Linh
Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
2
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
* Văn lễ sám chùa
Thiết Phật
(năm Nhâm Ngọ - 1642)
Bồ
Tát giới sa-di Trí Húc tự xét chướng nặng, chẳng
sanh nhằm thời [Phật pháp] hưng thịnh. Mắt
nh́n thời thế
gian nan, càng thêm ưu sầu,
đấu gạo gần cả ngàn đồng[1].
Đă than người dân đời sống khốn khổ,
bệnh,
chết mỗi ngày tính ra cả ngàn,
càng sợ nghiệp báo sâu đậm! Ấy là v́ đồng
phận ác duyên cảm vời huyễn tướng khác
thường ấy! Biết rơ “ngoài
tâm chẳng có pháp”,
nào đành ngồi nh́n thờ ơ? Nay gặp đạo
tràng Vu Lan, đốt năm lọn hương cúng dường
pháp giới Tam Bảo, phát năm loại nguyện:
1) Một là nguyện
đương kim hoàng đế khoan dung, ôn nhu, tôn trọng
người hiền, bao dung đại chúng, coi bầy tôi
giống như tay chân, ân huệ thấm nhuần hoàn
vũ. Dùng Từ
Tâm
tam-muội hàng phục ma quân. Dùng Vô Tác
Tứ Hoằng để nối tiếp hưng thịnh
Phật chủng.
2) Hai là nguyện
đàn việt đạo phủ[2]
X…. Nói rộng ra là các vị tể phụ[3]
trong triều đ́nh, quần thần trong nước, ai nấy
đều cai trị chẳng sai lầm, thật sự có
oai nghiêm sáng suốt.
3) Ba là nguyện trong
địa phận Thiều Khê[4],
trong nước Chấn Đán (Trung Hoa), dịch bệnh
tiêu trừ, binh đao dứt bặt, gió mưa đúng thời,
mùa màng bội thu, rộng hưng khởi pháp hóa, cùng thoát
ṿng khổ.
4) Bốn là nguyện
sư tăng, cha mẹ, thân duyên nhiều đời, thiện
ác tri thức, đồng học quyến thuộc, đàn
việt tạo chùa, mười phương tín thí của
chúng con, không ai chẳng vượt thoát tứ lưu[5],
chứng trọn Tam Đức, tự lợi rốt ráo, lợi
người trọn khắp.
5) Năm là nguyện tận
hư không giới hữu thức hàm linh đều b́nh
đẳng ngộ cái nhân chân thật, đều thành diệu
quả, rỗng không mộng huyễn trong chín pháp giới,
trở về nguồn cội nhất tâm. Mỗi trần,
mỗi vật, không ǵ chẳng phải là Tịch Quang. Mỗi
pháp, mỗi sự đều hiển phát diệu hạnh,
trọn khắp các cơi nhiều như vi trần, chẳng
nghe danh xưng ma tà, ngoại đạo. Tới tột cùng
vị lai, chẳng dấy lên ái kiến trược. Kính
nguyện pháp giới Tam Bảo chứng tri, hộ niệm!
* Nguyện văn ngày
Ba Mươi tháng Bảy năm Giáp Thân (1644)
Quy
mạng Năng Nhân vô thượng tôn, đại hiếu,
đại từ, chân pháp tánh. Tam thừa Quyền, Thật
các oai thần. Nguyện ban ḷng thương xót, rủ ḷng
nhiếp thọ. Đệ tử Trí Húc tự xét chính ḿnh bị
túc chướng quấn trói huyễn h́nh này. Lại do tội
khiên sâu nặng, sanh nhằm thuở kiếp trược,
[kinh điển bị] truyền thọ, sao chép sai lệch[6].
Buồn Phật pháp suy loạn, ngũ nghịch hoành hành,
đau vận nước gian nan, trong triều ngoài nội
chẳng có tâm sửa đổi. Tăng, tục tranh nhau giẫm
theo
vết xe đổ. Ấy là do thức
tướng cùng gieo, ác nghiệp cùng lôi kéo, đồng phận
vọng kiến, duyên mù quáng cùng dấy lên. Triệt để
tư duy, quyết chẳng phải là ngoài tâm mà có cảnh
chân thật. Sám hối, ân hận tự đáy ḷng, ắt
phải có phương tiện[7]
siêng gắng nơi bản thân. Do vậy, cùng với những
người đồng hạnh, nhóm họp đàn-na, khắp
v́ quốc vương, đế chúa, cha mẹ, thân duyên,
muôn dân trong đất nước, pháp giới hàm thức,
đảnh lễ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, cúng
dường tri thức, đạo dung[8]
nhiều đời. Đốt ba lọn hương cúng
dường Thường Trụ Tam Bảo. Lại đốt
ba lọn hương, phụng cúng U Minh giáo chủ Địa
Tạng từ tôn. Kính nguyện diệt tội khiên nặng
nề hủy tượng của đại hành hoàng đế[9],
giải trừ oán kết tích tụ do giết chóc, mau
được giải thoát, nhanh chóng ngộ
Vô Sanh. Vua tôi hiện thời cất nhắc người hiền,
xa lánh kẻ nịnh, phát ḷng bi chân thật cứu triệu
dân, vứt bỏ lợi danh, dốc cạn ḷng chân thật,
chẳng đoái hoài bản thân, t́nh nhà. Kế đó, nguyện
sanh thân cha mẹ, thân duyên nhiều kiếp, thầy bạn,
tri thức, quyến thuộc, đàn việt, hộ tŕ v.v…
của mỗi người chúng con nếu
đă quá văng sẽ măi măi giă
biệt tám nạn, gởi chất nơi chín phẩm sen; hiện c̣n th́ chẳng
bị binh đao quấy nhiễu, vĩnh viễn ĺa kinh
hăi. Lại nguyện người làm việc nặng, ra sức,
giúp đỡ doanh tạo phước nghiệp đều
chẳng có một niệm riêng tư, cùng xoay chuyển họa
loạn của nước nhà, tam luân (thân, ngữ, ư) chẳng
tối tăm, b́nh đẳng tiêu trừ tội khiên sai sót
của vua, cha. Lại nguyện người thấy nghe tùy
hỷ cùng rộng khắp pháp giới chúng sanh gieo trọn
khắp nhân lành, b́nh đẳng
đều cùng thành diệu chủng, chẳng có
huyễn nhiễm ngũ trược, chứng tánh chân Tam
Đức. Tận hết hư không giới đă đều ngộ
viên thường rồi th́ Trí Húc mới thành Đẳng
Chánh Giác.
* Văn sám nguyện Phật,
Bồ Tát, thượng tọa
Đảnh
lễ mười phương đại oai đức, từ
dũng vương năm phần [Pháp Thân] nghiêm thân, dùng bổn
thệ nguyện chẳng nghĩ bàn, cùng ban ḷng
thương xót cứu bạt con. Đệ tử Trí Húc
kính đốt ba lọn hương trên đỉnh đầu,
cúng dường mười phương pháp giới, quá khứ,
vị lai, hiện tại vô cùng vô tận hết thảy
Tam Bảo, phơi bày tâm can mà tự trách rằng: Than ôi! Từ
cổ, kẻ xét về giải th́ vượt Phật,
vượt Tổ, nhưng hạnh c̣n thua cả phàm phu, chắc
là chẳng có ai tội lỗi hơn Húc! Trí Húc khi chưa biết
Phật, chưa biết Pháp, chưa biết Tăng, lầm
nghe theo thầy tà, xằng bậy coi Lư Học là trách nhiệm
ngàn đời của chính ḿnh, tạo vô lượng tội
báng bổ Tam Bảo, đáng đọa vào đại địa
ngục A Tỳ, hứng chịu đủ mọi nỗi
khổ cùng cực trong A-tăng-kỳ kiếp. Nhờ sức
của hai vị Đại Sĩ Quán Âm và Địa Tạng,
đủ loại cảm vời, khơi gợi, dẹp trừ
tà tâm của con, khiến cho con được
quy hướng Phật pháp, chánh tín xuất
gia. Nào ngờ sau khi xuất gia, vẫn bị túc nghiệp ngăn chướng,
chỉ phát giải huệ, chẳng dính dáng ḍng pháp. Lại
c̣n tổn ḿnh lợi người hơn hai mươi năm,
đến nỗi tâm muốn định mà đâm ra rối
loạn, niệm muốn tịnh mà lại một bề
nhuốm bẩn. Hai mươi mấy năm, trọn chẳng
có bản lănh thật sự ǵ. Nay tự xét ḿnh chẳng ra
tṛ trống ǵ, tự phản tỉnh nhiều tội khiên,
nghĩ tới sanh tử chuyện lớn, vô thường
nhanh chóng, thật đáng gào trời, thét đất!
Hồi tưởng cái
tâm ban sơ thuở
xuống tóc, khoác áo thâm, vốn mang chí ĺa tục, khác ǵ
đứt ruột nát gan, ngoài th́ chẳng có thực chất
để hóa độ người
khác, trong th́ trở ngại công phu tự hành. Lúc c̣n ngoài
đời, đă ch́m đắm trong ḍng tà kiến ô trược,
xuất gia lại là kẻ nhuốm bẩn đạo
nơi pháp môn. Tiến thoái thất thố, thẹn tiếc
khôn cùng! Trộm nghĩ thuở trước đă tận lực
bêu riếu Đại Sĩ, Đại Sĩ vẫn xót
thương. Nay đă tin sâu Tam Bảo, lẽ nào Tam Bảo
chẳng nhiếp thọ? Chỉ v́ vô thỉ chướng
nồng đậm, tự cách tuyệt đồng thể bi
ứng, nhưng chướng
chẳng phải là thật pháp, chỉ do tâm sanh. Đă từ
tâm sanh, vẫn phải
từ tâm diệt, nhưng lư chướng
ắt phải dùng lư để trừ, sự chướng
phải nên dùng sự để gạt bỏ. Tự
nghĩ từ nhiều đời tới nay, thừa cấp,
giới hoăn, coi nhẹ Sự, chuộng Lư, đọa trong
tam đồ đă lâu, ngẫu nhiên có lúc được tạm
thoát ra. Do vậy, hễ nghe Tông, Giáo, bèn triệt
để biết hướng về, tận lực học
Tỳ Ni, riêng lắm bề
vi phạm! Diệu lư viên đốn, chẳng hiểu tinh tế
mà cũng chẳng nhập! Quán môn tướng hảo, dẫu
chút phần vẫn chẳng thành.
T́m ṭi nguồn bệnh,
theo lư cần phải có thuốc tốt lành! Từng nghe
công đức tạc tượng có thể diệt tội
trừ khiên tốt nhất. Lễ bái sám-ma, thật có thể
gột ḷng, rửa phiền, bèn phát ḷng kiền thành, gom tiền
tài sửa đổi tượng một vị Phật và
hai vị Bồ Tát. Lại c̣n phát thệ nguyện luôn lễ
Chiêm Sát Hành Pháp, bất luận năm tháng, chuyên cầu luân
tướng thuần thiện[10].
Chúng sanh tuy cấu nặng, chư Phật chẳng chán bỏ,
ắt dùng đại từ bi, xót thương độ
thoát con, khiến cho con từ nay về sau, tâm chẳng có
điệu cử (lao chao, chộn rộn), thân được
khinh an, giữ lỗi miệng, chẳng thốt lời
thêu dệt, thô ác, tịnh ư địa, chẳng khởi suy
nghĩ tạp loạn, dục giác, mau được thanh
tịnh tam luân, quyết đạt tới tự tha lưỡng
lợi (tự lợi và lợi tha), hóa độ chúng sanh
trọn khắp cùng sanh Tịnh Độ.
* Nguyện văn trong
đạo tràng hành pháp Đại Bi
(ngày mồng Ba tháng Năm năm Ất
Dậu - 1645)
Đảnh
lễ chân thật đại bi tâm, bậc rốt ráo phần
chứng nhị giác[11].
Con từ vô thỉ tới nay đọa trong hư vọng,
tuần hoàn sanh tử chưa
hề tạm ngừng, đánh mất niềm
vui trong bản tánh, oan uổng chịu khổ. Nay muốn cứu
dẹp mà tự ḿnh chẳng có sức, nguyện đức
đại oai thần do duyên đồng
thể mà chẳng xả bổn thệ, rủ
ḷng thương xót cứu tế. Đệ tử Trí Húc tự
biết từ bao kiếp lâu xa đến nay, ngôn từ chẳng
phù hợp hạnh, miệng và tâm trái nghịch nhau.
Nay tuy may mắn được ghé dự ḍng Tăng, vẫn
chẳng thể quên thói cũ. Lược xét một đời,
có sáu tội lớn, c̣n lỗi nhỏ th́ vô số. Biết
rơ con đường hướng thượng, nhưng chẳng
thể đích thân đạt tới chỗ thọ dụng
chân thật của Phật, Tổ. Biết rơ Giáo Quán viên
đốn, nhưng chẳng thể vượt lên Ngũ
Phẩm ḥng thanh tịnh
lục căn. Biết rơ Tỳ Ni Đại, Tiểu Thừa,
nhưng chẳng thể thanh tịnh các nghiệp tánh, giá.
Biết rơ sát nghiệp là cái nhân của kiếp binh đao,
nhưng mầm sát vĩnh viễn c̣n chưa quên! Biết rơ
trộm cắp là cái nhân của kiếp đói kém, nhưng
tâm trộm cắp vẫn chưa đoạn sạch. Biết
rơ dâm dục là cái nhân của kiếp dịch bệnh,
nhưng mầm dâm vẫn cứ hừng hực. Do vậy,
biệt nghiệp giúp cho đồng phận, hiện hành cảm
vời cộng chủng, bèn thấy tam tai lắm phen xảy
tới. Xót tứ sanh không nơi nhờ cậy, chỉ ôm
suông ḷng cứu vớt rộng khắp, đâm ra mắc hại
cùng ch́m đắm! Xét ḷng tự tiếc nuối, huyết
lệ sao chẳng tuôn trào!
Nay may mắn gặp
đạo tràng hành pháp Đại Bi Tâm Chú của Tế
Sanh Thiền Viện, phát tâm theo đại chúng huân tu. Nguyện
gột rửa trần cấu của ḿnh lẫn người.
Vừa đúng dịp ngày giỗ mẹ, kính đốt sáu
lọn hương trên đỉnh đầu, cúng dường
mười phương pháp giới Phật, Pháp, Tăng Bảo,
Cực Lạc giáo chủ A Di Đà Phật, Đại Bi
tâm chú, tổng tŕ bí yếu, Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm Đại
Sĩ, phát sáu loại nguyện: Một là chiến tranh
vĩnh viễn chấm dứt, hai là ngũ cốc bội
thu, ba là triệu dân chánh tín Tam Bảo, bốn là chùa cổ
Linh Phong phục hưng, năm và sáu là tập khí nhiều
đời của Trí Húc mau chóng trừ sạch, tiêu tan phiền
năo, công đức viên măn, vĩnh viễn chẳng có hai
duyên nghịch, thuận ngoài ư muốn, sớm hoàn tất
hai nguyện duyệt Đại Tạng và trước thuật.
Lại đốt
mười lọn hương trên cánh tay, cúng dường
mười phương Tam Bảo, phát mười loại
nguyện: Một là kỳ chủ[12]
sạch chướng. Hai là những người
cùng hạnh đều thành pháp khí. Ba là các vị
hương đăng, thị giả Lư Sự cùng tu. Bốn
là người có cùng hạnh ngoài đàn th́ giới lẫn
thừa đều gấp. Năm là hết thảy chức
sự, người làm việc nặng, dốc sức trợ
duyên tạo phước trong chốn thường trụ sẽ
chẳng rơi vào hữu lậu. Sáu là hết thảy hộ
pháp tể quan, xả tài đàn việt sẽ
ngộ giải thoát sâu xa. Bảy là hết thảy người
thấy nghe tùy hỷ, dù Tăng hay tục, thấy bóng, nhuốm bụi,
công chẳng luống uổng, vĩnh viễn là chủng tử
của đạo, mau chứng viên thường. Tám là các
sa-môn trụ trong núi Linh Phong, và những vị như X… sớm
đạt được luân tướng thanh tịnh,
thành tựu trọn vẹn phước huệ nhị
nghiêm, nghĩ đến Khổ, Không sâu xa, chuyên cầu xuất
yếu. Chín là tam đồ dứt khổ, siêu thăng bát nạn,
các loại côn trùng nhỏ nhặt đều hưởng
lây lợi ích thù thắng. Mười là các công đức trên đây
đều hồi hướng Tây Phương, khiến cho
khắp các hàm linh cùng sanh Tịnh Độ.
* Văn khải cáo lễ
một ngàn vị Phật
Đệ
tử Trí Húc và hàm thức trong pháp giới, kể từ vô
thỉ cho tới đời này mê muội “ngă, pháp vốn
Không”, dấy lên t́nh chấp Biến Kế, hai thứ vô
minh mê Sự, mê Lư đều trọn, tạo thành căn bản
cho hai loại tử là Phần Đoạn và Biến Dịch,
tham, sân, si, mạn, tà kiến tơi
bời, giết, trộm, dâm, dối, uống
ăn điên đảo, nương vào tam nghiệp, sáu
căn, rộng tạo Ngũ Nghịch, Thập Trọng[13],
khiến cho tam đồ sôi sục, tám khổ như mây
đùn. Cho đến may mắn được làm thân
người, vẫn gặp kiếp trược,
dịch bệnh, đói kém lũ lượt xảy tới,
đủ nguội lạnh tấm ḷng. Chiến tranh, loạn
lạc nhiều phen dấy lên, thật đáng kinh hồn!
Cha mẹ, vợ con khó thể bảo vệ, xương,
thịt, đầu, ḿnh phân ly, trăm lóng xương tan
nát, ai nghĩ đến một tánh thường linh? Muôn quỷ
tụ lại gào thét, phải chịu tin là do ba duyên tự
chuốc lấy. Đêm dài lê thê, lệ lẫn huyết
đều khô cạn. Đồng hoang mênh mông,
hồn cùng phách nương gá vào đâu? Xót thay, nỗi
đau đồng thể! Thảm vậy, nỗi buồn
xẻo da. Tiếc đạo lực chưa vẹn toàn, chỉ
ôm ḷng thê thảm suông, muốn cứu vớt mà chẳng có
kế sách ǵ! Chỉ đành xé toạc gan, phổi,
nhóm tụ người cùng chí hướng, năm
vóc gieo ḷng thành, thay cho chúng sanh đang thọ nạn trong
đại địa, đảnh lễ ba ngàn vị Phật
trong ba kiếp[14],
đốt lọn hương trên cánh tay, ngưỡng nguyện
đại bi dẹp
khổ, đại từ soi xét căn cơ. Đại trí
huệ quang chiếu tỏ tối tăm tích tụ của
lũ đui mù. Sức đại thần thông thoát khỏi
trầm luân nơi biển khổ, khiến cho hiện thời
trong ngoài nước, Giang Bắc, Giang Nam, người
đă khuất mau thoát khỏi thành cửu hoạnh[15],
chóng siêu lên cơi chín phẩm sen. Người c̣n sống ĺa khỏi
nỗi sợ hăi kinh hoảng, trốn tránh, vĩnh viễn
hưởng an vui thái b́nh. Lại nguyện chư Phật,
Bồ Tát dấy ḷng Từ, vận ḷng Bi, thương xót
cơn sóng kiếp nạn này, đến thực hiện
các lời hứa. Lại nguyện kẻ gặp được
bóng, dính bụi trần, các loài côn trùng nhỏ nhoi, nói rộng
ra là pháp giới hữu t́nh từ nay trở đi, măi cho
đến khi chứng Bồ Đề, thường biết
cảnh tỉnh, giác ngộ, chẳng gây tạo ác duyên,
vĩnh viễn diệt tam đồ, nhanh chóng tiêu tám khổ,
từ ngay trong cơi Đồng Cư mà thấu triệt Tịch
Quang, chẳng cần phải trải A-tăng-kỳ kiếp
mà chứng trọn Diệu Giác.
* Sám văn kết
Đại Bi Đàn tại Tổ Đường
Đảnh
lễ đấng Đại Bi và pháp giới Tam Bảo, chẳng
ngại chúng sanh nhơ uế, từ đầu đến
cuối luôn xót thương cứu vớt. Trí Húc tự xét
từ vô thỉ đến nay, tích ác vượt quá Tu Di,
chuốc khổ ngập đại địa. Tuy
được chư Phật, Bồ Tát d́u dắt đủ
mọi cách, hiểu sơ sài chân thừa, hiềm rằng
túc nghiệp phiền năo sâu dày thăm thẳm luôn lôi kéo, hiện
hành. Bất luận lúc chưa tin tưởng, quy hướng,
tội lỗi đă vô lượng, nghĩ lại ngay cả
sau khi đă xuất gia, phiền lụy, oan khiên càng nhiều!
Như đạo
tràng Đại Bi Hành Pháp, con đă theo đuổi năm hội
thù thắng, vẫn là tạp loạn cấu
chướng, trọn chẳng tương ứng với
tam-muội, luống dùng mỡ màng của đàn việt
tín thí, cô phụ ḷng mong mỏi của trời, người!
Xoắn tay, xét ḷng, hổ thẹn, sợ sệt khôn cùng!
Nay lại cung kính gặp dịp U Thê Thiền Tự lập
đàn tràng thanh tịnh, thí chủ dốc cạn ḷng thành
cúng dường, tâm vị kỳ chủ ân cần tột bậc.
Trí Húc là kẻ phàm phu hèn kém, là phường sa-môn nhơ nhuốc
đạo, không chỉ được lầm lẫn ghép
vào pháp tịch, lại c̣n lầm lẫn được cử
làm chủ hành nghi, tự xét ḿnh chẳng ra thể thống
ǵ, càng thêm kinh hoảng, sợ sệt! Bèn nhờ vào lúc khởi
đầu của phương tiện kết giới, kính
đốt ba lọn hương trên cánh tay, phụng cúng
đại bi đồng thể Tam Bảo. Lại đốt
ba lọn hương,
cúng chín vị sư cùng hành sám. Kính nguyện đồng thể
Tam Bảo xót thương Trí Húc trầm luân, mau chóng rủ
ḷng cứu bạt. Chín người cùng hạnh
thương xót Trí Húc kém cỏi, đều ban ân nâng đỡ,
khiến cho trong một kỳ [pháp sự này], nội
chướng, ngoại nhiễu đều ngầm tiêu, lư
quán sự nghi đều thành tựu. Trí Húc lại đối
trước mười phương tam thế Tam Bảo,
đối trước chín vị đồng hạnh trong
hiện tại, hồ quỳ,
chắp tay, xẻ gan, vẩy máu, bạch như thế này:
Trí Húc từ vô thỉ
đến nay, cho đến hiện tiền, tất cả
các thứ khổ báo do ác nghiệp phiền năo v́ vô minh che lấp,
đă chẳng thể tự
nhớ, nay đều sám hối, nguyện tiêu trừ hết.
Trí Húc tuổi thiếu niên tạo nghiệp báng bổ Tam Bảo,
nay c̣n nhớ biết, thành tâm sám hối, nguyện tiêu trừ
sạch. Trí Húc từ khi xuất gia đến nay, mang danh Bồ
Tát tỳ-kheo suông, chẳng thể đúng như pháp hành
tŕ. Tất cả các tội tánh, giá, dù nhớ hay chẳng
nhớ, vô lượng vô biên, nay đều sám hối, nguyện
đều trừ sạch. Trí Húc lúc bốn mươi sáu
tuổi, tự xét lắm nỗi hổ thẹn, lui xuống
chỉ làm người thọ Tam Quy, siêng năng lễ ngàn
vị Phật, vạn vị Phật, và hành pháp Chiêm Sát, may
mắn được chư Phật, Bồ Tát đại
từ đại bi, trong ngày Nguyên Đán tháng Giêng năm
nay, ban cho luân tướng thanh tịnh, hơi tự an ủi.
Hiềm rằng cội rễ tập khí cũ sâu chắc,
chẳng thể tự thoát ra được. Sau khi ra khỏi
đàn tràng, lại dấy lên đủ mọi thân, khẩu,
ư nghiệp, cho đến khi tu Đại Bi Hành Pháp tại
Tế Sanh Am, sau khi đốt hương sám hối, lẳng
lặng suy xét khoảng thời gian giữa hạ cho đến
đầu Thu, vẫn c̣n nhiều điều vi phạm.
Than ôi! Đức Phật
nói hai loại người mạnh mẽ: Một là chẳng
tự tạo tội, hai là đă làm rồi mà có thể sám
hối. Phàm người đă làm rồi mà có thể sám hối,
ắt sám hối rồi th́ sẽ
không làm nữa. V́ thế, có thể gọi
là “người mạnh mẽ”! Đă nhiều lượt
sám hối rồi lại lắm lần trái phạm, há có phải
là người mạnh mẽ ư? Trí Húc nay vẫn là
người rớt trong nhà xí, thân, miệng, tai, mũi
đều ngập trong phân. Chỉ riêng tin rơ nhân quả, chẳng
báng Đại Thừa, chánh nhăn thanh tịnh, chưa chết
đuối đó thôi! Nếu chư Phật, Bồ Tát, hiện
tiền thiện hữu chẳng thừa dịp này tận
lực cứu vớt, chỉ sợ ch́m đắm lâu ngày,
chánh nhăn thanh tịnh cũng bị ch́m ẩn theo, há chẳng
đáng buồn ư? Trí Húc suy đi
nghĩ lại, tâm vốn do chân thật v́ sanh tử, đại
Bồ Đề tâm quyết định, trọn chẳng
dính líu lợi danh, cũng chẳng chèo kéo, chẳng
đắm nhiễm ân ái, đúng pháp
xuất gia, nhân địa khá chánh đáng, sao lại bị
đọa lạc đến nỗi này? Vướng mắc
măi nơi địa vị phàm phu, chẳng dự vào ḍng
thánh! Liền muốn mai danh ẩn tích, một ḿnh vào chốn
non sâu, sức lực dần suy, chẳng kham đi lại.
Lại c̣n ái kiến từ bi, cứ bồi
hồi, quẩn quanh nơi học lữ thơ dại,
đến nỗi “tầm cong, thước thẳng, gánh
gai bỏ vàng”[16], đau thương dường ấy! Chỉ
chư Phật, Bồ Tát có thể biết, mà cũng chỉ
có chư Phật, Bồ Tát cứu được. Lại
c̣n năm xưa xúc phạm Tam Bảo, chỉ có tội
chướng, mà chư Phật, Bồ Tát vẫn thương xót; nay con hoằng thông Đại Thừa, cũng có điều
lành nhỏ nhoi, chư Phật, Bồ Tát lẽ nào trọn vứt bỏ
ư? Do vậy, giăi tấm ḷng ngu muội, vẫn cầu
gia bị, nguyện con tiêu phiền năo, công đức dồi
dào nẩy sanh, Tam Học viên minh, nhị nghiêm (phước
huệ nhị nghiêm) viên măn. Xả huyễn thân này, quyết
sanh Cực Lạc. Cho tới tận cùng ngằn mé vị
lai, rộng
độ quần mê. Lại nguyện chín người cùng
hạnh, ai nấy quyết trừ tập
khí, thành tựu Tổng Tŕ, tự lợi, lợi tha, là
rường cột cho ṭa nhà pháp. Lại nguyện kỳ chủ
phước huệ tăng trưởng, đàn việt tín
hạnh kiên cố, cho đến tăng, tục tùy hỷ,
người làm việc nặng, ra sức, thấy bóng, nghe
tiếng, đều ngộ Hiển Mật viên thông, đều
hiểu rơ “tánh,
tu bất nhị”,
cho đến đắc Bồ Đề chẳng gặp
trắc trở. Lại nguyện mưa ḥa, gió thuận, sản
vật sung túc, dân an, chiến tranh chấm dứt, không kinh
hoảng v́ binh đao, dịch bệnh tiêu trừ, chẳng
cần dùng đến thuốc men, thóc gạo như nước
lửa, người xa lạ giống như kẻ chí thân,
văn hồi phong thái suy đồi thuở mạt vận, chẳng
khác thời Chánh Pháp trụ thế, vượt thoát Sa Bà
trược ác, đồng về thai sen nơi An Dưỡng.
* Nguyện văn Chiêm
Sát Hành Pháp
(năm Bính Tuất - 1646)
Quy
mạng đấng từ oai khôn sánh, dẹp khổ, ban
vui, chân xuất yếu, định lực hay trừ tam tai
kiếp, cứu thế chân sĩ thương xót cứu.
Đệ tử Trí Húc đau đáu nghĩ kiếp trược
khó trốn, binh đao tranh nhau dấy lên. Tuy nói là đồng
phận vọng kiến, thật sự chẳng phải là
không có nhân mà lầm lẫn chuốc vời. Nghiệp
đă qua khó thể truy tầm, nhưng có thể chọn lựa
chuyện sẽ xảy tới. Do vậy, cùng với những
người cùng chí hướng là… (mười người),
ai nấy quyên góp tịnh tài, sắm sửa cúng dường,
ba ngày phương tiện, bảy ngày chánh tu, đúng
như pháp kết đàn tràng thanh tịnh, đảnh lễ
Chiêm Sát Hành Pháp, sáu thời hành đạo, ngũ hối[17]
luyện tâm, xót xa thưa tŕnh đấng đồng thể
đại bi, khẩn cầu vô duyên cứu bạt. Kính
nghĩ chúng sanh chướng cấu, tuy cực trọng, cực
sâu, Tam Bảo ḷng từ rộng lớn, trọn chẳng
ngại, chẳng xả. Nếu một niệm biết sửa
lỗi, ắt sẽ cho phép sửa lỗi,
đổi mới. Huống hồ Thích Ca Bổn Sư
được xưng tụng là bậc dũng mănh nhất,
Địa Tạng Đại Sĩ chẳng quên thệ
nguyện. Con thơ dại, yếu ớt, cha càng riêng yêu
thương; con chẳng ra ǵ, mẹ càng xót hết mực!
Thương con ngu dại lê lết rơi xuống giếng,
rủ ḷng dùng tay hay vạt áo để [cứu vớt],
khiến cho chỗ hào quang chiếu đến, chiến loạn
tiêu tan, ngày tháng tốt lành. Khi mưa pháp thấm nhuần,
sẽ chuyển tà nghiệt thành giống thiêng, mầm
đạo! Nguyện cho mưa ḥa, gió thuận, quốc
thái, dân an, chánh giáo lưu thông, ma tà trốn sạch.
Kế đó, nguyện
tỳ-kheo Trí Húc thân không bệnh khổ, tâm thoát trói buộc, Định và Huệ đều
giữ cân bằng, giới
và thừa đều tịnh. Pháp xă của kỳ chủ
X… tuy kéo dài suốt ba năm, nguyện vẫn nhiếp thủ,
hộ tŕ như một ngày. Các vị… ai nấy thật sự
v́ sanh tử mà phát Bồ Đề tâm, quyết trừ tập
khí, quyết tu pháp môn, Tam Học viên thành, nhị
nghiêm ắt trọn, tiếp nối huệ mạng của
Phật, lợi khắp trời người. Lại cầu
cho tăng tục tùy hỷ ngoài đàn ngộ biết Nhất
Thật, khai hiển tam nhân, tu trọn hai Quán,
chứng trọn tam nhẫn[18].
Lại cầu ngoại hộ trợ duyên cho đến rộng
khắp pháp giới hàm thức, dù thấy hay nghe, dù chẳng
thấy nghe, đều cùng b́nh đẳng gieo nhân lành, cùng
thấm nhuần lợi ích thù thắng. Lại cầu cho
Giang Bắc, Giang Nam, cho đến trong toàn thể cơi Chấn
Đán, những kẻ mắc nạn v́ chiến tranh gần
đây tiêu trừ các thứ nợ đền oán trả, mỗi
mỗi oán hiềm đều được cởi gỡ,
thoát khỏi nỗi khổ cùng cực chốn U Minh, siêu
thăng nơi búp sen
thai. Ngưỡng mong pháp giới Tam Bảo, Địa Tạng
thánh sư chân thật chứng tri, chân thật nhiếp thọ.
* Nguyện văn
trước đàn Đại Bi
Quy
mạng đảnh lễ mười phương thường
trụ Tam Bảo, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát,
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Kính nguyện cùng ban
ḷng thương xót, rủ ḷng cứu vớt. Thiết tha
nghĩ Trí Húc trước kia nơi Cửu Hoa Sơn đă
rút được cái thăm “duyệt Đại Tạng
Kinh, trước thuật”,
bèn lại được an tâm, lại chú trọng bút
nghiên. Nhằm khi luân tướng hiện nơi Tổ
Đường, lo ngại rằng mạng tận, theo
đúng lẽ, phải nên dốc ư mau tiến về Lạc
Bang, chỉ có một điều đau ḷng là duyệt
Đại Tạng chưa xong, tức nguyện riêng ấy
chưa măn. Giáo Quán không có người kế tục, pháp
luân sẽ chẳng truyền. Hơn nữa, các kinh Phạm
Vơng, Phật Đảnh tuy đă dốc cạn ánh sáng
nơi một kẽ hở[19],
như góp một hạt bụi vào núi cao, nhưng Lăng
Già, Duy Thức, vẫn c̣n bị chướng lấp bởi
những lời lẽ rườm rà, như sương mù
che lấp hư không, nếu chẳng cho con sống thêm mấy
năm, sao có thể trả sạch nợ trần thuật ấy được? Nếu chẳng được
ḷng Từ rộng lớn che chở, há có thể chẳng
có duyên khác quấy nhiễu ư?
Kính đốt mười
lọn hương trên cánh tay, cúng dường mười phương từ
phụ, Đại Bi Quán Âm, Địa Tạng bổn tôn,
pháp giới Tam Bảo. Kính nguyện Trí Húc từ nay trở
đi, vĩnh viễn ĺa các duyên, quyết định duyệt
xong Đại Tạng, hoàn thành hai sách Duyệt Tạng Tri
Tân và Pháp Hải Quán Lan, quyết có thể soạn thuật
hoàn thành Duy Thức Luận Quán Tâm Pháp Yếu và Tướng
Tông Bát Yếu Trực Giải, quyết có thể giải
thích tôn kinh Lăng Già, cho đến các kinh điển trọng
yếu độ đời như Chiêm Sát, Thập Luân, quyết
có thể xiển minh Vô Lượng Thọ Hội, Di
Đà, Hiền Hộ để làm cầu bến cho Tịnh
Độ, quyết có thể nêu tỏ thông suốt [tông chỉ]
“phù Luật đàm Thường” của kinh Đại
Bát Niết Bàn là khuôn mẫu cuối cùng để lại
[của đức Bổn Sư].
Lại nguyện các học
lữ cho đến những người hữu chí trong
tương lai quyết có thể giới căn vĩnh viễn
thanh tịnh, phước huệ viên thành, thọ mạng
kéo dài, giải và hạnh cùng đạt được. Lại nguyện Trí Húc
phiền năo như băng tan, trí huệ như lửa hừng,
mười ác căn khô héo, tánh lục t́nh hiển lộ. Lại
nguyện muôn dân không có nỗi khổ v́ tam tai, bốn chủng
tánh đốn rừng tà kiến. Lại nguyện đem
công đức này thí trọn khắp pháp giới chúng sanh,
khi lâm chung, quyết định được sanh về
thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật,
đích thân thừa sự cúng dường Đại Bi Quán
Âm, đắc vô lượng vô biên tam-muội thần thông,
tổng tŕ trí huệ, cùng Địa Tạng từ tôn vào
trọn khắp các đại địa ngục trong pháp
giới, cứu độ hết thảy chúng sanh khổ
năo, thậm chí phân
h́nh tán thể trọn khắp theo chiều ngang, tột cùng
theo chiều dọc, hiện thân trong mười giới,
tam luân thí hóa[20].
Nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn chẳng
giữ lấy Nê Hoàn.
* Nguyện văn khi
duyệt Đại Tạng hoàn tất
(ngày mồng Một tháng Chín năm Giáp
Ngọ - 1654)
Kính
lễ vô biên tế, khứ, lai, hiện tại Phật, trí
bất động như hư không, đấng đại
bi cứu thế. Đệ tử Trí Húc kính đốt bốn
lọn hương trên cánh tay, cúng dường trọn khắp
mười phương ba đời hết thảy
chư Phật, hết thảy tôn pháp, hết thảy Bồ
Tát, hết thảy thánh hiền. Trí Húc thống thiết
nghĩ lúc ba mươi tuổi huyễn ngụ tại Long
Cư, duyệt Luật Tạng lần thứ hai xong, lại
phát tâm duyệt trọn khắp Đại Tạng. Trong một
Hạ, chỉ duyệt được một ngàn quyển,
bỗng có việc ngăn trở. Tới lúc ba mươi
ba tuổi mới tiến nhập Linh Phong. Lúc kết
Đông, ở trong núi không có Đại Tạng. Mùa Xuân
năm Quư Dậu (1633), tạng kinh đưa tới,
nhưng chưa đóng thành tập. Cuối Xuân năm Bính
Tư (1636), con ẩn ḿnh nơi Cửu Hoa, ôm bệnh tại
đó, duyệt được hơn một ngàn quyển.
Năm Nhâm Ngọ (1642), ở trong núi, tạng kinh đă
đóng xong. Năm Quư Mùi (1643), bế quan, duyệt đại
lược chỉ hơn một ngàn quyển. Lại bị
duyên khác dẫn dắt, huyễn ngụ tại Tổ
Đường và Bắc Thạch Thành, tính ra duyệt
được hơn hai ngàn quyển. Năm Kỷ Sửu
(1649) về núi, do vậy, chú giải hai kinh Pháp Hoa và Chiêm
Sát, sửa chữa tác phẩm Luật Yếu, chưa rảnh
để mở [kinh tạng] xem. Mùa Thu năm Nhâm Th́n
(1652), toan vào núi để hoàn tất nguyện cũ, lại
gặp huyễn duyên lôi kéo tới Trường Thủy,
mượn duyệt ngàn quyển. Cho đến mùa Xuân
năm Giáp Ngọ (1654) năm nay mới được về
ở tại Lâm Tuyền, lại trong một Hạ bị
bệnh duyên quá nửa, đến giữa tháng Thu mới
được hoàn măn. Trộm tính [kể từ lúc] phát tâm
duyệt tạng [tới nay] đă hai mươi bảy
năm, ra vào núi này, cũng trong ṿng hai mươi ba năm.
Trải qua tám nơi Long Cư, Cửu Hoa, Chương Châu,
Tuyền Châu, Tổ Đường, Thạch Thành, Trường
Thủy, Linh Phong, mới được hoàn tất. Trong khoảng đó, trước sau duyệt
Luật Tạng ba lần, kinh Đại Thừa hai lượt,
kinh Tiểu Thừa, và luận Đại, Tiểu Thừa, các trước
thuật hai cơi (Ấn Độ và Trung Hoa), mỗi loại
chỉ một lần mà thôi. Than ôi! Nghĩ ngợi pháp duyên
chẳng dễ, khôn ngăn lệ đẫm đầm
đ́a. Nay may nhờ sức Tam Bảo, đă hoàn tất
nguyện nhỏ nhoi. Do vậy, lại đốt
hương cầu gia bị:
- Một là trộm thấy
Nam Bắc hai tạng đều mơ hồ, chẳng
đúng thứ tự, hoặc bán măn chẳng biện định,
hoặc kinh luận gọi tên lẫn lộn, hoặc chân
hay ngụy chẳng phân biệt được, hoặc
khéo vụng chẳng phân biệt. Tuy có [các sách] Pháp Bảo Tiêu Mục đời Tống, Vựng
Mục Nghĩa Môn đời
Minh, nhưng đều
chưa tận mỹ, tận thiện. Nay con liền mạo
muội, lầm lạc trần thuật hai sách Duyệt Tạng
Tri Tân và Pháp Hải Quán Lan. Nếu chẳng trái nghịch ư
chỉ của Phật, xin được thành tựu,
lưu thông.
- Hai là đối với
các kinh Viên Giác, Duy Ma, Địa Tạng, cho đến kinh
Đại Niết Bàn, trước kia con đều có ư
nguyện nhỏ nhoi là sẽ giải thích thêm, và Tăng Sử
Bảo Huấn cũng nguyện tu bổ thêm. Ngưỡng
cầu che chở, gia hộ, khiến cho mau được
thành tựu.
- Ba là đại điện
đă nghiêng một nửa, tiền điện hoàn toàn
đổ, chạm vào mắt mà nhói ḷng, thật khó ra sức.
Nay đành phó cho trời, rồng, nguyện sớm thành tựu.
- Bốn là nghĩ
nơi này hoang dă, đă lâu chẳng được nghe danh
xưng Phật pháp, thật sự nhờ vào Đại Tiếp
pháp chủ, Đại Túy tĩnh chủ, Đại Kỳ
kỳ chủ mở ra đầu mối, c̣n như thỉnh
Đại Tạng là do Giới Châu đứng đầu
phát đại tâm, các vị Đạo Tấn, Như Nguyên
v.v… giúp thành tựu tốt đẹp. Ấn loát nhờ
công Thọ Trù, trang hoàng là do sức của Tâm Kiến. Khổ
sở giữ vững chẳng buông bỏ th́ Thành Quỳnh
đứng đầu. Trợ duyên thành tựu là nhờ
tài lực của thiện tín. Kính nguyện những người
trên đây nếu đă khuất th́ do công đức đốt
hương hiện thời, sẽ nhanh chóng tiêu trừ tam
chướng, vĩnh viễn thoát khỏi tứ sanh, sen nở
hoa thượng phẩm, được Phật thọ kư
trong một đời. Người c̣n sống th́ đạo
tâm kiên cố, phước đức tăng trưởng,
thọ mạng thêm dài, trí huệ khai phát.
Lại nguyện
người học… (sáu người) và hết thảy pháp
quyến thuộc đường nội, đường
ngoại, thượng, hạ tĩnh thất, ai nấy quyết
trừ tập khí, tiến hướng Bồ Đề, Giới,
Định, Huệ sáng thêm, phước, thọ, khỏe mạnh
như ư. Lại nguyện Trí Húc từ nay trở đi, bệnh
khổ tiêu trừ, phiền năo tiêu tan, chẳng gặp hai
loại ma nghịch, thuận, luôn được an tâm
trước thuật. Dùng công đức pháp thí này, hồi
hướng Tây Phương Tịnh Độ, trọn khắp
pháp giới chúng sanh cùng sanh về thế giới Cực Lạc.
