Linh Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần 10
Linh Phong Ngẫu
Ích đại sư soạn
Pháp sư
Thành Thời biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă
năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong, Diệu Âm Trịnh Lộc và Huệ
Trang
* Chúc thọ Nguyệt
Đường Huy Sơn thủ tọa
Điện
các huân phong[1]
lương ư đa. Lục ḥe cắng cổ ảnh bà
sa. Kiền chùy tự tích thanh như hống. Thượng
tọa ư kim my tự kha. Triệu lão mang hài
do vị chỉ. Hiếp tôn Thiền tụng dĩ thành
khoa. Phân minh xướng xuất Nam Sơn khúc, nhạ
động Tây tŕ lục điểu ca.
(Điện
gác, huân phong ý mát lành. Hòe xanh
tự cổ bóng la đà. Kiền chùy[2]
từ trước âm vang vọng. Thượng
tọa đến nay bạc trắng mày. Hài
cỏ cụ Triệu[3]
chưa ngừng bước. Hiếp tôn[4]
Thiền tụng đã thành khoa. Phân minh vang
tiếng Nam Sơn khúc, đánh động ao Tây
chim hót rền).
* Tặng Trang Thánh Tây
Di
Đà tức thị Tỳ Lô sư, Cực Lạc
tức thị Hoa Tạng giới. Bát vạn
tứ thiên tướng hảo trung, nhất nhất
cụ túc sát trần tướng. Tây Phương
nhất nhất vi trần trung, cụ túc thế giới
sai biệt chủng. Thị cố Phổ Hiền đại
nguyện vương, cứu cánh đạo quy An
Dưỡng Độ. Đồng Cư tịnh cố,
tứ câu tịnh. Hoành siêu tự tại thậm hy
hữu. Nhược nhân thâm tín Tịnh
Độ môn, thỉ thị thâm tín pháp giới lý.
Nhược nhân dĩ ngộ pháp giới lý,
phương khẳng xí nhiên cầu vãng sanh. Pháp giới
phi vãng, phi bất vãng. Thuận Tất Đàn
cố, danh vi
vãng. Pháp giới phi sanh, phi bất sanh. Thuận Tất
Đàn cố, danh vi
sanh. Như thị vãng sanh tức hướng
thượng, viên đốn liễu nghĩa vô luân thất.
(Di
Đà tức là Tỳ Lô sư, Cực Lạc
chính là Hoa Tạng giới. Trong tám vạn
bốn ngàn tướng hảo, mỗi mỗi
trọn đủ tướng sát trần[5].
Trong mỗi vi trần tại Tây Phương, trọn
đủ các loại cõi sai biệt. Do vậy,
Phổ Hiền đại nguyện vương, rốt
ráo dẫn về cõi An Dưỡng. Do Đồng
Cư tịnh, bốn cõi tịnh. Hoành siêu tự tại
rất hy hữu. Nếu ai tin sâu môn Tịnh Độ,
mới là tin sâu lý pháp giới. Nếu
ai đã ngộ lý pháp giới, mới chịu
hăm hở cầu vãng sanh. Pháp giới
chẳng vãng, chẳng không vãng. Do thuận
Tất Đàn mà nói “vãng”. Pháp giới
chẳng sanh, chẳng bất sanh. Do thuận Tất
Đàn mà gọi “sanh”. Vãng sanh như thế tức
hướng thượng, liễu nghĩa viên
đốn không gì sánh).
* Cảm tác trong dịp
ăn Tết tại Thiên Ninh thiền đường
ở Tuy Lý
Đàn
chỉ hân truyền sát hải Xuân, tài phún tiểu vũ nhuận
mai quân. Tân lô diễm xí khai mi vũ. La cổ thanh
phồn địch nhĩ trần. Lưu tiếp Hy hà
phân dũ hợp. Hương lai Kỳ Thụ viễn
nhưng thân. Nhàn khán nộn thảo đình
tiền lục. Hồ điệp Trang Châu đa
đại xuân.
(Khảy
ngón vui truyền Xuân biển cõi, mưa phùn
khẽ rắc nhuận chồi mai. Lò than
lửa rực tươi mày mặt. Chiêng
trống khua rền rộn rã tai. Dồn dập Hy
hà[6]
phân lại hợp. Kỳ Thụ hương đưa, xa
vẫn thân. Nhàn ngắm trước sân cây
nõn biếc. Gốc Xuân vờn lượn
bướm Trang Châu[7]).
* Gởi tiên sinh Ngô Tây
Thành
Điểu
xuất thần loan nhiễu thụ phi. Thập niên hồi
thủ cố nhân hy. Hạnh đàn dĩ ngộ phù
vân ảnh. Liên xă kim chiêm lạc nhật huy. Tú Thủy doanh
doanh hồ thủy dật. Ngô sơn ẩn ẩn việt
sơn vi. Dao văn Kỳ Vực đa linh thảo, liêu
ký A Già
đệ nhất cơ.
(Chim
vượt non mai, lượn quanh cành. Mười
năm nhìn lại hiếm người xưa.
Đàn hạnh bóng phù vân đã ngộ. Liên
xã bóng chiều nay ngắm trông. Tú Thủy tràn đầy, hồ
ắp nước. Ngô sơn ẩn khuất, bóng
non mờ. Từng nghe Kỳ Vực nhiều
linh thảo, vẫn kém A Già[8]
đệ nhất thôi!)
* Dân chúng thất đức,
hạn hán nặng, không mưa, dã nhân lo
sầu, vịnh tháng Tư
Tứ
nguyệt viêm thử, ưu tâm như chử. Ta
thử nông phu, bất hoảng an xử. Hiểu
thức kỳ mi, viên bốc kỳ sở.
Thứ ky du du, cam lộ tư tư.
(Tháng
Tư nắng gắt, lòng lo quặn
thắt. Thương thay nông phu, không nơi an trụ.
Sáng dậy lau mày, tìm tòi nơi chốn,
hòng được nhuần thấm, cam lộ
tràn trề).
Dân chi vô
liêu, tịch bất mưu triêu. Tứ nhĩ mậu mậu,
viên tích kỳ dao. Nghiệt kư nhiêu chỉ, bi diệc dao
chỉ. Thức chiêm tiền hậu, mỵ bất tiêu
chỉ.
(Dân không
lẽ sống, tối chẳng tính sáng. Chao ôi
mờ mịt, càng thêm lo sầu. Mầm đã
thôi trổ, càng xót xa hơn. Ngó
trước trông sau, không đâu chẳng úa).
Dân chi vô
tri, cạnh vụ kỳ tư. Bệnh kư khổng cấp,
tằng mạc nhĩ y. Ta bỉ đạt sĩ, vi tắc
vi nghi. Hồ phản tự cục, nhi vô viễn tư.
(Người
dân vô tri, tranh đua tư lợi. Bệnh đã
ngặt nghèo, chưa từng chữa
trị. Ôi, bậc thông đạt, hãy nêu gương mẫu.
Sao lại hạn cục, chẳng biết lo xa!)
Diệc
hữu mỹ nhũ, duật tạp ư hử. Ẩm nhũ tắc
lạc, ẩm thủy tắc dữu. Ta bỉ
đạt sĩ, vơng thức khứ thủ. Tĩnh ngôn
tư chi, bất như quần vũ.
(Cũng
có sữa tốt, chẳng xen tạp
nước. Uống sữa liền vui, uống
nước gầy
mòn. Ôi, người thông đạt,
chẳng biết lấy, bỏ. Lặng
im suy nghĩ, chẳng bằng loài chim[9]).
Duy
sơn hữu linh, duy lộc hữu đ́nh. Ta bỉ
đạt sĩ, minh đức duy hinh. Tỉnh tỉnh
bất mị, ninh tức ư minh. Tích nhĩ song mục,
nhất chỉ sở quynh.
(Như
núi có linh, sườn núi nước
đọng. Ôi, bậc thông đạt, đức
sáng thơm ngát, tỉnh táo chẳng mê,
há còn tăm tối? Tiếc kẻ hai mắt,
một ngón che khuất).
Bình
đẳng, bình đẳng, kư
sanh thả tịnh. Hạ thị kỳ túc, cao thị
kỳ đảnh. Bão thức hàm tri, thùy vân hoặc
huưnh. Nịch thử đồ thán, tằng mạc
chi chửng.
(Bình đẳng,
bình đẳng, sanh đều như nhau. Nhìn xuống là
chân, ngó
cao đỉnh đầu. Hàm thức
đều biết, ai nói khác được?
Chìm trong đồ thán[10],
chưa từng cứu vớt).
Duy kim hữu dă, duy bách
hữu sương. Nhật nguyệt hữu
thực, bất giảm kỳ quang. Ta bỉ đạt
sĩ, quyết dụng bất tang. Xả nhĩ băng
giám, trục thử ly hoàng.
(Vàng
qua lò luyện, bách trải tuyết, sương.
Nhật thực, nguyệt thực, chẳng
giảm ánh sáng. Ôi, người thông
đạt, thi thố tài năng, đừng nên
ẩn giấu. Bỏ gương sáng ấy, theo
đuổi vặt vãnh).
Ngã
tâm ưu tư, hà sở cầu tư? Tái
quán vũ trụ, bất khả du tư. Diến
hoài thiên cổ, thùy dữ thù tư. Hy
Hà, Tứ Thủy, dục bỉ lưu tư.
(Tâm ta
ưu tư, truy cầu lẽ nào? Nhìn khắp
vũ trụ, tâm đừng tán loạn. Nghĩ
tưởng muôn đời, ai cùng nghĩ suy?
Hy Hà, Tứ Thủy, mong tắm dòng
ấy).
* Họa đáp Ngô
Thúc Nhã
Thập
thế hà thường ly mục tiền? Sát-na bất
trụ Niết Bàn thiên. Đản quán tâm ngoại
nguyên vô pháp, mạc vị sư gia biệt hữu
truyền. La Thập dịch kinh tồn thốn thiệt.
Cù Đàm dụ tử lại không quyền. Quy
lai cộng nhĩ hoàng kim địa, trạch thủ hoa tŕ
thiên diệp liên.
(Mười
đời há từng lìa trước
mắt? Sát-na chẳng trụ trời
Niết Bàn. Chỉ quán ngoài tâm vốn không
pháp, đừng bảo sư gia riêng dạy
truyền. La Thập dịch kinh còn tấc
lưỡi, Cù Đàm dụ con nắm tay
suông[11].
Trở về cùng đến hoàng kim
địa. Chọn lấy ao hoa ngàn cánh sen).
* Hai ngày sau tiết Trung
Thu, lũ hạc tụ tập tại Linh Phong, bèn
vịnh chim thiêng
Kiểu
kiểu linh điểu, tập ư sơn, ngu ngã
đa sĩ, chung triêu vĩnh nhàn. Kiểu kiểu linh điểu,
tập ư a, ngu ngã đa sĩ, ung ung dĩ hòa. Hữu
hoài lạc độ, thật đa linh vũ, tiện
thử Đông Lâm, thức chiêm Tây hộ. Tống
tưởng công thành, địch diện tư đổ.
(Chim thiêng
cao quý, tụ tập nơi núi, vui đẹp tâm
ta, suốt ngày an nhàn. Chim thiêng cao quý, tụ
tập vách đá, vui đẹp tâm ta, cùng
hót ríu rít. Tưởng nhớ
Cực Lạc, thật nhiều chim thiêng, hâm mộ
Đông Lâm, ngắm nhìn cửa Tây. Quán
tưởng công thành, thấy ngay trước
mặt).
* Dùng văn vần
để đề bức Bối Tọa Đồ (bức
vẽ ngồi xoay lưng lại) (hai bài)
1) Thế
sự vô đoan thắc nhận chân. Túng nhiêu tàng
kiểm, vị tàng thân. Phân minh Thiếu Thất
cửu niên ý, tất cánh thùy năng
cử tự nhân.
(Thế
sự bỗng dưng lầm nhận thức. Dẫu
toan giấu mặt, vẫn lòi thân. Chín
năm Thiếu Thất rành rành ý, rốt
cuộc ai nêu giống được người).
2) Trần
sát cam vi xuất thế bô. Đại thiên tọa cụ
nhất vi đồ. Niêm lai đoản trần hồn gian
sự. Đàm tận tam thừa bán tự vô.
(Trần
sát cam làm đường xuất thế. Đại
thiên làm đệm vẽ nên tranh. Lấy một vi
trần bàn chuyện vặt, bàn trọn tam
thừa, nửa chữ không!)
* Ba bài họa thơ
Trần Phi Bạch
1) Nghiêm
đông lạc mộc chuyển thê thê. Tích tuyết b́nh phô
mao ốc đê. Cử thế tương khan
đồng bại Bắc. Kỷ nhân năng giải
tảo quy Tây? Thần triêu cộng cận từ bi phụ.
Phạn hậu hoàn yếu pháp hỷ thê. Tiêu tận kiếp
ba sanh tử mộng. Hồn nhiên lục tự thị
toàn đề.
(Rét
căm, lá rụng, cảnh hoang vu. Tuyết đọng
phủ đầy, lều tranh lùn. Cõi
đời nhìn ra toàn bại Bắc[12],
mấy ai hiểu được sớm về Tây?
Sáng tối cùng hầu đấng từ
phụ. Ăn xong vui cùng vợ pháp hỷ. Tiêu
sạch trần kiếp sanh tử mộng. Hồn nhiên
sáu chữ trọn cùng nêu).
2) Mạc
yếm đa phiên triệt cốt hàn. Hiểu kê
tam xướng mộng sơ tàn. Nghênh phong lại
hữu Trọng Do uẩn. Sức thể hân vô
Quý Tử hoàn. Xúc cảnh hội tâm nguyên
bất viễn. Ly ngôn mịch chỉ khước
thành nan. Tùng thử thức đắc
Không Vương ấn. Bạch cổ ly nô cổ Phật
khan.
(Đừng
ngại nhiều phen xương buốt lạnh, ba phen gà
gáy mộng vừa tàn. Đón gió
nhờ mền thầy Tử Lộ. Trau thân
mừng không lụa Quý Tôn[13].
Lìa lời tìm ý khó khăn lắm,
đụng cảnh hiểu tâm vốn chẳng xa.
Từ nay hiểu biết Không Vương ấn. Trâu
trắng, mèo đen cổ Phật nhìn).
3) Tài đề
chánh lệnh dĩ thành bàng. Nhĩ diễm[14] hà
trung thức lăng mang. Không kiếp kiếp tiền nhưng bộ
ảnh. Duyên tâm, tâm đoạn tự xuy quang. Sóc phong
dạ cấp tùng đa vận. Bạch vụ hiểu khai
sơn tự thương. Kham tiếu Đông thôn
vương đại thư, cưỡng
tương trần bộn tác sơ trang.
(Chánh
lệnh vừa nêu đã thành phụ. Trong sông
cảnh giới, sóng thức trào.
Trước thuở kiếp không, thường
bắt bóng. Duyên tâm, tâm đoạn, thổi quang
minh[15].
Gió Bấc đêm lùa, tùng réo rắt.
Sương trắng bình minh, núi tự xanh.
Nực cười thôn Đông Vương
đại thư,
cưỡng dùng bụi đất tự
điểm trang).
* Hai bài họa thơ
Trương Hưng Công
1) Uổng
trực phân phân kế xích tầm. Độc liên trần
thế dục nê thâm. Dã tri tích nhật tô vi
tửu. Mạc quái kim thời diệp tác
kim. Tự tánh bổn không, hương biến
địa. Cơ tiên hữu cú, nguyệt xuyên lâm. Tử
Kỳ trắc nhĩ hồn vô sự, cộng giám cao
sơn lưu thủy âm.
(Lăng
xăng nhọc biến thước thành tầm. Riêng
xót cõi trần bùn dục sâu. Cũng biết
xưa coi tô là rượu, chẳng trách nay xem
lá thành vàng. Tự tánh vốn không,
hương khắp đất. Nói đúng
căn cơ, trăng xuyên rừng. Tử Kỳ
nghiêng tai nghe vô sự, cùng nhận “non cao,
nước chảy” âm).
2) Mỗi tàm thiểu
tiện bỉ năng đa. Cánh thán sơ tâm
tiệm tự thoa. Bạch phát sổ hàng bi
kính tuyết. Cô hoài bán thế phó xuân ba. Vu
trăn dị dụng tiêm phong tước. Đấu tránh
nan tương ảnh hưởng hòa. Phấn
khởi nhất thanh đồ độc cổ. Hoạt
nhân nguyên bất ly can qua.
(Thường
thẹn hèn nhỏ, tài vặt nhiều. Lại
than sơ tâm dần phôi pha. Tóc bạc lơ thơ
buồn gương tuyết. Hoài bão nửa đời
phó sóng xuân. Cỏ rậm dễ dùng dao
sắc cắt. Đấu tranh đâu dễ ảnh
hưởng ta. Trống độc một âm
vừa rền tiếng. Người đời vốn
chẳng khỏi can qua).
* Họa đáp Tống
Lượng Công
Lưu
phương ngũ diệp nhất chi hoa. Vị ủy
căn nguyên mạc lăng khoa. Châm giới đầu
thời Sơ Tổ tiếu. Cơ quan chuyển
xứ nạp tăng ta. Vô tâm kích toái t́nh trần tỏa.
Hữu cú trùng thiêm Phật tổ già. Thức
thủ tự y châu bất tá, mông lung kính ảnh mạn
tương già.
(Một
cành năm lá ngát hương hoa. Chưa rõ
căn nguyên, chớ nói bừa! Sơ Tổ
cười kim găm hạt cải[16].
Chỗ cơ quan chuyển, nạp tăng than. Vô tâm phá
nát xiềng tình kiến. Lời lẽ càng
thêm Phật tổ gông. Biết châu nơi áo không vay
mượn, bóng gương mờ mịt
chẳng che mờ).
* Tặng Ngẫu Tây
Thiện
Tài sơ phát ư, bách thành phương tận Nam. Nhất
kiến Phổ Hiền hậu, thỉ tri Tây cánh
trạm. Thập nguyện đạo kỳ vãng, thâm
Thiền bất dụng tham. Di Đà pháp giới
tạng, giới nhĩ nhất niệm hàm. Lục tự
thanh lịch lịch, kiểu nguyệt trừng hàn đàm.
Vị thức kỳ đồ khổ, na tri thử
đạo cam. Thượng thiện cộng huề thủ,
liệt tổ bằng hạp trâm. Quán thành nhất
thập lục, sanh phẩm liệt tam tam. Nhậm bỉ
trì viên đốn, phương tư định
hữu tàm.
(Thiện
Tài vừa phát tâm, trọn trăm thành
phương Nam. Sau khi gặp Phổ Hiền,
mới biết Tây Phương tịnh. Mười
nguyện dẫn sang đó, Thiền sâu chẳng
cần tham. Di Đà pháp giới tạng,
một niệm nhỏ bé trùm. Sáu chữ
tiếng rành rẽ, đầm lạnh trăng rọi
ngời. Chưa biết khổ nẻo rẽ, há
biết đường này vui? Thượng
thiện cùng nắm tay, chư tổ cùng vui
vầy. Quán thành mười sáu pháp,
chín phẩm vãng sanh bày. Mặc ai theo viên
đốn, ta quyết một đường này).
* Sáu bài kệ chỉ
dạy
1) Mịch
tâm vô đắc, tiện tâm an. Thùy giải phao thung
cấp thủy than? Lạc địa chẩm thanh kinh
khách mộng. Nguyệt di hoa ảnh độ lan can
(dạy Tri An)
(Tìm tâm
chẳng được, tâm liền an. Cọc chôn
bến nước có ai hay? Gối rơi xuống
đất, tan mộng khách. Trăng dời
bóng hoa vượt lan can).
2) Cao
sơn tối tảo đắc hy quang. Huyền cổ
dư huy diệc bội chương. Hải để
lập thân như Thái Nhạc, bất sầu Đông Chí
dạ thiên trường (dạy Dục Nham)
(Nắng
sớm non cao chiếu trước tiên, bóng nắng
chiều tà vẫn rực ngời. Vững
thân đáy biển như non Thái, chẳng
ngại Đông Chí đêm thêm dài).
3) Lục
niên khổ hạnh lăo Cù Đàm, ma mạch sung cơ
sự thái hàm. Tinh dạ đài đầu
minh cá sự. Tiền tam tam thị hậu tam tam
(dạy Tuyết Cù)
(Sáu
năm khổ hạnh cụ Cù Đàm. Lúa
ngựa đỡ lòng chuyện quá
buồn. Ngước ngắm sao đêm hiểu
chuyện ấy, trước sau cũng chỉ
giống nhau thôi).
4) Mật
tại nhữ biên, an khả truyền?
Trường niên nhiêu phá thủy trung thiên. Hoa đ́nh châu
phúc vô tiêu tức. Mại tận phong lưu bất
trước tiền (dạy Mật Truyền).
(Mật
tại nơi ông, há thể truyền? Bao năm
chèo mục, nước in trời. Hoa
Đình thuyền lật không tin tức. Mua sạch
phong lưu chẳng tốn tiền).
5) Thanh
liên Quyền Thật ư phân minh. Bách vạn nhân thiên
giảo tối thân, Độc hữu Ẩm Quang
tàng vị tận. Miết nhiên nhất tiếu ngộ
phương Xuân (dạy Phu Công).
(Sen xanh
Quyền, Thật ý phân minh. Trăm vạn trời
người khá thiết thân. Riêng có Ẩm Quang
(Ca Diếp) chưa giấu hết. Bỗng dưng
cười mỉm khiến
Xuân lầm).
6) Hồng
chung vị khấu dĩ tiên minh. Bất hứa
nhĩ văn, hứa nhãn văn. Nê ngưu hống
nguyệt hồn nhàn sự. Vô hạn xuân quang
phó bạch vân (dạy Tĩnh Hàm).
(Hồng
chung chưa gõ đã ngân vang. Chớ để
tai nghe, mắt hãy nghe. Trâu đất rống
trăng không gì lạ. Vô hạn xuân quang mây
trắng bay).
* Đề trên đầu
chiếc quạt của Tạ Tại Chi
Giới
nhĩ tâm điền túc thủy thảo. Tùy tha
thử ngoại biệt tầm thảo. Quân bất
kiến, đại thiên tam biến thổ y nhiên. Long
nữ tùng tư xuất hải đảo.
(Ruộng
tâm bé tí, cỏ nước đủ
đầy. Ngoài chốn này ra, đừng
tìm kiếm nữa! Ông chẳng thấy:
Đại thiên ba lượt biến hóa[17],
cõi nước vẫn y nguyên. Long nữ
bởi đó lìa hải đảo).
* Tặng cư sĩ
Ngụy Quốc Từ Yến Siêu
Khải
đễ từ tường cổ Phật tâm. Khâm
kỳ sảng lãng giới đầu châm. Chỉ
tùng An Dưỡng lấn phu ngạc. Bất
hướng thời lưu giảo phủ tầm.
Nhất niệm tiện năng nghiêm tứ độ.
