Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 3

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong, Huệ Trang và Diệu Âm Trịnh Lộc

 

* Chỉ dạy phương trượng Đàm Sanh

 

          Cảnh duyên chẳng tốt xấu, tốt xấu do tâm khởi. Kẻ ngu trừ cảnh, chẳng trừ tâm. Bậc chí nhân trừ tâm, chẳng trừ cảnh. Tâm đă trừ, cảnh há thật có? Liễu đạt cảnh vốn không, sẽ có thể hành xử đúng theo địa vị, chẳng mong mỏi những ǵ vượt ra ngoài, những địa vị đă từng trải không ǵ là chẳng ra ngoài pháp giới. Biết chúng đều chính là pháp giới, sẽ tự chẳng nhập mà cũng chẳng tự đạt được. Nếu có chút nào chưa phải là như vậy, th́ phú quư sẽ dâm, nghèo hèn sẽ thay đổi [chí hướng], ở nơi mọi rợ hoặc trong cảnh hoạn nạn sẽ bị khuất phục. Mạnh Tử luận định tố vị nhi hành” (hành xử theo đúng địa vị), bèn nói “cư thiên hạ chi quảng cư, lập thiên hạ chi chánh vị, hành thiên hạ chi đại đạo” (sống ở nơi rộng răi trong thiên hạ, đứng ở nơi địa vị chánh đáng trong thiên hạ, đi trên con đường to lớn trong thiên hạ)[1]. Trong Phật môn của chúng ta, bèn nói “nhập Như Lai thất, tọa Như Lai ṭa, trước Như Lai y” (vào nhà Như Lai, ngồi ṭa Như Lai, mặc áo Như Lai), điều cốt yếu đều là chẳng bị vật chuyển th́ mới có thể chuyển vật được!

 

* Chỉ dạy Trí Lâm

 

          Kinh Đại Bát Nhă nói: “Tam thập nhị tướng vô biệt nhân, giai do tŕ giới sở đắc” (Ba mươi hai tướng chẳng do cái nhân nào khác, đều do tŕ giới mà đạt được). Nếu chẳng tŕ giới, c̣n chẳng thể làm thân dă can (chó rừng), huống hồ thân Phật ư? Kinh Đại Phật Đảnh (Lăng Nghiêm) dạy: “Nhân giới sanh định. Nhân định phát huệ. Tắc danh Tam Vô Lậu Học” (Do giới sanh định, do định phát huệ, bèn gọi là Tam Vô Lậu Học). Dẫu có nhiều trí Thiền Định hiện tiền, nếu chẳng đoạn dâm, ắt rơi vào ma đạo. Nếu chẳng đoạn sát, ắt rơi vào thần đạo. Nếu chẳng đoạn trộm cắp, ắt rơi vào tà đạo. Nếu chẳng đoạn đại vọng ngữ, sẽ như khắc phân thành chiên đàn, muốn có mùi thơm, chẳng có lẽ ấy! Giới có mối quan hệ to lớn!

 

* Chỉ dạy Húc Sanh

 

          Trong hết thảy các tội, tội nghi lớn nhất. Trong hết thảy các công đức, Tín đứng đầu. Tín sẽ chẳng nghi; chẳng nghi sẽ thẳng thừng gánh vác. Thẳng thừng gánh vác sẽ chẳng tự vứt bỏ, tự ruồng rẫy. Chẳng tự vứt bỏ, ruồng rẫy, sẽ chẳng dám vứt bỏ, ruồng rẫy người khác. Do điều này mà ngài Thường Bất Khinh lễ khắp tứ chúng, bèn nhanh chóng thanh tịnh sáu căn. Hăy nên tin tưởng như thế! Ví như mặt trời mọc bèn chiếu sáng núi cao trước, há đợi bốn mươi năm đào thải[2] mới nhập Phật huệ ư?

 

* Chỉ dạy Minh Nhất

 

          Đạt được một điều, muôn sự đều xong. “Một” thật sự là vật ǵ vậy? Nếu coi sự vật là một, sự vật lại lăng xăng, chẳng giống hệt như nhau! Nếu ĺa sự vật để riêng đàm luận lư “nhất”, th́ lư sẽ ở nơi đâu? Nếu nói là “như Không”, đấy cũng là vật, chẳng phải là lư! Nếu nói “chẳng phải sự, chẳng vật, cũng chẳng phải hư không” [là Lư], có khác ǵ lông rùa, sừng thỏ? V́ vậy biết: Thật sự hiểu rơ Nhất th́ mỗi sự, mỗi vật, có ǵ chẳng phải là Nhất? Nếu mê cội nguồn của sự vật, hư vọng so đo riêng có lư “nhất”, lư ấy cũng là h́nh bóng của sự vật mà thôi! So đo sự vật th́ là một tầng hư vọng. Riêng so đo h́nh bóng của sự vật là “lư nhất”, chính là trên vọng lại chồng thêm vọng, đă sai lại càng sai hơn! Chư Phật thương xót, đặc biệt nói toạc ra “vọng tưởng vô tánh”. Tổ sư đă ngộ, đặc biệt nêu rơ “t́m tâm chẳng thể được!” Đấy chính là tiếng chuông sớm giảng rơ về “nhất” vậy!

 

* Chỉ dạy Giới Viễn

 

          Nhất Tâm Tam Quán ắt dùng Không làm sơ môn, do từ vô thỉ, [chúng sanh đă] hư vọng coi duyên ảnh của lục trần là tâm tướng của chính ḿnh. Người chưa thật sự biết “vọng tưởng vô tánh”, càng cần phải lấy giới làm nền tảng. Kẻ chẳng lo xa, ắt có buồn gần, chớ như lửa cháy đến tận lông mày mà chỉ trơ mắt nh́n!

 

* Chỉ dạy Đại Quán

 

          Lên Thái Sơn bèn thấy thiên hạ nhỏ bé. Nh́n biển, khó coi trọng những chỗ có nước khác. Đấy chính là cái nh́n rộng răi đối với thế gian. Nh́n ngược lại, tấm thân do cha mẹ sanh ra như một cái bọt nước trong biển, khởi lên, diệt mất không chừng! Mười phương hư không sanh trong tâm, giống như một áng mây bé tí trong không trung. Đó chính là cách nh́n rộng răi trong xuất thế. Thiện Tài vào trong lỗ chân lông của đức Phổ Hiền, trong một niệm, bước chẳng thể nói bước chân, mỗi bước vượt qua chẳng thể nói cơi, trải qua kiếp số nhiều như số vi trần trong một cơi nước, vẫn chẳng biết được ngằn mé của thế giới trong một lỗ chân lông. Một lỗ chân lông và hết thảy các lỗ chân lông cũng đều như thế. Lại nói đó là thế gian hay xuất thế gian, đại quán hay tiểu quán vậy? Ôi! Gặp người rất tránh lầm lẫn nêu ra![3] Kệ rằng: “Đại quán, tiểu quán, sát hải, chót lông, hai cái năm trăm, vốn là một ngàn. Hăy hiểu như thế, rốt ráo đáng thương!” Hăy tham cứu!

 

* Chỉ dạy U Nhược

 

          Mười giới sai biệt, nhưng chẳng sai biệt cho mấy! Lư thể của chánh nhân giống nhau, giải tánh của liễu nhân giống nhau, nghiệp dụng của duyên nhân giống nhau. Cái chẳng giống nhau gần như chỉ là một niệm mà thôi! Một niệm trái giác hợp trần th́ Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát liền thành Khổ, Hoặc, Nghiệp. Như trong chỗ tối, va phải của báu, toạc da, nứt xương, há có phải là tội của chất báu ư? Nhưng dân hèn bèn vứt bỏ! Một niệm trái trần hợp giác, Khổ, Hoặc, Nghiệp chính là Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát, như khéo dùng vật báu, tứ sự sẽ dồi dào, thích đáng, hiển lộ công năng của diệu bảo. V́ thế nói: “Quân tử tồn chi”[4] (quân tử ǵn giữ). Xét nghĩ đó là duyên sanh, há có thật pháp? Liễu đạt một niệm duyên sanh, tánh Không chẳng có Thể; đó gọi là thật sự ǵn giữ. Nói chung, chẳng ĺa mà gần như là gần gũi vậy!

 

* Chỉ dạy Thạch Hữu

 

          Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chính là một môn nhiếp trọn trăm ngàn pháp môn; chẳng phải là nêu ra một, phế cả trăm, nhưng ắt phải một môn thâm nhập. Niệm Phật là chánh hạnh, hết thảy các pháp khác như Giới, Định, Huệ v.v… là trợ hạnh. Chánh và trợ hợp hành, sẽ như thuyền thuận gió, lại thêm dây lèo, sẽ mau đến bờ kia. Pháp Niệm Phật tuy nhiều, nhưng TDanh giản tiện nhất. Pháp Tŕ Danh cũng nhiều, kư số (nhớ số tŕ danh) lại càng ổn thỏa, thích đáng. Người thật sự tu tập há t́m ṭi phương cách khác biệt với ngu phu, ngu phụ ư?

 

* Chỉ dạy về Vô Kỷ (không có chính ḿnh)

 

          Từ vô thỉ đă lầm nhận có chính ḿnh, há từng thật sự có “chính ḿnh” ư? Biết “chính ḿnh” hư vọng, vốn chẳng có, th́ Tịnh Độ chẳng mong sanh mà tự sanh, tịnh giới chẳng mong giữ mà tự giữ. Đấy chính là ư chỉ “ngộ trước, tu sau”. Nếu chưa đốn ngộ, cũng chẳng cần phải cố ư cầu ngộ, chỉ chuyên tŕ tịnh giới, cầu sanh Tịnh Độ. Công sâu sẽ hữu lực, hiện tiền, tương lai, ắt ngộ cái Thể của “chẳng có chính ḿnh”. Đă ngộ chẳng có “chính ḿnh”, sẽ thấy Phật, liền thành Phật!

 

* Chỉ dạy Trác Phi

 

          Để như chim ưng chao lượn vun vút, trước hết, hăy nên tự đứng nơi cao vời để vọt lên cao. Có thể nói Trác () là Lập, Phi () có thể nói là Quyền. Chúng ta trước là tự lợi, sau đó lợi tha; đó chính là Tam Học Giới, Định, Huệ. Tam Học trọn đủ, chẳng mong khuyên dụ người khác, người khác đă ngấm ngầm được biến đổi, hành xử theo đúng lễ. Thân chánh đáng th́ chẳng ép buộc mà [người khác ngưỡng mộ] làm theo; nhưng càng phải lấy Giới làm nền tảng sơ khởi. Tŕ giới chẳng thể hiểu lẫn lộn như giữ h́nh thức ba y một bát, tích trượng, chất tẩy rửa, vớ… đâu nhé, mà điều cốt yếu là hiểu rành rẽ khai, giá, tŕ, phạm, khiến cho hai nghiệp tánh và giá đều như băng, sương. Sau đấy, lục t́nh (sáu căn) chẳng rong ruổi theo lục trần, Niệm Xứ có thể tư, tu. “Thân, thọ, tâm, pháp” được gọi là Xứ. Các phép Quán bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngă v.v… được gọi là Niệm. Dùng Niệm để duyên Xứ, tức là Huệ nơi Định. Dùng Xứ để buộc tâm, tức là Định nơi Huệ. Định và Huệ trọn đủ th́ mới gọi là “diệu giới”. Do vậy bèn nói: Giới không chỉ là nền tảng ban sơ, mà c̣n bao gồm trọn vẹn rốt ráo tam thừa. Luật nghi của thất chúng[5] hễ thật sự tu tập một thứ, sẽ trọn đủ cả hai thứ lợi (tự lợi và lợi tha), chẳng cần treo cao danh xưng Bồ Tát tỳ-kheo th́ mới là tôn quư, thù thắng!

 

* Chỉ dạy Chỉ Sanh

 

          Tâm tánh chiếu mà thường tịch, th́ gọi là Chỉ. Tịch mà thường chiếu th́ gọi là Quán. V́ thế, xứng tánh mà tu Chỉ Quán, toàn tu nơi tánh, chẳng phải là tạo tác! Thời Mạt chẳng thể thông đạt văn tự, bị văn tự trói buộc, như con chó si ngốc sủa tiếng. Mới nghe hai chữ Chỉ Quán, liền nói là công phu, chẳng phải là bản thể! Nào có nghĩ: Ĺa ngoài bản thể, há có công phu? Ĺa ngoài công phu, sao hiển lộ bản thể? Bản thể và công phu chẳng một, chẳng khác. Tịch chiếu Định, Huệ, ǵ là tánh? Ǵ là tu? Huống hồ quán kỹ tánh hôn trầm, tán loạn của một niệm, rốt cuộc thứ ǵ là hôn trầm, tán loạn? Suốt ngày hôn trầm, tán loạn, mà chưa từng hôn trầm, tán loạn, tức là suốt ngày viên giác, nhưng chưa hề viên giác. Chưa từng hôn trầm, tán loạn mà suốt ngày hôn trầm, tán loạn, tức là chưa hề viên giác mà suốt ngày viên giác. Tướng hôn trầm, rối ren tuy trái nghịch với tịch chiếu, nhưng vẫn chẳng ĺa bản thể. Có thể nói Chỉ Quán chẳng phải là bản thể ư?

 

* Chỉ dạy Hằng Tố

 

          Người đương thời có hai chứng bệnh:

- Một là hễ làm bèn thiếu sót, có đầu mà chẳng có cuối.

- Hai là tô vẽ đẹp đẽ bề ngoài, bên trong tệ hại.

Nhưng đẹp đẽ bề ngoài dối gạt thế gian, càng đáng lo ngại hơn! Hai thứ ấy đă là bệnh th́ Hằng () và Tố () đúng là thuốc tốt lành. Vĩnh hằng xưa nay như một là Hằng. Trọn khắp mười giới chỉ là Thật Tướng; đó là Tố. Do Tố mà Hằng, đấy lại c̣n là đường lối để thực hiện trọng yếu nhất, nhất loạt gột trừ thói tệ giả Tông, giả Giáo, giả Luật. Ngàn đời hễ có ai biết, hiểu điều ấy, sẽ ngộ chỉ trong sáng tối vậy!

 

* Chỉ dạy Kiến Triệt

 

          Mỗi pháp, mỗi sự, không ǵ chẳng phải là chí đạo, nhưng mọi người chẳng thấy thấu triệt! Nay thọ Ngũ Giới căn bản, chỉ cần trụ trong giới, sẽ thấy rơ Phật tánh. Cái Thể của Ngũ Giới cố nhiên là Vô Tác Pháp Thân. Tướng của Ngũ Giới không ǵ chẳng phải là pháp giới. Từ bi, tốt lành, thanh tịnh, thẳng thắn, chánh kiến rạng ngời, th́ niệm nào cũng viên măn vô thượng công đức, há có phải thổi lông, giơ phất trần lên mới được gọi là “hướng thượng” ư?      

 

* Chỉ dạy Tịnh Hương

 

          Tứ bất hoại tín[6] càng phải khởi đầu từ Giới, v́ đó là đuốc báu trong đường tối, chỉ cho mọi người đường nào có thể đi, nẻo nào chẳng thể đi, đường nào sẽ siêu sanh thoát tử, nẻo nào sẽ sảy hầm, sụp hào. Phàm phát tâm khởi hạnh, thân cận thầy, chọn bạn, có mắt chọn lựa pháp, xem chỉ quy của giáo, yếu quyết công phu, to, bé, tinh, thô, không ǵ chẳng do học Giới mà biện định. V́ thế, trên là từ Phật, Tổ, dẫu Giáo Quán có Thiên, Viên, Quyền, Thật, đủ thứ bất đồng, chưa hề có pháp nào chẳng lấy Giới làm nền tảng ban đầu, dùng Giới để biện định tà, chánh. Thanh Tịnh Minh Hối[7] chính bằng khoán của Lạc Bang, niềm tin ấy sẽ chẳng thể phá hoại được!

 

* Chỉ dạy Lưu Nghệ Chiêu

 

          Học đạo th́ lanh lợi chẳng khó, khó ở chỗ thận trọng. Phát tâm dũng mănh, nhạy bén chẳng khó, khó ở chỗ kiên tŕ, dài lâu! Dấn ḿnh vào cơi đời, uốn nắn thế tục chẳng khó, khó ở chỗ tự giữ vững. Làm việc mẫn tiệp, thông đạt chẳng khó, khó ở chỗ nhẫn nhục sâu xa. Nghiên cứu nghĩa lư th́ lănh ngộ, thông hiểu chẳng khó, khó ở chỗ [lănh ngộ] tinh vi, xác đáng. Bậc hào kiệt là nền tảng của thánh hiền. Thánh hiền là bậc thềm để tiến tới Phật, Tổ. Chẳng thể là bậc hào kiệt mà có thể làm thánh hiền, tôi chẳng tin! Chẳng thể làm thánh hiền mà có thể làm Phật, làm Tổ, tôi càng chẳng tin! Bậc hào kiệt chân thật quyết chẳng hạn cuộc là hào kiệt, bậc thánh hiền thật sự quyết chẳng tự măn là thánh hiền, há lại tự ỷ ḿnh là Phật, Tổ ư?

 

* Chỉ dạy Lăng Nhiên

 

          T́nh đời nhạt một phần, Phật pháp sẽ đắc lực một phần! Nhẹ một phần kiếm sống trong Sa Bà, sanh Tây Phương liền thêm một phần ổn thỏa. Chuyện này chỉ cần hỏi ḷng, chẳng cần hỏi han tri thức! Tri thức cũng khuyên nhạt bớt t́nh đời, nhẹ bớt cách mưu sanh, chuyên tu lẽ xuất yếu đó thôi! Đầu cân phía này vừa hạ xuống, đầu cân phía kia ắt nâng cao. Dẫu trí huệ cao, giải hạnh mạnh mẽ, chẳng thể lưng giắt mười vạn quan, cưỡi hạc bay tới Dương Châu[8]. Hán Vũ Đế, Tần Thủy Hoàng c̣n chẳng thể vặn hỏi một câu, huống hồ kẻ thấp kém hơn ư?

 

* Chỉ dạy Như Bạch

 

          Học đạo không ǵ bằng chuyên ṛng. Hễ có phần ham lợi th́ người trí cũng hiếm có thể đạt tới cội nguồn của pháp, huống hồ kẻ bậc trung! Chúng ta từ vô thỉ đến nay ở trong tam giới, lục đạo, không chuyện ǵ chẳng trải qua, không nghề ǵ chẳng luyện tập, chỉ riêng chưa từng tu tập Tứ Niệm Xứ, chẳng hiểu rơ lư Tứ Đế, chẳng chứng tứ quả và tứ trí. Người đă trải qua, đă tu tập th́ chẳng cứu nổi sanh tử, nào ngại trải qua, tu tập lần nữa, nhưng pháp yếu để thoát khổ vẫn mờ mịt chẳng đạt được! Ngải ba năm[9], há có phải là được tích lũy từ ngày hôm nay ư? Niệm XHuệ đă chín muồi, đă hiểu rơ lư thánh đế; sau đấy, xuất Chân, chiếu Tục, vui chơi trong trăm ngàn nghề khéo, chẳng phải là chuyện ngoài bổn phận! Nếu chẳng hướng đến căn bản để t́m ṭi đầu mối, chẳng chuyên ṛng dốc sức học từng pháp, dẫu học đến trăm ngàn vạn kiếp, mỗi thuật đều xảo diệu, vẫn là chuyện thuộc bến bờ sanh tử. Hễ chuyển theo nghiệp, lại chuyển thành bỏ phế, quên mất, há chẳng phải là uổng công vận dụng tâm cơ? Hăy suy nghĩ, chọn lựa, chẳng đợi hủ nhân phải khổ sở răn dạy!

 

* Chỉ dạy Mạc Doăn Thần

 

          Chuyện thế gian và xuất thế gian không ǵ chẳng do Từ và Nhẫn mà thành, v́ phẫn nộ, hấp tấp mà bại. Do vậy, quân tử dùng Từ để dưỡng đức, dùng Nhẫn để dưỡng tính t́nh. Dưỡng đức th́ muôn vật trong trời đất đều quy vào xuân phong ḥa khí của ta. Dưỡng t́nh th́ yêu nghiệt, tai quái đều tiêu tan dưới ánh nắng rạng rỡ. Sau đấy, do đă tự thành, sẽ là thanh tịnh viên măn, tự tôn quư. Dùng đó để thành tựu muôn vật, ắt sẽ do sức Từ mà chúng sanh đều xót xa ngưỡng mộ. Nếu một niệm sân dấy lên, trăm vạn chướng sanh. Chuyện nhỏ mà chẳng thể nhẫn th́ những toan tính lớn lao sẽ v́ đó mà bị rối loạn. Huống hồ kiếp trược binh đao hiện thời, bất quá là do nóng giận tích tập mà chiêu cảm. Thế cục như đất lở, đều do chẳng suy nghĩ sâu xa mà nên nỗi! Kẻ sĩ sanh trong đời này, hăy nên nỗ lực như thế ḥng ngăn trở cơn sóng cuồng vậy!

 

* Chỉ dạy Triều Triệt

 

          Hành Phật pháp trong Phật pháp chẳng khó, hành Phật pháp trong pháp thế gian mới là chuyện khó! Hơn nữa, Phật pháp chẳng hoại thế pháp, sẽ là khó nhất trong các sự khó, chỉ sợ lầm tưởng Phật pháp chẳng chân thật, chẳng thân thiết! Pháp thế gian hay Phật pháp có bao giờ chẳng phải là cùng một duyên khởi? Đọc phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm và phẩm Nhập Pháp Giới [của kinh Hoa Nghiêm], sẽ có thể ngộ cảnh giới của Như Lai.

 

* Chỉ dạy Tuyết Lâm

 

          Học đạo và học cái tốt khác nhau. Học cái tốt chỉ đạt được hư danh trong thế gian. Học đạo quư ở chỗ đạt được lợi ích xuất thế thật sự. Học cái tốt chỉ quan tâm cục diện trước mắt. Học đạo cần phải hiểu rơ đạo lư sâu xa trải trần kiếp. Đạo lư sâu xa trải trần kiếp chẳng ĺa trước mắt, nhưng do mến luyến cái trước mắt mà lập tức mê muội trải trần kiếp. Chỉ có bậc liễu đạt thẳng thừng quán tánh của một sát-na trước mắt là chẳng sanh diệt, chẳng đến đi, chẳng thể được, há có thân thể, thế gian, tự hay tha để câu nệ, hay luyến mến! Sau đấy, quán đồng thể bị mê muội tích tụ, bèn khởi vô duyên hoằng thệ. Nếu chẳng trọn đủ tự lợi, lợi tha, cả đời sẽ ngả theo khuynh hướng làm những chuyện chẳng ra ǵ! Nếu là người tự lợi, lợi tha, dẫu bị cơi đời cùng phủ nhận, vẫn chẳng dám oán hận. Đó gọi là “học đạo”, mà cũng là người thật sự học điều tốt lành vậy!

 

* Chỉ dạy Vương Diệc Hàm

 

          Tu thân cần phải kiên nhẫn, chẳng so đo những công lao trước mắt. Đó là bí quyết nắm giữ vận mạng. Chỉ có hậu thiên[10] tuân phụng theo đúng thời cơ th́ tiên thiên mới chẳng trái nghịch lẽ trời. Nước nhỏ chảy măi, sẽ có thể xoi thủng đá. Dùi gỗ chưa nóng, sẽ khó được lửa! Do vậy, học đạo dũng mănh trong một lúc chẳng khó, nhưng khó thể vĩnh cửu, chẳng thay đổi. [Do niệm danh hiệu] Quán Thế Âm Bồ Tát mà cầu con trai được con trai, như do bệnh mà có được tiên đan, lại c̣n được thân h́nh nhẹ nhàng cất lên. Tôi nguyện cư sĩ hăy do cầu con mà gắng sức hành các điều thiện sao cho rộng, cho lớn, càng lâu bền, càng kiên cố, ḥng chứng nhập địa vị “con một”, thấy chúng sanh trong pháp giới đều là con ḿnh, th́ con cháu hiển đạt chẳng đợi phải bói toán đă biết là chắc chắn có thể đạt được!

 

* Chỉ dạy về Lục Độ

 

          Chúng sanh từ vô thỉ đến nay chẳng biết “hết thảy duy tâm”, cứ hư vọng so đo duyên ảnh của lục trần là tâm tướng của chính ḿnh. Do vậy, kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) ước theo bảy chỗ để gạn hỏi [cái tâm], Trung Luận dựa theo bốn tánh để [người đọc] suy ra, Trí Giả dựa theo tứ vận[11] để quán, không ǵ chẳng nhằm phá sự so đo hư vọng nơi duyên ảnh mà thôi! Chỉ cần chẳng chấp duyên ảnh, ắt một niệm nhỏ nhoi trong hiện tiền vốn tự ĺa lỗi, tuyệt sai, thanh tịnh trọn khắp. Bách giới thiên như hải ấn hiển hiện rạng ngời. Muốn phá chấp trước hư vọng đối với duyên ảnh th́ hoặc dựa theo bảy chỗ để gạn hỏi trọn khắp, hoặc nương theo tứ tánh để lọc lựa theo chiều ngang, hoặc nương theo tứ vận để phá trừ theo chiều dọc đều được cả! Tùy bệnh mà uống thuốc, pháp chẳng có nhất định. Suy nghĩ rồi tu tập, có người như vậy hay chăng?

 

* Chỉ dạy về dưỡng đức

 

          Người học đạo xương cốt nên cứng cỏi, tánh khí nên mềm mỏng, chí nên to lớn, gan nên nhỏ, tâm nên rỗng rang, lời lẽ nên chân thật, huệ nên tăng trưởng. Hăy nên tiếc phước, nên lo xa, suy nghĩ nên gần gũi, đối với sự việc phải nên kiền thành, xử sự đối với người dưới nên khiêm nhường, đối với người cùng hàng nên nhường nhịn, khi đắc ư đừng nên buông lung, xa xỉ, khi thất ư đừng uất ức, thất thố. Làm phước chẳng bằng tiếc phước. Hối lỗi chẳng bằng ít phạm lỗi. Hăy nên nghĩ thân thể lẫn cơi đời đều là Khổ, Không, đừng rong ruổi theo thói đời. Y phục cốt sao che thân, đừng tham đẹp đẽ. Ăn cốt sao khỏi đói, đừng tham chuộng vị ngon. Hăy nên phản tỉnh đời này, đời trước đă làm công hạnh ǵ mà có thể ngồi hưởng sự bố thí của đàn việt? Trong mười hai thời, luôn kiểm điểm thân, khẩu, ư nghiệp là thiện nhiều, ác nhiều, hay vô kư nhiều? Kham tiêu tứ sự [cúng dường], hay chẳng kham? Hổ thẹn, giác ngộ, tu tỉnh như thế đó, tự nhiên tập khí dần dần tiêu trừ, trí quang dần dần tỏ lộ, ư Tổ, ư Phật sẽ hiển hiện trong một niệm thanh tịnh tâm!

 

* Chỉ dạy Dư Chánh

 

          Nghiên cứu chân, hiểu tột cùng vọng th́ gọi là Học, bởi hễ có thể đạt được bản lănh sâu xa th́ trái phải đều có thể gặp nguồn. Do đó, càng rộng mà càng ước lược. Nếu không, càng rộng sẽ càng là chẳng có đầu mối, cách đạo càng xa! Cổ nhân phát tâm xuất gia, ắt dốc chí tham học, do đau đáu nghĩ sanh tử là chuyện lớn, vô thường nhanh chóng, kiếp này chẳng độ thân này, kiếp nào mới độ cho xong thân này? Do vậy, tam đăng cửu thượng, khói sóng trăm thành[12], chẳng nề hà khó nhọc, niệm nào cũng v́ giải quyết ổn thỏa đại sự, há chịu chấp tướng và so đo danh, dơi theo mấy ḍng mực, vịn lá vin cành để chỉ sướng tai, vui miệng suông ư? Thời Mạt chẳng phải vậy, mang tiếng là muốn nối tiếp huệ mạng của Như Lai, chống đỡ pháp môn của Như Lai, nhưng chẳng biết đau đáu v́ sanh tử, chỉ tích tụ học vấn, mở rộng kiến thức, mong có thể lên pháp ṭa phẩy bụi[13] mà thôi! Than ôi! Chẳng tương ứng với Bồ Đề đại tâm mà bảo là “thay Phật tuyên dương, giáo hóa”, tôi chẳng tin! Chẳng tương ứng với cái tâm v́ sanh tử mà bảo là “đại Bồ Đề tâm”, tôi càng chẳng tin! Chẳng quên t́nh kiến hơn, thua, chỉ thành pháp giới A Tu La. Ư niệm danh lợi, quyến thuộc chẳng quên, chỉ thành chủng tử của Ma La trong tam đồ. Thuận theo những điều thấy, nghe mà dấy lên pháp chấp, chẳng thể buông bỏ tập khí danh ngôn, chẳng thấu đạt chỉ thú thuyết pháp của Như Lai, chẳng biết các thứ nhân duyên Tứ Tất Đàn, chỉ thành sào huyệt hư luận của phàm phu, ngoại đạo. Học vấn càng lắm, hại tâm càng thịnh! Người học càng đông, chánh pháp càng suy. Do đó, tôi mỗi khi nghĩ tới [chuyện này], chưa từng chẳng đau đớn khóc ṛng ngay trong khi mộng mị!

 

* Chỉ dạy Dung Am

 

          Hành tŕnh ngàn dặm bắt đầu bằng một bước. Chưa cất chân một bước, chẳng gọi là “về đến nhà”, nói “ngàn dặm chỉ là một bước” cũng được! Nói “một bước chính là ngàn dặm”, há được hay chăng? Coi Phật đạo là ngàn dặm, Giới là bước đầu tiên. Từ đấy trở đi cho tới khi thành Phật, đều chẳng ra ngoài bước này, nhưng quyết chẳng thể chấp chặt, chẳng tiến, bởi hễ tiến th́ niệm nào cũng giữ vẹn bước ấy. Hễ ngưng lại th́ bước ấy sẽ ngay lập tức suy thoái. Nhưng cách để tiến bộ, chẳng ngoài bỏ bước cũ từ vô thỉ. Do vậy, mỗi bước đều có sự lệch lạc, tŕ trệ, mà cái chướng đạo lớn nhất không chi bằng sân, mạn. Một niệm sân tâm khởi, trăm vạn cửa chướng mở. Mạn như núi cao, nước pháp chẳng ngừng. Lại nữa, sân thô phi lư dễ trừ, sân tế do chấp lư khó đoạn. Mạn quá mạn rơ ràng, dễ thấy, tăng thượng mạn và ty liệt mạn[14] ẩn kín khó biết. Biết cái khó biết, đoạn cái khó đoạn, đó gọi là có thể ĺa cái duyên thoái thất vậy!

 

* Chỉ dạy Minh Tây

 

          Thoát khỏi nhà lửa tam giới, có hai lối ngang và dọc. Dùng tự lực đoạn Hoặc để vượt thoát sanh tử th́ gọi là “thụ xuất tam giới” (thoát tam giới theo chiều dọc). [Cách này] xét về Sth́ khó khăn, công chậm chạp. Nương vào Phật lực tiếp dẫn sanh về Tây Phương, gọi là “hoành siêu tam giới” (siêu thoát tam giới theo chiều ngang), sự dễ dàng, công nhanh chóng. Tổ Huệ Viễn nói: “Công cao, dễ tiến, niệm Phật đứng đầu”. Kinh dạy: “Mạt thế ức ức nhân tu hành, hăn nhất thành đạo” (đời mạt, ức ức người tu hành, hiếm có một ai thành đạo). Chỉ nương vào niệm Phật mà có thể được độ thoát, như ngồi thuyền vượt biển, chẳng nhọc công sức! Hễ có thể dốc ḷng tin vào nẻo tắt Tây Phương, chí thành phát nguyện, nhất tâm niệm Phật cầu văng sanh, sẽ là bậc đại trượng phu thật sự. Nếu ḷng tin chẳng chân thật, nguyện chẳng thiết tha, hành chẳng dốc sức, dẫu đại từ của Phật là thuyền, nhưng chúng sanh chẳng chịu lên thuyền, biết làm sao được nữa!

 

* Chỉ dạy Tạ Tại Chi

 

          Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta, quá khứ không khởi đầu, vị lai chẳng kết thúc, hiện tại chẳng ngằn mé, t́m trọn chẳng thể được, nhưng chẳng thể nói là “không”. Ứng dụng muôn ngàn biến hóa, nhưng chẳng thể bảo là Có. Tam thế chư Phật, hết thảy chúng sanh trọn chẳng hai Thể. Mười phương hư không, sát trần sai biệt, đều là Tướng Phần do tâm ta hiện. V́ thế, bốn loại Tịnh Độ đều chẳng ở ngoài tâm, bèn gọi là “duy tâm”. Tức là Cực Lạc chẳng phải chính là duy tâm ư? Tây Phương há ở ngoài tâm? Tâm ta há hạn cuộc nơi phương Đông ư? Người ta nói “các pháp hữu vi đều như mộng, huyễn”, chẳng biết tâm tánh chẳng thể gọi là hữu vi, chẳng thể gọi là vô vi. Do mê, nên vô vi thành hữu vi, có nhân quả luân hồi tam giới, ví như mộng, huyễn, bọt, bóng, sương, chớp. Nếu phản mê quy ngộ, hữu vi lại thành vô vi, như khi tỉnh mộng, huyễn lại trở về gốc, bọt quy về nước, bóng quy vào chất, sương chẳng khác tánh ướt, chớp chẳng khác thường quang.

Nay niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ chính là phản mê quy ngộ, chí viên, chí đốn, nhất loạt dùng mộng huyễn để quét sạch, há có được ư? Người hiện thời đối với gia duyên vợ con mộng huyễn, chẳng thể ngay lập tức cắt bỏ, chẳng thể ngay lập tức ĺa công danh phú quư mộng huyễn, chng thể lập tức thấy thấu suốt khổ, lạc, lạnh, nóng mộng huyễn, cho tới chẳng thể ngay lập tức khạc nhổ thơ văn, cơ phong, chuyển ngữ mộng huyễn, riêng với Tây Phương mộng huyễn là chẳng cầu sanh. Đấy cũng là sự mê hoặc to tát vậy. Dựa theo đối đăi để luận, sinh kế trong Sa Bà là mộng càng thêm mộng, cầu sanh Tịnh Độ là tỉnh mộng. Chẳng thể không cầu sanh! Luận theo sự dứt bặt đối đăi, do Hoặc nghiệp cảm vời tam giới; đó là ác mộng. Niệm Phật sanh về Tịnh Độ là hảo mộng, cũng chẳng thể không cầu sanh.

Chắc có kẻ lại nói: “Ngay trong hiện tại chính là Tịnh Độ, cần ǵ cứ phải [cầu sanh] Tây Phương?” Hỏi: “Ngay trong hiện tại đă no ấm, cần ǵ phải ăn cơm, mặc áo? Ngay trong hiện tại là phú quư, cần ǵ phải buôn bán, trồng trọt, thi cử? Ngay trong hiện tại chính là học vấn, cần ǵ phải đọc sách? Ngay trong hiện tại chính là kinh đô của hoàng đế, cần ǵ phải lên miền Bắc? Pháp thế gian đă chẳng thể bỏ mảy may, sao riêng pháp xuất thế lại phế trừ?” Nếu suy nghĩ sâu xa lư ấy, [ư nguyện cầu] sanh Tịnh Độ sẽ là muôn con trâu chẳng lôi lại được! Thiên Như đại tổ sư nói: “Sau khi đă ngộ mà chẳng nguyện văng sanh, dám đảm bảo lăo huynh chưa ngộ”. Đức Thích Ca sống dậy, chẳng thể thay đổi lời ấy!

 

* Chỉ dạy Tảm Huệ

 

          Học đạo quư ở chỗ có phẩm cách, có sự hiểu biết, chẳng dính dáng ǵ tới văn tự, kư vấn[15]! Có phẩm cách mà chẳng có sự hiểu biết, chẳng đủ để vượt xa ngàn đời, cũng giống như không có phẩm cách. Có hiểu biết mà chẳng có phẩm cách, chẳng đủ làm trụ đá giữa ḍng, cũng giống như chẳng có sự hiểu biết. Phẩm cách và hiểu biết đều đủ, sẽ chẳng bị hạn cuộc trong sinh kế trước mắt, chẳng bị tập khí nơi thói đời hiện thời đổi dời. Dẫu chậm lụt như ngài Bàn Đà (Châu Lợi Bàn Đặc, Śuddhipanthaka) nếu nghĩa của bốn chữ “phất trần, trừ cấu” (phủ bụi, trừ nhơ) đă thuần thục, liền kham chứng quả Sa Môn, phát vô ngại biện tài, huống hồ người vốn hiểu văn nghĩa ư? Than ôi! Pháp môn suy vi cho đến hiện thời chẳng nỡ nhắc đến! Bác ắt phục, bỉ ắt thái[16]. Nếu muốn hoa mai thơm ngát mũi, vẫn phải trải qua một phen rét lạnh buốt tận xương! Bậc hào kiệt phải nên khởi tâm nhẫn tánh như thế nào để chẳng cô phụ linh tánh của chính ḿnh?

 

* Chỉ dạy về “chẳng lạc vào ngơ rẽ”

 

          Mười phương Như Lai có một môn là con đường siêu xuất trang nghiêm mầu nhiệm, bất quá là liễu giải vọng tưởng vô tánh, ngộ chân tâm thường trụ, tánh thanh tịnh, thể sáng suốt mà thôi! Muốn ngộ chân tánh, quư ở chỗ trực tâm chánh niệm Chân Như. Muốn thực hiện Chân Như Thật Quán, trước hết hăy tu Duy Tâm Thức Quán, cưỡng quán “các pháp chẳng thật, chỉ do tâm hiện” th́ ngoài tâm chẳng có pháp. Kế đó, quán tâm chẳng có tướng tâm, t́m ṭi trọn chẳng thể được, sẽ là ngoài pháp chẳng có tâm. Tâm lẫn pháp đều mất, tánh năng, sở dứt bặt, chẳng gọi là Chân Như Thật Quán cũng chẳng được!

Nếu chẳng chánh niệm Chân Như, hư vọng so đo có tâm, có pháp, có năng, có sở, sẽ tự sanh lối rẽ cách ngăn, đọa vào tướng cong quẹo. Chỉ là sự cong quẹo ấy cũng chẳng có cái Thể khác biệt. Nó vốn lấy Chân Như làm Thể. Như hoa đốm quay cuồng lấy hư không làm Thể, sóng trào lấy nước làm Thể. V́ vậy nói “tưởng ấy chẳng thật”. Biết tưởng chẳng chân thật, sẽ chẳng thuận theo sanh tử hư vọng liên tục. Tâm pháp do Phật, Tổ truyền trao tột bực đều trọn hết trong ấy. Dùng tâm pháp ấy để in vào ngàn kinh muôn luận và công án của chư tổ, khác nào đóng cửa chế xe, nhưng ra khỏi cửa liền phù hợp đường nẻo. Nếu chẳng thấu triệt môn này, t́m ṭi công phu học vấn khác, nói chung là nhiều ngơ rẽ mất dê, chẳng phải là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm tam-muội. Muốn tu tam-muội, càng phải nên Lư và Sự cùng tiến, Hiển và Mật giúp lẫn nhau, trừ trợ nhân, khoét chánh tánh, trái hiện nghiệp, thề có thể thực hiện ngay trong đời hiện tại vậy!

