
Tát” tức là đối ứng với căn cơ. V́ hàng
Nhị Thừa mà nói giả Niết Bàn, v́ hàng Đại Thừa
mà nói đại Niết Bàn. [Chánh kinh nói] “mười pháp”
tức là vừa mở đầu chương này, bèn nói “hữu
cứu cánh Đại Bát Niết Bàn” (có Đại Bát Niết
Bàn rốt ráo), nhằm vạch rơ [Niết Bàn được nhắc đến
ở đây] khác với Niết Bàn do Tiểu Thừa đạt
được, cho nên gọi là Đại Bát.
Kinh văn nói “mười
pháp”, đúng ra phải nên nói là “do mười nghĩa
mà gọi là Niết Bàn”. Có thể biết như thế
tức là có thể hiểu [nghĩa chân thật của] Niết
Bàn đúng như Như Lai đă nói. Ư chánh yếu trong phần này là “tánh
và tướng của Niết Bàn đều gọi là Niết
Bàn”, giống như Tương Tự Bồ
Đề và Bồ Đề Đoạn đều được
gọi là Bồ Đề. Ba sự trong kinh Niết Bàn đều
là Niết Bàn. Nếu xét theo Thành Duy Thức v.v… bốn loại
Niết Bàn đều là lư Chân Như. Tứ trí tâm phẩm được
gọi là Bồ Đề chính là luận định bằng
cách tách riêng tánh và tướng. Mười pháp chính là mười
đoạn; [đối với] các đoạn “phục
thứ” [trong phần sau], đều
chuẩn theo đó để biết.
(Kinh) Vân hà vi thập?
(經)云何為十?
(Kinh: Những
ǵ là mười?)
Tán rằng: Gạn
hỏi.
(Kinh) Nhất
giả, chư Phật Như Lai cứu cánh đoạn tận
chư Phiền Năo Chướng, Sở Tri Chướng cố,
danh vi Niết Bàn. Nhị giả, chư Phật Như Lai
thiện năng giải liễu hữu t́nh vô tánh cập
pháp vô tánh cố, danh vi Niết Bàn. Tam giả, năng chuyển
thân y cập pháp y cố, danh vi Niết Bàn. Tứ giả, ư
chư hữu t́nh, nhậm vận hưu tức hóa nhân duyên
cố, danh vi Niết Bàn. Ngũ giả, chứng đắc
chân thật vô sai biệt tướng b́nh đẳng Pháp
Thân cố, danh vi Niết Bàn. Lục giả, liễu tri sanh
tử, cập dĩ Niết Bàn vô nhị tánh cố, danh vi
Niết Bàn. Thất giả, ư nhất thiết pháp, liễu
kỳ căn bản, chứng thanh tịnh cố, danh vi Niết
Bàn. Bát giả, ư nhất thiết pháp vô sanh, vô diệt, thiện tu hành cố, danh
vi Niết Bàn. Cửu giả, Chân Như pháp giới Thật
Tế b́nh đẳng, đắc chánh trí cố, danh vi Niết
Bàn. Thập giả, ư chư pháp tánh cập Niết Bàn tánh,
đắc vô sai biệt cố, danh vi Niết Bàn. Thị vị
thập pháp thuyết hữu Niết Bàn.
(經)一者諸佛如來究竟斷盡諸煩惱障、所知障故,名為涅槃。二者諸佛如來善能解了有情無性及法無性故,名為涅槃。三者能轉身依及法依故,名為涅槃。四者於諸有情任運休息化因緣故,名為涅槃。五者證得真實無差別相平等法身故,名為涅槃。六者了知生死及以涅槃無二性故,名為涅槃。七者於一切法了其根本證清淨故,名為涅槃。八者於一切法無生無滅善修行故,名為涅槃。九者真如法界實際平等得正智故,名為涅槃。十者於諸法性及涅槃性得無差別故,名為涅槃。是謂十法說有涅槃。
(Kinh:
Một là do chư Phật Như Lai rốt ráo đoạn
hết các Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng
mà gọi là Niết Bàn. Hai là do chư Phật Như Lai có
thể khéo hiểu rơ hữu t́nh vô tánh và pháp vô tánh mà gọi
là Niết Bàn. Ba là do có thể chuyển thân y (chỗ để
thân nương vào) và pháp y (chỗ để pháp nương
vào) mà gọi là Niết Bàn. Bốn là do đối với các
hữu t́nh, tùy ư ngưng dứt nhân duyên giáo hóa mà gọi là Niết
Bàn. Năm là do chứng đắc Pháp Thân chân thật, b́nh
đẳng, chẳng có tướng sai biệt mà gọi là
Niết Bàn. Sáu là do biết rơ sanh tử và Niết Bàn tánh chẳng
hai mà gọi là Niết Bàn. Bảy là do đối với hết
thảy các pháp, hiểu rơ căn bản của chúng, chứng
thanh tịnh mà gọi là Niết Bàn. Tám là đối với
hết thảy các pháp chẳng sanh, chẳng diệt, khéo tu
hành mà gọi là Niết Bàn. Chín là do đối với Chân Như
pháp giới Thật Tế b́nh đẳng mà đắc chánh
trí, nên gọi là Niết Bàn. Mười là do đối với
tánh của các pháp và tánh của Niết Bàn đạt được
chẳng sai biệt, mà gọi là Niết Bàn. Đó gọi là do mười
pháp mà nói có Niết Bàn).
Tán rằng: Ba pháp đầu
là dựa theo ba sự để giải thích:
- Rốt ráo đoạn
hết Phiền Năo và Sở Tri chính là Giải Thoát.
- Liễu giải hữu
t́nh và pháp tánh đều vô tánh th́ chính là Bát Nhă.
- Có thể chuyển
thân y và pháp y th́ là Pháp Thân.
Ba chuyện ấy
chẳng một, chẳng khác, gọi là Đại Bát Niết
Bàn.
Thân chính là chỗ để
thức thứ tám nương vào mà lưu chuyển và hoàn
diệt; [đó gọi là “thân y”]. “Pháp” tức là Chân Như, chính là chỗ để mê hay ngộ
nương vào; [do vậy, Chân Như được gọi
là “pháp y”]. Do Tạng Thức nắm giữ chủng tử
của các chướng, chướng ngại Pháp Thân thù thắng, cho nên gộp chung sự chuyển
biến thức thứ tám và Chân Như để nói.
Ba pháp tiếp đó
chính là xét theo bốn loại Niết Bàn:
- Pháp thứ tư
là thị hiện giáo hóa chẳng thừa sót (giáo hóa đă hoàn
tất) bèn ngưng nghỉ, tức là tướng thứ tám
[trong tám tướng thành đạo] “thị hiện nhập
Vô Dư [Niết Bàn]”. Theo như kinh Pháp Tập nói “hóa
sanh vô hưu tức” (giáo hóa chúng sanh chẳng ngưng nghỉ),
tức là Hữu Dư Niết Bàn.
- Pháp thứ năm
chính là Vô Dư, do nói “chứng đắc”.
Hoặc [có thể
hiểu] pháp thứ tư cũng giống như kinh Pháp Tập
nói, hoặc pháp thứ
năm giống như luận Biện Trung Biên nói “nhị
Thật Tướng, chân thật tự tánh thanh tịnh Niết
Bàn vô sai biệt tướng tướng” (hai thứ Thật
Tướng là tướng “chẳng có tướng sai biệt
của tự tánh thanh tịnh Niết Bàn chân thật”). Tức
là như Duy Thức Luận nói: “Lư Chân Như nơi tướng,
phàm phu chẳng thể chứng đắc, nhưng chư Phật
đă chứng”.
- Pháp thứ sáu là Vô
Trụ Niết Bàn, biết rơ sanh tử và Niết Bàn chẳng có hai tánh. “Tánh” chính là Chân
Như; do tánh chẳng khác, mà “hai” cũng chẳng khác. V́ vậy,
chẳng trụ trong sanh tử hay Niết Bàn.
- Bốn nghĩa từ
pháp thứ bảy trở đi là do dựa theo ba tánh tổng
hay biệt mà nói. Nói “ư nhất thiết pháp, liễu kỳ
căn bản, chứng thanh tịnh cố” (do đối
với hết thảy các pháp, hiểu rơ căn bản của
chúng mà chứng thanh tịnh). Luận Biện Trung Biên viết:
“Trong ấy, những ǵ là căn bản chân thật? Chính
là sau khi đă đắc ba tự tánh, bèn có thể chứng
Biến Kế và Y Tha thanh tịnh. Do trí năng
vốn có bèn chứng tánh Viên Thành thanh tịnh”.
- Pháp thứ tám dựa
theo Biến Kế để tỏ lộ, [tức là] nói “hết
thảy các pháp chẳng sanh, chẳng diệt”. Kinh Giải
Thâm Mật nói: “Ư nhất thiết pháp vô sanh, vô diệt
đẳng, dĩ hiển liễu tướng chuyển chánh
pháp luân. Y Biến Kế thuyết liễu đạt bỉ
vô, năng chánh tu hành” (Đối với hết thảy
các pháp vô sanh, vô diệt v.v… do hiển lộ rơ tướng
mà chuyển chánh pháp luân. Nương theo Biến Kế để
nói liễu đạt các thứ ấy
là không có, bèn có thể chân chánh tu hành).
- Pháp thứ chín là do
có thể giữ lấy chánh trí “có thể chứng Chân
Như b́nh đẳng vô lậu”, nương theo phần thanh tịnh nơi Y Tha Khởi Tánh để nói tướng
Niết Bàn, bèn gọi là Niết Bàn. Do nhiễm chẳng thể chứng,
cho nên chẳng
phải là Niết Bàn.
- Pháp thứ mười
là đối với hai tánh đều đạt được
chẳng sai biệt, hàm ư chú trọng “sở đắc” (cái đạt
được). “Cái đạt
được” chính là chứng đắc
lư vô sai biệt, chứng Viên Thành Thật tánh.
Câu “thị vị”
(đó là nói) nhằm kết lại [lư do v́ sao nói] có Niết Bàn.
(Kinh) Phục
thứ thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát như thị ưng
tri, phục hữu thập pháp năng giải Như Lai, Ứng
Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu
cánh Đại Bát Niết Bàn.
(經)復次善男子!菩薩摩訶薩如是應知,復有十法能解如來、應、正等覺真實理趣,說有究竟大般涅槃。
(Kinh: Lại
này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên biết như
thế này: Lại có mười pháp để có thể hiểu
lư thú chân thật của Như Lai, Ứng Chánh Đẳng
Giác, nói có Đại Bát Niết Bàn rốt ráo).
Tán rằng: Đoạn
“phục thứ” thứ hai, lần lượt giải
thích, phân đoạn kinh văn giống như trong phần
trên.
(Kinh) Vân hà vi thập?
(經)云何為十?
(Kinh: Những
ǵ là mười?)
Tán rằng: Gạn
hỏi.
