Linh
Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
4
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
* Trả lời câu hỏi
của Trương Thúc Hàn
Làm
lành, làm ác, cố nhiên đều là căn bản của
sanh tử;
há kẻ chẳng làm
thiện hay ác riêng chẳng phải là căn bản của
sanh tử ư? Thiên đường, địa ngục
nơi ta há có? Riêng chẳng nói “làm
lành hay làm ác há có nơi ta”
ư? Ngài Ô Khoa nói: “Đừng làm các điều ác, vâng
làm các điều thiện”, có khác ǵ ư chỉ “thổi
lông trên vải”?[1]
Nếu chẳng dùng “đoạn
ác, tu thiện”
làm cửa, chỉ mong “chẳng
thiện, chẳng ác, chẳng sanh, chẳng tử”;
đấy chính là lư do Thiện Tinh[2]
sai chừng hào ly mà cách biệt vời vợi như trời
với đất.
* Trả lời câu hỏi
của Phu Tiên
Pháp
Hoa tam-muội gồm thâu trọn vẹn từ
đầu đến cuối, quán triệt thánh, phàm. Động,
tĩnh, nói năng, hành xử, hoàn toàn ở trong môn tam-muội
ấy. Hiềm rằng t́nh nẩy
sanh khiến trí cách biệt, tuy sử dụng
hằng ngày mà chẳng biết! Dẫu chẳng biết, lư
tánh có bao giờ giảm? Muốn biết lư tánh, chỉ cần
quán chắc chắn một niệm tâm tánh hiện tiền
thuộc vào các chỗ trong,
ngoài, hay trung gian? Thuộc về quá khứ, vị lai, hay hiện
tại? Có sắc tượng,
ngằn hạn, xanh, vàng, dài, ngắn v.v… để có thể
dơi theo tung tích ư? Hay là Không, Vô, đoạn diệt, chẳng
thể diễn tả được
ư? Nếu tâm tánh đă ĺa tứ cú, tuyệt
bách phi, th́ các pháp được
hiện bởi cái tâm như thế há chẳng ĺa cú, tuyệt
phi ư?
Lại nữa, các pháp
đều có tên gọi, h́nh mạo, mỗi mỗi đều
có thể chỉ bày, diễn tả, tâm có tên gọi và h́nh mạo
ǵ vậy? Chỉ bày, diễn tả bằng cách nào? Do vậy
bèn nói “ngoài pháp chẳng có tâm” đă rơ lắm rồi!
Nhưng nếu vô tâm, ai biết các pháp? Pháp hiện trong tâm
như h́nh bóng hiện trong gương, như mây hiện
trong không trung. Đă chẳng thể phân biệt là tâm hay là
pháp, lại chẳng thể phân biệt chẳng phải
tâm, chẳng phải pháp; bảo “chẳng phải là Thật Tướng,
Thật Tánh”, có được hay chăng? Phật giới
là Thật Tướng, cho đến địa ngục giới
cũng là Thật Tướng. Thật Tướng của
Phật giới là vô tướng, vô bất tướng, trọn
đủ bách giới thiên như, cho đến Thật
Tướng của địa ngục giới cũng là vô
tướng, vô bất tướng,
trọn đủ bách giới thiên
như. Chánh báo của mười giới là Thật Tướng.
Quốc độ giả danh thuộc mười giới
cũng là Thật Tướng. Đă chẳng có một pháp
nào không phải là Thật Tướng, vậy
th́ chẳng có pháp nào không phải là Pháp
Hoa tam-muội.
Đừng
đối với Thật Tướng pháp giới mà hư
vọng dấy lên kiến giải của phàm phu và Nhị
Thừa. Dẫu ngẫu nhiên dấy lên, thuận theo cái Thấy ấy, vẫn
là Thật Tướng, vẫn là pháp giới.
Liễu đạt như thế, chẳng
quên, chẳng giúp[3],
lâu ngày ḥa thành một khối, tự nhiên tương ứng
với Pháp Hoa tam-muội. Chớ nên bỏ lối viên đốn
riêng biệt này, cũng đừng sợ đường
tắt riêng biệt này. Đây là pháp viên đốn nhất,
thẳng tắt nhất. Nếu là Sự hành để giúp
thành tựu Lư Quán, th́ có Tam Muội Sám Nghi[4]
của tổ Trí Giả, hăy siêng năng hành, sẽ có thể
chứng quả. Nếu chẳng tụng một kinh, chẳng
vào đàn tràng tu hành, th́ hăy như Thường Bất Khinh
quán “hết
thảy chúng sanh quyết định thành Phật”. Gặp
cảnh, chạm duyên, luôn quán [những cảnh duyên ấy
chính] là Phật pháp giới. Những ǵ mắt trông thấy,
không ǵ chẳng phải là Phật sắc. Những ǵ tai
nghe, không ǵ chẳng phải là Phật thanh. Những ǵ
mũi ngửi, không ǵ chẳng phải là Phật
hương. Những ǵ lưỡi nói, không ǵ chẳng phải
là Phật hiệu. Những ǵ thân tiếp
xúc, không ǵ chẳng phải là Phật cảnh.
Những ǵ ư duyên theo, không ǵ chẳng phải là Phật
pháp. Do vậy, đạt được sáu căn thanh tịnh,
chuyển tam chướng trọn vẹn. Đó gọi là “có
thể chuyển Pháp Hoa”, chẳng bị chê bai “kể
chuyện ăn, đếm của báu”, cũng chẳng
chuốc họa “ám chứng, chẳng nghe”.
* Trả lời hai câu
hỏi của Dung Am
1)
Thiện ác vô tánh, trước hết, cần phải luận
tâm. Nếu tâm mê đối với điều thiện th́
công nhỏ nhặt mà
tội ác to lớn.
Nếu tâm ngộ điều thiện, công to mà sức ác nhỏ
bé. Bởi lẽ, tuy thiện, ác đều sẵn có trong
tánh, nhưng do một đằng thuận, một đằng
nghịch, sẽ chuốc báo tùy theo ư niệm ấy mạnh
hay yếu, cũng chẳng nhất định. Người
học đánh mất chánh niệm, chỉ quư sao giác chiếu.
Nếu có thể giác chiếu, dẫu phiền năo tưng bừng,
ắt sẽ giảm dần. Cốt sao khi đối
trước cảnh, sẽ giác mạnh mẽ. Trong thường
ngày,
cốt sao giác miên mật. Lại cốt sao Lư và Sự
đều cùng vận dụng, Hiển và Mật giúp lẫn
nhau, dốc công “nguy, vi, tinh, nhất”[5]
cốt yếu là do ḿnh,
chẳng do ai khác!
2)
Pháp chấp là căn bản vô minh. Ngă chấp là chi mạt
vô minh. Luận theo sự sanh khởi, th́ trước là
pháp, sau là ngă. Luận theo đoạn trừ, th́ trước
là ngă, sau là pháp. Nhưng viên nhân
(người căn cơ thuộc Viên Giáo)
quán thẳng vào tâm tánh, ngă và pháp vốn tự rỗng không,
há có trước sau? Hoặc là khai viên giải, do tập
khí ngă chấp mạnh mẽ, chẳng ngại trước
hết sẽ quán Nhân Không.
* Trả lời ba câu hỏi
của Trạm Tŕ Công (có
đính kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Chữ Biết là cửa ngơ của diệu hay họa. Hai
môn đều cùng là một thứ biết, thực hiện
công phu như thế nào? Lại nữa, cái Biết ấy nếu
có cái được biết th́ [cái tâm để biết và
pháp được biết] đối đăi, sẽ thành vọng.
Nếu chẳng có
ǵ được biết, có ǵ
được biểu lộ để nói là Biết? Lại
c̣n sử dụng [cái tâm có công năng] biết để nhận
biết cái Biết hay không? Hay chẳng khởi [công
năng] biết mà biết cái Biết vậy!
Đáp:
Nơi tri kiến, lập ra một cái Biết th́ chính là Họa
môn. Tri kiến chẳng có kiến, sẽ là Diệu môn. Nếu
chẳng liễu đạt tánh của Năng và Sở là
Không, sẽ so đo hư vọng “ngoài tâm có pháp”. Cái Biết
ấy liền gọi là Bất Giác. Nếu liễu đạt
“ngoài tâm chẳng có pháp”, Năng và Sở chẳng hai, cái Biết
ấy sẽ gọi là Thỉ Giác, cũng gọi là Diệu
Quán Sát Trí, cũng gọi là Vô Trần Trí. Trí ấy từ bản
thể mà khởi, lại chiếu vào bản thể. Tuy vẫn
là tự chiếu, nhưng thật sự chẳng có cái có
thể chiếu (năng chiếu)
và cái được chiếu
(sở chiếu). Do liễu đạt
cái Thể bất nhị, trong địa vị Danh Tự,
trực tiếp dùng trí này, niệm nào cũng thấu đạt
“ngoài tâm chẳng có pháp, pháp nào cũng là duy tâm”. Bất
luận thời kiếp, bất luận công dụng, cho tới
[khi đă liễu đạt] kim cang hậu tâm[6],
vĩnh viễn đoạn sanh tướng vô minh, Thỉ
Giác hợp với Bổn Giác, bèn gọi là Cứu Cánh Giác.
Nay công phu thực hiện chánh yếu là khởi lên cái Biết,
biết “ngoài cái Thể của Biết, chẳng có pháp nào
khác”. Ngài Vĩnh Gia nói “chỉ biết mà thôi!” Nếu
chẳng khởi lên cái Biết, biết “chỉ biết”,
chưa hề chẳng thuận theo vọng năng và vọng
sở. Đối với Tam Minh, sách Đại Thừa Chỉ
Quán đă nói dùng điều ǵ để y chỉ khá tường
tận!
2) Lại
hỏi: Nếu dấy lên cái Biết
để biết “chỉ biết”, sợ rằng “chỉ
biết” sẽ trở thành cái được biết. Cái
Biết do khởi lên cái biết, sẽ không ǵ chẳng phải
là Năng và Sở, sợ rằng khi dụng tâm, sẽ
rơi vào khuôn sáo vọng tưởng, phải
khéo dụng tâm như thế nào để
khởi cái Biết, ḥng biết cái ‘chỉ
biết’ mà chẳng đọa trong ṿng
Năng và Sở hư vọng vậy?
Đáp:
Chẳng trừ vật nào khác, chỉ giữ lấy cái Biết. Do ngoài Biết, chẳng có pháp, bèn
gọi là “chỉ biết”. Liễu đạt “chỉ
biết”, th́ một chữ Biết cũng là tên gọi
gượng ép, vốn chẳng có một vật, há thành cái
được biết ư? Nếu có cái được
biết, sẽ lại trở thành một vật, chẳng
phải là “chỉ biết”. Phương tiện để
thực hiện là cưỡng quán “các pháp chẳng thật,
chỉ là nhất tâm”. Do quán tâm chẳng có tâm tướng,
t́m chẳng thể được; sau đấy mới ngộ
nhập pháp môn “chỉ biết”. Hai phương tiện
trước đều là Duy Tâm Thức Quán. Thoạt đầu
là trừ tánh phân biệt; kế đó, trừ tánh Y Tha, ngộ
nhập “chỉ biết”. Đấy là Chân Như Thật
Quán, chứng Viên Thành Thật Tánh.
3) Hỏi:
Sách Ma Ha Chỉ Quán trước hết coi Thức Ấm là
“sở quán
cảnh”
(cảnh để quán), nhưng năng quán (cái tâm để
quán) cũng dùng ư thức, có cách nào biện định
Năng và Sở?
Đáp:
Niệm trước là năng quán. Niệm sau là sở quán.
Do năng quán hoàn toàn dùng nhất tâm Tam Quán, liền biết
niệm sau được dấy lên hoàn
toàn là nhất cảnh tam đế. Đă là nhất cảnh
tam đế, “khởi” chính là “chẳng khởi”, cũng chẳng
trở ngại “chẳng khởi mà khởi”. Khởi mà vô khởi th́ gọi
là Đế (諦); vô khởi
mà khởi th́ được gọi là Quán (觀). Đó gọi
là Đế Quán. Tên gọi khác nhau, Thể như
nhau. V́ thế, Năng và Sở là hai mà chẳng phải hai
vậy!
* Mười câu hỏi
đáp trong đàn tràng (có
trích dẫn)
Nằm
bệnh trong chốn núi sâu, tôi gượng bệnh bàn định
các kinh Phạm Vơng và Phật Đảnh, nguồn cội của
giới và thừa, chỉ thú của tánh và tu, cội gốc
của Viên Thông, diệu lư thường trụ đều
được giăi bày hết cả. Nhưng đối với
các chỗ mang ư nghĩa then chốt, liên quan ách yếu, chẳng
có ai thốt ra lời nào thưa hỏi tôi, há có phải là
do chưa biết hỏi đến nguyên do đấy
chăng? Bàn luận xong, tôi kết đàn tụng chú theo
công khóa, những người cùng chí hướng cũng kết
hậu an cư[7]
tại đó. Mỗi dịp Bố-tát (tụng giới),
liền cùng nhau đàm luận. Do vậy, tôi bèn lập ra
mười câu hỏi, những người cùng chí hướng
ai nấy đều đáp. Ưu khuyết đều lộ
ra. Đại để phần nhiều là [đại
chúng] thường nhật đa phần luôn nương
theo văn tự để hiểu nghĩa, ít nhập lư
quán tâm xứ. Do đó, chẳng thể hiểu thấu triệt.
V́ vậy, tôi bèn soạn ra mười lời giải
đáp. Than ôi! Ngôn ngữ tức là đạo, đạo
chẳng phải là ngôn ngữ. Những lời vấn
đáp khá giống như nhá cơm mớm cho trẻ, đến
khi chúng nó biết lẽ tốt xấu, ắt sẽ nôn mửa!
Nhưng hôi thối hay thần kỳ, phân ḅ mà khéo dùng, há chẳng
phải sẽ là tăng thượng duyên cho lúa mới
ư?
1) Hỏi: Giới thừa
hoăn hay cấp, bốn câu liệu giản vốn phát xuất
từ kinh luận, rốt cuộc lấy ǵ làm Giới?
Lấy ǵ làm Thừa?
Như Đại Luận nói mười giới th́ Giới
chính là Thừa.
Phạm Vơng nói “tạm ĺa Bồ Đề tâm sẽ mắc
tội khinh cấu”, tức Thừa chính là Giới.
Hơn nữa, trong bốn
giáo, mỗi giáo đều
có Giới,
có Thừa.
Đối với mỗi điều, đều cần phải
biết chỗ quy kết, sau đấy mới
thương lượng hoăn hay cấp như thế nào?
Đáp: Thừa và Giới
cùng nương vào một tánh, vốn chẳng khác Thể.
V́ thế, duyên tu và liễu tu cũng thường chính là lẫn
nhau, như kinh Phạm Vơng và Đại Luận đă nói.
Nhưng chúng sanh chất chứa mê muội đă lâu, Lư chướng và Sự
chướng mỗi đằng đều có nặng, nhẹ,
khiến cho khi tu cũng chia thành hoăn đăi hay gấp gáp.
Đấy là coi các thứ tánh nghiệp và giá nghiệp là Giới,
coi Niệm, Xứ, quán huệ là Thừa. Đối
với Tạng Giáo và Thông Giáo, Giới chỉ luật nghi của
thất chúng, c̣n Thừa là hai thứ niệm quán sanh diệt
và vô sanh. Biệt Giáo và Viên Giáo coi Giới là các điều
khinh trọng trong Phạm Vơng và luật nghi của thất
chúng, Thừa chỉ hai loại là niệm quán vô lượng
và vô tác. Mỗi đằng xét theo giáo ấy, hễ có Sự
chướng nặng, Lư chướng nhẹ, kham tu quán huệ,
nhưng dễ phạm tánh tội và giá tội, th́ gọi
là Thừa Cấp Giới Hoăn. Tự có Lư chướng nặng,
mà Sự chướng nhẹ, kham có thể thủ hộ
giới, nhưng chẳng thông đạt Lư Quán,
th́ gọi là Giới Cấp Thừa Hoăn. Nếu cả hai
chướng đều nhẹ, th́ là Giới Thừa Câu Cấp.
Hai chướng đều nặng, ắt là Giới Thừa
Câu Hoăn. Đó là nói đại lược quy kết. Nay
đă nghe “đều có Phật
Tánh”, lại biết Giới
chính là duyên nhân hoàn toàn do tánh khởi, Thừa chính là liễu
nhân hoàn toàn do tánh khởi. Lại c̣n toàn tu tại tánh, cho
nên cấp giới chính là
cấp thừa, cấp thừa chính là cấp
giới, há chịu trải qua tam đồ lần
nữa rồi mới ngộ đạo ư? Lại há chịu
tŕ trệ lâu ngày trong chốn nhân thiên, chẳng quy vào Thật
Tế ư?
2)
Kinh Phạm Vơng nói “chẳng thọ Phật giới th́ là
súc sanh, gỗ, đá”. Lại nữa, người phạm
giới chẳng khác súc sanh hay gỗ! Phàm kẻ chẳng thọ
giới, sống uổng, chết phí, nên gọi là súc sanh.
Do chẳng có thuở giác ngộ, nên như gỗ, đá! Thọ
giới liền nhập địa vị Phật, nhưng
vi phạm th́ vẫn chẳng khác súc sanh, khúc gỗ! Vậy
th́ thọ giới chẳng có mảy may lợi ích ǵ ư?
Đáp:
Vĩnh viễn ở ngoài cửa, hay vĩnh viễn vứt
bỏ biển Phật, th́ đều là khổ cả.
Nhưng chẳng thọ giới, chưa chắc đă
đều đọa địa ngục, phá giới chắc
chắn đọa địa ngục. Một đằng
thường ở trong tối tăm, cho nên đáng
thương. Một đằng là bỏ sáng vào tối, thật
đáng buồn! Nhưng chẳng thọ giới, sẽ chẳng
có thuở thành Phật. Do phá giới mà đọa lạc,
vẫn tạo thành chủng tử cho cái duyên thành Phật.
Đó là lợi ích thù thắng của thọ giới. C̣n
như chưa thọ mà đă phát tâm thọ tŕ, do lầm lạc
mà phạm, bèn ân cần, trân trọng
sám trừ, gỗ đá đều chẳng phải là gỗ
đá vậy!
3)
Người chẳng thọ giới, tuy đánh mất lợi
ích to lớn, nhưng không có tội phá giới! Như vậy
th́ trong địa ngục sẽ chẳng có kẻ không thọ
giới ư? Lại nói tuy thọ mà chẳng học, tức
là v́ chẳng biết nên không mắc tội! Tham dự vào
giới đàn, liền có thể xem Giáo, tham Thiền. Lại
như trong bóng tối đạp phải quả cà, ngỡ
đó là con cóc, mạng chung đọa địa ngục.
Nếu theo Luật, đạp nhầm con cóc, c̣n chẳng kết
tội, huống hồ đạp quả cà! Vậy th́
người học Luật mắc tội ư? Hay là kẻ
chẳng học Luật mắc tội? Nếu bảo là “kẻ
đó chỉ do so đo hư vọng phá giới mà đọa.
Nếu chẳng ngờ vực, hoảng sợ, sẽ chẳng
đọa”, vậy th́ bà ni Bảo Liên Hương[8],
tỳ-kheo Thiện Tinh đều chẳng ngờ vực,
sợ hăi, v́ sao cũng đều bị
đọa? Nếu bảo “tánh tội chẳng thể
làm, c̣n giá tội không học cũng chẳng trở ngại
ǵ”, cớ sao Y La long vương[9]
làm tổn hại lá cây mà chiêu cảm nỗi khổ tột
bậc, tỳ-kheo Nan Đề phá căn
bản giới mà chứng quả vậy?
Đáp:
Kẻ chẳng thọ giới nếu tạo tội ác nặng
nề, vẫn đọa trong tam đồ. Kẻ hủy
tịnh giới, tuy có đủ cả tánh tội và giá tội,
nếu siêng năng sám hối, tội vẫn có thể diệt.
Do vậy, ắt phải nên thọ giới. Người học
Luật hiểu rơ khai, giá, tŕ, phạm, chưa phạm th́
biết ǵn giữ, đă phạm bèn có thể trừ. Kẻ
chẳng học đă chẳng biết tránh tội, lại
chẳng biết thoát tội, tội
lỗi ắt ngày càng tích tụ. Do vậy, đă thọ rồi,
ắt cần phải học. Bồ Tát đối với
tội nhỏ luôn sanh ḷng sợ hăi to lớn, chỉ chẳng
tạo ba cái nhân ác. V́ thế, chẳng sợ ba ác đạo.
Nếu ương ngạnh làm chủ tể, to gan dối
ḷng, nói dối là vô tội, Bảo Liên và Y La đúng là những
tấm gương rành rành vậy!
4)
Nhà Nho nói “quân tử tôn đức tánh nhi đạo học
vấn, trí quảng đại nhi tận tinh vi, cực cao
minh nhi đạo Trung Dung, ôn cố nhi tri tân, đôn hậu
dĩ sùng lễ” (quân tử tôn sùng chuyện tu dưỡng
đạo đức, truy cầu kiến thức bằng
học vấn sao cho đạt đến cảnh giới
rộng lớn, tột bậc tinh vi, tột bậc cao
minh, nhưng vẫn phụng hành đạo Trung Dung, ôn
cũ để biết mới, thành tâm,
thành ư, tôn sùng lễ nghĩa)[10] là giống
hay khác với Phật pháp? Hay là vừa giống vừa
khác? Hay chẳng giống, chẳng khác? Lục Tượng
Sơn tôn trọng đức tánh, Tử Dương (Châu
Hy) coi trọng theo đuổi học
vấn, mâu thuẫn lẫn nhau đến nỗi [các môn
đồ của họ] tranh chấp kịch liệt! Có phải
là một đằng đúng, một đằng
sai hay không? Hay là đều đúng, đều sai? Hơn nữa,
vượt thoát đúng sai như thế nào để rốt
ráo chẳng vướng khuyết điểm?
Đáp:
Nho và Phật có khi danh đồng, nghĩa khác, như “đức
tánh quảng đại, tinh vi” v.v… Một đằng là
đạo lư thế gian, một đằng là đạo
lư xuất thế. Có khi danh và nghĩa đều đồng,
nhưng quy về điều cốt lơi lại khác, như “vấn
học trí tận” (hỏi han học tập cho thấu
đạt tận cùng) v.v… Cách thực hiện chẳng
khác, nhưng khi đạt đến kết quả cuối
cùng th́ chia thành thế gian và xuất thế gian. Nhưng v́
Thật mà thực hiện Quyền, Nho cũng là nhân thừa
trong ngũ thừa. Khai Quyền hiển Thật th́ đạo
lư thế gian cũng thuận theo Thật Tướng. Do vậy,
đối với bốn câu đồng, biệt, hễ chấp
th́ đều là báng, khéo dùng th́ chính là Tứ Tất Đàn[11].
Tượng Sơn tuy coi trọng đức tánh, chẳng
phế bỏ học vấn. Tử Dương tuy coi trọng theo đuổi học
vấn, chẳng
bỏ sót đức tánh. Hiểu được ư chỉ
này, tợ hồ là hai môn Đốn
Ngộ và Tiệm Tu. Chẳng hiểu ư này, sẽ là hai chứng
bệnh cuồng vọng và ngu hèn. Có thể nói hễ
đúng th́ đều là đúng, mà
sai th́ đều là sai. Nhưng “quảng
đại tinh vi” v.v… đều là các nghĩa sẵn có
trong đức tánh. “Trí tận” v.v… đều là chuyện
được coi trọng trong theo
đuổi học vấn, vốn chẳng phải
là hai pháp sánh ngang nhau, sao có thể riêng coi trọng, hoặc
riêng coi khinh?
Đấy chính là vượt thoát hai đằng đúng,
sai, vĩnh viễn chẳng để lại điều tệ
vậy!
5)
Kinh Phật Đảnh nói “hiết tức Bồ Đề”
(hễ dứt [vọng
tâm] th́ chính là Bồ Đề), sao lại phải nhờ
vào tu chứng? Đó là nói với người đă tận
các lậu, nhưng c̣n bị vướng mắc trong nghi hối.
Lại nói “chẳng trải qua nhiều kiếp nhọc
nhằn, chẳng thể tránh nạn”, là nói với
người đă khai ngộ, nhưng chưa trừ lậu.
Một đằng là Sở Tri Chướng nặng nề,
một đằng là Phiền Năo Chướng nặng nề.
Do đó, Như Lai do bệnh mà phát thuốc như thế.
Bọn chúng ta hai chướng đều nặng, lại
chưa khai ngộ, lại chưa trừ lậu, [vậy
th́] phải trừ lậu trước? Hay khai ngộ
trước? Hay cùng tiến hành cả hai công phu ấy? Trừ
lậu như thế nào? Khai ngộ như thế nào? Cùng
tiến hành th́ thực hiện như thế nào?
Đáp: Hai chướng
tuy nặng, đều chẳng
có thật thể. Chỉ nghiên cứu thấu triệt viên
tông, liền dùng viên giải để trừ sạch nghiệp
tập. Phương cách để thực hiện chẳng
ra ngoài thập thừa quán pháp. Thượng căn chỉ
dùng một pháp [trong mười phép Quán ấy], trung căn
th́ dùng từ hai đến bảy, hạ căn th́ dùng trọn
cả mười. Siêng ṛng tu tập, chướng nào chẳng
phá?
6)
Nhĩ môn tối thắng là do căn thù thắng? Hay do tánh thù thắng?
Nếu là căn thù thắng, tức là nhĩ căn và sự
mệt nhọc [do bị ngón tay đè chặt trên lỗ tai
quá lâu] đều là [tướng hư vọng] “do trợn
mắt mà sanh tướng mệt nhọc”[12]
trong Bồ Đề, há có thể nương vào sự sanh
diệt ấy làm cái gốc để tu nhân? Nếu tánh là
thù thắng th́ tánh của nhĩ căn đă chẳng phải
là tánh của năm căn kia, sao lại nói “trong tánh biết
lẫn nhau”, và “lục giải nhất vong”[13]
(sáu cái nút đă cởi th́ một cái khăn cũng mất)?
Đáp:
Do nhĩ môn dễ hiển tánh nên thù thắng, chẳng phải
là tánh có thù thắng hay kém cỏi! Cũng chẳng phải
là cảnh dùng nhĩ căn. Chỉ là nhờ vào nhĩ cảnh
để quán chân tánh. Tánh tức là bất sanh, bất diệt,
cũng lại chẳng phải là một, chẳng phải
là sáu! V́ thế, hễ xoay lại [phản quán] một tánh
[nơi tánh của sáu
căn] th́ cả sáu đều
giải thoát. Sáu căn đă giải thoát th́ một căn
cũng mất.
7)
Nhĩ môn có ba nghĩa chân thật, vậy th́ căn là viên
thông thường ư? Hay tánh là viên thông thường
ư? Nếu căn là [viên
thông thường],
chẳng nên nói “niêm trạm phát thính, thính tinh ánh thanh, quyển
thanh thành căn”[14]
Lại chớ nên nói “ĺa
động, ĺa tĩnh, vốn
chẳng có thính chất” (sắc
chất của nhĩ căn). Nếu tánh là [viên thông thường],
th́ tánh của nhĩ căn chính là tánh của năm căn
kia, hay chẳng phải là tánh của năm căn kia? Nếu
chẳng phải, vẫn là gạn hỏi giống như
trong phần trước! Nếu chính là [tánh viên thông thường],
th́ do quán cái tánh ấy, sẽ kiêm
thấu đạt cái
tướng của nó. Nếu chẳng phải kiêm, th́ sẽ
là ngoài tánh có tướng. Nếu thật sự kiêm, th́ phải
nên từ trong nhĩ căn mà thấy sắc, ngửi
hương, nếm vị, cảm nhận sự tiếp
xúc. Nếu chẳng thấy sắc v.v…, sẽ chẳng gọi
là tánh viên thông. Nếu nói là “có thể” [thấy sắc, ngửi
hương v.v…], rốt cuộc dùng nhĩ căn để
thấy, ngửi, nếm, nhận biết như thế
nào? Nếu bảo là “sáu căn dùng lẫn cho nhau”, cần
phải đợi chứng nhập, th́ nhân quả vẫn
chẳng tương ứng! Nếu nói tuy chưa hữu dụng,
nhưng lư đích xác là như thế, xin chỉ điểm
để biết như thế nào ḥng khỏi sai?
Đáp:
Vốn do “một cái tinh minh chia thành sáu món ḥa hợp”
(từ nhất tâm chia thành tác dụng của sáu căn), vậy
th́ bản tánh của sáu món ḥa hợp đều là viên thông
thường, cũng chẳng phải là có hai tánh, nhưng
riêng xét theo mê t́nh để chọn lựa. Ở phương
này (thế giới Sa Bà),
nhĩ môn dễ hiển lộ sự chân thật, nên gọi
là Lợi (利, nhạy bén);
các môn khác khó hiển, nên gọi là Độn (鈍,
chậm lụt). Chẳng phải là cảnh
dùng nhĩ căn làm viên thông thường. Khi mới thực
hiện, chính là muốn bỏ vứt bỏ sanh diệt để
giữ lấy chân thường; đó gọi là “nhập
lưu vong sở”, c̣n chẳng được dùng Nhĩ
Căn. Ngoài th́ thuận theo hai tướng động và
tĩnh, sao có thể dùng
các chuyện như thấy sắc, ngửi hương v.v…
để vấn nạn được! Như nước
trong chưa biến hiện [các h́nh tướng], liền quở trách
nó sao không biến hiện hết thảy. Nếu nước
có thể biến hiện, lại ghét nó lẫn lộn. Nếu
[do nhĩ căn] chẳng thể thấy sắc, ngửi
hương, liền ngờ nhân quả chẳng
tương ứng, [sẽ giống] như do nước
đục chẳng biến hiện, bèn nói trong ấy “chẳng
có nước trong” ư? C̣n như đối với sự
chỉ điểm trong hiện tiền, th́ tai tự nghe
pháp, miệng thưa
hỏi, thân thừa sự,
chính là nghĩa “biết lẫn nhau” trong tánh. Chẳng thể
dùng tai để thấy sắc v.v… chính là nghĩa trái nghịch
trong khi đang sử dụng. Đem hai thứ mê t́nh vọng
kiến “biết lẫn nhau” và “trái nghịch lẫn nhau” nhất
loạt buông xuống hết th́ mới có thể nhập
Nhĩ Môn tam-muội.
8)
Tông Thiên Thai nói “thiện và ác đều có sẵn trong
tánh”, nghĩa ấy chẳng đúng! Nói “tánh chẳng
phải là thiện hay ác”, tức là chẳng ngăn ngại
thiện, ác. Nếu tánh thật sự có thiện, sẽ chẳng
dung ác. Nếu tánh thật sự có ác, sẽ chẳng dung
thiện. Như trong kinh Phật Đảnh, ngài Măn Từ
(Phú Lâu Na) dùng “nước và lửa chẳng lấn diệt
lẫn nhau” để cật vấn, Như Lai cũng
chỉ giải thích rằng “Thể của hư không chẳng
phải là các tướng”, chẳng cự tuyệt chuyện
nêu tỏ các tướng! Diệu giác minh tâm trước hết
chẳng phải là nước, lửa, cớ sao chẳng
dung thông lẫn nhau? Ngẫm kỹ hai câu “Thể chẳng
phải là các tướng, trước hết chẳng phải
là lửa nước” th́ tánh chẳng phải là thiện
hay ác đă rơ rồi! Bảy Đại đều một
mực là pháp
vô kư (chẳng thiện, chẳng ác), vẫn
cần phải bỏ tướng th́ mới có thể hiểu
tánh, huống hồ thiện ác là pháp hữu
kư mà có thể nói là [tánh] “đều có” [thiện và ác]
được ư?
Đáp: Nếu nói “tánh
chẳng phải là thiện hay ác, chẳng trở ngại
thiện ác”, vậy th́ thiện, ác từ chỗ nào mà có để chúng có thể lẫn lộn, nhiễu
loạn tánh? Sau khi đă hiển tánh, thiện ác lại quy
vào đâu? Hơn nữa, ngay trong lúc thiện, ác, tánh “chẳng
thiện ác” lại tránh né đến chỗ nào để
đoạn diệt? Khi thiện, ác
đi, tánh “chẳng thiện ác” lại từ
đâu đến để sanh?