 

* Chỉ dạy Nhĩ Giới

 

          Có cái tâm nhỏ nhoi[17] trọn đủ tam thiên. Người thuộc viên căn xứng tánh mà quán điều này, xứng tánh mà ngộ, trong khoảng khảy ngón tay, vượt khỏi vô học, một đường Niết Bàn môn! Người có chí hiện thời chẳng thể nhất siêu trực nhập chỉ v́ hư vọng ngỡ duyên ảnh của lục trần là tâm tướng của chính ḿnh, chẳng chịu thẳng thừng quán kỹ cái tâm giới nhĩ vốn tự trọn chẳng thể được! Nếu chịu thẳng thừng quán, sẽ biết tâm chẳng có tâm tướng, đă chẳng ngỡ duyên ảnh là tâm, th́ hư không, núi sông, đại địa, đều là vật được hiện bởi cái tâm giới nhĩ của chính ḿnh. Năng duyên đă là không, sở duyên há có? Một thứ không, hết thảy đều không, nhưng chẳng phải là đoạn diệt. Sở hiện (cái được biến hiện bởi cái tâm giới nhĩ) cùng tận lẫn nhau, năng hiện (cái có thể hiện các cảnh giới, tức tâm giới nhĩ) cũng thế. Một thứ giả, hết thảy đều giả, đều là như huyễn, chẳng thể gọi là Không, chẳng thể gọi là Giả, bèn cưỡng gọi là Trung. Trung cũng chẳng ở ngoài Không và Giả, Không và Giả chẳng có Thể, hoàn toàn dùng Trung Đạo làm Thể. Nói là Không th́ tam thiên đều là Không. Nói là Giả th́ tam thiên đều cùng giả. Nói là Trung th́ tam thiên đều là Trung. V́ thế, trọn đủ lẫn nhau, chẳng thiếu, chẳng thừa. Như vậy th́ mổ xẻ một vi trần, lấy ra quyển kinh to như cơi đại thiên, có Chánh, Tượng, Mạt ǵ để có thể phân biệt nữa? Đấy không chỉ khiến cho Phật, Tổ thở phào, mà cũng v́ tôi mà gột rửa nỗi thẹn là một gă “cú độc tiên sinh”[18]!

 

* Chỉ dạy Hạ Tẫn Thần

 

          Thánh hiền cố nhiên chẳng chọn nơi chốn, chẳng chọn thời để sanh, nhưng thường là sanh nơi hang núi (ư nói chốn hẻo lánh), đời loạn. Sen vượt khỏi bùn lầy, châu sanh trong nước đục, chẳng phải là tùy tiện! Sen ở trong bùn, bùn chẳng thể nhuốm bẩn. Châu trong nước đục, chất đục chẳng thể [khiến châu bị] lu mờ. Thánh hiền ở nơi hang núi, đời loạn, há hang núi có thể hạn cuộc [các Ngài]? Đời loạn há có thể biến đổi họ? Hang núi chẳng thể hạn cuộc, đời loạn chẳng thể biến đổi, chẳng phải chỉ thánh hiền là được như vậy ư? Do thánh hiền có thể chẳng bị vùi lấp vậy! Tâm pháp của Nghiêu - Thuấn bất quá là hai chữ “nguy vi”[19]. “Thao tắc tồn, xả tắc vong” (nắm giữ th́ c̣n, bỏ th́ mất). Bá Ngọc chưa thể bớt lỗi[20], Tử Lộ nghe vạch lỗi bèn mừng. Khổng Tử năm mươi tuổi học Dịch, Văn Vương mong được đạo chưa thấy[21]; đó đều là tâm ấn của “vi, nguy”. Do vậy, chẳng coi “cầu phóng tâm”[22] là học vấn, chỉ chuộng nói suông cho sướng tai, sẽ khác hẳn cái được gọi là “học vấn” của thánh hiền! Hăy xem xét cái tâm là vật như thế nào? “Phóng” là như thế nào? “Cầu” là như thế nào? Nếu “phóng” (buông lung khiến bổn tâm chân thật bị vùi lấp) th́ rong ruổi trong khắp thế gian, “cầu” (t́m lại được bổn tâm) th́ sẽ trở về một khối. Đấy là duyên ảnh, là Phong Đại, tâm quá khứ, vị lai, hiện tại đều chẳng thể được. Nếu có thể đạt được, sẽ cùng với gà, chó là một vật, nhưng tâm há có phải là một vật ư?

Kẻ thật sự “cầu phóng tâm” ắt cần phải t́m tâm trọn chẳng thể được. Chỉ có tâm trọn chẳng thể được, th́ mới biết trời, đất, mặt trời, mặt trăng, núi, sông, quốc độ đều là vật được hiện trong cái tâm diệu minh, mà cũng chẳng thể tách thành năng hiện (cái có thể hiện) và sở hiện (cái được hiện ra). Đó gọi là “thiên hạ quy nhân” (thiên hạ quy vào ḷng nhân), đó gọi là “minh minh đức” (tỏa rạng đức sáng) trong thiên hạ. Đó gọi là chẳng thể bị hạn cuộc bởi hang núi, chẳng bị đổi dời bởi đời loạn. V́ thế, Lục Tượng Sơn[23] nói: “Biển Đông, Nam, Tây, Bắc có thánh nhân ra đời”. Tâm ấy và lư ấy như nhau. Ngộ điều này, chắc chắn chẳng cần hỏi chỗ ngằn mé tận cùng của trời đất, do ngoài tâm chẳng có trời đất. Trời đất chỉ là Tướng Phần của cái tâm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Thập phương hư không, sanh nhữ tâm nội, do như phiến vân, điểm thái thanh lư” (Mười phương hư không sanh trong tâm ông như một đám mây nhỏ tí trong cơi thái hư). Huống hồ các thế giới đều ở trong hư không ư? Biết điều này th́ Nho và Phật đều chẳng đủ để gọi tên được, tùy ư gọi là Nho hay Phật, không ǵ chẳng thể được! Hăy nỗ lực mong cầu!

 

* Chỉ dạy Thái Nhị Bạch

 

          Muôn vật trong trời đất đều có khởi đầu và kết thúc. Hễ có h́nh tượng, sẽ có ranh giới, có ngằn hạn, chỉ riêng tâm thức là chẳng có khởi đầu, kết thúc, h́nh tượng, ranh giới, ngằn hạn. Do đó nói “t́m tâm trọn chẳng thể được!” Tâm trọn chẳng thể được, nhưng muôn vật trong trời đất không ǵ chẳng phải chỉ là tâm! Nếu ngă chấp và pháp chấp chẳng phá, lư duy tâm, duy thức sẽ chẳng tỏ lộ! Chẳng hiểu rơ lư tâm thức, điều mầu nhiệm trong cảm ứng nhân quả sẽ chẳng thể [thấy rành rẽ] như các đường chỉ trong ḷng bàn tay. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm dạy: “Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ tâm tạo). Quán Kinh dạy: “Thâm tín nhân quả, bất báng Đại Thừa” (tin sâu nhân quả, chẳng hủy báng Đại Thừa). V́ tâm giống như vàng, nhân quả trong mười pháp giới giống như các thứ vật dụng để trang nghiêm, nhưng trong thiên hạ há có vàng nào trơ trơ chẳng tạo thành các vật dụng? Chắc chắn chẳng có cái tâm trơ trơ chẳng tạo mười pháp giới! Dẫu một niệm chẳng sanh, vẫn tạo thành vô tưởng ngoại đạo. V́ thế, bậc đại trí huệ ngộ sâu xa duy tâm, ắt siêng năng niệm Phật. Đó gọi là “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Điều này chỉ có cư sĩ Nhị Bạch có thể gánh vác!

 

* Chỉ dạy Lư Phẫu Phiên

 

          Khéo học đạo của thánh nhân, quư ở chỗ đạt được cái thần, chớ nên câu nệ h́nh tích. “Thần” là nói tới điều kỳ diệu nơi muôn vật. Do vậy bảo “thánh chẳng thể biết th́ gọi là Thần”, nhưng thần há có phải vượt ngoài h́nh tích ư? Đặc biệt chẳng câu nệ h́nh tích. Do chẳng câu nệ h́nh tích, nên Nghiêu, Thuấn chắp tay nhường ngôi cho nhau, Thành Thang, Vũ Vương chinh phạt, giết [kẻ bạo ngược], Châu Vũ Vương dẹp yên cơi đời, Bá Di, Thúc Tề giữ hạnh cao cả ẩn dật, Tỷ Can do can gián mà chết, Vi Tử ĺa Trụ, Cơ Tử làm nô lệ[24], Khổng Tử chẳng chờ xe[25], Mạnh Tử vua chẳng thể triệu vời[26], Thái Bá cắt tóc, xăm ḿnh[27], Tăng Tử [lúc lâm chung bảo học tṛ] kiểm chân tay của chính ḿnh[28], Vũ Tắc (vua Đại Vũ) [bận rộn trị thủy] đi qua cửa [nhà ḿnh mà] chẳng vào, Nhan Tử (Nhan Uyên) một giỏ cơm trong hẻm nghèo, không chỉ là hạnh chẳng trái nghịch, mà dẫu thay đổi nơi chốn, vẫn đều là như thế, sẽ đều là h́nh tích như thế mà thôi! Ông đừng chấp vào đó, sẽ gần như chẳng xen lạm tác dụng của Đại Thuấn ư?

Than ôi! Ngập tràn trong ṿng trời đất, phàm những ǵ có thể thấy, nghe, không ǵ chẳng phải là h́nh tích! Chỉ nh́n mà chẳng thấy, nghe mà chẳng lọt tai bèn là “thần”, nhưng người cầu đạo thường bị hạn cuộc trong cái có thể thấy nghe được, hiếm khi có thể cầu nơi cái nguồn chân thật “chẳng thấy, chẳng nghe”. Sao có thể coi những ǵ ta thấy biết trong một đời ḿnh cao hơn sự thấy biết trong trăm đời? Do đó bảo: “Nhan Tử mất th́ thánh học cũng mất”, đáng buồn lắm thay!

Xét ra, thánh học tuy mất, vẫn có cái chẳng thể mất, hiềm rằng người nhân th́ thấy là nhân, người trí th́ thấy là trí, dân chúng sử dụng hằng ngày mà chẳng biết. Hai ngàn năm sau, Vương Dương Minh phấn chấn tinh thần, sống nơi man di ba năm, đốn ngộ lương tri, nhất loạt gột sạch tập khí kém hèn của các nhà Nho đời Hán, Tống, trực tiếp truyền tâm học của Khổng Tử - Nhan Hồi. Lúc hai mươi tuổi, tôi ngộ giống như ông Dương Minh, nhưng Dương Minh do luyện từ nơi cảnh, cho nên sức lớn, dụng rộng, c̣n tôi do xem sách mà thấu hiểu, sức kém, dụng yếu. Do vậy, ngộ môn chỉ mới đạt đến ngoài ŕa của Phật pháp. Nay dùng Phật pháp để nh́n, so sánh thấy điều đă ngộ xưa kia giống như đem Hải Nhược[29] so với Hà Bá; nhưng trong biển Phật pháp, [sở ngộ ấy] c̣n chẳng bằng một giọt nước! Đạo vô cùng đến mức như thế đó! Nếu chẳng bửa toang rào giậu trong cơi đời, sẽ do đâu mà có thể đạt tới cảnh giới biển rộng trời cao?

Khổng Tử giải đáp [cho câu hỏi của Tử Trương về] đạo của người lành là “bất tiễn tích” (chẳng noi theo dấu vết [của người trước])[30]. Lại nói “thiện nhân ngô bất đắc nhi kiến” (ta chẳng được thấy bậc thiện nhân)! Chẳng noi theo dấu vết [của văng thánh tiền hiền để thực hiện] sẽ khó lắm thay! Hạ học mà thượng đạt, chẳng noi theo dấu tích [của bậc cổ hiền nhân] mà có thể tiến nhập sâu xa [cảnh giới của thánh hiền] ư? Thượng đạt là quân tử, hạ đạt là tiểu nhân. Ông hăy là quân tử Nho, đừng làm tiểu nhân Nho. Hăy nên biết bốn khoa, sáu nghề[31] đều là dấu tích, mà Tam Cương, NThường cũng là dấu tích. Trời đất, mặt trời, mặt trăng, lưỡng nghi (Âm, Dương), Thái Cực, không ǵ chẳng là dấu tích, đều là “h́nh nhi hạ”[32]. Thần mà minh, có người như thế ấy hay chăng? “H́nh nhi thượng” bèn gọi là đạo, từ người bậc trung trở lên, có thể nói đến h́nh nhi thượng, chẳng phá toang rào giậu (phẫu phiên)[33] th́ là mong mỏi điều ǵ vậy?

 

* Chỉ dạy Thạch Canh

 

          Phật pháp thịnh hay suy do Nho học thịnh hay suy. Đức nghiệp và học vấn của Nho quả thật là mạng mạch cốt tủy của Phật. V́ thế, người là bậc chân Nho trong cơi đời, sẽ là chân Phật trong xuất thế. Dùng tâm hạnh chân Nho để học Phật, sẽ chẳng học theo giả Phật trong cơi đời.

Giả Phật là ǵ? Lập môn đ́nh, chuộng bày vẽ, cốt sao sướng tai, khoái mắt, chẳng nghiên cứu tột bậc nguồn tâm, coi [ǵn giữ] y bát là tŕ luật, coi giải thích văn tự, bám sát câu chữ là diễn giáo, ngỡ cơ phong kệ tụng là Thiền Tông, ḷng ôm danh lợi, cái tâm chụp giật[34] hết sức bất kính, ma vương sướng măi, đại thánh than hoài. Kẻ phá hoại cơ nghiệp nhà Châu là Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công.

Thế nào là chân Phật? Phá ngă chấp và pháp chấp, quán nhị không Chân Như, tự thấy lỗi ḿnh, thương xót kẻ khác phạm lỗi. Cử tâm động niệm, cất chân giở bước, đều v́ tự xuất sanh tử, thành Bồ Đề, cũng khiến cho chúng sanh cùng thoát sanh tử, thành Bồ Đề. V́ thế, tŕ luật bèn hiểu rành rẽ khai, giá, tŕ, phạm, tánh nghiệp, giá nghiệp, thề cầu thanh tịnh. Duyệt giáo bèn biện Thể, minh Tông, biết Dụng, biết Tướng, dù Quyền hay Thật đều thấu đạt sâu xa lẽ chỉ quy. Tham Thiền bèn chặt đứt cái tâm chụp giật, thẳng thừng hiểu rơ bản tánh, biết giữ cương tông, chẳng chấp trước khuôn sáo. Dẫu Tam Học viên minh, vẫn có thể chẳng bực bội đối với kẻ chẳng hiểu biết [lỡ mạo phạm ta], quyết chẳng tự phụ có tài mong được người khác cất nhắc ḥng thi triển tài năng ấy, quyết chẳng chấp chính ḿnh là cái gương cho người khác noi theo, chỉ tùy thuận lẽ đáng nên, ứng bệnh mà cho thuốc, phương tiện và Bát Nhă song chiếu cùng hành. Đấy mới là chẳng phụ tăng tướng đường đường, kham xưng là bậc trượng phu xuất thế. Đă báo Phật ân, th́ ân của Tuyên Thánh (Khổng Tử), ân của vua, cha, đàn na tín thí đều cùng báo!

 

* Chỉ dạy Ngữ Huyễn

 

          Pháp môn suy vi đă chẳng phải chỉ là một ngày, mà nguyên nhân dẫn đến suy vi là do nhân địa chẳng chân thật. Người hiện thời phát tâm tham học chẳng có chí chống đỡ pháp môn, cũng như xét đến cái được gọi là “chống đỡ”, bất quá là mở tùng lâm, dựng phạm sát (chùa), gom góp năm ngàn hoặc một vạn để in khắc, biên soạn các trước tác vô bổ[35] chẳng có lúc nào ngơi. Con cháu nối pháp đều là bậc tài hoa nức tiếng trong cơi đời, phong độ thần thái đẹp đẽ. Giới tử dưới ṭa ôm bát, cầm trượng vây quanh mấy chục ṿng, đồ chúng thế độ (xuống tóc) khắp làng, khắp chợ, lố nhố như sao sa, cho đến [đội tăng mạo] rủ dây lụa tía, đeo quả cầu vàng, ngồi xe cao, ngựa béo, qua lại trong chốn núi rừng rộn rịp chẳng dứt mà thôi! V́ vậy, khi tu tập bèn chú trọng lưu truyền nơi Thế Đế, lo liệu theo phương hướng thiết lập môn đ́nh. V́ những kẻ như vậy mà mạng mạch chân thật của Phật, Tổ bị mai một, gần như mất sạch! Ngũ bá[36] chính là tội nhân của tam vương, xót thay!

Mạng mạch chân thật của Phật, Tổ là ǵ? Phá ngă tướng, trừ sạch pháp chấp, quyết trừ tập khí, khạc nhổ lợi danh, luôn tự kiểm điểm lỗi lầm, quyết chẳng có một lời hoặc một chuyện dối ḷng, vâng theo chánh pháp, chẳng tuân theo Tượng Pháp, học theo cổ nhân, chẳng học theo người hiện thời. Chính ḿnh đă chết sạch cái tâm chụp giật th́ sau đấy mới có thể chết sạch cái tâm chụp giật của người học khác. Chính ḿnh liễu đạt cùng tận “tâm áo” (chỗ uyên áo nơi tâm) của Phật, Tổ, cũng chẳng dễ dăi đem tâm áo của Phật cưỡng dạy người khác. V́ sao? Từ người bậc trung trở lên th́ có thể nói, chứ kẻ từ bậc trung trở xuống, chẳng thể nhắc đến. “[Người học] chẳng phát phẫn sẽ chẳng khơi gợi, chẳng bí bách sẽ chẳng chỉ bảo”, khiến cho dân chúng sẽ có thể noi theo đó mà hành. Dẫu ẩn lánh cơi đời, không ai biết đến, vẫn chẳng hối hận. Như Thích Tôn cởi y phục trân quư để khoác áo thô hèn, có thể v́ kẻ kém cỏi mà nhẫn chuyện ấy. Hơn bốn mươi năm thầm suy nghĩ chuyện ấy đă lâu, chẳng vội nói ngay. Phàm là Phật, Tổ, thánh hiền xuất thế, chỉ dần dần khuyên dụ chúng sanh, chẳng khoe khoang cảnh tượng của chính ḿnh. Há cần phải nóng vội phô trương sở trường! Chỉ v́ sợ môn đ́nh bị coi rẻ, danh vị bị hạ thấp, cho nên mới có ư niệm tranh chấp môn đ́nh, tâm phân chia cao thấp. Đó chính là cội rễ sanh tử. Lấy đó để chống đỡ, pháp môn ngày một hèn tệ, măi cho đến khi chẳng c̣n cứu được nữa mới thôi! Đau lắm thay! Xót lắm thay! Tôi v́ chuyện này, khóc măi trong khi mộng mị, chẳng thể coi thường mà không nói tới! Nếu pháp hữu tin nổi lời này, tôi bèn nêu ra một chuyện vậy!

 

* Chỉ dạy Thánh Khả

         

          Ngàn kinh vạn luận, cầu nơi ngôn ngữ, văn tự, sẽ đâm ra càng nhiều, càng xa. Cầu nơi một niệm hiện tiền, sẽ càng giản ước, càng thân thiết. Bởi lẽ, hết thảy kinh luận bất quá là cước chú của cái tâm trong một niệm hiện tiền, chẳng phải là ngoài tâm tánh mà riêng có đạo lư của Phật, Tổ. Nhưng tâm tánh khó hiểu rơ, do vậy, nhờ vào ngàn kinh vạn luận để soi tỏ lẫn nhau. Nay bỏ tâm tánh trong hiện tiền để rộng cầu kinh luận, chẳng khác nào mê đầu ngỡ là bóng vậy. Người thật sự hiểu rơ tâm tánh biết kinh luận chính là bí quyết trọng yếu để sáng tỏ tâm tánh, ắt chẳng vứt bỏ, chỉ tùy thời mà biết chẳng có một câu văn, một chữ nào chẳng nhằm chỉ điểm lư ấy. Nương theo chỗ được chỉ điểm, thẳng thừng từ thân tâm mà lănh hội rơ ràng. Nếu phá ngă chấp và pháp chấp, đích xác phá hết sạch, chẳng lưu lại mảy may, biện định theo những ǵ đă gieo và căn cơ hiện thời, khiến cho những ǵ đă gieo và hiện hành trong tự tâm đều rơ ràng như đường chỉ trong ḷng bàn tay, chẳng để cho kẻ giặc trong nhà tác quái. Đó gọi là “chẳng ĺa văn tự, mà đạt được quán chiếu”.

Chẳng hiểu theo mặt văn tự, chẳng hiểu theo mặt đạo lư, th́ sẽ là chân tham thật cứu. Bất luận năm, tháng, đời, kiếp, đem Tam Tạng mười hai bộ, đều gộp hết thành một câu Thoại Đầu, xem đi, xem lại, người khác có thể một lượt đă thấu đạt, ta bèn ôn luyện cả trăm lần. Người khác mười lần là được, ta làm một ngàn lần! Xem đến nỗi da trâu rách toạc, tṛng mắt lồi ra, bỗng dưng vô tâm khế ngộ, mới biết [những điều ta xem xét đó] cùng với [các công án] “ba cân gai, que cứt khô” đều là phương tiện để gơ cửa. Khi đó, nếu chẳng thấu đạt trọn hết một ngàn bảy trăm công án, chẳng thâu nhiếp trọn hết thảy các pháp của mười phương ba đời chư Phật, chẳng có lẽ ấy!

 

* Chỉ dạy Chứng Tâm

         

          Bậc đại đức Chứng Tâm hỏi tôi về tâm yếu, tôi thưa: - Tâm yếu không chi bằng niệm Phật. Ngài Thọ Xương nói: “Cái tâm niệm Phật chính là Phật. Bởi lẽ, cái tâm trong một niệm hiện tiền, vô tánh duyên sanh, duyên sanh vô tánh”. Do vô tánh duyên sanh, nên nghĩ đến danh th́ đầy ắp dạ là danh, nghĩ đến lợi, ḷng đầy ắp lợi! Thậm chí ngày làm ǵ, đêm mộng đó, không ǵ chẳng quy hướng chuyên chú vào một niệm, nhưng mười giới thăng trầm do từ đấy mà ra! Do duyên sanh vô tánh, cho nên ngay trong khi hăm hở gây tạo thiện ác, ngay lập tức buông xuống, hết thảy các pháp sẽ đều trọn chẳng thể được! Nhưng nếu chấp chặt vào chỗ chẳng thể được ấy, sẽ rơi vào hầm sâu vô vi, chẳng thể chứng cái Thể vô chướng ngại của pháp giới, chẳng thể khởi tác dụng vô chướng ngại của pháp giới. Do vậy, cần phải niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́ mới là pháp môn viên đốn chẳng thể nghĩ bàn trong Đại Thừa.

Nay người niệm Phật há có ǵ khác đâu! Dùng nhất niệm vô sanh duyên tánh ấy để niệm danh hiệu Phật vô tánh duyên sanh. Danh hiệu Phật đă là vô tánh duyên sanh, th́ duyên sanh cũng vẫn là vô tánh. Do vậy, niệm một tiếng, bèn có một tiếng Phật danh hiển hiện. Niệm mười, trăm, ngàn, vạn tiếng, sẽ có mười, trăm, ngàn vạn Phật danh hiển hiện, nhưng khi chẳng niệm bèn vắng lặng. Niệm tánh đă là duyên sanh vô tánh, th́ vô tánh chẳng ngại duyên sanh. Nếu chẳng niệm Phật, đúng là sợ lại nẩy sanh đủ thứ tạp niệm. Dẫu chẳng sanh tạp niệm, vẫn sợ đọa vào khuôn sáo vô sanh! V́ thế, ắt phải dùng Phật hiệu để sanh cái niệm của ta, khiến cho ta niệm nào cũng chẳng ĺa Phật hiệu. Đó chính là ngoài tâm chẳng có Phật, ngoài Phật chẳng có tâm. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Bảo là dùng Phật để chứng tâm cũng được, mà bảo là dùng tâm để chứng vị Phật trong tâm cũng được, mà bảo là dùng Phật chứng Phật để tâm chứng tâm cũng được luôn! Tột bậc thẳng thừng, nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, liễu nghĩa viên đốn tột bậc chẳng thể nghĩ bàn. Chẳng thể dùng hết thảy các pháp môn khác để so lường! Thật sự tin được như thế, thẳng thừng mà niệm, chư Phật sẽ lộ tướng lưỡi rộng dài để làm chứng. Nếu ai chuyên niệm Di Đà, đáng gọi “vô thượng thâm diệu Thiền”. Khi chí tâm tưởng tượng thấy Phật, chính là pháp bất sanh, bất diệt! Lời chân thành [thốt ra] từ miệng vàng, há có thể chẳng tin ư?

 

* Chỉ dạy Linh Dịch

         

Thọ là cội gốc của phước. Phước là nền tảng của huệ. Niệm nào cũng đều nghĩ cảnh tỉnh, tự sách tấn chính ḿnh, đấy là mầm mống của huệ, là cội nguồn của phước và thọ. V́ thế nói: “Thường nghĩ đến lúc bệnh, trần tâm sẽ dần dần diệt. Thường nghĩ đến lúc chết, đạo niệm sẽ tự sanh”. Chính ngay khi bệnh hoặc chết hiện tiền, có ǵ là ngă tướng để có thể trông cậy, ngũ dục có thể tham, có danh ǵ đáng để luyến, có cổ vật trân quư ǵ để có thể xách theo? Chẳng cậy vào ngă tướng th́ ngă kiến bị chế phục. Chẳng tham ngũ dục, phiền năo sẽ bị hàng phục. Chẳng luyến hư danh, sẽ có thể buông xuống thể diện. Biết đồ cổ trân quư chẳng thể đem theo, sẽ chẳng mong cầu quá phận. Dẫu đă có từ trước, vẫn có thể xả để làm phước. Nếu có thể ĺa ngă và ngă sở, kiến chấp, và phiền năo, sẽ thấy tăng, tục, thông minh, ngu xuẩn, không một ai chẳng phải là Phật vị lai. Đă thấy không ai chẳng phải là vị lai Phật, sẽ đều có thể cúng dường, cung kính vị lai chư Phật, không ai chẳng làm được! Phàm những điều có thể tổn thương, năo hại, chống đối vị lai Phật, sẽ không ǵ chẳng chấm dứt. Như thế mà nếu phước chẳng tăng, thọ chẳng măi măi, cái lưỡi của Ngẫu Ích sẽ rơi rụng. Nếu chẳng thể trong hết thảy mọi lúc đều nghĩ tới vị lai Phật, sẽ chẳng thể tích tập phước huệ trong hết thảy mọi lúc! Phước huệ chẳng tích lũy, dẫu may mắn sống đến trăm tuổi, rốt cuộc cũng mục nát giống như cỏ cây đó thôi!

 

* Chỉ dạy đại chúng trong giảng đường (có chú thích)

 

          Hết thảy Tướng Phần (chỉ chung tám Tâm Vương và năm mươi mốt Tâm Sở) đều là h́nh bóng của tâm (giống như h́nh tượng trong gương). Hết thảy Kiến Phần đều là tâm quang (ví như gương chiếu sáng). Hết thảy Tự Chứng Phần đều là tâm thể (ví như sắc chất của cái gương). Hết thảy Chứng Tự Chứng Phần đều là tâm tánh (ví như chất đồng nơi cái gương. Bốn phần này đều là Y Tha Khởi Tánh). Do quang ảnh là vọng, nên thể tánh cũng vọng (Vọng ở đây bao hàm hai tầng nghĩa: Một là từ quang ảnh bèn so đo có thật ngă, thật pháp, tức là Biến Kế Sở Chấp Tánh. Đă chấp quang ảnh là ngă pháp th́ ngay cả thể tánh cũng là ngă pháp; bốn phần ấy đều trở thành Biến Kế. Hai là tuy chẳng hư vọng so đo ngă pháp, nhưng vẫn thấy quang và ảnh là hai phần sai khác, chẳng hiểu rơ chúng chỉ là một tâm, bèn đọa vào Y Tha Khởi Tánh. Không chỉ quang ảnh là Y Tha, ngay cả thể tánh thanh tịnh cũng là Y Tha. Do vậy, cả bốn phần đều là Y Tha Tánh).

Thể tánh chân thật th́ quang ảnh cũng chân thật (sự chân thật này chẳng phải là ĺa bốn phần Y Tha mà riêng có một cái Chân. Chỉ là liễu đạt quang và ảnh thật sự chẳng có hai, chỉ là một tâm. Cớ sao trong ấy lại có đúng, có sai? Tức không chỉ thể tánh chính là Viên Thành Thật, mà quang ảnh cũng là Viên Thành Thật. Do đó, bốn phần không ǵ chẳng phải là Viên Thành Thật Tánh). Ví như chấp dây thừng là rắn th́ sợi gai cũng thành rắn (cũng giống như chấp h́nh tướng trong gương là người thật. Đă mê tướng Y Tha, ắt sẽ mê cái Thể Viên Thành). Hiểu dây thừng chính là gai, nên rắn cũng là gai (cũng giống như hiểu h́nh ảnh [trong gương] và ánh sáng đều chỉ là gương. Đă ngộ Y Tha chẳng có, sẽ tự biết Biến Kế vốn là Không). Do đó, kẻ thấy là rắn chính chẳng thấy dây thừng và gai (đấy là sánh ví hết thảy phàm phu, ngoại đạo). Đó là nói: Một thứ là biến kế th́ hết thảy đều là biến kế (mười pháp giới đều là cảnh bị biến kế). Nhưng chẳng phải là không có thừng, chẳng phải không chính là gai (có thể thấy Biến Kế chẳng ĺa Y Tha và Viên Thành Thật. V́ vậy, Không Quán chỉ rỗng không Biến Kế, c̣n Y Tha và Viên Thành Thật vốn chẳng thể rỗng không. Nếu trừ diệt tam tánh, nhập tam vô tánh (tướng vô tánh, sanh vô tánh, thắng nghĩa vô tánh), bèn gọi là “một thứ đă là Không, hết thảy đều là Không”, cũng chỉ là trừ chấp trước “chắc chắn có tam tánh”, vẫn chỉ là rỗng không t́nh chấp Biến Kế nơi Y Tha và Viên Thành Thật). Kẻ thấy dây thừng, chẳng so đo là rắn, cũng chẳng thấy gai (điều này ví như Quyền Trí của Tam Thừa). Đó gọi là “một thứ là Y Tha, th́ hết thảy đều là Y Tha” (mười giới không ǵ chẳng phải là Y Tha Khởi Tánh). Nhưng chưa hề chẳng phải là gai, cũng chưa từng ngăn ngại kẻ si chấp là rắn (có thể thấy Y Tha cũng chẳng ĺa Biến Kế và Viên Thành Thật. Do vậy, giả quán chỉ lập Y Tha, chứ Biến Kế chẳng thể lập, Viên Thành Thật chẳng cần lập. Dẫu thành lập duyên khởi của tam tánh, bèn nói “một thứ là Giả, hết thảy sẽ đều là Giả”, cũng chỉ là ước theo ngộ mà gọi là Viên Thành. Ước theo mê th́ gọi là Biến Kế, vẫn chỉ là nêu tỏ “tam tánh không ǵ chẳng phải là Y Tha Khởi”).

Kẻ thấy gai, biết rơ chẳng phải là rắn, cũng chẳng phải là dây thừng (đây là sánh ví thật huệ của bậc viên nhân). Đó gọi là “một thứ viên thành, hết thảy đều viên thành” (mười giới không ǵ chẳng phải là Viên Thành Thật tánh), nhưng chẳng ngăn ngại kẻ ngu chấp “thật sự có dây thừng, thật sự có rắn” (chấp “thật sự có dây thừng” là sự ngu muội của tam thừa, chấp “thật sự có rắn” là sự ngu muội của phàm phu, ngoại đạo. Có thể thấy là Viên Thành cũng chẳng ĺa Biến Kế và Y Tha. Do đó, Trung Quán chỉ nêu rơ Viên Thành, c̣n Biến Kế và Y Tha vốn chẳng thể nêu rơ. Nếu gồm thâu trọn vẹn ba tánh, bèn gọi là “một thứ là Trung th́ hết thảy đều là Trung”, cũng chỉ hiển lộ Biến Kế và Y Tha chẳng có Thể. Thể chính là Viên Thành, vẫn chỉ là hiển thị Biến Kế và Y Tha đều cùng là một tánh Viên Thành Thật), chỉ có thể quán sát cảnh giới tự tâm như thế (hết thảy cảnh giới đều chỉ do tâm hiện, đều chính là tâm. V́ thế, gọi là cảnh giới của tự tâm). Chẳng chấp vào ngôn ngữ, văn tự (thánh hiền tạo luận, tùy ư dùng thí dụ để kẻ mờ mịt được thấu hiểu, vốn chẳng có pháp chết cứng). Lại như gương có th ví như bốn phần của Y Tha, cũng có thể thêm vào ư niệm cho rằng “thật sự có người” để sánh ví tam tánh, tức gương chính là Viên Thành Thật Tánh. H́nh bóng [hiện ra trong gương] chính là Y Tha Khởi Tánh. Kẻ ngu tiểu vô tri chấp thật sự có người, tức là Biến Kế Chấp Tánh.

Lại như dây thừng có thể ví như tam tánh mê ngộ, cũng có thể trừ khử chấp trước hư vọng là rắn mà sánh ví bốn phần, tức là hai đầu thừng ví như Kiến Phần và Tướng Phần, gai có thể sánh ví Tự Chứng Phần. Tứ vi (bốn thứ danh, sắc, vị, xúc vi tế) có thể sánh ví Chứng Tự Chứng Phần. Dùng thí dụ để dung hội thí dụ, lư dễ sáng tỏ nhất. Nếu chấp chặt chết cứng, chẳng biết lẽ biến thông; đó gọi là “y văn giải nghĩa. Tam thế Phật oan” (nương theo văn tự mà hiểu nghĩa, ba đời chư Phật bị oan uổng), nhưng cũng chẳng thể bỏ mặc ngôn ngữ, văn tự (kinh Hoa Nghiêm có kệ rằng: “Văn tùy ư nghĩa, nghĩa tùy văn” (văn thuận theo nghĩa, nghĩa tùy thuộc văn). Cổ nhân nói: “Ĺa kinh một chữ, sẽ giống như ma nói”). Vậy th́ dù Tông hay Giáo, đều dùng một nguyên lư cơ bản để xuyên suốt.

Lại phải nên biết: Chúng sanh dấy lỗi, chỉ do Kiến Phần và Tướng Phần, quyết chẳng do Tự Chng và Chứng Tự Chứng Phần, do hai phần bên trong suốt ngày ở trong vọng, nhưng suốt ngày luôn chân thật, chúng sanh sử dụng thường ngày mà chẳng biết, sẽ không thể do đâu mà dấy lỗi. V́ thế, Tướng Tông đều gọi những điều này là Hiện Lượng, đều là kèm theo, chỉ do toàn bộ Thể trở thành Dụng. Dụng đă là Y Tha, Thể ắt cũng thành Y Tha. Do vậy, bốn phần đều thuộc vào Y Tha, chẳng dung trơ trọi tướng Thấy làm Y Tha Tánh, do ngoài Dụng chẳng có Thể. Nếu biết rơ toàn bộ Dụng chính là Thể, th́ Thể đă là Viên Thành. Do vậy, cả bốn phần đều chính là Viên Thành, chẳng thể riêng lập hai phần bên trong làm Viên Thành Thật, do ngoài Thể chẳng riêng có Dụng.

Người hiện thời chẳng liễu đạt, nếu chấp bốn phần đều là Y Tha, ở ngoài bốn phần riêng lập một tánh Viên Thành Thật, mà nói “Chân Như và hết thảy các pháp chẳng một, chẳng khác”. Điều ấy giống như bỏ gai đă bện thành dây thừng để riêng cầu sợi gai chưa bện thành thừng, ḥng so sánh [sợi gai] với thừng rồi nói “chẳng một, chẳng khác”, nhưng “chẳng một” há có phải thật sự là “chẳng khác” ư? Than ôi! Sai biệt chừng bằng hào ly, cách biệt như trời với đất. Ư chỉ “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến” gần như đă bị kiến giải của lũ mọt sách gây loạn, tôi làm sao có thể biện định được!

 

* Chỉ dạy Vương Mộng Hồi về cái tên Tịnh Tỉnh

         

Do ư nơi tâm tánh mà biết mộng trọn đủ, muôn vật trong trời đất là cảnh mộng. B́nh trị hay loạn lạc xưa nay đều do mộng hiển hiện. Người chỉ có thể nằm mộng th́ suốt ngày ở trong mộng, suốt ngày bất hoại. Hễ nằm mộng th́ không chỉ chẳng thể gọi là “b́nh trị hay loạn lạc xưa nay”, mà muôn vật trong trời đất lại chẳng thể gọi là “do ư nơi tâm tánh mà biết”. Thông hiểu điều này, sẽ thông suốt đạo ngày đêm để biết vậy!

 

* Chỉ dạy Phạm Đắc Tiên

 

          Chỉ có đạt được cuối cùng trong thiên hạ th́ mới có thể là trước hết trong thiên hạ. Chỉ có người biết trước hết trong thiên hạ, th́ mới có thể là người cuối cùng trong thiên hạ. Do vậy nói “Càn tri đại thỉ, Khôn tác thành vật” (do quẻ Càn mà biết khởi đầu của vũ trụ, do quẻ Khôn mà tạo thành muôn vật), há có nên tự cưỡng ép [đất] chở vật [cùng với trời che phủ] có hai Thể ư? Nhan Tử chết, thánh học mất, tri và hành tách rời, Châu, Lục[37] đua nhau khác lạ, chen lẫn cái tâm chỉ mong cầu thỏa thích vật chất, tư dục, xen tạp kiến chấp nhân ngă, tô vẽ bằng cách cướp lấy hư vô, đuổi theo bóng của Thiền, cho nên cơi đời chẳng có nhà Nho chân thật. Nhan Hồi hễ có điều ǵ bất thiện, chưa từng chẳng nhận biết, có thể gọi là “biết đầu tiên”. Đă biết rồi, sẽ chẳng hề tái phạm, có thể gọi là “đạt được cái cuối cùng”, nhưng Khổng Tử cực lực nêu tỏ [phẩm đức của Nhan Hồi] chỉ là chẳng ngoài sáu chữ “bất thiên nộ, bất nhị quá” (chẳng trút giận sang người khác, chẳng phạm lỗi lần thứ hai) mà thôi! Tâm “chẳng giận, chẳng mắc lỗi” là Thể, ư có giận, có phạm lỗi là động. Biết giận, biết lỗi là lương tri. Chẳng trút giận, chẳng tái phạm chính là “cách vật” (trừ khử vật dục). Hiểu được điều ấy, sẽ thật sự đạt được cái trước hết!

