Linh Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
3
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Diệu Âm Trịnh Lộc
* Chỉ dạy
phương trượng Đàm Sanh
Cảnh
duyên chẳng tốt xấu, tốt xấu do tâm khởi. Kẻ
ngu trừ cảnh, chẳng trừ tâm. Bậc chí nhân trừ
tâm, chẳng trừ cảnh. Tâm đă trừ, cảnh há thật
có? Liễu đạt cảnh vốn không, sẽ có thể
hành xử đúng theo địa vị, chẳng mong mỏi
những ǵ vượt ra ngoài, v́ những địa
vị đă từng trải không ǵ là chẳng ra ngoài pháp giới.
Biết chúng đều chính là pháp giới, sẽ tự chẳng
nhập mà cũng chẳng
tự đạt được. Nếu có chút nào chưa
phải là như vậy, th́ phú quư sẽ dâm, nghèo hèn sẽ
thay đổi [chí hướng], ở nơi mọi rợ
hoặc trong cảnh hoạn nạn sẽ bị khuất
phục. Mạnh Tử luận định “tố vị nhi hành” (hành xử theo
đúng địa vị),
bèn nói “cư thiên hạ chi quảng cư, lập thiên hạ
chi chánh vị, hành thiên hạ chi đại đạo”
(sống ở nơi rộng răi trong thiên hạ, đứng
ở nơi địa vị chánh đáng trong thiên hạ,
đi trên con đường to lớn trong thiên hạ)[1].
Trong Phật môn của chúng ta, bèn nói “nhập
Như Lai thất, tọa Như Lai ṭa, trước Như
Lai y” (vào nhà Như Lai, ngồi ṭa Như Lai, mặc áo
Như Lai), điều cốt yếu đều là chẳng
bị vật chuyển th́ mới có thể chuyển vật
được!
* Chỉ dạy Trí Lâm
Kinh
Đại Bát Nhă nói: “Tam thập nhị tướng vô biệt
nhân, giai do tŕ giới sở đắc” (Ba mươi
hai tướng chẳng do cái
nhân nào khác, đều do tŕ giới mà đạt được).
Nếu chẳng tŕ giới, c̣n chẳng thể làm thân dă can
(chó rừng), huống hồ thân Phật ư? Kinh Đại
Phật Đảnh (Lăng Nghiêm) dạy:
“Nhân giới sanh định. Nhân định phát huệ.
Tắc danh Tam Vô Lậu Học” (Do giới sanh định,
do định phát huệ, bèn gọi là Tam Vô Lậu Học).
Dẫu có nhiều trí Thiền Định hiện tiền,
nếu chẳng đoạn dâm, ắt rơi vào ma đạo.
Nếu chẳng đoạn sát, ắt rơi vào thần
đạo. Nếu chẳng đoạn trộm cắp, ắt
rơi vào tà đạo. Nếu chẳng đoạn đại
vọng ngữ, sẽ như khắc phân thành chiên đàn,
muốn có mùi thơm, chẳng có lẽ ấy! Giới có mối
quan hệ to lớn!
* Chỉ dạy Húc Sanh
Trong
hết thảy các tội, tội nghi lớn nhất. Trong
hết thảy các công đức, Tín đứng đầu.
Tín sẽ chẳng nghi;
chẳng nghi sẽ thẳng thừng gánh vác. Thẳng thừng
gánh vác sẽ chẳng tự vứt bỏ, tự ruồng
rẫy. Chẳng tự vứt bỏ, ruồng rẫy, sẽ
chẳng dám vứt bỏ, ruồng rẫy người
khác. Do điều này mà ngài Thường
Bất Khinh lễ khắp tứ chúng, bèn nhanh chóng thanh tịnh
sáu căn. Hăy nên tin tưởng như thế! Ví như mặt
trời mọc bèn chiếu sáng núi cao trước, há đợi
bốn mươi năm đào thải[2]
mới nhập Phật huệ ư?
* Chỉ dạy Minh Nhất
Đạt
được một điều, muôn sự đều
xong. “Một” thật sự là vật ǵ vậy? Nếu
coi sự vật là một, sự vật lại lăng
xăng, chẳng giống hệt như nhau! Nếu ĺa sự
vật để riêng đàm luận lư “nhất”, th́ lư sẽ ở nơi đâu? Nếu
nói là “như Không”, đấy cũng là vật, chẳng
phải là lư! Nếu nói “chẳng
phải sự, chẳng vật, cũng chẳng phải
hư không” [là Lư], có khác ǵ lông
rùa, sừng thỏ? V́ vậy biết: Thật sự hiểu
rơ Nhất th́ mỗi sự, mỗi vật,
có ǵ chẳng phải là Nhất? Nếu mê cội
nguồn của sự vật, hư vọng so đo riêng
có lư “nhất”, lư ấy cũng là h́nh bóng của sự vật
mà thôi! So đo sự vật th́ là một tầng hư vọng.
Riêng so đo h́nh bóng của sự vật là “lư nhất”, chính
là trên vọng lại chồng thêm vọng, đă sai lại
càng sai hơn! Chư Phật thương xót, đặc biệt
nói toạc ra “vọng tưởng vô tánh”. Tổ
sư đă ngộ, đặc biệt nêu rơ “t́m tâm chẳng
thể được!” Đấy chính là tiếng chuông
sớm giảng rơ về “nhất” vậy!
* Chỉ dạy Giới
Viễn
Nhất
Tâm
Tam
Quán
ắt dùng Không làm sơ môn, do từ vô thỉ, [chúng sanh
đă] hư vọng coi duyên ảnh của lục trần
là tâm tướng của chính ḿnh. Người chưa thật
sự biết “vọng tưởng vô tánh”, càng cần phải
lấy giới làm nền tảng. Kẻ chẳng lo xa, ắt
có buồn gần, chớ như lửa cháy đến tận
lông mày mà chỉ trơ mắt nh́n!
* Chỉ dạy Đại
Quán
Lên
Thái Sơn bèn thấy thiên hạ nhỏ bé. Nh́n biển, khó
coi trọng những chỗ có nước khác. Đấy
chính là cái nh́n rộng răi đối với thế gian. Nh́n
ngược lại, tấm thân do cha mẹ sanh ra như một
cái bọt nước trong biển, khởi lên,
diệt mất không chừng! Mười phương
hư không sanh trong tâm, giống như một áng mây bé tí
trong không trung. Đó chính là cách nh́n rộng răi trong xuất
thế. Thiện Tài vào trong lỗ chân lông của đức
Phổ Hiền, trong một niệm, bước chẳng
thể nói bước chân, mỗi bước vượt
qua chẳng thể nói cơi, trải qua kiếp số nhiều
như số vi trần trong một cơi nước, vẫn
chẳng biết được ngằn mé của thế
giới trong một lỗ chân lông. Một lỗ chân lông và
hết thảy các lỗ chân lông cũng đều như
thế. Lại nói đó là thế gian hay xuất thế
gian, đại quán hay tiểu quán vậy? Ôi! Gặp người
rất tránh lầm lẫn nêu ra![3]
Kệ rằng: “Đại quán, tiểu quán, sát hải,
chót lông, hai cái năm trăm, vốn là một ngàn. Hăy hiểu
như thế, rốt ráo đáng thương!” Hăy tham cứu!
* Chỉ dạy U
Nhược
Mười
giới sai biệt, nhưng chẳng sai biệt cho mấy!
Lư thể của chánh nhân giống nhau, giải tánh của
liễu nhân giống nhau, nghiệp dụng của duyên nhân
giống nhau.
Cái chẳng giống nhau gần như
chỉ là một niệm mà thôi! Một niệm trái giác hợp
trần th́ Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát
liền thành Khổ, Hoặc, Nghiệp. Như trong chỗ
tối, va phải của báu, toạc da, nứt
xương, há có phải là tội của chất báu ư?
Nhưng dân hèn bèn vứt bỏ! Một niệm trái trần
hợp giác, Khổ, Hoặc, Nghiệp chính là Pháp Thân, Bát
Nhă, Giải
Thoát,
như khéo dùng vật báu, tứ sự sẽ dồi dào,
thích đáng, hiển lộ công năng của diệu bảo.
V́ thế nói: “Quân tử tồn chi”[4] (quân tử ǵn giữ).
Xét nghĩ đó là duyên sanh, há có thật pháp? Liễu đạt
“một
niệm duyên sanh, tánh Không chẳng có Thể”;
đó gọi là thật sự ǵn giữ. Nói chung, chẳng
ĺa mà gần như là gần gũi vậy!
* Chỉ dạy Thạch
Hữu
Niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ chính là một môn nhiếp
trọn trăm ngàn pháp môn; chẳng phải là nêu ra một,
phế cả trăm, nhưng ắt phải một môn thâm
nhập. Niệm Phật là chánh hạnh, hết thảy các
pháp khác như Giới,
Định,
Huệ
v.v… là trợ hạnh. Chánh và trợ hợp hành, sẽ
như thuyền thuận gió, lại thêm dây lèo, sẽ mau
đến bờ kia. Pháp Niệm Phật tuy nhiều,
nhưng Tŕ Danh giản tiện
nhất. Pháp Tŕ Danh cũng nhiều, kư số (nhớ số
tŕ danh) lại càng ổn thỏa, thích đáng. Người
thật sự tu tập há t́m ṭi phương cách khác biệt
với ngu phu, ngu phụ ư?
* Chỉ dạy về
Vô Kỷ (không có chính ḿnh)
Từ
vô thỉ đă lầm nhận có chính ḿnh,
há từng thật sự có “chính
ḿnh” ư? Biết “chính ḿnh” hư vọng, vốn
chẳng có, th́ Tịnh Độ chẳng mong sanh
mà tự sanh, tịnh giới chẳng mong giữ mà tự
giữ. Đấy chính là ư chỉ “ngộ trước,
tu sau”. Nếu chưa đốn ngộ, cũng chẳng
cần phải cố ư cầu ngộ, chỉ chuyên tŕ tịnh
giới, cầu sanh Tịnh Độ. Công sâu sẽ hữu
lực, hiện tiền, tương lai, ắt ngộ cái
Thể của “chẳng có chính ḿnh”. Đă ngộ chẳng
có “chính ḿnh”, sẽ thấy Phật, liền thành Phật!
* Chỉ dạy Trác Phi
Để
như chim ưng chao lượn vun vút, trước hết,
hăy nên tự đứng nơi cao vời để vọt
lên cao. Có thể nói Trác (卓) là Lập, Phi (飛) có thể
nói là Quyền. Chúng ta trước là tự lợi, sau
đó lợi tha; đó chính là Tam Học Giới, Định,
Huệ. Tam Học trọn đủ, chẳng mong khuyên dụ
người khác, mà người
khác đă ngấm ngầm được
biến đổi,
hành xử theo đúng lễ. Thân chánh đáng th́ chẳng ép
buộc mà [người khác ngưỡng mộ] làm theo; nhưng càng phải
lấy Giới làm nền tảng sơ khởi. Tŕ giới
chẳng thể hiểu lẫn lộn như giữ h́nh thức
ba y một bát, tích trượng, chất tẩy rửa, vớ…
đâu nhé, mà điều cốt yếu là hiểu rành rẽ
“khai, giá, tŕ, phạm”,
khiến cho hai nghiệp tánh và giá đều như băng,
sương. Sau
đấy, lục t́nh (sáu
căn) chẳng rong ruổi theo lục trần, Niệm
Xứ
có thể tư, tu. “Thân, thọ, tâm, pháp” được gọi
là Xứ. Các phép Quán bất tịnh, khổ, vô thường,
vô ngă v.v… được gọi là Niệm. Dùng Niệm
để duyên Xứ, tức là Huệ nơi Định. Dùng
Xứ để buộc tâm, tức là Định nơi Huệ.
Định và Huệ trọn đủ th́ mới gọi
là “diệu giới”. Do vậy bèn nói: “Giới
không chỉ là nền tảng ban sơ, mà c̣n bao gồm trọn vẹn rốt
ráo tam thừa”.
Luật nghi của thất chúng[5]
hễ thật sự tu tập một thứ, sẽ trọn
đủ cả hai thứ lợi (tự lợi và lợi
tha), chẳng cần treo cao danh xưng Bồ Tát tỳ-kheo
th́ mới là tôn quư, thù thắng!
* Chỉ dạy Chỉ
Sanh
Tâm
tánh chiếu mà thường tịch, th́ gọi là Chỉ. Tịch
mà thường chiếu th́ gọi là Quán. V́ thế, xứng
tánh mà tu Chỉ Quán, toàn tu nơi tánh, chẳng phải là tạo
tác! Thời Mạt chẳng thể thông đạt văn tự,
bị văn tự trói buộc, như con chó si ngốc sủa
tiếng. Mới nghe hai chữ Chỉ Quán, liền nói là
công phu, chẳng phải là bản thể! Nào có nghĩ: Ĺa
ngoài bản thể, há có công phu? Ĺa ngoài công phu, sao hiển lộ
bản thể? Bản thể và công phu chẳng một, chẳng
khác. Tịch chiếu
Định, Huệ, ǵ là tánh? Ǵ là tu? Huống hồ
quán kỹ tánh hôn trầm, tán loạn của một niệm,
rốt cuộc thứ ǵ là hôn trầm, tán loạn? Suốt
ngày hôn trầm, tán loạn,
mà chưa từng hôn trầm, tán loạn, tức là suốt
ngày viên giác, nhưng chưa hề viên giác. Chưa từng
hôn trầm, tán loạn mà suốt ngày hôn trầm, tán loạn,
tức là chưa hề viên giác mà suốt ngày viên giác. Tướng
hôn trầm, rối ren tuy trái nghịch với tịch chiếu,
nhưng vẫn chẳng ĺa bản thể. Có thể nói Chỉ
Quán chẳng phải là bản thể ư?
* Chỉ dạy Hằng
Tố
Người
đương thời có hai chứng bệnh:
- Một là hễ làm
bèn thiếu sót, có đầu mà chẳng có cuối.
- Hai là tô vẽ đẹp
đẽ bề ngoài, bên trong tệ hại.
Nhưng đẹp
đẽ bề ngoài dối gạt thế gian, càng đáng
lo ngại hơn! Hai thứ ấy đă là bệnh th́ Hằng (恒) và Tố (素) đúng là thuốc tốt lành. Vĩnh
hằng xưa nay như một là Hằng. Trọn khắp
mười giới chỉ là Thật Tướng; đó là
Tố. Do Tố mà Hằng, đấy lại c̣n là
đường lối để thực hiện trọng
yếu nhất, nhất loạt gột trừ thói tệ
giả Tông, giả Giáo, giả Luật. Ngàn đời hễ
có ai biết, hiểu điều ấy, sẽ ngộ chỉ
trong sáng tối vậy!
* Chỉ dạy Kiến
Triệt
Mỗi
pháp, mỗi sự,
không ǵ chẳng phải là chí đạo, nhưng mọi
người chẳng thấy thấu triệt! Nay thọ Ngũ
Giới căn bản, chỉ cần trụ trong giới, sẽ thấy
rơ Phật tánh. Cái Thể của Ngũ Giới cố nhiên
là Vô Tác Pháp Thân. Tướng của Ngũ Giới không ǵ chẳng
phải là pháp giới. Từ bi, tốt lành, thanh tịnh,
thẳng thắn, chánh kiến rạng ngời, th́ niệm nào
cũng viên măn vô thượng công đức, há có phải
thổi lông, giơ phất trần lên mới được
gọi là “hướng thượng” ư?
* Chỉ dạy Tịnh
Hương
Tứ
bất hoại tín[6]
càng phải khởi đầu từ Giới, v́ đó là
đuốc báu trong đường tối, chỉ cho mọi
người đường nào có thể đi, nẻo nào
chẳng thể đi, đường nào sẽ siêu sanh
thoát tử, nẻo nào sẽ sảy hầm, sụp hào. Phàm phát
tâm khởi hạnh, thân cận thầy, chọn bạn, có
mắt chọn lựa pháp, xem chỉ quy của giáo, yếu
quyết công phu, to, bé, tinh, thô, không ǵ chẳng do học Giới
mà biện định. V́ thế, trên là từ Phật, Tổ,
dẫu Giáo Quán có Thiên, Viên, Quyền, Thật, đủ thứ
bất đồng, chưa hề
có pháp nào chẳng lấy Giới làm nền
tảng ban đầu, dùng Giới để biện định
tà, chánh. Thanh Tịnh Minh Hối[7]
chính là bằng khoán của
Lạc Bang, niềm tin ấy sẽ chẳng thể phá hoại
được!
* Chỉ dạy Lưu
Nghệ Chiêu
Học
đạo th́ lanh lợi chẳng khó, khó ở chỗ thận
trọng. Phát tâm dũng mănh, nhạy bén chẳng khó, khó ở
chỗ kiên tŕ, dài lâu! Dấn ḿnh vào cơi đời, uốn nắn
thế tục chẳng khó, khó ở chỗ tự giữ vững.
Làm việc mẫn tiệp, thông đạt chẳng khó, khó ở
chỗ nhẫn nhục sâu xa. Nghiên cứu nghĩa lư th́ lănh
ngộ, thông hiểu chẳng khó, khó ở chỗ [lănh ngộ]
tinh
vi, xác đáng.
Bậc hào kiệt là nền tảng của thánh hiền.
Thánh hiền là bậc thềm để tiến tới Phật,
Tổ. Chẳng thể là bậc hào kiệt mà có thể làm
thánh hiền, tôi chẳng tin! Chẳng thể làm thánh hiền
mà có thể làm Phật, làm Tổ, tôi càng chẳng tin! Bậc
hào kiệt chân thật quyết chẳng hạn cuộc là
hào kiệt, bậc thánh hiền thật sự quyết chẳng
tự măn là thánh hiền, há lại tự ỷ ḿnh là Phật,
Tổ ư?
* Chỉ dạy Lăng
Nhiên
T́nh
đời nhạt một phần, Phật pháp sẽ đắc
lực một phần! Nhẹ một phần kiếm sống
trong Sa Bà, sanh Tây Phương liền thêm một phần ổn
thỏa. Chuyện này chỉ cần hỏi ḷng, chẳng cần
hỏi han tri thức! Tri thức cũng khuyên nhạt bớt
t́nh đời, nhẹ bớt cách mưu sanh, chuyên tu lẽ
xuất yếu đó thôi! Đầu cân phía này vừa hạ
xuống, đầu cân phía
kia ắt nâng cao. Dẫu trí huệ cao, giải hạnh mạnh
mẽ, chẳng thể “lưng
giắt mười vạn quan, cưỡi
hạc bay tới Dương Châu”[8].
Hán Vũ Đế, Tần Thủy Hoàng c̣n chẳng thể
vặn hỏi một câu, huống hồ kẻ thấp kém
hơn ư?
* Chỉ dạy Như
Bạch
Học
đạo không ǵ bằng chuyên ṛng. Hễ có phần ham lợi
th́ người trí cũng hiếm có thể đạt tới
cội nguồn của pháp, huống hồ kẻ bậc
trung! Chúng ta từ vô thỉ đến nay ở trong tam giới,
lục đạo, không chuyện ǵ chẳng trải qua,
không nghề ǵ chẳng luyện tập, chỉ riêng
chưa từng tu tập Tứ Niệm Xứ, chẳng hiểu
rơ lư Tứ Đế, chẳng chứng tứ quả và tứ
trí. Người đă trải qua, đă tu tập th́ chẳng
cứu nổi sanh tử, nào ngại trải qua, tu tập
lần nữa, nhưng pháp yếu để thoát khổ vẫn
mờ mịt chẳng đạt được! Ngải
ba năm[9],
há có phải là được tích lũy từ ngày hôm nay
ư? Niệm Xứ
Huệ
đă chín muồi, đă hiểu rơ lư thánh đế;
sau đấy, xuất Chân, chiếu Tục,
vui chơi trong trăm ngàn nghề khéo, chẳng phải là
chuyện ở
ngoài bổn phận! Nếu chẳng
hướng đến căn bản để t́m ṭi đầu
mối, chẳng chuyên ṛng dốc sức học từng
pháp, dẫu học đến trăm ngàn vạn kiếp, mỗi
thuật đều xảo diệu, vẫn là chuyện thuộc
bến bờ sanh tử. Hễ chuyển theo nghiệp, lại
chuyển thành bỏ phế, quên mất, há chẳng phải
là uổng công vận dụng tâm cơ?
Hăy suy nghĩ, chọn lựa, chẳng đợi hủ
nhân phải khổ sở răn dạy!
* Chỉ dạy Mạc
Doăn Thần
Chuyện
thế gian và xuất thế gian không ǵ chẳng do Từ
và Nhẫn
mà thành, v́ phẫn nộ, hấp tấp mà bại. Do vậy,
quân tử dùng Từ để dưỡng đức, dùng
Nhẫn để dưỡng tính t́nh. Dưỡng đức
th́ muôn vật trong trời đất đều quy vào xuân
phong ḥa khí của ta. Dưỡng t́nh th́ yêu nghiệt, tai quái đều
tiêu tan dưới ánh nắng rạng rỡ. Sau đấy,
do đă tự thành, sẽ là thanh tịnh viên măn, tự tôn
quư. Dùng đó để thành tựu muôn vật, ắt sẽ
do sức Từ mà chúng sanh
đều xót xa ngưỡng mộ. Nếu một niệm
sân dấy lên, trăm vạn chướng sanh. Chuyện nhỏ
mà chẳng thể nhẫn th́ những toan tính lớn lao sẽ
v́ đó mà bị rối loạn. Huống hồ kiếp
trược binh đao hiện thời, bất quá là do nóng
giận tích tập mà chiêu cảm. Thế cục như
đất lở, đều do chẳng suy nghĩ sâu xa
mà nên nỗi! Kẻ sĩ sanh trong đời này, hăy nên nỗ
lực như thế ḥng ngăn trở cơn sóng cuồng
vậy!
* Chỉ dạy Triều
Triệt
Hành
Phật pháp trong Phật pháp chẳng khó, hành Phật pháp
trong pháp thế gian mới là chuyện khó! Hơn nữa, Phật
pháp chẳng hoại thế pháp, sẽ là khó nhất trong
các sự khó, chỉ sợ lầm tưởng Phật pháp
chẳng chân thật, chẳng thân thiết! Pháp thế gian
hay Phật pháp có bao giờ chẳng phải là cùng một
duyên khởi? Đọc phẩm Thế Chủ Diệu
Nghiêm và phẩm Nhập Pháp Giới [của kinh Hoa Nghiêm], sẽ
có thể ngộ cảnh giới của Như Lai.
* Chỉ dạy Tuyết
Lâm
Học
đạo và học cái tốt khác nhau. Học cái tốt chỉ
đạt được hư danh trong thế gian. Học
đạo quư ở chỗ đạt được lợi
ích xuất thế thật sự. Học cái tốt chỉ
quan tâm cục diện trước mắt. Học đạo
cần phải hiểu rơ đạo lư sâu xa trải trần
kiếp. Đạo lư sâu xa trải trần kiếp chẳng
ĺa trước mắt, nhưng do mến luyến cái
trước mắt mà lập tức mê muội trải trần
kiếp. Chỉ có bậc liễu đạt thẳng thừng
quán tánh của một sát-na trước mắt là chẳng
sanh diệt, chẳng đến đi, chẳng thể
được, há có thân thể, thế gian, tự hay tha
để câu nệ, hay luyến mến! Sau đấy, quán
đồng thể bị mê muội tích tụ, bèn khởi
vô duyên hoằng thệ. Nếu chẳng
trọn đủ tự lợi, lợi tha, cả
đời sẽ ngả theo
khuynh hướng làm những chuyện chẳng
ra ǵ! Nếu là người tự lợi, lợi tha, dẫu
bị cơi đời cùng phủ nhận, vẫn chẳng
dám oán hận. Đó gọi là “học đạo”, mà
cũng là người thật sự học điều tốt
lành vậy!
* Chỉ dạy
Vương Diệc Hàm
Tu
thân cần phải kiên nhẫn, chẳng so đo những
công lao trước mắt. Đó là bí quyết nắm giữ
vận mạng. Chỉ có hậu thiên[10]
tuân phụng theo đúng thời cơ th́ tiên thiên mới chẳng
trái nghịch lẽ trời. Nước nhỏ chảy
măi, sẽ có thể xoi thủng đá. Dùi gỗ chưa
nóng, sẽ khó được lửa! Do vậy, học
đạo dũng mănh trong một lúc chẳng khó, nhưng
khó thể vĩnh cửu, chẳng thay đổi. [Do niệm
danh hiệu] Quán Thế Âm Bồ Tát mà cầu con trai
được con trai, như do bệnh mà có được
tiên đan, lại c̣n được thân h́nh nhẹ nhàng cất
lên. Tôi nguyện cư sĩ hăy do cầu con mà gắng sức
hành các điều thiện sao cho rộng, cho lớn, càng
lâu
bền, càng kiên cố, ḥng chứng nhập
địa vị “con một”, thấy chúng sanh trong pháp giới
đều là con ḿnh, th́ con cháu hiển
đạt chẳng đợi phải bói toán đă biết
là chắc chắn có thể đạt được!
* Chỉ dạy về
Lục Độ
Chúng
sanh từ vô thỉ đến nay chẳng biết “hết
thảy duy tâm”, cứ hư vọng so đo duyên ảnh
của lục trần là tâm tướng của chính ḿnh. Do
vậy, kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) ước
theo bảy chỗ để gạn hỏi [cái tâm], Trung Luận
dựa theo bốn tánh để [người đọc]
suy ra, Trí Giả dựa theo tứ vận[11]
để quán, không ǵ chẳng nhằm phá sự so đo
hư vọng nơi duyên ảnh mà thôi! Chỉ cần chẳng
chấp duyên ảnh, ắt một niệm nhỏ nhoi trong
hiện tiền vốn tự ĺa lỗi, tuyệt sai, thanh
tịnh trọn khắp. Bách giới thiên như hải ấn
hiển hiện rạng ngời. Muốn phá chấp trước
hư vọng đối với duyên ảnh th́ hoặc dựa
theo bảy chỗ để gạn hỏi trọn khắp,
hoặc nương theo tứ tánh để lọc lựa
theo chiều ngang, hoặc nương theo tứ vận
để phá trừ theo chiều dọc đều
được cả! Tùy bệnh mà uống thuốc, pháp
chẳng có nhất định. Suy nghĩ rồi tu tập,
có người như vậy hay chăng?
* Chỉ dạy về
dưỡng đức
Người
học đạo xương cốt nên cứng cỏi,
tánh khí nên mềm mỏng, chí nên to lớn, gan nên nhỏ, tâm
nên rỗng rang, lời lẽ nên chân thật, huệ nên
tăng trưởng. Hăy nên tiếc phước, nên lo xa,
suy nghĩ nên gần gũi, đối với sự việc
phải nên kiền thành, xử sự đối với
người dưới nên khiêm nhường, đối với
người cùng hàng nên nhường nhịn, khi đắc
ư đừng nên buông lung, xa xỉ, khi thất ư đừng
uất ức, thất thố. Làm phước chẳng bằng
tiếc phước. Hối lỗi chẳng bằng ít phạm
lỗi. Hăy nên nghĩ thân thể lẫn cơi đời đều
là Khổ, Không, đừng rong ruổi theo thói đời.
Y phục cốt sao che thân, đừng tham đẹp đẽ.
Ăn cốt sao khỏi đói, đừng tham chuộng vị
ngon. Hăy nên phản tỉnh đời này, đời trước
đă làm công hạnh ǵ mà có thể ngồi hưởng sự
bố thí của đàn việt?
Trong mười hai thời, luôn kiểm điểm thân, khẩu,
ư nghiệp là thiện nhiều, ác nhiều, hay vô kư nhiều?
Kham tiêu tứ sự [cúng dường], hay chẳng kham? Hổ
thẹn, giác ngộ, tu tỉnh như thế đó, tự
nhiên tập khí dần dần tiêu trừ, trí quang dần dần
tỏ lộ, ư Tổ, ư Phật sẽ hiển hiện
trong một niệm thanh tịnh tâm!
* Chỉ dạy Dư
Chánh
Nghiên
cứu chân, hiểu tột cùng vọng th́ gọi là Học,
bởi hễ có thể đạt được bản
lănh sâu xa th́ trái phải đều có thể gặp nguồn.
Do đó, càng rộng mà càng ước lược. Nếu
không, càng rộng sẽ càng là chẳng có đầu mối,
cách đạo càng xa! Cổ nhân phát tâm xuất gia, ắt dốc
chí tham học, do đau đáu nghĩ sanh tử là chuyện
lớn, vô thường nhanh chóng, kiếp này chẳng độ
thân này, kiếp nào mới độ cho xong thân này? Do vậy,
tam đăng cửu thượng, khói sóng trăm thành[12],
chẳng nề
hà khó nhọc, niệm nào cũng v́ giải
quyết ổn thỏa đại sự, há chịu chấp
tướng và so đo danh, dơi theo mấy ḍng mực, vịn
lá vin cành để chỉ sướng tai, vui miệng suông
ư? Thời Mạt chẳng phải vậy, mang tiếng
là muốn nối tiếp huệ mạng của Như Lai,
chống đỡ pháp môn của Như Lai, nhưng chẳng
biết đau đáu v́ sanh tử, chỉ tích tụ học
vấn, mở rộng kiến thức, mong có thể lên
pháp ṭa phẩy bụi[13]
mà thôi! Than ôi! Chẳng tương ứng với Bồ
Đề đại tâm mà bảo là “thay Phật tuyên
dương, giáo hóa”, tôi chẳng tin! Chẳng tương ứng
với cái tâm v́ sanh tử mà bảo là “đại Bồ
Đề tâm”, tôi càng chẳng tin! Chẳng quên t́nh kiến
hơn, thua, chỉ thành pháp giới A Tu La. Ư niệm danh lợi,
quyến thuộc chẳng quên, chỉ thành chủng tử
của Ma La trong tam đồ. Thuận theo những điều
thấy, nghe mà dấy lên pháp chấp, chẳng thể buông
bỏ tập khí danh ngôn, chẳng thấu đạt chỉ
thú thuyết pháp của Như Lai, chẳng biết các thứ
nhân duyên Tứ Tất Đàn, chỉ thành sào huyệt hư luận
của phàm phu, ngoại đạo. Học vấn càng lắm,
hại tâm càng thịnh! Người học càng đông,
chánh pháp càng suy. Do đó, tôi mỗi khi nghĩ tới [chuyện
này], chưa từng chẳng đau đớn khóc ṛng ngay
trong khi mộng mị!
* Chỉ dạy Dung Am
Hành
tŕnh ngàn dặm bắt đầu bằng một bước.
Chưa cất chân một bước, chẳng gọi là “về
đến nhà”, nói “ngàn dặm chỉ là một bước”
cũng được! Nói “một bước chính là ngàn
dặm”, há được hay chăng? Coi Phật đạo
là ngàn dặm, Giới là bước đầu tiên. Từ
đấy trở đi cho tới khi thành Phật, đều
chẳng ra ngoài bước này, nhưng quyết chẳng thể
chấp chặt, chẳng tiến, bởi hễ tiến
th́ niệm nào cũng giữ vẹn bước ấy. Hễ
ngưng lại th́ bước ấy sẽ ngay lập tức
suy thoái. Nhưng cách để tiến bộ,
chẳng ngoài bỏ bước cũ từ vô thỉ. Do vậy,
mỗi bước đều có sự lệch lạc, tŕ
trệ, mà cái chướng đạo lớn nhất không
chi bằng sân, mạn.
Một niệm sân tâm khởi, trăm vạn cửa chướng
mở. Mạn như núi cao, nước pháp chẳng ngừng.
Lại nữa, sân thô phi lư dễ trừ, sân tế do chấp
lư khó đoạn. Mạn quá mạn rơ ràng, dễ thấy,
tăng thượng mạn và ty liệt mạn[14]
ẩn kín khó biết. Biết cái khó biết, đoạn cái
khó đoạn, đó gọi là “có
thể ĺa cái duyên thoái thất” vậy!
* Chỉ dạy Minh Tây
Thoát
khỏi nhà lửa tam giới, có hai lối ngang và dọc.
Dùng tự lực đoạn Hoặc để vượt
thoát sanh tử th́ gọi
là “thụ xuất tam giới” (thoát tam giới theo chiều
dọc). [Cách này] xét về Sự
th́ khó khăn, công chậm
chạp. Nương vào Phật lực tiếp
dẫn sanh về Tây Phương, gọi là “hoành siêu tam
giới” (siêu thoát tam giới theo chiều ngang), sự dễ dàng,
công nhanh chóng. Tổ Huệ Viễn nói: “Công cao, dễ tiến,
niệm Phật đứng đầu”. Kinh dạy: “Mạt
thế ức ức nhân tu hành, hăn nhất thành đạo”
(đời mạt, ức ức người tu hành, hiếm
có một ai thành đạo). Chỉ nương vào niệm
Phật mà có thể được độ thoát, như
ngồi thuyền vượt biển, chẳng nhọc công
sức! Hễ có thể dốc ḷng tin vào nẻo tắt Tây
Phương, chí thành phát nguyện, nhất tâm niệm Phật
cầu văng sanh, sẽ là bậc đại trượng phu
thật sự. Nếu ḷng tin chẳng chân thật, nguyện
chẳng thiết tha, hành chẳng dốc sức, dẫu
đại từ của Phật là thuyền, nhưng chúng
sanh chẳng chịu lên thuyền, biết làm sao được
nữa!
* Chỉ dạy Tạ
Tại Chi
Một
niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta, quá khứ
không khởi đầu, vị lai chẳng kết thúc, hiện
tại chẳng ngằn mé, t́m trọn chẳng thể
được, nhưng chẳng thể nói là “không”. Ứng
dụng muôn ngàn biến hóa, nhưng chẳng thể bảo
là Có. Tam thế chư Phật, hết thảy chúng sanh trọn
chẳng hai Thể.
Mười phương hư không, sát trần sai biệt,
đều là Tướng Phần do tâm ta hiện. V́ thế,
bốn loại Tịnh Độ đều chẳng ở
ngoài tâm, bèn gọi là “duy tâm”. Tức là Cực Lạc
chẳng phải chính là duy tâm ư? Tây Phương há ở
ngoài tâm? Tâm ta há hạn cuộc nơi phương Đông ư?
Người ta nói “các pháp hữu vi đều như mộng, huyễn”,
chẳng biết tâm tánh chẳng thể gọi là hữu
vi, chẳng thể gọi là vô vi. Do mê, nên vô vi thành hữu
vi, có nhân quả luân hồi tam giới, ví như mộng,
huyễn, bọt, bóng, sương, chớp. Nếu phản
mê quy ngộ, hữu vi lại thành
vô vi, như khi tỉnh mộng, huyễn lại trở về
gốc, bọt quy về nước, bóng quy vào chất,
sương chẳng khác tánh ướt, chớp chẳng
khác thường quang.
Nay niệm Phật cầu
sanh Tịnh Độ chính là phản mê quy ngộ, chí viên,
chí đốn, nhất loạt dùng mộng huyễn để
quét sạch, há có được ư? Người hiện
thời đối với gia duyên vợ con mộng huyễn,
chẳng thể ngay lập tức cắt bỏ, chẳng
thể ngay lập tức ĺa công danh phú quư mộng huyễn,
chẳng
thể lập tức thấy thấu suốt khổ, lạc,
lạnh, nóng mộng huyễn, cho tới chẳng thể
ngay lập tức khạc nhổ thơ văn, cơ phong,
chuyển ngữ mộng huyễn, riêng với Tây
Phương mộng huyễn là chẳng cầu sanh. Đấy
cũng là sự mê hoặc to tát vậy. Dựa theo đối
đăi để luận, sinh kế trong Sa Bà là mộng càng
thêm mộng, cầu sanh Tịnh Độ là tỉnh mộng.
Chẳng thể không cầu sanh!
Luận theo sự dứt bặt đối đăi, do Hoặc
nghiệp cảm vời tam giới;
đó là ác mộng. Niệm Phật sanh về Tịnh Độ
là hảo mộng, cũng chẳng thể không cầu sanh.
Chắc có kẻ lại
nói: “Ngay trong hiện tại chính là Tịnh Độ, cần
ǵ cứ phải [cầu sanh] Tây Phương?” Hỏi: “Ngay
trong hiện tại đă no ấm, cần ǵ phải ăn
cơm, mặc áo? Ngay trong hiện tại là phú quư, cần
ǵ phải buôn bán, trồng trọt, thi cử? Ngay trong hiện
tại chính là học vấn, cần ǵ phải đọc
sách? Ngay trong hiện tại chính là kinh đô của hoàng
đế, cần ǵ phải lên miền Bắc? Pháp thế
gian đă chẳng thể bỏ mảy may, sao riêng pháp xuất
thế lại phế trừ?” Nếu suy nghĩ sâu xa lư ấy,
[ư nguyện cầu] sanh Tịnh Độ sẽ là muôn con
trâu chẳng lôi lại được! Thiên Như đại
tổ sư nói: “Sau khi đă ngộ mà chẳng nguyện
văng sanh, dám đảm bảo lăo huynh chưa ngộ”.
Đức Thích Ca sống dậy, chẳng thể thay đổi
lời ấy!
* Chỉ dạy Tảm
Huệ
Học
đạo quư ở chỗ có phẩm cách, có sự hiểu
biết, chẳng dính dáng ǵ tới văn tự, kư vấn[15]!
Có phẩm cách mà chẳng có sự hiểu biết, chẳng
đủ để vượt xa ngàn đời, cũng
giống như không có phẩm cách. Có hiểu biết mà chẳng
có phẩm cách, chẳng đủ làm trụ đá giữa
ḍng, cũng giống như chẳng có sự hiểu biết.
Phẩm cách và hiểu biết đều đủ, sẽ
chẳng bị hạn cuộc trong sinh kế trước
mắt, chẳng bị tập khí nơi thói đời hiện
thời đổi dời. Dẫu chậm lụt như
ngài Bàn Đà (Châu Lợi Bàn Đặc, Śuddhipanthaka) nếu
nghĩa của bốn chữ “phất trần, trừ cấu”
(phủ bụi, trừ nhơ) đă thuần thục, liền
kham chứng quả Sa Môn, phát vô ngại biện tài, huống
hồ người vốn hiểu văn nghĩa ư? Than
ôi! Pháp môn suy vi cho đến hiện thời chẳng nỡ
nhắc đến! Bác ắt phục, bỉ ắt thái[16].
Nếu muốn hoa mai thơm ngát mũi, vẫn
phải trải qua một phen rét lạnh
buốt tận xương! Bậc hào kiệt phải nên
khởi tâm nhẫn tánh như thế nào để chẳng
cô phụ linh tánh của chính ḿnh?
* Chỉ dạy về
“chẳng lạc vào ngơ rẽ”
Mười phương Như Lai có một
môn là con đường siêu xuất trang nghiêm mầu nhiệm,
bất quá là liễu giải vọng tưởng vô tánh, ngộ
chân tâm thường trụ, tánh thanh tịnh, thể sáng suốt
mà thôi! Muốn ngộ chân tánh, quư ở chỗ trực tâm
chánh niệm Chân Như. Muốn thực hiện Chân Như
Thật Quán, trước hết hăy tu Duy Tâm Thức Quán,
cưỡng quán “các pháp chẳng thật, chỉ do tâm hiện”
th́ ngoài tâm chẳng có pháp. Kế đó, quán tâm chẳng có
tướng tâm, t́m ṭi trọn chẳng thể được,
sẽ là ngoài pháp chẳng có tâm. Tâm lẫn pháp đều mất,
tánh năng, sở dứt bặt, chẳng gọi là Chân
Như Thật Quán cũng chẳng được!
Nếu chẳng
chánh niệm Chân Như, hư vọng so đo có tâm, có pháp,
có năng, có sở, sẽ tự sanh lối rẽ cách
ngăn, đọa vào tướng cong quẹo.
Chỉ là sự cong quẹo ấy cũng chẳng có cái Thể
khác biệt. Nó vốn lấy Chân Như làm Thể. Như
hoa đốm quay cuồng lấy hư không làm Thể, sóng
trào lấy nước làm Thể. V́ vậy nói “tưởng
ấy chẳng thật”. Biết tưởng chẳng chân
thật, sẽ chẳng thuận theo sanh tử hư vọng
liên tục. Tâm pháp do Phật, Tổ truyền trao tột bực
đều trọn hết trong ấy. Dùng tâm pháp ấy
để in vào ngàn kinh muôn luận và công án của chư tổ,
khác nào đóng cửa chế xe, nhưng
ra khỏi cửa liền phù hợp đường nẻo.
Nếu chẳng thấu triệt môn này, t́m
ṭi công phu học vấn khác, nói chung là nhiều ngơ rẽ mất
dê, chẳng phải là Đại Phật Đảnh Thủ
Lăng Nghiêm tam-muội. Muốn tu tam-muội, càng phải
nên Lư và Sự cùng tiến, Hiển và Mật giúp lẫn
nhau, trừ trợ nhân, khoét chánh tánh, trái hiện nghiệp,
thề có thể thực hiện ngay trong đời hiện
tại vậy!
