Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 10

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong, Diệu Âm Trịnh Lộc và Huệ Trang

 

* Chúc thọ Nguyệt Đường Huy Sơn thủ tọa

 

          Điện các huân phong[1] lương ư đa. Lục ḥe cắng cổ ảnh bà sa. Kiền chùy tự tích thanh như hống. Thượng tọa ư kim my tự kha. Triệu lão mang hài do vị chỉ. Hiếp tôn Thiền tụng dĩ thành khoa. Phân minh xướng xuất Nam Sơn khúc, nhạ động Tây tŕ lục điểu ca.

          (Điện gác, huân phong ý mát lành. Hòe xanh tự cổ bóng la đà. Kiền chùy[2] từ trước âm vang vọng. Thượng tọa đến nay bạc trắng mày. Hài cỏ cụ Triệu[3] chưa ngừng bước. Hiếp tôn[4] Thiền tụng đã thành khoa. Phân minh vang tiếng Nam Sơn khúc, đánh động ao Tây chim hót rền).

 

* Tặng Trang Thánh Tây

 

          Di Đà tức thị Tỳ Lô sư, Cực Lạc tức thị Hoa Tạng giới. Bát vạn tứ thiên tướng hảo trung, nhất nhất cụ túc sát trần tướng. Tây Phương nhất nhất vi trần trung, cụ túc thế giới sai biệt chủng. Thị cố Phổ Hiền đại nguyện vương, cứu cánh đạo quy An Dưỡng Độ. Đồng Cư tịnh cố, tứ câu tịnh. Hoành siêu tự tại thậm hy hữu. Nhược nhân thâm tín Tịnh Độ môn, thỉ thị thâm tín pháp giới lý. Nhược nhân dĩ ngộ pháp giới lý, phương khẳng xí nhiên cầu vãng sanh. Pháp giới phi vãng, phi bất vãng. Thuận Tất Đàn cố, danh vi vãng. Pháp giới phi sanh, phi bất sanh. Thuận Tất Đàn cố, danh vi sanh. Như thị vãng sanh tức hướng thượng, viên đốn liễu nghĩa vô luân thất.

          (Di Đà tức là Tỳ Lô sư, Cực Lạc chính là Hoa Tạng giới. Trong tám vạn bốn ngàn tướng hảo, mỗi mỗi trọn đủ tướng sát trần[5]. Trong mỗi vi trần tại Tây Phương, trọn đủ các loại cõi sai biệt. Do vậy, Phổ Hiền đại nguyện vương, rốt ráo dẫn về cõi An Dưỡng. Do Đồng Cư tịnh, bốn cõi tịnh. Hoành siêu tự tại rất hy hữu. Nếu ai tin sâu môn Tịnh Độ, mới là tin sâu lý pháp giới. Nếu ai đã ngộ lý pháp giới, mới chịu hăm hở cầu vãng sanh. Pháp giới chẳng vãng, chẳng không vãng. Do thuận Tất Đàn mà nói “vãng”. Pháp giới chẳng sanh, chẳng bất sanh. Do thuận Tất Đàn mà gọi “sanh”. Vãng sanh như thế tức hướng thượng, liễu nghĩa viên đốn không gì sánh).

 

* Cảm tác trong dịp ăn Tết tại Thiên Ninh thiền đường ở Tuy Lý

 

          Đàn chỉ hân truyền sát hải Xuân, tài phún tiểu vũ nhuận mai quân. Tân lô diễm xí khai mi vũ. La cổ thanh phồn địch nhĩ trần. Lưu tiếp Hy hà phân dũ hợp. Hương lai Kỳ Thụ viễn nhưng thân. Nhàn khán nộn thảo đình tiền lục. Hồ điệp Trang Châu đa đại xuân.

          (Khảy ngón vui truyền Xuân biển cõi, mưa phùn khẽ rắc nhuận chồi mai. Lò than lửa rực tươi mày mặt. Chiêng trống khua rền rộn rã tai. Dồn dập Hy hà[6] phân lại hợp. Kỳ Thụ hương đưa, xa vẫn thân. Nhàn ngắm trước sân cây nõn biếc. Gốc Xuân vờn lượn bướm Trang Châu[7]).

 

* Gởi tiên sinh Ngô Tây Thành

 

          Điểu xuất thần loan nhiễu thụ phi. Thập niên hồi thủ cố nhân hy. Hạnh đàn dĩ ngộ phù vân ảnh. Liên xă kim chiêm lạc nhật huy. Tú Thủy doanh doanh hồ thủy dật. Ngô sơn ẩn ẩn việt sơn vi. Dao văn Kỳ Vực đa linh thảo, liêu ký A Già đệ nhất cơ.

          (Chim vượt non mai, lượn quanh cành. Mười năm nhìn lại hiếm người xưa. Đàn hạnh bóng phù vân đã ngộ. Liên xã bóng chiều nay ngắm trông. Tú Thủy tràn đầy, hồ ắp nước. Ngô sơn ẩn khuất, bóng non mờ. Từng nghe Kỳ Vực nhiều linh thảo, vẫn kém A Già[8] đệ nhất thôi!)

 

* Dân chúng thất đức, hạn hán nặng, không mưa, dã nhân lo sầu, vịnh tháng Tư

 

          Tứ nguyệt viêm thử, ưu tâm như chử. Ta thử nông phu, bất hoảng an xử. Hiểu thức kỳ mi, viên bốc kỳ sở. Thứ ky du du, cam lộ tư tư.

          (Tháng Tư nắng gắt, lòng lo quặn thắt. Thương thay nông phu, không nơi an trụ. Sáng dậy lau mày, tìm tòi nơi chốn, hòng được nhuần thấm, cam lộ tràn trề).

          Dân chi vô liêu, tịch bất mưu triêu. Tứ nhĩ mậu mậu, viên tích kỳ dao. Nghiệt kư nhiêu chỉ, bi diệc dao chỉ. Thức chiêm tiền hậu, mỵ bất tiêu chỉ.

          (Dân không lẽ sống, tối chẳng tính sáng. Chao ôi mờ mịt, càng thêm lo sầu. Mầm đã thôi trổ, càng xót xa hơn. Ngó trước trông sau, không đâu chẳng úa).

          Dân chi vô tri, cạnh vụ kỳ tư. Bệnh kư khổng cấp, tằng mạc nhĩ y. Ta bỉ đạt sĩ, vi tắc vi nghi. Hồ phản tự cục, nhi vô viễn tư.

          (Người dân vô tri, tranh đua tư lợi. Bệnh đã ngặt nghèo, chưa từng chữa trị. Ôi, bậc thông đạt, hãy nêu gương mẫu. Sao lại hạn cục, chẳng biết lo xa!)

          Diệc hữu mỹ nhũ, duật tạp ư hử. Ẩm nhũ tắc lạc, ẩm thủy tắc dữu. Ta bỉ đạt sĩ, vơng thức khứ thủ. Tĩnh ngôn tư chi, bất như quần vũ.

          (Cũng có sữa tốt, chẳng xen tạp nước. Uống sữa liền vui, uống nước gầy mòn. Ôi, người thông đạt, chẳng biết lấy, bỏ. Lặng im suy nghĩ, chẳng bằng loài chim[9]).

          Duy sơn hữu linh, duy lộc hữu đ́nh. Ta bỉ đạt sĩ, minh đức duy hinh. Tỉnh tỉnh bất mị, ninh tức ư minh. Tích nhĩ song mục, nhất chỉ sở quynh.

          (Như núi có linh, sườn núi nước đọng. Ôi, bậc thông đạt, đức sáng thơm ngát, tỉnh táo chẳng mê, há còn tăm tối? Tiếc kẻ hai mắt, một ngón che khuất).

          Bình đẳng, bình đẳng, kư sanh thả tịnh. Hạ thị kỳ túc, cao thị kỳ đảnh. Bão thức hàm tri, thùy vân hoặc huưnh. Nịch thử đồ thán, tằng mạc chi chửng.

(Bình đẳng, bình đẳng, sanh đều như nhau. Nhìn xuống là chân, ngó cao đỉnh đầu. Hàm thức đều biết, ai nói khác được? Chìm trong đồ thán[10], chưa từng cứu vớt).

Duy kim hữu dă, duy bách hữu sương. Nhật nguyệt hữu thực, bất giảm kỳ quang. Ta bỉ đạt sĩ, quyết dụng bất tang. Xả nhĩ băng giám, trục thử ly hoàng.

          (Vàng qua lò luyện, bách trải tuyết, sương. Nhật thực, nguyệt thực, chẳng giảm ánh sáng. Ôi, người thông đạt, thi thố tài năng, đừng nên ẩn giấu. Bỏ gương sáng ấy, theo đuổi vặt vãnh).

          Ngã tâm ưu tư, hà sở cầu tư? Tái quán vũ trụ, bất khả du tư. Diến hoài thiên cổ, thùy dữ thù tư. Hy Hà, Tứ Thủy, dục bỉ lưu tư.

          (Tâm ta ưu tư, truy cầu lẽ nào? Nhìn khắp vũ trụ, tâm đừng tán loạn. Nghĩ tưởng muôn đời, ai cùng nghĩ suy? Hy Hà, Tứ Thủy, mong tắm dòng ấy).

 

* Họa đáp Ngô Thúc Nhã

 

          Thập thế hà thường ly mục tiền? Sát-na bất trụ Niết Bàn thiên. Đản quán tâm ngoại nguyên vô pháp, mạc vị sư gia biệt hữu truyền. La Thập dịch kinh tồn thốn thiệt. Cù Đàm dụ tử lại không quyền. Quy lai cộng nhĩ hoàng kim địa, trạch thủ hoa tŕ thiên diệp liên.

          (Mười đời há từng lìa trước mắt? Sát-na chẳng trụ trời Niết Bàn. Chỉ quán ngoài tâm vốn không pháp, đừng bảo sư gia riêng dạy truyền. La Thập dịch kinh còn tấc lưỡi, Cù Đàm dụ con nắm tay suông[11]. Trở về cùng đến hoàng kim địa. Chọn lấy ao hoa ngàn cánh sen).

 

* Hai ngày sau tiết Trung Thu, lũ hạc tụ tập tại Linh Phong, bèn vịnh chim thiêng

 

          Kiểu kiểu linh điểu, tập ư sơn, ngu ngã đa sĩ, chung triêu vĩnh nhàn. Kiểu kiểu linh điểu, tập ư a, ngu ngã đa sĩ, ung ung dĩ hòa. Hữu hoài lạc độ, thật đa linh vũ, tiện thử Đông Lâm, thức chiêm Tây hộ. Tống tưởng công thành, địch diện tư đổ.

          (Chim thiêng cao quý, tụ tập nơi núi, vui đẹp tâm ta, suốt ngày an nhàn. Chim thiêng cao quý, tụ tập vách đá, vui đẹp tâm ta, cùng hót ríu rít. Tưởng nhớ Cực Lạc, thật nhiều chim thiêng, hâm mộ Đông Lâm, ngắm nhìn cửa Tây. Quán tưởng công thành, thấy ngay trước mặt).

 

* Dùng văn vần để đề bức Bối Tọa Đồ (bức vẽ ngồi xoay lưng lại) (hai bài)

 

          1) Thế sự vô đoan thắc nhận chân. Túng nhiêu tàng kiểm, vị tàng thân. Phân minh Thiếu Thất cửu niên ý, tất cánh thùy năng cử tự nhân.

          (Thế sự bỗng dưng lầm nhận thức. Dẫu toan giấu mặt, vẫn lòi thân. Chín năm Thiếu Thất rành rành ý, rốt cuộc ai nêu giống được người).

          2) Trần sát cam vi xuất thế bô. Đại thiên tọa cụ nhất vi đồ. Niêm lai đoản trần hồn gian sự. Đàm tận tam thừa bán tự vô.

          (Trần sát cam làm đường xuất thế. Đại thiên làm đệm vẽ nên tranh. Lấy một vi trần bàn chuyện vặt, bàn trọn tam thừa, nửa chữ không!)

 

* Ba bài họa thơ Trần Phi Bạch

 

          1) Nghiêm đông lạc mộc chuyển thê thê. Tích tuyết b́nh phô mao ốc đê. Cử thế tương khan đồng bại Bắc. Kỷ nhân năng giải tảo quy Tây? Thần triêu cộng cận từ bi phụ. Phạn hậu hoàn yếu pháp hỷ thê. Tiêu tận kiếp ba sanh tử mộng. Hồn nhiên lục tự thị toàn đề.

          (Rét căm, lá rụng, cảnh hoang vu. Tuyết đọng phủ đầy, lều tranh lùn. Cõi đời nhìn ra toàn bại Bắc[12], mấy ai hiểu được sớm về Tây? Sáng tối cùng hầu đấng từ phụ. Ăn xong vui cùng vợ pháp hỷ. Tiêu sạch trần kiếp sanh tử mộng. Hồn nhiên sáu chữ trọn cùng nêu).

          2) Mạc yếm đa phiên triệt cốt hàn. Hiểu kê tam xướng mộng sơ tàn. Nghênh phong lại hữu Trọng Do uẩn. Sức thể hân vô Quý Tử hoàn. Xúc cảnh hội tâm nguyên bất viễn. Ly ngôn mịch chỉ khước thành nan. Tùng thử thức đắc Không Vương ấn. Bạch cổ ly nô cổ Phật khan.

          (Đừng ngại nhiều phen xương buốt lạnh, ba phen gà gáy mộng vừa tàn. Đón gió nhờ mền thầy Tử Lộ. Trau thân mừng không lụa Quý Tôn[13]. Lìa lời tìm ý khó khăn lắm, đụng cảnh hiểu tâm vốn chẳng xa. Từ nay hiểu biết Không Vương ấn. Trâu trắng, mèo đen cổ Phật nhìn).

3) Tài đề chánh lệnh dĩ thành bàng. Nhĩ diễm[14] hà trung thức lăng mang. Không kiếp kiếp tiền nhưng bộ ảnh. Duyên tâm, tâm đoạn tự xuy quang. Sóc phong dạ cấp tùng đa vận. Bạch vụ hiểu khai sơn tự thương. Kham tiếu Đông thôn vương đại t, cưỡng tương trần bộn tác sơ trang.

          (Chánh lệnh vừa nêu đã thành phụ. Trong sông cảnh giới, sóng thức trào. Trước thuở kiếp không, thường bắt bóng. Duyên tâm, tâm đoạn, thổi quang minh[15]. Gió Bấc đêm lùa, tùng réo rắt. Sương trắng bình minh, núi tự xanh. Nực cười thôn Đông Vương đại t, cưỡng dùng bụi đất tự điểm trang).

 

* Hai bài họa thơ Trương Hưng Công

 

          1) Uổng trực phân phân kế xích tầm. Độc liên trần thế dục nê thâm. Dã tri tích nhật tô vi tửu. Mạc quái kim thời diệp tác kim. Tự tánh bổn không, hương biến địa. Cơ tiên hữu cú, nguyệt xuyên lâm. Tử Kỳ trắc nhĩ hồn vô sự, cộng giám cao sơn lưu thủy âm.

          (Lăng xăng nhọc biến thước thành tầm. Riêng xót cõi trần bùn dục sâu. Cũng biết xưa coi tô là rượu, chẳng trách nay xem lá thành vàng. Tự tánh vốn không, hương khắp đất. Nói đúng căn cơ, trăng xuyên rừng. Tử Kỳ nghiêng tai nghe vô sự, cùng nhận non cao, nước chảy âm).

2) Mỗi tàm thiểu tiện bỉ năng đa. Cánh thán sơ tâm tiệm tự thoa. Bạch phát sổ hàng bi kính tuyết. Cô hoài bán thế phó xuân ba. Vu trăn dị dụng tiêm phong tước. Đấu tránh nan tương ảnh hưởng hòa. Phấn khởi nhất thanh đồ độc cổ. Hoạt nhân nguyên bất ly can qua.

          (Thường thẹn hèn nhỏ, tài vặt nhiều. Lại than sơ tâm dần phôi pha. Tóc bạc lơ thơ buồn gương tuyết. Hoài bão nửa đời phó sóng xuân. Cỏ rậm dễ dùng dao sắc cắt. Đấu tranh đâu dễ ảnh hưởng ta. Trống độc một âm vừa rền tiếng. Người đời vốn chẳng khỏi can qua).

 

* Họa đáp Tống Lượng Công

 

          Lưu phương ngũ diệp nhất chi hoa. Vị ủy căn nguyên mạc lăng khoa. Châm giới đầu thời Sơ Tổ tiếu. Cơ quan chuyển xứ nạp tăng ta. Vô tâm kích toái t́nh trần tỏa. Hữu cú trùng thiêm Phật tổ già. Thức thủ tự y châu bất tá, mông lung kính ảnh mạn tương già.

          (Một cành năm lá ngát hương hoa. Chưa rõ căn nguyên, chớ nói bừa! Sơ Tổ cười kim găm hạt cải[16]. Chỗ cơ quan chuyển, nạp tăng than. Vô tâm phá nát xiềng tình kiến. Lời lẽ càng thêm Phật tổ gông. Biết châu nơi áo không vay mượn, bóng gương mờ mịt chẳng che mờ).

 

* Tặng Ngẫu Tây

 

          Thiện Tài sơ phát ư, bách thành phương tận Nam. Nhất kiến Phổ Hiền hậu, thỉ tri Tây cánh trạm. Thập nguyện đạo kỳ vãng, thâm Thiền bất dụng tham. Di Đà pháp giới tạng, giới nhĩ nhất niệm hàm. Lục tự thanh lịch lịch, kiểu nguyệt trừng hàn đàm. Vị thức kỳ đồ khổ, na tri thử đạo cam. Thượng thiện cộng huề thủ, liệt tổ bằng hạp trâm. Quán thành nhất thập lục, sanh phẩm liệt tam tam. Nhậm bỉ trì viên đốn, phương tư định hữu tàm.

          (Thiện Tài vừa phát tâm, trọn trăm thành phương Nam. Sau khi gặp Phổ Hiền, mới biết Tây Phương tịnh. Mười nguyện dẫn sang đó, Thiền sâu chẳng cần tham. Di Đà pháp giới tạng, một niệm nhỏ bé trùm. Sáu chữ tiếng rành rẽ, đầm lạnh trăng rọi ngời. Chưa biết khổ nẻo rẽ, há biết đường này vui? Thượng thiện cùng nắm tay, chư tổ cùng vui vầy. Quán thành mười sáu pháp, chín phẩm vãng sanh bày. Mặc ai theo viên đốn, ta quyết một đường này).

 

* Sáu bài kệ chỉ dạy

 

          1) Mịch tâm vô đắc, tiện tâm an. Thùy giải phao thung cấp thủy than? Lạc địa chẩm thanh kinh khách mộng. Nguyệt di hoa ảnh độ lan can (dạy Tri An)

          (Tìm tâm chẳng được, tâm liền an. Cọc chôn bến nước có ai hay? Gối rơi xuống đất, tan mộng khách. Trăng dời bóng hoa vượt lan can).

          2) Cao sơn tối tảo đắc hy quang. Huyền cổ dư huy diệc bội chương. Hải để lập thân như Thái Nhạc, bất sầu Đông Chí dạ thiên trường (dạy Dục Nham)

          (Nắng sớm non cao chiếu trước tiên, bóng nắng chiều tà vẫn rực ngời. Vững thân đáy biển như non Thái, chẳng ngại Đông Chí đêm thêm dài).

          3) Lục niên khổ hạnh lăo Cù Đàm, ma mạch sung cơ sự thái hàm. Tinh dạ đài đầu minh cá sự. Tiền tam tam thị hậu tam tam (dạy Tuyết Cù)

          (Sáu năm khổ hạnh cụ Cù Đàm. Lúa ngựa đỡ lòng chuyện quá buồn. Ngước ngắm sao đêm hiểu chuyện ấy, trước sau cũng chỉ giống nhau thôi).

          4) Mật tại nhữ biên, an khả truyền? Trường niên nhiêu phá thủy trung thiên. Hoa đ́nh châu phúc vô tiêu tức. Mại tận phong lưu bất trước tiền (dạy Mật Truyền).

          (Mật tại nơi ông, há thể truyền? Bao năm chèo mục, nước in trời. Hoa Đình thuyền lật không tin tức. Mua sạch phong lưu chẳng tốn tiền).

          5) Thanh liên Quyền Thật ư phân minh. Bách vạn nhân thiên giảo tối thân, Độc hữu Ẩm Quang tàng vị tận. Miết nhiên nhất tiếu ngộ phương Xuân (dạy Phu Công).

          (Sen xanh Quyền, Thật ý phân minh. Trăm vạn trời người khá thiết thân. Riêng có Ẩm Quang (Ca Diếp) chưa giấu hết. Bỗng dưng cười mỉm khiến Xuân lầm).

          6) Hồng chung vị khấu dĩ tiên minh. Bất hứa nhĩ văn, hứa nhãn văn. Nê ngưu hống nguyệt hồn nhàn sự. Vô hạn xuân quang phó bạch vân (dạy Tĩnh Hàm).

          (Hồng chung chưa gõ đã ngân vang. Chớ để tai nghe, mắt hãy nghe. Trâu đất rống trăng không gì lạ. Vô hạn xuân quang mây trắng bay).

 

* Đề trên đầu chiếc quạt của Tạ Tại Chi

 

          Giới nhĩ tâm điền túc thủy thảo. Tùy tha thử ngoại biệt tầm thảo. Quân bất kiến, đại thiên tam biến thổ y nhiên. Long nữ tùng tư xuất hải đảo.

          (Ruộng tâm bé tí, cỏ nước đủ đầy. Ngoài chốn này ra, đừng tìm kiếm nữa! Ông chẳng thấy: Đại thiên ba lượt biến hóa[17], cõi nước vẫn y nguyên. Long nữ bởi đó lìa hải đảo).

 

* Tặng cư sĩ Ngụy Quốc Từ Yến Siêu

 

          Khải đễ từ tường cổ Phật tâm. Khâm kỳ sảng lãng giới đầu châm. Chỉ tùng An Dưỡng lấn phu ngạc. Bất hướng thời lưu giảo phủ tầm. Nhất niệm tiện năng nghiêm tứ độ. Thập thanh thùy khẳng dịch thiên kim? Xuân lai liễu diệp sơ hàm tiếu. Bả thủ đồng du giải thoát lâm.