Nếu nói “thiện ác vô tánh, thuận theo vọng duyên mà
có”, đă là chẳng
có tánh, cái ǵ sẽ tùy duyên? Đă là tùy duyên, ắt có “năng
tùy”
(cái có thể tùy duyên) và “sở tùy”
(đối tượng để tùy duyên). Sở tùy chính
là mê, ngộ, nhiễm, tịnh. Năng tùy há chẳng phải
là tánh thiện, tánh ác ư? Hơn nữa, cái duyên mê, ngộ,
nhiễm, tịnh được “tùy thuận” ấy ở
ngoài tánh, hay ở trong tánh? Nếu ở ngoài tánh, tánh chẳng
thường trọn khắp. Nếu chẳng ĺa tánh, sao
nói “chẳng phải là có đủ”? Nào có biết cái tánh “vô tánh” chính là thật tánh
của thiện và ác. Nếu trong tánh chẳng có đủ
thiện và ác, dẫu gặp các duyên như mê, ngộ, nhiễm,
tịnh v.v… chắc chắn chẳng thể hiện thiện
hay ác trong tu tập được! Như trong cát chẳng
có tánh của dầu, dẫu gặp duyên đè ép, trọn
chẳng chảy ra dầu.
Xin hăy dựa theo thí dụ
ấy để suy rộng ra: Nếu Không chẳng phải
chính là các tướng, các tướng há từ ngoài Không mà đến?
Khi Không hiện, há tướng ra ngoài Không? Lại c̣n ngay
trong khi hiện tướng, Không tránh né đến chỗ
nào để bị đoạn diệt? Tướng mất
rồi th́ Không từ đâu mà có để lại sanh? Hăy
nên biết: Hư không chẳng đến, chẳng đi,
chẳng diệt, chẳng sanh, bèn biết “trong các tướng,
tánh Không bất động”. Có thể phỏng theo
đó để biết: Khi hiện thiện, hiện ác, tạng
tánh bất biến. Đă biết ngay trong khi tùy duyên mà chính
là lúc bất biến, lại có thể phỏng theo đó
để biết: Ngay trong khi bất biến, chính là lúc tùy
duyên. V́ thế, thấu đạt nghĩa “bất biến
tùy duyên”, tức là khi chưa dấy lên tu thiện, tu ác,
chẳng phải là không có tánh thiện, ác!
Như khi các tướng nước và lửa chưa hiện,
chẳng phải là không có tánh lửa và nước, do tánh
Không chân thủy, tánh Không chân hỏa. Thấu đạt
nghĩa “tùy duyên bất biến”, th́ khi bừng bừng
tạo thiện, tạo ác, cũng chẳng có thật pháp
thiện hay ác. Như ngay trong khi
nước và lửa hiện, chẳng khác tánh của
hư không, do tánh nước chân không, tánh lửa chân không.
Mê nơi tướng th́ toàn thể tánh chính là tướng,
bị vọng kiến khuynh đoạt. V́ thế nói: “Quán
tướng vốn là vọng”. Tức là chỉ quán
tướng nơi tánh, vọng tánh của tướng
cũng là vọng. Ngộ tánh th́ toàn thể tướng
chính là tánh. Tùy ư lấy một tướng, sẽ đều
là “cùng chính là”, “cùng chẳng phải”. Ĺa tức là chẳng
ĺa, “là” tức “chẳng phải chính là”. Do đó nói “quán
tánh vốn là chân”, tức là có thể quán tánh nơi
tướng, chân tướng của tánh cũng là chân.
Như thế th́ hư không chẳng phải là các tướng,
các tướng cũng chẳng phải là các tướng.
“Không” chẳng ngại nêu tỏ các tướng, các tướng
cũng chẳng ngại nêu tỏ các tướng. Do vậy
đạt được ư nghĩa “đều hiện”.
Lại nữa, tâm
trước đó chẳng phải là lửa và nước,
nước lửa cũng trước đó chẳng phải
là nước lửa. “Trước” chẳng phải
là “trước” trong “trước sau”, mà chỉ có
nghĩa “vốn sẵn”. V́ thế, không chỉ khi
chưa hiện nước lửa, tánh nước chính là
tánh lửa, tánh lửa chính là tánh nước, quyết
định chẳng lấn diệt lẫn nhau. Tuy trong khi
nước, lửa hiện, nước vốn chẳng phải
là nước, lửa vốn chẳng phải là lửa,
cũng chắc chắn chẳng lấn diệt lẫn
nhau. Do vậy, có các chuyện vào nước chẳng ch́m,
vào lửa chẳng cháy, phần trên thân tuôn nước, phần
dưới thân bốc lửa, vào trong đất như
trong hư không, ở trên hư không như đang ở trên
mặt đất v.v...
Do vọng kiến nẩy sanh liền khuynh đoạt, chỉ
tùy tâm ứng lượng, thuận theo nghiệp phát hiện
đó thôi!
Do đó biết: Ngoài
tướng chẳng có tánh, bỏ tướng tức là bỏ
tánh. Ngoài tánh chẳng có tướng, hiểu tánh sẽ hiểu
tướng. Nếu [cho rằng] “bỏ tướng th́ mới
hiểu tánh”, hết sức chẳng đúng!
Hễ bỏ sắc tướng th́ là Không tướng. Bỏ
Không tướng th́ là sắc tướng. Bỏ hữu
t́nh tâm tướng th́ sẽ là vô t́nh sắc không tướng.
Bỏ tướng vô t́nh, sẽ là tướng hữu t́nh.
Bỏ tướng căn trần vô phân biệt, sẽ là
thức tướng có phân biệt. Bỏ tướng phân
biệt, sẽ là tướng chẳng phân biệt. Bỏ
vọng tướng căn trần thức, sẽ là giác
minh chân tướng. Bỏ chân tướng, sẽ là vọng
tướng.
Rốt cuộc, tướng nào để
có thể bỏ? Tánh nào để
có thể hiểu? Kinh dạy: “Khí
sanh diệt, thủ chân thường giả, trực khí kỳ
ư chân thường trung vọng kiến sanh diệt chi
t́nh. Thủ kỳ tức sanh diệt xứ, liễu ngộ
chân thường chi trí nhĩ” (Bỏ sanh diệt, giữ
lấy chân thường là thẳng thừng bỏ t́nh chấp
vọng kiến sanh diệt trong chân thường. Giữ lấy
điều ấy chính là cái trí liễu
ngộ chân thường từ ngay chỗ sanh diệt).
Hăy thử
suy gẫm phần kinh văn giảng về Thất Đại
[trong kinh Lăng Nghiêm]. Trước hết, dùng Không để
dung hội Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Kế đó
dùng giác để dung hội năm đại như Không,
Địa v.v… Kế đó, dùng Tinh để dung thông
Căn và Trần sáu đại. Kế đó, dùng Tri để
dung thông bảy đại như Thức, Căn, Địa
v.v… Tức là “Sắc và Không bất nhị, y báo và chánh
báo bất nhị, kiến phần, tướng phần và tự
chứng bất nhị, chân và vọng bất nhị”
đă rơ rồi! Do vậy, chính v́ tánh bất biến trọn
đủ thiện và ác, cho nên có thể toàn thể tùy duyên,
nhưng thiện tu và ác tu chính v́ đă nắm trọn chân
tánh. Do đó, toàn thể lại bất biến, bất biến
mà toàn thể là tùy duyên. Bởi vậy nói là “Lư
trọn đủ ba ngàn [các pháp]”. Tùy duyên mà toàn thể bất
biến, nên gọi là “Sự tạo ba ngàn”. Hơn nữa,
“Lư có đủ” chỉ là có đủ nơi Sự tạo,
Sự tạo chỉ là tạo nơi Lư trọn đủ.
V́ thế, tuy nói thành hai loại, vẫn chẳng phải là
sáu ngàn [các pháp]. Tuy nói thành hai tầng, mà là tầng tầng
vô tận!
9)
Kinh Niết Bàn nói Phật tánh thường trụ, nói hai
thí dụ là “sữa, lạc”, và “hạt, cây”. Nếu sữa
vốn có tánh của lạc, cho đến thục tô vốn
có tánh của đề hồ, sao lại phải nhờ
vào các duyên như khéo léo khuấy đảo v.v…? Nếu
hạt cây Ni Câu Đà vốn sẵn có tánh [thân cây cao]
năm trượng, sao lại phải nhờ vào các duyên
như đất, nước v.v...?
Pháp nhờ vào duyên th́ là vô thường, há được gọi
là Thường ư? Lại nói sữa có tánh lạc cho nên
khuấy sữa, chẳng khuấy nước, do hạt có
tánh của cây, nên gieo hạt, chẳng gieo cát. Đấy là
“sẽ có”, chẳng phải là “hiện tại có”, cũng
chẳng gọi là Thường! Lại nữa, nay thấy trong lạc có lẫn nước,
bèn chẳng sanh ra tô. Hạt cây nung qua lửa, sẽ chẳng
nẩy mầm. Đúng là chứng tỏ “ba thứ không, hai
thứ có”[15], kẻ đó
đáng gọi là Sở Tri Chướng nặng nề,
chẳng thể quyết chứng Đại Bồ Đề!
Đáp:
Thường chẳng phải là cái Thường chết cứng.
Tánh có nghĩa là “chẳng thay đổi”. Kinh Niết Bàn
đă nói về Phật tánh thường trụ, sợ có kẻ
mê muội chấp tánh, phế tu, tức là trở thành thiên
nhiên ngoại đạo[16].
V́ thế nói “cần phải nhờ vào duyên nhân và liễu
nhân”. Do liễu nhân và duyên nhân tuy thuộc vào tu, nhưng
khi ở nơi nhân th́ cùng gọi là Tánh Đức. Chánh nhân
do Lư phát khởi, tuy hoàn toàn là tánh, nhưng khi đắc quả
th́ cùng gọi là Tu Đức. Vậy th́ cái tánh “vô tánh” tức
là thật tánh. Bản thể của pháp duyên sanh là vô sanh.
[Dùng h́nh ảnh] hai con chim cùng bay để sánh ví thường
và vô thường, nghĩa ấy là như thế đó! Nếu
trong khi đang Có
mà chẳng gọi là Thường, ắt sẽ chấp cái
ngưng đọng bất biến chết cứng là
Thường, có khác ǵ thường kiến ngoại đạo?
Lại nữa, sữa và lạc, hạt và cây, nước
và lửa có thể bị ngăn chướng, nhưng Phật
tánh chẳng như vậy.
Xiển Đề đoạn thiện, rốt cuộc lại
sanh. Nhị Thừa chứng Không, cũng rốt cuộc hồi
Đại. V́ thế, lại có Phật tánh hùng mănh, chẳng
thể ngăn trở, hủy hoại, ví như kim cang, mà
“tam vô, nhị hữu” trọn chẳng phải là cách nói liễu
nghĩa! Há có nên chấp một
tí thí dụ để rồi cật vấn toàn thể pháp
ư?
10)
Hỏi: Tông Thiên Thai nói hai tầng “Lư có đủ, Sự
tạo ba ngàn pháp”, cũng như trong cái tâm nhỏ nhoi đă sẵn đủ,
điều ấy chẳng đúng! [Bởi lẽ], “Lư trọn đủ” là điều vốn
sẵn có th́ c̣n có thể được, chứ “Sự tạo” th́ khi một niệm
khởi, ắt sẽ rơi vào một giới. Đă
rơi vào một giới, chín giới kia đều ẩn.
Dẫu cho một giới c̣n có đủ mười giới,
nhưng cũng chỉ là mười giới trong một giới,
chẳng phải là mười giới trong mười giới.
Ngài U Khê nói: “Khi một giới hiện, chín giới kia ngầm
ẩn”. Đă nói là “ngầm ẩn” th́ “Sự tạo
ba ngàn [các pháp]”[17]
chẳng ở trong một niệm đă rơ rồi. Nay sách
Phạm Vơng Huyền Nghĩa nói: “Một giới đă hiện,
chín giới đều cùng phô trọn”. Hăy thử xem
Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa), khi tướng địa
ngục hiện chính là Phật giới diệt, hạ
phẩm tướng sen vàng hiện, tức là địa ngục
diệt. Sao có thể cùng phô tỏ cho được?
Đáp:
Tâm chẳng có h́nh chất, chẳng có ngằn hạn, chẳng
thể cắt, xé. Một niệm rơi vào một giới
nào, tức là toàn thể cái tâm, chẳng phải là chút phần
của tâm. Đă là toàn thể của cái tâm tạo thành một
niệm ấy, cũng ắt là toàn thể tác dụng của
cái tâm quy vào một niệm ấy, cũng ắt là một
niệm ấy nhanh chóng trọn đủ đại dụng
của toàn thể cái tâm. Như Khổng Tử làm Thừa
Điền[18],
liền dùng toàn thể của thánh nhân để chăn
nuôi trâu, dê, cũng tức là đem toàn thể tác dụng “xuất
tướng, nhập tướng”[19]
để quy vào những người chăn trâu, dê.
Cũng tức là khi chăn trâu, dê, hỏi đến chuyện
thuộc văn chương, vơ bị, không ǵ Ngài chẳng thể biết,
há có phải khi chăn [trâu, dê] th́ chẳng phải là toàn thể của
Khổng Tử, Ngài chẳng sử dụng toàn thể
năng lực của tướng quân hay tể tướng
ư? Cái nghĩa “ngầm ẩn” hoặc “sẵn trọn
đủ” nếu dùng “hiện” (hiển hiện)
để đối ứng “minh” (冥,
ngầm ẩn tàng), dùng “khởi”
(起, dấy lên) để đối ứng “phục”
(伏, ẩn tàng), th́ chắc chắn rằng: Nếu Sự tạo
chẳng phải là một niệm liền nhanh chóng trọn
đủ, há thành viên lư được ư? Nay đă biết
một giới vẫn trọn đủ mười giới,
tức là mỗi giới đều trọn đủ các
giới kia, tầng tầng
vô tận. Quang minh nơi gương, bóng hiện nơi
châu, há có ranh giới rạch ṛi? Tức là ba ngàn tánh tướng
cũng được nêu ra đại lược. Dẫu
xét trường hợp Điều Đạt (Đề
Bà Đạt Đa) đọa địa ngục, ở
ngay trước đức
Phật, lại c̣n toàn thân rơi hăm,
chắp tay niệm Nam-mô, bèn thành vô căn tín, liền
được thọ kư. Hạ phẩm văng
sanh tức là lửa địa ngục hóa thành gió mát, hoa,
Phật. Có thể thấy địa ngục giới và Phật
giới toàn thể chính là lẫn nhau, dung thông trọn khắp lẫn
nhau chẳng thể nghĩ bàn. Đấy là ư chỉ “tánh
cụ” (tánh
trọn đủ) của tông Thiên Thai, là điều trọng
yếu trong quán tâm. Do vậy, thật sự có thể truyền
tâm ấn của Phật, thù thắng vượt xa các tông
khác.
* Lại vấn đáp
lần nữa
Hỏi:
Những vị giảng thuyết trong thế gian cho rằng:
Sơ tâm ngưỡng mộ, tin tưởng
Trung Đạo, nhưng chẳng thể nhanh chóng quán.
Trước hết, dùng Không và Giả làm phương tiện,
trong tánh tuy có đủ ba cái nhân (chánh nhân, liễu nhân và
duyên nhân), nhưng chúng chẳng
chính là lẫn nhau. Trong tu, tuy dùng Tam Quán (Không, Giả, Trung),
nhưng không cùng lúc. V́ thế gọi là “tánh hoành, tu tung”
(tánh theo chiều ngang, tu theo chiều dọc). Lại do khai
phát theo thứ tự, nơi quả th́ đồng thời
trọn đủ, nên gọi là “nhân tung, quả hoành”
(nhân theo chiều dọc, quả theo chiều ngang). Chỉ
có hành nhân Viên Giáo sơ tâm liền hiểu tam đức bí
tạng (Pháp Thân, Bát Nhă, giải thoát),
thẳng thừng dùng Nhất
Tâm Tam Quán, tiến
phá vô minh. Sơ Tín tùy ư đoạn Kiến Hoặc, thấy
Chân Đế. Thất Tín tùy ư đoạn Tư Hoặc.
Bát Tín, Cửu Tín, Thập Tín tùy ư đoạn nội ngoại
Trần Sa, thấy Tục Đế. Sơ Trụ phá một
phần, tức phá một
phẩm vô minh, thấy Trung Đế. Phá Hoặc hoàn toàn
dùng Tam Quán; do vậy chẳng phải là “chiều dọc”.
Đoạn Hoặc chẳng phải theo thứ tự mà là
có thứ tự, cho nên chẳng phải là “chiều ngang”.
Nay lập một lời cật vấn: Đă là hoàn toàn
dùng Tam Quán, theo thứ tự thấy Tam Đế, th́ vẫn là Trí
theo chiều ngang, Đoạn
theo chiều dọc, mà cũng là tu theo chiều ngang, chứng
theo chiều dọc, nhân theo chiều ngang, quả theo chiều
dọc. Dẫu là người căn cơ cực bén nhạy,
chẳng trụ Thập Tín, rốt cuộc vượt lên
Sơ Trụ, cho đến Diệu Giác, cũng chỉ là Trí
và Đoạn
đều theo chiều ngang, há có phải là “chẳng ngang dọc,
chẳng đồng thời hay khác biệt” ư?
Đáp: Đế quán của Biệt
Giáo được gọi là “ngang dọc đều khác biệt”
do chẳng liễu đạt “Tam Quán chỉ là
nhất tâm, Tam Đế chỉ
là một cảnh”. Nhất tâm vốn
sẵn là Tam Quán, một cảnh rành rành trọn đủ
Tam Đế, như vua cùng tướng quân và thừa
tướng chỉ là cùng một nước. Tuy chỉ là
một nước, nhưng rành rành có cả ba người,
tức là một vua và hai bầy tôi. Chẳng hiểu rơ
nghĩa “vua, tôi”, ắt sự hạn cục “cùng lúc” hay
“khác biệt” thành lập, “cùng lúc” thành chiều ngang, “khác biệt”
thành chiều dọc, khiến cho tánh và tu cách biệt, nhân
và quả chẳng ngang nhau. Người Viên Giáo hiểu rơ
cái Thể của nhất tâm, tức là trong “chẳng
nghĩ bàn”, cái tâm ấy có thể phá sự hiểu biết
theo t́nh kiến đối với phàm, thánh, bèn gọi là
Không. Cái tâm ấy có thể lập đạo lư thánh phàm, liền
gọi là Giả. Hiểu rơ cái Thể của một cảnh
được gọi tức là Đệ Nhất Nghĩa
Đế. Cảnh ấy vốn chẳng phải là Biến
Kế Sở Chấp, liền gọi là Chân. Cảnh ấy
vốn do Y Tha hiện, bèn gọi là Tục. Sơ tâm hiểu
tam đức bí tạng, thẳng thừng dùng Nhất Tâm
Tam Quán để phá trọn Tam Hoặc. Nhưng sơ tâm
khi đoạn Kiến Hoặc, dựa theo chỗ phá Hoặc
mà gọi là Không Quán. Thấy chỗ Chân Đế, bèn gọi là Diệu
Giả, nhưng khi chưa phá, hoàn toàn coi Chân Đế là Kiến
Hoặc. Sau khi đă phá, hoàn toàn coi Kiến Hoặc là Chân
Đế. Như nước thành băng, băng lại trở
thành nước. Băng và nước có cùng tánh ướt,
Kiến Hoặc và Chân Đế cũng lại giống
như thế. Thể chính là pháp giới, chẳng thể
phá lập, bèn gọi là Trung Quán. Do đó biết “chẳng phá, chẳng
lập”, mà luận định
“phá, lập”, bèn gọi là Không
và Giả. Ngay trong lúc phá chính là lúc lập, vốn chẳng
có phá hay lập, bèn nói là Trung. Như nơi biên cương
nhiễu loạn, mănh tướng xuất chinh, triệu dân
quy phục, hiền tướng phủ dụ, an ủi.
Xét ra để luận định, chỉ là vương
sĩ, vương dân vậy. Tuy chỉ dụng một pháp
quán mà là [trọn đủ] Tam Quán, sao có thể nói là “chiều
ngang” ư? Cái được trông thấy là một Đế
mà đều là Tam Đế, chính là Chân tức Tục, tức
Trung, vĩnh viễn khác với Thiên Chân, há có thể nói là
“chiều dọc” ư?
Thập Tín thấy Tục,
Sơ Trụ thấy Trung, cũng lại giống
như thế. Cái có thể phá tuy dùng trọn Tam Quán,
nhưng vẫn lấy một phép Quán làm chủ. V́ thế,
chẳng phải cùng lúc, chẳng phải là chiều ngang.
Cái được thấy tuy tùy ư theo thứ tự,
nhưng mỗi Đế không ǵ chẳng phải là Tam
Đế. Do vậy, chẳng phải khác, chẳng phải
dọc! Phỏng theo đó, tuy trong tánh có đủ ba cái
nhân, nhưng duyên nhân và liễu nhân không có công năng, cùng gọi
là chánh nhân. V́ thế, chẳng phải là “ngang,
dọc, đồng thời, khác biệt”.
Như nước nhà vô sự, chẳng phải là không có
tướng quân và thừa tướng, nhưng tướng
quân và thừa tướng chẳng hiển lộ năng lực,
chỉ nghe nhắc tới tên của vị quốc chúa.
Trong tu nhân, hoàn toàn nhờ vào duyên nhân và liễu nhân,
nhưng oai quyền của duyên nhân và liễu nhân do chánh
nhân ban cho. V́ thế, cũng chẳng phải là “ngang, dọc,
cùng lúc, khác biệt”. Như sai khiến tướng quân, sai
sử thừa tướng đều do vị thánh chúa,
nhưng thánh chúa không cậy công, đều nói là sức của
tướng quân và thừa tướng. C̣n như trong quả
vị, tuy tam đức đồng thời hiển lộ
trọn vẹn, nhưng vẫn lấy Pháp Thân làm chủ,
cũng chẳng phải là “ngang, dọc, cùng lúc, khác biệt”.
Do Bát Nhă và giải thoát vốn là cái mà Pháp Thân sẵn có, chẳng
phải là mới đạt được! Như ba
người cùng hưởng thái b́nh, nhưng tướng
quân và thừa tướng vốn là cựu thần, vẫn
phụng sự chủ cũ, chẳng chinh phạt, chẳng
ban cho.
Lại nữa, tướng
quân chuyên về vơ, vua và thừa tướng chẳng phải
là không có khả năng vơ bị. V́ thế, Tam Quán đều
cùng phá hết thảy các pháp. Thừa tướng chuyên
văn, chẳng phải là vua và tướng quân chẳng có
tài văn chương. V́ thế, Tam Quán đều lập
hết thảy các pháp. Vua chuyên thống ngự, tướng
quân và thừa tướng chẳng phải là không có phẩm
đức của vua. V́ thế, Tam Quán đều thống
ngự hết thảy các pháp. Nếu mỗi người
trong ba người chỉ có một đức, dẫu thống
ngự hay thuận tùng, vẫn là theo chiều dọc, vẫn
khác biệt! Nếu ba người chẳng thống ngự
hay tùy thuận nhau, tuy mỗi người đều trọn
đủ tam đức, vẫn là theo chiều ngang, vẫn
là đồng thời, đều chẳng thể sánh ví
viên quán được. Nếu chỉ có một người
trọn đủ tam đức, chẳng có tướng
quân và thừa tướng, tuy nói chung chẳng có “dọc,
ngang, cùng lúc, khác biệt”, sẽ chẳng
thành quốc pháp, càng chẳng thể sánh ví viên quán. Nếu
ba người ai nấy đều trọn đủ tam
đức, lại thống ngự, tùy thuận với
nhau, chẳng phải là cảnh giới ấy mà hư vọng
muốn phá, lập, phủ dụ, thống ngự, cũng
chẳng thể sánh ví viên quán. Nay cái bị phá, cái được
lập, cái bị thống ngự đều là cảnh giới
hiện lượng của tự tâm. Hăy suy nghĩ đi!
Hơn nữa, đấy
cũng là sánh ví một phần, chẳng phải là thí dụ
trọn vẹn. Do Nghiêu, Thuấn thống trị hạn cuộc
trong chín châu[20],
Trung Đế thống ngự hết thảy các pháp, theo
chiều dọc th́ tột cùng, theo chiều ngang th́ trọn
khắp, chẳng có chút tánh tướng nào có thể lọt ngoài
Trung Đế. Hơn nữa, Nghiêu, Thuấn khiến cho
dân an, đạt tới b́nh trị tột cùng, nhưng chẳng
thể khiến cho ai nấy đều trọn là Nghiêu, Thuấn!
Trung Quán thống ngự hết
thảy các pháp, chẳng có một vi trần hay sát-na nào chẳng
nắm giữ toàn bộ cái Thể của Trung Đạo,
chẳng trọn đủ
hoàn toàn đại dụng của Trung Đạo. Mỗi mỗi
đều là tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp
theo chiều ngang,
khó thể nghĩ bàn được! Nho nói: “Thánh nhân bất
tri bất năng, Nghiêu, Thuấn do bệnh” (Thánh nhân c̣n
có điều chẳng thể làm, có điều chẳng biết,
Nghiêu, Thuấn c̣n có khuyết điểm), dụng ư nêu tỏ
đạo này. Chỉ Phật là có thể trọn hết.
Lại nói: “Đạo bất viễn nhân, hạ học,
thượng đạt” (đạo chẳng xa người,
dưới là học, trên là thấu đạt), có ư nêu rơ:
Tâm chẳng ĺa tông này, tức là nhập môn giống nhau,
nhưng đạt đến đích khác nhau. Dạy bảo
khác nhau, nhưng ư như nhau. Lời tôi càng chẳng phải
là dối gạt vậy!
* Hỏi
đáp về tánh học khai mông[21] (tức là giải đáp rộng hơn về câu thứ
tư trong đàn tràng)
Chỗ
tột bậc giống nhau và khác nhau giữa Nho và Thích, điểm then chốt khinh, trọng
giữa tánh và học đă bị hồ đồ lâu ngày.
Muốn cởi gỡ mối nghi ấy, trước hết
cần phải dựa theo sách Nho để giải thích ư
nghĩa của văn từ, ḥng vượt thoát hai cái ải
đúng và sai. Kế đó, dựa theo ư của hai ông (tức
Châu Hy và Lục Tượng Sơn) để phán định
đúng, sai, ḥng nêu
bày sự công luận công bằng. Sau đó, đối ứng
với Phật giáo để biện định cặn kẽ
sự giống nhau và khác nhau, ḥng nêu tỏ Quyền, Thật,
Bổn, Tích.
Trước hết,
dựa theo sách Nho để giải
thích ư nghĩa. Châu Hy chú giải, coi “đức
tánh” là “tồn
tâm” (trau luyện cái tâm), coi “đạo vấn học”
(truy cầu tri thức, học vấn) là “trí tri”
(đạt tới sự hiểu biết trọn vẹn),
coi “trí
quảng đại, cực cao minh, ôn cố, đôn hậu”
(tột bậc cao rộng, cực cao minh, thường ôn
luyện những điều đă biết, tăng trưởng
phẩm đức sâu dày) thuộc về “tồn tâm”,
coi “tận tinh vi đạo Trung Dung tri tân sùng lễ”
(tột bực trau luyện đến mức tinh vi ḥng
đạt tới Trung Dung để thông đạt cái mới,
nhưng vẫn tôn sùng lễ nghĩa) thuộc về “trí
tri”. Giống như hai vật cần lẫn nhau,
chưa phải là tông chỉ “nhất quán”. Do vậy,
v́ coi trọng hay coi nhẹ [một phương diện] mà
thành ra sự tranh chấp
to lớn.
Nay nói: Trước hết,
xướng suất đại đạo là đă bao gồm
cả hai khía cạnh ấy, bèn là “dương
dương ưu ưu đồng thị đạo”
(mênh mông, bát ngát, ưu mỹ, phong phú, cùng là đạo). V́
thế, cùng gọi [cả hai khía cạnh ấy] là Đại.
Chẳng thể nói là “dương dương” (洋洋, mênh mông, bát ngát) chỉ
là không ǵ to lớn chẳng lọt
vào không gián đoạn, chẳng thể
nói “ưu ưu” (優優, ưu mỹ, phong
phú) chỉ là không điều nhỏ nhặt nào lọt ra ngoài cái
cùng cực. Lại càng chẳng thể nói “dương
dương” chỉ là đức
tánh, chẳng do học hỏi tri thức
mà có! [Chẳng thể] bảo “ưu ưu” chỉ là
học hỏi, chẳng liên quan đức
tánh! Nhưng đại đạo hoàn toàn
phát khởi từ tánh, hoàn toàn ngưng
kết nơi đức. V́ thế, gọi
là Đức Tánh,
giống như nhà Phật nói Như Lai Tạng Tánh vậy.
Do tạng tánh tuy mười giới giống nhau, chỉ
riêng Như Lai là có thể hợp lại [tánh của mười
giới]. Do vậy, gọi là Như Lai Tạng, chẳng gọi
là Địa Ngục Tạng Tánh, hoặc Nhân Thiên Tạng
Tánh v.v… Như thế th́ hai chữ Đức Tánh đă bao
hàm chỉ thú “tánh,
tu, nhân, quả”, nhưng “rộng lớn, tinh
vi” v.v… đều là các
ư nghĩa mà đức tánh vốn sẵn có. Thấu đạt
cùng tận, cho đến đề
cao, đều là sự tu tập mầu
nhiệm nơi việc theo đuổi tri thức.
Đề cao đức
tánh ấy th́ mới là theo đuổi học thức.
Theo đuổi học thức th́ mới
là đề cao đức
tánh. Nếu không, tánh [của
mỗi cá nhân] gần giống như nhau, nhưng do bị
huân tập khác nhau mà thành khác xa, ch́m đắm trong ô nhiễm,
giống như nói “Pháp Thân lưu chuyển trong năm
đường làm chúng sanh”. Nhưng [sách Trung Dung nói “đức
tánh rộng lớn”, tức là mênh mông bát ngát sanh khởi,
[bảo đức tánh]
là “tinh vi” chính là ưu mỹ, phong phú trăm ngàn điều.
[Nói
đức tánh là] “cao minh” là ư nói nó có thể sánh cùng trời
mà
sanh thành muôn vật. Trung Dung là chẳng
ĺa các mối quan hệ “con,
bầy tôi, em, bạn”.
V́ thế nói là “được bẩm thọ từ lúc mới
sanh”. “Tân” [trong “tri tân”] chính là giúp thành tựu
các giềng mối. “Hậu” [trong “đôn hậu”]
nghĩa là cha, con, vua, tôi v.v… đều do thiên tánh đă
định. “Lễ” [trong “sùng lễ”] là kính
ngưỡng, phụng sự, chăm sóc, nuôi nấng v.v…
đều là những chuyện
phải nên thực hiện của con người.
Trong cơi đời, có
khi rộng lớn mà chẳng tinh vi, như cá biển thân
dài chừng đó do-tuần, vô ư rời khỏi nước,
bị dế, kiến thừa cơ áp bức[22].
Có khi rộng lớn mà tinh vi như vua A Tu La biến thân to
bằng núi Tu Di. Lại có thể huyễn nhập vào lỗ
của ngó sen.
Đức tánh
cũng thế, tuy mênh mông, bát ngát ṿi vọi tột bậc,
nhưng lại là toàn thể nhiếp nhập trong một
oai nghi. Tùy ư nêu ra một oai nghi nhỏ nhặt, vẫn trọn
đủ toàn thể đức
tánh, chẳng phải là chút phần của
đức tánh. Cơi đời
có khi tinh vi mà chẳng rộng lớn
như ngoạn khí[23]
v.v… vi diệu, tinh xảo, nhưng chẳng kham sử dụng.
Có khi tinh vi mà rộng lớn như châu Ma Ni, tṛn sáng, thanh tịnh,
chẳng to lớn cho mấy, đặt trên tràng cao, tuôn chất
báu khắp bốn đại châu. Đức tánh cũng thế,
tuy trăm ngàn h́nh thức phức tạp, nhưng tùy ư lấy
một thứ, sẽ đều trọn đủ công
năng sanh trưởng phù hợp, chẳng phải là chút
phần công năng. Cơi đời
có thứ cao minh mà chẳng trung dung, như ngày hè chói chang, mắt
chẳng thể nh́n được. Có cái cao minh mà trung dung
như quang minh của chư Phật vượt xa trăm
ngàn mặt trời, nhưng người
được quang minh ấy chạm đến lại
thanh lương. Đức tánh cũng thế, thượng
đạt ở ngay nơi hạ học, tức là chỗ
tột bậc của trời sanh trưởng muôn vật,
chẳng ĺa
lề lối ngôn hạnh tầm
thường! Đời có thứ trung dung mà chẳng cao
minh, như người lành nơi thôn làng có khi bị chèn
ép, bị lừa dối. Có khi trung dung mà cao minh, như bậc
thánh trong mỗi thời, ôn ḥa nhưng nghiêm nghị.