 

* Chỉ dạy Diệp Thiên Kỷ

 

          Có tâm rồi sau đó có thiên địa vạn vật. Thánh hiền truyền dạy, bất quá dùng tâm ấn tâm. V́ thế nói “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh, duy nhất, doăn chấp quyết trung” (ḷng người nguy hiểm, đạo tâm vi diệu, chỉ có chính ḿnh chuyên ṛng, nhất ư, tinh thành khẩn thiết vâng giữ đạo trung chánh). Tâm há có hai ư? Do mê đối với cái “vốn là một”; v́ thế, “nhân tâm duy nguy” (ḷng người nguy hiểm), như nước thành băng. Ngộ th́ chẳng hai, cho nên “đạo tâm duy vi” (đạo tâm th́ vi diệu, nhỏ nhiệm), như băng lại tan thành nước. Phản mê quy ngộ, nên gọi là “duy tinh” (chỉ chuyên ṛng). Như nước sôi tiêu băng, mê và ngộ tánh Không; v́ thế gọi là “duy nhất”. Như nước và băng có cùng một tánh ướt; tuy bừng bừng mê ngộ, nhưng cái Thể vốn chẳng thuộc vào hai đằng mê hay ngộ. Do vậy bảo là “quyết trung”, tức là cái Thể duy nhất. Từ mê đắc ngộ, hễ ngộ, sẽ vĩnh viễn chẳng mê lại nữa, cho nên gọi là “doăn chấp” (kiên quyết, thành khẩn ǵn giữ), tức là công năng của “duy tinh”. Vua Nghiêu dùng cái tâm này để học, xác lập cùng cực, biết rơ ngoài tâm chẳng c̣n có muôn vật trong trời đất. Do đó, tương ứng với trời th́ người quy phục, cỏ cây ứng hiện điềm tốt lành, cây ngô đồng ghi nhớ tháng nhuận, cỏ minh giáp nhớ mỗi tháng[38], há ngoài tâm tánh riêng có cảm ứng ư? Thời Tam Đại Đường Ngu tuy đă qua, nhưng tâm tánh của chúng ta vốn chưa từng qua đi. Thời Xuân Thu có Khổng Tử, Nhan Hồi, cuối thời Lục Triều có Vương Thông, đời Tống có Lục Tượng Sơn, đời Minh có Vương Văn Thành (Vương Dương Minh)[39], người học sau đó, nếu khế hợp cội nguồn của tâm tánh, có thể nói là Nghiêu, Thuấn, Khổng, Nhan đến nay vẫn chưa mất vậy! Nhưng bất quá Nghiêu, Thuấn, Khổng, Nhan thấu đạt “ngoài tâm chẳng có pháp”, cho nên “vật cách” (thấu hiểu bản chất của sự vật) mà lương tri tự đạt đến. Sự hiểu biết đạt tới tột cùng, ư bèn thành, tâm bèn chánh. Tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ chẳng nhọc công sức, có bao giờ dùng tám điều mục, ba cương lănh[40] để làm rối sự truyền thừa nhất quán đó ư? Châu Liêm Khê phát ngộ nơi ngài Đông Lâm Tổng[41], muốn xuống tóc, Tổng Công căn dặn hăy nâng đỡ, vun bồi Nho học, bèn trở thành thỉ tổ của Tống Nho. Đối với Thiên Kỷ ông, tôi hết sức mong mỏi vậy!

 

* Chỉ dạy Cự Phương

 

          Thiên Thai tiếp nối sự truyền thụ nghe biết của Long Thọ, xiển dương lẽ mầu khai hiển từ Thứu Phong, Quyền và Thật cùng tỏ rơ, Giáo và Quán cùng nêu, như lễ nhạc thời Tam Đại siêu việt muôn đời, chẳng phải như nền thịnh trị thời Hán, Đường xen tạp bá quyền, xen tạp man di mà có thể phảng phất một phần vạn được! Đời sau đuổi theo ḍng, quên bẵng nguồn, dần dần trở thành rườm rà, rắc rối, nhưng chuyện uốn nắn những lệch lạc, sai trái lại bị bó chặt, cất trên gác cao, khiến cho thói ác của chư hầu tàn hại chính ḿnh càng chẳng kiêng dè! Công khai dùng sớ chống đối kinh, dùng Tổ để chống đối Phật. Ôi! Thật đáng buồn quá đỗi! Lăo nhân Diệu Phong từ cửa Nguyệt Đ́nh mà ra, nhưng cực lực hoằng dương ư chỉ của tông Thiên Thai. Lăo nhân Thiệu Giác học tập di thư của ngài Đại Giác, mà diễn giảng trọn khắp ba tông. Ngài Thiệu Giác truyền thừa xen tạp, c̣n ngài Diệu Phong chuyên truyền [đạo của] ngài Vô Tận. Do vậy, thế gian lại biết có danh tự của tông Thiên Thai, đến nay [tông Thiên Thai] lại chẳng tránh khỏi danh tiếng nổi bật mà thực chất đă suy.

Tôi vốn là thứ cỏ hèn mọn trong tông này, do cảm khái pháp đạo suy bại, suy xét căn bệnh trong nhà Thiền thời gần đây, cho nên nghĩ cách cứu vớt, thỉnh Phật xác quyết, rút được cái thăm “nương theo giáo nghĩa của tông Thiên Thai chú giải kinh Phạm Vơng”, mới chịu dốc ḷng nơi tam đại ngũ tiểu[42], hổ thẹn chẳng có thật đức, chẳng thể dùng thân để hoằng đạo, nhưng đối với điều hay thời cổ và thói tệ hiện thời, khá biện định được đầu mối. Bởi lẽ, tông Thiên Thai bắt nguồn từ kinh Pháp Hoa. Kinh Pháp Hoa khai Quyền hiển Thật, không ǵ chẳng phân định, không ǵ chẳng thâu thập. Nay người hoằng dương tông Thiên Thai đă chẳng thâu trọn hết Thiền, Luật, Pháp Tướng, sao có thể tạo thành sự hay khéo dứt bặt đối đăi? Đă riêng cô phụ sự thù thắng của tông Thiên Thai, há lại chẳng trở thành sự đối đăi thô vụng? V́ thế, Thiên Thai đă cự tuyệt Thiền Tông, Pháp Tướng là sơn ngoại (coi là chuyện không đáng được quan tâm đến), Thiền cũng cự tuyệt sự vượt ra ngoài “đơn truyền trực chỉ” của tông Thiên Thai! Phàm những ai cự tuyệt tông Thiên Thai, cố nhiên là không chỉ chẳng hiểu biết tông Thiên Thai, kẻ cự tuyệt Thiền và Pháp Tướng lại chỉ chẳng biết Thiền và Pháp Tướng mà thôi ư? Thà học theo thánh nhân chưa đạt đến mức tận cùng, sẽ chẳng mong dùng một tài khéo để thành danh. Ôi! Nếu thật sự chẳng do một tài khéo mà thành danh, thánh nhân cũng không ai có thể học được lư tột cùng vậy!

 

* Chỉ dạy Thương Vân

 

          Học đạo th́ chẳng có thật pháp nào khác, [chủ yếu là] biến hóa khí chất, quyết trừ khử tập khí mà thôi! Khí chất đă biến đổi, phẩm cách chẳng mong vượt trội mà tự vượt trội! Tập khí đă trừ, chẳng mong thấu đạt Phật pháp mà tự thấu đạt. Vàng do nung luyện mà ṛng, gương do mài mà sạch. Tôi ngơ ngác chẳng biết người học hiện thời như thế nào nữa! Khí chất mặc t́nh lỗ măng mà chẳng biết sửa đổi, cứ chăm chú tu tập những thứ bề ngoài, chẳng biết phản tỉnh, nạp ch́, sắt vào vàng ṛng để được nhiều cân lượng hơn, chẳng biết là tạp ngụy khôn kham! Dùng phấn trắng xoa lên gương mong được quang minh khiết bạch, chẳng biết gương càng bị vùi lấp quá đỗi! Người thật sự có chí học theo thánh, hiền, Phật, Tổ, ắt trước hết phải biến điều khó khăn của mọi người thành dễ dàng, biến điều cấp bách trong thói đời hiện thời thành thong thả, lấy cổ nhân làm thầy, chẳng vâng theo người hiện thời, xét đoán con người theo phẩm cách, chẳng tin theo những ư kiến họ nêu ra, coi người kể lỗi của chính ḿnh như lương y, coi người ca ngợi điều tốt lành của ta như rượu trấm độc[43]. Người mong mỏi đạo mạch ngàn đời nơi ta chính là thầy sáng, bạn lành. Kẻ dùng sinh kế trước mắt để khuyên dụ ta là bạn ác, ma đảng! Xem một kinh, bèn nghĩ có lập tức tương ứng với thân tâm hay không? Thấy một sự, bèn nghĩ sẽ có ích hay gây hại cho bổn phận. Thấy người hiền mong được bằng. Thấy kẻ chẳng hiền, nội tâm bèn phản tỉnh. Tức là hiền và chẳng hiền đều có thể lợi ích cho ta. Nếu thấy điều lành mà chẳng thể tùy hỷ tu học, thấy điều ác bèn khinh mạn, hủy nhục, tức là thiện hay ác đều có thể tổn hại ta. Than ôi! Người khéo giữ lấy điều lợi ích, không ǵ chẳng phải là lợi ích. Kẻ cam ḷng tự tổn hại, không ǵ chẳng phải là tổn hại! V́ thế nói: “Người trí trị tâm, chẳng trị cảnh. Kẻ ngu trị cảnh, chẳng trị tâm”. Há chẳng đáng suy nghĩ sâu xa ư?

Đời tôi lầm lỗi nhiều nhất, chưa thể giảm bớt lỗi, sao có thể răn nhắc người khác? Nhưng nếu pháp hữu có thể tự ḿnh răn nhắc th́ lỗi của tôi chính là thuốc của pháp hữu vậy! Tôi quả thật chẳng có mảy may sở trường ǵ, cho nên chẳng thể tự khoe khoang. Nay pháp hữu dẫu có ưu điểm, cũng nên bắt chước tôi đừng khoe khoang. Tôi tự phản tỉnh, quả thật [chính ḿnh] chẳng bằng hết thảy mọi người; do đó, trọn chẳng dám khinh hết thảy mọi người. Nay pháp hữu dẫu vượt trội hết thảy mọi người, cũng trọn chớ nên khinh hết thảy mọi người. Đối với tôi, không ǵ chẳng phải là thầy, cho nên không có vị thầy nào riêng biệt. Nay dẫu pháp hữu riêng coi tôi là thầy, cũng nên học theo tôi “không ǵ chẳng phải là thầy”.

Nếu như chuyên nghiên cứu Giáo Quán, chú trọng sám-ma, gởi ḷng nơi An Dưỡng, chẳng cầu tiếng tăm, không có chí [tham cầu] lợi dưỡng, [coi mọi chuyện cần phải làm] đều là bổn phận đương nhiên, không một điều ǵ đáng biểu lộ khác lạ. Nếu có một niệm biểu lộ sự khác lạ th́ chính ngay một niệm ấy đă chẳng tương ứng với Giáo Quán, mà cũng chẳng tương ứng với sám-ma, cũng chẳng tương ứng với An Dưỡng. Đó cũng là cái gốc của danh, cũng là rừng rậm lợi dưỡng. Đấy là lư do tôi niệm nào cũng phán xét chính ḿnh, biết đích xác nỗi khó khăn trong giảm bớt lỗi, chẳng rơ pháp hữu thật sự có thể phán xét chính ḿnh, có thể giảm bớt lỗi hay không?

Than ôi! Thế đạo suy vi, t́nh nghĩa thầy tṛ chôn vùi. Bị danh vọng xỏ mũi, bị quyền thế buộc ràng, ai c̣n biết có chuyện thoát sanh tử, thành Bồ Đề nữa đây? Miệng nói “v́ sanh tử”, nhưng vun bồi sanh tử. Miệng nói “cầu Bồ Đề”, lại trái nghịch Bồ Đề! Đều là do chẳng phá ngă chấp và pháp chấp; nhưng hai thứ chấp ấy ẩn nấp trong tạng thức, ngao du trong các căn, ngày đêm tuôn rót chưa hề gián đoạn. Bỏ mặc điều này chẳng suy xét, cứ riêng nghiên cứu Giáo Quán. Bỏ mặc điều này chẳng sám hối, riêng tu sám-ma. Bỏ mặc điều này chẳng tịnh trừ, riêng cầu Tịnh Độ, há có phải là đạo tự giác, giác tha ư?

 

* Chỉ dạy Châu Chấn Dương

 

          Kim Cang Bát Nhă chẳng ngoài hai vấn đề “ưng trụ” (hăy nên trụ như thế nào) và “hàng phục”, nhưng đó chẳng phải là hai sự! Do có thể hàng phục, bèn có thể trụ đúng như lời dạy. Trụ trong lục trần sẽ chẳng phải là hàng phục cái tâm! Do vậy, các vị Bồ Tát ở trời Tây dùng bốn tâm để giải thích “hàng phục”, không nghĩa nào chẳng trọn hết:

- Một là tâm rộng lớn, tức là cảnh để duyên vào đều trọn khắp, chẳng cách ngăn tam giới, tứ sanh, hàng phục cái tâm hạn cuộc trong lục trần từ vô thỉ.

 - Hai là đệ nhất tâm, tức là phát thệ sâu xa khiến cho đạt được Vô Dư Niết Bàn, hàng phục cái tâm vô thỉ đối với lục trần hèn kém mà vui mừng, tự cho là đủ.

- Ba là thường tâm, tức chúng sanh chính là tự tâm. Ngoài tâm, thật sự chẳng có chúng sanh được diệt độ, hàng phục cái tâm “đối với lục trần, so đo hư vọng ngăn cách ta, người” từ vô thỉ.

- Bốn là tâm chẳng điên đảo, tức là liễu đạt chẳng có bốn tướng “ta, người, chúng sanh, thọ giả”, hàng phục ư niệm “đối với lục trần hư vọng, so đo ngă và ngă sở” từ vô thỉ.

Hăy nên biết: Niệm nào cũng tương ứng với bốn tâm, sẽ chính là “như sở giáo trụ” (trụ đúng như lời dạy). Nếu một niệm trụ trong lục trần, tức chẳng phải là trụ, do hạn cuộc trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cho nên chẳng rộng lớn, mà là hèn kém, chẳng phải là bậc nhất. Do đổi dời, nên chẳng phải là chân thường, điên đảo, chẳng phải là chánh trí. V́ thế, chẳng trụ trong lục trần, mà cũng chẳng trụ trong “chẳng trụ”. Do vậy bảo “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm). Bởi lẽ, do trụ trong lục trần, nên gọi là “phàm phu, ngoại đạo”. Trụ trong “chẳng trụ”, chỉ gọi là Thanh Văn, Duyên Giác, v́ vẫn trụ trong pháp trần vi tế xuất thế, chẳng thể gọi là “chân chánh vô trụ”. Do đó, vẫn hạn cuộc trong đổi dời, kém cỏi, điên đảo, chẳng phải là chánh trí chân thường rộng lớn bậc nhất. Chỉ có bậc đại Bồ Tát phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề biết rơ tâm tánh trong một niệm hiện tiền vốn là chân thường rộng lớn bậc nhất, vốn chẳng điên đảo. Do vậy, trụ trong chánh trí chân thường rộng lớn bậc nhất để tu Lục Độ vạn hạnh, chẳng giống như phàm phu trụ trong Hữu, hoặc Nhị Thừa trụ Không. Chúng ta thấy điều này, sẽ có thể thẳng thừng tu hành. Nếu dấy lên một niệm, hoặc tâm hạn cuộc, hoặc hèn kém, hoặc cách biệt, hoặc tâm điên đảo, liền dùng cái tâm chánh trí chân thường rộng lớn bậc nhất để hàng phục, mà cũng chẳng chấp vào tướng rộng lớn cho đến tướng chánh trí, do bốn tâm vốn chẳng phải là cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Công phu như thế hết sức nhanh chóng, hết sức thẳng thừng, lẹ làng, cho đến tận ngằn mé vị lai, hăy nên trụ như thế, hàng phục như thế, có thể nói là dùng “chẳng sanh, chẳng diệt” làm cái gốc để tu nhân, sau đấy viên thành quả địa tu chứng vậy!

 

* Chỉ dạy Tây Tŕ

 

          Kinh dạy: “Đắc ngộ đạo, hưng tín tâm nan. Kư tín tâm, phát Bồ Đề tâm nan. Kư phát tâm, vô tu vô chứng nan” (Được ngộ đạo, dấy lên tín tâm khó lắm. Đă có tín tâm, phát Bồ Đề tâm khó lắm. Đă phát tâm, vô tu vô chứng khó lắm). Than ôi! Đấy là lời chí lư vậy! Nhưng chẳng liễu đạt cái Thể của vô tu, vô chứng, chẳng gọi là chân Bồ Đề tâm. Chẳng phát chân Bồ Đề tâm, cũng chẳng gọi là “chân tín”. Tín há nói dễ dàng ư? Ngài Mă Minh tạo luận, đặt tên thẳng thừng là Khởi Tín [Luận]. Tam Tổ (thiền sư Giám Trí Tăng Xán) soạn bài minh, đặt tên thẳng thừng là Tín Tâm [Minh]. Chẳng như hậu thế, hư vọng đối với tín giải tu chứng, cưỡng chia thành thứ tự cạn, sâu.

Tây Tŕ hiền giả, cùng với vợ con đều xuất gia. Xưa kia, Bàng cư sĩ vợ chồng cùng ở chung, con trai không cưới vợ, con gái chẳng gả chồng. Lại nói: “Chỉ mong rỗng không các sở hữu, đừng thật sự không có ǵ!” Chẳng phải là Ngài đă khế nhập ư chỉ vô tu, vô chứng rất rơ ràng ư? Hiện thời, giới Cận Trụ (giới của cư sĩ tại gia) chính là diệu pháp vô tu vô chứng. Nếu chẳng chú trọng vào đó, toan t́m kiếm lẽ huyền ở nơi nào, lại chẳng bằng chẳng giết, sát nghiệp rỗng không, chẳng trộm, nghiệp trộm cắp rỗng không, chẳng dâm, nghiệp sanh ra lẫn nhau rỗng không, chẳng nói dối, nghiệp năo hại lẫn nhau rỗng không, chẳng uống rượu, nghiệp si ám rỗng không. Chẳng giết, chẳng giữ lấy quả báo trường thọ. Chẳng trộm, chẳng giữ lấy quả báo giàu có, dư dật. Chẳng dâm, chẳng giữ lấy quả báo sanh trong Phạm Thế. Chẳng dối, chẳng giữ lấy quả báo được tin tưởng tôn trọng. Chẳng uống rượu, chẳng giữ lấy quả báo thông minh, lanh lợi. Há chẳng phải là diệu hạnh “chỉ rỗng không tất cả sở hữu, nhưng thật ra chẳng có ǵ là không” đấy chăng? Dùng đó để thanh tịnh tam nghiệp, khiến cho trọn khắp chúng sanh cùng nhập chân tánh Tịch Quang, há chẳng phải là đại Bồ Đề tâm vô tu, vô chứng ư? Nếu chẳng thể từ nơi giới thấy thấu triệt tông chỉ “tánh, tu bất nhị”, sao gọi là chân tín cho được? V́ thế, Tam Tổ nói: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm. Ngôn ngữ dứt bặt, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai”. Ngài Mă Minh nói: “Tự tâm khởi tín, lại tin tự tâm”.

 

* Chỉ dạy Hà Đức Khôn

 

          Người khéo học Phật pháp chẳng khó thông suốt văn tự, nhưng khó liễu đạt nghĩa. Liễu đạt nghĩa chẳng khó, nhưng khó nhập lư. Lại nữa, nhập lư chẳng khó, nhưng khó vong t́nh. Hễ t́nh kiến c̣n chưa quên, chắc chắn chẳng nhập lư thấu suốt. Lư chẳng thấu suốt th́ chắc chắn nghĩa đă liễu đạt chẳng vô ngại! Nghĩa chưa vô ngại th́ văn tự đă thông suốt chắc chắn chẳng phải là tổng tŕ. Do vậy, tánh và tướng tách biệt, Tông và Giáo đối lập. Thói tệ thời Mạt Pháp chẳng phải là do t́nh kiến gây lụy ư? Nhưng t́nh chẳng phải chỉ là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp lôi kéo, dấy động lục căn, chẳng phải chỉ là phú quư, công danh, đạo đức ràng buộc trong cuộc đời. Dẫu toàn thể buông xuống, toàn thân vùi vào đó, nhưng học Thiên Thai th́ sẽ có t́nh chấp đối với Thiên Thai, học Hiền Thủ, Từ Ân, sẽ có t́nh chấp đối với Hiền Thủ, Từ Ân. Tham Tào Động Thiền, sẽ có t́nh chấp đối với Tào Động. Tham Lâm Tế Thiền, sẽ có t́nh chấp đối với Lâm Tế. Hễ có t́nh chấp đối với một pháp, sẽ trở thành lư chướng. Lư chướng th́ nghĩa bị hạn cuộc. Nghĩa bị hạn cuộc th́ văn mạch chết cứng. Văn mạch chết cứng th́ c̣n chẳng thể là con cháu của đức Văn Tuyên (Khổng Tử)[44], huống hồ là hậu duệ chân thật của đức Ca Văn (Phật Thích Ca) ư? V́ vậy, tôi thường nói thật sự chẳng cô phụ linh tánh của chính ḿnh, cần phải tận lực lật nhào khuôn khổ sáo ṃn của Tông và Giáo trong thời gần đây th́ mới có thể nhập trọn khắp chỗ rộng lớn sâu thẳm của Tông, Giáo thời cổ”.

Chỗ rộng lớn, sâu thẳm ấy có ǵ khác đâu? Bất quá là nêu tỏ tâm tánh vốn sẵn có của chúng ta mà thôi! Tâm tánh chẳng có pháp nào không trọn, chẳng có pháp nào không tạo, nhưng hết thảy các pháp được trọn, được tạo ấy, thảy đều là vô tánh. Hiểu rơ pháp vô tánh ấy, mỗi mỗi đều chẳng phải là thật ngă, thật pháp, th́ gọi là Từ Ân Tông. Hiểu rơ các pháp vô tánh, nhưng mỗi mỗi đều có thể đầy đủ trọn khắp, tạo tác trọn khắp, th́ gọi là Pháp Tánh Tông. Trực chỉ vọng pháp, vọng tâm trong hiện tiền, thảy đều là vô tánh, khiến cho họ kiến tánh thành Phật, th́ gọi là Thiền Tông. Do vậy, Lâm Tế nhanh chóng, thẳng thừng, lẹ làng, chưa từng chẳng tinh vi, Tào Động tinh tế, nghiêm mật, chưa hề chẳng đơn giản, thiết thực. Duy Thức th́ giữ Y Tha và Viên Thành Thật, chưa từng chẳng phá Biến Kế Sở Chấp. Bát Nhă phá t́nh chấp, chưa từng chẳng lập đế lư. Ngài Hộ Pháp[45] nói Chân Như chẳng thể huân, ngài Mă Minh nói Chân Như và vô minh huân lẫn nhau, chưa từng nói nhất định. Cho đến giáo thừa, tuy nhờ vào ngôn ngữ, chưa từng chẳng khế nhập cái Thể của Thật Tướng. Thiền Tông tuy quét sạch văn tự, chưa từng đọa vào lỗi ám chứng. Ấy là v́ cổ nhân có thể thật sự quên bẵng t́nh kiến, cho nên nhập lư. Người hiện thời phần nhiều câu nệ lư; do vậy, vướng mắc nơi t́nh!

 

* Chỉ dạy Niệm Phật Xă

 

          Chúng ta từ vô thỉ cho đến tột cùng vị lai, chắc chắn chẳng có lúc nào không dấy niệm. Dẫu tâm lự ngưng lặng như tro tàn, lại nhập Vô Tưởng Định, vẫn đọa trong tám vạn bốn ngàn loạn tưởng khô khan, nhưng nghĩ tới địa ngục th́ là người thuộc địa ngục giới, nghĩ tới ngạ quỷ th́ là người thuộc ngạ quỷ giới. Cho đến niệm Phật, sẽ chính là người thuộc Phật giới. Lư này rơ ràng tột bậc. Do vậy, Tông Kính Lục viết: “Một niệm tương ứng một niệm Phật. Niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Nếu lại hỏi “người niệm Phật là ai”, tức là trên đầu chồng thêm đầu, đang cưỡi lừa mà t́m lừa, khiến cho người sáng mắt cười phun cơm! Nhưng thời gần đây, kẻ vô tri cuồng nghịch ngược ngạo coi Thoại Đầu là đặc biệt, lạ lùng, coi danh hiệu là tầm thường, vứt bỏ Như Ư châu vương, đua nhau giành lấy ngói, sỏi! Đáng xót lắm thay! Riêng các thiện hữu ở Thịnh Khê có thể kết xă niệm Phật, trong suốt mỗi ngày, niệm ra tiếng một nén hương, rồi niệm thầm một nén hương, xoay vần chẳng gián đoạn, ắt lấy nhất tâm bất loạn làm kỳ hạn. Hạnh đơn giản, khéo léo ấy cần phải tin sâu, đừng nghi, lâu ngày đừng thay đổi, sẽ tự có thể siêu thoát trọn vẹn ngũ trược, tịnh hóa trọn vẹn bốn cơi, chẳng c̣n ở ngay trong điện Hàm Nguyên mà hỏi Trường An nữa!

 

* Chỉ dạy Mẫn Châu Đĩnh

 

          Tín, Nguyện như mắt, các hạnh như chân. Tín, Nguyện như trâu, các hạnh như cỗ xe. Tín, Nguyện như bàn cờ có ô, các hạnh như bàn cờ có con cờ. V́ thế, ba thứ Tín, Nguyện, Hạnh tuy khuyết một chẳng thể được, nhưng càng phải lấy Tín và Nguyện để làm hướng dẫn chủ yếu. Bởi lẽ, tín nguyện đă chuyên, các thứ điều thiện sẽ đều là tư lương của Tịnh Độ. Dẫu vạn nhất bất hạnh, lần lẫn làm ác, thành tâm sám hối, đoạn cái tâm nối tiếp, cũng đủ làm diệu hạnh văng sanh. Nếu chẳng có Tín, Nguyện, dẫu giới cảm động trời, người, Định cảm Sắc Giới và Vô Sắc Giới, Huệ chắc chắn chỉ đạt được quyền quả nơi Nhị Thừa mà thôi!

 

* Chỉ dạy Mẫn Đại Phi (hai bài)

 

          1) Phật pháp quư tinh ṛng, chẳng quư nhiều; hễ ṛng sẽ xuyên suốt nhiều, nhưng nhiều chẳng thể chuyên ṛng. V́ thế, đạo nắm vững cương lănh chẳng thể không gấp nói. Cương lănh là một niệm tâm tánh hiện tiền mà thôi! Tâm tánh chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, không thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng thể dùng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp để cầu, chẳng thể dùng “có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không” để giữ lấy. Tâm tánh đă là như thế, mà hết thảy các pháp cũng là như thế. Do vậy nói là “nhân duyên sở sanh pháp” (các pháp được sanh bởi nhân duyên), tức Không, tức Giả, tức Trung. Trung là tánh thể, Không là tánh lượng, Giả là tánh trọn đủ. Mê tánh lượng ấy th́ gọi là Kiến Tư Hoặc. Mê tánh trọn đủ th́ gọi là Trần Sa Hoặc. Mê tánh thể th́ gọi là Vô Minh Hoặc. Tam Hoặc đều là vọng ngăn che do mê, chẳng có thật thể. V́ thế, khi Tam Quán dấy lên, Tam Hoặc sẽ tiêu ngay. Do chúng ta mê có dày hay mỏng, khiến cho giáo pháp của Như Lai có Tiệm hay Đốn. Do vậy biết các giáo Đốn hay Tiệm đều v́ liễu ngộ tâm tánh mà lập bày.

Nếu hiểu rơ tâm tánh, giáo cương (cương lănh của giáo pháp) ở nơi ta, chẳng ở nơi Phật, nhưng cần phải trước hết phá ngă chấp và pháp chấp. Do vậy, hai quyển đầu của Duy Thức Sớ đặc biệt nói tường tận. Nếu người học có thể thuận theo văn từ mà hiểu lư, sẽ lập tức đoạn sạch tập khí danh ngôn, hư luận, ngă chấp, pháp chấp từ vô thỉ, lư Chân Không bèn hiển lộ. Lư Không ấy chẳng thuộc vào hữu hay vô, mà hữu vô tự sẵn như vậy. Vô là chẳng có Biến Kế. Hữu là có Y Tha và Viên Thành Thật. Viên Thành Thật chính là Thật Tánh của Duy Thức, được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế. Y Tha Khởi là giả tướng của Duy Thức, được gọi là Tục Đế. Hai thứ ấy đều chẳng phải là thật ngă, thật pháp, nhưng t́nh chấp Biến Kế của chúng sanh được gọi là ngă pháp. Ngă pháp vốn Không, được gọi là Chân Đế. Tam Đế chẳng một, chẳng khác, chẳng ngang, chẳng dọc. Chân Đế và Trung Đế là Lư, giống như nước. Tục Đế là Sự, giống như sóng. Tạng Giáo và Thông Giáo chỉ nói chân lư, coi lục phàm là Tục. Biệt Giáo và Viên Giáo diễn nói ngay vào Trung lư, coi thập giới là Tục. Trước hết, đối với một niệm tâm tánh hiện tiền, đă liễu đạt Tam Đế, sẽ biết giáo pháp suốt một đời đức Phật hoặc là nhanh chóng diễn nói tâm tánh ấy, hoặc thong thả nói ra tâm tánh ấy, hoặc diễn nói tâm tánh ít phần, hoặc diễn nói toàn thể tâm tánh, giống như cầm một cái ch́a để mở các ổ khóa, há có phải là đối với ngàn kinh muôn luận đành dơi nh́n biển cả mà thở than ư?

2) Bát Nhă chẳng phải chi khác, một niệm tâm tánh hiện tiền mà thôi! Tâm tánh vốn tự là theo chiều dọc tột cùng, theo chiều ngang trọn khắp, cho nên rộng lớn. Hư vọng nhận Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, ngỡ duyên ảnh của lục trần là tâm tướng của chính ḿnh th́ sẽ hẹp, nhỏ. Vốn tự vi diệu, tịnh tuyệt, cho nên là bậc nhất, nhưng hư vọng tham đắm nhân quả hữu lậu trong tam giới, hoặc nhân quả Thiên Chân của Nhị Thừa, bèn là thấp kém. Bản thể của chúng sanh và Phật vốn tương đồng, nên là thường, cũng gọi là “ái nhiếp”. Hư vọng so đo trong ngoài bất đồng với nhau, ắt sẽ chán ngán, lười nhác. Vốn ĺa ngă chấp và pháp chấp, cho nên chẳng điên đảo, cũng gọi là Chánh Trí. Hư vọng so đo các tướng ta, người, chúng sanh, thọ giả, bèn là điên đảo. Tuy do mê tâm tánh này, trở thành hẹp, nhỏ, thấp hèn, chán nhàm, biếng nhác, điên đảo, như nước đọng thành băng, nhưng nó thật sự là cái Thể của chánh trí ái nhiếp rộng lớn bậc nhất, vẫn y hệt như cũ, chẳng hề khuyết giảm mảy may. Như tánh ướt của băng vẫn chính là tánh ướt của nước! Nếu gặp cái duyên ấm áp, chưa hề chẳng ngay khi đó, [băng] liền tan thành nước. V́ thế, bậc Bồ Tát khéo học Bát Nhă, không ai chẳng chú tâm quan sát thật tánh của tâm trong một niệm hiện tiền. Tâm thể ấy vốn chẳng ĺa lỗi, dứt sai, chẳng rơi vào các pháp số, chí tôn, chí quư, được gọi là Thật Tướng Bát Nhă.

Ví như kim cang là chất báu vô giá, t́m cái tâm ấy, trọn chẳng thể được! Nó linh thông, sáng suốt, rỗng rang, khéo léo thích ứng thỏa đáng trọn khắp, gọi là Quán Chiếu Bát Nhă. Ví như kim cang cứng, bén bất hoại, cái tâm ấy hiển hiện rạng ngời căn, thân, khí giới, bách giới thiên như nhiều la liệt, xếp lấp lánh, gọi là Văn Tự Bát Nhă. Ví như kim cang tuôn trọn khắp các thứ báu, chỉ một cái tâm này mà chính là ba món Bát Nhă. Tam thế chư Phật chẳng thể tăng thêm một mảy, các loài trùng nhỏ nhít chẳng thể giảm bớt mảy may! Nhưng mê th́ toàn thể sẽ là ba món chướng Hoặc, Nghiệp, Khổ. Hễ ngộ th́ toàn thể sẽ là ba đức Bát Nhă, Giải Thoát, Pháp Thân. Ba đức như ngoài nước chẳng có băng. V́ thế nói “tam thiên quả thành, đều gọi là thường lạc”. Tam chướng như ngoài băng chẳng có nước, cho nên nói: “Tam thiên tại lư, đồng danh vô minh (Ba ngàn các pháp trong một niệm đều gọi là vô minh). Thấu đạt như thế, chỉ có cách làm tan băng, chẳng có cách t́m nước khác. Có cách để trừ khử màng mộng, chẳng có cách ban cho mắt sáng. Chỉ mong rỗng không tất cả sở hữu, chứ đừng thật sự chẳng có ǵ để rỗng không. V́ vậy, hăm hở đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành. Cho đến bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tu hành ngũ hối, tập học các môn Thiền, học rộng, nghe nhiều, nghiên cứu pháp nghĩa, đều là cách làm tan băng, trừ màng mộng. Rỗng không các sở hữu cho tới khi băng chấp tiêu sạch, màng mộng hư huyễn bị khử sạch, tất cả thảy đều rỗng không, bèn khôi phục toàn thể tác dụng lớn lao của một niệm tâm tánh, chẳng c̣n có một pháp nào khác ở ngoài tâm để có thể đạt được! Do vậy nói: “Nhập ư Như Lai diệu trang nghiêm hải, viên măn Bồ Đề, quy vô sở đắc” (Vào trong biển trang nghiêm mầu nhiệm của Như Lai, viên măn Bồ Đề, trở về chỗ không có ǵ để đạt được). Lại nói: “Dùng chẳng có ta, người, chúng sanh, thọ giả để tu hết thảy các thiện pháp, liền đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Lại nói: “Pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn đủ, nhưng chẳng có một pháp để có thể đạt được, gọi là Tối Thượng Thừa. Đấy chính là Kim Cang chánh ấn, là yếu quyết truyền tâm của Phật, Tổ. Tam Tạng mười hai bộ, một ngàn bảy trăm công án, cho đến tam đại ngũ tiểu của Thiên Thai đều nhằm nêu toạc lư ấy mà thôi!

Chẳng hiểu lư ấy, chỉ học Phật pháp, chỉ tham cứu công án, rốt cuộc có lợi ích ǵ đâu? Đă hiểu lư ấy, hết thảy Tông, Giáo đều là cước chú của tâm ta, há có thuyết nào khác để có thể khoe khoang ư? Dùng sự viên giải này để trừ sạch chủng tử vọng Hoặc từ vô thỉ. Nếu Quán Hạnh tịnh, th́ sẽ là cơi Đồng Cư thanh tịnh. Tương Tự tịnh th́ sẽ là cơi Phương Tiện tịnh. Phần Chứng tịnh th́ sẽ là cơi Thật Báo tịnh. Cứu Cánh tịnh th́ sẽ là cơi Tịch Quang tịnh. Do vậy, nói “tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” (hễ cái tâm tịnh th́ cơi Phật sẽ tịnh). Hăy nên biết vô biên biển cơi nước trang nghiêm trong Hoa Tạng đều là y báo được cảm vời bởi cái tâm thanh tịnh của ta, đều là Tướng Phần được hiện bởi thức thứ tám, há có riêng một cơi nước ở ngoài tâm? Lại há có riêng cái tâm ở ngoài cơi nước hay chăng?

 

* Chỉ dạy Giới Tâm

 

Muốn khiến cho bi và trí luôn được tương ứng, ắt phải quán chắc chắn một niệm hiện tiền. Một niệm tâm ấy chẳng ở trong, ngoài, trung gian, chẳng thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải dài, ngắn, vuông, tṛn. Muốn bảo nó là Có th́ chẳng hề có dấu tích. Muốn nói nó là Không th́ chẳng thể đoạn diệt. Điều được chứng bởi tam thế chư Phật chính là chứng điều này. Hết thảy chúng sanh bị mê, th́ cũng là mê điều này. Khi chứng chẳng tăng, lúc mê chẳng giảm. V́ vậy nói: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Tuy chứng chẳng tăng, nhưng luôn hưởng niềm vui pháp tánh chân thường. V́ cầu niềm vui ấy, nên gọi là Trí. Dẫu mê chẳng giảm, nhưng oan uổng hứng chịu nỗi khổ luân hồi điên đảo. V́ dẹp trừ nỗi khổ ấy, nên gọi là Bi. Chẳng có đại trí, sẽ không vận dụng đại bi. Chẳng có đại bi, sẽ chẳng có đại trí viên măn.

Một niệm quán tâm chính là một niệm phản mê quy ngộ. Niệm nào cũng quán tâm, chính là niệm nào cũng phản mê quy ngộ. Phản mê chính là Bi nơi Trí. Quy ngộ chính là Trí nơi Bi. Do vậy, du hành tứ phương, tức là Trí nơi Bi. V́ vậy, thừa sự chư Phật, Phật và chúng sanh đều chẳng ngoài một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta. Tŕ giới chính là trau giồi cho niệm ấy sáng ngời, thấu suốt. Làm phước là trang nghiêm điều này. Nhẫn nhục là thấu hiểu, thông đạt điều này. Tinh tấn là hiển phát điều này. Tọa Thiền là thấu triệt điều này. Xem kinh là chiếu tỏ điều này. Thấy Phật, Bồ Tát, thiện tri thức là ấn khế điều này. Lập đại nguyện, đại hạnh cho đến tột cùng đời vị lai, độ thoát hữu t́nh, nhằm hoàn măn điều này. Quán mười giới trong một niệm tâm là giả danh, mà hưng khởi hay dẹp trừ đều là sanh duyên từ bi b́nh đẳng. Quán Ngũ Ấm nơi mười giới trong một niệm tâm để hưng khởi hay dẹp trừ th́ chính là pháp duyên từ bi b́nh đẳng. Quán thể tánh của mười giới trong một niệm tâm để hưng khởi hay dẹp trừ th́ chính là vô duyên từ bi b́nh đẳng. Trong hết thảy các thời, quán tâm là chủ, đọc tụng Đại Thừa liễu nghĩa để giúp hiển lộ. Siêng tu đủ loại phước đức để giúp phát khởi, chớ để cho cái tâm này đọa trong cảnh giới vô kư hoặc bất thiện. Chớ tham văn tự, thơ từ của thế gian, kẻo gây trở ngại chánh pháp. Chớ đuổi theo tập khí keo, tham, ganh tỵ, ngă mạn, che giấu sự hèn tệ để tự hủy hoại, tổn thương. Hằng ngày đổi mới cái đức để đạt đến thành tựu. Một đời là như thế, đời đời cũng lại đều như thế, sẽ được sanh về Tịnh Độ, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Đại sự nhân duyên thuộc trăm kiếp ngàn đời chỉ trong một niệm hiện tiền. Nếu niệm ấy đă chánh, không ǵ chẳng phải là chánh. Nếu niệm ấy tà, không ǵ chẳng tà!

 

* Chỉ dạy Ngô Cảnh Văn

 

          Không có pháp nào chẳng từ tâm tạo, không pháp nào mà tâm chẳng trọn đủ. Nhận biết tự tâm th́ đạo của Phật, Tổ sẽ trọn hết. Tâm tạo tức là Lư hằng Sự. Tâm trọn đủ tức là Sự hằng Lư. Từ ngay nơi Lư mà là Sự, tức là trăm pháp. Lư từ ngay nơi Sự, chính là Đại Thừa. Trăm pháp là Sự thuộc về Lư. Toàn thể Sự chính là Lư. Do vậy nói “hết thảy các pháp vô ngă”. Vô ngă chính là Nhị Không Chân Như, muốn nói chẳng phải là Đại Thừa, chẳng thể được! Đại Thừa là Lư trong Sự, toàn thể Lư thành Sự. V́ thế, dùng Chỉ Quán làm cái để nương vào v.v… năm lượt kiến lập, nhiếp trọn hết ba ngàn tánh tướng, bách giới thiên như, muốn chẳng bảo là trăm pháp cũng chẳng thể được! Do đó, muốn vượt qua huyền quan Duy Thức, cần phải khéo hiểu tông chỉ của Thai Hành[46]. Muốn đạt được tâm tủy của Thai Hành, cần phải nhập môn từ Duy Thức.