          (An hòa, vui vẻ, lại bình dị; từ ái, an tường cổ Phật tâm. Tâm in vằng vặc, căn cơ hợp. Chọn đúng đóa sen nơi Cực Lạc, chẳng thuận mưu sanh theo thói đời. Một niệm trang nghiêm bốn cõi tịnh, mười câu ai chịu đổi ngàn vàng? Xuân về, lá liễu nẩy xanh biếc. Nắm tay cùng dạo giải thoát lâm).

 

* Mừng thọ ông Lưu Kim Độ nhân dịp sáu mươi tuổi

 

          Văn chương thùy vũ trụ, quy giới ấn tâm vương. Nhĩ thuận viên thông chỉ, hà phong điện các lương.

          (Văn chương rợp vũ trụ, quy giới ấn tâm vương. Tai làu viên thông chỉ, gió sen mát gác đền).

 

* Ngũ Giới Ca để dạy Hám Nguyệt

 

          Thọ giới dị, thủ giới nan, mạc tương đại sự đẳng nhàn khan. Phù nang độ hải tu cần hộ. Nhất niệm sai trì toàn thể tàn. Lý thắng dục, tiện an lan, bả định tùng lai sanh tử quan. Nhậm tha nghịch thuận ma quân tiễn. Lẫm lẫm cô hoài nguyệt ảnh hàn. Bất sát sanh, đại từ nhân. Vật ngã nhất thể như trường xuân. Nhuyễn động quyên phi Phật tánh đẳng, hiền ngu quư tiện vô sơ thân. Bất thâu đạo, sung nghĩa áo, chánh trực thanh liêm minh tiết tho. Tâm ngoại vô pháp khả đương t́nh, Bồ Đề tánh cụ phi tha tạo. Bất dâm dục, phạm hạnh đốc, thân tâm kiểu khiết đồng châu ngọc. Thái sơn kiều nhạc lập thanh phong, đẳng gián siêu xuất Sa Bà ngục. Bất vọng ngữ, thành tương dữ, quảng trường thiệt tướng hôn đồ cự. Thỉ khẩu thiên kim địch quốc khâm, cửu giới đồng quy tác châu chử. Bất ẩm tửu, ly quần xú, trí huệ chiếu minh sư tử hống. Y lý viên châu khởi cánh vong, miễn đắc thân ông tái khổ khẩu. Tam Quy, Ngũ Giới quả tinh minh. Quán Âm, Thế Chí vi sư hữu.

          (Thọ giới dễ, giữ giới khó, đừng coi đại sự như chuyện đùa. Vượt biển phải siêng giữ phao nổi. Một niệm sai lầm, toàn thể tàn. Lý thắng dục vọng, sóng liền yên. Ải sanh tử từ đây nắm chắc! Mặc cho mũi tên của ma quân nghịch hay thuận, nỗi niềm quạnh quẽ bóng trăng lạnh. Chẳng sát sanh, đại nhân từ. Vật và ta một Thể, Xuân còn mãi. Bay bò, ngọ nguậy, Phật tánh đồng. Hiền, ngu, sang, hèn, chẳng thân, sơ. Chẳng trộm cắp, nghĩa sâu đầy. Chánh trực, thanh liêm, rạng tiết tháo. Ngoài tâm không pháp để bận lòng; Bồ Đề tánh trọn, không do điều gì khác tạo. Chẳng dâm dục, phạm hạnh chuyên dốc, thân tâm trong sáng như châu, ngọc. Non Thái sừng sững đón gió mát; đẳng gián vượt khỏi ngục Sa Bà. Chẳng nói dối, đối xử chân thành, tướng lưỡi rộng dài, đuốc trong đường tối. Miệng thốt ngàn vàng, nước đối địch khâm ngưỡng. Chín giới cùng quy hướng, làm bến bãi. Chẳng uống rượu, lìa các điều xấu, trí huệ chiếu sáng, sư tử rống. Viên châu trong áo há còn quên, cha già khỏi phải rát miệng nữa! Tam Quy, Ngũ Giới quả rạng ngời. Quán Âm, Thế Chí làm thầy, bạn).

 

* Dạy Dục Nham

 

          Giới nhĩ nhất niệm tâm, hoành thụ bất khả tận. Đế thẩm phục đế quán, Bổn Tích nhị câu mẫn. Ngộ hậu diệc phi xa, mê thời diệc hà quẫn. Mê ngộ phất đương t́nh, năi đạt Vô Sanh Nhẫn.

          (Một niệm tâm bé tí, ngang dọc chẳng thể tận. Xét kỹ, lại quán kỹ, Bổn lẫn Tích đều mất. Ngộ rồi cũng chẳng giàu; khi mê, chẳng cùng quẫn. Mê, ngộ chẳng bận lòng, bèn đạt Vô Sanh Nhẫn).

 

* Dạy Mã Quang Thế

 

          Vị tri cá sự nan đắc tri. Dĩ tri dục vong, diệc bất dị. Vong khước Oai Âm na bạn để, kim thời phương hiển đầu đầu thị. Trước y, khiết phạn, lộng thần thông. Kiếm thụ đao sơn nhậm du hý. Niệm Di Đà, toán châu ký. Phu phụ tri năng Đệ Nhất Nghĩa. Tịnh uế lưỡng vong nhưng lịch nhiên, pháp giới phân minh vô ngại sự. Nhất niệm viên chương tứ độ nghiêm, tam thân đốn chứng kinh trường mỵ. Tín đắc chân, kiến đắc chí, bộ bộ cước ngấn đô trước địa. Dĩ tư tự giác, giác chúng sanh, trí huệ quang minh chiếu thập thế.

          (Chuyện chưa biết, khó lòng biết được! Chuyện biết rồi, cũng há dễ quên! Quên rồi, thuộc bên Oai Âm Vương. Nay mới rõ mọi chuyện đều vậy. Mặc áo, ăn cơm: Vận thần thông. Rừng gươm, non đao, mặc du hý. Niệm Di Đà, lần chuỗi nhớ; chồng vợ biết rành Đệ Nhất Nghĩa. Tịnh, uế quên sạch, vẫn rành rành. Pháp giới phân minh chẳng ngại sự. Một niệm phô trọn bốn cõi nghiêm, tam thân chóng chứng, tỉnh mộng dài. Tin chân thật, thấy đến nơi, mỗi bước gót chân đạp vững đất. Dùng đấy tự giác, giác chúng sanh. Trí huệ quang minh chiếu mười đời).

 

* Kệ thí trà

 

          Tâm Phật chúng sanh vô biệt lý. Đông nhật ẩm thang, Hạ ẩm thủy. Kết đắc kim thời hoan hỷ duyên, Tu Ma quốc nội trưởng tương tự. Độ tận hàm linh bất kiến công, Tăng-kỳ kiếp tự sát-na thỉ.

          (Tâm, Phật, chúng sanh chẳng khác lý. Ngày Đông nước nóng, Hạ nước lạnh. Kết thành duyên hoan hỷ hiện thời, cõi Cực Lạc tăng trưởng tương tự. Độ trọn hàm linh chẳng kể công, Tăng-kỳ kiếp bắt đầu bằng sát-na).

 

* Dương Phụ Chi đọc Phá Không Luận

 

          Bát Nhã ly vi tuyệt ngộ mê, hoàn tương ngũ độ tác giai thê. Pháp nguyên vô pháp hà phiền tảo. Không nhược đam không diệc hữu nghê. Thu chí cộng khan đồng diệp lạc. Xuân thâm thời thính tử quy đề. Đạo nhân độc băi Kim Cang luận, ế quyết hề lao cánh mịch bề.

          (Bát Nhã lìa vi, tuyệt ngộ, mê. Vẫn dùng ngũ độ để làm thang. Pháp vốn vô pháp, nào phiền quét? Nếu chấp vào không, vẫn cách ngăn! Thu đến cùng xem lá ngô rụng. Nghe tiếng đa đa kêu giữa Xuân. Đạo nhân đọc trọn Kim Cang luận. Mống khử rồi, tìm chi kim vàng?)

 

* Đề bức họa của Mân Chiêu tặng Quý Phiệt

 

          Cổ mộc cao nham ánh nhật huy. Trường niên phá lăng đới luân quy. Thăng b́nh khúc băi vô dư sự. Tiếu vấn kim lân kỷ hứa phì?

          (Non cao, cây cũ, soi bóng nắng. Bao năm chìm nổi, cáo quan về. Thăng bình hết nhạc, không còn chuyện. Cười hỏi cá vàng béo cỡ nào?)

 

* Dạy Quân Phủ

 

          Trực tín hiện tiền tâm, mịch chi bất khả đắc. Vô pháp túc đương tình. Phân biệt diệc phi thức.

          (Tin thẳng tâm hiện tiền; hễ tìm, chẳng thể được! Tâm chẳng vướng pháp nào, phân biệt cũng chẳng biết!)

 

* Họa đáp Tống Lượng Công

 

          Bất tương bán nhật mạn thâu nhàn. Biện vọng cùng chân biệt hữu duyên. Thức thủ mộng trung thùy tác chủ. Tiện tri hỏa nội diệc tài liên. Lăng Già dĩ ngộ an tâm quyết, bổng hát đa tàm lợi khẩu Thiền. Trân trọng Tử Thiều nhưng cách vật Linh ngưu xuất vĩ thụ quy điền.

          (Đừng sống nhác lười dầu nửa buổi. Luận trọn chân vọng riêng hữu duyên. Biết trong giấc mộng, ai làm chủ? Sẽ biết lửa hồng vẫn trổ sen. Lăng Già đã ngộ an tâm quyết. Gậy, hét càng thẹn lợi khẩu thiền. Trân trọng Tử Thiều[18] hiểu cách vật. Thò đuôi qua song, trâu về đồng).

 

* Kệ học đạo

 

          Học đạo như đàn cầm. Cấp tắc thanh dị tuyệt. Hoãn tắc bất thành âm. Học đạo như thực miêu. Bất vân tạp hoang thảo, trợ trưởng trí khô tiêu. Học đạo như nguyên tuyền, bất kiến hung dũng thế. Lưu cửu thạch năng xuyên. Học đạo như bạch nguyệt, quang đốn chiếu Diêm Phù, minh năi tiệm kiểu khiết. Tiên học luật nghi giới, năng tróc phiền năo tặc. Thứ học định cộng giới, năng phược phiền năo tặc. Thứ học vô lậu giới, vĩnh diệt phiền năo tặc. Tặc tích xương xí thời. Bổn phi tha phương lai. Kim tặc tuy vĩnh diệt, cứu cánh vô sở chi. Thí như thế loạn thời, xứ xứ giai giáp binh. Cập kỳ trị bình nhật, tại tại giai lương dân. Đản đắc tâm vương chánh, căn trần vĩnh túc thanh. Thập nhất thiện tâm sở, như bỉ hiền lương thần. Quân năng thân dụng chi, bạt mao vựng cát chinh. Hiền lương thiện phụ tá, tà ác tự tiềm h́nh. Phong hành thảo tất yển, hà dung vụ lực tranh?

          (Học đạo như đánh đàn. Dây căng, tiếng dễ bặt. Dây chùng, chẳng ra tiếng. Học đạo như trồng lúa. Chẳng cuốc bỏ cỏ dại, sẽ đến nỗi khô héo. Học đạo như suối nguồn, chẳng thấy thế nước mạnh. Chảy lâu sẽ thủng đá. Học đạo như trăng sáng, quang minh chiếu Diêm Phù, sáng ngời, dần trong trẻo. Trước học luật nghi giới, bắt được giặc phiền năo. Rồi học định cộng giới, trói được giặc phiền năo. Kế học vô lậu giới, mãi diệt giặc phiền năo. Lúc xưa, giặc hùng hổ, vốn chẳng phương khác tới. Nay giặc tuy mãi diệt, rốt ráo chẳng tạo tác. Ví như đời loạn lạc, nơi nơi đều binh đao. Tới lúc đời bình trị, mọi chốn dân đều lành. Tâm vương chỉ cần chánh, căn trần vĩnh viễn trong. Mười một thiện tâm sở, như bầy tôi hiền lương. Vua đích thân sử dụng, nhổ cỏ, gom cát tường[19]. Hiền lương khéo phụ tá, tà ác tự náu ḿnh. Gió lùa cỏ ắt rạp, sao dung dốc sức giành?)

 

* Xa xôi, tăng sĩ ở ẩn đau lòng sâu xa

         

          1) Bỉ huýnh giả thương, hồ nhiên cục chỉ. Bỉ quảng giả dư, hồ phục xúc chỉ. Dục bốc ư triều, phân khổng độc chỉ. Dục bốc ư dã, tình diệc khúc chỉ. Vấn lữ ư huyền, vơng khả lục chỉ. Tái vấn ư Thích, bất dị tục chỉ. Tục do thị phước, Thích năi xu ngục.

          (Trời xanh xa thẳm, sao lại hạn cục? Đất rộng như thế, sao lại thu hẹp? Muốn chọn triều đình, lỗ mũi nhiễm độc. Muốn chọn ở ẩn, tình cũng cong vạy. Hỏi han nơi Huyền, chẳng thể ghi chép. Lại hỏi nơi Thích, chẳng khác thói tục. Thế tục chuộng phước, Thích bèn tống ngục).

          2) Bỉ huưnh giả thương, viễn khởi vô cực. Bát vạn do-tuần, cảm ứng nhất tức. Bách nhĩ khai sĩ, vật dật nhĩ đức. Nhân quả thù thường, trần kiếp phỉ thắc. Miết tồn kỳ tư, chung anh quỷ cức. Thứ ky thận tư, sảnh ế thị thức. Mục kư thanh minh, hoa nguyên phi sắc.

          (Trời xanh thăm thẳm, há xa vô cực? Tám vạn do-tuần, một hơi cảm ứng. Trăm vị khai sĩ, chẳng vượt đức họ. Nhân quả đền bồi, trần kiếp chẳng sai. Hễ lòng riêng tư, ắt bị quỷ giết. Mong sao nghĩ kỹ, gột trừ màng mộng, mắt đã sáng trong, hoa vốn phi sắc).

          3) Bỉ huưnh giả thương, phỉ duy phỉ phương. Ngộ dã cố lý, mê dã dị hương. Dị hương chi khúc, bất khả tường dã. Ngã sầu Khổng cức, văn đoạn trường dã.

          (Trời xanh thăm thẳm, chẳng thuộc nơi chốn. Ngộ là quê cũ, mê thành chốn lạ. Chốn lạ mịt mờ, chẳng thể hiểu rõ. Ta sầu Khổng suy, nghe càng đứt ruột!)

          4) Ngã hữu từ phụ, thị an ư Tây. Ngã cửu đào thệ, nhĩ vơng khả đề. Kim ký hối hỹ, si do vị khuê. Tái oán, tái mộ, năi khấp năi đề.

          (Ta có từ phụ, dạy an nơi Tây. Ta trốn đã lâu, tai chẳng nghe thấy. Nay đã biết hối, si vẫn chưa trừ. Vừa oán, vừa mộ, vừa khóc, vừa gào).

          5) Ngã bệnh vị dĩ, hoàng tuất ư tha. Ai thử đồng thể, khẩu tư kỳ đa. Đa ngôn cùng dã, mặc khả dung dã. Tự công quyết nặc, vô tha công dã.

          (Ta bệnh chưa lành, đã xót kẻ khác. Buồn cùng một Thể, miệng cứ ra rả, nói nhiều khôn cùng, chẳng thể dung nổi! Tự uốn nắn mình, chẳng chỉnh người khác).

          6) Linh Phong chi lộc, hữu thất như cốc. Phong tốn ư trạng, tuyết triêm ư phục. Hà kỹ hà cầu? Mã mạch, khổng phức. Thùy khẳng ngã húc, tái tư cập thục.

          (Chân núi Linh Phong, có nhà như hang, gió lùa nơi thân, tuyết ướt đẫm áo. Ghen chi? Cầu chi? Lúa ngựa, khổng phức[20]. Ai chịu giúp tôi, nơi nơi gìn giữ).

 

* Năm bài kệ vào núi

 

          1) Vạn sơn cách đoạn thị trần hiêu, nhật mộ thu phong hống trúc đào, thế trược vị năng dung động tĩnh, chỉ nghi thử địa giải thiên thao.

          (Muôn non cách biệt thị thành ồn, sáng tối gió lùa sóng trúc reo, đời trược chưa dung nổi tĩnh động, mạng trời[21] đành hiểu tại nơi này).

          2) Nhất hạ viêm oai khổ bức nhân, Linh Phong phiến thạch cựu minh tân. Quy lai tuyền vị thiên tăng dật, hà tất đào nguyên[22] mịch tỵ Tần?

          (Nắng oi tiết Hạ khổ bức người. Linh Phong non cũ lại ước lời. Trở về, vị suối càng thêm ngọt. Há tìm nguồn đào để lánh Tần?)

          3) Doanh khuy bổn tự vô tăng giảm, hà cố sơn thâm huy giảo dương. Chiếu thử đạo nhân băng tuyết ư, hạ vân xuân lộ diệc thành sương.      

          (Đầy vơi vốn tự chẳng tăng giảm, vì đâu núi sâu nắng chói hơn? Chiếu ý tuyết băng người tu đạo. Mây Hạ, móc Xuân cũng thành sương).

          4) Nhất vi thiệp động tiện đồi sơn, cức măn chiên lâm nại vị san. Hiểu khởi bất kham tần đối kính, đại thiên vô địa trí tàm nhan.

          (Vi trần vừa động, chất thành núi. Gai rừng chiên đàn chưa thể trừ. Sáng dậy chẳng kham soi gương nổi. Đại thiên thẹn giấu mặt nơi nào?)

          5) Lịch kiếp huân tu thệ vị hôi. Bán sanh tàn suyễn thượng bồi hồi. Trảm đinh tiệt thiết tùng tư thỉ, nhẫn sử ma-ni ẩn tích ai.

          (Bao kiếp huân tu, thệ chẳng tan. Nửa đời thoi thóp vẫn bồi hồi. Chém đinh, chặt sắt từ đây khởi, nỡ để ma-ni cát bụi vùi).

 

* Gởi Thọ U Thê chủ nhân

 

          Chỉ thiên chỉ địa Trùng Dương tiết. Quế cúc tŕnh nghiên minh nguyệt đài. Thập lý tặng quân vô biệt ngữ. Tứ Minh nhất hát thanh như lôi!

          (Chỉ trời, chỉ đất tiết Trùng Dương. Minh nguyệt đài phô quế, cúc xinh. Tiễn ông mười dặm trong im lặng. Tứ Minh vừa quát, sấm vang rền).

 

* Kệ biết đủ

 

          Đức bạc nan tiêu cúng. Vân tuyền ý bội trưởng. Tuyết lai châu măn án. Phong quá diệp doanh sàng. Nhất cụ bồ đoàn ổn. Thiên gia mạch phạn hương. Tự liên thân tiệm lão, khổ hạnh vị kham thường.

          (Đức mỏng khó tiêu cúng. Mây suối ý bội phần. Tuyết rơi châu đầy án. Gió cuốn lá đầy giường. Một chiếc bồ đoàn vững. Cơm ngàn nhà ngát hương. Tự xót thân dần lão, khổ hạnh kham nổi đâu!)

 

* Thất tịnh đốc thúc khắc in Đại Phật Đảnh Kinh Huyền Văn

 

          Ức ngã nhị thập tam, sáng văn chân liễu nghĩa. Thế khấp mỗi triêm cân. Nguyện cầu vô thượng trí. Du niên tâm ích kiên, mẫn miễn tùng phi thế. Lực tảo cát đằng triền, nhất ư ly văn tự. Chỉ kiến tạc đầu phương, na thức chùy đầu lợi. Lại hữu liệt thiện căn, mỵ cảm tự bạo khí. Thời phục ôn cựu văn, triển chuyển bất thành mị. Thiết tư tánh tướng tông, khởi tất phán thành nhị? Vân hà chư sớ gia, các vọng phân môn loại. Nghiên chi vơng khả thông, nhậm chi lưỡng tương lệ. Năi hiên tích nhân khoa, diệc xúc kim thời kỵ. Trực tố thuyết mặc nguyên, tế dịch chỉ nguyệt thí. Xà thằng ma phỉ thù, ảnh quang kính ninh dị. Nguyên vô pháp ngoại tâm, an hữu lư ngoại sự? Diệu chỉ kư linh nhiên, vi ngôn hốt huyền khế. Nghênh nhận giải toàn ngưu, bất thí thổ ủy địa. Ngữ ngữ phá chấp t́nh, tiết tiết thổ uất khí. Tín hữu Phật lực gia, tư hoài an nhẫn muội. Sơ khắc tại Ôn Lăng, sơn xuyên trở điều đệ. Trường Can phục kỷ quyết, Tập công Như Lai sứ. Phú thử khoán Lạc Bang, tương lai đồng thọ ký.

          (Nhớ tôi hăm ba tuổi, mới nghe chân liễu nghĩa. Thường khóc ướt đầm khăn. Nguyện cầu vô thượng trí. Hơn năm, tâm càng vững, nỗ lực đi xuất gia. Dốc sức gạt trói buộc, của dây leo ngôn từ, một dạ lìa văn tự. Chỉ thấy đầu đục vuông, nào biết đầu dùi bén! Nhờ có thiện căn hèn, chẳng dám tự ruồng rẫy. Ôn lại điều đã nghe, trằn trọc chẳng an giấc. Trộm nghĩ tánh tướng tông, há ắt chia thành hai? Cớ sao người chú sớ, hư vọng chia môn loại? Nghiên đọc chẳng thể thông, mặc tình chống đối nhau. Đã trái lối người xưa, lại phạm cấm kỵ nay. Tìm ngay nguồn nói, nín. Phân tích thật cặn kẽ, thí dụ chỉ mặt trăng. Rắn, thừng, gai chẳng khác. Bóng, quang, gương vốn đồng! Vốn không tâm ngoài pháp, há có sự ngoài lý? Diệu chỉ đã rành rành, đôi lời bỗng khéo khế. Lách dao xẻ trọn trâu, nào khác đất nương đất. Từng lời phá chấp tình, từng đoạn phun uất khí. Tin Phật lực gia hộ, riêng mong an trụ nhẫn, cùng với diệu tam-muội. Trước khắc tại Ôn Lăng, xa xôi cách núi sông. Trường Can lại khắc in. Tập công: Như Lai sứ. Làm bằng khoán Lạc Bang; tương lai cùng thọ ký).

