Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương Kinh Sớ
Quyển thứ
tư
Đời Đường Tam Tạng
pháp sư Nghĩa Tịnh vâng chiếu dịch kinh
Dịch kinh sa-môn Huệ Chiểu soạn
sớ
金光明最勝王經疏
卷第三
唐三藏法師義淨奉制譯
翻經沙門慧沼撰
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ
Trang
Phần 8
5.6. Phẩm thứ sáu:
Tịnh Địa Đà La Ni (Tịnh Địa Đà La
Ni phẩm đệ lục,
淨地陀羅尼品第六)
Phẩm
Tối Tịnh Địa Đà La Ni chia thành ba môn phân biệt:
- Một,
nêu ư nghĩa v́ sao có phẩm này?
-
Hai, giải thích danh xưng [của phẩm này].
-
Ba, giải trừ vấn nạn.
5.6.1. Giải thích ư
nghĩa v́ sao có phẩm này?
Nói
về “ư nghĩa v́ sao có phẩm này”, để cầu
Bồ Đề, ắt cần phải tu hành. Tu hành có hai
khía cạnh, tức là đoạn ác và tu thiện. Các phẩm
trước như [Mộng Kiến] Sám Hối, [Diệt
Nghiệp Chướng] v.v… đă
nói về đoạn ác; kế đó,
nói về tu thiện. Trong “tu thiện”, bèn có phát tâm và
tu hành. “Phát tâm” tức là phát Bồ Đề tâm, tức
là phải y chỉ tâm hạnh Đại Bồ Đề
để hành các thiện hạnh th́ mới có thể đắc
quả. Pháp để tu hành chính là Thập Độ. Do Thập
Độ, sẽ có thể đạt được các
địa, có thể phá các chướng ngại đối
với Thập Độ như keo kiệt v.v…, đạt
được ngũ phần Pháp Thân[1],
thành tựu hai cái quả thù thắng (Niết Bàn và đại
Bồ Đề). V́ thế, cần phải
nói rơ sự phát tâm và tu hành. Do vậy, sau phẩm trước,
bèn có phẩm này sanh khởi.
5.6.2. Giải thích tên gọi
của phẩm này
Giải
thích tên gọi [của phẩm này], Thành Duy Thức Luận
nói: “Thống nhiếp trọn khắp công
đức hữu vi và vô vi làm tự tánh, và lấy pháp
đă tu hành làm y tŕ (nương vào và ǵn giữ) thù thắng,
khiến cho nó sanh trưởng. V́ thế, gọi là Địa”.
Địa Tŕ[2], Nhiếp Luận,
Du Già Sư Địa Luận, và [Đại
Thừa] Trang Nghiêm Luận đều giải thích đại
để giống như vậy. “Tịnh” là thanh tịnh,
do ĺa hai chướng (Sở Tri Chướng và Phiền Năo
Chướng). Nhưng kinh
Đại Thừa Đồng Tánh[3]
và kinh Chứng Khế Đại Thừa[4]
đều nói trong tam thừa, mỗi thừa đều có
mười địa. Thập Địa trong hàng Bồ
Tát có thể trừ hai chướng tột bậc thanh tịnh,
nói “tối” tức là địa vị thanh tịnh nhất.
Đó là giải thích theo lối Y Chủ.
Tịnh
thuộc về Năng Y (cái có thể nương vào), c̣n
Địa (tức mười Địa của Bồ
Tát) là Sở Y (cái để [tâm thanh tịnh] nương
vào); tức Tổng là cái để nương vào của
Biệt[5].
Hoặc [có thể hiểu] cái Thể của Thập Địa
chính là “lấy công đức vô vi làm Thể”,
tức là công đức thể (bản thể của công
đức) do ĺa hai chướng, bèn gọi là Tối Tịnh (thanh tịnh nhất).
Do là địa vị thanh tịnh nhất, nên gọi là Tối
Tịnh Địa. Đấy là giải thích theo lối
Tŕ Nghiệp (tức cách giải thích chú trọng nơi tác
dụng chủ yếu nhất của một pháp).
Danh
xưng Đà-la-ni như đă giải thích trong phần
trên. Do địa vị thanh tịnh ấy mà đạt
được Đà-la-ni này; do Đà-la-ni ấy mà có thể
thanh tịnh địa vị. Đấy đều là cách
giải thích theo lối Y Chủ (cách giải thích dựa
theo bản thể của đối tượng được
tác động. Chẳng hạn như ở đây, cái
được thanh tịnh là các địa, do căn cứ
trên khía cạnh
“các địa sẽ được
các hạnh thanh tịnh hóa”
mà gọi là Tịnh Địa, cho nên bảo đây là cách
giải thích theo lối Y Chủ).
[Hai
cách giải thích ấy] chẳng mâu thuẫn v́ Đà-la-ni có
thể khiến cho [hành nhân] ĺa ngũ chướng[6],
bèn gọi là Tịnh Địa. Nếu chỉ xét theo Thập
Độ v.v… th́ chỉ gọi là Tối Tịnh Địa.
Nếu xét theo Đà-la-ni, th́ gọi là Tối Tịnh Địa
Đà-la-ni.
5.6.3. Giải trừ vấn
nạn
* Hỏi:
Các bộ luận như Biện Trung Biên và Nhiếp Luận
v.v… đều nói: “Nương vào Thập Địa,
hành Thập Hạnh, đoạn mười chướng[7], chứng Thập
Như”. V́ sao ở đây chẳng biện định
Thập Như?
Đáp:
Do nói rộng hay lược khác nhau.
* Hỏi:
Các kinh luận khác nói Thập Độ, đối với
sáu Độ trước, mỗi Độ đều có
ba ư nghĩa, đối với bốn Độ sau, mỗi
Độ đều có hai ư nghĩa. Cớ sao đối với
Thập Ba La Mật trong kinh này, mỗi Độ đều
có năm loại ư nghĩa?
Đáp: Trong mỗi hạnh đều
có nhiều môn. Trong các thánh giáo, đều là nói vài môn để
liên tưởng các môn c̣n lại. V́ thế, chẳng nhất
loạt [đều giảng giải] giống hệt như
nhau.
5.6.4. Giải thích kinh
văn
5.6.4.1. Sư Tử
Tướng Vô Ngại Quang Diễm Bồ Tát thỉnh pháp
5.6.4.1.1. Người thỉnh
vấn
(Kinh) Nhĩ thời,
Sư Tử Tướng Vô Ngại Quang Diễm Bồ Tát,
dữ vô lượng ức chúng.
(經)爾時師子相無礙光焰菩薩與無量億眾。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Sư Tử Tướng Vô Ngại Quang
Diễm Bồ Tát và vô lượng ức đại chúng).
Tán
rằng: Trong phẩm này, kinh văn chia đại lược
thành bốn phần:
-
Một, Sư Tử Tướng Vô Ngại Quang Diễm Bồ
Tát thỉnh vấn.
-
Hai, Như Lai giải đáp.
-
Ba, Đại Phạm tán dương.
-
Bốn, đại chúng khi ấy đạt được
lợi ích.
Phần
thứ nhất là “thỉnh vấn”, được chia thành ba phần:
-
Một, [chỉ ra] người thỉnh vấn (Sư
Tử Tướng Vô Ngại Quang Diễm Bồ Tát).
-
Hai, nghi thức thỉnh pháp.
-
Ba, trần thuật lời cầu thỉnh.
Đoạn
này thuộc phần thứ nhất, tức “người
thỉnh vấn”. Do có thể đạt được
Tứ Vô Úy của Bồ Tát, nên tên là Sư Tử Tướng.
Ly chướng là Vô Ngại. Đạt được trí
tự tại có thể chiếu rơ Chân và Tục th́ gọi
là Quang Diễm. Đây là từ thí dụ và pháp mà đặt
tên.
5.6.4.1.2. Nghi thức thỉnh
pháp
(Kinh) Tùng ṭa nhi khởi, thiên đản hữu
kiên, hữu tất trước địa, hiệp chưởng
cung kính, đảnh lễ Phật túc, dĩ chủng chủng
hoa, hương, bảo tràng, phan, cái, nhi cúng dường
dĩ.
(經)從座而起,偏袒右肩右膝著地,合掌恭敬頂禮佛足,以種種華香寶幢旛蓋而供養已。
(Kinh:
Từ chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải,
gối phải đặt sát đất, chắp tay cung
kính, đảnh lễ dưới chân đức Phật,
dùng các thứ hoa, hương, tràng, phan, lọng báu để
cúng dường xong).
Tán
rằng: Đây là nghi thức thỉnh pháp, trước là
do sự kiền thành, cung kính, sau là trần thuật sự
cúng dường. Cúng dường bao gồm nhiều loại
như trong đoạn trên đă nói. Ở đây là khởi
ḷng cung kính để cúng dường, biểu thị
thưa hỏi về cái nhân của Bồ Đề tâm
như hoa, biểu thị thành tựu Ngũ Phần
Pháp Thân như hương, biểu lộ đại trí vượt khỏi
Nhị Thừa như tràng, biểu lộ bốn môn
Đà-la-ni như phan, biểu thị che chở chúng sanh như
lọng. V́ thế, dùng các thứ như hoa, hương v.v…
để cúng dường.
5.6.4.1.3. Trần thuật
lời thỉnh cầu
(Kinh) Bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Dĩ
kỷ nhân duyên đắc Bồ Đề tâm?
(經)白佛言:世尊!以幾因緣得菩提心?
(Kinh:
Bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Do mấy nhân duyên mà đạt được Bồ
Đề tâm?)
Tán
rằng: Chánh thức trần thuật lời thỉnh cầu.
Trước hết là hỏi về cái nhân của Bồ
Đề tâm; kế đó,
hỏi về cái Thể của Bồ Đề tâm. Đây
là ư thứ nhất.
(Kinh)
Hà giả thị Bồ Đề tâm?
(經)何者是菩提心?
(Kinh:
Ǵ là Bồ Đề tâm?)
Tán
rằng: Hỏi về Thể. Trước là nêu ra lời
hỏi; kế
đó, hỏi
riêng từng điều, cuối cùng là kết lại.
Đây là phần nêu ra lời hỏi. Phải nên hiểu là
“hà giả thị Bồ Đề? Hà danh Bồ Đề
tâm?” (Ǵ là Bồ Đề? Ǵ gọi là Bồ Đề
tâm?) Bồ Đề trong câu trước là chân lư, c̣n tâm là
nhị trí, Lục
Độ.
(Kinh)
Thế Tôn! Tức ư Bồ Đề, hiện tại
tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả
đắc, quá khứ tâm bất khả đắc.
(經)世尊!即於菩提,現在心不可得、未來心不可得、過去心不可得。
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! [Nếu Bồ Đề tâm] chính là Bồ
Đề th́ tâm hiện tại chẳng thể được,
tâm vị lai chẳng thể được, tâm quá khứ
chẳng thể được).
Kế
đó là hỏi riêng từng điều. Trước hết,
nương theo Pháp Không để hỏi; kế đó
nương theo Sanh Không để hỏi. Trong phần thứ
nhất, có ba ư:
-
Trước hết, hỏi
[Bồ Đề tâm] tức là Bồ
Đề ư?
- Kế
đó là hỏi [Bồ
Đề tâm] ly Bồ Đề ư?
-
Sau cùng, kết lại nguyên do.
Nếu
[Bồ Đề tâm] chính là Bồ Đề th́ do Bồ
Đề ĺa ba đời, cho nên tâm ba đời đều
chẳng thể được!
(Kinh)
Ly ư Bồ Đề, Bồ Đề tâm diệc bất
khả đắc.
(經)離於菩提,菩提心亦不可得。
(Kinh:
Ĺa khỏi Bồ Đề th́ tâm Bồ Đề cũng
chẳng thể được).
Kế
đó, hỏi về chuyện cái tâm ĺa Bồ
Đề. Chẳng có một pháp nào có thể ĺa Chân
Như! V́ thế, ĺa khỏi Chân Như th́ tâm cũng chẳng
thể được!
(Kinh) Bồ Đề giả bất khả ngôn
thuyết, tâm diệc vô sắc, vô tướng, vô hữu sự
nghiệp, phi khả tạo tác.
(經)菩提者不可言說,心亦無色無相,無有事業非可造作。
(Kinh: Bồ Đề chẳng thể nói năng,
tâm cũng vô sắc, vô tướng, chẳng
có sự nghiệp, không thể tạo tác).
Kế
đó, kết lại nguyên do. Chân lư th́ ngôn ngữ dứt bặt,
tâm hạnh xứ diệt. V́ thế, chẳng thể nói.
Tâm chẳng có sắc tướng giống như huyễn,
chẳng có sự nghiệp thật sự để có thể
tạo tác. Ư nghĩa này giống như trong Văn Thù Sở
Vấn Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận [đă nói]: “Bồ
Đề chẳng thể đạt được bởi
thân, chẳng thể đạt được do tâm, v́ thân
giả, tâm huyễn”. Nói cặn kẽ th́ như trong luận
ấy đă giải thích; ở đây, [Bồ Tát] chỉ hỏi
về tâm.
(Kinh)
Chúng sanh diệc bất khả đắc, diệc bất
khả tri.
(經)眾生亦不可得亦不可知。
(Kinh:
Chúng sanh cũng chẳng thể được, và cũng
chẳng thể biết).
Kế
đó, dựa theo Sanh Không để hỏi. “Chúng
sanh” là nói về
Ngă, nhưng Thể của Ngă chẳng có,
chỉ là giả ḥa hợp, giống như huyễn sự,
thật sự chẳng thể được, hăy nên biết
[như thế].
(Kinh)
Thế Tôn! Vân hà chư pháp thậm thâm chi nghĩa nhi khả
đắc tri?
(經)世尊!云何諸法甚深之義而可得知?
(Kinh:
Bạch Thế Tôn! Thế nào là nghĩa rất sâu của
các pháp để có thể biết?)
Kế
đó, ư thứ ba là kết lại lời hỏi: V́ sao Bồ
Đề và các tâm pháp đều chẳng thể chấp
giữ, diễn tả, mà có “phát Bồ Đề tâm”
để có thể đạt được? Nghĩa rất
sâu ấy phải nên biết như thế nào?
5.6.4.2. Như Lai giải
đáp
5.6.4.2.1. Trả lời
câu hỏi thứ hai
5.6.4.2.1.1. Giải
đáp bằng cách ấn khả
(Kinh) Phật ngôn: - Thiện nam tử!
Như thị, như thị! Bồ Đề vi diệu, sự
nghiệp tạo tác, giai bất khả đắc. Nhược
ly Bồ Đề, Bồ Đề tâm diệc bất khả
đắc. Bồ Đề giả bất khả thuyết,
tâm diệc bất khả thuyết, vô sắc tướng,
vô sự nghiệp, nhất thiết chúng sanh diệc bất
khả đắc.
(經)佛言:善男子!如是如是。菩提微妙,事業造作皆不可得。若離菩提,菩提心亦不可得。菩提者不可說,心亦不可說,無色相、無事業,一切眾生亦不可得。
(Kinh:
Đức Phật nói: - Thiện nam tử! Đúng như
thế, đúng như vậy! Bồ Đề vi diệu,
sự nghiệp tạo tác đều chẳng thể
được. Nếu ĺa Bồ Đề, Bồ Đề
tâm cũng chẳng thể được! Bồ Đề
là chẳng thể nói, tâm cũng chẳng thể nói, chẳng
có sắc tướng, chẳng có sự nghiệp, hết
thảy chúng sanh cũng chẳng thể được!)
Tán
rằng: Kế đó là lời giải đáp, gồm hai phần:
- Một,
giải đáp câu hỏi thứ hai.
-
Hai, từ “thiện
nam tử! Thí như bảo Tu Di”
(này thiện
nam tử! Ví như núi báu Tu Di) trở đi, giải đáp
lời hỏi thứ nhất.
Trong
phần giải đáp câu hỏi thứ hai, trước là
giải đáp bằng cách ấn khả, sau là đáp lời
hỏi bằng cách giải thích. Trong phần giải
đáp bằng cách ấn khả, trước là ấn khả,
sau là gạn hỏi, cuối cùng là giải thích. Đây là phần
thứ nhất.
(Kinh)
Hà dĩ cố? Bồ Đề cập tâm đồng Chân
Như cố, năng chứng, sở chứng giai b́nh đẳng
cố.
(經)何以故?菩提及心同真如故,能證所證皆平等故。
(Kinh:
V́ sao vậy? Do Bồ Đề và tâm đều
tương đồng Chân Như, do cái có thể chứng
và pháp được chứng đều b́nh đẳng).
Kế
đó là gạn hỏi và giải thích. Phần gạn hỏi
dễ thấy. Trong phần giải thích, trước hết,
giải thích nguyên do “chẳng thể được, chẳng
thể nói”: Do nghĩa Bồ Đề và tâm Bồ Đề
đều cùng nương vào Chân Như, cho nên chẳng thể
nói được, v́ đă ĺa so đo, chấp trước.
(Kinh)
Phi vô chư pháp, nhi khả liễu tri.
(經)非無諸法,而可了知。
(Kinh:
Chẳng phải là không có các pháp để có thể biết
rơ).
Sau
đó, giải thích ư nghĩa
rất sâu của “phát tâm
đạt được Bồ Đề”. Chỉ
do trừ căn bệnh [chấp trước] này [mà nói Bồ
Đề và Bồ Đề tâm đều chẳng thể
được], chẳng phải là không có pháp [để
có thể phát tâm].
5.6.4.2.1.2. Trả lời
bằng cách giải thích
(Kinh) Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát
như thị tri giả, năi đắc danh vi thông đạt
chư pháp, thiện thuyết Bồ Đề, cập Bồ
Đề tâm.
(經)善男子!菩薩摩訶薩如是知者,乃得名為通達諸法,善說菩提及菩提心。
(Kinh:
Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát biết như thế,
bèn được gọi là “thông đạt các pháp, khéo nói
Bồ Đề và Bồ Đề tâm”).
Tán
rằng: Kế đó, trả lời bằng cách giải
thích, có hai phần: Một là nêu bày, hai là giải thích.
Đây là phần nêu bày. Trước tiên, nói về Bồ
Đề: Cái Thể của Bồ Đề là pháp
được chứng, c̣n Bồ Đề
tâm là chủ thể để chứng [pháp ấy].
(Kinh) Bồ Đề tâm giả, phi quá khứ,
phi vị lai, phi hiện tại. Tâm diệc như thị, chúng sanh diệc như thị. Ư trung, nhị
tướng thật bất khả đắc.
(經)菩提心者,非過去、非未來、非現在,心亦如是,眾生亦如是,於中二相實不可得。
(Kinh:
Bồ Đề tâm chẳng phải là quá khứ, chẳng
phải là vị lai, chẳng phải là hiện tại. Tâm
cũng như thế, chúng sanh cũng như thế. Trong ấy,
hai tướng đều thật sự chẳng
thể được!)
Kế đó là giải thích. Trước
là chẳng thể chấp giữ, nói năng. Sau đó, câu “bất
khả đắc cố” (do chẳng thể được)
nhằm giải thích ư nghĩa “làm như thế nào để
có thể biết
nghĩa rất sâu?” Trong phần thứ nhất, có ba ư:
Trước là giải thích, kế đó là gạn hỏi,
sau cùng là dung thông. Đoạn này là phần giải thích.
Trước hết, [nhắc tới] “tam thế” là
nói về cái Thể của Chân Như Bồ Đề. Kế
đó, “tâm diệc như thị” (tâm cũng như thế)
là [nói về] “chủ thể có thể chứng” (năng chứng).
“Tâm” nói
trong phần trước (tức Bồ Đề tâm) là
Đệ Nhất Nghĩa tâm, “tâm” được nói
trong câu sau (“tâm” trong câu “tâm diệc như thị”)
chính là “duyên tâm”. “Chúng sanh diệc như thị” (chúng
sanh cũng như thế) là nói về Nhân Không. Hai tướng
trong ấy thật sự chẳng thể được,
tức là nói gộp chung Nhị Ngă (Nhân Ngă và Pháp Ngă) đều
chẳng thể được, giống như chuyện
nương theo Biến Kế Chấp được nói
trong kinh Văn Thù Sở Vấn Bồ Đề Tâm.
(Kinh) Hà dĩ cố?
(經)何以故?
(Kinh:
V́ sao vậy?)
Kế
đó là gạn hỏi.
(Kinh)
Dĩ nhất thiết pháp giai vô sanh cố.
(經)以一切法皆無生故。
(Kinh:
Do hết thảy các pháp đều vô sanh).
Kế
đó, phần thứ ba là dung thông. Trước là Tổng,
sau là Biệt. Phần này là Tổng. Do hết thảy các
pháp đều vô sanh, cho nên là Không. Chưởng Trân Luận[8]
nói: “Vô vi chẳng có thật, do chẳng khởi, giống
như hoa đốm trên hư không”. “Vô vi chẳng có thật”
là Tông, “do chẳng khởi” là Nhân, “khởi” là sanh, “giống
như hoa đốm trên hư không”
là Dụ[9]. Do vốn là bất
sanh, cho nên cái Thể là chẳng có. Kinh Giải Thâm Mật dựa
theo ba vô tánh mà nói “hết thảy các pháp vô sanh, vô diệt,
vốn sẵn
tịch tĩnh”.
(Kinh)
Bồ Đề bất khả đắc, Bồ Đề
danh diệc bất khả đắc.
(經)菩提不可得,菩提名亦不可得。
(Kinh:
Bồ Đề chẳng thể được, danh
xưng Bồ Đề cũng chẳng thể được).
Kế
đó là dung thông Biệt, có ba phần. Trước hết
là xét theo Bồ Đề. Kinh Văn Thù Vấn Phát Bồ
Đề Tâm dạy: “Bồ Đề giả, đản
hữu danh tự, thế tục cố thuyết” (Bồ
Đề chỉ có danh tự, do thế tục mà nói). Luận
giảng rằng: “Thị hiện pháp có thể chứng,
nhưng [pháp ấy] chỉ có tên gọi, do hư
vọng phân biệt, v́ cái Thể của nó là chẳng thật”.
Ư nói: Pháp được chứng chỉ là danh tự giả
lập. V́ thế nói là “thế tục”. Nếu chấp
lấy cái danh, tức là phân biệt hư vọng, bởi
cái Thể của nó chẳng thật. “Cái có thể diễn
nói” là giả, “cái được diễn nói” cũng thế.
Trên đây là xét theo pháp để nói.
(Kinh)
Chúng sanh, chúng sanh danh bất khả đắc. Thanh Văn,
Thanh Văn danh bất khả đắc. Độc Giác,
Độc Giác danh bất khả đắc. Bồ Tát, Bồ
Tát danh bất khả đắc. Phật, Phật danh bất
khả đắc.
(經)眾生、眾生名不可得,聲聞、聲聞名不可得,獨覺、獨覺名不可得,菩薩、菩薩名不可得,佛、佛名不可得。
(Kinh:
Chúng sanh và danh xưng “chúng sanh” chẳng thể được.
Thanh Văn và danh xưng Thanh Văn chẳng thể
được. Độc Giác và danh xưng Độc Giác
chẳng thể được. Bồ Tát và danh xưng Bồ
Tát chẳng thể được. Phật và danh xưng Phật
chẳng thể được).
Cùng
dựa theo hai thứ chấp (Sanh Chấp và Pháp Chấp)
để nói: Chúng sanh chẳng thể được, tức
là Sanh Chấp chẳng có. Danh xưng “chúng sanh” chẳng
thể được, tức là Pháp Chấp không có. Bát Nhă
Luận của ngài Thiên Thân nói: “Giả danh và các Ấm sự,
Như Lai ĺa các tướng
ấy. Chư Phật không có hai thứ ấy (giả danh
và các Ấm) v́ đă thấy thật pháp”.
Có nghĩa là: Giả danh tức là chẳng thật, tức
Pháp Không là giả. “Ấm sự” (chuyện thuộc về các Ấm) tức
Sanh Không là giả. Do dung thông cả hai chỗ (Sanh Không và
Pháp Không) [mà nói là “đều chẳng thể được”].
(Kinh)
Hành phi hành bất khả đắc, hành phi hành danh bất
khả đắc.
(經)行非行不可得,行非行名不可得。
(Kinh:
Hành và “chẳng phải hành” chẳng thể được,
tên gọi “hành” và
“chẳng phải hành” đều chẳng
thể được).
Lại
xét theo pháp để biện định có năng chứng.
“Hành” tức là thiện pháp để tu hành. “Phi hành” là pháp
đáng đoạn trừ, chớ nên tu, do Năng (người
tu) và Sở (pháp để tu) đều nói về Không. Ở
đây chính là nói “hành pháp Bồ Đề tâm là cái hạnh
có thể đoạn”. “Phi hành” là cái được
đoạn [bởi hành pháp Bồ Đề tâm ấy]. Do vậy,
nói đối ứng để minh xác.
(Kinh)
Dĩ bất khả đắc cố, ư nhất thiết
tịch tĩnh pháp trung, nhi đắc an trụ. Thử y
nhất thiết công đức thiện căn, nhi đắc
sanh khởi.
(經)以不可得故,於一切寂靜法中而得安住,此依一切功德善根而得生起。
(Kinh:
Do chẳng thể được, mà được an trụ trong hết
thảy các pháp tịch tĩnh. Điều ấy do
nương vào hết thảy công đức và thiện
căn mà được sanh khởi).
Tán
rằng: Giải thích nghĩa “rất sâu”, khiến cho
[thính chúng] chân chánh tu hành Bồ Đề tâm. Do “chẳng
thể được” khiến cho họ biết “Bồ
Đề được chứng”
và “người có thể chứng” (năng chứng) đều
gọi là “ngôn thi thiết” (ngôn từ được
đặt ra), đều là giả lập, chẳng
thật sự có thể đạt được! Có thể
biết như thế th́ gọi là “ư nhất thiết
tịch tĩnh pháp trung trụ” (trụ trong hết thảy
các pháp tịch tĩnh). Nương theo đạo lư thế
tục giả duyên này, hết thảy công đức và thiện
căn sanh khởi Bồ Đề, tức là tương xứng
với chánh lư mà gọi là Bồ Đề. Kinh Văn Thù Vấn
Phát Bồ Đề Tâm dạy: “Bỉ xứ vô nhân chứng,
vô sở dụng chứng, diệc vô pháp khả chứng.
Như thị thông đạt, thị tức danh vi đắc
A Nậu Bồ Đề” (Chỗ ấy không có người
chứng, chẳng vận dụng chứng, cũng không có
pháp để có thể chứng. Thông đạt như thế
th́ liền gọi là đắc A Nậu Bồ Đề).
Nghĩa là: “Không có người chứng” tức là không có
người tu hành. “Vô sở dụng chứng” [th́ “sở
dụng chứng” (vận dụng pháp ấy để
chứng)] tức là có thể tu hành, chứng đắc. “Vô
pháp khả chứng” (Không có pháp để có thể chứng):
[Pháp ấy] chính là Bồ Đề để chứng. Nói
cặn kẽ th́ như trong luận ấy [đă nói]. Nếu
dựa theo các bản dịch cũ của kinh này, [các bản ấy] đă
viết sai rằng:
“Nương vào hết thảy thiện căn và công
đức mà được phát xuất; đó gọi là
sơ phát Bồ Đề tâm”. Trong lời kết thuộc
kinh văn trong phần sau, những cái nhân khác đều chẳng
nói là “nương theo những điều khác mà gọi
là phát tâm”. V́ thế, phải nên loại bỏ hai chữ
“thị danh” (đó gọi là), ư văn sẽ khác hẳn.
Cách dịch như trong bản dịch mới này (bản Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương này) là đúng!
5.6.4.2.2. Trả lời câu hỏi
thứ nhất
5.6.4.2.2.1. Phát tâm
(Kinh)
Thiện nam tử! Thí như bảo Tu Di sơn vương
nhiêu ích nhất thiết, thử Bồ Đề tâm lợi
chúng sanh cố. Thị danh đệ nhất Bố Thí Ba La
Mật nhân.
(經)善男子!譬如寶須彌山王饒益一切,此菩提心利眾生故,是名第一布施波羅蜜因。
(Kinh:
Thiện nam tử! Ví như núi chúa Tu Di quư báu lợi ích hết
thảy, do Bồ Đề tâm này lợi ích chúng sanh. Đó
gọi là cái nhân của môn thứ nhất [trong Bồ Đề
tâm] tức Bố Thí Ba La Mật).
Tán
rằng. Trả lời câu hỏi thứ nhất, chia thành
bốn phần:
- Một,
phát tâm.
-
Hai, tu hành.
-
Ba, địa vị chứng đắc.
- Bốn,
được hộ tŕ, tức là đạt được
Đà-la-ni bảo vệ.
Đoạn
này là phần thứ nhất, tức “phát tâm”. Kinh
văn nói về phát tâm Thập Độ (Thập Ba La Mật)
gồm mười đoạn. Tự tướng của
phát tâm khó thể biết rơ; v́ vậy, dùng thí dụ để
nói. Trước tiên, phát tâm hành Thí Độ (Bố Thí Ba La
Mật), ví như người đến núi
báu đều được lợi ích. Kinh văn gồm
ba phần:
- Một
là thí dụ.
-
Hai là kết hợp thí dụ với pháp.
- Ba
là kết luận.
Đối với các
Độ khác, đều chuẩn theo [cách phân đoạn]
này. Hoặc là có khi không kết hợp với pháp, v́ sự phát tâm này siêu
xuất sanh tử, cầu đại Bồ Đề, lại
c̣n vượt khỏi Nhị Thừa, thực hành cái tâm lợi
tha. Người gặp được [hành nhân này] đều
được lợi ích chẳng có cùng cực! V́ thế, dùng núi chúa Diệu
Cao (núi Tu Di) để thí dụ. Núi ấy vượt khỏi
biển cả, cao vượt các núi khác, trân bảo vô tận!
Núi có thể tạo lợi ích, do Bồ Đề tâm này lợi lạc chúng sanh, ứng hợp với sự lợi ích ấy [nên dùng núi báu để
sánh ví Bồ Đề tâm]. Nhưng
Đại Trang Nghiêm Luận nêu thí dụ có khác biệt. Quyển
thứ hai của luận ấy viết: “Ví như kho
tàng to lớn, Đàn Ba La Mật (Bố Thí Ba La
Mật) phát tâm tương ứng cũng
như thế, dùng tài vật để châu cấp cũng
vô tận”. Luận ấy sử
dụng ư nghĩa “chứa đựng và sử dụng
vô tận”, c̣n trong kinh này biện định về phát
Bồ Đề tâm, đại lược như trong phần
trên đă nói.
Lại
nữa, Đại Trang Nghiêm Luận nêu ra mười một
câu hỏi như: “Bồ Đề tâm dùng ǵ làm gốc? Y
chỉ vào đâu?” [Rồi trả lời lần lượt
như sau]:
-
Dùng đại bi làm gốc, dùng lợi ích chúng sanh làm y chỉ.
-
Dùng pháp Đại Thừa làm đối tượng để
tin tưởng, dùng Chủng Trí để làm cái
duyên theo ḥng cầu điều ấy (Bồ Đề
tâm).
-
Dùng thắng dục để làm cái nương vào, v́ mong
nguyện vô thượng thừa.
- Dùng
đại hộ (sự che chở to lớn) để trụ,
do trụ trong Bồ Tát giới.
-
Dùng tiếp nhận chướng để làm chướng
ngại và khó khăn, do khởi tâm theo dị thừa.
-
Dùng tăng ích làm công đức.
- Dùng
phước trí làm tự tánh.
-
Dùng tu tập các Độ để xuất ly.
- Dùng
viên măn địa vị làm rốt ráo.
Do
siêng năng hành
phương tiện nơi mỗi địa tương ứng
với từng địa vị ấy. Do xét theo kinh
văn về lời giải đáp ở đây, biết là
[trong kinh này cũng phải có] mười một câu hỏi.
Đoạn này nói về lợi ích chúng sanh, tức là
nghĩa thứ hai (“dùng lợi ích chúng sanh làm y chỉ”). Nương
theo điều này để tu tập; v́ thế, dùng “lợi
lạc chúng sanh” để nương cậy.
(Kinh)
Thiện nam tử! Thí như đại địa tŕ chúng
vật cố, thị danh đệ nhị Tŕ Giới Ba La
Mật nhân.
(經)善男子!譬如大地持眾物故,是名第二持戒波羅蜜因。
(Kinh:
Thiện nam tử! Ví như đại địa duy tŕ
các vật. Đó gọi là cái nhân của môn thứ hai, tức
Tŕ Giới Ba La Mật).
Ví
như đại địa có thể ǵn giữ các vật;
do vậy, lấy Giới làm gốc. V́ Giới có
thể sanh ra công đức, v́ thế, sánh ví [Giới Ba La
Mật] như đất. Do vậy, kinh Di Giáo dạy: “Đương
tri thử giới, chư thiện công đức an ổn
trụ xứ” (Hăy nên biết giới này là chỗ trụ
an ổn của các công đức tốt lành). Do có thể
sanh ra các Thiền Định và trí huệ diệt khổ; v́
thế, sánh ví [Giới Ba La Mật] như đất. Đại
Trang Nghiêm Luận sánh ví [Giới Ba La Mật] như
rương báu, ư nói: Do Giới có thể sanh ra công đức,
như lấy các vật từ trong rương. Như trong
luận ấy nói: “Do pháp bảo công đức sanh từ
đó”. Rương báu lại là chỗ nương nhờ
của chất báu, do [chất báu] nương vào
rương báu để cất giữ, bảo vệ, khỏi
bị mất mát, như nương vào Giới mà các
công đức khác tồn tại. Nếu đă phá giới,
giống như chặt đứt đầu người,
các căn đều xả! Đă phá giới th́ công đức
bị diệt. Nói “ǵn giữ các vật” là kết hợp
thí dụ với pháp. Hoặc có thể hiểu đó chỉ
là thí dụ, c̣n từ
“thị danh” (đó gọi là) trở đi là phần
kết luận, lược đi không kết hợp thí dụ với
pháp.
(Kinh)
Thí như sư tử hữu đại oai lực, độc
bộ vô úy, ly kinh khủng cố. Thị danh đệ tam
Nhẫn Nhục Ba La Mật nhân.
(經)譬如師子有大威力,獨步無畏離驚恐故,是名第三忍辱波羅蜜因。
(Kinh:
Ví như sư tử có oai lực lớn, bước
đi một ḿnh, chẳng sợ hăi, do đă ĺa kinh sợ.
Đó gọi là cái nhân của môn thứ ba, tức Nhẫn
Nhục Ba La Mật).
Sánh
ví như sư tử. Sư tử có ba đức:
- Một,
có oai lực to lớn.
-
Hai, đi riêng một ḿnh, không sợ hăi.
-
Ba, ĺa kinh sợ.
[Ở
đây, đức Phật] theo thứ tự mà sánh ví. Ví
như sư tử đi một ḿnh, chẳng sợ hăi, do
[Bồ Tát] phát tâm tu ba món Nhẫn (Âm Hưởng Nhẫn,
Nhu Thuận Nhẫn, và Vô Sanh Pháp Nhẫn). Trang Nghiêm Luận
sánh ví [Nhẫn Nhục Ba La Mật] như biển cả, dẫu
có những kẻ đến chống trái, tâm [Bồ Tát] luôn
bất động. Kinh Di Giáo dạy: “Năng hành nhẫn
giả, năi khả danh vi hữu lực đại nhân”
(Người có thể hành Nhẫn
đáng gọi là bậc đại nhân hữu lực). V́
thế, đạt được vô úy. Từ “thị
danh” trở đi là kết lại, lược đi
không có phần kết hợp thí dụ với pháp.
(Kinh)
Thí như phong luân, Na La Diên lực, dũng tráng tốc tật,
tâm bất thoái cố. Thị
danh đệ tứ Cần Sách Ba La Mật nhân.
(經)譬如風輪、那羅延力,勇壯速疾心不退故,是名第四勤策波羅蜜因。
(Kinh:
Ví như phong luân, hoặc sức mạnh của Na La Diên,
dũng mănh, khỏe mạnh, nhanh chóng, do tâm bất thoái.
Đó gọi là cái nhân của môn thứ tư, tức Cần
Sách Ba La Mật).
“Thí
như phong luân” (Ví như phong luân): Có hai thí dụ:
- Một,
phong luân là sánh ví mặc giáp tinh tấn, ví như phong luân[10]
nhiếp tŕ thế giới.
-
[Hai], Na La Diên (Nārāyaṇa)[11] được phương này dịch là Lực Thắng
(力勝), sánh ví lợi lạc thâu nhiếp hai loại tinh tấn
(thân tinh tấn và tâm tinh tấn) tốt lành. Trong phần thí
dụ thâu nhiếp tinh tấn tốt lành, lại [có các ư
nghĩa]: “Vô hạ, vô thoái, vô túc” (chẳng ở dưới,
chẳng thoái thất, chẳng đủ). Do mạnh mẽ,
nên chẳng tự kém cỏi. Đó là “vô hạ”. Thực
hiện nhanh chóng, đó là “vô túc”. Do sức nhiều,
nên thực hiện mọi việc chẳng thoái thất.
[Đó là “vô thoái”]. Theo thứ tự, sánh ví ba loại
tinh tấn “vô hạ, vô túc, vô thoái”. Do thí dụ [trong
đoạn này nói về chuyện] thâu nhiếp tinh tấn
tốt lành, cho nên
Duy Thức Luận nói: “Tức là như kinh nói có thế
lực, có siêng năng, có dũng cảm, kiên quyết mạnh
mẽ, chẳng bỏ sự kiềm chế tốt lành”. Điều
đầu tiên là mặc giáp, bốn điều kia là thâu
nhiếp các điều thiện. Hoặc có thể hiểu
“tốc tật” (nhanh chóng) là sánh ví tinh tấn nhạy
bén, lấy đại bi làm gốc, nhanh chóng siêng tu
lợi lạc chúng sanh
để giáo hóa họ. Hoặc có thể
hiểu đó là tổng tướng [của Tinh Tấn. Ở
đây, kinh gọi Tinh Tấn là Cần Sách], chẳng cần
phải phối ứng riêng biệt [với một ư
nghĩa nào]. Trang Nghiêm Luận sánh ví [Tinh Tấn] như kim
cang xử (chày kim cang) dũng
mănh, cứng chắc, chẳng thể phá hoại. Xét theo
đó, có hai ư nghĩa:
- Một,
dũng mănh ví như thần (tức
Chấp Kim Cang Thần).
-
Hai, kim cang ví như xử.
Hành
tinh tấn như kim cang xử
cứng chắc, bất hoại. Người có thể hành
[tinh tấn] như Chấp Kim Cang Thần dũng mănh, bất
thoái, thân kim cang chẳng thể phá hoại.
(Kinh)
Thí như thất bảo lâu quán hữu tứ giai đạo,
thanh lương chi phong lai xuy, tứ môn thọ an ổn lạc,
Tĩnh Lự pháp tạng cầu măn túc cố. Thị danh
đệ ngũ Tĩnh Lự Ba La Mật nhân.
(經)譬如七寶樓觀有四階道,清涼之風來吹,四門受安穩樂,靜慮法藏求滿足故,是名第五靜慮波羅蜜因。
(Kinh:
Ví như lầu, viện bằng bảy báu, lối đi bốn
phía có bậc thềm, gió trong mát thổi vào, bốn cửa
đều hưởng niềm vui an ổn. Do cầu pháp tạng
Tĩnh Lự, được thỏa trọn vẹn.
Đó gọi là cái nhân của môn thứ năm, tức
Tĩnh Lự Ba La Mật).
Tiếp
đó, sánh ví Định, [cũng gồm ba phần]: Trước
là thí dụ; kế đó, kết hợp [thí dụ
với] pháp; sau cùng là kết lại. Thí dụ gồm
có bốn điều:
- Một,
thí dụ về lầu, viện. Tứ Thiền Bát Định
có đủ bảy điều tối thắng, giống
như bảy báu trang nghiêm. Hơn nữa, các Thiền Định
được Thất Thánh
Tài[12]
trợ giúp, bảy chi giới[13]
là nhân. V́ thế, sánh ví với lầu quán bảy báu. Lầu
chính là “quán”[14].
Lại nữa, [kiến trúc] hẹp, dài, cong th́ gọi là Lâu (樓, lầu). Quán có
nghĩa là “khuyết” (闕).
“Khuyết” chính là hai cái Khuyết (vọng lâu) nơi cửa
cung.
