Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 2

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Văn lễ sám chùa Thiết Phật

(năm Nhâm Ngọ - 1642)

 

          Bồ Tát giới sa-di Trí Húc tự xét chướng nặng, chẳng sanh nhằm thời [Phật pháp] hưng thịnh. Mắt nh́n thời thế gian nan, càng thêm ưu sầu, đấu gạo gần cả ngàn đồng[1]. Đă than người dân đời sống khốn khổ, bệnh, chết mỗi ngày tính ra cả ngàn, càng sợ nghiệp báo sâu đậm! Ấy là v́ đồng phận ác duyên cảm vời huyễn tướng khác thường ấy! Biết rơ ngoài tâm chẳng có pháp, nào đành ngồi nh́n thờ ơ? Nay gặp đạo tràng Vu Lan, đốt năm lọn hương cúng dường pháp giới Tam Bảo, phát năm loại nguyện:

1) Một là nguyện đương kim hoàng đế khoan dung, ôn nhu, tôn trọng người hiền, bao dung đại chúng, coi bầy tôi giống như tay chân, ân huệ thấm nhuần hoàn vũ. Dùng TTâm tam-muội hàng phục ma quân. Dùng Vô Tác Tứ Hoằng để nối tiếp hưng thịnh Phật chủng.

2) Hai là nguyện đàn việt đạo phủ[2] X…. Nói rộng ra là các vị tể phụ[3] trong triều đ́nh, quần thần trong nước, ai nấy đều cai trị chẳng sai lầm, thật sự có oai nghiêm sáng suốt.

3) Ba là nguyện trong địa phận Thiều Khê[4], trong nước Chấn Đán (Trung Hoa), dịch bệnh tiêu trừ, binh đao dứt bặt, gió mưa đúng thời, mùa màng bội thu, rộng hưng khởi pháp hóa, cùng thoát ṿng khổ.

4) Bốn là nguyện sư tăng, cha mẹ, thân duyên nhiều đời, thiện ác tri thức, đồng học quyến thuộc, đàn việt tạo chùa, mười phương tín thí của chúng con, không ai chẳng vượt thoát tứ lưu[5], chứng trọn Tam Đức, tự lợi rốt ráo, lợi người trọn khắp.

5) Năm là nguyện tận hư không giới hữu thức hàm linh đều b́nh đẳng ngộ cái nhân chân thật, đều thành diệu quả, rỗng không mộng huyễn trong chín pháp giới, trở về nguồn cội nhất tâm. Mỗi trần, mỗi vật, không ǵ chẳng phải là Tịch Quang. Mỗi pháp, mỗi sự đều hiển phát diệu hạnh, trọn khắp các cơi nhiều như vi trần, chẳng nghe danh xưng ma tà, ngoại đạo. Tới tột cùng vị lai, chẳng dấy lên ái kiến trược. Kính nguyện pháp giới Tam Bảo chứng tri, hộ niệm!

 

* Nguyện văn ngày Ba Mươi tháng Bảy năm Giáp Thân (1644)

 

          Quy mạng Năng Nhân vô thượng tôn, đại hiếu, đại từ, chân pháp tánh. Tam thừa Quyền, Thật các oai thần. Nguyện ban ḷng thương xót, rủ ḷng nhiếp thọ. Đệ tử Trí Húc tự xét chính ḿnh bị túc chướng quấn trói huyễn h́nh này. Lại do tội khiên sâu nặng, sanh nhằm thuở kiếp trược, [kinh điển bị] truyền thọ, sao chép sai lệch[6]. Buồn Phật pháp suy loạn, ngũ nghịch hoành hành, đau vận nước gian nan, trong triều ngoài nội chẳng có tâm sửa đổi. Tăng, tục tranh nhau giẫm theo vết xe đổ. Ấy là do thức tướng cùng gieo, ác nghiệp cùng lôi kéo, đồng phận vọng kiến, duyên mù quáng cùng dấy lên. Triệt để tư duy, quyết chẳng phải là ngoài tâm mà có cảnh chân thật. Sám hối, ân hận tự đáy ḷng, ắt phải có phương tiện[7] siêng gắng nơi bản thân. Do vậy, cùng với những người đồng hạnh, nhóm họp đàn-na, khắp v́ quốc vương, đế chúa, cha mẹ, thân duyên, muôn dân trong đất nước, pháp giới hàm thức, đảnh lễ Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp, cúng dường tri thức, đạo dung[8] nhiều đời. Đốt ba lọn hương cúng dường Thường Trụ Tam Bảo. Lại đốt ba lọn hương, phụng cúng U Minh giáo chủ Địa Tạng từ tôn. Kính nguyện diệt tội khiên nặng nề hủy tượng của đại hành hoàng đế[9], giải trừ oán kết tích tụ do giết chóc, mau được giải thoát, nhanh chóng ngộ Vô Sanh. Vua tôi hiện thời cất nhắc người hiền, xa lánh kẻ nịnh, phát ḷng bi chân thật cứu triệu dân, vứt bỏ lợi danh, dốc cạn ḷng chân thật, chẳng đoái hoài bản thân, t́nh nhà. Kế đó, nguyện sanh thân cha mẹ, thân duyên nhiều kiếp, thầy bạn, tri thức, quyến thuộc, đàn việt, hộ tŕ v.v… của mỗi người chúng con nếu đă quá văng sẽ măi măi giă biệt tám nạn, gởi chất nơi chín phẩm sen; hiện c̣n th́ chẳng bị binh đao quấy nhiễu, vĩnh viễn ĺa kinh hăi. Lại nguyện người làm việc nặng, ra sức, giúp đỡ doanh tạo phước nghiệp đều chẳng có một niệm riêng tư, cùng xoay chuyển họa loạn của nước nhà, tam luân (thân, ngữ, ư) chẳng tối tăm, b́nh đẳng tiêu trừ tội khiên sai sót của vua, cha. Lại nguyện người thấy nghe tùy hỷ cùng rộng khắp pháp giới chúng sanh gieo trọn khắp nhân lành, b́nh đẳng đều cùng thành diệu chủng, chẳng có huyễn nhiễm ngũ trược, chứng tánh chân Tam Đức. Tận hết hư không giới đă đều ngộ viên thường rồi th́ Trí Húc mới thành Đẳng Chánh Giác.

 

* Văn sám nguyện Phật, Bồ Tát, thượng tọa

 

          Đảnh lễ mười phương đại oai đức, từ dũng vương năm phần [Pháp Thân] nghiêm thân, dùng bổn thệ nguyện chẳng nghĩ bàn, cùng ban ḷng thương xót cứu bạt con. Đệ tử Trí Húc kính đốt ba lọn hương trên đỉnh đầu, cúng dường mười phương pháp giới, quá khứ, vị lai, hiện tại vô cùng vô tận hết thảy Tam Bảo, phơi bày tâm can mà tự trách rằng: Than ôi! Từ cổ, kẻ xét về giải th́ vượt Phật, vượt Tổ, nhưng hạnh c̣n thua cả phàm phu, chắc là chẳng có ai tội lỗi hơn Húc! Trí Húc khi chưa biết Phật, chưa biết Pháp, chưa biết Tăng, lầm nghe theo thầy tà, xằng bậy coi Lư Học là trách nhiệm ngàn đời của chính ḿnh, tạo vô lượng tội báng bổ Tam Bảo, đáng đọa vào đại địa ngục A Tỳ, hứng chịu đủ mọi nỗi khổ cùng cực trong A-tăng-kỳ kiếp. Nhờ sức của hai vị Đại Sĩ Quán Âm và Địa Tạng, đủ loại cảm vời, khơi gợi, dẹp trừ tà tâm của con, khiến cho con được quy hướng Phật pháp, chánh tín xuất gia. Nào ngờ sau khi xuất gia, vẫn bị túc nghiệp ngăn chướng, chỉ phát giải huệ, chẳng dính dáng ḍng pháp. Lại c̣n tổn ḿnh lợi người hơn hai mươi năm, đến nỗi tâm muốn định mà đâm ra rối loạn, niệm muốn tịnh mà lại một bề nhuốm bẩn. Hai mươi mấy năm, trọn chẳng có bản lănh thật sự ǵ. Nay tự xét ḿnh chẳng ra tṛ trống ǵ, tự phản tỉnh nhiều tội khiên, nghĩ tới sanh tử chuyện lớn, vô thường nhanh chóng, thật đáng gào trời, thét đất!

Hồi tưởng cái tâm ban sơ thuở xuống tóc, khoác áo thâm, vốn mang chí ĺa tục, khác ǵ đứt ruột nát gan, ngoài th́ chẳng có thực chất để hóa độ người khác, trong th́ trở ngại công phu tự hành. Lúc c̣n ngoài đời, đă ch́m đắm trong ḍng tà kiến ô trược, xuất gia lại là kẻ nhuốm bẩn đạo nơi pháp môn. Tiến thoái thất thố, thẹn tiếc khôn cùng! Trộm nghĩ thuở trước đă tận lực bêu riếu Đại Sĩ, Đại Sĩ vẫn xót thương. Nay đă tin sâu Tam Bảo, lẽ nào Tam Bảo chẳng nhiếp thọ? Chỉ v́ vô thỉ chướng nồng đậm, tự cách tuyệt đồng thể bi ứng, nhưng chướng chẳng phải là thật pháp, chỉ do tâm sanh. Đă từ tâm sanh, vẫn phải từ tâm diệt, nhưng lư chướng ắt phải dùng lư để trừ, sự chướng phải nên dùng sự để gạt bỏ. Tự nghĩ từ nhiều đời tới nay, thừa cấp, giới hoăn, coi nhẹ Sự, chuộng Lư, đọa trong tam đồ đă lâu, ngẫu nhiên có lúc được tạm thoát ra. Do vậy, hễ nghe Tông, Giáo, bèn triệt để biết hướng về, tận lực học Tỳ Ni, riêng lắm bề vi phạm! Diệu lư viên đốn, chẳng hiểu tinh tế mà cũng chẳng nhập! Quán môn tướng hảo, dẫu chút phần vẫn chẳng thành.

T́m ṭi nguồn bệnh, theo lư cần phải có thuốc tốt lành! Từng nghe công đức tạc tượng có thể diệt tội trừ khiên tốt nhất. Lễ bái sám-ma, thật có thể gột ḷng, rửa phiền, bèn phát ḷng kiền thành, gom tiền tài sửa đổi tượng một vị Phật và hai vị Bồ Tát. Lại c̣n phát thệ nguyện luôn lễ Chiêm Sát Hành Pháp, bất luận năm tháng, chuyên cầu luân tướng thuần thiện[10]. Chúng sanh tuy cấu nặng, chư Phật chẳng chán bỏ, ắt dùng đại từ bi, xót thương độ thoát con, khiến cho con từ nay về sau, tâm chẳng có điệu cử (lao chao, chộn rộn), thân được khinh an, giữ lỗi miệng, chẳng thốt lời thêu dệt, thô ác, tịnh ư địa, chẳng khởi suy nghĩ tạp loạn, dục giác, mau được thanh tịnh tam luân, quyết đạt tới tự tha lưỡng lợi (tự lợi và lợi tha), hóa độ chúng sanh trọn khắp cùng sanh Tịnh Độ.

 

* Nguyện văn trong đạo tràng hành pháp Đại Bi

(ngày mồng Ba tháng Năm năm Ất Dậu - 1645)

 

          Đảnh lễ chân thật đại bi tâm, bậc rốt ráo phần chứng nhị giác[11]. Con từ vô thỉ tới nay đọa trong hư vọng, tuần hoàn sanh tử chưa hề tạm ngừng, đánh mất niềm vui trong bản tánh, oan uổng chịu khổ. Nay muốn cứu dẹp mà tự ḿnh chẳng có sức, nguyện đức đại oai thần do duyên đồng thể mà chẳng xả bổn thệ, rủ ḷng thương xót cứu tế. Đệ tử Trí Húc tự biết từ bao kiếp lâu xa đến nay, ngôn từ chẳng phù hợp hạnh, miệng và tâm trái nghịch nhau. Nay tuy may mắn được ghé dự ḍng Tăng, vẫn chẳng thể quên thói cũ. Lược xét một đời, có sáu tội lớn, c̣n lỗi nhỏ th́ vô số. Biết rơ con đường hướng thượng, nhưng chẳng thể đích thân đạt tới chỗ thọ dụng chân thật của Phật, Tổ. Biết rơ Giáo Quán viên đốn, nhưng chẳng thể vượt lên Ngũ Phẩm ḥng thanh tịnh lục căn. Biết rơ Tỳ Ni Đại, Tiểu Thừa, nhưng chẳng thể thanh tịnh các nghiệp tánh, giá. Biết rơ sát nghiệp là cái nhân của kiếp binh đao, nhưng mầm sát vĩnh viễn c̣n chưa quên! Biết rơ trộm cắp là cái nhân của kiếp đói kém, nhưng tâm trộm cắp vẫn chưa đoạn sạch. Biết rơ dâm dục là cái nhân của kiếp dịch bệnh, nhưng mầm dâm vẫn cứ hừng hực. Do vậy, biệt nghiệp giúp cho đồng phận, hiện hành cảm vời cộng chủng, bèn thấy tam tai lắm phen xảy tới. Xót tứ sanh không nơi nhờ cậy, chỉ ôm suông ḷng cứu vớt rộng khắp, đâm ra mắc hại cùng ch́m đắm! Xét ḷng tự tiếc nuối, huyết lệ sao chẳng tuôn trào!

Nay may mắn gặp đạo tràng hành pháp Đại Bi Tâm Chú của Tế Sanh Thiền Viện, phát tâm theo đại chúng huân tu. Nguyện gột rửa trần cấu của ḿnh lẫn người. Vừa đúng dịp ngày giỗ mẹ, kính đốt sáu lọn hương trên đỉnh đầu, cúng dường mười phương pháp giới Phật, Pháp, Tăng Bảo, Cực Lạc giáo chủ A Di Đà Phật, Đại Bi tâm chú, tổng tŕ bí yếu, Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Âm Đại Sĩ, phát sáu loại nguyện: Một là chiến tranh vĩnh viễn chấm dứt, hai là ngũ cốc bội thu, ba là triệu dân chánh tín Tam Bảo, bốn là chùa cổ Linh Phong phục hưng, năm và sáu là tập khí nhiều đời của Trí Húc mau chóng trừ sạch, tiêu tan phiền năo, công đức viên măn, vĩnh viễn chẳng có hai duyên nghịch, thuận ngoài ư muốn, sớm hoàn tất hai nguyện duyệt Đại Tạng và trước thuật.

Lại đốt mười lọn hương trên cánh tay, cúng dường mười phương Tam Bảo, phát mười loại nguyện: Một là kỳ chủ[12] sạch chướng. Hai là những người cùng hạnh đều thành pháp khí. Ba là các vị hương đăng, thị giả Lư Sự cùng tu. Bốn là người có cùng hạnh ngoài đàn th́ giới lẫn thừa đều gấp. Năm là hết thảy chức sự, người làm việc nặng, dốc sức trợ duyên tạo phước trong chốn thường trụ sẽ chẳng rơi vào hữu lậu. Sáu là hết thảy hộ pháp tể quan, xả tài đàn việt sẽ ngộ giải thoát sâu xa. Bảy là hết thảy người thấy nghe tùy hỷ, dù Tăng hay tục, thấy bóng, nhuốm bụi, công chẳng luống uổng, vĩnh viễn là chủng tử của đạo, mau chứng viên thường. Tám là các sa-môn trụ trong núi Linh Phong, và những vị như X… sớm đạt được luân tướng thanh tịnh, thành tựu trọn vẹn phước huệ nhị nghiêm, nghĩ đến Khổ, Không sâu xa, chuyên cầu xuất yếu. Chín là tam đồ dứt khổ, siêu thăng bát nạn, các loại côn trùng nhỏ nhặt đều hưởng lây lợi ích thù thắng. Mười là các công đức trên đây đều hồi hướng Tây Phương, khiến cho khắp các hàm linh cùng sanh Tịnh Độ.

 

* Văn khải cáo lễ một ngàn vị Phật

 

          Đệ tử Trí Húc và hàm thức trong pháp giới, kể từ vô thỉ cho tới đời này mê muội “ngă, pháp vốn Không”, dấy lên t́nh chấp Biến Kế, hai thứ vô minh mê Sự, mê Lư đều trọn, tạo thành căn bản cho hai loại tử là Phần Đoạn và Biến Dịch, tham, sân, si, mạn, tà kiến tơi bời, giết, trộm, dâm, dối, uống ăn điên đảo, nương vào tam nghiệp, sáu căn, rộng tạo Ngũ Nghịch, Thập Trọng[13], khiến cho tam đồ sôi sục, tám khổ như mây đùn. Cho đến may mắn được làm thân người, vẫn gặp kiếp trược, dịch bệnh, đói kém lũ lượt xảy tới, đủ nguội lạnh tấm ḷng. Chiến tranh, loạn lạc nhiều phen dấy lên, thật đáng kinh hồn! Cha mẹ, vợ con khó thể bảo vệ, xương, thịt, đầu, ḿnh phân ly, trăm lóng xương tan nát, ai nghĩ đến một tánh thường linh? Muôn quỷ tụ lại gào thét, phải chịu tin là do ba duyên tự chuốc lấy. Đêm dài lê thê, lệ lẫn huyết đều khô cạn. Đồng hoang mênh mông, hồn cùng phách nương gá vào đâu? Xót thay, nỗi đau đồng thể! Thảm vậy, nỗi buồn xẻo da. Tiếc đạo lực chưa vẹn toàn, chỉ ôm ḷng thê thảm suông, muốn cứu vớt mà chẳng có kế sách ǵ! Chỉ đành xé toạc gan, phổi, nhóm tụ người cùng chí hướng, năm vóc gieo ḷng thành, thay cho chúng sanh đang thọ nạn trong đại địa, đảnh lễ ba ngàn vị Phật trong ba kiếp[14], đốt lọn hương trên cánh tay, ngưỡng nguyện đại bi dẹp khổ, đại từ soi xét căn cơ. Đại trí huệ quang chiếu tỏ tối tăm tích tụ của lũ đui mù. Sức đại thần thông thoát khỏi trầm luân nơi biển khổ, khiến cho hiện thời trong ngoài nước, Giang Bắc, Giang Nam, người đă khuất mau thoát khỏi thành cửu hoạnh[15], chóng siêu lên cơi chín phẩm sen. Người c̣n sống ĺa khỏi nỗi sợ hăi kinh hoảng, trốn tránh, vĩnh viễn hưởng an vui thái b́nh. Lại nguyện chư Phật, Bồ Tát dấy ḷng Từ, vận ḷng Bi, thương xót cơn sóng kiếp nạn này, đến thực hiện các lời hứa. Lại nguyện kẻ gặp được bóng, dính bụi trần, các loài côn trùng nhỏ nhoi, nói rộng ra là pháp giới hữu t́nh từ nay trở đi, măi cho đến khi chứng Bồ Đề, thường biết cảnh tỉnh, giác ngộ, chẳng gây tạo ác duyên, vĩnh viễn diệt tam đồ, nhanh chóng tiêu tám khổ, từ ngay trong cơi Đồng Cư mà thấu triệt Tịch Quang, chẳng cần phải trải A-tăng-kỳ kiếp mà chứng trọn Diệu Giác.

 

* Sám văn kết Đại Bi Đàn tại Tổ Đường

 

          Đảnh lễ đấng Đại Bi và pháp giới Tam Bảo, chẳng ngại chúng sanh nhơ uế, từ đầu đến cuối luôn xót thương cứu vớt. Trí Húc tự xét từ vô thỉ đến nay, tích ác vượt quá Tu Di, chuốc khổ ngập đại địa. Tuy được chư Phật, Bồ Tát d́u dắt đủ mọi cách, hiểu sơ sài chân thừa, hiềm rằng túc nghiệp phiền năo sâu dày thăm thẳm luôn lôi kéo, hiện hành. Bất luận lúc chưa tin tưởng, quy hướng, tội lỗi đă vô lượng, nghĩ lại ngay cả sau khi đă xuất gia, phiền lụy, oan khiên càng nhiều!

Như đạo tràng Đại Bi Hành Pháp, con đă theo đuổi năm hội thù thắng, vẫn tạp loạn cấu chướng, trọn chẳng tương ứng với tam-muội, luống dùng mỡ màng của đàn việt tín thí, cô phụ ḷng mong mỏi của trời, người! Xoắn tay, xét ḷng, hổ thẹn, sợ sệt khôn cùng! Nay lại cung kính gặp dịp U Thê Thiền Tự lập đàn tràng thanh tịnh, thí chủ dốc cạn ḷng thành cúng dường, tâm vị kỳ chủ ân cần tột bậc. Trí Húc là kẻ phàm phu hèn kém, là phường sa-môn nhơ nhuốc đạo, không chỉ được lầm lẫn ghép vào pháp tịch, lại c̣n lầm lẫn được cử làm chủ hành nghi, tự xét ḿnh chẳng ra thể thống ǵ, càng thêm kinh hoảng, sợ sệt! Bèn nhờ vào lúc khởi đầu của phương tiện kết giới, kính đốt ba lọn hương trên cánh tay, phụng cúng đại bi đồng thể Tam Bảo. Lại đốt ba lọn hương, cúng chín vị sư cùng hành sám. Kính nguyện đồng thể Tam Bảo xót thương Trí Húc trầm luân, mau chóng rủ ḷng cứu bạt. Chín người cùng hạnh thương xót Trí Húc kém cỏi, đều ban ân nâng đỡ, khiến cho trong một kỳ [pháp sự này], nội chướng, ngoại nhiễu đều ngầm tiêu, lư quán sự nghi đều thành tựu. Trí Húc lại đối trước mười phương tam thế Tam Bảo, đối trước chín vị đồng hạnh trong hiện tại, hồ quỳ, chắp tay, xẻ gan, vẩy máu, bạch như thế này:

Trí Húc từ vô thỉ đến nay, cho đến hiện tiền, tất cả các thứ khổ báo do ác nghiệp phiền năo v́ vô minh che lấp, đă chẳng thể tự nhớ, nay đều sám hối, nguyện tiêu trừ hết. Trí Húc tuổi thiếu niên tạo nghiệp báng bổ Tam Bảo, nay c̣n nhớ biết, thành tâm sám hối, nguyện tiêu trừ sạch. Trí Húc từ khi xuất gia đến nay, mang danh Bồ Tát tỳ-kheo suông, chẳng thể đúng như pháp hành tŕ. Tất cả các tội tánh, giá, dù nhớ hay chẳng nhớ, vô lượng vô biên, nay đều sám hối, nguyện đều trừ sạch. Trí Húc lúc bốn mươi sáu tuổi, tự xét lắm nỗi hổ thẹn, lui xuống chỉ làm người thọ Tam Quy, siêng năng lễ ngàn vị Phật, vạn vị Phật, và hành pháp Chiêm Sát, may mắn được chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, trong ngày Nguyên Đán tháng Giêng năm nay, ban cho luân tướng thanh tịnh, hơi tự an ủi. Hiềm rằng cội rễ tập khí cũ sâu chắc, chẳng thể tự thoát ra được. Sau khi ra khỏi đàn tràng, lại dấy lên đủ mọi thân, khẩu, ư nghiệp, cho đến khi tu Đại Bi Hành Pháp tại Tế Sanh Am, sau khi đốt hương sám hối, lẳng lặng suy xét khoảng thời gian giữa hạ cho đến đầu Thu, vẫn c̣n nhiều điều vi phạm.

Than ôi! Đức Phật nói hai loại người mạnh mẽ: Một là chẳng tự tạo tội, hai là đă làm rồi mà có thể sám hối. Phàm người đă làm rồi mà có thể sám hối, ắt sám hối rồi th́ sẽ không làm nữa. V́ thế, có thể gọi là “người mạnh mẽ”! Đă nhiều lượt sám hối rồi lại lắm lần trái phạm, há có phải là người mạnh mẽ ư? Trí Húc nay vẫn là người rớt trong nhà xí, thân, miệng, tai, mũi đều ngập trong phân. Chỉ riêng tin rơ nhân quả, chẳng báng Đại Thừa, chánh nhăn thanh tịnh, chưa chết đuối đó thôi! Nếu chư Phật, Bồ Tát, hiện tiền thiện hữu chẳng thừa dịp này tận lực cứu vớt, chỉ sợ ch́m đắm lâu ngày, chánh nhăn thanh tịnh cũng bị ch́m ẩn theo, há chẳng đáng buồn ư? Trí Húc suy đi nghĩ lại, tâm vốn do chân thật v́ sanh tử, đại Bồ Đề tâm quyết định, trọn chẳng dính líu lợi danh, cũng chẳng chèo kéo, chẳng đắm nhiễm ân ái, đúng pháp xuất gia, nhân địa khá chánh đáng, sao lại bị đọa lạc đến nỗi này? Vướng mắc măi nơi địa vị phàm phu, chẳng dự vào ḍng thánh! Liền muốn mai danh ẩn tích, một ḿnh vào chốn non sâu, sức lực dần suy, chẳng kham đi lại. Lại c̣n ái kiến từ bi, cứ bồi hồi, quẩn quanh nơi học lữ thơ dại, đến nỗi “tầm cong, thước thẳng, gánh gai bỏ vàng[16], đau thương dường ấy! Chỉ chư Phật, Bồ Tát có thể biết, mà cũng chỉ có chư Phật, Bồ Tát cứu được. Lại c̣n năm xưa xúc phạm Tam Bảo, chỉ có tội chướng, mà chư Phật, Bồ Tát vẫn thương xót; nay con hoằng thông Đại Thừa, cũng có điều lành nhỏ nhoi, chư Phật, Bồ Tát lẽ nào trọn vứt bỏ ư? Do vậy, giăi tấm ḷng ngu muội, vẫn cầu gia bị, nguyện con tiêu phiền năo, công đức dồi dào nẩy sanh, Tam Học viên minh, nhị nghiêm (phước huệ nhị nghiêm) viên măn. Xả huyễn thân này, quyết sanh Cực Lạc. Cho tới tận cùng ngằn mé vị lai, rộng độ quần mê. Lại nguyện chín người cùng hạnh, ai nấy quyết trừ tập khí, thành tựu Tổng Tŕ, tự lợi, lợi tha, là rường cột cho ṭa nhà pháp. Lại nguyện kỳ chủ phước huệ tăng trưởng, đàn việt tín hạnh kiên cố, cho đến tăng, tục tùy hỷ, người làm việc nặng, ra sức, thấy bóng, nghe tiếng, đều ngộ Hiển Mật viên thông, đều hiểu rơ tánh, tu bất nhị, cho đến đắc Bồ Đề chẳng gặp trắc trở. Lại nguyện mưa ḥa, gió thuận, sản vật sung túc, dân an, chiến tranh chấm dứt, không kinh hoảng v́ binh đao, dịch bệnh tiêu trừ, chẳng cần dùng đến thuốc men, thóc gạo như nước lửa, người xa lạ giống như kẻ chí thân, văn hồi phong thái suy đồi thuở mạt vận, chẳng khác thời Chánh Pháp trụ thế, vượt thoát Sa Bà trược ác, đồng về thai sen nơi An Dưỡng.

 

* Nguyện văn Chiêm Sát Hành Pháp

(năm Bính Tuất - 1646)

 

          Quy mạng đấng từ oai khôn sánh, dẹp khổ, ban vui, chân xuất yếu, định lực hay trừ tam tai kiếp, cứu thế chân sĩ thương xót cứu. Đệ tử Trí Húc đau đáu nghĩ kiếp trược khó trốn, binh đao tranh nhau dấy lên. Tuy nói là đồng phận vọng kiến, thật sự chẳng phải là không có nhân mà lầm lẫn chuốc vời. Nghiệp đă qua khó thể truy tầm, nhưng có thể chọn lựa chuyện sẽ xảy tới. Do vậy, cùng với những người cùng chí hướng là… (mười người), ai nấy quyên góp tịnh tài, sắm sửa cúng dường, ba ngày phương tiện, bảy ngày chánh tu, đúng như pháp kết đàn tràng thanh tịnh, đảnh lễ Chiêm Sát Hành Pháp, sáu thời hành đạo, ngũ hối[17] luyện tâm, xót xa thưa tŕnh đấng đồng thể đại bi, khẩn cầu vô duyên cứu bạt. Kính nghĩ chúng sanh chướng cấu, tuy cực trọng, cực sâu, Tam Bảo ḷng từ rộng lớn, trọn chẳng ngại, chẳng xả. Nếu một niệm biết sửa lỗi, ắt sẽ cho phép sửa lỗi, đổi mới. Huống hồ Thích Ca Bổn Sư được xưng tụng là bậc dũng mănh nhất, Địa Tạng Đại Sĩ chẳng quên thệ nguyện. Con thơ dại, yếu ớt, cha càng riêng yêu thương; con chẳng ra ǵ, mẹ càng xót hết mực! Thương con ngu dại lê lết rơi xuống giếng, rủ ḷng dùng tay hay vạt áo để [cứu vớt], khiến cho chỗ hào quang chiếu đến, chiến loạn tiêu tan, ngày tháng tốt lành. Khi mưa pháp thấm nhuần, sẽ chuyển tà nghiệt thành giống thiêng, mầm đạo! Nguyện cho mưa ḥa, gió thuận, quốc thái, dân an, chánh giáo lưu thông, ma tà trốn sạch.

Kế đó, nguyện tỳ-kheo Trí Húc thân không bệnh khổ, tâm thoát trói buộc, Định và Huệ đều giữ cân bằng, giới và thừa đều tịnh. Pháp xă của kỳ chủ X… tuy kéo dài suốt ba năm, nguyện vẫn nhiếp thủ, hộ tŕ như một ngày. Các vị… ai nấy thật sự v́ sanh tử mà phát Bồ Đề tâm, quyết trừ tập khí, quyết tu pháp môn, Tam Học viên thành, nhị nghiêm ắt trọn, tiếp nối huệ mạng của Phật, lợi khắp trời người. Lại cầu cho tăng tục tùy hỷ ngoài đàn ngộ biết Nhất Thật, khai hiển tam nhân, tu trọn hai Quán, chứng trọn tam nhẫn[18]. Lại cầu ngoại hộ trợ duyên cho đến rộng khắp pháp giới hàm thức, dù thấy hay nghe, dù chẳng thấy nghe, đều cùng b́nh đẳng gieo nhân lành, cùng thấm nhuần lợi ích thù thắng. Lại cầu cho Giang Bắc, Giang Nam, cho đến trong toàn thể cơi Chấn Đán, những kẻ mắc nạn v́ chiến tranh gần đây tiêu trừ các thứ nợ đền oán trả, mỗi mỗi oán hiềm đều được cởi gỡ, thoát khỏi nỗi khổ cùng cực chốn U Minh, siêu thăng nơi búp sen thai. Ngưỡng mong pháp giới Tam Bảo, Địa Tạng thánh sư chân thật chứng tri, chân thật nhiếp thọ.

 

* Nguyện văn trước đàn Đại Bi

 

          Quy mạng đảnh lễ mười phương thường trụ Tam Bảo, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Kính nguyện cùng ban ḷng thương xót, rủ ḷng cứu vớt. Thiết tha nghĩ Trí Húc trước kia nơi Cửu Hoa Sơn đă rút được cái thăm “duyệt Đại Tạng Kinh, trước thuật”, bèn lại được an tâm, lại chú trọng bút nghiên. Nhằm khi luân tướng hiện nơi Tổ Đường, lo ngại rằng mạng tận, theo đúng lẽ, phải nên dốc ư mau tiến về Lạc Bang, chỉ có một điều đau ḷng là duyệt Đại Tạng chưa xong, tức nguyện riêng ấy chưa măn. Giáo Quán không có người kế tục, pháp luân sẽ chẳng truyền. Hơn nữa, các kinh Phạm Vơng, Phật Đảnh tuy đă dốc cạn ánh sáng nơi một kẽ hở[19], như góp một hạt bụi vào núi cao, nhưng Lăng Già, Duy Thức, vẫn c̣n bị chướng lấp bởi những lời lẽ rườm rà, như sương mù che lấp hư không, nếu chẳng cho con sống thêm mấy năm, sao có thể trả sạch nợ trần thuật ấy được? Nếu chẳng được ḷng Từ rộng lớn che chở, há có thể chẳng có duyên khác quấy nhiễu ư?

Kính đốt mười lọn hương trên cánh tay, cúng dường mười phương từ phụ, Đại Bi Quán Âm, Địa Tạng bổn tôn, pháp giới Tam Bảo. Kính nguyện Trí Húc từ nay trở đi, vĩnh viễn ĺa các duyên, quyết định duyệt xong Đại Tạng, hoàn thành hai sách Duyệt Tạng Tri Tân và Pháp Hải Quán Lan, quyết có thể soạn thuật hoàn thành Duy Thức Luận Quán Tâm Pháp Yếu và Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải, quyết có thể giải thích tôn kinh Lăng Già, cho đến các kinh điển trọng yếu độ đời như Chiêm Sát, Thập Luân, quyết có thể xiển minh Vô Lượng Thọ Hội, Di Đà, Hiền Hộ để làm cầu bến cho Tịnh Độ, quyết có thể nêu tỏ thông suốt [tông chỉ] “phù Luật đàm Thường” của kinh Đại Bát Niết Bàn là khuôn mẫu cuối cùng để lại [của đức Bổn Sư].

Lại nguyện các học lữ cho đến những người hữu chí trong tương lai quyết có thể giới căn vĩnh viễn thanh tịnh, phước huệ viên thành, thọ mạng kéo dài, giải và hạnh cùng đạt được. Lại nguyện Trí Húc phiền năo như băng tan, trí huệ như lửa hừng, mười ác căn khô héo, tánh lục t́nh hiển lộ. Lại nguyện muôn dân không có nỗi khổ v́ tam tai, bốn chủng tánh đốn rừng tà kiến. Lại nguyện đem công đức này thí trọn khắp pháp giới chúng sanh, khi lâm chung, quyết định được sanh về thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật, đích thân thừa sự cúng dường Đại Bi Quán Âm, đắc vô lượng vô biên tam-muội thần thông, tổng tŕ trí huệ, cùng Địa Tạng từ tôn vào trọn khắp các đại địa ngục trong pháp giới, cứu độ hết thảy chúng sanh khổ năo, thậm chí phân h́nh tán thể trọn khắp theo chiều ngang, tột cùng theo chiều dọc, hiện thân trong mười giới, tam luân thí hóa[20]. Nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn chẳng giữ lấy Nê Hoàn.

 

* Nguyện văn khi duyệt Đại Tạng hoàn tất

(ngày mồng Một tháng Chín năm Giáp Ngọ - 1654)

 

          Kính lễ vô biên tế, khứ, lai, hiện tại Phật, trí bất động như hư không, đấng đại bi cứu thế. Đệ tử Trí Húc kính đốt bốn lọn hương trên cánh tay, cúng dường trọn khắp mười phương ba đời hết thảy chư Phật, hết thảy tôn pháp, hết thảy Bồ Tát, hết thảy thánh hiền. Trí Húc thống thiết nghĩ lúc ba mươi tuổi huyễn ngụ tại Long Cư, duyệt Luật Tạng lần thứ hai xong, lại phát tâm duyệt trọn khắp Đại Tạng. Trong một Hạ, chỉ duyệt được một ngàn quyển, bỗng có việc ngăn trở. Tới lúc ba mươi ba tuổi mới tiến nhập Linh Phong. Lúc kết Đông, ở trong núi không có Đại Tạng. Mùa Xuân năm Quư Dậu (1633), tạng kinh đưa tới, nhưng chưa đóng thành tập. Cuối Xuân năm Bính Tư (1636), con ẩn ḿnh nơi Cửu Hoa, ôm bệnh tại đó, duyệt được hơn một ngàn quyển. Năm Nhâm Ngọ (1642), ở trong núi, tạng kinh đă đóng xong. Năm Quư Mùi (1643), bế quan, duyệt đại lược chỉ hơn một ngàn quyển. Lại bị duyên khác dẫn dắt, huyễn ngụ tại Tổ Đường và Bắc Thạch Thành, tính ra duyệt được hơn hai ngàn quyển. Năm Kỷ Sửu (1649) về núi, do vậy, chú giải hai kinh Pháp Hoa và Chiêm Sát, sửa chữa tác phẩm Luật Yếu, chưa rảnh để mở [kinh tạng] xem. Mùa Thu năm Nhâm Th́n (1652), toan vào núi để hoàn tất nguyện cũ, lại gặp huyễn duyên lôi kéo tới Trường Thủy, mượn duyệt ngàn quyển. Cho đến mùa Xuân năm Giáp Ngọ (1654) năm nay mới được về ở tại Lâm Tuyền, lại trong một Hạ bị bệnh duyên quá nửa, đến giữa tháng Thu mới được hoàn măn. Trộm tính [kể từ lúc] phát tâm duyệt tạng [tới nay] đă hai mươi bảy năm, ra vào núi này, cũng trong ṿng hai mươi ba năm. Trải qua tám nơi Long Cư, Cửu Hoa, Chương Châu, Tuyền Châu, Tổ Đường, Thạch Thành, Trường Thủy, Linh Phong, mới được hoàn tất. Trong khoảng đó, trước sau duyệt Luật Tạng ba lần, kinh Đại Thừa hai lượt, kinh Tiểu Thừa, và luận Đại, Tiểu Thừa, các trước thuật hai cơi (Ấn Độ và Trung Hoa), mỗi loại chỉ một lần mà thôi. Than ôi! Nghĩ ngợi pháp duyên chẳng dễ, khôn ngăn lệ đẫm đầm đ́a. Nay may nhờ sức Tam Bảo, đă hoàn tất nguyện nhỏ nhoi. Do vậy, lại đốt hương cầu gia bị:

- Một là trộm thấy Nam Bắc hai tạng đều mơ hồ, chẳng đúng thứ tự, hoặc bán măn chẳng biện định, hoặc kinh luận gọi tên lẫn lộn, hoặc chân hay ngụy chẳng phân biệt được, hoặc khéo vụng chẳng phân biệt. Tuy có [các sách] Pháp Bảo Tiêu Mục đời Tống, Vựng Mục Nghĩa Môn đời Minh, nhưng đều chưa tận mỹ, tận thiện. Nay con liền mạo muội, lầm lạc trần thuật hai sách Duyệt Tạng Tri Tân và Pháp Hải Quán Lan. Nếu chẳng trái nghịch ư chỉ của Phật, xin được thành tựu, lưu thông.

- Hai là đối với các kinh Viên Giác, Duy Ma, Địa Tạng, cho đến kinh Đại Niết Bàn, trước kia con đều có ư nguyện nhỏ nhoi là sẽ giải thích thêm, và Tăng Sử Bảo Huấn cũng nguyện tu bổ thêm. Ngưỡng cầu che chở, gia hộ, khiến cho mau được thành tựu.

- Ba là đại điện đă nghiêng một nửa, tiền điện hoàn toàn đổ, chạm vào mắt mà nhói ḷng, thật khó ra sức. Nay đành phó cho trời, rồng, nguyện sớm thành tựu.

- Bốn là nghĩ nơi này hoang dă, đă lâu chẳng được nghe danh xưng Phật pháp, thật sự nhờ vào Đại Tiếp pháp chủ, Đại Túy tĩnh chủ, Đại Kỳ kỳ chủ mở ra đầu mối, c̣n như thỉnh Đại Tạng là do Giới Châu đứng đầu phát đại tâm, các vị Đạo Tấn, Như Nguyên v.v… giúp thành tựu tốt đẹp. Ấn loát nhờ công Thọ Trù, trang hoàng là do sức của Tâm Kiến. Khổ sở giữ vững chẳng buông bỏ th́ Thành Quỳnh đứng đầu. Trợ duyên thành tựu là nhờ tài lực của thiện tín. Kính nguyện những người trên đây nếu đă khuất th́ do công đức đốt hương hiện thời, sẽ nhanh chóng tiêu trừ tam chướng, vĩnh viễn thoát khỏi tứ sanh, sen nở hoa thượng phẩm, được Phật thọ kư trong một đời. Người c̣n sống th́ đạo tâm kiên cố, phước đức tăng trưởng, thọ mạng thêm dài, trí huệ khai phát.

Lại nguyện người học… (sáu người) và hết thảy pháp quyến thuộc đường nội, đường ngoại, thượng, hạ tĩnh thất, ai nấy quyết trừ tập khí, tiến hướng Bồ Đề, Giới, Định, Huệ sáng thêm, phước, thọ, khỏe mạnh như ư. Lại nguyện Trí Húc từ nay trở đi, bệnh khổ tiêu trừ, phiền năo tiêu tan, chẳng gặp hai loại ma nghịch, thuận, luôn được an tâm trước thuật. Dùng công đức pháp thí này, hồi hướng Tây Phương Tịnh Độ, trọn khắp pháp giới chúng sanh cùng sanh về thế giới Cực Lạc.