* Chỉ dạy Nhĩ
Giới
Có
cái tâm nhỏ nhoi[17]
trọn đủ tam thiên. Người thuộc viên căn
xứng tánh mà quán điều này, xứng tánh mà ngộ,
trong khoảng khảy ngón tay, vượt khỏi vô học,
một đường Niết Bàn môn! Người có chí hiện
thời chẳng thể nhất siêu trực nhập chỉ
v́ hư vọng ngỡ duyên ảnh của lục trần
là tâm tướng của chính ḿnh, chẳng chịu thẳng
thừng quán kỹ cái tâm giới nhĩ vốn tự trọn
chẳng thể được! Nếu chịu thẳng thừng
quán, sẽ biết tâm chẳng có tâm tướng, đă chẳng
ngỡ duyên ảnh là tâm, th́ hư không, núi sông, đại
địa, đều là vật được hiện bởi
cái tâm giới nhĩ của chính ḿnh. Năng duyên đă là
không
có, sở duyên há có? Một thứ không,
hết thảy đều không, nhưng chẳng phải là
đoạn diệt. Sở hiện (cái được biến
hiện bởi cái tâm giới nhĩ) cùng tận lẫn
nhau, năng hiện (cái có thể hiện các cảnh giới,
tức tâm giới nhĩ) cũng thế. Một thứ giả,
hết thảy đều giả, đều là như huyễn,
chẳng thể gọi là Không, chẳng thể gọi là Giả,
bèn cưỡng gọi là Trung. Trung cũng chẳng ở
ngoài Không và Giả, Không và Giả chẳng có Thể, hoàn
toàn dùng Trung Đạo làm Thể. Nói là Không th́ tam thiên đều
là Không. Nói là Giả th́ tam thiên đều cùng giả. Nói là
Trung th́ tam thiên đều là Trung. V́ thế, trọn đủ
lẫn nhau, chẳng thiếu, chẳng thừa. Như vậy
th́ mổ xẻ một vi trần, lấy ra quyển kinh to
như cơi đại thiên, há có Chánh, Tượng,
Mạt ǵ để có thể
phân biệt nữa? Đấy không chỉ khiến cho Phật,
Tổ thở phào, mà cũng v́ tôi mà gột rửa nỗi
thẹn là một gă “cú độc tiên sinh”[18]!
* Chỉ dạy Hạ
Tẫn Thần
Thánh
hiền cố nhiên chẳng chọn nơi chốn, chẳng
chọn thời để sanh, nhưng thường là sanh
nơi hang núi (ư nói chốn hẻo lánh), đời loạn. Sen vượt khỏi
bùn lầy, châu sanh trong nước đục, chẳng phải
là tùy tiện! Sen ở trong bùn, bùn chẳng thể nhuốm
bẩn. Châu ở trong
nước đục, chất đục chẳng thể
[khiến châu bị] lu mờ. Thánh hiền ở nơi hang
núi, đời loạn, há hang núi có thể hạn cuộc [các Ngài]? Đời
loạn há có thể biến đổi họ? Hang núi chẳng
thể hạn cuộc, đời loạn chẳng thể
biến đổi, chẳng phải chỉ có thánh hiền là
được như vậy ư? Do
thánh hiền có thể chẳng bị
vùi lấp vậy! Tâm pháp của Nghiêu - Thuấn bất quá
là hai chữ “nguy vi”[19].
“Thao tắc tồn, xả tắc vong” (nắm giữ
th́ c̣n, bỏ th́ mất). Bá Ngọc chưa
thể bớt lỗi[20],
Tử Lộ nghe vạch lỗi bèn mừng. Khổng Tử
năm mươi tuổi học Dịch, Văn
Vương mong được đạo chưa thấy[21];
đó đều là tâm ấn của “vi, nguy”. Do vậy,
chẳng coi “cầu phóng tâm”[22]
là học vấn, chỉ chuộng nói suông cho sướng
tai, sẽ khác hẳn cái được gọi là “học
vấn” của thánh hiền! Hăy xem xét cái tâm là vật
như thế nào? “Phóng” là như thế nào? “Cầu”
là như thế nào? Nếu “phóng” (buông lung khiến bổn
tâm chân thật bị vùi lấp) th́ rong ruổi trong khắp
thế gian, “cầu” (t́m lại được bổn
tâm) th́ sẽ trở về một khối. Đấy là
duyên ảnh, là Phong Đại, tâm quá khứ, vị lai, hiện
tại đều chẳng thể được. Nếu
có thể đạt được, sẽ cùng với gà,
chó là một vật, nhưng tâm há có phải là một vật
ư?
Kẻ thật sự “cầu
phóng tâm” ắt cần phải
là “t́m
tâm trọn chẳng thể được”. Chỉ có tâm trọn
chẳng thể được, th́ mới biết trời,
đất, mặt trời, mặt trăng, núi, sông, quốc
độ đều là vật được hiện trong
cái tâm diệu minh, mà cũng chẳng thể tách thành
năng hiện (cái có thể hiện)
và sở hiện (cái được
hiện ra). Đó gọi là “thiên hạ quy nhân”
(thiên hạ quy vào ḷng nhân), đó gọi là “minh minh đức”
(tỏa rạng đức sáng) trong thiên hạ. Đó gọi
là chẳng thể bị hạn cuộc bởi hang núi, chẳng
bị đổi dời bởi đời loạn. V́ thế,
Lục Tượng Sơn[23]
nói: “Biển Đông, Nam,
Tây,
Bắc có thánh nhân ra đời”.
Tâm ấy và lư ấy như nhau. Ngộ điều này, chắc
chắn chẳng cần hỏi chỗ ngằn mé tận
cùng của trời đất, do ngoài tâm chẳng có trời
đất. Trời đất chỉ là Tướng Phần
của cái tâm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Thập
phương hư không, sanh nhữ tâm nội, do như phiến
vân, điểm thái thanh lư” (Mười phương
hư không sanh trong tâm ông như một đám mây nhỏ tí
trong cơi thái hư). Huống hồ các thế giới đều
ở trong hư không ư? Biết điều này th́ Nho và
Phật đều chẳng đủ để gọi tên
được, tùy ư gọi là Nho hay Phật, không ǵ chẳng
thể được! Hăy nỗ lực mong cầu!
* Chỉ dạy Thái Nhị
Bạch
Muôn
vật trong trời đất đều có khởi đầu
và kết thúc. Hễ có h́nh tượng, sẽ có ranh giới,
có ngằn hạn, chỉ riêng tâm thức là chẳng có khởi
đầu, kết thúc, h́nh tượng, ranh giới, ngằn
hạn. Do đó nói “t́m tâm trọn chẳng thể
được!” Tâm trọn chẳng thể được,
nhưng muôn vật trong trời đất không ǵ chẳng
phải “chỉ
là tâm!” Nếu
ngă chấp và pháp chấp chẳng phá, lư “duy
tâm, duy thức” sẽ chẳng tỏ
lộ! Chẳng hiểu rơ lư tâm thức, điều mầu
nhiệm trong cảm ứng nhân quả sẽ chẳng thể
[thấy rành rẽ] như các đường chỉ trong
ḷng bàn tay. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm dạy: “Ưng quán pháp
giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (nên quán tánh
pháp giới, hết thảy chỉ tâm tạo). Quán Kinh dạy:
“Thâm tín nhân quả, bất báng Đại Thừa” (tin
sâu nhân quả, chẳng hủy báng Đại Thừa). V́
tâm giống như vàng, nhân quả trong mười pháp giới
giống như các thứ vật dụng để
trang nghiêm, nhưng trong thiên hạ há có vàng nào trơ trơ
chẳng tạo thành các vật dụng? Chắc chắn chẳng
có cái tâm trơ trơ chẳng tạo mười pháp giới!
Dẫu một niệm chẳng sanh, vẫn tạo thành vô
tưởng ngoại đạo. V́ thế, bậc đại
trí huệ ngộ sâu xa duy tâm, ắt siêng năng niệm Phật.
Đó gọi là “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.
Điều này chỉ có cư sĩ Nhị Bạch có thể
gánh vác!
* Chỉ dạy Lư Phẫu
Phiên
Khéo
học đạo của thánh nhân, quư ở chỗ đạt
được cái thần, chớ nên câu nệ h́nh tích. “Thần”
là nói tới điều kỳ diệu nơi muôn vật.
Do vậy bảo “thánh chẳng thể biết th́ gọi
là Thần”, nhưng thần há có phải vượt
ngoài h́nh tích ư? Đặc biệt chẳng câu nệ h́nh
tích. Do chẳng câu nệ h́nh tích,
nên Nghiêu, Thuấn chắp tay nhường ngôi cho nhau, Thành
Thang, Vũ Vương chinh phạt, giết [kẻ bạo
ngược], Châu Vũ Vương dẹp yên cơi đời,
Bá Di, Thúc Tề giữ hạnh cao cả ẩn dật, Tỷ
Can do can gián mà chết, Vi Tử ĺa Trụ, Cơ Tử làm
nô lệ[24],
Khổng Tử chẳng chờ xe[25],
Mạnh Tử vua chẳng thể triệu vời[26],
Thái Bá cắt tóc, xăm ḿnh[27],
Tăng Tử [lúc lâm chung bảo học tṛ] kiểm chân tay
của chính ḿnh[28],
Vũ Tắc (vua Đại Vũ) [bận rộn trị
thủy] đi qua cửa [nhà
ḿnh mà] chẳng vào, Nhan Tử (Nhan Uyên) một
giỏ cơm trong hẻm nghèo, không chỉ là hạnh chẳng
trái nghịch, mà dẫu thay đổi nơi chốn, vẫn đều
là như thế, sẽ đều là h́nh tích như thế
mà thôi! Ông đừng chấp vào đó, sẽ
gần như chẳng xen lạm tác dụng của Đại
Thuấn ư?
Than ôi! Ngập tràn trong
ṿng trời đất, phàm những ǵ có thể thấy,
nghe, không ǵ chẳng phải là h́nh tích! Chỉ nh́n mà chẳng
thấy, nghe mà chẳng lọt tai bèn là “thần”, nhưng
người cầu đạo thường bị hạn
cuộc trong cái có thể thấy nghe được, hiếm
khi có thể cầu nơi cái nguồn chân thật “chẳng
thấy, chẳng nghe”. Sao có thể coi những ǵ ta thấy
biết trong một đời ḿnh cao hơn sự thấy
biết trong trăm đời? Do đó bảo: “Nhan Tử
mất th́ thánh học cũng mất”, đáng buồn lắm
thay!
Xét ra, thánh học tuy mất,
vẫn có cái chẳng
thể mất, hiềm rằng người
nhân th́ thấy là nhân, người trí th́ thấy là trí, dân
chúng sử dụng hằng ngày mà chẳng biết. Hai ngàn
năm sau, Vương Dương Minh phấn chấn tinh
thần, sống nơi man di ba năm, đốn ngộ
lương tri, nhất loạt gột sạch tập khí
kém hèn của các nhà Nho đời Hán, Tống, trực tiếp
truyền tâm học của Khổng
Tử - Nhan Hồi.
Lúc hai mươi tuổi, tôi ngộ giống như ông
Dương Minh, nhưng Dương Minh do luyện từ
nơi cảnh, cho nên sức
lớn, dụng rộng, c̣n tôi do xem sách mà thấu hiểu,
sức kém, dụng yếu. Do vậy, ngộ môn chỉ mới
đạt đến ngoài ŕa của Phật pháp. Nay dùng Phật
pháp để nh́n, so sánh thấy điều đă ngộ
xưa kia giống như đem Hải Nhược[29]
so với Hà Bá; nhưng trong biển Phật pháp, [sở ngộ
ấy] c̣n chẳng bằng một giọt nước!
Đạo vô cùng đến mức như thế đó! Nếu
chẳng bửa toang rào giậu trong cơi đời, sẽ
do đâu mà có thể đạt tới cảnh giới biển
rộng trời cao?
Khổng Tử giải
đáp [cho câu hỏi của Tử Trương về]
đạo của người lành là “bất tiễn
tích” (chẳng noi theo dấu vết [của người
trước])[30].
Lại nói “thiện nhân ngô bất đắc nhi kiến”
(ta chẳng được thấy bậc thiện nhân)! Chẳng
noi theo dấu vết [của văng thánh tiền hiền để
thực hiện] sẽ khó lắm thay! Hạ học mà
thượng đạt, chẳng noi theo dấu tích [của
bậc cổ hiền nhân] mà có thể tiến nhập sâu
xa [cảnh giới của thánh hiền] ư? Thượng
đạt là quân tử, hạ đạt là tiểu nhân.
Ông hăy là quân tử Nho, đừng làm tiểu nhân Nho. Hăy nên biết bốn
khoa, sáu nghề[31]
đều là dấu tích, mà Tam
Cương, Ngũ Thường cũng
là dấu tích. Trời đất, mặt trời, mặt
trăng, lưỡng nghi (Âm, Dương), Thái Cực, không ǵ chẳng
là dấu tích, đều là “h́nh nhi hạ”[32].
Thần mà minh, có người như thế ấy hay
chăng? “H́nh nhi thượng” bèn gọi là đạo,
từ người bậc trung trở lên, có thể nói
đến h́nh nhi thượng, chẳng phá toang rào giậu
(phẫu phiên)[33]
th́ là mong mỏi điều ǵ vậy?
* Chỉ dạy Thạch
Canh
Phật
pháp thịnh hay suy là do
Nho học thịnh hay suy. Đức nghiệp và học vấn
của Nho quả thật là mạng mạch cốt tủy
của Phật. V́ thế, người là bậc chân Nho
trong cơi đời, sẽ là chân Phật trong xuất thế.
Dùng tâm hạnh chân Nho để học Phật, sẽ chẳng
học theo giả Phật trong cơi đời.
Giả Phật là ǵ? Lập
môn đ́nh, chuộng bày vẽ, cốt sao sướng tai,
khoái mắt, chẳng nghiên cứu tột bậc nguồn
tâm, coi [ǵn giữ] y bát là tŕ luật, coi giải thích văn
tự, bám sát câu chữ là diễn giáo, ngỡ cơ phong kệ
tụng là Thiền Tông, ḷng ôm danh lợi, cái tâm chụp giật[34]
hết sức bất kính,
ma vương sướng măi, đại thánh than hoài. Kẻ
phá hoại cơ nghiệp nhà Châu là Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công.
Thế nào là chân Phật?
Phá ngă chấp và pháp chấp, quán nhị không Chân Như, tự
thấy lỗi ḿnh, thương xót kẻ khác phạm lỗi.
Cử tâm động niệm, cất chân giở bước,
đều v́ tự xuất sanh tử, thành Bồ Đề,
cũng khiến cho chúng sanh cùng thoát sanh tử, thành Bồ
Đề. V́ thế, tŕ luật bèn hiểu rành rẽ khai,
giá, tŕ, phạm, tánh nghiệp, giá nghiệp, thề cầu
thanh tịnh. Duyệt giáo bèn biện Thể, minh Tông, biết
Dụng, biết Tướng, dù Quyền
hay Thật đều thấu đạt sâu xa lẽ chỉ
quy. Tham Thiền bèn chặt
đứt cái tâm chụp giật, thẳng thừng hiểu
rơ bản tánh, biết giữ cương tông, chẳng chấp
trước khuôn sáo. Dẫu Tam Học viên minh, vẫn có thể chẳng bực bội
đối với kẻ chẳng hiểu biết [lỡ mạo
phạm ta], quyết chẳng tự phụ có tài mong được
người khác cất nhắc ḥng thi triển tài năng ấy,
quyết chẳng chấp chính ḿnh là cái gương cho
người khác noi theo, chỉ tùy thuận lẽ đáng
nên, ứng bệnh mà cho thuốc, phương tiện và
Bát Nhă song chiếu cùng hành. Đấy mới là chẳng phụ
tăng tướng đường đường, kham
xưng là bậc trượng phu xuất thế. Đă báo
Phật ân, th́ ân của Tuyên Thánh (Khổng Tử), ân của
vua, cha, đàn na tín thí đều cùng báo!
* Chỉ dạy Ngữ
Huyễn
Pháp
môn suy vi đă chẳng phải chỉ là một ngày, mà
nguyên nhân dẫn đến suy vi là do nhân địa chẳng
chân thật. Người hiện thời phát tâm tham học
chẳng có chí chống đỡ pháp môn, cũng như xét
đến cái được gọi là “chống đỡ”,
bất quá là mở tùng lâm, dựng phạm sát (chùa), gom góp
năm ngàn hoặc một vạn để in khắc, biên
soạn các trước tác vô bổ[35]
chẳng có lúc nào ngơi. Con
cháu nối pháp đều là bậc tài hoa nức tiếng
trong cơi đời, phong độ thần thái đẹp
đẽ. Giới tử dưới ṭa ôm bát, cầm
trượng vây quanh mấy chục ṿng, đồ chúng thế
độ (xuống tóc) khắp làng, khắp chợ, lố
nhố như sao sa, cho đến [đội tăng mạo]
rủ dây lụa tía,
đeo quả cầu vàng, ngồi xe cao, ngựa béo, qua lại
trong chốn núi rừng rộn rịp chẳng dứt mà
thôi! V́ vậy, khi tu tập bèn chú trọng lưu truyền
nơi Thế Đế, lo liệu theo phương hướng
thiết lập môn đ́nh. V́ những kẻ như vậy
mà mạng mạch chân thật của Phật, Tổ bị
mai một, gần như mất sạch! Ngũ bá[36]
chính là tội nhân của tam vương, xót thay!
Mạng mạch chân thật
của Phật, Tổ là ǵ? Phá ngă tướng, trừ sạch
pháp chấp, quyết trừ tập khí, khạc nhổ lợi
danh, luôn tự kiểm điểm lỗi lầm, quyết
chẳng có một lời hoặc một chuyện dối
ḷng, vâng theo chánh pháp, chẳng tuân theo Tượng Pháp, học
theo cổ nhân, chẳng học
theo người hiện thời. Chính ḿnh
đă chết sạch cái tâm chụp giật th́ sau đấy
mới có thể chết sạch cái tâm chụp giật của
người học
khác. Chính ḿnh liễu đạt cùng tận
“tâm áo”
(chỗ uyên áo nơi tâm) của Phật, Tổ,
cũng chẳng dễ dăi đem tâm áo của Phật cưỡng
dạy người khác. V́ sao? Từ người bậc
trung trở lên th́ có thể nói, chứ kẻ từ bậc
trung trở xuống, chẳng thể nhắc đến. “[Người
học] chẳng phát phẫn sẽ chẳng khơi gợi,
chẳng bí bách sẽ chẳng chỉ bảo”, khiến
cho dân chúng sẽ có thể noi theo đó mà hành. Dẫu ẩn lánh
cơi đời, không ai biết đến, vẫn
chẳng hối hận. Như Thích Tôn cởi y phục trân
quư để khoác áo thô hèn, có thể v́ kẻ kém cỏi mà
nhẫn chuyện ấy. Hơn bốn mươi năm thầm
suy nghĩ chuyện ấy đă lâu, chẳng vội nói
ngay. Phàm là Phật, Tổ, thánh hiền xuất thế, chỉ
dần dần khuyên dụ chúng sanh, chẳng khoe khoang cảnh
tượng của chính ḿnh. Há cần phải nóng vội
phô trương sở trường! Chỉ v́ sợ môn
đ́nh bị coi rẻ, danh vị bị hạ thấp, cho nên mới có ư niệm
tranh chấp môn đ́nh, có
tâm phân chia cao thấp. Đó
chính là cội rễ sanh tử. Lấy đó để chống
đỡ, pháp môn ngày một hèn tệ, măi cho đến khi
chẳng c̣n cứu được nữa mới thôi!
Đau lắm thay! Xót lắm thay! Tôi v́
chuyện này, khóc măi trong khi mộng
mị, chẳng thể coi thường
mà không nói tới! Nếu pháp hữu
tin nổi lời này, tôi bèn nêu ra một
chuyện vậy!
* Chỉ dạy Thánh Khả
Ngàn
kinh vạn luận, cầu nơi ngôn ngữ, văn tự,
sẽ đâm ra càng nhiều, càng xa. Cầu nơi một niệm
hiện tiền, sẽ càng giản ước, càng thân thiết.
Bởi lẽ, hết thảy kinh luận bất quá là
cước chú của cái tâm trong một niệm hiện tiền,
chẳng phải là ngoài tâm tánh mà riêng có đạo lư của
Phật, Tổ. Nhưng tâm tánh khó hiểu rơ, do vậy, nhờ
vào ngàn kinh vạn luận để
soi tỏ lẫn nhau. Nay bỏ tâm tánh trong hiện tiền
để rộng cầu kinh luận, chẳng khác nào mê
đầu ngỡ là bóng
vậy. Người thật sự hiểu rơ tâm tánh biết
kinh luận chính là bí
quyết trọng yếu để
sáng tỏ tâm tánh, ắt chẳng vứt bỏ, chỉ
tùy thời mà biết chẳng có một câu văn, một
chữ nào chẳng nhằm chỉ điểm lư ấy. Nương theo chỗ
được chỉ điểm, thẳng thừng từ
thân tâm mà lănh hội rơ ràng. Nếu phá ngă chấp và pháp chấp,
đích xác phá hết sạch, chẳng lưu lại mảy
may, biện định theo những ǵ đă gieo và căn
cơ hiện thời, khiến cho những ǵ đă gieo và
hiện hành trong tự tâm đều rơ ràng như đường
chỉ trong ḷng bàn tay, chẳng để cho kẻ giặc
trong nhà tác quái. Đó gọi là “chẳng ĺa văn tự,
mà đạt được quán chiếu”.
Chẳng hiểu theo mặt
văn tự, chẳng hiểu theo mặt đạo lư, th́ sẽ là chân tham
thật cứu. Bất
luận năm, tháng, đời, kiếp, đem Tam Tạng
mười hai bộ, đều gộp hết thành một
câu Thoại Đầu, xem đi, xem lại, người khác có thể một
lượt đă thấu đạt, ta bèn ôn luyện cả
trăm lần. Người khác mười lần là
được, ta làm một ngàn lần! Xem đến nỗi
da trâu rách toạc, tṛng mắt lồi ra, bỗng dưng vô
tâm khế ngộ, mới biết [những điều ta
xem xét đó] cùng với [các công án] “ba cân gai, que cứt
khô” đều là phương tiện để gơ cửa.
Khi đó, nếu chẳng thấu đạt trọn hết
một ngàn bảy trăm công án, chẳng thâu nhiếp trọn
hết thảy các
pháp của mười phương ba
đời chư Phật, chẳng có lẽ ấy!
* Chỉ dạy Chứng
Tâm
Bậc
đại đức Chứng Tâm hỏi tôi về tâm yếu,
tôi thưa: - Tâm yếu không chi bằng niệm Phật. Ngài
Thọ Xương nói: “Cái tâm niệm Phật chính là Phật.
Bởi lẽ, cái tâm trong một niệm hiện tiền,
vô tánh duyên sanh, duyên sanh vô tánh”. Do vô tánh duyên sanh, nên
nghĩ đến danh th́ đầy ắp dạ là danh,
nghĩ đến lợi, ḷng đầy ắp lợi! Thậm
chí ngày làm ǵ, đêm mộng đó, không ǵ chẳng quy hướng
chuyên chú vào một niệm, nhưng mười giới
thăng trầm do từ
đấy mà ra! Do duyên sanh vô tánh, cho nên ngay trong khi hăm hở
gây tạo thiện ác, ngay lập tức buông xuống, hết
thảy các pháp sẽ đều trọn chẳng thể
được! Nhưng nếu chấp chặt vào chỗ “chẳng thể
được” ấy, sẽ
rơi vào hầm sâu vô vi, chẳng thể chứng cái Thể
vô chướng ngại của pháp giới, chẳng thể
khởi tác dụng vô chướng ngại của pháp giới.
Do vậy, cần phải niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ th́ mới là pháp môn viên đốn chẳng thể
nghĩ bàn trong Đại Thừa.
Nay người niệm
Phật há có ǵ khác đâu! Dùng nhất niệm vô sanh duyên
tánh ấy để niệm danh hiệu Phật vô tánh duyên
sanh. Danh hiệu Phật đă là vô tánh duyên sanh, th́ duyên sanh
cũng vẫn là vô tánh. Do vậy, niệm một tiếng,
bèn có một tiếng Phật danh hiển hiện. Niệm
mười, trăm, ngàn, vạn tiếng, sẽ có mười,
trăm, ngàn vạn Phật danh hiển hiện, nhưng khi
chẳng niệm bèn vắng lặng. Niệm tánh đă là
duyên sanh vô tánh, th́ vô tánh chẳng ngại duyên sanh. Nếu chẳng
niệm Phật, đúng là sợ lại nẩy sanh đủ
thứ tạp niệm. Dẫu chẳng sanh tạp niệm,
vẫn sợ đọa vào khuôn sáo vô sanh! V́ thế, ắt
phải dùng Phật hiệu để sanh cái niệm của
ta, khiến cho ta niệm nào cũng chẳng ĺa Phật hiệu.
Đó chính là “ngoài
tâm chẳng có Phật, ngoài Phật chẳng
có tâm. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Bảo
là “dùng Phật để
chứng tâm”
cũng được, mà bảo là “dùng
tâm để chứng vị Phật trong tâm” cũng được,
mà bảo là “dùng
Phật chứng Phật để tâm chứng tâm” cũng được
luôn! Tột bậc thẳng thừng, nhanh
chóng, ổn thỏa, thích
đáng, liễu nghĩa viên đốn tột bậc chẳng
thể nghĩ bàn. Chẳng thể dùng hết thảy các
pháp môn khác để so lường!
Thật sự tin được như thế, thẳng thừng
mà niệm, chư Phật sẽ lộ tướng lưỡi
rộng dài để làm chứng. Nếu ai chuyên niệm Di
Đà, đáng gọi “vô thượng thâm diệu Thiền”.
Khi chí tâm tưởng tượng thấy Phật, chính là
pháp bất sanh, bất diệt! Lời chân thành [thốt ra]
từ miệng vàng, há có thể chẳng tin ư?
* Chỉ dạy Linh Dịch
Thọ là cội gốc
của phước. Phước là nền tảng của
huệ. Niệm nào cũng đều nghĩ cảnh tỉnh,
tự sách tấn chính ḿnh, đấy là mầm mống của
huệ, là cội nguồn của phước và thọ. V́ thế
nói: “Thường nghĩ đến lúc bệnh, trần
tâm sẽ dần dần diệt. Thường nghĩ đến
lúc chết, đạo niệm sẽ tự sanh”. Chính
ngay khi bệnh hoặc chết hiện tiền, có ǵ là ngă
tướng để có thể trông cậy, ngũ dục
có thể tham, có danh ǵ đáng để luyến, có cổ
vật trân quư ǵ để có thể xách theo? Chẳng cậy
vào ngă tướng th́ ngă kiến bị chế phục. Chẳng
tham ngũ dục, phiền năo sẽ bị hàng phục. Chẳng
luyến hư danh, sẽ có thể buông xuống thể diện.
Biết đồ cổ trân quư chẳng thể đem theo,
sẽ chẳng mong cầu quá phận. Dẫu đă có từ
trước, vẫn có thể xả để làm phước.
Nếu có thể ĺa ngă và ngă sở, kiến chấp, và phiền
năo, sẽ thấy tăng, tục, thông minh, ngu xuẩn,
không một ai chẳng phải là Phật vị lai. Đă
thấy không ai chẳng phải là vị lai Phật, sẽ
đều có thể cúng dường, cung kính vị lai
chư Phật, không ai chẳng làm được! Phàm những
điều có thể tổn thương, năo hại, chống
đối vị lai Phật, sẽ không ǵ chẳng chấm
dứt. Như thế mà nếu phước chẳng
tăng, thọ chẳng măi măi, cái lưỡi của Ngẫu
Ích sẽ rơi rụng. Nếu chẳng thể trong hết
thảy mọi lúc đều nghĩ tới vị lai Phật,
sẽ chẳng thể tích tập phước huệ trong
hết thảy mọi lúc! Phước huệ chẳng tích
lũy, dẫu may mắn sống đến trăm tuổi,
rốt cuộc cũng mục nát giống như cỏ cây
đó thôi!
* Chỉ dạy đại
chúng trong giảng đường
(có chú thích)
Hết
thảy Tướng Phần (chỉ chung tám Tâm Vương
và năm mươi mốt Tâm Sở) đều là h́nh bóng
của tâm (giống như h́nh tượng trong
gương). Hết thảy Kiến Phần đều là
tâm quang (ví như gương chiếu sáng). Hết thảy
Tự Chứng Phần đều là tâm thể (ví như sắc
chất của cái gương). Hết thảy Chứng Tự
Chứng Phần đều là tâm tánh (ví như chất đồng nơi cái
gương. Bốn phần này đều là Y Tha
Khởi Tánh). Do quang ảnh là vọng,
nên thể tánh cũng vọng (Vọng ở đây bao hàm
hai tầng nghĩa: Một là từ quang ảnh bèn so đo
có thật ngă, thật pháp, tức là Biến Kế Sở
Chấp Tánh. Đă chấp quang ảnh là ngă pháp th́ ngay cả
thể tánh cũng là ngă pháp; bốn phần ấy đều
trở
thành Biến Kế. Hai là tuy chẳng
hư vọng so đo ngă pháp, nhưng vẫn thấy quang
và ảnh là hai phần sai khác, chẳng hiểu rơ chúng chỉ
là một tâm, bèn đọa vào Y Tha Khởi Tánh. Không chỉ
quang ảnh là Y Tha, ngay cả thể tánh thanh tịnh
cũng là Y Tha. Do vậy, cả bốn phần đều
là Y Tha Tánh).
Thể tánh chân thật
th́ quang ảnh cũng là chân thật (sự
chân thật này chẳng phải là ĺa bốn phần Y Tha mà
riêng có một cái Chân.
Chỉ là liễu đạt quang và ảnh thật sự
chẳng có hai, chỉ là một tâm. Cớ sao trong ấy lại
có đúng, có sai? Tức không chỉ thể tánh chính là Viên
Thành Thật, mà quang ảnh cũng là Viên Thành Thật. Do
đó, bốn phần không ǵ chẳng phải là Viên Thành Thật
Tánh). Ví như chấp dây thừng là rắn th́ sợi gai
cũng thành rắn (cũng giống
như chấp h́nh tướng trong gương là người
thật. Đă mê tướng Y Tha, ắt sẽ mê cái Thể
Viên Thành). Hiểu dây thừng chính là gai, nên rắn cũng
là gai (cũng giống như hiểu h́nh ảnh [trong
gương] và ánh sáng đều chỉ là
gương. Đă ngộ Y Tha chẳng có, sẽ tự biết
Biến Kế vốn là Không). Do đó, kẻ thấy là rắn
chính chẳng thấy dây thừng và gai (đấy là sánh ví
hết thảy phàm phu, ngoại đạo). Đó là nói: Một
thứ là biến kế th́ hết thảy đều là biến
kế (mười pháp giới đều là cảnh bị biến
kế). Nhưng chẳng phải là không có thừng, chẳng
phải không
chính là gai (có thể thấy Biến Kế chẳng ĺa Y Tha
và Viên Thành Thật. V́ vậy, Không Quán chỉ rỗng không
Biến Kế, c̣n Y Tha và Viên Thành Thật vốn chẳng
thể rỗng không. Nếu trừ diệt tam tánh, nhập
tam vô tánh
(tướng vô tánh, sanh vô tánh, thắng nghĩa vô tánh),
bèn gọi là “một thứ đă là Không, hết thảy
đều là Không”, cũng chỉ là trừ chấp
trước “chắc chắn có tam tánh”, vẫn chỉ là rỗng
không t́nh chấp Biến Kế nơi Y Tha và Viên Thành Thật).
Kẻ thấy dây thừng, chẳng so đo là rắn,
cũng chẳng thấy gai (điều này ví như Quyền
Trí của Tam Thừa). Đó gọi là “một thứ là
Y Tha, th́ hết thảy đều là Y Tha” (mười
giới không ǵ chẳng phải là Y Tha Khởi Tánh).
Nhưng chưa hề chẳng phải là gai, cũng
chưa từng ngăn ngại kẻ si chấp là rắn
(có thể thấy Y Tha cũng chẳng ĺa Biến Kế và
Viên Thành Thật. Do vậy, giả quán chỉ lập Y Tha,
chứ Biến Kế chẳng thể lập, Viên Thành Thật
chẳng cần lập. Dẫu thành lập duyên khởi của
tam tánh, bèn nói “một thứ là Giả, hết thảy sẽ
đều là Giả”, cũng chỉ là ước theo ngộ
mà gọi là Viên Thành. Ước theo mê th́ gọi là Biến
Kế, vẫn chỉ là nêu tỏ “tam tánh không ǵ chẳng
phải là Y Tha Khởi”).
Kẻ thấy gai, biết
rơ chẳng phải là rắn, cũng chẳng phải là dây
thừng (đây là sánh ví thật huệ của bậc viên
nhân). Đó gọi là “một thứ viên thành, hết thảy
đều viên thành” (mười giới không ǵ chẳng
phải là Viên Thành Thật tánh), nhưng chẳng ngăn ngại
kẻ ngu chấp “thật sự có dây thừng, thật sự
có rắn” (chấp “thật sự có dây thừng” là sự
ngu muội của tam thừa, chấp “thật sự có rắn”
là sự ngu muội của phàm phu, ngoại đạo.
Có thể thấy là Viên Thành cũng chẳng ĺa Biến Kế và Y Tha.
Do đó, Trung Quán chỉ nêu rơ Viên Thành, c̣n Biến Kế và
Y Tha vốn chẳng thể nêu rơ. Nếu gồm thâu trọn
vẹn ba tánh, bèn gọi là “một thứ là Trung th́ hết
thảy đều là Trung”, cũng chỉ hiển lộ
Biến Kế và Y Tha chẳng có Thể. Thể chính là Viên
Thành, vẫn chỉ là hiển thị Biến Kế và Y Tha
đều cùng là một tánh Viên Thành Thật), chỉ có thể
quán sát cảnh giới tự tâm như thế (hết thảy
cảnh giới đều chỉ do tâm hiện, đều
chính là tâm. V́ thế, gọi là “cảnh
giới của tự tâm”).
Chẳng chấp vào ngôn ngữ, văn tự (thánh hiền
tạo luận, tùy ư dùng thí dụ để kẻ mờ mịt
được thấu hiểu, vốn chẳng có pháp chết
cứng).
Lại như gương có thể
ví như bốn phần của Y Tha, cũng có thể thêm
vào ư niệm cho rằng “thật sự có người”
để sánh ví tam tánh, tức gương chính là Viên Thành
Thật Tánh. H́nh bóng [hiện ra trong gương] chính là Y Tha
Khởi Tánh. Kẻ ngu tiểu vô tri chấp thật sự
có người, tức là Biến Kế Chấp Tánh.
Lại như dây thừng
có thể ví như tam tánh mê ngộ, cũng có thể trừ
khử chấp trước hư vọng là rắn mà sánh
ví bốn phần, tức là hai đầu thừng ví
như Kiến Phần và Tướng Phần, gai có thể
sánh ví Tự Chứng Phần. Tứ vi (bốn thứ danh,
sắc, vị, xúc vi tế) có thể sánh ví Chứng Tự
Chứng Phần. Dùng thí dụ để dung hội thí dụ,
lư dễ sáng tỏ nhất. Nếu chấp chặt chết
cứng, chẳng biết lẽ biến thông; đó gọi
là “y văn giải nghĩa. Tam thế Phật oan”
(nương theo văn tự mà hiểu nghĩa, ba đời
chư Phật bị oan uổng), nhưng cũng chẳng
thể bỏ mặc ngôn ngữ, văn tự (kinh Hoa Nghiêm
có kệ rằng: “Văn tùy ư nghĩa, nghĩa tùy
văn” (văn thuận theo nghĩa, nghĩa tùy thuộc
văn). Cổ nhân nói: “Ĺa kinh một chữ, sẽ giống
như ma nói”). Vậy
th́ dù Tông hay Giáo, đều dùng một nguyên lư cơ bản
để xuyên suốt.
Lại phải nên biết:
Chúng sanh dấy lỗi, chỉ do Kiến Phần và Tướng
Phần, quyết chẳng do Tự Chứng
và Chứng Tự Chứng Phần,
do hai phần bên trong suốt ngày ở trong vọng,
nhưng suốt ngày luôn chân thật, chúng sanh sử dụng
thường ngày mà chẳng biết, sẽ không
thể
do đâu mà dấy lỗi. V́ thế,
Tướng Tông đều gọi những điều này
là Hiện Lượng, đều là kèm theo, chỉ do toàn bộ
Thể trở thành Dụng. Dụng đă là Y Tha, Thể ắt
cũng thành Y Tha. Do vậy, bốn phần đều thuộc
vào Y Tha, chẳng dung trơ trọi tướng Thấy làm
Y Tha Tánh, do ngoài Dụng chẳng có Thể. Nếu biết
rơ toàn bộ Dụng chính là Thể, th́ Thể đă là Viên
Thành. Do vậy, cả bốn phần đều chính là Viên
Thành, chẳng thể riêng lập hai phần bên trong làm Viên
Thành Thật, do ngoài Thể chẳng riêng
có Dụng.
Người hiện thời
chẳng liễu đạt, nếu chấp bốn phần
đều là Y Tha, ở ngoài bốn phần riêng lập một
tánh Viên Thành Thật, mà nói “Chân Như và hết thảy
các pháp chẳng một, chẳng khác”. Điều ấy
giống như bỏ gai đă bện thành dây thừng
để riêng cầu sợi gai chưa bện thành thừng, ḥng so sánh [sợi gai] với
thừng rồi nói “chẳng một, chẳng khác”,
nhưng “chẳng một” há có phải thật sự là “chẳng
khác” ư? Than ôi! Sai biệt chừng bằng hào ly, cách biệt
như trời với đất. Ư chỉ “bất biến
tùy duyên, tùy duyên bất biến” gần như đă bị
kiến giải của lũ mọt sách gây loạn, tôi làm
sao có thể biện định được!
* Chỉ dạy
Vương Mộng Hồi về cái tên Tịnh Tỉnh
Do ư nơi tâm tánh mà biết
mộng trọn đủ, muôn vật trong trời đất
là cảnh mộng. B́nh trị hay loạn lạc xưa nay
đều do mộng hiển hiện. Người chỉ
có thể nằm mộng th́ suốt ngày ở trong mộng,
suốt ngày bất hoại. Hễ nằm mộng th́ không
chỉ chẳng thể gọi là “b́nh trị hay loạn lạc
xưa nay”, mà muôn vật trong trời đất lại chẳng
thể gọi là “do ư nơi tâm tánh mà biết”. Thông hiểu
điều này, sẽ thông suốt đạo ngày đêm
để biết vậy!
* Chỉ dạy Phạm
Đắc Tiên
Chỉ
có đạt được “cuối
cùng trong thiên hạ”
th́ mới có thể là trước hết trong thiên hạ.
Chỉ có người biết trước hết trong thiên
hạ, th́ mới có thể là người cuối cùng trong
thiên hạ. Do vậy nói “Càn tri đại thỉ, Khôn tác
thành vật” (do quẻ Càn mà biết khởi đầu
của vũ trụ, do quẻ Khôn mà tạo thành muôn vật),
há có nên tự cưỡng ép [đất] chở vật
[cùng với trời che phủ] có hai Thể ư? Nhan Tử
chết, thánh học mất, tri và hành tách rời, Châu, Lục[37]
đua nhau khác lạ, chen lẫn cái tâm chỉ mong cầu
thỏa thích vật chất, tư dục, xen tạp kiến
chấp nhân ngă, tô vẽ bằng cách “cướp lấy
hư vô, đuổi theo bóng” của Thiền, cho nên cơi đời chẳng
có nhà Nho chân thật. Nhan Hồi hễ có điều ǵ bất
thiện, chưa từng chẳng nhận biết, có thể
gọi là “biết đầu tiên”. Đă biết rồi,
sẽ chẳng hề tái phạm, có thể gọi là “đạt
được cái cuối cùng”, nhưng Khổng Tử
cực lực nêu tỏ [phẩm đức của Nhan Hồi]
chỉ là chẳng ngoài sáu chữ “bất thiên nộ, bất
nhị quá” (chẳng trút giận sang người khác, chẳng
phạm lỗi lần thứ hai) mà thôi! Tâm “chẳng giận,
chẳng mắc lỗi” là Thể, ư có giận, có phạm lỗi
là động. Biết giận, biết lỗi là
lương tri. Chẳng trút giận, chẳng tái phạm
chính là “cách vật” (trừ khử vật dục). Hiểu
được điều ấy, sẽ thật sự
đạt được cái trước hết!
