Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 1

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

Lời trần t́nh

 

          Từ thuở mới tập tễnh t́m hiểu Phật pháp, khi đó, vào khoảng năm 1978, mạt nhân được đọc Di Đà Yếu Giải do cụ Tuệ Nhuận dịch nơi nhà một người bạn, tuy chẳng hiểu phần lớn nội dung, nhưng mạt nhân rất ngưỡng mộ trí huệ uyên thâm của tổ Ngẫu Ích, nhất là khi biết Ngài chỉ hoàn thành tác phẩm ấy trong chín ngày, luôn ao ước được đọc nhiều trước tác của Ngài hơn, dẫu cho tới nay, tuy đọc Yếu Giải nhiều lần, vẫn phải xót xa thừa nhận căn cơ của chính ḿnh quá tệ, chỉ hiểu đôi chút văn tự trong tác phẩm ấy, chứ đối với cảnh giới trác tuyệt trong Di Đà Yếu Giải, hoàn toàn chẳng mộng thấy được! Do nhân duyên chuyển ngữ sách Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ, mạt nhân được may mắn quen biết anh Minh Tiến. Tuy chỉ quen nhau qua thư từ, anh sốt sắng giúp t́m kiếm và gởi cho hai bộ sách cực quư Ấn Quang Đại Sư Văn Sao (Chánh Biên, Tục Biên, Tam Biên, Tinh Hoa, Gia Ngôn Lục) và Linh Phong Tông Luận, cũng như tận tụy giúp giảo duyệt các bản chuyển ngữ, góp ư những chỗ mạt nhân hiểu sai, dẫu anh cũng bận bịu trăm công ngàn việc. Ấn Quang Văn Sao đă được chuyển ngữ hơn mười năm trước, nhưng đối với Linh Phong Tông Luận, do căn cơ của chính ḿnh quá thấp kém, văn phong của tổ Ngẫu Ích lại quá súc tích, cô đọng, Sự lẫn Lư đều hết sức phức tạp, mạt nhân vẫn chẳng dám đụng đến. Hằng ngày, nh́n bộ sách Linh Phong Tông Luận phủ bụi trên kệ sách, lại cảm thấy hổ thẹn vô ngần, cảm thấy ray rứt v́ đă phụ ḷng yêu mến, thương tưởng của anh Minh Tiến, cũng như sự trợ giúp vô điều kiện của các vị thiện hữu Vạn Từ, Đức Phong, Huệ Trang các vị liên hữu khác gần xa luôn sách tấn. Chờ măi mà không thấy ai chuyển ngữ bộ sách này, lại nghĩ thiều quang chẳng đợi ai, sau khi thỉnh ư anh Đức Phong, vâng theo lời anh khuyên nhủ, mạt nhân đánh liều chuyển ngữ bộ Tông Luận này với hy vọng do bản chuyển ngữ thô vụng của chính ḿnh, sẽ đánh động bậc thức giả xót thương cho sự ngu hèn của mạt nhân mà dịch lại một bản hoàn chỉnh, chính xác hơn.

Nếu việc làm liều lĩnh này có chút công đức hay phước đức nào, đều xin hồi hướng cho sư trưởng, phụ mẫu hiện tiền và quá khứ, oán thân trái chủ nhiều kiếp, các vị thiện hữu kể trên, các liên hữu gần xa và pháp giới chúng sanh đều được ân triêm phước lạc, đạo nghiệp tăng tấn, phước huệ tăng long, cùng nhau hội ngộ dưới đài sen của đức Di Đà. Nguyện cầu thế giới ḥa b́nh, chiến tranh chấm dứt, tai ương, dịch bệnh tiêu trừ, dân chúng an cư lạc nghiệp, Phật pháp được lưu truyền rộng răi, các Phật tử giữ vững chánh tín, chẳng mê muội tin theo các tà thuyết dị kiến đang lưu hành trong Phật môn hiện thời.

Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa đê đầu kính bạch

 

* Lời tựa cho bộ Tông Luận của Linh Phong Ngẫu Ích đại sư

 

          Phật pháp chẳng có chi khác, chỉ là sự thật mà thôi! Chư Phật thuyết pháp thường nương theo Nhị Đế, Nhị Đế chính là Tam Đế, tức là Tứ Đế, tức là hết thảy các Đế, tức là Nhất Đế, tức là Vô Đế[1]. Nhị Đế là như thế, các Đế cũng thế, là pháp sẵn có trong tự tâm, là cảnh giới sở hành chẳng thể nghĩ bàn, đều chẳng thể nói được; nhưng có nhân duyên th́ cũng có thể nói. Nói tóm lại, sự thật chẳng thể nói, hay sự thật không ǵ chẳng thể nói, chỉ như thế mà thôi! Chẳng thấy được điều ấy th́ chẳng dạy, chẳng dạy th́ hạnh sẽ chẳng do đâu mà dấy lên được, lư chẳng do đâu mà hiển lộ được, quả sẽ chẳng do đâu mà đạt được! Ngôn thuyết như thế đều là nói ṃ! Thấy được điều ấy th́ sẽ là giác ngộ chân thật, có giáo, có hạnh, lư, quả. Nói năng như thế, sẽ đều là diệu pháp. Nay Chánh Pháp và Tượng Pháp đă xa, cớ sao đời Mạt có lắm ngôn thuyết đến thế? Hoặc là do kiến Đế chưa toàn vẹn bèn xen tạp, những điều trúng sẽ như ma-ni ở giữa ngói, sỏi, chẳng giấu được ánh sáng. Nếu chẳng đúng th́ chẳng khỏi một lời khiến thiên hạ lầm lạc muôn đời. Hoặc do kiến Đế chưa chuyên ṛng bèn chấp trước, hễ chấp nhận th́ cũng trở thành thuyết của riêng một phái. Hễ phủ định [sự chấp trước ấy], sẽ chẳng có đồng, dị, hay chính giữa. Nếu thấy là đồng hay dị, chẳng khỏi đọa vào vết xe đổ “chia sông để uống nước!” Hoặc do kiến Đế chưa thần diệu mà chấp vào dấu tích, bèn chèn ép, đề cao, kiến lập, hay trừ sạch. Nói chung, chẳng thể tháo niêm, cởi trói cho người khác được, chẳng thể chữa lành căn bệnh trầm kha ắt chết, kim vàng[2] chẳng nắm trong tay. [Do vậy], mỗi lời [thốt ra] đáng lẽ khiến cho mắt sáng, nhưng lời nào cũng khiến cho màng mộng nơi mắt dày thêm! Thấp hơn nữa là [các ngôn luận] tuy rộng răi mà xen tạp, thật sự hoàn toàn chẳng trúng một điều ǵ, hư luận mà thôi! [Hoặc ngôn luận] lệch lạc mà ngỡ như chuyên ṛng, thật sự chẳng phải là chuyên gia, chỉ là pháp đấu đá! Hoặc ngỡ rắn là rồng, [nào ngờ ngôn thuyết ấy chỉ là] trộm lấy sự thần diệu, chẳng phải là độc đáo, mà là phường dối gạt đó thôi!

Xưa kia, Ma Vương hại Phật chẳng được, thề rằng: Tôi sẽ trong đời sau, vào trong Phật pháp, phá hoại Phật pháp”. Đức Phật bảo: “[Chẳng cần ngươi phá hoại mà Phật pháp] tự hoại!” Pháp có thể hoại đấy nhé! Nh́n vào đó, kẻ bậc hạ chẳng đáng bàn tới, luận theo bậc thượng, nếu kẻ nào đối với tự lợi mà chưa nhập viên môn, lợi lạc người khác, sao khỏi phạm thói tệ? Lẽ được mất thường chẳng có đầu mối, lợi hại ngấm ngầm dựa dẫm lẫn nhau. Muốn xé rách tấm lưới lớn, khiến cho chúng sanh trong đại địa đều quay về chỗ to lớn, nếu chẳng có người như vậy, chỉ có một cách khiến cho đạo pháp chẳng bị luống uổng chính là dùng ngôn giáo của Linh Phong Ngẫu Ích đại sư. Ngài đă triệt ngộ toàn thể tâm tánh, lại thâm nhập nguyện luân chẳng nghĩ bàn, trong hết thảy mọi lúc, hết thảy mọi chốn, đều cùng vận dụng bi và trí, giải lẫn hạnh dung thông, thật sự chẳng có một pháp để có thể đắc. Do vậy, tuy chẳng có môn đ́nh cao ngất, nhưng thật ra, chẳng có pháp nào không thông, không hoàn bị! Do vậy, âm vang chẳng bị tường vách cách ngăn! Ngài nêu tỏ Tam Học, một mực dùng “toàn tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh” làm tông thú. Toàn tánh khởi tu th́ chẳng Thật nào không phải là Quyền. Toàn tu nơi tánh th́ chẳng Quyền nào không Thật. Chẳng Thật, chẳng Quyền, mà là Quyền, là Thật, riêng khế nhập Pháp Thân hướng thượng, há chẳng phải riêng ḿnh Ngài đă mở ra môn học muôn đời sắp tuyệt diệt đấy chăng?

Đă từng luận định rằng, Tam Học của đại sư chính là một đại sự: Chân Luật, chân Giáo, chân Thiền, vừa khéo là Luật, Giáo, Thiền trong tâm ta, lại c̣n khít khao là Luật, Giáo, Thiền của các đức Phật Thế Tôn thuở trước. Sư chưa từng có một lời. Do chưa từng có một lời, cho nên chẳng xen tạp. Luật đă là chân luật, Giáo lại là chân giáo, há có đồng dị ǵ nữa? Há có Đại, Tiểu ư? Có Luật nào chẳng phải chính là Giáo, là Thiền? Có Giáo nào chẳng phải chính là Luật, là Thiền? Thiền đă là chân Thiền, há phân chia Phật hay Tổ? Há c̣n có tông chi ǵ nữa? Có Thiền nào chẳng phải chính là Luật, chính là Giáo ư? V́ vậy, do chỉ là tinh ṛng cho nên chẳng chấp, không ǵ chẳng phải là Sự Sự vô ngại pháp giới, là Vô Tránh tam-muội. Hễ nói “chẳng thần diệu” là v́ xen tạp và chấp trước. Chẳng xen tạp, chẳng chấp, tức là chẳng tự lập tông. Chẳng tự lập tông, ắt sẽ tung hoành biến hóa, sẽ là vật chẳng có ngằn mé! Do vậy, lời lẽ của Sư hoàn toàn vượt ngoài khuôn sáo, nhanh chóng trị bệnh tận gốc, một mực quy vào lẽ nghiêm trang, chánh đáng, như lễ nhạc thời Tam Đại Đường Ngu[3], chẳng động can qua mà thiên hạ thái b́nh!

Người hiểu biết cho rằng: Từ thời Mạt Pháp tới nay, bậc dựng tràng pháp lớn, gióng trống pháp lớn, pháp vị thuần túy, b́nh đạm, đạo sáng ngời, chỉ có ḿnh Sư đó thôi! Sư khai diễn trọn hai trí[4], lập hai thuyết rộng, lược, bốn câu kệ chẳng phải là ít, lập thuyết đến nỗi sách biên chép [nhiều tới mức] trâu kéo toát mồ hôi, chất đống cao đến tận rường nhà cũng chẳng phải là nhiều! Các tác phẩm ngoài các bản sớ giải của Sư có bảy bộ, nay gom lại, hợp thành một bộ sách hoàn chỉnh, dựa theo thể tài để phân loại. Những trước tác ở ngoài bảy tập bản cảo ấy vốn được lưu hành riêng, nay cũng theo thứ tự mà thâu thập. Xét theo Tam Tạng, phàm những soạn thuật của các vị cao tăng đều được xếp vào A Tỳ Đàm Luận Tạng, gồm hai loại:

1) Chuyên giải thích một kinh th́ gọi là Thích Luận.

2) Khái lược những điều cốt lơi trong mười hai bộ loại của kinh, tự tạo thành danh từ, câu văn, th́ gọi là Tông Luận.

Nay tôi gom phần Thích Luận hợp thành Linh Phong Chư Sớ, c̣n bảy tác phẩm đều gộp chung thành Tông Luận, hợp thành một tập lớn, chia thành ba mươi tám quyển nhỏ[5]. Than ôi! Thành Thời[6] là kẻ chẳng ra ǵ, thuở lăo nhân tại thế, tôi chẳng thể thật sự học bất tư nghị đế, như kẻ say thấy nhà quay tṛn. Nay bậc triết nhân tuy đă khuất bóng, di thư hăy c̣n, dám đâu chẳng tự nỗ lực dùi mài ḥng báo ân thầy trong muôn một, cũng mong những ai gặp được sách này sẽ đừng ĺa văn tự mà nói giải thoát, cũng đừng do văn tự mà quên bẵng vầng trăng chân thật, chỉ nhờ vào đấy mà kiến Đế, cùng vượt thoát “tức, ly”, khế nhập trọn vẹn tự tâm chẳng xen tạp, gồm thâu trọn vẹn vạn pháp chẳng chấp, nói trọn vẹn “viên mẫn”[7] chẳng có dấu tích. Trăm ngàn đời sau, ắt có người như thế, Thành Thời nguyện xả trước thân mạng này để cúng dường [người ấy], ḥng khỏi nhọc ḷng nữa! Phàm ngôn thuyết mà do suy lường, toan tính để lập ra, th́ cũng có thể dùng suy lường, toan tính để thông đạt! C̣n như do nghiên cứu chu đáo rồi thấu đạt cao sâu[8], chẳng dính dáng tới nghĩ bàn, mà chẳng do chân Văn rồi khởi Tư, Tu, sẽ mắc lỗi xen tạp, hoặc chấp trước, hoặc vướng vào dấu tích, vẫn là ngấm ngầm suy lường, toan tính mà chẳng hay biết. Thành Thời nguyện muôn đời trong thiên hạ, hễ có ai gặp được sách này, do học rộng, suy xét, suy nghĩ thận trọng, sẽ dốc sức thực hành. Viết thêm hai ngày sau khi chép tự truyện [của tổ Linh Phong Ngẫu Ích]. Môn nhân Thành Thời trăm lạy kính soạn.

 

* Phần Tự Thuyết[9] của Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (có tiểu dẫn)

 

          Thành Thời biên tập bảy cảo bản của lăo nhân đă xong, có viết lời tựa chung trần thuật đại ư; ngày hôm sau, bèn viết phần Tự Thuyết. Do nói tới những điều riêng biệt, cho nên chẳng gộp [những điều được nói trong phần này] vào lời Tựa, lại do [những điều ấy] chẳng thuộc vào các khoa mục, cho nên chẳng soạn phần Phàm Lệ. [Phần Tự Thuyết này] bao gồm mười lăm đoạn.

Đạt Ma đại sư đă quở trách thói tệ chuyên đuổi theo danh tướng, tận lực v́ người học nói rơ điều cốt lơi, nhưng câu nói “chẳng lập văn tự” lại trở thành nỗi chấp trước của kẻ chẳng hiểu tông chỉ. Chấp trước đă lâu, do cuồng mà thành si! V́ vậy, Vĩnh Minh đại sư mở toang giáo nhăn, dùng Tông Kính Lục[10] để dạy rơ. Cho tới ngài Tịch Âm (Giác Phạm Huệ Hồng)[11] lại nói Văn Tự Thiền, mà Tử Bách đại sư là Tịch Âm tái lai, ngài Hám Sơn bèn thẳng thừng đặt tựa đề cho toàn thư của ngài Tử Bách là Tử Bách Tập. Tác phẩm biên tập của ngài Hám Sơn phong phú nhất, nhưng chưa được lưu truyền, riêng ngài Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu[12] khế hội ư của Hám Sơn đại sư, cũng tự đặt tựa cho tác phẩm của Ngài là Tử Trúc Lâm Tập. Đó là nỗi khổ tâm tha thiết của các vị nhằm răn trừ cái họa “chẳng nghe [kinh điển]”, cứu văn thói tệ “chẳng lập văn tự”. Tôi trộm sợ rằng phong cách ấy đă thịnh hành, phàm là sa-môn vừa hơi chiếm được danh vọng trong cơi đời đều toan dùng văn chương để khoe mẽ. Hễ văn chương hưng thịnh, ắt đạo cũng suy. Hăy thử xem Nho gia thời Đường - Tống, phần nhiều dùng văn tự để nổi danh, xưng là bậc trước tác, đúng là nỗi nhục v́ hạn cuộc môn đ́nh, há Thích tử lại noi theo vết xe đổ ấy ư? V́ thế, tuy lăo nhân đối với bảy tác phẩm ấy phần nhiều tự đặt tựa đề là Tập, nhưng nay tôi chẳng dám dùng danh xưng Tập để lưu hành, nhưng cũng chẳng dám đổi Tập thành Lục, v́ sao vậy? Nay ngữ lục của chư tổ đầy ắp cơi trần, lăo nhân hễ nhắc đến đều đau ḷng, tuôn huyết lệ. Do vậy, cũng chẳng dám gọi là Lục!

Xưa kia, Vương Dương Minh thuở sanh tiền, có Truyền Tập Lục và mấy quyển phụ lục lưu hành trong cơi đời. Ông mất rồi, [môn đệ soạn tập di trước], t́m được mấy tập sách ngoài bộ sách ấy. Sau đó, các vị như Hoa Đ́nh, Tân Kiến sợ người học chẳng thể đọc trọn hết, bèn biên tập thành toàn thư để lưu truyền. Tác giả chẳng có ư lưu hành những lời ấy, nhưng trải qua năm tháng, do được lưu truyền khắp nơi, tiếp người độ vật, huyễn hiện thành văn từ đầy đủ oai thế, chẳng thể nào khác; đó là chuyện lâu dài vậy! Nếu sách chẳng trọn vẹn, đạo cũng chẳng nêu tỏ, lời lẽ đă trở thành rải rác, ắt cũng chẳng được lưu truyền mạnh mẽ. Vua thánh, tôi hiền [nếu mong] t́m ṭi để lưu giữ nơi cung cấm, sẽ đều chẳng có đầu mối để tuân theo. Nếu có người kết hợp lại thành một tác phẩm trọn vẹn, do sợ rằng đánh mất diện mạo cũ, cho nên nói khởi đầu th́ không thể nào chẳng tách ra, đến cuối cùng, chẳng thể nào không hợp lại, t́nh thế ắt phải như vậy. Nay tôi tập hợp bảy cảo bản thành một, khiến cho hải ấn của vị trước tác được hiển hiện sáng ngời, người đọc sẽ như nh́n vào phiến gương xưa gồm thâu trọn vẹn, ngơ hầu khi triều đ́nh t́m ṭi, sao lục, sẽ chẳng vướng nỗi lo ngại [trước tác của tổ sư] bị rơi rớt, tàn khuyết.

          [Sở dĩ] chỉ chia thành mười quyển lớn là để tránh rườm rà, nhưng trong mỗi quyển, lại chia thành các quyển con để dễ tạo thành sách. Văn từ được chia theo từng loại để tạo thuận tiện, chẳng dựa theo thể tài của văn chương[13]. Người chỉ nh́n vào văn từ sẽ mê muội đạo, hăy do văn từ mà hiểu đạo. Thấu đạt văn từ th́ sẽ chứng đạo. Chứng đạo rồi mới biết văn chẳng có Thể!

          Năm Mậu Tư (1648), kẻ hèn này mới được gặp đại sư. Một hôm, Sư nh́n tôi, bảo: “Năm xưa, ta thường mong tưởng khôi phục giới pháp tỳ-kheo, mấy năm gần đây, thường niệm mong cầu Tây Phương mà thôi!” Thành Thời hết sức kinh hăi, sao [đại sư] không tận lực khôi phục quy củ thơm thảo thuở đức Phật? Lâu ngày mới biết: Sư thuở tại gia đă phát đại Bồ Đề nguyện làm gốc, xuất gia bèn một dạ xiển dương tông thừa. Sau khi đại ngộ ở Kính Sơn, thấy thấu triệt căn bệnh của Thiền nhân trong thời cận đại, trọn chẳng phải là không có chánh tri kiến, chẳng phải do nhiều tri kiến, mà là do chẳng tôn trọng Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimokṣa, Biệt Giải Thoát giới luật), chứ không phải do chấp giới tướng. V́ thế, Ngài xóa một chữ Thiền, tận lực dùng giáo giới để khuông cứu (匡救, phù trợ, cứu văn), hết sức mong mỏi có năm vị tỳ-kheo đúng như pháp để cộng trụ, khiến cho chánh pháp lại được hưng thịnh. Sau này, do chắc chắn chẳng thể được, bèn một dạ về Tây, mong nương theo bổn nguyện luân, cậy vào chư Phật lực ḥng trở lại cứu bạt. C̣n như Ngài tùy thời trước thuật, dốc cạn sức giảng diễn, đều nhằm gieo chủng tử viên đốn cho kẻ hữu duyên, chẳng phải là chí nguyện ban đầu mong cho chúng sanh trong pháp giới đều cùng lúc thành Phật, thẳng thừng tương ứng, thái b́nh vô sự vậy!

          Có kẻ riêng chuộng Phật pháp nhanh chóng, có kẻ chuộng tinh tế, kẻ thích nhanh chóng hay tinh tế đều có sự ưa thích riêng. Nếu chỉ luận định theo sự nhanh chóng, ắt sẽ phạm lỗi thô thiển, c̣n [đàm luận theo] sự tinh tế, ắt sẽ phạm lỗi quá vặt vănh! Dẫu cao minh, chẳng dám mê muội cương tông, chẳng dám khinh danh tướng. Nhưng đối với cương tông mà chỉ hiểu là cương tông, đối với danh tướng chỉ hiểu là danh tướng, trọn thành cái học thế tục. Nếu có thể biết “chẳng phải là cương tông, chẳng phải là danh tướng”, sẽ lập tức vượt khỏi hai chứng bệnh thô thiển và vặt vănh, dẫu là kẻ cầm roi đánh xe (ư nói thân phận hèn kém) mà được người khác ưa thích, ngưỡng mộ vậy!

          Nếu chính ḿnh là kẻ chẳng ngộ Viên Tông, chẳng thể tùy thuận tu học biển nguyện của chư Phật, chẳng biết “không chân thật phát đại Bồ Đề tâm, hết thảy sẽ đều thành sự hiểu biết hư dối”, dẫu có chí v́ sanh tử, ắt cũng vào trong cảnh giới quyền biến cong vạy của Tiểu Thừa. Nếu hoàn toàn chẳng có chí ấy, chắc chắn sẽ thành Tu La, ngoại đạo, há c̣n ngờ chi! Lăo nhân suốt đời đối trước Tam Bảo trong pháp giới, v́ chúng sanh trong pháp giới mà ân cần phát nguyện. Nay một quyển nguyện văn thẳng thừng hiển thị cảnh giới chẳng nghĩ bàn, đúng là vô thượng đề hồ. Tôi thấy có kẻ ghét bỏ, cho là rườm rà, có người tán thán, đọc các bài văn ấy mà run sợ, có người cảm động khóc ṛng, nhưng vẫn chưa thẳng thừng gánh vác triệt ngộ tánh tu. Than ôi! Có chân pháp nào chẳng dễ đọc như thế ư? Khi Ngài c̣n là đứa bé, đă kính cẩn đốt bốn mươi tám lọn hương trên cánh tay, v́ khắp chúng sanh trong pháp giới b́nh đẳng cúng dường đấng Nguyện Vương cơi An Dưỡng. Cầu xin các bài văn phát nguyện của thầy tôi, sẽ làm Phật sự lớn lao trong hết thảy các thế gian. Nguyện người gặp được sẽ dấy lên cảm xúc dạt dào, triệt ngộ chư Phật chính là bản tánh nơi tự tâm, ngơ hầu chẳng đến nỗi khiến cho hết thảy nguyện vương chẳng do lâu ngày bèn bị ch́m đắm trong cơi dị sanh.

          Một môn Tịnh Độ quả thật chỗ để cùng hướng về của người tham Thiền, học Giáo, tŕ giới. Cơi Tịch Quang của Phật Di Đà chính là lư trí nơi tự tâm. Do chẳng ngộ, nên mới ngang ngược nẩy sanh tà kiến, kiêu mạn. Người hiểu biết chấp nhận bị chê cười, đọc Tông Luận mà may mắn triệt để lănh hội th́ vô biên pháp tạng sẽ đều một mực thấu suốt, như “gậy phang kẻ đầu đá, bồm bộp luận sự thật; ông già tám mươi vào trường, chẳng phải trẻ nít đùa bỡn”[14], chính là nói về điều này vậy!

          Kẻ học Phật mà lệch lạc, sai lầm đều do chấp tâm ở ngoài pháp, [cho rằng] diện mục sẵn có trong cơi đời chính là hướng thượng nhất trước[15]. Chấp trước điều đó, ắt sẽ thành kiến chấp Ác Thủ Không. Đức Phật bảo bệnh ấy chẳng thể cứu được! Kinh Viên Giác răn “chớ chấp trước viên giác”, sách Đại Thừa Chỉ Quán răn “hăy quán Chân Như trước”, chư Tổ quở trách sâu xa “tà Thiền, ám chứng”[16], đều do ư này. Nay bộ luận này dạy cái tâm Đệ Nhất Nghĩa viên diệu, sáng sủa, thống khoái, ngàn đời chưa từng có. Người đọc hăy suy nghĩ kỹ, quán sâu chắc, mỗi chữ đều gỡ trói buộc, mỗi lời đều phá chấp, may ra sẽ đạt được!

          Tiên sư tự hành, bất quá phá trừ tri kiến lưu hành trong cơi tục. Đối với một niệm hiện tiền, liễu đạt hết thảy các pháp mà thôi! Trong phần pháp ngữ, Ngài cũng chỉ dùng chuyện này để mổ xẻ tim gan, dốc sạch gan ruột, ḥng nêu tỏ một niệm nhỏ nhoi! Phần Tục Tập, nghệ dư[17] lại càng tường tận, hai tấm da nơi mặt trống đă lâu[18]. Chỉ giác ngộ lời này, thần thức đă sáng suốt tột cùng. Tuy nhiên, dẫu chẳng hiểu th́ cũng thành đề tài để đàm luận, dẫu có hiểu th́ cũng chẳng ngoài lời lẽ. Tuy tôi chẳng dám nói là có lời ấy, mà càng chẳng dám nói là không có lời ấy![19]

Trong các lá thư thuộc phần Pháp Ngữ, đối với các vị nổi tiếng hay quan to, tôi tuân theo nguyên cảo của đại sư, chỉ ghi tên họ, nhất loạt chẳng viết các [tước vị hay danh hiệu] tôn xưng, do đời Mạt Pháp, đạo th́ Tăng thể ngày một kém hèn, chuyên chú trọng tranh nhau xin xỏ tước hiệu. Thế tục th́ ngă tướng ngày càng nặng nề, rốt cuộc trọn khó thấy thấu suốt phù vân! Đôi đằng đều là cội gốc sanh tử, đối với đạo, khác nào một trời một vực! Nếu ai nấy chẳng vun bồi đức dày, sao có thể cùng quạt ngọn gió chân thật? Nay tôi chỉ coi trọng t́nh nghĩa nơi đạo ḥng phù hợp ḷng mong mỏi của trời rồng hộ pháp đó thôi!

          Đối với những thuyết ẩn tàng của đạo Nho, nếu chẳng khế hợp sâu xa Pháp Hoa tam-muội và Sự Sự vô ngại pháp giới của Hoa Nghiêm, sẽ chẳng dễ nêu bày, khéo t́m ṭi trọn hết lẽ đồng dị để gộp vào Nhất Thật, trăm ngàn năm qua, chỉ có ḿnh đại sư [làm được như vậy] mà thôi! Sau Khổng Tử, Nhan Tử, Văn Trung Tử[20], ông Vương Dương Minh ở ẩn, hiển lộ thanh nhàn, Ngẫu Ích Tử kế thừa, xiển dương, khai hiển to lớn mối đạo. Xét tới thời nghi, đúng chẳng phải là ngẫu nhiên! Từ nay trở đi, đối với chúng ta, gần như chân lư đă đạt tới cùng cực, quy nạp vào chỗ cùng cực rồi! Tuy vậy, ngài Ngẫu Ích đă bảo: “Hành chẳng khó, biết mới khó hơn”, dám thưa [cùng các độc giả như vậy]!

          Đạo trung hiếu đạt tới địa vị Phật mới là tột bậc. Kẻ chẳng biết sự cùng tột ấy, hoặc dùng lập luận thương yêu thường t́nh hoặc sách vở thế tục để phán định, rốt cuộc trở thành “chẳng có vua, chẳng có cha”, hoàn toàn trái nghịch lời dạy chân thành nơi miệng vàng (lời dạy của đức Phật). Hoặc lại dựa theo “chí đức, yếu đạo” [của Nho gia] để gồm thâu, lại đọa vào hữu lậu, hữu vi, hoàn toàn trái nghịch khuôn phép xuất thế chánh đáng, trái nghịch, lầm lạc đại sự đă lâu. Đọc Tông Luận, chỉ cốt sao vận dụng tột bậc, đừng chú trọng câu nệ! Hễ câu nệ, sẽ thành có “lấy, bỏ”. Chẳng câu nệ, sẽ gồm thâu! [Đối với bổn phận] làm con, làm bầy tôi, làm em, làm bạn, Khâu chưa thể trọn được một điều nào[21]! Than ôi! Một đại sự đă tỏ rạng, dung hội về một từ lâu rồi!

          Tiên sư trước thuật, ngoài Tông Luận, c̣n có Thích Luận gồm A Di Đà Yếu Giải (một quyển), Chiêm Sát Huyền Sớ (ba quyển), Lăng Già Nghĩa Sớ (mười quyển), Vu Lan Tân Sớ (một quyển), Đại Phật Đảnh Huyền Văn (mười hai quyển), Chuẩn Đề Tŕ Pháp (một quyển), Kim Cang Phá Không Luận, phụ lục Quán Tâm Thích (hai quyển), Tâm Kinh Lược Giải (một quyển), Pháp Hoa Hội Nghĩa (mười sáu quyển), Diệu Huyền Tiết Yếu (hai quyển), Pháp Hoa Luân Quán (một quyển), Trai Kinh Khoa Chú (một quyển), Di Giáo Giải (một quyển), Phạm Vơng Hợp Chú (tám quyển), cuối sách có kèm thêm cách thọ giới và học giới, Phạm Vơng Sám Pháp Vấn Biện (gộp chung thành một quyển), Ưu Bà Tắc Giới Kinh Thọ Giới Phẩm Tiên Yếu (một quyển), Yết Ma Văn Thích (một quyển), Giới Bổn Kinh Tiên Yếu (một quyển), Tỳ Ni Tập Yếu (mười bảy quyển), Đại Tiểu Tŕ Giới Kiền Độ Lược Thích (một quyển), Giới Tiêu Tai Kinh Lược Thích (một quyển), Ngũ Giới Tướng Kinh Lược Giải (một quyển), Sa Di Giới Yếu (một quyển), Duy Thức Tâm Yếu (mười quyển), Bát Yếu Trực Giải (tám quyển), Khởi Tín Liệt Vơng Sớ (sáu quyển), Đại Thừa Chỉ Quán Thích Yếu (bốn quyển), Đại Bi Hành Pháp Biện Ngụy (một quyển), kèm thêm Quán Tưởng Kệ Lược Thích, Pháp Tánh Quán, Sám Đàn Quỹ Thức (ba loại), Tứ Thập Nhị Chương Kinh Giải (một quyển), Bát Đại Nhân Giác Kinh Giải (một quyển), Chiêm Sát Hành Pháp (một quyển), Lễ Địa Tạng Nghi (một quyển), Giáo Quán Cương Tông Tịnh Thích Nghĩa (hai quyển), Duyệt Tạng Tri Tân (bốn mươi bốn quyển), Pháp Hải Quán Lan (năm quyển), Chiên San Lục (một quyển), Tuyển Phật Phổ (sáu quyển), Trùng Đính Chư Kinh Nhật Tụng (hai quyển), Châu Dịch Thiền Giải (mười quyển), Tịch Tà Tập (hai quyển). Tổng cộng bốn mươi bảy loại (tàng bản đều được cất tại chùa Lăng Nghiêm thuộc phủ Gia Hưng). Đó chính là mục lục của hai bộ luận (Tông Luận và Thích Luận) của tổ Linh Phong (Đại Kư Minh Chú Hành Pháp và Tứ Thư Ngẫu Ích Giải chưa được lưu hành).

          Đối với toàn thể bộ Tông Luận, có thể lấy riêng phần ca ngợi giới trong ấy làm thành sách giảng về Giới Ba La Mật, phần tán dương Tịnh Độ có thể lấy riêng làm sách chỉ nam cho bí tạng, hoặc gộp cả hai phần trên đây để tạo thành một sách riêng [khiến cho người đọc] chẳng hiểu lầm nhân quả, vừa có thể tận thiện lại tận mỹ, có lợi to lớn, chẳng có điều hại, nhưng do chưa rảnh để khắc in riêng, nên ghi thêm vào đây!

 

* Tự truyện của Linh Phong Ngẫu Ích đại sư (trước sau có ba đoạn do môn nhân ghi kèm thêm để tạo thành một bài)

 

          1) (Suốt đời tiên sư chưa hề xin tăng hay tục một chữ nào[22]. Không chỉ là Phật pháp khó nói, biết chính ḿnh khó đạt được, mà cũng là do Ngài đă thấy thấu suốt thói xấu ưa chuộng hư danh, tự ḿnh nêu gương khiêm hạ. Khi Ngài về Tây, răn nhắc [đồ chúng] đừng xin lời[23], chỉ tăng thêm hư dối, lầm lạc. Than ôi! Ngài giữ tiết tháo trong sạch dường ấy. Trị mạng[24] như thế đó, nào dám chẳng tuân theo! Nay khắc in một bài tự truyện của lăo nhân, bèn trần thuật ư ấy ở đầu bài vậy. Môn nhân Linh Thịnh kính lạy).

          2) (Mùa Thu năm Nhâm Th́n (1652), tiên sư quyết chí ẩn cư, Tăng, tục can ngăn chẳng được, bèn thỉnh Ngài thuật lại quá tŕnh hành cước[25]. Mùa Đông, Ngài nghỉ tại chùa Doanh Tuyền ở Trường Thủy, nghĩ hành cước chưa tận hết, bèn thuật lại truyện ấy. Mùa Xuân năm Quư Tỵ (1653), Sư sang đất Cổ Ngô, có hai ba người bạn cũ của lăo nhân có nói tự truyện đă ẩn danh, vậy th́ tông phổ, pháp hiệu chớ nên nêu ra, hoặc nói tâm hạnh, dấu tích cả một đời th́ có thể trần thuật [v́ ai cũng thấy], chứ những chuyện như cảm ứng trong mộng v.v… sợ rằng sẽ bị chê trách là tự đặt chuyện. Lăo nhân bật cười, cảm khái sửa lại, lược bớt. Khi đó, [văn bản của tự truyện] từ Cổ Ngô truyền tới Lưu Đô, so với bản tại Trường Thủy có vài chỗ bất đồng. Sau đó, Kiên Mật Tử Thành Thời cho rằng bản tự truyện chưa thâu thập trọn hết trước thuật của Ngài, xin hăy bổ sung. Do vậy, trao cho thầy ấy bản lưu tại Cổ Ngô, lại tăng thêm mấy câu. Nay đồng môn cho khắc in lưu truyền, sai Nam cân nhắc các chỗ giống nhau hay khác biệt. Nam nghĩ lăo nhân suốt một đời khổ tâm, chỉ có Phật, Tổ biết được, chứ những người khác khó thể biết! C̣n như những tác phẩm chưa được truyền thuật khiến cho hậu duệ được nghe, đấy chính là pháp môn Tứ Hoằng, biển thệ nguyện trọn khắp ba A-tăng-kỳ, chắc là theo lệ cổ nhân mà tự truyền riêng đấy chăng? Tôi cho rằng hăy nên vâng theo bản chép tại Doanh Tuyền, chiếu theo bản văn đă được bổ sung lần thứ ba, chẳng ngại kiểm chứng những chỗ sai sót, ngơ hầu ngày một tốt lành hơn, chép lại thành bản hoàn chỉnh như dưới đây. Môn nhân là Chiếu Nam kính lễ [thưa tŕnh]).

 

Bát Bất Đạo Nhân Truyện (lăo nhân đích thân viết lời b́nh ghép vào ba chỗ, lấy từ ư chỉ Bát Bất của Trung Luận và Bát Bất của kinh Phạm Vơng)

 

          Bát Bất đạo nhân là bậc dật dân[26] trong cơi Chấn Đán (Trung Hoa). Cổ nhân có Nho, có Thiền, có Luật, có Giáo, đạo nhân chẳng dám nối gót, nay cũng có Nho, có Thiền, có Luật, có Giáo, đạo nhân lại hoàn toàn chẳng giống họ[27]. V́ thế, lấy tên là Bát Bất. Ngài họ ngoài đời là Chung (), tên là Tế Minh (際明), lại c̣n có tên là Thanh (), tự là Chấn Chi (振之). Tổ tiên là người xứ Biện Lương, thỉ tổ dời xuống miền Nam, sống tại trấn Mộc Độc (木瀆)[28], đất Cổ Ngô. Mẹ Ngài họ Kim. Do cha Ngài là Kỳ Trọng Công tŕ chú Bạch Y và chú Đại Bi suốt mười năm, mộng thấy Đại Sĩ tặng con mà sanh ra Ngài. Đó là năm Kỷ Hợi, tức năm Vạn Lịch 27 (1599), nhằm giờ Hợi ngày mồng Ba tháng Năm. Bảy tuổi, Ngài đă ăn chay, mười hai tuổi liền vào trường học, nghe thánh học (Nho học) liền tự coi đó là trách nhiệm ngàn đời, thề diệt đạo Thích, đạo Lăo, bắt đầu dùng rượu, thịt, viết mấy chục bài luận để quở trách “dị đoan”, mộng thấy gặp gỡ tṛ chuyện cùng Khổng Tử, Nhan Hồi.

Mười bảy tuổi, do đọc lời tựa bộ Tự Tri Lục và Trúc Song Tùy Bút [của tổ Liên Tŕ Châu Hoằng], bèn chẳng báng Phật nữa, đem đốt các bài luận chỉ trích Phật giáo. Hai mươi tuổi, Ngài chú giải Luận Ngữ, tới đoạn “thiên hạ quy nhân” chẳng thể viết tiếp, bèn bỏ ăn, bỏ ngủ suốt ba ngày đêm, đại ngộ tâm pháp của Khổng - Nhan. Mùa Đông, tang cha, nghe kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, phát tâm xuất thế. Hai mươi hai tuổi, chuyên dốc chí niệm Phật, đốt sạch hơn hai ngàn bài Song Cảo[29]. Hai mươi ba tuổi, nghe kinh Đại Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) nói “Thế giới ở trong hư không, hư không sanh từ Đại Giác” bèn nghi “v́ sao có đại giác ấy?”, cho rằng Không giới là căn bản, mờ mịt chẳng biết làm sao, chỉ có hôn trầm, tán loạn là nặng nhất, công phu chưa thể thành phiến. Do vậy, quyết ư xuất gia, ḥng suy xét thấu đáo đại sự.