 

* Nguyện văn kiến lập tịnh xă trong khi bệnh nặng

(ngày Mười Ba tháng Mười Hai)

 

          Ngày Mười Ba tháng Mười Hai năm Giáp Ngọ (1654), Bồ Tát giới đệ tử Trí Húc nhất tâm quy mạng Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng, và mười phương ba đời hết thảy Tam Bảo. Đau đớn nghĩ Trí Húc vốn v́ sanh tử đại sự, hai mươi bốn tuổi xuất gia, trọn chẳng có nửa điểm ư niệm chuộng làm thầy người khác. Chẳng ngờ bị huyễn duyên bức bách, lầm lạc làm thầy người khác. Hai mươi mấy năm qua, tuy có chút điều thiện hoằng pháp, nhưng bị hư danh gây lụy, quán hạnh bỏ phế, sơ sài, sao có thể chiết phục phiền năo để dự lên Ngũ Phẩm? Nay bệnh hoạn quấn thân, tâm tuy hiểu rơ, sức chẳng tự do! Đau xót gào khóc, chẳng biết làm sao? May nhờ vào ḷng Từ của Phật, hơi tàn chưa dứt, nếu chẳng gấp dốc sức nơi Tịnh nghiệp, sẽ dùng ǵ để vĩnh viễn thoát khỏi ṿng khổ? Bèn phát trọn tâm kiền thành, kính tụ tập nơi Tàng Kinh Các của Linh Phong, thỉnh các pháp lữ có cùng chí hướng (mười người) và ngoại hộ Bồ Tát sa-di (năm người) ḥa hợp nhất tâm, kết xă ba năm. Mỗi ngày ba thời khóa tụng, xưng lễ hồng danh, hai thời chỉ tĩnh, nghiên cứu, duyệt đọc tột cùng Đại Tạng, Giáo Quán song tu, giới lẫn thừa đều gấp.

Nguyện cùng pháp giới chúng sanh quyết định cùng sanh về Cực Lạc. Trí Húc từ nay trở đi, thề chẳng thăng ṭa thuyết pháp. Trừ trường hợp người cùng chí hướng cầm kinh hỏi nghĩa, chẳng dám mệt mỏi mà giải đáp. C̣n như phô diễn văn nghĩa th́ đă có Chiếu Nam, Linh Thịnh, Tánh Đán có thể tuyên thuyết, truyền dạy đại lược. Thề chẳng ngồi xoay lưng về phía Phật, trừ khi ngồi hơi lệch sang một bên, hoặc đối trước tượng Phật mà ngồi. Thề chẳng đăng đàn truyền giới. Nếu trao giới học Luật th́ đều có Chiếu Nam, Đẳng Từ có thể dạy bảo. Thề không nhận lời thỉnh thọ trai của người tại gia, trừ trong tĩnh thất của tự viện. Ngưỡng xin Tam Bảo chứng minh, nhiếp thọ, khiến cho Trí Húc nếu các duyên chưa tận, sớm được khinh an. Nếu đại hạn khó tránh, sẽ mau trở về An Dưỡng. Sống th́ niệm Phật và trước thuật, chết th́ chẳng đọa, cũng chẳng thoái thất. Lại nguyện đồng hạnh pháp lữ, bất luận Húc c̣n sống hay không, vẫn vững chí cùng tu, có đầu, có đuôi. Lại nguyện ngoại hộ sa-di, bất luận Húc c̣n sống hay không, đều thành tâm lo liệu mọi việc, đừng trễ tràng, đừng sai sót. Dùng cái nhân thanh tịnh thù thắng này để hồi hướng vô thượng cực quả, khiến cho khắp các hàm thức đều về bí tạng.

 

II. Pháp ngữ

* Chỉ dạy phương trượng Hải Ấn

 

          Trước là khai kiến địa, sau đó mới có thể nói đến tu chứng. Muốn khai kiến địa, chẳng thể chần chừ chờ đợi ngày khác! Phàm quyết trạch[21] thân tâm, không ǵ hơn được thầy bạn thương lượng, xác định, nghiên cứu t́m ṭi kinh luận. Nay thương lượng, xác định chỉ được hiểu là bàn luận t́m ṭi thảo luận trên văn tự, ắt [sẽ cho rằng] phải là ngồi lặng thinh th́ mới gọi là “công phu thành phiến”. Dẫu được “thành phiến”, nhưng động, tĩnh vẫn là hai chuyện như cũ! Huống hồ động th́ đă chẳng thể ở bất cứ nơi đâu đều có thể thấu hiểu, sao có thể đảm bảo tĩnh là công phu thành phiến ư?

Công phu chân thật chẳng phải là như vậy! Bất luận pháp thế gian hay Phật pháp, động, tĩnh, thuận, nghịch, nói năng, im lặng, chỉ phát khởi huệ nhăn, tiêu tan tập khí, dùi mài thân tâm, tăng thêm điều ta vốn chưa đạt tới. Công phu chân thật chỉ là mong sao tương ứng với bổn phận, trọn chẳng có động hay tĩnh khác biệt. Nếu chẳng biết giữ lấy bổn phận, chỉ lo tạ tuyệt mọi người, mọi việc, giữ chết cứng bồ đoàn, chắc chắn sẽ có phần tương ứng nơi năm con lừa[22], huống hồ trần duyên vô tận ư? Hăy nên dùng cái tâm dũng mănh, thiết tha để đối trị cái tâm chần chừ, chờ đợi; thường nghĩ “thời gian chẳng đợi ai!” Hễ chần chừ một điều sẽ thành trăm điều chần chừ, hăy dùng cái tâm ân cần trịnh trọng để đối trị cái tâm coi thường! Một lời nào hữu ích cho chính ḿnh, hăy nên chú trọng, ghi tạc trong tâm. Dùng cái tâm sâu rộng để đối trị cái tâm ứng phó qua quít, mong thề giống như bậc tiên triết, đừng hành xử giống như thói đời. Nếu ba điều ấy mà thiếu một th́ học đạo sẽ khó lắm!

 

* Chỉ dạy Pháp Nguyên

 

          Công phu Niệm Phật chỉ quư ở chỗ tín tâm chân thật. Thứ nhất, phải tin ta là vị Phật chưa thành, Di Đà là vị Phật đă thành, Thể chẳng hai. Kế đó, tin Sa Bà là khổ, An Dưỡng đích xác đáng quay về, hừng hực ưa chán (ưa Cực Lạc vui, chán Sa Bà khổ). Kế đó, tin nhất cử, nhất động trong hiện tiền đều có thể hồi hướng Tây Phương. Nếu chẳng hồi hướng, dẫu là thượng phẩm thiện, vẫn chẳng văng sanh. Nếu biết hồi hướng, tuy lầm lẫn làm ác, hăy nhanh chóng đoạn cái tâm tiếp nối, khởi ḷng ân cần, trân trọng sám hối. Do sức sám hối cũng có thể văng sanh, huống hồ tŕ giới, tu phước, đủ loại nghiệp thù thắng, há chẳng đủ trang nghiêm Tịnh Độ ư? Chỉ v́ tín lực chẳng sâu mà nghiệp thù thắng ch́m đắm trong hữu lậu. Lại muốn xả cách thức này để bàn định cách nào khác th́ lầm mất rồi. Chỉ cần tăng thêm chân tín, hết thảy những ǵ đă hành chẳng cần phải sửa đổi nữa!

 

* Chỉ dạy Sơ B́nh

 

          Mọi người biết Tông là Phật tâm, Giáo là Phật ngữ, nhưng chẳng biết Giới là Phật thân. Lô Xá Na Phật lấy Giới làm Thể. Do ác không ǵ chẳng dứt, nên tịnh. Thiện không điều ǵ chẳng làm, nên măn. Nếu thân đă chẳng c̣n, tâm sẽ gởi vào đâu, ngữ sẽ tuyên vào đâu? Dẫu hiểu thấu suốt một ngàn bảy trăm công án, thông suốt liễu nghĩa của mười hai bộ, chỉ thành cô hồn vô chủ nương vào cây cỏ mà thôi!

 

* Chỉ dạy Trần Thọ Chi

 

          Thánh hiền đều dùng đồng thể đại bi làm cương tông của học vấn. Nho nói “vạn vật đều trọn đủ nơi ta”, Thích dạy “tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”. Suy cái tâm trắc ẩn có thể ǵn giữ bốn biển, ḷng bi cực lớn trọn khắp pháp giới. V́ thế bảo: “Đức lớn của trời đất là Sanh”. Nếu chẳng giữ giới sát, há đáng gọi là “một ngày khắc kỷ phục lễ[23], thiên hạ quy về ḷng nhân” ư? Xin ông hăy hướng về Nho môn mà học hỏi chân thật, nhất định sẽ có thể dũng mănh, nhanh chóng dứt khoát trong một ngày, giữ địa vị giống như trời đất sanh thành vạn vật, thừa sức ǵn giữ các ư niệm vậy!

 

* Chỉ dạy La Tánh Nghiêm

 

          Xuống tóc, khoác áo thâm, cần phải có lúc thích hợp, chứ quy y, giữ giới, Văn Tu, chẳng nhọc ḷng chọn ngày! Chẳng có quy y và giới luật, sẽ chẳng có ǵ để làm cái gốc cho đạo xuất yếu. Chẳng có Văn Tu, sẽ không có ǵ để mở cửa xuất yếu. Phật pháp nhiễm vào thần thức đă sâu, cơ duyên giải thoát sẽ tự tụ tập tràn trề. Năm này qua năm khác, tịnh tín sơ tâm dần dần ṃn mỏi, mất mát, do chẳng phải là bậc trượng phu, cho nên phải tự phấn đấu!

 

* Chỉ dạy Trầm Kinh Bách

 

          Cố nhiên chẳng thể phán định thế gian và xuất thế gian thành hai chuyện được, cũng chẳng thể lẫn lộn thành một sự. Bởi lẽ, cách thực hiện của Nho và Phật đều cùng hướng tới chỗ trọng yếu, nhưng quy kết khác biệt. Tuy thực hiện từ chỗ bậc chân Nho tu tập th́ học đạo có nền tảng, nhưng nếu chẳng hướng về chỗ mà người tu Phật chân thật cần phải hướng về, chân tánh sẽ chẳng hiển lộ! Tô Đông Pha học Phật rồi mới biết Nho. Bởi lẽ, đức Tuyên Thánh (Khổng Tử)[24] xuất thế vào thời Xuân Thu, căn tánh cơ duyên của chúng sanh chưa chín muồi, Ngài phải một mực dựa theo luân thường để chỉ điểm. Dùng năm thừa để xét, [Nho] chỉ thuộc vào nhân thừa, đàm luận tột bậc về một đường lối nhỏ nhoi, trọn chẳng tỏ rơ. [Nho học chân chánh] lại bị tri kiến của bọn Tống Nho che lấp, đến nỗi đạo mạch mai một, chẳng nhờ vào giáo pháp trong Tam Tạng mười hai bộ để cầu mở sáng con mắt, sẽ không chỉ cô phụ tánh linh, mà Tuyên Ni (Khổng Tử) cũng bị khuất lấp lắm phen vậy!

 

* Chỉ dạy Trầm Thanh Ngạn

 

          Người chẳng biết quang cảnh nơi bổn địa, muôn vật trong trời đất đều thành chó rơm![25] Tuy ở địa vị có thể trưởng dưỡng sự nghiệp, chỉ có hư danh. Phàm phu như ếch ngồi đáy giếng, hoặc con trùng mùa Hè, há tin tưởng biển cả chẳng phải là dối gạt, [chẳng biết] kiếp dài lâu chẳng phải là lời gạt gẫm! Muốn vào Tín môn này, hăy nên quán một niệm hiện tiền, trước là chẳng t́m được khởi đầu, sau là chẳng thấy được kết cục, hiện tại th́ vô cùng, chẳng có ngằn mé. Nếu truy tầm, sẽ trọn chẳng có tung tích! Nói nó là không, sẽ chẳng thể đoạn diệt. Thiền gia bảo là “tịnh lơa lơa, xích sái sái” (sạch trơn trụi, đỏ hon hỏn)[26] vẫn c̣n là oan uổng chẳng ít! Huống chi Tử Dương bảo “hư linh bất muội, bẩm đắc ư thiên”(trống rỗng, linh diệu, chẳng tối tăm, được bẩm thọ từ trời)[27] há chẳng phải là hư luận vọng tưởng ư? Hăy gấp noi theo thầy bạn tốt lành, nhanh chóng đọc kinh liễu nghĩa, t́m lại diện mục sẵn có, lật nhào tri kiến thế tục, hăy gắng lên!

 

* Chỉ dạy Phạm Minh Khải

 

          Lư sâu Tam Bảo, nhà Nho tầm thường sẽ chẳng thể biết nổi! Bậc trượng phu đại trí mới có thể tin sâu chắc. Tôi lúc nhỏ cũng câu nệ hư huyễn theo Tŕnh, Châu, về sau đọc rộng nội điển (kinh Phật), mới hơi thấy được bờ mé, nhưng chẳng thể thấu tận nguồn, đáy, mới biết có cái học chân thật về tâm tánh. Chỉ nên dùng con mắt vượt ngoài giới hạn để quán lư rốt ráo, ngơ hầu chẳng rơi vào hạng người giống như ếch ngồi đáy giếng, hoặc con trùng mùa Hạ vậy!

 

* Chỉ dạy Vương Trĩ Viêm

 

          Dùng nghĩa hay dùng lợi để khuyên dụ, là do tâm thuật, chứ không do h́nh hài! Nếu thật sự có thể tự mong thành thánh hiền th́ công danh cũng là tác dụng của đạo đức. Nếu chỉ dốc chí vào cái trước mắt, chẳng cầu thượng đạt, tuy mượn tiếng Lư Học, chỉ là mánh khóe để cầu phú quư đó thôi! Nay dùng ba cái tâm “hiếu thảo với cha mẹ”, “ḥa thuận với anh em”, “dốc chí thờ vua, tạo ân trạch cho nhân dân” để tŕ chú Chuẩn Đề, há chẳng phải là nguyện lực Đại Thừa ư? Siêng ṛng nhất trí, từ đầu đến cuối chẳng chao đảo, quân tử chú trọng điều nghĩa th́ lợi cũng hóa thành nghĩa vậy!

 

* Chỉ dạy Vô Vân

 

          Giơ tay, cúi đầu, đều thành Phật đạo. Khai, thị, ngộ, nhập mầu nhiệm ở chỗ chẳng t́m điều huyền áo chi khác. Vô tướng chẳng ĺa hữu tướng, giải thoát chẳng ĺa văn tự, rốt ráo chẳng khác sơ tâm. Nếu dùng cái tâm sanh diệt để quán hết thảy các pháp, giả sử có một pháp nào trội hơn Niết Bàn, th́ [pháp đó] cũng là pháp sanh diệt! Nếu dùng tâm chẳng sanh diệt để lănh hội hết thảy các pháp, đó là “pháp trụ pháp vị, tướng thế gian thường trụ”. Há có nên ngă mạn nói tháp là đất, gỗ, kinh là giấy mực ư? Hăy gấp nên t́m ṭi, nhận lănh vậy!

 

* Chỉ dạy Mộng Tây

 

          Muốn đoạn dứt sự hiểu biết dựa theo t́nh chấp đối với thánh, phàm, nhanh chóng hiểu rơ nguồn tâm của Phật, Tổ, chẳng thể có mảy may xen tạp! Cái được gọi là “xen tạp” chính là chẳng do xem kinh, t́m luận, là do chẳng buông xuống lợi danh, phiền năo, ngă mạn, keo kiệt, ghen ghét trên thế gian! Tôi đă từng thấy người chủ trương Tông thừa[28] hở ra cứ coi kinh luận là tạp độc, ngược ngạo xếp xó tập khí chẳng quở trách. Há có biết bậc anh kiệt thời cổ đă hết sạch phàm t́nh trước, cho nên họ chỉ quét sạch thánh giải. Người thời này trôi lăn trong trí nhơ đục, chẳng đè mạnh nơi chỗ đau đớn, sao có thể thoát khỏi sanh tử? Hơn nữa, như công án bà lăo đốt am[29], cần phải nh́n xuống gót chân của chính ḿnh mà lănh hội. Nực cười người đời cứ muốn thay chuyển ngữ, mong được bà lăo cúng dường, da mặt dày cỡ nào? Cần phải đừng dối ḷng, đích xác thấy thấu suốt căn cơ của vị tăng và bà lăo ấy chính là căn cơ của chính ḿnh, sẽ là con đường chân thật để thoát khỏi sanh tử! Chớ nên hướng theo phía giải để suy đoán, đánh mất lỗ mũi của chính ḿnh. Trong mười hai thời, phương tiện để dụng tâm hay khéo ở chỗ thuận theo duyên mà chọn lựa thích đáng, đừng nên khăng khăng giữ lấy khô tịch, đóng lấp diệu ngộ môn. Thẳng thừng bóp nát hư không rồi sẽ trở lại thấu hiểu!

 

* Chỉ dạy Phương Huy Nguyên

 

          Khí hạo nhiên[30] ai nấy đều sẵn có nơi tánh, tuy nói là sanh bởi tạp nghĩa, nhưng thật sự chẳng có sanh, chỉ là mỗi niệm đều mong làm thánh, làm hiền, th́ bản tánh sẽ ngày một hiển lộ, khí [hạo nhiên] tự đầy ắp. Nếu một niệm nản ḷng th́ gọi là “tự vứt bỏ”. Điều đáng quư là bậc hào kiệt chẳng đợi [phải thúc giục] mà tự hưng khởi.

 

* Chỉ dạy về sự thâu nhiếp ba nghiệp

 

          Nghe giảng đừng nên chỉ chú trọng tai, miệng. Trước hết, hăy nên suy nghĩ cặn kẽ: Đức Phật v́ chuyện ǵ mà nói kinh? Ta v́ chuyện ǵ mà học kinh? Nếu biết Phật v́ chuyện ǵ, sẽ chẳng đắm trước văn tự, ngôn từ. Nếu biết ta v́ chuyện ǵ, sẽ chẳng tham lam đuổi theo danh lợi. Chẳng đuổi theo danh lợi, sẽ dứt bặt sự báng bổ bên ngoài. Chẳng chấp vào văn tự, ngôn từ, sẽ khéo ngộ lư. Ngộ lư th́ cái gốc sẽ lập mà đạo sanh. Dứt báng th́ đức được ấp ủ, mà chúng sanh được giáo hóa, có thể tự lợi, lại có thể lợi người khác. Nếu không, học vấn càng nhiều, cách đạo càng xa, người học càng thịnh, pháp môn càng suy! Lời thọ kư “trùng trong thân sư tử” đúng là đáng sợ!

 

* Chỉ dạy đại chúng trong Luật Đường[31]

 

          Tri kiến theo thói tục sẽ chẳng thể nhập đạo. Do tập khí ngă mạn, chẳng thể cầu đạo. Nếu chưa hiểu, hoặc trước khi hiểu, chẳng thể nói đạo. An nhàn lười nhác, sẽ chẳng thể học đạo. Cứ nhớ lại tiếc nuối những điều chẳng phải, sẽ chẳng thể mưu cầu đạo. Tự tin vào ư nghĩ của chính ḿnh, sẽ chẳng thể hỏi đạo. Xả động, cầu tĩnh, sẽ chẳng thể dưỡng đạo. Bỏ Giáo, tham Thiền, sẽ chẳng thể đắc đạo. Hiểu nghĩa theo văn tự, sẽ chẳng thể thấu hiểu đạo. Muốn nhanh chóng, thích những ǵ gần tầm tay, sẽ chẳng thể ngộ đạo. Cách biệt Tiểu với Đại, sẽ chẳng thể kiến đạo. Chấp uế là tịnh, sẽ chẳng thể biết đạo. Chán cái thường có, chuộng cái mới mẻ, sẽ chẳng thể theo đuổi đạo. Chuộng đơn giản, sợ rườm rà, sẽ chẳng thể sáng tỏ đạo. Qua quít, cẩu thả, sẽ chẳng thể tu đạo. Được chút ít đă cho là đủ, sẽ chẳng thể chứng đạo. Chỉ có người siêu quần bạt tục, khiêm tốn, trống ḷng, chịu thương chịu khó, thân cận bậc tri thức, thấu hiểu trong mỗi cảnh ngộ tiếp xúc, dùng Giáo in vào tâm, rộng lớn lâu bền, Lư lẫn Sự đều vẹn, gởi chí nơi cơi tịnh, hành xử gương mẫu, thông hiểu rộng răi xưa nay, đặc biệt thông đạt mẫn nhuệ, thâm tâm chẳng cùng cực, thề tận cùng nguồn đáy của biển pháp th́ mới là nam tử chân thật, là bậc trượng phu xuất thế!

 

* Chỉ dạy Tồn Phác

 

          Bản thể của tỳ-kheo là dự vào Tăng Bảo tôn quư, có chức trách nối tiếp chủng tánh Phật, cần phải siêu quần bạt tục, vượt ngoài tri kiến theo thói tục th́ mới chẳng thẹn với danh xưng ấy. Nếu cứ theo lối ṃn cũ chẳng thay đổi, mỗi một cử động sẽ vướng tội to như núi! Một mai gió nghiệp thổi bay, đánh mất thân người dưới lớp áo ca-sa, sẽ là khổ sở nhất trong các nỗi khổ! Năm mươi năm trong nhân gian là một ngày đêm trên cơi trời Tứ Thiên Vương, há có pháp thật sự để đáng mến luyến? Nếu chẳng gấp t́m pháp xuất yếu, cam đành “sai một điều, khiến cho trăm điều đều sai”, sẽ là kiếp số nhiều như cát bụi, chẳng có thuở nào xong! Là bậc hán tử có huyết tánh, há nghĩ tới mà chẳng run sợ ư?

 

* Chỉ dạy về cái học chân thật

 

          Chân học là dùng giải và hạnh để cùng đạt tới Tông Thú. Chẳng khai giải, sẽ chẳng có cách nào tiến theo đạo. Chẳng tận lực hành, sẽ chẳng có ǵ để chứng đạo, nhưng giải và hạnh lại có Đại, Tiểu, Tiệm, Đốn bất đồng. Nếu chỉ cầu một pháp môn để thoát sanh tử ḥng tự độ thoát, th́ là tiểu giải, tiểu hạnh. Nếu thông suốt khắp hết thảy các pháp môn để tự lợi, lợi ích người khác, th́ là đại giải, đại hạnh. Nếu giải trước, hành sau th́ là Tiệm. Nếu biết giải và hạnh đồng thời, tùy văn nhập quán, chẳng ĺa ngôn ngữ mà được giải thoát, th́ là Đốn. Như binh lính tập một kỹ năng, có thể giết một tên giặc, lănh một giải thưởng, ăn được mấy miếng [là hết]. Như thầy thuốc ngoài chợ chỉ biết một toa thuốc có thể trị một chứng bệnh, nhận tiền công chỉ đủ nuôi thân; đấy là Thanh Văn, Duyên Giác. Nếu làm đại tướng, hoặc làm vị thầy thuốc giỏi, ắt biết trọn hết thao lược, thông đạt trọn khắp các toa thuốc, vị thuốc; sau đấy, [họ sẽ] không trận nào chẳng thắng, trị không bệnh nào chẳng hiệu nghiệm. Đó là hành nhân viên đốn. Thông đạt vạn pháp, ngộ trọn vẹn nhất tâm, tự hành th́ không Hoặc nào chẳng phá, hóa độ người khác th́ không căn cơ nào chẳng tiếp độ.

Nay muốn thông suốt trọn khắp hết thảy các pháp môn, tuy Tam Tạng mười hai bộ, lời nào cũng đều dung nhiếp lẫn nhau, nhưng ắt phải nắm được đầu mối trọng yếu th́ mới có khí thế như chẻ tre. Là bậc thánh hiền [trong Nho gia], dùng sáu kinh làm khuôn mẫu, nhưng để thông hiểu sáu kinh, ắt phải nhờ vào chú sớ làm ch́a khóa để mở cửa. Làm Phật, làm Tổ th́ dùng Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Duy Thức làm kim chỉ nam để thông hiểu các kinh điển ấy. Lại nhờ vào Thiên Thai, Hiền Thủ, Từ Ân để làm chuẩn mực. Bởi lẽ, thấu hiểu đến chỗ cực uyên thâm của lưới giáo, không ǵ hay bằng Huyền Nghĩa, dùng sách Thích Thiêm[32] để giúp thêm. Xiển dương viên quán để thật sự tu, không ǵ hay bằng [sách Ma Ha] Chỉ Quán, lại dùng sách Phụ Hành[33] để thành tựu. Hùng hồn diễn nói tột bậc tánh thể, không ǵ hay bằng kinh Tạp Hoa (Hoa Nghiêm), dùng Sớ Sao, Huyền Đàm[34] để giúp thêm. Biện định pháp tướng sai biệt, không ǵ hay bằng Duy Thức, dùng Tướng Tông Bát Yếu[35] để giúp sức. Sau đấy mới dung nhập Tông Kính, biến chỗ cùng tột của các tông đều hội quy vào Tịnh Độ. Dùng đó để khai giải, tức là dùng đó để thành hạnh. Giáo và Quán cùng phô bày, Thiền và Tịnh nhất trí, xa ĺa cái bệnh chấp chặt một bề, chẳng vướng lời chê trách “đếm của báu”, đáng gọi là “thỏa thích cuộc đời”, trác tuyệt ngàn đời vậy!

 

* Chỉ dạy Vạn Uẩn Ngọc

 

          Chỉ tiếp nhận một điều, chẳng tiếp nhận điều chi khác, cố nhiên là bị ma nhiếp thủ. Không đầu mối mà [cứ tu học] tràn lan, sẽ chẳng nhập Văn Tŕ. Đă biết tâm học có cội nguồn sâu thẳm, công phu có thứ tự, sẽ là xem bất cứ một sách nào, ắt sẽ thấu triệt từ đầu đến đuôi, to lẫn bé đều hiểu rơ, ngơ hầu chẳng lo không chọn lựa nào chẳng tinh vi, không lời nào chẳng tường tận. Vẫn cần phải hết sạch tri kiến lúc xưa, th́ mới đạt được cái mới mẻ vượt cách. Để đạt được đạo th́ tâm phải rỗng không các thứ ư niệm tụ tập, rỗng không, th́ tâm mới thanh tịnh. Nếu trần kiến vướng ngang nơi ư, [sẽ là] một hạt cải che trời, một vi trần phủ đất vậy!

 

* Chỉ dạy Vương Giản Tại

 

          Có kiến địa vượt trội th́ mới có phẩm cách ngàn đời. Có phẩm cách ngàn đời th́ mới có học vấn vượt ngoài ngằn mé. Có học vấn vượt ngoài ngằn mé th́ mới có văn chương phủ trùm cơi đời. Nay văn chương và học vấn chẳng khởi đầu bằng lập phẩm cách, phẩm cách mà chẳng khởi đầu bằng khai kiến địa, sẽ là sang đất Sở[36] mà quay đầu xe về phương Bắc. Than ôi! Thói quen lay chuyển con người, dẫu bậc hiền, bậc hiểu biết vẫn chẳng tránh khỏi! Chấp chặt vào hiểu biết nhất thời, quên bẵng nhân duyên bao kiếp lâu xa! Chẳng dùng lư để đoạt t́nh, dùng tánh để trái nghịch tập khí, sao có thể mở toang kiến địa, khiến cho sự nghiệp văn chương đều được xuyên suốt bởi đạo lư cho được!

 

* Chỉ dạy Vương Tâm Quỳ

 

          Kinh Pháp Hoa ân cần xưng dương, tán thán phương tiện. Cần phải biết: Có phương tiện thế gian như bố thí, ái ngữ, hiếu, đễ, trung tín v.v… Có phương tiện xuất thế gian như khổ, không, vô thường, vô ngă, bất tịnh, các pháp môn như sổ tức, nhân duyên, xa ĺa, tri túc v.v… Có phương tiện xuất thế thượng thượng chính là Thập Ba La Mật, Tứ Nhiếp, Tứ Biện Tài, tám vạn bốn ngàn tam-muội, tổng tŕ v.v… Phương tiện thù thắng, khác lạ chẳng thể nghĩ bàn chính là tin trong tự tánh, thật sự có Tây Phương, có Di Đà Như Lai thành Phật đạo trong hiện tại, trong duy tâm có thế giới Cực Lạc trang nghiêm, thâm tâm hoằng nguyện, quyết chí cầu sanh. Không chỉ là phương tiện thượng thượng, đó c̣n là tư lương, khiến cho hết thảy các phương tiện thế gian và xuất thế gian, không ǵ chẳng phải là bằng khoán giúp văng sanh. Đấy chính là thủ đoạn “điểm sắt thành vàng” trong pháp môn này, chẳng trải qua A-tăng-kỳ kiếp mà nhanh chóng đạt lên bất thoái, gọi là diệu pháp dứt bặt đối đăi vậy!

 

* Chỉ dạy Quảng Giới

 

          Vô lượng pháp môn chẳng ra ngoài Tam Học. [Mọi người] thường cho rằng Giới và Định thuộc vào duyên nhân, Huệ Học là liễu nhân. Thật ra, trong Tam Học, ba nhân đều trọn đủ. Lại c̣n theo thứ tự, th́ do Giới sanh Định, do Định phát Huệ. Mỗi điều sau thù thắng hơn điều trước. Suy tới cội gốc th́ Giới mà chẳng có Định và Huệ, vẫn đạt được thiện quả. Định và Huệ mà chẳng có Giới, ắt rơi vào ma tà, hăy suy nghĩ đi!

 

* Chỉ dạy Huệ Hàm

 

          Chẳng trừ tập khí, chẳng có phần thoát sanh tử; nhưng tập khí huân nhiễm, chẳng phải là một sáng, một chiều! Chẳng đau đáu khắc phục, sẽ chẳng do đâu để nhanh chóng trừ khử được! Cần phải dũng mănh nghĩ thân và cơi đời vô thường, huyễn duyên hư giả, khó sanh làm thân người, khó gặp gỡ Phật thừa. Bỏ lỡ dịp này, chẳng cầu độ thoát th́ ngàn đời vạn kiếp chẳng mong chi! Vậy th́ hăy hiểu “đúng, sai, ta, người, thể diện” như tường ngăn, hăy buông xuống toàn thể tràng kiêu mạo Thân Kiến, t́nh tánh ái nhiễm, đừng chần chừ nữa! Triệt để gánh vác pháp yếu xuất thế của Như Lai, yêu thích thọ tŕ, siêng ṛng noi theo, tự nhiên phước huệ tăng trưởng, bản lănh ngày một sâu xa, vi tế.

Đạo xuất yếu chẳng có chi lạ lùng, nó ở ngay trong mọi chuyện xử sự thường nhật! Chớ nên ĺa Sự để t́m Lư, bỏ thô cầu tinh, chán động cầu tĩnh, chuộng thuận, ghét nghịch, hoặc dùi mài nơi giấy cũ của người khác[37], ngỡ ngón tay chỉ trỏ là mặt trăng, hoặc khăng khăng giữ chặt bồ đoàn, đóng đinh giữ chặt mái chèo vào cọc. Đấy chính là căn bệnh ngặt đă lậm tận mạng mỡ của kẻ giảng học Thiền trong thời gần đây, đó chính là tập khí ác độc nhất. Nếu chẳng tự phản tỉnh, suy xét sâu xa, tận lực khắc phục, trừ khử, sẽ càng ngày càng đi xuống, chẳng được cứu, chẳng nương về! Hăy nên biết hạng người ấy do kém hèn, có chút phước nhỏ nhoi, ắt làm quyến thuộc của ma, hoang phế vạn hạnh, thẳng thừng cảm vời nỗi khổ cùng cực trong tam đồ. Chúng ta đem sự hiểu biết tối tăm truyền cho nhau, trong đêm dài chẳng hiểu biết, nay được làm thân người, chẳng gặp chánh pháp, ma tà, ngoại đạo đầy dẫy, chẳng thể t́m hỏi bờ bến. May là thiện căn chưa tuyệt, được nghe di giáo, há đành giữ nỗi hổ thẹn to lớn “ơ hờ coi thường, chỉ mong cầu an nhàn”? Nếm mật, nằm gai, nghĩ phải nên quyết đoạn, suy nghĩ đạo chẳng do người khác [mà đạt được]!

 

* Chỉ dạy Định Tây

 

          Nho là “dân bào, vật dữ” (dân là người ruột thịt của ta, loài vật cũng giống như ta), tận hết thân mạng này, vẫn chẳng thể không giữ ư chí kiên định, huống hồ trần sát (các cơi nước nhiều như vi trần) chẳng cách mảy lông, thập thế[38] chẳng ĺa một niệm hiện tiền ư? Bậc thật sự hoằng truyền th́ quả vị Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền Thừa c̣n chưa đáng để bận ḷng, há màng đến danh lợi thế gian ư? Người thật sự cương nghị, trăm kiếp ngàn đời chẳng sanh một niệm lui sụt, nào hỏi đến cảnh duyên hiện tại? Thích tử hiện thời chỉ bận tâm làm bậc lỗi lạc về pháp, hoặc bậc thầy về luật, nếu chẳng có phương cách nào vượt trội người khác, dẫu là pháp đốn siêu Phật địa, họ vẫn chẳng đoái hoài! Cái tâm mà họ vốn phát chẳng phải là đại đạo Bồ Đề, hoặc đại đạo u huyền bao kiếp. Do vậy, vừa thọ giới liền khăng khăng nơi h́nh tướng bát và trượng bề ngoài! Hễ nghe giảng liền cần cù chú trọng giải thích văn tự. Hễ tham Thiền, niệm nào cũng chuyên chú nơi cơ phong[39]. C̣n như những chuyện như theo kỳ hạn cấm túc, bế quan v.v… đều thành mưu kế để kiếm sống trong trăm năm, là công án trong cơi đời, coi đó là chuyện ngàn vạn phần trọng yếu thuộc phận sự của chính ḿnh! Đối với Phật đạo vi diệu, họ chỉ nghe hiểu kinh bổn ít ỏi, chưa từng đích thân biết, thấy rơ ràng, rốt cuộc vẫn thuộc loại nửa tin, nửa ngờ. Đối với phương cách mưu sinh trước mắt, chưa hề quán chắc thật tam giới là khổ, không, vô thường, rốt cuộc cảm thấy chẳng thể buông xuống được! Tuy học lời chân thành lấn vượt Phật, Tổ, thật ra là nhất thời cao hứng, hay là nghé mới sanh chẳng sợ cọp, hoặc trẻ con đùa bỡn xưng là thiên vương, chưa hề tự mong thành Phật, thành Tổ! May ra có người phát khởi chí hướng thù thắng, nhưng chẳng thể chỉ v́ một chuyện Bồ Đề đến cùng, hoặc bị danh lợi đổi thay khí tiết. Tuy nói là dần dần biến đổi cái tâm ban đầu, vẫn là do trong cái nhân có xen tạp! Chẳng thể không suy nghĩ cẩn thận để thống thiết tự cổ vũ vậy!

 

* Chỉ dạy Nhất Niệm

 

          Chẳng thể không xu hướng theo, đó chính là đạo trung hành (hành xử đúng lẽ chiết trung, không thái quá hoặc bất cập). Chẳng thể có chút xen tạp đó là cái tâm chất phác. Cuồng vọng hoặc bảo thủ tợ hồ cách trung hành rất xa, nhưng thật ra chẳng xa. Chất phác tợ hồ gần với trung hành, nhưng thật ra cách biệt như trời thẳm. Ấy là v́ điều nghiêm trọng nhất trong học đạo, chính là biện định nơi tâm thuật chừng bằng hào ly. Trong Phật pháp, cũng có cuồng vọng, bảo thủ, trung hành, và ngờ nghệch. Thoạt khởi đầu, từ [địa vị] phàm phu mới nghe diệu pháp, đă ngay lập tức lấy chư Phật làm điều tự mong mỏi; dẫu cho Quyền thừa tiểu đạo cũng chẳng mong muốn, th́ gọi là “chân cuồng” (thật sự cuồng vọng). Đối với sự nghiệp đáng nương theo thuộc chín pháp giới trong Phật thừa, đều cho là ḿnh chẳng xứng đáng; đó gọi là “chân quyến” (真狷, thật sự bảo thủ, tự hạn cuộc).

Liễu đạt “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Do tâm chính là Phật, bèn trên là cầu chẳng chán, tương ứng với đại trí. Do chúng sanh giống như Phật, nên dưới là hóa độ chẳng mệt mỏi, tương ứng với đại bi. Niệm nào cũng là bi trí, tùy thuận Tứ Tất Đàn, khéo thủ hộ chính ḿnh, cũng khéo thủ hộ người khác. Đó gọi là “trung hành chân thật”. Nếu chưa phá được cái ải danh vọng, chưa mở được xiềng lợi lộc, viện cớ hoằng pháp lợi sanh, sẽ chỉ là cách để kiếm sống trước mắt! Có một chút tâm ăn bám, sẽ muôn kiếp trói buộc. Dẫu thấu triệt hết sạch một ngàn bảy trăm công án, giảng trọn mười hai phần giáo trong tam thừa, dựng chùa nguy nga như vườn Cô Độc, rộng thâu đồ chúng như vị Phật không có tướng hảo[40], nhưng chẳng đoạn nghiệp thức vô minh, sẽ đều là tự cuồng, tự dối! Huống hồ kẻ hiểu biết nửa vời mà nhơn nhơn tự măn, vậy th́ nếu coi chất phác là cực quả, th́ [hạng người như thế] chỉ thành được cái nhân chân thật của sự chất phác mà thôi!

 

* Chỉ dạy Nguyên Bạch

 

          Học đạo th́ một là phải thật sự v́ sanh tử, hai là phải có xương cốt cứng cỏi, ba là phải khai phát tri kiến. Chẳng có cái tâm thật v́ sanh tử, dẫu anh có chí khí, sức mạnh, chỉ là kẻ hào kiệt trong thế gian, trọn chẳng thể thành bậc thánh hiền xuất thế! Chẳng có xương cốt cứng cỏi chân thật, dẫu cho anh muốn thoát sanh tử, chắc chắn bị t́nh kiến, ham muốn lôi kéo, mê tít nơi cảnh, bị lợi danh lay động, đoạt mất, bị mai một trong ṿng kiềm tỏa của ma! Chẳng có tri kiến chân chánh, dẫu cho anh sợ sanh tử, dũng mănh thẳng thừng tiến hướng, ắt bị thầy tà, bạn ác dẫn dụ, khinh an th́ ít mà Hoặc lẫy lừng, hoặc đọa vào quang ảnh môn đầu[41], hoặc vướng vào lối ṃn tri kiến, thậm chí coi vị Thiền[42] là công đức, hoặc coi không tịch là quê nhà, tốt đẹp nhất th́ cũng là lưu nhập cảnh giới quyền biến, cong quẹo của Nhị Thừa, chẳng có cách nào tiến thẳng tới Bồ Đề. Ấy là v́ tâm tánh của chúng sanh tuy bằng với chư Phật, nhưng do mê vọng từ vô thỉ tích tập sâu dày, muốn trở về nguồn cội, thật chẳng dễ dàng!

Thật sự có thể niệm nào cũng quán sát thế gian khổ, không, vô thường, vô ngă, bất tịnh, dưới là từ địa ngục cho tới trên là trời Phi Phi Tưởng, đều chẳng phải là chỗ an ổn rốt ráo! Nếu chẳng thề nguyện cầu lẽ xuất yếu, cứ lưu chuyển trong tam giới, há có thuở nào xong? Sanh chẳng biết đi đến đâu? Chết chẳng biết đi về đâu? Biển khổ mênh mông, hễ nói đến là buốt ḷng, há có nên tâm chẳng tha thiết v́ sanh tử? Tâm v́ sanh tử đă thiết tha, sẽ coi hết thảy chuyện trong thế gian, có chuyện nào thoát khỏi sanh tử, có chuyện nào hơi chân thật, sẽ thống thiết sanh khởi sự tỉnh ngộ, sẽ từ trong muôn ngàn quấn trói mà nỗ lực nhảy vọt ra. Dẫu chỉ c̣n cách giết cha, dâm mẹ, cướp đoạt người khác để sống c̣n, vẫn tận t́nh cắt sạch hết những chuyện vô thỉ ân ái trước mắt, giống như ngài Tất Đạt Đa lúc mới xuất gia liền thề rằng: Thiết hài cốt khô hủ, bất tận sanh lăo bệnh tử chi nguyên, chung bất phản hoàn” (Dẫu hài cốt khô mục, nếu chẳng thấu hiểu cùng tận nguồn gốc sanh, lăo, bệnh, tử, trọn chẳng quay trở lại). Chí khí như thế th́ mới chẳng bị hết thảy nghiệp cảnh đoạt mất, mới gọi là trọn đủ ḷng cương quyết to lớn. Đă ĺa lưới ái, chuyên cầu xuất yếu, ắt phải nên chân thật biện định tà chánh, hiểu rơ Quyền, Thật, liễu ngộ Đốn, Tiệm. Nếu chẳng gặp được vị thầy chân chánh, chỉ nên đọc tụng Đại Thừa, cầu lư tột cùng sâu xa, chẳng thuận theo văn tự để hiểu nghĩa, chẳng ĺa kinh mà dùi mài, pháp nào cũng đều có thể quy vào chính ḿnh, chỗ nào cũng đều thấy rơ tâm tánh, sẽ tự có thể dần dần kham tiến nhập chân tông.