-
Hai, lối đi có bậc thềm ở bốn phía, sánh ví
sự phát tâm. Tu các hạnh như Định v.v… có bốn
thứ to lớn, như Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Bồ
Tát phát tâm có bốn thứ to lớn. Một là dũng mănh
đại, tức là hoằng thệ tinh tấn, rất
sâu, khó thực hiện, do tùy thuận dài
lâu. Hai là phương tiện đại, tức là mặc
giáp hoằng thệ, do phương tiện tinh tấn luôn
siêng ṛng. Ba là lợi ích đại, tức là trong hết thảy
các thời, thực hiện tự lợi và lợi tha. Bốn
là xuất ly đại, tức là v́ cầu Vô Thượng
Bồ Đề”. V́ thế,
nương vào bốn điều có thể đạt
đến Bồ Đề, ví như thềm bậc ở
bốn phía. Hoặc là Vô Tác Tứ Đế, kinh Đại
Bát Nhă gọi [“giai đạo”] là “cù lộ”
(đường nẻo).
-
Ba, gió trong mát sánh ví [Tĩnh Lự] có thể trừ phiền
năo nóng bức.
- Bốn, [gió mát]
thổi vào bốn cửa. Bốn cửa là sánh ví Tứ
Quán “Thường, Lạc, Ngă, Tịnh”. Theo các chỗ khác
(các kinh luận khác), Định là cái nhân của Lạc
đức. Đó là nói theo Thông. Phật khởi tu trọn
vẹn bốn cái nhân, sẽ có thể chứng đắc
[Tứ Đức], cho nên nói
là “thọ an ổn lạc” (hưởng niềm vui an
ổn).
“Tĩnh
Lự pháp tạng cầu măn túc cố” (do cầu pháp tạng
Tĩnh Lự trọn vẹn): Chỉ là kết hợp thí
dụ với pháp xét theo Tổng. Từ “thị danh”
trở đi là lời kết: [Do các lẽ ấy], mà sánh
ví [Tĩnh Lự như gió mát] thổi vào các cửa.
Trang Nghiêm Luận sánh ví [Tĩnh Lự] như núi chúa bất
động, bất loạn, tức là sánh ví chung tự
tánh, c̣n ở đây (trong kinh này) th́
thí dụ chung về sự sai biệt.
(Kinh)
Thí ư nhật luân quang diệu xí thịnh.
(經)譬於日輪光耀熾盛。
(Kinh:
Ví như vầng mặt trời tỏa sáng rực
rỡ).
Kế
đó là thí dụ về cái nhân của sự phát tâm tu Bát
Nhă Độ. Kinh văn cũng gồm ba phần là thí dụ,
kết hợp thí dụ với pháp, và kết luận. Thí dụ
có hai loại:
- Một,
vầng mặt trời sánh ví tự tánh của trí.
-
Hai, ánh sáng rực rỡ, sánh ví tác dụng, lại gồm
có hai điều: Một là chiếu sáng, hai là có thể phá
tối. Tức là chứng Chân, đoạn Hoặc; [xét
theo] Lư th́ bao gồm lợi vật (lợi lạc các chúng
sanh), do có thế lực thù thắng. Chính ḿnh đă đạt
được [lợi ích ấy], cũng khiến cho
người khác đạt được, tức là bao gồm
năng lực [lợi lạc] chính ḿnh lẫn người
khác.
(Kinh) Thử tâm tốc năng phá diệt
sanh tử vô minh ám cố, thị danh đệ lục Trí Huệ Ba La Mật nhân.
(經)此心速能破滅生死無明闇故,是名第六智慧波羅蜜因。
(Kinh:
Tâm ấy có thể nhanh chóng phá diệt tối tăm sanh tử
vô minh. Đó gọi là cái nhân của môn thứ sáu, tức
Trí Ba La Mật).
[Đây
là phần] kết hợp thí dụ với pháp. Do cái tâm ấy
cầu Bát Nhă, tâm được gọi là “nhân”. Hoặc
có thể hiểu “tâm” là điều được cầu,
“nhân” chính là nguyên do [v́ sao cầu cái tâm ấy]. Do Bát
Nhă v.v… có năng lực ấy, cho nên nguyên do v́ sao phát tâm cầu
[cái tâm ấy] được gọi là Nhân. Trí và tâm ḥa hợp,
hoặc duyên lự, nói chung là Tâm. Có thể phá sanh tử là
trừ Khổ Đế. Có thể diệt tối tăm
vô minh th́ là Diệt Tập Đế. Cái có thể diệt
[Tập và Khổ] chính là Đạo Đế, cái
được chứng là Diệt Đế. Đại
Trang Nghiêm Luận sánh ví trí như thuốc chữa trị
hai thứ bệnh Hoặc Chướng và Trí Chướng,
do trí ấy có thể phá [hai thứ chướng ấy]. Do
[Hoặc Chướng và Trí Chướng] che lấp lư, chẳng
sáng suốt, hai thứ Chướng ấy ví như tối
tăm, c̣n trí được sánh ví như mặt trời,
v́ Thể của nó là “phá tối
tăm”. Do có thể khiến cho hai trí bị suy tổn,
chẳng dấy lên
được; cho nên hai thứ
chướng được sánh ví như bệnh. V́ thế,
trí được ví như thuốc. Từ “thị danh”
trở đi là kết lại.
(Kinh) Thí như thương chủ năng
linh nhất thiết tâm nguyện măn túc, thử tâm năng
độ sanh tử hiểm đạo, hoạch công đức
bảo cố. Thị danh đệ thất Phương Tiện
Thắng Trí Ba La Mật nhân.
(經)譬如商主能令一切心願滿足,此心能度生死險道獲功德寶故,是名第七方便勝智波羅蜜因。
(Kinh:
Ví như người cầm đầu các thương nhân
có thể khiến cho hết thảy tâm nguyện [của
các thương nhân] được thỏa măn, cái tâm này có
thể vượt qua đường hiểm sanh tử,
đạt được của báu công đức. Đó
gọi là cái nhân của môn thứ bảy, tức
Phương Tiện Thắng Trí Ba La Mật).
Kế
tiếp là thí dụ về cái nhân của
sự phát tâm tu tập phương tiện thiện xảo.
Kinh văn cũng bao gồm ba phần:
- Một,
giống như thương chủ (người
cầm đầu các thương nhân)
có nhiều phương tiện hay khéo, có hai công năng: Một
là biết đường nẻo, hai là dẫn [các
thương nhân] tới chỗ có của báu để thỏa
măn sự mong cầu.
-
Hai, từ “thử tâm năng độ” (tâm này có thể
độ) trở đi, là kết hợp thí dụ với
pháp: Do hồi hướng phương tiện và bạt tế
phương tiện mà vượt qua đường sanh tử,
đạt được của báu công đức đại
Bồ Đề, khác với Nhị Thừa tiến hướng
tịch diệt. Phần giải thích về tự, tha, và
cái nhân v.v… cứ dựa theo phần trước mà suy ra.
-
[Ba], phần kết lại dễ thấy.
(Kinh)
Thí như tịnh nguyệt viên măn vô ế, thử tâm
năng ư nhất thiết cảnh giới thanh tịnh
cụ túc cố. Thị danh đệ bát Nguyện Ba La Mật
nhân.
(經)譬如淨月圓滿無翳,此心能於一切境界清淨具足故,是名第八願波羅蜜因。
(Kinh:
Ví như vầng trăng thanh tịnh tṛn đầy, không bị
che lấp, cái tâm này có thể trọn đủ thanh tịnh
trong hết thảy các cảnh giới. Đó gọi là cái
nhân của môn thứ tám tức Nguyện Ba La Mật).
Kế
đó, thí dụ về sự phát tâm tu Nguyện [Ba La Mật].
Kinh văn cũng chia thành ba phần:
- Do
nguyện cầu Bồ Đề, nguyện lợi lạc
người khác, mà có đại nguyện ấy như vầng
trăng viên măn, trừ chướng cho chính ḿnh lẫn
người khác. V́ thế nói là “vô ế” (không bị
che lấp).
- Từ
“thử tâm năng ư” (tâm này có thể trong…) trở
đi là phần kết hợp thí dụ với sự mong
cầu. Hai điều lợi (tự lợi và lợi tha)
đều phải là ĺa chướng trọn vẹn trong cảnh
Chân lẫn Tục th́ mới được trọn đủ.
V́ thế nói “nhất thiết cảnh giới thanh tịnh
cụ túc” (hết thảy cảnh giới thanh tịnh
đầy đủ).
- Phần
kinh văn kết lại dễ biết.
(Kinh) Thí như Chuyển Luân Thánh Vương chủ
binh bảo thần tùy ư tự tại, thử tâm thiện năng
trang nghiêm tịnh Phật quốc độ, vô lượng
công đức quảng lợi quần sanh cố. Thị
danh đệ cửu Lực Ba La Mật nhân.
(經)譬如轉輪聖王主兵寶臣隨意自在,此心善能莊嚴淨佛國土,無量功德廣利群生故,是名第九力波羅蜜因。
(Kinh:
Ví như chủ binh bảo thần của Chuyển Luân
Thánh Vương tùy ư tự tại, tâm này có thể khéo trang
nghiêm cơi Phật thanh tịnh, vô lượng công đức
rộng lợi ích quần sanh. Đó gọi là cái nhân của
môn thứ chín tức Lực Ba La Mật).
Thí
dụ về sự phát tâm
tu Lực Ba La Mật. Kinh văn chia thành ba phần giống
như trên:
-
Trong phần thí dụ, th́ một là thí dụ về Luân
Vương, hai là thí dụ về Chủ Binh Thần Bảo.
Chuyển Luân Vương là thí
dụ chung về phát đại Bồ Đề tâm, [chủ
binh] thần là thí dụ riêng về chuyện
phát tâm hành Lực [Ba La Mật]. Có hai loại lực: Một
là tư trạch lực (sức suy nghĩ chọn lựa),
hai là tu tập lực. Như Chủ Binh Thần cần
dùng bốn loại binh đều
tùy ư tự tại, cũng như tùy thuận ư nhà vua tự
tại, giống như [Bồ Tát] tu tập Lực Ba La Mật.
Bốn loại binh có hai tác dụng: Một là mở mang bờ
cơi, hai là khiến cho chúng sanh an ổn.
- Từ
“thử tâm” (tâm này) trở đi là phần kết
hợp thí dụ với pháp. Do Lực Ba La Mật, một
là có thể trang nghiêm cơi nước, hai là rộng lợi
quần sanh. “Vô lượng công đức” bao gồm
cả hai chỗ ấy, [tức là dùng] vô lượng công
đức để trang nghiêm cơi nước, và vô lượng
công đức dùng để lợi ích chúng sanh rộng răi.
- Phần
kinh văn kết luận dễ thấy.
(Kinh)
Thí như hư không cập Chuyển Luân Thánh Vương,
thử tâm năng ư nhất thiết
cảnh giới vô hữu chướng ngại, ư nhất
thiết xứ giai đắc tự tại chí Quán Đảnh
vị cố. Thị danh đệ thập Trí Ba La Mật
nhân. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thập chủng Bồ Đề tâm nhân.
(經)譬如虛空及轉輪聖王,此心能於一切境界無有障礙,於一切處皆得自在至灌頂位故,是名第十智波羅蜜因。善男子!是名菩薩摩訶薩十種菩提心因。
(Kinh:
Ví như hư không và Chuyển Luân Thánh Vương, tâm này
có thể chẳng chướng ngại trong hết thảy
các cảnh giới, trong hết thảy mọi chỗ
đều đạt được tự tại, đạt
tới địa vị Quán Đảnh. Đó gọi là
cái nhân của môn thứ mười, tức Trí Ba La Mật.
Thiện nam tử! Đó gọi là mười loại nhân
Bồ Đề tâm của Bồ Tát Ma Ha Tát).
Tiếp
đó là thí dụ về phát tâm tu Trí Ba La Mật. Kinh văn
gồm ba phần như trong phần trước. Trong phần
thí dụ, có hai loại: Một là thí dụ về hư
không, hai là thí dụ về Luân Vương. Trí huệ có hai
loại:
- Một
là trí thành tựu hữu t́nh, như hư không dung nạp
b́nh đẳng, chẳng chọn lựa.
-
Hai là trí thành tựu Phật pháp, như Chuyển Luân Vương
tiếp nhận địa vị Quán Đảnh.
Hơn
nữa, hai thứ trí này đều bao gồm hai loại:
- Một
là thanh tịnh như hư không, chứa đựng hết
thảy tất cả công đức.
-
Hai là như Chuyển Luân Vương, có thể tiếp nối
địa vị Phật, lợi ích hữu t́nh rộng lớn.
Từ
“thử tâm” (tâm này) trở đi là phần kết
hợp thí dụ với pháp. “Hết thảy cảnh vô
ngại” tương ứng với hư không. “Giai đắc tự tại chí Quán
Đảnh vị” (Đều
được tự tại đạt tới địa
vị Quán Đảnh)
tương ứng với Chuyển Luân Vương. Phần
kinh văn kết lại dễ thấy.
(Kinh)
Như thị thập nhân nhữ đương tu học.
(經)如是十因汝當修學。
(Kinh:
Mười cái nhân như thế ông nên tu học).
Tiếp
đó là tổng kết, khuyên tu.
Hỏi:
Người phát các tâm này thuộc địa vị nào?
Đáp:
Phát tâm có nhiều địa vị. Theo Đại Trang Nghiêm
Luận, th́ có hai thứ: Một là thế tục, hai là thắng
nghĩa. Thế tục th́ thuộc vào Địa Tiền,
c̣n thắng nghĩa thuộc Địa Thượng. Lại
nói: “Bồ Tát phát tâm, xét theo các địa vị th́ có bốn
thứ sai biệt: Một là tín hạnh phát tâm, tức là
Tín Hạnh Địa. Hai là nương vào tịnh mà phát
tâm, tức bảy địa vị trước đó.
Ba là báo đắc phát tâm, tức là ba địa vị sau.
Bốn là vô chướng phát tâm, tức địa vị
Như Lai”. Đây là xét theo chỗ
tăng tấn trong ba A-tăng-kỳ và địa vị rốt
ráo để nói. Thật ra, trong bốn mươi hai địa
vị, mỗi địa vị đều phát tâm.
Kinh
Văn Thù Sở Vấn Bồ Đề Tâm lại nói bốn
thứ, kinh ấy dạy: “Hữu tứ chủng tâm,
năng thành tựu nhân, năng thành tựu quả. Hà đẳng
vi tứ? Nhất giả, sơ phát tâm; nhị giả, hạnh
phát tâm; tam giả, bất thoái phát tâm; tứ
giả, nhất sanh bổ xứ phát tâm”
(Có bốn loại tâm có thể thành tựu nhân và có thể
thành tựu quả. Những ǵ là bốn? Một là sơ
phát tâm. Hai là hạnh phát tâm. Ba là bất thoái phát tâm. Bốn
là nhất sanh bổ xứ phát tâm). Luận giải thích rằng:
Hai thứ phát tâm đầu tiên đều thuộc Địa
Tiền, thứ trước vượt hơn Thanh Văn,
thứ sau vượt hơn Bích Chi Phật. Loại phát tâm
thứ ba th́ vượt ngoài địa vị bất định,
do đă nhập Sơ Địa, đắc chứng trí.
Loại phát tâm thứ tư th́ đă khéo đạt tới
địa vị Pháp Vương Tử, tức Đệ
Thập Địa. Quyển bảy mươi hai của
Du Già Sư Địa Luận lại nói có mười loại
phát tâm:
- Một,
thế tục phát tâm, thuộc Địa Tiền.
-
Hai, đắc pháp tánh phát tâm, tức là hàng Bồ Tát từ
Sơ Địa trở lên và người đắc Nhị
Thừa quả hồi tâm [hướng về Đại Thừa].
-
Ba, chẳng quyết định phát tâm, tức chẳng phải
là chủng tánh Bồ Tát. Dẫu có tánh Bồ Tát th́ cũng có pháp thoái lui.
- Bốn,
quyết định phát tâm, trái ngược với loại
trên.
-
Năm, chẳng thanh tịnh phát tâm, tức là do bị bức
bách, do cầu được sống sót v.v… mà phát tâm.
-
Sáu, thanh tịnh phát tâm, trái ngược với loại
trên.
- Bảy,
phát tâm yếu kém, tức là đă phát tâm lại bị tham,
sân v.v… quấn trói, che lấp, bỏ chánh, hành tà.
-
Tám, mạnh mẽ phát tâm, trái ngược với loại
trên.
-
Chín, chưa thành tựu quả mà phát tâm, tức thuộc
địa vị tu nhân.
-
Mười, đă thành tựu quả phát tâm, tức là thuộc
địa vị Phật.
Trong
mười loại phát tâm như đă nói ở đây, [các
loại] chẳng quyết định, chẳng thanh tịnh,
và yếu kém, đều có chút phần. Trong ba loại ấy,
đều có chứa đựng cái nhân có thể hành,
nhưng các loại ấy chỉ có thể dùng tổng
tướng để giải thích, thông với ba loại
phát tâm được nói trước đó, hoặc là dựa
theo một tướng để phối ứng riêng biệt
th́ cũng chẳng trở ngại ǵ, nhưng chẳng bằng
cách giải thích theo tổng tướng.
Chân Đế Tam Tạng đối với cái nhân, thí dụ
và pháp của mười loại
phát tâm này đều
dùng năm nghĩa để giải thích, v́ trong phần kế
tiếp, mỗi Độ trong Thập Độ đều
có năm hành tướng. Tuy có lư đó, nhưng do chánh kinh
không đề cập, cho nên có người sẽ chất
vấn cách giải thích bằng năm nghĩa ấy.
Dựa
theo [kinh văn trong] phần sau, mỗi Độ trong Thập
Độ đều có năm hạnh, ngài Chân Đế
dùng năm môn trong số chín môn của Lục Độ
[được nói] trong Du Già Sư Địa Luận
để phối ứng [nhằm giải thích ngũ hạnh
trong kinh này]:
- Một
là tự tánh.
-
Hai là hết thảy.
- Ba
là khó hành.
- Bốn
là thiện sĩ.
-
Năm là thanh tịnh.
Ngài
thuận theo sự thích ứng mà phối hợp [năm môn
trên đây [với năm hạnh], đạo lư cũng khó
[thể nói suông sẻ được]. Các kinh luận mỗi
mỗi đều nói sai biệt. [Trong các kinh luận
như] Tạp Tập, Duy Thức v.v…, đối với
sáu Độ đầu tiên [trong Thập Độ] th́ mỗi
Độ đều có ba hạnh, c̣n bốn Độ sau
th́ mỗi Độ đều có hai hạnh. Đại
Trang Nghiêm Luận th́ đối với mỗi Độ
trong Lục Độ đều có sáu môn. Kinh Bảo Vân th́
trong mười Độ, mỗi Độ đều có
mười môn. [Do vậy, đối với cách giảng
giải Thập Độ của ngài Chân Đế, sẽ
có người bắt bẻ]: Cớ sao chỉ phối ứng
năm môn trong chín môn của Du Già Sư Địa Luận
[với năm hành tướng của mỗi Độ thuộc
Thập Độ trong kinh Kim Quang Minh này]? V́ thế biết:
Hành tướng sai biệt của Thập Độ có vô
lượng môn, các kinh luận chỉ nói đại lược
một phần để nêu rơ lẫn nhau, nhưng đều
chẳng mâu thuẫn. Nhưng thuận theo hành tướng
để giải thích th́ cũng được, do ư
nghĩa của chín môn ấy (chín môn luận về đặc
tánh của mỗi Độ trong Lục
Độ như luận Du Già Sư Địa nói) đă
thâu nhiếp hết thảy. Nói rộng hơn th́ hăy dựa
theo các tướng sai biệt trong Duy Thức Luận hoặc Nhiếp Đại Thừa Luận v.v... để biện định.
5.6.4.2.2.2. Tu hành
5.6.4.2.2.2.1.
Chỉ ra các hạnh để tu hành trong mỗi Độ
(Kinh) Thiện nam tử! Y
ngũ chủng pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Bố Thí
Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất giả, tín căn. Nhị
giả, từ bi. Tam giả, vô cầu dục tâm. Tứ giả,
nhiếp thọ nhất thiết chúng sanh. Ngũ giả,
nguyện cầu Nhất Thiết Trí trí. Thiện nam tử!
Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Bố Thí Ba La Mật.
(經)善男子!依五種法,菩薩摩訶薩成就布施波羅蜜。云何為五?一者信根、二者慈悲、三者無求欲心、四者攝受一切眾生、五者願求一切智智。善男子!是名菩薩摩訶薩成就布施波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Nương vào năm loại pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Bố Thí Ba La Mật. Thế nào là
năm? Một là tín căn. Hai là từ bi. Ba là tâm không cầu
mong. Bốn là nhiếp thọ hết thảy chúng sanh.
Năm là nguyện cầu trí Nhất Thiết Trí. Thiện
nam tử! Đó gọi
là Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Bố Thí Ba La Mật).
Từ
đây trở đi chính là ư thứ hai, tức “tu hành”
trong lời đáp của đức Phật. Đă phát tâm,
kế đó phải nên thuận theo [cái tâm đă phát ấy
mà] tu tập. Ở đây, chia thành hai phần:
- Một
là tu hành.
-
Hai là giải thích danh xưng.
Tu
hành Thập Độ gồm mười đoạn. Trong
mỗi đoạn, đều chia thành bốn phần:
- Một
là nêu ra.
-
Hai là gạn hỏi.
- Ba
là giải thích.
- Bốn
là kết lại.
Phân
đoạn kinh văn dễ thấy, trong phần sau sẽ
không chia thành khoa nữa, chỉ dựa theo kinh văn để
giải thích.
“Nhất
giả tín căn” (Một là tín căn): Bồ Đề
đă dùng Tín làm căn bản. Hơn
nữa, theo Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận, Thí có
năm loại:
- Một,
tín tâm thí. Do vậy, thoạt đầu, Tín làm căn bản
để hành bố thí.
-
Hai, từ bi. Đă là bậc Bồ Tát có tâm ư lợi sanh,
sau tín sẽ là từ bi, dẹp khổ ban vui để
hành bố thí.
-
Ba, chẳng mong cầu: Đă cầu Bồ Đề để
hành bố thí, chẳng mong cầu [quả báo tốt lành
trong] tam hữu (tam giới)
và được báo ân v.v… Do vậy, chẳng có tâm cầu
mong.
- Bốn,
nhiếp thọ hết thảy chúng sanh: V́ lợi ích chúng
sanh mà b́nh đẳng nhiếp thọ hết thảy chúng
sanh.
-
Năm, nguyện cầu trí Nhất Thiết Trí: Quay lại
nguyện cho ḿnh lẫn người đều cầu Phật
Bồ Đề.
Hơn
nữa, tín căn chính là cái Thể của Bồ Đề
tâm. Trong bảy thứ tối thắng, Y
Chỉ Tối Thắng
thâu nhiếp từ bi, tâm không mong cầu là Thanh
Tịnh Thắng,
nhiếp thọ hết thảy là Ư
Nhạo Thắng,
nguyện cầu Chủng Trí là Hồi
Hướng Thắng.
Do Thí đứng đầu, nêu đại lược sự
nhiếp thọ [các hành tướng] trong bảy món tối
thắng để [người đọc] có thể suy
ra: Đối với chín Độ kia, [năm hành tướng
trong mỗi Độ] cũng nhiếp thuộc [bảy
món] tối thắng th́ mới gọi là Độ.
(Kinh)
Thiện nam tử! Phục y ngũ pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu Tŕ Giới Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất
giả, tam nghiệp thanh tịnh. Nhị giả, bất vị
nhất thiết chúng sanh tác phiền năo nhân duyên. Tam giả,
bế chư ác đạo, khai thiện thú môn. Tứ giả,
quá ư Thanh
Văn, Độc Giác chi địa. Ngũ giả, nhất
thiết công đức giai tất măn túc. Thiện nam tử!
Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Tŕ Giới Ba La Mật.
(經)善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就持戒波羅蜜。云何為五?一者三業清淨、二者不為一切眾生作煩惱因緣、三者閉諸惡道開善趣門、四者過於聲聞獨覺之地、五者一切功德皆悉滿足。善男子!是名菩薩摩訶薩成就持戒波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Lại nương theo năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Tŕ Giới Ba La Mật. Thế nào là
năm? Một, ba nghiệp thanh tịnh. Hai, chẳng tạo
nhân duyên phiền năo cho hết thảy chúng sanh. Ba, đóng
chặt các đường ác, mở cửa thông sang
đường lành. Bốn, vượt ngoài địa vị
Thanh Văn và Độc Giác. Năm, hết thảy công
đức thảy đều trọn đủ. Thiện
nam tử! Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Tŕ
Giới Ba La Mật).
Giới
có ba loại, tức là Luật Nghi Giới, Nhiếp Thiện
Pháp Giới, và Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới[15].
[Các hành tướng của Giới Ba La Mật là]:
- Một
là ba nghiệp thanh tịnh, đấy chính là tự tánh của
tam tụ giới.
-
Hai là chẳng bị hết thảy phiền năo làm nhân, luôn
thuận theo thủ hộ người khác. Nhưng theo Thập
Địa Luận, Bồ Tát thọ giới với dụng
ư đoạn trừ bốn gịng[16]
cho chúng sanh, tức là đoạn cái nhân gây nên Hoặc.
- Ba
là đóng cửa đường ác, mở ra đường
lành. Thập Địa Luận nói: “Bồ Tát thọ giới
v́ trừ nỗi khổ của chúng sanh trong các đường ác”.
- Bốn
là vượt khỏi địa vị Thanh Văn v.v…
Đây là ư nghĩa sâu nhất, v́ chẳng giống như Nhị
Thừa, do cầu đại Bồ Đề, do
chẳng xét theo tiểu quả.
-
Năm là công đức viên măn, do nương vào Giới mà
sanh ra Định và Huệ. V́ thế, kinh Di Giáo nói: “Y
nhân thử giới, năng sanh chư Thiền Định,
cập diệt khổ trí huệ” (Do nương vào giới
này, có thể sanh ra các Thiền Định và trí huệ diệt
khổ).
Hơn
nữa, hạnh thứ nhất là Nhiếp Luật Nghi Giới,
hạnh thứ hai và thứ ba là Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới,
hạnh thứ tư và thứ năm là Nhiếp Thiện
Pháp Giới.
(Kinh) Thiện nam tử! Phục y ngũ
pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật.
Vân hà vi ngũ? Nhất giả, năng phục tham, sân phiền
năo. Nhị giả, bất tích thân mạng, bất cầu
an lạc, chỉ tức chi tưởng. Tam giả, tư
duy văng nghiệp tao khổ năng nhẫn. Tứ giả,
phát từ bi tâm, thành tựu chúng sanh chư thiện căn
cố. Ngũ giả, vị đắc thậm thâm Vô Sanh
Pháp Nhẫn. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha
Tát thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật.
(經)善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就忍辱波羅蜜。云何為五?一者能伏貪瞋煩惱、二者不惜身命不求安樂止息之想、三者思惟往業遭苦能忍、四者發慈悲心成就眾生諸善根故、五者為得甚深無生法忍。善男子!是名菩薩摩訶薩成就忍辱波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Lại nương vào năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Nhẫn Nhục Ba La Mật. Thế
nào là năm? Một là có thể chế phục phiền năo
tham, sân. Hai là chẳng tiếc thân mạng, chẳng có ư
tưởng mong cầu an lạc, nghỉ ngơi. Ba là
tư duy do nghiệp quá khứ mà gặp khổ, nên có thể
nhẫn. Bốn là phát tâm từ bi, thành tựu các thiện
căn cho chúng sanh. Năm là v́ để đạt
được Vô Sanh Pháp Nhẫn rất sâu. Thiện nam tử!
Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Nhẫn Nhục
Ba La Mật).
Nhẫn
có ba loại: Một là Nại Oán Hại Nhẫn (chịu
đựng kẻ oán thù làm hại), hai là An Thọ Khổ
Nhẫn (chịu đựng sự khổ sở), ba là
Đế Sát Pháp Nhẫn (b́nh đẳng tiếp nhận
các pháp do quán sát các nhân duyên sâu xa). Nói “có thể chế phục
phiền năo tham, sân”, tức là Nại Oán Hại Nhẫn.
“Do chẳng tiếc thân, mạng” v.v… là An Thọ Khổ
Nhẫn. Do lấy Tinh Tấn làm Thể, có thể hành khổ
hạnh, chẳng cầu nghỉ ngơi, an ổn. Hạnh
thứ ba là suy nghĩ tới [các ác nhân đă gây tạo]
xưa kia, nên [hiện
thời] bị kẻ khác hại mà chẳng sân, tức là
do suy nghĩ nghiệp cũ nên nhẫn thọ [quả báo trong
hiện thời],
chẳng sân. Lại do từ bi mà hành nhiếp thọ, cho
nên nhẫn, chẳng sân. Hai hạnh này chính là cái nhân của
Nại Oán Hại Nhẫn. Nhân [của Nhẫn] có
năm loại:
- Một,
chỉ nghĩ đến pháp.
-
Hai, nghĩ có khổ.
-
Ba, nghĩ là vô thường.
- Bốn,
nghĩ [tất cả chúng sanh dù oán hay thân đều] là thân thuộc.
-
Năm, nghĩ nhiếp thọ [tất cả chúng sanh].
Ở
đây, chỉ nêu ra cái nhân thứ hai và thứ năm. “V́
pháp rất sâu” là Đế Sát Pháp Nhẫn, dùng huệ
làm tánh.
(Kinh)
Thiện nam tử! Phục y ngũ pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát thành
tựu Cần Sách Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất giả,
dữ chư phiền năo,
bất nhạo cộng trụ. Nhị giả, phước
đức vị cụ, bất thọ an lạc. Tam giả,
ư chư nan hành khổ hạnh chi sự, bất sanh yếm
tâm. Tứ giả, dĩ đại từ bi nhiếp thọ
lợi ích phương tiện thành thục nhất thiết
chúng sanh. Ngũ giả, nguyện cầu bất thoái chuyển
địa. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu Cần Sách Ba La Mật.
(經)善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就勤策波羅蜜。云何為五?一者與諸煩惱不樂共住、二者福德未具不受安樂、三者於諸難行苦行之事不生厭心、四者以大慈悲攝受利益方便成熟一切眾生、五者願求不退轉地。善男子!是名菩薩摩訶薩成就勤策波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Lại nương vào năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Cần Sách Ba La Mật. Thế nào là
năm? Một là chẳng thích ở chung với các phiền
năo. Hai là phước đức chưa đủ, sẽ
chẳng hưởng an lạc. Ba là đối với các
chuyện khổ hạnh khó hành, chẳng sanh tâm chán ngán. Bốn
là dùng phương tiện đại từ bi nhiếp thọ
lợi ích để thành thục hết thảy chúng sanh.
Năm là mong cầu địa vị Bất Thoái Chuyển.
Thiện nam tử! Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
Cần Sách Ba La Mật).
Trong
Tinh Tấn, hạnh thứ nhất là “dữ chư phiền năo bất nhạo
cộng trụ” (chẳng
thích ở chung với các phiền
năo). Tinh tấn
có ba thứ: Một là mặc giáp, hai là nhiếp thọ
điều thiện, ba là lợi lạc hữu t́nh. Ở
đây chính là điều thứ nhất, tức “mặc
giáp tinh tấn”. Thoạt đầu phát tâm th́ khởi
tâm vui thích mạnh mẽ, muốn lật đổ các phiền
năo, giống như mặc giáp.
Hạnh
thứ hai, “phước đức vị cụ, bất thọ an lạc”
(phước đức chưa
đủ th́ chẳng hưởng
an lạc): Trong
Nhiếp Thiện có bốn loại, tức là gia hạnh,
vô hạ, vô thoái, vô túc. Trong vô thoái tinh tấn, khi chưa
đạt được, bèn có thể cầu tiến cao
hơn, chẳng ngưng nghỉ để hưởng vui sướng.
Hạnh
thứ ba là “ư
chư nan hành [chi sự] bất
sanh yếm tâm” (đối
với các chuyện
khó thực hiện, chẳng sanh tâm chán ngán) chính là
vô túc tinh tấn.
Hạnh
thứ tư là “dữ
từ bi câu” (ḥa
hợp với từ bi),
chính là phương tiện nhiếp thọ lợi ích chúng
sanh, thành tựu hết thảy, là sự tinh tấn nhằm
lợi lạc hữu t́nh.
Hạnh
thứ năm là “nguyện cầu Bất Thoái địa” (nguyện cầu địa
vị Bất Thoái),
tức là vô hạ tinh tấn trong Nhiếp Thiện, chẳng
tự khinh miệt
chính ḿnh, có thể cầu địa vị cao hơn.
(Kinh)
Thiện nam tử! Phục y ngũ pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu Tĩnh Lự Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất
giả, ư chư thiện pháp, nhiếp linh bất tán cố.
Nhị giả, thường nguyện giải thoát, bất
trước Nhị Biên cố. Tam giả, nguyện đắc
thần thông,
thành tựu chúng sanh chư thiện căn cố. Tứ giả,
vị tịnh pháp giới, quyên trừ tâm cấu cố.
Ngũ giả, vị đoạn chúng sanh phiền năo
căn bản cố. Thiện nam tử! Thị danh Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Tĩnh Lự Ba La Mật.
(經)善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就靜慮波羅蜜。云何為五?一者於諸善法攝令不散故、二者常願解脫不著二邊故、三者願得神通成就眾生諸善根故、四者為淨法界蠲除心垢故、五者為斷眾生煩惱根本故。善男子!是名菩薩摩訶薩成就靜慮波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Lại nương vào năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Tĩnh Lự Ba La Mật. Thế nào
là năm? Một là nhiếp các thiện pháp,
khiến cho
chúng chẳng tiêu tán. Hai là thường nguyện giải
thoát, chẳng chấp trước Nhị Biên. Ba là nguyện
đắc thần thông để thành tựu các thiện
căn của chúng sanh. Bốn là v́ thanh tịnh pháp giới, trừ bỏ
tâm cấu. Năm là v́ đoạn căn bản nơi phiền
năo của chúng sanh. Thiện nam tử! Đó gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Tĩnh Lự Ba La Mật).
Trong
Tĩnh Lự, cũng có ba thứ: Một là An Trụ
Tĩnh Lự, hai là Dẫn Phát Tĩnh Lự, ba là Biện
Sự Tĩnh Lự. Ở đây, hạnh thứ nhất
là An Trụ, tức nhiếp
thọ các thiện phẩm chẳng để tiêu tan. Do trụ
trong Định mà khinh an v.v… th́ gọi là An Trụ. “Dẫn
phát các công đức thần thông” v.v… th́ gọi là Dẫn
Phát. Có thể thực hiện chuyện lợi ích cho chính
ḿnh và người khác th́ gọi là Biện Sự.
Hạnh
thứ hai là “thường nguyện giải thoát”. “Giải
thoát” chính là Bát Giải Thoát[17].
Có thể chẳng trụ vào bên Có và bên Không (tức là “chẳng chấp trước
Nhị Biên”), sẽ dẫn khởi
sự giải thoát.
Hạnh
thứ ba là “nguyện đắc thần thông”, tức
sáu món thần thông. Do hiện thần thông mà khiến cho các chúng
sanh xả tà, quy chánh, tu tập các thiện căn. Hai hạnh
này chính là Dẫn Phát
Tĩnh Lự.
Hạnh
thứ tư là “tịnh pháp giới, trừ
tâm cấu”: Tâm gồm hai loại
là Năng Duyên Lự Tâm và Đệ Nhất Nghĩa Tâm.
Thanh tịnh pháp giới chính là Đệ Nhất Nghĩa
Tâm. Nương vào Định có thể trừ hai thứ
tâm cấu; đó là tự lợi.
Hạnh
thứ năm là “đoạn căn bản phiền năo của
chúng sanh”, đấy chính là lợi tha.
Hai
loại sau này chính là Biện Sự Tĩnh Lự, có thể
thực hiện chuyện lợi ích cho chính ḿnh và người
khác, không chỉ duyên theo sự mà gọi là “biện sự”.
“Sự” chính là các nghiệp dụng của sự nghiệp.
Các chỗ (trong các kinh luận) nói “biến đại
địa thành vàng” v.v… chính là “biện sự”, tức
là ước theo chuyện lợi ích bên ngoài để nói!
(Kinh)
Thiện nam tử! Phục y ngũ pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu Trí Huệ Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất
giả, thường ư nhất thiết chư Phật,
Bồ Tát, cập minh trí giả, cúng dường, thân cận,
bất sanh yếm bối. Nhị giả, chư Phật
Như Lai thuyết thậm thâm pháp, tâm thường nhạo
văn, vô hữu yếm túc. Tam giả, Chân Tục thắng
trí, nhạo thiện phân biệt. Tứ giả, Kiến Tu
phiền năo hàm tốc đoạn trừ. Ngũ giả, thế
gian kỹ thuật, Ngũ
Minh chi pháp, giai tất
thông đạt. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma
Ha Tát thành tựu Trí Huệ Ba La Mật.
(經)善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就智慧波羅蜜。云何為五?一者常於一切諸佛菩薩及明智者供養親近不生厭背、二者諸佛如來說甚深法心常樂聞無有厭足、三者真俗勝智樂善分別、四者見修煩惱咸速斷除、五者世間技術五明之法皆悉通達。善男子!是名菩薩摩訶薩成就智慧波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Lại nương vào năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Trí Huệ Ba La Mật. Thế nào là
năm? Một là thường ở nơi hết thảy
chư Phật, Bồ Tát, và người trí sáng, mà cúng
dường, thân cận, chẳng sanh chán ngán, chống trái.
Hai là đối với pháp rất sâu do chư Phật
Như Lai đă nói, tâm thường thích nghe, chẳng hề
chán đủ. Ba là đối với trí thù thắng dù Chân
hay Tục, đều thích khéo phân biệt. Bốn là đối
với Kiến Tu phiền năo, đều nhanh chóng đoạn
trừ. Năm là đối với kỹ thuật trong thế
gian và pháp Ngũ Minh,
thảy đều thông đạt. Thiện nam tử!
Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Trí Huệ Ba La
Mật).
Trí
cũng có ba loại là Gia Hạnh Trí, Căn Bản Trí, và Hậu
Đắc Trí. Trong năm hạnh, hai hạnh đầu
thuộc về Gia Hạnh Trí. Đối với thiện hữu,
tu tập mười thứ cúng dường và nguyện
thường tùy thuận, gọi là “thân cận nhất thiết chư Phật, Bồ
Tát, thiện hữu, giai nguyện cầu, cúng dường,
thân cận, vô hướng bối tâm” (thân cận hết
thảy chư Phật, Bồ Tát, bạn lành, đều
nguyện cầu, cúng dường, thân cận, chẳng có
tâm hướng về, hay chống
trái) như
trong phần trước đă nói về sự cúng dường.
Hạnh thứ hai là thường
thích nghe pháp, tâm chẳng chán đủ,
hăy nên nói “chư Phật vốn cầu pháp duyên”. Hai hạnh
trên đây đều thuộc về Gia Hạnh Trí. Hạnh
thứ ba và thứ năm là Hậu Đắc Trí, có thể
ưa thích biết rơ hai cảnh Chân và Tục. Hạnh thứ
tư là đoạn Kiến Tu phiền năo, tức là Căn
Bản Trí. Kỹ thuật thế gian tức là sáu
mươi bốn loại kỹ năng. Pháp Ngũ Minh
chính là Nội Minh, Nhân Minh, Thanh Minh, Y Phương Minh, và
Công Xảo Minh, nói cặn kẽ th́ như trong quyển ba
mươi tám của Du Già Sư Địa Luận.
Hỏi:
Nội Minh Xứ th́ có phải chỉ là trong Phật giáo mới
gọi là Nội Minh Xứ hay không?
Đáp:
Ngoại đạo cũng có, chỉ cần nói nhân quả
thuộc nội thân th́ gọi là Nội Minh Xứ.
(Kinh) Thiện nam tử! Phục y ngũ
pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Phương Tiện Ba La
Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất giả, ư nhất thiết
chúng sanh ư nhạo, phiền năo, tâm hạnh sai biệt, tất
giai thông đạt. Nhị giả, vô lượng chư
pháp đối trị chi môn, tâm giai hiểu liễu. Tam giả,
đại từ bi định xuất nhập tự tại.
Tứ giả, ư chư Ba La Mật Đa, giai nguyện
tu hành, thành thục măn túc. Ngũ giả, nhất thiết
Phật pháp giai nguyện liễu đạt, nhiếp thọ
vô di. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
Phương Tiện Thắng Trí Ba La Mật. Thiện nam tử!
Phục y ngũ pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Nguyện
Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất giả, ư nhất
thiết pháp, tùng bổn dĩ lai, bất sanh, bất diệt,
phi hữu, phi vô, tâm đắc an trụ. Nhị giả,
quán nhất thiết pháp tối diệu lư thú, ly cấu
thanh tịnh, tâm đắc an trụ. Tam giả, quá nhất
thiết tướng, tâm bổn Chân Như vô tác, vô hành, bất
dị, bất động, tâm đắc an trụ. Tứ
giả, vị dục lợi ích chư chúng sanh sự,
ư Tục Đế trung, tâm đắc an trụ. Ngũ
giả, ư Xa-ma-tha, Tỳ-bát-xá-na,
đồng thời vận hành, tâm đắc an trụ. Thiện
nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Nguyện
Ba La Mật. Thiện nam tử! Phục y ngũ pháp, Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Lực Ba La Mật. Vân hà vi ngũ? Nhất
giả, dĩ chánh trí lực năng liễu nhất thiết
chúng sanh tâm hạnh thiện ác. Nhị giả, năng linh
nhất thiết chúng sanh nhập ư thậm thâm vi diệu
chi pháp. Tam giả, nhất thiết chúng sanh luân hồi sanh
tử, tùy kỳ duyên nghiệp, như thật liễu tri.