 

* Ăn Tết tại Tổ Đường, viết hai bài cảm hoài

 

          1) Diệp lạc sài khô bệnh hậu thân, khẳng tương hư giải bác nhàn danh. Ưng liên ngũ bách sơ đồi nghệ, vị nhẫn cô đơn hănh viễn chinh. Anh chử diện ngân xan huyết lệ. Kim lan ngữ xú kết tâm minh. Tuế triêu vũ địch ma phân tịnh. Thúy cốc truyền khai nhị cổ thanh.

          (Củi khô, lá rụng, vừa khỏi bệnh, đành đem hư giải đổi danh suông. Thương xót năm trăm vừa suy sụp. Chưa nhẫn cô đơn hận viễn chinh. Bảo bọc con côi gạt huyết lệ; kim lan lời vụng, kết đồng tâm. Mưa sớm gột sạch ma khí phận; hang thẳm vang truyền tiếng trống đôi).

          2) Liệt tận mai anh thỉ báo Xuân. Kim niên nhưng thị khứ niên nhân. Quán hà bất cải hồn sanh diệt. Giao tý tiềm di tuyệt cựu tân. Quư ngã vị thường lưu chích tự. Lao tha do tự đổ song thần. Hà như Thiện Cát nham trung tọa, Đế Thích huề lai ngạc măn tuần.

          (Rét hết, mai đơm báo tiết Xuân. Vẫn người năm cũ đón Xuân nay. Nhìn sông chẳng đổi, luôn sanh diệt. Tay khoác ngầm dời, diệt cựu, tân. Thẹn mình chưa từng lưu một chữ. Nhọc người vẫn thấy ngóng hai môi[23]. Sao bằng Thiện Cát[24] ngồi hang đá, Đế Thích dâng hoa cả do-tuần).

 

* Ngẫu nhiên viết thành ba bài tứ tuyệt

 

          1) Cấp vũ cuồng phong tạp văn chung, linh nhiên thân thế trạm âu không. Hiểu khan toái ngọc phô thiên chướng, như thị phù tràng đệ kỷ trùng?

          (Chuông tối đan xen mưa gió cuồng. Rành rành thân thế bọt hư không. Sáng nhìn ngọc nát ngàn rặng rải, phù tràng dường ấy mấy tầng đây?)

          2) Thiếu niên trục đội các hoàn hô, độc tọa cô phong vạn lự khô. Quý hữu nhất đoan tình vị miết, cưỡng tương tàn vũ phú tân sồ.

          (Thiếu niên theo nhóm vui hét to, riêng ngồi đỉnh núi bặt muôn lo. Thẹn một nỗi niềm còn chửa dứt, gượng đem lông nát phủ chim non).

          3) Cá sự hà quan khuy dữ thành, thi bằng lưỡng quỷ quặc phân tranh. Triêu lai chẩm lạc thôi tàn mộng, doanh đắc hư danh giảo vũ khinh.

          (Chuyện thành hay bại bận tâm chi? Xác nhờ hai quỷ xé tranh nhau[25]. Sáng ra, gối rớt xua tàn mộng, đạt được hư danh nhẹ tựa lông).

 

* Nối tiếp câu trong mộng (có lời tựa)

 

          Cái tật của con người là thích làm thầy người khác! Húc kể từ xuất gia đến nay, trọn chẳng mong làm thầy ai, nhưng đã làm thầy mười mấy năm rồi. Mỗi lúc phản tỉnh, [thấy mình] chưa đáng làm đệ tử của cổ nhân! Chao ôi! Mong cái danh trong sáng tối, quên lời thề bao kiếp nhiều như vi trần, có phải là kẻ trí hay chăng? Trong mộng, nghĩ mấy câu: “Nhất kính sầu dung phát tiệm bạch, bán sanh danh thế sự vô thành”. Bất giác khóc òa, tỉnh giấc, [bèn viết tiếp thành kệ như sau]:

          Nhất kính sầu dung phát tiệm bạch, bán sanh danh thế sự vô thành. Nguyện luân dục cộng hư không chuyển, mạc phụ đương niên Lạc độ minh.

          (Trước gương, mặt sầu, tóc bạc dần. Nửa đời danh huyễn, không chuyện thành. Nguyện luân toan cùng hư không chuyển, chẳng phụ thuở ấy nguyện về Tây).

 

* Mùa Xuân năm Bính Tuất (1646), huyễn du Thạch Thành, tùy duyên duyệt Tạng để đền đáp nguyện xưa. Đêm mộng thấy chính mình tạc tượng Địa Tạng Đại Sĩ, thân và đầu đã trọn vẹn, nhưng chưa có tay chân, bèn cảm tác

 

          Tích vũ minh mông nhục khách tư. Cáp thanh truyền oán độ tân chi. Thiên niên học mạch bằng thùy ký? Vạn cổ sầu hoài chỉ tự tri. Kính lý bệnh dung suy dĩ thậm. Mộng trung từ tướng thể do khuy. Hà thời liễu khước văn ngôn trái? Mộ nhập trùng nham tựu cố y.

          (Mưa dầm mờ mịt, khách nghĩ mông lung. Bồ câu kêu ai oán, vượt cành non. Học mạch ngàn năm biết gởi gắm cho ai? Nỗi sầu lắng muôn đời chỉ mình ta tự biết. Trong gương, dung mạo bệnh tật suy quá đỗi. Tướng từ bi trong mộng vẫn còn thiếu sót. Đến thuở nào mới sạch nợ văn chương? Thẳng thừng vào non sâu về chốn chữa lành cũ).

 

* Đối trước cửa sổ ngắm mưa, ngẫu nhiên viết

 

          Thế vận nhược bôn hà, triết nhân nhật dĩ huưnh. Huệ chiếu ai thức vi. Túc tập hằng tại mính. Ta ngã dục chửng hoài, quá thiệp ky diệt đảnh. Hà thời bỉ ngạn hồi, phiêu nhiên giá từ đĩnh. Quang minh sát nhĩ chương, diệu dụng nhưng y quýnh. Mặc yếu nhẫn hoàn cơ, bi thệ thùy năng tịnh. Thức thử phương tiện tông, viên đạt độ sanh khể. Diến tư hoa đài tôn, hồ vi bất tự khẳng.

          (Vận đời sông chảy xiết, triết nhân ngày một xa. Huệ chiếu buồn suy sụp, tập khí cũ luôn trào. Xót tôi mong cứu vớt, quá sâu gần chìm lỉm. Khi nào về bờ kia, thong dong thả bè từ? Quang minh gấp rút tỏa, diệu dụng vẫn ngoài rìa! Thầm nhẫn chuyện hoan hỷ, bi thệ ai cùng hành? Biết tông phương tiện này, thấu đạt lẽ độ sanh. Nghĩ đấng trên đài hoa, cớ sao chẳng khẳng định?)

 

* Cảm tác trong khi bị bệnh

 

          Tứ bách tứ bệnh hỗ vi nhiễu, bát thập bát sử trấn tương tùy. Mộng lý hốt ức đại sĩ hiệu. Tư ta cảm mộ nhưng hu hy. Như ư châu vương thùy miệt hữu. Linh binh kiếp bá đồ ngu si. Niệm Phật độc hứa tam-muội bảo, thanh thanh viên chương vô doanh khuy. Thượng sĩ nhất quyết, nhất thiết liễu; cuồng tà phiên phúc, sanh hồ nghi. An Dưỡng nhất toát tức Hoa Tạng, Di Đà thập kiếp Tỳ Lô sư. Tùng kim nhất tín vĩnh phất mê, hoành siêu na úy sanh manh xuy.

          (Bốn trăm bốn bệnh cùng vây quanh. Tám mươi tám sử thường theo chắc. Trong mộng bỗng nhớ đại sĩ hiệu. Than thở, cảm mộ, cùng tán thán. Như Ý châu vương ai chẳng có? Phiêu bạt bao kiếp uổng ngu si! Riêng niệm Phật là tam-muội bảo; mỗi tiếng phô trọn, chẳng thiếu thừa. Thượng sĩ xong một, xong hết thảy. Cuồng tà trăn trở, sanh hồ nghi. An Dưỡng hễ nắm, Hoa Tạng đạt. Di Đà mười kiếp Tỳ Lô sư. Từ nay hễ tin, chẳng mê nữa; hoành siêu há sợ kẻ mù cười!)

 

* Đọc Đại Trí Độ Luận xong, ghi lại hoài bão thành bốn bài

 

          1) Vũ đa nhập Hạ, dạ thiên hàn. Hồ, Hán ư kim biện tối nan. Nghĩ tuyệt bách phi hoàn trụy đoạn. Dục ly tứ cú dĩ thành ban. Phân minh văn tự nguyên vô tánh. Khước quái hư không diệc khả ngoan. Lại hữu hoành siêu quy lộ ổn, bất tùy niên thiếu học Hàm Đan.

          (Vào Hạ mưa nhiều, đêm lạnh căm. Hồ, Hán hiện thời khó biện phân. Mong dứt bách phi, vẫn vướng mắc. Toan lìa tứ cú, sẹo đã hằn. Rõ ràng văn tự vốn vô tánh. Đâu lạ hư không cũng xẻo rời! Nhờ có hoành siêu nẻo về ổn, chẳng như thuở trẻ học Hàm Đan).

          2) Bát Nhã hà thường độc thượng không? Thông năng thành tắc, tắc thành thông. Lăng chùy Phật sự tùy duyên kiến, hà kính ma quân nhậm vận công. Độ tận chúng sanh vô khả độ. Công viên diệu giác bất cư công. Ưng liên thử nhật đàm huyền khách. Ngư mục, ma-ni vọng nghĩ đồng!

          (Bát Nhã bao giờ chỉ có Không? Thông hay thành tắc, tắc thành thông. Phật sự mũi băng tùy duyên tạo. Ma quân mặc sức đánh gương sen. Độ hết chúng sanh chẳng thể độ. Công viên diệu giác chẳng cậy công. Hãy thương kẻ đang đàm huyền diệu; mắt cá, ma-ni lầm hệt nhau!)

          3) Bệnh tại cao hoang diệc khả y. Tự tàm tích kiếp thái hàm si. Kỷ hồi thuyết mộng nhưng thiêm mộng. Chỉ thị tam tư vị tái tư. Cấu trọng dũ tri học bất yếm. Sám tần chung thị pháp nguyên từ. Bút đoan xỉ lạc thôi tàn quỹ (cử bút hốt lạc nhất xỉ). Tống tưởng huyền luân cánh mạc trì.

          (Bệnh lậm trầm kha vẫn chữa lành. Thẹn thùng bao kiếp quá khờ si. Mấy phen nói mộng, càng thêm mộng. Ba lượt suy lường, nghĩ chẳng thông! Cấu nặng càng biết học chẳng chán. Sám nhiều vẫn cậy pháp vốn từ. Nâng bút, rụng răng, nương bóng xế (vừa nâng bút bỗng rụng một cái răng). Tâm tưởng huyền luân chớ trễ tràng).

          4) Hàn thử thôi nhân niệm niệm di, hà tu xỉ lạc thỉ thiêm bi. Lang kinh vị đắc chi tiêu tận. Thảo ích không linh nhục tiệm nuy. Tao thủ khống quy vô thượng sĩ, phủ ưng phi lộ hữu sanh tỳ. Tha niên Tịnh Độ hoa phu nhật, ký thủ đàn tiền thống khốc thời.

          (Lạnh nóng thúc người, niệm niệm dời. Cần chi răng rụng mới thêm buồn? Hãi hùng chưa đắc, tiêu sạch mỡ. Cỏ rậm hoang vu, thịt tóp dần. Gãi đầu ép nương vô thượng sĩ; đấm ngực phát lộ lỗi trong đời. Năm nào Tịnh Độ hoa bung nở, nhớ lúc trước đàn khóc đớn đau!)

 

* Dạy tỳ-kheo Dung Am

 

          Sân năng đăng gia bảo; từ năi tích pháp tài. Tổn ích chỉ tại ngã, hồ dĩ không bồi hồi? Minh kính hiện nghiên xú, ảnh tượng vô khứ lai. Đản nghi cung tự hậu, thận vật trách hữu sài. Kiết củ khả vi dụ, thứ kỷ chân hôn manh. Quá khứ dĩ vô cập, tương lai tu sáng trừng. Thâm tư nhẫn nhục hạnh, cát tiệt tâm vô bệnh. Sân tắc lưỡng câu thương, từ tắc tịnh hoạch khánh. Thích Ca quả kư viên, Ca Lợi nhân diệc chánh!

          (Sân phá sạch gia sản, từ tích tụ pháp tài. Tổn, ích chỉ tại ta, sao lại bồi hồi suông? Gương sáng hiện đẹp, xấu. Hình bóng chẳng đến, đi. Nên tự mình nhân hậu. Cẩn thận, đừng trách bạn. Dùng khuôn phép khuyên dụ, phản tỉnh kẻ tối lòa. Quá khứ chẳng đổi được, tương lai cần dè chừng. Nghĩ sâu hạnh nhẫn nhục, cắt trừ tâm không bệnh. Sân đôi đằng đều tổn; từ ắt cùng được vui. Thích Ca quả đã viên, Ca Lợi nhân cũng chánh).

 

* Sanh nhật năm Bính Tuất, mưa rào vừa tạnh, ngẫu nhiên viết

 

          Tứ thập bất văn đạo, ngũ thập do không lão. Túng mãn bách niên xuân, hề túc xưng thọ khảo? Tuế tuế thử nhật sanh, thử sanh hà nhật liễu? Pháp môn tiểu tỳ-kheo, luật hạnh đa vị hiểu. Thuyết thời tự tỉnh tỉnh. Dụng thời nãi điên đảo. Sổ hối, phục sổ vi. Ta tai hằng thống bão. Sở thị cách ngoại từ, thị ngã tam-muội bảo. Tùy phần độ dư huy, lôi vũ hoàn tình kiểu.

          (Bốn mươi chẳng nghe đạo. Năm mươi vẫn già suông! Dẫu xuân tròn trăm tuổi, sao đáng xưng chết thọ? Mỗi năm ngày này sanh, đời này khi nào liễu? Tỳ-kheo nhỏ trong pháp, luật hạnh chưa hiểu nhiều. Khi nói, tợ tỉnh ngộ. Khi dùng bèn điên đảo. Mấy lượt hối lại phạm. Buồn thay, luôn buốt lòng. Cậy lòng từ đặc biệt, dạy con báu tam-muội. Tùy phần qua ngày tàn, sấm mưa lại quang tạnh).

 

* Mừng thọ Mã Thái Chiêu nhân dịp bốn mươi tuổi

 

          Hình nhi thượng giả vị chi đạo, hình nhi hạ giả vị chi khí. Tứ Đế phân minh cử tự nhân, thùy đạt duyên sanh Đệ Nhất Nghĩa? Phi đoạn, phi thường, phi hữu không. Pháp pháp đầu đầu tuyệt tư nghị. Bỉ phu vấn ngã, ngã vô tri. Thời hành vật sanh thiên hà thị? Khẳng tùng Tuyên Thánh mịch tâm nguyên, tiện ngộ Oai Âm na bạn sự. Chiêu lăo kim phùng bất hoặc niên, chúc quân liêu cử kim cang trí. Thức thủ duyên sanh vô tánh tông, phương tri Tam Tạng phi văn tự.

          (Hình nhi thượng bèn gọi là “đạo”, hình nhi hạ thì gọi là “khí”. Tứ Đế phân minh dường có người, ai thấu duyên sanh Đệ Nhất Nghĩa? Chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng có, không. Mỗi pháp, mỗi chuyện bặt nghĩ bàn! Kẻ hèn hỏi tôi, tôi chẳng biết. Bốn mùa đắp đổi, muôn vật sanh, trời đã chỉ dạy điều gì vậy? Chịu theo Tuyên Thánh tìm nguồn tâm, ắt ngộ chuyện bên Oai Âm Vương. Ông Chiêu nay đến tuổi bất hoặc, chúc ông khéo vận kim cang trí. Nhận biết duyên sanh vô tánh tông, mới biết Tam Tạng chẳng văn tự).

 

* Họa đáp Trương Hưng Công (hai bài)

 

          1) Tăng-kỳ khởi thị uổng thi công, độc quái lang vương cưỡng dị đồng. Không giới nhậm tùng tinh bố liệt, xuyên lưu chung hướng hải hồn dung. Phân minh vạn vật nguyên phi vật, phảng phất tương phùng khước vị phùng. Giới nhĩ mịch thời tuy bất đắc, điều tâm thùy kế khả sư phong.

          (Tăng-kỳ há phải uổng công hành? Riêng lạ lang vương cưỡng dị, đồng? Không giới mặc cho sao phủ khắp. Các dòng vào biển, một vị thôi. Rõ ràng muôn vật chẳng phải vật. Phảng phất gặp nhau, chẳng gặp đâu! Khi tìm tâm nhỏ tuy chẳng được; nương thầy điều tâm, ai được đây?)

          2) Đạo khoáng vô nhai mạc kế công. Hằng sa Phật tổ lộ giai đồng. Tùy t́nh dị kiến nguyên phi dị, nghĩ dục dung quy tiện phất dung. Không kiếp kiếp tiền nhưng thị vật. Hữu mê, mê xứ diệc tương phùng. Hỷ văn bất muội sanh bình cú, kim nhật y nhiên Bàng lão phong.

          (Đạo rộng không bờ, chẳng kể công. Hằng sa Phật, tổ, nẻo đều đồng. Do tình thấy khác, vốn chẳng khác. Toan muốn dung thông, sẽ chẳng dung. Trước thuở kiếp không, vẫn là vật. Có mê nơi chốn, vẫn tương phùng. Suốt đời thích nghe, chẳng lầm lẫn. Nay hệt như phong cách cụ Bàng).

 

* Trung Thu năm Bính Tuất nghĩ nhớ Tịnh Độ

 

          Hạo nguyệt niên niên chiếu khách thu. Mộng trung thời động cố hương sầu. Đâu la miên thủ thùy ưng cửu. Ưu bát la hoa tán vị thu. Si điệu bất trừ, tăng quý sắc. Tham sân do xí, ngại chân tu. Trường không nhạn ảnh tiêu nhiên độ, ký ngã thâm tư đáo bảo lâu.

          (Trăng sáng hằng năm chiếu khách thu. Trong mộng bỗng sầu nhớ cố hương. Tay đâu la miên[26] xòe lâu lắm, hoa ưu bát rải vẫn chửa thâu! Si, động chưa trừ, càng thẹn hổ. Tham sân lừng lẫy, chướng chân tu. Bóng nhạn trên không vừa thoáng vút, lầu báu càng mong nghĩ tưởng sâu).

 

* Tiết Trùng Dương năm Bính Tuất (1646) cùng Trạm công lên ngọn núi Tổ Đường

 

          Tú xuất phù dung tiếp tử vi. Vạn sơn bồ bặc cạnh quy y. Luận giao chỉ hứa minh thiên cổ. Vấn đế vô lao đỗ bách phi. Giang thượng phong phàm thùy khứ trụ, phong đầu vân vật nhậm tường phi. Kỷ chi hồng diệp tŕnh thu ảnh, tuấn lãnh hàn không ánh văn huy.

          (Phù dung rực rỡ chen tử vi. Muôn non phủ phục giành quy y. Luận bàn chỉ hẹn cùng muôn thuở. Hỏi đạo chẳng nài, dứt bách phi. Trên sông, căng buồm, ai bơi đậu? Mây, vật đầu non, mặc liệng bay. Mấy cành lá thắm phô thu ảnh. Chiều lạnh non cao hắt bóng tà).

 

* Truy điệu pháp hữu Dư Chánh

 

          Chí sĩ mỗi nan ngộ, hồ vi đa yểu thương? Mạt vận cố mạc văn, bi tâm ninh khẳng vong. Lương do danh căn ngộ, thuyết dược mê chân phương. Chỉ Quán phạp châm biến, văn kiến tư cao hoang. Sở dĩ minh tâm quyết, phiên tác tường thân thương. Tuy trục huyễn duyên thệ, kim cang chủng vị vong. Tiên cận Di Đà giác, yêu dư phản cố hương.

          (Chí sĩ thường khó gặp, cớ sao thường mất sớm? Mạt vận khó vãn hồi, bi tâm há chịu quên? Do lầm nơi danh, căn; nói thuốc, mê toa lành. Chỉ Quán thiếu cân nhắc, kiến văn lậm tận xương. Do vậy, minh tâm quyết, biến thành mâu đâm thân! Tuy ruổi thề huyễn duyên, giống kim cang chưa mất. Trước gần Di Đà giác, vời tôi về cố hương).

 

* Phúng điếu đại đức Lữ Bạc

 

          Tịnh Độ thiều thiều bất thiệp tŕnh, Diêm Phù lễ tụng dĩ công thành. Âu hoa đốn diệt thiên sanh ảnh. Đức thủy sơ tiêu cửu phẩm danh. Thù trái khởi ưng hiềm bệnh khổ, hoành siêu ninh phục úy cơ b́nh? Ân cần vị ngã cầu từ phụ, hà nhật đồng thùy chích thủ nghênh.

          (Tịnh Độ xa vời về đến ngay, Diêm Phù lễ tụng công đã thành. Ngàn đời chóng diệt bọt, hoa bóng. Nước đức ghi danh chín phẩm rành. Đền nợ há hiềm thân bệnh khổ, hoành siêu há lại sợ chê gièm? Sốt sắng vì tôi cầu từ phụ, ngày nào tay cùng rủ tiếp nghênh).