Đối với giới hạn, từng sự tầm thường trong cuộc sống hằng ngày mà chưa hiểu rơ ràng, rành rẽ, đă toan hướng đến huyền diệu. Trong Pháp Hoa, các pháp tướng như thế, tánh như thế, cho đến bản mạt cứu cánh như thế, tướng đứng trước hết [trong mười món Như Thị] để nắm trọn mà có thể biện định riêng biệt. Nếu đối với cái tướng do tâm hiện tiền dấy lên, vẫn chưa biết đó là tâm vương hay tâm sở, là thiện hay bất thiện, là bị che phủ hay không, trong tam lượng[47], chẳng biết là lượng nào, trong ba cảnh, chẳng biết duyên theo cảnh nào, dù tánh hay thể, cho đến quả báo, sẽ do đâu mà thấu hiểu minh bạch? Nếu đối với “sự tạo nhất giới thập như” (mỗi giới được tạo tác nơi mặt Sự đều có đủ Thập Như Thị) vẫn chưa thể hiểu rơ, sao lại có thể do Sự tạo mà thấu đạt Lư trọn đủ bách giới thiên như? Lại do đâu mà từ “Lư trọn đủ” nơi Sự tạo bèn hiểu rơ, liễu đạt bách giới thiên như của Stạo thuộc “Lư trọn đủ?

Than ôi! Chẳng hiểu rơ tâm pháp của Thai Hành đă lâu; đấy là v́ chẳng biết đến Tịnh Danh Sớ của ngài Trí Giả, thuần dẫn chứng lời thích nghĩa của ngài Thiên Thân. Sớ ấy truyền sang Cao Ly, không ǵ chẳng cởi gỡ nỗi nghi trong cơi đời. Sách Đại Thừa Chỉ Quán của tổ Nam Nhạc cũng dựa theo tám thức để biện định môn tu chứng, chính là nói xả tâm vương và tâm sở hiện tiền, sẽ chẳng có cảnh nào khác để quán. Đă chẳng có cái để quán, năng quán (tâm có thể quán) sẽ gởi vào đâu? Biện định cảnh th́ mới có thể tu hành Chỉ Quán; đó chính là huyết mạch chân chánh của Thai Hành, chẳng giống như các tông khác luận chung sự huyền vi. Pháp vốn sẵn là như thế, đạo chẳng thể ĺa. Kẻ cự tuyệt pháp tướng ở ngoài núi, chẳng biết dung hội trăm sông vào biển cả, lầm mất rồi!

 

* Chỉ dạy Như Mẫu

 

          Đạo chẳng ở văn tự, nhưng cũng chẳng ĺa văn tự. Do chấp văn tự là đạo, cho nên giảng sư mới chê là “kể chuyện ăn, đếm của báu”. Do chấp “ĺa văn tự là đạo”, bậc Thiền giả mới vướng họa ám chứng, sanh manh. Đạt Ma đại sư dùng tâm truyền tâm, ắt phải nhờ kinh Lăng Già để ấn chứng, quả thật sợ “ĺa kinh một chữ liền giống như ma nói”. Trí Giả đại sư chín mươi ngày giảng chữ Diệu [trong tựa đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa], chỗ nào cũng quy kết vào Chỉ Quán, quả thật sợ “y văn giải nghĩa, đâm ra thành oan uổng chư Phật”. Thiếu Thất và Thiên Thai vốn chẳng hai trí, đời sau Thiền đă báng Giáo, mà Giáo cũng báng Thiền, thật đáng buồn vậy! Tôi lúc hai mươi ba tuổi, bèn khổ chí tham Thiền, nay liền tự xưng là học Thiên Thai qua di trước[48], đau xót sâu xa trước chứng bệnh của Thiền môn, chẳng phải là tông Thiên Thai không thể cứu được! Hiềm rằng con cháu của tông Thiên Thai vẫn cố cự tuyệt Thiền Tông, há có phải là bổn ư của Trí Giả đại sư ư? Tiếc là tôi bị hư danh gây lụy, lực dụng chẳng dồi dào, chẳng thể triệt để cứu chữa khuyết điểm của cả hai tông, chỉ đành dùng Phật nhăn viên dung thuộc địa vị Danh Tự để đích xác khảo duyệt [giáo nghĩa của] cổ Phật chẳng sai lầm, ngơ hầu trăm đời chẳng mê hoặc! Nguyện Như Mẫu chỉ học theo cái giải của tôi, đừng học theo tôi sớm làm thầy người khác, ngơ hầu pháp môn được nương cậy vậy!

 

* Chỉ dạy Dụng Hối (hai bài)

 

          1) Em trai ông theo tôi du cước, người khởi xướng là lệnh sư Tùng La, người thành toàn chính là Như Mẫu huynh vậy. Lệnh sư nói em trai ông kham làm một cây kèo trong ṭa nhà pháp; đó là lời nói khiêm tốn mà cũng là lời chân thật. Nhưng vật liệu to hay nhỏ, há có thể nhất định? Tuy có cây gỗ to, nhưng người thợ gọt đẽo thành nhỏ, tức là chẳng thể vượt ngoài trách nhiệm. Cây ngô đồng, cây gỗ Tử chỉ to một chét tay, mà có thể khéo vun bồi, sẽ dần dần trở thành cây to cả ṿng ôm. Nay thợ trong thiên hạ chẳng có ai không dùng danh lợi để đẽo gọt người khác. Cố nhiên là ông có thể chẳng bị đẽo gọt. Do vậy, khéo tự bồi dưỡng, chẳng thể không gấp nói! Tăng Tử nói: “Sĩ bất khả dĩ bất hoằng nghị, nhậm trọng nhi đạo viễn” (kẻ sĩ chẳng thể không có nghị lực to lớn, v́ mang trách nhiệm nặng nề, đi trên con đường xa xôi)[49]. Chúng sanh hàm thức trong pháp giới đều là trách nhiệm của chính ḿnh. Trách nhiệm càng nặng nề, cho đến tột cùng đời vị lai chẳng có lúc xong! Thời đă lâu xa, dẫu trách nhiệm nặng nề, chẳng thể đùn đẩy cho người khác. Dẫu thời lâu xa, chẳng thể ngưng nghỉ giữa chừng. Biết chẳng thể đùn đẩy, chẳng mong hoằng mà tự hoằng. Biết chẳng thể ngừng, chẳng mong kiên quyết mà tự kiên quyết. Dùng đó để tự dưỡng, dẫu thiên ma, ngoại đạo cũng chẳng thể đẽo gọt cho nhỏ được. Tôi rất mong mỏi em ông sẽ là cây to rợp mát.

2) Tánh của Pháp Thân vốn chẳng sai biệt. Phật khác chúng sanh ở chỗ có công tu đức đó thôi! Tu đức cũng đều là sẵn đủ nơi tánh, chúng sanh sử dụng hằng ngày mà chẳng biết, do si ái dị kiến gây chướng. Muốn nêu tỏ Tu đức, không ǵ là trước hết phải trừ chướng. Tu đức có hai: Một là Bát Nhă, hai là giải thoát. Muốn chứng Bát Nhă, cần phải siêng tu tập Tam Huệ Văn, Tư, Tu. Muốn chứng giải thoát, cần phải siêng năng nơi ba phước thí, giới, tâm. Thí trừ nghèo thiếu, đạt được đại trợ đạo. Giới trừ cấu nhiễm, thành tựu pháp khí. Tâm trừ tán loạn, có thể dẫn khởi thật huệ. Do vậy, phước huệ nhị luân chẳng thể tạm bỏ. Hễ bỏ th́ Pháp Thân lưu chuyển trong năm đường, gọi là “chúng sanh”. Than ôi! Người thật sự cầu tu phước huệ trong thời Mạt sẽ khó khăn, hoặc mặc t́nh noi theo ư của riêng ḿnh, hoặc buông lung theo tập khí trước kia, hoặc tuy siêng ṛng mà chẳng nắm được cửa, uổng công khổ hạnh, hoặc biết đường nẻo mà chẳng chịu cất bước, mặc cho ngày tháng dần trôi. Hoặc vừa mới lên đường, ngoại ma, nội chướng, cảnh duyên thuận nghịch lũ lượt tranh nhau xảy ra. Có chí mà chẳng thực hiện được, đáng đau ḷng đẫm lệ, không chỉ là một hai chuyện!

Kẻ phát tâm không chân chánh, chí nguyện chẳng xa, lớn, thệ lực chẳng dũng mănh, chẳng đáng để bàn tới. C̣n như hủ nhân, hai mươi bốn tuổi xuất gia, cha chẳng chôn, mẹ chẳng phụng dưỡng, dứt khoát xuống tóc, khoác áo thâm, làm tạp vụ tại Vân Thê, tọa Thiền ở Song Kính, trụ tĩnh tại Thiên Thai, tâm chân chánh, chí xa lớn, thề dũng mănh. Khi sắp xuất gia, trước hết phát ra ba điều nguyện:

- Một là chưa chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, sẽ chẳng thâu đồ chúng.

- Hai là chẳng lên ṭa cao (thuyết pháp).

- Ba là thà rét lạnh, chết đói, chẳng dùng tụng kinh, lễ sám, và hóa duyên để nuôi thân miệng!

Lại phát ba điều liều thân: Liều thân bị chết đói, bị chết rét, bị người khác lấn hiếp mà chết, trọn chẳng thốt một lời dính dáng thị phi, tranh đua được mất, huống hồ có chuyện báo oán, trả thù! Bởi đó, hành cước nhiều năm, chẳng dám bước loạn một bước, khinh dễ thốt một lời nào xáo động ư niệm của đại chúng. Chỉ v́ thuở trẻ, hơi thông thạo viết lách, gần như do bị đạo hữu ép buộc, liền v́ họ biện định, nghiên cứu Phật pháp, đến nỗi hư danh ngày một phô tỏ, trong ba nguyện đă trái nghịch nguyện “chẳng lên ṭa cao”. Lại c̣n do lúc mới xuất gia, gấp gáp mong đạt công phu thành phiến, chưa từng vâng theo lời dạy “ba năm làm tạp vụ” của thầy thế độ, ư ban đầu là “đạt công phu thành phiến rồi mới lại làm tạp vụ”. Nào ngờ bị hư danh gây lầm lẫn, rốt cuộc không có chỗ nào để xin quải đơn làm tạp vụ. Sai một điều, cả trăm điều đều sai! Phước luân khiếm khuyết! Ba mươi năm qua, tự lợi đă chẳng rốt ráo, mà lợi tha lại chẳng được thành. Tuy trước thuật đủ thứ, chỉ là kết duyên Bát Nhă với thiên hạ, hậu thế, chứ chí trùng hưng chánh pháp đành chẳng biết làm như thế nào! Há chẳng đáng đau xót lắm thay?

Ông có chí kiêm tu phước, hết sức phù hợp với nguyện của tôi, nhưng thiên tư của ông tuy dĩnh ngộ, bản chất tuy chân thành, chí tuy chánh đáng, nhưng bẩm tánh nhu nhược, yếu kém về mặt đối nhân xử thế. Đă mềm yếu lại trí cạn, chẳng bằng một nét xóa sạch, làm một kẻ si ngốc tốt hơn. Nếu chẳng thể khéo dấn ḿnh, lại chẳng thể bỏ hẳn, đâm ra gieo bồi nhiều thêm một thứ, bất giác phước lẫn huệ đều bị thương tổn. Khổng Tử nói “bang gia tất đạt giả, quư chất trực hiếu nghĩa, sát ngôn, quán sắc” (người hiển đạt trong nhà lẫn trong nước, quư ở chỗ chất trực, chuộng điều nghĩa, biết quan sát lời nói và vẻ mặt [của người khác]). Đấy chính là bí quyết để tu cả hai luân (phước và huệ). Chất trực là chánh niệm Chân Như. Hiếu nghĩa là thích tu tập công đức. Hai đằng đều dùng quan sát ngôn sắc làm phương tiện để tấn tu. Bởi tu hai luân ấy, ắt đều phải thân cận bậc cận tri thức. Nho nói [thân cận bậc tri thức] là “thân nhân” (thân cận người có ḷng nhân). Ắt cần phải tùy thuận chúng sanh, nhà Nho bảo là “phiếm ái chúng” (yêu thương trọn khắp mọi người). Đối với đạo thân ái mà chẳng quan sát ngôn sắc, ngă pháp sẽ lừng lẫy. Ngă pháp lừng lẫy, th́ không chỉ chẳng thể thăng đường nhập thất (tiến nhập chỗ uyên áo, sâu thẳm), dốc cạn sức, trọn hết ḷng thành, sợ rằng chẳng đến nỗi đắc tội sâu với những người có ḷng nhân sẽ chẳng thôi! Ấy là do trí quang chưa tỏ lộ, phước đức hoàn toàn bị tổn thương. Phước đức hoàn toàn bị tổn thương, trí chủng sẽ bị diệt mất. Đó là tu Hoặc nghiệp, chẳng phải là tu phước huệ.

Ông muốn tu diệu pháp quán sát này, xin hăy khởi đầu từ một nét bút xóa sạch: Trong chẳng thấy có ta, tức là ta chẳng có tài cán ǵ; ngoài chẳng thấy có người, tức là người không có lỗi. Một mực si ngốc, tự hổ thẹn sâu xa, thống thiết tự sửa đổi, trừ bỏ trí kém, tâm kiêu mạn, đến khi tích tập phước đă nhiều, thiện căn sẽ thuần hậu. Chỉ có làm người si ngốc như vậy th́ sẽ có thể như nước chảy ở bất cứ chỗ nào cũng đều có thể uốn lượn thỏa đáng. Đứng, ngồi, lui, tới, sẽ đều chẳng trái nghịch ư người trước, như ngài Tu Bồ Đề là tương tự si ngốc, mà cũng là tương tự quan sát ngôn sắc. “Nếu quán chúng sanh trong mười pháp giới, xưng niệm âm thanh danh hiệu của ông, sẽ khiến cho họ đều được giải thoát” như Quán Thế Âm là phần chân si ngốc, mà cũng là phần chân quan sát ngôn sắc. Dù ngoại đạo, Bà La Môn ôm ác tâm hay thiện tâm t́m đến, không ai chẳng được đẹp dạ, cho đến tùy duyên mà tới cảm ứng, không ǵ chẳng vẹn toàn. Như đức Thích Ca Mâu Ni chính là si ngốc rốt ráo, mà cũng là quan sát ngôn sắc rốt ráo, thân chứng nhị nghiêm (phước và trí), có tôn hiệu là Lưỡng Túc (hai đằng phước và trí đều trọn đủ), trong nhà và trong nước đều hiển đạt, có ư nghĩa tột bậc như thế đó. Than ôi! Thêu thành uyên ương tùy thuộc tài khéo của ngươi, chẳng do kim thêu giúp cho người thêu được! Người thợ mộc có thể chế tạo xe cộ, làm thước vuông, thước tṛn cho người khác, chẳng thể ban tài khéo cho kẻ khác được! Một trái vải đă bóc vỏ, bỏ hạt, đặt sẵn trong miệng ông, chỉ có thay ông nuốt xuống là chẳng được. Dụng Hối hăy suy nghĩ sâu xa nhé!

 

* Chỉ dạy Minh Kư

 

          Phật pháp suy là do kiến địa của người xuất gia chẳng sáng suốt. Kiến địa chẳng sáng suốt lại do nhân địa chẳng chân thật! Nếu phát tâm thật sự v́ sanh tử đại sự, chắc chắn sẽ biết sanh tử trong tam giới không ǵ chẳng phải là khổ. Đă biết tam giới đều là Khổ Đế, chắc chắn chẳng dấy lên cái tâm trong tam giới. Đó gọi là cái trí “biết Khổ, đoạn Tập”, chính là Đạo Đế, chẳng phải là hai đạo. Tu Đạo, vĩnh viễn đoạn Khổ và Tập th́ là Diệt Đế, lại chẳng phải là diệt chi khác. Khổ của chính ḿnh là như thế, mà khổ của người khác cũng như thế. V́ vậy, phát thệ rằng: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Tập của chính ḿnh hăy nên đoạn như thế, Tập của người khác cũng vậy. Do đó phát thệ rằng: “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn”. Tu Đạo của chính ḿnh và người khác cũng thế, cho nên phát thệ rằng: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Tự mong chứng Diệt của chính ḿnh và người khác cũng thế, cho nên phát thệ rằng: “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Đấy gọi là nhân địa đă chân thật, th́ kiến địa tự minh bạch. Người hiện thời chẳng phải vậy, mới nói “v́ sanh tử” đă bỏ mặc pháp môn, suy nghĩ tốt lành cho riêng ḿnh. Mới nói “v́ pháp môn”, đă gác bỏ sanh tử ra ngoài, chỉ đua chen nơi t́nh đời. Kẻ suy nghĩ tốt lành cho riêng ḿnh, chẳng đánh mất chủng tử trời, người, Nhị Thừa. Kẻ đua chen t́nh đời, hiếm kẻ nào chẳng đọa vào lối ṃn của Tu La, ma tà, ngoại đạo! Kẻ chống đỡ pháp môn càng nhiều, chánh pháp càng hoại, khôn ngăn đau xót! Tôi chẳng có ưu điểm ǵ, chỉ biết sâu xa Bồ Đề đại tâm, cái tâm quyết v́ sanh tử chẳng hai. Nay riêng v́ ông mà triệt để nói toạc ra! Có thể tin lời này th́ niệm nào cũng sẽ tương ứng với Tứ Đế, Tứ Hoằng vậy!

 

* Chỉ dạy Mă Thái Chiêu

 

          Đối với bộ Châu Dịch Thiền Giải do tôi soạn trước kia, người tin chưa được một phần mười, kẻ nghi quá chín phần mười! Than ôi! Thật sự là lỗi của tôi. Xét theo t́nh kiến của người nghi, họ cho rằng: “Nho tự là Nho, Phật tự là Phật. Muốn nêu rơ Phật lư, có thể chú giải kinh Phật, cớ sao rối loạn Nho tông của ta? Trong Dịch thật sự có Thiền ư? Há bốn vị đại thánh nhân[50] là phường vô tri ư? Trong Dịch thật sự chẳng có Thiền ư? Vậy th́ có kẻ nào dám mặc sức nói khác?” Ôi! Do vậy, tôi cười x̣a mà chẳng đáp. Xưa kia, Lục Tượng Sơn thoạt đầu nghi trời đất có chỗ nào là cùng tận, cho đến sau khi đă ngộ rỗng rang, bất quá nói: “Đông hải có thánh nhân ra đời”. Cái tâm ấy tương đồng, mà lư ấy cũng đồng. Biển Nam, Tây, Bắc có thánh nhân ra đời vậy! Tâm ấy, lư ấy, cũng không ǵ là chẳng phải như vậy, chẳng bàn đến trời đất nữa! Há chẳng phải là do trời đất vô cùng, vô tận đều chẳng ra ngoài tâm này, lư này, cho nên chẳng c̣n nẩy sanh các hư luận “hữu biên, vô biên” nữa!

Kinh Dịch chép: “Phạm vi thiên địa chi hóa nhi bất quá, khúc thành vạn vật nhi bất di, thông hồ trú dạ chi đạo nhi tri” (thuận theo khuôn khổ biến hóa của trời đất chẳng chống trái, tùy thuận thành vạn vật chẳng thừa sót, sẽ thông hiểu trọn vẹn lẽ biến hóa của ngày, đêm)[51]. V́ thế, tuy thần kỳ không ngằn mé, mà Dịch chẳng có Thể. Dịch đă có phạm vi, khéo tùy thuận sanh thành, v́ sao chẳng có Thể? Đă là vô Thể th́ dùng vật ǵ để đặt trời đất trong khuôn khổ, để tùy thuận hay khéo, ḥng sanh thành muôn vật? Ôi! Thử suy nghĩ sâu xa, có thể nói Dịch chẳng có Thiền ư? Có thể nói thánh nhân chẳng biết Thiền ư?

 Hơn nữa, thánh nhân đă nói rơ “Âm Dương bất trắc chi vị thần” (Âm Dương chẳng lường được th́ gọi là Thần). Lại nói “thần vô phương” (thần kỳ chẳng có ngằn mé). Nhà Nho về sau ắt đem Càn là Dương, phối ứng với trời, với vua, Khôn là Âm phối ứng với đất, với bầy tôi, tức là rộng như Bát Quái đă nói: “Càn vi hàn, vi băng, vi tích mă” (Càn là lạnh, là băng, là ngựa gầy trơ xương) v.v… “Khôn vi lận tích, vi văn, vi hắc” (Khôn là keo tiếc, là tô vẽ, là đen)[52] v.v… Thật sự là nói về điều ǵ vậy? Thánh nhân nói rơ “Dịch chẳng có Thể”. Các nhà Nho về sau cứ coi Dịch nhất định là Dịch, c̣n chẳng thể suy ra các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, huống hồ có thể suy ra Tam Bảo, Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ, vạn hạnh là tâm hay chẳng phải là tâm của bốn vị thánh nhân ư? C̣n như động tột cùng th́ không ǵ bằng Càn, ban ngày trở thành số lẻ, sợ rằng là động hoặc chẳng phải động? Tĩnh tột bậc không ǵ bằng Khôn, ngày trở thành số chẵn, sợ rằng tĩnh hoặc chẳng tĩnh ư?

Cấn là núi, Đoài là chằm, đều là vật bất động, cớ sao gọi là Hàm[53]? Tốn là gió, Chấn là sấm, đều là h́nh tượng chẳng ngừng, cớ sao lại ngược ngạo gọi là Hằng[54]? Nam ở trong Khảm, sao nước lạnh tột bậc? Nữ ở trong Ly, sao lửa nóng tột bậc? Nước tuôn xuống diệt lửa; lửa cháy khô cạn nước, cớ sao gọi là Kư Tế? Do nước được nhuần thấm, lửa nóng bốc lên thuận theo tánh. Cớ sao gọi là Vị Tế?[55] Do vậy nói: “Bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích” (Chẳng thể chấp chặt lẽ cố định, phải biết quyền biến thích đáng). Cớ sao các nhà Nho về sau lại chấp chặt lẽ bất biến, chẳng biết biến thông!

Mă Thái Chiêu từ bé đă lưu tâm nơi Dịch học, riêng chẳng coi những lời đă được nghe trước tiên là chủ yếu. Mùa Đông năm trước, do nghe tông Thiên Thai nói “hết thảy đều là Quyền, hết thảy đều là Thật, hết thảy đều là vừa Quyền vừa Thật, hết thảy đều chẳng phải là Quyền, chẳng phải là Thật” mới biết Châu Dịch cũng là Quyền, mà cũng là Thật, mà cũng là kiêm Quyền, Thật, cũng chẳng phải là Quyền Thật. Lại nghe điều mầu nhiệm “một niệm tâm tánh hiện tiền bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biếnmới biết chẳng thay đổi chính là biến đổi, biến đổi rốt cục chẳng đổi. Nói “chẳng đổi” th́ chỉ là chẳng có ngằn mé, chẳng có Thể đó thôi! Nếu có ngằn mé, có Thể, sẽ là Khí (vật chất), chẳng phải là Đạo, sao gọi là Thần, sao gọi là Dịch cho được? Lại nữa, chẳng thấu đạt “chẳng có ngằn mé, chẳng có Thể” th́ không chỉ Âm Dương là K (, vật dụng), mà Thái Cực cũng là Khí. Nếu thấu đạt “chẳng có ngằn mé, chẳng có Thể” th́ không chỉ Thái Cực chẳng phải là Khí, mà Âm Dương cho đến muôn vật cũng đều chẳng phải là Khí! Châu Tử (Châu Đôn Di) nói: “Thái Cực vốn vô cực”. Cũng có thể nói “Dương vốn chẳng Dương, Âm vốn chẳng Âm, Bát Quái vốn chẳng có quẻ, Lục Hào vốn chẳng có hào[56]”. Do đó nói “Âm Dương bất trắc chi vị thần” (Âm, Dương chẳng lường được, bèn gọi là Thần). Nếu Âm và Dương có ngằn mé, có Thể, há được gọi là “bất trắc” ư? Luận chép: “Các pháp chẳng có tự tánh, chẳng có tha tánh, chẳng có cộng tánh, chẳng phải là tánh không có nhân”. Vô tánh cũng chẳng có tánh. Tánh vô tánh được gọi là Thật Tánh của các pháp. Ôi! Là Dịch ư? Là Thiền ư? Vừa là Dịch và là Thiền ư? Chẳng phải là Dịch, chẳng phải là Thiền ư? Cư sĩ nhất định có thể ngầm biết!

 

* Chỉ dạy Lục Chánh

 

          Giới là Phật thân, Luật là Phật hạnh, Thiền là Phật tâm, Giáo là Phật ngữ. Có thân, hạnh, mà chẳng có tâm và ngữ, sẽ là tượng gỗ, con rối mà thôi! Có tâm mà chẳng có thân và ngữ, sẽ là cô hồn vô chủ mà thôi! Có ngữ mà chẳng có thân và tâm, gió lùa qua hang trống vang ra tiếng mà thôi! Lại nữa, có thân tâm mà chẳng có ngữ, trẻ thơ, con nít mà thôi! Có thân ngữ mà chẳng có tâm, két, nhồng mà thôi! Có tâm ngữ mà chẳng có thân hạnh, người ghẻ chốc bán thuốc mà thôi. Nh́n từ đó, tam tông (Thiền, Giáo, Luật) thật sự có thể tách rời ư? Nhưng tự hành th́ chắc chắn chẳng thể tách rời, hóa độ người khác lại chẳng bắt buộc phải hợp lại! Ngài Ca Diếp có bao giờ chẳng tŕ giới tinh nghiêm, nhưng thông suốt Phật pháp rộng khắp, nổi tiếng về Thiền. Ngài A Nan có bao giờ chẳng chứng sâu xa Lục Thông, chẳng giữ tinh nghiêm diệu giới, được gọi là Thánh. Ngài Ưu Ba Ly có bao giờ chẳng hiểu rộng Phật pháp, chẳng thâm nhập Thiền tư, nổi tiếng tŕ luật. Lại như các vị luật sư trong cơi này, như các vị Đàm Vô Sấm v.v… có bao giờ chẳng từng trọn đủ Thiền, Giáo, pháp sư như các vị Trí Giả, Kinh Khê, Thanh Lương v.v… có bao giờ chẳng trọn đủ Thiền và Luật, thiền sư như Lục Tổ, Nam Nhạc, Bách Trượng, Quy Sơn v.v… có bao giờ chẳng trọn đủ Giáo, Luật!

Thời Mạt, [hành nhân] chẳng cầu cái Thật, hiểu biết hạn hẹp, trí tối tăm, dốc chí lo toan những điều gần gũi, đă thiếu chủng tử đại Bồ Đề, tâm lại chẳng chân thật v́ sanh tử, một mực theo sóng đuổi sóng, tranh nhau hướng theo sinh kế trong trăm năm, làm ra vẻ là một bậc luật sư, pháp sư, hay tông sư, dụ dỗ ngu phu, ngu phụ lễ bái, cúng dường, cẩu thả cho xong một đời này, há c̣n nghĩ đến đại sự trải trần kiếp! Kẻ căn cơ hơi lanh lợi, muốn học trọn cám bă bề ngoài của Thiền, Giáo, Luật, hư vọng bảo là có thể tổng hợp toàn vẹn [các giáo], chẳng biết đội cái mũ tam giáo, đâm ra chẳng bằng chuyên chú một pháp c̣n có đôi chút thọ dụng! Than ôi! Muốn nhanh chóng mà chẳng đạt, thấy lợi nhỏ th́ đại sự chẳng thành!

Cái bệnh của mọi người là thích làm thầy kẻ khác, danh văn lợi dưỡng trước mắt, khác nào con ngựa trắng chạy qua khe hở, chẳng thể buông xuống toàn thể để sâu xa cầu lẽ xuất yếu. Dối người chỉ thành tự dối ḿnh! Do vậy, tôi mắt chẳng nỡ thấy, tai chẳng nỡ nghe, chỉ mong suốt đời ở trong chốn núi thẳm, sớm sanh về Tịnh Độ đó thôi! Lục Chánh từ mấy ngàn dặm đến đây, cầu dạy ư chỉ “Tam Học bất nhất, bất dị”, ắt đă biết sanh tử đại sự đích xác là đáng đau đớn! Cái hư danh pháp sư, luật sư, thiền sư đích xác chẳng thoát khỏi sanh tử, ngược lại tăng trưởng sanh tử. Từ nay, hăy nên vùi đầu, khổ chí, dốc sức học ba pháp, mỗi mỗi đều thấu triệt nguồn cội, chớ noi theo thói đời hiện thời nữa!

 

* Chỉ dạy Thanh Nguyên

 

          Năm Ất Dậu (1645), Chuyên Ngu đại sư ở Tử Trúc Lâm sai bảy người đến theo tôi học, Thanh Nguyên Dung xà-lê là thượng thủ. Năm Bính Tuất (1646), Chuyên Ngu đại sư qua đời. Năm Canh Dần (1650), ngài Vạn Bạch ở Tử Trúc Lâm khuất núi, sai người mời Thanh Nguyên kế nhiệm làm chủ giới tràng. Tăng sứ cầm thư của Tăng, tục đến Linh Phong quỳ lạy cầu khẩn. Tôi cũng khuyên ông nên về, Thanh Nguyên đau ḷng khóc lóc, từ tạ, tỏ ư muốn lưu lạc ở nơi khác. Tôi và tăng sứ cùng xét ḷng thành của thầy ấy, chẳng dám ép! Than ôi! Kẻ trẻ tuổi khinh bạc trong thời gần đây chẳng có mảy may thật đức, cứ thích làm thầy người khác, xưng là luật chủ, pháp chủ, tông chủ đầy khắp cơi nước, dối gạt kẻ mù từ lọt ḷng lấy tai làm mắt[57]. Như Thanh Nguyên do biết pháp bèn sợ sệt, há có phải là nghé con mới sanh mà có thể mong bằng được ư? Thanh Nguyên đầy ắp ư niệm chẳng dám lầm lạc làm thầy người khác, dưỡng [ư niệm ấy] tột bậc thuần túy, khiến cho Tam Học viên minh, vạn hạnh trọn đủ.

Phát Bồ Đề tâm là coi đời vị lai như một sát-na, há giống như kẻ kiến giải nông cạn, chỉ bận tâm sinh kế trước mắt, c̣n nỗi khổ cùng cực trong tam đồ thuở mai sau th́ nhất loạt chẳng đoái hoài, cũng chẳng phải là hết sức đáng buồn ư? Thành Phật, làm Tổ, hay sy hầm, sụp hào, chỉ trong khoảng một niệm! V́ thế, đạo Nho nói: “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi. Duy thánh vơng niệm tác cuồng, duy cuồng khắc niệm tác thánh” (ḷng người nguy hiểm, đạo tâm vi diệu. Chỉ do thánh đánh mất niệm mà thành cuồng, cuồng khắc chế ư niệm bèn thành thánh), [ḥng khiến cho người học] biết Thuấn và Đạo Chích[58] cách biệt chẳng có chi khác, trong khoảng lợi và thiện đó thôi! Do vậy, những người thọ giới, học Luật, nghe giáo, xem kinh, tham Tông, tọa Thiền, chỉ cần xen tạp cái tâm lợi danh, sẽ thành chủng tử tam đồ. Chỉ cần chấp trước tướng, sẽ là chủng tử trời người, ma, ngoại đạo. Chỉ có một mực xuất ly sanh tử, đó là chủng tử Nhị Thừa. Chỉ trọn đủ cái tâm tự giác, giác tha chân thật; đó là chủng tử Bồ Tát. Chỉ do tự giác, hướng đến bậc thánh, quang minh tỏa rạng, thấu triệt tận cội nguồn, và hồi hướng Tịnh Độ, khiến cho trọn khắp chúng sanh cùng lên Cực Lạc, sẽ là chủng tử Vô Thượng Bồ Đề. Do vậy mà nói hết thảy các pháp chánh, hay hết thảy các pháp tà. Thanh Nguyên tin điều này, chỉ hướng đến một niệm hiện tiền để t́m kiếm cội nguồn của Thiền, Giáo, Luật, chẳng đọa vào thói tệ hiện thời trong Thiền, Giáo, Luật, cũng chẳng do nghẹn mà bỏ ăn rồi hư vọng quét sạch pháp môn Thiền, Giáo, Luật, tức là chẳng phụ ḷng thầy Chuyên Ngu ân cần sai ông theo tôi du cước vậy!

 

* Chỉ dạy Cửu Mục pháp chủ

 

          Tông Thiên Thai nói: “Nghiên chân, đoạn Hoặc th́ gọi là Học. Chân cùng, Hoặc tận th́ gọi là Vô Học”. Nhà Nho nói: “Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ”[59] (Đạo học vấn chẳng có chi khác, cốt sao t́m lại cái tâm đă đánh mất mà thôi). T́m tâm trọn chẳng thể được, mà tâm chẳng phải là không có. Tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, nhưng chẳng phải là có. Vốn ĺa tứ cú, sao có thể đánh mất? Vốn chẳng thể đánh mất, sao có thể cầu? Do chẳng thấu đạt cái Thể ĺa lỗi, dứt sai [của tâm], nhận lầm duyên ảnh hoặc quả tim thịt là tâm, giống như nhận một cái bọt nước nổi, vứt bỏ trăm ngàn biển cả, gọi đó là “đánh mất”. Nếu tứ tánh đều có thể vận dụng theo quá tŕnh tứ vận để suy xét, nhận định cái tâm này, thấy nó vô sanh, vô trụ, th́ gọi là Cầu. Do vậy, cái Thể vô sanh vô trụ rốt ráo hiện tiền th́ mới gọi là “thật sự cùng tận”. Chấp trước duyên ảnh hoặc quả tim thịt bị rốt ráo quét sạch, bèn gọi là “Hoặc tận”. Chưa ngự lên Phật địa, đều gọi là “học nhân”. Học mà chẳng cầu tâm, chỉ tăng thêm hư vọng. Ngàn kinh vạn luận, Thiếu Thất, Thiên Thai, chỉ quy chân thật chỉ là một chuyện này đó thôi! Quán điều này th́ gọi là quán cảnh chẳng thể nghĩ bàn. Phát khởi điều này th́ gọi là chân Bồ Đề tâm. An điều này th́ gọi là “ở yên nơi viên đốn Chỉ Quán”. Chỉ hướng theo đấy để phá hết thảy các Hoặc, tắc sẽ thành thông, tự nhiên đạo phẩm điều ḥa, thích đáng, Lư Sự đều trọn, chẳng bị danh lợi lôi dắt, được chút ít đă cho là đủ, sẽ là tâm nào cũng đều lưu nhập biển Tát Bà Nhă.

 

* Chỉ dạy Ngô Doăn B́nh

 

          Tâm ấn của Phật, Tổ siêu vượt t́nh kiến, chẳng rơi vào khuôn sáo, được gọi là “hướng thượng nhất trước”. Hễ tâm có thể suy nghĩ, toan tính, bàn bạc, tom góp đạo lư th́ sẽ là hướng hạ, chẳng phải là hướng thượng! Bát Nhă như đống lửa lớn, bốn phía đều chẳng thể chạm vào! Hễ chạm vào liền bị đốt, rơ ràng chẳng ĺa giáo thừa, mà giáo thừa chắc chắn chẳng thể thâu được! Do đó gọi là “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo). Thánh giáo của Như Lai c̣n chẳng thâu được, sách vở thế gian há có thể sánh bằng được ư? Đáng than thay, cuối đời Mạt, chánh kiến suy vi, thường có kẻ trộm giữ địa vị tổ, hư vọng xưng là tri thức. Có kẻ to gan quở trách, rủa sả lời Phật, một mực muốn lôi kéo, ép sao cho hợp với sách Nho. Phê phán lời Phật chính là như chư hầu ghét bị vua nhà hạn chế, ngăn cấm, đă hủy hoại các sách vở ghi chép luật lệ[60]. Chèo kéo sách Nho chính là cách của Trương Nghi và Công Tôn Diễn hùa theo ư thích của kẻ cầm quyền đương thời, thuận theo cho đó là chánh đáng! Chẳng nghĩ tổ Đạt Ma dùng kinh Lăng Già để ấn tâm, Ngũ Tổ dùng kinh Kim Cang ấn tâm, An công đọc Lăng Nghiêm mà ngộ đạo, Phổ Am đọc Hoa Nghiêm Hợp Luận mà ngộ đạo, vậy th́ há có nên rủa sả lời Phật ư? Vô tâm vẫn c̣n là cách biệt một tầng. Nho hư vọng ngỡ duyên ảnh của lục trần là tâm, bảo là có c̣n, có mất, chẳng khác nào do mê cái đầu bèn ngỡ là cái bóng, vậy th́ có nên chèo kéo cho phù hợp với sách vở thế gian hay chăng? Muốn hiểu rơ đại sự, triệt để đả phá khuôn sáo t́nh thức, ư kiến, đạo lư, tương tự như chết ngất rồi sống lại, lại đem liễu nghĩa Đại Thừa mỗi mỗi đều ấn chứng th́ mới chẳng đọa vào lối rẽ quanh co!

 

* Chỉ dạy Ngô Cù Am

 

          Ngũ Giới tức N Thường. Chẳng giết tức là Nhân. Chẳng trộm tức là Nghĩa. Chẳng tà dâm tức là Lễ. Chẳng nói dối tức Tín. Chẳng uống rượu tức Trí. Do vậy, ở trên trời chính là ngũ tinh (năm v́ sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), dưới mặt đất là ngũ nhạc, nơi thời th́ là ngũ hành, nơi người là ngũ tạng. Trời có ngũ tinh, đất có ngũ nhạc, thời có ngũ hành, th́ mới sanh trưởng muôn vật. Người có ngũ tạng th́ mới thành lập sắc thể. Nhưng [vâng giữ] NThường chỉ có thể là thế gian thánh hiền, là chánh pháp duy tŕ thế gian, c̣n Ngũ Giới siêu sanh thoát tử, cho tới thành tựu vô thượng Bồ Đề. Do Nho môn chỉ nói chung giới tướng, chưa chỉ bày đích xác hoàn toàn giới thể.

Giới thể là ǵ? Chính là cái tâm lương tri nơi một niệm hiện tiền của chúng ta. Đă giác chẳng mê th́ là Phật Bảo. Phật là giác. Nho cũng nói là “minh Minh Đức” (làm sáng tỏ đức sáng), nhưng chưa biết Minh Đức chính là cái Thể của một niệm Bổn Giác hiện tiền. “Minh Minh Đức” tức là trí Thỉ Giác nơi một niệm hiện tiền. Nương vào Bổn Giác mà có Thỉ Giác, dùng Thỉ Giác để khế hợp Bổn Giác. Thỉ và Bổn chẳng hai, gọi là Cứu Cánh Giác. Do đó, tâm tánh này chính là Phật. Cảnh được nhận biết bởi một niệm hiện tiền của chúng ta là Pháp Bảo. Nho cũng nói “phạm vi thiên địa, khúc thành vạn vật” (thuộc khuôn khổ trong trời đất, tùy thuận sanh thành vạn vật), nhưng chưa nói rơ: Trong là chủng tử của căn thân, ngoài là núi, sông, quốc độ. Trời, đất, hư không, cho tới bách giới thiên như, đủ loại sai biệt đều là một niệm hiện tiền hiển hiện. V́ vậy, tâm tướng ấy đều được trọn gọi là Pháp. Ngoài tâm chẳng có cảnh, ngoài cảnh chẳng có tâm như thế, ở trong ấy, chẳng đúng, chẳng sai, tâm và cảnh ḥa hợp trước nay chẳng hai, gọi là “ḥa hợp Tăng”. Nho cũng nói “vạn vật giai bị ư ngă” (muôn vật đều đầy đủ nơi ta), nhưng chưa hiểu vật và ta có cùng một nguồn! Do đó, cả ba nghĩa [trong đạo Nho] đều chẳng đích xác, huống hồ viên hiển chẳng thừa sót ư?