Tứ giả, ư chư chúng sanh tam chủng căn tánh, dĩ
chánh trí lực năng phân biệt tri. Ngũ giả, ư
chư chúng sanh, như lư vị thuyết, linh chủng thiện
căn, thành thục độ thoát, giai thị trí lực cố.
Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
Lực Ba La Mật. Thiện nam tử! Phục y ngũ
pháp, Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Trí Ba La Mật. Vân hà vi
ngũ? Nhất giả, năng ư chư pháp, phân biệt
thiện ác. Nhị giả, ư hắc bạch pháp, viễn
ly, nhiếp thọ. Tam giả, năng ư sanh tử, Niết
Bàn, bất yếm, bất hỷ. Tứ giả, cụ
phước trí hạnh, chí cứu cánh xứ. Ngũ giả,
thọ thắng Quán Đảnh, năng đắc chư
Phật bất cộng pháp đẳng, cập Nhất Thiết
Trí trí. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thành
tựu Trí Ba La Mật.
(經)善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就方便波羅蜜。云何為五?一者於一切眾生意樂煩惱心行差別悉皆通達、二者無量諸法對治之門心皆曉了、三者大慈悲定出入自在、四者於諸波羅蜜多皆願修行成熟滿足、五者一切佛法皆願了達攝受無遺。善男子!是名菩薩摩訶薩成就方便勝智波羅蜜。善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就願波羅蜜。云何為五?一者於一切法從本以來不生不滅非有非無心得安住、二者觀一切法最妙理趣離垢清淨心得安住、三者過一切相心本真如無作無行不異不動心得安住、四者為欲利益諸眾生事於俗諦中心得安住、五者於奢摩他毘鉢舍那同時運行心得安住。善男子!是名菩薩摩訶薩成就願波羅蜜。善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就力波羅蜜。云何為五?一者以正智力能了一切眾生心行善惡、二者能令一切眾生入於甚深微妙之法、三者一切眾生輪迴生死隨其緣業如實了知、四者於諸眾生三種根性以正智力能分別知、五者於諸眾生如理為說令種善根成熟度脫,皆是智力故。善男子!是名菩薩摩訶薩成就力波羅蜜。善男子!復依五法,菩薩摩訶薩成就智波羅蜜。云何為五?一者能於諸法分別善惡、二者於黑白法遠離攝受、三者能於生死涅槃不厭不喜、四者具福智行至究竟處、五者受勝灌頂能得諸佛不共法等及一切智智。善男子!是名菩薩摩訶薩成就智波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Lại nương vào năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Phương Tiện Ba La Mật. Thế
nào là năm?Một là đối với ư thích, phiền năo,
tâm hạnh sai biệt của hết thảy chúng sanh,
thảy đều thông đạt. Hai là đối với
các môn đối trị trong vô lượng các pháp, tâm đều
hiểu rơ. Ba là tự tại xuất nhập đại từ
bi định. Bốn là đối với các Ba La Mật
Đa, đều nguyện tu hành, thành thục trọn vẹn.
Năm là đối với hết thảy Phật pháp,
đều nguyện liễu đạt, nhiếp thọ chẳng
sót. Thiện nam tử! Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu Phương Tiện Thắng Trí Ba La Mật.
Thiện nam tử! Lại nương vào năm pháp mà Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Nguyện Ba La Mật. Thế nào là
năm? Một là đối với hết thảy các pháp,
vốn sẵn xưa nay chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng
có, chẳng không, tâm được an trụ. Hai là quán lư
thú mầu nhiệm nhất của hết thảy các pháp ly
cấu thanh tịnh, tâm được an trụ. Ba là cội
nguồn của cái tâm là Chân Như vượt ngoài hết
thảy các tướng, vô tác, vô hành, chẳng khác, chẳng
động, tâm được an trụ. Bốn là v́ muốn
tạo chuyện lợi ích cho các chúng sanh mà tâm được
an trụ trong Tục Đế. Năm là đồng thời
vận dụng Xa-ma-tha và Tỳ-bát-xá-na, tâm được
an trụ. Thiện nam tử! Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha
Tát thành tựu Nguyện Ba La Mật. Thiện nam tử! Lại
nương vào năm pháp mà Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Lực
Ba La Mật. Thế nào là năm? Một là do sức chánh trí
có thể biết rơ tâm hạnh thiện hay ác của hết
thảy chúng sanh. Hai là có thể khiến cho hết thảy
chúng sanh nhập pháp vi diệu rất sâu. Ba là đối với
hết thảy chúng sanh luân hồi sanh tử tùy theo duyên
nghiệp, đều như thật biết rơ. Bốn là
đối với ba loại căn tánh của các chúng sanh,
do sức chánh trí đều có thể phân biệt mà biết.
Năm là v́ các chúng sanh mà nói đúng lư, khiến cho họ gieo
thiện căn, thành thục độ thoát, đều do
trí lực này vậy. Thiện nam tử! Đó gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Lực Ba La Mật. Thiện nam tử!
Lại nương theo năm pháp mà Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
Trí Ba La Mật. Thế nào là năm? Một là có thể
đối với các pháp, phân biệt thiện ác. Hai là
đối với pháp đen hoặc trắng, bèn xa ĺa hay
nhiếp thọ. Ba là có thể
đối với sanh tử và Niết
Bàn, chẳng chán ngán, chẳng ưa thích. Bốn là đầy
đủ hạnh phước trí, đạt tới chỗ
rốt ráo. Năm là được quán đảnh thù thắng,
có thể đạt được pháp bất cộng v.v…
của chư Phật và trí Nhất Thiết Trí. Thiện
nam tử! Đó gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Trí
Ba La Mật).
Đối
với bốn Độ như Phương Tiện v.v…,
quyển bốn mươi chín của Du Già Sư Địa
Luận nói: “Như trong phần trước đă nói
mười hai hành tướng phương tiện thiện
xảo, hăy nên biết đó gọi là Phương Tiện
Thiện Xảo (Phương Tiện Độ). Như
trong phần trước đă nói, năm loại đại
nguyện được gọi
là Nguyện (Nguyện Ba La Mật). Tất cả mười
lực và gia hạnh gọi là Lực [Ba La Mật]. Đối
với hết thảy các pháp, như thật mà an lập
thanh tịnh diệu trí th́ gọi là Trí [Ba La Mật]”.
Hỏi:
Độ thứ mười (Trí Ba La Mật) và Độ
thứ sáu (Bát Nhă Ba La Mật) có ǵ khác biệt?
Đáp:
Chính là như trong luận ấy nói: “Có thể giữ lấy
nghĩa thù thắng, vô phân biệt, chuyển thành diệu
huệ thanh tịnh, th́ gọi là Huệ. Có thể giữ
lấy thế tục có phân biệt, chuyển thành diệu
trí thanh tịnh, th́ gọi là Trí”. [Do vậy], có hai danh
xưng sai biệt.
“Mười
hai phương tiện thiện xảo”: [Du Già Sư
Địa Luận] quyển bốn mươi lăm nói: “Hăy
nên biết phương tiện thiện xảo nói đại
lược th́ có mười hai loại. Dựa theo sự
tu chứng hết thảy Phật pháp bên trong th́ có sáu loại.
Xét theo sự thành tựu hết thảy hữu t́nh bên ngoài
th́ cũng có sáu loại.
Sáu loại dựa
theo sự tu chứng bên trong: Một là đối với hữu
t́nh, bi tâm quan hoài, yêu mến. Hai là như thật biết trọn
khắp các hạnh. Ba là tâm ưa thích Bồ Đề sâu
xa. Bốn là quan tâm, yêu mến hữu t́nh, chẳng xả
sanh tử. Năm là biết trọn khắp các hạnh luân
hồi mà chẳng nhiễm. Sáu là vui thích Phật trí, hăm
hở tinh tấn. Đó gọi là sáu thứ thiện xảo
xét theo sự nội tu”. Ư nói:
Những điều ấy là tự lợi.
“Dựa
theo hữu t́nh bên ngoài mà tu sáu thứ thiện xảo: Một
là khiến
cho kẻ tu đôi chút điều thiện,
sẽ cảm vời [quả báo] vô lượng, cho đến
đối với điều thiện nhỏ nhặt
đều dạy tu hồi hướng. Hai là khiến cho
một chút công sức mà đạt được đại
Bồ Đề, có thể
khiến cho họ xả tà, tu tùy hỷ v.v… Ba là khiến
cho kẻ ghét bỏ, trái nghịch thánh giáo sẽ trừ khử
khuể năo. Bốn là khiến cho kẻ trụ trong ấy
sẽ tiến nhập. Năm là khiến cho người
đă tiến nhập sẽ thành tựu. Sáu là khiến cho
người đă thành tựu sẽ được giải
thoát. Sau khi đă thành tựu bốn loại
sau trong sáu loại
thiện xảo thuộc phần sau
(sáu món nương theo hữu t́nh bên ngoài), lại tu sáu thứ
phương tiện thiện xảo: Một là tùy thuận
hội thông, tức là dung hội sự mâu thuẫn giữa
các giáo. Hai là cộng lập yếu khế (cùng lập các
điều kiện để khế nhập), tức là
trước hết khiến cho họ đoạn ác, tu thiện,
phương tiện lợi ích v.v… Ba là dị phần ư nhạo,
tức là thấy các thứ bất thiện v.v…, các thứ
hiện tướng chống trái, hay thuận tùng v.v… tâm
đều chẳng nhiễm mà khiến cho họ sửa
đổi. Bốn là khiến cho kẻ do bị [t́nh thế]
bức bách phải ở trong địa vị tôn quư, thù thắng
sẽ tu thiện. Năm là thi ân, báo ân, tức là đối
với người có ân bèn muốn báo đền, nhưng
khiến cho họ tu thiện để báo ân rộng lớn.
Sáu là rốt ráo thanh tịnh, tức là hiện tám tướng
ḥng lợi ích chúng sanh rốt ráo…”
Nói
cặn kẽ th́ như luận ấy đă giải thích.
Do nguyện hạnh khác nhau, có khi nói một nguyện, tức
là sơ phát tâm nguyện “độ hữu t́nh cùng cầu
Phật quả”. Phát Bồ Đề Tâm Luận viết:
“Do đại nguyện này, dẫn đến sanh khởi mười
đại nguyện”. Như
Duy Thức Luận v.v… nói có hai nguyện: Một là nguyện
cầu Bồ Đề, hai là nguyện lợi lạc
người khác. Các chỗ (các kinh luận) đều nói
chung là có Tứ Hoằng Nguyện, tức là “khiến cho
kẻ chưa được độ sẽ được
độ” v.v…
Quyển bốn mươi lăm của Du Già Sư Địa
Luận nói có năm đại nguyện: Một là nguyện
phát tâm, hai là thọ sanh, ba là sở hành, bốn là chánh nguyện,
năm là đại nguyện. Nơi Vô Thượng Giác,
sơ phát tâm cầu [đạt được] th́ gọi
là “phát tâm nguyện”. Kế đó, v́ lợi ích chúng
sanh mà nguyện cho họ sanh vào đường lành th́ gọi
là “thọ sanh nguyện”. Nguyện tu thiện pháp th́ gọi
là “sở hành nguyện”. Nguyện sẽ nhiếp thọ
hết thảy công đức th́ gọi là “chánh nguyện”.
Nói chánh nguyện ấy sanh ra đại nguyện. “Đại
nguyện” chính là mười thứ đại nguyện:
- Một,
nguyện vui thích dùng hết thảy các thứ vật cúng
thượng diệu để cúng dường chư Phật.
-
Hai, nguyện nhiếp thủ, hộ tŕ chánh pháp của
chư Phật.
-
Ba, nguyện thường theo hầu [đức Phật] từ
[khi Ngài hiện thân làm Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát
trong tầng] trời
Tri Túc (Đâu Suất) cho đến khi Ngài nhập Niết
Bàn.
- Bốn,
nguyện hành chánh hạnh của hết
thảy các Bồ Tát.
-
Năm, nguyện thành tựu trọn khắp hết thảy
các hữu t́nh.
-
Sáu, nguyện đến các thế giới của hết
thảy chư Phật.
- Bảy,
nguyện có thể thanh tịnh trọn khắp hết thảy
các cơi Phật.
-
Tám, nguyện có ư thích và gia hạnh giống như vị Bồ
Tát tiến nhập Đại Thừa.
-
Chín, nguyện hết thảy các việc lợi sanh chẳng
điên đảo đều không luống uổng.
-
Mười, nguyện mau thành Vô Thượng Bồ Đề.
Phát
Bồ Đề Tâm Kinh Luận và Đại Trang Nghiêm Luận
đều nói mười nguyện, đại lược
tương đồng, sai khác đôi chút. Mười nguyện
được nói trong kinh Bảo Vân th́ có nhiều điểm
khác biệt. Đối với Lực và Trí cũng thế,
các thuyết ít nhiều đều có chỗ bất đồng,
do rườm rà chẳng dẫn trọn! Chỉ dựa
theo Nhiếp Luận và Duy Thức Luận để giải
thích theo tổng tướng.
Điều
thứ ba là thuận theo lời gạn hỏi mà liệt kê
năm ư, tức năm đoạn, do dễ thấy nên
không nêu ra khoa mục. Trong năm hạnh thuộc
Phương Tiện [Ba La Mật], ba hạnh đầu thuộc
về Bạt Tế Phương Tiện (phương tiện
cứu vớt chúng sanh), hai hạnh sau thuộc Hồi
Hướng Phương Tiện. “Ư nhạo, phiền
năo, tâm hạnh sai biệt”: Để cứu vớt
chúng sanh, cần phải biết ư thích và tâm phiền năo, hạnh
tham, sân, si [của họ]. Tám vạn bốn ngàn các môn trần
lao tất cả sai biệt chính là cái bị đối trị.
“Chư đối trị môn tâm giai hiểu liễu”
(Đều hiểu rơ các tâm thuộc đối trị
môn): Để đối trị, trừ khử, cần phải
biết cách trừ khử. Tám vạn bốn ngàn các môn công
đức chính là cái có thể đối trị [các trần
lao]. “Đại từ bi định xuất nhập tự
tại”: Đă biết cách trừ khử, hăy nên vào các
đường để thực hiện
giáo hóa, lợi ích. Nương theo đại từ bi, khiến
cho đối với các môn
Định đều xuất nhập tự tại, hiện
đại thần thông. Các Ba La Mật đều nguyện
tu hành, do hồi hướng Bồ Đề. Phương
tiện tu các Ba La Mật, nguyện đều nhiếp thọ
trọn vẹn hết
thảy Phật pháp. Nguyện đều chứng đắc,
liễu đạt, nhiếp thọ Trí Đức, Ân Đức
và Đoạn Đức của Bồ Đề và Niết
Bàn. Đấy chính là ư nghĩa “có thể chứng”.
Trong
phần liệt kê năm hạnh của Nguyện Ba La Mật,
ba hạnh đầu là nguyện cầu Bồ Đề,
hai hạnh sau là nguyện lợi lạc người khác.
Ba hạnh đầu tức là quán tam thân. Nguyện trụ
trong phép Quán thứ nhất là quán hết thảy các pháp. Tuy
là tổng quán, nhưng cũng là quán hết thảy các pháp
thuộc tám tướng chẳng sanh diệt v.v… “Ĺa chấp
an trụ”: Tuy gọi là Quán Trụ, nhưng chính là dục
nguyện (mong cầu). Như kinh Bát Nhă hỏi: “Ưng
vân hà trụ?” (nên trụ như thế nào?) Quán hết
thảy các pháp v.v… bao gồm năng quán (chủ thể thực hiện quán
tưởng, cái tâm quán) và sở quán (pháp được quán).
Trí của Báo Phật (Báo Thân Phật) quán hết thảy
các pháp, [liễu đạt] lư thú Chân Đế tối diệu
nơi Tục Đế ly cấu thanh tịnh, tức là
cái trí “năng quán” ĺa hai chướng, tâm được
an trụ nơi Nhị Đế (Chân Đế và Tục
Đế).
“Đắc”
là “chứng”, tức Tứ Trí của Báo Thân. Nay nói Bồ
Tát cũng nguyện ưa thích trụ trong trí “có thể
quán phiền cấu là thanh tịnh” của Phật. “Quá
nhất thiết tướng” (vượt ngoài hết
thảy các tướng) v.v… là mong đắc Pháp Thân. Nói “tâm
được an trụ” th́ cái Thể [của cái tâm ấy]
chính là dục lạc (ưa thích, mong muốn).
Quán Pháp Thân vượt ngoài hết thảy các tướng
chính là cái gốc của tâm. Cái gốc của tâm chính là Chân
Như. “Vô tác”: Chẳng do phiền năo tạo tác. “Vô
hành”: Do Như (Chân Như) ĺa ngoài ba đời. “Vô dị”:
Chẳng có tướng trước sau khác biệt. “Bất
động”: Chẳng dời đổi, diệt mất.
Quán Pháp Thân ĺa bốn tướng ấy (tức
là Pháp Thân vô tác, vô hành, vô dị, bất động); v́ thế,
nguyện ưa thích trụ, bèn nói “tâm được an
trụ”.
“Vị
dục lợi ích” (v́ muốn lợi ích) v.v… là nói theo Tục
Đế, tức là thuận theo căn cơ, bẩm tánh
[của chúng sanh được hóa độ],
mà có thể diễn nói giáo pháp v.v… V́ để thực hiện
chuyện lợi tha, cần phải hiểu rơ giáo pháp để
nói và căn tánh của chúng sanh; đấy chính là Tục
Đế. [Bởi thế], cái tâm mong muốn, ưa thích an
trụ trong ấy. Đối với Xa-ma-tha v.v… v́ muốn
lợi sanh, phải nương vào Chỉ Quán để biết
rơ [các pháp] như huyễn, ḥng “ly chư quá” (ĺa các lỗi)
v.v… Do vậy, cần
phải cùng hành [Xa-ma-tha và Tỳ-bát-xá-na]. Xa-ma-tha (Śamatha) được
phương này dịch là Chỉ. Tỳ-bát-xá-na (Vipassanā) được phương này dịch
là Quán. Dấy lên sự mong muốn, ưa thích, bèn nói là “tâm
được an trụ”.
Lực
có năm hạnh, Du Già Sư Địa Luận nói: “Lực
chính là Thập Lực”. Trong ấy, hạnh thứ nhất
chính là Nghiệp Dị Thục Trí Lực (trí lực biết
rơ quả của nghiệp sẽ chín muồi khác với
nhân) và Biến Thú Hành Trí Lực (trí lực biết trọn khắp chúng
sanh do nghiệp quả sẽ sanh vào đường nào). “Thiện
ác” tức là nghiệp thiện và bất thiện. “Tâm
hạnh” chính là Biến Thú[18].
“Chánh trí” chính là ĺa hạnh tăng thượng mạn.
Trí có thể trọn khắp Thật, do biết rơ hết
thảy các nghiệp và chỗ sẽ tiến đến của
các ư thú, sẽ
có thể khiến cho [người được hóa độ]
nhập pháp sâu mầu. Đó là Lậu Tận Trí Lực. Biết
lậu là tận hay chẳng tận, do chứng đắc
vô vi, sẽ có thể khiến cho [người được
hóa độ] nhập pháp sâu mầu. [Biết rơ] chúng sanh
luân hồi là Sanh Tử Sanh Trí Lực (trí lực biết sự sống chết của
chúng sanh). Nếu biết sự luân hồi
trong quá khứ, th́ cũng bao gồm Túc Trụ Trí Lực
(trí lực biết rơ sự thọ sanh trong các đời
trước), thuận theo [nghiệp đă tạo là] thiện
hay ác mà như thật biết rơ sanh tử luân hồi. “Tam
chủng căn tánh chánh phân biệt tri” (phân biệt biết
chánh đáng ba loại căn tánh): “Căn” tức là
Căn Thắng Liệt Trí Lực (trí lực biết
căn tánh của chúng sanh là mạnh mẽ hay kém cỏi). “Tánh”
tức là Chủng Chủng Tánh Trí Lực (trí lực biết
các thứ tánh). Hạnh thứ năm là “như lư vị
thuyết thành tựu độ thoát” (đúng như lư mà
v́ chúng sanh thuyết pháp,
khiến cho họ thành tựu, được giải
thoát): Bao gồm Xứ Phi Xứ Trí Lực (trí lực biết
rơ nhân quả tương ứng khít khao), Tĩnh Lự
Đẳng Trí Lực, và Thắng Giải Trí Lực. Có thể
tu tập các lực ấy, có thể hiểu rơ sức
tư duy, chọn lựa của các lực ấy.
Trong
ngũ trí [của Trí Ba La Mật], ba trí đầu nhằm
thành thục hữu t́nh, một trí sau cùng nhằm thành tựu
Phật pháp. Trí thứ nhất là v́ chúng sanh mà phân biệt
thiện ác. Trí thứ hai có thể khiến cho chúng sanh xa
ĺa hắc pháp, nhiếp thọ bạch pháp. Trí thứ ba là
v́ lợi ích hữu t́nh mà chẳng chán sanh tử, chẳng
yêu thích Niết Bàn. Trí thứ tư là hạnh phước
trí để có thể đạt tới chỗ rốt ráo
là Đại Niết Bàn. Trí thứ năm là nơi Đệ
Thập Địa, thọ Quán Đảnh thù thắng,
đạt được các pháp bất cộng nơi Bồ
Đề của Phật, tức Căn Bản Trí và Hậu
Đắc Trí.
Đối
với Thập Độ ở đây, [các vị Bồ Tát
thuộc] Địa Tiền và Địa Hậu đều
tùy phần mà tu, nhưng các địa vị thuộc Thập
Địa đều được nói ở mức độ
cao hơn!
5.6.4.2.2.2.2.
Giải thích các Độ
Đối với Thập Ba La Mật Đa, dùng
năm môn phân biệt [để biện định]:
-
Một, giải thích danh xưng.
-
Hai, biện định cái Thể.
-
Ba, phế lập.
-
Bốn, giải thích tướng trạng.
-
Năm, các môn.
5.6.4.2.2.2.2.1.
Giải thích danh xưng
Phần
thứ nhất là giải thích danh xưng [của các Ba La Mật].
Trước hết là giải thích danh xưng chung; sau
đó, giải thích danh xưng riêng của từng Độ.
5.6.4.2.2.2.2.1.1.
Giải thích danh xưng chung (Ba La Mật)
[Thập Độ trong] tiếng
Phạn là Thỉ Ca Ba La Mật Đa. Thỉ Ca (Daśa) là mười. Ba La (Pāra) là “bỉ ngạn” (bờ
bên kia). Mật Đa (Mitā) là “ĺa”, cũng có nghĩa là “đến”.
Nói chung, [Thập Ba La Mật Đa] là mười điều
“nhằm ĺa khỏi [bờ này sanh tử],
đạt đến bờ kia [giải thoát]”.
“Mười” là con số.
“Bờ
kia” cũng có năm thứ: Một là Sở Tri, hai là
giáo, ba là lư, bốn là hạnh, năm là quả. Do mười
hạnh này, có thể biết hết thảy các cảnh
Không và Hữu đều tận, có thể hiểu cùng tận
hết thảy các giáo thuộc Ngũ Minh, có thể thấu
đạt cùng tận hết thảy các lư thuộc Chân và Tục,
có thể tu cùng tận hết thảy các hạnh phước huệ, có thể
chứng trọn vẹn quả Bồ Đề, bèn gọi
là “bờ kia”. Bồ Đề đoạn (các tác dụng
đoạn trừ của Bồ Đề) đều gọi
là Bồ Đề, do Bồ Đề và Niết Bàn đều
được gọi là Bồ Đề. Trong năm thứ
ấy (năm thứ “bờ kia”), có thứ thuộc tiểu
pháp, chẳng cùng tận, cho nên
chẳng được gọi là “đáo bỉ ngạn”
(đến được bờ bên kia). “Ly” là viễn
ly (xa ĺa). Do mười hạnh này mà có thể ĺa pháp
Ngũ Uẩn sanh tử, có thể đạt đến,
hiểu rơ năm loại bờ kia, th́ gọi là
Thập Ba La Mật Đa. Kinh
Đại Bát Nhă giải thích như thế là cách giải
thích theo lối Đới Số (tức cách giải thích
kèm theo một con số, như Nhất Chân, tứ pháp giới
v.v...)
Nếu
theo cách giải thích của Vô Tánh Luận, trong các thế
gian, các thiện căn như Thí, Giới v.v… của Thanh
Văn và Độc Giác thù thắng nhất, có thể đạt
tới bờ kia. V́ thế, gọi chung là Ba La Mật
Đa. Nếu xét theo “cái có thể đạt đến” và
“cái được đạt đến”
của chính ḿnh để giải thích, Nhiếp Luận loại
trừ các hạng người khác [ngoài Bồ Tát], v́ các hạng
người như Nhị Thừa v.v… đều chẳng
thể tu chứng năm loại [“bờ kia”]. Đại
Trang Nghiêm Luận dùng bốn nghĩa để giải thích,
kinh Giải Thâm Mật và quyển
bảy mươi tám của Du Già Sư Địa Luận dùng
năm nghĩa để giải thích. Quyển thứ
mười một của Tạp Tập Luận dùng mười
hai nghĩa để giải thích, c̣n kinh
này dùng mười bảy nghĩa [để giải thích
Ba La Mật] như phần chánh kinh sẽ nói theo thứ tự.
5.6.4.2.2.2.2.1.2. Giải
thích tên riêng của từng môn Ba La Mật
Giải
thích tên riêng của [từng môn Ba La Mật Đa] th́ Nhiếp
Luận nói: “Lại có thể phá nát keo kiệt, bần
cùng, và có thể dẫn khởi đạt được tư
lương phước đức, địa vị, tiền
của rộng lớn. Do vậy, gọi là Thí. Có thể diệt
giới ác và đường ác, có tác dụng duy tŕ, giữ
lấy đường lành v.v… cho nên gọi là Giới”.
Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Có thể khiến cho
[hành nhân] thanh lương, nên gọi là Giới”. Nhiếp
Luận xét theo cái được đối trị, c̣n
Trang Nghiêm Luận xét theo sự đắc quả, cho nên
[hai cách giải thích ấy]
cũng chẳng mâu thuẫn! Các [kinh luận] khác giải
thích bất đồng, cứ chuẩn theo điều này
để biết.
“Lại có
thể diệt sạch phẫn nộ, oán thù, và có thể
khiến cho chính ḿnh và người khác khéo trụ trong an ổn,
cho nên gọi là Nhẫn. Lại có thể xa ĺa tất cả
các ác pháp giải đăi, bất thiện, và có thể sanh ra
vô lượng thiện pháp, khiến cho chúng tăng
trưởng;
cho nên gọi là Tinh Tấn. Lại có thể tiêu trừ tất
cả tán loạn, xáo động, và có thể dẫn đến
nội tâm an trụ, cho nên gọi là Tĩnh Lự. Lại
có thể trừ bỏ các huệ tà ác dẫn đến hết
thảy kiến chấp,
và có thể chân thật biết từng pháp theo phẩm loại,
cho nên gọi là Huệ”. Giải
rằng: Ư của [Nhiếp Luận] là khi ở nơi
nhân th́ có thể phá keo kiệt, và cũng có thể dẫn
khởi tư lương phước đức rộng
răi. Tới khi đắc quả th́ có thể phá tan bần
cùng, đạt được của cải, địa vị
to lớn. V́ thế gọi là Thí. Những lời giải
thích tên riêng [của từng môn Ba La Mật] khác dễ hiểu.
Nhưng [Nhiếp Luận] chỉ giải thích sáu Ba La Mật
đầu, chẳng giải thích bốn môn sau.
Theo
quyển hạ của Văn Thù Vấn Kinh Luận th́ do
đối trị mười chướng mà lập ra
mười Ba La Mật. Đối với bốn môn [Ba La
Mật] cuối, luận
ấy giảng: “Thứ bảy là trị cái tâm phiền
năo, sanh ra pháp trợ đạo. Thứ tám là đối trị
điên đảo đối với trợ đạo
Đạo Tập Thật Đế, sanh ra Đạo chẳng
điên đảo. Thứ chín là đối trị tâm pháp
chẳng tự tại, dù là đúng thời hay phi thời
đều được tự tại. Mười là
đối trị tướng hữu ngă, do quán các pháp vô
ngă”. Ư nói: Khi tu nhân th́ đối trị tâm phiền năo
để sanh tâm trợ đạo; khi chứng quả th́
đắc pháp trợ đạo, tức Tứ
Trí thuộc các đạo phẩm
tương ứng với các pháp trợ đạo. Những
điều khác cứ chuẩn theo đó để biết.
5.6.4.2.2.2.2.2. Biện
định cái Thể
Nêu
ra cái Thể [của các môn Ba La Mật] th́ như
trong các kinh luận khác [đă nói].
5.6.4.2.2.2.2.3. Phế lập
Biện
định về sự phế lập th́ sáu môn trước
đă được nói cặn kẽ trong quyển bảy
của Nhiếp Đại Thừa Luận, quyển thứ
bảy của Trang Nghiêm Luận, và quyển thứ chín của
Thành Duy Thức Luận. Đối với
bốn môn sau th́ như quyển thứ
tư của kinh Giải Thâm Mật nói: “Dữ tiền lục chủng vi trợ
bạn cố, ư tiền tam chủng sở nhiếp hữu
t́nh an trí thiện phẩm, cố thuyết Phương Tiện
dữ tam vi bạn. Ư hiện pháp trung, phiền năo
đa cố, ư nội tâm trụ vô kham năng đẳng,
phục bỉ nhiếp thọ” (Do làm pháp trợ giúp cho sáu loại [Ba
La Mật] trước, xếp đặt thiện phẩm
cho các hữu t́nh được thâu nhiếp trong ba loại
trước. V́ thế nói Phương Tiện làm pháp giúp
đỡ cho ba môn kia [Lực, Trí, và
Nguyện Ba La Mật]. Trong
hiện pháp, do phiền năo nhiều, chẳng thể kham trụ
trong nội tâm, lại c̣n được các pháp kia nhiếp
thọ). Cho
đến nói: “Do thử nguyện cố, phiền năo vi
bạc, năng tu tinh tấn, cố ngă thuyết Nguyện
vi Tấn trợ bạn. Do thử Lực cố, ư nội
tâm trụ hữu sở kham năng cố, thuyết Lực
vi Tĩnh Lự trợ bạn. Do thử Trí năng dẫn
thế huệ cố, ngă thuyết Trí dữ Huệ vi bạn”
(Do nguyện này, phiền năo mỏng ít, có thể tu tinh tấn,
cho nên ta nói Nguyện Ba La Mật là pháp giúp đỡ cho Tinh
Tấn Ba La Mật. Do Lực Ba La Mật này có thể kham
trụ trong nội tâm, nên nói Lực là pháp giúp đỡ cho
Tĩnh Lự (Thiền) Ba La Mật. Do Trí Ba La Mật này có
thể dẫn khởi trí huệ thế gian, ta nói Trí Ba La Mật
là pháp trợ giúp cho Huệ Ba La Mật). Ư nói: Để
giúp cho sáu Độ trước được thành tựu
viên măn, cần phải có bốn Độ sau. Nếu dựa
theo kinh Văn Thù Vấn Phát Bồ Đề Tâm th́ do đối
trị mười chướng mà lập ra Thập Độ.
Sáu món chướng đầu là keo kiệt v.v… Bốn món
chướng sau th́ thứ bảy là phiền năo tâm chướng,
thứ tám là điên đảo đạo chướng,
thứ chín là bất tự tại tâm pháp chướng,
thứ mười là hữu ngă tướng chướng.
Do đối trị bốn món chướng sau, cho nên lập
ra bốn loại Độ sau.
Nếu
xét theo Nhiếp Luận của ngài Vô Tánh th́ mỗi Độ
trong bốn Độ sau đều thông với sáu Độ
trước. Luận ấy nói: “Một là Phương Tiện
Thiện Xảo [Ba La Mật Đa], tức là dùng các thiện
căn đă nhóm họp bởi sáu Độ trước,
cùng các hữu t́nh xoay lại cầu Vô Thượng Chánh
Đẳng Bồ Đề. Hai là Nguyện Ba La Mật
Đa, tức là phát ra các thứ đại nguyện vi diệu
để dẫn khởi, thâu nhiếp các duyên thù thắng cho
Ba La Mật Đa trong tương lai. Ba là Lực Ba La Mật
Đa, tức là do hai sức suy nghĩ chọn lựa
và tu tập,
khiến cho sáu loại trước (sáu Ba La Mật trước)
hiện hành chẳng gián đoạn. Bốn là Trí Ba La Mật,
tức là do sáu
Độ trước đó mà kiến lập diệu trí
thọ dụng pháp lạc, thành tựu hữu t́nh”.
Mỗi môn trong các
Ba La Mật đều có nhiều nghĩa, tùy ư nêu ra một
nghĩa đều chẳng mâu thuẫn!
(Kinh) Thiện nam tử! Hà giả thị Ba La Mật nghĩa?
(經)善男子!何者是波羅蜜義?
(Kinh:
Thiện nam tử! Ǵ là nghĩa của Ba La Mật?)
Kế
đó, đoạn thứ hai trong phần biện định
sự tu hành là “giải thích danh xưng”. Trong phần này,
chia thành hai đoạn: Trước là gạn hỏi, sau là
giải thích. Đoạn này là gạn hỏi.
(Kinh)
Sở vị tu tập thắng lợi thị Ba La Mật
nghĩa, măn túc vô lượng đại thậm thâm trí, thị
Ba La Mật nghĩa. Hành phi hành pháp tâm bất chấp
trước, thị Ba La Mật nghĩa. Sanh tử quá thất,
Niết Bàn công đức, chánh giác, chánh quán, thị Ba La Mật
nghĩa. Ngu nhân, trí nhân, giai tất nhiếp thọ, thị
Ba La Mật nghĩa. Năng hiện chủng chủng trân
diệu pháp bảo, thị Ba La Mật nghĩa. Vô ngại
giải thoát, trí huệ măn túc, thị Ba La Mật nghĩa.
Pháp giới, chúng sanh giới, chánh phân biệt tri, thị Ba
La Mật nghĩa. Thí đẳng cập Trí, năng linh chí
bất thoái chuyển, thị Ba La Mật nghĩa. Vô Sanh
Pháp Nhẫn năng linh măn túc, thị Ba La Mật nghĩa.
Nhất thiết chúng sanh công đức, thiện căn,
năng linh thành thục, thị Ba La Mật nghĩa.
Năng ư Bồ Đề thành Phật thập lực,
tứ sở úy, bất cộng pháp đẳng, giai tất
thành tựu, thị Ba La Mật nghĩa. Sanh tử Niết
Bàn liễu vô nhị tướng, thị Ba La Mật
nghĩa. Tế độ nhất thiết, thị Ba La Mật
nghĩa. Nhất thiết ngoại đạo lai
tương cật nạn, thiện năng giải thích,
linh kỳ hàng phục, thị Ba La Mật
nghĩa. Năng chuyển thập nhị diệu hạnh
pháp luân, thị Ba La Mật nghĩa. Vô sở trước,
vô sở kiến, vô hoạn lụy, thị Ba La Mật
nghĩa.
(經)所謂修習勝利是波羅蜜義,滿足無量大甚深智是波羅蜜義,行非行法心不執著是波羅蜜義,生死過失涅槃功德正覺正觀是波羅蜜義,愚人智人皆悉攝受是波羅蜜義,能現種種珍妙法寶是波羅蜜義,無礙解脫智慧滿足是波羅蜜義,法界眾生界正分別知是波羅蜜義,施等及智能令至不退轉是波羅蜜義,無生法忍能令滿足是波羅蜜義,一切眾生功德善根能令成熟是波羅蜜義,能於菩提成佛十力四所畏不共法等皆悉成就是波羅蜜義,生死涅槃了無二相是波羅蜜義,濟度一切是波羅蜜義,一切外道來相詰難善能解釋令其降伏是波羅蜜義,能轉十二妙行法輪是波羅蜜義,無所著無所見無患累是波羅蜜義。
(Kinh:
Đó chính là: Tu tập lợi ích thù thắng là ư nghĩa của
Ba La Mật. Trọn vẹn vô lượng đại trí rất
sâu là ư nghĩa của Ba La Mật. Đối với hành
pháp hay phi hành pháp, tâm chẳng chấp trước là ư
nghĩa của Ba La Mật. Chánh giác, chánh quán lỗi lầm
sanh tử và công đức của Niết Bàn là ư nghĩa của
Ba La Mật. Kẻ ngu hay người trí thảy đều
nhiếp thọ là ư nghĩa của Ba La Mật. Có thể
hiện ra các thứ pháp bảo quư báu, mầu nhiệm là ư
nghĩa của Ba La Mật. Trí huệ giải thoát vô ngại
trọn vẹn là ư nghĩa của Ba La Mật. Phân biệt, nhận
biết chánh đáng pháp giới và chúng sanh giới là ư
nghĩa của Ba La Mật. Thí v.v… và Trí có thể đạt
tới bất thoái chuyển là ư nghĩa của Ba La Mật.
Có thể khiến cho Vô Sanh Pháp Nhẫn được trọn
vẹn là ư nghĩa của Ba La Mật. Có thể khiến
cho công đức và thiện căn của hết thảy
chúng sanh thành thục là ư nghĩa của Ba La Mật. Có thể
khiến cho thập lực, bốn món vô úy, các pháp bất cộng
nơi Bồ Đề của Phật thảy đều
thành tựu là ư nghĩa của Ba La Mật. Sanh tử và Niết
Bàn trọn chẳng có hai tướng là ư nghĩa của Ba
La Mật. Tế độ hết thảy là ư nghĩa của
Ba La Mật. Hết thảy ngoại đạo đến
cật vấn, bắt bẻ, đều có thể khéo giải
thích khiến cho họ
bị hàng phục là ư nghĩa của Ba La Mật.
Có thể chuyển pháp luân mười hai diệu hạnh
là ư nghĩa của Ba La Mật. Không chấp trước,
không có cái được thấy, không lo buồn sầu khổ
là ư nghĩa của Ba La Mật).
[Đây
là phần] giải thích. [Ba La Mật] có mười bảy
nghĩa, tức là [chánh kinh gồm có] mười
bảy đoạn [giải thích]. Phân đoạn kinh
văn dễ thấy, chẳng cần phải chia riêng thành
từng khoa, chỉ theo thứ tự mà giải thích. Nói tới
“thắng lợi” (lợi ích thù thắng) th́ quyển
ba mươi lăm của Du Già Sư Địa Luận
giảng: Nói chung, phát tâm có hai thứ lợi ích thù thắng:
- Một,
mới phát tâm th́ đă là phước điền đáng
tôn trọng của chúng sanh. Hết thảy chúng sanh đều
nên cúng dường, mà [vị Bồ Tát ấy] cũng là cha
mẹ của hết thảy chúng sanh.
-
Hai, đă phát tâm rồi th́ mới có thể nhiếp thọ
phước chẳng năo hại. Do vị Bồ Tát thành tựu
phước chẳng năo hại như thế, được
Luân Vương thủ hộ gấp bội, được
ngủ nghỉ yên lành, phi nhân chẳng quấy nhiễu,
chuyển sanh sang đời khác không bị bệnh tật,
sống lâu, thường lợi ích hữu t́nh, chẳng gây
nhọc nhằn, tổn hại cho họ
v.v…
Nhưng
Nhiếp Đại Thừa luận định lợi ích
thù thắng khác biệt, luận ấy nói: “Làm thế nào
để có thể
thấy đạt được sáu
thứ lợi ích thù thắng như thế? Chính là các Bồ
Tát lưu chuyển trong sanh tử, thuộc về phú quư,
thuộc về đại sanh, thuộc về đại bằng,
đại thuộc, thuộc về gia hạnh thành tựu
sự nghiệp rộng lớn, không có các năo hại. Do thuộc
về tánh ít trần cấu, do thuộc về khéo biết
hết thảy các chỗ Công Xảo Minh, thắng sanh[19] vô tội, cho
đến ngồi yên trên ṭa Bồ Đề mầu nhiệm,
thường có thể hiện làm hết thảy nghĩa lợi[20] cho hết thảy
hữu t́nh. Đó gọi là lợi ích thù thắng”.