Nếu gặp thầy lành, bạn tốt, chẳng cần biết là thánh hay phàm, chỉ cần [người ấy] có đủ chánh kiến, biết tạng bí mật của Như Lai, liền có thể là người nương cậy được! Hăy buông xuống thân tâm, chẳng tiếc thể diện, chẳng nề hà khổ nhọc, chẳng sợ đói lạnh, thậm chí chẳng tiếc thân mạng, suốt đời phục dịch, bẩm thọ pháp yếu, tự nhiên phước chí tâm linh, cảm ứng xen nhau, như ṭ ṿ gần giống như ong ruồi, mưa đúng thời bèn hóa sanh. Do được thân cận thiện tri thức, nên có thể thân cận diệu thừa tối thượng để học tập pháp thượng thừa, sẽ có thể xuất sanh trí huệ viên măn rộng lớn. Đừng nên đề cao thánh cảnh, tự ở trong địa vị phàm ngu, luyến tiếc huyễn cảnh trong sát-na, quên bẵng kế sách lâu xa bao nhiêu kiếp, mắc lấy tội tự ruồng rẫy, bỏ phí tài năng!

Lại nói kệ rằng: - Phật tánh, chúng sanh tánh. Một tánh, chẳng hai tánh. Mê ch́m trong sáu đường, ngộ th́ là tam thừa. Mê tuy vô lượng hoặc, bệnh ấy chỉ có ba: Một là luyến thế gian, chẳng biết thế gian khổ. Hai là tuy biết khổ, nhưng vẫn tự chần chừ. Ba là tuy dũng mănh, được chút cho là đủ. Do v́ ba bệnh ấy, đêm dài trong sanh tử, hoặc là thoát sanh tử, vẫn đọa Quyền Tiểu Thừa. Ta vâng lời chư Phật, lập ra ba diệu dược. Một là sợ sanh tử, đối trị bệnh căn bản. Niệm niệm như cứu đầu, chẳng c̣n nghĩ ǵ khác. Hai, phấn chấn cương dũng, hàng phục ma ái kiến, ngũ dục chẳng thể lôi, tám gió chẳng thể động. Ba là khai chánh kiến, xa ĺa các tà vạy, căn chọn lựa Viên Thông, hiện đời thành Chánh Giác. Ba Hoặc ấy tự đủ, hoặc lại nhờ duyên khác. Chỉ có thầy bạn sáng, gọi là chân thật cứu. Truy xét tâm sanh tử, rèn luyện xương cứng thuần, khai thị chân thật thừa, khiến hạnh xứng tánh tu. Tu, tánh chẳng tách rời, gọi là ấn Chánh Giác. Mê tánh, nói tu tập, đọa vào tu hữu vi! Bỏ tu, bàn pháp tánh, tự nhiên giống ngoại đạo. V́ vậy, Phật và Tổ, giáo huấn rơ cả hai, tuy tánh đoạt được tu, chẳng phải không tu tập! Dẫu chẳng nói đến tánh, nhưng tánh ở trong tu. Tánh thiếu tu không hiển, tu thiếu tánh chẳng lập! Chỉ dùng tâm sanh tử, tâm dũng mănh bất thoái, tâm rộng lớn lâu xa, thờ thầy, tu chánh pháp, nhất định tự ngộ nhập, biết lời ta chẳng dối!

 

* Chỉ dạy Pháp Vũ

         

          Bi, trí tương ứng th́ gọi là Bồ Đề tâm. Đă phát cái tâm ấy th́ mới đạt được vô tác giới. Lại cần phải trong mười hai thời, thường tự phản tỉnh, soi xét, tức là mỗi niệm đều tương ứng th́ mỗi niệm đều thành Phật. Hễ có chút ǵ không phù hợp, sẽ nghĩ là mắc tội thất ư[43] nơi Bồ Tát giới. Hăy suy nghĩ cẩn thận, tận lực mà hành.

 

* Chỉ dạy Tây Chiêm

 

          Có ba thứ chướng có thể khiến cho giới đức hư bại, khiến cho tín tâm thoái thất. Một là nóng giận, ngang ngược năo hại cả ḿnh lẫn người. Hai là ngă mạn, sanh ḷng khinh thường đối với các Tăng Bảo. Ba là giải đăi, chẳng chịu học tập các diệu pháp. Hễ có một trong ba pháp ấy, sẽ bị lôi vào đường ác, đánh mất tín tâm.

 

* Chỉ dạy Phí Trí Lan

 

          Học chẳng khó, nỗ lực tự tu. Khó thân cận tri thức, chẳng khó cao luận danh từ, lư luận. Khó ở chỗ tự ḿnh thật sự thực hiện. Bởi lẽ, chỉ cậy vào tánh linh của chính ḿnh, sẽ tu tập sai lầm lắm nỗi! Tôn trọng thầy, quư bạn, huân tập thành tánh, chẳng bàn huyền diệu suông. Bánh vẽ chẳng ích ǵ cho bụng đói! Chân thật hành tŕ, những ǵ được tiếp xúc không ǵ chẳng phải là duyên. Xin hăy coi phóng sanh, ít ham muốn là điều trọng yếu, là cái nhân trường thọ, là cái đạo để dưỡng thân, sẽ có thể đạt được vô duyên đại từ, thành tựu phạm hạnh thanh tịnh. Ghi tạc điều ấy trong tâm, lâu ngày sẽ tự thành pháp chủng.

 

* Chỉ dạy Từ Môn

 

          Tông Đạt Ma siêu t́nh ly kiến, vượt xa ngoài khuôn khổ. Gần đây, mỗi phái đều lập môn đ́nh, đua nhau sanh ra các khuôn sáo, ngỡ thoại đầu là thật pháp, dùng “đánh, hét” làm gia phong, đẽo gọt cơ duyên, bịa đặt công án, báng bổ, gièm xiểm cổ nhân, tăng trưởng hư luận. Không chỉ tiếp nối hư vọng, lại c̣n khoe lỗi lạc hơn người! Nói tới rất đáng hổ thẹn, nghĩ tới đáng đau thương! Chỉ có Hám ông (Hám Sơn đại sư) có kim cang nhăn, thấy rơ thói tệ đương thời, nói lời phương tiện để làm thuốc chữa bệnh, chú giải kinh, soạn luận để đả động nỗi kiêng kỵ trong đương thời, trọn chẳng tạo lập môn đ́nh, chẳng đề xướng bất chánh kiến[44], khiến cho kẻ cuồng uế có cơ hội chơ mồm! Ôi! Đấy là nỗi khổ tâm của bậc đại Bồ Tát hộ pháp, của bậc đại sư phụng thị Bồ Tát. Ngài lại dạo chơi nơi Vân Môn Bác Sơn, nhận biết cương tông vốn chẳng có thật pháp, thuốc chẳng phải là thuốc cố định, bệnh chẳng phải là bệnh cố định, khéo dùng các toa thuốc, chỗ yếu kém đều thành ưu điểm. Chẳng khéo hiểu ư đại sư, chỗ ưu điểm cũng thành khuyết điểm. Người học nếu chẳng có con mắt tham học các phương thuốc, th́ mới trừ được một bệnh, bệnh khác lại nẩy sanh ngay. Cần phải thoát khỏi khuôn sáo nơi thói tục, đích xác hướng đến chỗ đặt gót chân để thấu triệt. Chân Thiền, chân Giáo, chân Luật th́ mới chẳng phụ v́ đại sư đích thân chầu hầu vậy!

 

* Chỉ dạy Bành Song Tuyền

 

          Đă có cái tâm sanh tử và con mắt tham cứu đủ mọi phương thuốc, chẳng thể không kịp thời nỗ lực, tùy sự mà chú trọng, tùy duyên vận dụng chân tâm để thấu hiểu[45]. Cảnh tượng nơi bổn địa tuy ch́m lấp, nhưng nó vẫn tỏ lộ khắp nơi, chỉ v́ mắt chậm, chân trễ, lắm nỗi lỡ làng! Có thể nhẹ nhàng thấy thấu suốt trần lao, Bồ Đề, Niết Bàn đang hiển hiện toàn thân trong phiền năo, sanh tử. Nếu đích xác thấy chánh nhân chân tánh của Bồ Đề, Niết Bàn, sẽ có thể xứng tánh khởi phát duyên tu và liễu tu. Nay đối với duyên nhân và liễu nhân, nêu ra hai loại trọng yếu nhất để làm phương tiện thoát sanh tử: Một là phát Bồ Đề tâm, thọ Bồ Tát giới. Hai là hăm hở làm phước, đối với chánh nhân, nêu ra chuyện chân thật nhất để làm phương cách quy hướng. Đó chính là Tịnh Độ, dùng hai hạnh trọng yếu để tiến hướng địa vị Nhất Thật. Tùy thuộc quán hạnh sâu hay cạn mà tùy ư thanh tịnh bốn cơi [Tịnh Độ]. Cho tới khi Tam Hoặc đă hết sạch, hai thứ tử (Biến Dịch và Phần Đoạn) đă mất, ắt sẽ là thượng thượng phẩm nơi Tịch Quang rốt ráo.

 

* Chỉ dạy Tượng Nham

 

          Như Lai nói ba loại sự nghiệp xuất gia là tọa Thiền, đọc tụng, và tạo tác các thứ phước nghiệp. Bất cứ tu một loại nào, cũng đều siêu thoát sanh tử, thành tựu Bồ Đề, nhưng tu tập ắt phải tùy thuộc căn cơ. Bệnh chẳng đúng thuốc, chỉ uổng tăng thêm vướng mắc. Hoặc là một môn [tu tập] đến cùng, hoặc lần lượt giúp lẫn nhau. Nhưng nếu chính ḿnh chẳng có đạo nhăn, th́ cần phải có thiện hữu dạy bảo. Như người bệnh nặng, cần phải tin tưởng lương y. Nếu tin vào ư nghĩ của chính ḿnh, thuốc nên uống mà chẳng uống, điều nên kỵ mà chẳng kỵ, bệnh vặt c̣n dẫn đến bệnh chí tử, bệnh ngặt sao lành được? Nay đang lúc kẻ Thiền ḥa[46] mất trí bệnh cuồng, không hổ thẹn gây ảnh hưởng trộm cắp, tước đoạt, nghe họ nói năng th́ vượt xa Phật, Tổ, nhưng xét đến hạnh th́ c̣n tệ hơn chó, lợn!

Lại có hạng người khiếp nhược, tập khí ngă tướng chẳng buông xuống được, chẳng gỡ nổi xiềng xích danh lợi, hy vọng kiếm được một con đường thích hợp với tánh ưa tiện nghi của họ, chẳng chịu triệt để hướng theo một môn để thấu đạt. Thiền chẳng ra Thiền, Giáo chẳng thành Giáo, Luật không thành Luật, hạnh môn chẳng phải là hạnh môn, [chỉ là] mường tượng phảng phất. Qua quưt, cẩu thả, sống lơ mơ một đời, chẳng có mảy may lợi ích thật sự, trăm ngàn vạn kiếp, vẫn ở trong sanh tử y như cũ.

Nếu đích xác cầu thoát sanh tử, chứng Bồ Đề, trước hết, hăy tận t́nh nhận biết, phá trừ các thói xấu “nói Thiền suông” trong thời gần đây , tận t́nh buông bỏ các chủ ư đoán ṃ của chính ḿnh từ trước tới nay, tận t́nh quét sạch sành sanh các tập khí “nhuyễn noăn”[47], tận t́nh quăng sạch thân mạng mộng huyễn, tận t́nh thấy thấu suốt chỗ lợi ích chân thật nơi các thứ cảnh giới ác nghịch, tận t́nh coi các thứ cảnh giới vừa ư như danh lợi, thanh sắc, uống ăn, quần áo, khen ngợi, cúng dường tợ hồ thuốc độc, hay mũi tên độc. Có thể hàng phục như thế, dẫu chẳng tĩnh tọa một nén hương, chẳng xem một câu kinh, vẫn bảo đảm có phần thoát sanh tử! Nếu không thống thiết dùi mài, sửa chữa khuyết điểm, cứ toan hướng về pháp mà dấy lên kiến chấp, dẫu tĩnh tọa tám vạn bốn ngàn kiếp, thông suốt trọn hết Tam Tạng mười hai bộ kinh, chỉ giống như vô sự sống qua ngày, hễ gặp thuận duyên, vẫn y như cũ bị nó lôi đi! Hễ gặp nghịch duyên, vẫn hệt như cũ bị nó đánh gục! Hễ chẳng giác sát, sẽ y như cũ rơi vào vô kư (chẳng thiện, chẳng ác), sao có thể xuất sanh tử, đến được Tây Phương, thành Vô Thượng Bồ Đề?

Kinh Viên Giác dạy: “Mạt thế chúng sanh vô linh cầu ngộ, duy ích đa văn, tăng trưởng ngă kiến, đản đương tinh cần, hàng phục phiền năo” (Chúng sanh đời Mạt nếu chẳng cầu ngộ, càng tăng thêm đa văn, sẽ tăng trưởng ngă kiến. Chỉ nên siêng ṛng hàng phục phiền năo). Cần phải biết: Tọa Thiền, đọc tụng, làm phước, đều có thể tăng trưởng ngă kiến, mà cũng có thể hàng phục phiền năo. Chỉ nên suy xét kỹ lưỡng chuyện ǵ thân thiết với chính ḿnh nhất, tương ứng với gốc bệnh nhất. Nay ông đă mấy năm học vấn chẳng thành, một khi nguyện trai tăng được thành tựu là có túc duyên. Lại nữa, thân kiến nặng nề th́ phải nên dùng khổ hạnh để tiêu trừ. Tham ái mạnh mẽ th́ nên dùng cảnh khổ để rèn luyện. Núi nhân ngă cao vót th́ dùng nghịch duyên để đập nát. Tâm thể diện nặng nề th́ dùng nhẫn nhục để trị. Một dạ hướng theo môn ấy để thực hiện thấu triệt, sẽ tự có thể vui chơi trong trăm ngàn tam-muội, thông đạt vô lượng pháp môn, so với khư khư ôm bồ đoàn, ê a chương cú, sự khác biệt dẫu dùng cả kiếp vẫn chẳng thể diễn tả được!

 

* Chỉ dạy Uẩn Chi

 

          Nghiên cứu Phật pháp là nhiệm vụ trọng yếu bậc nhất. Cái được chư Phật tôn làm thầy chính là pháp, huống hồ đệ tử [Phật mà chẳng tôn quư pháp] ư? Tuy thắng nghĩa pháp tánh quư ở chỗ đích thân chứng, nhưng nếu chẳng có quyển vàng, trục đỏ[48] để làm ngón tay chỉ mặt trăng ḥng chỉ dạy lẽ xuất yếu chân thật trong tu hành, sẽ do đâu mà chứng thắng nghĩa? Thử xem ngoại đạo, họ cũng xuất gia cầu thoát sanh tử, nhưng do chẳng biết chánh pháp, cầu thăng lên, đâm ra rơi xuống. V́ thế, chẳng lưu tâm nơi giáo điển, dẫu dũng mănh, tinh tấn, chắc chắn sẽ trở thành ma tà, ngoại đạo. Hiếp tôn giả[49] xuất gia lúc tám mươi tuổi, ngày xem Tam Tạng, đêm tu tập Thiền Tư, bèn được giải thoát. Có kẻ lầm lạc bảo: “Tuổi trẻ, sức mạnh, hăy nên học tập giáo điển. Tuổi già suy, sức yếu, chỉ kham niệm Phật”. Há c̣n trẻ chẳng cần niệm Phật, tuổi già chẳng cần học kinh giáo ư? Đó là coi giáo pháp của Như Lai gần giống như việc học hành của kẻ thi cử, đánh cuộc danh lợi vào nửa đời người ư? [Giáo pháp] một phen thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo. V́ vậy, bậc đại sĩ xả toàn thân để cầu nửa bài kệ[50]. Nay Phật pháp được lưu truyền nhờ vào bi tâm triệt để của vị tổ là Ca Diếp và A Nan. Mọi người đều mong an nhàn, trọn chẳng biết Hằng sa thế giới, trong vô lượng kiếp, c̣n chẳng thể được nghe danh xưng “diệu pháp” nữa kia!

 

* Bốn bài chỉ dạy về duyệt Đại Tạng

 

          1) Cần phải thấu hiểu bổn ư thuyết pháp của Như Lai là mong con người sẽ siêu sanh thoát tử, chẳng phải v́ miệng hay tai mà làm như thế. Câu nào cũng đều tiêu quy tự tâm, tu hành đúng như lời dạy, th́ mới chẳng phải là“kể chuyện ăn, đếm của báu”.

2) Đạo học vấn quư ở chỗ dưới học, trên đạt. Do vậy, Như Lai thí giáo ắt có thứ tự. Người thời nay bụng rỗng tuếch, tâm cao ngất nghểu, chỉ mong cầu cái danh viên đốn, chẳng có sức uống cạn nước sông, sao có thể nuốt biển? Ắt phải duyệt Luật Tạng trước, biết rành rẽ quy củ thơm thảo thời đức Phật “rèn luyện sâu xa” là nhiệm vụ trọng yếu của Tăng. Kế đến, duyệt Tứ A Hàm[51], hiểu rơ cảnh duyên nơi chánh nhân chính là cái gốc của Tam Quán viên diệu. Kế đó, lưu tâm giáo pháp của tông Thiên Thai, biết sâu xa sự mầu nhiệm nơi nguyên do thuyết pháp của Như Lai, và chỗ rốt ráo khéo độ của Tứ Tất Đàn. Sau đấy, mới đem cái ch́a khóa pháp giới để mở ổ khóa nơi trọn khắp kinh luận chẳng thể nghĩ bàn, sẽ là thế như chẻ tre.

3) Duyệt Luật đầu tiên là Tứ Phần, kế đến là [Ma Ha] Tăng Kỳ[52], kế đó là Thập Tụng[53], kế đó là căn bản. Kế đó là Ngũ Phần[54]. Kế đó là Thiện Kiến Tỳ Ni Mẫu v.v… Các tông phái truyền dạy bất đồng, mỗi đằng đều có nguyên ủy, đầu mối, cần phải t́m kỹ. Đừng chấp một [bộ luật], phủ định các bộ luật khác, cũng đừng do dự giữa hai loại. Cốt sao hiểu được ư, khéo sử dụng. Đại ư như trong phần Vấn Biện đă nói rơ, đừng bảo “đấy là pháp Tiểu Thừa, chẳng đáng để lưu tâm lâu dài, hăy nên bỏ đi để tham cứu pháp thượng thừa khác!” Đó là tà mạn ác kiến của kẻ si trong thời Mạt, lôi người đọa vào hầm sâu ác đạo. Chớ nên tin theo!

4) Kinh luật luận Đại, Tiểu Thừa, tuy mỗi chữ như minh châu, từng lời đều kiến Đế, nhưng mỗi người do tập khí nặng nề khác nhau, phải [chọn lựa pháp] đối trị thích hợp. Hoặc do thói tệ mỗi thời bất đồng, nên cứu vớt có sai khác, chẳng ngại trích xuất những lời trọng yếu, mong sao tự lợi, lợi ích người khác. Như trong Tuyết Sơn, không ǵ chẳng phải là thuốc, thu nhặt th́ chỉ mong [hái lấy thuốc] trị đúng bệnh. Núi báu th́ không ǵ chẳng phải là báu, nhưng nhặt lấy th́ chọn ma-ni trước. Chỉ là những tác phẩm đă hoàn chỉnh ấy đáng để suy nghiệm, thực hiện.

 

* Chỉ dạy Lăng Dung

 

          Vạn pháp vốn dung thông, do mê t́nh chấp trước mà thành chướng ngại, như một ngón tay có thể che lấp núi non, chấp vào bọt biển, ắt bỏ sót biển cả. Không chỉ mai một linh tánh của chính ḿnh, mà c̣n oan khuất cảnh giới lục trần! Sao không nghĩ sáu trần chẳng thể mê hoặc người, [mà do] con người tự hư vọng mê hoặc, hư huyễn rong ruổi theo mỗi căn, thức nào cũng nhiễu động, suy cầu cặn kẽ, trần đă chẳng thể gánh lỗi ấy? Căn cũng há có biết tội ấy, há riêng thức gánh cái tội ấy? Phân tích ba khoa (căn, trần, thức) đă không có chủ nhân thật sự, dẫu ép chúng hợp chung lại, há có thật pháp? Nhưng trong pháp hư vọng ấy, chấp ta, chấp người, chia thành lấy, chia thành bỏ. Giống như dụi mắt, hoa đốm tán loạn phát sanh, lại muốn phân biệt tướng của hoa đốm đẹp, xấu, lớn, nhỏ, chẳng càng tăng thêm Hoặc ư? Chỉ có đem thân, tâm, thế giới toàn thể buông xuống, để làm một cách quán vượt ngoài ngn mé, có công dụng đặc biệt! Ví như v́ thiên hạ mà chẳng đoái hoài nhà cửa [của chính ḿnh], ắt trí nhăn rạng ngời, hết thảy cảnh giới không ǵ chẳng phải là chỗ để thọ dụng chân thật!

 

* Chỉ dạy về Tam Chỉ

 

          Tỏ ngộ rơ ràng mà tịch tịch th́ là đúng, vô kư (chẳng thiện, chẳng ác, cứ trơ trơ chẳng biết đúng sai) tịch tịch th́ là sai. Tịch tịch mà tỏ ngộ rơ ràng th́ là đúng. Tuy hiểu rành rẽ mà dấy vọng tưởng th́ là sai. Bốn câu ấy thường được tranh căi trong chốn tùng lâm hay giảng ṭa, nhưng phải ngộ được đầu mối của “tỉnh” (, tỏ ngộ rơ ràng) và “tịch” () th́ mới chẳng vào chấp giữ khuôn sáo của tinh hồn (精魂, tinh thần hồn phách). Như Nho gia cũng nói “như gương sáng, nước lặng”, “thận độc” (慎獨, cẩn thận giữ lễ dẫu ở một ḿnh), há chẳng phải là đường lối mầu nhiệm để tu hành Xa-ma-tha ư? Tổ nói: “Người quán là ai? Tâm là vật nào?” Hai lời ấy đúng là đập nát Biến Kế vọng tưởng, trăm điều xen tạp. Dùng điều đó thấu hiểu lẽ chân, dùng phương tiện này để tùy duyên. Dùng điều này để dứt phân biệt Nhị Biên. Trong một câu, có ba điều huyền nhiệm! Thế nào gọi Độc (, riêng một ḿnh)? V́ ai mà cẩn thận? Không chỉ vọng tưởng vô kư chẳng có chỗ để dung thân, mà “tỉnh, tịch” cũng trọn chẳng có chỗ để đặt chân. Chẳng tỉnh, chẳng tịch, đó gọi là “tịch tịch tỉnh tỉnh, tỉnh tỉnh tịch tịch” (tuy lặng lẽ mà tỏ ngộ rơ ràng, tuy tỏ ngộ rơ ràng mà vẫn lặng lẽ). Nếu gọi là “bất nhị” th́ đă sớm trở thành hai thứ mất rồi! Huống cùng vận dụng hai thứ tu tập ư? Ngộ điều này để trở thành sự tu tập; đó chính là Nhất Tâm Tam Chỉ.

 

* Chỉ dạy Văn Ước

 

          Người tu tập công phu thường bị hôn trầm, tán loạn quấy nhiễu, lâu ngày sẽ thoái thất, hối hận, do chẳng biết “cội nguồn của hôn trầm, tán loạn, hoàn toàn là do mê chính ḿnh”, cứ ngỡ nó là vật [nào khác]. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhận ngộ trung mê, hối muội vi không, năi chí hôn nhiễu nhiễu tướng, dĩ vi tâm tánh” (Do mê nơi sự nhận biết, giác ngộ, mờ mịt ngỡ cái tướng từ rỗng không cho đến nhiễu loạn, rối ren là tâm tánh). Hôn trầm chướng huệ, nhiễu loạn chướng Định. Định và Huệ đă bị chướng, tức mê ngủ và tán loạn xen nhau hiện ra. Nếu muốn trừ khử từ cội nguồn, cần phải nhận biết “bản thể của tâm tánh từ trước tới nay sáng suốt, tĩnh lặng”. Chư Phật do chứng [tâm tánh] mà là Định Huệ, hành nhân tu đó th́ thành Chỉ Quán. Công năng của Chỉ Quán hoàn toàn chính là cái Thể của sự sáng suốt, tĩnh lặng. Do tĩnh nên sáng suốt, do sáng suốt nên tĩnh, chẳng phải là hai nẻo, há có trước sau!

Nhưng xét theo pháp môn đối trị, người hôn trầm nặng th́ dùng Quán để khởi; người lắm tán loạn th́ dùng Chỉ để dứt trừ. Nhưng Chỉ để dứt tán loạn chẳng phải là không có Quán, há Quán để phấn chấn tinh thần nhằm trừ khử hôn trầm có phải là không có Chỉ? Chỉ Quán bất nhị, siêng tu chẳng dứt, tự nhiên bản thể dần dần hiển lộ, khách trần dần dần tiêu. Kẻ chấp trước công phu, hoàn toàn bỏ phế hay gián đoạn đều chẳng được, tánh gấp gáp cũng chẳng được. Muốn trừ hôn cái (昏蓋, hôn trầm che lấp tâm tánh), cần phải thẳng thừng xốc dậy tinh thần, chớ nên tham luyến ngồi yên ổn trên bồ đoàn. Muốn trừ tán loạn, chẳng cần phải chán ghét vọng tưởng, cần phải thẳng thừng thấy thấu suốt vọng tưởng vô tánh. Có vị tăng hỏi ngài Nham Đầu[55]: “Lúc khởi lên, diệt mất chẳng ngừng, th́ như thế nào?” [Sư đáp]: “A! Ai khởi diệt?” Đấy chính là tiên phong bậc nhất của người minh tâm kiến tánh!

 

* Chỉ dạy Huệ Tràng

 

          Tôi đọc sách của Tử Dư Thị[56], đến phần vua Thuấn trọn hết đạo phụng sự cha mẹ, cuối cùng [vua Thuấn] được Cổ Tẩu[57] yêu thích, bèn thấy được ư chỉ trọng yếu của đạo quán tâm viên đốn. Dẫu cha tột bậc ương ngạnh, chẳng thể t́m cha khác, lại chẳng thể như Tượng ngạo mạn mà vâng theo mạng lệnh làm ác. Một niệm nhỏ nhoi hiện tiền th́ vô minh là cha ương bướng, chính là người cha thật sự của pháp tánh, thuận theo ḍng vô minh, tạo nghiệp lưu chuyển; đó là Tượng ngạo mạn. Bỏ vọng t́m chân, riêng quán pháp tánh, lại trở thành phản bội cha, trốn đi, thiện ác hơi khác, nhưng đều là bất hiếu! Phàm phu trong sáu đường thuận theo vô minh mà làm ác. Ba loại hành nhân Tạng, Thông, Biệt bỏ vô minh trốn đi. Nếu biết Cổ Tẩu đốt lẫm, lấp giếng cũng chính là Cổ Tẩu ḥa hoăn, thương yêu, ắt sẽ trọn hết đạo phụng sự cha mẹ nơi bản thân, há chịu làm hai pháp thuận nghịch để hao hụt thiên tánh ư? Cái được gọi là “trọn hết đạo phụng sự cha mẹ” cũng chỉ là tin sâu “cha thật sự sanh ra ta!” Trừ người cha ấy ra, chẳng có vị cha thật sự nào nữa, nhưng trọn chẳng thể vâng lệnh làm ác! Cần phải dốc cạn ḷng thành Oán Mộ để trừ khử, dẫu ương ngạnh như Cổ Tẩu cũng có thể hồi tâm, huống hồ người chưa chắc đă giống như Cổ Tẩu [mà chẳng hồi tâm] ư?

Quán tâm cũng thế, tin sâu một niệm hiện tiền. Toàn thể pháp giới ĺa sóng t́m nước, trọn chẳng thể được! Trọn chớ nên thuận theo sự sanh diệt ấy, chẳng chú trọng quan sát! Cần phải dùng Nhất Tâm Tam Quán chẳng nghĩ bàn để thấu hiểu, thông đạt sâu xa, ác tâm hoặc cái tâm vô kư c̣n có thể trở thành cảnh chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ thiện tâm ư? Biết một niệm trọn đủ Tam Đức, hai tầng Lư Sự dung hội lẫn nhau trọn khắp cơi tam thiên, sanh tín giải sâu xa th́ gọi là Mộ. Cảnh ấy chẳng hiện là do sức Chỉ Quán nhỏ nhoi. Hăy phát tâm siêng năng tinh tấn, thề dùng mười pháp thành thừa[58] th́ gọi là Oán. Nỗ lực như thế dẫu ngu độn hơn Bàn Đà[59] vẫn có ngày sáng tỏ! Nếu cứ ơ hờ, thờ ơ, dẫu lợi căn như Lam Phất (Uất Đầu Lam Phất)[60], mẫn tiệp hơn Đạt Đa (Đề Bà Đạt Đa) cũng không cứu được!

 

* Chỉ dạy Vị Năng

 

          Huyễn cảnh xâm đoạt không chỉ là thuận theo thói tục mà đều hóa trừ, ngay như ḷng chán nhàm thói tục, tha thiết nghĩ xa ĺa, th́ cũng gọi là “xâm đoạt”. Do hết thảy các cảnh giới toàn là do vô minh biến hiện. Tánh của vô minh biến hiện hoàn toàn là pháp tánh. Do chẳng thông đạt, cho nên ngang ngược nẩy sanh ưa, chán. Người hướng theo Bồ Đề chớ nên tùy thuận huyễn cảnh, mà cũng chớ nên chán ĺa huyễn cảnh, chỉ thấu hiểu huyễn cảnh chính là pháp tánh, buồn bă v́ mê trong đêm dài. Do buồn v́ mê, nên khởi hai lời thề Vô Tác, muốn dẹp tan nỗi khổ nơi tánh đức. V́ hiểu rơ tánh, nên muốn ban cho sự vui nơi tánh đức. Đă phát cái tâm ấy, hết thảy các cảnh giới chẳng đúng pháp chạm vào mắt, khiến cho ḷng kinh hăi, không ǵ chẳng phải là tư lương để giúp Bồ Tát phát khởi. Khởi Tín Luận nói “Bồ Tát thấy pháp sắp diệt, do hộ tŕ pháp mà phát Bồ Đề tâm. Có khi do thấy chúng sanh khổ mà phát Bồ Đề tâm” chính là nói tới điều này!

 

* Chỉ dạy Từ Dục

         

          Biển cả Phật pháp, tín có thể nhập, trí có thể độ. Tín như chiếc thuyền vững chắc, trí như người cầm lái. Năm Độ, vạn hạnh khác đều là các thứ vật dụng trong thuyền. Cần phải luôn luôn nghĩ tới nỗi khổ sanh tử, cảnh tỉnh, ngộ biết vô thường, chớ nên ch́m mê trong ngũ dục, chấp trước t́nh đời. Biết t́nh đời chắc chắn khiến cho ta chẳng thể liễu sanh tử được. Ngũ dục chắc chắn khiến ta rơi vào hầm buông lung, đọa trong nỗi khổ ác đạo. Do tín tâm chân thật trong đêm dài sanh tử, phát cái tâm ấy rồi, gấp cầu trí huệ để làm vị thầy hướng dẫn, thứ nhất là thân cận minh sư, bạn tốt, thứ hai là đọc tụng Phương Đẳng Đại Thừa. Nếu chẳng phải là thầy sáng, bạn lành, quyết chẳng thể tạo lợi ích cho thân tâm của ta. Chẳng phải Đại Thừa th́ quyết chẳng có khuôn mẫu xuất thế chánh đáng. Người có tín tâm mà chẳng có trí huệ, sẽ có thể tăng trưởng phiền năo. Có trí huệ mà chẳng có tín tâm, sẽ có thể tăng trưởng tà kiến. V́ thế, thuyền và người cầm lái đều cần thiết để vượt qua chỗ hiểm, khuyết một chẳng thể được, huống hồ cùng thiếu [cả hai] ư?

 

* Chỉ dạy Ca Đề

 

Ư chỉ mầu nhiệm của Pháp Hoa chỉ là “khiến cho chúng sanh khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật”. Tri kiến của Phật chính là thật tánh của một niệm hiện tiền. Một niệm nhỏ nhoi hiện tiền chẳng tự sanh, chẳng do cái khác sanh ra, chẳng [do tự và tha] cùng sanh, chẳng không có nhân mà sanh. Chưa sanh th́ không có chỗ ẩn nấp, sắp sanh th́ không có chỗ đến, lúc đang sanh th́ không có chỗ trụ. Lúc sanh rồi th́ không có chỗ đi. Tâm chẳng có tâm tướng, tánh của nó vô sanh. Do vô sanh nên vô trụ, chẳng khác, chẳng diệt. Chẳng có sanh, trụ, dị, diệt, tức là chân pháp tánh trọn khắp theo chiều ngang, tột cùng theo chiều dọc chẳng thể nghĩ bàn. Nếu đối với vô tướng diệu tâm này, hư vọng bảo là “có tâm tướng để có thể được” th́ tri kiến của Phật liền thành tri kiến của chúng sanh.

Nếu đối với tướng hư vọng, tâm hư huyễn ấy, thông đạt nó chẳng phải là hữu tướng, th́ tri kiến chúng sanh liền thành tri kiến của Phật. Toàn thể của tâm tánh đă hoàn toàn là không, cũng lại tức Giả, tức Trung. Do Tam Đế rành rành, cho nên pháp Tam Quán cũng thế. Do Tam Quán pháp vốn sẵn như vậy, chiếu soi Tam Đế rành rành, Năng và Sở chẳng hai, cảnh và trí dung thông lẫn nhau. Tín giải điều này th́ gọi là Tùy Hỷ. Hiểu nghĩa, xem văn th́ gọi là Độc Tụng. Dạy lại cho người khác th́ gọi là Giảng Thuyết. Trải qua sự việc để rèn luyện cái tâm th́ gọi là Kiêm Tu và Chánh Tu. Hai an lạc hạnh hữu tướng và vô tướng một bề xuyên suốt, chỉ cốt sao dốc trọn ḷng tin, tận lực thực hiện, chẳng có phương tiện lạ lùng, hay khéo nào khác!

 

* Chỉ dạy Nhũ Sanh

 

          Gởi thân nơi hải đảo, Bá Nha giỏi đàn, do dốc trọn t́nh cảm [vào đấy]. Trông thấy con gà gỗ, các con gà khác chạy mất; đó là do thần thái toàn vẹn. Tài khéo nhỏ nhặt trong thế gian c̣n chẳng thể là chuyện nói chơi, huống hồ học đại đạo xuất thế, gánh vác chánh pháp của Như Lai ư? Phép quán Thập Thừa viên đốn ắt trước hết dùng hai mươi lăm môn tiền phương tiện, tức là trọn đủ năm duyên, quở trách ngũ dục, vứt bỏ ngũ cái[61], điều phục ngũ sự, tu năm pháp; đó chính là hai mươi lăm sự. Mỗi mỗi đều có sự biểu pháp và pháp môn quán tâm. Sau đấy, chánh và trợ cùng hành, Lư và Sự cùng trọn, mắt và chân cùng vận dụng, an ổn vào trong ao thanh lương. Sau đấy, kẻ chỉ đọc sách [mà không thật sự tu hành], phường nói suông, mặc t́nh tự ư khoe khoang đạt một thứ kiến giải họ đạt được, chẳng thấu đạt khuôn phép rộng lớn. Dùng cái học vấn kém cỏi, vụn vặt ấy để cầu tài khéo thế gian, c̣n khốn khó lắm thay! Đặt chân vào hai nẻo Tông và Giáo, nghĩ tự lợi, lợi người, [cứ dùng loại học vấn ấy], đúng là khó mong chi! Người học chân chánh ắt trước hết đổi dời t́nh kiến cũ th́ tinh thần toàn vẹn. Các thứ t́nh kiến lôi kéo, tuy ngàn muôn sai khác, nói chung chẳng ngoài năm thứ là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Hễ tinh thần thiếu hụt, tuy mắc bệnh khác nhau, nhưng nói chung chẳng ngoài năm thứ tham, sân, ngủ mê, lao chao, và nghi. Gấp phải nên quở trách, vứt bỏ, th́ sẽ có thể đạt tới địa vị thánh hiền!

 

* Chỉ dạy Huyền Kính

 

          Cái tâm sốt sắng ai nấy đều có, nhưng chẳng thể không nhờ vào ngoại duyên [để kích phát]. Cái tâm xấu hổ, ghét bỏ ai nấy đều có, nhưng chẳng thể không ch́m lỉm trong tập khí ác. Than ôi! Bạn lành khó gặp, ác duyên một bề lẫy lừng! Nếu chẳng nhá đinh, nhai sắt, khắc cốt, tạc dạ, sao có thể tự dẹp trừ cho được!

 

* Chỉ dạy Tĩnh Huyền

 

          Cái Thể “tự tha bất nhị” gọi là Huyền. Hạnh “tự lợi, lợi tha” gọi là Tĩnh. Có thể ngộ huyền thể, tánh vốn tự tĩnh. Có thể tĩnh là Công, có thể thấu hiểu huyền thể. Đấy chính là ư chỉ chân thật của “tánh tu bất nhị”. Kiến Tư đă tĩnh th́ mới biết Chân Đế vốn huyền. Trần Sa đă tĩnh th́ mới biết Tục Đế vốn huyền. Vô Minh tĩnh th́ mới biết Trung Đế vốn huyền. Đă hiểu tam huyền, mới biết ba Hoặc của chúng sanh cũng vốn tĩnh. Kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) dạy: “Cuồng tâm đốn hiết, hiết tức Bồ Đề” (Cuồng tâm nhanh chóng dứt, hễ dứt th́ chính là Bồ Đề). Một người phát khởi sự trở về nguồn chân thật, mười phương hư không thảy đều tiêu mất. Kinh Pháp Hoa dạy: “Như Lai như thật tri kiến tam giới chi tướng, vô hữu sanh tử, nhược thoái, nhược khuất đẳng” (Như Lai đúng như thật thấy biết tướng tam giới chẳng có sanh tử, hoặc thoái, hoặc khuất v.v…) Ôi! Có thể ngộ tánh tu xen lẫn nhau mà thành!

 

* Chỉ dạy Huyền Ám (gồm hai bài)

 

          1) Cổ nhân nói: “Khi sáng suốt th́ chẳng tối tăm. Khi tối tăm th́ không sáng suốt”. Đó là nghĩa khuynh đoạt của tướng ấy. Lại c̣n ngay trong khi sáng suốt bèn có tối tăm, ngay trong lúc tối tăm lại có sáng suốt. Đấy là nghĩa chẳng khuynh đoạt của tánh. Kinh Phật Đảnh dạy: “Minh năng phá ám” (Sáng có thể phá tối). Đấy chính là “dùng chân để dung hội vọng, toàn thể vọng trở thành chân”. Chẳng phá, chẳng không phá, mà bàn luận về phá. Cần phải biết: Tánh chẳng khuynh đoạt, toàn thể ở trong tướng khuynh đoạt, nhưng trong tướng hư vọng khuynh đoạt, toàn thể chẳng ĺa tánh không khuynh đoạt. Biết tánh và tướng là hai mà chẳng hai, chẳng hai mà là hai, sẽ biết “chẳng phải phá, chẳng phải không phá, mà luận định phá”. Chẳng phá, chẳng không phá th́ là tánh. Phá chính là diệu tu do toàn thể tánh phát khởi. Phá chính là không có ǵ bị phá, toàn thể tu ở nơi tánh. V́ khi sự sáng suốt sanh ra, tối tăm chẳng bị trừ khử. Tối tăm chẳng bị mất đi, tức là sáng suốt chẳng hiện đến. Chẳng đến, chẳng đi, tức là bất sanh, bất diệt. Như Thiền nhân khi chưa nghe kinh, tâm tánh chẳng giảm, nhưng mờ mịt đối với diệu nghĩa. Sau khi đă nghe kinh, huệ giải đốn khai, tâm tánh chẳng tăng. Biết chẳng tăng giảm, tức là biết sáu mà thường tức (tức là sẽ lần lượt chứng nhập Lục Tức). Biết mờ mịt và dần khai phát bất đồng, dần khai ngộ và viên ngộ viên chứng chắc chắn bất đồng, tức là biết tức mà thường sáu. Xin hăy dùng điều này làm phương tiện để tu tập bản lănh.

