Linh
Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
1
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
Lời trần t́nh
Từ thuở mới
tập tễnh t́m hiểu Phật pháp, khi đó, vào khoảng năm 1978, mạt nhân
được đọc Di Đà Yếu Giải do cụ
Tuệ Nhuận dịch nơi nhà một người bạn,
tuy chẳng hiểu phần lớn nội dung, nhưng mạt
nhân rất ngưỡng mộ trí huệ uyên thâm của tổ
Ngẫu Ích, nhất là khi biết Ngài chỉ hoàn thành tác phẩm
ấy trong chín ngày, luôn ao ước được đọc
nhiều trước tác của Ngài hơn, dẫu cho tới
nay, tuy đọc Yếu Giải nhiều lần, vẫn
phải xót xa thừa nhận căn cơ của chính ḿnh
quá tệ, chỉ hiểu đôi chút văn tự trong tác phẩm
ấy, chứ đối với cảnh giới trác tuyệt
trong Di Đà Yếu Giải, hoàn toàn chẳng mộng thấy
được! Do nhân duyên chuyển ngữ sách Chú Giải
Kinh Vô Lượng Thọ, mạt nhân được may mắn
quen biết anh Minh Tiến. Tuy chỉ quen nhau qua thư từ,
anh sốt sắng giúp t́m kiếm và gởi cho hai bộ sách
cực quư là Ấn
Quang Đại Sư Văn Sao (Chánh Biên, Tục Biên, Tam
Biên, Tinh Hoa, Gia Ngôn Lục) và Linh Phong Tông Luận, cũng
như tận tụy giúp giảo duyệt các bản chuyển
ngữ, góp ư những chỗ mạt nhân hiểu sai, dẫu anh cũng bận bịu
trăm công ngàn việc. Ấn Quang Văn Sao đă
được chuyển ngữ hơn mười năm
trước, nhưng đối với Linh Phong Tông
Luận, do
căn cơ của chính ḿnh quá thấp kém, văn phong của
tổ Ngẫu Ích lại quá súc tích, cô đọng, Sự lẫn Lư đều
hết sức phức tạp, mạt nhân vẫn chẳng
dám đụng đến. Hằng ngày, nh́n bộ sách Linh Phong Tông Luận
phủ bụi trên kệ sách, lại cảm thấy hổ
thẹn vô ngần, cảm thấy ray rứt v́ đă phụ
ḷng yêu mến, thương tưởng của anh Minh Tiến,
cũng như sự trợ giúp vô điều kiện của
các vị thiện hữu Vạn Từ, Đức Phong, Huệ
Trang và các vị liên hữu
khác gần xa luôn sách tấn. Chờ măi mà không thấy ai
chuyển ngữ bộ sách này, lại nghĩ thiều quang
chẳng đợi ai, sau khi thỉnh ư anh Đức
Phong, vâng theo lời anh khuyên nhủ, mạt nhân đánh liều
chuyển ngữ bộ Tông Luận này với hy vọng do
bản chuyển ngữ thô vụng của chính ḿnh, sẽ
đánh động bậc thức giả xót thương
cho sự ngu hèn của mạt nhân mà dịch lại một
bản hoàn chỉnh, chính xác hơn.
Nếu việc làm liều lĩnh này có chút công đức
hay phước đức nào, đều xin hồi hướng
cho sư trưởng, phụ mẫu hiện tiền và quá
khứ, oán thân trái chủ nhiều
kiếp, các vị
thiện hữu kể trên, các liên hữu gần xa và pháp giới chúng sanh đều
được ân triêm phước lạc, đạo nghiệp
tăng tấn, phước huệ tăng long, cùng nhau hội
ngộ dưới đài sen của đức Di Đà.
Nguyện cầu thế giới ḥa b́nh, chiến tranh chấm
dứt, tai ương, dịch bệnh tiêu trừ, dân chúng
an cư lạc nghiệp, Phật pháp được
lưu truyền rộng răi, các Phật tử giữ vững
chánh tín, chẳng mê muội tin theo các tà thuyết dị kiến
đang lưu hành trong Phật môn hiện thời.
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa đê
đầu kính bạch
* Lời tựa cho bộ Tông Luận
của Linh Phong Ngẫu Ích đại sư
Phật
pháp chẳng có chi khác, chỉ là sự thật mà thôi!
Chư Phật thuyết pháp thường nương theo Nhị
Đế, Nhị Đế chính là Tam Đế, tức là
Tứ Đế, tức là hết thảy các Đế, tức
là Nhất Đế, tức là Vô Đế[1].
Nhị Đế là như thế, các Đế cũng thế,
là pháp sẵn có trong tự tâm, là cảnh giới sở hành
chẳng thể nghĩ bàn, đều chẳng thể nói
được; nhưng có nhân duyên th́ cũng có thể
nói. Nói tóm lại, sự thật chẳng thể nói, hay sự
thật không ǵ chẳng thể nói, chỉ như thế mà
thôi! Chẳng thấy được điều ấy th́
chẳng dạy, chẳng dạy th́ hạnh sẽ chẳng
do đâu mà dấy lên được, lư chẳng do đâu
mà hiển lộ được, quả sẽ chẳng do
đâu mà đạt được! Ngôn thuyết như thế
đều là nói ṃ! Thấy được điều ấy
th́ sẽ là giác ngộ chân thật, có giáo, có hạnh, lư, quả.
Nói năng như thế, sẽ đều là diệu pháp. Nay Chánh Pháp và Tượng
Pháp đă xa, cớ sao đời Mạt có lắm ngôn thuyết
đến thế? Hoặc là do kiến Đế chưa
toàn vẹn bèn xen tạp, những điều trúng sẽ như ma-ni ở giữa ngói, sỏi, chẳng
giấu được ánh sáng. Nếu chẳng đúng th́
chẳng khỏi “một lời khiến thiên hạ lầm
lạc muôn đời”. Hoặc do kiến
Đế chưa chuyên ṛng bèn chấp trước, hễ chấp nhận th́ cũng
trở thành thuyết của riêng một phái. Hễ phủ định [sự chấp
trước ấy], sẽ chẳng có đồng,
dị, hay chính giữa. Nếu thấy là đồng hay dị,
chẳng khỏi đọa vào vết xe đổ “chia
sông để uống nước!” Hoặc do kiến
Đế chưa thần diệu mà chấp vào dấu tích,
bèn chèn ép, đề cao, kiến lập,
hay trừ sạch.
Nói chung, chẳng thể
tháo niêm, cởi trói cho người khác được, chẳng
thể chữa lành căn bệnh trầm kha ắt chết,
kim vàng[2]
chẳng nắm trong tay. [Do vậy], mỗi
lời [thốt ra] đáng lẽ khiến cho
mắt sáng, nhưng lời nào cũng khiến cho màng mộng
nơi mắt dày thêm! Thấp
hơn nữa là [các ngôn luận] tuy rộng răi mà xen tạp,
thật sự hoàn toàn chẳng trúng một điều ǵ,
hư luận mà thôi! [Hoặc ngôn luận] lệch lạc mà ngỡ
như chuyên ṛng, thật sự chẳng phải là chuyên gia,
chỉ là pháp đấu đá! Hoặc ngỡ rắn là rồng,
[nào ngờ ngôn thuyết ấy chỉ là] trộm lấy sự
thần diệu, chẳng phải là độc đáo, mà là phường dối
gạt đó thôi!
Xưa kia, Ma
Vương hại Phật chẳng được, thề
rằng: “Tôi sẽ trong đời
sau, vào trong Phật pháp, phá hoại Phật pháp”. Đức
Phật bảo: “[Chẳng cần ngươi phá hoại mà
Phật pháp] tự hoại!” Pháp có thể hoại đấy
nhé! Nh́n vào đó, kẻ bậc hạ chẳng đáng bàn tới,
luận theo bậc thượng, nếu kẻ nào đối
với tự lợi mà chưa nhập viên môn, lợi lạc người
khác, sao khỏi phạm thói tệ? Lẽ
được mất thường chẳng có đầu
mối, lợi hại ngấm ngầm dựa dẫm lẫn
nhau. Muốn xé rách tấm lưới lớn, khiến cho
chúng sanh trong đại địa đều quay về chỗ
to lớn,
nếu chẳng có người như vậy, chỉ
có một cách khiến cho đạo pháp chẳng bị luống
uổng chính là dùng ngôn giáo của Linh Phong Ngẫu Ích đại
sư. Ngài đă triệt ngộ toàn thể tâm tánh, lại
thâm nhập nguyện luân chẳng nghĩ bàn, trong hết thảy
mọi lúc, hết thảy mọi chốn, đều cùng vận
dụng bi và trí, giải lẫn hạnh dung thông, thật sự
chẳng có một pháp để có thể đắc. Do vậy,
tuy chẳng có môn đ́nh cao ngất, nhưng thật ra, chẳng
có pháp nào không thông, không hoàn bị! Do vậy, âm vang chẳng
bị tường vách cách ngăn! Ngài nêu tỏ Tam Học,
một mực dùng “toàn tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh”
làm tông thú. Toàn tánh khởi tu th́ chẳng Thật nào không phải
là Quyền. Toàn tu nơi tánh th́ chẳng Quyền nào không Thật.
Chẳng Thật, chẳng Quyền, mà là Quyền, là Thật,
riêng khế nhập Pháp Thân hướng thượng, há chẳng
phải riêng ḿnh Ngài đă mở ra môn học muôn đời
sắp tuyệt diệt đấy chăng?
Đă từng luận
định rằng, Tam Học của đại sư
chính là một đại sự: Chân Luật, chân Giáo, chân
Thiền, vừa khéo là Luật, Giáo, Thiền trong tâm ta, lại
c̣n khít khao là Luật, Giáo, Thiền của các đức
Phật Thế Tôn thuở trước. Sư chưa từng
có một lời. Do chưa từng có một lời, cho nên
chẳng xen tạp. Luật đă là chân luật, Giáo lại
là chân giáo, há có đồng dị
ǵ nữa? Há có Đại, Tiểu ư? Có Luật nào chẳng
phải chính là Giáo, là Thiền? Có Giáo nào chẳng phải
chính là Luật, là Thiền? Thiền đă là chân Thiền,
há phân chia Phật hay Tổ? Há c̣n có tông chi ǵ nữa?
Có Thiền nào chẳng phải chính là Luật, chính là Giáo
ư? V́ vậy, do chỉ là tinh ṛng cho nên
chẳng chấp, không ǵ chẳng phải là Sự Sự vô
ngại pháp giới, là Vô Tránh
tam-muội. Hễ nói “chẳng
thần diệu” là v́ xen tạp và chấp
trước. Chẳng xen tạp, chẳng chấp, tức
là chẳng tự lập tông. Chẳng tự lập tông, ắt
sẽ tung hoành biến hóa, sẽ
là vật chẳng có ngằn mé! Do vậy, lời
lẽ của Sư hoàn toàn vượt ngoài khuôn sáo, nhanh
chóng trị bệnh tận gốc, một mực quy vào lẽ
nghiêm trang, chánh đáng, như lễ nhạc thời Tam
Đại Đường Ngu[3],
chẳng động can qua mà thiên hạ thái b́nh!
Người hiểu biết
cho rằng: Từ thời Mạt Pháp tới nay, bậc dựng
tràng pháp lớn, gióng trống pháp lớn, pháp vị thuần
túy, b́nh đạm, đạo sáng ngời, chỉ có ḿnh
Sư đó thôi! Sư khai diễn trọn hai trí[4],
lập hai thuyết rộng, lược, bốn câu kệ
chẳng phải là ít, lập thuyết đến nỗi
sách biên chép [nhiều tới mức]
trâu kéo toát mồ hôi, chất đống
cao đến tận rường nhà cũng chẳng phải
là nhiều! Các tác phẩm ngoài các bản sớ giải của
Sư có bảy bộ, nay gom lại, hợp thành một bộ
sách hoàn chỉnh, dựa theo thể
tài để phân loại. Những
trước tác ở ngoài bảy tập bản cảo ấy
vốn được lưu hành riêng,
nay cũng theo thứ tự mà thâu thập. Xét theo Tam Tạng,
phàm những soạn thuật của các vị cao tăng
đều được xếp vào A Tỳ Đàm Luận
Tạng, gồm hai loại:
1) Chuyên giải thích một
kinh th́ gọi là Thích Luận.
2) Khái lược những
điều cốt lơi trong mười hai bộ loại của
kinh, tự tạo thành danh từ, câu văn, th́ gọi là
Tông Luận.
Nay tôi gom phần Thích
Luận hợp thành Linh Phong Chư Sớ, c̣n bảy tác phẩm
đều gộp chung thành Tông Luận, hợp thành một tập
lớn, chia thành ba mươi tám quyển nhỏ[5].
Than ôi! Thành Thời[6]
là kẻ chẳng ra ǵ, thuở lăo nhân tại thế, tôi chẳng thể thật
sự học bất tư nghị đế, như kẻ
say thấy nhà quay tṛn. Nay bậc triết nhân tuy đă khuất
bóng, di thư hăy c̣n, dám đâu chẳng tự nỗ lực
dùi mài ḥng báo ân thầy trong muôn một,
cũng mong những ai gặp được sách này sẽ đừng ĺa văn tự mà nói giải thoát,
cũng đừng do văn tự mà quên bẵng vầng
trăng chân thật, chỉ nhờ vào đấy mà kiến
Đế, cùng vượt thoát “tức, ly”,
khế nhập trọn vẹn tự tâm chẳng xen tạp, gồm thâu
trọn vẹn vạn pháp chẳng chấp, nói trọn vẹn
“viên mẫn”[7]
chẳng có dấu tích. Trăm ngàn đời sau, ắt có
người như thế, Thành Thời nguyện xả
trước thân mạng này để cúng dường
[người ấy], ḥng khỏi nhọc ḷng nữa! Phàm
ngôn thuyết mà do suy lường, toan tính để lập
ra, th́ cũng có thể dùng suy lường, toan tính để
thông đạt! C̣n như do nghiên cứu chu đáo rồi
thấu đạt cao sâu[8],
chẳng dính dáng tới nghĩ bàn, mà chẳng do chân Văn
rồi khởi Tư, Tu, sẽ mắc lỗi xen tạp, hoặc chấp
trước, hoặc
vướng vào dấu tích, vẫn là ngấm ngầm suy
lường, toan tính mà chẳng hay biết. Thành Thời
nguyện muôn đời trong thiên hạ, hễ có ai gặp
được sách này, do học rộng, suy xét, suy nghĩ
thận trọng, sẽ dốc sức thực hành. Viết
thêm hai ngày sau khi chép tự truyện [của tổ Linh Phong
Ngẫu Ích]. Môn nhân Thành Thời trăm lạy kính soạn.
* Phần Tự Thuyết[9]
của Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (có
tiểu dẫn)
Thành
Thời biên tập bảy cảo bản của lăo nhân
đă xong, có viết lời tựa chung trần thuật
đại ư; ngày hôm sau, bèn viết phần Tự Thuyết.
Do nói tới những điều riêng biệt, cho nên
chẳng gộp [những điều được nói
trong phần này] vào lời Tựa, lại do [những
điều ấy] chẳng thuộc vào các khoa mục, cho
nên chẳng soạn phần Phàm Lệ. [Phần Tự Thuyết
này] bao gồm mười lăm đoạn.
Đạt Ma đại
sư đă quở trách thói tệ chuyên đuổi theo danh
tướng, tận lực v́
người học nói rơ điều cốt lơi, nhưng câu
nói “chẳng lập văn tự” lại trở thành
nỗi chấp trước của kẻ chẳng hiểu
tông chỉ. Chấp trước đă lâu, do cuồng mà
thành si! V́ vậy, Vĩnh Minh đại sư mở toang
giáo nhăn, dùng Tông Kính Lục[10]
để dạy rơ. Cho tới ngài Tịch Âm (Giác Phạm
Huệ
Hồng)[11]
lại nói Văn Tự Thiền, mà Tử Bách đại
sư là Tịch Âm tái lai, ngài Hám Sơn bèn thẳng thừng
đặt tựa đề cho toàn thư của ngài Tử
Bách là Tử Bách Tập. Tác phẩm biên tập của ngài
Hám Sơn phong phú nhất, nhưng chưa được
lưu truyền, riêng ngài Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu[12]
khế hội ư của Hám Sơn đại sư, cũng
tự đặt tựa cho tác phẩm của Ngài là Tử
Trúc Lâm Tập. Đó là nỗi khổ tâm tha thiết của
các vị nhằm răn trừ cái họa “chẳng nghe
[kinh điển]”, cứu văn thói tệ “chẳng lập
văn tự”. Tôi trộm sợ rằng phong cách ấy
đă thịnh hành, phàm là sa-môn vừa hơi
chiếm được danh vọng
trong cơi đời đều toan dùng văn chương
để khoe mẽ. Hễ văn chương hưng thịnh,
ắt đạo cũng suy. Hăy thử xem Nho gia thời
Đường - Tống, phần nhiều dùng văn tự
để nổi danh, xưng là bậc
trước tác, đúng là nỗi nhục
v́ hạn cuộc môn đ́nh, há Thích tử lại noi theo vết
xe đổ ấy ư? V́ thế, tuy lăo nhân đối với
bảy tác phẩm ấy phần nhiều tự đặt
tựa đề là Tập, nhưng nay tôi chẳng dám dùng
danh xưng Tập để lưu hành, nhưng cũng chẳng
dám đổi Tập thành Lục, v́ sao vậy? Nay ngữ lục
của chư tổ đầy ắp
cơi trần, lăo nhân hễ nhắc đến đều
đau ḷng, tuôn huyết lệ. Do vậy, cũng chẳng
dám gọi là Lục!
Xưa kia,
Vương Dương Minh thuở sanh tiền, có Truyền
Tập Lục và mấy quyển phụ lục lưu hành
trong cơi đời. Ông mất rồi, [môn đệ soạn
tập di trước], t́m được mấy tập sách ngoài bộ sách ấy.
Sau đó, các vị như Hoa Đ́nh, Tân Kiến sợ
người học chẳng thể đọc trọn hết,
bèn biên tập thành toàn thư để lưu truyền. Tác
giả chẳng có ư lưu
hành những lời ấy, nhưng trải
qua năm tháng, do được lưu truyền khắp
nơi, tiếp người độ vật, huyễn hiện
thành văn từ đầy đủ oai thế, chẳng
thể nào khác; đó là chuyện lâu dài vậy! Nếu sách
chẳng trọn vẹn, đạo cũng chẳng nêu tỏ,
lời lẽ đă trở thành rải rác, ắt cũng chẳng
được lưu truyền mạnh mẽ. Vua thánh, tôi
hiền [nếu mong] t́m ṭi để lưu giữ nơi
cung cấm, sẽ đều chẳng có đầu mối
để tuân theo. Nếu có người kết hợp lại
thành một tác phẩm trọn vẹn,
do sợ rằng đánh mất diện mạo cũ, cho
nên nói khởi đầu th́ không thể nào chẳng tách ra,
đến cuối cùng, chẳng thể nào không hợp lại,
t́nh thế ắt phải như
vậy. Nay tôi tập hợp bảy cảo bản
thành một, khiến cho hải ấn của vị trước
tác
được hiển hiện
sáng ngời, người
đọc sẽ như nh́n vào phiến gương xưa
gồm thâu trọn vẹn, ngơ hầu khi triều đ́nh
t́m ṭi, sao lục, sẽ
chẳng vướng nỗi
lo ngại [trước tác của tổ sư] bị
rơi rớt, tàn khuyết.
[Sở
dĩ] chỉ chia thành mười quyển lớn là để
tránh rườm rà, nhưng trong mỗi quyển, lại
chia thành các quyển con để dễ tạo thành sách.
Văn từ được chia theo từng loại để
tạo thuận tiện, chẳng dựa theo thể tài của
văn chương[13].
Người chỉ nh́n vào văn từ sẽ mê muội
đạo, hăy do văn từ mà hiểu đạo. Thấu
đạt văn từ th́ sẽ chứng đạo. Chứng
đạo rồi mới biết văn chẳng có Thể!
Năm
Mậu Tư (1648), kẻ hèn này mới được gặp
đại sư. Một hôm, Sư nh́n tôi, bảo: “Năm
xưa, ta thường mong tưởng khôi phục giới
pháp tỳ-kheo, mấy năm gần đây, thường niệm
mong cầu Tây Phương mà thôi!” Thành Thời hết sức
kinh hăi, sao [đại sư] không tận lực khôi phục
quy củ thơm thảo thuở đức Phật? Lâu
ngày mới biết: Sư thuở tại gia đă phát đại
Bồ Đề nguyện làm gốc, xuất gia bèn một
dạ xiển dương tông thừa. Sau khi đại ngộ
ở Kính Sơn, thấy thấu triệt căn bệnh của
Thiền nhân trong thời cận đại, trọn chẳng
phải là không có chánh tri kiến, chẳng phải do nhiều
tri kiến, mà là do chẳng tôn trọng Ba La Đề Mộc
Xoa (Pratimokṣa, Biệt
Giải Thoát giới luật), chứ
không phải do chấp giới tướng. V́ thế, Ngài
xóa một chữ Thiền, tận lực dùng giáo giới
để khuông cứu (匡救, phù
trợ, cứu văn), hết sức mong mỏi có năm vị
tỳ-kheo đúng như pháp để cộng trụ, khiến
cho chánh pháp lại được hưng thịnh. Sau này,
do chắc chắn chẳng
thể được, bèn một dạ về Tây, mong
nương theo bổn nguyện luân,
cậy vào chư Phật lực ḥng trở lại cứu
bạt. C̣n như Ngài tùy thời trước thuật, dốc
cạn sức giảng diễn, đều nhằm gieo chủng
tử viên đốn cho kẻ hữu duyên, chẳng phải
là chí nguyện ban đầu mong cho chúng sanh trong pháp giới
đều cùng lúc thành Phật, thẳng thừng
tương ứng, thái b́nh vô sự vậy!
Có kẻ
riêng chuộng Phật pháp nhanh chóng, có kẻ chuộng tinh tế,
kẻ thích nhanh chóng hay tinh tế đều có sự ưa
thích riêng. Nếu chỉ luận định theo sự nhanh
chóng, ắt sẽ phạm lỗi thô thiển, c̣n [đàm luận
theo] sự tinh tế, ắt sẽ
phạm lỗi quá vặt vănh! Dẫu cao minh, chẳng dám mê
muội cương tông, chẳng dám khinh danh tướng.
Nhưng đối với cương tông mà chỉ hiểu
là cương tông, đối với danh tướng chỉ
hiểu là danh tướng, trọn
thành cái học thế tục. Nếu có thể
biết “chẳng phải là cương tông, chẳng phải
là danh tướng”, sẽ lập tức vượt khỏi
hai chứng bệnh thô thiển và vặt vănh, dẫu là kẻ
cầm roi đánh xe (ư nói thân phận hèn kém) mà được
người khác ưa thích, ngưỡng mộ vậy!
Nếu
chính ḿnh là kẻ chẳng ngộ Viên Tông, chẳng thể
tùy thuận tu học biển nguyện của chư Phật,
chẳng biết “không chân thật phát đại Bồ
Đề tâm, hết thảy sẽ đều thành sự
hiểu biết hư dối”, dẫu có chí v́ sanh tử,
ắt cũng vào trong cảnh giới quyền biến cong
vạy của Tiểu
Thừa. Nếu hoàn toàn chẳng có chí ấy, chắc chắn
sẽ thành Tu La, ngoại đạo, há c̣n ngờ chi! Lăo
nhân suốt đời đối trước Tam Bảo
trong pháp giới, v́ chúng sanh trong pháp giới mà ân cần phát
nguyện. Nay một quyển nguyện văn thẳng thừng
hiển thị cảnh giới chẳng nghĩ bàn, đúng
là vô thượng đề hồ. Tôi thấy có kẻ ghét
bỏ, cho là rườm rà, có người tán thán, đọc
các bài văn ấy mà run sợ, có người cảm động
khóc ṛng, nhưng vẫn chưa thẳng thừng gánh vác triệt
ngộ tánh tu. Than ôi! Có chân pháp nào chẳng dễ đọc
như thế ư? Khi Ngài c̣n là đứa bé, đă kính cẩn
đốt bốn mươi tám lọn hương trên cánh
tay, v́ khắp chúng sanh trong pháp giới b́nh đẳng cúng
dường đấng Nguyện Vương cơi An Dưỡng.
Cầu xin các bài văn phát nguyện của thầy tôi, sẽ
làm Phật sự lớn lao trong hết thảy các thế
gian. Nguyện người gặp được sẽ dấy
lên cảm xúc dạt dào, triệt ngộ chư Phật
chính là bản tánh nơi tự tâm, ngơ hầu chẳng đến
nỗi khiến cho hết thảy nguyện vương chẳng
do lâu ngày bèn bị ch́m đắm
trong cơi dị sanh.
Một
môn Tịnh Độ quả thật chỗ để cùng
hướng về của người tham Thiền, học
Giáo, tŕ giới. Cơi Tịch Quang của Phật Di Đà
chính là lư trí nơi tự tâm. Do chẳng ngộ, nên mới
ngang ngược nẩy sanh tà kiến, kiêu mạn. Người
hiểu biết chấp nhận bị chê cười,
đọc Tông Luận mà may mắn triệt để lănh hội
th́ vô biên pháp tạng sẽ đều một
mực thấu suốt, như “gậy phang
kẻ đầu đá, bồm bộp luận sự thật;
ông già tám mươi vào trường, chẳng phải trẻ
nít đùa bỡn”[14],
chính là nói về điều này vậy!
Kẻ
học Phật mà lệch lạc, sai lầm đều do
chấp tâm ở ngoài pháp, [cho rằng] diện mục sẵn
có trong cơi đời chính là hướng thượng nhất
trước[15].
Chấp trước điều đó, ắt sẽ thành
kiến chấp Ác Thủ Không. Đức Phật bảo bệnh
ấy chẳng thể cứu được! Kinh Viên Giác
răn “chớ chấp trước viên giác”, sách Đại
Thừa Chỉ Quán răn “hăy quán Chân Như trước”,
chư Tổ quở trách sâu xa “tà Thiền, ám chứng”[16],
đều do ư này. Nay bộ luận này dạy cái tâm Đệ
Nhất Nghĩa viên diệu, sáng sủa, thống khoái, ngàn
đời chưa từng có. Người đọc hăy suy
nghĩ kỹ, quán sâu chắc, mỗi chữ đều gỡ
trói buộc, mỗi lời đều phá chấp, may ra sẽ
đạt được!
Tiên
sư tự hành, bất quá phá trừ tri kiến lưu hành
trong cơi tục. Đối với một niệm hiện
tiền, liễu đạt hết thảy các pháp mà thôi!
Trong phần pháp ngữ, Ngài cũng chỉ dùng chuyện này
để mổ xẻ tim gan, dốc sạch gan ruột,
ḥng nêu tỏ một niệm nhỏ nhoi! Phần Tục Tập,
nghệ dư[17]
lại càng tường tận, hai tấm da nơi mặt
trống đă lâu[18].
Chỉ giác ngộ lời này, thần thức đă sáng suốt
tột cùng. Tuy nhiên, dẫu chẳng hiểu th́ cũng thành
đề tài để đàm luận, dẫu có hiểu
th́ cũng chẳng ngoài lời lẽ. Tuy tôi chẳng dám nói
là có lời ấy, mà càng chẳng dám nói là không có lời ấy![19]
Trong các lá thư thuộc
phần Pháp Ngữ, đối với các vị nổi tiếng
hay quan to, tôi tuân theo nguyên cảo của đại sư,
chỉ ghi tên họ, nhất loạt chẳng viết các
[tước vị hay danh hiệu] tôn xưng, do đời
Mạt Pháp, đạo th́ Tăng
thể ngày một kém hèn, chuyên chú trọng tranh nhau xin xỏ
tước hiệu. Thế tục th́ ngă tướng ngày
càng nặng nề, rốt cuộc trọn khó thấy thấu
suốt phù vân! Đôi đằng đều là cội gốc
sanh tử, đối với đạo, khác nào một trời
một vực! Nếu ai nấy chẳng vun bồi đức
dày, sao có thể cùng quạt ngọn
gió chân thật? Nay tôi chỉ coi trọng
t́nh nghĩa nơi đạo ḥng phù hợp ḷng mong mỏi
của trời rồng hộ pháp đó thôi!
Đối
với những thuyết ẩn tàng của đạo Nho,
nếu chẳng khế hợp sâu xa Pháp Hoa tam-muội và Sự
Sự vô ngại pháp giới của Hoa Nghiêm, sẽ chẳng
dễ nêu bày, khéo t́m ṭi trọn hết lẽ đồng dị
để gộp vào Nhất Thật, trăm ngàn năm qua,
chỉ có ḿnh đại sư [làm được như vậy]
mà thôi! Sau Khổng Tử, Nhan Tử, Văn Trung Tử[20],
ông Vương Dương Minh ở ẩn, hiển lộ
thanh nhàn, Ngẫu Ích Tử kế thừa, xiển
dương, khai hiển to lớn mối
đạo. Xét tới thời nghi, đúng chẳng phải
là ngẫu nhiên! Từ nay trở đi, đối với
chúng ta, gần như chân lư đă đạt tới cùng cực,
quy nạp vào chỗ cùng cực rồi! Tuy vậy, ngài Ngẫu
Ích đă bảo: “Hành chẳng khó, biết mới khó
hơn”, dám thưa [cùng các độc giả như vậy]!
Đạo
trung hiếu đạt tới địa vị Phật mới
là tột bậc. Kẻ chẳng biết sự cùng tột
ấy, hoặc dùng lập luận thương yêu thường
t́nh hoặc sách vở thế tục để phán định,
rốt cuộc trở thành “chẳng có vua, chẳng có cha”,
hoàn toàn trái nghịch lời dạy chân thành nơi miệng
vàng (lời dạy của đức Phật). Hoặc lại
dựa theo “chí đức, yếu đạo” [của
Nho gia] để gồm thâu, lại đọa vào hữu lậu,
hữu vi, hoàn toàn trái nghịch khuôn phép xuất thế chánh
đáng, trái nghịch, lầm lạc đại sự
đă lâu. Đọc Tông Luận, chỉ cốt sao vận
dụng tột bậc, đừng chú trọng câu nệ! Hễ câu nệ, sẽ thành có “lấy,
bỏ”. Chẳng câu nệ, sẽ gồm thâu! [Đối
với bổn phận] làm con, làm bầy tôi, làm em, làm bạn,
Khâu chưa thể trọn được một điều
nào[21]!
Than ôi! Một đại sự đă tỏ rạng, dung hội
về một từ lâu rồi!
Tiên
sư trước thuật, ngoài Tông Luận, c̣n có Thích Luận
gồm A Di Đà Yếu Giải (một quyển), Chiêm Sát
Huyền Sớ (ba quyển), Lăng Già Nghĩa Sớ
(mười quyển), Vu Lan Tân Sớ (một quyển),
Đại Phật Đảnh Huyền Văn (mười
hai quyển), Chuẩn Đề Tŕ Pháp (một quyển),
Kim Cang Phá Không Luận, phụ lục Quán Tâm Thích (hai quyển),
Tâm Kinh Lược Giải (một quyển), Pháp Hoa Hội
Nghĩa (mười sáu quyển), Diệu Huyền Tiết
Yếu (hai quyển), Pháp Hoa Luân Quán (một quyển), Trai
Kinh Khoa Chú (một quyển), Di Giáo Giải (một quyển),
Phạm Vơng Hợp Chú (tám quyển), cuối sách có kèm thêm
cách thọ giới và học giới, Phạm Vơng Sám Pháp Vấn
Biện (gộp chung thành một quyển), Ưu Bà Tắc
Giới Kinh Thọ Giới Phẩm Tiên Yếu (một quyển),
Yết Ma Văn Thích (một quyển), Giới Bổn Kinh
Tiên Yếu (một quyển), Tỳ Ni Tập Yếu
(mười bảy quyển), Đại Tiểu Tŕ Giới
Kiền Độ Lược Thích (một quyển), Giới
Tiêu Tai Kinh Lược Thích (một quyển), Ngũ Giới
Tướng Kinh Lược Giải (một quyển), Sa Di
Giới Yếu (một quyển), Duy Thức Tâm Yếu
(mười quyển), Bát Yếu Trực Giải (tám quyển),
Khởi Tín Liệt Vơng Sớ (sáu quyển), Đại Thừa
Chỉ Quán Thích Yếu (bốn quyển), Đại Bi Hành
Pháp Biện Ngụy (một quyển), kèm thêm Quán Tưởng
Kệ Lược Thích, Pháp Tánh Quán, Sám Đàn Quỹ Thức
(ba loại), Tứ Thập Nhị Chương Kinh Giải
(một quyển), Bát Đại Nhân Giác Kinh Giải (một
quyển), Chiêm Sát Hành Pháp (một quyển), Lễ Địa
Tạng Nghi (một quyển), Giáo Quán Cương Tông Tịnh
Thích Nghĩa (hai quyển), Duyệt Tạng Tri Tân (bốn
mươi bốn quyển), Pháp Hải Quán Lan (năm quyển),
Chiên San Lục (một quyển), Tuyển Phật Phổ
(sáu quyển), Trùng Đính Chư Kinh Nhật Tụng (hai quyển),
Châu Dịch Thiền Giải (mười quyển), Tịch
Tà Tập (hai quyển). Tổng
cộng bốn mươi bảy loại (tàng bản đều
được cất tại chùa Lăng Nghiêm thuộc phủ
Gia Hưng). Đó chính là mục lục của hai bộ luận
(Tông Luận và Thích Luận) của tổ Linh Phong (Đại
Kư Minh Chú Hành Pháp và Tứ Thư Ngẫu Ích Giải chưa
được lưu hành).
Đối
với toàn thể bộ Tông Luận, có thể lấy riêng
phần ca ngợi giới trong ấy làm thành sách giảng về
Giới Ba La Mật, phần tán dương Tịnh Độ
có thể lấy riêng
làm sách chỉ nam cho bí tạng, hoặc gộp cả hai phần
trên đây để tạo thành một sách riêng [khiến
cho người đọc] chẳng hiểu lầm nhân quả,
vừa có thể tận thiện lại tận mỹ, có lợi
to lớn, chẳng có điều hại, nhưng do chưa
rảnh để khắc in riêng, nên ghi thêm vào đây!
* Tự truyện của
Linh Phong Ngẫu Ích đại sư (trước
sau có ba đoạn do môn nhân ghi kèm thêm để tạo
thành một bài)
1)
(Suốt đời tiên sư chưa hề xin tăng hay tục
một chữ nào[22].
Không chỉ là Phật pháp khó nói, biết chính ḿnh khó đạt
được, mà cũng là do Ngài đă thấy thấu suốt
thói xấu ưa chuộng hư danh, tự ḿnh nêu
gương khiêm hạ. Khi Ngài về Tây, răn nhắc
[đồ chúng] đừng xin lời[23],
chỉ tăng thêm hư dối, lầm lạc. Than ôi! Ngài
giữ tiết tháo trong sạch dường ấy. Trị
mạng[24]
như thế đó, nào dám chẳng tuân theo! Nay khắc in một
bài tự truyện của lăo nhân, bèn trần thuật ư ấy
ở đầu bài vậy. Môn nhân Linh Thịnh kính lạy).
2)
(Mùa Thu năm Nhâm Th́n (1652), tiên sư quyết chí ẩn
cư, Tăng, tục can
ngăn chẳng được, bèn thỉnh Ngài thuật lại
quá tŕnh hành cước[25].
Mùa Đông, Ngài nghỉ tại chùa Doanh Tuyền ở
Trường Thủy, nghĩ hành cước chưa tận
hết, bèn thuật lại truyện
ấy. Mùa Xuân năm Quư Tỵ (1653), Sư
sang đất Cổ Ngô, có hai ba người bạn cũ
của lăo nhân có nói tự truyện đă ẩn danh, vậy
th́ tông phổ, pháp hiệu chớ nên nêu ra, hoặc nói tâm hạnh,
dấu tích cả một đời th́ có thể trần
thuật [v́ ai cũng thấy], chứ những chuyện
như cảm ứng trong mộng v.v… sợ rằng sẽ
bị chê trách là tự đặt chuyện. Lăo nhân bật
cười, cảm khái sửa lại, lược bớt.
Khi đó, [văn bản của tự truyện] từ Cổ
Ngô truyền tới Lưu Đô, so với bản tại
Trường Thủy có vài chỗ bất đồng. Sau
đó, Kiên Mật Tử Thành Thời cho rằng bản tự
truyện chưa thâu thập
trọn hết trước thuật của Ngài, xin hăy bổ
sung. Do vậy, trao cho thầy ấy bản lưu tại Cổ
Ngô, lại tăng thêm mấy câu. Nay đồng môn cho khắc
in lưu truyền, sai Nam cân nhắc các chỗ giống nhau
hay khác biệt. Nam nghĩ lăo nhân suốt một đời
khổ tâm, chỉ có Phật, Tổ biết
được, chứ những người khác khó thể
biết! C̣n như những tác phẩm chưa được
truyền thuật khiến cho hậu duệ được
nghe, đấy chính là pháp môn Tứ Hoằng, biển thệ
nguyện trọn khắp ba A-tăng-kỳ, chắc là theo
lệ cổ nhân mà tự truyền riêng đấy
chăng? Tôi cho rằng hăy nên vâng theo bản chép tại Doanh
Tuyền, chiếu theo bản văn đă
được bổ sung lần thứ ba, chẳng ngại
kiểm chứng những chỗ sai sót, ngơ hầu ngày một
tốt lành hơn, chép lại
thành bản hoàn chỉnh như dưới
đây. Môn nhân là Chiếu Nam kính lễ [thưa tŕnh]).
Bát Bất Đạo Nhân Truyện (lăo
nhân đích thân viết lời b́nh ghép vào ba chỗ, lấy
từ ư chỉ Bát Bất của Trung Luận và Bát Bất
của kinh Phạm Vơng)
Bát
Bất đạo nhân là bậc dật dân[26]
trong cơi Chấn Đán (Trung Hoa). Cổ nhân có Nho, có Thiền,
có Luật, có Giáo, đạo nhân chẳng dám nối gót, nay
cũng có Nho, có Thiền, có Luật, có Giáo, đạo nhân lại
hoàn toàn chẳng giống họ[27].
V́ thế, lấy tên là Bát Bất. Ngài họ ngoài đời
là Chung (鍾), tên là Tế
Minh (際明), lại c̣n có
tên là Thanh (聲), tự là Chấn
Chi (振之). Tổ
tiên là người xứ Biện Lương, thỉ tổ
dời xuống
miền Nam, sống tại trấn Mộc Độc (木瀆)[28],
đất Cổ Ngô. Mẹ Ngài họ Kim. Do cha Ngài là Kỳ
Trọng Công tŕ chú Bạch Y và chú
Đại Bi suốt mười
năm, mộng thấy Đại Sĩ tặng con mà sanh
ra Ngài. Đó là năm Kỷ Hợi, tức
năm Vạn Lịch 27 (1599), nhằm giờ Hợi ngày mồng
Ba tháng Năm. Bảy tuổi, Ngài đă ăn
chay, mười hai tuổi liền vào trường học,
nghe thánh học (Nho học) liền tự coi đó là trách
nhiệm ngàn đời, thề diệt đạo Thích,
đạo Lăo, bắt đầu dùng rượu, thịt,
viết mấy chục bài luận để quở trách “dị đoan”, mộng
thấy gặp gỡ tṛ chuyện cùng Khổng Tử, Nhan
Hồi.
Mười bảy tuổi,
do đọc lời tựa bộ Tự
Tri Lục và Trúc Song Tùy Bút [của tổ Liên Tŕ Châu Hoằng],
bèn chẳng báng Phật nữa, đem đốt các bài luận
chỉ trích Phật giáo. Hai mươi tuổi, Ngài chú giải
Luận Ngữ, tới đoạn “thiên hạ quy nhân”
chẳng thể viết tiếp, bèn bỏ ăn, bỏ ngủ
suốt ba ngày đêm, đại ngộ tâm pháp của Khổng
- Nhan. Mùa Đông, tang cha, nghe kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện, phát tâm xuất thế. Hai mươi hai tuổi,
chuyên dốc chí niệm Phật, đốt sạch hơn
hai ngàn bài Song Cảo[29].
Hai mươi ba tuổi, nghe kinh Đại Phật Đảnh
(kinh Lăng Nghiêm) nói “Thế giới ở trong hư
không, hư không sanh từ Đại Giác” bèn nghi “v́ sao có
đại giác ấy?”, cho rằng Không
giới là căn bản, mờ mịt chẳng biết làm
sao, chỉ có hôn trầm, tán loạn là nặng nhất, công
phu chưa thể thành phiến. Do vậy, quyết ư xuất
gia, ḥng suy xét thấu đáo đại sự.