Thập thanh thùy khẳng dịch thiên kim? Xuân lai liễu
diệp sơ hàm tiếu. Bả thủ đồng du
giải thoát lâm.
(An hòa,
vui vẻ, lại bình dị; từ ái, an
tường cổ Phật tâm. Tâm in vằng
vặc, căn cơ hợp. Chọn đúng
đóa sen nơi Cực Lạc, chẳng
thuận mưu sanh theo thói đời. Một
niệm trang nghiêm bốn cõi tịnh, mười
câu ai chịu đổi ngàn vàng? Xuân về, lá
liễu nẩy xanh biếc. Nắm tay cùng dạo
giải thoát lâm).
* Mừng thọ ông Lưu
Kim Độ nhân dịp sáu mươi tuổi
Văn
chương thùy vũ trụ, quy giới ấn tâm
vương. Nhĩ thuận viên thông chỉ, hà phong điện
các lương.
(Văn
chương rợp vũ trụ, quy giới
ấn tâm vương. Tai làu viên thông chỉ, gió sen
mát gác đền).
* Ngũ Giới Ca
để dạy Hám Nguyệt
Thọ
giới dị, thủ giới nan, mạc tương đại
sự đẳng nhàn khan. Phù nang độ hải
tu cần hộ. Nhất niệm sai trì toàn thể
tàn. Lý thắng dục, tiện an lan, bả
định tùng lai sanh tử quan. Nhậm tha
nghịch thuận ma quân tiễn. Lẫm lẫm cô hoài
nguyệt ảnh hàn. Bất sát sanh, đại
từ nhân. Vật ngã nhất thể như trường
xuân. Nhuyễn động quyên phi Phật tánh
đẳng, hiền ngu quư tiện vô sơ thân. Bất
thâu đạo, sung nghĩa áo, chánh trực thanh liêm minh
tiết tháo. Tâm ngoại
vô pháp khả đương t́nh, Bồ Đề
tánh cụ phi tha tạo. Bất dâm dục, phạm
hạnh đốc, thân tâm kiểu khiết đồng châu
ngọc. Thái sơn kiều nhạc lập thanh phong,
đẳng gián siêu xuất Sa Bà ngục. Bất vọng
ngữ, thành tương dữ, quảng trường
thiệt tướng hôn đồ cự. Thỉ
khẩu thiên kim địch quốc khâm,
cửu giới đồng quy tác châu chử.
Bất ẩm tửu, ly quần xú, trí huệ chiếu
minh sư tử hống. Y lý viên châu khởi cánh
vong, miễn đắc thân ông tái khổ khẩu. Tam Quy, Ngũ Giới quả
tinh minh. Quán Âm, Thế Chí vi sư hữu.
(Thọ giới
dễ, giữ giới khó, đừng coi
đại sự như chuyện đùa.
Vượt biển phải siêng giữ phao nổi.
Một niệm sai lầm, toàn thể tàn. Lý thắng
dục vọng, sóng liền yên. Ải sanh tử
từ đây nắm chắc! Mặc cho
mũi tên
của ma quân nghịch hay thuận, nỗi niềm
quạnh quẽ bóng trăng lạnh. Chẳng
sát sanh, đại nhân từ. Vật và ta
một Thể,
Xuân còn mãi. Bay bò, ngọ nguậy, Phật
tánh đồng. Hiền, ngu, sang, hèn, chẳng
thân, sơ.
Chẳng trộm cắp, nghĩa sâu đầy.
Chánh trực, thanh liêm, rạng tiết tháo.
Ngoài tâm không pháp để bận lòng; Bồ
Đề tánh trọn, không do điều gì
khác tạo. Chẳng dâm dục, phạm hạnh
chuyên dốc, thân tâm trong sáng như châu, ngọc. Non
Thái sừng sững đón gió mát;
đẳng gián vượt khỏi ngục Sa
Bà. Chẳng nói dối, đối xử
chân thành, tướng lưỡi rộng
dài, đuốc trong đường tối.
Miệng thốt ngàn vàng, nước
đối địch khâm ngưỡng. Chín
giới cùng quy hướng, làm
bến bãi. Chẳng uống rượu,
lìa các điều xấu, trí huệ chiếu
sáng, sư tử rống. Viên châu trong áo há
còn quên, cha già khỏi phải rát miệng
nữa! Tam Quy, Ngũ Giới quả rạng
ngời. Quán Âm, Thế Chí làm thầy,
bạn).
* Dạy Dục Nham
Giới
nhĩ nhất niệm tâm, hoành thụ bất khả tận.
Đế thẩm phục đế quán, Bổn
Tích nhị câu mẫn. Ngộ hậu diệc phi xa, mê
thời diệc hà quẫn. Mê ngộ phất
đương t́nh, năi đạt Vô Sanh Nhẫn.
(Một
niệm tâm bé tí, ngang dọc chẳng thể
tận. Xét kỹ, lại quán kỹ, Bổn
lẫn Tích đều mất. Ngộ rồi cũng
chẳng giàu; khi mê, chẳng cùng quẫn. Mê,
ngộ chẳng bận lòng, bèn đạt Vô
Sanh Nhẫn).
* Dạy Mã Quang Thế
Vị tri
cá sự nan đắc tri. Dĩ tri dục vong,
diệc bất dị. Vong khước Oai Âm na bạn để,
kim thời phương hiển đầu đầu
thị. Trước y, khiết phạn, lộng
thần thông. Kiếm thụ đao sơn nhậm du
hý. Niệm Di Đà, toán châu ký. Phu phụ
tri năng Đệ Nhất Nghĩa. Tịnh uế lưỡng
vong nhưng lịch nhiên, pháp giới phân minh vô ngại sự.
Nhất niệm viên chương tứ độ nghiêm,
tam thân đốn chứng kinh trường mỵ. Tín đắc
chân, kiến đắc chí, bộ bộ
cước ngấn đô trước địa.
Dĩ tư tự giác, giác chúng sanh, trí
huệ quang minh chiếu thập thế.
(Chuyện
chưa biết, khó lòng biết
được! Chuyện biết rồi, cũng
há dễ quên! Quên rồi, thuộc bên Oai Âm Vương.
Nay mới rõ mọi chuyện đều vậy.
Mặc áo, ăn cơm: Vận thần thông.
Rừng gươm, non đao, mặc du hý. Niệm
Di Đà, lần chuỗi nhớ; chồng
vợ biết rành Đệ Nhất Nghĩa. Tịnh,
uế quên sạch, vẫn rành rành. Pháp
giới phân minh chẳng ngại sự. Một
niệm phô trọn bốn cõi nghiêm, tam thân chóng
chứng, tỉnh mộng dài. Tin chân thật,
thấy đến nơi, mỗi bước gót
chân đạp vững đất. Dùng đấy
tự giác, giác chúng sanh. Trí huệ quang minh chiếu
mười đời).
* Kệ thí trà
Tâm
Phật chúng sanh vô biệt lý. Đông nhật ẩm
thang, Hạ ẩm thủy. Kết đắc kim
thời hoan hỷ duyên, Tu Ma quốc nội
trưởng tương tự. Độ tận
hàm linh bất kiến công, Tăng-kỳ kiếp tự
sát-na thỉ.
(Tâm,
Phật, chúng sanh chẳng khác lý. Ngày
Đông nước nóng, Hạ nước
lạnh. Kết thành duyên hoan hỷ hiện
thời, cõi Cực Lạc tăng
trưởng tương tự. Độ trọn
hàm linh chẳng kể công, Tăng-kỳ kiếp
bắt đầu bằng sát-na).
* Dương Phụ Chi
đọc Phá Không Luận
Bát
Nhã ly vi tuyệt ngộ mê, hoàn tương ngũ độ
tác giai thê. Pháp nguyên vô pháp hà phiền tảo. Không
nhược đam không diệc hữu nghê. Thu
chí cộng khan đồng diệp lạc. Xuân thâm
thời thính tử quy đề. Đạo nhân độc
băi Kim Cang luận, ế quyết hề lao cánh mịch
bề.
(Bát
Nhã lìa vi, tuyệt ngộ, mê. Vẫn dùng
ngũ độ để làm thang. Pháp vốn vô
pháp, nào phiền quét? Nếu chấp vào
không, vẫn cách ngăn! Thu đến cùng xem
lá ngô rụng. Nghe tiếng đa đa kêu giữa
Xuân. Đạo nhân đọc trọn Kim Cang luận. Mống
khử rồi, tìm chi kim vàng?)
* Đề bức họa
của Mân Chiêu tặng Quý Phiệt
Cổ mộc
cao nham ánh nhật huy. Trường niên phá lăng
đới luân quy. Thăng b́nh khúc băi vô dư sự.
Tiếu vấn kim lân kỷ hứa phì?
(Non cao, cây
cũ, soi bóng nắng. Bao năm chìm nổi,
cáo quan về. Thăng bình hết nhạc, không
còn chuyện. Cười hỏi cá vàng
béo cỡ nào?)
* Dạy Quân Phủ
Trực
tín hiện tiền tâm, mịch chi bất khả
đắc. Vô pháp túc đương tình.
Phân biệt diệc phi thức.
(Tin
thẳng tâm hiện tiền; hễ tìm,
chẳng thể được! Tâm chẳng
vướng pháp nào, phân biệt cũng
chẳng biết!)
* Họa đáp Tống
Lượng Công
Bất
tương bán nhật mạn thâu nhàn. Biện
vọng cùng chân biệt hữu duyên. Thức
thủ mộng trung thùy tác chủ. Tiện tri
hỏa nội diệc tài liên. Lăng Già dĩ ngộ
an tâm quyết, bổng hát đa tàm lợi
khẩu Thiền. Trân trọng Tử Thiều nhưng
cách vật Linh ngưu xuất vĩ thụ quy
điền.
(Đừng
sống nhác lười dầu nửa buổi.
Luận trọn chân vọng riêng hữu duyên. Biết
trong giấc mộng, ai làm chủ? Sẽ biết lửa
hồng vẫn trổ sen. Lăng Già đã ngộ
an tâm quyết. Gậy, hét càng thẹn lợi
khẩu thiền. Trân trọng Tử Thiều[18]
hiểu cách vật. Thò đuôi qua song, trâu về
đồng).
* Kệ học đạo
Học
đạo như đàn cầm. Cấp tắc thanh dị
tuyệt. Hoãn tắc bất thành âm. Học
đạo như thực miêu. Bất vân tạp hoang
thảo, trợ trưởng trí khô tiêu. Học
đạo như nguyên tuyền, bất kiến hung
dũng thế. Lưu cửu thạch năng xuyên. Học
đạo như bạch nguyệt, quang đốn chiếu
Diêm Phù, minh năi tiệm kiểu khiết. Tiên học luật
nghi giới, năng tróc phiền năo tặc. Thứ học
định cộng giới, năng phược phiền
năo tặc. Thứ học vô lậu giới, vĩnh diệt
phiền năo tặc. Tặc tích xương xí
thời. Bổn phi tha phương lai. Kim tặc tuy
vĩnh diệt, cứu cánh vô sở chi. Thí như
thế loạn thời, xứ xứ giai giáp
binh. Cập kỳ trị bình nhật, tại tại
giai lương dân. Đản đắc tâm vương
chánh, căn trần vĩnh túc thanh. Thập nhất thiện
tâm sở, như bỉ hiền lương thần. Quân
năng thân dụng chi, bạt mao vựng cát chinh. Hiền
lương thiện phụ tá, tà ác tự tiềm h́nh. Phong
hành thảo tất yển, hà dung vụ
lực tranh?
(Học
đạo như đánh đàn. Dây căng,
tiếng dễ bặt. Dây chùng, chẳng ra
tiếng. Học đạo như trồng lúa.
Chẳng cuốc bỏ cỏ dại, sẽ đến nỗi khô
héo. Học đạo như suối nguồn,
chẳng thấy thế nước mạnh.
Chảy lâu sẽ thủng đá. Học đạo
như trăng sáng, quang minh chiếu Diêm Phù,
sáng ngời, dần trong trẻo. Trước học
luật nghi giới, bắt được
giặc phiền năo. Rồi học định cộng
giới, trói được giặc phiền
năo. Kế học vô lậu giới, mãi diệt
giặc phiền năo. Lúc xưa, giặc hùng
hổ, vốn chẳng phương khác
tới. Nay giặc tuy mãi diệt, rốt
ráo chẳng tạo tác. Ví như
đời loạn lạc, nơi nơi đều binh
đao. Tới lúc đời bình trị,
mọi chốn dân đều lành. Tâm vương
chỉ cần chánh, căn trần vĩnh viễn trong.
Mười một thiện tâm sở, như bầy tôi
hiền lương. Vua đích thân sử dụng,
nhổ cỏ, gom cát tường[19].
Hiền lương khéo phụ tá, tà ác tự náu
ḿnh. Gió lùa cỏ ắt rạp, sao dung dốc
sức giành?)
* Xa xôi, tăng sĩ
ở ẩn đau lòng sâu xa
1) Bỉ
huýnh giả thương, hồ nhiên cục chỉ. Bỉ
quảng giả dư, hồ phục xúc chỉ. Dục
bốc ư triều, phân khổng độc chỉ. Dục
bốc ư dã, tình diệc khúc chỉ.
Vấn lữ ư huyền, vơng khả lục chỉ.
Tái vấn ư Thích, bất dị tục
chỉ. Tục do thị phước, Thích năi xu
ngục.
(Trời
xanh xa thẳm, sao lại hạn cục? Đất
rộng như thế, sao lại thu hẹp? Muốn
chọn triều
đình, lỗ mũi nhiễm độc. Muốn
chọn ở ẩn, tình cũng cong vạy.
Hỏi han nơi Huyền, chẳng thể ghi chép.
Lại hỏi nơi Thích, chẳng khác
thói tục. Thế tục chuộng phước,
Thích bèn tống ngục).
2) Bỉ
huưnh giả thương, viễn khởi vô cực. Bát
vạn do-tuần, cảm ứng nhất tức. Bách
nhĩ khai sĩ, vật dật nhĩ đức. Nhân quả
thù thường, trần kiếp phỉ thắc. Miết
tồn kỳ tư, chung anh quỷ cức. Thứ ky thận
tư, sảnh ế thị thức. Mục kư thanh minh,
hoa nguyên phi sắc.
(Trời
xanh thăm thẳm, há xa vô cực? Tám
vạn do-tuần, một hơi cảm ứng. Trăm
vị khai sĩ, chẳng vượt
đức họ. Nhân quả đền bồi,
trần kiếp chẳng sai. Hễ lòng riêng tư,
ắt bị quỷ giết. Mong sao nghĩ kỹ,
gột trừ màng mộng, mắt đã
sáng trong, hoa vốn phi sắc).
3) Bỉ
huưnh giả thương, phỉ duy phỉ phương. Ngộ
dã cố lý, mê dã dị hương. Dị
hương chi khúc, bất khả tường dã.
Ngã sầu Khổng cức, văn
đoạn trường dã.
(Trời
xanh thăm thẳm, chẳng thuộc nơi
chốn. Ngộ là quê cũ, mê thành chốn
lạ. Chốn lạ mịt mờ, chẳng
thể hiểu rõ. Ta sầu Khổng suy, nghe càng
đứt ruột!)
4) Ngã
hữu từ phụ, thị an ư Tây. Ngã
cửu đào thệ, nhĩ vơng khả đề.
Kim ký hối hỹ, si do vị khuê. Tái oán, tái mộ,
năi khấp năi đề.
(Ta có
từ phụ, dạy an nơi Tây. Ta trốn đã
lâu, tai chẳng nghe thấy. Nay đã biết
hối, si vẫn chưa trừ. Vừa oán,
vừa mộ, vừa khóc, vừa gào).
5) Ngã
bệnh vị dĩ, hoàng tuất ư tha. Ai thử
đồng thể, khẩu tư kỳ đa. Đa ngôn
cùng dã, mặc khả dung dã. Tự công quyết
nặc, vô tha công dã.
(Ta bệnh
chưa lành, đã xót kẻ khác. Buồn
cùng một Thể,
miệng cứ ra rả, nói nhiều khôn cùng,
chẳng thể dung nổi! Tự uốn
nắn mình, chẳng chỉnh người
khác).
6) Linh
Phong chi lộc, hữu thất như cốc. Phong tốn
ư trạng, tuyết triêm ư phục. Hà kỹ
hà cầu? Mã mạch, khổng phức. Thùy khẳng
ngã húc, tái tư cập thục.
(Chân
núi Linh Phong, có nhà như hang, gió lùa
nơi thân, tuyết ướt đẫm áo. Ghen
chi? Cầu chi? Lúa ngựa, khổng phức[20].
Ai chịu giúp tôi, nơi nơi gìn giữ).
* Năm bài kệ vào
núi
1) Vạn
sơn cách đoạn thị trần hiêu, nhật mộ thu
phong hống trúc đào, thế trược vị
năng dung động tĩnh, chỉ nghi thử
địa giải thiên thao.
(Muôn non
cách biệt thị thành ồn, sáng tối
gió lùa sóng trúc reo, đời
trược chưa dung nổi tĩnh động,
mạng trời[21]
đành hiểu tại nơi này).
2) Nhất
hạ viêm oai khổ bức nhân, Linh Phong phiến thạch
cựu minh tân. Quy lai tuyền vị thiên tăng dật, hà
tất đào nguyên[22] mịch
tỵ Tần?
(Nắng
oi tiết Hạ khổ bức người. Linh
Phong non cũ lại ước lời. Trở
về, vị suối càng thêm ngọt. Há tìm
nguồn đào để lánh Tần?)
3) Doanh khuy
bổn tự vô tăng giảm, hà cố sơn thâm huy
giảo dương. Chiếu thử đạo nhân
băng tuyết ư, hạ vân xuân lộ diệc thành
sương.
(Đầy
vơi vốn tự chẳng tăng giảm,
vì đâu núi sâu nắng chói hơn?
Chiếu ý tuyết băng người tu
đạo. Mây Hạ, móc Xuân cũng thành
sương).
4) Nhất
vi thiệp động tiện đồi sơn, cức
măn chiên lâm nại vị san. Hiểu khởi bất kham tần
đối kính, đại thiên vô địa trí tàm nhan.
(Vi trần
vừa động, chất thành núi. Gai
rừng chiên đàn chưa thể trừ.
Sáng dậy chẳng kham soi gương nổi.
Đại thiên thẹn giấu mặt nơi nào?)
5) Lịch
kiếp huân tu thệ vị hôi. Bán sanh tàn suyễn
thượng bồi hồi. Trảm đinh tiệt thiết
tùng tư thỉ, nhẫn sử ma-ni ẩn tích ai.
(Bao
kiếp huân tu, thệ chẳng tan. Nửa
đời thoi thóp vẫn bồi hồi. Chém
đinh, chặt sắt từ đây
khởi, nỡ để ma-ni cát bụi
vùi).
* Gởi Thọ U Thê
chủ nhân
Chỉ
thiên chỉ địa Trùng Dương tiết. Quế
cúc tŕnh nghiên minh nguyệt đài. Thập lý tặng
quân vô biệt ngữ. Tứ Minh nhất hát thanh
như lôi!
(Chỉ
trời, chỉ đất tiết Trùng
Dương. Minh nguyệt đài phô quế, cúc
xinh. Tiễn ông mười dặm trong im
lặng. Tứ Minh vừa quát, sấm
vang rền).
* Kệ biết đủ
Đức
bạc nan tiêu cúng. Vân tuyền ý bội trưởng.
Tuyết lai châu măn án. Phong quá diệp doanh sàng. Nhất
cụ bồ đoàn ổn. Thiên gia mạch phạn
hương. Tự liên thân tiệm lão, khổ
hạnh vị kham thường.
(Đức
mỏng khó tiêu cúng. Mây suối ý bội
phần. Tuyết rơi châu đầy án. Gió cuốn
lá đầy giường. Một chiếc bồ
đoàn vững. Cơm ngàn nhà ngát
hương. Tự xót thân dần lão, khổ
hạnh kham nổi đâu!)
* Thất tịnh đốc
thúc khắc in Đại Phật Đảnh Kinh
Huyền Văn
Ức ngã
nhị thập tam, sáng văn chân liễu nghĩa.
Thế khấp mỗi triêm cân. Nguyện cầu vô thượng
trí. Du niên tâm ích kiên, mẫn miễn tùng phi thế. Lực
tảo cát đằng triền, nhất ư ly văn tự. Chỉ
kiến tạc đầu phương, na thức chùy đầu
lợi. Lại hữu liệt thiện căn, mỵ
cảm tự bạo khí. Thời phục ôn cựu
văn, triển chuyển bất thành mị. Thiết
tư tánh tướng tông, khởi tất phán thành nhị?
Vân hà chư sớ gia, các vọng phân môn loại.
Nghiên chi vơng khả thông, nhậm chi lưỡng
tương lệ. Năi hiên tích nhân khoa, diệc xúc kim
thời kỵ. Trực tố thuyết mặc
nguyên, tế dịch chỉ nguyệt thí. Xà thằng ma phỉ
thù, ảnh quang kính ninh dị. Nguyên vô pháp ngoại tâm,
an hữu lư ngoại sự? Diệu chỉ kư linh nhiên, vi
ngôn hốt huyền khế. Nghênh nhận giải toàn
ngưu, bất thí thổ ủy địa. Ngữ ngữ
phá chấp t́nh, tiết tiết thổ uất khí. Tín hữu
Phật lực gia, tư hoài an nhẫn muội. Sơ khắc
tại Ôn Lăng, sơn xuyên trở điều đệ.
Trường Can phục kỷ quyết, Tập
công Như Lai sứ. Phú thử khoán Lạc Bang,
tương lai đồng thọ ký.
(Nhớ
tôi hăm ba tuổi, mới nghe chân liễu nghĩa. Thường
khóc ướt đầm khăn. Nguyện cầu
vô thượng trí. Hơn năm, tâm càng vững,
nỗ lực đi xuất gia. Dốc sức
gạt trói buộc, của dây leo ngôn từ,
một dạ lìa văn tự. Chỉ thấy
đầu đục vuông, nào biết đầu
dùi bén! Nhờ có thiện căn hèn,
chẳng dám tự ruồng rẫy. Ôn lại
điều đã nghe, trằn trọc chẳng
an giấc. Trộm nghĩ tánh tướng tông,
há ắt chia thành hai? Cớ sao
người chú sớ, hư vọng chia môn loại?
Nghiên đọc chẳng thể thông, mặc
tình chống đối nhau. Đã trái lối
người xưa, lại phạm cấm kỵ nay.
Tìm ngay nguồn nói, nín. Phân tích thật
cặn kẽ, thí dụ chỉ mặt
trăng. Rắn, thừng, gai chẳng khác.
Bóng, quang, gương vốn đồng! Vốn không
tâm ngoài pháp, há có sự ngoài
lý? Diệu chỉ đã rành rành, đôi
lời bỗng khéo khế. Lách dao xẻ
trọn trâu, nào khác đất nương
đất. Từng lời phá chấp tình,
từng đoạn phun uất khí. Tin Phật
lực gia hộ, riêng mong an trụ nhẫn, cùng
với diệu tam-muội. Trước khắc
tại Ôn Lăng, xa xôi cách núi sông.