Đức tánh cũng thế, hạ học mà toàn thể
là thượng đạt, dẫu là những thứ lụn
vụn như quét dọn, ứng đối, đều trọn
đủ tác dụng xoay chuyển càn khôn. Đời có thứ
cũ kỹ chẳng mới, như áo cũ nát chẳng thể
mặc được nữa. Có cái cũ mà thường mới,
như đàn dao cầm từ thượng cổ, mỗi phen
vuốt, vỗ
là
một phen phát ra âm thanh. Đức tánh cũng thế,
sanh ra hết thảy sự nghiệp đạo đức,
văn chương, kinh luân chẳng thể cùng tận.
Đời có thứ mới mà chẳng cũ như thức
ăn ngon chẳng thể bày ra lần nữa. Có cái mới
mà thường cũ như Xuân đến hoa nở, cây cối
chưa từng thay đổi [quy luật ấy]. Đức
tánh cũng thế, tuy sinh ra hết thảy sự nghiệp
kinh luân, đạo
đức, văn chương, nhưng cái Thể của
nó thường như cũ. Đời có cái nồng hậu
nhưng
chẳng phải là lễ, như nghé
con theo mẹ, quyến luyến tự nhiên, nhưng chẳng
biết nghi tiết. Có khi nồng hậu mà hữu lễ,
như con hiếu thảo phụng sự cha mẹ, Đông
ấm, Hạ mát, sáng tối thăm hỏi, phát xuất từ
chí tánh, chẳng do miễn
cưỡng. Đức tánh cũng thế, tuy phát xuất
từ thiên chân mà tự có lễ tiết. Đời có khi lễ
mà chẳng nồng hậu như [thời Chiến Quốc]
sáu nước quy phục nước Tần v́ t́nh thế
bất đắc dĩ. Có khi hữu lễ mà nồng hậu
như Khổng Tử lạy ở dưới thềm, trọn
hết lễ, chẳng siểm nịnh[24].
Đức tánh cũng thế, tuy trăm ngàn h́nh thái phức
tạp, trọn chẳng phải là miễn cưỡng bày
ra. Lại nữa, rộng lớn nhưng chẳng trọn
hết tinh vi, cũng tự có kẻ học rộng nghe nhiều,
tán thành th́ chỉ đúng phần nào, phủ định th́
hoàn toàn sai trái. Do đă chẳng tinh vi, cho nên chẳng thể
đạt tới rộng lớn tột cùng. Tột cùng
tinh vi mà chẳng dẫn đến rộng lớn, vẫn
tự nói là “một môn thâm nhập”, nếu chấp nhận
th́ là đúng một phần, hễ phủ định th́
toàn thể đều sai. Do đă không rộng lớn, cho
nên chẳng thể tận cùng tinh vi được! Cực
cao minh mà chẳng theo đuổi Trung Dung, vẫn tự nói
là “khoát đạt đại độ” (mênh mông bao
dung), nhưng ĺa Trung Dung th́ chẳng thể coi là cao minh, chẳng
gọi là cùng cực được! Theo đuổi Trung
Dung mà chẳng tột bậc cao minh, mà vẫn tự nói là “ngôn
hạnh tương cố” (lời nói và hành vi
tương ứng), nhưng bỏ cao minh mà trụ nơi
kém hèn, thô lậu, đó chẳng phải là đạo của
người quân tử!
Ôn cũ mà chẳng biết
mới,
vẫn tự nói là “giữ ǵn đức
tánh”, nhưng đức tánh há có phải là si ngốc,
bướng bỉnh như thế ư? Biết mới mà
chẳng ôn cũ, vẫn tự nói là “mỗi ngày đều
tăng trưởng”, chỉ như
ng̣i rănh có thể nhanh chóng khô cạn[25].
Đôn hậu mà chẳng chuộng lễ, vẫn tự nói
“thuận theo cái vốn
sẵn chân thật”, chẳng tránh khỏi
đánh đồng loài người
với trâu, ngựa! Chuộng lễ mà chẳng
đôn hậu, vẫn tự nói “cử chỉ theo đúng
khuôn phép”, đâm ra trung tín đơn bạc, là đầu mối
gây loạn vậy. V́ thế, ắt biết rơ “rộng, lớn,
tinh, vi” v.v... không ǵ chẳng
phải là đức tánh, đều cần phải theo
đuổi sự học tập, kiến thức để
đề cao [đức tánh], sẽ là toàn tu nơi tánh,
toàn tánh khởi tu. Đă chẳng phải là hai lẽ, há
thiên lệch khinh hay trọng một phương diện
nào
ư? Đấy là vượt thoát hai cái ải
đúng, sai, hoàn toàn thâu về chỗ sở trường của
hai ông, vĩnh viễn dứt bặt điều tệ của
hai ông (Lục Tượng Sơn và Châu Hy).
Kế đó là quyết
trạch hai ông. Ư của Tượng Sơn là nếu chẳng
đề cao đức tánh, th́ học hỏi và chẳng học
hỏi đều vô dụng, nhưng có thể đề
cao đức tánh th́
chính là học hỏi thật sự.
Giống như đức Phật nói “thắng tịnh
minh tâm, bất tùng nhân đắc, hà tạ cù lao” (cái tâm
thanh tịnh, thù thắng, sáng suốt chẳng
do con người phí sạch tâm cơ, há có phải do nhọc
nhằn
mà ḥng đạt được)[26].
Chịu vất vả tu chứng cũng giống như “bổn
lai vô vật” (vốn chẳng có vật ǵ) của Lục
Tổ. Lại tức là “ngô đạo nhất dĩ quán
chi” (đạo của ta dùng một nguyên lư để
xuyên suốt) của Khổng Tử, tức là thâu nhiếp
chuyện
tôn sùng đức tánh vào học hỏi, chẳng
cậy vào đức tánh mà buông bỏ học hỏi. V́ thế,
được gọi là Hiền. Ư của Tử
Dương cho rằng nếu chẳng theo đuổi học
thức, dẫu đàm luận đức tánh cao siêu, sẽ
như cái được gọi là Lư Phật chẳng liên
quan đến tu chứng. Ắt phải theo đuổi sự
học hỏi, mở rộng tri thức để thành tựu
chí đức (đức tột cùng) th́ mới có thể
đạt đạo là bản chất của tánh, giống
như Bồ Đề Niết Bàn do đức Phật
đă nói [dẫu ai nấy
đều có sẵn trong tánh, nhưng] vẫn c̣n xa vời,
cần phải trải qua nhiều kiếp siêng khổ tu
chứng, cũng giống như Thần Tú nói “thời
thời phất thức” (luôn
luôn lau chùi), lại chính là “dung đức chi hành, dung ngôn
chi cẩn” (trong cư xử
thông thường, luôn giữ đạo đức, đối
với lời lẽ trong mọi lúc thông thường đều
cẩn trọng) của Khổng Tử, hạ học mà
thượng đạt, tức là dùng học hỏi, tri thức
để tôn cao đức tánh, chẳng
phải là cậy vào học hỏi để xếp xó đức tánh, cũng đáng gọi
là Hiền. Như vậy,
ngộ “đức tánh” như Tượng Sơn đă nói
th́ đă là theo đuổi sự học hỏi. Ngộ
“theo đuổi học hỏi, tri thức” như Tử
Dương đă nói, đức tánh tự
được tôn cao! Có thể nói là [ư kiến
của hai ông] đều đúng, nhưng dường
như Tượng Sơn là đốn ngộ, so với Tử
Dương là tiệm tu, sẽ cao hơn một bậc!
Nhưng nếu chấp
vào lời nói của Tượng Sơn, chẳng hiểu ư
chỉ, th́ sẽ là suy nghĩ mà chẳng học, giống
như kẻ cuồng Thiền hiện thời cùng bị hăm vào hầm
hiểm nguy. Khổng Tử gọi
đó là “nguy ngập”. Chấp lời nói của
Tử Dương mà chẳng hiểu ư chỉ, sẽ là học
mà chẳng suy nghĩ, sẽ giống như Giáo, Luật hiện thời chẳng thật
sự chứng đắc! Khổng Tử bảo đó là
“không đúng”, có thể nói là hễ sai th́ đều sai.
Nhưng chẳng thật chứng th́ c̣n thông với sáu
đường, chứ hăm vào hố
hiểm, ắt đọa tam đồ. Tượng
Sơn gây thói tệ so với Tử Dương c̣n gấp
bội hơn nữa! Nếu xét theo hai cái học của
hai ông để cứu đồ đệ của họ,
cũng có hai lượt:
- Một là nghịch cứu,
dùng thuốc của Tượng Sơn để trị bệnh
của Tử Dương. Dùng thuốc của Tử
Dương để trị bệnh của Tượng
Sơn.
- Hai là thuận cứu,
chấp lời của Tượng Sơn để nêu bày
ư chỉ chân thật của Tượng
Sơn. Chấp lời của Tử
Dương để nêu bày ư chỉ
chân thật của Tử Dương. Trọn
chẳng bằng hướng theo nghĩa đầu tiên
để thấu suốt th́ hai bệnh chẳng sanh, hai loại
thuốc đều vô dụng.
Sau đó, đối ứng
với Phật giáo để biện định tỉ mỉ.
Trước hết, cần phải biết năm câu này:
1) Có khi
cùng danh xưng mà nghĩa khác biệt.
2) Có khi
danh xưng và ư nghĩa đều giống
như nhau, nhưng quy vào chỗ cốt lơi khác biệt.
3) Lại cần phải
biết hai thứ diệu nghĩa đối đăi và dứt
bặt đối đăi.
4) Sau đó, ước
theo Tích và ước theo Quyền để biện định,
thâu kết lại.
5) Ước theo Thật,
ước theo Bổn để dung hội, ngơ hầu
vĩnh viễn diệt mất hư luận, mà tranh luận
cũng tiêu.
Nói “có khi cùng danh
xưng mà nghĩa khác biệt”
th́ đối với hai chữ Đức
Tánh và tám nghĩa vốn sẵn có trong
đức tánh như “rộng
lớn, tinh vi”
v.v… Chỗ giống nhau là danh xưng Đức Tánh và các
nghĩa như rộng lớn v.v… Chỗ khác biệt là Nho
coi thiên mạng là Tánh.
Tu sao cho trên là hợp với trời th́ gọi là Đức.
Lăo th́ coi tự nhiên là như vậy, cưỡng gọi
đó là Đạo, coi nó là Tánh.
Lại c̣n quy vào “chẳng có danh, chẳng
có vật” là Đức, một
mực phán định là thiên thừa, vẫn chẳng trọn
hết sự sai biệt nơi thiên đạo, sợ rằng
chẳng ra ngoài pháp môn thuộc [các tầng trời] Tứ
Vương, Đao Lợi
v.v… Nh́n thấy [các tầng trời đó] xa cách nhân gian, bèn
nói là “tự nhiên”, và “vô danh, vô vật”. Suy xét cao
hơn, bốn tầng trời Không Cư Thiên từ Dạ
Ma trở lên cũng lấy tự
nhiên làm Tánh. Do Dục Giới
chưa đạt tới các môn Định và thượng
phẩm Thập Thiện để làm Đức,
Ma Thiên coi tương thông với mạng căn là tánh, rộng
hóa hiện bảy báu, tăng thêm nhiều của báu, nữ
nhân đẹp đẽ là Đức. Sơ Thiền Thiên
coi thoát khỏi dục là Tánh,
coi ly sanh hỷ lạc là Đức.
Nhị Thiền Thiên coi siêu xuất giác quán[27]
là Tánh, coi định
sanh hỷ lạc là Đức.
Tam Thiền Thiên coi vĩnh viễn chẳng có hỷ thủy
là Tánh, coi ly hỷ diệu
lạc là Đức. Tứ Thiền
Thiên coi bất động là Tánh,
coi xả niệm thanh tịnh là Đức.
Vô Tưởng Thiên coi nhất niệm bất sanh là Tánh, coi diệt tâm và
tâm sở là Đức.
Tứ Không Thiên coi siêu xuất cái lồng Sắc là Tánh, coi vi tế
định tâm là Đức.
Tạng Giáo trong Phật pháp coi Chân Đế là Tánh, coi trạch diệt
vô vi là đức. Thông Giáo coi “các pháp vô sanh” là Tánh, coi Thể không trí quả
(cái quả trí huệ do thấu hiểu Không) là Đức. Biệt Giáo
coi “ĺa lỗi, tuyệt sai, chẳng phải Trung Đạo” là Tánh, chứng Pháp
Thân, Bát Nhă, giải thoát là Đức.
Viên Giáo lấy chân tâm thường trụ bất sanh, bất
diệt, chẳng ngang, chẳng dọc, tam đức bí tạng
là Tánh, nhất tâm tam
trí diệu hợp lư Như Lai Tạng là Đức.
Tuy có cùng danh xưng là Đức Tánh,
nhưng ư nghĩa mỗi đằng mỗi khác. V́ vậy,
trọn đủ tám nghĩa, thuận theo đó mà đều
sai khác.
Nho chỉ coi sự
sanh khởi mênh mông, bát ngát là rộng lớn, cho đến
coi sự kính ngưỡng, phụng sự, chăm sóc, nuôi
nấng là Lễ như trong phần
trên đă nói. Lăo th́ coi “sanh trời, sanh đất” là rộng
lớn, “mờ mịt, tối tăm” là tinh vi, coi thần
quỷ, thần đế là cao minh, coi kết tụ tinh
khí khiến cho thân thể nhu thuận là trung dung, trường
tồn muôn đời là cũ, “sanh một, sanh hai, sanh
ba, sanh vạn vật”[28]
là mới, “trở lại sự thuần phác” là Hậu (sâu
dày), “thủ thư, thủ hắc” (giữ lấy sự
nhu nhược, giữ lấy cái đen tối)[29]
là Lễ. Các tầng trời
như Dạ Ma Thiên v.v… đều coi cảnh giới
tăng gấp bội là rộng lớn, sự thọ dụng
mầu nhiệm gấp
bội là tinh vi, chẳng nhờ vào mặt trời, mặt
trăng là cao minh, dùng Thập Thiện để thâu nhiếp
tán loạn là Trung Dung, thành tựu trước hết vào lúc kiếp
sơ là cũ, quả báo biến hóa là mới, tùy thuận
thiện tánh là Hậu, ba nghiệp trọn thiện là Lễ. Ma Thiên coi thống nhiếp
Dục Giới là rộng lớn, vượt ngoài biến
hóa và chẳng biến hóa là tinh vi, oai lực tự tại
sống trên đỉnh Dục Giới là cao minh, chẳng
ĺa trần lao là Trung Dung, ngộ cội nguồn của bổn
mạng là cũ, tự tại hóa hiện là mới, bị
lưới ái thâu nhiếp là Hậu, quyến thuộc trang
nghiêm là Lễ. Mỗi tầng trời Tứ
Thiền đều coi bỏ được nỗi khổ
thô chướng của các tầng trời thấp hơn
là rộng lớn, đạt được sự thoát ĺa
tịnh diệu bậc thượng là tinh vi, an trụ
trong chỗ thù thắng là cao minh, hành mười Thiền
chi là Trung Dung, vượt thoát các kiếp lớn nhỏ là
cũ, hỷ lạc xả thọ tương ứng là mới,
cùng một Định thể là Hậu, vua, bầy tôi, dân
chúng v.v… sai biệt là Lễ.
Vô Tưởng Thiên coi chẳng có các tưởng gây chướng
ngại là rộng lớn, Thể giống như gỗ,
đá là tinh vi, cư ngụ cao hơn Tứ Thiền là cao
minh, diệt tâm và tâm sở là Trung Dung, nửa kiếp đầu
diệt là cũ, nửa kiếp sau sanh là mới, thuận
theo tánh bất động là Hậu, theo thứ tự khiến
cho tâm lự diệt mất như tro tàn th́ là Lễ. Tứ Không
Thiên coi cái Thể giống như thái hư là rộng lớn,
tâm và tâm sở vi tế là tinh vi, siêu việt trọn khắp
sự trói buộc bởi Sắc là cao minh, chẳng ĺa tâm
tưởng là Trung Dung, báo cảnh chẳng có “thành, trụ, hoại,
không” là cũ, thọ dụng
Thiền vị là mới, thuận theo vô sắc tánh là Hậu,
theo thứ tự chứng nhập là Lễ.
Tạng Giáo và Thông Giáo mỗi giáo đều có tam thừa.
Tuy Thể Không Quán và Tích Không Quán khéo vụng khác nhau, cùng coi
Vô Vi Niết Bàn, ĺa ngă và ngă sở, mênh mông như hư không
là rộng lớn, vượt khỏi các hư luận vọng tưởng “đoạn, thường, có, không” là tinh
vi, xa ĺa tam giới, thành tựu Nhất Thiết Trí là cao
minh, nương theo Giới mà trụ, nương theo Niệm
Xứ để hành đạo là Trung Dung, pháp tánh nhân duyên
chẳng có tác giả là cũ, quán Đế Quán Duyên xuất sanh
tam thừa đạo quả là mới.
Nhị Thừa riêng coi việc dùng cảnh tỉnh, giác ngộ
vô thường, cầu mau chóng xuất ly là Hậu, nhiếp
thân, miệng, ư, giải thoát khỏi
sự trói buộc của nghiệp
là Lễ. Đại
sĩ (Bồ Tát) riêng coi tự xót ḿnh, thương người,
nguyện đều tế độ là Hậu, tam tụ tịnh
giới, thượng cầu hạ hóa là Lễ. Biệt Giáo
coi Vô Lượng Tứ Đế, nhân quả của
mười giới là rộng lớn, duyên nhân và liễu
nhân tu chứng Trung Đạo Phật tánh là tinh vi, Phật
nhăn Chủng Trí siêu việt chín giới là cao minh, do cảnh
nhân duyên, lần lượt tu Tam Quán là trung dung, Bổn Giác
vô thỉ là cũ, hai thứ trang nghiêm công đức và trí
huệ và mới, ba loại tâm Từ theo thứ tự là Hậu,
lần lượt phụng sự chư Phật trải
khắp chín giới, đủ loại nghi quỹ là Lễ. Viên Giáo th́ coi
cái [tâm tánh hiện tiền] nhỏ bé trọn đủ ba
ngàn [tánh tướng], tột cùng theo chiều dọc, trọn
khắp theo chiều ngang, chẳng thiếu, chẳng thừa
là rộng lớn, “ba
ngàn tánh tướng trọn đủ lẫn nhau, mỗi sắc,
mỗi hương không ǵ chẳng phải là Trung Đạo” là tinh vi, nhất
tâm tam trí chiếu cùng tột pháp giới là cao minh, vô tác tứ
niệm Nhất
Tâm
Tam Quán là Trung Dung, tùy duyên mà bất biến là cũ. Do vậy,
hết thảy các pháp không ǵ chẳng có đủ trong tánh,
tức “bất biến mà
tùy duyên” là mới. Do vậy,
nhân quả Quyền Thật lập bày không có ngằn mé,
tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt là Hậu.
V́ thế, trên là phù hợp với vô duyên từ lực,
dưới là phù hợp niềm bi ngưỡng đồng
thể, nhưng hăm hở thường hành ban cho, cứu
bạt, trên là phụng sự chư Phật, dưới là
ứng với các căn cơ. Đó là Lễ.
Do vậy, các nghiệp tánh, giá, hết thảy đều
thành giới thể vô tận, đều gọi là vô
thượng đạo giới. Đó là “danh xưng giống
nhau mà nghĩa khác nhau”.
Nói tới “danh và nghĩa
đều giống như nhau,
nhưng quy vào điều cốt
lơi th́ khác biệt”, bất luận Nho
hay Lăo, Sắc, Vô Sắc Định, cho đến Tạng,
Thông, Biệt, Viên, muốn dùng chí đức để chứng
đạo, ắt phải theo đuổi sự học hỏi
để nâng cao [đức tánh]. Muốn có học vấn chân
thật, ắt phải đề
cao đức tánh để theo đuổi. Muốn chứng
sự rộng lớn của đức
tánh, ắt phải cùng tận sự
tinh vi đến mức tột cùng. Muốn chứng sự
tinh vi của đức tánh,
ắt phải cùng tột sự rộng lớn để
trọn hết. Muốn chứng sự cao minh của đức
tánh, ắt phải vận dụng tột
bậc Trung Dung. Muốn chứng Trung Dung trong đức
tánh, ắt phải dùng sự tột bậc
cao minh để tiến hành. Muốn chứng cái cũ
nơi đức tánh,
ắt phải dùng biết cái mới để ôn luyện.
Muốn chứng cái mới nơi tánh đức, ắt
dùng ôn luyện cái cũ để biết. Muốn chứng
sự nồng hậu trong tánh đức, ắt phải
dùng sự tôn sùng lễ để đôn đốc. Muốn
chứng cái lễ nơi tánh đức, ắt dùng đôn hậu
để đề cao. Đó gọi là “danh và nghĩa đều
giống nhau”.
Nhưng học hỏi như thế, mỗi đằng
đều coi cái được họ đề cao là đức
tánh. V́ thế, Nho đă trở thành bậc thánh trong nhân
gian, sánh vai cùng trời, đất. Lăo trở thành bậc
thánh trong thiên đạo, là mẹ biến hóa của vạn
vật. Cho đến bậc thánh được thành tựu
từ tam thừa của Tạng Giáo và Thông Giáo vĩnh viễn
vượt khỏi sanh tử. Bậc thánh do Báo Thân viên măn
mà thành tựu trong Biệt Giáo vĩnh viễn vượt
ngoài phương tiện. Bậc thánh do Pháp Thân thanh tịnh
mà thành tựu trong Viên Giáo th́ mới thật sự có thể
cùng tận tánh. Đó là sự vĩnh viễn khác biệt
khi quy vào điều cốt lơi.
Nói tới “hai thứ
diệu trong đối đăi và dứt bặt đối
đăi”, nếu đem người so với trời,
đem Dục Giới so với Sắc Giới, lần
lượt cho đến đem Biệt Giáo so với Viên
Giáo, th́ ở ngoài sự rộng lớn ấy lại càng rộng
lớn hơn, ở trong sự tinh vi lại càng tinh vi
hơn, trên cao minh lại càng cao minh hơn, trong cái Trung Dung
lại càng trung dung hơn. V́ thế, trước cái cũ
lại càng cũ hơn, sau cái mới lại càng mới
hơn, nồng hậu cũng càng nồng hậu, lễ
cũng càng châu đáo hơn. Nếu dùng Viên để xem Biệt,
dùng Biệt để xem Thông, cho đến dùng trời
để xem người th́ rộng lớn, tinh vi v.v… sẽ
đều là hữu danh vô nghĩa. V́ thế, từ dưới
nh́n lên, cách truyền thừa nào cũng đều diệu.
Từ trên nh́n xuống, pháp nào cũng đều thô. Đó
là dựa theo sự đối đăi để nói diệu.
Nếu dứt bặt đối đăi để nói diệu
th́ là: V́ Thật mà hành Quyền, khai Quyền nhằm
hiển Thật. Dù Biệt, dù Thông, dù
Tạng, dù trời, dù người, đều
rốt ráo đồng quy Nhất Thừa.
Viên nhân nhận lănh pháp, chẳng pháp nào không viên, tức là
pháp nào cũng đều diệu. Đă biết lư này th́ mới
có thể luận định chọn lựa, thâu thập,
có thể dung, có thể hội.
Sau đó là ước
theo Tích, theo Quyền để chọn lựa, thu lấy
v.v… Phân định th́ toàn là sai, Nho là pháp thế gian, Phật
là xuất thế. Nho lại nói “thiên
mạng là tánh”,
kinh Dịch nói “Thái Cực sanh lưỡng nghi”, hoàn
toàn thuộc loại “chẳng phải nhân mà coi là nhân”, chẳng
biết chánh nhân duyên pháp, thuộc loại luận định
theo kiến chấp. Chồng, vợ, cha, con v.v… ân ái lôi kéo,
chằng buộc, thuộc về sự luận định
theo ái. Đạo “thuận
theo trời, đạo pháp tự nhiên” của Lăo Tử
chính là vô nhân luận (luận thuyết cho rằng vạn sự
tự nhiên mà có, chẳng có nguyên nhân), chẳng biết chánh
nhân duyên pháp, cũng thuộc loại luận định
theo kiến chấp!
Thâu kết lại th́ trong pháp môn ngũ thừa, Nho thuộc
nhân thừa. Ngũ Thường (nhân, lễ, nghĩa, trí,
tín) như họ đă nói ứng hợp với Ngũ Giới.
Các pháp khác ứng hợp phần nào với Thập Thiện,
chưa hoàn toàn giống như pháp của đấng Kim
Luân Vương. Lăo thuộc thiên thừa, chưa thấu
triệt tận cùng thiên đạo, như trong phần
trước đă nói. Xét đến cùng để nói, [Nho
và Lăo] đều chẳng bằng xuất sanh tử của
Tạng Giáo, huống hồ so với Thông Giáo, Biệt Giáo,
và Viên Giáo ư? Nhưng đấy là ước theo Tích,
ước theo Quyền [để luận định]
đó thôi!
Nếu ước theo
Thật, ước theo Bổn để dung hội, thánh
nhân ở phương này là Bồ Tát hóa hiện, do Như
Lai sai khiến. Kinh Đại Quán Đảnh nói: “Phật
tiên khiển tam thánh, văng hóa Chi Na, sở lập táng pháp”
(Trước hết, Phật sai ba vị thánh đến ứng
hóa tại Trung Hoa, lập ra cách chôn cất). Đối với
chỗ trọng yếu nhất của Nam Châu (Nam Diêm Phù
Đề), nếu pháp hóa của ba vị thánh hăy c̣n, th́
chánh pháp của Như Lai cũng nhờ vào đó mà lưu
hành. Nhưng sách Liệt Tử[30]
đă chép trọn lời Khổng Tử tán thán Phật. Lăo
Tử cưỡi trâu ra khỏi cửa ải, muốn tới
thưa hỏi bậc Đại Giác. Tới chừng nghe
Ngài đă thị tịch, bèn than thở quay về. Kinh sử
đă chép rơ dường ấy.
Người đời sau chẳng thấu đạt,
lăng xăng dấy lên tranh căi, há hợp lư ư? Nhưng
tam thánh chẳng nói đại lược giáo pháp xuất
thế v́ cơ duyên chưa tới, chẳng thể không làm
như vậy! Vả nữa, căn cơ ở Ngũ Thiên
Trúc đă chín muồi, Phật bèn thị hiện giáng sanh.
Thoạt đầu, xướng kinh Hoa Nghiêm, cả hội
như điếc, câm. Không chỉ cần phải nói A Hàm
để làm khởi đầu, dần dần [tiếp dẫn],
mà c̣n kiêm lập giới thiện cho trời người
để dẫn dắt trước, huống chi cơ
duyên [của chúng sanh] nơi phương này xa đến một
ngàn năm sau! Nếu nói pháp xuất thế, ai có thể tin
tưởng? V́ thế, dùng Quyền Trí thị hiện dấu
tích, chẳng thể không thị hiện giống như
phàm phu, ngoại đạo, nhưng ngay như sách Nho
cũng chưa từng chẳng tiết lộ cơ duyên mầu
nhiệm. Các nhà Nho về sau
chưa thể tự suy xét, mà cũng chẳng thấy
được cửa nẻo, biết Quyền mà chẳng
biết Thật! V́ thế, Khổng Tử than thở “Nhan Hồi hiếu học, nay cũng đă mất”, hiển lộ sâu xa kể từ Tăng Tử trở
đi, đều là [những
kẻ chỉ] biết Tích mà chẳng
biết Bổn, biết Quyền mà chẳng biết Thật.
Sao nói là “tiết lộ
cơ duyên mầu nhiệm?” Như phần Hệ Từ
Truyện[31]
của kinh Dịch có nói: “Dịch hữu Thái Cực. Thị
sanh lưỡng nghi, lưỡng nghi sanh tứ tượng,
tứ tượng sanh bát quái” (Dịch có Thái Cực, bèn
sanh ra lưỡng nghi (âm và dương). Lưỡng nghi
sanh ra tứ tượng (thiếu dương, thái
dương, thiếu âm, thái âm). Tứ tượng
sanh ra bát quái). Lời này rất đáng nên tham cứu tường
tận. Phàm đă nói “Dịch có Thái Cực”, tức
Thái Cực là cái được sở hữu bởi Dịch.
Rốt cuộc Dịch là vật ǵ mà có Thái Cực? Nếu
coi các nét vạch và lời chú giải các quẻ
là Dịch, th́ đáng lẽ phải nói “Thái Cực sanh ra
trời đất, trời đất sanh ra muôn vật, rồi
mới có Phục Hy dựa vào đó mà vẽ thành các quẻ,
Châu
Văn Vương bởi đó mà viết lời Hệ Từ”,
sao lại nói ngược là “Dịch có Thái Cực”.
Đă là “Dịch có Thái Cực”, tức
Dịch lư cố nhiên có trước Thái Cực. Nếu nó
chẳng phải là Phật Tánh cội nguồn của chúng
ta, th́ là vật nào vậy?
Đă là cội nguồn Phật tánh, lại c̣n ở
trước Thái Cực, há nên nói khinh mạn là “thiên chi sở phú”
(được trời ban cho) ư? Chẳng hiểu
đấy chính là nói về tự tánh của cái tâm,
nhưng gọi nó là Dịch đó thôi! Do phàm phu chấp
trước Tứ Đại là thân tướng của
chính ḿnh đă lâu, coi duyên ảnh của lục trần là
tướng của tự tâm, trọn chẳng thể lănh
hội được điều này. V́ thế, Tất
Đàn thiện xảo đành phải
gởi gắm một
cách nhỏ nhiệm trong lời Hệ Từ.
Hăy nên biết Dịch
chính là tánh Chân Như, có ư nghĩa “tùy duyên bất biến,
bất biến tùy duyên”. Tuy ngầm nói là Dịch;
nhưng cái Chân Như này chỉ có tánh đức, chưa có
tu đức. V́ thế, chẳng giữ lấy tự tánh.
Niệm bất giác dấy lên bèn có vô minh. Vô thỉ trụ
địa vô minh ấy chính là căn bản của hai thứ
sanh tử, ngầm gọi nó là Thái Cực. Do Minh được lập, mà tối
tăm, mê muội là Không. Đối đăi với nhau thành
phong luân dao động. Đấy chính là
cái được gọi là “động nhi sanh Dương”
(do động mà sanh ra Dương).
Do vô minh kiên cố được lập ,
tạo thành kim luân có ngăn ngại. Đấy chính là cái
được gọi là “tĩnh nhi sanh Âm” (do tĩnh
mà sanh ra Âm) [trong kinh Dịch]. Gió và kim loại chà xát nhau, ánh
lửa xuất hiện, chất báu sáng sạch [do lửa
nung nấu] có thể sanh ra sự thấm ướt, tạo
thành thủy luân thấm xuống dưới, tức là cái
được gọi là “lưỡng nghi sanh tứ
tượng”. Lửa bốc lên, nước tuôn xuống,
va chạm, kích phát lẫn nhau mà lập ra cái kiên cố, tức
là biển cả hoặc châu lục, là núi, hoặc là cây cối.
Đó gọi là “tứ tượng sanh bát quái” cho tới sanh ra muôn vật[32].
Danh tướng hơi khác, đại thể là giống
như nhau.