Giải rằng: Thuộc về phú quư là lợi ích thù thắng
của Thí. Do thuộc về đường lành, nên gọi
là “đại sanh”; đó là lợi ích thù thắng của
Giới. “Bằng” (朋) là thân
tộc, “thuộc” (屬) là nô tỳ
v.v… Đó là lợi ích thù thắng của Nhẫn. Sự
nghiệp rộng lớn, gia hạnh thành tựu; đó là lợi
ích thù thắng của Tinh Tấn. Sự nghiệp rộng
lớn tức là Luân Vương v.v… Cổ vũ, khích lệ
trong [khi thực hiện các sự nghiệp] ấy gọi
là “gia hạnh”. Việc làm đều hoàn tất th́ gọi
là “thành tựu”. Không vướng mắc, không có các năo
hại, tánh thuộc về trần cấu ít mỏng, th́ là
lợi ích thù thắng của Tĩnh Lự. Khéo biết hết
thảy chỗ Công Xảo Minh là lợi ích thù thắng của
Huệ. Trên đây là sáu lợi ích thù thắng riêng biệt.
Từ “vô tội” cho đến “ngồi Bồ
Đề ṭa”, thường có thể biến hiện hết
thảy nghĩa lợi cho hết thảy hữu t́nh, chính
là sáu thứ lợi ích chung, chẳng giống như “thắng
sanh” có tội[21]
của thế
gian.
Lại
nữa, [lợi ích thù thắng] vô biên, chẳng gián đoạn,
cho đến Bồ Đề, chẳng giống như thế
gian chỉ chú trọng lợi ích cho chính ḿnh, v́ thường
có thể tạo nghĩa lợi cho hữu t́nh. Giống
như năng lực của thắng sanh [trong Thí Ba La Mật],
năm Độ kia cũng thế. Phật trí vô lượng,
có thể thấu hiểu Nhị Không, cho nên gọi là “đại”.
Do những địa vị khác chẳng thể suy lường,
nên gọi là “thậm thâm” (rất sâu). Có thể viên
măn mười điều ấy th́ gọi là “đáo bỉ
ngạn”. Đó là ư nghĩa của Ba La Mật.
Thiện
pháp gọi là “hành”, bất thiện gọi là “phi
hành”; đấy chính là cái nhân. “Câu bất chấp
trước” (Đều chẳng chấp trước)
tức “chẳng chấp trước” là nghĩa Ba La Mật.
Sanh tử là cái quả hữu lậu, Niết Bàn là cái quả
vô lậu. “Sanh tử quá thất, Niết Bàn công đức”
(Lỗi lầm của sanh tử, công đức của
Niết Bàn): Đối với lỗi lầm của sanh tử
bèn chánh giác, đối với công đức của Niết
Bàn bèn chánh quán, hoặc là chánh giác chánh quán đều gồm thâu
cả hai chỗ (sanh tử và Niết Bàn), đó
là ư nghĩa “bỉ ngạn”. Kẻ
ngu chuộng sanh tử, người trí ưa Niết Bàn, [Bồ
Tát hành Ba La Mật] bi tâm b́nh đẳng lợi ích, chẳng
tổn hại, th́ gọi là “nhiếp thọ”. Có thể
diễn tả, chỉ bày của báu Thất Thánh Tài cho
người trí; có thể nói Giới, Nhẫn, Cần (Tinh
Tấn), Định, Trí, Phương Tiện cho thế
gian. Pháp v́ người trí, tài (tài vật) v́ kẻ ngu. “Hiện”
là nói năng và chỉ
bày, hoặc là có thể gồm cả hai
điều ấy (Pháp và Tài) để nói,
khiến cho [người nghe] học theo. Đấy là
điều được chỉ bày. Hoặc có thể hiểu
“trân bảo” tức là nương vào Định
thù thắng mà hiện ra các thứ như thất bảo
v.v… để thí cho chúng sanh. “Vô ngại” [được
nói trong đoạn chánh kinh trên đây] là bốn món vô ngại.
“Giải thoát” là tám giải thoát. Do tám món giải thoát
có thể dẫn khởi thần thông v.v… đạt
được Tứ Vô Ngại v.v…, trí huệ toàn vẹn.
Có thể nói các điều ấy th́ là
ư nghĩa của Ba La Mật.
Pháp
giới và chúng sanh giới chính là hai thứ trong năm thứ
vô lượng (thân, tâm, trí, hư không (pháp giới), và chúng
sanh), [nêu ra] để liên tưởng, ḥng biết rơ chánh đáng các
món c̣n lại. “Thí
đẳng” chính là năm Độ
trước (từ Bố Thí cho tới Định Ba La Mật), “cập
Trí” tức là nói đến năm Độ
sau, đều có thể tu tập [các Độ ấy] đạt
tới Bất Thoái Chuyển, tức là Đệ Thập
Địa đạt tới bờ kia.
Sanh
Pháp Nhẫn: Ba món Vô Sanh Nhẫn như đă giải thích
trong phần trước. Sơ Địa mới bắt
đầu đạt được, Bát Địa liên tục
đắc. Người có thể trọn vẹn [các món Vô
Sanh Nhẫn) sẽ đạt tới địa vị Phật.
Trên đây là hai món tự lợi viên măn. Có thể khiến
cho công đức và thiện căn của hết thảy
chúng sanh thành tựu
chính là “bờ kia” lợi tha. Thập Lực hàng phục
thiên ma, vô úy hàng phục ngoại đạo. Pháp bất cộng
hàng phục Nhị Thừa. Do ba món thù thắng ấy, các
công đức khác cũng đều thành tựu viên măn.
Đó là Trí Đức của Bồ Đề Ba La Mật.
Sanh
tử và Niết Bàn trọn chẳng có hai tướng, phải
thông đạt chúng và Chân Như chẳng khác. “Bỉ ngạn”
là Đoạn Đức, chẳng giống như Nhị
Thừa do tâm Pháp Chấp
mà thấy có hai tướng. “Tế độ hết thảy”
là Ân Đức, do trọn đủ vô úy. Đối với
các vấn nạn của ngoại đạo đều giải
thích, khiến cho họ
bị hàng phục,
có thể phá tà đạt đến bờ kia. “Có thể
chuyển pháp luân mười hai diệu hạnh” tức
là hiển lộ bờ kia chân chánh. “Mười hai diệu
hạnh” chính là Tứ Đế được chuyển
ba lần[22]. Nương vào Khổ
Đế, đối với Kiến Đạo bèn chỉ
bày tướng, đối với Tu Đạo bèn khuyên tu,
[khiến cho] bậc Vô Học chứng đắc, sanh vô lậu
huệ, th́ gọi là “pháp nhăn”, mỗi mỗi đều
là đoạn sự ngu muội trong quá khứ, hiện tại,
vị lai. Trong một sát-na, ư nghĩa của Trí được
chia thành ba, tức theo thứ tự là trí, minh, và giác. Kế
đó, đối với ba Đế kia, do mỗi Đế
[đều bao gồm bốn Đế kia, cho nên] đều
có mười hai Đế, thành ra bốn mươi tám loại
hành tướng (4x12=48).
Do các hành tướng ấy tương tự, nên gọi
chung là “pháp luân mười hai diệu hạnh”. Nói cặn
kẽ về loại pháp luân này th́ như Pháp Hoa Sớ
[đă giảng]. Có thể chẳng chấp trước hết
thảy là “vô nhiễm trước” (chẳng nhiễm
đắm), chẳng có ǵ để thấy, chẳng
vướng mắc, ngăn ngại, chẳng sầu mệt,
xả vô thường sắc, đạt được
thường sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức
cũng lại như thế, tức là vĩnh viễn xả
hai thứ sầu lo sanh tử.
5.6.4.2.2.3. Các địa
vị chứng đắc
5.6.4.2.2.3.1. Tướng
trạng khi chứng đắc các địa
(Kinh) Thiện nam tử! Sơ Địa
Bồ Tát thị tướng tiên hiện, tam thiên đại
thiên thế giới vô lượng vô biên chủng chủng
bảo tạng, vô bất doanh măn, Bồ Tát tất kiến.
Thiện nam tử! Nhị Địa Bồ Tát thị
tướng tiên hiện, tam thiên đại thiên thế giới
địa b́nh như chưởng, vô lượng vô biên chủng
chủng diệu sắc thanh tịnh trân bảo trang nghiêm
chi cụ, Bồ Tát tất kiến. Thiện nam tử! Tam
Địa Bồ Tát thị tướng tiên hiện, tự
thân dũng kiện, giáp trượng trang nghiêm, nhất thiết
oán tặc giai năng tồi phục, Bồ Tát tất kiến.
Thiện nam tử! Tứ Địa Bồ Tát thị
tướng tiên hiện, tứ phương phong luân, chủng
chủng diệu hoa tất giai tán sái, sung bố địa
thượng, Bồ Tát tất kiến. Thiện nam tử!
Ngũ Địa Bồ Tát thị tướng tiên hiện,
hữu diệu bảo nữ, chúng bảo anh lạc châu biến
nghiêm thân, thủ quan danh hoa dĩ vi kỳ sức, Bồ
Tát tất kiến. Thiện nam tử! Lục Địa Bồ
Tát thị tướng tiên hiện, thất bảo hoa tŕ, hữu
tứ giai đạo, kim sa biến bố, thanh tịnh vô uế,
bát công đức thủy giai tất doanh măn, Ốt-bát-la
hoa, Câu-vật-đầu hoa, Phân-đà-lợi hoa, tùy xứ
trang nghiêm. Ư hoa tŕ
sở, du hư khoái lạc, thanh lương vô tỷ, Bồ
Tát tất kiến. Thiện nam tử! Thất Địa Bồ
Tát thị tướng tiên hiện, ư Bồ Tát tiền,
hữu chư chúng sanh ưng đọa địa ngục,
dĩ Bồ Tát lực, tiện đắc bất đọa,
vô hữu tổn thương, diệc vô khủng bố, Bồ
Tát tất kiến. Thiện nam tử! Bát Địa Bồ
Tát thị tướng tiên hiện, ư thân lưỡng
biên, hữu sư tử vương dĩ vi vệ hộ,
nhất thiết chúng thú tất giai bố úy, Bồ Tát tất
kiến. Thiện nam tử! Cửu Địa Bồ Tát thị
tướng tiên hiện, Chuyển Luân Thánh Vương, vô
lượng ức chúng vi nhiễu cúng dường, đảnh
thượng bạch cái, vô lượng chúng bảo chi sở
trang nghiêm, Bồ Tát tất kiến. Thiện nam tử! Thập
Địa Bồ Tát thị tướng tiên hiện,
Như Lai chi thân kim sắc hoảng diệu, vô lượng
tịnh quang tất giai viên măn, hữu vô lượng ức
Phạm vương vi nhiễu, cung kính cúng dường,
chuyển ư vô thượng vi diệu pháp luân, Bồ Tát
tất kiến.
(經)善男子!初地菩薩是相先現,三千大千世界無量無邊種種寶藏無不盈滿,菩薩悉見。善男子!二地菩薩是相先現,三千大千世界地平如掌,無量無邊種種妙色清淨珍寶莊嚴之具,菩薩悉見。善男子!三地菩薩是相先現,自身勇健甲仗莊嚴,一切怨賊皆能摧伏,菩薩悉見。善男子!四地菩薩是相先現,四方風輪種種妙華悉皆散灑充布地上,菩薩悉見。善男子!五地菩薩是相先現,有妙寶女眾寶瓔珞周遍嚴身首冠名華以為其飾,菩薩悉見。善男子!六地菩薩是相先現,七寶華池有四階道,金砂遍布清淨無穢,八功德水皆悉盈滿,嗢鉢羅華、拘物頭華、芬陀利華隨處莊嚴,於華池所遊戲快樂清涼無比,菩薩悉見。善男子!七地菩薩是相先現,於菩薩前有諸眾生應墮地獄,以菩薩力便得不墮,無有損傷亦無恐怖,菩薩悉見。善男子!八地菩薩是相先現,於身兩邊有師子王以為衛護,一切眾獸悉皆怖畏,菩薩悉見。善男子!九地菩薩是相先現,轉輪聖王無量億眾圍繞供養,頂上白蓋無量眾寶之所莊嚴,菩薩悉見。善男子!十地菩薩是相先現,如來之身金色晃耀,無量淨光悉皆圓滿,有無量億梵王圍繞恭敬供養,轉於無上微妙法輪,菩薩悉見。
(Kinh: Thiện nam tử! Sơ Địa Bồ
Tát th́ tướng này hiện ra trước: Vô lượng
vô biên các thứ kho báu trong tam thiên đại thiên thế giới,
không ǵ chẳng đầy ắp, Bồ Tát đều thấy.
Thiện nam tử! Nhị Địa Bồ Tát th́ tướng
này hiện ra trước: Tam thiên đại thiên thế giới,
mặt đất bằng phẳng như ḷng bàn tay, vô
lượng vô biên các thứ vật trang nghiêm quư báu, màu sắc
thanh tịnh đẹp đẽ, Bồ Tát đều thấy.
Thiện nam tử! Tam Địa Bồ Tát th́ tướng
này hiện ra trước: Thân ḿnh mạnh mẽ, mặc
giáp, cầm vũ khí trang nghiêm, hết thảy oán tặc đều
có thể dẹp tan, Bồ Tát đều thấy. Thiện
nam tử! Tứ Địa Bồ Tát th́ tướng này hiện
ra trước: Bốn phương phong luân thổi các thứ
hoa đẹp thảy đều rải rắc đầy
khắp mặt đất, Bồ Tát đều thấy.
Thiện nam tử! Ngũ Địa Bồ Tát th́ tướng
này hiện ra trước: Có bảo nữ đẹp đẽ,
các loại chuỗi anh lạc báu trang sức khắp thân, đầu
đội hoa quư để trang hoàng, Bồ Tát đều
thấy. Thiện nam tử! Lục Địa Bồ Tát th́
tướng này hiện ra trước: Trong ao hoa bảy
báu, bốn phía có lối đi, bậc thềm, cát bằng
vàng rải khắp, thanh tịnh, chẳng nhơ bẩn,
nước tám công đức thảy đều đầy
ắp, hoa Ốt-bát-la (Utpala, hoa sen xanh), hoa Câu-vật-đầu (Kumuda, hoa sen vàng), hoa Phân-đà-lợi (Puṇḍarīka, hoa sen trắng) trang nghiêm khắp chốn. Ở trong ao hoa, vui chơi,
sung sướng, mát mẻ khôn sánh, Bồ Tát đều thấy.
Thiện nam tử! Thất Địa Bồ Tát th́ tướng
này hiện ra trước: Trước mặt Bồ Tát, có các chúng sanh đáng đọa địa ngục,
do sức của Bồ Tát, họ liền chẳng đọa,
chẳng bị tổn thương, cũng chẳng sợ
hăi, Bồ Tát đều thấy. Thiện nam tử! Bát
Địa Bồ Tát th́ tướng này hiện ra trước:
Ở hai bên thân, có sư tử chúa bảo vệ, hết thảy
các loài thú thảy đều sợ hăi, Bồ Tát đều
thấy. Thiện nam tử! Cửu Địa Bồ Tát th́
tướng này hiện ra trước: Chuyển Luân Thánh
Vương được vô lượng ức đại
chúng vây quanh cúng dường, trên đỉnh đầu có lọng
trắng, được trang nghiêm bằng vô lượng
các thứ báu, Bồ Tát đều thấy. Thiện nam tử!
Thập Địa Bồ Tát th́ tướng này hiện ra
trước: Thân Như Lai sắc vàng chói ngời, vô lượng
quang minh thanh tịnh thảy đều viên măn, có vô lượng
ức Phạm vương vây quanh, cung kính cúng dường,
[Như Lai v́ họ] chuyển pháp luân vi diệu vô thượng,
Bồ Tát đều thấy).
Từ
đây trở đi là đoạn lớn thứ ba trong lời
đáp, tức “các địa vị chứng đắc”.
Do trước đó đă phát tâm, tu tập hạnh thù thắng
đă lâu, bèn được chứng đắc địa
vị. Trong đoạn lớn này, chia thành năm phần:
- Một,
tướng trạng đạt được địa
vị.
-
Hai, giải thích danh xưng của từng địa.
-
Ba, nêu ra chướng ngại trong mỗi địa.
- Bốn,
pháp để tu hành trong mỗi địa.
-
Năm, sự tu tập trong mỗi địa.
Phần
này là tướng trạng chứng đắc trong
mỗi địa vị, tức là [nói về] tướng
sẽ đắc khi mới đạt được một
địa vị. Nếu xét theo quyển thứ bảy của
bộ Vô Tánh Nhiếp Luận, đối với cả
mười địa, sẽ đều thấy chung bốn
tướng. Luận viết: “Đạt được
các địa vị này, sẽ có thể thấy như thế
nào? Lời hỏi này là do bốn loại tướng: Một
là đạt được thắng giải, tức là
đối với các địa vị đều tin hiểu
sâu xa. Hai là đạt được chánh hạnh, tức
là đạt được các địa vị
tương ứng với mười loại chánh pháp hạnh.
Ba là được thông đạt, tức là khi ở
Sơ Địa đạt được pháp giới, sẽ
có thể thông đạt trọn khắp hết thảy
các địa. Bốn là được thành tựu viên măn,
tức là tu các địa đạt tới rốt ráo”.
Giải rằng: “Tin hiểu sâu xa” là đối với
giáo pháp trong mỗi địa,
đều quyết định ấn khả chân thật
như thế. “Mười thứ chánh hạnh” chính
là mười pháp hạnh, tức là cúng
dường, biên chép, bố thí cho người khác, nghe, xem
đọc, tiếp nhận, ǵn giữ, khai diễn, phúng tụng,
và suy nghĩ tu tập. “Được thông đạt”
nghĩa là Sơ Địa khi đạt được
pháp giới (chứng nhập Sơ
Địa), sẽ có thể thông đạt trọn
khắp hết thảy các địa. Ngay khi vừa thông
đạt Sơ Địa, sẽ có thể nhanh chóng thông
đạt hết thảy các địa vị sau đó.
Đối với chủng loại này, có bài tụng rằng:
“Như phá lóng trúc đầu, các lóng khác nhanh phá, đắc
Sơ Địa chân trí, các địa sẽ chóng thành”.
“Đạt tới rốt ráo”
chính là thành tựu viên măn quả phần trong mỗi địa,
hoặc thành tựu viên măn tối hậu (chứng Đệ Thập Địa).
“Quả phần thành tựu viên măn”: Đối ứng
với địa vị trước mà gọi [địa
vị sau] là Quả, nơi nhân th́ gọi là Phần. “Hoặc
thành tựu viên măn tối hậu” tức là thành Phật
quả, đạt được cái quả rốt ráo; hoặc
do đă rốt ráo Đệ Thập Địa, bèn gọi
là “viên măn tối hậu”. Nếu xét theo quyển
mười ba của Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Bồ
Tát đă nhập địa (chứng đắc từ
Sơ Địa trở lên), mỗi địa đều
có mười tướng. Những ǵ là mười? Một
là tin tưởng sáng suốt, hai là chẳng kém cỏi, ba
là chẳng khiếp nhược, bốn là chẳng chờ
đợi, năm là thông đạt, sáu là b́nh đẳng,
bảy là ĺa khỏi thiên vị, tám là ĺa chấp trước,
chín là biết phương tiện, mười là thánh chúng
sanh”. “Tin tưởng sáng suốt” tức là hiểu
rơ địa vị của chính ḿnh, do trong các pháp đă trừ
khử vô tri, tin tưởng các địa vị khác, mong cầu
ưa thích các địa vị sau. “Chẳng kém cỏi”:
Do nghe pháp sâu mầu mà chẳng
kinh sợ. “Chẳng khiếp nhược”: Đối
với hạnh khó hành, tột bậc dũng mănh. “Chẳng
chờ đợi”: Khởi hạnh nơi địa vị
của chính ḿnh, chẳng cần phải dạy. “Thông
đạt”: Đối với phương tiện thuộc
các địa vị khác đều có thể khởi. “B́nh
đẳng”: Tâm xem trọn khắp chúng sanh như chính
ḿnh. “Ĺa thiên vị”: Tai nghe chê, khen, [nội tâm] chẳng
có cao thấp. “Ĺa chấp trước”: Đạt
được các địa vị như Luân Vương
v.v… mà chẳng yêu đắm. “Biết phương tiện”:
Biết các pháp chẳng thể được, do đó là
phương tiện của Phật. “Thánh chúng sanh”:
Luôn sanh làm đồ chúng của chư Phật. Mười
tướng ấy, địa nào cũng đều có
đủ, và cũng có tướng đắc độ,
nói cặn kẽ th́ như trong luận ấy đă giảng.
Văn
tự trong hai bộ luận ấy xét theo tướng nội
chứng, đó là tướng chung cho các địa; c̣n kinh
này (kinh Kim Quang Minh) xét theo tướng đạt được
ở bên ngoài, tức là
biệt tướng của mỗi địa, do hành Thập
Độ mà đạt được các tướng bên
ngoài ấy. Tướng hiện ra trong mười địa
vị tức là mười đoạn [kinh văn],
phân biệt từng đoạn dễ thấy.
Hỏi:
Các tướng như thế ở nơi đâu?
Đáp:
Mỗi tướng đều là khi sắp nhập một
địa bèn có; do vậy nói là “tiên hiện” (hiện
ra trước). Lại có thể hiểu là các tướng
ấy sẽ đạt được khi vừa nhập
địa. Nhưng nói “tiên hiện” th́ cũng có nhiều
tướng. Các tướng hiện ra trước ấy
chẳng thể có nơi Địa Tiền (trước
khi chứng Sơ Địa), tức là các tướng ấy
hiện ra trước cho các vị Bồ Tát từ Sơ
Địa trở lên, biểu thị:
1)
Sơ Địa do có thể hành hết thảy Thí Độ,
trọn khắp đại
thiên (tam thiên đại thiên thế giới) ở bên ngoài
liền hiện các thứ kho báu, có thể thỏa măn sở
cầu. V́ thế, không ǵ chẳng đầy ắp! “Bồ
Tát đều trông thấy”: Các Bồ Tát đă thuộc
địa vị ấy và
các địa vị cao hơn sẽ
đều trông thấy tướng ấy. Các địa vị
thấp hơn sẽ chẳng thấy. Các điều khác cứ
chuẩn theo đó mà suy.
2)
Nơi Đệ Nhị Địa, biểu thị chứng
lư b́nh đẳng, tŕ trọn tịnh giới, mười
nghiệp đạo đă thanh tịnh, cho nên hiện các thứ
vật trang nghiêm thanh tịnh, quư báu, màu sắc đẹp
đẽ.
3)
Nơi Đệ Tam Địa, do biểu thị hành ba món
Nhẫn có tướng dũng mănh mà mặc giáp hàng phục
oán địch.
4)
Nơi Đệ Tứ Địa, biểu thị hành Tứ
Chánh Cần, hoa mầu nhiệm thất tịnh và cửu tịnh
rải đất. “Thất tịnh” là giới tịnh,
tâm tịnh, kiến tịnh, độ nghi tịnh (chân kiến
sâu xa đoạn nghi thanh tịnh), đạo phi đạo
trí kiến tịnh (kiến giải do trí huệ phân biệt
rành rẽ đạo và chẳng phải đạo), hành
trí kiến tịnh (sự thanh tịnh do phân biệt thiện
pháp đáng nên hành), hành đoạn trí kiến tịnh (sự
thanh tịnh do sự nhận biết ác pháp cần phải
đoạn). “Cửu tịnh” là [thất tịnh] cộng
thêm vô duyên tịch diệt tịnh và tịnh quốc độ
tịnh (sự thanh tịnh do tịnh hóa cơi nước).
5)
Nơi Đệ Ngũ Địa, biểu thị “hành Thiền
Định, ĺa các ương ngạnh”, cho nên có bảo nữ
hiện. Thiền Định có thể sanh ra giải thoát
trọn khắp mọi nơi v.v... cho nên chuỗi anh lạc trang hoàng
thân thể. Do hành Thất Giác Phần, [được biểu
thị bằng bảo nữ] đầu đội hoa quư.
6)
Nơi Đệ Lục Địa, kinh văn có tám
nghĩa:
- Một,
biểu thị hành Trí Độ. Trí có bảy loại là
pháp trí, loại trí, thế tục trí, thần thông trí,
tướng trí, thập lực tiền hành trí, chánh đạo
lư trí trong bốn đạo lư. V́ thế, hiện hoa bằng
bảy báu sanh khởi, nương vào ao hoa sen báu.
-
Hai, do pháp trí và loại trí[23],
nương vào quán Tứ Đế mà ngộ lư duyên khởi,
cho nên bốn phía có lối đi, có thềm bậc. Hoặc
là nương vào trí phần gia hạnh, vô gián, giải
thoát, thắng tấn là bốn lối đi có thềm bậc.
-
Ba, chứng như lư mà khởi, [cho nên] cát bằng vàng trải
khắp.
- Bốn
là ĺa thô tướng chướng, cho nên thanh
tịnh, chẳng nhơ uế.
-
Năm, đạt được bát giải thoát, hoặc
Bát Đạo Chi (Bát Chánh Đạo), hoặc Bát Chủng
Trí[24],
hiện thành nước tám công đức: Một là thanh tịnh,
hai là nhẹ nhàng, ba là lạnh, bốn là mềm mại,
năm là ngọt, sáu là không hôi thối, bảy là uống
vào chẳng tổn hại cổ họng, tám là uống vào
chẳng thương tổn ruột.
-
Sáu, do cái nhân của Tứ Trí, hiện thành hoa bốn màu, tức
xanh, vàng, đỏ, trắng.
- Bảy,
niềm vui dạo trong vườn pháp.
-
Tám, chứng sự mát mẻ vô vi.
7) Nơi
Đệ Thất Địa, biểu thị thực hiện
thiện xảo cứu vớt chúng sanh: Chúng sanh ở
trước mặt Bồ Tát đáng đọa vào
đường ác, [Bồ Tát] có thể khiến cho họ
chẳng đọa, chẳng nhận lănh ác báo. Do vậy, họ
chẳng bị tổn thương, ĺa khỏi nỗi sợ
hăi trong hiện thời. Như trong kinh Thủ Lăng
Nghiêm, Bồ Tát tánh là Thủ Lăng Nghiêm tam-muội, có thể
dứt các khổ, nhổ trừ mũi tên Tam Độc
v.v…
8)
Nơi Đệ Bát Địa, biểu thị hành hai nguyện,
hoặc trí vô tướng tùy ư hiện tiền, đạt
được hai thứ tướng tự tại và cơi
nước tự tại. Ở hai bên thân có sư tử hộ
vệ, có thể khiến cho hết thảy phiền năo chẳng
hiện hành, cho nên “hết thảy loài thú sợ hăi”.
9)
Nơi Đệ Cửu Địa, biểu thị hành Lực
Độ như Chuyển Luân Vương có thế lực
to lớn, dùng Tứ Biện Tài lợi lạc chúng sanh. V́
thế, vô lượng ức chúng vây quanh cúng dường.
Dùng Tứ Vô Lượng (từ, bi, hỷ, xả) che chở
chúng sanh, như chiếc lọng [che phủ khiến cho người
ở dưới lọng] ĺa ô nhiễm. Tự hành Thất Thánh Tài, hoặc Chúng
Sanh Duyên Từ v.v… [Đó là] các vật trang nghiêm bằng chất
báu.
10)
Nơi Đệ Thập Địa, biểu thị địa
vị Quán Đảnh, sắp thành Chánh Giác. Nơi thân Bồ
Tát, có tướng Như
Lai hiện: Một là hiện
thân, hai là hiện quang minh, ba là hiện các Phạm
vương, bốn là hiện chuyển pháp luân. Nơi tự
thân, chẳng do tác ư mà bằng với thân Phật.
Nếu
xét theo kinh Bồ Tát Cầu Mộng, nơi mỗi địa,
đều mộng thấy các tướng. Từ Bát Địa
Bồ Tát trở lên đă không ngủ, sao lại có mộng?
Đó là nói: Xét theo những điều trông thấy, đều
quán chúng như mộng huyễn. Ở đây cũng thế,
tuy chẳng tác ư, mà như trong mộng, tự thân hiện
các Phật sự v.v… chẳng phải là xét theo cái thấy ở bên ngoài!
Từ Sơ Địa trở lên, trong mỗi sát-na, luôn thấy
chư Phật. Hoặc là ngoài ra, thấy các tướng của
Như Lai hiển hiện. Trong mỗi sát-na, thấy
đức Phật ấy hiển hiện. Đó là xét theo
[những ǵ] chính ḿnh trông thấy.
5.6.4.2.2.3.2. Giải
thích danh xưng của các địa
(Kinh) Thiện nam tử! Vân hà Sơ Địa
danh vi Hoan Hỷ?
(經)善男子!云何初地名為歡喜?
(Kinh:
Thiện nam tử! V́ sao Sơ Địa gọi là Hoan Hỷ?)
Tán
rằng: Phần thứ hai là giải thích danh xưng của
mỗi địa. Quyển thứ chín của Thành Duy Thức
Luận, quyển thứ chín của Nhiếp Luận, quyển
thứ mười ba của Đại Trang Nghiêm Luận,
kinh Giải Thâm Mật, phẩm Quyết Trạch của Du
Già Sư Địa Luận v.v… đều giải thích danh
xưng [của mười địa] tỉ mỉ, đại
ư đều tương đồng, chỉ sai biệt
đôi chút, nói rộng hay lược soi rọi lẫn nhau,
do rườm rà nên chẳng trích dẫn cặn kẽ. Do
mười Địa khác nhau, [chánh kinh] chia thành mười
đoạn. [Phần kinh văn nói về] Sơ Địa
được chia thành ba phần là gạn hỏi, giải
thích, và kết lại. Các Địa kia chỉ gồm hai
phần, chỉ có giải thích và kết lại. Xét theo
đó, trước hết phải nên gạn hỏi là “v́
sao Sơ Địa, Nhị Địa v.v… lại gọi
là Hoan Hỷ, Vô Cấu v.v…?”, chỉ là kinh văn lược
đi chữ “đẳng”.
(Kinh)
Vị sơ chứng đắc xuất thế chi tâm, tích
sở vị đắc, nhi kim thỉ đắc. Ư
đại sự dụng như kỳ sở nguyện, tất
giai thành tựu, sanh cực hỷ lạc. Thị cố, tối
sơ danh vi Hoan Hỷ. Chư vi tế cấu, phạm giới
quá thất, giai đắc thanh tịnh. Thị cố, Nhị
Địa danh vi Vô Cấu. Vô lượng trí huệ tam-muội
quang minh, bất khả khuynh động, vô năng tồi
phục, Văn Tŕ Đà-la-ni dĩ vi căn bản. Thị
cố, Tam Địa danh vi Minh Địa. Dĩ trí huệ
hỏa thiêu chư phiền năo, tăng trưởng quang
minh, tu hành giác phẩm. Thị cố, Tứ Địa danh
vi Diễm Địa. Tu hành phương tiện thắng
trí tự tại cực nan đắc cố, Kiến Tu phiền
năo nan phục năng phục. Thị cố, Ngũ Địa
danh vi Nan Thắng. Hành pháp tương tục liễu liễu
hiển hiện, vô tướng tư duy giai tất hiện
tiền. Thị cố, Lục Địa danh vi Hiện Tiền.
Vô lậu, vô gián, vô tướng tư duy, giải thoát tam-muội
viễn tu hành cố, thị địa thanh tịnh, vô hữu
chướng ngại. Thị cố, Thất Địa
danh vi Viễn Hành. Vô tướng tư duy,
tu đắc tự tại, chư phiền năo hành bất
năng linh động. Thị cố, Bát Địa danh vi
Bất Động. Thuyết nhất thiết pháp chủng
chủng sai biệt, giai đắc tự tại,
vô hoạn, vô lụy, tăng trưởng trí huệ tự
tại vô ngại. Thị cố, Cửu Địa danh vi
Thiện Huệ. Pháp Thân như hư không, trí huệ như
đại vân, giai năng biến măn phú nhất thiết cố.
Thị cố, Đệ Thập danh vi Pháp Vân.
(經)謂初證得出世之心。昔所未得而今始得。於大事用如其所願悉皆成就。生極喜樂。是故最初名為歡喜。諸微細垢犯戒過失皆得清淨。是故二地名為無垢。無量智慧三昧光明不可傾動。無能摧伏。聞持陀羅尼以為根本。是故三地名為明地。以智慧火燒諸煩惱。增長光明修行覺品。是故四地名為焰地。修行方便勝智自在極難得故見修煩惱難伏能伏。是故五地名為難勝。行法相續了了顯現無相思惟皆悉現前。是故六地名為現前。無漏無間無相思惟解脫三昧遠修行故是地清淨無有障礙。是故七地名為遠行。無相思惟修得自在諸煩惱行不能令動。是故八地名為不動。說一切法種種差別皆得自在無患無累增長智慧自在無礙。是故九地名為善慧。法身如虛空。智慧如大雲。皆能遍滿覆一切故。是故第十名為法雲。 (Kinh: Tức là thoạt đầu chứng đắc
cái tâm xuất thế mà trước kia chưa đạt
được, nay mới đạt được. Tác dụng
to lớn nơi các sự thảy đều thành tựu
đúng như ước nguyện, sanh ra niềm vui sướng tột bậc. V́ thế, địa vị đầu tiên được
gọi là Hoan Hỷ.
Các cấu nhiễm vi tế và lỗi lầm do phạm giới
đều được thanh tịnh. V́ thế, Nhị
Địa có tên là Vô Cấu. Quang minh từ vô lượng
trí huệ tam-muội chẳng thể lay động, chẳng
thể dẹp trừ, dùng Văn Tŕ Đà-la-ni làm căn bản.
V́ thế, Tam Địa có tên là Minh Địa. Dùng lửa
trí huệ đốt các phiền năo, tăng trưởng
quang minh, tu hành giác phẩm. V́ thế, Tứ Địa tên
là Diễm Địa. Do tu hành trí huệ phương tiện
thù thắng tự tại tột bậc khó được,
có thể chế phục Kiến Tu phiền năo khó chế
phục. V́ thế, Ngũ Địa tên là Nan Thắng. Hành
pháp tiếp nối,
hiển hiện rành rẽ, vô tướng tư duy thảy
đều hiện tiền. V́ thế, Lục Địa
tên là Hiện Tiền. Do tu hành vô lậu, chẳng gián đoạn,
vô tướng tư duy, giải thoát tam-muội lâu xa, địa
vị này thanh tịnh, chẳng có chướng ngại. V́
thế, Thất Địa tên là Viễn Hành. Tu vô tướng
tư duy đạt được tự tại, các phiền
năo hành chẳng thể lay động. V́ thế, Bát Địa
tên là Bất Động. Nói các thứ sai biệt của hết
thảy các pháp đều được tự tại chẳng
lo, chẳng sầu, tăng trưởng trí huệ tự tại
vô ngại. V́ thế, Cửu Địa tên là Thiện Huệ.
Do Pháp Thân như hư không, trí huệ như mây lớn,
đều có thể che phủ trọn khắp hết thảy.
V́ thế, Đệ Thập Địa tên là Pháp Vân).
Tán
rằng: Lời giải thích bao gồm hai nghĩa: Một
là tự lợi, hai là lợi tha. Đạt được
cái tâm xuất thế tức là tâm tương ứng với trí
Nhị Không th́ gọi là “tâm
xuất thế”. Đó
là giải thích theo lối Lân Cận[25].
Nói “tích vị đắc, kim thỉ
đắc” (xưa kia chưa
được, nay mới đạt được) là
để giải thích câu “sơ đắc”; đó là tự
lợi. “Ư
đại sự dụng như nguyện thành tựu”
(Đối với tác dụng to lớn nơi mặt Sự, đều
thành tựu như nguyện) chính là nói tới tác dụng lợi
tha. V́ thế, Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Một là
thấy Chân Như, tức
là thấy tự lợi. Xưa kia chưa thấy,
nay mới thấy, tức là đă gần Bồ Đề.
Hai là thấy lợi ích chúng sanh, tức
là thấy lợi lạc người
khác, do trong mỗi sát-na, có thể
thành tựu một trăm chúng sanh”.
Ở đây, [kinh văn nói] có thể
thành tựu một trăm loài hữu t́nh, xét theo đó, bèn
biết Bồ Tát coi lợi ích chúng sanh là đại sự
dụng (tác dụng to lớn về mặt Sự).
Như Thập Địa Kinh Luận, hoặc quyển bốn
mươi bảy của Du Già Sư Địa Luận,
Duy Thức Luận v.v… đều nói
Sơ Địa đạt được mười môn “một trăm”:
- Một
là tịnh tín xuất gia, trong một sát-na chứng một
trăm Tam-ma-địa.
- Hai là
dùng thiên nhăn thanh tịnh ở trong các cơi Phật thấy một
trăm vị Như Lai.
- Ba đối
với sự biến hóa và trụ tŕ của các Ngài,
đều có thể liễu giải, dùng sức thần
thông lay động một trăm thế giới.
- Bốn
là thân cũng có thể tới đó, phóng quang khiến cho
thấy.
- Năm
là hóa thành một trăm loại.
- Sáu là
thành tựu một trăm loại hữu t́nh được
[Bồ Tát] hóa độ.
- Bảy
là nếu muốn lưu lại tánh mạng th́ có thể trụ
thế một trăm kiếp.
- Tám là có
thể biết một trăm kiếp trước và một
trăm kiếp sau.
- Chín là
đối với bách pháp minh môn như Uẩn, Giới v.v…
đều có thể suy nghĩ, chọn lựa chân chánh.
- Mười là hóa ra một trăm thân, mỗi thân
đều có thể hiện ra một trăm vị Bồ Tát làm quyến thuộc.
Hoặc
nói chung mười thứ “một trăm” ấy là “đại
sự dụng”.
Nói “sanh cực hỷ lạc” nhằm giải thích chữ
Hoan Hỷ, bao gồm hai nghĩa trong phần trước.
Phần kinh văn kết lại [Sơ Địa] dễ
hiểu.
Phần
kinh văn nói về chín địa kia dễ biết, chẳng
cần phải phân chia thành từng khoa nữa, cứ chuẩn
theo phần giải thích Sơ Địa sẽ biết.
Trong Nhị Địa, ĺa hai thứ cấu:
- Một
là các kết cấu (cấu uế do
các kết sử) vi tế khiến cho [bậc Bồ Tát]
sanh khởi cái tâm [thay đổi, chuyển sang tu tập]
thừa khác.
-
Hai là phạm giới cấu (cấu uế do phạm giới),
do ba nghiệp phạm lỗi.
V́
thế, Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Trong Nhị
Địa, thoát khỏi hai thứ cấu:
Một là phạm giới cấu, tức các lầm lỗi
do phá giới. Hai là khởi dị thừa tâm cấu, tức
các vi tế cấu. Do ĺa hai thứ cấu,
nên gọi là Ly Cấu”. Ở
đây, [chánh kinh] nói “giai đắc thanh tịnh”
(đều đạt được thanh tịnh) tức
là ư nghĩa “ly cấu”.
Nói “vô
lượng trí huệ” tức là Văn Tư Tu Tam Huệ
vô lượng phát khởi từ Định, soi sáng ḿnh,
soi sáng người khác. Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Do
có thể dùng pháp để tự soi sáng ḿnh và soi sáng
người khác, cho nên gọi
Minh Tha (soi sáng người khác),
hoặc gọi là tam-muội quang minh. Chẳng bị ngoại
đạo tà ma dẹp trừ, khuất phục, gọi là
‘bất khuynh động’. Lại c̣n do trừ chướng,
nên gọi là ‘bất khuynh động’. Tức là Tam Huệ
dùng Định Tổng Tŕ để phát khởi, tức là Định
Tổng Tŕ được gọi là căn bản”. Quyển
thứ chín của Duy Thức Luận nói: “Thành tựu
Định thù thắng nơi Tổng Tŕ của bổn pháp sẽ có thể phát khởi
vô biên quang minh diệu huệ”. Trong phần trên đă nói
“Huệ là quang minh tam-muội”;
do vậy, kế đó chỉ nói Tổng Tŕ là gốc. Phần
kinh văn kết lại dễ biết.
Trong
Đệ Tứ Địa, tu Bồ Đề phần, ngọn
lửa trí huệ có thể đốt cháy các thứ “củi
chướng ngại” như vi tế phiền năo hiện
hành v.v… Trang Nghiêm Luận nói: “Trong Tứ Địa, dùng trí huệ thuộc
Bồ Đề phần làm tự tánh của lửa, dùng
Hoặc Chướng và Trí Chướng
làm tự tánh của củi, khiến cho trí quang minh giác phẩm
càng thêm thù thắng, tức
là pháp Bồ Đề phần
chuyển thành thù thắng hơn”.
Trong
Đệ Ngũ Địa, hai trí Chân và Tục vốn trái
nghịch nhau, được hợp lại thành
tương ứng, đồng thời khởi lên, gọi
là “phương tiện tu hành trí thù thắng tự tại”.