(Kinh) Nhất
giả, nhất thiết phiền năo dĩ lạc dục
vi bổn, tùng lạc dục sanh. Chư Phật Thế Tôn đoạn
lạc dục cố, danh vi Niết Bàn. Nhị giả, dĩ
chư Như Lai đoạn chư lạc dục, bất
thủ nhất pháp. Dĩ bất thủ cố, vô khứ,
vô lai, vô sở thủ cố, danh vi Niết Bàn. Tam giả,
dĩ vô khứ lai, cập vô sở
thủ, thị tắc Pháp Thân bất sanh, bất diệt. Vô sanh diệt cố, danh vi Niết
Bàn. Tứ giả, thử vô sanh diệt phi ngôn sở tuyên,
ngôn ngữ đoạn cố, danh vi Niết Bàn. Ngũ giả,
vô hữu ngă nhân, duy pháp sanh diệt, đắc chuyển y cố,
danh vi Niết Bàn. Lục giả, phiền năo tùy Hoặc,
giai thị khách trần, pháp tánh thị chủ, vô lai, vô khứ, Phật liễu tri
cố, danh vi Niết Bàn. Thất giả, Chân Như thị
thật, dư giai hư vọng, thật tánh Thể giả, tức thị Chân
Như. Chân
Như tánh giả tức thị Như Lai, danh vi Niết
Bàn. Bát giả, Thật Tế chi tánh vô hữu hư luận,
duy độc Như Lai chứng Thật Tế pháp, hư luận
vĩnh đoạn, danh vi Niết Bàn. Cửu giả, vô sanh
thị thật, sanh thị hư vọng, ngu si chi nhân phiêu nịch
sanh tử, Như Lai thể thật vô hữu hư vọng,
danh vi Niết Bàn. Thập giả, bất thật chi pháp thị
tùng duyên sanh, chân thật chi pháp bất tùng duyên khởi. Như
Lai Pháp Thân thể thị chân thật, danh vi Niết Bàn. Thiện
nam tử! Thị vị thập pháp thuyết hữu Niết
Bàn.
(經)一者一切煩惱以樂欲為本、從樂欲生,諸佛世尊斷樂欲故名為涅槃。二者以諸如來斷諸樂欲不取一法,以不取故無去無來,無所取故名為涅槃。三者以無去來及無所取,是則法身不生不滅,無生滅故名為涅槃。四者此無生滅非言所宣,言語斷故名為涅槃。五者無有我人、唯法生滅,得轉依故名為涅槃。六者煩惱隨惑皆是客塵,法性是主無來無去,佛了知故名為涅槃。七者真如是實餘皆虛妄,實性體者即是真如,真如性者即是如來,名為涅槃。八者實際之性無有戲論,唯獨如來證實際法、戲論永斷,名為涅槃。九者無生是實、生是虛妄,愚癡之人漂溺生死,如來體實無有虛妄,名為涅槃。十者不實之法是從緣生,真實之法不從緣起,如來法身體是真實,名為涅槃。善男子!是謂十法說有涅槃。
(Kinh: Một
là hết thảy phiền năo lấy lạc dục làm gốc,
từ lạc dục mà sanh. Do chư Phật Thế Tôn đoạn
lạc dục, gọi là Niết Bàn. Hai là do các đức Như
Lai đoạn các lạc dục, chẳng chấp lấy một pháp nào. Do chẳng chấp
giữ, chẳng đến, chẳng đi. Do chẳng chấp
giữ, gọi là Niết Bàn. Ba là do chẳng đến đi
và chẳng có ǵ chấp giữ, cho nên Pháp Thân chẳng sanh,
chẳng diệt. Do chẳng sanh diệt, gọi là Niết
Bàn. Bốn là sự vô sanh diệt ấy chẳng thể tuyên
nói được. Do ngôn ngữ dứt bặt, gọi là Niết
Bàn. Năm là chẳng có ta, người, chỉ có pháp sanh diệt,
do được chuyển y mà gọi là Niết Bàn. Sáu là phiền
năo, tùy Hoặc, đều là khách trần, pháp tánh là chủ,
chẳng đến, chẳng đi, do Phật biết rơ, gọi
là Niết Bàn. Bảy là Chân Như là thật, các thứ khác
đều là hư vọng, cái Thể của thật tánh
chính là Chân Như. Tánh của Chân Như chính là Như Lai, gọi
là Niết Bàn. Tám là tánh của Thật Tế chẳng có hư
luận, chỉ riêng Như Lai chứng pháp Thật Tế,
vĩnh viễn đoạn dứt hư luận, gọi là Niết
Bàn. Chín là vô sanh là thật, sanh là hư vọng, kẻ ngu si
trôi giạt, chết ch́m trong sanh tử, Thể của Như
Lai là chân thật,
chẳng có hư vọng, gọi là Niết Bàn. Mười
là pháp chẳng thật sanh từ duyên, pháp chân thật chẳng
do duyên khởi. Cái Thể của Như Lai Pháp Thân là chân thật,
gọi là Niết Bàn. Thiện nam tử! Đó gọi là do mười
pháp mà nói có Niết Bàn).
Tán rằng: Giải
thích.
- “Lạc dục
là gốc của hết thảy phiền năo”: Như
kinh Niết Bàn dạy: “Nhiễm tịnh đẳng pháp
giai dục vi bổn, như nhập Thập Thiện pháp, dục
vi căn bản” (Hết thảy các pháp nhiễm hay tịnh
đều do dục làm gốc, như nhập pháp Thập
Thiện, dục là căn bản). Khởi lên các nhiễm
pháp th́ cũng giống như nói về tịnh, hăy nên kiểm
xem bản kinh ấy. Do Phật có thể đoạn, chứng
cái lư đă được hiển lộ th́ gọi là Niết
Bàn.
- Nói “bất thủ
pháp” (chẳng chấp giữ pháp) th́ đó là vô dục
(không ham muốn). Đối với hết thảy các cảnh,
chẳng sanh yêu đắm. Do đă chẳng yêu đắm,
sẽ chẳng sanh. V́
thế, chẳng đến sanh vào đường
kia, chẳng sanh trở lại trong đường này. Cái
bị chấp giữ chính là Ngũ Uẩn. Trong phần trước
là xét theo cái nhân đă mất, ở đây là xét theo cái quả
đă diệt, cái lư được hiển lộ bèn gọi
là Niết Bàn.
- Pháp thứ ba, Chân Như được hiển lộ do nương vào chuyện
diệt hết hữu lậu chính là công đức
y (nương vào công đức), được
gọi là Pháp Thân. V́ thế, kinh Thắng Man nói: “Tại
triền danh Như Lai Tạng, xuất triền danh Pháp Thân”
(khi c̣n bị [phiền năo] trói buộc th́ gọi là Như Lai
Tạng, khi thoát khỏi phiền năo trói buộc th́ gọi là
Pháp Thân). “Chẳng đến đi” là nói theo chuyện
“chẳng có tướng hữu vi”. “Vô sở thủ” (chẳng
có ǵ để chấp giữ) là nói theo cái Thể của Sắc
Uẩn v.v… Cái chẳng được hiển lộ ở
đây chính là Niết Bàn.
- Pháp thứ tư
xét theo tánh chất “ĺa nói năng” nơi cái Thể của Niết
Bàn mà gọi là Niết Bàn.
- Pháp thứ năm
là “ĺa nói năng” chính là chuyển y lư “nhị vô ngă”.
“Vô ngă nhân” (chẳng có ta hay người) là chẳng có Sanh Chấp (chấp
trước có chúng sanh), “chỉ có
pháp sanh diệt” tức
là ngộ pháp vô ngă. V́ cớ sao vậy? Bát Nhă Luận của
ngài Vô Trước giải thích rằng: “Nếu tùy thuận
Pháp Chấp th́
chính là có Ngă Chấp”. V́ thế,
do ngộ lư luận này mà được chuyển y, gọi
là Niết Bàn. Đấy là sự chuyển y thô
nặng.
- Pháp thứ sáu, do
nhị chấp Hoặc Trần là khách, cho nên có sanh diệt,
đến đi. Chân Như là chủ, do Thể là thường
trụ, mà chẳng có “sanh, diệt, đến, đi”. Nay Phật đă
biết rơ, chứng đắc chuyển y, [tức là] chuyển
y cái tâm này.
- Pháp thứ bảy,
do Hoặc điên đảo sanh khởi th́ được
gọi là “hư vọng”. Nếu chẳng
do điên đảo sanh th́ gọi là Thật. Thật thường hằng, chẳng
điên đảo, bèn gọi là Chân Như. Thể tánh của
Chân Như chính là Pháp Thân Như Lai, cũng là tâm chuyển y,
chỉ chuyển đổi để giải thích sự
khác biệt đó thôi.
- Pháp thứ tám, Chân
Như Pháp Thân chính là Thật Tế, do ĺa điên đảo và hư vọng
mà được hiển lộ, cho nên chẳng có hư luận.
Do Phật đă chứng Thật Tế nên đoạn trừ
hư luận, gọi là Niết Bàn, tức là Đạo chuyển
y (chuyển sang nương vào Đạo, chẳng c̣n tùy thuận
Tập và Khổ).
- Pháp thứ chín, Phật
vĩnh viễn đoạn trừ hư vọng, hư luận;
do vậy đắc Vô Sanh. Vô Sanh là thật, nhưng ngu
phu chưa đoạn [hư vọng, điên đảo], do
sanh khởi hư vọng nên trôi giạt, ch́m đắm trong
sanh tử. Như Lai chẳng có chuyện ấy, gọi đó
là Niết Bàn, đấy chính là “chuyển rộng lớn”.
- Pháp thứ mười,
hữu vi chẳng chân thật, do duyên sanh ra. Thật thể
của Pháp Thân chẳng do duyên sanh, nên gọi là
Niết Bàn. Quy vào Viên Thành Thật là chỗ quy hướng
của hết thảy các pháp.
(Kinh) Phục
thứ, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát như thị ưng
tri, phục hữu thập pháp năng giải Như Lai, Ứng
Chánh Đẳng Giác chân thật lư thú, thuyết hữu cứu
cánh Đại Bát Niết Bàn. Vân hà vi thập? Nhất giả,
Như Lai thiện tri thí cập thí quả vô ngă, ngă sở.
Thử thí cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ
diệt cố, danh vi Niết Bàn. Nhị giả, Như Lai
thiện tri giới cập giới quả vô ngă, ngă sở.
Thử giới cập quả bất chánh phân biệt
vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Tam giả,
Như Lai thiện tri nhẫn cập nhẫn quả vô ngă,
ngă sở. Thử nhẫn cập quả bất chánh phân biệt
vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Tứ giả,
Như Lai thiện tri cần cập cần quả vô ngă,
ngă sở. Thử cần cập quả bất chánh phân biệt
vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn. Ngũ giả,
Như Lai thiện tri định cập định quả
vô ngă, ngă sở. Thử định cập quả bất chánh
phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết Bàn.
Lục giả, Như Lai thiện tri huệ cập huệ
quả vô ngă, ngă sở. Thử huệ
cập quả bất chánh phân biệt vĩnh trừ diệt
cố, danh vi Niết Bàn. Thất giả, chư Phật Như
Lai thiện năng liễu tri nhất thiết hữu t́nh
phi hữu t́nh, nhất thiết chư pháp giai vô tánh, bất
chánh phân biệt vĩnh trừ diệt cố, danh vi Niết
Bàn. Bát giả, nhược tự ái giả, tiện khởi
truy cầu. Do truy cầu cố, thọ chúng khổ năo,
chư Phật Như Lai trừ tự ái cố, vĩnh tuyệt
truy cầu. Vô truy cầu cố, danh vi Niết Bàn. Cửu
giả, hữu vi chi pháp giai hữu số lượng, vô vi
pháp giả, số lượng giai trừ. Phật ly hữu
vi, chứng vô vi pháp. Vô số lượng cố, danh vi Niết
Bàn. Thập giả, Như Lai liễu tri hữu t́nh cập
pháp thể tánh giai không, ly không phi hữu Không tánh, tức thị
chân Pháp Thân cố, danh vi Niết
Bàn. Thiện nam tử! Thị vị thập pháp thuyết
hữu Niết Bàn.