* Chỉ dạy Diệp
Thiên Kỷ
Có
tâm rồi sau đó có thiên địa vạn vật. Thánh hiền
truyền dạy, bất quá dùng tâm ấn tâm. V́ thế nói “nhân
tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh, duy nhất, doăn chấp
quyết trung” (ḷng người nguy hiểm, đạo
tâm vi diệu, chỉ có chính ḿnh chuyên ṛng, nhất ư, tinh
thành khẩn thiết vâng giữ đạo trung chánh). Tâm há
có hai ư? Do mê đối với cái “vốn
là một”;
v́ thế, “nhân tâm duy nguy” (ḷng
người nguy hiểm), như nước thành
băng. Ngộ th́ chẳng hai, cho nên “đạo tâm duy
vi” (đạo tâm th́ vi diệu, nhỏ nhiệm),
như băng lại tan thành nước. Phản mê quy ngộ,
nên gọi là “duy tinh” (chỉ chuyên ṛng). Như
nước sôi tiêu băng, mê và ngộ tánh Không;
v́ thế gọi là “duy nhất”. Như nước và
băng có cùng một tánh
ướt; tuy bừng bừng mê
ngộ, nhưng cái Thể
vốn chẳng thuộc vào hai đằng mê hay ngộ. Do
vậy bảo là “quyết trung”, tức là cái Thể
duy nhất. Từ mê đắc ngộ, hễ ngộ, sẽ
vĩnh viễn chẳng mê lại nữa, cho nên gọi là “doăn
chấp” (kiên quyết, thành khẩn ǵn giữ), tức
là công năng của “duy tinh”. Vua
Nghiêu dùng cái tâm này để học,
xác lập cùng cực, biết rơ ngoài tâm chẳng c̣n có muôn vật
trong trời đất. Do đó, tương ứng với
trời th́ người quy phục, cỏ cây ứng hiện
điềm tốt lành, cây ngô đồng ghi nhớ tháng nhuận,
cỏ minh giáp nhớ mỗi tháng[38],
há ngoài tâm tánh riêng có cảm ứng ư? Thời Tam Đại
Đường Ngu tuy đă qua, nhưng tâm tánh của chúng
ta vốn chưa từng qua đi. Thời Xuân Thu có Khổng
Tử, Nhan Hồi, cuối thời Lục Triều có
Vương Thông, đời Tống có Lục Tượng
Sơn, đời Minh có Vương Văn Thành (Vương
Dương Minh)[39],
người học sau đó, nếu khế hợp cội
nguồn của tâm tánh, có thể nói là Nghiêu, Thuấn, Khổng,
Nhan đến nay vẫn chưa mất vậy! Nhưng bất
quá Nghiêu, Thuấn, Khổng, Nhan thấu đạt “ngoài
tâm chẳng có pháp”, cho nên “vật
cách” (thấu hiểu bản chất của sự vật)
mà lương tri tự đạt đến. Sự hiểu
biết đạt tới
tột cùng, ư bèn thành, tâm bèn chánh. Tu thân, tề gia, trị quốc,
b́nh thiên hạ chẳng nhọc công sức, có bao giờ
dùng tám điều mục, ba cương lănh[40]
để làm rối sự truyền thừa nhất
quán đó ư? Châu Liêm Khê phát ngộ nơi ngài Đông Lâm Tổng[41],
muốn xuống tóc, Tổng Công căn dặn hăy nâng đỡ,
vun bồi Nho học, bèn trở thành thỉ tổ của Tống
Nho. Đối với Thiên Kỷ ông, tôi hết sức mong
mỏi vậy!
* Chỉ
dạy Cự Phương
Thiên
Thai tiếp nối sự truyền thụ nghe biết của
Long Thọ, xiển dương lẽ mầu khai hiển từ
Thứu Phong, Quyền và Thật cùng tỏ rơ, Giáo và Quán cùng
nêu, như lễ nhạc thời Tam Đại siêu việt
muôn đời, chẳng phải như nền thịnh trị
thời Hán, Đường xen tạp bá quyền, xen tạp
man di mà có thể phảng phất một phần vạn
được! Đời sau đuổi theo ḍng, quên bẵng
nguồn, dần dần trở thành rườm rà, rắc
rối, nhưng chuyện uốn nắn những lệch lạc,
sai trái lại bị bó chặt, cất trên gác cao, khiến
cho thói ác của chư hầu tàn hại chính ḿnh
càng chẳng kiêng dè! Công khai dùng sớ chống đối
kinh, dùng Tổ để chống đối Phật. Ôi! Thật
đáng buồn quá đỗi! Lăo nhân Diệu Phong từ cửa
Nguyệt Đ́nh mà ra, nhưng cực lực hoằng
dương ư chỉ của tông Thiên Thai. Lăo nhân Thiệu
Giác học tập di thư của ngài Đại Giác, mà diễn
giảng trọn khắp ba tông. Ngài Thiệu Giác truyền
thừa xen tạp, c̣n ngài Diệu Phong chuyên truyền [đạo
của] ngài Vô Tận. Do vậy, thế gian lại biết
có danh tự của tông Thiên Thai, đến nay [tông Thiên Thai] lại
chẳng tránh khỏi danh tiếng nổi bật mà thực
chất đă suy.
Tôi vốn là thứ cỏ
hèn mọn trong tông này, do cảm khái pháp đạo suy bại,
suy xét căn bệnh trong nhà Thiền thời gần
đây, cho nên nghĩ cách cứu vớt, thỉnh Phật
xác quyết, rút được cái thăm “nương
theo giáo nghĩa của tông Thiên Thai chú giải kinh Phạm
Vơng”, mới chịu dốc ḷng nơi tam đại
ngũ tiểu[42],
hổ thẹn chẳng có thật đức, chẳng thể
dùng thân để hoằng đạo, nhưng đối với
điều hay thời cổ và thói tệ hiện thời,
khá biện định được đầu mối. Bởi
lẽ, tông Thiên Thai bắt nguồn từ kinh Pháp Hoa. Kinh
Pháp Hoa khai Quyền hiển Thật, không ǵ chẳng phân
định, không ǵ chẳng thâu thập. Nay người hoằng
dương tông Thiên Thai đă chẳng thâu trọn hết
Thiền, Luật, Pháp Tướng, sao có thể tạo
thành sự hay khéo dứt bặt đối đăi? Đă
riêng cô phụ sự thù thắng của tông Thiên Thai, há lại
chẳng trở thành sự đối đăi thô vụng?
V́ thế, Thiên Thai đă cự tuyệt Thiền Tông, Pháp
Tướng là sơn ngoại (coi là chuyện không đáng
được quan tâm đến), Thiền cũng cự
tuyệt sự vượt ra ngoài “đơn truyền trực
chỉ” của tông Thiên Thai! Phàm những ai cự tuyệt
tông Thiên Thai, cố nhiên là không chỉ chẳng hiểu biết
tông Thiên Thai, kẻ cự tuyệt Thiền và Pháp Tướng
lại chỉ là chẳng
biết Thiền và Pháp Tướng mà thôi ư? Thà học
theo thánh nhân chưa đạt đến mức tận
cùng, sẽ chẳng
mong dùng một tài khéo để thành danh. Ôi! Nếu thật
sự “chẳng do một
tài khéo mà thành danh”,
thánh nhân cũng không ai có thể học được lư tột
cùng vậy!
* Chỉ dạy
Thương Vân
Học
đạo th́ chẳng có thật pháp nào khác, [chủ yếu
là] biến hóa khí chất, quyết trừ khử tập
khí mà thôi! Khí chất đă biến đổi, phẩm cách
chẳng mong vượt trội mà tự vượt trội!
Tập khí đă trừ, chẳng mong thấu đạt Phật
pháp mà tự thấu đạt. Vàng do nung luyện mà ṛng,
gương do mài mà sạch. Tôi ngơ ngác chẳng biết
người học hiện thời như thế nào nữa!
Khí chất mặc t́nh lỗ măng mà chẳng biết sửa
đổi, cứ chăm chú tu tập những thứ bề
ngoài, chẳng biết phản tỉnh, nạp ch́, sắt
vào vàng ṛng để được nhiều cân lượng
hơn, chẳng biết là tạp ngụy khôn kham! Dùng phấn
trắng xoa lên gương mong được quang minh khiết
bạch, chẳng biết gương càng bị vùi lấp quá
đỗi! Người thật sự có chí học theo
thánh, hiền, Phật, Tổ, ắt trước hết phải
biến điều khó khăn của mọi người
thành dễ dàng, biến điều cấp bách trong thói
đời hiện thời thành thong thả, lấy cổ
nhân làm thầy, chẳng vâng theo người hiện thời,
xét đoán con người theo phẩm cách, chẳng tin theo
những ư kiến họ nêu ra, coi người kể lỗi
của chính ḿnh như lương y, coi người ca ngợi
điều tốt lành của ta như rượu trấm
độc[43].
Người mong mỏi đạo mạch ngàn đời
nơi ta chính là thầy sáng, bạn lành. Kẻ
dùng sinh kế trước mắt để khuyên dụ ta
là bạn ác, ma đảng! Xem một kinh,
bèn nghĩ có lập tức tương ứng với thân
tâm hay không? Thấy một sự, bèn nghĩ sẽ có
ích hay gây hại cho bổn phận. Thấy người hiền
mong được bằng. Thấy kẻ chẳng hiền,
nội tâm bèn phản tỉnh. Tức là hiền và chẳng
hiền đều có thể lợi ích cho ta. Nếu thấy
điều lành mà chẳng thể tùy hỷ tu học, thấy
điều ác bèn khinh mạn, hủy nhục, tức là thiện
hay ác đều có thể tổn hại ta. Than ôi! Người
khéo giữ lấy điều lợi ích, không ǵ chẳng phải
là lợi ích. Kẻ cam ḷng tự tổn hại, không ǵ chẳng
phải là tổn hại! V́ thế nói: “Người trí
trị tâm,
chẳng trị cảnh. Kẻ ngu trị cảnh, chẳng trị
tâm”. Há chẳng đáng suy nghĩ sâu xa
ư?
Đời tôi lầm lỗi
nhiều nhất, chưa thể giảm bớt lỗi, sao
có thể răn nhắc người khác? Nhưng nếu
pháp hữu có thể tự ḿnh
răn nhắc th́ lỗi của tôi chính là thuốc của
pháp hữu vậy! Tôi quả thật chẳng có mảy may
sở trường ǵ, cho nên chẳng thể tự khoe
khoang. Nay pháp hữu dẫu có ưu điểm, cũng nên
bắt chước tôi đừng khoe khoang. Tôi tự phản
tỉnh, quả thật [chính ḿnh] chẳng bằng hết
thảy mọi người; do đó, trọn chẳng dám
khinh hết thảy mọi người. Nay pháp hữu dẫu vượt
trội hết thảy mọi người, cũng trọn
chớ nên khinh hết thảy mọi người. Đối
với tôi, không ǵ chẳng phải là thầy, cho nên không có
vị thầy nào riêng biệt. Nay dẫu pháp hữu riêng
coi tôi là thầy, cũng nên học theo tôi “không ǵ chẳng
phải là thầy”.
Nếu như chuyên
nghiên cứu Giáo
Quán, chú trọng
sám-ma, gởi ḷng nơi An Dưỡng, chẳng cầu tiếng
tăm, không có chí [tham cầu] lợi dưỡng, [coi mọi
chuyện cần phải làm] đều là bổn phận
đương nhiên, không một điều ǵ đáng biểu
lộ khác lạ. Nếu có một niệm biểu lộ sự
khác lạ th́ chính ngay một niệm ấy đă chẳng
tương ứng với Giáo Quán, mà cũng chẳng
tương ứng với sám-ma, cũng chẳng
tương ứng với An Dưỡng.
Đó cũng là cái gốc của danh,
cũng là rừng rậm lợi dưỡng. Đấy là
lư do tôi niệm nào cũng phán xét chính ḿnh, biết đích
xác nỗi khó khăn trong giảm bớt lỗi, chẳng
rơ pháp hữu thật sự có thể phán xét chính ḿnh, có thể
giảm bớt lỗi hay không?
Than ôi! Thế đạo
suy vi, t́nh nghĩa thầy tṛ chôn vùi. Bị danh vọng xỏ
mũi, bị quyền thế buộc ràng, ai c̣n biết có
chuyện “thoát sanh tử, thành Bồ Đề” nữa đây? Miệng
nói “v́ sanh tử”, nhưng vun bồi sanh tử. Miệng nói
“cầu Bồ Đề”, lại trái nghịch Bồ Đề!
Đều là do chẳng phá ngă chấp và pháp chấp;
nhưng hai thứ chấp ấy ẩn nấp trong tạng
thức, ngao du trong các căn, ngày đêm tuôn rót chưa hề
gián đoạn. Bỏ mặc điều này chẳng suy
xét, cứ riêng nghiên cứu Giáo Quán. Bỏ mặc điều
này chẳng sám hối, riêng tu sám-ma. Bỏ mặc điều
này chẳng tịnh trừ, riêng cầu Tịnh Độ,
há có phải là đạo tự giác, giác
tha ư?
* Chỉ dạy Châu Chấn
Dương
Kim
Cang Bát Nhă chẳng ngoài hai vấn đề “ưng trụ”
(hăy nên trụ như thế nào) và “hàng phục”,
nhưng đó chẳng phải là hai sự! Do có thể hàng phục, bèn có thể trụ
đúng như lời dạy. Trụ trong lục trần sẽ
chẳng phải là hàng phục cái tâm! Do vậy, các vị Bồ
Tát ở trời Tây dùng bốn tâm để giải thích
“hàng phục”, không nghĩa nào chẳng trọn hết:
- Một là tâm rộng
lớn, tức là cảnh để duyên vào đều trọn
khắp, chẳng cách ngăn tam giới, tứ sanh, hàng phục
cái tâm hạn cuộc trong lục trần từ vô thỉ.
- Hai là đệ nhất tâm, tức
là phát thệ sâu xa khiến cho đạt được Vô
Dư Niết Bàn, hàng phục cái tâm vô thỉ đối với
lục trần hèn kém mà vui mừng, tự cho là đủ.
- Ba là thường tâm,
tức chúng sanh chính là tự tâm. Ngoài tâm,
thật sự chẳng có chúng sanh được diệt
độ, hàng phục cái tâm “đối với lục trần,
so đo hư vọng ngăn cách ta,
người” từ vô thỉ.
- Bốn là tâm chẳng
điên đảo, tức là liễu đạt chẳng có
bốn tướng “ta, người, chúng sanh, thọ giả”,
hàng phục ư niệm “đối với lục trần
hư vọng, so đo ngă và ngă sở” từ vô thỉ.
Hăy nên biết: Niệm
nào cũng tương ứng với bốn tâm, sẽ chính
là “như sở giáo trụ” (trụ đúng
như lời dạy).
Nếu một niệm trụ trong lục trần, tức
chẳng phải là trụ, do hạn cuộc trong sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp, cho nên chẳng rộng lớn,
mà là hèn kém, chẳng phải là bậc nhất. Do đổi
dời, nên chẳng phải
là chân thường, điên đảo, chẳng phải là
chánh trí. V́ thế, chẳng trụ trong lục trần, mà
cũng chẳng trụ trong “chẳng trụ”. Do vậy bảo
“ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng
trụ vào đâu mà sanh tâm). Bởi lẽ, do trụ trong lục
trần, nên gọi là “phàm phu, ngoại đạo”. Trụ
trong “chẳng trụ”, chỉ gọi là Thanh Văn, Duyên
Giác, v́ vẫn trụ trong pháp trần vi tế xuất thế,
chẳng thể gọi là “chân chánh vô trụ”. Do đó, vẫn
hạn cuộc trong đổi dời, kém cỏi, điên
đảo, chẳng phải là chánh trí chân thường rộng
lớn bậc nhất. Chỉ có bậc đại Bồ
Tát phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
biết rơ tâm tánh trong một niệm hiện tiền vốn
là chân thường rộng lớn bậc nhất, vốn
chẳng điên đảo. Do vậy, trụ trong chánh trí
chân thường rộng lớn bậc nhất để
tu Lục Độ vạn hạnh, chẳng giống
như phàm phu trụ trong Hữu, hoặc Nhị Thừa trụ
Không. Chúng ta thấy điều này, sẽ có thể thẳng
thừng tu hành. Nếu dấy lên một niệm, hoặc
tâm hạn cuộc, hoặc hèn kém, hoặc cách biệt, hoặc
tâm điên đảo, liền dùng cái tâm chánh trí chân thường
rộng lớn bậc nhất để hàng phục, mà
cũng chẳng chấp vào tướng rộng lớn cho đến tướng chánh
trí, do bốn tâm vốn chẳng phải là cảnh sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp. Công phu như thế hết
sức nhanh chóng, hết sức thẳng thừng, lẹ làng, cho
đến tận ngằn mé vị lai, hăy nên trụ như
thế, hàng phục như thế, có thể nói là dùng “chẳng
sanh, chẳng diệt” làm cái gốc để tu nhân, sau
đấy viên thành quả địa tu chứng vậy!
* Chỉ dạy Tây Tŕ
Kinh
dạy: “Đắc ngộ đạo, hưng tín tâm nan.
Kư tín tâm, phát
Bồ Đề tâm nan. Kư
phát tâm, vô tu vô chứng nan”
(Được ngộ đạo, dấy lên tín tâm khó lắm.
Đă có tín tâm, phát
Bồ Đề tâm khó lắm. Đă phát tâm, vô tu vô chứng
khó lắm). Than ôi! Đấy là lời chí lư vậy!
Nhưng chẳng liễu đạt cái Thể của “vô tu, vô chứng”, chẳng gọi là
chân Bồ Đề tâm. Chẳng phát chân Bồ Đề
tâm, cũng chẳng gọi là “chân tín”. Tín há nói dễ dàng
ư? Ngài Mă Minh tạo luận, đặt tên thẳng thừng
là Khởi Tín [Luận]. Tam Tổ (thiền sư Giám Trí Tăng Xán)
soạn bài minh, đặt tên thẳng thừng là Tín Tâm
[Minh]. Chẳng như hậu thế, hư vọng đối
với tín giải tu chứng, cưỡng chia thành thứ
tự cạn, sâu.
Tây Tŕ hiền giả,
cùng với vợ con đều xuất gia. Xưa kia, Bàng
cư sĩ vợ chồng cùng ở chung, con trai không cưới
vợ, con gái chẳng gả chồng. Lại nói: “Chỉ
mong rỗng không các sở hữu, đừng thật sự
không có ǵ!” Chẳng phải là
Ngài đă khế nhập ư chỉ “vô tu, vô chứng” rất rơ ràng
ư? Hiện thời, giới Cận Trụ (giới của cư sĩ tại
gia) chính là diệu pháp vô tu vô chứng. Nếu
chẳng chú trọng vào đó, toan t́m kiếm lẽ huyền
ở nơi nào, lại chẳng bằng chẳng giết,
sát nghiệp rỗng không, chẳng trộm, nghiệp trộm
cắp rỗng không, chẳng dâm, nghiệp sanh ra lẫn
nhau rỗng không, chẳng nói dối, nghiệp năo hại lẫn
nhau rỗng không, chẳng uống rượu, nghiệp si
ám rỗng không. Chẳng giết, chẳng giữ lấy quả
báo trường thọ. Chẳng trộm, chẳng giữ
lấy quả báo giàu có, dư dật. Chẳng dâm, chẳng
giữ lấy quả báo sanh trong Phạm Thế. Chẳng
dối, chẳng giữ lấy quả báo được
tin tưởng tôn trọng. Chẳng uống rượu,
chẳng giữ lấy quả báo thông minh, lanh lợi. Há chẳng
phải là diệu hạnh “chỉ rỗng không tất cả
sở hữu, nhưng thật ra chẳng có ǵ là không”
đấy chăng? Dùng đó để thanh tịnh tam nghiệp,
khiến cho trọn khắp chúng sanh cùng nhập chân tánh Tịch
Quang, há chẳng phải là đại Bồ Đề tâm “vô
tu,
vô chứng”
ư? Nếu chẳng thể từ nơi giới mà thấy
thấu triệt tông chỉ “tánh,
tu bất nhị”, sao gọi là “chân tín” cho được?
V́ thế, Tam Tổ nói: “Tín tâm bất nhị, bất nhị
tín tâm. Ngôn ngữ dứt bặt, chẳng phải quá khứ,
hiện tại, vị lai”. Ngài Mă Minh nói: “Tự tâm khởi
tín, lại tin tự tâm”.
* Chỉ dạy Hà
Đức Khôn
Người
khéo học Phật pháp chẳng khó thông suốt văn tự,
nhưng khó liễu đạt nghĩa. Liễu đạt
nghĩa chẳng khó, nhưng khó nhập lư. Lại nữa,
nhập lư chẳng khó, nhưng khó vong t́nh. Hễ t́nh kiến
c̣n chưa quên, chắc chắn chẳng nhập lư thấu
suốt. Lư chẳng thấu suốt th́ chắc chắn
nghĩa đă liễu đạt chẳng vô ngại!
Nghĩa chưa vô ngại th́ văn tự đă thông suốt
chắc chắn chẳng phải là tổng tŕ. Do vậy,
tánh và tướng tách biệt, Tông
và Giáo đối lập.
Thói tệ thời Mạt Pháp chẳng phải là do t́nh kiến
gây lụy ư? Nhưng t́nh chẳng phải chỉ là sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp lôi kéo, dấy động
lục căn, chẳng phải chỉ là phú quư, công danh,
đạo đức ràng buộc trong cuộc đời.
Dẫu toàn thể buông xuống, toàn thân vùi vào đó,
nhưng học Thiên Thai th́ sẽ có t́nh chấp đối
với Thiên Thai, học Hiền Thủ, Từ Ân, sẽ có
t́nh chấp đối với Hiền Thủ, Từ Ân.
Tham Tào Động Thiền,
sẽ có t́nh chấp đối với Tào Động. Tham
Lâm Tế Thiền, sẽ có
t́nh chấp đối với Lâm Tế. Hễ có t́nh chấp
đối với một pháp, sẽ trở thành lư chướng.
Lư chướng th́ nghĩa bị hạn cuộc. Nghĩa bị
hạn cuộc th́ văn mạch chết cứng. Văn mạch
chết cứng th́ c̣n chẳng thể là con cháu của
đức Văn Tuyên (Khổng Tử)[44],
huống hồ là hậu duệ chân thật của đức
Ca
Văn (Phật Thích Ca)
ư? V́ vậy, tôi thường nói “thật sự chẳng
cô phụ linh tánh của chính ḿnh, cần phải tận lực
lật nhào khuôn khổ sáo ṃn của Tông và Giáo trong thời
gần đây th́ mới có thể nhập trọn khắp
chỗ rộng lớn sâu thẳm của Tông, Giáo thời cổ”.
Chỗ rộng lớn,
sâu thẳm ấy có ǵ khác đâu? Bất quá là nêu tỏ tâm
tánh vốn sẵn có của chúng ta mà thôi! Tâm tánh chẳng có
pháp nào không trọn, chẳng có pháp nào không tạo, nhưng
hết thảy các pháp được trọn, được
tạo ấy, thảy đều là vô tánh. Hiểu rơ pháp vô
tánh ấy, mỗi mỗi đều chẳng phải là thật
ngă, thật pháp, th́ gọi là Từ Ân Tông. Hiểu rơ các pháp
vô tánh, nhưng mỗi mỗi đều có thể đầy
đủ trọn khắp, tạo tác trọn khắp, th́ gọi
là Pháp Tánh Tông. Trực chỉ vọng pháp, vọng tâm trong
hiện tiền,
thảy đều là vô tánh, khiến cho họ kiến tánh
thành Phật, th́ gọi là Thiền Tông. Do vậy, Lâm Tế
nhanh chóng, thẳng thừng, lẹ làng, chưa từng chẳng
tinh vi, Tào Động tinh tế, nghiêm mật, chưa hề
chẳng đơn giản, thiết thực. Duy Thức
th́ giữ Y Tha và Viên Thành Thật, chưa từng chẳng
phá Biến Kế Sở Chấp. Bát Nhă phá t́nh chấp,
chưa từng chẳng lập đế lư. Ngài Hộ
Pháp[45]
nói Chân Như chẳng thể huân, ngài Mă Minh nói Chân Như và
vô minh huân lẫn nhau, chưa từng nói nhất định.
Cho đến giáo thừa, tuy nhờ vào ngôn ngữ, chưa
từng chẳng khế nhập cái Thể của Thật
Tướng. Thiền Tông tuy quét sạch văn tự,
chưa từng đọa vào lỗi ám chứng. Ấy là
v́ cổ nhân có thể thật sự quên bẵng t́nh kiến,
cho nên nhập lư. Người hiện thời phần nhiều
câu nệ lư; do vậy, vướng mắc nơi t́nh!
* Chỉ dạy Niệm
Phật Xă
Chúng
ta từ vô thỉ cho đến tột cùng vị lai, chắc
chắn chẳng có lúc nào không dấy niệm.
Dẫu tâm lự ngưng lặng như tro tàn, lại nhập
Vô Tưởng Định, vẫn đọa trong tám vạn
bốn ngàn loạn tưởng khô khan, nhưng nghĩ tới
địa ngục th́ là người thuộc địa ngục
giới, nghĩ tới ngạ quỷ th́ là người thuộc
ngạ quỷ giới. Cho đến niệm Phật, sẽ
chính là người thuộc Phật giới. Lư này rơ ràng tột
bậc. Do vậy, Tông Kính Lục viết: “Một niệm
tương ứng một niệm Phật. Niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật”. Nếu lại
hỏi “người niệm Phật là ai”, tức là
trên đầu chồng thêm đầu, đang cưỡi
lừa mà t́m lừa, khiến cho
người sáng mắt cười
phun cơm! Nhưng thời gần đây, kẻ vô tri cuồng
nghịch ngược ngạo coi Thoại Đầu là
đặc biệt, lạ lùng, coi danh hiệu là tầm
thường, vứt bỏ Như Ư châu vương, đua
nhau giành lấy ngói, sỏi!
Đáng xót lắm
thay! Riêng các thiện hữu ở Thịnh Khê có thể kết
xă niệm Phật, trong suốt mỗi ngày, niệm ra tiếng
một nén hương, rồi niệm thầm một nén
hương, xoay vần chẳng gián đoạn, ắt lấy
nhất tâm bất loạn làm kỳ hạn. Hạnh
đơn giản, khéo léo ấy cần phải tin sâu,
đừng nghi, lâu ngày đừng thay đổi, sẽ tự
có thể siêu thoát trọn vẹn
ngũ trược, tịnh hóa trọn
vẹn bốn cơi, chẳng c̣n ở ngay trong
điện Hàm Nguyên mà hỏi Trường An nữa!
* Chỉ dạy Mẫn
Châu Đĩnh
Tín, Nguyện như mắt,
các hạnh như chân. Tín, Nguyện
như trâu, các hạnh như cỗ xe. Tín,
Nguyện như bàn cờ có ô, các hạnh
như bàn cờ có con cờ. V́ thế, ba thứ Tín, Nguyện,
Hạnh tuy khuyết một chẳng thể được,
nhưng càng phải lấy Tín
và Nguyện để làm hướng dẫn
chủ yếu. Bởi lẽ, tín nguyện đă chuyên, các
thứ điều thiện sẽ đều là tư
lương của Tịnh Độ. Dẫu vạn nhất
bất hạnh, lần lẫn làm ác, thành tâm sám hối,
đoạn cái tâm nối tiếp, cũng đủ làm diệu
hạnh văng sanh. Nếu chẳng có Tín, Nguyện, dẫu giới
cảm động trời, người, Định cảm
Sắc Giới và Vô Sắc Giới, Huệ chắc chắn
chỉ đạt được quyền quả nơi Nhị
Thừa mà thôi!
* Chỉ dạy Mẫn
Đại Phi (hai bài)
1)
Phật pháp quư tinh ṛng, chẳng quư nhiều; hễ ṛng sẽ
xuyên suốt nhiều, nhưng nhiều
chẳng thể chuyên ṛng. V́ thế, đạo nắm vững
cương lănh chẳng thể không gấp nói. Cương
lănh là một niệm tâm tánh hiện tiền mà thôi! Tâm tánh
chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, không thuộc quá
khứ, hiện tại, vị lai, chẳng thể dùng sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp để cầu, chẳng
thể dùng “có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng
không” để giữ lấy. Tâm tánh đă là như thế,
mà hết thảy các pháp cũng là như thế. Do vậy
nói là “nhân duyên sở sanh pháp” (các pháp được
sanh bởi nhân duyên), tức Không, tức Giả, tức
Trung. Trung là tánh thể, Không là tánh lượng, Giả là
tánh trọn đủ. Mê tánh lượng ấy th́ gọi
là Kiến Tư Hoặc. Mê tánh trọn đủ th́ gọi
là Trần Sa Hoặc. Mê tánh thể th́ gọi là Vô Minh Hoặc.
Tam Hoặc đều là vọng ngăn che do mê, chẳng có
thật thể. V́ thế, khi Tam Quán dấy lên, Tam Hoặc
sẽ tiêu ngay. Do chúng ta mê có dày hay mỏng, khiến cho giáo
pháp của Như Lai có Tiệm
hay Đốn. Do vậy biết
các giáo Đốn hay Tiệm đều v́ liễu ngộ
tâm tánh mà lập bày.
Nếu hiểu rơ tâm
tánh, giáo cương (cương lănh của giáo pháp) ở
nơi ta, chẳng ở nơi Phật, nhưng cần phải
trước hết phá ngă chấp và pháp chấp. Do vậy,
hai quyển đầu của Duy
Thức Sớ đặc biệt nói tường tận. Nếu
người học có thể thuận theo văn từ mà
hiểu lư, sẽ lập tức đoạn sạch tập
khí danh ngôn, hư luận, ngă chấp, pháp chấp từ vô thỉ,
lư Chân Không bèn hiển lộ. Lư Không ấy chẳng thuộc
vào hữu hay vô, mà hữu vô tự sẵn như vậy. Vô
là chẳng có Biến Kế. Hữu là có Y Tha và Viên Thành Thật.
Viên Thành Thật chính là Thật Tánh của Duy Thức,
được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất
Nghĩa Đế. Y Tha Khởi là giả tướng của
Duy Thức, được gọi là Tục Đế. Hai
thứ ấy đều chẳng phải là thật ngă, thật
pháp, nhưng t́nh chấp Biến Kế của chúng sanh
được gọi là ngă pháp. Ngă pháp vốn Không,
được gọi là Chân Đế. Tam Đế chẳng
một, chẳng khác, chẳng ngang,
chẳng dọc. Chân Đế và Trung Đế
là Lư, giống như
nước. Tục Đế là Sự, giống như
sóng. Tạng Giáo và Thông Giáo chỉ nói chân lư, coi lục phàm
là Tục. Biệt Giáo và Viên Giáo diễn nói ngay vào Trung lư,
coi thập giới là Tục. Trước hết, đối với
một niệm tâm tánh hiện tiền, đă liễu đạt
Tam Đế, sẽ biết giáo pháp suốt một đời
đức Phật hoặc là nhanh chóng diễn nói tâm tánh ấy,
hoặc thong thả nói ra tâm tánh ấy, hoặc diễn nói
tâm tánh ít phần, hoặc diễn nói toàn thể tâm tánh, giống
như cầm một cái ch́a để
mở các ổ khóa, há có phải là
đối với ngàn kinh muôn luận đành dơi nh́n biển
cả mà thở than ư?
2) Bát Nhă chẳng phải
chi khác, một niệm tâm tánh hiện tiền mà thôi! Tâm tánh
vốn tự là theo chiều dọc tột cùng, theo chiều
ngang trọn khắp, cho nên rộng lớn. Hư vọng
nhận Tứ Đại là thân tướng của chính
ḿnh, ngỡ duyên ảnh của lục trần là tâm tướng
của chính ḿnh th́ sẽ hẹp, nhỏ. Vốn tự vi
diệu, tịnh tuyệt, cho
nên là bậc nhất, nhưng hư vọng
tham đắm nhân quả hữu lậu trong tam giới, hoặc
nhân quả Thiên Chân của Nhị Thừa, bèn là thấp
kém. Bản thể của chúng sanh và Phật vốn
tương đồng,
nên là thường, cũng gọi là “ái nhiếp”.
Hư vọng so đo trong ngoài bất đồng với
nhau, ắt sẽ chán ngán, lười nhác. Vốn ĺa ngă chấp
và pháp chấp, cho nên chẳng điên đảo, cũng gọi
là Chánh Trí. Hư vọng so đo các tướng “ta, người,
chúng sanh, thọ giả”,
bèn là điên đảo. Tuy do mê tâm tánh này, trở thành hẹp,
nhỏ, thấp hèn, chán nhàm, biếng
nhác, điên đảo, như nước
đọng thành băng, nhưng nó thật sự là cái Thể
của chánh trí ái nhiếp rộng lớn bậc nhất, vẫn
y hệt như cũ, chẳng hề khuyết giảm mảy
may. Như tánh ướt của băng vẫn chính là tánh
ướt của nước! Nếu gặp cái duyên ấm
áp, chưa hề chẳng ngay khi đó,
[băng] liền tan thành nước. V́ thế,
bậc Bồ Tát khéo học Bát Nhă, không ai chẳng chú tâm
quan sát thật tánh của tâm trong một niệm hiện tiền.
Tâm thể ấy vốn chẳng ĺa lỗi, dứt sai, chẳng
rơi vào các pháp số, chí tôn, chí quư, được gọi
là Thật Tướng Bát Nhă.
Ví như kim cang là chất
báu vô giá, t́m cái tâm ấy, trọn chẳng thể được! Nó linh thông, sáng suốt,
rỗng rang, khéo léo thích ứng thỏa đáng trọn khắp,
gọi là Quán Chiếu Bát Nhă. Ví như kim cang cứng, bén bất
hoại, cái tâm ấy hiển hiện rạng ngời
căn, thân, khí giới, bách giới thiên như nhiều la liệt, xếp
lấp lánh, gọi là Văn Tự Bát Nhă. Ví như kim cang
tuôn trọn khắp các thứ báu,
chỉ một cái tâm này mà chính là ba món
Bát Nhă. Tam thế chư Phật chẳng thể tăng thêm
một mảy, các loài trùng nhỏ nhít chẳng thể giảm
bớt mảy may! Nhưng mê th́ toàn thể sẽ là ba món
chướng Hoặc, Nghiệp, Khổ. Hễ ngộ th́
toàn thể sẽ là ba đức Bát Nhă, Giải
Thoát,
Pháp Thân. Ba đức như ngoài nước chẳng có
băng. V́ thế nói “tam thiên quả thành, đều gọi
là thường lạc”. Tam chướng như ngoài
băng chẳng có nước, cho nên nói: “Tam thiên tại
lư, đồng danh vô minh” (Ba ngàn các pháp
trong một niệm đều gọi là vô minh).
Thấu đạt như thế, chỉ có cách làm tan
băng, chẳng có cách t́m nước khác. Có cách để
trừ khử màng mộng, chẳng có cách ban cho mắt sáng.
Chỉ mong rỗng không tất cả sở hữu,
chứ đừng
thật sự chẳng có ǵ để rỗng không. V́ vậy,
hăm hở đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành. Cho đến bố thí, tŕ giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, tu hành ngũ hối, tập học các
môn Thiền, học rộng, nghe nhiều, nghiên cứu pháp
nghĩa, đều là cách làm tan băng, trừ màng mộng.
Rỗng không các sở hữu cho tới khi băng chấp
tiêu sạch, màng mộng hư huyễn bị khử sạch,
tất cả thảy đều rỗng không, bèn khôi phục
toàn thể tác dụng lớn lao của một niệm tâm
tánh, chẳng c̣n có một pháp nào khác ở ngoài tâm để
có thể đạt được! Do vậy nói: “Nhập
ư Như Lai diệu trang nghiêm hải, viên măn Bồ Đề,
quy vô sở đắc” (Vào trong biển trang nghiêm mầu
nhiệm của Như Lai, viên măn Bồ Đề, trở
về chỗ không có ǵ để đạt được).
Lại nói: “Dùng chẳng có ta, người, chúng sanh, thọ
giả để tu hết thảy các thiện pháp, liền
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”.
Lại nói: “Pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng
đều trọn đủ, nhưng chẳng có một
pháp để có thể đạt được, gọi là Tối
Thượng Thừa”.
Đấy chính là Kim Cang chánh ấn, là yếu quyết truyền
tâm của Phật, Tổ. Tam Tạng mười hai bộ,
một ngàn bảy trăm công án,
cho đến tam đại ngũ tiểu của Thiên Thai
đều nhằm nêu toạc lư ấy mà thôi!
Chẳng hiểu lư ấy,
chỉ học Phật pháp, chỉ tham cứu công án, rốt cuộc có
lợi ích ǵ đâu? Đă hiểu lư ấy, hết thảy
Tông, Giáo
đều là cước chú của tâm ta, há có thuyết nào
khác để có thể khoe khoang ư? Dùng sự viên giải
này để trừ sạch chủng tử vọng Hoặc
từ vô thỉ. Nếu Quán
Hạnh tịnh, th́
sẽ là cơi Đồng Cư thanh tịnh. Tương Tự tịnh th́ sẽ
là cơi Phương Tiện tịnh. Phần Chứng tịnh th́
sẽ là cơi Thật Báo tịnh. Cứu Cánh
tịnh th́ sẽ là cơi Tịch Quang tịnh. Do vậy, nói “tùy
kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” (hễ
cái tâm tịnh th́ cơi Phật sẽ tịnh). Hăy nên biết
vô biên biển cơi
nước trang nghiêm trong Hoa Tạng đều là y báo
được cảm vời bởi cái tâm thanh tịnh của
ta, đều là Tướng Phần được hiện
bởi thức thứ tám, há có riêng một cơi nước ở
ngoài tâm? Lại há có riêng cái tâm ở ngoài cơi nước hay chăng?
* Chỉ dạy Giới
Tâm
Muốn khiến cho bi
và trí luôn được tương ứng, ắt phải
quán chắc chắn một niệm hiện tiền. Một
niệm tâm ấy chẳng ở trong, ngoài, trung gian, chẳng
thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng phải
xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải dài, ngắn,
vuông, tṛn. Muốn bảo nó là Có
th́ chẳng hề có dấu tích. Muốn nói nó là Không th́ chẳng thể
đoạn diệt. Điều được chứng bởi
tam thế chư Phật chính là chứng điều này. Hết
thảy chúng sanh bị mê,
th́ cũng là mê điều này. Khi chứng chẳng tăng,
lúc mê chẳng giảm. V́ vậy nói: “Tâm, Phật, chúng
sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Tuy chứng chẳng
tăng, nhưng luôn hưởng niềm vui pháp tánh chân
thường. V́ cầu niềm vui ấy, nên gọi là Trí.
Dẫu mê chẳng giảm, nhưng oan uổng hứng chịu
nỗi khổ luân hồi điên đảo. V́ dẹp trừ
nỗi khổ ấy, nên gọi là Bi. Chẳng có đại
trí, sẽ không vận dụng đại bi. Chẳng có
đại bi, sẽ chẳng có đại trí viên măn.
Một niệm quán tâm
chính là một niệm phản mê quy ngộ. Niệm nào
cũng quán tâm, chính
là niệm nào cũng phản mê quy ngộ. Phản mê chính là
Bi nơi Trí. Quy ngộ chính là Trí nơi Bi. Do vậy, du hành
tứ phương, tức là Trí nơi Bi. V́ vậy, thừa
sự chư Phật, Phật và chúng sanh đều chẳng
ngoài một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta.
Tŕ giới chính là trau
giồi cho niệm ấy sáng ngời, thấu suốt. Làm
phước là trang nghiêm điều này. Nhẫn nhục là
thấu hiểu, thông đạt điều này. Tinh tấn
là hiển phát điều này. Tọa Thiền là thấu triệt
điều này. Xem kinh là chiếu tỏ điều này. Thấy
Phật, Bồ Tát, thiện tri thức là ấn khế
điều này. Lập đại nguyện, đại hạnh
cho đến tột cùng đời vị lai, độ
thoát hữu t́nh, nhằm hoàn măn điều này. Quán mười
giới trong một niệm tâm là giả danh, mà hưng khởi
hay dẹp trừ đều là sanh duyên từ bi b́nh đẳng.
Quán Ngũ Ấm nơi mười giới trong một niệm
tâm để hưng khởi hay dẹp trừ th́ chính là
pháp duyên từ bi b́nh đẳng. Quán thể tánh của
mười giới trong một niệm tâm để
hưng khởi hay dẹp trừ th́ chính là vô duyên từ bi
b́nh đẳng. Trong hết thảy các thời, quán tâm là chủ,
đọc tụng Đại Thừa liễu nghĩa
để giúp hiển lộ. Siêng tu đủ loại
phước đức để giúp phát khởi, chớ
để cho cái tâm này đọa trong cảnh giới vô kư
hoặc bất thiện. Chớ tham văn tự, thơ từ
của thế gian, kẻo
gây trở ngại chánh pháp. Chớ đuổi theo tập
khí keo, tham, ganh tỵ, ngă mạn, che giấu sự hèn tệ
để tự hủy hoại, tổn thương. Hằng
ngày đổi mới cái đức để đạt
đến thành tựu. Một đời là như thế,
đời đời cũng lại đều như thế,
sẽ được sanh về Tịnh Độ, vĩnh
viễn chẳng thoái chuyển. Đại sự nhân duyên
thuộc trăm kiếp ngàn đời chỉ trong một
niệm hiện tiền. Nếu niệm ấy đă chánh,
không ǵ chẳng phải là chánh. Nếu niệm ấy tà,
không ǵ chẳng tà!
* Chỉ dạy Ngô Cảnh
Văn
Không
có pháp nào chẳng từ tâm tạo, không pháp nào mà tâm chẳng
trọn đủ. Nhận biết tự tâm th́ đạo
của Phật, Tổ sẽ trọn hết. Tâm tạo tức
là Lư hằng Sự. Tâm trọn
đủ tức là Sự
hằng Lư. Từ ngay nơi
Lư mà là Sự, tức là trăm pháp. Lư từ ngay nơi Sự,
chính là Đại Thừa. Trăm pháp là Sự thuộc về
Lư. Toàn thể Sự chính là Lư. Do vậy nói “hết thảy
các pháp vô ngă”. Vô ngă chính là Nhị Không Chân Như, muốn
nói chẳng phải là Đại Thừa, chẳng thể
được! Đại Thừa là Lư trong Sự, toàn thể
Lư thành Sự. V́ thế, dùng Chỉ Quán làm cái để
nương vào v.v… năm lượt kiến lập, nhiếp
trọn hết ba ngàn tánh tướng, bách giới thiên
như, muốn chẳng bảo là
trăm pháp cũng chẳng thể được! Do
đó, muốn vượt qua huyền quan Duy Thức, cần
phải khéo hiểu tông chỉ của Thai Hành[46].