2) Nước tuy nhỏ mà thường chảy, sẽ có thể xuyên thủng đá. Một hành nhân ở Ngô Giang học Pháp Hoa, học suốt nửa ngày chẳng thể nhớ nổi một câu. Ngày đêm chẳng bỏ, [cứ cố gắng học như thế] suốt sáu năm, bèn có thể tụng thuộc ḷng toàn bộ. Pháp hữu huân tập đă nhiều, sở dĩ chưa thâm nhập, thấm nhuần là do chưa tha thiết. Tâm chí thành, thiết tha, pháp vị sẽ dạt dào hiện tiền! Đă đạt được pháp vị, muốn bỏ sẽ chẳng thể được! Chỉ lo chẳng luôn tu tập, chẳng lo không vui sướng! Có niềm phẫn chí quên ăn, mai sau sẽ niềm vui quên lo! Mong ông hăy đem pháp được nghe ôn tập đừng quên, lâu ngày công sâu, sẽ rỗng rang khai ngộ. Đă đạt được niềm vui pháp hỷ, sẽ là cái duyên siêu thoát.

 

* Chỉ dạy chỉ nên đạm bạc

 

          Pháp thế gian chỉ sợ chẳng nồng đậm, pháp xuất thế chỉ sợ chẳng đạm bạc. Con người chỉ đạm bạc th́ sự giao du sẽ lâu bền. Đạo chỉ đạm bạc th́ sẽ lâu dài chẳng chán. Niềm vui do luôn tu tập, niềm vui do bạn bè t́m đến, [người khác] chẳng biết [đến ḿnh] mà chẳng tức giận, đều là tư vị trong sự đạm bạc. T́nh kiến Dục Giới đạm bạc, sẽ đạt được ly sanh hỷ lạc. T́nh kiến đối với Sơ Thiền đạm bạc, sẽ đạt được Định sanh hỷ lạc. T́nh kiến đối với Nhị Thiền đạm bạc, sẽ đắc ly hỷ diệu lạc. T́nh kiến đối với Tam Thiền đạm bạc, sẽ đắc xả niệm thanh tịnh. T́nh kiến đối với tam giới đạm bạc, sẽ đắc tịch diệt Niết Bàn. Pháp ái đối với tương tự đạo đạm bạc, sẽ chứng tánh thường tịch diệt thuộc Trung Đạo. V́ thế, tam thế Như Lai rốt ráo đạt được sự đạm bạc ấy. Mười phương Bồ Tát phần chứng sự đạm bạc này. Thanh Văn, Duyên Giác đạm bạc được một phần. Lăo Tử, Trang Tử đạt được h́nh bóng của sự ngấm ngầm đạm bạc. Muốn thâm nhập pháp môn chữ Đạm, cần phải tận t́nh buông xuống tập khí hư vọng nồng đậm từ vô thỉ, buông tới mức không có chỗ để có thể buông nữa, tánh đạm bạc tự nhiên hiện tiền. Tánh đạm bạc đă hiện, cảnh giới ngon lành của tam giới sẽ như nhai sáp! Một vị Tăng mộng thấy cọp, kinh sợ tỉnh ngủ, mừng rỡ nói: “Chẳng phải mộng th́ gần như đă bị cọp ăn thịt rồi!” Kế đó hối hận nói: “Đă biết là mộng, sao chẳng biểu hiện t́nh cảm thông thường của con người”. Ôi! Có thể tỉnh ngộ biết tánh chất biến huyễn của tam giới, mà chẳng biết tánh đạm bạc vậy thay!

 

* Chỉ dạy chỉ nên lặng lẽ

 

          Khổng Tử nói: “Dư dục vô ngôn” (ta muốn chẳng nói ǵ)[62]. Đức Phật dạy: “Ngô tứ thập cửu niên bất tằng thuyết nhất tự” (Ta suốt bốn mươi chín năm chưa từng nói một chữ). Nhưng lục kinh, tứ thư[63], Tam Tạng mười hai bộ thật sự là vật ǵ vậy? Nếu coi bịt chặt miệng là Mặc (im lặng) th́ những kẻ câm ngọng đă đều là thánh, là Phật cả rồi! Nào có biết các pháp vô tánh, ngôn ngữ vốn là không! Suốt ngày nói mà chưa từng có nói. Suốt ngày chẳng nói mà chưa từng không nói. V́ thế lại nói: “Thiên hà ngôn tai? Tứ thời hành yên, bách vật sanh yên. Thiên hà ngôn tai?” (Trời có nói ǵ đâu mà bốn mùa luân chuyển, trăm vật sanh thành, trời có nói chi đâu?), “tôn giả vô thuyết, ngă năi vô thính. Vô thuyết, vô thính, thị chân Bát Nhă” (tôn giả không nói, tôi bèn chẳng nghe. Chẳng nói, chẳng nghe là Bát Nhă chân thật)[64]. Suy diễn điều này đến mức cùng cực th́ vi trần nói, cơi nước nói, hừng hực, ba đời đều nói chẳng gián đoạn cũng là như thế mà thôi!

Nếu chưa thấu đạt tận nguồn nói năng, im lặng, th́ nói là tướng sanh của giác quán, im lặng là tướng diệt của giác quán. Đă đọa vào t́nh kiến sanh diệt, ắt nói năng hay nín lặng đều sai. Nếu khế hợp mầu nhiệm trong hoàn vũ, nói th́ sẽ có thể khai ngộ, mà im lặng cũng có thể bí mật khuyên dụ, tức là nói năng hay nín lặng, không ǵ chẳng phải là khéo nói. Nói mà chẳng có tướng nói, im lặng mà chẳng có tướng im lặng. Đó là nói năng hay nín lặng, không ǵ chẳng phải là khéo im lặng. Người khéo nói cho rằng chỉ có nói là được. Người khéo nín lặng chỉ cho rằng nín lặng là được, đều là pháp giới, pháp giới chẳng hai. Nói và nín lặng chẳng hai, chẳng vay mượn lẫn nhau, chẳng thành lẫn nhau, chẳng phá nhau, cũng chẳng mất nhau, chẳng trở ngại nhau, cũng chẳng dung thông lẫn nhau. Bản thể của chúng là thanh tịnh, dứt bặt đối đăi, ĺa sự vi tế. Sự giải thoát của chư Phật cầu ngay trong tâm hạnh của phàm phu. Quán tâm vô tâm, nói hay nín lặng sao c̣n có nữa? Nói và nín lặng vô tánh, nói và nín lặng đều diệu. Đấy chính là đốn ngộ duyên khởi vô sanh, vượt thoát sự tu chứng trải nhiều kiếp của tam thừa!

 

* Chỉ dạy Hối Hàm

 

          Ngài Sa Già Đà[65] chẳng thể tụng thuộc một bài kệ, nhưng do điều ḥa hơi thở bèn rỗng rang. Ngài A Na Luật Đa mù cả hai mắt, bèn tu tam-muội, quán đại thiên thế giới như trái cây trong ḷng bàn tay. Con người thật sự chẳng coi biết nhiều, thấy nhiều là quư. Pháp hữu chưa hiểu sâu xa liễu nghĩa, nhưng dốc ḷng tin tưởng, ngưỡng mộ, lễ bái, tŕ tụng sao cho lậm tận xương, lọt tận tủy, công sâu, sẽ đắc lực, bỗng dưng phát khởi một phẩm Toàn Đà La Ni, đích thân thấy hội Linh Sơn thù thắng, sẽ cùng ngài Trí Giả nắm tay cùng đi!

 

* Chỉ dạy Vị Nhất

 

          Chỗ rốt ráo của thánh học (Nho giáo) là quyết chẳng thỏa măn. Chỗ thực hiện là quyết chẳng ủy mị. Khổng Tử dốc chí nơi việc học từ lúc mười lăm tuổi; đấy chính là chí chẳng thể đoạt. Chí đă lập rồi tâm mới chẳng thể chán đủ, mong hiểu cùng tận nguồn của tánh mạng. Ấy là tự mong cao xa, phải chọn lọc nghiêm ngặt. Chọn lọc nghiêm ngặt th́ chẳng phải chỉ một ngày là đủ, chẳng chịu tự ngưng nửa vời! Nghiêu, Thuấn c̣n có khuyết điểm, vua Vũ kính lạy người nói lời tốt lành. Vua Thang có phẩm đức biết hổ thẹn “mong được nghe đạo chưa thấy, chưa thể giảm bớt lỗi”. Người có ḷng nhân như bậc thánh há dám [tự cho đức hạnh của chính ḿnh đă đủ]? Đều là do biết rơ sâu xa tận nguồn, thấu tận đáy tánh mạng, chẳng phải là bậc đại giác sẽ không thể hiểu rốt ráo! Hễ thấu đạt rốt ráo một thứ, sẽ hiểu rốt ráo hết thảy. “Con, bầy tôi, em, bạn, Khâu (Khổng Tử) trọn chẳng thể làm tṛn một bổn phận nào”. Càng chẳng thể không càng thêm ghé vai gánh vác chẳng ngơi! Nếu không, Dạ Lang[66] tự phong, nhơn nhơn tự đắc, như gă nghèo có được một nén vàng, bèn chí kiêu, ư tự măn, sao có thể bước vào đại đạo cho được?

 

* Chỉ dạy Tấn Như

 

          Mạnh Tử nói: “Nhân năng sung vô thọ nhĩ nhữ chi thật, vô sở văng nhi bất vi nghĩa dă” (người có thể khiến cho chính ḿnh chẳng bị người khác có những hành vi, lời lẽ khinh bỉ, th́ ngôn hạnh cử chỉ của chính ḿnh không ǵ chẳng hợp lễ nghĩa)[67]. Điều này đại lược tương đồng với ư chỉ “chẳng có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả để tu hết thảy các pháp”. Như vậy th́ danh xưng Nhĩ hay Nhữ[68] cũng có ǵ đáng xấu hổ? Thực chất của Nhĩ, Nhữ th́ đúng là chẳng nên tiếp nhận. Kiến Tư đoạn th́ Nhĩ, Nhữ chẳng thọ sanh tử. Trần Sa đoạn th́ Nhĩ, Nhữ chẳng thọ khô tịch. Vô minh đoạn th́ Nhĩ Nhữ chẳng thọ biến dịch. Thật sự có thể chẳng bị người khác khinh bỉ th́ trọn hết đại địa là chính ḿnh. Trọn đại địa là chính ḿnh th́ sẽ tu hết thảy thiện pháp để lợi ích chúng sanh trong đại địa, há c̣n dùng danh xưng Nhĩ, Nhữ để tranh giành với cơi đời nữa ư?

 

* Chỉ dạy Dung Am

 

          Giáo Quán ví như chất béo và lửa, từ đầu tới cuối cần lẫn nhau[69]. V́ thế, ĺa Giáo Quán, tâm sẽ tối tăm. Mê tâm chạy theo Giáo là phù (hời hợt), phù th́ mờ mịt, không chỗ trở về. Tối tăm th́ càng hướng theo, càng ngụy. Đó chính là Thiền Giáo thời Mạt; do vậy, danh thịnh mà thực chất suy. Cần phải biết: Hết thảy liễu nghĩa Đại Thừa và công án của chư Tổ đều là cước chú cho một niệm hiện tiền của ta. Nói tới, nói lui, nói chung chẳng ĺa một cái tâm của ta. Cái tâm ấy của ta toàn thể chân trở thành vọng, nhưng toàn thể vọng chính là chân. Nếu chẳng thể ngay lập tức phản quán, tánh “linh tri, linh giác” sẽ luôn bị hết thảy các pháp hạn cuộc. Dẫu Huệ đă thành Tứ Biện, Định đă nhập Tứ Không, vẫn y như cũ, mê chính ḿnh cho là vật, ngỡ vật là chính ḿnh. Nếu có thể quán thẳng thừng một niệm hiện tiền, đích xác chẳng ở trong, ngoài, trung gian, vô thể, vô tướng, không h́nh ảnh, không tung tích, chỉ cần có một pháp nơi t́nh kiến th́ [t́nh kiến ấy] đều là do tâm hiện ra, trọn chẳng phải là [bản thân] cái tâm có thể hiện. Cái có thể hiện tuy nói “lượng như hư không”, nhưng cũng chẳng có h́nh tướng hư không để có thể đạt được! Nếu có một cái tiêu chuẩn để suy xét trong t́nh kiến đối với hư không, nó sẽ lại là Tướng Phần chỉ do tâm hiện. Giữ sao cho trong hết thảy mọi lúc đều rành rẽ, sáng suốt, rỗng rang, nhưng cũng chẳng cho rằng cái rành rẽ, sáng suốt ấy là tâm, v́ cái Thể của tâm là “ĺa lỗi, dứt sai” chẳng thể nghĩ bàn. Biết rơ hết thảy duy tâm, tâm chẳng phải hết thảy, bỗng dưng khế nhập bản thể, hết thảy lời lẽ, công án không ǵ chẳng cùng thấu suốt rành rẽ!

 

* Chỉ dạy Mật Nghệ

 

          Cụ nội của ông là Tụng Trửu Công là bạn tôi, tới t́m tôi trong cảnh băng tuyết chồng chất, bất chấp ba ngàn dặm mệt nhọc. V́ thế, tôi cũng ôm bệnh đến gặp, cụ không chịu ăn, đáp ứng một câu xong, bèn thị hiện bị bệnh. Vừa nhắc tới bổn nguyện Tây Phương, cụ bèn có thể buông xuống muôn duyên, vui tươi, ngồi qua đời, há chẳng phải là lúc thường nhật cụ khát ngưỡng thầy bạn, cho nên được hưởng phước báo ấy trong lúc ra đi đấy chăng? Cụ nội của ông đă khuất. Tới nay, hễ nghĩ đến sự nhọc nhằn cụ đă trải qua trong lúc băng sương rét buốt, chí hướng rỗng rang tiếp nhận những thử thách, vẫn đáng khiến cho người khác đau ḷng, bùi ngùi. Kế tục chí hướng, trần thuật hành trạng của cụ chính là trách nhiệm của chính ông. Hăy nghĩ xem! Chuyện đời hư huyễn, mạng người vô thường, hăy nên mở rộng nhăn giới, xốc dậy tinh thần, nhọc nhằn cái thân sao cho khỏi rơi vào hầm an nhàn, buông lung độc hại. Thôi thúc ư chí, đừng noi theo vết tích qua quít, cẩu thả. Bỏ xa xỉ, chế ngự ham muốn, tích tụ hạnh, giữ ḷng thành, tiếc phước, diên thọ để mong có thành tựu lớn lao.

Ông thật sự trong khi tĩnh tọa, lặng lẽ suy nghĩ, [quán sát] tánh thấy nghe chỉ ngay trong một niệm hiện tiền này vốn chẳng có giới hạn trong ngoài, mà cũng chẳng phải có hay không có tiêu chuẩn để suy xét theo t́nh kiến, sao lại bị hạn cuộc bởi h́nh chất hư vọng của pháp này, pháp kia? H́nh chất hư vọng th́ hễ sanh ắt có diệt, dẫu ngàn cách ǵn giữ, trân trọng, vẫn chẳng thể khiến cho nó không hư nát! Nhưng huyễn nghiệp đă trót tạo sẽ như bóng theo h́nh, từ kiếp này sang kiếp khác, chẳng chịu tách ĺa. Bậc hào kiệt trước hết cần phải thấy thấu suốt Không, [nhận rơ] thân h́nh chẳng phải là ngă, bất quá nó giả nhờ vào Tứ Đại mà h́nh thành. Tâm cũng vô tướng, bất quá do t́nh trần mà hư vọng thấy sanh diệt, liền nhanh chóng xả t́nh trần, chuyên tâm tu đạo, kiêm Luật, kiêm Giáo, ḥng giúp hiển lộ nguồn tâm. Chỉ cần ngộ tâm, muôn pháp há tồn tại? Vạn pháp đều dứt bặt, vạn pháp đều trọn đủ!

 

* Chỉ dạy Nguyên Ấn

 

          Đạo “lập thân hành kỷ”[70] th́ chí phải cương nghị, tánh khí phải mềm mỏng. Chí chẳng cương nghị, cương quyết, sẽ chẳng thể đủ thành tựu phẩm cách ngàn đời. Tánh khí chẳng mềm mỏng, sẽ chẳng đủ để uốn nắn tập khí nhiều đời. Sở dĩ chúng sanh ch́m đắm trong biển khổ, chẳng có ǵ khác, do cứ mặc t́nh thích ư, ưa thuận, ghét nghịch, chẳng sâu xa cầu lẽ xuất yếu. Kinh Thư có câu: “Ngôn nghịch nhữ, tất cầu chư đạo. Ngôn tốn nhữ, tất cầu chư phi đạo” (đối với lời lẽ khiến ngươi trái ư, nhất định phải căn cứ trên đạo nghĩa để suy cầu; đối với lời lẽ khiến ngươi đẹp dạ, nhất định phải suy xét theo phương diện chẳng hợp đạo nghĩa)[71]. Làm vua mà c̣n phải như thế, huống hồ bậc trượng phu xuất thế ư? Bậc xuất thế trượng phu lấy Phật, Tổ làm mục tiêu mong mỏi, lấy Tứ Hoằng làm bằng khoán, lấy Lục Độ vạn hạnh làm trà, cơm thường ngày trong nhà, coi tự lợi, lợi tha là mục đích. Hễ thốt ra một lời mà chẳng đủ tự lợi, lợi tha, đừng nói! Bước một bước, khởi một niệm, mà chẳng đủ tự lợi, lợi tha, chớ làm, chớ nghĩ! Nếu chuyện có ích cho thân tâm, có lợi cho sự giáo hóa nơi pháp, ắt gắng công thực hiện. Dẫu nhọc nhằn, khốn khổ, chớ ngại ngần! Nếu không, dẫu có danh lợi hư huyễn, hời hợt, chẳng đếm xỉa tới!

Hăy lắng ḷng, vững chí, rộng mở cái tâm khiêm hư: Ai cũng đều có thể là Nghiêu, Thuấn, khắp phố đều là thánh nhân. Nói “ta chẳng thể thành Phật” chính là tự vứt bỏ chính ḿnh. Biết [chính ḿnh] có thể thành Phật, nhưng chẳng chịu nỗ lực hành Phật hạnh, chính là tự ruồng rẫy. Chẳng tự vứt bỏ th́ chí cương quyết, chẳng tự ruồng rẫy th́ tánh khí mềm mỏng. Chí cương quyết th́ gốc lập, đạo sanh. Tánh khí mềm mỏng th́ tự đạt được bản lănh sâu xa. Chí cương quyết th́ trên có thể cầu Phật đạo. Tánh khí mềm mỏng th́ có thể dưới là giáo hóa chúng sanh. Chí cương quyết th́ có thể gánh vác chúng sanh, tánh khí mềm mỏng th́ có thể thừa sự chư Phật. Kinh Dịch nói: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” (đạo trời vận hành tốt đẹp, quân tử thuận theo đó mà gắng sức hành xử đúng lẽ chẳng ngơi nghỉ). “Dụng cửu kiến quần long vô thủ, cát” (xử sự ở mức độ vừa phải, thích hợp th́ là tốt)[72]. Cứng cỏi mà mềm mỏng. “Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật” (quẻ Khôn như đất, đức dày chuyên chở vật), “dụng lục lợi vĩnh trinh[73] (dùng sáu hào Âm để biểu thị quẻ Khôn, tạo lợi ích, nhưng vĩnh viễn không đánh mất bản chất), mềm mỏng mà cứng cỏi. Gộp chung phẩm đức cứng cỏi và mềm mỏng, sức Định Huệ trang nghiêm. Đấy chính là chánh ấn của pháp thế gian và xuất thế gian vậy!

 

* Chỉ dạy Niệm Nhật

 

          Hiển Mật Viên Thông đều lấy giải và hạnh cùng tiến làm điều trọng yếu. “Giải” là thấu đạt một niệm tâm tánh hiện tiền của chính ḿnh toàn thể là Tam Đức bí tạng, chẳng hề sai biệt với điều chư Phật đă chứng và cái mà chúng sanh vốn sẵn có. Khế kinh dù Hiển hay Mật trong mười phương ba đời chỉ nhằm nêu rơ một niệm tâm tánh ấy. Thấu đạt một niệm tâm tánh này chính là cái Thể mà Hiển và Mật đều nói, từ đó, dấy lên hai hạnh Hiển và Mật. Hiển hạnh th́ nương theo kinh để tu Quán. Nói rộng th́ như hai mươi lăm pháp môn Viên Thông, nói đại lược th́ như Duy Tâm Thức Quán, hoặc Chân Như Thật Quán, hai loại ấy đều gồm thâu trọn hết. Hai mươi lăm cảnh, mỗi cảnh đều có đủ hai phép Quán. Lại ước theo N Căn để nói, trước hết là gạn hỏi cái tâm để phá vọng. Đó chính là Duy Tâm Thức Quán, Viên giải đă khai, tức là từ Văn mà nhập ḍng chảy thường hằng của viên thông; đó là Chân Như Thật Quán. Mật hạnh cũng bao gồm hai loại Quán. Thấu đạt từng chữ, từng câu, không ǵ chẳng phải là pháp giới; đó là Chân Như Thật Quán. Tâm chẳng duyên theo điều ǵ khác, chuyên tŕ chú này, ngộ biết âm thanh như tiếng vang, cái tâm năng tŕ (tâm của người tŕ chú) như huyễn; đó là duy tâm thức quán. Do duy tâm thức, đạt đến Chân Như thật, mật hạnh bèn thành, mà hiển hạnh cũng viên măn.

 

* Chỉ dạy Phi Huyễn

 

          Người có thể đau đáu nghĩ “sanh tử sự đại” (sanh tử là chuyện to lớn), thấy thấu suốt hết thảy t́nh đời, dù thuận hay nghịch, đều là hư vọng chẳng thật, những ǵ trôi qua trước mắt đều là hoa đốm! Chỉ riêng nhất niệm tŕ giới, lễ sám, dốc tâm tin tưởng Tam Bảo, sống th́ cùng sống, chết th́ cùng chết, lại chuyên cầu t́m lỗi ḿnh, chẳng trách người khác sai trái, noi theo bước của tiên thánh, tiên hiền, chẳng thuận theo thói đời cao, thấp, ngơ hầu tín tâm ngày một kiên cố, sẽ có thể vĩnh viễn giải thoát sanh tử.

 

* Chỉ dạy Bổn Quang

 

          Giáo nghĩa Hiển và Mật xét về Lư Thể th́ chẳng khác, công dụng cũng b́nh đẳng. Cần phải tin năm hội chân ngôn [của chú Lăng Nghiêm], từng chữ, từng câu, không ǵ chẳng phải là toàn thể Tam Đức bí tạng. Cái tâm năng tŕ hiện tiền nhỏ tí, nhỏ teo, không ǵ chẳng phải là tánh trọn khắp theo chiều ngang, cùng tột theo chiều dọc. Thậm chí giấy, mực, bút, cổ tay, mỗi mỗi không ǵ chẳng phải là pháp giới. Tánh pháp giới chẳng thể biến đổi, tức là cái Thể của đại định. Chẳng thể mờ mịt đối với Lư của pháp giới, tức là trí quang bất động. Nếu niệm nào cũng tương ứng với Định Huệ, liền có thể nói là “thường tŕ chú như thế trăm ngàn vạn ức biến”. Nếu niệm nào cũng đọc, tụng, biên chép chú ấy, sẽ tương ứng vi bổn trí trong tánh định. Do vậy, trời, rồng sốt sắng thủ hộ, Bồ Tát thường bầu bạn. Nay Thiền nhân phát tâm chí thành, trích máu chép chú, duyên nhân quả thật chẳng nông cạn. Cái Thể của duyên nhân chính là chánh nhân. Thấu đạt chánh nhân bèn gọi là liễu nhân. Ba nhân chẳng một, chẳng khác, chẳng dọc, chẳng ngang, tánh Đại Phật Đảnh triệt để hiện tiền, cái quả Đại Niết Bàn vốn là vật cũ trong nhà ḿnh vậy!

 

* Chỉ dạy Tịnh Thiền

 

          Nghe pháp cần phải quán tâm. Biên chép cần phải hiểu nghĩa, nhưng hiểu nghĩa không bắt buộc phải cưỡng ép dùi mài [nơi văn tự], cũng chẳng phải chỉ tầm chương trích cú, mà chỉ chí thành đọc tụng. Mở quyển kinh như đối trước vị Phật sống động, xếp kinh lại th́ [những điều kinh dạy] như ở trước mắt, ngàn lần, vạn lần, lọt tận xương, thấm tận tủy, thức ngủ chẳng quên. Duyên nhân đă sâu, một, mười, hai ngàn bảy trăm [công án] không ǵ chẳng xuyên suốt, xâu kết với nhau. Đạt được tin tức ấy, sẽ biết lời tôi chẳng dối!

 

* Chỉ dạy Hán Mục

 

          Kinh Đại Phật Đảnh Thủ (kinh Lăng Nghiêm) chỉ dạy chân tâm, khuyên tu trực tâm. Trực tâm có Sự, có Lư. Lư là chánh niệm Chân Như, Sự là hết thảy các hạnh thuộc bốn oai nghi chẳng có mảy may hư giả. Thiền ḥa đời Mạt chẳng v́ đại sự sanh tử, cứ bẹo h́nh làm dáng, dối hiện oai nghi, chẳng chân thật học Thiền, Giáo, Luật, chỉ nhớ hai đoạn công án, biện luận mấy câu danh tướng, thọ ba y một bát, cho đó là đă trọn hết Phật pháp. Than ôi! Cái tâm ấy là như thế nào vậy? Đấy là cái tâm một niệm vay mượn Phật pháp trong Chỉ Quán, có thoát sanh tử được hay không? Có thành Phật, Tổ được hay không? Lại quán cái niệm ấy ở trong các chỗ nội, ngoại, trung gian ư? Nó là tự sanh, hay từ cái khác mà sanh, hay là tự và tha cùng sanh, hay là chẳng có nhân mà sanh? Nếu một niệm tâm hư giả đă là vô sanh, vô thể, không xứ sở, ngằn mé, là vọng tưởng điên đảo, tịch diệt, nhưng chân tâm thường trụ rành rành tỏ lộ. Đó gọi là dùng Sự trực tâm để hợp với Lư trực tâm vậy. Hăy nên suy nghĩ sâu xa, tận lực nghiên cứu!

 

* Chỉ dạy Dục Ngộ

 

          Người đời hễ nói đến sanh tử, hiếm khi chẳng kinh sợ, lo lắng? Thường là kẻ chẳng thể thật sự v́ sanh tử, là do chẳng buông xuống sanh kế trước mặt được! Sở dĩ chẳng buông xuống được, chỉ v́ chưa từng thấy thấu triệt nỗi khổ sanh tử. Do trước nay làm kẻ thế tục, hay làm tăng, đều chuộng sống trong thuận cảnh. V́ thế, tự nhiên chẳng thể phát khởi cái tâm sợ hăi tam giới chân thật, thiết tha được! Nếu dùng huệ nhăn to lớn, lâu xa để quán trọn luân hồi từ vô thỉ, thống thiết nghĩ đời này thật sự do đâu mà có? Chết đi, sẽ đi đến nơi đâu? Nẻo trước mịt mờ, nẻo sau đen kịt. Dẫu cho tim gan cứng cỏi như sắt đá, ắt sẽ kinh sợ. Sau đấy, nương theo chánh giáo, khai viên giải, khởi viên hạnh, dám bảo đảm mười người cả mười người đều đạt đến nơi. Sợ nhất là nhân địa chẳng chân thật, đạo nhăn tối tăm, hoặc bị mùi vị cơi đời lôi kéo, hoặc bị tà sư, ngụy pháp gây lầm lạc, đánh mất thân người dưới lớp áo ca-sa. Đó là lư do tôi ngước nh́n thói đời hiện thời, dù ngủ hay thức đều luôn than thở vậy!

 

* Chỉ dạy Giải Thiên

 

          Có chí hướng đi tham học khắp nơi, càng cần phải có con mắt tham phỏng. Lại c̣n cần phải đừng quên bẵng chí hướng tham học khắp nơi! Chí tham học khắp nơi th́ chẳng phải là hư danh, chỉ cầu thể diện, đánh cược bằng hiểu biết nửa vời ḥng phát vô thượng đại Bồ Đề tâm, [mà là] học trọn khắp hết thảy các pháp môn chẳng chán, chẳng đủ. Con mắt tham phỏng là do bậc thầy đời Mạt tà chánh khó phân, nay tự kiên định chẳng dao động, bất luận [đối với một vị thầy] thuộc Tông hay Giáo, [cốt sao lời dạy của vị ấy] chỉ tương ứng với xuất sanh tử, chẳng tương ứng với danh lợi, mà tương ứng với đại Bồ Đề. Chẳng tương ứng với cách mưu cầu kiếm sống trước mắt th́ là chánh. Ngược lại th́ là tà. Chánh th́ nương theo, tà bèn xả. Người có con mắt [tham phỏng] chẳng quên chí hướng tham học vốn là “cầu Vô Thượng Bồ Đề”. Tuy tà chánh phân minh, chẳng hư vọng sanh yêu, ghét, người lành th́ là thầy ta, kẻ bất thiện là người giúp ta, chỉ tùy duyên mà tiếp xúc cảnh để tăng trưởng đạo tâm trí nhăn mà thôi! Đấy là chuyện khẩn yếu nhất trong bổn phận. Muôn vàn phần đừng nên tiêm nhiễm các tập khí cơm cháo khác trong tùng lâm, mà cũng chẳng cần phải chán ghét!

 

* Chỉ dạy Nguyên Canh

 

          Kẻ ngu dại sợ chẳng nhạy bén, sáng suốt. Kẻ lanh lợi th́ sợ chẳng dốc chí. Đạo tuy lănh ngộ từ trí huệ, càng cần phải khế hợp với Định thể trong lặng, ắt phải rất gần gũi với thân tâm. Trong động tĩnh thường ngày, hăy lắng ḷng suy xét cặn kẽ th́ mới có sự khơi thông chân thật, thọ dụng ngay trong hiện tại. Đối với hết thảy các hạnh môn, chớ nên coi đó là trợ tu, ắt phải bỏ phiền toái, giữ lấy thanh tịnh rồi mới ôn luyện kinh điển. Lại nữa, trong hết thảy các kinh điển, nếu chẳng thể tùy văn nhập quán, ắt phải xếp kinh lại, tĩnh tọa th́ mới quản được thân tâm. Một chuyện chia thành ba thứ, chẳng thể vừa nói liền thấu hiểu đạo ngay được. Từ duyên mà đạt được tương ứng th́ nhanh chóng, chứ dựa theo Thể để tiêu trừ, ngừng dứt, th́ sẽ đắc lực chậm chạp.

Pháp môn Đại Thừa quư ở chỗ “tiến thủ” (薦取) ngay trong khi đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, thực hiện, [cũng như] “lư hội” (理會), tức là hiểu ngay trong khi thấy sắc, ngửi hương, nếm vị, cảm nhận do tiếp xúc, và biết pháp. “Tiến thủ”: Thấu hiểu sự chân thật nơi cái tánh vốn sẵn có. “Lư hội”: Thấu hiểu cái diệu thể tṛn sáng vượt ngoài chướng mà thôi! Tánh chân diệu thể chẳng phải là hết thảy các pháp, nhưng chẳng ĺa hết thảy các pháp. Thử chỉ nh́n vào ngôn ngữ, động tĩnh trong hiện tại, đọc kinh, xem giáo, tĩnh tọa, tư duy, vọng tưởng, hôn trầm, [để quan sát] “tỉnh ngộ và lặng lẽ” (tỉnh tỉnh tịch tịch) rốt cuộc là thứ ǵ vậy? Ôi! Chớ nên nhận giặc làm con, chớ nên vạch sóng t́m nước, đừng nên hiểu là t́m vị mặn trong nước, chất keo trong màu vẽ, hăy thẳng thừng “tiến thủ, lư hội” ngay trong khi ấy!

 

* Chỉ dạy Tự Trúc

 

          Hai câu “tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, ai cũng có thể nói, nhưng khi đụng cảnh, gặp duyên, vẫn bị cảnh duyên xoay chuyển. Nếu thật sự thấu đạt duy tâm, duy thức, há có cảnh duyên ở ngoài tâm thức ư? Nếu chẳng thấu đạt duy tâm, duy thức, chắc chắn cảnh duyên chẳng ĺa tâm thức. Như trong mộng, lầm lạc so đo mộng cảnh là thật, dấy ḷng vui thích, hay dấy tâm sợ hăi, nhưng ĺa mộng tâm, chắc chắn chẳng có mộng cảnh nào khác! Người học trước hết cần phải liễu đạt muôn pháp trong tam giới, các thứ cảnh duyên, thật sự chẳng phải là vật nào khác ở ngoài tâm thức. Kế đó, truy cứu tâm này, thức này, rốt ráo có thể tánh và tướng trạng như thế nào? Tâm thức hiện tiền thật sự chẳng có thể tánh và tướng trạng, muôn pháp trong tam giới chỉ do tâm hiện lại có đôi chút tướng trạng và thể tánh để có thể đạt được ư? Tâm thức chẳng thể đạt được, th́ gọi là Tâm Tịch tam-muội.

Tâm tịch th́ sắc tự tịch, cảnh duyên chẳng thể được, th́ gọi là Sắc Tịch tam-muội. Sắc tịch th́ tâm cũng tịch. Tâm và sắc đều tịch, sẽ chẳng có phiền năo, mà cũng chẳng có Bồ Đề, chẳng có sanh tử, mà cũng chẳng có Niết Bàn, chẳng phàm, chẳng thánh, một vị b́nh đẳng. Đấy gọi là “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Sau đấy toàn tánh thành tu, ngước nh́n Phật đạo vốn sẵn có trong tự tâm, độ chúng sanh vốn sẵn có trong tự tâm, như biết tánh của nước, của băng, đều cùng là một tánh ướt đó thôi! Chẳng phải là ngoài nước mà có băng, chẳng phải t́m nước ở ngoài băng, mà dùng phương tiện khiến cho băng tan thành nước, chính là niệm nào cũng thường quán “tâm chính là Phật”, nhưng chẳng dấy ḷng tăng thượng mạn. Lúc nào cũng thượng cầu, hạ hóa chẳng mỏi mệt, được gọi chung là “vô tác diệu đức, vô công dụng hạnh”. Nếu bỏ điều này, riêng thương lượng phương tiện khác để cầu công phu, cho đến t́m kiếm huyền diệu, sẽ là chàng Diễn Nhă Đạt Đa sợ cái đầu [của chính ḿnh], như kẻ say t́m kiếm đồ ăn.

Nếu là kẻ sơ tâm, nhiều tán loạn, hăy dùng pháp Sổ Tức như sách Đồng Mông Chỉ Quán[74] đă nói rơ. Cần phải biết rơ: Thở ra, hít vào, chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu. Cái Thể của hơi thở hoàn toàn là Không, toàn thể chính là Giả, vẫn chẳng phải là hai bên, chính là Trung Đạo. Đó gọi là “viên nhân dùng pháp Thiên, pháp thiên lệch cũng thành viên”.

Lại nữa, người bị hôn cái (chướng cái hôn trầm) nặng nề, đừng nên tham tĩnh tọa, cần phải có phương tiện điều ḥa, đ́nh chỉ để giảm bớt các chuyện xen tạp, bớt ăn uống, khiến cho tinh thần trong sáng, tánh khí định lại, quán huệ sẽ dần dần sáng suốt hơn, hôn trầm tán loạn dần dần lui bỏ.

Lại nữa học đạo giống như điều chỉnh dây đàn, quá chùng th́ không có tiếng, quá căng dây đàn sẽ đứt. Cái tâm sanh tử thường thiết tha, đừng sanh cái tâm mong cầu hiệu quả. Trước là khó khăn rồi sau đó mới đạt được, ngơ hầu sẽ tiếp cận. Phải nên thấu đạt tâm thức hiện tiền chẳng có thể tánh, [chẳng có] tướng trạng, chẳng ngoài bốn tánh, bốn vận, hai loại pháp thúc đẩy. Bốn tánh thúc đẩy tức là một niệm hiện tiền, nếu là tự sanh, sẽ chẳng cần nhờ vào các duyên khác để sanh. Đă nhờ vào duyên th́ tâm không có sức sanh. Tâm đă chẳng sanh, duyên cũng chẳng có sức. Tâm và duyên mỗi đằng đều chẳng có, sao có sự kết hợp cho được? Kết hợp c̣n chẳng thể được, th́ ĺa” (tâm và duyên tách rời nhau) sao có thể sanh? Do vậy biết tâm thức thật sự vô sanh.

Tứ vận thúc đẩy là quán khi một niệm ấy chưa sanh, nó ngầm ẩn ở chỗ nào? Khi sắp sanh, do duyên nào mà được sanh? Trong khi đang sanh, lấy ǵ làm thể tướng, ở trong, ngoài, hay chặng giữa vậy? Là vuông, tṛn, dài, ngắn, xanh, vàng, đỏ, trắng ư? Sanh đă chẳng gián đoạn ắt diệt, diệt lại quy vào nơi đâu? Tam tế (三際)[75] t́m tâm đều chẳng thể được, hiềm rằng trong cái vốn không tịch, lại hư vọng so đo tâm cảnh trong ngoài, khởi Hoặc, tạo nghiệp, oan uổng chịu luân hồi ư? Nhưng rốt cuộc t́m một cái có thể khởi Hoặc tạo nghiệp, thọ báo th́ vốn chẳng thể được, như say bèn thấy nhà quay ṃng ṃng, nhà vốn chẳng quay ṃng ṃng! Chỉ cần phun sạch rượu vô minh so đo hư vọng th́ ba thứ “Hoặc, nghiệp, khổ” lập tức vĩnh viễn chấm dứt. Nếu miệng chỉ bàn suông, chẳng phun vô minh ra, như say sưa thấy nhà quay ṃng ṃng, vẫn cứng miệng nói “chẳng quay”, ngay câu nói “chẳng quay” ấy cũng là lời say rượu đó thôi! Hăy nói xem: Phun rượu vô minh th́ phun bằng cách nào? Ôi! Phải biết ư nơi đầu mối, hướng về phương Nam nh́n sao Bắc Đẩu[76], trân trọng!

 

* Chỉ dạy Ánh Trúc

 

          Pháp môn siêu sanh thoát tử chẳng thể dùng thông minh để thành tựu hay thông hiểu được, chẳng thể dùng t́nh cảm xốc nổi để gánh vác, chẳng thể có t́nh kiến xen tạp, chẳng thể lănh hội thô thiển, sơ sài. Trước hết, cần phải chuyên t́m lỗi ḿnh, chẳng trách người khác sai trái, thấy người hiền mong được bằng, thấy điều ác, trong tâm tự phản tỉnh, pháp nào cũng đều tiêu quy tự tâm, lúc nào tâm cũng tự cảnh tỉnh, tự đốc thúc, nhận biết chắc chắn rơ ràng các vạch trên cán cân[77]. Sau đó, xem kinh cũng được, tọa Thiền cũng được, hoặc làm phước cũng được! Nếu mắt chưa thấy rơ, chưa giữ được cái tâm chuyên dốc, xem kinh ắt sẽ đọa thành ăn nói lưu loát cho sướng tai, thỏa miệng, tọa Thiền ắt đọa vào hố sâu ám chứng[78], làm phước ắt thành bạn lữ của ma tà. Nếu phước huệ song tu, Giáo Quán cùng tiến, mà ngă tâm chưa quên, Năng lẫn Sở ngày càng hừng hực, đấy chính là quyến thuộc của Tu La, chẳng ngờ chi! Hăy nên suy nghĩ cẩn thận, xem xét cặn kẽ!