(經)復次,善男子!菩薩摩訶薩如是應知,復有十法能解如來、應、正等覺真實理趣,說有究竟大般涅槃。云何為十?一者如來善知施及施果無我我所,此施及果不正分別永除滅故,名為涅槃。二者如來善知戒及戒果無我我所,此戒及果不正分別永除滅故,名為涅槃。三者如來善知忍及忍果無我我所,此忍及果不正分別永除滅故,名為涅槃。四者如來善知勤及勤果無我我所,此勤及果不正分別永除滅故,名為涅槃。五者如來善知定及定果無我我所,此定及果不正分別永除滅故,名為涅槃。六者如來善知慧及慧果無我我所,此慧及果不正分別永除滅故,名為涅槃。七者諸佛如來善能了知一切有情非有情一切諸法皆無性,不正分別永除滅故,名為涅槃。八者若自愛者便起追求,由追求故受眾苦惱,諸佛如來除自愛故永絕追求,無追求故名為涅槃。九者有為之法皆有數量,無為法者數量皆除,佛離有為證無為法,無數量故名為涅槃。十者如來了知有情及法體性皆空、離空非有空性,即是真法身故,名為涅槃。善男子!是謂十法說有涅槃。
(Kinh: Lại này
thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hăy nên biết như thế
này: Lại có mười pháp có thể hiểu lư thú chân thật
của Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, nói có rốt
ráo Đại Bát Niết Bàn. Những ǵ là mười? Một
là Như Lai khéo biết thí và quả của thí là vô ngă, ngă sở.
Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối
với thí và quả ấy, gọi là Niết Bàn. Hai là Như
Lai khéo biết giới và quả của giới vô ngă, ngă sở.
Do vĩnh viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối
với giới và quả ấy, gọi là Niết Bàn. Ba là Như
Lai khéo biết nhẫn và quả của nhẫn là vô ngă, ngă
sở. Do vĩnh viễn diệt trừ diệt phân biệt
bất chánh đối với nhẫn và quả ấy, gọi
là Niết Bàn. Bốn là Như Lai khéo biết siêng năng và
cái quả của siêng năng là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn
trừ diệt phân biệt bất chánh đối với sự
siêng năng và cái quả ấy, gọi là Niết Bàn.
Năm là Như Lai khéo biết định và cái quả của
định là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh viễn trừ diệt
phân biệt bất chánh đối với định và cái
quả ấy, gọi là Niết Bàn. Sáu là Như Lai khéo biết
huệ và cái quả của huệ là vô ngă, ngă sở. Do vĩnh
viễn trừ diệt phân biệt bất chánh đối
với huệ và cái quả ấy, gọi là Niết Bàn. Bảy
là chư Phật Như Lai có thể khéo biết rơ hết thảy
hữu t́nh, chẳng phải hữu t́nh, và hết thảy
các pháp đều là vô tánh, vĩnh viễn trừ diệt phân
biệt bất chánh, gọi là Niết Bàn. Tám là nếu kẻ
tự yêu mến chính ḿnh liền dấy lên sự truy cầu,
do truy cầu mà hứng chịu các thứ khổ năo. Chư
Phật Như Lai do trừ tự ái, vĩnh viễn dứt
bặt sự truy cầu. Do chẳng truy cầu, gọi là Niết
Bàn. Chín là pháp hữu vi đều có số lượng, pháp
vô vi th́ số lượng đều trừ. Phật ĺa hữu
vi, chứng pháp vô vi, chẳng có số lượng, gọi
là Niết Bàn. Mười là Như Lai biết rơ thể tánh
của hữu t́nh và pháp đều là Không. Ĺa khỏi Không
chẳng có tánh Không, tức là chân Pháp Thân, gọi là Niết
Bàn. Thiện nam tử! Đó gọi là do mười pháp nên
nói có Niết Bàn).
Tán rằng: Đây là đoạn “phục
thứ” thứ ba, kinh văn chia làm bốn phần như
trong đoạn trước. Đây là giải thích [Niết
Bàn] dựa theo “do cái nhân viên măn, bèn có thể chứng”,
tức là do cái nhân Thập Độ viên măn, sẽ có thể
chứng Đại Bát Niết Bàn. Sáu pháp đầu chính là
Lục Độ trong phần trước. Tu hành Thí, Giới
v.v… sẽ thành tựu pháp thứ
bảy là pháp tối thắng thuộc về các Độ
thành tựu. Nay trong kinh này lại nêu ra một pháp tối
thắng thiện xảo, tam luân thanh tịnh tiến hướng
Niết Bàn thù thắng để nêu bày những điều
c̣n lại. Nếu tu chưa viên măn, chưa chứng Niết
Bàn, đối với Thí, sẽ thấy có người bố
thí, vật để bố thí, và người nhận bố
thí. “Quả” chính là thấy có quả, tức là mong báo
ân, và các loại quả Đẳng Lưu, Dị Thục,
Sĩ Dụng, Ly Hệ[37].
Ngă Pháp Chấp ấy được là “phân biệt bất
chánh”, do thấy có người thí và người được
thí, cho nên gọi là Ngă Chấp. Thấy có vật để
bố thí tức là Ngă Sở. Vĩnh viễn trừ diệt
những thứ ấy th́ lư được hiển, hoặc
tướng Niết Bàn của Lục Độ đều
được gọi là Niết Bàn. Đối với những
điều kia, hăy dựa theo cách giải thích này [để
hiểu].
Điều thứ
bảy là do phương tiện dẹp trừ, cứu vớt,
biết các hữu t́nh và hết thảy các pháp đều
chẳng thật, tam luân thanh tịnh. Do vậy, cứu giúp
vô phân biệt, vô nhiễm.
Điều thứ
tám là nếu thấy tự thân v́ cầu Bồ Đề,
do ái chưa mất, bèn dấy lên sự truy cầu, tức
là nhiễm nguyện, do chẳng vong tướng cho nên hứng
chịu các khổ năo. Tam luân đă là Không, chẳng yêu mến
bản thân. Chẳng c̣n nhiễm đắm truy cầu tức
là chánh nguyện viên măn.
Điều thứ
chín là sức suy nghĩ, quyết
trạch biết pháp hữu vi có số lượng, v́ có số
lượng sanh diệt, h́nh thành và diệt mất. Vô vi chẳng
vậy, cho nên tương xứng với Như (Chân Như). Do chẳng
có suy nghĩ chọn lựa năng hay sở, bèn nói là “pháp
vô vi chẳng có số lượng”.
Điều thứ
mười là do có thể biết rơ hữu t́nh là Không, thành
thục hữu t́nh trí; biết rơ pháp là Không, thành thục Phật
pháp trí. Do đều cùng vong tướng, cho nên đều
là Không. Do ĺa Không, chẳng có tánh Hữu. Cái lư được
chứng ấy gọi là Pháp Thân, gọi là Niết Bàn.
(Kinh) Phục
thứ, thiện nam tử! Khởi duy Như Lai bất bát Niết
Bàn thị vi hy hữu? Phục hữu thập chủng hy hữu
chi pháp thị Như Lai hạnh. Vân hà vi thập?
(經)復次,善男子!豈唯如來不般涅槃是為希有?復有十種希有之法是如來行。云何為十?
(Kinh: Lại
này thiện nam tử! Há có phải chỉ Như Lai không nhập
Niết Bàn là điều hy hữu ư? Lại có mười
loại pháp hy hữu là Như Lai hạnh. Những ǵ là mười?)
Tán rằng: Nói về
tướng của Niết Bàn nhằm giải đáp [thắc
mắc] “chẳng nhập Niết Bàn”. Kinh văn cũng
được chia thành bốn phần: Một là nêu bày [đề
mục], hai là gạn hỏi, ba là giải thích, bốn là kết
lại. Trước hết là nêu ra chuyện “chẳng nhập
Niết Bàn”. Kế đó, từ “phục hữu thập
chủng” (lại có mười loại) trở đi, nêu
ra lư do [v́ sao] chẳng nhập. Phần kinh văn gạn hỏi
dễ hiểu!
(Kinh) Nhất
giả, sanh tử quá thất, Niết Bàn tịch tĩnh, do
ư sanh tử cập dĩ Niết Bàn, chứng b́nh đẳng
cố, bất xử lưu chuyển, bất trụ Niết
Bàn, ư chư hữu t́nh, bất sanh yếm bối, thị Như Lai hạnh.
(經)一者生死過失、涅槃寂靜,由於生死及以涅槃證平等故,不處流轉、不住涅槃,於諸有情不生厭背,是如來行。
(Kinh: Một
là sanh tử lầm lỗi, Niết Bàn tịch tĩnh. Do chứng
b́nh đẳng đối với sanh tử và Niết Bàn,
chẳng ở trong lưu chuyển, chẳng trụ trong Niết
Bàn, chẳng sanh mệt mỏi, chống trái đối với
các hữu t́nh. Đó là Như Lai hạnh).
Tán rằng:
Kế đó, giải thích hạnh thứ nhất là “chẳng
trụ nhị biên”, gồm ba ư:
- Một, chứng sanh
tử và Niết Bàn b́nh đẳng.
- Hai, từ “bất
xử lưu chuyển” (chẳng ở trong lưu chuyển)
trở đi, nêu rơ chẳng trụ vào nhị biên.
- Ba, từ “ư
chư hữu t́nh” (đối với các hữu t́nh) trở
đi, nói rơ chẳng xả hữu t́nh. Nếu hàng Nhị
Thừa thấy lỗi họa của sanh tử, thấy Niết
Bàn tịch tĩnh, sẽ liền chán, bỏ [sanh tử], nhập
vào Niết Bàn.
(Kinh) Nhị giả,
Phật ư chúng sanh bất tác thị niệm: Thử chư
ngu phu hành điên đảo kiến, vị chư phiền
năo chi sở triền bách, ngă kim khai ngộ, linh đắc
giải thoát.
(經)二者佛於眾生不作是念:此諸愚夫行顛倒見,為諸煩惱之所纏迫,我今開悟令得解脫。
(Kinh: Hai là đối
với chúng sanh, Phật chẳng nghĩ như thế này: “Các kẻ
ngu này hành kiến giải điên đảo, bị các phiền
năo trói buộc, bức bách, nay ta khai ngộ, khiến cho họ
được giải thoát”).
Tán rằng: Hạnh
“luôn độ hữu t́nh”. Trước là quán Không, sau
là quán Hữu. Tức là do phương tiện Không, phát khởi
hạnh
Hữu. Đó là lúc thoạt đầu, giống như kinh Bát
Nhă nói “nhi vô hữu t́nh đắc diệt độ giả”
(nhưng chẳng có hữu t́nh được diệt
độ).
(Kinh) Nhiên do văng
tích Từ thiện
căn lực, ư bỉ hữu t́nh, tùy kỳ căn tánh, ư nhạo, thắng giải, bất khởi phân
biệt, nhậm vận tế độ, thị giáo lợi
hỷ tận vị lai tế, vô hữu cùng tận, thị
Như Lai hạnh.
(經)然由往昔慈善根力,於彼有情隨其根性意樂勝解,不起分別任運濟度,示教利喜盡未來際無有窮盡,是如來行。
(Kinh: Nhưng
do sức thiện căn của ḷng Từ xưa kia, đối
với các hữu t́nh ấy, thuận theo căn tánh, ư thích, và thắng giải[38] của họ,
chẳng dấy lên phân biệt, tùy ư tế độ, dạy
bảo, khiến cho họ được lợi ích, hoan hỷ
tới tận cùng đời vị lai chẳng có cùng tận.