Mười phương ba đời hết thảy thường trụ chư Phật, không vị nào chẳng chứng triệt để nhất tâm Tam Bảo của chính ḿnh mà thành Chánh Giác. Hết thảy thường trụ pháp tạng đă được nói không ǵ chẳng nêu rơ nhất tâm Tam Bảo của ta mà thành khuôn phép chân thật. Hết thảy thường trụ thánh hiền đă biến hóa, không ǵ chẳng quan sát nhất tâm Tam Bảo của ta mà thành tựu nhị lợi. Nhất tâm là Lư, thường trụ là Sự. Nhất tâm là tánh, thường trụ là tu. Tánh và tu chẳng hai, Lư và Sự chẳng hai, Tam Bảo hiển lộ trọn vẹn, chỉ bày đích xác ḥng [người học] biết chỗ quy hướng. Nhất tâm đă tỏ lộ, Ngũ Giới bèn trọn đủ. Cái gọi là “nhất niệm hiện tiền” có thể duyên hết thảy chánh báo, nhưng bi mẫn nhân từ chính là Phật, chánh báo được duyên [bởi nhất niệm hiện tiền] chính là Pháp. Tâm và cảnh chẳng hai chính là Tăng. V́ thế, chẳng giết chóc” th́ mới là quy y Tam Bảo.

Một niệm hiện tiền có thể duyên hết thảy y báo và chánh báo, nhưng tâm vâng theo lẽ công, giữ đạo nghĩa chính là Phật. Y báo và chánh báo được [cái tâm ấy] duyên theo chính là Pháp. Tâm và cảnh chẳng hai tức là Tăng. Do vậy, chẳng trộm th́ mới là quy y Tam Bảo.

Một niệm hiện tiền có thể duyên hết thảy chánh báo mà cái tâm thanh tịnh, ít ham muốn tức là Phật, cái được duyên theo chính là Pháp, chẳng hai tức là Tăng. V́ thế, chẳng tà dâm th́ mới là quy y Tam Bảo.

Một niệm hiện tiền có thể duyên hết thảy chánh báo, nhưng thành thật, chẳng hư vọng tức là Phật, cái được duyên theo [bởi cái tâm chân thành ấy] chính là Pháp, chẳng hai chính là Tăng. V́ thế, chẳng nói dối th́ mới là quy y Tam Bảo.

Một niệm hiện tiền có thể duyên hết thảy rượu ngon. Rất sợ hôn mê tức là Phật. Rượu được duyên chính là Pháp. Chẳng hai tức là Tăng. V́ thế, chẳng uống rượu th́ mới là quy y Tam Bảo.

Nếu đem quy y đối ứng Giới th́ Tam Quy là năng tŕ (chủ thể có thể tŕ), Ngũ Giới là sở tŕ (cái được tŕ). Nếu đem giới đối ứng với quy th́ Tam Bảo là sở quy, Ngũ Giới là năng quy. Trong mỗi niệm, hiển lộ trọn vẹn Pháp Thân hướng thượng, như như bất động, sẽ là ngồi yên khoanh tay hưởng thái b́nh. Nếu vọng động th́ họa sẽ nẩy sanh chẳng lường! Ngẫu Ích đạo nhân đă v́ Cù Am triệt để nêu bày, c̣n ông có tin hay không? Hễ tin rồi th́ hăy vững bước về nhà, c̣n nghi th́ cứ mặc t́nh tham cứu điều khác!

 

3. Vấn đáp

* Trả lời ba mươi hai câu hỏi về Di Đà Sớ Sao của ông Trác Tả Xa (đính kèm lời hỏi)

         

          1) Hỏi: Tuy Nhị Thừa đui điếc đối với Hoa Nghiêm, nhưng [kinh ấy] vẫn kèm nhiếp Thanh Văn, do chứa đựng vô lượng thừa. Trong kinh này, tuy “Nhị Thừa chủng bất sanh” (chủng tánh Nhị Thừa chẳng sanh về Cực Lạc), nhưng đạo phẩm lớn hay nhỏ đều thông với nhau, chính là chẳng khác phẩm Tứ Thánh Đế của kinh Hoa Nghiêm, cho nên có người sanh về cơi đó, trải qua cả kiếp mới chứng tiểu quả. Đại Trí Độ Luận nói: “Di Đà cũng dùng tam thừa để độ sanh”, [vậy th́ kinh Đại Bổn và Tiểu Bổn đều] phải nên nhiếp chung nhị tạng, ngũ giáo, cớ sao nói “chẳng nhiếp Tiểu Thừa”? [Kinh Di Đà] đă thông với kinh Tạp Hoa (Hoa Nghiêm), sao chẳng thể giống như kinh Tạp Hoa nhiếp vô lượng thừa vậy?

          Đáp: Sớ Chủ (ngài Liên Tŕ) phán định [giáo tướng của] kinh dùng Đốn để thông Viên, chẳng dùng Viên để nhiếp Đốn. Lại ước theo đạo phẩm th́ do Tiểu mà thành Đại. Tiểu quả tạm có nghĩa “rốt cuộc chẳng có”, nên nói là “chẳng nhiếp lẫn nhau”. Há một câu Di Đà chẳng theo chiều ngang bao trùm các giáo, khế nhập trọn vẹn năm tông? Đấy chẳng phải toàn thể là Hoa Nghiêm, nhiếp trọn các thừa ư?

          2) Hỏi: Các môn khác là thụ xuất (thoát sanh tử theo chiều dọc), niệm Phật là hoành xuất (thoát khỏi tam giới theo chiều ngang). Các môn khác chỉ dạy quán hạnh trong Giáo; do vậy, Thiền được gọi là “biệt truyền” (truyền riêng). Tịnh được gọi là “đường tắt”, đều do siêu việt quán hạnh. Nay nói Quán chính là niệm, niệm chính là Quán. Dùng ngay pháp Quán của tông Thiên Thai để so sánh, há chẳng phải ngược ngạo coi niệm Phật là độn ư?

          Đáp: Ngang, dọc ở đây là xét theo tự lực hay tha lực đoạn Hoặc, đới nghiệp mà luận định, chẳng xét theo cảnh đế quán trí (trí quán chắc thật cảnh duyên). V́ thế, niệm Phật thâu nhiếp trọn vẹn, vượt thoát trọn vẹn hết thảy các pháp môn, cũng chẳng thể dùng tham Thiền để làm lệ. Nếu luận theo đế trí, th́ tứ giáo quán hạnh, có cái nhất định theo thứ tự là Tích Không và Thể Không, nhất tâm theo thứ tự bất đồng, tức là ba loại vượt thoát tam giới trước đó theo chiều dọc th́ được, chẳng phải là nhất tâm tam quán “chẳng phải dọc, chẳng phải ngang” cũng là “thụ xuất” hay sao? Huống chi, Quán Kinh dùng phương tiện thù thắng, khác lạ của Như Lai để thâu nhiếp quán môn sẵn có trong tánh của chúng sanh, đồng quy vào nhất tâm, cùng về Tịnh Độ. Quán và niệm chính là lẫn nhau, sao lại bảo “xếp pháp niệm Phật vào loại độn”? [Tổ nói “niệm là quán, quán là niệm”] chỉ nhằm biện định Tŕ Danh chẳng phải là Tán Thiện, chẳng phải [là nói] diệu quán không phải là đường tắt! Ư chỉ biệt truyền càng chẳng thể nói lời thừa thăi, vướng mắc được! Trong thời Mạt Pháp, có danh mà chẳng có nghĩa, sẽ thật sự khiến cho tứ giáo chẳng thâu thập được, liền trở thành “ĺa kinh tức là ma nói”, há có nên coi đó là siêu việt ư?

3) Hỏi: Thiên Thai Tam Quán có thuộc vào Nhiếp Pháp Giới Quán hay không?

Đáp: Hoa Nghiêm pháp giới th́ chúng sanh và Phật cùng nguồn. Do thâu nhiếp căn cơ bất tận, chẳng tránh khỏi hiện Quyền ẩn Thật. V́ vậy, từ A Hàm cho đến Niết Bàn đều ở ngoài phạm vi của Hoa Nghiêm. Do đó, truy đuổi trọn khắp, khiến cho đều thần phục. Thật Tướng của Pháp Hoa, Bổn và Tích cùng in dấu, nhưng do chưa tới lúc nói, chẳng tránh khỏi v́ Thật mà thực hiện Quyền. Từ Bát Nhă cho đến Hoa Nghiêm, đều là dẫn đường cho Pháp Hoa. V́ vậy, hiểu nơi hoang vu giống như nơi hoa lệ. Một đằng là từ Bổn mà hiện Tích, một đằng là nhiếp ngọn trở v gốc, nếu chẳng phải là nhất tâm tam quán, sao có thể SSự vô ngại? Chẳng phải là SSự vô ngại, sao có thể gọi là nhất tâm tam quán?

          4) Sách [Hoa Nghiêm] Hợp Luận phán định Cực Lạc Tịnh Độ là Quyền, duy tâm Tịnh Độ trong kinh Tịnh Danh là Thật. Nhưng Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sanh về [Cực Lạc], đă nêu rơ chuyện nhiếp thọ văng sanh và Di Đà chẳng hai. Sớ viết “điều này nói về Sự nhất tâm”, há Sự nhất tâm chẳng gọi là duy tâm ư?

          Đáp: Hợp Luận coi “chẳng đoạn Hoặc, sanh vào cơi Đồng Cư” là sức quyền xảo của Như Lai, chẳng phải là nói “bốn mươi tám nguyện của ngài Pháp Tạng, trang nghiêm Tịnh Độ cũng chẳng phải là Thật”. Kinh Tịnh Danh dạy “tâm tịnh, quốc độ tịnh” chính là giống hệt như cái nhân xưa kia của ngài Pháp Tạng. C̣n như Bồ Tát thành Phật, chúng sanh sanh về cơi đó, ngại ǵ từ Thật hiện Quyền? Nếu người niệm Phật do Sự mà nhập Lư, lại há có trở ngại Quyền chính là Thật ư? Quyền, Thật, Sự, Lư đều thuộc về nhất tâm, dẫu phân chia mà chẳng tách rời! Đối với lời phán định, giải thích của cổ nhân, đều nên quán như thế.

          5) Tuy có mười sáu phép Quán, nói Phật liền trọn đủ. V́ sao lời Sao chỉ nói phổ quán[61] là trợ nhân?

          Đáp: Niệm Phật quán Phật, chỗ quy thú giống nhau, nhập môn th́ khác biệt. Hành nhân sơ tâm hễ xen tạp th́ chẳng thành tam-muội. Do vậy, chỉ xưng niệm vạn đức hồng danh sẽ là nhiều thiện căn, nhưng chánh trợ kiêm tu vốn chẳng có pháp nhất định, giống như bơi thuyền! Căng buồm, thả dây lèo, chống sào, vẫy mái chèo, mỗi thứ đều tùy theo sự thuận tiện vậy!

          6) Hỏi: Kinh Đại Bổn nói người sanh về cơi ấy sẽ đều là trong một đời được bổ xứ làm Phật, nhưng trung hạ phẩm là thai sanh, có phải là Đẳng Giác Bồ Tát hay không?

          Đáp: Chẳng phải Đẳng Giác, nhưng có thể gọi là Nhất Sanh Bổ Xứ, do chẳng phải trải qua sanh tử, mà ắt sẽ viên măn Vô Thượng Bồ Đề. Tiểu Bổn nói chúng sanh văng sanh đều là A Bệ Bạt Trí, cũng là nói trong một đời này, ắt đạt được Bổ Xứ làm Phật, chẳng luận định theo cách nói tam bất thoái thông thường. Sau đó lại nói “kỳ trung, đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ” (trong ấy có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ), tức là nói riêng về các vị hiện chứng Đẳng Giác cũng ngay trong đời này ắt được bổ xứ. V́ thế nói “trong ấy có nhiều vị”. Bởi lẽ, Phàm Thánh Đồng Cư Độ trong Cực Lạc khác biệt vời vợi so với giáo pháp thông thường. Theo lối thường, bất quá là tạm thời đồng cư, c̣n trong cơi ấy (cơi Cực Lạc), sẽ là cùng với hết thảy các vị Đẳng Giác đều cùng tịnh Tịch Quang. Do vậy nói “đắc dữ như thị chư thượng thiện nhân câu hội nhất xứ” (được cùng với các vị thượng thiện nhân như thế cùng ở một chỗ). Hai chữ “chư thượng” chẳng phải là chỉ chung vô lượng Thanh Văn, Bồ Tát, mà chỉ là nói có nhiều vị Nhất Sanh Bổ Xứ. Lại nữa, xét cảm ứng theo lối thông thường, th́ bậc thánh do có nghiệp hữu lậu trong quá khứ, bèn cùng ở chung với thánh nhân Quyền và Thật. Ở đây là cùng do một nghiệp vô lậu chẳng nghĩ bàn cảm sanh, cùng tụ hội một chỗ. V́ thế lại nói: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc” (chẳng thể do ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy). Chữ Thiểu nhằm loại trừ “những người chưa đạt tới Sơ Địa trong Biệt Giáo”, cũng như loại trừ những người chưa đạt tới Sơ Trụ trong Viên Giáo, v́ trước khi đạt tới Sơ Trụ, sẽ đều cậy vào tự lực để đạt lên Sơ Trụ. Dự vào Đồng Sanh Tánh th́ mới được chư Phật hộ niệm. Tôi thường nói “Tịnh Độ đại giáo thâu nhiếp trọn vẹn hết thảy các giáo” chính là v́ lẽ này!

          7) Hỏi: Người chỉ niệm Phật chẳng tu các hạnh khác, đắc Ba La Mật tức là nhiều thiện, nhiều phước. Nay niệm Phật chỉ chứng Pháp Thân mà thôi ư? Hay là trọn đủ vạn hạnh trang nghiêm?

          Đáp: Tam thân nhất thể! Hạnh môn Phổ Hiền chẳng ra ngoài Tỳ Lô tánh hải. Ở đây, sơ tâm tuy chẳng tu các hạnh khác, khiến cho tam-muội dễ thành, nhưng nếu tam-muội đă thành, ba nhân sẽ hiển lộ trọn vẹn, há có chuyện Pháp Thân đă chứng rốt cuộc thiếu khuyết trang nghiêm ư? V́ sao mà chưa chứng Pháp Thân đă lo sẵn [Pháp Thân] chẳng trọn đủ vậy? Hoặc là thâm nhập một môn, hoặc do các hạnh khác giúp thành, đừng nên chấp chặt một bề! Nhất Hạnh tam-muội, một chính là nhiều, vạn thiện đồng quy, nhiều chính là một!

          8) Hỏi: “Niệm Phật chính là ai?” chẳng hai với các công án khác. Lời Sao nói: “Thể cứu[62] niệm Phật có ư nghĩa hết sức tương tự với nêu lên Thoại Đầu rồi có nghi t́nh”. Nhưng đối với bốn pháp niệm Phật, chưa thể xếp thể cứu thành một pháp. Kinh văn vốn chẳng có ư này, chẳng nên đưa vào môn tịnh nghiệp! Nay nếu đưa ra cả hai đường lối, nếu tham điều này mà chẳng ngộ, cũng chẳng đến nỗi mất phần văng sanh. Đấy chính là đối với môn tham cứu, hăy c̣n chừa lại một bước lui, chính là rơi vào cái tâm chụp giật! Nếu chẳng phá nỗi nghi ấy, sẽ chẳng thể văng sanh. Đấy chính là nơi niệm môn dấy khởi một nghi t́nh, liền trở thành dị thuyết. Các vị như Trí Triệt, Từ Chiếu, Thiên Kỳ, Độc Phong đều chủ trương thuyết ấy là do căn cứ vào đâu? Nếu tổ Vân Thê là tổ của các vị ấy, sao chẳng nêu thẳng ra chữ “Ai”? Nếu chỉ là tương tự mà thôi, nguyện nghe nói [lư do] trọn chẳng có lẽ ấy!

          Đáp: Do người niệm Phật chẳng thấy Phật tánh, cái tâm chụp giật chẳng dứt hẳn, nên dùng lời ấy để bảo rơ, khiến cho họ được thẳng thừng tương ứng, tức là trong một niệm sẽ thấy trọn vẹn ba thân, thanh tịnh trọn vẹn bốn cơi, đều là Lư nhất tâm. Đấy chính là bước dẫn đường cho “thâm nhập một môn, nhất tâm bất loạn”. Người đời sau nghe lời chân thành ấy, bất luận ngộ hay chẳng ngộ, sẽ có thể kiên quyết một dạ niệm Phật, há c̣n phải tham cứu đoạn công án ấy? Cần phải hiểu rơ như thế! Hăy nên biết: Người xưa khi thốt ra lời ấy, trọn chẳng phân chia Thiền hay Tịnh. Các tổ về sau gom lại, coi lời ấy chỉ thuộc về Tông, chẳng thuộc vào Tịnh nghiệp. V́ sao vậy? Do công án hiện hữu, nay Sớ Chủ tuy thâu thập lời ấy vào Tịnh nghiệp, [lời ấy] vẫn là Thiền Tông. V́ sao vậy? Nhằm cứu chữa căn bệnh “có Thiền, không Tịnh Độ”. Vậy th́ nếu tin tưởng, lấy ngộ làm pháp tắc, lấy Tịnh Độ làm chỗ quy kết, sẽ là chân thật chẳng dối, chẳng chừa lại bước thoái lui. Đấy chính là chỗ tương tự, tức đă là hoàn toàn đúng. Nếu chẳng tin nổi, toan diệt mất cái tâm chụp giật mà tâm chụp giật đâm ra càng quá đáng. Đáng lẽ là niệm chân thật, đâm ra thành hồ nghi! Chỉ do chỗ tương tự ấy, mà toàn bộ đều chẳng phải. V́ thế nói: “Học đạo th́ phải là người kiên quyết, tu tập th́ dùng tâm để phán định. Có nghi liền tham cứu, dẫu bỏ tham cứu mà chẳng thể. Chẳng nghi bèn niệm, muốn dấy nghi th́ chẳng có ǵ để khởi!” Như thế th́ thẳng thừng niệm hay khổ nhọc tham cứu, không ǵ chẳng phải là chánh hạnh văng sanh!

          9) Hỏi: Như con nhớ mẹ, ắt phải tưởng nghi dung. Nay chỉ là tiếng niệm liên tục, chẳng giữ lấy tướng mạo, có dễ bị rong ruổi, tán loạn hay chăng? Nếu nương theo hơi thở ra vào, chẳng phải là pháp Tiểu Thừa ư?

          Đáp: Con nhớ mẹ th́ hoặc khéo tưởng nghi dung, hoặc kêu gào, tuôn huyết lệ. Quán Kinh dạy: “Bỉ nhân khổ bức, bất hoảng niệm Phật (đó là nói quán tưởng), thiện hữu giáo ngôn: - Nhữ nhược bất năng niệm bỉ Phật giả, ưng xưng Vô Lượng Thọ Phật (đấy là nói xưng danh)” (Người ấy bị sự khổ bức bách, chẳng rảnh để niệm Phật (đó là nói quán tưởng). Bạn lành dạy rằng: - Nếu ông chẳng thể niệm đức Phật ấy, hăy nên xưng Vô Lượng Thọ Phật). Tam giới không ǵ chẳng phải là khổ sở cùng cực, há chỉ khi lâm chung? Do tâm sợ khổ mà hô hào cầu cứu, lấy đâu ra rong ruổi, tán loạn? Nếu không, ngay như các pháp nhiếp tâm, điều ḥa hơi thở cũng tự chẳng có khuyết điểm ư? Người căn cơ Viên Giáo lănh nhận pháp, chẳng pháp nào không viên, há nhất định thuộc Tiểu Thừa ư? Thử hỏi dùng xâu chuỗi để nhớ số, dùng hương để ấn định thời gian tŕ tụng, hoặc gơ mơ, đánh khánh là Đại Thừa hay Tiểu Thừa vậy?

          10) Hỏi: Đại Bổn có nói “nhất niệm định sanh bỉ quốc” (một niệm chắc chắn sanh về cơi ấy), nhưng lời Sớ chẳng nhắc tới, há có nên dùng “bảy ngày nhập Định bèn văng sanh” trong kinh này để loại trừ một niệm sanh diệt trong sát-na ư? Nếu giải thích ư nghĩa của Nhất chẳng phải là hiểu theo con số, kinh Đại Bổn lẽ ra chẳng nên nói đến “sau khi buộc tâm nơi thập niệm”. Nếu chỉ [hiểu Nhất] đúng như kinh văn th́ một niệm hỷ ái sao có thể đả động cơi Phật của Như Lai, bởi lẽ, chẳng do ái luyến mà được sanh?

          Đáp: Xét theo luận Bảo Vương, bậc lợi căn vốn chỉ một niệm văng sanh, kẻ độn căn lâm chung mười niệm thoát khổ. “Nhất niệm” là một niệm trong nhất tâm bất loạn. Hăy nên biết thập niệm, bảy ngày, mười ngày, bốn mươi chín ngày, chín mươi ngày v.v… rốt cuộc cũng chỉ là một niệm. Một niệm ấy trọn chẳng phải là cái tâm tán loạn sanh diệt trong từng sát-na, cũng ắt chẳng phải là Thiền Định thuộc Tứ Thiền, hay Tứ Không. Do đó nói “nhất niệm yêu thích”. Tâm hỷ luyến trong kinh A Súc vốn chỉ dục nhiễm.

          11) Sau bảy ngày, nếu vĩnh viễn chẳng c̣n loạn nữa, đừng nên chỉ nói là “bảy ngày”. Nếu lại loạn tức là đă thoái chuyển, sao có thể cảm Phật?

          Đáp: Trước đó, nếu chẳng thật sự ưa thích th́ bảy ngày chắc chắn chẳng thể nhất tâm bất loạn. Sau đấy, nếu chẳng chân thật thọ dụng, sao có thể thấy bảy ngày công sức thành tựu ư?

          12) Lời Sao nói “Lư nhất tâm là quán lực thành tựu”, tức thể cứu hoàn toàn thuộc vào quán môn, nhưng trước đó đă nói diệu quán khó thành, nhằm hiển thị tŕ danh thù thắng. Nay lại thông quán pháp, chẳng phải vẫn là quán thù thắng hơn tŕ danh ư? Nếu tham cứu chữ Ai là tự thể cứu, lại hoàn toàn thuộc vào Tông Môn. Ngay trong khi tham Thoại Đầu, sẽ chẳng kèm thêm các lư lẽ Như Trí bất nhị, Tịch Chiếu khó nghĩ ư?

          Đáp: Lư Sự hai đằng chẳng thể lẫn lộn được, chẳng tách rời được. Sớ Chủ một mực coi tŕ danh là Sự Tŕ, thể cứu là Lư Tŕ, vẫn có thể nói là “cơ cảm dung thông lẫn nhau”, chẳng cần phải ngờ vực tự ngăn trở! Nói “chẳng nhờ vào phương tiện, tự được tâm khai”, Sự Tŕ có thể thành tựu Lư nhất tâm. Lại nói thể cứu đến cùng cực, đối với bổn tâm, bỗng dưng khế hợp, gọi là Lư nhất tâm. Vậy th́ khi chưa khế hợp, thể cứu chẳng gián đoạn, chỉ gọi là suy xét Lư. Đó chính là công phu nơi mặt Sự. Nhưng một môn thể cứu rất phù hợp với Thiền Tông trong hiện thời, nhưng thật ra khác với diệu quán của tông Thiên Thai. Phép Quán của tông Thiên Thai ắt phải là đă viên giải, toàn tánh khởi tu. Nêu lên bất cứ phép Quán nào, không ǵ chẳng phải là cảnh chẳng nghĩ bàn! Thể cứu do chưa hiểu rơ tâm tánh, suy xét nguồn cội, sau khi khế hợp, đạt được Như và Trí chẳng hai, tịch chiếu nhất tâm th́ mới phù hợp khít khao với viên giải của tông Thiên Thai, chẳng phải là ngay trong khi tham Thoại Đầu đă có các lư kèm theo! Mới học th́ diệu lư chưa tinh thông, chẳng thể phảng phất tương cận được. Tâm thô, cảnh tế, diệu quán khó thành là v́ lẽ đó!

          13) Hỏi: Đại ư của Sớ Sao hoàn toàn coi trọng Lư Tŕ, tức là cách tŕ được sách ấy nói sẽ là trọng yếu nhất. Nay đă là tŕ danh, lại nói tới Lư quán, lại c̣n nêu ra Thoại Đầu, Thiền, Tịnh, Chỉ Quán, ba pháp lẫn lộn, hành nhân niệm chẳng quy nhất được, lấy ǵ làm tông? Sao có thể bằng ư chỉ “thâm nhập một môn, chuyên tu chẳng gián đoạn”?

          Đáp: Sớ Chủ muốn từ Sự mà nhập Lư, chẳng phải là dùng Lư để phủ định Sự. Hăy nên biết: Tŕ danh là chánh hạnh, Lư quán là cái được dung thông, Thoại Đầu là tŕ danh chuyển đổi. Trong phần Lời Tựa đă nói “chấp vào Sự mà niệm có thể liên tục, chẳng phí công nhập phẩm vị. Chấp Lư mà tâm thật sự chưa hiểu rơ, đâm ra mắc họa rơi vào Không” cũng chẳng phải là chuyên trọng Lư Tŕ. Sở dĩ chỗ nào cũng nói rơ Lư là v́ sợ kẻ cuồng vọng báng bổ [tŕ danh] là hạnh của phàm phu! Hậu duệ vô tri, ngược ngạo chấp Lư khinh Sự, bèn rơi vào Không đúng như Ngài đă tiên đoán. Buồn thay!

          14) Lời Sớ nói “nhất tâm chính là Thiền trực chỉ của Đạt Ma”. Lại nói Lục Tổ bài xích “chẳng có” [Cực Lạc] là do môn đ́nh lập bày khác nhau. Giả sử mới hoằng truyền trực chỉ, lại ca ngợi Tây Phương, th́ ư trực chỉ trọn chẳng do đâu mà tỏ rơ được! Đă nói là trực chỉ, lại bảo là cửa vào bất đồng, vậy th́ Thiếu Lâm và Tào Khê cũng là bất đồng ư?

          Đáp: Pháp môn tâm địa bao hàm chẳng có ngằn mé, nhưng đều chẳng ra ngoài nhất tâm. Môn đ́nh lập bày khác nhau, nhưng đều chỉ quy nhất tâm chẳng khác. Nay nhất tâm chính là Thiền trực chỉ, nhằm nói tới chỉ quy ấy. Lục Tổ bài xích “chẳng có” là bà lăo chửi tớ gái, chỉ ra vẻ nghiến răng, nghiến lợi thôi, chẳng phải là nói Tông Môn ắt phải bác bỏ Tịnh Độ. Ngài Vĩnh Minh nói: “Có Thiền, có Tịnh Độ, giống như cọp mọc sừng”. Ngài Trung Phong nói: “Thiền là Thiền trong Tịnh Độ, Tịnh Độ là Tịnh Độ nơi Thiền”. Há chẳng phải là tán thán Tây Phương, trực chỉ liền chẳng rơ rệt ư? Nếu nói Lục Tổ nói nhất định như thế, chẳng phải là báng Lục Tổ ư?

          15) Hỏi: Sớ nói “chí tâm niệm Phật một tiếng, diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử” thuộc về Lư nhất tâm. Lại giải thích kinh Phật Danh nói “vừa nghe được danh hiệu Phật, diệt tội trong vô lượng kiếp sanh tử”. Nói “vừa nghe, [tức là] chẳng đợi nghĩ nhớ, “vô lượng” tức là không chỉ tám mươi ức kiếp, sao lại riêng chỉ Lư nhất tâm? Hơn nữa, kinh này nói “nghe kinh hoặc nghe danh hiệu đều đắc Bất Thoái” th́ là Sự hay Lư?

Đáp: Quán Kinh nói “mười niệm trừ tội, văng sanh”, đó là do tâm sợ khổ tha thiết, duyên thiện hữu mạnh mẽ, nhất niệm mạnh mẽ, nhạy bén, hơn hẳn trăm năm ơ hờ, chẳng bắt buộc phải có hạnh “suy xét Lư”, nên thù thắng hơn Sự Tŕ thông thường. Chắc là Sớ Chủ nhờ vào đó để hiển thị tột bậc công phu do Sự Tŕ chẳng trái nghịch Lư đấy chăng? C̣n như kinh Phật Danh đă nói th́ do đức Phật ấy đă có vô lượng nguyện lực oai đức, cho nên người nghe bèn đạt được lợi ích như thế. Nghe mà chẳng tin, cũng mắc vô lượng tội, chẳng phải là chúng sanh ít thiện căn, phước đức mà có thể được nghe đâu nhé! Bất Thoái cũng không phải là một loại, tùy thuộc sự nghe chứng, có ba mức độ Bất Thoái là Vị, Hạnh, Niệm. Chỉ thoảng qua tai, như ăn chút kim cang, rốt ráo chẳng tiêu; đó là viễn nhân rốt ráo bất thoái vậy!

          16) Ngài Táo Bách (Lư Thông Huyền) nói: “Hoa Nghiêm nhất thừa đại đạo, chẳng phải là cảnh giới của Bồ Tát văng sanh”. Cớ sao Hoa Nghiêm trưởng tử (Phổ Hiền Bồ Tát) mười nguyện hướng dẫn về Cực Lạc? Ngài Đạo Sanh nói “nhất-xiển-đề có Phật tánh”, sau đó, có kinh Niết Bàn làm chứng [cho nhận định ấy]. Nay dựa theo phẩm Hạnh Nguyện, hoàn toàn chẳng phù hợp với lời ngài Táo Bách, tông chỉ rốt cuộc quy vào đâu?

          Đáp: Tịnh Độ ngang dọc đều bao trùm trọn khắp, Tịch Quang là cơi chỉ có Phật. Thật Báo là chỗ bậc Pháp Thân đại sĩ ở. Cơi Phương Tiện nhiếp trọn các quyền vị thuộc tam thừa. Cơi Đồng Cư th́ phàm phu cũng đều có phần. Hợp Luận nói về đại tâm phàm phu, hồi tâm La Hán, thoát ngũ trược, sanh trong hai cơi Tịnh Độ Phương Tiện và Đồng Cư, chưa ngộ Tỳ Lô tánh hải, chưa nhập pháp giới Nhân Đà La vơng[63]. Mười nguyện Phổ Hiền hướng dẫn về Cực Lạc, chính là cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, thấu triệt nhân quả, thông phàm, thấu thánh. Thánh th́ toàn thể pháp giới vào trong một vi trần, phàm th́ từ một vi trần thông thấu pháp giới. Ngài Táo Bách (Lư Thông Huyền) chỉ nói nhất thừa đại đạo chẳng phải là cảnh giới của Bồ Tát văng sanh, chẳng nói Bồ Tát văng sanh không phải là pháp môn Nhất Thừa đại đạo! Nếu nói Hoa Tạng lớn, Cực Lạc nhỏ, tức là kiến chấp lớn nhỏ chưa quên, chưa từng mộng thấy pháp giới Hoa Nghiêm vậy!

          17) Đă coi Sự Tŕ thuộc về Định, Lư Tŕ thuộc về Huệ, nhưng nói Sự Tŕ chưa thể phá vọng, lợi căn liền nhanh chóng đạt tới Lư Tŕ; đó là Sự chẳng hiển Lư, Huệ chẳng do Định ư?

          Đáp: Tam Vô Lậu Học mỗi điều sau đều ắt trọn đủ điều trước. V́ thế, Lư nhất tâm hoặc do thể cứu mà bỗng dưng khế hợp, hoặc do niệm Phật, tự được tâm khai, [tức là] đều do Định mà có. Nay trọng ngộ Lư, không chỉ nhằm trừ tán loạn. Tuy lúc thể cứu không gián đoạn, có thể gọi là Sự nhất tâm, nhưng cũng có Định lực, nhưng vẫn thuộc vào Huệ môn, thật sự là hai môn Định và Huệ, mỗi đằng đều có lợi, độn, nhưng Sớ Chủ lược đi chưa nói.

          18) Quyết chí cầu ứng nghiệm ngay trong lúc b́nh thời, sao kinh chỉ nói “lâm chung, Phật hiện”?

          Đáp: Hành nhân thấy Phật tùy thuộc tịnh nghiệp sâu hay cạn. Kinh do nói về văng sanh, cho nên nói tiếp dẫn. Nay chỉ càng dốc sức nỗ lực nơi chấp tdanh hiệu, bất luận thấy hay chưa thấy, chỉ cần tín nguyện hạnh thành tựu, văng sanh sẽ tự chẳng nghi ngờ! Hăy cẩn thận, chớ sanh ḷng cầu may hoặc ngă ḷng!

          19) Do tâm chẳng điên đảo, cho nên có thể biết trước lúc mất, lại có kẻ do vậy muốn biết trước khi chết sẽ có sự khổ nào. Đó là chuyện như thế nào vậy?

          Đáp: Chẳng quư biết sẵn, chính là v́ muốn cho tâm chẳng điên đảo. Đă có trường hợp v́ muốn biết trước mà điên đảo càng nặng hơn!

          20) “Mười niệm” trong Đại Bổn chẳng nói lúc lâm chung, điều này là giống hay khác nếu so với Quán Kinh?

          Đáp: Kinh Đại Bổn nói “chí tâm tín nhạo, năi chí thập niệm” (chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm). Nh́n vào từ ngữ “chí tâm tín nhạo”, thân thiết chi bằng? Chẳng cần vào lúc lâm chung, mà thật sự mạnh mẽ y hệt như lúc lâm chung. Do vậy, tổ sư đời sau lập ra hạnh môn Thập Niệm vào buổi sáng, suốt đời chẳng thiếu sót, cũng chắc chắn được văng sanh.

          21) Ngài Văn Thù cũng phát nguyện văng sanh, sao [trong kinh Lăng Nghiêm] lại loại trừ pháp Niệm Phật của ngài Đại Thế Chí. Lời Sao nói “Nhĩ Căn chẳng nhiếp niệm Phật, niệm Phật có thể nhiếp Nhĩ Căn”. Đó là như thế nào vậy?

          Đáp: Pháp chẳng có hơn, kém, nhưng “cơ” (cơ duyên và căn cơ) có đè nén hay đề cao, chẳng phiền hư luận. Trong sáu căn, đức Quán Âm từ Nhĩ Căn mà nhập. Trong bảy đại, đức Thế Chí từ Căn Đại mà nhập. Luận về nhập môn th́ ở phương này, Nhĩ Căn riêng nhạy bén nhất. Luận về thâu nhiếp căn cơ th́ tịnh niệm thích hợp cả ba căn. Lại c̣n viên nhân th́ pháp nào cũng quán triệt. Nhĩ Căn và tịnh niệm thâu nhiếp, dung thông lẫn nhau. Đối với kẻ sơ cơ, Nhĩ Căn chỉ nhiếp một căn duy nhất, c̣n tịnh niệm đều nhiếp trọn, cũng đáng nên chèn ép hay đề cao!

          22) Hỏi: Coi cái tâm phan duyên là tự tánh, giống như nấu cát thành món ăn. Nay cái tâm niệm Phật là phan duyên hay chẳng phan duyên? Nếu là phan duyên, hết thảy giác quán, tư duy đều là căn bản của sanh tử. Nếu chẳng phải, sao lại nói niệm tánh sanh diệt, nhân quả cảm vời khác biệt? Nếu sanh diệt chính là chẳng sanh diệt, điều này giống như thí dụ về nước và sóng, sẽ chẳng cần bàn tới nữa! Sóng chính là nước, cát cũng chẳng phải là thức ăn. Nhưng kinh Pháp Hoa nói “nhược nhân tán loạn tâm, nan năng bất đoạn bách tư tưởng” (nếu người tâm tán loạn, khó thể chẳng đoạn trăm mối tư tưởng) lại chẳng phải là dùng cái tâm sanh diệt hay sao?

          Đáp: Lỗi chẳng phải ở chỗ dùng cái tâm phan duyên, mà lỗi v́ coi nó là tự tánh. Đó gọi là “nhận cái xương cong của con lừa là quai hàm của cha”, liền thành thí dụ “nấu cát thành thức ăn”. Nếu biết cái tâm phan duyên vốn chẳng có tự tánh, sẽ có thể sử dụng tâm phan duyên, chẳng bị phan duyên sử dụng. Đó gọi là “giặc trong nhà khó pḥng. Đă nhận biết th́ nó chẳng gây oán”, liền ứng hợp với thí dụ “sóng và nước”. Huống chi một môn của đức Thế Chí vốn thuộc vào Căn Đại, Ư Căn làm chủ, năm căn kia thuận theo. Do vậy nói “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế” (nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối). Ư Căn chính là thức thứ bảy. Thức thứ bảy từ vô thỉ tới nay, niệm nào cũng đều chấp ngă, nay dùng sức của Diệu Quán Sát Trí khiến cho hành nhân thẳng thừng niệm Phật, đem dưa ngọt đổi với mướp đắng, cái tâm phan duyên thông thường chẳng sánh bằng được! Nhăn Thức thông thường duyên Sắc cho đến Ư Thức duyên pháp, đều là pháp thuận theo sanh tử. Khi niệm Phật th́ Phật chẳng phải là Sắc, chẳng phải là phi Sắc, cho tới chẳng phải là pháp, chẳng phải là phi pháp, vượt ngoài pháp thế gian, ĺa khỏi ngôn ngữ, chỉ có thể tịnh niệm nhớ giữ, vốn chẳng phải là cảnh giới sở hành của t́nh lượng! Há cái tâm niệm Phật là phan duyên ư?

Hơn nữa, do phan duyên lục trần mà tăng trưởng sanh tử, hăy chuyển sang phan duyên từ phụ để vĩnh viễn thoát khỏi ṿng khổ, cũng tự chẳng ác, há có thể luận định là nhất loạt như nhau được ư? Hơn nữa, căn tánh Sa Bà chỉ có Nhĩ Căn là dễ hiển lộ viên thường, c̣n niệm tánh vẫn thuộc vào sanh diệt. Chẳng do đă ngộ Như Lai Tạng Tánh, sẽ trọn chẳng liễu đạt niệm tánh vốn viên thông! Học nhân đời Mạt hiếm người đạt viên giải, nhập đạo từ Nhĩ Căn cũng rất khó nói! Nếu chẳng thể hướng theo quyển bốn của kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) để đau đáu tư duy nghĩa sâu tới mức tột cùng nguồn đáy, th́ vừa nghe công phu “nhập lưu vong sở” nơi cái Nghe, rốt cuộc sẽ thấu hiểu bằng cách nào đây? Kẻ tiểu căn, trí kém chẳng thể suy tính, nghĩ bàn pháp môn Viên Đốn được! Chẳng có gạo mà toan nấu cơm, vẽ lên hư không thành tranh, đâm ra chẳng bằng nhân quả cảm vời thù thắng, tự được tâm khai vậy!