Hai mươi bốn
tuổi, Ngài mộng thấy lễ Hám Sơn đại
sư, khóc hận duyên kém cỏi, gặp gỡ quá muộn
màng! Sư bảo: “Đấy là khổ quả, hăy nên biết
khổ nhân”. Nói chưa xong, Ngài đă vội thỉnh cầu
đại sư: “Đệ tử chí cầu thượng
thừa, chẳng mong nghe pháp Tứ Đế”. Đại
sư bảo: “Cư sĩ đă có chí hướng thượng,
tuy chẳng thể như Hoàng Bá, Lâm Tế, chỉ có thể
như Nham Đầu, Đức Sơn[30],
tâm lại chưa đủ”. Ngài tính hỏi tiếp th́
nghe có tiếng động bèn tỉnh giấc. Do vậy bèn
nghĩ “cổ nhân há có cao, thấp? Mộng tưởng
phân biệt hư vọng đó thôi!” Trong ṿng một
tháng, ba lần mộng thấy ngài Hám Sơn, do đại sư ở
tận Tào Khê, chẳng thể từ xa mà theo được,
bèn xin thế độ (xuống tóc) với ngài Tuyết
Lănh, được đặt pháp danh là Trí Húc (智旭). Ngài Tuyết Lănh
chính là môn nhân của ngài Hám Sơn.
Mùa Hạ và Thu, Sư
làm tạp vụ tại Vân Thê, nghe pháp sư Cổ Đức
giảng Duy Thức Luận, vừa nghe liền hiểu rơ,
nghi luận ấy mâu thuẫn với tông chỉ của
kinh Đại Phật Đảnh, bèn thưa hỏi. Thầy
bảo: “Hai tông Tánh Tướng chẳng ḥa hội”.
Sư rất ngạc nhiên, há Phật pháp lại có hai ngả
ư? Một hôm, Ngài hỏi pháp sư Cổ Đức: “Chẳng
sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Lại
như trung ấm nhập thai, do niệm khởi mà thọ
sanh, dẫu
nhanh chóng giác ngộ, làm thế nào để thoát?”
Thầy bảo: “Nay ông nhập thai hay chưa?” Đạo
nhân mỉm cười. Thầy bảo: “Nhập thai rồi
đấy!” Đạo nhân im lặng. Thầy bảo: “Ông
cho rằng nay chỉ có thân này thật sự từ lúc thọ
thai mà có ư?” Đạo nhân toát mồ hôi đẫm
lưng, chẳng thể hiểu rơ, bèn qua Kính Sơn tọa
Thiền.
Mùa Hạ năm sau, do
công phu tu tập cùng tột, thân, tâm, thế giới bỗng
nhiên tiêu mất. Do vậy,
biết thân này từ vô thỉ tới nay, sanh ra ở
nơi đâu bèn diệt tận ngay tại đó. Chỉ là
h́nh bóng do vọng tưởng kiên cố hiển hiện
trong từng sát-na, niệm niệm chẳng trụ,
đích xác chẳng do cha mẹ sanh ra! Từ đấy trở
đi, đối với tánh, tướng hai tông, nhất
loạt thấu triệt, biết chúng vốn chẳng mâu
thuẫn, chỉ do tà thuyết của sư Giao Quang khiến
cho mọi người hết sức lầm lạc! Ngay
khi đó, hết thảy kinh luận, hết thảy công án,
không ǵ chẳng hiện tiền, không ǵ chẳng tự giác
ngộ. Ngài hiểu sự giải ngộ mà phô ra sẽ chẳng
phải là thánh chứng, cho nên trọn chẳng nói với một
ai. Lâu ngày, tâm địa rỗng rang, chẳng lưu lại
dấu vết của một chữ nào!
Hai mươi sáu tuổi,
Ngài thọ Bồ Tát giới. Hai mươi bảy tuổi,
xem trọn khắp Luật Tạng, mới biết cả
cơi đời chất chứa những nỗi sai lầm.
Hai mươi tám tuổi, mẹ bệnh ngặt nghèo, Ngài bốn
lượt cắt thịt bắp tay [làm
thuốc dâng lên mẹ mà] chẳng cứu
được, đau đớn thấu tâm can (đă ngộ
thân này chẳng do cha mẹ sanh, v́ sao lại cắt thịt
bắp tay cứu mẹ? Hăy
tham cứu điều này). Tang ma xong xuôi, Ngài đốt bỏ
bút nghiên, thề vào chốn non sâu. Đạo hữu là
sư Giám Không giữ Ngài ở lại bế quan nơi Tùng
Lăng. Trong khi bế quan, Ngài mắc bệnh nặng, bèn
dùng công phu tham Thiền để cầu sanh Tịnh Độ.
Ba mươi tuổi, Ngài xuất quan, triều bái khắp
nơi. Khi qua Chung Nam, đạo hữu là Tuyết Hàng mong
Ngài truyền Luật Học, giữ Ngài trụ lại Long
Cư, Ngài mới soạn bộ Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập
Yếu và Phạm Thất Ngẫu Đàm. Năm ấy, Ngài
gặp hai người bạn là Tinh Cốc và Quy Nhất,
được lợi ích nhiều nhất trong t́nh bạn
tu tập. Ba mươi mốt tuổi, Ngài đưa Tinh Cốc
tới Bác Sơn xuống tóc, theo thiền sư Vô Dị tới
Kim Lăng. Quanh quẩn một trăm mười ngày, Ngài
am hiểu trọn vẹn thói xấu trong Tông môn thời gần
đây, bèn quyết chí hoằng Luật. Tuy hiểu Luật
tinh tường, nhưng tập khí phiền năo mạnh mẽ,
hành tŕ nhiều sai sót, Ngài bèn thề chẳng làm ḥa thượng
(tam nghiệp chưa tịnh, lầm mang tiếng là “biết
Luật”, nhưng danh quá sự thật. Đấy là nỗi hổ
thẹn suốt đời của đạo nhân).
Ba mươi hai tuổi,
Ngài tính chú giải kinh Phạm Vơng, bèn làm bốn cái thăm
để thỉnh ư Phật. Một cái viết “đề
xướng tông Hiền Thủ”, cái thứ hai viết “xiển
dương tông Thiên Thai”, cái thứ ba ghi “đề xướng
tông Từ Ân”, cái thứ tư ghi “tự lập tông”. Ngài
nhiều lượt rút được cái thăm “tông Thiên
Thai”. Do vậy, Ngài dốc ḷng nơi giáo nghĩa Thiên Thai,
nhưng chẳng chịu làm con cháu của tông Thiên Thai, v́
trong cơi đời gần đây, tông Thiên Thai, cùng với
Thiền Tông, Hiền Thủ, Từ Ân, ai nấy chấp
trước môn đ́nh, chẳng thể ḥa hợp (người
đương thời lấy tai làm mắt[31],
đều nói đạo nhân chỉ riêng hoằng
dương tông Thiên Thai, lầm mất rồi!) Mùa Thu
năm Ngài ba mươi ba tuổi, hai người bạn
là Tinh Cốc và Bích Như qua đời, Ngài mới vào Linh
Phong[32]
ở qua mùa Đông, để làm nhân duyên thỉnh Đại
Tạng.
Ba mươi lăm tuổi,
Ngài kiến tạo chùa Tây Hồ, soạn Chiêm Sát Hành Pháp. Ba
mươi bảy tuổi, trụ tại Vũ Thủy, soạn
Giới Tiêu Tai Lược Thích, Tŕ Giới Kiền Độ
Lược Thích, và Vu Lan Bồn Tân Sớ. Ba mươi tám
tuổi, trụ tại Cửu Hoa. Năm sau đó soạn
bộ Phạm Vơng Hợp Chú. Bốn mươi mốt tuổi,
trụ tại Ôn Lăng, soạn Đại Phật Đảnh
Huyền Nghĩa Văn Cú. Bốn mươi hai tuổi, trụ
tại Chương Châu, soạn Kim Cang Phá Không Luận, Ngẫu
Ích Tam Tụng, và Trai Kinh Khoa Chú. Bốn mươi bốn
tuổi, trụ Hồ Châu, soạn Đại Thừa Chỉ
Quán Thích Yếu. Bốn mươi sáu tuổi, trụ Linh
Phong, soạn chú giải cho các kinh Tứ Thập Nhị
Chương, Di Giáo, Bát Đại Nhân Giác. Bốn
mươi bảy tuổi, trụ Thạch Thành, soạn
Châu Dịch Thiền Giải (chú giải kinh Dịch theo
quan điểm nhà Thiền). Mùa Thu năm đó, trụ tại
Tổ Đường. Hai năm sau, soạn Duy Thức Tâm
Yếu, Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải, Di
Đà Yếu Giải, và Tứ Thư Ngẫu Ích Giải. Lúc năm mươi
mốt tuổi, mùa Đông, Ngài trở lại Linh Phong, soạn
Pháp Hoa Hội Nghĩa. Năm sau, soạn Chiêm Sát Sớ, lại
chỉnh lư
bộ Luật Yếu. Năm mươi
bốn tuổi, Ngài trụ Thịnh Khê, soạn thảo
Lăng Già Nghĩa Sớ, dời qua Trường Thủy mới
viết xong. Lại c̣n có Duyệt Tạng Tri Tân, Pháp Hải
Quán Lan, các bộ sớ giải cho kinh Viên Giác, kinh Duy Ma, và
luận Khởi Tín. Nguyện vẫn chưa hoàn tất,
đành đợi duyên về sau mà thôi!
Thuở c̣n sống,
Ngài từng nói: “Đời Hán, đời Tống, chú sớ
khá thịnh, nhưng tâm pháp thánh hiền bị mờ tối,
như gỗ vuông tra vào lỗ tṛn. Tùy theo thời cơ mà
nhiều nghi thức Yết-ma ra đời, nhưng Luật
học suy vi, như sữa bị thêm nước. Chỉ
Nguyệt Lục[33]
thịnh hành mà đạo Thiền hư hoại, như
đục khoét cái lỗ thuở trời đất hỗn
độn. Tứ Giáo Nghi lưu truyền mà tông Thiên Thai mờ
tối, như chấp chết cứng toa thuốc để
chữa biến chứng. Do vậy, cả cơi đời,
đối với Nho, hay Thiền, hay Luật, hay Giáo, không
ǵ chẳng cho là dị vật, ghét như giặc thù!”
Đạo nhân cười bảo: “Người hiểu
ta chỉ có Thích Ca, Địa Tạng đấy chăng?
Kẻ trách tội ta cũng chỉ có Thích Ca, Địa Tạng
vậy! Lủi thủi đi măi, chẳng biết kết
thúc ra sao!”
(Tiên
đại sư thị tịch, kẻ bất tiếu[34]
là Thành Thời lầm lẫn vâng lănh nghiêm lệnh của
đồng môn biên tập Linh Phong Tông Luận. Biên tập
xong, lại chép tự truyện của lăo nhân vào đầu
quyển. Do vậy nghĩ tới lăo nhân trong hai năm Quư Tỵ
(1653) và Giáp Ngọ (1654), hành cước xong trở về
núi, và tất cả các trước thuật, cũng như
tháng Giêng năm Ất Mùi (1655), một đoạn quang minh
cuối cùng đều bị thiếu khuyết không ghi
chép, đồng môn lại lầm cho rằng kẻ bất
tiếu này do theo hầu Ngài hành cước, sẽ biết
chuyện tường tận, theo đúng lẽ, phải
chép thêm vào. Chối từ chẳng được, bèn chắp
tay, cúi lạy ghi như sau).
Tự
truyện của Linh Phong Ngẫu Ích đại sư hoàn
thành vào tháng Chạp năm Nhâm Th́n (1652). Năm sau, tức
năm Quư Tỵ (1653), lăo nhân năm mươi lăm tuổi.
Mùa Hạ, vào tháng Tư, Ngài đến Tân An để kết
hậu an cư tại viện Thiên Mă ở Hấp Phổ,
soạn Tuyển Phật Phổ, duyệt Tông Kính Lục,
san định, đính chánh những thuyết xen tạp trộm
đưa vào đó bởi các vị Pháp Dũng, Vĩnh Lạc,
Pháp Chân, những sai lầm trong kinh điển trích dẫn,
cũng như những lỗi do biên chép, in khắc trải
nhiều đời. Đối với hơn ba trăm sáu
mươi câu vấn đáp, Ngài nhất nhất xác định
ư nghĩa chánh yếu, nêu bày sự sanh khởi và kết
thúc của các nghi vấn ấy. Duyệt xong, Ngài soạn
Giảo Định Tông Kính Lục Bạt gồm bốn phần.
Lại gạn lọc Viên Hoằng Đạo Tập thành một
bộ sách, đặt tên là Viên Tử. Mùa Thu, trong tháng Tám,
Ngài sang chơi các chỗ như Hoàng Sơn, Bạch Nhạc. Mùa Đông,
Ngài lại kết giới ở Thiên Mă, soạn Khởi Tín
Liệt Vơng Sớ. Năm sau, tức năm Giáp Ngọ
(1654), Ngài năm mươi sáu tuổi, trong tháng Giêng, Ngài nhận
lời thỉnh [giảng pháp] của Nhân Nghĩa Viện ở
Phong Nam. Pháp thí hoàn tất, Ngài rời Tân An. Cuối tháng
Hai, sau ngày Bao Sái Đà[35],
Ngài trở về Linh Phong. Mùa Hạ, Ngài ngọa bệnh,
tuyển chọn Tây Trai Tịnh Độ Thi, soạn các
bài tán để thêm vào sau chín tác phẩm trọng yếu của
Tịnh Độ, đặt tên là Tịnh Độ Thập
Yếu.
Cuối Hè, bệnh càng
nặng hơn. Tháng Bảy, Ngài soạn Nho Thích Tông Truyền
Thiết Nghị (lời trộm bàn về sự truyền
thừa nghĩa lư chánh yếu trong đạo Nho và đạo
Thích). Tháng Tám, lại duyệt xong Đại Tạng. Tháng
Chín, Ngài hoàn tất hai bộ sách Duyệt Tạng Tri Tân và
Pháp Hải Quán Lan. Mùa Đông, tháng Mười, Ngài nằm bệnh,
có viết bốn bài thơ Độc Tọa Thư Hoài;
trong ấy có câu: “Thứ kỷ nhị tam tử, úy ngă nhất
sanh tư” (mong có được hai ba đứa con (ư
nói đồ đệ lănh hội được tâm pháp)
để an ủi cuộc đời ta). Ngày Mười
Tám tháng Mười Một, Ngài soạn kệ Bệnh Trung
Khẩu Hiệu. Mồng Ba tháng Chạp, viết bài thơ
Bệnh Gian Ngẫu Thành (ngẫu nhiên viết trong khi bị
bệnh). Trong ấy có câu: “Danh tự vị trung chân Phật
nhăn, vị tri tất cánh phó hà nhân” (Phật nhăn chân thật
nơi địa vị Danh Tự rốt cuộc chẳng
biết giao phó cho ai); đấy chính là di chúc khẩu truyền
vậy. Ngài lập ra bốn điều thệ nguyện,
bảo hai vị Chiếu Nam và Đẳng Từ truyền
Ngũ Giới, Bồ Tát Giới, bảo ba vị Chiếu
Nam, Linh Thịnh, và Tánh Đán thay mặt ứng lời thỉnh.
Ngài bảo các đệ tử sau khi trà-duy (trà-tỳ, hỏa
táng), hăy nghiền xương ḥa với bột ḿ, chia thành hai phần
để một phần thí cho chim, thú, phần kia thí cho
các loài có vảy, kết khắp pháp hỷ, đồng sanh
Tây Phương.
Ngày Mười Ba, Ngài
lập Tịnh Xă, có bài văn phát nguyện; kế đó có
sáu bài Cầu Sanh Tịnh Độ Kệ. Đêm trừ tịch,
Ngài viết bài Cấn Lục Cư Minh, soạn kệ. Ngày
Nguyên Đán năm Ất Mùi (1655), lại soạn hai bài kệ.
Ngày Hai Mươi, bệnh lại phát ra. Sáng ngày Hai
Mươi Mốt, bệnh lui, giờ Ngọ, Ngài ngồi
xếp bằng trên giường dây[36],
hướng về Tây, chắp tay, qua đời. Khi đó,
Ngài năm mươi bảy tuổi, pháp lạp[37]
ba mươi bốn năm. Tăng hạ từ tháng Chạp
năm Quư Hợi (1623) tới ngày Tự Tứ năm Quư Dậu
(1633), lại từ mùa Xuân năm Ất Dậu (1645) đến
tháng Giêng năm nay là năm Ất Mùi, tính ra là mười hạ,
chín tháng. Mùa Đông năm Đinh Dậu (1657), môn nhân
đúng pháp trà-tỳ, [lúc mở quan tài, thấy] tóc Ngài
đă mọc dài che tai, vẻ mặt hệt như lúc c̣n sống,
ngồi xếp bằng nghiễm nhiên, răng lợi đều
chẳng hoại. Môn nhân chẳng dám tuân theo di chúc nghiền
xương, lập tháp thờ di cốt ở bên phải
đại điện của Linh Phong (bốn
mươi hai chữ kể từ chữ Đinh Dậu trở
đi được ghi thêm vào sau lễ trà-tỳ vào mùa
Xuân năm Mậu Tuất - 1658).
Than ôi! Đau đớn
thay! Con mắt của thế gian diệt mất, tràng chánh
pháp đă vỡ vụn, lấy ai cứu vớt, uốn nắn
bọn ma tà ác tâm hướng về Phật? Ai đến
nâng đỡ nam nữ ḷng lành gặp phải độc hại?
Ấy là do bọn chúng ta nghiệp nặng, chẳng thể
cảm bậc triết nhân trụ thế dài lâu! Cuối tự
truyện của lăo nhân có nói: “Hăy c̣n Duyệt Tạng Tri
Tân, Pháp Hải Quán Lan, các bộ sớ Viên Giác, Duy Ma, Khởi
Tín chưa hoàn tất, đành đợi duyên sau. Lại c̣n
sau khi duyệt tạng xong, trong lời nguyện thắp
hương có nói: “Một là trộm thấy Nam Bắc hai tạng[38]
đều là chẳng rơ ràng, chẳng theo đúng thứ tự,
hoặc bán giáo và măn giáo chẳng biện
định, hoặc kinh, luận
gọi tên lẫn lộn, hoặc là chân, ngụy chẳng
phân biệt được, hoặc khéo vụng chẳng
khác. Tuy có [các sách] Pháp Bảo Tiêu
Mục đời Tống,
Vựng Mục Nghĩa
Môn[39] đời Minh,
nhưng đều chưa tận thiện, tận mỹ.
Nay liền mạo muội, lầm lạc soạn hai sách
Duyệt Tạng Tri Tân và Pháp Hải Quán Lan. Nếu chẳng
trái nghịch ư chỉ của Phật, xin hăy được
thành tựu lưu thông. Hai là Viên Giác, Duy Ma, Di Đà, Địa
Tạng, cho đến kinh Đại Niết Bàn, trước
kia đă có ư nguyện nhỏ nhoi góp phần giải thích
thêm, cũng như đối với Tăng Sử Bảo
Huấn, cũng nguyện tu chỉnh thêm, ngưỡng cầu
thầm gia hộ, khiến chóng được
thành tựu. Lại c̣n dự định viết những
tác phẩm tiếp tục chú giải kinh
như Hạnh Nguyện Phẩm Tục Sớ, Viên Giác Kinh
Tân Sớ, Vô Lượng Thọ Như Lai Hội Sớ,
Quán Kinh Sớ Sao Lục Yếu, Thập Luân Kinh Giải, Hiền
Hộ Kinh Giải, Dược Sư Thất Phật Kinh Sớ,
Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Sớ, Duy Ma Bổ
Sớ, Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh Tục Sớ,
Đồng Tánh Kinh Giải, Vô Tự Pháp Môn Kinh Sớ, Thập
Nhị Đầu Đà Kinh Sớ, Nhân Vương Tục
Sớ, Đại Niết Bàn Hợp Luận, Tứ A Hàm Tiết
Yếu, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh Giải,
Phát Bồ Đề Tâm Luận Giải, Ma Ha Chỉ Quán Phụ
Hành Lục Yếu, Tăng Sử San Bổ, Truy Môn Bảo
Huấn, tổng cộng hai mươi mốt loại”.
Những tác phẩm được liệt kê trong ba chỗ
trên đây, chỉ có Duyệt Tạng Tri Tân, Pháp Hải Quán
Lan và Khởi Tín Sớ hoàn thành, những loại khác đều
chẳng t́m được! Tuy vậy, lăo nhân trước
thuật khá nhiều, biết chọn lấy những tác phẩm
cương yếu th́ nào có thiếu sót chi!
Huống hồ đại
dụng luôn mới mẻ, nguyện luân luôn chuyển. Sau
khi được thọ kư chốn ao báu, sẽ mau chóng trở
vào Sa Bà, thâu thập kẻ hữu duyên, chưa xong một
hơi thở, công án sẽ có thể nhanh chóng hoàn tất, bọn
chúng ta trong hiện tại, tương lai đều có thể
thân cận, thọ học. Đừng v́ h́nh tướng
xác thân chẳng thật hạn
cuộc trong một thời, một nơi mà nẩy sanh hai
ḷng! Nhưng Thành Thời là kẻ thọ ân sâu nhất, lại
bội ân nặng nhất! Lại nghĩ ngợi bậc
triết nhân hiếm khi xuất thế, diệu pháp khó gặp,
lại nghĩ đại sự nhân duyên liên quan đến
muôn đời, tuy có lúc lưu thông, nhưng chúng sanh chướng
nạn dày đặc, bèn thắp một ngàn nén
hương, xả thân trong ḍng lũ, một là báo ân thầy
giúp chuyển nguyện luân. Hai là cúng dường diệu
pháp, [mong được] đời đời gặp gỡ.
Ba là chuyển kiếp trược, cứu khổ chúng sanh.
Bốn là thay thầy nát thân, ḥng măn hoằng thệ của
thầy. Năm là sám hối trọng
tội, quyết sanh về ao báu. Than
ôi! Hiểu tội tôi, trách tội tôi, chỉ có chúng sanh
trong đại địa đấy chăng?
Ngày
Mười Hai tháng Chạp năm Ất Mùi (1655)
đời Thuận Trị, bất tiếu
môn nhân Thành Thời dập đầu kính ghi.
* Ghi thêm
Linh
Phong đại sư nhập diệt tám năm, vào tháng Bảy
năm Nhâm Dần (1662), môn nhân Tánh Đán qua đời v́ bệnh.
Trước đó, Sư đă viết lời căn dặn,
đối trước bất tiếu Thành Thời và anh ruột
là ông Hồ Tịnh Quảng xin nghiền nát di cốt, ḥng
thay lăo nhân thỏa măn ư nguyện do Ngài đă căn dặn
vào ngày mồng Ba tháng Chạp năm Giáp Ngọ (1654).
Trước đó, Thành Thời mời tịnh lữ cùng lễ
Phật Thuyết Phật Danh Kinh, sư Tánh Đán liền
vào đàn, đốt đèn trên đỉnh đầu
để báo ân sâu pháp nhũ. Đến lúc đó, Sư lại
căn dặn lần nữa. Vào tháng Tám, tôi liền kính cẩn
tụ tập đại chúng tu hành Dược Vương
Bổn Sự bảy ngày bảy đêm để tác pháp.
Khi đó, pháp đệ là Thông Huyền nghiền nát di cốt,
Thành Thời nói kệ rằng: “Vô thân hà tất khổ tồi
tàn, chỉ vị vô thân cố bất tham. Thử ư hứa
thùy năng hội đắc, tiền tam tam dữ hậu
tam tam” (Không thân, há khổ phải
nghiền thây? Chỉ
bởi không thân nên chẳng tham.
Ư ấy nếu
như ai hiểu được, trước sau dường
cũng hệt như nhau)[40].
Sư Tánh Đán vốn
thuộc vọng tộc họ Hồ tại Tích Ấp, Tân
An, lúc ba mươi ba tuổi mới xuất gia, cho nên không
có tuổi hạ, chẳng thâu đồ chúng, cho nên chẳng
có truyền nhân. Sư học vấn tinh tế, tuổi trẻ
mà như cây khô, tro tàn, tuy tánh lẫn tướng đều
viên minh, nhưng thường hổ thẹn v́ chưa ngộ,
sợ ḿnh ngu dốt, vụng về, cho nên chẳng dám
đảm nhậm pháp đạo. Thân gầy yếu mà tu
khổ hạnh, chẳng v́ mong được người
khác kính nể, lại càng không biện bác che giấu lỗi
lầm. Trong khi bị bệnh, thoạt đầu nghiệp
tướng hiện ra, Sư xót xa cầu Phật, bèn thấy
Phật Di Đà tiếp dẫn! Lúc mất th́ mắt và tai
đă ngừng hoạt động, chỉ ngồi xổm
mỉm cười chẳng ngớt. Sư biên soạn Họa
Tây Trai Tịnh Độ Thi và Viên Giác Sớ chưa hoàn tất
th́ Tánh Đán đă mất vào tháng Tư năm sau đó.
Đạo hữu Tŕnh Tùng Hỗn cảm kích trước
chuyện ấy, cũng gắng sức chịu đựng
bệnh tật niệm Phật thề sanh Tây, tự ngửi
thấy mùi hương lạ mấy hôm, vẫn ngồi xếp
bằng nghiễm nhiên, giơ tay ngước nh́n. Ông Tùng Hỗn
là người xứ Ḥe Đường đất Hấp,
hai giới Cận Sự (ưu bà tắc giới) và Bồ
Tát giới đều thọ từ lăo nhân.
Mùa Đông năm Quư Măo
(1663), Thành Thời kính lạy ghi thêm.
* Lời trộm bàn về
đặt thụy hiệu riêng là Thỉ Nhật (mặt
trời mới mọc) cho tổ Linh Phong
Môn
nhân là Thành Thời ở Cổ Hấp đảnh lễ
trăm lạy xin bàn luận.
Ngẫu Ích lăo nhân thiên
hóa[41]
tại Linh Phong, môn nhân Thành Thời bàn định chuyện
đặt thụy hiệu[42]
cho Ngài. Có người bảo: “Có điển lệ hay
không?” Thưa: “Kể từ sau thời Liễu Hạ Huệ,
có các vị Vương Văn Trung, Châu Văn Trung[43],
Đào Tĩnh Tiết[44],
Tiêu Văn Nguyên, đều được môn nhân v́ đạo
mà tôn xưng thầy, tôn xưng thầy ḥng rạng đạo.
Từ đời Châu trở đi, [phương cách ấy]
sáng vằng vặc vậy. Lại bảo: “Đó là pháp thế
gian, xuất thế có khuôn phép ấy không?” Thưa: “Thầy
Chí Bàn[45]
soạn sách Phật Tổ Thống Kỷ, đối với
các vị tổ thuộc tám đời sau [của tông Thiên
Thai] hưng khởi mối đạo,
đối với những vị chưa có tôn hiệu,
đều đặt thụy hiệu
riêng. Ngài Chí Bàn nói: “Đó là ư nghĩa to
lớn nhằm tôn kính tổ
tiên vậy, thế gian và xuất thế gian có ǵ khác biệt!”
Hỏi: “Nghe khuôn phép ấy,
đă biết ư nghĩa rồi, nhưng chưa rơ nguyên do!
Há chẳng phải là do không đủ sức để thỉnh
cầu triều đ́nh. Hoặc địa vị chẳng
thuộc vào lệ ban tặng của triều đ́nh ư? Hoặc
phạm vào điều húy kỵ của triều đ́nh,
cho nên chẳng thể không định luận [thụy hiệu]
nơi rẫy bái ư?” Thưa: -
Há Thái Ung, Nguyên Kết chẳng thể v́
Châu Mục, Nguyên Diên Tổ mà
xin đổi tên trong đời Hán - Đường ư?
[Các thụy hiệu] Văn
Trung, Tĩnh Tiết được chép trong Hán Thư, Tống
Sử, pháp luật có bao giờ câu nệ? Thánh minh có bao giờ
kỵ húy đâu? C̣n về nguyên do? Xin thưa là chẳng
đánh mất thực chất. V́ cớ ǵ thánh
hiền thế gian có người mà cả cơi đời chẳng
thấy được tâm họ? Liễu Hạ làm Sĩ
Sư, ba lượt bị cách chức chẳng rời
đi, v́ muốn che chở dân chúng trong t́nh cảnh bị
giày ṿ, đă chẳng thể hành đạo lớn lao ḥng
[cơi đời] chẳng có h́nh phạt, th́ ông chẳng hổ,
chẳng thẹn, tùy chốn cứu dân khỏi chết.
Đó là Ḥa[46],
cho nên thực hiện ḷng nhân huệ rộng răi vậy.
Đương thời chẳng biết ư ấy, chỉ biết
ông hay ban tặng thức ăn, chẳng nói một chữ
là Huệ, mà ẩn chữ Liễu Hạ đi[47].
Một chữ đáng ngàn vàng, thấy được cái
tâm của ông Liễu Hạ, mà cũng thấy được
tâm học của thánh hiền ngàn đời. Nói mà chẳng
đánh mất thực chất,
lợi ích sẽ nhuần thấm thiên
hạ, muôn đời không ngằn mé.
Phàm là bậc tông tượng
xuất thế, lấy đạo làm tâm tánh, toàn thể
đại dụng, tâm khế hợp chúng sanh và Phật, từ
lực bi ngưỡng, càng hết sức khó biết, khó thấy!
Nhưng [một vị hiền thánh như thế xuất
hiện] trong thuở Chánh Pháp vẫn chưa phải là khó,
chứ thời Mạt Pháp ma mạnh, pháp yếu, chánh suy yếu,
tà lẫy lừng, đúng là
khó khăn lắm! Từ địa vị Quán Hạnh,
Tương Tự trở lên, [nhận biết một vị
thánh nhân như vậy] vẫn chưa phải là khó, chứ
nếu là hàng phàm phu đầy dẫy trói buộc mà dùng nhục
nhăn làm Phật nhăn [để nhận biết], sẽ khó lắm!
Đă là khó biết, khó thấy như thế, không chỉ
chuyện khuyết thiếu gia hiệu (嘉號, danh
hiệu tôn xưng tốt lành) đáng để pháp đạo
phải lo ngại.
Dẫu có đề cao trí dũng thần
thánh [của vị ấy], vẫn
chẳng đủ để phát khởi đức hạnh
ngầm ẩn,
ḥng khơi gợi con cháu về sau. V́ thế, trước
nay dù là đệ tử thân cận hay hậu duệ xa xôi,
đều lấy đó làm điều lo ngại sâu xa. Bậc
có ḷng nhân, người sáng suốt chẳng thể không xót
thương tấm ḷng ấy mà bác bỏ cách nói này, chẳng nỡ nhất loạt cho là
ngu muội, kém cỏi mà chê trách! Đức
hạnh sâu thẳm của bậc đại tông triết
tượng chẳng được nêu tỏ, dẫu vua
tôi ở Linh Sơn cũng đều hổ thẹn, cháu
con trăm đời đều cùng lo sầu, nhưng cái tội
ấy (tội ẩn lấp đức hạnh của thầy,
tổ) chẳng thể không thuộc về môn đệ và
hậu duệ. Ngay trong tông môn mà c̣n mờ mịt, vua quan chọn
lựa bằng cách nào? Ngay trong đời này mà lặng
thinh, th́ con cháu bao đời sau sẽ do đâu mà nghe biết?
Ôi! [Chuyện này có mối quan hệ] to lớn thay! Đó là
lư do toan đặt thụy
hiệu vậy!
Chắc có người
do vậy mà hoảng sợ, nói: “May là do
ông mà được nghe biết
khuôn phép, biết ư nghĩa, lại xét đến nguyên do, nếu
bỏ mặc đó th́ sẽ là bất nhân, hoặc trách tội
[kẻ toan đặt thụy hiệu] là ngu hèn, th́ sẽ
là kẻ bất trí. Nguyện được nghe tôn hiệu
của Ngẫu Ích lăo nhân”. Do vậy, Thành Thời kính cẩn
đảnh lễ trăm lạy, lạm bàn rằng: Phật
pháp hưng thịnh, Tam Học là một nguồn. Thời
Mạt, Tam Học h́nh thành thế chân vạc, bèn suy vi. Tam Học
tranh chấp lẫn nhau, tới mức cùng cực. Tam Học
nội bộ lục đục, tới mức nội bộ
lục đục th́ hết thảy mọi người
đều là kẻ phá pháp. Hết thảy các pháp đều
là pháp của kẻ giặc. Khi đó, nếu chẳng t́m về
nguồn cội, sao có thể cứu văn lẽ chánh? Hiện
thời, Tam Học tại Chi Na nội bộ đă lục
đục cũng
hết sức tệ hại, tiên đại
sư sanh nhằm thời này, tự xưng là “cô thần,
nghiệt tử”, tận lực đề cao “Tam Học
cùng một nguồn” để cứu văn. Đối với
Luật, Ngài coi đoạn pháp hữu lậu là Tông, hiểu
rơ khai, giá, dung hội đồng, dị, dung thông Đại,
Tiểu, hiển lộ tu chứng, thuần là sữa chẳng
có nước! Dẫu Luật, dẫu Giáo, dẫu Thiền,
đều giống hệt như Luật của đức
Phật Thế Tôn thuở trước. Sư chưa từng
có một hạnh, bởi [tự khiêm cho rằng] so với
cổ đức th́ chẳng có công ǵ đáng để
tuyên nói. C̣n như hằng chuyển tam luân, khế hợp
sâu xa nhị cộng[48],
Sư c̣n chẳng dám phỏng theo hai vị Vân Thê và Chuyên Ngu[49],
huống hồ giáo pháp của các vị Đông Lâm, Thiên
Thai, Lâm Tế, dùng
phá hai thứ chấp ngă và chấp pháp làm Tông, Giáo lẫn
Quán cùng sáng tỏ, tánh và tướng dung thông, Quyền và Thật
chẳng hai, tánh và tu xen lẫn, thuần là sữa chẳng
có nước, dẫu Giáo, dẫu Luật, dẫu Thiền
đều giống hệt như Giáo của đức Phật
Thế Tôn thuở trước. Sư chưa từng có một
chữ, bởi tự xét ḿnh chẳng sánh bằng các vị
cổ đức như Kinh Khê, Thanh Lương dường
như đă dự vào địa vị Ngũ Phẩm[50],
phát trọn ba nhân[51].
Sư c̣n chẳng dám phỏng theo các vị như U
Khê, huống hồ [đua đ̣i] các vị Thiên Thai, Từ
Ân, Vĩnh Minh. Sư đối với Thiền đă triệt
ngộ nguồn tâm, khế hợp phương tiện sâu
xa, pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều
trọn, nhưng chẳng có một pháp nào để có thể
đắc. Dẫu Thiền, dẫu Luật, dẫu Giáo,
đều đáng là môn đồ của Tào Khê, Vĩnh
Minh, nhưng Sư trọn cho rằng Đạo và Định
nơi Giới (tức Đạo Cộng Giới và Định
Cộng Giới) [của chính ḿnh] chưa
sâu, Lư và Quả nơi Giáo chưa đạt được.
Do vậy, chẳng dám lầm lẫn nhận lấy địa
vị Tổ, rơi vào vết xe đổ đại vọng
ngữ xưa nay, bởi
chỉ có người chân thật biết pháp mới thật
sự biết e sợ. Há chẳng phải là tấm
gương chánh đáng cho những vị đại tông
tượng thuộc địa vị Danh Tự ư?
Phàm mặt trời vừa
mới mọc, đại địa chưa được
chiếu sáng trọn khắp, nhưng khắp bầu trời
đă tỏa sáng. Kẻ say giấc mộng tuy chưa thấy
được ánh sáng, nhưng bóng đêm đă ẩn khuất,
người làm lụng đă bắt đầu khởi sự;
đấy chẳng phải là h́nh bóng của Sư đấy
ư? Đáng nên tôn xưng Ngài là Thỉ Nhật đại
sư. [Đấy chính là tôi đă] kính
cẩn noi theo pháp sư Chí Bàn đặt thụy hiệu
cho các vị tổ Đạo Hưng, Pháp Trí.
Tôi cho rằng: Ngày sau
có người có thể suy xét, luận định đức
cao đẹp của Sư, dâng lên Thanh triều, để
được ban cho tên thụy đẹp đẽ, may
ra sẽ dùng tên gọi ấy để đặt hiệu,
ngơ hầu chẳng mất lẽ thật. Tiên đại
sư quán triệt Tam Học, tận lực chấn
hưng phong thái suy đồi [trong nhà Phật]. Trước
thuật của Ngài dù là thích luận hay tông luận đều
liên quan đến huệ mạng, là chốn cầu, bến.
Trên là noi theo cổ Phật, dưới là đợi bậc
thánh nhân về sau, ắt sẽ có bậc Đại Sĩ
nương theo nguyện luân, nhận lănh lời phó chúc tại
Linh Sơn, đưa các tác phẩm của Ngài vào Đại
Tạng để lưu thông, đặt chắc chắn
thụy hiệu tốt lành cho Ngài, may ra có thể dùng danh hiệu
đang bàn luận hiện thời. Chẳng dám thái quá, chẳng
dám bất cập! [Ghi lại điều này] một ngày sau
khi bổ túc tự truyện của đại sư.
Linh Phong Đại
Sư Tông Luận
Quyển thứ nhất
1. Nguyện văn
* Bốn mươi
tám nguyện
(Nhằm ngày Ba Mươi tháng Bảy năm Tân Dậu,
tức năm Thiên Khải nguyên niên (1621)[52]. Khi đó, Ngài
xưng danh là Đại Lăng Ưu-bà-tắc)
Đảnh
lễ đấng tam thân viên măn, hết thảy biển
giác tánh Chân Như, tương xứng pháp giới như
hư không, biển đại nguyện các thứ trang
nghiêm, nhân quả giao nhau chẳng nghĩ bàn, biển hết
thảy tu hành của Bồ Tát, và lễ A Di Đà Như
Lai, Q uán Âm, Thế Chí, cùng
Địa Tạng, con v́ ân vơng cực[53]
của cha mẹ, xót thương khắp trọn hết thảy
chúng sanh giới, phát sanh tâm tăng thượng như thật,
tu hành phương tiện niệm Phật thù thắng, tin
sâu môn Tịnh Độ nhiếp thọ, thệ nguyện
rộng lớn đều gia bị trọn khắp. Diệu
giới làm thuyền, trí huệ làm bánh lái. Phương tiện làm buồm, Phật lực
là gió. Tận cùng ngằn mé vị lai độ chúng
sanh, trọn chẳng một niệm xả ngũ trược.
Biển nguyện chư Phật như đế châu[54],
nhiếp thọ nguyện của con trùng trùng hiện. Nguyện
của con như Ma Ni vương, biển nguyện chư
Phật đều nhiếp trọn. Theo chiều ngang, nguyện
luân trọn khắp
mười phương. Theo chiều dọc, cũng lại
cùng tột ba đời. Do nương vào trí Nhất Thiết
Trí, nên con chí tâm siêng tu tập.
Nguyện thứ nhất:
Con vốn phát tâm, trên báo ân sanh thành của từ phụ là
Chung Chi Phượng, nguyện do sức Tam Bảo, khiến
cho các vị từ phụ từ vô thỉ của con đều
sanh về Tịnh Độ, mau chứng Bồ Đề,
khiến cho người nghe tên con cũng báo đáp ân cha.
Nguyện
thứ hai: Con vốn phát tâm, trên là báo ân dưỡng dục
của bi mẫu Kim Đại Liên, nguyện do sức Tam Bảo,
khiến cho bi mẫu của con từ vô thỉ đều
sanh về Tịnh Độ, mau chứng Bồ Đề,
khiến cho người nghe tên con cũng báo đền ân mẹ.
Nguyện
thứ ba: Độ chúng sanh trong pháp giới thành Phật hết
rồi con mới giữ lấy
Nê Hoàn (Niết Bàn).
Nguyện
thứ tư: Nguyện dâm cơ của con nơi thân tâm
đều đoạn, ngay cả tánh đoạn cũng chẳng
có, khiến cho người nghe tên con vĩnh viễn đoạn
dâm căn.
Nguyện
thứ năm: Nguyện nghiệp tập sát hại của
con diệt hết, chẳng sót, khiến cho trọn khắp
người nghe tên con đều phát sanh từ lực.
Nguyện
thứ sáu: Nguyện nghiệp si ám, hủy báng Tam Bảo của
con diệt hết, chẳng sót, khiến cho người
nghe tên con sẽ chánh tín Tam Bảo.
Nguyện
thứ bảy: Nguyện các nghiệp
bất thiện của con đều được thanh tịnh,
khiến cho người nghe tên con an trụ trong phạm hạnh.
Nguyện
thứ tám: Con quyết sanh về thế giới Cực
Lạc,
mau chứng Vô Thượng Bồ
Đề, phân thân trong các cơi nhiều như vi trần
đến tột cùng ngằn mé vị lai, độ sanh chẳng
nhàm!
Nguyện
thứ chín: Con đời đời chẳng quên bổn
nguyện, trong đời Ngũ Trược, khéo giáo hóa chúng sanh.
Nguyện
thứ mười: Con nơi nơi hoằng dương,
lưu thông chánh pháp, chẳng có các ma chướng.
Nguyện
thứ mười một: Đạt được vô
lượng trí huệ, thấu đạt hết thảy
Phật pháp.
Nguyện
thứ mười hai: Đạt được vô lượng
biện tài, khai sáng kẻ mê, hàng phục ngoại đạo,
hết thảy chẳng sợ hăi như sư tử rống.