 

* Dạy Trần Chỉ Trung

 

          Xuất gia nhi, cầu an ninh, ngoại ninh tất hữu nội ưu sanh. Vô lượng kiếp lai hư vọng chủng, quán hướng Thiền Na tĩnh lư tŕnh. Xuất gia nhi, cầu tôn quư. Hổ bối tiên nhân nan khứ trụ. Thành Phật tác tổ đới ô danh. Đới giác phi mao thôi thượng vị. Xuất gia nhi, cầu vô lụy, giải thoát thâm khanh an khả trụy? Liên hoa nguyên hướng ô nê sanh, lục địa cao nguyên không độn trí. Xuất gia bất tại kỷ hành phát. Tiên tu luyện tựu thuần cương cốt, khám phá thời lưu danh lợi căn. Cửu nhận vị tuyền tu tái quật. Tùng thử lộ đầu chân, môn đ́nh mạn vấn tân. Quy Sơn cảnh sách ngữ, cổ đức hữu chân nhân.

          (Người xuất gia mong an ổn; ngoài an ổn, ắt trong có ưu phiền sanh. Chủng tử hư vọng từ vô lượng kiếp, thường quen hiện ra trong khi Thiền Na thanh tĩnh. Người xuất gia cầu tôn quư, tiên nhân trên lưng cọp khó đến đi. Thành Phật, làm tổ vướng ô danh. Đội sừng, khoác lông được nâng lên địa vị cao cả. Người xuất gia cầu chẳng phiền lụy, hố sâu giải thoát sao chẳng đọa? Hoa sen vốn mọc từ bùn nhơ. Đất bằng, cao nguyên vùi dập suông. Xuất gia chẳng do mấy cọng tóc. Trước cần tu luyện cho xương cốt cứng thuần. Thấy thấu suốt cái gốc danh lợi trong thói đời. [Đã đào sâu] chín nhận chưa thấy mạch nước, vẫn đào tiếp. Từ đấy đường nẻo chân thật, chẳng cần hỏi bờ bến nơi môn đình nữa. Lời cảnh sách của Quy Sơn, cổ đức có cái nhân chân thật).

 

* Nhân ngày sinh nhật của Linh Dịch dùng kệ chỉ dạy

 

          Hữu đức tức hữu phước, vô sân tức vô họa. Tâm khoan thọ tự diên, lượng đại trí tự dụ. Ưng tư lăo đầu đà, nguyện cư chúng nhân hậu, phá nạp dĩ giá thân, tŕ bát độ bần lậu.

          (Có đức liền có phước, chẳng sân tức chẳng họa. Tâm rộng, thọ tự tăng. Lượng lớn, trí tự dày. Nên nghĩ lão đầu đà, nguyện ở sau mọi người, áo chằm rách che thân, bưng bát độ nghèo hèn[27]).

 

* Từ biệt pháp hữu thuộc hai đường

 

          Thế đế căng lưu bố. Ai ai cổ Phật tâm. Hý dương tuy ái lễ. Bái thượng khởi tùng kim. Cộng chấp lư an giải. Tranh tương thị đế khâm. Dẫn thương khắc vũ hậu, ninh cảm vọng tri âm.

          (Thế Đế xót lưu truyền. Buồn thay tâm cổ Phật. Cúng bái[28] tuy chuộng lễ, lạy xong há còn theo? Chấp kiến giải yên lừa[29]. Tranh nhau chuộng tai hồng[30]. Âm nhạc đạt tột đỉnh, sao dám mong tri âm?)

 

* Dạy Khoát Nhất (hai bài)

 

          1) Nhược dục kết chế khán kinh, tu yếu hội quy tự kỷ. Tâm ngoại cánh vô biệt truyền, vạn vật đản đồ khẩu nhĩ. Vân quang bất miễn phụ ách, hà huống kim thời trĩ tử. Đệ nhất yếu sanh tín tâm. Đệ nhị yếu cụ sanh tử. Phủ ngưỡng khoáng kiếp luân hồi, tất cánh như hà đắc chỉ? Thính ngã huyết lệ khổ ngôn, thứ bất chung vi khang bỉ.

          (Nếu muốn kết chế xem kinh, cần phải biết quy vào chính mình. Ngoài tâm chẳng có truyền riêng, muôn phần chỉ mong tai, miệng. Trời quang còn chẳng khỏi mang ách[31], huống chi hiện thời thơ dại! Thứ nhất là phải sanh tín tâm. Thứ hai phải sợ sanh tử. Ngước nhìn luân hồi bao kiếp, rốt cuộc như thế nào để ngưng nghỉ? Nghe tôi rỏ huyết lệ, thốt lời khó nghe, hòng trọn chẳng thành cám bã!)

          2) Hoa Nghiêm viên đốn kinh vương, Phổ Hiền pháp giới tông chủ. Thập nguyện đạo quy Cực Lạc, tiện thị huyền cực vi chỉ. Nhược cánh biệt khấu tổ quan, đô thị nô bộc tỳ sử. Quả nhiên kỳ đặc trượng phu, trác tín tâm tác, tâm thị. Niệm niệm tương ứng bất sai, khởi khẳng thủy trung khát tử? Thuấn tức toàn chuyển vạn lưu, nhất cú Di Đà đáo để.

          (Kinh vương Hoa Nghiêm viên đốn, Phổ Hiền: Tông chủ pháp giới. Mười nguyện dẫn về Cực Lạc, chính là ý chỉ vi nhiệm tột cùng. Nếu riêng gõ cửa ải của tổ, sẽ đều là nô bộc, tôi tớ. Quả thật bậc trượng phu lạ lùng, tin tột bực “tâm làm, tâm là”, niệm niệm tương ứng chẳng sai, há chịu chết khát trong nước? Chớp mắt xoay chuyển muôn dòng, một câu Di Đà đến cùng).

 

* Kệ phóng sanh niệm Phật xã của Thiền đường chùa Lợi Tế (có lời tựa)

 

          Tâm yếu của Phật, Tổ là “bi và trí cùng vận dụng” mà thôi! Chuộc mạng là đại bi hạ hóa. Gởi tâm sang Tây Phương là đại trí thượng cầu. Điều hay khéo trong pháp môn không chi hơn điều này! Nhưng chẳng có gì là không có khởi đầu mà lại có kết thúc. Do vậy, hãy nên kiên cố cái tâm, dùi mài cái hạnh, ngõ cầu bằng khoán báu nơi ao quý thuộc về ta, chứ không thuộc vào ai khác!

          Chư pháp bổn vô sanh, bất sanh phi thật nghĩa. Ngư dược dữ diên phi, minh minh Phật tổ ư. Hồi hướng Cực Lạc bang, viên thành vô thượng trí. Lịch kiếp thỉ vật huyên, thị danh chân lợi tế.

          (Các pháp vốn vô sanh. Bất sanh: Chẳng thật nghĩa. Cá nhảy, diều hâu bay, rành rành ý Phật, tổ. Hồi hướng cõi Cực Lạc, viên thành vô thượng trí. Trải kiếp thề chẳng dối; đó gọi thật lợi tế).

 

* Gởi lời dạy về Thiền Quan (bế quan tu Thiền)

 

          Ma giới như hề, Phật giới như, kim cang bảo kiếm dụng hà vi? Phân minh bình địa sanh qua kích, thác nhận thôn ca xã ẩm thời.

          (Ma giới như, mà Phật giới như. Kim cang gươm báu để làm chi? Đất bằng rành rẽ can qua dấy. Lầm nhận xã thôn lúc nhậu, ca).

 

* Ngày Tự Tứ năm Canh Dần (1650) (hai bài kệ, có lời tựa)

 

          Nằm tại Bắc Thiên Mục, muôn mối lo nghĩ nguội lạnh như tro tàn. Có mấy người cùng chí hướng dùng Tỳ Ni để nhắc nhở lẫn nhau. Tỳ Ni là hàng hóa mục nát lâu ngày mà vẫn được hỏi đến, khác nào đậu nổ trong tro lạnh. An cư xong, nhắc lại quy củ Tự Tứ thơm thảo, buồn vui chen lẫn, cảm khái mà viết [các bài kệ sau đây].

          1) Bỉnh chí thung tùy tục, kỳ tâm xí tích hiền. Nghĩ tương phàm địa giác, trực bổ Niết Bàn thiên. Bán thế cô đăng thán, đa sanh hoăn giới khiên. Hạnh phùng châm giới hợp, cảm khấp lệ như tuyền.

          (Giữ chí lười theo tục, tâm mong như cổ hiền. Toan đem phàm địa giác, vá thẳng trời Niết Bàn. Nửa đời than trơ trọi, nhiều kiếp phạm giới lầm. May gặp người hợp chí, cảm động suối lệ tuôn).

          2) Chánh pháp suy như hứa, thùy tương nhất tuyến truyền? Bất minh niệm xứ huệ, đồ tụng mộc xoa thiên. Thập tử thùy tiên thệ? Chư anh hỷ phục liên. Tứ Hoằng cửu hữu thệ, mạc thế Mã Minh kiên.

          (Chánh pháp suy dường ấy, ai sẽ một mối truyền? Chẳng hiểu niệm xứ huệ, chỉ tụng suông giới kinh. Mười người ai mất trước? Các vị mừng xót thương. Thề Tứ Hoằng đã lâu, chẳng gánh thay Mã Minh).

 

* Họa đáp Đàm Tảo An

 

          Khẳng tương ngõa lịch dịch minh châu, cá sự tùng lai hình ảnh câu. Tín đắc thử tâm chân Phật chủng, nhậm tha cảm tác độn căn hô!

          (Chịu đem ngói, sỏi đổi minh châu. Chuyện ấy xưa nay hình bóng nhiều. Tin tưởng tâm này chân Phật chủng. Mặc ai cảm tác quở độn căn!)

 

* Cuối Thu năm Tân Mão (1651) lại lên chùa Tây Hồ, cảm tác ba bài kệ

 

          1) Phong phàm phá lăng trắc nguy cương, chuyển ức giao t́nh không tự thương. Thất thập nhị phong minh nguyệt tại. Thiên thu dật hứng phó ba quang.

          (Cánh buồm lướt sóng bên bờ hiểm, nghĩ nhớ đan xen luống tự buồn. Bảy mươi hai ngọn trăng sáng chiếu, ngàn năm nhã hứng phó sóng vờn).

          2) Bất tu điếu cổ luận tiền hậu, thả cộng tầm kim thùy thỉ chung? Thu sắc dĩ tùy phong thụ lăo, thần hy nhưng tự liệu hoa hồng.

          (Chẳng cần hoài cổ luận sau trước, nay hãy cùng tìm ai cuối, đầu? Rừng phong chuyển sắc thu già úa, nắng mai vẫn rực hoa tươi hồng).

          3) Phong đầu vân vật khứ nhưng phản. Ba lư sơn quang trụ diệc phù, độc băi Duy Ma hương vị lănh, hựu di thanh mộng nhập Thiền lâu.

          (Mây, vật đầu non đi rồi lại. Sóng in sắc núi nổi lênh đênh. Đọc hết Duy Ma, hương chửa lạnh; khiến cho mộng đẹp nhập lầu Thiền).

 

* Bị mưa cản trở tại Phước Nguyên, dùng vần trong bài Bạch Lạc Thiên của thiền sư Tuyết Đậu

 

          1) Tối thị Thiền quan chuyển xử u, Động Đ́nh yên thủy hộ Thần Châu. Tùng Danh La Hán tùng Đường Tống. Tuyền tự chân nguyên ánh đẩu ngưu. Ổn tọa Phật khám tiêu vĩnh nhật. Lãn tầm ngư phụ vấn cô châu. Niên lai hồ thố nhưng thành dã, thốc thốc quần phong hoành điểm đầu.

          (Thiền quan thành chỗ âm u nhất, Động Đình khói sóng giữ Thần Châu. Tùng Danh La Hán từ Đường, Tống. Cội gốc suối chùa rạng đẩu ngưu[32]. Ngồi nơi khám Phật qua ngày tháng, lười tìm ngư phủ hỏi thuyền đơn. Bao năm cáo, thỏ ngoài hoang dã, vun vút gió lùa ngang đỉnh đầu).

          2) Khuất chỉ Tiêu Lương lộ vị canh, đ́nh tiền song thụ ư minh minh. Phong dao hồng diệp do trệ. Vũ thấp thanh đài ấn dĩ thành. Tùng cổ cộng tư ha hộ cửu, điện thâm doanh đắc bộ hành khinh. Chủ nhân bất yếm hồ sơn khách, triêu trích gia sơ, mộ hựu sanh.

          (Bấm tay, Tiêu Lương[33] chưa rành nẻo. Đôi cây sân trước ý rành rành. Gió lùa lá thắm gần tan tác. Mưa ngấm rêu xanh in vết hằn. Tùng xưa cùng hỏi lâu gìn giữ. Điện thẳm cất bước nhẹ nhàng qua. Chủ nhân chẳng chán khách sông hồ. Sáng hái rau ngon, chiều lại sanh).

 

* Họa đáp Vương Quý Diên

 

          Mă ngưu tác đội tận như tŕ, thùy phá hàm quyền danh tướng mi. Thiên cổ mịch lai nan đắc hữu. Tam nhân hành xứ dị tầm sư. Hư không lực áp chung vô trấp. Khổi lỗi khinh đề diệc hữu nghi. Tá vấn hà phương tự tu dục, A Già nhất vị bất câu thời.

          (Trâu, ngựa thành đoàn tận ruổi rong. Ai phá buộc ràng cương danh tướng? Ngàn đời khó thể tìm được bạn. Ba người cùng đi dễ kiếm thầy! Hư không ép trọn, không ra nước. Con rối khẽ nhấc, có cách riêng. Thử hỏi chốn nào tự tu tập? Một vị A Già câu nệ chi?)

 

* Hai bài kệ tặng thủ tọa Thanh Nguyên khi Ngài trở về Giang Ninh

 

          1) Mộc tê hương băi, cúc sơ hoàng. Trường Thủy than đầu biệt thoại trường. Ngõa phủ lôi minh kim bội thậm, huyền châu long hộ chánh nghi tàng. Sầu khan trí xảo đa thành tạc, hỷ thính chuyên mông sảo vị tường. Dữ nhĩ cộng kỳ tuyền thạch mộng. Linh Phong thệ cảnh cộng thường dương.

          (Hoa mộc tàn hương, cúc chớm vàng. Trường Thủy bãi sông chớ luyến lưu. Nồi sành sấm dậy[34] nay càng lắm. Rồng giữ huyền châu chớ phô phang. Sầu xem trí khéo thường sai nẻo, ngu muội thích nghe chẳng xét suy. Với ông cùng mộng bên đá, suối. Linh Phong thề sẽ cùng thong dong).

          2) H́nh ảnh tương tùy vị thị thân. Nhiêu tha nghĩ nghị chuyển mê chân. Nhất sanh tự tụng, hiềm tần phục. Bán thế đào danh, hạnh ngộ tân. Quư tích đàm kinh do hữu thạch, hân kim vấn tự tiệm vô nhân. Tha niên mạc phụ trân tŕ ước, đốn tẩy tùng tiền ái kiến trần.

          (Hình bóng theo nhau, chưa phải thân. Mặc người bàn tính chuyển mê, chân. Một đời tự trách, nhiều lượt phạm. Nửa kiếp trốn danh, may gặp đường. Thẹn xưa luận kinh còn có đá[35]; nay thích hỏi chữ, dần không người! Năm nào đừng phụ hẹn ao báu, ái kiến trần xưa chóng gột phai!)

 

* Đàm Tảo Am mời tôi cùng Vương Chỉ Am, Cao Niệm Tổ sang chơi Nghiên Sơn, tôi do bệnh nặng phải quay về, bèn viết ba bài cảm hoài         

 

          1) Tùng tích giả sơn chung bất giả. Ư kim chân tổ vị toàn chân. Nhất phiên độc bãi Truyền Đăng Ký. Thiêm đắc Tỳ Da kỷ thống thân.

          (Từ xưa, giả sơn trọn chẳng giả. Nay thì chân tổ chẳng toàn chân! Một phen đọc hết Truyền Đăng Ký[36]. Thêm bệnh Tỳ Da[37] rên mấy lần).

          2) Tảo Am đậu hủ Đông Pha nhục. Vấn vị sơn nông tổng phất tri. Đại để văn thiều thiên cổ án, hoàn tu kiến thánh thỉ vô nghi.

          (Đậu hủ Tảo Am: Thịt Đông Pha[38]. Hỏi vị nông phu đều chẳng biết. Gần giống chuyện xưa nghe nhạc Thiều[39]. Vẫn cần thấy thánh, mới không nghi).

3) Duy Ma vô tật, Văn Thù tật. Thuyết thị hào ngoa, tổng phất hào. Thí khán tích niên minh bất nhị. Khổ, không y cựu tác tiền mao.

          (Duy Ma không bệnh, Văn Thù bệnh. Nói dường sai ngoa, trọn chẳng sai. Thử xem năm xưa hiểu bất nhị. Khổ, không như cũ: Tiền phương tiện).

 

* Đầu mùa Đông năm Nhâm Thìn (1652), nhìn mưa qua cửa sổ cảm tác

 

          Sóc phong xuy đại mạc. Quần tước sầu hàn vũ. Tập vũ tố vô lương. Cạnh hướng mao thiềm tụ. Ai tích Kỳ Đà lâm. Cửu táng tiều nhân phủ. Thùy vi sư tử trùng, tối thị thâu kim tổ. Nạp túc tiếu Nho quan, thâu kim thán Thiền phổ. Ác chủ biến thành thôn. Địch diện như quân ngũ. Hề tai họa cách nang, huyễn tác dương chất hổ. Cứu đắc nhãn tiền cơ, lưu khước hằng sa khổ. Đạt nhân giám thỉ chung, đốn thổ hư danh cổ. Nhất tiếu lão thâm sơn, bất tiếu hoan ngu bổ.

          (Gió Bấc thổi đại mạc, mưa lạnh chim sẻ sầu. Giũ lông kêu thiếu ăn, giành đậu dưới mái tranh. Buồn rừng Kỳ Đà xưa, đã tàn dưới rìu tiều. Ai là sư tử trùng, tổ chở vàng[40] đầu tiên? Mua tước[41] cười mũ Nho, chở vàng than Thiền phổ. Nắm phất trần[42] vung vẩy, trọn khắp các thành, thôn. Đối mặt như quân ngũ. Than ôi, túi da đẹp; dê vờ đội lốt hổ. Cứu cơn đói trước mắt, lưu lại khổ hằng sa. Người đạt xét đầu đuôi, mau khạc độc hư danh. Nực cười lão núi sâu, chẳng xứng góp vui sướng).

 

* Ba bài kệ tặng Dụng Hối nhân dịp ông về Tân An và gởi cho Kiên Mật

         

          1) Phồn sương nhất dạ vạn lâm không. Thiên lý quy phàm quải Sóc phong. Đạo tại vị hiềm ly biệt hám. Tình vong chung tạ trác ma công. Sỉ quán dă can đăng sư bối. Dao chúc tiềm long tẩm phạm cung. Minh nguyệt Bắc song thôi hiểu mộng. Tọa thính liên lậu cổ phùng phùng.

          (Đêm mờ sương, muôn rừng hoang vắng. Ngàn dặm buồm về, gió bấc lùa. Đạo tại chẳng hiềm sầu ly biệt. Tình quên toàn cậy chuốt trau công. Thẹn thấy chó rừng lấn sư tử, xa chúc rồng ngầm ẩn phạm cung. Trăng sáng bên song, tan mộng sớm; ngồi nghe liên lậu[43] nhỏ long tong).

          2) Ngũ thập dư niên khách tác nhân; du du tư thế kỷ tri tân? Tảo chiêm ngưu thuận đồng dương nghịch, hối bất lang tham dịch hổ sân. Băng thủy bổn lai duy thấp tánh. Không hoa tùng cổ tuyệt trần tân. Tương kỳ tận thức mông lung nhãn. Đàn chỉ chiêm y lạc thổ thân.

          (Năm chục năm hơn làm lữ khách, đắng cay ai biết cõi đời dài? Sớm xem trâu thuận cùng dê nghịch, hối chẳng sói tham đổi hổ sân. Băng, nước vốn cùng một tánh ướt. Hoa đốm từ xưa chẳng mới bày! Mắt mờ mong hãy lau cho sạch. Khoảnh khắc nương nhìn chốn Lạc bang).

3) Đạm bạc vong cơ nhập đạo nan. Hào ngoa công án kỷ năng khan? Vô nhân đạp đắc tùy thân ảnh. Hữu cú toàn thành mại pháp gian. Quư ngã bả ông duy tọa thán. Tri quân sồ phượng khả ly can. Tha niên cộng dục trân trì thủy, bất phụ Linh Phong triệt cốt hàn.

          (Đạm bạc, quên tình nhập đạo khó! Công án sai lầm mấy kẻ hay? Bóng nơi thân có ai đạp được? Hễ nói, kẻ gian bán pháp rồi. Thẹn tôi gã thọt ngồi than thở, biết ông phượng non lìa được sào[44]. Năm nào cùng tắm ao trân quý? Chẳng phụ Linh Phong rét thấu xương).

 

* Bảy bài kệ cảm tác khi vừa bệnh dậy

 

          1) Trực tiệp căn nguyên đạo hữu dư. Tầm chi trích diệp dục hà như? Cát đằng thiên thất vô đoan thiết, chi sở thần câu Bắc giá dư.

          (Nguồn đạo thẳng chóng vốn sẵn thừa. Tìm cành bẻ lá muốn làm chi? Dây leo ngàn bảy[45] bỗng dưng lập; sang Sở, ngựa kéo lên Bắc[46] ư?)

          2) Tiểu kiến hồ nghi, cấp chuyển tŕ. Ngộ phân căn bản dữ điều chi. Bình bình đại đạo vô nan dị, dương chất đồ lao quải hổ bì?

          (Thấy hẹp, hồ nghi, chóng thành chậm. Lầm chia căn bản với nhánh, cành. Đại đạo phẳng phiu, không khó dễ. Cốt dê sao nhọc khoác da hùm?)

          3) Tả hữu phùng nguyên xúc mục chân. Tài sanh thủ xả, tiện mê chân. Gia hòa lân lư nan khi vũ, phân bối đồng điền nghiệm phú bần.