Lại có thể trừ khử Hại Bạn Tùy Miên[26] vốn tùy thuận các
Tùy Miên hiện hành, cho nên
gọi là Nan Phục. Tuy [các kiến chấp như] phân biệt
kiến v.v… nơi Kiến Đạo đă trừ, Câu Sanh
Thân Kiến (kiến chấp về cái thân đă có từ
lúc mới sanh ra) đă đoạn nơi Tứ Địa,
nhưng đạt đến địa vị này, lại
trừ khử Hại Bạn [Tùy Miên]. Đấy chính là chẳng
c̣n xen lẫn với Ngă
Kiến,
và [các phiền năo căn bản] như tham, sân v.v… riêng khởi
lên cũng đều được đoạn trừ
nơi Kiến Tu, tức đều nói tổng quát là “Kiến Tu phiền năo nan phục
năng phục” (có
thể chế phục Kiến Tu phiền năo khó thể chế
phục), chẳng
phải là đạt tới
địa vị này rồi
mới hàng phục các phân biệt Hoặc!
Đây là dùng danh từ “phiền năo” để nói về
Trí Chướng nơi đạo này.
Xét theo chuyện Hại Bạn Tùy Miên cùng với [các loại
phiền năo hiện hành nương vào] Sở Tri Chướng
đều bị hàng phục,
chẳng thể khởi
lên để nói, chẳng phải
là địa vị này đă có thể hàng phục tất cả
các Câu Sanh Hoặc (các phiền năo bẩm sanh). [Chẳng hạn
như] Luy Liệt Tùy Miên[27]
phải đạt đến Lục Địa và Thất
Địa th́ mới hàng phục được. Lại nữa,
dựa theo Lục Địa để
nói [các phiền năo câu sanh có thể đoạn
trừ nơi Lục Địa], chẳng phải là [nói tới các] câu sanh
phiền năo thuộc Thất Địa. Câu sanh phiền năo
thuộc Đệ Thất Địa th́ trước khi
đạt tới Bát Địa, chúng vẫn c̣n hiện
hành. V́ thế, kinh Giải Thâm Mật dạy: “Bát Địa
dĩ thượng, duy hữu sở y Sở Tri Chướng
tại. Đệ Lục nhất hướng hằng tại
quán trung, bất khả khởi Hoặc. Hựu đoạn
Sở Tri, năng y Hoặc Chướng,
diệc tất cánh phục” (từ
Bát Địa trở lên,
chỉ c̣n Sở Tri Chướng làm chỗ nương tựa
[cho các phiền năo sanh khởi] tồn tại. Đệ Lục
Địa một mực luôn ở trong quán, chẳng thể dấy khởi Hoặc. Lại
c̣n đoạn trừ các Hoặc Chướng
do nương vào Sở Tri Chướng mà sanh khởi, và cũng
rốt ráo chế phục chúng). [Các bộ luận như]
Duy Thức Luận v.v… dựa trên hai thứ Thân Kiến mà nói “Tứ
Địa đă trừ Kiến Tu Hoặc”. Kinh này dựa
trên tham v.v… cho nên nói “Ngũ Địa chế phục Kiến
Tu Hoặc”, tức là mỗi đằng căn cứ
theo một khía cạnh [để luận định], cho
nên chẳng mâu thuẫn!
Hỏi:
Xét ra các kinh luận khác nói “từ Sơ Địa trở
lên đă có thể chế phục hết thảy phiền
năo, nhanh chóng hết sạch [các thứ phiền năo] do cố
ư mà sanh khởi”. Cớ sao [ở đây lại nói] Tứ
Địa mới có thể chế phục Ngă Kiến v.v… và
Ngũ Địa mới có thể chế phục Hại Bạn
Tùy Miên?
Đáp:
Nếu xét theo phương diện “có thể chế phục”
th́ Sơ Địa đă có thể chế phục [các phiền năo] do cố ư dấy lên. Nay
[kinh này] xét theo sự chế phục vĩnh viễn, dẫu
cố ư vẫn không thể khiến cho chúng nó dấy lên.
Đấy là do đoạn cái để chúng nương
vào, hay biết,
cho nên có sai biệt. Ở đây, có hai điều khó:
- Một,
khó khăn do kết hợp hai trí.
-
Hai, khó khăn do có thể chế phục phiền năo.
Trong
địa vị này, [cả hai điều khó ấy] đều
thực hiện được, cho nên gọi là Nan Thắng.
Lại nữa, Đại Trang Nghiêm Luận nói có hai thứ
“nan thoái”:
- Một,
sự khó khăn trong việc siêng năng giáo hóa chúng sanh mà
tâm chẳng bức năo.
-
Hai, sự khó khăn khi chúng sanh chẳng tuân theo sự giáo
hóa, mà tâm vẫn chẳng phiền năo.
Ư
nghĩa của hai thứ “nan thoái” là: “Thoái” có
nghĩa là “bỏ”, [“nan thoái” nghĩa là] “do cực
khó bèn ĺa bỏ, lui sụt”. Bồ Tát thuộc địa vị
này có thể đẩy lùi hai sự khó khăn, thắng
được khó khăn, cho nên gọi là Nan Thắng, có
nghĩa là có thể đẩy lùi được cái khó thể
trừ bỏ, cùng ư nghĩa với “có thể khuất phục
cái khó thể khuất phục”. Luận ấy xét theo
phương diện “thắng được khó khăn
trong lợi tha”, c̣n kinh này xét theo “thắng được
khó khăn trong tự lợi”. Mỗi đằng đều
dựa theo một nghĩa, chẳng hề mâu thuẫn nhau!
Hoặc có thể hiểu là phương tiện tu hành ở
đây càng là cực khó đạt được, tức
là hai thứ trí tự tại nan thắng ấy cực khó
đạt được, tức là Chân Trí và Tục Trí kết
hợp thành một thứ cực
khó đạt được. Do gồm cả hai cách hiểu
ấy mà [ư nghĩa của Nan Thắng] đều
được thâu nhiếp trọn hết.
Trong
Đệ Lục Địa, luôn quán đạo lư mười
hai nhân duyên liên tục bất đoạn, gọi là “hành
pháp liên tục”. Trí thường chánh quán gọi là “liễu
liễu”. Đấy là gia hạnh, lại có thể dẫn
khởi trí vô phân biệt, gọi là “vô tướng tư
duy”. “Tư duy” tức là chánh trí thảy đều hiện
tiền. Thành Duy Thức Luận nói: “Trụ trong trí duyên
khởi, dẫn xuất Bát Nhă vô phân biệt tối thắng
luôn quán trước mặt”.
Đại Trang Nghiêm Luận nói: “Trong Lục Địa,
nương vào sức Bát Nhă, có thể chẳng trụ trong
sanh tử hay Niết Bàn, hai pháp luôn hiện tiền”.
Điều này cũng được gộp trong vô tướng
tư duy, do chẳng có hai loại tướng sanh tử và
Niết Bàn.
Hỏi:
Theo các kinh luận khác, trong Ngũ Địa đă không có
hai tướng Niết Bàn và sanh tử, chứng đắc
vô trụ, cớ sao Đại Trang Nghiêm Luận nói Lục
Địa [mới chẳng có hai tướng ấy]?
Đáp:
Các kinh luận khác dựa theo khía cạnh “tạm có thể”
mà nói là Ngũ Địa [đă chẳng có hai tướng
sanh tử và Niết Bàn], kinh này xét theo phương diện
“thường liên tục” mà nói là Lục Địa.
[Các bộ luận như] Duy Thức Luận v.v… nói: “Trong
Lục Địa, vô tướng quán nhiều, hữu
tướng quán ít. Trong Đệ Thất Địa, lư vô
tướng liên tục lâu dài, có thể dùng chân trí để
quán vô tế sanh diệt là hai thứ”. Vô tướng
tư duy tức là vô phân biệt trí. Ở đây, đáng lẽ
phải nói là: “Đối với lư vô tướng, tư
duy vô lậu, chẳng gián đoạn”, nhằm loại
trừ [sự quán tưởng] hữu tướng gián
đoạn thuộc Đệ Lục Địa. V́ thế,
các kinh phần nhiều nói “đạt
đến địa vị này” [th́ mới có thể tư duy vô lậu, chẳng gián
đoạn]. Kinh Giải Thâm Mật dạy: “Năng
viễn chứng nhập vô gián, vô khuyết, vô tướng
tác ư” (có thể chứng nhập tác ư chẳng gián đoạn,
chẳng thiếu khuyết, vô tướng từ lâu xa).
“Giải
thoát” là bát giải thoát. “Tam-muội” là ba môn tam-muội,
tức vô tướng tư duy, vô tướng giải thoát
tam-muội đều đă tu hành từ lâu xa, đạt tới
mức tột cùng của công dụng. Duy Thức Luận
nói: “Đạt tới vô tướng trụ trong công dụng
tột cùng, vượt ngoài đạo của thế gian
và Nhị Thừa”. Ba địa đầu (Sơ Địa, Nhị Địa, Tam
Địa) là tu tướng, giống
như thế gian tu hành Thí và Giới, c̣n Tứ Địa,
Ngũ Địa, Lục Địa tu nơi đạo phẩm,
Tứ Đế, tướng
duyên khởi giống như Nhị Thừa.
Do thoát ĺa các pháp ấy, nên gọi là “viễn tu hành”.
Ĺa khỏi tế chướng hiện hành, nên gọi là “thanh
tịnh vô chướng”.
Trong
Đệ Bát Địa, do tùy ư khởi vô tướng quán,
nên gọi là “vô tướng tư duy”. Tu đạt
được tự tại, thuần là vô lậu quán, chẳng
bị phiền năo lay động, nên nói “chư phiền
năo hành bất năng linh động” (các phiền năo
hành chẳng thể lay động), tức là hai thứ bất
động:
- Một,
Tướng và Dụng bất động. Tướng
tức là tướng Hữu và Vô, Dụng là công dụng.
-
Hai, phiền năo bất động.
V́
thế, Duy Thức Luận nói: “Trí vô phân biệt tùy ư hiện
tiền, do tướng, dụng, và phiền năo chẳng thể
lay động”. Đại Trang Nghiêm Luận cho rằng
chỉ là chẳng bị lay động bởi tướng
và công dụng, chứ không hề chẳng bị phiền
năo lay động. Luận ấy có nói đại lược
duyên cớ.
Trong
Đệ Cửu Địa, tùy ư có thể đạt được
bốn món vô ngại trí[28]
để nói hết thảy các pháp. Do nói gộp chung bốn
thứ biện tài, nên đều gọi là Thuyết. Dùng
các thứ danh ngôn (danh tướng và ngôn từ) sai biệt
để nói, dùng các thứ nghĩa sai biệt để
nói, dùng các thứ âm thanh sai biệt để nói, dùng các thứ
biện tài sai biệt để nói, do tùy ư nên đều
đắc đại tự tại. Do ĺa hai chướng
ngu muội, nên nói là “vô hoạn lụy” (không lo sầu).
Lại c̣n có thể khiến cho chính ḿnh và người khác
[đối với các thứ:] Một
là trí huệ, hai là tự tại, ba là bốn món biện tài, đều
cùng được tăng trưởng, cho nên gọi là Thiện
Huệ. Lại nữa, [do
dùng] Tứ Biện
Tài bèn có thể
nói [khiến cho người nghe] trừ nghi, cho nên gọi
là Thiện Huệ.
Trong
Đệ Thập Địa, đạt được
Pháp Thân như hư không to lớn. Dùng đại trí huệ
như mây phủ khắp hư không, tức là trí sung măn Pháp
Thân. Lại c̣n giống như mây, tức là pháp giống như mây
do có thể che phủ hết thảy. Lại “nói diệu
pháp” như mây tuôn mưa, tức là mây pháp. “Pháp” [ở
đây] bao gồm Pháp Thân và pháp được nói. Đại
Trang Nghiêm Luận nói: “Do tam-muội môn và Đà-la-ni môn thâu nhiếp
hết thảy các nhân
của sự huân tập bởi cái Nghe
trọn khắp trong A Lê Da Thức.
Ví như vầng mây bềnh bồng trọn khắp hư
không. Có thể dùng mây huân tập cái Nghe ấy để
trong mỗi sát-na, mỗi tướng, mỗi loại hảo,
mỗi lỗ chân lông đều tuôn ra vô lượng vô biên
mưa pháp sung túc hết thảy chúng sanh đáng được
hóa độ. Do có thể như mây tuôn ra mưa pháp, nên gọi
là Pháp Vân Địa”. Đấy
chính là A Lại Da Thức như hư không, cái Nghe vô lậu
huân tập như mây. Ư nói: A Lê Da Thức (A Lại Da Thức)
có thể bao trùm, chứa đựng rộng răi như hư
không, chủng tánh có thể sanh, hiện ra như mây tuôn
mưa. Dùng tất cả sự huân tập thuộc về
Định Tổng Tŕ để thâu nhiếp các thứ
huân tập khác, khi dấy lên hiện hành, lại có thể
thuyết pháp. Chỉ v́ trong đoạn trước đă
nói: “Do tam-muội môn và Đà-la-ni môn để thâu nhiếp
hết thảy các cái nhân để huân tập cái Nghe, dùng
Định và Tổng Tŕ để thâu nhiếp sự huân
tập nơi
cái Nghe”, chuẩn theo phần sau lại nói “dùng
mây huân tập nơi cái
Nghe ấy”, tức là nói
đến hai thứ huân tập đă có ấy. Nếu chẳng
phải là như vậy,
cớ sao đoạn trước nói “trọn khắp
trong A Lê Da Thức”? Như Du Già Sư Địa Luận,
kinh Giải Thâm Mật v.v… cũng sánh ví thô trọng[29]
như Không, trọn
khắp hết thảy. Trí
ấy như mây có thể che lấp trọn khắp các thứ
thô trọng “như hư không”. V́ thế, Thành Duy Thức Luận
nói: “Mây đại pháp trí chứa đựng các đức
thủy, che lấp các thô trọng nhiều như hư
không, sung măn Pháp Thân”. “Không” (hư không) có ba
nghĩa:
- Một,
Pháp Thân như hư không,
do thanh tịnh trọn khắp.
-
Hai, A Lê (A Lại Da Thức) như hư không, do chứa
đựng trọn khắp hết thảy các chủng tử.
-
Ba, thô trọng như hư không,
do trọn khắp hết thảy.
Mây
có ba loại:
- Một,
huân tập cái Nghe như mây.
-
Hai, trí huệ như mây.
-
Ba, từ bi như mây, tức là như kinh Thập Địa
nói: “Tự tùng nguyện lực,
khởi đại từ bi vân”
(từ nguyện lực của chính ḿnh mà dấy lên mây đại từ bi). Xét
theo tự lợi và sự chọn lựa quyết định
mà nói là “mây trí huệ”. Xét theo sự lợi tha che chở, liền nói là “từ
bi”.
Hai điều ấy đều
xét theo sự hiện hành để
nói. Nếu xét theo chuyện “có
thể tuôn mưa hai loại chủng tử của pháp công
đức như mây”,
sẽ giống như bộ Bát Nhă Luận của ngài Vô
Trước nói “vị lai như mây”; v́ thế, đều
chẳng mâu thuẫn.
Hỏi:
Thập Địa ở đây chính là Thập Trụ trong
mười ba trụ[30],
hai danh xưng Trụ và Địa có ǵ khác biệt?
Đáp:
Theo lời giải thích trong quyển một
của Đại Trang Nghiêm Luận th́ không
khác biệt. Luận ấy nói: “Thập Nhất Trụ
chính là Thập Nhất Địa, Trụ gọi là Địa”.
Trụ đă gọi là
Địa th́ rơ ràng là chẳng sai khác. Một cách hiểu
khác: Danh xưng Trụ và Địa khác biệt! Luận ấy
tự lập câu hỏi: “Thế nào là Địa? Kệ
rằng: - V́ nhóm họp
các thiện căn, ưa trụ nên nói Trụ. Nhiều
lượt đều vô úy, lại gọi tên là Địa”.
Trong cách giải thích ấy, hai câu đầu giải thích
danh xưng Trụ, hai câu sau giải thích danh xưng Địa.
[Luận ấy] nói: “Các vị Bồ Tát v́ thành tựu các
thứ thiện căn, trong hết thảy các thời
đều thích trụ trong hết thảy các địa.
V́ thế, các địa được gọi là Trụ.
[Trong tiếng Phạn], Bộ Di Da được gọi
là Địa. Bộ có nghĩa là nhiều lượt, Di
nghĩa là con số thật sự, Da nghĩa là vô úy. Muốn
tiến nhập địa vị cao hơn, phải nhiều
lượt đoạn chướng ngại, nhiều
lượt đạt được công đức.
Đó là ư nghĩa của chữ ‘nhiều lượt’.
Địa lấy con số mười làm lượng.
Trong mỗi địa, biết phải đoạn chừng
ấy chướng ngại, biết đạt được
chừng ấy công đức, biết các điều ấy
chẳng hư dối.
Đó là ư nghĩa của chữ ‘con số
thật sự’. Địa vị trên [so với địa
vị hiện tại] là chỗ vô úy, các Bồ Tát sợ ở
trong địa vị hiện thời sẽ thoái thất
công đức tự lợi và lợi tha, bèn tấn cầu
địa vị cao hơn. Đó là ư nghĩa của danh
xưng Vô Úy. Do ba nghĩa trên đây mà gọi là Địa”.
5.6.4.2.2.3.3. Chướng
ngại trong mỗi Địa
(Kinh) Thiện nam tử! Chấp trước
hữu tướng ngă pháp vô minh, bố úy sanh tử ác thú
vô minh. Thử nhị vô minh chướng ư Sơ Địa.
(經)善男子!執著有相我法無明,怖畏生死惡趣無明,此二無明障於初地。
(Kinh:
Thiện nam tử! Vô minh do chấp trước ngă và
pháp hữu tướng, vô minh do sợ hăi đường
ác sanh tử. Hai thứ vô minh này chướng ngại
Sơ Địa).
Tán
rằng: Đây là phần thứ ba, nói về chướng
ngại trong các Địa. Nhân đó, nói [kèm thêm] chướng
ngại nơi Thập Nhất Địa. Trong phần
trước, khi hỏi về Bồ Đề, đă bao gồm
Phật quả, [do vậy], nay cũng nói về chướng
ngại nơi Phật địa. Mười một thứ
chướng ngại ấy hợp thành mười một
đoạn [kinh văn].
Đoạn này là đoạn đầu tiên, tức là
chướng ngại đối với Dị Sanh Tánh. Kinh
văn được chia thành ba phần:
- Một
là nhắc lại bậc đương cơ cầu thỉnh
(tức câu “thiện nam tử”, đó là danh xưng
đức Phật gọi Sư Tử Tướng Vô Ngại
Quang Diễm Bồ Tát).
-
Hai là nêu ra cái Thể [của chướng ngại, tức
hai thứ vô minh].
- Ba
là biện định đối tượng bị chướng
ngại, [tức Bồ Tát thuộc địa
vị nào].
Đối
với mười đoạn chướng ngại kia,
[kinh văn trong] mỗi đoạn đều gồm hai phần,
tức là không có phần truyền bảo người
đương cơ.
“Hữu
tướng ngă pháp” tức là cảnh nhị chấp (ngă chấp và
pháp chấp). “Tướng” là tướng trạng,
chính là tướng trạng trong
t́nh kiến của cái tâm chấp trước. Tức là giống
như Duy Thức Luận nói: “Dấy lên tâm tướng
của chính ḿnh”. Hoặc có thể hiểu [Tướng]
là “thể tướng”, c̣n “chấp trước”
chính là cái tâm chấp trước. Đấy là chấp
trước ngă và pháp đều có bản thể. Nếu
chấp pháp là không có, th́ vẫn là chấp vào tướng
Có và Không. V́ thế, kinh nói: “Bất ưng trụ pháp,
diệc bất trụ phi pháp” (chớ nên trụ vào pháp,
cũng chẳng trụ trong phi pháp). “Phi pháp” là không có
pháp. Nếu chấp Ngă là không, vẫn là Pháp Chấp. Hai thứ
chấp (Ngă Chấp và Pháp Chấp) đều là vô minh đi kèm theo
Huệ, cưỡng gọi là “vô
minh”. Đó là cách giải thích theo lối Thân Cận.
“Bố
úy sanh tử ác thú vô minh” (vô minh do sợ hăi đường
ác sanh tử): “Ác thú” (đường ác) ở đây không
phải chỉ là nói ba ác đạo, mà c̣n gồm chung cả
tám nạn. Chỉ là phân biệt nghiệp bất thiện
khởi lên và cái quả cảm vời [do các nghiệp bất
thiện ấy], và nghiệp quả phát khởi bởi Sở Tri Chướng
cũng được gồm thâu vào đấy. Do đặt tên
với ư nghĩa chê trách, cho nên gọi chung là “ác thú”. V́ vậy,
“sanh tử ác thú” được nói trong kinh này không chỉ
là tam đồ. Nói “bố úy” tức là do các đường
ác ấy đáng sợ hăi, nên gọi là “bố úy”. Do loại vô minh ấy
sanh khởi các vô minh phẩm, cho nên gọi là Vô Minh. Duy Thức
Luận lại nói: “Hoặc nói các chướng phẩm lợi
hay độn ấy đều dấy khởi hai thứ
ngu muội. Nói theo ư nghĩa vô minh do hai thứ
chấp th́ gọi là lợi phẩm. Nói theo ư nghĩa vô minh
do đường ác th́ gọi là độn phẩm”.
Vô minh cùng dấy lên th́ gọi là “ác thú” (đường
ác), cũng là danh xưng mang tính cách chê
trách. Hoặc là do Kiến (kiến chấp) v.v… mà mê lư, cho nên chẳng
phát khởi ác nghiệp; c̣n độn phẩm th́ do mê
nơi Sự nên phát khởi ác nghiệp. Đặt tên theo
cái quả th́ gọi là “ác thú tạp nhiễm ngu” (sự
ngu muội do tạp nhiễm trong đường ác),
do ngu muội là cái gốc.
Đấy đều là cách giải thích theo lối Y Chủ.
Hỏi:
Duy Thức Luận nói: “Một là sự ngu muội do chấp
trước ngă và pháp”, tức là Dị Sanh Tánh Chướng
ở đây. Hơn nữa, Dị Sanh Tánh Chướng chẳng
tương ứng với Giả, mà nương vào phần vị của
chủng tử, tức chẳng phải là cái Thể của
chủng tử. [Vậy th́] Nhị Chấp (Ngă Chấp và
Pháp Chấp) sao lại chính là Dị Sanh Tánh?
Đáp
rằng: Dị Sanh Tánh tuy thật sự đều
nương vào [hai thứ chấp], nó cùng với bổn thức
trong hiện tại thuộc cùng một địa vị, có thể
sanh ra hai thứ chướng phân biệt, được
kiến lập trên chủng tử. Dựa
theo cái pháp có thể nương vào [chủng tử ấy]
mà đặt tên cho môn chướng ấy. Hoặc
Dị Sanh Tánh xét theo chủng tử để nương
vào mà chấp trước th́ gọi là “chấp trước
ngă pháp ngu” (sự ngu muội do chấp trước ngă
và pháp). Thể [của Dị Sanh Tánh] chẳng phải là
ngu, ngu phẩm (các ngu muội do chẳng thấu hiểu cái Thể ấy)
mới gọi là Ngu, như trong phần trước đă
dẫn.
Hỏi:
Sơ Địa có thể đoạn trừ phân biệt đối với Nhị
Chấp, sao các bộ luận như Duy Thức v.v… chẳng
dùng ngay tự thể của Nhị Chấp
để đặt tên cho chướng,
hoặc từ “cái nương vào” (tâm phân biệt đối
với Ngă và Pháp) và “cái để nương vào” (Ngă Chấp
và Pháp Chấp) để đặt tên là chướng?
Đáp:
Dị Sanh Tánh diệt th́ Nhị Chấp sẽ đoạn.
Lại nữa, gọi là Dị Sanh nhằm vạch rơ nó
khác với thánh. Hễ đạt được thánh quả,
sẽ đoạn trừ nó. Do chỉ rơ điều đó, bèn
đặt tên [như thế].
Hỏi:
Nhập Sơ Địa đă đoạn hai chướng,
v́ sao Nhiếp Luận nói “mười thứ vô minh là chẳng
ô nhiễm”, nhưng phân biệt Ngă Chấp đă là
ô nhiễm rồi?
Đáp:
Trong Nhiếp Luận, ngài Thế Thân đă giải rằng:
“Tuy đoạn hai chướng, Nhị Thừa cũng
có thể đoạn Phiền Năo Chướng, đó là
đức chung [giữa Nhị Thừa và Bồ Tát]”. Ư
nói: Xét theo Sở Tri Chướng bất cộng để
nói th́ gọi là “chẳng ô nhiễm”. Lại có thể
hiểu: Luận ấy nói “chẳng nhiễm” là xét
theo sự đoạn trừ do Tu Đạo. Ĺa ngoài mười
chướng, bèn nói “mười thứ vô minh” để
kiến lập rơ ràng Thập Địa. Trong Thành Duy Thức
Luận và bộ Nhiếp Luận của ngài Thiên Thân đều
[nêu ra] có hai cách hiểu. Thể tánh của hai mươi
hai thứ ngu muội[31]
giống như quyển bảy mươi tám của Du Già
Sư Địa Luận đă nói.
Lại
xét theo các kinh văn khác, đều nói Sơ Địa
đoạn hai thứ ngu muội và sự thô trọng. Kinh
này lược đi, chẳng nhắc đến thô trọng,
nhưng trong Thành Duy Thức Luận th́ giải thích cả
hai. Luận nói: “Nói đến sự thô trọng là nói rơ
hai thứ ấy, hoặc hai loại được phát khởi
không có tánh kham nhậm”. “Không có tánh kham nhận” là như
quyển năm mươi tám của Du Già Sư Địa
Luận đă giảng: “Chính là các tánh như chẳng an ổn
v.v… trong thức thứ tám”. Duy Thức Luận nói: “Như
nhập hai thứ Định, nói đoạn khổ
căn. Thiện căn bị đoạn tuy chẳng phải là chủng tử hiện hành,
nhưng gọi là thô trọng.
Điều này cũng nên như thế”. Đối
với ngu muội và mười thứ thô trọng khác,
đều dựa theo đó để biết. Giảng giải
Dị Sanh Tánh và sự thô trọng của nó th́ như trong sách Thành
Duy Thức Nghĩa Đăng đă nói cặn kẽ!
(Kinh)
Vi tế học xứ hộ phạm vô minh, phát khởi chủng
chủng nghiệp hạnh vô minh. Thử nhị vô minh
chướng ư Nhị Địa.
(經)微細學處護犯無明,發起種種業行無明,此二無明障於二地。
(Kinh:
Vô minh do trái phạm sự thủ hộ Học Xứ
vi tế, vô minh do phát khởi các thứ nghiệp hạnh.
Hai thứ vô minh ấy chướng ngại Nhị Địa).
“Tà
hạnh chướng”
chính là Sở Tri Chướng. Một phần Câu Sanh[32]
có thể khiến cho ba nghiệp của Bồ Tát lầm lạc,
trái phạm. Từ Sơ Địa trở lên, tánh giới
đă thành tựu, ắt
chẳng cố ư phạm; do tánh ngộ (sai lầm
nơi tánh) nên có trái phạm. [Các phiền năo] Sơ Địa
chưa đoạn, nhập Nhị Địa sẽ đoạn.
“Phát khởi chủng chủng hạnh nghiệp vô minh”
(Vô minh do phát khởi các thứ hạnh nghiệp) chính là ba
nghiệp được phát khởi do lầm lẫm mà
trái phạm. Duy Thức Luận nói: “Một phần Câu
Sanh trong Sở Tri Chướng và tam nghiệp do phát khởi
lầm lạc mà trái phạm, sẽ ngăn chướng
Thi La (Giới) cực thanh tịnh của Nhị Địa.
Khi đă nhập Nhị Địa, sẽ có thể
vĩnh viễn đoạn trừ. Do Nhị Địa mà
nói đoạn hai thứ ngu và sự thô trọng của nó.
Một là sự ngu muội do sự lầm lẫn mà trái phạm
vi tế, đó chính là một phần Câu Sanh trong ấy. Hai
là sự ngu muội trong các nghiệp đạo, tức là
trái phạm nơi tam
nghiệp do lầm lạc phát khởi.
Có thể khởi lên ba nghiệp không chỉ là vô minh, ba nghiệp
được phát khởi cũng chẳng phải là ngu muội.
Các thứ hành vi ngu
muội được phát
khởi tương ứng với
sự ngu muội
đều được gọi chung là Ngu”.
Thành Duy Thức lại nói: “Hoặc chỉ khởi nghiệp,
chẳng hiểu rơ nghiệp ngu”. Ư nói: Chỉ quan tâm
đến cái có thể phát khởi, cái có thể tạo nên
mê muội, và sự ngu muội do mê tam nghiệp; đấy
cũng đều
là giải thích theo lối Y Chủ.
Hỏi:
Quyển thứ tám của Thành Duy Thức Luận nói: “Sở
Tri Chướng chẳng thể phát khởi nghiệp”,
sao [ở đây] lại nói [Sở Tri Chướng] có thể
phát khởi ba nghiệp?
Đáp:
Xét theo khía cạnh [Sở Tri Chướng] chẳng
thể phát khởi nghiệp
chiêu cảm Dị Thục Quả để thọ sanh
trong các đường mà nói là “chẳng thể phát khởi nghiệp”.
Đó là nói theo [phương
diện Sở Tri Chướng] chẳng
thể chiêu cảm tất cả tam nghiệp, chẳng phải
là Sở Tri Chướng không thể phát khởi [bất cứ
nghiệp nào]. Phật Địa Luận nêu ra hai cái Thể,
đều nói đến nghiệp được phát khởi
và cái quả đạt được [do cái nghiệp ấy]. “Quả”
là hai thứ quả Đẳng Lưu và Tăng Thượng.
V́ thế, [Thành Duy Thức Luận và kinh này] chẳng
mâu thuẫn.
(Kinh)
Vị đắc linh đắc ái trước vô minh,
năng chướng thù thắng Tổng Tŕ vô minh, thử
nhị vô minh chướng ư Tam Địa.
(經)未得令得愛著無明,能障殊勝總持無明,此二無明障於三地。
(Kinh:
Vô minh do ái nhiễm đối với điều
chưa đạt được sẽ khiến cho đạt
được, vô minh có thể chướng ngại Tổng
Tŕ thù thắng. Hai thứ vô minh ấy chướng ngại
Tam Địa).
Tức
là Ám Độn Chướng.
“Chưa đạt được mà nay đạt
được” chính là Định vô lậu thù thắng,
bao gồm cả Tu Huệ thù thắng thuộc Sắc Giới
và Vô Sắc Giới. Trong Nhị Địa th́ chưa thể, khi
nhập Tam Địa sẽ có thể đoạn chướng
ngại ấy. Thể của nó chính là Tham trong Dục Giới
ḥa hợp với Sở Tri Chướng, nên nói là “chưa
đạt được mà nay đạt được”.
“Năng chướng thù thắng Tổng Tŕ” (Có thể
chướng ngại Tổng Tŕ thù thắng): Tổng Tŕ có
bốn thứ là Pháp, Nghĩa, Chú, đắc Bồ Tát nhẫn.
Khi nhập Tam Địa, sẽ có thể đoạn
chướng ngại ấy. Tổng Tŕ lấy Niệm Huệ
làm tánh. Nay nói thoạt đầu từ Nhị Địa
nhập Tam Địa, sẽ có thể đoạn chướng
ngại đối với Định, đắc Định
thù thắng, phát sanh Tu Huệ thù thắng. Đoạn
chướng ngại đối với Tổng Tŕ, sẽ
đắc Tổng Tŕ thù thắng, phát khởi đạt
được hai thứ huệ thù thắng là Văn Huệ
và Tư Huệ. V́ thế, luận Thành Duy Thức nói: “Do
Tam Địa nói đoạn hai thứ ngu và sự thô trọng
của chúng: Một là ngu muội do tham dục, tức là thứ
gây chướng ngại Định thù thắng và Tu Huệ.
Hai là sự ngu muội đối với Văn Tŕ
đà-la-ni viên măn, tức là thứ gây chướng ngại
Văn Huệ và Tư Huệ nơi Tổng Tŕ”. Đấy
là v́ tánh tham nơi dục tạo thành tán loạn. Sở Tri
Chướng ḥa hợp với dục tham, đều gọi
là “dục tham”. Do vậy, nó chướng ngại Định thù thắng và Tu Huệ. Nếu
chướng ngại Tổng
Tŕ, Văn Huệ, và Tư Huệ, th́ gọi là Biệt Sở
Tri, chẳng phải là Sở Chướng. [Do vậy], ư
nghĩa được chia thành hai. Hơn nữa, Văn
Tư và Văn Tŕ khá gần nhau, cho nên riêng nói [về
Văn Tư],
chẳng phải là không chướng ngại Tu Huệ, mà
là đối với mỗi
đằng,
đều nói theo phương diện tăng thắng.
(Kinh)
Vị trước Đẳng Chí hỷ duyệt vô minh, vi
diệu tịnh pháp ái nhạo vô minh. Thử nhị vô minh
chướng ư Tứ Địa.
(經)味著等至喜悅無明,微妙淨法愛樂無明,此二無明障於四地。
(Kinh:
Vô minh do chấp trước vào sự vui sướng trong
Đẳng Chí. Vô minh do yêu thích pháp thanh tịnh vi diệu.
Hai thứ vô minh ấy chướng ngại Tứ Địa).
Tức
là chướng ngại do phiền năo vi tế hiện hành.
Đẳng Chí chính là môn Định thù thắng. “Vị trước” (chấp
trước,
mê đắm)
là Ái, “hỷ duyệt” là Thọ, tức là lănh thọ
môn Định kém hèn, chướng ngại sự tu Định
thù thắng. V́ thế, đó là “thắng chướng”
(chướng ngại mạnh mẽ). Các kinh luận khác phần
nhiều nói về Tham, riêng kinh này nói kèm thêm Thọ. Đó
chính là bản thể chánh yếu của
Chướng. Tham duyên theo cái Thọ ấy để lănh nhận
Định. V́ thế, đều gọi là Chướng.
Hoặc sự hỷ duyệt ấy chính là “định
ái” (sự yêu mến đối với Định). Pháp
thanh tịnh vi diệu là Bồ Đề, pháp ái chính là Lạc.
Thể [của Định ái và Pháp ái] chính là tham. Hai thứ
vô minh ấy (tham chấp sự vui sướng trong Định,
tức là Định Ái, và ham thích pháp vi diệu, tức là
Pháp Ái) chính là vô minh tương ứng với hai thứ
tham (tham Định và tham pháp). V́ thế, Thành Duy Thức Luận
nói: “Một là sự ngu muội do yêu mến Đẳng
Chí, tức là trong Định xen lẫn Ái. Hai là ngu muội
do pháp ái, tức là trong ấy có
Ái xen lẫn vào
pháp”. Đấy cũng là giải thích theo
cách Y Chủ.
Tứ
Địa có thể đoạn hai thứ chướng
này, do trong Tứ Địa vận dụng pháp quán thuộc
về Bồ Đề phần. V́ vậy, Duy Thức Luận
nói: “V́ pháp thuộc Bồ Đề phần đặc
biệt trái nghịch nó”. Định được nói ở
đây cũng kiêm Huệ. Nói “pháp thuộc về Bồ
Đề phần” th́ cũng có giáo pháp và các pháp thù thắng
khác, cũng như trí huệ thù thắng. Trong Đệ Tam
Địa, tuy chứng Định thù thắng và đạt
được giáo pháp thù thắng v.v… nhưng vẫn c̣n
sanh ái chấp, chẳng thể thực hiện phép
Quán thuộc Bồ Đề phần. V́ thế, nhập Tứ
Địa, thực hiện pháp Quán thuộc Bồ Đề
phần, [phép Quán ấy] đặc biệt trái nghịch
hai thứ vô minh ấy. Do vậy, đă nhập Tứ
Địa sẽ có thể đoạn
hai thứ [vô minh] ấy. Nói cặn kẽ th́ như trong
Thành Duy Thức Luận [đă nói].
Hỏi:
“Đặc
biệt trái nghịch” là
như thế nào?
Đáp:
Do tu pháp thuộc Bồ Đề phần trong Tứ Địa,
trước hết là quán Tứ Niệm Trụ, quán “hết
thảy các pháp đều là vô ngă”. V́ thế,
đặc biệt trái
nghịch Ngă Chấp. Do đó, trừ chướng
do phiền năo vi tế hiện hành. Chướng ấy
chính là Câu Sanh Thân Kiến. Đối với các Hoặc và
tùy phiền năo tương ứng với Định Ái và
Pháp Ái, lại quán Hoại Duyên Pháp Niệm Xứ, đặc
biệt trái nghịch
các thứ Định Ái, Pháp Ái v.v… Lại nữa, theo phần
trước, Tam Địa vừa mới đắc Định
thù thắng và giáo pháp thù thắng, cho nên có ái chấp. Trong Tứ
Địa, đắc pháp càng thù thắng hơn, cho nên có
thể trừ các thứ ái chấp đó. Lại c̣n có thể
chứng đắc “chẳng nhiếp thọ Như”, [do vậy], có thể
đặc biệt đối trị chúng.
Hỏi:
Trong các kinh luận khác, các thứ như tướng vô minh
ban đầu v.v… đều được gọi là
Chướng, cớ sao Đẳng Chí Ái (sự yêu mến
đối với Định) chẳng gọi là Chướng?
Đáp:
Hăy nên biết mười thứ vô minh gây chướng ở
đây đều soi rọi lẫn nhau. Như đối với
chướng ban đầu (chướng thuộc Sơ
Địa) chỉ nói Ngă và Pháp, nhưng thật ra cũng
bao gồm các thứ Hoặc khác. Do chướng hiển lộ
nơi Tứ Địa v.v… không chỉ là một pháp, liền
nói chung là “phiền năo vi tế” v.v… Nói riêng theo chướng
mạnh mẽ nhất, bèn nói là “Ngă Kiến
và hai thứ ái (Định Ái và Pháp Ái)”
v.v… Nếu xét chung [các chướng] th́ nói tổng quát, c̣n
đối với hai mươi hai loại vô minh [thuộc
mười một Địa ở đây] th́ phần nhiều
là nói riêng biệt [theo loại vô minh nào gây chướng mạnh
mẽ nhất trong mỗi địa]. Định Ái v.v… ở
đây chẳng phải là tên riêng của mười chướng,
đối với các chướng khác cũng nên phải
[luận định] như vậy.
(Kinh)
Dục bối sanh tử vô minh, hy thú Niết Bàn vô minh. Thử
nhị vô minh chướng ư Ngũ Địa.
(經)欲背生死無明,希趣涅槃無明,此二無明障於五地。
(Kinh:
Vô minh do muốn trái nghịch sanh tử, vô minh do muốn
hướng đến Niết Bàn. Hai thứ vô minh ấy
chướng ngại Ngũ Địa).
Tức
là sự ngu muội do chống trái sanh tử. Mong tiến
nhập Niết Bàn chính là sự ngu muội do ưa thích Niết
Bàn. Do chẳng thấu hiểu chân thể của Niết
Bàn và sanh tử chẳng khác biệt, cho nên có ưa thích hay chán ghét.
Đó chính là chướng ngại bát Niết Bàn của các
thừa thấp hơn. Lại c̣n do vận dụng phép Quán
thù thắng thuộc Bồ Đề phần, nhưng chưa thể
chứng đắc “Chân Như chẳng sai biệt”.
Đó là chướng ngại của Ngũ Địa.
Chướng được nói trong phần trước và
phần sau đều dựa
theo đây để hiểu. Do trong Ngũ Địa, quán
Tứ Đế, hai trí Chân và Tục hợp lại song
hành. Do có thể chứng đắc “Như vô sai biệt”,
nên cái trí “có thể chứng” sẽ được gọi
là Vô Sai Biệt Đạo. V́ thế, Thành Duy Thức Luận
nói: “Khi nhập Ngũ Địa, sẽ có thể vĩnh viễn đoạn
trừ chướng ngại đối với đạo
vô sai biệt trong Ngũ Địa. V́ thế, có thể trừ
chướng ấy”.
(Kinh)
Quán hạnh lưu chuyển vô minh, thô tướng hiện
tiền vô minh. Thử nhị vô minh chướng ư Lục
Địa.
(經)觀行流轉無明,麁相現前無明,此二無明障於六地。
(Kinh:
Vô minh do quán hạnh lưu chuyển. Vô minh do thô tướng
hiện tiền. Hai thứ vô minh ấy chướng ngại
Lục Địa).
“Quán
hạnh lưu chuyển” tức là vô minh do duyên theo Khổ
và Tập. “Thô tướng hiện tiền” tức là
quán tịnh tướng của Diệt và Đạo.