Trường Can lại khắc in. Tập công:
Như Lai sứ. Làm bằng khoán Lạc
Bang; tương lai cùng thọ ký).
* Ăn Tết tại Tổ
Đường, viết hai bài cảm hoài
1) Diệp
lạc sài khô bệnh hậu thân, khẳng tương
hư giải bác nhàn danh. Ưng liên ngũ bách sơ
đồi nghệ, vị nhẫn cô đơn hănh viễn
chinh. Anh chử diện ngân xan huyết lệ. Kim lan ngữ
xú kết tâm minh. Tuế triêu vũ địch ma phân tịnh.
Thúy cốc truyền khai nhị cổ thanh.
(Củi
khô, lá rụng, vừa khỏi bệnh, đành
đem hư giải đổi danh suông. Thương
xót năm trăm vừa suy sụp. Chưa nhẫn
cô đơn hận viễn chinh. Bảo bọc con côi
gạt huyết lệ; kim lan lời vụng, kết
đồng tâm. Mưa sớm gột sạch ma khí
phận; hang thẳm vang truyền tiếng trống
đôi).
2) Liệt
tận mai anh thỉ báo Xuân. Kim niên nhưng thị
khứ niên nhân. Quán hà bất cải hồn sanh diệt.
Giao tý tiềm di tuyệt cựu tân. Quư ngã vị thường
lưu chích tự. Lao tha do tự đổ song thần.
Hà như Thiện Cát nham trung tọa, Đế Thích
huề lai ngạc măn tuần.
(Rét
hết, mai đơm báo tiết Xuân. Vẫn
người năm cũ đón Xuân nay. Nhìn
sông chẳng đổi, luôn sanh diệt. Tay khoác
ngầm dời, diệt cựu, tân. Thẹn
mình chưa từng lưu một chữ. Nhọc
người vẫn thấy ngóng hai môi[23].
Sao bằng Thiện Cát[24]
ngồi hang đá, Đế Thích dâng hoa cả
do-tuần).
* Ngẫu nhiên viết
thành ba bài tứ tuyệt
1) Cấp
vũ cuồng phong tạp văn chung, linh nhiên thân thế trạm
âu không. Hiểu khan toái ngọc phô thiên chướng, như
thị phù tràng đệ kỷ trùng?
(Chuông
tối đan xen mưa gió cuồng. Rành rành
thân thế bọt hư không. Sáng nhìn ngọc
nát ngàn rặng rải, phù tràng
dường ấy mấy tầng đây?)
2) Thiếu
niên trục đội các hoàn hô, độc tọa cô phong vạn
lự khô. Quý hữu nhất đoan tình vị
miết, cưỡng tương tàn vũ phú tân sồ.
(Thiếu
niên theo nhóm vui hét to, riêng ngồi đỉnh
núi bặt muôn lo. Thẹn một nỗi niềm
còn chửa dứt, gượng đem lông
nát phủ chim non).
3) Cá sự
hà quan khuy dữ thành, thi bằng lưỡng quỷ quặc
phân tranh. Triêu lai chẩm lạc thôi tàn mộng, doanh đắc
hư danh giảo vũ khinh.
(Chuyện
thành hay bại bận tâm chi? Xác nhờ hai
quỷ xé tranh nhau[25]. Sáng
ra, gối
rớt xua
tàn mộng, đạt được hư
danh nhẹ tựa lông).
* Nối tiếp câu trong mộng (có
lời tựa)
Cái
tật của con người là thích làm
thầy người khác! Húc kể từ
xuất gia đến nay, trọn chẳng mong làm
thầy ai, nhưng đã làm thầy
mười mấy năm rồi. Mỗi lúc
phản tỉnh, [thấy mình] chưa đáng
làm đệ tử của cổ nhân! Chao ôi! Mong
cái danh trong sáng tối, quên lời thề bao
kiếp nhiều như vi trần, có phải là
kẻ trí hay chăng? Trong mộng, nghĩ mấy câu: “Nhất
kính sầu dung phát tiệm bạch, bán sanh danh
thế sự vô thành”. Bất giác khóc
òa, tỉnh giấc, [bèn viết tiếp thành
kệ như sau]:
Nhất
kính sầu dung phát tiệm bạch, bán sanh danh
thế sự vô thành. Nguyện luân dục cộng
hư không chuyển, mạc phụ đương niên
Lạc độ minh.
(Trước
gương, mặt sầu, tóc bạc dần. Nửa
đời danh huyễn, không chuyện thành.
Nguyện luân toan cùng hư không chuyển, chẳng
phụ thuở ấy nguyện về Tây).
* Mùa Xuân năm Bính
Tuất (1646), huyễn du Thạch Thành, tùy duyên duyệt
Tạng để đền đáp nguyện xưa.
Đêm mộng thấy chính mình tạc
tượng Địa Tạng Đại Sĩ, thân
và đầu đã trọn vẹn, nhưng
chưa có tay chân, bèn cảm tác
Tích
vũ minh mông nhục khách tư. Cáp thanh truyền oán độ
tân chi. Thiên niên học mạch bằng thùy ký?
Vạn cổ sầu hoài chỉ tự tri.
Kính lý bệnh dung suy dĩ thậm. Mộng trung
từ tướng thể do khuy. Hà thời
liễu khước văn ngôn trái? Mộ nhập
trùng nham tựu cố y.
(Mưa
dầm mờ mịt, khách nghĩ mông lung. Bồ
câu kêu ai oán, vượt cành non. Học mạch
ngàn năm biết gởi gắm cho ai? Nỗi
sầu lắng muôn đời chỉ mình ta
tự biết. Trong gương, dung mạo bệnh
tật suy quá đỗi. Tướng từ bi
trong mộng vẫn còn thiếu sót. Đến
thuở nào mới sạch nợ văn
chương? Thẳng thừng vào non sâu về
chốn chữa lành cũ).
* Đối trước
cửa sổ ngắm mưa, ngẫu nhiên viết
Thế vận
nhược bôn hà, triết nhân nhật dĩ huưnh.
Huệ chiếu ai thức vi. Túc tập
hằng tại mính. Ta ngã dục chửng hoài,
quá thiệp ky diệt đảnh. Hà thời bỉ
ngạn hồi, phiêu nhiên giá từ đĩnh. Quang minh sát
nhĩ chương, diệu dụng nhưng y quýnh. Mặc
yếu nhẫn hoàn cơ, bi thệ thùy năng tịnh.
Thức thử phương tiện tông, viên đạt
độ sanh khể. Diến tư hoa đài tôn, hồ vi bất
tự khẳng.
(Vận
đời sông chảy xiết, triết nhân ngày
một xa. Huệ chiếu buồn suy sụp, tập
khí cũ luôn trào. Xót tôi mong cứu
vớt, quá sâu gần chìm lỉm. Khi nào
về bờ kia, thong dong thả bè từ? Quang
minh gấp rút tỏa, diệu dụng vẫn ngoài
rìa! Thầm nhẫn chuyện hoan hỷ, bi thệ ai
cùng hành? Biết tông phương tiện này,
thấu đạt lẽ độ sanh. Nghĩ
đấng trên đài hoa, cớ sao chẳng
khẳng định?)
* Cảm tác trong khi bị
bệnh
Tứ
bách tứ bệnh hỗ vi nhiễu, bát
thập bát sử trấn tương tùy.
Mộng lý hốt ức đại sĩ hiệu.
Tư ta cảm mộ nhưng hu hy. Như ư châu vương
thùy miệt hữu. Linh binh kiếp bá
đồ ngu si. Niệm Phật độc hứa
tam-muội bảo, thanh thanh viên chương vô doanh khuy. Thượng
sĩ nhất quyết, nhất thiết liễu; cuồng
tà phiên phúc, sanh hồ nghi. An Dưỡng nhất
toát tức Hoa Tạng, Di Đà thập kiếp
Tỳ Lô sư. Tùng kim nhất tín vĩnh phất mê,
hoành siêu na úy sanh manh xuy.
(Bốn
trăm bốn bệnh cùng vây quanh. Tám mươi
tám sử thường theo chắc. Trong
mộng bỗng nhớ đại sĩ hiệu. Than
thở, cảm mộ, cùng tán thán. Như
Ý châu vương ai chẳng có? Phiêu bạt bao
kiếp uổng ngu si! Riêng niệm Phật là
tam-muội bảo; mỗi tiếng phô trọn,
chẳng thiếu thừa. Thượng sĩ
xong một, xong hết thảy. Cuồng tà trăn
trở, sanh hồ nghi. An Dưỡng hễ
nắm, Hoa Tạng đạt. Di Đà
mười kiếp Tỳ Lô sư. Từ nay hễ
tin, chẳng mê nữa; hoành siêu há
sợ kẻ mù cười!)
* Đọc Đại
Trí Độ Luận xong, ghi lại hoài bão
thành bốn bài
1) Vũ đa
nhập Hạ, dạ thiên hàn. Hồ, Hán ư kim
biện tối nan. Nghĩ tuyệt bách phi hoàn trụy
đoạn. Dục ly tứ cú dĩ thành ban.
Phân minh văn tự nguyên vô tánh. Khước quái
hư không diệc khả ngoan. Lại hữu hoành siêu
quy lộ ổn, bất tùy niên thiếu học Hàm
Đan.
(Vào
Hạ mưa nhiều, đêm lạnh căm. Hồ,
Hán hiện thời khó biện phân. Mong
dứt bách phi, vẫn vướng mắc.
Toan lìa tứ cú, sẹo đã hằn.
Rõ ràng văn tự vốn vô tánh. Đâu
lạ hư không cũng xẻo rời! Nhờ
có hoành siêu nẻo về ổn, chẳng
như thuở trẻ học Hàm Đan).
2) Bát
Nhã hà thường độc thượng không?
Thông năng thành tắc, tắc thành thông. Lăng chùy
Phật sự tùy duyên kiến, hà kính ma quân nhậm vận
công. Độ tận chúng sanh vô khả độ. Công viên
diệu giác bất cư công. Ưng liên thử
nhật đàm huyền khách. Ngư mục, ma-ni vọng
nghĩ đồng!
(Bát
Nhã bao giờ chỉ có Không? Thông hay thành
tắc, tắc thành thông. Phật sự
mũi băng tùy duyên tạo. Ma quân mặc
sức đánh gương sen. Độ hết
chúng sanh chẳng thể độ. Công viên diệu
giác chẳng cậy công. Hãy thương kẻ
đang đàm huyền diệu; mắt cá, ma-ni
lầm hệt nhau!)
3) Bệnh
tại cao hoang diệc khả y. Tự tàm tích kiếp thái
hàm si. Kỷ hồi thuyết mộng nhưng thiêm mộng.
Chỉ thị tam tư vị tái tư. Cấu trọng
dũ tri học bất yếm. Sám tần chung thị pháp
nguyên từ. Bút đoan xỉ lạc thôi tàn quỹ (cử
bút hốt lạc nhất xỉ). Tống tưởng
huyền luân cánh mạc trì.
(Bệnh
lậm trầm kha vẫn chữa lành. Thẹn
thùng bao kiếp quá khờ si. Mấy phen
nói mộng, càng thêm mộng. Ba lượt suy
lường, nghĩ chẳng thông! Cấu
nặng càng biết học chẳng chán.
Sám nhiều vẫn cậy pháp vốn từ.
Nâng bút, rụng răng, nương bóng xế
(vừa nâng bút bỗng rụng một cái
răng). Tâm tưởng huyền luân chớ trễ
tràng).
4) Hàn thử
thôi nhân niệm niệm di, hà tu xỉ lạc thỉ
thiêm bi. Lang kinh vị đắc chi tiêu tận. Thảo
ích không linh nhục tiệm nuy. Tao thủ khống quy
vô thượng sĩ, phủ ưng phi lộ hữu
sanh tỳ. Tha niên Tịnh Độ hoa phu nhật, ký
thủ đàn tiền thống khốc thời.
(Lạnh
nóng thúc người, niệm niệm
dời. Cần chi răng rụng mới thêm
buồn? Hãi hùng chưa đắc, tiêu sạch
mỡ. Cỏ rậm hoang vu, thịt tóp dần. Gãi
đầu ép nương vô thượng sĩ;
đấm ngực phát lộ lỗi trong
đời. Năm nào Tịnh Độ hoa bung
nở, nhớ lúc trước đàn
khóc đớn đau!)
* Dạy tỳ-kheo Dung Am
Sân năng
đăng gia bảo; từ năi tích pháp tài. Tổn ích chỉ
tại ngã, hồ dĩ không bồi hồi? Minh kính hiện
nghiên xú, ảnh tượng vô khứ lai.
Đản nghi cung tự hậu, thận vật
trách hữu sài. Kiết củ khả vi dụ,
thứ kỷ chân hôn manh. Quá khứ dĩ vô cập,
tương lai tu sáng trừng. Thâm tư nhẫn
nhục hạnh, cát tiệt tâm vô bệnh. Sân tắc lưỡng
câu thương, từ tắc tịnh hoạch khánh.
Thích Ca quả kư viên, Ca Lợi nhân diệc chánh!
(Sân phá
sạch gia sản, từ tích tụ pháp tài. Tổn,
ích chỉ tại ta, sao lại bồi hồi suông?
Gương sáng hiện đẹp, xấu. Hình
bóng chẳng đến, đi. Nên tự
mình nhân hậu. Cẩn thận, đừng
trách bạn. Dùng khuôn phép khuyên dụ, phản
tỉnh kẻ tối lòa. Quá khứ
chẳng đổi được, tương lai
cần dè chừng. Nghĩ sâu hạnh nhẫn
nhục, cắt trừ tâm không bệnh. Sân đôi
đằng đều tổn; từ ắt
cùng được vui. Thích Ca quả
đã viên, Ca Lợi nhân cũng chánh).
* Sanh nhật năm Bính Tuất,
mưa rào vừa tạnh, ngẫu nhiên viết
Tứ
thập bất văn đạo, ngũ thập do không
lão. Túng mãn bách niên xuân, hề túc
xưng thọ khảo? Tuế tuế thử nhật sanh,
thử sanh hà nhật liễu? Pháp môn tiểu
tỳ-kheo, luật hạnh đa vị hiểu. Thuyết
thời tự tỉnh tỉnh. Dụng thời
nãi điên đảo. Sổ hối, phục sổ vi.
Ta tai hằng thống bão. Sở thị cách
ngoại từ, thị ngã tam-muội bảo. Tùy
phần độ dư huy, lôi vũ hoàn tình
kiểu.
(Bốn
mươi chẳng nghe đạo. Năm mươi
vẫn già suông! Dẫu xuân tròn trăm tuổi, sao
đáng xưng chết thọ? Mỗi năm ngày
này sanh, đời này khi nào liễu?
Tỳ-kheo nhỏ trong pháp, luật hạnh chưa
hiểu nhiều. Khi nói, tợ tỉnh ngộ. Khi
dùng bèn điên đảo. Mấy lượt
hối lại phạm. Buồn thay, luôn buốt lòng.
Cậy lòng từ đặc biệt, dạy con báu
tam-muội. Tùy phần qua ngày tàn, sấm
mưa lại quang tạnh).
* Mừng thọ Mã
Thái Chiêu nhân dịp bốn mươi tuổi
Hình
nhi thượng giả vị chi đạo, hình
nhi hạ giả vị chi khí. Tứ Đế phân
minh cử tự nhân, thùy đạt duyên sanh Đệ
Nhất Nghĩa? Phi đoạn, phi thường,
phi hữu không. Pháp pháp đầu đầu tuyệt
tư nghị. Bỉ phu vấn ngã, ngã vô tri.
Thời hành vật sanh thiên hà thị? Khẳng
tùng Tuyên Thánh mịch tâm nguyên, tiện ngộ Oai Âm na bạn
sự. Chiêu lăo kim phùng bất hoặc niên, chúc
quân liêu cử kim cang trí. Thức thủ duyên sanh vô
tánh tông, phương tri Tam Tạng phi văn tự.
(Hình
nhi thượng bèn gọi là “đạo”,
hình nhi hạ thì gọi là “khí”. Tứ
Đế phân minh dường có người,
ai thấu duyên sanh Đệ Nhất Nghĩa? Chẳng đoạn,
chẳng thường, chẳng có, không. Mỗi
pháp, mỗi chuyện bặt nghĩ bàn!
Kẻ hèn hỏi tôi, tôi chẳng biết. Bốn
mùa đắp đổi, muôn vật sanh,
trời đã chỉ dạy điều gì
vậy? Chịu theo Tuyên Thánh tìm nguồn tâm,
ắt ngộ chuyện bên Oai Âm Vương. Ông Chiêu nay
đến tuổi bất hoặc, chúc ông khéo
vận kim cang trí. Nhận biết duyên sanh vô tánh
tông, mới biết Tam Tạng chẳng văn tự).
* Họa đáp
Trương Hưng Công (hai
bài)
1) Tăng-kỳ
khởi thị uổng thi công, độc quái lang
vương cưỡng dị đồng. Không giới
nhậm tùng tinh bố liệt, xuyên lưu chung hướng
hải hồn dung. Phân minh vạn vật nguyên phi vật,
phảng phất tương phùng khước vị
phùng. Giới nhĩ mịch thời tuy bất
đắc, điều tâm thùy kế khả sư
phong.
(Tăng-kỳ
há phải uổng công hành? Riêng lạ lang
vương cưỡng dị, đồng? Không
giới mặc cho sao phủ khắp. Các
dòng vào biển, một vị thôi. Rõ ràng
muôn vật chẳng phải vật. Phảng phất
gặp nhau, chẳng gặp đâu! Khi tìm
tâm nhỏ tuy chẳng được; nương
thầy điều tâm, ai được đây?)
2) Đạo
khoáng vô nhai mạc kế công. Hằng sa Phật
tổ lộ giai đồng. Tùy t́nh dị kiến nguyên phi
dị, nghĩ dục dung quy tiện phất dung. Không kiếp
kiếp tiền nhưng thị vật. Hữu mê, mê
xứ diệc tương phùng. Hỷ văn
bất muội sanh bình cú, kim nhật y nhiên
Bàng lão phong.
(Đạo
rộng không bờ, chẳng kể công. Hằng
sa Phật, tổ, nẻo
đều đồng. Do tình thấy khác, vốn
chẳng khác. Toan muốn dung thông, sẽ
chẳng dung. Trước thuở kiếp không,
vẫn là vật. Có mê nơi chốn, vẫn
tương phùng. Suốt đời thích nghe,
chẳng lầm lẫn. Nay hệt như phong cách
cụ Bàng).
* Trung Thu năm Bính
Tuất nghĩ nhớ Tịnh Độ
Hạo
nguyệt niên niên chiếu khách thu. Mộng trung thời
động cố hương sầu. Đâu la miên thủ
thùy ưng cửu. Ưu bát la hoa tán vị thu. Si điệu
bất trừ, tăng quý sắc. Tham sân do xí, ngại
chân tu. Trường không nhạn ảnh tiêu nhiên độ,
ký ngã thâm tư đáo bảo lâu.
(Trăng
sáng hằng năm chiếu khách thu. Trong
mộng bỗng sầu nhớ cố hương. Tay
đâu la miên[26] xòe lâu
lắm, hoa ưu bát rải vẫn chửa thâu!
Si, động chưa trừ, càng thẹn hổ.
Tham sân lừng lẫy, chướng chân tu. Bóng
nhạn trên không vừa thoáng vút, lầu
báu càng mong nghĩ tưởng sâu).
* Tiết Trùng Dương
năm Bính Tuất (1646) cùng Trạm công lên ngọn
núi Tổ Đường
Tú xuất
phù dung tiếp tử vi. Vạn sơn bồ bặc cạnh
quy y. Luận giao chỉ hứa minh thiên cổ. Vấn
đế vô lao đỗ bách phi. Giang thượng phong
phàm thùy khứ trụ, phong đầu vân vật
nhậm tường phi. Kỷ chi hồng diệp tŕnh
thu ảnh, tuấn lãnh hàn không ánh văn huy.
(Phù
dung rực rỡ chen tử vi. Muôn non phủ
phục giành quy y. Luận bàn chỉ hẹn
cùng muôn thuở. Hỏi đạo chẳng
nài, dứt bách phi. Trên sông, căng buồm, ai
bơi đậu? Mây, vật đầu non, mặc
liệng bay. Mấy cành lá thắm phô thu
ảnh. Chiều lạnh non cao hắt bóng tà).
* Truy điệu pháp
hữu Dư Chánh
Chí sĩ
mỗi nan ngộ, hồ vi đa yểu thương? Mạt
vận cố mạc văn, bi tâm ninh khẳng vong. Lương
do danh căn ngộ, thuyết dược mê chân
phương. Chỉ Quán phạp châm biến, văn kiến
tư cao hoang. Sở dĩ minh tâm quyết, phiên tác
tường thân thương. Tuy trục huyễn duyên thệ,
kim cang chủng vị vong. Tiên cận Di Đà
giác, yêu dư phản cố hương.
(Chí sĩ
thường khó gặp, cớ sao
thường mất sớm? Mạt vận khó
vãn hồi, bi tâm há chịu quên? Do lầm nơi
danh, căn; nói thuốc, mê toa lành. Chỉ Quán
thiếu cân nhắc, kiến văn lậm tận
xương. Do vậy, minh tâm quyết, biến thành mâu
đâm thân! Tuy ruổi thề huyễn duyên, giống kim cang
chưa mất. Trước gần Di Đà
giác, vời tôi về cố hương).
* Phúng điếu
đại đức Lữ Bạc
Tịnh
Độ thiều thiều bất thiệp tŕnh, Diêm Phù
lễ tụng dĩ công thành. Âu hoa đốn diệt thiên
sanh ảnh. Đức thủy sơ tiêu cửu phẩm
danh. Thù trái khởi ưng hiềm bệnh khổ, hoành siêu
ninh phục úy cơ b́nh? Ân cần vị ngã cầu từ
phụ, hà nhật đồng thùy chích thủ
nghênh.
(Tịnh
Độ xa vời về đến ngay, Diêm Phù lễ
tụng công đã thành. Ngàn đời
chóng diệt bọt, hoa bóng. Nước
đức ghi danh chín phẩm rành. Đền
nợ há hiềm thân bệnh khổ, hoành siêu
há lại sợ chê gièm? Sốt sắng
vì tôi cầu từ phụ, ngày nào tay cùng rủ
tiếp nghênh).