Nguyện
thứ mười ba: Đạt được vô lượng
thần thông, trọn khắp các cơi mười
phương, thừa sự Như Lai và thiện tri thức.
Hết thảy hải hội không ǵ chẳng được
dự!
Nguyện
thứ mười bốn: Con có thể phát ra đủ loại
diệu âm, tột cùng ngằn mé vị lai tán thán Tam Bảo,
khiến cho chúng sanh biết chỗ quy y.
Nguyện
thứ mười lăm: Tùy ư xuất sanh đủ loại
vật cúng mầu nhiệm, cúng dường Tam Bảo, làm
phước điền to lớn cho chúng sanh.
Nguyện
thứ mười sáu: Tùy hỷ công đức của hết
thảy chúng sanh, khiến họ thành Vô Thượng Bồ
Đề.
Nguyện
thứ mười bảy: Khi mười phương
Như Lai thành Chánh Giác, con đều tới trước
khuyến thỉnh [chư Phật] chuyển
đại pháp luân, khai thị cho chúng sanh con đường
Vô Thượng Giác.
Nguyện
thứ mười tám: Khi mười phương Như
Lai bát Niết Bàn, con đều khuyến thỉnh đừng
nhập Niết Bàn, thường trụ trong thế gian
để lợi ích hàm thức.
Nguyện
thứ mười chín: Hết thảy hải hội đều cử
con làm Pháp Vương Tử. Phật tán thán công đức,
trí huệ, từ bi, nguyện lực của con bằng với
Quán Thế Âm, Địa Tạng Vương chẳng khác!
Nguyện thứ hai mươi: Dùng ánh sáng đại
bi chiếu các địa ngục. Kẻ được
quang minh chạm đến, ngay lập tức biến các
khổ sự đều thành sự vui mầu nhiệm.
Nguyện thứ hai
mươi mốt: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các ngạ
quỷ. Kẻ được quang minh chạm đến,
ngay lập tức xả thân, được sanh về Tịnh
Độ.
Nguyện thứ hai
mươi hai: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các súc sanh. Kẻ
được quang minh chiếu, sẽ ĺa các sợ hăi, sau
khi xả thân, được sanh về Tịnh Độ.
Nguyện thứ hai
mươi ba: Dùng ánh sáng đại bi chiếu các quỷ thần,
người được quang minh của con chiếu
đến đều bỏ tâm sân, khai ngộ Phật
đạo, bỏ các thân xấu xí, được thân thanh
tịnh.
Nguyện
thứ hai mươi bốn: Dùng ánh sáng đại bi chiếu
các chúng sanh khổ năo. Người được quang minh
của con chiếu tới, tật bệnh tiêu trừ, sáu
căn trọn đủ. Ách nạn, sợ hăi thảy
đều giải thoát, vô bệnh, tăng thọ, phát tâm Bồ
Đề. Nếu khi mạng chung,
liền sanh về
Tịnh Độ.
Nguyện
thứ hai mươi lăm: Dùng ánh sáng đại bi, chiếu
hữu h́nh, vô h́nh, hữu tưởng, vô tưởng, và
các ma, ngoại đạo, khiến cho thân
tâm của
họ xả ly tà kiến, thông đạt
Phật thừa.
Nguyện
thứ hai mươi sáu: Dùng ánh sáng đại bi, chiếu
chạm trời người, khiến họ chẳng mê
đắm dục lạc, và hân yếm định, siêng cầu
Vô Thượng Bồ Đề. Nguyện
thứ hai mươi bảy: Dùng ánh sáng đại bi chiếu
Thanh Văn, Duyên Giác, khiến họ xả vô vi, mau hướng
theo Phật thừa.
Nguyện
thứ hai mươi tám: Dùng âm thanh đại bi khiến
cho hết thảy chúng sanh quyết định thông hiểu,
giác ngộ, chẳng đắm luyến tam giới, chẳng
ưa thích các thừa khác, chỉ cầu Vô Thượng Bồ
Đề.
Nguyện
thứ hai mươi chín: Dùng thần lực đại bi
tùy thuận các thứ mong cầu của chúng sanh, khiến
cho họ đối với pháp của con sanh ḷng tin sâu
đậm.
Nguyện
thứ ba mươi: Do cứu độ chúng sanh nên trong
mười phương, hiện làm thân Phật, hoặc
nhiếp thủ Tịnh Độ, hoặc điều phục
uế độ, phương tiện vô lượng.
Nguyện
thứ ba mươi mốt: Do cứu độ chúng sanh
bèn tùy loại hiện thân. Trong mỗi loại, chủng tộc
tôn thắng, oai đức tự tại, khiến những
người cùng hàng kính yêu, tiếp nhận lời dạy
cho đến [khi chứng đắc] Bồ Đề.
Nguyện
thứ ba mươi hai: Dùng phương tiện đại
bi, hiện trong hết thảy các chỗ không có Phật
pháp, chỗ pháp diệt, hoặc chỗ Phật pháp không thể
lưu hành, ẩn hiển giáo hóa lớn lao, làm đèn soi
trong đêm dài, cứu vớt kẻ ch́m đắm trong tối
tăm thoát khỏi biển khổ.
Nguyện
thứ ba mươi ba: Luôn vào lúc chúng sanh đói khát, hiện
ra thức ăn, Khi dịch bệnh, hiện làm dược
thảo. Trời lạnh làm y phục, trời nóng làm gió
mát, nơi hiểm trở làm cầu, bến. Hết thảy
thứ cần thiết đều hiện ra, hoặc mặc,
hoặc dựa, hoặc giẫm đạp, đều
đạt được an lạc, phát Bồ Đề
tâm.
Nguyện
thứ ba mươi bốn: Chúng sanh thích cầu Phật thừa,
đă được nghe tên con, chẳng xả nhục
thân, đắc Phật Bồ Đề.
Nguyện
thứ ba mươi lăm: Bồ Tát trang nghiêm cơi Phật,
nghe tên con rồi, cơi ấy vượt trội Cực Lạc.
Muốn hiện uế độ, ắt đạt
được vô lượng phương tiện, khéo giáo
hóa kẻ ương ngạnh.
Nguyện
thứ ba mươi sáu: Khiến cho chúng sanh muốn thấy
các cơi Phật, nghe pháp, đều được thấy,
nghe.
Nguyện
thứ ba mươi bảy: Khiến cho chúng sanh muốn đến
vô số thế giới, cúng dường Tam Bảo th́ trong khoảng một
niệm đều được tới trọn khắp.
Nguyện
thứ ba mươi tám: Khiến cho chúng sanh muốn sanh về
cơi Phật nghe danh hiệu của con, liền được
tùy nguyện văng sanh.
Nguyện
thứ ba mươi chín: Khiến cho chúng sanh có cùng thệ
nguyện với con đều nhanh chóng đạt
được vô lượng phương tiện trí huệ,
oai đức tự tại.
Nguyện
thứ bốn mươi: Khiến cho chúng sanh thích Tiểu
Thừa mau dự lên thánh quả, liền hồi tâm nhập
Bồ Tát thừa.
Nguyện
thứ bốn mươi mốt: Bồ Tát tu hành trong
mười phương nghe danh hiệu của con măi cho
đến khi đắc Bồ Đề, vĩnh viễn
chẳng có ma sự!
Nguyện
thứ bốn mươi hai: Ma tà, ngoại đạo trong
mười phương nghe danh hiệu của con liền
bỏ tà kiến, đồng quy Chánh Giác.
Nguyện
thứ bốn mươi ba: Dùng tâm lực đại bi,
khiến cho chúng sanh ngũ nghịch, thập ác, tứ khí[55],
bát khí[56],
là những kẻ sẽ đọa đại địa
ngục biết xót xa cầu sám
hối, liền thuận theo ư họ, hiện sắc thân thù thắng, mầu nhiệm,
xoa đỉnh đầu an ủi, vĩnh viễn dẹp
trừ tội căn, phát Bồ Đề tâm.
Nguyện
thứ bốn mươi bốn: Dùng sức b́nh đẳng
đại từ bi, có thể khiến cho kẻ diệt hoại,
phỉ báng pháp của con, mạ lỵ tên con, ác chướng
cực nặng mau tiến hướng Bồ Đề.
Nguyện
thứ bốn mươi lăm: Mắt từ của con tột
bậc thanh tịnh, nh́n trọn khắp cơi hư không, thấu
tới chỗ khổ sở cùng cực, khiến cho đều
được an lạc, chúng sanh cực ác đều hiền
thiện.
Nguyện
thứ bốn mươi sáu: Tay ấn của con trang nghiêm
tột bậc.
Trong mỗi một
niệm, đều tuôn ra hết
thảy các thứ mây cúng dường, mây trân bảo, mây y
phục, mây các vật dụng,
mây thức ăn, mây thuốc men, mây tam-muội, mây tổng
tŕ, mây biện tài, mây quang minh chiếu soi, trọn khắp
cơi hư không, đến tận ngằn mé vị lai lợi
ích chúng sanh.
Nguyện
thứ bốn mươi bảy: Danh hiệu của con
cùng tận các cơi trong mười phương, không đâu
chẳng trọn khắp. Dẫu là nơi pháp đă diệt,
danh hiệu của con chẳng diệt, luôn khiến cho
người nghe, xưng niệm đều được
giải thoát.
Nguyện
thứ bốn mươi tám: Sắc thân của con vi diệu
tột bậc, dùng
các tướng đại nhân nhiều như số cực
vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết
cơi Phật để tự trang nghiêm. Mỗi tướng
đều có các tùy h́nh hảo số nhiều bằng số
cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả
thuyết cơi Phật. Mỗi hảo có quang minh nhiều bằng số
cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả
thuyết cơi Phật. Mỗi quang minh có màu sắc nhiều
như số cực vi trần trong bất khả thuyết
bất khả thuyết cơi Phật, trang hoàng cơi nước,
vang ra các âm thanh nhiều
như số cực vi trần trong bất khả thuyết
bất khả thuyết cơi Phật, tuyên dương diệu
pháp, tỏa ra hương, hoa, thức ăn, y phục, các
vật cúng nhiều như số cực vi trần trong bất
khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật để
cúng trọn khắp hết
thảy. Hiện các hóa Phật nhiều như số cực
vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết
cơi Phật, giáo hóa hết thảy. Mỗi vị Phật có
các hóa Bồ Tát nhiều như số cực vi trần
trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật.
Mỗi vị Bồ Tát thù thắng trang nghiêm như số
cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả
thuyết cơi Phật. Mỗi thứ trang nghiêm thực hiện
Phật sự rộng lớn nhiều như số cực
vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết
cơi Phật. Mỗi sự sẽ
lợi ích chúng sanh trong các thế giới
nhiều bằng số
cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả
thuyết cơi Phật. Hễ có ai thấy một Phật sự,
sẽ được thấy sắc thân vi diệu của
con. Người thấy thân con sẽ có thể cùng con b́nh
đẳng, sẽ có thể nhanh chóng được thành
Phật.
* Văn phát thệ thọ
Bồ Tát giới
(ngày Hai Mươi Hai tháng Chạp
năm Giáp Tư (1624), tức năm Thiên Khải thứ tư)
Đối với giới phẩm
như thế, con nay đối
trước hết thảy Tam Bảo, thệ nguyện thọ
tŕ, tu học cho đến tột cùng ngằn mé vị lai
chẳng hề xả ĺa. Giả sử do nhân duyên tŕ giới,
trăm ngàn vạn kiếp luôn bị khốn
khổ, thề chẳng v́ khổ sở mà thoái thất
đạo tâm ngày nay. Giả sử do nhân duyên phá giới,
trăm ngàn vạn kiếp luôn hưởng an lạc, thề
chẳng v́ vui sướng mà thoái thất đạo tâm ngày
nay. Do công đức học giới này, nguyện con và chúng
sanh, các tội từ vô thỉ đều trọn tiêu diệt.
Nếu hết thảy chúng sanh do định nghiệp sẽ
thọ báo, con đều chịu thay. Trọn khắp các quốc
giới nhiều như vi trần, trải qua các đường
ác, trọn chẳng nhàm chán, hối hận, khiến cho
chúng sanh thành Phật đạo trước! Nguyện con
đă phát chân thật, chẳng dối. Nguyện mười
phương Tam Bảo nay sẽ v́ con
chứng minh, khiến cho đạo tâm của con ngày
đêm tăng trưởng, biển trí Văn Thù niệm niệm
thanh tịnh, biển
hạnh Phổ Hiền niệm niệm viên thành. Sau khi mạng
chung, sanh trước chư Phật. Chứng ngộ vượt
thoát ḍng mê, cùng lên bờ giác. Hư không có cùng tận, nguyện
của con vô cùng!
* Lời nguyện trích
máu chép kinh
(năm Mậu Tuất[57])
Bồ
Tát giới đệ tử Trí Húc trích máu từ lưỡi
chép kinh, luật Đại Thừa,
trước
hết, đối trước Tam Bảo,
đốt mười hai lọn hương trên cánh tay,
phát mười hai nguyện. Nguyện vong phụ và từ
phụ từ vô thỉ sẽ đoạn vô thỉ ngă chấp,
sanh về lạc độ, được Phật thọ
kư. Nguyện vong mẫu và bi
mẫu từ vô thỉ sẽ đoạn
căn bản phiền năo, sanh trong hoa sen, được Phật
thọ kư. Nguyện những người cùng hạnh trong
hiện tại và hết thảy chân thiện tri thức
trong quá khứ đều viên măn Bồ Đề trước.
Nguyện khắp pháp giới chúng sanh phá hai chấp (ngă chấp
và pháp chấp), đoạn các khổ, được thân
kim cang, thanh tịnh ba giới tụ, viên măn chánh định,
chứng thật huệ, phát Bồ Đề tâm, đắc
bất thoái chuyển, quy vô thượng giác. Đem các nhân
duyên thiện lực phát tâm trên đây thí trọn khắp
pháp giới, cùng hiểu rơ vô nhị, vô sanh, vô đắc,
vô tác, vĩnh viễn ĺa hư vọng, sẽ chứng
thường lạc.
* Văn hồi hướng
chép kinh Phật Danh
Tỳ-kheo
Trí Húc chép kinh Phật Danh xong, đốt hương phát
nguyện: Ba nén hương cúng dường Tam Bảo
như thế, nguyện cùng pháp giới chúng sanh, nối tiếp
hưng thịnh chủng tánh Phật, nhập trí huệ tạng,
vào cửa giải thoát. Sáu nén hương sám hối tội
nơi sáu căn, nguyện cùng pháp giới chúng sanh, thường
thấy sắc thân Phật, nghe pháp âm, ngửi hương
pháp, tuyên pháp vị, mặc áo hổ thẹn, ngộ Như
Lai tạng. Hai nén hương cầu cho cha mẹ, thân duyên[58],
nhân dân trong đất nước, vào trong chín phẩm bào
thai sen, được phước Tam Bảo chở che. Bốn
nén dâng thường trụ Tăng-già,
ḥa hợp thuyết giới. Tịnh nghiệp thiện hữu
giữ nghiêm ngặt Tỳ Ni thanh tịnh. Thanh chúng trong Thiền
đường huân tu Đại Thừa. Các vị sư
chức sự tên đề nơi nhụy sen. Ba nén nguyện
che chở các vị tỳ-kheo X… và hết thảy các bạn
lành thân thể mạnh khỏe, tài lộc dồi dào, chân
chánh hướng đến Bồ Đề. Công đức
như thế, thí trọn khắp hàm linh cùng sanh về An
Dưỡng.
* Lời nguyện trích
máu v́ ngài Tuyết Hàng Trí Tiếp giảng Luật
Mùa
Xuân năm Kỷ Tỵ (1629) đời Sùng Trinh, ngày Rằm
tháng Giêng, Bồ Tát giới tỳ-kheo Trí Húc v́ đồng học
là tỳ-kheo Trí Tiếp, giảng Tứ Phần Giới Bổn[59],
đốt mười lọn
hương, phát mười đại hoằng nguyện.
Một là nguyện hết thảy chúng sanh trong địa
ngục thuộc pháp giới cùng được giải
thoát, vĩnh viễn chẳng hứng chịu khổ quả,
vĩnh viễn chẳng tạo nhân. Hai là nguyện hết
thảy ngạ quỷ đạo đều
cùng được giải thoát. Ba là
nguyện hết thảy súc sanh đạo cùng được
giải thoát. Bốn là nguyện hết thảy A Tu La xả
tập khí kiêu mạn. Năm là nguyện hết thảy
loài người phát Bồ Đề tâm. Sáu là nguyện hết
thảy thiên đạo vĩnh viễn đoạn các lậu.
Bảy là nguyện hết thảy Thanh Văn hồi Tiểu
hướng Đại. Tám là nguyện hết thảy Bích
Chi Phật
phát khởi đại bi. Chín là nguyện
hết thảy Bồ Tát dứt hết nguồn vô minh.
Mười là ngưỡng nguyện hết thảy Như
Lai càng tăng pháp lạc.
Lại nguyện do công
đức này khiến cho đạo hữu Trí Tiếp gột
sạch tri kiến thói tục, dẹp trừ tà tư luông
tuồng, sắt son gánh vác chánh pháp, chẳng tiếc thân mạng,
thật sự khăng khăng thương xót chúng sanh, khéo
có thể độ thoát. Kể từ vô thỉ cho tới
ngày hôm qua, tất cả hết thảy ác nghiệp đáng
phải thọ báo [của thầy Trí Tiếp], Trí Húc đều
xin chịu thay, khiến được giải thoát. Tất
cả hết thảy thiện nghiệp đáng phải
hưởng báo, đều thí khắp pháp giới
chúng sanh cùng thành Chánh Giác. Từ nay trở đi, chấp
tŕ giới cấm, chẳng vướng vào trần nghiệp,
ǵn giữ nghiêm ngặt
oai nghi, chẳng tổn hại loài trùng bọ, dựng diệu
tràng chánh pháp, làm khuôn phép cho trời người. Lại
nguyện Trí Húc luôn trong ba ác đạo tận hư không,
khắp pháp giới, thay cho trọn khắp chúng sanh chịu
vô lượng khổ, trải qua biển bất khả
thuyết bất khả thuyết vi trần kiếp, nếm
đủ khổ sở, trọn chẳng chán ngán, hối hận,
khiến cho pháp giới chúng sanh, không một ai chẳng
thành Phật rồi con mới giải thoát. Do công đức
phát tâm, phát nguyện này, ngưỡng nguyện chư Phật
đại từ gia bị, đại bi cứu vớt,
khiến cho mỗi chữ đều phóng vô lượng
quang, mỗi mỗi quang chiếu sáng vô
lượng cơi. Trong khoảng một niệm, đều
trọn khắp pháp giới, thí trọn khắp chúng sanh
pháp lạc rốt ráo, hữu t́nh và vô t́nh cùng viên măn Chủng
Trí.
* Lời tác bạch
trước khi tŕ chú
Trí
Húc cúng dường năm lọn hương đốt
trên cánh tay, nguyện tŕ Diệt Định Nghiệp chân
ngôn một trăm vạn lượt, các chân ngôn Quán Âm Linh
Cảm, Thất Phật Diệt Tội, Dược Sư
Quán Đảnh, Văng Sanh Tịnh Độ, mỗi thứ
mười vạn lượt. Kế đó, sẽ kết
đàn, tŕ chú Đại Bi mười vạn lượt.
Lại đốt ba lọn hương cúng dường các
vị chứng minh tỳ-kheo như các vị Quảng Hạo
v.v… Mỗi vị như thầy Quảng Hạo đều
đốt ba lọn hương để tùy hỷ trợ
phát, nguyện chánh pháp của Như Lai phục hưng, tệ
đoan thời Mạt trừ sạch, quang minh, thọ mạng
xứng tánh lượng mà vô
lượng, phước đức, trí huệ bằng với
hư không mà chẳng không, cùng trọn khắp hàm linh chúng
sanh cùng sanh An Dưỡng.
* Kệ lễ tháp
Đại Báo Ân
(mười lăm người cùng
đốt hương)
Đảnh
lễ đại bi kiên cố tạng, diệu bảo tháp
hiện khắp sắc thân, hễ cầu cảm ứng chẳng
nghĩ bàn, xót thương chúng con lũ quần sanh. Nguyện
phóng quang minh đại vô úy, trừ diệt sợ ác đạo
cho con. Ra vào du hư trong sáu đường, sẽ độ
thoát hết thảy như huyễn. Nguyện phóng quang minh
đại thanh tịnh, trừ nhơ phá giới cho chúng
con. Tỳ Ni nghiêm tịnh thanh lương nhất, dứt
nóng phiền năo khắp sáu đường. Nguyện phóng
tam-muội đại quang minh, trừ tạp loạn
tưởng của
chúng con, chiếu soi pháp giới chẳng
phân biệt. Khởi các đại thần thông vô tác. Nguyện
phóng trí huệ đại quang minh, khiến con hết sạch
vô minh lậu. Nguyện phóng quang minh đại như ư, khiến
con tùy tâm được măn nguyện. Dùng đấy
khơi gợi kẻ tối tăm, khiến đều
hoan hỷ khởi thâm tín, hộ tŕ chánh pháp măi bất diệt.
Thật nghĩa hừng hực rạng ngàn
đời. Thà chịu thân nát như vi trần, trọn chẳng
lui bỏ Bồ
Đề nguyện. Thà cho muôn đời chịu các khổ,
trọn chẳng quên mất tâm đại bi. Chỉ nguyện
Tam Bảo và trời, rồng, chứng biết hoằng thệ
nhiếp thọ con.
* Lời khải bạch
xin cứu
bạt nhân dịp ba năm giỗ mẹ
Kính
lễ mười phương Tam Bảo, A Di Đà Phật
và hai vị Đại Sĩ, thanh tịnh hải chúng. Lại
lễ hiện tiền chân thật thiện hữu, đều
cùng khải thỉnh. Lại nguyện dùng sức từ thiện,
tâm xót thương cứu giúp, v́ vong mẫu của con là
ưu-bà-di Kim Đại Liên tùy ư lập công khóa tŕ tụng
kinh chú, xót thương khiến cho mẹ con chưa sanh Tịnh
Độ, sẽ quyết
định được sanh. Đă sanh Tịnh Độ,
chắc chắn thấy Phật. Nếu đă thấy Phật,
tăng trưởng phẩm vị. Mẹ bỏ đứa
con không xứng đáng này đă ba năm, con tự xét ḿnh
chẳng có đức để có thể báo đền, thật
hổ thẹn sâu xa, đau đớn tự hối hận,
tự trách. Đă phụ bạc hiếu đạo thế
gian, lại trái nghịch điều vốn mong mỏi
nơi đạo xuất thế. Nếu
chẳng do được các bạn dắt
d́u, sợ sẽ gây thành phiền lụy sâu xa cho mai sau. Chỉ
nguyện rộng mở Bồ Đề tâm, rộng khai Bồ
Đề nguyện, rộng hành hạnh Bồ Đề,
v́ khắp pháp giới chúng sanh, cha mẹ nhiều đời,
thân duyên trải nhiều kiếp, vận ḷng từ vô duyên, khởi tâm bi đồng
thể, khiến cho một kinh, một chú công huân lan khắp
các cơi nhiều như cát, phước bằng với hư
không. Nguyện Trí Húc là người được giải
thoát cuối cùng, thấy trọn hết thảy chúng sanh
đều được
giải thoát trước. Ngưỡng mong mười
phương Tam Bảo, Tịnh Độ thánh hiền, hiện
tiền thiện hữu nhiếp thọ, cứu hộ.
* Bài văn v́ mẹ
phát nguyện, hồi hướng
Bồ
Tát giới tỳ-kheo Trí Húc nhất tâm quy mạng pháp giới
Tam Bảo. Lại v́ vong mẫu là ưu-bà-di Kim Đại
Liên. Nay là ngày mùng Một tháng Sáu, mẹ đă qua đời
ba năm, con kính đốt bảy lọn hương trên
cánh tay, cúng dường mười phương Tam Bảo,
Thích Ca Văn Phật, Văn Thù, Phổ Hiền v.v… các vị
đại Bồ Tát, A Di Đà Phật, Quán Âm, Thế Chí
v.v… các vị đại Bồ Tát, Địa Tạng Đại
Sĩ và mười phương chư đại Bồ
Tát, hiện tiền thanh tịnh chân thật thiện hữu,
cùng cúng dường trọn khắp. Lại kính nhờ các
thiện hữu v́ mẹ con tụng các loại kinh chú (nêu
ra các vị tỳ-kheo, sa-di, và các Phật tử, tổng cộng
mười một người, hai khóa lễ sám, tŕ mười
sáu bộ kinh, hai vạn ba ngàn một trăm các chú phẩm,
bốn mươi ba vạn danh hiệu Phật, Bồ Tát,
cùng các kinh tự tŕ mười hai bộ, lễ tam thế
tam thiên Phật. Chẳng sao lục [chi tiết] vào đây).
Nguyện tội nhân,
khổ quả của mẹ hết sạch chẳng c̣n
sót, chủng tử trí huệ, nền phước đều
trọn đủ chẳng giảm, ngộ pháp giới tạng
thân, nhập biển hạnh Phổ Hiền. Trí Húc lại
v́ cha mẹ, cho đến thân duyên nhiều kiếp,
cũng v́ hiện tiền thiện hữu, tất cả
thân duyên bao kiếp, cho tới khắp pháp giới chúng sanh,
đều v́ họ quy y sám hối, phát hoằng thệ nguyện:
Chúng sanh trong cùng tận pháp giới từ vô thỉ đến
nay, hết thảy tội giết chóc nguyện được
tiêu trừ. Từ nay trở đi, chẳng c̣n tạo nữa.
Nếu do định nghiệp, đáng đọa núi
đao, rừng gươm v.v… Trí Húc đều trọn khắp
chịu thay, khiến họ được an trụ trong
đại bi. Hết thảy tội trộm cắp đều
tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp
đáng hứng chịu tra khảo, bức bách, đền
trả, Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến
họ thành tựu đại xả. Hết thảy dâm tội
tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định nghiệp
đáng hứng chịu giường sắt, cột đồng
v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến
họ được viên măn phạm hạnh. Hết thảy
tội vọng ngữ tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa.
Do định nghiệp đáng hứng chịu rút lưỡi
kéo cày v.v... Trí Húc đều trọn khắp chịu thay,
khiến họ chứng pháp chân thật. Hết thảy tội
uống rượu tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa.
Do định nghiệp đáng hứng chịu sông tro, phân
sôi v.v…Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến
họ được đại trí huệ. Hết thảy
tham tội tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa. Do định
nghiệp đáng hứng chịu băng cứng rét buốt
v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến
họ được vĩnh viễn thanh tịnh. Hết
thảy sân tội tiêu trừ, chẳng c̣n tạo nữa.
Do định nghiệp đáng hứng chịu lửa dữ
thiêu đốt v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu
thay, khiến họ phát khởi đại từ. Hết
thảy si tội tiêu trừ, lại trọn chẳng tạo
nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu
đui, điếc, ngu bướng v.v… Trí Húc đều trọn
khắp chịu thay, khiến họ được trọn
đủ Bồ Đề. Hết thảy các tội
như trần sa đều tiêu trừ, chẳng c̣n tạo
nữa. Do định nghiệp đáng hứng chịu
đủ mọi nỗi khổ nhiều như cát, bụi
v.v… Trí Húc đều trọn khắp chịu thay, khiến
họ đạt tới Niết Bàn rốt ráo.
Do công đức này, lại
nguyện hết thảy địa ngục đạo
được an lạc, hết thảy loài ngạ quỷ
được no đủ, hết thảy loài súc sanh
được giải thoát,
hết thảy hàng Tu La chứng từ nhẫn, hết thảy
loài người ngộ Vô Sanh, hết thảy thiên chúng hết
sạch các lậu, hết thảy hàng Thanh Văn phát đại
nguyện, hết thảy hàng Duyên Giác khởi đại
bi, hết thảy hàng Bồ Tát măn Bồ Đề, hết
thảy các đức Như Lai tăng pháp lạc. Lại
nguyện hiện tiền bốn vị tỳ-kheo tăng
trưởng thọ mạng, tăng trưởng đại
bi, khai phát trí sâu, huệ nhăn sáng ngời. Bốn vị Phật
tử hết sạch hết thảy tập khí, mau viên măn
phạm hạnh. Ba vị sa-di giới căn vĩnh viễn
thanh tịnh, gạt bỏ các sân và lao chao. Lại nguyện
Trí Húc đời đời chốn chốn thường
được thừa sự, cúng dường hết thảy
các thiện hữu. Thiện hữu thành Phật, [Trí Húc] sẽ
làm ảnh hưởng chúng cho đến tột cùng ngằn
mé vị lai, chẳng thấy nhọc nhằn. Ngưỡng
mong pháp giới Tam Bảo đại từ che chở,
đại bi cứu vớt, khiến cho nguyện của
con mau được trọn đủ, cùng với trọn
khắp các hàm thức chúng sanh cùng viên măn Chủng Trí.
* Lời nguyện tŕ
chú Chuẩn Đề
Trí
Húc trước kia đă nương theo mười hai nguyện,
đốt mười hai nén hương, tán tŕ[60]
chú Chuẩn Đề một trăm hai mươi vạn
lần. Nay kết lại thành ba nguyện, đốt ba nén
hương, kết đàn tŕ chú ba mươi vạn.
1) Một là nguyện
thật nghĩa của Tỳ Ni rạng ngời giữa trời,
Giáo, Quán, Thiền Na trừ sạch thói tệ lưu hành,
cùng thấy Linh Sơn nghiễm nhiên, cùng mong gởi chất
nơi Tịnh Độ.
2) Hai là nguyện chỉnh
lư Đại Tạng, rạng ngời huệ mạng của
Phật, Tổ, cứu chuộc chúng sanh, gieo duyên Từ khắp
pháp giới.
3) Ba là nguyện học
vô biên pháp môn, tận cùng nguồn tâm Chánh Giác, rốt ráo ngằn
mé biển pháp, chiết phục, phế trừ các thứ
ma kiến khác, dẫn dắt mọi căn cơ bất
đồng trong vạn hữu. Người khen ngợi giới,
hoặc khen ngợi, lắng nghe, không ai chẳng nắm vững
chân thuyết, dù là nơi tu Thiền hay chốn tu Tịnh,
không đâu chẳng chuyển pháp luân chân chánh.
Ba nguyện như thế,
chẳng v́ cầu danh lợi, an lạc cho chính ḿnh, xuất
sanh tử, chứng Bồ Đề, v́ khắp pháp giới
chúng sanh cùng trọn đủ mười hiệu Như
Lai, chứng tứ đức Niết Bàn, đạt tới
chỗ an ổn rốt ráo, vượt thoát hai loại khổ
sanh tử (phần dị và biến dịch), trọn vẹn
quả Tứ Trí Bồ Đề[61],
sống trong cơi Tịch Quang thượng thượng.
Ngưỡng mong pháp giới Tam Bảo, Đại Chuẩn
Đề Vương khiến cho con mau được thỏa
sở nguyện, đến tột cùng ngằn mé vị
lai, hành diệu hạnh Phổ Hiền, mặc giáp đại
thệ của đức Địa Tạng. Chúng sanh chẳng
độ trọn hết, sẽ chẳng nhập Niết
Bàn.
* Kệ lễ ṭa
điện Đại Bi bằng đồng
Đảnh
lễ đấng Đại Bi viên măn, từ tâm phủ khắp
cơi hư không. Sức oai thần tổng tŕ mầu nhiệm.
Người tụng cầu ǵ đều thỏa nguyện,
con vốn nương vào sức chú sanh[62].
Trong mộng, cha con từng giác ngộ. Thuở bé, con tŕ
trai nghiêm túc, mộng cảm Đại Sĩ từng triệu
vời. Con
do vô thỉ ác nghiệp duyên, mù,
thiếu huệ nhăn,
theo tà giáo, phá trai, hủy Phật, báng
Đại Sĩ. Đại Sĩ vẫn luôn thương
xót con. Không ǵ diệu đức ngầm gia bị, khiến cho
con rốt cuộc tin kiên cố. Con nay đă phát Bồ
Đề tâm, thề mất thân mạng tŕ chánh pháp. Xót xa
chướng nặng, Hoặc nghiệp sâu, luôn cách bi tướng
của Đại Sĩ. Tam lậu, tam cấu[63]
thường hừng hực, tam đức[64],
tam thân luôn phủ lấp. Con nay xót xa, phát ḷng thành, nguyện
cầu Đại Sĩ luôn xót cứu. Dẫu con trót có vô
biên tội. Đại Sĩ có thể tiêu diệt hết.
Tuy thiện căn con chẳng thù thắng, Đại
Sĩ hay khiến đều trọn đủ. Con đốt
cánh tay mười lọn hương, cúng dường
Đại Sĩ thân thập giới, tụng tŕ thần
chú đủ mười vạn, sám trừ mười ác
nghiệp vô thỉ. Nguyện con măi đoạn mười
ác nghiệp. Nguyện con rốt ráo mười thiện
nghiệp. Hoằng thệ của Đại Sĩ Địa
Tạng, mười phương Bồ Tát vi trần nguyện,
con đều tùy thuận tu tập trọn, đại
thánh oai thần nhiếp thọ con.
* Văn khải bạch
khởi sự tŕ chú
Quy
mạng pháp giới Tam Bảo, các vị thần
vương hộ chú, nguyện tỏ lộ từ oai, rủ
ḷng chiết phục, nhiếp thọ. Trí Húc trước
kia đă tŕ các loại thần chú, hiềm rằng chướng
duyên sâu dày, phiền năo nặng, đục, vẫn xen tạp
tưởng, thường phạm oai nghi, khắc kỷ,
phản tỉnh, thật sự càng thêm thẹn thùng, sợ
hăi. Do vậy, lại sanh ḷng bi thiết, lại dốc ḷng
chân thành, sửa ư, gột ḷng, gạt bỏ lỗi trước,
phát khởi tâm sau, đốt bảy lọn hương,
cúng bảy già-đà, bắt đầu từ ngày Mồng Một
tháng Mười Một, hằng ngày thề tŕ bảy biến
chú Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm. Lại
theo thứ tự tŕ đủ các chú. Kế đó, đốt
ba lọn hương cúng dường các chú chân ngôn của
đức Địa Tạng, thuận thời theo thứ
tự cúng dường, đem ḷng xót xa này ắt cầu
xin gia bị. Lại nguyện giới căn vĩnh viễn
thanh tịnh, Định
Huệ
tṛn sáng, rộng hóa độ chúng sanh, hàm thức chúng sanh
đều về Tịnh Độ.
* Văn khải bạch
Tam Bảo vào đêm trừ tịch[65]
năm Kỷ Tỵ (1629)
Bồ
Tát giới tỳ-kheo Trí Húc đă duyệt Luật Tạng
lần thứ ba xong, kính cẩn đốt ba lọn
hương trên cánh tay, cúng dường Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni, ba ngàn vị Phật trong ba kiếp[66],
hết thảy Phê Nại Da (Vinaya, Tỳ Nại Da, Luật
Tạng) làm đầu, và hết thảy
tôn pháp, Di Lặc Bồ Tát, tôn giả Ưu Ba Ly, và các đại
sư hoằng Luật tại Tây Thiên,
Đông Độ. Lại c̣n đốt ba lọn
hương thay cho các vị đồng học X… cúng dường Tam Bảo. Kính nghĩ
sau khi chư Phật nhập diệt, lấy Giới làm thầy,
chỉ có đúng như lời dạy mà tu hành, th́ gọi
là “chánh pháp trụ thế”. Nay đang lúc mạt vận,
chuyên đua nhau chuốc lấy hư danh, đối với
kinh biệt giải thoát, hiếm người biết rơ
đầu mối! Hành pháp Yết-ma, chẳng hiểu khuôn
phép. Văn tự pháp sư, cuồng vọng Thiền khách,
cùng là “trùng
trong thân sư tử”,
mang h́nh dạng, ăn mặc như sa môn, dê con[67]
tŕ luật, khiến cho đến nỗi ma quân xâm phạm,
khinh nhục. Do vậy, phát trọn tâm thù thắng, thề
siêng thủ hộ.
Ngưỡng nguyện chư Phật, Bồ Tát, ứng thế
thánh hiền, dùng bổn nguyện đại bi, cứu vớt,
chiết phục, nhiếp thọ, khiến cho chúng con
vĩnh viễn dứt bặt cái tâm lần khân, cẩu thả,
nhanh chóng tụ hợp, nắm giữ sức khuông phù, cứu
tế, lại giúp Đệ Nhất Nghĩa Thiên, khiến
cho vầng mặt trời giới luật
nơi
pháp lại tỏa sáng, chiếu rạng tam
đồ ḥng dứt
khổ, che chở lục đạo
thường an ổn, sửa sang cho ba nghiệp thanh tịnh,
khế hội Tịch Quang, chứng trọn năm thân[68],
dạo khắp các cơi nhiều như vi trần!
* Hai bài Sớ Tổng
và Biệt trong lễ sám khi duyệt Luật
1)
Chúng con quy mạng Tam Bảo, và những vị đồng
hạnh hiện tiền. Lại nghĩ “lấy Giới làm
thầy”
là sự răn dạy sáng suốt tối hậu. Do Giới
sanh Định, [đó là] nền tảng vô lậu ban đầu.
Xót cơi đời tranh nhau xé nát giềng mối, mừng rằng
ḿnh hăy c̣n gặp chánh giáo, bèn phát
trọn hoài băo thù thắng, đồng ḷng giở xem [Luật
Tạng], kiểm duyệt sắp xong. Sám-ma (sám hối) phát
nguyện, tỳ-kheo nhận thẻ[69].
Đốt ba lọn hương trên đỉnh đầu,
mười bốn lọn trên cánh tay. Trí Húc thắp hai
mươi tám lọn hương, Tánh Hoằng đốt mười lọn hương trên cánh tay,
Đạo Viện đốt bốn lọn hương
trên cánh tay, cùng với các vị X… đều v́ tứ ân, tam hữu,
pháp giới chúng sanh, dấy
ḷng Từ vô duyên, vận ḷng
Bi đồng thể, bằng với tâm chư Phật,
phát lời thề vô tác, ân cần tu Từ Bi Đạo
Tràng Sám Pháp (Lương Hoàng Sám), ngưỡng nguyện hết
sức xót thương, cứu giúp rộng
răi, vớt chúng con khỏi trầm luân trong kiếp trược,
thần lực ngầm giúp, ban phước huệ cho kẻ
sơ tâm, xiển dương tông chỉ bí mật của Tỳ
Ni, Thiền Na và Giáo Quán đều rạng ngời, [tạo
thành] kế sách to lớn để đạt đến
địa vị Bổ Xứ Phật, kẻ ám chứng lẫn
câu nệ kinh văn đều lẩn khuất, người
thấy nghe đều thật sự tùy hỷ, người
tu tập, học theo sẽ có thể thật sự tu tŕ,
phù hợp với sự nhiếp thọ của đức
Di Đà, lănh bằng khoán trang nghiêm Tịnh Độ!
2)
Kính lễ Tỳ Nại Da, vô lậu thanh tịnh tạng.
Kiến lập và hoằng thông, cùng hành giả tu tập,
đúng như lời đă dạy, con nay v́ chính ḿnh,
cũng v́ các hàm thức, tổng tập và chú thích [những
điều trọng yếu trong Luật Tạng] thành sách Tập Yếu, kính
mong rủ ḷng xót thương nhiếp thọ. Trí Húc và pháp
giới chúng sanh từ vô thỉ đến nay, mê muội
tánh tịch diệt, mở cửa hữu lậu, bỏ
thành giải thoát, tạo tội tam nghiệp, hoặc chẳng
biết thánh giới, hoặc đă thọ mà chẳng tŕ,
cô phụ ơn Phật, hao tổn phước huệ, đến nỗi
thân lắm bệnh khổ, tâm quẩn quanh trong ngu muội,
tối tăm. Sanh nhằm lúc mạt vận, ma quân trọn
khắp cơi đời, may sao được hưởng
ḷng Từ sâu xa,
được thấy thánh giáo. Lại nhờ mảy
may điều thiện, hơi thấu đạt nghĩa
lư. Do vậy, phát tâm hộ
pháp, lập nguyện hoằng thông.
Lại do nghiệp nặng,
chướng sâu, đức nông, giải cạn, xiết
bao hổ thẹn, xót xa ngưỡng vọng gia tŕ. Đốt
ba lọn hương, v́ khắp quốc vương, tể
phụ, cha mẹ, thân duyên, tín thí đàn việt, hộ
pháp, cúng dường mười phương pháp giới vô
tận Tam Bảo. Lại c̣n đốt hai mươi
lăm lọn hương, cúng dường Bổn Sư
Thích Tôn, nguyện chánh pháp tồn tại lâu dài, quá khứ
thất Phật, nguyện giới pháp lưu truyền.
[Cúng dường] A Di Đà đạo sư, nguyện cùng
sanh Tịnh Độ. [Cúng dường] Lưu
Ly Quang Phật, nguyện viên măn Thi La. A Dật Đa Từ
Thị, nguyện thường đến dạy bảo.