Thuận
theo đó th́ sanh tử khởi đầu, trái ngược
lại th́ luân hồi chấm dứt. V́ thế lại nói “Dịch
nghịch số”, cũng là đă chỉ dạy mọi
người đôi chút về ư chỉ xuất thế trọng
yếu. Lăo Tử nói “đạo sanh thiên địa”,
ư nghĩa cũng giống như vậy, nhưng vẫn
chưa nói rơ “đó chính là tự tánh của cái tâm”, đều
là v́ cơ duyên chưa chín muồi! Hơn nữa, câu nói
trong Dịch Truyện “tịch nhiên, bất động,
cảm nhi toại thông” (vắng lặng, bất động,
hễ cảm liền thông) chính là cái Thể tịch chiếu
bất nhị; c̣n câu “Càn Khôn kỳ Dịch chi môn” (Càn
và Khôn là cửa ngơ của Dịch)[33]
chính là hai phép tu quán Lưu Chuyển và Hoàn Diệt nghịch
thuận. Do tánh giác diệu minh, Bổn Giác sáng ngời, mầu
nhiệm, chẳng liên quan đến tu chứng, chẳng
thuộc vào mê ngộ; nhưng mê th́ cái Thể của Chiếu
trở thành tán loạn, cái Thể của Tịch trở
thành tối tăm, trái nghịch ṭa thành Niết Bàn, thuận
theo con đường sanh tử, hoàn toàn do hai môn Động
và Tĩnh ấy. Đó gọi là “nghịch tu”, cũng
gọi là “tu ác”. Ngộ th́ nhờ vào Động để
giác sự tối tăm ấy, gọi đó là Quán; nhờ
vào Tĩnh để thâu nhiếp sự tán loạn, gọi
đó là Chỉ. Ngược ḍng sanh tử, thuận hướng tới biển
Niết Bàn, cũng do hai môn Động và Tĩnh ấy, gọi
là “thuận tu”, cũng gọi là “tu thiện”.
Nhưng tu chia thành thuận và nghịch, tánh chẳng
tăng, giảm. Lại nữa, tuy thiện, ác đều
vốn sẵn có nơi tánh, nhưng đạo ắt
thăng, trầm. Ư chỉ bí mật như vậy há khác ǵ viên
tông?
Bồ Tát hiện thân,
chắc chắn chẳng phải là nói suông. Cứ học
theo mà chẳng suy xét, lỗi tại các nhà Nho về sau.
Hơn nữa, đă biết lời đàm luận bí mật
của đức Tuyên Thánh (Khổng Tử), cũng như
đă nắm được diệu chỉ “khai, hiển”
của Pháp Hoa, sẽ liền có thể giải thích Trung
Dung chính là Phật pháp viên đốn. [Nho gia nói] “thiên mạng
chi vị tánh” (thiên mạng được gọi là
tánh), “thiên” chẳng phải là hướng tới bầu
trời xanh thăm thẳm, cũng chẳng phải các tầng
trời Đao Lợi, Dạ Ma v.v… mà chính là Đệ Nhất
Nghĩa Thiên trong kinh Niết Bàn. Đừng hiểu Mạng
là “mạng lệnh”, mà chính là cái t́nh kiến hư vọng,
chấp tŕ sắc thân liên tục bất đoạn nơi
thức thứ tám, tức là sanh diệt và chẳng sanh diệt
ḥa hợp mà trở thành A Lại Da Thức. Thức ấy chính là tánh hữu
sanh, do toàn chân khởi vọng, nên “thiên” lại
được gọi là “mạng”. Do toàn vọng là
chân, Mạng lại được gọi là Thiên. Toàn chân
khởi vọng, tức là bất biến mà tùy duyên. Toàn vọng
là chân, tức tùy duyên mà bất biến. “Suất tánh”
(bản chất của tánh) được gọi là Đạo. Trong tạng
tánh ấy
có hết thảy các chủng tử
nhiễm, tịnh, thiện, ác.
Nếu toàn là chủng tử ác nhiễm dấy lên
hiện hành, th́ chính là đạo của tiểu nhân,
cũng gọi là “nghịch tu”. Nếu chủng tử
thuần tịnh
thiện trong tánh khởi lên hiện hành, sẽ là đạo
của quân tử, cũng gọi là “thuận tu”. [Câu
nói] “đạo nhị, nhân dữ bất nhân nhi dĩ hỹ”
(Đạo có hai loại là nhân và bất nhân mà thôi) hoàn toàn
phù hợp ư này, mà cũng phù hợp tông chỉ “tánh trọn
đủ” của tông Thiên Thai.
Tu đạo được
gọi là Giáo. Đạo của tiểu nhân cần phải
trừ cho hết; đạo của quân tử cần phải
tu tập viên măn. Đấy chính là giáo pháp của thánh hiền,
chỉ mong con người sẽ trái ngược nghịch
tu, quy phục thuận tu, tức là do “tùy duyên” mà ngộ
“bất biến”. Ba câu hợp lại thành điều
cốt lơi, chánh đáng từ đầu đến
đuôi. Phàm mỗi
câu, mỗi
chữ, đều có thể quy
trọn vào chí lư. Nói tóm lại, nếu nắm
được ư chỉ “khai, hiển” của kinh Pháp
Hoa, th́ đối với các ngôn ngữ xử sự trong
cơi đời, các sản nghiệp để sinh sống,
thậm chí cười đùa, giận chửi, ca khúc diễm
lệ, thi từ t́nh tứ, vẫn
thuận theo chánh pháp Thật Tướng,
huống hồ các lời đàm luận lư tánh trong thế
gian ư? Đấy chính là Trung Dung của Trí Húc, chẳng
phải là Trung Dung của Tử Tư[34].
Như thiền sư Đại Huệ Tông Cảo coi ba câu
ấy chính là ba thân Pháp, Báo, Hóa, cũng chỉ là Trung Dung của
Tông Cảo. Nếu Tử Tư thật sự biết Trung
Dung của Tông Cảo, Trí Húc, Khổng Tử sẽ vội
ấn khả ngay, sao đến nỗi v́ Nhan Uyên chết
mà đau ḷng xót dạ, tự
nói là “thiên táng” (trời chôn vùi [đạo của ta]),
lại c̣n tưởng nhớ. Lại c̣n than “kim dă tắc
vong” (nay đạo của ta đă mất) ư?
Xưa kia, Mạnh Tử
đă lần lượt trần thuật
cái đạo hiểu biết do thấy nghe, bèn kết lại
rằng “nhiên nhi vô hữu hồ nhĩ, tắc diệc
vô hữu hồ nhĩ?” (Nhưng không có người kế
thừa [đạo của Khổng Tử] như thế,
thật sự cũng chẳng có người được
như thế ư?), tức là Mạnh Tử c̣n chẳng
chịu chấp nhận Tăng Tử hay Tử Tư là bậc
thấy biết, huống hồ Khổng Tử [lại chấp
nhận họ là kẻ thấy biết ư]! Ngài dùng nhất
quán để truyền, nhưng chỉ dạy đích xác sự
học hỏi chân thật nhằm đề cao đức
tánh như thế. Đấy chính là phương cách để
ra tay, giở chân (tức phương cách để thực
hiện), chẳng phải là “tin tức khi đă về
đến nhà” (hàm ư: Chẳng phải là tin tức chân thật
nơi kết quả tối hậu).
Lại nữa cái Nhất
thuộc Quyền Lư (tức “nhất” trong câu nói “ngô
đạo dĩ nhất nhi quán chi”) nơi Tích chẳng
phải là cái Nhất nơi Thật
Lư thuộc Bổn.
Nay dựa theo bổn ư lập giáo của tam thánh, có thể
nói thẳng thừng là “tương đồng” cũng
được, do không ǵ chẳng phải là v́ Thật mà
hành Quyền. Xét theo sự lập bày môn đ́nh của tam
giáo, có thể nói thẳng thừng là “khác biệt” cũng
được, do Nho và Lăo chỉ nói Quyền Lư, lại hạn
cuộc trong đường trời người. Phật
nói Quyền, nói Thật, đều là v́ xuất thế. Xét
theo Quyền th́ công phu giống nhau, nhưng xét đến rốt
cuộc th́ khác biệt, nên nói “vừa giống, vừa khác”
cũng được. Xét theo Thật th́ Bổn chẳng
hoại Tích, Tích chẳng che giấu Bổn, nên nói “chẳng
giống nhau, chẳng khác nhau” cũng được.
Thiền sư Tinh Cốc
Thọ nói: “V́ người ngoài cửa nói là giống nhau,
Nếu không, sẽ bị coi là dị đoan. V́ người
đă nhập môn mà nói khác; nếu không, sẽ rơi vào tập
khí cũ. V́ người đă thăng đường mà
nói ‘cũng giống
nhau, cũng khác nhau’,
do kiến Lư chưa chắc chắn.
Cần phải phân tích tỉ mỉ,
khiến cho biết trong giống nhau có khác nhau, trong khác nhau
có giống nhau. V́ người đă nhập thất mà nói
chẳng giống nhau, chẳng khác nhau. Thô
ngôn hay tế ngữ đều là Đệ Nhất
Nghĩa, há lại có Nho hay Thích để luận ư?” Hiểu
được lời ấy, do thứ tự của nó thuận
theo Tứ Tất Đàn, nhưng luận định cặn
kẽ theo phương tiện thuyết pháp th́ trong bốn
câu, mỗi mỗi đều trọn đủ Tứ Tất
Đàn, lại quư khi gặp đúng lúc bèn khéo dùng. Chớ
nên cố chấp lời ấy, khiến cho nó trở thành pháp chết
cứng!
* Đáp hai mươi
hai câu hỏi về kinh Đại Phật Đảnh
(đính kèm câu hỏi)
1) Hỏi: A Nan và Ma
Đăng Già cùng nhờ vào sức thần chú, sao Ma
Đăng Già chứng Tam Quả trước, A Nan về
sau mới đắc Pháp Thân?
Đáp:
Như Lai nói pháp, hiền, ngu, lợi độn, chứng
ngộ trước sau, muôn phần chẳng như nhau, chuyện này
há đáng nghi ư? Nếu luận theo bổn địa của
hai vị ấy, đều là bậc Đại Quyền
phát khởi. Ngộ có trước, sau, đều nhằm làm
gương cho chúng sanh. Nếu luận theo Tích, Ma
Đăng Già dục hừng hực, phải gấp đối
trị trước. A Nan viên giải chưa khai, phải
nói rơ mới ngộ. Nếu chẳng tiêu dục tâm, A Nan sẽ
do đâu mà được thoát? Nếu A Nan chứng trước,
đại giáo sẽ do đâu mà được khơi mở?
Quán Tích biết Bổn, cũng chẳng phải là hai lẽ!
2) Hỏi:
Do tâm sanh nên đủ loại pháp sanh. Do pháp sanh, nên đủ
loại tâm sanh. Nếu pháp là trước, cớ sao tâm sanh
th́ pháp sanh? Nếu là tâm trước, cớ sao pháp sanh th́
tâm sanh? Nếu tâm và pháp là một, cớ sao lại do lẫn
nhau? Nếu là hai, rốt cuộc cái nào trước, cái nào
sau?
Đáp:
Tâm và pháp vốn chẳng phải là một hay khác! Do chẳng phải
là một, có thể nói vọng t́nh là do tướng. Do chẳng
phải là khác, nên chẳng có trước sau, như nước
và băng có cùng một tánh ướt. Nếu hỏi ướt
và nước, băng, cái nào có trước, có sau, sẽ trọn
chẳng thể được! Nhưng ước theo mê
và vọng, có thể trong cái “chẳng
có trước sau”
mà cưỡng nói trước sau. Tánh giác ắt minh, vọng
là minh giác, tâm sanh th́ pháp sanh, dẫn khởi trần lao phiền
năo v.v… pháp sanh th́ tâm sanh. V́ thế nói: Ba thứ Hoặc,
nghiệp, khổ dựa vào lẫn nhau, cho tới vọng
minh chẳng dấy lên, tánh giác cũng chẳng mang tên gọi
là “tâm tánh”. Đă có thể gọi là tâm, mà cũng có thể
gọi là pháp. Do vậy là pháp tánh, pháp giới, pháp trụ,
pháp vị. Hăy nên biết: Tâm và pháp đều là giả
danh, thật sự chẳng có hai Thể. Chẳng hai mà hai,
bất biến tùy duyên. Hai mà chẳng hai, tùy duyên bất biến.
Do vậy, hai lời ấy tuy một mực ước
theo phương diện mê, thật sự hiển thị ư
chỉ “ngoài tâm chẳng có pháp; ngoài pháp chẳng có tâm”. Bởi
mê th́ không chỉ vọng tâm và vọng pháp dường
như có hai thứ khác biệt, tức là toàn thể chân tâm
và chân pháp trở thành hai thứ vọng, như hoa đốm
h́nh thành trên hư không, nước đóng thành băng, sợi
gai thành rắn. Nếu ngộ th́ không chỉ chân tâm, chân
pháp trước nay chẳng hai, mà ngay cả toàn thể vọng
tâm và vọng pháp đều quy vào Nhất Chân, như hoa
đốm vốn là không, băng chính là nước, rắn
tức là gai vậy!
3) Hỏi:
A Nan tự nói “tức năng suy
giả, ngă tương vi tâm”
(con coi cái có thể suy luận là tâm); v́ sao phán định
đó chỉ là “cái được suy luận”?
Đáp:
Chúng sanh mê muội, ngỡ chính ḿnh là vật, coi vật là
chính ḿnh, đều là coi Sở thành Năng. Nếu thấu
đạt cái tánh có thể suy diễn, chàng Diễn Nhă ngộ
cái đầu [hiện bóng trong gương là cái đầu
của chính ḿnh] sẽ chẳng điên cuồng bỏ chạy.
Sách Văn Cú giải thích “cái có thể suy diễn” là tâm
như sau: “Tuy A Nan coi cái có thể suy diễn là tâm, thật
ra đó là h́nh bóng của cái được suy diễn, chẳng
phải thật sự là cái có thể suy diễn. Cái có thể
thật sự suy diễn tuy là Kiến Phần của thức
thứ sáu, tức Ư
Thức, nhưng cái Kiến Phần ấy chẳng ở
trong, ngoài, chặng giữa, vốn ĺa lỗi, dứt sai,
như mắt chẳng thể thấy mắt, sao có thể
nêu ra coi như là giống nhau được, mà nói là “con
coi cái có thể suy diễn là tâm” ư? V́ vậy, Như Lai
quở rằng: - Ông
chấp cái tánh được hiểu biết do phân biệt,
giác quán là tâm”. Cái tâm ấy hễ ĺa
sắc, hương, vị, xúc, sẽ chẳng có toàn tánh,
rơ ràng là nói cái tánh được biết rơ ấy chẳng
phải là tánh có thể biết. Kinh Viên Giác [quở trách kẻ]
lầm nhận duyên ảnh của sáu trần là tướng
của tự tâm; kinh này (kinh Lăng Nghiêm) nói về cái
tưởng hư vọng đối với
tướng tiền trần[35]
đều là vật. Ngài A Nan nói: “Ly thử giác tri, cánh vô
sở hữu” (Ĺa sự hay biết ấy, trọn chẳng
có ǵ). Há chẳng phải là cho rằng duyên khí[36]
chính là giác tri
ư? Duyên khí là h́nh ảnh của cái
được biết, chẳng phải là Kiến Phần
có thể biết, có thể cảm nhận, do Kiến Phần
trước nay vô tướng, Kiến Phần vô tướng
mà lầm tưởng là hữu tướng, liền thấy
[sợi dây thừng] thành rắn. Nếu hiểu rơ Kiến
Phần tuy vọng, thật sự vốn là vô tướng,
th́ Y Tha lập tức tiêu quy vào Viên Thành. Do vậy, tông Thiên
Thai chuyên lập thức thứ sáu là cảnh được
quán. Ví như dùi gỗ sanh ra lửa, lửa liền đốt
gỗ,
hợp với các cách nói “Thức
Ấm vốn là Như Lai Tạng, thức biết
rơ, giác minh chân thức”
trong kinh này, chẳng
khác nào Không hợp với Không,
nước hợp với nước, đó là “chỉ
thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật. Chẳng
động một bước mà về nhà đă lâu”, thật
sự là pháp ấn viên đốn vô thượng. Ngài A Nan
chưa chứng Sơ Quả, hoàn toàn phạm lỗi “chẳng
có tâm mà so đo là tâm” của phàm phu,
ngoại đạo! Như Lại gạn hỏi để
phá trừ đủ mọi cách, bất quá “muốn t́m
tâm mà trọn chẳng thể được” đó thôi!
4) Hỏi:
Duyên tâm hiện có tác dụng, v́ sao phán quyết “chẳng thể
suy luận?” Kinh dạy: “Nhữ đẳng thượng
dĩ duyên tâm thính pháp” (các ông vẫn dùng tâm duyên theo các trần
để nghe pháp), đấy cũng là chấp thuận
duyên tâm có thể nghe ư?
Đáp:
Dùng từ ngữ Danh Sắc sẽ có thể gồm trọn
hết thảy các pháp. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều là Sắc.
Thọ, tưởng, hành, thức đều là Danh. “Danh”
chỉ có tên gọi, chẳng có sắc tướng. Do vậy,
tám tâm vương, năm mươi mốt tâm sở,
Tướng Phần của chúng đều là sắc, Kiến
Phần đều là Danh. Kinh dạy: “Vọng hữu
duyên khí, ư trung tích tụ, giả danh vi tâm” (Hư vọng
có duyên khí tích tụ trong ấy, giả gọi là tâm). Kiến
Phần chỉ có Danh, v́ sao có thể gọi là Khí, có thể
tích tụ trong ấy? Duyên khí tích tụ tức là một
món vật, một món vật tức là Tướng Phần.
Duy Thức nói: “Do Tướng Phần theo Lư th́ không có tác
dụng năng duyên”. A Nan cho đó là cái có thể duyên (năng duyên),
cũng như cho rằng mắt có thấy, phù trần nhăn ắt
chẳng thể thấy, duyên ảnh tâm ắt chẳng thể
biết. V́ thế,
[đức Phật] phá [kiến chấp ấy]
rằng “c̣n
dùng duyên tâm (cái tâm duyên theo ngoại trần) để nghe
pháp”, tức
là nói duyên tâm là duyên khí, cũng gọi là Phong Đại, chắc
chắn chẳng có công năng nghe pháp, há c̣n lầm tưởng
là có thể nghe pháp ư? Đó là từ pháp âm của ta (đức Phật)
làm duyên, khởi lên h́nh bóng của pháp
âm, chẳng phải là tâm tánh như ta đă nói. Cổ nhân
nói: “Chính là hư không có thể giảng”, nay lại phỏng
theo đó để nói: “Chính là hư không có thể nghe”.
“Như thế nào” đến chỗ này đă tiết
lộ chẳng ít, biết tôi, trách tội tôi, chưa rơ là
người nào vậy?
5) Hỏi:
A Nan đạt được Pháp Thân, nhưng chẳng giải
thoát. Phú Lâu Na đắc La Hán, vẫn có ngờ vực, hối
hận. Nếu chỉ ngộ Lư, há có Sự ở ngoài Lư? Nếu
chỉ là trừ sạch các chướng ngại về mặt
Sự, há có Lư ở ngoài Sự? Nếu Lư chướng th́
dùng Lư để trừ, Sự chướng th́ dùng Sự
để dứt, [hai cách trừ chướng ấy] chẳng
nhiếp thuộc lẫn nhau, sao trở
thành viên tông cho được?
Đáp:
A Nan Phiền Năo Chướng nặng nề, Măn Từ (Phú
Lâu Na) Sở Tri Chướng nặng nề. Do Lư và Sự
chẳng hai mà là hai, nên chia thành Căn Bản và Chi Mạt.
Như rễ, cành, lá của cái cây cùng thuộc đại
địa tứ vi, cũng tự chẳng phân biệt mà
phân biệt. A Nan chặt rễ, cành lá vẫn c̣n xanh. Măn Từ
khô cành, rễ chưa nhổ. C̣n như hai câu “Lư chướng
th́ dùng Lư để trừ…” lại áp dụng chung cho cả
bốn giáo, chớ nên thẳng thừng coi phiền năo là Sự
chướng, coi sở tri (những ǵ chính ḿnh hiểu biết)
là Lư chướng. Giới nội, giới ngoại[37],
mỗi đằng đều luận định hai hạnh
Sự và Lư.
6) Hỏi:
Trong quyển ba, ngài
A Nan đă đạt được
Pháp Thân, v́ sao lại nhiều lượt cầu khai thị?
Trong quyển bốn, Ngài nghi hoặc đă tiêu trừ, tâm
ngộ Thật Tướng, nhưng lại như người
lang bạt, được nhà c̣n t́m cửa, gần như
Pháp Thân ở ngoài cửa ư?
Đáp:
Pháp Thân chẳng có được, mất, trọn chẳng
có trong, ngoài. Chỉ do mê hay ngộ mà có sai khác, thuận theo
đó mà chia thành tu chứng sai biệt. Tuy xét theo tu chứng,
chẳng trở ngại tánh chân, như hư không chẳng
phải là trượng, thước; nhưng
trượng, thước hiển lộ
hư không. [Ngài
A Nan] “đạt được Pháp
Thân” như trong quyển ba [đă nói] là nói theo
tương tự giải hạnh. Trong quyển thứ
tư, Ngài cầu thỉnh nhập môn là xét theo phần chứng
Trí
Đoạn.
[Do vậy] chẳng trái nghịch! Cổ nhân nói: “Đạo
khoáng vô nhai, phùng nhân bất
tận” (Đạo rộng mênh mông không bờ
bến, gặp người chẳng tận). [Trong kinh ấy,
ngài A Nan] đại ngộ mười tám lần, tiểu
ngộ chẳng đếm được số. Đấy
là lư do A Nan nhiều phen khai ngộ, chốn chốn trần
thuật nỗi nghi, trọn chẳng ở trong cảnh
chưa trọn đủ mà nẩy sanh ư tưởng
“đă trọn đủ”. Đáng than đời Mạt tu
mù luyện đui, trong hoàn cảnh tĩnh lặng, hễ
đạt được quang cảnh một hai phen lục
trần vừa dứt, liền
ngỡ là đă trăm ngàn
phần thỏa đáng! Tự lầm, lầm người,
ngay cả tương tự Pháp Thân c̣n chưa mộng thấy,
huống hồ đích thân liếc thấy cửa của
ṭa nhà lộng lẫy ư? Phật pháp chẳng phải là
đạo lư ấy. Hăy
cẩn thận!
7) Hỏi: Hai vật
đất và nước, tánh vốn là Chân Không, cớ ǵ cứ
phải bỏ bùn đất để giữ lấy
nước trong?
Đáp:
Nước và đất chẳng ra ngoài hư không, ví
như Thập
Giới,
Ngũ
Ấm chẳng ĺa tạng tánh. Nay dùng nước
trong để sánh ví Ngũ Ấm
thuộc Phật giới trong chín giới. Dùng bùn đất
để sánh ví Ngũ
Ấm thuộc chín giới trong Phật giới. Ắt phải
vứt bỏ ô trược trong chín giới để thành
sự thanh tịnh của Phật giới. Nếu đất,
bùn chẳng trừ khử, tự tánh chúng sanh ắt chẳng
độ được, tự tánh phiền năo ắt chẳng
đoạn
được! Nếu chẳng ắt
giữ lấy nước trong th́ tự tánh pháp môn ắt
chẳng học được,
tự tánh Phật đạo ắt chẳng thành được!
Chấp tánh phế tu, trở thành đại tà kiến!
8) Hỏi:
Đă là dùng pháp có thể thực hiện để sánh ví
tướng sanh diệt của mười tám giới, dùng
hư không để sánh ví tánh bất sanh bất diệt của
Như Lai Tạng, v́ sao lại dùng chuyện đất gieo
vào nước để sánh ví những vị như A Nan
thân đang ở
trong ngũ trược, dùng chuyện “khử
bùn ḥng có thuần nước trong”
để sánh ví thường, lạc, ngă, tịnh của
Như Lai? Sách Văn Cú tuy cho rằng ngũ trược
thích hợp để sánh ví, do nước tinh thuần ứng
hợp với thí dụ về hư không, sao Như Lai chẳng
thẳng thừng nương vào tạng tánh như hư
không để làm cái gốc tu nhân, mà lại riêng dạy “gạn
đục, khơi trong” vậy?
Đáp:
Kinh nói “như trừng trược thủy, trữ ư
tịnh khí” (như lắng trong nước đục,
chứa trong đồ đựng thanh tịnh). “Khí”
(器, đồ
đựng) ví như mười tám giới, bảy đại[38].
Đồ đựng rỗng không bên trong, ví như mười
tám giới và bảy đại đều là tạng tánh.
Mười tám giới và bảy đại đều là cảnh
được quán, dùng đồ đựng để
sánh ví. Trong cảnh vốn sẵn có diệu đế, nên
dùng đồ đựng rỗng không để sánh ví.
Đối với cái trí có thể quán cảnh đế,
dùng nước được chứa
đựng để sánh ví. V́ nước ví
như Kiến Phần, đất ví như Tướng Phần.
Kiến Phần của chúng sanh thuộc lục phàm ắt
phải giữ lấy tướng Đồng Cư Độ.
Kiến Phần của chúng sanh Nhị Thừa ắt giữ
lấy tướng Phương Tiện Độ. Kiến
Phần của Bồ Tát chúng sanh ắt giữ lấy
tướng Thật Báo Độ. V́ thế, đều là
ô trược. Chỉ có Kiến Phần của Phật trực
tiếp duyên Chân Như, chẳng c̣n kèm theo tướng
hư vọng luyến mến,
vướng mắc trong ba cơi, như đồ
chứa nước bên trong rỗng không. Cho tới tướng
sáng tinh thuần tức là tám thức chuyển thành bốn
trí. Do Căn Bản Trí chẳng có Tướng Phần, nên
gọi là “khử bùn thuần nước”. Do Hậu
Đắc Trí có thể hiện tướng, gọi là “hết
thảy biến hiện”. Tuy có biến hiện, vẫn
là vô lậu. V́ thế nói là “chẳng là phiền năo”,
đều ứng hợp với diệu đức thanh tịnh
của Niết Bàn. Do vậy, biết là dùng hư không để
sánh ví tánh chẳng sanh diệt. Hễ chứng, sẽ thành
công đức vô vi vô lậu, tức là Pháp Thân, cũng tức
là “tịnh phần chân thật tánh” được nói
trong Đại Thừa Chỉ Quán. Dùng thuần nước
trong để sánh ví Tứ Trí Bồ Đề nơi Phật
quả. Hễ chứng, sẽ thành công đức hữu
vi vô lậu, tức là Báo Thân, cũng tức là “tịnh
phần y tha tánh” trong Đại Thừa Chỉ Quán. Duy
Thức nói nó thuần vô lậu, cũng có thể quy nhiếp
vào Viên Thành Thật Tánh. Dùng hết thảy biến hiện
để sánh ví công đức lợi tha của Phật quả;
đó là gọi là anh nhi hạnh, bệnh hạnh v.v… tức
là Hóa Thân, cũng tức là “tịnh phần phân biệt
tánh” trong Đại Thừa Chỉ Quán. Theo thứ tự,
phối ứng với Tam Niết Bàn, Tam Bồ Đề[39],
tam đức bí tạng,
đều không ǵ chẳng được! Phật ngữ
xảo diệu, Phật ư sâu xa, há do vài lời, chút nghĩa
mà có thể nói trọn hết được ư?
9) Hỏi:
“Không” ví như Niết
Bàn tức là liễu nhân đă được hiểu rơ.
Nước ví như Bồ Đề, vẫn là cái
được sanh bởi sanh nhân, há có phải đều
là cái Thể vốn thanh tịnh hay chăng? Lại nữa,
hư không chẳng có ngằn mé, nước có bến bờ,
khác nào lư Niết Bàn trọn khắp, mà trí Bồ Đề
chẳng trọn khắp ư?
Đáp:
Nước trong vốn chẳng phải được
sanh bởi sanh nhân. Do trong nước đục
vốn sẵn tánh nước trong, cho
nên lắng đục sẽ trong, có thể
sánh ví chuyển thức thành trí. Chỉ là chuyển đổi
cái tên, chẳng có thật tánh. V́ thế, chẳng giống
như cách nói quyền biến của Tướng Tông. [Suy
xét] ngằn mé của hư không và nước, quán tướng
của chúng vốn là vọng. Tánh nước chân không, tánh
không chân thủy, vốn sẵn thanh tịnh, b́nh đẳng
trọn khắp pháp giới.
10)
Hỏi: Ngài
A Nan đă đắc Pháp Thân nơi địa vị
Tương Tự,
cớ sao nghe mà chẳng hiểu rơ, tự
phát khởi, lời lẽ vẫn là nghi “kiến thính ly trần, tất cánh vô
Thể” (thấy, nghe nếu
ĺa Trần, sẽ rốt ráo chẳng có Thể), ngỡ đó là
đoạn diệt? Thoạt đầu, [khi được
đức Phật] gạn hỏi cái tâm đang mê, Ngài
đă ngộ tánh chân, sao chẳng dùng những điều
đă được chỉ bày trước đó làm lệ
[để phỏng theo mà suy ra]?
Đáp:
Khi ấy, A Nan đă đoạn Kiến Hoặc, biết
sáu căn hư vọng, chẳng có ngă và ngă sở, chẳng
chấp duyên ảnh là tâm, nhưng Tư Hoặc và vô minh
chưa đoạn. V́ thế, Ngài muốn vứt bỏ vọng,
cầu chân, chưa thể hiểu “vọng chính là chân”.
Đối với hai nghĩa quyết định, dụng
ư là tu Quán nơi Định cảnh. Ví như lắng chất
đục bèn được nước trong, chẳng bỏ
nước đục để cầu nước trong
chi khác. Ngài
A Nan chấp tướng ô trược
trong hiện tiền, nghi nó chẳng có tánh “nước
trong”, chẳng biết tánh nước trong ở ngay trong
nước đục. Kinh Chiêm Sát nói: “Sơ tâm ưng
tiên tập Duy Tâm Thức Quán” (sơ tâm hăy nên tu tập
Duy Tâm Thức Quán trước). Trong sách [Đại Thừa]
Chỉ Quán, ngài Nam Nhạc cũng
răn “chẳng được quán ngay vào Viên Thành”. Ấy
là v́ tánh Viên Thành hoàn toàn ở trong Y Tha và trong phân biệt.
Ĺa phân biệt hiện tiền và cảnh Y Tha, sẽ chẳng
có tánh Viên Thành Thật để có thể đạt
được! Toàn bộ nước thành sóng, ngoài sóng chẳng
riêng có nước! Nhà Thiền thời Mạt mê muội diệu
chỉ của phép tu Quán nơi Định cảnh, ĺa ngoài
Sự cảnh để cao luận Lư tánh. Lư tánh bị so
đo, hoàn toàn trở thành phân biệt. Đó gọi là “chưa
chứng vô vi mà biện định Viên Giác, tánh Viên Giác sẽ
giống như lưu chuyển”. Phân biệt chừng bằng
hào ly, cách biệt như trời với đất! Ngài A
Nan biết rơ thói tệ này nên mới nêu ra nghi vấn ấy!
11)
Hỏi: Long vương, hà nữ, thần hư không có thể
lắng nghe, cảm nhận sự tiếp xúc, chẳng thuận
theo phù trần[40],
[vậy th́] trụ trong thắng nghĩa như thế nào?
Nếu chẳng có thắng nghĩa, sẽ chẳng nên là
phàm. Hơn nữa, thắng nghĩa căn có chỗ chứng
tri hay không?
Đáp:
Thắng nghĩa nương vào phù trần, là ước
theo mê vọng để nói. Rồng dùng sừng để
nghe, thắng nghĩa bèn nương theo sừng. Thần
sông dùng mũi, cũng có thể phỏng theo lệ đó mà
suy. Không Thần (thần cai quản hư không) chẳng có
nghiệp quả thô sắc, nhưng có Định quả sắc,
nương theo đó cảm nhận,
tiếp xúc. Nhưng đoạn kinh văn này chính là để
hiển thị tánh của sáu căn chẳng dựa theo phù
trần căn và thắng nghĩa căn. Dù phàm hay thánh, lư ấy
chẳng hai, chẳng phải là nói “chẳng có thắng
nghĩa th́ chính là thánh, có thắng nghĩa tức là phàm”.
Nhưng
phàm phu mê chính ḿnh, ngỡ là vật, lại
tưởng vật là chính ḿnh. Do vậy, có thấy, nghe,
hay, biết, ắt đều nhờ vào phù trần căn
và thắng nghĩa căn. Thánh nhân trái trần, hợp giác,
toàn thể trần là giác. V́ có thể nhờ vào căn
để tỏ lộ, sáu căn dùng lẫn cho nhau, nói
“thánh chẳng có sáu căn” cũng được, mà nói “thánh mới có sáu căn”
cũng được! C̣n như thắng
nghĩa căn của phàm phu chỉ có thể do so sánh mà biết.