          (Phải trái gặp nguồn, thấy lẽ chân. Mới sanh lấy, bỏ, liền mê chân. Nhà yên, hàng xóm không khinh dối. Chia chác tài sản, nghiệm giàu, nghèo).

          4) Ngưu bì xuyên thấu chung nan nhận. Hổ huyệt minh hành ám vị thông. Lưỡng cá bán cân giai bát lượng. Phệ thanh ly khuyển cộng đồng đồng.

          (Xuyên thấu da trâu[47] trọn khó hay! Hang cọp ngầm đi, tối chửa thông. Hai cái nửa cân đều tám lượng[48]. Ủng oẳng bên rào chó sủa nhau).

          5) Thức t́nh vị chuyển vô trần trí. Tri hữu, y nhiên đọa pháp trần. Bố ảnh mê đầu không tự nhiễu. Cầu chân chân lộ khước phi chân.

          (Thức tình chưa chuyển vô trần trí. Biết hữu, vẫn đang đọa pháp trần. Sợ bóng, mê đầu, uổng quấy nhiễu. Cầu chân nẻo thật, chẳng là chân).

          6) Bác văn ước lễ Khổng Nhan tâm. Cá sự hà dung toản ngưỡng tầm? Dưỡng khí tri ngôn thông tuyến lộ. Phách manh Cáo Tử khởi tri âm.

          (Học rộng, giữ lễ: Khổng Nhan tâm. Mọi chuyện há dung “dùi, kiếm, tìm”? Dưỡng khí, biết lời, thông suốt cả. Mù nhịp, Cáo Tử há tri âm?)

          7) Vương tặc nguyên tùng nhất trước tranh. Như hà Phật pháp đương nhân t́nh? Danh văn lợi dưỡng không hoa sự. Thống sát cầu khanh phản đắc phanh.

          (Kẻ giặc vốn từ một chuyện giành. Sao coi Phật pháp như nhân tình? Danh văn lợi dưỡng như hoa đốm. Đau chết cầu ông lật ngược thôi!)

 

* Bốn bài kệ nhân dịp sang Niêm Hoa Am ở Thu Thự vào Nguyên Đán năm Quý Tỵ (1653)

 

          1) Khoáng kiếp âm di nhất sát-na. Thao thao pháp vận sử như hà? Vị minh vi tiếu phi mê ngộ. Thùy hướng niêm hoa biện Phật, ma? Vân ngoại hữu thanh, tri thị hạc. Đăng tiền lộng ảnh tiện đồng nga. Tiện quân bất nhập thâu kim xă. Hảo dữ sơn nông tụng phạt kha[49].

          (Bao kiếp âm dời một sát-na. Pháp vận cuồn cuộn như thế nào? Chưa hiểu mỉm cười chẳng mê, ngộ. Ai hướng giơ hoa, luận Phật, ma? Ngoài mây vẳng tiếng, biết là hạc. Chao bóng trước đèn là thiêu thân. Mừng ông chẳng dự thâu kim xã, khéo cùng tiều phu hát “đẵn rìu”).

          2) Vạn duyên hà thí tự hàn hôi. Nghĩ nhập thiên sơn thệ bất hồi. Ế tận quang hàm thanh tịnh mục. Tình vong thân dục bảo liên thai. Châu vương trích thủy năng doanh khí. Nghĩa tặc thương tài phủ tác bôi. Đảo phúc khuynh trường vô biệt ngữ, mạc phân Thiếu Thất dữ Thiên Thai.

          (Muôn duyên nào khác tro tàn lạnh. Toan nhập ngàn non, thề chẳng về. Màng hết, sáng bừng mắt thanh tịnh. Tình quên, sen báu gởi thân ngay. Giọt nước châu vương đầy đồ đựng. Giặc nghĩa đẵn gỗ, chén mới thành. Dốc cạn ruột gan, không nói khác. Đừng chia Thiếu Thất với Thiên Thai).

          3) Ngũ thập dư niên mộng huyễn thân, liêu liêu tư thế cửu vô lân. Tùng đầu thứ phá nguyên phi ngã. Thử ngoại hà dung biệt hữu chân? Kư túc bất tu cầu đại hạ. Đăng châu chánh khả tựu thiên tân. Đông phong xuy loạn tàn thi quyển. Vị hứa nhân gian nhục nhãn luân (thời Thu Thự xuất nãi tổ Tịch Sanh pháp chủ thi cầu tuyển).

          (Thân huyễn mộng năm mươi năm lẻ, hiu quạnh trong đời không kẻ gần. Từ đầu nhìn thấu vốn phi ngã. Ngoài đó, sao dung thân khác ư? Ở tạm, chẳng cần nhà viện lớn. Lên thuyền, vì sẽ đến bờ kia. Gió đông thổi loạn quyển thơ nát, chưa cho mắt tục ghé trông vào) (Khi đó, Thu Thự đang tìm kiếm thơ của vị tổ nơi ấy là pháp chủ Tịch Sanh).

          4) Thiềm ải tường y liêu tự an, khẳng tương ôn băo hoán cơ hàn. Vị kinh thế lộ phong ba cấp, na tín mao am pháp giới khoan. Dă lăo đối đàm tri mễ giá, biên châu cử trạo đổ hồi lan. Tầm thường văn kiến vô nghi trệ, thùy vị viên thông khắc chứng nan.

          (Mái sụp, tường nghiêng, vẫn tự an. Chịu đem no ấm đổi cơ hàn. Đường đời sóng gió chưa từng nếm, sao tin am tranh pháp giới rộng. Cùng dân trò chuyện biết giá gạo; thuyền con khua chèo ngắm sóng loang. Nghe, thấy tầm thường chẳng nghi trệ; ai bảo viên thông chứng khó thay!)

 

* Sáu chương Hu Ta Thiên (có lời tựa)

 

          Đạo của Phật, Tổ là Giới, Định, Huệ mà thôi! Giới tức Pháp Thân, thẳng thừng là Pháp Thân chẳng phải là Pháp Thân. Định tức giải thoát, thẳng thừng là giải thoát chẳng phải giải thoát. Huệ tức Bát Nhã, thẳng thừng là Bát Nhã chẳng phải là Bát Nhã. Người hoằng dương Giới học nói: “Luật sư thật sự dùng Bát Nhã và Giải Thoát để trang nghiêm, hiển thị Pháp Thân ư?” Người hoằng dương Định học nói: “Thiền sư thật sự dùng Pháp Thân và Bát Nhã để thành tựu sự giải thoát chẳng thể nghĩ bàn ư?” Người hoằng dương Huệ học nói: “Pháp sư quả thật dùng Giải Thoát và Pháp Thân để quy hướng, tiến nhập Bát Nhã ư?” Tôi nghĩ cổ nhân thật sự thấu đạt tâm tôi. Tôi thương người hiện thời chẳng cầu lẽ thật, chỉ mong danh tiếng, lôi kéo nhau trầm luân. Do vậy, bèn có lời than thở để diễn tả tình huống đáng buồn này!

          1) Hu ta Luật hề, khởi viết hư văn. Nhất chỉ, nhất tác, tŕ phạm tư phân. Vị đoạn hữu lậu, dĩ phá ma quân. Tam thiên bát vạn, trách hỹ phỉ phân. Hộ bỉ vô tác, hiệp thử truy quần. Phiền hoặc năi bố, hiền thánh năi hân. Tự tánh thanh tịnh, vạn pháp chi quân. Luật tai, luật tai, y vân, bát vân.

          (Chao ôi, Luật chừ! Há phải văn tự suông. Mỗi cấm, mỗi hành, trì, phạm phân minh. Vì đoạn hữu hậu, hòng phá ma quân. Ba ngàn tám vạn[50], sâu thẳm, chẳng rườm. Gìn giữ vô tác, giúp sức chúng Tăng. Phiền hoặc sợ hãi. Chư thánh ưa thích, tự tánh thanh tịnh. Vua của vạn pháp, là luật vậy thay! Là y, là bát).

          2) Hu ta Thiền hề, khởi viết đấu cơ. Quyết quảng duy hải, xuyên độc du quy. Thao thử nhất thị, dung bỉ bách phi. Phỉ tật nhi tốc, phỉ dực nhi phi. Lý tất vô suyễn, hành tất vô vi. Pháp pháp thông bị, môn môn nhập vi. Phùng nguyên tả hữu, hà hiển, hà vi. Ai thử mạt quý, duy phất dữ y.

          (Chao ôi, Thiền chừ! Há là cơ duyên tranh đấu? Chỉ như biển rộng, sông ngòi đổ về. Vận dụng một điều “đúng” này, dung nạp bách phi. Chẳng nhanh mà chóng, không cánh mà bay. Lý ắt chẳng sai, hành tất chẳng trái. Pháp nào cũng đều đủ, môn nào cũng tiến nhập. Trái phải đều gặp nguồn, gì là hiển, gì là vi tế? Buồn đời mạt này, chỉ là phất trần và pháp y).

          3) Hu ta Giáo hề, khởi viết ngôn thuyên. Minh nguyệt chi chỉ, lương ký chi tiên. Hôn đồ chi cự, bạo lưu chi thuyền. Dĩ giản tà chánh, dĩ biện thiên viên. Pháp ấn sở ấn, tứ y sở truyền. Châu đạo thản thản, năi Thật, nãi Quyền. Mục túc vô khuyết, trực vãng phất khiên. Ai thử thúc thế, diệp phụ chi khiên.

          (Chao ôi, Giáo chừ! Há là ngôn ngữ nói suông? Ý chỉ trăng sáng, roi thúc ngựa giỏi, đuốc trong đường tối, thuyền nơi thác đổ. Dùng phân biện tà chánh, dùng biện định thiên, viên. Pháp ấn in vào, tứ y truyền thừa. Nẻo Châu phẳng phiu, là Thật, là Quyền. Mắt, chân chẳng khuyết, tiến thẳng chẳng lỗi lầm. Xót đời mạt này, vịn cành, kéo lá).

          4) Hu ta Tịnh Độ, khởi viết tiểu bổ. Viên đốn chi tông, vạn linh chi tổ. Quyết chỉ duy tâm, quyết môn duy phổ. Phi tự phi tha, diệc hoành diệc thụ. Dược dă mạc đào, nhược táng diệc phủ. Phá cách hồng từ, dị hương thân hỗ. Long Thọ ma kiên, Văn Thù tiếp vũ. Ai bỉ sanh manh, mục vi bàng hộ.

          (Chao ôi Tịnh Độ, há là chuyện kèm thêm nhỏ nhặt? Tông viên đốn, là tổ của vạn linh. Chỉ thú duy tâm, đường nẻo phổ cập. Chẳng tự, chẳng tha, vừa ngang, vừa dọc. Kẻ mạnh mẽ chẳng trốn được, kẻ yếu đuối cũng được nâng đỡ. Lòng từ rộng lớn phi thường, khác quê vẫn đáng nương cậy như người thân. Long Thọ sát cánh, Văn Thù nối sát gót. Thương kẻ mù từ lúc lọt lòng, thấy [Tịnh Độ] là cửa nẻo phụ thuộc).

          5) Hu ta đại pháp, hà chánh? Hà tượng? Hà thị, hà phi? Hà thiên, hà đảng? Bi thử ngu ngoan, các nhậm quyết tưởng. Nghịch chi tắc phi, thuận chi tắc ngưỡng. Suất bỉ vọng t́nh, thùy nạp trung đảng? Thỉ nọa phất vân, kế duy trợ trưởng. Trục ảnh mê hình, lũ không bộ hưởng. Ai hỹ quần manh, tranh xu kiến vơng.

          (Chao ôi, đại pháp, gì là Chánh? Gì là Tượng? Gì là đúng? Gì là sai? Gì là lệch? Gì là chánh? Xót kẻ ngu bướng, ai nấy mặc tình suy tưởng. Trái nghịch là sai. Thuận theo bèn ngưỡng mộ. Bộp chộp theo tình kiến hư vọng, ai tiếp nhận lời trung thực? Thoạt đầu lười nhác chẳng màng, tiếp đó chỉ lo giúp cho tăng trưởng. Đuổi bóng, mê hình. Vá hư không, nắm bắt tiếng vọng. Buồn thay lũ mù, tranh nhau tiến vào lưới kiến chấp).

          6) Duy tư mạt quư, diệc khởi vô nhân? Truy viết Tử Bách, tố như Dương Minh, kỵ Sở chi Viên, Tây Phương chỉ tân. Sơn Âm chi Bào, thiên nhạc dĩ trần. Khả sư khả bộ, bất vụ kỳ danh. Ai bỉ nhĩ thực, vơng thức tư chân. Tranh tŕ hư dự, mộ bỉ tiêu lân. Hà thời cảnh giác, dĩ bốc ngã lân!

          (Ngay trong thời mạt, há cũng không người? Tăng như Tử Bách, tục như Dương Minh, và họ Viên đất Sở, chỉ bến Tây Phương. Họ Bào ở Sơn Âm. Nhạc trời đã bày. Có thể làm thầy, có thể noi theo, chẳng trọng danh tiếng. Buồn cho kẻ thích nghe đồn thổi, chẳng biết lẽ thật, tranh nhau đuổi theo hư danh, hâm mộ huyễn hoặc. Khi nào tỉnh giác, sẽ chọn bạn lành).

 

* Ba bài kệ tự khuyên nhủ bên Tây song, phỏng theo âm vận của ngài Tịch Âm

 

          1) Sơ chí hà năng bất tự tân? Mỗi ta thiệp thế vị vong chân. Hành từ y cựu hoàn thành ái. Trách thiện vô đoan dĩ đọa sân. Vạn cổ thị phi hồn đoản mộng. Thập phương tịnh uế tổng trường xuân. Tây song đối nguyệt, phi tàn quyển. Độc hướng tiên hiền ngữ tiếu tần.

          (Chí xưa sao chẳng tự sửa lỗi? Thường than vào đời chưa quên chân. Hành từ thành ái y như cũ. Trách thiện bỗng dưng đã đọa sân. Muôn thuở đúng sai, toàn mộng vụn. Mười phương tịnh uế mãi trường xuân. Trăng chiếu song Tây, giở quyển nát. Nhiều lượt cười nói với tiên hiền).

          2) Ngũ thập ngũ niên quá vị quả. Kính trung đồ thán đầu lô quang. Quán Âm thập cú tịnh nghiệp khổ. Phật hiệu nhất thanh siêu ly hoàng. Lịch tận hàn toan vô phiến thật. Do lai bi hỷ không oanh trường. Liên hoa tùng lư thanh hồn dật. Tiêu tận nhân gian viêm dữ lương.

          (Năm lăm năm qua, chưa bớt lỗi. Nhìn gương, than suông đầu rỗng toang. Mười câu Quán Âm trừ nghiệp khổ. Phật hiệu một tiếng lìa so lường. Trải trọn chua cay, không chút thật. Trước nay bi hỷ vấn vương suông! Hồn trong mộng hưởng rừng sen thắm, tiêu sạch nhân gian nóng lạnh suông).

          3) Lục thủy thanh sơn nhậm vãng hồi. Na kham thụy nhãn vị toàn khai. Thập hư do giảo vi trần trách. Nhất tức phi tùng khoáng kiếp lai. Tài nghĩ biện chân đồ mị mục. Sáng quán duy thức dĩ vong ai. Đồng nhân dục hòa vô sanh khúc, đản thính không sơn viên ngữ ai.

          (Nước biếc non xanh mặc tới lui. Mắt ngủ nào kham vẫn nhập nhèm. So với vi trần, hư không hẹp. Hơi thở chẳng từ bao kiếp sanh! Vừa biện định chân, mắt đã quáng. Mới quán duy thức, quên trần ai. Đồng nhân toan tấu vô sanh khúc, chỉ nghe núi vắng, tiếng vượn buồn).

 

* Họa Đạt Ma Tứ Chủng Hành Kệ của tôn giả Tịch Âm

 

          1) Tam giới hữu vi, chung quy bại hoại. Tài hữu sở cầu, tiện thành trất ngại. Tử an khả tắng, sanh an khả ái? Tắng ái lưỡng quyên, tiện thị tam-muội (Vô cầu hạnh).

          (Tam giới hữu vi, trọn thành hư nát. Vừa có mong cầu, liền thành ngăn ngại. Chết há đáng ghét? Sống há đáng yêu? Yêu, ghét cùng hết, chính là tam-muội).

          2) Thập nhị khiên liên, như hoàn luân chuyển. Thích Phạm hề quư? Khất cái hề tiện? Kư nan cưỡng cầu, phục hà hy tiện? Phủ ngưỡng trần hoàn, tiêu nhiên vô luyến (Tùy duyên hạnh).

          (Mười hai chằng néo, như vòng xoay chuyển. Thích, Phạm há quý? Ăn mày há hèn? Đã khó cưỡng cầu; mong, hâm mộ chi? Cúi, ngửa cõi trần, thảnh thơi chẳng luyến).

          3) Nhân ngã vị vong, ca-sa khả xú. Thóa diện vật thức, đao trượng nghi thọ. Đế sát pháp không, nghịch cảnh hà hữu? Động tâm nhẫn tánh, khổ sư ân hậu (Báo oan hạnh).

          (Nhân ngã chưa quên, ca-sa đáng thẹn! Mặt bị nhổ đừng lau, đao gậy nên hứng chịu. Quán kỹ pháp không, nghịch cảnh nào có? Nhẫn nại mọi chuyện, lấy khổ làm thầy, ân sẽ sâu dày).

          4) Sanh tức vô sanh, thị danh pháp nhẫn. Khởi dụng tự mâu, hoàn công tự thuẫn. Hằng quán ư ngôn, Biến Kế tư tận. Hậu xúc vô đắc, y nhiên bổn tánh (Xứng pháp hạnh).

          (Sanh là vô sanh; gọi là pháp nhẫn. Khởi dụng liền mâu, đền công liền thuẫn. Luôn quán ý ngôn, Biến Kế bèn hết. Tiếp xúc vô đắc, bổn tánh y nguyên).

 

* Ba bài kệ dạy ba học trò khi sắp sang chơi Thang Tuyền

 

          1) Khách khí tiêu vong tâm tiện an. Toàn thân phóng hạ diệc hà nan? Phân minh vạn tượng vô tàng phú. Sơn tự cao cao, thủy tự hàn.

          (Khách sáo tiêu vong, tâm liền an. Toàn thân buông xuống, khó khăn gì? Rành rành muôn tượng không che giấu. Núi tự cao vời, nước lạnh thôi).

          2) Thái sơn bất như bình địa đại. Dương minh chích ngữ độ mê tân. Bình bình đãng đãng tuân vương lộ. Mạc hiệu nham nham vạn nhận thần.

          (Thái sơn chẳng to bằng đại địa. Một lời Dương Minh độ bến mê. Bằng phẳng thênh thang theo vương lộ. Đừng như vách núi cao muôn tầm).

          3) Tướng danh phân biệt bổn như như. Chân tục tương hưu nhất dị vu. Vạn thủy thiên sơn cung kiến thính. Trực tu siêu xuất thị phi đồ.

          (Tướng, danh phân biệt vốn như như. Chân tục thôi lầm một, khác chi. Muôn nước ngàn non phô nghe thấy. Thẳng thừng vượt thoát nẻo thị phi).

 

* Xem ao cá ở Dung Khê

 

          Tuần hoàn táp táp mịch giang hồ. Hoạt thủy tuy lưu, hoạt lộ vô. Trưởng giả bất tu trùng thí thủy, hảo tương kim cổ ứng kim phù.

          (Xoay chuyển quẩn quanh tìm sông hồ. Nước tuy sống động, không đường sống. Trưởng giả[51] chẳng cần thí nước nữa, khéo đem dùi vàng gõ trống vàng[52]).

 

* Đội mưa ngắm đầm Bạch Long

 

          Thạch đặng lân tuân vị dị phan. Bán khê yên vụ tỏa huyền quan. Mỗi ai sư tọa thiên đa nhiễm. Khước hỷ âu quần tẫn tự nhàn. Trần lụy hạnh tùy ba dĩ thệ. Tấn my liêu tự thảo đồng ban. Bạch long hà xứ đàm như giám. Lưu dữ u nhân chiếu cổ nhan.

          (Thềm đá cheo leo chẳng dễ vịn. Nửa khe sương khói lấp huyền quan. Buồn tòa sư tử riêng nhuốm bẩn. Lại mừng bầy âu tự an nhàn. Trần lụy may nhờ theo sóng cuốn. Tóc mai cũng rối tựa cỏ hoang. Rồng trắng chốn nào, đầm như kính. Để người u nhàn soi dáng xưa).

 

* Lên viện Văn Thù ngã bệnh, phải quay về

 

          Văn Thù biến giới nguyên vô nhị. Hà tất đăng cao biệt mịch chân? Hứng đáo tiện du, hứng tận phản. Nhậm tùng mộng lư ngạnh b́nh thân.

          (Văn Thù khắp cõi vốn không hai. Há phải lên cao riêng kiếm chân? Hứng đến sang chơi, hết hứng về. Mặc cho trong mộng cứng thân bèo).

 

* Họa đáp bốn bài kệ của Ngô Sán Như

 

          1) Thâm nhai diệc hữu Tịnh Danh cư. Tọa đối long đàm khám lược hư. Quân nghĩ phú thi siêu Hán Ngụy. Ngã cam độn thế ngạo Tôn Ngô. Văn Thù dĩ kiến bất cánh kiến. Năng tổ vô thư thiện giải thư. Thử nhật Liên Hoa phong bạn vụ. Ưng đồng thiên tế quyển hoàn thư.

          (Vách sâu cũng có Tịnh Danh ở. Ngồi trước đầm rồng, bắt bóng suông. Ông toan thơ phú hơn Ngụy, Hán. Tôi cam trốn đời, ngạo Tôn Ngô. Văn Thù đã thấy, chẳng còn thấy. Lục Tổ không sách, khéo hiểu kinh. Đỉnh Liên Hoa hôm nay sương phủ. Giống hệt chân mây duỗi cuộn thôi).

          2) Sĩ dã hoài sơn bất luyến cư. Trừng đàm u các nhật bằng hư. Tích tùng Lộc động tinh chiêm vụ. Kim tự ngưu đao học khải ngô. Dĩ tiến triêu văn tịch khả ư. Cần quán ước lễ bác văn thư. Tuyền thanh diễn kệ bách thiên vạn. Trực hạ linh nhân kiến vơng thư.