 

* Chỉ dạy Kính Trung

 

          Giẫm trên đất Tam Bảo, trọn đủ oai nghi xuất thế, đều là do chủng tử tốt lành nhiều kiếp, huống hồ được nghe chánh pháp ư? Một cụ già ở Ninh Quốc[79] gieo phước hơn năm mươi năm, cầu đời sau làm vị Tăng đốt lửa trong nhà bếp[80] chẳng thể được! Nhưng con bồ câu trắng nghe kinh, chuyển thân thành thiền sư Giới Hoàn[81]. Công đức nghe pháp siêu thắng như thế đó. Đời người được mấy chốc? Trẻ khỏe bỗng chốc già khọm, già khọm rồi bỗng chốc chẳng c̣n! Hơn nữa, vô số kẻ đang độ trẻ khỏe, bỗng chết yểu ngang xương! Một hơi thở vừa dứt, [đă thành] cô hồn không bè bạn. Ác nghiệp lúc sanh tiền, không nghiệp nào chẳng theo thân. Sao chẳng sớm buông xuống trần lao huyễn mộng, siêng tu giới, định, trí huệ? Lắng ḷng thấu đạt cội nguồn, đáng gọi là Sa Môn. Nếu không, đường đường tăng tướng do nhiều kiếp siêng tu mà đạt được, một khi do coi thường mà đánh mất, há chẳng đáng kinh sợ ư?

 

* Chỉ dạy Dao Tập

 

          Chẳng thể nhanh chóng trừ sạch là do nỗi lụy trần duyên chẳng thể tạm quên. Cái tâm xuất thế mà đợi [tới khi] chẳng c̣n phiền lụy rồi mới tu hành, sao bằng nhờ vào tu hành để thoát phiền lụy? Hơn nữa, trần lao bức bách chính là lúc nên cảnh tỉnh, giải ngộ Khổ, Không, trau luyện tánh t́nh. Thường thấy kẻ ăn không ngồi rồi an nhàn, ngâm thơ, luyện chữ (luyện thư pháp), thực hiện đủ thứ thanh khóa[82], sao chẳng thừa dịp được an nhàn mà nghiền ngẫm Đại Thừa, lắng ḷng học Định, Huệ vậy thay?

Họ từ nơi thơ ca, thư pháp đạt được chút mùi vị hư huyễn, chưa từng nếm được pháp vị chân thật nơi Định Huệ của Đại Thừa. Dẫu chẳng đạt được vị, [nhưng do nghiền ngẫm, tu học Đại Thừa], cũng trở thành chủng tử cho Vô Thượng Bồ Đề. Hơn nữa, [luyện tập] thơ từ, thư pháp từ thuở bé, vẫn chưa hề đạt được ư vị của chúng, nào có biết: Do huân tập Phật pháp dần dần mà [lẽ nào] chẳng được thọ dụng nơi thân hiện tại ư? Than ôi! Tinh thần của con người dùng vào thơ ca, thư pháp, tôi thấy Hữu Quân, Lư, Đỗ[83] chẳng thoát sanh tử. Sử dụng Phật pháp tôi thấy Diễm Hỷ tán loạn, Đặc Ca ngu si[84], mà đại sự đều đă hoàn thành cả rồi!

 

* Chỉ dạy Mộc Uyển

 

          Phát tâm th́ hăy nên học hai sự, một là trí huệ, hai là phương tiện từ bi. Muốn học trí huệ, không ǵ bằng đọc tụng kinh điển Đại Thừa, Phương Đẳng, hiểu sâu xa nghĩa thú, theo văn nhập quán, chẳng vướng phải lời chê “nhai gỗ”, chuốc lấy tiếng cười chê “đếm của báu”. Lại c̣n nhiều phen thân cận thầy sáng, bạn lành để nghiên cứu, quyết trạch. Chớ nên chấp vào ư kiến của chính ḿnh, tự cho là đúng. Muốn học phương tiện từ bi, cần phải tin sâu “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, nhất định sẽ là Phật”. Thấy Tăng, tục tạo ác, phải nên thương xót, yêu thương, dùng đủ mọi cách thiện xảo để hồi hướng, thủ hộ, tiếp dẫn họ. Nếu cậy ḿnh là người đă tu, thấy kẻ chẳng tu hành, liền sanh ḷng khinh mạn, do chính ḿnh tŕ giới bèn khinh mạn kẻ phá giới, do chính ḿnh đọc tụng Đại Thừa bèn khinh mạn kẻ chẳng nghe, do chính ḿnh đă hiểu nghĩa, bèn khinh mạn kẻ ngu độn, do chính ḿnh đă quán tâm bèn khinh mạn kẻ chỉ nói suông, núi nhân ngă cao ngất ngưởng, t́nh kiến hơn thua nặng nề, dẫu siêng khổ [tu tập] suốt đời, chỉ thành pháp giới Tu La, cách đạo Bồ Tát xa lắm!

 

* Chỉ dạy Quách Thái Tước

 

Địa vị khác biệt, nghiệp sai khác, nhưng có chỗ chẳng khác biệt: [Đó chính là] quân tử hành xử đúng theo địa vị của ḿnh. Bởi lẽ, phú quư, nghèo hèn, mọi rợ, hoạn nạn đều chỉ do tâm hiện, hoàn toàn lấy pháp giới làm Thể, toàn thể chính là pháp giới. Pháp giới theo chiều ngang trọn khắp, theo chiều dọc cùng tột, chẳng có chút Sự, chút Lư nào vượt qua được! Do vậy, chẳng nhập mà không ǵ chẳng tự đạt được. Hai mươi lăm môn trong kinh Phật Đảnh (Lăng Nghiêm), không môn nào chẳng phải là viên thông. Trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, không một pháp nào chẳng phải là giải thoát, ai nấy đều có thể theo đường về nhà, chẳng nhọc công lấy một pháp này, bỏ một pháp kia! V́ thế bảo là tố kỳ vị nhi hành” (hành xử theo đúng địa vị). Chẳng nguyện vượt ra ngoài điều ấy, pháp giới trong một vi trần chính là vô biên pháp giới, v́ pháp giới vốn chẳng ở bên ngoài! Pháp giới của loài chim bay vượt tầng mây chẳng lớn, pháp giới của ve sầu hay bồ câu chẳng nhỏ! Dùng chuyện này để giải thích kinh Dịch. Hễ nêu ra pháp trọng yếu như Thập Giới, Thập Như, Quyền Thật, ngũ thời, bát giáo, các phương cách lập bày [để giáo hóa của đức Phật và chư vị tổ sư] nhập chung vào một quẻ, một hào, th́ pháp giới của quẻ hào chẳng ít, mà pháp giới của Giới, Như, Quyền, Thật cũng chẳng nhiều.

Do vậy, Khổng Tử nói: “Giả ngă sổ niên ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hỹ” (nếu như cho ta thời gian thêm mấy năm để tṛn năm mươi năm học kinh Dịch, th́ sẽ có thể chẳng phạm lầm lỗi to lớn). Khổng Tử truyền tâm học của thánh hiền ngàn đời, toàn là vận dụng “trong tâm giảm bớt lỗi” để làm cửa ngơ hướng lành, tránh dữ. Đó gọi là “vô nhập nhi bất tự đắc” (trong bất cứ hoàn cảnh nào luôn đạt được tự tại). Tiên Thích (箋釋)[85] cố nhiên chẳng cần phải hoàn toàn noi theo các cách nói cũ, cũng chẳng hoàn toàn phế sạch các cách nói cũ, chỉ trống ḷng, thấu hiểu ư chỉ ở ngoài lời, giảng giải mạch văn, mới biết Tống Nho dơi theo từng ḍng mực, nhọc nhằn t́m ṭi xuất xứ, nguồn gốc của từng chữ, lập ra những thuyết khác lạ, hoàn toàn chẳng phải là cái Học như Khổng Tử đă nói! Hối Am (Châu Hy) thoạt đầu trước thuật phong phú, về già bèn hối hận, muốn truy t́m [các trước tác của chính ḿnh] để hủy sạch, nhưng chẳng được! Cư sĩ hăy nên đọc [kinh Dịch] đến nỗi lề sách ba lần đứt dây[86], ắt sẽ có tiến bộ to lớn, lại sửa chữa, gạn lọc một phen, sẽ chẳng đọc mà biết th́ sẽ có thể tiến xa! “Như mài, như giũa”,[87] xin hăy ba lượt nghĩ ngợi câu ấy!

 

* Chỉ dạy Tĩnh Khai

 

          Trong tam giới, không ǵ chẳng phải là lao ngục; vui sướng tạm thời, rốt cuộc quy vào vô thường. Chúng sanh như chim én, chim sẻ [làm tổ] ở dưới mái nhà, hiếm khi nghĩ thoát ra. Chỉ khi nào đối trước nghịch cảnh th́ may ra mới sanh tâm xa ĺa. V́ thế, đức Phật gọi tám nỗi khổ là tám vị thầy, chẳng phải là lời hư dối! Công Dă Trưng[88] chẳng có tội mà bị giam cầm, thánh hiền chẳng cho đó là hổ thẹn. Thế gian và xuất thế gian đều cầu chẳng thẹn với chính ḿnh mà thôi! Gặp cảnh hoạn nạn, bèn xử sự theo cảnh hoạn nạn. Bà Tẩu tiên nhân ở trong địa ngục hóa độ vô lượng đại chúng phát Bồ Đề tâm. Ba vị đại sư Biến Dung, Đạt Quán, Hám Sơn ngồi trong nhà tù của H́nh Bộ, khuyên dạy vô lượng người trong ngục tù quy kính Tam Bảo, ăn chay, niệm Phật, nhờ đó mà họ thoát khổ trong hiện đời, hoặc nhờ đó mà vĩnh viễn thoát luân hồi. Ác nhân duyên chính là hảo nhân duyên, đừng bảo nhà tù chẳng phải là chỗ tự lợi, lợi tha! Quy y Tam Bảo, vâng giữ NGiới, tự niệm Phật, khuyên người khác niệm Phật, tự đoạn Thập Ác, khuyên người khác đừng hành Thập Ác, tự học Thập Thiện, khuyên người khác cùng tu Thập Thiện. Mười thiện pháp ấy tuy hạ phẩm là cái nhân của thần, trung phẩm là cái nhân của người, thượng phẩm là cái nhân của trời, nhưng thượng thượng phẩm chính là cái nhân của La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Như Lai. Dũng mănh, gắng sức tu tŕ, lâu ngày chẳng thay đổi, không chỉ có thể thoát tai nạn trong hiện thời, mà lao ngục từ vô thỉ trong tam giới cũng sẽ từ đấy mà vĩnh viễn ĺa khỏi!

 

* Chỉ dạy Tĩnh Văn

 

          Hương Sơn tham phỏng ngài Ô Khoa[89], được Sư bảo thẳng rằng: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, đứa trẻ ba tuổi cũng nói được điều ấy, nhưng ông già tám mươi tuổi chẳng làm được!” Các vị Tổ trên đây đă chỉ điểm pháp xuất sanh tử đơn giản, dễ dàng, minh bạch nhất, chẳng cứ phải “ṿng kim cang, hạt dẻ đầy gai góc”[90] mới là huyền diệu. Học nhân đời sau tâm trộm cắp[91] càng lắm, phương tiện chốn tổ đ́nh biến đổi càng nhiều. Phương tiện đă biến đổi, cái tâm trộm cắp lại biến đổi theo, Phật cũng chẳng biết làm như thế nào? Thuở đầu, Mă Tổ chỉ nói “tức tâm tức Phật” (ngay nơi cái tâm chính là Phật). Nếu thật sự biết “tức tâm tức Phật”, tự nhiên các điều ác chấm dứt, vâng làm các điều thiện, liền biết tức tâm tức Phật. V́ thế, muốn ngộ tức tâm tức Phật, cần phải tŕ giới, niệm Phật. Tŕ giới thanh tịnh, niệm Phật thiết tha, trần cấu tự trừ, quang minh tự lộ. Kệ rằng: “Tŕ giới là b́nh tâm, niệm Phật là trực hạnh, tham thấu chút huyền quan, chẳng t́m cán của bát, cứ săm soi văn tự, mất tánh mạng Phật, Tổ”.

 

* Chỉ dạy Quách Thiện Hữu

 

          Biển cả Phật pháp, do tín có thể vào, trí có thể độ. Nếu tín tâm mà thiếu trí huệ, chưa hề chẳng lâm vào cảnh khóc ṛng trước hai ngă rẽ! Đức Phật nói “mạt thế đấu tranh kiên cố, ức ức nhân học đạo, hăn hữu nhất nhân chứng quả” (đời mạt đấu tranh kiên cố, ức ức người học đạo, hiếm có một người chứng quả). Chỉ có niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ có thể “siêu thoát ṿng khổ theo chiều ngang”. Xưa kia, có một vị tổ sư, thoạt đầu chí thành lễ kinh Pháp Hoa, lạy tới chữ Phẩn (, phân) bèn ngộ Pháp Hoa tam-muội. Có người tụng Pháp Hoa, do đến chỗ thiền sư Thọ Xương thỉnh ích[92], bị quát: “Chúng sanh tà kiến, chẳng biết tốt, xấu. Pháp Hoa chính là Thiền, há có Thiền nào khác để tham?” Người ấy kính vâng theo, rời đi. Rốt cuộc do tŕ Pháp Hoa mà ngộ đạo. Nếu tin sâu niệm Phật lễ bái là cái nhân chân thật của Phật, Tổ, đích xác sẽ chẳng bị thói đời xoay chuyển, sẽ là quang minh đại trí huệ, vượt lên Tịnh Độ, vĩnh viễn chẳng lo phải khóc lóc trước ngơ rẽ vậy!

 

* Chỉ dạy Tân Chi

 

          Ôn cũ để biết mới, có thể làm thầy. Cái gọi là Cũ hay Mới là vật ǵ vậy? Trong thiên hạ, không có ǵ cũ bằng cái tâm trong một niệm hiện tiền, cũng không có ǵ mới bằng cái tâm trong một niệm hiện tiền. Do là cũ nên tùy duyên mà bất biến; do là mới nên bất biến mà tùy duyên. Nếu có thể nhanh chóng thông đạt vật cũ trong nhà ḿnh, sẽ có thể lập ra quy củ hết sức mới mẻ: Dùng Bồ Đề bi trí làm căn cội, dùng Lục Độ vạn hạnh làm cành nhánh mới mẻ vậy!

 

* Chỉ dạy Phan Củng Thần

 

          Thánh nhân tam giáo [là những người] chẳng mê muội bản tâm đó thôi! Bản tâm chẳng mê muội [th́ hành xử theo] Nho, Lăo, hay Thích đều được. Nếu mê cái tâm ấy, Nho chẳng phải là chân Nho, Lăo chẳng phải là chân Lăo, Thích chẳng phải là chân Thích! Hơn nữa, cái ǵ gọi là bổn tâm? Ở trong, ngoài, trung gian ư? Là quá khứ, hiện tại, tương lai ư? Có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không ư? Nếu thẳng thừng biết rơ chỗ căn bản th́ trăm ngàn tam-muội, hằng sa pháp môn khác nào các ngôi sao chầu về mặt trăng? Nếu chẳng phải vậy, hăy giữ vững Tam Quy, Ngũ Giới, dùng đó làm duyên nhân, nếu đến đúng lúc, lư ấy sẽ tự phô tỏ.

 

* Chỉ dạy Tỉnh Bạch

 

          Phật pháp đă suy. [Người tu] danh lợi huân tâm, chuyên chú trọng lời ngon tiếng ngọt mê hoặc người khác. T́m một người hành xử đúng theo lẽ thật, trọn chẳng thể được! Có người nào có thể tŕ giới, tinh tấn, đọc tụng Đại Thừa, chẳng theo đuổi việc đời, dẫu đạo nhăn chưa mở, vẫn được tam thế chư Phật tán thán, hứa khả. Huống hồ đă hiểu rơ “phải nhờ vào duyên”, mà chẳng tŕ giới, đọc tụng, từ chỗ nào để đắc đạo nhăn? Nay người giảng pháp phần nhiều sơ sót luật hạnh, Thiền môn hoàn toàn phế bỏ giáo điển, môn đ́nh càng cao, tà kiến càng quá đáng. Bậc khai sĩ đă chuyên ṛng giữ giới “chẳng ăn phi thời”, siêng đọc kinh Phương Đẳng Đại Thừa, nhưng với hai môn Giáo và Giới, tự đạt được bản lănh sâu xa. Đào giếng chẳng thôi, ắt được suối trào. Dùi gỗ chẳng nghỉ, ắt được lửa sanh, chẳng nhọc nhằn mà t́m được huyền quan. Quán Kinh nói trọn đủ các giới hạnh, đọc tụng kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng đều là thượng phẩm thượng sanh. Nắm được cái bằng khoán ấy ra đi, ta sẽ nắm tay nơi đất quư, ao hoa, lúc ấy, nhớ lại nỗi nghi đắc ngộ hay chẳng đắc ngộ hiện thời, khôn ngăn cười toét miệng!

 

* Chỉ dạy Tống Dưỡng Liên

 

          Hai câu “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” cơi đời tranh nhau truyền tụng, nhưng chẳng biết tâm tánh là như thế nào! Tánh th́ không đạo lư nào chẳng thống nhiếp. V́ thế, bậc Đạo Sư đă thành mười kiếp (Phật Di Đà) từ lâu chẳng ở ngoài tánh, tâm chẳng phải là không duyên ảnh nào chẳng trọn. Do đó, cơi Cực Lạc ở ngoài mười vạn ức kiếp thật sự ở trong tâm. Do Di Đà chính là tự tánh Di Đà, cho nên chẳng thể không niệm. Tịnh Độ tức là duy tâm Tịnh Độ; do đó, chẳng thể không sanh về! Nay có thí dụ [như sau]: Bậc thánh vương ở Bắc Kinh chính là duy tâm Bắc Kinh thánh vương; nhưng khi hành đạo cứu tế, ắt phải lên miền Bắc thân cận nhà vua. Nếu cứ ngạo nghễ, hờ hững, dẫu là Y Doăn, Châu Công, há có thể b́nh trị thiên hạ ư? V́ thế, bất luận đă ngộ hay chưa ngộ, đều cần phải cầu sanh Tịnh Độ, cầu thấy Di Đà. Chưa ngộ th́ như trẻ thơ dại cầu thầy, đă ngộ th́ như Khổng Tử mưu cầu quan chức. Trên là từ Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, dưới là cho tới loài trùng bọ ngọ ngoạy, chim chóc, thú vật, chỉ có một chuyện này. Chuyện này th́ điều thứ nhất là phải tin tới nơi, hai là phải lúc nào cũng phát nguyện, ba là công phu niệm Phật phải chẳng gián đoạn. Trọn đủ ba sự ấy, kẻ chí ngu cũng văng sanh. Ba sự mà thiếu một, dẫu thông minh, lanh lợi, vẫn chẳng văng sanh. Kẻ nào báng pháp này tức là báng tam thế chư Phật, Bồ Tát. “Đạp trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô”[93] đâm ra là tầng thấp nhất trong ngục A Tỳ, buồn thay!

 

* Chỉ dạy Lục Dụ Liên

 

          Siêu sanh thoát tử mà bỏ một môn Tịnh Độ, chắc chắn chẳng có phương tiện nào thẳng thừng, nhanh chóng, siêu thoát theo chiều ngang nữa! Nhưng sanh Tịnh Độ mà bỏ pháp niệm Phật, quyết chẳng có công phu “vạn người tu, vạn người đến”. Thời gần đây, có những Thiền nhân mù quáng, hư vọng bảo “chẳng cần niệm Di Đà, chẳng cần sanh Tịnh Độ”, hồ đồ, rối ren, sảy hào, sa hố! Phàm lúc đêm ngủ, nếu gối, chiếu chẳng ngay, c̣n phải xếp đặt lại; vậy th́ nhà lửa tam giới, chẳng nghĩ thoát ĺa có được hay chăng? Nếu khinh mạn nói “đối với bậc đă ngộ tâm, thế gian này chính là Tịch Quang, sao chẳng nói “chửi bới dữ dội” là ca ngợi, đánh đập tàn nhẫn là cúng dường, phân nhơ chính là chiên đàn, lấm lem tro than chính là điện báu chốn cung trời vậy? Nếu chưa thể ăn phân, nằm than, Tịnh Độ chắc chắn chẳng thể không sanh về! Nếu thật sự có thể, th́ cũng là lợn, gà, chó mà thôi! Sao bằng người thật thà niệm Phật, dùng ḷng Tin để dẫn dắt, lấy Nguyện làm điều cốt yếu để nhanh chóng ngự lên chín phẩm đài sen, cùng với Quán Âm, Thế Chí, Hải Chúng làm quyến thuộc? Ngó lại phường chấp không, ác kiến, tà Thiền, đổi chác cái danh hư huyễn “tổ sư” giả trất một thời để lấy nỗi khổ đọa trong [địa ngục] kéo lưỡi cho trâu cày trong vạn kiếp, chẳng khác nào [so sánh giữa] mây và bùn vậy thay! Bất luận tán tâm hay định tâm, chỉ ấn định khóa tŕnh rồi suốt đời [tu tập] chẳng khuyết, ngày càng siêng năng, ngày càng tha thiết, đóa hoa nơi Tịnh Độ sẽ ngày đêm thêm phần tươi tốt!

 

* Chỉ dạy Vị Tông

 

          Học vấn thế gian nghĩa lư nông cạn, lắm đầu mối. Do vậy, tợ hồ dễ dàng, đâm ra khó khăn! Học vấn xuất thế nghĩa lư sâu thẳm, đầu mối chỉ một. Do vậy, tuy khó mà vẫn dễ. Đầu mối chẳng phải chi khác, một niệm tâm tánh hiện tiền đó thôi! Cổ nhân nói: “Lập nhất tâm vi tông, chiếu vạn pháp như kính” (lập nhất tâm làm tông, chiếu muôn pháp như gương). Có thể quán tâm tánh, sẽ trọn đủ hết thảy Phật pháp. Hơn nữa, cái tâm như thế, chẳng ở các chỗ trong, ngoài, trung gian, cũng chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, cũng chẳng phải tự sanh, do cái khác sanh, do tự và tha cùng sanh, chẳng phải không có nhân duyên mà sanh, há chẳng phải chính là Không? Thập giới, thập như, ba ngàn tánh tướng cùng hiện rạng ngời, chẳng thiếu, chẳng thừa, há chẳng phải chính là Giả? Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm, trong khoảng giữa, chẳng có đúng hay không đúng, há chẳng phải chính là Trung? Mê một niệm ấy tức là Không, sẽ là lục phàm. Mê tức Giả, sẽ là Nhị Thừa. Mê tức Trung, sẽ là Biệt Giáo. Chỉ ngộ một niệm hiện tiền, sẽ ngay lập tức là tức Không, Giả, Trung, tức mười giới không ǵ chẳng phải tức là Không, Giả, Trung, chẳng ở ngoài chín pháp giới mà riêng tiến hướng Phật giới. Đó gọi là “tam thiên quả thành, đều xưng là thường lạc”. Hướng theo đó mà lănh hội, mới biết ngàn kinh muôn luận đều chẳng lập bày ở ngoài tâm. Hăy gắng lên!

 

* Chỉ dạy Khả Sanh

 

          Phật pháp chẳng ngoài hai pháp quán Duy Tâm và Chân Như. Bởi lẽ, hết thảy các pháp sắc, tâm, y báo, chánh báo, giả, thật, không ǵ chẳng nương vào nhân, cậy vào duyên mà sanh, đều là Y Tha Khởi Tánh. Chẳng hiểu rơ Y Tha, sẽ hư vọng so đo thật ngă, thật pháp, bèn gọi là Biến Kế Chấp Tánh. Hiểu rơ nó như huyễn, có tức chẳng phải có, Thể chỉ là nhất tâm, th́ gọi là Viên Thành Thật Tánh. Nay Duy Tâm Thức Quán, do Y Tha mà liễu đạt Biến Kế vốn là Không, mà Chân Như Thật Quán th́ chỉ lư tánh do Nhị Không hiển hiện mà thôi! Kinh Đại Phật Đảnh khởi đầu bằng bảy chỗ gạn tâm, chính là thẳng thừng phá Biến Kế, chỉ rơ nó vốn là Không. Kế đó, mười lượt biện định cái Thấy, rộng nêu Ấm, Nhập, Xứ, Giới để hiểu lư. Đấy chính là dựa theo Y Tha Khởi Tánh để phá các thứ chấp Biến Kế khác. Kế đó, xác định NCăn là cảnh để quán, nhằm nêu rơ nó vốn viên thông thường hằng. Đó là dựa trên Y Tha Khởi để hiển lộ Viên Thành vốn trọn đủ! Nhưng nếu chẳng hướng theo các phần kinh văn phá chấp trước đó để khai giải, th́ tánh thường Viên Thông cực dễ mà lại cực khó. V́ thế, trong sách Đại Thừa Chỉ Quán, ngài Nam Nhạc [Huệ Tư] răn kẻ sơ tâm chớ nên quán ngay vào tánh Viên Thành Thật, chỉ dùng tứ tánh[94] để chọn lọc, xét đoán, thấu đạt sâu xa Biến Kế vốn là Không, Y Tha như huyễn. Một niệm quán thành, sẽ chuyển biến khiến cho các niệm khác tự nhiên khế hợp Thật! Thật tâm buộc chặt vào thật cảnh, thật duyên sẽ theo thứ tự nẩy sanh. Do vậy, niệm trước là năng quán (chủ thể để quán), niệm sau là sở quán (đối tượng được quán). V́ thế, có thể chặt đứt nguồn vọng, chẳng c̣n phạm lỗi theo sóng đuổi sóng nữa!

 

* Chỉ dạy Tố Phong

 

          Học để có tài chẳng khó, khó ở chỗ có chí. Có chí chẳng khó, có phẩm cách mới khó. Có phẩm cách chẳng khó, sáng suốt mới khó. Chỉ có trọn con mắt vượt ngoài giới hạn th́ mới chẳng bị thói đời nắm bắt, kham lập phẩm cách ngàn đời. Hễ phẩm cách được lập th́ chí thành. Chí thành th́ mới đạt được công dụng. Thời Mạt, [mọi người] tranh nhau đuổi theo cành lá, hiếm ai đạt được cội nguồn! Ai biết hoa buổi sớm dễ rụng, tùng, bách khó xơ xác? Bậc tài chí há cam tâm bỏ lớn theo nhỏ ư? Không ǵ lớn bằng một niệm hiện tiền. Thật sự có thể thẳng thừng quan sát, biết nó vô tánh, quyết sẽ chẳng hư vọng cho rằng Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, duyên ảnh[95] lục trần là tâm tướng của chính ḿnh. Hai thứ vọng thân và vọng tâm đă tiêu, c̣n ǵ đối đăi để chẳng chân thật nữa ư? Sau đấy, dùng sự chân giải để suy xét hết thảy các pháp, khiến cho chúng hoàn toàn hết sạch, rỗng rang. Chẳng có trần ảnh, th́ há có tập khí nhơ bẩn nào để có thể đạt được, sẽ trở lại sự trong sạch tinh thuần. Đạo phong tột cùng chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang. Chỉ v́ chưa ngó thấy một niệm, khiến cho cái tâm bận bịu, lẩn quẩn v́ sanh kế một trăm năm, để cho hư danh thiển cận mê hoặc cái chí, [nếu cứ như thế, chẳng nhận thức rơ ràng], tôi sợ rằng thiên chân sẽ ngày một tệ, phụ bạc chẳng cạn tài đẹp, chí tốt vậy!

 

* Chỉ dạy về sự thực hiện ḷng khoan dung

 

          Đạo Nho dùng “trung thứ” (忠恕, trung hậu, khoan dung) để làm mối truyền thừa nhất quán. Phật dùng trực tâm làm cái gốc để nhập đạo. Trực tâm chính là chánh niệm Chân Như. Chân Như chẳng có tướng hư ngụy, cũng gọi là chí thành tâm. Chân Như th́ chúng sanh và Phật có cùng một Thể, cũng gọi là thâm tâm. Chân Như trọn khắp hết thảy mọi sự, cũng gọi là hồi hướng phát nguyện tâm. Ba tâm ấy chính là nhất tâm. Nhất tâm dứt bặt trong, ngoài, th́ gọi là Trung. Nhất tâm bằng với hết thảy các tâm th́ gọi là Thứ (, khoan dung). Do vậy nói “tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ chẳng sai biệt”. Nếu liễu đạt ba thứ chẳng sai biệt, muốn tự dối, tự gạt trong một niệm cũng chẳng thể được! Muốn ích kỷ, tự lợi trong một niệm cũng chẳng thể được! Muốn tự phân chia, hạn cuộc trong một niệm lại càng chẳng thể được!

 

* Chỉ dạy Ngô Nhi Thượng

         

          Tánh linh chẳng thể dùng “hữu, vô” để cầu, hoặc dùng đoạn, thường để giữ lấy! Do từ vô thỉ, hư vọng ngỡ Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, coi duyên ảnh của sáu trần là tâm tướng của chính ḿnh. V́ thế, đắm chấp “hữu, thường”. Tới khi nghe “chẳng có, chẳng thường” lại chuyển thành so đo “đoạn, vô” mà sanh ḷng sợ hăi, chẳng hề suy nghĩ: Dẫu sợ hăi “đoạn, vô”, rốt cuộc có thể đoạn vô hay không? Lại nữa, sợ hăi sanh diệt trong mỗi niệm, chẳng có bản thể, chẳng có ngằn mé, rốt cuộc có thể gọi là “thường có” hay chăng? Do quán điều này, [sẽ nhận ra] tánh linh suốt ngày ở trong vọng chính là tánh linh suốt ngày luôn chân thật. Một mực mê chính ḿnh là vật, ngỡ vật là chính ḿnh, chưa từng giác ngộ!

Hăy thử nghĩ tạm mượn Tứ Đại làm thân th́ thân chẳng phải là thật ngă, tâm vốn vô sanh, do cảnh mà có, th́ tâm cũng chẳng phải là ngă. Thân tâm so đo hư vọng từ vô thỉ đă đều chẳng phải là ngă, c̣n có vật ǵ có thể là ngă nữa ư? Đấy chính là vượt khỏi kiến chấp “thường hữu”. Biết cái vô ngă ấy rốt ráo chẳng thể đoạn diệt; đấy là vượt thoát tà kiến “đoạn vô”. Nhưng chỉ trừ ngă chấp thường hữu, chẳng đoạn, tức là tánh linh “chẳng đoạn, chẳng vô” vốn sẵn như vậy sẽ hiện tiền, chẳng c̣n nhọc sức dùng tâm t́m tâm, như dùng mắt để t́m mắt. Nếu có thể trông thấy (tức là do mắt mà có thể thấy con mắt), [con mắt được trông thấy ấy] chắc chắn chẳng phải là con mắt của chính ḿnh. [Cái tâm] nếu có thể đạt được, quyết chẳng phải là cái tâm của chính ḿnh. Chỉ tận hết phàm t́nh, chẳng có thánh giải. Hữu là để trừ pháp ngăn che, Vô là để tương ứng với hiểu rơ pháp.

 

* Chỉ dạy ưu-bà-di Kiên Tịnh

         

          Người cực thông minh đâm ra bị thông minh lầm lạc. V́ thế, [kẻ đó] chẳng thể niệm Phật cầu sanh Tây Phương! C̣n ngược lại, kẻ ngu, đàn bà, do chịu chán ngán Sa Bà khổ sở, cầu xuất ly sâu xa. Hăy nên biết kẻ kia (kẻ cực thông minh) thật sự ngu si, c̣n hạng người sau là đại trí huệ. Tốt, xấu dễ phân định, đừng tự mê muội! Thường thấy phường giả thiện tri thức luông tuồng, mờ mịt, ăn nói lớn lối lừa đời, gặp tiều phu, hay bà nông dân đang thật thà niệm Phật cũng dạy họ tham Thiền, lôi kéo tới lui, tự ḿnh vỗ tay khen ḿnh. Hạng người thật thà ấy ngỡ đó là [lời dạy] thành thật, bị phá hoại thiện căn, rốt cuộc tham cũng lại chẳng tham được, mà niệm th́ cũng niệm chẳng thuần thục, gót chân bất ổn, tâm t́nh bối rối quẩn quanh. Ôi! Cũng thảm lắm thay! Tôi khuyên bà hăy cắn chặt răng cương quyết, tin tưởng Tây Phương hết mức, thiết tha phát nguyện, tŕ giới, tu phước để giúp sức. “Không Thiền, có Tịnh Độ, vạn người tu, vạn về, chỉ được thấy Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ!” Đó là điều được xác quyết ngàn đời, bà chẳng cần phải nghi! Những kẻ tà sư chẳng biết hổ thẹn kia dám vu báng bậc tiên thánh, tùy tiện đả phá, chỉ càng lộ rơ ác kiến của bọn chúng đó thôi, há có bao giờ lật đổ được lời phán định chắc chắn của cổ nhân ư?

 

* Chỉ dạy Từ Trọng Thao

 

          Tập khí của cư sĩ không ở nơi danh lợi, nhưng bị phiền lụy v́ tâm khí thô thiển, hời hợt. Nếu gặp chuyện mà suy nghĩ mười phần, thâm nhập lưới trí vi tế của Bồ Tát, chẳng lo không thể xuất thế!

 

* Chỉ dạy Phương Nhĩ Giai

 

          Pháp môn Niệm Phật tuy bao trùm tám giáo, gồm thâu trọn vẹn vô lượng trăm ngàn tam-muội, nhưng phương cách thực hiện lại thẳng thừng, nhanh chóng, lẹ làng nhất! Bởi lẽ, niệm tướng hảo, niệm pháp môn, niệm Thật Tướng v.v… cố nhiên là trước hết khai chân giải rồi sau đó mới tu tập, muôn phần chẳng có lẽ nào xen tạp nghi t́nh! Chỉ riêng pháp Tŕ Danh cũng chỉ thẳng thừng mà tŕ, chẳng do dự, băn khoăn, hễ tin sâu Tịnh Độ là có thể văng sanh. Phát nguyện quyết định văng sanh, lấy tŕ danh làm chánh hạnh, dùng Lục Độ v.v… làm trợ hạnh. Vạn người tu, vạn người đến, chắc chắn có thể đảm bảo! Nếu có đôi chút tâm hiếu thắng, xen tạp tham cứu, cho đó là “hướng thượng nhất trước” (phương cách đạt đến triệt ngộ của nhà Thiền) th́ gót chân bất ổn, Thiền lẫn Tịnh đôi đằng mất sạch! Người trí chẳng thể không quyết định sẽ tiến theo phía nào!

 

* Chỉ dạy Vương Tư Hồ

 

          Ai nấy đều có chủng tử Bồ Đề. Do v́ tự ruồng rẫy, tự vứt bỏ, tự vạch giới hạn, khiến cho vô lượng công đức thiện căn oan uổng trở thành tư lương để sanh tử trong cơi trời hay cơi người! Bảo châu Ma Ni đem đổi lấy một tấm áo, hoặc một bữa ăn, đáng tiếc quá đỗi! Chúng ta có cùng một tâm tánh với tam thế chư Phật, cùng có đủ sáu căn, há có mảy may nào khiếm khuyết? Chỉ cần chịu một niệm phát Bồ Đề tâm, thề thành Phật đạo, th́ những ǵ đă làm trong hiện thời, không ǵ chẳng là công đức xứng tánh, chẳng cần phải thay đổi đường lối rồi mới tu hành, chỉ cần tin tưởng như thế ấy, dần dần tích tụ công đức, sẽ thành Phật chẳng ngờ chi nữa!

 

* Chỉ dạy Trương Tử Tuế

 

          Người hiện thời suốt đời đọc ê a ư chỉ “trí tri cách vật”, nhưng chưa từng để tâm tham cứu, có đáng gọi là “hiếu học” hay chăng? Khổng Tử tột bậc khen ngợi Nhan Hồi hiếu học, chỉ dùng hai câu “bất thiên nộ” (不遷怒, chẳng trút giận lên người khác) và “bất nhị quá” (不貳過, chẳng tái phạm lỗi) để miêu tả. Đấy là hiểu rơ ngoài tâm chẳng có cảnh, liễu đạt sâu xa Duy Tâm Thức Quán! Nếu thấy ngoài tâm có một vật để trở thành t́nh chấp, ắt sẽ không tận trừ vật, sẽ chẳng biết cùng tột, sẽ phạm lỗi không chỉ một lần, bị trút giận, ắt đă là quá mức, há c̣n đạt được điều sâu xa ǵ nữa ư?

 

* Chỉ dạy Hạ Thứ Am

 

          Các pháp như mộng, hư vọng chấp là thật rồi sanh sướng, khổ. Do vậy, trải nhiều kiếp tự trói buộc. Ngay trong khi nhớ, chẳng cần phải cưỡng ép khiến tâm chẳng nhớ, chỉ phản quán cái tâm nghĩ nhớ ấy rốt ráo là thứ ǵ? Nh́n tới, nh́n lui, thấy nó là một tràng lộn xộn. Vô thỉ ân ái chẳng biết đă đi về đâu rồi! Hăy chú ư nhé!

 

* Chỉ dạy Tự Nhược

 

          Khi Phật pháp hưng thịnh, người ta đua nhau chú trọng thực chất. Cho đến khi pháp đă suy, mọi người đều đua nhau tranh danh. Do thực chất th́ sẽ siêu thoát sanh tử, chứng Bồ Đề. V́ danh, ắt sẽ tăng nhân ngă, trưởng ma nghiệp. Người có chí chẳng thể không suy xét chín chắn! Một niệm tâm tánh hiện tiền tại phàm chẳng giảm, nơi thánh không tăng; nhưng mê th́ là phàm phu, ngộ bèn là thánh nhân. Kẻ đă mê, dẫu tôn xưng là thánh, sao cứu khỏi mê? Người đă ngộ, dẫu bị biếm nhẽ là phàm, há ngộ tổn hại ǵ? Hư danh chẳng đáng để xét nặng, nhẹ, cũng đă rơ rồi! Người khéo học đạo, trước hết hăy quán hủy báng và ca ngợi lăng xăng, mê ngộ tự an, chẳng bị ca ngợi hay hủy báng ảnh hưởng cái tâm. Kế đó, quán mê và ngộ rành rành, tâm tánh tự an, kiến giải sẽ chẳng rối ren bởi hay ngộ, chẳng bị lầm lạc bởi hai chữ Mê và Ngộ, đối với chuyện thuộc về bổn phận sẽ có chút phần tương ứng vậy!

 

* Chỉ dạy phương hướng gọi là Chiếu Nam

         

          Các pháp vô tánh, hoàn toàn chuyển theo tâm. Tâm v́ danh lợi th́ hết thảy đều hướng theo danh lợi. Tâm v́ Bồ Đề, hết thảy sẽ xoay theo Bồ Đề. V́ thế nói “địa ngục là pháp giới” cho đến “Phật là pháp giới”, đều chẳng vượt ngoài tâm được! Thiện Tài phát Bồ Đề tâm, đi qua cả trăm ṭa thành, bất luận Ngài đi về đâu, [kinh Hoa Nghiêm] đều nói phương vị nơi ấy là “phương Nam”. Vạch khắc trên cán cân đă chánh[96], chẳng hướng nào không phải phương Nam! Ác vương, dâm nữ, khổ hạnh, nghịch cát, người đời nh́n vào, có bao giờ chẳng nghĩ đó là pháp hội ác? Nay chưa từng chẳng phải là vị vua bạo ngược, cô gái lạ lùng xinh đẹp, là Bà-la-môn đốt thân, các trai dồn cát[97]. Trong mắt Thiện Tài, họ chẳng phải là chân thiện tri thức ư? Do vậy, người thật sự phát tâm gặp cảnh, chạm duyên, đối nhân xử thế, hết thảy đều tưởng là Phật sắc, Phật thanh, Phật hương, Phật vị, Phật xúc, Phật pháp, ắt niệm nào cũng tương ứng với biển Tát Bà Nhă, chẳng cần bàn định công phu tu chứng nữa, điều mầu nhiệm ở ngay trong đó. Nếu bỏ cảnh giới của Phật trước mắt để hỏi riêng pháp yếu quán tâm trên bồ đoàn, [chính là] ở ngay trong điện Hàm Nguyên[98] mà lại t́m Trường An, đang ở trong biển mà đâm ra đến nỗi chết khát, do chẳng thấu đạt diệu chỉ, diệu quán, chẳng nắm được “trái phải đều gặp nguồn”[99]. Xin hăy dùng trí quang căn bản ấy để chiếu tận phương Nam, mới tin mỗi một vi trần đều có kinh quyển to bằng đại thiên, mỗi trần đều là phương hướng to lớn vậy!