Đó là Như Lai hạnh).
Tán rằng: Quán Hữu.
Do viên măn nguyện lực lợi tha từ xưa, như người
biến hóa, hiện ra các thứ sự nghiệp, như Như
Ư Châu tuôn ra các thứ vật, do trí lực tùy thuận căn
tánh thù thắng hay kém cỏi, do tánh chủng chủng giới
trí lực, do trí lực thuận theo ư thích của chúng sanh mà
đến khắp các đường, hoặc trí lực
thù thắng luôn thông hiểu ư thích và thắng giải [của
chúng sanh] mà chỉ dạy vô phân biệt, tạo lợi ích,
hoan hỷ, như quyển mười hai của luận Hiển
Dương Thánh Giáo và quyển tám mươi mốt của
Du Già Sư Địa Luận đă nói năm điều:
- Một, khiến
cho họ ĺa dục, tức là quở trách lỗi hại của
hết thảy các dục.
- Hai là Thị, tức
thị hiện bốn loại đạo lư.
- Ba là Giáo, tức răn
dạy khiến cho họ học.
- Bốn là Lợi,
tức là thấy kẻ thoái thất, sẽ khuyến khích,
cổ vũ, khiến cho họ đạt được lợi
ích.
- Năm là Hỷ, tức
thấy họ tăng tấn, sẽ sanh ḷng vui mừng.
“Tận vị
lai tế…” (đến tột cùng đời vị lai)
tức là thường độ.
(Kinh) Tam giả,
Phật vô thị niệm: Ngă kim diễn thuyết thập
nhị phần giáo lợi ích hữu t́nh.
(經)三者佛無是念:我今演說十二分教利益有情。
(Kinh: Ba là Phật
chẳng nghĩ như thế này: Ta nay diễn nói mười
hai phần giáo để lợi ích hữu t́nh).
Tán rằng: Hạnh
“chẳng thấy pháp được nói”. Trước hết là khuyên học Không.
(Kinh) Nhiên do văng
tích Từ thiện căn lực, ư bỉ hữu t́nh quảng
thuyết, năi chí tận vị lai tế, vô hữu cùng tận, thị Như
Lai hạnh.
(經)然由往昔慈善根力,於彼有情廣說,乃至盡未來際無有窮盡,是如來行。
(Kinh: Nhưng
do sức thiện căn của ḷng Từ xưa kia, đối
với các hữu t́nh bèn rộng nói cho đến tận cùng
đời vị lai chẳng có cùng tận. Đó là Như
Lai hạnh).
Tán rằng: Quán Hữu.
Giống như cái trống cơi trời vang ra các thứ tiếng. Nói “quảng thuyết
năi chí” (rộng nói cho tới…) th́ phải nên hiểu là “ư
bỉ hữu t́nh tùy kỳ căn tánh, ư nhạo, thắng
giải, bất khởi phân biệt, nhậm vận tế
bạt, thị giáo lợi hỷ tận vị lai tế”
(đối với các hữu t́nh ư, tùy theo căn tánh, ư thích,
thắng giải của họ, chẳng dấy lên phân biệt,
tùy ư cứu vớt, dạy bảo khiến cho họ được
lợi ích hoan hỷ đến tột cùng đời vị
lai).
(Kinh) Tứ giả,
Phật vô thị niệm: Ngă kim văng bỉ thành ấp, tụ
lạc, vương cập đại thần, Bà-la-môn, Sát-đế-lợi,
Bệ-xá, Thú-đạt-la đẳng xá, tùng kỳ khất
thực.
(經)四者佛無是念:我今往彼城邑聚落王及大臣、婆羅門、剎帝利、薜舍、戍達羅等舍,從其乞食。
(Kinh: Bốn
là Phật chẳng nghĩ thế này: Ta nay đến nhà của
vua và đại thần, Bà-la-môn (Brāhmaṇa,
tu sĩ, tư tế), Sát-đế-lợi
(Kṣatriya,
quư tộc cầm quyền), Bệ-xá
(Vaiśya,
thường dân và thương nhân), Thú-đạt-la
(Śūdra,
lao động, kẻ hầu, kể cả các nghệ sĩ) v.v… trong
thành, ấp, xóm, làng để theo thứ tự khất thực).
Tán rằng: Hạnh
“chẳng nghĩ khất thực”. Trước
hết là hạnh quán Không.
(Kinh) Nhiên do văng
tích thân ngữ ư hạnh quán tập lực cố, nhậm
vận nghệ bỉ, vị lợi ích sự, nhi hành khất
thực, thị Như Lai hạnh.
(經)然由往昔身語意行慣習力故,任運詣彼,為利益事而行乞食,是如來行。
(Kinh:
Nhưng do sức thói quen nơi thân, ngữ, ư hạnh mà tùy
ư đến đó, v́ chuyện lợi ích mà đi khất
thực. Đó là Như Lai hạnh).
Tán rằng: Quán Hữu.
Theo quyển tám mươi sáu của Du Già Sư Địa
Luận, do mười nhân duyên mà Như Lai khất thực:
- Một, v́ hiển
thị công đức của hạnh Đỗ Đa (Đầu
Đà, Dhūta).
- Hai, v́ tỏ lộ
một phần, ḥng dẫn khởi họ tiến nhập mà khất thực.
- Ba, v́ muốn dùng sự hạnh thuộc cái nhân đó
để phần nào nhiếp thọ họ.
- Bốn, v́ ban sự
sáng suốt to lớn cho chúng sanh trong đời vị lai.
- Năm, v́ muốn
dẫn dắt các ngoại đạo [là những kẻ vốn
có] thắng giải thô tệ.
- Sáu, v́ những kẻ
do nương vào thanh giáo[39]
mà dấy ḷng
phỉ báng, liền hiện oai nghi diệu sắc tịch
tĩnh, khiến cho họ kinh ngạc, tán thán, sanh tâm hồi
hướng.
- Bảy, v́ khiến
cho chúng sanh sống trong đó, sẽ do chút công mà gieo nhiều
phước.
- Tám, v́ khiến cho
kẻ hư hoại tín tâm, buông lung, sẽ sanh ḷng hổ thẹn
sâu xa, tuy dùng công ít mà đạt được phước
lớn.
- Chín, v́ các chúng sanh
mù, điếc v.v… bị các thứ tai hoạn sẽ đều
được trừ yên, liền vào thành ấy để
người trông thấy đều đạt được
lợi ích như trong phẩm Oai Lực của Du Già Sư Địa
Luận đă nói.
- Mười, v́ khiến
cho vô lượng vô biên các trời, rồng v.v… oai đức
rộng lớn sẽ theo Như Lai vào nhà người ấy, [khiến cho người ấy] sanh ḷng
khâm phục, ngưỡng mộ sâu xa, càng thêm siêng năng bảo
vệ, chẳng năo hại.
(Kinh) Ngũ giả,
Như Lai chi thân vô hữu cơ khát, diệc vô tiện
lợi, luy bại chi tướng, tuy hành khất thủ, nhi
vô sở thực, diệc vô phân biệt.
(經)五者如來之身無有饑渴,亦無便利羸憊之相,雖行乞取而無所食亦無分別。
(Kinh: Năm
là thân Như Lai chẳng có đói khát, cũng chẳng có các
tướng đại tiểu tiện, gầy ṃn, hư
hao, tuy hành khất thực, nhận lấy [thức ăn được cúng
dường], nhưng chẳng ăn, cũng chẳng
phân biệt).
Tán rằng: Hạnh
“chẳng nghĩ vun đắp cái thân”. Kinh văn chia
thành hai phần như trước, phần này là Không hạnh.
Chữ Bại (憊) đọc
là Bại, có nghĩa là “hư rỗng”.
(Kinh) Nhiên vị
nhậm vận lợi ích hữu t́nh, thị hữu thực
tướng, thị Như Lai hạnh.
(經)然為任運利益有情示有食相,是如來行。
(Kinh: Nhưng
v́ tùy ư lợi ích hữu t́nh mà thị hiện có tướng
ăn, đó là Như Lai hạnh).
Tán rằng: Quán Hữu.
Nhiếp Đại Thừa Luận nói có bốn loại ăn[40],
ở đây là thị hiện có nương ở, cư trụ,
ăn uống.
(Kinh) Lục giả,
Phật vô thị niệm: “Thử
chư chúng sanh hữu thượng, trung, hạ, tùy bỉ
cơ tánh, nhi vị
thuyết pháp”.
(經)六者佛無是念:此諸眾生有上中下,隨彼機性而為說法。
(Kinh: Sáu là Phật
chẳng nghĩ như thế này: Các chúng sanh này có thượng,
trung, hạ, ta sẽ thuận theo căn cơ và tánh t́nh của họ mà thuyết pháp cho họ).
Tán rằng: Hạnh
“chẳng nghĩ thuyết pháp”. Trong phần trước
là “không thấy
có pháp để nói”, phần
này là “chẳng
nghĩ tới người được hóa độ”. Kinh văn
chia thành hai phần như trước; ở
đây là quán Không.
(Kinh) Nhiên Phật
Thế Tôn vô hữu phân biệt, tùy kỳ khí lượng,
thiện ứng cơ duyên, vị bỉ thuyết pháp, thị
Như Lai hạnh.
(經)然佛世尊無有分別,隨其器量善應機緣為彼說法,是如來行。
(Kinh: Nhưng
Phật Thế Tôn chẳng có phân biệt, thuận theo khí lượng
của họ, khéo ứng cơ duyên, v́ họ thuyết
pháp. Đó là Như Lai hạnh).
Tán rằng: Quán Hữu.
(Kinh) Thất
giả, Phật vô thị niệm: “Thử loại
hữu t́nh bất cung kính ngă, thường ư ngă sở
xuất ha mạ ngôn, bất năng dữ bỉ
cộng vi ngôn luận; bỉ loại hữu t́nh cung kính ư
ngă, thường ư ngă sở cộng tương tán thán,
ngă đương dữ bỉ cộng vị ngôn thuyết”.
(經)七者佛無是念:此類有情不恭敬我,常於我所出訶罵言,不能與彼共為言論;彼類有情恭敬於我,常於我所共相讚歎,我當與彼共為言說。
(Kinh:
Bảy là Phật chẳng nghĩ như thế này: “Loại
hữu t́nh này chẳng cung kính ta, ở nơi ta thường
thốt lời chửi bới, chẳng thể nói bàn cùng họ
được. Loại hữu t́nh kia cung kính ta, thường
ở chỗ ta cùng nhau tán thán, ta sẽ nói năng với họ”).
Tán rằng: Hạnh
“chẳng nghĩ thiện ác”. Kinh văn chia thành hai phần
như trước, đây là quán Không.
(Kinh) Nhiên nhi Như
Lai khởi từ bi tâm, b́nh đẳng vô nhị, thị Như
Lai hạnh.
(經)然而如來起慈悲心平等無二,是如來行。
(Kinh: Nhưng
Như Lai khởi tâm từ bi, b́nh đẳng chẳng hai. Đó
là Như Lai hạnh).
Tán rằng: Quán Hữu.
Đây là ba Niệm Xứ[41].
(Kinh) Bát giả,
chư Phật Như Lai vô hữu ái, tăng, kiêu mạn,
tham tích, cập chư phiền năo, nhiên nhi Như Lai thường
nhạo tịch tĩnh, tán thán
thiểu dục, ly chư huyên náo, thị Như Lai hạnh.