Hai mươi bốn tuổi, Ngài mộng thấy lễ Hám Sơn đại sư, khóc hận duyên kém cỏi, gặp gỡ quá muộn màng! Sư bảo: “Đấy là khổ quả, hăy nên biết khổ nhân”. Nói chưa xong, Ngài đă vội thỉnh cầu đại sư: “Đệ tử chí cầu thượng thừa, chẳng mong nghe pháp Tứ Đế”. Đại sư bảo: “Cư sĩ đă có chí hướng thượng, tuy chẳng thể như Hoàng Bá, Lâm Tế, chỉ có thể như Nham Đầu, Đức Sơn[30], tâm lại chưa đủ”. Ngài tính hỏi tiếp th́ nghe có tiếng động bèn tỉnh giấc. Do vậy bèn nghĩ “cổ nhân há có cao, thấp? Mộng tưởng phân biệt hư vọng đó thôi!” Trong ṿng một tháng, ba lần mộng thấy ngài Hám Sơn, do đại sư ở tận Tào Khê, chẳng thể từ xa mà theo được, bèn xin thế độ (xuống tóc) với ngài Tuyết Lănh, được đặt pháp danh là Trí Húc (智旭). Ngài Tuyết Lănh chính là môn nhân của ngài Hám Sơn.

Mùa Hạ và Thu, Sư làm tạp vụ tại Vân Thê, nghe pháp sư Cổ Đức giảng Duy Thức Luận, vừa nghe liền hiểu rơ, nghi luận ấy mâu thuẫn với tông chỉ của kinh Đại Phật Đảnh, bèn thưa hỏi. Thầy bảo: “Hai tông Tánh Tướng chẳng ḥa hội”. Sư rất ngạc nhiên, há Phật pháp lại có hai ngả ư? Một hôm, Ngài hỏi pháp sư Cổ Đức: “Chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Lại như trung ấm nhập thai, do niệm khởi mà thọ sanh, dẫu nhanh chóng giác ngộ, làm thế nào để thoát?” Thầy bảo: “Nay ông nhập thai hay chưa?” Đạo nhân mỉm cười. Thầy bảo: “Nhập thai rồi đấy!” Đạo nhân im lặng. Thầy bảo: “Ông cho rằng nay chỉ có thân này thật sự từ lúc thọ thai mà có ư?” Đạo nhân toát mồ hôi đẫm lưng, chẳng thể hiểu rơ, bèn qua Kính Sơn tọa Thiền.

Mùa Hạ năm sau, do công phu tu tập cùng tột, thân, tâm, thế giới bỗng nhiên tiêu mất. Do vậy, biết thân này từ vô thỉ tới nay, sanh ra ở nơi đâu bèn diệt tận ngay tại đó. Chỉ là h́nh bóng do vọng tưởng kiên cố hiển hiện trong từng sát-na, niệm niệm chẳng trụ, đích xác chẳng do cha mẹ sanh ra! Từ đấy trở đi, đối với tánh, tướng hai tông, nhất loạt thấu triệt, biết chúng vốn chẳng mâu thuẫn, chỉ do tà thuyết của sư Giao Quang khiến cho mọi người hết sức lầm lạc! Ngay khi đó, hết thảy kinh luận, hết thảy công án, không ǵ chẳng hiện tiền, không ǵ chẳng tự giác ngộ. Ngài hiểu sự giải ngộ mà phô ra sẽ chẳng phải là thánh chứng, cho nên trọn chẳng nói với một ai. Lâu ngày, tâm địa rỗng rang, chẳng lưu lại dấu vết của một chữ nào!

Hai mươi sáu tuổi, Ngài thọ Bồ Tát giới. Hai mươi bảy tuổi, xem trọn khắp Luật Tạng, mới biết cả cơi đời chất chứa những nỗi sai lầm. Hai mươi tám tuổi, mẹ bệnh ngặt nghèo, Ngài bốn lượt cắt thịt bắp tay [làm thuốc dâng lên mẹ mà] chẳng cứu được, đau đớn thấu tâm can (đă ngộ thân này chẳng do cha mẹ sanh, v́ sao lại cắt thịt bắp tay cứu mẹ? Hăy tham cứu điều này). Tang ma xong xuôi, Ngài đốt bỏ bút nghiên, thề vào chốn non sâu. Đạo hữu là sư Giám Không giữ Ngài ở lại bế quan nơi Tùng Lăng. Trong khi bế quan, Ngài mắc bệnh nặng, bèn dùng công phu tham Thiền để cầu sanh Tịnh Độ. Ba mươi tuổi, Ngài xuất quan, triều bái khắp nơi. Khi qua Chung Nam, đạo hữu là Tuyết Hàng mong Ngài truyền Luật Học, giữ Ngài trụ lại Long Cư, Ngài mới soạn bộ Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu và Phạm Thất Ngẫu Đàm. Năm ấy, Ngài gặp hai người bạn là Tinh Cốc và Quy Nhất, được lợi ích nhiều nhất trong t́nh bạn tu tập. Ba mươi mốt tuổi, Ngài đưa Tinh Cốc tới Bác Sơn xuống tóc, theo thiền sư Vô Dị tới Kim Lăng. Quanh quẩn một trăm mười ngày, Ngài am hiểu trọn vẹn thói xấu trong Tông môn thời gần đây, bèn quyết chí hoằng Luật. Tuy hiểu Luật tinh tường, nhưng tập khí phiền năo mạnh mẽ, hành tŕ nhiều sai sót, Ngài bèn thề chẳng làm ḥa thượng (tam nghiệp chưa tịnh, lầm mang tiếng là “biết Luật”, nhưng danh quá sự thật. Đấy là nỗi hổ thẹn suốt đời của đạo nhân).

Ba mươi hai tuổi, Ngài tính chú giải kinh Phạm Vơng, bèn làm bốn cái thăm để thỉnh ư Phật. Một cái viết “đề xướng tông Hiền Thủ”, cái thứ hai viết “xiển dương tông Thiên Thai”, cái thứ ba ghi “đề xướng tông Từ Ân”, cái thứ tư ghi “tự lập tông”. Ngài nhiều lượt rút được cái thăm “tông Thiên Thai”. Do vậy, Ngài dốc ḷng nơi giáo nghĩa Thiên Thai, nhưng chẳng chịu làm con cháu của tông Thiên Thai, v́ trong cơi đời gần đây, tông Thiên Thai, cùng với Thiền Tông, Hiền Thủ, Từ Ân, ai nấy chấp trước môn đ́nh, chẳng thể ḥa hợp (người đương thời lấy tai làm mắt[31], đều nói đạo nhân chỉ riêng hoằng dương tông Thiên Thai, lầm mất rồi!) Mùa Thu năm Ngài ba mươi ba tuổi, hai người bạn là Tinh Cốc và Bích Như qua đời, Ngài mới vào Linh Phong[32] ở qua mùa Đông, để làm nhân duyên thỉnh Đại Tạng.

Ba mươi lăm tuổi, Ngài kiến tạo chùa Tây Hồ, soạn Chiêm Sát Hành Pháp. Ba mươi bảy tuổi, trụ tại Vũ Thủy, soạn Giới Tiêu Tai Lược Thích, Tŕ Giới Kiền Độ Lược Thích, và Vu Lan Bồn Tân Sớ. Ba mươi tám tuổi, trụ tại Cửu Hoa. Năm sau đó soạn bộ Phạm Vơng Hợp Chú. Bốn mươi mốt tuổi, trụ tại Ôn Lăng, soạn Đại Phật Đảnh Huyền Nghĩa Văn Cú. Bốn mươi hai tuổi, trụ tại Chương Châu, soạn Kim Cang Phá Không Luận, Ngẫu Ích Tam Tụng, và Trai Kinh Khoa Chú. Bốn mươi bốn tuổi, trụ Hồ Châu, soạn Đại Thừa Chỉ Quán Thích Yếu. Bốn mươi sáu tuổi, trụ Linh Phong, soạn chú giải cho các kinh Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo, Bát Đại Nhân Giác. Bốn mươi bảy tuổi, trụ Thạch Thành, soạn Châu Dịch Thiền Giải (chú giải kinh Dịch theo quan điểm nhà Thiền). Mùa Thu năm đó, trụ tại Tổ Đường. Hai năm sau, soạn Duy Thức Tâm Yếu, Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải, Di Đà Yếu Giải, và Tứ Thư Ngẫu Ích Giải. Lúc năm mươi mốt tuổi, mùa Đông, Ngài trở lại Linh Phong, soạn Pháp Hoa Hội Nghĩa. Năm sau, soạn Chiêm Sát Sớ, lại chỉnh lư bộ Luật Yếu. Năm mươi bốn tuổi, Ngài trụ Thịnh Khê, soạn thảo Lăng Già Nghĩa Sớ, dời qua Trường Thủy mới viết xong. Lại c̣n có Duyệt Tạng Tri Tân, Pháp Hải Quán Lan, các bộ sớ giải cho kinh Viên Giác, kinh Duy Ma, và luận Khởi Tín. Nguyện vẫn chưa hoàn tất, đành đợi duyên về sau mà thôi!

Thuở c̣n sống, Ngài từng nói: “Đời Hán, đời Tống, chú sớ khá thịnh, nhưng tâm pháp thánh hiền bị mờ tối, như gỗ vuông tra vào lỗ tṛn. Tùy theo thời cơ mà nhiều nghi thức Yết-ma ra đời, nhưng Luật học suy vi, như sữa bị thêm nước. Chỉ Nguyệt Lục[33] thịnh hành mà đạo Thiền hư hoại, như đục khoét cái lỗ thuở trời đất hỗn độn. Tứ Giáo Nghi lưu truyền mà tông Thiên Thai mờ tối, như chấp chết cứng toa thuốc để chữa biến chứng. Do vậy, cả cơi đời, đối với Nho, hay Thiền, hay Luật, hay Giáo, không ǵ chẳng cho là dị vật, ghét như giặc thù!” Đạo nhân cười bảo: “Người hiểu ta chỉ có Thích Ca, Địa Tạng đấy chăng? Kẻ trách tội ta cũng chỉ có Thích Ca, Địa Tạng vậy! Lủi thủi đi măi, chẳng biết kết thúc ra sao!”

          (Tiên đại sư thị tịch, kẻ bất tiếu[34] là Thành Thời lầm lẫn vâng lănh nghiêm lệnh của đồng môn biên tập Linh Phong Tông Luận. Biên tập xong, lại chép tự truyện của lăo nhân vào đầu quyển. Do vậy nghĩ tới lăo nhân trong hai năm Quư Tỵ (1653) và Giáp Ngọ (1654), hành cước xong trở về núi, và tất cả các trước thuật, cũng như tháng Giêng năm Ất Mùi (1655), một đoạn quang minh cuối cùng đều bị thiếu khuyết không ghi chép, đồng môn lại lầm cho rằng kẻ bất tiếu này do theo hầu Ngài hành cước, sẽ biết chuyện tường tận, theo đúng lẽ, phải chép thêm vào. Chối từ chẳng được, bèn chắp tay, cúi lạy ghi như sau).

          Tự truyện của Linh Phong Ngẫu Ích đại sư hoàn thành vào tháng Chạp năm Nhâm Th́n (1652). Năm sau, tức năm Quư Tỵ (1653), lăo nhân năm mươi lăm tuổi. Mùa Hạ, vào tháng Tư, Ngài đến Tân An để kết hậu an cư tại viện Thiên Mă ở Hấp Phổ, soạn Tuyển Phật Phổ, duyệt Tông Kính Lục, san định, đính chánh những thuyết xen tạp trộm đưa vào đó bởi các vị Pháp Dũng, Vĩnh Lạc, Pháp Chân, những sai lầm trong kinh điển trích dẫn, cũng như những lỗi do biên chép, in khắc trải nhiều đời. Đối với hơn ba trăm sáu mươi câu vấn đáp, Ngài nhất nhất xác định ư nghĩa chánh yếu, nêu bày sự sanh khởi và kết thúc của các nghi vấn ấy. Duyệt xong, Ngài soạn Giảo Định Tông Kính Lục Bạt gồm bốn phần. Lại gạn lọc Viên Hoằng Đạo Tập thành một bộ sách, đặt tên là Viên Tử. Mùa Thu, trong tháng Tám, Ngài sang chơi các chỗ như Hoàng Sơn, Bạch Nhạc. Mùa Đông, Ngài lại kết giới ở Thiên Mă, soạn Khởi Tín Liệt Vơng Sớ. Năm sau, tức năm Giáp Ngọ (1654), Ngài năm mươi sáu tuổi, trong tháng Giêng, Ngài nhận lời thỉnh [giảng pháp] của Nhân Nghĩa Viện ở Phong Nam. Pháp thí hoàn tất, Ngài rời Tân An. Cuối tháng Hai, sau ngày Bao Sái Đà[35], Ngài trở về Linh Phong. Mùa Hạ, Ngài ngọa bệnh, tuyển chọn Tây Trai Tịnh Độ Thi, soạn các bài tán để thêm vào sau chín tác phẩm trọng yếu của Tịnh Độ, đặt tên là Tịnh Độ Thập Yếu.

Cuối Hè, bệnh càng nặng hơn. Tháng Bảy, Ngài soạn Nho Thích Tông Truyền Thiết Nghị (lời trộm bàn về sự truyền thừa nghĩa lư chánh yếu trong đạo Nho và đạo Thích). Tháng Tám, lại duyệt xong Đại Tạng. Tháng Chín, Ngài hoàn tất hai bộ sách Duyệt Tạng Tri Tân và Pháp Hải Quán Lan. Mùa Đông, tháng Mười, Ngài nằm bệnh, có viết bốn bài thơ Độc Tọa Thư Hoài; trong ấy có câu: “Thứ kỷ nhị tam tử, úy ngă nhất sanh tư” (mong có được hai ba đứa con (ư nói đồ đệ lănh hội được tâm pháp) để an ủi cuộc đời ta). Ngày Mười Tám tháng Mười Một, Ngài soạn kệ Bệnh Trung Khẩu Hiệu. Mồng Ba tháng Chạp, viết bài thơ Bệnh Gian Ngẫu Thành (ngẫu nhiên viết trong khi bị bệnh). Trong ấy có câu: “Danh tự vị trung chân Phật nhăn, vị tri tất cánh phó hà nhân” (Phật nhăn chân thật nơi địa vị Danh Tự rốt cuộc chẳng biết giao phó cho ai); đấy chính là di chúc khẩu truyền vậy. Ngài lập ra bốn điều thệ nguyện, bảo hai vị Chiếu Nam và Đẳng Từ truyền Ngũ Giới, Bồ Tát Giới, bảo ba vị Chiếu Nam, Linh Thịnh, và Tánh Đán thay mặt ứng lời thỉnh. Ngài bảo các đệ tử sau khi trà-duy (trà-tỳ, hỏa táng), hăy nghiền xương ḥa với bột ḿ, chia thành hai phần để một phần thí cho chim, thú, phần kia thí cho các loài có vảy, kết khắp pháp hỷ, đồng sanh Tây Phương.

Ngày Mười Ba, Ngài lập Tịnh Xă, có bài văn phát nguyện; kế đó có sáu bài Cầu Sanh Tịnh Độ Kệ. Đêm trừ tịch, Ngài viết bài Cấn Lục Cư Minh, soạn kệ. Ngày Nguyên Đán năm Ất Mùi (1655), lại soạn hai bài kệ. Ngày Hai Mươi, bệnh lại phát ra. Sáng ngày Hai Mươi Mốt, bệnh lui, giờ Ngọ, Ngài ngồi xếp bằng trên giường dây[36], hướng về Tây, chắp tay, qua đời. Khi đó, Ngài năm mươi bảy tuổi, pháp lạp[37] ba mươi bốn năm. Tăng hạ từ tháng Chạp năm Quư Hợi (1623) tới ngày Tự Tứ năm Quư Dậu (1633), lại từ mùa Xuân năm Ất Dậu (1645) đến tháng Giêng năm nay là năm Ất Mùi, tính ra là mười hạ, chín tháng. Mùa Đông năm Đinh Dậu (1657), môn nhân đúng pháp trà-tỳ, [lúc mở quan tài, thấy] tóc Ngài đă mọc dài che tai, vẻ mặt hệt như lúc c̣n sống, ngồi xếp bằng nghiễm nhiên, răng lợi đều chẳng hoại. Môn nhân chẳng dám tuân theo di chúc nghiền xương, lập tháp thờ di cốt ở bên phải đại điện của Linh Phong (bốn mươi hai chữ kể từ chữ Đinh Dậu trở đi được ghi thêm vào sau lễ trà-tỳ vào mùa Xuân năm Mậu Tuất - 1658).

Than ôi! Đau đớn thay! Con mắt của thế gian diệt mất, tràng chánh pháp đă vỡ vụn, lấy ai cứu vớt, uốn nắn bọn ma tà ác tâm hướng về Phật? Ai đến nâng đỡ nam nữ ḷng lành gặp phải độc hại? Ấy là do bọn chúng ta nghiệp nặng, chẳng thể cảm bậc triết nhân trụ thế dài lâu! Cuối tự truyện của lăo nhân có nói: “Hăy c̣n Duyệt Tạng Tri Tân, Pháp Hải Quán Lan, các bộ sớ Viên Giác, Duy Ma, Khởi Tín chưa hoàn tất, đành đợi duyên sau. Lại c̣n sau khi duyệt tạng xong, trong lời nguyện thắp hương có nói: “Một là trộm thấy Nam Bắc hai tạng[38] đều là chẳng rơ ràng, chẳng theo đúng thứ tự, hoặc bán giáo và măn giáo chẳng biện định, hoặc kinh, luận gọi tên lẫn lộn, hoặc là chân, ngụy chẳng phân biệt được, hoặc khéo vụng chẳng khác. Tuy có [các sách] Pháp Bảo Tiêu Mục đời Tống, Vựng Mục Nghĩa Môn[39] đời Minh, nhưng đều chưa tận thiện, tận mỹ. Nay liền mạo muội, lầm lạc soạn hai sách Duyệt Tạng Tri Tân và Pháp Hải Quán Lan. Nếu chẳng trái nghịch ư chỉ của Phật, xin hăy được thành tựu lưu thông. Hai là Viên Giác, Duy Ma, Di Đà, Địa Tạng, cho đến kinh Đại Niết Bàn, trước kia đă có ư nguyện nhỏ nhoi góp phần giải thích thêm, cũng như đối với Tăng Sử Bảo Huấn, cũng nguyện tu chỉnh thêm, ngưỡng cầu thầm gia hộ, khiến chóng được thành tựu. Lại c̣n dự định viết những tác phẩm tiếp tục chú giải kinh như Hạnh Nguyện Phẩm Tục Sớ, Viên Giác Kinh Tân Sớ, Vô Lượng Thọ Như Lai Hội Sớ, Quán Kinh Sớ Sao Lục Yếu, Thập Luân Kinh Giải, Hiền Hộ Kinh Giải, Dược Sư Thất Phật Kinh Sớ, Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Sớ, Duy Ma Bổ Sớ, Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Tục Sớ, Đồng Tánh Kinh Giải, Vô Tự Pháp Môn Kinh Sớ, Thập Nhị Đầu Đà Kinh Sớ, Nhân Vương Tục Sớ, Đại Niết Bàn Hợp Luận, Tứ A Hàm Tiết Yếu, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh Giải, Phát Bồ Đề Tâm Luận Giải, Ma Ha Chỉ Quán Phụ Hành Lục Yếu, Tăng Sử San Bổ, Truy Môn Bảo Huấn, tổng cộng hai mươi mốt loại”. Những tác phẩm được liệt kê trong ba chỗ trên đây, chỉ có Duyệt Tạng Tri Tân, Pháp Hải Quán Lan và Khởi Tín Sớ hoàn thành, những loại khác đều chẳng t́m được! Tuy vậy, lăo nhân trước thuật khá nhiều, biết chọn lấy những tác phẩm cương yếu th́ nào có thiếu sót chi!

Huống hồ đại dụng luôn mới mẻ, nguyện luân luôn chuyển. Sau khi được thọ kư chốn ao báu, sẽ mau chóng trở vào Sa Bà, thâu thập kẻ hữu duyên, chưa xong một hơi thở, công án sẽ có thể nhanh chóng hoàn tất, bọn chúng ta trong hiện tại, tương lai đều có thể thân cận, thọ học. Đừng v́ h́nh tướng xác thân chẳng thật hạn cuộc trong một thời, một nơi mà nẩy sanh hai ḷng! Nhưng Thành Thời là kẻ thọ ân sâu nhất, lại bội ân nặng nhất! Lại nghĩ ngợi bậc triết nhân hiếm khi xuất thế, diệu pháp khó gặp, lại nghĩ đại sự nhân duyên liên quan đến muôn đời, tuy có lúc lưu thông, nhưng chúng sanh chướng nạn dày đặc, bèn thắp một ngàn nén hương, xả thân trong ḍng lũ, một là báo ân thầy giúp chuyển nguyện luân. Hai là cúng dường diệu pháp, [mong được] đời đời gặp gỡ. Ba là chuyển kiếp trược, cứu khổ chúng sanh. Bốn là thay thầy nát thân, ḥng măn hoằng thệ của thầy. Năm là sám hối trọng tội, quyết sanh về ao báu. Than ôi! Hiểu tội tôi, trách tội tôi, chỉ có chúng sanh trong đại địa đấy chăng?

          Ngày Mười Hai tháng Chạp năm Ất Mùi (1655) đời Thuận Trị, bất tiếu môn nhân Thành Thời dập đầu kính ghi.

 

* Ghi thêm

 

          Linh Phong đại sư nhập diệt tám năm, vào tháng Bảy năm Nhâm Dần (1662), môn nhân Tánh Đán qua đời v́ bệnh. Trước đó, Sư đă viết lời căn dặn, đối trước bất tiếu Thành Thời và anh ruột là ông Hồ Tịnh Quảng xin nghiền nát di cốt, ḥng thay lăo nhân thỏa măn ư nguyện do Ngài đă căn dặn vào ngày mồng Ba tháng Chạp năm Giáp Ngọ (1654). Trước đó, Thành Thời mời tịnh lữ cùng lễ Phật Thuyết Phật Danh Kinh, sư Tánh Đán liền vào đàn, đốt đèn trên đỉnh đầu để báo ân sâu pháp nhũ. Đến lúc đó, Sư lại căn dặn lần nữa. Vào tháng Tám, tôi liền kính cẩn tụ tập đại chúng tu hành Dược Vương Bổn Sự bảy ngày bảy đêm để tác pháp. Khi đó, pháp đệ là Thông Huyền nghiền nát di cốt, Thành Thời nói kệ rằng: “Vô thân hà tất khổ tồi tàn, chỉ vị vô thân cố bất tham. Thử ư hứa thùy năng hội đắc, tiền tam tam dữ hậu tam tam” (Không thân, há khổ phải nghiền thây? Chỉ bởi không thân nên chẳng tham. Ư ấy nếu như ai hiểu được, trước sau dường cũng hệt như nhau)[40].

Sư Tánh Đán vốn thuộc vọng tộc họ Hồ tại Tích Ấp, Tân An, lúc ba mươi ba tuổi mới xuất gia, cho nên không có tuổi hạ, chẳng thâu đồ chúng, cho nên chẳng có truyền nhân. Sư học vấn tinh tế, tuổi trẻ mà như cây khô, tro tàn, tuy tánh lẫn tướng đều viên minh, nhưng thường hổ thẹn v́ chưa ngộ, sợ ḿnh ngu dốt, vụng về, cho nên chẳng dám đảm nhậm pháp đạo. Thân gầy yếu mà tu khổ hạnh, chẳng v́ mong được người khác kính nể, lại càng không biện bác che giấu lỗi lầm. Trong khi bị bệnh, thoạt đầu nghiệp tướng hiện ra, Sư xót xa cầu Phật, bèn thấy Phật Di Đà tiếp dẫn! Lúc mất th́ mắt và tai đă ngừng hoạt động, chỉ ngồi xổm mỉm cười chẳng ngớt. Sư biên soạn Họa Tây Trai Tịnh Độ Thi và Viên Giác Sớ chưa hoàn tất th́ Tánh Đán đă mất vào tháng Tư năm sau đó. Đạo hữu Tŕnh Tùng Hỗn cảm kích trước chuyện ấy, cũng gắng sức chịu đựng bệnh tật niệm Phật thề sanh Tây, tự ngửi thấy mùi hương lạ mấy hôm, vẫn ngồi xếp bằng nghiễm nhiên, giơ tay ngước nh́n. Ông Tùng Hỗn là người xứ Ḥe Đường đất Hấp, hai giới Cận Sự (ưu bà tắc giới) và Bồ Tát giới đều thọ từ lăo nhân.

Mùa Đông năm Quư Măo (1663), Thành Thời kính lạy ghi thêm.

 

* Lời trộm bàn về đặt thụy hiệu riêng là Thỉ Nhật (mặt trời mới mọc) cho tổ Linh Phong

 

          Môn nhân là Thành Thời ở Cổ Hấp đảnh lễ trăm lạy xin bàn luận.

Ngẫu Ích lăo nhân thiên hóa[41] tại Linh Phong, môn nhân Thành Thời bàn định chuyện đặt thụy hiệu[42] cho Ngài. Có người bảo: “Có điển lệ hay không?” Thưa: “Kể từ sau thời Liễu Hạ Huệ, có các vị Vương Văn Trung, Châu Văn Trung[43], Đào Tĩnh Tiết[44], Tiêu Văn Nguyên, đều được môn nhân v́ đạo mà tôn xưng thầy, tôn xưng thầy ḥng rạng đạo. Từ đời Châu trở đi, [phương cách ấy] sáng vằng vặc vậy. Lại bảo: “Đó là pháp thế gian, xuất thế có khuôn phép ấy không?” Thưa: “Thầy Chí Bàn[45] soạn sách Phật Tổ Thống Kỷ, đối với các vị tổ thuộc tám đời sau [của tông Thiên Thai] hưng khởi mối đạo, đối với những vị chưa có tôn hiệu, đều đặt thụy hiệu riêng. Ngài Chí Bàn nói: “Đó là ư nghĩa to lớn nhằm tôn kính tổ tiên vậy, thế gian và xuất thế gian có ǵ khác biệt!”

Hỏi: “Nghe khuôn phép ấy, đă biết ư nghĩa rồi, nhưng chưa rơ nguyên do! Há chẳng phải là do không đủ sức để thỉnh cầu triều đ́nh. Hoặc địa vị chẳng thuộc vào lệ ban tặng của triều đ́nh ư? Hoặc phạm vào điều húy kỵ của triều đ́nh, cho nên chẳng thể không định luận [thụy hiệu] nơi rẫy bái ư?” Thưa: - Há Thái Ung, Nguyên Kết chẳng thể v́ Châu Mục, Nguyên Diên Tổ mà xin đổi tên trong đời Hán - Đường ư? [Các thụy hiệu] Văn Trung, Tĩnh Tiết được chép trong Hán Thư, Tống Sử, pháp luật có bao giờ câu nệ? Thánh minh có bao giờ kỵ húy đâu? C̣n về nguyên do? Xin thưa là chẳng đánh mất thực chất. V́ cớ ǵ thánh hiền thế gian có người mà cả cơi đời chẳng thấy được tâm họ? Liễu Hạ làm Sĩ Sư, ba lượt bị cách chức chẳng rời đi, v́ muốn che chở dân chúng trong t́nh cảnh bị giày ṿ, đă chẳng thể hành đạo lớn lao ḥng [cơi đời] chẳng có h́nh phạt, th́ ông chẳng hổ, chẳng thẹn, tùy chốn cứu dân khỏi chết. Đó là Ḥa[46], cho nên thực hiện ḷng nhân huệ rộng răi vậy. Đương thời chẳng biết ư ấy, chỉ biết ông hay ban tặng thức ăn, chẳng nói một chữ là Huệ, mà ẩn chữ Liễu Hạ đi[47]. Một chữ đáng ngàn vàng, thấy được cái tâm của ông Liễu Hạ, mà cũng thấy được tâm học của thánh hiền ngàn đời. Nói mà chẳng đánh mất thực chất, lợi ích sẽ nhuần thấm thiên hạ, muôn đời không ngằn mé.

Phàm là bậc tông tượng xuất thế, lấy đạo làm tâm tánh, toàn thể đại dụng, tâm khế hợp chúng sanh và Phật, từ lực bi ngưỡng, càng hết sức khó biết, khó thấy! Nhưng [một vị hiền thánh như thế xuất hiện] trong thuở Chánh Pháp vẫn chưa phải là khó, chứ thời Mạt Pháp ma mạnh, pháp yếu, chánh suy yếu, tà lẫy lừng, đúng là khó khăn lắm! Từ địa vị Quán Hạnh, Tương Tự trở lên, [nhận biết một vị thánh nhân như vậy] vẫn chưa phải là khó, chứ nếu là hàng phàm phu đầy dẫy trói buộc mà dùng nhục nhăn làm Phật nhăn [để nhận biết], sẽ khó lắm! Đă là khó biết, khó thấy như thế, không chỉ chuyện khuyết thiếu gia hiệu (嘉號, danh hiệu tôn xưng tốt lành) đáng để pháp đạo phải lo ngại. Dẫu có đề cao trí dũng thần thánh [của vị ấy], vẫn chẳng đủ để phát khởi đức hạnh ngầm ẩn, ḥng khơi gợi con cháu về sau. V́ thế, trước nay dù là đệ tử thân cận hay hậu duệ xa xôi, đều lấy đó làm điều lo ngại sâu xa. Bậc có ḷng nhân, người sáng suốt chẳng thể không xót thương tấm ḷng ấy mà bác bỏ cách nói này, chẳng nỡ nhất loạt cho là ngu muội, kém cỏi mà chê trách! Đức hạnh sâu thẳm của bậc đại tông triết tượng chẳng được nêu tỏ, dẫu vua tôi ở Linh Sơn cũng đều hổ thẹn, cháu con trăm đời đều cùng lo sầu, nhưng cái tội ấy (tội ẩn lấp đức hạnh của thầy, tổ) chẳng thể không thuộc về môn đệ và hậu duệ. Ngay trong tông môn mà c̣n mờ mịt, vua quan chọn lựa bằng cách nào? Ngay trong đời này mà lặng thinh, th́ con cháu bao đời sau sẽ do đâu mà nghe biết? Ôi! [Chuyện này có mối quan hệ] to lớn thay! Đó là lư do toan đặt thụy hiệu vậy!

Chắc có người do vậy mà hoảng sợ, nói: “May là do ông mà được nghe biết khuôn phép, biết ư nghĩa, lại xét đến nguyên do, nếu bỏ mặc đó th́ sẽ là bất nhân, hoặc trách tội [kẻ toan đặt thụy hiệu] là ngu hèn, th́ sẽ là kẻ bất trí. Nguyện được nghe tôn hiệu của Ngẫu Ích lăo nhân”. Do vậy, Thành Thời kính cẩn đảnh lễ trăm lạy, lạm bàn rằng: Phật pháp hưng thịnh, Tam Học là một nguồn. Thời Mạt, Tam Học h́nh thành thế chân vạc, bèn suy vi. Tam Học tranh chấp lẫn nhau, tới mức cùng cực. Tam Học nội bộ lục đục, tới mức nội bộ lục đục th́ hết thảy mọi người đều là kẻ phá pháp. Hết thảy các pháp đều là pháp của kẻ giặc. Khi đó, nếu chẳng t́m về nguồn cội, sao có thể cứu văn lẽ chánh? Hiện thời, Tam Học tại Chi Na nội bộ đă lục đục cũng hết sức tệ hại, tiên đại sư sanh nhằm thời này, tự xưng là “cô thần, nghiệt tử”, tận lực đề cao “Tam Học cùng một nguồn” để cứu văn. Đối với Luật, Ngài coi đoạn pháp hữu lậu là Tông, hiểu rơ khai, giá, dung hội đồng, dị, dung thông Đại, Tiểu, hiển lộ tu chứng, thuần là sữa chẳng có nước! Dẫu Luật, dẫu Giáo, dẫu Thiền, đều giống hệt như Luật của đức Phật Thế Tôn thuở trước. Sư chưa từng có một hạnh, bởi [tự khiêm cho rằng] so với cổ đức th́ chẳng có công ǵ đáng để tuyên nói. C̣n như hằng chuyển tam luân, khế hợp sâu xa nhị cộng[48], Sư c̣n chẳng dám phỏng theo hai vị Vân Thê và Chuyên Ngu[49], huống hồ giáo pháp của các vị Đông Lâm, Thiên Thai, Lâm Tế, dùng phá hai thứ chấp ngă và chấp pháp làm Tông, Giáo lẫn Quán cùng sáng tỏ, tánh và tướng dung thông, Quyền và Thật chẳng hai, tánh và tu xen lẫn, thuần là sữa chẳng có nước, dẫu Giáo, dẫu Luật, dẫu Thiền đều giống hệt như Giáo của đức Phật Thế Tôn thuở trước. Sư chưa từng có một chữ, bởi tự xét ḿnh chẳng sánh bằng các vị cổ đức như Kinh Khê, Thanh Lương dường như đă dự vào địa vị Ngũ Phẩm[50], phát trọn ba nhân[51]. Sư c̣n chẳng dám phỏng theo các vị như U Khê, huống hồ [đua đ̣i] các vị Thiên Thai, Từ Ân, Vĩnh Minh. Sư đối với Thiền đă triệt ngộ nguồn tâm, khế hợp phương tiện sâu xa, pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn, nhưng chẳng có một pháp nào để có thể đắc. Dẫu Thiền, dẫu Luật, dẫu Giáo, đều đáng là môn đồ của Tào Khê, Vĩnh Minh, nhưng Sư trọn cho rằng Đạo và Định nơi Giới (tức Đạo Cộng Giới và Định Cộng Giới) [của chính ḿnh] chưa sâu, Lư và Quả nơi Giáo chưa đạt được. Do vậy, chẳng dám lầm lẫn nhận lấy địa vị Tổ, rơi vào vết xe đổ đại vọng ngữ xưa nay, bởi chỉ có người chân thật biết pháp mới thật sự biết e sợ. Há chẳng phải là tấm gương chánh đáng cho những vị đại tông tượng thuộc địa vị Danh Tự ư?

Phàm mặt trời vừa mới mọc, đại địa chưa được chiếu sáng trọn khắp, nhưng khắp bầu trời đă tỏa sáng. Kẻ say giấc mộng tuy chưa thấy được ánh sáng, nhưng bóng đêm đă ẩn khuất, người làm lụng đă bắt đầu khởi sự; đấy chẳng phải là h́nh bóng của Sư đấy ư? Đáng nên tôn xưng Ngài là Thỉ Nhật đại sư. [Đấy chính là tôi đă] kính cẩn noi theo pháp sư Chí Bàn đặt thụy hiệu cho các vị tổ Đạo Hưng, Pháp Trí.

Tôi cho rằng: Ngày sau có người có thể suy xét, luận định đức cao đẹp của Sư, dâng lên Thanh triều, để được ban cho tên thụy đẹp đẽ, may ra sẽ dùng tên gọi ấy để đặt hiệu, ngơ hầu chẳng mất lẽ thật. Tiên đại sư quán triệt Tam Học, tận lực chấn hưng phong thái suy đồi [trong nhà Phật]. Trước thuật của Ngài dù là thích luận hay tông luận đều liên quan đến huệ mạng, là chốn cầu, bến. Trên là noi theo cổ Phật, dưới là đợi bậc thánh nhân về sau, ắt sẽ có bậc Đại Sĩ nương theo nguyện luân, nhận lănh lời phó chúc tại Linh Sơn, đưa các tác phẩm của Ngài vào Đại Tạng để lưu thông, đặt chắc chắn thụy hiệu tốt lành cho Ngài, may ra có thể dùng danh hiệu đang bàn luận hiện thời. Chẳng dám thái quá, chẳng dám bất cập! [Ghi lại điều này] một ngày sau khi bổ túc tự truyện của đại sư.

 

Linh Phong Đại Sư Tông Luận

Quyển thứ nhất

1. Nguyện văn

* Bốn mươi tám nguyện

(Nhằm ngày Ba Mươi tháng Bảy năm Tân Dậu, tức năm Thiên Khải nguyên niên (1621)[52]. Khi đó, Ngài xưng danh là Đại Lăng Ưu-bà-tắc)

 

          Đảnh lễ đấng tam thân viên măn, hết thảy biển giác tánh Chân Như, tương xứng pháp giới như hư không, biển đại nguyện các thứ trang nghiêm, nhân quả giao nhau chẳng nghĩ bàn, biển hết thảy tu hành của Bồ Tát, và lễ A Di Đà Như Lai, Q       uán Âm, Thế Chí, cùng Địa Tạng, con v́ ân vơng cực[53] của cha mẹ, xót thương khắp trọn hết thảy chúng sanh giới, phát sanh tâm tăng thượng như thật, tu hành phương tiện niệm Phật thù thắng, tin sâu môn Tịnh Độ nhiếp thọ, thệ nguyện rộng lớn đều gia bị trọn khắp. Diệu giới làm thuyền, trí huệ làm bánh lái. Phương tiện làm buồm, Phật lực là gió. Tận cùng ngằn mé vị lai độ chúng sanh, trọn chẳng một niệm xả ngũ trược. Biển nguyện chư Phật như đế châu[54], nhiếp thọ nguyện của con trùng trùng hiện. Nguyện của con như Ma Ni vương, biển nguyện chư Phật đều nhiếp trọn. Theo chiều ngang, nguyện luân trọn khắp mười phương. Theo chiều dọc, cũng lại cùng tột ba đời. Do nương vào trí Nhất Thiết Trí, nên con chí tâm siêng tu tập.

Nguyện thứ nhất: Con vốn phát tâm, trên báo ân sanh thành của từ phụ là Chung Chi Phượng, nguyện do sức Tam Bảo, khiến cho các vị từ phụ từ vô thỉ của con đều sanh về Tịnh Độ, mau chứng Bồ Đề, khiến cho người nghe tên con cũng báo đáp ân cha.

          Nguyện thứ hai: Con vốn phát tâm, trên là báo ân dưỡng dục của bi mẫu Kim Đại Liên, nguyện do sức Tam Bảo, khiến cho bi mẫu của con từ vô thỉ đều sanh về Tịnh Độ, mau chứng Bồ Đề, khiến cho người nghe tên con cũng báo đền ân mẹ.

          Nguyện thứ ba: Độ chúng sanh trong pháp giới thành Phật hết rồi con mới giữ lấy Nê Hoàn (Niết Bàn).

          Nguyện thứ tư: Nguyện dâm cơ của con nơi thân tâm đều đoạn, ngay cả tánh đoạn cũng chẳng có, khiến cho người nghe tên con vĩnh viễn đoạn dâm căn.

          Nguyện thứ năm: Nguyện nghiệp tập sát hại của con diệt hết, chẳng sót, khiến cho trọn khắp người nghe tên con đều phát sanh từ lực.

          Nguyện thứ sáu: Nguyện nghiệp si ám, hủy báng Tam Bảo của con diệt hết, chẳng sót, khiến cho người nghe tên con sẽ chánh tín Tam Bảo.

          Nguyện thứ bảy: Nguyện các nghiệp bất thiện của con đều được thanh tịnh, khiến cho người nghe tên con an trụ trong phạm hạnh.

          Nguyện thứ tám: Con quyết sanh về thế giới Cực Lạc, mau chứng Vô Thượng Bồ Đề, phân thân trong các cơi nhiều như vi trần đến tột cùng ngằn mé vị lai, độ sanh chẳng nhàm!

          Nguyện thứ chín: Con đời đời chẳng quên bổn nguyện, trong đời Ngũ Trược, khéo giáo hóa chúng sanh.