Ba mươi lăm vị Phật, nguyện ngăn chướng
tiêu trừ, và cúng Quán Hư Không Tạng Kinh, nguyện giới
thân thành tựu. Tỳ Ni pháp tạng, nguyện lỗi phạm
măi sạch, và cúng Hư Không Tạng
Bồ Tát, nguyện diệt trừ trọng tội. Địa
Tạng Bổn Tôn, nguyện chuyển định nghiệp
của con. Văn Thù, Phổ Hiền các Đại Sĩ,
nguyện trí hạnh viên măn. Quán Âm, Thế Chí chư Đại
Sĩ, nguyện nhiếp về Cực Lạc. Dược
Vương, Dược Thượng các Đại Sĩ,
nguyện tu pháp cúng dường. Kim Cang Tạng, Chuẩn
Đề Tổng Tŕ Vương các Đại Sĩ, nguyện
đắc đại đà la ni. Ưu Ba Ly đại
sư, nguyện đắc luật nghi tối thượng.
Ca Diếp, A Nan tôn giả, và các đại pháp sư phiên dịch,
thọ tŕ, nguyện du hóa vô ngại, và cúng Đạt Quán Chân Khả[70]
đại sư, báo ân đức khắc in Đại Tạng,
chấn hưng đức hạnh
Tăng phong. [Cúng dường] ḥa
thượng Liên Tŕ Châu Hoằng, báo đáp ân di quy dạy bảo,
[cúng dường] sư tổ Hám Sơn Đức Thanh, báo
đền sơ duyên phát tâm và đức nhiếp thọ
trong mộng. [Cúng dường] ngài Tuyết Lănh Tuấn, báo
ân thế độ.
[Cúng dường] pháp sư Cổ Đức Đại
Hiền, báo đức chứng minh học giới.
[Cúng dường] thiền sư Vô Dị Đại Nghị,
báo đáp duyên khuyên lơn, tán thán khắc in. Sư huynh Bích
Như Hạo,
sư huynh Quy Nhất Trù, báo đáp sức tham khảo, giảo
đính, cân nhắc để san định, sáu vị
sư hiện tại, hết thảy thiện hữu đồng
hạnh trong vị lai, nguyện cùng nâng đỡ
pháp vận. Thầy Quư Hiền Hiến, thầy Tịnh
Không Diệu, các vị tri thức ngoại hộ, nguyện
cùng vào ḍng pháp. Kính nguyện hết thảy chúng sanh ngộ
môn viên thông, chứng vương tam-muội, phá tan ṿng hai
mươi lăm hữu, hiển lộ hai mươi
lăm ngă tánh, cùng nhập Liên Bang, đều thành Phật
đạo.
* Bài khải cáo an
cư bàn luận Luật
Đảnh
lễ Chân Như thanh tịnh tánh, tu tập viên măn trọn
đủ, chẳng tổn giảm. Các công đức thuộc
địa vị Học, Vô Học, cùng người chuộng
phạm hạnh với tôi, nguyện dấy tâm đại
bi đồng thể, thương đời đang trầm
luân, điên đảo, thẳng thừng tỏa rạng
chánh pháp Tỳ Ni tốt lành, phá trọn Hoặc nghiệp
khổ của chúng sanh. Đệ tử Trí Húc v́ khắp pháp giới chúng
sanh, v́ cầu chánh pháp luân Vô Thượng Bồ Đề
của chư Phật, chuyên tâm giở xem Tỳ Ni Tạng,
gom góp, biên soạn những lời dạy trọng yếu
để tiện học tập. Lại do nghiệp nặng,
phước nhẹ, chướng sâu, huệ cạn, nhiễm
tâm dễ lẫy lừng, tịnh đức khó thành tựu,
tánh tội ít giữ, giá tội phạm nhiều. Nói dường
như dễ dàng, hành thật khó khăn! Chưa đủ
sức để tự giữ yên, há mong lợi lạc
người khác! Do vậy, chuyên tâm thẹn hổ, triệt
để gắng đổi mới, đốt bốn lọn
hương, cúng dường Tam Bảo, thiện hữu,
phát mười loại thệ nguyện tăng thượng.
Trọn hết pháp giới chúng sanh, hễ có ai chưa xả
dâm nghiệp, chưa quên dâm pháp, chưa dứt dâm duyên, chưa đoạn dâm nhân, con
trọn chẳng giữ lấy Chánh Giác. Hễ có một ai
chưa xả nghiệp giết,
trộm, [đối với các nghiệp ấy] chưa quên
pháp, chưa tuyệt duyên, chưa đoạn nhân, con trọn
chẳng giữ lấy Chánh Giác. Hễ có một ai chưa
xả ngữ nghiệp nói dối, nói đôi chiều, ác khẩu,
nói thêu dệt, chưa quên pháp, chưa tuyệt duyên, chưa
đoạn nhân, con trọn chẳng giữ lấy Chánh
Giác. Hễ có một ai chưa xả nghiệp tham, sân, tà kiến,
chưa quên pháp, chưa tuyệt duyên, chưa đoạn
nhân, con trọn chẳng giữ lấy Chánh Giác. Chỉ nguyện
pháp giới Tam Bảo, do sức bổn thệ nguyện,
chứng biết thương xót, khiến cho con vĩnh viễn
trừ hắc nghiệp, tăng trưởng thiện pháp,
thiện hữu hài ḥa, thành tựu viên măn thanh tịnh!
* Nguyện văn cho
ngày giỗ thứ tư của mẹ
Kính
lễ đấng đại hiếu, pháp hiếu thuận
chí đạo, và hết thảy người cùng tu
hiếu đạo trong tam thừa. Con dùng tâm xót xa, khẩn
thiết, v́ mẹ lại phát nguyện. Nguyện thầy,
bạn trong pháp giới đều rủ ḷng xót
thương hộ tŕ. Trí Húc kể từ lúc tại gia
đă nhiều tập nhiễm, ḷng hiếu thuận thế
gian chẳng chân thật, bỏ từ mẫu khoác áo thâm,
mong quyết đắc quả để rộng tế
độ. Hiềm rằng Hoặc nghiệp chướng
sâu, huệ hạnh phước cạn, chưa dứt sạch
tam tâm[71],
chẳng
tuân thủ nhị lợi (tự lợi và lợi tha).
Đă thiếu bề phụng dưỡng, lại mặc
t́nh thọ dụng, thiếu nợ! Do vậy, càng thêm hổ
thẹn sâu đậm, giăi tấm ḷng son. Do từ mẫu
đă qua đời bốn năm, con tu xứng tánh vô tác tứ
thệ, khải bạch thiện hữu rủ ḷng bi đồng
thể, tu hạnh Tịnh Độ tăng thượng (liệt kê các tỳ-kheo,
sa-di, tịnh nhân là mười lăm người, cùng tŕ
các bộ kinh ba
trăm ba mươi sáu quyển, chú phẩm hai vạn ba
ngàn bốn trăm mười bốn lượt, niệm
danh hiệu Phật năm mươi mốt vạn sáu ngàn
câu, lễ một bộ Thiên Phật Danh Kinh, trong lời
nguyện đều chẳng chép rơ).
Trí Húc c̣n hướng về
mười phương Tam Bảo và hết thảy thiện
hữu, đốt chín lọn hương, mong cho chín giới
đồng quy, đem công huân này đều hồi hướng
cho cha mẹ con và thân duyên từ vô thỉ, cùng chứng Tịch
Quang, mau đạt tới Chánh Giác. Lại nguyện mười
vị đại tỳ-kheo hiện tiền viên măn hạnh
luân, hiểu rơ Giới thể, ĺa cái nhân hư
ngụy, phá kiến chấp thế tục, vun bồi huệ
mạng, từ tâm trọn khắp, xa ĺa ma sự, thoát khỏi
t́nh nhiễm, biện định rơ rệt tà chánh, giới
lẫn thừa đều gấp. Ba vị sa-di sớm khôi
phục giới thân, bẻ găy tràng kiêu mạn, trừ khử
tà kiến. Hai vị tịnh nhân[72]
ǵn giữ oai nghi, ĺa bạn ác. Lại nguyện các bằng
hữu, sanh thân phụ mẫu, thân duyên bao kiếp, cùng dạo
chơi thành Tứ Đức, đều vào đất nhị
nghiêm (phước trí trang nghiêm). Lại nguyện Trí Húc luôn
làm ảnh hưởng chúng cho các bạn hữu. Các bạn
hữu thành Phật, con sẽ thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh
họ trụ thế dài lâu. Sau khi họ diệt
độ, sẽ hộ tŕ chánh pháp, khiến cho cuối
đời Mạt [chánh pháp] lại được rạng
ngời, cho đến sẽ khiến cho hết thảy người chưa phát tâm
sẽ phát tâm, khiến người đă phát tâm sẽ thành
thục, khiến người đă
thành thục bèn chứng, trọn hết chúng sanh giới
đều thành Chánh Giác, con mới tự giữ lấy Bát
Niết Bàn. Ngưỡng nguyện Tam Bảo chứng minh,
nhiếp thọ.
* Lời khải thỉnh
tiến bạt [nhân ngày giỗ] mười hai năm của cha
Trí
Húc khóc ra máu đảnh lễ dưới ṭa các vị
đồng tu Tịnh nghiệp, thắng hữu thượng
thiện, kính v́ tiên nghiêm đă khuất núi mười hai
năm, ôm nợ xuất gia, vẫn chẳng thể tự
cứu. Ngày mồng Năm tháng Mười Một vốn thuộc húy nhật (ngày giỗ), tôi dự
định vào ngày Hai Mươi Chín tháng Sáu, đối
trước Tam Bảo, đốt ba lọn hương
trên cánh tay, cúng dường thiện hữu tri thức, khải
thỉnh [chư
vị] rộng vận dụng ḷng từ bi,
cùng rủ ḷng tế bạt, Phật danh, thần chú, kinh luật,
tùy ư thích mà thực hiện, công lan truyền
khắp các cơi nhiều như cát, quả tột bậc Pháp
Thân, xót xa cầu thỉnh, nghiêm túc kính lễ trọn khắp.
* Văn chú nguyện kết
đàn Thủy Trai tŕ chú Đại Bi
(ngày mồng Năm tháng Mười Một)
Trí
Húc tự xét chướng duyên sâu dày, huệ lực suy yếu, ít ỏi, hạnh
ô trược, mà lời lẽ ra vẻ thanh cao, thoạt
đầu siêng năng, rốt cuộc
biếng nhác, cô phụ ân nặng sanh
thành, phụ bạc lời dạy sáng suốt của Từ
Tôn. Bốn mươi tám nguyện chỉ đành nói suông,
mười hai điều mong cầu, há mong thật quả!
Lần lữa tháng ngày,
bệnh lẫn nghiệp đều tăng, hoài băo ơ hờ,
chí lẫn thân đều suy sụp. Xoắn tay, tự vấn,
kinh sợ, lo ngại, bứt rứt,
toan phục hồi dự tính cũ, mong
đạt được lợi ích mới. Nghĩ lại
Trí Húc, bảy tuổi kiêng thịt, chưa biết chánh nhân xuất
thế. Mười hai tuổi học Nho, bèn tạo nghiệp
nặng báng pháp. Lại nhờ thiện căn chưa dứt,
thường ngấm ngầm chuyển dời, được
đọc lời tựa của sách Tự Tri Lục. Kế
đó, ư bị xoay chuyển
bởi lời
đàm luận về sự cảm ứng tịch diệt,
lễ Dược Sư diệu điển, biết Phật
và thần khác xa. Nghe nhân xưa của ngài Địa Tạng,
biết noi theo dấu tích hiếu thảo. Đă ôm nỗi
đau xót tang cha, lại thiết tha mong mẹ được
sống lâu, chép Từ Bi Sám Pháp, dốc chí nơi Thi La (giới luật).
Nghe kinh Đại Phật Đảnh, quyết chí ĺa tục.
Bỏ mẹ, mặc
áo thâm, lập kỳ hạn mong chứng quả. Hiềm rằng
sức túc nhân yếu ớt, Hoặc
(phiền năo) hiện hành mạnh mẽ, hễ gặp
cảnh bèn sanh lắm nỗi trái ngang, đâm ra chẳng ra
tṛ trống ǵ! Lại
c̣n ưa nói lỗi người khác, ít kiểm điểm chính
ḿnh sai trái, thường coi rẻ
ưu điểm của người
khác, chẳng biết khuyết điểm
của chính ḿnh. Tuy luôn luôn phát nguyện, vẫn lắm
lượt lăng quên! Hoặc gắt gao tự trách rồi lại
lẩn quẩn chểnh mảng. Thân ngụp lặn nổi
ch́m theo sóng, sao có thể độ người? Tâm buộc
chắc mối tơ ái kiến, sao giải thoát cho ai? Do vậy,
giăi tấm ḷng son, truy cầu, bổ cứu nguyện
xưa, từ mùa Xuân năm Kỷ Tỵ, đă lập thệ
tụng tŕ. Cho đến giữa tháng Đông, lại khởi
công sửa lỗi
đổi mới. Tới
nay, tuy số lượt chú đă tŕ đủ, tâm vẫn
chưa tịnh, há chẳng càng thêm hổ thẹn ư? Càng
rất đáng đau buồn!
Kính đối trước Tam Bảo, Đại Bi Bồ
Tát, đốt mười lọn hương, kết
đàn bốn mươi chín ngày, kính
cẩn giữ trai giới chỉ uống nước,
chí tâm tŕ Đại Bi Viên Măn Thần Chú mười vạn
tám ngàn lượt, dùng công đức ấy để cầu
ắt được gia bị. Nguyện từ nay trở
đi, giới căn vĩnh viễn thanh tịnh, giá giới
và tánh giới chẳng khuyết, Định Huệ cùng tỏ,
tác dụng tịch tĩnh tự tại, dứt khổ tam
đồ, chín phẩm sen nở, cùng thấy hào tướng
(tướng bạch hào của Phật) to như núi Tu Di,
cùng viên măn pháp giới tạng thân.
* Văn hồi hướng
cho cha
(ngày tháng giống như trên)
Quy
mạng đấng vô thượng, cùng với pháp tịch
diệt, biển chúng tăng giải thoát, cùng rủ ḷng xót
thương hộ tŕ. Trí Húc hai mươi tuổi tang cha,
đă manh nha ḷng hiếu cảm. Hai mươi bốn tuổi
xuất gia, chưa sầu lo v́ nghiệp nam nữ, vốn
mong lợi khắp [chúng sanh trong các cơi nước nhiều
như] cát, bụi, há chỉ nguyện [thân thuộc] chín
đời được siêu thoát! Đáng tiếc nghiệp
chướng quấn sâu, chẳng thể đắc quả.
Nghĩ tới ân vơng cực, suốt ngày tiếc nuối.
Nay gom kinh chú của chính ḿnh và người khác (liệt kê: Niệm danh hiệu Phật,
Bồ Tát bảy mươi tám vạn tám ngàn câu, tụng
các bộ kinh một ngàn bốn trăm chín mươi mốt
quyển, các chú phẩm mười ba vạn tám ngàn năm
trăm hai mươi lượt, một bộ sám pháp, tự
tŕ các kinh bảy bộ, chú phẩm bảy vạn lượt,
danh hiệu chư Phật, chư Bồ Tát hai mươi
ba vạn câu, nhưng chẳng sao chép chi tiết vào đây).
Đốt ba lọn hương, cúng dường pháp giới
Tam Bảo. Kính nguyện
cụ Chung Chi Phượng mau siêu thăng cơi tịnh, sớm
ngộ Tịch Quang. Lại nguyện quá khứ phụ mẫu,
thân duyên vĩnh viễn ĺa vọng duyên, đều hiểu
thường lạc. Các thiện hữu đồng hạnh
hiện tiền cùng báo từ ân, cùng nhau bi ngưỡng, tán
dương Tam Bảo, chứng minh nhiếp thọ.
* Hai bài kệ phát khởi
đàn tụng chú Lăng Nghiêm và Hồi Hướng
(năm Tân Mùi -1631)
1)
Đảnh lễ đại từ bi, đấng cứu
hộ mạt kiếp. Con nghĩ khổ mạt kiếp,
phá giới là nặng nhất. Con nghĩ cách cứu khổ,
không ǵ hơn Luật Tạng. Nếu Tỳ Ni trụ thế,
chánh pháp măi chẳng diệt. Hạnh thành, quả ắt
đạt, giáo chẳng phải nói suông. Hoặc do sức
tŕ giới, mau thành đấng tịnh măn. Hoặc do tịnh
Thi La, nghiêm tịnh các cơi Phật, hoặc do biệt giải
thoát, làm Độc Giác, Thanh Văn.
Hoặc do sức thiện giới, sanh
Thiền và thiên đạo, thù thắng trong loài người.
Phước lạc, danh xưng tốt, quả
sai khác như thế, đều do giới đạt
được. Cận quả nói sai khác, rốt ráo quy Nhất
Thừa. Pháp thắng diệu như thế, nguyện v́ con
tỏa rạng, phổ độ trong đêm dài, chúng không
nơi nương cậy. Do vậy, dùng trăm ngày, đàn
thanh tịnh gởi thân, để tŕ chú viên măn, trọn
đủ mười vạn lần. Lại tŕ thêm một
vạn. Diệt Định Nghiệp năm vạn, cùng hồi
hướng Bồ Đề, cùng sanh cơi Cực Lạc. Chỉ
mong Tam Bảo tôn, chứng minh thương nhiếp thọ.
2)
Quy mạng Minh Hạnh Túc, đấng hiển mật thanh
tịnh, các tu tŕ thù thắng. Công
đức Học, Vô Học, con hổ thẹn
phát tâm, vào đàn tŕ thần chú. Nhiều lượt tâm c̣n tạp, oai nghi
cũng bất tịnh. Tâm lo sợ gấp bội, nguyện
phát, sự khó thành. Nên đốt mười lọn
hương, sám hối mười ác căn. Tŕ thêm một
vạn lần. Diệt Định Nghiệp năm vạn,
cũng đốt tay sáu lọn, gia bị nguyện xứng
tâm. Lại v́ mười một bạn, tŕ chú Diệt
Định Nghiệp, tổng cộng chín mươi vạn,
tay đốt hương bảy lọn. Lại chí tâm báo
ân, tâm truy tiến độ thoát,
những người
đă sớm khuất, tâm khuyến, chuyển, tùy hỷ.
Tâm trừ tà, lầm, bi cứu. Tâm rộng cứu bằng hữu.
Tâm v́ đàn hộ hoằng pháp. Tâm từ niệm duyên hội
xưa nay, muốn tŕ ba trăm hai mươi vạn. Tay
đốt hương bảy lọn, khiến
bảy tâm đều thành.
* Bài kệ hồi
hướng tŕ tụng (kế tiếp)
Kính
lễ đấng Thiện Thệ, vô thượng hiển
mật tạng. Tam thừa hiền thánh chúng. Địa Tạng
Diệt Nghiệp chú. Con do đại Bồ Đề, tối
sơ thanh tịnh tâm, lại v́ các bạn lành, tŕ bốn
mươi tám vạn. Nếu có bậc Thiền Tư, khéo
nhập các tam-muội, chẳng dấy tăng thượng
mạn, luôn tu thắng pháp nhẫn. Người tŕ kinh
đạt nghĩa, tu hành đúng lời dạy. Người
tạo phước tùy tâm, sợ tội nghiêm Phật thừa,
người trụ giới thêm sáng, đă phạm, chóng quy
chân. Chưa nắm giữ oai nghi, tôn trọng chánh pháp giáo.
Hoặc kẻ hủy trọng cấm, nguyện sanh thẹn
sâu xa. Nhổ trừ gốc phạm tội, mau
đạt lư Vô Sanh. Nay con đốt lọn hương,
cúng dường Tam Bảo tôn. Nguyện con và
hàm thức, diệt trừ hết thảy nghiệp. Lại
đốt ba lọn hương, sám hối ác tam nghiệp.
Từ nay thề măi đoạn, dấy vô tác thiện
căn. Kính vâng kinh Chiêm Sát. Gieo mộc luân quyết nghi,
cũng dùng diệu pháp này, lưu thông ích thế gian. Con thề
dùng thân tâm. Dâng lên Địa Tạng chủ, ở trong sát
trần kiếp, trụ măi trong các khổ, chịu khổ
thay chúng sanh, khiến họ thành Phật trước. Kiếp
thạch[73]
có thể dời, nguyện này trọn chẳng đổi.
Phước nghiệp con đă tu, sám hối, phát hoằng
nguyện, các thiện căn thù thắng, thể tánh đồng
pháp giới. Mỗi mỗi đều hồi hướng,
thí trọn các hàm thức, đều
nguyện chứng chân thường, cùng về cơi Tịch
Quang.
* Bài văn lễ Đại Bi Sám tại Long Cư
(năm
Nhâm Thân - 1632)
Quy
mạng thắng oai đức, dũng mănh Nhân Sư Tử,
sức bất cộng vô úy, đấng đại bi cứu
đời. Quy mạng đèn soi đời, pháp xuất yếu
chân thật, hiển mật chẳng nghĩ bàn, xé toạc
lưới ái kiến. Quy mạng cha chúng sanh, đấng từ
nguyện khôn sánh, trụ quả dạy nhân hành, đấng
trụ chẳng nghĩ bàn. Quy mạng Đại Minh
Vương, phẫn nộ hàng ma ngoại. Thắng từ
bi chân thật, điều phục kẻ khó điều.
Con nay phát hoằng nguyện, thề đoạn ác, tu thiện, đốt
bốn lọn hương, ở ngay trên đỉnh đầu,
trần bạch thân tâm ḿnh. Đệ tử Trí Húc tự
xét chướng duyên sâu nặng, tội lỗi lắm nỗi,
Hoặc nhiễm tràn trề, nghiệp lụy chồng chất.
Trước lúc quy y, tin tưởng, đă tạo vô biên tà
báng. Dẫu sau khi học đạo, vẫn bị vô lượng
khiên vưu quấn trói, ôm ấp chí tứ thệ, cố
nhiên muốn sánh bằng bậc triết nhân thuở trước.
Bảy chi thân khẩu[74]
thường khiến
tiền hiền thất vọng.
Trong th́ do sức yếu, cảm lấy duyên bên ngoài rối ren, dă can
(chó rừng) tranh đua gào hú
nơi đại địa, dê con khắp xứ trong cơi
đất. Không chỉ sữa lẫn nước[75]
khiến người uống thêm bệnh, lại c̣n dùng chất
độc làm thức ăn khiến người nếm
táng mạng. Do vậy, buốt ḷng nhức óc, xót xa tŕnh với
từ tôn, một kỳ phương tiện, ba thất
huân tu, nguyện ban cho lũ đui mù
mau viên măn phước huệ, chẳng hoại chánh giáo của
Như Lai, chớ phá nát tràng báu xuất thế. Nguyện những
người đồng
hạnh với con, cùng các đàn na, các vị hiền nhân
ngoại hộ, đại chúng thấy nghe, ai nấy giữ
vững chí sâu, cùng nỗ lực
nơi đại đạo của bậc thánh hiền thuở
trước, tánh tội lẫn giá tội
sạch làu, rốt ráo thanh tịnh, giữ nghiêm Thiên Tụ[76]
chẳng khuyết, ngộ nguồn chân vô tránh, trừ pháp
chấp vi tế, rống tiếng sư tử, diệt nỗi
ngu hư luận. Lại nguyện đại chúng hiện tiền
và khắp các hàm thức, các vật cần dùng cho cuộc sống,
nhân duyên học đạo, không ǵ chẳng thuận ḷng,
đều có thể măn nguyện, hóa Tam Độc thành tam
giải thoát, chuyển lục đạo thành lục thông,
thấy Tịnh Độ ngay trước mắt, chứng
Bồ Đề ngay trong một niệm hiện tiền.
Tánh, tu chẳng hai, đủ các loại hạnh môn, Lư, Sự
giao ḥa, hưng khởi trùng trùng pháp hóa, in nguyện tỷ[77]
của Di Đà đầy ắp nơi bi tâm tự tại.
* Kệ kết đàn
tŕ chú Đại Bi
Quy
mạng Thí Vô Úy, đấng đại bi cứu thế, thần
diệu bí mật luân, và hết thảy Tam Bảo. Nghiệp
con sâu như biển, nỗ lực siêng Thiền Định.
Nửa thân cảm đau xót, thật do cội Tam Độc.
Nay hổ thẹn tự trách, đốt tay ba lọn
hương, kết tịnh đàn một thất, tŕ Đại
Bi một vạn, thề sẽ siêng tinh tấn, hộ Phật
chánh pháp luân. Chẳng tiếc nuối thân mạng, chỉ
tuyên Nhất Thừa giáo. Con nay đem thân tâm, dâng lên ngôi Tam
Bảo, kính mong b́nh đẳng bi, rốt ráo gia hộ cho.
* Kệ kết đàn
tŕ chú Văng Sanh
Đảnh
lễ Vô Lượng Thọ, Bạt Nghiệp Chướng
Căn Bản, Quán Thế Âm, Thế Chí, hải chúng Bồ
Tát tăng. Con mê bổn trí quang, hư vọng đọa
vào trong, nỗi khổ của luân hồi, bao kiếp chẳng
tạm ngừng. Không cứu, không về nương.
Được thân người hèn kém, vẫn gặp kiếp
trược loạn. Tuy được
dự làm tăng, chưa nhập ḍng nước pháp. Mắt
thấy pháp luân hoại, không có sức cứu văn. Do từ
đời vô thỉ, chẳng gieo thắng thiện
căn,
nay dùng tâm quyết định, cầu
sanh cơi Cực Lạc. Nương vào thuyền bổn thệ,
rộng độ kẻ trầm luân. Nếu con chẳng
văng sanh, chẳng thể măn sở nguyện. V́ thế, cơi
Sa Bà, nhất định nên xả ly, như người bị
chết đuối, cầu chóng tới bờ trước!
Bèn dùng sức phương tiện, cứu trọn người
thác cuốn. Con dùng tâm chí thành, thâm tâm, hồi hướng
tâm. Đốt tay ba lọn hương, kết tịnh
đàn một thất, chuyên tŕ chú Văng Sanh, chỉ trừ
lúc ăn ngủ. Do sức công đức này, quyết cầu
sanh An Dưỡng. Nếu con thoái sơ tâm, chẳng hướng
về Tây Phương, thà liền đọa Nê Lê (địa
ngục), khiến mau sanh hối cải. Thề chẳng
luyến trời, người, cùng với chốn vô vi.
Ngưỡng nguyện đại oai thần, lực, vô úy,
bất cộng, Tam Bảo vô biên đức, gia bị bọn
Trí Húc, chiết phục khiến chẳng thoái, nhiếp thọ
khiến tăng trưởng.
* Văn hồi hướng
kết đàn niệm Phật
Đảnh
lễ A Di Đà, pháp chư Phật hộ niệm, Tịnh
Độ các thánh hiền, xin rủ ḷng thương xót hộ
tŕ. Trí Húc từ vô thỉ tới nay mê lư thường trụ,
đánh mất trí huệ sáng suốt, trái nghịch tự
tánh, oan uổng hứng chịu luân hồi, giữ lấy
vọng tâm, vĩnh viễn trái nghịch chân cảnh. Thiện
căn tuy phát, gia nhập chánh giáo, ĺa nhà,
riêng tập khí cũ quá nồng, dẫu được
tam-muội hun đúc mà chẳng thành tựu.
Dốc ḷng nơi cơi tịnh, thề thoát ṿng khổ, cơ
cảm chẳng chuyên, thánh ứng chẳng hiển. Tháng
năm ơ
hờ, hoài băo quên bẵng, đáng đau,
đáng xót, không băi, không bến! Nay nương theo giáo huấn
chân thật của đức Thích Ca, tŕ danh bảy ngày,
gieo ḿnh vào từ quang vô lượng, cầu độ thoát
trong một đời. Gởi thân chốn đàn tràng thanh
tịnh, chuyên xưng hồng danh, dù định hay tán, hữu
kư, vô kư, nương bi luân của Phật, công chẳng luống
uổng. Nguyện do
công đức và các thiện căn, đều cùng chúng sanh
hồi hướng An Dưỡng. Ngưỡng mong ma
chướng trong hiện đời tiêu trừ, khi xả
báo, chánh niệm quyết định, trong khoảng sát-na,
sanh về trước Như Lai, được thọ kư
Bồ Đề, măn bổn nguyện luân.
* Văn kết đàn
lễ Đại Bi Sám
Trí
Húc và chúng sanh tự mê giác tánh, luôn ở trong ngu muội, mắt
cách tuyệt viên thường, tai trái nghịch vi diệu,
chẳng biết lúc xuất yếu, oan uổng bị tác dụng
nghe ngóng sai khiến. Sau khi nghĩ đến đạo,
ngược ngạo cậy vào công
năng nhanh nhạy, nghe pháp ngữ th́ vừa nhớ lại
quên, đọc kinh điển th́ sót trước, quên sau,
khiến cho vô thượng đề hồ chẳng cách
nào nhiễm vào thần thức. Bản thể bảo châu
tṛn sáng, không cách nào rọi sáng cái tâm, quán hạnh khó thể
có hiệu quả, há có thể tự lợi? Biện tài quẩn
quanh trong chương cú, mong chi lợi người? Do vậy,
xét ḿnh biết lỗi, dập đầu cầu xót
thương, tin chắc chắn bi tâm của Đại
Sĩ, quy mạng thần lực tổng tŕ, đốt ba
lọn hương trên đỉnh đầu, cúng dường
Đại Bi Tam Bảo, nguyện dùng trí huệ quang tưới
gội đỉnh đầu con, dùng nước Văn Tŕ
gột rửa cấu nhơ trong tâm con, khiến con mau chóng
ĺa ám độn, sớm được mở mang sáng suốt,
vẳng nghe chư Phật chuyển diệu pháp luân,
vĩnh viễn chẳng sai sót. Thường đọc tam
thừa pháp tạng rất sâu, mắt liếc qua chẳng
quên, cùng với chúng sanh đồng khai Phật huệ, tánh
tu xen nhau, mau chóng chứng viên thường.
* Sớ [khải bạch
tụng niệm] thêm Tổng Tŕ
Kính
lễ từ tôn Địa Tạng Vương, thần chú
có thể khéo diệt định nghiệp, cứu trọn
khắp vô biên nỗi khổ ngũ trược, nối tiếp
hưng thịnh chủng tử Tam Bảo chẳng đoạn.
Trí Húc cùng pháp giới chúng sanh mê muội tịnh tâm vốn
có, đă tạo định nghiệp, bị vô minh che lấp,
chẳng tự giác tri. V́ thế, ngày nay cùng vướng khổ
báo, xa cách chánh pháp, gặp phải ma tà, nói Đại Thừa
điên đảo, vu báng, hủy phá liễu nghĩa, đuổi
theo những thiện báo nhỏ nhặt trong đời sau,
quên bẵng khuôn phép của đấng giáo chủ. Nếu
tuyên nói thật đạo, đâm ra bị chê bai, quở
trách. Tuy hiểu chân thừa, vẫn thiếu trí đoạn.
Than đồng tu điêu linh, buồn ngoại hộ mù mờ,
quả há phải do lỗi ai khác, vốn do ḿnh tự tạo!
Chỉ xét ḷng mà tâm hối hận, bi ngưỡng xót xa khẩn
cầu, cung kính niệm chân ngôn diệt nghiệp[78]
của vô thượng y vương Địa Tạng
Đại Sĩ. Vô biên thần lực, chắc chắn có
thể dẹp trừ khổ tam chướng, ban niềm
vui Tam Đức. Do vậy, chuyên tâm tŕ tụng, mong mau
được
ngầm gia bị. Trước đó đă tŕ
ba trăm hai mươi vạn lần, một trăm vạn
lần, bốn mươi tám vạn lần đă xong, nay lại
v́ các vị… (nguyên văn lời sớ liệt kê tên các tỳ-kheo,
sa-di, cư sĩ v.v… chẳng sao chép vào đây) mỗi
người mỗi sai biệt, chí tâm cùng nhau tŕ được
một trăm bốn mươi vạn lần.
Kính nguyện hết thảy
tỳ-kheo tăng trưởng phước huệ, thành tựu
thánh căn, đoạn lưới ái thế gian, đập
tan núi ngă kiến. Hết thảy sa-di chí ngưỡng mộ
bậc đại tăng, quyết đạt tới tịnh
hạnh, tăng tu giới huệ, vứt bỏ huyễn
duyên, mong thề hẹn giống bậc tiên triết, cư
xử chẳng giống thói tệ hiện thời. Hết
thảy đàn việt hộ tŕ biết rơ đúng sai, liễu
đạt tà chánh, nguyện làm con mắt cho chúng sanh, dùng
thân làm ṭa thành Phật pháp. Lại nguyện ai nấy tin
tưởng kế sách Tịnh Độ huyền diệu,
cùng gắng hành diệu hạnh Lạc Bang, trọn đủ
các giới phẩm, đọc tụng Đại Thừa,
tin sâu nhân quả, hiểu Đệ Nhất Nghĩa,
thường v́ người khác nói viễn nhân của ngài
Pháp Tạng, cái quả hiện tại của đức Di
Đà, khiến cho các hữu t́nh đều thoát ṿng khổ,
đều được an lạc. Lại nguyện Trí
Húc và các tri thức làm chủ bạn lẫn nhau, luôn chuyển
pháp luân, thề diệt định nghiệp tam đồ,
mầu nhiệm diễn nói lời An Dưỡng chân thật.
Kính mong Tam Bảo thánh tôn đồng thể nhiếp thọ.
* Lời khải bạch
v́ cha mẹ cầu cứu bạt trọn khắp
Bất
tiếu Trí Húc sanh năm Kỷ Hợi (1599) thời Vạn
Lịch. Khi ấy, cha mẹ đều bốn mươi
tuổi, chỉ có một con, chăm bẵm bội phần.
Húc tṛn hai mươi, tiên nghiêm khuất bóng, chưa thể
hiếu dưỡng ngày nào, chỉ đành thiết tha suốt
đời tiếc nuối. Kể từ lúc nghe Phật
pháp, biết rơ hiếu đạo theo kiểu thế gian chẳng
chân thật, hai mươi bốn tuổi ĺa mẹ trốn
đi, vốn mong hạn định thời gian quyết
chứng quả, để đền chung tứ ân. Khốn
nỗi nghiệp nặng, chướng sâu, tŕ trệ trong
địa vị phàm phu đă lâu, tới lúc tôi hai
mươi tám tuổi, mẹ lại bỏ đi, mà đối với đại
hiếu xuất thế, Húc thấy ḿnh
chẳng ra sao, xót ân vơng cực bội
phần, rốt cuộc rơi vào lưới ưu lự.
Xuất gia mười hạ, bạch nghiệp chẳng
thành, xoắn tay,
xét ḷng, đáng thẹn, đáng hăi! Ngày
mồng Một tháng Sáu năm
sau là [ngày giỗ] năm thứ bảy của tiên từ
Kim Đại Liên, ngày mồng Năm tháng Mười Một
là [kỵ nhật] mười lăm năm của tiên
nghiêm Chung Chi Phượng, tự lực yếu ớt,
đáng nên xin thầy bạn ban ơn. Pháp thí là bậc nhất,
há đâu keo tiếc đối với kẻ ngu hèn, nhờ
vào đồng thể đại bi, tạo vô duyên cứu bạt.
Nếu đời này Trí Húc được giải thoát, thề
sẽ nơi nơi cùng làm
ảnh hưởng chúng. Nếu thân
đời này trầm luân, nguyện
vĩnh viễn chịu thay các khổ. Lại tự tŕ Diệt
Định Nghiệp chân ngôn hai ngàn vạn lần, tụng
phẩm Không của kinh Kim Quang Minh hai ngàn lượt, quyển
thượng kinh Phạm Vơng một ngàn lượt, v́ cha mẹ
tôi cầu khẩn các đồng nhân tạo cái nhân tăng
thượng thù thắng lẫn nhau, cùng vào biển nguyện
Di Đà!
* Sám văn lễ kinh
Kim Quang Minh lần nữa
Quy
mạng đấng Năng Nhân phước huệ, biển
tánh tối thắng Kim Quang Minh. Tín Tướng[79]
công đức đại cát tường, cùng ban từ bi rủ
ḷng nhiếp thọ, hộ tŕ. Bọn Trí Húc v.v… (nêu ra sáu
người, nhưng không sao lục [đầy đủ
tên họ]), v́ khắp chúng sanh, cầu diệt tội
chướng, chuyển chánh pháp luân, đúng pháp kiến lập
diệu sám cát tường Kim Quang Minh Kinh, chí thành cầu thỉnh
mười phương Tam Bảo, Công Đức Đại
Thiên[80],
phổ nguyện do ḷng từ viên măn, sẽ
nhanh chóng rủ ḷng ứng hiện mầu nhiệm. Lại
nghĩ chúng con tự mê tánh Kim Quang Minh, dấy đủ
nghiệp tham, sân, si, chấp ngă, ngă sở, ngang ngược
nẩy sanh thị phi, chướng nguồn trí huệ chân
thật, hư vọng cầu trí thế gian, chôn vùi thánh tài
pháp lạc, hư vọng yêu mến của cải thế
tục đến nỗi mê nhân muội quả, coi rẻ pháp, dối ḷng, cảm
báo đọa trong tam đồ khổ sở cùng cực,
dư ương trăm nỗi khôn cùng! Nay mới giác ngộ,
thống thiết sửa lỗi sai thuở trước,
năm vóc mọp lạy gieo ḷng thành, giăi bày nhất tâm hối
tội. Nguyện chúng con từ vô thỉ đến nay, tam
nghiệp, lục căn, chướng nặng trót tạo,
ác nghiệp phiền năo, ương hại do hoa báo và quả
báo, sẽ đều do công đức của Kim Quang Minh Hải
Tam Bảo, và oai thần từ bổn nguyện của Cát
Tường Đại Thiên, trong khoảng một niệm,
thảy đều tiêu diệt, hiển phát tự tánh huệ
luân, thành tựu khối phước sẵn có, tiếp nối
hưng thịnh Tam Bảo, lợi khắp trần sa.
Lại nguyện Trí Húc
thân chẳng có các bệnh, tâm ngộ tổng tŕ, tự chứng
pháp môn, diễn nói thanh tịnh. Chúng con đau đáu
nghĩ tới Sa Bà, cầu đại pháp sâu xa, thân tâm nhất
trí, phước huệ cùng tu. Chúng con hiểu rơ chánh pháp, cắt
sạch hồ nghi, dứt sạch cái tâm ngả theo thói tục,
mong nương theo hạnh của bậc tiên triết. Con mạnh mẽ tỉnh ngộ vô
thường, tận lực trừ
sân mạn, tự phản tỉnh,
tự cổ vũ, chẳng nghĩ tới lỗi quấy
của người khác. Con rộng phát đại nguyện,
khéo học theo cổ nhân. Con vĩnh viễn ĺa điệu
cử, thành tựu cái nhân sâu xa. Con khai phát kẻ tối
tăm, tăng trưởng tín căn. Lại nguyện
người làm việc nhọc nhằn, thấy nghe tùy hỷ,
cùng gieo nhân thù thắng, b́nh đẳng hưởng
lợi ích thù thắng, cho tới
pháp giới hàm thức đều nhờ oai lực của
kinh, ngưỡng nhờ sức sám hối, nhanh chóng rỗng
không hai thứ tử (phần đoạn và biến dịch),
đều chứng tam thân, ngưỡng mong kim hải thánh
thiên[81],
thấy biết, chứng minh nhiếp thọ.
* Văn kết đàn
để lễ sám và hồi hướng tŕ chú bổ sung
Trí
Húc và chúng sanh đối với pháp đồng thể lại
huyễn thành mười giới sai khác. Đối với
cảnh chân thường, lầm lẫn tạo thành ba
đời khác biệt.
Đă cách biệt diệu thể
Giá Na, nào có biết luật trọng yếu nơi chánh pháp.
Chánh Pháp chuyển sang Tượng Pháp, Tượng Pháp chuyển
sang Mạt Pháp, ai nghĩ làm trụ đá giữa ḍng[82].