Muốn đạt được tâm tủy của Thai
Hành, cần phải nhập môn từ Duy Thức.
Đối với giới
hạn, từng sự tầm thường trong cuộc sống
hằng ngày mà chưa hiểu rơ
ràng, rành rẽ, đă toan hướng đến
huyền diệu. Trong Pháp Hoa, các pháp “tướng
như thế, tánh như thế”,
cho đến “bản
mạt cứu cánh như thế”,
tướng đứng trước hết [trong mười
món Như Thị] để nắm trọn mà có thể biện
định riêng biệt. Nếu đối với cái
tướng do tâm hiện tiền dấy lên, vẫn
chưa biết đó là tâm vương hay tâm sở, là thiện
hay bất thiện, là bị che phủ hay không, trong tam
lượng[47],
chẳng biết là lượng nào, trong ba cảnh, chẳng
biết duyên theo cảnh nào, dù tánh hay thể, cho đến
quả báo, sẽ do đâu mà thấu hiểu minh bạch? Nếu
đối với “sự tạo nhất giới thập
như” (mỗi giới được tạo tác nơi
mặt Sự đều có đủ Thập Như Thị)
vẫn chưa thể hiểu rơ, sao lại có thể do Sự tạo mà thấu
đạt Lư
trọn đủ bách giới thiên như? Lại do đâu
mà từ “Lư trọn đủ” nơi Sự tạo
bèn hiểu rơ, liễu đạt bách giới thiên như của
Sự tạo thuộc “Lư trọn đủ?”
Than ôi! Chẳng hiểu
rơ tâm pháp của Thai Hành đă lâu;
đấy là v́ chẳng biết đến Tịnh Danh Sớ
của ngài Trí Giả, thuần dẫn chứng lời thích
nghĩa của ngài Thiên Thân. Sớ ấy truyền sang Cao
Ly, không ǵ chẳng cởi gỡ nỗi nghi trong cơi đời.
Sách Đại Thừa Chỉ Quán của tổ Nam Nhạc
cũng dựa theo tám thức để biện định
môn tu chứng, chính là nói xả tâm vương và tâm sở
hiện tiền, sẽ chẳng có cảnh nào khác để
quán. Đă chẳng có cái để quán, năng quán (tâm có thể
quán) sẽ gởi vào đâu? Biện định cảnh
th́ mới có thể tu hành Chỉ Quán;
đó chính là huyết mạch chân chánh của Thai Hành, chẳng
giống như các tông khác luận chung sự huyền vi.
Pháp vốn sẵn là như thế, đạo chẳng thể
ĺa. Kẻ cự tuyệt
pháp tướng ở ngoài núi, chẳng biết dung hội
trăm sông vào biển cả, lầm mất rồi!
* Chỉ dạy Như
Mẫu
Đạo
chẳng ở văn tự, nhưng cũng chẳng ĺa
văn tự. Do chấp “văn tự là
đạo”,
cho nên giảng sư mới chê là “kể chuyện ăn,
đếm của báu”. Do chấp “ĺa văn tự là
đạo”, bậc Thiền
giả mới vướng họa ám chứng, sanh manh.
Đạt Ma đại sư dùng tâm truyền tâm, ắt phải
nhờ kinh Lăng Già để ấn chứng, quả thật
sợ “ĺa kinh một chữ liền giống như ma
nói”. Trí Giả đại sư chín mươi ngày giảng
chữ Diệu [trong tựa đề kinh Diệu Pháp Liên
Hoa], chỗ nào cũng quy kết vào Chỉ Quán, quả thật
sợ “y văn giải nghĩa, đâm ra thành oan uổng
chư Phật”. Thiếu Thất và Thiên Thai vốn chẳng
hai trí, đời sau Thiền đă báng Giáo, mà Giáo cũng
báng Thiền, thật đáng buồn vậy! Tôi lúc hai
mươi ba tuổi, bèn khổ chí tham Thiền, nay liền
tự xưng là học Thiên Thai qua di trước[48],
đau xót sâu xa trước chứng bệnh của Thiền
môn, chẳng phải là tông Thiên Thai không
thể cứu được! Hiềm
rằng con cháu của tông Thiên Thai vẫn cố cự tuyệt
Thiền Tông, há có phải là bổn ư của Trí Giả
đại sư ư? Tiếc là tôi bị hư danh gây lụy,
lực dụng chẳng dồi dào, chẳng thể triệt
để cứu chữa khuyết điểm của cả
hai tông, chỉ đành dùng Phật nhăn viên dung thuộc địa
vị Danh Tự để đích xác khảo duyệt [giáo nghĩa của] cổ
Phật chẳng sai lầm, ngơ hầu trăm đời chẳng
mê hoặc! Nguyện Như Mẫu chỉ học theo cái giải
của tôi, đừng học theo tôi sớm làm thầy
người khác, ngơ hầu pháp môn được
nương cậy vậy!
* Chỉ dạy Dụng
Hối (hai bài)
1)
Em trai ông theo tôi du cước, người khởi xướng
là lệnh sư Tùng La, người thành toàn chính là Như Mẫu
huynh vậy. Lệnh sư nói em trai ông kham làm một cây kèo
trong ṭa nhà pháp; đó là lời nói khiêm tốn mà cũng là lời
chân thật. Nhưng vật liệu to hay nhỏ, há có thể
nhất định? Tuy có cây gỗ to, nhưng người
thợ gọt đẽo thành nhỏ, tức là chẳng thể
vượt ngoài trách nhiệm. Cây ngô đồng, cây gỗ
Tử chỉ to một chét tay, mà có thể khéo vun bồi, sẽ
dần dần trở thành cây to cả ṿng ôm.
Nay thợ trong thiên hạ chẳng có ai không dùng danh lợi
để đẽo gọt người khác. Cố nhiên là
ông có thể chẳng bị đẽo gọt. Do vậy,
khéo tự bồi
dưỡng, chẳng thể không gấp nói! Tăng Tử
nói: “Sĩ bất khả dĩ bất hoằng nghị,
nhậm trọng nhi đạo viễn” (kẻ sĩ chẳng
thể không có nghị lực to lớn, v́ mang trách nhiệm
nặng nề, đi trên con đường xa xôi)[49].
Chúng sanh hàm thức trong pháp giới đều là trách nhiệm
của chính ḿnh. Trách nhiệm càng nặng nề, cho đến
tột cùng đời vị lai chẳng có lúc xong! Thời
đă lâu xa, dẫu trách nhiệm nặng nề, chẳng thể
đùn
đẩy cho người khác. Dẫu thời
lâu xa, chẳng thể ngưng nghỉ giữa chừng. Biết
chẳng thể đùn
đẩy, chẳng mong hoằng mà tự hoằng.
Biết chẳng thể ngừng, chẳng mong kiên quyết
mà tự kiên quyết. Dùng đó để tự dưỡng,
dẫu thiên ma, ngoại đạo cũng chẳng thể
đẽo gọt cho nhỏ được. Tôi rất mong
mỏi em ông sẽ là cây to rợp mát.
2) Tánh của Pháp Thân vốn
chẳng sai biệt. Phật khác chúng sanh ở chỗ có
công tu đức đó thôi! Tu đức cũng đều
là sẵn đủ nơi tánh, chúng sanh sử dụng hằng
ngày mà chẳng biết, do si ái dị kiến gây chướng.
Muốn nêu tỏ Tu đức, không ǵ là trước hết
phải trừ chướng. Tu đức có hai: Một là
Bát Nhă, hai là giải thoát. Muốn chứng Bát Nhă, cần phải
siêng tu tập Tam Huệ Văn, Tư, Tu. Muốn chứng
giải thoát, cần phải siêng năng nơi ba phước
thí, giới, tâm. Thí trừ nghèo thiếu, đạt
được đại trợ đạo. Giới trừ
cấu nhiễm, thành tựu pháp khí. Tâm trừ tán loạn,
có thể dẫn khởi thật huệ. Do vậy, phước
huệ nhị luân chẳng thể tạm bỏ. Hễ bỏ
th́ Pháp Thân lưu chuyển trong năm đường, gọi
là “chúng sanh”. Than ôi! Người thật sự cầu
tu phước huệ trong thời Mạt sẽ khó
khăn, hoặc mặc t́nh noi theo ư của riêng ḿnh, hoặc
buông lung theo tập khí trước kia, hoặc tuy siêng ṛng
mà chẳng nắm được cửa, uổng công khổ
hạnh, hoặc biết đường nẻo mà chẳng
chịu cất bước, mặc cho ngày tháng dần trôi.
Hoặc vừa mới lên đường, ngoại ma, nội
chướng, cảnh duyên thuận nghịch lũ lượt
tranh nhau xảy ra. Có chí mà chẳng thực hiện
được, đáng đau ḷng đẫm lệ, không chỉ
là một hai chuyện!
Kẻ phát tâm không chân
chánh, chí nguyện chẳng xa, lớn, thệ lực chẳng
dũng mănh, chẳng đáng để bàn tới. C̣n như
hủ nhân, hai mươi bốn tuổi xuất gia, cha chẳng
chôn, mẹ chẳng phụng dưỡng, dứt khoát xuống
tóc, khoác áo thâm, làm tạp vụ tại Vân Thê, tọa Thiền
ở Song Kính, trụ tĩnh tại Thiên Thai, tâm chân chánh,
chí xa lớn, thề dũng mănh. Khi sắp xuất gia,
trước hết phát ra ba điều nguyện:
- Một là chưa chứng
Vô Sanh Pháp Nhẫn, sẽ chẳng thâu đồ chúng.
- Hai là chẳng lên ṭa
cao (thuyết pháp).
- Ba là thà rét lạnh, chết
đói, chẳng dùng tụng kinh, lễ sám, và hóa duyên để
nuôi thân miệng!
Lại phát ba điều
liều thân: Liều thân bị chết đói, bị chết
rét, bị người khác lấn
hiếp mà chết, trọn chẳng thốt một
lời dính dáng thị phi, tranh đua được mất,
huống hồ có chuyện báo oán,
trả thù! Bởi đó, hành cước nhiều năm, chẳng
dám bước loạn một bước, khinh dễ thốt
một lời nào xáo
động ư niệm của đại chúng. Chỉ v́ thuở
trẻ, hơi thông thạo viết lách, gần như do bị
đạo hữu ép buộc, liền v́ họ biện
định, nghiên cứu Phật pháp, đến nỗi
hư danh ngày một phô tỏ, trong ba nguyện đă trái
nghịch nguyện “chẳng lên ṭa cao”. Lại c̣n do lúc mới
xuất gia, gấp gáp mong đạt công phu thành phiến,
chưa từng
vâng theo lời dạy “ba năm làm tạp
vụ” của thầy thế độ, ư ban đầu là
“đạt công phu thành phiến rồi mới lại làm tạp
vụ”. Nào ngờ bị hư danh gây lầm lẫn, rốt
cuộc không có chỗ nào để xin quải đơn
làm tạp vụ. Sai một điều, cả trăm
điều đều sai! Phước luân khiếm khuyết!
Ba mươi năm qua, tự lợi đă chẳng rốt
ráo, mà lợi tha lại chẳng được thành. Tuy
trước thuật đủ thứ, chỉ là kết
duyên Bát Nhă với thiên hạ, hậu thế, chứ chí trùng
hưng chánh pháp đành chẳng biết làm như thế
nào! Há chẳng đáng đau xót lắm thay?
Ông có chí kiêm tu phước,
hết sức phù hợp với nguyện của tôi,
nhưng thiên tư của ông tuy dĩnh
ngộ, bản chất tuy chân thành, chí tuy chánh đáng,
nhưng bẩm tánh nhu nhược, yếu kém về mặt
đối nhân xử thế. Đă mềm yếu lại
trí cạn, chẳng bằng một nét xóa sạch, làm một
kẻ si ngốc tốt hơn. Nếu chẳng thể khéo
dấn ḿnh, lại chẳng thể bỏ hẳn, đâm ra
gieo bồi nhiều thêm một thứ,
bất giác phước lẫn huệ đều bị
thương tổn. Khổng Tử nói “bang gia tất
đạt giả, quư chất trực hiếu nghĩa, sát
ngôn, quán sắc”
(người hiển đạt ở
trong nhà lẫn trong nước, quư ở
chỗ chất trực, chuộng điều nghĩa, biết
quan sát lời nói và vẻ mặt [của người
khác]). Đấy chính là bí quyết để tu cả hai
luân (phước và huệ). Chất trực là chánh niệm
Chân Như. Hiếu nghĩa là thích tu tập
công đức. Hai đằng đều dùng quan sát ngôn sắc
làm phương tiện để tấn tu. Bởi tu hai
luân ấy,
ắt
đều phải thân cận bậc cận tri thức.
Nho nói [thân cận bậc tri thức] là “thân nhân” (thân cận
người có ḷng nhân). Ắt cần
phải tùy thuận chúng sanh, nhà Nho bảo là “phiếm ái
chúng” (yêu thương trọn khắp mọi người).
Đối với đạo thân ái mà chẳng quan sát ngôn sắc,
ngă pháp sẽ lừng lẫy. Ngă pháp lừng lẫy, th́
không chỉ chẳng thể thăng đường nhập
thất (tiến nhập chỗ uyên áo, sâu thẳm), dốc cạn sức,
trọn hết ḷng thành, sợ rằng chẳng đến
nỗi đắc tội sâu với những
người có ḷng nhân sẽ chẳng
thôi! Ấy là do trí quang chưa tỏ lộ, phước
đức hoàn toàn bị tổn thương. Phước
đức hoàn toàn bị tổn thương, trí chủng sẽ
bị diệt mất. Đó là tu Hoặc nghiệp, chẳng
phải là tu phước huệ.
Ông muốn tu diệu pháp quán
sát này, xin hăy khởi đầu từ một nét bút xóa sạch: Trong chẳng thấy
có ta, tức là ta chẳng có tài cán ǵ;
ngoài chẳng thấy có người, tức là người
không có lỗi. Một mực si ngốc, tự hổ thẹn
sâu xa, thống thiết tự sửa đổi, trừ bỏ
trí kém, tâm kiêu mạn, đến khi tích
tập phước đă nhiều,
thiện căn
sẽ thuần hậu. Chỉ có làm người
si ngốc như vậy th́ sẽ có thể như nước
chảy ở bất cứ chỗ nào cũng đều có
thể uốn lượn thỏa đáng. Đứng, ngồi,
lui, tới, sẽ đều chẳng trái nghịch ư
người trước, như ngài Tu Bồ Đề là
tương tự si ngốc, mà cũng là tương tự
quan sát ngôn sắc. “Nếu quán chúng sanh trong mười pháp giới,
xưng niệm âm thanh danh hiệu của ông, sẽ khiến
cho họ đều được giải thoát” như
Quán Thế Âm là phần chân si ngốc, mà cũng là phần
chân quan sát ngôn sắc. Dù ngoại đạo, Bà La Môn ôm ác
tâm hay
thiện tâm t́m đến, không ai chẳng
được đẹp dạ, cho đến tùy duyên mà tới
cảm ứng, không ǵ chẳng vẹn
toàn. Như đức Thích Ca Mâu Ni chính là si ngốc rốt
ráo, mà cũng là quan sát ngôn sắc rốt ráo, thân chứng nhị
nghiêm (phước và trí), có tôn hiệu là Lưỡng Túc (hai đằng
phước và trí đều trọn đủ),
trong nhà và trong nước đều hiển đạt, có
ư nghĩa tột bậc như thế đó. Than ôi! Thêu
thành uyên ương tùy thuộc tài khéo của ngươi,
chẳng do kim thêu giúp cho người thêu được!
Người thợ mộc có thể chế tạo xe cộ,
làm thước vuông, thước tṛn cho người khác, chẳng
thể ban tài khéo cho kẻ khác được! Một trái vải
đă bóc vỏ, bỏ hạt, đặt sẵn trong miệng
ông, chỉ có thay ông nuốt xuống là chẳng được.
Dụng Hối hăy suy nghĩ sâu xa nhé!
* Chỉ dạy Minh Kư
Phật
pháp suy là do kiến địa của người xuất
gia chẳng sáng suốt. Kiến địa chẳng sáng suốt
lại do nhân địa chẳng chân thật! Nếu phát
tâm thật sự v́ sanh tử đại sự, chắc chắn
sẽ biết sanh tử trong tam giới không ǵ chẳng phải
là khổ. Đă biết tam giới đều là Khổ
Đế, chắc chắn chẳng dấy lên cái tâm trong
tam giới. Đó gọi là cái
trí “biết Khổ,
đoạn Tập”,
chính là Đạo Đế, chẳng
phải là hai đạo. Tu Đạo, vĩnh viễn
đoạn Khổ và Tập th́ là Diệt Đế, lại
chẳng phải là diệt chi khác. Khổ của chính ḿnh
là như thế, mà khổ của người khác cũng
như thế. V́ vậy, phát thệ rằng: “Chúng sanh vô
biên thệ nguyện độ”. Tập của chính ḿnh
hăy nên đoạn như thế, Tập của người
khác cũng vậy. Do đó phát thệ rằng: “Phiền
năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Tu Đạo
của chính ḿnh và người khác cũng thế, cho nên phát
thệ rằng: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.
Tự mong chứng
Diệt của chính ḿnh và người khác cũng thế,
cho nên phát thệ rằng: “Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Đấy
gọi là nhân địa đă chân thật, th́ kiến địa
tự minh bạch. Người hiện thời chẳng phải
vậy, mới nói “v́ sanh tử” đă bỏ mặc pháp môn, suy nghĩ tốt lành cho riêng ḿnh. Mới nói “v́
pháp môn”, đă gác bỏ sanh tử ra ngoài, chỉ đua chen nơi t́nh đời. Kẻ suy
nghĩ tốt lành cho riêng ḿnh, chẳng đánh mất chủng
tử trời, người, Nhị Thừa. Kẻ đua chen t́nh đời, hiếm kẻ nào chẳng
đọa vào lối ṃn của Tu La,
ma tà, ngoại đạo! Kẻ chống đỡ pháp môn
càng nhiều, chánh pháp càng hoại, khôn ngăn đau xót! Tôi
chẳng có ưu điểm ǵ, chỉ biết sâu xa Bồ
Đề đại tâm, cái tâm quyết v́ sanh tử chẳng
hai. Nay riêng v́ ông mà triệt để nói toạc ra! Có thể
tin lời này th́ niệm nào cũng sẽ tương ứng
với Tứ Đế, Tứ Hoằng vậy!
* Chỉ dạy Mă Thái
Chiêu
Đối
với bộ Châu Dịch Thiền Giải do tôi soạn
trước kia, người tin chưa được một
phần mười, kẻ nghi quá chín phần mười!
Than ôi! Thật sự là lỗi của tôi. Xét theo t́nh kiến
của người nghi, họ cho rằng: “Nho tự là Nho,
Phật tự là Phật. Muốn nêu rơ Phật lư, có thể
chú giải kinh Phật, cớ sao rối loạn Nho tông của
ta? Trong Dịch thật sự có Thiền ư? Há bốn vị
đại thánh nhân[50]
là phường vô tri ư? Trong Dịch thật sự chẳng
có Thiền ư? Vậy th́ có kẻ nào dám mặc sức
nói khác?” Ôi! Do vậy, tôi cười x̣a mà chẳng đáp.
Xưa kia, Lục Tượng Sơn thoạt đầu
nghi trời đất có chỗ nào là cùng tận, cho đến
sau khi đă ngộ rỗng rang, bất quá nói: “Đông hải
có thánh nhân ra đời”. Cái tâm ấy tương đồng,
mà lư ấy cũng đồng. Biển Nam, Tây, Bắc có
thánh nhân ra đời vậy! Tâm ấy, lư ấy, cũng
không ǵ là chẳng phải
như vậy, chẳng bàn đến trời đất nữa!
Há chẳng phải là do trời đất vô cùng, vô tận
đều chẳng ra ngoài tâm này, lư này, cho nên chẳng c̣n nẩy
sanh các hư luận “hữu biên, vô biên” nữa!
Kinh Dịch chép: “Phạm
vi thiên địa chi hóa nhi bất quá, khúc thành vạn vật
nhi bất di, thông hồ trú dạ chi đạo nhi tri”
(thuận theo khuôn
khổ biến hóa của trời đất chẳng chống
trái, tùy thuận thành vạn vật chẳng thừa sót, sẽ
thông hiểu trọn vẹn lẽ biến hóa của ngày,
đêm)[51].
V́ thế, tuy thần kỳ không ngằn mé, mà Dịch chẳng
có Thể. Dịch đă có phạm vi, khéo tùy thuận sanh
thành, v́ sao chẳng có Thể? Đă là vô Thể th́ dùng vật
ǵ để đặt trời đất trong khuôn khổ,
để tùy thuận hay khéo,
ḥng sanh thành muôn vật? Ôi! Thử suy nghĩ sâu xa, có thể
nói Dịch chẳng có Thiền ư? Có thể nói thánh nhân
chẳng biết Thiền ư?
Hơn nữa,
thánh nhân đă nói rơ “Âm Dương bất trắc chi vị
thần” (Âm Dương chẳng lường được
th́ gọi là Thần). Lại nói “thần vô phương”
(thần kỳ chẳng có ngằn mé). Nhà Nho về sau ắt
đem Càn là Dương, phối ứng với trời, với
vua, Khôn là Âm phối ứng với đất, với bầy
tôi, tức là rộng như Bát Quái
đă nói: “Càn vi hàn, vi băng, vi tích mă” (Càn là lạnh,
là băng, là ngựa gầy trơ xương) v.v… “Khôn
vi lận tích, vi văn, vi hắc” (Khôn là keo tiếc,
là tô vẽ, là đen)[52]
v.v… Thật sự là nói về điều ǵ vậy? Thánh
nhân nói rơ “Dịch chẳng có Thể”. Các nhà Nho về
sau cứ coi Dịch nhất định là Dịch, c̣n chẳng
thể suy ra các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, huống hồ
có thể suy ra Tam Bảo, Tứ Đế, Thập Nhị
Nhân Duyên, Lục Độ, vạn hạnh là tâm hay chẳng
phải là tâm của bốn vị thánh nhân ư? C̣n như
động tột cùng th́ không ǵ bằng Càn, ban ngày trở
thành số lẻ, sợ rằng là động hoặc chẳng
phải động? Tĩnh tột bậc không ǵ bằng
Khôn, ngày trở thành số chẵn, sợ rằng tĩnh
hoặc chẳng tĩnh ư?
Cấn là núi, Đoài là
chằm, đều là vật bất động, cớ sao
gọi là Hàm[53]?
Tốn là gió, Chấn là sấm, đều là h́nh tượng
chẳng ngừng, cớ sao lại ngược ngạo gọi
là Hằng[54]?
Nam ở trong Khảm, sao nước lạnh tột bậc?
Nữ ở trong Ly, sao lửa nóng tột bậc? Nước
tuôn xuống diệt lửa; lửa cháy khô cạn
nước, cớ sao gọi là Kư Tế? Do nước
được nhuần thấm, lửa nóng bốc lên thuận
theo tánh. Cớ sao gọi là Vị Tế?[55]
Do vậy nói: “Bất khả vi điển yếu, duy biến
sở thích” (Chẳng thể chấp chặt lẽ cố
định, phải biết quyền biến thích đáng).
Cớ sao các nhà Nho về sau lại chấp chặt lẽ
bất biến, chẳng biết biến thông!
Mă Thái Chiêu từ bé
đă lưu tâm nơi Dịch học, riêng chẳng coi những
lời đă được nghe trước tiên là chủ
yếu. Mùa Đông năm trước, do nghe tông Thiên Thai nói
“hết thảy đều là Quyền, hết thảy
đều là Thật, hết thảy đều là vừa
Quyền vừa Thật, hết thảy đều chẳng
phải là Quyền, chẳng phải là Thật” mới
biết Châu Dịch cũng là Quyền, mà cũng là Thật,
mà cũng là kiêm Quyền, Thật, cũng chẳng phải
là Quyền Thật. Lại nghe điều mầu nhiệm
“một niệm tâm tánh hiện tiền bất biến
tùy duyên, tùy duyên bất biến” mới
biết chẳng thay đổi chính là biến đổi,
biến đổi rốt cục chẳng đổi. Nói
“chẳng đổi” th́ chỉ là chẳng có ngằn mé, chẳng
có Thể đó thôi! Nếu có ngằn mé, có Thể, sẽ
là Khí (vật chất),
chẳng phải là Đạo,
sao gọi là Thần,
sao gọi là Dịch cho được? Lại nữa, chẳng
thấu đạt “chẳng có ngằn mé, chẳng có Thể”
th́ không chỉ Âm Dương là Khí (器, vật dụng),
mà Thái Cực cũng là Khí.
Nếu thấu đạt “chẳng có ngằn mé, chẳng
có Thể” th́ không chỉ Thái Cực chẳng phải là Khí, mà Âm Dương
cho đến muôn vật cũng đều chẳng phải
là Khí! Châu Tử (Châu Đôn Di) nói:
“Thái Cực vốn vô cực”. Cũng có thể nói “Dương
vốn chẳng Dương, Âm vốn chẳng Âm, Bát Quái vốn chẳng
có quẻ, Lục
Hào vốn chẳng
có hào[56]”.
Do đó nói “Âm Dương bất trắc chi vị thần”
(Âm, Dương chẳng lường được, bèn gọi
là Thần). Nếu Âm và Dương có ngằn mé, có Thể, há được
gọi là “bất trắc”
ư? Luận chép: “Các pháp chẳng có tự
tánh, chẳng có tha tánh, chẳng có cộng tánh, chẳng phải
là tánh không có nhân”. Vô tánh cũng chẳng có tánh. Tánh vô tánh
được gọi là Thật Tánh
của các pháp. Ôi! Là Dịch ư? Là Thiền ư? Vừa
là Dịch và là Thiền ư? Chẳng phải là Dịch,
chẳng phải là Thiền ư? Cư sĩ nhất định
có thể ngầm biết!
* Chỉ dạy Lục
Chánh
Giới là Phật thân, Luật là Phật hạnh,
Thiền là Phật tâm, Giáo là Phật ngữ. Có thân, hạnh,
mà chẳng có tâm và ngữ, sẽ là tượng gỗ, con
rối mà thôi! Có tâm mà chẳng có thân và ngữ, sẽ là cô hồn vô chủ mà thôi! Có ngữ mà chẳng có
thân và tâm, gió lùa qua hang trống vang ra tiếng mà thôi! Lại
nữa, có thân tâm mà chẳng có ngữ, trẻ thơ, con nít
mà thôi! Có thân và ngữ mà chẳng có tâm, két, nhồng mà thôi! Có tâm và ngữ mà chẳng có thân hạnh, người ghẻ chốc bán thuốc mà thôi. Nh́n từ đó, tam tông (Thiền,
Giáo, Luật) thật sự có thể tách rời ư?
Nhưng tự hành th́ chắc chắn chẳng thể tách rời,
hóa độ người khác lại chẳng bắt buộc
phải hợp lại! Ngài Ca Diếp có bao giờ chẳng
tŕ giới tinh nghiêm, nhưng thông suốt Phật pháp rộng
khắp, nổi tiếng về Thiền. Ngài A Nan có bao giờ
chẳng chứng sâu xa Lục Thông, chẳng giữ tinh nghiêm diệu
giới, được gọi là Thánh. Ngài Ưu Ba Ly có bao
giờ chẳng hiểu rộng Phật pháp, chẳng thâm nhập Thiền tư, nổi tiếng tŕ luật.
Lại như các vị luật sư trong cơi này, như các
vị Đàm Vô Sấm v.v… có bao giờ chẳng từng trọn
đủ Thiền, Giáo, pháp sư như các vị Trí Giả,
Kinh Khê, Thanh Lương
v.v… có bao giờ chẳng trọn đủ Thiền và Luật,
thiền sư như Lục Tổ, Nam Nhạc, Bách Trượng,
Quy Sơn v.v… có bao giờ chẳng trọn đủ Giáo, Luật!
Thời Mạt, [hành
nhân] chẳng cầu cái Thật, hiểu biết
hạn hẹp, trí tối tăm, dốc chí lo toan những
điều gần gũi, đă thiếu chủng tử
đại Bồ Đề, tâm lại chẳng chân thật
v́ sanh tử, một mực theo sóng đuổi sóng, tranh
nhau hướng theo sinh kế trong trăm năm, làm ra vẻ là một bậc
luật sư, pháp sư, hay tông sư, dụ dỗ ngu phu,
ngu phụ lễ bái,
cúng dường, cẩu thả cho xong một đời
này, há c̣n nghĩ đến đại sự trải trần
kiếp! Kẻ căn cơ hơi lanh lợi, muốn học
trọn cám bă bề ngoài của Thiền, Giáo, Luật,
hư vọng bảo là có thể tổng hợp toàn vẹn
[các giáo], chẳng biết đội cái mũ tam giáo,
đâm ra chẳng bằng chuyên chú một pháp c̣n có đôi
chút thọ dụng! Than ôi! Muốn nhanh chóng mà chẳng
đạt, thấy lợi nhỏ th́ đại sự chẳng
thành!
Cái bệnh của mọi
người là thích làm thầy kẻ khác, danh văn lợi
dưỡng trước mắt, khác nào con ngựa trắng
chạy qua khe hở, chẳng thể buông xuống toàn thể
để sâu xa cầu lẽ xuất yếu. Dối
người chỉ thành tự dối ḿnh! Do vậy, tôi mắt
chẳng nỡ thấy, tai chẳng nỡ nghe, chỉ mong
suốt đời ở trong chốn núi thẳm, sớm
sanh về
Tịnh Độ đó thôi! Lục
Chánh từ mấy
ngàn dặm đến đây, cầu dạy
ư chỉ “Tam Học bất nhất, bất dị”, ắt
đă biết sanh tử đại sự đích xác là
đáng đau đớn! Cái hư
danh “pháp sư, luật
sư, thiền sư”
đích xác chẳng thoát khỏi sanh tử, ngược lại
tăng trưởng sanh tử. Từ nay, hăy nên vùi đầu,
khổ chí, dốc sức học ba pháp, mỗi mỗi
đều thấu triệt nguồn cội, chớ noi theo
thói đời hiện thời nữa!
* Chỉ dạy Thanh
Nguyên
Năm
Ất Dậu (1645), Chuyên Ngu đại sư ở Tử Trúc Lâm sai bảy
người đến theo tôi học, Thanh Nguyên Dung xà-lê là
thượng thủ. Năm Bính Tuất (1646), Chuyên Ngu đại sư qua đời.
Năm Canh Dần
(1650), ngài Vạn Bạch ở Tử Trúc Lâm khuất
núi, sai người mời Thanh Nguyên kế
nhiệm làm chủ giới tràng. Tăng sứ cầm
thư của Tăng, tục đến Linh Phong quỳ lạy cầu
khẩn. Tôi cũng khuyên ông nên về, Thanh Nguyên đau ḷng
khóc lóc, từ tạ, tỏ ư muốn lưu lạc ở
nơi khác. Tôi và tăng sứ
cùng xét ḷng thành của thầy ấy, chẳng dám ép! Than ôi!
Kẻ trẻ tuổi khinh bạc trong thời gần
đây chẳng có mảy may thật đức, cứ thích
làm thầy người khác, xưng là luật chủ, pháp
chủ, tông chủ đầy khắp cơi nước, dối
gạt kẻ mù từ lọt ḷng lấy tai làm mắt[57].
Như Thanh Nguyên do biết pháp bèn sợ sệt, há có phải
là nghé con mới sanh mà có thể mong bằng được
ư? Thanh Nguyên đầy ắp ư niệm chẳng dám lầm
lạc làm thầy người khác, dưỡng [ư niệm ấy]
tột bậc thuần túy, khiến cho Tam Học viên minh, vạn
hạnh trọn đủ.
Phát Bồ Đề
tâm là coi đời vị lai như một sát-na, há giống
như kẻ kiến giải nông cạn, chỉ bận tâm
sinh kế trước mắt, c̣n nỗi khổ cùng cực
trong tam đồ thuở mai sau
th́ nhất loạt chẳng đoái hoài, cũng chẳng phải
là hết sức đáng buồn ư? Thành Phật, làm Tổ,
hay sẩy
hầm, sụp hào, chỉ
trong khoảng một niệm! V́ thế, đạo Nho nói: “Nhân
tâm duy nguy, đạo tâm duy vi. Duy thánh vơng niệm tác cuồng,
duy cuồng khắc niệm tác thánh” (ḷng người
nguy hiểm, đạo tâm vi diệu. Chỉ do thánh đánh
mất niệm mà thành cuồng, cuồng khắc chế ư
niệm bèn thành thánh), [ḥng khiến cho người học]
biết Thuấn và Đạo Chích[58]
cách biệt chẳng có chi khác, trong khoảng lợi và thiện
đó thôi! Do vậy, những người thọ giới,
học Luật, nghe giáo, xem kinh, tham Tông, tọa Thiền, chỉ
cần xen tạp cái tâm lợi danh, sẽ thành chủng tử
tam đồ. Chỉ cần chấp trước tướng,
sẽ là chủng tử trời người, ma, ngoại
đạo. Chỉ có một mực xuất ly sanh tử,
đó là chủng tử Nhị Thừa. Chỉ trọn
đủ cái tâm tự giác, giác tha chân thật; đó là chủng
tử Bồ Tát. Chỉ do tự giác, hướng đến
bậc thánh, quang minh tỏa rạng, thấu triệt tận
cội nguồn, và hồi hướng Tịnh Độ,
khiến cho trọn khắp chúng sanh cùng lên Cực Lạc,
sẽ là chủng tử Vô Thượng Bồ Đề.
Do vậy mà nói hết thảy các pháp chánh, hay hết thảy
các pháp tà. Thanh Nguyên tin điều này, chỉ hướng
đến một niệm hiện tiền để t́m kiếm
cội nguồn của Thiền, Giáo, Luật, chẳng
đọa vào thói tệ hiện thời trong Thiền, Giáo,
Luật, cũng chẳng do nghẹn mà bỏ ăn rồi
hư vọng quét sạch pháp môn Thiền, Giáo, Luật, tức
là chẳng phụ ḷng thầy Chuyên Ngu ân cần sai ông theo
tôi du cước vậy!
* Chỉ dạy Cửu
Mục pháp chủ
Tông
Thiên Thai nói: “Nghiên chân, đoạn Hoặc th́ gọi là Học.
Chân cùng, Hoặc tận th́ gọi là Vô Học”. Nhà Nho
nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ
phóng tâm nhi dĩ”[59]
(Đạo học vấn chẳng có chi khác, cốt sao t́m
lại cái tâm đă đánh mất mà thôi). T́m tâm trọn chẳng
thể được, mà tâm chẳng phải là không có. Tột
cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, nhưng chẳng phải là có. Vốn
ĺa tứ cú, sao có
thể đánh mất? Vốn chẳng thể đánh mất,
sao có thể cầu? Do chẳng thấu đạt cái Thể
ĺa lỗi, dứt sai [của tâm], nhận lầm duyên ảnh
hoặc quả tim thịt là tâm, giống như nhận một
cái bọt nước nổi, vứt bỏ trăm ngàn biển
cả, gọi đó là “đánh mất”. Nếu tứ tánh
đều có thể vận dụng theo quá tŕnh tứ vận
để suy xét, nhận định cái tâm này, thấy nó vô
sanh, vô trụ, th́ gọi là Cầu. Do vậy, cái Thể vô
sanh vô trụ rốt ráo hiện tiền th́ mới gọi
là “thật sự cùng tận”. Chấp trước
duyên ảnh hoặc quả tim thịt bị rốt ráo quét
sạch, bèn gọi là “Hoặc tận”. Chưa ngự
lên Phật địa, đều gọi là “học nhân”.
Học mà chẳng cầu tâm, chỉ tăng thêm hư vọng.
Ngàn kinh vạn luận, Thiếu Thất, Thiên Thai, “chỉ
quy chân thật” chỉ là một
chuyện này đó thôi! Quán điều này th́ gọi là “quán cảnh chẳng
thể nghĩ bàn”.
Phát khởi điều này th́ gọi là “chân
Bồ Đề tâm”.
An điều này th́ gọi là “ở
yên nơi viên đốn Chỉ Quán”. Chỉ
hướng theo đấy để phá hết thảy các
Hoặc, tắc sẽ thành thông, tự nhiên đạo phẩm
điều ḥa, thích đáng, Lư Sự đều trọn, chẳng
bị danh lợi lôi dắt, được chút ít đă cho
là đủ, sẽ là tâm nào cũng đều lưu nhập
biển Tát Bà Nhă.
* Chỉ dạy Ngô Doăn
B́nh
Tâm ấn
của Phật, Tổ siêu vượt t́nh kiến, chẳng
rơi vào khuôn sáo, được gọi là “hướng
thượng nhất trước”. Hễ tâm có thể
suy nghĩ, toan tính, bàn bạc, tom góp đạo lư th́ sẽ
là hướng hạ, chẳng phải là hướng
thượng! Bát Nhă như đống lửa
lớn, bốn phía đều chẳng thể chạm vào!
Hễ chạm vào liền bị đốt, rơ ràng chẳng
ĺa giáo thừa, mà giáo thừa chắc chắn chẳng thể
thâu được! Do đó gọi là “giáo ngoại biệt
truyền” (truyền riêng ngoài giáo). Thánh giáo của
Như Lai c̣n chẳng thâu được, sách vở thế
gian há có thể sánh bằng được ư? Đáng
than thay, cuối đời Mạt, chánh kiến suy vi,
thường có kẻ trộm giữ địa vị tổ,
hư vọng xưng là tri thức. Có kẻ to gan quở
trách, rủa sả lời Phật, một mực muốn lôi kéo, ép sao
cho hợp với sách Nho. Phê phán lời Phật chính là
như chư hầu ghét bị vua nhà hạn chế,
ngăn cấm, đă hủy hoại các sách vở ghi chép luật
lệ[60].
Chèo kéo sách Nho chính là cách của Trương Nghi và Công Tôn Diễn
hùa theo ư thích của kẻ cầm quyền đương
thời, thuận theo cho đó là chánh đáng! Chẳng
nghĩ tổ Đạt Ma dùng kinh Lăng
Già
để ấn tâm, Ngũ Tổ dùng
kinh
Kim Cang ấn tâm, An công đọc
Lăng Nghiêm mà ngộ đạo, Phổ Am đọc Hoa
Nghiêm Hợp Luận mà ngộ đạo, vậy th́ há có
nên rủa sả lời Phật ư? Vô tâm vẫn c̣n là
cách biệt một tầng. Nho hư vọng ngỡ duyên ảnh
của lục trần là tâm, bảo là có c̣n, có mất, chẳng
khác nào do mê cái đầu bèn ngỡ
là cái bóng, vậy th́ có nên chèo kéo cho phù hợp
với sách vở thế gian hay chăng? Muốn hiểu rơ
đại sự, triệt để đả phá khuôn sáo “t́nh thức, ư kiến,
đạo lư”,
tương tự như chết ngất rồi sống lại,
lại đem liễu nghĩa Đại Thừa mỗi mỗi
đều ấn chứng th́ mới chẳng đọa
vào lối rẽ quanh co!
* Chỉ dạy Ngô Cù
Am
Ngũ
Giới tức
là Ngũ Thường. Chẳng
giết tức là Nhân. Chẳng trộm tức là Nghĩa.
Chẳng tà dâm tức là Lễ. Chẳng nói dối tức là
Tín. Chẳng uống rượu tức
là Trí. Do vậy, ở trên trời chính là ngũ tinh (năm
v́ sao
Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ),
dưới mặt đất là ngũ nhạc, nơi thời
th́ là ngũ hành, nơi người là ngũ tạng. Trời
có ngũ tinh, đất có ngũ nhạc, thời có ngũ
hành, th́ mới sanh trưởng muôn vật. Người có
ngũ tạng th́ mới thành lập sắc thể.
Nhưng [vâng giữ] Ngũ Thường
chỉ có thể là thế gian thánh hiền, là chánh pháp duy tŕ
thế gian, c̣n Ngũ Giới siêu sanh thoát tử,
cho tới thành tựu vô thượng Bồ Đề. Do
Nho môn chỉ nói chung giới tướng, chưa chỉ
bày đích xác hoàn toàn giới thể.
Giới thể là ǵ?
Chính là cái tâm lương tri nơi một niệm hiện
tiền của chúng ta. Đă giác chẳng mê th́ là Phật Bảo.
Phật là giác. Nho cũng nói là “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ đức sáng),
nhưng chưa biết Minh Đức chính là cái Thể của
một niệm Bổn Giác hiện tiền. “Minh Minh Đức”
tức là trí Thỉ Giác nơi một niệm hiện tiền.
Nương vào Bổn Giác mà có Thỉ Giác, dùng Thỉ Giác
để khế hợp Bổn Giác. Thỉ và Bổn chẳng
hai, gọi là Cứu Cánh Giác. Do đó, tâm tánh này chính là Phật.