          Nguyện thứ mười: Con nơi nơi hoằng dương, lưu thông chánh pháp, chẳng có các ma chướng.

          Nguyện thứ mười một: Đạt được vô lượng trí huệ, thấu đạt hết thảy Phật pháp.

          Nguyện thứ mười hai: Đạt được vô lượng biện tài, khai sáng kẻ mê, hàng phục ngoại đạo, hết thảy chẳng sợ hăi như sư tử rống.

          Nguyện thứ mười ba: Đạt được vô lượng thần thông, trọn khắp các cơi mười phương, thừa sự Như Lai và thiện tri thức. Hết thảy hải hội không ǵ chẳng được dự!

          Nguyện thứ mười bốn: Con có thể phát ra đủ loại diệu âm, tột cùng ngằn mé vị lai tán thán Tam Bảo, khiến cho chúng sanh biết chỗ quy y.

          Nguyện thứ mười lăm: Tùy ư xuất sanh đủ loại vật cúng mầu nhiệm, cúng dường Tam Bảo, làm phước điền to lớn cho chúng sanh.

          Nguyện thứ mười sáu: Tùy hỷ công đức của hết thảy chúng sanh, khiến họ thành Vô Thượng Bồ Đề.

          Nguyện thứ mười bảy: Khi mười phương Như Lai thành Chánh Giác, con đều tới trước khuyến thỉnh [chư Phật] chuyển đại pháp luân, khai thị cho chúng sanh con đường Vô Thượng Giác.

          Nguyện thứ mười tám: Khi mười phương Như Lai bát Niết Bàn, con đều khuyến thỉnh đừng nhập Niết Bàn, thường trụ trong thế gian để lợi ích hàm thức.

          Nguyện thứ mười chín: Hết thảy hải hội đều cử con làm Pháp Vương Tử. Phật tán thán công đức, trí huệ, từ bi, nguyện lực của con bằng với Quán Thế Âm, Địa Tạng Vương chẳng khác!

Nguyện thứ hai mươi: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các địa ngục. Kẻ được quang minh chạm đến, ngay lập tức biến các khổ sự đều thành sự vui mầu nhiệm.

Nguyện thứ hai mươi mốt: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các ngạ quỷ. Kẻ được quang minh chạm đến, ngay lập tức xả thân, được sanh về Tịnh Độ.

Nguyện thứ hai mươi hai: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các súc sanh. Kẻ được quang minh chiếu, sẽ ĺa các sợ hăi, sau khi xả thân, được sanh về Tịnh Độ.

Nguyện thứ hai mươi ba: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các quỷ thần, người được quang minh của con chiếu đến đều bỏ tâm sân, khai ngộ Phật đạo, bỏ các thân xấu xí, được thân thanh tịnh.

          Nguyện thứ hai mươi bốn: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các chúng sanh khổ năo. Người được quang minh của con chiếu tới, tật bệnh tiêu trừ, sáu căn trọn đủ. Ách nạn, sợ hăi thảy đều giải thoát, vô bệnh, tăng thọ, phát tâm Bồ Đề. Nếu khi mạng chung, liền sanh về Tịnh Độ.

          Nguyện thứ hai mươi lăm: Dùng ánh sáng đại bi, chiếu hữu h́nh, vô h́nh, hữu tưởng, vô tưởng, và các ma, ngoại đạo, khiến cho thân tâm của họ xả ly tà kiến, thông đạt Phật thừa.

          Nguyện thứ hai mươi sáu: Dùng ánh sáng đại bi, chiếu chạm trời người, khiến họ chẳng mê đắm dục lạc, và hân yếm định, siêng cầu Vô Thượng Bồ Đề.          Nguyện thứ hai mươi bảy: Dùng ánh sáng đại bi chiếu Thanh Văn, Duyên Giác, khiến họ xả vô vi, mau hướng theo Phật thừa.

          Nguyện thứ hai mươi tám: Dùng âm thanh đại bi khiến cho hết thảy chúng sanh quyết định thông hiểu, giác ngộ, chẳng đắm luyến tam giới, chẳng ưa thích các thừa khác, chỉ cầu Vô Thượng Bồ Đề.

          Nguyện thứ hai mươi chín: Dùng thần lực đại bi tùy thuận các thứ mong cầu của chúng sanh, khiến cho họ đối với pháp của con sanh ḷng tin sâu đậm.

          Nguyện thứ ba mươi: Do cứu độ chúng sanh nên trong mười phương, hiện làm thân Phật, hoặc nhiếp thủ Tịnh Độ, hoặc điều phục uế độ, phương tiện vô lượng.

          Nguyện thứ ba mươi mốt: Do cứu độ chúng sanh bèn tùy loại hiện thân. Trong mỗi loại, chủng tộc tôn thắng, oai đức tự tại, khiến những người cùng hàng kính yêu, tiếp nhận lời dạy cho đến [khi chứng đắc] Bồ Đề.

          Nguyện thứ ba mươi hai: Dùng phương tiện đại bi, hiện trong hết thảy các chỗ không có Phật pháp, chỗ pháp diệt, hoặc chỗ Phật pháp không thể lưu hành, ẩn hiển giáo hóa lớn lao, làm đèn soi trong đêm dài, cứu vớt kẻ ch́m đắm trong tối tăm thoát khỏi biển khổ.

          Nguyện thứ ba mươi ba: Luôn vào lúc chúng sanh đói khát, hiện ra thức ăn, Khi dịch bệnh, hiện làm dược thảo. Trời lạnh làm y phục, trời nóng làm gió mát, nơi hiểm trở làm cầu, bến. Hết thảy thứ cần thiết đều hiện ra, hoặc mặc, hoặc dựa, hoặc giẫm đạp, đều đạt được an lạc, phát Bồ Đề tâm.

          Nguyện thứ ba mươi bốn: Chúng sanh thích cầu Phật thừa, đă được nghe tên con, chẳng xả nhục thân, đắc Phật Bồ Đề.

          Nguyện thứ ba mươi lăm: Bồ Tát trang nghiêm cơi Phật, nghe tên con rồi, cơi ấy vượt trội Cực Lạc. Muốn hiện uế độ, ắt đạt được vô lượng phương tiện, khéo giáo hóa kẻ ương ngạnh.

          Nguyện thứ ba mươi sáu: Khiến cho chúng sanh muốn thấy các cơi Phật, nghe pháp, đều được thấy, nghe.

          Nguyện thứ ba mươi bảy: Khiến cho chúng sanh muốn đến vô số thế giới, cúng dường Tam Bảo th́ trong khoảng một niệm đều được tới trọn khắp.

          Nguyện thứ ba mươi tám: Khiến cho chúng sanh muốn sanh về cơi Phật nghe danh hiệu của con, liền được tùy nguyện văng sanh.

          Nguyện thứ ba mươi chín: Khiến cho chúng sanh có cùng thệ nguyện với con đều nhanh chóng đạt được vô lượng phương tiện trí huệ, oai đức tự tại.

          Nguyện thứ bốn mươi: Khiến cho chúng sanh thích Tiểu Thừa mau dự lên thánh quả, liền hồi tâm nhập Bồ Tát thừa.

          Nguyện thứ bốn mươi mốt: Bồ Tát tu hành trong mười phương nghe danh hiệu của con măi cho đến khi đắc Bồ Đề, vĩnh viễn chẳng có ma sự!

          Nguyện thứ bốn mươi hai: Ma tà, ngoại đạo trong mười phương nghe danh hiệu của con liền bỏ tà kiến, đồng quy Chánh Giác.

          Nguyện thứ bốn mươi ba: Dùng tâm lực đại bi, khiến cho chúng sanh ngũ nghịch, thập ác, tứ khí[55], bát khí[56], là những kẻ sẽ đọa đại địa ngục biết xót xa cầu sám hối, liền thuận theo ư họ, hiện sắc thân thù thắng, mầu nhiệm, xoa đỉnh đầu an ủi, vĩnh viễn dẹp trừ tội căn, phát Bồ Đề tâm.

          Nguyện thứ bốn mươi bốn: Dùng sức b́nh đẳng đại từ bi, có thể khiến cho kẻ diệt hoại, phỉ báng pháp của con, mạ lỵ tên con, ác chướng cực nặng mau tiến hướng Bồ Đề.

          Nguyện thứ bốn mươi lăm: Mắt từ của con tột bậc thanh tịnh, nh́n trọn khắp cơi hư không, thấu tới chỗ khổ sở cùng cực, khiến cho đều được an lạc, chúng sanh cực ác đều hiền thiện.

          Nguyện thứ bốn mươi sáu: Tay ấn của con trang nghiêm tột bậc. Trong mỗi một niệm, đều tuôn ra hết thảy các thứ mây cúng dường, mây trân bảo, mây y phục, mây các vật dụng, mây thức ăn, mây thuốc men, mây tam-muội, mây tổng tŕ, mây biện tài, mây quang minh chiếu soi, trọn khắp cơi hư không, đến tận ngằn mé vị lai lợi ích chúng sanh.

          Nguyện thứ bốn mươi bảy: Danh hiệu của con cùng tận các cơi trong mười phương, không đâu chẳng trọn khắp. Dẫu là nơi pháp đă diệt, danh hiệu của con chẳng diệt, luôn khiến cho người nghe, xưng niệm đều được giải thoát.

          Nguyện thứ bốn mươi tám: Sắc thân của con vi diệu tột bậc, dùng các tướng đại nhân nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật để tự trang nghiêm. Mỗi tướng đều có các tùy h́nh hảo số nhiều bằng số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật. Mỗi hảo có quang minh nhiều bằng số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật. Mỗi quang minh có màu sắc nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật, trang hoàng cơi nước, vang ra các âm thanh nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật, tuyên dương diệu pháp, tỏa ra hương, hoa, thức ăn, y phục, các vật cúng nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật để cúng trọn khắp hết thảy. Hiện các hóa Phật nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật, giáo hóa hết thảy. Mỗi vị Phật có các hóa Bồ Tát nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật. Mỗi vị Bồ Tát thù thắng trang nghiêm như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật. Mỗi thứ trang nghiêm thực hiện Phật sự rộng lớn nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật. Mỗi sự sẽ lợi ích chúng sanh trong các thế giới nhiều bằng số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật. Hễ có ai thấy một Phật sự, sẽ được thấy sắc thân vi diệu của con. Người thấy thân con sẽ có thể cùng con b́nh đẳng, sẽ có thể nhanh chóng được thành Phật.

 

* Văn phát thệ thọ Bồ Tát giới

(ngày Hai Mươi Hai tháng Chạp năm Giáp Tư (1624), tức năm Thiên Khải thứ tư)

 

          Đối với giới phẩm như thế, con nay đối trước hết thảy Tam Bảo, thệ nguyện thọ tŕ, tu học cho đến tột cùng ngằn mé vị lai chẳng hề xả ĺa. Giả sử do nhân duyên tŕ giới, trăm ngàn vạn kiếp luôn bị khốn khổ, thề chẳng v́ khổ sở mà thoái thất đạo tâm ngày nay. Giả sử do nhân duyên phá giới, trăm ngàn vạn kiếp luôn hưởng an lạc, thề chẳng v́ vui sướng mà thoái thất đạo tâm ngày nay. Do công đức học giới này, nguyện con và chúng sanh, các tội từ vô thỉ đều trọn tiêu diệt. Nếu hết thảy chúng sanh do định nghiệp sẽ thọ báo, con đều chịu thay. Trọn khắp các quốc giới nhiều như vi trần, trải qua các đường ác, trọn chẳng nhàm chán, hối hận, khiến cho chúng sanh thành Phật đạo trước! Nguyện con đă phát chân thật, chẳng dối. Nguyện mười phương Tam Bảo nay sẽ v́ con chứng minh, khiến cho đạo tâm của con ngày đêm tăng trưởng, biển trí Văn Thù niệm niệm thanh tịnh, biển hạnh Phổ Hiền niệm niệm viên thành. Sau khi mạng chung, sanh trước chư Phật. Chứng ngộ vượt thoát ḍng mê, cùng lên bờ giác. Hư không có cùng tận, nguyện của con vô cùng!

 

* Lời nguyện trích máu chép kinh

(năm Mậu Tuất[57]) 

 

          Bồ Tát giới đệ tử Trí Húc trích máu từ lưỡi chép kinh, luật Đại Thừa, trước hết, đối trước Tam Bảo, đốt mười hai lọn hương trên cánh tay, phát mười hai nguyện. Nguyện vong phụ và từ phụ từ vô thỉ sẽ đoạn vô thỉ ngă chấp, sanh về lạc độ, được Phật thọ kư. Nguyện vong mẫu bi mẫu từ vô thỉ sẽ đoạn căn bản phiền năo, sanh trong hoa sen, được Phật thọ kư. Nguyện những người cùng hạnh trong hiện tại và hết thảy chân thiện tri thức trong quá khứ đều viên măn Bồ Đề trước. Nguyện khắp pháp giới chúng sanh phá hai chấp (ngă chấp và pháp chấp), đoạn các khổ, được thân kim cang, thanh tịnh ba giới tụ, viên măn chánh định, chứng thật huệ, phát Bồ Đề tâm, đắc bất thoái chuyển, quy vô thượng giác. Đem các nhân duyên thiện lực phát tâm trên đây thí trọn khắp pháp giới, cùng hiểu rơ vô nhị, vô sanh, vô đắc, vô tác, vĩnh viễn ĺa hư vọng, sẽ chứng thường lạc.

 

* Văn hồi hướng chép kinh Phật Danh

 

          Tỳ-kheo Trí Húc chép kinh Phật Danh xong, đốt hương phát nguyện: Ba nén hương cúng dường Tam Bảo như thế, nguyện cùng pháp giới chúng sanh, nối tiếp hưng thịnh chủng tánh Phật, nhập trí huệ tạng, vào cửa giải thoát. Sáu nén hương sám hối tội nơi sáu căn, nguyện cùng pháp giới chúng sanh, thường thấy sắc thân Phật, nghe pháp âm, ngửi hương pháp, tuyên pháp vị, mặc áo hổ thẹn, ngộ Như Lai tạng. Hai nén hương cầu cho cha mẹ, thân duyên[58], nhân dân trong đất nước, vào trong chín phẩm bào thai sen, được phước Tam Bảo chở che. Bốn nén dâng thường trụ Tăng-già, ḥa hợp thuyết giới. Tịnh nghiệp thiện hữu giữ nghiêm ngặt Tỳ Ni thanh tịnh. Thanh chúng trong Thiền đường huân tu Đại Thừa. Các vị sư chức sự tên đề nơi nhụy sen. Ba nén nguyện che chở các vị tỳ-kheo X… và hết thảy các bạn lành thân thể mạnh khỏe, tài lộc dồi dào, chân chánh hướng đến Bồ Đề. Công đức như thế, thí trọn khắp hàm linh cùng sanh về An Dưỡng.

 

* Lời nguyện trích máu v́ ngài Tuyết Hàng Trí Tiếp giảng Luật

 

          Mùa Xuân năm Kỷ Tỵ (1629) đời Sùng Trinh, ngày Rằm tháng Giêng, Bồ Tát giới tỳ-kheo Trí Húc v́ đồng học là tỳ-kheo Trí Tiếp, giảng Tứ Phần Giới Bổn[59], đốt mười lọn hương, phát mười đại hoằng nguyện. Một là nguyện hết thảy chúng sanh trong địa ngục thuộc pháp giới cùng được giải thoát, vĩnh viễn chẳng hứng chịu khổ quả, vĩnh viễn chẳng tạo nhân. Hai là nguyện hết thảy ngạ quỷ đạo đều cùng được giải thoát. Ba là nguyện hết thảy súc sanh đạo cùng được giải thoát. Bốn là nguyện hết thảy A Tu La xả tập khí kiêu mạn. Năm là nguyện hết thảy loài người phát Bồ Đề tâm. Sáu là nguyện hết thảy thiên đạo vĩnh viễn đoạn các lậu. Bảy là nguyện hết thảy Thanh Văn hồi Tiểu hướng Đại. Tám là nguyện hết thảy Bích Chi Phật phát khởi đại bi. Chín là nguyện hết thảy Bồ Tát dứt hết nguồn vô minh. Mười là ngưỡng nguyện hết thảy Như Lai càng tăng pháp lạc.

Lại nguyện do công đức này khiến cho đạo hữu Trí Tiếp gột sạch tri kiến thói tục, dẹp trừ tà tư luông tuồng, sắt son gánh vác chánh pháp, chẳng tiếc thân mạng, thật sự khăng khăng thương xót chúng sanh, khéo có thể độ thoát. Kể từ vô thỉ cho tới ngày hôm qua, tất cả hết thảy ác nghiệp đáng phải thọ báo [của thầy Trí Tiếp], Trí Húc đều xin chịu thay, khiến được giải thoát. Tất cả hết thảy thiện nghiệp đáng phải hưởng báo, đều thí khắp pháp giới chúng sanh cùng thành Chánh Giác. Từ nay trở đi, chấp tŕ giới cấm, chẳng vướng vào trần nghiệp, ǵn giữ nghiêm ngặt oai nghi, chẳng tổn hại loài trùng bọ, dựng diệu tràng chánh pháp, làm khuôn phép cho trời người. Lại nguyện Trí Húc luôn trong ba ác đạo tận hư không, khắp pháp giới, thay cho trọn khắp chúng sanh chịu vô lượng khổ, trải qua biển bất khả thuyết bất khả thuyết vi trần kiếp, nếm đủ khổ sở, trọn chẳng chán ngán, hối hận, khiến cho pháp giới chúng sanh, không một ai chẳng thành Phật rồi con mới giải thoát. Do công đức phát tâm, phát nguyện này, ngưỡng nguyện chư Phật đại từ gia bị, đại bi cứu vớt, khiến cho mỗi chữ đều phóng vô lượng quang, mỗi mỗi quang chiếu sáng vô lượng cơi. Trong khoảng một niệm, đều trọn khắp pháp giới, thí trọn khắp chúng sanh pháp lạc rốt ráo, hữu t́nh và vô t́nh cùng viên măn Chủng Trí.

 

* Lời tác bạch trước khi tŕ chú

 

          Trí Húc cúng dường năm lọn hương đốt trên cánh tay, nguyện tŕ Diệt Định Nghiệp chân ngôn một trăm vạn lượt, các chân ngôn Quán Âm Linh Cảm, Thất Phật Diệt Tội, Dược Sư Quán Đảnh, Văng Sanh Tịnh Độ, mỗi thứ mười vạn lượt. Kế đó, sẽ kết đàn, tŕ chú Đại Bi mười vạn lượt. Lại đốt ba lọn hương cúng dường các vị chứng minh tỳ-kheo như các vị Quảng Hạo v.v… Mỗi vị như thầy Quảng Hạo đều đốt ba lọn hương để tùy hỷ trợ phát, nguyện chánh pháp của Như Lai phục hưng, tệ đoan thời Mạt trừ sạch, quang minh, thọ mạng xứng tánh lượng mà vô lượng, phước đức, trí huệ bằng với hư không mà chẳng không, cùng trọn khắp hàm linh chúng sanh cùng sanh An Dưỡng.

 

* Kệ lễ tháp Đại Báo Ân

(mười lăm người cùng đốt hương)

 

          Đảnh lễ đại bi kiên cố tạng, diệu bảo tháp hiện khắp sắc thân, hễ cầu cảm ứng chẳng nghĩ bàn, xót thương chúng con lũ quần sanh. Nguyện phóng quang minh đại vô úy, trừ diệt sợ ác đạo cho con. Ra vào du hư trong sáu đường, sẽ độ thoát hết thảy như huyễn. Nguyện phóng quang minh đại thanh tịnh, trừ nhơ phá giới cho chúng con. Tỳ Ni nghiêm tịnh thanh lương nhất, dứt nóng phiền năo khắp sáu đường. Nguyện phóng tam-muội đại quang minh, trừ tạp loạn tưởng của chúng con, chiếu soi pháp giới chẳng phân biệt. Khởi các đại thần thông vô tác. Nguyện phóng trí huệ đại quang minh, khiến con hết sạch vô minh lậu. Nguyện phóng quang minh đại như ư, khiến con tùy tâm được măn nguyện. Dùng đấy khơi gợi kẻ tối tăm, khiến đều hoan hỷ khởi thâm tín, hộ tŕ chánh pháp măi bất diệt. Thật nghĩa hừng hực rạng ngàn đời. Thà chịu thân nát như vi trần, trọn chẳng lui bỏ Bồ Đề nguyện. Thà cho muôn đời chịu các khổ, trọn chẳng quên mất tâm đại bi. Chỉ nguyện Tam Bảo và trời, rồng, chứng biết hoằng thệ nhiếp thọ con.

 

* Lời khải bạch xin cứu bạt nhân dịp ba năm giỗ mẹ

 

          Kính lễ mười phương Tam Bảo, A Di Đà Phật và hai vị Đại Sĩ, thanh tịnh hải chúng. Lại lễ hiện tiền chân thật thiện hữu, đều cùng khải thỉnh. Lại nguyện dùng sức từ thiện, tâm xót thương cứu giúp, v́ vong mẫu của con là ưu-bà-di Kim Đại Liên tùy ư lập công khóa tŕ tụng kinh chú, xót thương khiến cho mẹ con chưa sanh Tịnh Độ, sẽ quyết định được sanh. Đă sanh Tịnh Độ, chắc chắn thấy Phật. Nếu đă thấy Phật, tăng trưởng phẩm vị. Mẹ bỏ đứa con không xứng đáng này đă ba năm, con tự xét ḿnh chẳng có đức để có thể báo đền, thật hổ thẹn sâu xa, đau đớn tự hối hận, tự trách. Đă phụ bạc hiếu đạo thế gian, lại trái nghịch điều vốn mong mỏi nơi đạo xuất thế. Nếu chẳng do được các bạn dắt d́u, sợ sẽ gây thành phiền lụy sâu xa cho mai sau. Chỉ nguyện rộng mở Bồ Đề tâm, rộng khai Bồ Đề nguyện, rộng hành hạnh Bồ Đề, v́ khắp pháp giới chúng sanh, cha mẹ nhiều đời, thân duyên trải nhiều kiếp, vận ḷng từ vô duyên, khởi tâm bi đồng thể, khiến cho một kinh, một chú công huân lan khắp các cơi nhiều như cát, phước bằng với hư không. Nguyện Trí Húc là người được giải thoát cuối cùng, thấy trọn hết thảy chúng sanh đều được giải thoát trước. Ngưỡng mong mười phương Tam Bảo, Tịnh Độ thánh hiền, hiện tiền thiện hữu nhiếp thọ, cứu hộ.

 

* Bài văn v́ mẹ phát nguyện, hồi hướng

 

          Bồ Tát giới tỳ-kheo Trí Húc nhất tâm quy mạng pháp giới Tam Bảo. Lại v́ vong mẫu là ưu-bà-di Kim Đại Liên. Nay là ngày mùng Một tháng Sáu, mẹ đă qua đời ba năm, con kính đốt bảy lọn hương trên cánh tay, cúng dường mười phương Tam Bảo, Thích Ca Văn Phật, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… các vị đại Bồ Tát, A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí v.v… các vị đại Bồ Tát, Địa Tạng Đại Sĩ và mười phương chư đại Bồ Tát, hiện tiền thanh tịnh chân thật thiện hữu, cùng cúng dường trọn khắp. Lại kính nhờ các thiện hữu v́ mẹ con tụng các loại kinh chú (nêu ra các vị tỳ-kheo, sa-di, và các Phật tử, tổng cộng mười một người, hai khóa lễ sám, tŕ mười sáu bộ kinh, hai vạn ba ngàn một trăm các chú phẩm, bốn mươi ba vạn danh hiệu Phật, Bồ Tát, cùng các kinh tự tŕ mười hai bộ, lễ tam thế tam thiên Phật. Chẳng sao lục [chi tiết] vào đây).

Nguyện tội nhân, khổ quả của mẹ hết sạch chẳng c̣n sót, chủng tử trí huệ, nền phước đều trọn đủ chẳng giảm, ngộ pháp giới tạng thân, nhập biển hạnh Phổ Hiền. Trí Húc lại v́ cha mẹ, cho đến thân duyên nhiều kiếp, cũng v́ hiện tiền thiện hữu, tất cả thân duyên bao kiếp, cho tới khắp pháp giới chúng sanh, đều v́ họ quy y sám hối, phát hoằng thệ nguyện: Chúng sanh trong cùng tận pháp giới từ vô thỉ đến nay, hết thảy tội giết chóc nguyện được tiêu trừ. Từ nay trở đi, chẳng c̣n tạo nữa. Nếu do định nghiệp, đáng đọa núi đao, rừng gươm v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ được an trụ trong đại bi. Hết thảy tội trộm cắp đều tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu tra khảo, bức bách, đền trả, Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ thành tựu đại xả. Hết thảy dâm tội tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu giường sắt, cột đồng v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ được viên măn phạm hạnh. Hết thảy tội vọng ngữ tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu rút lưỡi kéo cày v.v... Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ chứng pháp chân thật. Hết thảy tội uống rượu tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu sông tro, phân sôi v.v…Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ được đại trí huệ. Hết thảy tham tội tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu băng cứng rét buốt v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ được vĩnh viễn thanh tịnh. Hết thảy sân tội tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu lửa dữ thiêu đốt v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ phát khởi đại từ. Hết thảy si tội tiêu trừ, lại trọn chẳng tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu đui, điếc, ngu bướng v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ được trọn đủ Bồ Đề. Hết thảy các tội như trần sa đều tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu đủ mọi nỗi khổ nhiều như cát, bụi v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến họ đạt tới Niết Bàn rốt ráo.

Do công đức này, lại nguyện hết thảy địa ngục đạo được an lạc, hết thảy loài ngạ quỷ được no đủ, hết thảy loài súc sanh được giải thoát, hết thảy hàng Tu La chứng từ nhẫn, hết thảy loài người ngộ Vô Sanh, hết thảy thiên chúng hết sạch các lậu, hết thảy hàng Thanh Văn phát đại nguyện, hết thảy hàng Duyên Giác khởi đại bi, hết thảy hàng Bồ Tát măn Bồ Đề, hết thảy các đức Như Lai tăng pháp lạc. Lại nguyện hiện tiền bốn vị tỳ-kheo tăng trưởng thọ mạng, tăng trưởng đại bi, khai phát trí sâu, huệ nhăn sáng ngời. Bốn vị Phật tử hết sạch hết thảy tập khí, mau viên măn phạm hạnh. Ba vị sa-di giới căn vĩnh viễn thanh tịnh, gạt bỏ các sân và lao chao. Lại nguyện Trí Húc đời đời chốn chốn thường được thừa sự, cúng dường hết thảy các thiện hữu. Thiện hữu thành Phật, [Trí Húc] sẽ làm ảnh hưởng chúng cho đến tột cùng ngằn mé vị lai, chẳng thấy nhọc nhằn. Ngưỡng mong pháp giới Tam Bảo đại từ che chở, đại bi cứu vớt, khiến cho nguyện của con mau được trọn đủ, cùng với trọn khắp các hàm thức chúng sanh cùng viên măn Chủng Trí.

 

* Lời nguyện tŕ chú Chuẩn Đề

 

          Trí Húc trước kia đă nương theo mười hai nguyện, đốt mười hai nén hương, tán tŕ[60] chú Chuẩn Đề một trăm hai mươi vạn lần. Nay kết lại thành ba nguyện, đốt ba nén hương, kết đàn tŕ chú ba mươi vạn.

1) Một là nguyện thật nghĩa của Tỳ Ni rạng ngời giữa trời, Giáo, Quán, Thiền Na trừ sạch thói tệ lưu hành, cùng thấy Linh Sơn nghiễm nhiên, cùng mong gởi chất nơi Tịnh Độ.

2) Hai là nguyện chỉnh lư Đại Tạng, rạng ngời huệ mạng của Phật, Tổ, cứu chuộc chúng sanh, gieo duyên Từ khắp pháp giới.

3) Ba là nguyện học vô biên pháp môn, tận cùng nguồn tâm Chánh Giác, rốt ráo ngằn mé biển pháp, chiết phục, phế trừ các thứ ma kiến khác, dẫn dắt mọi căn cơ bất đồng trong vạn hữu. Người khen ngợi giới, hoặc khen ngợi, lắng nghe, không ai chẳng nắm vững chân thuyết, dù là nơi tu Thiền hay chốn tu Tịnh, không đâu chẳng chuyển pháp luân chân chánh.

Ba nguyện như thế, chẳng v́ cầu danh lợi, an lạc cho chính ḿnh, xuất sanh tử, chứng Bồ Đề, v́ khắp pháp giới chúng sanh cùng trọn đủ mười hiệu Như Lai, chứng tứ đức Niết Bàn, đạt tới chỗ an ổn rốt ráo, vượt thoát hai loại khổ sanh tử (phần dị và biến dịch), trọn vẹn quả Tứ Trí Bồ Đề[61], sống trong cơi Tịch Quang thượng thượng. Ngưỡng mong pháp giới Tam Bảo, Đại Chuẩn Đề Vương khiến cho con mau được thỏa sở nguyện, đến tột cùng ngằn mé vị lai, hành diệu hạnh Phổ Hiền, mặc giáp đại thệ của đức Địa Tạng. Chúng sanh chẳng độ trọn hết, sẽ chẳng nhập Niết Bàn.

 

* Kệ lễ ṭa điện Đại Bi bằng đồng

 

          Đảnh lễ đấng Đại Bi viên măn, từ tâm phủ khắp cơi hư không. Sức oai thần tổng tŕ mầu nhiệm. Người tụng cầu ǵ đều thỏa nguyện, con vốn nương vào sức chú sanh[62]. Trong mộng, cha con từng giác ngộ. Thuở bé, con tŕ trai nghiêm túc, mộng cảm Đại Sĩ từng triệu vời. Con do vô thỉ ác nghiệp duyên, mù, thiếu huệ nhăn, theo tà giáo, phá trai, hủy Phật, báng Đại Sĩ. Đại Sĩ vẫn luôn thương xót con. Không ǵ diệu đức ngầm gia bị, khiến cho con rốt cuộc tin kiên cố. Con nay đă phát Bồ Đề tâm, thề mất thân mạng tŕ chánh pháp. Xót xa chướng nặng, Hoặc nghiệp sâu, luôn cách bi tướng của Đại Sĩ. Tam lậu, tam cấu[63] thường hừng hực, tam đức[64], tam thân luôn phủ lấp. Con nay xót xa, phát ḷng thành, nguyện cầu Đại Sĩ luôn xót cứu. Dẫu con trót có vô biên tội. Đại Sĩ có thể tiêu diệt hết. Tuy thiện căn con chẳng thù thắng, Đại Sĩ hay khiến đều trọn đủ. Con đốt cánh tay mười lọn hương, cúng dường Đại Sĩ thân thập giới, tụng tŕ thần chú đủ mười vạn, sám trừ mười ác nghiệp vô thỉ. Nguyện con măi đoạn mười ác nghiệp. Nguyện con rốt ráo mười thiện nghiệp. Hoằng thệ của Đại Sĩ Địa Tạng, mười phương Bồ Tát vi trần nguyện, con đều tùy thuận tu tập trọn, đại thánh oai thần nhiếp thọ con.

 

* Văn khải bạch khởi sự tŕ chú

 

          Quy mạng pháp giới Tam Bảo, các vị thần vương hộ chú, nguyện tỏ lộ từ oai, rủ ḷng chiết phục, nhiếp thọ. Trí Húc trước kia đă tŕ các loại thần chú, hiềm rằng chướng duyên sâu dày, phiền năo nặng, đục, vẫn xen tạp tưởng, thường phạm oai nghi, khắc kỷ, phản tỉnh, thật sự càng thêm thẹn thùng, sợ hăi. Do vậy, lại sanh ḷng bi thiết, lại dốc ḷng chân thành, sửa ư, gột ḷng, gạt bỏ lỗi trước, phát khởi tâm sau, đốt bảy lọn hương, cúng bảy già-đà, bắt đầu từ ngày Mồng Một tháng Mười Một, hằng ngày thề tŕ bảy biến chú Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm. Lại theo thứ tự tŕ đủ các chú. Kế đó, đốt ba lọn hương cúng dường các chú chân ngôn của đức Địa Tạng, thuận thời theo thứ tự cúng dường, đem ḷng xót xa này ắt cầu xin gia bị. Lại nguyện giới căn vĩnh viễn thanh tịnh, Định Huệ tṛn sáng, rộng hóa độ chúng sanh, hàm thức chúng sanh đều về Tịnh Độ.

 

* Văn khải bạch Tam Bảo vào đêm trừ tịch[65] năm Kỷ Tỵ (1629)

 

          Bồ Tát giới tỳ-kheo Trí Húc đă duyệt Luật Tạng lần thứ ba xong, kính cẩn đốt ba lọn hương trên cánh tay, cúng dường Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, ba ngàn vị Phật trong ba kiếp[66], hết thảy Phê Nại Da (Vinaya, Tỳ Nại Da, Luật Tạng) làm đầu, và hết thảy tôn pháp, Di Lặc Bồ Tát, tôn giả Ưu Ba Ly, và các đại sư hoằng Luật tại Tây Thiên, Đông Độ. Lại c̣n đốt ba lọn hương thay cho các vị đồng học X… cúng dường Tam Bảo. Kính nghĩ sau khi chư Phật nhập diệt, lấy Giới làm thầy, chỉ có đúng như lời dạy mà tu hành, th́ gọi là “chánh pháp trụ thế”. Nay đang lúc mạt vận, chuyên đua nhau chuốc lấy hư danh, đối với kinh biệt giải thoát, hiếm người biết rơ đầu mối! Hành pháp Yết-ma, chẳng hiểu khuôn phép. Văn tự pháp sư, cuồng vọng Thiền khách, cùng là trùng trong thân sư tử, mang h́nh dạng, ăn mặc như sa môn, dê con[67] tŕ luật, khiến cho đến nỗi ma quân xâm phạm, khinh nhục. Do vậy, phát trọn tâm thù thắng, thề siêng thủ hộ. Ngưỡng nguyện chư Phật, Bồ Tát, ứng thế thánh hiền, dùng bổn nguyện đại bi, cứu vớt, chiết phục, nhiếp thọ, khiến cho chúng con vĩnh viễn dứt bặt cái tâm lần khân, cẩu thả, nhanh chóng tụ hợp, nắm giữ sức khuông phù, cứu tế, lại giúp Đệ Nhất Nghĩa Thiên, khiến cho vầng mặt trời giới luật nơi pháp lại tỏa sáng, chiếu rạng tam đồ ḥng dứt khổ, che chở lục đạo thường an ổn, sửa sang cho ba nghiệp thanh tịnh, khế hội Tịch Quang, chứng trọn năm thân[68], dạo khắp các cơi nhiều như vi trần!

 

* Hai bài Sớ Tổng và Biệt trong lễ sám khi duyệt Luật

 

          1) Chúng con quy mạng Tam Bảo, và những vị đồng hạnh hiện tiền. Lại nghĩ lấy Giới làm thầy là sự răn dạy sáng suốt tối hậu. Do Giới sanh Định, [đó là] nền tảng vô lậu ban đầu. Xót cơi đời tranh nhau xé nát giềng mối, mừng rằng ḿnh hăy c̣n gặp chánh giáo, bèn phát trọn hoài băo thù thắng, đồng ḷng giở xem [Luật Tạng], kiểm duyệt sắp xong. Sám-ma (sám hối) phát nguyện, tỳ-kheo nhận thẻ[69]. Đốt ba lọn hương trên đỉnh đầu, mười bốn lọn trên cánh tay. Trí Húc thắp hai mươi tám lọn hương, Tánh Hoằng đốt mười lọn hương trên cánh tay, Đạo Viện đốt bốn lọn hương trên cánh tay, cùng với các vị Xđều v́ tứ ân, tam hữu, pháp giới chúng sanh, dấy ḷng Từ vô duyên, vận ḷng Bi đồng thể, bằng với tâm chư Phật, phát lời thề vô tác, ân cần tu Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp (Lương Hoàng Sám), ngưỡng nguyện hết sức xót thương, cứu giúp rộng răi, vớt chúng con khỏi trầm luân trong kiếp trược, thần lực ngầm giúp, ban phước huệ cho kẻ sơ tâm, xiển dương tông chỉ bí mật của Tỳ Ni, Thiền Na và Giáo Quán đều rạng ngời, [tạo thành] kế sách to lớn để đạt đến địa vị Bổ Xứ Phật, kẻ ám chứng lẫn câu nệ kinh văn đều lẩn khuất, người thấy nghe đều thật sự tùy hỷ, người tu tập, học theo sẽ có thể thật sự tu tŕ, phù hợp với sự nhiếp thọ của đức Di Đà, lănh bằng khoán trang nghiêm Tịnh Độ!

          2) Kính lễ Tỳ Nại Da, vô lậu thanh tịnh tạng. Kiến lập và hoằng thông, cùng hành giả tu tập, đúng như lời đă dạy, con nay v́ chính ḿnh, cũng v́ các hàm thức, tổng tập và chú thích [những điều trọng yếu trong Luật Tạng] thành sách Tập Yếu, kính mong rủ ḷng xót thương nhiếp thọ. Trí Húc và pháp giới chúng sanh từ vô thỉ đến nay, mê muội tánh tịch diệt, mở cửa hữu lậu, bỏ thành giải thoát, tạo tội tam nghiệp, hoặc chẳng biết thánh giới, hoặc đă thọ mà chẳng tŕ, cô phụ ơn Phật, hao tổn phước huệ, đến nỗi thân lắm bệnh khổ, tâm quẩn quanh trong ngu muội, tối tăm. Sanh nhằm lúc mạt vận, ma quân trọn khắp cơi đời, may sao được hưởng ḷng Từ sâu xa, được thấy thánh giáo. Lại nhờ mảy may điều thiện, hơi thấu đạt nghĩa lư. Do vậy, phát tâm hộ pháp, lập nguyện hoằng thông.