Nhẹ thành nặng, nặng thành cố định, ai thấu
đạt duyên sanh vô tánh? Con nay ngưỡng nhờ ḷng bi
viên măn chân thật của Quán Âm đại thánh và Địa
Tạng từ tôn, nên mới được giác ngộ, tin
tưởng lư tam vô sai biệt (tâm, Phật, chúng sanh vô sai
biệt), mười giới chẳng ĺa nhất tâm, hiểu
tông “Phật tánh thường trụ”, ba đời chẳng
ĺa khỏi một niệm hiện tiền. Do vậy, phát
tâm rộng lớn, tu Chân Ngôn hạnh, thề diệt định
nghiệp của ḿnh lẫn người, trùng hưng Tỳ
Ni nơi
chánh pháp. Con đă từng tŕ chú Đại Bi mười vạn
tám ngàn lần ḥng gia bị Tỳ Ni Tập Yếu lưu
thông lợi ích cơi đời. Nay lại sáu thời hành
đạo, huân tu một thất, đốt ba lọn
hương, hồi hướng Phật thừa. Kính mong
đấng Thiên Thủ Thiên Nhăn, ḷng từ chân thật, thù
thắng, chuyên xót thương kẻ ương ngạnh,
mau chóng rủ ḷng chiết phục, nhiếp thọ, khiến
cho chánh pháp của Như Lai lại rạng rỡ nơi
Chi Na, bến mê trong vận Mạt sẽ lại quay về
sự giáo hóa cao tột, kẻ nhiễm ô đạo sẽ
sanh tâm hổ thẹn, chẳng đắm ch́m trong Không kiến,
lũ dê con sẽ đạt được Văn Huệ
và Tư Huệ, chẳng quẩn quanh trong phường
phàm ngu. Lại v́ người áo thâm, kẻ áo trắng, tŕ tụng
thêm Diệt Định Nghiệp chân ngôn một trăm bốn
mươi vạn lượt đă xong, lại đốt
ba lọn hương để
cùng hồi hướng chung. Lại nguyện tam đồ
dứt khổ, tám nạn trừ tai, cạn kiệt sóng gió
nơi biển nghiệp, đập nát cội rễ
nơi rừng Hoặc, ngũ trụ tiêu trừ trọn vẹn,
tam luân cùng tịnh, ngộ giới thể mà quả tột bậc
Pháp Thân, liễu đạt tánh tội và giá tội, hạnh
cùng thanh tịnh, viên măn, dứt trừ
chấp trước đối với Đại,
Tiểu, Thiên, Viên,
cùng hiểu Nhất Thừa, người có ḷng ôm “phao nổi,
cỏ trói”[83]
sâu
xa đầy khắp pháp giới, chứng
Tông Thông lẫn Thuyết Thông[84],
Thiền và Giáo bất nhị, tu Sự, Lư nhất trí, nhân
quả cùng phù hợp, thân cận Phật Di Đà nơi An
Dưỡng, phù tá đức Di Lặc trong hội Long Hoa,
t́nh và vô t́nh đều đạt tới thường lạc.
* Nguyện văn lễ
Đại Bi Sám
Đảnh
lễ Tam Bảo là bậc oai đức không ngằn mé,
Quán Thế Âm, Địa Tạng cùng rủ ḷng
thương xót hộ tŕ. Trí Húc và chúng sanh tự mê tánh
đức, luôn tạo nghiệp duyên, chướng ngại
giác thể, chẳng hiểu pháp nhân, Năng Sở lẫy
lừng, ḿnh người ngang trái cách biệt, trầm luân
trong sáu đường, khốn đốn trong tam đồ,
thậm chí có được thân người hèn kém, vẫn
gặp các chướng, gieo thân vào chánh giáo, chưa biết
bến diệu. Ấy là do nghiệp nặng, đến nỗi
cuộc sống gập ghềnh. Lại nghĩ căn cội
sanh tử, ái nhiễm đứng đầu, ẩn nấp
trong tạng thức, khó đoạn, khó trừ. Con tuy ngầm
được Đại Sĩ, Tam Bảo gia bị, có lúc
sanh khởi hạnh tạp uế chẳng hổ thẹn
chẳng thuộc tập khí, lại c̣n tập khí xấu ác
từ vô thỉ luôn khởi theo mỗi niệm, thân tham các chạm xúc, miệng
chuộng lời ác, ba nghiệp, sáu căn, tội thật
vô lượng! Chính ḿnh chưa tịnh, sao hướng dẫn
người? Xoắn tay tự vấn nội tâm, thật
đáng thẹn nhục! Nay thừa dịp Đại Bi tịnh
đàn, công khóa hằng ngày là một quyển Phạm Vơng Giới
Kinh, tu hành bốn mươi tám nguyện, niệm A Di
Đà Phật một ngàn câu, tŕ phẩm Không của kinh Kim
Quang Minh một quyển. Lại tổng tŕ chú Đại
Bi một vạn lượt, chú Phật Đảnh một
ngàn lượt để làm phương tiện đoạn
Hoặc, và v́ quá khứ, hiện tại các vị tŕ kinh
chú, chuyên thân hồi hướng, ngày khai đàn đốt
năm lọn hương trên đỉnh đầu.
Nay nhằm ngày hoàn
măn, lại đốt hai mươi mốt lọn
hương trên cánh tay, cúng dường Lô Xá Na Phật, Thích
Ca Mâu Ni, A Di Đà Phật, Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ
Phật[85], chín mươi chín
ức Căng-già-sa Phật, Chánh Pháp Minh Phật[86],
mười phương ba đời chư Phật, cúng
dường phẩm Bồ Tát Tâm Địa của kinh Phạm
Vơng, kinh Đại Bát Niết Bàn, Đại Bi Tâm Đà La
Ni, Tất Đát Đa Bát Đát Ra thần chú[87],
Diệt Định Nghiệp chân ngôn, hết thảy các
pháp tạng hiển mật. Cúng dường Quán Thế Âm,
Địa Tạng Bồ Tát, Đại Thế Chí, Tổng
Tŕ Vương, Nhật Quang, Nguyệt Quang, Bảo
Vương, Dược Vương, Dược Thượng
Bồ Tát, Hoa Nghiêm, Đại Trang Nghiêm, Bảo Tạng,
Đức Tạng, Kim Cang Tạng, Hư Không Tạng Bồ
Tát, Di Lặc, Phổ Hiền, Văn Thù Sư Lợi,
mười phương ba đời hết thảy Bồ
Tát. Cúng dường Ma Ha Ca Diếp, Ưu Bà Ly, A Nan, hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác,
hiền thánh tăng. Cúng dường các vị tới Chấn
Đán (Trung Hoa) đầu tiên là các ngài Ma Đằng và Trúc
Pháp Lan, vị sang Tây Càn (Ấn Độ) đầu tiên là
tôn giả Pháp Hiển, giáo chủ Tịnh Độ là Viễn
Công tôn giả, vị cầu thấy xá-lợi là tôn giả Khang Tăng Hội, sơ tổ Thiền Tông là tôn giả Đạt Ma, Thiên Thai Trí Giả đại
sư, Tướng Tông Huyền Trang pháp sư, Thanh
Lương Trừng Quán quốc sư, hội quy tông kính
Vĩnh Minh đại sư, trùng chấn Tăng phong Đạt
Quán đại sư, và vị thầy giới pháp tư thục[88]
là Vân Thê Châu Hoằng ḥa thượng, hiện thân tiếp dẫn
trong mộng là tổ sư Hám Sơn Đức Thanh v.v… Hết
thảy Tam Bảo sư tăng như thế, con đă cúng
dường xong, gieo ḿnh mọp đất phơi gan, bẩm
bạch như thế này:
Nguyện ba nghiệp của
con rốt ráo thanh tịnh, thân chẳng phạm mảy trần,
miệng chẳng có các sai trái, ư vĩnh viễn ĺa ái kiến.
Nguyện cha mẹ [hiện đời] và các phụ mẫu
từ vô thỉ cùng sanh Tịnh Độ. Nguyện các tỳ-kheo
đồng hạnh (chín vị) phát bi nguyện sâu, khoác giáp
kiên nhẫn. Nguyện các vị tỳ-kheo ngoại hộ
như thầy X… (nêu danh tám vị) yêu mến
chánh pháp sâu xa, tùy thuận thấu hiểu chúng tăng. Nguyện các tỳ-kheo
tùy hỷ như thầy Y… thành tựu nhẫn lực, ngầm
gánh vác pháp môn. Nguyện các vị Z… (kể tên ba vị) thống
thiết trừ phạt thói tệ hiện thời, tận
lực noi theo phong cách xưa. Nguyện các tỳ-kheo cùng kết thệ nguyện là thầy X… b́nh đẳng đại bi, nghĩ thương xót kẻ cứng cỏi, tệ
ác. Nguyện họ mở giáo nhăn sâu xa, hiểu tường
tận Tỳ Ni. Nguyện họ thành tựu khai trí, rộng
thấu đạt chân tông. Nguyện các vị… (nêu tên bảy
người) quyết trừ tập khí, thâm nhập pháp
môn. Nguyện họ đau đáu nghĩ tới vô thường,
suy nghĩ sâu xa lẽ xuất yếu, vĩnh viễn trừ
siểm nịnh, dối trá, thành tựu cái nhân chân thật.
Sa-di và hành nhân (nêu tên mười người) thành tựu
cái nhân sâu xa, mong cầu thật quả. Nguyện các vị...
(kể tên chín người) chuyên ṛng cầu xuất yếu
chí, quyết chí thề đến Liên Bang. Nguyện các vị
X… (nêu tên tám người) kiêm tu Tam Học, nhị nghiêm
(phước và trí) đều trọn đủ. Nguyện
kẻ phá giới Xiển Đề (nêu ra bốn người)
sẽ tùy duyên mà cảnh tỉnh, hiểu ra, nhanh chóng trừ
tà tâm, tin sâu nhân quả, sớm cầu diệt tội. Nguyện
đàn việt, hộ tŕ là… dùng huệ viên thông để
tu phước xứng tánh. Nguyện các vị… (kể tên
mười sáu người) thành tựu pháp xuất thế, thoát khỏi ái sử
buộc ràng. Nguyện các vị tỳ-kheo đă khuất
(nêu tên mười một vị), sa-di (nêu tên sáu vị), xử
sĩ… đều thoát u đồ, mau về lạc thổ.
Nguyện ưu-bà-di Lô Trí Phước đă khuất văng
sanh Tịnh Độ, sen nở thượng phẩm,
được thọ kư chứng quả ngay trong một
đời, dùng Như Ư Thông rộng độ hàm thức.
Do công đức đốt
hương, phát nguyện trên đây, trên là báo ân Phật,
dưới là văn hồi kiếp trược. Nguyện hết
thảy người tŕ luật thật sự hiểu rơ
nguồn khai, giá, tŕ, phạm, ngộ sâu xa pháp Định Cộng,
Đạo Cộng, chẳng chất chứa sai ngoa, ích kỷ.
Chẳng do tập khí, lậu Hoặc mà diệt pháp, thường
dự vào địa vị Bổ Xứ thành Phật, chẳng
giống loài dê con. Hết thảy người diễn giáo
sẽ giải hạnh song tu, Giáo lẫn Quán cùng nêu, giữ
ǵn giới luật tinh
nghiêm, thông đạt Thiền Tư, chẳng giống như
kẻ kể chuyện ăn, đếm của báu, khéo có
thể thuận theo kinh văn mà đạt chứng. Hết
thảy người Thiền Tư hiểu rơ đúng sai, biện
định rơ tà chánh, chẳng rơi vào hố ám chứng,
chẳng dấy ḷng tăng thượng mạn, chân tham thật
ngộ, tin Giới, tin Văn. Hết thảy người
tu Tịnh nghiệp tin Sự chính là Lư, ngộ cái tâm
chính là Phật, chẳng bài bác tướng để cao luận
tự tánh, chẳng coi thường để rồi lui
nghỉ, khoác giáp Bồ Đề thệ, khế hợp
nguyện luân của ngài Pháp Tạng. Hết thảy người
tu Du Già, thông đạt sâu xa Hiển Mật Viên Tông, thanh tịnh
tam luân bố thí, hóa độ, trừ bỏ tập khí hư
luận, thủ hộ giới cấm, oai nghi, chẳng
hư vọng truyền dạy, chẳng dễ ngươi
cử hành (tác pháp tu tập Mật pháp), được
chư Phật xót thương, tránh khỏi quỷ thần
giận phạt. Hết thảy người lo tu tập
phước nghiệp tin sâu tội phước, giữ
nghiêm ngặt nhân quả, xa ĺa pháp thế gian, hưng khởi
xiển dương sự giáo hóa chân chánh, xoay chuyển nghiệp
hữu vi về vô lậu thừa. Lại nguyện các nguyện
trước kia đều trang nghiêm Tịnh Độ,
đều hướng về Tây Phương. Khi lâm chung,
chẳng c̣n niệm nào khác, đích thân thấy Từ Tôn,
được thánh chúng tiếp dẫn, ngay lập tức
hóa sanh, liền nghe diệu pháp, liền chứng Vô Sanh,
thành tựu mười loại thân luân[89],
rộng độ hàm thức trong pháp giới. Ngưỡng
mong Quán Âm Đại Sĩ, Địa Tạng từ tôn xót
thương che chở, khiến cho nguyện của con chẳng
lui sụt, chẳng ch́m đắm, chẳng mất đi,
chẳng quên lăng, măn Bồ Đề hạnh.
* Văn khải bạch
lễ Tịnh Độ Sám
(năm Quư Dậu - 1633)
Bọn
tỳ-kheo chúng con là Trí Húc v.v… từ bao kiếp lâu xa đến
nay đă mê bản tánh, luôn ở trong luân hồi, tam nghiệp,
lục căn,
không điều ác nào chẳng tạo. Năm đường,
tám nạn, không nỗi khổ nào chẳng nếm trải.
Hiểu biết tăm tối truyền nhau, chưa từng
giác ngộ. Tử sanh mênh mông, thuở nào giải thoát? Nay gặp
gỡ Đại Thừa, được sanh khởi tín
tâm yếu ớt,
vừa nghe Tịnh Độ, đáng nên biết chóng quay về.
Dẫu siêng tinh tấn, đă hối tiếc
chậm trễ; nếu
lười nhác, chần chừ, sao kịp cho được?
Do vậy,
phát tâm khẩn thiết, cùng hạn định ba thời
tu nghi thức phát nguyện Văng Sanh, mong sao suốt bảy
ngày chẳng xen tạp, sáu thời hành đạo, bốn
oai nghi nhiếp tâm. Ngưỡng mong từ bi viên măn, ắt
rủ ḷng ứng hiện nhiệm mầu. Nguyện cầu
chánh pháp sâu xa, chẳng nhiễm t́nh trần. Hạnh bằng
với chí, đạo bén gót bậc cổ thánh, bỏ sạch
duyên vụ, đau đáu nghĩ tới vô thường. Tám
gió bất động, tứ thệ chẳng dời, cho
đến ngoại hộ hành nhân đều gieo nhân sâu,
cùng về Tịnh Độ. Sư tăng, cha mẹ, thân
duyên bao kiếp, chúng sanh lanh lợi hay ngu xuẩn trong pháp
giới, hữu t́nh trong quá khứ, hiện tại, đều
hưởng nguyện quang của ngài Pháp Tạng.
Nương vào từ lực của A Di Đà, ba chướng
chóng trừ, bốn cơi đều tịnh. Dùng công đức phát
nguyện này để báo đáp
chung tam hữu, tứ ân, cùng viên thành Chủng Trí.
* Sớ an cư chùa Tây
Hồ
Nhất
tâm quy mạng Phạm Vơng giáo chủ Lô Xá Na Phật, Cực
Lạc thế giới A Di Đà Phật, phẩm Bồ Tát
Tâm Địa, Tỳ Nại Da Tạng, tam thừa mười hai
phần giáo, hết thảy tôn pháp, Quán Âm, Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Di Lặc … Hết
thảy các vị Bồ Tát, Ưu Ba Ly, Ca Diếp, A Nan, Tây
Thiên Đông Độ hết thảy thánh sư, nguyện
phóng từ quang, cùng rủ ḷng xót thương tế độ.
Kính nghĩ sau khi chư Phật nhập diệt, [đệ
tử Phật] lấy Giới làm thầy, tam vô lậu học
lấy Giới
đứng đầu, dựa theo Yết-ma mà tu hành
đúng như lời dạy. Đó gọi là “chánh pháp trụ
thế”. Nương theo Luật Tạng, ḥa hợp cùng
học, sẽ khiến cho Tăng Bảo không bị diệt sạch.
Than dài pháp vận thuở Mạt, chẳng biết khuôn phép
tốt lành, tŕ hay phạm đều chẳng tự hay, có
bao giờ t́m ṭi nguyên ủy! Hoặc mặc sức làm chuyện
phi pháp, hoặc si ngốc như con dê câm. Hoặc ĺa Sự
bàn suông, hoặc chấp tướng mê mất tông chỉ,
đến nỗi phương tiện thiện xảo của
đấng Giác Hoàng bị mai một, ch́m đắm, rừng
rậm tà kiến sum suê, chằng chịt. Đă thẹn là
hậu duệ của Như Lai, há ai không buồn
thương, tủi
nhục? Do vậy, phát tâm thù thắng, tụ tập người
cùng chí hướng với con, kết kỳ hạn nơi
chốn Lan Nhă, thảo luận Tỳ Ni (phần nêu bày [danh
tự của] hàng ngoại hộ, tăng, tục để
hồi hướng chẳng sao lục). Kính nguyện ngoại
ma chẳng quấy nhiễu, nội chướng chẳng
xâm, tiếp nối hưng thịnh Tăng chủng, viên chứng
Phật thừa, ngộ tông chỉ “khai
Quyền, hiển Thật”,
khế hợp ấn “phù Luật, đàm Thường”[90].
Do cái nhân chân chánh là tịnh giới mà lên cực quả Tịnh
Độ, làm cầu bến trong kiếp trược, dẹp
tan, chế phục ma tà, báo ân sâu của đức Thích Ca,
thỏa đại nguyện của Phật A Di
Đà.
* Bài văn dâng cúng lá
thăm trước ngày An Cư
Trước
ngày An Cư năm Quư Dậu (1633) trong niên hiệu Sùng Trinh,
Bồ Tát giới tỳ-kheo Trí Húc đốt mười lọn
hương, dâng cúng bậc tịnh măn đại giác hết
thảy mọi nơi, thị hiện tịch diệt chốn
Song Lâm, chân thật thường trụ, Bổn Sư từ
phụ, nhất thể Tam Bảo, Cực Lạc thế giới
A Di Đà Phật, mười phương ba đời hết
thảy chư Phật, Phạm Vơng tôn kinh, Tỳ Nại Da
Tạng, mười phương ba đời hết thảy
tôn pháp, Địa Tạng, Di Lặc, hai vị thị giả
hai cơi, Kim Cang Tạng, Hư Không Tạng, Dược
Vương, Dược Thượng, Huyền Thông Hoa Quang
Chủ, Hoa Quang Vương Đại Trí Minh[91]
v.v… Mười phương ba đời hết thảy Bồ
Tát, Ưu Ba Ly, Ca Diếp, A Nan, Mă Minh, Long Thọ, hết thảy
Tăng Bảo. Nguyện dùng sức đại từ bi, sức
chiết phục kẻ ương ngạnh, sức nhiếp
thọ thiện căn, hiện tiền chứng minh:
Trí Húc vốn là kẻ
báng pháp, may được nghe Địa Tạng tôn kinh,
phát tâm cứu khổ, chép Từ Bi Sám Pháp, lại đoạn
rượu thịt. Nghe kinh Đại Phật Đảnh,
quyết chí xuất gia. Đọc lời phương tiện
của ngài Hám Sơn, mới dốc ḷng tham cứu. Bỏ
mẹ trốn đi, thề hiểu rơ đại sự.
Đă lắm chướng duyên, vẫn sầu pháp loạn.
Do vậy, suy nghĩ lời dạy chân thành
“lấy giới làm
thầy”,
lúc cúi ngửa, lấy ai làm khuôn mẫu? Bèn bỏ y
đơn[92],
ngàn dặm trần t́nh. Đối trước tháp của
ngài Vân Thê, kính thọ Tứ Phần Giới Bổn. Một
năm sau, cầu Bồ Tát luật nghi, bèn duyệt toàn thể
tạng kinh, gom
góp thành sách Yếu Lược, chỉ mong tự
lợi, chưa rảnh để hóa độ người
khác. Nào ngờ xong việc, [sách ấy] dần dần
được lưu truyền, xem đi, xem lại, biết
rơ thói tệ hiện thời lắm nỗi, chẳng nỡ
thuận theo thế tục hồ đồ sai ngoa, cùng tàn
hại chánh pháp của Như Lai để tự thọ Cụ
Túc! Tâm tuy ân cần, trân trọng,
thân chẳng giữ trọn chế định của Phật,
bèn làm tám cái thăm, kiền thành thỉnh ư Tam Bảo: Nếu
tỳ-kheo giới của Trí Húc do tâm mà cảm được,
mười hạ hành tŕ, sẽ rút
được cái thăm “làm ḥa thượng”. Nếu
trước khi đắc giới, phạm lỗi nhẹ
chưa hết sạch, sẽ rút được cái thăm
“lễ sám làm ḥa thượng’”, hành sám pháp trước. Nếu
chưa được, nhưng “chẳng
thành giá nạn[93]”,
hoặc đă được, nhưng chẳng kham làm bậc
khuôn phép, sẽ rút được cái thăm “thấy tướng
hảo làm ḥa thượng”, bèn lễ sám cầu tướng.
Nếu chẳng thành nạn nhưng chưa đắc giới,
sẽ rút cái thăm “thọ lại”, đúng pháp mà bẩm
thọ, sẽ trọn mười hạ. Nếu thành đạo
nạn[94]
mà cho phép sám hối, sẽ được cái thăm “lễ
sám thọ lại”. Nếu đă thành nạn, sẽ rút
được cái thăm “Bồ Tát sa di”. Nếu chẳng
được thọ pháp sa-di, sẽ rút được
cái thăm “Bồ Tát Ưu-bà-tắc”. Nếu hết thảy
giới pháp đều bị ngăn trở, sẽ rút
được cái thăm “chỉ thọ Tam Quy”.
Than ôi! Chẳng dám ôm
ḷng làm thầy, cư xử trong đời này chẳng dám
quên bỏ. Đối với hoằng thệ từ bao kiếp
lâu xa, chỉ tiến
thoái, nói năng, im lặng, hiểu biết kém cỏi sao có
thể tự biết? Nghịch, thuận, cho, đoạt,
Chánh Giác tự nhiên thuận theo căn khí. Ngưỡng
đối Tam Bảo, moi móc giăi bày một dạ, nếu
rút được ba lá thăm “làm ḥa thượng”, con thề mất thân mạng,
hộ tŕ chánh pháp, thà chịu khổ cùng cực, làm Thanh
Văn chân thật, chẳng v́ lợi danh mà giả vờ
là Đại Thừa. Nếu được hai lá thăm
“thọ lại”, sẽ giữ đúng phận đệ tử,
thề chẳng khinh rẻ pháp. Nếu rút được
lá thăm “Bồ Tát sa-di”, thề sẽ tôn kính, phụng
dưỡng tỳ-kheo, hộ tŕ Tăng Bảo. Nếu rút
được lá thăm “Bồ Tát Ưu-bà-tắc”, thề
dùng thân mạng thủ hộ chánh pháp, trọn chẳng mê mất Bồ Đề
tâm. Nếu rút lá thăm “chỉ thọ Tam Quy”, thề sẽ
phục dịch Phật, Pháp, Tăng, đủ mọi
phương tiện dẹp tà, hiển chánh.
Con dùng cái tâm chất trực,
tâm ân cần, trịnh trọng, tâm thủ hộ chánh pháp,
tâm độ chúng sanh, tâm chế phục ma tà, ngoại
đạo, tâm trừ xảo ngụy, hướng đến
Nhất Thể Tam Bảo, dâng
lên các lá thăm như thế, phát nguyện như thế. Từ hôm nay cho tới
ngày Tự Tứ, hiện tiền đại chúng hằng
ngày tŕ một biến chú Đại Bi, tự tu Phạm
Vơng Sám Pháp mỗi ngày một thời để cầu gia bị.
Nguyện Tam Bảo đại chúng, trời rồng hộ
pháp, cùng rủ ḷng xót thương chứng giám.
Lại c̣n nói kệ rằng:
- Tam Bảo hộ hết
thảy, đồng thể chẳng sai biệt. Con buồn
kiếp trược khổ. Pháp loạn, gió tà mạnh,
nguyện nối đèn chánh pháp, soi đời trừ mê hoặc.
Nội hộ và ngoại hộ, chưa biết nên theo
đâu? Đấng cứu thế đại bi, biết túc
căn của con, nên dùng địa vị nào, để tự
lợi, lợi người. Nguyện phù luật đàm
thường, từ cảnh mà phát Đế, triệt ngộ
pháp Thanh Văn, đồng quy vô thượng ấn, trọn
chẳng dấy đối đăi, cách biệt các tà kiến.
Con thương kẻ mê hoặc, gặp chuyện sanh chấp
trước. Luật: Mê nguồn tŕ phạm, chỉ chú trọng
y, bát. Giáo: Mất quán hạnh chỉ, chỉ chấp danh,
cú, vị. Thiền đạo: Mê cương tông, đắm
trong cơ hoặc cảnh, hoặc chỉ chuộng công
phu, hoặc chuyên cầu hướng thượng, gượng
dùi mài ngộ môn, hoặc vứt sạch chánh giải, chấp
thuốc đâm
ra thành bệnh. Hư luận tổn thật
tu. Pháp Tịnh Độ viên đốn, thường coi
thành quyền cơ, chẳng phát Bồ Đề tâm, chỉ
là pháp hưởng nhàn, chẳng tu tịnh diệu nhân, chẳng
cầu tịnh diệu quả! Mật bộ đại
oai thần, truyền bừa trong cơi đời, uế tạp
chẳng kham nghe, gần như tṛ trẻ bỡn!
Như Lai vô lượng kiếp, tu tập tột ân cần,
đắc pháp khó nghĩ này, độ hàm thức bọn
con, cớ sao đến hiện thời, suy bại chẳng
nỡ nh́n? Con là kẻ cụ phược[95],
tự xót thương hết thảy, dùng sức
phương tiện nào, trùng hiển chánh pháp luân? Ngưỡng
học tâm chí thành, thâm tâm, hồi hướng tâm. Đốt
hương biểu vô tận, đợi mạng, chẳng
hướng khác[96].
* Bài văn rút thăm
ngày Tự Tứ
Đảnh
lễ pháp giới tịnh măn giác, chánh pháp Tỳ Ni biển
tịnh tánh, Quyền Thật thánh hiền thường trụ
sám, nhất thể chứng tri nhiếp thọ cho. Trí Húc từ
vô thỉ đến nay, mê bản tánh Tam Bảo, trôi lăn
qua lại trong sáu đường, lầm lạc vâng theo tà
tông, luôn trái lẽ xuất yếu, hư vọng mong
đường tắt, chẳng hiểu chân thừa. May là
túc nhân c̣n có mảy thiện, được nghe chánh pháp Tỳ
Ni. Trước ngày An Cư, đă dâng các lá thăm, tỏ
bày chí nguyện. Nay ba tháng sắp hết, Tăng sắp tự
tứ. Lại cúng dường sáu lọn hương trên
đỉnh đầu, ba lọn cầu soi xét căn
cơ, ban cho con lời quyết đoán rơ ràng. Con chỉ xin
nghe theo thánh
mạng, tâm chẳng chần chừ. Ba lọn
hương nhằm thuận theo lá thăm rút được
cũng đều phát ba lời thề. Nếu rút nhằm
lá thăm Tam Quy, đến tột cùng ngằn mé vị lai,
thề chẳng ĺa Phật, thề chẳng ĺa Pháp, thề
chẳng ĺa Tăng. Rút được lá thăm làm Ưu bà
tắc hay sa-di, thề chẳng hư luống Bồ Đề
tâm, thề làm ngoại hộ, giúp cho chánh pháp hưng khởi,
thề cúng dường bậc tỳ-kheo đúng pháp. Nếu
rút trúng hai lá thăm “thọ lại”, thề chẳng trái
phép thờ thầy, thề y chỉ suốt năm hạ,
thề mười hạ chưa măn sẽ chẳng làm thầy.
Rút được lá thăm “tướng hảo”, thề
liều thân tu sám, thề chẳng trái nguyện nuôi đệ
tử trước, thề chưa thấy tướng hảo
sẽ chẳng giảng diễn, ngoại trừ kết bạn
pháp thí thanh tịnh. Rút được hai lá thăm kia, thề
chẳng lạm độ người, gieo sự xấu hổ
cho pháp đạo, thề chẳng thay đổi pháp danh của
người khác, thề cùng với người đồng
chí hướng đúng như lời dạy mà hành tŕ, chẳng
đuổi theo danh lợi, dính líu chuyện đời, chỉ
vâng giữ chánh pháp để chờ bậc hậu hiền.
Tam Bảo long thiên, đều rủ ḷng xót thương nhiếp
thọ!
* Lễ Tịnh Độ
Sám văn
Kính
lễ đức Năng Nhân Vô Lượng Thọ, pháp bảo
Giáo, Hạnh, Lư hai cơi, Quán Âm, Thế Chí, hải chúng
tăng, vô biên Tam Bảo đều gia hộ. Bồ Tát
sa-di Trí Húc cùng pháp giới chúng sanh mê chân, dấy
vọng, trái giác, hợp
trần, Hoặc nghiệp vô cùng, khổ quả chẳng dứt.
Từ vô thỉ tới nay, chưa hề giác ngộ. Dẫu
gặp lẽ xuất yếu, chẳng biết tiến hướng.
Do vậy, qua lại sáu đường, ch́m đắm
trong tam đồ, rộng tạo ác nhân, hứng chịu đủ mọi nỗi
khổ cùng cực. Nay do mảy thiện thuở trước,
được gặp chân thừa, khổ nỗi tập
khí đắm nhiễm một bề mạnh mẽ, công phu
Tịnh
nghiệp chẳng thành, trái nghịch chí xuất gia ban
sơ, cô phụ ḷng Từ sâu xa của Phật, Tổ. Xoắn
tay, xét ḷng, thẹn với trời, hổ cùng đất,
bèn lập chí thù thắng, trong ṿng bảy ngày, tu hành Tịnh
Độ Sám Nghi, nguyện thành Niệm Phật tam-muội,
sáu thời hành đạo, nhất ư tŕ danh, ngưỡng khấu
ḷng bi trọn vẹn của Phật, ắt rủ ḷng ứng
hiện nhiệm mầu.
Đốt ba lọn
hương, cúng dường Tam Bảo hai cơi. Nguyện tam
tâm
(trực tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm)
trọn phát, tam chướng (nghiệp chướng, phiền
năo chướng, báo chướng)
chóng trừ. Lại đốt mười bốn lọn
hương để rút mười bốn lá thăm. Một
là để quyết định hành tàng[97]
có bốn sự. Hai
là quyết định lúc hành pháp Chiêm Sát có ba loại, từ
ba đến mười nhằm quyết định Chiêm
Sát hành nghi có tám sự. Mười một là quyết định
Kim Quang Minh Sám có ba loại. Mười hai là để quyết
định lúc tụng Diệt Định Nghiệp chân
ngôn có bảy loại. Mười ba là để quyết
định tu Ban Châu tam-muội có năm loại. Mười
bốn là quyết định chú giải kinh trước,
sau, hoăn, gấp có mười tám loại. Ghi tường tận
trong ấy, Phật tự thấy biết. Nguyện ban
ḷng Từ mênh mông, trừ
nghi hoặc cho con.
Kính nguyện mảy
may điều thiện đều b́nh đẳng thí cho các
hàm thức chúng sanh, xứng pháp tánh vô cùng, nương vào
nguyện luân tự tại, thấy nghe tùy hỷ, ác diệt,
thiện sanh, khế hội Tịch Quang, cùng quy thường
lạc. Trọn hết pháp giới hữu t́nh, không một
ai chẳng sanh Cực Lạc, nhưng Cực Lạc chẳng
tăng. Trọn hết pháp giới vi trần, không ǵ chẳng
hiện Cực Lạc, nhưng Cực Lạc chẳng giảm.
Triệt ngộ vô sanh mà hừng hực văng sanh. Biết rơ
chẳng đi mà đích xác cầu đến, xiển
dương rộng lớn pháp hóa của Phật Di Đà,
rộng phá tà tông luông tuồng, phù hợp sâu xa nguyện
luân của đức Thích Ca, tận lực cứu văn kẻ
học cạn chi ly, độ ngũ trược vào chín phẩm,
tịnh bốn cơi nơi nhất tâm. Hư không có thể hoại,
nguyện của con chẳng tan, nguyện Phật, Pháp,
Tăng chứng minh nhiếp thọ.
* Văn lễ Kim Quang
Minh Sám
(năm Giáp Tuất - 1634)
Trí
Húc tự nghĩ sanh nhằm thời pháp loạn, chẳng
gặp chân thừa, nhân bên trong đă ít ỏi, duyên bên ngoài
cũng mỏng manh, ma chướng nhiều lượt xâm
phạm, tịnh nghiệp chẳng thành, nh́n người rồi tự xét chính
ḿnh, lo thẹn rợn ḷng. May gặp Tối Thắng Kinh
Vương, cát tường diệu sám, lại may có
tăng chúng thanh tịnh, đúng pháp hành tŕ, bèn phát trọn tâm kiền
thành, đốt hương cúng dường. Một là dâng
cúng Thích Ca Văn Phật, A Súc Phật… Hết thảy các
đức Thế Tôn, nguyện con cùng hết thảy chúng
sanh chóng phát Bồ Đề tâm, nối tiếp hưng thịnh
Phật chủng. Hai là dâng cúng Đại Thừa Kim Quang
Minh Hải mười hai bộ kinh. Nguyện cùng hết
thảy chúng sanh mau được huệ sâu rộng, ngộ
nhập biển pháp. Ba là cúng dường Tín Tướng Bồ
Tát, Kim Quang Minh… hết thảy tam thừa
thánh chúng. Nguyện cùng hết thảy chúng sanh mau chứng
nhập giải thoát, cùng dự vào ḍng pháp. Bốn là v́ Phạm,
Thích, tám bộ thánh chúng cúng dường Tam Bảo. Nguyện
tăng trưởng oai thần, hộ tŕ phạm hạnh.
Năm là v́ đệ nhất oai đức Cát Tường
Đại Thiên cúng dường Tam Bảo. Nguyện chẳng
trái bổn thệ, ban cho con cát tường. Từ điều
thứ sáu tới thứ mười một là phụng cúng
các vị sư… (kể tên sáu vị sư, không sao lục lời
nguyện dành cho họ). Từ điều thứ
mười hai tới điều thứ mười bốn,
kính v́ ân sư X… cúng dường Tam Bảo. Sám hối tội
giả vờ xưng là ngộ đạo, hư vọng
b́nh luận các công án, tội hư vọng tạo sám pháp, hủy
báng các vị thánh nhân thuở trước, tội tổn hại
đại chúng lầm nhân mê quả. Các tội như thế,
nguyện đều tiêu trừ. Nếu chẳng thể trừ,
con nguyện đều chịu thay, khiến cho sự
đau khổ trong hiện tiền mau được thuyên
giảm, an ổn. Nếu đại hạn
chẳng thể trốn, rốt cuộc sẽ lên An Dưỡng.
Từ điều thứ mười lăm cho tới
điều thứ mười bảy, kính v́ ngoại hộ,
sa-di (nêu tên sáu người), thí chủ (nêu tên ba người),
các hành nhân cúng dường Tam Bảo. Từ điều thứ
mười tám cho tới điều thứ hai mươi, kính v́ sư X…, bạn
tri kỷ (nêu tên năm vị cư sĩ), bạn bè đă
mất (nêu tên ba người) cúng dường Tam Bảo
(các lời nguyện trên đây chẳng sao lục). Điều
thứ hai mươi mốt là khắp v́ người thấy
nghe, hoặc chẳng thấy nghe, cho đến mười
phương ba đời vô cùng, vô tận hết thảy
chúng sanh, cúng dường Tam Bảo, nguyện đều
mau chóng ngộ Kim Quang Minh Hải, vĩnh viễn đoạn
Hoặc nghiệp khổ luân. Kính nguyện Tam Bảo chứng
minh nhiếp thọ.
Lại dốc ḷng chí
thành, năm vóc gieo sát đất, đốt ba lọn
hương:
- Một
là kính v́ tỳ-kheo X… cúng dường Tam
Bảo, nguyện nhẫn lực kiên cố, chẳng
lơi lỏng hoằng nguyện.
- Hai
là kính v́ quốc chúa xứ Chấn Đán và triệu dân cúng
dường Tam Bảo, nguyện thường hưởng
thái b́nh, giàu vui, chẳng gặp cảnh loạn ly, đói
kém, ma tà, ngoại đạo ẩn kín, chánh pháp hưng
vượng.
- Ba
là v́ chính ḿnh cúng dường Tam Bảo, nguyện
thương xót phàm ngu, ắt càng thêm xót thương gia hộ.
Từ nay trở đi, Tịnh nghiệp ngày một
tăng, tập khí, phiền năo cũ mỗi tâm đều
chế phục, đoạn trừ, thoát ṿng ái kiến, chứng
cảnh Tịch Quang. Niệm nào cũng chẳng trái nghịch
từ phụ, lúc nào cũng được thấy Lạc
Bang, cùng với trọn khắp chúng sanh đều thành
Chánh Giác.
* Văn cáo bạch giảng
Kim Quang Minh Sám
(năm Ất Hợi - 1635)
Trí
Húc và pháp giới chúng sanh tự mê pháp tánh, huyễn tạo
trần lao, tham, sân, si, mạn, ngày đêm hừng hực. Dâm,
trộm, giết, dối luôn luôn chẳng ngừng, khiến
cho tam đồ sôi sục, tám khổ chen nhau nung nấu,
tai biến kỳ lạ nhiều lượt xảy ra,
đói kém lũ lượt kéo tới, chiến tranh quấy
nhiễu, ma tà, ngoại đạo tung hoành. Xót kẻ đồng
phận do kiến giải hư vọng, đêm dài khó thoát.
Đau ḷng kẻ thuận theo nghiệp tự chuốc,
không thể giúp họ xuất ly. Nay gặp dịp thỉnh
mời Công Đức Đại Thiên phát tâm chuyên cầu cứu
vớt, giảng một quyển Bổ Trợ Sám Nghi, mỗi
ngày tùy hỷ tụng niệm hành pháp một khóa. Đốt
hai mươi mốt lọn hương. Lọn
hương thứ nhất, thứ hai, thứ ba phụng
cúng Bổn Sư, Bảo Hoa, Lưu Ly, tứ phương
Phật, và hết thảy chư Phật trong kinh Kim Quang
Minh, Đại Thừa Kim Quang Minh Hải mười hai bộ
kinh, Tín Tướng Bồ Tát và trọn
vẹn hết thảy thánh chúng trong kinh. Lọn
hương thứ tư và thứ năm, kính v́ Đại
Phạm, Đế Thích, Hộ Thế Tứ Vương, Đại
Công Đức Thiên đệ nhất oai đức thành tựu
các sự cúng dường Tam Bảo. Kính nguyện tăng
trưởng oai thần, khiến cho trong nước gió thuận, mưa ḥa, sản vật
phong phú, mọi thời tốt lành, chiến tranh vĩnh viễn
chấm dứt, dịch bệnh tiêu trừ, thánh chúa ban bố
sự giáo hóa nhân từ, quần thần dốc cạn ḷng
trung lương.
Lọn hương thứ
sáu, bảy, và tám tự sám hối nghiệp thân, miệng,
ư, cúng dường Tam Bảo. Lại nguyện từ oai chiết
phục, nhiếp thọ. Lọn hương thứ chín tới
mười hai, kính v́ bốn vị sư (nêu tên bốn vị
sư, nhưng không chép vào đây). Lọn hương thứ
mười ba tới mười lăm, kính v́ các vị
sư tu sám, ngoại hộ, tùy hỷ cúng dường Tam Bảo
(những lời nguyện trên đây không sao lục). Lọn
hương thứ mười sáu kính v́ các bạn kết kỳ
đồng tu, cúng dường Tam Bảo, nguyện ai nấy
giữ vững chí sâu xa, cùng tu tập theo mối đạo
chân thật. Lọn hương thứ mười bảy,
kính v́ các vị hộ tŕ chánh pháp luân, phát hoằng thệ
nguyện (kể tên năm cư sĩ) cúng dường Tam
Bảo. Kính nguyện ai nấy tăng phước huệ,
tự ĺa chướng duyên. Lọn hương thứ
mười tám, kính v́ các vị tăng sĩ có đức
chân thật, hiền nhân, chấn hưng, chiếu rạng,
khơi mở cúng dường Tam Bảo. Kính nguyện họ
giải hạnh cùng tu, nhị nghiêm quyết trọn. Lọn hương thứ mười chín,
thay cho con cháu của ác ma quyến thuộc ngoại đạo
như X… cúng dường Tam Bảo, cầu sám hối sâu
xa. Kính nguyện Tam Bảo oai thần, thương xót họ
kiến trược, hoặc ngầm thị hiện
cảm thông, khiến họ phản tà, quy chánh, trở lại
độ quần mê, hoặc mau chóng truất phạt[98]
rành rành, khiến họ tiêu trừ, tan lui, chẳng mê hoặc
kẻ phàm ngu. Nếu v́ sức tội ác gây
chướng, quyết chẳng thể
sám hối, tỉnh ngộ, tiêu tan, Trí Húc đều nguyện
chịu thay. Nếu thiện căn đoạn sạch, trọn
chẳng thể nhanh chóng cứu vớt, Trí Húc nguyện
đem tất cả các điều thiện dù nhỏ nhoi từ
vô thỉ tới nay, đều thí cho họ, khiến họ
chóng ngộ. Lọn hương thứ hai mươi, hai
mươi mốt, kính v́ giác linh của Thập Giới
a-xà-lê, xuất gia a-xà-lê v.v… cha mẹ đă khuất và hết
thảy thân duyên quyến thuộc cúng dường Tam Bảo
(chẳng sao lục các lời nguyện).