          (Kẻ sĩ nhớ núi, chẳng luyến chốn. Đầm trong, gác vắng, tháng ngày thừa. Xưa nơi hang Lộc xem tinh tú. Nay học đao trâu[53] dạy đất Ngô. Đã hiểu ý “sáng nghe, chiều chết”[54], siêng xem, giữ lễ, rộng văn thư. Tiếng suối diễn kệ trăm ngàn vạn. Thật khiến cho người thấy lưới chăng).

          3) Hà sự phân phân cạnh mịch cư. Đại thiên bất dị nhất âu hư. Dăng đầu phú quư Yên minh Triệu. Oa giác công danh Việt báo Ngô. Cử thế tận khoa xuất cách ngữ. Vô nhân khẳng độc phẫu trần thư. Bạch long đàm nội tuyền thanh khiết. Địch khử trần khâm nhãn tự thư.

          (Sao lăng xăng tranh tìm chỗ ở? Đại thiên, bọt nước khác nhau chi? Phú quý đầu ruồi, Yên kết Triệu. Công danh sừng ốc Việt thờ Ngô[55]. Khắp đời đều khoe lời xuất sắc. Không ai chịu đọc sách phá trần[56]. Trong đầm bạch long, suối thanh khiết. Gột sạch áo bụi, mắt mở to).

          4) Bạch ngưu xa lư khẳng an cư. Kim tích tương phùng tự bất hư. Trạch lăo tầm sơn phương nhập Việt. Bàng công đới bộc hựu xưng Ngô. Đản năng nhất bác thâu kim chú. Hà tất tam sanh tuyên thạch thư. Ế nhãn không hoa tài triệt tận. Thử thân hà dị tụ vân thư.

          (Nơi xe trâu trắng chịu an cư. Gặp gỡ xưa nay chẳng huyễn hư! Cụ Trạch tìm non vào đất Việt. Ông Bàng đội mũ lại xưng Ngô. Đổi đèn chở vàng hễ làm được, há phải ba đời khắc thạch thư? Màng mắt, đốm hoa vừa triệt sạch, thân này nào khác mây đầu non).

 

* Ngồi trên lầu Hiệp Lãng (hai bài)  

 

          1) Vũ quá tam nhật, bộc thanh vi. Ngũ sắc đàm quang ánh văn huy. Tọa cửu bất tri thân tại khách. Đan phong hoàng cúc lưỡng y y.

          (Mưa hơn ba ngày, tiếng thác nhẹ. Bóng chiều năm sắc ngời mặt đầm. Ngồi lâu chẳng biết đang làm khách. Phong đỏ, cúc vàng đứng song song).

          2) Pháp môn liêu lạc thiểu tri âm. Ngẫu dữ Duy Ma luận cổ kim. Mạc quái tuyền thanh thái nhiêu thiệt. Đê hồi nan tố lăo bà tâm.

          (Pháp môn thưa thớt, thiếu tri âm. Chợt cùng Duy Ma luận cổ kim. Đừng trách tiếng suối ồn ào quá. Bồi hồi tâm thiết chẳng nên lời).

 

* Ngồi ở am Tây Trúc, ngẫu nhiên soạn thành ba bài kệ

 

          1) Đăng quang ngũ sắc phân minh hiện. Mục sảnh vô đa vị dị vong. Hà xứ kim bề kham tá lực, hồng danh lục tự túc lương phương.

          (Ánh đèn năm sắc phân minh hiện. Mắt mộng chẳng nhiều, chưa dễ quên. Nơi nào mượn sức kim vàng chữa? Hồng danh sáu chữ phương thuốc lành).

          2) Thố giác khởi tu tranh khúc trực. Quy mao bất dụng biện hoàng huyền. Tiêu minh mi lý tam thiên giới, tức lật mang hài nhậm sở tiện.

          (Sừng thỏ há cần tranh cong, thẳng. Lông rùa đâu phải luận đen, vàng. Lông mày tiêu minh[57] tam thiên giới. Gậy tay, hài cỏ mặc tình dùng).

          3) Mịch tâm bất đắc phục điều tâm, tối thị Thần Quang tổ ư thâm. Cần kháp sổ châu tần hoán tuyến, linh kê chung hứa xuất dư tầm.

          (Tìm tâm chẳng được, lại điều tâm. Tổ dạy Thần Quang, ý rất sâu. Siêng lần chuỗi, thay dây bao lượt. Gà thiêng rốt cuộc thoát lửa hồng).

 

* Dạy Bảo Thụ

         

Tu hành vô xảo pháp, chỉ yếu sanh tử thiết. Đế quán bách niên thân. Lộ điện đồng sanh diệt. Thiên cổ đại thánh hiền, giai tùng nhất niệm quyết. Nhất niệm thức trọng khinh, quần vọng tự siêu việt. Sự bất ích chân tu, hà năng cưỡng tiết tiết? Tâm dật năi nhật hưu, tâm lao năi nhật chuyết. Lục tự đại kinh vương, cần tụng vô hưu hiết. Năng niệm sở niệm bổn vô nhị, xí nhiên năng sở tương giao triệt. Thí như vạn lư tịnh vô vân. Bách thiên giang độc nhất luân nguyệt. Bất thị cừ hề tận thị cừ, phi thân sơ xứ nan phân biệt.

(Tu hành không cách khéo, chỉ cần sanh tử thiết. Quán kỹ thân trăm năm, sanh diệt như sương, chớp. Đại thánh hiền ngàn đời, do một niệm dứt khoát. Một niệm biết nặng, nhẹ; các vọng tự vượt thoát! Chuyện chẳng lợi chân tu, sao cứ khăng khăng cưỡng? Tâm nhàn, ngày bèn nhàn. Tâm nhọc, ngày nặng nề. Đại kinh vương sáu chữ, siêng tụng chẳng ngưng nghỉ. Năng niệm, sở niệm vốn chẳng hai. Năng sở hừng hực xen lẫn nhau. Ví như muôn dặm quang không mây. Trăm ngàn sông rạch một vầng trăng. Chẳng phải các dòng đều là suối, khó phân biệt chỗ chẳng thân sơ).

 

* Đọc Mai Am Tập ở chùa Lâm Đường

 

          Tượng giáo duy tŕ thế sở nan! Khả lân ma não bất thành hoan. Mai Am nhất biến dĩ chí lỗ. Lưu dữ chư phương tác kính khan (Mai Am có bộ sách tên là Tượng Giáo Tứ Duy khá có ích cho việc chỉnh đốn thói tệ đương thời).

          (Tượng giáo duy trì, đời khó thay! Đáng thương ma khuấy, chẳng vui lòng. Mai Am vừa biến đã thành vụng. Lưu lại tấm gương các phương nhìn).

 

* Giải đáp ý nghĩa vô trụ sanh tâm

 

          Sanh tâm phục vô trụ, lưỡng cá mộc nhân đồng duệ cứ. Vô trụ phục sanh tâm, nê ngưu ngọa thính mục đồng ngâm. Vô trụ sanh tâm nhược hữu nhị. Thủy ba ưng biện đông tây vị. Sanh tâm vô trụ nhược định nhất, nhật quang chiếu xứ ưng vô sắc. Diệc nhất, diệc nhị, lưỡng tương vi. Phi nhất, phi nhị, thị hà vật? Tam thế chư Phật tuyệt bất tri, hà huống Lãnh Nam mại sài khách!

          (Sanh tâm lại vô trụ, hai gã người gỗ cùng kéo cưa. Vô trụ lại sanh tâm, trâu đất nằm nghe mục đồng hát. Vô trụ sanh tâm nếu có hai, sóng nước phân biệt Đông, Tây được! Sanh tâm vô trụ nếu chắc một, nắng chiếu khắp nơi ắt không màu! Vừa một, vừa khác, mâu thuẫn nhau. Chẳng một, chẳng khác, là vật gì? Ba đời chư Phật trọn chẳng biết, huống người bán củi xứ Lãnh Nam!)

 

* Gởi tặng Đức Thủy pháp chủ

 

          Phẫu tận phiên ly kiến tự tâm, khứ lai chư Phật túc tri âm. Chi Na quốc lý vô tương thức, khẳng bả đậu đồng mạn bác kim.

          (Chẻ sạch giậu rào thấy tự tâm. Khứ, lai chư Phật đáng tri âm. Trong cõi Trung Hoa không người biết. Chịu đem đồng thau lừa đổi vàng).

 

* Vườn Phù Dung

 

          Hạm đạm sơ tiêu liên xă danh, thập thiên thiên tử cộng tầm minh. Dao giai hàng thụ thùy châu vơng. Bảo ngạn lâu đài ánh thạch thành. Vô số diệu hoa cung Phật sự. Kỷ đa Xuân sắc đạm trần t́nh. Tràng vương tối hỷ hương hà nhiễu. Phu tọa thời văn pháp nhạc minh.

          (Sen thắm vừa nêu tên liên xã, mười ngàn thiên tử cùng kết minh. Hàng cây thềm ngọc, lưới châu rủ. Bờ báu lâu đài rực thạch thành. Vô số diệu hoa làm Phật sự. Bao nhiêu Xuân sắc nhạt trần tình. Tràng vương vui nhất sông thơm cuộn. Ngồi xếp bằng nghe nhạc pháp rền).

 

* Ghi tại am Đại Tô (hai bài)

 

          1) Đồi viên tiểu lộ bệ la môn. Điền bạn y hy kiến biệt thôn. Nguyệt đáo bất tri thiềm ngoại bạch. Vũ dư do đổ bích gian ngân. Nhất khám Phật hỏa minh kiêm muội. Bán tòa bồ đoàn lănh diệc ôn. Biến Cát nguyện vương cần triệt dạ. Hương yên đôi lý độ thanh hồn.

          (Tường sụp, sương nhỏ cửa rêu phong. Ven ruộng lơ thơ thấy mấy thôn. Trăng rọi chẳng hay ngoài thềm sáng. Vách còn in dấu vệt mưa hằn. Một tòa Phật khám đèn mờ tỏ. Nửa chiếc bồ đoàn lạnh ấm chen. Nguyện vương Biến Cát thâu đêm tụng, nơi gò hương khói độ thanh hồn).

          2) Trực hướng Tu Ma lễ nguyện vương. Khẳng tùng trần thế tá huỳnh quang. Môn thường trú yểm thất sanh bạch. Tê tác thần xan diện dục hoàng. Duy hữu bối đa hằng ngụ mục. Cánh vô ta tử tạm quan trường. Sa Bà tuế nguyệt tiêu ma tận. Châu táp câu thời hỏa trạch lương.

          (Hướng thẳng Lạc Bang lễ nguyện vương. Chịu mượn ánh đóm nơi cõi trần. Cửa thường đóng chặt, thất mờ trắng. Bữa sáng rau dưa, mặt nhuốm vàng. Chỉ có kinh văn thường xem đọc. Chẳng còn chi khác tạm no lòng. Sa Bà ngày tháng tiêu mòn hết, nhà cháy bốn phía vẫn thanh lương!)

         

* Hai bài kệ vào núi

 

          1) Đấu tránh nhai sài bất nhẫn văn, tiêu minh mi lư tận phù vân. Tông phong đoạn tục hà quan ngã. Giáo võng thỉ trương nhất nhậm quân. Thực giới tiện khuy không giới huưnh. Phẫu trần phương tín đại thiên văn. Như Lai huệ mạng đồng chân tế. Tiếu sát tùng tiền hà ẩm phân.

          (Đấu đá, cắn xé chẳng nỡ nghe. Nơi mày tiêu minh, sạch phù vân. Tông phong đứt nối, ta không quản. Lưới giáo căng chùng để mặc ông. Hạt cải liếc nhìn không giới thẳm. Chẻ trần mới tin kinh đại thiên. Như Lai huệ mạng như chân tế. Cười chết xưa kia tự cách ngăn?)

          2) Nhiễm tập nan vong mỗi tự bi. Điều tâm vô thuật kỷ nhân tri? Phù danh hà dị trảm đầu kiếm, nghịch cảnh thành vi quyết mạc bề. Cốt nhục thủ khâu đồng dă thú. Ca-sa đăng lũng tự ưu nhi. Sơn linh mạc tiếu quy lai văn, bệnh vị cao hoang thượng khả y.

          (Tập nhiễm chưa quên luôn xót xa. Không cách điều tâm, mấy kẻ hay? Hư danh nào khác gươm chém cổ. Nghịch cảnh thật kim nạo mộng màng. Xương thịt vùi chôn như dã thú. Ca-sa tranh lợi tựa kép tuồng. Núi thiêng đừng nhạo quay về muộn, bệnh chửa ngặt nghèo vẫn trị lành).

 

* Nhìn mưa bên song, ngẫu nhiên vịnh hai bài kệ

 

          1) Nhất ngọa Linh Phong vạn lự hôi. Thiềm thanh trích trích ấn thương đài. Dĩ vong thế thượng hồ tung nhiễu, đản thính lâm gian điểu ngữ ai. Dă lăo sạ phùng thương giá sắc. Sơn nông thường cộng bốc phong lôi. Tuyên Ni nhậm xích Phàn Tu tiểu, ngã giảo thừa phù hữu thủ tài.

          (Nằm tại Linh Phong muôn sự lạnh. Hiên mưa từng giọt, vết rêu xanh. Quên bẵng cõi đời luôn khuấy nhiễu. Vẳng tiếng chim rừng buồn hắt hiu. Chợt gặp cụ già bàn nông vụ, nông dân thường đoán quẻ Phong Lôi. Mặc cho Khổng Tử chê tiểu trí. Tài ta chỉ có ngần ấy thôi[58]).

          2) Tiếp tuần phong vũ khiếp xuân hàn. Sàng chiết tâm an, mộng diệc an. Bán thế phù danh đồng thóa ủy. Dư sanh khóa nguyện dữ thời hoàn. Triển khai cổ tạng phi văn tự. Duyệt tận kim thời nghiệm phế can. Thiên ngoại cử đầu thùy tự thử. Dạ lai cao chẩm nhật gia xan.

          (Mưa gió mười ngày, sợ Xuân lạnh. Giường gãy, tâm an, mộng cũng an. Nửa kiếp hư danh như mũi rãi. Đời thừa công khóa nguyện siêng làm. Lật mở tạng xưa, chẳng văn tự. Xem trọn thời nay, nghiệm cõi lòng. Ngoài trời ngẩng đầu, ai giống vậy? Đêm thì ngủ kỹ, ngày thì ăn).

 

* Ngày Hai Mươi Bảy tháng Năm bệnh nặng, vừa mới hết bệnh bèn ngẫu nhiên viết ba bài kệ

 

          1) Sơn thâm nhật thính thủy mạn mạn. Tiểu Thử y nhiên tự Tiểu Hàn. Vô ý tỵ nhân, nhân dĩ tỵ. Hữu tâm san bệnh, bệnh nan san. Ngọa dư thập trú cam tùy tử. Thống triệt thiên cơ, khổ giảo khoan. Tàm quý quy tình do vị quyết. Hựu tùng dữ nhị hoạch khinh an.

          (Non sâu nghe tiếng nước rì rào. Tiểu Thử vẫn như tiết Tiểu Hàn. Vô ý tránh người, người đã tránh. Có tâm trừ bệnh, bệnh khôn trừ. Nằm mười mấy hôm, cam chờ chết. Đau thấu ngàn xương, khổ bớt dần. Hổ thẹn vì tình kiến chưa quyết. Lại do thang thuốc được khinh an).

          2) Như hà duyệt tạng tiện chiêu ma, thận tật thiên linh tật cánh hà. Thứ phá cách nang vô nhất tịnh. Doanh lai hoại tưởng lược thành khoa. Hổ hàm khuyển tử thâu viên khứ. Đ́nh măn đài văn cự khách quá. Tuyệt hậu tái tô hồn tự mộng. Tịch dương tà ánh tấn mi bà.

          (Duyệt tạng vì sao lại chuốc ma? Thận trọng khiến bệnh càng nặng hơn. Nhìn thấu túi da toàn bất tịnh. Đạt được hoại tưởng tạm rành rành. Hổ vào ngậm chó vượt tường nhảy. Rêu phủ đầy sân, khách chẳng qua. Chết ngất tỉnh rồi, hồn tợ mộng. Bóng chiều soi bạc tóc, lông mày).

          3) Cập môn chư tử tịnh thiên nhai. Nghĩ tác di thư, bút dục tà. Bí tạng khởi nan khai nhục nhãn. Hội Quyền chung khủng trệ ngưu xa. Xuy tha khổ tránh toàn mê phiệt. Khánh ngã thâu an biệt hữu sa. Bệnh thoái thân nhàn, trùng triển tạng. San hô kích toái xán vân hà.

          (Đệ tử hiểu đạo xa cách cả. Toan viết di thư, bút sắp cùn. Bí tạng há khó khai nhục nhãn? Hiểu Quyền lại sợ vướng xe trâu. Cười người tranh cãi toàn mê muội. Mừng ta trộm an, riêng có bè. Bệnh lui, thân nhàn, lại duyệt tạng. San hô đập nát, ráng mây ngời).

 

* Bệnh dậy, viết sáu bài kệ cảnh sách

 

          1) Huyễn thân mộng thế, sát-na thiên thệ, xu hướng tử môn, như tù phó quế. Biện trí thần thông, hà năng sảo chế? Duy hữu tŕ danh, tư vi thượng kế.

          (Huyễn thân, đời mộng. Sát-na qua đi, tiến hướng nẻo chết, như tù chịu chém. Biện tài, trí huệ, thần thông, sao có thể hơi áp chế? Chỉ có trì danh, chính là tuyệt kế).

          2) Tứ đại lục t́nh, duy khổ tương anh. Nhất cú Phật danh, như hoàng xuất thanh. Hư không khả vẫn, danh đức phất khuynh. Bất sanh bất diệt, bổn tự viên thành.

          (Tứ đại lục tình, chỉ khổ nhiễu nhương. Một câu Phật hiệu, như sáo vang tiếng. Hư không có thể tiêu, hồng danh đức chẳng động. Bất sanh, bất diệt, vốn tự viên thành).

          3) Bệnh khổ kư kịch, thế lệ bi hào. Loại bỉ nhụ tử, thủ tiếu đồng tào. Túc nghiệp sở trí, ninh cảm tự thao. Thứ ky từ phụ, ai thử trần lao.

          (Bệnh khổ nguy ngập, ứa lệ, buồn rên. Giống như trẻ nít, đồng bạn chê cười. Túc nghiệp cảm vời, há dám ẩn tàng? Ngưỡng mong từ phụ, thương xót trần lao).

          4) Thống kư nan thoát, phát tâm đại khổ. Dĩ nguyện đại khổ, hà hựu cầu dũ? Tánh phi dị đồng, t́nh đệ tam ngũ. Thoát tắc câu thoát, dụ ngã từ phụ.

          (Đau đã khó thoát, phát tâm chịu khổ thay. Đã nguyện chịu khổ thay, há còn cầu lành bệnh? Tánh chẳng đồng, khác, tình luôn biến hóa. Thoát thì đều thoát, kêu cầu từ phụ).

          5) Cách nang thịnh uế, hà hữu khả ái? Huống phục sang môn, kỳ ác di bội! Tích kiếp si mê, trầm nịch phất hối. Nhất niệm văn tư, ma quân vĩnh thoái.

          (Túi da đựng dơ, có gì đáng yêu? Huống lại cửa ghẻ, xấu ác bội phần! Bao kiếp si mê, chết chìm chẳng hối. Một niệm Văn Tư, ma quân mãi lui).

          6) Ta nhĩ huyễn khách, thính ngã hối ngôn. Vật thị huệ giải, sơ thử Định môn. Nhật càn tịch dịch, thành tánh tồn tồn. Phó nhĩ sơ chí, báo nhĩ thâm ân.

          (Chao ôi huyễn khách, nghe lời tôi khuyên. Đừng cậy huệ giải, lơ Định môn này. Ngày đêm gắng công, cẩn trọng chẳng nhác, khiến thành bẩm tánh. Ứng chí ban đầu, báo đền ân sâu).

 

* Duyệt Tạng xong, ngẫu nhiên viết hai bài kệ

 

          1) Phật ngữ hà thường ly Phật tâm. Thiền lưu nghĩa học uổng trầm ngâm. Bách thiên công án thủy tẩy thủy. Bát vạn Tu Đa kim bác kim. Duyệt tận thỉ tri vô nhất tự. Phách manh an khả thấu trù lâm. Mă Minh, Long Thọ tuy nan xí. Trí Giác phương tung thứ hứa tầm.

          (Phật ngữ há từng lìa Phật tâm? Nhà Thiền, nghĩa học uổng trầm ngâm. Trăm ngàn công án: Nước rửa nước. Tám vạn khế kinh: Vàng đổi vàng. Đọc hết mới hay không một chữ. Mò mẫm rừng hoang há vượt ư? Mã Minh, Long Thọ tuy khó kịp. Theo gót Trí Giác chắc có phần).

          2) Sơn pḥng tiễu tiễu tuyệt âm thư. Túng hữu Đào Nguyên khủng bất như. Triển quyển phân minh duy nhất sự. Xuất môn hà dụng mịch tam xa. Hoàng hoa biến địa phô tân cảnh. Thúy trúc tham thiên ủng cựu cư. Bát Nhã Chân Như hưu nghệ ngữ. Cơ xan, khát ẩm nhậm cuồng sơ.

          (Sơn phòng lặng lẽ, bẵng tin đưa. Dẫu có Đào Nguyên, sợ vẫn thua! Lật quyển, phân minh chỉ một sự. Ra cửa há cần tìm ba xe? Hoa vàng khắp đất, phô cảnh mới. Trúc biếc rợp trời, phủ chốn xưa. Bát Nhã Chân Như thôi nói mớ. Đói ăn, khát uống mặc cuồng sơ!)