Lại do nghiệp nặng, chướng sâu, đức nông, giải cạn, xiết bao hổ thẹn, xót xa ngưỡng vọng gia tŕ. Đốt ba lọn hương, v́ khắp quốc vương, tể phụ, cha mẹ, thân duyên, tín thí đàn việt, hộ pháp, cúng dường mười phương pháp giới vô tận Tam Bảo. Lại c̣n đốt hai mươi lăm lọn hương, cúng dường Bổn Sư Thích Tôn, nguyện chánh pháp tồn tại lâu dài, quá khứ thất Phật, nguyện giới pháp lưu truyền. [Cúng dường] A Di Đà đạo sư, nguyện cùng sanh Tịnh Độ. [Cúng dường] Lưu Ly Quang Phật, nguyện viên măn Thi La. A Dật Đa Từ Thị, nguyện thường đến dạy bảo. Ba mươi lăm vị Phật, nguyện ngăn chướng tiêu trừ, và cúng Quán Hư Không Tạng Kinh, nguyện giới thân thành tựu. Tỳ Ni pháp tạng, nguyện lỗi phạm măi sạch, và cúng Hư Không Tạng Bồ Tát, nguyện diệt trừ trọng tội. Địa Tạng Bổn Tôn, nguyện chuyển định nghiệp của con. Văn Thù, Phổ Hiền các Đại Sĩ, nguyện trí hạnh viên măn. Quán Âm, Thế Chí chư Đại Sĩ, nguyện nhiếp về Cực Lạc. Dược Vương, Dược Thượng các Đại Sĩ, nguyện tu pháp cúng dường. Kim Cang Tạng, Chuẩn Đề Tổng Tŕ Vương các Đại Sĩ, nguyện đắc đại đà la ni. Ưu Ba Ly đại sư, nguyện đắc luật nghi tối thượng. Ca Diếp, A Nan tôn giả, và các đại pháp sư phiên dịch, thọ tŕ, nguyện du hóa vô ngại, và cúng Đạt Quán Chân Khả[70] đại sư, báo ân đức khắc in Đại Tạng, chấn hưng đức hạnh Tăng phong. [Cúng dường] ḥa thượng Liên Tŕ Châu Hoằng, báo đáp ân di quy dạy bảo, [cúng dường] sư tổ Hám Sơn Đức Thanh, báo đền sơ duyên phát tâm và đức nhiếp thọ trong mộng. [Cúng dường] ngài Tuyết Lănh Tuấn, báo ân thế độ. [Cúng dường] pháp sư Cổ Đức Đại Hiền, báo đức chứng minh học giới. [Cúng dường] thiền sư Vô Dị Đại Nghị, báo đáp duyên khuyên lơn, tán thán khắc in. Sư huynh Bích Như Hạo, sư huynh Quy Nhất Trù, báo đáp sức tham khảo, giảo đính, cân nhắc để san định, sáu vị sư hiện tại, hết thảy thiện hữu đồng hạnh trong vị lai, nguyện cùng nâng đỡ pháp vận. Thầy Quư Hiền Hiến, thầy Tịnh Không Diệu, các vị tri thức ngoại hộ, nguyện cùng vào ḍng pháp. Kính nguyện hết thảy chúng sanh ngộ môn viên thông, chứng vương tam-muội, phá tan ṿng hai mươi lăm hữu, hiển lộ hai mươi lăm ngă tánh, cùng nhập Liên Bang, đều thành Phật đạo.

 

* Bài khải cáo an cư bàn luận Luật

 

          Đảnh lễ Chân Như thanh tịnh tánh, tu tập viên măn trọn đủ, chẳng tổn giảm. Các công đức thuộc địa vị Học, Vô Học, cùng người chuộng phạm hạnh với tôi, nguyện dấy tâm đại bi đồng thể, thương đời đang trầm luân, điên đảo, thẳng thừng tỏa rạng chánh pháp Tỳ Ni tốt lành, phá trọn Hoặc nghiệp khổ của chúng sanh. Đệ tử Trí Húc v́ khắp pháp giới chúng sanh, v́ cầu chánh pháp luân Vô Thượng Bồ Đề của chư Phật, chuyên tâm giở xem Tỳ Ni Tạng, gom góp, biên soạn những lời dạy trọng yếu để tiện học tập. Lại do nghiệp nặng, phước nhẹ, chướng sâu, huệ cạn, nhiễm tâm dễ lẫy lừng, tịnh đức khó thành tựu, tánh tội ít giữ, giá tội phạm nhiều. Nói dường như dễ dàng, hành thật khó khăn! Chưa đủ sức để tự giữ yên, há mong lợi lạc người khác! Do vậy, chuyên tâm thẹn hổ, triệt để gắng đổi mới, đốt bốn lọn hương, cúng dường Tam Bảo, thiện hữu, phát mười loại thệ nguyện tăng thượng. Trọn hết pháp giới chúng sanh, hễ có ai chưa xả dâm nghiệp, chưa quên dâm pháp, chưa dứt dâm duyên, chưa đoạn dâm nhân, con trọn chẳng giữ lấy Chánh Giác. Hễ có một ai chưa xả nghiệp giết, trộm, [đối với các nghiệp ấy] chưa quên pháp, chưa tuyệt duyên, chưa đoạn nhân, con trọn chẳng giữ lấy Chánh Giác. Hễ có một ai chưa xả ngữ nghiệp nói dối, nói đôi chiều, ác khẩu, nói thêu dệt, chưa quên pháp, chưa tuyệt duyên, chưa đoạn nhân, con trọn chẳng giữ lấy Chánh Giác. Hễ có một ai chưa xả nghiệp tham, sân, tà kiến, chưa quên pháp, chưa tuyệt duyên, chưa đoạn nhân, con trọn chẳng giữ lấy Chánh Giác. Chỉ nguyện pháp giới Tam Bảo, do sức bổn thệ nguyện, chứng biết thương xót, khiến cho con vĩnh viễn trừ hắc nghiệp, tăng trưởng thiện pháp, thiện hữu hài ḥa, thành tựu viên măn thanh tịnh!

 

* Nguyện văn cho ngày giỗ thứ tư của mẹ

         

          Kính lễ đấng đại hiếu, pháp hiếu thuận chí đạo, và hết thảy người cùng tu hiếu đạo trong tam thừa. Con dùng tâm xót xa, khẩn thiết, v́ mẹ lại phát nguyện. Nguyện thầy, bạn trong pháp giới đều rủ ḷng xót thương hộ tŕ. Trí Húc kể từ lúc tại gia đă nhiều tập nhiễm, ḷng hiếu thuận thế gian chẳng chân thật, bỏ từ mẫu khoác áo thâm, mong quyết đắc quả để rộng tế độ. Hiềm rằng Hoặc nghiệp chướng sâu, huệ hạnh phước cạn, chưa dứt sạch tam tâm[71], chẳng tuân thủ nhị lợi (tự lợi và lợi tha). Đă thiếu bề phụng dưỡng, lại mặc t́nh thọ dụng, thiếu nợ! Do vậy, càng thêm hổ thẹn sâu đậm, giăi tấm ḷng son. Do từ mẫu đă qua đời bốn năm, con tu xứng tánh vô tác tứ thệ, khải bạch thiện hữu rủ ḷng bi đồng thể, tu hạnh Tịnh Độ tăng thượng (liệt kê các tỳ-kheo, sa-di, tịnh nhân là mười lăm người, cùng tŕ các bộ kinh ba trăm ba mươi sáu quyển, chú phẩm hai vạn ba ngàn bốn trăm mười bốn lượt, niệm danh hiệu Phật năm mươi mốt vạn sáu ngàn câu, lễ một bộ Thiên Phật Danh Kinh, trong lời nguyện đều chẳng chép rơ).

Trí Húc c̣n hướng về mười phương Tam Bảo và hết thảy thiện hữu, đốt chín lọn hương, mong cho chín giới đồng quy, đem công huân này đều hồi hướng cho cha mẹ con và thân duyên từ vô thỉ, cùng chứng Tịch Quang, mau đạt tới Chánh Giác. Lại nguyện mười vị đại tỳ-kheo hiện tiền viên măn hạnh luân, hiểu rơ Giới thể, ĺa cái nhân ngụy, phá kiến chấp thế tục, vun bồi huệ mạng, từ tâm trọn khắp, xa ĺa ma sự, thoát khỏi t́nh nhiễm, biện định rơ rệt tà chánh, giới lẫn thừa đều gấp. Ba vị sa-di sớm khôi phục giới thân, bẻ găy tràng kiêu mạn, trừ khử tà kiến. Hai vị tịnh nhân[72] ǵn giữ oai nghi, ĺa bạn ác. Lại nguyện các bằng hữu, sanh thân phụ mẫu, thân duyên bao kiếp, cùng dạo chơi thành Tứ Đức, đều vào đất nhị nghiêm (phước trí trang nghiêm). Lại nguyện Trí Húc luôn làm ảnh hưởng chúng cho các bạn hữu. Các bạn hữu thành Phật, con sẽ thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh họ trụ thế dài lâu. Sau khi họ diệt độ, sẽ hộ tŕ chánh pháp, khiến cho cuối đời Mạt [chánh pháp] lại được rạng ngời, cho đến sẽ khiến cho hết thảy người chưa phát tâm sẽ phát tâm, khiến người đă phát tâm sẽ thành thục, khiến người đă thành thục bèn chứng, trọn hết chúng sanh giới đều thành Chánh Giác, con mới tự giữ lấy Bát Niết Bàn. Ngưỡng nguyện Tam Bảo chứng minh, nhiếp thọ.

 

* Lời khải thỉnh tiến bạt [nhân ngày giỗ] mười hai năm của cha

 

          Trí Húc khóc ra máu đảnh lễ dưới ṭa các vị đồng tu Tịnh nghiệp, thắng hữu thượng thiện, kính v́ tiên nghiêm đă khuất núi mười hai năm, ôm nợ xuất gia, vẫn chẳng thể tự cứu. Ngày mồng Năm tháng Mười Một vốn thuộc húy nhật (ngày giỗ), tôi dự định vào ngày Hai Mươi Chín tháng Sáu, đối trước Tam Bảo, đốt ba lọn hương trên cánh tay, cúng dường thiện hữu tri thức, khải thỉnh [chư vị] rộng vận dụng ḷng từ bi, cùng rủ ḷng tế bạt, Phật danh, thần chú, kinh luật, tùy ư thích mà thực hiện, công lan truyền khắp các cơi nhiều như cát, quả tột bậc Pháp Thân, xót xa cầu thỉnh, nghiêm túc kính lễ trọn khắp.

 

* Văn chú nguyện kết đàn Thủy Trai tŕ chú Đại Bi

(ngày mồng Năm tháng Mười Một)

 

          Trí Húc tự xét chướng duyên sâu dày, huệ lực suy yếu, ít ỏi, hạnh ô trược, mà lời lẽ ra vẻ thanh cao, thoạt đầu siêng năng, rốt cuộc biếng nhác, cô phụ ân nặng sanh thành, phụ bạc lời dạy sáng suốt của Từ Tôn. Bốn mươi tám nguyện chỉ đành nói suông, mười hai điều mong cầu, há mong thật quả! Lần lữa tháng ngày, bệnh lẫn nghiệp đều tăng, hoài băo ơ hờ, chí lẫn thân đều suy sụp. Xoắn tay, tự vấn, kinh sợ, lo ngại, bứt rứt, toan phục hồi dự tính cũ, mong đạt được lợi ích mới. Nghĩ lại Trí Húc, bảy tuổi kiêng thịt, chưa biết chánh nhân xuất thế. Mười hai tuổi học Nho, bèn tạo nghiệp nặng báng pháp. Lại nhờ thiện căn chưa dứt, thường ngấm ngầm chuyển dời, được đọc lời tựa của sách Tự Tri Lục. Kế đó, ư bị xoay chuyển bởi lời đàm luận về sự cảm ứng tịch diệt, lễ Dược Sư diệu điển, biết Phật và thần khác xa. Nghe nhân xưa của ngài Địa Tạng, biết noi theo dấu tích hiếu thảo. Đă ôm nỗi đau xót tang cha, lại thiết tha mong mẹ được sống lâu, chép Từ Bi Sám Pháp, dốc chí nơi Thi La (giới luật). Nghe kinh Đại Phật Đảnh, quyết chí ĺa tục. Bỏ mẹ, mặc áo thâm, lập kỳ hạn mong chứng quả. Hiềm rằng sức túc nhân yếu ớt, Hoặc (phiền năo) hiện hành mạnh mẽ, hễ gặp cảnh bèn sanh lắm nỗi trái ngang, đâm ra chẳng ra tṛ trống ǵ! Lại c̣n ưa nói lỗi người khác, ít kiểm điểm chính ḿnh sai trái, thường coi rẻ ưu điểm của người khác, chẳng biết khuyết điểm của chính ḿnh. Tuy luôn luôn phát nguyện, vẫn lắm lượt lăng quên! Hoặc gắt gao tự trách rồi lại lẩn quẩn chểnh mảng. Thân ngụp lặn nổi ch́m theo sóng, sao có thể độ người? Tâm buộc chắc mối tơ ái kiến, sao giải thoát cho ai? Do vậy, giăi tấm ḷng son, truy cầu, bổ cứu nguyện xưa, từ mùa Xuân năm Kỷ Tỵ, đă lập thệ tụng tŕ. Cho đến giữa tháng Đông, lại khởi công sửa lỗi đổi mới. Tới nay, tuy số lượt chú đă tŕ đủ, tâm vẫn chưa tịnh, há chẳng càng thêm hổ thẹn ư? Càng rất đáng đau buồn! Kính đối trước Tam Bảo, Đại Bi Bồ Tát, đốt mười lọn hương, kết đàn bốn mươi chín ngày, kính cẩn giữ trai giới chỉ uống nước, chí tâm tŕ Đại Bi Viên Măn Thần Chú mười vạn tám ngàn lượt, dùng công đức ấy để cầu ắt được gia bị. Nguyện từ nay trở đi, giới căn vĩnh viễn thanh tịnh, giá giới và tánh giới chẳng khuyết, Định Huệ cùng tỏ, tác dụng tịch tĩnh tự tại, dứt khổ tam đồ, chín phẩm sen nở, cùng thấy hào tướng (tướng bạch hào của Phật) to như núi Tu Di, cùng viên măn pháp giới tạng thân.

 

* Văn hồi hướng cho cha

(ngày tháng giống như trên)

 

          Quy mạng đấng vô thượng, cùng với pháp tịch diệt, biển chúng tăng giải thoát, cùng rủ ḷng xót thương hộ tŕ. Trí Húc hai mươi tuổi tang cha, đă manh nha ḷng hiếu cảm. Hai mươi bốn tuổi xuất gia, chưa sầu lo v́ nghiệp nam nữ, vốn mong lợi khắp [chúng sanh trong các cơi nước nhiều như] cát, bụi, há chỉ nguyện [thân thuộc] chín đời được siêu thoát! Đáng tiếc nghiệp chướng quấn sâu, chẳng thể đắc quả. Nghĩ tới ân vơng cực, suốt ngày tiếc nuối. Nay gom kinh chú của chính ḿnh và người khác (liệt kê: Niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát bảy mươi tám vạn tám ngàn câu, tụng các bộ kinh một ngàn bốn trăm chín mươi mốt quyển, các chú phẩm mười ba vạn tám ngàn năm trăm hai mươi lượt, một bộ sám pháp, tự tŕ các kinh bảy bộ, chú phẩm bảy vạn lượt, danh hiệu chư Phật, chư Bồ Tát hai mươi ba vạn câu, nhưng chẳng sao chép chi tiết vào đây). Đốt ba lọn hương, cúng dường pháp giới Tam Bảo. Kính nguyện cụ Chung Chi Phượng mau siêu thăng cơi tịnh, sớm ngộ Tịch Quang. Lại nguyện quá khứ phụ mẫu, thân duyên vĩnh viễn ĺa vọng duyên, đều hiểu thường lạc. Các thiện hữu đồng hạnh hiện tiền cùng báo từ ân, cùng nhau bi ngưỡng, tán dương Tam Bảo, chứng minh nhiếp thọ.

 

* Hai bài kệ phát khởi đàn tụng chú Lăng Nghiêm và Hồi Hướng

(năm Tân Mùi -1631)

         

          1) Đảnh lễ đại từ bi, đấng cứu hộ mạt kiếp. Con nghĩ khổ mạt kiếp, phá giới là nặng nhất. Con nghĩ cách cứu khổ, không ǵ hơn Luật Tạng. Nếu Tỳ Ni trụ thế, chánh pháp măi chẳng diệt. Hạnh thành, quả ắt đạt, giáo chẳng phải nói suông. Hoặc do sức tŕ giới, mau thành đấng tịnh măn. Hoặc do tịnh Thi La, nghiêm tịnh các cơi Phật, hoặc do biệt giải thoát, làm Độc Giác, Thanh Văn. Hoặc do sức thiện giới, sanh Thiền và thiên đạo, thù thắng trong loài người. Phước lạc, danh xưng tốt, quả sai khác như thế, đều do giới đạt được. Cận quả nói sai khác, rốt ráo quy Nhất Thừa. Pháp thắng diệu như thế, nguyện v́ con tỏa rạng, phổ độ trong đêm dài, chúng không nơi nương cậy. Do vậy, dùng trăm ngày, đàn thanh tịnh gởi thân, để tŕ chú viên măn, trọn đủ mười vạn lần. Lại tŕ thêm một vạn. Diệt Định Nghiệp năm vạn, cùng hồi hướng Bồ Đề, cùng sanh cơi Cực Lạc. Chỉ mong Tam Bảo tôn, chứng minh thương nhiếp thọ.

          2) Quy mạng Minh Hạnh Túc, đấng hiển mật thanh tịnh, các tu tŕ thù thắng. Công đức Học, Vô Học, con hổ thẹn phát tâm, vào đàn tŕ thần chú. Nhiều lượt tâm c̣n tạp, oai nghi cũng bất tịnh. Tâm lo sợ gấp bội, nguyện phát, sự khó thành. Nên đốt mười lọn hương, sám hối mười ác căn. Tŕ thêm một vạn lần. Diệt Định Nghiệp năm vạn, cũng đốt tay sáu lọn, gia bị nguyện xứng tâm. Lại v́ mười một bạn, tŕ chú Diệt Định Nghiệp, tổng cộng chín mươi vạn, tay đốt hương bảy lọn. Lại chí tâm báo ân, tâm truy tiến độ thoát, những người đă sớm khuất, tâm khuyến, chuyển, tùy hỷ. Tâm trừ tà, lầm, bi cứu. Tâm rộng cứu bằng hữu. Tâm v́ đàn hộ hoằng pháp. Tâm từ niệm duyên hội xưa nay, muốn tŕ ba trăm hai mươi vạn. Tay đốt hương bảy lọn, khiến bảy tâm đều thành.

 

* Bài kệ hồi hướng tŕ tụng (kế tiếp)

 

          Kính lễ đấng Thiện Thệ, vô thượng hiển mật tạng. Tam thừa hiền thánh chúng. Địa Tạng Diệt Nghiệp chú. Con do đại Bồ Đề, tối sơ thanh tịnh tâm, lại v́ các bạn lành, tŕ bốn mươi tám vạn. Nếu có bậc Thiền Tư, khéo nhập các tam-muội, chẳng dấy tăng thượng mạn, luôn tu thắng pháp nhẫn. Người tŕ kinh đạt nghĩa, tu hành đúng lời dạy. Người tạo phước tùy tâm, sợ tội nghiêm Phật thừa, người trụ giới thêm sáng, đă phạm, chóng quy chân. Chưa nắm giữ oai nghi, tôn trọng chánh pháp giáo. Hoặc kẻ hủy trọng cấm, nguyện sanh thẹn sâu xa. Nhổ trừ gốc phạm tội, mau đạt lư Vô Sanh. Nay con đốt lọn hương, cúng dường Tam Bảo tôn. Nguyện con hàm thức, diệt trừ hết thảy nghiệp. Lại đốt ba lọn hương, sám hối ác tam nghiệp. Từ nay thề măi đoạn, dấy vô tác thiện căn. Kính vâng kinh Chiêm Sát. Gieo mộc luân quyết nghi, cũng dùng diệu pháp này, lưu thông ích thế gian. Con thề dùng thân tâm. Dâng lên Địa Tạng chủ, ở trong sát trần kiếp, trụ măi trong các khổ, chịu khổ thay chúng sanh, khiến họ thành Phật trước. Kiếp thạch[73] có thể dời, nguyện này trọn chẳng đổi. Phước nghiệp con đă tu, sám hối, phát hoằng nguyện, các thiện căn thù thắng, thể tánh đồng pháp giới. Mỗi mỗi đều hồi hướng, thí trọn các hàm thức, đu nguyện chứng chân thường, cùng về cơi Tịch Quang.   

 

* Bài văn lễ Đại Bi Sám tại Long Cư

(năm Nhâm Thân - 1632)

 

          Quy mạng thắng oai đức, dũng mănh Nhân Sư Tử, sức bất cộng vô úy, đấng đại bi cứu đời. Quy mạng đèn soi đời, pháp xuất yếu chân thật, hiển mật chẳng nghĩ bàn, xé toạc lưới ái kiến. Quy mạng cha chúng sanh, đấng từ nguyện khôn sánh, trụ quả dạy nhân hành, đấng trụ chẳng nghĩ bàn. Quy mạng Đại Minh Vương, phẫn nộ hàng ma ngoại. Thắng từ bi chân thật, điều phục kẻ khó điều. Con nay phát hoằng nguyện, thề đoạn ác, tu thiện, đốt bốn lọn hương, ở ngay trên đỉnh đầu, trần bạch thân tâm ḿnh. Đệ tử Trí Húc tự xét chướng duyên sâu nặng, tội lỗi lắm nỗi, Hoặc nhiễm tràn trề, nghiệp lụy chồng chất. Trước lúc quy y, tin tưởng, đă tạo vô biên tà báng. Dẫu sau khi học đạo, vẫn bị vô lượng khiên vưu quấn trói, ôm ấp chí tứ thệ, cố nhiên muốn sánh bằng bậc triết nhân thuở trước. Bảy chi thân khẩu[74] thường khiến tiền hiền thất vọng. Trong th́ do sức yếu, cảm lấy duyên bên ngoài rối ren, dă can (chó rừng) tranh đua gào hú nơi đại địa, dê con khắp xứ trong cơi đất. Không chỉ sữa lẫn nước[75] khiến người uống thêm bệnh, lại c̣n dùng chất độc làm thức ăn khiến người nếm táng mạng. Do vậy, buốt ḷng nhức óc, xót xa tŕnh với từ tôn, một kỳ phương tiện, ba thất huân tu, nguyện ban cho lũ đui mù mau viên măn phước huệ, chẳng hoại chánh giáo của Như Lai, chớ phá nát tràng báu xuất thế. Nguyện những người đồng hạnh với con, cùng các đàn na, các vị hiền nhân ngoại hộ, đại chúng thấy nghe, ai nấy giữ vững chí sâu, cùng nỗ lực nơi đại đạo của bậc thánh hiền thuở trước, tánh tội lẫn giá tội sạch làu, rốt ráo thanh tịnh, giữ nghiêm Thiên Tụ[76] chẳng khuyết, ngộ nguồn chân vô tránh, trừ pháp chấp vi tế, rống tiếng sư tử, diệt nỗi ngu hư luận. Lại nguyện đại chúng hiện tiền và khắp các hàm thức, các vật cần dùng cho cuộc sống, nhân duyên học đạo, không ǵ chẳng thuận ḷng, đều có thể măn nguyện, hóa Tam Độc thành tam giải thoát, chuyển lục đạo thành lục thông, thấy Tịnh Độ ngay trước mắt, chứng Bồ Đề ngay trong một niệm hiện tiền. Tánh, tu chẳng hai, đủ các loại hạnh môn, Lư, Sự giao ḥa, hưng khởi trùng trùng pháp hóa, in nguyện tỷ[77] của Di Đà đầy ắp nơi bi tâm tự tại.

 

* Kệ kết đàn tŕ chú Đại Bi

 

          Quy mạng Thí Vô Úy, đấng đại bi cứu thế, thần diệu bí mật luân, và hết thảy Tam Bảo. Nghiệp con sâu như biển, nỗ lực siêng Thiền Định. Nửa thân cảm đau xót, thật do cội Tam Độc. Nay hổ thẹn tự trách, đốt tay ba lọn hương, kết tịnh đàn một thất, tŕ Đại Bi một vạn, thề sẽ siêng tinh tấn, hộ Phật chánh pháp luân. Chẳng tiếc nuối thân mạng, chỉ tuyên Nhất Thừa giáo. Con nay đem thân tâm, dâng lên ngôi Tam Bảo, kính mong b́nh đẳng bi, rốt ráo gia hộ cho.

 

* Kệ kết đàn tŕ chú Văng Sanh

 

          Đảnh lễ Vô Lượng Thọ, Bạt Nghiệp Chướng Căn Bản, Quán Thế Âm, Thế Chí, hải chúng Bồ Tát tăng. Con mê bổn trí quang, hư vọng đọa vào trong, nỗi khổ của luân hồi, bao kiếp chẳng tạm ngừng. Không cứu, không về nương. Được thân người hèn kém, vẫn gặp kiếp trược loạn. Tuy được dự làm tăng, chưa nhập ḍng nước pháp. Mắt thấy pháp luân hoại, không có sức cứu văn. Do từ đời vô thỉ, chẳng gieo thắng thiện căn, nay dùng tâm quyết định, cầu sanh cơi Cực Lạc. Nương vào thuyền bổn thệ, rộng độ kẻ trầm luân. Nếu con chẳng văng sanh, chẳng thể măn sở nguyện. V́ thế, cơi Sa Bà, nhất định nên xả ly, như người bị chết đuối, cầu chóng tới bờ trước! Bèn dùng sức phương tiện, cứu trọn người thác cuốn. Con dùng tâm chí thành, thâm tâm, hồi hướng tâm. Đốt tay ba lọn hương, kết tịnh đàn một thất, chuyên tŕ chú Văng Sanh, chỉ trừ lúc ăn ngủ. Do sức công đức này, quyết cầu sanh An Dưỡng. Nếu con thoái sơ tâm, chẳng hướng về Tây Phương, thà liền đọa Nê Lê (địa ngục), khiến mau sanh hối cải. Thề chẳng luyến trời, người, cùng với chốn vô vi. Ngưỡng nguyện đại oai thần, lực, vô úy, bất cộng, Tam Bảo vô biên đức, gia bị bọn Trí Húc, chiết phục khiến chẳng thoái, nhiếp thọ khiến tăng trưởng.

 

* Văn hồi hướng kết đàn niệm Phật

 

          Đảnh lễ A Di Đà, pháp chư Phật hộ niệm, Tịnh Độ các thánh hiền, xin rủ ḷng thương xót hộ tŕ. Trí Húc từ vô thỉ tới nay mê lư thường trụ, đánh mất trí huệ sáng suốt, trái nghịch tự tánh, oan uổng hứng chịu luân hồi, giữ lấy vọng tâm, vĩnh viễn trái nghịch chân cảnh. Thiện căn tuy phát, gia nhập chánh giáo, ĺa nhà, riêng tập khí cũ quá nồng, dẫu được tam-muội hun đúc mà chẳng thành tựu. Dốc ḷng nơi cơi tịnh, thề thoát ṿng khổ, cơ cảm chẳng chuyên, thánh ứng chẳng hiển. Tháng năm ơ hờ, hoài băo quên bẵng, đáng đau, đáng xót, không băi, không bến! Nay nương theo giáo huấn chân thật của đức Thích Ca, tŕ danh bảy ngày, gieo ḿnh vào từ quang vô lượng, cầu độ thoát trong một đời. Gởi thân chốn đàn tràng thanh tịnh, chuyên xưng hồng danh, dù định hay tán, hữu kư, vô kư, nương bi luân của Phật, công chẳng luống uổng. Nguyện do công đức và các thiện căn, đều cùng chúng sanh hồi hướng An Dưỡng. Ngưỡng mong ma chướng trong hiện đời tiêu trừ, khi xả báo, chánh niệm quyết định, trong khoảng sát-na, sanh về trước Như Lai, được thọ kư Bồ Đề, măn bổn nguyện luân.

 

* Văn kết đàn lễ Đại Bi Sám

 

          Trí Húc và chúng sanh tự mê giác tánh, luôn ở trong ngu muội, mắt cách tuyệt viên thường, tai trái nghịch vi diệu, chẳng biết lúc xuất yếu, oan uổng bị tác dụng nghe ngóng sai khiến. Sau khi nghĩ đến đạo, ngược ngạo cậy vào công năng nhanh nhạy, nghe pháp ngữ th́ vừa nhớ lại quên, đọc kinh điển th́ sót trước, quên sau, khiến cho vô thượng đề hồ chẳng cách nào nhiễm vào thần thức. Bản thể bảo châu tṛn sáng, không cách nào rọi sáng cái tâm, quán hạnh khó thể có hiệu quả, há có thể tự lợi? Biện tài quẩn quanh trong chương cú, mong chi lợi người? Do vậy, xét ḿnh biết lỗi, dập đầu cầu xót thương, tin chắc chắn bi tâm của Đại Sĩ, quy mạng thần lực tổng tŕ, đốt ba lọn hương trên đỉnh đầu, cúng dường Đại Bi Tam Bảo, nguyện dùng trí huệ quang tưới gội đỉnh đầu con, dùng nước Văn Tŕ gột rửa cấu nhơ trong tâm con, khiến con mau chóng ĺa ám độn, sớm được mở mang sáng suốt, vẳng nghe chư Phật chuyển diệu pháp luân, vĩnh viễn chẳng sai sót. Thường đọc tam thừa pháp tạng rất sâu, mắt liếc qua chẳng quên, cùng với chúng sanh đồng khai Phật huệ, tánh tu xen nhau, mau chóng chứng viên thường.

 

* Sớ [khải bạch tụng niệm] thêm Tổng Tŕ

 

          Kính lễ từ tôn Địa Tạng Vương, thần chú có thể khéo diệt định nghiệp, cứu trọn khắp vô biên nỗi khổ ngũ trược, nối tiếp hưng thịnh chủng tử Tam Bảo chẳng đoạn. Trí Húc cùng pháp giới chúng sanh mê muội tịnh tâm vốn có, đă tạo định nghiệp, bị vô minh che lấp, chẳng tự giác tri. V́ thế, ngày nay cùng vướng khổ báo, xa cách chánh pháp, gặp phải ma tà, nói Đại Thừa điên đảo, vu báng, hủy phá liễu nghĩa, đuổi theo những thiện báo nhỏ nhặt trong đời sau, quên bẵng khuôn phép của đấng giáo chủ. Nếu tuyên nói thật đạo, đâm ra bị chê bai, quở trách. Tuy hiểu chân thừa, vẫn thiếu trí đoạn. Than đồng tu điêu linh, buồn ngoại hộ mù mờ, quả há phải do lỗi ai khác, vốn do ḿnh tự tạo! Chỉ xét ḷng mà tâm hối hận, bi ngưỡng xót xa khẩn cầu, cung kính niệm chân ngôn diệt nghiệp[78] của vô thượng y vương Địa Tạng Đại Sĩ. Vô biên thần lực, chắc chắn có thể dẹp trừ khổ tam chướng, ban niềm vui Tam Đức. Do vậy, chuyên tâm tŕ tụng, mong mau được ngầm gia bị. Trước đó đă tŕ ba trăm hai mươi vạn lần, một trăm vạn lần, bốn mươi tám vạn lần đă xong, nay lại v́ các vị… (nguyên văn lời sớ liệt kê tên các tỳ-kheo, sa-di, cư sĩ v.v… chẳng sao chép vào đây) mỗi người mỗi sai biệt, chí tâm cùng nhau tŕ được một trăm bốn mươi vạn lần.

Kính nguyện hết thảy tỳ-kheo tăng trưởng phước huệ, thành tựu thánh căn, đoạn lưới ái thế gian, đập tan núi ngă kiến. Hết thảy sa-di chí ngưỡng mộ bậc đại tăng, quyết đạt tới tịnh hạnh, tăng tu giới huệ, vứt bỏ huyễn duyên, mong thề hẹn giống bậc tiên triết, cư xử chẳng giống thói tệ hiện thời. Hết thảy đàn việt hộ tŕ biết rơ đúng sai, liễu đạt tà chánh, nguyện làm con mắt cho chúng sanh, dùng thân làm ṭa thành Phật pháp. Lại nguyện ai nấy tin tưởng kế sách Tịnh Độ huyền diệu, cùng gắng hành diệu hạnh Lạc Bang, trọn đủ các giới phẩm, đọc tụng Đại Thừa, tin sâu nhân quả, hiểu Đệ Nhất Nghĩa, thường v́ người khác nói viễn nhân của ngài Pháp Tạng, cái quả hiện tại của đức Di Đà, khiến cho các hữu t́nh đều thoát ṿng khổ, đều được an lạc. Lại nguyện Trí Húc và các tri thức làm chủ bạn lẫn nhau, luôn chuyển pháp luân, thề diệt định nghiệp tam đồ, mầu nhiệm diễn nói lời An Dưỡng chân thật. Kính mong Tam Bảo thánh tôn đồng thể nhiếp thọ.

 

* Lời khải bạch v́ cha mẹ cầu cứu bạt trọn khắp

 

          Bất tiếu Trí Húc sanh năm Kỷ Hợi (1599) thời Vạn Lịch. Khi ấy, cha mẹ đều bốn mươi tuổi, chỉ có một con, chăm bẵm bội phần. Húc tṛn hai mươi, tiên nghiêm khuất bóng, chưa thể hiếu dưỡng ngày nào, chỉ đành thiết tha suốt đời tiếc nuối. Kể từ lúc nghe Phật pháp, biết rơ hiếu đạo theo kiểu thế gian chẳng chân thật, hai mươi bốn tuổi ĺa mẹ trốn đi, vốn mong hạn định thời gian quyết chứng quả, để đền chung tứ ân. Khốn nỗi nghiệp nặng, chướng sâu, tŕ trệ trong địa vị phàm phu đă lâu, tới lúc tôi hai mươi tám tuổi, mẹ lại bỏ đi, mà đối với đại hiếu xuất thế, Húc thấy ḿnh chẳng ra sao, xót ân vơng cực bội phần, rốt cuộc rơi vào lưới ưu lự. Xuất gia mười hạ, bạch nghiệp chẳng thành, xoắn tay, xét ḷng, đáng thẹn, đáng hăi! Ngày mồng Một tháng Sáu năm sau là [ngày giỗ] năm thứ bảy của tiên từ Kim Đại Liên, ngày mồng Năm tháng Mười Một là [kỵ nhật] mười lăm năm của tiên nghiêm Chung Chi Phượng, tự lực yếu ớt, đáng nên xin thầy bạn ban ơn. Pháp thí là bậc nhất, há đâu keo tiếc đối với kẻ ngu hèn, nhờ vào đồng thể đại bi, tạo vô duyên cứu bạt. Nếu đời này Trí Húc được giải thoát, thề sẽ nơi nơi cùng làm ảnh hưởng chúng. Nếu thân đời này trầm luân, nguyện vĩnh viễn chịu thay các khổ. Lại tự tŕ Diệt Định Nghiệp chân ngôn hai ngàn vạn lần, tụng phẩm Không của kinh Kim Quang Minh hai ngàn lượt, quyển thượng kinh Phạm Vơng một ngàn lượt, v́ cha mẹ tôi cầu khẩn các đồng nhân tạo cái nhân tăng thượng thù thắng lẫn nhau, cùng vào biển nguyện Di Đà!

 

* Sám văn lễ kinh Kim Quang Minh lần nữa

 

          Quy mạng đấng Năng Nhân phước huệ, biển tánh tối thắng Kim Quang Minh. Tín Tướng[79] công đức đại cát tường, cùng ban từ bi rủ ḷng nhiếp thọ, hộ tŕ. Bọn Trí Húc v.v… (nêu ra sáu người, nhưng không sao lục [đầy đủ tên họ]), v́ khắp chúng sanh, cầu diệt tội chướng, chuyển chánh pháp luân, đúng pháp kiến lập diệu sám cát tường Kim Quang Minh Kinh, chí thành cầu thỉnh mười phương Tam Bảo, Công Đức Đại Thiên[80], phổ nguyện do ḷng từ viên măn, sẽ nhanh chóng rủ ḷng ứng hiện mầu nhiệm. Lại nghĩ chúng con tự mê tánh Kim Quang Minh, dấy đủ nghiệp tham, sân, si, chấp ngă, ngă sở, ngang ngược nẩy sanh thị phi, chướng nguồn trí huệ chân thật, hư vọng cầu trí thế gian, chôn vùi thánh tài pháp lạc, hư vọng yêu mến của cải thế tục đến nỗi mê nhân muội quả, coi rẻ pháp, dối ḷng, cảm báo đọa trong tam đồ khổ sở cùng cực, dư ương trăm nỗi khôn cùng! Nay mới giác ngộ, thống thiết sửa lỗi sai thuở trước, năm vóc mọp lạy gieo ḷng thành, giăi bày nhất tâm hối tội. Nguyện chúng con từ vô thỉ đến nay, tam nghiệp, lục căn, chướng nặng trót tạo, ác nghiệp phiền năo, ương hại do hoa báo và quả báo, sẽ đều do công đức của Kim Quang Minh Hải Tam Bảo, và oai thần từ bổn nguyện của Cát Tường Đại Thiên, trong khoảng một niệm, thảy đều tiêu diệt, hiển phát tự tánh huệ luân, thành tựu khối phước sẵn có, tiếp nối hưng thịnh Tam Bảo, lợi khắp trần sa.

Lại nguyện Trí Húc thân chẳng có các bệnh, tâm ngộ tổng tŕ, tự chứng pháp môn, diễn nói thanh tịnh. Chúng con đau đáu nghĩ tới Sa Bà, cầu đại pháp sâu xa, thân tâm nhất trí, phước huệ cùng tu. Chúng con hiểu rơ chánh pháp, cắt sạch hồ nghi, dứt sạch cái tâm ngả theo thói tục, mong nương theo hạnh của bậc tiên triết. Con mạnh mẽ tỉnh ngộ vô thường, tận lực trừ sân mạn, tự phản tỉnh, tự cổ vũ, chẳng nghĩ tới lỗi quấy của người khác. Con rộng phát đại nguyện, khéo học theo cổ nhân. Con vĩnh viễn ĺa điệu cử, thành tựu cái nhân sâu xa. Con khai phát kẻ tối tăm, tăng trưởng tín căn. Lại nguyện người làm việc nhọc nhằn, thấy nghe tùy hỷ, cùng gieo nhân thù thắng, b́nh đẳng hưởng lợi ích thù thắng, cho tới pháp giới hàm thức đều nhờ oai lực của kinh, ngưỡng nhờ sức sám hối, nhanh chóng rỗng không hai thứ tử (phần đoạn và biến dịch), đều chứng tam thân, ngưỡng mong kim hải thánh thiên[81], thấy biết, chứng minh nhiếp thọ.

 

* Văn kết đàn để lễ sám và hồi hướng tŕ chú bổ sung

 

          Trí Húc và chúng sanh đối với pháp đồng thể lại huyễn thành mười giới sai khác. Đối với cảnh chân thường, lầm lẫn tạo thành ba đời khác biệt. Đă cách biệt diệu thể Giá Na, nào có biết luật trọng yếu nơi chánh pháp. Chánh Pháp chuyển sang Tượng Pháp, Tượng Pháp chuyển sang Mạt Pháp, ai nghĩ làm trụ đá giữa ḍng[82]. Nhẹ thành nặng, nặng thành cố định, ai thấu đạt duyên sanh vô tánh? Con nay ngưỡng nhờ ḷng bi viên măn chân thật của Quán Âm đại thánh và Địa Tạng từ tôn, nên mới được giác ngộ, tin tưởng lư tam vô sai biệt (tâm, Phật, chúng sanh vô sai biệt), mười giới chẳng ĺa nhất tâm, hiểu tông “Phật tánh thường trụ”, ba đời chẳng ĺa khỏi một niệm hiện tiền. Do vậy, phát tâm rộng lớn, tu Chân Ngôn hạnh, thề diệt định nghiệp của ḿnh lẫn người, trùng hưng Tỳ Ni nơi chánh pháp. Con đă từng tŕ chú Đại Bi mười vạn tám ngàn lần ḥng gia bị Tỳ Ni Tập Yếu lưu thông lợi ích cơi đời. Nay lại sáu thời hành đạo, huân tu một thất, đốt ba lọn hương, hồi hướng Phật thừa. Kính mong đấng Thiên Thủ Thiên Nhăn, ḷng từ chân thật, thù thắng, chuyên xót thương kẻ ương ngạnh, mau chóng rủ ḷng chiết phục, nhiếp thọ, khiến cho chánh pháp của Như Lai lại rạng rỡ nơi Chi Na, bến mê trong vận Mạt sẽ lại quay về sự giáo hóa cao tột, kẻ nhiễm ô đạo sẽ sanh tâm hổ thẹn, chẳng đắm ch́m trong Không kiến, lũ dê con sẽ đạt được Văn Huệ và Tư Huệ, chẳng quẩn quanh trong phường phàm ngu. Lại v́ người áo thâm, kẻ áo trắng, tŕ tụng thêm Diệt Định Nghiệp chân ngôn một trăm bốn mươi vạn lượt đă xong, lại đốt ba lọn hương để cùng hồi hướng chung. Lại nguyện tam đồ dứt khổ, tám nạn trừ tai, cạn kiệt sóng gió nơi biển nghiệp, đập nát cội rễ nơi rừng Hoặc, ngũ trụ tiêu trừ trọn vẹn, tam luân cùng tịnh, ngộ giới thể quả tột bậc Pháp Thân, liễu đạt tánh tội và giá tội, hạnh cùng thanh tịnh, viên măn, dứt trừ chấp trước đối với Đại, Tiểu, Thiên, Viên, cùng hiểu Nhất Thừa, người có ḷng ôm “phao nổi, cỏ trói”[83] sâu xa đầy khắp pháp giới, chứng Tông Thông lẫn Thuyết Thông[84], Thiền và Giáo bất nhị, tu Sự, Lư nhất trí, nhân quả cùng phù hợp, thân cận Phật Di Đà nơi An Dưỡng, phù tá đức Di Lặc trong hội Long Hoa, t́nh và vô t́nh đều đạt tới thường lạc.