Đem công đức
đốt hương, pháp giới này đều thí cho pháp
giới chúng sanh, nguyện đều ngộ nhập Kim
Quang Minh Hải. Do nghiệp thanh tịnh, cảm Cát Tường
Thiên, thường ủng hộ chúng sanh, đều có thể
dùng tài, dùng pháp nhiếp hóa hết thảy, [khiến cho] ai
nấy sửa ác,
theo lành, phản tà quy chánh, đều có thể tu thân, tu giới,
tu tâm, tu huệ, đều biết cái hiểu “thử tức,
điểu không”[99]
sai trái, đều biết Phật pháp tự
có chân mạch, chẳng phải là tiếm truyền, đều
biết thông minh, đục khoét, mưu
ma chước quỷ chỉ tăng thêm tội khiên báng
pháp, chẳng chữa trị nỗi khổ sanh tử,
đều có thể quên thân xả mạng, chuyên cầu
chánh pháp, tự lợi, lợi tha. Do có thể thuận theo
ư niệm mà tu hành hết thảy các cúng dường, do dâng
cúng Tam Bảo, tâm thường thanh tịnh, chẳng đắm
nhiễm. Do có thể liễu đạt hết thảy các
pháp là Không, chẳng bỏ trang nghiêm Phật độ,
thành tựu chúng sanh. Do có thể liễu đạt “tịnh,
uế b́nh đẳng”, hăm hở cầu sanh Cực Lạc
thế giới. Do có thể tin sâu “tâm, Phật, chúng sanh cả
ba chẳng sai biệt”, tu ṛng Niệm Phật tam-muội,
chẳng nghĩ “không có Phật, không có chúng sanh”. Do có
thể chứng thấu triệt tánh của “tŕ, phạm” là Không, nên dùng tam tụ
tịnh giới nhiếp hóa hết thảy. Do có thể xa
ĺa ư Thanh Văn, Bích Chi Phật, nên thọ tŕ giới luật
tỳ-kheo thanh tịnh, thường có thể diễn nói
giới chính là Ma Ha Diễn (Đại Thừa).
Do có thể biết rơ pháp tánh chẳng
tăng giảm, chẳng
tấn thoái, nên phương tiện tăng
tấn hết thảy thiện căn. Do có thể thâm nhập
đại định, nên luôn hiện trọn khắp oai
nghi. Do có thể rốt ráo vô tướng trí huệ, nên chẳng
xả hết thảy các tướng. Do có thể ngộ
nhập pháp ĺa văn tự, chẳng
ĺa văn tự mà bàn tướng giải thoát, do
có thể chứng thấu triệt vô y vô trụ Đại
Bát Niết Bàn, nên nhiều lượt thị hiện sanh
diệt, rộng làm lợi ích trong
tam giới. Do có thể mỗi niệm đều biết
trọn khắp hết thảy các chuyện thuộc pháp giới
chúng sanh, chẳng xả phương tiện, thị hiện
học hết thảy các pháp môn. Do có thể du hư sanh tử,
nên chẳng nhiễm ô. Do có thể quán chắc Niết Bàn, nên chẳng giữ
lấy sự chứng đắc. Do có thể biết rơ “phiền năo, sanh tử tức Bồ
Đề,
Niết Bàn”,
nên chẳng tưởng là một, chẳng tưởng là
hai. Do có thể mỗi niệm đều tắm gội
trong ḍng pháp, nên chẳng xả chuyện tác pháp, giữ lấy
tướng, thường có thể diễn nói mỗi pháp,
mỗi tướng, đều chính là bản thể vô sanh
của pháp giới. Đă phát đại nguyện như thế
xong, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như
hư không. Ngưỡng mong Kim Quang Minh Hải, đồng
thể Tam Bảo thành tựu các sự,
Công Đức Đại Thiên khiến cho mau được
như nguyện, măn Bồ Đề nguyện.
* Nguyện văn đối
trước tháp Địa Tạng ở Cửu Hoa Sơn
(tháng Ba năm Bính Tư - 1636)
Đảnh
lễ từ bi đại nguyện vương, bổn
nguyên tâm địa Như Lai tạng, khéo nói an ủi, chân cứu
thế. Hiện tướng Thanh Văn để hộ
pháp, nguyện nương bổn thệ độ chúng
sanh. Xét soi tấm ḷng nhỏ nhoi của con mà rủ ḷng gia
hộ. Trí Húc xưa kia trót tạo nghiệt ương sâu
đậm, sanh nhằm thời Mạt, tuy thọ giới
phẩm, lắm điều khinh phạm. Tuy tu tập Thiền
Tư, thô Hoặc chẳng đoạn. Đọc tụng
Đại Thừa, chỉ hiểu nghĩa nông cạn.
Xưng niệm danh hiệu, chẳng nhập Tam-ma (chánh
định). Ngoài th́ thấy ma đảng tung hoành, đau
ḷng, buốt óc. Trong th́ thấy phiền năo nhộn nhạo,
hổ đất,
thẹn trời! Lại do ác nghiệp, chịu đủ
thứ bệnh khổ. Xót xa Sa Bà tệ ác, than thở ch́m
đắm không mối manh! Do vậy, ôm bệnh vào núi, xót
xa cầu Đại Sĩ, mong Bồ Đề muôn kiếp,
phó thân mạng như mây trôi.
Đốt sáu lọn
hương trên cánh tay, ba lọn cúng dường Đao Lợi
thắng hội, hóa thân vô số. Đại Tập[100]
thắng hội, hiện tướng Thanh Văn, lục
căn tụ hội, thiện xảo thuyết pháp Địa
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Một lọn sám hối lỗi
nặng nơi tam nghiệp, các cơ duyên sát nghiệp, dâm dật
từ lúc sanh ra đến nay, tội hủy báng Tam Bảo,
lỗi lầm nơi miệng, ác niệm, cho đến
đủ thứ trọn chẳng như pháp sau khi mắc
bệnh vào thuở trước.
Các thứ như thế nguyện tiêu trừ hết. Một
lọn hương v́ cầu bốn nguyện, luật nghi
thanh tịnh, đoạn Hoặc, chứng Chân, khỏe mạnh
dài lâu, chẳng bệnh, rộng làm các phước sự.
Một lọn hương nhằm dứt lưới nghi,
hoặc là lễ sám trước, cầu luật nghi thanh tịnh.
Hoặc tu tập Thiền
trước, đoạn trừ phiền hoặc. Hoặc
đọc Đại Tạng trước để khai huệ
giải. Hoặc là lập hạnh trước để mở
rộng phước duyên. Kính mong bậc Chân Sĩ cứu
thế, bậc đại trí Khai Sĩ, là bậc thấy
biết hết thảy, đối với các chúng sanh chẳng
quên nghĩ tưởng, ắt rủ ḷng thương xót
xét soi, vẹt mây mê cho con. Con lại đối trước
đức đại từ bi phụ, vẩy máu khắc dạ,
nguyện như thế này: Nếu có một chúng sanh
chưa thành Phật, trọn chẳng tự giữ lấy
Nê Hoàn trước. Nếu do túc nghiệp nhân duyên, bị
lôi vào ác đạo, nguyện Bồ Tát ḷng từ mênh mông
thường giác ngộ con, khiến cho con mỗi niệm
đều nhớ Bồ Đề tâm, khiến cho Bồ
Đề tâm tiếp nối chẳng dứt. Nếu túc
chướng hơi nhẹ hơn, nguyện do oai thần của
Đại Sĩ, khiến cho con sớm thành tựu Niệm
Phật tam-muội, quyết sanh vào thế giới của
A Di Đà Phật, nương vào sức bổn nguyện,
trong vô biên sát hải[101],
hóa độ hữu t́nh tột mé vị lai, chẳng hề
nhàm chán!
* Nguyện văn [trong
dịp cầu siêu cha mẹ đă mất tṛn] mười
năm
(ngày mùng Một tháng Sáu)
Đảnh
lễ Thích Ca đại thánh tôn, đấng mười
phương trọn hết nhân luân, đấng chân thật
chí hiếu nhất, đấng chân thật lễ nghị[102],
thầy bạn chân thật, nói pháp rốt ráo chân thật,
các vị tăng chân thật đúng như pháp tu hành. Con nay
xót xa thỉnh cầu rủ ḷng hộ tŕ, nguyện ban từ
bi cùng chứng minh. Trí Húc sanh nhằm thời Mạt,
phước lẫn huệ đều
ít ỏi, chịu ân sâu dưỡng dục
duy nhất của song thân, chẳng biết báo đáp. Thoạt
đầu th́ trái nghịch lời dạy răn của cha
mẹ, tạo tội khiên báng Phật, báng pháp nặng nề.
Đă hơi hiểu chân thừa, bèn vứt bỏ khuôn phép
thế tục “sống phụng dưỡng, chết
chôn cất”. Tuy muốn hạn định thời hạn
để chứng quả, vội bỏ gia duyên, thật sự
v́ túc chướng quá nhiều, tŕ trệ nơi địa
vị phàm phu đă lâu. Nghĩ lại cái chí ban đầu,
lệ tuôn đầm đ́a hổ thẹn, sợ hăi. Tưởng vị lai mà buốt ḷng,
xót mũi! Pháp thế gian lẫn xuất thế
gian thảy đều chẳng trọn, quả báo đời
sau chuốc khổ chẳng c̣n ngờ! Do vậy, tự tŕ
kinh chú (kể ra ba ngàn quyển kinh, tŕ chú hai ngàn vạn lần,
niệm danh hiệu Phật một vạn câu, đều chẳng
sao chép). Đốt ba lọn
hương, gom chung các kinh chú do các thiện hữu đă
tŕ (liệt kê tỳ-kheo, sa-di, ưu-bà-tắc ba mươi
tám người cùng tŕ các kinh luật bốn ngàn tám trăm
lẻ bảy bộ. Mỗi người học thuộc một
bộ kinh luận, một trăm vạn kệ, các chú phẩm
hai trăm hai mươi vạn lẻ ba ngàn năm trăm
chín mươi sáu lượt. Lại tŕ Nhất Tự
Đại Luân Chân Ngôn[103]
bảy ngày, danh hiệu Phật, Bồ Tát bảy trăm
mười lăm vạn câu, lễ Phật ba vạn lạy,
không sao chép chi tiết). Dùng đó
để siêu tiến cha là Chung Chi Phượng,
mẹ là Kim Đại Liên. Kính nguyện [cha
mẹ] quyết sanh về Tịnh Độ,
mau chứng Vô Sanh, được thọ kư trong mười
phương, độ hàm linh trong ngũ trược.
Lại đốt
ba lọn hương, để v́ các thiện hữu tăng, tục, cầu xin Tam Bảo.
Kính nguyện tỳ-kheo X… đau đáu nghĩ chánh pháp suy
vi, sẽ quyết chứng pháp chân thật. Các vị… (nêu
tên bốn người) tu trọn vẹn nghiệp Định
Huệ. Sa-di X… phát chí sâu chắc, thành tựu sức nhẫn
nhục. Các vị X…. (nêu tên bốn người) giới
đức ngày càng sâu dày, huệ tánh rạng ngời.
Ưu-bà-tắc X… ĺa các chướng duyên, thành tựu nhị
lợi. X… ngộ rơ trần duyên, tăng
trưởng tín lực, xả ác trụ
thiện, kiên cố Bồ Đề. Lại nguyện Trí
Húc bệnh tiêu, chướng tịnh, tất cả thệ
nguyện không ǵ chẳng viên thành, tất cả trước
thuật đều khế hợp Phật ư, tất cả
Phật sự mau hoàn tất chẳng gặp
khó khăn. Tất cả khai hóa thảy
đều lănh ngộ. Hưng khởi chánh pháp của đức Thích
Ca tại Chi Na, phù tá đức Di
Đà nơi lạc thổ, nối gia nghiệp của
đức Địa Tạng, nhập hạnh môn Phổ
Hiền, dùng Niệm Phật tam-muội của Thế Chí
để tự độ, độ người khác. Dùng
thâm tâm kết tập của ngài Ca Diếp để hộ
pháp, hộ chúng, khiến cho tà ma, ngoại đạo thấy bóng bèn
náu ḿnh, khiến giáo giới, Thiền Na ngày đêm rạng
ngời. Ngưỡng mong Tam Bảo rủ ḷng Từ, măn Bồ Đề
nguyện.
* Văn tŕ chú
Trí
Húc đời trước nghiệp nặng, đời hiện
tại tội sâu, há chỉ chẳng thể định kỳ
hạn cầu chứng quả, báo trọn khắp tứ
ân, mà c̣n chẳng thể truyền tu thánh đạo, nêu
gương rộng lớn trong tam giới. Tháng ngày hờ hững,
cứ buông lung, lần khân, đến nỗi bị các
duyên khác bức bách, bệnh ngặt quấn thân, phiền lụy
Tăng, tục cúng dường, hộ tŕ. Tự xét gẫm
kỹ, há có đức nào kham tiêu [cúng dường]? Lặng
thinh nghĩ ngợi, quả thật càng thêm hổ thẹn,
sợ hăi. Do vậy, ngăn chặn các duyên khác, kết
đàn chuyên tụng hai loại Tổng Tŕ, kính đền
đáp ngoại hộ. Đốt chín lọn hương
trên cánh tay để cúng dường Tam Bảo và Địa
Tạng là đấng tự tại thương xót chúng
sanh. Nguyện tỳ-kheo X… chánh kiến
lỗi lạc, có thể xoay chuyển thói tệ trong hiện
thời, mà chẳng bị lưu chuyển. Sa-di X… trong ngoài
như một, từ đầu đến cuối nhất
trí. Các vị ở trong núi… (nêu tên mười người)
ở trong pháp thế gian, tăng trưởng tín
căn. Ưu-bà-tắc X… thân tâm măi yên vui, trí huệ như biển. Vị X… biết ân ái giống
như gông cùm, tự nhiên chế phục, đoạn trừ
phiền năo tội căn. Ông X… dứt phàm tâm cầu
con, trở thành thánh hạnh chân thiện. Các vị sa-môn…
(nêu tên ba mươi sáu người) huệ mạng kiên cố,
thành tựu đạo quả. Ưu-bà-tắc… (mười
người) và tín nữ… (kể tên năm người) muốn
hành ác pháp đều chẳng thể được! Muốn
tu thiện nghiệp, sẽ chóng thành tựu, đóng chặt
hết thảy các cửa ác thú, khơi
mở, xiển dương chánh lộ nhân thiên, Niết Bàn.
Lại nguyện Trí Húc
bệnh khổ tiêu trừ, phước đức sanh
trưởng, mau rút được lá thăm “duyệt
xong Đại Tạng”, sớm thỏa chí đoạn
Hoặc, trước thuật mở mắt cho trời
người, mỗi chữ đều ngầm khế hợp
Phật tâm, cùng với tăng tục đồng sanh Lạc
Bang. Đời đời, kiếp kiếp làm Ảnh
Hưởng Chúng, măi cho đến [khi ngồi] đạo
tràng, vĩnh viễn chẳng ngăn ngại. Lại v́ rút
thăm để quyết nghi, cúng một lọn
hương, nguyện lá thăm rút được quyết
định linh ứng. Từ nay trở đi, nhất ư
hành tŕ, chẳng ngờ vực, hối hận, tự lợi,
lợi người khác, công không luống bỏ, măn Bồ
Đề nguyện, rộng độ chúng sanh.
* Nguyện văn duyệt
Đại Tạng
Quy
mạng pháp giới đại y vương, đủ loại
đúng bệnh ban cho thuốc diệu pháp. Quán Âm, Địa Tạng khán bệnh mẫu (看病母), nguyện ban từ bi, cùng thương xót, hộ
tŕ. Trí Húc và chúng sanh trái nghịch tánh Nhất Chân, dấy
lên các bệnh huyễn. Tam Hoặc là cội nguồn của
các tội, Tứ Đại là sào huyệt của trăm bệnh.
Giữ chặt vọng niệm trong trần kiếp[104]
chẳng chịu ĺa bỏ, hứng chịu thân khổ
độc, luân hồi chẳng có cùng tuyệt! May
được làm thân người, vẫn vướng các
khổ. Thẹn mang Tăng tướng, Hoặc căn vẫn
vấn vít. Thiền Na, Giáo Quán chỉ có hư danh. Giới
luật, tổng tŕ đều chẳng có thật nghĩa!
Khiến cho ma quân thừa dịp, chướng nạn lắm
phen xâm hại. Thân th́ các bệnh chen nhau nung đốt, tâm
bị các duyên khác bức bách. Muốn làm thiện sự,
thường chẳng thể thành. Do vậy, sanh ḷng hổ
thẹn sâu xa, tin chắc nhân duyên, quy mạng hai vị
đại từ tôn Quán Âm và Địa Tạng, xót xa cầu
sám hối, khẩn thiết xin được hộ tŕ, chữa
trị bệnh sốt rét. Tŕ xong Đại Bi chương
cú hai trăm bảy mươi khóa, bệnh rét dần lành.
Đốt ba lọn hương, cúng dường Tam Bảo.
Nguyện cùng chúng sanh, ĺa nhân duyên bệnh, đoạn báo bệnh
khổ, thân tâm an lạc, chân tánh hiện tiền, phát khởi
đại tâm, hành các diệu hạnh.
Lại đốt ba lọn hương, kể từ hôm
nay, tạm giảm hằng khóa[105],
tiếp
tục đọc Tạng Kinh. Nguyện lần
này quyết chẳng có chướng duyên, từ đầu
tới cuối, mỗi chữ đều hiểu rơ. Ngoài
th́ mọi sự dư dật, hành nhân ḥa thuận, chẳng
có mảy mảy chuyện vụn vặt quấy nhiễu
cái tâm. Trong th́ ư nghĩa tinh vi lọt vào thần thức,
theo kinh văn mà nhập chứng, quyết đạt
được sức Văn Tŕ thù thắng, cùng trọn khắp
chúng sanh khai đốn ngộ môn, thành tựu con đường
chánh tu, dẹp tan tà tràng của ma quân, ngoại đạo,
trừ sạch thiên chấp của Quyền, Tiểu, lập
tức dứt bệnh trầm kha, cây khô lại trổ,
ngưỡng mong từ bi che chở!
* Bài văn khải cáo
hoàn tất chú sớ kinh Phạm Vơng
(năm Đinh Sửu - 1637)
Quy
mạng hoa đài Lô Xá Na, trăm ngàn ức Phật trên ngàn
hoa, Phạm Vơng Khế Kinh Tâm Địa tạng,
Huyền Thông, Hoa Quang Đại Trí Minh, cũng lễ Di
Đà đại nguyện vương, Quán Âm, Thế Chí,
Đại Hải chúng, và đức Địa Tạng bậc
thắng từ, ban ḷng thương xót, cùng cứu bạt.
Bồ Tát giới Sa-di Trí Húc trộm nghĩ tôn kinh Phạm
Vơng cất kín trong cung kho rồng đă lâu. Quyển hạ
tuy đă có nghĩa sớ, nhưng cổ nhân đă lược
qua nhiều ư nghĩa bao hàm, khiến cho mọi người
hiếm ai hiểu sâu sắc. Quyển thượng th́ hai vị
chú giải vừa mới sơ thảo, đều cách biệt
môn tường, khiến cho đường
lối tu chứng trọng yếu ngàn năm mờ mịt.
Húc do chút điều
thiện trong túc nhân, được gặp linh
văn[106],
ba bốn lượt lắng ḷng, [tạm lănh ngộ] rành
rành như vật báu cũ, chẳng nề hà hèn kém, vụng
về, hợp chú soạn thành. Kính đốt hai
mươi bốn lọn hương trên cánh tay để
hồi hướng chân thừa. Lọn hương thứ
nhất, thứ hai, thứ ba phụng cúng tam thân nhất thể
Lô Xá Na Phật, kinh Phạm Vơng Tâm Địa giáo, hạnh,
lư, Huyền Thông Hoa Quang Chủ, Hoa Quang Vương Đại
Trí Minh, và Văn Thù, Phổ Hiền, Dược
Vương, Dược Thượng, Kim Cang Tạng,
Hư Không Tạng, Di Lặc, Kim Cang Thủ v.v… Trọn hết
các vị Thập Địa Bồ Tát Ma Ha Tát phát thú[107],
trưởng dưỡng Kim Cang trong biển Phạm Vơng.
Kính nguyện Trí Húc xả huyễn thân này, từ vô thỉ
đến nay, nghiệp bất thiện nơi thân, khẩu,
ư, hủy báng, hẹp ḥi, lầm lạc, đủ loại
tội ác đều được tiêu trừ. Hết thảy
thiện căn đều được kiên cố. Lọn
hương thứ tư cúng dường Cực Lạc thế
giới A Di Đà Phật, y báo và chánh báo tuyên dương,
hai vị thị giả Bồ Tát và biển thánh chúng. Kính
nguyện Trí Húc xả huyễn thân này, nhất định
sanh về Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, măn
đại nguyện luân. Lọn hương thứ năm
cúng dường Địa Tạng từ tôn. Kính nguyện
Trí Húc đại trí mở sáng, đại bi tăng thượng,
ĺa các phiền năo, rộng độ chúng sanh, diệt các tội
chướng, rộng chịu thay các khổ. Lọn
hương thứ sáu cúng dường tạng kinh tại
Linh Phong, nguyện sớm trang nghiêm. Lọn hương thứ
bảy và tám v́ cha mẹ và quyến thuộc đă khuất,
và thỉnh chủ đă khuất, cúng dường Tam
Bảo, nguyện nương vào cái nhân
tốt lành cùng sanh về
Tịnh Độ. Lọn hương thứ chín v́ hai vị
thầy quy y và truyền Thập Giới, đạo hữu…
(năm vị) cúng dường Tam Bảo. Nguyện diệt
trừ tội cấu, được ngự trong chín phẩm
sen. Lọn hương thứ mười v́ hai loại
thầy tà chánh trong cơi tục cúng dường Tam Bảo,
nguyện tà sư sẽ xả tà kiến, chẳng thọ
tà báo, chánh sư th́ tăng chánh tín, thành tựu chánh tu.
Lọn hương thứ
mười một v́ thỉnh chủ là tỳ-kheo Đạo
Phưởng cúng dường Tam Bảo, nguyện thành bậc phẩm đức chân thật
ngàn đời, làm cây thuốc trong đời
Mạt. Lọn hương thứ mười hai và mười
ba v́ tỳ-kheo… (bốn vị), sa-di… (nêu tên bảy người)
cúng dường Tam Bảo. Nguyện họ sẽ phá trừ tập
khí, thành tựu khí tiết cứng cỏi.
Lọn hương thứ mười bốn v́ hết thảy
đại chúng tùy hỷ, kết duyên cúng dường Tam Bảo.
Nguyện gieo sâu căn lành, vĩnh viễn làm đạo chủng,
thoát ĺa lưới trần, tiến hướng Bồ
Đề. Lọn hương thứ mười lăm cho
tới mười bảy v́ Bồ Tát giới Ưu-bà-tắc…
(hai người), các cư sĩ… (kể tên bảy người)
cúng dường Tam Bảo. Nguyện chuyển biến tà
tâm của cha mẹ, thân tộc, ĺa ư tàn hại đạo
tặc, gian hùng. Lọn hương thứ mười tám
kính v́ người từng thọ Bồ Tát giới trong
hư không pháp giới cúng dường Tam Bảo, nguyện
cho giới phẩm bền chắc, chẳng phạm lỗi
nhỏ nhặt, Định Cộng Giới và Đạo Cộng
Giới cùng sáng ngời, nhiếp thiện giới, nhiếp
chúng sanh giới đều chứng trọn. Do ba
mươi tâm, dự lên địa vị thể tánh, mau
thành Chánh Giác, viên măn Pháp Thân.
Lọn hương thứ
mười chín kính v́ hết thảy người thọ Bồ
Tát mà hủy phạm trong hư không pháp giới cúng dường
Tam Bảo, nguyện cho tội chướng tiêu trừ, giới
phẩm lại tịnh, những lầm lỗi nặng hay
nhẹ, hết thảy
đều miễn trừ. Lọn hương thứ hai
mươi kính v́
pháp giới hàm thức tuy chưa thọ giới, nhưng
đă từng nghe tên kinh Phạm Vơng mà
cúng dường Tam Bảo. Nguyện
nhờ nhân lành, cùng sanh giác ngộ, phát tâm nắm giữ,
đúng pháp tu tŕ. Lọn hương thứ hai mươi mốt
kính v́ pháp giới hàm thức tuy có Phật tánh Phạm Vơng
chân thường, nhưng
trước nay chưa từng nghe danh hiệu này, cúng
dường Tam Bảo, nguyện do đức đại từ
bi, sức chẳng nghĩ bàn, sức oai lực đồng
thể pháp tánh chân thật,
khiến cho từ nay trở
đi, đều nghe pháp môn vi diệu này, sẽ chánh
tín, chánh giải, ĺa tam đồ, vượt tám nạn,
quyết lên giới phẩm, chú trọng chân tu, lần
lượt khuyên dụ, giáo hóa [người khác] cùng chứng
Bồ Đề.
Nếu bị ác chướng
vấn vít, chẳng thể tự trừ dẹp, hôn mê, phiền
hoặc điên đảo, chẳng thể giác ngộ, nguyện
do sức đại công đức trí huệ từ bi rốt
ráo của Tam Bảo, do vô biên nguyện lực của A Di
Đà Phật, thệ lực dũng mănh của Địa
Tạng Bồ Tát, khiến họ mau chóng
giác ngộ, dẹp sạch khổ
luân. Nếu do định nghiệp, quyết phải chịu
khổ báo, nguyện Trí Húc sớm sanh về Tịnh Độ,
nương theo nguyện luân, trong các địa ngục
như A Tỳ v.v… thuộc bất khả thuyết bất
khả thuyết thế giới hải trọn khắp
mười phương, thay họ chịu khổ, khiến
cho các chúng sanh ấy chứng Bồ Đề trước.
Giả sử trong pháp giới hăy
c̣n một chúng sanh chưa thành Chánh
Giác, Trí Húc cam chịu ở trong vô lượng địa
ngục, thay người ấy
chịu khổ sở tận hết thảy kiếp, chẳng
chán, chẳng mệt!
Thệ nguyện của
Trí Húc trong ngày nay đều giống như [thệ nguyện
của] tam thế Phật, Bồ Tát đă phát, đều
được hết thảy chư Phật, Bồ Tát gia
tŕ. Nếu do vô thỉ ác nghiệp, Trí Húc đáng đọa
trong đường khổ to lớn, thần thức hôn
mê, trái nghịch đại tâm, đại nguyện, đại
hạnh ngày nay, ngưỡng vọng Xá Na từ phụ,
Thích Ca Bổn Sư, Di Đà nguyện vương, Địa
Tạng bi mẫu xót thương thủ hộ con, giác ngộ
con, khiến cho con trong khổ sở nhớ đến bổn
nguyện ngày nay, chẳng xả khổ mà độ chúng
sanh.
Lại
nguyện do nhân duyên công đức
đốt hương phát nguyện ngày nay, khiến cho chánh
pháp lại rạng ngời nơi Chấn Đán, gió tà ngừng
thổi trong các cơi nhiều như cát sông Hằng. Người
tŕ luật hiểu rơ tŕ, phạm, khéo biết khai, giá.
Người học Giáo biết rơ nghĩa lư, liễu đạt
tánh tu. Người tọa Thiền ngộ rỗng rang nguồn
tâm, chẳng gặp ma ngoại. Người niệm Phật
lư sự viên dung, ta,
người chẳng cách biệt. Lại nguyện hết
thảy các pháp môn, mọi người đều thông đạt,
vĩnh viễn chẳng có tội khiên đấu tranh kiên cố,
trừ sạch kiến chấp thiết lập môn đ́nh.
Niệm nào cũng tiếp nối đèn tâm của Phật,
Tổ, pháp nào cũng bao gồm biển tánh Phạm Vơng.
T́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí.
* Văn sám nguyện kết
đàn tụng chú Diệt Định Nghiệp
Đảnh
lễ nghiệp tánh như hư không, măn phần giải
thoát diệt nghiệp chướng. Con nay tŕ tụng kệ
bí mật, nguyện diệt định nghiệp ḿnh lẫn
người. Vô biên phước huệ cùng trang nghiêm, thành tựu
công đức thù thắng hy hữu. Thấy nghe tùy hỷ
phát Bồ Đề, tâm địa tánh tạng cùng chứng
trọn.
Bà
Già Bà Phật Đà (diệu giác là địa vị vô
thượng), ma-ha
nhất-ḥa-sa (địa vị
vô tướng, vô cấu), A-ha-la-phất
(Minh Hạnh Túc Pháp Vân địa), A-na-ha (huệ quang Diệu
Thiện địa), A-ni-la-hán
(biến hóa sanh Bất Động địa), A-la-hán
(quá tam hữu Viễn Hành địa), A-na-hàm (bạc lưu Hiện
Tiền địa), Tư-đà-hàm (độ
chướng Nan Thắng địa), Tu-đà-hoàn (quán minh Diễm
địa), Tu-đà-ca (lưu chiếu
Minh địa), Tu-a-già-nhất-ba (đạo
lưu Ly Cấu địa), Cưu-ma-la-già
(nghịch lưu Hoan Hỷ địa), Đạt-ma-biên-già, Ba-la-đề
phất-đà, Ba-ha-đế,
Sư-la-xoa-già, La-xoa-tất, Phật-độ-a, Pháp-tất-đà, Tất-bạch-già, La-đàm-sa, La-la-đế-lưu-sa, Độ-xoa-nhất-bà, Độ-Phật-a, Độ-a-ha,
Độ-sa-tất,
Độ-sanh-bà-đế,
Độ-lợi-tha, Độ-ḥa-sai, Độ-chỉ-la, Độ-an-nhĩ,
Độ-già-a, Lưu-sơn-ca, Tất-a-la, Tất-xoa-già, A-b́-bạt,
Tỳ-bạt-trí, An-bà-sa,
Lưu-ma-a,
Lưu-la-già,
Lưu-đế-già-độ, Lưu-già-độ. Tín, niệm,
tấn, định, huệ, giới,
hướng, hộ, xả, nguyện, hết
thảy Bồ Tát Ma Ha Tát. Kính mong mạt thừa Tam Bảo,
dù thánh hay phàm đồng gia bị hộ niệm, cùng chứng
minh cho. Cho phép Trí Húc ngày nay chí tâm sám hối, măn nguyện
luân rộng lớn trong ngày hôm nay, hồ quỳ, chắp tay, phơi
cạn gan ruột, bạch như thế này:
Trí Húc tự mê hoặc chân tánh,
oan uổng vào trong ḍng hư vọng, rong ruổi theo vô minh,
tăng trưởng ác nghiệp. Từ vô thỉ đến
nay, chưa từng giác ngộ. Tội chướng tích tụ
vô lượng vô biên. Nhờ gặp
chú Diệt Định Nghiệp của Địa Tạng
Bồ Tát, đă khuyên những người cùng nghiệp
cùng nhau tŕ mười vạn vạn lần, lại c̣n tự
nỗ lực chuyên tŕ năm trăm vạn lần, mười
ngày phương tiện, trăm ngày chánh tu, kết tịnh
đàn đúng như pháp, thọ hạnh thù thắng “chỉ
ăn một bữa”. Do
đạo tràng sắp hoàn tất, khóa niệm thầm và
hành pháp giúp thành, cung kính đốt ba lọn hương
trên cánh tay, cúng dường pháp giới Tam Bảo, kính mong
đàn pháp Chiêm Sát sớm được lưu thông.
Lại nghĩ các thứ
định nghiệp do ba thứ thân,
miệng, ư mà rộng tạo
Thập Ác. Ác pháp đă thành, như mũi tên đặt trên
dây cung kéo căng, ắt sẽ bay xa, theo đúng lẽ, sẽ
chẳng ngừng nửa chừng. Dẫu bi tâm của
Đại Sĩ, sức chân ngôn chẳng thể nghĩ
bàn, cũng cần phải vĩnh viễn dứt ương họa cũ
th́ tội khiên cũ mới sẽ có thể
cùng mất, nhưng cung kính xét lỗi chính ḿnh, hổ thẹn,
kinh sợ càng tăng. Con thật sự mầm dâm, ư trộm,
tập khí giết chóc chưa trừ, sao có thể khiến
cho người khác
vĩnh viễn trừ ba ác nghiệp
nơi thân? Quả thật,
các chủng tử nói dối, nói thêu dệt, nói lời thô
ác, nói đôi chiều của con
nay vẫn chưa tiêu, sao có thể khiến cho người
khác vĩnh viễn tiêu trừ bốn ác nghiệp nơi miệng?
Con quả thật tham, sân, si dấy lên hiện hành chẳng
ngừng, sao có
thể khiến cho người khác vĩnh viễn ngưng
dứt tam ác độc nơi ư?
Than ôi! Kiểm điểm
một thân toàn là khuyết điểm, kinh hoảng nửa
đời đă thành phí uổng. Xoắn tay, xét ḷng, gào trời
thét đất. Lại đốt ba lọn hương, tự
hối hận, tự trách sâu xa. Lại v́ pháp giới chúng
sanh xót xa cầu hối lỗi.
Kính nguyện từ nay trở đi, mười ác tiêu, tam
nghiệp tịnh, chẳng tạo nhân, chẳng thọ quả.
Lại đốt một lọn hương cúng dường
Ngũ Đài Diệu Phong lăo sư và ḥa thượng Vân
Thê, sư tổ Hám Sơn, Tử Bách đại sư, tôn
giả Mật Tạng, hết thảy chân thiện tri thức.
Nguyện do sức phước huệ cùng gia bị che chở,
khiến cho nguyện kiến tạo ṭa điện bằng
đồng tại Cửu Hoa của con sớm được
viên măn. Lại đốt năm lọn hương. Một
v́ hai liêu ở Cửu Hoa tŕ hai mươi vạn lần.
Hai là kho chứa, nhà bếp và tháp Phổ Đồng,
cũng như tăng, tục giúp sức thành tựu mà tŕ
hai mươi vạn lần. Ba là v́ đại chúng nghe pháp
và kết duyên mà tŕ mười vạn lần. Bốn là v́
người lui tới, ở lại mà tŕ mười vạn
lần. Năm là v́ ông X... trước kia [hứa nguyện] tŕ năm
mươi vạn, cũng như mỗi ngày tŕ chú Đại
Bi mười bốn lần. Nay tŕ thêm
chân ngôn mười vạn
lần, đốt năm lọn hương trên cánh tay
để cúng dường Tam Bảo, thay mặt trọn hết
những đứa con chân thật của đức Địa
Tạng [để nguyện họ sẽ] kế tục
nguyện vương của đức Địa Tạng.
Lại v́ sa-di X… trước kia tŕ một trăm
vạn lần, nay thêm năm vạn, dâng cúng một lọn
hương, nguyện khiến cho người ấy vun bồi
nền tảng phước thọ, ĺa tập khí làm việc
ǵ cũng dở dang, lập thân như Thái Sơn chót vót, thề
chí ắt che trời phủ đất. Lại v́ các sa-di…
(ba người), v́ mỗi người tŕ năm vạn
lượt, dâng một lọn hương, nguyện họ
từ Sự nhập Lư, thành tựu ngũ căn, tỏ rơ
ngũ lực. Trước kia đă v́ tỳ-kheo X… mỗi
ngày tŕ ba trăm lượt, lấy mười hạ làm hạn,
c̣n tŕ thêm chú Đại Bi, mỗi ngày bảy
lượt, lấy thành tựu pháp khí làm kỳ hạn.
Đă từng v́ các vị X... mỗi vị tŕ năm mươi vạn, nay cùng tŕ thêm mười vạn, cúng một lọn
hương. Nguyện họ bỏ tập khí vin
cành t́m lá, ngộ công phu thẳng thừng, nhanh chóng nơi cội
rễ, phân tích nghĩa như đầu bếp xẻ trâu,
đạt được lư như ngỗng chúa chọn sữa.
Ông X… sẽ chuyên cầu
lỗi ḿnh, chẳng trách người khác sai trái, sẽ biết
cẩu thả ắt khó thoát khỏi tù ngục sanh tử,
tin do hạnh kém, điên đảo, rối ren, quyết sẽ
chẳng thể hoành siêu Tịnh Độ, sẽ dũng
mănh hăng hái tuân theo kế sách mới, đừng vẫn
cứ theo lối ṃn cũ. Ông
Y… sẽ suy nghĩ cẩn thận, biện định sáng
suốt, suy xét cặn kẽ, tinh vi, thống thiết trừ
bỏ tính hời hợt, thô tháo, điều chưa hiểu
sẽ hiểu trước, chuyên cầu tự đạt
được bản lănh sâu xa dường như chẳng
có, dường như huyễn, ngộ Văn Tự tam-muội
giống như tự kết
kén kéo tơ, có thể nhập lư đàm luận sâu xa, ắt
có thể ghè xương lấy tủy.
Lại v́ sa di X… trước
kia tŕ một trăm vạn lần, nay tŕ mười vạn. Con mỗi ngày riêng
tŕ bảy biến chú Đại Bi, lấy thành tựu pháp
khí làm kỳ hạn. Nay tŕ thêm năm vạn
lần chân ngôn, cúng một lọn hương, nguyện ông
X… chiết phục kiêu căng, đoạn trừ ngă mạn,
vun sâu phước thọ, chuyên chú trọng Tư Tu, tự
phản tỉnh
khuyết điểm của chính ḿnh,
hâm mộ sở trường của người khác, hạ
học thượng đạt, từ ngay nơi Sự mà
luyện tâm. Ông X… giới căn vĩnh viễn bền chắc, mau phá được những rào
ngăn. Lại v́ tỳ-kheo X… tŕ mười
vạn, cúng một lọn hương, nguyện thầy X…
trang nghiêm đại tạng mau được viên thành. Cái tâm chuyên trọng
tiếng tăm của thầy X… tan diệt, giác ư ngày một
sáng hơn. Đừng nghĩ lỗ
mũi hếch lên trời, chỉ chuyên chú sao cho bàn chân chạm
đất. Lại v́ tỳ-kheo… (hai mươi người)
tŕ hai mươi vạn lần, cúng hai lọn hương,
nguyện họ đều vĩnh viễn đoạn tập
khí phiền năo, gánh vác chánh pháp. Họ sẽ siêng tu đạo
xuất yếu, vĩnh viễn ĺa cái nhân hư vọng.
Lại v́ hết thảy
Thiền giả, người học Giáo, người tŕ Luật,
người niệm Phật, tu Du Già, và kẻ tà mạng,
vân du, chuyên làm ruộng, những kẻ khoác y của Như
Lai, hiện tướng Tăng Già, đạp trên đất
già-lam, mạo danh xuất gia, hết thảy những
người mặc áo thâm trọn tam
thiên hạ[108],
cùng tŕ ba mươi vạn biến, cúng ba lọn
hương. Kính nguyện kẻ cuồng vọng hồ Thiền[109],
đều chuyển hết thành bậc
long tượng tông thuyết đều thông. Kẻ học
câu nệ văn từ, chi tiết vụn vặt, đều
chuyển hết thành bậc sư tử tùy văn nhập
quán. Kẻ giới tử dê ngốc chuyển hết thành kỳ
lân nơi Luật Định Cộng, Đạo Cộng.
Kẻ chật vật nơi Liên Tông chuyển hết thành hổ
có sừng trí dũng mănh, có huệ
hạnh. Kẻ ca xướng Du Già[110]
chuyển hết thành bậc thần tăng truyền trao
tam-muội. Bọn lái buôn trọc đầu[111]
chuyển hết thành bậc thầy hướng dẫn vạn
hạnh. Kẻ vân du tặc trụ[112]
chuyển hết thành những tấm gương hành đầu
đà thù thắng thơm thảo. Tăng dân chuyên cày cấy
chuyển hết thành giống thiêng trong vườn ruộng
pháp giới.
Lại v́ Bồ Tát
Ưu-bà-tắc X… hằng ngày tŕ bảy lượt chú
Đại Bi, lấy thoát nạn làm kỳ
hạn. Nay tŕ thêm năm vạn câu chân ngôn, v́ những vị
như ông Y… trước kia tŕ hai mươi vạn, các vị
như ông Z… (kể tên năm người) nay tŕ mười
vạn, cùng cúng hai lọn hương. Nguyện
ai nấy tăng thêm chánh tín, tăng trưởng tâm
sám hối, cùng uống sữa chẳng pha chất độc,
phước chẳng song hành cùng tội, vĩnh viễn làm
kim thang[113],
tiến hướng theo nẻo giác. Lại đốt một
lọn hương, cúng dường Địa Tạng từ
tôn. Đem công đức đốt hương, tŕ chú này
đều hướng về cha mẹ, và pháp giới hữu
t́nh, cùng tŕ ba ngàn vạn, v́ hết thảy thầy, bạn,
đệ tử đồng học, đàn na, ngoại hộ,
oán thân tri thức tŕ tụng chín mươi vạn, ba
trăm hai mươi vạn, bốn mươi tám vạn
v.v… cho đến [hồi hướng nhân ngày] sinh nhật,
siêu tiến vong linh các đời, hối lỗi, trừ
tai, hoặc tự ḿnh tŕ, hoặc do người khác tŕ, tŕ
chú dù nhiều hay ít, chí tâm hay tán tâm, lại c̣n khuyến hóa
trọn khắp tăng, tục tŕ mười vạn vạn,
dù khuyến hóa hay chưa khuyến hóa, dù đă hoàn tất
hay chưa xong, quá khứ, hiện tại, vị lai, hết
thảy công đức, nay đều nhiếp thủ vào hiện
tiền, cùng hồi hướng trọn khắp, thâm tâm tín
giải. Oai lực của chân ngôn chẳng thể nghĩ
bàn, mỗi chữ trọn đủ vô biên công đức
trong pháp giới. Hết thảy các chữ cũng như thế.