          23) Hỏi: Cuối kinh trước là nói bất thoái, sau là nói văng sanh, chính là do có thể thực hiện ngay trong đời hiện tại, vượt trội các giáo khác, sao lại ngược ngạo nêu ra cách nói “kẻ thọ ngắn, lắm chướng, chẳng thể văng sanh, đời sau sẽ được văng sanh”?

          Đáp: Thật sự niệm Phật th́ chắc chắn không một ai chẳng sanh về Tịnh Độ. Kẻ thoái thất Bồ Đề chỉ sợ là phường chướng sâu, huệ cạn, thấy chính ḿnh và người khác chưa đạt được công hiệu, chẳng tự trách công sức nông cạn, nhục nhăn mờ mịt, lại ngược ngạo ngờ vực Phật pháp chẳng linh, đời hiện tại thoái thất, lười nhác. Do vậy, tùy thuận mà hiển lộ lợi ích thù thắng, khiến cho họ thực hiện hoàn tất trong đời hiện tại!

          24) Hỏi: Hiển và Mật đều viên, sao lại nói tŕ danh hơn hẳn tŕ chú Chuẩn Đề?

          Đáp: Thần lực tột bậc của chú Chuẩn Đề là nhục thân có thể đến mười phương Tịnh Độ, Niệm Phật tam-muội đạt đến tột bậc th́ nhục nhăn thấy bằng với mười phương Như Lai, thật sự chẳng có hơn kém, nhưng ước theo nhân duyên của chúng sanh và Phật, căn cơ được nhiếp thọ bởi pháp môn, và ư nghĩa của giáo pháp thông thường, theo đúng lẽ, hăy nên riêng hiển tông này!

          25) Hỏi: Tham cứu niệm Phật được gọi là “hướng thượng nhất trước”, ngàn thánh chẳng truyền, ắt phải từ tham cứu th́ mới đạt được. Đă là giáo pháp trong suốt một đời đức Phật, đều thuộc về vật báu của người khác, cớ sao công án của Thiền môn lại thuộc về của báu trong nhà? Nếu nói Thiền là cương lănh của Giáo, cớ sao đức Thế Tôn chẳng nói? Nếu nói kinh văn cũng có thể tham cứu, cớ sao phải nhọc công có một ngàn bảy trăm công án vậy? Chuyện tham Thoại Đầu đức Thích Ca Văn (Thích Ca Mâu Ni Phật) chưa nêu dạy, ư chỉ của tổ sư từ phương Tây đến cũng chẳng có môn này! Nếu bảo là môn đ́nh đă quen thuộc, liền trở thành khuôn sáo, cho nên đổi sang thành cách này, nay tham Thoại Đầu cũng trở thành đường lối quen thuộc, đổi sang một pháp khác là như thế nào?

          Đáp: Hướng thượng nhất trước, ngàn thánh chẳng truyền, có thể nói là ắt phải từ tham cứu th́ mới có thể chứng nhập ư? Nhưng đó cũng là một loại phương tiện, vốn chẳng có một thật pháp để bó buộc con người. V́ thế, cổ nhân gọi nó là “ḥn ngói dùng để gơ cửa”, có bao giờ coi công án là vật quư báu trong nhà? Nếu lầm tưởng đó là cương tông, tức là chết cứng nơi câu văn, cho rằng phải tham Thoại Đầu mới có thể ngộ đạo. Bệnh tham Thoại Đầu cũng trở thành môn đ́nh, đều tăng thêm hư luận, liên quan ǵ đến Tông, Giáo? Hăy nên biết người hễ nêu ra một liền hiểu rơ ba, ánh mắt nhạy bén, tinh tế, tùy ư lấy một pháp, sẽ có thể thấu suốt hết thảy các pháp đều thuộc về của báu trong nhà, có ǵ là vật báu của người khác? Nếu vịn cây để mong được cá, ôm gốc đợi thỏ, th́ Tam Tạng mười hai bộ sẽ thành giấy lau mụt ghẻ, một ngàn bảy trăm công án cũng là dây leo mục nát trong bụi bặm. Pháp chẳng có được hay mất; được hay mất là do mỗi người. Chỉ nên do lời nói mà hiểu tâm, há nên mê tâm chạy theo lời nói? Nếu thật sự khế hợp nguồn tâm, biết “Phật, Tổ đều chẳng có một pháp để trao cho người khác”, sẽ lấy pháp nào khác để thay thế cho pháp nào khác vậy?

          26) Hỏi: Ngũ Nghịch có thể văng sanh, sao Phật chẳng thể diệt định nghiệp? Lại nữa, người tạo nghiệp nếu dựa vào đó để buông lỏng, há chẳng phải là sa vào địa ngục như tên bắn ư?

          Đáp: Pḥng tối ngàn năm, một ngọn đèn có thể trừ tối. Sức sám hối đă ân cần, nghiệp liền chẳng nhất định. Nếu là kẻ ngu bướng nơi bến mê, có thuyền mà chẳng lên, túm xiêm áo làm bè, ôm đá làm thuyền, đă chẳng có sức để xoay ngược lại, đúng là định nghiệp khó trốn vậy!

          27) Hỏi: Pháp sư tu kinh Niết Bàn do chưa tụng Di Đà mà chẳng được văng sanh, kinh Pháp Hoa nói văn thử kinh, như thuyết tu hành, mạng chung sanh An Lạc thế giới” (nghe kinh này, đúng như lời dạy mà tu hành kinh ấy, mạng chung sẽ sanh về thế giới An Lạc). V́ sao bất đồng?

          Đáp: Trong môn Tịnh Độ, Nguyện là cái để dẫn đường. Chưa tụng niệm Di Đà, tức thường ngày ư nguyện ưa thích chẳng sâu. C̣n như kinh Pháp Hoa đă nói, chính là đức Thế Tôn thẳng thừng dùng kinh mầu nhiệm làm bằng khoán cho Liên Bang, khuyên phát nguyện đă rơ rồi! Pháp Hoa chính là Di Đà, kinh mầu nhiệm khuyên nguyện, tức là Di Đà khuyên nguyện, tức là kinh Niết Bàn khuyên nguyện, cũng chính là hết thảy các kinh đều khuyên nguyện, không ǵ chẳng tương đồng!

          28) Cơi ấy chính là v́ trời, người tạp cư mà chia thành chín phẩm. Ao tắm của Phật và Bồ Tát, Thanh Văn đều ở trên trời, hoặc trong nhân gian. Đă chú tâm vào cảnh đó, phải nên khiến cho y báo và chánh báo rành rành!

          Đáp: Tịnh Độ thuần vui, há trời, người phải nên cách biệt vời vợi? Chín phẩm văng sanh, [kinh điển] chưa phán định rơ [người thuộc chín phẩm văng sanh] là trời hay người, hoặc đều là chín phẩm hóa sanh trong hoa sen, hoặc chư thiên đều chẳng cần phải gởi thân, đều chưa thể biết! Kinh Đại Bổn nói cung, điện, lầu, gác có khi ở trên mặt đất, hoặc trên hư không. Quán Kinh nói nơi lưới báu trên cây, các thiên đồng tử tự nhiên ở trong cung điện bằng hoa mầu nhiệm. Vậy th́ phàm t́nh há có thể ḍ lường cảnh giới trang nghiêm để đều thấy rành rẽ được ư?

          29) Hỏi: Tịnh Độ đă tuyên nói đạo phẩm, cớ sao Quán Kinh chỉ nói “đọc tụng Đại Thừa”, chẳng nhắc tới Tiểu Thừa. Hơn nữa, môn Tịnh nghiệp có nói “chẳng lễ Phật khác, chẳng tụng các kinh khác”, chẳng phải là hoàn toàn mâu thuẫn với Quán Kinh ư?

          Đáp: Bát Nhă thường nêu ra ba mươi bảy phẩm, liền kết lại rằng “cho đến trí Nhất Thiết Trí thanh tịnh chẳng hai, chẳng tách rời, chẳng khác, chẳng đoạn”, há đạo phẩm chẳng phải là pháp môn Đại Thừa ư? Các bậc tôn túc Tịnh nghiệp xưa kia có vị thâm nhập một môn, tức là viên nhân lễ một vị Phật chính là lễ hết thảy các vị Phật, tụng một kinh chính là tụng hết thảy các kinh. Tánh báu nhiều như cát sông Hằng, vô lượng pháp tạng nhất loạt giao phó, nhất thời tiếp nhận, hiểu biết. Kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa cần phải đọc tụng như thế th́ mới có thể lănh hội được!

          30) Hỏi: Một câu Di Đà nếu chẳng thông đủ loại pháp môn, sẽ chẳng phải là trọn hết cùng cực, nay nói “tu các pháp môn khác sẽ thuộc vào nhị tâm”, há chẳng phải là tiếp nhận một pháp, phủ định các pháp khác ư?

          Đáp: Chẳng biết hết thảy các pháp chính là một pháp, th́ rộng tu hành sẽ đúng là nhị tâm. Nếu trong một pháp mà thấu đạt hết thảy các pháp, chuyên tu tập tức là Tổng Tŕ, Phật hạnh hay ma hạnh há thuộc nơi pháp ư?

          31) Hỏi: Ngài Huyền Trang do coi Đâu Suất là gần, phán định “dễ sanh về Nội Viện”, sao lại luận theo cái nhân mà chẳng luận theo quốc độ để chọn lựa, loại trừ? Sau đó lại nói cơi Thắng Liên tuy vượt trội Cực Lạc, nhưng Cực Lạc gần hơn; sao lại luận theo cơi nước?

          Đáp: Đều là luận theo cái nhân! Cảnh giới Thắng Liên cách biệt hạng phàm phu lè tè sát đất rất xa! Chẳng như cơi Di Đà gần gũi do Phật rủ ḷng tạo phương tiện, mười niệm liền có thể tạo thành cái nhân. Chưa có ai dẫu chưa thể sanh về Cực Lạc mà có thể sanh về cơi Thắng Liên được! Xét sâu vào phạm vi huyền diệu của Tịnh Độ, chưa chắc Cực Lạc chẳng phải chính là Thắng Liên. Như do t́nh chấp mà sanh ra biến kế. Ngờ vực Cực Lạc là quyền biến, thí dụ, tức là cách Thắng Liên càng xa!

          32) Hỏi: Trong lời Sao nói liên đài có hai nghĩa, nay kim cang đài và tử kim đài th́ là đài hoa trong búp sen (tức là gương sen), hay là cái đài nâng đỡ hoa?

          Đáp: Nói gộp chung hai nghĩa. Nếu gởi chất nơi đài vàng, th́ đài vốn ở trong hoa, chẳng bàn tới cái đài nâng đỡ dưới hoa.

 

* Trả lời bốn câu hỏi của Ấn Sanh (đính kèm câu hỏi)

 

          1) Hỏi: Khi chưa đắc giới, dùng pháp ǵ để nhiếp tâm? Mười giới có sai phạm, có được phép sám hối hay không? Sau khi đă sám hối, có được phép thọ Cụ Túc hay không? Hành pháp sám hối nào th́ mới gọi là đắc giới?

          Đáp: Để đắc giới cần phải có tâm ân cần, trân trọng, tâm thanh tịnh mong cầu pháp thù thắng. Sám hối cần phải có tâm hổ thẹn, tâm quyết đoán lật nhào ác cảnh trước đó. Đấy chính là pháp nhiếp tâm, đấy là cái nhân để đắc giới. Hễ mười giới có vi phạm mà thề chẳng tạo nữa, luật cho phép thọ Cụ Túc. Hăy nên trịnh trọng, chớ nên mong mau chóng!

          2) Hỏi: Đối với giáo pháp suốt một đời đức Phật, kẻ sơ tâm có được phép đọc trọn khắp hay không? Tham Thiền có được phép xem Giáo hay không? Nếu ngộ rồi mới xem, sợ rằng đời này khó đảm bảo được! Nếu hiểu biết thô thiển liền tham Thiền, lại sợ tri giải ràng buộc!

          Đáp: Xem giáo quư ṛng rặt, chẳng quư nhiều! Một bộ [kinh sách] nghiên cứu ṛng rặt diệu nghĩa, thấu triệt cốt tủy, tự nhiên sẽ thông suốt các kinh khác, thế như chẻ tre. Muốn thấu triệt cốt tủy, ắt cần phải khi xem bèn chính là lúc quán tâm. Đă nói là quán tâm, công sẽ giống như tham ngộ, vốn chẳng phải dơi theo từng lời, từng câu, nào có trở ngại ǵ! Giáo lư giúp dưỡng thần, như chất béo giúp cho lửa [cháy mạnh hơn]. Phải nên thấu hiểu ư nghĩa tinh xác, đừng nên hiểu thô thiển. Chưa thể hiểu tinh xác, mà nói là “tri kiến vấn vít”, khác ǵ gă chiến bại đổ lỗi các thế vơ quá nhiều ư?

          3) Hỏi: Trước thời ngài Hoàng Bá chẳng có Thoại Đầu, chẳng biết đắc ngộ bằng cách nào? Con nay nên nhập môn từ đâu để tu tập? Ǵ là chủ tể, chẳng bị cảnh đoạt? Khi nào sẽ thấy người, nơi nào mới là rốt ráo? Mong hăy dạy cặn kẽ!

          Đáp: Trực tiếp biết trở về, há có thật pháp! Tham Thoại Đầu vốn là phương tiện của đời sau ḥng chết sạch cái tâm mong ngóng của con người đó thôi! Trước kia, chư tổ chỉ lưu tâm nơi bổn phận. Chỉ cần người học hiện thời hướng theo bổn phận mà thực hiện, trong hết thảy mọi lúc, hết thảy mọi chỗ, chỉ v́ chuyện thuộc bổn phận ấy, sẽ tự chẳng thấy có cảnh, há bị nó đoạt mất? Thiện tri thức sẽ lúc nào cũng luôn gặp, quyết trạch thân tâm, măi cho tới viên măn Bồ Đề th́ mới là rốt ráo. Do vậy, đương nhân hăy nên phát tâm đại dũng mănh, mở rộng tâm lượng rỗng rang, khơi gợi đại trí, trưởng dưỡng đại bi, xả hết thảy ái kiến, tu hết thảy phương tiện, sẽ chẳng đọa vào các cảnh giới ngoại đạo, Nhị Thừa, quyền giáo!

          4) Hỏi: Cách nói “tham cứu niệm Phật” có thể coi như là Thoại Đầu hay không? Sợ rằng đời này chẳng ngộ, đời sau khó giữ được [thân người]. V́ thế, sử dụng pháp này để thâu nhiếp văng sanh. Nhưng lại sợ tham Thiền đâm ra là lui một bước, hăy nên dung thông như thế nào? Hễ sanh tâm tham Thiền, lâm chung phát nguyện như thế nào?

          Đáp: Chúng sanh điên đảo, vừa mới nói liền nghi. Tôi nay triệt để nói toạc ra, cũng khiến cho những người có chí trong tương lai chẳng khóc ṛng nơi ngơ rẽ. Đă thâm nhập một môn, cần ǵ chồng giường, chồng nhà, xen lẫn tham cứu? Chỉ xem chư tổ Liên Tông, liền biết Tịnh chẳng tu Thiền. Nếu v́ đại sự nhân duyên, hễ có nghi chưa phá liền bỏ xó, cho là chẳng thể, bèn hành tham cứu, vậy th́ hăy nên ân cần hồi hướng Tây Phương. Chỉ cần xem các vị đại tổ sư như Vĩnh Minh v.v… liền biết Thiền quyết định tu Tịnh, th́ chuyện thuộc bổn phận rành rành có thể hoàn tất! Cần ǵ phải g̣ ép cho dung thông? Hễ tin liền tin, hễ nghi th́ đừng tham cứu!

 

* Đáp thay bốn câu hỏi do Lưu Tân Thành tŕnh lên ngài Bác Sơn (đính kèm thư thỉnh vấn ngài Bác Sơn)

 

          1) Hỏi: Xin được chỉ dạy, nếu nay con coi Lấy và Bỏ cùng là một chữ như nhau, tức là nói dối. Nhưng sách Diệu Tông nói “nếu lấy, bỏ đến cùng cực, sẽ chẳng khác đường với không lấy bỏ”, chính là nói càng có “lấy, bỏ” sẽ là càng không [lấy, bỏ]; đấy là viên diệu. Nếu phải là chẳng có th́ mới là không có, há chẳng rơi vào Tiểu Thừa ư?

          Đáp: “Cực” là nói lấy tới chỗ chẳng thể lấy, bỏ tới chỗ chẳng thể bỏ, vừa khéo khế hợp “chẳng lấy bỏ”, chẳng phải chỉ hiểu “lấy bỏ” là “không lấy bỏ”. Chính khi muốn lấy bỏ cùng cực, dẫu chẳng muốn mà không có lấy bỏ. Nếu chưa đạt tới cùng cực, mà muốn cho chẳng có, liền đọa vào ác thủ. Nếu muốn cho chúng như nhau, chính là thuộc vào vọng ngôn vậy!

          2) Hỏi: Mong được chỉ dạy: Dùng dây leo[64] để quét sạch dây leo, và chẳng vướng víu dây leo, hơn kém như thế nào? Chính ngay trong lúc tranh biện dây leo là có hay không, tức là giáo lư chẳng phế trừ dây leo, dây leo không ǵ chẳng viên đốn!

          Đáp: Văn tự tánh ĺa, chẳng ĺa văn tự. Chưa thấu đạt ư chỉ mà kiêu mạn nói “chẳng lập”, chỉ riêng “chẳng lập” đă là văn tự! Khi ngộ bèn chuyển Pháp Hoa. Đây chính là chẳng vướng víu dây leo vậy! Ǵ là cái bị quét sạch? Ai là người có thể quét sạch? Ngài Trí Giả dùng chín mươi ngày đàm luận chữ Diệu, mỗi chữ đều từ bí tạng lưu xuất, chữ nào cũng có thể hàm nhiếp bí tạng, há giống như kẻ tầm chương trích cú, vào biển đếm cát, hoàn toàn rơi vào khuôn sáo dây leo, bèn nói “dây leo quét trừ dây leo”.

          3) Hỏi: Xin chỉ dạy, nhiều câu chẳng bằng một câu, cần t́m được nguồn nước. Nếu t́m cành lá rườm rà, hư vọng bảo câu ấy quy vào chỗ nào, chẳng phải là lo tính quá sớm ư? Con trộm nghe tông Thiên Thai chuyên dùng sáu thức, gọi là “đốn cây tận gốc, châm cứu chữa bệnh tận huyệt! Đă t́m được cái gốc rồi, tức nhánh nhóc là gốc, đă t́m được nguồn th́ ḍng chảy chính là nguồn!

          Đáp: Do huyệt cố định, gốc cố định, cho nên phải đợi châm cứu, đợi đẵn. V́ thế nói “cần phải t́m được nguồn nước”. Nếu vun quén gốc nghiệp mà chẳng đẵn, bảo vệ bệnh t́nh nguy kịch chẳng châm cứu, tức là nhận lầm nguồn chảy, đảo ngược gốc ngọn, trái nghịch áo chỉ của tông Thiên Thai, lọt vào ḍng sanh tử chảy xiết!

          4) Hỏi: Mong được chỉ dạy, một niệm biết tâm, bảo đảm chẳng lỡ bước! Chẳng biết dùng cái tâm nào để bảo đảm? Nếu dùng thức tâm, lúc cách ấm chẳng biết túc mạng, nhưng tông Thiên Thai chuyên dùng lục thức làm Chỉ Quán viên đốn vô thượng, khế hợp khéo léo với Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật). Ức niệm chẳng phải là dùng sáu thức ư? Trong giáo nói rơ dùng sáu thức, sáu thức biết rơ địa vị theo thứ tự. Nếu có thể y giáo tu học, giáo lư sao có thể đảm bảo cho hành nhân ư?

          Đáp: Tông Thiên Thai quán một niệm thức tâm chính là cảnh chẳng nghĩ bàn, do người viên giải đă thấu đạt Như Lai Tạng Tánh. V́ thế từ ngay nơi ḍng chảy mà t́m được nguồn. Nếu bảo “chuyên dùng sáu thức” th́ chính là coi phan duyên thành tự tánh, đấy chính là căn bản sanh tử, đúng là bị kinh Lăng Nghiêm quở trách. Suồng să gọi là “khế hợp khéo léo”, chẳng phải là báng Chỉ Quán ư? Lại như phép Viên Thông của ngài Thế Chí thuộc vào Căn Đại trong Thất Đại, cho nên nói là “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Ư căn làm chủ, năm căn kia thuận theo, nếu coi căn là Thức, đích xác phạm lỗi! Tông Thiên Thai nói: “Quán tâm nếu dấy lên, Bổn và Tích đều dứt bặt. Từ đấy mới có thể đoạn Hoặc, chứng Lư, xếp đặt các địa vị”. Nếu sáu thức biết rơ các địa vị, liền là chuyện thuộc h́nh bóng của pháp trần phân biệt, sao có thể gọi là “pháp môn viên đốn”? Đă lưu tâm nơi giáo nghĩa Thiên Thai, nhờ vào đó để đảm bảo cho người khác. Chẳng biết người bảo đảm có mặt mũi ǵ mà có thể quyết định sẽ bảo đảm? Nếu có thể biết bảo đảm cho người khác th́ cũng có thể tự bảo đảm.

 

* Tính trả lời câu hỏi bị bỏ quên trong thư gởi cho ngài Bác Sơn (đính kèm thơ hỏi Bác Sơn)

 

          Hỏi: Pháp lâu ngày càng suy, chẳng phải là thời thế khiến thành ra như vậy, mà là do trao truyền, nhận lănh quá lạm dụng, chẳng thể cứu văn. Hơn nữa, luận theo phía người học, căn có lợi, độn, ai tránh khỏi sanh, trụ, diệt và tuôn rót sanh, trụ, diệt? Dẫu chẳng rơi vào thức t́nh, phân biệt cách tuyệt vời vợi. Dẫu cho là có thể đoạn ngôn ngữ, có thể hoàn toàn cắt đứt sự tuôn rót hay không? Giả sử cắt đứt, vẫn gọi là Chân Như tuôn rót. Do chúng sanh vọng tưởng, chấp trước, đức Thế Tôn suốt bốn mươi chín năm phải nạo vét, khiến cho chấp trước bị trừ sạch, sau đấy mới cầm cành hoa giơ lên cho đại chúng thấy. Cành hoa được giơ lên ấy há chẳng phải là những điều đức Thế Tôn đă nói trong bốn mươi chín năm ư? Chúng sanh mê muội đă nhiều kiếp, do họ mê nên đức Phật chẳng dám giơ lên, chẳng phải là đức Phật chẳng thể chỉ pháp thẳng chóng. Thoạt đầu đă hiểu một đại sự này, nay đối với công án, cơ phong của thiện tri thức, có thể gánh vác như thế hay chăng? Lại dùng lời của ngài Sư Phạm[65] đă nói “Đạt Ma từ phương Tây sang, chính v́ phương này tập khí danh ngôn hừng hực, mà riêng ban cho một viên thuốc Vô Ư Lộ Hoàn Nguyên Đan”. Cho tới khi ngài Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng) triển khai, vẫn sợ lại đọa vào ngôn thuyết. V́ vậy, năm nhà[66] đều lập môn hộ, mượn lẽ huyền diệu, trọng yếu “khách chủ, vua tôi” để thăm ḍ hư, thật. Đối với chuyện này, cổ nhân đúng là đi trên mũi kiếm nhọn. Tông thừa hiện thời lại v́ giáo pháp xưa kia, há lại có được một vị Đạt Ma tới đây, thuốc lẫn bệnh đều quét sạch. Chín năm diện bích nơi Thiếu Lâm cũng bị quét sạch, chẳng lưu lại ư? Chẳng phải vậy th́ cũng nên như đại dụng của Triệu Châu, Hoàng Bá. Những vị khác lại chẳng thể kể xiết, phải đều dùng phương cách mới hơn hẳn người khác. Phương cách mới chính là Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí, Phật chẳng thể truyền, lời lẽ chẳng được ghi chép, như đại tướng quân đối trước quân địch, thao lược đều bỏ, do địch quân cũng biết rơ pháp ấy, nhưng ĺa thao lược một chữ cũng chẳng được, do thao lược ghi chép mưu kế sống động, c̣n con người tự chết cứng![67] Đối với người đă thấu đạt, dẫu nêu ra lời lẽ chết cứng, cũng đều là sống động. Kẻ chẳng thấu hiểu, dẫu nêu ra câu sống động, cũng đều thành chết cứng! Chẳng có pháp nào không mới, mới [hay không] là do [người sử dụng pháp ấy] tự đạt được. Lời lẽ nếu chẳng thể biểu lộ ư biểu thị, diễn đạt, của con người, sao có thể tháo niêm gỡ trói từ vô thỉ của mọi người, điểm sắt thành vàng ư?

          Đáp: Trước nay, Phật, Tổ vốn chẳng có thật pháp để ban cho người khác! Giơ cành hoa, mỉm cười, cho đến Đạt Ma lúc mới đến [Trung Hoa], tuy nói là “truyền tâm ấn” của Phật, há ĺa ngoài tâm chúng sanh mà có Phật tâm để có thể truyền ư? Bất quá v́ người khác tháo niêm, cởi trói, khiến cho họ thấu đạt vọng tưởng là vô tánh. Thấu đạt vọng tưởng vô tánh th́ hai loại sanh trụ diệt lập tức vắng lặng. Nếu muốn hướng tới chỗ sanh trụ diệt để cắt đứt, chỉ sợ một phen nạo vét lại là một phen tăng thêm chấp trước!

Hơn nữa, ư chỉ đơn truyền của tổ Đạt Ma như vẽ rồng điểm nhăn, khiến cho rồng bay đi, chẳng phải là ĺa văn tự để nói giải thoát, tức là giáo pháp xưa kia chưa từng bị quét sạch. Tông thừa hiện thời sử dụng mới mẻ như thế nào, chính là hết thảy tri thức đều dùng pháp mới hơn hẳn người khác, mong đừng báng tri thức. Hơn nữa, đă biết ĺa khỏi pháp cũ, sẽ chẳng có pháp mới, há có biết muốn tạo ra pháp mới liền thành pháp cũ? Câu chết cứng và câu sống động cũng giống như thế. Người học hiện nay lưu chuyển trong trí ô trược, cái tâm chụp giật bừng bừng, chẳng nghĩ nối gót bậc tiên triết, chỉ muốn đoạt được sự nổi bật trong thói đời, làm thiện tri thức. Chính phải nên dựa theo gương của bậc tiên thánh, lấp bặt những tṛ tiếm đoạt, trộm cắp, không chỉ bổng hát, cơ phong dần dần trở thành khuôn sáo xấu ác, ngay cả thuốc lẫn bệnh đều quét sạch, Đạt Ma đến cũng chẳng lưu lại, v́ sợ nếu giữ lại, sẽ lại trở thành khuôn sáo. Như sóng đuổi sóng, có bao giờ xong? Chẳng bằng hướng đến chỗ cội nguồn, t́m ṭi đường lối, tuân theo quy củ, chẳng giở tṛ khôn khéo, ngồi hưởng thái b́nh. Mong hăy nhận lănh, thấu hiểu rơm rạ thuộc về bổn phận, đừng t́m cầu ḱm búa[68] vượt ngoài khuôn khổ!

 

* Tính trả lời thư Bạch Cư Dị hỏi thiền sư Tịch Âm[69] (lời hỏi xem trong Lâm Gian Lục)

 

          Như Lai xuất thế chỉ v́ Nhất Thừa, do chúng sanh căn tánh bất đồng nên phương tiện nói thành ba thừa. Tuy nói thành ba, rốt cuộc quy nhất, chỉ sợ [chúng sanh] chẳng tin đang ch́m đắm trong nỗi khổ. V́ thế, cần phải soi xét căn cơ của họ để dùng ba thừa ḥng chỉ bày cho họ thấu hiểu thật pháp. V́ thế nói “chẳng có cao, thấp”. Chúng sanh có đủ loại bệnh, nhưng chỉ là một bệnh, do chẳng biết Phật tánh. Như Lai có đủ loại thuốc, vốn là một loại thuốc. Rốt cuộc đều là một Phật thừa. Nhưng mắc bệnh đă lâu, biến chứng đa đoan. Bậc y vương dùng thuốc cũng cần phải tùy nghi mà sử dụng phù hợp. Như vậy th́ khỏi bệnh bèn bỏ thuốc, chính là bổn ư của Như Lai. Thuốc cho đúng bệnh chính là phương tiện trí môn. Chỉ thấu đạt nguyên do Như Lai lập giáo, th́ sẽ đạt được diệu dụng lợi ích người khác trong thời Mạt. V́ gieo chủng tử mà cưỡng dùng chất cực độc cũng được. V́ khiến cho người đă chín muồi được giải thoát mà thiện xảo nói thành ba thừa cũng được. Nếu chẳng hiểu rơ chỗ tột cùng Quyền Trí và Thật Trí, chẳng thông suốt nghĩa Tất Đàn, há chỉ coi chuyện “thuận theo cơ nghi mà nói thành ba thừa” là hư vọng phân biệt, dẫu bảo là “một vị” cũng trở thành luông tuồng, mờ mịt. V́ thế, tất cả hai loại nghĩa trong sáu loại kinh khít khao thành tựu lẫn nhau. Ngũ Uẩn, Thập Nhị Nhân Duyên: Uẩn () có nghĩa là “tích tụ, bao trùm”. Do tách [tâm pháp] ra mà gọi thành bốn thứ, lại đối ứng với Sắc mà thành năm. Chỉ một chi Danh Sắc [trong Thập Nhị Nhân Duyên] đă đầy đủ, há có nên dựa theo thứ tự trong mười hai nhân duyên để cật vấn ư? Mười hai nhân duyên là ước theo nhân quả luân hồi ba đời, gọi cái có thể sanh ra quả là Nhân, gọi cái lần lượt giúp đỡ [cho cái quả được thành] là Duyên. V́ thế, Uẩn chỉ thuộc vào Khổ Đế, Duyên kiêm Khổ và Tập. Uẩn pháp là xét theo chiều ngang, nhân duyên là xét theo chiều dọc, khởi đầu từ vô minh, kết thúc bằng già chết. Trong mỗi một chi, đều có trọn Ngũ Uẩn. Chẳng nương vào Ngũ Uẩn, sao có vô minh, há có các hạnh? Sanh chính là Ngũ Uẩn hư vọng ḥa hợp. Lăo chính là Ngũ Uẩn biến đổi. Chết tức là Ngũ Uẩn hư vọng tán hoại.

 

* Trả lời người hỏi về cách nói phương tiện dành cho người sơ tâm tham cứu

 

          Căn cơ hướng thượng đều có quy củ chánh đáng của chốn tổ đ́nh, khiến cho chẳng rơi vào phương tiện. Do tùy thuận căn cơ trung, hạ mà lập ra phương tiện môn. Hễ có một bệnh, bèn có một loại thuốc [tương ứng]. Do bệnh muôn mối, thuốc cũng biến hóa ngàn cách. Lương y tùy thuận lẽ thích hợp mà dùng, tỳ sương (chất thạch tín) cũng có thể cứu sống người. Thầy thuốc dốt không hiểu rơ cơ nghi để cắt thuốc, dẫu dùng đề hồ vẫn có thể tổn thương tánh mạng. Lập ra một pháp, ắt ngầm có một thói tệ. Có một lợi, ắt có một hại. Công án cơ phong, nêu lên, ǵn giữ công án đều là thuốc, mà cũng đều là bệnh. Chưa thể phân định cao thấp, cũng chớ nên quyết định chấp là phương tiện sơ tâm. Như người đi đường, nếu chẳng cùng với người hướng dẫn đồng hành, chẳng thà hỏi cặn kẽ đường nẻo. Nếu không, tiếc một lúc chần chừ, sẽ dẫn đến sai lầm nhiều năm, vào nước quỷ, sụp hầm sâu, gặp cổ độc, gặp giặc cướp, dám chắc chắn là mười phần mười vậy!

 

* Trả lời chín câu hỏi về Bồ Tát Giới (đính kèm lời hỏi)

 

          1) Hỏi: Kinh Phạm Vơng nói “ư vị thọ giới nhân tiền, thuyết thất Phật giáo giới giả, phạm khinh cấu tội” (đối trước người chưa thọ giới mà nói giáo giới của bảy vị Phật, phạm tội khinh cấu), nói là chỉ ngăn cấm lúc tụng, chẳng ngăn cấm lúc giảng, có nghĩa như thế nào?

          Đáp: Giới pháp tỳ-kheo liên quan đến tăng luân. V́ ngăn ngừa kẻ tặc trụ, hết thảy đều ngăn che. Giới pháp Bồ Tát thâu trọn khắp năm đường, giải nghĩa, phát tâm vốn chẳng phải là chuyện cấm đoán. Nhưng khi tụng, sợ có người phát lộ [tội lỗi do người ấy đă phạm], chẳng thích hợp cho người chưa thọ biết. V́ thế bảo là “chẳng được nói”.

          2) Hỏi: Giới Bổn có bốn tội trọng, kinh Phạm Vơng có mười tội trọng, tường tận hay đại lược bất đồng. Phạm tội trọng theo kinh Phạm Vơng, [cầu sám hối] thấy tướng lành sẽ được thọ lại, Giới Bổn chỉ nói cho thọ lại. Khoan dung và nghiêm ngặt khác nhau là v́ lẽ nào?

          Đáp: Giới Bổn phát xuất từ kinh Địa Tŕ (kinh Bồ Tát Địa Tŕ). Địa Tŕ gộp chung giết, trộm, dâm, dối, gọi là tám tội trọng của người xuất gia. Kinh Thiện Sanh kể ra giết, trộm, dâm, dối, bán rượu, kể lỗi [của người khác], gọi là sáu tội trọng của Ưu-bà-tắc. Kinh Phạm Vơng có đủ nghĩa của hai kinh kia, nên gộp thành mười tội trọng. Kinh Anh Lạc cũng giống như thế, do thích hợp căn cơ khác nhau. Nay bốn tội trọng trong Giới Bổn lại có ba nghĩa:

- Một là tại gia hay xuất gia muốn thọ giới này, trước đó ắt đă thọ Ngũ Giới, Thập Giới, hay Cụ Túc Giới. Do vậy, giết, trộm, dâm, dối về căn bản có tánh chất nặng nề, chẳng cần phải liệt kê nữa, chỉ kể những giới tăng thượng.

- Hai là giới pháp của Bồ Tát nghịch, thuận chẳng có ngằn mé, v́ chúng sanh mà khoan dung chút phần tánh tội hiện hành. Bốn tội ấy theo lư chẳng chấp thuận khai, nên riêng nêu ra.

- Ba là bốn tội căn bản hễ phạm sẽ vĩnh viễn đọa, Đại Thừa tuy cho phép sám hối, ắt cũng phải mong thấy tướng hảo. Nay bốn pháp ấy, nếu có phạm, vẫn có thể kham thọ lại, sợ xen lạm bốn điều trước đó, nên riêng nêu ra. Nhưng trong kinh Phạm Vơng, hễ phạm tội trọng, ắt phải thấy tướng hảo [mới được thọ giới lại]. Ḥa thượng Thích Ca một mực nghiêm ngặt nơi pháp, Xà-lê Di Lặc khinh, trọng, khai, giá, theo đúng lư đều phải tường tận. Nay chuẩn theo kinh luận để tham khảo lẫn nhau mà nêu rơ: Bốn giới giết, trộm… hễ phạm một thứ, các giới đều mất sạch! [Sám hối cho tới khi] thấy được tướng hảo, nói chung là có thể thọ lại. Nhưng trong pháp tỳ-kheo, vẫn chẳng có sáu giới như không sử dụng vật của Tăng, buôn bán rượu v.v… Hễ phạm một loại, sẽ mất Bồ Tát giới, từ giới Cụ Túc trở xuống, chẳng gọi là mất! V́ thế, ân cần hối lỗi, sẽ cho phép thọ lại. Hai kinh chiếu rọi lẫn nhau, chẳng phải là mâu thuẫn!

          3) Hỏi: Đối với giá tội của tỳ-kheo, gặp nạn duyên bèn khai. Nay tánh tội khai mà giá tội chẳng nghe nhắc tới, nghịch hạnh phàm phu há có thể lợi ích người khác ư?

          Đáp: Giá tội nhằm bảo vệ chúng sanh, đại sĩ đều nên cùng học. Do nạn duyên mà được phép khai giống như Thanh Văn, chỉ có tánh tội là luôn giá (ngăn cấm), cho nên cần khai, chẳng phân biệt là phàm hay thánh. Nếu có thể bi tâm chịu khổ thay, hổ thẹn chẳng coi đó là công lao[70], th́ giới thân không bị tổn hại ǵ. Nếu viện cớ để mặc t́nh [buông lung phạm giới], ắt giới thể thiếu khuyết! Đừng tham hư danh đại sĩ để chuốc lấy khổ báo trong đêm dài!

          4) Hỏi: Đối với văn yết-ma thọ giới, nếu không có người truyền thọ, cho phép đối trước tượng tự thọ. Kinh Phạm Vơng dạy tự thệ thọ giới, ắt cần phải thấy hảo tướng. Chẳng thấy hảo tướng, chẳng gọi là đắc giới. V́ lẽ nào vậy?

          Đáp: Chuyện thọ giới cần phải luận định theo nhân duyên. Nhân là nội tâm ân cần, trịnh trọng. Duyên là trao nhận rơ ràng. Tu chứng quư ở chỗ cái nhân sâu xa. Giáo đạo nhờ vào duyên đầy đủ. Do vậy, Luật Tạng của tỳ-kheo nghiêm ngặt duy tŕ cái Thể của Tăng Bảo, chuyên coi trọng các duyên. Anh Lạc[71] và Địa Tŕ mở ra con đường tiến hướng Bồ Đề, nhưng nh́n vào nhân địa, Phạm Vơng thoạt đầu kết giới, theo Lư cần phải có hai pháp nâng đỡ. V́ thế, tuy cho phép tự thọ, ắt phải lấy thấy tướng làm điều mong mỏi.

Lại phải nên biết: Như luận Khởi Tín đă nói, nếu có chúng sanh v́ ḷng đại bi, có thể tự phát tâm, hoặc chánh pháp sắp diệt, do nhân duyên hộ pháp mà có thể tự phát tâm. Lại có người do thấy sắc tướng của Phật mà phát cái tâm ấy. Nay Phạm Vơng [buộc hành nhân tự thọ giới phải] cầu tướng, lư do là khiến cho [hành nhân] phát tâm Bồ Đề, Địa Tŕ cho phép đối trước tượng mà thọ, nhưng là nói theo người đă phát tâm. Phạm Vơng lập pháp nghiêm ngặt, c̣n Địa Tŕ chọn người nghiêm ngặt, tức là đối ứng [giữa sự chọn lựa] trong và ngoài vậy. Hơn nữa, kinh Anh Lạc nói đối trước Phật, Bồ Tát hiện tiền mà thọ, gọi là thượng phẩm giới. Được pháp sư truyền trao th́ gọi là trung phẩm. Ngàn dặm chẳng có thầy, đối trước tượng tự thọ, gọi là hạ phẩm, cũng chẳng nói “cầu thấy hảo tướng”. Vẫn là dựa theo duyên bên ngoài mà phân biệt.

Lại có luận nói: “Phát tăng thượng tâm, đắc tăng thượng giới”. Lại c̣n do tâm vô tận, giới cũng vô tận. Đó là dựa theo cái nhân bên trong mà chia thành thượng, trung, hạ. Người hiện thời hết thảy cần tự suy xét, nếu niệm nào cũng thật sự tương ứng với bi trí, trên là gánh vác chánh pháp, dưới là thương xót hàm sanh, bèn tuân theo Anh Lạc hoặc Địa Tŕ. Nếu như tuy mong cầu Phật đạo, nhưng bi và trí chưa sâu, ắt cần phải nắm giữ Phạm Vơng. Hoặc là hiện thời tuy có minh sư, [nhưng hành nhân] ôm ḷng kiêu mạn, chẳng theo vị đó cầu thọ giới, riêng hướng về tượng để cầu giới, tức là đối với hai kinh đều chẳng nghe theo, ngũ hối sẽ trọn chẳng thành! Đă muốn hướng xa thấu cực quả, há dung nhân địa chẳng chân thật? Bậc hào kiệt trọn chớ nên tự dối gạt!