 

* Nguyện văn lễ Đại Bi Sám

 

          Đảnh lễ Tam Bảo là bậc oai đức không ngằn mé, Quán Thế Âm, Địa Tạng cùng rủ ḷng thương xót hộ tŕ. Trí Húc và chúng sanh tự mê tánh đức, luôn tạo nghiệp duyên, chướng ngại giác thể, chẳng hiểu pháp nhân, Năng Sở lẫy lừng, ḿnh người ngang trái cách biệt, trầm luân trong sáu đường, khốn đốn trong tam đồ, thậm chí có được thân người hèn kém, vẫn gặp các chướng, gieo thân vào chánh giáo, chưa biết bến diệu. Ấy là do nghiệp nặng, đến nỗi cuộc sống gập ghềnh. Lại nghĩ căn cội sanh tử, ái nhiễm đứng đầu, ẩn nấp trong tạng thức, khó đoạn, khó trừ. Con tuy ngầm được Đại Sĩ, Tam Bảo gia bị, có lúc sanh khởi hạnh tạp uế chẳng hổ thẹn chẳng thuộc tập khí, lại c̣n tập khí xấu ác từ vô thỉ luôn khởi theo mỗi niệm, thân tham các chạm xúc, miệng chuộng lời ác, ba nghiệp, sáu căn, tội thật vô lượng! Chính ḿnh chưa tịnh, sao hướng dẫn người? Xoắn tay tự vấn nội tâm, thật đáng thẹn nhục! Nay thừa dịp Đại Bi tịnh đàn, công khóa hằng ngày là một quyển Phạm Vơng Giới Kinh, tu hành bốn mươi tám nguyện, niệm A Di Đà Phật một ngàn câu, tŕ phẩm Không của kinh Kim Quang Minh một quyển. Lại tổng tŕ chú Đại Bi một vạn lượt, chú Phật Đảnh một ngàn lượt để làm phương tiện đoạn Hoặc, và v́ quá khứ, hiện tại các vị tŕ kinh chú, chuyên thân hồi hướng, ngày khai đàn đốt năm lọn hương trên đỉnh đầu.

Nay nhằm ngày hoàn măn, lại đốt hai mươi mốt lọn hương trên cánh tay, cúng dường Lô Xá Na Phật, Thích Ca Mâu Ni, A Di Đà Phật, Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Phật[85], chín mươi chín ức Căng-già-sa Phật, Chánh Pháp Minh Phật[86], mười phương ba đời chư Phật, cúng dường phẩm Bồ Tát Tâm Địa của kinh Phạm Vơng, kinh Đại Bát Niết Bàn, Đại Bi Tâm Đà La Ni, Tất Đát Đa Bát Đát Ra thần chú[87], Diệt Định Nghiệp chân ngôn, hết thảy các pháp tạng hiển mật. Cúng dường Quán Thế Âm, Địa Tạng Bồ Tát, Đại Thế Chí, Tổng Tŕ Vương, Nhật Quang, Nguyệt Quang, Bảo Vương, Dược Vương, Dược Thượng Bồ Tát, Hoa Nghiêm, Đại Trang Nghiêm, Bảo Tạng, Đức Tạng, Kim Cang Tạng, Hư Không Tạng Bồ Tát, Di Lặc, Phổ Hiền, Văn Thù Sư Lợi, mười phương ba đời hết thảy Bồ Tát. Cúng dường Ma Ha Ca Diếp, Ưu Bà Ly, A Nan, hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác, hiền thánh tăng. Cúng dường các vị tới Chấn Đán (Trung Hoa) đầu tiên là các ngài Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, vị sang Tây Càn (Ấn Độ) đầu tiên là tôn giả Pháp Hiển, giáo chủ Tịnh Độ là Viễn Công tôn giả, vị cầu thấy xá-lợi là tôn giả Khang Tăng Hội, sơ tổ Thiền Tông là tôn giả Đạt Ma, Thiên Thai Trí Giả đại sư, Tướng Tông Huyền Trang pháp sư, Thanh Lương Trừng Quán quốc sư, hội quy tông kính Vĩnh Minh đại sư, trùng chấn Tăng phong Đạt Quán đại sư, và vị thầy giới pháp tư thục[88] là Vân Thê Châu Hoằng ḥa thượng, hiện thân tiếp dẫn trong mộng là tổ sư Hám Sơn Đức Thanh v.v… Hết thảy Tam Bảo sư tăng như thế, con đă cúng dường xong, gieo ḿnh mọp đất phơi gan, bẩm bạch như thế này:

Nguyện ba nghiệp của con rốt ráo thanh tịnh, thân chẳng phạm mảy trần, miệng chẳng có các sai trái, ư vĩnh viễn ĺa ái kiến. Nguyện cha mẹ [hiện đời] và các phụ mẫu từ vô thỉ cùng sanh Tịnh Độ. Nguyện các tỳ-kheo đồng hạnh (chín vị) phát bi nguyện sâu, khoác giáp kiên nhẫn. Nguyện các vị tỳ-kheo ngoại hộ như thầy X… (nêu danh tám vị) yêu mến chánh pháp sâu xa, tùy thuận thấu hiểu chúng tăng. Nguyện các tỳ-kheo tùy hỷ như thầy Y… thành tựu nhẫn lực, ngầm gánh vác pháp môn. Nguyện các vị Z… (kể tên ba vị) thống thiết trừ phạt thói tệ hiện thời, tận lực noi theo phong cách xưa. Nguyện các tỳ-kheo cùng kết thệ nguyện là thầy X… b́nh đẳng đại bi, nghĩ thương xót kẻ cứng cỏi, tệ ác. Nguyện họ mở giáo nhăn sâu xa, hiểu tường tận Tỳ Ni. Nguyện họ thành tựu khai trí, rộng thấu đạt chân tông. Nguyện các vị… (nêu tên bảy người) quyết trừ tập khí, thâm nhập pháp môn. Nguyện họ đau đáu nghĩ tới vô thường, suy nghĩ sâu xa lẽ xuất yếu, vĩnh viễn trừ siểm nịnh, dối trá, thành tựu cái nhân chân thật. Sa-di và hành nhân (nêu tên mười người) thành tựu cái nhân sâu xa, mong cầu thật quả. Nguyện các vị... (kể tên chín người) chuyên ṛng cầu xuất yếu chí, quyết chí thề đến Liên Bang. Nguyện các vị X… (nêu tên tám người) kiêm tu Tam Học, nhị nghiêm (phước và trí) đều trọn đủ. Nguyện kẻ phá giới Xiển Đề (nêu ra bốn người) sẽ tùy duyên mà cảnh tỉnh, hiểu ra, nhanh chóng trừ tà tâm, tin sâu nhân quả, sớm cầu diệt tội. Nguyện đàn việt, hộ tŕ là… dùng huệ viên thông để tu phước xứng tánh. Nguyện các vị… (kể tên mười sáu người) thành tựu pháp xuất thế, thoát khỏi ái sử buộc ràng. Nguyện các vị tỳ-kheo đă khuất (nêu tên mười một vị), sa-di (nêu tên sáu vị), xử sĩ… đều thoát u đồ, mau về lạc thổ. Nguyện ưu-bà-di Lô Trí Phước đă khuất văng sanh Tịnh Độ, sen nở thượng phẩm, được thọ kư chứng quả ngay trong một đời, dùng Như Ư Thông rộng độ hàm thức.

Do công đức đốt hương, phát nguyện trên đây, trên là báo ân Phật, dưới là văn hồi kiếp trược. Nguyện hết thảy người tŕ luật thật sự hiểu rơ nguồn khai, giá, tŕ, phạm, ngộ sâu xa pháp Định Cộng, Đạo Cộng, chẳng chất chứa sai ngoa, ích kỷ. Chẳng do tập khí, lậu Hoặc mà diệt pháp, thường dự vào địa vị Bổ Xứ thành Phật, chẳng giống loài dê con. Hết thảy người diễn giáo sẽ giải hạnh song tu, Giáo lẫn Quán cùng nêu, giữ ǵn giới luật tinh nghiêm, thông đạt Thiền Tư, chẳng giống như kẻ kể chuyện ăn, đếm của báu, khéo có thể thuận theo kinh văn mà đạt chứng. Hết thảy người Thiền Tư hiểu rơ đúng sai, biện định rơ tà chánh, chẳng rơi vào hố ám chứng, chẳng dấy ḷng tăng thượng mạn, chân tham thật ngộ, tin Giới, tin Văn. Hết thảy người tu Tịnh nghiệp tin Sự chính là Lư, ngộ cái tâm chính là Phật, chẳng bài bác tướng để cao luận tự tánh, chẳng coi thường để rồi lui nghỉ, khoác giáp Bồ Đề thệ, khế hợp nguyện luân của ngài Pháp Tạng. Hết thảy người tu Du Già, thông đạt sâu xa Hiển Mật Viên Tông, thanh tịnh tam luân bố thí, hóa độ, trừ bỏ tập khí hư luận, thủ hộ giới cấm, oai nghi, chẳng hư vọng truyền dạy, chẳng dễ ngươi cử hành (tác pháp tu tập Mật pháp), được chư Phật xót thương, tránh khỏi quỷ thần giận phạt. Hết thảy người lo tu tập phước nghiệp tin sâu tội phước, giữ nghiêm ngặt nhân quả, xa ĺa pháp thế gian, hưng khởi xiển dương sự giáo hóa chân chánh, xoay chuyển nghiệp hữu vi về vô lậu thừa. Lại nguyện các nguyện trước kia đều trang nghiêm Tịnh Độ, đều hướng về Tây Phương. Khi lâm chung, chẳng c̣n niệm nào khác, đích thân thấy Từ Tôn, được thánh chúng tiếp dẫn, ngay lập tức hóa sanh, liền nghe diệu pháp, liền chứng Vô Sanh, thành tựu mười loại thân luân[89], rộng độ hàm thức trong pháp giới. Ngưỡng mong Quán Âm Đại Sĩ, Địa Tạng từ tôn xót thương che chở, khiến cho nguyện của con chẳng lui sụt, chẳng ch́m đắm, chẳng mất đi, chẳng quên lăng, măn Bồ Đề hạnh.

 

* Văn khải bạch lễ Tịnh Độ Sám

(năm Quư Dậu - 1633)

 

          Bọn tỳ-kheo chúng con là Trí Húc v.v… từ bao kiếp lâu xa đến nay đă mê bản tánh, luôn ở trong luân hồi, tam nghiệp, lục căn, không điều ác nào chẳng tạo. Năm đường, tám nạn, không nỗi khổ nào chẳng nếm trải. Hiểu biết tăm tối truyền nhau, chưa từng giác ngộ. Tử sanh mênh mông, thuở nào giải thoát? Nay gặp gỡ Đại Thừa, được sanh khởi tín tâm yếu ớt, vừa nghe Tịnh Độ, đáng nên biết chóng quay về. Dẫu siêng tinh tấn, đă hối tiếc chậm trễ; nếu lười nhác, chần chừ, sao kịp cho được? Do vậy, phát tâm khẩn thiết, cùng hạn định ba thời tu nghi thức phát nguyện Văng Sanh, mong sao suốt bảy ngày chẳng xen tạp, sáu thời hành đạo, bốn oai nghi nhiếp tâm. Ngưỡng mong từ bi viên măn, ắt rủ ḷng ứng hiện nhiệm mầu. Nguyện cầu chánh pháp sâu xa, chẳng nhiễm t́nh trần. Hạnh bằng với chí, đạo bén gót bậc cổ thánh, bỏ sạch duyên vụ, đau đáu nghĩ tới vô thường. Tám gió bất động, tứ thệ chẳng dời, cho đến ngoại hộ hành nhân đều gieo nhân sâu, cùng về Tịnh Độ. Sư tăng, cha mẹ, thân duyên bao kiếp, chúng sanh lanh lợi hay ngu xuẩn trong pháp giới, hữu t́nh trong quá khứ, hiện tại, đều hưởng nguyện quang của ngài Pháp Tạng. Nương vào từ lực của A Di Đà, ba chướng chóng trừ, bốn cơi đều tịnh. Dùng công đức phát nguyện này để báo đáp chung tam hữu, tứ ân, cùng viên thành Chủng Trí.

 

* Sớ an cư chùa Tây Hồ

 

          Nhất tâm quy mạng Phạm Vơng giáo chủ Lô Xá Na Phật, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, phẩm Bồ Tát Tâm Địa, Tỳ Nại Da Tạng, tam thừa mười hai phần giáo, hết thảy tôn pháp, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Di Lặc … Hết thảy các vị Bồ Tát, Ưu Ba Ly, Ca Diếp, A Nan, Tây Thiên Đông Độ hết thảy thánh sư, nguyện phóng từ quang, cùng rủ ḷng xót thương tế độ. Kính nghĩ sau khi chư Phật nhập diệt, [đệ tử Phật] lấy Giới làm thầy, tam vô lậu học lấy Giới đứng đầu, dựa theo Yết-ma mà tu hành đúng như lời dạy. Đó gọi là “chánh pháp trụ thế”. Nương theo Luật Tạng, ḥa hợp cùng học, sẽ khiến cho Tăng Bảo không bị diệt sạch. Than dài pháp vận thuở Mạt, chẳng biết khuôn phép tốt lành, tŕ hay phạm đều chẳng tự hay, có bao giờ t́m ṭi nguyên ủy! Hoặc mặc sức làm chuyện phi pháp, hoặc si ngốc như con dê câm. Hoặc ĺa Sự bàn suông, hoặc chấp tướng mê mất tông chỉ, đến nỗi phương tiện thiện xảo của đấng Giác Hoàng bị mai một, ch́m đắm, rừng rậm tà kiến sum suê, chằng chịt. Đă thẹn là hậu duệ của Như Lai, há ai không buồn thương, tủi nhục? Do vậy, phát tâm thù thắng, tụ tập người cùng chí hướng với con, kết kỳ hạn nơi chốn Lan Nhă, thảo luận Tỳ Ni (phần nêu bày [danh tự của] hàng ngoại hộ, tăng, tục để hồi hướng chẳng sao lục). Kính nguyện ngoại ma chẳng quấy nhiễu, nội chướng chẳng xâm, tiếp nối hưng thịnh Tăng chủng, viên chứng Phật thừa, ngộ tông chỉ khai Quyền, hiển Thật, khế hợp ấn “phù Luật, đàm Thường”[90]. Do cái nhân chân chánh là tịnh giới mà lên cực quả Tịnh Độ, làm cầu bến trong kiếp trược, dẹp tan, chế phục ma tà, báo ân sâu của đức Thích Ca, thỏa đại nguyện của Phật A Di Đà.

 

* Bài văn dâng cúng lá thăm trước ngày An Cư

 

          Trước ngày An Cư năm Quư Dậu (1633) trong niên hiệu Sùng Trinh, Bồ Tát giới tỳ-kheo Trí Húc đốt mười lọn hương, dâng cúng bậc tịnh măn đại giác hết thảy mọi nơi, thị hiện tịch diệt chốn Song Lâm, chân thật thường trụ, Bổn Sư từ phụ, nhất thể Tam Bảo, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, mười phương ba đời hết thảy chư Phật, Phạm Vơng tôn kinh, Tỳ Nại Da Tạng, mười phương ba đời hết thảy tôn pháp, Địa Tạng, Di Lặc, hai vị thị giả hai cơi, Kim Cang Tạng, Hư Không Tạng, Dược Vương, Dược Thượng, Huyền Thông Hoa Quang Chủ, Hoa Quang Vương Đại Trí Minh[91] v.v… Mười phương ba đời hết thảy Bồ Tát, Ưu Ba Ly, Ca Diếp, A Nan, Mă Minh, Long Thọ, hết thảy Tăng Bảo. Nguyện dùng sức đại từ bi, sức chiết phục kẻ ương ngạnh, sức nhiếp thọ thiện căn, hiện tiền chứng minh:

Trí Húc vốn là kẻ báng pháp, may được nghe Địa Tạng tôn kinh, phát tâm cứu khổ, chép Từ Bi Sám Pháp, lại đoạn rượu thịt. Nghe kinh Đại Phật Đảnh, quyết chí xuất gia. Đọc lời phương tiện của ngài Hám Sơn, mới dốc ḷng tham cứu. Bỏ mẹ trốn đi, thề hiểu rơ đại sự. Đă lắm chướng duyên, vẫn sầu pháp loạn. Do vậy, suy nghĩ lời dạy chân thành lấy giới làm thầy, lúc cúi ngửa, lấy ai làm khuôn mẫu? Bèn bỏ y đơn[92], ngàn dặm trần t́nh. Đối trước tháp của ngài Vân Thê, kính thọ Tứ Phần Giới Bổn. Một năm sau, cầu Bồ Tát luật nghi, bèn duyệt toàn thể tạng kinh, gom góp thành sách Yếu Lược, chỉ mong tự lợi, chưa rảnh để hóa độ người khác. Nào ngờ xong việc, [sách ấy] dần dần được lưu truyền, xem đi, xem lại, biết rơ thói tệ hiện thời lắm nỗi, chẳng nỡ thuận theo thế tục hồ đồ sai ngoa, cùng tàn hại chánh pháp của Như Lai để tự thọ Cụ Túc! Tâm tuy ân cần, trân trọng, thân chẳng giữ trọn chế định của Phật, bèn làm tám cái thăm, kiền thành thỉnh ư Tam Bảo: Nếu tỳ-kheo giới của Trí Húc do tâm mà cảm được, mười hạ hành tŕ, sẽ rút được cái thăm “làm ḥa thượng”. Nếu trước khi đắc giới, phạm lỗi nhẹ chưa hết sạch, sẽ rút được cái thăm “lễ sám làm ḥa thượng’”, hành sám pháp trước. Nếu chưa được, nhưng “chẳng thành giá nạn[93]”, hoặc đă được, nhưng chẳng kham làm bậc khuôn phép, sẽ rút được cái thăm “thấy tướng hảo làm ḥa thượng”, bèn lễ sám cầu tướng. Nếu chẳng thành nạn nhưng chưa đắc giới, sẽ rút cái thăm “thọ lại”, đúng pháp mà bẩm thọ, sẽ trọn mười hạ. Nếu thành đạo nạn[94] mà cho phép sám hối, sẽ được cái thăm “lễ sám thọ lại”. Nếu đă thành nạn, sẽ rút được cái thăm “Bồ Tát sa di”. Nếu chẳng được thọ pháp sa-di, sẽ rút được cái thăm “Bồ Tát Ưu-bà-tắc”. Nếu hết thảy giới pháp đều bị ngăn trở, sẽ rút được cái thăm “chỉ thọ Tam Quy”.

Than ôi! Chẳng dám ôm ḷng làm thầy, cư xử trong đời này chẳng dám quên bỏ. Đối với hoằng thệ từ bao kiếp lâu xa, chỉ tiến thoái, nói năng, im lặng, hiểu biết kém cỏi sao có thể tự biết? Nghịch, thuận, cho, đoạt, Chánh Giác tự nhiên thuận theo căn khí. Ngưỡng đối Tam Bảo, moi móc giăi bày một dạ, nếu rút được ba lá thăm “làm ḥa thượng”, con thề mất thân mạng, hộ tŕ chánh pháp, thà chịu khổ cùng cực, làm Thanh Văn chân thật, chẳng v́ lợi danh mà giả vờ là Đại Thừa. Nếu được hai lá thăm “thọ lại”, sẽ giữ đúng phận đệ tử, thề chẳng khinh rẻ pháp. Nếu rút được lá thăm “Bồ Tát sa-di”, thề sẽ tôn kính, phụng dưỡng tỳ-kheo, hộ tŕ Tăng Bảo. Nếu rút được lá thăm “Bồ Tát Ưu-bà-tắc”, thề dùng thân mạng thủ hộ chánh pháp, trọn chẳng mất Bồ Đề tâm. Nếu rút lá thăm “chỉ thọ Tam Quy”, thề sẽ phục dịch Phật, Pháp, Tăng, đủ mọi phương tiện dẹp tà, hiển chánh.

Con dùng cái tâm chất trực, tâm ân cần, trịnh trọng, tâm thủ hộ chánh pháp, tâm độ chúng sanh, tâm chế phục ma tà, ngoại đạo, tâm trừ xảo ngụy, hướng đến Nhất Thể Tam Bảo, dâng lên các lá thăm như thế, phát nguyện như thế. Từ hôm nay cho tới ngày Tự Tứ, hiện tiền đại chúng hằng ngày tŕ một biến chú Đại Bi, tự tu Phạm Vơng Sám Pháp mỗi ngày một thời để cầu gia bị. Nguyện Tam Bảo đại chúng, trời rồng hộ pháp, cùng rủ ḷng xót thương chứng giám.

Lại c̣n nói kệ rằng:

- Tam Bảo hộ hết thảy, đồng thể chẳng sai biệt. Con buồn kiếp trược khổ. Pháp loạn, gió tà mạnh, nguyện nối đèn chánh pháp, soi đời trừ mê hoặc. Nội hộ và ngoại hộ, chưa biết nên theo đâu? Đấng cứu thế đại bi, biết túc căn của con, nên dùng địa vị nào, để tự lợi, lợi người. Nguyện phù luật đàm thường, từ cảnh mà phát Đế, triệt ngộ pháp Thanh Văn, đồng quy vô thượng ấn, trọn chẳng dấy đối đăi, cách biệt các tà kiến. Con thương kẻ mê hoặc, gặp chuyện sanh chấp trước. Luật: Mê nguồn tŕ phạm, chỉ chú trọng y, bát. Giáo: Mất quán hạnh chỉ, chỉ chấp danh, cú, vị. Thiền đạo: Mê cương tông, đắm trong cơ hoặc cảnh, hoặc chỉ chuộng công phu, hoặc chuyên cầu hướng thượng, gượng dùi mài ngộ môn, hoặc vứt sạch chánh giải, chấp thuốc đâm ra thành bệnh. Hư luận tổn thật tu. Pháp Tịnh Độ viên đốn, thường coi thành quyền cơ, chẳng phát Bồ Đề tâm, chỉ là pháp hưởng nhàn, chẳng tu tịnh diệu nhân, chẳng cầu tịnh diệu quả! Mật bộ đại oai thần, truyền bừa trong cơi đời, uế tạp chẳng kham nghe, gần như tṛ trẻ bỡn! Như Lai vô lượng kiếp, tu tập tột ân cần, đắc pháp khó nghĩ này, độ hàm thức bọn con, cớ sao đến hiện thời, suy bại chẳng nỡ nh́n? Con là kẻ cụ phược[95], tự xót thương hết thảy, dùng sức phương tiện nào, trùng hiển chánh pháp luân? Ngưỡng học tâm chí thành, thâm tâm, hồi hướng tâm. Đốt hương biểu vô tận, đợi mạng, chẳng hướng khác[96].

 

* Bài văn rút thăm ngày Tự Tứ

         

          Đảnh lễ pháp giới tịnh măn giác, chánh pháp Tỳ Ni biển tịnh tánh, Quyền Thật thánh hiền thường trụ sám, nhất thể chứng tri nhiếp thọ cho. Trí Húc từ vô thỉ đến nay, mê bản tánh Tam Bảo, trôi lăn qua lại trong sáu đường, lầm lạc vâng theo tà tông, luôn trái lẽ xuất yếu, hư vọng mong đường tắt, chẳng hiểu chân thừa. May là túc nhân c̣n có mảy thiện, được nghe chánh pháp Tỳ Ni. Trước ngày An Cư, đă dâng các lá thăm, tỏ bày chí nguyện. Nay ba tháng sắp hết, Tăng sắp tự tứ. Lại cúng dường sáu lọn hương trên đỉnh đầu, ba lọn cầu soi xét căn cơ, ban cho con lời quyết đoán rơ ràng. Con chỉ xin nghe theo thánh mạng, tâm chẳng chần chừ. Ba lọn hương nhằm thuận theo lá thăm rút được cũng đều phát ba lời thề. Nếu rút nhằm lá thăm Tam Quy, đến tột cùng ngằn mé vị lai, thề chẳng ĺa Phật, thề chẳng ĺa Pháp, thề chẳng ĺa Tăng. Rút được lá thăm làm Ưu bà tắc hay sa-di, thề chẳng hư luống Bồ Đề tâm, thề làm ngoại hộ, giúp cho chánh pháp hưng khởi, thề cúng dường bậc tỳ-kheo đúng pháp. Nếu rút trúng hai lá thăm “thọ lại”, thề chẳng trái phép thờ thầy, thề y chỉ suốt năm hạ, thề mười hạ chưa măn sẽ chẳng làm thầy. Rút được lá thăm “tướng hảo”, thề liều thân tu sám, thề chẳng trái nguyện nuôi đệ tử trước, thề chưa thấy tướng hảo sẽ chẳng giảng diễn, ngoại trừ kết bạn pháp thí thanh tịnh. Rút được hai lá thăm kia, thề chẳng lạm độ người, gieo sự xấu hổ cho pháp đạo, thề chẳng thay đổi pháp danh của người khác, thề cùng với người đồng chí hướng đúng như lời dạy mà hành tŕ, chẳng đuổi theo danh lợi, dính líu chuyện đời, chỉ vâng giữ chánh pháp để chờ bậc hậu hiền. Tam Bảo long thiên, đều rủ ḷng xót thương nhiếp thọ!

 

* Lễ Tịnh Độ Sám văn

 

          Kính lễ đức Năng Nhân Vô Lượng Thọ, pháp bảo Giáo, Hạnh, Lư hai cơi, Quán Âm, Thế Chí, hải chúng tăng, vô biên Tam Bảo đều gia hộ. Bồ Tát sa-di Trí Húc cùng pháp giới chúng sanh mê chân, dấy vọng, trái giác, hợp trần, Hoặc nghiệp vô cùng, khổ quả chẳng dứt. Từ vô thỉ tới nay, chưa hề giác ngộ. Dẫu gặp lẽ xuất yếu, chẳng biết tiến hướng. Do vậy, qua lại sáu đường, ch́m đắm trong tam đồ, rộng tạo ác nhân, hứng chịu đủ mọi nỗi khổ cùng cực. Nay do mảy thiện thuở trước, được gặp chân thừa, khổ nỗi tập khí đắm nhiễm một bề mạnh mẽ, công phu Tịnh nghiệp chẳng thành, trái nghịch chí xuất gia ban sơ, cô phụ ḷng Từ sâu xa của Phật, Tổ. Xoắn tay, xét ḷng, thẹn với trời, hổ cùng đất, bèn lập chí thù thắng, trong ṿng bảy ngày, tu hành Tịnh Độ Sám Nghi, nguyện thành Niệm Phật tam-muội, sáu thời hành đạo, nhất ư tŕ danh, ngưỡng khấu ḷng bi trọn vẹn của Phật, ắt rủ ḷng ứng hiện nhiệm mầu.

Đốt ba lọn hương, cúng dường Tam Bảo hai cơi. Nguyện tam tâm (trực tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm) trọn phát, tam chướng (nghiệp chướng, phiền năo chướng, báo chướng) chóng trừ. Lại đốt mười bốn lọn hương để rút mười bốn lá thăm. Một là để quyết định hành tàng[97] có bốn sự. Hai là quyết định lúc hành pháp Chiêm Sát có ba loại, từ ba đến mười nhằm quyết định Chiêm Sát hành nghi có tám sự. Mười một là quyết định Kim Quang Minh Sám có ba loại. Mười hai là để quyết định lúc tụng Diệt Định Nghiệp chân ngôn có bảy loại. Mười ba là để quyết định tu Ban Châu tam-muội có năm loại. Mười bốn là quyết định chú giải kinh trước, sau, hoăn, gấp có mười tám loại. Ghi tường tận trong ấy, Phật tự thấy biết. Nguyện ban ḷng Từ mênh mông, trừ nghi hoặc cho con.

Kính nguyện mảy may điều thiện đều b́nh đẳng thí cho các hàm thức chúng sanh, xứng pháp tánh vô cùng, nương vào nguyện luân tự tại, thấy nghe tùy hỷ, ác diệt, thiện sanh, khế hội Tịch Quang, cùng quy thường lạc. Trọn hết pháp giới hữu t́nh, không một ai chẳng sanh Cực Lạc, nhưng Cực Lạc chẳng tăng. Trọn hết pháp giới vi trần, không ǵ chẳng hiện Cực Lạc, nhưng Cực Lạc chẳng giảm. Triệt ngộ vô sanh mà hừng hực văng sanh. Biết rơ chẳng đi mà đích xác cầu đến, xiển dương rộng lớn pháp hóa của Phật Di Đà, rộng phá tà tông luông tuồng, phù hợp sâu xa nguyện luân của đức Thích Ca, tận lực cứu văn kẻ học cạn chi ly, độ ngũ trược vào chín phẩm, tịnh bốn cơi nơi nhất tâm. Hư không có thể hoại, nguyện của con chẳng tan, nguyện Phật, Pháp, Tăng chứng minh nhiếp thọ.

 

* Văn lễ Kim Quang Minh Sám

(năm Giáp Tuất - 1634)

 

          Trí Húc tự nghĩ sanh nhằm thời pháp loạn, chẳng gặp chân thừa, nhân bên trong đă ít ỏi, duyên bên ngoài cũng mỏng manh, ma chướng nhiều lượt xâm phạm, tịnh nghiệp chẳng thành, nh́n người rồi tự xét chính ḿnh, lo thẹn rợn ḷng. May gặp Tối Thắng Kinh Vương, cát tường diệu sám, lại may có tăng chúng thanh tịnh, đúng pháp hành tŕ, bèn phát trọn tâm kiền thành, đốt hương cúng dường. Một là dâng cúng Thích Ca Văn Phật, A Súc Phật… Hết thảy các đức Thế Tôn, nguyện con cùng hết thảy chúng sanh chóng phát Bồ Đề tâm, nối tiếp hưng thịnh Phật chủng. Hai là dâng cúng Đại Thừa Kim Quang Minh Hải mười hai bộ kinh. Nguyện cùng hết thảy chúng sanh mau được huệ sâu rộng, ngộ nhập biển pháp. Ba là cúng dường Tín Tướng Bồ Tát, Kim Quang Minh… hết thảy tam thừa thánh chúng. Nguyện cùng hết thảy chúng sanh mau chứng nhập giải thoát, cùng dự vào ḍng pháp. Bốn là v́ Phạm, Thích, tám bộ thánh chúng cúng dường Tam Bảo. Nguyện tăng trưởng oai thần, hộ tŕ phạm hạnh. Năm là v́ đệ nhất oai đức Cát Tường Đại Thiên cúng dường Tam Bảo. Nguyện chẳng trái bổn thệ, ban cho con cát tường. Từ điều thứ sáu tới thứ mười một là phụng cúng các vị sư… (kể tên sáu vị sư, không sao lục lời nguyện dành cho họ). Từ điều thứ mười hai tới điều thứ mười bốn, kính v́ ân sư X… cúng dường Tam Bảo. Sám hối tội giả vờ xưng là ngộ đạo, hư vọng b́nh luận các công án, tội hư vọng tạo sám pháp, hủy báng các vị thánh nhân thuở trước, tội tổn hại đại chúng lầm nhân mê quả. Các tội như thế, nguyện đều tiêu trừ. Nếu chẳng thể trừ, con nguyện đều chịu thay, khiến cho sự đau khổ trong hiện tiền mau được thuyên giảm, an ổn. Nếu đại hạn chẳng thể trốn, rốt cuộc sẽ lên An Dưỡng. Từ điều thứ mười lăm cho tới điều thứ mười bảy, kính v́ ngoại hộ, sa-di (nêu tên sáu người), thí chủ (nêu tên ba người), các hành nhân cúng dường Tam Bảo. Từ điều thứ mười tám cho tới điều thứ hai mươi, kính v́ sư X…, bạn tri kỷ (nêu tên năm vị cư sĩ), bạn bè đă mất (nêu tên ba người) cúng dường Tam Bảo (các lời nguyện trên đây chẳng sao lục). Điều thứ hai mươi mốt là khắp v́ người thấy nghe, hoặc chẳng thấy nghe, cho đến mười phương ba đời vô cùng, vô tận hết thảy chúng sanh, cúng dường Tam Bảo, nguyện đều mau chóng ngộ Kim Quang Minh Hải, vĩnh viễn đoạn Hoặc nghiệp khổ luân. Kính nguyện Tam Bảo chứng minh nhiếp thọ.

Lại dốc ḷng chí thành, năm vóc gieo sát đất, đốt ba lọn hương:

- Một là kính v́ tỳ-kheo X… cúng dường Tam Bảo, nguyện nhẫn lực kiên cố, chẳng lơi lỏng hoằng nguyện.

- Hai là kính v́ quốc chúa xứ Chấn Đán và triệu dân cúng dường Tam Bảo, nguyện thường hưởng thái b́nh, giàu vui, chẳng gặp cảnh loạn ly, đói kém, ma tà, ngoại đạo ẩn kín, chánh pháp hưng vượng.

- Ba là v́ chính ḿnh cúng dường Tam Bảo, nguyện thương xót phàm ngu, ắt càng thêm xót thương gia hộ. Từ nay trở đi, Tịnh nghiệp ngày một tăng, tập khí, phiền năo cũ mỗi tâm đều chế phục, đoạn trừ, thoát ṿng ái kiến, chứng cảnh Tịch Quang. Niệm nào cũng chẳng trái nghịch từ phụ, lúc nào cũng được thấy Lạc Bang, cùng với trọn khắp chúng sanh đều thành Chánh Giác.

 

* Văn cáo bạch giảng Kim Quang Minh Sám

(năm Ất Hợi - 1635)

 

          Trí Húc và pháp giới chúng sanh tự mê pháp tánh, huyễn tạo trần lao, tham, sân, si, mạn, ngày đêm hừng hực. Dâm, trộm, giết, dối luôn luôn chẳng ngừng, khiến cho tam đồ sôi sục, tám khổ chen nhau nung nấu, tai biến kỳ lạ nhiều lượt xảy ra, đói kém lũ lượt kéo tới, chiến tranh quấy nhiễu, ma tà, ngoại đạo tung hoành. Xót kẻ đồng phận do kiến giải hư vọng, đêm dài khó thoát. Đau ḷng kẻ thuận theo nghiệp tự chuốc, không thể giúp họ xuất ly. Nay gặp dịp thỉnh mời Công Đức Đại Thiên phát tâm chuyên cầu cứu vớt, giảng một quyển Bổ Trợ Sám Nghi, mỗi ngày tùy hỷ tụng niệm hành pháp một khóa. Đốt hai mươi mốt lọn hương. Lọn hương thứ nhất, thứ hai, thứ ba phụng cúng Bổn Sư, Bảo Hoa, Lưu Ly, tứ phương Phật, và hết thảy chư Phật trong kinh Kim Quang Minh, Đại Thừa Kim Quang Minh Hải mười hai bộ kinh, Tín Tướng Bồ Tát và trọn vẹn hết thảy thánh chúng trong kinh. Lọn hương thứ tư và thứ năm, kính v́ Đại Phạm, Đế Thích, Hộ Thế Tứ Vương, Đại Công Đức Thiên đệ nhất oai đức thành tựu các sự cúng dường Tam Bảo. Kính nguyện tăng trưởng oai thần, khiến cho trong nước gió thuận, mưa ḥa, sản vật phong phú, mọi thời tốt lành, chiến tranh vĩnh viễn chấm dứt, dịch bệnh tiêu trừ, thánh chúa ban bố sự giáo hóa nhân từ, quần thần dốc cạn ḷng trung lương.

Lọn hương thứ sáu, bảy, và tám tự sám hối nghiệp thân, miệng, ư, cúng dường Tam Bảo. Lại nguyện từ oai chiết phục, nhiếp thọ. Lọn hương thứ chín tới mười hai, kính v́ bốn vị sư (nêu tên bốn vị sư, nhưng không chép vào đây). Lọn hương thứ mười ba tới mười lăm, kính v́ các vị sư tu sám, ngoại hộ, tùy hỷ cúng dường Tam Bảo (những lời nguyện trên đây không sao lục). Lọn hương thứ mười sáu kính v́ các bạn kết kỳ đồng tu, cúng dường Tam Bảo, nguyện ai nấy giữ vững chí sâu xa, cùng tu tập theo mối đạo chân thật. Lọn hương thứ mười bảy, kính v́ các vị hộ tŕ chánh pháp luân, phát hoằng thệ nguyện (kể tên năm cư sĩ) cúng dường Tam Bảo. Kính nguyện ai nấy tăng phước huệ, tự ĺa chướng duyên. Lọn hương thứ mười tám, kính v́ các vị tăng sĩ có đức chân thật, hiền nhân, chấn hưng, chiếu rạng, khơi mở cúng dường Tam Bảo. Kính nguyện họ giải hạnh cùng tu, nhị nghiêm quyết trọn. Lọn hương thứ mười chín, thay cho con cháu của ác ma quyến thuộc ngoại đạo như X… cúng dường Tam Bảo, cầu sám hối sâu xa. Kính nguyện Tam Bảo oai thần, thương xót họ kiến trược, hoặc ngầm thị hiện cảm thông, khiến họ phản tà, quy chánh, trở lại độ quần mê, hoặc mau chóng truất phạt[98] rành rành, khiến họ tiêu trừ, tan lui, chẳng mê hoặc kẻ phàm ngu. Nếu v́ sức tội ác gây chướng, quyết chẳng thể sám hối, tỉnh ngộ, tiêu tan, Trí Húc đều nguyện chịu thay. Nếu thiện căn đoạn sạch, trọn chẳng thể nhanh chóng cứu vớt, Trí Húc nguyện đem tất cả các điều thiện dù nhỏ nhoi từ vô thỉ tới nay, đều thí cho họ, khiến họ chóng ngộ. Lọn hương thứ hai mươi, hai mươi mốt, kính v́ giác linh của Thập Giới a-xà-lê, xuất gia a-xà-lê v.v… cha mẹ đă khuất và hết thảy thân duyên quyến thuộc cúng dường Tam Bảo (chẳng sao lục các lời nguyện).