(經)八者諸佛如來無有愛憎、憍慢貪惜及諸煩惱,然而如來常樂寂靜,讚歎少欲離諸諠鬧,是如來行。
(Kinh: Tám là
chư Phật Như Lai chẳng có yêu, ghét, kiêu mạn, tham
tiếc, và các phiền năo, nhưng Như Lai thường
chuộng tịch tĩnh, tán thán thiểu dục, ĺa các ồn
náo. Đó là Như Lai hạnh).
Thứ tám là hạnh
“Đầu
Đà vô nhiễm”.
(Kinh) Cửu giả,
Như Lai vô hữu nhất pháp bất tri, bất thiện
thông đạt, ư nhất thiết xứ, cảnh trí hiện
tiền, vô hữu phân biệt, nhiên nhi Như Lai kiến bỉ
hữu t́nh sở tác sự nghiệp, tùy bỉ ư chuyển
phương tiện dụ dẫn, linh đắc
xuất ly, thị Như Lai hạnh.
(經)九者如來無有一法不知、不善通達,於一切處境智現前無有分別,然而如來見彼有情所作事業,隨彼意轉方便誘引令得出離,是如來行。
(Kinh: Chín là
Như Lai chẳng có một pháp nào chẳng biết, hoặc
chẳng khéo thông đạt. Trong hết thảy các chỗ,
cảnh trí hiện tiền, chẳng có phân biệt, nhưng
Như Lai thấy các hữu t́nh ấy tạo tác sự nghiệp,
bèn thuận theo ư họ, vận dụng phương tiện
ḥng dụ dẫn họ được xuất ly. Đó là
Như Lai hạnh).
Chín, hạnh “tùy ư
lợi ích”. Không một pháp nào chẳng biết là do trí
duyên vào. Không một pháp nào chẳng thông đạt, tức
là cảnh được hiểu rơ bởi trí. Tùy ư có thể
nhanh chóng hiểu biết, thông đạt, nhưng thuận
theo ư [của đối tượng được hóa độ]
mà chuyển, [tùy thuận] căn tánh, ư thích, [do căn cơ của họ] chín muồi trước
hay sau mà phương tiện dẫn dụ, khiến cho họ
thoát khỏi sanh tử.
(Kinh) Thập
giả, Như Lai nhược kiến nhất phần hữu
t́nh đắc phú thịnh thời, bất sanh hoan hỷ, kiến
kỳ suy tổn, bất khởi ưu thích, nhiên nhi Như
Lai kiến bỉ hữu t́nh tu tập chánh hạnh, vô ngại
đại từ, tự nhiên cứu nhiếp. Nhược
kiến hữu t́nh tu tập tà hạnh, vô ngại đại
bi tự nhiên cứu nhiếp, thị Như Lai hạnh.
(經)十者如來若見一分有情得富盛時不生歡喜,見其衰損不起憂慼,然而如來見彼有情修習正行,無礙大慈自然救攝;若見有情修習邪行,無礙大悲自然救攝,是如來行。
(Kinh: Mười
là Như Lai nếu thấy một phần hữu t́nh giàu có,
thịnh vượng, chẳng sanh hoan hỷ. Thấy họ
suy bại, hao tổn, chẳng dấy ḷng sầu lo. Nhưng
Như Lai thấy các hữu t́nh đó tu tập chánh hạnh,
do ḷng đại từ vô ngại, sẽ tự nhiên cứu
vớt, nhiếp thủ. Nếu thấy hữu t́nh tu tập
tà hạnh, sẽ do ḷng vô ngại đại bi mà tự nhiên
cứu vớt, nhiếp thủ. Đó là hạnh của Như
Lai).
Mười, hạnh
“ban vui, dẹp
khổ”. Kinh văn đều có hai phần, dựa theo phần
trên để biết.
(Kinh) Thiện
nam tử! Như thị đương tri, Như Lai, Ứng
Chánh Đẳng Giác thuyết hữu như thị vô biên chánh
hạnh, nhữ đẳng đương tri, thị vị
Niết Bàn chân thật chi tướng.
(經)善男子!如是當知,如來、應、正等覺說有如是無邊正行,汝等當知,是謂涅槃真實之相。
(Kinh: Thiện
nam tử! Hăy nên biết như thế, Như Lai, Ứng
Chánh Đẳng Giác nói có vô biên chánh hạnh như thế,
các ông hăy nên biết. Đó gọi là tướng Niết
Bàn chân thật).
Tán rằng: Kết
lại.
5.2.4.2.2.2.3. Giải thích nguyên do nhập
Niết Bàn
(Kinh) Hoặc
thời kiến hữu bát Niết Bàn giả, thị quyền
phương tiện cập lưu xá-lợi.
(經)或時見有般涅槃者,是權方便及留舍利。
(Kinh:
Hoặc có lúc thấy bát Niết Bàn, th́ là thị hiện phương
tiện quyền biến và lưu lại xá-lợi).
Tán rằng: Đây là
giải trừ mối nghi về chuyện thị hiện
diệt độ và lưu xá-lợi. Trước tiên là nhắc
lại chuyện thị hiện diệt độ và lưu
xá-lợi; sau đó, giải thích nguyên do. Đoạn này là phần
đầu. Không nói “hoặc thời Phật hiện Niết
Bàn cập lưu xá-lợi” (hoặc có lúc Phật hiện
Niết Bàn và lưu xá-lợi) mà nói là “kiến” (thấy),
v́ muốn chỉ rơ: Phật thường trụ, thật sự chẳng
có xá-lợi, nhưng do chúng sanh tâm tự cảm vời mà biến
hiện, như thể chất từ xa chiếu xuống đài,
liếc thấy bóng dáng bèn cúi ḿnh, do cưỡi chiếc thuyền
bơi nhanh về phương Đông, sẽ thấy tuy nước
ao yên tĩnh mà dường như đều chảy về
Tây.
(Kinh) Linh chư
hữu t́nh cung kính cúng dường, giai thị Như Lai từ
thiện căn lực.
(經)令諸有情恭敬供養,皆是如來慈善根力。
(Kinh: Khiến
cho các hữu t́nh cung kính cúng dường, đều là do sức
thiện căn bởi ḷng Từ của Như Lai).
Tán rằng: Giải
thích nguyên do. Trước là nêu nguyên do, sau là đạt được
lợi ích.
(Kinh) Nhược
cúng dường giả, ư vị lai thế, viễn ly bát
nạn, phùng trị chư Phật, ngộ thiện tri thức,
bất thất thiện tâm, phước báo vô biên, tốc đương
xuất ly, bất vị sanh tử chi sở triền phược.
(經)若供養者,於未來世遠離八難,逢值諸佛、遇善知識,不失善心、福報無邊,速當出離,不為生死之所纏縛。
(Kinh: Nếu
có người cúng dường, sẽ trong đời vị
lai, xa ĺa tám nạn, gặp gỡ chư Phật, gặp thiện
tri thức, chẳng mất tâm lành, phước báo vô biên, sẽ
nhanh chóng thoát ĺa, chẳng bị sanh tử trói buộc).
Tán rằng: Đạt
được lợi ích. Đạt được lợi
gồm bảy điều:
- Một là
ĺa tám nạn.
- Hai là gặp
gỡ, phụng sự chư Phật.
- Ba là gặp
bạn lành.
- Bốn là chẳng
đánh mất thiện tâm.
- Năm là đạt
được phước báo thế gian.
- Sáu là chứng
Niết Bàn.
- Bảy là được
giải thoát.
5.2.4.2.2.3. Kết lại, khuyên hăy
tu học
(Kinh) Như thị
diệu hạnh, nhữ đẳng cần tu, bất vi phóng
dật.
(經)如是妙行,汝等勤修,勿為放逸。
(Kinh:
Diệu hạnh như thế, các ông hăy nên siêng tu, chớ nên
buông lung).
Tán rằng: Kết
lại bằng cách khuyên tu học.
5.2.4.2.3. Lănh ngộ, đạt
được lợi ích
5.2.4.2.3.1.
Lănh ngộ
(Kinh) Nhĩ thời,
Diệu Tràng Bồ Tát văn Phật thân thuyết bất bát
Niết Bàn, cập thậm thâm hạnh, hiệp chưởng
cung kính, bạch ngôn: - Ngă kim thỉ tri Như Lai đại
sư bất bát Niết Bàn cập lưu xá-lợi, phổ
ích chúng sanh, thân tâm dũng
duyệt, thán vị tằng hữu.
(經)爾時妙幢菩薩聞佛親說不般涅槃及甚深行,合掌恭敬白言:我今始知如來大師不般涅槃及留舍利普益眾生。身心踊悅,歎未曾有。
(Kinh: Lúc bấy
giờ, Diệu Tràng Bồ Tát nghe đức Phật đích
thân nói chẳng bát Niết Bàn và hạnh rất sâu, chắp
tay cung kính, bạch rằng: - Con nay mới biết Như
Lai đại sư chẳng bát Niết Bàn và lưu xá-lợi,
lợi ích chúng sanh rộng khắp, thân tâm vui mừng, hớn hở, than là chưa từng có).
Tán rằng: Đây
là đoạn thứ ba, lănh ngộ, đạt được
lợi ích. Điều thứ nhất là lănh ngộ.
5.2.4.2.3.2.
Đại chúng đạt được lợi ích
(Kinh) Thuyết
thị Như Lai Thọ Lượng phẩm thời, vô lượng
vô số vô biên chúng sanh giai phát vô đẳng đẳng A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm.
(經)說是如來壽量品時,無量無數無邊眾生皆發無等等阿耨多羅三藐三菩提心。
(Kinh: Khi nói
phẩm Như Lai Thọ Lượng này, vô lượng vô
số vô biên chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác không ǵ sánh bằng).
Tán rằng: Đạt
được lợi ích.
5.2.4.2.4.
Diệu Tràng nghe xong, ĺa khỏi pháp hội
(Kinh) Thời tứ
Như Lai hốt nhiên bất hiện. Diệu Tràng Bồ
Tát lễ Phật túc dĩ, tùng ṭa nhi khởi, hoàn kỳ bổn
xứ.
(經)時四如來忽然不現。妙幢菩薩禮佛足已,從座而起還其本處。
(Kinh: Khi đó,
bốn vị Như Lai bỗng dưng chẳng hiện, Diệu
Tràng Bồ Tát lễ dưới chân đức Phật
xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, trở về
nơi ở của ḿnh).
Tán rằng: Đoạn
lớn thứ tư của phẩm này là “nghe
xong, ĺa khỏi pháp hội”, chỉ nói
“bốn vị Phật chẳng hiện, Diệu Tràng trở
về thất”, chẳng nói đến các đại
chúng khác. Có hai cách giải thích:
- Một, nêu ra vị
thượng thủ ấy [để
người nghe] liên tưởng những người
khác.
- Hai, trong bản dịch
cũ [có bản th́ chép là] trong hội ấy, chỉ có Phật
Thích Ca ở lại, bản khác th́ nói chỉ có bốn vị
Như Lai và Diệu Tràng trở về, những người
khác vẫn c̣n đó. V́ lẽ nào? Do nói chưa trọn. Phần
sau nói về tam thân, [nếu mọi người đă lui về
hết, kinh lại] chẳng nói nhóm họp đại chúng
lần nữa, sao có thể nói là ngài Hư Không
Tạng từ trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng
dậy [thưa thỉnh] cho được?
Hỏi: V́ sao riêng Diệu
Tràng Bồ Tát trở về tuy chưa nói xong?
Đáp: V́ muốn phát
khởi hạnh sám hối. Nếu Ngài chẳng trở về
nhà nằm ngủ, sao có thể mộng thấy cái trống
bằng vàng?