Cảnh được nhận biết bởi một niệm
hiện tiền của chúng ta là Pháp Bảo. Nho cũng nói “phạm
vi thiên địa, khúc thành vạn vật” (thuộc khuôn
khổ trong trời đất, tùy thuận sanh thành vạn
vật), nhưng chưa nói rơ: Trong là chủng tử của
căn thân, ngoài là núi, sông, quốc độ. Trời, đất,
hư không, cho tới bách giới thiên như, đủ loại
sai biệt đều là một niệm hiện tiền hiển
hiện. V́ vậy, tâm tướng ấy đều
được trọn
gọi là Pháp. “Ngoài
tâm chẳng có cảnh, ngoài cảnh chẳng có tâm”
như thế, ở trong ấy, chẳng đúng, chẳng
sai, tâm và cảnh ḥa hợp trước nay chẳng hai, gọi
là “ḥa hợp Tăng”. Nho cũng nói “vạn vật
giai bị ư ngă” (muôn vật đều đầy
đủ nơi ta), nhưng chưa hiểu vật và ta có
cùng một nguồn! Do đó, cả ba nghĩa [trong đạo
Nho] đều chẳng đích xác, huống hồ viên hiển
chẳng thừa
sót ư?
Mười
phương ba đời hết thảy thường trụ
chư Phật, không vị nào chẳng chứng triệt
để nhất tâm Tam Bảo của chính ḿnh mà thành Chánh
Giác. Hết thảy thường trụ pháp tạng đă
được nói không ǵ chẳng nêu rơ nhất tâm Tam Bảo
của ta mà thành khuôn phép chân thật. Hết thảy thường
trụ thánh hiền đă biến hóa, không ǵ chẳng quan
sát nhất tâm Tam Bảo của ta mà thành tựu nhị lợi.
Nhất tâm là Lư, thường trụ là Sự. Nhất tâm
là tánh, thường trụ là tu.
Tánh và tu chẳng hai, Lư và Sự chẳng hai, Tam Bảo hiển
lộ trọn vẹn, chỉ bày đích xác ḥng [người
học] biết chỗ quy hướng.
Nhất tâm đă tỏ lộ, Ngũ Giới bèn trọn
đủ. Cái gọi là “nhất niệm hiện tiền”
có thể duyên hết thảy chánh báo, nhưng bi mẫn nhân
từ chính là Phật, chánh báo được duyên [bởi
nhất niệm hiện tiền] chính là Pháp. Tâm và cảnh
chẳng hai chính là Tăng. V́ thế, “chẳng giết chóc”
th́ mới là quy y Tam Bảo.
Một niệm hiện
tiền có thể duyên hết thảy y báo và chánh báo, nhưng tâm vâng theo lẽ công, giữ
đạo nghĩa chính là Phật. Y báo
và chánh báo được [cái tâm ấy] duyên theo chính là Pháp.
Tâm và cảnh chẳng hai tức là Tăng. Do vậy, “chẳng
trộm”
th́ mới là quy y Tam Bảo.
Một niệm hiện
tiền có thể duyên hết thảy chánh báo mà cái tâm thanh tịnh,
ít ham muốn tức là Phật, cái được duyên theo
chính là Pháp, chẳng hai tức là Tăng. V́ thế, “chẳng
tà dâm”
th́ mới là quy y Tam Bảo.
Một niệm hiện
tiền có thể duyên hết thảy chánh báo, nhưng thành
thật, chẳng hư vọng tức là Phật, cái
được duyên theo [bởi cái tâm
chân thành ấy] chính là Pháp, chẳng
hai chính là Tăng. V́ thế, “chẳng nói dối”
th́ mới là quy y Tam Bảo.
Một niệm hiện
tiền có thể duyên hết thảy rượu ngon. Rất
sợ hôn mê tức là Phật. Rượu được
duyên chính là Pháp. Chẳng hai tức là Tăng. V́ thế, “chẳng
uống rượu” th́ mới là quy y
Tam Bảo.
Nếu đem quy y
đối ứng Giới th́ Tam Quy là năng tŕ (chủ thể
có thể tŕ), Ngũ Giới là sở tŕ (cái được
tŕ). Nếu đem giới đối ứng với quy th́
Tam Bảo là sở quy, Ngũ Giới là năng quy. Trong mỗi
niệm, hiển lộ trọn vẹn Pháp Thân hướng
thượng, như như bất động, sẽ là ngồi
yên khoanh tay hưởng thái b́nh. Nếu vọng động
th́ họa sẽ nẩy sanh chẳng lường! Ngẫu
Ích đạo nhân đă v́ Cù Am triệt để nêu bày, c̣n
ông có tin hay không? Hễ tin rồi th́ hăy vững bước
về nhà, c̣n nghi th́ cứ mặc t́nh tham cứu điều
khác!
3. Vấn đáp
* Trả lời ba
mươi hai câu hỏi về Di Đà Sớ Sao của ông
Trác Tả Xa (đính kèm lời
hỏi)
1) Hỏi:
Tuy Nhị Thừa đui điếc đối với Hoa
Nghiêm, nhưng [kinh ấy] vẫn kèm nhiếp Thanh Văn, do
chứa đựng vô lượng thừa. Trong kinh này, tuy “Nhị
Thừa chủng bất sanh” (chủng tánh Nhị Thừa
chẳng sanh về Cực Lạc), nhưng đạo phẩm
lớn hay nhỏ đều thông với nhau, chính là chẳng
khác phẩm Tứ Thánh Đế của kinh Hoa Nghiêm, cho nên
có người sanh về cơi đó, trải qua cả kiếp
mới chứng tiểu quả. Đại Trí Độ Luận
nói: “Di Đà cũng dùng tam thừa để độ
sanh”, [vậy th́ kinh Đại
Bổn và Tiểu Bổn đều] phải nên nhiếp
chung nhị tạng, ngũ giáo, cớ sao nói “chẳng nhiếp
Tiểu Thừa”? [Kinh Di Đà] đă thông với kinh Tạp
Hoa (Hoa Nghiêm), sao chẳng thể giống như kinh Tạp
Hoa nhiếp vô lượng thừa vậy?
Đáp:
Sớ Chủ (ngài Liên Tŕ) phán định [giáo tướng
của] kinh dùng Đốn để thông Viên, chẳng dùng
Viên để nhiếp Đốn. Lại ước theo
đạo phẩm th́ do Tiểu
mà thành Đại. Tiểu quả
tạm có nghĩa “rốt cuộc chẳng có”, nên nói là “chẳng
nhiếp lẫn nhau”. Há một câu Di Đà chẳng theo
chiều ngang bao trùm các giáo, khế nhập trọn vẹn
năm tông? Đấy chẳng phải
toàn thể là Hoa Nghiêm, nhiếp trọn các thừa ư?
2) Hỏi:
Các môn khác là thụ xuất (thoát sanh tử theo chiều dọc),
niệm Phật là hoành xuất (thoát khỏi tam giới theo
chiều ngang). Các môn khác chỉ dạy quán hạnh trong
Giáo; do vậy, Thiền được gọi là “biệt
truyền” (truyền riêng). Tịnh được gọi
là “đường tắt”, đều do siêu việt
quán hạnh. Nay nói “Quán
chính là niệm, niệm chính là Quán”.
Dùng ngay pháp Quán của tông Thiên Thai để so sánh, há chẳng
phải ngược ngạo coi niệm Phật là độn
ư?
Đáp:
Ngang, dọc ở đây là xét theo tự lực hay tha lực
đoạn Hoặc, đới nghiệp mà luận định,
chẳng xét theo cảnh đế quán trí (trí quán chắc thật
cảnh duyên). V́ thế, niệm Phật thâu nhiếp trọn
vẹn, vượt thoát trọn vẹn hết thảy các
pháp môn, cũng chẳng thể dùng tham Thiền để làm
lệ. Nếu luận theo đế trí,
th́ tứ giáo quán hạnh, có cái nhất định theo thứ
tự là Tích Không và Thể Không,
nhất tâm theo thứ tự bất
đồng, tức là ba loại vượt thoát tam giới
trước đó theo chiều dọc th́ được,
chẳng phải là nhất tâm tam quán “chẳng phải dọc,
chẳng phải ngang” cũng là “thụ xuất” hay sao? Huống
chi, Quán Kinh dùng phương
tiện thù thắng, khác lạ của
Như Lai để thâu nhiếp quán môn sẵn
có trong tánh của chúng sanh, đồng quy vào nhất tâm,
cùng về Tịnh Độ. Quán và niệm chính là lẫn
nhau, sao lại bảo “xếp pháp niệm Phật vào loại độn”?
[Tổ nói “niệm là quán, quán là niệm”]
chỉ nhằm biện định Tŕ
Danh chẳng phải là Tán Thiện, chẳng phải [là nói]
diệu quán không
phải là đường tắt! Ư chỉ biệt truyền
càng chẳng thể nói lời thừa thăi, vướng mắc
được! Trong thời Mạt Pháp, có danh mà chẳng
có nghĩa, sẽ thật sự khiến cho tứ giáo chẳng
thâu thập được, liền trở thành “ĺa kinh tức
là ma nói”, há có nên coi đó là siêu việt ư?
3) Hỏi: Thiên Thai Tam
Quán có thuộc vào Nhiếp Pháp Giới Quán hay không?
Đáp: Hoa Nghiêm pháp giới
th́ chúng sanh và Phật cùng nguồn. Do thâu nhiếp căn
cơ bất tận, chẳng tránh khỏi hiện Quyền
ẩn Thật. V́ vậy, từ
A Hàm cho đến Niết Bàn đều
ở ngoài phạm vi của Hoa Nghiêm. Do đó, truy đuổi
trọn khắp, khiến cho đều thần phục. Thật
Tướng của Pháp Hoa, Bổn và Tích cùng in dấu,
nhưng do chưa tới lúc nói, chẳng
tránh khỏi v́ Thật mà thực hiện Quyền.
Từ Bát Nhă cho đến Hoa Nghiêm,
đều là dẫn đường cho Pháp Hoa. V́ vậy,
hiểu nơi hoang vu giống như nơi hoa lệ. Một
đằng là từ Bổn mà hiện Tích, một đằng
là nhiếp ngọn trở về gốc,
nếu chẳng
phải là nhất tâm tam quán, sao có thể Sự Sự vô ngại? Chẳng
phải là Sự Sự vô ngại, sao
có thể gọi là nhất tâm tam quán?
4)
Sách [Hoa Nghiêm] Hợp Luận phán định Cực Lạc
Tịnh Độ là Quyền, duy tâm Tịnh Độ trong
kinh Tịnh Danh là Thật. Nhưng Bồ Tát thành Phật,
chúng sanh sanh về [Cực Lạc], đă nêu rơ chuyện nhiếp
thọ văng sanh và Di Đà chẳng hai. Sớ viết “điều
này nói về Sự nhất tâm”, há Sự nhất tâm chẳng
gọi là duy tâm ư?
Đáp:
Hợp Luận coi “chẳng đoạn Hoặc, sanh vào
cơi Đồng Cư” là sức quyền xảo của
Như Lai, chẳng phải là nói “bốn mươi tám nguyện
của ngài Pháp Tạng, trang nghiêm Tịnh Độ cũng
chẳng phải là Thật”. Kinh Tịnh Danh dạy “tâm tịnh,
quốc độ tịnh” chính là giống hệt
như cái nhân xưa kia của ngài Pháp Tạng. C̣n như Bồ
Tát thành Phật, chúng sanh sanh về cơi đó, ngại ǵ từ
Thật hiện Quyền? Nếu người niệm Phật
do Sự mà nhập Lư, lại há có trở ngại Quyền
chính là Thật ư? Quyền, Thật, Sự, Lư đều
thuộc về nhất tâm, dẫu phân chia mà chẳng tách rời!
Đối với lời phán định, giải thích của
cổ nhân, đều nên quán như thế.
5)
Tuy có mười sáu phép Quán, nói Phật liền trọn
đủ. V́ sao lời Sao chỉ nói phổ quán[61]
là trợ nhân?
Đáp:
Niệm Phật và
quán Phật, chỗ quy thú giống nhau, nhập môn th́ khác biệt.
Hành nhân sơ tâm hễ
xen tạp th́ chẳng thành tam-muội. Do vậy, chỉ
xưng niệm vạn đức hồng danh sẽ là nhiều
thiện căn, nhưng
chánh trợ kiêm tu vốn chẳng có pháp nhất định,
giống như bơi thuyền! Căng buồm, thả dây
lèo, chống sào, vẫy mái chèo, mỗi thứ đều
tùy theo sự thuận tiện vậy!
6) Hỏi:
Kinh Đại Bổn nói người sanh về cơi ấy sẽ
đều là trong một đời được bổ
xứ làm Phật, nhưng trung hạ phẩm là thai sanh, có
phải là Đẳng Giác Bồ Tát hay không?
Đáp:
Chẳng phải là
Đẳng Giác, nhưng có thể gọi là Nhất Sanh Bổ
Xứ, do chẳng phải trải qua sanh tử, mà ắt sẽ viên
măn Vô Thượng Bồ Đề. Tiểu Bổn nói chúng
sanh văng sanh đều là A Bệ Bạt Trí, cũng là nói
trong một đời này, ắt đạt được
Bổ Xứ làm Phật, chẳng luận định theo
cách nói tam bất thoái thông thường. Sau đó lại nói
“kỳ trung,
đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ”
(trong ấy có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ), tức
là nói riêng về các vị hiện chứng Đẳng Giác
cũng ngay trong đời này ắt được bổ
xứ. V́ thế nói “trong ấy có nhiều vị”. Bởi
lẽ, Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong Cực Lạc
khác biệt vời vợi so với giáo pháp thông thường.
Theo lối thường, bất quá là tạm thời đồng
cư, c̣n trong cơi ấy (cơi Cực Lạc), sẽ là cùng với
hết thảy các vị Đẳng Giác
đều cùng tịnh Tịch Quang. Do vậy nói
“đắc dữ như thị chư thượng thiện
nhân câu hội nhất xứ” (được cùng với
các vị thượng thiện nhân như thế cùng ở
một chỗ). Hai chữ “chư thượng” chẳng phải là
chỉ chung vô lượng Thanh Văn, Bồ Tát, mà chỉ
là nói có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ. Lại nữa,
xét cảm ứng theo lối thông thường, th́ bậc
thánh do có nghiệp hữu lậu trong quá khứ, bèn cùng ở
chung với thánh nhân Quyền và Thật. Ở đây là cùng
do một nghiệp vô lậu chẳng nghĩ bàn cảm
sanh, cùng tụ hội một chỗ. V́ thế lại nói: “Bất
khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức,
nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (chẳng thể
do ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà
được sanh về cơi ấy). Chữ Thiểu nhằm
loại trừ “những người chưa đạt tới
Sơ Địa trong Biệt Giáo”, cũng như loại trừ
những người chưa đạt tới Sơ Trụ
trong Viên Giáo, v́ trước khi đạt tới Sơ Trụ,
sẽ đều cậy vào tự lực để đạt
lên Sơ Trụ. Dự vào Đồng Sanh Tánh th́ mới
được chư Phật hộ niệm. Tôi thường
nói “Tịnh Độ đại giáo thâu nhiếp trọn
vẹn hết thảy các giáo” chính là v́ lẽ này!
7) Hỏi:
Người chỉ niệm Phật chẳng tu các hạnh
khác, đắc Ba La Mật tức là nhiều thiện, nhiều
phước. Nay niệm Phật chỉ chứng Pháp Thân mà
thôi ư? Hay là trọn đủ vạn hạnh trang nghiêm?
Đáp:
Tam thân nhất thể! Hạnh môn Phổ Hiền chẳng
ra ngoài Tỳ Lô tánh hải. Ở đây, sơ tâm tuy chẳng
tu các hạnh khác, khiến cho tam-muội dễ thành,
nhưng nếu tam-muội đă thành, ba nhân sẽ hiển
lộ trọn vẹn, há có chuyện Pháp Thân đă chứng
rốt cuộc thiếu khuyết trang nghiêm ư? V́ sao mà
chưa chứng Pháp Thân đă lo sẵn [Pháp Thân] chẳng trọn
đủ vậy? Hoặc là thâm nhập một môn, hoặc
do các hạnh khác giúp thành, đừng nên chấp chặt một
bề! Nhất Hạnh tam-muội, một chính là nhiều,
vạn thiện đồng quy, nhiều chính là một!
8) Hỏi:
“Niệm Phật chính là ai?” chẳng hai với các công
án khác. Lời Sao nói: “Thể cứu[62]
niệm Phật có ư nghĩa hết sức tương tự
với nêu lên Thoại Đầu
rồi có nghi t́nh”. Nhưng đối
với bốn pháp niệm Phật, chưa thể xếp
thể cứu thành một pháp. Kinh văn vốn chẳng
có ư này, chẳng nên đưa vào môn tịnh nghiệp! Nay nếu
đưa ra cả hai đường lối, nếu tham
điều này mà chẳng ngộ, cũng chẳng đến
nỗi mất phần văng sanh. Đấy chính là đối
với môn tham cứu, hăy c̣n chừa lại một bước
lui, chính là rơi
vào cái tâm chụp giật! Nếu chẳng phá nỗi nghi ấy,
sẽ chẳng thể văng sanh. Đấy chính là nơi niệm
môn dấy khởi một nghi t́nh, liền trở thành dị
thuyết. Các vị như Trí Triệt, Từ Chiếu,
Thiên Kỳ, Độc Phong đều chủ trương
thuyết ấy là
do căn cứ vào đâu? Nếu tổ Vân Thê là tổ của
các vị ấy, sao chẳng nêu thẳng ra chữ “Ai”? Nếu
chỉ là tương tự mà thôi, nguyện nghe nói [lư do] trọn
chẳng có lẽ ấy!
Đáp:
Do người niệm Phật chẳng thấy Phật
tánh, cái tâm chụp giật chẳng dứt hẳn, nên dùng lời
ấy để bảo rơ, khiến cho họ được
thẳng thừng tương ứng, tức là trong một
niệm sẽ thấy trọn vẹn ba thân, thanh tịnh
trọn vẹn bốn cơi, đều là Lư nhất tâm. Đấy
chính là bước dẫn đường cho “thâm nhập
một môn, nhất tâm bất loạn”. Người
đời sau nghe lời chân thành ấy, bất luận ngộ
hay chẳng ngộ, sẽ có thể kiên quyết một dạ
niệm Phật, há c̣n phải tham cứu đoạn công án
ấy? Cần phải hiểu rơ như thế! Hăy nên biết:
Người xưa khi thốt ra lời ấy, trọn chẳng
phân chia Thiền hay Tịnh. Các tổ về sau gom lại,
coi lời ấy chỉ thuộc về Tông, chẳng thuộc
vào Tịnh nghiệp. V́ sao vậy? Do công án hiện hữu,
nay Sớ Chủ tuy thâu thập lời ấy vào Tịnh
nghiệp, [lời ấy] vẫn là Thiền Tông. V́ sao vậy?
Nhằm cứu chữa căn bệnh “có Thiền, không Tịnh
Độ”. Vậy th́ nếu tin tưởng, lấy ngộ
làm pháp tắc, lấy Tịnh Độ làm chỗ quy kết,
sẽ là chân thật chẳng dối, chẳng chừa lại
bước thoái lui. Đấy chính là chỗ tương tự,
tức đă là hoàn toàn đúng. Nếu chẳng tin nổi,
toan diệt mất cái tâm chụp giật mà tâm chụp giật
đâm ra càng quá đáng. Đáng lẽ là niệm chân thật, đâm
ra thành hồ nghi! Chỉ do chỗ tương tự ấy,
mà toàn bộ đều chẳng phải. V́ thế nói: “Học
đạo th́ phải là người kiên quyết, tu tập
th́ dùng tâm để phán định. Có nghi liền tham cứu,
dẫu bỏ tham cứu mà chẳng thể. Chẳng nghi
bèn niệm, muốn dấy nghi th́ chẳng có ǵ để
khởi!” Như thế th́ thẳng thừng niệm hay
khổ nhọc tham cứu, không ǵ chẳng phải là chánh hạnh
văng sanh!
9) Hỏi:
Như con nhớ mẹ, ắt phải
tưởng nghi dung. Nay chỉ là tiếng niệm liên tục,
chẳng giữ lấy tướng mạo, có dễ bị
rong ruổi, tán loạn hay chăng? Nếu nương theo
hơi thở ra vào, chẳng phải là pháp Tiểu Thừa
ư?
Đáp:
Con nhớ mẹ th́ hoặc khéo
tưởng nghi dung, hoặc kêu gào, tuôn huyết lệ. Quán
Kinh dạy: “Bỉ nhân khổ bức, bất hoảng niệm
Phật (đó là nói quán tưởng), thiện hữu giáo
ngôn: - Nhữ nhược bất năng niệm bỉ Phật
giả, ưng xưng Vô Lượng Thọ Phật (đấy
là nói xưng danh)” (Người ấy bị sự khổ
bức bách, chẳng rảnh để niệm Phật
(đó là nói quán tưởng). Bạn lành dạy rằng: - Nếu ông chẳng
thể niệm đức Phật ấy, hăy nên xưng Vô
Lượng Thọ Phật). Tam giới không ǵ chẳng phải
là khổ sở cùng cực, há chỉ khi lâm chung? Do tâm sợ
khổ mà hô hào cầu cứu, lấy đâu ra rong ruổi,
tán loạn? Nếu không, ngay như các pháp nhiếp tâm,
điều ḥa hơi thở cũng tự chẳng có khuyết
điểm
ư? Người
căn cơ Viên Giáo lănh nhận pháp, chẳng
pháp nào không viên, há nhất định thuộc Tiểu Thừa
ư? Thử hỏi dùng xâu chuỗi để nhớ số,
dùng hương để ấn định thời gian tŕ
tụng, hoặc gơ mơ, đánh khánh là Đại Thừa hay
Tiểu Thừa vậy?
10)
Hỏi: Đại Bổn có nói “nhất niệm định
sanh bỉ quốc” (một niệm chắc chắn sanh
về cơi ấy), nhưng lời Sớ chẳng nhắc tới,
há có nên dùng “bảy ngày nhập Định bèn văng sanh”
trong kinh này để loại trừ một niệm sanh diệt
trong sát-na ư? Nếu giải thích ư nghĩa của Nhất
chẳng phải là hiểu theo con số, kinh Đại Bổn
lẽ ra chẳng nên nói đến “sau khi buộc tâm
nơi thập niệm”. Nếu chỉ [hiểu Nhất]
đúng như kinh văn th́ một niệm hỷ ái sao có thể
đả động cơi Phật của Như
Lai,
bởi lẽ, chẳng do ái luyến
mà được sanh?
Đáp:
Xét theo luận Bảo Vương, bậc lợi căn vốn
chỉ một niệm văng sanh, kẻ độn căn lâm
chung mười niệm thoát khổ. “Nhất niệm”
là một niệm trong nhất tâm bất loạn. Hăy nên biết
thập niệm, bảy ngày, mười ngày, bốn
mươi chín ngày, chín mươi ngày v.v… rốt cuộc
cũng chỉ là một niệm. “Một
niệm” ấy
trọn chẳng phải là cái tâm tán loạn sanh diệt
trong từng sát-na, cũng ắt chẳng phải là Thiền
Định thuộc Tứ Thiền, hay Tứ
Không. Do đó nói “nhất niệm yêu thích”. Tâm hỷ
luyến trong kinh A Súc vốn chỉ dục nhiễm.
11)
Sau bảy ngày, nếu vĩnh viễn chẳng c̣n loạn nữa,
đừng nên chỉ nói là “bảy ngày”. Nếu lại
loạn tức là đă thoái chuyển, sao có thể cảm
Phật?
Đáp:
Trước đó, nếu chẳng thật sự ưa
thích th́ bảy ngày chắc chắn chẳng thể nhất
tâm bất loạn. Sau đấy, nếu chẳng chân thật
thọ dụng, sao có thể thấy bảy ngày công sức
thành tựu ư?
12)
Lời Sao nói “Lư nhất tâm là quán lực thành tựu”,
tức thể cứu hoàn toàn thuộc vào quán môn, nhưng
trước đó đă nói “diệu quán khó thành”, nhằm
hiển thị tŕ danh thù thắng. Nay lại thông quán pháp,
chẳng phải vẫn là quán thù thắng hơn tŕ danh ư? Nếu tham cứu chữ
Ai là tự thể cứu, lại hoàn toàn thuộc vào Tông
Môn. Ngay trong khi tham Thoại Đầu, sẽ chẳng kèm
thêm các lư lẽ Như Trí bất nhị, Tịch Chiếu
khó nghĩ ư?
Đáp:
Lư Sự hai đằng chẳng thể lẫn lộn
được, chẳng tách rời được. Sớ
Chủ một mực coi tŕ danh là Sự Tŕ, thể cứu
là Lư Tŕ, vẫn có thể nói là “cơ cảm dung thông lẫn
nhau”, chẳng cần phải ngờ vực tự ngăn
trở! Nói “chẳng nhờ vào phương tiện, tự
được tâm khai”, Sự Tŕ có thể thành tựu
Lư nhất tâm. Lại nói thể cứu đến cùng cực,
đối với bổn tâm, bỗng dưng khế hợp,
gọi là Lư nhất tâm. Vậy th́ khi chưa khế hợp,
thể cứu chẳng gián đoạn, chỉ gọi là
suy xét Lư.
Đó chính là công phu nơi mặt Sự. Nhưng một môn
thể cứu rất phù hợp với Thiền Tông trong hiện
thời, nhưng thật ra khác với diệu quán của
tông Thiên Thai. Phép Quán của tông Thiên Thai ắt phải là
đă viên giải, toàn tánh khởi tu. Nêu lên bất cứ
phép Quán nào, không ǵ chẳng phải là cảnh chẳng
nghĩ bàn! Thể cứu do chưa hiểu rơ tâm tánh, suy xét
nguồn cội, sau khi khế hợp, đạt được
Như và Trí chẳng hai, tịch chiếu nhất tâm th́ mới
phù hợp khít khao với viên giải của tông Thiên Thai, chẳng
phải là ngay trong khi tham Thoại Đầu đă có các lư
kèm theo! Mới học th́ diệu lư chưa tinh thông, chẳng
thể phảng phất tương cận được.
“Tâm thô, cảnh tế,
diệu quán khó thành”
là v́ lẽ đó!
13)
Hỏi: Đại ư của Sớ Sao hoàn toàn coi trọng Lư
Tŕ, tức là cách tŕ được sách ấy nói sẽ là
trọng yếu nhất. Nay đă là tŕ danh, lại nói tới
Lư quán, lại c̣n nêu ra Thoại Đầu, Thiền, Tịnh,
Chỉ Quán, ba pháp lẫn lộn, hành nhân niệm chẳng
quy nhất được, lấy ǵ làm tông? Sao có thể bằng ư
chỉ “thâm nhập một môn, chuyên tu chẳng gián đoạn”?
Đáp:
Sớ Chủ muốn từ Sự mà nhập Lư, chẳng
phải là dùng Lư để phủ định Sự. Hăy nên
biết: Tŕ danh là chánh hạnh, Lư quán là cái được
dung thông, Thoại Đầu là tŕ danh chuyển đổi.
Trong phần Lời Tựa đă nói “chấp vào Sự mà
niệm có thể liên tục, chẳng phí công nhập phẩm
vị. Chấp Lư mà tâm thật sự chưa hiểu rơ,
đâm ra mắc họa rơi vào Không” cũng chẳng
phải là chuyên trọng Lư Tŕ. Sở
dĩ chỗ nào cũng nói rơ Lư là v́ sợ kẻ
cuồng vọng báng bổ [tŕ danh] là hạnh của phàm
phu! Hậu duệ vô tri, ngược ngạo chấp Lư
khinh Sự, bèn rơi vào Không đúng như Ngài đă tiên
đoán. Buồn thay!
14)
Lời Sớ nói “nhất tâm chính là Thiền trực chỉ
của Đạt Ma”. Lại
nói Lục Tổ bài xích “chẳng có” [Cực Lạc] là “do môn đ́nh lập
bày khác nhau. Giả sử mới hoằng truyền trực
chỉ, lại ca ngợi Tây Phương, th́ ư trực chỉ
trọn chẳng do đâu mà tỏ rơ được!” Đă nói là “trực
chỉ”, lại
bảo là cửa vào bất đồng, vậy th́ Thiếu
Lâm và Tào Khê cũng là bất đồng ư?
Đáp:
Pháp môn tâm địa bao hàm chẳng có ngằn mé, nhưng
đều chẳng ra ngoài nhất tâm. Môn đ́nh lập bày
khác nhau, nhưng đều
chỉ quy nhất tâm chẳng khác. Nay nhất tâm chính là Thiền
trực chỉ, nhằm nói tới chỉ quy ấy. Lục
Tổ bài xích “chẳng có” là bà lăo chửi tớ gái, chỉ
ra vẻ nghiến răng, nghiến lợi
thôi, chẳng phải là nói Tông Môn ắt phải bác bỏ Tịnh
Độ. Ngài Vĩnh Minh nói: “Có Thiền, có Tịnh
Độ, giống như cọp mọc sừng”. Ngài
Trung Phong nói: “Thiền là Thiền trong Tịnh Độ,
Tịnh Độ là Tịnh Độ nơi Thiền”.
Há chẳng phải là tán thán Tây Phương, trực chỉ
liền chẳng rơ rệt ư? Nếu nói Lục Tổ
nói nhất định như thế, chẳng phải là
báng Lục Tổ ư?
15)
Hỏi: Sớ nói “chí tâm niệm Phật một tiếng,
diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp
sanh tử” thuộc về Lư nhất tâm. Lại giải
thích kinh Phật Danh nói “vừa nghe được danh hiệu
Phật, diệt tội trong vô lượng kiếp sanh tử”.
Nói “vừa
nghe”,
[tức là] chẳng đợi nghĩ nhớ, “vô lượng”
tức là không chỉ tám mươi ức kiếp, sao lại
riêng chỉ Lư nhất tâm? Hơn nữa, kinh này nói “nghe
kinh hoặc nghe danh hiệu đều đắc Bất
Thoái” th́ là Sự hay Lư?
Đáp: Quán Kinh nói “mười
niệm trừ tội, văng sanh”, đó là do tâm sợ khổ
tha thiết, duyên thiện hữu mạnh mẽ, nhất niệm
mạnh mẽ, nhạy bén, hơn hẳn trăm năm
ơ hờ, chẳng bắt buộc phải có hạnh “suy
xét Lư”, nên thù thắng hơn Sự Tŕ thông thường. Chắc
là Sớ Chủ nhờ vào đó để hiển thị
tột bậc công phu do Sự Tŕ chẳng trái nghịch Lư
đấy chăng? C̣n như kinh Phật Danh đă nói th́ do
đức Phật ấy đă có vô lượng nguyện
lực oai đức, cho nên người nghe bèn đạt
được lợi ích như thế. Nghe mà chẳng tin,
cũng mắc vô lượng tội, chẳng phải là
chúng sanh ít thiện căn, phước đức mà có thể
được nghe đâu nhé! Bất Thoái cũng không phải
là một loại, tùy thuộc sự nghe chứng, có ba mức
độ Bất Thoái là Vị, Hạnh, Niệm. Chỉ
thoảng qua tai, như ăn chút kim cang, rốt ráo chẳng
tiêu; đó là viễn nhân rốt ráo bất thoái vậy!
16)
Ngài Táo Bách (Lư Thông Huyền) nói: “Hoa Nghiêm nhất thừa
đại đạo, chẳng phải là cảnh giới
của Bồ Tát văng sanh”. Cớ sao Hoa Nghiêm trưởng
tử (Phổ Hiền Bồ Tát) mười
nguyện hướng dẫn về Cực Lạc? Ngài
Đạo Sanh nói “nhất-xiển-đề
có Phật tánh”, sau đó, có kinh Niết
Bàn làm chứng [cho nhận định ấy]. Nay dựa
theo phẩm Hạnh Nguyện, hoàn toàn chẳng phù hợp với
lời ngài Táo Bách, tông chỉ rốt cuộc quy vào đâu?
Đáp:
Tịnh Độ ngang dọc đều bao trùm trọn khắp,
Tịch Quang là
cơi chỉ có Phật. Thật Báo là chỗ bậc
Pháp Thân đại sĩ ở. Cơi Phương Tiện nhiếp
trọn các quyền vị thuộc tam thừa. Cơi Đồng
Cư th́ phàm phu cũng đều có phần. Hợp Luận
nói về đại tâm phàm phu, hồi tâm La Hán, thoát ngũ
trược, sanh trong hai cơi Tịnh Độ Phương
Tiện và Đồng Cư, chưa ngộ Tỳ Lô tánh hải,
chưa nhập pháp giới Nhân Đà La vơng[63].
Mười nguyện Phổ Hiền hướng dẫn về
Cực Lạc, chính là cảnh giới giải thoát chẳng
thể nghĩ bàn, thấu triệt nhân quả, thông phàm, thấu
thánh. Thánh th́ toàn thể pháp giới vào trong một vi trần,
phàm th́ từ một vi trần thông thấu pháp giới.
Ngài Táo
Bách (Lư Thông Huyền) chỉ nói “nhất thừa
đại đạo chẳng phải là cảnh giới của
Bồ Tát văng sanh”,
chẳng nói “Bồ
Tát văng sanh không phải là pháp môn Nhất Thừa đại
đạo!” Nếu
nói Hoa Tạng lớn, Cực Lạc nhỏ, tức là kiến
chấp lớn nhỏ chưa quên, chưa từng mộng
thấy pháp giới Hoa Nghiêm vậy!
17)
Đă coi Sự Tŕ thuộc về Định, Lư Tŕ thuộc
về Huệ, nhưng nói Sự Tŕ chưa thể
phá vọng, lợi căn liền nhanh chóng đạt tới
Lư Tŕ;
đó là Sự chẳng hiển Lư, Huệ chẳng do Định
ư?
Đáp:
Tam Vô Lậu Học mỗi điều sau đều ắt
trọn đủ điều trước. V́ thế, Lư nhất
tâm hoặc do thể cứu mà bỗng dưng khế hợp,
hoặc do niệm Phật, tự được tâm khai, [tức
là] đều do Định mà có. Nay trọng ngộ Lư,
không chỉ nhằm trừ tán loạn. Tuy lúc thể cứu
không gián đoạn, có thể gọi là Sự nhất tâm,
nhưng cũng có Định lực, nhưng vẫn thuộc
vào Huệ môn, thật sự
là hai môn Định và Huệ, mỗi đằng đều
có lợi, độn, nhưng Sớ Chủ lược
đi chưa nói.
18)
Quyết chí cầu ứng nghiệm ngay trong lúc b́nh thời,
sao kinh chỉ nói “lâm chung, Phật hiện”?
Đáp:
Hành nhân thấy Phật tùy thuộc tịnh nghiệp sâu hay
cạn. Kinh do nói về văng sanh, cho nên nói “tiếp
dẫn”.
Nay chỉ càng dốc sức nỗ lực nơi chấp tŕ danh
hiệu, bất luận thấy hay chưa thấy, chỉ
cần tín nguyện hạnh thành tựu, văng sanh sẽ tự
chẳng nghi ngờ! Hăy cẩn thận, chớ sanh ḷng cầu
may hoặc ngă ḷng!
19)
Do tâm chẳng điên đảo, cho nên
có thể biết trước lúc mất, lại có kẻ
do vậy muốn biết trước khi chết sẽ có
sự khổ nào. Đó là chuyện như thế nào vậy?
Đáp:
Chẳng quư biết sẵn, chính là v́ muốn cho tâm chẳng
điên đảo. Đă có trường hợp v́ muốn
biết trước mà điên đảo càng nặng
hơn!
20) “Mười
niệm” trong Đại Bổn chẳng nói lúc lâm chung,
điều này là giống hay khác nếu so với Quán Kinh?
Đáp:
Kinh Đại Bổn nói “chí tâm tín nhạo, năi chí thập
niệm” (chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm).
Nh́n vào từ ngữ “chí tâm tín nhạo”, thân thiết
chi bằng? Chẳng cần vào lúc lâm chung, mà thật sự
mạnh mẽ y hệt như lúc lâm chung. Do vậy, tổ
sư đời sau lập ra hạnh môn Thập
Niệm vào buổi
sáng, suốt đời chẳng thiếu sót, cũng chắc
chắn được văng sanh.
21) Ngài Văn Thù cũng
phát nguyện văng sanh, sao [trong kinh Lăng
Nghiêm] lại loại trừ pháp Niệm Phật
của ngài Đại Thế Chí. Lời Sao nói “Nhĩ
Căn chẳng nhiếp niệm Phật, niệm Phật
có thể nhiếp Nhĩ Căn”. Đó là như thế
nào vậy?
Đáp:
Pháp chẳng có hơn, kém, nhưng “cơ” (cơ duyên
và căn cơ) có đè nén hay đề cao, chẳng phiền
hư luận. Trong sáu căn, đức Quán Âm từ Nhĩ
Căn mà nhập. Trong bảy đại, đức Thế
Chí từ Căn Đại mà nhập. Luận về nhập
môn th́ ở phương này, Nhĩ Căn riêng nhạy bén nhất.
Luận về thâu nhiếp căn cơ th́ tịnh niệm
thích hợp cả ba căn. Lại c̣n viên nhân th́ pháp nào
cũng quán triệt. Nhĩ Căn và tịnh niệm thâu nhiếp,
dung thông lẫn nhau. Đối với kẻ sơ cơ,
Nhĩ Căn chỉ nhiếp một căn duy nhất, c̣n
tịnh niệm đều nhiếp trọn, cũng
đáng nên chèn ép hay đề cao!
22)
Hỏi: Coi cái tâm phan duyên là tự tánh, giống như nấu
cát thành món ăn. Nay cái tâm niệm Phật là phan duyên hay chẳng
phan duyên? Nếu là phan duyên, hết thảy giác quán, tư
duy đều là căn bản của sanh tử. Nếu chẳng
phải, sao lại nói niệm tánh sanh diệt, nhân quả cảm
vời khác biệt? Nếu sanh diệt chính là chẳng sanh
diệt, điều này giống như thí dụ về
nước và sóng, sẽ chẳng cần bàn tới nữa!
Sóng chính là nước, cát cũng chẳng phải là thức
ăn. Nhưng kinh Pháp Hoa nói “nhược nhân tán loạn
tâm, nan năng bất đoạn bách tư tưởng”
(nếu người tâm tán loạn, khó thể chẳng
đoạn trăm mối
tư tưởng) lại chẳng phải là dùng cái tâm sanh
diệt hay sao?
Đáp:
Lỗi chẳng phải ở chỗ dùng cái tâm phan duyên, mà
lỗi v́ coi nó là tự tánh. Đó gọi là “nhận cái
xương cong của con lừa là quai hàm của cha”, liền
thành thí dụ “nấu cát thành thức ăn”. Nếu
biết cái tâm phan duyên vốn chẳng có tự tánh, sẽ
có thể sử dụng tâm phan duyên, chẳng bị phan
duyên sử dụng. Đó gọi là “giặc trong nhà khó
pḥng. Đă nhận biết th́ nó chẳng gây oán”, liền
ứng hợp với thí dụ “sóng và nước”. Huống
chi một môn của đức Thế Chí vốn thuộc
vào Căn Đại, Ư Căn làm
chủ, năm căn kia thuận theo. Do vậy nói “đô nhiếp lục
căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối).
Ư Căn chính là thức thứ bảy. Thức thứ bảy
từ vô thỉ tới nay, niệm nào cũng đều chấp
ngă, nay dùng sức của Diệu Quán Sát Trí khiến cho hành
nhân thẳng thừng niệm Phật, đem dưa ngọt
đổi với mướp đắng, cái tâm phan duyên
thông thường chẳng sánh bằng được! Nhăn
Thức thông thường duyên Sắc cho đến Ư Thức
duyên pháp, đều là pháp thuận theo sanh tử. Khi niệm
Phật th́ Phật chẳng phải là Sắc, chẳng phải
là phi Sắc, cho tới chẳng phải là pháp, chẳng phải
là phi pháp, vượt ngoài pháp thế gian, ĺa
khỏi ngôn ngữ, chỉ có thể tịnh niệm nhớ
giữ, vốn chẳng phải là cảnh giới sở
hành của t́nh lượng! Há cái tâm niệm Phật là phan
duyên ư?
Hơn nữa, do phan
duyên lục trần mà tăng trưởng sanh tử, hăy
chuyển sang phan duyên từ phụ để vĩnh viễn
thoát khỏi ṿng khổ, cũng tự chẳng ác, há có thể
luận
định là nhất loạt
như nhau được ư? Hơn nữa,
căn tánh Sa Bà chỉ có Nhĩ Căn là dễ hiển lộ
viên thường, c̣n niệm tánh vẫn thuộc vào sanh diệt.
Chẳng do đă ngộ Như Lai Tạng Tánh, sẽ trọn
chẳng liễu đạt niệm tánh vốn viên thông! Học
nhân đời Mạt hiếm người đạt viên
giải, nhập đạo từ Nhĩ Căn cũng rất
khó nói! Nếu chẳng thể hướng theo quyển bốn
của kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) để
đau đáu tư duy nghĩa sâu
tới mức tột cùng nguồn
đáy, th́ vừa nghe công phu “nhập lưu vong sở”
nơi
cái Nghe, rốt cuộc sẽ thấu hiểu
bằng cách nào đây? Kẻ tiểu căn, trí kém chẳng
thể suy tính, nghĩ bàn pháp môn Viên Đốn được!
Chẳng có gạo mà toan nấu
cơm, vẽ lên hư không thành tranh, đâm
ra chẳng bằng nhân quả cảm vời thù thắng, tự
được tâm khai vậy!