* Nguyện văn kiến
lập tịnh xă trong khi bệnh nặng
(ngày Mười Ba tháng Mười Hai)
Ngày
Mười Ba tháng Mười Hai năm Giáp Ngọ (1654), Bồ
Tát giới đệ tử Trí Húc nhất tâm quy mạng Cực
Lạc thế giới A Di Đà Phật, Quán Thế Âm,
Đại Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng, và mười
phương ba đời hết thảy Tam Bảo. Đau
đớn nghĩ Trí Húc vốn v́ sanh tử đại sự,
hai mươi bốn tuổi xuất gia, trọn chẳng
có nửa điểm ư niệm chuộng làm thầy người
khác. Chẳng ngờ bị huyễn duyên bức bách, lầm
lạc làm thầy người khác. Hai mươi mấy
năm qua, tuy có chút điều thiện hoằng pháp,
nhưng bị hư danh gây lụy, quán hạnh
bỏ phế, sơ sài, sao có thể chiết phục phiền
năo để dự lên Ngũ Phẩm? Nay bệnh hoạn
quấn thân, tâm tuy hiểu rơ, sức chẳng tự do!
Đau xót gào khóc, chẳng biết làm sao? May nhờ vào ḷng Từ
của Phật, hơi tàn chưa dứt, nếu chẳng gấp
dốc sức nơi Tịnh nghiệp, sẽ dùng ǵ để
vĩnh viễn thoát khỏi ṿng khổ? Bèn phát trọn tâm
kiền thành, kính tụ tập nơi Tàng Kinh Các của Linh
Phong, thỉnh các pháp lữ có cùng chí hướng (mười
người) và ngoại hộ Bồ Tát sa-di (năm người)
ḥa hợp nhất tâm, kết xă ba năm. Mỗi ngày ba thời
khóa tụng, xưng lễ hồng danh, hai thời chỉ
tĩnh, nghiên cứu, duyệt đọc tột cùng Đại
Tạng, Giáo Quán song tu, giới lẫn thừa đều gấp.
Nguyện cùng pháp giới
chúng sanh quyết định cùng sanh về Cực Lạc.
Trí Húc từ nay trở đi, thề chẳng thăng ṭa
thuyết pháp. Trừ trường hợp người cùng
chí hướng cầm kinh hỏi nghĩa, chẳng dám mệt
mỏi mà giải đáp. C̣n như phô diễn văn
nghĩa th́ đă có Chiếu Nam, Linh Thịnh, Tánh Đán có
thể tuyên thuyết, truyền dạy đại lược.
Thề chẳng ngồi xoay lưng về phía Phật, trừ
khi ngồi hơi lệch sang một bên, hoặc đối
trước tượng Phật mà ngồi. Thề chẳng
đăng đàn truyền giới. Nếu trao giới học
Luật th́ đều có Chiếu Nam, Đẳng Từ có
thể dạy bảo. Thề không nhận lời thỉnh
thọ trai của người tại gia, trừ trong
tĩnh thất của tự viện. Ngưỡng xin Tam Bảo
chứng minh, nhiếp thọ, khiến cho Trí Húc nếu các
duyên chưa tận, sớm được khinh an. Nếu
đại hạn khó tránh, sẽ mau trở về An Dưỡng.
Sống th́ niệm Phật và trước thuật, chết
th́ chẳng đọa, cũng chẳng thoái thất. Lại
nguyện đồng hạnh pháp lữ, bất luận Húc
c̣n sống hay không, vẫn vững chí cùng tu, có đầu,
có đuôi. Lại nguyện ngoại hộ sa-di, bất luận
Húc c̣n sống hay không, đều thành tâm lo liệu mọi
việc, đừng trễ tràng, đừng sai sót. Dùng cái
nhân thanh tịnh thù thắng này để hồi hướng
vô thượng cực quả, khiến cho khắp các hàm thức
đều về bí tạng.
II. Pháp ngữ
* Chỉ dạy
phương trượng Hải Ấn
Trước
là khai kiến địa, sau đó mới có thể nói
đến tu chứng. Muốn khai kiến địa, chẳng
thể chần chừ chờ đợi ngày khác! Phàm quyết
trạch[21]
thân tâm, không ǵ hơn được thầy bạn
thương lượng, xác định, nghiên cứu t́m
ṭi kinh luận. Nay “thương
lượng, xác định”
chỉ được hiểu là bàn luận t́m ṭi thảo
luận trên văn tự, ắt [sẽ cho rằng] phải
là ngồi lặng thinh th́ mới gọi là “công phu thành
phiến”. Dẫu được “thành phiến”,
nhưng động, tĩnh vẫn là hai chuyện như
cũ! Huống hồ động th́ đă chẳng thể
ở bất cứ nơi đâu đều có thể thấu
hiểu, sao có thể đảm bảo tĩnh là công phu
thành phiến ư?
Công phu chân thật chẳng
phải là như vậy! Bất luận pháp thế gian hay
Phật pháp, động, tĩnh, thuận, nghịch, nói
năng, im lặng, chỉ phát khởi huệ nhăn, tiêu tan tập
khí, dùi mài thân tâm, tăng thêm điều ta vốn chưa
đạt tới. Công phu chân thật chỉ là mong sao
tương ứng với bổn phận, trọn chẳng
có động hay tĩnh khác biệt. Nếu chẳng biết
giữ lấy bổn phận, chỉ lo tạ tuyệt mọi
người, mọi việc, giữ chết cứng bồ
đoàn, chắc chắn sẽ có phần tương ứng
nơi năm con lừa[22],
huống hồ trần duyên vô tận ư? Hăy nên dùng cái tâm
dũng mănh, thiết tha để đối trị cái tâm
chần chừ, chờ đợi; thường nghĩ “thời
gian chẳng đợi ai!” Hễ chần chừ một
điều sẽ thành trăm điều chần chừ, hăy dùng
cái tâm ân cần trịnh trọng để đối trị
cái tâm coi thường! Một lời nào hữu ích cho chính
ḿnh, hăy nên chú trọng, ghi tạc trong tâm. Dùng cái tâm sâu rộng
để đối trị cái tâm ứng phó qua quít, mong thề
giống như bậc tiên triết, đừng hành xử
giống như thói đời. Nếu ba điều ấy
mà thiếu một th́ học đạo sẽ khó lắm!
* Chỉ dạy Pháp
Nguyên
Công
phu Niệm Phật chỉ quư ở chỗ tín tâm chân thật.
Thứ nhất, phải tin ta là vị Phật chưa thành,
Di Đà là vị Phật đă thành, Thể chẳng hai. Kế
đó, tin Sa Bà là khổ, An Dưỡng đích xác đáng
quay về, hừng hực ưa chán (ưa Cực Lạc
vui, chán Sa Bà khổ). Kế đó, tin nhất cử, nhất
động trong hiện tiền đều có thể hồi
hướng Tây Phương. Nếu chẳng hồi hướng,
dẫu là thượng phẩm thiện, vẫn chẳng
văng sanh. Nếu biết hồi hướng, tuy lầm lẫn
làm ác, hăy nhanh chóng đoạn cái tâm tiếp nối, khởi
ḷng ân cần, trân trọng sám hối. Do sức sám hối
cũng có thể văng sanh, huống hồ tŕ giới, tu
phước, đủ loại nghiệp thù thắng, há chẳng
đủ trang nghiêm Tịnh Độ ư? Chỉ v́ tín lực
chẳng sâu mà nghiệp thù thắng ch́m đắm trong hữu
lậu. Lại muốn xả cách thức này để bàn
định cách nào khác th́ lầm mất rồi. Chỉ cần
tăng thêm chân tín, hết thảy những ǵ đă hành chẳng
cần phải sửa đổi nữa!
* Chỉ dạy Sơ
B́nh
Mọi
người biết Tông là Phật tâm, Giáo là Phật ngữ,
nhưng chẳng biết Giới là Phật thân.
Lô Xá Na Phật lấy Giới làm Thể. Do ác không ǵ chẳng
dứt, nên tịnh. Thiện không điều ǵ chẳng
làm, nên măn. Nếu thân đă chẳng c̣n, tâm sẽ gởi
vào đâu, ngữ sẽ tuyên vào đâu? Dẫu hiểu thấu
suốt một ngàn bảy trăm công án, thông suốt liễu
nghĩa của mười hai bộ, chỉ thành cô hồn
vô chủ nương vào cây cỏ mà thôi!
* Chỉ dạy Trần
Thọ Chi
Thánh
hiền đều dùng đồng thể đại bi làm
cương tông của học vấn. Nho nói “vạn vật
đều trọn đủ nơi ta”, Thích dạy “tâm,
Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”. Suy cái tâm
trắc ẩn có thể ǵn giữ bốn biển, ḷng bi cực
lớn trọn khắp pháp giới. V́ thế bảo:
“Đức lớn của trời đất là Sanh”. Nếu
chẳng giữ giới sát, há đáng gọi là “một
ngày khắc kỷ phục lễ[23],
thiên hạ quy về ḷng nhân” ư? Xin ông hăy hướng
về Nho môn mà học hỏi chân thật, nhất định
sẽ có thể dũng mănh, nhanh chóng dứt khoát trong một
ngày, giữ địa vị giống như trời đất
sanh thành vạn vật, thừa sức ǵn giữ các ư niệm
vậy!
* Chỉ dạy La Tánh
Nghiêm
Xuống
tóc, khoác áo thâm, cần phải có lúc thích hợp, chứ quy
y, giữ giới, Văn Tu, chẳng nhọc ḷng chọn
ngày! Chẳng có quy y và giới luật, sẽ chẳng có ǵ
để làm cái gốc cho đạo xuất yếu. Chẳng
có Văn Tu, sẽ không có ǵ
để mở cửa xuất yếu. Phật pháp nhiễm
vào thần thức đă sâu, cơ duyên giải thoát sẽ
tự tụ tập tràn trề. Năm này qua năm khác, tịnh
tín sơ tâm dần dần ṃn mỏi, mất mát, do chẳng
phải là bậc trượng phu, cho nên phải tự phấn
đấu!
* Chỉ dạy Trầm
Kinh Bách
Cố
nhiên chẳng thể phán định thế gian và xuất
thế gian thành hai chuyện được, cũng chẳng
thể lẫn lộn thành một sự. Bởi lẽ,
cách thực hiện của Nho và Phật đều cùng
hướng tới chỗ trọng yếu, nhưng quy kết
khác biệt. Tuy thực hiện từ chỗ bậc chân
Nho tu tập th́ học đạo có nền tảng,
nhưng nếu chẳng hướng về chỗ mà
người tu Phật chân thật cần phải hướng
về, chân tánh sẽ chẳng hiển lộ! Tô Đông Pha
học Phật rồi mới biết Nho. Bởi lẽ,
đức Tuyên Thánh (Khổng Tử)[24]
xuất thế vào thời Xuân Thu, căn tánh và
cơ duyên của chúng sanh chưa chín muồi, Ngài phải một
mực dựa theo luân thường để chỉ điểm.
Dùng năm thừa để xét, [Nho] chỉ thuộc vào
nhân thừa, đàm luận tột bậc về một
đường lối nhỏ nhoi, trọn chẳng tỏ
rơ. [Nho học chân chánh] lại bị tri kiến của bọn
Tống Nho che lấp, đến nỗi đạo mạch
mai một, chẳng nhờ vào giáo pháp trong Tam Tạng mười
hai bộ để cầu mở sáng con mắt, sẽ
không chỉ cô phụ tánh linh, mà Tuyên Ni (Khổng Tử)
cũng bị khuất lấp lắm phen vậy!
* Chỉ dạy Trầm
Thanh Ngạn
Người
chẳng biết quang cảnh nơi bổn địa, muôn
vật trong trời đất đều thành chó rơm![25]
Tuy ở địa vị có thể trưởng dưỡng
sự nghiệp, chỉ có hư danh. Phàm phu như ếch
ngồi đáy giếng, hoặc con trùng mùa Hè, há tin tưởng
biển cả chẳng phải là dối gạt, [chẳng
biết] kiếp dài lâu chẳng phải là lời gạt gẫm!
Muốn vào Tín môn này, hăy nên quán một niệm hiện tiền,
trước là chẳng t́m được khởi đầu,
sau là chẳng thấy được kết cục, hiện
tại th́ vô cùng, chẳng có ngằn mé. Nếu truy tầm,
sẽ trọn chẳng có tung tích! Nói nó là không, sẽ chẳng
thể đoạn diệt. Thiền gia bảo là “tịnh
lơa lơa, xích sái sái” (sạch trơn trụi, đỏ hon
hỏn)[26]
vẫn c̣n là oan uổng chẳng ít! Huống chi Tử
Dương bảo “hư linh bất muội, bẩm
đắc ư thiên”(trống rỗng, linh diệu, chẳng
tối tăm, được bẩm thọ từ trời)[27]
há chẳng phải là hư luận vọng tưởng ư?
Hăy gấp noi theo thầy bạn tốt lành, nhanh chóng đọc
kinh liễu nghĩa, t́m lại diện mục sẵn có, lật
nhào tri kiến thế tục, hăy gắng lên!
* Chỉ dạy Phạm
Minh Khải
Lư
sâu Tam Bảo, nhà Nho tầm thường sẽ chẳng thể biết
nổi! Bậc trượng phu đại trí mới có thể
tin sâu chắc. Tôi lúc nhỏ cũng câu nệ hư huyễn
theo Tŕnh, Châu, về sau đọc rộng nội điển
(kinh Phật), mới hơi thấy được bờ
mé, nhưng chẳng thể thấu tận nguồn,
đáy, mới biết có cái học chân thật về tâm
tánh. Chỉ nên dùng con mắt vượt ngoài giới hạn
để quán lư rốt ráo, ngơ hầu chẳng rơi vào hạng
người giống như ếch ngồi đáy giếng,
hoặc con trùng mùa Hạ vậy!
* Chỉ dạy
Vương Trĩ Viêm
Dùng
nghĩa hay dùng lợi để khuyên dụ, là do tâm thuật,
chứ không do h́nh hài! Nếu thật sự có thể tự
mong thành thánh hiền th́ công danh cũng là tác dụng của
đạo đức. Nếu chỉ dốc chí vào cái
trước mắt, chẳng cầu thượng đạt,
tuy mượn tiếng Lư Học, chỉ là mánh khóe để
cầu phú quư đó thôi! Nay dùng ba cái tâm “hiếu thảo với
cha mẹ”, “ḥa thuận với anh em”, “dốc chí thờ
vua, tạo ân trạch cho nhân dân” để tŕ chú Chuẩn
Đề, há chẳng phải là nguyện lực Đại
Thừa ư? Siêng ṛng nhất trí, từ đầu đến
cuối chẳng chao đảo, quân tử chú trọng
điều nghĩa th́ lợi cũng hóa thành nghĩa vậy!
* Chỉ dạy Vô Vân
Giơ
tay, cúi đầu, đều thành Phật đạo. Khai,
thị, ngộ, nhập mầu nhiệm ở chỗ chẳng
t́m điều huyền áo chi khác. Vô tướng chẳng
ĺa hữu tướng, giải thoát chẳng ĺa văn tự,
rốt ráo chẳng khác sơ tâm. Nếu dùng cái tâm sanh diệt
để quán hết thảy các pháp, giả sử có một
pháp nào trội hơn Niết Bàn, th́ [pháp đó] cũng là
pháp sanh diệt! Nếu dùng tâm chẳng sanh diệt để
lănh hội hết thảy các pháp, đó là “pháp trụ
pháp vị, tướng thế gian thường trụ”. Há
có nên ngă mạn nói tháp là đất, gỗ, kinh là giấy mực
ư? Hăy gấp nên t́m ṭi, nhận lănh vậy!
* Chỉ dạy Mộng
Tây
Muốn
đoạn dứt sự hiểu
biết dựa theo t́nh chấp đối với thánh, phàm,
nhanh chóng hiểu rơ nguồn tâm của Phật, Tổ, chẳng
thể có mảy may xen tạp! Cái được gọi là
“xen tạp” chính là chẳng do xem kinh, t́m luận, là do
chẳng buông xuống lợi danh, phiền năo, ngă mạn,
keo kiệt, ghen ghét trên thế gian! Tôi đă từng thấy
người chủ trương Tông thừa[28]
hở ra cứ coi kinh luận là tạp độc, ngược
ngạo xếp xó tập khí chẳng quở trách. Há có biết
bậc anh kiệt thời cổ đă hết sạch phàm
t́nh trước, cho nên họ chỉ quét sạch thánh giải.
Người thời này trôi lăn trong trí nhơ đục,
chẳng đè mạnh nơi chỗ
đau đớn, sao có thể thoát khỏi sanh tử?
Hơn nữa, như công án “bà
lăo đốt am”[29],
cần phải nh́n xuống gót chân của chính ḿnh mà lănh hội.
Nực cười người đời cứ muốn
thay chuyển ngữ, mong được bà lăo cúng dường,
da mặt dày cỡ nào? Cần phải đừng dối
ḷng, đích xác thấy thấu suốt căn cơ của
vị tăng và bà lăo ấy chính là căn cơ của chính
ḿnh, sẽ là con đường chân thật để thoát
khỏi sanh tử! Chớ nên hướng theo phía giải để
suy đoán, đánh mất lỗ mũi của chính ḿnh.
Trong mười hai thời, phương tiện để
dụng tâm hay khéo ở chỗ thuận theo duyên mà chọn
lựa thích đáng, đừng nên khăng khăng giữ lấy
khô tịch, đóng lấp diệu ngộ môn. Thẳng thừng
bóp nát hư không rồi sẽ
trở lại thấu hiểu!
* Chỉ dạy
Phương Huy Nguyên
Khí
hạo nhiên[30]
ai nấy đều sẵn có nơi tánh, tuy nói là “sanh
bởi tạp nghĩa”,
nhưng thật sự chẳng có sanh, chỉ là mỗi niệm
đều mong làm thánh, làm hiền, th́ bản tánh sẽ ngày
một hiển lộ, khí [hạo nhiên] tự đầy ắp.
Nếu một niệm nản ḷng th́ gọi là “tự vứt
bỏ”. Điều đáng quư là bậc hào kiệt chẳng
đợi [phải thúc giục] mà tự hưng khởi.
* Chỉ dạy về
sự thâu nhiếp ba nghiệp
Nghe
giảng đừng nên chỉ chú trọng tai, miệng.
Trước hết, hăy nên suy nghĩ cặn kẽ: Đức
Phật v́ chuyện ǵ mà nói kinh? Ta v́ chuyện ǵ mà học
kinh? Nếu biết Phật v́ chuyện ǵ, sẽ chẳng
đắm trước văn tự, ngôn từ. Nếu biết
ta v́ chuyện ǵ, sẽ chẳng tham lam đuổi theo danh
lợi. Chẳng đuổi theo danh lợi, sẽ dứt
bặt sự báng bổ bên ngoài. Chẳng chấp vào văn
tự, ngôn từ, sẽ khéo ngộ lư. Ngộ lư th́ cái gốc
sẽ lập mà đạo sanh. Dứt báng th́ đức
được ấp ủ, mà chúng sanh được giáo
hóa, có thể tự lợi, lại có thể lợi người
khác. Nếu không, học vấn càng nhiều, cách đạo
càng xa, người học càng thịnh, pháp môn càng suy! Lời
thọ kư “trùng trong thân sư tử” đúng là đáng
sợ!
* Chỉ dạy đại
chúng trong Luật Đường[31]
Tri
kiến theo thói tục sẽ chẳng thể nhập đạo.
Do tập khí ngă mạn, chẳng thể cầu đạo.
Nếu chưa hiểu,
hoặc trước khi hiểu, chẳng thể nói đạo.
An nhàn lười nhác, sẽ
chẳng thể học đạo. Cứ nhớ lại tiếc
nuối những điều chẳng phải, sẽ chẳng
thể mưu cầu đạo. Tự tin vào ư nghĩ của
chính ḿnh, sẽ chẳng thể hỏi đạo. Xả
động, cầu tĩnh, sẽ chẳng thể dưỡng
đạo. Bỏ Giáo, tham Thiền, sẽ chẳng thể
đắc đạo. Hiểu nghĩa theo văn tự, sẽ
chẳng thể thấu hiểu đạo. Muốn nhanh
chóng, thích những ǵ gần tầm tay, sẽ chẳng thể
ngộ đạo. Cách biệt Tiểu với Đại, sẽ
chẳng thể kiến đạo. Chấp uế là tịnh, sẽ chẳng thể
biết đạo. Chán cái thường có, chuộng cái mới
mẻ, sẽ chẳng thể theo đuổi đạo.
Chuộng đơn giản, sợ rườm rà, sẽ chẳng
thể sáng tỏ đạo. Qua quít, cẩu thả, sẽ
chẳng thể tu đạo. Được chút ít đă
cho là đủ, sẽ chẳng thể chứng đạo.
Chỉ có người siêu quần bạt tục, khiêm tốn,
trống ḷng, chịu thương chịu khó, thân cận bậc
tri thức, thấu hiểu trong mỗi cảnh ngộ tiếp
xúc, dùng Giáo
in vào tâm, rộng lớn lâu bền, Lư lẫn Sự đều
vẹn, gởi chí nơi cơi tịnh, hành xử gương
mẫu, thông hiểu rộng răi xưa nay, đặc biệt
thông đạt mẫn nhuệ, thâm tâm chẳng cùng cực,
thề tận cùng nguồn đáy của biển pháp th́ mới
là nam tử chân thật, là bậc trượng phu xuất
thế!
* Chỉ dạy Tồn
Phác
Bản
thể của tỳ-kheo là dự vào Tăng Bảo tôn quư,
có chức trách nối tiếp chủng tánh Phật, cần
phải siêu quần bạt tục, vượt ngoài tri kiến
theo thói tục th́ mới chẳng thẹn với danh
xưng ấy. Nếu cứ theo lối ṃn cũ chẳng
thay đổi, mỗi một cử động sẽ
vướng tội to như núi! Một mai gió nghiệp thổi
bay, đánh mất thân người dưới lớp áo
ca-sa, sẽ là khổ sở nhất trong các nỗi khổ!
Năm mươi năm trong nhân gian là một ngày đêm
trên cơi trời Tứ Thiên Vương, há có pháp thật sự
để đáng mến luyến? Nếu chẳng gấp
t́m pháp xuất yếu, cam đành “sai một điều, khiến
cho
trăm điều đều sai”,
sẽ là kiếp số nhiều như cát bụi, chẳng
có thuở nào xong! Là bậc hán tử có huyết tánh, há
nghĩ tới mà chẳng run sợ ư?
* Chỉ dạy về
cái học chân thật
Chân
học là dùng giải và hạnh để cùng đạt tới
Tông Thú. Chẳng khai giải, sẽ chẳng có cách nào tiến
theo đạo. Chẳng tận lực hành, sẽ chẳng
có ǵ để chứng đạo, nhưng giải và hạnh
lại có Đại, Tiểu, Tiệm, Đốn bất
đồng. Nếu chỉ cầu một pháp môn để
thoát sanh tử ḥng tự độ thoát, th́ là tiểu giải,
tiểu hạnh. Nếu thông suốt khắp hết thảy
các pháp môn để tự lợi, lợi ích người
khác, th́ là đại giải, đại hạnh. Nếu giải
trước, hành sau th́ là Tiệm. Nếu biết giải
và hạnh đồng thời, tùy văn nhập quán, chẳng
ĺa ngôn ngữ mà được giải thoát, th́ là Đốn.
Như binh lính tập một kỹ năng, có thể giết
một tên giặc, lănh một giải thưởng, ăn
được mấy miếng [là hết]. Như thầy
thuốc ngoài chợ chỉ biết một toa thuốc có
thể trị một chứng bệnh, nhận tiền
công chỉ đủ nuôi thân; đấy là Thanh Văn, Duyên
Giác. Nếu làm đại tướng, hoặc làm vị thầy
thuốc giỏi, ắt biết trọn hết thao lược,
thông đạt trọn khắp các toa thuốc, vị thuốc;
sau đấy, [họ sẽ] không trận nào chẳng thắng,
trị không bệnh nào chẳng hiệu nghiệm. Đó là
hành nhân viên đốn. Thông đạt vạn pháp, ngộ
trọn vẹn nhất tâm, tự hành th́ không Hoặc nào chẳng
phá, hóa độ người khác th́ không căn cơ nào chẳng
tiếp độ.
Nay muốn thông suốt
trọn khắp hết thảy các pháp môn, tuy Tam Tạng
mười hai bộ, lời nào cũng
đều dung nhiếp lẫn nhau, nhưng ắt phải
nắm được đầu mối trọng yếu
th́ mới có khí thế như chẻ tre. Là bậc thánh hiền
[trong Nho gia], dùng sáu
kinh làm khuôn mẫu, nhưng để
thông hiểu sáu kinh, ắt phải nhờ vào chú sớ làm
ch́a khóa để mở cửa. Làm Phật, làm Tổ th́
dùng Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Duy Thức
làm kim chỉ nam để thông hiểu các kinh điển
ấy. Lại nhờ vào
Thiên Thai, Hiền Thủ, Từ Ân để làm chuẩn mực.
Bởi lẽ, thấu hiểu đến chỗ cực
uyên thâm của lưới giáo, không ǵ hay bằng Huyền
Nghĩa, dùng sách Thích Thiêm[32]
để giúp thêm. Xiển dương viên quán để thật
sự tu, không ǵ hay bằng [sách Ma Ha] Chỉ Quán, lại
dùng sách Phụ Hành[33]
để thành tựu. Hùng hồn diễn nói tột bậc
tánh thể, không ǵ hay bằng kinh Tạp Hoa (Hoa Nghiêm), dùng Sớ
Sao, Huyền Đàm[34]
để giúp thêm. Biện định pháp tướng sai
biệt, không ǵ hay bằng Duy Thức, dùng Tướng Tông
Bát Yếu[35]
để giúp sức. Sau đấy mới dung nhập Tông
Kính, biến chỗ cùng tột của các tông đều hội
quy
vào Tịnh Độ. Dùng đó để
khai giải, tức là dùng đó để thành hạnh. Giáo
và Quán cùng phô bày, Thiền và Tịnh nhất trí, xa ĺa cái bệnh
chấp chặt một bề, chẳng vướng lời
chê trách “đếm của báu”, đáng gọi là “thỏa
thích cuộc đời”, trác tuyệt ngàn đời vậy!
* Chỉ dạy Vạn
Uẩn Ngọc
Chỉ
tiếp nhận một điều, chẳng tiếp nhận
điều chi khác, cố nhiên là bị ma nhiếp thủ.
Không đầu mối mà [cứ tu học] tràn lan, sẽ chẳng
nhập Văn Tŕ. Đă biết tâm học có cội nguồn
sâu thẳm, công phu có thứ tự, sẽ là xem bất cứ
một sách nào, ắt sẽ thấu triệt từ đầu
đến đuôi, to lẫn bé đều hiểu rơ, ngơ hầu
chẳng lo không chọn lựa nào chẳng tinh vi, không lời
nào chẳng tường tận. Vẫn cần phải hết
sạch tri kiến lúc xưa, th́
mới đạt được cái mới mẻ
vượt cách. Để đạt được đạo
th́ tâm phải rỗng không các thứ ư niệm tụ tập,
rỗng không,
th́ tâm mới thanh tịnh. Nếu trần kiến vướng
ngang nơi ư, [sẽ là] một hạt cải che trời, một
vi trần phủ đất vậy!
* Chỉ dạy
Vương Giản Tại
Có
kiến địa vượt trội th́ mới có phẩm
cách ngàn đời. Có phẩm cách ngàn đời th́ mới
có học vấn vượt ngoài ngằn mé. Có học vấn
vượt ngoài ngằn mé th́ mới có văn chương
phủ trùm cơi đời. Nay văn chương và học vấn
chẳng khởi đầu bằng lập phẩm cách, phẩm
cách mà chẳng khởi đầu bằng khai kiến địa,
sẽ là sang đất Sở[36]
mà quay đầu xe về phương Bắc. Than ôi! Thói
quen lay chuyển con người, dẫu bậc hiền, bậc
hiểu biết
vẫn chẳng tránh khỏi! Chấp chặt
vào hiểu biết nhất thời, quên bẵng nhân duyên bao
kiếp lâu xa! Chẳng dùng lư để đoạt t́nh, dùng
tánh để trái nghịch tập khí, sao có thể mở
toang kiến địa, khiến cho sự nghiệp văn
chương đều được xuyên suốt bởi
đạo lư cho được!
* Chỉ dạy
Vương Tâm Quỳ
Kinh
Pháp Hoa ân cần xưng dương, tán thán phương tiện.
Cần phải biết: Có phương tiện thế gian
như bố thí, ái ngữ, hiếu, đễ, trung tín v.v…
Có phương tiện xuất thế gian như khổ,
không, vô thường, vô ngă, bất tịnh, các pháp môn
như sổ tức, nhân duyên, xa ĺa, tri túc v.v… Có
phương tiện xuất thế thượng thượng
chính là Thập Ba La Mật, Tứ Nhiếp, Tứ Biện
Tài, tám vạn bốn ngàn tam-muội, tổng tŕ v.v…
Phương tiện thù thắng, khác lạ chẳng thể
nghĩ bàn chính là tin trong tự tánh, thật sự có Tây
Phương, có Di Đà Như Lai thành Phật đạo
trong hiện tại, trong duy tâm có thế giới Cực Lạc
trang nghiêm, thâm tâm hoằng nguyện, quyết chí cầu
sanh. Không chỉ là phương tiện thượng thượng,
đó c̣n là tư lương, khiến cho hết thảy
các phương tiện thế gian và xuất thế gian,
không ǵ chẳng phải là bằng khoán giúp văng sanh. Đấy
chính là thủ đoạn “điểm sắt thành vàng”
trong pháp môn này, chẳng trải qua A-tăng-kỳ kiếp
mà nhanh chóng đạt lên bất thoái, gọi là diệu pháp
dứt bặt đối đăi vậy!
* Chỉ dạy Quảng
Giới
Vô
lượng pháp môn chẳng ra ngoài Tam Học. [Mọi
người] thường cho rằng Giới và Định
thuộc vào duyên nhân, Huệ Học là liễu nhân. Thật
ra, trong Tam Học, ba nhân đều trọn đủ. Lại
c̣n theo thứ tự, th́ do Giới sanh Định, do Định
phát Huệ. Mỗi điều sau thù thắng hơn điều
trước. Suy tới cội gốc th́ Giới mà chẳng
có Định và Huệ, vẫn đạt được
thiện quả. Định và Huệ mà chẳng có Giới,
ắt rơi vào ma tà, hăy suy nghĩ đi!
* Chỉ dạy Huệ
Hàm
Chẳng
trừ tập khí, chẳng có phần thoát sanh tử;
nhưng tập khí huân nhiễm, chẳng phải là một
sáng, một chiều! Chẳng đau đáu khắc phục,
sẽ chẳng do đâu để nhanh chóng trừ khử
được! Cần phải dũng mănh nghĩ thân và cơi
đời vô thường, huyễn duyên hư giả, khó
sanh làm thân người, khó gặp gỡ Phật
thừa. Bỏ lỡ dịp này, chẳng cầu độ
thoát th́ ngàn đời vạn kiếp chẳng mong chi! Vậy
th́ hăy hiểu “đúng, sai, ta, người, thể diện”
như tường ngăn, hăy buông xuống toàn thể tràng
kiêu mạo Thân
Kiến,
t́nh tánh
ái nhiễm, đừng chần chừ
nữa! Triệt để gánh vác pháp yếu xuất thế
của Như Lai, yêu thích thọ tŕ, siêng ṛng noi theo, tự
nhiên phước huệ tăng trưởng, bản lănh
ngày một sâu xa, vi tế.
Đạo xuất yếu
chẳng có chi lạ lùng, nó ở ngay trong mọi chuyện xử sự thường
nhật! Chớ nên ĺa Sự để t́m Lư, bỏ thô cầu
tinh, chán động cầu tĩnh, chuộng thuận, ghét
nghịch, hoặc dùi mài nơi giấy cũ của người
khác[37],
ngỡ ngón tay chỉ trỏ là mặt trăng, hoặc
khăng khăng giữ chặt bồ đoàn, đóng
đinh giữ chặt mái chèo vào cọc. Đấy chính là
căn bệnh ngặt đă lậm tận mạng mỡ
của kẻ giảng học Thiền trong thời gần
đây, đó chính là tập khí ác độc nhất. Nếu
chẳng tự phản tỉnh, suy xét sâu xa, tận lực
khắc phục, trừ khử, sẽ càng ngày càng đi xuống,
chẳng được cứu, chẳng nương về!
Hăy nên biết hạng người ấy do kém hèn, có chút
phước nhỏ nhoi, ắt làm quyến thuộc của
ma, hoang phế vạn hạnh, thẳng thừng cảm vời
nỗi khổ cùng cực trong tam đồ. Chúng ta đem sự
hiểu biết tối tăm truyền cho nhau, trong đêm
dài chẳng hiểu biết, nay được làm thân
người, chẳng gặp chánh pháp, ma tà, ngoại đạo
đầy dẫy, chẳng thể t́m hỏi bờ bến.
May là thiện căn chưa tuyệt, được nghe di
giáo, há đành giữ nỗi hổ thẹn to lớn “ơ
hờ coi thường, chỉ mong cầu an nhàn”? Nếm
mật, nằm gai, nghĩ phải nên quyết đoạn,
suy nghĩ đạo chẳng do người khác [mà đạt
được]!
* Chỉ dạy Định
Tây
Nho
là “dân bào, vật dữ” (dân là người ruột thịt
của ta, loài vật cũng giống như ta), tận hết
thân mạng này, vẫn chẳng thể không giữ ư chí kiên
định, huống hồ trần sát (các cơi nước
nhiều như vi trần) chẳng cách mảy lông, thập
thế[38]
chẳng ĺa một niệm hiện tiền ư? Bậc thật
sự hoằng truyền th́ quả vị Thanh Văn, Duyên
Giác, Quyền Thừa c̣n chưa đáng để bận
ḷng, há màng đến danh lợi thế gian ư? Người
thật sự cương nghị, trăm kiếp ngàn
đời chẳng sanh một niệm lui sụt, nào hỏi
đến cảnh duyên hiện tại? Thích tử hiện
thời chỉ bận tâm làm bậc lỗi lạc về
pháp, hoặc bậc thầy về luật, nếu chẳng
có phương cách nào vượt trội
người khác, dẫu là pháp đốn siêu Phật địa,
họ vẫn chẳng đoái hoài! Cái tâm mà họ vốn
phát chẳng phải là đại đạo Bồ Đề,
hoặc đại đạo u huyền bao kiếp.
Do vậy, vừa thọ giới liền khăng khăng
nơi h́nh tướng bát và trượng bề ngoài! Hễ
nghe giảng liền cần cù chú trọng giải thích
văn tự. Hễ tham Thiền, niệm nào cũng chuyên
chú nơi cơ phong[39].
C̣n như những chuyện như theo kỳ hạn cấm
túc, bế quan
v.v… đều thành mưu kế để kiếm sống
trong trăm năm, là công án trong cơi đời, coi đó là
chuyện ngàn vạn phần trọng yếu thuộc phận
sự của chính ḿnh! Đối với Phật đạo
vi diệu, họ chỉ nghe hiểu kinh bổn ít ỏi,
chưa từng đích thân biết, thấy rơ ràng, rốt
cuộc vẫn thuộc loại nửa tin, nửa ngờ.
Đối với phương cách
mưu sinh trước mắt, chưa hề
quán chắc thật “tam
giới là khổ, không, vô thường”,
rốt cuộc cảm thấy chẳng thể buông xuống
được! Tuy học lời chân thành lấn vượt
Phật, Tổ, thật ra là nhất thời cao hứng,
hay là nghé mới sanh chẳng sợ cọp, hoặc trẻ
con đùa bỡn
xưng là thiên vương, chưa hề tự mong thành Phật,
thành Tổ! May ra có người phát khởi chí hướng
thù thắng, nhưng chẳng thể chỉ v́ một chuyện
Bồ Đề đến cùng, hoặc bị danh lợi
đổi thay khí tiết. Tuy nói là “dần
dần biến đổi cái tâm ban đầu”, vẫn là do trong
cái nhân có xen tạp! Chẳng thể không suy nghĩ cẩn
thận để thống thiết tự cổ vũ vậy!
* Chỉ dạy Nhất
Niệm
Chẳng
thể không xu hướng theo, đó chính là
đạo trung hành (hành xử đúng lẽ chiết trung,
không thái quá hoặc bất cập). Chẳng thể có chút
xen tạp đó là cái tâm chất phác. Cuồng vọng hoặc
bảo thủ tợ hồ cách “trung
hành” rất xa, nhưng
thật ra chẳng xa. Chất phác tợ hồ gần với
trung hành, nhưng thật ra cách biệt như trời thẳm.
Ấy là v́ điều nghiêm trọng nhất trong học
đạo, chính là biện định nơi tâm thuật chừng
bằng hào ly. Trong Phật pháp, cũng có cuồng vọng,
bảo thủ, trung hành, và ngờ nghệch. Thoạt khởi
đầu, từ [địa vị] phàm phu mới nghe diệu
pháp, đă ngay lập tức lấy chư Phật làm
điều tự mong mỏi; dẫu cho Quyền thừa
tiểu đạo cũng chẳng mong muốn, th́ gọi
là “chân cuồng” (thật sự cuồng vọng).
Đối với sự nghiệp đáng nương theo
thuộc chín pháp giới trong Phật
thừa, đều cho là ḿnh chẳng xứng đáng;
đó gọi là “chân quyến” (真狷, thật
sự bảo thủ, tự hạn cuộc).
Liễu
đạt “tâm, Phật, chúng sanh, cả
ba chẳng sai biệt”. Do tâm chính là Phật,
bèn trên là cầu chẳng chán, tương ứng với
đại trí. Do chúng sanh giống như Phật, nên dưới
là hóa độ chẳng mệt mỏi, tương ứng
với đại bi. Niệm nào cũng là bi trí, tùy thuận
Tứ Tất Đàn, khéo thủ hộ chính ḿnh, cũng khéo
thủ hộ người khác. Đó gọi là “trung hành
chân thật”. Nếu chưa phá được cái ải
danh vọng, chưa mở được xiềng lợi
lộc, viện cớ hoằng pháp lợi sanh, sẽ
chỉ là cách để kiếm sống trước mắt!
Có một chút tâm ăn bám, sẽ muôn kiếp
trói buộc.
Dẫu thấu triệt hết sạch
một ngàn bảy trăm công án, giảng trọn mười
hai phần giáo trong tam thừa, dựng chùa nguy nga như
vườn Cô Độc, rộng thâu đồ chúng như
vị Phật không có tướng hảo[40],
nhưng chẳng đoạn nghiệp thức vô minh, sẽ
đều là tự cuồng, tự dối!
Huống hồ kẻ hiểu biết nửa vời mà
nhơn nhơn tự măn, vậy th́ nếu coi chất phác
là cực quả, th́ [hạng người như thế] chỉ
thành được cái nhân chân thật của sự chất
phác mà thôi!
* Chỉ dạy Nguyên Bạch
Học
đạo th́ một là phải thật sự v́ sanh tử,
hai là phải có xương cốt cứng cỏi, ba là phải
khai phát tri kiến. Chẳng có cái tâm thật v́ sanh tử, dẫu
anh có chí khí, sức mạnh, chỉ là kẻ hào kiệt
trong thế gian, trọn chẳng thể thành bậc thánh hiền
xuất thế! Chẳng có xương cốt cứng cỏi
chân thật, dẫu cho anh muốn thoát sanh tử, chắc
chắn bị t́nh kiến, ham muốn lôi kéo, mê tít nơi cảnh,
bị lợi danh lay động, đoạt mất, bị
mai một trong ṿng kiềm tỏa của ma! Chẳng có tri
kiến chân chánh, dẫu cho anh sợ sanh tử, dũng mănh
thẳng thừng tiến hướng, ắt bị thầy
tà, bạn ác dẫn dụ, khinh an th́ ít mà Hoặc lẫy lừng,
hoặc đọa vào quang ảnh môn đầu[41],
hoặc vướng vào lối ṃn tri kiến, thậm chí
coi “vị
Thiền”[42]
là công đức, hoặc coi không tịch là quê nhà, tốt
đẹp nhất th́ cũng là lưu nhập cảnh giới
quyền biến, cong quẹo của Nhị Thừa, chẳng
có cách nào tiến thẳng tới Bồ Đề. Ấy
là v́ tâm tánh của chúng sanh tuy bằng với chư Phật,
nhưng do mê vọng từ vô thỉ tích tập sâu dày, muốn
trở về nguồn cội, thật chẳng dễ dàng!
Thật sự có thể
niệm nào cũng quán sát thế gian khổ, không, vô thường,
vô ngă, bất tịnh, dưới là từ địa ngục
cho tới trên là trời Phi Phi Tưởng, đều chẳng
phải là chỗ an ổn rốt ráo! Nếu chẳng thề nguyện cầu
lẽ xuất yếu, cứ lưu chuyển trong tam giới,
há có thuở nào xong? Sanh chẳng biết đi đến
đâu? Chết chẳng biết đi về đâu? Biển
khổ mênh mông, hễ nói đến là buốt ḷng, há có nên
tâm chẳng tha thiết v́ sanh tử? Tâm v́ sanh tử đă
thiết tha, sẽ coi hết thảy chuyện trong thế
gian, có chuyện nào thoát khỏi sanh tử, có chuyện nào
hơi chân thật, sẽ thống thiết sanh khởi sự
tỉnh ngộ, sẽ từ trong muôn ngàn quấn trói mà nỗ
lực nhảy vọt ra. Dẫu chỉ c̣n cách giết cha,
dâm mẹ, cướp đoạt người khác để
sống c̣n, vẫn tận t́nh cắt sạch hết những
chuyện vô thỉ ân ái trước mắt, giống
như ngài Tất Đạt Đa lúc mới xuất gia liền
thề rằng: “Thiết hài cốt
khô hủ, bất tận sanh lăo bệnh tử chi nguyên,
chung bất phản hoàn” (Dẫu
hài cốt khô mục,
nếu chẳng thấu hiểu cùng tận nguồn gốc
sanh, lăo, bệnh, tử, trọn chẳng quay trở lại). Chí khí như thế
th́ mới chẳng bị hết thảy nghiệp cảnh
đoạt mất, mới gọi là trọn đủ ḷng
cương quyết to lớn. Đă ĺa lưới ái,
chuyên cầu xuất yếu, ắt phải nên chân thật
biện định tà chánh, hiểu rơ Quyền, Thật, liễu
ngộ Đốn, Tiệm. Nếu chẳng gặp
được vị thầy chân chánh, chỉ nên đọc
tụng Đại Thừa, cầu lư tột cùng sâu xa, chẳng
thuận theo văn tự để hiểu nghĩa, chẳng
ĺa kinh mà dùi mài, pháp nào cũng đều có thể quy vào
chính ḿnh, chỗ nào cũng đều thấy rơ tâm tánh, sẽ
tự có thể dần dần kham tiến nhập chân tông.