Đem công đức đốt hương, pháp giới này đều thí cho pháp giới chúng sanh, nguyện đều ngộ nhập Kim Quang Minh Hải. Do nghiệp thanh tịnh, cảm Cát Tường Thiên, thường ủng hộ chúng sanh, đều có thể dùng tài, dùng pháp nhiếp hóa hết thảy, [khiến cho] ai nấy sửa ác, theo lành, phản tà quy chánh, đều có thể tu thân, tu giới, tu tâm, tu huệ, đều biết cái hiểu “thử tức, điểu không”[99] sai trái, đều biết Phật pháp tự có chân mạch, chẳng phải là tiếm truyền, đều biết thông minh, đục khoét, mưu ma chước quỷ chỉ tăng thêm tội khiên báng pháp, chẳng chữa trị nỗi khổ sanh tử, đều có thể quên thân xả mạng, chuyên cầu chánh pháp, tự lợi, lợi tha. Do có thể thuận theo ư niệm mà tu hành hết thảy các cúng dường, do dâng cúng Tam Bảo, tâm thường thanh tịnh, chẳng đắm nhiễm. Do có thể liễu đạt hết thảy các pháp là Không, chẳng bỏ trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sanh. Do có thể liễu đạt “tịnh, uế b́nh đẳng”, hăm hở cầu sanh Cực Lạc thế giới. Do có thể tin sâu “tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”, tu ṛng Niệm Phật tam-muội, chẳng nghĩ “không có Phật, không có chúng sanh”. Do có thể chứng thấu triệt tánh của tŕ, phạm là Không, nên dùng tam tụ tịnh giới nhiếp hóa hết thảy. Do có thể xa ĺa ư Thanh Văn, Bích Chi Phật, nên thọ tŕ giới luật tỳ-kheo thanh tịnh, thường có thể diễn nói giới chính là Ma Ha Diễn (Đại Thừa). Do có thể biết rơ pháp tánh chẳng tăng giảm, chẳng tấn thoái, nên phương tiện tăng tấn hết thảy thiện căn. Do có thể thâm nhập đại định, nên luôn hiện trọn khắp oai nghi. Do có thể rốt ráo vô tướng trí huệ, nên chẳng xả hết thảy các tướng. Do có thể ngộ nhập pháp ĺa văn tự, chẳng ĺa văn tự mà bàn tướng giải thoát, do có thể chứng thấu triệt vô y vô trụ Đại Bát Niết Bàn, nên nhiều lượt thị hiện sanh diệt, rộng làm lợi ích trong tam giới. Do có thể mỗi niệm đều biết trọn khắp hết thảy các chuyện thuộc pháp giới chúng sanh, chẳng xả phương tiện, thị hiện học hết thảy các pháp môn. Do có thể du hư sanh tử, nên chẳng nhiễm ô. Do có thể quán chắc Niết Bàn, nên chẳng giữ lấy sự chứng đắc. Do có thể biết rơ phiền năo, sanh tử tức Bồ Đề, Niết Bàn, nên chẳng tưởng là một, chẳng tưởng là hai. Do có thể mỗi niệm đều tắm gội trong ḍng pháp, nên chẳng xả chuyện tác pháp, giữ lấy tướng, thường có thể diễn nói mỗi pháp, mỗi tướng, đều chính là bản thể vô sanh của pháp giới. Đă phát đại nguyện như thế xong, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Ngưỡng mong Kim Quang Minh Hải, đồng thể Tam Bảo thành tựu các sự, Công Đức Đại Thiên khiến cho mau được như nguyện, măn Bồ Đề nguyện.

 

* Nguyện văn đối trước tháp Địa Tạng ở Cửu Hoa Sơn

(tháng Ba năm Bính Tư - 1636)

 

          Đảnh lễ từ bi đại nguyện vương, bổn nguyên tâm địa Như Lai tạng, khéo nói an ủi, chân cứu thế. Hiện tướng Thanh Văn để hộ pháp, nguyện nương bổn thệ độ chúng sanh. Xét soi tấm ḷng nhỏ nhoi của con mà rủ ḷng gia hộ. Trí Húc xưa kia trót tạo nghiệt ương sâu đậm, sanh nhằm thời Mạt, tuy thọ giới phẩm, lắm điều khinh phạm. Tuy tu tập Thiền Tư, thô Hoặc chẳng đoạn. Đọc tụng Đại Thừa, chỉ hiểu nghĩa nông cạn. Xưng niệm danh hiệu, chẳng nhập Tam-ma (chánh định). Ngoài th́ thấy ma đảng tung hoành, đau ḷng, buốt óc. Trong th́ thấy phiền năo nhộn nhạo, hổ đất, thẹn trời! Lại do ác nghiệp, chịu đủ thứ bệnh khổ. Xót xa Sa Bà tệ ác, than thở ch́m đắm không mối manh! Do vậy, ôm bệnh vào núi, xót xa cầu Đại Sĩ, mong Bồ Đề muôn kiếp, phó thân mạng như mây trôi.

Đốt sáu lọn hương trên cánh tay, ba lọn cúng dường Đao Lợi thắng hội, hóa thân vô số. Đại Tập[100] thắng hội, hiện tướng Thanh Văn, lục căn tụ hội, thiện xảo thuyết pháp Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Một lọn sám hối lỗi nặng nơi tam nghiệp, các cơ duyên sát nghiệp, dâm dật từ lúc sanh ra đến nay, tội hủy báng Tam Bảo, lỗi lầm nơi miệng, ác niệm, cho đến đủ thứ trọn chẳng như pháp sau khi mắc bệnh vào thuở trước. Các thứ như thế nguyện tiêu trừ hết. Một lọn hương v́ cầu bốn nguyện, luật nghi thanh tịnh, đoạn Hoặc, chứng Chân, khỏe mạnh dài lâu, chẳng bệnh, rộng làm các phước sự. Một lọn hương nhằm dứt lưới nghi, hoặc là lễ sám trước, cầu luật nghi thanh tịnh. Hoặc tu tập Thiền trước, đoạn trừ phiền hoặc. Hoặc đọc Đại Tạng trước để khai huệ giải. Hoặc là lập hạnh trước để mở rộng phước duyên. Kính mong bậc Chân Sĩ cứu thế, bậc đại trí Khai Sĩ, là bậc thấy biết hết thảy, đối với các chúng sanh chẳng quên nghĩ tưởng, ắt rủ ḷng thương xót xét soi, vẹt mây mê cho con. Con lại đối trước đức đại từ bi phụ, vẩy máu khắc dạ, nguyện như thế này: Nếu có một chúng sanh chưa thành Phật, trọn chẳng tự giữ lấy Nê Hoàn trước. Nếu do túc nghiệp nhân duyên, bị lôi vào ác đạo, nguyện Bồ Tát ḷng từ mênh mông thường giác ngộ con, khiến cho con mỗi niệm đều nhớ Bồ Đề tâm, khiến cho Bồ Đề tâm tiếp nối chẳng dứt. Nếu túc chướng hơi nhẹ hơn, nguyện do oai thần của Đại Sĩ, khiến cho con sớm thành tựu Niệm Phật tam-muội, quyết sanh vào thế giới của A Di Đà Phật, nương vào sức bổn nguyện, trong vô biên sát hải[101], hóa độ hữu t́nh tột mé vị lai, chẳng hề nhàm chán!

 

* Nguyện văn [trong dịp cầu siêu cha mẹ đă mất tṛn] mười năm

(ngày mùng Một tháng Sáu)

 

          Đảnh lễ Thích Ca đại thánh tôn, đấng mười phương trọn hết nhân luân, đấng chân thật chí hiếu nhất, đấng chân thật lễ nghị[102], thầy bạn chân thật, nói pháp rốt ráo chân thật, các vị tăng chân thật đúng như pháp tu hành. Con nay xót xa thỉnh cầu rủ ḷng hộ tŕ, nguyện ban từ bi cùng chứng minh. Trí Húc sanh nhằm thời Mạt, phước lẫn huệ đều ít ỏi, chịu ân sâu dưỡng dục duy nhất của song thân, chẳng biết báo đáp. Thoạt đầu th́ trái nghịch lời dạy răn của cha mẹ, tạo tội khiên báng Phật, báng pháp nặng nề. Đă hơi hiểu chân thừa, bèn vứt bỏ khuôn phép thế tục “sống phụng dưỡng, chết chôn cất”. Tuy muốn hạn định thời hạn để chứng quả, vội bỏ gia duyên, thật sự v́ túc chướng quá nhiều, tŕ trệ nơi địa vị phàm phu đă lâu. Nghĩ lại cái chí ban đầu, lệ tuôn đầm đ́a hổ thẹn, sợ hăi. Tưởng vị lai mà buốt ḷng, xót mũi! Pháp thế gian lẫn xuất thế gian thảy đều chẳng trọn, quả báo đời sau chuốc khổ chẳng c̣n ngờ! Do vậy, tự tŕ kinh chú (kể ra ba ngàn quyển kinh, tŕ chú hai ngàn vạn lần, niệm danh hiệu Phật một vạn câu, đều chẳng sao chép). Đốt ba lọn hương, gom chung các kinh chú do các thiện hữu đă tŕ (liệt kê tỳ-kheo, sa-di, ưu-bà-tắc ba mươi tám người cùng tŕ các kinh luật bốn ngàn tám trăm lẻ bảy bộ. Mỗi người học thuộc một bộ kinh luận, một trăm vạn kệ, các chú phẩm hai trăm hai mươi vạn lẻ ba ngàn năm trăm chín mươi sáu lượt. Lại tŕ Nhất Tự Đại Luân Chân Ngôn[103] bảy ngày, danh hiệu Phật, Bồ Tát bảy trăm mười lăm vạn câu, lễ Phật ba vạn lạy, không sao chép chi tiết). Dùng đó để siêu tiến cha là Chung Chi Phượng, mẹ là Kim Đại Liên. Kính nguyện [cha mẹ] quyết sanh về Tịnh Độ, mau chứng Vô Sanh, được thọ kư trong mười phương, độ hàm linh trong ngũ trược.

Lại đốt ba lọn hương, để v́ các thiện hữu tăng, tục, cầu xin Tam Bảo. Kính nguyện tỳ-kheo X… đau đáu nghĩ chánh pháp suy vi, sẽ quyết chứng pháp chân thật. Các vị… (nêu tên bốn người) tu trọn vẹn nghiệp Định Huệ. Sa-di X… phát chí sâu chắc, thành tựu sức nhẫn nhục. Các vị X…. (nêu tên bốn người) giới đức ngày càng sâu dày, huệ tánh rạng ngời. Ưu-bà-tắc X… ĺa các chướng duyên, thành tựu nhị lợi. X… ngộ rơ trần duyên, tăng trưởng tín lực, xả ác trụ thiện, kiên cố Bồ Đề. Lại nguyện Trí Húc bệnh tiêu, chướng tịnh, tất cả thệ nguyện không ǵ chẳng viên thành, tất cả trước thuật đều khế hợp Phật ư, tất cả Phật sự mau hoàn tất chẳng gặp khó khăn. Tất cả khai hóa thảy đều lănh ngộ. Hưng khởi chánh pháp của đức Thích Ca tại Chi Na, phù tá đức Di Đà nơi lạc thổ, nối gia nghiệp của đức Địa Tạng, nhập hạnh môn Phổ Hiền, dùng Niệm Phật tam-muội của Thế Chí để tự độ, độ người khác. Dùng thâm tâm kết tập của ngài Ca Diếp để hộ pháp, hộ chúng, khiến cho tà ma, ngoại đạo thấy bóng bèn náu ḿnh, khiến giáo giới, Thiền Na ngày đêm rạng ngời. Ngưỡng mong Tam Bảo rủ ḷng Từ, măn Bồ Đề nguyện.

 

* Văn tŕ chú

 

          Trí Húc đời trước nghiệp nặng, đời hiện tại tội sâu, há chỉ chẳng thể định kỳ hạn cầu chứng quả, báo trọn khắp tứ ân, mà c̣n chẳng thể truyền tu thánh đạo, nêu gương rộng lớn trong tam giới. Tháng ngày hờ hững, cứ buông lung, lần khân, đến nỗi bị các duyên khác bức bách, bệnh ngặt quấn thân, phiền lụy Tăng, tục cúng dường, hộ tŕ. Tự xét gẫm kỹ, há có đức nào kham tiêu [cúng dường]? Lặng thinh nghĩ ngợi, quả thật càng thêm hổ thẹn, sợ hăi. Do vậy, ngăn chặn các duyên khác, kết đàn chuyên tụng hai loại Tổng Tŕ, kính đền đáp ngoại hộ. Đốt chín lọn hương trên cánh tay để cúng dường Tam Bảo và Địa Tạng là đấng tự tại thương xót chúng sanh. Nguyện tỳ-kheo X… chánh kiến lỗi lạc, có thể xoay chuyển thói tệ trong hiện thời, mà chẳng bị lưu chuyển. Sa-di X… trong ngoài như một, từ đầu đến cuối nhất trí. Các vị ở trong núi… (nêu tên mười người) ở trong pháp thế gian, tăng trưởng tín căn. Ưu-bà-tắc X… thân tâm măi yên vui, trí huệ như biển. Vị X… biết ân ái giống như gông cùm, tự nhiên chế phục, đoạn trừ phiền năo tội căn. Ông X… dứt phàm tâm cầu con, trở thành thánh hạnh chân thiện. Các vị sa-môn… (nêu tên ba mươi sáu người) huệ mạng kiên cố, thành tựu đạo quả. Ưu-bà-tắc… (mười người) và tín nữ… (kể tên năm người) muốn hành ác pháp đều chẳng thể được! Muốn tu thiện nghiệp, sẽ chóng thành tựu, đóng chặt hết thảy các cửa ác thú, khơi mở, xiển dương chánh lộ nhân thiên, Niết Bàn.

Lại nguyện Trí Húc bệnh khổ tiêu trừ, phước đức sanh trưởng, mau rút được lá thăm “duyệt xong Đại Tạng”, sớm thỏa chí đoạn Hoặc, trước thuật mở mắt cho trời người, mỗi chữ đều ngầm khế hợp Phật tâm, cùng với tăng tục đồng sanh Lạc Bang. Đời đời, kiếp kiếp làm Ảnh Hưởng Chúng, măi cho đến [khi ngồi] đạo tràng, vĩnh viễn chẳng ngăn ngại. Lại v́ rút thăm để quyết nghi, cúng một lọn hương, nguyện lá thăm rút được quyết định linh ứng. Từ nay trở đi, nhất ư hành tŕ, chẳng ngờ vực, hối hận, tự lợi, lợi người khác, công không luống bỏ, măn Bồ Đề nguyện, rộng độ chúng sanh.

 

* Nguyện văn duyệt Đại Tạng

 

          Quy mạng pháp giới đại y vương, đủ loại đúng bệnh ban cho thuốc diệu pháp. Quán Âm, Địa Tạng khán bệnh mẫu (看病母), nguyện ban từ bi, cùng thương xót, hộ tŕ. Trí Húc và chúng sanh trái nghịch tánh Nhất Chân, dấy lên các bệnh huyễn. Tam Hoặc là cội nguồn của các tội, Tứ Đại là sào huyệt của trăm bệnh. Giữ chặt vọng niệm trong trần kiếp[104] chẳng chịu ĺa bỏ, hứng chịu thân khổ độc, luân hồi chẳng có cùng tuyệt! May được làm thân người, vẫn vướng các khổ. Thẹn mang Tăng tướng, Hoặc căn vẫn vấn vít. Thiền Na, Giáo Quán chỉ có hư danh. Giới luật, tổng tŕ đều chẳng có thật nghĩa! Khiến cho ma quân thừa dịp, chướng nạn lắm phen xâm hại. Thân th́ các bệnh chen nhau nung đốt, tâm bị các duyên khác bức bách. Muốn làm thiện sự, thường chẳng thể thành. Do vậy, sanh ḷng hổ thẹn sâu xa, tin chắc nhân duyên, quy mạng hai vị đại từ tôn Quán Âm và Địa Tạng, xót xa cầu sám hối, khẩn thiết xin được hộ tŕ, chữa trị bệnh sốt rét. Tŕ xong Đại Bi chương cú hai trăm bảy mươi khóa, bệnh rét dần lành. Đốt ba lọn hương, cúng dường Tam Bảo. Nguyện cùng chúng sanh, ĺa nhân duyên bệnh, đoạn báo bệnh khổ, thân tâm an lạc, chân tánh hiện tiền, phát khởi đại tâm, hành các diệu hạnh. Lại đốt ba lọn hương, kể từ hôm nay, tạm giảm hằng khóa[105], tiếp tục đọc Tạng Kinh. Nguyện lần này quyết chẳng có chướng duyên, từ đầu tới cuối, mỗi chữ đều hiểu rơ. Ngoài th́ mọi sự dư dật, hành nhân ḥa thuận, chẳng có mảy mảy chuyện vụn vặt quấy nhiễu cái tâm. Trong th́ ư nghĩa tinh vi lọt vào thần thức, theo kinh văn mà nhập chứng, quyết đạt được sức Văn Tŕ thù thắng, cùng trọn khắp chúng sanh khai đốn ngộ môn, thành tựu con đường chánh tu, dẹp tan tà tràng của ma quân, ngoại đạo, trừ sạch thiên chấp của Quyền, Tiểu, lập tức dứt bệnh trầm kha, cây khô lại trổ, ngưỡng mong từ bi che chở!

 

* Bài văn khải cáo hoàn tất chú sớ kinh Phạm Vơng

(năm Đinh Sửu - 1637)

 

          Quy mạng hoa đài Lô Xá Na, trăm ngàn ức Phật trên ngàn hoa, Phạm Vơng Khế Kinh Tâm Địa tạng, Huyền Thông, Hoa Quang Đại Trí Minh, cũng lễ Di Đà đại nguyện vương, Quán Âm, Thế Chí, Đại Hải chúng, và đức Địa Tạng bậc thắng từ, ban ḷng thương xót, cùng cứu bạt. Bồ Tát giới Sa-di Trí Húc trộm nghĩ tôn kinh Phạm Vơng cất kín trong cung kho rồng đă lâu. Quyển hạ tuy đă có nghĩa sớ, nhưng cổ nhân đă lược qua nhiều ư nghĩa bao hàm, khiến cho mọi người hiếm ai hiểu sâu sắc. Quyển thượng th́ hai vị chú giải vừa mới sơ thảo, đều cách biệt môn tường, khiến cho đường lối tu chứng trọng yếu ngàn năm mờ mịt.

Húc do chút điều thiện trong túc nhân, được gặp linh văn[106], ba bốn lượt lắng ḷng, [tạm lănh ngộ] rành rành như vật báu cũ, chẳng nề hà hèn kém, vụng về, hợp chú soạn thành. Kính đốt hai mươi bốn lọn hương trên cánh tay để hồi hướng chân thừa. Lọn hương thứ nhất, thứ hai, thứ ba phụng cúng tam thân nhất thể Lô Xá Na Phật, kinh Phạm Vơng Tâm Địa giáo, hạnh, lư, Huyền Thông Hoa Quang Chủ, Hoa Quang Vương Đại Trí Minh, và Văn Thù, Phổ Hiền, Dược Vương, Dược Thượng, Kim Cang Tạng, Hư Không Tạng, Di Lặc, Kim Cang Thủ v.v… Trọn hết các vị Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát phát thú[107], trưởng dưỡng Kim Cang trong biển Phạm Vơng. Kính nguyện Trí Húc xả huyễn thân này, từ vô thỉ đến nay, nghiệp bất thiện nơi thân, khẩu, ư, hủy báng, hẹp ḥi, lầm lạc, đủ loại tội ác đều được tiêu trừ. Hết thảy thiện căn đều được kiên cố. Lọn hương thứ tư cúng dường Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, y báo và chánh báo tuyên dương, hai vị thị giả Bồ Tát và biển thánh chúng. Kính nguyện Trí Húc xả huyễn thân này, nhất định sanh về Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, măn đại nguyện luân. Lọn hương thứ năm cúng dường Địa Tạng từ tôn. Kính nguyện Trí Húc đại trí mở sáng, đại bi tăng thượng, ĺa các phiền năo, rộng độ chúng sanh, diệt các tội chướng, rộng chịu thay các khổ. Lọn hương thứ sáu cúng dường tạng kinh tại Linh Phong, nguyện sớm trang nghiêm. Lọn hương thứ bảy và tám v́ cha mẹ và quyến thuộc đă khuất, và thỉnh chủ đă khuất, cúng dường Tam Bảo, nguyện nương vào cái nhân tốt lành cùng sanh về Tịnh Độ. Lọn hương thứ chín v́ hai vị thầy quy y và truyền Thập Giới, đạo hữu… (năm vị) cúng dường Tam Bảo. Nguyện diệt trừ tội cấu, được ngự trong chín phẩm sen. Lọn hương thứ mười v́ hai loại thầy tà chánh trong cơi tục cúng dường Tam Bảo, nguyện tà sư sẽ xả tà kiến, chẳng thọ tà báo, chánh sư th́ tăng chánh tín, thành tựu chánh tu.

Lọn hương thứ mười một v́ thỉnh chủ là tỳ-kheo Đạo Phưởng cúng dường Tam Bảo, nguyện thành bậc phẩm đức chân thật ngàn đời, làm cây thuốc trong đời Mạt. Lọn hương thứ mười hai và mười ba v́ tỳ-kheo… (bốn vị), sa-di… (nêu tên bảy người) cúng dường Tam Bảo. Nguyện họ sẽ phá trừ tập khí, thành tựu khí tiết cứng cỏi. Lọn hương thứ mười bốn v́ hết thảy đại chúng tùy hỷ, kết duyên cúng dường Tam Bảo. Nguyện gieo sâu căn lành, vĩnh viễn làm đạo chủng, thoát ĺa lưới trần, tiến hướng Bồ Đề. Lọn hương thứ mười lăm cho tới mười bảy v́ Bồ Tát giới Ưu-bà-tắc… (hai người), các cư sĩ… (kể tên bảy người) cúng dường Tam Bảo. Nguyện chuyển biến tà tâm của cha mẹ, thân tộc, ĺa ư tàn hại đạo tặc, gian hùng. Lọn hương thứ mười tám kính v́ người từng thọ Bồ Tát giới trong hư không pháp giới cúng dường Tam Bảo, nguyện cho giới phẩm bền chắc, chẳng phạm lỗi nhỏ nhặt, Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới cùng sáng ngời, nhiếp thiện giới, nhiếp chúng sanh giới đều chứng trọn. Do ba mươi tâm, dự lên địa vị thể tánh, mau thành Chánh Giác, viên măn Pháp Thân.

Lọn hương thứ mười chín kính v́ hết thảy người thọ Bồ Tát mà hủy phạm trong hư không pháp giới cúng dường Tam Bảo, nguyện cho tội chướng tiêu trừ, giới phẩm lại tịnh, những lầm lỗi nặng hay nhẹ, hết thảy đều miễn trừ. Lọn hương thứ hai mươi kính v́ pháp giới hàm thức tuy chưa thọ giới, nhưng đă từng nghe tên kinh Phạm Vơng cúng dường Tam Bảo. Nguyện nhờ nhân lành, cùng sanh giác ngộ, phát tâm nắm giữ, đúng pháp tu tŕ. Lọn hương thứ hai mươi mốt kính v́ pháp giới hàm thức tuy có Phật tánh Phạm Vơng chân thường, nhưng trước nay chưa từng nghe danh hiệu này, cúng dường Tam Bảo, nguyện do đức đại từ bi, sức chẳng nghĩ bàn, sức oai lực đồng thể pháp tánh chân thật, khiến cho từ nay trở đi, đều nghe pháp môn vi diệu này, sẽ chánh tín, chánh giải, ĺa tam đồ, vượt tám nạn, quyết lên giới phẩm, chú trọng chân tu, lần lượt khuyên dụ, giáo hóa [người khác] cùng chứng Bồ Đề.

Nếu bị ác chướng vấn vít, chẳng thể tự trừ dẹp, hôn mê, phiền hoặc điên đảo, chẳng thể giác ngộ, nguyện do sức đại công đức trí huệ từ bi rốt ráo của Tam Bảo, do vô biên nguyện lực của A Di Đà Phật, thệ lực dũng mănh của Địa Tạng Bồ Tát, khiến họ mau chóng giác ngộ, dẹp sạch khổ luân. Nếu do định nghiệp, quyết phải chịu khổ báo, nguyện Trí Húc sớm sanh về Tịnh Độ, nương theo nguyện luân, trong các địa ngục như A Tỳ v.v… thuộc bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới hải trọn khắp mười phương, thay họ chịu khổ, khiến cho các chúng sanh ấy chứng Bồ Đề trước. Giả sử trong pháp giới hăy c̣n một chúng sanh chưa thành Chánh Giác, Trí Húc cam chịu ở trong vô lượng địa ngục, thay người ấy chịu khổ sở tận hết thảy kiếp, chẳng chán, chẳng mệt!

Thệ nguyện của Trí Húc trong ngày nay đều giống như [thệ nguyện của] tam thế Phật, Bồ Tát đă phát, đều được hết thảy chư Phật, Bồ Tát gia tŕ. Nếu do vô thỉ ác nghiệp, Trí Húc đáng đọa trong đường khổ to lớn, thần thức hôn mê, trái nghịch đại tâm, đại nguyện, đại hạnh ngày nay, ngưỡng vọng Xá Na từ phụ, Thích Ca Bổn Sư, Di Đà nguyện vương, Địa Tạng bi mẫu xót thương thủ hộ con, giác ngộ con, khiến cho con trong khổ sở nhớ đến bổn nguyện ngày nay, chẳng xả khổ mà độ chúng sanh.

Lại nguyện do nhân duyên công đức đốt hương phát nguyện ngày nay, khiến cho chánh pháp lại rạng ngời nơi Chấn Đán, gió tà ngừng thổi trong các cơi nhiều như cát sông Hằng. Người tŕ luật hiểu rơ tŕ, phạm, khéo biết khai, giá. Người học Giáo biết rơ nghĩa lư, liễu đạt tánh tu. Người tọa Thiền ngộ rỗng rang nguồn tâm, chẳng gặp ma ngoại. Người niệm Phật lư sự viên dung, ta, người chẳng cách biệt. Lại nguyện hết thảy các pháp môn, mọi người đều thông đạt, vĩnh viễn chẳng có tội khiên đấu tranh kiên cố, trừ sạch kiến chấp thiết lập môn đ́nh. Niệm nào cũng tiếp nối đèn tâm của Phật, Tổ, pháp nào cũng bao gồm biển tánh Phạm Vơng. T́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí.

 

* Văn sám nguyện kết đàn tụng chú Diệt Định Nghiệp

 

          Đảnh lễ nghiệp tánh như hư không, măn phần giải thoát diệt nghiệp chướng. Con nay tŕ tụng kệ bí mật, nguyện diệt định nghiệp ḿnh lẫn người. Vô biên phước huệ cùng trang nghiêm, thành tựu công đức thù thắng hy hữu. Thấy nghe tùy hỷ phát Bồ Đề, tâm địa tánh tạng cùng chứng trọn.

          Bà Già Bà Phật Đà (diệu giác là địa vị vô thượng), ma-ha nhất-ḥa-sa (địa vị vô tướng, vô cấu), A-ha-la-phất (Minh Hạnh Túc Pháp Vân địa), A-na-ha (huệ quang Diệu Thiện địa), A-ni-la-hán (biến hóa sanh Bất Động địa), A-la-hán (quá tam hữu Viễn Hành địa), A-na-hàm (bạc lưu Hiện Tiền địa), Tư-đà-hàm (độ chướng Nan Thắng địa), Tu-đà-hoàn (quán minh Diễm địa), Tu-đà-ca (lưu chiếu Minh địa), Tu-a-già-nhất-ba (đạo lưu Ly Cấu địa), Cưu-ma-la-già (nghịch lưu Hoan Hỷ địa), Đạt-ma-biên-già, Ba-la-đề phất-đà, Ba-ha-đế, Sư-la-xoa-già, La-xoa-tất, Phật-độ-a, Pháp-tất-đà, Tất-bạch-già, La-đàm-sa, La-la-đế-lưu-sa, Độ-xoa-nhất-bà, Độ-Phật-a, Độ-a-ha, Độ-sa-tất, Độ-sanh--đế, Độ-lợi-tha, Độ-ḥa-sai, Độ-chỉ-la, Độ-an-nhĩ, Độ-già-a, Lưu-sơn-ca, Tất-a-la, Tất-xoa-già, A--bạt, Tỳ-bạt-trí, An--sa, Lưu-ma-a, Lưu-la-già, Lưu-đế-già-độ, Lưu-già-độ. Tín, niệm, tấn, định, huệ, giới, hướng, hộ, xả, nguyện, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát. Kính mong mạt thừa Tam Bảo, dù thánh hay phàm đồng gia bị hộ niệm, cùng chứng minh cho. Cho phép Trí Húc ngày nay chí tâm sám hối, măn nguyện luân rộng lớn trong ngày hôm nay, hồ quỳ, chắp tay, phơi cạn gan ruột, bạch như thế này:

Trí Húc tự mê hoặc chân tánh, oan uổng vào trong ḍng hư vọng, rong ruổi theo vô minh, tăng trưởng ác nghiệp. Từ vô thỉ đến nay, chưa từng giác ngộ. Tội chướng tích tụ vô lượng vô biên. Nhờ gặp chú Diệt Định Nghiệp của Địa Tạng Bồ Tát, đă khuyên những người cùng nghiệp cùng nhau tŕ mười vạn vạn lần, lại c̣n tự nỗ lực chuyên tŕ năm trăm vạn lần, mười ngày phương tiện, trăm ngày chánh tu, kết tịnh đàn đúng như pháp, thọ hạnh thù thắng “chỉ ăn một bữa”. Do đạo tràng sắp hoàn tất, khóa niệm thầm và hành pháp giúp thành, cung kính đốt ba lọn hương trên cánh tay, cúng dường pháp giới Tam Bảo, kính mong đàn pháp Chiêm Sát sớm được lưu thông.

Lại nghĩ các thứ định nghiệp do ba thứ thân, miệng, ư mà rộng tạo Thập Ác. Ác pháp đă thành, như mũi tên đặt trên dây cung kéo căng, ắt sẽ bay xa, theo đúng lẽ, sẽ chẳng ngừng nửa chừng. Dẫu bi tâm của Đại Sĩ, sức chân ngôn chẳng thể nghĩ bàn, cũng cần phải vĩnh viễn dứt ương họa cũ th́ tội khiên cũ mới sẽ có thể cùng mất, nhưng cung kính xét lỗi chính ḿnh, hổ thẹn, kinh sợ càng tăng. Con thật sự mầm dâm, ư trộm, tập khí giết chóc chưa trừ, sao có thể khiến cho người khác vĩnh viễn trừ ba ác nghiệp nơi thân? Quả thật, các chủng tử nói dối, nói thêu dệt, nói lời thô ác, nói đôi chiều của con nay vẫn chưa tiêu, sao có thể khiến cho người khác vĩnh viễn tiêu trừ bốn ác nghiệp nơi miệng? Con quả thật tham, sân, si dấy lên hiện hành chẳng ngừng, sao có thể khiến cho người khác vĩnh viễn ngưng dứt tam ác độc nơi ư?

Than ôi! Kiểm điểm một thân toàn là khuyết điểm, kinh hoảng nửa đời đă thành phí uổng. Xoắn tay, xét ḷng, gào trời thét đất. Lại đốt ba lọn hương, tự hối hận, tự trách sâu xa. Lại v́ pháp giới chúng sanh xót xa cầu hối lỗi. Kính nguyện từ nay trở đi, mười ác tiêu, tam nghiệp tịnh, chẳng tạo nhân, chẳng thọ quả. Lại đốt một lọn hương cúng dường Ngũ Đài Diệu Phong lăo sư và ḥa thượng Vân Thê, sư tổ Hám Sơn, Tử Bách đại sư, tôn giả Mật Tạng, hết thảy chân thiện tri thức. Nguyện do sức phước huệ cùng gia bị che chở, khiến cho nguyện kiến tạo ṭa điện bằng đồng tại Cửu Hoa của con sớm được viên măn. Lại đốt năm lọn hương. Một v́ hai liêu ở Cửu Hoa tŕ hai mươi vạn lần. Hai là kho chứa, nhà bếp và tháp Phổ Đồng, cũng như tăng, tục giúp sức thành tựu mà tŕ hai mươi vạn lần. Ba là v́ đại chúng nghe pháp và kết duyên mà tŕ mười vạn lần. Bốn là v́ người lui tới, ở lại mà tŕ mười vạn lần. Năm là v́ ông X... trước kia [hứa nguyện] tŕ năm mươi vạn, cũng như mỗi ngày tŕ chú Đại Bi mười bốn lần. Nay tŕ thêm chân ngôn mười vạn lần, đốt năm lọn hương trên cánh tay để cúng dường Tam Bảo, thay mặt trọn hết những đứa con chân thật của đức Địa Tạng [để nguyện họ sẽ] kế tục nguyện vương của đức Địa Tạng. Lại v́ sa-di X… trước kia tŕ một trăm vạn lần, nay thêm năm vạn, dâng cúng một lọn hương, nguyện khiến cho người ấy vun bồi nền tảng phước thọ, ĺa tập khí làm việc ǵ cũng dở dang, lập thân như Thái Sơn chót vót, thề chí ắt che trời phủ đất. Lại v́ các sa-di… (ba người), v́ mỗi người tŕ năm vạn lượt, dâng một lọn hương, nguyện họ từ Sự nhập Lư, thành tựu ngũ căn, tỏ rơ ngũ lực. Trước kia đă v́ tỳ-kheo X… mỗi ngày tŕ ba trăm lượt, lấy mười hạ làm hạn, c̣n tŕ thêm chú Đại Bi, mỗi ngày bảy lượt, lấy thành tựu pháp khí làm kỳ hạn. Đă từng v́ các vị X... mỗi vị tŕ năm mươi vạn, nay cùng tŕ thêm mười vạn, cúng một lọn hương. Nguyện họ bỏ tập khí vin cành t́m lá, ngộ công phu thẳng thừng, nhanh chóng nơi cội rễ, phân tích nghĩa như đầu bếp xẻ trâu, đạt được lư như ngỗng chúa chọn sữa.

Ông X… sẽ chuyên cầu lỗi ḿnh, chẳng trách người khác sai trái, sẽ biết cẩu thả ắt khó thoát khỏi tù ngục sanh tử, tin do hạnh kém, điên đảo, rối ren, quyết sẽ chẳng thể hoành siêu Tịnh Độ, sẽ dũng mănh hăng hái tuân theo kế sách mới, đừng vẫn cứ theo lối ṃn cũ. Ông Y… sẽ suy nghĩ cẩn thận, biện định sáng suốt, suy xét cặn kẽ, tinh vi, thống thiết trừ bỏ tính hời hợt, thô tháo, điều chưa hiểu sẽ hiểu trước, chuyên cầu tự đạt được bản lănh sâu xa dường như chẳng có, dường như huyễn, ngộ Văn Tự tam-muội giống như tự kết kén kéo tơ, có thể nhập lư đàm luận sâu xa, ắt có thể ghè xương lấy tủy.

Lại v́ sa di X… trước kia tŕ một trăm vạn lần, nay tŕ mười vạn. Con mỗi ngày riêng tŕ bảy biến chú Đại Bi, lấy thành tựu pháp khí làm kỳ hạn. Nay tŕ thêm năm vạn lần chân ngôn, cúng một lọn hương, nguyện ông X… chiết phục kiêu căng, đoạn trừ ngă mạn, vun sâu phước thọ, chuyên chú trọng Tư Tu, tự phản tỉnh khuyết điểm của chính ḿnh, hâm mộ sở trường của người khác, hạ học thượng đạt, từ ngay nơi Sự mà luyện tâm. Ông X… giới căn vĩnh viễn bền chắc, mau phá được những rào ngăn. Lại v́ tỳ-kheo X… tŕ mười vạn, cúng một lọn hương, nguyện thầy X… trang nghiêm đại tạng mau được viên thành. Cái tâm chuyên trọng tiếng tăm của thầy X… tan diệt, giác ư ngày một sáng hơn. Đừng nghĩ lỗ mũi hếch lên trời, chỉ chuyên chú sao cho bàn chân chạm đất. Lại v́ tỳ-kheo… (hai mươi người) tŕ hai mươi vạn lần, cúng hai lọn hương, nguyện họ đều vĩnh viễn đoạn tập khí phiền năo, gánh vác chánh pháp. Họ sẽ siêng tu đạo xuất yếu, vĩnh viễn ĺa cái nhân hư vọng.

Lại v́ hết thảy Thiền giả, người học Giáo, người tŕ Luật, người niệm Phật, tu Du Già, và kẻ tà mạng, vân du, chuyên làm ruộng, những kẻ khoác y của Như Lai, hiện tướng Tăng Già, đạp trên đất già-lam, mạo danh xuất gia, hết thảy những người mặc áo thâm trọn tam thiên hạ[108], cùng tŕ ba mươi vạn biến, cúng ba lọn hương. Kính nguyện kẻ cuồng vọng hồ Thiền[109], đều chuyển hết thành bậc long tượng tông thuyết đều thông. Kẻ học câu nệ văn từ, chi tiết vụn vặt, đều chuyển hết thành bậc sư tử tùy văn nhập quán. Kẻ giới tử dê ngốc chuyển hết thành kỳ lân nơi Luật Định Cộng, Đạo Cộng. Kẻ chật vật nơi Liên Tông chuyển hết thành hổ có sừng trí dũng mănh, huệ hạnh. Kẻ ca xướng Du Già[110] chuyển hết thành bậc thần tăng truyền trao tam-muội. Bọn lái buôn trọc đầu[111] chuyển hết thành bậc thầy hướng dẫn vạn hạnh. Kẻ vân du tặc trụ[112] chuyển hết thành những tấm gương hành đầu đà thù thắng thơm thảo. Tăng dân chuyên cày cấy chuyển hết thành giống thiêng trong vườn ruộng pháp giới.

Lại v́ Bồ Tát Ưu-bà-tắc X… hằng ngày tŕ bảy lượt chú Đại Bi, lấy thoát nạn làm kỳ hạn. Nay tŕ thêm năm vạn câu chân ngôn, v́ những vị như ông Y… trước kia tŕ hai mươi vạn, các vị như ông Z… (kể tên năm người) nay tŕ mười vạn, cùng cúng hai lọn hương. Nguyện ai nấy tăng thêm chánh tín, tăng trưởng tâm sám hối, cùng uống sữa chẳng pha chất độc, phước chẳng song hành cùng tội, vĩnh viễn làm kim thang[113], tiến hướng theo nẻo giác. Lại đốt một lọn hương, cúng dường Địa Tạng từ tôn. Đem công đức đốt hương, tŕ chú này đều hướng về cha mẹ, và pháp giới hữu t́nh, cùng tŕ ba ngàn vạn, v́ hết thảy thầy, bạn, đệ tử đồng học, đàn na, ngoại hộ, oán thân tri thức tŕ tụng chín mươi vạn, ba trăm hai mươi vạn, bốn mươi tám vạn v.v… cho đến [hồi hướng nhân ngày] sinh nhật, siêu tiến vong linh các đời, hối lỗi, trừ tai, hoặc tự ḿnh tŕ, hoặc do người khác tŕ, tŕ chú dù nhiều hay ít, chí tâm hay tán tâm, lại c̣n khuyến hóa trọn khắp tăng, tục tŕ mười vạn vạn, dù khuyến hóa hay chưa khuyến hóa, dù đă hoàn tất hay chưa xong, quá khứ, hiện tại, vị lai, hết thảy công đức, nay đều nhiếp thủ vào hiện tiền, cùng hồi hướng trọn khắp, thâm tâm tín giải. Oai lực của chân ngôn chẳng thể nghĩ bàn, mỗi chữ trọn đủ vô biên công đức trong pháp giới. Hết thảy các chữ cũng như thế. Do oai thần của trùng trùng vô tận công đức chẳng thể nghĩ bàn ấy, khiến cho con hết thảy đều được như sở nguyện, măn nguyện Bồ Đề.