 

* Nhìn mưa trước song, viết bốn bài kệ tự khuyên nhủ (Ngày Mười Chín tháng Mười)

 

          1) Vạn nhẫn hàn nham khô mộc thân. Mộng hồn cao ấp tạ phương xuân. Phật danh tín thị thiên sanh bạn. Phạm sách nguyên phi ngũ nhãn trần. Thực mẫu bà hòa liên bệnh tử, càn khôn lăo đại tiếu ky nhân. Diêm Phù hà xứ tầm tri kỷ? Độc ký thanh tư lạc nhật tân.

          (Đá lạnh muôn tầm, thân héo hon. Mộng hồn cao tít tiết dương xuân. Tin chắc Phật danh, ngàn đời bạn. Kinh Phật há phải ngũ nhãn trần? Bà bếp càm ràm thương kẻ bệnh. Càn khôn lão đại trách chê người. Diêm Phù tri kỷ tìm đâu tá? Đành gởi lòng nơi bóng nhật chìm).

          2) Bàn khúc xư tài dữ thế vi. Tự hân tùng vị đạo thời cơ. Hứng lai cử thủ khan hoàng diệp. Quyện khứ chi di tống lạc huy. Vô khách bất tu thương dă soạn, Hữu phong liêu phục bị thuần y. Lai mâu trản phạn thiên di ngã. Tuyệt thắng đương niên phú thái vi.

          (Cây xư cong vẹo trái nghịch đời. Tự mừng xưa nay chẳng xu thời. Hứng lên ngẩng đầu nhìn lá úa. Mệt bèn chống má, ngắm chiều tà. Không khách, chẳng cần lo cơm mọn. Gió lùa chểnh mảng, khoác y sờn. Chén cơm tiểu mạch trời cho hưởng. Hơn hẳn năm nào nuốt nắm rau).

          3) Bách niên thuấn động kế hà trường? Bưu ký phân phân khách mộng cuồng. Lai khứ vị tri sanh tử tịch. Hiền ngu thiên tránh thị phi mang. Lê hoa kiệp điệp yêu thành quả. Liễu nhứ mao cầu bội tác đang. Thâu dữ thâm sơn nhàn nạp tử. Sổ châu bách bát lý quy trang.

          (Trăm năm chớp mắt, có gì lâu? Thư gởi lung tung, khách mộng cuồng. Đến, đi chẳng biết, sanh tử lặng. Hiền ngu lo cãi thị phi suông. Hoa lê bướm lượn mong thành quả. Tơ liễu xoắn tròn kết làm vòng. Chở đến non sâu, sư rảnh rỗi. Tràng hạt trăm tám làm hành trang).

          4) Cực hóa cùng thần giai vọng tưởng. Hoán hồi vọng tưởng, tưởng Như Lai. Đản linh đương niệm nhất thanh thiết. Tiện giác tùng tiền vạn lự hôi. Tiệt đoạn khứ lai minh ám cú. Kết thành Thật Báo, Tịch Quang phôi. Duy tâm tác Phật, duy tâm thị. Bất giả châm chùy chánh nhãn khai.

          (Cực hóa, cùng thần đều vọng tưởng. Chuyển xoay vọng tưởng, tưởng Như Lai. Chỉ cần một tiếng đương niệm thiết. Liền giác muôn lo thuở trước tan. Cắt đứt đến đi, câu sáng tối; kết mầm Thật Báo với Tịch Quang. Duy tâm làm Phật, duy tâm Phật. Chẳng nhọc cặp rèn, chánh nhãn khai).

 

* Ngồi một mình viết hai bài kệ cảm hoài

 

          1) Khắc kỳ thủ quả chí. Tàm quý vị năng thù. Bệnh hậu tri thân khổ. Bần lai huyễn tưởng hưu. Đản tương tam tế niệm, tổng phụ Tứ Hoằng châu. Đàn chỉ quy An Dưỡng. Diêm Phù bất khả lưu.

          (Hẹn kỳ mong chứng quả, hổ thẹn chưa thể thành. Bệnh rồi biết thân khổ. Nghèo túng, huyễn tưởng tan. Chỉ nghĩ nhớ ba đời, luôn nương thuyền Tứ Hoằng. Khảy tay về An Dưỡng, Diêm Phù chẳng thể lưu).

          2) Bán thế khuynh trường phủ. Liêu liêu hữu kỷ tri? Thứ ky tam nhị tử. Úy ngã bán sanh tư. Xả tận tùng tiền đắc, phương khai cách ngoại kỳ. Ân cần mạt hậu cú, hề thí thử ly thi.

          (Nửa đời dốc gan ruột, thưa thớt mấy ai hay? Mong sao đôi ba người, an ủi tôi nửa đời. Bỏ sạch trước kia đạt, mở toang chuyện lạ thường. Câu ân cần sau cuối, nào khác thơ Thử Ly[59]).

 

* Khẩu hiệu trong khi bệnh (ngày Mười Tám tháng Mười Một)

 

          Hạ bệnh bất tri thử. Đông bệnh bất tri hàn. Dạ trường tự tiểu kiếp. Thống liệt như đao sơn. Nhân gian thượng phục nhĩ, hà huống tam đồ gian. Quy mạng đại từ phụ, tảo xuất Sa Bà quan.

          (Hè bệnh, chẳng biết nóng. Đông ốm, chẳng biết lạnh. Đêm dài như tiểu kiếp. Đau xé như núi đao. Nhân gian còn như thế, hà huống trong tam đồ! Quy mạng đại từ phụ, sớm vượt ải Sa Bà).

 

* Ngẫu nhiên viết trong khi bệnh (Ngày Mồng Ba tháng Chạp)

 

          Nghiệp duyên tùng thốc bệnh duyên tần. Thống khổ thân ngâm triệt mộ thần. Tảo phát Bồ Đề do nhược thử, vị toàn chánh tín nghĩ thùy thân? Thân kinh cửu tử hồn vong lực. Tâm bổn vô sanh độc tự chân. Danh tự vị trung chân Phật nhãn. Vị tri tất cánh phó hà nhân?

          (Nghiệp duyên dồn dập, bệnh duyên nhiều. Đau đớn kêu rên suốt sáng đêm. Sớm phát Bồ Đề còn như vậy, chưa tròn chánh tín nghĩ gần ai? Thân chết chín phen, gần kiệt sức. Tâm vốn vô sanh, riêng tự chân. Chân Phật nhãn nơi danh tự vị, giao phó cho ai biết được đâu?)

 

* Bệnh nặng vừa mới dậy, cầu sanh Tịnh Độ (sáu bài)

 

          1) Diêm Phù bách khổ trấn tiên ngao. Lại hữu Ma Đề lộ phỉ dao! Lục tự hồng danh chân pháp giới. Nhất thanh phàm niệm hải toàn triều. Trược lưu thốn thốn thanh châu ánh. Ám thất trần trần bảo cự chiêu. Thiên cổ Đông Lâm phong vị trụy. Bất tu phương tiện tự hoành siêu.

          (Diêm Phù trăm khổ thường nung nấu. Nhờ có Lạc Bang nẻo chẳng xa! Sáu chữ hồng danh chân pháp giới. Một tiếng phàm niệm, biển sôi trào. Nước đục từng tấc, thanh châu rạng. Phòng tối bụi trần, đuốc báu soi. Muôn thuở Đông Lâm phong cách rạng, chẳng cần phương tiện, tự hoành siêu).

          2) Trầm kha nguy đốc thị ngô sư. Tiêu khước tùng tiền đa thiểu si. Dĩ phá bách niên nhàn hoạt kế. Định khai trần kiếp đại thông quỳ. Dao chiêm lạc nhật tăng ai mộ. Mộng lễ từ dung trưởng trí bi. Lục bát nguyện vương hằng nhiếp thủ. Kim liên dục chất khả vô nghi!

          (Bệnh ngặt trầm kha: Thầy ta đó. Tiêu mất bao nhiêu si trước kia. Đã phá kế trăm năm an nhàn sống. Quyết mở đường lớn trần kiếp thông. Xa ngắm ngưỡng mộ vầng dương lặn. Mộng lễ từ dung, lớn trí bi. Bốn tám nguyện vương luôn nhiếp thủ. Sen vàng gởi chất chẳng còn ngờ!)

          3) Tŕ danh chân thật thị đơn truyền. Niệm niệm viên thành thâm diệu Thiền. Năng sở bổn lai vô nhị thể. Quả nhân giao triệt tức trùng huyền. Quảng trường thiệt tướng kiên chân tín. Châu biến thân quang kết pháp duyên. Thái sự phân minh duy thử sự. Đồng nhân cộng sách tổ sanh tiên.

          (Trì danh chân thật là đơn truyền. Niệm niệm viên thành thâm diệu Thiền. Năng sở vốn sẵn chẳng hai Thể. Quả nhân xen thấu, càng thêm huyền. Tướng lưỡi rộng dài, tin chắc thật. Thân quang khắp trọn, kết pháp duyên. Mọi chuyện phân minh riêng chuyện này. Đồng nhân cùng thúc roi tổ truyền).

          4) Bệnh kinh lũy nguyệt bì triền cốt. Phảng phất minh đồ bệ lệ đa. Tỳ nhược tiện nhân cam lục vị. Căn doanh cần ngã thuận tam hòa. Hiên Kỳ kỹ lưỡng phi song thiện. Đao Lợi tô-đà nại dị kha. Tối thị Lạc bang từ phụ nguyện, hàm sanh vĩnh vĩnh ly trầm kha.

          (Bệnh trải nhiều tháng, xương bọc da. Từa tựa u đồ ngạ quỷ thân. Tỳ yếu, phục người nếm sáu vị. Căn suy, ta chỉ thuận tam hòa. Tài nghệ Hiên Kỳ[60] không giỏi cả. Tô-đà[61] Đao Lợi kiếm đâu ra? Cha lành Cực Lạc nguyện cao nhất, hàm sanh vĩnh viễn lìa trầm kha).

          5) Cửu hướng A Di thệ lực thâm. Phù sanh vô nại nhiễm tương xâm. Văn thanh kiến sắc đa vong niệm. Kế hậu tư tiền chuyển muội tâm. Thống cực sắc thanh duyên tự đoạn. Bệnh nguy tiền hậu ảnh phương trầm. Cô minh lục tự toàn đề xuất. Bách thú quần trung sư tử âm.

          (A Di Đà thệ lực sâu dày, hiềm đời phù phiếm tập khí nhiễm. Thấy sắc, nghe thanh, niệm bẵng quên. Lo trước, tính sau tâm tối mịt. Đau tột, sắc thanh tự đoạn duyên. Bệnh ngặt trước sau trần ảnh lặng. Sáu chữ riêng sáng nêu toàn vẹn, âm thanh sư tử giữa trăm loài).

          6) Càn Huệ sơ càn, nghiệp vị khô. Bệnh thâm vô kế khả chi ngô. Xưng danh bất dị nhi hào nhũ. Sám tội hà thù tù phục cô. Sạ khánh thử thời phương đắc chủ. Cánh tàm lịch kiếp uổng thành bô. Đinh ninh pháp lữ cần tương trợ, cộng giải luân vương kế lư châu.

          (Càn Huệ vừa khô, nghiệp chửa khô. Bệnh sâu không cách nói hàm hồ. Xưng danh chẳng khác trẻ đòi sữa. Sám tội khác nào tù thọ hình. Chợt mừng lúc ấy được làm chủ, lại thẹn bao kiếp uổng trốn lìa. Đinh ninh pháp lữ siêng tương trợ, cùng tháo châu nơi búi tóc vua).

 

* Tặng Vương Tuyết Hữu

 

          Thù Tứ nguyên tùng Thứu lãnh lai. Duy tâm nhất ngữ chánh truyền khai. Thánh cuồng cứu cánh do đương niệm. Thuấn, Chích hà thường bẩm dị tài? Tự tích linh căn cảnh kư cửu. Nhi kim chánh tín phát ưng khôi. Văn nhân huệ nghiệp nguyên vô nhị. Hảo bả gia thanh tục lăo Bùi.

          (Thù, Tứ bắt nguồn từ núi Thứu. Một lời duy tâm chánh truyền khai. Thánh, cuồng rốt ráo do đương niệm. Thuấn, Chích chưa từng vốn khác tài. Từ xưa linh căn sẵn tồn tại, chánh tín nay nên phải phục hồi. Văn nhân, huệ nghiệp không hai lẽ, tiếng thơm hãy khéo nối lão Bùi).

 

* Trừ tịch năm Giáp Ngọ (1654)

 

          Đông, Tây, Nam, Bắc uổng tư thư. Sạ tức cuồng tâm phục cựu cư. Chánh hỷ trúc tuyền bất dụng măi. Na kham tật sấn cửu nan khư. Lực tùng chẩm tịch tiêu ma tận. Tâm hướng hoa đài tất cánh thư. Tiến thủ bảo tŕ xuân phú lạc. Tùng tư bần dữ bệnh câu trừ.

          (Đông, Tây, Nam, Bắc uổng chần chừ. Chợt dứt cuồng tâm, lại ở yên. Mừng vì suối trúc không cần sắm, kham chịu bệnh tật lâu khó trừ. Tận sức nằm xoài, tiêu bệnh tật. Đài hoa tâm hướng ổn an lòng. Ao báu tiến nhập, xuân phơi phới. Khó nghèo, bệnh tật thảy đều trừ).

 

* Hai bài kệ nhân Nguyên Đán năm Ất Mùi (1655)

 

          1) Bộc trúc thanh truyền u cốc Xuân. Tương tùng thúy trúc tổng duy tân. Tuyền tùng Long Thọ vị như mật. Thạch trấn hùng phong đài tự lân. Khóa tục tam thời tiếp liên lậu. Luận khai bách bộ, nghĩ Thiên Thân. Huống kiêm dĩ kết Đông Lâm Xã. Đồng chí vô phi Pháp Tạng thần.

          (Pháo trúc báo Xuân nơi hang vắng. Tùng xanh, trúc biếc thảy tươi vui. Suối từ Long Thọ vị như mật. Đá trấn Hùng Phong phủ vảy rêu. Khóa tụng ba thời không gián đoạn. Luận khai trăm bộ phỏng Thiên Thân. Huống còn đã kết Đông Lâm Xã. Đồng chí đều là dân Di Đà).

          2) Pháp Tạng đương niên nguyện lực hoằng. Ư kim khoáng kiếp hữu đồng hành. Tuế triêu tuyển Phật quy viên giác. Nguyệt dạ truyền đăng hiển tánh minh. Vạn trúc tịnh triêm tân lệnh tảo. Thiên mai dĩ lộ cựu phương anh. Chư nhân ưng tín ngô vô ẩn. Khoái dữ cao hiền kế túc minh.

          (Pháp Tạng thuở ấy nguyện lực rộng. Tới nay bao kiếp có đồng hành. Sáng thì tuyển Phật về viên giác. Tối lại truyền đăng, tánh sáng bày. Muôn trúc thấm nhuần sáng Xuân mới, ngàn mai lộ vẻ cũ xinh tươi. Mọi người tin tưởng tôi không ẩn. Chóng tiếp ước cũ với cao hiền).

          Bộ sách này gồm mười quyển, năm Bính Thân (1656) khắc in tại Tân An được ba quyển rưỡi. Người xướng suất đầu tiên là ông Diệp Tịnh Diễn (quyên hai mươi lượng), trợ duyên thì có Thích Tri Tuần, Lý Chi Vỹ (quyên mười lượng), Hồ Công Trứ (quyên mười lượng), Bảo Như Hàn, Ngô Tịnh Trí v.v… Tiếp đó có Diệp Chân Ngạn (quyên năm mươi lượng), Tô Khai Tộ (quyên bốn mươi lượng), Ngô Tịnh Địch (quyên mười lượng), ba vị hiệp lực khắc sáu quyển rưỡi. Do vậy, sách được hoàn thành. Cảm kích pháp duyên chẳng dễ dàng. Ghi đại lược tên tuổi như trên. Còn như họ được hưởng phước huệ trang nghiêm, đều có công đức xứng tánh tồn tại, bút mực chẳng thể diễn tả muôn một.

Năm Kỷ Hợi (1659) tháng Mười Một, Thành Thời chắp tay kính đề.

Linh Phong Tông Luận

Trọn bộ

 

Hồi Hướng

 

Trong quá trình chuyển ngữ, do kiến thức kém cỏi, do tâm chưa chuyên nhất, thanh tịnh, chắc chắn mạt nhân sẽ phạm phải những sai lầm khó thể tha thứ được, chỉ xin chí tâm sám hối, nguyện những ai hữu duyên đọc đến bản chuyển ngữ này sẽ không câu nệ văn từ, tự cảm nhận được các ý nghĩa trân quý trong lời dạy của Tổ, không vì từ ngữ vụng về, thô kệch của người chuyển ngữ mà hiểu sai ý Tổ. Nếu việc làm liều lĩnh này có chút công đức nào, đều xin hồi hướng về quá khứ hiện tiền phụ mẫu, sư trưởng, thiện ác tri thức, oán thân trái chủ, các đạo hữu Đức Phong, Huệ Trang, Diệu Âm Trịnh Lộc cùng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nguyện những ai thấy nghe, dù tùy hỷ hay quở trách đều được thân tâm an lạc, đạo nghiệp tăng trưởng, vun bồi phước huệ, vững tin vào bổn nguyện của A Di Đà Phật, lâm chung sẽ về thẳng Lạc Bang.

          Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa đê đầu kính bạch.

          (hoàn thành cảo bản ngày 14 tháng 11 năm 2025)

 



[1] Huân phong (薰風) là gió từ hướng Đông Nam thường thổi vào đầu mùa Hạ, có đặc tánh ấm mát.

[2] Kiền chùy (犍椎): Các loại pháp khí để gõ trong tự viện như chuông, trống v.v…

[3] Triệu lão tức là ngài Triệu Châu Tùng Thẩm, nổi tiếng với một thành ngữ “Triệu Châu bát thập do hành cước” (Triệu Châu tám mươi tuổi vẫn hành cước).

[4] Hiếp tôn tức là Hiếp tôn giả (Pārśva) là một vị tôn giả trứ danh. Tương truyền Ngài là thầy của Mã Minh Bồ Tát. Ngài thường tọa Thiền, không đặt lưng nằm xuống ngủ, nên gọi là Hiếp tôn giả (Hiếp là cái hông). Ngài đã khuyến thỉnh vua Ca Nị Sắc Ca (Kaniṣka) đệ nhất của vương triều Quý Sương (Guṣāṇa-vaṃśa, Kushano) kết tập kinh tạng lần thứ tư.

[5] Sát trần: Số vi trần trong một cõi Phật. Tướng sát trần tức là các tướng có số lượng nhiều như số vi trần trong một cõi Phật.

[6] Hy Hà tức là nói gọn của “Hy hà khai biên” (còn gọi là Hy Hoàng khai biên) là nói tới chiến dịch mở rộng biên cương, khởi đầu niên hiệu Hy Ninh thời Tống Thần Tông, dưới sự chỉ đạo của Vương An Thạch, phát động tại sáu châu Đãng, Điệp, Thao, Dân, Hà, Lâm (Hy châu) nhằm bao vây Tây Hạ với ý đồ tiêu diệt Tây Hạ. Chiến dịch này kéo dài sáu mươi năm, các vùng đất cứ chiếm được rồi lại bị mất, khiến nhà Bắc Tống suy yếu dần.

[7] Trang Châu (Trang Tử) từng nằm mộng thấy mình hóa thành bướm.

[8] Tức thuốc A Già Đà, thần dược bậc nhất trong thần thoại Ấn Độ.

[9] Ngỗng chúa biết chọn sữa để uống, chừa nước lại.

[10] Đồ thán (塗炭) nghĩa đen là bùn lầy và tro than, tỷ dụ chốn ô trược, hoặc nói rộng là cảnh lầm than, khốn khổ.

[11] Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật Thích Ca dùng các ngón tay nắm lại thành quyền (nắm đấm), xòe ra thì quyền chẳng còn nữa, Ngài dùng thí dụ này để sánh ví tướng hữu vi hư huyễn.

[12] Bại Bắc có nghĩa là “chiến bại, thất bại”. Do khi thua trận, quân lính tháo cháy, xoay lưng về phía địch quân, nên chữ Bối (lưng) bị đọc trại thành Bắc.

[13] Tử Lộ là tên tự của Trọng Do, còn gọi là Quý Lộ. Ông là người đất Biện, nước Lỗ, là học trò đắc ý của Khổng Tử, được xếp vào hàng Thập Triết. Ông nhỏ hơn Khổng Tử chín tuổi, cũng là học trò theo hầu Khổng Tử lâu nhất. Về sau, ông trở thành gia thần của Khổng Lý (đại phu nước Vệ). Khi nước Vệ có nội loạn, do tận lực cứu Khổng Lý, ông bị giết chết. Vệ Hậu Trang Công đã ra lệnh bằm nhuyễn xác ông. Trọng Do thuở nhỏ nghèo hèn, ông thường phải đi xa đội gạo để mua gạo cho rẻ về cho cha mẹ ăn, còn chính mình ăn rau dưa đỡ lòng. Mền Tử Lộ ở đây ý nói áo rách rưới, vá chằng vá đụp.

Quý Tử hoàn (季子紈, lụa nõn của Quý Tử). Quý Tử tức là một trong ba dòng họ quý tộc tại nước Lỗ, quyền hành rất lớn, thao túng triều chánh nước Lỗ. Quý Tử là danh xưng để gọi con cháu của Quý Tôn Thị. Do Lỗ Hoàn Công (Cơ Doãn) có bốn người con trai. Người con đầu là thái tử Cơ Đồng (về sau lên ngôi thành Lỗ Trang Công). Những người con kế tiếp là Cơ Khánh Phụ (thường gọi là Mạnh Tôn), Cơ Thúc Nha (Thúc Tôn), và Cơ Hữu (Quý Tôn). Khi Lỗ Trang Công lên ngôi, đã phong cho ba người em làm đại phu, và trao cho họ nhiều quyền hành, khiến họ thừa cơ lấn áp vua, đấu đá lẫn nhau. Sử gọi họ là Lỗ Tam Hoàn.

[14] Nhĩ diễm (爾燄) là phiên âm của chữ Jñeya, có nghĩa là cảnh giới, trí mẫu, hoặc trí cảnh.