Nếu gặp thầy
lành, bạn tốt, chẳng cần biết là thánh hay phàm,
chỉ cần [người
ấy] có đủ chánh kiến, biết tạng
bí mật của Như Lai, liền có thể là người
nương cậy được! Hăy buông xuống thân tâm,
chẳng tiếc thể diện, chẳng nề hà khổ
nhọc, chẳng sợ đói lạnh, thậm chí chẳng
tiếc thân mạng, suốt đời phục dịch, bẩm
thọ pháp yếu, tự nhiên phước chí tâm linh, cảm
ứng xen nhau, như ṭ ṿ gần giống như ong ruồi,
mưa đúng thời bèn hóa sanh. Do được thân cận
thiện tri thức,
nên có thể thân cận diệu thừa tối thượng
để học tập pháp thượng thừa, sẽ
có thể xuất sanh trí huệ viên măn rộng lớn.
Đừng nên đề cao thánh cảnh, tự ở trong
địa vị phàm ngu, luyến tiếc huyễn cảnh
trong sát-na, quên bẵng kế sách lâu xa bao nhiêu kiếp, mắc
lấy tội tự ruồng rẫy, bỏ phí tài năng!
Lại nói kệ rằng:
- Phật tánh, chúng sanh tánh. Một tánh, chẳng hai tánh. Mê
ch́m trong sáu đường, ngộ th́ là tam thừa. Mê tuy
vô lượng hoặc, bệnh ấy chỉ có ba: Một
là luyến thế gian, chẳng biết thế gian khổ.
Hai là tuy biết khổ, nhưng vẫn tự
chần chừ. Ba là tuy dũng mănh, được chút cho
là đủ. Do v́ ba bệnh ấy, đêm dài trong sanh tử,
hoặc là thoát sanh tử, vẫn đọa Quyền Tiểu
Thừa. Ta vâng lời chư Phật, lập ra ba diệu
dược. Một là sợ sanh tử, đối trị
bệnh căn bản. Niệm niệm như cứu đầu,
chẳng c̣n nghĩ ǵ khác. Hai, phấn chấn cương
dũng, hàng phục ma ái kiến, ngũ
dục chẳng thể lôi, tám gió chẳng thể
động. Ba là khai chánh kiến, xa ĺa các tà vạy, căn
chọn lựa Viên Thông, hiện đời thành Chánh Giác. Ba
Hoặc ấy tự đủ, hoặc lại nhờ
duyên khác. Chỉ có thầy bạn sáng,
gọi là chân thật cứu. Truy xét tâm sanh tử, rèn luyện
xương cứng thuần, khai thị chân thật thừa,
khiến hạnh xứng tánh tu. Tu, tánh chẳng tách rời,
gọi là ấn Chánh Giác. Mê tánh, nói tu tập, đọa vào
tu hữu vi! Bỏ tu, bàn pháp tánh, tự nhiên giống ngoại
đạo. V́ vậy, Phật và Tổ, giáo huấn rơ cả
hai, tuy tánh đoạt được tu, chẳng phải
không tu tập! Dẫu chẳng nói đến tánh, nhưng
tánh ở trong tu. Tánh thiếu tu không hiển, tu thiếu
tánh chẳng lập! Chỉ dùng tâm sanh tử, tâm dũng
mănh bất thoái, tâm rộng lớn lâu xa, thờ thầy, tu
chánh pháp, nhất định tự ngộ nhập, biết
lời ta chẳng dối!
* Chỉ dạy Pháp
Vũ
Bi,
trí tương ứng th́ gọi là Bồ Đề tâm.
Đă phát cái tâm ấy th́ mới đạt được
vô tác giới. Lại cần phải trong mười hai thời,
thường tự phản tỉnh, soi xét, tức là mỗi
niệm đều tương ứng th́ mỗi niệm
đều thành Phật. Hễ có chút ǵ không phù hợp, sẽ
nghĩ là mắc tội thất ư[43]
nơi Bồ Tát giới. Hăy suy nghĩ cẩn thận, tận
lực mà hành.
* Chỉ dạy Tây
Chiêm
Có
ba thứ chướng
có thể khiến cho giới đức hư bại, khiến
cho tín tâm thoái thất. Một là nóng giận, ngang ngược
năo hại cả ḿnh lẫn người. Hai là ngă mạn,
sanh ḷng khinh thường đối với các Tăng Bảo.
Ba là giải đăi, chẳng chịu học tập các diệu
pháp. Hễ có một trong ba pháp ấy, sẽ bị lôi vào
đường ác, đánh mất tín tâm.
* Chỉ dạy Phí Trí
Lan
Học
chẳng khó, nỗ lực tự tu. Khó thân cận tri thức,
chẳng khó cao luận danh từ, lư luận. Khó ở chỗ
tự ḿnh thật sự thực hiện. Bởi lẽ, chỉ
cậy vào tánh linh của chính ḿnh, sẽ tu tập sai lầm
lắm nỗi! Tôn trọng thầy, quư bạn, huân tập
thành tánh, chẳng bàn huyền diệu suông. Bánh vẽ chẳng
ích ǵ cho bụng đói! Chân thật hành tŕ, những ǵ
được tiếp xúc không ǵ chẳng phải là duyên.
Xin hăy coi “phóng
sanh, ít ham muốn”
là điều trọng yếu, là cái nhân trường thọ,
là cái đạo để dưỡng thân, sẽ có thể
đạt được vô duyên đại từ, thành tựu
phạm hạnh thanh tịnh. Ghi tạc điều ấy
trong tâm, lâu ngày sẽ tự thành pháp chủng.
* Chỉ dạy Từ
Môn
Tông
Đạt Ma siêu t́nh ly kiến, vượt xa ngoài khuôn khổ.
Gần đây, mỗi phái đều lập môn đ́nh,
đua nhau sanh ra các khuôn sáo, ngỡ thoại đầu là thật
pháp, dùng “đánh, hét” làm gia phong, đẽo gọt cơ
duyên, bịa đặt công án, báng bổ, gièm xiểm cổ
nhân, tăng trưởng hư luận. Không chỉ tiếp nối
hư vọng, lại c̣n khoe lỗi lạc hơn người!
Nói tới rất đáng hổ thẹn, nghĩ tới
đáng đau thương! Chỉ có Hám ông (Hám Sơn đại
sư) có kim cang nhăn, thấy rơ thói tệ đương thời,
nói lời phương tiện để làm thuốc chữa
bệnh, chú giải kinh, soạn luận để đả
động nỗi kiêng kỵ trong đương thời,
trọn chẳng tạo lập môn đ́nh, chẳng đề
xướng bất chánh kiến[44],
khiến cho kẻ cuồng uế có cơ hội chơ mồm!
Ôi! Đấy là nỗi khổ tâm của bậc đại
Bồ Tát hộ pháp, của bậc đại sư phụng
thị Bồ Tát. Ngài lại dạo chơi nơi Vân Môn Bác
Sơn, nhận biết cương tông vốn chẳng có
thật pháp, thuốc chẳng phải là thuốc cố
định, bệnh chẳng phải là bệnh cố
định, khéo dùng các toa thuốc, chỗ yếu kém đều
thành ưu điểm. Chẳng khéo hiểu ư đại
sư, chỗ ưu điểm cũng thành khuyết điểm.
Người học nếu chẳng có con mắt tham học
các phương thuốc, th́ mới trừ được
một bệnh, bệnh khác lại nẩy sanh ngay. Cần
phải thoát khỏi khuôn sáo nơi thói tục, đích xác
hướng đến chỗ đặt gót chân để
thấu triệt. Chân Thiền, chân Giáo, chân Luật th́ mới
chẳng phụ v́ đại sư đích thân chầu hầu
vậy!
* Chỉ dạy Bành
Song Tuyền
Đă
có cái tâm sanh tử và con mắt tham cứu đủ mọi
phương thuốc, chẳng thể không kịp thời
nỗ lực, tùy sự mà chú trọng, tùy duyên vận dụng
chân tâm để thấu hiểu[45].
Cảnh tượng nơi bổn địa tuy ch́m lấp,
nhưng nó vẫn tỏ lộ khắp nơi, chỉ v́ mắt
chậm, chân trễ, lắm nỗi lỡ làng! Có thể nhẹ
nhàng thấy thấu suốt trần lao, Bồ Đề,
Niết Bàn đang hiển hiện toàn thân trong phiền năo,
sanh tử. Nếu đích xác thấy chánh nhân chân tánh của
Bồ Đề, Niết Bàn, sẽ có thể xứng tánh
khởi phát duyên tu và liễu tu. Nay đối với duyên
nhân và liễu nhân, nêu ra hai loại trọng yếu nhất
để làm phương tiện thoát sanh tử: Một là
phát Bồ Đề tâm, thọ Bồ Tát giới. Hai là
hăm hở làm phước, đối với chánh nhân,
nêu ra chuyện chân thật nhất để làm
phương cách quy hướng. Đó chính là Tịnh Độ,
dùng hai hạnh trọng yếu để tiến hướng
địa vị Nhất Thật. Tùy thuộc quán hạnh
sâu hay cạn mà tùy ư thanh tịnh bốn cơi [Tịnh Độ].
Cho tới khi Tam Hoặc đă hết sạch, hai thứ tử
(Biến Dịch và Phần Đoạn) đă mất, ắt
sẽ là thượng thượng phẩm nơi Tịch
Quang rốt ráo.
* Chỉ dạy Tượng
Nham
Như
Lai nói ba loại sự nghiệp xuất gia là tọa Thiền,
đọc tụng, và tạo tác các thứ phước nghiệp.
Bất cứ tu một loại nào, cũng đều siêu
thoát sanh tử, thành tựu Bồ Đề, nhưng tu tập
ắt phải tùy thuộc căn cơ. Bệnh chẳng
đúng thuốc, chỉ uổng tăng thêm vướng mắc.
Hoặc là một môn [tu tập] đến cùng, hoặc lần
lượt giúp lẫn nhau. Nhưng nếu chính ḿnh chẳng
có đạo nhăn,
th́ cần phải có thiện hữu dạy bảo. Như
người bệnh nặng, cần phải tin tưởng
lương y. Nếu tin vào ư nghĩ của chính ḿnh, thuốc nên uống
mà chẳng uống, điều nên kỵ mà chẳng kỵ,
bệnh vặt c̣n dẫn đến bệnh
chí tử, bệnh ngặt sao lành được? Nay
đang lúc kẻ Thiền ḥa[46]
mất trí bệnh cuồng, không hổ thẹn gây ảnh
hưởng trộm cắp, tước đoạt, nghe họ
nói năng th́ vượt xa Phật, Tổ, nhưng xét
đến hạnh th́ c̣n tệ hơn chó, lợn!
Lại có hạng
người khiếp nhược, tập khí ngă tướng
chẳng buông xuống được, chẳng gỡ nổi xiềng
xích danh lợi, hy vọng kiếm được một
con đường thích hợp với tánh ưa tiện
nghi của họ, chẳng chịu triệt để
hướng theo một môn để thấu đạt.
Thiền chẳng ra Thiền, Giáo chẳng thành Giáo, Luật
không thành Luật, hạnh môn chẳng phải là hạnh
môn, [chỉ là] mường tượng phảng phất.
Qua quưt, cẩu thả, sống lơ mơ một đời,
chẳng có mảy may
lợi ích thật sự, trăm ngàn vạn
kiếp, vẫn ở trong sanh tử y như cũ.
Nếu đích xác cầu
thoát sanh tử, chứng Bồ Đề, trước hết,
hăy tận t́nh nhận biết, phá trừ
các thói xấu “nói Thiền suông” trong thời
gần đây , tận t́nh buông bỏ các chủ ư đoán ṃ
của chính ḿnh từ trước tới nay, tận t́nh
quét sạch sành sanh các tập khí “nhuyễn noăn”[47],
tận t́nh quăng sạch thân mạng mộng huyễn, tận
t́nh thấy thấu suốt chỗ lợi ích chân thật
nơi các thứ cảnh giới ác nghịch, tận t́nh
coi các
thứ cảnh giới vừa ư như danh
lợi, thanh sắc, uống ăn, quần áo, khen ngợi,
cúng dường tợ hồ thuốc
độc,
hay mũi tên độc. Có thể hàng phục
như thế, dẫu chẳng tĩnh tọa một nén
hương, chẳng xem một câu kinh, vẫn bảo đảm
có phần thoát sanh tử! Nếu không thống thiết dùi
mài, sửa chữa
khuyết điểm, cứ toan hướng về pháp mà dấy
lên kiến chấp, dẫu tĩnh tọa tám vạn bốn
ngàn kiếp, thông suốt trọn hết Tam Tạng mười
hai bộ kinh, chỉ giống như vô sự sống qua
ngày, hễ gặp thuận duyên, vẫn y như cũ bị
nó lôi đi! Hễ
gặp nghịch duyên, vẫn hệt như cũ bị nó
đánh gục! Hễ chẳng giác sát, sẽ y như cũ
rơi vào vô kư (chẳng thiện, chẳng ác), sao có thể
xuất sanh tử, đến được Tây
Phương, thành Vô Thượng Bồ Đề?
Kinh Viên Giác dạy: “Mạt
thế chúng sanh vô linh cầu ngộ, duy ích đa văn,
tăng trưởng ngă kiến, đản đương
tinh cần, hàng phục phiền năo” (Chúng sanh đời
Mạt nếu chẳng cầu ngộ, càng tăng thêm
đa văn, sẽ tăng trưởng ngă kiến. Chỉ
nên siêng ṛng hàng phục phiền năo). Cần phải biết:
Tọa Thiền, đọc tụng, làm phước, đều
có thể tăng trưởng ngă kiến, mà cũng có thể
hàng phục phiền năo. Chỉ nên suy xét kỹ lưỡng
chuyện ǵ thân thiết với chính ḿnh nhất,
tương ứng với gốc bệnh nhất. Nay ông
đă mấy năm học vấn chẳng thành, một khi
nguyện trai tăng được thành tựu là có túc
duyên. Lại nữa, thân kiến nặng nề th́ phải nên dùng
khổ hạnh để tiêu trừ. Tham ái mạnh mẽ
th́ nên dùng cảnh khổ để rèn luyện. Núi nhân ngă
cao vót th́ dùng nghịch duyên để đập nát. Tâm thể
diện nặng nề th́ dùng nhẫn nhục để trị.
Một dạ hướng theo môn ấy để thực
hiện thấu triệt, sẽ tự có thể vui chơi
trong trăm ngàn tam-muội, thông đạt vô lượng
pháp môn, so với khư khư ôm bồ đoàn, ê a
chương cú, sự khác biệt dẫu dùng cả kiếp
vẫn chẳng thể diễn tả được!
* Chỉ dạy Uẩn
Chi
Nghiên
cứu Phật pháp là nhiệm vụ trọng yếu bậc
nhất. Cái được chư Phật tôn làm thầy
chính là pháp, huống hồ đệ tử [Phật mà chẳng
tôn quư pháp] ư? Tuy thắng nghĩa pháp tánh quư ở chỗ
đích thân chứng, nhưng nếu chẳng có quyển
vàng, trục đỏ[48]
để làm ngón tay chỉ mặt trăng
ḥng chỉ dạy lẽ
xuất yếu chân thật trong tu hành, sẽ do đâu mà chứng
thắng nghĩa? Thử xem ngoại đạo, họ
cũng xuất gia cầu thoát sanh tử, nhưng do chẳng
biết chánh pháp, cầu thăng lên,
đâm ra rơi xuống. V́ thế, chẳng lưu tâm
nơi giáo điển, dẫu dũng mănh, tinh tấn, chắc
chắn sẽ trở thành ma tà, ngoại đạo. Hiếp
tôn giả[49]
xuất gia lúc tám mươi tuổi, ngày xem Tam Tạng,
đêm tu tập Thiền Tư, bèn được giải
thoát. Có kẻ lầm lạc bảo: “Tuổi trẻ, sức
mạnh, hăy nên học tập giáo điển. Tuổi già
suy, sức yếu, chỉ kham niệm Phật”. Há c̣n trẻ
chẳng cần niệm Phật, tuổi già chẳng cần
học kinh giáo ư? Đó là coi giáo pháp của Như Lai gần
giống như việc học hành của kẻ thi cử,
đánh cuộc danh lợi vào nửa đời người
ư? [Giáo pháp] một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn
trở thành hạt giống đạo. V́ vậy, bậc
đại sĩ xả toàn thân để cầu nửa bài
kệ[50].
Nay Phật pháp được lưu truyền nhờ vào bi
tâm triệt để của vị tổ là Ca Diếp và A
Nan. Mọi người đều mong an nhàn, trọn chẳng
biết Hằng sa thế giới, trong vô lượng kiếp,
c̣n chẳng thể được nghe danh xưng “diệu
pháp” nữa kia!
* Bốn bài chỉ dạy
về duyệt Đại Tạng
1) Cần
phải thấu hiểu bổn ư thuyết pháp của
Như Lai là mong con người sẽ siêu sanh thoát tử, chẳng
phải v́ miệng hay tai mà làm như thế. Câu nào cũng
đều tiêu quy tự tâm, tu hành đúng như lời dạy,
th́ mới chẳng phải là“kể chuyện ăn,
đếm của báu”.
2) Đạo học vấn
quư ở chỗ dưới học, trên đạt. Do vậy,
Như Lai thí giáo ắt có thứ tự. Người thời
nay bụng rỗng tuếch, tâm cao ngất nghểu,
chỉ mong cầu cái danh viên đốn, chẳng có sức
uống cạn nước sông, sao có thể nuốt biển?
Ắt phải duyệt Luật Tạng trước, biết
rành rẽ quy củ thơm thảo thời đức Phật
“rèn luyện sâu xa” là nhiệm vụ trọng yếu của
Tăng. Kế đến, duyệt Tứ A Hàm[51],
hiểu rơ cảnh duyên nơi chánh nhân chính là cái gốc của
Tam Quán viên diệu. Kế đó, lưu tâm giáo pháp của
tông Thiên Thai, biết sâu xa sự mầu nhiệm nơi
nguyên do thuyết pháp của Như Lai, và chỗ rốt ráo
khéo độ của Tứ Tất Đàn. Sau đấy, mới
đem cái ch́a khóa pháp giới để mở ổ khóa
nơi trọn khắp kinh luận chẳng thể nghĩ
bàn, sẽ là thế như chẻ tre.
3) Duyệt Luật
đầu tiên là Tứ Phần, kế đến là [Ma Ha]
Tăng Kỳ[52],
kế đó là Thập Tụng[53],
kế đó là căn bản. Kế đó là Ngũ Phần[54].
Kế đó là Thiện Kiến Tỳ Ni Mẫu v.v… Các tông
phái truyền dạy bất đồng, mỗi đằng
đều có nguyên ủy, đầu mối, cần phải
t́m kỹ. Đừng chấp một [bộ luật], phủ
định các bộ luật khác, cũng đừng do dự
giữa hai loại. Cốt sao hiểu được ư,
khéo sử dụng. Đại ư như trong phần Vấn
Biện đă nói rơ, đừng bảo “đấy là pháp Tiểu
Thừa,
chẳng đáng để lưu tâm lâu dài, hăy nên bỏ
đi để tham cứu pháp thượng thừa khác!”
Đó là tà mạn ác kiến của kẻ si trong thời Mạt,
lôi người đọa vào hầm sâu ác đạo. Chớ
nên tin theo!
4) Kinh luật luận
Đại, Tiểu Thừa, tuy mỗi chữ như minh
châu, từng lời đều kiến Đế, nhưng
mỗi người do tập khí nặng nề khác nhau, phải
[chọn lựa pháp] đối trị thích hợp. Hoặc
do thói tệ mỗi thời bất đồng, nên cứu
vớt có sai khác, chẳng ngại trích xuất những lời
trọng yếu, mong sao tự lợi, lợi ích người
khác. Như trong Tuyết Sơn, không ǵ chẳng phải là
thuốc, thu nhặt th́ chỉ mong [hái lấy thuốc] trị
đúng bệnh. Núi báu th́ không ǵ chẳng phải là báu,
nhưng nhặt lấy th́ chọn ma-ni trước. Chỉ
là những tác phẩm
đă hoàn chỉnh ấy
đáng để suy nghiệm, thực hiện.
* Chỉ dạy Lăng
Dung
Vạn
pháp vốn dung thông, do mê t́nh chấp trước mà thành
chướng ngại, như một ngón tay có thể che lấp
núi non, chấp vào bọt biển, ắt bỏ sót biển
cả. Không chỉ mai một linh tánh của chính ḿnh, mà c̣n
oan khuất cảnh giới lục trần! Sao không nghĩ
sáu trần chẳng thể mê hoặc người, [mà do]
con người tự
hư vọng mê hoặc, hư huyễn rong ruổi theo mỗi
căn, thức nào cũng nhiễu động, suy cầu cặn
kẽ, trần đă chẳng thể gánh lỗi ấy?
Căn cũng há có
biết tội ấy, há riêng thức gánh cái
tội ấy? Phân tích ba khoa (căn,
trần, thức) đă không có chủ nhân thật sự, dẫu
ép chúng hợp chung lại, há có thật pháp? Nhưng trong
pháp hư vọng ấy, chấp ta, chấp người,
chia thành lấy, chia thành bỏ. Giống như dụi mắt,
hoa đốm tán loạn phát sanh, lại muốn phân biệt
tướng của hoa đốm đẹp, xấu, lớn,
nhỏ, chẳng càng tăng thêm Hoặc ư? Chỉ có
đem thân, tâm, thế giới toàn thể buông xuống,
để làm một cách quán vượt ngoài ngằn mé, có công dụng
đặc biệt! Ví như v́ thiên hạ mà chẳng
đoái hoài nhà cửa [của chính ḿnh], ắt trí nhăn rạng
ngời, hết thảy cảnh giới không ǵ chẳng phải
là chỗ để thọ dụng chân thật!
* Chỉ dạy về
Tam Chỉ
Tỏ
ngộ rơ ràng
mà tịch tịch th́ là đúng, vô kư
(chẳng thiện, chẳng ác, cứ trơ trơ chẳng
biết đúng sai) mà tịch tịch th́
là sai.
Tịch tịch mà tỏ ngộ rơ ràng
th́ là đúng. Tuy hiểu rành rẽ mà dấy vọng tưởng
th́ là sai. Bốn câu ấy thường được tranh
căi trong chốn tùng lâm hay giảng ṭa, nhưng phải ngộ
được đầu mối của “tỉnh” (惺,
tỏ ngộ rơ ràng) và “tịch” (寂) th́ mới chẳng
vào chấp giữ khuôn sáo của tinh hồn (精魂, tinh thần hồn phách).
Như Nho gia cũng nói “như gương sáng, nước
lặng”, “thận độc” (慎獨, cẩn thận giữ
lễ dẫu ở một ḿnh), há chẳng phải
là đường lối mầu nhiệm để tu hành
Xa-ma-tha ư? Tổ nói: “Người quán là ai? Tâm là vật
nào?” Hai lời ấy đúng là đập nát Biến Kế
vọng tưởng, trăm điều xen tạp. Dùng
điều đó thấu hiểu lẽ chân, dùng
phương tiện này để tùy duyên. Dùng điều
này để dứt phân biệt Nhị Biên. Trong một
câu, có ba điều huyền nhiệm! Thế nào gọi
Độc (獨,
riêng một ḿnh)? V́ ai mà cẩn thận?
Không chỉ vọng tưởng vô kư chẳng có chỗ
để dung thân, mà “tỉnh, tịch” cũng trọn
chẳng có chỗ để đặt chân. Chẳng tỉnh,
chẳng tịch, đó gọi là “tịch tịch tỉnh
tỉnh, tỉnh tỉnh tịch tịch” (tuy lặng lẽ
mà tỏ ngộ rơ ràng, tuy tỏ ngộ rơ ràng mà vẫn lặng
lẽ). Nếu gọi là “bất nhị” th́ đă sớm
trở thành hai thứ mất rồi! Huống cùng vận dụng
hai thứ tu tập ư? Ngộ điều này để
trở thành sự tu tập; đó chính là Nhất Tâm Tam Chỉ.
* Chỉ dạy Văn
Ước
Người
tu tập công phu thường bị hôn trầm, tán loạn
quấy nhiễu, lâu ngày sẽ thoái thất, hối hận,
do chẳng biết “cội nguồn của hôn trầm, tán
loạn, hoàn toàn là do mê chính ḿnh”, cứ ngỡ nó là vật
[nào khác]. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhận ngộ trung mê, hối
muội vi không, năi chí hôn nhiễu nhiễu tướng,
dĩ vi tâm tánh” (Do mê nơi sự nhận biết, giác
ngộ, mờ mịt ngỡ cái tướng từ rỗng
không cho đến nhiễu loạn, rối ren là tâm tánh).
Hôn trầm chướng huệ, nhiễu loạn chướng
Định. Định và Huệ đă bị chướng,
tức mê ngủ và tán loạn xen nhau hiện ra. Nếu muốn
trừ khử từ cội nguồn, cần phải nhận
biết “bản thể của tâm tánh từ trước
tới nay sáng suốt, tĩnh lặng”. Chư Phật
do chứng [tâm tánh] mà là Định Huệ, hành nhân tu đó
th́ thành Chỉ Quán. Công năng của
Chỉ Quán hoàn toàn chính là cái Thể của sự sáng suốt,
tĩnh lặng. Do tĩnh nên sáng suốt, do sáng suốt nên
tĩnh, chẳng phải là hai nẻo, há có trước sau!
Nhưng xét theo pháp môn
đối trị, người hôn trầm nặng th́ dùng
Quán để khởi; người lắm tán loạn th́
dùng Chỉ để dứt trừ. Nhưng Chỉ để
dứt tán loạn chẳng phải là không có Quán, há Quán
để phấn chấn
tinh thần nhằm
trừ khử hôn trầm có phải là
không có Chỉ? Chỉ Quán bất nhị, siêng tu chẳng dứt,
tự nhiên bản thể dần dần hiển lộ,
khách trần dần dần tiêu. Kẻ chấp trước
công phu, hoàn toàn bỏ phế hay gián đoạn đều
chẳng được, tánh gấp gáp cũng chẳng
được. Muốn trừ hôn cái (昏蓋, hôn trầm che lấp
tâm tánh), cần phải
thẳng thừng xốc dậy tinh thần, chớ nên tham
luyến ngồi yên ổn trên bồ đoàn. Muốn trừ
tán loạn, chẳng cần phải chán ghét vọng tưởng,
cần phải thẳng thừng thấy thấu suốt vọng
tưởng vô tánh. Có vị tăng hỏi ngài Nham Đầu[55]:
“Lúc khởi lên, diệt mất chẳng ngừng, th́ như thế
nào?” [Sư đáp]: “A! Ai khởi diệt?”
Đấy chính là tiên phong bậc nhất của người
minh tâm kiến tánh!
* Chỉ dạy Huệ
Tràng
Tôi
đọc sách của Tử Dư Thị[56],
đến phần vua Thuấn trọn hết đạo
phụng sự cha mẹ, cuối cùng [vua Thuấn] được
Cổ Tẩu[57]
yêu thích,
bèn thấy được ư chỉ trọng
yếu của đạo quán tâm viên đốn. Dẫu cha
tột bậc ương ngạnh, chẳng thể t́m cha
khác, lại chẳng thể như Tượng ngạo mạn
mà vâng theo mạng lệnh làm ác. Một niệm nhỏ nhoi
hiện tiền th́ vô minh là cha ương bướng, chính
là người cha thật sự của
pháp tánh, thuận theo ḍng vô minh, tạo nghiệp lưu chuyển; đó
là Tượng ngạo mạn. Bỏ vọng t́m chân, riêng
quán pháp tánh, lại trở thành phản bội cha, trốn
đi, thiện ác hơi khác, nhưng
đều là bất hiếu! Phàm phu trong sáu đường
thuận theo vô minh mà làm ác. Ba loại hành nhân Tạng, Thông,
Biệt bỏ vô minh trốn đi. Nếu biết Cổ Tẩu
đốt lẫm, lấp giếng cũng chính là Cổ Tẩu
ḥa hoăn, thương yêu, ắt sẽ trọn hết đạo
phụng sự cha mẹ nơi bản thân, há chịu làm
hai pháp thuận nghịch để hao hụt thiên tánh
ư? Cái được gọi là “trọn hết đạo
phụng sự cha mẹ” cũng chỉ là tin sâu “cha thật
sự sanh ra ta!” Trừ người cha ấy ra, chẳng
có vị cha thật sự nào nữa, nhưng trọn chẳng
thể vâng lệnh làm ác! Cần phải dốc cạn ḷng
thành Oán Mộ để trừ khử, dẫu ương
ngạnh như Cổ Tẩu cũng có thể hồi tâm,
huống hồ người chưa chắc đă giống
như Cổ Tẩu [mà chẳng hồi tâm] ư?
Quán tâm cũng thế,
tin sâu một niệm hiện tiền. Toàn thể pháp giới
ĺa sóng t́m nước, trọn chẳng thể được!
Trọn chớ nên thuận theo sự sanh diệt ấy, chẳng
chú trọng quan sát! Cần phải dùng Nhất Tâm Tam Quán chẳng nghĩ
bàn để thấu hiểu, thông đạt
sâu xa, ác tâm hoặc cái tâm vô kư c̣n có thể trở thành cảnh
chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ thiện tâm
ư? Biết một niệm trọn đủ Tam Đức,
hai tầng Lư Sự dung hội lẫn nhau trọn khắp
cơi tam thiên, sanh tín giải sâu xa th́ gọi là Mộ. Cảnh
ấy chẳng hiện là do sức Chỉ Quán nhỏ nhoi.
Hăy phát tâm siêng năng tinh tấn, thề dùng mười
pháp thành thừa[58]
th́ gọi là Oán. Nỗ lực như thế dẫu ngu
độn hơn Bàn Đà[59]
vẫn có ngày sáng tỏ! Nếu cứ ơ hờ, thờ
ơ, dẫu lợi căn như Lam Phất (Uất Đầu
Lam Phất)[60],
mẫn tiệp hơn Đạt Đa (Đề Bà Đạt
Đa) cũng không cứu được!
* Chỉ dạy Vị
Năng
Huyễn
cảnh xâm đoạt không chỉ là thuận theo thói tục
mà đều hóa trừ, ngay như ḷng chán nhàm thói tục,
tha thiết nghĩ xa ĺa,
th́ cũng gọi là “xâm đoạt”. Do hết thảy
các cảnh giới toàn là do vô minh biến hiện. Tánh của
vô minh biến hiện hoàn toàn là pháp tánh. Do chẳng thông
đạt, cho nên ngang ngược nẩy sanh ưa, chán.
Người hướng theo Bồ Đề chớ nên tùy
thuận huyễn cảnh, mà cũng chớ nên chán ĺa huyễn
cảnh, chỉ thấu hiểu huyễn cảnh chính là
pháp tánh, buồn bă v́ mê trong đêm dài. Do buồn v́ mê, nên khởi hai lời
thề Vô Tác,
muốn dẹp tan nỗi khổ nơi tánh đức. V́
hiểu rơ tánh, nên muốn ban cho sự vui nơi tánh đức.
Đă phát cái tâm ấy, hết thảy các cảnh giới
chẳng đúng pháp chạm vào mắt, khiến cho ḷng kinh hăi, không ǵ chẳng
phải là tư lương để giúp Bồ Tát phát khởi.
Khởi Tín Luận nói “Bồ Tát thấy pháp sắp diệt,
do hộ tŕ pháp mà phát Bồ Đề tâm. Có khi do thấy
chúng sanh khổ mà phát Bồ Đề tâm” chính là nói tới
điều này!
* Chỉ dạy Từ
Dục
Biển
cả Phật pháp, tín có thể nhập, trí có thể độ.
Tín như chiếc thuyền vững chắc, trí như
người cầm lái. Năm Độ, vạn
hạnh khác
đều là các thứ vật dụng trong thuyền. Cần
phải luôn luôn nghĩ tới nỗi khổ sanh tử, cảnh
tỉnh, ngộ biết vô thường, chớ nên ch́m mê
trong ngũ dục, chấp trước t́nh đời. Biết
t́nh đời chắc chắn khiến cho
ta chẳng thể liễu
sanh tử được. Ngũ dục chắc chắn
khiến ta rơi vào hầm buông lung, đọa trong nỗi
khổ ác đạo. Do tín tâm chân thật trong đêm dài sanh
tử, phát cái tâm ấy rồi, gấp cầu trí huệ
để làm vị thầy hướng dẫn, thứ nhất
là thân cận minh sư, bạn tốt, thứ hai là đọc
tụng Phương Đẳng Đại Thừa. Nếu
chẳng phải là thầy sáng, bạn lành,
quyết chẳng thể tạo lợi ích cho thân tâm của
ta. Chẳng phải Đại Thừa th́ quyết chẳng
có khuôn mẫu xuất thế chánh đáng. Người có
tín tâm mà chẳng có trí huệ, sẽ có thể tăng
trưởng phiền năo. Có trí huệ mà chẳng có tín tâm,
sẽ có thể tăng trưởng tà kiến. V́ thế,
thuyền và người cầm lái đều cần thiết
để vượt qua chỗ hiểm, khuyết một
chẳng thể được, huống hồ cùng thiếu
[cả hai] ư?
* Chỉ dạy Ca
Đề
Ư chỉ mầu nhiệm
của Pháp Hoa chỉ là “khiến cho chúng sanh khai thị
ngộ nhập tri kiến của Phật”. Tri kiến của
Phật chính là thật tánh của một niệm hiện
tiền. Một niệm nhỏ nhoi hiện tiền chẳng
tự sanh, chẳng do cái khác sanh ra, chẳng [do tự và
tha] cùng sanh, chẳng không có nhân mà sanh. Chưa sanh th́ không có
chỗ ẩn nấp, sắp sanh th́ không có chỗ đến,
lúc đang sanh th́ không có chỗ trụ. Lúc sanh rồi th́
không có chỗ đi. Tâm chẳng có tâm tướng, tánh của
nó vô sanh. Do vô sanh nên vô trụ, chẳng khác, chẳng diệt.
Chẳng có “sanh,
trụ, dị, diệt”, tức là chân pháp
tánh trọn khắp theo chiều ngang, tột cùng theo chiều
dọc chẳng thể nghĩ bàn. Nếu đối với
vô tướng diệu tâm này, hư vọng bảo là “có tâm
tướng để có thể được” th́ tri kiến
của Phật liền thành tri kiến của chúng sanh.
Nếu đối với
tướng
hư vọng, tâm hư huyễn ấy,
thông đạt nó chẳng phải là hữu tướng,
th́ tri kiến chúng sanh liền thành tri kiến của Phật.
Toàn thể của tâm tánh đă hoàn toàn là không, cũng lại
tức Giả, tức Trung. Do Tam Đế rành rành, cho nên
pháp Tam Quán cũng thế. Do Tam Quán pháp vốn sẵn
như vậy, chiếu soi Tam Đế rành rành, Năng và Sở
chẳng hai, cảnh và trí dung thông lẫn nhau. Tín giải
điều này th́ gọi là Tùy Hỷ. Hiểu nghĩa, xem
văn th́ gọi là Độc Tụng. Dạy lại cho
người khác th́ gọi là Giảng Thuyết. Trải qua
sự việc để rèn luyện cái tâm th́ gọi là Kiêm
Tu và Chánh Tu. Hai
an lạc hạnh
hữu tướng và vô tướng một
bề xuyên suốt, chỉ cốt sao dốc trọn ḷng
tin, tận lực thực hiện, chẳng có phương
tiện lạ lùng, hay khéo nào khác!
* Chỉ dạy Nhũ
Sanh
Gởi
thân nơi hải đảo, Bá Nha giỏi đàn, do dốc
trọn t́nh cảm [vào đấy]. Trông thấy con gà gỗ,
các con gà khác chạy mất; đó là do thần thái toàn vẹn.
Tài khéo nhỏ nhặt trong
thế gian c̣n chẳng thể là chuyện nói chơi, huống
hồ học đại đạo xuất thế, gánh vác
chánh pháp của Như Lai ư? Phép quán Thập Thừa viên
đốn ắt trước hết dùng hai mươi
lăm môn tiền phương tiện, tức là trọn
đủ năm duyên, quở trách ngũ dục, vứt bỏ
ngũ cái[61],
điều phục ngũ sự, tu năm pháp; đó chính
là hai mươi lăm sự. Mỗi mỗi đều có
sự biểu pháp và pháp môn quán tâm. Sau đấy, chánh và trợ
cùng hành, Lư và Sự cùng
trọn, mắt và chân cùng vận dụng, an ổn vào trong
ao thanh lương. Sau đấy, kẻ chỉ đọc
sách [mà không thật sự tu hành], phường nói suông, mặc
t́nh tự ư khoe khoang đạt một thứ kiến giải
họ đạt được, chẳng thấu đạt
khuôn phép rộng lớn. Dùng cái học vấn kém cỏi, vụn
vặt ấy để cầu tài khéo thế gian, c̣n khốn
khó lắm thay! Đặt chân vào hai nẻo Tông và Giáo,
nghĩ tự lợi, lợi người, [cứ dùng loại
học vấn ấy], đúng là khó mong chi! Người học
chân chánh ắt trước hết đổi dời t́nh kiến
cũ
th́ tinh thần toàn vẹn. Các thứ
t́nh kiến lôi kéo, tuy ngàn muôn sai khác, nói chung chẳng ngoài
năm thứ là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Hễ
tinh thần thiếu hụt, tuy mắc bệnh khác nhau,
nhưng nói chung chẳng ngoài năm thứ tham, sân, ngủ
mê, lao chao, và nghi. Gấp phải nên quở trách, vứt bỏ,
th́ sẽ có thể đạt tới địa vị
thánh hiền!
* Chỉ dạy Huyền
Kính
Cái
tâm sốt sắng ai nấy đều có, nhưng chẳng
thể không nhờ vào ngoại duyên [để kích phát]. Cái
tâm xấu hổ, ghét bỏ ai nấy đều có,
nhưng chẳng thể không ch́m lỉm trong
tập khí ác. Than ôi! Bạn lành khó gặp, ác duyên một bề
lẫy lừng! Nếu chẳng nhá đinh, nhai sắt, khắc
cốt, tạc dạ, sao có thể tự dẹp trừ
cho được!
* Chỉ dạy
Tĩnh Huyền
Cái Thể “tự tha bất
nhị” gọi là Huyền. Hạnh “tự lợi, lợi
tha” gọi là Tĩnh. Có thể ngộ huyền thể,
tánh vốn tự tĩnh. Có thể tĩnh là Công,
có thể thấu hiểu huyền thể. Đấy chính
là ư chỉ chân thật của “tánh tu bất nhị”.
Kiến Tư đă tĩnh th́ mới biết Chân Đế
vốn huyền. Trần Sa đă tĩnh th́ mới biết
Tục Đế vốn huyền. Vô Minh tĩnh th́ mới
biết Trung Đế vốn huyền. Đă hiểu tam
huyền, mới biết ba Hoặc của chúng sanh cũng
vốn tĩnh. Kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) dạy:
“Cuồng tâm đốn hiết, hiết tức Bồ
Đề” (Cuồng tâm nhanh chóng dứt, hễ dứt
th́ chính là Bồ Đề). Một người phát khởi
sự trở về nguồn chân thật, mười
phương hư không thảy đều tiêu mất. Kinh
Pháp Hoa dạy: “Như Lai như thật tri kiến tam giới
chi tướng, vô hữu sanh tử, nhược thoái,
nhược khuất đẳng” (Như Lai đúng
như thật thấy biết tướng tam giới chẳng
có sanh tử, hoặc thoái, hoặc khuất v.v…) Ôi! Có thể
ngộ tánh tu xen lẫn nhau mà thành!
* Chỉ dạy Huyền
Ám (gồm hai bài)
1) Cổ
nhân nói: “Khi sáng suốt th́ chẳng tối tăm. Khi tối
tăm th́ không sáng suốt”. Đó là nghĩa khuynh đoạt
của tướng ấy. Lại c̣n ngay trong khi sáng suốt
bèn có tối tăm, ngay trong lúc tối tăm lại có sáng
suốt. Đấy là nghĩa chẳng khuynh đoạt của
tánh. Kinh Phật Đảnh dạy: “Minh năng phá ám”
(Sáng có thể phá tối). Đấy chính là “dùng chân để
dung hội vọng, toàn thể vọng trở thành chân”.
Chẳng phá, chẳng không phá, mà bàn luận về phá. Cần
phải biết: Tánh chẳng khuynh đoạt, toàn thể ở
trong tướng khuynh đoạt, nhưng trong tướng
hư vọng khuynh đoạt, toàn thể chẳng ĺa tánh
không khuynh đoạt. Biết tánh và tướng là hai mà chẳng
hai, chẳng hai mà là hai, sẽ biết “chẳng phải
phá, chẳng phải không phá, mà luận định phá”. “Chẳng phá, chẳng
không phá” th́ là tánh. “Phá” chính là diệu tu do
toàn thể tánh phát khởi. “Phá” chính là không có ǵ bị
phá, toàn thể tu ở nơi tánh. V́ khi sự sáng suốt
sanh ra, tối tăm chẳng bị trừ khử. Tối
tăm chẳng bị mất đi, tức là sáng suốt
chẳng hiện đến. Chẳng đến, chẳng
đi, tức là bất sanh, bất diệt. Như Thiền
nhân khi chưa nghe kinh, tâm tánh chẳng giảm, nhưng mờ
mịt
đối với diệu nghĩa.
Sau khi đă nghe kinh, huệ giải đốn khai, tâm tánh
chẳng tăng. Biết chẳng tăng giảm, tức
là biết “sáu
mà thường tức” (tức
là sẽ lần lượt chứng nhập Lục Tức).
Biết mờ mịt và dần khai phát
bất đồng, dần khai ngộ và viên ngộ viên chứng
chắc chắn bất đồng, tức là biết “tức mà thường sáu”. Xin hăy dùng điều này làm
phương tiện để tu tập bản lănh.