Do oai thần của trùng trùng vô tận công đức chẳng
thể nghĩ bàn ấy, khiến cho con hết thảy
đều được như sở nguyện, măn nguyện
Bồ Đề.
Lại đốt bốn
lọn hương, cúng dường pháp giới Tam Bảo,
và Địa Tạng Đại Sĩ, cầu chiêm sát luân
tướng thứ ba, hoặc nương theo pháp Chiêm Sát,
sám hối tội chướng trước, hoặc trụ
A Lan Nhă, tu Thiền Định trước, hay trước
thuật hoằng truyền kinh. Tu quán trí trước, hay
gieo các gốc lành, hành các tam-muội. Khẩn cầu đấng
đại từ chỉ dạy rơ ràng, khiến cho con đời
này chẳng đến nỗi chết uổng! Lại c̣n ba lọn
hương cúng dường Tịnh Độ Tam Bảo. Đem
công đức này, thảy đều hồi thí pháp giới
chúng sanh. Nguyện cùng xả một kỳ báo thân này, quyết
định cùng sanh vào thế giới Cực Lạc, vĩnh viễn ĺa
khổ nhân, khổ quả, mau chứng Bồ Đề Niết
Bàn.
* Sớ tŕnh tội cầu
xót thương
Đảnh
lễ bậc từ phụ Năng Nhân đại hiếu,
kinh Phạm Vơng lấy hiếu thuận làm tông, các đấng
đạt hiếu (達孝)
Địa Tạng và Mục Liên, chư thánh tu chứng hiếu
từ, nay con đốt hương sám hối tiền
khiên, nguyện từ bi xót thương, rủ
ḷng cứu bạt. Trí Húc là kẻ giả danh Bồ Tát giới,
là sa-di làm ô uế đạo, khóc ra máu, dập đầu.
Kính bạch Thường Tịch Quang Độ nhất thể
Tam Bảo, chuyên khẩn cầu đại từ đại
bi rủ ḷng cảm ứng, nói nghĩ tội Húc. Con tuổi
thiếu niên chủ trương Lư học, xằng bậy
xúc phạm Tam Bảo, phạm lỗi ngập trời, đáng
đọa Vô Gián. Đối với trung hiếu thế
gian, xét theo chí tánh, nào dám quên khuấy. Về sau, được
Tam Bảo ngầm gia hộ, phản tà quy chánh, nhanh chóng
phát tâm xuất thế, mong mỏi điều to tát, xa xôi,
mong rốt ráo ḥng báo đền ân vua, ân
cha mẹ, cứ ngỡ định kỳ
hạn ắt chứng, chắc chắn chẳng ngờ. Dè
đâu tới nay suốt mười sáu năm, rốt cuộc
thành luống uổng! Tu hành đạo cùng tột, ngửa
trông càng cao, dùi mài càng cứng chắc[114]!
Đoạn trừ Hoặc nghiệp, rễ càng sâu,
mà cành càng rậm. Kỳ hạn chết sắp đến,
chí ban đầu nào có thành! Xoắn tay, xét ḷng, tội ấy
kể sao cho trọn!
Sau khi mới nguyện
xuất gia, [những tưởng]
liền có thể độ thân duyên bao kiếp. Nay mẹ
qua đời đă mười hai năm, cha khuất bóng
hai mươi năm rồi, nhưng
thiên nhăn chưa khai, mờ mịt chẳng
biết sẽ sanh về đâu. Đó là sự phụ bạc
to lớn thứ nhất, phụ ân sanh thành.
Sau khi mới xuất
gia, [cứ ngỡ] liền
có thể giới luật vĩnh viễn thanh tịnh,
định huệ viên minh. Nay ngoài giới căn bản
ra, lắm nỗi vi phạm, tạp loạn tán tâm, hoàn toàn
chẳng có chánh định, danh tự Văn Huệ, chẳng
dự lên ngũ phẩm. Đó là sự phụ bạc to lớn
thứ hai, phụ bạc tánh linh của chính con vậy!
Lúc mới thấy giả
thiện tri thức, loạn chánh ấn của tông môn, nguyện sau khi xuất gia, sẽ phước
huệ trang nghiêm, hàng phục trọn khắp ma ngoại.
Nay chỉ có thể tự biết tà chánh, trọn chẳng
có đạo lực, nói suông há giúp được ǵ?
Đó là sự phụ bạc to lớn thứ ba, phụ bạc
tông môn của con!
Lúc mới thấy mạt
vận, tăng thể ngày càng kém hèn, nguyện dùng thân ḿnh,
tận lực chấn hưng sự suy đồi ấy.
Nay đức mỏng, hạnh thiếu, chẳng đáng
làm khuôn phép cho trời người. Đó là sự phụ bạc
to lớn thứ tư, phụ bạc Tăng tướng
của chính ḿnh.
Lúc mới thấy mạt
vận, Tăng chẳng có luật hạnh, nguyện dùng
thân này để khởi xướng, nay tự kiểm luật
hạnh, thiếu sót, sai lầm càng quá đáng, chẳng
đủ để làm bậc thầy khuôn mẫu cho
người khác. Đó là sự phụ bạc to lớn thứ
năm, phụ bạc danh vị này.
Lúc mới duyệt Luật,
liền biết đủ thứ phi pháp thời Mạt, thề
nhóm họp năm người cùng chí hướng, hoặc
hơn năm người, đúng pháp cộng trụ, khiến
cho chánh pháp của Như Lai phục hưng, nhưng do
chướng sâu, nghiệp nặng, chẳng thể dự
vào hàng tỳ-kheo, lại đánh mất phương tiện,
trái nghịch bạn tốt. Đó là sự phụ bạc
to lớn thứ sáu, tức phụ bạc chánh pháp luân.
Lúc mới thấy giặc
ngoài hung cuồng, ngang ngược, đói kém, tật dịch
lan tràn, quốc chánh đảo điên, căng thẳng,
nguyên khí suy ṃn, nguyện
tu thành đạo lực để hưng thịnh chánh
pháp, ngầm phù trợ hoàng vận. Nay tự cứu chẳng
được, ngồi nh́n giặc trong, tà ma, đành để
mặc chẳng biết làm sao? Đó là sự phụ bạc
to lớn thứ bảy. Trên là phụ ân sâu hoằng hộ
của đế chúa, dưới phụ bạc cái nguyện
“v́
trọn khắp chúng sanh phát Bồ Đề tâm”.
Than ôi! Bảy tội
phụ bạc lớn lao ấy, lại c̣n thoi thóp hơi
tàn, chín chết một sống, nửa thân đau đớn
đă mười mấy năm, bị sốt rét ngặt
nghèo cứ ba ngày một lần quấn thân đă hơn ba
năm! Ấy là tướng trước của địa
ngục, hay là do lỗi ác tuy nặng, nhưng do một tia
Bồ Đề nguyện lực, khổ tâm hộ pháp,
hơi cảm Tịch Quang bi trí, khiến chuyển báo nặng
thành khổ nhẹ phải hứng
chịu trong lúc c̣n sống đấy chăng?
Hổ thẹn, sợ hăi quẩn quanh, chưa biết rốt
cuộc ra sao? Buồn bă trong cả giấc ngủ, sầu
than cho cha mẹ, chỉ nhờ vào một tia tâm nguyện
chưa quên, toan dùng chén nước để cứu cỗ
xe đang cháy, càng thêm hoảng sợ. Nhưng lời thành
thật của chư Phật, báu Bồ Đề tâm chẳng
thể nghĩ bàn, như chút kim cang có thể xuyên thấu
đại địa, chút sữa sư tử có thể
xuyên qua biển sữa. Nếu c̣n một hơi thở, dám
đâu chẳng đau đáu tự nỗ lực!
Nay gặp ngày giỗ của
tiên nghiêm, kính bỏ ra y bát làm chút tài vật, sắm sửa
cúng dường thường trụ Tam Bảo, đốt
bảy lọn hương, sám hối bảy nỗi phụ
bạc to lớn. Lại đốt bốn lọn,
khải thỉnh Bồ Tát tỳ-kheo, sa di… (bốn vị)
đồng tâm tu lễ Từ Bi Thủy Sám, đem công
đức ấy chuyên thân hồi hướng. Kính nguyện
Chung Chi Phượng và ưu-bà-di Kim Đại Liên sớm
nở hoa Tịnh Độ, đốn ngộ ư chỉ duy
tâm, Hoặc nghiệp băng tiêu trong mảy niệm, khổ
luân măi đoạn trong vị lai. Kế đó, cầu tỳ-kheo
X… tin sâu pháp giới kinh quyển trong vi trần, dốc chí
chuyên tâm cầu chia chẻ[115],
đoạn trừ ái kiến ch́m ẩn trong ruộng thức,
cương nghị, mẫn đạt dựng pháp tràng. Vị
X… ấy sẽ thẳng thừng tin vào pháp môn quán tâm, thật
sự phát Bồ Đề đại nguyện. Sa di Y… sẽ
trong hết thảy các sự, đều thấy Đệ
Nhất Nghĩa Đế. Trong hết thảy các thời,
chẳng quên đạo tâm vô thượng, sẽ nhập
biển pháp không ngằn mé, không đáy, vượt thoát phàm
t́nh huân tập, nhiễm đắm đă lâu. Kế đến,
cầu mong tai
ương, loạn lạc băng tiêu, tà thuyết
như chuột lủi trốn. Vua rủ ḷng nhân mênh mông, sự
giáo hóa của Phật ngời ngời! Kế đến cầu
cho Trí Húc bệnh khổ tiêu trừ, giới thân thanh tịnh,
phước đức thành tựu, Chỉ Quán viên minh, giúp
ân vua đạt tới đời thịnh, thủ hộ
chánh pháp của Như Lai. Lại đem
công đức này, thí trọn khắp
hết thảy chúng sanh, nguyện trừ sạch hết thảy
tội căn phiền Hoặc, đoạn hết thảy
tạp nghiệp hữu lậu,
xả hết thảy khổ báo sanh tử, ĺa hết thảy
ác ma, ác hữu, quy vào hết thảy Đại Thừa Tam
Bảo, thấy hết thảy chư Phật Thế Tôn,
sanh trong hết thảy cơi tịnh trang nghiêm, khai Nhất
Thiết Chủng Trí Bát Nhă, chứng giải thoát chẳng
thể nghĩ bàn, thành Pháp Thân vô thượng thanh tịnh.
Pháp giới chúng sanh như thế đều đạt
được lợi ích thù thắng rốt ráo như thế,
Trí Húc mới quyết chứng Vô Thượng Bồ Đề.
* Sớ v́ các vị thầy
như thế lễ sám sáu thất
(năm Kỷ Măo - 1639)
Bồ
Tát giới sa di Trí Húc nhất tâm quy mạng Thích Ca từ phụ,
một ngàn vị Phật trong ba đời, Cực Lạc
đạo sư A Di Đà Phật,
phẩm Bồ Tát Tâm Địa của
kinh Phạm Vơng, kinh Đại Phật Đảnh Như
Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn
Hạnh Thủ Lăng Nghiêm, Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại
Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát,
Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát, các đại
Bồ Tát thuộc hai mươi lăm pháp Viên Thông, Đại A La Hán,
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Kim Cang Tạng
Vương Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát,
và mười phương ba đời vô cùng vô tận hết
thảy Tam Bảo, nguyện phóng từ quang, cùng rủ ḷng
xót thương chứng giám. Kính v́ Bồ Tát Giới tỳ-kheo
Đạo Phưởng đă quá văng, tuy chánh niệm phân
minh, văng sanh có thể đoán được, nhưng
phước huệ chưa măn, chưa thể mong hoa nở,
kính thỉnh các vị đồng hạnh, lễ ba ngàn vị
Phật, đốt sáu lọn hương trên cánh tay, cúng
dường ngàn vị Phật và pháp giới Tam Bảo:
- Một là do công đức lễ Phật này, hồi
hướng ngài Đạo Phưởng, nguyện Sư nương
vào điều này mà tâm khai, trong một niệm, thấy trọn
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật, trong hết thảy các thời chẳng quên
nghĩ tới pháp môn.
- Hai là đem công đức trước thuật [chú giải]
kinh Đại Phật Đảnh trong hiện thời, và
hợp chú Phạm Vơng Tâm Địa khi trước hồi
hướng cho Đạo Phưởng. Nguyện các tội
vô thỉ đều tiêu tan, tất cả
thiện căn đều viên măn, đoạn ái căn vi tế,
phá tập khí sân hận nhân ngă, tháo sạch nước tăng thượng mạn, xua
tan mây si ám độn, giới thể viên thành, tánh nghiệp
và giá nghiệp đều tịnh, định lực sâu
xa, hôn trầm, tăm tối và điệu cử đều
mất, huệ tánh khai minh, Thật Trí và Quyền Trí cùng hiển
lộ, thiện xảo thủ hộ cái tâm, thấy kẻ
chưa học và đă học b́nh đẳng, cho đến
chẳng ngoài một đời mà được thọ
kư, hoa nở chẳng ĺa một niệm hiện tiền.
- Ba là gộp chung công đức trên đây, thay Đạo
Phưởng giúp cho hết thảy giác linh (kể tên ba
đời), nguyện cùng lên Tịnh Độ.
- Bốn là v́ các vị hiếu đồ X… đảnh
lễ Tam Bảo, nguyện vĩnh viễn chẳng có tâm chống
trái, chẳng phạm điều răn “trùng trong thân
sư tử”.
- Năm là v́ hết thảy đàn việt tín chủ
trong Trạm Nhiên Liêu đảnh lễ Tam Bảo, nguyện
tưởng người đă xuống tóc là đạo
sư, coi người áo thâm như bậc hiền thánh, cho
đến đối với các người đi lại,
trẻ nít đặt chân lên đất già-lam, hết thảy
đều tưởng là Phật vị lai, đích xác tuân theo nghiêm huấn trong kinh Thập Luân,
là kim thang lâu dài của Tam Bảo.
- Sáu là thay cho Đạo Phưởng xoay ḿnh cảm tạ
các vị đồng hạnh X… Nguyện do sám lỗi mà nhanh chóng hiển
lộ cái Thể không lỗi. Do độ người khác
mà ngầm ngộ tông Vô Tha. Kính mong pháp giới thánh hiền
hai cơi chứng minh, nhiếp thọ.
* Tổng Sớ và
Biệt Sớ trong Vu Lan Bồn Đại Trai Báo Ân Phổ Độ Đạo Tràng
(năm Kỷ Măo - 1639)
Trí
cùng Thật Tướng ngầm dung tuyệt thiên như
(bách giới thiên như), bi cực vô duyên, xứng đồng
thể, nhiếp trọn mười giới, nhưng
Năng và Sở cùng tịch, cảm ứng tỏ lộ trọn
vẹn. Trí Húc quy mạng đức
Kỳ Viên giáo chủ, đấng thế hùng đại
từ, đại hiếu, kinh điển lá bối mầu
nhiệm tức Sự, tức Lư truyền tŕ, khải giáo
Mục Liên tôn giả, tam thừa thập thánh chúng tăng,
nguyện tỏa từ quang, cùng rủ ḷng soi xét rạng ngời.
Chúng con kiến lập
đạo tràng Vu Lan Bồn (trần thuật các kinh sám [tụng
niệm] ngày đêm,
chẳng sao chép vào đây), phổ cúng đại trai để
mười phương Tam Bảo hết thảy Tăng
già hưởng dụng. Dùng công huân này, chuyên thân kính dâng siêu
tiến cha mẹ bảy đời, thân duyên trải các
đời
của mỗi người: Nếu ở
trong tam đồ bát nạn, sẽ vĩnh viễn thoát khỏi
ṿng khổ. Loài người, thiên tiên tăng thêm phước
lạc. Đă sanh nơi
đài sen, sẽ ngay lập tức hoa nở thấy Phật,
từng phụng sự đức thánh chúa, chóng được
thọ kư, độ sanh.
Lại đem công
đức này, phổ thí các hàm thức trong pháp giới.
Kính nguyện tột cùng chiều dọc, trọn khắp hết
thảy chúng sanh, hoặc oán thân, hoặc chẳng phải oán thân,
hoặc thấy nghe, hoặc chẳng thấy nghe, do sức
pháp tánh đồng thể, do vô duyên từ bi thệ, khiến
cho đều đạt được lợi ích mầu
nhiệm: Địa ngục dứt khổ, ngạ quỷ
ĺa đói, súc sanh chẳng kinh sợ, Tu La bỏ đấu
đá, người khỏi tám khổ, trời thoát ngũ
suy[116],
Nhị Thừa thoát khỏi hầm khô tịch[117],
Bồ Tát nhổ mũi tên vô minh.
Lại kính nguyện do
công đức này, trang nghiêm Vô Thượng Bồ Đề.
Kính nguyện pháp giới hàm thức tột cùng chiều dọc,
trọn khắp chiều ngang, chẳng cầu niềm vui
hư ngụy trong chốn trời người, cũng chẳng
mong cầu Thiên Chân Niết Bàn, chẳng tham nhân quả thuộc quyền
vị, cũng chẳng chấp lư tánh ở ngoài duyên sự,
chỉ phát tâm Bồ Đề rộng lớn, mau chóng tiến
đến rốt ráo Đẳng Chánh
Giác. Lại do công đức này, từ ngay nơi bản thể
của mỗi người, sẽ dung nhập lư chẳng
nghĩ bàn. Kính nguyện ngay nơi sám văn tuyên đọc,
hoặc tác pháp, hoặc chấp tướng, hoặc vô
sanh, tam chướng sẽ trọn vẹn tiêu hết trong
mảy niệm. Khi xưng Phật hiệu, dẫu giả
danh, hay Báo,
Hóa, hoặc Pháp Thân, tứ đức sẽ
hiển lộ trọn vẹn trong sát-na, dù là nơi thức
ăn hay nơi các pháp cũng thế,
mười pháp giới đều cùng
no đẫy đề hồ. Người nói hạnh chân chánh
cũng sẽ hành đúng như lời đă
nói, giáo và hạnh đồng
quy lư tánh, biết rơ tự tha trước nay chỉ là Chân
Như duy nhất, triệt ngộ nhân quả. Từ đầu
đến đuôi, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng.
Lại nguyện chúng con trong mỗi sự, mỗi niệm,
trọn đủ ba loại đại hồi hướng
như trên rồi, sanh ra công đức, ngưỡng mong bốn
biển hưởng sự thái b́nh, cơi trần được
hưởng lây sự giáo hóa xuất thế. Từ nay trở
đi, cho đến tận vị lai, tiếp nối
hưng thịnh Tam Bảo, khiến cho chẳng đoạn
tuyệt, hoằng thông Đại Thừa, khiến cho chẳng
bị ngăn ngại, chiết phục, nhiếp thọ chẳng
riêng tư, từ và oai cùng vận dụng. Đối với
thiện và bất thiện,
đều b́nh đẳng tế độ. Mặt trời
chiếu sáng biển khơi, đất chở, trời
đựng, t́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí.
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư tông luận
Quyển thứ nhất
phần 1 hết
[1] Nhị Đế: Chân Đế và
Tục Đế. Tam Đế là Không, Giả, Trung. Tứ
Đế là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Nhất
Đế: Đệ Nhất Nghĩa Đế. Vô Đế:
Chân Như Thật Tướng.
[2] Đây là một thí dụ trong kinh
Niết Bàn và kinh Đại Nhật. Kim vàng (kim bễ, 金錍) ở đây là một dụng cụ
dùng để chấm thuốc nạo mộng mắt, ví
như phương tiện thiện xảo của Phật, Bồ Tát nhằm gột
trừ màng mộng vô minh của chúng sanh, khai mở đạo
nhăn.
[3] Tam Đại là ba triều đại
cổ xưa của Trung Hoa tức là Hạ, Thương,
Châu. Đường Ngu: Đường là nói tắt của
Đường Nghiêu. Vua Nghiêu họ Y Kỳ, tên là Phóng
Huân, được phong ở đất Đào, sau dời sang đất Đường, nên c̣n gọi là Đào Đường. Nghiêu là thụy hiệu
sau khi mất, nên Sử thường gọi nhà vua là Đường Nghiêu. Ngu là Ngu Thuấn,
do vua Thuấn họ Diêu (do được sanh ở Diêu
Khư, nên lấy Diêu làm họ), tên là Trùng Hoa, thuộc bộ
tộc Hữu Ngu, nên thường gọi là Ngu Thuấn.
[4] Nhị trí có nhiều cách hiểu:
1. Như Lư Trí (c̣n gọi là Căn Bản
Trí, Vô Phân Biệt Trí, Chánh Thể Trí, Chân Trí, Thật Trí) và
Như Lượng Trí (c̣n gọi là Hậu Đắc Trí, Hữu
Phân Biệt Trí, Tục Trí, Biến Trí).
2. Thật Trí (Thật Lư Trí) và Quyền
Trí (Phương Tiện Trí).
3. Nhất Thiết Trí (trí thông đạt
thật tánh của hết thảy các pháp) và Nhất Thiết
Chủng Trí (trí thông đạt đủ loại sự
tướng của hết thảy các pháp).
[5] Sở dĩ phải chia thành quyển
nhỏ v́ thuở xưa, người ta in chữ lên một mặt giấy
rồi xếp phía mặt giấy không có chữ đâu lưng vào nhau để tạo thành từng trang, khâu gáy tạo
thành sách, gọi là một quyển. Cứ mỗi quyển
như vậy, có độ từ bốn mươi cho
đến năm mươi trang.
[6] Thành Thời (không rơ năm sinh-1678)
là vị danh tăng đời Minh. Sư là người huyện
Hấp thuộc Huy Châu, hiệu là Kiên Mật. Sư thuở
bé học Nho, đến khi hai mươi tám tuổi mới
ngộ Phật pháp bèn xuất gia, theo cầu pháp với tổ
Ngẫu Ích Trí Húc. Sư trụ tại Ngưỡng
Sơn, mănh thú trong núi đều tuân phục. Sư tự
soạn Trai Thiên Pháp Nghi. Sau dời qua Giang Ninh, trụ tại
chùa Tích Thiên Giới, hoằng dương Pháp Hoa, siêng tu Tịnh
nghiệp. Sư biên tập, san khắc Tịnh Độ
Thập Yếu để lưu hành rộng răi nhằm báo
ân thầy, cũng như sưu tập, hiệu đính,
biên tập các di trước của tổ Ngẫu Ích. Tác
phẩm tự trước thuật th́ có Quán Vô Lượng
Thọ Phật Kinh Sơ Tâm Tam Muội Môn, và Thọ Tŕ Phật
Thuyết A Di Đà Kinh Hạnh Nguyện Nghi.
[7] Mẫn (泯) hiểu theo nghĩa
thông thường là “tiêu diệt, mất đi”, nhưng
kinh sách nhà Phật dùng với ư nghĩa diệt trừ sự
chấp trước, chứ không phải là tiêu diệt một
pháp.
[8] Nguyên văn “dẫn Thương
khắc Vũ” (引商刻羽): Thương và Vũ là hai nốt
nhạc trong thang âm Ngũ Cung (Cung, Thương, Giốc, Chủy,
Vũ). Từ ngữ này hàm nghĩa do nghiên cứu âm luật
tinh tường, đạt tới tŕnh độ thấu
hiểu âm nhạc rất cao, rất sâu. Từ ngữ này
được dùng với ư nghĩa “dụng công học
tập, nghiên cứu sâu xa, đạt tới thành tựu
cao rộng”.
[9] Tự Thuyết (序說) là
phần được đặt trước một tác
phẩm nhằm giới thiệu sơ lược những
điểm chánh yếu của tác phẩm đó, hoặc
khái quát cấu trúc của tác phẩm ấy.
[10] Tông Kính Lục là một tác phẩm
đồ sộ, gồm một trăm quyển, c̣n
được gọi là Tông Giám Lục, hoặc Tâm Kính Lục, do tổ Vĩnh Minh
Diên Thọ Trí Giác (904-975) biên soạn hoàn tất vào năm
Kiến Long thứ hai (961) đời Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn). Tác phẩm này trích dẫn các luận thuyết từ
trong sáu mươi bộ kinh luận nhằm vạch rơ
đại ư của chư Phật, cũng như nêu ra những điểm cốt yếu trong kinh luận, chú trọng
đốn ngộ, viên tu, nhằm đả phá quan điểm
lệch lạc đề cao Thiền, coi thường Giáo,
hiểu sai lạc câu nói “chẳng lập văn tự”
của tổ Đạt Ma, nêu rơ Thiền Giáo nhất trí
để đối trị căn bệnh cuồng Thiền,
dễ rơi vào hư vô, ngoại đạo do không chịu
học kinh điển của những người tự
xưng là Thiền khách.
[11] Tịch Âm tôn
giả tức là ngài Giác Phạm Huệ Hồng (1071-1128),
thuộc phái Hoàng Long của tông Lâm Tế. Ngài xuất gia
lúc mười bốn tuổi, theo học Câu Xá và Duy Thức
với luật sư Tam Phong Tĩnh, Tuyên Bí và Chân Tịch
Khắc Văn. Thời Tống Huy Tông, do bị vu cáo làm
trái nghịch chánh lệnh của triều đ́nh, trước
sau, Sư bị tống giam bốn lần, may mà được
các vị Tể Tướng Trương Thương Anh và
Thái Úy Quách Thiên Dân cứu thoát. Sau khi được phóng
thích, Sư chuyên tập trung trước tác tại Minh Bạch
Am ở Hồ Nam. Sư để lại các tác phẩm Lâm
Nhàn Lục, Lầm Nhàn Lục Hậu Lục, Thiền Lâm
Tăng Bảo Truyện, Lănh Trai Dạ Thoại, Thạch
Môn Văn Tự Thiền v.v…
[12] Thiền
sư Chuyên Ngu Quán Hành (1579-1646) là cao tăng thuộc tông Lâm
Tế cuối đời Minh, hiệu là Chuyên Ngu, nối
pháp Ngũ Đài Không Ấn và Hám Sơn Đức Thanh.
Ngài sống đồng thời với tổ Ngẫu Ích, từng
trụ tŕ Chân Như Thiền Tự ở núi Vân Cư, chấn
hưng tông phong, trung hưng cổ đạo tràng. Hằng
ngày, Ngài ngồi Thiền dưới một chiếc ô lớn
nên được gọi là Tán Cư ḥa thượng. Do
đức hạnh và đạo hạnh, Ngài được
người đương thời tôn xưng là Cổ Phật.
Ngài để lại các tác phẩm Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu
Hành Ḥa Thượng Ngữ Lục (20 quyển) và Lăng
Nghiêm Kinh Huyền Đàm.
[13] Do câu này hơi khó hiểu, chúng tôi
xin mạo muội giải thích như sau: Pháp sư Thành Thời
chia các bài viết của tổ Ngẫu Ích theo nội dung,
chủ đề, hay mục đích (chẳng hạn chia thành nguyện
văn, thư vấn đáp v.v…), chứ không chia các trước tác ấy theo thể
tài văn chương (tức là chia thành văn xuôi, văn
vần, thi kệ…)
[14] Đây là một công án Thiền dựa
theo các câu nói của ngài Sở Thạch Phạm Kỳ. Theo
bài viết “Ngạn Ngữ Trong
Linh Phong Tông Luận” của Mật Tăng
đăng trên tạp chí Minh Luân (số 486 năm 2018) th́
hai câu này phải hiểu như sau: Đọc Linh Phong Tông
Luận, phải toàn tâm toàn ư tin tưởng tiếp nhận,
giống như dùng gậy phang vào đầu tượng
đá, mỗi gậy giáng xuống, đều phát ra tiếng
bôm bốp, cũng như đọc mỗi câu đều
phải thật sự nghiền ngẫm, t́m ṭi, lănh hội,
chẳng để uổng công, giống như ông già tám
mươi tuổi mới đi học, sẽ có thái độ
trân trọng, chẳng giống như trẻ nít
vào trường học quấy quá, đối phó cho xong.
[15] “Hướng thượng nhất
trước” là thuật ngữ dùng
trong nhà Thiền. Theo pháp sư Thánh Nghiêm, điều này có thể hiểu
đơn giản là đă thấy thấu triệt bản
tánh Vô Thượng Bồ Đề là ǵ, Phật tánh rốt
cuộc là ǵ. Ở đây, pháp sư Thành Thời có ư nói:
Người học Phật trong cơi đời thường
phạm sai lầm, ngỡ pháp ở ngoài
tâm, lầm lẫn tưởng tướng trạng huyễn
hóa trong thế gian là chân tánh.
[16] “Ám chứng” là từ ngữ nhà Thiền
dùng để quở trách kẻ chỉ lo chú trọng
ngồi Thiền, không hiểu nghĩa lư của kinh giáo,
ch́m vào trầm không, trệ tịch hoặc ám độn, mà cứ tưởng đă dứt
sạch phiền năo, chẳng khởi vọng niệm.
[17] Nghệ dư (寱餘): Nghệ
là lời nói thốt ra trong khi ngủ mê, Dư là sót thừa,
tức là cách nói khiêm tốn chỉ những lời nói của
người chưa giác ngộ, nói năng toàn những
điều thừa thăi như kẻ nói mớ trong mộng.
[18] Đây là một câu dựa theo ư
thơ của thiền sư Thích Thiệu Đàm: “Cổ
lưỡng phiến b́ mạn tự kỷ, nhất hồi
niêm xuất nhất hồi tân” (Dẫu da nơi hai mặt
trống đă cũ vẫn chẳng màng, cứ gơ một hồi
trống là có hồi tiếng trống mới xuất hiện).
Ư nói những lời lẽ trong bộ Tông Luận này có thể
là đối với người đọc rộng, nghe
nhiều th́ đă thành sáo ṃn, cũ kỹ, nhưng nếu lắng ḷng thể hội,
sẽ cảm nhận những điều mới mẻ,
thú vị.
[19] Đoạn này khá khó hiểu: Ngu ư
cho rằng ư pháp sư Thành Thời muốn nói, đối với
các lời dạy của tổ, người chẳng lănh hội
được ư nghĩa th́ cũng nhờ vào đó mà bàn luận,
do vậy, cũng đă gián tiếp được kết
duyên với lời dạy của Tổ. Kẻ hiểu, sẽ
thấu đạt những lời dạy của tổ là
phương tiện văn tự để người
nghe nhờ vào đó mà tự giải ngộ, đừng chấp
trước văn tự. Sau đó, pháp sư tự khiêm
nói chính ḿnh chẳng dám đoan quyết các lời dạy của
Tổ luôn hữu ích cho người đọc v́ tùy thuận
căn cơ mà mỗi người mỗi khác, nhưng cũng
chẳng dám phủ định những lời dạy của
tổ chẳng thích hợp cho mọi căn cơ.
[20] Văn Trung Tử là thụy hiệu
của Vương Thông (584-617), một bậc đại
Nho đời Tùy. Ông có tên tự là Trọng Yêm, ngoại hiệu
là Vương Khổng Tử. Tuy mất khá sớm (33 tuổi),
nhưng trước tác rất nhiều và được
người đương thời lẫn hậu thế
đánh giá rất cao, coi ông là người đă kế thừa
xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử.
[21] Đây là một câu nói tự trách của
Khổng Tử được ghi trong sách Trung Dung: “Quân tử chi đạo tứ, Khâu vị
năng nhất yên” (bốn điều trong đạo của
người quân tử, Khâu chẳng thể làm được
một điều nào). Bốn điều trong đạo
của người quân tử là hiếu, đễ (ḥa thuận,
thương yêu anh em), trung, tín.
[22] Ư nói tổ Linh Phong Ngẫu Ích
chưa hề xin các vị danh sĩ, đại đức,
cao tăng, hay người quyền quư, danh vọng viết
lời tựa, đề từ, hay giới thiệu cho các tác phẩm của chính ḿnh,
hoặc xin các biển đề, bài minh cho tự viện
nơi Ngài trụ tích.
[23] Tức là Ngài răn đại chúng
đừng yêu cầu Ngài nói kệ thị tịch, hoặc xin người
khác viết tựa, viết lời bạt cho các di cảo của Ngài.
[24] Trị mạng (治命) là lời căn dặn,
di chúc của người sắp mất khi người ấy
thần chí tỉnh táo, sáng suốt.
[25] Hành cước (行腳) c̣n gọi là du
phương, du hành, tức là nói một vị Tăng không ở
một nơi nhất định, thường đi các
nơi để cầu đạo, hay v́ mục đích
khuyến hóa mà đi khắp các
nơi. Vị tăng du phương c̣n được gọi
là vân thủy tăng.
[26] Dật dân (逸民) có nghĩa là người tiết hạnh
thanh cao, siêu việt, phóng khoáng, lánh đời ẩn dật.
[27] Theo lời diễn
giải của ông Trần Vượng Thành trong bài Cận
Cổ Cao Tăng Trung Tri Kiến Tối Chánh Giả (người
có tri kiến chánh đáng nhất trong các vị cao tăng
thời cận đại và xưa kia), ư của Tổ là
so với hành trạng của các vị cao hiền trong Nho,
Thiền, Luật, Giáo thời cổ, Ngài tự than chính
ḿnh không có cách nào sánh bằng được, nhưng so với
các người được coi là hữu danh trong Nho, Thiền,
Luật, Giáo đồng thời, Ngài lại cảm thấy
ḿnh chẳng xứng đáng ngang hàng với họ.
[28] Mộc Độc
c̣n gọi là Độc Xuyên, Sài Trạch, Hương Khê, hoặc
Tư Giang, là một trấn thuộc khu Tô Trung, thành phố
Tô Châu, tỉnh Giang Tô, nằm cách Thái Hồ vài cây số.
Theo truyền thuyết, tên gọi này bắt nguồn từ
chuyện Ngô Vương Phù Sai v́ Tây Thi xây đài Cô Tô, sử
dụng gỗ do nước Việt tiến cống. Suốt
ba năm, các bè gỗ lấp kín khúc sông, nên thành ra tên ấy.
Nhưng đến thời Tống, nơi này mới
được lập thành trấn.
[29] Song Cảo (窗稾) là từ ngữ gọi chung các bài
văn thơ do học tṛ tự viết trong khi đang theo
học tại các trường tư thục.
[30] Hoàng Bá Hy Vận (?-855), thụy hiệu
là Đoạn Tế thiền sư, cao tăng Thiền Tông
đời Đường, đệ tử nối pháp của
Bách Trượng Hoài Hải. Một đệ tử lỗi
lạc của ngài là Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866) đă
lập ra thiền phái Lâm Tế.
Đức Sơn Tuyên Giám (782-865) là
thiền sư đời Đường, nối pháp của
ngài Long Đàm Sùng Tín, do tinh thông Kim Cang và họ ngoài đời
là Châu, nên Ngài được người
đương thời gọi là Châu Kim Cang. Thoạt đầu,
Sư học Bắc Tông Thiền (Thiền phái được
truyền bởi ngài Thần Tú), viết Thanh Long Sớ
để chú giải kinh Kim Cang. Về sau, nghe Long Đàm
Sùng Tín thiền sư hoằng dương đạo Thiền
của Lục Tổ Huệ Năng, Sư quyết xuống miền Nam để chế
phục, gánh theo bản Thanh Long Sớ xuống miền Nam.
Vào một quán ăn, hỏi mua điểm tâm, Sư bị
một bà lăo hỏi: “Sư gánh theo ǵ đó?” Sư đáp:
“Thanh Long Sớ chú giải kinh Kim Cang”. Hỏi: “Sư muốn
làm ǵ?” “Tôi muốn mua điểm tâm”. Bà lăo nói: “Kinh Kim Cang
nói ba tâm chẳng thể được, quá khứ, hiện
tại, vị lai, Sư muốn điểm cái tâm nào? Nếu
Sư nói được, tôi sẽ cúng tặng
điểm tâm”. Sư á khẩu, đành nhịn đói ra
đi. Gặp ngài Sùng Tín, sau khi biện luận, Sư
tâm phục, khẩu phục bèn đốt Thanh Long Sớ,
truyền đạo của thầy suốt ba mươi
năm. Phương cách chỉ dạy học nhân của
Ngài là dùng gậy đập, nên mới có thành ngữ “Đức Sơn bổng” (gậy
Đức Sơn). Đệ tử nổi tiếng của
Ngài là Ngưu Đầu Toàn Hoát, Tuyết Phong Nghĩa Tồn
v.v…
[31] Ư nói: Chỉ thích nghe lời đồn,
tin ngay là thật, không suy xét kỹ càng.
[32] Chùa Linh Phong ở
núi Linh Phong (c̣n gọi là Bắc Thiên Mục) thuộc
hương Bạch Thủy Loan, huyện Cát An tỉnh Chiết
Giang. Chùa được sáng lập vào năm Khai B́nh nguyên
niên (907) đời Lương, có tên là Linh Phong Viện.
Đời Tống, vào năm Trị B́nh thứ hai (1065),
vua đổi tên là Bách Phước Giảng Tự,
nhưng mọi người vẫn gọi là Linh Phong, cho
đến năm Càn Long 12, vua xuống chiếu đổi
thành Linh Phong Tự.
[33] Chỉ Nguyệt Lục có tên gọi
đầy đủ là Thủy Nguyệt Trai Chỉ Nguyệt
Lục do Cù Nhữ Tắc biên soạn vào đời Minh.
Sách gồm ba mươi hai quyển, trích lục ngôn hạnh
và tiểu truyện của sáu trăm hai mươi người
trong nhà Thiền từ quá khứ Thất Phật cho đến
ngài Đại Huệ Tông Cảo đời Tống.
[34] Bất tiếu (不肖) là từ
ngữ ngụ ư chê trách kẻ không ra ǵ, bất hiếu, chẳng
thành tựu, chẳng xứng đáng với cha mẹ, hoặc
thầy dạy.
[35] Bao Sái Đà (褒灑陀) chính là phiên âm sai lệch
của chữ Upavasattha, c̣n dịch là Bố Tát, hoặc Bố
Sái Tha, Bổ Sa Tha, Bố Tát Đà Bà, dịch nghĩa là Tịnh
Trụ, hoặc Trưởng Dưỡng, chính là ngày tụ
họp tụng giới mỗi nửa tháng của người
xuất gia, người thọ giới nhân đó kiểm
điểm ngôn hạnh của chính ḿnh có phù hợp giới
luật hay không
để sám bạch trước chúng tăng, cầu sám hối.
Không riêng ǵ tăng chúng, hàng cư sĩ tại gia thọ Bồ
Tát giới cũng phải cử hành Bố Tát.
[36] Giường dây (繩牀, thằng
sàng) không phải là vơng theo cách hiểu hiện thời, mà
đây là một loại ghế dựa có nguồn gốc từ
Ấn Độ, c̣n gọi là Hồ Sàng (giường của
người Hồ), hoặc là Giao Sàng (giường chéo).
Đây là một loại ghế chân chéo, có lưng tựa,
có thể xếp được để tiện di chuyển,
mặt ghế bện căng bằng thừng hay sợi vải
dầy thay v́ để nguyên khối gỗ. Mặt ghế
đủ rộng để người ta có thể ngồi
xếp bằng trên đó.
[37] Pháp lạp, c̣n gọi là pháp tuế,
hạ lạp, pháp hạ, giới lạp, tăng lạp, tọa
lạp, tọa hạ pháp lạp, tức là kể từ
sau khi một vị tăng sĩ thọ Cụ Túc Giới, cứ mỗi
lần tham dự kết hạ an cư th́ tính thêm một
tuổi hạ. Tuy vậy, đôi khi pháp lạp (như trong
trường hợp này) chỉ đơn giản tính từ
năm thọ Cụ Túc Giới cho đến khi mất,
c̣n Tăng hạ là tính theo số lượt thật sự
an cư kết hạ.
[38] Gọi là Nam Bắc Tạng v́ thời
nhà Minh đă có ba lần in Đại Tạng Kinh do triều
đ́nh chủ xướng:
1. Hồng Vũ Nam Tạng do Châu
Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) chủ xướng vào
năm Hồng Vũ thứ năm (1372), tụ tập
tăng chúng giảo đính, san định các kinh điển
để tạo thành Đại Tạng Kinh. Công tŕnh này
đến năm Hồng Vũ 31 (1298) mới hoàn thành,
nhưng chỉ được khắc in hoàn tất trong ba
năm sau đó, tức năm Kiến Văn thứ ba
(1401). Tàng bản được giữ tại chùa Thiên Hy,
nhưng bị hủy hoại trong một trận hỏa hạn.
Tới năm Vĩnh Lạc 14 mới phát hiện
được một bản in của tạng này tại
Quang Nghiêm Thiền Viện.
2. Vĩnh Lạc Nam Tạng do Minh
Thành Tổ chủ xướng vào năm Vĩnh Lạc 11
(1413), trùng tu chùa Thiên Hy, khắc lại Đại
Tạng Kinh, căn cứ trên bản Hồng Vũ Nam Tạng.