 

* Chỉ dạy Văn Giác

 

          Tánh Nghe trong một niệm hiện tiền vốn là viên thông, thường hằng, chỉ là chẳng tự giác đó thôi! Thật sự hướng tới chỗ cư ngụ tĩnh lặng, khi nghe mười phương, sẽ nhận biết nó vốn viên. Khi nghe âm thanh vọng lại cách tường, sẽ nhận biết nó vốn thông, [cũng như do thấy] chỗ “âm thanh sanh hay diệt, nhưng tánh Nghe chẳng sanh diệt”, bèn nhận biết tánh Nghe vốn thường, sẽ tin nghiệp thức hiện hành của chúng ta chính là trí quang bất động của chư Phật. Nhĩ Căn đă là như thế, các căn khác cũng thế. Sáu căn đă là như thế, trần thức cũng thế. Mỗi trần, mỗi pháp, không ǵ chẳng phải là viên, thông, thường! Đó gọi là Nhĩ Môn Viên Chiếu tam-muội, há có ĺa một niệm hiện tiền của chúng ta mà riêng có một pháp môn để đức Quán Âm chứng ư? Khi nào giác, sẽ là ba mươi hai ứng thân, mười bốn thứ vô úy, tứ bất tư nghị vô tác diệu đức, mỗi thứ đều là lực dụng vốn sẵn có nơi tánh. Kho báu của cô gái nghèo[100] vốn sẵn tự có, chẳng phải do đạt được từ bên ngoài. Chỉ suy nghĩ chắc thật, lănh hội sâu xa, th́ vô biên pháp tạng, cơ duyên của chư tổ đều cùng thấu suốt rành rành, chứ chẳng chỉ dạy chi khác!

 

* Chỉ dạy Nhĩ Giai

 

          Tứ Niệm Xứ là giềng mối chung của Phật pháp, Thiên, Viên, Quyền, Thật không ǵ chẳng do đó, đấy là con đường trọng yếu để thoát sanh tử, là đường lối chung để thành Bồ Đề. Một là thân niệm xứ, hai là thọ niệm xứ, ba là tâm niệm xứ, bốn là pháp niệm xứ. “Thân, thọ, tâm, pháp” chỉ quả báo Ngũ Ấm, tức là Khổ Đế. Chẳng hiểu rơ chúng là hư huyễn, hư vọng thường dấy lên so đo “thường, lạc, ngă, tịnh” tức là Tập Đế. Quán sát rành rẽ, biết chúng là bất tịnh, khổ, không, vô thường, vô ngă, cũng như huyễn hóa, cũng chỉ là giả danh, cũng chính là pháp tánh; đó tức là Đạo Đế. Chẳng khởi bốn món điên đảo “thường, lạc, ngă, tịnh”, chẳng chuốc lấy Phần Đoạn sanh tử. Chẳng dấy lên bốn món điên đảo “vô thường, vô lạc, vô ngă, bất tịnh”, chẳng dính mắc Thiên Chân Niết Bàn. Chẳng dấy lên bốn món song đảo (điên đảo kép) tức cũng thường cũng vô thường, cũng lạc cũng vô lạc, cũng ngă cũng vô ngă, cũng tịnh cũng bất tịnh, sẽ chẳng chuốc chân thường tuôn rưới, Biến Dịch sanh tử chẳng nghĩ bàn. Đó chính là Diệt Đế.

Do vậy, siêng tu Tứ Niệm Xứ, sẽ thấy bốn loại Tứ Đế. Quán thân bất tịnh v.v… sẽ thấy Sanh Diệt Tứ Đế. Quán thân như huyễn v.v… sẽ thấy Vô Sanh Tứ Đế. Quán thân giả danh vô tánh, duyên sanh tạo trọn khắp mười giới v.v… sẽ thấy Vô Lượng Tứ Đế. Quán thân pháp tánh tức Thật Tướng v.v… sẽ thấy Vô Tác Tứ Đế. V́ thế, kinh Duy Ma nói: “Quán thân Thật Tướng, quán Phật diệc nhiên” (quán thân là Thật Tướng, quán Phật cũng thế). Đức Tỳ Xá Phù Phật[101] dạy: “Giả tá Tứ Đại dĩ vi thân, tâm bổn vô sanh nhân cảnh hữu. Tiền cảnh nhược vô, tâm diệc vô. Tội phước như huyễn, khởi diệc diệt” (Giả mượn Tứ Đại để làm thân. Tâm vốn vô sanh, nhân cảnh có. Tiền cảnh nếu không, tâm cũng không. Tội phước như huyễn, khởi rồi diệt). Hăy tin chắc, quán kỹ, chẳng lo không thành Phật ngay lập tức!

 

* Chỉ dạy Thế Văn

 

          Ba môn Thiền, Giáo, Luật đều cùng thấu suốt rạch ṛi, chẳng phải chỉ là Xuân lan, Thu cúc! Thiền là Phật tâm, Giáo là Phật ngữ, Luật là Phật hạnh. Cơi đời há có người có tâm mà chẳng có ngữ và hạnh? Hoặc có ngữ mà chẳng có hạnh và tâm ư? Người học hiện thời không chỉ phân biệt môn hộ, dẫu phát tâm học trọn khắp, chưa từng biết một pháp xuyên suốt trọn khắp. Do vậy, vừa mới vào Luật đường, liền coi y, bát, tích trượng là cái tiêu biểu để ca ngợi. Vừa dự vào giảng ṭa, liền coi chuyện bám sát từng câu văn là nhiệm vụ trọng yếu. Vừa vào Thiền lâm, liền coi cơ phong chuyển ngữ là cơm nước. Cho tới khi đă hành cước mười, hoặc hai mươi năm, xây đắp ba thứ tập khí đă tràn trề, liền nghĩ mở ra một tùng lâm, ngất ngưởng giữ ghế phương trượng, tự cho là tinh thông Thiền, Giáo, Luật, mặc sức tung hoành, đủ thứ cổ quái, lừa gạt, mê hoặc kẻ ngu mê, giam chặt trong lồng trí huệ thế gian. Tới khi dùng Phật tâm, Phật ngữ, Phật hạnh chân chánh để khảo hạch họ, hiếm có kẻ chẳng công khai chống trái! Chẳng có chi khác! Đó là do lúc ban đầu tham học đă chẳng có đủ con mắt chân chánh, lại chẳng phát đại Bồ Đề tâm chân chánh, lại chẳng thật sự có cái tâm v́ sanh tử. Chẳng v́ sanh tử, quyết sẽ chẳng thể phát khởi đại tâm. Chẳng phát đại tâm, quyết sẽ chẳng thể mở toang chánh nhăn!

Muốn thật sự v́ sanh tử, chẳng có thuật nào khác. Cần phải biết tam giới không ǵ chẳng khổ. Thân tâm trong hiện tại chính là dụng cụ để tiếp nhận khổ. Do chẳng biết khổ, lại tạo khổ nhân. Nay dùng Tứ Đại để quán thân, dùng Tứ Uẩn (Thọ, Tưởng, Hành, Thức) để quán tâm, biết chẳng có ngă và ngă sở, chỉ do mê hoặc mà oan uổng hứng chịu luân hồi, sanh ḷng hổ thẹn sâu xa, dũng mănh cầu giải thoát. Đấy tức là cái tâm chân thật v́ sanh tử, lại c̣n biết rơ “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Chư Phật đă ngộ, chúng sanh vẫn mê. Ta nay đă biết lư này, thề cùng chúng sanh đồng chứng Chánh Giác. Đấy chính là đại Bồ Đề tâm chân chánh.

Đă phát cái tâm ấy, lại biết nếu có một chuyện chẳng hợp Phật hạnh, một lời chẳng hợp Phật ngữ, một niệm chẳng hợp Phật tâm, sẽ chẳng trọn đủ tự lợi, lợi tha. Ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh[102] đều là vật dụng để mài giũa chân tánh, trọn chẳng phải là y, bát, tích trượng [là thứ để trau giồi luật nghi]! Phải nên hiểu rơ tác, phạm, chỉ, tŕ và phương tiện khai giá th́ mới thành Phật hạnh. Mười hai phần giáo, tam thừa thánh điển đều là lời chỉ điểm tâm tánh, trọn chẳng phải ở nơi danh, cú, văn thân[103], phải nên thống thiết suy xét Thiên, Viên, Quyền, Thật, và Thể, Tông, Lực Dụng, th́ mới hiểu Phật ngữ. Giơ cành hoa, dựng đứng cán phất trần[104], đủ mọi cơ duyên, đều là phương tiện để “điểm sắt thành vàng”, trọn chớ nên rơi vào bên t́nh thức suy đoán, hăy nên thẳng thừng “t́m tâm trọn chẳng thể được”. Chẳng ở ngoài tâm mà bàn tán công án của cổ nhân th́ mới khế hợp Phật tâm. Phàm tâm Phật và tâm ḿnh, há có phải là hai thứ ư? Quán cái tâm trong một niệm hiện tiền trọn chẳng thể được, trọn chẳng c̣n lầm nhận duyên ảnh là tâm, mới biết hết thảy các pháp không ǵ chẳng phải chính là tự tánh của cái tâm. Đă biết hết thảy các pháp đều chính là tự tâm, th́ Phật tâm cũng chính là tự tâm. Đă biết Phật tâm chính là tự tâm th́ Phật ngữ, Phật hạnh, há có riêng thứ ǵ chẳng phải là ngữ và hạnh của chính ḿnh ư? Chẳng ở ngoài tâm riêng t́m Thiền, Giáo, Luật. Há c̣n ở ngoài Thiền, Giáo, Luật riêng t́m kiếm tự tâm! Như thế th́ suốt ngày tham Thiền, xem Giáo, học Luật, đều tương ứng với đại sự, đại tâm, chánh pháp nhăn tàng trong khoảng một niệm vậy, há c̣n coi khô Thiền mặc chiếu[105] là quán tâm nữa ư?

 

* Chỉ dạy người chưa học

 

          Hết thảy các pháp vốn tự chẳng có, bất quá do tự tâm hiện. Chúng sanh mê hoặc, hư vọng dấy lên so đo, chấp trước. Xét kỹ chứng bệnh nặng ấy, chỉ do mê chính ḿnh là vật. Lại c̣n ở trong ấy, ngỡ vật là chính ḿnh! Đó gọi là hư vọng ngỡ Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, coi duyên ảnh của lục trần là tâm tướng của chính ḿnh. Đấy chính là căn bản của sanh tử từ vô thỉ. Nay đă hơi hiểu Phật pháp, dẫu biết Tứ Đại chẳng phải là thân, hoàn toàn chẳng biết duyên ảnh chẳng phải là tâm, chẳng nghĩ duyên ảnh là một vật, sao có thể là linh diệu thường biết ư? Khi nhận biết đúng về duyên ảnh, duyên ảnh vốn chẳng phải là tâm. Kẻ nhận lầm duyên ảnh vốn chưa từng chẳng phải là linh diệu thường tri, ĺa các hư luận, chỉ thấy thấu suốt hết thảy sở tri chướng giới, chẳng luận “chân, vọng, hữu, vô”, đều là Tướng Phần của tự tâm, mà cái Thể “năng tri”

rốt cuộc trọn chẳng thể được! Như con mắt quyết chẳng thể tự thấy chính nó, mà cũng chắc chắn chẳng phải là không có mắt. Tâm chẳng biết tâm cũng lại giống như thế. Do mắt mà thấy hết thảy các vật, do tâm nên có hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp đều chẳng phải là tâm, mà ĺa tâm th́ chẳng có một pháp dẫu nhỏ như vi trần để có thể đạt được, chỉ thấu đạt như thế đó! Chẳng có một pháp là tâm, mà cũng chẳng có một pháp nào không phải là tâm! Lâu ngày thuần thục, sẽ đạt tới tâm và pháp là cảnh giới nhất như, cũng chẳng có “năng đáo” (cái có thể đạt tới) và “sở đáo” (cái bị đạt tới). Hăy suy nghĩ!

 

* Chỉ dạy Trí Khả

 

          Đại sự sanh tử ai nấy đều có, chỉ từng trải qua trắc trở, hoạn nạn, mới thấy nó bội phần thân thiết. Vẫn có kẻ đă trải qua khổ nạn mà tâm sanh tử vẫn chưa tha thiết, hư vọng chấp ngă, t́nh kiến so đo sâu dày, mai một trí quang vốn sẵn có. Nhưng cái trí quang vốn sẵn có ấy há có thể mai một được ư? Trong động tĩnh, hành xử hằng ngày, luôn thuộc trong ngă chấp, t́nh kiến so đo hừng hực toan bộc lộ, mà người ta chẳng chịu lắng tâm nh́n thấu suốt! Thật sự hướng theo ngă chấp hư vọng để nỗ lực nh́n cho rơ rốt cuộc vật nào là ngă, người nào để so đo là ta? T́m ngă trong Tứ Đại, Ngũ Uẩn đă chẳng thể được, t́m một cái Ngă có thể so đo ở ngoài Tứ Đại, Ngũ Uẩn, lại chẳng thể được! Bản thể của năng kế (cái tâm so đo) và sở kế (sự việc bị so đo) cũng chẳng phải là không tịch ư? Nhưng trong cái bản thể không tịch đó, lại ngang ngược nẩy sanh so đo, chấp trước! Do vậy, trái nghịch giác, xuôi theo trần lao. Nếu biết ngay trong khi đang ngang trái so đo, vẫn chẳng phải là cái bản thể không tịch, há chẳng phải là sẽ ngay lập tức trái trần, hợp giác? Than ôi! Mê th́ toàn thể giác thành trần, ngộ th́ toàn thể trần thành giác. Trần và giác, tánh của chúng chẳng hai. Trái nghịch chẳng thể trái nghịch, hợp chẳng thể hợp, chẳng phải là trái nghịch hay hợp mà luận định “trái, hợp”, kẻ chẳng hiểu sâu xa Giáo Quán sẽ chẳng thể biết! Nhưng chẳng phải là niệm nào cũng phản quán lư tánh nơi thân tâm, th́ cũng chắc chắn chẳng thể thâm nhập Giáo Quán! Hoặc là có Văn mà chẳng có Huệ, cầm lửa tự thiêu. Hoặc có Huệ mà chẳng có Văn, vung đao tự cắt ḿnh. Người thật sự v́ sanh tử sẽ buông xuống các toan tính kiếm sống trước mắt, thống thiết trừ khử tập khí ác từ vô thỉ, dùng tâm ấn giáo, chẳng phải là nói suông! Dùng giáo ấn tâm, chẳng phải là ám chứng, vượt khỏi hai thói tệ nơi Thiền và Giáo, sẽ có thể là người trí vậy!

 

* Chỉ dạy Vũ Bạc

 

          Vũ trụ không ǵ chẳng phải là tạm dừng chân trong chuyến lữ du, nhưng kẻ dừng chân trong vũ trụ rốt cuộc là người như thế nào? Thân tâm Ngũ Uẩn là huyễn vật trong quán trọ, gọi nó là chính ḿnh th́ chẳng thể được! Nhưng ĺa thân tâm, lại gọi vật ǵ là chính ḿnh? Bảo là Vô th́ nó chẳng đoạn diệt, cho là Hữu th́ có khác ǵ với thần ngă [như ngoại đạo nói]? Kinh dạy: “Kiến dữ kiến duyên, tịnh sở tưởng tướng, như hư không hoa, bổn vô sở hữu. Thử kiến cập duyên, nguyên thị Bồ Đề diệu tịnh minh thể” (cái có thể thấy và các tướng được trông thấy bởi nó, cũng như tất cả các tướng do suy tưởng giống như hoa đốm trên hư không, vốn là vô sở hữu. Cái có thể thấy và tướng được thấy vốn là cái Thể mầu nhiệm, thanh tịnh, sáng suốt của Bồ Đề)[106]. Hiểu thấu sự vượt thoát cả hai thứ Đoạn Kiến và Thường Kiến ấy, sẽ biết một niệm hiện tiền ĺa lỗi, dứt sai, sẽ biết hết thảy các vật trong ngoài vũ trụ nương gá trong cái tâm vọng tưởng nơi một niệm, giống như vầng mây bềnh bồng trong hư không. Đó gọi là “chẳng bị vật chuyển, sẽ có thể chuyển vật”. Nh́n lại chuyện hư vọng ngỡ Tứ Đại là thân, ngỡ duyên ảnh là tâm, lại sanh nhàm ĺa, ắt thoát khỏi ba cơi này mà trở về nhà, chẳng khác sự khác biệt bội phần giữa ngày và kiếp!

Kệ rằng: - Vũ trụ nương tâm ta, tâm ta vốn chẳng gá. Loạn tưởng liền hôn trầm. Linh minh vốn sẵn có, giống như ngày hôm qua. Chót mây thấy tiên nhân, há bị quạt che khuất. Chẳng che khuất, Kỳ Bà đồng tử t́m kiếm suông[107]! Ôi!

 

* Chỉ dạy Hằng Từ

 

Chỉ có một danh xưng là Từ, nhưng có ba nghĩa: Sanh duyên từ, pháp duyên từ, và vô duyên từ. Từ có ba nghĩa, nhưng Thể là duy nhất, tức là Phật tánh. Thể của Phật tánh thường hằng, bất biến, chúng sanh và Phật chẳng khác. Liễu đạt Phật tánh ấy, sẽ thành ba ḷng Từ. Có người đối với điều này, dấy Hoặc, tạo nghiệp, phá giới phạm pháp. Bồ Tát trông thấy, biết rơ thiện ác sanh từ nhân duyên, như huyễn mà có. Đă tạo huyễn nhân, ắt chuốc lấy huyễn quả. Thề dẹp trừ nỗi khổ do huyễn nhân, huyễn quả, để ban cho niềm vui huyễn diệt. Đó là sanh duyên từ.

Lại biết pháp thiện hay ác ấy đă từ duyên sanh, bèn chẳng có thật tánh, bản thể của nó chính là Không. Chẳng hiểu rơ vốn là Không, sẽ oan uổng hứng chịu luân chuyển! Nay tự hiểu rơ vốn là Không, cũng khiến cho người khác giác ngộ hiểu rơ nó vốn là Không. Chẳng dẹp khổ, ban cho sự vui do hiểu rơ Không th́ gọi là pháp duyên từ.

Lại biết pháp thiện hay ác ấy, duyên sanh vô tánh, vô tánh duyên sanh, Thể của nó chẳng hai, tức là Thật Tướng. Chẳng hiểu rơ Thật Tướng, sẽ hư vọng đọa vào nhị biên. Khéo hiểu rơ nhị biên, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng. Dẹp trừ nỗi khổ “chẳng phải biên mà chấp là biên”, ban cho niềm vui “biên chính là trung”. Đó là vô duyên từ.

Tuy nói theo thứ tự, nhưng hành cùng một lúc. Pháp Hoa tam-muội do Thường Bất Khinh Bồ Tát đă hành chính là Hằng Từ tam-muội.

 

* Chỉ dạy Thất Tịnh

 

          Kinh Đại Phật Đảnh dạy: “Chúng sanh sanh tử tương tục, giai do bất tri thường trụ chân tâm, tánh tịnh minh thể, dụng chư vọng tưởng. Thử tưởng bất chân, cố hữu luân chuyển” (Chúng sanh sanh tử liên tục đều do chẳng biết chân tâm thường trụ, và tánh có cái Thể thanh tịnh, sáng suốt, mà dùng các vọng tưởng. Do tưởng chẳng chân thật, cho nên có luân chuyển). Thử hỏi vọng tưởng rốt cuộc là chuyện ǵ vậy? Ở bên trong ư? Hay ở ngoài, trung gian? Cho tới hết thảy chẳng chấp ư? Như [đức Phật] gạn hỏi [cái tâm] trọn khắp bảy chỗ, [ngài A Nan trả lời bảy lần] đều chẳng phải là đúng chỗ! Đó chẳng phải là “vọng tưởng vô tánh” như kinh Lăng Già đă nói ư? Vọng tưởng vốn vô tánh, như thế nào th́ có thể sử dụng? Đă chẳng có vọng tưởng để có thể dùng, lại v́ sao mà có lưu chuyển? Nếu thật sự từ ngay nơi vọng tưởng trong một niệm hiện tiền mà thống thiết suy xét cội nguồn, xét đến chỗ ngay chính khi ấy là vô tánh, sẽ biết: Ĺa chân tâm th́ chẳng có vọng tưởng nào khác để có thể đạt được! Như ngoài nước chẳng có sóng, ĺa vọng tưởng sẽ chẳng có chân tâm để có thể t́m được! Như ngoài sóng chẳng có nước, chỉ phá Biến Kế, bèn từ ngay Y Tha Khởi mà hiển lộ Viên Thành. Từ ngay chỗ mở miệng, t́m được rơ ràng, ư nghĩa của mười quyển kinh văn [kinh Lăng Nghiêm] đều rành rẽ. Há nên bắt chước lũ mù sờ voi, lần lượt nói ṃ tạp loạn ư?

 

* Chỉ dạy về [thế giới hải] Nhụy Tràng

 

          Mọi người biết Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng an trụ trong Vô Biên Hương Thủy Hải, cũng biết cái biển thơm ấy trụ trong hư không. Hư không trụ trong một niệm tâm vọng tưởng của chúng ta. Vọng tưởng chẳng sanh, hư không sao có? Hư không tiêu mất, biển thơm há c̣n? Biển thơm vốn là Không, có ǵ để gọi là Nhụy Tràng? Ôi chao! Chớ nên hiểu là đoạn diệt, chớ nên hiểu là hải ấn hiện rạng ngời! Đợi tới khi quư vị thật sự đánh mất lỗ mũi, hăy trở lại chỗ Ngẫu Ích đạo nhân lănh một gậy đau điếng!

 

* Chỉ dạy về đạt tâm

 

          Kinh dạy: “Tam giới vô biệt pháp, duy thị nhất tâm tác” (Tam giới chẳng phải là pháp nào khác, chỉ do nhất tâm tạo). Rốt cuộc tâm là vật như thế nào mà có thể tạo tác các pháp trong tam giới? Nếu là một vật, th́ do đă thành một vật, sao nó có thể tạo trọn khắp các vật? Nếu là rốt ráo chẳng có, tự nó đă chẳng có Thể, sao có thể tạo trọn khắp các vật cho được? Như không có nước, quyết chẳng có sóng. Nhưng toàn thể của nước đă thành sóng, bỏ sóng để riêng t́m cái Thể của nước có được hay chăng? Trong sóng, lại phân biệt ngọn sóng nào là nước, ngọn sóng nào chẳng phải là nước, há có được hay chăng? Cũng giống như huyễn sự, chẳng có khăn th́ chẳng có thỏ, ngựa, nhưng toàn thể cái khăn đă làm thỏ, ngựa. Bỏ thỏ, ngựa để t́m riêng Thể của cái khăn có được hay chăng? Nếu bảo thỏ, ngựa chính là khăn, lại có được hay chăng? Lại nói do thỏ, ngựa vốn chẳng có, vậy th́ khăn cũng là chẳng có, có được hay chăng?

Tâm và pháp chẳng một, chẳng khác cũng lại như thế, bèn nói là “tùy duyên bất biến”. Toàn thể của tâm đă làm y báo và chánh báo, làm danh sắc, làm phàm, thánh. Ngoài pháp y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm, thánh ra, t́m riêng tâm tánh chừng bằng chót đầu lông, há có được chăng? Trong các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm, thánh, nhận riêng tâm tánh chừng bằng chót đầu lông cũng há có được chăng? Chỉ các pháp chính là tâm, há có được chăng? Các pháp đều chẳng phải là tâm, cũng há có được chăng? Nói các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm, thánh vô lượng sai biệt, tâm cũng là vô lượng sai biệt, há có được chăng? Tâm chẳng sai biệt, các pháp cũng chẳng sai biệt, lại há có được chăng? Nói y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm thánh, các pháp sai biệt chẳng phải là cái tâm không sai biệt, cái tâm không sai biệt chẳng có đủ các pháp sai biệt, há có được chăng? Nói ngoài tâm thật sự có các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc, phàm, thánh, há có được chăng? Các pháp đều chẳng thật sự có, tâm cũng chẳng có, lại há có được chăng? Đấy đều là lư bất biến tùy duyên. Chính ngay trong lúc ĺa lỗi, dứt sai ấy, mà nói là tùy duyên bất biến.

Toàn thể của tâm tánh đă huyễn thành các pháp y báo, chánh báo, danh, sắc, thánh, phàm; ở trong ấy, tùy ư lấy một pháp, không ǵ chẳng vẫn là đại dụng của toàn thể tâm tánh. Như nêu ra nước là sóng, không một ngọn sóng nào chẳng phải là tánh ướt của nước. Nêu ra vàng làm thành đồ vật, không một món vật nào chẳng có tánh chất cứng cỏi, quư báu của vàng! Lại như nêu lên toàn thể của mặt trời, hễ ánh sáng chiếu qua một kẽ hở, không một kẽ hở nào chẳng thấy trọn toàn thể đại dụng của mặt trời. Do vậy nói rằng: Sự Sự vô ngại pháp giới vốn ở trong mọi chuyện sinh hoạt thường ngày của chúng ta. Pháp vốn sẵn như vậy, há cứ phải đề cao thánh cảnh, bảo phàm phu tuyệt chẳng có phần ư?

Nhưng cái t́nh kiến hư vọng nói “phàm phu tuyệt chẳng có phần” ấy cũng vẫn chẳng thể nghĩ bàn, cũng là đại dụng của toàn thể pháp giới, do nó chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng thuộc quá khứ, hiện tại, tương lai, chẳng thể nói là có, chẳng thể bảo là không! Như ngọn lửa do thiêu rác rưởi hay lửa do đốt chiên đàn cũng đều là lửa đốt trọn khắp đại địa. V́ thế biết t́nh kiến của phàm phu chính là cái Thể của trí huệ xuất thế, mà cũng chính là trí thể bất động căn bản của chư Phật. Nếu chẳng có t́nh kiến ấy, cũng chẳng có cái trí xuất thế, trí bất động. T́nh tức là trí thể, nghiệp chính là giải thoát, khổ chính là Pháp Thân, cũng c̣n ngờ chi nữa? Như nắm đấm chính là bàn tay, băng tức là nước, hoa đốm tức là hư không, rắn tức là dây thừng, dây thừng tức là gai. Liễu đạt như thế th́ mới gọi là đạt tâm, cũng gọi là “thấu đạt hết thảy các pháp”, cũng gọi là vô đạt, vô bất đạt, cùng chiếu đạt và bất đạt. Đạt được như thế, sẽ có thể đặc biệt đứng vững ngàn đời, quyết chẳng bị hạn cuộc trong các toan tính trước mắt!

 

* Chỉ dạy Lưu Kim Độ

 

          Đối với ba loại người thượng phẩm thượng sanh, trước hết nói “từ tâm chẳng giết, đủ các giới hạnh” v́ giới là cương lănh chung của vạn hạnh, c̣n “từ tâm chẳng giết” lại là điều cần phải chú trọng trước tiên trong giới hạnh. Dùng đấy để phát trọn ba tâm, cơi nào mà chẳng tịnh ư? Ba tâm là:

- Trực tâm chánh niệm Chân Như gọi là chí thành tâm, hiển Pháp Thân đức.

- Thích tu tập hết thảy các công đức th́ gọi là thâm tâm, hiển Bát Nhă đức.

- Hoằng thệ vô tận, gọi là hồi hướng phát nguyện tâm, hiển giải thoát đức.

Giới cũng có ba loại là:

- Nhiếp luật nghi giới, không ác nào chẳng đoạn, tức thành tựu Pháp Thân.  

- Nhiếp thiện pháp giới, không điều thiện nào chẳng măn, tức thành tựu Bát Nhă.

- Nhiêu ích hữu t́nh giới, không chúng sanh nào chẳng độ, tức thành tựu giải thoát.

Từ cũng có ba:

- Sanh duyên từ, chẳng tạo duyên sát sanh. Quán hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ, anh em, lục thân, quyến thuộc của ta.

- Pháp duyên từ, chẳng tạo duyên cho cách giết. Quán hết thảy đất, nước đều là thân trước của ta, hết thảy gió, lửa, cũng là bản thể của ta.

- Vô duyên từ là duyên chẳng chấp ngă. Quán Phật tánh trong một niệm hiện tiền không đâu chẳng trọn khắp. Mười phương ba đời hữu t́nh vô t́nh có cùng một giác thể, chẳng hai, chẳng khác.

Niệm nào cũng tu ba ḷng Từ ấy, tức là thanh tịnh tam tụ. Tam tụ giới đă tịnh, ba tâm liền trọn đủ, thượng phẩm thượng sanh chẳng ngờ nữa! Hơn nữa, do ba tâm Quán Hạnh có thể sanh vào thượng phẩm Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ. Ba tâm Tương Tự sanh vào thượng phẩm Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ. Ba tâm Phần Chứng sanh vào thượng phẩm Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ. Ba tâm Cứu Cánh sanh vào thượng phẩm Tịch Quang Tịnh Độ. Ngài Vĩnh Gia nói “ai vô niệm? Ai vô sanh?” Như thật sự chẳng sanh, chẳng bất sanh, hăy nên không trụ vào đâu mà sanh cái tâm, hết thảy hiền thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt” của kinh Kim Cang, chính là nói về điều này vậy!

 

* Chỉ dạy Dĩnh Sanh

 

          Bài Lễ Quán Âm Văn của thiền sư Đại Huệ linh nghiệm nhất. Cái hay khéo ở chỗ hành tŕ miên mật, thường hằng. Nếu chẳng miên mật, chẳng thường hằng, dẫu bậc chí thánh cũng chẳng có cách nào “không cảm liền ứng” được! Phàm cách đảnh lễ th́ vào lúc đêm thanh tĩnh, trước hết, đối trước tượng [Bồ Tát], thắp hương cúng dường, chuyên ṛng tŕ thần chú Đại Bi dăm ba lượt để thanh tịnh đàn tràng. Kế đó, chắp tay đối trước tượng, đọc bài Tán Quán Âm Văn một lượt. Kế đó, chí thành đảnh lễ Thiên Thủ Thiên Nhăn Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát ba mươi hai lạy rồi quỳ tụng Quán Âm Văn để hồi hướng. Cứ hành như thế, đừng cho người khác biết. Suốt ba năm chẳng thiếu sót, nhất định sẽ có linh ứng. Tùy thuộc căn hạnh, ba phẩm Giới, Định, Huệ đă phát, mỗi mỗi đều có thượng, trung, hạ bất đồng. Hăy dựa theo tướng tu chứng của Pháp Hoa tam-muội được nói trong kinh tạng để tự tỉ mỉ phân định, xem xét, ngơ hầu chẳng đọa vào ma sự.

 

* Chỉ dạy Mă Hiểu Đô

 

          Đời suy đạo tàn do chẳng hiểu thánh học (Nho học). Chẳng hiểu thánh học là do bị công danh, lợi lộc mê hoặc cái chí, chẳng có bậc hào kiệt chấn hưng sự suy đồi ấy. Tôi sợ rằng hiếm khi chân mạch của Khổng - Nhan chẳng rơi xuống tận đất đen! Hào kiệt bất quá là người trong mỗi niệm đều vận dụng tự cư xử như thánh hiền, thấy người hiền mong được bằng, biết lỗi ắt sửa, nói ít, chăm làm, chuộng thẳng thắn, rộng lượng, đa văn, chuộng chừng mực, lễ nhạc, chuộng điều lành của người đạo đức, chuộng có nhiều bạn hiền, phát phẫn quên ăn, vui đến nỗi quên lo. Dụng tâm như thế mà chẳng cao dự bậc thánh, tôi chẳng tin! Phương tiện để thực hiện thẳng thừng, nhanh chóng th́ không ǵ bằng thấu hiểu cùng tận lương tri. Phàm đối với chuyện biết thiện, biết ác, ví như mắt biết sắc, mũi biết mùi hôi, không ǵ chẳng do học mà biết. Biết điều thiện mà chẳng thể như ưa thích sắc đẹp, biết điều ác mà chẳng thể như ghét thứ thối tha, không ǵ là do chẳng hiểu rơ tường tận lương tri mà ra! Đă có lương tri mà chẳng chịu thấu hiểu cùng tận, tức là dối gạt chính ḿnh. Dối gạt chính ḿnh tức là tự ruồng rẫy, tự vứt bỏ.

Nếu có thể như ghét thứ thối tha, như chuộng sắc đẹp để tự thấu hiểu tận cùng, tức là tự khiêm. Tự khiêm th́ ư không ǵ chẳng chân thành. Ư không ǵ chẳng thành, muốn chẳng gọi là bậc đại thánh đại hiền, sẽ chẳng thể được! Do vậy nói: “Dục thành kỳ ư, tiên trí kỳ tri” (muốn cho ư chân thành th́ trước hết nên hiểu biết [lương tri] đến tột cùng). Ai bảo là ngoài thấu hiểu cùng tận lương tri ra, có riêng một công phu để thành ư ư? Nhưng hiểu biết tột cùng lại do trừ khử vật dục. Do vậy, Vương Dương Minh nói: “Vi thiện, khử ác thị cách vật công phu” (làm lành, trừ ác chính là công phu để trừ khử vật dục). C̣n như ghét thứ thối tha, ưa chuộng sắc tốt đẹp, có thể nói là “cách vật nhi cách vật, cách vật nhi tri chí ư thành” (trừ khử vật dục để trừ khử đến cùng tột, trừ khử vật dục ḥng hiểu biết tột cùng để đạt tới tâm ư chân thành).

Xưa kia, Trương Tử Thiều chưa ngộ ư chỉ “cách vật”, được sư Đại Huệ khéo chỉ dạy bèn ngộ. Ấy là v́ tam giới nhân quả hết thảy duy tâm, ngoài tâm chẳng có vật, nên gọi là “vật cách”. Chẳng phải là ngài Đại Huệ chẳng thể khéo tạo phương tiện, phải nói loanh quanh gián tiếp, chẳng phải là Tử Thiều không thể ngộ ngón tay chỉ trăng. Nhanh chóng ngộ ư chỉ sâu xa, nếu hướng theo đó để lănh hội, ắt sẽ chẳng cô phụ sự đích thân phó chúc trong hội Linh Sơn, cũng như Khổng Tử trong thời Xuân Thu[108], Mạnh Tử trong thời Chiến Quốc, chẳng ắt phải kiếm được một vị vua sáng để hành cái đạo của chính ḿnh, nhưng thánh học muôn đời đă dứt lại được tiếp nối, há chẳng phải là chuyện thuộc bổn phận của bậc hào kiệt ư? Ai nấy đều có thể làm vua Nghiêu, đừng coi lời tôi nói là chuyện viễn vông nhé!

 

* Chỉ dạy Huyền Trước

 

          Phật tri Phật kiến chẳng có chi khác, một niệm hiện tiền tâm tánh của chúng sanh mà thôi. Một niệm hiện tiền tâm tánh vốn chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, chẳng thuộc vào ba đời, chẳng do bốn câu[109] mà có thể được! Chỉ v́ chẳng chịu suy xét, quán sát kỹ càng, hư vọng ngỡ duyên ảnh của sáu trần là tâm tướng của chính ḿnh, liền trở thành tri kiến của chúng sanh. Nếu quán cặn kẽ tri kiến chúng sanh ấy vẫn chẳng ở các chỗ trong, ngoài, trung gian, chẳng thuộc vào ba đời, chẳng rơi vào bốn câu, th́ bản thể của tri kiến chúng sanh vốn là Phật tri Phật kiến. Nếu chẳng thể tin nhập ngay lập tức, cũng đừng nên có nghi t́nh ǵ khác, lại cũng đừng ắt phải lầm lạc gánh vác, chỉ thâm tâm tŕ giới, niệm Phật. Nếu thật sự tŕ thanh tịnh, niệm thân thiết, tự nhiên sẽ thẳng thừng tin được. Đó gọi là dùng phương tiện lạ để giúp hiển lộ Đệ Nhất Nghĩa. Gậy đập đầu người đá, bôm bốp luận Phật sự. Nếu cứ đàm luận suông, có nước miếng của hồ ly[110] các phương tại đó, đấy chẳng phải là điều tôi biết được!

Kệ rằng: “Chúng sanh tri kiến, Phật tri kiến. Như nước đóng băng, băng lại tan. Gió Xuân giới lực, Phật nhật rạng. Hoàng hà sóng vỗ rền hai bờ. Đừng si cuồng hướng ngoại để cầu. Ngộ triệt vẫn là kẻ chấp trước”.

 

* Chỉ dạy Nhĩ Tiên

 

          Người có ḷng nhân th́ trước khó khăn rồi sau mới có thâu hoạch. Phàm muốn tỏa rạng đức sáng trong thiên hạ, trước hết phải trừ khử vật dục. Trừ khử vật dục chẳng phải là chuyện khó khăn nhất ư? Đấy chính là điều ngài Đại Huệ dạy Tử Thiều: “Chỉ biết ‘cách vật’ mà chẳng biết vật cách”[111]. Ngài nêu ra chuyện chém tượng rơi đầu[112], Tử Thiều bèn ngộ. Ôi! Cổ nhân chỉ biết cách vật khó khăn, chẳng biết chỗ dễ dàng trong vật cách. Người hiện thời chỉ biết chỗ dễ dàng trong vật cách, chẳng biết chỗ khó khăn của vật cách! Xin lại dùng một sự để chứng tỏ. Chùa Vĩnh Khánh ở Cao Đ́nh có một vị hóa chủ là Minh Triệt, qua một cái am ở bờ biển, cùng với vị chủ am nằm cùng một giường. Chủ am mộng thấy giặc tới, hét to đánh giặc. Minh Triệt bị đánh, kinh hăi hô “giúp đánh”. Người gần bên nghe tiếng đến cứu, thấy hai người ai nấy hô đánh giặc, nắm chặt tay nhau chẳng bỏ. Trông thấy ánh lửa, bèn cười to mà nằm. Đó là cách vật hay vật cách? Người biết nghĩa này, sẽ biết điều ngài Đại Huệ chỉ điểm. Tử Thiều đắc ngộ là do đă vật cách rồi mới biết đến cùng tột, cho đến b́nh thiên hạ cũng chẳng khó!

 

* Chỉ dạy Thanh Văn

 

          Trừ khử tập khí không ǵ bằng tam nghiệp hành Từ. Tam nghiệp hành Từ chính là chẳng có mười lỗi. Mười lỗi đă trừ, mười thiện sẽ có, cái gốc của ngũ thừa được kiến lập. Sau đấy, dùng Thật Tướng để ấn, pháp nào cũng đều quy vào Phật đạo. Xưa kia đă có người hành, tức là Thường Bất Khinh Bồ Tát. Thoạt đầu là Tùy Hỷ phẩm[113], liền thanh tịnh sáu căn, đâu cần phải chờ đến tụng, nói, th́ mới gọi là “thâm quán”! Nếu có thể thật sự dùng Từ làm tu nghiệp, sẽ tự có thể khéo nhập Phật huệ. Nếu không, học vấn càng nhiều, ngă mạn càng lừng, tập khí càng tăng trưởng, cách đạo càng xa, chỉ tăng thêm đa văn, tăng trưởng ngă kiến, đáng sợ thay!

 

* Chỉ dạy Tùng Thạch

 

          Nếu Phật chủng là có, cần ǵ phải nhọc công từ duyên mới khởi? Nếu vốn chẳng có, duyên sao lại có thể khởi? Nếu bảo là “cũng có, cũng không”, há chẳng trái nghịch? Nếu bảo “chẳng phải có, chẳng phải không”, trọn thành hư luận! Giả sử ĺa khỏi bốn câu, lại rơi vào câu thứ năm là “chẳng thể nói”. “Tác ma sanh” (như thế nào)[114] là cơ duyên nhập đạo? Chẳng thấy đạo th́ như thế ấy cũng chẳng được! Chẳng như thế ấy cũng chẳng được! Như thế ấy, chẳng như thế ấy đều chẳng thể được! Tuy là như thế, chớ nên một mực [chấp trước]. Nếu biết câu “chẳng thể nói” là sai, sẽ biết: Do có nhân duyên, nên cũng có thể nói, bảo là Có cũng được, như [nói] trong gương có tánh của h́nh bóng. [Bảo là] Vô cũng được, v́ trong gương vốn chẳng có h́nh bóng. [Nói là] “cũng Hữu, cũng Vô” cũng được, v́ gương và h́nh bóng hễ duyên đưa tới bèn hiện, duyên ĺa bèn không. Bảo là “chẳng Hữu, chẳng Vô” cũng được, v́ h́nh bóng trong gương tuy hiện ra, nhưng chẳng thật, tuy Vô mà có thể hiện. Biết Phật chủng ĺa trọn bốn câu, nhưng chiếu trọn bốn câu, từ chỗ duyên khởi, chẳng biện định minh bạch. Xưa kia, có người siêng năng đọc ba ngàn bộ [Pháp Hoa], về sau, được một câu của ngài Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng) [chỉ điểm], bèn có công hiệu quên bẵng: Khi mê bị Pháp Hoa chuyển, lúc ngộ bèn là cái duyên chuyển Pháp Hoa. Nếu trừ được nỗi mê muội bám chặt văn tự để hiểu nghĩa, rồi lại ĺa văn tự để riêng cầu giải thoát, th́ là mê thêm một tầng nữa!