2) Nước tuy nhỏ
mà thường chảy, sẽ có thể xuyên thủng
đá. Một hành nhân ở Ngô Giang học Pháp Hoa, học suốt
nửa ngày chẳng thể nhớ nổi một câu. Ngày
đêm chẳng bỏ, [cứ cố gắng học như
thế] suốt sáu năm, bèn có thể tụng thuộc
ḷng toàn bộ. Pháp hữu huân tập đă nhiều, sở
dĩ chưa thâm nhập, thấm nhuần là do chưa tha
thiết. Tâm chí thành, thiết tha, pháp vị sẽ dạt
dào hiện tiền! Đă đạt được pháp vị,
muốn bỏ sẽ chẳng thể được! Chỉ
lo chẳng luôn tu tập, chẳng lo không vui sướng! Có
niềm phẫn chí quên ăn, mai sau sẽ có
niềm vui quên lo! Mong ông hăy đem pháp được nghe ôn
tập đừng quên, lâu ngày công sâu, sẽ rỗng rang
khai ngộ. Đă đạt được niềm vui pháp
hỷ, sẽ là cái duyên siêu thoát.
* Chỉ dạy chỉ
nên đạm bạc
Pháp
thế gian chỉ sợ chẳng nồng đậm, pháp
xuất thế chỉ sợ chẳng đạm bạc.
Con người chỉ đạm bạc th́ sự giao du sẽ
lâu bền. Đạo chỉ đạm bạc th́ sẽ
lâu dài chẳng chán. Niềm vui do luôn tu tập, niềm vui
do bạn bè t́m đến, [người khác] chẳng biết
[đến ḿnh] mà chẳng tức giận, đều là
tư vị trong sự đạm bạc. T́nh kiến Dục
Giới đạm bạc, sẽ đạt được
ly sanh hỷ lạc. T́nh kiến đối với Sơ
Thiền đạm bạc, sẽ đạt được
Định sanh hỷ lạc. T́nh kiến đối với
Nhị Thiền đạm bạc, sẽ đắc ly hỷ
diệu lạc. T́nh kiến đối với Tam Thiền
đạm bạc, sẽ đắc xả niệm thanh tịnh.
T́nh kiến đối với tam giới đạm bạc,
sẽ đắc tịch diệt Niết Bàn. Pháp ái đối
với tương tự đạo đạm bạc, sẽ
chứng tánh thường tịch diệt thuộc Trung
Đạo. V́ thế, tam thế Như Lai rốt ráo đạt
được sự đạm bạc ấy. Mười
phương Bồ Tát phần chứng sự đạm bạc
này. Thanh Văn,
Duyên Giác đạm bạc được một
phần. Lăo Tử, Trang Tử đạt được
h́nh bóng của sự ngấm ngầm đạm bạc. Muốn
thâm nhập pháp môn chữ Đạm, cần phải tận
t́nh buông xuống tập khí hư vọng nồng đậm
từ vô thỉ, buông tới mức không có chỗ để
có thể buông nữa, tánh đạm bạc tự nhiên hiện
tiền. Tánh đạm bạc đă hiện, cảnh giới
ngon lành của tam giới sẽ như nhai sáp! Một vị
Tăng mộng thấy cọp, kinh sợ tỉnh ngủ,
mừng rỡ nói: “Chẳng phải mộng th́ gần
như đă bị cọp ăn thịt rồi!” Kế
đó hối hận nói: “Đă biết là mộng, sao chẳng
biểu hiện t́nh cảm thông thường của con
người”. Ôi! Có thể tỉnh ngộ biết tánh chất
biến huyễn của tam giới, mà chẳng biết tánh
đạm bạc vậy thay!
* Chỉ dạy chỉ
nên lặng lẽ
Khổng
Tử nói: “Dư dục vô ngôn” (ta muốn chẳng nói
ǵ)[62].
Đức Phật dạy: “Ngô tứ thập cửu niên
bất tằng thuyết nhất tự” (Ta suốt bốn
mươi chín năm chưa từng nói một chữ).
Nhưng lục kinh, tứ thư[63],
Tam Tạng mười hai bộ thật sự là vật ǵ
vậy? Nếu coi bịt chặt miệng là Mặc (im lặng)
th́ những kẻ câm ngọng đă đều là thánh, là Phật
cả rồi! Nào có biết các pháp vô tánh, ngôn ngữ vốn
là không! Suốt ngày nói mà
chưa từng có nói. Suốt ngày chẳng nói mà chưa từng
không nói. V́ thế lại nói: “Thiên hà ngôn tai? Tứ thời
hành yên, bách vật sanh yên. Thiên hà ngôn tai?” (Trời có nói
ǵ đâu mà bốn mùa luân chuyển, trăm vật sanh thành,
trời có nói chi đâu?), “tôn giả vô thuyết, ngă năi vô
thính. Vô thuyết, vô thính, thị chân Bát Nhă” (tôn giả
không nói, tôi bèn chẳng nghe. Chẳng nói, chẳng nghe là Bát
Nhă chân thật)[64].
Suy diễn điều này đến mức cùng cực th́
vi trần nói, cơi nước nói, hừng hực, ba đời
đều nói chẳng gián đoạn cũng là như thế
mà thôi!
Nếu chưa thấu
đạt tận nguồn nói năng, im lặng, th́ nói là
tướng sanh của giác quán, im lặng là tướng diệt
của giác quán. Đă đọa vào t́nh kiến sanh diệt,
ắt nói năng hay nín lặng đều sai. Nếu khế
hợp mầu nhiệm trong hoàn vũ, nói th́ sẽ có thể
khai ngộ, mà im lặng cũng có
thể bí mật khuyên dụ, tức là nói
năng hay nín lặng, không ǵ chẳng phải là khéo nói. Nói
mà chẳng có tướng nói, im lặng mà chẳng có tướng
im lặng. Đó là nói năng hay nín lặng,
không ǵ chẳng phải là khéo im lặng. Người khéo
nói cho rằng chỉ có nói là được. Người
khéo nín lặng chỉ cho rằng nín lặng là được,
đều là pháp giới, pháp giới chẳng hai. Nói và nín
lặng chẳng hai, chẳng vay mượn lẫn nhau, chẳng
thành lẫn nhau, chẳng phá nhau, cũng chẳng mất
nhau, chẳng trở ngại nhau, cũng chẳng dung thông lẫn
nhau. Bản thể của chúng là thanh tịnh, dứt bặt
đối đăi, ĺa sự vi tế. Sự giải thoát của
chư Phật cầu
ngay trong tâm hạnh của phàm phu. Quán tâm vô tâm, nói hay nín lặng
sao c̣n có nữa? Nói và nín lặng vô tánh, nói và nín lặng
đều diệu. Đấy chính là đốn ngộ
duyên khởi vô sanh, vượt thoát sự tu chứng trải
nhiều kiếp của tam thừa!
* Chỉ dạy Hối
Hàm
Ngài
Sa Già Đà[65]
chẳng thể tụng thuộc một bài kệ, nhưng
do điều ḥa hơi thở bèn rỗng rang. Ngài A Na Luật
Đa mù cả hai mắt, bèn tu tam-muội, quán đại
thiên thế giới như trái cây trong ḷng bàn tay. Con người
thật sự chẳng coi biết nhiều, thấy nhiều
là quư. Pháp hữu chưa hiểu sâu xa liễu nghĩa,
nhưng dốc ḷng tin tưởng, ngưỡng mộ, lễ
bái, tŕ tụng sao cho lậm tận xương, lọt tận
tủy, công sâu, sẽ đắc lực, bỗng dưng
phát khởi một phẩm Toàn Đà La Ni, đích thân thấy
hội Linh Sơn thù thắng, sẽ cùng ngài Trí Giả nắm
tay cùng đi!
* Chỉ dạy Vị
Nhất
Chỗ
rốt ráo của thánh học (Nho giáo) là quyết chẳng
thỏa măn. Chỗ thực hiện là quyết chẳng ủy
mị. Khổng Tử dốc chí nơi việc học từ
lúc mười lăm tuổi; đấy chính là chí chẳng
thể đoạt. Chí đă lập rồi tâm mới chẳng
thể chán đủ, mong hiểu cùng tận nguồn của
tánh mạng. Ấy là tự mong cao xa, phải chọn lọc
nghiêm ngặt. Chọn lọc nghiêm ngặt th́ chẳng phải
chỉ một ngày là đủ, chẳng chịu tự
ngưng nửa vời! Nghiêu, Thuấn c̣n có khuyết điểm,
vua Vũ kính lạy người nói lời tốt lành. Vua
Thang có phẩm đức biết hổ thẹn “mong được
nghe đạo chưa thấy, chưa thể giảm bớt
lỗi”. Người có ḷng nhân như bậc thánh há dám
[tự cho đức hạnh của chính ḿnh đă đủ]?
Đều là do biết rơ sâu xa tận
nguồn, thấu tận đáy tánh mạng, chẳng phải
là bậc đại giác sẽ không thể hiểu rốt
ráo! Hễ thấu đạt rốt ráo một thứ, sẽ
hiểu rốt ráo hết thảy. “Con, bầy tôi, em, bạn,
Khâu (Khổng Tử) trọn chẳng thể làm tṛn một
bổn phận nào”. Càng chẳng thể không càng thêm ghé
vai gánh vác
chẳng ngơi! Nếu không, Dạ
Lang[66]
tự phong, nhơn nhơn tự đắc, như gă nghèo
có được một nén vàng, bèn chí kiêu, ư tự măn, sao
có thể bước vào đại đạo cho được?
* Chỉ dạy Tấn
Như
Mạnh
Tử nói: “Nhân năng sung vô thọ nhĩ nhữ chi thật,
vô sở văng nhi bất vi nghĩa dă” (người có thể
khiến cho chính ḿnh chẳng bị người khác có những
hành vi, lời lẽ khinh bỉ, th́ ngôn hạnh cử chỉ
của chính ḿnh không ǵ chẳng hợp lễ nghĩa)[67].
Điều này đại lược tương đồng
với ư chỉ “chẳng có tướng ta, tướng
người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả
để tu hết thảy các pháp”. Như vậy th́ danh
xưng Nhĩ hay Nhữ[68]
cũng có ǵ đáng xấu hổ? Thực chất của
Nhĩ, Nhữ th́ đúng là chẳng nên tiếp nhận. Kiến
Tư đoạn th́ Nhĩ, Nhữ chẳng thọ sanh tử.
Trần Sa đoạn th́ Nhĩ, Nhữ chẳng thọ khô
tịch. Vô minh đoạn th́ Nhĩ Nhữ chẳng thọ
biến dịch. Thật sự có thể chẳng bị
người khác khinh bỉ th́ trọn hết đại
địa là chính ḿnh. Trọn đại địa là chính
ḿnh th́ sẽ tu hết thảy thiện pháp để lợi
ích chúng sanh trong đại địa, há c̣n dùng danh xưng
Nhĩ, Nhữ để tranh giành với cơi đời nữa
ư?
* Chỉ dạy Dung Am
Giáo
Quán ví như chất béo và lửa, từ đầu tới
cuối cần lẫn nhau[69].
V́ thế, ĺa Giáo Quán, tâm sẽ tối tăm. Mê tâm chạy
theo Giáo là “phù” (hời hợt), “phù” th́ mờ mịt, không
chỗ trở về. Tối tăm th́ càng hướng theo,
càng ngụy. Đó chính là Thiền và Giáo
thời Mạt; do vậy, danh thịnh mà thực chất
suy. Cần phải biết: Hết thảy liễu
nghĩa Đại Thừa và công án của chư Tổ
đều là cước chú cho một niệm hiện tiền
của ta. Nói tới, nói lui, nói chung chẳng ĺa một cái
tâm của ta. Cái tâm ấy của ta toàn thể chân trở
thành vọng, nhưng
toàn thể vọng chính là chân. Nếu
chẳng thể ngay lập tức phản quán, tánh “linh
tri, linh giác” sẽ luôn bị hết thảy các pháp hạn
cuộc. Dẫu Huệ đă thành Tứ Biện, Định
đă nhập Tứ Không, vẫn y như cũ, mê chính ḿnh
cho là vật, ngỡ vật là chính ḿnh. Nếu có thể
quán thẳng thừng một niệm hiện tiền,
đích xác chẳng ở trong, ngoài, trung gian, vô thể, vô
tướng, không h́nh ảnh, không tung tích, chỉ cần có
một pháp nơi t́nh kiến th́ [t́nh kiến ấy] đều
là do tâm hiện ra, trọn chẳng
phải là [bản thân] cái tâm có thể
hiện. Cái có thể hiện tuy nói “lượng như
hư không”, nhưng cũng chẳng có h́nh tướng
hư không để có thể đạt được! Nếu
có một cái tiêu chuẩn để suy xét trong t́nh kiến
đối với hư không, nó sẽ lại là Tướng
Phần chỉ do tâm hiện. Giữ sao cho trong hết thảy
mọi lúc đều rành rẽ, sáng suốt, rỗng rang,
nhưng cũng chẳng cho rằng cái rành rẽ, sáng suốt
ấy là tâm, v́ cái Thể của tâm là “ĺa lỗi, dứt
sai” chẳng thể nghĩ bàn. Biết rơ hết thảy
duy tâm, tâm chẳng phải hết thảy, bỗng dưng
khế nhập bản thể, hết thảy lời lẽ,
công án không ǵ chẳng cùng thấu suốt rành rẽ!
* Chỉ dạy Mật
Nghệ
Cụ
nội của ông là Tụng Trửu Công là bạn tôi, tới
t́m tôi trong cảnh băng tuyết chồng chất, bất
chấp ba ngàn dặm mệt nhọc. V́ thế, tôi cũng
ôm bệnh đến gặp, cụ không chịu ăn,
đáp ứng một câu xong, bèn thị hiện bị bệnh.
Vừa nhắc tới bổn nguyện Tây Phương, cụ
bèn có thể buông xuống muôn duyên, vui tươi, ngồi
qua đời, há chẳng phải là lúc thường nhật cụ
khát ngưỡng thầy bạn, cho nên được
hưởng phước báo ấy trong lúc ra đi đấy
chăng? Cụ nội của ông đă khuất. Tới
nay, hễ nghĩ đến sự nhọc nhằn cụ
đă trải qua trong lúc băng sương rét buốt, chí
hướng rỗng rang tiếp nhận những thử
thách, vẫn đáng khiến cho người khác đau ḷng,
bùi ngùi. Kế tục chí hướng, trần thuật hành
trạng của cụ chính là trách nhiệm của chính ông.
Hăy nghĩ xem! Chuyện đời hư huyễn, mạng
người vô thường, hăy nên mở rộng nhăn giới,
xốc dậy tinh thần, nhọc nhằn cái thân sao cho khỏi
rơi vào hầm an nhàn, buông lung độc hại. Thôi thúc
ư chí, đừng noi
theo vết tích qua quít, cẩu thả. Bỏ xa xỉ, chế
ngự ham muốn, tích tụ hạnh, giữ ḷng thành, tiếc
phước, diên thọ để mong có thành tựu lớn
lao.
Ông
thật sự trong khi tĩnh tọa, lặng
lẽ suy nghĩ, [quán sát] tánh thấy nghe chỉ ngay trong một
niệm hiện tiền này vốn chẳng có giới hạn
trong ngoài, mà cũng chẳng phải có hay không có tiêu chuẩn
để suy xét theo t́nh kiến, sao lại bị hạn cuộc
bởi h́nh chất hư vọng của pháp này, pháp kia? H́nh
chất hư vọng th́ hễ sanh ắt có diệt, dẫu
ngàn cách ǵn giữ, trân trọng, vẫn chẳng thể khiến
cho nó không hư nát! Nhưng huyễn nghiệp đă trót tạo
sẽ như bóng theo h́nh, từ kiếp này sang kiếp khác,
chẳng chịu tách ĺa. Bậc hào kiệt trước hết
cần phải thấy thấu suốt Không, [nhận rơ]
thân h́nh chẳng phải là ngă, bất quá nó giả nhờ
vào Tứ Đại mà h́nh thành. Tâm cũng vô tướng, bất
quá do t́nh trần mà hư vọng thấy sanh diệt, liền
nhanh chóng xả t́nh trần, chuyên tâm tu đạo, kiêm Luật, kiêm Giáo, ḥng giúp hiển lộ
nguồn tâm. Chỉ cần ngộ tâm, muôn pháp há tồn tại?
Vạn pháp đều dứt bặt, vạn pháp đều
trọn đủ!
* Chỉ dạy Nguyên Ấn
Đạo
“lập thân hành kỷ”[70]
th́ chí phải cương nghị, tánh khí
phải mềm mỏng. Chí chẳng cương nghị,
cương quyết, sẽ chẳng thể đủ thành
tựu phẩm cách ngàn đời. Tánh khí chẳng mềm mỏng,
sẽ chẳng đủ để uốn nắn tập
khí nhiều đời. Sở dĩ chúng sanh ch́m đắm
trong biển khổ, chẳng có ǵ khác, do cứ mặc t́nh
thích ư, ưa thuận, ghét nghịch, chẳng sâu xa cầu lẽ
xuất yếu. Kinh Thư có câu: “Ngôn nghịch nhữ, tất
cầu chư đạo. Ngôn tốn nhữ, tất cầu
chư phi đạo” (đối với lời lẽ
khiến ngươi trái ư, nhất định phải
căn cứ trên đạo nghĩa để suy cầu;
đối với lời lẽ khiến ngươi đẹp
dạ, nhất định phải suy
xét theo phương diện chẳng hợp
đạo nghĩa)[71].
Làm vua mà c̣n phải như thế, huống hồ bậc
trượng phu xuất thế ư? Bậc xuất thế
trượng phu lấy Phật, Tổ làm mục tiêu mong mỏi,
lấy Tứ Hoằng làm bằng khoán, lấy Lục Độ
vạn hạnh làm trà, cơm thường ngày trong nhà, coi tự
lợi, lợi tha là mục đích. Hễ thốt ra một
lời mà chẳng đủ tự
lợi, lợi tha, đừng nói! Bước một
bước, khởi một niệm, mà chẳng đủ
tự lợi, lợi tha, chớ làm, chớ nghĩ! Nếu
chuyện có ích cho thân tâm, có lợi cho sự giáo hóa nơi
pháp, ắt gắng công thực hiện. Dẫu nhọc nhằn,
khốn khổ, chớ ngại ngần! Nếu không, dẫu
có danh lợi hư huyễn, hời hợt, chẳng đếm xỉa tới!
Hăy lắng ḷng, vững
chí, rộng mở cái tâm khiêm hư: Ai cũng đều có
thể là Nghiêu, Thuấn, khắp phố đều là thánh
nhân. Nói “ta chẳng thể thành Phật” chính là tự
vứt bỏ chính ḿnh. Biết [chính ḿnh] có thể thành Phật,
nhưng chẳng chịu nỗ lực hành Phật hạnh, chính là tự ruồng
rẫy. Chẳng tự vứt bỏ th́ chí cương quyết,
chẳng tự ruồng rẫy th́ tánh khí mềm mỏng.
Chí cương quyết th́ gốc lập, đạo sanh.
Tánh khí mềm mỏng th́ tự đạt được
bản lănh sâu xa. Chí cương quyết th́ trên có thể cầu
Phật đạo. Tánh khí mềm mỏng th́ có thể
dưới là giáo hóa chúng sanh. Chí cương quyết th́ có
thể gánh vác chúng sanh, tánh khí mềm mỏng th́ có thể
thừa sự chư Phật. Kinh Dịch nói: “Thiên hành kiện,
quân tử dĩ tự cường bất tức” (đạo
trời vận hành tốt đẹp, quân tử thuận
theo đó mà gắng sức hành xử đúng lẽ chẳng
ngơi nghỉ). “Dụng cửu kiến quần long vô
thủ,
cát” (xử sự ở mức độ
vừa phải, thích hợp th́ là tốt)[72].
Cứng cỏi mà mềm mỏng. “Địa thế
khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật” (quẻ
Khôn như đất, đức dày chuyên chở vật),
“dụng lục lợi vĩnh trinh”[73]
(dùng sáu hào Âm để biểu thị quẻ Khôn, tạo lợi
ích, nhưng vĩnh viễn không đánh mất bản chất),
mềm mỏng mà cứng cỏi. Gộp chung phẩm đức
cứng cỏi và mềm mỏng, sức Định Huệ
trang nghiêm. Đấy chính là chánh ấn của pháp thế
gian và xuất thế gian vậy!
* Chỉ dạy Niệm
Nhật
Hiển
Mật Viên Thông đều lấy “giải
và hạnh cùng tiến”
làm điều trọng yếu. “Giải” là thấu đạt
một niệm tâm tánh hiện tiền của chính ḿnh toàn
thể là Tam Đức bí tạng, chẳng hề sai biệt
với điều chư Phật đă chứng và cái mà
chúng sanh vốn sẵn có. Khế kinh dù Hiển hay Mật
trong mười phương ba đời chỉ nhằm
nêu rơ một niệm tâm tánh ấy. Thấu đạt một
niệm tâm tánh này chính là cái Thể mà Hiển và Mật
đều nói, từ đó, dấy
lên hai hạnh Hiển và Mật. Hiển hạnh th́
nương theo kinh để tu Quán.
Nói rộng th́ như hai mươi
lăm pháp môn Viên Thông, nói đại lược th́ như Duy
Tâm
Thức
Quán,
hoặc Chân Như Thật
Quán,
hai loại ấy đều gồm
thâu trọn hết. Hai mươi lăm cảnh, mỗi cảnh
đều có đủ hai phép Quán. Lại ước theo Nhĩ Căn
để nói, trước hết là gạn hỏi cái tâm
để phá vọng. Đó chính là Duy Tâm Thức Quán, Viên giải
đă khai, tức là từ Văn mà nhập ḍng chảy
thường hằng của viên thông; đó là Chân Như Thật
Quán.
Mật hạnh cũng bao gồm hai loại Quán. Thấu
đạt từng chữ, từng câu, không ǵ chẳng phải
là pháp giới; đó là Chân Như Thật
Quán.
Tâm chẳng duyên theo điều ǵ khác, chuyên tŕ chú này, ngộ
biết âm thanh như tiếng vang, cái tâm năng tŕ (tâm của
người tŕ chú) như huyễn; đó là duy tâm thức
quán. Do duy tâm thức, đạt đến Chân Như thật,
mật hạnh bèn thành, mà hiển hạnh cũng viên măn.
* Chỉ dạy Phi Huyễn
Người
có thể đau đáu nghĩ “sanh tử sự đại”
(sanh tử là chuyện to lớn), thấy thấu suốt
hết thảy t́nh đời, dù thuận hay nghịch,
đều là hư vọng chẳng thật, những ǵ
trôi qua trước mắt đều là hoa đốm! Chỉ
riêng nhất niệm tŕ giới, lễ sám, dốc tâm tin
tưởng Tam Bảo, sống th́ cùng sống, chết th́
cùng chết, lại chuyên cầu t́m lỗi ḿnh, chẳng
trách người khác sai trái, noi theo bước của tiên
thánh, tiên hiền, chẳng thuận theo thói đời cao,
thấp, ngơ hầu tín tâm ngày một kiên cố, sẽ có thể
vĩnh viễn giải thoát sanh tử.
* Chỉ dạy Bổn
Quang
Giáo
nghĩa Hiển và Mật xét về Lư Thể th́ chẳng
khác, công dụng cũng b́nh đẳng. Cần phải tin
năm hội chân ngôn [của chú
Lăng Nghiêm], từng chữ, từng câu, không ǵ chẳng
phải là toàn thể Tam Đức bí tạng. Cái tâm
năng tŕ hiện tiền nhỏ tí, nhỏ teo, không ǵ chẳng
phải là tánh trọn khắp theo chiều ngang, cùng tột
theo chiều dọc. Thậm chí giấy, mực, bút, cổ
tay, mỗi mỗi
không ǵ chẳng phải là pháp giới. Tánh pháp giới chẳng
thể biến đổi, tức là cái Thể của
đại định. Chẳng thể mờ mịt đối
với Lư của pháp giới, tức là trí quang bất động.
Nếu niệm nào cũng tương ứng với Định
Huệ, liền có thể nói là “thường tŕ chú
như thế trăm ngàn vạn ức biến”. Nếu
niệm nào cũng đọc, tụng, biên chép chú ấy, sẽ
tương ứng với
bổn trí trong tánh định. Do vậy, trời, rồng
sốt sắng thủ hộ, Bồ Tát thường bầu
bạn. Nay Thiền nhân phát tâm chí thành, trích máu chép chú, duyên
nhân quả thật chẳng nông cạn. Cái Thể của
duyên nhân chính là chánh nhân. Thấu đạt chánh nhân bèn gọi
là liễu nhân. Ba nhân chẳng một, chẳng khác, chẳng
dọc, chẳng ngang, tánh Đại Phật Đảnh
triệt để hiện tiền, cái quả Đại
Niết Bàn vốn là vật cũ trong nhà ḿnh vậy!
* Chỉ dạy Tịnh
Thiền
Nghe
pháp cần phải quán tâm. Biên chép cần phải hiểu
nghĩa, nhưng hiểu nghĩa không bắt buộc phải
cưỡng ép dùi mài [nơi văn tự], cũng chẳng
phải chỉ tầm chương trích cú, mà chỉ là chí
thành đọc tụng. Mở quyển kinh như đối
trước vị Phật sống động, xếp kinh
lại th́ [những điều kinh dạy] như ở trước
mắt, ngàn lần, vạn lần, lọt tận
xương, thấm tận tủy, thức ngủ chẳng
quên. Duyên nhân đă sâu, một, mười, hai ngàn bảy
trăm [công án] không ǵ chẳng xuyên suốt, xâu kết với
nhau. Đạt được tin tức ấy, sẽ biết
lời tôi chẳng dối!
* Chỉ dạy Hán Mục
Kinh
Đại Phật Đảnh Thủ (kinh
Lăng Nghiêm) chỉ dạy chân tâm,
khuyên tu trực tâm. Trực tâm có Sự, có Lư. Lư là chánh niệm
Chân Như, Sự là hết thảy các hạnh thuộc bốn
oai nghi chẳng có mảy may hư giả. Thiền ḥa đời
Mạt chẳng v́ đại sự sanh tử, cứ bẹo
h́nh làm dáng, dối hiện oai nghi, chẳng chân thật học
Thiền, Giáo, Luật, chỉ nhớ hai đoạn công án,
biện luận mấy câu danh tướng, thọ ba y một
bát, cho đó là đă trọn hết Phật pháp. Than ôi! Cái
tâm ấy là như thế nào vậy? Đấy là cái tâm một
niệm vay mượn Phật pháp
trong Chỉ Quán, có thoát sanh tử được hay không? Có
thành Phật, Tổ được hay
không? Lại quán cái niệm ấy ở trong các chỗ nội,
ngoại, trung gian ư? Nó là tự sanh, hay từ cái khác mà
sanh, hay là tự và tha cùng sanh, hay là chẳng có nhân mà sanh? Nếu
một niệm tâm hư giả đă là vô sanh, vô thể,
không xứ sở, ngằn mé, là vọng tưởng
điên đảo, tịch diệt, nhưng chân tâm thường
trụ rành rành tỏ lộ. Đó gọi là dùng Sự trực
tâm để hợp với Lư trực tâm vậy. Hăy nên suy
nghĩ sâu xa, tận lực nghiên cứu!
* Chỉ dạy Dục
Ngộ
Người
đời hễ nói đến sanh tử, hiếm khi chẳng
kinh sợ, lo lắng? Thường là kẻ chẳng thể
thật sự v́ sanh tử, là do chẳng buông xuống sanh
kế trước mặt được! Sở dĩ chẳng
buông xuống được, chỉ v́ chưa từng thấy
thấu triệt nỗi khổ sanh tử. Do trước
nay làm kẻ thế tục, hay làm tăng, đều chuộng
sống trong
thuận cảnh. V́ thế, tự nhiên chẳng thể phát
khởi cái tâm sợ hăi tam giới chân thật, thiết tha
được! Nếu dùng huệ nhăn to lớn, lâu xa để
quán trọn luân hồi từ vô thỉ, thống thiết
nghĩ đời này thật sự do đâu mà có? Chết
đi, sẽ đi đến nơi đâu? Nẻo trước
mịt mờ, nẻo sau đen kịt. Dẫu cho tim gan cứng
cỏi như sắt đá, ắt sẽ kinh sợ. Sau
đấy, nương theo chánh giáo, khai viên giải, khởi
viên hạnh, dám bảo đảm mười người
cả mười người đều đạt đến
nơi. Sợ nhất là nhân địa chẳng chân thật,
đạo nhăn tối tăm, hoặc bị mùi vị cơi
đời lôi kéo, hoặc bị tà sư, ngụy pháp gây lầm
lạc, đánh mất thân người dưới lớp
áo ca-sa. Đó là lư do tôi ngước nh́n thói đời hiện
thời, dù ngủ hay thức đều luôn than thở vậy!
* Chỉ dạy Giải
Thiên
Có
chí hướng đi tham học khắp nơi, càng cần
phải có con mắt tham phỏng. Lại c̣n cần phải
đừng quên bẵng chí hướng tham học khắp
nơi! Chí tham học khắp nơi th́ chẳng phải là
hư danh, chỉ cầu thể diện, đánh cược
bằng hiểu biết nửa vời ḥng phát vô thượng
đại Bồ Đề tâm, [mà là] học trọn khắp
hết thảy các pháp môn chẳng
chán, chẳng đủ.
Con mắt tham phỏng là do bậc thầy đời Mạt
tà chánh khó phân, nay tự kiên định chẳng dao động,
bất luận [đối với một vị thầy]
thuộc Tông hay Giáo, [cốt sao lời dạy của vị
ấy] chỉ tương ứng với xuất sanh tử,
chẳng tương ứng với danh lợi, mà
tương ứng với đại Bồ Đề. Chẳng
tương ứng với cách mưu cầu kiếm sống
trước mắt th́ là chánh. Ngược lại th́ là tà.
Chánh th́ nương theo, tà bèn xả. Người
có con mắt [tham phỏng] chẳng quên chí
hướng tham học vốn là “cầu Vô Thượng
Bồ Đề”. Tuy tà chánh phân minh, chẳng hư vọng
sanh yêu,
ghét, người lành th́ là thầy ta, kẻ bất thiện
là người giúp ta, chỉ tùy duyên mà tiếp xúc cảnh
để tăng trưởng đạo tâm trí nhăn mà thôi! Đấy là chuyện
khẩn yếu nhất trong bổn phận. Muôn vàn phần
đừng nên tiêm nhiễm các tập khí
cơm cháo khác trong tùng lâm, mà cũng chẳng cần phải
chán ghét!
* Chỉ dạy Nguyên
Canh
Kẻ
ngu dại sợ chẳng nhạy bén, sáng suốt. Kẻ
lanh lợi th́ sợ chẳng dốc chí. Đạo tuy lănh
ngộ từ trí huệ, càng cần phải khế hợp
với Định thể trong lặng, ắt phải rất
gần gũi với thân tâm. Trong động tĩnh thường
ngày, hăy lắng ḷng suy xét cặn kẽ th́ mới có sự
khơi thông chân thật, thọ dụng ngay trong hiện tại.
Đối với hết thảy các hạnh môn, chớ nên
coi đó là trợ tu, ắt phải bỏ phiền toái, giữ
lấy thanh tịnh rồi mới ôn luyện kinh điển.
Lại nữa, trong hết thảy các kinh điển, nếu
chẳng thể tùy văn nhập quán, ắt phải xếp
kinh lại, tĩnh tọa th́ mới quản được
thân tâm. Một chuyện chia thành ba thứ, chẳng thể
vừa nói liền thấu hiểu đạo ngay được.
Từ duyên mà đạt được tương ứng
th́ nhanh chóng, chứ dựa theo Thể để tiêu trừ,
ngừng dứt,
th́ sẽ đắc lực chậm chạp.
Pháp môn Đại Thừa
quư ở chỗ “tiến thủ” (薦取)
ngay trong khi đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng,
thực hiện, [cũng như] “lư hội” (理會), tức là
hiểu ngay trong khi thấy sắc, ngửi hương, nếm
vị, cảm nhận do tiếp xúc, và biết pháp. “Tiến
thủ”: Thấu hiểu sự chân thật nơi cái
tánh vốn sẵn có. “Lư hội”: Thấu hiểu cái
diệu thể tṛn sáng vượt ngoài chướng mà thôi!
Tánh chân diệu thể chẳng phải là hết thảy
các pháp, nhưng chẳng ĺa hết thảy các pháp. Thử
chỉ nh́n vào ngôn ngữ, động tĩnh trong hiện tại,
đọc kinh, xem giáo, tĩnh tọa, tư duy, vọng
tưởng, hôn trầm, [để quan sát] “tỉnh ngộ
và lặng lẽ” (tỉnh tỉnh tịch tịch) rốt
cuộc là thứ ǵ vậy? Ôi! Chớ nên nhận giặc
làm con, chớ nên vạch sóng t́m nước, đừng nên
hiểu là t́m vị mặn trong nước, chất keo
trong màu vẽ, hăy thẳng thừng “tiến thủ, lư hội”
ngay trong khi ấy!
* Chỉ dạy Tự Trúc
Hai
câu “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, ai
cũng có thể nói, nhưng khi đụng cảnh, gặp
duyên, vẫn bị cảnh duyên xoay chuyển. Nếu thật
sự thấu đạt
duy tâm, duy thức, há có cảnh duyên ở ngoài tâm thức
ư? Nếu chẳng thấu đạt duy tâm, duy thức,
chắc chắn cảnh duyên chẳng ĺa tâm thức. Như
trong mộng, lầm lạc so đo mộng cảnh là thật,
dấy ḷng vui thích, hay dấy tâm sợ hăi, nhưng ĺa mộng
tâm, chắc chắn chẳng có mộng cảnh nào khác!
Người học trước hết cần phải liễu
đạt muôn pháp trong tam giới, các thứ cảnh duyên,
thật sự chẳng phải là vật nào khác ở ngoài
tâm thức. Kế đó, truy cứu tâm này, thức này, rốt
ráo có thể tánh và tướng trạng như thế nào?
Tâm thức hiện tiền thật sự chẳng có thể
tánh và tướng trạng, há muôn
pháp trong tam giới chỉ do tâm hiện lại có đôi
chút tướng trạng và thể tánh để có thể
đạt được ư? Tâm thức chẳng thể
đạt được, th́ gọi là Tâm Tịch tam-muội.
Tâm tịch th́ sắc tự
tịch, cảnh duyên chẳng thể được, th́ gọi
là Sắc Tịch tam-muội. Sắc tịch th́ tâm cũng
tịch. Tâm và sắc đều tịch, sẽ chẳng có
phiền năo,
mà cũng chẳng có Bồ Đề, chẳng có sanh tử,
mà cũng chẳng có Niết Bàn, chẳng phàm, chẳng
thánh, một vị b́nh đẳng. Đấy gọi là “tâm,
Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Sau đấy
toàn tánh thành tu, ngước nh́n Phật đạo vốn sẵn
có trong tự tâm, độ chúng sanh vốn sẵn có trong tự
tâm, như biết tánh của
nước, của băng, đều cùng là một tánh
ướt đó thôi! Chẳng phải là ngoài nước mà
có băng, chẳng phải t́m nước ở ngoài
băng, mà dùng phương tiện khiến cho băng tan
thành nước, chính là niệm nào cũng thường quán
“tâm chính là Phật”, nhưng chẳng
dấy ḷng tăng thượng mạn. Lúc nào cũng
thượng cầu, hạ hóa chẳng mỏi mệt,
được gọi chung là “vô tác diệu đức,
vô công dụng hạnh”. Nếu bỏ điều này,
riêng thương lượng phương tiện khác để
cầu công phu, cho đến t́m kiếm huyền diệu, sẽ
là chàng Diễn Nhă Đạt Đa sợ cái đầu [của
chính ḿnh], như kẻ say t́m kiếm đồ ăn.
Nếu là kẻ sơ
tâm, nhiều tán loạn, hăy dùng pháp Sổ Tức
như sách Đồng Mông Chỉ Quán[74]
đă nói rơ. Cần phải biết rơ: Thở ra, hít vào, chẳng
từ đâu đến, chẳng đi về đâu. Cái Thể của hơi thở hoàn
toàn là Không, toàn thể chính là Giả, vẫn
chẳng phải là hai bên, chính là Trung Đạo. Đó gọi
là “viên nhân dùng pháp Thiên, pháp thiên lệch cũng thành viên”.
Lại nữa, người
bị hôn cái (chướng cái hôn trầm) nặng nề, đừng nên tham
tĩnh tọa, cần phải có phương tiện
điều ḥa, đ́nh chỉ để giảm bớt các
chuyện xen tạp, bớt ăn uống, khiến cho tinh
thần trong sáng, tánh khí định lại, quán huệ sẽ
dần dần sáng suốt hơn, hôn trầm tán loạn dần
dần lui bỏ.
Lại nữa học
đạo giống như điều chỉnh dây đàn,
quá chùng th́ không có tiếng, quá căng dây đàn sẽ đứt.
Cái tâm sanh tử thường thiết tha, đừng sanh
cái tâm mong cầu hiệu quả. Trước là khó khăn
rồi sau đó mới đạt được, ngơ hầu
sẽ tiếp cận. Phải nên thấu đạt tâm thức
hiện tiền chẳng có thể tánh, [chẳng
có] tướng trạng, chẳng ngoài bốn
tánh, bốn vận, hai loại pháp thúc đẩy. Bốn
tánh thúc đẩy tức là một niệm hiện tiền,
nếu là tự sanh, sẽ chẳng cần nhờ vào các
duyên khác để sanh. Đă nhờ vào duyên th́ tâm không có sức
sanh. Tâm đă chẳng sanh, duyên cũng chẳng có sức.
Tâm và duyên mỗi đằng đều chẳng có, sao có sự
kết hợp cho được? Kết hợp c̣n chẳng
thể được, th́ “ĺa” (tâm và duyên tách rời nhau)
sao có thể sanh? Do vậy biết tâm thức thật sự
vô sanh.
Tứ vận thúc đẩy
là quán khi một niệm ấy chưa
sanh, nó ngầm ẩn ở chỗ nào? Khi sắp sanh, do
duyên nào mà được sanh? Trong khi đang sanh, lấy ǵ
làm thể tướng, ở trong, ngoài, hay chặng giữa
vậy? Là vuông, tṛn, dài, ngắn, xanh, vàng, đỏ, trắng
ư? Sanh đă chẳng gián đoạn ắt diệt, diệt
lại quy vào nơi đâu? Tam tế (三際)[75]
t́m tâm đều chẳng thể được, hiềm rằng
trong cái vốn không tịch, lại hư vọng so đo
tâm cảnh trong ngoài, khởi Hoặc, tạo nghiệp, oan
uổng chịu luân hồi ư? Nhưng rốt cuộc
t́m một cái có thể khởi Hoặc
tạo nghiệp, thọ báo th́ vốn chẳng thể
được, như say bèn thấy nhà quay ṃng ṃng, nhà vốn chẳng
quay ṃng ṃng! Chỉ cần phun
sạch rượu vô minh so đo hư vọng th́ ba thứ
“Hoặc, nghiệp, khổ” lập tức vĩnh viễn
chấm dứt. Nếu miệng chỉ bàn suông, chẳng
phun vô minh ra, như say sưa thấy nhà quay ṃng ṃng, vẫn
cứng miệng nói “chẳng quay”, ngay câu nói “chẳng quay” ấy cũng là lời
say rượu đó thôi! Hăy nói xem: Phun rượu vô minh th́ phun bằng
cách nào? Ôi! Phải biết ư nơi đầu mối,
hướng về phương Nam nh́n sao Bắc Đẩu[76],
trân trọng!
* Chỉ dạy Ánh Trúc
Pháp
môn siêu sanh thoát tử chẳng thể dùng thông minh để
thành tựu hay
thông hiểu được, chẳng thể dùng t́nh cảm
xốc nổi để gánh vác, chẳng thể có t́nh kiến
xen tạp, chẳng thể lănh hội thô thiển, sơ
sài. Trước hết, cần
phải chuyên t́m lỗi ḿnh, chẳng trách người khác
sai trái, thấy người hiền mong được bằng,
thấy điều ác, trong tâm tự phản tỉnh, pháp
nào cũng đều tiêu quy tự tâm, lúc nào tâm cũng tự
cảnh tỉnh, tự đốc
thúc, nhận biết chắc chắn rơ ràng
các vạch trên cán cân[77]. Sau đó, xem kinh cũng
được, tọa Thiền cũng được, hoặc
làm phước cũng được! Nếu mắt
chưa thấy rơ, chưa giữ được cái tâm
chuyên dốc, xem kinh ắt sẽ đọa thành ăn nói
lưu loát cho sướng tai, thỏa miệng, tọa Thiền
ắt đọa vào hố sâu ám chứng[78],
làm phước ắt thành bạn lữ của ma tà. Nếu
phước huệ song tu, Giáo Quán cùng tiến, mà ngă tâm
chưa quên, Năng lẫn Sở ngày càng hừng hực,
đấy chính là quyến thuộc của Tu La, chẳng ngờ
chi! Hăy nên suy nghĩ cẩn thận, xem xét cặn kẽ!
* Chỉ dạy Kính
Trung
Giẫm
trên đất Tam Bảo, trọn đủ oai nghi xuất
thế, đều là do chủng tử tốt lành nhiều
kiếp, huống hồ được nghe chánh pháp ư? Một
cụ già ở Ninh Quốc[79]
gieo phước hơn năm mươi năm, cầu
đời sau làm vị Tăng đốt lửa trong nhà bếp[80]
chẳng thể được! Nhưng con bồ câu trắng
nghe kinh, chuyển thân thành thiền sư Giới Hoàn[81].
Công đức nghe pháp siêu thắng như thế đó.
Đời người được mấy chốc? Trẻ
khỏe bỗng chốc già khọm, già khọm rồi bỗng
chốc chẳng c̣n! Hơn nữa, vô số kẻ đang
độ trẻ khỏe, bỗng
chết yểu ngang xương! Một hơi thở vừa
dứt, [đă thành] cô hồn không bè bạn. Ác nghiệp lúc sanh tiền,
không nghiệp nào chẳng theo thân. Sao chẳng sớm buông
xuống trần lao huyễn mộng, siêng tu giới,
định, trí huệ? Lắng ḷng thấu đạt cội
nguồn, đáng gọi là Sa Môn. Nếu không, đường
đường tăng tướng do nhiều kiếp
siêng tu mà đạt được, một khi do coi thường mà
đánh mất, há chẳng đáng kinh sợ ư?