Hỏi: Sao không hỏi
thẳng, mà cần phải đợi nằm mộng?
Đáp: Ấy là v́ hạnh khó khăn,
cho nên dùng mộng làm điềm báo trước, lại do cơ
duyên như thế!
Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh Sớ
Phần thứ ba hết
[1] Đại
Phương Đẳng Vô Tưởng Đại Vân Kinh
(c̣n gọi là Vô Tưởng Kinh, hoặc Đại Vân Kinh,
Đại Vân Mật Tạng Kinh, Đại Phương
Đẳng Vô Tướng Đại Vân Kinh, Phương
Đẳng Đại Vân Kinh, Đại Vân Vô Tướng
Kinh) do ngài Đàm Vô Sấm dịch sang tiếng Hán vào đời
Bắc Lương. Trong kinh này, do lời thỉnh cầu của
Đại Vân Bồ Tát, đức Phật chỉ dạy
Thông Đạt Đà La Ni Môn, Đại Hải tam-muội,
và chư Phật nói lời chân thật, Như Lai thường
trụ, Như Lai bảo tạng v.v… Kinh được
chia thành ba mươi bảy phẩm.
[2] Tùy Miên (Anuśaya) c̣n dịch là Sử, hoặc Sử
phiền năo, cũng có nghĩa là Phiền Năo, nhưng ư nghĩa hẹp hơn
so với từ ngữ Phiền Năo. Tùy Miên chính là phiền năo hiện hành, ẩn nấp trong
chỗ sâu thẳm của nội tâm, như bóng theo h́nh
(đó là nghĩa của chữ Tùy). Do nó kín nhiệm khó biệt, dường
như say ngủ (Miên). V́ thế, gọi
là Tùy Miên. Tùy Miên có ba loại chính là Tham, Sân, Si. Luận Hiển
Dương Thánh Giáo chia nhỏ thành hai mươi loại,
do quá rườm rà nên không ghi vào đây. Thông thường,
Tùy Miên được hiểu là Thập Sử tức tham,
sân, si, mạn nghi (ngũ độn sử, c̣n gọi là
Tư Hoặc) và ngũ lợi sử (Kiến Hoặc) tức
Thân Kiến, Biên Kiến, Tà Kiến, Kiến Thủ Kiến,
và Giới Cấm Thủ Kiến.
[3] La Hỗ La tức là cách phiên âm khác của La Hầu La (Rāhula).
[4] Kinh Bồ Tát
Xử Thai có tên đầy đủ là Bồ Tát Tùng Đâu
Suất Thiên Giáng Thần Mẫu Thai Thuyết Quảng
Độ Kinh (kinh Bồ Tát từ trời Đâu Suất
giáng thần vào thai mẹ, nói chuyện cứu độ rộng
lớn), gọi tắt là Xử Thai Kinh, hoặc Thai Kinh.
Kinh này gồm bảy quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch
sang tiếng Hán vào thời Diêu Tần. Kinh gồm ba
mươi tám phẩm. Trong kinh này, đức Phật v́
ngài A Nan hiển lộ thần thông phô bày các trạng huống
trong thai mẹ, khiến cho ngài A Nan biết Bồ Tát ở
trong thai mẹ như ngự trong thiên cung, thuyết giảng
cho các Bồ Tát vân tập vào thai mẹ để nghe pháp,
hoằng xiển lư Không, cũng như phó chúc cho Di Lặc Bồ
Tát thủ hộ, lưu thông kinh này, phân bố xá-lợi, dựng
tháp v.v…
Kinh Vô Thượng Y do ngài
Chân Đế dịch vào đời Nam Lương, gồm
bảy phẩm. Kinh nói về công đức tạo tượng,
cũng như miêu tả ba mươi hai tướng đại
nhân, tám mươi thứ hảo của Phật, cũng
như diễn nói tư tưởng Như Lai Tạng.
Mật Tích Lực Sĩ
chính là Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ Hội trong kinh Đại
Bảo Tích. Hội này do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào đời
Tây Tấn. Kinh này xiển dương Bồ Tát đạo,
nói về Như Lai tam mật (thân mật, ngữ mật, ư
mật). Cuối cùng vị Bí Mật Chủ (Mật Tích Kim
Cang Lực Sĩ) thỉnh cầu Phật cho phép vị Bồ
Tát ấy thủ hộ kinh này sau khi đức Phật nhập
diệt. Một bản dịch khác của kinh này có tựa
đề là Như Lai Bất Tư Nghị Bí Mật Đại
Thừa Kinh do ngài Pháp Hộ dịch vào đời Bắc Tống.
Tây Vực Truyện có hai
cách hiểu:
- Là một phần của
bộ Hán Thư (sử nhà Hán) ghi chép t́nh h́nh các quốc gia tại
Tây Vực, cũng như sau khi Ban Siêu b́nh định miền
Tây Vực, lập Đô Hộ phủ thành công, đă sai sứ
giả là Cam Anh đi sứ sang Đại Tần (tức
đế quốc cổ La Mă), nhưng Cam Anh chỉ đến
vùng đất thuộc cổ Ba Tư và Antiochia (sử
Trung Hoa gọi là Điều Chi).
- Tên gọi khác của Tây
Vực Kư của ngài Huyền Trang, hoặc có thể hiểu
là bộ Tây Vực Kư do ngài Ngạn Tông soạn vào đời
Tùy.
Do ngài Huệ Chiểu dẫn
sách này để nói về xá-lợi, cho nên Tây Vực Truyện
ở đây phải là Tây Vực Kư của ngài Huyền
Trang.
[5] Tỷ Trí c̣n gọi là Loại Trí, chính là cái
trí để quán Tứ Đế trong Sắc Giới và Vô
Sắc Giới. Hiện Trí chính là trí vô lậu quan sát pháp Tứ
Đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo trong Dục
Giới. Do là trí đầu tiên để nhận biết
các pháp, nên Hiện Trí c̣n gọi là Pháp Trí. Trí ấy do biết
pháp trong hiện tại, nên gọi là Hiện Trí. Sách Đại Thừa Nghĩa
Chương giảng: “Pháp Trí c̣n gọi là Hiện Trí, tự
thể được gọi là pháp, do mới biết các
pháp nên gọi là Pháp Trí. Do nó biết pháp trong hiện tại, nên c̣n gọi là Hiện
Trí”.
[6] Theo Phật Quang Sơn Từ Điển,
Tam Vô Tánh (Trividhā
nihsvabhāvatā) chính là ba nghĩa Không nhằm đối
trị chấp trước đối với Tam Tánh:
1) Tướng vô tánh (Laksana-nihsvabhāvatā): C̣n gọi là tướng vô tự
tánh tánh (tánh của tướng là chẳng có tự tánh).
2) Sanh vô tánh (Utpatti-nihsvabhāvatā).
3 Thắng nghĩa vô tánh (Paramārtha-nihsvabhāvatā), c̣n gọi là Vô Chân Tánh, Đệ
Nhất Nghĩa Đế Vô Tự Thể Tướng.
Ba tánh này nhằm đối trị
kiến trị chấp đối với Biến Kế
Tánh, Y Tha Khởi Tánh và Viên Thành Thật Tánh.
[7] Đối với sanh tử là vô
thường, vô lạc, vô ngă, vô tịnh mà chấp là
thường, lạc, ngă, tịnh. Đó là bốn món
điên đảo của phàm phu. Đối với thường,
lạc, ngă, tịnh của Niết Bàn, chấp chặt là
chẳng có thường, lạc, ngă, tịnh, đó là bốn
món điên đảo của Nhị Thừa. Hai loại
điên đảo này gọi gộp chung là Bát Đảo
(tám món điên đảo).
[8] Tứ chướng là:
- Hoặc chướng: Tư Hoặc
như tham dục, sân khuể, ngu si v.v… có thể ngăn
chướng chánh đạo.
- Nghiệp chướng: Ác nghiệp
do thân, khẩu, ư đă tạo.
- Báo chướng: Khổ báo trong ba
đường ác.
- Kiến chướng: Do các thứ tà kiến có
thể ngăn lấp chánh đạo, nên gọi là Chướng.
[9] Không biết ở đây bản Hán
có bị chép sai hay không, v́ theo các thư tịch cũ: “Cô” là một loại thực vật thuộc bộ ḥa thảo,
mọc ở vùng đất ẩm ướt, có thể
dùng làm lương thực. Thân lúa (rơm) của nó có thể dùng để bện
thành các vật dụng. Từ thời Hán đến đời
Đường, gạo từ giống lúa Cô này là
lương thực chủ yếu. Từ sau đời
Đường trở đi, do giống lúa nước
(lúa gạo) từ phương Nam dần dần được phổ biến lên miền Bắc Trung Hoa, Cô mới ít thấy. Nếu là một
giống lúa th́ làm sao bên trong có hạt to như tép tỏi
cho được?
[10] Kinh Thắng
Man có tên gọi đầy đủ là Thắng Man Sư Tử
Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện
Phương Quảng Kinh (Śrīmālā-siṃhanāda-sūtra) do ngài Cầu
Na Bạt Đà La (Gunabhadra) dịch vào thời Lưu Tống.
Kinh này c̣n được gọi Sư Tử Hống Kinh,
Thắng Man Sư Tử Hống, Sư Tử Hống
Phương Quảng Kinh v.v… Đây là một bộ kinh
được coi là tiêu biểu cho hệ thống giáo thuyết
Như Lai Tạng. Trong kinh này, phu nhân Thắng Man đối
trước đức Thế Tôn lập đại thệ
nguyện, và tự nói pháp môn Nhất Thừa trong Đại
Thừa, xiển dương Thánh Đế, Pháp Thân, Như
Lai Tạng v.v…
[11] Thần thoại Ấn Độ
coi hiện tượng
nguyệt thực là do
La Hầu A Tu La Vương dùng tay che lấp mặt
trăng. Ở đây, kinh chỉ nói thuận theo niềm
tin phổ biến trong dân gian để làm thí dụ.
[12] Trạch Diệt (Pratisajkhyā-nirodha), c̣n dịch là Sở Diệt, hoặc
Trí Duyên Diệt, là một loại pháp vô vi thuộc vào Bách
Pháp trong Duy Thức. Trạch Diệt là tên gọi khác của
Niết Bàn. Gọi là Trạch Diệt hàm ư sử dụng sức
chọn lựa quyết đoán của trí huệ để
đạt được Diệt Đế Niết Bàn. Diệt
là diệt trừ sanh tử, khiến cho cái tâm trụ trong
cảnh b́nh ḥa. Đạt đến cảnh giới trạch
diệt, sẽ đoạn ĺa các phiền năo, vĩnh viễn
chẳng c̣n luân hồi nữa.
[13] Tần Bà, c̣n phiên âm là Tần Loa, Tịch
La, hoặc Tần Lăi, là một loại quả có màu đỏ
tươi. Sách Huyền Ứng Âm Nghĩa viết: “Quả
Tần Bà phươmg này dịch là Tương Tư, quả
có h́nh dáng như trái cam tử, sắc vàng óng. Người ở
Tây Vực khi tế trời, đa phần dùng gỗ cây này
làm tràng để trang nghiêm cúng dường” (Cam tử
là một loại trái có tên là Embellia Officnallis, ta thường gọi là me rừng, me mận,
chùm ruột núi, hay trái mắc kham. Trái tṛn xoe, màu xanh nhạt,
vỏ nhẵn và cứng, trong ruột có sáu múi. Vị chua,
hơi đắng. Người Ấn dùng quả này làm mứt
hoặc ngâm muối). Sách Du Già Lược Toản nói trái Tần Bà được phương này dịch là Cát Tường.