 

* Chỉ dạy Thương Mục

 

          Trong biển cả nhị tử (Biến Dịch và Phần Đoạn), Giới là bánh lái. Muốn thọ giới phẩm, càng phải lấy phát Bồ Đề tâm làm gốc. Bởi lẽ, Bồ Đề tâm chính là bản thể của giới xuất thế. Luật nghi Đại hay Tiểu Thừa chính là tướng của Bồ Đề tâm. Phát tâm xuất sanh tử, hàng phục ái kiến, chính là cái Thể của giới Thanh Văn. Phát tâm thượng cầu, hạ hóa, tự điều phục ḿnh, điều phục người khác, chính là cái Thể của giới Đại Thừa. Phát tâm phổ độ b́nh đẳng “chúng sanh và Phật có cùng một Thể” th́ chính là cái Thể của giới tối thượng thừa. Đă phát tâm rồi bèn chuyên ṛng thủ hộ giới, dẫu điều vi tế cũng chẳng thiếu sót, th́ chính là chánh hạnh tam thừa. Tŕ giới mà chẳng phát tâm, chỉ đạt được lạc quả thế gian. Phát tâm mà chẳng tŕ giới, khó tránh khỏi ṿng khổ trong tam đồ! V́ thế, cần phải gốc lẫn ngọn cùng nêu, đầu lẫn đuôi nhất trí th́ mới có thể bảo đảm sự giải thoát, gọi là Ba La Đề Mộc Xoa. Nếu không, có mắt mà thiếu chân, hoặc có chân nhưng thiếu mắt, sao có thể nhanh chóng đến được ao thanh lương vậy thay!

 

* Chỉ dạy Thính Nguyệt

 

          Đạo học vấn chỉ là cầu sao thâu hồi cái tâm phóng dật. Tâm là vật như thế nào? Người cầu là ai? T́m tâm trọn chẳng thể được! Tổ bèn hứa khả “ta đă an cái tâm cho ông rồi đó”. Nếu tâm là cái có thể suy t́m, đức Phật quở: “Đấy chẳng phải là cái tâm của ông!” Tông, Giáo, Nho và Thích, là một hay là khác, là đồng hay biệt? Đối với điều ấy mà nh́n thấu hiểu, sẽ vừa khéo là đại nhân bậc thượng đang học dưới ṭa của sơn tăng. Nếu chẳng phải vậy, chẳng khỏi phải cước chú thêm. Trung Luận có bài kệ rằng: “Chư pháp bất tự sanh, diệc bất tùng tha sanh, bất cộng, bất vô nhân. Thị cố tri vô sanh” (các pháp chẳng tự sanh, chẳng từ cái khác sanh, chẳng chung, chẳng không nhân. V́ thế, biết vô sanh). “Chư pháp” nói rộng ra là bách giới thiên như; nói đại lược th́ Phật pháp, chúng sanh pháp, và tâm pháp. Tuy tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt, nhưng Phật pháp quá cao, chúng sanh pháp quá rộng, kẻ sơ cơ quán tâm sẽ dễ hơn, chỉ quán kỹ một niệm hiện tiền nhỏ nhoi. Nếu tự sanh, sao phải nhờ vào cảnh? Nếu là do cái khác sanh ra, liên quan ǵ đến chính ḿnh? Mỗi đằng đă chẳng sanh, há có chuyện hợp chung [tự và tha] lại? Hợp chung c̣n chẳng được, ĺa [tự và tha] sao có thể sanh? Suy xét cặn kẽ, tướng sanh của tâm há tồn tại? Tâm đă vô sanh, há chẳng phải là “t́m chẳng thể được!” Tâm chẳng thể được, há có thể gọi nó là vật ǵ? Tâm đă chẳng phải là vật để cầu, há có người ư? Không vật, không người, sao nhận lấy, sao buông bỏ? Khắp đại địa chỉ là chính ḿnh. Ngoài tâm chẳng có pháp nào khác, mới biết “vạn vật đều trọn đủ nơi ta”. Mười phương hư không đều tiêu mất, đều là bất đắc dĩ mà có nói năng, dẫu nói vẫn chẳng thể cùng tận!

 

* Chỉ dạy Tự Thiên

 

          Thật sự v́ sanh tử, cố nhiên là chẳng được xa ĺa thầy, bạn, hư vọng nghe theo ư kiến của riêng ḿnh, cũng đừng chỉ cậy vào sự kèm cặp [của thầy bạn, chính ḿnh] chẳng rèn luyện sâu xa! Ắt phải có chí hướng và sức mạnh của Thiện Tài th́ mới có thể đạt được lợi ích từ nơi các vị tri thức thuộc trăm thành. Có sự kiên cố dũng mănh của ngài Thường Đề (Sadāprarudita, Tát Đà Ba Luân Bồ Tát) th́ mới có thể tiếp nhận kinh của Pháp Thượng Bồ Tát (Dharmodgata, Đàm Vô Kiệt). Nếu chẳng có phương tiện vượt ngoài ngằn mé lỗi lạc, chỉ muốn như dây leo dựa dẫm cội tùng, như nhặng bám trên ngựa kư[115], vào thời Chánh Pháp th́ chắc là c̣n có thể được việc, chứ sanh nhằm mạt vận, hiếm ai chẳng luống uổng một đời! Huống hồ dây leo có thể nương cội tùng, cội tùng chẳng thể chăm nom dây leo, ngựa kư chẳng thể ngừng lại đợi nhặng. Suy đi nghĩ lại sâu xa, sao bằng nỗ lực để chẳng phụ bạc cái tâm v́ sanh tử này! Nếu cứ cho rằng [chính ḿnh] sức yếu rồi khiếp đảm, chẳng kham đạt tới sâu xa, lại nghe một bài kệ nhé: “Đêm ngày Di Đà mười vạn tiếng, suốt đời đừng khởi tưởng Tông, Giáo, tâm gởi thẳng về cơi Cực Lạc. Ao báu, búp sen lập tức x̣e, mặc ai cười ta là kẻ ngu, hành một thước hơn nói một trượng, năm nào gặp được thuyền nguyện vương, Thiện Tài, Thường Đề cùng vỗ tay”.

 

* Chỉ dạy Nhật Duy

 

          Pháp thế gian và xuất thế gian đều là Giải và Hạnh cùng tu, Giải như những ô cờ trong bàn cờ vây (奕棋, dịch kỳ), Hạnh như con cờ vây. Có con cờ mà chẳng có ô cờ [để di chuyển], rơ ràng là nước cờ nào cũng đều chẳng di chuyển được! Có ô cờ mà không có con cờ, hoặc gọi bàn cờ thành ô cờ có được hay không? Khổng Tử nói: “Ngô đạo nhất dĩ quán chi” (Ta dùng một nguyên tắc cơ bản để xuyên suốt toàn thể đạo của ta)[116]. Tăng Tử thưa: “Vâng ạ”. Đấy đều là nói theo thế cờ linh hoạt. Hai chữ Trung Thứ (忠恕, trung hậu và khoan dung) của Tăng Tử là trong một cuộc cờ, chỉ điểm một nước cờ cao siêu để di chuyển. Kim Cang Bát Nhă đă chỉ một thế cờ linh hoạt như sau: “Ưng như thị trụ, như thị hàng phục kỳ tâm. Dụy nhiên, Thế Tôn” (hăy nên trụ như thế, hàng phục cái tâm như thế. Thưa đức Thế Tôn, vâng ạ). Lại c̣n chỉ điểm một nước cờ cao siêu trong thế cờ linh hoạt, một là nói: “Hữu tŕ giới, tu phước giả, ư thử chương cú, năng sanh tín tâm” (có người tŕ giới, tu phước, có thể sanh tín tâm đối với chương cú này). Một đoạn khác nói: “Dĩ vô ngă nhân chúng sanh thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp” (dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy các thiện pháp). Đấy chính là phương tiện để thực hiện ư chỉ Trung Thứ nơi cái tâm công chánh ấy, ngơ hầu học Bát Nhă. Hăy nên biết: Năm Độ như con cờ, Bát Nhă như ô cờ [để di chuyển]. Có năm Độ mà chẳng có Bát Nhă, [tức là] khoan dung mà chẳng trung hậu, thế cờ chết cứng! Lầm nhận Bát Nhă, bỏ ngũ độ, sẽ là chẳng trung hậu, chẳng khoan dung, phá hoại cái tâm công chánh, chẳng có chỗ để thực hiện, sao có thể hỏi tới trí nhăn Bát Nhă ư?

 

* Chỉ dạy Khai Nhất

 

          Nho nói: “Ngô đạo dĩ nhất quán chi” (Ta dùng một nguyên tắc cơ bản để xuyên suốt toàn thể đạo của ta). Lại nói: “Chấp nhất tặc đạo, cử nhất phế bách” (chấp trước một phía th́ sẽ hại đạo, nêu ra một mà phế cả trăm điều). Nội điển (kinh Phật) nói: “Đạt đắc nhất, vạn sự tất” (đạt được một điều, vạn sự đều hoàn tất). Lại nói: “Thị nhất phi dư, thị vi ma nghiệp!” (chỉ là một không có điều chi khác, đấy là ma nghiệp). Than ôi! “Nhất” há có phải là pháp nhất định ư? Do một mắt lưới mà bắt được chim, đừng chấp mắt lưới ấy rồi bỏ các mắt lưới khác! Thắng ván cờ do một nước đi, đừng chấp nước cờ ấy mà vứt bỏ các nước cờ khác. Hết thảy các pháp không ǵ mầu nhiệm bằng Pháp Hoa, nhưng Pháp Hoa có thể khiến hết thảy các pháp đều diệu, chẳng thể ĺa hết thảy các pháp mà có cái diệu riêng ḿnh được! Hết thảy các pháp không ǵ bằng Bát Nhă, nhưng Bát Nhă có thể bằng với hết thảy các pháp, chẳng ĺa hết thảy các pháp mà riêng chẳng sánh bằng được! Đời Mạt chỉ toan hất lỗ mũi lên trời, chẳng đoái hoài đặt vững gót chân trên mặt đất, chỉ thích thuyết diệu đàm huyền, đề cao lẽ hướng thượng, hoàn toàn chẳng có sự chân thật thực hành công phu của kẻ học bậc hạ. Nói th́ cao vượt Phật, Tổ, hạnh c̣n thua phàm ngu! Đă chẳng biết v́ Thật mà thực hiện Quyền, Quyền là Quyền nơi Thật. Lại nào có biết khai Quyền hiển Thật, Thật là Thật nơi Quyền. Pháp hữu hăy suy xét lẽ này: Hướng tới chỗ Nhất Thật, rộng mở tam học, vạn hạnh, tuy mở rộng thật đấy, nhưng chẳng có một điều nào là thật cả!       

Linh Phong Tông Luận phần 2 hết



[1] Đây là năm Sùng Trinh thứ 15 (1642), nhà Minh đang trên bờ diệt vong, triều chánh hủ bại. Ngoài biên ải th́ quân Thanh xâm lấn, vua lại nghe lời xu nịnh, sát hại trung thần trấn giữ biên cương như Viên Sùng Hoán, Hùng Văn Xán… Lại trọng dụng thái giám khiến họ thừa cơ lũng đoạn triều chánh, thuế má nặng nề, nạn đói xảy ra khắp nơi trong nước. Lại c̣n có các loạn quân Trương Hiến Trung, Lư Tự Thành, Cao Nghênh Tường, Vương Nhị v.v… Vua liên tục tăng thuế, nhất định không chịu xuất tiền từ kho riêng của chính ḿnh để bù đắp cho công quỹ gần như trống rỗng. Từ tháng Hai cho đến tháng Năm năm ấy, các đại tướng Hồng Thừa Trù, Tổ Đại Thọ lần lượt đầu hàng quân Thanh. Tháng Chín năm ấy, loạn quân Lư Tự Thành chiếm Hoa Bắc. Đến năm 1644, Lư Tự Thành chiếm Bắc Kinh, vua Sùng Trinh treo cổ tự tử tại Môi Sơn, nhà Minh diệt vong.

[2] Đạo phủ (道府) là người đứng đầu một Đạo. Đạo là đơn vị hành chánh. Thoạt đầu, Đạo là đơn vị hành chánh tương đương cấp huyện, phần Địa Lư Chí của Hán Thư giải thích: “[Huyện] có dân man di gọi là Đạo”. Đến đời Đường, trong năm Trinh Quán nguyên niên (627), Đường Thái Tông chia cả nước thành mười Đạo. Mỗi Đạo lại chia thành nhiều châu và huyện. Sau đó, dần dần có nhiều Đạo hơn. Đến cuối đời Đường, Đạo là danh xưng để gọi một khu vực quản hạt của một Tiết Độ Sứ. Theo Lư Cát Phủ, cả nước vào thời đó chia thành bốn mươi bảy Đạo. Mỗi Đạo là khu vực quản trị của một Tiết Độ Sứ hoặc Quan Sát Sứ. Tới đời Liêu, toàn quốc chỉ có năm Đạo, trung tâm hành chính gọi là Kinh (). Mỗi Đạo chia thành phủ, châu, quận, thành. Đến đời Nguyên, triều đ́nh chia cả nước thành nhiều hành tỉnh, mỗi hành tỉnh chia thành nhiều đạo. Mỗi đạo chia thành nhiều Lộ. Đến đời Minh - Thanh, tỉnh (tức là hành tỉnh, tương đương với Lộ) là cấp hành chánh cao nhất, kế đó là đạo, phủ và huyện.

[3] Tể phụ (宰輔) là từ ngữ chỉ các vị phụ chánh đại thần, thường dùng để chỉ tể tướng. Về sau, thường được dùng để chỉ chung các vị quan lớn cao cấp.

[4] Thiều Khê (苕溪) là một trong tám con sông lớn ở tỉnh Chiết Giang, c̣n có tên là Tráp Khê, hay Tráp Xuyên. Sông bắt nguồn từ núi Thiên Mục đổ vào Thái Hồ, nằm trong lưu vực của Trường Giang, chảy qua các huyện Dư Hàng, Đức Thanh, An Cát, Trường Hương, và thành phố Hồ Châu.

[5] Tứ lưu (c̣n gọi là tứ bộc hà) nhằm chỉ Hoặc nghiệp như con sông lớn chảy xiết, cuốn chúng sanh trầm luân măi trong sanh tử. Tứ lưu gồm:

1) Kiến lưu tức Kiến Hoặc trong tam giới.

2) Dục lưu tức Tư Hoặc trong tam giới, do ngũ căn tham ái ngũ trần, nên gọi là Tư Hoặc.

3) Hữu lưu, hàm nghĩa nhân quả chẳng mất, tức là Tư Hoặc trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới.

4) Vô minh lưu tức Si Hoặc trong tam giới.

[6] Nguyên văn “tam tả ô yên” (三寫烏焉) chỉ sự sao chép sai lạc, do người chép lại, hoặc khắc in, nếu không cẩn thận, sẽ chép chữ nọ xọ chữ kia, giống như chữ Ô () nếu không chú ư sẽ viết sai thành chữ Yên ().

[7] Nguyên văn “âu ḥa” (漚和), đây là phiên âm của chữ Upāya (phương tiện).

[8] Đạo dung (道容): Bậc đạo đức, khoan dung.

[9] Đại Hành Hoàng Đế (大行皇帝) là danh xưng tôn trọng để gọi vị hoàng đế đă qua đời trước khi triều đ́nh xác lập thụy hiệu và miếu hiệu. Chữ Đại Hành cũng có thể áp dụng cho thái thượng hoàng, thái hoàng thái hậu, hoàng thái hậu, thái hậu và hoàng hậu. Riêng tại Đại Hàn thời cổ th́ dùng chữ Tiên Hành Điện Hạ, chứ không gọi là Đại Hành Hoàng Đế. Trong lịch sử, vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) của Việt Nam không phải là miếu hiệu, mà là do sau khi hoàng đế mất, Lê Long Đĩnh (Lê Ngọa Triều) cho đến khi mất vẫn không nghĩ đến chuyện đặt thụy hiệu miếu hiệu cho vua cha, cho nên sử gia đành phải gọi Lê Hoàn là Lê Đại Hành. Ở đây, đại hành hoàng đế chính là nói về vua Sùng Trinh. Khi Lư Tự Thành chiếm được Bắc Kinh và quân Thanh đang ồ ạt kéo vào quan ải, Sùng Trinh đă thắt cổ tự tử tại Môi Sơn vào ngày 25 tháng 04 năm 1644. Măi về sau, em họ của nhà vua là Châu Do Tung (Nam Minh Hoằng Quang Đế) đặt miếu hiệu cho ông là Minh Tư Tông, c̣n nhà Thanh đặt miếu hiệu cho ông là Hoài Tông Trang Liệt hoàng đế.

[10] Xin xem bộ Lược Giảng Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo của pháp sư Mộng Tham, trong ấy có giảng giải chi tiết về cách chiêm nghiệm mộc luân tướng trong pháp Chiêm Sát.

[11] Nhị giác: Tự giác và giác tha.

[12] Kỳ chủ: Người đứng ra tổ chức và chủ tŕ một khóa tu hành.

[13] Thập Trọng tức là mười giới trọng trong bốn mươi tám giới Bồ Tát (theo kinh Phạm Vơng), tức giết, trộm, dâm, dối, buôn bán rượu, nói lỗi của tứ chúng, tự khen ḿnh chê bai người khác, do keo tiếc mà hủy phạm, sân tâm chẳng tiếp nhận sám hối (tức là dẫu người khiến cho ḿnh sân hận đă xin sám hối, xin lỗi, vẫn không nguôi giận), hủy báng Tam Bảo.

[14] Tức lễ kinh Tam Kiếp Tam Thiên Phật Danh. Kinh nói về danh hiệu của các vị Phật trong ba đại kiếp: Trang Nghiêm, Hiền và Tinh Tú, mỗi đại kiếp có một ngàn vị Phật. Thật ra kinh này là do ba kinh ghép lại (Quá Khứ Trang Nghiêm Kiếp Thiên Phật Danh Kinh, Hiện Tại Hiền Kiếp Thiên Phật Danh Kinh, và Vị Lai Tinh Tú Kiếp Thiên Phật Danh Kinh).

[15] Cửu hoạnh (九橫) là chín thứ nhân duyên khiến cho người chưa hết thọ mạng mà đă chết bất ngờ, có hai cách hiểu:

1) Một là chết ngang v́ chẳng đáng ăn mà cứ ăn. Hai là ăn quá mức, không biết tiết chế. Ba là ăn thứ không quen thuộc khiến cho cơ thể sanh bệnh, hoặc ăn không đúng thời, đúng cách. Bốn là ăn xong không tiêu hóa được. Năm là ăn xong không tiểu tiện, đại tiện được. Sáu là do chẳng tŕ giới, phạm tội bị tử h́nh. Bảy là thân cận ác tri thức, kết giao với người khác, bạn ác mà bị liên lụy. Tám là [tỳ-kheo] vào trong làng không đúng thời, hành không đúng pháp (chẳng hạn như cứ tự tiện xông vào nơi cấm kỵ, bị dân chúng tức giận giết chết, hay đánh đập đến nỗi ôm bệnh mà chết). Chín là có thể trốn tránh mà chẳng trốn tránh, như gặp ác thú, chó dại, kẻ say, lửa nước, chiến loạn v.v… cứ kiên quyết không chịu tránh né (chín nhân duyên này được nói trong kinh Cửu Hoạnh và kinh Phật Y).

2) Một là bị bệnh không được chữa trị. Hai là bị pháp vua tru lục. Ba là bị phi nhân đoạt mất tinh khí, tức là đắm đuối chơi bời, nhậu nhẹt đến nỗi bị phi nhân đoạt mất tinh khí. Bốn là bị hỏa tai. Năm là mắc thủy tai. Sáu là bị ác thú ăn thịt. Bảy là té xuống vách núi. Tám là trúng thuốc độc hoặc nguyền rủa. Chín là ăn uống bị mắc nghẹn (theo kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức).

[16] Đây là hai thành ngữ:

1. “Uổng xích trực tầm” có nghĩa gốc là bẻ cong một thước để khi duỗi ra có thể dài một tầm (một trượng tám thước), dùng tỷ dụ hy sinh một bộ phận nhỏ để thu hoạch được điều lớn lao hơn. Nhưng Tổ dùng thành ngữ này ở đây với hàm ư tự trách, Ngài cứ lo tiếp độ đồ chúng ngỡ là hy sinh chính ḿnh để độ người, nhưng cuối cùng xôi hỏng bỏng không, đạo nghiệp chẳng viên thành, đồ chúng cũng chẳng phát khởi trí huệ, chẳng thành tựu pháp khí.

2. Gánh gai bỏ vàng (đảm ma khí kim) là một thí dụ được nói trong kinh Bệ Duật (Pāyāsi) của Trung A Hàm. Theo đó, có hai người bạn cùng ra ngoài kiếm sống. Đi trên đường thấy có sợi gai bỏ đó, hai người gánh đi. Trên đường đi, lại thấy có bạc vứt đó, một người bỏ gai gánh bạc, người kia vẫn cứ cương quyết gánh sợi gai. Không lâu sau lại thấy vàng, người gánh bạc bèn bỏ bạc chọn vàng, người kia vẫn kiên quyết gánh sợi gai! Đức Phật dùng thí dụ này để dạy người trí huệ phải biết chọn pháp thù thắng.

[17] Ngũ hối (五悔): Thiên Thai Trí Giả đại sư v́ người tu Pháp Hoa tam-muội, lập ra năm phần của pháp tu sám hối là sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng, và phát nguyện.

[18] Tam nhẫn có nhiều cách hiểu:

1) Đệ nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn như trong phần bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật được nói trong kinh Vô Lượng Thọ.

2) Âm hưởng nhẫn (do nghe âm thanh mà ngộ giải chân lư), nhu thuận nhẫn (huệ tâm nhu nhuyễn, có thể tùy thuận chân lư), vô sanh pháp nhẫn (chứng thật tánh vô sanh, ĺa các tướng).

3) Ba loại nhẫn do Thiện Đạo đại sư đề xướng: Hỷ nhẫn (do nghe danh hiệu A Di Đà Phật mà sanh ḷng hoan hỷ), ngộ nhẫn (do niệm Phật Di Đà mà ngộ giải chân lư), và tín nhẫn (do niệm Phật Di Đà mà trụ trong chánh tín).

4) Ba thứ Nhẫn thuộc về Nhẫn Nhục Ba La Mật: Nại oán hại nhẫn (có thể nhẫn trước sự hăm hại của kẻ oán địch), an thọ khổ nhẫn (an vui chịu đựng các khổ năo do nóng, lạnh, đói, khát v.v…), đế thật pháp nhẫn tức vô sanh pháp nhẫn.

Khi nói tới Tam Nhẫn, đa số kinh luận nói theo cách hiểu thứ hai.

[19] Ư nói: Đă chú giải các kinh Phạm Vơng và kinh Lăng Nghiêm, nhưng những ǵ Ngài chú giải chỉ như một tia sáng soi qua kẽ hở, không thể nào nêu tỏ trọn hết pháp nghĩa u huyền.

[20] Tam luân thí hóa: Dùng thân, khẩu, ư để giáo hóa chúng sanh.

[21] Quyết trạch: Suy xét để chọn lựa dứt khoát, dùng vô lậu thánh trí để giải quyết các điều nghi. Nói theo nghĩa hẹp th́ dùng trí huệ, nương theo chánh pháp, chánh lư để quyết đoán các điều nghi.

[22] Âm lịch chỉ có mười hai con giáp, không có con lừa trong số đó. “Năm con lừa” tức là không bao giờ xảy ra, không bao giờ đạt được. Ư Tlà: Nếu hiểu lầm “công phu thành phiến” là chỉ lo tạ tuyệt mọi việc, không màng đến ai, cứ lặng thinh tĩnh tọa trên bồ đoàn, sẽ chẳng bao giờ đạt được công phu thành phiến.

[23] Khắc kỷ phục lễ là một thành ngữ xuất phát từ thiên Nhan Uyên trong sách Luận Ngữ, hàm ư “khắc chế ḷng ham muốn, tham lam của chính ḿnh, hành vi cư xử đúng theo lễ tiết”.

[24] Vào năm Nguyên Thỉ nguyên niên (tức năm thứ năm Công nguyên), Hán B́nh Đế tặng thụy hiệu cho Khổng Tử là Bao Thành Tuyên Ni Công. Trước đó, vua đă ban Bao Thành gồm tám trăm hộ làm thực ấp cho Khổng Bá (hậu duệ của Khổng Tử), phong Khổng Bá làm Bao Thành Quân. Các đời sau tôn Khổng Tử là thánh nhân, nên thường gọi Khổng Tử là Tuyên Thánh, cũng như khi dâng tôn hiệu đều có chữ Tuyên. Chẳng hạn Tống Chân Tông dâng tôn hiệu là Huyền Thánh Văn Tuyên Vương, Nguyên Thành Tông dâng tôn hiệu là Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương…

[25] Chó rơm (芻狗, sô cẩu): Thời cổ, do không thể lo liệu tam sanh (lợn, ḅ, dê) nguyên con để cúng tế theo đúng lễ, người ta dùng chó để thay thế. Dần dần, thay v́ dùng chó thật, người ta dùng chó bện bằng rơm hay cổ để cúng tế tổ tiên, c̣n các thức ăn th́ tùy theo khả năng mà sắm sửa thịt các con vật khác, không nhất thiết phải cúng nguyên con. Chó bện bằng rơm dùng cúng xong th́ vứt đi, nên “sô cẩu” thường dùng để chỉ vật bị coi thường, vô dụng. Lăo Tử có nói: “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tánh vi sô cẩu” (trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm. Thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm).

[26] Đây là dụng ngữ nhà Thiền nhằm diễn tả chân tánh tỏ lộ sau khi mọi trần phược đă buông xuống.

[27] Đây là một câu diễn giải chữ Minh Đức trong sách Đại Học Chương Cú của Châu Hy: “Minh đức giả, nhân chi sở đắc hồ thiên, nhi hư linh bất muội, dĩ cụ chúng lư nhi ứng vạn sự giả dă” (Minh đức là cái mà con người được nhận lănh từ trời, nhưng nó rỗng rang, linh diệu, chẳng tối tăm, trọn đủ các lư để ứng với vạn sự). Tử Dương chính là biệt hiệu của Châu Hy.

[28] Tông thừa (宗乘) có nghĩa là nghĩa lư và giáo điển được đề cao trong một tông. Trong phần lớn các trường hợp, từ ngữ này được dùng để chỉ các nghĩa lư trọng yếu trong nhà Thiền.

[29] Đây là một công án của nhà Thiền được chép trong quyển thứ sáu của Ngũ Đăng Hội Nguyên. Theo đó, xưa kia có một bà lăo cúng dường một vị am chủ suốt hai mươi năm. Bà thường sai đứa con gái mười sáu tuổi đến đưa cơm. Một hôm, bà bảo con gái ôm chặt vị am chủ, hỏi: “Ngay trong lúc ấy là như thế nào?” Am chủ nói: “Cây khô tựa vào vách đá lạnh, ba mùa Đông chẳng có hơi ấm”. Đứa con về thuật lại với mẹ. Bà lăo nói: “Ta hai mươi năm chỉ cúng dường một gă thô tục”, liền đuổi am chủ đi, đốt cái am ấy.

[30] Khí hạo nhiên là một khái niệm do Mạnh Tử đề ra, nhằm diễn tả ư niệm: “Tinh thần khoát đạt, rộng dung, cương nghị, chánh trực”.

[31] Một viện trong tùng lâm lớn chuyên nghiên cứu, dạy dỗ hành tŕ luật.

[32] Tức sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm do ngài Kinh Khê Trạm Nhiên soạn để chú giải sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa của tổ Trí Giả. Sở dĩ gọi là Thích Thiêm là do các môn nhân dùng những cái thẻ ghi lại những nghi vấn đối với giáo nghĩa trong sách Huyền Nghĩa để thưa hỏi. Ngài tập hợp những ư nghĩa giải đáp ấy, biên soạn thành tác phẩm này.

[33] Tức sách Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết cũng do ngài Kinh Khê Trạm Nhiên soạn nhằm chú giải bộ Ma Ha Chỉ Quán.

[34] Tức là hai bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao và Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Đàm do ngài Thanh Lương Trừng Quán soạn.

[35] Sách Tướng Tông Bát Yếu do ngài Tuyết Lăng Hồng Ân biên soạn vào đời Minh, thâu thập những điểm trọng yếu trong tám tác phẩm trọng yếu của Pháp Tướng Tông là Bách Pháp Minh Môn Luận của ngài Thế Thân, Duy Thức Tam Thập Luận của ngài Thế Thân, Quán Sở Duyên Duyên Luận của ngài Trần Na, Lục Ly Hợp Thích Pháp Thức của ngài Trừng Quán, Quán Sở Duyên Duyên Luận Thích của ngài Hộ Pháp, Nhân Minh Nhập Chánh Lư Luận của ngài Thương Yết La Chủ, và Tam Chi Tỷ Lượng của ngài Huyền Trang. Bộ Tướng Tông Pháp Yếu này lại có sách chú giải là Tướng Tông Bát Yếu Giải (do ngài Minh Dục soạn) và Tướng Tông Bát Yếu Trực Giải (do tổ Ngẫu Ích soạn).

[36] Sở () là một nước chư hầu của nhà Châu thời Xuân Thu. Do đất phong của thủy tổ nước Sở (Dục Hùng,鬻熊, tức Quư Liên) là đất Kinh thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay, nên các tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam thường được gọi chung là đất Sở hoặc Kinh Sở (). So với Trung Nguyên (lưu vực giữa Hoàng Hà và Trường Giang) th́ đất Sở thuộc về phương Nam.

[37] Ư nói khư khư chấp trước văn tự chú giải, luận sớ của cổ nhân, hoặc chỉ dụng công t́m đọc, nghiên cứu văn tự của cổ nhân, chẳng thật tu, thật ngộ.

[38] Thời gian là giả pháp, giả lập thành quá khứ, hiện tại, và vị lai. Trong mỗi giai đoạn ấy, lại đều có ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại, nên ba nhân ba thành chín, cộng với sát-na trong hiện tại thành thập thế.

[39] Cơ phong (機鋒) là thuật ngữ Thiền Tông chuyên chỉ một loại đối thoại chứa đựng ư nghĩa sâu sắc do các Thiền sư thường dùng để giáo hóa người học, đánh tan mê t́nh, khiến cho người học đốn ngộ. Do những lời đối đáp ấy tương ứng căn cơ, sắc bén, nên gọi là cơ phong (tuy đối với người ngoài cuộc th́ dường như là những lời đối đáp vô nghĩa). Những lời cơ phong được chép lại, tạo thành sách, gọi là Công Án, nổi tiếng nhất là các bộ Bích Nham Lục và Vô Môn Quan. Công án nổi tiếng nhất là công án chữ Vô của ngài Triệu Châu: “Vị tăng hỏi: ‘Con chó có Phật tánh hay không?’ Triệu Châu nói: ‘Vô’. Hỏi: ‘Trên đến chư Phật, dưới đến trùng kiến đều có Phật tánh, v́ sao con chó lại không có?’ Sư đáp: - V́ nó có nghiệp thức’.

[40] Ư nói một vị tăng thâu nhận đồ chúng nhiều ngang ngửa với số lượng đệ tử của đức Phật thuở Ngài tại thế. Do vị tăng ấy chưa thành Phật, nên gọi là “vị Phật không có tướng hảo”.

[41] Quang ảnh môn đầu (bóng sáng chiếu trên cửa) là một thành ngữ trong nhà Thiền, xuất phát từ một câu nói của thiền sư Thiên Đồng Chánh Giác, nhằm chê trách chúng sanh chấp tướng, cầu pháp ngoài tâm, chuyên vận dụng tâm thức suy lường để lănh hội ư chỉ, rơi vào vọng tưởng, chấp trước, giống như khi thấy ánh trăng chiếu sáng rọi bóng xuống đất, phải biết nương theo ánh trăng để thấy được vầng trăng chân thật, nhưng lại ngược ngạo chấp vào chỗ ánh trăng rọi, chẳng thấy được mặt trăng.

[42] Vị Thiền: Thiền duyệt hoặc hỷ lạc khi tọa Thiền.

[43] Phạm tội do vô ư, không chú tâm giữ giới.

[44] Nguyên văn “bất cứ khúc lục mộc, lộng quỷ nhăn t́nh” (不據曲盝木。弄鬼眼睛), “khúc lục mộc” là một loại ghế dựa, được sử dụng trong nhà chùa, có chân chéo, chế bằng gỗ, c̣n gọi là hồ sàng, viên ỷ, giao ỷ, hoặc tham ỷ. Về sau “cứ khúc lục mộc” hoặc “tọa khúc lục mộc” được dùng trong Thiền lâm với ư nghĩa trụ tŕ một ngôi chùa hoặc một sơn môn. “Quỷ nhăn t́nh” (tṛng mắt quỷ) là tỷ dụ cho bất chánh kiến, hoặc kiến giải chẳng có mảy may giá trị. “Lộng quỷ nhăn t́nh” có nghĩa là nói những lời lẽ chẳng chánh kiến, hoặc lập ra dị thuyết.

[45] Nguyên văn “tiến thủ” (薦取), thường được giải thích là vận dụng chân tánh vốn sẵn có để thấu hiểu cảnh duyên ḥng thoát chướng.

[46] Thiền ḥa (禪和) c̣n gọi là Thiền Ḥa Tử, Thiền Ḥa Giả, là danh xưng để gọi người tham thiền. Chữ Ḥa được sử dụng với ư nghĩa người thân thiết.

[47] Nhuyễn noăn (軟暖) có nghĩa là mềm mại, ấm áp. Đây là từ ngữ chỉ tập khí mong cầu cuộc sống dễ dàng, không phải phấn đấu, thích hưởng thụ, không có chí cầu tiến, nỗ lực phấn đấu đoạn trừ các tập khí hư ngụy.

[48] Quyển vàng trục đỏ (黃卷赤軸, hoàng quyển xích trục) tức là kinh điển nhà Phật. Do từ thời Đường, kinh được chép trên một loại giấy đă ngâm qua một loại nhựa cây có màu vàng theo mệnh lệnh của triều đ́nh. Một là để biểu thị sự tôn kính, hai là để ngăn ngừa bọ giấy đục khoét. Trục đỏ là v́ thời trước kinh in trên một mảnh giấy dài, phải gắn trục ở hai đầu để dễ mở ra hoặc cuộn lại, không làm rách giấy. Trục gỗ thường được sơn đỏ cho dễ thấy.

[49] Hiếp tôn giả (Pārśva) c̣n phiên âm là Ba Lật Thấp Phược, hoặc Bà Xa, dịch nghĩa là Hiếp (, cái hông). Ngài là một vị cao tăng của Ấn Độ, sống vào thế kỷ thứ hai, thuộc trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ, được coi là thầy của Mă Minh Bồ Tát. Ngài từng khuyến thỉnh vua Ca Nhị Thấp Ca (Kaniṣka) thuộc Quư Sương đế quốc (Kuṣāṇ Rājavaṃśa) cử hành kết tập kinh tạng lần thứ tư. Ngài vốn là Phạm chí ngoại đạo, khi đă rất già mới theo ngài Phật Đà Mật Đa (có sách ghi là Phật Na Da Xá, Punyayashas) học Phật. Sau khi xuất gia, Ngài siêng ṛng tŕ hạnh Đầu Đà, chưa từng đặt ḿnh nằm xuống, nên người đương thời gọi Ngài là Hiếp Tôn Giả với ngụ ư ngài chưa bao giờ đặt hông tiếp xúc giường chiếu. Thiền Tông tôn Ngài là Tây Thiên đệ tứ tổ.

[50] Đây là một câu chuyện về tiền thân của đức Phật được trần thuật trong kinh Đại Bát Niết Bàn. Theo đó, trong quá khứ, khi hành đạo Bồ Tát, đức Phật Thích Ca là Tuyết sơn đồng tử. Ngài t́m cầu chân lư, t́m hỏi khắp nơi, nhưng không ai biết. Trong chốn đồng hoang, Ngài gặp một con quỷ La Sát nói “các hành vô thường, là pháp sanh diệt”. Tuyết Sơn đồng tử nghe xong, biết là diệu pháp, cầu xin nói trọn bài kệ, nhưng quỷ La Sát kêu đói khát, chẳng thể tuyên thuyết được. Đồng tử bèn hứa nguyện dâng máu thịt của chính ḿnh để cúng dường, cầu xin La Sát nói bài kệ ấy. La sát bèn nói tiếp là “tịch diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”. Đồng tử nghe xong, hoan hỷ tột bậc, biên chép bài kệ ấy khắp nơi, sau đó trèo lên cây, gieo ḿnh xuống để tan xương, nát thịt ḥng cúng dường La Sát. La Sát bèn khôi phục thân Đế Thích, đỡ lấy đồng tử, tán thán, cúng dường rồi lui đi.

[51] Tứ A Hàm chính là bốn kinh A Hàm (Āgama), đây là danh xưng chung của các kinh thuộc hệ thống Tiểu Thừa, tương ứng với Nikaya trong truyền thống Nam Tông. Đôi khi c̣n phiên âm là A Cấp Ma, hoặc A Hàm Mộ, dịch nghĩa là Pháp Quy, hàm ư “muôn pháp đều quy vào nghĩa vô lậu”. Lại c̣n dịch là Vô Tỷ Pháp, hàm ư diệu pháp khôn sánh tày. Hoặc dịch là Thú Vô, hàm ư các pháp được nói rốt ráo đều quy vào ư chỉ vô quy thú. Tứ A Hàm bao gồm:

1) Trường A Hàm (Dīrgha Āgama) do ngài Phật Đà Da Xá khẩu tụng, ngài Trúc Phật Niệm dịch sang tiếng Hán, Đạo Hàm làm bút lục, tổng cộng hai mươi hai quyển. Bộ kinh này được dịch vào năm Hoằng Thỉ 15 (413) nhà Hậu Tần (Diêu Tần). Kinh này tương ứng với Trường Bộ Kinh trong Nikaya.

2) Trung A Hàm (Madhyama Āgama), tương ứng với Trung Bộ Kinh của Nikaya. Bản Hán dịch dựa theo văn bản của bộ phái Nhất Thiết Hữu Bộ, cũng do pháp sư Trúc Phật Niệm dịch, chia thành năm mươi chín quyển. Kinh này lại được dịch lần thứ hai do ngài Tăng Già Đề Bà gồm sáu mươi quyển trong niên hiệu Long An nhà Đông Tấn.

3) Tạp A Hàm (Saṃyukta Āgama), tương ứng với Tương Ưng Bộ Kinh của Nikaya, do các vị Cầu Na Bạt Đà La, Bảo Vân cùng dịch thành năm mươi quyển.

4) Tăng Nhất A Hàm (Ekottara Āgama, Ekottarika Āgama) tương ứng với Tăng Chi Bộ Kinh của Nikaya, do các vị Đàm Ma Nan Đề, Trúc Phật Niệm cùng dịch vào thời Phù Tần trong niên hiệu Kiến Nguyên.

[52] Luật Ma Ha Tăng Kỳ có nghĩa là Đại Chúng Luật, tức là giới bổn theo bộ phái Đại Chúng Bộ, do ngài Pháp Hiển đem về Trung Hoa vào thời Đông Tấn. Bộ luật này được hai vị Phật Đà Bạt Đà La và Pháp Hiển hợp sức dịch sang tiếng Hán trong năm Nghĩa Hy thứ mười bốn (418), gồm bốn mươi quyển.

[53] Thập Tụng Luật (Daśa-bhāṇavāra-vinaya): Giới luật theo truyền thống Nhất Thiết Hữu Bộ, do ngài Phất Nhă Đa La và Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán, gồm sáu mươi mốt quyển. Tương truyền bộ luật này vốn có tên là Bát Thập Tụng Luật do tôn giả Ưu Ba Ly trùng tụng vào lần kết tập thứ nhất, chia thành tám mươi lượt để tụng, nên có tên gọi như thế. Đến thời vua A Dục, tôn giả Ưu Ba Quật Đa cho rằng đời sau độn căn chẳng thể thọ tŕ trọn hết, bèn giản lược thành Thập Tụng Luật.

[54] Ngũ Phần Luật có tên gọi đầy đủ là Di Sa Tắc Bộ Ḥa Hải Ngũ Phần Luật (Mahīsasakavinaya) là giới luật theo truyền thống Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka, Hán tạng phiên âm là Di Sa Tắc), do ngài Pháp Hiển mang từ Tích Lan về, do luật sư Phật Đà Thập (Buddhajīva) và sa-môn Trí Nghiêm dịch sang tiếng Hán.