* Chỉ dạy Dao Tập
Chẳng
thể nhanh chóng trừ sạch là do nỗi lụy trần
duyên chẳng thể tạm quên. Cái tâm xuất thế mà
đợi [tới khi] chẳng c̣n phiền lụy rồi
mới tu hành, sao bằng nhờ vào
tu hành để thoát phiền lụy?
Hơn nữa, trần lao bức bách chính là lúc nên cảnh tỉnh,
giải ngộ Khổ, Không, trau luyện tánh t́nh. Thường
thấy kẻ ăn
không ngồi rồi an nhàn, ngâm thơ,
luyện chữ (luyện thư pháp), thực hiện đủ
thứ thanh khóa[82],
sao chẳng thừa dịp được an
nhàn mà nghiền ngẫm Đại Thừa, lắng ḷng học
Định, Huệ vậy thay?
Họ từ nơi
thơ ca, thư pháp đạt được chút mùi vị
hư huyễn, chưa từng nếm được pháp vị
chân thật nơi Định Huệ của Đại Thừa.
Dẫu chẳng đạt được vị, [nhưng
do nghiền ngẫm, tu học Đại Thừa], cũng trở thành
chủng tử cho Vô Thượng Bồ Đề. Hơn
nữa, [luyện tập] thơ từ, thư pháp từ
thuở bé, vẫn chưa hề đạt được
ư vị của chúng, nào có biết: Do huân tập Phật
pháp dần dần mà [lẽ nào] chẳng được thọ
dụng nơi thân hiện tại ư? Than ôi! Tinh thần
của con người dùng vào thơ ca, thư pháp, tôi thấy
Hữu Quân, Lư, Đỗ[83]
chẳng thoát sanh tử. Sử dụng Phật pháp tôi thấy
Diễm Hỷ tán loạn,
Đặc Ca ngu si[84],
mà đại sự đều đă hoàn thành cả rồi!
* Chỉ dạy Mộc
Uyển
Phát
tâm th́ hăy nên học hai sự, một là trí huệ, hai là
phương tiện từ bi. Muốn học trí huệ,
không ǵ bằng đọc tụng kinh điển Đại
Thừa, Phương Đẳng, hiểu sâu xa nghĩa thú,
theo văn nhập quán, chẳng vướng phải lời
chê “nhai gỗ”, chuốc lấy tiếng cười chê
“đếm của báu”. Lại c̣n nhiều phen thân cận
thầy sáng, bạn lành để nghiên cứu, quyết trạch. Chớ nên chấp vào
ư kiến của chính ḿnh, tự cho là đúng. Muốn học
phương tiện từ bi, cần phải tin sâu “hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, nhất định
sẽ là Phật”. Thấy Tăng, tục tạo ác, phải
nên thương xót, yêu thương, dùng đủ mọi
cách thiện xảo để hồi hướng, thủ
hộ, tiếp dẫn họ. Nếu cậy ḿnh là người
đă tu, thấy kẻ chẳng tu hành, liền sanh ḷng khinh
mạn, do chính ḿnh tŕ giới bèn khinh mạn kẻ phá giới,
do chính ḿnh đọc tụng Đại Thừa bèn khinh mạn
kẻ chẳng nghe, do chính ḿnh đă hiểu nghĩa, bèn
khinh mạn kẻ ngu độn, do chính ḿnh đă quán tâm bèn
khinh mạn kẻ chỉ nói suông, núi nhân ngă cao ngất
ngưởng, t́nh kiến hơn thua nặng nề, dẫu
siêng khổ [tu tập] suốt đời, chỉ thành pháp
giới Tu La, cách đạo Bồ Tát xa lắm!
* Chỉ dạy Quách
Thái Tước
Địa vị khác
biệt, nghiệp sai khác, nhưng có chỗ chẳng khác biệt:
[Đó chính là] quân tử hành xử đúng theo địa vị
của ḿnh. Bởi lẽ, phú quư, nghèo hèn, mọi rợ, hoạn
nạn đều chỉ
do tâm hiện, hoàn toàn lấy pháp giới làm Thể, toàn thể
chính là pháp giới. Pháp giới theo chiều ngang trọn khắp,
theo chiều dọc cùng tột, chẳng có chút Sự, chút
Lư nào vượt qua được! Do vậy, chẳng nhập
mà không ǵ chẳng tự đạt được. Hai
mươi lăm môn trong kinh Phật Đảnh (Lăng
Nghiêm), không môn nào chẳng phải là viên thông. Trong phẩm Nhập
Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, không một pháp nào chẳng
phải là giải thoát, ai nấy đều có thể theo
đường về nhà, chẳng nhọc công lấy một
pháp này, bỏ một pháp kia! V́ thế bảo là “tố kỳ vị nhi hành” (hành xử theo
đúng địa vị).
Chẳng nguyện vượt ra ngoài điều ấy,
pháp giới trong một vi trần chính là vô biên pháp giới,
v́ pháp giới vốn chẳng ở bên ngoài! Pháp giới của
loài chim bay vượt tầng
mây chẳng lớn, pháp giới của ve sầu hay bồ
câu chẳng nhỏ! Dùng chuyện này để giải thích
kinh Dịch. Hễ nêu ra pháp trọng yếu như Thập
Giới, Thập Như, Quyền Thật, ngũ thời,
bát giáo, các phương cách lập bày [để giáo hóa của
đức Phật và chư vị tổ sư] nhập
chung vào một quẻ, một hào, th́ pháp giới của quẻ
hào chẳng ít, mà pháp giới của Giới, Như, Quyền,
Thật cũng chẳng nhiều.
Do vậy, Khổng Tử
nói: “Giả ngă sổ niên ngũ thập dĩ học Dịch,
khả dĩ vô đại quá hỹ” (nếu như cho
ta thời gian thêm mấy năm để tṛn năm
mươi năm học kinh Dịch, th́ sẽ có thể chẳng
phạm lầm lỗi to lớn). Khổng Tử truyền
tâm học của thánh hiền ngàn đời, toàn là vận
dụng “trong tâm giảm bớt lỗi” để làm
cửa ngơ hướng lành, tránh dữ. Đó gọi là “vô
nhập nhi bất tự đắc” (trong bất cứ
hoàn cảnh nào luôn đạt được tự tại).
Tiên Thích (箋釋)[85] cố
nhiên chẳng cần phải hoàn
toàn noi theo các cách nói cũ, cũng chẳng hoàn toàn phế sạch
các cách nói cũ, chỉ trống ḷng, thấu hiểu ư chỉ
ở ngoài lời, giảng giải mạch văn, mới
biết Tống Nho dơi theo từng ḍng mực, nhọc nhằn
t́m ṭi xuất xứ, nguồn gốc của từng chữ,
lập ra những thuyết khác lạ, hoàn
toàn chẳng phải là cái Học như
Khổng Tử đă nói! Hối Am (Châu Hy) thoạt đầu
trước thuật phong phú, về già bèn hối hận,
muốn truy t́m [các trước tác
của chính ḿnh] để hủy sạch,
nhưng chẳng được! Cư sĩ hăy nên đọc [kinh Dịch]
đến nỗi lề sách ba lần đứt dây[86],
ắt sẽ có tiến bộ to lớn, lại sửa chữa,
gạn lọc một phen, sẽ chẳng đọc mà biết
th́ sẽ có thể tiến xa! “Như mài, như giũa”,[87]
xin hăy ba lượt nghĩ ngợi câu ấy!
* Chỉ dạy
Tĩnh Khai
Trong
tam giới, không ǵ chẳng phải
là lao ngục; vui sướng tạm thời, rốt cuộc
quy vào vô thường. Chúng sanh như chim én, chim sẻ [làm tổ] ở
dưới mái nhà, hiếm khi nghĩ thoát ra. Chỉ khi nào
đối trước nghịch cảnh th́ may ra mới
sanh tâm xa ĺa. V́ thế, đức Phật gọi tám nỗi
khổ là tám vị thầy, chẳng phải là lời
hư dối! Công Dă Trường[88]
chẳng có tội mà bị giam cầm, thánh hiền chẳng
cho đó là hổ thẹn. Thế gian và xuất thế gian
đều cầu chẳng thẹn với chính ḿnh mà thôi! Gặp
cảnh hoạn nạn, bèn xử sự theo cảnh hoạn
nạn. Bà Tẩu tiên nhân ở trong địa ngục hóa
độ vô lượng đại chúng phát Bồ Đề
tâm. Ba vị đại sư Biến Dung, Đạt Quán,
Hám Sơn ngồi trong nhà tù của H́nh Bộ, khuyên dạy
vô lượng người trong ngục tù quy kính Tam Bảo,
ăn chay, niệm Phật, nhờ đó mà họ thoát khổ
trong hiện đời, hoặc nhờ đó mà vĩnh viễn
thoát luân hồi. Ác nhân duyên chính là
hảo nhân duyên, đừng bảo nhà tù chẳng phải
là chỗ tự lợi, lợi tha! Quy y Tam Bảo, vâng giữ
Ngũ Giới, tự niệm
Phật, khuyên người khác niệm Phật, tự
đoạn Thập
Ác, khuyên người
khác đừng hành Thập
Ác, tự học Thập Thiện, khuyên
người khác cùng tu Thập
Thiện. Mười
thiện pháp ấy tuy hạ phẩm là cái nhân của thần,
trung phẩm là cái nhân của người, thượng phẩm
là cái nhân của trời, nhưng thượng thượng
phẩm chính là cái nhân của La Hán, Bích Chi Phật, Bồ
Tát, Như Lai. Dũng mănh, gắng sức tu tŕ, lâu ngày chẳng
thay đổi, không chỉ có thể thoát tai nạn trong hiện
thời, mà lao ngục từ vô thỉ trong tam giới
cũng sẽ từ đấy mà vĩnh viễn ĺa khỏi!
* Chỉ dạy
Tĩnh Văn
Hương
Sơn tham phỏng ngài Ô Khoa[89],
được Sư bảo thẳng rằng: “Đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, đứa
trẻ ba tuổi cũng nói được điều ấy,
nhưng ông già tám mươi tuổi chẳng làm được!”
Các vị Tổ trên đây đă chỉ điểm pháp xuất
sanh tử đơn giản, dễ dàng, minh bạch nhất,
chẳng cứ phải “ṿng kim cang, hạt dẻ đầy
gai góc”[90]
mới là huyền diệu. Học nhân đời sau tâm trộm
cắp[91]
càng lắm, phương tiện chốn tổ đ́nh biến
đổi càng nhiều. Phương tiện đă biến
đổi, cái tâm trộm cắp lại biến đổi
theo, Phật cũng chẳng biết làm như thế nào?
Thuở đầu, Mă Tổ chỉ nói “tức tâm tức
Phật” (ngay nơi cái tâm chính là Phật). Nếu thật
sự biết “tức tâm tức Phật”, tự nhiên
các điều ác chấm dứt, vâng làm các điều thiện,
liền biết tức tâm tức Phật. V́ thế, muốn
ngộ “tức tâm tức Phật”, cần
phải tŕ giới, niệm Phật. Tŕ giới thanh tịnh,
niệm Phật thiết tha, trần cấu tự trừ,
quang minh tự lộ. Kệ rằng: “Tŕ giới là b́nh
tâm, niệm Phật là trực hạnh, tham thấu chút huyền
quan, chẳng t́m cán của bát, cứ săm soi văn tự,
mất tánh mạng Phật, Tổ”.
* Chỉ dạy Quách
Thiện Hữu
Biển
cả Phật pháp, do tín có thể vào, trí có thể độ.
Nếu tín tâm mà thiếu trí huệ, chưa hề chẳng
lâm vào cảnh khóc ṛng trước hai ngă rẽ! Đức
Phật nói “mạt thế đấu tranh kiên cố, ức
ức nhân học đạo, hăn hữu nhất nhân chứng
quả” (đời mạt đấu tranh kiên cố, ức
ức người học đạo, hiếm có một
người chứng quả). Chỉ có niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ là
có thể “siêu thoát ṿng khổ theo chiều ngang”. Xưa kia, có một vị tổ
sư, thoạt đầu chí thành lễ kinh Pháp Hoa, lạy tới chữ
Phẩn (糞, phân) bèn ngộ Pháp Hoa tam-muội. Có
người tụng Pháp Hoa, do đến chỗ
thiền sư Thọ Xương thỉnh ích[92],
bị quát: “Chúng sanh tà kiến, chẳng biết tốt,
xấu. Pháp Hoa chính là Thiền, há có Thiền nào khác để
tham?” Người ấy kính vâng theo, rời đi. Rốt
cuộc do tŕ Pháp Hoa mà ngộ đạo. Nếu tin sâu niệm
Phật lễ bái là cái nhân chân thật của Phật, Tổ,
đích xác sẽ chẳng bị thói đời xoay chuyển,
sẽ là quang minh đại trí huệ, vượt lên Tịnh
Độ, vĩnh viễn chẳng lo phải khóc lóc trước
ngơ rẽ vậy!
* Chỉ dạy Tân Chi
Ôn
cũ để biết mới, có thể làm thầy. Cái gọi
là Cũ hay Mới là vật ǵ vậy? Trong thiên hạ, không có ǵ cũ bằng
cái tâm trong một niệm hiện tiền, cũng không có ǵ
mới bằng cái tâm trong một niệm hiện tiền.
Do là cũ nên tùy duyên mà bất biến;
do là mới nên bất biến mà tùy duyên. Nếu có thể
nhanh chóng thông đạt vật cũ trong nhà ḿnh, sẽ có
thể lập ra quy củ hết sức mới mẻ:
Dùng Bồ Đề bi trí làm căn cội, dùng Lục
Độ vạn hạnh làm cành
nhánh mới mẻ vậy!
* Chỉ dạy Phan Củng
Thần
Thánh
nhân tam giáo [là những người] chẳng mê muội bản
tâm đó thôi! Bản tâm chẳng mê muội [th́ hành xử
theo] Nho, Lăo, hay Thích đều được. Nếu mê cái
tâm ấy, Nho chẳng phải là chân Nho, Lăo chẳng phải
là chân Lăo, Thích chẳng phải là chân Thích! Hơn nữa,
cái ǵ gọi là bổn tâm? Ở trong, ngoài, trung gian ư? Là
quá khứ, hiện tại, tương lai ư? Có, không,
cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải
không ư? Nếu thẳng thừng biết rơ chỗ
căn bản th́ trăm ngàn tam-muội, hằng sa pháp môn khác nào các ngôi sao chầu về
mặt trăng? Nếu
chẳng phải vậy, hăy giữ vững Tam Quy, Ngũ Giới,
dùng đó làm duyên nhân, nếu đến đúng lúc, lư ấy
sẽ tự phô tỏ.
* Chỉ dạy Tỉnh
Bạch
Phật
pháp đă suy. [Người tu] danh lợi huân tâm, chuyên chú trọng
lời ngon tiếng ngọt mê hoặc người khác. T́m
một người hành xử đúng theo lẽ thật, trọn chẳng thể
được! Có người nào có thể tŕ giới, tinh
tấn, đọc tụng Đại Thừa, chẳng
theo đuổi việc đời, dẫu đạo nhăn
chưa mở, vẫn được tam thế chư Phật
tán thán, hứa khả. Huống hồ đă hiểu rơ “phải
nhờ vào duyên”, mà chẳng tŕ giới, đọc tụng,
từ chỗ nào để đắc đạo nhăn? Nay
người giảng pháp phần nhiều sơ sót luật
hạnh, Thiền môn hoàn toàn phế bỏ giáo điển,
môn đ́nh càng cao, tà kiến càng quá đáng. Bậc khai
sĩ đă chuyên ṛng giữ giới “chẳng ăn phi thời”,
siêng đọc kinh Phương Đẳng Đại Thừa,
nhưng với hai môn Giáo và Giới,
tự đạt được bản lănh sâu xa. Đào giếng
chẳng thôi, ắt được suối trào. Dùi gỗ
chẳng nghỉ, ắt được lửa sanh, chẳng
nhọc nhằn mà t́m được huyền quan. Quán Kinh
nói trọn đủ các giới hạnh, đọc tụng
kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng
đều là thượng phẩm thượng sanh. Nắm
được cái bằng khoán ấy ra đi, ta sẽ nắm
tay nơi đất quư, ao hoa, lúc ấy,
nhớ lại nỗi nghi đắc
ngộ hay chẳng đắc ngộ hiện thời, khôn
ngăn cười toét miệng!
* Chỉ dạy Tống
Dưỡng Liên
Hai
câu “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” cơi
đời tranh nhau truyền tụng, nhưng
chẳng biết tâm tánh là như thế
nào! Tánh th́ không đạo lư nào chẳng thống nhiếp.
V́ thế, bậc Đạo Sư đă thành mười kiếp
(Phật Di Đà) từ lâu chẳng ở ngoài tánh, tâm chẳng
phải là không duyên ảnh nào chẳng trọn. Do đó, cơi
Cực Lạc ở ngoài mười vạn ức kiếp
thật sự ở trong tâm. Do Di Đà chính là tự tánh Di
Đà, cho nên chẳng thể không niệm. Tịnh Độ
tức là duy tâm Tịnh Độ; do đó, chẳng thể
không sanh về! Nay có thí dụ [như sau]: Bậc thánh
vương ở Bắc Kinh chính là duy tâm Bắc Kinh thánh
vương;
nhưng khi hành đạo cứu tế,
ắt phải lên miền Bắc thân cận nhà vua. Nếu
cứ ngạo nghễ, hờ
hững, dẫu là Y Doăn, Châu Công, há có thể b́nh trị
thiên hạ ư? V́ thế, bất luận đă ngộ hay
chưa ngộ, đều cần phải cầu sanh Tịnh
Độ, cầu thấy Di Đà. Chưa ngộ th́
như trẻ thơ dại cầu thầy, đă ngộ
th́ như Khổng Tử mưu cầu quan chức. Trên là từ
Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, dưới là
cho tới loài trùng bọ ngọ ngoạy, chim chóc, thú vật,
chỉ có một chuyện này. Chuyện này th́ điều
thứ nhất là phải tin tới nơi, hai là phải
lúc nào cũng phát nguyện, ba là công phu niệm Phật phải
chẳng gián đoạn. Trọn đủ ba sự ấy,
kẻ chí ngu cũng văng sanh. Ba sự mà thiếu một, dẫu
thông minh, lanh lợi, vẫn chẳng văng sanh. Kẻ nào báng
pháp này tức là báng tam thế chư Phật, Bồ Tát. “Đạp
trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô”[93]
đâm ra là tầng thấp nhất trong ngục A Tỳ, buồn
thay!
* Chỉ dạy Lục
Dụ Liên
Siêu
sanh thoát tử mà bỏ một môn Tịnh Độ, chắc
chắn chẳng có phương tiện nào thẳng thừng,
nhanh chóng, siêu thoát theo chiều ngang nữa! Nhưng sanh Tịnh
Độ mà bỏ pháp niệm Phật, quyết chẳng
có công phu “vạn người tu, vạn người
đến”. Thời gần đây, có những Thiền
nhân mù quáng, hư vọng bảo “chẳng cần niệm
Di Đà, chẳng cần sanh Tịnh Độ”, hồ
đồ, rối ren, sảy hào, sa hố! Phàm lúc đêm ngủ,
nếu gối, chiếu chẳng ngay, c̣n phải xếp
đặt lại; vậy th́ nhà lửa tam giới, chẳng
nghĩ thoát ĺa có được hay chăng? Nếu khinh mạn
nói “đối với bậc
đă ngộ tâm, thế gian này chính là Tịch Quang”, sao chẳng nói “chửi
bới dữ dội” là ca ngợi, đánh đập tàn nhẫn
là cúng dường, phân nhơ chính là chiên đàn, lấm lem
tro than chính là điện báu chốn cung trời vậy? Nếu
chưa thể ăn phân, nằm than, Tịnh Độ chắc
chắn chẳng thể không sanh về! Nếu thật sự
có thể,
th́ cũng là lợn, gà, chó mà thôi! Sao bằng người thật
thà niệm Phật, dùng ḷng Tin để dẫn dắt, lấy
Nguyện
làm điều cốt yếu để nhanh chóng ngự lên
chín phẩm đài sen, cùng với Quán Âm, Thế Chí, Hải
Chúng làm quyến thuộc? Ngó lại phường chấp
không, ác kiến, tà Thiền, đổi chác cái danh hư huyễn
“tổ sư” giả trất một thời để lấy
nỗi khổ đọa trong [địa ngục] kéo
lưỡi cho trâu cày trong vạn kiếp, chẳng khác nào
[so sánh giữa] mây và bùn vậy thay! Bất luận tán tâm
hay định tâm, chỉ ấn định khóa tŕnh rồi
suốt đời [tu tập] chẳng khuyết, ngày càng
siêng năng, ngày càng tha thiết, đóa hoa nơi Tịnh
Độ sẽ ngày đêm thêm phần tươi tốt!
* Chỉ dạy Vị
Tông
Học
vấn thế gian nghĩa lư nông cạn, lắm đầu
mối. Do vậy, tợ hồ dễ dàng, đâm ra khó
khăn! Học vấn xuất thế nghĩa lư sâu thẳm,
đầu mối chỉ một. Do vậy, tuy khó mà vẫn
dễ. Đầu mối chẳng phải chi khác, một
niệm tâm tánh hiện tiền đó thôi! Cổ nhân nói: “Lập
nhất tâm vi tông, chiếu vạn pháp
như kính” (lập nhất tâm làm
tông, chiếu muôn pháp như gương).
Có thể quán tâm tánh, sẽ trọn đủ hết thảy
Phật pháp. Hơn nữa, cái tâm như thế, chẳng ở
các chỗ trong, ngoài, trung gian, cũng chẳng phải quá khứ,
hiện tại, vị lai, cũng chẳng phải tự
sanh, do cái khác sanh, do tự và tha cùng sanh, chẳng phải
không có nhân duyên mà sanh, há chẳng phải chính là Không? Thập giới, thập
như, ba ngàn tánh tướng cùng hiện rạng ngời,
chẳng thiếu, chẳng thừa,
há chẳng phải
chính là Giả? Ngoài
tâm
chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm,
trong khoảng giữa, chẳng có
đúng hay không đúng, há chẳng phải chính là Trung? Mê một niệm
ấy tức là Không, sẽ là lục phàm. Mê tức Giả,
sẽ là Nhị Thừa. Mê tức Trung, sẽ
là Biệt Giáo. Chỉ ngộ một niệm hiện tiền,
sẽ ngay lập tức là tức Không, Giả, Trung, tức
mười giới không ǵ chẳng phải tức là Không,
Giả, Trung, chẳng ở ngoài chín pháp giới mà riêng tiến
hướng Phật giới. Đó gọi là “tam thiên quả
thành, đều xưng là thường lạc”. Hướng
theo đó mà lănh hội, mới biết ngàn kinh muôn luận
đều chẳng lập bày ở ngoài tâm. Hăy gắng lên!
* Chỉ dạy Khả
Sanh
Phật pháp chẳng ngoài hai pháp quán Duy Tâm và
Chân Như. Bởi lẽ, hết thảy các pháp sắc,
tâm, y báo, chánh báo, giả, thật, không ǵ chẳng
nương vào nhân, cậy vào duyên mà sanh, đều là Y Tha
Khởi Tánh. Chẳng hiểu rơ Y Tha, sẽ hư vọng
so đo thật ngă, thật pháp, bèn gọi là Biến Kế
Chấp Tánh. Hiểu rơ nó như huyễn, có tức chẳng
phải có, Thể chỉ là nhất tâm, th́ gọi là Viên
Thành Thật Tánh. Nay Duy Tâm Thức Quán, do Y Tha mà liễu
đạt Biến Kế vốn là Không, mà Chân Như Thật
Quán th́ chỉ lư tánh do Nhị Không hiển hiện mà thôi!
Kinh Đại Phật Đảnh khởi đầu bằng
bảy chỗ gạn tâm, chính là thẳng thừng phá Biến
Kế, chỉ rơ nó vốn là Không. Kế đó, mười
lượt biện định cái Thấy, rộng nêu Ấm,
Nhập, Xứ, Giới để hiểu lư. Đấy
chính là dựa theo Y Tha Khởi Tánh để phá các thứ
chấp Biến Kế khác. Kế đó, xác định Nhĩ Căn là cảnh để quán, nhằm
nêu rơ nó vốn viên thông thường hằng. Đó là dựa
trên Y Tha Khởi để hiển lộ Viên Thành vốn trọn
đủ! Nhưng nếu chẳng hướng theo các phần
kinh văn phá chấp trước đó để khai giải,
th́ tánh thường Viên Thông cực dễ
mà lại cực khó. V́ thế, trong sách Đại Thừa
Chỉ Quán, ngài Nam Nhạc [Huệ Tư] răn kẻ
sơ tâm chớ nên quán ngay vào tánh Viên Thành Thật, chỉ
dùng tứ tánh[94]
để chọn lọc, xét đoán, thấu đạt
sâu xa Biến Kế vốn là Không, Y Tha như huyễn. Một
niệm quán thành, sẽ chuyển biến
khiến cho các niệm khác tự nhiên khế hợp
Thật!
Thật tâm buộc chặt vào thật cảnh, thật
duyên sẽ theo thứ tự nẩy sanh. Do vậy, niệm
trước là năng quán (chủ thể để quán), niệm
sau là sở quán (đối tượng được
quán). V́ thế, có thể chặt đứt nguồn vọng,
chẳng c̣n phạm lỗi “theo
sóng đuổi sóng” nữa!
* Chỉ dạy Tố
Phong
Học
để có tài chẳng khó, khó ở chỗ có chí. Có chí chẳng
khó, có phẩm cách mới khó. Có phẩm cách chẳng khó, sáng
suốt mới khó. Chỉ có trọn con mắt vượt
ngoài giới hạn th́ mới chẳng bị thói đời
nắm bắt, kham lập phẩm cách ngàn đời. Hễ
phẩm cách được lập th́ chí thành. Chí thành th́ mới
đạt được công dụng. Thời Mạt, [mọi
người] tranh nhau đuổi theo cành lá, hiếm ai đạt
được cội nguồn! Ai biết hoa buổi sớm
dễ rụng, tùng, bách khó xơ xác? Bậc tài chí há cam tâm bỏ
lớn theo nhỏ ư? Không ǵ lớn bằng một niệm
hiện tiền. Thật sự có thể thẳng thừng
quan sát, biết nó vô tánh, quyết sẽ chẳng hư vọng
cho rằng Tứ Đại là thân tướng của chính
ḿnh, duyên ảnh[95]
lục trần là tâm tướng của chính ḿnh. Hai thứ vọng
thân và vọng tâm đă tiêu, c̣n ǵ đối đăi để
chẳng chân thật nữa ư? Sau đấy, dùng sự
chân giải để suy xét hết thảy các pháp, khiến
cho chúng hoàn toàn hết sạch, rỗng rang. Chẳng có trần
ảnh, th́ há có tập khí nhơ bẩn nào để có thể
đạt được, sẽ
trở lại sự trong sạch tinh
thuần. Đạo phong tột cùng chiều dọc, trọn
khắp theo chiều ngang. Chỉ v́ chưa ngó thấy một
niệm, khiến cho cái tâm bận bịu, lẩn quẩn
v́ sanh kế một trăm
năm, để cho hư
danh thiển cận mê
hoặc cái chí, [nếu cứ như thế, chẳng nhận
thức rơ ràng], tôi sợ rằng thiên chân sẽ ngày một
tệ, phụ bạc chẳng cạn tài đẹp, chí tốt
vậy!
* Chỉ dạy về
sự thực hiện ḷng khoan dung
Đạo
Nho dùng “trung thứ” (忠恕,
trung hậu, khoan dung) để làm mối truyền thừa
nhất quán. Phật dùng trực tâm làm cái gốc để
nhập đạo. Trực tâm chính là chánh niệm Chân
Như. Chân Như chẳng có tướng hư ngụy,
cũng gọi là chí thành tâm. Chân Như th́ chúng sanh và Phật
có cùng một Thể, cũng gọi là thâm tâm. Chân Như trọn
khắp hết thảy mọi sự, cũng gọi là hồi
hướng phát nguyện tâm. Ba tâm ấy chính là nhất
tâm. Nhất tâm dứt bặt trong, ngoài, th́ gọi là Trung.
Nhất tâm bằng với hết thảy các tâm th́ gọi
là Thứ
(恕, khoan dung). Do vậy
nói “tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ chẳng sai biệt”. Nếu
liễu đạt ba thứ chẳng sai biệt, muốn tự
dối, tự gạt trong một niệm cũng chẳng
thể được! Muốn ích kỷ, tự lợi
trong một niệm cũng chẳng thể được!
Muốn tự phân chia, hạn cuộc trong một niệm
lại càng chẳng thể được!
* Chỉ dạy Ngô Nhi
Thượng
Tánh
linh chẳng thể dùng “hữu, vô” để cầu, hoặc
dùng “đoạn, thường” để giữ lấy!
Do từ vô thỉ, hư vọng ngỡ Tứ Đại
là thân tướng của chính ḿnh, coi duyên ảnh của
sáu trần là tâm tướng của chính ḿnh. V́ thế,
đắm chấp “hữu, thường”. Tới khi nghe
“chẳng có, chẳng thường” lại chuyển thành so
đo “đoạn, vô” mà sanh ḷng sợ hăi, chẳng hề
suy nghĩ: Dẫu sợ hăi “đoạn,
vô”, rốt cuộc có thể đoạn vô hay không? Lại
nữa, sợ hăi sanh diệt trong mỗi niệm, chẳng
có bản thể,
chẳng có ngằn mé, rốt cuộc có thể gọi là
“thường có” hay chăng? Do quán điều này, [sẽ nhận ra] tánh
linh suốt ngày ở trong vọng chính là tánh linh suốt ngày luôn
chân thật. Một mực mê chính ḿnh là vật, ngỡ vật
là chính ḿnh, chưa từng giác ngộ!
Hăy thử nghĩ tạm
mượn Tứ Đại làm thân th́ thân chẳng phải
là thật ngă, tâm vốn vô sanh, do cảnh mà có, th́ tâm
cũng chẳng phải là ngă. Thân tâm so đo hư vọng
từ vô thỉ đă đều chẳng phải là ngă, c̣n
có vật ǵ có thể là ngă nữa ư? Đấy chính là
vượt khỏi kiến chấp “thường hữu”.
Biết cái vô ngă ấy rốt ráo chẳng thể đoạn
diệt; đấy là vượt thoát tà kiến “đoạn
vô”. Nhưng chỉ trừ ngă chấp thường hữu,
chẳng đoạn, tức là tánh linh “chẳng đoạn,
chẳng vô” vốn sẵn như vậy sẽ hiện tiền,
chẳng c̣n nhọc sức dùng tâm t́m tâm, như dùng mắt
để t́m mắt. Nếu có thể trông thấy (tức
là do mắt mà có thể thấy con mắt), [con mắt
được trông thấy ấy] chắc chắn chẳng
phải là con mắt của chính ḿnh. [Cái tâm] nếu
có thể đạt được, quyết chẳng phải
là cái tâm của chính ḿnh. Chỉ tận hết phàm t́nh, chẳng
có thánh giải. Hữu là để trừ pháp ngăn che,
Vô là để tương ứng với hiểu rơ pháp.
* Chỉ dạy
ưu-bà-di Kiên Tịnh
Người
cực thông minh đâm ra bị thông minh lầm lạc. V́ thế,
[kẻ đó] chẳng thể niệm Phật cầu sanh
Tây Phương! C̣n ngược lại, kẻ ngu, đàn
bà, do chịu chán ngán Sa Bà khổ sở, cầu xuất ly
sâu xa. Hăy nên biết kẻ kia (kẻ cực thông minh) thật
sự ngu si, c̣n hạng người sau là đại trí huệ.
Tốt, xấu
dễ phân định, đừng tự mê muội! Thường
thấy phường giả thiện tri thức luông tuồng,
mờ mịt, ăn nói lớn lối lừa đời, gặp
tiều phu, hay bà nông dân đang thật thà niệm Phật cũng
dạy họ
tham Thiền, lôi kéo tới lui, tự
ḿnh vỗ tay khen ḿnh. Hạng người thật thà ấy ngỡ
đó là [lời dạy] thành thật, bị phá hoại thiện
căn, rốt cuộc tham cũng lại chẳng tham
được, mà niệm th́ cũng niệm chẳng thuần
thục, gót chân bất ổn, tâm t́nh bối rối quẩn
quanh. Ôi! Cũng thảm lắm thay! Tôi khuyên bà hăy cắn chặt
răng cương quyết, tin tưởng Tây
Phương hết mức, thiết tha phát nguyện, tŕ giới,
tu phước để giúp sức. “Không Thiền, có Tịnh
Độ, vạn người tu, vạn về, chỉ
được thấy Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ!”
Đó là điều được xác quyết ngàn đời,
bà chẳng cần phải nghi! Những kẻ tà sư chẳng
biết hổ thẹn kia dám vu báng bậc tiên thánh, tùy tiện
đả phá, chỉ càng lộ rơ ác kiến của bọn
chúng đó thôi, há có bao giờ lật đổ được
lời phán định chắc chắn của cổ nhân
ư?
* Chỉ dạy Từ
Trọng Thao
Tập
khí của cư sĩ không ở nơi danh lợi, nhưng
bị phiền lụy v́ tâm khí thô thiển, hời hợt.
Nếu gặp chuyện mà suy nghĩ mười phần,
thâm nhập lưới trí vi tế của Bồ Tát, chẳng
lo không thể xuất thế!
* Chỉ dạy
Phương Nhĩ Giai
Pháp
môn Niệm Phật tuy bao trùm tám giáo, gồm thâu trọn vẹn
vô lượng trăm ngàn tam-muội, nhưng phương
cách thực hiện lại thẳng thừng, nhanh chóng, lẹ
làng nhất! Bởi lẽ, niệm tướng hảo, niệm
pháp môn, niệm Thật Tướng v.v… cố nhiên là
trước hết khai chân giải rồi sau đó mới
tu tập, muôn phần chẳng có lẽ nào xen tạp nghi
t́nh! Chỉ riêng pháp Tŕ Danh cũng chỉ thẳng thừng
mà tŕ, chẳng do dự, băn khoăn, hễ tin sâu Tịnh
Độ là có thể văng sanh. Phát nguyện quyết định
văng sanh, lấy tŕ danh làm chánh hạnh, dùng Lục
Độ
v.v… làm trợ hạnh. Vạn người tu, vạn
người đến, chắc chắn có thể đảm
bảo! Nếu có đôi chút tâm hiếu thắng, xen tạp
tham cứu, cho đó là “hướng thượng nhất
trước” (phương cách đạt đến triệt
ngộ của nhà Thiền) th́ gót chân bất ổn, Thiền
lẫn Tịnh đôi đằng mất sạch! Người
trí chẳng thể không quyết định sẽ tiến
theo phía nào!
* Chỉ dạy
Vương Tư Hồ
Ai nấy
đều có chủng tử Bồ Đề. Do v́ tự
ruồng rẫy, tự vứt bỏ, tự vạch giới
hạn, khiến cho vô lượng công đức
thiện căn oan uổng trở thành tư lương
để sanh tử trong cơi trời hay cơi người! Bảo
châu Ma Ni đem đổi lấy một tấm áo, hoặc
một bữa ăn, đáng tiếc quá
đỗi! Chúng ta có cùng một tâm tánh với tam
thế chư Phật, cùng có đủ sáu căn, há có mảy
may nào khiếm khuyết? Chỉ cần chịu một niệm
phát Bồ Đề tâm, thề thành Phật đạo, th́
những ǵ đă làm trong hiện thời, không ǵ chẳng là
công đức xứng tánh, chẳng cần phải thay
đổi đường lối rồi mới tu hành, chỉ
cần tin tưởng như thế ấy, dần dần
tích tụ công đức, sẽ thành Phật chẳng ngờ
chi nữa!
* Chỉ dạy
Trương Tử Tuế
Người
hiện thời suốt đời đọc ê a ư chỉ “trí
tri cách vật”, nhưng chưa từng để tâm tham
cứu, có đáng gọi là “hiếu học” hay chăng? Khổng
Tử tột bậc khen ngợi Nhan Hồi hiếu học,
chỉ dùng hai câu “bất thiên nộ” (不遷怒, chẳng trút
giận lên người khác) và “bất nhị quá” (不貳過, chẳng tái
phạm lỗi) để miêu tả. Đấy
là hiểu rơ ngoài tâm chẳng có cảnh, liễu đạt
sâu xa Duy
Tâm
Thức
Quán!
Nếu thấy ngoài tâm có một vật để trở
thành t́nh chấp, ắt sẽ không tận trừ vật, sẽ
chẳng biết cùng tột, sẽ phạm lỗi không chỉ
một lần, bị trút giận, ắt
đă là quá mức, há c̣n đạt được điều
sâu xa ǵ nữa ư?
* Chỉ dạy Hạ
Thứ Am
Các
pháp như mộng, hư vọng chấp là thật rồi
sanh sướng, khổ. Do vậy, trải nhiều kiếp
tự trói buộc. Ngay trong khi nhớ, chẳng cần phải
cưỡng ép khiến tâm chẳng nhớ, chỉ phản
quán cái tâm nghĩ nhớ ấy rốt ráo là thứ ǵ? Nh́n tới,
nh́n lui, thấy nó là một
tràng lộn xộn. Vô thỉ ân ái chẳng biết đă
đi về đâu rồi! Hăy chú ư nhé!
* Chỉ dạy Tự
Nhược
Khi
Phật pháp hưng thịnh, người ta đua nhau chú trọng
thực chất. Cho đến khi pháp đă suy, mọi
người đều đua nhau tranh danh. Do thực chất
th́ sẽ siêu thoát sanh tử, chứng Bồ Đề. V́
danh, ắt sẽ tăng nhân ngă, trưởng ma nghiệp.
Người có chí chẳng thể không suy xét chín chắn! Một
niệm tâm tánh hiện tiền tại phàm chẳng giảm,
nơi thánh không tăng; nhưng
mê th́ là phàm phu, ngộ bèn là thánh nhân. Kẻ đă mê, dẫu
tôn xưng là thánh, sao cứu khỏi mê? Người đă
ngộ, dẫu bị biếm nhẽ là phàm, há ngộ tổn
hại ǵ? Hư danh chẳng đáng để xét nặng,
nhẹ, cũng đă rơ rồi! Người khéo học
đạo, trước hết hăy quán hủy báng và ca ngợi
lăng xăng, mê
ngộ tự an, chẳng bị ca ngợi hay hủy
báng ảnh hưởng cái tâm. Kế đó, quán mê và ngộ
rành rành, tâm tánh tự an, kiến giải sẽ chẳng rối
ren bởi mê hay ngộ, chẳng
bị lầm lạc bởi hai chữ Mê và Ngộ, đối
với chuyện thuộc về bổn phận sẽ có
chút phần tương ứng vậy!
* Chỉ dạy
phương hướng gọi là Chiếu Nam
Các
pháp vô tánh, hoàn toàn chuyển theo tâm. Tâm v́ danh lợi th́ hết
thảy đều hướng theo danh lợi. Tâm v́ Bồ
Đề, hết thảy sẽ xoay theo Bồ Đề.
V́ thế nói “địa ngục là pháp giới” cho
đến “Phật là pháp giới”, đều chẳng
vượt ngoài tâm được! Thiện Tài phát Bồ
Đề tâm, đi qua cả trăm ṭa thành, bất luận
Ngài đi về đâu, [kinh Hoa Nghiêm] đều
nói phương vị nơi ấy là “phương Nam”. Vạch
khắc trên cán cân đă chánh[96],
chẳng hướng nào không phải phương Nam! Ác
vương, dâm nữ, khổ hạnh, nghịch cát, người
đời nh́n vào, có bao giờ chẳng nghĩ đó là pháp
hội ác? Nay chưa từng chẳng phải là vị vua bạo
ngược, cô gái lạ lùng xinh đẹp, là Bà-la-môn đốt
thân, các bé
trai dồn cát[97].
Trong mắt Thiện Tài, họ chẳng phải là chân thiện
tri thức ư? Do vậy, người thật sự phát
tâm gặp cảnh, chạm duyên, đối nhân xử thế,
hết thảy đều tưởng là Phật sắc,
Phật thanh, Phật hương, Phật vị, Phật
xúc, Phật pháp, ắt niệm nào cũng tương ứng
với biển Tát Bà Nhă, chẳng cần bàn định công
phu tu chứng nữa, điều mầu nhiệm ở
ngay trong đó. Nếu bỏ cảnh giới của Phật
trước mắt để hỏi riêng pháp yếu quán
tâm trên bồ đoàn, [chính là] ở
ngay trong điện Hàm Nguyên[98]
mà lại t́m Trường An, đang ở trong biển mà
đâm ra đến nỗi chết khát, do chẳng thấu
đạt diệu chỉ, diệu quán, chẳng nắm
được “trái phải đều gặp nguồn”[99].
Xin hăy dùng trí quang căn bản ấy để chiếu tận
phương Nam, mới tin mỗi một vi trần đều
có kinh quyển to bằng đại thiên, mỗi trần
đều là phương
hướng to lớn vậy!
* Chỉ dạy Văn
Giác
Tánh
Nghe trong một niệm hiện tiền vốn là viên thông,
thường hằng, chỉ là chẳng tự giác đó
thôi! Thật sự hướng tới chỗ cư ngụ
tĩnh lặng, khi nghe mười phương, sẽ nhận
biết nó vốn viên. Khi nghe âm thanh vọng lại cách
tường, sẽ nhận biết nó vốn thông, [cũng
như do thấy] chỗ “âm thanh sanh hay diệt, nhưng
tánh Nghe chẳng sanh diệt”, bèn nhận biết tánh Nghe vốn
thường, sẽ tin nghiệp thức hiện hành của
chúng ta chính là trí quang bất động của chư Phật.
Nhĩ Căn
đă là như thế, các căn khác cũng thế. Sáu
căn đă là như thế, trần thức cũng thế.
Mỗi trần, mỗi pháp, không ǵ chẳng phải là viên,
thông, thường! Đó gọi là Nhĩ Môn Viên Chiếu
tam-muội, há có ĺa một niệm hiện tiền của
chúng ta mà riêng có một pháp môn để đức Quán Âm chứng
ư? Khi nào giác, sẽ là ba mươi hai ứng thân, mười bốn
thứ vô úy, tứ bất tư nghị vô tác diệu đức,
mỗi thứ đều là lực dụng vốn sẵn có
nơi tánh. Kho báu của cô gái nghèo[100]
vốn sẵn tự có, chẳng phải do đạt
được từ bên ngoài. Chỉ suy nghĩ chắc thật,
lănh hội sâu xa, th́ vô biên pháp tạng, cơ duyên của
chư tổ đều cùng thấu suốt rành rành, chứ
chẳng chỉ dạy chi khác!