Đó là chướng ngại do thô tướng hiện
hành. Do trong Ngũ Địa, tuy quán Tứ Đế
cũng là quán vô tướng, nhưng phần nhiều là
quán hữu tướng, [do vậy] gây chướng ngại
cho vô tướng quán nơi Lục Địa. V́ thế,
nhập Lục Địa,
sẽ có thể đoạn chướng này.
(Kinh)
Vi tế chư tướng hiện hành vô minh, tác ư hân nhạo
vô tướng vô minh. Thử nhị vô minh chướng
ư Thất Địa.
(經)微細諸相現行無明,作意欣樂無相無明,此二無明障於七地。
(Kinh:
Vô minh do các tướng vi tế hiện hành, vô minh do tác ư
yêu thích vô tướng. Hai thứ vô minh ấy chướng
ngại Thất Địa).
Tức
là chướng ngại do tế tướng (tướng
vi tế) hiện hành. “Các tướng vi tế” tức
là tướng sanh vi tế. “Tác ư yêu thích vô tướng”
chính là quán tướng diệt vi tế. Do Lục Địa
tu tập Duyên Khởi Quán, thấy có sanh diệt; [do vậy],
chướng ngại đạo vô tướng mầu nhiệm
của Thất Địa, chưa
thể từ Không mà khởi hạnh Hữu
thù thắng. V́ thế, nhập Thất Địa để
trừ [chướng ngại ấy].
(Kinh)
Ư vô tướng quán công dụng vô minh, chấp tướng
tự tại vô minh. Thử nhị vô minh chướng
ư Bát Địa.
(經)於無相觀功用無明,執相自在無明,此二無明障於八地。
(Kinh:
Vô minh do quán công dụng nơi vô tướng,
vô minh do chấp tướng tự tại. Hai thứ vô
minh ấy chướng ngại Bát Địa).
Tức
là chướng ngại do hành gia hạnh trong vô tướng.
Trong Đệ Thất Địa, tuy có thể thực hiện
vô tướng quán lâu dài, nhưng
phải đổ công dốc sức th́ mới
quán được lâu dài, tức là có sự ngu muội
nơi gia hạnh. Do chưa đoạn ngu muội, cho nên dẫu
khởi gia hạnh mà chẳng được tự tại
trong vô tướng quán. “Chấp tướng” tức
là trong Thất Địa tuy hiện tướng và cơi
nước, nhưng do có chủng tử chấp
tướng, cho nên đối với tướng và cơi
đă hiện cũng chẳng tự tại. “Chẳng tự
tại” là nói bao gồm cả vô tướng. Lại c̣n
có bốn thứ tự tại, tức là tướng, cơi
nước, trí và nghiệp. Trong Bát Địa, đă đạt
được hai thứ [tự
tại] là tướng và cơi nước. Cửu
Địa đạt được trí, Thập Địa
đạt được nghiệp. Tướng thuận
theo ḷng muốn mà hiện ra các loại vàng, bạc v.v… bao gồm
nhiều loại. Cơi nước tùy ḷng muốn mà hiện,
hoặc lớn, hay nhỏ, tức là vẫn hạn cuộc trong tướng. Nay
nói “tướng” tức là đă bao gồm cả cơi
nước. V́ thế, nhập Bát Địa sẽ có thể
đoạn chướng ấy.
Hỏi:
Đă nhập Bát Địa th́ là vô tướng tự tại,
cớ sao [Bát Địa Bồ Tát] đắm ch́m trong tịch
tĩnh, chẳng muốn lợi sanh?
Đáp:
Nói “tự tại” là nói theo [phương diện] vô
công dụng, tùy ư có thể dấy lên tự lợi, chẳng
xét theo lợi tha. Do vậy, chẳng mâu thuẫn!
(Kinh)
Ư sở thuyết nghĩa, cập danh, cú, văn,
thử nhị vô lượng vị đắc thiện xảo
vô minh. Ư Từ Biện Tài bất tùy ư vô minh. Thử nhị
vô minh chướng ư Cửu Địa.
(經)於所說義及名句文此二無量未得善巧無明,於詞辯才不隨意無明,此二無明障於九地。
(Kinh:
Vô minh do đối với nghĩa và danh, cú, văn đă
nói, đối với hai thứ vô lượng ấy,
chưa đạt được thiện xảo. Vô minh do
chẳng tùy ư nơi Từ Biện Tài. Hai thứ vô minh ấy
chướng ngại Cửu Địa).
Tức
là chướng ngại do chẳng muốn thực hiện lợi tha!
Đối với “nghĩa đă nói” th́ chính là
Nghĩa Vô Ngại Giải, “danh, cú, văn” là Pháp Vô Ngại
Giải. Do chưa được tự tại trong hai thứ
ấy (kinh văn gọi Pháp Vô Ngại Giải và Từ Vô
Ngại Giải là “hai thứ vô lượng”), bèn nói
là “chưa đạt được thiện xảo”.
“Từ” là âm thanh thuộc các phương. V́ thế,
Thành Duy Thức Luận nói: “Pháp [Vô Ngại Giải] duyên
theo danh, cú, v.v…. Từ [Vô Ngại Giải] duyên theo âm thanh”.
Do vậy, Từ
là âm thanh. “Biện tài” chính là thất biện tài[33].
Do chẳng được tự tại nơi âm thanh trong
hiện tại và bảy thứ biện tài, cho nên gọi
là “chẳng tùy ư”. Do Đệ Bát Địa chẳng
muốn hành hạnh lợi tha, chưa thể trừ sự ngu muội đối
với bốn thứ Vô Ngại (Tứ Biện Tài). V́ thế,
nhập Cửu Địa sẽ có thể vĩnh viễn
đoạn trừ.
(Kinh)
Ư đại thần thông, vị đắc tự
tại biến hiện vô minh, vi tế bí mật vị
năng ngộ giải sự nghiệp vô minh. Thử nhị
vô minh chướng ư Thập Địa.
(經)於大神通未得自在變現無明,微細祕密未能悟解事業無明,此二無明障於十地。
(Kinh:
Vô minh do chưa được tự tại biến hiện
thần thông to lớn. Vô minh do chưa thể ngộ giải
sự nghiệp bí mật vi tế. Hai thứ vô minh ấy
chướng ngại Thập Địa).
Tức
là chướng ngại “chẳng được tự tại
trong các pháp”. Năm thứ thần thông [của vị Bồ
Tát thuộc địa vị này]
vượt xa hàng Nhị Thừa và các địa vị Bồ
Tát trước đó. Lại có thể lợi ích rộng
khắp do đạt được tự tại, bèn gọi
là “đại thần thông”. “Biến” là chuyển
đổi, “hiện” là hóa hiện, từ Không mà bỗng
Có. “Vi tế bí mật” có
mây đại pháp trí và những
thứ được chứa đựng trong ấy.
“Tế” là diệu, tức là vi diệu, do đă ĺa
chướng, do tột bậc khó được. Do khó hiểu,
bèn gọi là “bí mật”. Chẳng thể ngộ giải, bèn là
vô minh. “Sự nghiệp” chính là sự nghiệp lợi
sanh. Trong Đệ Cửu Địa, vô minh gây chướng
các thứ ấy, cho nên nhập Thập Địa liền
có thể vĩnh viễn đoạn trừ.
(Kinh)
Ư nhất thiết cảnh vi tế Sở Tri Chướng
ngại vô minh. Cực tế phiền năo thô trọng vô minh.
Thử nhị vô minh chướng ư Phật địa.
(經)於一切境微細所知障礙無明,極細煩惱麁重無明,此二無明障於佛地。
(Kinh:
Vô minh do Sở Tri Chướng vi tế gây chướng ngại
trong hết thảy cảnh. Vô minh do cực vi tế phiền
năo thô nặng. Do hai thứ vô minh ấy mà chướng ngại
Phật địa).
Đây
chính là loại chướng ngại thứ mười một.
Không, Hữu, Lư, Sự gọi là “hết thảy cảnh”.
Diệu Quán Sát Trí quán như
la hộc[34]. Đấy chính là
do có Sở Tri Chướng vi tế bao gồm hiện hành
và chủng tử, kể cả chủng tử do bảy thức
cùng huân tập thành, mà cũng do chưa hiểu phân minh
đối với Pháp Chấp hiện hành trong thức
thứ bảy. “Cực tế phiền năo thô trọng”
chính là chủng tử phiền năo vi tế cũng thông với
thức thứ bảy. Phiền năo hiện hành th́ khi nhập
Bát Địa đă hoàn toàn chẳng dấy lên. Nếu chủng
tử của nó chẳng đoạn tại Đệ Thập
Địa, sẽ gây chướng ngại cho [việc chứng
nhập] Phật địa. Nó sẽ trừ khử bởi
Vô Gián Đạo trong Kim Cang Định, chẳng giống
như trong các
địa khác: Đă nhập Địa rồi mới
đoạn trừ.
Kinh
này xét theo hai mươi hai loại vô minh để biện
định sự sai biệt giữa các chướng,
cũng tức là gom chúng thành mười một chướng.
[Nói theo] Tổng th́ gọi là Chướng, [nói theo] Biệt
th́ gọi là Ngu. Đấy là gộp chung mười một
loại chướng và hai mươi hai loại ngu, do các
giáo bất đồng, sợ rườm rà nên chẳng trần
thuật [cặn kẽ].
5.6.4.2.2.3.4. Pháp để
tu trong các địa
(Kinh) Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát
ư Sơ Địa trung hành Thí Ba La Mật, ư Đệ
Nhị Địa hành Giới Ba La Mật, ư Đệ
Tam Địa hành Nhẫn Ba La Mật, ư Đệ Tứ
Địa hành Cần Ba La Mật, ư Đệ Ngũ
Địa hành Định Ba La Mật, ư Đệ Lục
Địa hành Huệ Ba La Mật, ư Đệ Thất
Địa hành Phương Tiện Thắng Trí Ba La Mật,
ư Đệ Bát Địa hành Nguyện Ba La Mật,
ư Đệ Cửu Địa hành Lực Ba La Mật,
ư Đệ Thập Địa hành Trí Ba La Mật.
(經)善男子!菩薩摩訶薩於初地中行施波羅蜜,於第二地行戒波羅蜜,於第三地行忍波羅蜜,於第四地行勤波羅蜜,於第五地行定波羅蜜,於第六地行慧波羅蜜,於第七地行方便勝智波羅蜜,於第八地行願波羅蜜,於第九地行力波羅蜜,於第十地行智波羅蜜。
(Kinh:
Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát trong Sơ Địa
hành Thí Ba La Mật, trong Đệ Nhị Địa hành Giới
Ba La Mật, trong Đệ Tam Địa hành Nhẫn Ba La Mật,
trong Đệ Tứ Địa hành Cần Ba La Mật,
trong Đệ Ngũ Địa hành Định Ba La Mật,
trong Đệ Lục Địa hành Huệ Ba La Mật,
trong Đệ Thất Địa hành Phương Tiện
Thắng Trí Ba La Mật, trong Đệ Bát Địa hành
Nguyện Ba La Mật, trong Đệ Cửu Địa hành
Lực Ba La Mật, trong Đệ Thập Địa hành
Trí Ba La Mật).
Tán
rằng: Phần thứ tư là [nói về] các pháp để
tu tập trong các địa. Phân đoạn kinh văn dễ
thấy.
Hỏi:
Bồ Tát thuộc Địa Tiền c̣n hành trọn Lục
Độ, và các kinh luận như Thập Địa Luận
nói: “Kiếp thứ hai, trong một hạnh bèn hành hết
thảy các hạnh. Trong kiếp thứ ba, trong hết thảy
các hạnh hành hết thảy các hạnh”. Tức là
đều tu trọn hết. Cớ sao kinh văn ở
đây nói mỗi địa đều hành một Độ?
Đáp:
Xét theo sự thật th́ đúng là như thế (tức là
trong mỗi Địa đều hành trọn hết thảy
các hạnh). Nói “mỗi địa trong mười địa
hành một Độ” chính là nói theo phương diện
tăng thắng (tức là nói
theo hạnh tu chủ yếu trong Địa
ấy). Vô Tánh Nhiếp Luận nói: “Trong mỗi địa,
tu trọn vẹn mười loại, chớ nên nói nhất
định địa này th́ chỉ tu Độ
này”. Do [kinh này] nói theo chỗ tăng thắng,
nên [nói là “mỗi Địa tu một Độ”] chẳng
phạm lỗi ǵ!
5.6.4.2.2.3.5. Nói về sự
tu hành trong các địa
(Kinh) Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát tối
sơ phát tâm, nhiếp thọ Năng Sanh Diệu Bảo
Tam-ma-địa. Đệ nhị phát tâm, nhiếp thọ
Năng Sanh Khả Ái Nhạo Tam-ma-địa. Đệ tam
phát tâm, nhiếp thọ Năng Sanh Nan Động
Tam-ma-địa. Đệ tứ phát tâm, nhiếp thọ
Năng Sanh Bất Thoái Chuyển Tam-ma-địa. Đệ
ngũ phát tâm, nhiếp thọ Năng Sanh Bảo Hoa
Tam-ma-địa. Đệ lục phát tâm, nhiếp thọ
Năng Sanh Nhật Viên Quang Diễm Tam-ma-địa. Đệ
thất phát tâm, nhiếp thọ Năng Sanh Nhất Thiết
Nguyện Như Ư Thành Tựu Tam-ma-địa. Đệ
bát phát tâm, nhiếp thọ Năng Sanh Hiện Tiền Chứng
Trụ Tam-ma-địa. Đệ cửu phát tâm, nhiếp
thọ Năng Sanh Trí Tạng Tam-ma-địa. Đệ thập
phát tâm, nhiếp thọ Năng Sanh Dũng Tấn
Tam-ma-địa.
(經)善男子!菩薩摩訶薩最初發心,攝受能生妙寶三摩地。第二發心,攝受能生可愛樂三摩地。第三發心,攝受能生難動三摩地。第四發心,攝受能生不退轉三摩地。第五發心,攝受能生寶華三摩地。第六發心,攝受能生日圓光燄三摩地。第七發心,攝受能生一切願如意成就三摩地。第八發心,攝受能生現前證住三摩地。第九發心,攝受能生智藏三摩地。第十發心,攝受能生勇進三摩地。
(Kinh:
Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát tối sơ
phát tâm nhiếp thọ chánh định có thể sanh ra các
thứ báu mầu nhiệm. Đệ nhị phát tâm nhiếp
thọ chánh định có thể sanh các thứ đáng
ưa thích. Đệ tam phát tâm, nhiếp thọ chánh định
có thể sanh ra sự khó lay động. Đệ tứ
phát tâm, nhiếp thọ chánh định có thể sanh chẳng
thoái chuyển. Đệ ngũ phát tâm nhiếp thọ chánh
định có thể sanh ra hoa báu. Đệ lục phát tâm,
nhiếp thọ chánh định có thể sanh ra mặt trời
quang minh rực rỡ viên măn. Đệ thất phát tâm, nhiếp
thọ chánh định có thể sanh hết thảy các nguyện
được thành tựu như ư. Đệ bát phát tâm,
nhiếp thọ chánh định có thể sanh chứng trụ
trong hiện tiền. Đệ cửu phát tâm nhiếp thọ
chánh định có thể sanh ra trí tạng. Đệ thập
phát tâm, nhiếp thọ chánh định có thể sanh ra
dũng mănh, tinh tấn).
Tán
rằng: Đoạn thứ năm là nói về sự tu
hành. Có nghĩa là mỗi Địa trong mười Địa
đều tu một Độ, tu tập như thế nào?
Chính là phải cùng tu hai pháp Định và Huệ. Do vậy,
Vô Tánh Nhiếp Luận viết: “Trong mỗi địa, đều
tu Xa-ma-tha và Tỳ-bát-xá-na, do năm tướng mà tu”. Nói
chi tiết th́ như trong luận ấy đă biện định.
Nhưng các kinh luận nói tu nhiều hay ít khác biệt, mỗi
mỗi đều bất đồng, chẳng thể dẫn
trọn được! Cớ sao chỉ nói hai môn Chỉ
và Quán để tu vậy?
Đáp:
Ngài Vô Tánh giải thích rằng: “Ư nói có thể đối
trị các thứ tán loạn và xao động, có thể
đối trị các thứ huệ điên đảo, cho
nên trong mỗi địa đều tu hành hai pháp ấy”.
Nhưng kinh này chỉ nói về Chỉ phẩm (các môn Chỉ)
do Định có thể dẫn khởi vô tướng chánh
trí, đó là trí đầy đủ. Xét
theo mười địa, mỗi
địa riêng tu một
môn Định, cùng với các kinh luận
khác soi rọi lẫn nhau.
Kinh
văn [trong phần này] chia thành ba tiểu đoạn: Thứ
nhất là người có thể tu, kế đó là môn Định
để tu, sau đó là tổng kết. Từ Định
khởi Thí, gọi là “diệu bảo đẳng tŕ”.
“Tam” là Đẳng, Ma-địa là Tŕ, do b́nh đẳng
ǵn giữ tâm trụ nơi cảnh, [nên gọi là Đẳng
Tŕ]. [Trong các bản dịch theo] lối cũ, [Tam-ma-địa]
bị phiên âm
sai lệch thành Tam-muội. Định có thể dấy lên
Giới, được gọi là Khả Ái Nhạo Đẳng
Tŕ (chánh định đáng yêu thích),
v́ do tŕ giới mà mọi người thích thấy, hoặc
là nói theo vô lậu Đạo Cộng Giới. Định
có thể dấy lên Nhẫn, [cho nên] là Nan Động Đẳng
Tŕ (chánh định khó lay động). Định phát khởi
tinh tấn, gọi là Bất Thoái Đẳng Tŕ. Do Định
có thể làm cái nhân thù thắng cho công đức, gọi là
Bảo Hoa Đẳng Tŕ. Định có thể phát khởi
trí, gọi là Viên Quang Diễm Đẳng Tŕ. Định có
thể phát sanh phương tiện thiện xảo, gọi
là Nhất Thiết Nguyện Như Ư Thành Tựu (hết thảy
các nguyện thành tựu như ư). Định có thể phát
khởi trí, có thể tùy ư chứng diệu lư vô tướng,
gọi là Hiện Tiền Chứng. Định phát khởi
bốn món biện
tài, gọi là Trí Tạng. Định phát khởi thần
thông sự nghiệp rộng lớn, gọi là Dũng Tấn.
(Kinh)
Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát thập chủng
phát tâm.
(經)善男子!是名菩薩摩訶薩十種發心。
(Kinh:
Thiện nam tử! Đó gọi là mười thứ phát
tâm của Bồ Tát Ma Ha Tát).
Tán
rằng: Tổng kết.
5.6.4.2.2.4. Được
hộ tŕ
5.6.4.2.2.4.1. Tuyên thuyết
thần chú hộ tŕ mỗi địa
(Kinh) “Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát
ư thử Sơ Địa, đắc đà-la-ni, danh Y Công
Đức Lực”. Nhĩ thời, Thế Tôn tức thuyết
chú viết: “Đát điệt tha, bô luật nhĩ, mạn
nô lạt thế, độc hổ, độc hổ,
độc hổ, da bạt tô lợi du. A bà
bà tát để da, bạt chiên đạt ra, điều
đát để, đa bạt đạt lạc xoa mạn,
đạn đồ bát rị ha ram, củ rô, sa ha. Thiện
nam tử! Thử đà-la-ni thị quá nhất Hằng hà sa
số chư Phật sở thuyết, vị hộ Sơ
Địa Bồ Tát cố. Nhược hữu tụng tŕ
thử đà-la-ni chú giả, đắc thoát nhất thiết
bố úy, sở vị hổ, lang, sư tử, ác thú chi loại,
nhất thiết ác quỷ, nhân, phi nhân đẳng, oán tặc,
tai hoạnh, cập chư khổ năo, giải thoát ngũ
chướng, bất vong niệm Sơ Địa. Thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát ư Đệ Nhị Địa,
đắc đà-la-ni danh Thiện An Lạc Trụ: ‘Đát
điệt tha, ốt thuyên lư, chất lư, chất lư, ốt
thuyên la, thuyên la nẫm, thiện đổ, thiện đổ,
ốt thuyên lư, hổ rô, hổ rô, sa ha’. Thiện nam tử!
Thử đà-la-ni thị quá nhị Hằng hà sa số
chư Phật sở thuyết, vị hộ Nhị Địa
Bồ Tát cố. Nhược hữu tụng tŕ thử
đà-la-ni chú giả, thoát chư bố úy, ác thú, ác quỷ,
nhân, phi nhân đẳng, oán tặc, tai hoạnh, cập
chư khổ năo, giải thoát ngũ chướng, bất
vong niệm Nhị Địa. Thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát ư Đệ Tam Địa, đắc
đà-la-ni danh Nan Thắng Lực: ‘Đát điệt tha,
đạn trạch chỉ, ban trạch chỉ, yết
lạt trí, cao lạt trí, kê do rị đạn trí lư, sa ha’.
Thiện nam tử! Thử đà-la-ni thị quá tam Hằng
hà sa số chư Phật sở thuyết, vị hộ Tam
Địa Bồ Tát cố. Nhược hữu tụng tŕ
thử đà-la-ni chú giả, thoát chư bố úy, ác thú, ác
quỷ, nhân, phi nhân đẳng, oán tặc, tai hoạnh, cập
chư khổ năo, giải thoát ngũ chướng, bất
vong niệm Tam Địa. Thiện nam tử! Bồ Tát Ma
Ha Tát ư Đệ Tứ Địa, đắc
đà-la-ni danh Đại Lợi Ích: ‘Đát điệt tha,
thất rị, thất rị, đà mi nhĩ, đà mi
nhĩ, đà rị,
đà rị
nhĩ, thất lợi, thất rị nhĩ, tỳ xá la,
ba thỉ, ba thỉ na, phấn đà
mi đế, sa ha’. Thiện nam tử! Thử đà-la-ni thị
quá tứ Hằng hà sa số chư Phật sở thuyết,
vị hộ Tứ Địa Bồ Tát cố. Nhược
hữu tụng tŕ thử đà-la-ni chú giả, thoát chư
bố úy, ác thú, ác quỷ, nhân, phi nhân đẳng, oán tặc,
tai hoạnh, cập chư khổ năo, giải thoát ngũ
chướng, bất vong niệm Tứ Địa. Thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát ư Đệ Ngũ Địa,
đắc đà-la-ni, danh Chủng Chủng Công Đức
Trang Nghiêm: ‘Đát điệt tha, ha rị, ha rị nhĩ,
giá rị, giá rị nhĩ, yết lạt ma, nhĩ tăng
yết lạt ma. Nhĩ tam bà sơn nhĩ, chiêm bạt
nhĩ, tất đam bà nhĩ, mô hán nhĩ. Toái diêm bộ bệ,
sa ha’. Thiện nam tử! Thử đà-la-ni thị quá
ngũ Hằng sa
số chư Phật sở thuyết, vị hộ Ngũ
Địa Bồ Tát Ma Ha Tát cố. Nhược hữu tụng
tŕ thử đà-la-ni chú giả, thoát chư bố úy, ác thú,
ác quỷ, nhân, phi nhân đẳng, oán tặc, tai hoạnh, cập
chư khổ năo, giải thoát ngũ chướng, bất
vong niệm Ngũ Địa. Thiện nam tử! Bồ Tát
Ma Ha Tát ư Đệ Lục Địa, đắc
đà-la-ni, danh Viên Măn Trí: ‘Đát điệt tha, tỳ tỷ
rị, tỳ tỷ rị, ma rị nhĩ, ca lư, ca lư, tỳ
độ hán để, rô rô rô rô, chủ rô, chủ rô,
đỗ rô bà, đỗ rô bà, xả xả thiết giả
bà rị sái, sa tất để, tát bà tát đỏa
nẫm, tất điện đổ,
mạn đát ra bát đà nhĩ, sa ha’. Thiện nam tử!
Thử đà-la-ni thị quá lục Hằng hà sa số
chư Phật sở thuyết, vị hộ Lục Địa
Bồ Tát Ma Ha Tát cố. Nhược hữu tụng tŕ thử
đà-la-ni chú giả, thoát chư bố úy, ác thú, ác quỷ,
nhân, phi nhân đẳng, oán tặc, tai hoạnh, cập
chư khổ năo, giải thoát ngũ chướng, bất
vong niệm Lục Địa. Thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát ư Đệ Thất Địa, đắc
đà-la-ni danh Pháp Thắng Hạnh: ‘Đát điệt tha,
chước ha, chước ha rô, chước ha, chước
ha, chước ha rô, bệ lục chỉ, bệ lục chỉ,
a mật lật đa hô hán nhĩ, bột lư
sơn nhĩ, bệ rô sắc chỉ bà rô phạt để,
bệ đề hế chỉ, tần đà bệ rị
nhĩ, a mật rị để chỉ, bạc hổ chủ
dũ, bạc hổ chủ dũ, sa ha’. Thiện nam tử!
Thử đà-la-ni thị quá thất Hằng hà sa số
chư Phật sở thuyết, vị hộ Thất Địa
Bồ Tát cố. Nhược hữu tụng tŕ thử
đà-la-ni chú giả, thoát chư bố úy, ác thú, ác quỷ,
nhân, phi nhân đẳng, oán tặc, tai hoạnh, cập
chư khổ năo, giải thoát ngũ chướng, bất
vong niệm Thất Địa. Thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát ư Đệ Bát Địa đắc
đà-la-ni, danh Vô Tận Tạng: ‘Đát điệt tha, thất
rị, thất rị, thất rị nhĩ, mật để,
mật để, yết rị, yết rị, hê rô, hê rô,
chủ rô, chủ rô, bạn đà mi, sa ha’. Thiện nam tử!
Thử đà-la-ni thị quá bát Hằng hà sa số chư Phật
sở thuyết, vị hộ Bát Địa Bồ Tát cố.
Nhược hữu tụng tŕ thử đà-la-ni chú giả,
thoát chư bố úy, ác thú, ác quỷ, nhân, phi nhân đẳng,
oán tặc, tai hoạnh, cập chư khổ năo, giải
thoát ngũ chướng, bất vong niệm Bát Địa.
Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát ư Đệ Cửu
Địa, đắc đà-la-ni danh Vô Lượng Môn:
‘Đát điệt tha, ha rị, chiên trà rị chỉ, câu
lam bà lạt thể, đổ lạt tử, bạt trá, bạt
trá tử, thất rị, thất rị, ca thất rị
ca, tất thất rị sa tất để, tát bà tát đỏa
nẫm, sa ha’. Thiện nam tử! Thử đà-la-ni thị
quá cửu Hằng hà sa số chư Phật sở thuyết,
vị hộ Cửu Địa Bồ Tát cố. Nhược
hữu tụng tŕ thử đà-la-ni chú giả, thoát chư
bố úy, ác thú, ác quỷ, nhân, phi nhân đẳng, oán tặc,
tai hoạnh, cập chư khổ năo, giải thoát ngũ
chướng, bất vong niệm Cửu Địa. Thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát ư Đệ Thập Địa
đắc đà-la-ni danh Phá Kim Cang Sơn: ‘Đát điệt
tha, tất đề, tô tất đề, mô chiết
nhĩ, mộc sát nhĩ, tỳ mộc để am mạt
lệ, tỳ mạt lệ, niết mạt lệ, mang yết
lệ, hế lan nhă, yết bệ, hạt lạt đát na
yết bệ, tam mạn đa bạt điệt lệ,
tát bà át tha sa đạn nhĩ, ma nại tư, mạc ha ma
nại tư, át bộ để, át trất bộ để,
a lạt thệ, tỳ lạt thệ, át chủ để,
am mật lật để, a lạt thệ, tỳ lạt
thệ, bạt ram mế, bạt ra điềm, ma sa, lệ
bô lạt nhĩ, bô lạt na, mạn nô lạt thế, sa
ha’. Thiện nam tử! Thử đà-la-ni quán đảnh cát
tường cú, thị quá thập Hằng hà sa số
chư Phật sở thuyết, vị hộ Thập Địa
Bồ Tát cố. Nhược hữu tụng tŕ thử
đà-la-ni chú giả, thoát chư bố úy, ác thú, ác quỷ,
nhân, phi nhân đẳng, oán tặc, tai hoạnh, nhất thiết độc hại giai tất trừ
diệt, giải thoát ngũ chướng, bất vong niệm
Thập Địa”.
(經)善男子!菩薩摩訶薩於此初地得陀羅尼名依功德力。爾時世尊即說呪曰:怛姪他。晡𠷈儞曼奴喇剃。獨虎獨虎獨虎。耶跋蘇利瑜阿婆婆薩底耶跋旃達囉。調怛底。多跋達洛叉漫。憚荼鉢唎訶㘕矩嚕莎訶。善男子!此陀羅尼是過一恒河沙數諸佛所說,為護初地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,得脫一切怖畏,所謂虎狼師子惡獸之類、一切惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念初地。善男子!菩薩摩訶薩於第二地得陀羅尼名善安樂住。怛姪他。嗢篅里質里質里。嗢篅羅篅羅喃繕覩繕覩。嗢篅里虎嚕虎嚕。莎訶。善男子!此陀羅尼是過二恒河沙數諸佛所說,為護二地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念二地。善男子!菩薩摩訶薩於第三地得陀羅尼名難勝力。怛姪他。憚宅枳般宅枳。羯喇㨖。高喇㨖。雞由哩。憚㨖里。莎訶。善男子!此陀羅尼是過三恒河沙數諸佛所說,為護三地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念三地。善男子!菩薩摩訶薩於第四地得陀羅尼名大利益。怛姪他。室唎室唎。陀弭儞陀弭儞。陀哩陀哩儞。室利室唎儞。毘舍羅波始波始娜。𠰢陀弭帝。莎訶。善男子!此陀羅尼是過四恒河沙數諸佛所說,為護四地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念四地。善男子!菩薩摩訶薩於第五地得陀羅尼名種種功德莊嚴。怛姪他。訶哩訶哩儞。遮哩遮哩儞羯喇摩。儞僧羯喇摩。儞三婆山儞瞻跋儞悉耽婆儞謨漢儞。碎閻步陛莎訶。善男子!此陀羅尼是過五恒沙數諸佛所說,為護五地菩薩摩訶薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念五地。善男子!菩薩摩訶薩於第六地得陀羅尼名圓滿智。怛姪他。毘徙哩毘徙哩。摩哩儞迦里迦里。毘度漢底。嚕嚕嚕嚕。主嚕主嚕。杜嚕婆杜嚕婆。捨捨設者婆哩灑。莎悉底薩婆薩埵喃。悉甸覩。曼怛囉鉢陀儞莎訶。善男子!此陀羅尼是過六恒河沙數諸佛所說,為護六地菩薩摩訶薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念六地。善男子!菩薩摩訶薩於第七地得陀羅尼名法勝行。怛姪他。勺訶。勺訶嚕。勺訶勺訶勺訶嚕。鞞陸枳鞞陸枳。阿蜜栗多唬漢儞。勃里山儞。鞞嚕。枳婆嚕伐底。鞞提呬枳。頻陀鞞哩儞。阿蜜哩底枳。薄虎主愈。薄虎主愈莎訶。善男子!此陀羅尼是過七恒河沙數諸佛所說,為護七地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念七地。善男子!菩薩摩訶薩於第八地得陀羅尼名無盡藏。怛姪他。室唎室唎室唎儞。蜜底蜜底羯哩羯哩。醯嚕醯嚕。主嚕主嚕。畔陀弭莎訶。善男子!此陀羅尼是過八恒河沙數諸佛所說,為護八地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念八地。善男子!菩薩摩訶薩於第九地得陀羅尼名無量門。怛姪他。訶哩旃茶哩枳。俱藍婆喇體。覩剌死。拔吒拔吒死。室唎室唎。迦室哩迦。必室唎莎悉底。薩婆薩埵喃莎訶。善男子!此陀羅尼是過九恒河沙數諸佛所說,為護九地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫及諸苦惱,解脫五障,不忘念九地。善男子!菩薩摩訶薩於第十地得陀羅尼名破金剛山。怛姪他。悉提蘇悉提。謨折儞木察儞。毘木底菴末麗。毘末麗涅末麗。忙揭麗。呬㘓若。揭鞞。曷喇怛娜揭鞞。三曼多跋姪囇。薩婆頞他娑憚儞。摩捺斯。莫訶摩捺斯。頞步底。頞窒步底。阿喇誓毘喇誓。頞主底菴蜜栗底。阿喇誓。毘喇誓。跋㘕謎。跋囉甜。麼莎囇晡喇儞晡喇娜。曼奴喇剃莎訶。善男子!此陀羅尼灌頂吉祥句,是過十恒河沙數諸佛所說,為護十地菩薩故。若有誦持此陀羅尼呪者,脫諸怖畏惡獸惡鬼人非人等怨賊災橫一切毒害皆悉除滅,解脫五障,不忘念十地。
(Kinh: “Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha
Tát trong Sơ Địa này, đạt được
đà-la-ni, tên là Y Công Đức Lực”. Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn liền nói chú rằng: “Đát điệt
tha, bô luật nhĩ, mạn nô lạt thế, độc hổ,
độc hổ, độc hổ, da bạt tô lợi du,
a bà bà tát để da, bạt chiên đạt ra, điều
đát để, đa bạt đạt lạc xoa mạn,
đạn đồ bát rị ha ram, củ rô, sa ha. Thiện
nam tử! Đà-la-ni này do hơn một Hằng hà sa số
chư Phật nói ra để thủ hộ Sơ Địa
Bồ Tát. Nếu có người tŕ tụng chú đà-la-ni
này, sẽ được thoát khỏi hết thảy sợ
hăi, tức là các loài cọp, sói, sư tử, ác thú. Hết
thảy ác quỷ, người, phi nhân v.v… oán tặc, tai
ương bất ngờ,
và các khổ năo, giải thoát ngũ chướng[35], chẳng quên
nghĩ tới Sơ Địa. Thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát nơi Đệ Nhị Địa, đạt
được đà-la-ni tên là Thiện An Lạc Trụ:
‘Đát điệt tha, ốt thuyên lư, chất lư, chất
lư, ốt thuyên la, thuyên la nẫm, thiện đổ, thiện
đổ, ốt thuyên lư, hổ rô, hổ rô, sa ha’. Thiện
nam tử! Đà-la-ni này do hơn hai Hằng hà sa số
chư Phật nói ra để thủ hộ Nhị Địa
Bồ Tát. Nếu có người tŕ tụng chú đà-la-ni
này, thoát khỏi các sợ hăi, ác thú, ác quỷ, người,
phi nhân v.v..., oán tặc, tai ương bất ngờ, và các
khổ năo, giải thoát ngũ chướng, chẳng quên
nghĩ tới Nhị Địa. Thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát nơi Đệ Tam Địa đạt
được đà-la-ni, tên là Nan Thắng Lực: ‘Đát
điệt tha, đạn trạch chỉ, ban trạch
chỉ, yết lạt trí, cao lạt trí, kê do rị đạn
trí lư, sa ha’. Thiện nam tử! Đà-la-ni này do hơn ba Hằng
hà sa số chư Phật nói ra để thủ hộ Tam
Địa Bồ Tát. Nếu có người tŕ tụng chú
đà-la-ni này, thoát khỏi các sợ hăi, ác thú, ác quỷ,
người, phi nhân v.v..., oán tặc, tai ương bất
ngờ, và các khổ năo, giải thoát ngũ chướng,
chẳng quên nghĩ tới Tam Địa. Thiện nam tử!
Bồ Tát Ma Ha Tát nơi Đệ Tứ Địa đạt
được đà-la-ni tên là Đại Lợi Ích:
‘Đát điệt tha, thất rị, thất rị,
đà mi nhĩ, đà mi nhĩ, đà rị,
đà rị
nhĩ, thất lợi, thất rị nhĩ, tỳ xá la,
ba thỉ, ba thỉ na, phấn
đà mi đế, sa ha’. Thiện nam tử! Đà-la-ni này
do hơn bốn Hằng hà sa số chư Phật nói ra
để thủ hộ Tứ Địa Bồ Tát. Nếu
có người tŕ tụng chú đà-la-ni này, thoát khỏi các
sợ hăi, ác thú, ác quỷ, người, phi nhân v.v..., oán tặc,
tai ương bất ngờ, và các khổ năo, giải thoát
ngũ chướng, chẳng quên nghĩ tới Tứ
Địa. Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nơi
Đệ Ngũ Địa, đạt được
đà-la-ni, tên là Chủng Chủng Công Đức Trang Nghiêm:
“Đát điệt tha, ha rị, ha rị nhĩ, giá rị,
giá rị nhĩ, yết lạt ma, nhĩ tăng yết lạt
ma. Nhĩ tam bà sơn nhĩ, chiêm bạt nhĩ, tất
đam bà nhĩ, mô hán nhĩ. Toái diêm bộ bệ, sa ha’. Thiện
nam tử! Đà-la-ni này do hơn năm Hằng hà sa số
chư Phật nói ra để thủ hộ Ngũ Địa
Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu có người tŕ tụng chú
đà-la-ni này, thoát khỏi các sợ hăi, ác thú, ác quỷ,
người, phi nhân v.v..., oán tặc, tai ương bất
ngờ, và các khổ năo, giải thoát ngũ chướng,
chẳng quên nghĩ tới Ngũ Địa. Thiện nam tử!
Bồ Tát Ma Ha Tát nơi Đệ Lục Địa, đạt
được đà-la-ni, tên là Viên Măn Trí: ‘Đát điệt
tha, tỳ tỷ rị, tỳ tỷ rị, ma rị
nhĩ, ca lư, ca lư, tỳ độ hán để, rô rô rô rô,
chủ rô, chủ rô, đỗ rô bà, đỗ rô bà, xả
xả thiết giả bà rị sái, sa tất để, tát
bà tát đóa nẫm, tất điện đổ, mạn đát
ra bát đà nhĩ, sa ha’. Thiện nam tử! Đà-la-ni này do
hơn sáu Hằng hà sa số chư Phật nói ra để
thủ hộ Lục Địa Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu
có người tŕ tụng chú đà-la-ni này, thoát khỏi các
sợ hăi, ác thú, ác quỷ người, phi nhân v.v..., oán tặc,
tai ương bất ngờ, và các khổ năo, giải thoát
ngũ chướng, chẳng quên nghĩ tới Lục
Địa. Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nơi
Đệ Thất Địa, đạt được
đà-la-ni tên là Pháp Thắng Hạnh: ‘Đát điệt
tha, chước ha, chước ha rô, chước ha, chước
ha, chước ha rô, bệ lục chỉ, bệ lục chỉ,
a mật lật đa hô hán nhĩ, bột lư sơn nhĩ,
bệ rô sắc chỉ bà rô phạt để, bệ đề
hế chỉ, tần đà bệ rị nhĩ, a mật rị
để chỉ, bạc hổ chủ dũ, bạc hổ
chủ dũ, sa ha’. Thiện nam tử! Đà-la-ni này do
hơn bảy Hằng hà sa số chư Phật nói ra để
thủ hộ Thất Địa Bồ Tát. Nếu có
người tŕ tụng chú đà-la-ni này, thoát chư sợ
hăi, ác thú, ác quỷ, người, phi nhân v.v..., oán tặc,
tai ương bất ngờ, và các khổ năo, giải thoát
ngũ chướng, chẳng quên nghĩ tới Thất
Địa. Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nơi
Đệ Bát Địa, đạt được
đà-la-ni, tên là Vô Tận Tạng: ‘Đát điệt tha,
thất rị, thất rị, thất rị nhĩ, mật
để, mật để, yết rị, yết rị,
hê rô, hê rô, chủ rô, chủ rô, bạn đà mi, sa ha’. Thiện
nam tử! Đà-la-ni này do hơn tám Hằng hà sa số
chư Phật nói ra để thủ hộ Bát Địa
Bồ Tát. Nếu có người tŕ tụng chú đà-la-ni
này, thoát khỏi các sợ hăi, ác thú, ác quỷ, người,
phi nhân v.v..., oán tặc, tai ương bất ngờ, và các
khổ năo, giải thoát ngũ chướng, chẳng quên
nghĩ tới Bát Địa. Thiện nam tử! Bồ Tát
Ma Ha Tát nơi Đệ Cửu Địa, đạt
được đà-la-ni tên là Vô Lượng Môn: ‘Đát
điệt tha, ha rị, chiên trà rị chỉ, câu lam bà lạt
thể, đổ lạt tử, bạt trá, bạt trá tử,
thất rị, thất rị, ca thất rị ca, tất
thất rị sa tất để, tát bà tát đỏa nẫm,
sa ha’. Thiện nam tử! Đà-la-ni này do hơn chín Hằng
hà sa số chư Phật nói ra để thủ hộ Cửu
Địa Bồ Tát. Nếu có người tŕ tụng chú
đà-la-ni này, thoát khỏi các sợ hăi, ác thú, ác quỷ,
người, phi nhân v.v..., oán tặc, tai ương bất
ngờ, và các khổ năo, giải thoát ngũ chướng,
chẳng quên nghĩ tới Cửu Địa. Thiện nam
tử! Bồ Tát Ma Ha Tát nơi Đệ Thập Địa,
đạt được đà-la-ni tên là Phá Kim Cang Sơn:
‘Đát điệt tha, tất đề, tô tất đề,
mô chiết nhĩ, mộc sát nhĩ, tỳ mộc để
am mạt lệ, tỳ mạt lệ, niết mạt lệ,
mang yết lệ, hế lan nhă, yết bệ, hạt lạt
đát na yết bệ, tam mạn đa bạt điệt
lệ, tát bà át tha sa đạn nhĩ, ma nại tư, mạc
ha ma nại tư, át bộ để, át trất bộ
để, a lạt thệ, tỳ lạt thệ, át chủ
để am mật lật để, a lạt thệ, tỳ
lạt thệ, bạt ram mế, bạt ra điềm, ma
sa, lệ bô lạt nhĩ, bô lạt na, mạn nô lạt thế,
sa ha’. Thiện nam tử! Câu quán đảnh cát tường
đà-la-ni này do hơn mười Hằng hà sa số
chư Phật nói ra để thủ hộ Thập Địa
Bồ Tát. Nếu có người tŕ tụng chú đà-la-ni
này, thoát khỏi các sợ hăi, ác thú, ác quỷ, người,
phi nhân v.v..., oán tặc, tai hoạnh, hết
thảy độc hại thảy đều trừ diệt,
giải thoát ngũ chướng, chẳng quên nghĩ tới
Thập Địa”).