[15] Ý nói làm chuyện vô ích, hư huyễn, vì sức người không thể thổi lay động ánh sáng được.

[16] Mũi kim và hạt cải rất bé, khó thể dùng kim găm đúng hạt cải. Do vậy, nhà Thiền dùng hình ảnh mũi kim găm hạt cải để sánh ví cơ duyên ứng hợp, thầy vừa dạy trò liền hiểu đạo ngay.

[17] Trong phẩm Hiện Bảo Tháp của kinh Pháp Hoa, khi đại chúng muốn thấy toàn thân của Phật Đa Bảo, đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đã ba lượt biến hóa, khiến cho tam thiên đại thiên thế giới Sa Bà thành thanh tịnh. Ngài dời trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, núi non, hang hốc v.v… sang nơi khác, biến hóa các cõi thanh tịnh kèm thêm vào thế giới Sa Bà để dung chứa phân thân của Phật Thích Ca trong mười phương thế giới. Khi đó, Trí Tích Bồ Tát là thị giả của Đa Bảo Phật, đã gạn hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát về chuyện giáo hóa, Văn Thù Bồ Tát thuật chuyện Ngài giáo hóa tại long cung, đã nhắc đến long nữ là con gái vua rồng Sa Kiệt La mới tám tuổi mà có thể lãnh hội kinh Pháp Hoa. Long nữ bèn hiện thân trong pháp hội, cúng dường Phật Thích Ca, và thị hiện thành Phật ngay lập tức để đoạn nghi cho tôn giả Xá Lợi Phất.

[18] Tử Thiều là tên tự của Trương Cửu Thành (1092-1159). Ông có hiệu là Vô Cấu và Hoành Phố Cư Sĩ, người xứ Tiền Đường, làm quan đời Nam Tống. Ông chơi thân với thiền sư Đại Huệ Tông Cảo.

[19] Đây là lời giải thích hào thứ nhất của quẻ Thái trong kinh Dịch: “Bạt mao nhứ, dĩ kỳ vựng, chinh cát”. Câu này được các nhà Dịch học chú giải như sau: “Bạt mao nhứ” là như nhổ cỏ tranh, nó sẽ kéo theo cả cụm gốc rễ liền nhau. Ví như dưới trướng bậc tài đức, hiền thần, lương sĩ sẽ tụ tập, tiến cử người hiền nên nói là “dĩ kỳ vựng” (tụ tập lại), quân tử nhờ đó mà đạt tới điều tốt lành, nên gọi là “chinh cát”. Ở đây, tổ Ngẫu Ích dùng điển tích này để sánh ví: Mười một món thiện tâm sở ví như bầy tôi hiền đức. Tâm vương ví như nhà vua khéo sử dụng các thiện tâm sở (ví như ý nghĩa nhổ cỏ tranh trong quẻ Thái của kinh Dịch), các thiện pháp sẽ nẩy sanh khiến cho hành nhân thăng tấn, nên mới nói là “bạt mao vựng cát chinh”. Mười một thiện tâm sở là tín, tinh tấn, tàm, quý, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, khinh an, chẳng buông lung, hành xả, và chẳng hại.

[20] Chúng tôi không tìm được ý nghĩa của từ này, đành để nguyên không dịch.

[21] Thiên thao (天弢) là một từ ngữ phát xuất từ thiên Tri Bắc Du trong sách Trang Tử, hàm nghĩa “quy luật tự nhiên”. “Giải thiên thao” có nghĩa là do thông hiểu, thấy thấu suốt quy luật tự nhiên mà không còn bị trói buộc, đã giải thoát khỏi sự hạn chế của tự nhiên đối với con người.

[22] Đào Nguyên gọi đủ là Đào Hoa Thôn, là một xã hội lý tưởng không có chiến tranh, chẳng có áp bức, nhân dân sống an lạc, tự cấp, tự túc, được miêu tả trong bài Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Uyên Minh (Đào Tiềm, Đào Uyên Lượng, Tĩnh Tiết tiên sinh) viết vào đời Tấn. Theo đó, trong niên hiệu Thái Nguyên nhà Tấn, một ngư dân ở Vũ Lăng do tìm cá, đi dọc theo con suối, đến được xóm đào hoa. Ông ta thấy nơi đó cây cỏ tươi tốt, dân cư an lạc, sung túc, không có chiến tranh. Hỏi ra, mới biết những người sống ở đấy là hậu duệ của dân lánh nạn từ thời Tần Thủy Hoàng, tìm tới đây ẩn cư, không cần biết đến các triều đại bên ngoài nữa. Người ấy ở đó vài ngày, cáo từ ra đi. Đã về đến nhà, kể với thái thú. Thái thú sai người đi tìm, nhưng lạc lối, chẳng thấy đâu nữa. Đào Nguyên chính là ước vọng về một xã hội bình trị trong hoàn cảnh loạn lạc thuở ấy.

[23] Tổ có ý nói khiêm nhượng: Học vấn, kiến thức của mình chẳng có gì đáng kể, những trước tác chỉ là nhắc lại ý nghĩa của chư tổ, chư cổ đức đã nói; nhưng đồ chúng vẫn lầm lạc mong Ngài thuyết pháp.

[24] Thiện Cát là dịch nghĩa của Tu Bồ Đề. Tôn giả Tu Bồ Đề ngồi yên trong hang đá, Thiên Đế Thích rải hoa cúng dường, ca ngợi ngài Tu Bồ Đề khéo nói Bát Nhã.

[25] Ngài Ly Bà Đa (dịch nghĩa là Tinh Tú, Tuệ Tinh), còn được gọi là Giả Hòa Hợp. Do một đêm nọ, Ngài nghỉ chân tại một ngôi đình vắng, có một con quỷ vác một cái tử thi đi đến. Chốc sau, lại có một con quỷ lớn khác đi đến, toan cưỡng đoạt cái xác ấy, giành giật ầm ĩ măi. Tiểu quỷ bất đắc dĩ, phải nhờ Ngài Ly Bà Đa phán xử. Ngài cứ t́nh thật phán xử. Đại quỷ cáu quá, xé toạc tay chân Ngài nuốt ăn, tiểu quỷ bèn lấy tay chân của tử thi thế vào. Đến sáng, Ngài Ly Bà Đa sanh phiền năo sâu nặng, tự nghĩ: “Thân này nào phải là thân ta. Giả sử thân này thực là của ta th́ chính mắt ta thấy đại quỷ xé tay chân ḿnh ăn mất rồi”. Lại nghĩ: “Nếu thật sự là thân của người khác, th́ sao tay chân này vẫn hành động theo ư ḿnh”. V́ thế bèn hỏi người qua lại: “Ông có thấy tay tôi, chân tôi hay chăng?” Có một vị tỳ kheo nghĩ người này dễ độ, bèn đọc bài kệ: “Vốn thân người khác thế, tạm giả ḥa hợp dùng”. Ngài Ly Bà Đa liền giải ngộ nghĩa lư tứ đại giả hợp, nhận thức hết thảy sự lư một cách rơ ràng, liền theo tỳ kheo đó về chỗ đức Phật cầu xuất gia.

 

[26] Tay Phật được mô tả là mềm mại như đâu-la miên.

[27] Đây là những lời ca ngợi hạnh Đầu Đà của ngài Ma Ha Ca Diếp.

[28] “Hý dương” (餼羊) có nghĩa là con dê còn sống dùng để cúng tế. Theo cổ lễ, các vua chư hầu vào ngày mồng Một mỗi tháng sẽ đến tổ miếu, dùng dê tế lễ rồi mới thiết triều. Về sau, vua nước Lỗ không giữ lệ này, tuy mỗi tháng vẫn cúng dê, nhưng vua không đích thân đến tế, chỉ sai quan tới cúng tế qua quýt cho xong. Do đó, “hý dương” được hiểu là cúng cho có hình thức, không có thực chất tôn kính.

[29] Yên lừa ở đây là nói một phần nơi xương sọ có hình dáng giống như cái yên để cỡi lừa. Có kẻ ngu tưởng lầm cái xương ấy là xương hàm của cha mình. Do vậy, Thiền lâm dùng chuyện này để chê trách kẻ kiến chấp mê muội.

[30] Tai hồng (thị đế), tức là phần đài hoa của cây hồng (persimmon). Khi hoa kết thành quả, phần đài hoa này vẫn còn bám quanh cuống. Khi ăn hồng, phải loại bỏ phần này đi. Tai hồng có thể dùng làm thuốc trong Đông Y. Họ tin rằng tai hồng có vị đắng, rít, tánh bình, dược tánh đi vào Thái Âm Phế Kinh, dùng để chữa bệnh khí nghịch.

[31] Ý nói dẫu đã thấu triệt đạo lý, vẫn phải kiềm chế, cẩn trọng.

[32] Đẩu ngưu hiểu theo nghĩa rộng là sao Đẩu và sao Ngưu, tức hai tinh tòa trong Nhị Thập Bát Tú, thường được dùng sánh ví với trời thẳm, nhất là khi diễn tả sự vật mang đầy tính hăng hái, như câu thơ “khí xung Đẩu Ngưu, thanh chấn thiên địa” (khí xông tận sao Đẩu, sao Ngưu). Hiểu theo nghĩa hẹp, Đẩu Ngưu là vùng Ngô Việt (Giang Tây, Phước Kiến, Chiết Giang) của Trung Hoa, vì theo thiên văn học cổ Trung Hoa, vùng này tương ứng với sao Đẩu Ngưu trong cách chia bầu trời thành từng “phận dã” (khu vực chiếu soi của các ngôi sao trong Nhị Thập Bát Tú).

[33] Tức Lương Vũ Đế (tên thật là Tiêu Diễn).

[34] Thành ngữ “ngõa phủ lôi minh” (瓦釜雷鳴) hàm ý: Kẻ bất tài vô đức mà giữ địa vị cao xa, hiển hách. Bởi lẽ, cái nồi bằng đất không thể nào phát ra âm thanh vang rền được.

[35] Ngài Đạo Sanh đề xướng thuyết “tất cả chúng sanh đều thành Phật, ngay cả nhất xiển đề cũng có thể thành Phật” bị người đương thời công kích dữ dội, thậm chí bị xua đuổi cho là Ngài lập tà thuyết, dị kiến. Ngài phải lánh vào rừng, giảng kinh cho đá. Giảng xong hỏi: “Tôi giảng kinh có phù hợp ý chỉ của chư Phật hay không?” Các tảng đá đều gật đầu. Cho tới khi kinh Đại Bát Niết Bàn được truyền sang Trung Hoa, mọi người mới khâm phục kiến giải của ngài Đạo Sanh. Ở đây, Tổ dùng câu chuyện này để tự thán chính mình vô đức, cổ đức giảng kinh có thể cảm động vật vô tình, còn hiện thời Tổ giảng giải, người chỉ tìm hỏi danh tướng văn tự mà thôi đã ngày càng ít ỏi, hầu như chẳng có ai!

[36] Truyền Đăng Ký chính là Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Cảnh Đức là niên hiệu của Tống Chân Tông. Truyền Đăng Lục chính là sách về lịch sử truyền thừa của Thiền Tông Trung Hoa, vốn có tên là Phật Tổ Đồng Tham Tập. Do bộ sách này được ngài Đạo Nguyên soạn vào năm Cảnh Đức nguyên niên (1004), nên mới gọi là Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Sách gồm ba mươi quyển, chép các vị tổ và các vị cao tăng trong nhà Thiền. Sách khởi đầu bằng quá khứ thất Phật, đệ nhất tổ Ma Ha Ca Diếp cho đến vị tổ thứ hai mươi bảy của Tây Trúc là Bát Nhã Đa La, sáu vị tổ của Đông Độ rồi lần lượt chép tiểu truyện các vị hậu duệ truyền pháp của ngài Văn Ích thuộc tông Pháp Nhãn.

[37] Tỳ Da chính là thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī), thủ đô của nước Bạt Kỳ (Vṛji). Cư sĩ Duy Ma Cật sống tại đây, và Ngài đã thị hiện mắc bệnh nhằm tạo cơ hội cho đức Phật sai các đệ tử đến thăm bệnh để giảng pháp môn Bất Nhị. Xin xem chi tiết trong kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết.

[38] Thịt Đông Pha là một món thịt lợn kho nổi tiếng vùng Hàng Châu tỉnh Chiết Giang, tương truyền do Tô Đông Pha chế ra. Thịt lợn được tẩm rượu Thiệu Hưng, đường phèn, nước tương, kho riu riu cho đến khi tất cả chất nước tẩm ướp ấy rút sâu vào trong miếng thịt kho. Thành phẩm sẽ có màu đỏ hơi sậm, nên thường gọi là “hồng thiêu”. Cái khéo là để nguyên một tảng thịt lớn để kho, nhưng khi ăn, bỏ vào miệng sẽ mềm đến nỗi tưởng chừng tan ra ngay lập tức. Ở đây, ý Tổ ca ngợi món đậu hủ của ông Đào Tảo Am cũng chế biến khéo léo, hương vị ngon lành như thịt kho Đông Pha.

[39] Điển tích này xuất phát từ thiên Thuật Nhi sách Luận Ngữ. Theo đó, Khổng Tử ở nước Tề, sau khi nghe nhạc Thiều, suốt ba tháng không biết mùi vị thịt. Về sau, thành ngữ “văn Thiều” (nghe nhạc Thiều) mở rộng thành ý nghĩa “nghe sự vật cao diệu tột bậc rồi mê mẩn đến mức quên ăn bỏ ngủ”.

[40] Tức ngài Cấp Cô Độc. Để kiến tạo Kỳ Viên, trưởng giả Cấp Cô Độc Tu Đạt Đa đã đem vàng lót đất để mua lại khu rừng ấy từ Thái Tử Kỳ Đà.

[41] Nguyên văn là “nạp túc” (納粟) tức là quy định dùng lương thực hoặc tiền bạc cống nạp cho triều đình để đổi lấy quan tước. Tập tục này bắt đầu từ thời Hán Văn Đế. Đến đời Minh, người giàu bèn quyên tiền để con được vào trường Quốc Tử Giám ngõ hầu con họ không cần phải thi tuyển tại địa phương, mà được dự thi trực tiếp trong các khóa thi do triều đình tổ chức.

[42] Tức là lên tòa giảng. Người thuyết pháp hoặc thượng đường trong nhà Thiền thường dùng cách phẩy phất trần nhằm biểu pháp trước khi giảng nói.

[43] Liên lậu (đồng hồ sen): Dựa theo chuyện sơ tổ Huệ Viễn chế ra hoa sen gỗ thả trong nước. Hễ nước ngập đến cánh nào biết là đã đến giờ, khắc nào để ấn định công khóa.

[44] Dựa theo ý “đầu sào trăm thước, tiến thêm một bước nữa”.

[45] Tức là một ngàn bảy trăm công án. Do chấp vào văn tự, nên công án trở thành thứ thừa thãi, giống như dây leo bám vào thân cổ thụ.

[46] Nước Sở phương Nam, nay muốn sang nước Sở mà lại để cho ngựa kéo xe theo hướng Bắc thì không thể nào đến đích được!

[47] Đây là một công án trong nhà Thiền. Vị Tăng thấy thiền sư Duy Nghiễm xem kinh hỏi: “Hòa thượng bình thường không cho chúng con xem kinh, vì sao hòa thượng lại xem?” Sư đáp: “Ta xem chỉ để che mắt”. “Chúng con học theo hòa thượng được chăng?” “Nếu các ngươi xem thì da trâu cũng lủng”.

[48] Một cân gồm mười sáu lượng.

[49] Phạt kha có nghĩa đen là đẵn cây để làm cán rìu, tỷ dụ chuyện tuân theo nguyên tắc. Phạt Kha vốn là một bài thơ thuộc chương Bân Phong trong kinh Thi: “Phạt kha như hà? Phi phủ bất khắc. Thú thê như hà? Phỉ môi bất đắc” (Đẵn cán rìu ra sao? Không có búa chẳng được. Cưới vợ như thế nào? Không mai mối chẳng được).

[50] Ba ngàn oai nghi, tám vạn luật nghi.

[51] Trưởng giả ở đây chính là trưởng giả Lưu Thủy (tiền thân của Tín Tướng Bồ Tát) được nói trong kinh Kim Quang Minh. Do cùng hai con đi chơi, trưởng giả Lưu Thủy thấy mười ngàn con cá sắp chết vì thiếu nước trong ao, bèn sai con vào cung vua mượn mấy thớt voi để chở nước đổ vào ao cứu cá. Trưởng giả lại thí đồ ăn cho cá rồi thuyết pháp cho chúng. Lũ cá do nghe pháp bèn xả thân cá, sanh lên cung trời. Do cảm ân cứu giúp của trưởng giả, các vị trời ấy bèn xuống nhà trưởng giả Lưu Thủy lúc ông đang ngủ, cúng dường các chuỗi anh lạc, phóng quang sáng chói cả đô thành.

[52] Theo kinh Kim Quang Minh, Tín Tướng Bồ Tát sanh nghi về thọ lượng của Thích Ca Mâu Ni Phật, liền thấy tứ phương Phật hiện ra, giảng pháp thọ mạng của Như Lai. Ông hoan hỷ đem chuyện ấy bạch với đức Phật. Khi lui về, trong đêm ông nằm mộng thấy cái trống bằng vàng phát ra tiếng dạy pháp sám hối.

[53] Dựa theo câu nói “cát kê yên dụng ngưu đao” (mổ gà cần gì dùng đao mổ trâu) của Khổng Tử, ý nói sử dụng tài năng lớn lao vào việc nhỏ nhặt.

[54] Tức là câu “triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ” (sáng nghe đạo, tối chết cũng được).

[55] Thời Chiến Quốc, để chống lại nước Tần đang hùng mạnh, nước Yên kết minh với nước Triệu, thề sẽ cứu nhau nếu bị Tần tấn công. Mối kết minh này lỏng lẻo, chỉ là quyền biến tạm thời, vẫn là đề phòng, lợi dụng lẫn nhau. Tổ dùng chuyện này để sánh ví phú quý trong thế gian nhỏ nhặt như đầu ruồi, cũng tạm bợ, hời hợt như thế.

Khi nước Ngô của Phù Sai đánh chiếm nước Việt của Câu Tiễn, Câu Tiễn bị bắt làm tù binh, đã chịu nhục, xưng thần, làm bầy tôi hầu cận, thậm chí nếm phân để chẩn đoán bệnh tình cho Phù Sai khi Phù Sai ngã bệnh, hòng chiếm được tin tưởng của Phù Sai, để được tha về nước. Sau đó, Câu Tiễn ngấm ngầm khôi phục quân lực, hiến mỹ nữ cho Phù Sai, đút lót gian thần dâng lời tâng bốc, khiến cho Phù Sai đắm chìm trong tửu sắc, xua đuổi trung thần như Ngũ Tử Tư, khiến nước Ngô suy yếu. Sau đó, Câu Tiễn đánh bại Phù Sai, diệt nước Ngô. Công danh trong cõi đời nhỏ tí như cái sừng của con ốc sên mà cũng giả dối như nước Việt làm bầy tôi nước Ngô vậy.

[56] Kinh Hoa Nghiêm nói chẻ một vi trần tìm được quyển kinh to bằng tam thiên đại thiên thế giới.

[57] Tiêu minh (蟭螟) là một loài trùng rất nhỏ theo cách nói phúng dụ của Bão Phác Tử: “Tiêu Minh ẩn trong lông mày của con muỗi, cười chim đại bằng cánh to trùm khắp thiên hạ”.

[58] Ở đây, chúng tôi dịch theo ý của điển tích “Tuyên Ni nhậm xích Phàn Tu tiểu” (Mặc cho Khổng Tử chê bai Phàn Tu là kẻ tiểu nhân) và “ngã giảo thừa phù hữu thủ tài” (so ra ta ngồi trên chiếc bè gỗ nhỏ bé thì chỉ có tài cán đến mức đó mà thôi). Phàn Tu tự là Tử Trì, người nước Lỗ, là đệ tử của Khổng Tử, nhỏ hơn Khổng Tử ba mươi, hoặc bốn mươi tuổi. Phàn Tu muốn học nông, Khổng Tử nói: “Ta chẳng bằng người nông dân già!” Phàn Tu muốn học về mùa màng, Khổng Tử nói: “Ta chẳng bằng người nông dân già”. Phàn Tu muốn học trồng hoa màu, Khổng Tử nói: “Ta chẳng bằng người trồng rau lâu năm”. Phàn Tu lui ra, Khổng Tử chê: “Phàn Tu là kẻ tiểu nhân! Đề cao lễ thì dân chẳng dám không kính. Đề cao ưa chuộng nghĩa thì dân chẳng dám không phục”. Ở đây, Tổ lui về Linh Phong, gặp những người dân quê nói chuyện mùa màng, hoặc dùng kinh Dịch để dự đoán thời tiết, nên mới nói là mặc cho Khổng Tử chê mình là kẻ tiểu nhân như đã chê bai Phàn Tu. Phong Lôi tức là quẻ Phong Lôi Ích trong kinh Dịch, biểu thị nước tràn đầy, mang ý nghĩa “tăng thêm, phong phú”.

[59] Thử Ly (黍離) là một bài thơ thuộc loại dân ca của người dân nơi Lạc Ấp thời Đông Châu, được xếp vào phần Vương Phong trong kinh Thi. Theo lời tựa của kinh Thi thì bài thơ này vốn do một vị đại phu nhà Châu đi công cán, đi qua chỗ thờ tông miếu của nhà Châu, thấy nơi đó toàn cỏ hoang mọc đầy, điện vũ hoang tàn, đổ nát, bàng hoàng chẳng nỡ rời chân.

[60] Tức Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá. Họ được coi là tổ của ngành Trung Y. Tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh được coi là tác phẩm ghi lại những lý luận về nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, cách chữa trị, bồi bổ v.v… từ cuộc luận đàm y học giữa Hiên Viên và Kỳ Bá.

[61] Tô-đà là tên một món ăn thời cổ Ấn Độ, tương truyền là món ăn của chư thiên. Tại Trung Hoa, còn có món quả lê hầm với các vị thuốc bách hợp, nam hạnh, xuyên bối, trần bì, táo đỏ và đường phèn cũng được gọi là Tô-đà.