* Chỉ dạy Nhĩ
Giai
Tứ
Niệm Xứ là giềng mối chung của Phật pháp,
Thiên, Viên, Quyền, Thật không ǵ chẳng do đó, đấy
là con đường trọng
yếu để thoát sanh tử, là đường lối
chung để thành Bồ Đề. Một là thân niệm
xứ, hai là thọ niệm xứ, ba là tâm niệm xứ,
bốn là pháp niệm xứ. “Thân, thọ, tâm, pháp” chỉ
quả báo Ngũ Ấm, tức là Khổ Đế. Chẳng
hiểu rơ chúng là hư huyễn, hư vọng thường
dấy lên so đo “thường, lạc, ngă, tịnh”
tức là Tập Đế. Quán sát rành rẽ, biết chúng
là bất tịnh, khổ, không, vô thường, vô ngă,
cũng như huyễn hóa, cũng chỉ là giả danh,
cũng chính là pháp tánh; đó tức là Đạo Đế.
Chẳng khởi bốn món điên đảo “thường,
lạc, ngă, tịnh”, chẳng chuốc lấy Phần
Đoạn sanh tử. Chẳng dấy lên bốn món
điên đảo “vô thường, vô lạc, vô ngă, bất
tịnh”, chẳng dính mắc Thiên Chân Niết Bàn. Chẳng
dấy lên bốn món song đảo (điên đảo kép)
tức “cũng thường
cũng vô thường, cũng lạc cũng vô lạc,
cũng ngă cũng vô ngă, cũng tịnh cũng bất tịnh”, sẽ chẳng
chuốc chân thường tuôn rưới, Biến Dịch
sanh tử chẳng nghĩ bàn. Đó chính là Diệt Đế.
Do vậy, siêng tu Tứ
Niệm Xứ, sẽ thấy bốn loại Tứ Đế.
Quán thân bất tịnh v.v… sẽ thấy Sanh Diệt Tứ
Đế. Quán thân như huyễn v.v… sẽ thấy Vô Sanh
Tứ Đế. Quán thân giả danh vô tánh, duyên sanh tạo
trọn khắp mười giới v.v… sẽ thấy Vô
Lượng Tứ Đế. Quán thân pháp tánh tức Thật
Tướng v.v… sẽ thấy Vô Tác Tứ Đế. V́ thế,
kinh Duy Ma nói: “Quán thân Thật Tướng, quán Phật diệc
nhiên” (quán thân là Thật Tướng, quán Phật cũng
thế). Đức Tỳ Xá Phù Phật[101]
dạy: “Giả tá Tứ Đại dĩ vi thân, tâm bổn
vô sanh nhân cảnh hữu. Tiền cảnh nhược vô,
tâm diệc vô. Tội phước như huyễn, khởi
diệc diệt” (Giả mượn Tứ Đại
để làm thân. Tâm vốn vô sanh, nhân cảnh có. Tiền cảnh
nếu không, tâm cũng không. Tội phước như huyễn,
khởi rồi diệt). Hăy tin chắc, quán kỹ, chẳng
lo không thành Phật ngay lập tức!
* Chỉ dạy Thế
Văn
Ba
môn Thiền, Giáo, Luật đều cùng thấu suốt rạch
ṛi, chẳng phải chỉ là Xuân lan, Thu cúc! Thiền là Phật
tâm, Giáo là Phật ngữ, Luật là Phật hạnh. Cơi
đời há có người có tâm mà chẳng có ngữ và hạnh?
Hoặc có ngữ mà chẳng có hạnh và tâm ư? Người
học hiện thời không chỉ phân biệt môn hộ, dẫu
phát tâm học trọn khắp, chưa từng biết một
pháp xuyên suốt trọn khắp. Do vậy, vừa mới
vào Luật đường, liền coi y, bát, tích trượng
là cái tiêu biểu để ca ngợi. Vừa dự vào giảng
ṭa, liền coi chuyện bám sát từng câu văn là nhiệm
vụ trọng yếu. Vừa vào Thiền lâm, liền coi
cơ phong chuyển ngữ là cơm nước. Cho tới
khi đă hành cước mười, hoặc hai mươi
năm, xây đắp ba thứ tập khí đă tràn trề,
liền nghĩ mở ra một tùng lâm, ngất ngưởng
giữ ghế phương trượng, tự cho là tinh
thông Thiền, Giáo, Luật, mặc sức tung hoành, đủ
thứ cổ quái, lừa gạt, mê hoặc kẻ ngu mê,
giam chặt trong lồng trí huệ thế gian. Tới khi
dùng Phật tâm, Phật ngữ, Phật hạnh chân chánh
để khảo hạch họ, hiếm có kẻ chẳng
công khai chống trái! Chẳng có chi khác! Đó là do lúc ban
đầu tham học đă chẳng có đủ con mắt
chân chánh, lại chẳng phát đại Bồ Đề
tâm chân chánh, lại chẳng thật sự có cái tâm v́ sanh tử.
Chẳng v́ sanh tử, quyết sẽ chẳng thể phát
khởi đại tâm. Chẳng phát đại tâm, quyết
sẽ chẳng thể mở toang chánh nhăn!
Muốn thật sự
v́ sanh tử, chẳng có thuật nào khác. Cần phải biết
tam giới không ǵ chẳng khổ. Thân tâm trong hiện tại
chính là dụng cụ để tiếp nhận khổ. Do
chẳng biết khổ, lại tạo khổ nhân. Nay dùng
Tứ Đại để quán thân, dùng Tứ Uẩn (Thọ,
Tưởng, Hành, Thức) để quán tâm, biết rơ chẳng
có ngă và ngă sở, chỉ do mê hoặc mà oan uổng hứng
chịu luân hồi, sanh ḷng hổ thẹn sâu xa, dũng mănh
cầu giải thoát. Đấy tức là cái tâm chân thật
v́ sanh tử, lại c̣n biết rơ “tâm, Phật, chúng sanh,
cả ba chẳng sai biệt”. Chư Phật đă ngộ,
chúng sanh vẫn mê. Ta nay đă biết lư này, thề cùng chúng
sanh đồng chứng Chánh Giác. Đấy chính là đại
Bồ Đề tâm chân chánh.
Đă phát cái tâm ấy,
lại biết nếu có một chuyện chẳng hợp
Phật hạnh, một lời chẳng hợp Phật ngữ,
một niệm chẳng hợp Phật tâm, sẽ chẳng
trọn đủ tự lợi, lợi tha. Ba ngàn oai nghi,
tám vạn tế hạnh[102]
đều là vật dụng để mài giũa chân tánh,
trọn chẳng phải là y, bát, tích trượng [là thứ
để trau giồi luật nghi]! Phải nên hiểu rơ
tác, phạm, chỉ, tŕ và phương tiện khai giá th́ mới
thành Phật hạnh. Mười hai phần giáo, tam thừa
thánh điển đều là lời chỉ điểm tâm
tánh, trọn chẳng phải ở nơi danh, cú, văn
thân[103],
phải nên thống thiết suy xét Thiên, Viên, Quyền, Thật,
và Thể, Tông, Lực Dụng, th́ mới hiểu Phật
ngữ. Giơ cành hoa, dựng đứng cán phất trần[104],
đủ mọi cơ duyên, đều là phương tiện
để “điểm sắt thành vàng”, trọn chớ
nên rơi vào bên t́nh thức suy đoán,
hăy nên thẳng thừng “t́m tâm trọn
chẳng thể được”. Chẳng ở ngoài tâm
mà bàn tán công án của cổ nhân th́ mới khế hợp Phật
tâm. Phàm tâm Phật và tâm ḿnh, há có phải là hai thứ ư?
Quán cái tâm trong một niệm hiện tiền trọn chẳng
thể được, trọn chẳng c̣n lầm nhận
duyên ảnh là tâm, mới biết hết thảy các pháp
không ǵ chẳng phải chính là tự tánh của cái tâm.
Đă biết hết thảy các pháp đều chính là tự
tâm, th́ Phật tâm cũng chính là tự tâm. Đă biết Phật
tâm chính là tự tâm th́ Phật ngữ, Phật hạnh, há có riêng thứ ǵ
chẳng phải là ngữ và hạnh của chính ḿnh ư?
Chẳng ở ngoài tâm riêng t́m Thiền, Giáo, Luật. Há c̣n ở
ngoài Thiền, Giáo, Luật riêng t́m kiếm tự tâm! Như
thế th́ suốt ngày tham Thiền, xem
Giáo, học Luật, đều tương ứng với đại
sự, đại tâm, chánh pháp nhăn tàng trong khoảng một
niệm vậy, há c̣n coi khô Thiền mặc chiếu[105]
là quán tâm nữa ư?
* Chỉ dạy người
chưa học
Hết
thảy các pháp vốn tự chẳng có, bất quá do tự
tâm hiện. Chúng sanh mê hoặc, hư vọng dấy lên so
đo, chấp trước. Xét kỹ chứng bệnh nặng
ấy, chỉ do mê chính ḿnh là
vật. Lại c̣n ở trong ấy, ngỡ
vật là chính ḿnh! Đó gọi là
hư vọng ngỡ Tứ Đại là thân tướng của
chính ḿnh, coi duyên ảnh của lục trần là tâm tướng
của chính ḿnh. Đấy chính là căn bản của sanh
tử từ vô thỉ. Nay đă hơi hiểu Phật
pháp, dẫu biết Tứ Đại chẳng phải là
thân, hoàn toàn chẳng biết duyên ảnh chẳng phải
là tâm, chẳng nghĩ duyên ảnh là một vật, sao có thể
là “linh diệu thường
biết”
ư? Khi nhận biết đúng về duyên ảnh, duyên ảnh
vốn chẳng phải là tâm. Kẻ nhận lầm duyên ảnh
vốn chưa từng chẳng phải là linh diệu
thường tri, ĺa các hư luận, chỉ thấy thấu
suốt hết thảy sở tri chướng giới, chẳng
luận “chân, vọng, hữu, vô”, đều là Tướng
Phần của tự tâm, mà cái Thể “năng tri”
rốt cuộc trọn chẳng thể
được! Như con mắt quyết chẳng thể
tự thấy chính nó, mà cũng chắc chắn chẳng phải
là không có mắt. “Tâm
chẳng biết tâm”
cũng lại giống như thế. Do mắt mà thấy
hết thảy các vật, do tâm nên có hết thảy các
pháp. Hết thảy các pháp đều chẳng phải là
tâm, mà ĺa tâm th́ chẳng có một pháp dẫu nhỏ như
vi trần để có thể đạt được,
chỉ thấu đạt như thế đó! Chẳng có
một pháp là tâm, mà cũng chẳng có một pháp nào không phải
là tâm! Lâu ngày thuần thục, sẽ đạt tới tâm
và pháp là cảnh giới nhất như, cũng chẳng có “năng
đáo” (cái có thể đạt tới) và “sở
đáo” (cái bị đạt tới). Hăy suy nghĩ!
* Chỉ dạy Trí Khả
Đại
sự sanh tử ai nấy đều có, chỉ từng trải
qua trắc trở, hoạn nạn, mới thấy nó bội
phần thân thiết. Vẫn có kẻ đă trải qua khổ
nạn mà tâm sanh tử vẫn chưa
tha thiết, hư vọng chấp ngă, t́nh kiến so đo
sâu dày, mai một trí quang vốn sẵn có. Nhưng cái trí
quang vốn sẵn có ấy há có thể mai một
được ư? Trong động tĩnh, hành xử hằng
ngày, luôn thuộc trong ngă chấp, t́nh kiến so đo hừng
hực toan bộc lộ, mà người ta chẳng chịu
lắng tâm nh́n thấu suốt! Thật sự hướng
theo ngă chấp hư vọng
để nỗ lực nh́n cho rơ rốt cuộc vật nào
là ngă, người nào để so đo là ta? T́m ngă trong Tứ
Đại, Ngũ Uẩn đă chẳng thể được,
t́m một cái Ngă có thể so đo ở ngoài Tứ Đại,
Ngũ Uẩn, lại chẳng thể được! Bản
thể của năng kế (cái
tâm so đo) và sở kế (sự
việc bị so đo) cũng chẳng phải
là không tịch ư? Nhưng trong cái bản thể không tịch đó,
lại ngang ngược nẩy sanh so đo, chấp trước!
Do vậy, trái nghịch giác, xuôi theo trần lao. Nếu biết
ngay trong khi đang ngang trái so đo, vẫn chẳng phải
là cái bản thể không tịch, há chẳng phải là sẽ
ngay lập tức trái trần, hợp giác?
Than ôi! Mê th́ toàn thể giác thành trần, ngộ th́ toàn thể
trần thành giác. Trần và giác, tánh của chúng chẳng
hai. Trái nghịch chẳng thể trái nghịch, hợp chẳng
thể hợp, chẳng phải là trái nghịch hay hợp
mà luận định “trái, hợp”, kẻ chẳng hiểu
sâu xa Giáo Quán sẽ chẳng thể biết! Nhưng chẳng
phải là niệm nào cũng phản quán lư tánh nơi thân
tâm, th́ cũng chắc chắn chẳng thể thâm nhập
Giáo Quán! Hoặc là có Văn mà chẳng có Huệ, cầm lửa
tự thiêu. Hoặc có Huệ mà chẳng có Văn, vung
đao tự cắt ḿnh. Người thật sự v́ sanh
tử sẽ buông xuống các toan tính kiếm sống trước
mắt, thống thiết trừ khử tập khí ác từ
vô thỉ, dùng tâm ấn giáo, chẳng phải là nói suông!
Dùng giáo ấn tâm, chẳng phải là ám chứng, vượt
khỏi hai thói tệ nơi Thiền và Giáo, sẽ có thể
là người trí vậy!
* Chỉ dạy Vũ
Bạc
Vũ trụ không ǵ chẳng phải là tạm
dừng chân trong chuyến lữ du, nhưng kẻ dừng
chân trong vũ trụ rốt cuộc là người như
thế nào? Thân tâm Ngũ Uẩn là huyễn vật trong quán
trọ, gọi nó là chính ḿnh th́ chẳng thể được!
Nhưng ĺa thân tâm, lại gọi vật ǵ là chính ḿnh? Bảo
là Vô th́ nó chẳng đoạn diệt, cho là Hữu th́ có
khác ǵ với thần ngă [như ngoại đạo nói]?
Kinh dạy: “Kiến dữ kiến duyên, tịnh sở
tưởng tướng, như hư không hoa, bổn vô sở
hữu. Thử kiến cập duyên, nguyên thị Bồ
Đề diệu tịnh minh thể” (cái có thể thấy
và các tướng được trông thấy bởi nó,
cũng như tất cả các tướng do suy tưởng
giống như hoa đốm trên hư không, vốn là vô sở
hữu. Cái có thể thấy và tướng được
thấy vốn là cái Thể mầu nhiệm, thanh tịnh,
sáng suốt của Bồ Đề)[106].
Hiểu thấu sự vượt thoát cả hai thứ
Đoạn Kiến và Thường Kiến ấy, sẽ
biết một niệm hiện tiền ĺa lỗi, dứt
sai, sẽ biết hết thảy các vật trong ngoài vũ
trụ nương gá trong cái tâm vọng tưởng nơi
một niệm, giống như vầng mây bềnh bồng
trong hư không. Đó gọi là “chẳng bị vật
chuyển, sẽ có thể chuyển vật”. Nh́n lại
chuyện hư vọng “ngỡ Tứ Đại là thân, ngỡ
duyên ảnh là tâm”, lại sanh nhàm ĺa, ắt thoát khỏi
ba cơi này mà trở về nhà, chẳng khác sự
khác biệt bội phần giữa ngày và kiếp!
Kệ rằng: - Vũ
trụ nương tâm ta, tâm ta vốn chẳng gá. Loạn tưởng liền
hôn trầm. Linh minh vốn sẵn có, giống như ngày hôm
qua. Chót mây thấy tiên nhân, há bị quạt che khuất. Chẳng
che khuất, Kỳ Bà đồng tử t́m kiếm suông[107]!
Ôi!
* Chỉ dạy Hằng
Từ
Chỉ có một danh xưng
là Từ, nhưng có ba nghĩa: Sanh duyên từ, pháp duyên từ,
và vô duyên từ. Từ có ba nghĩa, nhưng Thể là duy nhất,
tức là Phật tánh. Thể của Phật tánh thường
hằng, bất biến, chúng sanh và Phật chẳng khác. Liễu
đạt Phật tánh ấy, sẽ thành ba ḷng Từ.
Có người đối với điều này, dấy Hoặc,
tạo nghiệp, phá giới phạm pháp. Bồ Tát trông thấy,
biết rơ thiện ác sanh từ nhân duyên, như huyễn mà
có. Đă tạo huyễn nhân, ắt chuốc lấy huyễn
quả. Thề dẹp trừ nỗi khổ do huyễn
nhân, huyễn quả, để ban cho niềm vui huyễn
diệt. Đó là sanh duyên từ.
Lại biết pháp thiện
hay ác ấy đă từ
duyên sanh, bèn chẳng có thật tánh, bản thể của
nó chính là Không. Chẳng hiểu rơ “vốn
là Không”, sẽ oan uổng
hứng chịu luân chuyển! Nay tự hiểu rơ vốn
là Không, cũng khiến cho người khác giác ngộ hiểu
rơ nó vốn là Không. Chẳng dẹp khổ, ban cho sự vui do hiểu
rơ Không th́ gọi là pháp duyên từ.
Lại biết pháp thiện
hay ác ấy, duyên sanh vô
tánh, vô tánh duyên sanh, Thể của nó chẳng hai, tức là
Thật Tướng. Chẳng hiểu rơ Thật Tướng,
sẽ hư vọng
đọa vào nhị biên. Khéo hiểu rơ nhị biên, không ǵ
chẳng phải là Thật Tướng. Dẹp trừ nỗi
khổ “chẳng phải biên mà chấp là biên”, ban cho
niềm vui “biên chính là trung”. Đó là vô duyên từ.
Tuy nói theo thứ tự,
nhưng hành cùng một lúc. Pháp Hoa tam-muội do Thường
Bất Khinh Bồ Tát đă hành chính là Hằng Từ tam-muội.
* Chỉ dạy Thất
Tịnh
Kinh
Đại Phật Đảnh dạy: “Chúng sanh sanh tử
tương tục, giai do bất tri thường trụ
chân tâm, tánh tịnh minh thể, dụng chư vọng
tưởng. Thử tưởng bất chân, cố hữu
luân chuyển” (Chúng sanh sanh tử liên tục đều
do chẳng biết chân tâm thường trụ, và tánh có cái
Thể thanh tịnh, sáng suốt, mà dùng các vọng tưởng.
Do tưởng chẳng chân thật, cho nên có luân chuyển).
Thử hỏi vọng tưởng rốt cuộc là chuyện
ǵ vậy? Ở bên trong ư? Hay ở ngoài, trung gian? Cho tới
hết thảy chẳng chấp ư? Như [đức Phật] gạn
hỏi [cái tâm] trọn khắp bảy chỗ, [ngài A
Nan trả lời bảy lần] đều chẳng phải
là đúng chỗ! Đó chẳng phải là “vọng
tưởng vô tánh” như kinh Lăng Già đă nói ư? Vọng
tưởng vốn vô tánh, như thế nào th́ có thể sử
dụng? Đă chẳng có vọng tưởng
để có thể dùng, lại v́ sao mà có
lưu chuyển? Nếu thật sự từ ngay nơi vọng
tưởng trong một niệm hiện tiền mà thống
thiết suy xét cội nguồn, xét đến chỗ “ngay chính khi ấy là
vô tánh”, sẽ biết: Ĺa chân tâm th́ chẳng
có vọng tưởng nào khác để có thể đạt
được! Như ngoài nước chẳng có sóng, ĺa vọng
tưởng sẽ chẳng có chân tâm để có thể
t́m được! Như ngoài sóng chẳng có nước,
chỉ phá Biến Kế, bèn từ ngay Y Tha Khởi mà hiển
lộ Viên Thành. Từ ngay chỗ mở miệng, t́m
được rơ ràng, ư nghĩa của mười quyển
kinh văn
[kinh Lăng Nghiêm] đều rành rẽ.
Há nên bắt chước lũ mù sờ voi, lần lượt
nói ṃ tạp loạn ư?
* Chỉ dạy về
[thế giới hải] Nhụy Tràng
Mọi
người biết Chủng Chủng Quang Minh Nhụy
Hương Tràng an trụ trong Vô Biên Hương Thủy Hải,
cũng biết cái biển thơm ấy trụ trong hư
không. Hư không trụ trong một niệm tâm vọng
tưởng của chúng ta. Vọng tưởng chẳng
sanh, hư không sao có? Hư không tiêu mất, biển thơm
há c̣n? Biển
thơm vốn là Không, có ǵ để gọi
là Nhụy Tràng? Ôi chao! Chớ nên hiểu là đoạn diệt,
chớ nên hiểu là hải ấn hiện rạng ngời!
Đợi tới khi quư vị thật sự đánh mất
lỗ mũi, hăy trở lại chỗ Ngẫu Ích đạo
nhân lănh một gậy đau điếng!
* Chỉ dạy về
đạt tâm
Kinh
dạy: “Tam giới vô biệt pháp, duy thị nhất tâm
tác” (Tam giới chẳng phải là pháp nào khác, chỉ do
nhất tâm tạo). Rốt cuộc tâm là vật như thế
nào mà có thể tạo tác các pháp trong tam giới? Nếu là một
vật, th́ do đă thành một
vật, sao nó có thể tạo trọn khắp các vật? Nếu
là rốt ráo chẳng có, tự nó đă chẳng có Thể,
sao có thể tạo trọn khắp các vật cho được?
Như không có nước, quyết chẳng có sóng. Nhưng
toàn thể của nước đă thành sóng, bỏ sóng
để riêng t́m cái Thể của nước có được
hay chăng? Trong sóng, lại phân biệt ngọn sóng nào là
nước, ngọn sóng nào chẳng phải là nước,
há có được hay chăng? Cũng giống như huyễn
sự, chẳng có khăn th́ chẳng có thỏ, ngựa,
nhưng toàn thể cái khăn đă làm thỏ, ngựa. Bỏ
thỏ, ngựa để t́m riêng Thể của cái khăn
có được hay chăng? Nếu bảo thỏ, ngựa
chính là khăn, lại có được hay chăng? Lại
nói do thỏ, ngựa vốn chẳng có, vậy th́ khăn
cũng là chẳng có, có được hay chăng?
Tâm và pháp chẳng một,
chẳng khác cũng lại như thế, bèn nói là “tùy
duyên bất biến”. Toàn thể của tâm đă làm y báo
và chánh báo, làm danh sắc, làm phàm, thánh. Ngoài pháp y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm, thánh
ra, t́m riêng tâm tánh chừng bằng chót đầu lông, há có
được chăng? Trong các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc,
phàm, thánh, nhận riêng tâm tánh chừng bằng chót đầu
lông cũng há có được chăng? Chỉ các pháp chính
là tâm, há có được chăng? Các pháp đều chẳng
phải là tâm, cũng há có được chăng? Nói các pháp
y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm, thánh vô lượng sai biệt,
tâm cũng là vô lượng sai biệt, há có được
chăng? Tâm chẳng sai biệt, các pháp cũng chẳng sai
biệt, lại há có được chăng? Nói y báo, chánh
báo, danh, sắc, phàm thánh, các pháp sai biệt chẳng phải
là cái tâm không sai biệt, cái tâm không sai biệt chẳng có
đủ các pháp sai biệt, há có được chăng?
Nói ngoài tâm thật sự có các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc,
phàm, thánh, há có được chăng? Các pháp đều chẳng
thật sự có, tâm cũng chẳng có, lại há có
được chăng? Đấy đều là lư bất
biến tùy duyên. Chính ngay trong lúc ĺa lỗi, dứt sai ấy,
mà nói là tùy duyên bất biến.
Toàn thể của tâm
tánh đă huyễn thành các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc,
thánh, phàm; ở trong ấy, tùy ư lấy một pháp, không ǵ
chẳng vẫn là đại dụng của toàn thể tâm
tánh. Như nêu ra nước là sóng, không một ngọn sóng
nào chẳng phải là tánh ướt của nước.
Nêu ra vàng làm thành đồ vật, không một món vật
nào chẳng có tánh chất cứng cỏi, quư báu của
vàng! Lại như nêu lên toàn thể của mặt trời,
hễ ánh sáng chiếu qua một kẽ hở, không một
kẽ hở nào chẳng thấy trọn toàn thể đại
dụng của mặt trời. Do vậy nói rằng: Sự
Sự vô ngại pháp giới vốn ở trong mọi chuyện
sinh hoạt thường ngày của chúng ta. Pháp vốn sẵn
như vậy, há cứ phải đề cao thánh cảnh,
bảo “phàm phu tuyệt chẳng
có phần”
ư?
Nhưng cái t́nh kiến
hư vọng nói “phàm phu tuyệt chẳng có phần” ấy
cũng vẫn chẳng thể nghĩ bàn, cũng là đại
dụng của toàn thể pháp giới, do nó chẳng ở
trong, chẳng ở ngoài, chẳng thuộc quá khứ, hiện
tại, tương lai, chẳng thể nói là có, chẳng thể
bảo là không! Như ngọn lửa do thiêu rác rưởi
hay lửa do đốt chiên đàn cũng đều là lửa
đốt trọn khắp đại địa. V́ thế
biết t́nh kiến của phàm phu chính là cái Thể của
trí huệ xuất thế, mà cũng chính là trí thể bất
động căn bản của chư Phật. Nếu chẳng
có t́nh kiến ấy, cũng chẳng có cái trí xuất thế,
trí bất động. T́nh tức là trí thể, nghiệp
chính là giải thoát, khổ chính là Pháp Thân, cũng c̣n ngờ
chi nữa? Như nắm đấm chính là bàn tay, băng tức
là nước, hoa đốm tức là hư không, rắn tức
là dây thừng, dây thừng tức là gai. Liễu đạt
như thế th́ mới gọi là đạt tâm, cũng gọi
là “thấu đạt hết thảy các pháp”, cũng
gọi là vô đạt, vô bất đạt, cùng chiếu
đạt và bất đạt. Đạt được
như thế, sẽ có thể đặc biệt đứng
vững ngàn đời, quyết chẳng bị hạn cuộc
trong các toan tính trước mắt!
* Chỉ dạy Lưu
Kim Độ
Đối
với ba loại người thượng phẩm thượng
sanh, trước hết nói “từ tâm chẳng giết,
đủ các giới hạnh” v́ giới là cương lănh
chung của vạn hạnh, c̣n “từ tâm chẳng
giết” lại là điều cần phải chú trọng
trước tiên trong giới hạnh. Dùng đấy để
phát trọn ba tâm, cơi nào mà chẳng tịnh ư? Ba tâm là:
-
Trực tâm chánh niệm Chân Như gọi
là chí thành tâm, hiển Pháp Thân đức.
-
Thích tu tập hết thảy các công
đức th́ gọi là thâm tâm, hiển Bát Nhă đức.
-
Hoằng thệ vô tận, gọi là hồi
hướng phát nguyện tâm, hiển giải thoát đức.
Giới cũng có ba loại
là:
- Nhiếp luật nghi
giới, không ác nào chẳng đoạn, tức thành tựu
Pháp Thân.
- Nhiếp thiện pháp
giới, không điều thiện nào chẳng măn, tức
thành tựu Bát Nhă.
- Nhiêu ích hữu t́nh giới,
không chúng sanh nào chẳng độ, tức thành tựu giải
thoát.
Từ cũng có ba:
- Sanh duyên từ, chẳng
tạo duyên sát sanh. Quán hết thảy chúng sanh đều
là cha mẹ, anh em, lục thân, quyến thuộc của ta.
- Pháp duyên từ, chẳng
tạo duyên cho cách giết. Quán hết thảy đất,
nước đều là thân trước của ta, hết thảy gió, lửa,
cũng là bản thể của ta.
- Vô duyên từ là duyên
chẳng chấp ngă. Quán Phật tánh trong một niệm hiện
tiền không đâu chẳng trọn khắp. Mười
phương ba đời hữu t́nh
và vô t́nh có cùng một giác thể, chẳng
hai, chẳng khác.
Niệm nào cũng tu ba
ḷng Từ ấy, tức là thanh tịnh tam tụ. Tam tụ giới đă tịnh,
ba tâm liền trọn đủ, thượng phẩm
thượng sanh chẳng ngờ nữa! Hơn nữa, do
ba tâm Quán Hạnh có thể sanh vào thượng phẩm Phàm
Thánh Đồng Cư Tịnh Độ. Ba tâm Tương
Tự sanh vào thượng phẩm Phương Tiện Hữu
Dư Tịnh Độ. Ba tâm Phần Chứng sanh vào
thượng phẩm Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ.
Ba tâm Cứu Cánh sanh vào thượng phẩm Tịch Quang Tịnh
Độ. Ngài Vĩnh Gia nói “ai vô niệm? Ai vô sanh?”
Như thật sự chẳng sanh, chẳng bất sanh, “hăy nên không trụ vào
đâu mà sanh cái tâm, hết thảy hiền thánh đều
do pháp vô vi mà có sai biệt” của
kinh Kim Cang, chính là nói về điều này vậy!
* Chỉ dạy
Dĩnh Sanh
Bài
Lễ Quán Âm Văn của thiền sư Đại Huệ
linh nghiệm nhất. Cái hay khéo ở chỗ hành tŕ miên mật,
thường hằng. Nếu chẳng miên mật, chẳng
thường hằng, dẫu bậc chí thánh cũng chẳng
có cách nào “không cảm liền ứng” được!
Phàm cách đảnh lễ th́ vào lúc đêm thanh tĩnh,
trước hết, đối trước tượng [Bồ
Tát], thắp
hương cúng dường, chuyên ṛng tŕ thần chú Đại
Bi dăm ba lượt để thanh tịnh đàn tràng. Kế
đó, chắp tay đối trước tượng,
đọc bài Tán Quán Âm Văn một lượt. Kế
đó, chí thành đảnh lễ Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại
Từ Đại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma
Ha Tát ba mươi hai lạy rồi quỳ tụng Quán Âm
Văn để hồi
hướng. Cứ hành như thế, đừng cho
người khác biết. Suốt ba năm chẳng thiếu
sót, nhất định sẽ có linh ứng. Tùy thuộc
căn hạnh, ba phẩm Giới, Định, Huệ
đă phát, mỗi mỗi đều có thượng, trung, hạ
bất đồng. Hăy dựa theo tướng tu chứng của
Pháp Hoa tam-muội được nói trong kinh tạng để
tự tỉ mỉ phân định, xem xét, ngơ hầu chẳng
đọa vào ma
sự.
* Chỉ dạy Mă Hiểu
Đô
Đời
suy đạo tàn do chẳng hiểu thánh học (Nho học).
Chẳng hiểu thánh học là do bị công danh, lợi lộc
mê hoặc cái chí, chẳng có bậc hào kiệt chấn
hưng sự suy đồi ấy. Tôi sợ rằng hiếm
khi chân mạch của Khổng -
Nhan chẳng rơi xuống tận
đất đen! Hào kiệt bất quá là người trong
mỗi niệm đều vận
dụng “tự
cư xử như thánh hiền, thấy người hiền
mong được bằng, biết lỗi ắt sửa,
nói ít, chăm làm, chuộng thẳng
thắn, rộng lượng, đa văn, chuộng chừng
mực, lễ nhạc, chuộng điều lành của
người đạo đức, chuộng có nhiều bạn
hiền, phát phẫn quên ăn, vui đến nỗi quên lo”. Dụng
tâm như thế mà chẳng cao dự bậc thánh, tôi chẳng
tin! Phương tiện để thực hiện thẳng
thừng, nhanh chóng th́ không ǵ bằng thấu hiểu cùng tận
lương tri. Phàm đối với chuyện biết thiện,
biết ác, ví như mắt biết sắc, mũi biết
mùi hôi, không ǵ chẳng do học mà biết. Biết điều
thiện mà chẳng thể như ưa thích sắc đẹp,
biết điều ác mà chẳng thể như ghét thứ
thối tha, không ǵ là do chẳng hiểu rơ tường tận
lương tri mà ra!
Đă có lương tri mà chẳng chịu thấu hiểu
cùng tận, tức là dối gạt
chính ḿnh. Dối gạt chính ḿnh tức là tự ruồng rẫy,
tự vứt bỏ.
Nếu có thể
như ghét thứ thối tha, như chuộng sắc đẹp
để tự thấu hiểu tận cùng, tức là tự khiêm. Tự khiêm th́ ư không ǵ chẳng
chân thành. Ư không ǵ chẳng thành, muốn chẳng
gọi là bậc đại thánh đại hiền, sẽ
chẳng thể được! Do vậy nói: “Dục
thành kỳ ư, tiên trí kỳ tri” (muốn cho ư chân thành th́
trước hết nên hiểu biết [lương tri]
đến tột cùng). Ai bảo là ngoài thấu hiểu
cùng tận lương tri ra, có riêng một công phu để
“thành ư” ư? Nhưng hiểu
biết tột cùng lại do trừ khử vật dục.
Do vậy, Vương Dương Minh nói: “Vi thiện, khử
ác thị cách vật công phu” (làm lành, trừ ác chính là công
phu để trừ khử vật dục). C̣n như ghét
thứ thối tha, ưa chuộng sắc tốt đẹp,
có thể nói là “cách vật nhi cách vật, cách vật nhi tri chí ư
thành” (trừ khử vật dục để
trừ khử đến cùng tột, trừ khử vật
dục ḥng hiểu biết tột
cùng để đạt tới tâm ư
chân thành).
Xưa kia, Trương
Tử Thiều chưa ngộ ư chỉ “cách vật”,
được sư Đại Huệ khéo chỉ dạy
bèn ngộ. Ấy là v́ tam giới nhân quả hết thảy
duy tâm, ngoài tâm chẳng có vật, nên gọi là “vật
cách”. Chẳng phải là ngài Đại Huệ chẳng
thể khéo tạo phương tiện, phải nói loanh
quanh gián tiếp, chẳng phải là Tử Thiều không thể
ngộ ngón tay chỉ trăng. Nhanh chóng ngộ ư chỉ sâu
xa, nếu hướng theo đó để lănh hội, ắt
sẽ chẳng cô phụ sự đích thân phó chúc trong hội
Linh Sơn, cũng như Khổng Tử trong thời Xuân
Thu[108],
Mạnh Tử trong thời Chiến Quốc, chẳng ắt
phải kiếm được một vị vua sáng để
hành cái đạo của chính ḿnh, nhưng thánh học muôn
đời đă dứt lại được tiếp nối,
há chẳng phải là chuyện thuộc bổn phận của
bậc hào kiệt ư? Ai nấy đều có thể làm
vua Nghiêu, đừng coi lời tôi nói là chuyện viễn
vông nhé!
* Chỉ dạy Huyền
Trước
Phật
tri Phật kiến chẳng có chi khác, một niệm hiện
tiền tâm tánh của chúng sanh mà thôi. Một niệm hiện
tiền tâm tánh vốn chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa,
chẳng thuộc vào ba đời, chẳng do bốn câu[109]
mà có thể được! Chỉ v́ chẳng chịu suy
xét, quán sát kỹ càng, hư vọng ngỡ duyên ảnh của
sáu trần là tâm tướng của chính ḿnh, liền trở
thành tri kiến của chúng sanh. Nếu quán cặn kẽ
tri kiến chúng sanh ấy vẫn chẳng ở các chỗ
trong, ngoài, trung gian, chẳng thuộc vào ba đời, chẳng
rơi vào bốn câu, th́ bản thể của tri kiến
chúng sanh vốn là Phật tri Phật kiến. Nếu chẳng
thể tin nhập ngay lập tức, cũng đừng
nên có nghi t́nh ǵ khác, lại cũng đừng ắt phải
lầm lạc gánh vác, chỉ thâm tâm tŕ giới, niệm Phật.
Nếu thật sự tŕ thanh tịnh, niệm thân thiết,
tự nhiên sẽ thẳng thừng tin được.
Đó gọi là “dùng
phương tiện lạ để giúp hiển lộ
Đệ Nhất Nghĩa”.
Gậy đập đầu người đá, bôm bốp
luận Phật sự. Nếu cứ đàm luận suông,
có nước miếng của hồ ly[110]
các phương tại đó, đấy chẳng phải
là điều tôi biết được!
Kệ rằng: “Chúng
sanh tri kiến, Phật tri kiến. Như nước
đóng băng, băng lại tan. Gió Xuân giới lực, Phật
nhật rạng. Hoàng hà sóng vỗ rền hai bờ. Đừng
si cuồng hướng ngoại để cầu. Ngộ
triệt vẫn là kẻ chấp trước”.
* Chỉ dạy Nhĩ
Tiên
Người
có ḷng nhân th́ trước khó khăn rồi sau mới có thâu
hoạch. Phàm muốn tỏa rạng đức sáng trong
thiên hạ, trước hết phải trừ khử vật
dục. Trừ khử vật dục chẳng phải là
chuyện khó khăn nhất ư? Đấy chính là điều
ngài Đại Huệ dạy Tử Thiều: “Chỉ biết
‘cách vật’ mà chẳng biết vật cách”[111].
Ngài nêu ra chuyện chém tượng rơi đầu[112],
Tử Thiều bèn ngộ. Ôi! Cổ nhân chỉ biết cách
vật khó khăn, chẳng biết chỗ dễ dàng trong vật
cách. Người hiện thời chỉ biết chỗ dễ
dàng trong vật cách, chẳng biết chỗ khó khăn của
vật cách! Xin lại dùng một sự để chứng
tỏ. Chùa Vĩnh Khánh ở Cao Đ́nh có một vị hóa
chủ là Minh Triệt, qua một cái am ở bờ biển,
cùng với vị chủ am nằm cùng một giường.
Chủ am mộng thấy giặc tới, hét to đánh giặc.
Minh Triệt bị đánh, kinh hăi hô “giúp đánh”. Người
gần bên nghe tiếng đến cứu, thấy hai
người ai nấy hô đánh giặc, nắm chặt tay
nhau chẳng bỏ. Trông thấy ánh lửa, bèn cười
to mà nằm. Đó là cách vật hay vật cách? Người
biết nghĩa này, sẽ biết điều ngài Đại
Huệ chỉ điểm. Tử Thiều đắc ngộ
là do đă vật cách rồi mới biết đến cùng
tột, cho đến b́nh thiên hạ cũng chẳng khó!
* Chỉ dạy Thanh
Văn
Trừ
khử tập khí không ǵ bằng tam nghiệp hành Từ. Tam
nghiệp hành Từ chính là chẳng có mười lỗi.
Mười lỗi đă trừ, mười thiện sẽ
có, cái gốc của ngũ thừa được kiến
lập. Sau đấy, dùng Thật Tướng để ấn,
pháp nào cũng đều quy vào Phật đạo. Xưa
kia đă có người hành, tức là Thường Bất
Khinh Bồ Tát. Thoạt đầu là Tùy Hỷ phẩm[113],
liền thanh tịnh sáu căn, đâu cần phải chờ
đến “tụng,
nói”, th́ mới gọi
là “thâm quán”! Nếu có thể thật sự dùng Từ
làm tu nghiệp, sẽ tự có thể khéo nhập Phật
huệ. Nếu không, học vấn càng nhiều, ngă mạn
càng lừng, tập khí càng tăng trưởng, cách đạo
càng xa, chỉ tăng thêm đa văn, tăng trưởng
ngă kiến, đáng sợ thay!
* Chỉ dạy Tùng Thạch
Nếu
Phật chủng là có, cần ǵ phải nhọc công từ
duyên mới khởi? Nếu
vốn chẳng có, duyên sao lại có thể khởi? Nếu
bảo là “cũng có, cũng không”, há chẳng trái nghịch?
Nếu bảo “chẳng phải có, chẳng phải không”,
trọn thành hư luận! Giả sử ĺa khỏi bốn
câu, lại rơi vào câu thứ năm là “chẳng thể
nói”. “Tác ma sanh” (như thế nào)[114]
là cơ duyên nhập đạo? Chẳng thấy đạo
th́ như thế ấy cũng chẳng được! Chẳng
như thế ấy cũng chẳng được!
Như thế ấy, chẳng như thế ấy đều
chẳng thể được! Tuy là như thế, chớ
nên một mực [chấp trước].
Nếu biết câu “chẳng thể nói” là sai, sẽ biết:
Do có nhân duyên, nên cũng có thể nói, bảo là Có cũng
được, như
[nói] trong gương có tánh của h́nh bóng.
[Bảo
là] Vô cũng được, v́ trong
gương vốn chẳng có h́nh bóng.
[Nói là] “cũng Hữu, cũng Vô” cũng
được, v́ gương
và h́nh bóng hễ duyên đưa tới bèn hiện, duyên ĺa bèn
không. Bảo là “chẳng Hữu,
chẳng Vô” cũng được,
v́ h́nh bóng trong gương tuy hiện ra,
nhưng chẳng thật, tuy Vô mà có thể hiện. Biết
Phật chủng ĺa trọn bốn câu, nhưng chiếu trọn
bốn câu, từ chỗ duyên khởi, chẳng biện
định minh bạch. Xưa kia,
có người siêng năng đọc ba ngàn bộ [Pháp Hoa],
về sau, được một câu của ngài Tào Khê (Lục
Tổ Huệ Năng) [chỉ điểm], bèn có công hiệu
quên bẵng: Khi mê bị Pháp Hoa chuyển, lúc ngộ bèn là
cái duyên chuyển Pháp Hoa. Nếu trừ được nỗi
mê muội bám chặt văn tự để hiểu
nghĩa, rồi lại ĺa văn tự để riêng cầu
giải thoát, th́ là mê thêm một tầng nữa!
* Chỉ dạy
Thương Mục
Trong
biển cả nhị tử (Biến Dịch và Phần
Đoạn), Giới là bánh lái. Muốn thọ giới phẩm,
càng phải lấy phát Bồ Đề tâm làm gốc. Bởi
lẽ, Bồ Đề tâm chính là bản thể của giới
xuất thế. Luật nghi Đại hay Tiểu Thừa
chính là tướng của Bồ Đề tâm. Phát tâm xuất
sanh tử, hàng phục ái kiến, chính là cái Thể của
giới Thanh Văn. Phát tâm thượng cầu, hạ hóa,
tự điều phục ḿnh, điều phục người
khác, chính là cái Thể của giới Đại Thừa.