23)
Hỏi: Cuối kinh trước là nói bất thoái, sau là nói
văng sanh, chính là do có thể thực hiện ngay trong đời
hiện tại, vượt trội các giáo khác, sao lại
ngược ngạo nêu ra cách nói “kẻ thọ ngắn,
lắm chướng, chẳng thể văng sanh, đời
sau sẽ được văng sanh”?
Đáp:
Thật sự niệm Phật th́ chắc chắn không một
ai chẳng sanh về Tịnh Độ. Kẻ thoái thất
Bồ Đề chỉ sợ là phường chướng
sâu, huệ cạn, thấy chính ḿnh và người khác
chưa đạt được công hiệu, chẳng tự
trách công sức nông cạn, nhục nhăn mờ mịt, lại
ngược ngạo ngờ vực Phật pháp chẳng
linh, đời hiện tại thoái thất, lười
nhác. Do vậy, tùy thuận mà hiển lộ lợi ích thù thắng,
khiến cho họ thực hiện hoàn tất trong đời
hiện tại!
24)
Hỏi: Hiển và Mật đều viên, sao lại nói tŕ
danh hơn hẳn tŕ chú Chuẩn Đề?
Đáp:
Thần lực tột bậc của chú Chuẩn Đề
là nhục thân có thể đến mười phương
Tịnh Độ, Niệm Phật tam-muội đạt
đến tột bậc th́ nhục nhăn thấy bằng với
mười phương Như Lai, thật sự chẳng
có hơn kém, nhưng ước theo nhân duyên của chúng sanh
và Phật, căn cơ được nhiếp thọ bởi
pháp môn, và ư nghĩa của giáo pháp thông thường, theo
đúng lẽ, hăy nên riêng hiển tông này!
25)
Hỏi: Tham cứu niệm Phật được gọi
là “hướng thượng nhất trước”,
ngàn thánh chẳng truyền, ắt phải từ
tham cứu th́ mới đạt được. Đă là
giáo pháp trong suốt một đời đức Phật,
đều thuộc về vật báu của người
khác, cớ sao công án của Thiền môn lại thuộc về
của báu trong nhà? Nếu nói Thiền là cương lănh của
Giáo, cớ sao đức
Thế Tôn chẳng nói? Nếu nói kinh văn cũng có thể
tham cứu, cớ sao phải nhọc công có một ngàn bảy
trăm công án vậy? Chuyện tham Thoại Đầu
đức Thích Ca Văn (Thích Ca Mâu Ni Phật)
chưa nêu dạy, ư chỉ của tổ sư từ
phương Tây đến cũng chẳng có môn này! Nếu
bảo là “môn đ́nh đă quen
thuộc”, liền trở
thành khuôn sáo, cho nên đổi sang thành cách này, nay tham Thoại
Đầu cũng trở thành đường lối quen
thuộc, đổi sang một pháp khác là như thế nào?
Đáp:
Hướng thượng nhất trước, ngàn thánh chẳng
truyền, có thể nói là ắt phải từ tham cứu
th́ mới có thể chứng nhập ư? Nhưng đó
cũng là một loại phương tiện, vốn chẳng
có một thật pháp để bó buộc con người.
V́ thế, cổ nhân gọi nó là “ḥn ngói dùng để gơ
cửa”, có bao giờ coi công án là vật quư báu trong nhà? Nếu
lầm tưởng đó là cương tông, tức là chết
cứng nơi câu văn, cho rằng phải tham Thoại
Đầu mới có thể ngộ đạo. Bệnh tham
Thoại Đầu cũng trở thành môn đ́nh, đều
tăng thêm hư luận, liên quan ǵ đến Tông, Giáo? Hăy nên
biết người hễ nêu ra một liền hiểu rơ
ba, ánh mắt nhạy bén, tinh tế, tùy ư lấy một
pháp, sẽ có thể thấu suốt hết thảy các pháp
đều thuộc về của báu trong nhà, có ǵ là vật
báu của người khác? Nếu vịn cây để mong
được cá, ôm gốc
đợi thỏ, th́ Tam Tạng mười hai bộ sẽ
thành giấy lau mụt ghẻ, một ngàn bảy trăm
công án cũng là dây leo mục nát trong bụi bặm. Pháp chẳng
có được hay mất; được hay mất là do
mỗi người. Chỉ nên do lời nói mà hiểu tâm,
há nên mê tâm chạy theo lời nói? Nếu thật sự
khế hợp nguồn tâm, biết “Phật, Tổ đều
chẳng có một pháp để trao cho người khác”,
sẽ lấy pháp nào khác để thay thế cho pháp nào khác vậy?
26)
Hỏi: Ngũ Nghịch có thể văng sanh, sao Phật chẳng
thể diệt định nghiệp? Lại nữa,
người tạo nghiệp nếu dựa vào đó để
buông lỏng, há chẳng phải là sa
vào địa ngục như tên bắn
ư?
Đáp:
Pḥng tối ngàn năm, một ngọn đèn có thể trừ
tối. Sức sám hối đă ân cần, nghiệp liền
chẳng nhất định. Nếu là kẻ ngu bướng
nơi bến mê, có thuyền mà chẳng lên, túm xiêm áo làm bè,
ôm đá làm thuyền, đă chẳng có sức để
xoay ngược lại, đúng là định nghiệp khó
trốn vậy!
27)
Hỏi: Pháp sư tu kinh Niết Bàn do chưa tụng Di
Đà mà chẳng được văng sanh, kinh Pháp Hoa nói “văn thử kinh, như thuyết tu
hành, mạng chung sanh An Lạc thế giới” (nghe kinh này, đúng
như lời dạy mà tu hành kinh ấy, mạng chung sẽ
sanh về thế giới An Lạc).
V́ sao bất đồng?
Đáp:
Trong môn Tịnh Độ, Nguyện
là cái để dẫn đường. Chưa tụng niệm
Di Đà, tức là thường ngày ư
nguyện ưa thích chẳng sâu. C̣n như kinh Pháp Hoa đă
nói, chính là đức Thế Tôn thẳng thừng dùng kinh mầu
nhiệm làm bằng khoán cho Liên Bang, khuyên phát nguyện
đă rơ rồi! Pháp Hoa chính là Di Đà, kinh mầu nhiệm
khuyên nguyện, tức là Di Đà khuyên nguyện, tức là
kinh Niết Bàn khuyên nguyện, cũng chính là hết thảy
các kinh đều khuyên nguyện, không ǵ chẳng
tương đồng!
28)
Cơi ấy chính là v́ trời, người tạp cư mà chia
thành chín phẩm.
Ao tắm của Phật và Bồ Tát, Thanh Văn đều
ở trên trời, hoặc trong nhân gian. Đă chú tâm vào cảnh
đó, phải nên khiến cho y báo và chánh báo rành rành!
Đáp:
Tịnh Độ thuần vui, há trời, người phải
nên cách biệt vời vợi? Chín phẩm văng sanh, [kinh
điển] chưa phán định rơ [người thuộc
chín phẩm văng sanh] là trời hay người, hoặc
đều là chín phẩm hóa sanh trong hoa sen, hoặc chư
thiên đều chẳng cần phải gởi thân, đều
chưa thể biết! Kinh Đại Bổn nói cung, điện,
lầu, gác có khi ở trên mặt đất, hoặc trên
hư không. Quán Kinh nói nơi lưới
báu trên cây, các thiên đồng tử tự nhiên ở trong
cung điện bằng hoa mầu nhiệm. Vậy th́ phàm
t́nh há có thể ḍ lường cảnh giới trang nghiêm
để đều thấy rành rẽ được
ư?
29)
Hỏi: Tịnh Độ đă tuyên nói đạo phẩm,
cớ sao Quán Kinh chỉ nói “đọc tụng Đại
Thừa”, chẳng nhắc tới Tiểu Thừa.
Hơn nữa, môn Tịnh nghiệp có nói “chẳng lễ
Phật khác, chẳng tụng các kinh khác”, chẳng phải
là hoàn toàn mâu thuẫn với Quán Kinh ư?
Đáp:
Bát Nhă thường nêu ra ba mươi bảy phẩm, liền
kết lại rằng “cho đến trí Nhất Thiết
Trí thanh tịnh chẳng hai, chẳng tách rời, chẳng
khác, chẳng đoạn”, há đạo phẩm chẳng
phải là pháp môn Đại Thừa ư? Các bậc tôn túc
Tịnh nghiệp xưa kia có vị thâm nhập một môn,
tức là viên nhân lễ một vị Phật chính là lễ
hết thảy các vị Phật, tụng một kinh chính
là tụng hết thảy các kinh. Tánh báu nhiều như cát
sông Hằng, vô lượng pháp tạng nhất loạt giao
phó, nhất thời tiếp nhận, hiểu biết. Kinh
điển Phương Đẳng Đại Thừa cần
phải đọc tụng như thế th́ mới có thể lănh hội
được!
30)
Hỏi: Một câu Di Đà nếu chẳng thông đủ
loại pháp môn, sẽ chẳng phải là trọn hết
cùng cực, nay nói “tu các pháp môn khác sẽ thuộc vào nhị
tâm”, há chẳng phải là tiếp nhận một pháp, phủ
định các pháp khác ư?
Đáp:
Chẳng biết “hết
thảy các pháp chính là một pháp”,
th́ rộng tu hành sẽ đúng là nhị tâm. Nếu trong một
pháp mà thấu đạt hết thảy các pháp, chuyên tu tập
tức là Tổng Tŕ, Phật hạnh hay ma hạnh há thuộc
nơi pháp ư?
31)
Hỏi: Ngài Huyền Trang do coi Đâu Suất là gần, phán
định “dễ sanh về Nội Viện”, sao lại
luận theo cái nhân mà chẳng luận theo quốc độ
để chọn lựa, loại trừ? Sau đó lại
nói cơi Thắng Liên tuy vượt trội Cực Lạc,
nhưng Cực Lạc gần hơn; sao
lại luận theo cơi nước?
Đáp:
Đều là luận theo cái nhân! Cảnh giới Thắng
Liên cách biệt hạng phàm phu lè tè sát đất rất xa! Chẳng như cơi Di Đà gần
gũi do Phật rủ ḷng tạo phương tiện,
mười niệm liền có thể tạo thành cái nhân.
Chưa có ai dẫu chưa thể sanh về Cực Lạc
mà có thể sanh về cơi Thắng Liên
được! Xét sâu vào phạm vi huyền diệu của
Tịnh Độ, chưa chắc Cực Lạc chẳng
phải chính là Thắng Liên. Như do t́nh chấp mà sanh ra biến kế.
Ngờ vực Cực Lạc là quyền biến, thí dụ,
tức là cách Thắng Liên càng xa!
32)
Hỏi: Trong lời Sao nói liên đài có hai nghĩa, nay kim
cang đài và tử kim đài th́ là đài hoa trong búp sen (tức
là gương sen), hay là cái đài nâng đỡ hoa?
Đáp:
Nói gộp chung hai nghĩa. Nếu gởi chất nơi
đài vàng, th́ đài vốn ở trong hoa, chẳng bàn tới
cái đài nâng đỡ dưới hoa.
* Trả lời bốn
câu hỏi của Ấn Sanh
(đính kèm câu hỏi)
1) Hỏi:
Khi chưa đắc giới, dùng pháp ǵ để nhiếp
tâm? Mười giới có sai phạm, có được phép
sám hối hay không? Sau khi đă sám hối, có được
phép thọ Cụ Túc hay không? Hành pháp sám hối nào th́ mới
gọi là đắc giới?
Đáp:
Để đắc giới cần phải có tâm ân cần,
trân trọng, tâm thanh tịnh mong cầu pháp thù thắng. Sám
hối cần phải có tâm hổ thẹn, tâm quyết
đoán lật nhào ác cảnh trước đó. Đấy
chính là pháp nhiếp tâm, đấy là cái nhân để đắc
giới. Hễ mười giới có vi phạm mà thề
chẳng tạo nữa, luật cho phép thọ Cụ Túc.
Hăy nên trịnh trọng, chớ nên mong mau chóng!
2) Hỏi:
Đối với giáo pháp suốt một đời đức
Phật, kẻ sơ tâm có được phép đọc trọn
khắp hay không? Tham Thiền có được phép xem Giáo
hay không? Nếu ngộ rồi mới xem, sợ rằng
đời này khó đảm bảo được! Nếu
hiểu biết thô thiển liền tham Thiền, lại sợ
tri giải ràng buộc!
Đáp:
Xem giáo quư ṛng rặt, chẳng quư nhiều! Một bộ
[kinh sách] nghiên cứu ṛng rặt diệu nghĩa, thấu
triệt cốt tủy, tự nhiên sẽ thông suốt các
kinh khác, thế như chẻ
tre. Muốn thấu triệt cốt tủy, ắt cần
phải khi xem bèn chính là lúc quán tâm. Đă nói là “quán
tâm”,
công sẽ giống như tham ngộ, vốn chẳng phải
dơi theo từng lời, từng câu, nào có trở ngại ǵ!
Giáo lư giúp dưỡng thần, như chất béo giúp cho lửa
[cháy mạnh hơn]. Phải nên thấu hiểu ư nghĩa
tinh xác, đừng nên hiểu thô thiển. Chưa thể
hiểu tinh xác, mà nói là “tri kiến vấn vít”, khác ǵ
gă chiến bại đổ lỗi các thế vơ quá nhiều
ư?
3) Hỏi:
Trước thời ngài Hoàng Bá chẳng có Thoại Đầu,
chẳng biết đắc ngộ bằng cách nào? Con nay
nên nhập môn từ đâu để tu tập? Ǵ là chủ
tể, chẳng bị cảnh đoạt? Khi nào sẽ thấy
người, nơi nào mới là rốt ráo? Mong hăy dạy cặn
kẽ!
Đáp:
Trực tiếp biết trở về, há có thật pháp!
Tham Thoại Đầu vốn là phương tiện của
đời sau ḥng chết sạch cái tâm mong ngóng của con
người đó thôi! Trước kia, chư tổ chỉ
lưu tâm nơi bổn phận. Chỉ cần người
học hiện thời hướng theo bổn phận mà
thực hiện, trong hết thảy mọi lúc, hết thảy
mọi chỗ, chỉ v́ chuyện thuộc bổn phận
ấy, sẽ tự chẳng thấy có cảnh, há bị
nó đoạt mất? Thiện tri thức sẽ lúc nào
cũng luôn gặp, quyết trạch thân tâm, măi cho tới
viên măn Bồ Đề th́ mới là rốt ráo. Do vậy,
đương nhân hăy nên phát tâm đại dũng mănh, mở
rộng tâm lượng rỗng rang, khơi gợi đại
trí, trưởng dưỡng đại bi, xả hết
thảy ái kiến, tu hết thảy phương tiện,
sẽ chẳng đọa vào các cảnh giới ngoại
đạo, Nhị Thừa, quyền giáo!
4) Hỏi:
Cách nói “tham cứu niệm Phật” có thể coi như là Thoại
Đầu hay không? Sợ rằng đời này chẳng ngộ,
đời sau khó giữ được [thân người].
V́ thế, sử dụng pháp này để thâu nhiếp văng
sanh. Nhưng lại sợ tham Thiền đâm ra là lui một
bước, hăy nên dung thông như thế nào? Hễ sanh tâm
tham Thiền, lâm chung phát nguyện như thế nào?
Đáp:
Chúng sanh điên đảo, vừa mới nói liền nghi.
Tôi nay triệt để nói toạc ra, cũng khiến cho
những người có chí trong tương lai chẳng khóc
ṛng nơi ngơ rẽ. Đă thâm nhập một môn, cần ǵ
chồng giường, chồng nhà, xen lẫn tham cứu?
Chỉ xem chư tổ Liên Tông, liền biết Tịnh chẳng
tu Thiền. Nếu v́ đại sự nhân duyên, hễ có
nghi chưa phá liền bỏ xó, cho là chẳng thể, bèn
hành tham cứu, vậy th́ hăy nên ân cần hồi hướng
Tây Phương. Chỉ cần xem các vị đại tổ
sư như Vĩnh Minh v.v… liền biết Thiền quyết
định tu Tịnh, th́ chuyện thuộc bổn phận rành
rành có thể hoàn tất! Cần ǵ phải g̣ ép cho dung thông?
Hễ tin liền tin, hễ nghi th́ đừng tham cứu!
* Đáp thay bốn câu
hỏi do Lưu Tân Thành tŕnh lên ngài Bác
Sơn (đính kèm thư thỉnh
vấn ngài Bác Sơn)
1) Hỏi:
Xin được chỉ dạy, nếu nay con coi Lấy và Bỏ cùng là một
chữ như nhau, tức là nói dối. Nhưng sách Diệu
Tông nói “nếu lấy, bỏ đến cùng cực, sẽ
chẳng khác đường với không lấy bỏ”,
chính là nói càng có “lấy, bỏ” sẽ là càng không [lấy, bỏ];
đấy là viên diệu. Nếu phải là chẳng có th́ mới
là không có, há chẳng rơi vào Tiểu Thừa ư?
Đáp:
“Cực” là nói lấy tới chỗ chẳng thể lấy,
bỏ tới chỗ chẳng thể bỏ, vừa khéo khế
hợp “chẳng lấy bỏ”, chẳng phải chỉ hiểu
“lấy bỏ” là “không lấy bỏ”. Chính khi muốn lấy
bỏ cùng cực, dẫu chẳng muốn mà không có lấy
bỏ. Nếu chưa đạt tới cùng cực, mà muốn
cho chẳng có, liền đọa vào ác thủ. Nếu muốn
cho chúng như nhau, chính là thuộc vào vọng ngôn vậy!
2) Hỏi:
Mong được chỉ dạy: Dùng dây leo[64]
để quét sạch dây leo, và chẳng vướng víu dây
leo, hơn kém như thế nào? Chính ngay trong lúc tranh biện
dây leo là có hay không, tức là giáo lư chẳng phế trừ
dây leo, dây leo không ǵ chẳng viên đốn!
Đáp:
Văn tự tánh ĺa, chẳng ĺa văn tự. Chưa thấu
đạt ư chỉ mà kiêu mạn nói “chẳng lập”, chỉ
riêng “chẳng lập” đă là văn tự! Khi ngộ
bèn chuyển Pháp Hoa. Đây chính là chẳng vướng víu
dây leo vậy! Ǵ là cái bị quét sạch? Ai là người
có thể quét sạch? Ngài Trí Giả dùng chín mươi ngày
đàm luận chữ Diệu, mỗi chữ đều từ
bí tạng lưu xuất, chữ nào cũng có thể hàm nhiếp
bí tạng, há giống như kẻ tầm chương
trích cú, vào biển đếm cát, hoàn toàn rơi vào khuôn sáo
dây leo, bèn nói “dây leo quét trừ dây leo”.
3) Hỏi:
Xin chỉ dạy, nhiều câu chẳng bằng một câu,
cần t́m được nguồn nước. Nếu t́m
cành lá rườm rà, hư vọng bảo câu ấy quy vào
chỗ nào, chẳng phải là lo tính quá sớm ư? Con trộm
nghe tông Thiên Thai chuyên dùng sáu thức, gọi là “đốn
cây tận gốc, châm cứu chữa bệnh tận huyệt!” Đă t́m được
cái gốc rồi, tức nhánh nhóc là gốc, đă t́m
được nguồn th́ ḍng chảy chính là nguồn!
Đáp:
Do huyệt cố định, gốc cố định,
cho nên phải đợi châm cứu, đợi đẵn.
V́ thế nói “cần phải t́m được nguồn
nước”. Nếu vun quén gốc nghiệp mà chẳng
đẵn, bảo vệ bệnh t́nh nguy kịch chẳng châm cứu,
tức là nhận lầm nguồn chảy, đảo
ngược gốc ngọn, trái nghịch áo chỉ của
tông Thiên Thai, lọt vào ḍng sanh tử chảy xiết!
4) Hỏi:
Mong được chỉ dạy, một niệm biết
tâm, bảo đảm chẳng lỡ bước! Chẳng
biết dùng cái tâm nào để bảo đảm? Nếu
dùng thức tâm, lúc cách ấm chẳng biết túc mạng,
nhưng tông Thiên Thai chuyên dùng lục thức làm Chỉ Quán
viên đốn vô thượng, khế hợp khéo léo với
Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Ức Phật, niệm
Phật, hiện tiền đương lai, tất định
kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện
tiền, tương lai, nhất định thấy Phật).
Ức niệm chẳng phải là dùng sáu thức ư? Trong giáo nói rơ dùng
sáu thức, sáu thức biết rơ địa vị
theo thứ tự. Nếu có thể y giáo tu học, giáo lư
sao có thể đảm bảo cho hành nhân ư?
Đáp:
Tông Thiên Thai quán một niệm thức tâm chính là cảnh chẳng
nghĩ bàn, do người viên giải đă thấu đạt
Như Lai Tạng Tánh. V́ thế từ ngay nơi ḍng chảy
mà t́m được nguồn. Nếu bảo “chuyên dùng
sáu thức” th́ chính là coi phan duyên thành tự tánh, đấy chính
là căn bản sanh tử, đúng là bị kinh Lăng
Nghiêm quở trách. Suồng să mà
gọi là “khế hợp khéo léo”, chẳng
phải là báng Chỉ Quán ư? Lại như phép Viên Thông của
ngài Thế Chí thuộc vào Căn Đại trong Thất Đại, cho nên nói là “nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Ư
căn làm chủ, năm căn
kia thuận theo, nếu
coi căn là Thức, đích xác phạm
lỗi! Tông Thiên Thai nói: “Quán tâm nếu dấy lên, Bổn
và Tích đều dứt bặt. Từ đấy mới
có thể đoạn Hoặc, chứng Lư, xếp đặt
các địa vị”. Nếu sáu thức
biết rơ các địa vị, liền là chuyện thuộc
h́nh bóng của pháp trần phân biệt, sao có thể gọi
là “pháp môn viên đốn”? Đă lưu tâm nơi giáo
nghĩa Thiên Thai, nhờ vào đó để đảm bảo
cho người khác. Chẳng biết người bảo
đảm có mặt mũi ǵ mà có thể quyết định
sẽ bảo đảm? Nếu có thể biết
bảo đảm
cho người khác th́
cũng có thể tự bảo đảm.
* Tính trả lời câu
hỏi bị bỏ quên trong thư gởi cho ngài Bác Sơn
(đính kèm thơ hỏi Bác Sơn)
Hỏi:
Pháp lâu ngày càng suy, chẳng phải là thời thế khiến
thành ra như vậy, mà là do trao truyền, nhận lănh quá lạm
dụng, chẳng thể cứu văn. Hơn nữa, luận
theo phía người học, căn có lợi, độn, ai
tránh khỏi sanh, trụ, diệt và tuôn rót sanh, trụ, diệt? Dẫu chẳng
rơi vào thức t́nh, phân biệt cách tuyệt vời vợi.
Dẫu cho là có thể đoạn ngôn ngữ, có thể hoàn
toàn cắt đứt sự tuôn rót hay không? Giả sử cắt
đứt, vẫn gọi là Chân Như tuôn rót. Do chúng sanh vọng
tưởng, chấp trước, đức Thế Tôn suốt
bốn mươi chín năm phải “nạo
vét”,
khiến cho chấp trước bị trừ sạch, sau
đấy mới cầm cành hoa giơ lên cho đại
chúng thấy. Cành hoa được giơ lên ấy há chẳng
phải là những điều đức Thế Tôn đă
nói trong bốn mươi chín năm ư? Chúng sanh mê muội
đă nhiều kiếp, do họ mê nên đức
Phật chẳng dám giơ lên, chẳng
phải là đức Phật chẳng thể chỉ pháp thẳng
chóng. Thoạt đầu đă
hiểu một đại sự này,
nay đối với công án, cơ phong của thiện tri
thức, có thể gánh vác
như thế hay chăng? Lại dùng lời của ngài
Sư Phạm[65]
đă nói “Đạt Ma từ phương Tây sang, chính v́
phương này tập khí danh ngôn hừng hực, mà riêng ban
cho một viên thuốc Vô Ư
Lộ Hoàn Nguyên Đan”.
Cho tới khi ngài Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng) triển
khai, vẫn sợ lại đọa vào ngôn thuyết. V́ vậy,
năm nhà[66]
đều lập môn hộ, mượn lẽ huyền diệu,
trọng yếu “khách chủ, vua tôi” để thăm
ḍ hư, thật. Đối với chuyện này, cổ
nhân đúng là đi trên mũi kiếm nhọn. Tông thừa
hiện thời lại v́ giáo pháp xưa kia, há lại có
được một vị Đạt Ma tới đây,
thuốc lẫn bệnh đều quét sạch. Chín năm
diện bích nơi Thiếu Lâm cũng bị quét sạch, chẳng
lưu lại ư? Chẳng phải vậy th́ cũng nên
như đại dụng của Triệu Châu, Hoàng Bá. Những
vị khác lại chẳng thể kể xiết, phải
đều dùng phương cách mới hơn hẳn người
khác. Phương cách mới chính là Vô Sư Trí, Tự Nhiên
Trí, Phật chẳng thể truyền, lời lẽ chẳng
được ghi chép, như đại tướng quân
đối trước quân địch, thao lược
đều bỏ, do địch quân cũng biết rơ pháp ấy,
nhưng ĺa thao lược một chữ cũng chẳng
được, do thao lược ghi chép mưu kế sống
động, c̣n con người tự chết cứng![67]
Đối với người đă thấu đạt, dẫu
nêu ra lời lẽ chết cứng,
cũng đều là sống động. Kẻ chẳng thấu
hiểu, dẫu nêu ra câu sống động, cũng đều
thành chết cứng! Chẳng có pháp nào không mới, mới
[hay không] là do [người sử dụng pháp ấy] tự
đạt được. Lời lẽ nếu chẳng
thể biểu lộ ư biểu thị, diễn
đạt, của con người, sao có thể tháo niêm gỡ
trói từ vô thỉ của mọi người, điểm
sắt thành vàng ư?
Đáp:
Trước nay, Phật, Tổ vốn chẳng có thật
pháp để ban cho người khác! Giơ cành hoa, mỉm
cười, cho đến Đạt Ma lúc mới đến
[Trung Hoa], tuy nói là “truyền tâm ấn” của Phật,
há ĺa ngoài tâm chúng sanh mà có Phật tâm để có thể
truyền ư? Bất quá v́ người khác tháo niêm, cởi trói, khiến
cho họ thấu đạt vọng tưởng là vô tánh.
Thấu đạt vọng tưởng vô tánh th́ hai loại
sanh trụ diệt lập tức vắng lặng. Nếu
muốn hướng tới chỗ sanh trụ diệt
để cắt đứt, chỉ sợ một phen nạo
vét lại là một phen tăng thêm chấp trước!
Hơn nữa, ư chỉ
đơn truyền của tổ Đạt Ma như vẽ
rồng điểm nhăn, khiến cho rồng bay đi, chẳng
phải là ĺa văn tự để nói giải thoát, tức
là giáo pháp xưa kia chưa từng bị quét sạch. Tông
thừa hiện thời sử dụng mới mẻ
như thế nào, chính là hết thảy tri thức đều
dùng pháp mới hơn hẳn người khác, mong đừng
báng tri thức. Hơn
nữa, đă biết ĺa khỏi
pháp cũ, sẽ chẳng có pháp mới, há
có biết muốn tạo ra pháp mới
liền thành pháp cũ? Câu chết cứng
và câu sống động cũng giống như thế.
Người học hiện nay lưu chuyển trong
trí ô trược, cái tâm chụp giật bừng bừng, chẳng
nghĩ nối gót bậc tiên triết, chỉ muốn
đoạt được sự nổi bật trong thói
đời, làm thiện tri thức. Chính phải nên dựa
theo gương của bậc tiên thánh, lấp bặt những
tṛ tiếm đoạt, trộm cắp, không chỉ “bổng hát, cơ
phong” dần dần trở
thành khuôn sáo xấu ác, ngay cả thuốc lẫn bệnh
đều quét sạch, Đạt Ma đến cũng chẳng
lưu lại, v́ sợ nếu giữ lại, sẽ lại
trở thành khuôn sáo. Như sóng đuổi sóng, có bao giờ
xong? Chẳng bằng
hướng đến chỗ cội nguồn, t́m ṭi
đường lối, tuân theo quy củ, chẳng giở
tṛ khôn khéo, ngồi hưởng thái b́nh. Mong hăy nhận lănh,
thấu hiểu rơm rạ thuộc về bổn phận,
đừng t́m cầu ḱm búa[68]
vượt ngoài khuôn khổ!
* Tính trả lời
thư Bạch Cư Dị hỏi thiền sư Tịch
Âm[69]
(lời hỏi xem trong Lâm Gian Lục)
Như
Lai xuất thế chỉ v́ Nhất Thừa,
do chúng sanh căn tánh bất đồng nên phương tiện
nói thành ba thừa. Tuy nói thành ba, rốt cuộc quy nhất,
chỉ sợ [chúng sanh] chẳng tin đang ch́m đắm
trong nỗi khổ. V́ thế, cần phải soi xét căn
cơ của họ để dùng ba thừa ḥng chỉ bày cho họ
thấu hiểu thật pháp. V́ thế nói “chẳng có cao,
thấp”. Chúng sanh có đủ loại bệnh,
nhưng chỉ là một bệnh, do chẳng biết Phật
tánh. Như Lai có đủ loại thuốc, vốn là một
loại thuốc. Rốt cuộc đều là một Phật
thừa. Nhưng mắc bệnh đă lâu, biến chứng
đa đoan. Bậc y vương dùng thuốc cũng cần
phải tùy nghi mà sử dụng phù hợp. Như vậy
th́ khỏi bệnh bèn bỏ thuốc, chính là bổn ư của
Như Lai. Thuốc cho đúng bệnh chính là phương tiện
trí môn. Chỉ thấu đạt nguyên do Như Lai lập
giáo, th́ sẽ đạt được diệu dụng lợi
ích người khác trong thời Mạt. V́ gieo chủng tử
mà cưỡng dùng chất cực độc cũng
được. V́ khiến cho người đă chín muồi
được giải thoát mà thiện xảo nói thành ba thừa
cũng được. Nếu chẳng hiểu rơ chỗ tột
cùng Quyền Trí và Thật Trí, chẳng thông suốt nghĩa
Tất Đàn, há chỉ coi chuyện “thuận theo cơ
nghi mà nói thành ba thừa” là hư vọng phân biệt, dẫu
bảo là “một vị” cũng trở thành luông tuồng,
mờ mịt. V́ thế, tất cả hai loại nghĩa
trong sáu loại kinh khít khao thành tựu lẫn nhau. Ngũ Uẩn,
Thập Nhị Nhân Duyên: Uẩn (蘊)
có nghĩa là “tích tụ, bao trùm”. Do tách [tâm pháp] ra mà gọi
thành bốn thứ, lại đối ứng với Sắc
mà thành năm. Chỉ một chi Danh Sắc [trong Thập Nhị
Nhân Duyên] đă đầy đủ, há có nên dựa theo thứ
tự trong mười hai nhân duyên để cật vấn
ư? Mười hai nhân duyên là ước theo nhân quả
luân hồi ba đời, gọi cái có thể sanh ra quả
là Nhân, gọi cái lần lượt giúp đỡ [cho cái quả được
thành] là Duyên. V́ thế, Uẩn chỉ thuộc vào Khổ
Đế, Duyên kiêm Khổ và Tập. Uẩn
pháp là xét theo chiều ngang, nhân duyên là xét theo chiều dọc,
khởi đầu từ vô minh, kết thúc bằng già chết.
Trong mỗi một chi,
đều có trọn Ngũ Uẩn.
Chẳng nương vào Ngũ Uẩn, sao
có vô minh, há có các hạnh? Sanh chính là Ngũ Uẩn hư vọng
ḥa hợp. Lăo chính là Ngũ Uẩn biến đổi. Chết
tức là Ngũ Uẩn hư vọng tán hoại.
* Trả lời người
hỏi về cách nói phương tiện dành cho người
sơ tâm tham cứu
Căn
cơ hướng thượng đều có quy củ chánh
đáng của chốn tổ đ́nh, khiến cho chẳng
rơi vào phương tiện. Do tùy thuận căn cơ
trung, hạ mà lập ra phương tiện môn. Hễ có một
bệnh, bèn có một loại thuốc [tương ứng].
Do bệnh muôn mối, thuốc cũng biến hóa ngàn cách.
Lương y tùy thuận lẽ thích hợp mà dùng, tỳ sương (chất thạch
tín) cũng có thể
cứu sống người. Thầy thuốc dốt không
hiểu rơ cơ nghi để cắt thuốc, dẫu dùng
đề hồ vẫn có thể tổn thương tánh mạng.
Lập ra một pháp, ắt ngầm có một thói tệ. Có
một lợi, ắt có một hại. Công án cơ phong, nêu lên, ǵn
giữ công án đều là thuốc, mà cũng đều là
bệnh. Chưa thể phân định cao thấp, cũng
chớ nên quyết định chấp là phương tiện
sơ tâm. Như người đi đường, nếu
chẳng cùng với người hướng dẫn đồng
hành, chẳng thà hỏi cặn kẽ đường nẻo.
Nếu không, tiếc một lúc chần chừ, sẽ dẫn
đến sai lầm nhiều năm, vào nước quỷ,
sụp hầm sâu, gặp cổ độc, gặp giặc
cướp, dám chắc chắn là mười phần
mười vậy!
* Trả lời chín câu
hỏi về Bồ Tát Giới
(đính kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Kinh Phạm Vơng nói “ư vị thọ giới nhân tiền,
thuyết thất Phật giáo giới giả, phạm khinh
cấu tội” (đối trước người
chưa thọ giới mà nói giáo giới của bảy vị
Phật, phạm tội khinh cấu), nói là chỉ ngăn cấm
lúc tụng, chẳng ngăn cấm lúc giảng, có nghĩa
như thế nào?
Đáp:
Giới pháp tỳ-kheo liên quan đến tăng luân. V́
ngăn ngừa kẻ tặc trụ, hết thảy đều
ngăn che. Giới pháp Bồ Tát thâu trọn khắp năm
đường, giải nghĩa, phát tâm vốn chẳng
phải là chuyện cấm đoán. Nhưng khi tụng, sợ có người
phát lộ [tội lỗi do người ấy
đă phạm], chẳng thích hợp
cho người chưa thọ biết. V́ thế bảo là
“chẳng được nói”.
2) Hỏi:
Giới Bổn có bốn tội trọng, kinh Phạm Vơng
có mười tội trọng, tường tận hay đại
lược bất đồng. Phạm tội trọng
theo kinh Phạm Vơng, [cầu sám hối] thấy tướng
lành sẽ được thọ lại, Giới Bổn chỉ
nói cho thọ lại. Khoan dung và nghiêm ngặt khác nhau là v́ lẽ
nào?
Đáp:
Giới Bổn phát xuất từ kinh Địa Tŕ (kinh Bồ
Tát Địa Tŕ). Địa Tŕ gộp chung “giết, trộm,
dâm, dối”, gọi là tám tội
trọng của người xuất gia. Kinh Thiện Sanh kể
ra “giết, trộm,
dâm, dối, bán rượu, kể lỗi [của người
khác]”,
gọi là sáu tội trọng của Ưu-bà-tắc. Kinh Phạm
Vơng có đủ
nghĩa của hai kinh kia, nên gộp thành mười tội
trọng. Kinh Anh Lạc cũng giống như thế, do
thích hợp căn cơ khác nhau. Nay bốn tội trọng
trong Giới Bổn lại có ba nghĩa:
- Một là tại gia
hay xuất gia muốn thọ giới này, trước
đó ắt đă thọ Ngũ Giới, Thập Giới,
hay Cụ Túc Giới. Do vậy, giết, trộm, dâm, dối
về căn bản có tánh chất nặng nề, chẳng
cần phải liệt kê nữa, chỉ kể những giới
tăng thượng.
- Hai là giới pháp của
Bồ Tát nghịch, thuận chẳng có ngằn mé, v́ chúng
sanh mà khoan dung chút phần tánh tội hiện hành. Bốn tội
ấy theo lư chẳng chấp
thuận khai, nên riêng nêu ra.
- Ba là bốn tội
căn bản hễ phạm sẽ vĩnh viễn đọa,
Đại Thừa tuy cho phép sám hối, ắt cũng phải
mong thấy tướng hảo. Nay bốn pháp ấy, nếu
có phạm, vẫn có thể kham thọ lại, sợ xen lạm
bốn điều trước đó, nên riêng nêu ra.
Nhưng trong kinh Phạm Vơng, hễ phạm tội trọng,
ắt phải thấy tướng hảo [mới
được thọ giới lại]. Ḥa thượng
Thích Ca một mực nghiêm ngặt nơi pháp, Xà-lê Di Lặc
khinh, trọng, khai, giá, theo đúng lư đều phải tường
tận. Nay chuẩn theo kinh luận để tham khảo lẫn
nhau mà nêu rơ: Bốn giới giết, trộm… hễ phạm
một thứ, các giới đều mất sạch! [Sám hối
cho tới khi] thấy được tướng hảo,
nói chung là có thể thọ lại. Nhưng trong pháp tỳ-kheo,
vẫn chẳng có sáu giới như không sử
dụng vật của Tăng, buôn
bán rượu v.v… Hễ phạm một loại, sẽ mất
Bồ Tát giới, từ giới Cụ Túc trở xuống,
chẳng gọi là mất! V́ thế, ân cần hối lỗi,
sẽ cho phép thọ lại. Hai kinh chiếu rọi lẫn
nhau, chẳng phải là mâu thuẫn!
3) Hỏi:
Đối với giá tội của tỳ-kheo, gặp nạn
duyên bèn khai. Nay tánh tội khai mà giá tội chẳng nghe nhắc tới,
nghịch hạnh phàm phu há có thể lợi ích người
khác ư?
Đáp:
Giá tội nhằm bảo vệ chúng sanh,
đại sĩ đều nên cùng học. Do nạn duyên mà
được phép khai giống như Thanh Văn, chỉ
có tánh tội là luôn giá (ngăn cấm), cho nên cần khai, chẳng
phân biệt là phàm hay thánh. Nếu có thể bi tâm chịu khổ
thay, hổ thẹn chẳng coi đó là công lao[70],
th́ giới thân không bị tổn hại ǵ. Nếu viện
cớ để mặc t́nh [buông lung phạm giới], ắt
giới thể thiếu khuyết! Đừng tham hư
danh đại sĩ để chuốc lấy khổ báo
trong đêm dài!
4) Hỏi:
Đối với văn yết-ma thọ giới, nếu không có người
truyền thọ, cho phép đối trước tượng
tự thọ. Kinh Phạm
Vơng dạy tự
thệ thọ giới, ắt cần
phải thấy hảo tướng. Chẳng thấy hảo
tướng, chẳng gọi là “đắc giới”.
V́ lẽ nào vậy?
Đáp:
Chuyện thọ giới cần phải luận định
theo nhân duyên. Nhân là nội
tâm ân cần, trịnh trọng. Duyên là trao nhận rơ ràng. Tu
chứng quư ở chỗ cái nhân sâu xa. Giáo đạo nhờ
vào duyên đầy đủ. Do vậy, Luật
Tạng của tỳ-kheo
nghiêm ngặt duy tŕ cái Thể của Tăng Bảo, chuyên
coi trọng các duyên. Anh Lạc[71]
và Địa Tŕ mở ra con đường tiến hướng
Bồ Đề, nhưng nh́n vào nhân địa, Phạm
Vơng thoạt đầu kết giới, theo Lư cần phải
có hai pháp nâng đỡ. V́ thế, tuy cho phép tự thọ, ắt
phải lấy thấy tướng làm điều mong mỏi.
Lại phải nên biết:
Như luận Khởi Tín đă nói, nếu có chúng sanh v́ ḷng
đại bi, có thể tự phát tâm, hoặc chánh pháp sắp
diệt, do nhân duyên hộ pháp mà có thể tự phát tâm. Lại
có người do thấy sắc tướng của Phật
mà phát cái tâm ấy. Nay Phạm Vơng [buộc
hành nhân tự thọ giới phải] cầu
tướng, lư do là
khiến cho [hành nhân] phát tâm Bồ Đề, Địa Tŕ
cho phép đối trước tượng mà thọ,
nhưng là
nói theo người đă phát tâm. Phạm Vơng
lập pháp nghiêm ngặt, c̣n Địa Tŕ chọn người
nghiêm ngặt, tức là đối ứng [giữa sự
chọn lựa] trong và ngoài vậy. Hơn nữa, kinh Anh Lạc
nói đối trước Phật, Bồ Tát hiện tiền
mà thọ, gọi là thượng phẩm giới.
Được pháp sư truyền trao th́ gọi là trung phẩm.
Ngàn dặm chẳng có thầy, đối trước
tượng tự thọ, gọi
là hạ phẩm, cũng chẳng nói “cầu thấy hảo
tướng”. Vẫn là dựa theo duyên bên ngoài mà phân biệt.
Lại có luận nói: “Phát
tăng thượng tâm, đắc tăng thượng giới”.
Lại c̣n do tâm vô tận, giới cũng vô tận. Đó
là dựa theo cái nhân bên trong mà chia thành thượng, trung, hạ.