* Dạy Trần Chỉ Trung
Xuất
gia nhi, cầu an ninh, ngoại ninh tất hữu nội
ưu sanh. Vô lượng kiếp lai hư vọng chủng,
quán hướng Thiền Na tĩnh lư tŕnh. Xuất gia nhi, cầu
tôn quư. Hổ bối tiên nhân nan khứ trụ. Thành
Phật tác tổ đới ô danh. Đới
giác phi mao thôi thượng vị. Xuất gia nhi, cầu
vô lụy, giải thoát thâm khanh an khả trụy? Liên hoa
nguyên hướng ô nê sanh, lục địa cao nguyên không
độn trí. Xuất gia bất tại kỷ hành
phát. Tiên tu luyện tựu thuần cương cốt,
khám phá thời lưu danh lợi căn. Cửu
nhận vị tuyền tu tái quật. Tùng
thử lộ đầu chân, môn đ́nh mạn vấn
tân. Quy Sơn cảnh sách ngữ, cổ đức hữu
chân nhân.
(Người
xuất gia mong an ổn; ngoài an ổn, ắt trong
có ưu phiền sanh. Chủng tử hư vọng
từ vô lượng kiếp, thường quen
hiện ra trong khi Thiền Na thanh tĩnh. Người
xuất gia cầu tôn quư, tiên nhân trên lưng cọp khó
đến đi. Thành Phật, làm tổ
vướng ô danh. Đội sừng, khoác lông
được nâng lên địa vị cao cả.
Người xuất gia cầu chẳng phiền
lụy, hố sâu giải thoát sao chẳng
đọa? Hoa sen vốn mọc từ bùn nhơ.
Đất bằng, cao nguyên vùi dập suông. Xuất
gia chẳng do mấy cọng tóc. Trước
cần tu luyện cho xương cốt cứng
thuần. Thấy thấu suốt cái gốc danh
lợi trong thói đời. [Đã đào sâu]
chín nhận chưa thấy mạch nước,
vẫn đào tiếp. Từ đấy
đường nẻo chân thật, chẳng
cần hỏi bờ bến nơi môn đình
nữa. Lời cảnh sách của Quy Sơn,
cổ đức có cái nhân chân thật).
* Nhân ngày sinh nhật
của Linh Dịch dùng kệ chỉ dạy
Hữu
đức tức hữu phước, vô sân tức
vô họa. Tâm khoan thọ tự diên, lượng đại
trí tự dụ. Ưng tư lăo đầu đà, nguyện
cư chúng nhân hậu, phá nạp dĩ giá thân, tŕ
bát độ bần lậu.
(Có
đức liền có phước, chẳng
sân tức chẳng họa. Tâm rộng, thọ
tự tăng. Lượng lớn, trí
tự dày. Nên nghĩ lão đầu đà,
nguyện ở sau mọi người, áo
chằm rách che thân, bưng bát độ
nghèo hèn[27]).
* Từ biệt pháp
hữu thuộc hai đường
Thế
đế căng lưu bố. Ai ai cổ Phật tâm. Hý
dương tuy ái lễ. Bái thượng khởi
tùng kim. Cộng chấp lư an giải. Tranh
tương thị đế khâm. Dẫn thương khắc
vũ hậu, ninh cảm vọng tri âm.
(Thế
Đế xót lưu truyền. Buồn thay tâm cổ
Phật. Cúng bái[28]
tuy chuộng lễ, lạy xong há còn theo? Chấp
kiến giải yên lừa[29].
Tranh nhau chuộng tai hồng[30].
Âm nhạc đạt tột đỉnh, sao dám mong tri
âm?)
* Dạy Khoát Nhất (hai
bài)
1) Nhược
dục kết chế khán kinh, tu yếu hội quy
tự kỷ. Tâm ngoại cánh vô biệt truyền,
vạn vật đản đồ khẩu nhĩ. Vân quang
bất miễn phụ ách, hà huống kim thời
trĩ tử. Đệ nhất yếu sanh tín tâm.
Đệ nhị yếu cụ sanh tử. Phủ
ngưỡng khoáng kiếp luân hồi, tất
cánh như hà đắc chỉ? Thính
ngã huyết lệ khổ ngôn, thứ bất chung vi
khang bỉ.
(Nếu
muốn kết chế xem kinh, cần phải biết quy
vào chính mình. Ngoài tâm chẳng có
truyền riêng, muôn phần chỉ mong tai, miệng. Trời
quang còn chẳng khỏi mang ách[31],
huống chi hiện thời thơ dại! Thứ
nhất là phải sanh tín tâm. Thứ hai
phải sợ sanh tử. Ngước nhìn
luân hồi bao kiếp, rốt cuộc như thế
nào để ngưng nghỉ? Nghe tôi rỏ huyết
lệ, thốt lời khó nghe, hòng trọn
chẳng thành cám bã!)
2) Hoa
Nghiêm viên đốn kinh vương, Phổ Hiền pháp giới
tông chủ. Thập nguyện đạo quy Cực
Lạc, tiện thị huyền cực vi chỉ.
Nhược cánh biệt khấu tổ quan, đô
thị nô bộc tỳ sử. Quả nhiên kỳ đặc
trượng phu, trác tín tâm tác, tâm thị. Niệm
niệm tương ứng bất sai, khởi khẳng
thủy trung khát tử? Thuấn tức toàn
chuyển vạn lưu, nhất cú Di Đà đáo
để.
(Kinh
vương Hoa Nghiêm viên đốn, Phổ Hiền: Tông
chủ pháp giới. Mười nguyện
dẫn về Cực Lạc, chính là ý
chỉ vi nhiệm tột cùng. Nếu riêng gõ
cửa ải của tổ, sẽ đều là nô
bộc, tôi tớ. Quả thật bậc
trượng phu lạ lùng, tin tột bực
“tâm làm, tâm là”, niệm niệm tương
ứng chẳng sai, há chịu chết khát
trong nước? Chớp mắt xoay chuyển
muôn dòng, một câu Di Đà đến cùng).
* Kệ phóng sanh niệm
Phật xã của Thiền đường chùa
Lợi Tế (có lời
tựa)
Tâm yếu
của Phật, Tổ là “bi và trí cùng
vận dụng” mà thôi! Chuộc mạng là
đại bi hạ hóa. Gởi tâm sang Tây
Phương là đại trí thượng
cầu. Điều hay khéo trong pháp môn không chi
hơn điều này! Nhưng chẳng có
gì là không có khởi đầu mà
lại có kết thúc. Do vậy, hãy nên kiên
cố cái tâm, dùi mài cái hạnh, ngõ
cầu bằng khoán báu nơi ao quý
thuộc về ta, chứ không thuộc vào ai
khác!
Chư
pháp bổn vô sanh, bất sanh phi thật nghĩa. Ngư
dược dữ diên phi, minh minh Phật tổ ư. Hồi
hướng Cực Lạc bang, viên thành vô thượng
trí. Lịch kiếp thỉ vật huyên, thị danh chân lợi
tế.
(Các
pháp vốn vô sanh. Bất sanh: Chẳng thật
nghĩa. Cá nhảy, diều hâu bay, rành rành
ý Phật, tổ. Hồi hướng cõi
Cực Lạc, viên thành vô thượng trí.
Trải kiếp thề chẳng dối; đó
gọi thật lợi tế).
* Gởi lời
dạy về Thiền Quan (bế quan tu Thiền)
Ma giới
như hề, Phật
giới như, kim cang bảo kiếm dụng hà vi? Phân
minh bình địa sanh qua kích, thác nhận thôn ca
xã ẩm thời.
(Ma giới
như, mà Phật giới như. Kim cang gươm
báu để làm chi? Đất bằng
rành rẽ can qua dấy. Lầm nhận xã thôn
lúc nhậu, ca).
* Ngày Tự Tứ
năm Canh Dần (1650) (hai
bài kệ, có lời tựa)
Nằm
tại Bắc Thiên Mục, muôn mối lo nghĩ nguội
lạnh như tro tàn. Có mấy người
cùng chí hướng dùng Tỳ Ni để
nhắc nhở lẫn nhau. Tỳ Ni là hàng
hóa mục nát lâu ngày mà vẫn
được hỏi đến, khác nào
đậu nổ trong tro lạnh. An cư xong, nhắc
lại quy củ Tự Tứ thơm thảo,
buồn vui chen lẫn, cảm khái mà viết
[các bài kệ sau đây].
1) Bỉnh
chí thung tùy tục, kỳ tâm xí tích hiền. Nghĩ
tương phàm địa giác, trực bổ
Niết Bàn thiên. Bán thế cô đăng thán, đa
sanh hoăn giới khiên. Hạnh phùng châm giới hợp, cảm
khấp lệ như tuyền.
(Giữ
chí lười theo tục, tâm mong như cổ
hiền. Toan đem phàm địa giác, vá
thẳng trời Niết Bàn. Nửa
đời than trơ trọi, nhiều kiếp phạm
giới lầm. May gặp người
hợp chí, cảm động suối lệ tuôn).
2) Chánh
pháp suy như hứa, thùy tương nhất
tuyến truyền? Bất minh niệm xứ huệ,
đồ tụng mộc xoa thiên. Thập tử
thùy tiên thệ? Chư anh hỷ phục liên. Tứ
Hoằng cửu hữu thệ, mạc thế
Mã Minh kiên.
(Chánh
pháp suy dường ấy, ai sẽ một mối
truyền? Chẳng hiểu niệm xứ huệ,
chỉ tụng suông giới kinh. Mười
người ai mất trước? Các vị
mừng xót thương. Thề Tứ
Hoằng đã lâu, chẳng gánh thay Mã
Minh).
* Họa đáp
Đàm Tảo An
Khẳng
tương ngõa lịch dịch minh châu, cá sự
tùng lai hình ảnh câu. Tín đắc thử tâm chân
Phật chủng, nhậm tha cảm tác độn
căn hô!
(Chịu
đem ngói, sỏi đổi minh châu. Chuyện ấy
xưa nay hình bóng nhiều. Tin tưởng tâm
này chân Phật chủng. Mặc ai cảm tác quở
độn căn!)
* Cuối Thu năm Tân Mão
(1651) lại lên chùa Tây Hồ, cảm tác ba bài
kệ
1) Phong
phàm phá lăng trắc nguy cương, chuyển ức giao
t́nh không tự thương. Thất thập nhị phong minh
nguyệt tại. Thiên thu dật hứng phó ba quang.
(Cánh
buồm lướt sóng bên bờ hiểm,
nghĩ nhớ đan xen luống tự buồn.
Bảy mươi hai ngọn trăng sáng chiếu,
ngàn năm nhã hứng phó sóng
vờn).
2) Bất
tu điếu cổ luận tiền hậu, thả cộng
tầm kim thùy thỉ chung? Thu sắc dĩ tùy phong
thụ lăo, thần hy nhưng tự liệu hoa hồng.
(Chẳng
cần hoài cổ luận sau trước, nay
hãy cùng tìm ai cuối, đầu? Rừng
phong chuyển sắc thu già úa, nắng mai
vẫn rực hoa tươi hồng).
3) Phong
đầu vân vật khứ nhưng phản. Ba lư
sơn quang trụ diệc phù, độc băi Duy Ma
hương vị lănh, hựu di thanh mộng nhập Thiền
lâu.
(Mây,
vật đầu non đi rồi lại. Sóng in
sắc núi nổi lênh đênh. Đọc hết Duy
Ma, hương chửa lạnh; khiến cho mộng
đẹp nhập lầu Thiền).
* Bị mưa cản
trở tại Phước Nguyên, dùng vần
trong bài Bạch Lạc Thiên của thiền sư
Tuyết Đậu
1) Tối
thị Thiền quan chuyển xử u, Động
Đ́nh yên thủy hộ Thần Châu. Tùng Danh La Hán tùng Đường
Tống. Tuyền tự
chân nguyên ánh đẩu ngưu. Ổn tọa Phật khám
tiêu vĩnh nhật. Lãn tầm ngư phụ vấn cô
châu. Niên lai hồ thố nhưng thành dã, thốc
thốc quần phong hoành điểm đầu.
(Thiền
quan thành chỗ âm u nhất, Động Đình
khói sóng giữ Thần Châu. Tùng Danh La
Hán từ Đường, Tống. Cội
gốc suối chùa rạng đẩu ngưu[32].
Ngồi nơi khám Phật qua ngày tháng,
lười tìm ngư phủ hỏi thuyền
đơn. Bao năm cáo, thỏ ngoài hoang dã,
vun vút gió lùa ngang đỉnh đầu).
2) Khuất
chỉ Tiêu Lương lộ vị canh, đ́nh tiền
song thụ ư minh minh. Phong dao hồng diệp cơ do
trệ. Vũ thấp thanh đài ấn dĩ thành.
Tùng cổ cộng tư ha hộ cửu, điện
thâm doanh đắc bộ hành khinh. Chủ nhân bất
yếm hồ sơn khách, triêu trích gia sơ, mộ hựu
sanh.
(Bấm
tay, Tiêu Lương[33]
chưa rành nẻo. Đôi cây sân trước ý
rành rành. Gió lùa lá thắm gần
tan tác. Mưa ngấm rêu xanh in vết hằn.
Tùng xưa cùng hỏi lâu gìn giữ. Điện
thẳm cất bước nhẹ nhàng qua.
Chủ nhân chẳng chán khách sông hồ. Sáng
hái rau ngon, chiều lại sanh).
* Họa đáp
Vương Quý Diên
Mă
ngưu tác đội tận như tŕ, thùy phá hàm
quyền danh tướng mi. Thiên cổ mịch lai nan
đắc hữu. Tam nhân hành xứ dị tầm
sư. Hư không lực áp chung vô trấp. Khổi lỗi
khinh đề diệc hữu nghi. Tá vấn hà phương
tự tu dục, A Già nhất vị bất câu thời.
(Trâu,
ngựa thành đoàn tận ruổi rong. Ai
phá buộc ràng cương danh tướng?
Ngàn đời khó thể tìm
được bạn. Ba người cùng
đi dễ kiếm thầy! Hư không ép trọn,
không ra nước. Con rối khẽ nhấc, có
cách riêng. Thử hỏi chốn nào tự tu
tập? Một vị A Già câu nệ chi?)
* Hai bài kệ tặng
thủ tọa Thanh Nguyên khi Ngài trở về Giang
Ninh
1) Mộc
tê hương băi, cúc sơ hoàng. Trường
Thủy than đầu biệt thoại trường.
Ngõa phủ lôi minh kim bội thậm, huyền châu long hộ
chánh nghi tàng. Sầu khan trí xảo đa thành tạc,
hỷ thính chuyên mông sảo vị tường. Dữ
nhĩ cộng kỳ tuyền thạch mộng. Linh Phong thệ
cảnh cộng thường dương.
(Hoa mộc
tàn hương, cúc chớm vàng. Trường
Thủy bãi sông chớ luyến lưu. Nồi
sành sấm dậy[34]
nay càng lắm. Rồng giữ huyền châu
chớ phô phang. Sầu xem trí khéo thường
sai nẻo, ngu muội thích nghe chẳng xét suy. Với
ông cùng mộng bên đá, suối. Linh Phong thề
sẽ cùng thong dong).
2) H́nh ảnh
tương tùy vị thị thân. Nhiêu tha nghĩ nghị
chuyển mê chân. Nhất sanh tự tụng, hiềm
tần phục. Bán thế đào danh, hạnh ngộ
tân. Quư tích đàm kinh do hữu thạch, hân kim vấn tự
tiệm vô nhân. Tha niên mạc phụ trân tŕ ước,
đốn tẩy tùng tiền ái kiến trần.
(Hình
bóng theo nhau, chưa phải thân. Mặc
người bàn tính chuyển mê, chân. Một
đời tự trách, nhiều lượt
phạm. Nửa kiếp trốn danh, may gặp
đường. Thẹn xưa luận kinh còn
có đá[35];
nay thích hỏi chữ, dần không
người! Năm nào đừng phụ
hẹn ao báu, ái kiến trần xưa chóng
gột phai!)
* Đàm Tảo Am
mời tôi cùng Vương Chỉ Am, Cao Niệm
Tổ sang chơi Nghiên Sơn, tôi do bệnh nặng
phải quay về, bèn viết ba bài cảm
hoài
1) Tùng
tích giả sơn chung bất giả. Ư kim chân tổ
vị toàn chân. Nhất phiên độc bãi
Truyền Đăng Ký. Thiêm đắc Tỳ Da kỷ
thống thân.
(Từ
xưa, giả sơn trọn chẳng giả. Nay
thì chân tổ chẳng toàn chân! Một phen
đọc hết Truyền Đăng Ký[36].
Thêm bệnh Tỳ Da[37]
rên
mấy lần).
2) Tảo
Am đậu hủ Đông Pha nhục. Vấn vị
sơn nông tổng phất tri. Đại để văn
thiều thiên cổ án, hoàn tu kiến thánh thỉ vô nghi.
(Đậu
hủ Tảo Am: Thịt Đông Pha[38].
Hỏi vị nông phu
đều chẳng biết. Gần giống chuyện
xưa nghe nhạc Thiều[39].
Vẫn cần thấy thánh, mới không nghi).
3) Duy Ma vô tật, Văn
Thù tật. Thuyết thị hào ngoa, tổng phất
hào. Thí khán tích niên minh bất nhị. Khổ, không
y cựu tác tiền mao.
(Duy Ma không
bệnh, Văn Thù bệnh. Nói dường sai
ngoa, trọn chẳng sai. Thử xem năm xưa
hiểu bất nhị. Khổ, không như cũ: Tiền
phương tiện).
* Đầu mùa Đông
năm Nhâm Thìn (1652), nhìn mưa qua cửa
sổ cảm tác
Sóc phong xuy
đại mạc. Quần tước sầu hàn vũ.
Tập vũ tố vô lương. Cạnh hướng mao
thiềm tụ. Ai tích Kỳ Đà lâm. Cửu
táng tiều nhân phủ. Thùy vi sư tử trùng, tối
thị thâu kim tổ. Nạp túc tiếu Nho quan, thâu kim thán Thiền
phổ. Ác chủ biến thành thôn. Địch
diện như quân ngũ. Hề tai họa cách nang, huyễn
tác dương chất hổ. Cứu đắc nhãn
tiền cơ, lưu khước hằng sa khổ. Đạt
nhân giám thỉ chung, đốn thổ hư danh cổ.
Nhất tiếu lão thâm sơn, bất tiếu hoan ngu
bổ.
(Gió
Bấc thổi đại mạc, mưa lạnh chim
sẻ sầu. Giũ lông kêu thiếu ăn, giành
đậu dưới mái tranh. Buồn rừng
Kỳ Đà xưa, đã tàn dưới
rìu tiều. Ai là sư tử trùng, tổ
chở vàng[40]
đầu tiên? Mua tước[41]
cười mũ Nho, chở vàng than Thiền
phổ. Nắm phất trần[42]
vung vẩy, trọn khắp các thành, thôn.
Đối mặt như quân ngũ. Than ôi, túi da
đẹp; dê vờ đội lốt hổ.
Cứu cơn đói trước mắt,
lưu lại khổ hằng sa. Người
đạt xét đầu đuôi, mau khạc
độc hư danh. Nực cười lão
núi sâu, chẳng xứng góp vui
sướng).
* Ba bài kệ tặng
Dụng Hối nhân dịp ông về Tân An và gởi
cho Kiên Mật
1) Phồn
sương nhất dạ vạn lâm không. Thiên lý quy
phàm quải Sóc phong. Đạo tại vị
hiềm ly biệt hám. Tình vong chung tạ trác
ma công. Sỉ quán dă can đăng sư bối. Dao chúc
tiềm long tẩm phạm cung. Minh nguyệt Bắc song
thôi hiểu mộng. Tọa thính liên lậu cổ phùng
phùng.
(Đêm
mờ sương, muôn rừng hoang vắng.
Ngàn dặm buồm về, gió
bấc lùa. Đạo tại chẳng hiềm
sầu ly biệt. Tình quên toàn cậy chuốt trau
công. Thẹn thấy chó rừng lấn sư
tử, xa chúc rồng ngầm ẩn phạm cung.
Trăng sáng bên song, tan mộng sớm; ngồi nghe
liên lậu[43] nhỏ long
tong).
2) Ngũ
thập dư niên khách tác nhân; du du tư thế kỷ
tri tân? Tảo chiêm ngưu thuận đồng dương
nghịch, hối bất lang tham dịch hổ sân. Băng
thủy bổn lai duy thấp tánh. Không hoa tùng cổ
tuyệt trần tân. Tương kỳ tận thức
mông lung nhãn. Đàn chỉ chiêm y lạc thổ
thân.
(Năm
chục năm hơn làm lữ khách,
đắng cay ai biết cõi đời dài?
Sớm xem trâu thuận cùng dê nghịch, hối
chẳng sói tham đổi hổ sân. Băng,
nước vốn cùng một tánh
ướt. Hoa đốm từ xưa chẳng
mới bày! Mắt mờ mong hãy lau cho
sạch. Khoảnh khắc nương nhìn chốn
Lạc bang).
3) Đạm bạc vong cơ
nhập đạo nan. Hào ngoa công án kỷ năng khan?
Vô nhân đạp đắc tùy thân ảnh.
Hữu cú toàn thành mại pháp gian. Quư ngã bả
ông duy tọa thán. Tri quân sồ phượng khả ly can.
Tha niên cộng dục trân trì thủy, bất phụ
Linh Phong triệt cốt hàn.
(Đạm
bạc, quên tình nhập đạo khó! Công án
sai lầm mấy kẻ hay? Bóng nơi thân có ai
đạp được? Hễ nói, kẻ gian
bán pháp rồi. Thẹn tôi gã thọt ngồi
than thở, biết ông phượng non lìa
được sào[44].
Năm nào cùng tắm ao trân quý? Chẳng
phụ Linh Phong rét thấu xương).
* Bảy bài kệ cảm
tác khi vừa bệnh dậy
1) Trực
tiệp căn nguyên đạo hữu dư. Tầm chi
trích diệp dục hà như? Cát đằng thiên
thất vô đoan thiết, chi sở thần câu Bắc giá
dư.
(Nguồn
đạo thẳng chóng vốn sẵn
thừa. Tìm cành bẻ lá muốn làm
chi? Dây leo ngàn bảy[45]
bỗng dưng lập; sang Sở, ngựa kéo
lên Bắc[46]
ư?)
2) Tiểu
kiến hồ nghi, cấp chuyển tŕ. Ngộ phân căn bản
dữ điều chi. Bình bình đại
đạo vô nan dị, dương chất đồ lao quải
hổ bì?
(Thấy
hẹp, hồ nghi, chóng thành chậm. Lầm chia
căn bản với nhánh, cành. Đại
đạo phẳng phiu, không khó dễ. Cốt dê
sao nhọc khoác da hùm?)
3) Tả
hữu phùng nguyên xúc mục chân. Tài sanh
thủ xả, tiện mê chân. Gia hòa lân lư nan khi vũ,
phân bối đồng điền nghiệm phú bần.
(Phải
trái gặp nguồn, thấy lẽ chân. Mới
sanh lấy, bỏ, liền mê chân. Nhà yên, hàng
xóm không khinh dối. Chia chác tài sản,
nghiệm giàu, nghèo).
4) Ngưu
bì xuyên thấu chung nan nhận. Hổ huyệt minh hành
ám vị thông. Lưỡng cá bán cân giai bát
lượng. Phệ thanh ly khuyển cộng đồng
đồng.