Phát tâm phổ độ b́nh đẳng “chúng sanh và Phật
có cùng một Thể” th́ chính là cái Thể
của giới tối thượng thừa. Đă phát tâm rồi bèn
chuyên ṛng thủ hộ giới, dẫu điều vi tế
cũng chẳng thiếu sót, th́ chính là chánh hạnh tam thừa.
Tŕ giới mà chẳng phát tâm, chỉ đạt được
lạc quả thế gian. Phát tâm mà chẳng tŕ giới, khó
tránh khỏi ṿng khổ trong tam đồ! V́ thế, cần
phải gốc lẫn ngọn
cùng nêu, đầu lẫn đuôi
nhất trí th́ mới có thể bảo đảm sự giải
thoát, gọi là Ba La Đề Mộc Xoa. Nếu không, có mắt
mà thiếu chân, hoặc có chân nhưng thiếu mắt, sao
có thể nhanh chóng đến được ao thanh
lương vậy thay!
* Chỉ dạy Thính
Nguyệt
Đạo
học vấn chỉ
là cầu sao thâu hồi cái tâm phóng dật.
Tâm là vật như thế nào? Người
cầu là ai? T́m tâm trọn chẳng thể
được! Tổ bèn hứa khả “ta đă an cái
tâm cho ông rồi đó”. Nếu tâm là cái có thể suy t́m,
đức Phật quở: “Đấy chẳng phải
là cái tâm của ông!” Tông, Giáo, Nho và
Thích, là một hay là khác, là đồng hay biệt? Đối
với điều ấy mà nh́n thấu hiểu, sẽ vừa khéo
là đại nhân bậc thượng đang
học dưới ṭa của sơn tăng. Nếu chẳng
phải vậy, chẳng khỏi phải cước chú
thêm. Trung Luận có bài kệ rằng: “Chư pháp bất
tự sanh, diệc bất tùng tha sanh, bất cộng, bất
vô nhân. Thị cố tri vô sanh” (các pháp chẳng tự
sanh, chẳng từ cái khác sanh, chẳng chung, chẳng không
nhân. V́ thế, biết vô sanh). “Chư pháp” nói rộng
ra là bách giới thiên như; nói đại lược th́ là Phật pháp, chúng
sanh pháp, và tâm pháp. Tuy tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng
sai biệt, nhưng Phật pháp quá cao, chúng sanh pháp quá rộng,
kẻ sơ cơ quán tâm sẽ dễ hơn, chỉ quán kỹ
một niệm hiện tiền nhỏ nhoi. Nếu tự
sanh, sao phải nhờ vào cảnh? Nếu là do cái khác sanh
ra, liên quan ǵ đến chính ḿnh? Mỗi đằng đă
chẳng sanh, há có chuyện hợp chung [tự và tha] lại?
Hợp chung c̣n chẳng được, ĺa [tự và tha] sao
có thể sanh? Suy xét cặn kẽ, tướng sanh của
tâm há tồn tại? Tâm đă vô sanh, há chẳng phải là
“t́m chẳng thể được!” Tâm chẳng thể
được, há có thể gọi nó là vật ǵ? Tâm đă
chẳng phải là vật để cầu, há có người
ư? Không vật, không người, sao nhận lấy, sao
buông bỏ? Khắp đại địa chỉ là chính
ḿnh. Ngoài tâm chẳng có pháp nào khác, mới biết “vạn
vật đều trọn đủ nơi ta”. Mười
phương hư không đều tiêu mất, đều là
bất đắc dĩ mà có nói năng, dẫu nói vẫn chẳng
thể cùng tận!
* Chỉ dạy Tự
Thiên
Thật
sự v́ sanh tử, cố nhiên là chẳng được
xa ĺa thầy, bạn, hư vọng nghe theo ư kiến của
riêng ḿnh, cũng đừng chỉ cậy vào sự kèm cặp
[của thầy bạn, chính ḿnh] chẳng rèn luyện sâu
xa! Ắt phải có chí hướng và sức mạnh của
Thiện Tài th́ mới có thể đạt được
lợi ích từ nơi các vị tri thức thuộc
trăm thành. Có sự kiên cố dũng mănh của ngài
Thường Đề (Sadāprarudita, Tát
Đà Ba Luân Bồ Tát) th́ mới có thể tiếp nhận
kinh của Pháp Thượng Bồ Tát (Dharmodgata, Đàm Vô Kiệt).
Nếu chẳng có phương tiện vượt ngoài ngằn
mé lỗi lạc, chỉ muốn như dây leo dựa dẫm
cội tùng, như nhặng bám trên ngựa kư[115],
vào thời Chánh Pháp th́ chắc là c̣n có thể được
việc, chứ sanh nhằm
mạt vận, hiếm ai chẳng luống uổng một
đời! Huống hồ dây leo
có thể nương cội tùng, cội tùng chẳng thể
chăm nom dây leo, ngựa kư chẳng thể ngừng lại
đợi nhặng. Suy đi nghĩ lại sâu xa, sao bằng
nỗ lực để chẳng phụ bạc cái tâm v́
sanh tử này! Nếu cứ cho rằng [chính ḿnh] sức yếu
rồi khiếp đảm, chẳng kham đạt tới
sâu xa, lại nghe một bài kệ nhé: “Đêm
ngày Di Đà mười vạn tiếng, suốt đời
đừng khởi tưởng Tông, Giáo, tâm gởi thẳng
về cơi Cực Lạc. Ao báu, búp sen lập tức x̣e, mặc
ai cười ta là kẻ ngu, hành một thước hơn
nói một trượng, năm nào gặp được
thuyền nguyện vương, Thiện Tài, Thường
Đề cùng vỗ tay”.
* Chỉ dạy Nhật
Duy
Pháp
thế gian và xuất thế gian đều là Giải
và Hạnh
cùng tu, Giải như những ô cờ trong bàn cờ vây (奕棋, dịch kỳ), Hạnh
như con cờ vây. Có con cờ mà chẳng có ô cờ [để
di chuyển], rơ ràng là nước cờ nào cũng đều
chẳng di chuyển được! Có ô cờ mà không có con
cờ, hoặc gọi bàn cờ thành ô cờ có được
hay không? Khổng Tử nói: “Ngô đạo nhất dĩ
quán chi” (Ta
dùng một nguyên tắc cơ bản để xuyên suốt
toàn thể đạo của ta)[116].
Tăng Tử thưa: “Vâng ạ”. Đấy đều
là nói theo thế cờ linh hoạt. Hai chữ Trung Thứ (忠恕, trung
hậu và khoan dung) của Tăng Tử là trong một cuộc
cờ, chỉ điểm một nước cờ cao siêu
để di chuyển. Kim Cang Bát Nhă đă chỉ một thế
cờ linh hoạt như sau: “Ưng như thị trụ,
như thị hàng phục kỳ tâm. Dụy nhiên, Thế
Tôn” (hăy nên trụ như thế, hàng phục cái tâm
như thế. Thưa đức Thế Tôn, vâng ạ). Lại
c̣n chỉ điểm một nước cờ cao siêu trong
thế cờ linh hoạt, một là nói: “Hữu tŕ giới,
tu phước giả, ư thử chương cú, năng
sanh tín tâm” (có người tŕ giới, tu phước, có
thể sanh tín tâm đối với chương cú này). Một
đoạn khác nói: “Dĩ vô ngă nhân chúng sanh thọ giả,
tu nhất thiết thiện pháp” (dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng
sanh, vô thọ giả để tu hết thảy các thiện
pháp). Đấy chính là phương tiện để thực
hiện ư chỉ Trung Thứ nơi cái tâm công chánh ấy,
ngơ hầu học Bát Nhă. Hăy nên biết:
Năm Độ như con cờ, Bát
Nhă như ô cờ [để di chuyển]. Có năm Độ mà chẳng có
Bát Nhă, [tức là] khoan dung mà chẳng trung hậu, thế cờ
chết cứng! Lầm nhận Bát Nhă, bỏ ngũ độ,
sẽ là chẳng trung hậu, chẳng khoan dung, phá hoại
cái tâm công chánh, chẳng có chỗ để thực hiện,
sao có thể hỏi tới trí nhăn Bát Nhă ư?
* Chỉ dạy Khai Nhất
Nho
nói: “Ngô đạo dĩ nhất quán chi” (Ta dùng một nguyên tắc
cơ bản để xuyên suốt toàn thể đạo
của ta). Lại nói: “Chấp nhất tặc đạo,
cử nhất phế bách” (chấp trước một
phía th́ sẽ hại đạo,
nêu ra một mà phế cả trăm điều). Nội
điển (kinh Phật) nói: “Đạt đắc nhất,
vạn sự tất” (đạt được một
điều, vạn sự đều hoàn tất). Lại
nói: “Thị nhất phi dư, thị vi ma nghiệp!”
(chỉ là một không có điều chi khác, đấy là ma nghiệp). Than
ôi! “Nhất” há có phải là pháp nhất định
ư? Do một mắt lưới mà bắt được
chim, đừng chấp mắt lưới ấy rồi bỏ
các mắt lưới khác! Thắng ván cờ do một
nước đi, đừng chấp nước cờ ấy
mà vứt bỏ các nước cờ khác. Hết thảy
các pháp không ǵ mầu nhiệm bằng Pháp Hoa, nhưng Pháp
Hoa có thể khiến hết thảy các pháp đều diệu,
chẳng thể ĺa hết thảy các pháp mà có cái diệu
riêng ḿnh được! Hết thảy các pháp không ǵ bằng
Bát Nhă, nhưng Bát Nhă có thể bằng với hết thảy
các pháp, chẳng ĺa hết thảy các pháp mà riêng “chẳng sánh bằng” được!
Đời Mạt chỉ toan hất lỗ mũi
lên trời, chẳng đoái hoài đặt vững gót chân
trên mặt đất, chỉ thích thuyết diệu đàm
huyền, đề cao lẽ hướng thượng,
hoàn toàn chẳng có sự
chân thật thực hành công phu của
kẻ học bậc hạ. Nói th́ cao vượt Phật,
Tổ, hạnh c̣n thua phàm ngu! Đă chẳng biết v́ Thật
mà thực hiện Quyền, Quyền là Quyền nơi Thật.
Lại nào có biết khai Quyền hiển Thật, Thật
là Thật nơi Quyền. Pháp hữu hăy suy xét lẽ này:
Hướng tới chỗ Nhất Thật, rộng mở
tam học, vạn
hạnh, tuy mở rộng thật đấy, nhưng chẳng
có một điều nào là thật cả!
Linh
Phong Tông Luận phần 2 hết
[1] Đây là
năm Sùng Trinh thứ 15 (1642), nhà Minh đang trên bờ diệt
vong, triều chánh hủ bại. Ngoài biên ải th́ quân Thanh xâm
lấn, vua lại nghe lời xu nịnh, sát hại trung thần
trấn giữ biên cương như Viên Sùng Hoán, Hùng
Văn Xán… Lại trọng dụng thái giám khiến họ
thừa cơ lũng đoạn triều chánh, thuế má nặng
nề, nạn đói xảy ra khắp nơi trong nước.
Lại c̣n có các loạn quân Trương Hiến Trung, Lư Tự
Thành, Cao Nghênh Tường, Vương Nhị v.v… Vua liên tục
tăng thuế, nhất định không chịu xuất tiền
từ kho riêng của chính ḿnh để bù đắp cho
công quỹ gần như trống rỗng. Từ tháng Hai
cho đến tháng Năm năm ấy, các đại tướng
Hồng Thừa Trù, Tổ Đại Thọ lần lượt
đầu hàng quân Thanh. Tháng Chín năm ấy, loạn quân
Lư Tự Thành chiếm Hoa Bắc. Đến năm 1644, Lư Tự
Thành chiếm Bắc Kinh, vua Sùng Trinh treo cổ tự tử
tại Môi Sơn, nhà Minh diệt vong.
[2] Đạo
phủ (道府) là người
đứng đầu một Đạo. Đạo là
đơn vị hành chánh. Thoạt đầu, Đạo
là đơn vị hành chánh tương đương cấp
huyện, phần Địa Lư Chí của Hán Thư giải
thích: “[Huyện] có dân man di gọi là Đạo”. Đến
đời Đường, trong năm Trinh
Quán nguyên niên (627),
Đường Thái Tông chia cả
nước thành mười Đạo. Mỗi
Đạo lại chia thành nhiều châu và huyện. Sau
đó, dần dần có nhiều Đạo
hơn. Đến cuối đời Đường,
Đạo là danh xưng để gọi một khu vực
quản hạt của một Tiết Độ Sứ. Theo Lư Cát Phủ,
cả nước vào thời
đó chia thành bốn mươi bảy Đạo.
Mỗi Đạo
là khu vực quản trị của một Tiết Độ
Sứ hoặc Quan Sát Sứ. Tới đời Liêu, toàn quốc chỉ
có năm Đạo,
trung tâm hành chính gọi là Kinh (京). Mỗi
Đạo chia thành phủ, châu, quận, thành. Đến
đời Nguyên, triều
đ́nh chia cả nước thành nhiều hành tỉnh, mỗi
hành tỉnh chia thành nhiều đạo. Mỗi đạo
chia thành nhiều Lộ. Đến đời Minh - Thanh, tỉnh (tức là hành tỉnh, tương
đương với Lộ) là cấp hành
chánh cao nhất, kế đó là đạo, phủ và huyện.
[3] Tể
phụ (宰輔) là từ
ngữ chỉ các vị phụ chánh đại thần,
thường dùng để chỉ tể tướng. Về
sau, thường được dùng để chỉ chung
các vị quan lớn cao cấp.
[4] Thiều
Khê (苕溪) là một
trong tám con sông lớn ở tỉnh Chiết Giang, c̣n có tên
là Tráp Khê, hay Tráp
Xuyên. Sông bắt nguồn từ núi Thiên Mục đổ
vào Thái Hồ, nằm trong lưu vực của Trường
Giang, chảy qua các huyện Dư Hàng, Đức Thanh, An
Cát, Trường Hương, và thành phố Hồ Châu.
[5] Tứ
lưu (c̣n gọi là tứ bộc hà) nhằm chỉ Hoặc
nghiệp như con sông lớn chảy xiết, cuốn
chúng sanh trầm luân măi trong sanh tử. Tứ lưu gồm:
1) Kiến
lưu tức Kiến Hoặc trong tam giới.
2) Dục
lưu tức Tư Hoặc trong tam giới, do ngũ
căn tham ái ngũ trần, nên gọi là Tư Hoặc.
3) Hữu
lưu, hàm
nghĩa nhân quả chẳng mất, tức là Tư Hoặc
trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới.
4) Vô
minh lưu tức Si Hoặc trong tam giới.
[6] Nguyên
văn “tam tả ô yên” (三寫烏焉) chỉ
sự sao chép sai lạc, do người chép lại, hoặc
khắc in, nếu không cẩn thận, sẽ chép chữ nọ
xọ chữ
kia, giống như chữ Ô (烏) nếu không
chú ư sẽ viết sai thành chữ Yên (焉).
[7] Nguyên
văn “âu ḥa” (漚和),
đây là phiên âm của chữ Upāya
(phương tiện).
[8] Đạo
dung (道容): Bậc
đạo đức, khoan dung.
[9] Đại
Hành Hoàng Đế (大行皇帝) là danh
xưng tôn trọng để gọi vị hoàng
đế đă qua đời trước khi triều
đ́nh xác lập thụy hiệu và miếu hiệu. Chữ
Đại Hành cũng có thể áp dụng cho thái thượng
hoàng, thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu, thái hậu và hoàng
hậu. Riêng tại Đại Hàn thời cổ th́ dùng chữ
Tiên Hành Điện Hạ, chứ không gọi
là Đại Hành Hoàng Đế. Trong lịch sử, vua Lê
Đại Hành (Lê Hoàn) của Việt Nam không phải là miếu
hiệu, mà là do sau khi hoàng đế mất,
Lê Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều) cho đến khi mất
vẫn không nghĩ đến
chuyện đặt thụy hiệu và miếu
hiệu cho vua cha, cho nên sử gia
đành phải gọi Lê Hoàn là Lê Đại
Hành. Ở đây, đại hành hoàng đế
chính là nói về vua Sùng Trinh. Khi Lư Tự Thành chiếm
được Bắc Kinh và quân Thanh đang ồ ạt
kéo vào quan ải, Sùng Trinh đă thắt cổ tự tử
tại Môi Sơn vào ngày 25 tháng 04 năm 1644. Măi về sau, em
họ của nhà vua là Châu Do Tung (Nam Minh Hoằng Quang Đế)
đặt miếu hiệu cho ông là Minh Tư Tông, c̣n nhà
Thanh đặt miếu hiệu cho ông là Hoài Tông Trang Liệt
hoàng đế.
[10] Xin xem
bộ Lược Giảng Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp
Báo của pháp sư Mộng Tham, trong ấy có giảng giải
chi tiết về cách chiêm nghiệm mộc luân tướng
trong pháp Chiêm Sát.
[11] Nhị
giác: Tự giác và giác tha.
[12] Kỳ
chủ: Người đứng ra tổ chức và chủ
tŕ một khóa tu hành.
[13] Thập
Trọng tức là mười giới trọng trong bốn
mươi tám giới Bồ Tát (theo kinh Phạm Vơng), tức
giết, trộm, dâm, dối, buôn bán rượu, nói lỗi
của tứ chúng, tự khen ḿnh chê bai người khác, do
keo tiếc mà hủy phạm, sân tâm chẳng tiếp nhận
sám hối (tức là dẫu người khiến cho ḿnh sân hận đă
xin sám hối, xin lỗi, vẫn không nguôi giận), hủy
báng Tam Bảo.
[14] Tức
lễ kinh Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh. Kinh nói về danh
hiệu của các vị Phật trong ba đại kiếp:
Trang Nghiêm, Hiền và Tinh Tú, mỗi đại kiếp có một
ngàn vị Phật. Thật ra kinh này là do ba kinh ghép lại
(Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh, Hiện Tại
Hiền Kiếp Thiên Phật Danh Kinh, và Vị Lai Tinh Tú Kiếp
Thiên Phật Danh Kinh).
[15] Cửu
hoạnh (九橫) là chín
thứ nhân duyên khiến cho người chưa hết thọ
mạng mà đă chết bất ngờ, có hai
cách hiểu:
1) Một
là chết ngang v́ chẳng đáng ăn mà cứ ăn. Hai
là ăn quá mức, không biết tiết chế. Ba là ăn
thứ không quen thuộc khiến cho cơ
thể sanh bệnh, hoặc ăn không đúng thời,
đúng cách. Bốn là ăn xong không tiêu hóa được.
Năm là ăn xong không tiểu tiện, đại tiện
được. Sáu là do chẳng tŕ giới, phạm tội
bị tử h́nh. Bảy là thân cận ác tri thức, kết
giao với người khác, bạn ác mà bị liên lụy.
Tám là [tỳ-kheo] vào trong làng không đúng thời, hành không
đúng pháp (chẳng hạn như cứ tự tiện
xông vào nơi cấm kỵ, bị dân chúng tức giận
giết chết, hay
đánh đập đến nỗi ôm bệnh mà chết).
Chín là có thể trốn tránh mà chẳng trốn tránh, như gặp
ác thú, chó dại, kẻ say, lửa nước, chiến loạn
v.v… cứ kiên quyết không chịu tránh né (chín nhân duyên này
được nói trong kinh Cửu Hoạnh và kinh Phật
Y).
2) Một
là bị bệnh không được chữa trị. Hai là bị
pháp vua tru lục. Ba là bị phi nhân
đoạt mất tinh khí, tức là đắm đuối
chơi bời, nhậu nhẹt đến nỗi bị
phi nhân đoạt mất tinh khí. Bốn là bị hỏa
tai. Năm là mắc thủy tai. Sáu là bị ác thú ăn thịt.
Bảy là té xuống vách núi. Tám là trúng thuốc độc
hoặc nguyền rủa. Chín là ăn uống bị mắc
nghẹn (theo kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn
Nguyện Công Đức).
[16] Đây
là hai thành ngữ:
1. “Uổng
xích trực tầm” có nghĩa gốc là bẻ cong một
thước để khi duỗi ra có thể dài một tầm
(một trượng tám thước), dùng tỷ dụ hy
sinh một bộ phận nhỏ để thu hoạch
được điều lớn lao hơn. Nhưng Tổ
dùng thành ngữ này ở đây với hàm ư tự trách, Ngài
cứ lo tiếp độ đồ chúng ngỡ là hy sinh chính
ḿnh để độ người, nhưng cuối cùng
xôi hỏng bỏng không, đạo nghiệp chẳng viên
thành, đồ chúng cũng chẳng phát khởi trí huệ, chẳng thành tựu pháp khí.
2. Gánh
gai bỏ vàng (đảm ma khí kim) là một thí dụ
được nói trong kinh Bệ Duật (Pāyāsi) của Trung A Hàm. Theo
đó, có hai người bạn cùng ra ngoài kiếm sống.
Đi trên đường thấy có sợi gai bỏ
đó, hai người gánh đi. Trên đường đi,
lại thấy có bạc vứt đó, một người
bỏ gai gánh bạc, người kia vẫn cứ
cương quyết gánh sợi gai. Không lâu sau lại thấy
vàng, người gánh bạc bèn bỏ bạc chọn
vàng,
người kia vẫn kiên quyết gánh sợi gai! Đức
Phật dùng thí dụ này để dạy người trí
huệ phải biết
chọn pháp thù thắng.
[17] Ngũ
hối (五悔): Thiên
Thai Trí Giả đại sư v́ người tu Pháp Hoa
tam-muội, lập ra năm phần của pháp tu sám hối
là sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng, và phát
nguyện.
[18] Tam nhẫn
có nhiều cách hiểu:
1) Đệ
nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn như
trong phần bốn mươi tám nguyện của A Di
Đà Phật được nói trong kinh Vô Lượng Thọ.
2) Âm
hưởng nhẫn (do nghe âm thanh mà ngộ giải chân lư),
nhu thuận nhẫn (huệ tâm nhu nhuyễn, có thể tùy
thuận chân lư), vô sanh pháp nhẫn (chứng thật tánh vô
sanh, ĺa các tướng).
3) Ba loại
nhẫn do Thiện Đạo đại sư đề
xướng: Hỷ nhẫn (do nghe danh hiệu A Di Đà Phật
mà sanh ḷng hoan hỷ), ngộ nhẫn (do niệm Phật Di
Đà mà ngộ giải chân lư), và tín nhẫn (do niệm Phật
Di Đà mà trụ trong chánh tín).
4) Ba thứ
Nhẫn thuộc về Nhẫn Nhục Ba La Mật: Nại
oán hại nhẫn (có thể nhẫn trước sự hăm
hại của kẻ oán địch), an thọ khổ nhẫn
(an vui chịu đựng các khổ năo do nóng, lạnh,
đói, khát v.v…), đế thật pháp nhẫn tức vô
sanh pháp nhẫn.
Khi nói tới
Tam Nhẫn, đa số kinh luận nói theo cách hiểu
thứ hai.
[19] Ư nói:
Đă chú giải các kinh Phạm Vơng và kinh Lăng Nghiêm,
nhưng những ǵ Ngài chú giải chỉ như một tia
sáng soi qua kẽ hở, không thể nào nêu tỏ trọn hết
pháp nghĩa u huyền.
[20] Tam luân
thí hóa: Dùng thân, khẩu, ư để giáo hóa chúng sanh.
[21] Quyết trạch: Suy xét
để chọn lựa dứt khoát, dùng vô lậu thánh trí
để giải quyết các điều nghi. Nói theo
nghĩa hẹp th́ là dùng trí huệ, nương
theo chánh pháp, chánh lư để quyết đoán các điều
nghi.
[22] Âm lịch chỉ có mười
hai con giáp, không có con lừa trong số đó. “Năm con lừa”
tức là không bao giờ xảy ra, không bao giờ đạt
được. Ư Tổ là: Nếu hiểu lầm “công phu
thành phiến” là chỉ lo tạ tuyệt mọi việc,
không màng đến ai, cứ lặng thinh tĩnh tọa
trên bồ đoàn, sẽ chẳng bao giờ đạt
được công phu thành phiến.
[23] “Khắc
kỷ phục lễ” là một
thành ngữ xuất phát từ thiên Nhan Uyên trong sách Luận
Ngữ, hàm ư “khắc chế ḷng ham muốn, tham lam của
chính ḿnh, hành vi cư xử đúng theo lễ tiết”.
[24] Vào
năm Nguyên Thỉ nguyên niên (tức năm thứ năm
Công nguyên), Hán B́nh Đế tặng thụy hiệu cho Khổng
Tử là Bao Thành Tuyên Ni Công. Trước
đó, vua đă ban Bao
Thành gồm
tám trăm hộ làm thực ấp cho Khổng
Bá (hậu duệ của Khổng Tử), phong Khổng Bá làm Bao
Thành Quân. Các
đời sau tôn Khổng Tử là thánh nhân, nên thường
gọi Khổng Tử là Tuyên Thánh, cũng như khi dâng tôn
hiệu đều có chữ Tuyên. Chẳng hạn Tống
Chân Tông dâng tôn hiệu là Huyền Thánh Văn Tuyên
Vương, Nguyên Thành Tông dâng tôn hiệu là Đại Thành
Chí Thánh Văn Tuyên Vương…
[25] Chó
rơm (芻狗, sô cẩu):
Thời cổ, do không thể lo liệu tam sanh (lợn, ḅ,
dê) nguyên con để cúng tế theo đúng lễ,
người ta dùng chó để thay thế. Dần dần,
thay v́ dùng chó thật, người ta dùng chó bện bằng
rơm hay cổ để cúng tế tổ tiên, c̣n các thức
ăn th́ tùy theo khả năng mà sắm sửa thịt các
con vật khác, không nhất thiết phải cúng nguyên con.
Chó bện
bằng rơm dùng cúng xong th́ vứt
đi, nên “sô cẩu” thường dùng để chỉ
vật bị coi thường, vô dụng. Lăo Tử có nói: “Thiên
địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu.
Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tánh vi sô
cẩu” (trời đất bất nhân, coi
vạn vật như chó rơm. Thánh nhân bất nhân, coi
trăm họ như chó rơm).
[26] Đây
là dụng ngữ nhà Thiền nhằm diễn tả chân
tánh tỏ lộ sau khi mọi trần phược đă
buông xuống.
[27] Đây
là một câu diễn giải chữ Minh Đức trong sách
Đại Học Chương Cú của Châu Hy: “Minh đức
giả, nhân chi sở đắc hồ thiên, nhi hư linh bất
muội, dĩ cụ chúng lư nhi ứng vạn sự giả
dă” (Minh đức là cái mà con người được
nhận lănh từ trời, nhưng nó rỗng rang, linh diệu,
chẳng tối tăm, trọn đủ các lư để ứng
với vạn sự). Tử Dương chính là biệt hiệu
của Châu Hy.
[28] Tông thừa
(宗乘) có
nghĩa là nghĩa lư và giáo điển được đề
cao trong một tông. Trong phần
lớn các trường hợp, từ ngữ này
được dùng để chỉ các nghĩa lư trọng
yếu trong nhà Thiền.
[29] Đây
là một công án của nhà Thiền
được chép trong quyển thứ sáu của Ngũ
Đăng Hội Nguyên. Theo đó, xưa kia có một bà lăo
cúng dường một vị am chủ suốt hai
mươi năm. Bà thường sai đứa con gái
mười sáu tuổi đến đưa cơm. Một
hôm, bà bảo con gái ôm chặt vị am chủ, hỏi: “Ngay
trong lúc ấy là như thế nào?” Am chủ nói: “Cây khô tựa
vào vách đá lạnh, ba mùa Đông chẳng có hơi ấm”.
Đứa con về thuật lại với mẹ. Bà lăo
nói: “Ta hai mươi năm chỉ cúng dường một
gă thô tục”, liền đuổi am chủ đi, đốt
cái am ấy.
[30] Khí hạo
nhiên là một khái niệm do Mạnh Tử đề ra, nhằm
diễn tả ư niệm: “Tinh thần khoát đạt, rộng
dung, cương nghị, chánh trực”.
[31] Một
viện trong tùng lâm lớn chuyên nghiên cứu, dạy dỗ
hành tŕ luật.
[32] Tức
sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm do ngài Kinh Khê Trạm
Nhiên soạn để chú giải
sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa của tổ Trí Giả. Sở
dĩ gọi là Thích Thiêm là do các môn nhân dùng những cái thẻ
ghi lại những nghi vấn đối với giáo
nghĩa trong sách Huyền Nghĩa để thưa hỏi.
Ngài tập hợp những ư nghĩa giải đáp ấy, biên soạn thành tác
phẩm này.
[33] Tức
sách Chỉ Quán Phụ
Hành Truyền Hoằng Quyết cũng do ngài Kinh Khê Trạm
Nhiên soạn nhằm chú giải bộ Ma Ha Chỉ Quán.
[34] Tức là hai
bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao và Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền
Đàm do ngài Thanh Lương Trừng Quán soạn.
[35] Sách Tướng
Tông Bát Yếu do ngài Tuyết Lăng Hồng Ân biên soạn vào
đời Minh, thâu thập những điểm trọng yếu
trong tám tác phẩm trọng yếu của Pháp Tướng
Tông là Bách Pháp Minh Môn Luận của ngài Thế Thân, Duy Thức
Tam Thập Luận của ngài Thế Thân, Quán Sở Duyên
Duyên Luận của ngài Trần Na, Lục Ly Hợp Thích
Pháp Thức của ngài Trừng Quán, Quán Sở Duyên Duyên Luận
Thích của ngài Hộ Pháp, Nhân Minh Nhập Chánh Lư Luận của
ngài Thương Yết La Chủ, và Tam Chi Tỷ Lượng
của ngài Huyền Trang. Bộ Tướng Tông Pháp Yếu
này lại có sách chú giải là Tướng Tông Bát Yếu Giải
(do ngài Minh Dục soạn) và Tướng Tông Bát Yếu Trực
Giải (do tổ Ngẫu Ích soạn).
[36] Sở
(楚) là một
nước chư hầu của nhà Châu thời Xuân Thu. Do
đất phong của thủy tổ nước Sở (Dục
Hùng,鬻熊, tức Quư Liên) là
đất Kinh thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay, nên các
tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam thường được
gọi chung là đất Sở hoặc
Kinh Sở (荆楚). So với
Trung Nguyên (lưu vực giữa Hoàng Hà và Trường
Giang) th́ đất Sở thuộc về phương Nam.
[37] Ư nói khư
khư chấp trước văn tự chú giải, luận
sớ của cổ nhân, hoặc chỉ dụng công t́m
đọc, nghiên cứu văn tự của cổ nhân, chẳng
thật tu, thật ngộ.
[38] Thời
gian là giả pháp, giả lập thành quá khứ, hiện tại,
và vị lai. Trong mỗi giai đoạn ấy, lại
đều có ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại,
nên ba nhân ba thành chín, cộng với sát-na trong hiện tại
thành thập thế.
[39] Cơ phong (機鋒) là thuật
ngữ Thiền Tông chuyên chỉ một loại đối
thoại chứa đựng ư nghĩa sâu sắc do các Thiền
sư thường dùng để giáo hóa người học,
đánh tan mê t́nh, khiến cho người học đốn
ngộ. Do những lời đối đáp ấy
tương ứng căn cơ, sắc bén, nên gọi là
cơ phong (tuy đối với người ngoài cuộc
th́ dường như là những lời đối đáp
vô nghĩa). Những lời cơ phong được chép lại,
tạo thành sách, gọi là Công Án, nổi tiếng nhất là
các bộ Bích Nham Lục và Vô Môn Quan. Công án nổi tiếng
nhất là công án chữ Vô của ngài Triệu Châu: “Vị
tăng hỏi: ‘Con chó có Phật tánh hay không?’ Triệu Châu
nói: ‘Vô’. Hỏi: ‘Trên đến chư Phật, dưới
đến trùng kiến đều có Phật tánh, v́ sao con
chó lại không có?’ Sư đáp: - V́ nó có nghiệp thức’.
[40] Ư nói một
vị tăng thâu nhận đồ chúng nhiều ngang ngửa
với số lượng đệ tử của đức
Phật thuở Ngài tại thế. Do vị tăng ấy
chưa thành Phật, nên gọi là “vị
Phật không có tướng hảo”.
[41] Quang ảnh
môn đầu (bóng sáng
chiếu trên cửa) là một thành ngữ trong nhà Thiền,
xuất phát từ một câu nói của thiền sư Thiên
Đồng Chánh Giác, nhằm chê trách chúng sanh chấp tướng,
cầu pháp ngoài tâm, chuyên vận dụng tâm thức suy
lường để lănh hội ư chỉ, rơi vào vọng
tưởng, chấp trước, giống như khi thấy ánh trăng
chiếu sáng rọi bóng xuống đất, phải biết
nương theo ánh trăng để thấy được
vầng trăng chân thật, nhưng lại ngược ngạo
chấp vào chỗ ánh trăng rọi, chẳng thấy
được mặt trăng.
[42] Vị Thiền: Thiền
duyệt hoặc hỷ lạc khi tọa Thiền.
[43] Phạm tội do vô ư, không
chú tâm giữ giới.
[44] Nguyên
văn “bất cứ khúc lục mộc, lộng quỷ
nhăn t́nh” (不據曲盝木。弄鬼眼睛), “khúc
lục mộc” là một loại ghế dựa,
được sử dụng trong nhà chùa, có chân chéo, chế
bằng gỗ, c̣n gọi là hồ sàng, viên ỷ, giao ỷ,
hoặc tham ỷ. Về
sau “cứ khúc lục mộc” hoặc “tọa khúc lục
mộc” được dùng
trong Thiền lâm với ư nghĩa trụ
tŕ một ngôi chùa hoặc một sơn môn. “Quỷ nhăn
t́nh” (tṛng mắt quỷ) là tỷ dụ cho bất chánh
kiến, hoặc kiến giải chẳng có mảy may giá
trị. “Lộng quỷ nhăn t́nh” có nghĩa là nói những
lời lẽ chẳng chánh kiến, hoặc lập ra dị
thuyết.
[45] Nguyên
văn “tiến thủ” (薦取),
thường được giải thích là vận dụng
chân tánh vốn sẵn có để thấu hiểu cảnh
duyên ḥng thoát chướng.
[46] Thiền
ḥa (禪和) c̣n gọi
là Thiền Ḥa Tử, Thiền Ḥa Giả, là danh xưng
để gọi người tham thiền. Chữ Ḥa
được sử dụng với ư nghĩa “người
thân thiết”.
[47] Nhuyễn
noăn (軟暖) có nghĩa là “mềm
mại, ấm áp”.
Đây là từ ngữ chỉ tập khí mong cầu cuộc
sống dễ dàng, không phải phấn đấu, thích
hưởng thụ, không có chí cầu tiến, nỗ lực
phấn đấu đoạn trừ các tập khí hư
ngụy.
[48] Quyển
vàng trục đỏ (黃卷赤軸,
hoàng quyển xích trục) tức là
kinh điển nhà Phật. Do từ thời Đường, kinh được
chép trên một loại giấy đă ngâm qua một loại
nhựa cây có màu vàng
theo mệnh lệnh của triều đ́nh. Một là để biểu
thị sự tôn kính, hai là để ngăn ngừa bọ
giấy đục khoét. “Trục
đỏ” là v́ thời
trước kinh in trên một mảnh giấy dài, phải gắn
trục ở hai đầu để dễ mở ra hoặc
cuộn lại, không làm rách giấy. Trục
gỗ thường được sơn đỏ cho dễ
thấy.
[49] Hiếp
tôn giả (Pārśva) c̣n
phiên âm là Ba Lật Thấp Phược, hoặc Bà Xa, dịch
nghĩa là Hiếp (脇, cái hông). Ngài là
một vị cao tăng của Ấn Độ, sống
vào thế kỷ thứ hai, thuộc trường phái Nhất
Thiết Hữu Bộ, được coi là thầy của
Mă Minh Bồ Tát. Ngài từng khuyến thỉnh vua Ca Nhị
Thấp Ca (Kaniṣka) thuộc Quư
Sương đế quốc (Kuṣāṇ
Rājavaṃśa) cử hành kết tập kinh tạng lần thứ tư. Ngài vốn
là Phạm chí ngoại đạo, khi đă rất già mới
theo ngài Phật Đà Mật Đa (có sách ghi là Phật Na Da
Xá, Punyayashas)
học Phật. Sau khi xuất
gia, Ngài siêng ṛng tŕ hạnh Đầu Đà, chưa từng
đặt ḿnh nằm xuống, nên người
đương thời gọi Ngài là Hiếp Tôn Giả với
ngụ ư ngài chưa bao giờ đặt hông tiếp xúc
giường chiếu. Thiền Tông tôn Ngài là Tây Thiên đệ
tứ tổ.
[50] Đây
là một câu chuyện về tiền thân của đức
Phật được trần thuật trong kinh Đại
Bát Niết Bàn. Theo đó, trong quá khứ, khi hành đạo
Bồ Tát, đức Phật Thích Ca là Tuyết sơn đồng
tử. Ngài t́m cầu chân lư, t́m hỏi khắp nơi, nhưng không
ai biết. Trong chốn đồng hoang, Ngài gặp một
con quỷ La Sát nói “các hành vô thường, là pháp sanh diệt”.
Tuyết Sơn đồng tử nghe xong, biết là diệu
pháp, cầu xin nói trọn bài kệ, nhưng quỷ La Sát
kêu đói khát, chẳng thể tuyên thuyết được.
Đồng tử bèn hứa nguyện dâng máu thịt của
chính ḿnh để cúng dường, cầu xin La Sát nói bài kệ
ấy. La sát bèn nói tiếp là “tịch diệt diệt rồi,
tịch diệt là vui”. Đồng tử nghe xong, hoan hỷ
tột bậc, biên chép bài kệ
ấy khắp nơi, sau đó trèo lên
cây, gieo ḿnh xuống để tan xương, nát thịt ḥng cúng dường
La Sát. La Sát bèn khôi phục thân Đế Thích, đỡ lấy
đồng tử, tán thán, cúng dường rồi lui
đi.
[51] Tứ A Hàm
chính là bốn kinh A Hàm (Āgama), đây
là danh xưng chung của các kinh thuộc hệ thống Tiểu
Thừa, tương ứng với Nikaya trong truyền thống
Nam Tông. Đôi khi c̣n phiên âm là A Cấp Ma, hoặc A Hàm Mộ,
dịch nghĩa là Pháp Quy, hàm ư “muôn pháp đều quy vào
nghĩa vô lậu”. Lại c̣n dịch là Vô Tỷ Pháp, hàm ư
diệu pháp khôn sánh tày. Hoặc dịch là Thú Vô, hàm ư các pháp
được nói rốt ráo đều quy vào ư chỉ vô
quy thú. Tứ A Hàm bao gồm:
1) Trường A
Hàm (Dīrgha Āgama) do ngài Phật
Đà Da Xá khẩu tụng, ngài Trúc Phật Niệm dịch
sang tiếng Hán, Đạo Hàm làm bút lục, tổng cộng
hai mươi hai quyển. Bộ kinh này được dịch
vào năm Hoằng Thỉ 15 (413) nhà Hậu Tần (Diêu Tần).
Kinh này tương ứng với Trường Bộ Kinh
trong Nikaya.
2) Trung A Hàm (Madhyama Āgama), tương ứng với
Trung Bộ Kinh của Nikaya. Bản Hán dịch dựa theo
văn bản của bộ phái Nhất Thiết Hữu Bộ,
cũng do pháp sư Trúc Phật Niệm dịch, chia thành
năm mươi chín quyển. Kinh này lại được
dịch lần thứ hai do ngài Tăng Già Đề Bà gồm
sáu mươi quyển trong niên hiệu Long An nhà Đông Tấn.
3) Tạp A Hàm (Saṃyukta Āgama), tương ứng với
Tương Ưng Bộ Kinh của Nikaya, do các vị Cầu
Na Bạt Đà La, Bảo Vân cùng dịch thành năm
mươi quyển.
4) Tăng Nhất
A Hàm (Ekottara Āgama, Ekottarika Āgama)
tương ứng với Tăng Chi Bộ Kinh của
Nikaya, do các vị Đàm Ma Nan Đề, Trúc Phật Niệm
cùng dịch vào thời Phù Tần trong niên hiệu Kiến
Nguyên.
[52] Luật Ma Ha
Tăng Kỳ có nghĩa là Đại Chúng Luật, tức
là giới bổn theo bộ phái Đại Chúng Bộ, do
ngài Pháp Hiển đem về Trung Hoa vào thời Đông Tấn.
Bộ luật này được hai vị Phật Đà Bạt
Đà La và Pháp Hiển hợp sức dịch sang tiếng
Hán trong năm Nghĩa Hy thứ mười bốn (418), gồm
bốn mươi quyển.
[53] Thập Tụng
Luật (Daśa-bhāṇavāra-vinaya):
Giới luật theo truyền thống Nhất Thiết Hữu
Bộ, do ngài Phất Nhă Đa La và Cưu Ma La Thập dịch
sang tiếng Hán, gồm sáu mươi mốt quyển.
Tương truyền bộ luật này vốn có tên là Bát Thập
Tụng Luật do tôn giả Ưu Ba Ly trùng tụng vào lần
kết tập thứ nhất, chia thành tám mươi lượt
để tụng, nên có tên gọi như thế. Đến
thời vua A Dục, tôn giả Ưu Ba Quật Đa cho rằng
đời sau độn căn chẳng thể thọ tŕ
trọn hết, bèn giản lược thành Thập Tụng
Luật.
[54] Ngũ Phần
Luật có tên gọi đầy đủ là Di Sa Tắc Bộ
Ḥa Hải Ngũ Phần Luật (Mahīsasakavinaya) là giới luật theo
truyền thống Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka, Hán tạng phiên âm là Di Sa Tắc),
do ngài Pháp Hiển mang từ Tích Lan về, do luật sư
Phật Đà Thập (Buddhajīva)
và sa-môn Trí Nghiêm dịch sang tiếng Hán.
[55] Thiền
sư Nham Đầu Toàn Hoát (828-877) là đệ tử nối
pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám. Sư thông minh từ
bé, khí độ sâu rộng, tánh t́nh đơn giản. Thoạt
đầu, Ngài xuất gia với ngài Thanh Nguyên Nghị
Công, thọ giới tại chùa Bảo Thọ ở Trường
An, học tập kinh luật tại đó. Sau đó, Ngài từng
đến tham học các nơi, là bạn tri giao của các
vị Thiền sư nổi tiếng thời đó như
Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Ngài tính
đến tham học với Lâm Tế Nghĩa Huyền,
nhưng chưa đến nơi th́ ngài Lâm Tế đă tịch.