          5) Hỏi: Đại Thừa coi trọng nội nhân. Luật sư[72] hiện thời có thể biết nội nhân của người khác chân thật hay không? Nếu chẳng chân thật, có đắc giới hay không? Nếu chẳng đắc giới, giả s trái phạm, có vẫn định tội hay không?

          Đáp: Văn Yết Ma có cách quan sát bậc đương cơ. Chẳng biết nội nhân mà trao truyền hư vọng, chẳng tránh khỏi lỗi “không hiểu biết mà làm thầy”! Người thọ tâm bất thiện hoặc vô kư, tuy chẳng phát khởi giới, nhưng đă lạm mang danh Bồ Tát, tự phải nên theo đúng pháp kết tội, chẳng phải như trong giới tỳ-kheo, rốt cuộc dùng tặc trụ[73] để luận định!

          6) Hỏi: Sám tội yết ma, cho phép hướng đến người Tiểu Thừa hối lỗi, nhưng Phạm Vơng không cho phép hướng về người chưa thọ Bồ Tát giới để nói. Nếu chẳng hướng về người khác bày tỏ lỗi, có thể sám hối hay không?

          Đáp: Trụ Tŕ Tăng Bảo kham tiếp nhận sự sám hối. Hơn nữa, hàng Thanh Văn tuy chưa biết ông trưởng giả là cha, nhưng thật sự là con ruột, hết thảy những người chưa thọ giới khác chẳng thể sánh bằng! Tới nửa tháng thuyết giới, bảo [người chưa thọ giới Bồ Tát] lui ra là thường quy của phép Bố Tát[74], cũng là ư chỉ vi nhiệm nhằm loại trừ [những kẻ chưa thọ giới Bồ Tát]. Lúc ấy, ắt sẽ có tỳ-kheo đă thọ Bồ Tát giới chủ tŕ, vẫn nhiếp thủ vào Tăng.

          7) Hỏi: Trong Phạm Vơng, thấy có nói tới thượng tọa, ḥa thượng A-xà-lê và văn thỉnh hai vị thầy ấy. Lại nữa tội Ngũ Nghịch cộng thêm tội giết hai vị thầy ấy thành bảy tội. Nay thọ giới, sao chỉ có một vị thầy?

          Đáp: Theo Anh Lạc và Địa Tŕ, chỉ có một vị thầy. Lại nữa, thọ pháp Phạm Vơng do ngài La Thập truyền lại, được chép trong Nghĩa Sớ, cũng chỉ có một vị thầy. Thỉnh hai vị thầy, chính là thỉnh Phật và Bồ Tát. Nói “hăy nên đúng như pháp cúng dường hai vị thầy, và giết hai vị thầy sẽ thành tội nghịch” là chỉ trọn khắp hai vị thầy đă thọ giới tỳ-kheo.

          8) Hỏi: Theo pháp thọ giới đă được trùng định, trước tiên là phát Bồ Đề nguyện, v́ sao sau đó lại bảo phát Tứ Hoằng, mắc lỗi rườm rà!

          Đáp: Trước là xét nhân, sau là nắm giữ pháp. Trước là phát tâm hướng về đạo, sau là mặc giáp thệ nguyện trang nghiêm. Trước là Tổng, sau là Biệt. Trước là giác ngộ cái nhân khởi đầu, sau là mong cầu cực quả. Trước là nhất tâm tư duy lời khai thị của tri thức, sau là Tam Bảo gia tŕ đạo tràng quyết chứng. Do trước nên có sau, do sau mà thành tựu trước, há nói là “trùng lặp” được ư? Như trước đó đă thỉnh sư, đối trước tượng lại thỉnh. Lại như truyền giới tỳ-kheo, đă cật vấn giá nạn, [sau đó] trong Tăng lại hỏi, cũng là rườm rà, trùng lặp ư?

          9) Hỏi: Đă nói là cơ cảm có khác biệt, pháp trao truyền chẳng đồng nhất, hoặc đơn giản, hoặc phức tạp, đều chẳng sai lầm, thẳng thừng noi theo một lối [là được rồi], cần ǵ cứ phải dung hội cả ba nhà thành một nghi thức?

          Đáp: Thoạt đầu, tôi chỉ riêng tuân theo cách yết ma của đức Từ Thị (Di Lặc), thường có người chê là quá giản lược, bèn dám chiết trung, dung hội ba cách thành một, chỉ sử dụng những điều đă chép trong kinh luận, chẳng thêm thắt, tô vẽ chi khác! Ba kinh đều được lưu thông trong hiện thời, tôi cho rằng là v́ có cơ nghi tương ứng. Do thuận theo căn cơ trong một thời, chẳng dám chấp nay, bỏ xưa, có thể sử dụng được hay không, mặc cho hậu hiền quyết định.

 

* Giải đáp ba câu hỏi của Hoàng Tê Cốc (có đính kèm lời hỏi)

 

          1) Hỏi: Phật chẳng thể diệt định nghiệp, sao Địa Tạng Bồ Tát có chân ngôn Diệt Định Nghiệp? Hơn nữa, đă liễu đạt “tội phước vốn là Không”, lại nói như thế nào đây?

          Đáp: Nghiệp và báo đều là hiện lượng nơi tự tâm. Tâm không th́ hết thảy đều không, tâm giả th́ hết thảy đều giả, tâm trung th́ hết thảy đều trung! Riêng phàm phu chẳng thấu đạt năng tạo (cái có thể tạo tác) và sở tạo (cái được tạo tác), năng thọ (cái có thể tiếp nhận) và sở thọ (cái được tiếp nhận), tam đức bí tạng nơi bản thể, bèn dùng cái tâm điên đảo trân trọng để ân cần trân trọng tạo ác nghiệp, ắt chuốc lấy khổ báo nặng nề! Gọi là “định nghiệp” là do cái tâm kẻ đó đă đặt chắc, chẳng thể văn hồi, dẫu bậc Đại Giác cũng chẳng thể khiến cho nó lập tức tiêu diệt! V́ thế, đại từ bi, khéo léo lập phương tiện, sai Địa Tạng đại sĩ nói chú, khuyên [chúng sanh nên] tŕ, tức là chuyển cái tâm cố định ấy, khiến cho nó dần dần tiêu diệt. V́ vậy, công năng của Bồ Tát hoàn toàn là công năng của Phật. Phật đă chẳng cậy công, Bồ Tát cũng chẳng cậy, rốt cuộc chỉ do một niệm tâm tín nhận tŕ chú của người ấy mà thôi. Đó gọi là đă thấu đạt ư chỉ “tội phước vốn sẵn đều không”, vốn chẳng phải là bài bác không có nhân quả, do bản thể của tội phước nhân quả chính là Không, cũng lại chính là Giả, là Trung. Mê th́ diệt và chẳng diệt, đều chẳng phải là liễu đạt cái gốc. Hễ liễu đạt th́ diệt và chẳng diệt đều chẳng ngăn ngại Không. Cổ nhân nói: “Thế nào vốn sẵn là không? Chính là nghiệp chướng. Nghiệp chướng là như thế nào? Vốn sẵn là không! Thấu hiểu hai lời ấy, sẽ thoát khỏi khuôn sáo của chồn hoang!

          2) Lại hỏi: Rốt cuộc v́ sao đức Phật chẳng tự nói [thần chú diệt định nghiệp], đối với cái gọi là “Phật chẳng thể diệt”, tôi vẫn c̣n ngờ!

          Đáp: Để giải thích điều này, cần biết ba nghĩa:

- Một, chư Phật thuyết pháp, ắt đều thuộc vào nhân duyên Tứ Tất Đàn. Có người nghe đức Phật nói bèn hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập Lư (đó là Tứ Tất Đàn), đức Phật bèn tự nói, như các chú trong kinh Lăng Nghiêm và [kinh Phật Đảnh] Tôn Thắng đều là diệt định nghiệp. Có người do nghe Bồ Tát nói bèn hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập Lư, th́ cần phải do Bồ Tát nói, tức là như chú này và các chú như Đại Bi v.v…

- Hai là tội chẳng tự diệt, chẳng do cái khác diệt, chẳng cùng diệt, chẳng không có nhân mà diệt, nhưng có lúc chỉ nói tự diệt, nói là “tâm không, nghiệp không”. Có khi chỉ nói do cái khác diệt, bảo là do sức của Phật, Bồ Tát. Có lúc nói cùng diệt, tức là cùng nêu cả nội nhân và ngoại duyên. Có lúc nói không có nhân mà diệt, như nói chẳng phải tự, chẳng phải tha, đều là nhân duyên Tứ Tất Đàn. Nếu không, sẽ trở thành tứ báng[75]!

- Ba là chẳng thể diệt” chính là nói theo Tích Phật trong Tam Tạng, có thể diệt là người thuộc cái nhân Viên Giáo, như kinh Hoa Nghiêm nói “sơ phát tâm thời, dĩ thắng Mâu Ni” (khi mới phát tâm đă hơn đức Mâu Ni) cũng thuộc lệ này. Hết thảy các pháp không ǵ chẳng thông đạt.

          3) Hỏi: Khi vạn duyên dẫn khởi, lắng ḷng an trụ trong định, cảm thấy rất vui sướng, nhưng công năng nhiếp nhập rất khó. Nếu hành các môn Sổ Tức, tác quán v.v… sợ lại nhiều thêm một phen tác ư khởi diệt, làm thế nào để nhanh chóng nhập cảnh giới một niệm chẳng sanh?

          Đáp: Hết thảy cảnh giới vốn tự bất sanh, mà cũng chẳng trụ diệt. Mê cái gốc nơi Lư th́ đều là tướng sanh, trụ, diệt, hư vọng thấy vạn duyên dẫn khởi, tụ tập, hư vọng sanh khổ năo. Lại khi lắng ḷng an trụ trong cảnh giới Định, bèn hư vọng sanh sung sướng. Khổ năo và sung sướng đều cái thấy của kẻ say. Duyên tụ tập hay tán hoại đều là nhà xoay; cần phải cho tới khi tỉnh rượu, mới biết nhà vốn chẳng xoay, th́ mê muội, say sưa mới có thể tỉnh. Các diệu pháp như sổ tức, tác quán v.v… mỗi đằng đều thích hợp một căn cơ. Muốn nhanh chóng ngộ cảnh giới bất sanh, không ǵ bằng suy xét tứ tánh, quán một niệm hiện tiền có phải là tự tánh hay không? Là tha sanh, cộng sanh, hay vô nhân sanh ư? Nếu niệm là tự sanh, sao lại nhờ vào ngoại duyên? Nếu là tha sanh, liên quan ǵ với chính ḿnh? Nếu là cộng sanh, phải nên là một phần có biết, một phần chẳng biết. Có nhân c̣n chẳng biết, huống hồ chẳng có nhân mà sanh? Kiểm điểm kỹ lưỡng, t́m niệm sanh tướng, quả thật chẳng thể được! Niệm đă là vô sanh, cảnh giới há có? Hai đằng đều chẳng sanh, lại chẳng c̣n diệt. Trong hết thảy mọi lúc, từng tầng soi chiếu thấu suốt, chẳng xả hết thảy các pháp, chẳng trụ trong hết thảy các pháp, chẳng chán ngán hết thảy các pháp, chẳng chấp hết thảy các pháp, tác ư tức chẳng phải là tác ư, khởi diệt cũng chẳng khởi diệt. Một môn siêu xuất con đường diệu trang nghiêm!

 

* Trả lời hai câu hỏi của Trần Hoằng Cổn (đính kèm lời hỏi)

 

          1) Hỏi: Nói đến “hoạnh tử” (chết ngang trái) mâu thuẫn với nghiệp báo! Lại nữa, đă có trường hợpchẳng đáng chết mà chết mất, ắt phải có trường hợp chẳng nên sanh mà cứ sanh! Xét ra, phú quư hay bần tiện, không ǵ chẳng đều như vậy. Phạm Trấn[76] nói đời người như hoa cùng nở trên cây, theo gió cuốn đi, hoặc rơi trên đệm chiếu, hoặc rơi vào hầm phân, chẳng thật sự hữu lư ư?

          Đáp: Hết thảy nhân quả trước nay chẳng sai chạy! Cái quả hoạnh tử đích thực là do cái nhân hoạnh tử. Do nghiệp có ba đời bất đồng, tức là hiện báo nghiệp, sanh báo nghiệp và hậu báo nghiệp. Nghiệp lực ba đời ấy mỗi đằng lại luận định mạnh, yếu, khuynh đoạt lẫn nhau. Như có người do nghiệp báo đời trước, nay đáng lẽ phải trường thọ, bỗng dấy lên cái nhân chết yểu mănh liệt, hung ác, bèn thuộc loại hoạnh tử! Xét theo hiện báo th́ chẳng phải là hoạnh tử, nhưng xét theo túc báo, đáng lẽ chẳng chết mà chết. Chỉ là nghiệp quả do tâm chiêu cảm; do vậy, tâm có thể chuyển nghiệp, tức là định mà bất định. Tâm bị nghiệp lôi kéo, tức chẳng phải định mà là định. Xin hăy nói dứt khoát như thế này: “Đời người như hoa trên cây, theo gió thiện nghiệp thổi mà rơi vào chiếu, đệm trời, người. Theo gió ác nghiệp thổi, mà rơi vào hố phân tam đồ”. Ôi! Há có bậc thấu đạt duy tâm sâu xa mà rộng thấy nghiệp tánh sai biệt ư?

          2) Lại hỏi: Nghĩa tam thế nhân quả trọn đủ, nhưng Nho gia chẳng tin. Kinh Dịch chép: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà tích tụ điều thiện, ắt vui mừng có thừa. Nhà tích tụ điều bất thiện, ắt tai ương có thừa), chỉ luận định theo bản thân và con cháu mà thôi. V́ thế, người đức dày, ắt nói là “tông miếu hưởng, tử tôn bảo” (tông miếu được thờ phụng, con cháu được hưởng phước ấm), coi kẻ không có hậu duệ là đức bạc nhất. Phật pháp cũng dùng chuyện này để luận định nhân quả hay chăng?

          Đáp: Đạo lư nhân quả sâu xa tột cùng, thấu triệt vọng, bao trùm chân. Bậc đại thánh núi Ni[77] chỉ đành dựa theo sự thấy nghe [của con người trong thuở ấy] mà chỉ dạy. Đối với nghĩa nhân quả liền dựa theo đó để dung thông th́ sẽ có thể tin Phật pháp. Chấp vào đó, tự cho là đúng, c̣n gây trở ngại cho Nho môn! Tích thiện, dư khánh, há Nghiêu, Thuấn có con chẳng ra ǵ, Bá Di, Thúc Tề chẳng có con cháu. Tích ác, dư ương, cớ sao Đạo Chích trường thọ, Tào, Mă[78] tước vị cao sang? Đấy chẳng phải là đối với lẽ thông ba đời, [lư luận của Nho gia] rốt cuộc mờ mịt ư? Do hết thảy không ǵ chẳng phải là nhân quả, cho nên cùng quẫn, hanh thông, thọ, yểu, vinh, nhục, được, mất chen lẫn cảm vời, mọi chuyện đều chẳng phải chỉ có cùng một lối! Cho tới cha, mẹ, con cái, đều do cùng nghiệp mà chuốc vời, kinh Phật cũng là nói uyển chuyển đối với chuyện này! Nhưng nhân quả thế gian hư huyễn chẳng thật. Lại như Đại Thuấn được cúng tế trong tông miếu, con cháu được hưởng phước ấm đă chẳng thể giữ đến ngày nay. Ba ngàn năm qua, khảy tay đă qua mất! Sao bằng độ thoát thân nhân, vĩnh viễn vượt khỏi sanh tử, chính là đại hiếu xuất thế ư? Do vậy, nhân quả như nhà Nho đă nói chẳng hợp Phật pháp! Họ chỉ biết một mà chẳng biết hai, biết gần mà chẳng biết xa. Do vậy, kẻ câu nệ hư huyễn chẳng tin, nhưng người hiểu rơ ắt sẽ mong cầu!

 

* Trả lời câu hỏi của Nguyên Canh

 

          Chân ngôn và danh hiệu Phật công đức b́nh đẳng, cơ duyên bất đồng, mỗi đằng đều có đủ bốn thứ lợi ích. Nay khuyên tŕ chú, và khuyên tŕ danh hiệu Phật chẳng khác nhau. Hăy nên tin vào cơ duyên của Bồ Tát và nguyện lực của chính ḿnh, mỗi mỗi đều ĺa lỗi, dứt sai chẳng thể nghĩ bàn! Nếu nói tŕ danh là đúng, tŕ chú là sai, Hoa Nghiêm gọi đó là chấp nhận một điều, phủ nhận mọi điều khác, là bị ma nhiếp tŕ. Pháp Kư Số (ghi nhớ số câu niệm) thích hợp trọn khắp ba căn, thượng căn chẳng ngại ghi nhớ, hạ căn ắt phải nhớ số. Do vậy, đều dạy nhớ số, khiến cho người lợi căn do đấy sẽ ḥa thành một khối, kẻ độn căn cũng chẳng đánh mất duyên nhân thiện căn. Nếu viện lẽ Sự Lư như một, chẳng cần ghi nhớ số, sợ rằng bậc thượng trí th́ ít, kẻ hạ ngu th́ nhiều, kẻ chẳng đến nỗi quên mất hiếm hoi lắm đấy!

 

* Trả lời ba câu hỏi của Đặng Tĩnh Khởi

 

          1) Thói tệ trong Thiền môn lưu hành đă lâu, chưa thể tận lực sửa đổi. Cậy vào bực hiểu biết sử dụng pháp ấy mà chẳng nhuốm thói tệ, thấy rơ khuyết điểm mà chẳng phế pháp ấy. Phàm châm cứu, dược thạch đều có thể gây nên bệnh, bất luận quân thần tá sứ[79] đều do công năng biến hóa nơi cái tâm. Cổ nhân quở trách tọa Thiền hay khuyên tọa Thiền, khuyên đề khởi tham Thoại Đầu, hay chê trách tham Thoại Đầu, mỗi đằng đều phù hợp cơ nghi. Khéo dùng th́ không ǵ chẳng phải là thuốc. Chẳng khéo dùng th́ không ǵ chẳng tăng thêm bệnh. Cứ chấp quở trách tọa Thiền là đúng, khác ǵ kẻ chấp Thoại Đầu quở trách người buông xuống [tham cứu Thoại Đầu]. Thật sự đạt tới mức tham cứu mà không có chỗ để tham cứu, truyền riêng ngoài giáo, th́ chánh pháp nhăn tàng là thứ vớ vẩn ǵ vậy?

          2) Niệm Phật tam-muội là vua trong các tam-muội, chẳng dễ tin được! Nhưng nó đă thích hợp khắp ba căn, lại chẳng nên một mực bảo là khó khăn. Vả nữa, bảy ngày nhất tâm bất loạn chẳng thể phán định là nông cạn; mỗi đêm bầu bạn với Phật mà ngủ, chẳng thể phán định là sâu! Bởi lẽ, nhất tâm bất loạn có Sự và Lư. Sự nhất tâm đă chẳng dễ dàng, Lư nhất tâm sao dung cưỡng đạt tới? Nhưng vị Phật cùng ngủ, cùng thức, bất quá là tánh đức vốn sẵn có, dẫu loài trùng ngọ ngoạy cũng đều là như thế, chẳng liên quan đến tu chứng, trọn chẳng có ǵ là hiếm hoi, lạ lùng! Nếu liễu đạt vị Phật cùng thức cùng ngủ vẫn hăm hở nói, niệm chẳng gián đoạn, th́ mới gọi là Lư nhất tâm. Nếu chưa liễu đạt vị Phật cùng thức, cùng ngủ, một mực nói niệm vị Phật khác, niệm tới mức ḥa thành khối, được thấy vị Phật khác, liền đốn ngộ vị Phật cùng thức cùng ngủ. Đức Thế Chí nói: “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai” (chẳng nhờ vào phương tiện, mà tâm tự khơi mở). Kinh Thập Lục Quán nói: “Chư Phật hữu dị phương tiện, linh nhữ đắc kiến” (Chư Phật có phương tiện khiến cho bà được thấy), chính là nói về chuyện này. V́ vậy, một tiếng Di Đà bất luận hiểu hay chẳng hiểu, như người nhuốm mùi hương, thân có mùi thơm. Niệm nào cũng đều là cái nhân chân thật để thành Phật, mà khinh mạn bảo “nấu cát thành cơm”, chẳng phải là báng đại phương tiện pháp luân của ba đời chư Phật ư?

          3) Nhiếp Luật Nghi Giới thành tựu Pháp Thân đức, Nhiếp Thiện Pháp Giới thành tựu Bát Nhă đức, Nhiếp Chúng Sanh Giới thành tựu giải thoát đức. Ba đức tức tam thân cực quả. Giới là pháp giới, là chỗ quy hướng của hết thảy các pháp, mà cũng là nơi lưu xuất hết thảy các pháp. V́ thế, chỉ có ḿnh đức Phật tŕ tịnh giới, những người khác đều gọi là kẻ phá giới! Lại nói: “Nếu ai thọ Phật giới, liền nhập địa vị của chư Phật”. Kinh Phật Đảnh nói: “Dẫu có nhiều trí, Thiền Định hiện tiền, nhưng chẳng đoạn dâm, giết v.v... ắt rơi vào ma đạo, thần đạo. Chỉ dùng giới để nhiếp tâm, khiến sanh Định, phát Huệ, th́ mới gọi là Tam Vô Lậu Học”. Do vậy, biết thọ giới tu hành sẽ như Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn rủ xiêm áo mà thiên hạ b́nh trị, chẳng cần phải dấy động binh đao. C̣n như luận tới các pháp môn đối trị như tham cứu Thoại Đầu v.v… chính là bất đắc dĩ vận dụng binh đao đó thôi! Lục Tổ đă ngộ tâm tông, xuất thế, vẫn cần phải thọ Cụ Túc Giới! Ngài Thanh Lương là Hoa Nghiêm Bồ Tát, mười thệ cẩn trọng ǵn giữ như băng, sương. Ngài Huệ Viễn là thỉ tổ của liên xă, lúc lâm chung vẫn nhiều lượt hỏi “đă sau giờ Ngọ hay chưa?” Quy củ thơm thảo ngàn đời sẵn có rạng ngời, sao kẻ cuồng Thiền phóng túng chẳng e dè, kẻ học cạn trọn chẳng ǵn giữ?

 

* Trả lời ba câu hỏi của Tịnh Tánh (đính kèm lời hỏi)

         

          1) Hỏi: Ngoài tâm chẳng có pháp, ư nghĩa đồng thể con đă hiểu rơ rồi, như thế nào là chẳng phát đại tâm mà tự lợi? Ngoài pháp chẳng có tâm, pháp nào cũng đều là pháp giới đă rơ rồi! Cớ sao gặp duyên lại sanh lấy, bỏ? Nếu nói trong địa vị Danh Tự tuy biết lư này, hiềm rằng bị tập khí phiền năo sai khiến, vẫn phải xả tập khí, hay chẳng xả tập khí?

          Đáp: Điều ông đă hiểu chỉ là ngôn ngữ, đạo lư mà thôi! Ảnh hư vọng của Pháp Trần c̣n chẳng thể tự lợi, huống hồ đại tâm. Đă là lấy, bỏ, sao lại đợi gặp duyên? Đấy chính là tập khí phiền năo của ông. Nếu thật sự hiểu rơ đồng thể pháp giới, há c̣n có tập khí ǵ để có thể bỏ ư?

          2) Hỏi: Mười giới cùng một tâm, sao chẳng biết nhau? Nếu chỉ Phật biết, tức là chúng sanh và Phật khác nhau. Nếu là biết theo danh tự, chẳng phải là biết rốt ráo, vẫn thuộc vào công phu tu hành. Nếu nói chẳng cần luận định về tu, hiện hiện, thành thành, th́ chúng sanh và Phật chẳng khác!

          Đáp: Hư vọng bảo “mỗi đằng chẳng biết nhau”, sẽ là so đo ngoài tâm riêng có mười giới. Nếu biết “mười giới chỉ là một tâm”, th́ tâm c̣n chẳng thể được, há có mười giới mỗi mỗi chẳng biết nhau ư? Người ngộ “mười giới chỉ là nhất tâm” th́ giả gọi là “chư Phật”, như người đă tỉnh thấy nhà chẳng xoay! Mê nhất tâm, so đo mười giới, th́ giả gọi là chúng sanh, như kẻ say hư vọng thấy nhà xoay chuyển. Chỗ bất đồng giữa chúng sanh và Phật là say hay tỉnh, điều tương đồng là nhà chưa hề xoay chuyển. Đó là Lư cùng ở, cần ǵ phải bàn đến tu nữa? Đối với kẻ say, nhà chẳng phải là vẫn hiện hiện thành thành xoay chuyển ư?

          3) Lại hỏi thêm: Thể đồng th́ Dụng cũng phải nên đồng. V́ sao có mười giới khác nhau? Nếu thể tánh chân thật là đồng, tướng trạng hư vọng là dị, tánh và tướng há có hai ư? Nếu nói tướng chính là vô tướng, tướng tức là pháp giới, vậy th́ địa ngục cần ǵ phải tiến hướng Phật giới? Nếu không cần tiến hướng, rốt cuộc thành Phật như thế nào?

          Đáp: Thể và Dụng của mười giới vốn không ǵ chẳng đồng. Kẻ mê bèn nói tướng khác mà tánh cũng khác, chứ Thể và Dụng vốn chưa từng giảm. Người ngộ biết tánh đồng mà tướng cũng đồng, Thể và Dụng vẫn chẳng tăng. Do vậy, địa ngục giới chính là pháp giới, vốn chẳng có Phật giới để có thể tiến hướng. Địa ngục giới có thể xả. Ước theo thật nghĩa ấy, giả gọi là “ra khỏi địa ngục thành Phật”. Sao cứ suốt ngày hướng theo giả danh phân biệt, quên bẵng thể tánh chân thật của pháp giới vậy? Chẳng liễu đạt thể tánh, suốt ngày nói pháp giới; đó là tập khí danh ngôn cực ác!

 

* Trả lời câu hỏi của Tịnh Trần (đính kèm câu hỏi)

 

          Hỏi: Ngài Đại Huệ nói: “Quang minh chưa tỏ lộ, chưa từng đích thân thấy Pháp Thân, rốt cuộc cảm thấy trước mặt có vật. Đấy há chẳng phải là một vật rạng ngời, linh thông ư? Vật ấy đă từ chân tâm mà có, toàn thể là thật. Hiểu rơ như thế, trọn đại địa là một Pháp Thân, là chính ḿnh, sao lại nói có thấy và chẳng thấy, tỏ lộ và chẳng tỏ lộ?” Nhưng chạm cảnh gặp duyên như thế, lại dùng chẳng được, bị tập khí sai khiến, lỗi ở chỗ nào? Ư chỉ ấy của ngài Đại Huệ và pháp môn quán tâm của tông Thiên Thai là giống nhau hay khác nhau?

          Đáp: Ngài Đại Huệ đă nêu ra căn bệnh nơi Thiền, muốn cho mọi người t́m được một dịp đích thân thấy thấu suốt. Nếu thật sự thấu suốt, sẽ chẳng nghĩ là thấu suốt hay không thấu suốt. Nếu thật sự đích thân trông thấy, sẽ chẳng có ư tưởng là thấy hay không thấy. Nay nói vật ấy từ chân tâm mà có, cho đến “hiểu rơ như thế” v.v.., toàn thể đă đọa vào khuôn sáo kiến giải. Đó chính là nói “rốt cuộc nhận thấy trước mặt có vật”, sao lại sau khi rạng ngời, linh thông lại bảo là “có vật” ư? Do chấp vào khuôn sáo kiến giải ấy, cho nên nói “chạm cảnh gặp duyên, dùng chẳng được”. Nếu thật sự thấu suốt, đích thân trông thấy, ông gọi cái ǵ là duyên cảnh? Ai gặp gỡ, đụng chạm? Ông muốn dùng cái ǵ? Lại nữa, ai dùng? Chỉ là tập khí, từ chỗ nào mà có? Lại nữa, ai bị sai khiến? Há chẳng phải là trăm điều xen tạp vụn vặt, bèn gọi ǵ là Pháp Thân, hay chính ḿnh? Nếu chưa phải là như vậy, hết sức chẳng dễ dàng! Cần phải đem thân, tâm, thế giới và các thứ tập khí danh ngôn, cho đến các thứ ư niệm nghĩ trước, lo sau thường ngày buông xuống toàn bộ! Chỉ dùng cách suy xét, kiểm điểm ấy để xem xét cái có thể liễu đạt và cái được liễu đạt rốt cuộc là như thế nào? Đấy là công phu tuyệt diệu của tông Thiên Thai, chẳng ngăn cách mảy may so với Tông Môn.

Nếu chỉ nh́n vào một đoạn công án như “ba cân gai, con chó không có Phật tánh” v.v… th́ đó lại là một loại phương tiện. Cách thực hiện khác nhau, nhưng đạt đến mục đích như nhau, đều cần phải đừng quên, đừng giúp, liều mạng mà nắm giữ. Bất luận thời kiếp, hết sức tránh có cái tâm đợi ngộ, hết sức tránh vướng trong tấm giáp vô sự, hết sức tránh thương lượng đạo lư, hết sức tránh tánh t́nh gấp gáp mong chóng được tỏ rơ, hết sức tránh nay thế này, mai thế khác, đông va, tây chạm, lăng phí thời gian! Chỉ có tâm sanh tử tha thiết, miên mật, lâu ngày chầy tháng, chẳng quản thời hạn, tự nhiên trong lúc xem kinh, hoặc trong khi tĩnh tọa, hoặc ngay trong lúc mặc áo, ăn cơm, hoặc lúc thấy sắc, nghe tiếng, thẳng thừng tiến nhập, mới tin những điều đă nói trước nay đều là nói mớ!

Linh Phong Tông Luận

Phần 3 hết

 

 



[1] Theo các vị chú giải, đối với câu nói này phải hiểu là: Chỗ rộng lớn nhất trong thiên hạ là ḷng nhân, địa vị chánh đáng là lễ, đại đạo chính là nghĩa.

[2] “Đào thải” là danh từ dùng trong tông Thiên Thai để chỉ giáo pháp của đức Phật dần dần dẫn dắt chúng sanh tiến nhập nhất thừa, giống như người từ từ loại bỏ các chấp trước nhỏ hẹp, thiên chấp.

[3] Ư nói: Đối với cảnh giới giải thoát chẳng nghĩ bàn của Hoa Nghiêm, đừng lầm lẫn bộp chộp nêu bày cho người khác nếu chẳng quan sát căn cơ của người ấy có thích hợp để nghe hiểu hay không.

[4] Đây là một câu nói của Mạnh Tử trong thiên Ly Lâu Hạ: “Nhân chi sở dĩ dị vu cầm thú giả cơ hy, thứ dân khử chi, quân tử tồn chi, Nghiêu Thuấn vu thứ vật, sát vu nhân luân, do nhân nghĩa hành, phi hành nhân nghĩa dă” (Do con người chẳng khác cầm thú cho mấy, nhưng dân hèn vứt bỏ, bậc quân tử ǵn giữ, Nghiêu -Thuấn do thấu hiểu sự vật, hiểu rơ mối quan hệ giữa con người với nhau mà hành xử theo đúng nhân nghĩa, chứ không phải là gượng ép thực hiện nhân nghĩa).

[5] Thất chúng: Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, ưu-bà-tắc, và ưu-bà-di.

[6] Tứ bất hoại tín (Catudhammapariyāyaṃ) c̣n gọi là tứ bất hoại tịnh, tứ chứng tịnh, tứ Tu Đà Hoàn chi, tứ Dự Lưu chi, tức là tín tâm kiên cố bất hoại đối với Phật, Pháp, Tăng và Giới.

[7] Thanh Tịnh Minh Hối chính là một chương trong kinh Lăng Nghiêm dạy người tu phải đoạn dâm, đoạn sát, đoạn trộm cắp, đoạn vọng ngữ, và mối liên quan giữa bốn giới ấy.

[8] Đây là một thành ngữ xuất phát từ một câu chuyện trong tác phẩm Tiểu Thuyết Ân Vân thời Nam Lương. Theo đó, có vài người tụ họp ăn uống tán gẫu, có người nói: “Tôi mong được làm Thứ Sử đất Dương Châu”, người thứ hai nói “tôi mong có nhiều tiền của”, người thứ ba nói “tôi mong cưỡi hạc bay lên trời”, tức là ước nguyện làm quan, phát tài và thành tiên. Người thứ tư nói: “Tôi mong lưng đeo mười vạn quan, cưỡi hạc bay tới Dương Châu”, tức là mong đạt được cả ba điều trên đây. Từ đó thành ngữ này được dùng để diễn tả ước nguyện cao vời, khó thành hiện thực. Theo Linh Phong Tông Luận Đạo Độc (hướng dẫn đọc Linh Phong Tông Luận) của pháp sư Tịnh Giới, Tổ dùng chuyện này để diễn tả ư nghĩa “dẫu trí huệ và hạnh giải rất cao, rất mạnh, chẳng thể vừa mong cầu thỏa thích các tham vọng trong thế gian, lại vừa có thể thành tựu công đức xuất thế được”.

[9] Đây là một thành ngữ hàm ư: Để thành tựu một việc, phải chuẩn bị lâu dài, chẳng thể chờ đến lúc xảy ra việc mới lo liệu được. Thành ngữ này phát xuất từ một câu nói của Mạnh Tử trong thiên Ly Lâu Thượng: “Kim chi dục vương giả, do như thất niên chi bệnh, cầu tam niên chi ngải dă. Cẩu vi bất súc, chung thân bất đắc” (Nay người muốn làm vua, như bệnh đă bảy năm, t́m lá ngải ba năm. Nếu chẳng chứa sẵn, sẽ trọn đời chẳng t́m được). Ngải (wormwood, mugwood) ở đây là một loại thực vật, có tên khoa học là Artemisia Argyi, c̣n gọi là ngải bồng, điềm ngải, hương ngải, băng đài, ngải hao, lại tiêu, hoặc b́nh, có nhiều chủng loại dùng, dùng để làm thuốc, nhất là nghiền lá thành bột, phơi khô, ép thành từng thỏi nhỏ, dùng để đốt trong khi châm cứu. Bột ngải c̣n được đốt để đuổi muỗi, hoặc chế thành thuốc trị các chứng kinh nguyệt không điều ḥa, đau bụng khi hành kinh, phong thấp v.v… Vào thời cổ, trong tiết Đoan Ngọ, người Hoa thường treo một bó lá ngải trước cửa để trừ phong tà, côn trùng. Tại Hoa Nam, người ta c̣n nghiền nát lá ngải trộn với bột gạo để làm bánh trong dịp Tết và Thanh Minh.

[10] Tiên thiên: Những ǵ được bẩm thọ từ khi sinh ra như cơ thể, tánh chất. C̣n hậu thiên là những ǵ do được nuôi nấng, bồi bổ, tập luyện mà tạo thành. Chẳng hạn cơ thể sinh ra yếu đuối, nhiều bệnh tật, đó gọi là “tiên thiên bất túc”, nhưng do được bồi bổ, tập luyện để bù đắp, th́ gọi là hậu thiên.

[11] Tứ vận (c̣n gọi là tứ vận tâm) là bốn quá tŕnh vận chuyển và phát triển trong tâm thức do tổ Trí Giả đề xướng trong bộ Ma Ha Chỉ Quán, tức là chưa niệm, sắp niệm, niệm, và đă niệm.

[12] Tam đăng cửu thượng là nói về quá tŕnh cầu học của thiền sư Tuyết Phong. Do chưa hiểu tâm tông, Sư đă ba lượt lên núi Đầu Tử để tham yết thiền sư Đại Đồng, đó gọi là “tam đăng”. Sư c̣n chín lượt lên Đng Sơn để cầu đạo với ngài Động Sơn Lương Giới. Đó gọi là “cửu thượng”.

“Bách thành yên thủy” (Khói nước trăm thành) là nói quá tŕnh cầu đạo của Thiện Tài đồng tử, sau khi được Văn Thù Bồ Tát điểm hóa, đồng tử đă lần lượt đi qua một trăm ṭa thành để xin được dạy về Bồ Tát hạnh nơi năm mươi ba vị thiện tri thức.

[13] Thời cổ, khi pháp sư thăng ṭa thuyết pháp dạy Thiền, thường dùng phất trần để khai thị. Ở đây, Tổ có ư châm biếm: Do chẳng hiểu đạo, chỉ chuộng hư danh, thích làm thầy người khác, lên pháp ṭa phy phất trần, hoặc dựng đứng, hoặc gơ cán phất trần, hoàn toàn là h́nh thức, chẳng có ư nghĩa chân thật ǵ, khác nào dùng phất trần phẩy bụi trên pháp ṭa!

[14] Mạn (Māna) tức là ngạo mạn, ngă mạn. Kinh nói có bảy loại mạn. Ở đây, Tổ chỉ nhắc tới ba loại mạn:

- Mạn quá mạn: Chẳng bằng người khác mà ngạo nghễ tự cho ḿnh hơn hẳn người khác.

- Tăng thượng mạn: Chưa chứng mà tự nhận là đă chứng, chưa hiểu mà khoe rằng đă hiểu.

- Ty liệt mạn: Tuy chẳng thua kém người khác, mà luôn tự ty, cho rằng ḿnh kém cỏi.

[15] Kư vấn: Học thông đọc thạo sách vở để thuận tiện ứng đối, biện bác nhằm được tiếng học rộng, thông thái, nhưng đó chỉ là kiến thức suông ngoài miệng, chẳng thể áp dụng học thức ấy vào sự tu dưỡng, rèn luyện phẩm cách cho bản thân.

[16] Đây là tên các quẻ trong kinh Dịch, Bác là quẻ Thiên Địa Bác, Phục là Địa Lôi Phục, Bỉ là Thiên Địa Bỉ, c̣n Thái là Thiên Địa Thái, các quẻ Bác và Bỉ là cực âm, diễn tả ư suy vi, rơi rụng, tàn hoại, c̣n Phục là trùng hưng, khôi phục, Thái là tốt đẹp. Cả câu có ư nói khi mọi vật suy tàn đến cùng cực sẽ chuyển biến tốt đẹp hơn.

[17] Nguyên văn “giới nhĩ hữu tâm” (介爾有心), giới nhĩ là từ ngữ h́nh dung cái tâm cực nhỏ. Sách Phụ Hành giảng: “Nói Giới Nhĩ tức là nói tâm trong mỗi sát-na, liên tục chẳng gián đoạn, chưa từng đoạn tuyệt, trong mỗi sát-na, trọn đủ tam thiên. Giới () có nghĩa là yếu ớt, ư nói cái niệm ấy rất vi tế”. “Tam thiên” ở đây là một khái niệm do tổ Trí Giả đề ra trong bộ Ma Ha Chỉ Quán. Ngài nói mỗi niệm dấy lên, trọn đủ ba ngàn các pháp. Sở dĩ có ba ngàn là v́ chúng sanh do tâm niệm khác nhau mà thành mười pháp giới (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A Tu La, trời, người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật), mỗi pháp giới đều trọn đủ các pháp giới. Mỗi pháp giới lại có thập như thị (tướng như thị, tánh như thị v.v… như trong phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa đă nói). Do 10x10x10 thành một ngàn, lại phối ứng với tam thế gian thành ba ngàn pháp. Tam thế gian có hai cách hiểu:

1) Tam thế gian là quốc độ thế gian, chúng sanh thế gian và ngũ ấm thế gian.