3. Vĩnh Lạc Bắc Tạng: Sau
khi dời đô từ phủ Thuận Thiên (Nam Kinh) lên Bắc
Kinh, Minh Thành Tổ cho in khắc Đại Tạng Kinh lần
nữa, nhưng măi đến năm Chánh Thống thứ
năm (1440) đời Minh Anh Tông mới hoàn thành.
[39] Pháp Bảo
Tiêu Mục có tên gọi đầy đủ là Đại
Tạng Thánh Giáo Pháp Bảo Tiêu Mục, do Vương Cổ
soạn vào thời Bắc Tống. Sách này ghi mục lục
các kinh sách nhà Phật cho đến thời đó, đối
với mỗi kinh, đều trần thuật đại
lược nội dung, chia làm: Đại Thừa kinh luật
luận, Tiểu Thừa kinh luật luận, các trước
tác của thánh hiền, truyện kư, kinh lục, mục lục
các kinh cho đến thời Trinh Nguyên, các kinh mới dịch
vào đời Tống.
Vựng Mục Nghĩa Môn
có tên gọi đầy đủ là Đại Minh Thích Giáo
Vựng Mục Nghĩa Môn, c̣n gọi là Pháp Tạng Chỉ
Nam, gồm bốn mươi mốt quyển, do ngài Tịch
Hiểu soạn vào đời Minh, nhằm thống kê và
phân loại các kinh điển nhà Phật. Sách dựa theo
giáo nghĩa Thiên Thai, chia các kinh sách nhà Phật thành tám loại
Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhă, Pháp Hoa, Niết
Bàn, Đà La Ni, thánh hiền trước thuật v.v…
[40] Điển tích này xuất phát từ
câu chuyện pháp sư Vô Trước triều bái Ngũ
Đài Sơn, gặp Văn Thù Bồ Tát hóa thân. Bồ Tát hỏi
Sư từ đâu đến, Sư thưa từ
phương Nam đến. Bồ Tát hỏi Phật giáo ở
phương Nam như thế nào? Sư đáp: Thời Mạt
pháp, không có người giữ giới luật. Văn Thù Bồ
Tát hỏi: “Rốt cuộc có bao nhiêu tỳ-kheo?” Vô Trước thưa: “Ước chừng từ
ba trăm tới năm trăm người”. Vô Trước hỏi ngược
lại t́nh huống Phật giáo phương Bắc, Bồ
Tát bảo: “Phàm phu thánh nhân đều có, rồng rắn hỗn
tạp”. Vô Trước lại hỏi: “Có bao nhiêu vị?” Bồ
Tát bảo: “Tiền tam tam, hậu diệc tam tam”. Theo pháp
sư Thánh Nghiêm, phải hiểu nghĩa “tam tam” là gần
như nhau. Hàm ư t́nh h́nh ở đâu cũng từa tựa
như nhau.
[41] Thiên hóa (遷化) là từ
ngữ dùng để chỉ sự qua đời của một
vị Tăng.
[42] Thụy hiệu (諡號) là tên được đặt cho
một người sau khi đă mất (thường là áp dụng cho vua chúa, chư hầu, đại thần, hậu phi,
quư tộc, tăng ni, đạo sĩ…). Thụy
hiệu thường
là do triều đ́nh ban tặng dựa theo công và tội lúc
sống của người ấy. Phong tục này lưu
hành tại Trung Hoa,
Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản. Tục lệ này xuất hiện kể từ thời Châu Mục
Vương (Cơ Măn, 1027-922 trước công nguyên), kể từ đó, khi nói về người đă khuất, người ta thường gọi theo thụy hiệu như Gia Cát
Vũ Hầu (Khổng Minh Gia Cát Lượng), Nhạc
Vũ Mục (Nhạc Phi), Tăng Văn Chánh (Tăng Quốc
Phiên). Nếu nói cặn kẽ, thụy hiệu chia làm nhiều
loại:
1) Thượng hiệu: Ca ngợi
đức hạnh. Chẳng hạn như bậc văn thần
tài năng, trung hiền, th́ dùng các chữ Văn, chữ Trung. Các chữ
Tráng, Vũ, Cương nhằm ca ngợi chiến công của
vũ tướng. Theo truyền thống, tên thụy khởi
đầu bằng chữ Văn hoặc Vũ là sự biểu
dương cao nhất.
2) Trung hiệu: Thể hiện sự
đồng t́nh, cảm thương, như Tấn Mẫn
Đế (Tư Mă Nghiệp) biểu thị vua gặp cảnh
nước mất nhà tan, Lưu Thiền con Lưu Bị
có thụy hiệu là Thục Hán Hoài Đế (ư nói có ḷng
nhân nhưng chính quyền tan ră quá sớm).
3) Hạ hiệu: Có ư nghĩa phê phán
nặng nề, như Châu Lệ Vương (Cơ Hồ)
th́ chữ Lệ có ư nghĩa chê bai vua bạo ác, chẳng hiểu
nhân nghĩa. Chữ U trong Tấn U Công (Cơ Liễu) là
người u tối, không thông hiểu quyền biến.
4) Tư hiệu: Khi một vị học
giả, sĩ đại phu, tăng sĩ, hiền nhân chết
(đôi khi chỉ là người có học đôi chút) th́
thân thích, môn sanh bàn định đặt thụy hiệu
như Đào Tiềm được tôn là Tĩnh Tiết
tiên sinh, Vương Thông được môn đệ tôn là
Văn Trung Tử. Ở đây, pháp sư Thành Thời bàn
định dâng tư thụy hiệu
cho tổ Ngẫu Ích là Thỉ Nhật.
[43] Trong lịch sử, có
hai vị họ Châu cùng có thụy hiệu là Văn Trung:
1. Châu Mục (100-163), tự
là Công Thúc, là một trung thần thời Hán mạt, từng
làm đến chức Kư Châu Thứ Sử, về sau bị
hoạn quan hăm hại, suưt bị chém, may nhờ ngàn người dâng sớ
xin triều đ́nh tha tội mới được triều đ́nh đuổi về làm
dân thường. Sau ông lại được vời ra làm
Thượng Thư, từng xin Hán Hoàn Đế trừ dẹp
bọn hoạn quan, nhưng vua mê muội không nghe, ông ưu
phẫn mà chết.
2. Châu Tất Đại
(1126-1204), tự Tử Sung, làm quan tới chức Lại Bộ
Thượng Thư, Xu Mật Sứ, Tả Thừa Tướng
triều Nam Tống. Ông này cũng là một nhà văn học
lỗi lạc thời ấy.
[44] Đào Tĩnh Tiết chính là Đào
Uyên Minh (365-427), c̣n gọi là Đào Tiềm, tự Nguyên Lượng, một bậc danh sĩ thời ấy,
từng làm sĩ đại phu nhà Tấn. Ông là một thi
sĩ nổi tiếng, khí tiết thanh cao, thà chịu
đói rét, không khuất phục trước oai quyền.
[45] Chí Bàn là một
vị Tăng thời Nam Tống thuộc tông Thiên Thai, không
rơ năm sanh và năm mất. Sư có hiệu là Đại
Thạch, học Thiên Thai Giáo Quán. Sư ghi chép sự tích của
chư tổ sư Thiên Thai rất tường tận.
Sư soạn bộ Phật Tổ Thống Kỷ gồm năm
mươi bốn quyển, chủ yếu chép về lịch
sử của tông Thiên Thai, nhưng cũng chép thêm sự
tích của các vị tổ hay cao tăng thuộc Thiền
Tông và Luật Tông.
[46] Câu này nhằm giải thích v́ sao Mạnh
Tử tôn xưng Liễu Hạ Huệ là Ḥa Thánh.
[47] Liễu Hạ Huệ vốn họ
Cơ, thuộc thị tộc Triển, tên là Hoạch, biểu
tự là Cầm, c̣n một tên chữ nữa là Quư. Ông vốn
là hậu duệ của Công Tử Triển (con trai của
Lỗ Hiếu Công), do đó con trai đời sau, lấy họ là Triển. Liễu Hạ
chính là thực ấp (đất phong ăn lộc) của
ông. Khi mất, do ḷng nhân trong lúc cai trị, ông được
đặt thụy hiệu là Huệ. Người đương thời
ghép chung tên đất phong với tên thụy, gọi ông là Liễu Hạ Huệ. Ông cũng
là thỉ tổ của họ Liễu tại Trung Hoa.
[48] Nhị cộng là Định Cộng
và Đạo Cộng. Nếu nói riêng th́ là giới hạnh,
nói chung là sự chứng đắc. Định Cộng là
do công năng Thiền Định, an trụ trong chánh định
mà giới hạnh, đạo đức sẽ trọn
đủ. Đạo Cộng là do đă thấu hiểu
sâu xa chân lư, thấy thấu triệt chân tánh, tự nhiên giới
hạnh đầy đủ, các phẩm đức tốt
lành tự nhiên hiển lộ.
[49] Vân Thê là tổ Liên Tŕ Châu Hoằng,
c̣n Chuyên Ngu tức là Chuyên Ngu Quán Hành (1579-1646), cao tăng
tông Lâm Tế cuối đời Minh. Ngài Chuyên Ngu nối
pháp của Ngũ Đài Không Ấn đại sư và Hám
Sơn Đức Thanh đại sư.
[50] Ngũ Phẩm là địa vị
đạt được công đức nơi năm phẩm
được nói trong phẩm Phân Biệt Công Đức của
kinh Pháp Hoa. Địa vị này tương ứng với
phẩm vị Đệ Tử Vị trong tám địa của
Viên Giáo và tương ứng với địa vị Quán Hạnh
Tức trong Lục Tức Vị của tông Thiên Thai.
Ngũ Phẩm là:
1. Tùy Hỷ Phẩm: Nghe pháp Thật
Tướng bèn tin hiểu, tùy hỷ.
2. Độc Tụng Phẩm: Đọc
tụng kinh Pháp Hoa để giúp tăng trưởng quán giải.
3. Thuyết Pháp Phẩm: Tự nói nội
giải để hướng dẫn, lợi ích người
khác.
4. Kiêm Hành Lục Độ Phẩm:
Kiêm tu Lục Độ để giúp quán tâm.
5. Chánh Hạnh Lục Độ Phẩm:
thực hiện Lục Độ tự độ, độ
người khác.
Địa vị Ngũ Phẩm thực
hành trọn vẹn năm phẩm ấy.
[51] Tam nhân có nhiều cách hiểu:
1. Tam nhân chính là chí thành tâm, thâm tam-muội
và hồi hướng phát nguyện tâm. Đó là chánh nhân của
Tịnh Độ.
2. Tam nhân là Ứng Đắc Nhân (do
nương theo lư Chân Như mà tu nhân hạnh, ắt đạt
được cái quả Bồ Đề), Gia Hạnh Nhân
(nương theo cái tâm Bồ Đề, để gia công dụng
hạnh, dùng đó làm nhân để chứng đắc Pháp
Thân), và Viên Măn Nhân (do gia hạnh mà nhân hạnh được
viên măn).
3. Tam nhân là Dị Thục Nhân (tức
nghiệp thiện ác làm nhân sẽ kết thành cái quả về
sau), Phước Nhân (tức Thí, Giới, Nhẫn Ba La Mật
v.v..) và Trí Nhân (tức là dùng Bát Nhă Ba La Mật làm nhân).
4. Tam nhân là sanh nhân (tức dị thục
nhân), tập nhân (do tập khí tham dục mà càng tăng thêm
tham dục), y nhân (dùng lục trần làm cảnh sở y
để sanh ra lục thức).
5. Tam nhân chính là Chánh Nhân Phật Tánh,
Liễu Nhân Phật Tánh, và Duyên Nhân Phật Tánh.
Theo ngu ư, cách hiểu thứ tư
không phù hợp với tam nhân trong đoạn này.
[52] Tổ sinh năm 1599, tức là lúc
phát lời nguyện này, Ngài hai mươi hai tuổi, c̣n
chưa xuất gia.
[53] “Ân vơng cực” tức là ân sâu
lồng lộng của cha mẹ, thường dùng để
ca ngợi công đức sâu dày của cha mẹ. Từ ngữ
này xuất phát từ bài thơ Lục Nga trong Tiểu Nhă của
kinh Thi: “Phụ hề sanh ngă, mẫu hề cúc ngă, phủ
ngă, súc ngă, trưởng ngă, dục ngă, cố ngă, phúc ngă, xuất
nhập phúc ngă, dục báo chi đức, hạo thiên vơng cực”
(Cha sanh ra ta, mẹ dưỡng dục
ta, nuôi nấng khôn lớn, chăm sóc cho ta, ra vào chăm bẵm,
muốn báo đức tột, trời cao lồng lộng,
chẳng thể báo đền).
[54] “Đế châu” tức
là các viên châu nơi cái lưới của Thiên Đế
Thích. Theo kinh Hoa Nghiêm, trên thiên cung của Đế Thích có một
tấm lưới báu để trang nghiêm kết bằng
vô số lượng bảo châu. Mỗi bảo châu đều hiện
bóng của hết thảy các bảo châu. Các bảo châu soi
bóng lẫn nhau trùng trùng vô tận. Kinh dùng ngay h́nh ảnh này
để sánh ví hết thảy các pháp một và nhiều
giao triệt lẫn nhau, trùng trùng vô tận.
[55] Tứ khí (Catvārah
pārājika dharmāh): Hàng tỳ-kheo phạm bốn tội thuộc loại
Ba La Di, tức giết, trộm, dâm, dối, chẳng
được sám hối, ắt bị trục xuất khỏi
Tăng đoàn.
[56] Bát khí là tám tội Ba La Di của tỳ-kheo-ni,
do tính tế nhị của giới xuất gia, không ghi chi
tiết vào đây.
[57] Chúng tôi ngờ rằng
ở đây pháp sư Thành Thời ghi sai, v́ tổ sư
sinh năm 1599, mất năm 1655, mà Mậu Tuất trong giai
đoạn đó chỉ có thể là hai năm 1598 (lúc đại
sư chưa hạ sanh), và năm 1658 (lúc đó tổ
sư đă văng sanh ba năm rồi)!
[58] Thân duyên: Những người thân
thuộc, hữu duyên với chính ḿnh.
[59] Tức Tứ
Phần Tăng Giới Bổn là một bộ luật giảng
về Cụ Túc Giới của tỳ-kheo, do ngài Phật
Đà Da Xá dịch sang tiếng Hán vào đời Hậu Tần.
Bộ luật này c̣n có tên gọi là Tứ Phần Luật
Tăng Giới Bổn, Tứ Phần Luật Giới Bổn,
Tứ Phần Giới Bổn, Đàm Vô Đức Giới
Bổn, hoặc Vô Đức Giới Bổn (do đây là luật
tỳ-kheo được truyền thừa trong bộ phái
Đàm Vô Đức, tức Pháp Tạng Bộ). Đây chính
là bộ luật được hoằng dương trong
Nam Sơn Luật Tông của ngài Đạo Tuyên, và là giới
luật căn bản của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni tại
Trung Hoa. Có lẽ đây cũng chính là bộ luật
được chú giải nhiều nhất, riêng tổ Ngẫu
Ích đă viết Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Yếu
Tập (mười quyển) để chú giải luật
này. Gọi là Tứ Phần v́ luật được chia
thành bốn bộ phận:
1) Giới luật gồm
250 điều của tỳ-kheo
2) Giới luật gồm
348 điều của tỳ-kheo ni, cũng như các pháp tắc
thọ giới, thuyết giới, an cư, tự tứ
v.v…
3) Các quy định về
giày dép, y, thuốc men, diệt tránh (dứt tranh căi), quở
phạt v.v…
4) Các điều kiền
độ (quy tắc ứng xử) khác.
[60] Tán tŕ: Tŕ chú bất cứ lúc nào có
dịp, không hạn định công khóa, không kết đàn
lập hạn định để tŕ.
[61] Tứ Trí Bồ Đề là do chuyển
tám thức mà thành. Thức thứ tám chuyển thành Đại
Viên Kính Trí, thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh
Trí, thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí, năm thức
trước thành Thành Sở Tác Trí.
[62] Tổ nhắc chuyện cha Ngài tŕ
chú Bạch Y và Đại Bi suốt mười năm để
cầu con, sanh ra Ngài.
[63] Tam lậu là dục lậu
(hết thảy phiền năo trong Dục Giới, trừ vô
minh), hữu lậu (hết thảy phiền năo trong Sắc
Giới và Vô Sắc Giới), và vô minh lậu. Tam cấu là
tham, sân, si.
[64] Tam đức là Pháp Thân đức, giải
thoát đức và Bát Nhă đức.
[65] Trừ tịch
là đêm cuối cùng trong một năm Âm lịch, tức
đêm Ba Mươi tháng Chạp (hay Hai Mươi Chín tháng
Chạp nếu là tháng thiếu), c̣n gọi là Tuế Trừ,
hàm nghĩa: Năm cũ đến lúc này đă mất
đi, năm mới sanh ra. Do vậy, Trừ Tịch
nghĩa là đêm trừ khử năm cũ, bước
sang năm mới. Trừ Tịch c̣n được gọi
là Đại Niên Dạ,
[66] Ba ngàn vị Phật
trong ba kiếp: Theo kinh Tam Thiên Phật Danh, có ba đại
kiếp là Trang Nghiêm Kiếp, Hiền Kiếp và Tinh Tú Kiếp.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là vị Phật
thứ tư trong Hiền Kiếp.
[67] Nguyên văn là “nậu
dương” (羺羊) là một giống dê nhỏ, lông mịn, phát xuất
từ Tây Vực. “Nậu dương tŕ luật” là từ
ngữ chê tăng sĩ không giữ giới, chỉ biết
lo ăn uống, phóng dật giống như con dê chỉ biết
cỏ,
nước, tùy ư chạy nhảy.
[68] Năm thân chính là năm loại thân
Phật theo tông Hoa Nghiêm:
1) Pháp tánh sanh thân: Thân Phật
được sanh bởi pháp tánh thể viên
thường.
2) Công đức Pháp Thân: Dùng công
đức của vạn hạnh để tạo thành
thân Phật.
3) Biến hóa Pháp Thân: Ứng theo
căn cơ của chúng sanh mà ảnh hiện, biến hóa thân Phật.
4) Hư không Pháp Thân: Thân Phật to lớn
trọn khắp pháp giới.
5) Thật Tướng Pháp Thân: Chân
diệu Pháp Thân vô tướng, vô vi.
Trong đó, hai loại đầu là
Báo Thân, loại thứ ba là Ứng Hóa Thân, hai loại sau
cùng là Pháp Thân.
[69] “Thẻ” ở đây là những thanh tre nhỏ
dùng để tính đếm thiện nghiệp, ác nghiệp, ḥng cân nhắc công hay tội khi đối trước đại chúng sám hối.
[70] Đạt
Quán Chân Khả (1543-1603), họ ngoài đời là Trầm,
pháp danh Đạt Quán, về sau đổi thành Chân Khả,
có hiệu là Tử Bách Lăo Nhân, được hậu thế
xưng tụng là Tử Bách Tôn Giả. Đây là một vị
cao tăng trong số bốn vị đại cao tăng cuối
đời Minh (Liên Tŕ, Tử Bách, Hám Sơn và Ngẫu Ích).
Ngài quê ở huyện Cú Dung, tỉnh Giang Tô. Về sau, gia
đ́nh chuyển sang sống bên cạnh Thái Hồ thuộc
Ngô Huyện. Cho đến năm tuổi, Sư vẫn
chưa biết nói, măi cho tới khi gặp một vị dị
tăng nói “đứa bé này về sau sẽ xuất gia,
thành một vị Tăng lỗi lạc”, Sư mới bắt
đầu nói. Lúc mười bảy tuổi, Sư ôm kiếm
đi hành hiệp. Đến Lư Môn thuộc Tô Châu, do gặp
cơn mưa to, phải đụt mưa, nghe sư Minh
Giác chùa Hổ Khâu tụng kinh danh hiệu tám mươi tám
vị Phật trong đêm, sáng hôm sau bèn xin xuất gia. Ngay
trong đêm xuất gia xong, Ngài tĩnh tọa suốt
đêm tới sáng. Sau đó, suốt đời chưa hề
ngả ḿnh nằm xuống giường. Nghe sư Minh Giác
muốn đúc hồng chung, Sư bèn một ḿnh đi khắp
vùng Thái Hồ, quyên hóa được một vạn cân sắt,
thành tựu chuyện đúc chuông. Ngài tánh t́nh rất cứng
cỏi, quyết liệt. Sau khi đă xuất gia, hễ thấy
tăng nhân c̣n uống rượu, ăn mặn, liền quở
trách không kiêng nể. Sư thọ Cụ Túc Giới lúc hai
mươi tuổi, sau khi xem kinh Hoa Nghiêm suốt ba năm,
bèn xin thầy tu hạnh Đầu Đà suốt đời.
Mỗi ngày Sư đi hai mươi dặm đường,
không nài đau mỏi. Trên đường hành cước,
do nghe kệ Kiến Đạo của Trương Chuyết
mà ngộ đạo, bèn nghiên cứu Pháp Tướng Tông.
Ngài từng đến chùa Pháp Thông ở Bắc Kinh, tham học
với đại sư Biến Dung, y chỉ tại đó
suốt chín năm. Ngài lại cùng với tri phủ Lục
Quang Tổ chủ tŕ khắc Đại Tạng Kinh,
đích thân tự quyên mộ hóa duyên chi phí, măi cho đến
năm Vạn Lịch 17 mới đủ tiền khắc
in. Tạng kinh này do được khởi xướng tại
huyện Gia Hưng tỉnh Chiết Giang nên gọi là Gia
Hưng Tạng. Suốt đời ngài đă dũng mănh
đấu sức với bọn cường hào chiếm
đoạt đất chùa, phục hưng mười
lăm ṭa tự viện. Ngài kết giao thân thiết với
Hám Sơn đại sư. Khi ngài Hám Sơn bị vu cáo, hạ
ngục, và bị đày xuống Lănh Nam, Sư đă bôn ba
t́m mọi cách cứu giúp. Năm Vạn Lịch 31, do vấn
đề tranh chấp giữa các phe đảng ủng hộ
người kế vị, Sư bị liên lụy, bị
Đông Xưởng bắt giam, H́nh Bộ vu cáo Sư viết
yêu thư. Ngài cảm khái: “Cơi đời như thế, ở
lâu làm ǵ nữa?” Sáng ngày Mười Bảy tháng Chạp
năm ấy, Sư xin nước tắm gội rồi ngồi
đoan nghiêm, niệm Tỳ Lô Giá Na Phật vài câu mà qua
đời.
[71] Tam tâm là ba cái
tâm của phàm phu:
1) Khởi sự tâm: Khởi
lên phiền năo thô, mạnh trong tạo tác, chướng lấp
sự giáo hóa của Hóa Thân Phật.
2) Y căn bản tâm:
Nương theo căn bản vô minh dấy lên phiền năo,
chướng tế Báo Thân Phật.
3) Căn bản tâm: Cái tâm
nương theo vô minh thuộc Tứ Trụ phiền năo,
chướng lấp Pháp Thân Phật.
Tam tâm c̣n có thể hiểu
như sau:
1) Giả danh tâm: Tâm chấp
trước thật sự có ngă.
2) Pháp tâm: Tâm chấp
trước thật sự có pháp.
3) Không tâm: Tâm chấp
trước vào ngă không và pháp không.
[72] Người làm công quả tu hành
trong chùa, c̣n để tóc, chưa xuất gia.
[73] Kiếp thạch là một thí dụ
được dùng để chỉ sự lâu dài của kiếp.
Đại Trí Độ Luận nói: “Có ḥn đá to bốn
mươi dặm. Có một người trường thọ,
mỗi trăm năm đi đến, dùng áo mỏng phất
qua ḥn đá ấy. Cho tới khi ḥn đá ấy ṃn hết,
kiếp vẫn chưa hết”.
[74] Ba lỗi nơi thân (giết, trộm,
dâm) và bốn lỗi nơi miệng (nói dối, nói đôi lời,
nói thêu dệt, ác khẩu).
[75] Đây là một thí dụ trong kinh
Đại Bát Niết Bàn: Như người nữ nuôi ḅ vắt
sữa đem bán, do tham lợi, bèn đổ thêm nước
vào sữa. Người mua về bán lại, cũng tham lời, đổ thêm nước
vào. Đến khi người mua, ḥa thêm nước để
nấu cháo sữa, vị sữa trong cháo rất nhạt, gần như không c̣n ǵ. Ví như
chánh pháp của đức Phật lâu ngày bị xen tạp,
gần như chẳng c̣n ǵ.
[76] Thiên Tụ (篇聚) là danh xưng khác
để chỉ giới luật. Do giới luật của
năm chúng chia thành Ngũ Thiên (năm phần lớn), Lục
Tụ (sáu thể loại lớn), hoặc Thất Tụ.
Ngũ Thiên tức là chia các giới theo phương diện
tội quả, “Tụ” tức là các tội
thuộc cùng loại hay có tánh chất tương tự.
[77] Nguyện tỷ (願璽): Tỷ là cái ấn
nhà vua hoặc vương hầu, c̣n gọi là ngọc tỷ,
thường khắc bằng ngọc quư. Ở đây, sánh
ví bổn nguyện của A Di Đà Phật như ấn
báu in vào tâm của chúng sanh, nên gọi là Nguyện Tỷ.
[78] Diệt Định Nghiệp chân
ngôn là Om pramardane
svāhā (Án, bát ra mạt lân đà nĩnh, sa bà ha).
[79] Theo kinh Kim Quang Minh, Tín
Tướng Bồ Tát (ngài Nghĩa Tịnh dịch là Diệu
Tràng Bồ Tát) ở
tại thành
Vương Xá, do suy nghĩ v́ nhân duyên nào mà Như Lai thọ
mạng ngắn ngủi, trong pḥng bỗng hiện ra bốn
vị Phật (A Súc, Bảo Tướng, Vô Lượng Thọ
và Vi Diệu Thanh) trọn đủ tướng trang nghiêm,
ngự trên bảo tọa, tuyên thuyết ư nghĩa chân thật
của Như Lai thọ lượng.
[80] Tức Cát Tường Thiên Nữ
(tức Śrī Devi),
c̣n dịch Đại Công Đức Thiên, bà này thường
được biết đến dưới danh hiệu
Lakṣmī trong Ấn Độ giáo, được tôn
là nữ thần chủ tŕ giàu sang, thịnh vượng,
tài lộc v.v… Trong kinh Kim Quang Minh, bà đă nhiều lần
phát thệ hộ tŕ người tŕ tụng, giảng thuyết
kinh Kim Quang Minh. Thiện Nữ Thiên Chú trong mười tiểu
chú thuộc công khóa
sáng sau phần chú Lăng Nghiêm chính là thần chú do bà nói ra
để ủng hộ các hành nhân. Trong truyền thống
Phật giáo Tây Tạng, bà được coi là thần hộ
pháp riêng của
Đại Lai Lạt Ma, với danh xưng Palden Lhamo. Tuy vậy,
các nhà nghiên cứu cho rằng đây là hai vị khác nhau, tuy
cùng gọi là Śrī Devi, nhưng Palden Lhamo là hóa thân phẫn
nộ của nữ thần Kali.
[81] Kim hải thánh thiên: Chư thánh (Phật,
Bồ Tát, thánh chúng) và chư Thiên (Công Đức Thiên, Biện
Tài Thiên, Kiên Lao Địa Thần v.v…) được nhắc
tới trong kinh Kim Quang Minh.
[82] Nguyên văn “chỉ trụ trung
lưu”. Chỉ Trụ (砥柱) vốn là một trụ đá nổi
giữa sông Hoàng Hà thuộc hạ lưu của sông nơi
Tam Môn Hiệp thuộc tỉnh Hà Nam. Thế nước chảy
xiết nhưng trụ đá vẫn sừng sững bao
năm tháng nơi đó, trụ
đá ấy được gọi
là Chỉ Trụ Sơn. Truyền thuyết cho rằng
đây là trụ đá trấn lũ do vua Đại Vũ
đă chôn xuống khi trị thủy. “Chỉ trụ trung lưu” được dùng làm thành ngữ
ngụ ư ca ngợi ư chí bất khuất, kiên định.
[83] Ư nói người nghiêm tŕ giới luật.
Đây là một thí dụ trong kinh Niết Bàn, như người
vượt biển ôm phao, khư khư giữ vững, dẫu
có kẻ xin cắt lấy một miếng nhỏ của
phao cũng không cho, giống như người giữ giới chẳng
lơi lỏng giới luật dẫu mảy may. “Cỏ
trói” là nói tới chuyện một vị tỳ-kheo bị giặc bắt,
dùng cỏ tươi trói lại, do giữ mà chẳng dám bứt
cỏ tươi v́ sợ cỏ bị tổn
thương.
[84] Đây là thuật
ngữ trong nhà Thiền, hàm ư: Thông đạt tông chỉ sâu
thẳm của đạo th́ gọi là Tông Thông, có thể
đối trước đại chúng tự tại nói
pháp giáo hóa th́ gọi là Thuyết Thông.
[85] Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ
Phật là một vị cổ Phật. Theo kinh Thiên Thủ
Thiên Nhăn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quán Thế Âm
Bồ Tát lúc c̣n tu nhân, do được gặp Thiên Quang
Vương Tĩnh Trụ Phật, được nghe
đức Phật ấy nói chú Đại Bi liền giác ngộ,
chứng ngay lên Bát Địa.
[86] Chánh Pháp Minh Phật: Bổn địa,
Quán Thế Âm Bồ Tát đă thành Phật từ lâu xa trong
quá khứ, hiệu là Chánh Pháp Minh. Do phụ trợ Phật
Thích Ca và Phật Di Đà giáo hóa chúng sanh, nên Ngài thị hiện
thân phận Bồ Tát, trụ trong cơi Sa Bà và Cực Lạc.
[87] Tất Đát Đa Bát Đát Ra (mahā-sitātapatra) hiểu
theo nghĩa rộng là toàn bộ chú Lăng Nghiêm, hiểu
theo nghĩa hẹp chính là phần tâm chú của chú Lăng
Nghiêm, tức đoạn: “Án, a na lệ, tỳ
xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn
đà nể, bạt xà ra bán ni phấn. Hổ hồng,
đô lô ung phấn, sa bà ha” (Oṃ
anale anale, viśade. Viśade, vīravajra-dhare, bandha bandhani, vajra-pāṇi phaṭ! Hūṃ
trūṃ phaṭ, svāhā). Tất Đát Đa Bát Đát Ra dịch nghĩa là Bạch
Tán Cái (cái lọng trắng lớn), do trong kinh Lăng Nghiêm,
chú này được gọi là Đại Phật Đảnh
Bạch Tán Cái Đà La Ni (Tathāgatoṣṇīṣa
sitātapatrā dhāraṇī). Đôi khi, c̣n được
gọi là Nhất Thiết Như Lai Đảnh Kế Bạch
Tánh Cái Phật Mẫu Vô Năng Thắng Biến Năng
Điều Phục Đà La Ni. Trong Mật giáo, vị này
chính là nhân cách hóa của Phật đảnh (tướng
đỉnh đầu của Phật), biểu hiện trí
huệ siêu thắng của Như Lai, có danh xưng là Bạch
Tán Cái Phật Mẫu, hết sức được sùng bái
trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng.
[88] Sau khi một vị thầy đă mất,
người nương theo di giáo của Ngài tự tu luyện
trở thành chứng ngộ th́ gọi là “tư thục
đệ tử”.
[89] Thập thân có nhiều cách hiểu:
1) Mười loại thân của Phật,
Bồ Tát dùng để thị hiện nhằm ứng
với cơ cảm của chúng sanh, tức là chúng sanh thân,
quốc độ thân, nghiệp báo thân, Thanh Văn thân,
Độc Giác thân, Bồ Tát thân, Như Lai thân, trí thân, Pháp
Thân, và hư không thân.
2) Mười thân do Như Lai đạt
được nơi Phật quả: Bồ Đề thân
(thân thị hiện tám tướng xuất
gia thành đạo), nguyện thân (thân sanh lên cung trời
Đâu Suất làm Bổ Xứ Bồ Tát), hóa thân (thân sanh
trong vương cung), trụ tŕ thân (lưu lại xá-lợi
và di giáo trong thế gian để duy tŕ Phật pháp), tướng
hảo trang nghiêm thân (thân có vô lượng vô biên tướng
hảo), thế lực thân (thân dùng từ tâm nhiếp phục
chúng sanh), như ư thân (thân Phật như ư hiện trước
Địa Tiền và Địa Thượng Bồ Tát),
phước đức thân (thân Phật thường trụ
trong tam-muội), trí thân (tức các trí như Đại Viên
Kính Trí v.v…), và Pháp Thân.
3) Mười thân của Thập
Địa Bồ Tát: b́nh đẳng thân, thanh tịnh thân,
vô tận thân, thiện tu thân, pháp tánh thân, bất khả
giác tri thân, bất tư nghị thân, tịch tĩnh thân,
hư không thân, diệu trí thân. Mỗi thân này tương ứng
với một địa trong Thập Địa.
4) Mười thân chứng đắc
của Đệ Thập Nhẫn Bồ Tát: vô lai thân, bất
sanh thân, bất tụ thân, cụ túc bất thật thân, nhất
tướng thân, vô lượng thân, b́nh đẳng thân, bất
hoại thân, chí nhất thiết xứ thân, ly dục tế
thân.
Đối với Thập Hạnh,
Thập Hồi Hướng và Thập Địa, mỗi vị
thứ lại có mười loại thân, nhưng sợ
rườm rà nên không chép vào đây.
[90] Đây là dụng ngữ của tông
Thiên Thai nói về cương lănh của kinh Niết Bàn:
Trước khi nhập diệt, Như Lai tuyên thuyết giới
luật để nhắc nhở đệ tử nghiêm tŕ
giới luật, chuyển hóa căn cơ ám độn chẳng
phá giới, hủy luật. Đó là “phù Luật”. Ngài
lại giảng về lư Phật tánh thường trụ,
Niết Bàn tứ đức, Như Lai tạng vv… Đó là
Đàm Thường.
[91] Trong phẩm Bồ Tát Tâm Địa
của kinh Phạm Vơng, đây là hai vị Bồ Tát đứng
ra thưa thỉnh để đức Phật giảng Phạm
Vơng Bồ Tát Giới cho đại chúng.
[92] Y đơn: Y ca-sa và tấm
đơn (tấm gỗ vừa đúng cho một người
nằm trong Tăng pḥng), “bỏ y đơn” tức là
đi hành cước cầu học.
[93] Theo giới bổn, người muốn
thọ Cụ Túc Giới phải chẳng phạm mười
sáu điều Giá (ngăn che) và mười ba điều nạn.
Giá hiểu theo nghĩa: Tuy người muốn thọ giới
chẳng phạm các điều ác thuộc vào tự tánh,
nhưng chẳng hợp thọ giới.
Nạn là các điều phạm thuộc vào tự tánh ác, hoàn toàn
chẳng được thọ giới. Do đây là giới
luật của Tăng sĩ, không tiện chép tỉ mỉ,
chỉ nói sơ về nạn như xâm phạm tỳ-kheo
ni, tặc tâm thọ giới (tức là do biết giới
luật, mạo nhận là tăng sĩ tuy chưa thọ
giới), không phải là nam nhân đích thực, phạm tội
Ngũ Nghịch v.v…
[94] “Đạo
nạn” có nghĩa là trộm cắp và phạm lỗi chẳng
đáng được thọ giới. Gọi là “trộm cắp”
tức là giới tử vi phạm những điều vi
phạm thuộc về tánh ác, không đủ tư cách xuất gia, nhưng
giấu lỗi để được thọ giới,
hoặc vị thầy truyền giới tuy biết mà vẫn
cứ cho thọ giới th́ đều thuộc về tội
trộm pháp, nên gọi là “đạo nạn”.
[95] Cụ phược (具縛): Đầy dẫy phiền năo trói
buộc.
[96] Đốt hương trên thân biểu
lộ sự thành tâm, để cầu rút thăm đúng với
sự phán quyết của Tam Bảo, không hề có ư định
chống trái dù kết quả rút thăm như thế nào!
[97] Hành tàng vốn là chữ dùng để
chỉ kẻ sĩ hoặc ra làm quan, hoặc ở ẩn,
giữ phẩm chất thanh cao. “Hành tàng” được sử dụng ở đây với ư nghĩa là đi khắp nơi rộng giáo hóa, hoặc bế
quan tĩnh tu.
[99] Đây là thành ngữ châm biếm kẻ
chỉ biết nói suông, giống như nghe kinh nói “sắc
tức thị không, không tức thị sắc” bèn máy móc
lập lại mà chẳng lănh hội, giống như chuột
rúc, chim kêu suông.
[100] Tức hội Đại Thừa
Địa Tạng Thập Luân trong kinh Đại Tập.
[101] Sát hải: Biển
các sát-độ (cơi Phật). Do trong mười
phương thế giới, các cơi nước nhiều
như vi trần, mênh mông chẳng thể tính kể, nên dùng
chữ Hải để h́nh dung.
[102] Lễ nghị (禮儀): Lễ nghĩa, trọn đủ
lễ nghĩa đạo đức, xử sự đúng
quy phạm đạo đức, lễ nghĩa.
[103] Nhất Tự
Đại Luân Chú phát xuất từ kinh Đại
Phương Đẳng Bồ Tát Tạng Văn Thù Sư Lợi
Căn Bản Nghi Quỹ, tức là câu chú ngoài chữ Án là chữ khởi đầu của các thần
chú, chỉ có duy nhất một chữ Bhrūṃ (Hán tạng phiên âm thành Bộ-lâm).
[104] Trần kiếp: Số kiếp nhiều
như số lượng của vi trần.
[105] Hằng khóa: Công khóa tu tŕ định
ra hằng ngày.
[106] Linh văn: Kinh văn thiêng liêng, từ
ngữ diễn tả ḷng trân trọng đối với kinh
Phật.
[107] Phát thú (發趣, saṃprasthita):
Phát khởi tâm giác ngộ, tiến hướng đến
Bồ Đề.
[108] Sở dĩ không nói “tứ thiên hạ”
v́ trong tứ đại bộ châu, Bắc Câu Lô Châu không có
Phật pháp.
[109] Tức là kẻ
chẳng hiểu sâu giáo lư, tu Thiền nhưng không dụng
công học pháp, thốt lời dạy sai lầm, giống
như một vị Tăng do nói sai một chữ mà làm
thân chồn năm trăm năm.
[110] Ư nói kẻ tu Mật Tông nhưng
không hiểu quán pháp cách tu tŕ, chỉ tụng niệm mật
chú như ca xướng, không biết vận tâm quán tưởng.
[111] Ư nói những kẻ mạo danh xuất
gia, dùng cửa Phật để mưu cầu lợi ích
cá nhân, chuyên lập ra những thuyết dị đoan mê tín
để mê hoặc tín đồ ḥng kiếm lợi chẳng
khác con buôn!
[112] Ư nói những kẻ giả danh hành
cước vân du tăng, chỉ mượn cớ vân du
để đi chơi khắp nơi, sống nhàn tản,
không muốn khép ḿnh vào khuôn khổ của tùng lâm.
[113] Kim thang là nói gọn của “kim
thành thang tŕ” (金城湯池), hàm ư: Thành đúc
bằng kim loại, hào sâu quanh thành đổ nước
nóng sôi sùng sục, tỷ dụ thành tŕ kiên cố.
[114] Đây là một thành ngữ dựa
theo một câu nói trong thiên Tử Hăn sách Luận Ngữ : “Ngưỡng
chi di cao, toản chi di kiên, chiêm nhi tại tiền, hốt
yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên thiện dụ
nhân” ([đạo của Khổng phu tử] ngửa trông
càng cao, dùi mài càng cứng chắc, thoạt nh́n tại
trước, bỗng đă ra sau. Phu tử khéo léo khuyên dụ
dần dần). Từ đó, “ngưỡng chi di cao,
toản chi di kiên” dùng để sánh ví học
vấn hay giáo pháp uyên thâm chẳng thể thấu hiểu
cùng tận được!
[115] Ư nói lănh hội được huyền
nghĩa rộng lớn trong pháp giới, dựa theo cách nói
“chẻ một vi trần, lấy ra được kinh quyển
to như đại thiên thế giới” trong phẩm Nhập
Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm.
[116] Khi một vị trời sắp chết,
sẽ có tướng ngũ suy hiện ra nơi thân, chia
thành đại ngũ suy và tiểu ngũ suy. Đại
ngũ suy là:
1) Hoa trên đỉnh đầu héo
tàn.
2) Dưới nách ra mồ hôi.
3) Xiêm y bẩn thỉu.
4) Thân thể mất hôi dơ.
5) Chẳng thích chỗ ngồi của
chính ḿnh.
Tiểu ngũ suy:
1) Tiếng nhạc trời chẳng
tấu nữa.
2) Ánh sáng nơi thân mất đi.
3) Khi tắm sẽ bị nước
dính thân.
4) Chấp cảnh chẳng bỏ
được.
5) Mắt nháy nhiều lần.
[117] Nhị Thừa ch́m đắm trong
không tịch, chẳng khởi tác dụng cứu độ
chúng sanh, tăng tấn tu tập thành Phật.