Người hiện thời hết thảy cần tự
suy xét, nếu niệm nào cũng thật sự tương
ứng với bi trí, trên là gánh vác chánh pháp, dưới là
thương xót hàm sanh, bèn tuân theo Anh Lạc hoặc Địa
Tŕ. Nếu như tuy mong cầu Phật đạo,
nhưng bi và trí chưa sâu, ắt cần phải nắm giữ
Phạm Vơng. Hoặc là hiện thời tuy có minh sư,
[nhưng hành nhân] ôm ḷng kiêu mạn, chẳng theo vị
đó cầu thọ giới, riêng hướng về
tượng để cầu giới, tức
là đối với hai
kinh đều chẳng nghe theo, ngũ hối sẽ trọn
chẳng thành! Đă muốn hướng xa thấu cực
quả, há dung nhân địa chẳng chân thật? Bậc
hào kiệt trọn chớ nên tự dối gạt!
5) Hỏi:
Đại Thừa coi trọng nội nhân. Luật sư[72]
hiện thời có thể biết nội nhân của người
khác chân thật hay không? Nếu chẳng chân thật, có
đắc giới hay không? Nếu chẳng đắc giới,
giả sử trái phạm, có vẫn
định tội hay không?
Đáp:
Văn Yết Ma có cách quan sát bậc đương cơ.
Chẳng biết nội nhân mà trao truyền hư vọng,
chẳng tránh khỏi lỗi “không hiểu biết mà làm
thầy”! Người thọ
tâm bất thiện hoặc vô kư, tuy chẳng phát khởi giới,
nhưng đă lạm mang danh Bồ Tát, tự
phải nên theo đúng pháp kết tội, chẳng
phải như trong giới tỳ-kheo, rốt cuộc dùng
tặc trụ[73]
để luận định!
6) Hỏi:
Sám tội yết ma, cho phép hướng đến người
Tiểu Thừa hối lỗi, nhưng Phạm Vơng không cho
phép hướng về người chưa thọ Bồ
Tát giới để nói. Nếu chẳng hướng về
người khác bày tỏ lỗi, có thể sám hối hay
không?
Đáp:
Trụ Tŕ Tăng Bảo kham tiếp nhận sự sám hối.
Hơn nữa, hàng Thanh Văn tuy chưa biết ông trưởng
giả là cha, nhưng thật sự là con ruột, hết
thảy những người chưa thọ giới khác chẳng
thể sánh bằng! Tới nửa tháng thuyết giới, bảo
[người chưa thọ giới Bồ Tát] lui ra là
thường quy của phép Bố Tát[74],
cũng là ư chỉ vi nhiệm nhằm loại trừ [những kẻ chưa thọ giới
Bồ Tát]. Lúc ấy, ắt sẽ có tỳ-kheo
đă thọ Bồ Tát giới chủ tŕ, vẫn nhiếp
thủ vào Tăng.
7) Hỏi:
Trong Phạm Vơng, thấy có nói tới thượng tọa,
ḥa thượng A-xà-lê và văn thỉnh hai vị thầy ấy.
Lại nữa tội Ngũ Nghịch cộng thêm tội
giết hai vị thầy ấy thành bảy tội. Nay thọ
giới, sao
chỉ có một vị thầy?
Đáp:
Theo Anh Lạc và Địa Tŕ, chỉ có một vị thầy.
Lại nữa, thọ pháp Phạm Vơng do ngài La Thập truyền
lại, được chép trong Nghĩa Sớ, cũng chỉ
có một vị thầy. Thỉnh hai vị thầy, chính là
thỉnh Phật và Bồ Tát. Nói “hăy nên đúng như pháp
cúng dường hai vị thầy, và giết hai vị thầy
sẽ thành tội nghịch” là chỉ trọn khắp
hai vị thầy đă thọ giới tỳ-kheo.
8) Hỏi:
Theo pháp thọ giới đă được trùng định,
trước tiên là phát Bồ Đề nguyện, v́ sao sau
đó lại bảo phát Tứ Hoằng, mắc lỗi
rườm rà!
Đáp:
Trước là xét nhân, sau là nắm giữ pháp. Trước
là phát tâm hướng về đạo, sau là mặc giáp thệ
nguyện trang nghiêm. Trước là Tổng, sau là Biệt.
Trước là giác ngộ cái nhân khởi đầu, sau là
mong cầu cực quả. Trước là nhất tâm tư
duy lời khai thị của tri thức, sau là Tam Bảo gia
tŕ đạo tràng quyết chứng. Do trước nên có
sau, do sau mà thành tựu trước, há nói là “trùng lặp”
được ư? Như trước đó đă thỉnh
sư, đối trước tượng lại thỉnh.
Lại như truyền giới tỳ-kheo, đă cật vấn
giá nạn, [sau đó] trong Tăng lại hỏi, cũng là
rườm rà, trùng lặp ư?
9) Hỏi:
Đă nói là cơ cảm có khác biệt, pháp trao truyền chẳng
đồng nhất, hoặc đơn giản, hoặc phức
tạp, đều chẳng sai lầm, thẳng thừng
noi theo một lối [là được rồi], cần ǵ
cứ phải dung hội cả ba nhà thành một nghi thức?
Đáp:
Thoạt đầu, tôi chỉ riêng tuân theo cách yết ma của
đức Từ Thị (Di Lặc), thường có người
chê là quá giản lược, bèn dám chiết trung, dung hội
ba cách thành một, chỉ sử dụng những điều
đă chép trong kinh luận, chẳng thêm thắt, tô vẽ
chi khác! Ba kinh đều được lưu thông trong hiện
thời, tôi cho rằng là v́ có cơ nghi tương ứng.
Do thuận theo căn cơ trong một thời, chẳng
dám chấp nay, bỏ xưa, có thể sử dụng
được hay không, mặc cho hậu hiền quyết
định.
* Giải đáp ba câu hỏi
của Hoàng Tê Cốc (có
đính kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Phật chẳng thể diệt định nghiệp, sao
Địa Tạng Bồ Tát có chân ngôn Diệt Định
Nghiệp? Hơn nữa, đă liễu đạt “tội
phước vốn là Không”, lại nói như thế nào
đây?
Đáp:
Nghiệp và báo đều là hiện lượng nơi tự
tâm. Tâm không th́ hết thảy đều không, tâm giả th́
hết thảy đều giả, tâm trung th́ hết thảy
đều trung! Riêng phàm phu chẳng thấu đạt
năng tạo (cái có thể tạo tác) và sở tạo (cái
được tạo tác), năng thọ (cái có thể tiếp
nhận) và sở thọ (cái được tiếp nhận),
tam đức bí tạng nơi bản thể, bèn dùng cái tâm
điên đảo trân trọng để ân cần trân trọng
tạo ác nghiệp, ắt chuốc lấy khổ báo nặng
nề! Gọi là “định nghiệp” là do cái tâm kẻ đó
đă đặt chắc, chẳng thể văn hồi, dẫu
bậc Đại Giác cũng chẳng thể khiến cho
nó lập tức tiêu diệt! V́ thế, đại từ
bi, khéo léo lập phương tiện, sai Địa Tạng
đại sĩ nói chú, khuyên [chúng
sanh nên] tŕ, tức là chuyển cái tâm cố định ấy,
khiến cho nó dần dần tiêu diệt. V́ vậy, công
năng của Bồ Tát hoàn toàn là công năng của Phật.
Phật đă chẳng cậy công, Bồ Tát cũng chẳng
cậy, rốt cuộc chỉ
do một niệm tâm tín nhận tŕ chú của người ấy
mà thôi. Đó gọi là đă thấu đạt ư chỉ “tội
phước vốn sẵn đều không”, vốn chẳng
phải là bài bác không có nhân quả, do bản thể của
tội phước nhân quả chính là Không, cũng lại
chính là Giả, là Trung. Mê th́ diệt và chẳng diệt,
đều chẳng phải là liễu đạt cái gốc.
Hễ liễu đạt th́ diệt và chẳng diệt
đều chẳng ngăn
ngại Không. Cổ nhân nói: “Thế nào vốn sẵn là
không? Chính là nghiệp chướng. Nghiệp chướng
là như thế nào? Vốn sẵn là không!”
Thấu hiểu hai lời ấy, sẽ thoát khỏi khuôn
sáo của chồn hoang!
2) Lại
hỏi: Rốt cuộc v́ sao đức Phật chẳng tự
nói [thần chú diệt định nghiệp], đối với
cái gọi là “Phật chẳng thể diệt”, tôi vẫn
c̣n ngờ!
Đáp:
Để giải thích điều này, cần biết ba
nghĩa:
- Một, chư Phật
thuyết pháp, ắt đều thuộc vào nhân duyên Tứ
Tất Đàn. Có người nghe đức Phật nói bèn
hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập Lư (đó là Tứ
Tất Đàn), đức Phật bèn tự nói, như các
chú trong kinh Lăng Nghiêm và [kinh Phật
Đảnh] Tôn Thắng đều là diệt định
nghiệp. Có người do nghe Bồ Tát nói bèn hoan hỷ,
sanh thiện, diệt ác, nhập Lư, th́ cần phải do Bồ
Tát nói, tức là như chú này và các chú như Đại Bi
v.v…
- Hai là tội chẳng
tự diệt, chẳng do cái khác diệt, chẳng cùng diệt,
chẳng không có nhân mà diệt, nhưng có lúc chỉ nói tự
diệt, nói là “tâm không, nghiệp không”. Có khi chỉ nói
do cái khác diệt, bảo là “do
sức của Phật, Bồ Tát”.
Có lúc nói cùng diệt, tức là cùng nêu cả nội nhân và
ngoại duyên. Có lúc nói không có nhân mà diệt, như nói “chẳng phải tự,
chẳng phải tha”,
đều là nhân duyên Tứ Tất Đàn. Nếu không, sẽ
trở thành tứ báng[75]!
- Ba là “chẳng thể diệt” chính là nói theo Tích Phật
trong Tam Tạng, “có
thể diệt”
là người thuộc cái nhân Viên Giáo, như kinh Hoa Nghiêm
nói “sơ phát tâm thời, dĩ thắng Mâu Ni” (khi mới
phát tâm đă hơn đức Mâu Ni) cũng thuộc lệ
này. Hết thảy các pháp không ǵ chẳng thông đạt.
3) Hỏi:
Khi vạn duyên dẫn khởi, lắng ḷng an trụ trong
định, cảm thấy rất vui
sướng, nhưng công năng nhiếp nhập
rất khó. Nếu hành các môn Sổ Tức, tác quán v.v… sợ
lại nhiều thêm một phen tác ư khởi diệt, làm thế
nào để nhanh chóng nhập cảnh giới một niệm
chẳng sanh?
Đáp:
Hết thảy cảnh giới vốn tự bất sanh,
mà cũng chẳng trụ diệt. Mê cái gốc nơi Lư th́
đều là tướng sanh, trụ, diệt, hư vọng
thấy vạn duyên dẫn khởi, tụ tập, hư vọng
sanh khổ năo. Lại khi lắng ḷng an trụ trong cảnh
giới Định, bèn hư vọng sanh sung sướng.
Khổ năo và sung sướng đều là
cái thấy của kẻ say. Duyên tụ tập hay tán hoại
đều là nhà xoay; cần phải cho tới
khi tỉnh rượu, mới biết nhà vốn chẳng
xoay, th́ mê muội, say sưa mới
có thể tỉnh. Các diệu pháp như sổ tức, tác
quán v.v… mỗi đằng đều thích hợp một
căn cơ. Muốn nhanh chóng ngộ cảnh giới bất
sanh, không ǵ bằng suy xét tứ tánh, quán một niệm hiện
tiền có phải là tự tánh hay không? Là tha sanh, cộng
sanh, hay vô nhân sanh ư? Nếu niệm là tự sanh, sao lại
nhờ vào ngoại duyên? Nếu là tha sanh, liên quan ǵ với
chính ḿnh? Nếu là cộng sanh, phải nên là một phần
có biết, một phần chẳng biết. Có nhân c̣n chẳng
biết, huống hồ chẳng có nhân mà sanh? Kiểm
điểm kỹ lưỡng, t́m niệm sanh tướng,
quả thật chẳng thể được! Niệm
đă là vô sanh, cảnh giới há có? Hai đằng đều
chẳng sanh, lại chẳng c̣n diệt. Trong hết thảy
mọi lúc, từng tầng
soi chiếu thấu suốt, chẳng xả hết thảy
các pháp, chẳng trụ trong hết thảy các pháp, chẳng
chán ngán hết thảy các pháp, chẳng chấp hết thảy
các pháp, tác ư tức chẳng phải là tác ư, khởi diệt
cũng chẳng khởi diệt. Một môn siêu xuất con
đường diệu trang nghiêm!
* Trả lời hai câu
hỏi của Trần Hoằng Cổn (đính
kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Nói đến “hoạnh tử” (chết ngang trái) mâu
thuẫn với nghiệp báo! Lại nữa, đă có
trường hợp “chẳng
đáng chết mà chết mất”, ắt
phải có
trường hợp “chẳng
nên sanh mà cứ sanh!”
Xét ra, phú quư hay bần tiện, không ǵ chẳng đều
như vậy. Phạm Trấn[76]
nói “đời
người như hoa cùng nở trên cây, theo gió cuốn
đi, hoặc rơi trên đệm chiếu, hoặc
rơi vào hầm phân”,
chẳng thật
sự hữu lư ư?
Đáp:
Hết thảy nhân quả trước nay chẳng sai chạy!
Cái quả hoạnh tử đích thực là do cái
nhân hoạnh tử. Do nghiệp có ba đời bất
đồng, tức là hiện báo nghiệp, sanh báo nghiệp
và hậu báo nghiệp. Nghiệp lực ba đời ấy
mỗi đằng lại luận
định mạnh, yếu, khuynh đoạt lẫn
nhau. Như có người do nghiệp báo đời trước,
nay đáng lẽ phải trường thọ, bỗng dấy
lên cái nhân chết yểu mănh liệt, hung ác, bèn thuộc loại
hoạnh tử! Xét theo hiện báo th́ chẳng phải là hoạnh
tử, nhưng xét theo túc báo, đáng lẽ chẳng chết
mà chết. Chỉ là nghiệp quả do tâm chiêu cảm; do vậy,
tâm có thể chuyển nghiệp, tức là định mà bất
định. Tâm bị nghiệp lôi kéo, tức chẳng phải
định mà là định. Xin hăy nói dứt khoát như thế
này: “Đời người như hoa trên cây, theo gió thiện
nghiệp thổi mà rơi vào chiếu, đệm trời,
người. Theo gió ác nghiệp thổi, mà rơi vào hố
phân tam đồ”. Ôi! Há có bậc thấu đạt duy
tâm sâu xa mà rộng thấy nghiệp tánh sai biệt ư?
2) Lại
hỏi: Nghĩa tam thế nhân quả trọn đủ,
nhưng Nho gia chẳng tin. Kinh Dịch chép: “Tích thiện
chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia,
tất hữu dư ương” (Nhà tích tụ điều
thiện, ắt vui mừng có thừa. Nhà tích tụ điều
bất thiện, ắt tai ương có thừa), chỉ luận
định theo bản thân và con cháu mà thôi. V́ thế, người
đức dày, ắt nói là “tông miếu hưởng, tử
tôn bảo” (tông miếu được thờ phụng,
con cháu được hưởng phước ấm), coi
kẻ không có hậu duệ là đức bạc nhất.
Phật pháp cũng dùng chuyện này để luận định
nhân quả hay chăng?
Đáp:
Đạo lư nhân quả sâu xa tột cùng, thấu triệt
vọng, bao trùm chân. Bậc đại thánh núi Ni[77]
chỉ đành dựa theo sự thấy nghe [của con
người trong thuở ấy] mà chỉ dạy. Đối
với nghĩa nhân quả liền dựa theo đó để
dung thông th́ sẽ có thể tin Phật pháp. Chấp vào
đó, tự cho là đúng, c̣n gây trở ngại cho Nho môn!
Tích thiện, dư khánh, há Nghiêu,
Thuấn có con chẳng ra ǵ, Bá Di, Thúc Tề chẳng có con
cháu. Tích ác, dư ương, cớ sao Đạo Chích
trường thọ, Tào, Mă[78]
tước vị cao sang? Đấy chẳng phải là
đối với lẽ thông ba đời, [lư luận của
Nho gia] rốt cuộc mờ mịt ư? Do hết thảy
không ǵ chẳng phải là nhân quả, cho nên cùng quẫn,
hanh thông, thọ, yểu, vinh, nhục, được, mất
chen lẫn cảm vời, mọi chuyện đều chẳng
phải chỉ có cùng một lối! Cho tới cha, mẹ,
con cái, đều do cùng nghiệp
mà chuốc vời, kinh Phật cũng là nói uyển chuyển
đối với chuyện này! Nhưng nhân quả thế
gian hư huyễn chẳng thật. Lại như Đại
Thuấn được cúng tế trong tông miếu, con cháu
được hưởng phước ấm đă chẳng
thể giữ đến ngày nay. Ba ngàn năm qua, khảy
tay đă qua mất! Sao bằng độ thoát thân nhân,
vĩnh viễn vượt khỏi sanh tử, chính là đại
hiếu xuất thế ư? Do vậy, nhân quả như
nhà Nho đă nói chẳng hợp Phật pháp! Họ chỉ
biết một mà chẳng biết hai, biết gần mà chẳng
biết xa. Do vậy, kẻ câu nệ hư huyễn chẳng
tin, nhưng người hiểu rơ ắt sẽ mong cầu!
* Trả lời câu hỏi
của Nguyên Canh
Chân
ngôn và danh hiệu Phật công đức b́nh đẳng,
cơ duyên bất đồng, mỗi đằng đều
có đủ bốn thứ lợi ích. Nay khuyên tŕ chú, và
khuyên tŕ danh
hiệu Phật chẳng khác nhau. Hăy
nên tin vào cơ duyên của Bồ Tát và nguyện lực của
chính ḿnh, mỗi mỗi đều ĺa lỗi, dứt sai chẳng
thể nghĩ bàn! Nếu nói tŕ danh là đúng, tŕ chú là sai,
Hoa Nghiêm gọi đó là “chấp nhận một
điều, phủ nhận mọi điều khác”,
là bị ma nhiếp tŕ. Pháp Kư Số
(ghi nhớ số câu niệm) thích hợp trọn khắp
ba căn, thượng căn chẳng ngại ghi nhớ, hạ
căn ắt phải
nhớ số. Do vậy, đều dạy nhớ số,
khiến cho người lợi căn do đấy sẽ
ḥa thành một khối, kẻ độn căn cũng chẳng
đánh mất duyên nhân thiện căn. Nếu viện lẽ
Sự Lư như một, chẳng cần ghi nhớ số, sợ
rằng bậc thượng trí th́ ít, kẻ hạ ngu th́
nhiều, kẻ chẳng đến nỗi quên mất hiếm
hoi lắm đấy!
* Trả lời ba câu hỏi
của Đặng Tĩnh Khởi
1)
Thói tệ trong Thiền môn lưu hành đă lâu, chưa thể
tận lực sửa đổi. Cậy vào bực hiểu
biết sử dụng pháp ấy mà chẳng nhuốm thói tệ, thấy
rơ khuyết điểm mà chẳng phế pháp ấy. Phàm
châm cứu, dược thạch đều có thể gây nên
bệnh, bất
luận quân thần tá sứ[79]
đều do công năng biến hóa nơi cái tâm. Cổ nhân
quở trách tọa Thiền hay khuyên tọa Thiền, khuyên đề
khởi tham Thoại Đầu, hay chê trách tham Thoại
Đầu, mỗi đằng
đều phù hợp cơ nghi. Khéo
dùng th́ không ǵ chẳng phải là thuốc. Chẳng khéo dùng
th́ không ǵ chẳng tăng thêm bệnh. Cứ chấp quở
trách tọa Thiền là đúng, khác ǵ kẻ chấp Thoại Đầu
quở trách người buông
xuống [tham cứu Thoại Đầu].
Thật sự đạt tới mức tham cứu mà không
có chỗ để tham cứu, truyền riêng ngoài giáo, th́
chánh pháp nhăn tàng là thứ vớ vẩn ǵ vậy?
2)
Niệm Phật tam-muội là vua trong các tam-muội, chẳng
dễ tin được! Nhưng nó đă thích hợp khắp
ba căn, lại chẳng nên một mực bảo là khó
khăn. Vả nữa, bảy ngày nhất tâm bất loạn
chẳng thể phán định là nông cạn; mỗi
đêm bầu bạn với Phật mà ngủ, chẳng thể
phán định là sâu! Bởi lẽ, nhất tâm bất loạn
có Sự và Lư. Sự nhất tâm đă chẳng dễ dàng,
Lư nhất tâm sao dung cưỡng đạt tới?
Nhưng vị Phật cùng ngủ, cùng thức, bất quá
là tánh đức vốn sẵn có, dẫu loài trùng ngọ
ngoạy cũng đều là như thế, chẳng liên
quan đến tu chứng, trọn
chẳng có ǵ là hiếm hoi, lạ lùng! Nếu liễu đạt
vị Phật cùng thức cùng ngủ vẫn hăm hở
nói, niệm chẳng gián đoạn, th́ mới gọi là Lư
nhất tâm. Nếu chưa liễu đạt vị Phật
cùng thức, cùng ngủ, một mực nói niệm vị Phật
khác, niệm tới mức ḥa thành khối, được
thấy vị Phật khác, liền đốn ngộ vị
Phật cùng thức cùng ngủ. Đức Thế Chí nói: “Bất
giả phương tiện, tự đắc tâm khai”
(chẳng nhờ vào phương tiện, mà tâm tự
khơi mở). Kinh Thập Lục Quán nói: “Chư Phật
hữu dị phương tiện, linh nhữ đắc
kiến” (Chư Phật
có phương tiện khiến cho bà được thấy),
chính là nói về chuyện này. V́ vậy, một tiếng Di
Đà bất luận hiểu hay chẳng hiểu, như
người nhuốm mùi hương, thân có mùi thơm. Niệm
nào cũng đều là cái nhân chân thật để thành Phật,
mà khinh mạn bảo “nấu cát thành cơm”, chẳng
phải là báng đại phương tiện pháp luân của
ba đời chư Phật ư?
3)
Nhiếp Luật
Nghi
Giới
thành tựu Pháp Thân đức, Nhiếp Thiện
Pháp
Giới
thành tựu Bát Nhă đức, Nhiếp Chúng
Sanh
Giới
thành tựu giải thoát đức. Ba đức tức
tam thân cực quả. Giới là pháp giới, là chỗ quy
hướng của hết thảy các pháp, mà cũng là
nơi lưu xuất hết thảy các pháp. V́ thế, chỉ
có ḿnh đức Phật tŕ tịnh giới, những
người khác đều gọi là kẻ phá giới! Lại
nói: “Nếu ai thọ Phật giới, liền nhập
địa vị của chư Phật”. Kinh Phật
Đảnh nói: “Dẫu có nhiều trí, Thiền Định
hiện tiền, nhưng chẳng đoạn dâm, giết
v.v... ắt rơi vào ma đạo, thần đạo. Chỉ
dùng giới để nhiếp tâm, khiến sanh Định,
phát Huệ, th́ mới gọi là Tam Vô Lậu Học”. Do
vậy, biết thọ giới tu hành sẽ như Hoàng
Đế, Nghiêu, Thuấn rủ xiêm áo mà thiên hạ b́nh trị,
chẳng cần phải dấy động binh đao. C̣n
như luận tới các pháp môn đối trị như
tham cứu Thoại Đầu v.v… chính là bất đắc
dĩ vận dụng binh đao
đó thôi! Lục Tổ đă ngộ tâm tông, xuất thế,
vẫn cần phải thọ Cụ Túc Giới! Ngài Thanh
Lương là Hoa Nghiêm Bồ Tát, mười thệ cẩn
trọng ǵn giữ như băng, sương. Ngài Huệ Viễn
là thỉ tổ của liên xă, lúc lâm chung vẫn nhiều
lượt hỏi “đă sau giờ Ngọ hay chưa?”
Quy củ thơm thảo ngàn đời sẵn có rạng
ngời, sao kẻ cuồng Thiền phóng túng chẳng e dè, kẻ
học cạn trọn chẳng ǵn giữ?
* Trả lời ba câu hỏi
của Tịnh Tánh (đính kèm lời
hỏi)
1) Hỏi:
Ngoài tâm chẳng có pháp, ư nghĩa đồng thể con
đă hiểu rơ rồi, như thế nào là chẳng phát
đại tâm mà tự lợi? Ngoài pháp chẳng có tâm, pháp
nào cũng đều là pháp giới đă rơ rồi! Cớ
sao gặp duyên lại sanh lấy, bỏ?
Nếu nói trong địa vị Danh Tự tuy biết lư
này, hiềm rằng bị tập khí phiền năo sai khiến,
vẫn phải xả tập khí, hay chẳng xả tập
khí?
Đáp:
Điều ông đă hiểu chỉ là ngôn ngữ, đạo
lư mà thôi! Ảnh hư vọng của Pháp Trần c̣n chẳng
thể tự lợi, huống hồ đại tâm. Đă
là “lấy, bỏ”, sao lại đợi
gặp duyên? Đấy chính là tập khí phiền năo của
ông. Nếu thật sự hiểu rơ đồng thể pháp
giới, há c̣n có tập khí ǵ để có thể bỏ
ư?
2) Hỏi:
Mười giới cùng một tâm, sao chẳng biết nhau?
Nếu chỉ Phật biết, tức là chúng sanh và Phật
khác nhau. Nếu là biết theo danh tự, chẳng phải
là biết rốt ráo, vẫn thuộc vào công phu tu hành. Nếu
nói chẳng cần luận định về tu, hiện hiện,
thành thành, th́ chúng sanh và Phật chẳng khác!
Đáp:
Hư vọng bảo “mỗi đằng chẳng biết
nhau”, sẽ là so đo ngoài tâm riêng có mười giới. Nếu
biết “mười giới chỉ là một tâm”, th́ tâm c̣n
chẳng thể được, há có mười giới mỗi
mỗi chẳng biết nhau ư? Người ngộ “mười
giới chỉ là nhất tâm” th́ giả gọi là
“chư Phật”, như người đă tỉnh thấy
nhà chẳng xoay! Mê nhất tâm, so đo mười giới,
th́ giả gọi là chúng sanh, như kẻ say hư vọng
thấy nhà xoay chuyển. Chỗ bất đồng giữa
chúng sanh và Phật là say hay tỉnh, điều tương
đồng là nhà chưa hề xoay chuyển. Đó là Lư cùng
ở, cần ǵ phải bàn đến tu nữa? Đối
với kẻ say,
nhà chẳng phải là vẫn hiện hiện thành thành xoay
chuyển ư?
3) Lại
hỏi thêm: Thể đồng th́ Dụng cũng phải
nên đồng. V́ sao có mười giới khác nhau? Nếu
thể tánh chân thật là đồng, tướng trạng
hư vọng là dị, tánh và tướng há có hai ư? Nếu
nói “tướng chính là
vô tướng, tướng tức là pháp giới”, vậy
th́ địa ngục cần ǵ phải tiến hướng
Phật giới? Nếu không cần tiến hướng, rốt
cuộc thành Phật như thế nào?
Đáp:
Thể và Dụng của mười giới vốn không ǵ
chẳng đồng. Kẻ mê bèn nói tướng khác mà tánh
cũng khác, chứ Thể và Dụng vốn chưa từng
giảm. Người ngộ biết tánh đồng mà
tướng cũng đồng, Thể và Dụng vẫn
chẳng tăng. Do vậy, địa ngục giới chính
là pháp giới, vốn chẳng có Phật giới để
có thể tiến hướng. Địa ngục giới
có thể xả. Ước theo thật nghĩa ấy, giả
gọi là “ra khỏi địa ngục thành Phật”.
Sao cứ suốt ngày hướng theo giả danh phân biệt,
quên bẵng thể tánh chân thật của pháp giới vậy? Chẳng
liễu đạt thể tánh, suốt ngày nói pháp giới;
đó là tập khí danh ngôn cực ác!
* Trả lời câu hỏi
của Tịnh Trần
(đính kèm câu hỏi)
Hỏi:
Ngài Đại Huệ nói: “Quang minh chưa tỏ lộ,
chưa từng đích thân thấy Pháp Thân, rốt cuộc
cảm thấy trước mặt có vật. Đấy há
chẳng phải là một vật rạng ngời, linh thông
ư? Vật ấy đă từ chân tâm mà có, toàn thể là
thật. Hiểu rơ như thế, trọn đại địa
là một Pháp
Thân, là chính ḿnh, sao lại nói có thấy và chẳng thấy,
tỏ lộ và chẳng tỏ lộ?” Nhưng
chạm cảnh gặp duyên như thế, lại dùng chẳng
được, bị tập khí sai khiến, lỗi ở
chỗ nào? Ư chỉ ấy của ngài Đại Huệ và
pháp môn quán tâm của tông Thiên Thai là giống nhau hay khác nhau?
Đáp:
Ngài Đại Huệ đă nêu ra căn bệnh nơi Thiền,
muốn cho mọi người t́m được một dịp
đích thân thấy thấu suốt. Nếu thật sự
thấu suốt, sẽ chẳng nghĩ là thấu suốt
hay không thấu suốt. Nếu thật sự đích thân
trông thấy, sẽ chẳng có ư tưởng là thấy hay
không thấy. Nay nói vật ấy từ chân tâm mà có, cho
đến “hiểu rơ như thế” v.v.., toàn thể đă
đọa vào khuôn sáo kiến giải. Đó chính là nói “rốt
cuộc nhận thấy trước mặt có vật”,
sao lại sau khi rạng ngời, linh thông lại bảo là
“có vật” ư? Do chấp vào khuôn sáo kiến giải ấy,
cho nên nói “chạm cảnh gặp duyên, dùng chẳng
được”. Nếu thật sự
thấu suốt, đích thân trông thấy, ông gọi cái ǵ là
duyên cảnh? Ai gặp gỡ, đụng chạm? Ông muốn
dùng cái ǵ? Lại nữa, ai dùng? Chỉ là tập khí, từ
chỗ nào mà có? Lại nữa, ai bị sai khiến? Há chẳng
phải là trăm điều xen tạp vụn vặt, bèn
gọi ǵ là Pháp Thân, hay chính ḿnh? Nếu chưa phải là
như vậy, hết sức chẳng dễ dàng! Cần phải
đem thân, tâm, thế giới và các thứ tập khí danh
ngôn, cho đến các thứ
ư niệm “nghĩ trước, lo sau” thường ngày
buông xuống toàn bộ! Chỉ dùng cách suy xét, kiểm
điểm ấy để xem xét cái có thể liễu
đạt và cái được liễu đạt rốt
cuộc là như thế nào? Đấy là công phu tuyệt diệu
của tông Thiên Thai, chẳng ngăn cách mảy may so với
Tông Môn.
Nếu chỉ nh́n vào một
đoạn công án như “ba cân gai, con chó không có Phật
tánh” v.v… th́ đó lại là một loại phương
tiện. Cách thực hiện
khác nhau, nhưng đạt đến mục đích
như nhau, đều cần phải đừng quên, đừng
giúp, liều mạng mà nắm giữ. Bất luận thời
kiếp, hết sức tránh có cái tâm “đợi
ngộ”, hết sức
tránh vướng trong tấm giáp “vô
sự”, hết sức
tránh thương lượng đạo lư, hết sức
tránh tánh t́nh gấp gáp mong chóng được tỏ rơ, hết
sức tránh nay thế này, mai thế khác, đông va, tây chạm, lăng phí
thời gian!
Chỉ có tâm sanh tử tha thiết, miên mật, lâu ngày chầy
tháng, chẳng quản thời hạn, tự nhiên trong lúc
xem kinh, hoặc trong khi tĩnh tọa, hoặc ngay trong lúc mặc
áo, ăn cơm, hoặc lúc thấy sắc, nghe tiếng, thẳng
thừng tiến nhập, mới tin những điều
đă nói trước nay đều là nói mớ!
Linh
Phong Tông Luận
Phần
3 hết
[1] Theo
các vị chú giải, đối với câu nói này phải hiểu
là: Chỗ rộng lớn nhất trong thiên hạ là ḷng
nhân, địa vị chánh đáng là lễ, đại
đạo chính là nghĩa.
[2] “Đào
thải” là danh từ dùng trong tông Thiên Thai để chỉ
giáo pháp của đức Phật dần dần dẫn dắt
chúng sanh tiến nhập nhất thừa, giống như
người từ từ loại bỏ các chấp trước
nhỏ hẹp, thiên chấp.
[3] Ư
nói: Đối với cảnh giới giải thoát chẳng
nghĩ bàn của Hoa Nghiêm, đừng lầm lẫn bộp
chộp nêu bày cho người khác nếu chẳng quan sát
căn cơ của người ấy có thích hợp để
nghe hiểu hay không.
[4]
Đây là một câu nói của Mạnh Tử trong thiên Ly Lâu
Hạ: “Nhân chi sở dĩ dị vu cầm thú giả
cơ hy, thứ dân khử chi, quân tử tồn chi, Nghiêu
Thuấn vu thứ vật, sát vu nhân luân, do nhân nghĩa hành,
phi hành nhân nghĩa dă” (Do con người chẳng khác cầm
thú cho mấy, nhưng dân hèn vứt bỏ, bậc quân tử
ǵn giữ, Nghiêu -Thuấn do thấu hiểu sự vật,
hiểu rơ mối quan hệ giữa con người với
nhau mà hành xử theo đúng nhân nghĩa, chứ không phải
là gượng ép thực hiện nhân nghĩa).
[5] Thất
chúng: Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na,
ưu-bà-tắc, và ưu-bà-di.
[6] Tứ
bất hoại tín (Catudhammapariyāyaṃ)
c̣n gọi là tứ bất hoại tịnh, tứ chứng
tịnh, tứ Tu Đà Hoàn chi, tứ Dự Lưu chi, tức
là tín tâm kiên cố bất hoại đối với Phật,
Pháp, Tăng và Giới.
[7] Thanh Tịnh Minh Hối
chính là một chương trong kinh Lăng Nghiêm dạy
người tu phải đoạn dâm, đoạn sát,
đoạn trộm cắp, đoạn vọng ngữ, và mối liên quan giữa bốn giới
ấy.
[8] Đây là một thành
ngữ xuất phát từ một câu chuyện trong tác phẩm
Tiểu Thuyết Ân Vân thời Nam Lương. Theo đó, có
vài người tụ họp ăn uống tán gẫu, có
người nói: “Tôi mong được làm Thứ Sử đất
Dương Châu”, người thứ hai nói “tôi mong có nhiều
tiền của”, người thứ ba nói “tôi mong cưỡi hạc bay
lên trời”, tức là ước nguyện làm quan, phát tài và
thành tiên. Người thứ tư nói: “Tôi mong lưng
đeo mười vạn quan, cưỡi hạc bay tới
Dương Châu”, tức là mong đạt được
cả ba điều trên đây. Từ đó thành ngữ này
được dùng để diễn tả ước nguyện
cao vời, khó thành hiện thực. Theo Linh Phong Tông Luận
Đạo Độc (hướng dẫn đọc Linh
Phong Tông Luận) của pháp sư Tịnh Giới, Tổ
dùng chuyện này để diễn tả ư nghĩa “dẫu
trí huệ và hạnh giải rất cao, rất mạnh, chẳng
thể vừa mong cầu thỏa thích các tham vọng trong
thế gian, lại vừa có thể thành
tựu công đức xuất thế được”.
[9] Đây là một thành
ngữ hàm ư: Để thành tựu một việc, phải
chuẩn bị lâu dài, chẳng thể chờ đến
lúc xảy ra việc mới lo liệu được. Thành
ngữ này phát xuất từ một câu nói của Mạnh Tử
trong thiên Ly Lâu Thượng: “Kim chi dục vương giả,
do như thất niên chi bệnh, cầu tam niên chi ngải
dă. Cẩu vi bất súc, chung thân bất đắc” (Nay
người muốn làm vua, như bệnh đă bảy
năm, t́m lá ngải ba
năm. Nếu chẳng chứa sẵn, sẽ trọn
đời chẳng t́m được). Ngải (wormwood,
mugwood) ở đây là một loại thực vật, có tên
khoa học là Artemisia Argyi, c̣n gọi là ngải bồng,
điềm ngải, hương ngải, băng đài, ngải
hao, lại tiêu, hoặc b́nh, có nhiều chủng loại
dùng, dùng để làm thuốc, nhất là nghiền lá thành bột,
phơi khô, ép thành từng thỏi nhỏ, dùng để
đốt trong khi châm cứu. Bột ngải c̣n được
đốt để đuổi muỗi, hoặc chế
thành thuốc trị các chứng kinh nguyệt không điều
ḥa, đau bụng khi hành kinh, phong thấp v.v… Vào thời cổ,
trong tiết Đoan Ngọ, người Hoa thường
treo một bó lá ngải trước cửa để trừ
phong tà, côn trùng. Tại Hoa Nam, người ta c̣n nghiền
nát lá ngải trộn với bột gạo để làm
bánh trong dịp Tết và Thanh Minh.
[10] Tiên thiên: Những ǵ
được bẩm thọ từ khi sinh ra như cơ
thể, tánh chất. C̣n hậu thiên là những ǵ do
được nuôi nấng, bồi bổ, tập luyện
mà tạo thành. Chẳng hạn cơ thể sinh ra yếu
đuối, nhiều bệnh tật, đó gọi là “tiên
thiên bất túc”, nhưng do được bồi bổ,
tập luyện để bù đắp, th́ gọi là hậu
thiên.
[11] Tứ vận (c̣n gọi
là tứ vận tâm) là bốn quá tŕnh vận chuyển và
phát triển trong tâm thức do tổ Trí Giả đề
xướng trong bộ Ma Ha Chỉ Quán, tức là chưa niệm, sắp niệm,
niệm, và đă niệm.
[12] “Tam đăng cửu
thượng” là nói về quá tŕnh cầu học của
thiền sư Tuyết Phong. Do chưa hiểu tâm tông,
Sư đă ba lượt lên núi Đầu Tử để
tham yết thiền sư Đại Đồng, đó gọi
là “tam đăng”. Sư c̣n chín lượt lên Động Sơn để cầu đạo
với ngài Động Sơn Lương Giới. Đó gọi
là “cửu thượng”.
“Bách thành yên thủy” (Khói nước
trăm thành) là nói quá tŕnh cầu đạo của Thiện
Tài đồng tử, sau khi được Văn Thù Bồ
Tát điểm hóa, đồng tử đă lần lượt
đi qua một trăm ṭa thành để xin được
dạy về Bồ Tát hạnh nơi năm mươi ba
vị thiện tri thức.
[13] Thời cổ, khi pháp
sư thăng ṭa thuyết pháp dạy Thiền, thường
dùng phất trần để khai thị. Ở đây, Tổ có ư châm biếm:
Do chẳng hiểu đạo, chỉ chuộng hư danh,
thích làm thầy người khác, lên pháp ṭa phẩy phất trần, hoặc dựng
đứng, hoặc gơ cán phất trần, hoàn toàn là h́nh thức,
chẳng có ư nghĩa chân thật ǵ, khác nào dùng phất trần
phẩy bụi trên pháp ṭa!
[14] Mạn (Māna) tức là
ngạo mạn, ngă mạn. Kinh nói có bảy loại
mạn. Ở đây, Tổ chỉ nhắc tới
ba loại mạn:
- Mạn quá mạn: Chẳng
bằng người khác mà ngạo nghễ tự cho ḿnh
hơn hẳn người khác.
- Tăng thượng
mạn: Chưa chứng mà tự nhận là đă chứng,
chưa hiểu mà khoe rằng đă hiểu.
- Ty liệt mạn: Tuy
chẳng thua kém người khác, mà luôn tự ty, cho rằng
ḿnh kém cỏi.
[15] Kư vấn: Học thông
đọc thạo sách vở để thuận tiện ứng
đối, biện bác nhằm được tiếng học
rộng, thông thái, nhưng đó chỉ là kiến thức
suông ngoài miệng, chẳng thể áp dụng học thức
ấy vào sự tu dưỡng, rèn luyện phẩm cách cho
bản thân.
[16] Đây là tên các quẻ
trong kinh Dịch, Bác là quẻ Thiên Địa Bác, Phục là
Địa Lôi Phục, Bỉ là Thiên Địa Bỉ, c̣n
Thái là Thiên Địa Thái, các quẻ Bác và Bỉ là cực
âm, diễn tả ư suy vi, rơi rụng, tàn hoại, c̣n Phục
là trùng hưng, khôi phục, Thái là tốt đẹp. Cả
câu có ư nói khi mọi vật suy tàn đến cùng cực sẽ
chuyển biến tốt đẹp hơn.
[17] Nguyên văn “giới
nhĩ hữu tâm” (介爾有心), giới nhĩ là từ
ngữ h́nh dung cái tâm cực nhỏ. Sách Phụ Hành giảng:
“Nói Giới Nhĩ tức là nói tâm trong mỗi sát-na, liên tục
chẳng gián đoạn, chưa từng đoạn tuyệt,
trong mỗi sát-na, trọn đủ tam thiên. Giới (介) có nghĩa là yếu ớt,
ư nói cái niệm ấy rất vi tế”. “Tam
thiên” ở đây
là một khái niệm do tổ Trí Giả đề ra trong bộ
Ma Ha Chỉ Quán. Ngài nói mỗi niệm dấy lên, trọn
đủ ba ngàn các pháp. Sở dĩ có ba ngàn là v́ chúng sanh do
tâm niệm khác nhau mà thành mười pháp giới (địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A Tu La, trời, người,
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật), mỗi pháp giới
đều trọn đủ các pháp giới. Mỗi pháp giới
lại có thập như thị (tướng như thị,
tánh như thị v.v… như trong phẩm Phương Tiện
của kinh Pháp Hoa đă nói). Do 10x10x10 thành một ngàn, lại
phối ứng với tam thế gian thành ba ngàn pháp. Tam thế
gian có hai cách hiểu:
1) Tam thế gian là quốc
độ thế gian, chúng sanh thế gian và ngũ ấm thế
gian.