Nếu chẳng có sáu căn, sẽ trọn chẳng sanh khởi
thức, như đèn chẳng có tim, ngọn lửa sẽ
chẳng sanh. Ngọn lửa chỉ chiếu sáng nơi
khác, chẳng soi sáng tim đèn.
12)
Hỏi: Như Nhĩ Căn, những ǵ là thức thứ
sáu, thức thứ bảy, và thức thứ tám? Lại từ
Văn, Tư, Tu, th́ Tư thuộc vào thức
thứ sáu, dụng tâm như thế nào? Lại biện
định điều này như thế nào? Tư nơi thức
thứ bảy và thức thứ tám lại như thế nào?
Đáp: Hai thứ phù trần
căn và thắng nghĩa căn của Nhĩ Căn đều
là Tướng Phần của thức thứ tám. “Văn
tinh” (聞精)[41]
tức là Kiến Phần của thức
thứ tám. Thức thứ bảy và thứ tám vốn sẵn
duyên với nhau. Nương vào thức thứ bảy, lại
phát sanh thức thứ sáu tức Ư Thức, cùng với
Nhĩ Thức do Nhĩ Căn phát khởi đều cùng
duyên Thanh Tướng. Đó là duyên khởi của tám thức
tướng. Chữ Tư (思) trong Tư Tu
(思修) chính là quán kỹ
nơi tánh Nghe, tức Không, tức Giả, tức Trung, chẳng
thuận theo Thanh và Sắc mà lưu chuyển. Điều
này tuy có cùng danh xưng với Tư trong năm món Biến
Hành[42],
nhưng thật ra, nó tương ứng với Diệu
Quán Sát Trí, lại cùng khởi với Huệ trong Biệt Cảnh[43],
cũng như giúp đỡ các tâm sở thiện như Tín
v.v… V́ thế gọi là Tư Huệ. Nếu giải thích
Tư theo lối thông thường, ắt sẽ coi tâm tạo
tác là tánh, coi các thứ thiện phẩm bị tâm sai sử
là nghiệp, tương ứng với thức thứ sáu,
giống như nó duyên trọn khắp tam lượng.
Tương ứng với thức thứ bảy, giống
như nó chỉ duyên nội ngă. Tương ứng với
thức thứ tám, giống như nó chẳng thể biết
chỗ chấp thọ. Đó là sự sai biệt nơi
tướng của Tư vậy!
13) Hỏi: Sơ tâm, khi xoay lại tánh Nghe, lại
bị sắc, hương, vị, xúc, pháp lôi kéo, tác động,
chẳng rơ là nó từ ngay nơi cảnh mà đả phá các
thứ ấy để nhập chân lưu? Hay là trở về
bổn căn để nhập chân lưu?
Đáp:
Bị các món trần khác lôi kéo, tác động, chỉ là do
công phu chưa đắc lực, kiến địa chẳng
rơ ràng! Nếu Nhĩ môn có thể ngộ viên thông thường,
dùng cái viên thông thường ấy để quán, mỗi
pháp được trải qua sẽ đều là Nhĩ
Môn tam-muội. V́ thế nói: “Đấy là vi trần Phật,
nhất lộ Niết Bàn môn”. C̣n như đối trị
theo chiều thuận hay đối trị theo chiều nghịch,
tùy theo ư thích, tùy theo sự
thích hợp, tùy theo sự đối
trị, tùy theo lư, chớ nên chấp trước một
đằng! Sách Ma Ha Chỉ Quán lập ra mười cảnh,
trước hết là quán Ấm tâm, các giới nhập và
chín cảnh sau đó đợi chúng phát khởi rồi mới
quán. Biết lệ ấy, điều cốt yếu trong
tu tâm là chẳng khóc nơi ngơ rẽ vậy!
14)
Hỏi: Hai thứ thân và tâm đều xả trừ, lấy
ǵ để tu nhập Tam-ma-địa, há lại riêng có một
thân tâm ư?
Đáp:
Cái tâm chấp ngă chính là cội gốc sanh tử. Do cái ngă
chấp ấy
bèn yêu mến cái thân. “Có thân tức
là có ngă. Ĺa thân có ngă. Ngă lớn thân nhỏ. Thân lớn ngă nhỏ”
là bốn điều [ngă kiến] khác biệt. Nếu nói “thân
chính là ngă”, muôn phần sẽ chẳng có chuyện chịu
xả. Nếu hư
vọng so đo Xả chính là đoạn diệt, chẳng
có nỗi khổ về sau, vẫn chưa liễu đạt
cái tâm so đo hư vọng ấy chính là cái gốc khổ.
Nếu cho rằng “ĺa thân có ngă”, thấy thân nhiều
khổ, xả thân sẽ chẳng khổ. Đấy chính
là v́ ngă kiến mà xả thân, chẳng phải là có thể xả
cái tâm ngă kiến ấy! Chỉ có đem bốn
loại ngă kiến ấy nhất loạt buông bỏ, ngay cả
huyễn thân cũng nhất quyết
xả được. Hai thứ đều xả, th́ cả
hai đều là diệu dụng, sẽ có thể nhập
Tam-ma-địa. V́ thế, chỉ biết hễ buông xuống
thân tâm này, phường trộm cướp sẽ biến
thành dân lành. Chẳng buông xuống được, dân lành liền
chính là phường trộm cướp!
15)
Hỏi: Lúc mới thực hiện mà chẳng đắc lực
th́ sau đó tŕ chú để giúp
thêm, có được hay không? Hay là tŕ chú
cùng hành với cảnh được quán? Kiêm [thực hiện]
cả hai th́ cũng được gọi là “thâm nhập
một môn” hay không?
Đáp:
Căn tánh của chúng sanh muôn ngàn sai khác, hoặc hiển ngộ,
hoặc mật chứng, hoặc cần phải có trợ
hạnh, hoặc chẳng cần trợ hạnh, chẳng
phải là nhất loạt như nhau, nhưng đều là
một môn thâm nhập. Nếu chẳng có chướng
duyên, cứ thẳng thừng tu cảnh quán. Nếu sợ
chướng xâm phạm, hăy kiêm tŕ mật ấn. Hiển,
mật, chánh, trợ, đều cần phải
tương ứng với diệu quán, th́ mới phù hợp
với ư chỉ “một môn thâm nhập”.
16)
Hỏi: Luận xa tới cái nguồn tác động, lỗi
từ vô thỉ. Luận gần th́ chính là một niệm
trong hiện tại. Ĺa niệm hiện tại th́ có vô thỉ
hay không? Nếu có th́ sao hiểu trọn một niệm? Nếu
không, sao lại có một niệm hiện thời?
Đáp:
Ĺa một niệm hiện tại, sẽ chẳng có vô thỉ
để có thể luận.
Đối với một niệm hiện
tiền chính là toàn thể tột cùng theo chiều
dọc, trọn khắp theo chiều ngang, căn, thân, khí giới,
chủng tử thiện, ác, mà ĺa một niệm hiện tiền,
sẽ trọn chẳng
có chút thật pháp nào để có thể đạt
được! V́ thế nói: “Mười đời
xưa nay từ đầu đến cuối chẳng ĺa
một niệm hiện tiền”.
17)
Hỏi: Đă đạt được Pháp Thân, lại thỉnh
[đức Phật chỉ dạy] đạt tới các
điều mục tu hành theo thứ tự như thế
nào, đạt tới đâu th́ mới gọi là “nhập
địa?” Há Pháp Thân có thứ tự
lần lượt sai khác ư?
Đáp:
Pháp Thân chẳng sai biệt. Sai biệt chẳng ĺa Pháp Thân.
Tu hành chẳng có thứ tự lần lượt. Thứ
tự nương vào sự tu hành [mà có]. Như hư không
chẳng có xa hay gần, nhưng xa hay gần chẳng ĺa
hư không. Dũng mănh tu tập chẳng có thứ tự,
nhưng thứ tự nương theo sự dũng mănh tu tập.
Ngài A Nan ngộ tâm, tức là ngộ tánh chẳng sai biệt,
giống
như thái hư. Ngài cầu thỉnh
tu hành tức là viên hạnh, giống
như dũng mănh tu tập, do dũng mănh tu tập xa hay gần
mà luận định thứ tự sai biệt. Nếu chỉ
chấp thuận nghĩa “chẳng có thứ tự, chẳng
sai biệt”, sẽ là do tánh mà phế tu, mê muội ư chỉ
“tức mà thường sáu” (Lục Tức Phật).
Đă là chẳng sai biệt, th́ cũng chẳng có vô sai biệt
để có thể được, chẳng có thứ tự
th́ cũng chẳng có “vô thứ tự” để có thể
đạt được. Như không có gần, xa, th́
cũng chẳng có hư không. Đă mê muội sáu nghĩa,
th́ Tức cũng chẳng thành. Cần phải liễu
đạt “toàn
tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh”, tức
là từ đầu tới cuối đều dùng Phật
tri, Phật kiến để tu hành. Tiệm trong Viên Giáo
chính là Viên, Tiệm Viên (Viên trong Tiệm Giáo) chẳng
thể sánh bằng được!
18)
Hỏi: Cố nhiên thân là thường trụ, lâu dài chẳng
hư hoại, mất đi. Hơn nữa, Sắc Ấm
đă là Không, Thọ, Tưởng, Hành Ấm đều diệt,
từ đâu mà khởi “trưởng tưởng”
(ư tưởng cho rằng sắc thân tăng trưởng). Đó là nói Sắc nào là
thân vậy?
Đáp:
Ngũ Ấm nhiếp thuộc lẫn nhau. Sắc Ấm
chưa phá th́ Ngũ Ấm đều là Sắc. Sắc phá,
Thọ hiện, Ngũ Ấm đều là Thọ. Thọ
phá, Tưởng c̣n, Ngũ Ấm đều là Tưởng.
Tưởng phá, Hành hiển, Ngũ Ấm đều là
Hành. Nay Hành phá, Thức lộ, tức Ngũ Ấm đều
là Thức. V́ thế, sanh diệt tuy diệt, nhưng trong
khi tịch diệt tinh diệu chưa viên măn, theo đúng lẽ
vẫn trọn đủ Ngũ Ấm, chỉ có Sắc,
Thọ, Tưởng, Hành, không ǵ chẳng phải là cảnh
giới tịch diệt chưa viên măn. Há có phải là hành
nhân đến đấy sẽ trọn chẳng có sắc
thân, mà cũng chẳng có khổ, lạc, giác quán, cử chỉ,
động tĩnh ư? Ấy là do thức thứ sáu
tương ứng với tâm hạnh, khi tu quán nơi Định
cảnh, theo thứ tự,
quán cảnh giới của Thức Ấm, sẽ thấy sự
tinh vi, trọn vẹn của Thức Ấm, bèn sanh “trưởng
tưởng”. Tưởng ấy chính từ quán hạnh
mà khởi. Sắc ấy chính là Thức Ấm chấp thọ.
19)
Hỏi: Đệ lục ngoại đạo viên hư vô
tâm, nương vào vĩnh viễn diệt để làm cái
để quy y. [Sách Văn Cú] chú giải rằng: “Khiến cho tâm và tâm
sở chẳng hằng hành diệt mất”.
Công lực đến mức ấy, phải nên bằng với ḍng thánh,
nhưng lại trở thành đoạn diệt; lỗi ở chỗ
nào? Đă đoạn diệt, lại có cái
quả nào
để có thể thành được? Sao có thể
gieo được?
Đáp: Trong Vô Tưởng
Định, tuy diệt tâm và các tâm sở vô hằng hành, chỉ
do so đo cái hư huyễn trong sự sáng suốt, coi
đó là phương tiện, tức là Kiến Hoặc hoàn
toàn tồn tại. Do vậy, tuy chế phục Tư Hoặc
thuộc địa vị thấp hơn, vẫn chấp
chết cứng vọng tưởng sanh tử thuộc Vô
Tưởng Thiên, lầm tưởng đó là chân thật,
[do vậy], chắc chắn chẳng nhập ḍng thánh.
Lỗi ở chỗ chưa từng chân thật khai viên giải
trước. Do vậy, trong địa vị Quán Hạnh,
tuy thấy cảnh giới tịch diệt ấy, chẳng
biết đó toàn là tinh tưởng vi tế điên đảo[44]
mà sanh thắng giải. Tuy nói là đoạn diệt, chẳng
phải là thật sự đoạn diệt, vẫn thuộc
vào mười hai loại sanh[45].
Đó gọi “loạn tưởng khô khan, vô tưởng
yết-nam”[46].
V́ vậy gọi là Chủng, mà cũng gọi là Quả vậy!
20)
Hỏi: Thủ Lăng Nghiêm đại định từ
quán hạnh nhập, tức là coi quán hạnh là Định
ư? Hay là có thứ tự, có xuất nhập? Hay là rốt
cuộc đạt đến rốt ráo th́ mới có thể
gọi là đại định ư?
Đáp:
Muốn biết thể tướng của đại
định, cần phải hiểu rơ diệu chỉ về
tánh và tu. Chúng sanh vốn trọn đủ tánh Đại
Phật Đảnh, tức là cái Thể của Đại
Định. Như nói Ấm, Nhập, Xứ, Giới, cho
đến thất đại đều là Như Lai Tạng,
diệu Chân Như tánh, đều là thể tánh của
đại định. Chúng sanh đang mê, chỉ có Lư Tức
Đại Định. Ngộ lư ấy th́ là Danh Tự
Đại Định. Nương theo Phật tri, Phật
kiến để tu hành
th́ là Quán Hạnh Đại Định. Công quán hạnh
đă sâu, Tương Tự Lư phát khởi, sáu căn thanh tịnh,
như dùi [gỗ lấy lửa, thấy gỗ] bốc khói.
Đó là Tương Tự Đại Định. Trong mỗi
sự, mỗi pháp, phần chứng lư Tam Đức Bí Tạng,
đó là Phần Chứng Đại Định. Cho đến
chứng thấu triệt, chẳng thiếu, chẳng thừa,
th́ là Cứu Cánh Đại Định. Từ đầu
đến đuôi là một lư, được gọi là
Tánh. Sáu địa vị chuyển biến, công thuộc về
tu. Tu chẳng ở ngoài tánh, ngộ tánh th́ mới thành tu.
Như người chơi cờ vây đánh thắng chẳng
vượt ngoài
thế cục của bàn cờ. Phải biết thế cờ
th́ mới có thể đánh thắng.
21)
Hỏi: Từ phá bảy chỗ[47],
đạt tới hiển lộ tạng tánh, Thể và Dụng
được nêu bày, Chân và Tục đều hiển, trời
và đất có cùng căn cội, vạn vật nhất thể,
chẳng có sanh tử để có thể đạt
được, chẳng có Niết Bàn để có thể
chứng. Lại chọn lựa Nhĩ Căn làm
phương tiện. Nhĩ Căn tức thấy, nghe, hay,
biết, hừng hực thành sai khác, đấy chính là quang ảnh
môn đầu[48].
Nơi thường trụ chân tâm, tự tướng
vượt thoát, sao lại từ tu chứng mà nhập
Tam-ma-đề?
Đáp:
Chẳng ngộ diệu tánh, sẽ chẳng có ǵ để
thành tu. Không chú trọng chân tu, sẽ chẳng có ǵ để
hiển tánh. Kinh thoạt đầu phá duyên ảnh chẳng
phải là tâm, nhằm hiển lộ “kiến tánh chẳng
phải là vật”. Dung hội bốn khoa để quy vào
tánh, nêu tỏ thất đại viên măn trọn khắp, nhằm
sánh ví kẻ cuồng chạy quàng mà đầu chẳng mất,
gă nghèo túng đi xin ăn mà châu tự c̣n, đều là “chỉ
thẳng vào tâm người, kiến tánh thành Phật”, hiển
lộ đế lư viên dung nhằm khai diệu ngộ. Kế
đó, nương vào diệu ngộ ấy để khởi
chân tu. Nhờ vào cái nhạy bén nhất nơi phương
này là Nhĩ Căn ḥng lănh hội tánh thể vốn viên, vốn
thông, vốn thường. Do đó, được gọi
là “dùng bất sanh bất diệt để làm cái gốc
tu nhân”. Sau
đấy, viên thành sự tu chứng
nơi quả địa. Gươm báu kim cang chân thật ấy
có Hoặc nào chẳng phá? Lư nào chẳng phơi bày? Nếu
chẳng biết tánh của Nhĩ Căn chính là tánh diệu
Chân Như của Như Lai Tạng, khinh mạn nói là “cùng một
Thể, chẳng có sanh tử, chẳng có Niết Bàn”, sẽ
hoàn toàn rơi vào cách nói tương tự “quang ảnh
môn đầu”, chẳng hiểu biết
tông thú của kinh này quá đáng! Hăy thử
lấy đoạn kinh văn biện định chuyện
gơ chuông để kiểm nghiệm chỗ chân thường,
lắng ḷng nghĩ kỹ, sẽ tự biết chỗ sai
trong lời hỏi!
22)
Hỏi: Đa văn chẳng có công năng sánh bằng tu tập,
nghĩ nhớ diệu lư thanh tịnh trong mười hai bộ
kinh của mười phương Như Lai nhiều
như cát sông Hằng chỉ tăng thêm hư luận. Nhiều
kiếp Văn Huân, chẳng thể
thoát nạn. Trải bao kiếp nghĩ nhớ sự trang
nghiêm mầu nhiệm bí mật của Như Lai, chẳng bằng một
ngày tu vô lậu nghiệp. A Nan c̣n bị quở trách như
thế, người hiện thời nếu tŕ kinh này
cũng có lợi ích ǵ chăng?
Đáp:
A Nan phạm khuyết điểm do chẳng xoay lại cái
Nghe, chẳng phải là lỗi do đa văn. Kinh quở
trách chuyện “một
mực chỉ nghe”,
chẳng phải là dạy không nghe! Chính v́ người hiện
thời ngu độn, y giáo tu hành, do sợ họ sảy
chân, [lạc vào] si Thiền, ám chứng, đọa lạc
há có ngờ chi? Do vậy, tùy thuận căn tánh, bèn dạy
họ tŕ kinh sâu. Người lợi căn sẽ có thể
thuận theo kinh văn mà nhập chứng. Kẻ độn
căn cũng có thể vĩnh viễn trở thành hạt
giống đạo, ngơ hầu tránh khỏi cái họa trở
thành Vô Văn tỳ-kheo[49]
vậy!
* Mười ba câu vấn
đáp về yếu chỉ của Giáo Quán
(đính kèm câu hỏi)
1) Hỏi:
Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, hai nghĩa ấy
là giống nhau hay khác nhau?
Đáp:
Tâm thức bao gồm chân và vọng. Hạn cuộc th́ tâm
thuộc vào chân, thức thuộc vào vọng. Duy tâm là
nghĩa của Tánh tông. Nương vào đó mà lập ra
Chân Như Thật Quán. Duy thức là nghĩa của Tướng
tông, nương vào đó mà lập ra Duy Tâm Thức Quán. Liệu
giản hai pháp Quán, cần phải t́m trong Chiêm Sát Hành Pháp mới
biết chỗ giống nhau mà khác nhau, tuy khác nhau mà giống
nhau vậy!
2) Hỏi:
Biến Kế và Y Tha cần phải phá, Viên Thành có cần
phải phá hay chăng? Viên Thành chẳng cần phá th́ Biến
Kế và Y Tha cũng chẳng cần phải phá đúng không?
Phá và chẳng phá, xin thầy phân tích tường tận?
Đáp:
Ba tánh vốn chẳng phải nhất định là ba,
cũng chẳng nhất định là một. Nói “Biến
Kế và Y Tha nhập Viên Thành Thật” chỉ là liễu
đạt “Biến Kế vốn là Không, Y Tha như huyễn”,
chính là tánh Viên Thành Thật, chẳng phải là riêng có! Nếu
thấy có Viên Thành Thật th́ vẫn là Biến Kế,
cũng cần phải phá hết. Nếu biết ba tánh (Biến
Kế, Y Tha, Viên Thành Thật) tức là ba vô tánh (tướng
vô tánh, sanh vô tánh, thắng nghĩa vô tánh), th́ Biến Kế
và Y Tha vốn chẳng thể phá. Do chẳng thể phá, cho
nên trọn đủ sáng sạch, chia thành ba tánh, cần phải
phá sạch. Do vậy, lại nói tam vô tánh. Lại dùng thí dụ
để chỉ rơ: Liễu đạt dây thừng chính là
gai, cho nên Y Tha chẳng thật, Biến Kế há có? Cho rằng
thừng là rắn, tánh của gai chẳng đổi,
nhưng hư vọng nẩy sanh sợ hăi. Khi mê th́ toàn thể
gai là rắn. Rắn, thừng, gai đều là mê t́nh. Lúc ngộ,
toàn thể rắn là sợi gai; rắn, thừng, gai đều
là ngộ cảnh. Nếu nói gai tức là thừng, gai chẳng
phải là thừng, gai vừa là thừng vừa chẳng
phải là thừng, gai vừa chẳng
phải là thừng, chẳng phải không là thừng. Cho tới
lần lượt chuyển đổi, tạo thành bốn
câu, sẽ đều
thành Biến Kế. Nếu chẳng khởi Tánh Kế (Biến
Kế Sở Chấp Tánh), biết sâu xa lư “bất biến
tùy duyên, tùy duyên bất biến”, dùng nhân duyên Tứ Tất
Đàn khéo nói bốn câu đủ mọi cách, th́ hai
nghĩa tam tánh và tam vô tánh cùng thành. Do vậy, biết là “chẳng
phá, chẳng lập”, mà luận “phá, lập”, phá lập
đồng thời, phá lập chẳng hai!
3) Hỏi:
Ba nhân trọn đủ th́ mới gọi là “viên tu”. Xin hăy
dạy về một niệm hiện tiền, chánh nhân,
duyên nhân, liễu nhân là ǵ? Và tướng sai biệt nơi
nhân trong mỗi địa
vị, khiến cho chẳng sanh tăng thượng mạn
hoặc thoái khuất?
Đáp:
Tánh trọn đủ ba nhân, chỉ là ba thứ Hoặc,
nghiệp, khổ hiện tiền mà thôi! “Hoặc”
chính là chủng tử của liễu nhân. Nghiệp chính là
chủng tử của duyên nhân. Khổ chính là chánh nhân Phật
tánh. Nếu xét theo hành nhân để chỉ ra ba cái nhân, phép
quán “có thể quán” là liễu nhân Phật tánh. Cảnh
được quán là duyên nhân Phật tánh. Dù năng, dù sở,
dù tâm, dù pháp, chỉ là một Thật Đế, đó tức là chánh nhân Phật
tánh. Biết rơ ba điều ấy, nương theo đấy
để tu tập, th́ gọi là Danh Tự Vị Tướng
(tướng thuộc địa vị Danh
Tự). Quán lực ấy
sâu xa, chế phục trọn vẹn ngũ trụ[50],
đó là Quán Hạnh Vị Tướng. Sáu căn thanh tịnh
là Tương Tự Vị Tướng. Tám tướng
thành đạo, ba thân hiển lộ trọn vẹn là Phần
Chứng Vị Tướng. Cạn nguồn vô minh, cùng tận
bờ đáy của biển giác, là Cứu Cánh Vị Tướng.
Biết một niệm trọn đủ ba cái nhân, há sanh
thoái khuất? Biết đạo lực chẳng thể
lăng phí, há sanh tăng thượng mạn? Hăy suy nghĩ, tu
tập nhé!
4) Hỏi:
Trong khi quán tâm, tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp
theo chiều ngang, vi trần sát độ một niệm trọn
đủ. Quán sát như thế th́ có khế hợp pháp môn “cụ
tự” (măn tự) hay chăng? Nếu dấy lên dị
kiến, dùng tứ vận[51],
tứ tánh để suy, nếu chẳng khởi dị kiến,
chỉ niệm như trên, th́ niệm hiện tiền
ư? Hay là có cách nào khác?
Đáp:
Chỉ là hiểu suông, chưa thật sự hiện tiền,
vẫn phải dùng hai thứ quán đạo để thiện
xảo tấn tu, chẳng c̣n cách nào khác! Đích xác là trong một
trần thấy tánh tướng của pháp giới từ
đầu đến cuối th́ mới thành diệu quán.
5) Hỏi:
Ngay trong khi quán tâm, mắt thấy sắc như h́nh bóng phản
chiếu trong gương, tai nghe tiếng như gió trong
hư không, cho đến ư thức t́m kiếm cái “có thể
duyên” (năng duyên) trọn chẳng có tung tích. Chính ngay trong
khi ấy, v́ sao lại có lúc như người vô sự, có
lúc như người biết chuyện, có lúc như người
có chuyện, có lúc như người si ngốc đối
với sự vật, xoắn xít trong ḷng, làm thế nào
để trừ sạch?
Đáp:
Thấy sắc như h́nh bóng phản chiếu trong
gương, nghe âm thanh như gió trong hư không, năng
duyên chẳng có tung tích, đều là cảnh giới
chưa phá Sắc Ấm. Cần phải suy xét chuyện t́m
kiếm cái năng duyên này. A Nan có thể t́m kiếm, chẳng
tạm thời quên bẵng công phu tứ vận, tức là
liễu nghĩa chánh tu. Nếu là lúc vô sự, tứ vận
sẽ được vận dụng để phá, chớ
nên trụ trong chiếc áo giáp vô sự. C̣n như đối
với biết sự, hữu sự, và nghi sự, th́ phải
suy xét cái biết, cái có, cái nghi ấy; như vậy th́ những
nỗi quẩn quanh vương vấn sẽ tự trừ,
chẳng cần phải sợ nỗi vương vấn
quẩn quanh ấy mà lập ư cũng bị trừ!
6) Hỏi:
Khi suy xét để loại trừ, tâm chẳng thể
được, sao có ba phép Quán? Cảnh chẳng thể
được, sao có Tam Đế? Tâm lẫn cảnh đều
chẳng thể được, sao có năng và sở?
Như thế là khế hợp liễu nghĩa hay chăng?
Đáp:
Tâm và cảnh đều chẳng thể được, có
phải là đoạn diệt hay không ư? Nếu là đoạn
diệt, chỉ là hiện thời ai hỏi pháp ấy? Nếu
chẳng đoạn diệt, do tâm chẳng thể
được, đúng là Nhất Tâm Tam Quán. Cảnh chẳng
thể được, thật sự là Nhất Cảnh
Tam Đế. Nếu đều chẳng thể được,
năng và sở dung hội lẫn nhau, dứt mất.
Đúng là tâm và cảnh chẳng hai. Tôn giả Hổ Khê[52]
có lời tụng rằng: “Cảnh là diệu giả,
quán là không. Cảnh, quán cùng mất, chính là Trung. Quên chiếu
há từng có sau trước? Nhất tâm viên tuyệt, không
tung tích”. Chỉ do quên nên chiếu, chỉ do chiếu nên
quên. Quả thật là một danh xưng chẳng mất,
th́ muôn ngàn danh nghĩa sai khác đều tỏ lộ!
7) Hỏi:
Đối với căn, thân, khí giới, đă liễu
đạt chỉ do nhất tâm kiến lập. Cái tâm ấy
là có, hay không có? Vừa có vừa không? Hay chẳng phải
có, chẳng phải không? Nếu xét theo mật ngữ của
đương sự, th́ ngộ xứ có cạn, sâu, tà,
chánh hay chăng?
Đáp:
Căn, thân, khí giới, bất luận đạt hay chẳng
đạt, trước nay chỉ là duy tâm. Chẳng phải
tâm kiến lập pháp, chẳng phải pháp do tâm lập. Nếu
có năng kiến (cái có thể thấy) và sở kiến
(cái được thấy), sẽ chẳng gọi là duy
tâm. V́ ngoài tâm chẳng có pháp, nên gọi là duy tâm. Duy tâm th́
các nghĩa như duy sắc, duy hương v.v… hết thảy
đều thành. Diệu tâm pháp ấy ĺa bốn câu, tuyệt
bách phi, chỉ dùng diệu ngộ để lănh hội,
dùng Tất Đàn để nói. Đích xác là có thể từ
bốn môn mà nhập đạo, không chỉ chẳng
rơi vào bốn câu, mà c̣n chiếu trọn bốn câu,
đó tức là chánh, là sâu. Nếu ĺa bốn câu, lại
rơi vào câu thứ năm là “chẳng thể nói”, sẽ là
tà, sẽ là nông cạn!
8) Hỏi:
Sách Tập Yếu giải thích nhất thể Tam Bảo
như sau: “Một niệm hiện tại vốn có đủ
Tam Đế, đang mê chẳng giác là Pháp Bảo. Cái trí có
thể giác Tam Đế là Phật Bảo. Đế trí ḥa
hợp là Tăng Bảo”. Chúng sanh niệm nào cũng
hướng theo cảnh, chẳng hiểu rơ tự tâm, trái
nghịch chỗ được tiếp xúc, chẳng thể
giác trí và ḥa hợp nghĩa, sao lại là có đủ Pháp Bảo
cho được?
Đáp:
Chúng sanh hướng theo cảnh, thật sự có cảnh ở
ngoài tâm để có thể hướng tới ư? Thật
sự ở ngoài giác thể mà có một cái vọng niệm
có thể hướng đến [cảnh] ư? Dẫu cho
có một cái giác hư vọng có thể hướng theo cảnh,
th́ cái pháp hư vọng được hướng đến
ấy thật sự có thể phân biệt để mỗi
đằng ở một chỗ ư? Nếu niệm nào
cũng đều hướng ra ngoài, sẽ trọn chẳng
có pháp ở bên ngoài để có thể hướng đến,
mà cũng chẳng thể tách thành hai chỗ! Như vậy
th́ Lư Tức Tam Bảo đă rành rành rồi!
9) Hỏi:
Cái tâm nhỏ nhoi vốn chẳng có ngằn mé đến,
đi, cũng chẳng phải là đoạn diệt. Nay
trong mỗi niệm, luôn gắng công nơi điều thiện
chẳng dám chống trái, nghĩ điều ác chẳng dám
giấu diếm, thường đối trước tam
tôn xót xa cầu xin hối lỗi. Dụng tâm như thế
có khế hợp chánh tu hay chăng?
Đáp:
Cái tâm có thể gắng sức, có
thể suy nghĩ, điều thiện
để có thể gắng sức, điều ác để
có thể nghĩ [sám hối] há có ngằn mé, đến, đi để có
thể đạt được hay không? Nếu thấu
đạt tánh thiện ác chính là thật tánh, sự sanh diệt
chẳng có h́nh tượng, ngằn mé, động,
tĩnh, đến, đi, đầu, cuối, ắt sẽ tu thiện ngày một tăng nhiều,
tu ác ngày càng giảm bớt, nhưng tăng giảm trọn
chẳng thể được. Đó chính là con đường
tu hành chân chánh. Nếu thấy có điều thiện để
có thể tăng, có điều ác để có thể tổn
giảm, sẽ trở thành Thiên Tiểu. Nếu chẳng thấy
có, mặc kệ thiện ác, sẽ trở thành ma tà, ngoại
đạo. Hăy suy xét kỹ!
10)
Hỏi: Khi tŕ kinh, làm thế nào để bản thể của
mỗi chữ, mỗi câu đều chính là cảnh chẳng
thể nghĩ bàn?
Đáp:
Pháp tánh của câu chữ vốn chẳng thể nghĩ
bàn, lại hỏi như thế nào, th́ sẽ trở thành
có thể nghĩ bàn! Nếu thường nhật quán tâm
đắc lực, ngay trong khi tŕ kinh, niệm Phật, sẽ chẳng mâu
thuẫn với quán tâm. Đấy chính là môn Chân Như Thật
Quán. Kẻ chưa liễu đạt, cần phải dùng
Duy Tâm Thức Quán, tứ vận, tứ tánh để suy
xét tánh của các câu, chữ ấy. Nếu biết bản
thể của chúng chính là Không, toàn thể chính là Giả,
cũng lại chính là Trung, cái tâm suy nghĩ, bàn bạc sẽ
dứt bặt!
11)
Hỏi: “Phiền năo tức Bồ Đề, sanh tử
tức Niết Bàn” là xét theo mê, hay theo ngộ, hay theo
tánh, hay theo tu?