Tán
rằng: Trong phần thứ nhất là giải đáp, có bốn
đoạn, đoạn này chính là đoạn thứ
tư, tức “được
hộ tŕ”, gồm hai phần:
Trước là được hộ tŕ, sau là lănh nhận, tán
thán. Đoạn này thuộc ư thứ nhất. Do mười
địa bất đồng, cho nên [phần chánh kinh]
có mười tiểu đoạn. Trong mỗi đoạn,
đều chia thành bốn phần:
- Một,
nêu danh xưng của địa vị có thể hộ tŕ.
-
Hai, tuyên thuyết thần chú.
-
Ba, tán thán pháp thù thắng do nhiều
đức Phật nói ra.
- Bốn,
nói về lợi ích hộ tŕ.
Trong
bốn thứ Tổng Tŕ, đây là Chú Tổng Tŕ. Do hành Thí
mà đạt được th́ gọi là Công Đức.
Các danh xưng [của các bài thần chú khác trong phần này]
cứ chuẩn theo hạnh, phỏng theo lệ này mà suy ra.
Trong phần tán thán thần chú thù thắng, có hai ư: Trước
là tán thán, sau là thủ hộ mỗi địa. Phần lợi
ích hộ tŕ có hai ư: Một là không có các nạn, hai là bất
thoái. “Nhược hữu tụng tŕ thử” (nếu
có người tụng tŕ [chú Đà-la-ni] này) trở đi,
ư nói không có năm nạn, trước là nêu ra, kế đó
là liệt kê [các nạn], sau đó là kết lại. Năm
nạn th́ một là ác thú, hai là ác quỷ, ba là oán tặc, bốn
là tai ương bất ngờ như lửa, nước
v.v… Năm là hai mươi mốt nỗi khổ v.v… Đoạn
kết lại kinh văn dễ thấy. “Bất vong”
(chẳng quên) chính là lợi ích thứ hai, tức có thể
khiến cho [hành nhân] bất thoái, chín điều kia cứ
chuẩn theo đó mà biết.
Môn
Tổng Tŕ thứ hai có tên là Thiện An Lạc Trụ, do
tŕ giới mà đạt được, nên gọi là Thiện
An Lạc Trụ. Do hành Nhẫn mà đạt được,
th́ có tên là Nan Thắng Lực. Do hành Tinh Tấn thành tựu
mà đạt được, th́ gọi là Đại Lợi
Ích. Do tu Định lực, dẫn khởi các công đức
mà đạt được, th́ gọi Chủng Chủng
Công Đức Trang Nghiêm (các thứ công đức trang
nghiêm). Do hành Trí mà đạt được, th́ gọi là
Viên Măn Trí. Do tạo phương tiện thiện xảo mà
đạt được, nên gọi là Pháp Thắng Hạnh.
Do hành mười vô tận nguyện mà đạt
được, nên gọi là Vô Tận Tạng. Do
nương theo Tứ Biện Tài để lợi
sanh rộng lớn mà
đạt được, nên tên là Vô Lượng Môn. Do trí
có thể phá chướng ngại [kiên cố] như kim cang
mà đạt được Tổng Tŕ, nên gọi là Phá Kim Cang Sơn.
Chín món kia theo thứ tự phối ứng để giải
thích v́ sao đạt được Tổng Tŕ có tên như
thế. Những phần kinh văn khác cũng giống
như thế, cho nên chẳng cần chia thành khoa để
giải thích.
5.6.4.2.2.4.2. Sư Tử
Vô Ngại Quang Diễm Bồ Tát lănh ngộ, tán thán
(Kinh) Nhĩ thời, Sư Tử Tướng
Vô Ngại Quang Diễm Bồ Tát văn Phật thuyết thử
bất khả tư nghị đà-la-ni dĩ, tức tùng
ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất
trước địa, hiệp chưởng, cung kính đảnh
lễ Phật túc.
(經)爾時師子相無礙光燄菩薩聞佛說此不可思議陀羅尼已,即從座起,偏袒右肩右膝著地,合掌恭敬頂禮佛足。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Sư Tử Tướng Vô Ngại
Quang Diễm Bồ Tát nghe đức Phật nói các
đà-la-ni chẳng thể nghĩ bàn ấy xong, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, trật vai áo phải, gối
phải đặt sát đất, chắp tay, cung kính đảnh
lễ dưới chân đức Phật).
Tán
rằng: Đây là phần thứ hai, tức “lănh ngộ
và tán thán” trong phần nói về [hành nhân thuộc các
địa] được hộ tŕ. Kinh văn chia thành ba
ư:
- Một,
lănh ngộ pháp được nói.
-
Hai, đảnh lễ kiền thành, cung kính, tức là nghi thức
hoan hỷ tán thán.
-
Ba, thưa tŕnh
lời tán thán.
Đoạn
này là phần kinh văn thuộc hai ư đầu, biểu thị
“có thể tu hành”, cho nên từ chỗ ngồi đứng dậy.
Nhằm tạo dấu hiệu cát tường, nên trật
vai áo phải. Do biểu thị có thể chứng địa
vị, nên gối phải đặt sát đất. Trí ngầm
hợp với pháp đă nói, cho nên chắp tay. Đă nghe diệu
pháp, biết bậc thuyết pháp thù thắng. V́ thế,
càng thêm cung kính. Biểu thị sự tôn kính tột bậc,
nên đảnh lễ dưới chân đức Phật.
(Kinh)
Dĩ tụng tán Phật: - Kính lễ vô thí dụ, thậm
thâm vô tướng pháp.
(經)以頌讚佛:敬禮無譬喻,甚深無相法。
(Kinh:
Dùng kệ tụng tán thán đức Phật:
- Kính lễ không thí dụ,
pháp vô tướng rất sâu).
Tán
rằng: Sau đó, đích thân thốt lời tán thán. Có tất
cả mười bài tụng, chia thành hai phần: Nửa
bài tụng đầu tán thán pháp được nghe, chín bài
tụng rưỡi c̣n lại tán thán Phật. Đây là phần
thứ nhất. Pháp là thầy của Phật; v́ thế,
tán thán pháp trước hết. Phật có thể khởi
đầu thuyết pháp, là vị chủ của giáo pháp. Do
đó, tiếp theo đó
là tán Phật. Khởi tâm ân cần
thanh tịnh,
sách tấn nghiệp thù thắng, kiền thành lễ bái, gọi
là “kính lễ”. Trong tiếng Phạn, danh từ thuộc
giống đực là Bạn Đàm (Vandanā),
danh từ thuộc giống cái là Bạn Để (Vandanī),
[cả hai danh từ ấy] bị
phiên âm sai thành Ḥa Nam [trong các bản dịch cổ]. Pháp thể
thù thắng chẳng thí dụ nào sánh ví được, nên
nói là “vô thí dụ”. Chỉ có Phật thấu hiểu
rốt ráo, nên gọi là “thậm thâm” (rất sâu).
Như Pháp Hoa Kinh Luận nói có năm thứ thậm thâm:
- Một,
nghĩa thậm thâm, tức là nghĩa dụng của Chân
Như.
-
Hai, thể thậm thâm, tức tự tánh của Như.
-
Ba, nội chứng thậm thâm, chỉ có trí vô phân biệt
mới có thể khế chứng.
- Bốn,
y chỉ thậm thâm, do là chỗ nương tựa của
các đức nhiều như cát sông Hằng.
-
Năm, vô thượng thậm thâm, tức vô dư, vô trụ.
“Vô
tướng” là chẳng có hai tướng như Không, Hữu
v.v… Hoặc chẳng có mười tướng như sanh,
diệt v.v…
(Kinh)
Chúng sanh thất chánh tri, duy Phật năng tế độ.
(經)眾生失正知,唯佛能濟度。
(Kinh:
Chúng sanh mất chánh tri, riêng Phật tế độ
được).
Tán
rằng: Kế đó, tán thán Phật. Nửa bài tụng
đầu tiên là Tổng, chín bài sau là Biệt. Đây là Tổng.
Trong ba đức của Phật, Ân Đức lợi sanh
thù thắng, cho nên riêng nêu ra, ḥng [người nghe sẽ]
liên tưởng đến Trí Đức và Đoạn
Đức. “Chánh tri” tức là chánh trí. Phàm là kẻ chẳng
có chánh trí, sẽ rộng tạo tà nghiệp, ch́m đắm,
lăn lóc trong sanh tử. Phật trọn đủ hai trí,
chỉ riêng Ngài có thể cứu vớt. Tuy các vị Bồ
Tát cũng có thể độ sanh, nhưng do nương
vào Phật, bèn quy công về đức Phật.
(Kinh)
Như Lai minh huệ nhăn, bất kiến nhất pháp tướng,
phục dĩ chánh pháp nhăn, phổ chiếu bất tư nghị,
bất sanh ư nhất pháp, diệc bất diệt nhất
pháp.
(經)如來明慧眼,不見一法相,復以正法眼,普照不思議,不生於一法,亦不滅一法。
(Kinh:
Như Lai mắt huệ sáng, chẳng thấy một pháp
tướng, lại dùng mắt chánh pháp, chiếu khắp
chẳng nghĩ bàn, chẳng sanh khởi một pháp,
cũng chẳng diệt một pháp).
Tán
rằng: Kế đó, riêng tán thán Phật. Hai bài tụng
đầu tán thán Trí Đức của Báo Thân. Hai bài tụng
kế đó tán thán Đoạn Đức của Pháp Thân,
năm bài tụng kia tán thán Ân Đức của Hóa Thân.
Trong bài tụng đầu, trước hết là tán thán
nhân đức, sau đó tán thán quả đức. Trong phần
[tán thán] cái nhân, nửa bài tụng đầu tán thán huệ
nhăn. Bài tụng kế đó tán thán pháp nhăn. Huệ nhăn chiếu
Không Đệ Nhất Nghĩa Đế. Chưởng Trân
Luận dẫn kinh rằng: “Mạn Thù Thất Lợi!
Huệ nhăn vô sở quán, bất quán hữu vi, vô vi. Sở
dĩ giả hà? Phi huệ nhăn cảnh cố. Pháp nhăn chiếu
Hữu, biến ư Chân Tục, phi bất kiến Chân
Như, nhi năng liễu chư pháp vô trước” (Mạn
Thù Thất Lợi! Huệ nhăn chẳng có ǵ để quán,
chẳng quán hữu vi hay vô vi. V́ lẽ nào vậy? Do đấy
chẳng phải là cảnh của huệ nhăn. Pháp nhăn chiếu
Hữu, trọn khắp Chân và Tục, chẳng phải là
không thấy Chân Như, nhưng có thể
hiểu rơ các pháp, không chấp trước). Bát Nhă Luận
cũng giải thích theo ư nghĩa như thế. V́ thế,
trước hết là tán thán
huệ nhăn. Do chẳng phân biệt, chẳng thấy một
pháp tướng, chẳng phải là không có các pháp! Duyên theo
giáo pháp và các căn tánh, nên gọi là “pháp nhăn”. Không ǵ
chẳng hiểu rơ th́ gọi là “phổ chiếu” (chiếu
trọn khắp). Kẻ khác chẳng lường được,
gọi là “bất tư nghị”.
Xứng cảnh mà biết, chẳng thấy hư vọng,
sanh khởi tăng thêm một pháp nào, cũng chẳng
hư vọng thấy giảm bớt một pháp nào. Ở trong
ấy mà biết Y Tha sanh diệt, Biến Kế và Chân
Như đều chẳng sanh diệt. Nay chẳng thấy
hai thứ sau (Biến Kế và Chân Như) sanh diệt, chẳng
phải là tánh Y Tha không sanh diệt.
(Kinh)
Do tư b́nh đẳng kiến, đắc chí Vô Thượng
Xứ.
(經)由斯平等見,得至無上處。
(Kinh:
Do trông thấy b́nh đẳng, đạt tới chốn
vô thượng).
Tán
rằng: Nói về cái quả. “Do” có nghĩa là “nhân
do” (bởi v́). Do tu viên măn hai loại mắt, cho nên có thể
thấy b́nh đẳng. “Đắc” là vô gián đạo.
“Chí” là giải thoát đạo. Hoặc trở ngược
lên trên, th́ “đắc” nghĩa là chứng, do tâm đoạn
Hoặc, chứng
Diệt. Vô Thượng Xứ tức là đại Bồ
Đề. Không nói tới nhục nhăn và thiên nhăn v́ chúng là
pháp vô kư, do chúng chỉ là nghiệp quả và định quả
nên chẳng nói. Nơi thân Phật th́ gọi là “Phật
nhăn”. Nay ở đây tán thán cái nhân, nên lược đi,
chẳng nhắc tới Phật nhăn.
(Kinh)
Bất hoại ư sanh tử, diệc bất trụ Niết
Bàn, bất trước ư nhị biên, thị cố chứng
Viên Tịch.
(經)不壞於生死,亦不住涅槃,不著於二邊,是故證圓寂。
(Kinh:
Bất hoại trong sanh tử, cũng chẳng trụ Niết
Bàn, chẳng chấp vào hai bên. V́ thế, chứng Viên Tịch).
Tán
rằng: Hai hàng kế đó tán thán Đoạn Đức.
Hàng thứ nhất nói về Vô Trụ Niết Bàn, hàng sau
tán thán Vô Dư, cũng là Đại Niết Bàn, chính là Pháp
Thân. “Hoại” là đoạn. Chẳng giống như
Nhị Thừa thuộc vào bên Diệt “vĩnh viễn
đoạn sanh tử”, cũng chẳng thích trụ trong
Niết Bàn là bên Hữu, tức là Không và Hữu đều
chẳng chấp trước. Do ĺa cả hai bên ấy, cho
nên có thể chứng Vô Trụ Niết Bàn. [Phiên âm là] Niết
Bàn th́ không
đúng âm tiếng Phạn, đúng ra phải nói là Ba Lợi
Nễ Phược Nẫm (Parinirvāṇa), phương này dịch
là Viên Tịch, danh xưng như đă giải thích trong phần
trước. Ở đây bao gồm cả địa vị
tu nhân, chưa gọi là Tối Thanh Tịnh.
(Kinh)
Ư tịnh, bất tịnh phẩm, Thế Tôn tri nhất
vị, do bất phân biệt cố, hoạch đắc tối
thanh tịnh.
(經)於淨不淨品,世尊知一味,由不分別故,獲得最清淨。
(Kinh:
Tịnh phẩm, bất tịnh phẩm, Thế Tôn biết
một vị, do v́ chẳng phân biệt, đạt
được thanh tịnh nhất).
Tán rằng:
Vô Dư Đại Niết Bàn tức là nói về Pháp Thân. Tịnh
tánh và bất
tịnh tánh, Thể [của chúng] chính là Chân Như, gọi
là “nhất vị”. Do trí vô phân biệt chứng nhất
vị ấy, chính là cái nhân của Niết Bàn, cho nên có thể
đạt được Pháp Thân cực thanh tịnh vô
thượng nhất. Vô Dư Viên Tịch gọi là “tối
thanh tịnh”. Vượt ngoài địa vị tu nhân,
chỉ có Phật đạt được. Vô Trụ bao gồm
cả cái nhân, tuy thanh tịnh, nhưng chướng chưa
hết sạch, chưa phải là thanh tịnh nhất.
(Kinh)
Thế Tôn vô biên thân, bất thuyết ư nhất tự, linh
chư đệ tử chúng, pháp vũ giai sung măn.
(經)世尊無邊身,不說於一字,令諸弟子眾,法雨皆充滿。
(Kinh:
Thân Thế Tôn vô biên, chẳng nói một chữ nào, khiến
cho các đệ tử,
mưa pháp đều sung măn).
Tán
rằng: Kế đó là [tán thán] Ân Đức, chia thành bốn
đoạn:
-
Hàng thứ nhất nói về đức
“hiện thân thuyết pháp”.
-
Hàng kế nói về đức “quán chúng sanh, thường
tạo lợi ích”.
-
Hai hàng nói về đức “ứng theo căn cơ sai biệt”.
- Một
hàng cuối, tổng kết: “Chẳng sai biệt”.
Bài
tụng này thuộc phần thứ nhất. Tha Thọ Dụng Thân biến hóa
thuận theo cơ cảm mà hiện, h́nh thể vô lượng,
nên nói là “vô biên”. Hoặc hiện thân lớn, do khó thể
lường được, nên gọi là Vô Biên Thân. Do ĺa Biến
Kế, chân lư là vô, chẳng riêng nói một chữ nào! V́ thế,
nói “bất thuyết ư nhất tự” (chẳng nói
một chữ nào). Nhưng do sức nhân duyên biến hiện
của thức, khiến cho đại chúng nghe pháp đều
được sung măn, như Mạt Ni châu (Như Ư Châu) thuận
theo sự cầu mong mà tuôn ra chất báu, cũng như cái
trống trời ứng theo ư niệm mà phát ra tiếng.
(Kinh)
Phật quán chúng sanh tướng, nhất thiết chủng
giai vô, nhiên ư khổ năo giả, thường hưng
ư cứu hộ.
(經)佛觀眾生相,一切種皆無,然於苦惱者,常興於救護。
(Kinh:
Phật quán tướng chúng sanh, hết thảy loại
đều không, đối với kẻ khổ năo, thường
khởi tâm cứu giúp).
Tán
rằng: Đây là đức “quán chúng sanh thường tạo
lợi ích”. B́nh đẳng quán chúng sanh, oán, thân, lợi,
độn, xấu, tốt, tự, tha, y pháp giới v.v… Do
hết thảy các loại tướng đều là không,
đại bi chẳng xả, từ ngay nơi Không mà quán Hữu.
V́ thế, đối với Khổ v.v… thường cứu
giúp, che chở.
(Kinh)
Khổ, lạc, thường, vô thường, hữu ngă,
vô ngă đẳng, bất nhất,
diệc bất dị, bất sanh diệc bất diệt,
như thị chúng đa nghĩa, tùy thuyết hữu sai biệt.
(經)苦樂常無常,有我無我等,不一亦不異,不生亦不滅,如是眾多義,隨說有差別。
(Kinh:
Khổ, lạc, thường, vô thường, hữu ngă,
vô ngă thảy, chẳng một, cũng chẳng khác, chẳng
sanh cũng chẳng diệt, có nhiều nghĩa như thế,
tùy thuận nói sai biệt).
Tán
rằng: Đức “ứng theo căn cơ sai biệt”.
Một bài tụng rưỡi đầu tiên [ư nói Phật]
ứng theo căn cơ khác biệt. Câu kế tiếp là
dùng thí dụ để nêu rơ. Câu cuối cùng là Phật biết.
Đoạn này là ư đầu tiên. “Khổ,
lạc”, “thường,
vô thường”, “ngă, vô
ngă”, “một,
khác”, “sanh, diệt”,
nêu ra năm cặp ấy. Nhiều [cặp nghĩa] như
thế, chân lư vẫn là Không, do tùy thuận căn cơ mà
nói khác biệt.
(Kinh)
Thí như không cốc hưởng, duy Phật năng liễu
tri.
(經)譬如空谷響,唯佛能了知。
(Kinh:
Ví như hang trống dội, chỉ Phật hay biết
rơ).
Tán
rằng: Nêu thí dụ để
nói “chỉ đức Phật có thể hiểu rơ”.
Ví như hang trống vốn chẳng có âm thanh, do dội lại
tiếng vang mà phát ra các thứ âm thanh khác biệt. Những
người khác đều chẳng thể thấu hiểu,
chỉ có Phật là có thể biết rơ.
(Kinh)
Pháp giới vô phân biệt, thị cố vô dị thừa,
vị độ chúng sanh cố, phân biệt thuyết hữu
tam.
(經)法界無分別,是故無異乘,為度眾生故,分別說有三。
(Kinh:
Pháp giới chẳng phân biệt, nên chẳng có thừa
khác. V́ để độ chúng sanh, phân biệt nói thành ba).
Tán
rằng: Tổng kết “chẳng sai khác”. Tuy thoạt
đầu là sai biệt, rốt cục là Nhất Thừa;
trong chân pháp giới cũng chẳng có tướng sai biệt
của ba thừa. Kinh văn dễ hiểu.
5.6.4.3. Đại Phạm
tán dương
5.6.4.3.1. Tán thán, khuyên
lơn
(Kinh) Nhĩ thời, Đại Tự Tại
Phạm thiên vương diệc tùng ṭa khởi, thiên đản
hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp
chưởng,
cung kính, đảnh lễ Phật túc.
(經)爾時大自在梵天王亦從座起,偏袒右肩右膝著地,合掌恭敬頂禮佛足。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Đại Tự Tại Phạm thiên
vương cũng từ chỗ ngồi đứng dậy,
trật vai áo phải, gối phải đặt sát đất,
chắp tay, cung kính, đảnh lễ dưới chân đức
Phật).
Tán
rằng: Đoạn lớn thứ ba trong phẩm này là
Đại Phạm Tán Dương. Trong ấy, có hai
phần:
-
Trước là Phạm vương tán thán, khuyên nhủ.
-
Sau là Như Lai ấn khả, tán thành.
Đây
là phần thứ nhất, tức “tán
thán”. Trong phần này, lại gồm có ba ư:
-
Trước hết là nghi thức tán thán.
- Kế
đó là tán thán.
-
Sau cùng là khuyến tŕ (khuyên thính chúng hành tŕ).
Đoạn
này là ư thứ nhất. Đại Tự Tại Phạm
vương tức là Đệ Tứ Tĩnh Lự
vương (thiên vương của Tứ Thiền Thiên), tức
là bậc Bồ Tát thuộc Đệ Thập Địa.
Kinh Thập Địa nói: “Hiện báo lợi ích, thọ
Phật vị cố. Hậu báo lợi ích, Ma Hê Thủ La
trí xứ sanh cố” (Lợi ích nơi hiện báo là nhận
lănh địa vị Phật. Lợi ích nơi hậu báo
là sanh nơi Ma Hê Thủ La trí).
(Kinh)
Nhi bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Thử Kim Quang Minh Tối
Thắng Vương Kinh hy hữu, nan lượng, sơ
trung hậu thiện, văn nghĩa cứu cánh, giai năng
thành tựu nhất thiết Phật pháp.
(經)而白佛言:世尊!此金光明最勝王經希有難量,初中後善,文義究竟,皆能成就一切佛法。
(Kinh:
Mà bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này hiếm
có, khó lường, chặng đầu, chặng giữa,
chặng sau đều tốt lành, văn nghĩa rốt
ráo, đều có thể thành tựu hết thảy Phật
pháp).
Tán
rằng: Đây là phần tán thán. Quyển tám mươi ba
của Du Già Sư Địa Luận nói mười câu. Ở
đây (trong kinh này),
trước hết là năm câu nói riêng; sau đó, từ “giai
năng thành tựu” (đều có thể thành tựu) trở
đi, chỉ
có câu thứ mười [tương ứng với điều
được nói trong luận ấy]. Tướng Phạm
hạnh được ngầm thâu trong ấy. Quyển tám
mươi ba [của luận ấy] nói: “Nói ‘chặng
đầu tốt lành’ tức là đối với Văn
Tŕ sanh hoan hỷ. ‘Chặng giữa tốt lành’ là khi tu hành,
chẳng có nạn khổ, xa ĺa nhị biên, nương theo
Trung Đạo để hành. ‘Chặng sau tốt lành’, tức
là rốt ráo xa ĺa các cấu, và hết thảy rốt ráo ly
dục là điều cuối cùng”. Có nghĩa là: Khi tu
hành th́ là địa vị Hữu Học; chặng sau tốt
lành là rốt ráo tột bậc v.v… Tức là địa vị
vô gián đạo tối hậu, và “hết thảy rốt
ráo” v.v… là giải thoát đạo tối hậu do rốt
ráo ĺa nhân quả của cấu. Nói “văn nghĩa rốt
ráo”: “Văn rốt ráo” tức là lời văn hay
khéo, chính là danh thân, cú thân v.v... khéo léo, lưu loát. “Nghĩa
rốt ráo” nhằm giải thích sự mầu nhiệm của
kinh, tức là có thể dẫn phát lợi ích, an lạc.
[Các điều khác nhằm ca ngợi Phật pháp trong Du Già
Sư Địa Luận] là: Điều thứ sáu là chẳng xen
tạp, điều thứ bảy là viên măn, điều thứ
tám là thanh tịnh, điều thứ chín là trắng sạch,
điều thứ mười là tướng phạm hạnh.
[Các ư nghĩa ấy] nói chung đều được gồm
thâu trong ư nghĩa “nhất thiết giai thành” (hết
thảy đều thành tựu).
(Kinh) Nhược thọ tŕ giả, thị
nhân tắc vi báo chư Phật ân.
(經)若受持者,是人則為報諸佛恩。
(Kinh:
Nếu thọ tŕ, tức là người ấy đă báo
ân của chư Phật).
Tán
rằng: Khuyên thọ tŕ. Như trong quyển hai của kinh
Pháp Hoa đă trần thuật Phật ân sâu đậm chẳng
thể báo đáp. Phần
Chúc Lụy nói: “Duy thọ tŕ kinh, tức vi báo ân” (Chỉ
có thọ tŕ kinh th́ chính là báo ân). Ở đây cũng là
như thế.
5.6.4.3.2. Như Lai ấn
khả, chứng thành
5.6.4.3.2.1. Ấn khả
(Kinh)
Phật ngôn: - Thiện nam tử! Như thị, như thị,
như nhữ sở thuyết.
(經)佛言:善男子!如是如是,如汝所說。
(Kinh:
Đức Phật nói: - Thiện nam tử! Đúng như
thế, đúng như vậy, đúng như ông đă nói).
Tán
rằng: Đây là đoạn thứ hai, Như Lai ấn khả,
chứng thành. Có hai tiểu đoạn: Trước là ấn
khả, sau là chứng thành. Đoạn trên đây thuộc
tiểu đoạn thứ nhất.
5.6.4.3.2.2. Chứng thành
5.6.4.3.2.2.1. Người
có thể nghe nhận chẳng thoái thất Bồ Đề
(Kinh)
Thiện nam tử! Nhược đắc thính văn thị
kinh điển giả, giai bất thoái ư A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
(經)善男子!若得聽聞是經典者,皆不退於阿耨多羅三藐三菩提。
(Kinh:
Thiện nam tử! Nếu được nghe kinh điển
này, sẽ đều chẳng thoái chuyển Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác).
Tán
rằng: Chứng thành. Có hai điều:
- Một,
người có thể nghe nhận sẽ chẳng thoái thất
Bồ Đề.
-
Hai, người nghe nhận sẽ diệt chướng, tiến
cao hơn.
Trong
điều thứ nhất có năm ư: Một là nêu ra, hai là
gạn hỏi, ba là giải thích theo chiều thuận, bốn
là gạn hỏi lần nữa, năm là nói ngược lại
để giảng rơ. Đây chính là phần nêu ra.
(Kinh)
Hà dĩ cố?
(經)何以故?
(Kinh:
V́ sao vậy?)
Phần
gạn hỏi này dễ hiểu.
(Kinh) Thiện nam tử! Thị năng thành
thục bất thoái địa Bồ Tát thù thắng thiện
căn, thị đệ nhất pháp ấn, thị chúng
kinh vương, cố ưng thính văn, thọ tŕ, độc
tụng.
(經)善男子!是能成熟不退地菩薩殊勝善根,是第一法印,是眾經王,故應聽聞受持讀誦。
(Kinh:
Thiện nam tử! Kinh này có thể thành thục thiện
căn thù thắng cho Bồ Tát thuộc địa vị Bất
Thoái, là pháp ấn bậc nhất, là vua của các kinh. V́ thế,
phải nên lắng nghe, thọ tŕ, đọc tụng).
Tán
rằng: Giải thích theo chiều thuận. Có hai ư: Trước
là giải thích, sau là khuyên lơn. Có ba nguyên do khiến cho
người có thể lắng nghe sẽ chẳng lui sụt
Bồ Đề:
- Một
là có thể khiến
cho chẳng lui sụt thiện căn, tức là kẻ [thiện căn]
chưa chín muồi sẽ được chín
muồi.
-
Hai là pháp ấn bậc nhất, tức là kẻ trước đó [thiện căn]
đă chín muồi, sẽ được ấn chứng
bất thoái.
- Ba
là [kinh này] vua của các kinh.
Từ
“cố ưng” (v́ thế, hăy nên) trở đi là phần
khuyên lơn.
(Kinh)
Hà dĩ cố?
(經)何以故?
(Kinh:
V́ sao vậy?)
Lại
gạn hỏi.
(Kinh) Thiện nam tử! Nhược nhất
thiết chúng sanh vị chủng thiện căn, vị
thành thục thiện căn, vị thân cận chư Phật
giả, bất năng thính văn thị vi diệu pháp.
(經)善男子!若一切眾生未種善根、未成熟善根、未親近諸佛者,不能聽聞是微妙法。
(Kinh:
Thiện nam tử! Nếu hết thảy chúng sanh chưa
gieo thiện căn, chưa thành thục thiện căn,
chưa thân cận chư Phật, sẽ chẳng thể lắng
nghe diệu pháp vi diệu này).
Tán
rằng: Nói ngược lại để nêu rơ. Ba nghĩa
nói ngược lại để nêu rơ [như sau]:
- Một,
chưa gieo thiện căn.
-
Hai, tuy đă gieo, nhưng chưa chín muồi.
-
Ba, chưa thân cận chư Phật.
Người
thuộc ba loại ấy sẽ chẳng thể lắng
nghe [kinh này]. Do vậy biết: Người có thể nghe nhận
[kinh này] là người hội đủ
ba duyên trên đây; do đó, nghe kinh sẽ đạt
được bất thoái.
5.6.4.3.2.2.2. Người
nghe nhận kinh này được diệt chướng, tiến
cao hơn
5.6.4.3.2.2.2.1. Diệt ba
thứ chướng
(Kinh)
Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân năng
thính thọ giả, nhất thiết tội chướng
giai tất trừ diệt, đắc tối thanh tịnh.
(經)若善男子善女人能聽受者,一切罪障皆悉除滅,得最清淨。
(Kinh:
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể nghe
nhận, hết thảy tội chướng thảy đều
trừ diệt, đạt được thanh tịnh nhất).
Tán
rằng: Diệt chướng, tiến cao lên thù thắng
hơn. Có ba ư nghĩa:
- Một,
diệt ba thứ chướng.
-
Hai, thân cận bạn lành.
-
Ba, đạt được pháp thù thắng.
Đây
là ư thứ nhất, [lại gồm hai ư]: Một là diệt
tội, hai là đạt được thanh tịnh. “Đạt
được thanh tịnh”
tức là tội diệt, phước sanh; hoặc là
trước đó đă phá giới, nay lại được
thanh tịnh.
5.6.4.3.2.2.2.2. Thân cận
bạn lành
(Kinh)
Thường đắc kiến Phật, bất ly chư
Phật, cập thiện tri thức thắng hạnh chi
nhân.
(經)常得見佛,不離諸佛及善知識勝行之人。
(Kinh:
Thường được thấy Phật, chẳng ĺa
chư Phật, và bậc
thiện tri thức có hạnh thù thắng).
Tán
rằng: Thân cận thiện hữu. “Thắng hạnh”
tức là chư Bồ Tát.
5.6.4.3.2.2.2.3. Đạt
được pháp thù thắng
(Kinh)
Hằng văn diệu pháp, trụ bất thoái địa.
(經)恒聞妙法,住不退地。
(Kinh:
Luôn nghe diệu pháp, trụ trong địa vị bất
thoái).
Tán
rằng: Đạt được pháp thù thắng. Có bốn
ư:
- Một,
được nghe pháp thù thắng.
-
Hai, đạt tới địa vị thù thắng.
-
Ba, đạt được Tổng Tŕ thù thắng.
- Bốn,
đạt được tác dụng thù thắng của
pháp.
Đoạn
này gồm hai ư đầu tiên.
(Kinh)
Hoạch đắc như thị thắng đà-la-ni môn.
(經)獲得如是勝陀羅尼門。
(Kinh: Đạt được
đà-la-ni môn thù thắng như thế).
Tán
rằng: Đạt được pháp Tổng Tŕ thù thắng.
Trước là nêu chung, sau là chỉ bày riêng. Phần này là ư
trước. Trong bốn môn đà-la-ni, sẽ có thể
đạt được bất thoái đà-la-ni. Do chứng
pháp tánh, cho nên vô tận. Do đạt được bất
thoái, cho nên chẳng giảm.
(Kinh)
Sở vị vô tận, vô giảm: Hải ấn xuất diệu
công đức đà-la-ni vô tận vô giảm, thông đạt
chúng sanh ư hạnh ngôn ngữ đà-la-ni vô tận vô giảm.
(經)所謂無盡無減。海印出妙功德陀羅尼無盡無減,通達眾生意行言語陀羅尼無盡無減。
(Kinh:
Đó gọi là “vô tận, vô giảm”: Đà-la-ni hải ấn
xuất sanh công đức mầu nhiệm vô tận, vô giảm;
đà-la-ni thông đạt ư hạnh và ngôn ngữ của
chúng sanh vô tận, vô giảm).
Tán
rằng: Riêng chỉ bày mười loại Tổng Tŕ. Hoặc
cả mười địa, mỗi địa đều
đạt được, hoặc thuận theo thứ tự
mà mỗi địa trong mười địa đạt
được một thứ. Đối với
Tam-ma-địa trên đây, Sơ Địa do hành Thí sẽ
có thể đạt được [Tam-ma-địa]. Ngay
khi đó, như sóng biển cả, trọn chẳng lỡ
thời, chứng b́nh đẳng Như để in vào [biển
ấy, nên gọi là “hải ấn”]. Nương theo
đà-la-ni, sanh ra công đức bố thí thù thắng, mầu
nhiệm. Lại có thể phát sanh các đức thù thắng
vô tận, vô giảm sau đó. Hoặc chứng lư đạt
được, hoặc mười câu vô tận đều
gồm thâu, cho nên vô tận, vô giảm. Các phần sau đều
giải thích dựa theo cách này. Nơi Đệ Nhị
Địa, do trừ sự ngu muội khiến cho [hành
nhân] chẳng hiểu rơ nghiệp, đạt được
môn Tổng Tŕ này, cho nên
có thể thông đạt ba nghiệp của chính ḿnh và
người khác. Ba thứ “ư, hạnh, ngôn từ” theo
thứ tự chính là ba nghiệp thân, ngữ, ư. Hoặc “ư
hạnh” chính là tám vạn bốn ngàn tâm hạnh. Sự
thông hiểu ngôn ngữ ấy chính là nói theo khía cạnh
“thông hiểu hết thảy ngôn ngữ của chúng sanh”.
(Kinh)
Nhật viên vô cấu tướng quang đà-la-ni vô tận,
vô giảm, măn nguyệt tướng quang đà-la-ni vô tận
vô giảm.
(經)日圓無垢相光陀羅尼無盡無減,滿月相光陀羅尼無盡無減。
(Kinh:
Đà-la-ni tướng quang minh vô cấu như mặt trời
tṛn trặn vô tận, vô giảm, đà-la-ni tướng
quang như trăng tṛn vô tận, vô giảm).
Do
Đệ Tam Địa ĺa sự ngu muội ám độn
mà đạt được môn Tổng Tŕ này, có thể
phát khởi Tam Minh[36]
diệu định thù thắng. V́ thế, như mặt trời
tṛn trặn. Tự ĺa chướng th́ gọi là “vô cấu”.
Phá sự tối tăm cho kẻ khác th́ gọi là “tướng
quang”. Tứ Địa có thể ĺa chướng vi tế,
giống như vầng mặt trăng từ lúc trăng
non cho đến khi trăng rằm, có thể trừ ngă kiến
chấp chưa sanh và đă sanh, khiến cho hết thảy
thiện pháp chưa sanh sẽ sanh, đă sanh sẽ có thể
tăng trưởng, như ánh trăng trong mát, có thể
khiến cho hoa sen nở x̣e.
(Kinh) Năng phục chư Hoặc diễn
công đức lưu đà-la-ni vô tận vô giảm, phá kim
cang sơn đà-la-ni vô tận vô giảm.
(經)能伏諸惑演功德流陀羅尼無盡無減,破金剛山陀羅尼無盡無減。
(Kinh:
Đà-la-ni có thể hàng phục các Hoặc, diễn nói các
công đức vô tận vô giảm. Đà-la-ni phá núi kim cang
vô tận vô giảm).
Do
Ngũ Địa đạt tăng thượng huệ
tương ứng với Đế, có thể hàng phục
các phiền năo gây hại như tham v.v… Gọi chung là “hàng
phục các Hoặc”. Do tu Định thù thắng, đạt
được Tĩnh Lự thù thắng, diễn nói “công
đức lưu”. “Lưu” có
nghĩa là “tám giải thoát”. Bởi lẽ, kinh Hoa Nghiêm dạy:
“Bát giải thoát pháp, lưu tịnh diệu thủy”
(Pháp tám giải thoát tuôn chảy nước tịnh diệu).
Hoặc là đắc Định thù thắng, có thể diễn
nói hết thảy công đức của môn Định ấy.
Từ Đệ Lục Địa tu tập Bát Nhă, có thể
phá quả núi to Kim Cang ngu si ngăn chướng mặt trời.
(Kinh)
Thuyết bất khả thuyết nghĩa nhân duyên tạng
đà-la-ni vô tận vô giảm, thông đạt thật ngữ
pháp tắc âm thanh đà-la-ni vô tận vô giảm.
(經)說不可說義因緣藏陀羅尼無盡無減,通達實語法則音聲陀羅尼無盡無減。
(Kinh:
Đà-la-ni nói nghĩa nhân duyên tạng chẳng thể nói vô
tận vô giảm, đà-la-ni thông đạt pháp tắc và
âm thanh của thật ngữ vô tận vô giảm).
Do
Thất Địa phần nhiều trụ trong vô tướng,
dùng phương tiện thiện xảo nói nghĩa vô
tướng “chẳng thể nói”, cũng chẳng hoại
pháp tạng nhân duyên giả danh, [nên đạt được
môn Đà-la-ni ấy]. Do Đệ Bát Địa đắc
trí vô tướng công dụng, do đại nguyện lực
có thể thông đạt pháp tắc của thật ngữ
trong cuộc sống. “Âm thanh” chính là ngữ.
(Kinh)
Hư không vô cấu tâm hạnh ấn đà-la-ni vô tận
vô giảm, vô biên Phật thân giai năng hiển hiện
đà-la-ni vô tận vô giảm.
(經)虛空無垢心行印陀羅尼無盡無減,無邊佛身皆能顯現陀羅尼無盡無減。
(Kinh:
Đà-la-ni như hư không vô cấu in vào tâm hạnh vô
tận vô giảm, đà-la-ni vô biên thân Phật đều
có thể hiển hiện vô tận vô giảm).
Do
Đệ Cửu Địa đạt được bốn
món biện tài tự tại như hư không, trừ
chướng ngại lợi tha, cho nên vô cấu, pháp
nghĩa nói ra có thể làm dấu ấn thù thắng trong tâm
hạnh của chúng sanh. Cái ấn thù thắng đă in xuống,
[hành nhân] chắc chắn đạt được lợi
ích thù thắng. Do Đệ Thập Địa đạt
được mây trí huệ sung măn pháp giới, thân nguyện
sanh trong khắp các cơi chẳng cùng tận
đều có thể hiển hiện, đều do Tổng
Tŕ mà đạt được, đều từ pháp
đă đạt được mà kiến lập danh
xưng của Tổng Tŕ, tức là [Tổng Tŕ được]
đặt tên theo cái quả. Đó là giải thích theo lối
Y Chủ.