Lại c̣n nói quả này giống như loại cam ba lá
(trifoliate orange, bitter orange).
[14] Chim Tiêu Liêu (Eurasian Wren) là một loài chim rất nhỏ
ăn côn trùng, thường thấy ở vùng Âu, Á và Bắc
Phi. Chim nhỏ, trông hơi giống chim sẻ, có màu nâu
đất, đuôi vểnh cao, cổ rất ngắn, mỏ
dài nhọn, thường thích đào bới để kiếm
sâu và rễ cây mục.
[15] Hương Sơn (Gandharmādana) là một rặng
núi to ở phía Bắc ao Vô Nhiệt, tức là ở chỗ
trung tâm của cơi Diêm Phù, thường bị người
Hán coi là núi Côn Luân, tuy không phải vậy! Câu Xá Luận lại
giảng ở phía Bắc của Đại Tuyết
Sơn (Hy Mă Lạp Sơn) là rặng Hương Túy Sơn,
giữa hai núi ấy, có một cái ao lớn (ao A Nậu Đạp,
tức ao Vô Nhiệt) là nguồn của bốn con sông lớn tại Ấn
Độ.
[16] Bộ luận này có tên gọi đầy
đủ là Nhiếp Đại Thừa Luận Vô Tánh Thích
do Vô Tánh Bồ Tát soạn. Trước
đó, Vô Trước Bồ Tát soạn Nhiếp Đại Thừa Luận
(Mahāyāna-samgraha)
nhằm giải thích phẩm Nhiếp Đại Thừa
trong bộ A Tỳ Đạt Ma Đại Thừa Kinh. Sau
khi bộ Nhiếp Đại Thừa Luận ra đời,
Thế Thân Bồ Đề lại soạn bộ Nhiếp
Đại Thừa Luận Thích để chú giải bộ
luận ấy. Sau đó, ngài Vô Tánh lại soạn bộ
Nhiếp Đại Thừa Luận Vô Tánh Thích để
chú giải Nhiếp Đại Thừa Luận Thích.
[17] Chuyển Y (Āśraya-parivrtti), có nghĩa là chuyển đổi cái để nương
vào. “Chuyển” tức là chuyển bỏ, chuyển đổi. “Y” là nói tới các pháp nhiễm,
tịnh, mê, ngộ được thành lập để
nương vào. Chuyển Y hàm nghĩa “chuyển đổi, bỏ đi chuyện
nương tựa vào các pháp kém cỏi, chứng đắc
pháp thanh tịnh thù thắng để nương vào”. Chẳng hạn như Duy Thức nói:
Do tu thánh đạo, bèn đoạn diệt Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng, chứng
đắc cái quả Niết Bàn và Bồ Đề. Hai cái
quả ấy được gọi là Chuyển Y Quả,
hoặc Chuyển Y Diệu Quả.
[18] Tầm (尋, Vitarka), c̣n gọi là Giác, có nghĩa
là t́m cầu, suy lường, hay nói cách khác chính là tác dụng
suy nghĩ, xem xét thô thiển, đại lược đối
với một sự lư nào đó. Nếu suy nghĩ cặn
kẽ, vi tế hơn th́ gọi là Tứ (伺, Vicāra). Như vậy, Tầm và Tứ
đều là tác dụng suy lường, phân biệt đối
với sự lư, nhưng Tầm ở mức độ thô
thiển hơn Tứ.
[19] Theo Du Già Sư
Địa Luận, bốn nhân phát tâm là:
- Chư Bồ Tát do chủng tánh trọn đủ nên
phát tâm.
- Chư Bồ Tát nhờ vào thiện
hữu là Phật và hàng Bồ Tát nhiếp thọ mà phát tâm.
- Chư Bồ Tát đối với
chúng sanh khởi lên rất nhiều bi tâm nên phát tâm.
- Đối với các thứ lợi
ích trong thời gian cực dài, và nỗi khổ sanh tử
to lớn chẳng gián đoạn, đều
hiểu rơ chẳng thiếu sót, đối với hạnh khó, hạnh khổ đều chẳng
khiếp hăi, bèn phát Bồ Đề tâm.
[20] Bốn duyên theo luận Du Già là:
- Do sức thấy, nghe tăng
thượng, mà sanh ḷng tín giải sâu xa đối
với đại Bồ Đề; do vậy, phát khởi đại Bồ Đề
tâm.
- Do sức tăng thượng v́
nghe chánh pháp và tin sâu, sanh ḷng tín giải sâu xa đối với
Như Lai trí, bèn Bồ Đề tâm.
- Do sức tăng thượng hộ
tŕ Bồ Tát tạng pháp, đối với Như Lai trí
sanh ḷng tín giải sâu xa mà phát Bồ Đề tâm.
- Do sức tăng thượng v́ thấy đời Mạt
khó thể phát tâm, mà sanh tín giải sâu xa đối với
Bồ Đề, do vậy phát khởi đại Bồ
Đề tâm.
[21] Bốn lực là công lực của
chính ḿnh, công lực của người khác, do sức túc tập
thiện pháp Đại Thừa, và do trong hiện pháp “thân cận thiện sĩ, lắng nghe chánh
pháp, suy nghĩ cặn kẽ”.
[22] Hiển Dương Thánh
Giáo Luận (Āryavācāprakaraṇa-śāstra)
gồm mười hai quyển, c̣n gọi là Tổng Bao Chúng Nghĩa Luận,
Quảng Bao Chúng Nghĩa Luận, hoặc chỉ gọi tắt
là Hiển Dương Luận. Bộ luận này do ngài Vô
Trước soạn, được ngài Huyền Trang dịch
sang tiếng Hán vào đời Đường. Bộ luận
này nhằm hiển dương những ư nghĩa trọng
yếu trong bộ Du Già Sư Địa Luận, được
coi là một bộ luận trọng yếu trong mười
một bộ luận căn bản của tông Duy Thức.
Thành Duy Thức Luận do căn cứ vào bộ luận
này mà soạn ra.
[23] Trang Nghiêm Luận là tên gọi tắt
của bộ Hiện Quán Trang Nghiêm Luận (Abhisamaya-alaṅkāra),
c̣n gọi là Bát Nhă Kinh Luận Hiện Quán Trang Nghiêm Tụng.
Tên gọi thật sự của tác phẩm
này là Bát Nhă Ba La Mật
Đa Yếu Quyết Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Tụng.
Đôi khi c̣n gọi là Hiện Quán Trang Nghiêm Bát Nhă Ba La Mật
Đa Ưu Ba Đề Xá Luận. Đây chính là sách chú giải
kinh Đại Phẩm Bát Nhă bằng thể loại kệ
tụng. Tương truyền luận này do Di Lặc Bồ
Tát nói, Vô Trước Bồ Tát nhập định lên cung
trời Đâu Suất nghe nói, nhớ nằm ḷng, đem về truyền bá trong thế gian.
[24] Kinh này c̣n có tên khác là Già Da Sơn
Đảnh Kinh, do ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng
Hán. Kinh này c̣n có ba bản dịch khác:
- Già Da Sơn Đảnh Kinh, do ngài Bồ Đề Lưu
Chi dịch sang tiếng Hán vào đời Nguyên Ngụy.
- Phật Thuyết Tượng Đầu
Tinh Xá Kinh do ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch vào đời
Tùy.
- Đại Thừa Già Da Sơn
Đảnh Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chí dịch vào
đời Đường.
Nội dung kinh trần thuật khi
đức Phật mới thành đạo tại núi Già Da,
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là người đầu
tiên thưa hỏi nghĩa sâu của việc phát Bồ
Đề tâm. Sau đó, các vị thiên tử lần lượt
thỉnh vấn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Ngài liền
v́ họ giải đáp các thứ Bồ Đề đạo.
[25] Phát Bồ
Đề Tâm Luận là tác phẩm nhằm khuyên tu tập Bồ
Đề tâm, cũng như luận về cách phát tâm, thệ
nguyện và tu tập Lục Độ, đồng thời
nêu ra công đức của việc phát Bồ Đề tâm.
Tác phẩm này do ngài Thiên Thân viết, ngài Cưu Ma La Thập
dịch sang tiếng Hán thành mười hai phẩm.
[26] “Hai vị đại
sĩ” chính là Bà-la-môn Kiều Trần
Như và Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Lê Xa Tử.
[27] Tạp Tập Luận là tên gọi
tắt của bộ Đại Thừa A Tỳ Đạt
Ma Tập Luận (Mahāyānābhidharma-samuccaya-vyākhyā)
gồm mười sáu quyển, do ngài An Huệ Bồ Tát soạn,
ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán trong niên hiệu Vĩnh
Huy đời Đường. Bộ luận này c̣n được
gọi là Đối Pháp Luận. Đây là tác phẩm chú giải
bộ Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tập Luận
của Vô Trước Bồ Tát, và được coi là một
tác phẩm trọng yếu bắt buộc phải học trong Pháp Tướng Duy Thức
Tông. Bộ luận
này lại được nhiều vị tông sư Trung Hoa chú
giải như Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp
Luận Thuật Lư của ngài Khuy Cơ, bộ Thuật Kư
Quán Luyện Biên của ngài Tín Bồi v.v…
[28] Nhiếp Đại Thừa Luận
là một bộ luận do ngài Vô Trước biên soạn, nhằm
giải thích phẩm Nhiếp Đại Thừa của bộ A Tỳ Đạt Ma Đại
Thừa Kinh. Ngài Thế Thân và Vô Tánh đều soạn luận
để giải thích, dung hội ư nghĩa. Các bản ấy
lần lượt được dịch sang tiếng Hán
thành năm loại, nên gọi là Ngũ Nhiếp
Luận như sau:
- Nhiếp Luận của ngài Vô
Trước, do ngài Phật Đà Phiến Đa dịch vào
thời Nguyên Ngụy với danh xưng Nhiếp Đại
Thừa Luận.
- Thiên Thân Nhiếp Luận (chú giải
Nhiếp Luận của ngài Vô Trước) do Thiên Thân Bồ Tát
soạn, thường gọi
là Đại Thừa Nhiếp Luận Thích.
- Vô Tánh Nhiếp Luận, tức bộ
luận do ngài Vô Tánh biên soạn
nhằm giải thích bộ Nhiếp Luận của ngài Vô
Trước.
- Lương Nhiếp Luận tức
bộ Thiên Thân Nhiếp Luận Thích (chú giải bộ Nhiếp Luận
của ngài Thiên Thân) do ngài Chân Đế dịch vào đời
Lương.
- Đường Nhiếp Luận tức
hai bộ Vô Trước Nhiếp Luận
và Vô Tánh Nhiếp Luận Thích.
[29] Y Chủ Thích (Tatpuruṣā) c̣n gọi là Y Sĩ
Thích, là một cách giải thích dựa theo cái Thể của
đối tượng được nương vào (sở
y) mà kiến lập cái pháp có thể nương vào (năng
y). Chẳng hạn như Nhăn Thức là do nương vào
con mắt mà sanh ra thức, cho nên gọi là Nhăn Thức.
Như vậy Nhăn là cái Thể của sở y (chỗ
nương vào của Nhăn Thức), Thức là cái pháp có thể
nương vào (năng y, tức là Thức phải
nương vào con mắt mà sanh). Thức vốn là một
pháp khác biệt với Nhăn, do dựa trên cái Thể của
đối tượng bị nương vào (con mắt) mà
đặt tên cho cái Thức sanh bởi nó là Nhăn Thức.