Đáp:
Lư tánh vốn sẵn là như thế, chẳng liên quan đến
mê hay ngộ. Ngộ th́ biết [nó vốn sẵn] “chính là”,
chẳng phải do ngộ rồi mới “chính là”. Mê th́ chẳng
biết “chính là”, nhưng chưa từng chẳng “chính là”.
Chỉ có cái tánh “tức” (chính là) ấy th́ mới có thể
khởi cái tu “chính là”. Cái tu được khởi lên ấy
rốt cuộc chính là tánh. Chẳng có chút pháp nào ở ngoài
tánh mà khởi lên được!
12)
Hỏi: Một niệm bất sanh, toàn thể hiện. Một
niệm bất sanh chính là Như Như Phật, lại chỉ
là viên đốn ư? Hay cũng có thiên, tiệm, tà, chánh
ư?
Đáp:
Dùng danh để định nghĩa, muôn phần chẳng
được một. Dùng nghĩa để định
danh, muôn phần chẳng mất một. Đối với
lời đàm luận viên đốn, tùy theo từng loại
mà hiểu. Người ngoài so đo duyên ảnh là tâm,
như đá chèn cỏ, khiến cho cỏ chẳng mọc
được! Nói đó chính là Như Như Phật, thật
ra là thành vô tưởng ngoại đạo. Đối với người bẩm
thọ Tạng Giáo, biết căn trần là
duyên, bèn có niệm sanh. Xa ĺa căn và
trần, niệm tánh vĩnh viễn tịch, được
nhập Niết Bàn, gọi là Như Như Phật. Thật
ra, chỉ thành tiểu quả. Đối với người
bẩm thọ Thông
Giáo, biết rơ niệm chẳng có tự tánh, cầu cái tướng sanh ấy
trọn chẳng thể được, gọi là Như
Như Phật. Thật ra, chỉ là Càn Huệ. Xét theo
người bẩm thọ
Biệt Giáo, th́ sanh là vọng thức, Chân Như lắng
đọng chẳng sanh, gọi là Như Như Phật,
cũng gọi là Tố Pháp Thân, vẫn cần phải trang
nghiêm bằng trí hạnh. Chỉ có
người bẩm thọ Viên Giáo, rơ biết
một niệm hiện tiền chính là pháp giới bất
biến tùy duyên, vô sanh mà nói sanh. Tùy duyên bất biến, sanh
chính là bất sanh. Do vậy, toàn thể hiển hiện, gọi
là Như Như Phật, tức là b́nh đẳng với Thể
và Dụng của tam thế chư Phật. Ba giáo trước
là Thiên, chỉ có Viên
Giáo là Viên. Ba giáo sau đều có nghĩa Đốn, chỉ
có Tạng Giáo thuộc Tiệm. Bốn giáo đều chánh,
ngoại đạo là tà. Than ôi! Cơi đời do vướng
mắc trong ngôn từ, câu chữ, liền nói “nhất niệm
bất sanh tức là Như Như Phật”, có bao giờ
phân tích, lựa bày đến chỗ này hay chăng? Tông chỉ
Viên Đốn trở thành hữu danh vô nghĩa đă lâu!
13)
Hỏi: Dùng một bài kệ
trong Trung Luận[53]
để phối ứng với tứ giáo, th́ phối ứng
riêng biệt nhất định, hay là tùy theo từng loại
mà hiểu? Mong được phân tích thật nghĩa để
kiểm nghiệm giáo nhăn!
Đáp:
Kệ thâu nhiếp trọn hết Quyền, Thật, Lư, Sự,
không ǵ chẳng trọn. Ngài Thiên Thai nương vào đó, lập
ra tứ giáo. Giáo trước chẳng bao gồm giáo sau,
nhưng giáo sau ắt có đủ [các giáo nghĩa thuộc]
giáo trước, được chép trong phần giải
thích rộng, rạng ngời như mặt trời, mặt
trăng. Nếu thuận theo mỗi loại để hiểu,
lại có bốn loại riêng biệt: Như đối với
pháp sanh bởi nhân duyên, có người nghe rồi liền
cho rằng các pháp cậy vào nhân, nhờ vào duyên mà lần
lượt sanh khởi, chẳng có Phạm Thiên, vi trần
v.v… làm nhân duyên, cũng chẳng phải là không có nhân, không
có duyên mà có các pháp. Lại có người biết nhân chẳng
thật sự là nhân, duyên chẳng thật sự là duyên,
sanh chẳng phải thật sự là sanh, pháp chẳng thật
sự là pháp, như hoa đốm trên hư
không, như vật trong mộng, bèn nói
“gọi là do
nhân duyên mà sanh”. Lại có người
biết vô minh là nhân, cảnh giới là duyên, sanh ra nhân quả
sai biệt của mười giới. Lại có người
biết nhất tâm trọn đủ ba ngàn tánh tướng
làm nhân, tùy thuộc mê hay ngộ mà trọn thành mười
giới nhiễm hay tịnh làm duyên.
Kế đó, đối
với câu “tức Không”, có người nghe xong, liền
cho rằng “do các pháp vô ngă và ngă sở,
nên là Không”. Lại có người cho rằng “Pháp Thể tự
Không, chẳng phải v́ diệt mà Không”. Lại có người
bảo: Pháp chẳng có thật tánh, do Thể chẳng thể
được nên là Không. Lại có người cho rằng:
Pháp nào cũng đều chẳng phải Không, chẳng phải
Giả, chẳng phải
Trung, do Tam Đế
đều phá nên là Không.
Kế đó, đối
với câu “giả danh”, có người nghe xong liền
nói Tục Đế là Hữu, cho nên gọi là giả danh.
Lại có người cho rằng: Các pháp như huyễn; v́
thế gọi là giả danh. Lại có người cho rằng
“pháp nào cũng sanh ra nhân quả sai biệt của mười
pháp giới”, v́ thế gọi là giả danh. Lại có
người cho rằng: Pháp nào cũng đều tức
Không, tức Giả, tức Trung, Tam Đế cùng lập,
nên gọi là giả danh.
Kế đó, đối
với câu “Trung Đạo”, có người nghe xong liền
nói “do ĺa Đoạn, ĺa Thường, nên gọi là Trung
Đạo”. Lại có người cho rằng: Do Chân và Tục
chẳng hai, nên là Trung. Lại có người cho rằng: Do
chẳng Không, chẳng Giả, nên là Trung. Lại có người
cho rằng: Mỗi pháp không ǵ chẳng
phải là Thật Tướng, thật tánh, Giả
và Không đều là Trung, chẳng thấy có pháp nào khác với
pháp giới,
nên là Trung.
Nhưng cái Không của
người đầu tiên là “vô ngă và ngă sở”, sanh tử
chẳng phải là Niết Bàn, cho nên nghĩa Không chẳng
thành. Tục Đế là giả hữu, các pháp chẳng
dung nhiếp, nên nghĩa Giả chẳng thành. Trong ĺa đoạn,
ĺa thường, chẳng chứng Pháp Thân ứng với Bổn,
nên nghĩa Trung chẳng thành. Xét đến thực chất,
chỉ thành một câu “nhân duyên sở sanh pháp” (các pháp
sanh bởi nhân duyên) mà thôi!
Người thứ hai
th́ do [chấp vào] cái Giả “các pháp như huyễn”, chẳng
biết huyễn lại tạo huyễn, nghĩa Giả chẳng
thành! Đối với cái Trung “Chân Tục bất nhị”,
chẳng biết Thể của Trung là bất Không, nên nghĩa Trung chẳng
thể thành. Xét đến thực chất, chỉ thành câu “nhân
duyên tức Không” mà thôi.
Người thứ ba
do chấp cái Trung “chẳng Không, chẳng Giả”, chẳng
biết Trung Đạo trọn đủ hết thảy
các pháp, trọn khắp hết thảy các pháp, chẳng biết
chẳng có pháp nào không phải là Trung Đạo. Xét đến
thực chất, chỉ thành câu “nhân duyên tức Không, tức
Giả”.
Chỉ có người
thứ tư biết rơ nhân chính là pháp giới, thâu nhiếp
khắp hết thảy các pháp, chẳng có một pháp nào
vượt ngoài nhân. Duyên tức là pháp giới, cho đến
năng sanh (cái có thể sanh), sở sanh (pháp được
sanh), không ǵ chẳng phải là pháp giới. Không cũng là
pháp giới, Giả cũng là pháp giới, Trung cũng là
pháp giới. Thông th́ gồm đủ bốn câu. Biệt
th́ một câu “tức Trung” đă đủ. Đó là v́
sao Trí Giả đại sư bỏ Thông, giữ lấy Biệt,
thẳng thừng dựa vào bốn câu để lập ra
tứ giáo.
Lại nữa, “nhân
duyên sở sanh pháp” (pháp sanh bởi nhân duyên) chính là Sanh Diệt
Tứ Đế. “Ngă thuyết tức thị Không” (ta
nói chính là Không) tức Vô Sanh Tứ Đế. “Diệc
danh vi giả danh” (Cũng tên là giả danh) tức Vô
Lượng Tứ Đế. “Diệc danh Trung Đạo
nghĩa” (Cũng là nghĩa Trung Đạo) tức Vô Tác
Tứ Đế. Lại nữa, biết chánh nhân duyên cảnh,
Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô Lượng, Vô Tác đều là nhân
duyên. Biết “tức Không” đều chính là Không, biết
“tức Giả” đều chính là Giả, đều
là giả danh. Biết Trung Đạo đều là Trung
Đạo. Lại nữa, biết Sanh Diệt Tứ Đế,
nhân duyên Không, Giả, Trung đều là sanh diệt. Biết
Vô Sanh Tứ Đế đều là Vô Sanh. Biết Vô Lượng
Tứ Đế đều là Vô Lượng. Biết Vô Tác
Tứ Đế đều là Vô Tác.
* Trả lời câu hỏi của
Từ Trọng Thao
Bốn
câu kệ của Trung Luận đàm luận đế lư
sâu xa, chẳng dính dáng tới công phu quán chiếu. Hiểu
rơ đế lư th́ quán chiếu cũng ở trong đấy.
Trước hết, chia thành hai phần: Câu đầu tiên
nói về Sự cảnh, ba câu sau đó hiển thị Tam
Đế. Nêu lên Sự cảnh th́ bất luận sắc
hay tâm, giả hay thật, đều là cậy vào nhân, nhờ
vào duyên mà sanh, tức là nói: Trọn khắp thập giới,
thập như, bách giới thiên như, ba ngàn tánh tướng,
mỗi mỗi đều gọi là “pháp sanh bởi nhân
duyên”. Nếu nói tâm là cái nhân của trần, trần là
cái duyên của tâm, sẽ hết sức vướng vất,
trở ngại! Nếu hiểu sai câu này, phần kinh
văn sau đó sẽ quy kết như thế nào! Huống
chi Không, Giả, Trung thẳng thừng ước theo pháp
được sanh, trọn đủ, trọn hiện, chớ
nên hiểu theo thứ tự, càng chớ nên gán ghép với
quán môn. Giáo nhăn tinh diệu, quyết chẳng phải là kẻ
thô tâm, hời hợt có thể lănh hội được!
Đành đợi cho đến khi cư sĩ đă thành tựu
hạnh môn, xoay ḿnh xông vào. Nói đại lược th́ chỉ
nói là các thứ Sự cảnh được sanh bởi
nhân duyên, không ǵ chẳng ngay khi đó bèn chính là
Không, Giả, Trung. Do vậy, nếu đàm luận cặn
kẽ, dẫu chín mươi ngày vẫn chẳng trọn hết
ư chỉ ấy. Nay câu “tức Không” nửa đúng, nửa
sai, Giả và Trung hoàn toàn cách xa, há có thể vội vàng lẫn lộn
vung bút ư?
* Trả lời hai câu
hỏi của Nhị Hoa
Muốn
hiểu rơ Đại Bát Niết Bàn, cần
biết ư nghĩa Vô Dư Niết Bàn của Tiểu Thừa.
Chưa hiểu rơ nghĩa trong Tiểu Thừa, sẽ do
đâu mà bàn luận Đại Thừa? Nay nói về Vô
Dư Niết Bàn. Một là bàn về tướng bí mật,
hai là khai hiển để nói.
1)
Tướng bí mật: Đức Phật và Kỳ Bà tới
một vùng hoang vu, Ngài lấy xương khô để nói,
hỏi về thiện ác lúc sống, nam, nữ, thọ, yểu,
cho đến chết đi về đâu, [Kỳ
Bà] chẳng đáp sai mảy may. Đức Phật hướng
đến một ngọn núi khác ở nơi xa, lấy một
khúc xương. Kỳ Bà đôi ba lượt búng
xương để nghe, mờ mịt chẳng biết.
Đức Phật bảo: “Đây là xương của một
vị La Hán, đă quên ngă tướng, đă đoạn hậu
hữu, chẳng thuộc vào ba đời, chẳng bị
tam giới ràng buộc, nên ông chẳng thể biết
được!” Nh́n từ đấy, Vô Dư Niết Bàn
đă là chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ Đại
Niết Bàn ư? Đừng nên thấy nói như vậy,
bèn hiểu là đoạn diệt! Ngoại đạo hỏi
“La Hán sau khi chết là có hay không?” Đức Phật đáp
“đều là hư luận”. Lại hỏi: “Rốt cuộc
là như thế nào?” Đức Phật nói: “Củi chất
chứa, ném vào đó một mồi lửa nhỏ, cháy măi
chẳng dứt. Lần lượt thêm củi vào, [lửa]
lần lượt bùng cháy mạnh hơn. Nếu như củi
hết, lửa cũng diệt theo. Lửa ấy có chỗ
đi hay không có chỗ đi? Là đoạn diệt, hay chẳng
đoạn diệt?” Ngoại đạo nói: “Lửa
không có chỗ đi, cũng chẳng phải là đoạn
diệt. Lửa diệt ở chỗ này, chẳng phải
là hết thảy tánh lửa đều diệt”. Đức
Phật nói: “La Hán cũng giống như thế, củi
Hoặc nghiệp hết, lửa quả báo diệt. Há có ǵ
để có thể nói là có đi hay chẳng đi, đoạn
và chẳng đoạn”. Đó là nói theo tướng bí mật.
2)
“Khai hiển” là Nhị Thừa chỉ đoạn Phần
Đoạn sanh tử trong tam giới, vẫn chưa
vĩnh viễn đoạn Biến Dịch sanh tử ở
ngoài tam giới. Dẫu Phàm Thánh Đồng Cư Độ
chẳng có chỗ thọ sanh, vẫn thọ pháp tánh sanh
thân thuộc Phương Tiện Hữu Dư Độ.
Tuy thân
pháp tánh chẳng phải là đoạn hay
thường, vẫn dường như có đến,
đi. Như Lai đă trọn hết ngũ trụ,
vĩnh viễn đă mất hai loại chết (Biến Dịch
và Phần Đoạn), biết hết thảy
các pháp không ǵ chẳng phải là tức tâm tự tánh, chẳng
ĺa chỗ hiện tại mà vắng lặng viên thường.
Ước theo chánh báo th́ gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân.
Ước theo y báo th́ gọi là cơi Thường Tịch
Quang. Ước theo trí đức th́ gọi là Vô Thượng
Bồ Đề. Ước theo đoạn đức th́
gọi là Đại Bát Niết Bàn. Thân và cơi chẳng hai,
trí đoạn khó nghĩ. Nói tóm lại, chẳng có một
vi trần nào chẳng phải là toàn thể đại dụng
thuộc pháp giới chẳng thể nghĩ bàn của
Như Lai. Do đó nói “thân Phật đầy ắp pháp
giới, hiện trọn khắp trước các chúng sanh”.
Tường, vách, ngói, sỏi, thanh tịnh Pháp Thân, mỗi
sắc, mỗi hương, không ǵ chẳng phải là Trung
Đạo. Hăy nên biết: Cảnh giới sanh tử luân hồi
của chúng sanh toàn là cảnh giới Đại Bát Niết
Bàn của Như Lai. Người say thấy nhà xoay, tức
là người tỉnh thấy nhà chẳng xoay, chẳng phải
là hai căn nhà! Phật thành Vô Thượng Giác, đích thân
chứng tướng “vốn sẵn thường
tịch diệt” của
các pháp, chẳng xuất, chẳng nhập, chẳng diệt,
chẳng sanh, là tánh tịnh Niết Bàn, nhân quả của
hai thứ tử (Biến Dịch và Phần Đoạn)
vĩnh viễn đoạn, được gọi là Viên Tịnh
Niết Bàn. V́
chúng sanh mà thị hiện sanh diệt làm phương tiện
để tịnh Niết Bàn. Kinh nói “đức Phật
nhập Niết Bàn” chính là [nói theo] tướng tịnh
thuộc phương tiện, chẳng phải là Di Đà
vô lượng kiếp sau mới chứng Đại Niết
Bàn.
* Trả lời năm
câu hỏi về tỳ-kheo giới
(đính kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Trời người có thể ǵn giữ cái học Tỳ
Ni th́ khi phước hết, sẽ như thế nào? Nếu
người nào đối với Tông, Giáo [chú trọng] mở
nhăn mục trước, coi Đạo Cộng Giới là
nhiệm vụ cấp bách, quư trọng kiến địa,
chẳng coi trọng hành tŕ, có phải là chẳng đúng
hay không?
Đáp:
Cái học Tỳ Ni chính là chánh nhân xuất thế. Có Giới
Ba La Mật th́ Phật địa mới măn, há chỉ là
phước nhân thiên ư? Khai nhăn trong Tông, Giáo, tuy nói là
tương tự, nhưng ĺa Giới mà riêng bàn về Tông,
Giáo, sẽ đọa vào ác kiến! Ngài Quy Sơn nói: “Pháp
tịch Tỳ Ni c̣n chưa được may mắn phụng
sự, há có thể biện định rành rẽ liễu
nghĩa thượng thừa ư?”
Ngài Kinh Khê nói: “Dùng bốn giới đầu làm cảnh,
dùng sáu [giới sau đó] để quán, Sự và Lư chính là lẫn
nhau, hăy nên biết Thiên Tụ[54]
chẳng thể thiếu khuyết một điều nào!”
Người đời khinh miệt Sự, vẫn muốn
đạt tới Lư sâu, hăy nghiệm biết phép Quán ấy
trơ trọi, rỗng tuếch, chẳng có gốc! Đă
thiếu quán cảnh, cũng chẳng có cách nào quán
được! Lời giáo huấn chân thành của Tông, Giáo
đă rành rành, sao chẳng suy gẫm? Vô Thượng Giới
mà phán định thuộc nhân thiên, bỏ luật nghi mà bàn
suông Đạo Cộng Giới, chánh kiến đă phá, ắt
sẽ bỏ lơ hành tŕ, đường ác tam đồ
chắc chắn có phần, muốn được làm trời,
người vẫn chẳng thể được!
2) Hỏi:
Đối với phường độn căn thời Mạt,
chỉ nên nói đại lược những điểm trọng
yếu [trong giới luật]. Cơi đời c̣n sợ Tứ
Phần Luật Tạng rườm rà, sao chẳng nêu ra những
điều cốt lơi của giới bổn Tứ Phần,
thêm vào chú thích đại lược để cởi gỡ
nỗi nghi [mà thôi]?
Đáp: Cố chấp,
si dại, ương ngạnh, trọn chẳng có ngày giải
trừ, ắt cần phải học rộng, đừng
nên nói sơ lược th́ mới có thể cứu chữa
được! Nếu chỉ giải thích sơ lược
kèm theo đối với khai, giá, tŕ, phạm, [học nhân]
sao có thể hiểu rơ cho được? Người yêu
thích Phật pháp đă khó có thể thông, kẻ quen thói biếng
nhác vẫn chưa chắc chịu học! Tiến thoái
đều thất thố, [chỉ giảng nói giới luật
sơ sài th́] có lợi ích ǵ?
3) Hỏi:
Một môn Niệm Phật rộng lớn, đơn giản,
dễ dàng. Nhất tâm niệm Phật tự nhiên dứt
ác, ngừa sai, c̣n
như Luật Tướng mênh mông, đă chẳng
đơn giản, dễ dàng, mà quả tột bậc chỉ
là Thanh Văn, lại chẳng rộng lớn, chẳng hay
khéo bằng chuyên hoằng dương Tịnh Độ!
Đáp:
Tŕ giới và niệm Phật vốn là một môn. Tịnh
giới là nhân, Tịnh Độ là quả! Nếu coi Tŕ
Danh là đường tắt, học
Luật là quanh co, th́ đă trái nghịch lời dặn ḍ
chân thành trước lúc [đức Phật] lâm chung, sao có
thành tựu Niệm Phật tam-muội cho được?
Chướng cấu lắm nỗi buộc ràng, há sanh Tịnh
Độ được ư? Giống như biển chẳng
có bờ, há chẳng rộng lớn ư? Đảm bảo
giải thoát, há chẳng đơn giản, dễ dàng? V́ thế,
người nhất tâm niệm Phật ắt phải
nghĩ dứt ác, ngừa sai, bèn chuyên ṛng nơi Luật Học.
Người chuyên ṛng nơi Luật Học th́ mới có thể
quyết định văng sanh, lại c̣n nhất tâm niệm
Phật, hiện thời là nối tiếp hưng thịnh
Tam Bảo, lâm chung thượng phẩm thượng sanh.
Pháp môn mầu nhiệm, không chi hơn pháp này! Chỉ là cùng
một đại sự, sao lại chống trái, khiến cho kẻ
hiểu biết bật cười?
4) Hỏi:
Tội do chê bai, chán ghét, chế định tùy theo nơi chốn.
Phương này chẳng chê gièm, há trái nghịch thánh huấn?
Lại c̣n nhằm lúc mạt vận, ngoại duyên chẳng
thuận lợi, nội nhân ít thiếu, cứ muốn chẳng
sai phạm dẫu bằng mảy lông để diễn
Giáo, hoằng Tông, ắt Phật pháp chẳng thể lưu
truyền rộng răi. Toàn vẹn tiểu tiết mà đánh
mất lợi ích to lớn, há có phải là bổn tâm của
Bồ Tát?
Đáp:
Do hết thảy tri kiến mà Như Lai v́ khắp chúng sanh
trong cơi đại thiên chế định giới luật.
[Những kẻ chống trái] như Lục Quần tỳ-kheo
v.v… cũng là bậc đại quyền thị hiện, thấu
hiểu tâm thái của đời Mạt mà thị hiện
duyên phạm giới. Chính v́ t́nh người biếng nhác,
chẳng chịu b́nh đẳng ǵn giữ giới khinh hay
trọng đến nỗi trở thành mạt vận. Nay
muốn hoằng Tông, diễn Giáo, ắt phải lấy tŕ
giới làm gốc. Nội nhân đă thuần hậu, ngoại
duyên tự thịnh. Từ tướng bạch hào tỏa
ra một phần quang minh, quyết chẳng phải là lời
dối trá! Nếu coi giới
là tiểu tiết, sẽ thành báng pháp, đàm Tông, thuyết
Giáo đều thành luông tuồng, mờ
mịt. Nếu có ngoại duyên thuận lợi, sẽ
đều thành ma nghiệp, có ích ǵ cho chánh pháp?
5) Hỏi:
Chư Tổ tại Tây Càn tinh thông Tam Học, nơi đây
là chốn xa xôi, thời gian đă xa vời, ít người
thấy nghe. Chỉ có từ thời Đường - Tống
trở đi là có vài bậc thầy, tung tích tỏ lộ,
nhưng ở bên
ḍng nước, hoặc chốn rừng rậm, dùng ba cái sọt
trúc, một cái
cuốc để tự sống thanh tịnh, tới khi suất
lănh đồ chúng th́ coi “một ngày không làm, một ngày
không ăn” là quy củ thơm thảo chân thật. C̣n
như lúc hoằng dương, tiếp độ đại
chúng rộng lớn bèn dùng một gậy, một tiếng
quát để nêu bày lẽ hướng thượng, đều
chẳng tương ứng với Luật Học. Kẻ
hảo tâm xuất gia do hành cước vào núi, cho tới khi
lên ṭa, đắp y
[để thuyết pháp], không ai chẳng phỏng theo quy
cách ấy! Nay c̣n chấp nhận chư tổ như trên là tỳ-kheo
chân thật ư? Nếu chẳng phải, sao họ có thể
tiếp nối ngôi vị Tổ? Nếu là phải, sao họ
chẳng tuân thủ giới luật? Lại nữa, nay kẻ
tiếp nối ngôi vị Tổ, theo lệ coi thường
Luật Học; các tổ trước kia cũng coi thường
ư? Lại nữa, người tiếp nối ngôi vị
hiện thời, chẳng tuân thủ giới mà truyền
trao giới cho người khác;
chư tổ xưa kia cũng truyền
giới cho người khác ư?
Đáp:
Tổ có ba loại:
1. Một là bậc
nghiêm tịnh Tỳ Ni, là tấm gương to lớn cho
tam giới, như Viễn Công (tổ Huệ Viễn), Trí
Giả, Tả Khê, Vĩnh Gia, Kinh Khê, Đại Mai, Vĩnh
Minh, Cao Phong, Trung Phong, Sở Thạch v.v… Bậc tri thức
xưa nay như thế cũng rất nhiều, đáng nên
kính ngưỡng, phỏng theo.
2. Hai là sanh nhằm thời
Mạt, do t́nh thế bất đắc dĩ, tuân theo di mạng
của đức Phật, xả vi tế giới, ở
nơi vắng lặng, bèn đẵn cây,
đốt rẫy, lănh chúng th́ khai khẩn ruộng đất.
Nhưng các giới như “chẳng ăn phi thời” v.v… vẫn
tự tuân hành. V́ thế, buổi tối dùng dược thạch,
chẳng giống như cơm, cháo. Ngài Đức Sơn
khất thực cũng do nh́n theo bóng dáng[55],
nhưng các vị tri thức ấy sẽ
chẳng chịu truyền giới cho người khác. Do vậy,
từ thời Đường - Tống tới nay, có chùa
Thiền giảng Luật.
Người mới xuất gia phần nhiều học Luật.
Nếu nắm vững Luật, bèn tự hoằng truyền
Luật. Chẳng nắm được, bèn tập giảng,
tham Thiền, chỉ là xả giới vi tế, chẳng xả
trọng giới và tánh giới. Lại có người tiến
ngay vào Thiền, Giáo, tức là hạng “thừa cấp giới
hoăn”, nhưng vẫn thủ hộ năm giới căn
bản, chắc chắn chẳng có lẽ nào hủy trọng
giới, quyết chẳng dám tự xưng là tỳ-kheo mà
khinh dễ Luật Học, chỉ thẹn chưa thể
[giữ trọn vẹn giới Luật] là điều
đáng xấu hổ nơi đức hạnh. C̣n việc
xuất thế
tiếp độ người khác th́ hoặc là thọ giới
phẩm lần nữa, tánh, giá đều tịnh như Lục
Tổ v.v… Hoặc chỉ nêu một ḿnh lẽ hướng
thượng để tiếp độ riêng một loại
căn cơ như ngài Thọ Xương v.v… Như có
người hỏi ngài Thọ Xương: “Đức
Phật chế định tỳ-kheo không được
đào đất, tổn thương cỏ cây, nay sao lại
trồng trọt, cày cấy,
thâu hoạch?”
Sư đáp: “Bọn ta chỉ ngộ Phật tâm, kham
truyền ư Tổ, chỉ dạy kẻ đương
cơ, khiến cho họ hiểu biết tâm tánh và
phương cách của chánh pháp, chỉ xưng là cư
sĩ cạo tóc, nào dám nhận danh xưng tỳ-kheo”. Lại
hỏi: “Nếu có tỳ-kheo đúng như pháp, Sư coi
như thế nào?” Đáp: “Sẽ kính trọng như
Phật, dùng lễ đối đăi như thầy”. Chẳng
phải là không làm, mà thật ra là chưa thể! Lại
như Tử Bách đại sư suốt đời ăn
một bữa cháo, một bữa cơm, chẳng hề
ăn vặt, hông chẳng ngả xuống chiếu suốt
bốn mươi mấy năm. Do Ngài chẳng thể tŕ
giới vi tế, trọn đời chẳng dám truyền giới
Sa-Di và tỳ-kheo cho người khác. Nếu bất đắc
dĩ, th́ truyền thọ pháp Ngũ Giới mà thôi! Than ôi!
Chư tổ xưa kia kính trọng Luật Học ngần
ấy, há dám coi thường ư? Nếu coi thường
Luật, chắc chắn thuộc phường tà kiến,
chẳng phải là bậc tông tượng!
3) Ba là đại dụng
hiện tiền, xét theo căn
cơ mà tạo lợi ích, phá nghi chấp của người
khác, chẳng câu nệ quy củ thường hằng.
Như Văn Thù Bồ Tát cầm
gươm bức Phật kết hạ ở ba chỗ[56].
Tỳ-kheo Trọng Thắng cùng ngồi với người
nữ, khiến cho kẻ đó chứng Vô Sanh. Cho đến
Hàn Sơn và Thập Đắc quở trách Luật Chủ,
Quy Nam chém mèo, rắn[57].
Ví như lương y dùng tỳ sương[58]
để trị bệnh, đại tướng dùng kế
lạ để trừ giặc, nhưng chẳng thể
coi đó là khuôn phép. Lại nữa, phàm kẻ quở Phật,
chửi Tổ, phang đập đau đớn, hay quát
tháo dữ dội, đều là bất đắc dĩ mà
dùng. Nói đến binh khí th́ đó là vật bất tường,
chẳng phải là vải bông, thóc gạo. Sử dụng
thích đáng, nơi h́nh tích th́ dường như trái Luật,
nhưng thật ra là tŕ luật chân thật, do nắm
được ư chỉ của Luật. Như kinh nói phu
nhân Mạt Lợi uống rượu để cứu
người khỏi bị giết[59],
đức Phật tán thán bà ta thật sự tŕ
trai giới. Bồ Tát xét căn cơ mà làm các chuyện
như giết, trộm v.v… nhưng chẳng vi phạm Bồ
Tát Giới, c̣n sanh nhiều công đức. Nếu chẳng
đúng lẽ, sẽ thành đặt bày môn đ́nh, như
Ưu Mạnh học đ̣i Thúc Ngao[60],
Tông đă chẳng ra Tông, Luật lại chẳng phải
là Luật, báng Đại Bát Nhă, khiến cho kẻ hậu
học ngờ vực, lầm lạc, báo ứng dữ dội
trong chốn tam đồ, sẽ do đâu mà tránh được?
Nếu c̣n dẫn dụ kẻ ngu, tạo đủ loại
phước, do phước lực duy tŕ, chẳng đọa
lạc ngay, rốt cuộc là quyến thuộc của ngoại
đạo, tà ma, chẳng phải là đệ tử của
Phật!
Thời Mạt có nhiều
loại yêu ma, dối gạt, mê hoặc người đời
như thế đó. Chúng
nó bị ma nhiếp phục, phụ trợ, được
nhiều cúng dường, tụ tập đại chúng cả
trăm ngàn người, quyến thuộc, con cháu trọn
khắp thiên hạ, hủy giới, hủy giáo, phá hoại
pháp luân chân chánh của Như Lai. Kẻ ngu tiểu vô tri hâm
mộ thanh danh của chúng nó, tranh nhau bắt chước,
khiến cho người hảo tâm xuất gia đều lọt
vào bè đảng ấy, cầu thăng lên, đâm ra đọa
xuống, buồn ḷng, xót dạ lắm thay! Nhưng do vẫn
lấy Tam Bảo làm cảnh sở duyên, khi tội báo
đă hoàn tất, vẫn nhờ vào sức của Phật,
Pháp, Tăng, Giới mà được độ thoát. Ma
vương nói với đức Phật: “Trong thời Mạt
Pháp của Ngài, tôi sẽ sai quyến thuộc ăn cơm
của Ngài, đắp y của Ngài để phá hoại
pháp của Ngài”. Đức Phật bảo: “Ông chỉ
tự hoại, Pháp chẳng hoại”. Nay muốn chẳng
đọa tam đồ, lại c̣n dự vào thánh quả,
xin hăy ắt khởi đầu bằng tŕ giới. Nếu
mang cái danh thọ giới, lại khinh rẻ giới pháp,
đă không tinh tường giới pháp, lại c̣n v́ người
khác truyền giới, lại chẳng dạy họ học
giới, c̣n nói giới là Tiểu Thừa, chẳng cần
học tập, ắt quyết đọa tam đồ, là
quyến thuộc của ma, tự hứng chịu nỗi
khổ, không ai có thể chịu thay, rốt cuộc
cũng ắt đều thành Phật cả. Tôi chẳng
dám khinh rẻ!