2) Tam thế gian là tam giới, tức Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới.

[18] “Cú độc tiên sinh” (句讀先生) là một từ ngữ mang tính chất châm biếm những kẻ chỉ thích học rộng nghe nhiều, có thể giảng luận thao thao bất tuyệt, nhưng trọn chẳng hành tŕ tí nào! Nghĩa gốc của “cú độc” là chấm câu, v́ Hán văn cổ viết không chấm câu, người đọc phải khéo lănh hội để tự chấm câu cho đúng.

[19] Tức là nói tắt của câu “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi”. Có rất nhiều cách giải thích hai câu này, thường hiểu là ḷng người rất nguy hiểm, v́ con người luôn sẵn có những thứ như tham lam, ghen tỵ, hiếu thắng, keo tiếc, ích kỷ, phân biệt. Đạo tâm ở đây chính là cái tâm tự nhiên trong trời đất, đạo tâm vi diệu, khó hiểu thấu.

[20] Cừ Bá Ngọc tên thật là Cừ Viện, tên tự là Bá Ngọc, làm quan đại phu nước Vệ thời Xuân Thu, được người đương thời khen ngợi là bậc hiền đức. Trong Luận Ngữ có chép chuyện ông Cừ Bá Ngọc sai người sang thăm viếng Khổng Tử. Khổng Tử hỏi t́nh h́nh, người ấy thưa: Phu tử muốn bớt lỗi mà chưa thể được. Khổng Tử hết sức khen ngợi. Ông Cừ cũng từng nói: “Lúc tôi năm mươi tuổi, biết bốn mươi chín năm trước đều sai trái”.

[21] Thiên Ly Lâu sách Mạnh Tử có câu: “Vũ ố chỉ tửu nhi háo thiện ngôn, Thang chấp trung, lập hiền vô phương. Văn vương thị dân như thương, vọng đạo nhi vị chi kiến. Vũ Vương bất tiết nhĩ, bất vong viễn. Châu Công tư kiêm tam vương, dĩ thi tứ sự. Kỳ hữu bất hợp giả, ngưỡng nhi tư chi, dạ dĩ kế nhật, hạnh nhi đắc chi, tọa dĩ đăi đán” (Vua Vũ ghét rượu ngon, chỉ chuộng lời lành. Vua Thanh ǵn giữ đạo trung chánh, nâng đỡ người hiền không ngăn ngại. Văn Vương coi dân như chính ḿnh, truy cầu đạo nhân nghĩa, nhưng dường như chưa t́m thấy. Vũ Vương chẳng khinh mạn hiền thần trong triều đ́nh, mà cũng chẳng quên những bầy tôi ở phương xa. Châu Công mong học theo ba vị thánh vương Hạ, Thương, Châu, ḥng thực hiện sự nghiệp của Đại Vũ, Thành Thang, Văn Vương, Vũ Vương.  Nếu có ǵ chẳng phù hợp, bèn suy nghĩ suốt đêm cho đến sáng. Nếu suy nghĩ thông suốt, bèn ngồi chờ trời sáng để ngay lập tức thực hiện). Chúng tôi chuyển ngữ đoạn này theo cách diễn giải của cụ Lư Bỉnh Nam.

[22] “Cầu phóng tâm” ở đây có nghĩa là t́m lại cái tâm đă mất do buông lung, hoặc bị che lấp bởi vật dục. Từ ngữ này phát xuất từ một câu nói trong thiên Cáo Tử của sách Mạnh Tử: “Nhân, nhân tâm dă. Nghĩa, nhân lộ dă. Xả kỳ lộ nhi phất do, phóng kỳ tâm nhi bất tri cầu, ai tai! Nhân hữu kê khuyển phóng, tắc tri cầu chi. Hữu phóng tâm, nhi bất tri cầu. Học vấn chi đạo vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỹ” (Ḷng nhân là bản tâm của con người. Nghĩa là đại đạo của con người. Buông bỏ con đường ấy chẳng theo, đánh mất bản tâm mà chẳng biết t́m kiếm. Buồn thay! Người ta hễ mất gà, chó, liền biết t́m kiếm. Thế mà đánh mất bản tâm, chẳng biết cầu t́m. Đạo học vấn chẳng có chi khác, t́m lại cái tâm đă đánh mất mà thôi!)

[23] Lục Tượng Sơn (1139-1193), tên thật là Lục Cửu Uyên, tự Tử Tĩnh, người huyện Kim Kê thuộc Vũ Châu, tỉnh Giang Tô, là một triết gia sống vào thời Nam Tống. Tư tưởng của ông được triển khai và thừa kế thành thuyết Tâm Học bởi Vương Dương Minh vào đời Minh. Do ông dạy học tại Tượng Sơn Thư Viện, nên thường được gọi là Tượng Sơn tiên sinh. Ông cùng với hai anh là Lục Cửu Thiều và Lục Cửu Linh đều là bậc đại nho đương thời, được thế gian tôn xưng là Tam Lục.

[24] Vi Tử tên thật là Tử Khải, c̣n gọi là Vi Tử Khải, hay Tống Tử Khải. Ông này là con trưởng của Đế Ất nhà Thương, và là anh của Đế Tân (tức Trụ Vương). Vi Tử nhiều lần can gián Đế Tân đừng xa hoa, lăng phí, say đắm sắc dục, sủng ái bọn xu nịnh, nhưng Đế Tân không nghe. Ông liền bàn bạc với quan thái sư là Cơ T và thiếu sư Tỷ Can. Cơ Tử nói: “Nếu đất nước thịnh trị th́ thân dẫu chết chẳng ân hận, chứ nếu chết mà nước vẫn chẳng b́nh trị th́ thà bỏ đi c̣n hơn”. Khi Châu Vũ Vương diệt Trụ, Vi Tử đem đồ thờ cúng trong tông miếu, tự trói ḿnh ra đầu hàng. Châu Vũ Vương sai người cởi trói, vẫn cho ông làm quan. Đến thời Châu Thành Vương, Châu Công Đán thay vua Châu phong cho ông đất Tống để phụng thờ tổ tiên nhà Thương, cho phép dùng lễ nhạc thiên tử để cúng tế tổ tiên. Vi Tử được coi là tổ tiên của các họ Tống, Chung, Hoa và Mặc. Có thuyết cho rằng Mặc Địch (Mặc Tử) là hậu duệ của Vi Tử.

Cơ Tử tên thật là Tử Tư Dư, là con cả của Văn Đinh (anh ruột của Đế Ất). Do vậy, ông là bác của Đế Tân (Trụ Vương), giữ chức Thái Sư. Do được phong thái ấp ở đất Cơ (nay là vùng Thái Cốc, Du Xă thuộc tỉnh Sơn Tây), nên thường được gọi là Cơ Tử. Cơ Tử can gián Trụ Vương không được, biết cơ nghiệp sáu trăm năm của nhà Thương sẽ mất, đau đớn, phát phẫn, bèn giả điên, xơa tóc như cuồng, hằng ngày chỉ gảy khúc nhạc Cơ Tử Thao để trút nỗi bi thương. Trụ Vương cho là ông đă điên thật sự, bèn bắt giam, biếm trích ông làm nô lệ.

[25] Đây là một câu ca ngợi Khổng Tử trích từ một câu nói trong thiên Hương Đảng của sách Luận Ngữ: “Quân mạng chiếu, bất sĩ giá, hành hỹ” (Vua hạ lệnh triều kiến, [Khổng Tử] chẳng đợi xe ngựa mà đi bộ [vào chầu]). Cụ Lư Bỉnh Nam giảng: Đấy là thái độ tôn kính, tận trung với vua. Biết vua có chuyện cần gấp, nên đ̣i triều kiến, Ngài chẳng chờ người hầu chuẩn bị xe ngựa, mà lập tức đi bộ vào cung để chầu vua.  

[26] Thiên Công Tôn Sửu sách Mạnh Tử chép như sau: “Mạnh Tử tương triều vương. Vương sử nhân lai, viết: ‘Quả nhân như tựu kiến giả dă, hữu hàn tật, bất khả dĩ phong. Triêu, tương thị triều, bất thức khả sử quả nhân đắc kiến hồ?’ Đối viết: ‘Bất hạnh nhi hữu tật, bất năng tạo triều’. Minh nhật, xuất điếu vu Đông Quách Thị, Công Tôn Sửu viết: ‘Tích giả từ dĩ bệnh, kim nhật điếu, hoặc giả bất khả hồ?’ Viết: ‘Tích giả tật, kim nhật dũ, như chi hà bất điếu?’ Vương sử nhân vấn tật, y lai. Mạnh trọng tử đối viết: - Tích giả hữu vương mạng, hữu thái tân chi ưu, bất năng tạo triều, kim bệnh tiểu dũ, xu tạo ư triều, ngă bất thức năng chí phủ hồ!’ (Mạnh Tử sắp vào chầu vua Tề. Vua sai người đến bảo: “Quả nhân đáng lẽ phải gặp ông, nhưng bị cảm lạnh, chẳng thể ra gió được. Sáng mai ta sẽ ngự triều, ông có thể gặp mặt quả nhân hay không?” Thưa rằng: “Chẳng may tôi cũng bị bệnh, chẳng thể vào chầu được”. Hôm sau, Mạnh Tử đến phúng điếu Đông Quách Thị, Công Tôn Sửu nói: “Ngày hôm qua ông viện cớ bệnh để từ chối gặp vua Tề. Nay lại đi viếng tang, chắc không hay lắm!” Mạnh Tử nói: “Ngày hôm qua bị bệnh, hôm nay đă khỏi, v́ sao chẳng thể đi viếng tang?” Vua Tề sai người đến thăm bệnh, sai thầy thuốc đến. Đứa con thứ của Mạnh Tử nói: “Ngày hôm qua đại vương truyền lệnh, nhằm lúc cha mắc bệnh, chẳng thể vào chầu, nay bệnh hơi bớt, đă vào chầu rồi, nhưng tôi chẳng biết đă đến hay chưa?) Các nhà chú giải cho rằng đây là thể hiện: Do thái độ của vua không trân trọng hiền tài, nên Mạnh Tử từ chối vào chầu.

[27] Thái Bá là con trưởng của Châu Thái Vương. Do người con thứ ba của Châu Thái Vương (Cơ Đản) là Quư Lịch có con trai là Cơ Xương (Châu Văn Vương) có đức hạnh cao quư, nên Châu Thái Vương muốn truyền ngôi cho Quư Lịch. Thái Bá và người em kế là Trọng Ung biết ư cha, để né tránh quần thần có thể xúi giục tranh giành vương vị sau này, bèn cùng nhau lánh ḿnh sang vùng Vô Tích ở Giang Nam, xăm ḿnh, cắt tóc, nhằm trái với phong tục Trung Nguyên để cha không thể truyền ngôi cho ḿnh được nữa. Ông được thổ dân tại đó kính ngưỡng, vâng theo sự giáo hóa, tôn làm quân chủ, sáng lập nước Ngô. Sau khi ông chết, do không có con, Trọng Ung kế vị làm vua.

[28] Tăng Tử chính là Tăng Sâm, một vị cao đồ của Khổng Tử. Tương truyền sách Đại Học trong Tứ Thư do ông trước tác. Ông cũng là người viết Hiếu Kinh của Nho Gia. Khi Khổng Tử sắp mất, đă giao cháu nội là Tử Tư (Khổng Cấp) cho Tăng Sâm dạy dỗ. Các nhà chú giải cho rằng do ngộ tánh rất cao và c̣n trẻ (khi Khổng Tử mất, Tăng Sâm mới hai mươi bảy tuổi), nhiều chương trong Luận Ngữ do chính Tăng Sâm viết từ những ǵ nghe được từ thầy. Khi ông bị bệnh, bảo học tṛ xem xét chân tay của ḿnh rồi đọc thơ: “Dè dặt, thận trọng, như vào vực sâu, đi trên băng mỏng, từ nay trở đi, ta biết thoát khỏi”.

[29] Hải Nhược, tức Bắc Hải Nhược, c̣n có tên là Nhược Thủy, là thần biển của Bắc Hải.

[30] Đây là một ư trong sách Luận Ngữ: “Tử Trương vấn thiện nhân chi đạo, tử viết: - Bất tiễn tích, diệc bất nhập vu thất” (Tử Trương hỏi đạo của bậc thiện nhân, Khổng Tử nói: - Nếu chẳng noi theo đúng vết tích của bậc thánh hiền thuở trước [để thực hiện], sẽ khó thể tiến nhập chỗ sâu thẳm được).

[31] Bốn khoa chính là bốn lănh vực mà người học Nho cần rèn luyện để trau giồi phẩm đức và khả năng, tức đức hạnh, ngôn ngữ (nói năng biện luận hợp lư, có biện tài), văn học, và chánh sự (có tài chánh trị, có tài giúp vua cai quản, lo toan việc nước). Lục nghệ là sáu tài năng cơ bản mà Nho sinh cần phải nắm vững: Lễ (thông hiểu lễ nghi, cư xử đúng lễ nghi), nhạc (tối thiểu làm thơ, viết văn hay khéo), ngự (điều khiển ngựa), thư (thông hiểu các thể loại chữ viết), và số (hiểu cách tính toán). Sách Châu Lễ quy định quư tộc Tây Châu phải thông thạo sáu môn trên đây th́ mới đáng gọi là Nho sĩ. Nói chi tiết th́ lễ gồm năm loại (cát, hung, tiếp đăi khách, lễ nghi trong quân đội, lễ nghi trong các dịp khánh chúc), nhạc chia làm sáu loại lớn (Vân Môn, Đại Hàm, Đại Thiều, Đại Hạ, Đại Hộ, Đại Vũ) v.v… Từ đời Hán trở đi, lục nghệ lại hiểu theo nghĩa hẹp là sáu kinh của Nho gia tức Thi, Thư, Châu Lễ, Nhạc, Dịch và Xuân Thu.

[32] Nho gia gọi những ǵ có h́nh chất cụ thể hoặc đă h́nh thành là “h́nh nhi hạ”, c̣n những ǵ biểu thị vô h́nh, hoặc chưa có h́nh thể là “h́nh nhi thượng”.

[33] Tổ giảng những lời trên đây nhằm dạy ông Lư Phẫu Phiên nghĩa lư chân thật của tên gọi Phẫu Phiên (剖籓).

[34] Nguyên văn là “thâu tâm” tức cái tâm trộm cắp, được dùng theo ư nghĩa cái tâm ham lợi, chuyên môn kiếm cách đi đường ngang ngơ tắt sao cho khỏi tốn công tu tập mà nhanh chóng đạt được hiệu quả, chuyên đứng núi nọ trông núi kia. Do luôn ngấm nghé giống như kẻ trộm luôn ŕnh thời cơ để giở tṛ tắt mắt, nên gọi là thâu tâm.

[35] Nguyên văn “tai lê sát thanh” (災梨殺青). Thời cổ, sách thường được in bằng lối mộc bản, tức là khắc chữ ngược lên ván gỗ. Khi in, sẽ bôi mực lên ván đă khc chữ, ép xuống giấy để in ra từng trang. Gỗ để khắc ván in thường là gỗ táo hoặc gỗ lê, v́ chúng đủ mềm để dễ khắc, lại ít bị mối mt, lại chịu được sức ép khi in, không chóng ṃn như các loại gỗ khác. Do vậy, để châm biếm việc in khắc những tác phẩm vô giá trị, cổ nhân dùng thành ngữ “họa táo, tai lê” (gây họa cho gỗ táo, tạo tai ương cho gỗ lê). “Sát thanh” tức là khi xưa có giấy, cổ nhân viết chữ lên thẻ tre rồi xâu lại thành sách, gọi là “trúc giản”. Để chế trúc giản, phải đem hơ lửa cho khô tre sau khi đă chẻ thân tre thành từng phiến mỏng. Do đó, “sát thanh” có thể hiểu là biên chép bừa băi, phí phạm các thẻ trúc. Ở đây, Tổ châm biếm tăng sĩ hoặc bậc “trí giả” trong nhà Phật do ưa chuộng hư danh, thường trước tác lung tung những thứ gọi là ngữ lục, hoặc các loại sách khác rồi quyên mộ tín chúng cúng tiền in ra.

[36] Ngũ bá là năm vua chư hầu mạnh nhất thời Xuân Thu, do binh lực và kinh tế mạnh mẽ đă cầm đầu chư hầu. Tuy mang tiếng khuông pḥ tông thất nhà Châu, nhưng oai thế lấn át thiên tử nhà Châu, thường tự tiện định đoạt mọi việc rồi báo lên thiên tử nhà Châu một tiếng là xong. Các “bá” thường mở các cuộc chiến chinh phục các sắc dân ngoài Trung Nguyên (thường gọi là di), trừng phạt những nước chư hầu không tuân phục, trừng phạt những kẻ soán đoạt ngôi vị giết chóc các vua chư hầu khác. Cổ sử nêu ra danh sách ngũ bá theo nhiều cách:

1) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công và Sở Trang Vương.

2) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Hạp Lư, và Việt Vương Câu Tiễn.

3) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Ngô Vương Hạp Lư.

4) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Việt Vương Câu Tiễn.

5) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công, Ngô Vương Phù Sai.

6) Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương, Trịnh Trang Công.

[37] Tức Châu Hy, Châu Đôn Di, thủ lănh của cựu Lư Học, và Lục Tượng Sơn, thủ lănh của Tân Lư Học (Tâm Học).

[38] Ngô đồng (firmiana simplex) c̣n có tên gọi là thanh đồng, đồng ma, tiếng Việt gọi là cây tơ đồng, trôm đơn, bo rừng, hoặc bo xanh, thuộc họ Cẩm Quỳ. Thân cây có thể cao đến 16m, vỏ thân màu xanh đậm, lá xẻ h́nh chân vịt, gồm ba đến năm thùy. Hoa có màu vàng nhạt. Gỗ ngô đồng thường dùng để chế đàn dao cầm (cổ cầm), hoặc đàn tranh. Do cây cao lớn, dáng dẹp, xanh tươi, mang vẻ thanh nhă, nên ngô đồng được coi là loài cây chỉ dành cho phượng hoàng đậu. Do cây có thể cảm ứng chuyển biến thời tiết, nên thường được ngâm vịnh trong thơ ca: “Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” (ngô đồng một lá rơi vèo, thế gian đều biết rằng thu đă về). Tác phẩm Hoa Kính viết: “Loại cây này có thể biết năm tháng, sau tiết Thanh Minh mới trổ hoa. Năm nào ngô đồng không trổ hoa, năm đó ắt cực rét. Đến tiết Lập Thu, sẽ có một chiếc lá rụng trước”.

Minh giáp (蓂莢) là tên một loại cỏ. Theo sách Ấu Học Quỳnh Lâm, thời vua Nghiêu có một loại cỏ mọc trước điện vua, gọi là Minh Giáp. Kể từ mồng một mỗi tháng, mỗi ngày cỏ ấy mọc thêm một lá. Cho đến sau ngày Rằm th́ mỗi ngày rụng một lá. Tuần hoàn như thế không bao giờ sai, nên mới nói là “minh giáp nhớ tháng”.

[39] Thụy hiệu của Vương Dương Minh là Văn Thành. Vương Dương Minh tên thật là Vương Thủ Nhân, tên tự là Bá An. Do ông đă từng sống trong Dương Minh Động (thuộc huyện Tu Văn, thành phố Quư Dương, tỉnh Quư Châu) một thời gian, tự xưng là Dương Minh Tử. Động này vốn có tên là Đông Động, nhưng do Vương Dương Minh sống ở đó, nên gọi là Dương Minh Động Thiên. Nguyên do là vào năm Chánh Đức thứ ba (1508) ông chọc giận hoạn quan Lưu Cẩn, bị hắn sàm tấu. Vua phạt đánh ông bốn mươi trượng, đày đi làm Dịch Thừa tại Long Trường là một vùng hoang vu, đa số là dân thiểu số. Ông sống ở đó ba năm, cư ngụ trong Dương Minh Động. Do vậy, Tổ Ngẫu Ích mới nói “sống ở đất Di ba năm luyện tâm tánh”.

[40] Tam cương lănh, tám điều mục do Châu Hy đề xướng trong tác phẩm Đại Học Chương Cú. Theo đó ba cương lănh là minh đức, thân dân, chỉ ư chí thiện, và tám điều mục là cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ.

[41] Đông Lâm Tổng là thiền sư Đông Lâm Thường Tổng (1025-1091) là một vị danh tăng thuộc tông Lâm Tế, sống vào đời Tống. Sư xuất gia lúc mười một tuổi, y chỉ ngài Văn Triệu chùa Bảo Vân. Sau đó, đắc ngộ nơi thiền sư Thiền Trí Tài Công, nối pháp phái Hoàng Long của tông Lâm Tế. Về sau, Sư trụ tại chùa Hưng Long ở Đông Lâm thuộc Lô Sơn, nên thường được gọi là Đông Lâm Tổng.

[42] Tam đại ngũ tiểu là từ ngữ chỉ những tác phẩm trọng yếu bắt buộc phải học nếu muốn hiểu giáo nghĩa Thiên Thai. Tam đại bộ (c̣n gọi là tam đại chương sớ) là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú, và Ma Ha Chỉ Quán. Ngũ tiểu bộ là Kim Quang Minh Huyền Nghĩa, Kim Quang Minh Kinh Văn Cú, Quán Âm Huyền Nghĩa, Quán Âm Nghĩa Sớ và Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ. Các tác phẩm trên đây đều do Thiên Thai Trí Giả đại sư biên soạn.

[43] Trấm () là một loại chim rất độc theo truyền thuyết, ngay cả cái lông của nó ngâm vào rượu cũng gây chết người.

[44] Đường Huyền Tông vào năm Khai Nguyên 27 (739) đă gia phong mỹ hiệu cho Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, đến thời Nguyên Vũ Đế đă gia phong thành Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương.

[45] Hộ Pháp (Dharmapāla, 530-561) là một trong mười vị đại luận sư của Duy Thức. Ngài là con của một vị đại thần nước Đạt La Tỳ Đồ (Drāvida), Nam Ấn Độ, có hôn ước với con gái vua, nhưng Ngài bỏ trốn đi xuất gia trong đêm tân hôn. Ngài tinh thông Đại, Tiểu Thừa, từng giáo hóa rộng khắp tại chùa Na Lan Đà nước Ma Kiệt Đà, có đến mấy ngàn học tṛ. Lúc hai mươi chín tuổi, Ngài bế quan tại chùa Đại Bồ Đề, chuyên Thiền Quán và trước tác, thị tịch lúc ba mươi hai tuổi. Ngài để lại các tác phẩm Đại Thừa Quảng Bách Luận Thích, Thành Duy Thức Bảo Sanh Luận, Quán Sở Duyên Duyên Thích v.v… Bộ Thành Duy Thức Luận do ngài Huyền Trang lấy tác phẩm của ngài Hộ Pháp làm chánh, kèm thêm các trước tác khác của chín vị luận sư. Đệ tử xuất sắc của Ngài chính là luận sư Giới Hiền (thầy của ngài Huyền Trang tại Ấn Độ).

[46] Thai Hành: Thai tức là núi Thiên Thai, chỉ Trí Giả đại sư. Hành là Hành Nhạc, đạo tràng của ngài Nam Nhạc Huệ Tư (thầy của tổ Trí Giả). Nói Thai Hành tức là nói chung về giáo nghĩa của tông Thiên Thai.

[47] Tam lượng là:

1) Hiện lượng: Đối với cảnh hiển hiện, tâm nhận biết sự vật chẳng thông qua so đo, phân biệt.

2) Tỷ lượng: Đối với cảnh chẳng hiển hiện, dùng cách so sánh, phân biệt để nhận biết.

3) Thánh giáo lượng: Dùng ngôn giáo của bậc Nhất Thiết Trí để nhận biết sự vật.

[48] Di trước: Trước tác của cổ đức lưu lại.

[49] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải của SGiáo Dục Hương Cảng.

[50] Bốn vị đại thánh nhân trong đạo Nho chính là Chí Thánh Khổng Tử, Phục Thánh Nhan Hồi, Tông Thánh Tăng Sâm, và Á Thánh Mạnh Kha.

[51] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải đối với phần Dịch Truyện của trang nhà Quốc Dịch Đường.

[52] Đây là các câu giải thích ư nghĩa của các quẻ trong phần Thuyết Quái Truyện của kinh Dịch. Theo các nhà chú giải, Thoán Từ (phần chú giải ư nghĩa của Bát Quái trong kinh Dịch) đă dùng các sự vật để miêu tả thuộc tánh của mỗi quẻ. Chẳng hạn như nói Càn là lạnh buốt, nhằm diễn tả sự kiên nghị, không khoan nhượng, nói là băng nhằm miêu tả sự cứng chắc như băng, nói là ngựa gầy trơ xương nhằm diễn tả sự quên thân phụng sự.

[53] Tức là quả Trạch Sơn Hàm gồm hai quẻ Cấn và Đoài gộp lại. Quẻ Trạch Sơn Hàm biểu hiện nam nữ yêu mến nhau, ăn ở lâu dài với nhau. Thoán Từ giải thích Cấn là nam ở dưới, Đoài ở trên, ngụ ư nam phải hạ ḿnh xuống cầu cạnh nữ th́ mới là thuận lư, chứ nếu người nữ lại ve văn nam th́ là bất chính.

[54] Tức quẻ Lôi Phong Hằng do hai quẻ đơn Tốn và Chấn hợp lại, biểu hiện ư nghĩa trường cửu, dài lâu, bền vững.

[55] Tức hai quẻ Thủy Hỏa Kư Tế và Hỏa Thủy Vị Tế. Quẻ Thủy Hỏa Kư Tế gồm quẻ Ly (lửa) ở dưới, phía trên là quẻ Khảm, nên Tổ mới nói: Nước tuôn xuống diệt lửa. Lửa cháy khô cạn nước, cớ sao gọi là Kư Tế”. Quẻ Hỏa Thủy Vị Tế gồm quẻ Khảm ở dưới, quẻ Ly ở trên, hàm nghĩa thất bại, dở dang.

[56] Hào là một vạch đứt hay vạch nối liền trong một quẻ. Do mỗi quẻ trong kinh Dịch gồm hai quái trong bát quái chồng lên nhau, nên trong sáu mươi bốn quẻ Dịch, mỗi quẻ đều có sáu vạch, gọi là Lục Hào.

[57] Ư nói kẻ thiếu hiểu biết, không biết suy xét, chỉ nghe theo, tin tưởng những lời đồn đăi hay tán dương.

[58] Đạo Chích (盜蹠) c̣n gọi là Kiệt Chích (桀跖), em trai của Liễu Hạ Huệ, là một tên trộm nổi tiếng, cầm đầu chín ngàn bộ hạ, hoành hành trong thời Xuân Thu, trộm cướp, bắt cóc vợ và con gái của người khác, tham lợi tới mức quên cả thân thích. Đây là một nhân vật hư cấu do Trang Tử đặt ra trong sách Nam Hoa Kinh với dụng ư châm biếm. Dân gian Trung Hoa tôn Đạo Chích là tổ của nghề ăn trộm, và do Đạo Chích bắt cóc vợ con người khác, ông ta được tôn là tổ của nghề măi dâm, với danh xưng là thần Bạch Mi.

[59] Đây là một câu nói trích từ thiên Cáo Tử Chương trong sách Mạnh Tử. Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích của ông Trần Phục trong tác phẩm Tâm Học Công Phu Luận do nhà xuất bản Hồng Diệp Văn Hóa ấn loát năm 2025.

[60] Nguyên văn “thị chư hầu ố vương chế hại kỷ, nhi khử kỳ tịch dă”, tức là Tổ viết theo ư một đoạn trong sách Mạnh Tử: “Bắc Cung Kỵ vân: ‘Châu thất ban tước lộc dă, như chi hà?’ Mạnh Tử viết: - Kỳ tường bất khả đắc văn dă, chư hầu ố kỳ hại kỷ dă, nhi giai khử tịch”. Sách Tứ Thư B́nh Giải diễn giải đoạn này như sau: “Bắc Cung Kỵ hỏi nhà Châu ban tước vị và bổng lộc như thế nào? Mạnh Tử nói: - Tôi chẳng thể biết tường tận được, do chư hầu ghét các phép tắc của vương triều hạn chế, gây hại cho quyền lợi của họ, nên đă hủy hết cá sách vở [liên quan đến luật lệ] ấy”.

[61] Phổ quán c̣n gọi là Tạp Tưởng Quán tức là phép Quán thứ mười ba, quán chung thân Phật A Di Đà cao một trượng sáu đứng bên ao sen, cùng với các cảnh giới thù thắng như tướng viên quang, hóa Phật, hóa Bồ Tát v.v…

[62] Thể cứu (體究) có nghĩa đen là khảo sát, nghiên cứu tường tận, cặn kẽ. Ở đây có nghĩa là người niệm Phật bằng cách nghiền nghẫm ư nghĩa sâu thẳm trong câu Phật hiệu, quán sát tâm tưởng của chính ḿnh có tương ứng với Phật hiệu hay không, bản chất của Phật hiệu, thể tướng và lực dụng của câu Phật hiệu là ǵ v.v…

[63] Nhân Đà La vơng là cái lưới của thần Indra (thường được phiên âm thành Nhân Đà La). Thần Indra tức là Đế Thích, c̣n gọi là Lôi Thần, kiêu dũng, thiện chiến, là chúa của Tam Thập Tam Thiên (trời Đao Lợi). Lưới Nhân Đà La là một cái lưới kết bằng châu báu, mỗi mắt lưới có treo một viên như ư châu. Cái lưới này thường gọi là Đế Châu Vơng, hoặc đôi khi chỉ gọi tắt là Đế Châu. Mỗi viên châu đều có thể hiện bóng của mỗi viên châu khác, ánh sáng trùng trùng vô tận. Kinh dùng thí dụ này để diễn tả pháp giới Sự Sự vô ngại. V́ thế, trong kệ lễ Phật của Văn Thù Bồ Tát có câu: “Ngă thử đạo tràng như đế châu, thập phương chư Phật ảnh hiện trung” (đạo tràng của con như các viên châu nơi cái lưới của Đế Thích, mười phương chư Phật đều hiện bóng trong mỗi viên châu ấy).

[64] Nguyên văn là “cát đằng” (葛藤), tức các loại dây leo quấn quanh thân cây. Thiền gia thường dùng từ ngữ này để chỉ ngôn ngữ. Sách Tùng Lâm Thành Sự ghi: “Thói thường của Thiền lâm là hễ thấy nói năng sự việc lan man, dây cà dây muống, chẳng gọn chóng, bèn bảo là dây leo”.

[65] Vô Chuẩn Sư Phạm (1178-1249) là một vị cao Tăng thuộc phái Dương Kỵ của Lâm Tế Tông vào đời Tống. Ngài là người huyện Tử Đồng, tỉnh Tứ Xuyên, xuất gia lúc chín tuổi, mười sáu tuổi được đặc cách thọ Cụ Túc Giới. Ngài lần lượt học Thiền với các vị Phật Chiếu Quang Đức và Phá Am Tổ Tiên, nối pháp của ngài Phá Am. Do Sư thuyết pháp khiến vua lănh ngộ, được ban hiệu là Phật Giám Thiền Sư.

[66] Năm nhà tức là năm phái Thiền phát xuất từ thiền phái của Lục Tổ Huệ Năng, tức Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng và Pháp Nhăn.

[67] Ư nói: Thao lược tuy người cầm quân nào cũng biết, nhưng chiến thắng hay không tùy thuộc người cầm quân có biết khéo léo vận dụng linh hoạt hay không.

[68] Ḱm búa (kiềm trùy: 鉗錘): Ḱm và búa là hai loại dụng cụ để rèn sắt, Thiền Tông dùng từ ngữ này để sánh ví thầy dạy tṛ nghiêm ngặt.

[69] Tịch Âm tôn giả pháp danh Hồng Huệ, tự Đức Hồng, pháp tự Giác Phạm là một vị cao tăng đời Tống, đắc pháp nơi thiền sư Chân Tịnh Văn. Sau khi Ngài mất, nhà Nam Tống sắc phong thụy hiệu là Bảo Giác Viên Minh. Ngài để lại các tác phẩm Thiền Lâm Tăng Bảo Truyện, Lâm Gian Lục, Thạch Môn Văn Tự Thiền v.v…

[70] Câu này hơi khó hiểu, ngu ư cho rằng Tổ có ư nói: Đối với tánh tội (những tội hễ phạm sẽ là tạo ác nghiệp, chẳng cần biết có thọ giới hay không, như giết, trộm, dâm, dối chẳng hạn) theo lư không được khai (tức không được phép vi phạm, hễ phạm sẽ mất giới). Do đó, trong trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như người hành hạnh Bồ Tát (không cần biết là phàm nhân hay thánh nhân) v́ bi tâm cứu độ người khác mà cam tâm phá giới, nhưng khi phá giới, tâm nguyện chịu khổ quả thay cho người khác, vẫn luôn hổ thẹn v́ không giữ được giới, chứ không nghĩ ḿnh có công lao cứu độ chúng sanh, th́ giới thể chẳng mất. Tổ răn người thọ giới đừng dựa dẫm, viện cớ cứu độ người khác mà tùy tiện phá giới, kẻo tạo thành khổ báo phải trầm luân lâu dài!

[71] Tức kinh Anh Lạc Bồ Tát Bổn Nghiệp do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.

[72] Vị tăng thông thạo giới luật, nghiên cứu sâu xa Luật Tạng th́ được gọi là Luật Sư.

[73] Tặc Trụ (Steya-sajvāsika), nghĩa đen là dùng cái tâm giặp cướp để trụ, tức là kẻ v́ danh, lợi, hoặc do kiếm sống, hay do muốn trộm cắp giáo pháp nhà Phật, bèn xuất gia. Đôi khi chỉ kẻ chưa đủ hai mươi tuổi, chưa thể thọ giới [mà cứ khai man để được thọ giới, nếu không được thầy bổn sư xin với tăng đoàn cho đặc cách thọ giới], hoặc phạm vào những giá nạn mà giả dối xuất gia rồi thọ Cụ Túc Giới.

[74] Bố Tát (布薩) là phiên âm của chữ Upavasatha (c̣n viết là Uposatha, Posadha), c̣n phiên âm là Bố Sa Tha, Bố Sái Tha, Bô Sa Tha, Bao Sa Đà, Bố Tát Đà Bà, dịch nghĩa là Tịnh Trụ, Thiện Túc, Trưởng Dưỡng, chính là quy định mỗi tháng chư Tăng và những người đă thọ Bồ Tát Giới tụ lại, cùng nhau tụng và nghe Giới Kinh, khiến cho tỳ-kheo nhớ giữ giới pháp. Trong khi Bố Tát, có thể đồng thời cử hành Bát La Đế Đề Xá Da Mị (Pratideśayāmi) tức là đối trước đại chúng phát lộ sám hối những tội lỗi do chính ḿnh đă trót phạm trong nửa tháng qua, cầu xin đại tăng chấp thuận cho chính ḿnh sám hối.

[75] Tứ báng: Theo Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao, người thuyết pháp nếu chẳng biết rơ lư Chân Như, sẽ khiến cho bốn loại phỉ báng nẩy sanh:

1) Tăng ích báng: Chẳng biết lư Chân Như ĺa tướng tịch diệt. Tánh Chân Như vốn chẳng có mà nói là nhất định có.

2) Tổn giảm báng: Lư chướng ngại chẳng thể biến hoại nhưng người thuyết pháp không biết. Tánh vốn là bất không, nhưng người thuyết pháp lại nói là nhất định là không.

3) Tương vi báng: Chẳng biết lư Chân Như chính là Không từ ngay nơi Hữu, Hữu từ ngay nơi Không, bèn nói Chân Như là cũng có cũng không, chấp chặt cả hai bên.

4) Hư luận báng: Chẳng biết lư Chân Như đều là cùng có, cùng không, bèn nói Chân Như chẳng phải có, chẳng phải không, hai đằng đều bất định.

[76] Phạm Trấn (1009-1089), tự Cảnh Nhân, là một chính trị gia, văn gia, và sử gia thời Bắc Tống. Ông nổi tiếng là người can đảm dùng lời lẽ thẳng thắn can gián vua, không sợ bị quở tội. Ông chủ trương cựu pháp, ủng hộ quan điểm của Tư Mă Quang, chống lại tân pháp của Vương An Thạch. Ông cũng biên soạn các tài liệu sử học nổi tiếng như Tân Đường Thư, Nhân Tông Thực Lục, Ngọc Điệp, Nhật Lịch, Loại Biên v.v…

[77] Khổng Tử là hậu duệ đời thứ mười bốn của Vi Trọng (em của Vi Tử Khải. Vi Tử Khải là anh của Trụ Vương, người sáng lập nước Tống), tức là con cháu nhà Thương. Tổ tiên sáu đời của Khổng Tử là Khổng Gia (vốn có tên là Tử Gia). Khổng Gia làm đại phu nước Tống thời Tống Thương Công, bị Thái Tể Hoa Đốc giết chết. Con trai Khổng Gia đem gia quyến chạy sang nước Lỗ lánh nạn. Đến đời Khổng Hột (thường gọi là Thúc Lương Hột), gia đ́nh định cư tại Tưu Ấp (nay là Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông), giữ chức đại phu. Do đă có chín con gái mà không có con trai, Khổng Hột lấy Nhan Thị lúc ông đă bảy mươi tuổi trong khi Nhan Thị mới mười tám tuổi. Nhan Thị sanh ra Mạnh B́, nhưng người này lại có tật ở chân. Về sau, Khổng Hột và Nhan Thị cầu con ở Ni Khâu, sanh ra Khổng Tử, nên đặt tên con là Khâu, đặt tên tự là Trọng Ni.

[78] Tào là nói về cha con Tào Tháo, Tào Phi (đều là những tay quyền thần, hoàn toàn khiến vua nhà Hán trở thành bù nh́n trong tay họ). Mă tức là nói tới Tư Mă Ư, Tư Mă Chiêu, Tư Mă Viêm đều là quyền thần khuynh đoạt ngôi vua của nhà Tào, cuối cùng Tư Mă Viêm bắt Tào Hoán (Ngụy Nguyên Đế) thoái vị, lập ra nhà Tấn. Dă tâm của Tư Mă Chiêu lớn đến nỗi Ngụy Thiếu Đế (Tào Mao) phải nói: “Tâm của Tư Mă Chiêu, ai nh́n cũng thấy”. Câu này trở thành một thành ngữ ví von kẻ có dă tâm hiển nhiên, không thể che giấu.

[79] “Quân thần tá sứ” (君臣佐使) là một nguyên tắc sử dụng thuốc do Nội Kinh đề ra, nhằm phân định mức độ sử dụng và cách phối hợp các vị thuốc trong một toa thuốc. Quân là vị thuốc chủ yếu để chữa chứng bệnh ấy, phân lượng sử dụng vị thuốc ấy sẽ cao hơn các vị thuốc khác. Thần là vị thuốc bổ trợ tác dụng chữa trị của vị thuốc được coi là Quân. Tá là vị thuốc bổ sung đứng hàng thứ hai sau Thần, có tác dụng giảm bớt nếu tác dụng của Quân và Thần quá mạnh, sợ người bệnh chịu không nổi. Sứ là vị thuốc có tác dụng dẫn dắt các vị Quân và Thần đi vào kinh mạch hoặc kinh lạc hiệu quả hơn.