(Kinh)
Thiện nam tử! Như thị đẳng vô tận vô giảm
chư đà-la-ni môn đắc thành tựu cố.
(經)善男子!如是等無盡無減諸陀羅尼門得成就故。
(Kinh:
Thiện nam tử! Do được thành tựu vô tận
vô giảm các môn đà-la-ni như thế đó).
Tán
rằng: Đạt được tác dụng thù thắng.
Trong phần trước là đạt được pháp
thể, ở đây là nương vào đó, dấy lên tác dụng.
Trước là nêu ra, sau là hiển lộ. Đoạn này là
nêu ra.
(Kinh) Thị Bồ Tát Ma Ha Tát năng ư thập
phương nhất thiết Phật độ, hóa tác Phật
thân, diễn thuyết vô thượng chủng chủng
chánh pháp, ư pháp Chân Như bất động, bất trụ,
bất lai, bất khứ.
(經)是菩薩摩訶薩能於十方一切佛土化作佛身,演說無上種種正法,於法真如不動不住、不來不去。
(Kinh:
Vị Bồ Tát Ma Ha Tát này có thể hóa hiện thân Phật
trong mười phương hết thảy các cơi Phật,
diễn nói các thứ chánh pháp vô thượng, đối với
pháp Chân Như chẳng động, chẳng trụ, chẳng
đến, chẳng đi).
Tán
rằng: Đây là phần hiển lộ tác dụng thù thắng.
Có ba ư:
- Một,
hiện thân thuyết pháp.
-
Hai, có thể lợi ích hữu t́nh.
-
Ba, nhiếp tŕ pháp quy Chân, ḥng tu chánh quán.
Đây
là ư thứ nhất. Tuy hiện thân nói các pháp, nhưng do chẳng
hoại Chân Đế, bất động đối với
pháp Chân Như. V́ thế, kinh Vô Cấu Xưng nói: “Năng
thiện phân biệt chư pháp tướng, ư Đệ
Nhất Nghĩa Đế nhi bất động” (Có thể
khéo phân biệt các pháp tướng, bất động
đối với Đệ Nhất Nghĩa Đế), tức
là chẳng trụ vào, chẳng chấp trước. Tuy hiện
thân, ĺa khỏi nỗi khổ ồn náo, tạp loạn,
lưu chuyển. V́ thế, bất động đối với
pháp Chân Như, cũng chẳng trụ chấp Niết Bàn tịch
diệt như phàm phu hay Nhị Thừa. Tuy hiện thành Phật
là “đến”, thị hiện nhập Niết Bàn là
“đi”, do Dụng thường tịch, chẳng đến,
chẳng đi! Hơn nữa, do thiện căn của
chúng sanh chín muồi, nên thấy Phật đến. Chúng
sanh do chán nhàm, nên thấy Phật đi. [Để đối
trị kiến chấp ấy], bèn nói “Phật thường
trụ chẳng đến, chẳng đi”. Cũng
như bầu trời trong vắt, vầng trăng biếc
tỏa sáng khôn ngằn, nước lặng, sóng phản chiếu
ánh sáng lấp lánh không cùng cực! Đấy chính là: “Do
nước lặng trong, vầng trăng hiện bóng;
nước gợn đục, bóng nguyệt ch́m lỉm”,
há bảo là trăng có đến hay đi ư? Hoặc
thân tự tánh chẳng đi, đứng, nằm, ngồi,
“bất
động”
tức là chẳng ngồi nằm. Đến, đi là thực
hiện nhiếp hóa, có sự ứng hóa. V́ thế, Bát Nhă Luận
nói: “Chư Phật chẳng đến, đi, ứng hóa
th́ có đến, đi”.
Dựa theo sự nhiếp tŕ cảnh tượng, tức
là dựa theo ứng hóa để gạn hỏi, c̣n lời
đáp th́ dựa theo Chân Như để trả lời; v́
thế đều phù hợp! Hoặc hiện thân thuyết
pháp đều chẳng phải là tướng cố định
trong tam thế, bất động là tổng, bất trụ
là hiện, v́
sanh chính là diệt. “Chẳng
đi” chính là
diệt, do chẳng đạt tới quá khứ. Chẳng
đến v́ vị lai là không. Chuẩn theo đó, thuyết
pháp cũng nói là “bất
động”
v.v… Giải thích theo kiểu này rất hay!
(Kinh)
Thiện năng thành thục nhất thiết chúng sanh thiện
căn, diệc bất kiến nhất chúng sanh khả thành
thục giả.
(經)善能成熟一切眾生善根,亦不見一眾生可成熟者。
(Kinh:
Khéo có thể thành thục thiện căn của hết thảy
chúng sanh, cũng chẳng thấy có một chúng sanh để
có thể thành thục).
Tán
rằng: Điều thứ hai là có thể lợi ích hữu
t́nh. Xét theo Tục Đế, là thiện xảo thành tựu
chúng sanh. Theo Thắng Nghĩa Đế th́ cũng chẳng
thấy có chúng sanh để có thể thành tựu. Lại
thâu nhiếp, coi người khác giống như chính ḿnh, thấy
chúng sanh bên ngoài đều là Không, v́ thường lợi
ích họ. Do vậy, kinh Kim Cang Bát Nhă nói: “Tuy độ
như thị vô lượng chúng sanh, nhi vô chúng sanh đắc
diệt độ giả” (tuy độ vô lượng
chúng sanh như thế, nhưng không có chúng sanh được
diệt độ).
(Kinh)
Tuy thuyết chủng chủng chư pháp, ư ngôn từ
trung bất động, bất trụ, bất khứ, bất
lai, năng ư sanh diệt, chứng vô sanh diệt.
(經)雖說種種諸法,於言詞中不動不住、不去不來,能於生滅證無生滅。
(Kinh:
Tuy nói các thứ pháp, nhưng trong ngôn từ chẳng động,
chẳng trụ, chẳng đi, chẳng đến, có thể
chứng vô sanh diệt từ trong sanh diệt).
Tán
rằng: Điều thứ ba là nhiếp pháp quy vào Chân
để tu chánh quán. Ở đây, chia thành ba ư: Trước
là nêu ra, kế đó là gạn hỏi, sau là giải thích. Ở
đây là nêu ra. Thoạt đầu, tuy nói “các thứ”
nhưng trước là hiện thân thuyết pháp, sau là có thể
từ trong sanh diệt mà chứng vô sanh diệt. Đó là
nêu ra nguyên do chứng Chân.
(Kinh)
Dĩ hà nhân duyên thuyết chư hành pháp vô hữu khứ
lai?
(經)以何因緣說諸行法無有去來?
(Kinh:
Do nhân duyên nào mà nói các hành pháp chẳng có đến đi?)
Gạn
hỏi nhân duyên dẫn khởi: Do có nguyên nhân nào mà có thể
được như thế?
(Kinh)
Do nhất thiết pháp Thể vô dị cố!
(經)由一切法體無異故。
(Kinh:
Do Thể của hết thảy các pháp chẳng khác).
Tán
rằng: Đây là phần giải thích. Do hết thảy
các pháp đều quy vào Như, Chân Như làm Thể. Do Thể
chẳng khác, chẳng thấy có thể nương vào thân
và ngữ để nói tướng thật sự sanh diệt
được!
5.6.4.4. Đại chúng
khi ấy đạt được lợi ích
5.6.4.4.1. Hội chúng
được lợi ích
(Kinh)
Thuyết thị pháp thời, tam vạn ức Bồ Tát
Ma Ha Tát đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, vô lượng chư
Bồ Tát bất thoái Bồ Đề tâm, vô lượng vô
biên bật-sô, bật-sô-ni đắc pháp nhăn tịnh, vô
lượng chúng sanh phát Bồ Tát tâm.
(經)說是法時,三萬億菩薩摩訶薩得無生法忍,無量諸菩薩不退菩提心,無量無邊苾芻、苾芻尼得法眼淨,無量眾生發菩薩心。
(Kinh:
Khi nói pháp ấy, ba vạn ức Bồ Tát Ma Ha Tát đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn, vô lượng các Bồ Tát chẳng lui sụt
Bồ Đề tâm, vô lượng vô biên bật-sô, bật-sô-ni
đắc pháp nhăn tịnh, vô lượng chúng sanh Bồ
Tát tâm).
Tán
rằng: Đoạn lớn thứ tư trong phẩm này là
“nghe pháp đạt được lợi ích”. Ở
trong đây, có bốn
ư:
- Một,
hội chúng khi ấy đạt được lợi ích.
-
Hai, đức Thế Tôn tán thán, khuyên nhủ.
-
Ba, đại chúng phụng hành.
- Bốn,
Như Lai sắc truyền thêm.
Đoạn
này thuộc ư thứ nhất. Kinh văn gồm có bốn
điều:
- Một,
đắc Vô Sanh Nhẫn. Thoạt đầu vừa đắc
th́ thuộc Sơ Địa, lâu ngày th́ thuộc trong Bát
Địa, đạt được viên măn nơi Phật
địa.
-
Hai, đạt được bất thoái. Tức là Đệ
Thất Trụ bất thoái đại Bồ Đề tâm
trong Thập Trụ.
-
Ba, định tánh Nhị Thừa chứng quả Dự
Lưu, sanh vô lậu huệ, duyên theo pháp Tứ Đế
mà đạt được pháp nhăn tịnh.
- Bốn,
có phàm phu mang chủng tánh Đại Thừa, và gồm cả
chủng tánh bất định trong ba thừa, sẽ đều
phát Bồ Đề tâm.
5.6.4.4.2. Đức Thế
Tôn tán thán, răn bảo
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn nhi thuyết tụng viết: - Thắng
pháp năng nghịch sanh tử lưu, thậm thâm vi diệu
nan đắc kiến.
(經)爾時世尊而說頌曰:勝法能逆生死流,甚深微妙難得見。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn nói kệ tụng
rằng: - Thắng pháp hay ngược gịng sanh tử, vi diệu
rất sâu, khó được thấy!)
Tán
rằng: [Đây là đức Thế Tôn] tán thán, răn bảo.
Hai câu đầu tiên là tán thán, hai câu kế tiếp là
răn bảo. Trong lời tán thán, câu thứ nhất tán thán
pháp thù thắng bậc thượng có thể phá sanh tử,
câu kế đó tán thán pháp vi diệu khó thể thấy.
(Kinh)
Hữu t́nh manh minh tham dục phú, do bất kiến cố,
thọ chúng khổ.
(經)有情盲冥貪欲覆,由不見故受眾苦。
(Kinh:
Hữu t́nh mù tối, tham dục lấp. Do chẳng trông thấy,
chịu các khổ)
Đây
là răn bảo. Câu đầu nói về Vô Minh Chướng
tức cái cốt lơi tạo ác. Câu kế nói hứng chịu
khổ quả,
vô minh chướng ngại thánh đạo. Mắt có màng mộng,
tâm trí mù ḷa. “Minh” (冥)
là tối tăm, do chẳng thấy chân lư, nên gọi là “minh”.
Lại v́ tham dục phủ lấp cái tâm, chẳng biết
thoát ĺa, chỉ tạo ác nghiệp. Do vậy, tạo ác v́
chẳng thấy chân lư. Do ác
nghiệp đă tạo, cho nên hứng chịu các khổ.
5.6.4.4.4. Đại
chúng phụng hành
(Kinh)
Nhĩ thời, đại chúng câu tùng ṭa khởi, đảnh
lễ Phật túc.
(經)爾時大眾俱從座起,頂禮佛足。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đại chúng đều từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới
chân đức Phật).
Tán
rằng: Đại chúng phụng hành. Trước hết
là nghi quỹ [thể hiện sự kính tuân].
(Kinh)
Nhi bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Nhược sở tại
xứ giảng tuyên, độc tụng thử Kim Quang Minh
Tối Thắng Vương Kinh, ngă đẳng đại
chúng giai tất văng bỉ, vị tác thính chúng.
(經)而白佛言:世尊!若所在處講宣讀誦此金光明最勝王經,我等大眾皆悉往彼為作聽眾。
(Kinh:
Mà bạch cùng đức Phật rằng: - Bạch Thế
Tôn! Nếu chỗ nào giảng nói, đọc tụng kinh
Kim Quang Minh Tối Thắng Vương này, đại chúng
chúng con đều tới chỗ đó để làm thính
chúng).
Tán
rằng: Ư thứ hai là phụng hành. Trong phần phụng
hành, có năm ư:
- Một,
làm thính chúng.
-
Hai, lợi ích pháp sư.
-
Ba, lợi ích thính chúng.
- Bốn,
lợi ích quốc độ.
-
Năm, tôn trọng chỗ nói [kinh này].
Đoạn
này thuộc về ư thứ nhất.
(Kinh)
Thị thuyết pháp sư linh đắc lợi ích an lạc,
vô chướng, thân ư thái nhiên, ngă đẳng giai
đương tận tâm cúng dường.
(經)是說法師令得利益安樂無障身意泰然,我等皆當盡心供養。
(Kinh:
Khiến cho vị thầy thuyết pháp ấy đạt
được lợi ích, an lạc, chẳng có chướng
ngại, thân ư thanh thản, chúng con đều tận tâm
cúng dường).
Tán
rằng: Lợi ích pháp sư. Một là khiến cho [pháp sư] an
lạc, hai là tứ sự cúng dường.
(Kinh)
Diệc linh thính chúng an ổn, khoái lạc, sở trụ quốc
độ vô chư oán tặc, khủng bố, ách nạn,
cơ cẩn chi khổ, nhân dân xí thịnh.
(經)亦令聽眾安穩快樂,所住國土無諸怨賊恐怖厄難饑饉之苦,人民熾盛。
(Kinh:
Cũng khiến cho người nghe an ổn, vui sướng,
quốc độ họ đang sống không có oán tặc,
kinh sợ, tai ách, khổ sở v́ đói kém, nhân dân đông
đảo, thịnh vượng).
Tán
rằng: Lợi ích thính chúng và quốc độ.
(Kinh)
Thử thuyết pháp xứ đạo tràng chi địa,
nhất thiết chư thiên nhân, phi nhân đẳng, nhất
thiết chúng sanh bất ưng lư tiễn,
cập dĩ ô uế. Hà dĩ cố? Thuyết pháp chi xứ
tức thị chế-để, đương dĩ
hương, hoa, tăng thái phan, cái nhi vị cúng dường,
ngă đẳng thường vi ủng hộ, linh ly suy tổn.
(經)此說法處道場之地,一切諸天人非人等一切眾生不應履踐及以污穢。何以故?說法之處即是制底,當以香華繒綵旛蓋而為供養。我等常為守護,令離衰損。
(Kinh:
Chỗ đạo tràng là nơi thuyết pháp ấy, hết
thảy chư thiên, người, phi nhân v.v… hết thảy
chúng sanh chớ nên giẫm đạp và làm ô uế. V́ cớ
sao? Nơi thuyết pháp chính là chế-để (Caitya, tháp
thờ Phật)[37], hăy nên dùng
hương, hoa, phan lọng bằng lụa màu để
cúng dường, chúng con thường thủ hộ, chẳng
để suy tổn).
Tán
rằng: Tôn trọng chỗ nói kinh. Có ba ư: Một là nêu ra,
hai là gạn hỏi, ba là giải thích. Trong ư giải thích,
có hai ư nghĩa:
- Một, lư do chớ
nên giẫm, đạp, làm ô uế.
-
Hai, phải nên tu cúng dường.
Trong
phần tu cúng dường, trước là khuyên người
khác cúng dường, sau là tự ḿnh thủ hộ.
5.6.4.4.5. Đức Phật
sắc truyền lần nữa
(Kinh)
Phật cáo đại chúng: - Thiện nam tử! Nhữ
đẳng ưng đương tinh cần tu tập thử
diệu kinh điển, thị tắc chánh pháp cửu trụ
ư thế.
(經)佛告大眾:善男子!汝等應當精勤修習此妙經典,是則正法久住於世。
(Kinh:
Đức Phật bảo đại chúng: - Thiện nam tử!
Các ông hăy nên siêng ṛng tu tập kinh điển mầu nhiệm
này, như vậy th́ chánh
pháp sẽ trụ lâu trong đời).
Tán
rằng: Như Lai sắc truyền thêm. Trong phần trước
là tứ chúng nguyện nghe nhận, hộ tŕ, nguyện tự
thân thọ tŕ, diễn nói; nay [đức Phật] sắc
truyền cũng dạy họ phải đích thân siêng tu tập,
khiến cho Phật pháp trụ thế dài lâu!
Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương Kinh Sớ phần 8 hết
[1] Ngũ Phần
Pháp Thân là năm loại pháp công đức để thành tựu
thân giải thoát, tức là:
- Giới bao gồm thân luật
nghi, ngữ luật nghi, và mạng thanh tịnh.
- Định gồm ba môn
Tam-ma-địa (Không, Vô Nguyện, Vô Tướng).
- Huệ tức Chánh Tri Kiến.
- Giải thoát: Tác ư
tương ứng với tất cả tín tâm giải,
đă tín giải và sẽ tín giải.
- Giải thoát tri kiến:
Đạt thành giải thoát, như thật đoạn trừ
phiền năo.
Đôi khi Ngũ Phần
Pháp Thân c̣n được gọi là Vô Lậu Ngũ Uẩn.
[2] Bộ kinh này có tên gọi
đầy đủ là Bồ Tát Địa Tŕ Kinh (Bodhisattva-bhūmi) gồm tám quyển,
do ngài Đàm Vô Sấm dịch sang tiếng Hán vào đời
Bắc Lương. Thật ra, đây là bản dịch riêng
của phẩm Bồ Tát Địa trong Du Già Sư Địa
Luận. Tác phẩm này c̣n có hai bản dịch tiếng Hán
khác:
- Bồ Tát Thiện Giới
Kinh gồm chín quyển, do sa-môn Cầu Na Bạt Ma nước
Kế Tân dịch vào thời Lưu Tống.
- Du Già Sư Địa
Luận, phẩm Bồ Tát Địa do ngài Huyền Trang dịch
vào đời Đường.
Bồ Tát Địa Tŕ
Kinh được coi là một trong các giới bổn để
truyền Bồ Tát Giới tại Trung Hoa, tuy không phổ
biến bằng kinh Phạm Vơng.
[3] Kinh Đại
Thừa Đồng Tánh do ngài Xà Na Da Xá dịch vào đời
Bắc Châu. Trong kinh ấy, đức Phật ngự tại
đỉnh núi Đại Ma La Da Tinh Diệu, có vua La Sát từ
trong thành Lăng Ca là Tỳ Tỳ Sa Na cúng Phật, thỉnh
pháp, được thọ kư Bồ Tát. Hải long
vương thưa hỏi cái nhân quá khứ của La Sát
vương. Sau đó, có Hải Diệu Thám Tự Tại
Trí Thông Bồ Tát từ phương Đông đến, dâng
đại bảo điện cúng Phật và thỉnh pháp.
Đức Phật bèn giảng danh xưng của Thập
Địa nơi quả vị Như Lai, Thập Địa
trong cảnh giới Thanh Văn, cũng như Thập
Địa trong cảnh giới Bích Chi Phật và Thập
Địa của Bồ Tát.
[4] Kinh Chứng Khế Đại
Thừa (Mahāyānābhisamaya), c̣n
có tên là Nhất Thiết Phật Cảnh Trí Bội Lô Giá Na
Tạng Kinh, gồm hai quyển, do ngài Địa Bà Ha La dịch sang tiếng Hán vào đời
Đường.
[5] Mười Địa
của Bồ Tát là pháp chung để Bồ Tát nương
vào đó mà tu tập ḥng thanh tịnh, cho nên gọi là Tổng. C̣n đối với pháp để thanh tịnh
mỗi địa th́ do mỗi địa chú trọng hành pháp
khác nhau, nên gọi là Biệt (tức là cái được gọi
là Tịnh trong lời Sớ).
[6] Ngũ chướng
tức là phiền năo chướng, nghiệp chướng,
sanh chướng (sanh vào chỗ không có Phật pháp, hay sanh
nhằm nơi đói kém, loạn lạc, không thể tu đạo
được), pháp chướng và sở tri chướng.
[7] Mười chướng
tức là mười trọng chướng của Bồ
Tát trong Thập Địa:
- Dị Sanh Tánh Chướng:
Nương vào chủng tử của Sở Tri Chướng
và Phiền Năo Chướng mà lập ra Dị Sanh Tánh, chướng
ngại thánh tánh vô lậu, ngăn trở hành nhân nhập Kiến
Đạo trong Sơ Địa.
- Tà Hạnh Chướng:
Một phần Câu Sanh của Sở Tri Chướng, cũng như tam ác hạnh do lầm
lạc mà dấy lên, gây chướng ngại cho Giới cực
thanh tịnh, chướng ngại nhập Nhị Địa.
- Ám Độn Chướng:
Một phần Câu Sanh của Sở Tri Chướng khiến
cho hành nhân quên bẵng pháp Văn Tư Tu, chướng ngại
định thù thắng, Tổng Tŕ, chướng ngại
phát khởi Tam Huệ, chướng ngại nhập Tam Địa.
- Vi Tế Phiền Năo
Hiện Hành Chướng: Do chấp trước các pháp là có
thật, do thấy chúng từ vô thỉ luôn hiện hành nơi
thân. Điều này chướng ngại hành nhân nhập Tứ
Địa.
- Chướng ngại
đối với Bát Nhă trong các thừa thấp hơn: Chán
sanh tử, tiến nhập Niết Bàn, gây chướng ngại
đạo vô sai biệt, chướng ngại hành nhân nhập
Ngũ Địa.
- Thô Tướng Hiện
Hành Chướng: Do ái nhiễm chấp vào các tướng
thô thiển như cho rằng Khổ Tập là nhiễm, chấp
Diệt Đạo là tịnh, chướng ngại hành nhân
nhập Lục Địa.
- Tế Tướng Hiện
Hành Chướng: Do chấp có tế tướng sanh diệt
mà tạo thành chướng, gây chướng ngại đạo
vô tướng diệu không, chướng ngại hành nhân nhập
Thất Địa.
- Vô Tướng Trung Tác
Gia Hạnh Chướng: Khiến cho vô tướng quán chẳng
thể tùy ư khởi lên, do c̣n có gia hạnh, chướng ngại
vô gia hạnh đạo, chướng ngại hành nhân nhập
Bát Địa.
- Lợi Tha Trung Bất
Dục Hành Chướng: Chẳng muốn siêng hành lợi tha
hạnh, chỉ thích làm chuyện lợi ích cho chính ḿnh, chướng
ngại Tứ Vô Ngại Giải, chướng ngại nhập
Cửu Địa.
- Ư Chư Pháp Trung Vị
Đắc Tự Tại Chướng: Chướng ngại
do chưa đạt được tự tại trong các
pháp, gây chướng ngại cho đại pháp trí vân cũng
như các sự nghiệp hàm tàng, chướng ngại hành
nhân nhập Thập Địa.
[8] Tác phẩm này có tên gọi
đầy đủ là Đại Thừa Chưởng Trân
Luận, gồm hai quyển, do ngài Thanh Biện soạn, ngài
Huyền Trang dịch sang tiếng Hán vào đời Đường.
Nội dung chủ yếu là đặt
cơ sở cho cách lư luận trong Nhân Minh Học của Phật giáo để
đả phá những luận điểm sai lầm của
ngoại đạo và các học giả trong các tông phái Tiểu
Thừa và Đại Thừa, nhằm xác lập cách lập luận theo đúng quan điểm
Trung Quán.
[9] Đây là một cách lập
luận thông thường trong Nhân Minh Học. Mỗi chủ
đề lập luận gồm ba phần: Một chủ
đề khẳng định một điều ǵ
đó th́ gọi là Tông, lời giải thích cho
chủ đề ấy th́ gọi là Nhân, dùng thí dụ để
làm rơ thêm chủ đề và nguyên nhân th́ gọi là Dụ. Xin
tham khảo Nhân Minh Luận Cương Yếu trong Phật
Học Phổ Thông của Ḥa Thượng Thiện Hoa (có lẽ
đây là tác phẩm nhập môn tŕnh bày Nhân Minh Học đơn
giản, tường tận, và mạch lạc nhất).
[10] Có thể tạm hiểu
“phong luân” như bầu khí quyển bao quanh một hành
tinh, tuy phong luân to lớn hơn v́ các hành tinh chỉ là các “châu”
trong một tiểu thế giới.
[11] Na La Diên là một
trong các danh hiệu của Tỳ Nữu Thiên (Vishnu).
[12] Thất Thánh Tài c̣n gọi
là Thất Tài, Thất Pháp Tài, hoặc Thất Đức Tài,
hàm nghĩa “bảy thứ thánh pháp giúp cho Bồ Tát thành tựu
Phật đạo”, gồm Tín, Giới, Tàm, Quư, Văn
(nghe pháp), Thí, và Huệ.
[13] Thất Chi Giới tức
là ba giới nơi thân (giết, trộm, dâm) và bốn giới
nơi miệng (nói dối, nói thêu dệt, nói đâm thọc
đôi chiều và ác khẩu).
[14] Quán theo nghĩa gốc
là “nhà cất trên đài cao”. Quán c̣n có nghĩa là lầu
cao dùng để thờ thần (có lẽ do nghĩa này mà các
cơ sở thờ tự của Đạo giáo thường
gọi là Quán). Ngoài ra, Quán c̣n có nghĩa là lầu cao (để
nh́n ra xa hay canh gác) xây ngoài cửa cung. Loại quán này thường
gọi là Khuyết do phía dưới thường khoét cửa
thông nhau để tiện qua lại. Đôi khi Khuyết chỉ
có mục đích trang trí. Do vậy, lời Sớ mới
ghi “Quán nghĩa là Khuyết”.
[15] Đây là Tam Tụ Tịnh
Giới (Tri-vidhāni-śīlāni)
tức ba loại giới luật thuộc giới pháp của
Đại Thừa Bồ Tát:
- Nhiếp Luật Nghi
Giới (Saṃvara-śīla):
C̣n gọi là Tự Tánh Giới, chính là các giới nhằm xả
trừ hết thảy các điều ác, tùy theo xuất gia
hay tại gia khác biệt mà có Ngũ Giới, Thập Giới,
Bát Giới, Cụ Túc Giới v.v… Giới Tụ này chính là cái
nhân của Pháp Thân.
- Nhiếp Thiện Pháp
Giới (Kuśala-dharma-saṃgrāhaka-śīla):
C̣n gọi là Thọ Thiện Pháp Giới, là các giới pháp
nhằm tu tập hết thảy các thiện pháp, hồi
hướng tất cả các thiện pháp nơi tam nghiệp
về Vô Thượng Bồ Đề. Chẳng hạn như
siêng năng tu hành, cúng dường Tam Bảo, tâm chẳng
phóng dật, thủ hộ căn môn, Lục Ba La Mật v.v…
Đây là cái duyên để thành tựu Báo Thân.
- Nhiếp Chúng Sanh Giới
(Sattvārtha-kriyā-śīla),
c̣n gọi là Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới hoặc Tác Chúng Sanh Ích
Giới, bao gồm các giới tạo lợi ích cho chúng
sanh, chẳng hạn như chăm sóc bệnh nhân, cứu người
đang gặp nạn, khuyến đạo người khác
ngưng làm ác, hay phá mê cho họ v.v… Đấy là cái duyên
để thành tựu Hóa Thân.
[16] Bốn gịng (Tứ Lưu, Tứ Bộc
Lưu) chính là bốn loại phiền năo mạnh mẽ: Dục
Lưu, Hữu Lưu, Vô Minh Lưu, và Kiến Lưu. Hữu
t́nh do bốn thứ này mà ch́m đắm trong sanh tử, chẳng
thể giải thoát.
[17] Bát Giải Thoát, c̣n gọi là Bát Bội
Xả, hoặc Bát Thắng Xứ, tức
tám loại Thiền Định có tác dụng xả trừ
tham chấp đối với Sắc và Vô Sắc:
- Nội hữu sắc tưởng, quán chư sắc giải thoát: Trừ
sắc tưởng trong nội tâm, tu quán bất tịnh
đối với sắc bên ngoài.
- Nội vô sắc tưởng, quán ngoại sắc giải thoát:
Tuy sắc tưởng trong nội tâm đă trừ,
nhưng tham dục trong Dục Giới khó trừ, bèn quán
tướng bất tịnh bên ngoài để sanh tâm chán
ghét ḥng cầu đoạn trừ.
- Tịnh giải thoát thân tác chứng
cụ túc trụ: Rèn luyện thiện căn chín muồi,
trừ bỏ cái tâm bất tịnh quán trước đó,
tu quán đối với tịnh tướng của sắc
cảnh bên ngoài, khiến cho phiền năo chẳng
sanh, thân chứng tịnh giải thoát để an trụ.
- Siêu chư sắc tưởng, diệt
hữu đối tưởng, chẳng tư duy các thứ
tưởng, nhập Vô Biên Không, Không Vô Biên Xứ cụ túc
trụ giải thoát: Tận diệt sắc tưởng
đối có đối đăi, tu Không Vô Biên Xứ Định.
- Siêu Nhất Thiết Không Vô Biên Xứ,
nhập Vô Biên Thức Cụ Túc Giải Thoát Trụ: Bỏ tâm Không
Vô Biên, tu Thức Vô Biên Xứ Định.
- Siêu Nhất Thiết Thức Vô Biên
Xứ, nhập Vô Sở Hữu Xứ Cụ Túc Giải
Thoát Trụ: Bỏ tâm Thức Vô Biên, tu Vô Sở Hữu Xứ
Định.
- Siêu Nhất Thiết Vô Sở Hữu Xứ, nhập Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Định.
- Siêu Nhất Thiết Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ, nhập Tưởng Thọ Diệt
Thân Tác Chứng Cụ Túc Giải Thoát Trụ.
[18] Ư nói: Do tâm hạnh khác biệt mà tạo
nghiệp nhân khác biệt, do vậy, dẫn khởi quả
báo khác biệt trong khắp lục đạo, đó gọi
là Biến Thú (trọn khắp các đường).
[19] Thắng sanh là một trong năm thứ
thọ sanh của Bồ Tát. Năm thứ thọ sanh của Bồ Tát là:
- Tức khổ sanh, c̣n gọi là trừ
tai sanh: Thị hiện sanh để cứu
khổ như tiền thân Phật Thích Ca thị hiện làm
con cá lớn để cung cấp máu thịt nuôi sống
chúng sanh trong nạn đói.
- Tùy loại sanh, tức là hóa sanh thuận theo hết thảy chúng sanh, có h́nh
tướng, cuộc sống giống như họ để
độ họ.
- Thắng sanh, c̣n gọi là đại
thế sanh, tức h́nh sắc, dung mạo, gịng họ, phú
quư v.v… đều vượt trội người khác.
- Tăng thượng sanh: Tức
làm vua trong các địa vị từ Sơ Địa cho
đến Thập Địa.
- Tối hậu sanh: Thân Bồ Tát tối
hậu, tức là trước khi bổ xứ thành Phật.
[20] Theo Phật Địa Kinh Luận
quyển nhất: “Lợi ích trong hiện tại là
Nghĩa, lợi ích trong tương lai là Lợi”.
[21] Như bậc
vua chúa, quan lại, kẻ thống trị, hoặc người
quyền quư tuy giàu sang, phú quư, oai quyền đều vượt
hẳn người khác (đó là “thắng sanh”), nhưng do
không có trí huệ, sự quyền quư ấy lại khiến
cho họ cao ngạo, tạo tác ác nghiệp, nên gọi là “thắng
sanh hữu tội”.
[22] Tức là Tứ Đế
được nhắc lại ba lần theo ba cách: Thị
Chuyển, Khuyến, và Chứng Chuyển.
[23] Pháp Trí là trí quán Tứ Đế thuộc
Dục Giới, c̣n trí quán Tứ Đế
thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới th́ gọi là Loại Trí.
[24] Theo Hiển Dương Thánh Giáo Luận,
bát chủng trí là:
- Pháp trụ trí: Trí nương vào
kinh tạng mà an lập pháp môn.
- Cầu tự tâm trí: Trí thuận
theo sự chọn lựa phần vị mà suy t́m tự tâm.
- Trụ tự tâm trí: Trí thuộc
địa vị Kiến Đạo, chứng Chân Như.
- Trừ tâm phược trí: Trí thuộc
địa vị Tu Đạo, đối trị chướng.
- Bố hạnh tương ứng
trí: Trí của bậc thánh đệ tử, do sợ hăi sự
khổ năo to lớn v́ sanh tử lưu chuyển.
- Vô nhị phân biệt trí: Tức là
Bồ Tát trí, sự lưu chuyển đă tịch diệt,
chẳng c̣n phân biệt lỗi ác và công đức.
- Bất thiện thanh tịnh trí: Tức
là trí của bậc Hữu Học.
- Thiện thanh tịnh trí: Tức là
trí của bậc Vô Học.
[25] Lân Cận Thích (Avyayī-bhāva): Đây là một cách giải
thích trong Lục Thích, có thể hiểu đơn giản
là dùng ư nghĩa gần với từ ngữ để giải
thích. Chẳng hạn như sách Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn
Nghĩa Sao quyển ba mươi tám đă nêu ra một thí dụ
như sau: Giải thích Tứ Niệm Trụ theo lối Lân
Cận th́ do cái Thể của nó chính là Huệ, tức là
dùng Huệ để quan sát thân, thọ, tâm, pháp. Nhưng
nay nói là Niệm với ngụ ư “nhớ rơ, chẳng quên”, c̣n Huệ là “chiếu rơ, chọn
lựa”. Do Huệ và Niệm có ư nghĩa tương cận, cho nên ẩn danh
xưng Huệ mà dùng Niệm.
[26] Hại Bạn Tùy Miên, c̣n gọi là
Hại Bạn Sử Phiền Năo, hoặc Hại Bạn Sử.
Các Sử này vốn là pháp trợ giúp khiến cho Câu Sanh Phiền
Năo hiện hành, gây chướng ngại cho hành nhân tăng tấn
lên các địa vị cao hơn, nên gọi là Hại Bạn
(kẻ giúp gây hại). Câu Sanh Phiền Năo tức các phiền
năo như Tham, Sân, Si vốn sẵn có từ lúc mới sanh (do vậy gọi
là Câu Sanh), những phiền năo
khác chẳng gọi là Câu Sanh, nhưng có thể giúp cho Câu
Sanh Phiền Năo tăng trưởng th́ gọi là Hại Bạn.
[27] Luy Liệt Tùy Miên, c̣n gọi là Bạc
Sử Phiền Năo, hoặc đơn giản là Bạc Sử,
chính là các phiền năo câu sanh tương ứng với thức
thứ sáu. Do tác dụng của chúng yếu kém hơn so với Hại Bạn, nên gọi là
Luy Liệt (yếu ớt, kém cỏi).
[28] Tứ vô ngại trí tức là Tứ
Vô Ngại Biện Tài, c̣n gọi là Tứ Vô Ngại Giải, gồm
pháp vô ngại trí, nghĩa vô ngại trí, từ vô ngại
trí và nhạo thuyết vô ngại trí.
[29] Thô trọng (Dauṣṭhulya) có nhiều cách hiểu:
- Theo Du Già
Sư Địa Luận quyển hai, tất cả các chủng
tử trong tự thể của các pháp, nếu thuộc về
phiền năo th́ đều gọi là
Thô Trọng.
- Theo ngài
Thế Thân, các chủng tử huân tập thuộc Phiền
Năo Chướng và Sở Tri Chướng từ vô thỉ đến
nay đều gọi là Thô Trọng.
- Pháp Uẩn
Túc Luận cho rằng những thứ khiến cho thân tâm chẳng
thể kham đảm nhiệm hành pháp th́
gọi là Thô Trọng.
[30] Mười ba trụ ở đây
chính là mười ba giai vị tu hành từ nhân tới quả
của Bồ Tát theo kinh Địa Tŕ: Chủng Tánh Trụ,
Giải Hạnh Trụ, Hoan Hỷ Trụ, Tăng Thượng
Tánh Trụ, Tăng Thượng Ư Trụ, Bồ Đề
Phần Pháp Tương Ứng Tăng Thượng Huệ
Trụ, Đế Tương Ưng Tăng Thượng
Huệ Trụ, Duyên Khởi Sanh Diệt Tương Ưng
Tăng Thượng Huệ Trụ, Hữu Hành Hữu Quan Phát Vô Tướng Trụ, Thập
Hạnh Vô Khai Phát Vô Tướng Trụ, Vô Ngại Trụ,
Tối Thượng Trụ, Như Lai Trụ. Trong đó,
hai trụ đầu tương ứng với địa
vị Tam Hiền trong kinh Hoa Nghiêm, từ Hoan Hỷ Trụ
cho đến Tối Thượng Trụ tương ứng
với mười Địa trong kinh Hoa Nghiêm và kinh này, c̣n
Như Lai Trụ chính là địa vị Phật trong Viên
Giáo.
[31] Hai mươi hai thứ ngu muội
ở đây là do mỗi địa đều có hai món vô
minh, kinh nói đến mười một địa nên có
hai mươi hai món vô minh. Do vô minh che lấp chân tánh, nên gọi là Ngu Muội.
[32] Các Phiền Hoặc khởi
lên trong tâm, nếu do tà giáo, tà sư, ác hữu, hoặc sự
tư duy lầm lạc của chính ḿnh th́ gọi là Phân Biệt
Khởi. Nếu chẳng do các nguyên nhân ấy mà tự nhiên
dấy lên th́ gọi là Câu Sanh, hàm nghĩa “bẩm sanh”, tức là mới sanh ra đă tự có, chẳng cần
người khác dạy.
[33] Thất Biện Tài:
- Tiệp tật biện: Trong hết
thảy các pháp được vô ngại tự tại.
- Lợi biện: Có thể thâm nhập,
thông đạt.
- Bất tận biện: Diễn nói
Thật Tướng của các pháp, ngôn từ chẳng cùng
tận.
- Bất khả đoạn biện:
Biện tài chẳng bị đoạn tuyệt
bởi các lời lẽ vấn nạn.
- Tùy ứng biện: Thuận theo yêu
cầu của chúng sanh mà thuyết pháp.
- Nghĩa biện: Có thể nói các thứ
lợi ích do đạt tới Niết Bàn.
- Nhất thiết thế gian tối
thượng biện: Có thể nói Đại Thừa bậc
nhất trong hết thảy các thế gian.
[34] La Hộc (羅縠) là một
thứ vải dệt. Theo Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa,
th́ “La Hộc rất mịn và mỏng hơn lụa, gần
như the nhưng dày hơn”. Ở đây, câu này có ư nói tuy Diệu
Quán Sát Trí đă hiện hành, nhưng vẫn c̣n có chướng
ngại vi tế, nên chưa hoàn toàn thấy rơ chân diện mục
của mọi pháp, giống như nh́n mọi vật qua một lớp vải mỏng.
[35] Ngũ Chướng có nhiều cách
hiểu:
- Năm thứ chướng ngại
nơi thân người nữ: Chẳng được làm
thân Phạm Vương, chẳng được làm Đế
Thích, chẳng được làm ma vương, chẳng
được làm chuyển luân vương, chẳng
được thành thân Phật.
- Ngũ Chướng là lừa dối,
giải đăi, sân, hận, oán. Năm thứ này chướng
ngại Tín, Tinh Tấn, Niệm, Định và Huệ.
- Ngũ Chướng là năm thứ
gây chướng ngại cho tu đạo, gồm Phiền
Năo Chướng, Nghiệp Chướng, Sanh Chướng
(sanh vào chỗ hoạn nạn không thể yên tâm tu đạo,
hay nơi không có Phật pháp v.v…), Pháp Chướng (chướng
ngại do đời trước ngăn trở người
khác học Phật pháp, nên đời này chẳng gặp thiện hữu, chẳng được
nghe chánh pháp, hay dẫu gặp Phật pháp mà chẳng tin, chẳng hiểu, chẳng ưa thích nghe), và
Sở Tri Chướng (đă gặp thiện hữu,
được nghe chánh pháp, nhưng do nhiều nhân duyên,
đôi bên chẳng ḥa hợp, hoặc cậy vào kiến giải,
tự phụ thông minh, hiểu sai lệch Phật pháp).
[36] Tam Minh: Túc Mạng Minh, Thiên Nhăn Minh, và Lậu Tận Minh.
[37] Chế Để (Caitiya,
Chaitya-griha) theo nghĩa rộng là đền thờ, thánh
đường, hoặc nhà nguyện tại Ấn Độ.
Trong Phật giáo, Chế Để thường dùng để
chỉ tháp thờ Phật và ṿm cổng dẫn vào tháp thờ.
Tại Ấn Độ, Chế Để thường
dùng để chỉ cả một công tŕnh thờ phụng,
mà tháp thờ (Stupa) chỉ là một phần của
Chế Để.