Lại đốt bốn lọn hương, cúng dường pháp giới Tam Bảo, và Địa Tạng Đại Sĩ, cầu chiêm sát luân tướng thứ ba, hoặc nương theo pháp Chiêm Sát, sám hối tội chướng trước, hoặc trụ A Lan Nhă, tu Thiền Định trước, hay trước thuật hoằng truyền kinh. Tu quán trí trước, hay gieo các gốc lành, hành các tam-muội. Khẩn cầu đấng đại từ chỉ dạy rơ ràng, khiến cho con đời này chẳng đến nỗi chết uổng! Lại c̣n ba lọn hương cúng dường Tịnh Độ Tam Bảo. Đem công đức này, thảy đều hồi thí pháp giới chúng sanh. Nguyện cùng xả một kỳ báo thân này, quyết định cùng sanh vào thế giới Cực Lạc, vĩnh viễn ĺa khổ nhân, khổ quả, mau chứng Bồ Đề Niết Bàn.

 

* Sớ tŕnh tội cầu xót thương

 

          Đảnh lễ bậc từ phụ Năng Nhân đại hiếu, kinh Phạm Vơng lấy hiếu thuận làm tông, các đấng đạt hiếu (達孝) Địa Tạng và Mục Liên, chư thánh tu chứng hiếu từ, nay con đốt hương sám hối tiền khiên, nguyện từ bi xót thương, rủ ḷng cứu bạt. Trí Húc là kẻ giả danh Bồ Tát giới, là sa-di làm ô uế đạo, khóc ra máu, dập đầu. Kính bạch Thường Tịch Quang Độ nhất thể Tam Bảo, chuyên khẩn cầu đại từ đại bi rủ ḷng cảm ứng, nói nghĩ tội Húc. Con tuổi thiếu niên chủ trương Lư học, xằng bậy xúc phạm Tam Bảo, phạm lỗi ngập trời, đáng đọa Vô Gián. Đối với trung hiếu thế gian, xét theo chí tánh, nào dám quên khuấy. Về sau, được Tam Bảo ngầm gia hộ, phản tà quy chánh, nhanh chóng phát tâm xuất thế, mong mỏi điều to tát, xa xôi, mong rốt ráo ḥng báo đền ân vua, ân cha mẹ, cứ ngỡ định kỳ hạn ắt chứng, chắc chắn chẳng ngờ. Dè đâu tới nay suốt mười sáu năm, rốt cuộc thành luống uổng! Tu hành đạo cùng tột, ngửa trông càng cao, dùi mài càng cứng chắc[114]! Đoạn trừ Hoặc nghiệp, rễ càng sâu, mà cành càng rậm. Kỳ hạn chết sắp đến, chí ban đầu nào có thành! Xoắn tay, xét ḷng, tội ấy kể sao cho trọn!

Sau khi mới nguyện xuất gia, [những tưởng] liền có thể độ thân duyên bao kiếp. Nay mẹ qua đời đă mười hai năm, cha khuất bóng hai mươi năm rồi, nhưng thiên nhăn chưa khai, mờ mịt chẳng biết sẽ sanh về đâu. Đó là sự phụ bạc to lớn thứ nhất, phụ ân sanh thành.

Sau khi mới xuất gia, [cứ ngỡ] liền có thể giới luật vĩnh viễn thanh tịnh, định huệ viên minh. Nay ngoài giới căn bản ra, lắm nỗi vi phạm, tạp loạn tán tâm, hoàn toàn chẳng có chánh định, danh tự Văn Huệ, chẳng dự lên ngũ phẩm. Đó là sự phụ bạc to lớn thứ hai, phụ bạc tánh linh của chính con vậy!

Lúc mới thấy giả thiện tri thức, loạn chánh ấn của tông môn, nguyện sau khi xuất gia, sẽ phước huệ trang nghiêm, hàng phục trọn khắp ma ngoại. Nay chỉ có thể tự biết tà chánh, trọn chẳng có đạo lực, nói suông há giúp được ǵ? Đó là sự phụ bạc to lớn thứ ba, phụ bạc tông môn của con!

Lúc mới thấy mạt vận, tăng thể ngày càng kém hèn, nguyện dùng thân ḿnh, tận lực chấn hưng sự suy đồi ấy. Nay đức mỏng, hạnh thiếu, chẳng đáng làm khuôn phép cho trời người. Đó là sự phụ bạc to lớn thứ tư, phụ bạc Tăng tướng của chính ḿnh.

Lúc mới thấy mạt vận, Tăng chẳng có luật hạnh, nguyện dùng thân này để khởi xướng, nay tự kiểm luật hạnh, thiếu sót, sai lầm càng quá đáng, chẳng đủ để làm bậc thầy khuôn mẫu cho người khác. Đó là sự phụ bạc to lớn thứ năm, phụ bạc danh vị này.

Lúc mới duyệt Luật, liền biết đủ thứ phi pháp thời Mạt, thề nhóm họp năm người cùng chí hướng, hoặc hơn năm người, đúng pháp cộng trụ, khiến cho chánh pháp của Như Lai phục hưng, nhưng do chướng sâu, nghiệp nặng, chẳng thể dự vào hàng tỳ-kheo, lại đánh mất phương tiện, trái nghịch bạn tốt. Đó là sự phụ bạc to lớn thứ sáu, tức phụ bạc chánh pháp luân.

Lúc mới thấy giặc ngoài hung cuồng, ngang ngược, đói kém, tật dịch lan tràn, quốc chánh đảo điên, căng thẳng, nguyên khí suy ṃn, nguyện tu thành đạo lực để hưng thịnh chánh pháp, ngầm phù trợ hoàng vận. Nay tự cứu chẳng được, ngồi nh́n giặc trong, tà ma, đành để mặc chẳng biết làm sao? Đó là sự phụ bạc to lớn thứ bảy. Trên là phụ ân sâu hoằng hộ của đế chúa, dưới phụ bạc cái nguyện v́ trọn khắp chúng sanh phát Bồ Đề tâm”.

Than ôi! Bảy tội phụ bạc lớn lao ấy, lại c̣n thoi thóp hơi tàn, chín chết một sống, nửa thân đau đớn đă mười mấy năm, bị sốt rét ngặt nghèo cứ ba ngày một lần quấn thân đă hơn ba năm! Ấy là tướng trước của địa ngục, hay là do lỗi ác tuy nặng, nhưng do một tia Bồ Đề nguyện lực, khổ tâm hộ pháp, hơi cảm Tịch Quang bi trí, khiến chuyển báo nặng thành khổ nhẹ phải hứng chịu trong lúc c̣n sống đấy chăng? Hổ thẹn, sợ hăi quẩn quanh, chưa biết rốt cuộc ra sao? Buồn bă trong cả giấc ngủ, sầu than cho cha mẹ, chỉ nhờ vào một tia tâm nguyện chưa quên, toan dùng chén nước để cứu cỗ xe đang cháy, càng thêm hoảng sợ. Nhưng lời thành thật của chư Phật, báu Bồ Đề tâm chẳng thể nghĩ bàn, như chút kim cang có thể xuyên thấu đại địa, chút sữa sư tử có thể xuyên qua biển sữa. Nếu c̣n một hơi thở, dám đâu chẳng đau đáu tự nỗ lực!

Nay gặp ngày giỗ của tiên nghiêm, kính bỏ ra y bát làm chút tài vật, sắm sửa cúng dường thường trụ Tam Bảo, đốt bảy lọn hương, sám hối bảy nỗi phụ bạc to lớn. Lại đốt bốn lọn, khải thỉnh Bồ Tát tỳ-kheo, sa di… (bốn vị) đồng tâm tu lễ Từ Bi Thủy Sám, đem công đức ấy chuyên thân hồi hướng. Kính nguyện Chung Chi Phượng và ưu-bà-di Kim Đại Liên sớm nở hoa Tịnh Độ, đốn ngộ ư chỉ duy tâm, Hoặc nghiệp băng tiêu trong mảy niệm, khổ luân măi đoạn trong vị lai. Kế đó, cầu tỳ-kheo X… tin sâu pháp giới kinh quyển trong vi trần, dốc chí chuyên tâm cầu chia chẻ[115], đoạn trừ ái kiến ch́m ẩn trong ruộng thức, cương nghị, mẫn đạt dựng pháp tràng. Vị X… ấy sẽ thẳng thừng tin vào pháp môn quán tâm, thật sự phát Bồ Đề đại nguyện. Sa di Y… sẽ trong hết thảy các sự, đều thấy Đệ Nhất Nghĩa Đế. Trong hết thảy các thời, chẳng quên đạo tâm vô thượng, sẽ nhập biển pháp không ngằn mé, không đáy, vượt thoát phàm t́nh huân tập, nhiễm đắm đă lâu. Kế đến, cầu mong tai ương, loạn lạc băng tiêu, tà thuyết như chuột lủi trốn. Vua rủ ḷng nhân mênh mông, sự giáo hóa của Phật ngời ngời! Kế đến cầu cho Trí Húc bệnh khổ tiêu trừ, giới thân thanh tịnh, phước đức thành tựu, Chỉ Quán viên minh, giúp ân vua đạt tới đời thịnh, thủ hộ chánh pháp của Như Lai. Lại đem công đức này, thí trọn khắp hết thảy chúng sanh, nguyện trừ sạch hết thảy tội căn phiền Hoặc, đoạn hết thảy tp nghiệp hữu lậu, xả hết thảy khổ báo sanh tử, ĺa hết thảy ác ma, ác hữu, quy vào hết thảy Đại Thừa Tam Bảo, thấy hết thảy chư Phật Thế Tôn, sanh trong hết thảy cơi tịnh trang nghiêm, khai Nhất Thiết Chủng Trí Bát Nhă, chứng giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, thành Pháp Thân vô thượng thanh tịnh. Pháp giới chúng sanh như thế đều đạt được lợi ích thù thắng rốt ráo như thế, Trí Húc mới quyết chứng Vô Thượng Bồ Đề.

 

* Sớ v́ các vị thầy như thế lễ sám sáu thất

(năm Kỷ Măo - 1639)

 

          Bồ Tát giới sa di Trí Húc nhất tâm quy mạng Thích Ca từ phụ, một ngàn vị Phật trong ba đời, Cực Lạc đạo sư A Di Đà Phật, phẩm Bồ Tát Tâm Địa của kinh Phạm Vơng, kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm, Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát, các đại Bồ Tát thuộc hai mươi lăm pháp Viên Thông, Đại A La Hán, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Kim Cang Tạng Vương Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, và mười phương ba đời vô cùng vô tận hết thảy Tam Bảo, nguyện phóng từ quang, cùng rủ ḷng xót thương chứng giám. Kính v́ Bồ Tát Giới tỳ-kheo Đạo Phưởng đă quá văng, tuy chánh niệm phân minh, văng sanh có thể đoán được, nhưng phước huệ chưa măn, chưa thể mong hoa nở, kính thỉnh các vị đồng hạnh, lễ ba ngàn vị Phật, đốt sáu lọn hương trên cánh tay, cúng dường ngàn vị Phật và pháp giới Tam Bảo:

- Một là do công đức lễ Phật này, hồi hướng ngài Đạo Phưởng, nguyện Sư nương vào điều này mà tâm khai, trong một niệm, thấy trọn mười phương ba đời hết thảy chư Phật, trong hết thảy các thời chẳng quên nghĩ tới pháp môn.

- Hai là đem công đức trước thuật [chú giải] kinh Đại Phật Đảnh trong hiện thời, và hợp chú Phạm Vơng Tâm Địa khi trước hồi hướng cho Đạo Phưởng. Nguyện các tội vô thỉ đều tiêu tan, tất cả thiện căn đều viên măn, đoạn ái căn vi tế, phá tập khí sân hận nhân ngă, tháo sạch nước tăng thượng mạn, xua tan mây si ám độn, giới thể viên thành, tánh nghiệp và giá nghiệp đều tịnh, định lực sâu xa, hôn trầm, tăm tối và điệu cử đều mất, huệ tánh khai minh, Thật Trí và Quyền Trí cùng hiển lộ, thiện xảo thủ hộ cái tâm, thấy kẻ chưa học và đă học b́nh đẳng, cho đến chẳng ngoài một đời mà được thọ kư, hoa nở chẳng ĺa một niệm hiện tiền.

- Ba là gộp chung công đức trên đây, thay Đạo Phưởng giúp cho hết thảy giác linh (kể tên ba đời), nguyện cùng lên Tịnh Độ.

- Bốn là v́ các vị hiếu đồ X… đảnh lễ Tam Bảo, nguyện vĩnh viễn chẳng có tâm chống trái, chẳng phạm điều răn “trùng trong thân sư tử”.

- Năm là v́ hết thảy đàn việt tín chủ trong Trạm Nhiên Liêu đảnh lễ Tam Bảo, nguyện tưởng người đă xuống tóc là đạo sư, coi người áo thâm như bậc hiền thánh, cho đến đối với các người đi lại, trẻ nít đặt chân lên đất già-lam, hết thảy đều tưởng là Phật vị lai, đích xác tuân theo nghiêm huấn trong kinh Thập Luân, là kim thang lâu dài của Tam Bảo.

- Sáu là thay cho Đạo Phưởng xoay ḿnh cảm tạ các vị đồng hạnh X… Nguyện do sám lỗi mà nhanh chóng hiển lộ cái Thể không lỗi. Do độ người khác mà ngầm ngộ tông Vô Tha. Kính mong pháp giới thánh hiền hai cơi chứng minh, nhiếp thọ.

 

* Tổng Sớ và Biệt Sớ trong Vu Lan Bồn Đại Trai Báo Ân Phổ Độ Đạo Tràng

(năm Kỷ Măo - 1639)

 

          Trí cùng Thật Tướng ngầm dung tuyệt thiên như (bách giới thiên như), bi cực vô duyên, xứng đồng thể, nhiếp trọn mười giới, nhưng Năng và Sở cùng tịch, cảm ứng tỏ lộ trọn vẹn. Trí Húc quy mạng đức Kỳ Viên giáo chủ, đấng thế hùng đại từ, đại hiếu, kinh điển lá bối mầu nhiệm tức Sự, tức Lư truyền tŕ, khải giáo Mục Liên tôn giả, tam thừa thập thánh chúng tăng, nguyện tỏa từ quang, cùng rủ ḷng soi xét rạng ngời. Chúng con kiến lập đạo tràng Vu Lan Bồn (trần thuật các kinh sám [tụng niệm] ngày đêm, chẳng sao chép vào đây), phổ cúng đại trai để mười phương Tam Bảo hết thảy Tăng già hưởng dụng. Dùng công huân này, chuyên thân kính dâng siêu tiến cha mẹ bảy đời, thân duyên trải các đời của mỗi người: Nếu ở trong tam đồ bát nạn, sẽ vĩnh viễn thoát khỏi ṿng khổ. Loài người, thiên tiên tăng thêm phước lạc. Đă sanh nơi đài sen, sẽ ngay lập tức hoa nở thấy Phật, từng phụng sự đức thánh chúa, chóng được thọ kư, độ sanh.

Lại đem công đức này, phổ thí các hàm thức trong pháp giới. Kính nguyện tột cùng chiều dọc, trọn khắp hết thảy chúng sanh, hoặc oán thân, hoặc chẳng phải oán thân, hoặc thấy nghe, hoặc chẳng thấy nghe, do sức pháp tánh đồng thể, do vô duyên từ bi thệ, khiến cho đều đạt được lợi ích mầu nhiệm: Địa ngục dứt khổ, ngạ quỷ ĺa đói, súc sanh chẳng kinh sợ, Tu La bỏ đấu đá, người khỏi tám khổ, trời thoát ngũ suy[116], Nhị Thừa thoát khỏi hầm khô tịch[117], Bồ Tát nhổ mũi tên vô minh.

Lại kính nguyện do công đức này, trang nghiêm Vô Thượng Bồ Đề. Kính nguyện pháp giới hàm thức tột cùng chiều dọc, trọn khắp chiều ngang, chẳng cầu niềm vui hư ngụy trong chốn trời người, cũng chẳng mong cầu Thiên Chân Niết Bàn, chẳng tham nhân quả thuộc quyền vị, cũng chẳng chấp lư tánh ở ngoài duyên sự, chỉ phát tâm Bồ Đề rộng lớn, mau chóng tiến đến rốt ráo Đẳng Chánh Giác. Lại do công đức này, từ ngay nơi bản thể của mỗi người, sẽ dung nhập lư chẳng nghĩ bàn. Kính nguyện ngay nơi sám văn tuyên đọc, hoặc tác pháp, hoặc chấp tướng, hoặc vô sanh, tam chướng sẽ trọn vẹn tiêu hết trong mảy niệm. Khi xưng Phật hiệu, dẫu giả danh, hay Báo, Hóa, hoặc Pháp Thân, tứ đức sẽ hiển lộ trọn vẹn trong sát-na, dù là nơi thức ăn hay nơi các pháp cũng thế, mười pháp giới đều cùng no đẫy đề hồ. Người nói hạnh chân chánh cũng sẽ hành đúng như lời đă nói, giáo hạnh đồng quy lư tánh, biết rơ tự tha trước nay chỉ là Chân Như duy nhất, triệt ngộ nhân quả. Từ đầu đến đuôi, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng. Lại nguyện chúng con trong mỗi sự, mỗi niệm, trọn đủ ba loại đại hồi hướng như trên rồi, sanh ra công đức, ngưỡng mong bốn biển hưởng sự thái b́nh, cơi trần được hưởng lây sự giáo hóa xuất thế. Từ nay trở đi, cho đến tận vị lai, tiếp nối hưng thịnh Tam Bảo, khiến cho chẳng đoạn tuyệt, hoằng thông Đại Thừa, khiến cho chẳng bị ngăn ngại, chiết phục, nhiếp thọ chẳng riêng tư, từ và oai cùng vận dụng. Đối với thiện và bất thiện, đều b́nh đẳng tế độ. Mặt trời chiếu sáng biển khơi, đất chở, trời đựng, t́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí.

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư tông luận

Quyển thứ nhất phần 1 hết

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Nhị Đế: Chân Đế và Tục Đế. Tam Đế là Không, Giả, Trung. Tứ Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Nhất Đế: Đệ Nhất Nghĩa Đế. Vô Đế: Chân Như Thật Tướng.

[2] Đây là một thí dụ trong kinh Niết Bàn và kinh Đại Nhật. Kim vàng (kim bễ, 金錍) ở đây là một dụng cụ dùng để chấm thuốc nạo mộng mắt, ví như phương tiện thiện xảo của Phật, Bồ Tát nhằm gột trừ màng mộng vô minh của chúng sanh, khai mở đạo nhăn.

[3] Tam Đại là ba triều đại cổ xưa của Trung Hoa tức là Hạ, Thương, Châu. Đường Ngu: Đường là nói tắt của Đường Nghiêu. Vua Nghiêu họ Y Kỳ, tên là Phóng Huân, được phong ở đất Đào, sau dời sang đất Đường, nên c̣n gọi là Đào Đường. Nghiêu là thụy hiệu sau khi mất, nên Sử thường gọi nhà vua là Đường Nghiêu. Ngu là Ngu Thuấn, do vua Thuấn họ Diêu (do được sanh ở Diêu Khư, nên lấy Diêu làm họ), tên là Trùng Hoa, thuộc bộ tộc Hữu Ngu, nên thường gọi là Ngu Thuấn.

[4] Nhị trí có nhiều cách hiểu:

1. Như Lư Trí (c̣n gọi là Căn Bản Trí, Vô Phân Biệt Trí, Chánh Thể Trí, Chân Trí, Thật Trí) và Như Lượng Trí (c̣n gọi là Hậu Đắc Trí, Hữu Phân Biệt Trí, Tục Trí, Biến Trí).

2. Thật Trí (Thật Lư Trí) và Quyền Trí (Phương Tiện Trí).

3. Nhất Thiết Trí (trí thông đạt thật tánh của hết thảy các pháp) và Nhất Thiết Chủng Trí (trí thông đạt đủ loại sự tướng của hết thảy các pháp).

[5] Sở dĩ phải chia thành quyển nhỏ v́ thuở xưa, người ta in chữ lên một mặt giấy rồi xếp phía mặt giấy không có chữ đâu lưng vào nhau để tạo thành từng trang, khâu gáy tạo thành sách, gọi là một quyển. Cứ mỗi quyển như vậy, có độ từ bốn mươi cho đến năm mươi trang.

[6] Thành Thời (không rơ năm sinh-1678) là vị danh tăng đời Minh. Sư là người huyện Hấp thuộc Huy Châu, hiệu là Kiên Mật. Sư thuở bé học Nho, đến khi hai mươi tám tuổi mới ngộ Phật pháp bèn xuất gia, theo cầu pháp với tổ Ngẫu Ích Trí Húc. Sư trụ tại Ngưỡng Sơn, mănh thú trong núi đều tuân phục. Sư tự soạn Trai Thiên Pháp Nghi. Sau dời qua Giang Ninh, trụ tại chùa Tích Thiên Giới, hoằng dương Pháp Hoa, siêng tu Tịnh nghiệp. Sư biên tập, san khắc Tịnh Độ Thập Yếu để lưu hành rộng răi nhằm báo ân thầy, cũng như sưu tập, hiệu đính, biên tập các di trước của tổ Ngẫu Ích. Tác phẩm tự trước thuật th́ có Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sơ Tâm Tam Muội Môn, và Thọ Tŕ Phật Thuyết A Di Đà Kinh Hạnh Nguyện Nghi.

[7] Mẫn () hiểu theo nghĩa thông thường là “tiêu diệt, mất đi”, nhưng kinh sách nhà Phật dùng với ư nghĩa diệt trừ sự chấp trước, chứ không phải là tiêu diệt một pháp.

[8] Nguyên văn “dẫn Thương khắc Vũ” (引商刻羽): Thương và Vũ là hai nốt nhạc trong thang âm Ngũ Cung (Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ). Từ ngữ này hàm nghĩa do nghiên cứu âm luật tinh tường, đạt tới tŕnh độ thấu hiểu âm nhạc rất cao, rất sâu. Từ ngữ này được dùng với ư nghĩa “dụng công học tập, nghiên cứu sâu xa, đạt tới thành tựu cao rộng”.

[9] Tự Thuyết (序說) là phần được đặt trước một tác phẩm nhằm giới thiệu sơ lược những điểm chánh yếu của tác phẩm đó, hoặc khái quát cấu trúc của tác phẩm ấy.

[10] Tông Kính Lục là một tác phẩm đồ sộ, gồm một trăm quyển, c̣n được gọi là Tông Giám Lục, hoặc Tâm Kính Lục, do tổ Vĩnh Minh Diên Thọ Trí Giác (904-975) biên soạn hoàn tất vào năm Kiến Long thứ hai (961) đời Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn). Tác phẩm này trích dẫn các luận thuyết từ trong sáu mươi bộ kinh luận nhằm vạch rơ đại ư của chư Phật, cũng như nêu ra những điểm cốt yếu trong kinh luận, chú trọng đốn ngộ, viên tu, nhằm đả phá quan điểm lệch lạc đề cao Thiền, coi thường Giáo, hiểu sai lạc câu nói “chẳng lập văn tự” của tổ Đạt Ma, nêu rơ Thiền Giáo nhất trí để đối trị căn bệnh cuồng Thiền, dễ rơi vào hư vô, ngoại đạo do không chịu học kinh điển của những người tự xưng là Thiền khách.

[11] Tịch Âm tôn giả tức là ngài Giác Phạm Huệ Hồng (1071-1128), thuộc phái Hoàng Long của tông Lâm Tế. Ngài xuất gia lúc mười bốn tuổi, theo học Câu Xá và Duy Thức với luật sư Tam Phong Tĩnh, Tuyên Bí và Chân Tịch Khắc Văn. Thời Tống Huy Tông, do bị vu cáo làm trái nghịch chánh lệnh của triều đ́nh, trước sau, Sư bị tống giam bốn lần, may mà được các vị Tể Tướng Trương Thương Anh và Thái Úy Quách Thiên Dân cứu thoát. Sau khi được phóng thích, Sư chuyên tập trung trước tác tại Minh Bạch Am ở Hồ Nam. Sư để lại các tác phẩm Lâm Nhàn Lục, Lầm Nhàn Lục Hậu Lục, Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, Lănh Trai Dạ Thoại, Thạch Môn Văn Tự Thiền v.v…

[12] Thiền sư Chuyên Ngu Quán Hành (1579-1646) là cao tăng thuộc tông Lâm Tế cuối đời Minh, hiệu là Chuyên Ngu, nối pháp Ngũ Đài Không Ấn và Hám Sơn Đức Thanh. Ngài sống đồng thời với tổ Ngẫu Ích, từng trụ tŕ Chân Như Thiền Tự ở núi Vân Cư, chấn hưng tông phong, trung hưng cổ đạo tràng. Hằng ngày, Ngài ngồi Thiền dưới một chiếc ô lớn nên được gọi là Tán Cư ḥa thượng. Do đức hạnh và đạo hạnh, Ngài được người đương thời tôn xưng là Cổ Phật. Ngài để lại các tác phẩm Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu Hành Ḥa Thượng Ngữ Lục (20 quyển) và Lăng Nghiêm Kinh Huyền Đàm.

[13] Do câu này hơi khó hiểu, chúng tôi xin mạo muội giải thích như sau: Pháp sư Thành Thời chia các bài viết của tổ Ngẫu Ích theo nội dung, chủ đề, hay mục đích (chẳng hạn chia thành nguyện văn, thư vấn đáp v.v…), chứ không chia các trước tác ấy theo thể tài văn chương (tức là chia thành văn xuôi, văn vần, thi kệ…)

[14] Đây là một công án Thiền dựa theo các câu nói của ngài Sở Thạch Phạm Kỳ. Theo bài viết Ngạn Ngữ Trong Linh Phong Tông Luận của Mật Tăng đăng trên tạp chí Minh Luân (số 486 năm 2018) th́ hai câu này phải hiểu như sau: Đọc Linh Phong Tông Luận, phải toàn tâm toàn ư tin tưởng tiếp nhận, giống như dùng gậy phang vào đầu tượng đá, mỗi gậy giáng xuống, đều phát ra tiếng bôm bốp, cũng như đọc mỗi câu đều phải thật sự nghiền ngẫm, t́m ṭi, lănh hội, chẳng để uổng công, giống như ông già tám mươi tuổi mới đi học, sẽ có thái độ trân trọng, chẳng giống như trẻ nít vào trường học quấy quá, đối phó cho xong.

[15] Hướng thượng nhất trước là thuật ngữ dùng trong nhà Thiền. Theo pháp sư Thánh Nghiêm, điều này có thể hiểu đơn giản là đă thấy thấu triệt bản tánh Vô Thượng Bồ Đề là ǵ, Phật tánh rốt cuộc là ǵ. Ở đây, pháp sư Thành Thời có ư nói: Người học Phật trong cơi đời thường phạm sai lầm, ngỡ pháp ở ngoài tâm, lầm lẫn tưởng tướng trạng huyễn hóa trong thế gian là chân tánh.

[16] Ám chứng là từ ngữ nhà Thiền dùng để quở trách kẻ chỉ lo chú trọng ngồi Thiền, không hiểu nghĩa lư của kinh giáo, ch́m vào trầm không, trệ tịch hoặc ám độn, mà cứ tưởng đă dứt sạch phiền năo, chẳng khởi vọng niệm.

[17] Nghệ dư (寱餘): Nghệ là lời nói thốt ra trong khi ngủ mê, Dư là sót thừa, tức là cách nói khiêm tốn chỉ những lời nói của người chưa giác ngộ, nói năng toàn những điều thừa thăi như kẻ nói mớ trong mộng.

[18] Đây là một câu dựa theo ư thơ của thiền sư Thích Thiệu Đàm: “Cổ lưỡng phiến b́ mạn tự kỷ, nhất hồi niêm xuất nhất hồi tân” (Dẫu da nơi hai mặt trống đă cũ vẫn chẳng màng, cứ gơ một hồi trống là có hồi tiếng trống mới xuất hiện). Ư nói những lời lẽ trong bộ Tông Luận này có thể là đối với người đọc rộng, nghe nhiều th́ đă thành sáo ṃn, cũ kỹ, nhưng nếu lắng ḷng thể hội, sẽ cảm nhận những điều mới mẻ, thú vị.

[19] Đoạn này khá khó hiểu: Ngu ư cho rằng ư pháp sư Thành Thời muốn nói, đối với các lời dạy của tổ, người chẳng lănh hội được ư nghĩa th́ cũng nhờ vào đó mà bàn luận, do vậy, cũng đă gián tiếp được kết duyên với lời dạy của Tổ. Kẻ hiểu, sẽ thấu đạt những lời dạy của tổ là phương tiện văn tự để người nghe nhờ vào đó mà tự giải ngộ, đừng chấp trước văn tự. Sau đó, pháp sư tự khiêm nói chính ḿnh chẳng dám đoan quyết các lời dạy của Tổ luôn hữu ích cho người đọc v́ tùy thuận căn cơ mà mỗi người mỗi khác, nhưng cũng chẳng dám phủ định những lời dạy của tổ chẳng thích hợp cho mọi căn cơ.

[20] Văn Trung Tử là thụy hiệu của Vương Thông (584-617), một bậc đại Nho đời Tùy. Ông có tên tự là Trọng Yêm, ngoại hiệu là Vương Khổng Tử. Tuy mất khá sớm (33 tuổi), nhưng trước tác rất nhiều và được người đương thời lẫn hậu thế đánh giá rất cao, coi ông là người đă kế thừa xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử.

[21] Đây là một câu nói tự trách của Khổng Tử được ghi trong sách Trung Dung: “Quân tử chi đạo tứ, Khâu vị năng nhất yên” (bốn điều trong đạo của người quân tử, Khâu chẳng thể làm được một điều nào). Bốn điều trong đạo của người quân tử là hiếu, đễ (ḥa thuận, thương yêu anh em), trung, tín.

[22] Ư nói tổ Linh Phong Ngẫu Ích chưa hề xin các vị danh sĩ, đại đức, cao tăng, hay người quyền quư, danh vọng viết lời tựa, đề từ, hay giới thiệu cho các tác phẩm của chính ḿnh, hoặc xin các biển đề, bài minh cho tự viện nơi Ngài trụ tích.

[23] Tức là Ngài răn đại chúng đừng yêu cầu Ngài nói kệ thị tịch, hoặc xin người khác viết tựa, viết lời bạt cho các di cảo của Ngài.

[24] Trị mạng (治命) là lời căn dặn, di chúc của người sắp mất khi người ấy thần chí tỉnh táo, sáng suốt.

[25] Hành cước (行腳) c̣n gọi là du phương, du hành, tức là nói một vị Tăng không ở một nơi nhất định, thường đi các nơi để cầu đạo, hay v́ mục đích khuyến hóa mà đi khắp các nơi. Vị tăng du phương c̣n được gọi là vân thủy tăng.

[26] Dật dân (逸民) có nghĩa là người tiết hạnh thanh cao, siêu việt, phóng khoáng, lánh đời ẩn dật.

[27] Theo lời diễn giải của ông Trần Vượng Thành trong bài Cận Cổ Cao Tăng Trung Tri Kiến Tối Chánh Giả (người có tri kiến chánh đáng nhất trong các vị cao tăng thời cận đại và xưa kia), ư của Tổ là so với hành trạng của các vị cao hiền trong Nho, Thiền, Luật, Giáo thời cổ, Ngài tự than chính ḿnh không có cách nào sánh bằng được, nhưng so với các người được coi là hữu danh trong Nho, Thiền, Luật, Giáo đồng thời, Ngài lại cảm thấy ḿnh chẳng xứng đáng ngang hàng với họ.

[28] Mộc Độc c̣n gọi là Độc Xuyên, Sài Trạch, Hương Khê, hoặc Tư Giang, là một trấn thuộc khu Tô Trung, thành phố Tô Châu, tỉnh Giang Tô, nằm cách Thái Hồ vài cây số. Theo truyền thuyết, tên gọi này bắt nguồn từ chuyện Ngô Vương Phù Sai v́ Tây Thi xây đài Cô Tô, sử dụng gỗ do nước Việt tiến cống. Suốt ba năm, các bè gỗ lấp kín khúc sông, nên thành ra tên ấy. Nhưng đến thời Tống, nơi này mới được lập thành trấn.

[29] Song Cảo (窗稾) là từ ngữ gọi chung các bài văn thơ do học tṛ tự viết trong khi đang theo học tại các trường tư thục.

[30] Hoàng Bá Hy Vận (?-855), thụy hiệu là Đoạn Tế thiền sư, cao tăng Thiền Tông đời Đường, đệ tử nối pháp của Bách Trượng Hoài Hải. Một đệ tử lỗi lạc của ngài là Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866) đă lập ra thiền phái Lâm Tế.

Đức Sơn Tuyên Giám (782-865) là thiền sư đời Đường, nối pháp của ngài Long Đàm Sùng Tín, do tinh thông Kim Cang và họ ngoài đời là Châu, nên Ngài được người đương thời gọi là Châu Kim Cang. Thoạt đầu, Sư học Bắc Tông Thiền (Thiền phái được truyền bởi ngài Thần Tú), viết Thanh Long Sớ để chú giải kinh Kim Cang. Về sau, nghe Long Đàm Sùng Tín thiền sư hoằng dương đạo Thiền của Lục Tổ Huệ Năng, quyết xuống miền Nam để chế phục, gánh theo bản Thanh Long Sớ xuống miền Nam. Vào một quán ăn, hỏi mua điểm tâm, Sư bị một bà lăo hỏi: “Sư gánh theo ǵ đó?” Sư đáp: “Thanh Long Sớ chú giải kinh Kim Cang”. Hỏi: “Sư muốn làm ǵ?” “Tôi muốn mua điểm tâm”. Bà lăo nói: “Kinh Kim Cang nói ba tâm chẳng thể được, quá khứ, hiện tại, vị lai, Sư muốn điểm cái tâm nào? Nếu Sư nói được, tôi sẽ cúng tặng điểm tâm”. Sư á khẩu, đành nhịn đói ra đi. Gặp ngài Sùng Tín, sau khi biện luận, Sư tâm phục, khẩu phục bèn đốt Thanh Long Sớ, truyền đạo của thầy suốt ba mươi năm. Phương cách chỉ dạy học nhân của Ngài là dùng gậy đập, nên mới thành ngữ “Đức Sơn bổng” (gậy Đức Sơn). Đệ tử nổi tiếng của Ngài là Ngưu Đầu Toàn Hoát, Tuyết Phong Nghĩa Tồn v.v…

[31] Ư nói: Chỉ thích nghe lời đồn, tin ngay là thật, không suy xét kỹ càng.

[32] Chùa Linh Phong ở núi Linh Phong (c̣n gọi là Bắc Thiên Mục) thuộc hương Bạch Thủy Loan, huyện Cát An tỉnh Chiết Giang. Chùa được sáng lập vào năm Khai B́nh nguyên niên (907) đời Lương, có tên là Linh Phong Viện. Đời Tống, vào năm Trị B́nh thứ hai (1065), vua đổi tên là Bách Phước Giảng Tự, nhưng mọi người vẫn gọi là Linh Phong, cho đến năm Càn Long 12, vua xuống chiếu đổi thành Linh Phong Tự.

[33] Chỉ Nguyệt Lục có tên gọi đầy đủ là Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt Lục do Cù Nhữ Tắc biên soạn vào đời Minh. Sách gồm ba mươi hai quyển, trích lục ngôn hạnh và tiểu truyện của sáu trăm hai mươi người trong nhà Thiền từ quá khứ Thất Phật cho đến ngài Đại Huệ Tông Cảo đời Tống.

[34] Bất tiếu (不肖) là từ ngữ ngụ ư chê trách kẻ không ra ǵ, bất hiếu, chẳng thành tựu, chẳng xứng đáng với cha mẹ, hoặc thầy dạy.

[35] Bao Sái Đà (褒灑陀) chính là phiên âm sai lệch của chữ Upavasattha, c̣n dịch là Bố Tát, hoặc Bố Sái Tha, Bổ Sa Tha, Bố Tát Đà Bà, dịch nghĩa là Tịnh Trụ, hoặc Trưởng Dưỡng, chính là ngày tụ họp tụng giới mỗi nửa tháng của người xuất gia, người thọ giới nhân đó kiểm điểm ngôn hạnh của chính ḿnh có phù hợp giới luật hay không để sám bạch trước chúng tăng, cầu sám hối. Không riêng ǵ tăng chúng, hàng cư sĩ tại gia thọ Bồ Tát giới cũng phải cử hành B Tát.

[36] Giường dây (繩牀, thằng sàng) không phải là vơng theo cách hiểu hiện thời, mà đây là một loại ghế dựa có nguồn gốc từ Ấn Độ, c̣n gọi là Hồ Sàng (giường của người Hồ), hoặc là Giao Sàng (giường chéo). Đây là một loại ghế chân chéo, có lưng tựa, có thể xếp được để tiện di chuyển, mặt ghế bện căng bằng thừng hay sợi vải dầy thay v́ để nguyên khối gỗ. Mặt ghế đủ rộng để người ta có thể ngồi xếp bằng trên đó.

[37] Pháp lạp, c̣n gọi là pháp tuế, hạ lạp, pháp hạ, giới lạp, tăng lạp, tọa lạp, tọa hạ pháp lạp, tức là kể từ sau khi một vị tăng sĩ thọ Cụ Túc Giới, cứ mỗi lần tham dự kết hạ an cư th́ tính thêm một tuổi hạ. Tuy vậy, đôi khi pháp lạp (như trong trường hợp này) chỉ đơn giản tính từ năm thọ Cụ Túc Giới cho đến khi mất, c̣n Tăng hạ là tính theo số lượt thật sự an cư kết hạ.

[38] Gọi là Nam Bắc Tạng v́ thời nhà Minh đă có ba lần in Đại Tạng Kinh do triều đ́nh chủ xướng:

1. Hồng Vũ Nam Tạng do Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) chủ xướng vào năm Hồng Vũ thứ năm (1372), tụ tập tăng chúng giảo đính, san định các kinh điển để tạo thành Đại Tạng Kinh. Công tŕnh này đến năm Hồng Vũ 31 (1298) mới hoàn thành, nhưng chỉ được khắc in hoàn tất trong ba năm sau đó, tức năm Kiến Văn thứ ba (1401). Tàng bản được giữ tại chùa Thiên Hy, nhưng bị hủy hoại trong một trận hỏa hạn. Tới năm Vĩnh Lạc 14 mới phát hiện được một bản in của tạng này tại Quang Nghiêm Thiền Viện.