(Xuyên
thấu da trâu[47]
trọn khó hay! Hang cọp ngầm đi, tối
chửa thông. Hai cái nửa cân đều
tám lượng[48].
Ủng oẳng bên rào chó sủa nhau).
5) Thức
t́nh vị chuyển vô trần trí. Tri hữu, y nhiên đọa
pháp trần. Bố ảnh mê đầu không tự nhiễu.
Cầu chân chân lộ khước phi chân.
(Thức
tình chưa chuyển vô trần trí. Biết
hữu, vẫn
đang đọa pháp trần. Sợ bóng, mê
đầu, uổng quấy nhiễu. Cầu chân nẻo
thật, chẳng là chân).
6) Bác
văn ước lễ Khổng Nhan tâm. Cá sự hà dung
toản ngưỡng tầm? Dưỡng khí tri ngôn thông tuyến
lộ. Phách manh Cáo Tử khởi tri âm.
(Học
rộng, giữ lễ: Khổng Nhan tâm. Mọi
chuyện há dung “dùi, kiếm, tìm”?
Dưỡng khí, biết lời, thông suốt
cả. Mù nhịp, Cáo Tử há tri âm?)
7) Vương
tặc nguyên tùng nhất trước tranh. Như
hà Phật pháp đương nhân t́nh? Danh văn lợi
dưỡng không hoa sự. Thống sát cầu khanh phản
đắc phanh.
(Kẻ
giặc vốn từ một chuyện giành. Sao
coi Phật pháp như nhân tình? Danh văn
lợi dưỡng như hoa đốm. Đau
chết cầu ông lật ngược thôi!)
* Bốn bài kệ nhân
dịp sang Niêm Hoa Am ở Thu Thự vào Nguyên
Đán năm Quý Tỵ (1653)
1) Khoáng
kiếp âm di nhất sát-na. Thao thao pháp vận sử như
hà? Vị minh vi tiếu phi mê ngộ. Thùy hướng
niêm hoa biện Phật, ma? Vân ngoại hữu thanh, tri thị hạc. Đăng tiền lộng ảnh
tiện đồng nga. Tiện quân bất nhập thâu kim
xă. Hảo dữ sơn nông tụng phạt kha[49].
(Bao
kiếp âm dời một sát-na. Pháp vận cuồn
cuộn như thế nào? Chưa hiểu mỉm
cười chẳng mê, ngộ. Ai hướng
giơ hoa, luận Phật, ma? Ngoài mây vẳng
tiếng, biết
là hạc. Chao bóng trước đèn
là thiêu thân. Mừng ông chẳng dự thâu
kim xã, khéo cùng tiều phu hát
“đẵn rìu”).
2) Vạn
duyên hà thí tự hàn hôi. Nghĩ nhập
thiên sơn thệ bất hồi. Ế tận quang hàm thanh
tịnh mục. Tình vong thân dục bảo liên thai. Châu
vương trích thủy năng doanh khí. Nghĩa
tặc thương tài phủ tác bôi. Đảo
phúc khuynh trường vô biệt ngữ, mạc
phân Thiếu Thất dữ Thiên Thai.
(Muôn duyên
nào khác tro tàn lạnh. Toan nhập ngàn non,
thề chẳng về. Màng hết, sáng
bừng mắt thanh tịnh. Tình quên, sen báu
gởi thân ngay. Giọt nước châu vương
đầy đồ đựng. Giặc nghĩa
đẵn gỗ, chén mới thành. Dốc
cạn ruột gan, không nói khác. Đừng chia
Thiếu Thất với Thiên Thai).
3) Ngũ
thập dư niên mộng huyễn thân, liêu liêu tư
thế cửu vô lân. Tùng đầu thứ
phá nguyên phi ngã. Thử ngoại hà dung
biệt hữu chân? Kư túc bất tu cầu đại hạ.
Đăng châu chánh khả tựu thiên tân. Đông
phong xuy loạn tàn thi quyển. Vị hứa nhân gian
nhục nhãn luân (thời Thu Thự xuất
nãi tổ Tịch Sanh pháp chủ thi cầu tuyển).
(Thân
huyễn mộng năm mươi năm lẻ, hiu
quạnh trong đời không kẻ gần. Từ
đầu nhìn thấu vốn phi ngã. Ngoài
đó, sao dung thân khác ư? Ở tạm,
chẳng cần nhà viện lớn. Lên
thuyền, vì sẽ đến bờ kia. Gió
đông thổi loạn quyển thơ nát, chưa cho
mắt tục ghé trông vào) (Khi đó, Thu
Thự đang tìm kiếm thơ của vị
tổ nơi ấy là pháp chủ Tịch Sanh).
4) Thiềm
ải tường y liêu tự an, khẳng tương ôn
băo hoán cơ hàn. Vị kinh thế lộ phong ba cấp, na tín
mao am pháp giới khoan. Dă lăo đối đàm tri mễ giá, biên
châu cử trạo đổ hồi lan. Tầm thường
văn kiến vô nghi trệ, thùy vị viên thông khắc
chứng nan.
(Mái sụp,
tường nghiêng, vẫn tự an. Chịu đem
no ấm đổi cơ hàn. Đường
đời sóng gió chưa từng nếm, sao
tin am tranh pháp giới rộng. Cùng dân trò
chuyện biết giá gạo; thuyền con khua chèo
ngắm sóng loang. Nghe, thấy tầm
thường chẳng nghi trệ; ai bảo viên thông
chứng khó thay!)
* Sáu chương Hu Ta Thiên
(có lời tựa)
Đạo
của Phật, Tổ là Giới, Định, Huệ
mà thôi! Giới tức Pháp Thân, thẳng
thừng là Pháp Thân chẳng phải là
Pháp Thân. Định tức giải thoát, thẳng
thừng là giải thoát chẳng phải giải
thoát. Huệ tức Bát Nhã, thẳng thừng
là Bát Nhã chẳng phải là Bát
Nhã. Người hoằng dương Giới học
nói: “Luật sư thật sự dùng Bát
Nhã và Giải Thoát để trang nghiêm,
hiển thị Pháp Thân ư?” Người
hoằng dương Định học nói:
“Thiền sư thật sự dùng Pháp Thân
và Bát Nhã để thành tựu
sự giải thoát chẳng thể nghĩ
bàn ư?” Người hoằng dương Huệ
học nói: “Pháp sư quả thật dùng
Giải Thoát và Pháp Thân để quy
hướng, tiến nhập Bát Nhã ư?” Tôi
nghĩ cổ nhân thật sự thấu đạt tâm
tôi. Tôi thương người hiện thời
chẳng cầu lẽ thật, chỉ mong danh
tiếng, lôi kéo nhau trầm luân. Do vậy, bèn có
lời than thở để diễn tả tình
huống đáng buồn này!
1) Hu ta Luật
hề, khởi viết hư văn. Nhất chỉ,
nhất tác, tŕ phạm tư phân. Vị đoạn hữu
lậu, dĩ phá ma quân. Tam thiên bát vạn, trách hỹ
phỉ phân. Hộ bỉ vô tác, hiệp thử truy quần.
Phiền hoặc năi bố, hiền thánh năi hân. Tự
tánh thanh tịnh, vạn pháp chi quân. Luật tai, luật
tai, y vân, bát vân.
(Chao ôi,
Luật chừ! Há phải văn tự suông.
Mỗi cấm, mỗi hành, trì, phạm phân minh.
Vì đoạn hữu hậu, hòng phá ma
quân. Ba ngàn tám vạn[50],
sâu thẳm, chẳng rườm. Gìn
giữ vô tác, giúp sức chúng Tăng. Phiền
hoặc sợ hãi. Chư thánh ưa
thích, tự tánh thanh tịnh. Vua của vạn
pháp, là luật vậy thay! Là y, là
bát).
2) Hu ta Thiền
hề, khởi viết đấu cơ. Quyết quảng
duy hải, xuyên độc du quy. Thao thử nhất
thị, dung bỉ bách phi. Phỉ tật nhi tốc, phỉ
dực nhi phi. Lý tất vô suyễn, hành tất
vô vi. Pháp pháp thông bị, môn môn nhập vi. Phùng nguyên tả hữu,
hà hiển, hà vi. Ai thử mạt quý, duy phất
dữ y.
(Chao ôi,
Thiền chừ! Há là cơ duyên tranh
đấu? Chỉ như biển rộng, sông ngòi
đổ về. Vận dụng một điều
“đúng” này, dung nạp bách phi. Chẳng
nhanh mà chóng, không cánh mà bay. Lý
ắt chẳng sai, hành tất chẳng
trái. Pháp nào cũng đều đủ, môn
nào cũng tiến nhập. Trái phải
đều gặp nguồn, gì là hiển,
gì là vi tế? Buồn đời mạt
này, chỉ là phất trần và pháp y).
3) Hu ta Giáo hề,
khởi viết ngôn thuyên. Minh nguyệt chi chỉ,
lương ký chi tiên. Hôn đồ chi cự, bạo
lưu chi thuyền. Dĩ giản tà chánh, dĩ biện
thiên viên. Pháp ấn sở ấn, tứ y sở truyền.
Châu đạo thản thản, năi Thật, nãi Quyền.
Mục túc vô khuyết, trực vãng phất
khiên. Ai thử thúc thế, diệp phụ chi khiên.
(Chao ôi,
Giáo chừ! Há là ngôn ngữ nói
suông? Ý
chỉ trăng sáng, roi thúc ngựa giỏi,
đuốc trong đường tối, thuyền
nơi thác đổ. Dùng phân biện tà
chánh, dùng biện định thiên, viên. Pháp ấn
in vào, tứ y truyền thừa. Nẻo Châu phẳng
phiu, là Thật, là Quyền. Mắt, chân
chẳng khuyết, tiến thẳng chẳng
lỗi lầm. Xót đời mạt này,
vịn cành, kéo lá).
4) Hu ta
Tịnh Độ, khởi viết tiểu bổ. Viên
đốn chi tông, vạn linh chi tổ. Quyết chỉ duy
tâm, quyết môn duy phổ. Phi tự phi tha, diệc hoành diệc
thụ. Dược dă mạc đào, nhược táng
diệc phủ. Phá cách hồng từ, dị
hương thân hỗ. Long Thọ ma kiên, Văn Thù tiếp
vũ. Ai bỉ sanh manh, mục vi bàng hộ.
(Chao ôi
Tịnh Độ, há là chuyện kèm thêm
nhỏ nhặt? Tông viên đốn, là tổ
của vạn linh. Chỉ thú duy tâm,
đường nẻo phổ cập. Chẳng
tự, chẳng tha, vừa ngang, vừa
dọc. Kẻ mạnh mẽ chẳng trốn
được, kẻ yếu đuối cũng được
nâng đỡ. Lòng từ rộng lớn phi
thường, khác quê vẫn đáng
nương cậy như người thân. Long Thọ
sát cánh, Văn Thù nối sát gót.
Thương kẻ mù từ lúc lọt
lòng, thấy [Tịnh Độ] là cửa
nẻo phụ thuộc).
5) Hu ta
đại pháp, hà chánh? Hà
tượng? Hà thị, hà phi? Hà thiên,
hà đảng? Bi thử ngu ngoan, các nhậm
quyết tưởng. Nghịch chi tắc phi, thuận
chi tắc ngưỡng. Suất bỉ vọng t́nh, thùy
nạp trung đảng? Thỉ nọa phất vân, kế
duy trợ trưởng. Trục ảnh mê hình,
lũ không bộ hưởng. Ai hỹ quần manh, tranh xu
kiến vơng.
(Chao ôi,
đại pháp, gì là Chánh? Gì là
Tượng? Gì là đúng? Gì là
sai? Gì là lệch? Gì là chánh? Xót
kẻ ngu bướng, ai nấy mặc tình suy
tưởng. Trái nghịch là sai. Thuận theo
bèn ngưỡng mộ. Bộp chộp theo tình
kiến hư vọng, ai tiếp nhận lời trung
thực? Thoạt đầu lười nhác
chẳng màng, tiếp đó chỉ lo giúp
cho tăng trưởng. Đuổi bóng, mê
hình. Vá hư không, nắm bắt tiếng
vọng. Buồn thay lũ mù, tranh nhau tiến vào
lưới kiến chấp).
6) Duy
tư mạt quư, diệc khởi vô nhân? Truy viết Tử
Bách, tố như Dương Minh, kỵ Sở chi Viên,
Tây Phương chỉ tân. Sơn Âm chi Bào,
thiên nhạc dĩ trần. Khả sư khả bộ,
bất vụ kỳ danh. Ai bỉ nhĩ thực, vơng
thức tư chân. Tranh tŕ hư dự, mộ bỉ tiêu
lân. Hà thời cảnh giác, dĩ bốc
ngã lân!
(Ngay trong
thời mạt, há cũng không người?
Tăng như Tử Bách, tục như Dương
Minh, và họ Viên đất Sở, chỉ bến
Tây Phương. Họ Bào ở Sơn Âm. Nhạc
trời đã bày. Có thể làm
thầy, có thể noi theo, chẳng trọng danh
tiếng. Buồn cho kẻ thích nghe đồn
thổi, chẳng biết lẽ thật, tranh nhau
đuổi theo hư danh, hâm mộ huyễn hoặc. Khi
nào tỉnh giác, sẽ chọn bạn lành).
* Ba bài kệ tự
khuyên nhủ bên Tây song, phỏng theo âm vận của
ngài Tịch Âm
1) Sơ
chí hà năng bất tự tân? Mỗi ta thiệp thế
vị vong chân. Hành từ y cựu hoàn
thành ái. Trách thiện vô đoan dĩ đọa
sân. Vạn cổ thị phi hồn đoản mộng. Thập
phương tịnh uế tổng trường xuân. Tây
song đối nguyệt, phi tàn quyển. Độc hướng
tiên hiền ngữ tiếu tần.
(Chí
xưa sao chẳng tự sửa lỗi?
Thường than vào đời chưa quên chân.
Hành từ thành ái y như cũ. Trách
thiện bỗng dưng đã đọa sân. Muôn
thuở đúng sai, toàn mộng vụn.
Mười phương tịnh uế mãi
trường xuân. Trăng chiếu song Tây, giở
quyển nát. Nhiều lượt cười nói
với tiên
hiền).
2) Ngũ
thập ngũ niên quá vị quả. Kính trung đồ
thán đầu lô quang. Quán Âm thập cú tịnh nghiệp
khổ. Phật hiệu nhất thanh siêu ly hoàng. Lịch tận
hàn toan vô phiến thật. Do lai bi hỷ không oanh
trường. Liên hoa tùng lư thanh hồn dật. Tiêu tận
nhân gian viêm dữ lương.
(Năm
lăm năm qua, chưa bớt lỗi. Nhìn
gương, than suông đầu rỗng toang.
Mười câu Quán Âm trừ nghiệp khổ.
Phật hiệu một tiếng lìa so lường.
Trải trọn chua cay, không chút thật.
Trước nay bi hỷ vấn vương suông!
Hồn trong mộng hưởng rừng sen
thắm, tiêu sạch nhân gian nóng lạnh suông).
3) Lục
thủy thanh sơn nhậm vãng hồi. Na kham thụy
nhãn vị toàn khai. Thập hư do giảo vi trần
trách. Nhất tức phi tùng khoáng kiếp lai. Tài nghĩ
biện chân đồ mị mục. Sáng quán duy thức
dĩ vong ai. Đồng nhân dục hòa vô sanh khúc, đản
thính không sơn viên ngữ ai.
(Nước
biếc non xanh mặc tới lui. Mắt ngủ
nào kham vẫn nhập nhèm. So với vi
trần, hư không hẹp. Hơi thở chẳng
từ bao kiếp sanh! Vừa biện định
chân, mắt đã quáng. Mới quán duy
thức, quên trần ai. Đồng nhân toan tấu vô
sanh khúc, chỉ nghe núi vắng, tiếng
vượn buồn).
* Họa Đạt Ma Tứ Chủng
Hành Kệ của tôn giả Tịch Âm
1) Tam giới
hữu vi, chung quy bại hoại. Tài hữu sở
cầu, tiện thành trất ngại. Tử an khả
tắng, sanh an khả ái? Tắng ái lưỡng
quyên, tiện thị tam-muội (Vô cầu hạnh).
(Tam
giới hữu vi, trọn thành hư nát.
Vừa có mong cầu, liền thành ngăn
ngại. Chết há đáng ghét? Sống há
đáng yêu? Yêu, ghét cùng hết, chính là
tam-muội).
2) Thập
nhị khiên liên, như hoàn luân chuyển. Thích Phạm hề
quư? Khất
cái hề tiện? Kư nan cưỡng cầu, phục hà
hy tiện? Phủ ngưỡng trần hoàn, tiêu nhiên vô
luyến (Tùy duyên hạnh).
(Mười
hai chằng néo, như vòng xoay chuyển.
Thích, Phạm há quý? Ăn mày há hèn?
Đã khó cưỡng cầu; mong, hâm mộ
chi? Cúi, ngửa cõi trần, thảnh thơi
chẳng luyến).
3) Nhân ngã
vị vong, ca-sa khả
xú. Thóa diện vật thức, đao trượng
nghi thọ. Đế sát pháp không, nghịch cảnh hà
hữu? Động tâm nhẫn tánh, khổ sư ân
hậu (Báo oan hạnh).
(Nhân
ngã chưa quên, ca-sa đáng thẹn!
Mặt bị nhổ đừng lau, đao gậy
nên hứng chịu. Quán kỹ pháp không,
nghịch cảnh nào có? Nhẫn nại mọi
chuyện, lấy khổ làm thầy, ân sẽ sâu
dày).
4) Sanh tức
vô sanh, thị danh pháp nhẫn. Khởi dụng tự mâu,
hoàn công tự thuẫn. Hằng quán ư ngôn, Biến Kế
tư tận. Hậu xúc vô đắc, y nhiên bổn tánh
(Xứng pháp hạnh).
(Sanh là
vô sanh; gọi là pháp nhẫn. Khởi dụng
liền mâu, đền công liền thuẫn. Luôn quán
ý ngôn, Biến Kế bèn hết. Tiếp xúc vô
đắc, bổn tánh y nguyên).
* Ba bài kệ dạy ba
học trò khi sắp sang chơi Thang
Tuyền
1) Khách
khí tiêu vong tâm tiện an. Toàn thân phóng hạ diệc
hà nan? Phân minh vạn tượng vô tàng
phú. Sơn tự cao cao, thủy tự hàn.
(Khách sáo
tiêu vong, tâm liền an. Toàn thân buông xuống, khó
khăn gì? Rành rành muôn tượng không che
giấu. Núi tự cao vời, nước
lạnh thôi).
2) Thái
sơn bất như bình địa đại. Dương
minh chích ngữ độ mê tân. Bình bình
đãng đãng tuân vương lộ. Mạc hiệu
nham nham vạn nhận thần.
(Thái
sơn chẳng to bằng đại địa.
Một lời Dương Minh độ bến mê.
Bằng phẳng thênh thang theo vương lộ.
Đừng như vách núi cao muôn tầm).
3) Tướng
danh phân biệt bổn như như. Chân tục
tương hưu nhất dị vu. Vạn thủy thiên
sơn cung kiến thính. Trực tu siêu xuất thị
phi đồ.
(Tướng,
danh phân biệt vốn như như. Chân tục thôi lầm
một, khác chi. Muôn nước ngàn non phô nghe
thấy. Thẳng thừng vượt thoát
nẻo thị phi).
* Xem ao cá ở Dung Khê
Tuần
hoàn táp táp mịch giang hồ. Hoạt thủy tuy lưu,
hoạt lộ vô. Trưởng giả bất tu
trùng thí thủy, hảo tương kim cổ ứng
kim phù.
(Xoay
chuyển quẩn quanh tìm sông hồ. Nước tuy
sống động, không đường sống.
Trưởng giả[51]
chẳng cần thí nước nữa,
khéo đem dùi vàng gõ trống vàng[52]).
* Đội mưa
ngắm đầm Bạch Long
Thạch
đặng lân tuân vị dị phan. Bán khê yên vụ tỏa
huyền quan. Mỗi ai sư tọa thiên đa nhiễm. Khước
hỷ âu quần tẫn tự nhàn. Trần lụy hạnh
tùy ba dĩ thệ. Tấn my liêu tự thảo
đồng ban. Bạch long hà xứ đàm như
giám. Lưu dữ u nhân chiếu cổ nhan.
(Thềm
đá cheo leo chẳng dễ vịn. Nửa khe
sương khói lấp huyền quan. Buồn tòa
sư tử riêng nhuốm bẩn. Lại mừng
bầy âu tự an nhàn. Trần lụy may
nhờ theo sóng cuốn. Tóc mai cũng rối
tựa cỏ hoang. Rồng trắng chốn
nào, đầm như kính. Để
người u nhàn soi dáng xưa).
* Lên viện Văn Thù
ngã bệnh, phải quay về
Văn
Thù biến giới nguyên vô nhị. Hà tất
đăng cao biệt mịch chân? Hứng đáo
tiện du, hứng tận phản. Nhậm tùng mộng
lư ngạnh b́nh thân.
(Văn
Thù khắp cõi vốn không hai. Há phải
lên cao riêng kiếm chân? Hứng đến sang chơi,
hết hứng về. Mặc cho trong mộng
cứng thân bèo).
* Họa đáp bốn
bài kệ của Ngô Sán Như
1) Thâm
nhai diệc hữu Tịnh Danh cư. Tọa đối
long đàm khám lược hư. Quân nghĩ phú thi siêu Hán Ngụy.
Ngã cam độn thế ngạo Tôn Ngô. Văn Thù dĩ
kiến bất cánh kiến. Năng tổ vô thư thiện
giải thư. Thử nhật Liên Hoa phong bạn vụ.
Ưng đồng thiên tế quyển hoàn thư.
(Vách
sâu cũng có Tịnh Danh ở. Ngồi
trước đầm rồng, bắt bóng
suông. Ông toan thơ phú hơn Ngụy, Hán. Tôi cam
trốn đời, ngạo Tôn Ngô. Văn Thù
đã thấy, chẳng còn thấy. Lục
Tổ không sách, khéo hiểu kinh. Đỉnh Liên Hoa
hôm nay sương phủ. Giống hệt chân mây duỗi cuộn
thôi).
2) Sĩ
dã hoài sơn bất luyến cư. Trừng
đàm u các nhật bằng hư. Tích tùng Lộc động
tinh chiêm vụ. Kim tự ngưu đao học khải
ngô. Dĩ tiến triêu văn tịch khả ư. Cần quán
ước lễ bác văn thư. Tuyền thanh diễn kệ
bách thiên vạn. Trực hạ linh nhân kiến vơng
thư.
(Kẻ
sĩ nhớ núi, chẳng luyến chốn.
Đầm trong, gác vắng, tháng ngày thừa.
Xưa nơi hang Lộc xem tinh tú. Nay học đao trâu[53]
dạy đất Ngô. Đã hiểu ý “sáng
nghe, chiều chết”[54],
siêng xem, giữ lễ, rộng văn thư. Tiếng
suối diễn kệ trăm ngàn vạn. Thật
khiến cho người thấy lưới
chăng).