* Đáp
các câu hỏi của ông Đường Nghi Chi về ư
nghĩa trong sách (có trích dẫn)
“Trí
cập chi” (do trí mà thấu hiểu) chính là nói tới “cách
vật trí tri” (hiểu biết sự vật để
thấu đạt tới tận cùng) trong sách Đại Học,
và “trạch hồ Trung Dung, đắc nhất thiện”
(chọn lựa đạo Trung Dung là đạt được
một phương cách tốt lành) trong sách Trung Dung. “Nhân
thủ chi” (dùng ḷng nhân để giữ lấy), tức
là “thành ư chánh tâm” trong sách Đại Học và “quyền
quyền phục ưng nhi phất thất chi dă” (vâng giữ
chặt chẽ trong tâm, chẳng dám để mất) trong
sách Trung Dung. “Trang lỵ chi” (trang trọng mà thực
hiện) tức là “tu thân” trong sách Đại Học
và “thành thân” (誠身) trong sách Trung Dung. “Động chi dĩ lễ”
(dùng lễ để cảm động người khác) tức
là “tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ” trong sách
Đại Học và “thuận thân, tín hữu, hoạch
thượng” (thuận thảo với người thân,
giữ chữ tín với bạn bè, được
bề trên tin tưởng) trong sách Trung Dung. Thánh nhân thuyết
pháp, ứng theo bệnh mà cho thuốc. Nếu v́ trí chưa
thấu hiểu, bèn nói “tri đức giả tiễn hỹ”
(kẻ thấu hiểu đức hiếm hoi lắm). Do
suy nghĩ vô ích chẳng bằng học; suy nghĩ mà chẳng
học sẽ luống công mệt nhọc. Đấy là ư
nghĩa coi trọng “lớp lang, thứ tự được
điều ḥa từ lúc khởi đầu”[61]
của Mạnh Tử. Nay quở trách chuyện công năng
do “trí cập chi” và “nhân thủ chi” chính là ư
nghĩa kiêm coi trọng “kết thúc sự điều ḥa thứ
tự, lớp lang” của
Mạnh Tử (tuy bắn trúng bia, nhưng chẳng đúng
vào hồng tâm, vẫn chẳng phải là giỏi bắn.
Huống hồ chẳng trúng hồng tâm mà cũng chẳng trúng bia! Tài khéo và sức mạnh [trong việc
bắn cung] đều chẳng thể coi
thường. Trước hết luận về sự
khéo léo, sau đó bàn về sức mạnh). “Càn tri đại
thỉ, Khôn tác thành vật” (Biết Càn là sự khởi
đầu to lớn, Khôn tạo thành muôn vật)[62].
Có Khôn mà không có Càn, cố nhiên là chẳng thể được.
Có Càn mà chẳng có Khôn, há lại có thể
được ư? Chẳng có bước đầu, sẽ
chẳng có khởi thủy cho cái rốt ráo cuối cùng; chẳng
về đến nhà, sẽ chẳng coi là kết cục
cho bước đầu tiên. Đấy là cái học “hợp
nhất trí và nhân” của Nho môn, cũng giống như cái học
“giải hạnh thấu triệt lẫn nhau” của Phật
môn. Chẳng rườm rà bàn thêm về Nho, xin hăy nói về
cái học trong nhà Phật. Cần phải chia thành tứ giáo để biện định
nội, ngoại, tiểu, đại, thiên, viên. Xin hăy suy nghĩ
cặn kẽ, đừng coi thường!
Tạng
Giáo biết tam giới khổ, không, vô thường, vô ngă,
bất tịnh, đó gọi là “trí
cập chi” (trí thấu hiểu). Niệm nào cũng
đều tương ứng với Tứ Niệm Xứ,
chẳng dấy lên Kiến Tư phiền năo, bèn gọi là “nhân
năng thủ chi” (do ḷng nhân bèn ǵn giữ sự thấu
hiểu ấy). Thân khẩu ư nghiệp luôn
tương ứng với ba ngàn tám vạn luật nghi, gọi
là “trang dĩ lỵ chi” (trang trọng thực hiện
ḥng đạt tới), đạt được “chẳng
quên niệm”. Trong hết thảy các thời, ứng theo
căn cơ mà lập giáo, đó là “động chi dĩ
lễ”. Uất Đầu Lam Phất nhập Hữu
Đảnh Định cũng tương tự “nhân thủ”
(dùng ḷng nhân để ǵn giữ). Oai nghi tịch tĩnh có
lớp lang, giống như “trang lỵ” (trang trọng
thực hiện). Do cái được gọi là “Định
môn” mà nhiếp hóa nhiều người phục tùng đạo
ấy, tương tự như “động chi dĩ lễ”.
Do trí ấy chưa đạt tới xuất thế, nên “thủ”
(ǵn giữ, duy tŕ [đạo ấy]) chẳng gọi là
Nhân, Lỵ (thực hiện) chẳng gọi là Trang, Động
chẳng gọi là Lễ (Uất Đầu Lam Phất
cũng là trí đă đạt tới Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ, nhưng chẳng phải là trí xuất
thế gian).
Tu Đà Hoàn xả giới hoàn tục là “trí
cập chi, nhân bất năng thủ chi” (trí đă thấu
hiểu, nhưng chưa thể dùng ḷng nhân để giữ lấy sự
hiểu biết do cái trí thấu đạt ấy). Xá Lợi
Phất có tập khí sân, Tất Lăng Già (Tất Lăng Già Bà Ta, Pilindavatsa) có tập khí mạn, Nan Đà có tập khí tham, Kiều
Phạm Ba Đề (Gavāṃpati)
có tập khí nhai nhóp nhép v.v… Các vị
ấy có thể dùng nhân để giữ lấy, nhưng
chưa thể trang trọng thực hiện. Thần thông của
các vị Ca Diếp, Mục Liên v.v… phải tác ư mới có,
tức là xử sự vẫn chưa ḥa toàn tương ứng
với lễ.
Thông
Giáo biết tam giới như mộng, huyễn, hoa đốm
trên không, trăng trong nước, gọi là “trí cập
chi”. Niệm nào cũng đều tương ứng với
Không Quán, gọi là “nhân năng thủ chi”. Đối
với hai câu “trang dĩ lỵ chi”, luận định
giống như Tạng Giáo. Cực quả trong Tạng Giáo
tuy đạt đến cảnh giới “động chi
dĩ lễ” (xử sự đều hợp lễ),
nhưng chẳng thấu đạt “các pháp vốn Không”, chẳng
gọi là “trí cập chi”. Do trí chưa đạt tới,
chẳng gọi là “nhân thủ” (giữ ǵn bằng ḷng nhân) v.v… Kiến Địa và Bạc Địa cũng có
người xả giới hoàn tục, tức “chẳng thể
giữ lấy”. Đă đạt tới địa vị
nhưng chẳng trừ khử tập khí, nên chẳng
phải là “trang lỵ”
(trang trọng thực hiện).
Địa vị Bích Chi Phật tập khí chưa tận,
gọi là “động chi bất dĩ lễ” (xử
sự chẳng hoàn toàn tương ứng với lễ).
Biệt
Giáo biết sanh tử là hữu biên, Niết Bàn là vô biên,
Chân Như pháp tánh chẳng phải có, chẳng phải
không. Nương vào Chân Như sẽ thành cái Có thuộc về
sanh tử, cái Không thuộc Niết Bàn, đó gọi là “trí
cập chi”. Trước là dùng Không Quán để đoạn
Kiến Tư Hoặc, thoát khỏi bờ Hữu nơi
sanh tử, gọi là “nhân năng thủ chi”. Kế
đó, Giả Quán phá Trần Sa Hoặc, thoát khỏi bờ
Vô nơi Niết Bàn, gọi là “trang dĩ lỵ chi”.
Sau đó, Trung Quán phá Vô Minh Hoặc, chứng cái Thể của
Trung Đạo. Từ Thể khởi Dụng, gọi là “động
chi dĩ lễ”. Cực quả của Thông Giáo tuy đạt
tới cảnh giới “động chi dĩ lễ”,
nhưng chẳng thấu đạt Trung Đạo pháp
tánh, nên chẳng gọi là “trí cập chi”.
Do trí chưa đạt tới, nên chẳng
gọi là “nhân thủ” v.v… Thập Tín có thoái thất tức
là “nhân bất năng thủ chi”. Thập Trụ tự
lợi, tức là chẳng “trang dĩ lỵ chi”. Thập
Hạnh chưa tu Trung Đạo, Thập Hồi Hướng
chưa chứng Trung Đạo, tức là “động
chi bất dĩ lễ”.
Viên
Giáo biết “hết thảy các pháp đều là Phật
pháp, Thật Tướng của pháp giới, tánh và tướng
thường trụ. Mỗi sắc, mỗi hương,
không ǵ chẳng phải là Trung Đạo, sanh tử tức
Niết Bàn, phiền năo tức Bồ Đề”, có thể
phá trừ trọn khắp hết thảy các pháp thế
gian và xuất thế gian, có thể kiến
lập hết thảy các
pháp thế gian và xuất thế gian, có thể thống
nhiếp, dung quán hết thảy các
pháp thế gian và xuất thế gian, gọi
là “trí cập chi”. Niệm nào cũng đều
tương ứng với Chỉ Quán viên diệu
ấy, chế phục trọn
vẹn ngũ trụ phiền năo, gọi là “nhân năng
thủ chi”. Sáu căn thanh tịnh, gọi là “trang
dĩ lỵ chi”. Nhập vô công dụng diệu đạo,
gọi là “động chi dĩ lễ”. Lại nữa,
trí, nhân, trang, lễ của Viên Giáo mỗi mỗi viên dung, mỗi
mỗi đều thâu nhiếp lẫn nhau, chẳng phải
một, chẳng phải bốn, tuy một mà là bốn.
Trong địa vị
Danh Tự, bèn có danh tự “trí, nhân, trang, lễ”, cho
đến địa vị Cứu Cánh, bèn có “trí, nhân,
trang, lễ” rốt ráo. Nay gọi Danh Tự “trí, nhân,
trang, lễ” bằng tên gọi chung là “trí cập chi”.
Quán Hạnh “trí, nhân, trang, lễ” được gọi
chung là “nhân năng thủ chi”. Tương Tự “trí,
nhân, trang, lễ” được gọi chung là “trang
dĩ lỵ chi”. Phần Chứng và Cứu Cánh “trí,
nhân, trang, lễ” được gọi chung là “động
chi dĩ lễ”. Viên Dung chẳng trở ngại Hàng Bố[63],
Hàng Bố chẳng trở ngại Viên Dung, do pháp vô vi mà có
sai biệt, chính là nói về điều này. Thập Hồi
Hướng trong Biệt Giáo tuy đạt được
cảnh giới tương tự “động chi dĩ
lễ”, nhưng chưa đạt được tánh
Trung Đạo viên dung chẳng thể nghĩ bàn, chẳng
gọi là “trí cập chi”. Do trí chẳng đạt mức
nên chẳng gọi là “nhân thủ” (dùng ḷng nhân để
ǵn giữ) v.v…
Danh
Tự khai viên giải, nhưng chưa chế phục phiền
năo, tức là “nhân bất năng thủ chi”. Quán Hạnh
chế phục Ngũ Trụ, nhưng chưa thanh tịnh
lục căn, tức là chẳng “trang dĩ lỵ chi”.
Tương Tự đă tịnh lục căn, nhưng chẳng
nhập vô công dụng đạo, tức là chẳng “động
chi dĩ lễ”. Quy Sơn
đại sư nói: “Khó đạt
được sự kỳ diệu của Tông này, cần
phải hết sức dụng tâm cẩn mật” chính là
tán thán sâu xa sự khó khăn của “trí cập chi”
trong Viên Giáo. Có thể đốn ngộ chánh nhân trong ấy,
sẽ là bậc thềm để xuất trần. Nếu
có thể đời đời bất thoái, địa vị
Phật chắc chắn có thể mong đạt tới.
Đó là “trí cập chi” của Viên Giáo, đ̣i hỏi
phải có công năng toàn vẹn của “nhân thủ”!
* Giải đáp chín câu
hỏi về Thành Duy Thức Luận
(có đính kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Mạt Na tương ứng với huệ. V́ thế, trong
cái nhân, nó thuận theo thức thứ sáu mà chuyển thành
trí. C̣n Tạng Thức chẳng có Huệ, cho tới khi
đạt được cái quả th́ mới trọn vẹn.
Năm thức trước đă đều có Huệ, lại
c̣n đều có thiện, nhưng lại thuộc vào Chuyển
Thức. V́ sao chẳng thuận theo thức thứ sáu để
chuyển ngay trong cái nhân mà cũng phải đợi đạt
tới quả th́ mới viên măn?
Đáp:
Huệ của Mạt Na chính là ngă kiến. Ngă kiến chẳng
có tự thể, thẳng thừng dùng Huệ làm Thể. Thức
thứ sáu vào trong hai phép Quán (Duy Tâm Thức Quán và Chân Như
Thật Quán). Thức thức bảy th́ hai chấp (ngă chấp
và pháp chấp) chẳng thể hiện hành. V́ thế,
được chuyển thành B́nh Đẳng Tánh Trí.
Nhưng thức thứ sáu vượt khỏi Pháp Không Quán,
thức thứ bảy vẫn khởi Pháp Chấp. Thức
thứ sáu vượt khỏi Sanh Không Quán, thức thứ
bảy vẫn khởi Ngă Chấp. Nhưng thức thứ
bảy là bất cộng thân y[64]
của thức thứ sáu. V́ thế, thức thứ sáu chuyển
[thức thành trí], nhưng thức thứ bảy chẳng
chuyển. Như năm thức trước tuy đều
có huệ, nhưng chẳng tương ứng với ngă kiến, cho nên huệ rất
kém. Tuy có điều thiện, nhưng là tạm
tương ứng với điều thiện của thức
thứ sáu hoặc điều thiện nơi cảnh giới,
chẳng thể đoạn Hoặc, chứng Lư. Bởi lẽ,
muốn đoạn Hoặc, cần phải do tâm Định.
Do trong Định tâm phần nhiều chẳng có năm thức
trước, măi cho tới khi chứng quả vị, các chủng
tử hữu lậu trong thức thứ tám đă tận,
[thức thứ tám] chuyển thành tương ứng với
Đại Viên Kính Trí (Ādarśa-jñāna),
bèn gọi là Vô Cấu Thức (Amala). Từ
tịnh thức ấy, biến hiện Tướng Phần
của ngũ căn. Do thuần vô lậu, nương vào
đó mà phát khởi thức, [các thức được
phát khởi ấy] cũng thành vô lậu, gọi là tâm phẩm
tương ứng với Thành Sở Tác Trí (Krtyānusthāna-jñāna),
chỉ thuộc vào tác dụng hóa độ người
khác nơi quả, chẳng thể tự lợi, chẳng
giống như thức thứ bảy.
2) Hỏi:
Do có ngă kiến, các kiến khác chẳng sanh. Do trong một
tâm chẳng có hai huệ, sao lại là “đă có ngă kiến
mà lại c̣n tương ứng với huệ?”
Đáp:
Tâm Sở có giả và thật, như Huệ trong Biệt Cảnh
th́ có tự thể, c̣n năm thứ kiến trong mười
phiền năo th́ chẳng có Thể, chỉ dùng nhiễm huệ
làm Thể. Nay Huệ tương ứng với thức thứ
bảy chưa chuyển, toàn thể là ngă kiến và pháp kiến.
Đă chuyển th́ toàn thể đều thành B́nh Đẳng
Tánh Trí
(Samatā-jñāna).
V́ thế nói: “Xét theo nghĩa th́ sai biệt”. Há có phải
là trong một tâm mà có hai huệ ư?
3) Hỏi:
Ngă Kiến tồn tại trong Mạt Na, dùng Huệ làm Thể.
Do nghĩa khác biệt, vẫn tồn tại cùng với huệ.
Vong niệm (忘念,
quên mất ư niệm) lấy niệm làm Thể, sao cũng
chẳng do nghĩa khác biệt mà tương ứng với
niệm?
Đáp:
Do Mạt Na có huệ và có ngă kiến, cùng tồn tại với
ngă kiến, tức là cùng với huệ tồn tại. Vong
niệm lấy niệm làm Thể, chẳng trọn khắp
nhiễm tâm. Do lấy Si làm Thể th́ mới trọn khắp
nhiễm tâm. Chỉ do ngă si nơi thức thứ bảy,
biết nó chẳng có chánh niệm. Do đó, chê trách là “vong
niệm”, đều chẳng có tự thể. Xét theo
phương diện lầm lỗi mà lập ra hai thứ ấy!
4) Hỏi:
Nói thức ấy (Mạt Na Thức) duyên theo cái mà nó
nương vào, như có hậu thức bèn duyên tiền ư[65].
Nếu gạn rằng “cái để nương vào của
năm thức trước là ngũ căn, cũng là
tăng thượng duyên, sao lại riêng chẳng chấp
thuận đó là cái để duyên vào?” Xin hăy phân tích cặn
kẽ ư nghĩa “duyên vào” của thức!
Đáp:
Thức thứ bảy chỉ là nội môn chuyển[66],
cho nên có thể coi cái để nó nương vào là cái để
nó duyên theo. Năm thức trước chỉ là ngoại
chuyển, nên chẳng thể coi cái để chúng
nương vào là cái để duyên theo, chớ nên dựa
theo đó!
5) Hỏi:
Ư thức nương vào ư, có ba thứ phân biệt. Nếu
nương vào sắc, sẽ giống như năm thức
trước. Thức thứ tám cũng nương theo ư, chẳng
thuận theo sắc căn, sao lại chỉ có tự tánh
phân biệt, chẳng thuận theo niệm mà so đo?
Đáp:
Sáu thức đầu đều thuộc về Chuyển
Thức[67],
nhưng một thức (ư thức) nương theo tâm pháp,
năm thức kia nương theo sắc pháp, cho nên có phân biệt. Thức
thứ tám chẳng thuộc vào Chuyển
Thức, chỉ là
cái được huân tập, chỉ là một loại có
tánh vô kư luôn chuyển. Nếu nó cũng có đủ ba thứ
phân biệt th́ sẽ
có chuyển đổi,
nhưng các chủng tử được huân tŕ sẽ
đều chẳng thành được!
6) Hỏi:
Duy Thức Ngũ Quán và hai phép Quán trong kinh Chiêm Sát giống
nhau hay khác nhau?
Đáp:
Trừ hư, giữ thật, xả lạm, lưu thuần,
nhiếp gốc về ngọn, ẩn kém, hiển thắng,
đều từ Duy Tâm Thức Quán mở ra. Nếu trừ
tướng, chứng tánh, nghĩa vẫn thuộc vào hai
phép Quán. Như nói Tục Hữu, Chân Không, th́ vẫn là Duy
Tâm Thức Quán. Nếu trừ chấp tướng, thấu
đạt “tướng chính là tánh” th́ chính là Chân Như Thật
Quán.
7) Hỏi:
Tư (思)
có thể khiến cho tâm tạo tác. Tư tương ứng
với thức thứ tám sẽ khiến tạo những
ǵ?
Đáp:
Móng tay mọc, tóc mọc dài,
gân chuyển, mạch nhảy, tóc bạc, mặt nhăn,
khí suy, dung mạo tiều tụy, mặt trời, mặt trăng nối
tiếp nhau ngày đêm, sông ng̣i đua nhau chảy, biển
xanh và ruộng dâu đổi chỗ cho nhau, Xuân, Hạ
đắp đổi, đều do thức thứ tám tạo
tác.
8) Hỏi:
Sân chỉ là bất thiện, vậy th́ Sơ Quả và Nhị
Quả tùy ư khởi sân tâm bèn gọi là bất thiện
ư? Có tương ứng với vô tàm, vô quư hay không? Có thể
phát nghiệp nhuận sanh[68]
hay không?
Đáp:
Người học thất niệm (mất
chánh niệm) bèn dấy ḷng sân, cũng
gọi là bất thiện. Niệm ấy cũng gọi là “vô
tàm, vô quư” (chẳng xấu hổ, chẳng thẹn), nhưng
đă đoạn Kiến Hoặc, cố nhiên chẳng phát
khởi nghiệp, thiện tâm dễ khởi, ác tâm dễ
diệt, chẳng nhuận sanh.
9) Hỏi:
Địa vị Tự Tại chỉ có lạc hỷ xả,
do chư Phật đă đoạn các chuyện ưu khổ,
nhưng các [thứ báo ứng trong đời hiện tại]
như cái thương bằng vàng [bỗng xuất hiện
muốn đâm đức Phật], như [đức Phật
và chư Tăng không được cúng dường trong ba
tháng Hạ, phải] ăn lúa mạch của ngựa v.v… có
được gọi là Khổ hay không? Ưu niệm chúng
sanh th́ có gọi là Ưu hay không? Lại như dao sắc
trên đỉnh đầu như chém gió Xuân, có được
gọi là chẳng có ưu khổ hay không?
Đáp:
Danh nghĩa Duy Thức như ưu, hỷ, lạc, khổ
v.v… mỗi đằng đều có giới hạn, chỉ
riêng Phật mới có thể thật sự không ưu khổ.
Chuyện
cái thương bằng vàng, ăn
lúa mạch dành cho ngựa trong đời này là đại
quyền thị hiện, vốn chẳng phải là chuyện
thật, cho nên chẳng phải là khổ hay ưu. [Đức
Phật] nghĩ tới chúng sanh cũng chẳng giống
phàm phu trăm mối lo nghĩ bứt rứt! Đối
diện gió như dao chém, tuy chẳng ưu khổ, vẫn
chẳng giống như Phật quả, do Phật quả
chẳng thể bị hại! C̣n như xứng tánh cực
đàm, Bồ Tát chứng ưu khổ một phần,
chư Phật rốt ráo hết ưu khổ. Người
đă quên tướng danh tự th́ mới có thể tin nổi!
* Trả lời ba câu hỏi
về cách tŕ chú Chuẩn Đề
(đính kèm lời hỏi)
1) Hỏi:
Hết thảy các kinh văn năng thuyên (có thể diễn
nói) ắt có cái Thể sở thuyên (được diễn
nói). Hai thứ “thuyên” của Hiển và Mật là giống
nhau hay khác nhau? Lại nữa, đức
Phật dùng ǵ để hiển thuyết,
lại dùng ǵ để mật thuyết?
Đáp:
Ngàn kinh vạn luận, dù Hiển hay Mật, đều chỉ
thẳng tâm người ḥng họ kiến tánh thành Phật.
Trừ cái tâm ấy ra, chẳng có cái nào khác để diễn
nói,
giống như nói: “Sáu kinh đều là
cước chú của cái tâm ta”. Hiển Mật
thuyết là v́
có khi do hiển thuyết mà [người nghe] đạt
được bốn món lợi ích, có khi do mật thuyết
mà [người nghe] đạt được bốn món lợi
ích. Phật trí soi xét căn cơ, có thể tùy thuận thí
hóa. Lương y dựa theo chứng bệnh mà cho thuốc
thích nghi, chẳng sai chạy vậy!
2) Hỏi:
Xứng Thể khởi nguyện, gọi là “phát Bồ Đề”, thượng cầu,
hạ hóa, chẳng hề ĺa bỏ, nay phát Bồ Đề
tâm được nói trong cách hành tŕ này đều là theo Nho tông hoặc giáo
pháp thế gian, có giống với Phật pháp hay không?
Đáp:
Bậc tông tượng trong Nho giáo thời cổ đều
là Phật, Bồ Tát thị hiện làm thầy, làm bậc
hướng dẫn ḥng tiếp dẫn lũ mê. Giáo pháp thế
gian được [các vị ấy] lập ra, không ǵ chẳng
phải là Phật pháp. Các nhà Nho về sau câu nệ, hư
huyễn, chẳng thể “dẫn
thân xúc trưởng”[69],
bèn bị môn đ́nh ngăn cách. Suy xét theo lẽ thật,
thánh nhân trước hết đă thấu hiểu “ngă tâm
đồng nhiên” (tâm ta cũng tương đồng),
há chẳng phải là ư chỉ “tam vô sai biệt” (tâm,
Phật, chúng sanh, cả
ba chẳng sai biệt) ư? Ưa thích đạo của
Nghiêu, Thuấn, “nhược kỷ thôi nhi nạp chư
cấu trung” (giống như chính ḿnh đẩy người
khác xuống khe rănh cho họ chết mất đi)[70],
há chẳng phải là hoài băo “thượng cầu, hạ
hóa” ư? Nhưng chó, trâu,
và con người tánh đều như nhau, Cáo Tử[71]
tự chẳng dám thừa nhận, Mạnh Tử lại bảo
“nhân cầm cơ hy” (người và cầm thú chẳng
khác nhau cho mấy), há
chẳng phải là bằng chứng của “tuy do huân tập
mà cách xa, nhưng tánh vẫn gần giống như nhau”
ư?
3) Hỏi:
Sách Hiển Mật Viên Thông[72]
cho rằng “chẳng
giữ trai giới, chẳng kiêng rượu thịt, mà
thường đạt được ứng nghiệm”, sao lại riêng nói
pháp này[73],
khiến cho người khác sợ khó?
Đáp:
Nói chung, tŕ chú mỗi đằng
đều có điều cốt lơi riêng. Năm bộ[74]
đă khác nhau, ba loại cũng khác. Sách Hiển Mật Viên
Thông đính kèm những điều xen tạp, chẳng phải
là kim cang chánh ấn. Nương theo đó để hành tŕ
mà đạt được linh ứng, là do hành nhân dốc
ḷng tin tưởng, gắng sức hành bèn được cảm
vời. Nếu chỉ coi đó là đúng như pháp để
phụng tŕ, th́ sự linh ứng há chẳng phải chỉ
là cầu công danh, con cái mà thôi! Huống hồ gần
đây người tŕ th́ nhiều mà kẻ đạt
được ứng nghiệm ít ỏi, không chỉ do tin
chẳng chuyên dốc, hành chưa tận sức, mà cũng
do pháp chưa hay khéo. Nhưng nay vâng theo kinh để kết
đàn, tŕ các pháp như Bát Quan Trai Giới v.v… bất quá là
các phương tiện sử dụng đă lâu nhằm hạn
định thời hạn ḥng đạt hiệu quả
mà lập bày, chẳng phải là cách tŕ chú thường nhật
đều cần phải hành như thế.
* Vấn đáp trong hai
khóa hành tŕ Pháp Hoa lần thứ ba và lần thứ tư
(những điều khác xem trong phần kệ tụng)
1) Hỏi:
Tam thân và tam tự tánh là giống nhau, hay khác nhau?
Đáp:
Tam tự tánh (Biến Kế Sở
Chấp Tánh, Y Tha Khởi Tánh, Viên Thành Thật Tánh) và
tam thân (Pháp, Báo, Ứng) vừa
đồng, vừa biệt! Đồng là do ngộ tánh
Viên Thành Thật, bèn chứng hiểu Pháp Thân, do tịnh hóa
Y Tha, bèn thành tựu Báo Trí Thân, do ngộ Biến Kế vốn
Không, thành Phổ Ứng Thân. Biệt là tam thân ước
theo quả đức, ước theo ngộ mà hiển. Tam
tánh là ước theo cảnh giới, thông cả mê lẫn
ngộ.
2) Hỏi:
Hết thảy các pháp đều có thể tạo thành bốn
câu. Lại như ba tánh, mỗi tánh đều có bốn
câu, phải nên nói như thế nào?
Đáp:
Bốn câu của Biến Kế Sở Chấp Tánh là:
- Do có t́nh nên là thường.
- Do Lư vô, nên vô thường.
- Do có t́nh tức là Lư
vô, nên cũng là thường, cũng vô thường.
- Do Lư vô tức là t́nh
có, nên chẳng phải thường, chẳng phải vô
thường.
Bốn câu của Y Tha
Khởi Tánh là:
- Do duyên sanh nên là
thường.
- Do vô tánh nên vô thường.
- Do duyên sanh tức là
vô tánh, nên cũng thường, cũng vô thường.
- Do vô tánh tức là
duyên sanh, nên chẳng phải thường, chẳng phải
vô thường.
Bốn câu của Viên
Thành Thật Tánh là:
- Do Lư có nên thường.
- Do t́nh chẳng có, nên
vô thường.
- Do Lư có tức là t́nh
chẳng có, nên cũng thường, cũng vô thường.
- Do t́nh không có tức
là Lư có, nên chẳng phải thường, chẳng phải
vô thường.
Cũng có thể ước
theo “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến” mà
tạo thành bốn câu. Lại chỉ ước theo Y Tha Khởi
Tánh để biện định ba tánh nhằm minh định
bốn câu:
- Do trong Y Tha Tánh có Viên
Thành Thật Tánh, nên thường, như trong thừng có sợi
gai.
- Do trong Y Tha Tánh không có
Biến Kế Sở Chấp Tánh, nên vô thường,
như trong thừng chẳng có rắn.
- Do cùng chiếu nên
cũng thường, cũng vô thường.
- Do song giá (cùng ngăn
che, tức cùng phủ định cả hai bên), nên chẳng
phải thường, chẳng phải vô thường.
Hăy nên biết ba thứ
Hoặc, Nghiệp, Khổ đều là Y Tha Khởi Tánh.
Trong Y Tha Khởi lại có bốn câu. Bốn câu của Y
Tha Khổ (nỗi khổ do Y Tha Khởi Tánh dẫn
khởi) chính là bốn câu nơi Pháp Thân sẵn
có nơi tánh. Bốn câu của Y Tha Hoặc chính là bốn
câu của Báo Thân sẵn có trong tánh. Bốn câu của Y Tha
Nghiệp chính là bốn câu của Ứng Thân sẵn có trong
tánh. Lại nữa, ba thân của Phật tức là ba
tự tánh thuộc tịnh phần, mỗi đằng
đều có bốn câu.
4. Phổ thuyết[75]
* Phổ thuyết vào
đêm Trừ Tịch năm Đinh Hợi (1647) tại Tổ
Đường chùa U Thê
Các
huynh đệ muốn khôi phục bổn lai diện mục
(diện mạo sẵn có), cần phải phá hai thứ ngă
chấp và pháp chấp. Muốn phá hai thứ
ngă chấp và pháp chấp, trước hết,
nghiêm trừ tri kiến theo thói tục. Tri kiến theo thói tục
là ǵ? Người hiện thời vừa mới xuất
gia tham học, liền muốn làm thiện tri thức. Chỉ
riêng điều này, đă há chẳng phải là ngă chấp
ư? Hoặc lại dùng Luật để phủ định
Giáo, hoặc dùng Giáo để
bài xích Thiền, do Thiền mà coi thường Giáo, khinh rẻ
Luật, há chẳng phải là pháp chấp ư? Dẫu cho
dung ḥa, chẳng phủ nhận lẫn nhau, vẫn hiếm
khi kiêm thiện (cùng coi nhau là tốt lành).
Hơn nữa, luật
sư chẳng bận tâm căn tánh như thế nào, nhất
loạt mong mọi người tŕ luật. Pháp sư chẳng
hỏi căn tánh như thế nào, nhất loạt mong mọi
người nghe kinh. Tông sư chẳng quan tâm căn tánh
như thế nào, nhất loạt mong mọi người
tham Thiền. Há lại chẳng phải là hai thứ ngă chấp
và pháp chấp ư? Trọn chẳng biết ba thứ Thiền,
Giáo, Luật đều do Như Lai tùy thuận cơ nghi mà
nói, há có pháp chết cứng?
Tôi nay v́ các huynh đệ
triệt để nói toạc ra. Nếu thật sự v́
sanh tử mà tŕ giới, tŕ giới ắt cũng ngộ
đạo. Thật sự v́ sanh tử mà nghe kinh, nghe kinh ắt
cũng ngộ đạo. Thật sự v́ sanh tử mà
tham Thiền, tham Thiền ắt cũng ngộ đạo.
Thật sự v́ sanh tử mà làm phước, làm phước
ắt cũng ngộ đạo. Chuyên tu một pháp cũng
ngộ đạo. Giúp lẫn nhau thành tựu cũng ngộ
đạo, v́ nhân địa chân chánh. Nếu muốn làm luật
sư truyền giới, muốn làm pháp sư nghe kinh, muốn
làm tông sư tham Thiền, muốn có quyền thế để
làm phước, th́ truyền giới, nghe kinh, tham Thiền,
làm phước, ắt đều đọa trong ba
đường ác. V́ thế, Trí Giả đại sư
nói: “V́ lợi danh mà phát Bồ Đề tâm, đó chính
là cái nhân của tam đồ”.