[55] Thiền sư Nham Đầu Toàn Hoát (828-877) là đệ tử nối pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám. Sư thông minh từ bé, khí độ sâu rộng, tánh t́nh đơn giản. Thoạt đầu, Ngài xuất gia với ngài Thanh Nguyên Nghị Công, thọ giới tại chùa Bảo Thọ ở Trường An, học tập kinh luật tại đó. Sau đó, Ngài từng đến tham học các nơi, là bạn tri giao của các vị Thiền sư nổi tiếng thời đó như Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Ngài tính đến tham học với Lâm Tế Nghĩa Huyền, nhưng chưa đến nơi th́ ngài Lâm Tế đă tịch. Do vậy, Ngài phải đến tham yết ngài Quy Sơn Huệ Tịch để học Thiền. Sau đó, qua Lăng Châu (Hồ Nam) để tham yết Đức Sơn Tuyên Giám, được ngài Đức Sơn ấn khả.

[56] Tử Dư (子輿) là tên chữ của Tăng Tử (Tăng Sâm, 曾參), một trong bảy mươi hai đồ đệ đắc ư của Khổng Tử. Tương truyền ông trước tác các sách Đại Học, Hiếu Kinh v.v… của Nho Gia. Sách Tử Dư Thị ở đây chính là Hiếu Kinh.

[57] Cổ Tẩu (瞽瞍) là cha của vua Thuấn. Cổ Tẩu là cháu tám đời của Hoàng Đế. Ông này mắt mù, tánh t́nh hung bạo, ghét bỏ vua Thuấn, lại thêm vợ kế là Ác Đăng và con trai của họ là Tượng xui xiểm, bèn nhiều lượt toan hại chết vua Thuấn như đốt lẫm khi sai vua Thuấn dọn dẹp bên trong, hoặc sai vua Thuấn xuống vét giếng rồi lấp giếng.

[58] “Thập pháp thành thừa” chính là Thập Thừa Quán Pháp, tức mười loại phép quán từ nhân đến quả, nên gọi là Thập Pháp Thành Thừa Quán. Pháp Quán này c̣n nhiều tên gọi khác, nhưng không ghi vào đây cho khỏi rườm rà. Nói sơ lược, mười pháp quán là:

1) Quán cảnh chẳng nghĩ bàn.

2) Phát tâm Bồ Đề chân chánh.

3) Thiện xảo an tâm chỉ quán.

4) Phá pháp trọn khắp, tức phá trừ cái tâm chấp trước đối với hết thảy các pháp.

5) Nhận biết thông, tắc.

6) Đạo phẩm điều ḥa, thích hợp.

7) Đối trị trợ khai (tu các pháp đối trị phiền năo và các pháp giúp tăng phước lực).

8) Biết thứ tự của các địa vị.

9) Có thể an nhẫn.

10) Chẳng có pháp ái.

Mười pháp này được giảng tỉ mỉ trong sách Ma Ha Chỉ Quán.

[59] Tức ngài Châu Lợi Bàn Đặc (Cūlapanthaka) một vị La Hán do túc nghiệp tột bậc ngu độn. Đức Phật dạy một câu có bốn chữ mà vẫn không thuộc. Khi đă giác ngộ ư nghĩa trong bốn chữ ấy, Ngài lập tức chứng A La Hán.

[60] Uất Đầu Lam Phất (Udraka Rāmaputra), đôi khi c̣n phiên âm là Uất Đà Già, Ưu Đà La Ma Tử, Ốt Đát Lạc Ca, Uất Đà La Già, Uất Đầu Lam Tử, Uất Đà La La Ma Tử, là một vị tiên nhân ngoại đạo, đă chứng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, đắc năm món thần thông. Khi đức Thế Tôn xuất gia tu khổ hạnh, đă từng vấn đạo vị này. Theo kinh Ưu Đà La, vị này sau khi chết, đọa thành con chồn bay.

[61] Ngũ Cái là năm thứ phiền năo che lấp tâm thức, trở ngại thiện pháp phát sanh, nên gọi là Cái (che lấp). Năm loại phiền năo ấy chính là tham, sân, ham ngủ, lao chao, và nghi.

[62] Đây là một đoạn trong thiên Dương Hóa của sách Luận Ngữ: “Tử viết: Dư dục vô ngôn! Tử Cống viết: Tử như bất ngôn, tắc tiểu tử hà thuật yên? Tử viết: Thiên hà ngôn tai! Tứ thời hành yên, bách vật sanh yên, thiên hà ngôn tai?” (Khổng Tử nói: “Ta chẳng muốn nói!” Tử Cống thưa: “Thầy không nói, chúng con làm sao giảng nói được?” Khổng Tử bảo: “Trời nói ǵ đâu? Bốn mùa luân chuyển, trăm vật sanh thành, trời có nói ǵ đâu?”).

[63] Lục kinh là sáu kinh của Nho gia, tức kinh Thi, kinh Thư (tức sách Thượng Thư), Nghi Lễ, kinh Dịch, Xuân Thu và kinh Nhạc (kinh này đă thất truyền). Tứ Thư là Đại Học, Luận Ngữ, Trung Dung và Mạnh Tử.

[64] Theo kinh Đại Bát Nhă, tôn giả Tu Bồ Đề ngồi yên trong hang đá, Thiên Đế Thích rải hoa cúng dường. Tôn giả hỏi: “Ai rải hoa cúng dường?” Thiên Đế thưa: “Tôn giả khéo nói Bát Nhă nên con rải hoa cúng dường”. Tôn giả: “Ta có nói ǵ đâu!” Thiên Đế thưa: “Tôn giả không nói, con cũng không nghe”.

[65] Sa Già Đà (Svāgata) c̣n được phiên âm là Sa Kiệt Đà, Sa Bà Yết Đa, Tô Yết Đa, hoặc Sa Yết Đa, dịch nghĩa là Thiện Lai, là một trong các vị đệ tử Thanh Văn của đức Phật, được thọ kư sẽ thành Phật với danh hiệu là Phổ Minh Như Lai. Khi Ngài sanh ra, h́nh dung khả ái, cha trông thấy rất hoan hỷ, kêu lên “thiện lai” (đến tốt lành), nên đặt tên như vậy. Ngài trưởng thành, gia đ́nh suy tàn, cha mẹ đều mất, Ngài phải đi xin ăn, nên bị người đương thời dè bỉu là Ác Lai. Chị Ngài (là con dâu của trưởng giả Cấp Cô Độc) nghe tin thương xót, gởi tiền bạc cho, nhưng do phước bạc, tài vật lại bị cướp sạch. Do phước quá kém, Ngài c̣n gây liên lụy cho những người cùng ăn xin với ḿnh. Về sau, Ngài gặp Phật, đức Thế Tôn thương xót, chia cho nửa bát cơm của Ngài, lại c̣n dạy mua hoa sen xanh cúng dường chúng Tăng. Chư tăng xót thương tiếp nhận. Ngay khi đó, hoa sen nở. Ngài thấy tiền thân đă từng tu Thanh XQuán, khôi phục lại tam-muội đă đắc từ kiếp trước, bèn xin xuất gia.

[66] Dạ Lang (夜郎) một quốc gia của người Di thuộc vùng Tây Nam Trung Hoa tồn tại vào đời Tây Hán, thuộc địa bàn Quư Châu hiện thời. Hán Vũ Đế ôm dă tâm thôn tính nước Nam Việt (của Triệu Đà), đă sai Đường Mông sang sứ Nam Việt. Trên đường đi sứ, Đường Mông phát hiện quốc gia này, dâng sớ xin Hán Vũ Đế lôi kéo Dạ Lang để tạo gọng ḱm kiềm chế Nam Việt, đồng thời áp đặt quan huyện, và xin vua cho con ḿnh làm huyện lệnh Dạ Lang. Dạ Lang Hầu là Đa Đồng không chịu thần phục nhà Hán, từng nói “nhà Hán và ta ai lớn hơn”. Do vậy, đă tạo thành một thành ngữ “Dạ Lang tự đại” để chê trách kẻ kiêu căng. Sau đó, Dạ Lang Hầu tự xưng vương cho đến khi bị diệt quốc vào năm Hà B́nh thứ hai (27 trước Công Nguyên) thời Hán Thành Đế. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu thường cho rằng các sắc dân Thủy tộc, Khất Lăo tộc (Gelao, Kláo, tiếng Việt gọi là người Cờ Lao), và Miêu tộc là hậu duệ của dân Dạ Lang.

[67] Theo các nhà chú giải, vào thời Mạnh Tử, Nhĩ và Nhữ là tiếng của bề trên gọi người đối diện nếu bối phận, địa vị của người ấy thấp hơn ḿnh. Nếu bằng vai phải lứa với nhau th́ chỉ dùng các danh xưng này khi là bạn bè rất thân thiết. Do vậy, Nhĩ Nhữ chi thật có nghĩa là có những hành vi, ngôn từ coi thường, xem nhẹ.

[68] Đến thời tổ Ngẫu Ích, Nhĩ, Nhữ chỉ là danh xưng thông thường để gọi người đối diện, chẳng có hàm ư khinh rẻ chi cả. Do vậy, Tổ mới nói được gọi bằng danh xưng Nhĩ hay Nhữ chẳng có ǵ đáng là hổ thẹn, đừng nghĩ là bị coi thường, chỉ hiểu nó là một danh tướng. Nhưng nói “thực chất của Nhĩ Nhữ th́ đúng là chẳng nên tiếp nhận” tức là nói đừng nên xử sự khiến cho người khác khinh bỉ.

[69] Pháp sư Tịnh Giới đă giảng câu này như sau: Giáo là giáo pháp, c̣n Quán là nương theo Giải môn để khởi quán tưởng, tức trí huệ quán chiếu sanh khởi từ nội tâm. Giáo và Quán chính là căn bản của Đại Thừa Phật pháp, hay nói cách khác là Giải và Hạnh cùng vận dụng. Nói “ví như chất béo và lửa”, chất béo nói cụ thể là chất có thể cháy, chẳng hạn như sáp. Lửa có thể đốt cháy sáp, sanh ra nhiệt lượng, nhiệt lượng lại nung chảy sáp, tạo thành sáp lỏng. Tương tự, Giáo sanh ra Quán, Quán lại khiến cho chúng ta hiểu rơ Giáo hơn nữa.

[70] Lập thân hành kỷ (立身行己) nghĩa là giữ ǵn phẩm đức và hành vi tốt đẹp để xử thế, luôn tự cường, có chừng mực, tuân thủ các chuẩn mực lễ nghĩa.

[71] Đây là một đoạn trích từ thiên Thái Giáp hạ, sách Thượng Thư, chính là lời răn nhắc của Y Doăn đối với vua Thành Thang.

[72] Trong mỗi quẻ của kinh Dịch, mỗi vạch đứt hay liền được gọi là Hào. Hào Dương đầu tiên được gọi là Sơ Cửu, cho đến hào Dương cuối cùng được gọi là Thượng Cửu. Sơ Cửu tượng trưng cho khí Dương c̣n tiềm tàng, c̣n Thượng Cửu khí Dương đă sanh khởi đến mức cùng tột. Tiềm tàng hay quá thịnh đều không tốt. Do vậy, phải ở mức trung dung giống như giữa một bầy rồng, không có con nào cầm đầu, cũng giống như trong xử sự, phải khiêm hư, đừng bộc lộ quá mức, th́ mới là tốt đẹp. Đó là ư nghĩa của câu “dụng cửu kiến quần long vô thủ, cát”. Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích đăng trên trang nhà của Quốc Gia Giáo Dục Viện Đài Loan.

[73] Quẻ Khôn gồm có sáu vạch đức, đều là hào Âm. Các hào Âm được gọi là Lục. “Dụng Lục vĩnh lợi trinh” được giải thích là cả sáu hào của quẻ Khôn đều biểu thị sự nhu thuận, quẻ Khôn tức là Âm đến tột cùng sẽ biến thành Dương, tức quẻ Càn, nhưng chẳng đánh mất tính chất nhu thuận, tức là tánh vẫn bất biến. Đó gọi là Trinh, do nhu thuận nên có thể thành tựu, nhưng vẫn không đánh mất sự cương quyết, đó là Lợi.

[74] Sách Đồng Mông Chỉ Quán (Chỉ Quán dành cho trẻ nít), c̣n gọi là Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu hoặc Tiểu Chỉ Quán để phân biệt với Ma Ha Chỉ Quán. Tác phẩm này do tổ Thiên Thai Trí Giả đại sư biên soạn, trần thuật mười bước tu tập theo thứ tự.

[75] Tam tế là quá khứ, hiện tại, vị lai. “Tế” có nghĩa là “ngằn mé, chừng hạn”.

[76] Đây là một thành ngữ dựa theo bài kệ của sư Thích Di Quang đời Tống: “Nhất cửu dữ nhị cửu, tương phùng bất xuất thủ, đông đắc si vẫn đầu, diện Nam khán Bắc Đẩu. Chư thiền nhân, hiểu bất hiểu, địa lô hỏa lănh mạc hiềm hàn, cánh hữu tiều phu xích cước tẩu” biểu thị sự cảm khái trước tiết Đông rét buốt. “Nhất cửu dữ nhị cửu, tương phùng bất xuất thủ” là lúc chuyển tiếp giữa tháng Giêng và tháng Hai (từ mồng Chín tháng Giêng đến ngày Hai Mươi Chín tháng Hai), tiết trời buốt lạnh đến nỗi bạn bè gặp nhau, chẳng dám ch́a tay ra. “Đông đắc si vẫn đầu, diện Nam khán Bắc Đẩu” (lạnh cóng đến nỗi ai nấy rụt cổ trông như con cú mèo, nh́n về phương Nam ngửa mặt ngắm sao Bắc Đẩu). Các câu kế đó hàm ư: Những người tu Thiền có hiểu hay chăng? Dù ḷ sưởi ngầm dưới giường đă tắt, đừng sợ lạnh, vẫn có tiều phu chân trần đi lại. Ư của cả bài kệ là dùng cảnh tượng rét buốt ngặt nghèo của mùa Đông ví như sự gian khó trong tu hành, người tu phải nhẫn nại, kiên quyết chịu đựng khổ nhọc hướng đến mục đích tu tập tối hậu, (giống như hướng mặt về phương Nam ngắm sao Bắc Đẩu), dũng mănh tấn tu như người tiều phu vẫn dám chân trần đi kiếm củi bất kể tiết trời buốt giá!

[77] Ư nói: T́m hiểu sâu xa, cân nhắc các lẽ lợi hại, đúng sai trong tu tập.

[78] Ám chứng: Có thể đắc Định theo kiểu khô tịch, tức chỉ đạt được sự tĩnh lặng do các phiền năo tạm thời ngủ yên giống như lửa đỏ vùi trong tro ngầm, chẳng thể ngộ giải, chẳng thể thấu hiểu chân lư.

[79] Ninh Quốc là một huyện nằm trên sông Thủy Dương thuộc tỉnh An Huy.

[80] Tức là cầu làm vị Tăng chỉ chuyên nấu cơm cho tăng chúng ăn trong tùng lâm.

[81] Vị này chính là Ôn Lăng Giới Hoàn. Sư có pháp hiệu là Giới Hoàn, do trụ tại chùa Khai Nguyên ở Ôn Lăng, nên thường được gọi là Ôn Lăng Giới Hoàn. Trong niên hiệu Tuyên Ḥa, Sư soạn bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Giải (thường gọi là Pháp Hoa Yếu Giải) hai mươi quyển để xiển dương áo nghĩa của tông Thiên Thai. Sư thuộc pháp phái Lâm Tế, là đệ tử nối pháp của Đại Giới Kham thiền sư, nhưng chú trọng hoằng dương Pháp Hoa, Hoa Nghiêm và Lăng Nghiêm. Sư cho rằng các bản chú giải trước đó tuy rất hay nhưng quá sâu, quá huyền áo, bất tiện cho kẻ sơ cơ nên lại chú thích bằng văn từ giản dị để tạo thuận tiện cho người sơ cơ có cơ sở trước khi đọc các bản chú giải khác. Theo Tuyền Châu Khai Nguyên Tự Chí, chùa Khai Nguyên được dựng vào đời Đường. Đến đời Tống, viện chủ của Thiên Phật Điện phát khởi nhân duyên cộng tu kinh Pháp Hoa, quanh năm tụng kinh Pháp Hoa tại Thiên Phật Điện. Mỗi khi vị viện chủ suất lănh tăng chúng tụng kinh Pháp Hoa, luôn có một con bồ câu trắng bay đến đậu dưới mái hiên, lặng yên lắng nghe kinh, hết thời khóa mới bay đi, suốt mấy tháng như thế. Có một hôm, vị viện chủ không thấy chim đến nghe kinh, trong tâm thắc mắc. Đêm ấy, Ngài mộng thấy một người đến trước án thư thưa: “Con là con bồ câu trắng mỗi ngày nghe thầy tụng kinh Pháp Hoa. Do sức công đức của kinh, con đă được chuyển thân thành người, sanh vào nhà nọ ở gần đây. Dưới nách con hăy c̣n lông vũ trắng, thầy có đến nhận con hay không?” Viện chủ tỉnh giấc hỏi ḍ, quả nhiên nhà ấy có đứa con trai mới sanh ra, cởi áo nó xem, dưới nách quả nhiên có mấy cái lông vũ màu trắng, hoàn toàn phù hợp với điều được nghe trong giấc mộng. Sư chờ đứa bé khôn lớn bèn khuyên cha mẹ nó cho theo Sư xuất gia. Đó chính là ngài Giới Hoàn.

[82] Thanh khóa (清課): Thông thường, các công khóa tu hành của người học Phật nhằm mục đích đào luyện thân tâm thanh tịnh, nên được gọi là “thanh khóa”, nhưng ở đây phải hiểu theo ư nghĩa “các tài khéo được coi là thanh nhă như thư pháp, ngâm vịnh, đánh cờ, điêu khắc, vẽ vời, đánh đàn, thổi sáo, trồng hoa, uốn cây v.v…

[83] Hữu Quân tức là Vương Hy Chi, một thư pháp gia lỗi lạc thời Đông Tấn. Do ông làm quan đến chức Hữu Quân Tướng Quân, nên c̣n được gọi là Vương Hữu Quân. Lư Lư Bạch, Đỗ là Đ Phủ, đều là các thi nhân trứ danh.

[84] Diễm Hỷ tức là ngài Tôn Đà La Nan Đà, vị này là em họ của đức Phật, rất đẹp trai, tướng hảo gần bằng Phật (chỉ thiếu hai tướng). Do vợ Ngài là Tôn Đà La nổi tiếng xinh đẹp, nên ghép thành tên như thế nhằm phân biệt với các vị Nan Đà khác. Do say đắm sắc đẹp, dẫu bị ép xuất gia, tâm Ngài rất tán loạn, cứ thương nhớ vợ không nguôi. Đức Phật khéo dùng phương tiện, đưa tôn giả lên trời cho thấy thiên nữ xinh đẹp. Ngài bèn tinh tấn tu hành để mong sanh lên cơi trời. Do bị các đồng bạn chế giễu, Ngài phát phẫn, gắng tu tŕ, nhờ vậy mà đoạn được ái dục, chứng quả La Hán. Đặc Ca tức ngài Châu Lợi Bàn Đặc (c̣n phiên âm là Bàn Đặc Ca), nổi tiếng ngu si. Đức Phật dạy một câu có bốn chữ mà cứ nhớ trước quên sau. Nhờ tinh cần chỉ quán bốn chữ do Phật dạy nhiều năm mà cũng chứng quả La Hán.

[85] Tiên Thích c̣n gọi là Tiên Chú, có nghĩa chú giải cổ thư, Tiên có nghĩa đen là mảnh giấy để viết thư. Tiên Chú hay Tiên Thích là giải thích đại lược ư nghĩa trong cổ thư, với ư nghĩa khiêm hư: Những lời chú giải chỉ là sơ sài, không cặn kẽ, sâu sắc.

[86] Dựa theo điển tích Khổng Tử đọc kinh Dịch đến nỗi ba lần đứt lề sách. Do thời Khổng Tử, chưa có giấy, sách được viết lên các thẻ tre, khoét lỗ, rồi buộc lại bằng dây da trâu cho khỏi thất lạc. Cái dây buộc ấy được gọi là Vi Biên (韋編, tạm dịch là “lề sách”, tuy không chính xác). Ư Tổ khuyên ông Quách Thái Tước hăy đọc kỹ, nghiền ngẫm kinh Dịch rất nhiều lượt rồi mới viết sách chú giải.

[87] Đây là hai câu được trích từ kinh Thi “như thiết như tha, như trác như ma”. Theo các nhà chú giải, chạm trổ trên xương thú th́ gọi là Thiết, trên sừng là Tha, trên ngà voi là Trác, trên ngọc thạch là Ma, tức là nói đến bốn công đoạn chế tác đồ mỹ nghệ: tạo h́nh, đục giũa để tạo h́nh dạng tổng thể, điêu khắc tỉ mỉ các chi tiết, cuối cùng là đánh bóng, mài sáng. Từ ngữ này được dùng để diễn tả quá tŕnh tu dưỡng, học vấn đạo đức từ thô đến tinh, từ bề ngoài tiến sâu vào nội hàm.

[88] Công Dă Trưng (519-470 trước Công Nguyên) là con rể, đồng thời là môn đệ của Khổng Tử. Ông là người nước Tề, tương truyền thông hiểu tiếng loài chim. Do vậy, dân gian đọc trại tên ông thành tên Công Dă Tràng, và bịa ra truyền thuyết: Công Dă Tràng do được rắn tặng ngọc, khi ngậm ngọc, sẽ thông hiểu tiếng muôn loài. Vua nghe chuyện, đ̣i ông dâng ngọc. Vua ngậm ngọc ra khơi, nghe các loài cá nói chuyện, ca hát, vui thích bật cười khiến ngọc rơi xuống biển. Công Dă Tràng tiếc ngọc, ngày đêm lặn hụp t́m kiếm, kiệt sức chết thành một loài cua nhỏ chuyên tha cát lấp biển, gọi là con dă tràng!

[89] Ngài Ô Khoa chính là ngài Đạo Lâm. Sư họ Phan, người xứ Phú Dương, xuất gia lúc chín tuổi, thọ Cụ Túc lúc hai mươi mốt tuổi. Sư theo pháp sư Phục Lễ ở chùa Tây Minh tại Trường An, học kinh Lăng Nghiêm, luận Khởi Tín. Sau khi đắc ngộ, Sư quay về Nam, thấy trong núi Tần Vọng có cây tùng tán x̣e quanh như cái lọng, bèn kết lều tranh tu hành trên đó. Người đương thời gọi là Ô Khoa thiền sư (thiền sư ổ quạ). Khi Bạch Cư Dị làm thái thú Hàng Châu, nghe danh bèn đến hỏi đạo. Bạch Cư Dị tự xưng là Hương Sơn cư sĩ. Sư liền chỉ dạy hai câu: “Đừng làm các điều ác, vâng hành các điều thiện”. Ông Bạch nói: “Đứa trẻ ba tuổi cũng nói được như thế!” Sư bảo: “Đứa trẻ ba tuổi cũng nói được, nhưng ông già tám mươi chưa làm được!”

[90] Đây là thuật ngữ trong nhà Thiền để chỉ công án, nguyên văn “kim cang khuyên, lật cức bồng”. Theo bài viết Thiền thị thấu đắc kim cang khuyên, thốn đắc lật cức bồng (thiền là vượt khỏi ṿng kim cang, nuốt được hạt dẻ gai), không rơ tác giả, đăng trên trang nhà của Thanh Lương Cổ Tự, Kim cang khuyên (金刚圈) là một loại vũ khí thời cổ đúc bằng đồng hoặc thép, có h́nh tṛn, thường dùng để chụp bắt người khác trong khi cận chiến. Lật cức bồng (栗棘蓬) là loại hạt dẻ c̣n nguyên vỏ đầy gai. Nhà Thiền dùng cách nói “thoát khỏi sự chụp bắt của ṿng kim cang, hạt dẻ c̣n gai rất khó nuốt, mà nuốt được, tức là đă tham cứu thấu suốt thoại đầu, công án.

[91] Nguyên văn “thâu tâm” (偷心) có nghĩa gốc là cái tâm trộm cắp, nhưng Thiền lâm dùng từ ngữ này chỉ cái tâm chẳng ngừng hướng ra ngoài phân biệt, t́m cầu, giống như kẻ trộm luôn ŕnh rập người khác.

[92] Thỉnh ích (請益): Học tṛ đến chỗ thầy xin dạy bảo. Riêng trong nhà Thiền, c̣n có một nghĩa nữa là sau khi thầy dạy bảo, nếu tṛ c̣n có chỗ ngờ vực, hay chưa hiểu rơ, sẽ xin thầy dạy rơ thêm. Đó gọi là Thỉnh Ích. Trong Bách Trượng Thanh Quy, quy củ Thỉnh Ích rất nghiêm ngặt và trang trọng.

[93] Đây là một cách nói trong Thiền Tông ngụ ư siêu xuất Pháp Thân tự tại, không vướng mắc vào đâu. Đường Túc Tông từng hỏi đạo với Nam Dương Huệ Trung quốc sư: “Như thế nào là mười thân điều ngự?” Quốc sư đáp: “Đàn-việt đạp trên đỉnh đầu Phật Tỳ Lô Giá Na mà đi”. Hoàng đế nói: “Quả nhân chẳng hiểu”. Quốc sư nói: “Đừng nghĩ chính ḿnh là Pháp Thân thanh tịnh”. Ư nói: Thiền Tông gọi khai ngộ là đạt đến Pháp Thân, phá được nghi t́nh là an trụ trong Pháp Thân, thấy chính ḿnh và Pháp Thân là một. Đă đạt đến mức độ đó, phải tiến cao hơn nữa, đừng chấp vào Pháp Thân, phải vượt được cái ải chấp vào Pháp Thân để đạt tới mức độ chân thật giác ngộ (theo lời giảng của cụ Hoàng Niệm Tổ trong Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận Giảng Kư). Ở đây, tổ Ngẫu Ích răn nhắc kẻ cuồng Thiền, vừa phá nghi t́nh, liền nghĩ ḿnh đă chứng Pháp Thân, ngạo nghễ coi giáo điển, giới luật là đồ bỏ, buông lung, phóng dật mà cứ nghĩ ḿnh đă đạt tới mức độ vượt ngoài Pháp Thân.

[94] Tứ Tánh được nói ở đây chính là tự, tha, cộng, ly. Tức mỗi pháp chẳng phải là tự sanh, chẳng phải do các pháp khác sanh ra, chẳng phải là do tự và tha kết hợp lại, chẳng ĺa tự và tha mà tự nhiên sanh ra.

[95] Duyên ảnh (緣影) c̣n gọi là duyên khí, hoặc duyên sự, chính là h́nh bóng của ngoại trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) sanh ra khi Kiến Phần duyên lự ngoại trần. Duyên lự tức là tác dụng của Kiến Phần tiếp xúc cảnh giới (trần sắc bên ngoài) nảy sanh sự cảm nhận, suy lường (thường gọi là lự). Kiến Phần chính là tác dụng có thể tiếp xúc, nhận biết trần cảnh của một thức. Đừng lầm lẫn duyên ảnh với trần ảnh. Trần ảnh là thuật ngữ chỉ các trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) do chúng hư huyễn, chẳng thật, giống như h́nh bóng thoạt nh́n th́ có, nhưng thật ra chẳng thật sự tồn tại, chỉ do các duyên đối đăi mà có, nên gọi là trần ảnh, hay trần ảnh sự.

[96] Ư nói: Xác định phương hướng đă chánh xác.

[97] Đây là các vị thiện tri thức trong năm mươi ba lần tham phỏng của Thiện Tài đồng tử:

- Vị vua bạo ngược chính là vua Vô Yếm Túc (Anala), chuyên trừng phạt thảm khốc những kẻ phạm tội, dạy Thiện Tài môn giải thoát Bồ Tát Như Huyễn.

- Cô gái lạ lùng xinh đẹp tức cô Bà Tu Mật Đa (Vasumitrā), dạy Thiện Tài môn giải thoát Bồ Tát Ly Tham Tế.

- Bà-la-môn đốt thân là Thắng Nhiệt bà la môn (Jayosmāya) tu hành khổ hạnh, thường dùng lửa để nung thân, dạy Thiện Tài môn giải thoát Bồ Tát Vô Tận Luân.

- Trẻ trai dồn cát chính là Tự Tại Chủ đồng tử (Indriyeśvara), thị hiện thân trẻ trai đang nghịch cát trên bờ biển, nhưng thật ra đang dạy cho người khác môn toán số của Bồ Tát. Vị này dạy Thiện Tài môn giải thoát Nhất Thiết Công Xảo Đại Thần Thông Trí Quang.

[98] Điện Hàm Nguyên là cung điện chính trong quần thể cung điện Đại Minh của hoàng đế nhà Đường tại kinh đô Trường An. Cung điện này được khởi công xây dựng từ năm Long Sóc thứ hai (662) thời Đường Cao Tông, mất một năm mới hoàn thành. Đây là nơi để triều đ́nh cử hành lễ Nguyên Đán, duyệt binh, hiến phù (các tướng giao nộp chiến lợi phẩm và tù binh khi thắng trận), dâng tôn hiệu (cho hoàng tử, hoàng hậu, thái hậu, hay các thành viên trong hoàng tộc), và thiết đại triều trong mùa Đông.

[99] Nguyên văn “tả hữu phùng nguyên” nghĩa đen là đến bất cứ chỗ nào cũng t́m được nguồn nước dồi dào, được hiểu là từ ngữ ca ngợi học vấn rộng răi, ứng phó thuận lợi. Sau đó, mở rộng thành ư nghĩa học đạo nắm được yếu lănh, mọi chuyện đều có thể tùy ư vận dụng, biện pháp chẳng cạn kiệt.

[100] Chỉ Phật tánh sẵn có của chúng sanh. Kinh Đại Niết Bàn dùng thí dụ này để chỉ Như Lai Tạng (tức Phật tánh) sẵn có trong tâm chúng sanh mà chúng sanh chẳng hề hay biết. Như người nữ nghèo trong nhà có kho chứa vàng ṛng, mà mọi người trong nhà đều chẳng biết. Lúc ấy, có thiện tri thức mướn cô ta cắt cỏ, cô ta bèn bảo nếu chỉ ra chỗ kho tàng, sẽ làm thuê cho người ấy. Người ấy bèn đào kho vàng trong nhà cô ta lên, cô liền kính ngưỡng người ấy.

[101] Tỳ Xá Phù Phật (Viśvabhu), c̣n phiên âm là Tỳ Thấp Bà, Tỳ Xá Bà, hoặc Nhiếp La… Dịch nghĩa là Nhất Thiết Tự Tại, Biến Hiện (hiện trọn khắp), hoặc Toàn Hiện. Ngài là vị Phật thứ ba trong Quá Khứ Thất Phật thuộc Trang Nghiêm Kiếp, có họ là Câu Lợi Nhă, thuộc ḍng Sát Đế Lợi. Theo kinh Đại Bổn trong Trường A Hàm, Ngài xuất thế cách đây ba mươi mốt kiếp, lúc nhân loại thọ sáu vạn năm, cha tên là Thiện Đăng (Supattita), mẹ tên là Xưng Giới (Yasavatī), con trai Ngài tên là Diệu Giác (Suppabuddha), sống tại thành Vô Du (Anūpama), thành đạo dưới cội cây Sa La, đệ tử thượng thủ tên là Phù Du (Sona) và Uất Đa La (Uttara). Thị giả tên là Tịch Diệt (Upasannaka).

[102] Ba ngàn oai nghi là do nói đối ứng với hai trăm năm mươi giới của tỳ-kheo, áp dụng vào bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) tức 250x4=1.000, lại phối ứng với ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, thành 1.000x3=3.000 oai nghi. 3.000 oai nghi ấy phối ứng với bảy chi giết, trộm, dâm, nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt, nói thô ác thành 3.000x7=21.000, lại phối ứng với tham, sân, si, đẳng phần, thành 21.000x4=84.000 tế hạnh, nói tṛn thành tám vạn tế hạnh.

[103] Có nhiều cách giải thích các danh từ này, nhưng xét theo ngữ cách ở đây, mạt nhân đoán rằng cách giải thích của Câu Xá Luận là thích hợp nhất: Danh là từ ngữ chỉ một pháp, một sự vật (có thể hiểu thô thiển danh là danh từ). Cú là một câu có do nhiều danh hợp lại, có thể nêu bày một ư nghĩa trọn vẹn. Văn là chữ, tức là các chữ hoặc mẫu tự đơn lẻ. Văn Thân do nhiều Văn hợp thành.

[104] Giơ cành hoa, dựng đứng phất trần (niêm hoa, thụ phất): Niêm hoa là điển tích Tư Ích Phạm Thiên dâng đóa hoa kim sắc cúng dường Phật, đức Phật giơ cành hoa sen lên, im lặng, đại chúng ngơ ngác, chỉ có ngài Đại Ca Diếp mỉm cười, đức Phật liền ấn chứng “đă truyền tâm pháp cho ngài Ca Diếp làm vị tổ thứ nhất”. Dựng đứng phất trần phát xuất từ trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, có vị giảng sư đến thỉnh pháp với thiền sư Tế An, Sư hỏi: “Tọa chủ! Ông ôn tập sự nghiệp ǵ?” Giảng sư đáp: “Tôi giảng Hoa Nghiêm”. Sư hỏi: “Có mấy loại pháp giới?” Giảng sư đáp: “Nói rộng th́ là trùng trùng vô tận, nói lược th́ là bốn loại pháp giới”. Sư dựng đứng cán phất trần, hỏi: “Cái này là loại pháp giới thứ mấy?” Vị giảng sư nín lặng, không trả lời được.

[105] Mặc chiếu Thiền là phong cách tọa Thiền do sư Hoằng Trí Chánh Giác của tông Tào Động đề xướng dưới thời Tống. Theo đó, Mặc là trầm mặc chuyên tâm tọa Thiền, Chiếu là dùng trí huệ để soi xét tâm tánh linh tri vốn sẵn thanh tịnh. Sư Chánh Giác cho rằng Thật Tướng chính là tướng vô tướng, chân tâm tức là cái tâm vô tâm. V́ thế, Sư chủ trương cứ ngồi lặng lẽ trong Định, chẳng cần mong cầu đại ngộ, dùng thái độ chẳng có ǵ để đạt được, chẳng có ǵ để ngộ mà tọa Thiền. Tức là cứ lặng yên trong Định, chẳng cần phải quán niệm chi hết. Phong cách Thiền này bị ngài Đại Huệ Tông Cảo của tông Lâm Tế bài bác kịch liệt, gọi đó là khô Thiền mặc chiếu (tức ngồi như cây khô), mặc chiếu tà thiền, vô sự thiền, khô mộc tử hôi thiền (thiền như cây khô tro lạnh). Chánh Giác viết một bài minh dài hai trăm tám mươi tám chữ để phản bác, đề xuất tác dụng vận trí huệ linh hoạt sống động của Mặc Chiếu, không phải là lối Thiền câu nệ vào công án hay thoại đầu của Tông Cảo.

[106] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải của cư sĩ Vương Trị B́nh trong bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Dịch Giải.

[107] Thuở nhỏ, thần y Kỳ Bà đến chỗ thần y Tân Ca La ở nước Đức Xoa Thi La suốt bảy năm. Một hôm, thầy trao cho Kỳ Bà một cái tráp bảo đi t́m xem khắp nước, cây nào không thể dùng làm thuốc th́ đem về. Kỳ Bà t́m kiếm măi, cuối cùng ôm tráp không trở về, mới biết thảo mộc không ǵ chẳng có chỗ hữu dụng.

[108] Xuân Thu là một giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa, kéo dài từ năm 770 đến năm 476 trước Công Nguyên, có thuyết nói là cho đến năm 403 trước Công Nguyên). Tức là kể từ khi Châu B́nh Vương (Cơ Nghi Cữu) sau khi nhờ sự giúp đỡ của quân Khuyển Nhung để lên ngôi, nhằm tránh sự uy hiếp của quân Khuyển Nhung, đă dời kinh đô từ Cảo Kinh về Lạc Ấp (tức Lạc Dương) ở phía Đông. Do vậy, Sử gọi nhà Châu vào thời này là Đông Châu. Thế lực nhà Châu đă suy yếu cùng cực, các chư hầu hùng mạnh nổi lên, lấn át nhà vua với chiêu bài “tôn vương, nhượng di” (tôn vua, chế phục chư hầu), h́nh thành thời kỳ Ngũ Bá (Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công…), mượn danh phù tá thiên tử để chế phục các chư hầu yếu hơn, thống lănh các chư hầu khác. Sở dĩ có danh xưng là thời kỳ Xuân Thu là v́ Khổng Tử chép sử nước Lỗ đặt tên là Xuân Thu. Sở dĩ gọi là Xuân Thu v́ các sự kiện quan trọng của đất nước thường xảy ra vào hai mùa Xuân và Thu và chép theo lối biên niên sử. Trong thời kỳ này, có ba mươi sáu vị vua chư hầu bị quần thần hoặc nước đối địch giết chết, năm mươi hai nước chư hầu bị diệt vong, hơn bốn trăm tám mươi cuộc chiến lớn nhỏ nổ ra.

Chiến Quốc (từ năm 475 đến năm 221 trước Công Nguyên) tiếp ngay sau thời Xuân Thu, thường được coi là mở đầu khi ba thế lực quư tộc Triệu, Hàn, Ngụy của nước Tấn diệt vua Tấn, tách nước Tấn thành ba nước là Triệu, Hàn, Ngụy. Trong giai đoạn này, các nước nhỏ bị thôn tính dần, bảy nước lớn (Tần, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, Tề, Yên) đánh nhau không ngừng; nhà Châu chỉ c̣n là một lănh thổ nhỏ bé, hoàn toàn không có thực quyền, cuối cùng bị nước Tần diệt. Các nước nhỏ như Tống, Vệ, Trung Sơn, Lỗ, Đằng, Trâu, Phí v.v… bị bảy nước lớn thôn tính. Thời kỳ Chiến Quốc chấm dứt khi Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, thống nhất Trung Nguyên, thành lập chế độ trung ương tập quyền, chia Trung Hoa thành quận, huyện, xóa bỏ chế độ chư hầu.

[109] Bốn câu (tứ cú) là có, không, vừa có vừa không, chẳng phải có chẳng phải không.

[110] Tương truyền nước miếng của hồ ly có tác dụng mê hoặc con người. Do vậy, nhà Thiền dùng chữ “hồ ly diên” (nước miếng hồ ly) để chỉ những lời lẽ gây mê hoặc ḷng người.

[111] Nhà Nho nhất là Tống Nho thường hiểu “cách vật” là thông hiểu sự vật đến tận cùng nguồn cội, nhưng theo quan điểm của nhà Phật, “cách vật” phải hiểu là “cách trừ vật dục” tức trừ bỏ ḷng ham muốn đối với vật chất, nói rộng ra trừ khử những ư niệm tham chấp. “Vật cách” là để trừ khử tận gốc vật dục th́ phải thấu hiểu bản chất của muôn vật, chẳng chấp vào các vật nữa.

[112] Theo Cư Sĩ Truyện, Trương Cửu Thành (tên tự là Tử Thiều) lên Kính Sơn tham yết ngài Đại Huệ Tông Cảo. Thiền sư nói: Đời Đường có người theo An Lộc Sơn làm phản. Người ấy trước đó từng trấn thủ Lăng Trung (Tứ Xuyên), có bức tranh vẽ chân dung được giữ tại đó. Vua Đường Minh Hoàng khi chạy vào đất Thục, trông thấy bức vẽ ấy, tức giận, sai thị thần chém đầu h́nh vẽ của người ấy. Người ấy đang ở Thiểm Tây, bỗng bị rơi đầu.

[113] Thường Bất Khinh Bồ Tát trông thấy ai cũng chạy đến lễ bái, thưa “tôi chẳng dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ thành Phật”. Đó chính là tu phẩm Tùy Hỷ trong Ngũ Phẩm (tùy hỷ, đọc tụng, giảng nói, kiêm hành chánh hạnh, tu tập chánh hạnh).

[114] Đây là dụng ngữ trong nhà Thiền, phát xuất từ cách nói thông tục đời Tống. “Tác ma” (作麼) có nghĩa là như thế nào, c̣n Sanh () chỉ là tiếp vĩ ngữ, nhằm nhấn mạnh, chứ không có ư nghĩa riêng biệt! Tác ma sanh c̣n nói là chẩm ma sanh, tự ma sanh, tác ma, tác sanh”, đều có nghĩa là “như thế nào?” Thiền lâm dùng từ ngữ này như từ ngữ cảm thán hoặc chất vấn.

[115] Kư () là thiên lư mă (loại ngựa mỗi ngày đi được ngàn dặm).

[116] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải trong bài Luận Ngữ Giản Thuyết của tạp chí Minh Luân (phát hành tại Đài Trung, do Đài Trung Liên Xă chủ trương).