3) Hà
sự phân phân cạnh mịch cư. Đại thiên bất
dị nhất âu hư. Dăng đầu phú quư Yên minh Triệu.
Oa giác công danh Việt báo Ngô. Cử thế tận
khoa xuất cách ngữ. Vô nhân khẳng độc
phẫu trần thư. Bạch long đàm nội tuyền
thanh khiết. Địch khử trần khâm nhãn tự
thư.
(Sao lăng
xăng tranh tìm chỗ ở? Đại thiên,
bọt nước khác nhau chi? Phú quý
đầu ruồi, Yên kết Triệu. Công danh sừng
ốc Việt thờ Ngô[55].
Khắp đời đều khoe lời
xuất sắc. Không ai chịu đọc sách
phá trần[56].
Trong đầm bạch long, suối thanh khiết. Gột
sạch áo bụi, mắt mở to).
4) Bạch
ngưu xa lư khẳng an cư. Kim tích tương
phùng tự bất hư. Trạch lăo tầm sơn
phương nhập Việt. Bàng công đới bộc
hựu xưng Ngô. Đản năng
nhất bác thâu kim chú. Hà tất tam sanh tuyên thạch
thư. Ế nhãn không hoa tài triệt tận.
Thử thân hà dị tụ vân thư.
(Nơi xe
trâu trắng chịu an cư. Gặp gỡ
xưa nay chẳng huyễn hư! Cụ Trạch
tìm non vào đất Việt. Ông Bàng đội
mũ lại xưng Ngô. Đổi đèn chở
vàng hễ làm được, há phải ba
đời khắc thạch thư? Màng
mắt, đốm hoa vừa triệt sạch, thân
này nào khác mây đầu non).
* Ngồi trên lầu Hiệp
Lãng (hai bài)
1) Vũ
quá tam nhật, bộc thanh vi. Ngũ sắc đàm quang ánh
văn huy. Tọa cửu bất tri thân tại khách.
Đan phong hoàng cúc lưỡng y y.
(Mưa
hơn ba ngày, tiếng thác nhẹ. Bóng chiều năm
sắc ngời mặt đầm. Ngồi
lâu chẳng biết đang làm khách. Phong
đỏ, cúc vàng đứng song song).
2) Pháp môn
liêu lạc thiểu tri âm. Ngẫu dữ Duy Ma luận cổ
kim. Mạc quái tuyền thanh thái nhiêu thiệt.
Đê hồi nan tố lăo bà tâm.
(Pháp
môn thưa thớt, thiếu tri âm. Chợt cùng
Duy Ma luận cổ kim. Đừng trách tiếng
suối ồn ào quá. Bồi hồi tâm thiết
chẳng nên lời).
* Ngồi ở am Tây
Trúc, ngẫu nhiên soạn thành ba bài kệ
1) Đăng
quang ngũ sắc phân minh hiện. Mục sảnh vô đa
vị dị vong. Hà xứ kim bề kham tá lực,
hồng danh lục tự túc lương phương.
(Ánh
đèn năm sắc phân minh hiện. Mắt
mộng chẳng nhiều, chưa dễ quên. Nơi
nào mượn sức kim vàng chữa?
Hồng danh sáu chữ phương thuốc
lành).
2) Thố
giác khởi tu tranh khúc trực. Quy mao
bất dụng biện hoàng huyền. Tiêu minh mi lý tam thiên
giới, tức lật mang hài nhậm sở
tiện.
(Sừng
thỏ há cần tranh cong, thẳng. Lông rùa đâu phải
luận đen, vàng. Lông mày tiêu minh[57]
tam thiên giới. Gậy tay, hài cỏ mặc
tình dùng).
3) Mịch
tâm bất đắc phục điều tâm, tối
thị Thần Quang tổ ư thâm. Cần kháp sổ châu tần
hoán tuyến, linh kê chung hứa xuất dư tầm.
(Tìm tâm
chẳng được, lại điều
tâm. Tổ
dạy Thần Quang, ý rất sâu. Siêng lần
chuỗi, thay dây bao lượt. Gà thiêng rốt
cuộc thoát lửa hồng).
* Dạy Bảo Thụ
Tu hành vô xảo pháp, chỉ yếu
sanh tử thiết. Đế quán bách niên thân.
Lộ điện đồng sanh diệt. Thiên cổ đại
thánh hiền, giai tùng nhất niệm quyết. Nhất
niệm thức trọng khinh, quần vọng tự siêu việt.
Sự bất ích chân tu, hà năng cưỡng tiết
tiết? Tâm dật năi nhật hưu, tâm lao năi nhật chuyết.
Lục tự đại kinh vương, cần tụng vô
hưu hiết. Năng niệm sở niệm bổn vô
nhị, xí nhiên năng sở tương giao triệt. Thí
như vạn lư tịnh vô vân. Bách thiên giang độc
nhất luân nguyệt. Bất thị cừ hề
tận thị cừ, phi thân sơ xứ nan phân biệt.
(Tu hành không cách khéo,
chỉ cần sanh tử thiết. Quán kỹ thân
trăm năm, sanh diệt như sương, chớp.
Đại thánh hiền ngàn đời, do một
niệm dứt khoát. Một niệm biết
nặng, nhẹ; các vọng tự vượt
thoát! Chuyện chẳng lợi chân tu, sao
cứ khăng khăng cưỡng? Tâm nhàn,
ngày bèn nhàn. Tâm nhọc, ngày nặng
nề. Đại kinh vương sáu chữ, siêng
tụng chẳng ngưng nghỉ. Năng niệm,
sở niệm vốn chẳng hai. Năng sở
hừng hực xen lẫn nhau. Ví như muôn
dặm quang không mây. Trăm ngàn sông rạch một
vầng trăng. Chẳng phải các dòng
đều là suối, khó phân biệt chỗ
chẳng thân sơ).
* Đọc Mai Am Tập
ở chùa Lâm Đường
Tượng
giáo duy tŕ thế sở nan! Khả lân ma não bất
thành hoan. Mai Am nhất biến dĩ chí lỗ.
Lưu dữ chư phương tác kính khan (Mai Am
có bộ sách tên là Tượng Giáo
Tứ Duy khá có ích cho việc chỉnh
đốn thói tệ đương thời).
(Tượng
giáo duy trì, đời khó thay! Đáng
thương ma khuấy, chẳng vui lòng. Mai Am
vừa biến đã thành vụng. Lưu
lại tấm gương các phương nhìn).
* Giải đáp ý
nghĩa vô trụ sanh tâm
Sanh tâm phục
vô trụ, lưỡng cá mộc nhân đồng duệ
cứ. Vô trụ phục sanh tâm, nê ngưu ngọa thính
mục đồng ngâm. Vô trụ sanh tâm nhược
hữu nhị. Thủy ba ưng biện đông tây
vị. Sanh tâm vô trụ nhược định
nhất, nhật quang chiếu xứ ưng vô
sắc. Diệc nhất, diệc nhị,
lưỡng tương vi. Phi nhất, phi nhị,
thị hà vật? Tam thế chư Phật tuyệt bất
tri, hà huống Lãnh Nam mại sài khách!
(Sanh tâm
lại vô trụ, hai gã người gỗ cùng
kéo cưa. Vô trụ lại sanh tâm, trâu đất
nằm nghe mục đồng hát. Vô trụ sanh tâm
nếu có hai, sóng nước phân biệt
Đông, Tây
được! Sanh tâm vô trụ nếu
chắc một, nắng chiếu khắp nơi
ắt không màu! Vừa một,
vừa khác, mâu thuẫn nhau. Chẳng một,
chẳng khác, là vật gì? Ba
đời chư Phật trọn chẳng biết,
huống người bán củi xứ Lãnh
Nam!)
* Gởi tặng
Đức Thủy pháp chủ
Phẫu
tận phiên ly kiến tự tâm, khứ lai chư
Phật túc tri âm. Chi Na quốc lý vô tương
thức, khẳng bả đậu đồng
mạn bác kim.
(Chẻ
sạch giậu rào thấy tự tâm. Khứ,
lai chư Phật đáng tri âm. Trong cõi Trung Hoa không
người biết. Chịu đem đồng thau
lừa đổi vàng).
* Vườn Phù Dung
Hạm
đạm sơ tiêu liên xă danh, thập thiên thiên tử cộng
tầm minh. Dao giai hàng thụ thùy châu vơng. Bảo ngạn
lâu đài ánh thạch thành. Vô số diệu hoa cung Phật
sự. Kỷ đa Xuân sắc đạm trần t́nh.
Tràng vương tối hỷ hương hà nhiễu.
Phu tọa thời văn pháp nhạc minh.
(Sen
thắm vừa nêu tên liên xã, mười
ngàn thiên tử cùng kết minh. Hàng cây
thềm ngọc, lưới châu rủ. Bờ
báu lâu đài rực thạch thành. Vô
số diệu hoa làm Phật sự. Bao nhiêu Xuân
sắc nhạt trần tình. Tràng vương
vui nhất sông
thơm cuộn. Ngồi xếp bằng
nghe nhạc pháp rền).
* Ghi tại am Đại Tô (hai
bài)
1) Đồi
viên tiểu lộ bệ la môn. Điền bạn y hy kiến
biệt thôn. Nguyệt đáo bất tri thiềm ngoại
bạch. Vũ dư do đổ bích gian ngân. Nhất khám
Phật hỏa minh kiêm muội. Bán tòa bồ
đoàn lănh diệc ôn. Biến Cát nguyện vương
cần triệt dạ. Hương yên đôi lý độ
thanh hồn.
(Tường
sụp, sương nhỏ cửa rêu phong. Ven ruộng
lơ thơ thấy mấy thôn. Trăng rọi
chẳng hay ngoài thềm sáng. Vách còn in
dấu vệt mưa hằn. Một tòa Phật
khám đèn mờ tỏ. Nửa chiếc
bồ đoàn lạnh ấm chen. Nguyện vương
Biến Cát thâu đêm tụng, nơi gò
hương khói độ thanh hồn).
2) Trực
hướng Tu Ma lễ nguyện vương.
Khẳng tùng trần thế tá huỳnh quang. Môn
thường trú yểm thất sanh bạch. Tê tác
thần xan diện dục hoàng. Duy hữu bối đa
hằng ngụ mục. Cánh vô ta tử tạm
quan trường. Sa Bà tuế nguyệt tiêu ma
tận. Châu táp câu thời hỏa trạch lương.
(Hướng
thẳng Lạc Bang lễ nguyện vương. Chịu
mượn ánh đóm nơi cõi trần.
Cửa thường đóng chặt,
thất mờ trắng. Bữa sáng rau
dưa, mặt nhuốm vàng. Chỉ có kinh
văn thường xem đọc. Chẳng còn
chi khác tạm no lòng. Sa Bà ngày tháng tiêu
mòn hết, nhà cháy bốn phía vẫn thanh
lương!)
* Hai bài kệ vào
núi
1) Đấu
tránh nhai sài bất nhẫn văn, tiêu minh mi lư tận
phù vân. Tông phong đoạn tục hà quan ngã.
Giáo võng thỉ trương nhất nhậm quân. Thực
giới tiện khuy không giới huưnh. Phẫu trần phương
tín đại thiên văn. Như Lai huệ mạng đồng
chân tế. Tiếu sát tùng tiền hà ẩm phân.
(Đấu
đá, cắn xé chẳng nỡ nghe.
Nơi mày tiêu minh, sạch phù vân. Tông phong
đứt nối, ta không quản.
Lưới giáo căng chùng để
mặc ông. Hạt cải liếc nhìn không
giới thẳm. Chẻ trần mới tin kinh
đại thiên. Như Lai huệ mạng như chân tế.
Cười chết xưa kia tự cách
ngăn?)
2) Nhiễm
tập nan vong mỗi tự bi. Điều tâm vô thuật kỷ
nhân tri? Phù danh hà
dị trảm đầu kiếm, nghịch cảnh thành vi
quyết mạc bề. Cốt nhục thủ khâu đồng
dă thú. Ca-sa đăng lũng tự ưu nhi. Sơn linh
mạc tiếu quy lai văn, bệnh vị cao hoang
thượng khả y.
(Tập
nhiễm chưa quên luôn xót xa. Không cách điều
tâm, mấy kẻ hay? Hư danh nào khác gươm
chém cổ. Nghịch cảnh thật kim nạo
mộng màng. Xương thịt vùi chôn như
dã thú. Ca-sa tranh lợi tựa kép
tuồng. Núi thiêng đừng nhạo quay về
muộn, bệnh chửa ngặt nghèo vẫn
trị lành).
* Nhìn mưa bên song,
ngẫu nhiên vịnh hai bài kệ
1) Nhất
ngọa Linh Phong vạn lự hôi. Thiềm thanh
trích trích ấn thương đài. Dĩ vong
thế thượng hồ tung nhiễu, đản thính
lâm gian điểu ngữ ai. Dă lăo sạ phùng thương
giá sắc. Sơn nông thường cộng bốc phong lôi.
Tuyên Ni nhậm xích Phàn Tu tiểu, ngã giảo thừa
phù hữu thủ tài.
(Nằm
tại Linh Phong muôn sự lạnh. Hiên mưa
từng giọt, vết rêu xanh. Quên bẵng
cõi đời luôn khuấy nhiễu. Vẳng
tiếng chim rừng buồn hắt hiu. Chợt
gặp cụ già bàn nông vụ, nông dân
thường đoán quẻ Phong Lôi. Mặc cho
Khổng Tử chê tiểu trí. Tài ta chỉ
có ngần ấy thôi[58]).
2) Tiếp
tuần phong vũ khiếp xuân hàn. Sàng chiết tâm an, mộng diệc
an. Bán thế phù danh đồng thóa ủy. Dư
sanh khóa nguyện dữ thời hoàn. Triển khai cổ
tạng phi văn tự. Duyệt tận kim thời
nghiệm phế can. Thiên ngoại cử đầu thùy
tự thử. Dạ lai cao chẩm nhật gia xan.
(Mưa
gió mười ngày, sợ Xuân lạnh.
Giường gãy, tâm an, mộng cũng an.
Nửa kiếp hư danh như mũi rãi.
Đời thừa công khóa nguyện siêng
làm. Lật mở tạng xưa, chẳng
văn tự. Xem trọn thời nay, nghiệm
cõi lòng. Ngoài trời ngẩng đầu,
ai giống vậy? Đêm thì ngủ kỹ, ngày
thì ăn).
* Ngày Hai Mươi
Bảy tháng Năm bệnh nặng, vừa
mới hết bệnh bèn ngẫu nhiên viết ba
bài kệ
1) Sơn
thâm nhật thính thủy mạn mạn. Tiểu Thử
y nhiên tự Tiểu Hàn. Vô
ý tỵ nhân, nhân dĩ tỵ. Hữu tâm san bệnh,
bệnh nan san. Ngọa
dư thập trú cam tùy tử. Thống triệt thiên cơ,
khổ giảo khoan. Tàm quý quy tình do vị quyết.
Hựu tùng dữ nhị hoạch khinh an.
(Non sâu nghe
tiếng nước rì rào. Tiểu Thử
vẫn như tiết Tiểu Hàn. Vô ý tránh
người, người đã tránh.
Có tâm trừ bệnh, bệnh khôn trừ.
Nằm mười mấy hôm, cam
chờ chết. Đau thấu ngàn xương,
khổ bớt dần. Hổ thẹn vì tình
kiến chưa quyết. Lại do thang thuốc
được khinh an).
2) Như
hà duyệt tạng tiện chiêu ma, thận tật thiên
linh tật cánh hà. Thứ phá cách nang vô
nhất tịnh. Doanh lai hoại tưởng lược
thành khoa. Hổ hàm khuyển tử thâu viên khứ. Đ́nh
măn đài văn cự khách quá. Tuyệt hậu tái tô hồn
tự mộng. Tịch dương tà ánh tấn mi bà.
(Duyệt
tạng vì sao lại chuốc ma? Thận trọng
khiến
bệnh càng nặng hơn. Nhìn
thấu túi da toàn bất tịnh. Đạt
được hoại tưởng tạm rành
rành. Hổ vào ngậm chó vượt
tường nhảy. Rêu phủ đầy sân, khách
chẳng qua. Chết ngất tỉnh rồi, hồn
tợ mộng. Bóng chiều soi bạc tóc, lông
mày).
3) Cập
môn chư tử tịnh thiên nhai. Nghĩ tác di thư,
bút dục tà. Bí tạng khởi nan khai nhục nhãn.
Hội Quyền
chung khủng trệ ngưu xa. Xuy tha khổ tránh toàn mê phiệt.
Khánh ngã thâu an biệt hữu sa. Bệnh
thoái thân nhàn, trùng triển tạng. San hô kích
toái xán vân hà.
(Đệ
tử hiểu đạo xa cách cả. Toan viết
di thư, bút sắp cùn. Bí tạng há
khó khai nhục nhãn? Hiểu Quyền lại
sợ vướng xe trâu. Cười
người tranh cãi toàn mê muội. Mừng
ta trộm an, riêng có bè. Bệnh lui, thân nhàn, lại
duyệt tạng. San hô đập nát, ráng mây
ngời).
* Bệnh dậy, viết
sáu bài kệ cảnh sách
1) Huyễn
thân mộng thế, sát-na thiên thệ, xu hướng tử
môn, như tù phó quế. Biện trí thần thông, hà
năng sảo chế? Duy hữu tŕ danh, tư vi thượng
kế.
(Huyễn
thân, đời mộng. Sát-na qua đi, tiến
hướng nẻo chết, như tù chịu chém.
Biện tài, trí huệ, thần thông, sao có
thể hơi áp chế? Chỉ có trì danh,
chính là tuyệt kế).
2) Tứ
đại lục t́nh, duy khổ tương anh. Nhất
cú Phật danh, như hoàng xuất thanh. Hư không khả
vẫn, danh đức phất khuynh. Bất sanh bất diệt,
bổn tự viên thành.
(Tứ
đại lục tình, chỉ khổ nhiễu
nhương. Một câu Phật hiệu, như sáo vang
tiếng. Hư không có thể tiêu, hồng danh
đức chẳng động. Bất sanh, bất
diệt, vốn tự viên thành).
3) Bệnh
khổ kư kịch, thế lệ bi hào. Loại bỉ nhụ
tử, thủ tiếu đồng tào. Túc nghiệp sở
trí, ninh cảm tự thao. Thứ
ky từ phụ, ai thử trần lao.
(Bệnh
khổ nguy ngập, ứa lệ, buồn rên. Giống
như trẻ nít, đồng bạn chê cười. Túc
nghiệp cảm vời, há dám ẩn tàng?
Ngưỡng mong từ phụ, thương xót
trần lao).
4) Thống
kư nan thoát, phát tâm đại khổ. Dĩ nguyện đại
khổ, hà hựu cầu dũ? Tánh phi dị
đồng, t́nh đệ tam ngũ. Thoát tắc câu thoát, dụ
ngã từ phụ.
(Đau
đã khó thoát, phát tâm chịu khổ thay.
Đã nguyện chịu khổ thay, há còn cầu
lành bệnh? Tánh chẳng đồng, khác,
tình luôn biến hóa. Thoát thì đều
thoát, kêu cầu từ phụ).
5) Cách
nang thịnh uế, hà hữu khả ái? Huống phục
sang môn, kỳ ác di bội! Tích kiếp si mê, trầm
nịch phất hối. Nhất niệm văn tư, ma
quân vĩnh thoái.
(Túi da
đựng dơ, có gì đáng yêu?
Huống lại cửa ghẻ, xấu ác bội
phần! Bao kiếp si mê, chết chìm chẳng
hối. Một niệm Văn Tư, ma quân mãi lui).
6) Ta nhĩ
huyễn khách, thính ngã hối ngôn. Vật thị
huệ giải, sơ thử Định môn. Nhật
càn tịch dịch, thành tánh tồn tồn. Phó nhĩ
sơ chí, báo nhĩ thâm ân.
(Chao ôi
huyễn khách, nghe lời tôi khuyên. Đừng
cậy huệ giải, lơ Định môn này.
Ngày đêm gắng công, cẩn trọng
chẳng nhác, khiến thành bẩm tánh.
Ứng chí ban đầu, báo đền ân sâu).
* Duyệt Tạng xong,
ngẫu nhiên viết hai bài kệ
1) Phật
ngữ hà thường ly Phật tâm. Thiền lưu
nghĩa học uổng trầm ngâm. Bách thiên công án thủy
tẩy thủy. Bát vạn Tu Đa kim bác kim. Duyệt tận
thỉ tri vô nhất tự. Phách manh an khả thấu
trù lâm. Mă Minh, Long Thọ tuy nan xí. Trí Giác
phương tung thứ hứa tầm.
(Phật
ngữ há từng lìa Phật tâm? Nhà
Thiền, nghĩa học uổng trầm ngâm. Trăm
ngàn công án: Nước rửa
nước. Tám vạn khế kinh: Vàng đổi
vàng. Đọc hết mới hay không một
chữ. Mò mẫm rừng hoang há vượt
ư? Mã Minh, Long Thọ tuy khó kịp. Theo gót
Trí Giác chắc có phần).
2) Sơn
pḥng tiễu tiễu tuyệt âm thư. Túng hữu
Đào Nguyên khủng bất như. Triển quyển
phân minh duy nhất sự. Xuất môn hà dụng
mịch tam xa. Hoàng hoa biến địa phô tân cảnh. Thúy
trúc tham thiên ủng cựu cư. Bát Nhã Chân Như
hưu nghệ ngữ. Cơ xan, khát ẩm nhậm
cuồng sơ.
(Sơn
phòng lặng lẽ, bẵng tin đưa.
Dẫu có Đào Nguyên, sợ vẫn thua!
Lật quyển, phân minh chỉ một sự. Ra
cửa há cần tìm ba xe? Hoa vàng
khắp đất, phô cảnh mới. Trúc
biếc rợp trời, phủ chốn xưa.
Bát Nhã Chân Như thôi nói mớ. Đói
ăn, khát uống mặc cuồng sơ!)
* Nhìn mưa
trước song, viết bốn bài kệ
tự khuyên nhủ (Ngày Mười Chín
tháng Mười)
1) Vạn
nhẫn hàn nham khô mộc thân. Mộng hồn cao ấp tạ
phương xuân. Phật danh tín thị thiên sanh bạn. Phạm
sách nguyên phi ngũ nhãn trần. Thực mẫu bà hòa
liên bệnh tử, càn khôn lăo đại tiếu ky nhân. Diêm Phù
hà xứ tầm tri kỷ? Độc ký thanh
tư lạc nhật tân.
(Đá
lạnh muôn tầm, thân héo hon. Mộng hồn cao
tít tiết dương xuân. Tin chắc Phật danh,
ngàn đời bạn. Kinh Phật há phải
ngũ nhãn trần? Bà bếp càm ràm
thương kẻ bệnh. Càn khôn lão đại
trách chê người. Diêm Phù tri kỷ tìm
đâu tá? Đành gởi lòng nơi
bóng nhật chìm).