Do vậy, Ngài phải đến tham yết ngài Quy Sơn
Huệ Tịch để học Thiền. Sau đó, qua Lăng
Châu (Hồ Nam) để tham yết Đức Sơn Tuyên
Giám, được ngài Đức Sơn ấn khả.
[56] Tử
Dư (子輿) là tên
chữ của Tăng Tử (Tăng Sâm, 曾參), một
trong bảy mươi hai đồ đệ đắc ư
của Khổng Tử. Tương truyền ông trước
tác các sách Đại Học, Hiếu Kinh v.v… của Nho Gia.
Sách Tử Dư Thị ở đây chính là Hiếu Kinh.
[57] Cổ
Tẩu (瞽瞍) là cha
của vua Thuấn. Cổ Tẩu là cháu tám đời của
Hoàng Đế. Ông này mắt mù, tánh t́nh hung bạo, ghét bỏ
vua Thuấn, lại thêm vợ kế là Ác Đăng và con
trai của họ là Tượng xui xiểm, bèn nhiều
lượt toan hại chết vua Thuấn như đốt lẫm khi sai vua Thuấn
dọn dẹp bên trong, hoặc sai vua Thuấn xuống vét
giếng rồi lấp giếng.
[58] “Thập
pháp thành thừa” chính là Thập Thừa Quán Pháp, tức
mười loại phép quán từ nhân đến quả,
nên gọi là Thập Pháp Thành Thừa Quán. Pháp Quán này c̣n nhiều
tên gọi khác, nhưng không ghi vào đây cho khỏi rườm
rà. Nói sơ lược, mười pháp quán là:
1) Quán cảnh
chẳng nghĩ bàn.
2) Phát
tâm Bồ Đề chân chánh.
3) Thiện
xảo an tâm chỉ quán.
4) Phá
pháp trọn khắp, tức phá trừ cái tâm chấp trước
đối với hết thảy các pháp.
5) Nhận
biết thông, tắc.
6) Đạo
phẩm điều ḥa, thích hợp.
7) Đối
trị trợ khai (tu các pháp đối trị phiền năo
và các pháp giúp tăng phước lực).
8) Biết
thứ tự của các địa vị.
9) Có thể
an nhẫn.
10) Chẳng
có pháp ái.
Mười
pháp này được giảng tỉ mỉ trong sách Ma Ha Chỉ
Quán.
[59] Tức
ngài Châu Lợi Bàn Đặc (Cūlapanthaka)
một vị La Hán do túc nghiệp mà tột bậc ngu độn. Đức
Phật dạy một câu có bốn chữ mà vẫn không
thuộc. Khi đă giác ngộ ư nghĩa trong bốn chữ ấy,
Ngài lập tức chứng A La Hán.
[60] Uất Đầu
Lam Phất (Udraka
Rāmaputra),
đôi khi c̣n phiên âm là Uất Đà Già, Ưu Đà La Ma Tử,
Ốt Đát Lạc Ca, Uất Đà La Già, Uất Đầu
Lam Tử, Uất Đà La La Ma Tử, là một vị tiên
nhân ngoại đạo, đă chứng Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng Định, đắc năm món thần
thông. Khi đức Thế Tôn xuất gia tu khổ hạnh,
đă từng vấn đạo vị này. Theo kinh Ưu
Đà La, vị này sau khi chết, đọa thành con chồn
bay.
[61] Ngũ Cái là năm thứ phiền năo che lấp tâm thức,
trở ngại thiện pháp phát sanh, nên gọi là Cái (che lấp).
Năm loại phiền năo ấy chính là tham, sân, ham ngủ,
lao chao, và nghi.
[62] Đây là một
đoạn trong thiên Dương Hóa của sách Luận Ngữ:
“Tử viết: Dư dục vô ngôn! Tử Cống viết:
Tử như bất ngôn, tắc tiểu tử hà thuật
yên? Tử viết: Thiên hà ngôn tai! Tứ thời hành yên, bách
vật sanh yên, thiên hà ngôn tai?” (Khổng Tử nói: “Ta chẳng
muốn nói!” Tử Cống thưa: “Thầy không nói, chúng
con làm sao giảng nói được?” Khổng Tử bảo:
“Trời nói ǵ đâu? Bốn mùa luân chuyển, trăm vật
sanh thành, trời có nói ǵ đâu?”).
[63] Lục kinh là
sáu kinh của Nho gia, tức kinh Thi, kinh Thư (tức sách
Thượng Thư), Nghi Lễ, kinh Dịch, Xuân Thu và kinh
Nhạc (kinh này đă thất truyền). Tứ Thư là
Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung và Mạnh Tử.
[64] Theo kinh Đại
Bát Nhă, tôn giả Tu Bồ Đề ngồi yên trong hang
đá, Thiên Đế Thích rải hoa cúng dường. Tôn giả
hỏi: “Ai rải hoa cúng dường?” Thiên Đế
thưa: “Tôn giả khéo nói Bát Nhă nên con rải hoa cúng dường”.
Tôn giả: “Ta có nói ǵ đâu!” Thiên Đế thưa: “Tôn giả
không nói, con cũng không nghe”.
[65] Sa Già Đà (Svāgata) c̣n được
phiên âm là Sa Kiệt Đà, Sa Bà Yết Đa, Tô Yết
Đa, hoặc Sa Yết Đa, dịch nghĩa là Thiện
Lai, là một trong các vị đệ tử Thanh Văn của
đức Phật, được thọ kư sẽ thành Phật
với danh hiệu là Phổ Minh Như Lai. Khi Ngài sanh ra,
h́nh dung khả ái, cha trông thấy rất hoan hỷ, kêu lên “thiện
lai” (đến tốt lành), nên đặt tên như vậy. Ngài trưởng
thành, gia đ́nh suy tàn, cha mẹ đều mất, Ngài phải
đi xin ăn, nên bị người đương thời
dè bỉu là Ác Lai. Chị Ngài (là con dâu của trưởng
giả Cấp Cô Độc) nghe tin thương xót, gởi
tiền bạc cho, nhưng do phước bạc, tài vật
lại bị cướp sạch. Do phước quá kém,
Ngài c̣n gây liên lụy cho những người cùng ăn xin với
ḿnh. Về sau, Ngài gặp Phật, đức Thế Tôn
thương xót, chia cho nửa bát cơm của Ngài, lại
c̣n dạy mua hoa sen xanh cúng dường chúng Tăng. Chư
tăng xót thương tiếp nhận. Ngay khi đó, hoa sen
nở. Ngài thấy tiền thân đă từng tu Thanh
Xứ
Quán,
khôi phục lại tam-muội đă đắc từ kiếp
trước, bèn xin xuất gia.
[66] Dạ Lang (夜郎) là một quốc
gia của người Di thuộc vùng Tây Nam Trung Hoa tồn
tại vào đời Tây Hán, thuộc địa bàn Quư Châu hiện thời. Hán
Vũ Đế ôm dă tâm thôn tính
nước Nam Việt (của Triệu Đà), đă sai Đường Mông sang sứ Nam Việt. Trên đường đi sứ, Đường
Mông phát hiện quốc gia này, dâng sớ xin Hán Vũ Đế
lôi kéo Dạ Lang để tạo gọng ḱm kiềm chế
Nam Việt, đồng thời áp đặt quan huyện,
và xin vua cho con ḿnh làm huyện lệnh Dạ Lang. Dạ Lang
Hầu là Đa Đồng không chịu thần phục nhà
Hán, từng nói “nhà Hán và ta ai lớn hơn”. Do vậy,
đă tạo thành một thành ngữ
“Dạ Lang tự đại” để chê trách kẻ
kiêu căng. Sau đó, Dạ Lang Hầu tự xưng
vương cho đến khi bị diệt quốc vào
năm Hà B́nh thứ hai (27 trước Công
Nguyên) thời Hán Thành Đế. Cho đến nay, các nhà
nghiên cứu thường cho rằng các sắc dân Thủy
tộc, Khất Lăo tộc (Gelao, Kláo, tiếng Việt
gọi là người Cờ Lao), và Miêu tộc là hậu duệ
của dân Dạ Lang.
[67] Theo các nhà chú giải,
vào thời Mạnh Tử, Nhĩ và Nhữ là tiếng của
bề trên gọi người đối diện nếu bối
phận, địa vị của người ấy thấp
hơn ḿnh. Nếu bằng vai phải lứa với nhau th́
chỉ dùng các danh xưng này khi là bạn bè rất thân thiết.
Do vậy, “Nhĩ Nhữ
chi thật” có nghĩa là có
những hành vi, ngôn từ coi thường, xem nhẹ.
[68] Đến thời
tổ Ngẫu Ích, Nhĩ, Nhữ chỉ là danh xưng thông thường
để gọi người đối diện, chẳng có hàm
ư khinh rẻ chi cả. Do vậy, Tổ mới nói
“được
gọi bằng danh xưng Nhĩ hay Nhữ chẳng có ǵ
đáng là hổ thẹn”, đừng nghĩ là
bị coi thường, chỉ hiểu nó là một danh
tướng. Nhưng nói “thực chất
của Nhĩ Nhữ th́ đúng là chẳng nên tiếp nhận”
tức là nói đừng nên xử sự khiến cho
người khác khinh bỉ.
[69] Pháp sư Tịnh
Giới đă giảng câu này như sau: Giáo là giáo pháp, c̣n Quán là nương theo Giải
môn để khởi quán tưởng, tức trí huệ
quán chiếu sanh khởi từ nội tâm. Giáo và Quán chính là
căn bản của Đại Thừa Phật pháp, hay nói
cách khác là Giải và Hạnh cùng vận dụng. Nói “ví
như chất béo và lửa”, chất béo nói cụ thể
là chất có thể cháy, chẳng hạn như sáp. Lửa
có thể đốt cháy sáp, sanh ra nhiệt lượng, nhiệt
lượng lại nung chảy sáp, tạo thành sáp lỏng.
Tương tự, Giáo sanh ra Quán, Quán lại khiến cho
chúng ta hiểu rơ Giáo hơn nữa.
[70] “Lập thân hành kỷ” (立身行己) nghĩa là giữ
ǵn phẩm đức và hành vi tốt đẹp để
xử thế, luôn tự cường, có chừng mực,
tuân thủ các chuẩn mực lễ nghĩa.
[71] Đây là một
đoạn trích từ thiên Thái Giáp hạ, sách Thượng
Thư, chính là lời răn nhắc của Y Doăn đối
với vua Thành Thang.
[72] Trong mỗi quẻ
của kinh Dịch, mỗi vạch đứt hay liền
được gọi là Hào. Hào Dương đầu tiên
được gọi là Sơ Cửu, cho đến hào
Dương cuối cùng được gọi là Thượng
Cửu. Sơ Cửu tượng trưng cho khí
Dương c̣n tiềm tàng, c̣n Thượng Cửu là khí Dương đă sanh khởi đến mức
cùng tột. Tiềm tàng hay quá thịnh đều không tốt.
Do vậy, phải ở mức trung dung giống như giữa
một bầy rồng, không có con nào cầm đầu,
cũng giống như trong xử sự, phải khiêm
hư, đừng bộc lộ quá mức, th́ mới là tốt
đẹp. Đó là ư nghĩa của câu “dụng
cửu kiến quần long vô thủ, cát”. Chúng tôi chuyển
ngữ câu này theo cách giải thích đăng trên trang nhà của
Quốc Gia Giáo Dục Viện Đài Loan.
[73] Quẻ Khôn gồm
có sáu vạch đức, đều là hào Âm. Các hào Âm
được gọi là Lục. “Dụng Lục vĩnh
lợi trinh” được giải thích là cả sáu hào
của quẻ Khôn đều biểu thị sự nhu thuận,
quẻ Khôn tức là Âm đến tột cùng
sẽ biến thành Dương, tức quẻ Càn, nhưng chẳng đánh mất tính chất nhu thuận,
tức là tánh vẫn bất biến. Đó gọi là Trinh,
do nhu thuận nên có thể thành tựu, nhưng vẫn không
đánh mất sự cương quyết, đó là Lợi.
[74] Sách Đồng
Mông Chỉ Quán (Chỉ Quán dành cho trẻ nít), c̣n gọi là
Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu hoặc Tiểu
Chỉ Quán để phân biệt với Ma Ha Chỉ Quán.
Tác phẩm này do tổ Thiên Thai Trí Giả đại sư
biên soạn, trần thuật mười bước tu tập
theo thứ tự.
[75] Tam tế là quá
khứ, hiện tại, vị lai. “Tế” có nghĩa là “ngằn mé, chừng
hạn”.
[76] Đây là một
thành ngữ dựa theo bài kệ của sư Thích Di Quang
đời Tống: “Nhất cửu dữ nhị cửu,
tương phùng bất xuất thủ, đông đắc
si vẫn đầu, diện Nam khán Bắc Đẩu.
Chư thiền nhân, hiểu bất hiểu, địa lô hỏa
lănh mạc hiềm hàn, cánh hữu tiều phu xích cước
tẩu” biểu thị sự cảm khái trước tiết
Đông rét buốt. “Nhất cửu dữ nhị cửu,
tương phùng bất xuất thủ” là lúc chuyển
tiếp giữa tháng Giêng và tháng Hai (từ mồng Chín tháng Giêng đến ngày
Hai Mươi Chín tháng Hai), tiết trời
buốt lạnh đến nỗi bạn bè gặp nhau, chẳng
dám ch́a tay ra. “Đông đắc si vẫn đầu, diện
Nam khán Bắc Đẩu” (lạnh cóng đến nỗi
ai nấy rụt cổ trông như con cú mèo, nh́n về
phương Nam ngửa mặt ngắm sao Bắc Đẩu).
Các câu kế đó hàm ư: Những người tu Thiền có
hiểu hay chăng? Dù ḷ sưởi ngầm dưới
giường đă tắt, đừng sợ
lạnh, vẫn có tiều phu chân trần đi lại. Ư của
cả bài kệ là dùng cảnh tượng rét buốt ngặt
nghèo của mùa Đông ví như sự gian khó trong tu hành,
người tu phải nhẫn nại, kiên quyết chịu
đựng khổ nhọc hướng đến mục
đích tu tập tối hậu, (giống như hướng
mặt về phương Nam ngắm sao Bắc Đẩu),
dũng mănh tấn tu như người tiều phu vẫn
dám chân trần đi kiếm củi bất kể
tiết trời buốt giá!
[77] Ư nói: T́m hiểu
sâu xa, cân nhắc các lẽ lợi hại, đúng sai trong tu
tập.
[78] Ám chứng: Có
thể đắc Định theo kiểu khô tịch, tức
chỉ đạt được sự tĩnh lặng do
các phiền năo tạm thời ngủ yên giống như lửa
đỏ vùi trong tro ngầm, chẳng thể ngộ giải,
chẳng thể thấu hiểu chân lư.
[79] Ninh Quốc là một
huyện nằm trên sông Thủy Dương thuộc tỉnh
An Huy.
[80] Tức là cầu
làm vị Tăng chỉ chuyên nấu cơm cho tăng chúng
ăn trong tùng lâm.
[81] Vị này
chính là Ôn Lăng Giới Hoàn. Sư có pháp hiệu là Giới
Hoàn, do trụ tại chùa Khai Nguyên ở Ôn Lăng, nên
thường được gọi là Ôn Lăng Giới
Hoàn. Trong niên hiệu Tuyên Ḥa, Sư soạn bộ Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh Giải (thường gọi là Pháp Hoa Yếu
Giải) hai mươi quyển để xiển
dương áo nghĩa của tông Thiên Thai. Sư thuộc
pháp phái Lâm Tế, là đệ tử nối pháp của
Đại Giới Kham thiền sư, nhưng chú trọng
hoằng dương Pháp Hoa, Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm. Sư
cho rằng các bản chú giải trước đó tuy rất
hay nhưng quá sâu, quá huyền áo, bất tiện cho kẻ
sơ cơ nên lại chú thích bằng văn từ giản
dị để tạo thuận tiện cho người
sơ cơ có cơ sở trước khi đọc các bản
chú giải khác. Theo Tuyền Châu Khai Nguyên Tự Chí, chùa Khai
Nguyên được dựng vào đời Đường.
Đến đời Tống, viện chủ của Thiên
Phật Điện phát khởi nhân duyên cộng tu kinh Pháp
Hoa, quanh năm tụng kinh Pháp Hoa tại Thiên Phật Điện.
Mỗi khi vị viện chủ suất lănh tăng chúng tụng
kinh Pháp Hoa, luôn có một con bồ câu trắng bay đến
đậu dưới mái hiên, lặng yên lắng nghe kinh, hết
thời khóa mới bay đi, suốt mấy tháng như thế.
Có một hôm, vị viện chủ không thấy chim đến
nghe kinh, trong tâm thắc mắc. Đêm ấy, Ngài mộng
thấy một người đến trước án
thư thưa: “Con là con bồ câu trắng mỗi ngày nghe thầy
tụng kinh Pháp Hoa. Do sức công đức của kinh, con
đă được chuyển thân thành người, sanh vào
nhà nọ ở gần đây. Dưới nách con hăy c̣n lông
vũ trắng, thầy có đến nhận con hay không?” Viện
chủ tỉnh giấc hỏi ḍ, quả nhiên nhà ấy có
đứa con trai mới sanh ra, cởi áo nó xem, dưới
nách quả nhiên có mấy cái lông vũ màu trắng, hoàn toàn
phù hợp với điều được nghe trong giấc
mộng. Sư chờ đứa bé khôn lớn bèn khuyên cha mẹ
nó cho theo Sư xuất gia. Đó chính là ngài Giới Hoàn.
[82] Thanh khóa (清課): Thông thường, các công khóa tu hành của người
học Phật nhằm mục đích
đào luyện thân tâm thanh tịnh, nên được gọi
là “thanh khóa”, nhưng ở đây phải hiểu theo ư nghĩa “các tài khéo được coi là thanh
nhă” như thư pháp, ngâm vịnh, đánh cờ, điêu
khắc, vẽ vời, đánh đàn, thổi sáo, trồng hoa, uốn cây v.v…
[83] Hữu Quân tức
là Vương Hy Chi, một thư pháp gia lỗi lạc thời
Đông Tấn. Do ông làm quan đến chức Hữu Quân
Tướng Quân, nên c̣n được gọi là
Vương Hữu Quân. Lư là Lư Bạch, Đỗ
là Đỗ Phủ, đều là các thi nhân trứ danh.
[84] Diễm Hỷ
tức là ngài Tôn Đà La Nan Đà, vị này là em họ của
đức Phật, rất đẹp trai, tướng hảo
gần bằng Phật (chỉ thiếu hai
tướng). Do vợ Ngài là Tôn Đà La nổi tiếng
xinh đẹp, nên ghép thành tên như thế nhằm phân biệt với các vị Nan Đà khác. Do say đắm
sắc đẹp, dẫu bị ép xuất
gia, tâm Ngài rất tán loạn, cứ
thương nhớ vợ không nguôi. Đức Phật
khéo dùng phương tiện, đưa tôn giả lên trời
cho thấy thiên nữ xinh đẹp. Ngài bèn tinh tấn tu
hành để mong sanh lên cơi trời. Do bị các
đồng bạn chế giễu, Ngài phát phẫn, gắng tu tŕ, nhờ
vậy mà đoạn được ái dục, chứng quả La Hán. Đặc
Ca tức ngài Châu Lợi Bàn Đặc (c̣n phiên âm là Bàn Đặc
Ca), nổi tiếng ngu si. Đức
Phật dạy một câu có bốn chữ mà cứ nhớ
trước quên sau. Nhờ tinh cần chỉ quán bốn chữ do Phật dạy nhiều năm mà cũng chứng quả
La Hán.
[85] Tiên Thích c̣n gọi
là Tiên Chú, có nghĩa chú giải cổ thư, Tiên có nghĩa
đen là mảnh giấy để viết thư. Tiên Chú
hay Tiên Thích là giải thích đại lược ư nghĩa
trong cổ thư, với ư nghĩa khiêm hư: Những lời
chú giải chỉ là sơ sài, không cặn kẽ, sâu sắc.
[86] Dựa theo
điển tích Khổng Tử đọc kinh Dịch đến
nỗi ba lần đứt lề sách. Do thời Khổng
Tử, chưa có giấy, sách được viết lên các
thẻ tre, khoét lỗ, rồi buộc lại bằng dây da
trâu cho khỏi thất lạc. Cái dây buộc ấy
được gọi là Vi Biên (韋編, tạm dịch là “lề sách”,
tuy không chính xác). Ư Tổ khuyên ông Quách Thái Tước hăy
đọc kỹ, nghiền ngẫm kinh Dịch rất nhiều
lượt rồi mới viết sách chú giải.
[87] Đây là hai câu
được trích từ kinh Thi “như thiết như
tha, như trác như ma”. Theo các nhà chú giải, chạm trổ
trên xương thú th́ gọi là Thiết, trên sừng là Tha, trên ngà voi là Trác, trên ngọc
thạch là Ma, tức là nói đến bốn công đoạn
chế tác đồ mỹ nghệ: tạo h́nh, đục
giũa để tạo h́nh dạng tổng thể,
điêu khắc tỉ mỉ các chi tiết, cuối cùng là
đánh bóng, mài sáng. Từ ngữ này được dùng
để diễn tả quá tŕnh tu dưỡng, học vấn
đạo đức từ thô đến tinh, từ bề
ngoài tiến sâu vào nội hàm.
[88] Công Dă Trường (519-470 trước Công Nguyên) là con rể, đồng
thời là môn đệ của Khổng Tử. Ông là người
nước Tề, tương truyền thông hiểu tiếng
loài chim. Do vậy, dân gian đọc trại tên ông thành tên Công Dă Tràng,
và bịa ra truyền thuyết: Công Dă Tràng do được
rắn tặng ngọc, khi ngậm ngọc,
sẽ thông hiểu tiếng muôn loài. Vua nghe chuyện, đ̣i
ông dâng ngọc. Vua ngậm ngọc ra khơi, nghe các loài cá
nói chuyện, ca hát, vui thích bật cười
khiến ngọc rơi xuống biển. Công Dă Tràng tiếc
ngọc, ngày đêm lặn hụp t́m kiếm, kiệt sức
chết thành một loài cua nhỏ chuyên tha cát lấp biển,
gọi là con dă tràng!
[89] Ngài Ô Khoa chính
là ngài Đạo Lâm. Sư họ Phan, người xứ
Phú Dương, xuất gia lúc chín tuổi, thọ Cụ Túc
lúc hai mươi mốt tuổi. Sư theo pháp sư Phục
Lễ ở chùa Tây Minh tại Trường An, học kinh
Lăng Nghiêm, luận Khởi Tín. Sau khi đắc ngộ,
Sư quay về Nam, thấy trong núi Tần Vọng có cây
tùng tán x̣e quanh như cái lọng, bèn kết lều tranh tu
hành trên đó. Người đương thời gọi
là Ô Khoa thiền sư (thiền sư ổ quạ). Khi Bạch
Cư Dị làm thái thú Hàng Châu, nghe danh bèn đến hỏi
đạo. Bạch Cư Dị tự xưng là
Hương Sơn cư sĩ. Sư liền chỉ dạy
hai câu: “Đừng làm các điều ác, vâng hành các điều
thiện”. Ông Bạch nói: “Đứa trẻ ba tuổi
cũng nói được như thế!” Sư bảo: “Đứa
trẻ ba tuổi cũng nói được, nhưng ông già
tám mươi chưa làm được!”
[90] Đây là thuật
ngữ trong nhà Thiền để chỉ công án, nguyên
văn “kim cang khuyên, lật cức bồng”. Theo bài viết
“Thiền thị thấu đắc kim cang khuyên, thốn đắc lật cức
bồng” (thiền
là vượt khỏi ṿng kim cang, nuốt được hạt
dẻ gai), không rơ tác giả, đăng trên trang nhà của Thanh
Lương Cổ Tự, Kim cang
khuyên (金刚圈) là một
loại vũ khí thời cổ đúc
bằng đồng hoặc thép, có h́nh
tṛn, thường dùng để chụp bắt người
khác trong khi cận chiến. Lật cức bồng
(栗棘蓬) là loại hạt
dẻ c̣n nguyên vỏ đầy gai. Nhà Thiền dùng cách nói “thoát khỏi sự
chụp bắt của ṿng kim cang, hạt dẻ c̣n gai rất
khó nuốt, mà nuốt được”, tức là đă tham cứu thấu suốt thoại đầu, công án.
[91] Nguyên văn “thâu
tâm” (偷心) có nghĩa gốc
là cái tâm trộm cắp, nhưng Thiền lâm dùng từ ngữ
này chỉ cái tâm chẳng ngừng hướng ra ngoài phân biệt,
t́m cầu, giống như kẻ trộm luôn ŕnh rập
người khác.
[92] “Thỉnh ích” (請益): Học tṛ đến chỗ thầy xin dạy bảo.
Riêng trong nhà Thiền, c̣n có một nghĩa nữa là sau khi
thầy dạy bảo, nếu tṛ c̣n có chỗ ngờ vực,
hay chưa hiểu rơ, sẽ xin thầy dạy rơ thêm. Đó
gọi là Thỉnh Ích. Trong Bách Trượng Thanh Quy, quy củ
Thỉnh Ích rất nghiêm ngặt và trang trọng.
[93] Đây là một
cách nói trong Thiền Tông ngụ ư siêu xuất Pháp Thân tự
tại, không vướng mắc vào đâu. Đường
Túc Tông từng hỏi đạo với Nam Dương Huệ
Trung quốc sư: “Như thế nào là mười thân
điều ngự?” Quốc sư đáp: “Đàn-việt
đạp trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô Giá
Na mà đi”. Hoàng đế nói: “Quả nhân chẳng hiểu”.
Quốc sư nói: “Đừng nghĩ chính ḿnh là Pháp Thân
thanh tịnh”. Ư nói: Thiền Tông gọi khai ngộ là
đạt đến Pháp Thân, phá được nghi t́nh là
an trụ trong Pháp Thân, thấy chính ḿnh và Pháp Thân là một.
Đă đạt đến mức độ đó, phải
tiến cao hơn nữa, đừng chấp vào Pháp Thân, phải
vượt được cái ải chấp vào Pháp Thân
để đạt tới mức độ chân thật
giác ngộ (theo lời giảng của cụ Hoàng Niệm
Tổ trong Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận Giảng
Kư). Ở đây, tổ Ngẫu Ích răn nhắc kẻ cuồng
Thiền, vừa phá nghi t́nh, liền nghĩ ḿnh đă chứng
Pháp Thân, ngạo nghễ coi giáo điển, giới luật
là đồ bỏ, buông lung, phóng dật mà cứ nghĩ
ḿnh đă đạt tới mức độ vượt
ngoài Pháp Thân.
[94] Tứ Tánh
được nói ở đây chính là tự, tha, cộng,
ly. Tức mỗi pháp chẳng phải là tự sanh, chẳng
phải do các pháp khác sanh ra, chẳng phải là do tự và
tha kết hợp lại, chẳng ĺa tự và tha mà tự
nhiên sanh ra.
[95] Duyên ảnh (緣影) c̣n gọi là
duyên khí, hoặc duyên sự,
chính là h́nh bóng của ngoại trần (sắc, thanh,
hương, vị, xúc) sanh ra khi Kiến Phần duyên lự
ngoại trần. “Duyên lự” tức là tác dụng của Kiến Phần tiếp xúc cảnh giới (trần sắc
bên ngoài) nảy sanh sự cảm nhận, suy lường
(thường gọi là lự). Kiến Phần
chính là tác dụng có thể tiếp xúc, nhận biết trần
cảnh của một thức. Đừng lầm lẫn
duyên ảnh với trần ảnh. Trần ảnh là thuật
ngữ chỉ các trần (sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp) do chúng hư huyễn, chẳng thật, giống
như h́nh bóng thoạt nh́n th́ có, nhưng thật ra chẳng thật sự
tồn tại, chỉ do các duyên đối đăi mà
có, nên gọi là trần ảnh, hay trần ảnh sự.
[96] Ư nói: Xác định
phương hướng đă chánh xác.
[97] Đây là các vị
thiện tri thức trong năm mươi ba lần tham phỏng
của Thiện Tài đồng tử:
- Vị vua bạo
ngược chính là vua Vô Yếm Túc (Anala), chuyên trừng phạt
thảm khốc những kẻ phạm tội, dạy Thiện
Tài môn giải thoát Bồ Tát Như Huyễn.
- Cô gái lạ
lùng xinh đẹp tức cô Bà Tu Mật Đa (Vasumitrā), dạy Thiện Tài môn giải
thoát Bồ Tát Ly Tham Tế.
- Bà-la-môn đốt
thân là Thắng Nhiệt bà la môn (Jayosmāya)
tu hành khổ hạnh, thường dùng lửa để
nung thân, dạy Thiện Tài môn giải thoát Bồ Tát Vô Tận
Luân.
- Trẻ
trai dồn cát chính là Tự Tại Chủ đồng tử
(Indriyeśvara), thị hiện thân trẻ trai đang nghịch
cát trên bờ biển, nhưng thật ra đang dạy cho
người khác môn toán số của Bồ Tát. Vị này dạy
Thiện Tài môn giải thoát Nhất Thiết Công Xảo
Đại Thần Thông Trí Quang.
[98] Điện Hàm Nguyên là cung
điện chính trong quần thể cung điện Đại
Minh của hoàng đế nhà Đường tại kinh
đô Trường An. Cung điện này được khởi
công xây dựng từ năm Long Sóc thứ hai (662) thời Đường Cao Tông, mất một năm mới
hoàn thành. Đây là nơi để triều đ́nh cử
hành lễ Nguyên Đán, duyệt binh, hiến phù (các tướng
giao nộp chiến lợi phẩm và tù binh khi thắng trận),
dâng tôn hiệu (cho hoàng tử, hoàng hậu, thái hậu, hay
các thành viên trong hoàng tộc), và thiết đại
triều trong mùa Đông.
[99] Nguyên văn “tả
hữu phùng nguyên” nghĩa đen là đến bất cứ
chỗ nào cũng t́m được nguồn nước dồi
dào, được hiểu là từ ngữ ca ngợi học
vấn rộng răi, ứng phó thuận lợi. Sau đó, mở
rộng thành ư nghĩa học đạo nắm được
yếu lănh, mọi chuyện đều có thể tùy ư vận
dụng, biện pháp chẳng cạn kiệt.
[100] Chỉ Phật
tánh sẵn có của chúng sanh. Kinh Đại Niết Bàn dùng
thí dụ này để chỉ Như Lai Tạng (tức Phật
tánh) sẵn có trong tâm chúng sanh mà chúng sanh chẳng hề hay
biết. Như người nữ nghèo trong nhà có kho chứa
vàng ṛng, mà mọi người trong nhà đều chẳng
biết. Lúc ấy, có thiện tri thức mướn cô ta cắt
cỏ, cô ta bèn bảo nếu chỉ ra chỗ kho tàng, sẽ
làm thuê cho người ấy. Người ấy bèn đào
kho vàng trong nhà cô ta lên, cô liền kính ngưỡng người
ấy.
[101] Tỳ Xá Phù
Phật (Viśvabhu),
c̣n phiên âm là Tỳ Thấp Bà, Tỳ Xá Bà, hoặc Nhiếp
La… Dịch nghĩa là Nhất Thiết Tự Tại, Biến
Hiện (hiện trọn khắp), hoặc Toàn Hiện. Ngài
là vị Phật thứ ba trong Quá Khứ Thất Phật
thuộc Trang Nghiêm Kiếp, có họ là Câu Lợi Nhă, thuộc
ḍng Sát Đế Lợi. Theo kinh Đại Bổn trong
Trường A Hàm, Ngài xuất thế cách đây ba
mươi mốt kiếp, lúc nhân loại thọ sáu vạn
năm, cha tên là Thiện Đăng (Supattita), mẹ tên là
Xưng Giới (Yasavatī),
con trai Ngài tên là Diệu Giác (Suppabuddha), sống tại thành Vô Du (Anūpama), thành đạo
dưới cội cây Sa La, đệ tử thượng
thủ tên là Phù Du (Sona) và Uất Đa La (Uttara). Thị giả
tên là Tịch Diệt (Upasannaka).
[102] Ba ngàn oai nghi là
do nói đối ứng với hai trăm năm mươi
giới của tỳ-kheo, áp dụng vào bốn oai nghi
(đi, đứng, nằm, ngồi) tức 250x4=1.000, lại phối ứng với ba thời quá khứ,
hiện tại, vị lai, thành 1.000x3=3.000 oai nghi. 3.000 oai
nghi ấy phối ứng với bảy chi “giết, trộm, dâm, nói dối, nói đôi chiều,
nói thêu dệt, nói thô ác” thành
3.000x7=21.000, lại phối ứng với tham, sân, si, đẳng
phần, thành
21.000x4=84.000 tế hạnh, nói tṛn thành tám vạn tế hạnh.
[103] Có nhiều cách
giải thích các danh từ này, nhưng xét theo
ngữ cách ở đây, mạt nhân đoán rằng cách giải
thích của Câu Xá Luận là thích hợp nhất: Danh là từ
ngữ chỉ một pháp, một sự vật (có thể
hiểu thô thiển danh là danh từ). Cú là một câu có do
nhiều danh hợp lại, có thể nêu bày một
ư nghĩa trọn vẹn. Văn là chữ, tức là các chữ
hoặc mẫu tự đơn lẻ. Văn Thân do nhiều Văn hợp thành.
[104] Giơ cành hoa, dựng
đứng phất trần (niêm hoa, thụ phất): Niêm
hoa là điển tích Tư Ích Phạm Thiên dâng đóa hoa kim
sắc cúng dường Phật, đức Phật giơ
cành hoa sen lên, im lặng, đại chúng ngơ ngác, chỉ
có ngài Đại Ca Diếp mỉm cười, đức
Phật liền ấn chứng “đă truyền tâm pháp cho
ngài Ca Diếp làm vị tổ thứ nhất”. Dựng
đứng phất trần phát xuất từ trong Cảnh
Đức Truyền Đăng Lục, có vị giảng
sư đến thỉnh pháp với thiền sư Tế
An, Sư hỏi: “Tọa chủ! Ông ôn tập sự nghiệp
ǵ?” Giảng sư đáp: “Tôi giảng Hoa Nghiêm”. Sư hỏi:
“Có mấy loại pháp giới?” Giảng sư đáp: “Nói rộng
th́ là trùng trùng vô tận, nói lược th́ là bốn loại
pháp giới”. Sư dựng đứng cán phất trần,
hỏi: “Cái này là loại pháp giới thứ mấy?” Vị
giảng sư nín lặng, không trả lời được.
[105] Mặc chiếu Thiền là phong cách
tọa Thiền do sư Hoằng Trí Chánh Giác của tông Tào
Động đề xướng dưới thời Tống.
Theo đó, Mặc là trầm mặc chuyên tâm tọa Thiền,
Chiếu là dùng trí huệ để soi xét tâm tánh linh tri vốn
sẵn thanh tịnh. Sư Chánh Giác cho rằng Thật
Tướng chính là tướng vô tướng, chân tâm tức
là cái tâm vô tâm. V́ thế, Sư chủ trương cứ ngồi
lặng lẽ trong Định, chẳng cần mong cầu
đại ngộ, dùng thái độ “chẳng có ǵ để
đạt được, chẳng có ǵ để ngộ” mà tọa Thiền.
Tức là cứ lặng yên trong Định, chẳng cần phải
quán niệm chi hết. Phong cách Thiền này bị ngài Đại
Huệ Tông Cảo của tông Lâm Tế bài bác kịch liệt,
gọi đó là “khô Thiền mặc chiếu” (tức ngồi
như cây khô), mặc chiếu tà thiền, vô sự thiền,
khô mộc tử hôi thiền (thiền như cây khô tro lạnh).
Chánh Giác viết một bài minh dài hai trăm tám mươi
tám chữ để phản bác, đề xuất tác dụng
vận trí huệ linh hoạt sống động của Mặc
Chiếu, không phải là lối Thiền câu nệ vào công án
hay thoại đầu của Tông Cảo.
[106] Chúng tôi chuyển
ngữ câu này theo cách diễn giải của cư sĩ
Vương Trị B́nh trong bộ Đại Phật Đảnh
Thủ Lăng Nghiêm Kinh Dịch Giải.
[107] Thuở nhỏ,
thần y Kỳ Bà đến chỗ thần y Tân Ca La ở
nước Đức Xoa Thi La suốt bảy năm. Một
hôm, thầy trao cho Kỳ Bà một cái tráp bảo đi t́m
xem khắp nước, cây nào không thể dùng làm thuốc
th́ đem về. Kỳ Bà t́m kiếm măi, cuối cùng ôm tráp
không trở về, mới biết thảo mộc không ǵ chẳng
có chỗ hữu dụng.
[108] Xuân Thu là một
giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa, kéo dài từ
năm 770 đến năm 476 trước Công Nguyên, có thuyết
nói là cho đến năm 403 trước Công Nguyên). Tức
là kể từ khi Châu B́nh Vương (Cơ Nghi Cữu) sau
khi nhờ sự giúp đỡ của quân Khuyển Nhung
để lên ngôi, nhằm tránh sự uy hiếp của quân
Khuyển Nhung, đă dời kinh đô từ Cảo Kinh về
Lạc Ấp (tức Lạc Dương) ở phía Đông.
Do vậy, Sử gọi nhà Châu vào thời này là Đông Châu.
Thế lực nhà Châu đă suy yếu cùng cực, các chư
hầu hùng mạnh nổi lên, lấn át nhà vua với chiêu
bài “tôn vương, nhượng di” (tôn vua, chế phục
chư hầu), h́nh thành thời kỳ Ngũ Bá (Tề Hoàn
Công, Tấn Văn Công…), mượn danh phù tá thiên tử
để chế phục các chư hầu yếu hơn,
thống lănh các chư hầu khác. Sở dĩ có danh
xưng là thời kỳ Xuân Thu là v́ Khổng Tử chép sử
nước Lỗ đặt tên là Xuân Thu. Sở dĩ gọi
là Xuân Thu v́ các sự kiện quan trọng của đất
nước thường xảy ra vào hai mùa Xuân và Thu và chép
theo lối biên niên sử. Trong thời kỳ này, có ba
mươi sáu vị vua chư hầu bị quần thần
hoặc nước đối địch giết chết,
năm mươi hai nước chư hầu bị diệt
vong, hơn bốn trăm tám mươi cuộc chiến lớn
nhỏ nổ ra.
Chiến Quốc (từ
năm 475 đến năm 221 trước Công Nguyên) tiếp
ngay sau thời Xuân Thu, thường được coi là mở
đầu khi ba thế lực quư tộc Triệu, Hàn, Ngụy
của nước Tấn diệt vua Tấn, tách nước
Tấn thành ba nước là Triệu, Hàn, Ngụy. Trong giai
đoạn này, các nước nhỏ bị thôn tính dần,
bảy nước lớn (Tần, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy,
Tề, Yên) đánh nhau không ngừng; nhà Châu chỉ c̣n là một
lănh thổ nhỏ bé, hoàn toàn không có thực quyền, cuối
cùng bị nước Tần diệt. Các nước nhỏ
như Tống, Vệ, Trung Sơn, Lỗ, Đằng, Trâu,
Phí v.v… bị bảy nước lớn thôn tính. Thời kỳ
Chiến Quốc chấm dứt khi Tần Thủy Hoàng diệt
lục quốc, thống nhất Trung Nguyên, thành lập chế
độ trung ương tập quyền, chia Trung Hoa thành
quận, huyện, xóa bỏ chế độ chư hầu.
[109] Bốn câu (tứ
cú) là có, không, vừa có vừa không, chẳng phải có chẳng
phải không.
[110] Tương truyền
nước miếng của hồ ly có tác dụng mê hoặc
con người. Do vậy, nhà Thiền dùng chữ “hồ
ly diên” (nước miếng hồ ly) để chỉ
những lời lẽ gây mê hoặc ḷng người.
[111] Nhà Nho nhất
là Tống Nho thường hiểu “cách vật” là thông
hiểu sự vật đến tận cùng nguồn cội,
nhưng theo quan điểm của nhà Phật, “cách vật”
phải hiểu là “cách trừ vật dục” tức
trừ bỏ ḷng ham muốn đối với vật chất,
nói rộng ra là trừ khử những ư niệm tham
chấp. “Vật cách” là để trừ khử tận
gốc vật dục th́ phải thấu hiểu bản chất
của muôn vật, chẳng chấp vào các vật nữa.
[112] Theo Cư Sĩ
Truyện, Trương Cửu Thành (tên tự là Tử Thiều)
lên Kính Sơn tham yết ngài Đại Huệ Tông Cảo.
Thiền sư nói: Đời Đường có người
theo An Lộc Sơn làm phản. Người ấy trước
đó từng trấn thủ Lăng Trung (Tứ Xuyên), có bức
tranh vẽ chân dung được giữ tại đó. Vua
Đường Minh Hoàng khi chạy vào đất Thục,
trông thấy bức vẽ ấy, tức giận, sai thị
thần chém đầu h́nh vẽ của người ấy.
Người ấy đang ở Thiểm Tây, bỗng bị
rơi đầu.
[113] Thường Bất
Khinh Bồ Tát trông thấy ai cũng chạy đến lễ
bái, thưa “tôi chẳng dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ thành
Phật”. Đó chính là tu phẩm Tùy Hỷ trong Ngũ Phẩm
(tùy hỷ, đọc tụng, giảng nói, kiêm hành chánh hạnh,
tu tập chánh hạnh).
[114] Đây là dụng
ngữ trong nhà Thiền, phát xuất từ cách nói thông tục
đời Tống. “Tác ma” (作麼) có nghĩa là như thế nào,
c̣n Sanh (生) chỉ là tiếp
vĩ ngữ, nhằm nhấn mạnh, chứ không có ư
nghĩa riêng biệt! “Tác ma sanh” c̣n nói là “chẩm ma sanh, tự
ma sanh, tác ma, tác sanh”, đều có
nghĩa là “như thế nào?” Thiền lâm dùng từ ngữ này
như từ ngữ cảm thán hoặc chất
vấn.
[115] Kư (驥) là thiên lư mă (loại
ngựa mỗi ngày đi
được ngàn dặm).
[116] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn
giải trong bài Luận Ngữ
Giản Thuyết của tạp chí Minh
Luân (phát hành tại
Đài Trung, do Đài Trung Liên Xă chủ trương).