2. Vĩnh Lạc Nam Tạng do Minh Thành Tổ chủ xướng vào năm Vĩnh Lạc 11 (1413), trùng tu chùa Thiên Hy, khắc lại Đại Tạng Kinh, căn cứ trên bản Hồng Vũ Nam Tạng.

3. Vĩnh Lạc Bắc Tạng: Sau khi dời đô từ phủ Thuận Thiên (Nam Kinh) lên Bắc Kinh, Minh Thành Tổ cho in khắc Đại Tạng Kinh lần nữa, nhưng măi đến năm Chánh Thống thứ năm (1440) đời Minh Anh Tông mới hoàn thành.

[39] Pháp Bảo Tiêu Mục có tên gọi đầy đủ là Đại Tạng Thánh Giáo Pháp Bảo Tiêu Mục, do Vương Cổ soạn vào thời Bắc Tống. Sách này ghi mục lục các kinh sách nhà Phật cho đến thời đó, đối với mỗi kinh, đều trần thuật đại lược nội dung, chia làm: Đại Thừa kinh luật luận, Tiểu Thừa kinh luật luận, các trước tác của thánh hiền, truyện kư, kinh lục, mục lục các kinh cho đến thời Trinh Nguyên, các kinh mới dịch vào đời Tống.

Vựng Mục Nghĩa Môn có tên gọi đầy đủ là Đại Minh Thích Giáo Vựng Mục Nghĩa Môn, c̣n gọi là Pháp Tạng Chỉ Nam, gồm bốn mươi mốt quyển, do ngài Tịch Hiểu soạn vào đời Minh, nhằm thống kê và phân loại các kinh điển nhà Phật. Sách dựa theo giáo nghĩa Thiên Thai, chia các kinh sách nhà Phật thành tám loại Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, Pháp Hoa, Niết Bàn, Đà La Ni, thánh hiền trước thuật v.v…

[40] Điển tích này xuất phát từ câu chuyện pháp sư Vô Trước triều bái Ngũ Đài Sơn, gặp Văn Thù Bồ Tát hóa thân. Bồ Tát hỏi Sư từ đâu đến, Sư thưa từ phương Nam đến. Bồ Tát hỏi Phật giáo ở phương Nam như thế nào? Sư đáp: Thời Mạt pháp, không có người giữ giới luật. Văn Thù Bồ Tát hỏi: Rốt cuộc có bao nhiêu tỳ-kheo? Vô Trước thưa: Ước chừng từ ba trăm tới năm trăm người. Vô Trước hỏi ngược lại t́nh huống Phật giáo phương Bắc, Bồ Tát bảo: “Phàm phu thánh nhân đều có, rồng rắn hỗn tạp”. Vô Trước lại hỏi: “Có bao nhiêu vị?” Bồ Tát bảo: “Tiền tam tam, hậu diệc tam tam”. Theo pháp sư Thánh Nghiêm, phải hiểu nghĩa “tam tam” là gần như nhau. Hàm ư t́nh h́nh ở đâu cũng từa tựa như nhau.

[41] Thiên hóa (遷化) là từ ngữ dùng để chỉ sự qua đời của một vị Tăng.

[42] Thụy hiệu (諡號) là tên được đặt cho một người sau khi đă mất (thường là áp dụng cho vua chúa, chư hầu, đại thần, hậu phi, quư tộc, tăng ni, đạo sĩ…). Thụy hiệu thường là do triều đ́nh ban tặng dựa theo công và tội lúc sống của người ấy. Phong tục này lưu hành tại Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản. Tục lệ này xuất hiện kể từ thời Châu Mục Vương (Cơ Măn, 1027-922 trước công nguyên), kể từ đó, khi nói về người đă khuất, người ta thường gọi theo thụy hiệu như Gia Cát Vũ Hầu (Khổng Minh Gia Cát Lượng), Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi), Tăng Văn Chánh (Tăng Quốc Phiên). Nếu nói cặn kẽ, thụy hiệu chia làm nhiều loại:

1) Thượng hiệu: Ca ngợi đức hạnh. Chẳng hạn như bậc văn thần tài năng, trung hiền, th́ dùng các chữ Văn, chữ Trung. Các chữ Tráng, Vũ, Cương nhằm ca ngợi chiến công của vũ tướng. Theo truyền thống, tên thụy khởi đầu bằng chữ Văn hoặc Vũ là sự biểu dương cao nhất.

2) Trung hiệu: Thể hiện sự đồng t́nh, cảm thương, như Tấn Mẫn Đế (Tư Mă Nghiệp) biểu thị vua gặp cảnh nước mất nhà tan, Lưu Thiền con Lưu Bị có thụy hiệu là Thục Hán Hoài Đế (ư nói có ḷng nhân nhưng chính quyền tan ră quá sớm).

3) Hạ hiệu: Có ư nghĩa phê phán nặng nề, như Châu Lệ Vương (Cơ Hồ) th́ chữ Lệ có ư nghĩa chê bai vua bạo ác, chẳng hiểu nhân nghĩa. Chữ U trong Tấn U Công (Cơ Liễu) là người u tối, không thông hiểu quyền biến.

4) Tư hiệu: Khi một vị học giả, sĩ đại phu, tăng sĩ, hiền nhân chết (đôi khi chỉ là người có học đôi chút) th́ thân thích, môn sanh bàn định đặt thụy hiệu như Đào Tiềm được tôn là Tĩnh Tiết tiên sinh, Vương Thông được môn đệ tôn là Văn Trung Tử. Ở đây, pháp sư Thành Thời bàn định dâng tư thụy hiệu cho tổ Ngẫu Ích là Thỉ Nhật.

[43] Trong lịch sử, có hai vị họ Châu cùng có thụy hiệu là Văn Trung:

1. Châu Mục (100-163), tự là Công Thúc, là một trung thần thời Hán mạt, từng làm đến chức Kư Châu Thứ Sử, về sau bị hoạn quan hăm hại, suưt bị chém, may nhờ ngàn người dâng sớ xin triều đ́nh tha tội mới được triều đ́nh đuổi về làm dân thường. Sau ông lại được vời ra làm Thượng Thư, từng xin Hán Hoàn Đế trừ dẹp bọn hoạn quan, nhưng vua mê muội không nghe, ông ưu phẫn mà chết.

2. Châu Tất Đại (1126-1204), tự Tử Sung, làm quan tới chức Lại Bộ Thượng Thư, Xu Mật Sứ, Tả Thừa Tướng triều Nam Tống. Ông này cũng là một nhà văn học lỗi lạc thời ấy.

[44] Đào Tĩnh Tiết chính là Đào Uyên Minh (365-427), c̣n gọi là Đào Tiềm, tự Nguyên Lượng, một bậc danh sĩ thời ấy, từng làm sĩ đại phu nhà Tấn. Ông là một thi sĩ nổi tiếng, khí tiết thanh cao, thà chịu đói rét, không khuất phục trước oai quyền.

[45] Chí Bàn là một vị Tăng thời Nam Tống thuộc tông Thiên Thai, không rơ năm sanh và năm mất. Sư có hiệu là Đại Thạch, học Thiên Thai Giáo Quán. Sư ghi chép sự tích của chư tổ sư Thiên Thai rất tường tận. Sư soạn bộ Phật Tổ Thống Kỷ gồm năm mươi bốn quyển, chủ yếu chép về lịch sử của tông Thiên Thai, nhưng cũng chép thêm sự tích của các vị tổ hay cao tăng thuộc Thiền Tông và Luật Tông.

[46] Câu này nhằm giải thích v́ sao Mạnh Tử tôn xưng Liễu Hạ Huệ là Ḥa Thánh.

[47] Liễu Hạ Huệ vốn họ Cơ, thuộc thị tộc Triển, tên là Hoạch, biểu tự là Cầm, c̣n một tên chữ nữa là Quư. Ông vốn là hậu duệ của Công Tử Triển (con trai của Lỗ Hiếu Công), do đó con trai đời sau, lấy họ là Triển. Liễu Hạ chính là thực ấp (đất phong ăn lộc) của ông. Khi mất, do ḷng nhân trong lúc cai trị, ông được đặt thụy hiệu là Huệ. Người đương thời ghép chung tên đất phong với tên thụy, gọi ông là Liễu Hạ Huệ. Ông cũng là thỉ tổ của họ Liễu tại Trung Hoa.

[48] Nhị cộng là Định Cộng và Đạo Cộng. Nếu nói riêng th́ là giới hạnh, nói chung là sự chứng đắc. Định Cộng là do công năng Thiền Định, an trụ trong chánh định mà giới hạnh, đạo đức sẽ trọn đủ. Đạo Cộng là do đă thấu hiểu sâu xa chân lư, thấy thấu triệt chân tánh, tự nhiên giới hạnh đầy đủ, các phẩm đức tốt lành tự nhiên hiển lộ.

[49] Vân Thê là tổ Liên Tŕ Châu Hoằng, c̣n Chuyên Ngu tức là Chuyên Ngu Quán Hành (1579-1646), cao tăng tông Lâm Tế cuối đời Minh. Ngài Chuyên Ngu nối pháp của Ngũ Đài Không Ấn đại sư và Hám Sơn Đức Thanh đại sư.

[50] Ngũ Phẩm là địa vị đạt được công đức nơi năm phẩm được nói trong phẩm Phân Biệt Công Đức của kinh Pháp Hoa. Địa vị này tương ứng với phẩm vị Đệ Tử Vị trong tám địa của Viên Giáo và tương ứng với địa vị Quán Hạnh Tức trong Lục Tức Vị của tông Thiên Thai. Ngũ Phẩm là:

1. Tùy Hỷ Phẩm: Nghe pháp Thật Tướng bèn tin hiểu, tùy hỷ.

2. Độc Tụng Phẩm: Đọc tụng kinh Pháp Hoa để giúp tăng trưởng quán giải.

3. Thuyết Pháp Phẩm: Tự nói nội giải để hướng dẫn, lợi ích người khác.

4. Kiêm Hành Lục Độ Phẩm: Kiêm tu Lục Độ để giúp quán tâm.

5. Chánh Hạnh Lục Độ Phẩm: thực hiện Lục Độ tự độ, độ người khác.

Địa vị Ngũ Phẩm thực hành trọn vẹn năm phẩm ấy.

[51] Tam nhân có nhiều cách hiểu:

1. Tam nhân chính là chí thành tâm, thâm tam-muội và hồi hướng phát nguyện tâm. Đó là chánh nhân của Tịnh Độ.

2. Tam nhân là Ứng Đắc Nhân (do nương theo lư Chân Như mà tu nhân hạnh, ắt đạt được cái quả Bồ Đề), Gia Hạnh Nhân (nương theo cái tâm Bồ Đề, để gia công dụng hạnh, dùng đó làm nhân để chứng đắc Pháp Thân), và Viên Măn Nhân (do gia hạnh mà nhân hạnh được viên măn).

3. Tam nhân là Dị Thục Nhân (tức nghiệp thiện ác làm nhân sẽ kết thành cái quả về sau), Phước Nhân (tức Thí, Giới, Nhẫn Ba La Mật v.v..) và Trí Nhân (tức là dùng Bát Nhă Ba La Mật làm nhân).

4. Tam nhân là sanh nhân (tức dị thục nhân), tập nhân (do tập khí tham dục mà càng tăng thêm tham dục), y nhân (dùng lục trần làm cảnh sở y để sanh ra lục thức).

5. Tam nhân chính là Chánh Nhân Phật Tánh, Liễu Nhân Phật Tánh, và Duyên Nhân Phật Tánh.

Theo ngu ư, cách hiểu thứ tư không phù hợp với tam nhân trong đoạn này.

[52] Tổ sinh năm 1599, tức là lúc phát lời nguyện này, Ngài hai mươi hai tuổi, c̣n chưa xuất gia.

[53] “Ân vơng cực” tức là ân sâu lồng lộng của cha mẹ, thường dùng để ca ngợi công đức sâu dày của cha mẹ. Từ ngữ này xuất phát từ bài thơ Lục Nga trong Tiểu Nhă của kinh Thi: “Phụ hề sanh ngă, mẫu hề cúc ngă, phủ ngă, súc ngă, trưởng ngă, dục ngă, cố ngă, phúc ngă, xuất nhập phúc ngă, dục báo chi đức, hạo thiên vơng cực” (Cha sanh ra ta, mẹ dưỡng dục ta, nuôi nấng khôn lớn, chăm sóc cho ta, ra vào chăm bẵm, muốn báo đức tột, trời cao lồng lộng, chẳng thể báo đền).

[54] “Đế châu” tức là các viên châu nơi cái lưới của Thiên Đế Thích. Theo kinh Hoa Nghiêm, trên thiên cung của Đế Thích có một tấm lưới báu để trang nghiêm kết bằng vô số lượng bảo châu. Mỗi bảo châu đều hiện bóng của hết thảy các bảo châu. Các bảo châu soi bóng lẫn nhau trùng trùng vô tận. Kinh dùng ngay h́nh ảnh này để sánh ví hết thảy các pháp một và nhiều giao triệt lẫn nhau, trùng trùng vô tận.

[55] Tứ khí (Catvārah pārājika dharmāh): Hàng tỳ-kheo phạm bốn tội thuộc loại Ba La Di, tức giết, trộm, dâm, dối, chẳng được sám hối, ắt bị trục xuất khỏi Tăng đoàn.

[56] Bát khí là tám tội Ba La Di của tỳ-kheo-ni, do tính tế nhị của giới xuất gia, không ghi chi tiết vào đây.

[57] Chúng tôi ngờ rằng ở đây pháp sư Thành Thời ghi sai, v́ tổ sư sinh năm 1599, mất năm 1655, mà Mậu Tuất trong giai đoạn đó chỉ có thể là hai năm 1598 (lúc đại sư chưa hạ sanh), và năm 1658 (lúc đó tổ sư đă văng sanh ba năm rồi)!

[58] Thân duyên: Những người thân thuộc, hữu duyên với chính ḿnh.

[59] Tức Tứ Phần Tăng Giới Bổn là một bộ luật giảng về Cụ Túc Giới của tỳ-kheo, do ngài Phật Đà Da Xá dịch sang tiếng Hán vào đời Hậu Tần. Bộ luật này c̣n có tên gọi là Tứ Phần Luật Tăng Giới Bổn, Tứ Phần Luật Giới Bổn, Tứ Phần Giới Bổn, Đàm Vô Đức Giới Bổn, hoặc Vô Đức Giới Bổn (do đây là luật tỳ-kheo được truyền thừa trong bộ phái Đàm Vô Đức, tức Pháp Tạng Bộ). Đây chính là bộ luật được hoằng dương trong Nam Sơn Luật Tông của ngài Đạo Tuyên, và là giới luật căn bản của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni tại Trung Hoa. Có lẽ đây cũng chính là bộ luật được chú giải nhiều nhất, riêng tổ Ngẫu Ích đă viết Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Yếu Tập (mười quyển) để chú giải luật này. Gọi là Tứ Phần v́ luật được chia thành bốn bộ phận:

1) Giới luật gồm 250 điều của tỳ-kheo

2) Giới luật gồm 348 điều của tỳ-kheo ni, cũng như các pháp tắc thọ giới, thuyết giới, an cư, tự tứ v.v…

3) Các quy định về giày dép, y, thuốc men, diệt tránh (dứt tranh căi), quở phạt v.v…

4) Các điều kiền độ (quy tắc ứng xử) khác.

[60] Tán tŕ: Tŕ chú bất cứ lúc nào có dịp, không hạn định công khóa, không kết đàn lập hạn định để tŕ.

[61] Tứ Trí Bồ Đề là do chuyển tám thức mà thành. Thức thứ tám chuyển thành Đại Viên Kính Trí, thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí, thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí, năm thức trước thành Thành Sở Tác Trí.

[62] Tổ nhắc chuyện cha Ngài tŕ chú Bạch Y và Đại Bi suốt mười năm để cầu con, sanh ra Ngài.

[63] Tam lậu là dục lậu (hết thảy phiền năo trong Dục Giới, trừ vô minh), hữu lậu (hết thảy phiền năo trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới), và vô minh lậu. Tam cấu là tham, sân, si.

[64] Tam đức là Pháp Thân đức, giải thoát đức và Bát Nhă đức.

[65] Trừ tịch là đêm cuối cùng trong một năm Âm lịch, tức đêm Ba Mươi tháng Chạp (hay Hai Mươi Chín tháng Chạp nếu là tháng thiếu), c̣n gọi là Tuế Trừ, hàm nghĩa: Năm cũ đến lúc này đă mất đi, năm mới sanh ra. Do vậy, Trừ Tịch nghĩa là đêm trừ khử năm cũ, bước sang năm mới. Trừ Tịch c̣n được gọi là Đại Niên Dạ,

[66] Ba ngàn vị Phật trong ba kiếp: Theo kinh Tam Thiên Phật Danh, có ba đại kiếp là Trang Nghiêm Kiếp, Hiền Kiếp và Tinh Tú Kiếp. Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật thứ tư trong Hiền Kiếp.

[67] Nguyên văn là “nậu dương” () là một giống dê nhỏ, lông mịn, phát xuất từ Tây Vực. “Nậu dương tŕ luật” là từ ngữ chê tăng sĩ không giữ giới, chỉ biết lo ăn uống, phóng dật giống như con dê chỉ biết cỏ, nước, tùy ư chạy nhảy.

[68] Năm thân chính là năm loại thân Phật theo tông Hoa Nghiêm:

1) Pháp tánh sanh thân: Thân Phật được sanh bởi pháp tánh thể viên thường.

2) Công đức Pháp Thân: Dùng công đức của vạn hạnh để tạo thành thân Phật.

3) Biến hóa Pháp Thân: Ứng theo căn cơ của chúng sanh mà ảnh hiện, biến hóa thân Phật.

4) Hư không Pháp Thân: Thân Phật to lớn trọn khắp pháp giới.

5) Thật Tướng Pháp Thân: Chân diệu Pháp Thân vô tướng, vô vi.

Trong đó, hai loại đầu là Báo Thân, loại thứ ba là Ứng Hóa Thân, hai loại sau cùng là Pháp Thân.

[69] Thẻ ở đây là những thanh tre nhỏ dùng để tính đếm thiện nghiệp, ác nghiệp, ḥng cân nhắc công hay tội khi đối trước đại chúng sám hối.

[70] Đạt Quán Chân Khả (1543-1603), họ ngoài đời là Trầm, pháp danh Đạt Quán, về sau đổi thành Chân Khả, có hiệu là Tử Bách Lăo Nhân, được hậu thế xưng tụng là Tử Bách Tôn Giả. Đây là một vị cao tăng trong số bốn vị đại cao tăng cuối đời Minh (Liên Tŕ, Tử Bách, Hám Sơn và Ngẫu Ích). Ngài quê ở huyện Cú Dung, tỉnh Giang Tô. Về sau, gia đ́nh chuyển sang sống bên cạnh Thái Hồ thuộc Ngô Huyện. Cho đến năm tuổi, Sư vẫn chưa biết nói, măi cho tới khi gặp một vị dị tăng nói “đứa bé này về sau sẽ xuất gia, thành một vị Tăng lỗi lạc”, Sư mới bắt đầu nói. Lúc mười bảy tuổi, Sư ôm kiếm đi hành hiệp. Đến Lư Môn thuộc Tô Châu, do gặp cơn mưa to, phải đụt mưa, nghe sư Minh Giác chùa Hổ Khâu tụng kinh danh hiệu tám mươi tám vị Phật trong đêm, sáng hôm sau bèn xin xuất gia. Ngay trong đêm xuất gia xong, Ngài tĩnh tọa suốt đêm tới sáng. Sau đó, suốt đời chưa hề ngả ḿnh nằm xuống giường. Nghe sư Minh Giác muốn đúc hồng chung, Sư bèn một ḿnh đi khắp vùng Thái Hồ, quyên hóa được một vạn cân sắt, thành tựu chuyện đúc chuông. Ngài tánh t́nh rất cứng cỏi, quyết liệt. Sau khi đă xuất gia, hễ thấy tăng nhân c̣n uống rượu, ăn mặn, liền quở trách không kiêng nể. Sư thọ Cụ Túc Giới lúc hai mươi tuổi, sau khi xem kinh Hoa Nghiêm suốt ba năm, bèn xin thầy tu hạnh Đầu Đà suốt đời. Mỗi ngày Sư đi hai mươi dặm đường, không nài đau mỏi. Trên đường hành cước, do nghe kệ Kiến Đạo của Trương Chuyết mà ngộ đạo, bèn nghiên cứu Pháp Tướng Tông. Ngài từng đến chùa Pháp Thông ở Bắc Kinh, tham học với đại sư Biến Dung, y chỉ tại đó suốt chín năm. Ngài lại cùng với tri phủ Lục Quang Tổ chủ tŕ khắc Đại Tạng Kinh, đích thân tự quyên mộ hóa duyên chi phí, măi cho đến năm Vạn Lịch 17 mới đủ tiền khắc in. Tạng kinh này do được khởi xướng tại huyện Gia Hưng tỉnh Chiết Giang nên gọi là Gia Hưng Tạng. Suốt đời ngài đă dũng mănh đấu sức với bọn cường hào chiếm đoạt đất chùa, phục hưng mười lăm ṭa tự viện. Ngài kết giao thân thiết với Hám Sơn đại sư. Khi ngài Hám Sơn bị vu cáo, hạ ngục, và bị đày xuống Lănh Nam, Sư đă bôn ba t́m mọi cách cứu giúp. Năm Vạn Lịch 31, do vấn đề tranh chấp giữa các phe đảng ủng hộ người kế vị, Sư bị liên lụy, bị Đông Xưởng bắt giam, H́nh Bộ vu cáo Sư viết yêu thư. Ngài cảm khái: “Cơi đời như thế, ở lâu làm ǵ nữa?” Sáng ngày Mười Bảy tháng Chạp năm ấy, Sư xin nước tắm gội rồi ngồi đoan nghiêm, niệm Tỳ Lô Giá Na Phật vài câu mà qua đời.   

[71] Tam tâm là ba cái tâm của phàm phu:

1) Khởi sự tâm: Khởi lên phiền năo thô, mạnh trong tạo tác, chướng lấp sự giáo hóa của Hóa Thân Phật.

2) Y căn bản tâm: Nương theo căn bản vô minh dấy lên phiền năo, chướng tế Báo Thân Phật.

3) Căn bản tâm: Cái tâm nương theo vô minh thuộc Tứ Trụ phiền năo, chướng lấp Pháp Thân Phật.

Tam tâm c̣n có thể hiểu như sau:

1) Giả danh tâm: Tâm chấp trước thật sự có ngă.

2) Pháp tâm: Tâm chấp trước thật sự có pháp.

3) Không tâm: Tâm chấp trước vào ngă không và pháp không.

[72] Người làm công quả tu hành trong chùa, c̣n để tóc, chưa xuất gia.

[73] Kiếp thạch là một thí dụ được dùng để chỉ sự lâu dài của kiếp. Đại Trí Độ Luận nói: “Có ḥn đá to bốn mươi dặm. Có một người trường thọ, mỗi trăm năm đi đến, dùng áo mỏng phất qua ḥn đá ấy. Cho tới khi ḥn đá ấy ṃn hết, kiếp vẫn chưa hết”.

[74] Ba lỗi nơi thân (giết, trộm, dâm) và bốn lỗi nơi miệng (nói dối, nói đôi lời, nói thêu dệt, ác khẩu).

[75] Đây là một thí dụ trong kinh Đại Bát Niết Bàn: Như người nữ nuôi ḅ vắt sữa đem bán, do tham lợi, bèn đổ thêm nước vào sữa. Người mua về bán lại, cũng tham lời, đổ thêm nước vào. Đến khi người mua, ḥa thêm nước để nấu cháo sữa, vị sữa trong cháo rất nhạt, gần như không c̣n ǵ. Ví như chánh pháp của đức Phật lâu ngày bị xen tạp, gần như chẳng c̣n ǵ.

[76] Thiên Tụ (篇聚) là danh xưng khác để chỉ giới luật. Do giới luật của năm chúng chia thành Ngũ Thiên (năm phần lớn), Lục Tụ (sáu thể loại lớn), hoặc Thất Tụ. Ngũ Thiên tức là chia các giới theo phương diện tội quả,  Tụ tức là các tội thuộc cùng loại hay có tánh chất tương tự.

[77] Nguyện tỷ (願璽): Tỷ là cái ấn nhà vua hoặc vương hầu, c̣n gọi là ngọc tỷ, thường khắc bằng ngọc quư. Ở đây, sánh ví bổn nguyện của A Di Đà Phật như ấn báu in vào tâm của chúng sanh, nên gọi là Nguyện Tỷ.

[78] Diệt Định Nghiệp chân ngôn là Om pramardane svāhā (Án, bát ra mạt lân đà nĩnh, sa bà ha).

[79] Theo kinh Kim Quang Minh, Tín Tướng Bồ Tát (ngài Nghĩa Tịnh dịch là Diệu Tràng Bồ Tát) tại thành Vương Xá, do suy nghĩ v́ nhân duyên nào mà Như Lai thọ mạng ngắn ngủi, trong pḥng bỗng hiện ra bốn vị Phật (A Súc, Bảo Tướng, Vô Lượng Thọ và Vi Diệu Thanh) trọn đủ tướng trang nghiêm, ngự trên bảo tọa, tuyên thuyết ư nghĩa chân thật của Như Lai thọ lượng.

[80] Tức Cát Tường Thiên Nữ (tức Śrī Devi), c̣n dịch Đại Công Đức Thiên, bà này thường được biết đến dưới danh hiệu Lakṣmī trong Ấn Độ giáo, được tôn là nữ thần chủ tŕ giàu sang, thịnh vượng, tài lộc v.v… Trong kinh Kim Quang Minh, bà đă nhiều lần phát thệ hộ tŕ người tŕ tụng, giảng thuyết kinh Kim Quang Minh. Thiện Nữ Thiên Chú trong mười tiểu chú thuộc công khóa sáng sau phần chú Lăng Nghiêm chính là thần chú do bà nói ra để ủng hộ các hành nhân. Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, bà được coi là thần hộ pháp riêng của Đại Lai Lạt Ma, với danh xưng Palden Lhamo. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng đây là hai vị khác nhau, tuy cùng gọi là Śrī Devi, nhưng Palden Lhamo là hóa thân phẫn nộ của nữ thần Kali.

[81] Kim hải thánh thiên: Chư thánh (Phật, Bồ Tát, thánh chúng) và chư Thiên (Công Đức Thiên, Biện Tài Thiên, Kiên Lao Địa Thần v.v…) được nhắc tới trong kinh Kim Quang Minh.

[82] Nguyên văn “chỉ trụ trung lưu”. Chỉ Trụ (砥柱) vốn là một trụ đá nổi giữa sông Hoàng Hà thuộc hạ lưu của sông nơi Tam Môn Hiệp thuộc tỉnh Hà Nam. Thế nước chảy xiết nhưng trụ đá vẫn sừng sững bao năm tháng nơi đó, trụ đá ấy được gọi là Chỉ Trụ Sơn. Truyền thuyết cho rằng đây là trụ đá trấn lũ do vua Đại Vũ đă chôn xuống khi trị thủy. Chỉ trụ trung lưu được dùng làm thành ngữ ngụ ư ca ngợi ư chí bất khuất, kiên định.

[83] Ư nói người nghiêm tŕ giới luật. Đây là một thí dụ trong kinh Niết Bàn, như người vượt biển ôm phao, khư khư giữ vững, dẫu có kẻ xin cắt lấy một miếng nhỏ của phao cũng không cho, giống như người giữ giới chẳng lơi lỏng giới luật dẫu mảy may. “Cỏ trói”nói tới chuyện một vị tỳ-kheo bị giặc bắt, dùng cỏ tươi trói lại, do giữ mà chẳng dám bứt cỏ tươi v́ sợ cỏ bị tổn thương.

[84] Đây là thuật ngữ trong nhà Thiền, hàm ư: Thông đạt tông chỉ sâu thẳm của đạo th́ gọi là Tông Thông, có thể đối trước đại chúng tự tại nói pháp giáo hóa th́ gọi là Thuyết Thông.

[85] Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Phật là một vị cổ Phật. Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhăn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quán Thế Âm Bồ Tát lúc c̣n tu nhân, do được gặp Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Phật, được nghe đức Phật ấy nói chú Đại Bi liền giác ngộ, chứng ngay lên Bát Địa.

[86] Chánh Pháp Minh Phật: Bổn địa, Quán Thế Âm Bồ Tát đă thành Phật từ lâu xa trong quá khứ, hiệu là Chánh Pháp Minh. Do phụ trợ Phật Thích Ca và Phật Di Đà giáo hóa chúng sanh, nên Ngài thị hiện thân phận Bồ Tát, trụ trong cơi Sa Bà và Cực Lạc.

[87] Tất Đát Đa Bát Đát Ra (mahā-sitātapatra) hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ chú Lăng Nghiêm, hiểu theo nghĩa hẹp chính là phần tâm chú của chú Lăng Nghiêm, tức đoạn: Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bán ni phấn. Hổ hồng, đô lô ung phấn, sa bà ha” (Oṃ anale anale, viśade. Viśade, vīravajra-dhare, bandha bandhani, vajra-pāṇi phaṭ! Hūṃ trūṃ phaṭ, svāhā). Tất Đát Đa Bát Đát Ra dịch nghĩa là Bạch Tán Cái (cái lọng trắng lớn), do trong kinh Lăng Nghiêm, chú này được gọi là Đại Phật Đảnh Bạch Tán Cái Đà La Ni (Tathāgatoṣṇīṣa sitātapatrā dhāraṇī). Đôi khi, c̣n được gọi là Nhất Thiết Như Lai Đảnh Kế Bạch Tánh Cái Phật Mẫu Vô Năng Thắng Biến Năng Điều Phục Đà La Ni. Trong Mật giáo, vị này chính là nhân cách hóa của Phật đảnh (tướng đỉnh đầu của Phật), biểu hiện trí huệ siêu thắng của Như Lai, có danh xưng là Bạch Tán Cái Phật Mẫu, hết sức được sùng bái trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng.

[88] Sau khi một vị thầy đă mất, người nương theo di giáo của Ngài tự tu luyện trở thành chứng ngộ th́ gọi là “tư thục đệ tử”.

[89] Thập thân có nhiều cách hiểu:

1) Mười loại thân của Phật, Bồ Tát dùng để thị hiện nhằm ứng với cơ cảm của chúng sanh, tức là chúng sanh thân, quốc độ thân, nghiệp báo thân, Thanh Văn thân, Độc Giác thân, Bồ Tát thân, Như Lai thân, trí thân, Pháp Thân, hư không thân.

2) Mười thân do Như Lai đạt được nơi Phật quả: Bồ Đề thân (thân thị hiện tám tướng xuất gia thành đạo), nguyện thân (thân sanh lên cung trời Đâu Suất làm Bổ Xứ Bồ Tát), hóa thân (thân sanh trong vương cung), trụ tŕ thân (lưu lại xá-lợi và di giáo trong thế gian để duy tŕ Phật pháp), tướng hảo trang nghiêm thân (thân có vô lượng vô biên tướng hảo), thế lực thân (thân dùng từ tâm nhiếp phục chúng sanh), như ư thân (thân Phật như ư hiện trước Địa Tiền và Địa Thượng Bồ Tát), phước đức thân (thân Phật thường trụ trong tam-muội), trí thân (tức các trí như Đại Viên Kính Trí v.v…), Pháp Thân.

3) Mười thân của Thập Địa Bồ Tát: b́nh đẳng thân, thanh tịnh thân, vô tận thân, thiện tu thân, pháp tánh thân, bất khả giác tri thân, bất tư nghị thân, tịch tĩnh thân, hư không thân, diệu trí thân. Mỗi thân này tương ứng với một địa trong Thập Địa.

4) Mười thân chứng đắc của Đệ Thập Nhẫn Bồ Tát: vô lai thân, bất sanh thân, bất tụ thân, cụ túc bất thật thân, nhất tướng thân, vô lượng thân, b́nh đẳng thân, bất hoại thân, chí nhất thiết xứ thân, ly dục tế thân.

Đối với Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng và Thập Địa, mỗi vị thứ lại có mười loại thân, nhưng sợ rườm rà nên không chép vào đây.

[90] Đây là dụng ngữ của tông Thiên Thai nói về cương lănh của kinh Niết Bàn: Trước khi nhập diệt, Như Lai tuyên thuyết giới luật để nhắc nhở đệ tử nghiêm tŕ giới luật, chuyển hóa căn cơ ám độn chẳng phá giới, hủy luật. Đó là “phù Luật”. Ngài lại giảng về lư Phật tánh thường trụ, Niết Bàn tứ đức, Như Lai tạng vv… Đó là Đàm Thường.

[91] Trong phẩm Bồ Tát Tâm Địa của kinh Phạm Vơng, đây là hai vị Bồ Tát đứng ra thưa thỉnh để đức Phật giảng Phạm Vơng Bồ Tát Giới cho đại chúng.

[92] Y đơn: Y ca-sa và tấm đơn (tấm gỗ vừa đúng cho một người nằm trong Tăng pḥng), “bỏ y đơn” tức là đi hành cước cầu học.

[93] Theo giới bổn, người muốn thọ Cụ Túc Giới phải chẳng phạm mười sáu điều Giá (ngăn che) và mười ba điều nạn. Giá hiểu theo nghĩa: Tuy người muốn thọ giới chẳng phạm các điều ác thuộc vào tự tánh, nhưng chẳng hợp thọ giới. Nạn là các điều phạm thuộc vào tự tánh ác, hoàn toàn chẳng được thọ giới. Do đây là giới luật của Tăng sĩ, không tiện chép tỉ mỉ, chỉ nói sơ về nạn như xâm phạm tỳ-kheo ni, tặc tâm thọ giới (tức là do biết giới luật, mạo nhận là tăng sĩ tuy chưa thọ giới), không phải là nam nhân đích thực, phạm tội Ngũ Nghịch v.v…

[94] “Đạo nạn” có nghĩa là trộm cắp và phạm lỗi chẳng đáng được thọ giới. Gọi là “trộm cắp” tức là giới tử vi phạm những điều vi phạm thuộc về tánh ác, không đủ tư cách xuất gia, nhưng giấu lỗi để được thọ giới, hoặc vị thầy truyền giới tuy biết mà vẫn cứ cho thọ giới th́ đều thuộc về tội trộm pháp, nên gọi là “đạo nạn”.

[95] Cụ phược (具縛): Đầy dẫy phiền năo trói buộc.

[96] Đốt hương trên thân biểu lộ sự thành tâm, để cầu rút thăm đúng với sự phán quyết của Tam Bảo, không hề có ư định chống trái dù kết quả rút thăm như thế nào!

[97] Hành tàng vốn là chữ dùng để chỉ kẻ sĩ hoặc ra làm quan, hoặc ở ẩn, giữ phẩm chất thanh cao. “Hành tàng” được sử dụng ở đây với ư nghĩa đi khắp nơi rộng giáo hóa, hoặc bế quan tĩnh tu.

[98] Truất phạt (黜罰): quở trách, xử phạt.

[99] Đây là thành ngữ châm biếm kẻ chỉ biết nói suông, giống như nghe kinh nói “sắc tức thị không, không tức thị sắc” bèn máy móc lập lại mà chẳng lănh hội, giống như chuột rúc, chim kêu suông.

[100] Tức hội Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân trong kinh Đại Tập.

[101] Sát hải: Biển các sát-độ (cơi Phật). Do trong mười phương thế giới, các cơi nước nhiều như vi trần, mênh mông chẳng thể tính kể, nên dùng chữ Hải để h́nh dung.

[102] Lễ nghị (禮儀): Lễ nghĩa, trọn đủ lễ nghĩa đạo đức, xử sự đúng quy phạm đạo đức, lễ nghĩa.

[103] Nhất Tự Đại Luân Chú phát xuất từ kinh Đại Phương Đẳng Bồ Tát Tạng Văn Thù Sư Lợi Căn Bản Nghi Quỹ, tức là câu chú ngoài chữ Án là chữ khởi đầu của các thần chú, chỉ có duy nhất một chữ Bhrūṃ (Hán tạng phiên âm thành Bộ-lâm).

[104] Trần kiếp: Số kiếp nhiều như số lượng của vi trần.

[105] Hằng khóa: Công khóa tu tŕ định ra hằng ngày.

[106] Linh văn: Kinh văn thiêng liêng, từ ngữ diễn tả ḷng trân trọng đối với kinh Phật.

[107] Phát thú (發趣, saṃprasthita): Phát khởi tâm giác ngộ, tiến hướng đến Bồ Đề.

[108] Sở dĩ không nói “tứ thiên hạ” v́ trong tứ đại bộ châu, Bắc Câu Lô Châu không có Phật pháp.

[109] Tức là kẻ chẳng hiểu sâu giáo lư, tu Thiền nhưng không dụng công học pháp, thốt lời dạy sai lầm, giống như một vị Tăng do nói sai một chữ mà làm thân chồn năm trăm năm.

[110] Ư nói kẻ tu Mật Tông nhưng không hiểu quán pháp cách tu tŕ, chỉ tụng niệm mật chú như ca xướng, không biết vận tâm quán tưởng.

[111] Ư nói những kẻ mạo danh xuất gia, dùng cửa Phật để mưu cầu lợi ích cá nhân, chuyên lập ra những thuyết dị đoan mê tín để mê hoặc tín đồ ḥng kiếm lợi chẳng khác con buôn!

[112] Ư nói những kẻ giả danh hành cước vân du tăng, chỉ mượn cớ vân du để đi chơi khắp nơi, sống nhàn tản, không muốn khép ḿnh vào khuôn khổ của tùng lâm.

[113] Kim thang là nói gọn của “kim thành thang tŕ” (金城湯池), hàm ư: Thành đúc bằng kim loại, hào sâu quanh thành đổ nước nóng sôi sùng sục, tỷ dụ thành tŕ kiên cố.

[114] Đây là một thành ngữ dựa theo một câu nói trong thiên Tử Hăn sách Luận Ngữ : “Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm nhi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên thiện dụ nhân” ([đạo của Khổng phu tử] ngửa trông càng cao, dùi mài càng cứng chắc, thoạt nh́n tại trước, bỗng đă ra sau. Phu tử khéo léo khuyên dụ dần dần). Từ đó, “ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên” dùng để sánh ví học vấn hay giáo pháp uyên thâm chẳng thể thấu hiểu cùng tận được!

[115] Ư nói lănh hội được huyền nghĩa rộng lớn trong pháp giới, dựa theo cách nói “chẻ một vi trần, lấy ra được kinh quyển to như đại thiên thế giới” trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm.

[116] Khi một vị trời sắp chết, sẽ có tướng ngũ suy hiện ra nơi thân, chia thành đại ngũ suy và tiểu ngũ suy. Đại ngũ suy là:

1) Hoa trên đỉnh đầu héo tàn.

2) Dưới nách ra mồ hôi.

3) Xiêm y bẩn thỉu.

4) Thân thể mất hôi dơ.

5) Chẳng thích chỗ ngồi của chính ḿnh.

Tiểu ngũ suy:

1) Tiếng nhạc trời chẳng tấu nữa.

2) Ánh sáng nơi thân mất đi.

3) Khi tắm sẽ bị nước dính thân.

4) Chấp cảnh chẳng bỏ được.

5) Mắt nháy nhiều lần.

[117] Nhị Thừa ch́m đắm trong không tịch, chẳng khởi tác dụng cứu độ chúng sanh, tăng tấn tu tập thành Phật.