2) Bàn khúc
xư tài dữ thế vi. Tự hân tùng vị đạo
thời cơ. Hứng lai cử thủ khan hoàng diệp.
Quyện khứ chi di tống lạc huy. Vô khách bất
tu thương dă soạn, Hữu phong liêu phục
bị thuần y. Lai mâu trản phạn thiên di ngã.
Tuyệt thắng đương niên phú thái vi.
(Cây xư
cong vẹo trái nghịch đời. Tự
mừng xưa nay chẳng xu thời.
Hứng lên ngẩng đầu nhìn lá úa.
Mệt bèn chống má, ngắm chiều tà.
Không khách, chẳng cần lo cơm mọn.
Gió lùa chểnh mảng, khoác y sờn.
Chén cơm tiểu mạch trời cho
hưởng. Hơn hẳn năm nào nuốt
nắm rau).
3) Bách
niên thuấn động kế hà trường? Bưu
ký phân phân khách mộng cuồng. Lai khứ vị
tri sanh tử tịch. Hiền ngu thiên tránh thị phi mang. Lê
hoa kiệp điệp yêu thành quả. Liễu nhứ
mao cầu bội tác đang. Thâu dữ thâm sơn nhàn nạp
tử. Sổ châu bách bát lý quy trang.
(Trăm
năm chớp mắt, có gì lâu? Thư
gởi lung tung, khách mộng cuồng. Đến,
đi chẳng biết, sanh tử lặng.
Hiền ngu lo cãi thị phi suông. Hoa lê bướm
lượn mong thành quả. Tơ liễu
xoắn tròn kết làm vòng. Chở
đến non sâu, sư rảnh rỗi. Tràng hạt
trăm tám làm hành trang).
4) Cực
hóa cùng thần giai vọng tưởng. Hoán hồi vọng
tưởng, tưởng Như Lai. Đản linh đương
niệm nhất thanh thiết. Tiện giác tùng
tiền vạn lự hôi. Tiệt đoạn khứ
lai minh ám cú. Kết thành Thật Báo, Tịch Quang phôi.
Duy tâm tác Phật, duy tâm thị. Bất giả châm
chùy chánh nhãn khai.
(Cực
hóa, cùng thần đều vọng
tưởng. Chuyển xoay vọng tưởng,
tưởng Như Lai. Chỉ cần một tiếng
đương niệm thiết. Liền giác muôn lo
thuở trước tan. Cắt đứt
đến đi, câu sáng tối; kết mầm
Thật Báo với Tịch Quang. Duy tâm làm
Phật, duy tâm Phật. Chẳng nhọc cặp
rèn, chánh nhãn khai).
* Ngồi một mình
viết hai bài kệ cảm hoài
1) Khắc
kỳ thủ quả chí. Tàm quý vị năng
thù. Bệnh hậu tri thân khổ. Bần lai huyễn
tưởng hưu. Đản tương tam tế niệm,
tổng phụ Tứ Hoằng châu. Đàn chỉ
quy An Dưỡng. Diêm Phù bất khả lưu.
(Hẹn
kỳ mong chứng quả, hổ thẹn chưa
thể thành. Bệnh rồi biết thân khổ.
Nghèo túng, huyễn tưởng tan. Chỉ
nghĩ nhớ ba đời, luôn nương
thuyền Tứ Hoằng. Khảy tay về An
Dưỡng, Diêm Phù chẳng thể lưu).
2) Bán
thế khuynh trường phủ. Liêu liêu hữu
kỷ tri? Thứ ky tam nhị tử. Úy ngã
bán sanh tư. Xả tận tùng tiền đắc,
phương khai cách ngoại kỳ. Ân cần mạt hậu
cú, hề thí thử ly thi.
(Nửa
đời dốc gan ruột, thưa thớt
mấy ai hay? Mong sao đôi ba người, an ủi tôi
nửa đời. Bỏ sạch trước
kia đạt, mở toang chuyện lạ
thường. Câu ân cần sau cuối, nào khác
thơ Thử Ly[59]).
* Khẩu hiệu trong khi
bệnh (ngày Mười Tám tháng
Mười Một)
Hạ bệnh
bất tri thử. Đông bệnh bất tri hàn. Dạ
trường tự tiểu kiếp. Thống
liệt như đao sơn. Nhân gian thượng phục
nhĩ, hà huống tam đồ gian. Quy mạng đại
từ phụ, tảo xuất Sa Bà quan.
(Hè
bệnh, chẳng biết nóng. Đông ốm,
chẳng biết lạnh. Đêm dài như tiểu
kiếp. Đau xé như núi đao. Nhân gian còn
như thế, hà huống trong tam đồ! Quy
mạng đại từ phụ, sớm
vượt ải Sa Bà).
* Ngẫu nhiên viết trong khi
bệnh (Ngày Mồng Ba tháng Chạp)
Nghiệp
duyên tùng thốc bệnh duyên tần. Thống khổ thân
ngâm triệt mộ thần. Tảo phát Bồ Đề do nhược
thử, vị toàn chánh tín nghĩ thùy
thân? Thân kinh cửu tử hồn vong lực. Tâm
bổn vô sanh độc tự chân. Danh tự
vị trung chân Phật nhãn. Vị tri tất cánh
phó hà nhân?
(Nghiệp
duyên dồn dập, bệnh duyên nhiều. Đau
đớn kêu rên suốt sáng đêm. Sớm
phát Bồ Đề còn như vậy, chưa
tròn chánh tín nghĩ gần ai? Thân chết
chín phen, gần kiệt sức. Tâm vốn vô sanh, riêng
tự chân. Chân Phật nhãn nơi danh tự
vị, giao phó cho ai biết được đâu?)
* Bệnh nặng
vừa mới dậy, cầu sanh Tịnh
Độ (sáu bài)
1) Diêm Phù
bách khổ trấn tiên ngao. Lại hữu Ma
Đề lộ phỉ dao! Lục tự hồng danh chân pháp
giới. Nhất thanh phàm niệm hải toàn triều.
Trược lưu thốn thốn thanh châu ánh. Ám
thất trần trần bảo cự chiêu. Thiên cổ Đông
Lâm phong vị trụy. Bất tu phương tiện tự
hoành siêu.
(Diêm
Phù trăm khổ thường nung nấu.
Nhờ có Lạc Bang nẻo chẳng xa! Sáu
chữ hồng danh chân pháp giới. Một
tiếng phàm niệm, biển sôi trào.
Nước đục từng tấc, thanh châu
rạng. Phòng tối bụi trần, đuốc
báu soi. Muôn thuở Đông Lâm phong cách rạng,
chẳng cần phương tiện, tự
hoành siêu).
2) Trầm
kha nguy đốc thị ngô sư. Tiêu khước tùng
tiền đa thiểu si. Dĩ phá bách niên nhàn
hoạt kế. Định khai trần kiếp đại
thông quỳ. Dao chiêm lạc nhật tăng ai mộ. Mộng
lễ từ dung trưởng trí bi. Lục bát nguyện
vương hằng nhiếp thủ. Kim liên dục chất
khả vô nghi!
(Bệnh
ngặt trầm kha: Thầy ta đó. Tiêu mất bao
nhiêu si trước kia. Đã phá kế trăm
năm an nhàn sống. Quyết mở
đường lớn trần kiếp thông. Xa
ngắm ngưỡng mộ vầng dương
lặn. Mộng lễ từ dung, lớn trí bi.
Bốn tám nguyện vương luôn nhiếp thủ.
Sen vàng gởi chất chẳng còn
ngờ!)
3) Tŕ danh
chân thật thị đơn truyền. Niệm niệm
viên thành thâm diệu Thiền. Năng sở bổn lai
vô nhị thể. Quả nhân giao triệt tức trùng
huyền. Quảng trường thiệt tướng
kiên chân tín. Châu biến thân quang kết pháp duyên.
Thái sự phân minh duy thử sự. Đồng
nhân cộng sách tổ sanh tiên.
(Trì
danh chân thật là đơn truyền. Niệm niệm
viên thành thâm diệu Thiền. Năng sở vốn
sẵn chẳng hai Thể. Quả nhân xen thấu,
càng thêm huyền. Tướng lưỡi
rộng dài, tin chắc thật. Thân quang
khắp trọn, kết pháp duyên. Mọi chuyện
phân minh riêng chuyện này. Đồng nhân cùng
thúc roi tổ truyền).
4) Bệnh
kinh lũy nguyệt bì triền cốt. Phảng
phất minh đồ bệ lệ đa. Tỳ
nhược tiện nhân cam lục vị. Căn doanh
cần ngã thuận tam hòa. Hiên Kỳ kỹ
lưỡng phi song thiện. Đao Lợi tô-đà
nại dị kha. Tối thị Lạc bang từ phụ
nguyện, hàm sanh vĩnh vĩnh ly trầm kha.
(Bệnh
trải nhiều tháng, xương bọc da.
Từa tựa u đồ ngạ quỷ thân.
Tỳ yếu, phục người nếm sáu
vị. Căn suy, ta chỉ thuận tam hòa. Tài
nghệ Hiên Kỳ[60]
không giỏi cả. Tô-đà[61]
Đao Lợi kiếm đâu ra? Cha lành Cực
Lạc nguyện cao nhất, hàm sanh vĩnh viễn
lìa trầm kha).
5) Cửu
hướng A Di thệ lực thâm. Phù sanh vô nại
nhiễm tương xâm. Văn thanh kiến sắc đa
vong niệm. Kế hậu tư tiền chuyển muội tâm.
Thống cực sắc thanh duyên tự đoạn.
Bệnh nguy tiền hậu ảnh phương trầm. Cô
minh lục tự toàn đề xuất. Bách thú
quần trung sư tử âm.
(A Di
Đà thệ lực sâu dày, hiềm
đời phù phiếm tập khí nhiễm.
Thấy sắc, nghe thanh, niệm bẵng quên. Lo
trước, tính sau tâm tối mịt. Đau
tột, sắc thanh tự đoạn duyên. Bệnh
ngặt trước sau trần ảnh lặng.
Sáu chữ riêng sáng nêu toàn vẹn, âm thanh
sư tử giữa trăm loài).
6) Càn
Huệ sơ càn, nghiệp vị khô. Bệnh thâm vô kế
khả chi ngô. Xưng danh bất dị nhi hào nhũ.
Sám tội hà thù tù phục cô. Sạ khánh thử
thời phương đắc chủ. Cánh
tàm lịch kiếp uổng thành bô. Đinh ninh pháp lữ
cần tương trợ, cộng giải luân vương
kế lư châu.
(Càn
Huệ vừa khô, nghiệp chửa khô. Bệnh sâu
không cách nói hàm hồ. Xưng danh chẳng
khác trẻ đòi sữa. Sám tội
khác nào tù thọ hình. Chợt
mừng lúc ấy được làm
chủ, lại thẹn bao kiếp uổng trốn lìa.
Đinh ninh pháp lữ siêng tương trợ, cùng
tháo châu nơi búi tóc vua).
* Tặng Vương
Tuyết Hữu
Thù Tứ
nguyên tùng Thứu lãnh lai. Duy tâm nhất ngữ
chánh truyền khai. Thánh cuồng cứu cánh do
đương niệm. Thuấn, Chích hà thường
bẩm dị tài? Tự tích linh căn cảnh kư cửu.
Nhi kim chánh tín phát ưng khôi. Văn nhân huệ
nghiệp nguyên vô nhị. Hảo bả gia thanh tục lăo Bùi.
(Thù,
Tứ bắt nguồn từ núi
Thứu. Một lời duy tâm chánh truyền
khai. Thánh, cuồng rốt ráo do đương
niệm. Thuấn, Chích chưa từng vốn
khác tài. Từ xưa linh căn sẵn
tồn tại, chánh tín nay nên phải phục
hồi. Văn nhân, huệ nghiệp không hai lẽ,
tiếng thơm hãy khéo nối lão Bùi).
* Trừ tịch năm Giáp
Ngọ (1654)
Đông,
Tây, Nam, Bắc uổng tư thư. Sạ tức
cuồng tâm phục cựu cư. Chánh hỷ trúc
tuyền bất dụng măi. Na kham tật sấn
cửu nan khư. Lực tùng chẩm tịch tiêu ma
tận. Tâm hướng hoa đài tất cánh thư. Tiến
thủ bảo tŕ xuân phú lạc. Tùng tư bần dữ
bệnh câu trừ.
(Đông,
Tây, Nam, Bắc uổng chần chừ. Chợt
dứt cuồng tâm, lại ở yên. Mừng
vì suối trúc không cần sắm, kham chịu
bệnh tật lâu khó trừ. Tận sức
nằm xoài, tiêu bệnh tật. Đài hoa tâm
hướng ổn an lòng. Ao báu tiến
nhập, xuân phơi phới. Khó nghèo, bệnh
tật thảy đều trừ).
* Hai bài kệ nhân Nguyên
Đán năm Ất Mùi (1655)
1) Bộc
trúc thanh truyền u cốc Xuân. Tương tùng thúy trúc
tổng duy tân. Tuyền tùng Long Thọ vị như mật.
Thạch trấn hùng phong đài tự lân. Khóa tục tam
thời tiếp liên lậu. Luận khai bách bộ,
nghĩ Thiên Thân. Huống kiêm dĩ kết Đông Lâm
Xã. Đồng chí vô phi Pháp Tạng thần.
(Pháo
trúc báo Xuân nơi hang vắng. Tùng xanh,
trúc biếc thảy tươi vui. Suối từ
Long Thọ vị như mật. Đá trấn Hùng
Phong phủ vảy rêu. Khóa tụng ba thời không
gián đoạn. Luận khai trăm bộ phỏng
Thiên Thân. Huống còn đã kết Đông Lâm
Xã. Đồng chí đều là dân Di
Đà).
2) Pháp
Tạng đương niên nguyện lực hoằng.
Ư kim khoáng kiếp hữu đồng hành. Tuế
triêu tuyển Phật quy viên giác. Nguyệt dạ
truyền đăng hiển tánh minh. Vạn trúc tịnh
triêm tân lệnh tảo. Thiên mai dĩ lộ cựu
phương anh. Chư nhân ưng tín ngô vô ẩn. Khoái
dữ cao hiền kế túc minh.
(Pháp
Tạng thuở ấy nguyện lực rộng.
Tới nay bao kiếp có đồng hành.
Sáng thì tuyển Phật về viên giác. Tối
lại truyền đăng, tánh sáng bày. Muôn
trúc thấm nhuần sáng Xuân mới, ngàn
mai lộ vẻ cũ xinh
tươi. Mọi người tin tưởng tôi
không ẩn. Chóng tiếp ước cũ
với cao hiền).
Bộ
sách này gồm mười quyển, năm
Bính Thân (1656) khắc in tại Tân An
được ba quyển rưỡi.
Người xướng suất đầu tiên
là ông Diệp Tịnh Diễn (quyên hai mươi
lượng), trợ duyên thì có Thích Tri
Tuần, Lý Chi Vỹ (quyên mười
lượng), Hồ Công Trứ (quyên mười
lượng), Bảo Như Hàn, Ngô Tịnh Trí
v.v… Tiếp đó có Diệp Chân Ngạn (quyên
năm mươi lượng), Tô Khai Tộ (quyên
bốn mươi lượng), Ngô Tịnh Địch
(quyên mười lượng), ba vị hiệp
lực khắc sáu quyển rưỡi. Do
vậy, sách được hoàn thành. Cảm
kích pháp duyên chẳng dễ dàng. Ghi đại
lược tên tuổi như trên. Còn như họ
được hưởng phước huệ
trang nghiêm, đều có công đức xứng tánh
tồn tại, bút mực chẳng thể
diễn tả muôn một.
Năm Kỷ Hợi (1659) tháng
Mười Một, Thành Thời chắp tay
kính đề.
Linh Phong Tông Luận
Trọn
bộ
Hồi Hướng
Trong quá trình chuyển
ngữ, do kiến thức kém cỏi, do tâm
chưa chuyên nhất, thanh tịnh, chắc chắn mạt nhân sẽ
phạm phải những sai lầm khó thể tha
thứ được, chỉ xin chí tâm sám
hối, nguyện những ai hữu duyên đọc
đến bản chuyển ngữ này sẽ không
câu nệ văn từ, tự cảm nhận
được các ý nghĩa trân quý trong
lời dạy của Tổ, không vì từ
ngữ vụng về, thô kệch của
người chuyển ngữ mà hiểu sai
ý Tổ. Nếu việc làm liều lĩnh này
có chút công đức nào,
đều xin hồi hướng về quá
khứ hiện tiền phụ mẫu, sư
trưởng, thiện ác tri thức, oán
thân trái chủ, các đạo hữu
Đức Phong, Huệ Trang, Diệu Âm Trịnh Lộc
cùng sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Nguyện những ai thấy nghe,
dù tùy hỷ hay quở trách đều
được thân tâm an lạc, đạo nghiệp
tăng trưởng, vun bồi phước
huệ, vững tin vào bổn nguyện của A Di
Đà Phật, lâm chung sẽ về thẳng
Lạc Bang.
Bửu Quang Tự đệ
tử Như Hòa đê đầu kính bạch.
(hoàn thành cảo bản ngày 14
tháng 11 năm 2025)
[1] Huân phong (薰風) là gió từ hướng Đông Nam
thường thổi vào đầu mùa Hạ, có
đặc tánh ấm
mát.
[2] Kiền chùy (犍椎): Các loại pháp khí
để gõ trong tự viện như chuông,
trống v.v…
[3] Triệu lão tức
là ngài Triệu Châu Tùng Thẩm, nổi
tiếng với một thành ngữ “Triệu
Châu bát thập do hành cước” (Triệu
Châu tám mươi tuổi vẫn hành
cước).
[4] Hiếp tôn tức là
Hiếp tôn giả (Pārśva)
là một vị tôn giả trứ danh. Tương truyền Ngài
là thầy của Mã Minh Bồ Tát. Ngài
thường tọa Thiền, không đặt lưng nằm
xuống ngủ, nên gọi là Hiếp tôn giả
(Hiếp là cái hông). Ngài đã khuyến
thỉnh vua Ca Nị Sắc Ca (Kaniṣka) đệ
nhất của vương triều Quý Sương (Guṣāṇa-vaṃśa,
Kushano) kết tập kinh tạng lần thứ tư.
[5] Sát trần: Số
vi trần trong một cõi Phật. Tướng
sát trần tức là các tướng
có số lượng nhiều như số vi
trần trong một cõi Phật.
[6] Hy Hà tức là
nói gọn của “Hy hà khai biên” (còn
gọi là Hy Hoàng khai biên) là nói tới
chiến dịch mở rộng biên cương,
khởi đầu niên hiệu Hy Ninh thời
Tống Thần Tông, dưới sự chỉ
đạo của Vương An Thạch, phát
động tại sáu châu Đãng, Điệp,
Thao, Dân, Hà, Lâm (Hy châu) nhằm bao vây Tây Hạ
với ý đồ tiêu diệt Tây Hạ. Chiến
dịch này kéo dài sáu mươi năm, các
vùng đất cứ chiếm được rồi
lại bị mất, khiến nhà Bắc Tống
suy yếu dần.
[7] Trang Châu (Trang Tử)
từng nằm mộng thấy mình hóa
thành bướm.
[8] Tức thuốc A Già
Đà, thần dược bậc nhất trong
thần thoại Ấn Độ.
[9] Ngỗng chúa biết
chọn sữa để uống, chừa
nước lại.
[10] Đồ thán (塗炭) nghĩa đen là bùn lầy và tro than,
tỷ dụ chốn ô trược, hoặc nói
rộng là cảnh lầm than, khốn khổ.
[11] Trong kinh Lăng Nghiêm,
đức Phật Thích Ca dùng các ngón
tay nắm lại thành quyền (nắm
đấm), xòe ra thì “quyền”
chẳng còn nữa, Ngài
dùng thí dụ này để sánh ví tướng
hữu vi hư huyễn.
[12] Bại Bắc có
nghĩa là “chiến bại, thất bại”. Do khi thua
trận, quân lính tháo cháy, xoay lưng về
phía địch quân, nên chữ Bối (lưng)
bị đọc trại thành Bắc.
[13] Tử Lộ là
tên tự của Trọng Do, còn
gọi là Quý Lộ. Ông là người
đất Biện, nước Lỗ, là học
trò đắc ý của Khổng Tử,
được xếp vào hàng Thập Triết. Ông
nhỏ hơn Khổng Tử chín tuổi, cũng
là học trò theo hầu Khổng Tử lâu
nhất. Về sau, ông trở thành gia thần
của Khổng Lý (đại phu nước
Vệ). Khi nước Vệ có nội loạn, do
tận lực cứu Khổng Lý, ông bị
giết chết. Vệ Hậu Trang Công đã ra
lệnh bằm nhuyễn xác ông. Trọng Do
thuở nhỏ nghèo hèn, ông thường
phải đi xa đội gạo để mua gạo cho
rẻ về cho cha mẹ ăn, còn chính mình
ăn rau dưa đỡ lòng. “Mền
Tử Lộ” ở đây ý nói áo rách
rưới, vá chằng vá đụp.
“Quý Tử hoàn” (季子紈, lụa
nõn của Quý Tử). Quý Tử
tức là một trong ba dòng họ quý
tộc tại nước Lỗ, quyền hành
rất lớn, thao túng triều chánh
nước Lỗ. Quý Tử là danh xưng để gọi con cháu của Quý Tôn Thị.
Do Lỗ Hoàn Công (Cơ Doãn) có bốn
người con trai. Người con đầu
là thái tử Cơ Đồng (về sau lên
ngôi thành Lỗ Trang Công). Những người
con kế tiếp là Cơ Khánh Phụ
(thường gọi là Mạnh Tôn), Cơ Thúc
Nha (Thúc Tôn), và Cơ Hữu (Quý Tôn). Khi
Lỗ Trang Công lên ngôi, đã phong cho ba
người em làm đại phu,
và trao cho họ nhiều quyền hành, khiến
họ thừa cơ lấn áp vua, đấu
đá lẫn nhau. Sử gọi họ là Lỗ Tam Hoàn.
[14] Nhĩ diễm (爾燄) là phiên âm của chữ Jñeya, có nghĩa là cảnh
giới, trí mẫu, hoặc trí cảnh.
[15] Ý nói làm chuyện vô ích, hư huyễn, vì
sức người không thể thổi lay
động ánh sáng được.
[16] Mũi kim và hạt cải rất
bé, khó thể dùng kim găm đúng hạt
cải. Do vậy, nhà Thiền dùng hình ảnh
mũi kim găm hạt cải để sánh ví
cơ duyên ứng hợp, thầy vừa
dạy trò liền
hiểu đạo ngay.