Cách giải thích như vậy gọi là Y Chủ Thích.
[30] Do hàng Tiểu Thừa chỉ đoạn
Kiến Tư Hoặc, chưa đoạn Trần Sa Hoặc
và Vô Minh Hoặc, cho nên Niết Bàn của Tiểu Thừa
hăy c̣n có khổ để cái tâm nương vào. V́
thế gọi là Hữu Dư Y.
[31] Đây là một
vị cao tăng thời Đông Tấn, không rơ năm sanh và
năm mất, không biết quê quán ở đâu. Vào năm
Huyền Thỉ thứ mười (421), pháp sư Đàm Vô
Sấm vâng lệnh Hà Tây Vương là Thư Cừ Mông Tốn
dịch kinh Đại Bát Niết Bàn, hai vị nghĩa học
trứ danh thời ấy là Đạo Lăng và Huệ Tung đă
giúp phiên dịch, và sư Đạo Lăng c̣n viết lời
tựa cho bản dịch ấy. Sau đó, ngài Đạo Lăng
soạn Nghĩa Sớ để giải thích kinh đó. Cho
đến khi ngài Phù Đà Bạt Ma dịch bộ A Tỳ
Đàm Bà Sa Luận vào năm Vĩnh Ḥa thứ năm (437)
nhà Bắc Lương, ngài Đạo Lăng cũng tham gia làm
chứng nghĩa trong dịch trường. Các tác phẩm chú
giải của Ngài đối với kinh Niết Bàn, Pháp
Hoa, và Tam Luận đă thất truyền, chỉ c̣n thấy
được trích dẫn trong các tác phẩm như Pháp Hoa
Văn Cú của tổ Trí Giả, Pháp Hoa Huyền Luận và
Trung Quán Luận Sớ của ngài Cát Tạng.
[32] “Tông nghĩa” là nghĩa lư chánh yếu, cốt lơi
của một giáo pháp hoặc một bộ kinh.
[33] Nghiệp Thành là kinh đô của
các triều đại Tào Ngụy, Hậu Triệu, Nhiễm
Ngụy, Tiền Yên, Đông Ngụy và Bắc Tề, nay thuộc
vùng đất thuộc phía Tây huyện Lâm Chương tỉnh
Hà Bắc và phía Bắc thành phố An Dương tỉnh Hà
Nam. Nghiệp Thành là một trong sáu ṭa thành lớn do Tề
Hoàn Công kiến lập khi xưng bá thời Xuân Thu. Tới
khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Nguyên, Nghiệp
Thành bị xếp vào cấp huyện, trực thuộc quận
Hàm Đan. Sau khi nhà Bắc Tề diệt vong, nhà Bắc
Châu đóng đô tại Trường An, Nghiệp Thành mất
hẳn tánh chất trọng yếu về mặt chính trị.
Tới khi Dương Kiên diệt Bắc Châu, sáng lập nhà Tùy, nhằm trấn áp nguy cơ chống
đối ngầm từ các thế lực quân sự tại
Nghiệp Thành, đă hạ lệnh đốt rụi Nghiệp
Thành. Hà Sóc tức là danh xưng phiếm chỉ phía Bắc
sông Hoàng Hà. Nói “chư sư tại Nghiệp Thành, Hà Sóc” tức là nói tới
các vị nghiên cứu, giảng diễn kinh Niết Bàn theo
bản dịch của ngài Đàm Vô Sấm (Dharmakṣema, thường
gọi là Bắc Bản Niết Bàn). Tuy vậy, bản này
vẫn chưa hoàn chỉnh. Sau đó, các vị Huệ Quán,
Huệ Nghiêm và cư sĩ Tạ Linh Vận đă tham cứu
bản dịch kinh Đại Bát Nê Hoàn (do ngài Pháp Hiển
và Phật Đà Bà La dịch) để bổ sung, châm
chước, nhuận sắc bản dịch của ngài
Đàm Vô Sấm, soạn thành một phiên bản gọi là
Nam Bản Niết Bàn. Tuy vậy, miền Bắc Trung Hoa thời
đó vẫn theo Bắc Bản, miền Nam th́ dựa theo
Nam Bản.
[34] Sự Thức có hai cách hiểu:
- Sự Thức (gọi đầy
đủ là Phân Biệt Sự Thức) là tên gọi chung của
bảy thức đầu từ Nhăn Thức cho đến
Mạt Na Thức. Do đối trước các cảnh, tâm
thức dấy lên sự phân biệt hư vọng, chẳng
phải là chân thức. Cho nên gọi là Sự Thức.
- Sự Thức là tên gọi khác của
Ư Thức, tức là coi Nhăn Thức, Nhĩ Thức… chỉ
là sáu khía cạnh của Ư Thức.
[35] Sáu thứ Vô Vi:
- Hư Không Vô Vi: Chân Như
được hiển hiện do ĺa Phiền Năo Chướng
và Sở Tri Chướng, vô chướng ngại như
hư không.
- Trạch Diệt Vô Vi: Trạch Diệt
tức là ĺa khỏi trói buộc, đă đoạn chướng,
do ĺa hết thảy các trói buộc hữu lậu mà hiển
hiện chân lư. V́ thế gọi là Trạch Diệt Vô Vi.
- Phi Trạch Diệt Vô Vi: Tự
tánh Chân Như vốn sẵn thanh tịnh, ĺa các tạp nhiễm.
Do nó chẳng do sức phân biệt loại trừ của vô lậu trí mà h́nh thành, cho nên gọi là Phi Trạch Diệt Vô Vi.
- Bất Động Vô Vi: Vô Vi được hiển hiện bởi
Đệ Tứ Tĩnh Lự (Tứ Thiền). Đệ
Tứ Thiền chỉ có Xả Thọ, ĺa Khổ Thọ và
Lạc Thọ.
- Thọ Tưởng
Diệt Vô Vi: Chính là món Vô Vi hiển hiện Diệt Tận
Định.
- Chân Như Vô Vi: Vô Vi
chính là chân thật như thường, chẳng hư vọng,
đổi khác.
Năm loại đầu
là giả danh nhằm diễn tả Tướng của Pháp
Tánh, loại sau cùng giả danh diễn tả Thể của
Pháp Tánh.
[36] Kinh
Giải Thâm Mật (Ārya-saṃdhi-nirmocana-sūtra),
tựa đề này hàm nghĩa “giải thích, khai phóng những
ư nghĩa sâu xa, kín nhiệm, khó thể thông đạt, khó
thể giải thích”. Kinh này có bốn bản dịch:
- Thâm
Mật Giải Thoát Kinh do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch
vào năm Vĩnh Hy thứ hai (533) đời Bắc Ngụy.
- Giải
Thâm Mật Kinh do ngài Huyền Trang dịch vào năm Trinh Quán
21 (674) đời Đường.
- Tương
Tục Giải Thoát Kinh do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch
(chỉ tương ứng với hai phẩm cuối của
kinh Giải Thâm Mật).
- Giải
Tiết Kinh do ngài Chân Đế dịch vào đời Trần
(chỉ tương đương hai phẩm đầu của
bản Giải Thâm Mật do ngài Huyền Trang dịch).
Kinh này
được dẫn chứng khá nhiều trong các bộ
Du Già Sư Địa Luận, Nhiếp Đại Thừa
Luận, và Nhiếp Đại Thừa Luận Thích.
Kinh này
đề xuất tam tánh (Biến Kế, Y Tha, Viên Thành Thật),
tam vô tánh, xiển dương giáo nghĩa chủ yếu “hết
thảy các pháp chẳng có tự tánh” của Bát Nhă.
[37] Đẳng Lưu Quả (Nisyanda-phala) c̣n
gọi là Tác Y Quả, hay Tập Quả. Đấy chính là cái
quả được sanh từ cái nhân có cùng một loại;
chẳng hạn như do nhân lành sinh ra quả lành, từ
nhân ác sanh ra quả ác v.v… th́ gọi là Đẳng Lưu Quả.
Nói cách khác, nhân và quả có cùng một tánh chất th́ gọi
là Đẳng Lưu Quả.
Dị Thục Quả (Vipāka-phala) hàm nghĩa quả báo sẽ chín muồi
khác thời với cái nhân. Chẳng hạn như do cái nhân ác
trong hiện thời, sẽ cảm cái quả khổ trong tương
lai. Quả khổ ấy được gọi là Dị Thục
Quả.
Sĩ Dụng Quả (Purusakāra-phala), c̣n gọi là Sĩ
Phu Quả hoặc Công Dụng Quả, tức là cái quả
do sĩ phu tạo tác mà tạo thành. Sĩ Phu là từ ngữ
chỉ con người. Dụng là tác dụng. Sĩ Phu Quả
chính là các loại sự việc do con người sử dụng
công cụ mà tạo tác ra.
Ly Hệ Quả (Visajyoga-phala) chính là giải thoát, đây
là tên gọi khác của Trạch Diệt Vô Vi hay Niết Bàn,
do trí huệ xa ĺa sự trói buộc của phiền năo mà đạt
được cái quả này.
[38] Thắng Giải (Adhimoksa) c̣n gọi là Tín Giải, là tên của một món Tâm Sở,
có nghĩa là sự liễu giải thù thắng, thường
được hiểu là sự lư giải kiên định
khắc sâu trong tâm của một cá nhân. Do nó chẳng dễ ǵ thay đổi, cho nên gọi là Thắng
Giải, nhưng do phiền năo và vô minh có mức độ
khác nhau mà mỗi cá nhân đối với Thắng Giải
của chính ḿnh sẽ sanh chấp trước sâu hay cạn
khác nhau.
[39] Do Phật dùng ngôn ngữ, âm thanh
để thuyết pháp, cho nên giáo pháp của đức
Phật được gọi là “thanh giáo”.
[40] Theo Câu Xá Luận, bốn loại
ăn (Tứ Thực) là:
- Đoạn thực: C̣n dịch là
Bác Thực (ăn bằng cách xé ra), tức là dùng môi, miệng,
lưỡi,
răng để ăn, lấy
ba món Trần Hương, Vị, Xúc làm Thể. Đây chính
là cách ăn phổ biến của chúng sanh.
- Xúc Thực, c̣n gọi là Lạc Thực,
tức là sự trưởng dưỡng thân thể bằng
sự vui sướng, chẳng hạn như nghe nhạc, xem
kịch say sưa đến nỗi chẳng cần ăn.
- Tư Thực, c̣n gọi là Niệm
Thực, tức là đối với cảnh ham muốn,
bèn sanh ư niệm hy vọng.
- Thức Thực, Tiểu Thừa
dùng sáu thức, Đại Thừa dùng tám thức, lấy A
Lại Da Thức làm Thể, tám thức ấy có thể duy tŕ thân mạng của hữu
t́nh, nên gọi là Thực.
[41] Tam Niệm Xứ c̣n gọi là Tam Niệm
Trụ. Phật do đại bi, thường nhiếp hóa
chúng sanh, thường trụ trong ba loại niệm:
- Chúng sanh tin Phật, Phật
cũng chẳng sanh tâm hoan hỷ, thường
an trụ trong chánh niệm, chánh trí.
- Chúng sanh chẳng tin Phật, Phật
cũng chẳng sanh ưu năo, thường an trụ trong
chánh niệm, chánh trí.
- Đồng thời có hai loại
chúng sanh chẳng tin và tin Phật, Phật chẳng sanh
ưu năo hay hoan hỷ, thường an trụ trong chánh niệm,
chánh trí.