2) Tam thế gian là tam
giới, tức Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc
Giới.
[18] “Cú độc tiên
sinh” (句讀先生) là một từ ngữ
mang tính chất châm biếm những kẻ chỉ thích học
rộng nghe nhiều, có thể giảng luận thao thao bất
tuyệt, nhưng trọn chẳng hành tŕ tí nào! Nghĩa gốc
của “cú độc” là chấm câu, v́ Hán văn cổ
viết không chấm câu, người đọc phải khéo lănh hội để
tự chấm câu cho đúng.
[19] Tức là nói tắt của
câu “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi”. Có rất nhiều
cách giải thích hai câu này, thường hiểu là ḷng
người rất nguy hiểm, v́ con người luôn sẵn
có những thứ như tham lam, ghen tỵ, hiếu thắng,
keo tiếc, ích kỷ, phân biệt. Đạo tâm ở
đây chính là cái tâm tự nhiên trong trời đất,
đạo tâm vi diệu, khó hiểu thấu.
[20] Cừ Bá Ngọc tên thật
là Cừ Viện, tên tự là Bá Ngọc, làm quan đại
phu nước Vệ thời Xuân Thu, được người
đương thời khen ngợi là bậc hiền đức.
Trong Luận Ngữ có chép chuyện ông Cừ Bá Ngọc sai
người sang thăm viếng Khổng Tử. Khổng Tử
hỏi t́nh h́nh, người ấy thưa: “Phu tử muốn bớt
lỗi mà chưa thể được”. Khổng Tử hết
sức khen ngợi. Ông Cừ cũng từng nói: “Lúc tôi
năm mươi tuổi, biết bốn mươi chín
năm trước đều sai trái”.
[21] Thiên Ly Lâu sách
Mạnh Tử có câu: “Vũ ố chỉ tửu nhi háo thiện
ngôn, Thang chấp trung, lập hiền vô phương.
Văn vương thị dân như thương, vọng
đạo nhi vị chi kiến. Vũ Vương bất
tiết nhĩ, bất vong viễn. Châu Công tư kiêm tam
vương, dĩ thi tứ sự. Kỳ hữu bất hợp
giả, ngưỡng nhi tư chi, dạ dĩ kế nhật,
hạnh nhi đắc chi, tọa dĩ đăi đán”
(Vua Vũ ghét rượu ngon, chỉ chuộng lời lành.
Vua Thanh ǵn giữ đạo trung chánh, nâng đỡ người
hiền không ngăn ngại. Văn Vương coi dân
như chính ḿnh, truy cầu đạo nhân nghĩa, nhưng
dường như chưa t́m thấy. Vũ Vương chẳng
khinh mạn hiền thần trong triều đ́nh, mà cũng
chẳng quên những bầy tôi ở phương xa. Châu
Công mong học theo ba vị thánh vương Hạ,
Thương, Châu, ḥng thực hiện sự nghiệp của
Đại Vũ, Thành Thang, Văn Vương, Vũ
Vương. Nếu có ǵ chẳng
phù hợp, bèn suy nghĩ suốt đêm cho đến sáng. Nếu
suy nghĩ thông suốt, bèn ngồi chờ trời sáng để
ngay lập tức thực hiện). Chúng tôi chuyển ngữ
đoạn này theo cách diễn giải của cụ Lư Bỉnh
Nam.
[22] “Cầu phóng tâm” ở
đây có nghĩa là t́m lại cái tâm đă mất do buông
lung, hoặc bị che lấp bởi vật dục. Từ
ngữ này phát xuất từ một câu nói trong thiên Cáo Tử
của sách Mạnh Tử: “Nhân, nhân tâm dă. Nghĩa, nhân lộ
dă. Xả kỳ lộ nhi phất do, phóng kỳ tâm nhi bất
tri cầu, ai tai! Nhân hữu kê khuyển phóng, tắc tri cầu
chi. Hữu phóng tâm, nhi bất tri cầu. Học vấn chi
đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỹ”
(Ḷng nhân là bản tâm của con người. Nghĩa là
đại đạo của con người. Buông bỏ
con đường ấy chẳng theo, đánh mất bản
tâm mà chẳng biết t́m kiếm. Buồn thay! Người
ta hễ mất gà, chó, liền biết t́m kiếm. Thế
mà đánh mất bản tâm, chẳng biết cầu t́m.
Đạo học vấn chẳng có chi khác, t́m lại cái
tâm đă đánh mất mà thôi!)
[23] Lục Tượng
Sơn (1139-1193), tên thật là Lục Cửu Uyên, tự Tử
Tĩnh, người huyện Kim Kê thuộc Vũ Châu, tỉnh
Giang Tô, là một triết gia sống vào thời Nam Tống. Tư
tưởng của ông được triển khai và thừa
kế thành thuyết Tâm Học bởi Vương
Dương Minh vào đời Minh. Do ông dạy học tại Tượng
Sơn Thư Viện, nên thường được gọi
là Tượng Sơn tiên sinh. Ông cùng với hai anh là Lục
Cửu Thiều và Lục Cửu Linh đều là bậc đại
nho đương thời, được thế gian tôn xưng
là Tam Lục.
[24] Vi Tử tên thật là
Tử Khải, c̣n gọi là Vi Tử Khải, hay Tống Tử Khải. Ông này là con
trưởng của Đế Ất nhà Thương, và là
anh của Đế Tân (tức Trụ Vương). Vi Tử
nhiều lần can gián Đế Tân đừng xa hoa, lăng
phí, say đắm sắc dục, sủng ái bọn xu nịnh,
nhưng Đế Tân không nghe.
Ông liền bàn bạc với
quan thái sư là Cơ Tử và thiếu sư Tỷ Can. Cơ Tử
nói: “Nếu đất nước thịnh trị th́ thân dẫu
chết chẳng ân hận, chứ nếu chết mà nước
vẫn chẳng b́nh trị th́ thà bỏ đi c̣n hơn”.
Khi Châu Vũ Vương diệt Trụ, Vi Tử đem
đồ thờ cúng trong tông miếu, tự trói ḿnh ra đầu hàng. Châu Vũ
Vương sai người cởi trói, vẫn cho ông làm
quan. Đến thời Châu Thành Vương, Châu Công Đán
thay vua Châu phong cho ông đất Tống
để phụng thờ tổ tiên nhà Thương, cho
phép dùng lễ nhạc thiên tử
để cúng tế tổ tiên. Vi Tử được coi
là tổ tiên của các họ Tống, Chung, Hoa và Mặc. Có
thuyết cho rằng Mặc Địch (Mặc Tử) là hậu
duệ của Vi Tử.
Cơ Tử tên thật
là Tử Tư Dư, là con cả của Văn Đinh (anh
ruột của Đế Ất). Do vậy, ông là bác của
Đế Tân (Trụ Vương), giữ chức Thái
Sư. Do được phong thái ấp ở đất
Cơ (nay là vùng Thái Cốc, Du Xă thuộc tỉnh Sơn Tây), nên thường được
gọi là
Cơ Tử. Cơ Tử can gián Trụ Vương không
được, biết cơ nghiệp sáu trăm năm của
nhà Thương sẽ mất, đau đớn, phát phẫn,
bèn giả điên, xơa tóc như cuồng, hằng ngày chỉ
gảy khúc nhạc
Cơ Tử Thao để trút nỗi bi thương. Trụ
Vương cho là ông đă điên thật sự, bèn bắt
giam, biếm trích ông làm nô lệ.
[25] Đây là một câu ca
ngợi Khổng Tử trích từ một câu nói trong thiên
Hương Đảng của sách Luận Ngữ: “Quân mạng chiếu,
bất sĩ giá, hành hỹ” (Vua hạ lệnh triều
kiến, [Khổng Tử] chẳng đợi xe
ngựa mà đi bộ [vào chầu]). Cụ Lư Bỉnh Nam
giảng: Đấy là thái độ tôn kính, tận trung với
vua. Biết vua có chuyện cần gấp, nên đ̣i triều kiến, Ngài chẳng chờ người
hầu chuẩn bị xe ngựa, mà lập tức đi bộ
vào cung để chầu vua.
[26] Thiên Công Tôn Sửu sách
Mạnh Tử chép như sau: “Mạnh Tử tương
triều vương. Vương sử nhân
lai, viết: ‘Quả nhân
như tựu kiến giả dă, hữu hàn tật, bất
khả dĩ phong. Triêu, tương thị triều, bất
thức khả sử quả nhân đắc kiến hồ?’
Đối viết: ‘Bất hạnh nhi hữu tật, bất
năng tạo triều’. Minh nhật, xuất điếu
vu Đông Quách Thị, Công Tôn Sửu viết: ‘Tích giả từ
dĩ bệnh, kim nhật điếu, hoặc giả bất
khả hồ?’ Viết: ‘Tích giả tật, kim nhật
dũ, như chi hà bất điếu?’ Vương sử
nhân vấn tật, y lai. Mạnh trọng tử đối
viết: - Tích giả hữu vương mạng, hữu
thái tân chi ưu, bất năng tạo triều, kim bệnh
tiểu dũ, xu tạo ư triều, ngă bất thức
năng chí phủ hồ!’ (Mạnh Tử sắp vào chầu vua
Tề. Vua sai người đến
bảo: “Quả nhân đáng lẽ phải gặp ông,
nhưng bị cảm lạnh, chẳng thể ra gió
được. Sáng mai ta sẽ ngự triều, ông có thể gặp mặt
quả nhân hay không?” Thưa rằng: “Chẳng may tôi cũng
bị bệnh, chẳng thể vào chầu được”.
Hôm sau, Mạnh Tử đến phúng điếu Đông
Quách Thị, Công Tôn Sửu nói: “Ngày hôm qua ông viện cớ
bệnh để từ chối gặp vua Tề. Nay lại đi viếng tang, chắc
không hay lắm!” Mạnh Tử nói: “Ngày hôm qua bị bệnh,
hôm nay đă khỏi, v́ sao chẳng thể đi viếng
tang?” Vua Tề sai người đến thăm bệnh,
sai thầy thuốc đến. Đứa con thứ của
Mạnh Tử nói: “Ngày hôm qua đại vương truyền
lệnh, nhằm lúc cha mắc bệnh, chẳng thể vào
chầu, nay bệnh hơi bớt, đă vào chầu rồi,
nhưng tôi chẳng biết đă đến hay chưa?”) Các nhà chú giải cho rằng
đây là thể hiện: Do thái độ của vua không
trân trọng hiền tài, nên Mạnh Tử từ chối
vào chầu.
[27] Thái Bá là con trưởng
của Châu Thái Vương. Do người con thứ ba của
Châu Thái Vương (Cơ Đản) là Quư Lịch có con
trai là Cơ Xương (Châu Văn Vương) có đức
hạnh cao quư, nên Châu Thái Vương muốn truyền ngôi
cho Quư Lịch. Thái Bá và người em kế là Trọng Ung
biết ư cha, để né tránh quần thần có thể xúi giục tranh giành vương vị
sau này, bèn cùng
nhau lánh ḿnh sang
vùng Vô Tích ở Giang Nam, xăm ḿnh, cắt tóc, nhằm trái với
phong tục Trung Nguyên để cha không thể truyền ngôi cho ḿnh
được nữa. Ông được thổ dân tại
đó kính ngưỡng, vâng theo sự giáo hóa, tôn làm quân chủ,
sáng lập nước Ngô. Sau khi ông chết, do không có con, Trọng
Ung kế vị làm vua.
[28] Tăng Tử chính là
Tăng Sâm, một vị cao đồ của Khổng Tử.
Tương truyền sách Đại Học trong Tứ
Thư do ông trước tác. Ông cũng là người viết
Hiếu Kinh của Nho Gia. Khi Khổng Tử sắp mất,
đă giao cháu nội là Tử Tư (Khổng Cấp) cho
Tăng Sâm dạy dỗ. Các nhà chú giải cho rằng do ngộ
tánh rất cao và c̣n trẻ (khi Khổng Tử mất,
Tăng Sâm mới hai mươi bảy tuổi), nhiều
chương trong Luận Ngữ do chính Tăng Sâm viết từ
những ǵ nghe được từ thầy. Khi ông bị
bệnh, bảo học tṛ xem xét chân tay của ḿnh rồi
đọc thơ: “Dè dặt, thận trọng, như vào
vực sâu, đi trên băng mỏng, từ nay trở
đi, ta biết thoát khỏi”.
[29] Hải
Nhược, tức Bắc Hải Nhược, c̣n có tên là
Nhược Thủy, là thần biển của Bắc Hải.
[30] Đây là một ư trong
sách Luận Ngữ: “Tử Trương vấn thiện
nhân chi đạo, tử viết: - Bất tiễn tích, diệc
bất nhập vu thất” (Tử Trương hỏi
đạo của bậc thiện nhân, Khổng Tử nói: - Nếu chẳng noi theo
đúng vết tích của bậc thánh hiền thuở
trước [để thực hiện], sẽ khó thể
tiến nhập chỗ sâu thẳm được).
[31] Bốn khoa chính là bốn lănh vực mà
người học Nho cần rèn luyện để trau giồi
phẩm đức và khả năng, tức đức hạnh,
ngôn ngữ (nói năng biện luận hợp lư, có biện
tài), văn học, và chánh sự (có tài chánh trị, có tài
giúp vua cai quản, lo toan việc nước). Lục nghệ
là sáu tài năng cơ bản mà Nho sinh cần phải nắm
vững: Lễ (thông hiểu lễ nghi, cư xử
đúng lễ nghi), nhạc (tối thiểu là làm thơ, viết
văn hay khéo), ngự (điều khiển ngựa),
thư (thông hiểu các thể loại chữ viết), và số
(hiểu cách tính toán). Sách Châu Lễ quy định quư tộc
Tây Châu phải thông thạo sáu môn trên đây th́ mới
đáng gọi là Nho sĩ. Nói chi tiết th́ lễ gồm
năm loại (cát, hung, tiếp đăi khách, lễ nghi trong
quân đội, lễ nghi trong các dịp khánh chúc), nhạc
chia làm sáu loại lớn (Vân Môn, Đại Hàm, Đại
Thiều, Đại Hạ, Đại Hộ, Đại
Vũ) v.v… Từ đời Hán trở đi, lục nghệ
lại hiểu theo nghĩa hẹp là sáu kinh của Nho gia tức
Thi, Thư, Châu Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân Thu.
[32] Nho gia gọi những
ǵ có h́nh chất cụ thể hoặc đă h́nh thành là “h́nh
nhi hạ”, c̣n những ǵ biểu thị vô h́nh, hoặc
chưa có h́nh thể là “h́nh nhi thượng”.
[33] Tổ giảng những
lời trên đây nhằm dạy ông Lư Phẫu Phiên nghĩa
lư chân thật của tên gọi Phẫu Phiên (剖籓).
[34] Nguyên văn là “thâu
tâm” tức cái tâm trộm cắp, được dùng theo
ư nghĩa cái tâm ham lợi, chuyên môn kiếm cách đi
đường ngang ngơ tắt sao cho khỏi tốn công tu
tập mà nhanh chóng đạt được hiệu quả, chuyên
đứng núi nọ trông núi kia. Do luôn ngấm nghé giống
như kẻ trộm luôn ŕnh thời cơ để giở
tṛ tắt mắt, nên gọi là thâu tâm.
[35] Nguyên văn “tai lê
sát thanh” (災梨殺青). Thời cổ, sách
thường được in bằng lối mộc bản,
tức là khắc chữ ngược lên ván gỗ. Khi in, sẽ bôi mực lên
ván đă khắc chữ, ép xuống giấy
để in ra từng trang. Gỗ để khắc ván in
thường là gỗ táo hoặc gỗ lê, v́ chúng đủ mềm để dễ
khắc, lại ít bị mối mọt, lại chịu
được sức ép khi in, không chóng ṃn như các loại
gỗ khác. Do vậy, để châm biếm việc in khắc
những tác phẩm vô giá trị, cổ nhân dùng thành ngữ
“họa táo, tai lê” (gây họa cho gỗ táo, tạo tai
ương cho gỗ lê). “Sát thanh” tức
là khi xưa có giấy, cổ nhân viết chữ lên thẻ
tre rồi xâu lại thành sách, gọi là “trúc giản”.
Để chế trúc giản, phải đem hơ lửa
cho khô tre sau khi đă chẻ thân tre thành từng phiến mỏng.
Do đó, “sát thanh” có thể hiểu là biên chép bừa băi,
phí phạm các thẻ trúc. Ở đây, Tổ châm biếm
tăng sĩ hoặc bậc “trí giả” trong nhà Phật do
ưa chuộng hư danh, thường trước
tác lung tung những thứ gọi là ngữ lục, hoặc các loại sách khác rồi quyên mộ
tín chúng cúng tiền in ra.
[36] Ngũ bá là năm vua
chư hầu mạnh nhất thời Xuân Thu, do binh lực
và kinh tế mạnh mẽ đă cầm đầu chư
hầu. Tuy mang tiếng khuông pḥ
tông thất nhà Châu, nhưng oai thế lấn át thiên tử
nhà Châu, thường tự tiện định đoạt
mọi việc rồi báo lên thiên tử nhà Châu một tiếng
là xong. Các “bá” thường mở các cuộc chiến chinh phục các sắc
dân ngoài Trung Nguyên (thường gọi là “di”), trừng phạt những
nước chư hầu không tuân phục, trừng phạt
những kẻ soán đoạt ngôi vị giết chóc các vua
chư hầu khác. Cổ sử nêu ra danh sách ngũ bá theo
nhiều cách:
1) Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công và Sở
Trang Vương.
2) Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Hạp
Lư, và Việt Vương Câu Tiễn.
3) Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Ngô
Vương Hạp Lư.
4) Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Việt
Vương Câu Tiễn.
5) Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công, Ngô
Vương Phù Sai.
6) Tề Hoàn Công, Tấn
Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Trịnh
Trang Công.
[37] Tức Châu Hy, Châu
Đôn Di, thủ lănh của cựu Lư Học, và Lục Tượng
Sơn, thủ lănh của Tân Lư Học (Tâm Học).
[38] Ngô đồng (firmiana
simplex) c̣n có tên gọi là thanh đồng, đồng ma, tiếng
Việt gọi là cây tơ đồng, trôm đơn, bo rừng, hoặc bo xanh, thuộc
họ Cẩm Quỳ. Thân cây có thể cao đến 16m, vỏ
thân màu xanh đậm, lá xẻ h́nh chân vịt, gồm ba đến
năm thùy. Hoa có màu vàng nhạt. Gỗ
ngô đồng thường dùng để chế đàn dao cầm (cổ
cầm), hoặc
đàn tranh. Do cây cao lớn, dáng dẹp, xanh tươi, mang vẻ thanh nhă, nên
ngô đồng được coi là loài cây chỉ dành cho
phượng hoàng đậu. Do cây có thể cảm ứng
chuyển biến thời tiết, nên thường được
ngâm vịnh trong thơ ca: “Ngô đồng nhất diệp
lạc, thiên hạ cộng tri thu” (ngô đồng một
lá rơi vèo, thế gian đều biết rằng thu
đă về). Tác phẩm Hoa Kính viết: “Loại cây này có thể biết năm
tháng, sau tiết Thanh Minh mới trổ hoa. Năm nào ngô
đồng không trổ hoa, năm đó ắt cực rét.
Đến tiết Lập Thu, sẽ có một chiếc lá rụng
trước”.
Minh giáp (蓂莢) là
tên một loại cỏ. Theo sách Ấu Học Quỳnh
Lâm, thời vua Nghiêu có một loại cỏ mọc trước
điện vua, gọi
là Minh Giáp. Kể từ mồng
một mỗi tháng, mỗi ngày cỏ
ấy mọc thêm một lá. Cho đến sau
ngày Rằm th́ mỗi ngày rụng một lá. Tuần hoàn
như thế không bao giờ sai, nên
mới nói là “minh giáp nhớ tháng”.
[39] Thụy hiệu
của Vương Dương Minh là Văn Thành.
Vương Dương Minh tên thật là Vương Thủ
Nhân, tên tự là Bá An. Do ông đă từng sống trong
Dương Minh Động (thuộc huyện Tu Văn,
thành phố Quư Dương, tỉnh Quư Châu) một thời
gian, tự xưng là Dương Minh Tử. Động này
vốn có tên là Đông Động, nhưng do Vương
Dương Minh sống ở đó, nên gọi là
Dương Minh Động Thiên. Nguyên do là vào năm Chánh
Đức thứ ba (1508) ông chọc giận hoạn quan
Lưu Cẩn, bị hắn sàm tấu. Vua phạt đánh
ông bốn mươi trượng, đày đi làm Dịch
Thừa tại Long Trường là một vùng hoang vu, đa
số là dân thiểu số. Ông sống ở đó ba
năm, cư ngụ trong Dương Minh Động. Do vậy,
Tổ Ngẫu Ích mới nói “sống ở đất Di
ba năm luyện tâm tánh”.
[40] Tam cương lănh, tám
điều mục do Châu Hy đề xướng trong tác
phẩm Đại Học Chương Cú. Theo đó ba
cương lănh là minh đức, thân dân, chỉ ư chí thiện,
và tám điều mục là cách vật, trí tri,
thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ.
[41] Đông Lâm Tổng là
thiền sư Đông Lâm Thường Tổng (1025-1091) là một
vị danh tăng thuộc tông Lâm Tế, sống vào đời
Tống. Sư xuất gia lúc mười một tuổi, y
chỉ ngài Văn Triệu chùa Bảo Vân. Sau đó, đắc ngộ
nơi thiền sư Thiền Trí Tài Công, nối pháp phái
Hoàng Long của tông Lâm Tế. Về sau, Sư trụ tại
chùa Hưng Long ở Đông Lâm thuộc Lô Sơn, nên thường
được gọi là Đông Lâm Tổng.
[42] Tam đại ngũ
tiểu là từ ngữ chỉ những tác phẩm trọng
yếu bắt buộc phải học nếu muốn hiểu
giáo nghĩa Thiên Thai. Tam đại bộ (c̣n gọi là tam
đại chương sớ) là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền
Nghĩa, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú, và Ma Ha Chỉ Quán.
Ngũ tiểu bộ là Kim Quang Minh Huyền Nghĩa, Kim
Quang Minh Kinh Văn Cú, Quán Âm Huyền Nghĩa, Quán Âm Nghĩa
Sớ và Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Các
tác phẩm trên đây đều do Thiên Thai Trí Giả đại
sư biên soạn.
[43] Trấm (鴆) là một loại chim
rất độc theo truyền thuyết, ngay cả cái lông
của nó ngâm vào rượu cũng gây chết người.
[44] Đường Huyền
Tông vào năm Khai Nguyên 27 (739) đă gia phong mỹ hiệu
cho Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, đến thời
Nguyên Vũ Đế đă gia phong thành Đại Thành Chí
Thánh Văn Tuyên Vương.
[45] Hộ Pháp (Dharmapāla, 530-561) là một
trong mười vị đại luận sư của Duy
Thức. Ngài là con của một vị đại thần
nước Đạt La Tỳ Đồ (Drāvida), Nam Ấn
Độ, có hôn ước với con gái vua, nhưng Ngài bỏ
trốn đi xuất gia trong đêm tân hôn. Ngài tinh thông
Đại, Tiểu Thừa, từng giáo hóa rộng khắp
tại chùa Na Lan Đà nước Ma Kiệt Đà, có đến
mấy ngàn học tṛ. Lúc hai mươi chín tuổi, Ngài bế
quan tại chùa Đại Bồ Đề, chuyên Thiền
Quán và trước tác, thị tịch lúc ba mươi hai tuổi.
Ngài để lại các tác phẩm Đại Thừa Quảng
Bách Luận Thích, Thành Duy Thức Bảo Sanh Luận, Quán Sở
Duyên Duyên Thích v.v… Bộ Thành Duy Thức Luận do ngài Huyền
Trang lấy tác phẩm của ngài Hộ Pháp làm chánh, kèm thêm
các trước tác khác của chín vị luận sư.
Đệ tử xuất sắc của Ngài chính là luận
sư Giới Hiền (thầy của ngài Huyền Trang tại
Ấn Độ).
[46] Thai Hành: Thai tức là
núi Thiên Thai, chỉ Trí Giả đại sư. Hành là Hành Nhạc,
đạo tràng của ngài Nam Nhạc Huệ Tư (thầy
của tổ Trí Giả). Nói Thai Hành tức là nói chung về
giáo nghĩa của tông Thiên Thai.
[47] Tam lượng
là:
1) Hiện lượng:
Đối với cảnh hiển hiện, tâm nhận biết
sự vật chẳng thông qua so đo, phân biệt.
2) Tỷ lượng:
Đối với cảnh chẳng hiển hiện, dùng
cách so sánh, phân biệt để nhận biết.
3) Thánh giáo lượng:
Dùng ngôn giáo của bậc Nhất Thiết Trí để nhận
biết sự vật.
[48] Di trước:
Trước tác của cổ đức lưu lại.
[49] Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách diễn giải của Sở Giáo Dục Hương Cảng.
[50] Bốn vị đại
thánh nhân trong đạo Nho chính là Chí Thánh Khổng Tử, Phục
Thánh Nhan Hồi, Tông Thánh Tăng Sâm, và Á Thánh Mạnh Kha.
[51] Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách diễn giải đối với phần Dịch
Truyện của trang nhà Quốc Dịch Đường.
[52] Đây là các câu giải
thích ư nghĩa của các quẻ trong phần Thuyết Quái
Truyện của kinh Dịch. Theo các nhà chú giải, Thoán Từ (phần chú giải ư nghĩa của
Bát Quái trong kinh Dịch) đă dùng các sự vật
để miêu tả thuộc tánh của mỗi quẻ. Chẳng
hạn như nói Càn là lạnh buốt, nhằm diễn tả
sự kiên nghị, không khoan nhượng, nói là
băng nhằm miêu tả sự cứng chắc như
băng, nói là ngựa gầy trơ xương nhằm diễn
tả sự quên thân phụng sự.
[53] Tức là quả Trạch
Sơn Hàm gồm hai quẻ Cấn và Đoài gộp lại.
Quẻ Trạch Sơn Hàm biểu hiện nam nữ yêu mến
nhau, ăn ở lâu dài với nhau. Thoán Từ giải thích Cấn
là nam ở dưới, Đoài ở trên, ngụ ư nam phải
hạ ḿnh xuống cầu cạnh nữ th́ mới là thuận
lư, chứ nếu người nữ lại ve văn nam th́ là bất chính.
[54] Tức quẻ Lôi Phong
Hằng do hai quẻ đơn Tốn và Chấn hợp lại,
biểu hiện ư nghĩa trường cửu, dài lâu, bền
vững.
[55] Tức hai quẻ Thủy
Hỏa Kư Tế và Hỏa Thủy Vị Tế. Quẻ
Thủy Hỏa Kư Tế gồm quẻ Ly (lửa) ở
dưới, phía trên là quẻ Khảm, nên Tổ mới nói:
“Nước tuôn xuống diệt lửa.
Lửa cháy khô cạn nước, cớ sao gọi là Kư Tế”. Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế gồm quẻ
Khảm ở dưới, quẻ Ly ở trên, hàm nghĩa
thất bại, dở dang.
[56] Hào là một vạch
đứt hay vạch nối liền trong một quẻ.
Do mỗi quẻ trong kinh Dịch gồm hai quái trong bát quái
chồng lên nhau, nên trong sáu mươi bốn quẻ Dịch,
mỗi quẻ đều có sáu vạch, gọi là Lục
Hào.
[57] Ư nói kẻ thiếu hiểu
biết, không biết suy xét, chỉ nghe theo, tin tưởng
những lời đồn đăi hay tán dương.
[58] Đạo Chích (盜蹠) c̣n gọi là Kiệt Chích (桀跖), em trai của Liễu Hạ Huệ, là một tên trộm nổi tiếng, cầm đầu
chín ngàn bộ hạ, hoành hành trong thời Xuân Thu, trộm
cướp, bắt cóc vợ và con gái của người
khác, tham lợi tới mức quên cả thân thích. Đây là
một nhân vật hư cấu do Trang Tử đặt ra
trong sách Nam Hoa Kinh với dụng ư châm biếm. Dân gian Trung
Hoa tôn Đạo Chích là tổ của nghề ăn trộm, và do Đạo Chích bắt cóc vợ con
người khác, ông ta được tôn là tổ của
nghề măi dâm, với danh xưng là thần Bạch Mi.
[59] Đây là một câu nói
trích từ thiên Cáo Tử Chương trong sách Mạnh Tử.
Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích của
ông Trần Phục trong tác phẩm Tâm Học Công Phu Luận
do nhà xuất bản Hồng Diệp Văn Hóa ấn loát
năm 2025.
[60] Nguyên văn “thị
chư hầu ố vương chế hại kỷ, nhi khử
kỳ tịch dă”, tức là Tổ viết theo ư một
đoạn trong sách Mạnh Tử: “Bắc Cung Kỵ
vân: ‘Châu thất ban tước lộc dă, như chi hà?’ Mạnh
Tử viết: - Kỳ tường bất khả đắc
văn dă, chư hầu ố kỳ hại kỷ dă, nhi
giai khử tịch”. Sách Tứ Thư B́nh Giải diễn
giải đoạn này như sau: “Bắc Cung Kỵ hỏi
nhà Châu ban tước vị và bổng lộc như thế
nào? Mạnh Tử nói: - Tôi chẳng thể biết tường
tận được, do chư hầu ghét các phép tắc của
vương triều hạn chế, gây hại cho quyền
lợi của họ, nên đă hủy hết cá sách vở
[liên quan đến luật lệ] ấy”.
[61] Phổ quán c̣n gọi
là Tạp Tưởng Quán tức là phép Quán thứ mười
ba, quán chung thân Phật A Di Đà
cao một trượng sáu đứng bên ao sen, cùng với
các cảnh giới thù thắng như tướng viên quang,
hóa Phật, hóa Bồ Tát v.v…
[62] Thể cứu (體究) có nghĩa đen là khảo
sát, nghiên cứu tường tận, cặn kẽ. Ở
đây có nghĩa là người niệm Phật bằng
cách nghiền nghẫm ư nghĩa sâu thẳm trong câu Phật
hiệu, quán sát tâm tưởng của chính ḿnh có
tương ứng với Phật hiệu hay không, bản
chất của Phật hiệu, thể tướng và lực
dụng của câu Phật hiệu là ǵ v.v…
[63] Nhân Đà La vơng là cái
lưới của thần Indra (thường được
phiên âm thành Nhân Đà La). Thần Indra tức là Đế
Thích, c̣n gọi là Lôi Thần, kiêu dũng, thiện chiến,
là chúa của Tam Thập Tam Thiên (trời
Đao Lợi). Lưới Nhân Đà La là một cái lưới kết
bằng châu báu, mỗi mắt lưới có treo một viên
như ư châu. Cái lưới này thường gọi là Đế
Châu Vơng, hoặc đôi khi chỉ
gọi tắt là Đế Châu. Mỗi viên châu đều
có thể hiện bóng của mỗi viên châu khác, ánh sáng trùng trùng vô tận. Kinh dùng thí dụ này để
diễn tả pháp giới Sự
Sự vô ngại.
V́ thế,
trong kệ lễ Phật của Văn Thù Bồ Tát có câu: “Ngă
thử đạo tràng như đế châu, thập
phương chư Phật ảnh hiện trung” (đạo
tràng của con như các viên châu nơi cái lưới của
Đế Thích, mười phương chư Phật
đều hiện bóng trong mỗi viên châu ấy).
[64] Nguyên văn là “cát
đằng” (葛藤), tức các loại
dây leo quấn quanh thân cây. Thiền gia thường dùng từ
ngữ này để chỉ ngôn
ngữ. Sách Tùng Lâm Thành Sự ghi: “Thói thường của
Thiền lâm là hễ thấy nói năng sự việc lan
man, dây cà dây muống, chẳng gọn chóng, bèn bảo là dây leo”.
[65] Vô Chuẩn
Sư Phạm (1178-1249) là một vị cao Tăng thuộc
phái Dương Kỵ của Lâm Tế Tông vào đời Tống.
Ngài là người huyện Tử Đồng, tỉnh Tứ
Xuyên, xuất gia lúc chín tuổi, mười sáu tuổi
được đặc cách thọ Cụ Túc Giới.
Ngài lần lượt học Thiền với các vị Phật
Chiếu Quang Đức và Phá Am Tổ Tiên, nối pháp của
ngài Phá Am. Do Sư thuyết pháp khiến vua lănh ngộ,
được ban hiệu là Phật Giám Thiền Sư.
[66] Năm nhà tức là
năm phái Thiền phát xuất từ thiền phái của Lục
Tổ Huệ Năng, tức Lâm Tế, Tào Động,
Vân Môn, Quy Ngưỡng và Pháp Nhăn.
[67] Ư nói: Thao lược
tuy người cầm quân nào cũng biết, nhưng chiến
thắng hay không tùy thuộc người cầm quân có biết khéo léo vận
dụng linh hoạt hay không.
[68] Ḱm búa (kiềm trùy: 鉗錘): Ḱm và búa là hai loại
dụng cụ để rèn sắt, Thiền Tông dùng từ
ngữ này để sánh ví thầy dạy tṛ nghiêm ngặt.
[69] Tịch Âm tôn
giả pháp danh Hồng Huệ, tự Đức Hồng,
pháp tự Giác Phạm là một vị cao tăng đời
Tống, đắc pháp nơi thiền sư Chân Tịnh
Văn. Sau khi Ngài mất, nhà Nam Tống sắc phong thụy
hiệu là Bảo Giác Viên Minh. Ngài để lại các tác phẩm
Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, Lâm Gian Lục, Thạch
Môn Văn Tự Thiền v.v…
[70] Câu này hơi
khó hiểu, ngu ư cho rằng Tổ có ư nói: Đối với
tánh tội (những tội hễ phạm sẽ là tạo
ác nghiệp, chẳng cần biết có thọ giới hay
không, như giết, trộm, dâm, dối chẳng hạn)
theo lư không được khai (tức không được
phép vi phạm, hễ phạm sẽ mất giới). Do
đó, trong trường hợp đặc biệt, chẳng
hạn như người hành hạnh Bồ Tát (không cần
biết là phàm nhân hay thánh nhân) v́ bi tâm cứu độ
người khác mà cam tâm phá giới, nhưng khi phá giới,
tâm nguyện chịu khổ quả thay cho người khác,
vẫn luôn hổ thẹn v́ không giữ được giới,
chứ không nghĩ ḿnh có công lao cứu độ chúng sanh,
th́ giới thể chẳng mất. Tổ răn người
thọ giới đừng dựa dẫm, viện cớ cứu
độ người khác mà tùy tiện phá giới, kẻo
tạo thành khổ báo phải trầm luân lâu dài!
[71] Tức kinh Anh Lạc
Bồ Tát Bổn Nghiệp do ngài Trúc Phật Niệm dịch
vào đời Diêu Tần.
[72] Vị tăng thông thạo
giới luật, nghiên cứu sâu xa Luật Tạng th́ được
gọi là Luật Sư.
[73] Tặc Trụ (Steya-sajvāsika),
nghĩa đen là dùng cái tâm giặp cướp để trụ,
tức là kẻ v́ danh, lợi, hoặc do kiếm sống,
hay do muốn trộm cắp giáo pháp nhà Phật, bèn xuất
gia. Đôi khi chỉ kẻ chưa đủ hai mươi
tuổi, chưa thể thọ giới [mà cứ
khai man để được thọ giới, nếu
không được thầy bổn sư xin với tăng
đoàn cho đặc cách thọ giới], hoặc
phạm vào những giá nạn mà giả dối xuất gia
rồi
thọ Cụ Túc Giới.
[74] Bố Tát (布薩) là phiên âm của chữ Upavasatha (c̣n viết là Uposatha, Posadha), c̣n phiên âm là Bố
Sa Tha, Bố Sái Tha, Bô Sa Tha, Bao Sa Đà, Bố Tát Đà Bà, dịch
nghĩa là Tịnh Trụ, Thiện Túc, Trưởng Dưỡng,
chính là quy định
mỗi tháng chư
Tăng và những người đă thọ Bồ Tát Giới
tụ lại, cùng
nhau tụng và nghe Giới Kinh, khiến cho tỳ-kheo nhớ giữ giới
pháp. Trong khi Bố Tát, có thể đồng thời cử
hành Bát La Đế Đề Xá Da Mị
(Pratideśayāmi) tức là đối trước đại
chúng phát lộ sám hối những tội lỗi do chính ḿnh
đă trót phạm trong nửa tháng qua, cầu xin đại
tăng chấp thuận cho chính ḿnh sám hối.
[75] Tứ báng: Theo
Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao, người thuyết
pháp nếu chẳng biết rơ lư Chân Như, sẽ khiến
cho bốn loại phỉ báng nẩy sanh:
1) Tăng ích báng: Chẳng
biết lư Chân Như ĺa tướng tịch diệt. Tánh
Chân Như vốn chẳng có mà nói là nhất định có.
2) Tổn giảm báng: Lư
chướng ngại chẳng thể biến hoại
nhưng người thuyết pháp không biết. Tánh vốn
là bất không, nhưng người thuyết pháp lại nói
là nhất định là không.
3) Tương vi báng: Chẳng
biết lư Chân Như chính là Không từ ngay nơi Hữu, Hữu
từ ngay nơi Không, bèn nói Chân Như là cũng có cũng
không, chấp chặt cả hai bên.
4) Hư luận báng: Chẳng
biết lư Chân Như đều là cùng có, cùng không, bèn nói Chân
Như chẳng phải có, chẳng phải không, hai đằng
đều bất định.
[76] Phạm Trấn (1009-1089), tự Cảnh
Nhân, là một chính trị gia, văn gia, và sử gia thời Bắc Tống. Ông nổi tiếng
là người can đảm dùng lời lẽ thẳng thắn
can gián vua, không sợ bị quở tội. Ông chủ
trương cựu pháp, ủng hộ quan điểm của
Tư Mă Quang, chống lại tân pháp của Vương An
Thạch. Ông cũng biên soạn các tài liệu sử học
nổi tiếng như Tân Đường Thư, Nhân Tông Thực
Lục, Ngọc Điệp, Nhật Lịch, Loại Biên
v.v…
[77] Khổng Tử là hậu duệ
đời thứ mười bốn của Vi Trọng (em
của Vi Tử Khải. Vi Tử Khải là anh của Trụ
Vương, người sáng lập nước Tống), tức
là con cháu nhà Thương. Tổ tiên sáu đời của Khổng
Tử là Khổng Gia (vốn có tên là Tử Gia). Khổng Gia
làm đại phu nước Tống thời Tống
Thương Công, bị Thái Tể Hoa Đốc giết chết.
Con trai Khổng Gia đem gia quyến chạy sang nước
Lỗ lánh nạn. Đến đời Khổng Hột
(thường gọi là Thúc Lương Hột), gia đ́nh
định cư tại Tưu Ấp (nay là Khúc Phụ, tỉnh
Sơn Đông), giữ chức đại phu. Do đă có chín
con gái mà không có con trai, Khổng Hột lấy Nhan Thị
lúc ông đă bảy mươi tuổi trong khi Nhan Thị mới
mười tám tuổi. Nhan Thị sanh ra Mạnh B́, nhưng người này lại có tật ở
chân. Về sau, Khổng Hột và Nhan Thị cầu con ở
Ni Khâu, sanh ra Khổng Tử, nên đặt tên con là Khâu,
đặt tên tự là Trọng Ni.
[78] Tào là nói về
cha con Tào Tháo, Tào Phi (đều là những tay quyền thần,
hoàn toàn khiến vua nhà Hán trở thành bù nh́n trong tay họ).
Mă tức là nói tới Tư Mă Ư, Tư Mă Chiêu, Tư Mă Viêm
đều là quyền thần khuynh đoạt ngôi vua của
nhà Tào, cuối cùng Tư Mă Viêm bắt Tào Hoán (Ngụy Nguyên
Đế) thoái vị, lập ra nhà Tấn. Dă tâm của
Tư Mă Chiêu lớn đến nỗi Ngụy Thiếu
Đế (Tào Mao) phải nói: “Tâm của Tư Mă Chiêu, ai
nh́n cũng thấy”. Câu này trở thành một thành ngữ
ví von kẻ có dă tâm hiển nhiên, không thể che giấu.
[79] “Quân thần tá sứ” (君臣佐使) là một nguyên tắc sử dụng
thuốc do Nội Kinh đề ra, nhằm phân định
mức độ sử dụng và cách phối hợp các vị thuốc
trong một toa thuốc. Quân là vị thuốc chủ yếu
để chữa chứng bệnh ấy, phân lượng
sử dụng vị thuốc ấy sẽ cao hơn các vị
thuốc khác. Thần là vị thuốc bổ trợ tác dụng
chữa trị của vị thuốc được coi là
Quân. Tá là vị thuốc bổ sung đứng hàng thứ
hai sau Thần, có tác dụng giảm bớt
nếu tác dụng của Quân và Thần quá mạnh, sợ
người bệnh chịu không nổi. Sứ là vị
thuốc có tác dụng dẫn dắt các vị Quân và Thần đi vào kinh mạch hoặc
kinh lạc hiệu quả
hơn.