[17] Trong phẩm Hiện Bảo
Tháp của kinh Pháp Hoa, khi đại chúng
muốn thấy toàn thân của Phật Đa Bảo,
đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
đã ba lượt biến hóa, khiến cho tam
thiên đại thiên thế giới Sa Bà thành
thanh tịnh. Ngài dời trời,
người, địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh, núi non, hang hốc v.v… sang nơi khác,
biến hóa các cõi thanh tịnh kèm thêm vào
thế giới Sa Bà để dung chứa phân
thân của Phật Thích Ca trong mười
phương thế giới. Khi đó, Trí
Tích Bồ Tát là thị giả của Đa
Bảo Phật, đã gạn hỏi Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát về chuyện giáo
hóa, Văn Thù Bồ Tát thuật chuyện
Ngài giáo hóa tại long cung, đã
nhắc đến long nữ là con gái vua
rồng Sa Kiệt La mới tám tuổi mà
có thể lãnh hội kinh Pháp Hoa. Long nữ
bèn hiện thân trong pháp hội, cúng
dường Phật Thích Ca, và thị hiện
thành Phật ngay lập tức để
đoạn nghi cho tôn giả Xá Lợi Phất.
[18] Tử
Thiều là tên tự của Trương
Cửu Thành (1092-1159). Ông có hiệu là Vô
Cấu và Hoành Phố Cư Sĩ,
người xứ Tiền Đường,
làm quan đời Nam Tống. Ông chơi thân
với thiền sư Đại Huệ Tông Cảo.
[19] Đây là lời
giải thích hào thứ nhất của quẻ
Thái trong kinh Dịch: “Bạt mao nhứ, dĩ
kỳ vựng, chinh cát”. Câu này
được các nhà Dịch học chú
giải như sau: “Bạt mao nhứ” là
như nhổ cỏ tranh, nó sẽ kéo theo cả
cụm gốc rễ liền nhau. Ví như
dưới trướng bậc tài
đức, hiền thần, lương sĩ sẽ
tụ tập, tiến cử người hiền
nên nói là “dĩ kỳ vựng” (tụ
tập lại), quân tử nhờ đó mà
đạt tới điều tốt lành, nên
gọi là “chinh cát”. Ở đây, tổ
Ngẫu Ích dùng điển tích này
để sánh ví: Mười một món
thiện tâm sở ví như bầy tôi hiền
đức. Tâm vương ví như nhà vua
khéo sử dụng các thiện tâm sở
(ví như ý nghĩa “nhổ cỏ tranh”
trong quẻ Thái của kinh Dịch), các thiện
pháp sẽ nẩy sanh khiến cho hành nhân thăng
tấn, nên mới nói là “bạt mao
vựng cát chinh”. Mười
một thiện tâm sở là tín, tinh tấn,
tàm, quý, chẳng tham, chẳng sân,
chẳng si, khinh an, chẳng buông lung, hành
xả, và chẳng hại.
[20] Chúng tôi không tìm
được ý nghĩa của từ
này, đành để nguyên không dịch.
[21] Thiên thao (天弢) là một từ
ngữ phát xuất từ thiên Tri Bắc Du
trong sách Trang Tử, hàm nghĩa “quy luật
tự nhiên”. “Giải thiên thao” có nghĩa là
do thông hiểu, thấy thấu suốt quy luật
tự nhiên mà không còn bị trói buộc, đã giải thoát khỏi sự hạn
chế của tự nhiên đối với con
người.
[22] Đào Nguyên
gọi đủ là Đào Hoa Thôn, là một
xã hội lý tưởng không có chiến
tranh, chẳng có áp bức, nhân dân sống
an lạc, tự cấp, tự túc,
được miêu tả trong bài Đào Hoa
Nguyên Ký của Đào Uyên Minh (Đào Tiềm,
Đào Uyên Lượng, Tĩnh Tiết tiên sinh)
viết vào đời Tấn. Theo đó, trong
niên hiệu Thái Nguyên nhà Tấn, một ngư dân
ở Vũ Lăng do tìm cá, đi dọc theo
con suối, đến được xóm
đào hoa. Ông ta thấy nơi
đó cây cỏ tươi
tốt, dân cư an lạc, sung túc, không có chiến
tranh. Hỏi ra, mới biết những
người sống ở đấy là hậu duệ
của dân lánh nạn từ thời Tần Thủy Hoàng, tìm tới đây ẩn
cư, không cần biết đến các triều
đại bên ngoài nữa. Người ấy
ở đó vài ngày, cáo
từ ra đi. Đã về đến nhà,
kể với thái thú. Thái thú sai
người đi tìm, nhưng lạc lối,
chẳng thấy đâu nữa. Đào Nguyên
chính là ước vọng về một xã
hội bình trị trong hoàn cảnh loạn lạc
thuở ấy.
[23] Tổ có ý nói khiêm
nhượng: Học vấn, kiến thức
của mình chẳng có gì đáng
kể, những trước tác chỉ là
nhắc lại ý nghĩa của chư tổ,
chư cổ đức đã nói; nhưng
đồ chúng vẫn lầm lạc mong Ngài
thuyết pháp.
[24] Thiện Cát là dịch nghĩa
của Tu Bồ Đề. Tôn giả Tu Bồ Đề
ngồi yên trong hang đá, Thiên Đế Thích
rải hoa cúng dường, ca ngợi ngài
Tu Bồ Đề khéo nói Bát Nhã.
[25] Ngài Ly Bà Đa (dịch nghĩa
là Tinh Tú, Tuệ Tinh), còn được
gọi là Giả Hòa Hợp. Do một đêm
nọ, Ngài nghỉ chân tại
một ngôi đình vắng, có một con quỷ vác một cái tử thi đi đến.
Chốc sau, lại có một con quỷ lớn khác đi
đến, toan cưỡng đoạt cái xác ấy, giành
giật ầm ĩ măi. Tiểu quỷ bất đắc
dĩ, phải nhờ Ngài Ly Bà Đa phán xử. Ngài cứ t́nh
thật phán xử. Đại quỷ cáu quá, xé toạc tay chân
Ngài nuốt ăn, tiểu quỷ bèn lấy tay chân của
tử thi thế vào. Đến
sáng, Ngài Ly Bà Đa sanh phiền năo sâu nặng, tự nghĩ:
“Thân này nào phải là thân ta. Giả sử thân này thực là
của ta th́ chính mắt ta thấy đại quỷ xé tay
chân ḿnh ăn mất rồi”. Lại nghĩ: “Nếu
thật sự là thân của người khác, th́ sao
tay chân này vẫn hành động theo ư ḿnh”. V́ thế bèn
hỏi người qua lại: “Ông có thấy tay tôi, chân tôi
hay chăng?” Có một vị tỳ kheo nghĩ người
này dễ độ, bèn đọc bài kệ: “Vốn thân
người khác thế, tạm giả ḥa hợp dùng”. Ngài
Ly Bà Đa liền giải ngộ nghĩa lư “tứ đại giả hợp”, nhận thức hết thảy sự lư
một cách rơ ràng, liền theo tỳ kheo đó về
chỗ đức Phật cầu xuất gia.
[26] Tay Phật được mô tả
là mềm mại như đâu-la miên.
[27] Đây là những lời ca
ngợi hạnh Đầu Đà của ngài Ma
Ha Ca Diếp.
[28] “Hý dương” (餼羊) có nghĩa là “con dê còn sống dùng để
cúng tế”. Theo cổ
lễ, các vua chư hầu vào ngày mồng
Một mỗi tháng sẽ đến tổ miếu,
dùng dê tế lễ rồi mới thiết
triều. Về sau, vua nước Lỗ không
giữ lệ này, tuy mỗi tháng vẫn
cúng dê, nhưng vua không đích thân đến
tế, chỉ sai quan tới cúng tế qua quýt cho xong. Do đó, “hý
dương” được hiểu là cúng
cho có hình thức, không có thực
chất tôn kính.
[29] Yên lừa ở đây là
nói một phần nơi xương sọ có
hình dáng giống như cái yên để
cỡi lừa. Có kẻ ngu tưởng
lầm cái xương ấy là xương hàm
của cha mình. Do vậy, Thiền lâm dùng chuyện
này để chê trách kẻ kiến chấp mê
muội.
[30] Tai hồng (thị đế), tức
là phần đài hoa của cây hồng (persimmon).
Khi hoa kết thành quả, phần đài hoa
này vẫn còn bám quanh cuống. Khi ăn
hồng, phải loại bỏ phần này đi. Tai
hồng có thể dùng làm thuốc trong Đông
Y. Họ tin rằng tai hồng có vị đắng,
rít, tánh bình, dược tánh đi
vào Thái Âm Phế Kinh, dùng để
chữa bệnh khí nghịch.
[31] Ý nói dẫu đã thấu
triệt đạo lý, vẫn phải kiềm chế,
cẩn trọng.
[32] Đẩu
ngưu hiểu theo nghĩa rộng là sao Đẩu
và sao Ngưu, tức hai tinh tòa trong Nhị
Thập Bát Tú, thường được
dùng sánh ví với trời thẳm,
nhất là khi diễn tả sự vật mang
đầy tính hăng hái, như câu thơ “khí
xung Đẩu Ngưu, thanh chấn thiên địa”
(khí xông tận sao Đẩu, sao Ngưu). Hiểu theo
nghĩa hẹp, Đẩu Ngưu là vùng Ngô
Việt (Giang Tây, Phước Kiến, Chiết Giang)
của Trung Hoa, vì theo thiên văn học cổ Trung Hoa,
vùng này tương ứng với sao
Đẩu Ngưu trong cách chia bầu trời
thành từng “phận dã” (khu vực
chiếu soi của các ngôi sao trong Nhị Thập
Bát Tú).
[33] Tức Lương Vũ Đế
(tên thật là Tiêu Diễn).
[34] Thành ngữ “ngõa phủ lôi
minh” (瓦釜雷鳴) hàm ý: Kẻ bất tài vô
đức mà giữ địa vị cao xa,
hiển hách. Bởi lẽ, cái nồi
bằng đất không thể nào phát ra âm thanh
vang rền được.
[35] Ngài Đạo Sanh đề
xướng thuyết “tất cả chúng sanh
đều thành Phật, ngay cả nhất xiển
đề cũng có thể thành Phật”
bị người đương thời công
kích dữ dội, thậm chí bị xua
đuổi cho là Ngài lập tà thuyết, dị kiến. Ngài
phải lánh vào rừng, giảng kinh cho
đá. Giảng xong hỏi: “Tôi giảng kinh có
phù hợp ý chỉ của chư Phật hay
không?” Các tảng đá đều gật
đầu. Cho tới khi kinh Đại Bát Niết
Bàn được truyền sang Trung Hoa, mọi
người mới khâm phục kiến giải
của ngài Đạo Sanh. Ở đây, Tổ
dùng câu chuyện này để tự thán
chính mình vô đức, cổ đức
giảng kinh có thể cảm động vật vô tình, còn hiện
thời Tổ giảng giải, người chỉ
tìm hỏi danh
tướng văn tự mà thôi đã
ngày càng ít ỏi, hầu như chẳng
có ai!
[36] Truyền Đăng
Ký chính là Cảnh Đức Truyền
Đăng Lục. Cảnh Đức là niên
hiệu của Tống Chân Tông. Truyền Đăng
Lục chính là sách về lịch sử
truyền thừa của Thiền Tông Trung Hoa, vốn
có tên là Phật Tổ Đồng Tham Tập. Do bộ sách này được ngài
Đạo Nguyên soạn vào năm Cảnh
Đức nguyên niên (1004), nên mới gọi là
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Sách
gồm ba mươi quyển, chép các vị tổ
và các vị cao tăng trong nhà Thiền.
Sách khởi đầu bằng quá
khứ thất Phật, đệ nhất tổ Ma Ha
Ca Diếp cho
đến vị tổ thứ hai mươi bảy
của Tây Trúc là Bát Nhã Đa La, sáu
vị tổ của Đông Độ rồi lần lượt chép
tiểu truyện các vị hậu duệ truyền
pháp của ngài Văn Ích thuộc tông Pháp
Nhãn.
[37] Tỳ Da chính là
thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī),
thủ đô của nước Bạt Kỳ (Vṛji). Cư sĩ Duy Ma Cật
sống tại đây, và
Ngài đã thị hiện mắc bệnh
nhằm tạo cơ hội cho đức Phật
sai các đệ tử đến thăm bệnh
để giảng pháp môn Bất Nhị. Xin xem chi
tiết trong kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết.
[38] Thịt
Đông Pha là một món thịt lợn kho
nổi tiếng vùng Hàng Châu tỉnh Chiết Giang,
tương truyền do Tô Đông Pha chế ra. Thịt
lợn được tẩm rượu
Thiệu Hưng, đường phèn,
nước tương, kho riu riu cho đến khi
tất cả chất nước tẩm ướp
ấy rút sâu vào trong miếng thịt kho. Thành
phẩm sẽ có màu đỏ hơi sậm, nên
thường gọi là “hồng thiêu”. Cái
khéo là để nguyên một tảng thịt
lớn để kho, nhưng khi
ăn, bỏ vào miệng sẽ mềm đến
nỗi tưởng chừng tan ra ngay lập tức.
Ở đây, ý Tổ ca ngợi món
đậu hủ của ông Đào Tảo Am cũng
chế biến khéo léo, hương vị ngon
lành như thịt
kho Đông Pha.
[39] Điển
tích này xuất phát từ thiên Thuật Nhi
sách Luận Ngữ. Theo đó, Khổng
Tử ở nước Tề, sau khi nghe
nhạc Thiều, suốt ba tháng không biết mùi
vị thịt. Về sau, thành ngữ “văn
Thiều” (nghe nhạc Thiều) mở rộng
thành ý nghĩa “nghe sự vật cao diệu
tột bậc rồi mê mẩn đến mức quên
ăn bỏ ngủ”.
[40] Tức ngài
Cấp Cô Độc. Để kiến tạo Kỳ Viên,
trưởng giả Cấp Cô Độc Tu Đạt
Đa đã đem vàng lót đất để
mua lại khu rừng ấy từ Thái
Tử Kỳ Đà.
[41] Nguyên văn là “nạp
túc” (納粟) tức
là quy định dùng lương thực
hoặc tiền bạc cống nạp cho triều
đình để đổi lấy quan
tước. Tập tục này bắt
đầu từ thời Hán Văn Đế.
Đến đời Minh, người giàu
bèn quyên tiền để con được
vào trường Quốc Tử Giám ngõ
hầu con họ không cần phải thi tuyển tại
địa phương, mà được
dự thi trực tiếp trong các khóa thi do
triều đình tổ chức.
[42] Tức là lên
tòa giảng. Người thuyết pháp
hoặc thượng đường trong
nhà Thiền thường dùng cách phẩy phất trần nhằm biểu
pháp trước khi giảng nói.
[43] Liên lậu (đồng
hồ sen): Dựa theo chuyện sơ tổ Huệ
Viễn chế ra hoa sen gỗ thả trong nước.
Hễ nước ngập đến cánh nào
biết là đã đến giờ,
khắc nào để ấn định công
khóa.
[44] Dựa theo ý “đầu
sào trăm thước, tiến thêm một
bước nữa”.
[45] Tức là một ngàn bảy
trăm công án. Do chấp vào văn tự, nên công án trở thành
thứ thừa thãi, giống như dây leo
bám vào thân cổ thụ.
[46] Nước Sở phương Nam,
nay muốn sang nước Sở mà lại
để cho ngựa kéo xe theo hướng
Bắc thì không thể nào đến
đích được!
[47] Đây là
một công án trong nhà Thiền. Vị Tăng
thấy thiền sư Duy Nghiễm xem kinh hỏi: “Hòa
thượng bình thường không cho chúng
con xem kinh, vì sao hòa thượng lại xem?”
Sư đáp: “Ta xem chỉ để che mắt”.
“Chúng con học theo hòa thượng
được chăng?” “Nếu các ngươi xem
thì da trâu cũng lủng”.
[48] Một cân gồm mười sáu
lượng.
[49] Phạt kha có nghĩa đen là
đẵn cây để làm cán rìu, tỷ
dụ chuyện tuân theo nguyên tắc. Phạt Kha vốn
là một bài thơ thuộc chương Bân Phong trong kinh Thi: “Phạt kha như
hà? Phi phủ bất khắc. Thú thê như
hà? Phỉ môi bất đắc” (Đẵn
cán rìu ra sao? Không có búa chẳng
được. Cưới vợ như
thế nào? Không mai mối chẳng được).
[50] Ba ngàn oai nghi, tám vạn luật
nghi.
[51] Trưởng giả ở đây
chính là trưởng giả Lưu Thủy
(tiền thân của Tín Tướng Bồ Tát)
được nói trong kinh Kim Quang Minh. Do cùng
hai con đi chơi, trưởng giả Lưu
Thủy thấy mười
ngàn con cá sắp chết vì thiếu
nước trong ao, bèn sai con vào cung vua
mượn mấy
thớt voi để chở
nước đổ vào ao cứu cá.
Trưởng giả lại thí đồ ăn cho
cá rồi thuyết pháp cho chúng. Lũ cá
do nghe pháp bèn xả thân cá, sanh lên cung
trời. Do cảm ân cứu giúp của
trưởng giả, các vị trời
ấy bèn xuống nhà
trưởng giả Lưu Thủy lúc ông đang
ngủ, cúng dường các chuỗi anh
lạc, phóng quang sáng chói cả đô thành.
[52] Theo kinh Kim Quang Minh, Tín Tướng
Bồ Tát sanh nghi về thọ lượng của
Thích Ca Mâu Ni Phật, liền thấy tứ
phương Phật hiện ra, giảng pháp thọ
mạng của Như Lai. Ông hoan hỷ đem chuyện
ấy bạch với đức Phật. Khi lui
về, trong đêm ông nằm mộng thấy cái
trống bằng vàng phát ra tiếng dạy
pháp sám hối.
[53] Dựa theo câu nói “cát kê yên
dụng ngưu đao” (mổ gà cần gì
dùng đao mổ trâu) của Khổng Tử, ý
nói sử dụng tài năng lớn lao
vào việc nhỏ nhặt.
[54] Tức là câu “triêu văn
đạo, tịch tử khả hỹ” (sáng
nghe đạo, tối chết cũng
được).
[55] Thời Chiến Quốc, để
chống lại nước Tần đang hùng
mạnh, nước Yên kết minh với
nước Triệu, thề sẽ cứu nhau
nếu bị Tần tấn công. Mối kết minh này
lỏng lẻo, chỉ là quyền biến tạm
thời, vẫn là đề phòng, lợi dụng
lẫn nhau. Tổ dùng chuyện này để
sánh ví phú quý trong thế gian nhỏ
nhặt như đầu ruồi, cũng tạm
bợ, hời hợt như thế.
Khi nước Ngô của Phù Sai
đánh chiếm nước Việt của Câu
Tiễn, Câu Tiễn bị bắt làm tù binh,
đã chịu nhục, xưng thần, làm bầy
tôi hầu cận, thậm chí nếm phân để
chẩn đoán bệnh tình cho Phù Sai khi
Phù Sai ngã bệnh, hòng chiếm được
tin tưởng của Phù Sai, để
được tha về nước. Sau đó,
Câu Tiễn ngấm ngầm khôi phục quân lực, hiến mỹ
nữ cho Phù Sai, đút lót gian thần dâng
lời tâng bốc, khiến cho Phù Sai
đắm chìm trong tửu sắc, xua
đuổi trung thần như Ngũ Tử Tư,
khiến nước Ngô suy yếu. Sau đó, Câu
Tiễn đánh bại Phù Sai,
diệt nước Ngô. Công danh trong cõi đời nhỏ tí
như cái sừng của con ốc sên mà cũng giả dối như
nước Việt làm bầy tôi nước
Ngô vậy.
[56] Kinh Hoa Nghiêm nói chẻ một vi
trần tìm được quyển kinh to
bằng tam thiên đại thiên thế giới.
[57] Tiêu minh (蟭螟) là một loài
trùng rất nhỏ theo cách
nói phúng dụ của Bão Phác Tử: “Tiêu
Minh ẩn trong lông mày của con muỗi,
cười chim đại bằng cánh to
trùm khắp thiên hạ”.
[58] Ở đây, chúng tôi
dịch theo ý của điển tích “Tuyên Ni
nhậm xích Phàn Tu tiểu” (Mặc cho
Khổng Tử chê bai Phàn Tu là kẻ tiểu
nhân) và “ngã giảo thừa phù
hữu thủ tài” (so ra ta ngồi trên chiếc
bè gỗ nhỏ bé thì chỉ có tài
cán đến mức đó mà thôi).
Phàn Tu tự là Tử Trì,
người nước Lỗ, là đệ
tử của Khổng Tử, nhỏ hơn
Khổng Tử ba mươi, hoặc bốn mươi
tuổi. Phàn Tu muốn học nông, Khổng Tử
nói: “Ta chẳng bằng người nông dân
già!” Phàn Tu muốn học về mùa màng,
Khổng Tử nói: “Ta chẳng bằng
người nông dân già”. Phàn Tu muốn học
trồng hoa màu, Khổng Tử nói: “Ta chẳng
bằng người trồng rau lâu năm”. Phàn
Tu lui ra, Khổng Tử chê: “Phàn Tu là kẻ
tiểu nhân! Đề cao lễ thì dân chẳng
dám không kính. Đề cao ưa chuộng nghĩa
thì dân chẳng dám không phục”. Ở
đây, Tổ lui về Linh Phong, gặp những
người dân quê nói chuyện mùa màng,
hoặc dùng kinh Dịch để dự
đoán thời tiết, nên mới nói là
mặc cho Khổng Tử chê mình là kẻ
tiểu nhân như đã chê bai Phàn Tu. Phong Lôi tức là quẻ Phong Lôi
Ích trong kinh Dịch, biểu thị nước
tràn đầy, mang ý nghĩa “tăng thêm, phong
phú”.
[59] Thử Ly (黍離) là một bài thơ thuộc
loại dân ca của người
dân nơi
Lạc Ấp thời Đông Châu, được
xếp vào phần Vương Phong trong kinh Thi. Theo
lời tựa của kinh Thi thì bài thơ
này vốn do một vị đại phu nhà Châu
đi công cán, đi qua chỗ thờ tông miếu
của nhà Châu, thấy nơi đó toàn cỏ hoang mọc đầy,
điện vũ hoang tàn, đổ nát, bàng
hoàng chẳng nỡ rời chân.
[60] Tức Hiên Viên Hoàng Đế
và Kỳ Bá. Họ được coi là
tổ của ngành Trung Y. Tác phẩm Hoàng
Đế Nội Kinh được coi là tác
phẩm ghi lại những lý luận về nguyên
nhân gây bệnh, triệu chứng, cách chữa
trị, bồi bổ v.v… từ cuộc luận đàm
y học giữa Hiên Viên và Kỳ Bá.
[61] Tô-đà là tên một món ăn
thời cổ Ấn Độ, tương truyền
là món ăn của chư thiên. Tại Trung Hoa,
còn có món quả lê hầm với các vị
thuốc bách hợp, nam hạnh, xuyên bối,
trần bì, táo đỏ và
đường phèn cũng được
gọi là Tô-đà.