Khác biệt chừng hào ly, cách biệt như trời với
đất! Nhận định
sai chuẩn mực, đề hồ thành thuốc độc.
Nay những vị truyền giới, nghe kinh, tham Thiền,
làm phước, ngoài miệng cũng nói “thật v́ sanh tử”,
trong tâm chẳng biết sanh tử là đại khổ. Lửa
cháy tận mày, chỉ đành trơ mắt nh́n! Trọn chẳng
biết từ vô thỉ kiếp tới nay, thoạt trồi,
thoạt hụp, oan uổng hứng chịu bao nhiêu chua xót.
Dẫu nay may mắn
được làm thân người, may
mắn có h́nh tướng tăng sĩ, cũng đă trải
qua bao nhiêu gian khổ, nhưng vẫn chưa chịu bừng
tỉnh đại ngộ. Điều này có khác ǵ chim én hoặc
chim sẻ ở dưới mái nhà?
Hơn nữa, nay chính
là đêm Ba Mươi tháng Chạp, cổ nhân dùng điều
này để sánh ví khi đại mạng
đă hết, bức thiết chi bằng? Người hiện
thời vui sướng ḥ reo, uống trà, chưa từng
nghĩ quang âm trăm năm c̣n được mấy chốc?
Há chẳng đau ḷng ư? Khi tôi xuất gia, cậu tôi
đă bảo: “Pháp sư truyền bá Thế Đế, cháu
ta quyết chẳng làm giống như thế, ắt sẽ
làm thiện tri thức đấy chăng?” Tôi thưa: “Pháp
sư là con rùa
đen, thiện tri thức là con rùa, cháu đều chẳng
đọa vào hầm hố ấy”. Cậu tôi hỏi: “Rốt
cuộc là như thế nào?” Tôi thưa: “Phật c̣n không
làm, huống hồ những thứ khác!” Cậu hỏi: “Vậy
th́ v́ sao cháu xuất gia?” Tôi thưa: “Chỉ muốn khôi phục
lại diện mục sẵn có
của cháu”. Cậu tôi khen hay. Than ôi! Chí ban đầu
của tôi là như thế đó, vẫn bị hư danh
làm hại, chẳng thỏa măn chí sẵn có, hổ thẹn
sâu xa. Huống hồ sơ tâm liền muốn làm thiện
tri thức ư?
Giả sử làm một
vị thiện tri thức Thế Đế, sẽ cứu
giúp được chuyện ǵ? Danh lợi ngày càng nặng,
chánh pháp ngày càng suy. Phá hoại nhà Châu là do Tề Hoàn Công và Tấn
Văn Công! Hơn nữa, trong các vị thiện tri thức
mà chính tôi mắt thấy, tai nghe, chỉ có ḿnh Tử Bách
đại sư đă chứng Vô Sanh, đă được
tự tại. Các vị đại lăo khác lập tùng lâm, mở
ṭa giảng, lập quy củ, điều luật rộng
lớn, chu đáo, tường tận, danh vang khắp trong
nước, khi lâm chung, đều chẳng khỏi vướng
mắc, ràng buộc, quyến luyến, đâm ra chẳng bằng
Hám Sơn
đại sư và sư bá U Khê lúc tuổi già một mặt
thầm lặng tu, chẳng quản chuyện trong tùng lâm,
đều được an tường ngồi qua đời.
Lại chẳng bằng thiền sư Tuyết Đ́nh, hay
pháp sư Linh Nguyên, suốt đời chẳng câu nệ tiểu
tiết, lâm chung cũng thanh thản. V́ thế biết: Lập
bày môn đ́nh không chỉ vô ích đối với bổn phận,
mà c̣n chính
là chằng néo, giết người! Tôi
tiếc nuối chính ḿnh chướng sâu, sức mỏng,
giới phẩm vẫn có nhiều thiếu sót, tŕ danh vẫn
thuộc tán tâm, nhưng đă biết rơ sâu
xa lỗi hại của sanh tử. V́ thế,
quyết chẳng dám làm bộ làm tịch, to gan lớn mật,
dối ḷng, nay đă hai năm tụ hội, chẳng lâu
sau tính sẽ
chia tay. V́ thế, tận lực
phơi bày gan ruột, v́ các huynh đệ thực hiện
lần cảnh sách cuối cùng này. Kính mong quư vị chú ư
trân trọng.
* Phổ thuyết tại
Nhân Nghĩa Viện ở Phong Nam thuộc Hấp Tây
Các
vị nhân giả! Sanh tử là chuyện lớn, vô thường
nhanh chóng, sanh chẳng biết từ đâu đến, chết
chẳng biết sẽ đi về đâu! Đó là nỗi
khổ Phần Đoạn sanh tử. Đổi dời
trong mỗi niệm, sát-na chẳng trụ; đó là nỗi
khổ Biến Dịch sanh tử. Hai thứ khổ ấy
chỉ là cành nhánh của sanh tử, chưa phải là cội
nguồn của sanh tử! Như thế nào là cội nguồn
của hai loại sanh tử? Chẳng thấu hiểu Nhất
Chân pháp giới! Bất giác niệm dấy lên, bèn có vô minh,
hư vọng từ trong tánh b́nh đẳng bèn chia thành
năng và sở, chia thành sắc và tâm, chia thành hữu vi và
vô vi, chia thành hữu lậu và vô lậu, chia thành y báo và
chánh báo, chia thành nhân, quả, chia thành thiện,
ác, chia thành khổ,
vui, chia thành trong,
ngoài, chia thành lớn, nhỏ, cho tới
đủ loại phân biệt hư vọng. Đó chính là cội
nguồn của Biến Dịch sanh tử. Chẳng biết
hết thảy các pháp nhân duyên vô tánh, hư vọng so đo
đủ loại tri kiến như “ta,
người, chúng sanh, thọ giả”,
hư vọng dấy lên đủ thứ phiền năo
như tham, sân, si, mạn v.v… Đó là cội nguồn của
Phần Đoạn sanh tử. Hai thứ cội nguồn ấy
đều chẳng ĺa một niệm hiện tiền hư vọng vô
minh. Nếu dùng chánh nhăn
để quán hư vọng vô minh, [sẽ thấy nó] chẳng
ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa,
chẳng trong quá khứ, chẳng thuộc hiện tại,
chẳng thuộc vị lai, chẳng phải xanh, vàng, đỏ,
trắng, chẳng phải dài, ngắn, vuông, tṛn, chẳng
phải thanh, hương, vị, xúc, pháp, chẳng phải
là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư, ngay lập tức
là Chân Không Thật Tướng, nhưng do chúng sanh chẳng
thấu hiểu,
tự sanh mê hoặc, điên đảo, lưu chuyển vô
cùng. Do vậy, chư Phật xuất hiện, tổ sư
từ phương Tây sang, chỉ thẳng tâm người,
kiến tánh thành Phật, không ǵ chẳng nhằm phá hai loại
căn nguyên ấy.
Chỉ như Nhị Tổ
gặp Sơ Tổ,
thưa: “Tâm con chưa an, xin thầy an tâm cho”. Sơ Tổ
nói: “Đem cái tâm của ông ra đây, ta sẽ an cho ông”.
Lâu sau, Nhị Tổ thưa:
“Con t́m tâm trọn chẳng thể được”.
Sơ Tổ nói: “Ta đă an cái tâm cho ông rồi”. Chỉ
một câu “t́m tâm trọn chẳng thể được”
này, cần phải hết sức chú trọng, đừng
giống như con vẹt
nói Thiền, chỉ có thể học nói suông! Tôi lại hỏi
các vị: Đă là chẳng thể được, ai lại
là người t́m tâm?
Lại như cái thân hiện
tiền này, chẳng ngoài sáu giới là Địa, Thủy,
Hỏa,
Phong, Không
và Thức. Tướng cứng chắc trong thân là địa
giới. Tướng ướt là thủy giới. Tướng
nóng là hỏa giới. Tướng động là phong giới.
Chỗ rỗng trong
xương,
lóng, các lỗ và chỗ các phủ tạng
thông với nhau là không giới. Thấy, nghe, hay, biết,
phân biệt, vọng tưởng là tâm thức giới. Nếu
nói do tướng cứng chắc có thể t́m tâm th́ đại
địa đều có thể t́m tâm. [Nếu nói] tướng
ướt cũng có thể t́m tâm th́ sông ng̣i, nước biển
đều có thể t́m tâm. Nếu do tướng ấm mà
có thể t́m tâm
th́ đèn, lửa bếp cho tới kiếp hỏa đều
có thể t́m tâm. Nếu do tướng động mà có thể
t́m tâm th́ gió lớn nhỏ cho đến Tỳ Lam[76]
cũng có thể t́m tâm. Nếu không giới có thể t́m tâm
th́ hiện tiền hư không cũng có thể t́m tâm. Nếu
do thấy, nghe, hay,
biết có thể t́m tâm th́ lại gọi cái ǵ là thấy,
nghe, hay, biết? Mắt như trái nho, tai như lá non cuộn,
mũi như hai móng tay rủ xuống, lưỡi như vầng
trăng non, thân như cái trống thắt eo, đều là
sắc pháp. Làm sao có thể thấy, có thể nghe, có thể
ngửi, có thể nếm, có thể cảm nhận? Ư như nh́n vào pḥng
tối, tướng tối tăm, lờ mờ, tự chẳng
biết rơ, sao có thể biết? Thấy, nghe, hay, biết
đă là chẳng thể được, sao có thể t́m
tâm? Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức,
sáu giới như thế đều chẳng thể t́m tâm,
rốt cuộc ai là người có thể t́m tâm?
Nếu là một nam tử
có tâm huyết, đă [chia chẻ] đến đó, chẳng
phân tích được nữa, chẳng thấu hiểu
được, chắc chắn sẽ t́m cách thấu hiểu
một phần, t́m ṭi đến chỗ sơn cùng thủy
tận, tương tự như tường đồng,
vách sắt, chuột chui vào sừng trâu, măi cho đến
khi cùng đường bít lối, trong khoảng hướng
đến chỗ hữu ư và vô ư, bỗng nhiên đánh mất
lỗ mũi do mẹ sanh ra, mới biết cái có thể kiếm
và cái bị kiếm thật sự trọn chẳng thể
được th́ mới là bước đầu tiên trong
Tông Môn. Nếu cho rằng ngoài cách này, riêng có sự tu hành
nào khác; đó là thiên ma ngoại đạo. Nếu cho rằng
từ rày trở đi, chẳng c̣n tu hành nữa, sẽ là
sáng đánh ba ngàn, chiều đánh tám trăm, sẽ bị
biếm vào địa ngục A Tỳ. V́ sao vậy? Như
Nhị Tổ nửa đời hoằng pháp, sau khi đem
đại pháp giao cho Tam Tổ, lại trà trộn vào cơi trần,
ứng xử như bậc khất sĩ để điều
phục cái tâm. Ôi! T́m tâm đă trọn chẳng thể
được, cớ sao lại nói “điều tâm?”
Trọn chẳng phải là Nhị Tổ trước sau
ăn nói mâu thuẫn đâu nhé!
Hăy nên biết chuyện
này hết sức chẳng dễ dàng! Tổ sư Quy
Sơn bảo: “Khó đạt được chỗ hay
khéo của tông này, phải nên tỉ mỉ dụng tâm để
có thể đốn ngộ chánh nhân trong ấy, ḥng làm bậc
thềm để xuất trần. Nếu có thể đời
đời chẳng thoái thất, chắc chắn có thể
mong đạt tới địa vị Phật”. Các vị
tông tượng xưa nay đối với đại sự
nhân duyên này, xiết bao thận trọng, chân thật, thiết
tha, há giống như bọn cuồng Thiền uế
trược thời Mạt, vừa mới hiểu biết
nửa vời,
đă liền hướng về người khác hư vọng
ngoác to mồm, dối ḿnh, lừa người, phá hoại
ư Tổ,
di họa vô cùng!
Hăy nên biết: Nếu
hiểu từ chỗ “trọn chẳng thể được”
để an tâm, sẽ chẳng có một vật nào để
có thể tham đắm, sẽ là tùy thuận tu hành Thí Ba La
Mật. Lại chẳng có mảy trần để có thể
nhiễm, tức là tùy thuận tu hành Giới Ba La Mật. Lại
chẳng có nhân ngă, đúng, sai để có thể luận,
tức là tùy thuận tu hành Nhẫn Ba La Mật. Lại chẳng
xen tạp giải đăi, tức là tùy thuận tu hành Tinh Tấn
Ba La Mật. Lại chẳng có vọng tưởng tán loạn,
tức là tùy thuận tu hành Thiền Ba La Mật. Lại chẳng
điên đảo, ngu si, tức là tùy thuận tu hành Bát Nhă
Ba La Mật. Phương cách ấy chính là “hăy nên chẳng
trụ vào đâu mà sanh tâm”. Trừ pháp môn tâm tánh này ra, chỗ
nào có giới để có thể tŕ, có giáo để có thể
xem, có Thiền để có thể tham? Huống hồ các
luật nghi Đại, Tiểu Thừa do Như Lai đă
chế định đều nhằm đoạn trừ hữu
lậu trong hiện tại và vị lai, thẳng thừng
an tâm, vốn là chí viên, chí đốn. Giáo pháp do đức
Như Lai đă nói trong suốt một đời Ngài đều
nhằm phá trừ ngă chấp và pháp chấp, thẳng thừng
an tâm, cũng là chí viên chí đốn. Một ngàn bảy
trăm công án của tổ sư đều là tùy cơ lập
giáo, ḥng gỡ niêm, cởi trói, chém phăng cái ải t́nh kiến,
gông xiềng thức, thẳng thừng an tâm, cũng là chí
viên chí đốn.
Nếu chẳng thể
đoạn pháp hữu lậu, tức là chẳng biết dụng
ư của Giới. Chẳng thể phá ngă chấp và pháp chấp,
tức là chẳng thể biết giáo ư. Chẳng thể
chém phăng ải t́nh, xiềng thức, tức là chẳng
biết v́ sao Tổ Sư từ
Tây sang! Đă chẳng biết giới ư, giáo ư, tổ ư, dẫu cho ba ngàn
oai nghi, tám vạn tế hạnh, tánh nghiệp, giá nghiệp,
thảy đều thanh tịnh, chỉ là cái nhân của cái
quả hữu lậu nhỏ bé trong
đường trời, người! Dẫu
Tam Tạng mười hai bộ, không ǵ chẳng quán triệt
nhuần nhuyễn, đàm luận ngũ
thời bát giáo, Quyền, Thật, Bổn, Tích thảy đều
hiểu rơ, vẫn chỉ là kẻ nghèo đếm vật
báu của kẻ khác, chính ḿnh chẳng có nửa đồng!
Dẫu công án [nghiền ngẫm] nát nhừ, cơ phong, chuyển
ngữ, tụng cổ[77],
niêm cổ[78],
thượng đường, phổ thuyết v.v… mỗi
mỗi đều thông hiểu, chỉ là tăng trưởng
kiêu mạn, tô vẽ để che giấu sai trái, dối gạt
trời, người, đều được gọi là “nhân
địa chẳng chân thật, chuốc lấy cái quả
cong vạy”. Tà nhân thuyết chánh pháp, chánh pháp cũng
thành tà. V́ thế,
kinh Viên Giác dạy: “Mạt thế chúng sanh vô linh cầu
ngộ, duy ích đa văn, tăng trưởng ngă kiến.
Đản đương tinh cần hàng phục phiền
năo, vị đắc linh đắc, vị chứng linh chứng”
(Chẳng dạy chúng sanh trong đời
cầu ngộ, v́ chỉ tăng thêm đa văn, tăng trưởng
ngă kiến. Chỉ nên [dạy họ] siêng ṛng hàng phục
phiền năo, khiến kẻ chưa đắc sẽ đắc,
kẻ chưa chứng sẽ chứng), chính là nói về
chuyện này.
Các vị nhân giả!
Chuyện xuất sanh tử hết sức chẳng dễ
dàng! Ngẫu Ích đạo nhân hai mươi bốn tuổi
xuất gia, thật sự v́ đại sự sanh tử,
quả thật chẳng chấp một mảy ư kiến,
thật sự chẳng dùng một tí khí phách, thật sự
chẳng v́ một tí danh lợi nào, chỉ v́ ẩn ḿnh chẳng
kín, bị một hai đạo hữu ép buộc, công dụng
chưa thuần đă truyền bá quá sớm,
đến nỗi ba mươi năm qua bị lầm lạc
bởi hư danh quá mức. Cho tới hiện thời, tóc
bạc, mặt nhăn, sanh tử đại sự vẫn chưa
giải quyết thỏa đáng, nói ra đáng xấu hổ,
nghĩ tới đáng đau đớn! Do vậy, b́nh sanh thề chẳng
dám xưng là chứng, xưng là Tổ, kẻo phạm
đại vọng ngữ. Thề chẳng dám nhiếp thọ
đồ chúng, đăng đàn truyền giới. Trước
nay, hoàn toàn thề chẳng dám nhận lời thỉnh của
tùng lâm để mở đại pháp
tịch, bởi thật sự chẳng chịu
dối ḿnh, tự lầm lẫn vậy! Nay cư sĩ Ngô
Huyền Thúy v́ khắp tăng, tục, đặc
biệt thỉnh tôi khai thị pháp môn siêu sanh thoát tử này.
Ngẫu Ích chưa từng thật sự siêu sanh thoát tử,
sao có thể khai thị cho người khác? Nhưng đă
cùng ở trong biển sanh tử, may là đối với
pháp xuất sanh tử này, hơi biết đường nẻo
chân chánh. V́ thế,
chẳng ngại cùng các vị nhân giả thật thà
thương lượng bước đầu tiên nhất:
Nếu thật sự
muốn siêu sanh thoát tử, điều thứ nhất là chớ
nên phỏng đoán suy lường theo ư riêng ḿnh. Thứ
hai, chớ nên dùng khí phách để gánh vác[79].
Thứ ba, chớ nên xen tạp cái tâm danh lợi. Sang đất
Mân (Phước Kiến) th́
đi theo phương Nam, sang đất Yên th́ theo
phương Bắc. Hễ sai lối, sẽ càng đi càng
xa. Đây thật sự là mỗi lời đều là huyết
lệ, mỗi chữ đều buốt ḷng. Chỉ sợ
người sầu đừng nói với kẻ chẳng sầu.
Có nói th́ người chẳng sầu cũng không biết!
Các vị nhân giả có biết sầu hay không? Đức
Phật dạy: “Đắc nhân thân giả như trảo
thượng thổ. Thất nhân giả như đại
địa thổ. Nhất khẩu
khí bất lai, tiện hướng
lư thai mă phúc, hồ toản loạn tràng. Động kinh
thiên sanh bách kiếp, đắc
xuất đầu lai, tri thị
kỷ thời?”
(Được thân người như đất trong kẽ
móng tay. Mất thân người như đất trong đại
địa. Một hơi thở ra,
không hít vào được nữa, liền hướng vào
thai lừa, bụng ngựa, giăy dụa, va đụng lung
tung. Trải qua ngàn đời trăm kiếp, chẳng biết
là lúc nào được thoát ra?)
Huống chi thời Mạt,
tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng. Một
gă mù dẫn lũ đui, cùng kéo nhau vào hố lửa! Do vậy,
Vĩnh Minh đại sư nói: “Không Thiền, có Tịnh
Độ, vạn tu, vạn người về. Có Thiền,
không Tịnh Độ, mười người, chín lầm
đường”. Hám Sơn đại
sư lại nói: “Nay th́ nếu có Thiền mà không có Tịnh
Độ, há phải mười người th́ chín người
lạc lối, dám bảo đảm là mười một
người đều lạc”. Những lời ấy
đều là thâm từ đại bi, chân ngữ, thật
ngữ. Lại nguyện các vị nhân giả đừng
đọa vào vết xe đổ cuồng dă, hăy nên thẳng
thừng đau đáu nghĩ tới vô thường, tín
nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ.
Đời này chẳng độ kiếp này, kiếp nào mới
độ cho xong thân này? Trân trọng!
* Phổ thuyết tại
Thiên Mă Viện ở Hấp Phổ
Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Nhược nhân dục liễu
tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới
tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (Nếu ai muốn rơ
biết, ba đời hết thảy Phật, nên quán tánh
pháp giới, hết thảy chỉ tâm tạo). Kinh Kim Cang dạy:
“Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn,
bào, ảnh, như lộ diệc như điện. Ưng
tác như thị quán” (hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương
cũng như chớp. Hăy nên quán như thế). Hăy nên biết
chỉ thú của hai bài kệ ấy chẳng khác nhau! Đă chỉ do tâm
tạo th́ đều là hữu vi. Đă chỉ là hữu
vi, th́ đều như mộng,
huyễn. Nhưng hữu vi có hai loại:
- Một là hữu vi hữu
lậu, tức lục phàm pháp giới.
- Hai là hữu vi vô lậu,
tức tứ thánh pháp giới.
Mười giới
thánh phàm tuy khác nhau, nhưng rốt cuộc đều chỉ
do tâm tạo; nhưng hữu vi hữu lậu như mộng, huyễn, c̣n hữu
vi vô lậu do thuận theo pháp tánh, chẳng phải là mộng, huyễn. Thế
nào là lục phàm đều chỉ do tâm tạo? Nếu một
niệm tương ứng với thượng phẩm Thập
Ác, tức toàn thể của pháp giới là địa ngục.
Một niệm tương ứng trung phẩm Thập Ác,
tức toàn thể của pháp giới là súc sanh. Một niệm
tương ứng hạ phẩm Thập Ác, tức toàn thể
của pháp giới là ngạ quỷ. Một niệm
tương ứng với hạ phẩm Thập Thiện,
toàn thể của pháp giới là Tu La. Một niệm
tương ứng với trung phẩm Thập Thiện,
toàn thể của pháp giới là nhân đạo. Một niệm
tương ứng với thượng phẩm Thập Thiện,
toàn thể của pháp giới là thiên đạo. Lục
đạo này không chỉ là tam đồ, mà ngay cả hạ
giới nhân thiên, sanh tử qua lại, đều như huyễn,
như mộng! Ngay như Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ chẳng khỏi đọa lạc không vong, đều
như mộng,
huyễn.
V́ sao nói tứ thánh
cũng đều chỉ là do tâm tạo? Nếu có thể
biết Khổ đoạn Tập, hâm mộ Diệt, tu
Đạo, siêng tu Giới Định Huệ phẩm, chứng
đắc Thiên Chân Niết Bàn, toàn thể của pháp giới
sẽ là Thanh Văn. Có thể quán kỹ mười hai nhân
duyên lưu chuyển và hoàn diệt, được giác ngộ,
toàn thể của pháp giới sẽ là Độc Giác. Có thể
dùng tiên tri để giác ngộ hậu tri, dùng tiên giác để giác
ngộ kẻ hậu giác, rộng tu Lục Độ vạn
hạnh, tự lợi, lợi tha, toàn thể của pháp giới
sẽ là Bồ Tát. Bồ Tát lại có bốn loại:
- Nếu nương
vào Sanh Diệt Tứ Đế, phát Tứ Hoằng Thệ
Nguyện, ba đại A-tăng-kỳ kiếp chế phục
Hoặc, độ sanh, tức là Tạng Giáo Bồ Tát.
- Nương vào Vô Sanh
Tứ Đế để phát Tứ Hoằng, trước
là đoạn chánh sử và tập khí hư phù nhuận
sanh, độ chúng như huyễn, tức là Thông Giáo Bồ
Tát.
- Nương theo Vô
Lượng Tứ Đế, phát Tứ Hoằng, không chỉ
hóa độ lục phàm thoát Phần Đoạn sanh tử,
mà c̣n kiêm độ tam thừa quyền thánh thoát Biến Dịch
sanh tử, tức Biệt Giáo Bồ Tát.
- Nếu có thể triệt
ngộ một niệm tâm tánh hiện tiền vốn tự
cùng tột theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều
ngang, chúng sanh mê, toàn thể là Tập Khổ, nhưng cái tâm
ấy chẳng giảm. Chư Phật đă ngộ, toàn thể
là Đạo Diệt, nhưng cái tâm ấy không tăng. Diệu
tâm tuy đồng, mê và ngộ cách biệt vời vợi,
bèn nương theo Vô Tác Tứ Đế phát Vô Thượng
Bồ Đề tâm, xứng tánh tu hành Lục Độ vạn
hạnh, tự giác, giác tha, tức là Viên Giáo Bồ Tát.
Phước trí do bốn
loại Bồ Tát này tu tập được gọi là hữu
vi vô lậu, huống hồ công hạnh viên măn, đồng
quy Vô Thượng Bồ Đề, tức toàn thể pháp
giới là tứ trí Bồ Đề. Thân và cơi vô lậu tột
cùng ngằn mé vị lai, lợi lạc hữu t́nh, há
cũng có thể nói là “như huyễn, như mộng”
ư? Nhưng trong tứ thánh, Nhị Thừa tuy thoát khỏi
sanh tử, chỉ chứng Thiên Chân, chẳng thấu đạt
toàn thể tâm tánh, chỉ gọi là “hữu vi vô lậu”.
Chư Phật, Bồ Tát có thể chứng toàn thể tâm
tánh. V́ thế, ước theo toàn tánh khởi tu, có thể gọi
là hữu vi vô lậu cũng được. Nếu ước
theo toàn tu tại tánh, sẽ có thể gọi là vô vi vô lậu
cũng được! Kinh Kim Cang nói “như huyễn,
như mộng” để phá ngă chấp và pháp chấp của
phàm phu, ngoại đạo, và Nhị Thừa.
Phàm mộng cảnh tuy
Không, nhưng mộng tâm chính là giác tâm. Huyễn sự tuy
hư, nhưng huyễn vốn cũng chẳng hoàn toàn là
hư. Bọt nước tuy chẳng thật, nhưng chẳng
phải là không có nước. Ảnh tuy chẳng thật,
nhưng chẳng phải là không có chất, bèn biết: Lục
phàm sanh tử qua lại, tuy như huyễn, mộng, nhưng Phật
tánh cũng chẳng đoạn diệt, chỉ là sử dụng
hằng ngày mà chẳng biết. Bồ Tát biết rơ một
niệm tâm tánh hiện tiền thường hằng xưa
nay, vốn chẳng sanh diệt, trên là bằng với
chư Phật, dưới là bằng với chúng sanh. Tuy chẳng
muốn thượng cầu hạ hóa cũng chẳng thể
được. Nhưng tuy phát đại Bồ Đề
tâm, tập khí hư vọng từ vô thỉ vô minh nặng
nề, quán lực nhẹ, yếu,
sợ dễ thoái chuyển, ắt cần phải dùng sự
viên giải ấy để chuyên niệm A Di Đà Phật,
cầu sanh thế giới Cực Lạc. Bởi một niệm
tâm tánh hiện tiền của ta vốn tột cùng theo chiều
dọc, trọn khắp theo chiều ngang, vốn trọn
đủ vô biên sát hải[80].
Trong vô biên sát hải nơi tâm tánh của ta, thật sự
có thế giới Cực Lạc ở ngoài mười vạn
cơi Phật, thật sự có A Di Đà Phật đang hiện
diện. Trước là chứng tâm tánh, từ bi tiếp dẫn
hết thảy kẻ đang mê. Ta nay dùng sức của Bồ
Đề tâm, xưng danh hiệu của Ngài, liền cùng với
A Di Đà Phật như hư không ḥa vào hư không, nước
hợp với nước. V́ thế, xưng danh một tiếng
chính là một tiếng nhất tâm bất loạn. Xưng
danh mười tiếng tức là mười tiếng nhất
tâm bất loạn. Cho tới xưng danh bảy ngày, tức
là bảy ngày nhất tâm bất loạn. V́ trong khi đang
xưng danh, sẽ trọn chẳng có hai tâm, cho nên chẳng
thể loạn.
Hoặc là nói Thập
Ác Ngũ Nghịch, lâm chung mười niệm c̣n được
văng sanh, cần ǵ thường ngày phải cặm
cụi xưng danh? Nói như vậy
hết sức chẳng đúng! Kinh
dạy: “Thập Ác Ngũ Nghịch đắc văng sanh giả,
tất quá khứ tằng chủng Bồ Đề chủng
tử” (Kẻ Thập Ác Ngũ Nghịch mà được
văng sanh, ắt là do trong quá khứ đă từng gieo hạt
giống Bồ Đề). Nếu chẳng có hạt giống
Bồ Đề, sao có thể gặp thiện hữu? Dẫu
gặp thiện hữu khuyên phát tâm, cũng sao có thể
nhanh chóng sanh khởi tín nguyện, xưng niệm hồng
danh ư? V́ thế, phàm là bậc tu tâm Tịnh nghiệp,
hăy gấp lănh hội diệu tâm, phát Bồ Đề nguyện,
xưng niệm A Di Đà Phật, dẫu chẳng đoạn
Hoặc, vẫn có thể đới nghiệp văng sanh, siêu
thoát tam giới theo chiều ngang, chính là pháp môn chẳng thể
nghĩ bàn. Mười phương chư Phật dùng vô
lượng lưỡi, vô lượng âm, tán thán pháp môn
này, vẫn chẳng thể tận. Hăy nên tin chắc, gắng
sức thực hiện. Nay cư sĩ Hoàng Nam Ngô Thánh Hà và
pháp hữu Kiên Mật đặc biệt v́ lệnh tiên từ[81]
là ưu bà di Thành Tịnh Hồng thái nhụ nhân[82],
thỉnh nói pháp yếu, tôi kính cẩn v́
bà mà nêu ra.
5. Trà thoại
* Buổi trà thoại
giải đáp cho ông Trác Tả Xa (đính
kèm lời hỏi của Bác Sơn Khải)
Hỏi:
Thượng đường th́ siêu việt Phật, Tổ,
tiếp chúng bèn quyền biến tiếp dẫn hàng trung hạ;
đây chính là khuôn sáo ắt sẽ rơi vào của bậc
tông tượng chưa ngộ tâm pháp trong thói tục, đến
nỗi các pháp như Thiền, Giáo, Luật và Tịnh Độ
đều mất cương tông, đều thành thật
pháp, [dẫn đến
t́nh trạng] “người trí chẳng có cái để
nương theo, kẻ ngu bèn miệt thị, vứt bỏ
hết thảy” là có nguyên do vậy! Đức Phật nói:
“Nếu ai chuyên niệm Di Đà Phật, th́ gọi là vô
thượng thâm diệu Thiền”. Hiện tại, kẻ
tâm cơ quỷ quyệt, tâm tánh buông lung, một mực
ăn nói quàng xiên, chắc chắn chẳng bằng người
náu ḿnh chân thật niệm Phật. Há có nên v́ người
thượng thượng bài bác chẳng có Tịnh Độ,
dạy hăy ngộ “cơi chính là tâm”, mà chẳng nên thâu nhiếp
hàng trung hạ vào quyền thừa, phá hoại
chân pháp? Huống hồ đấng Pháp Vương tự tại
nơi pháp, tùy thời ứng theo căn cơ, tự chẳng
trần thuật kiến giải, sao cứ phải dựa
dẫm các bậc cổ túc khác đề cao Thiền, chèn
ép Tịnh? Lại c̣n xin lưỡi gươm bén ngót,
đánh cái trống có bôi thuốc độc, chuyển pháp
luân to lớn, như thế nào là bản lănh “toàn thân nhập
vào con đường Lư hướng thượng, đạp
thẳng trên đỉnh đầu Tỳ Lô để
đi” trong môn Niệm Phật? Như thế nào để khi học
nhân vừa mới thực hiện, liền ĺa bốn câu, dứt
bách phi để niệm Phật? Như thế nào
là một búa tối hậu tột cùng đánh vào sau ót chỗ
sai lầm của người niệm Phật? Trước
nay, lời lẽ trong
Tông môn như vách đá dốc ngược cao vạn
trượng, hễ dính dáng tới Tịnh Độ, nhất
định coi đó thuộc loại vụn vặt! Mong
ḥa thượng hăy đem những lời lẽ như “tự
tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” gạt sang một
bên, đích thân thấy cảnh giới của Như Lai,
nhanh chóng nói một lượt, ḥng
chấn động đại thiên thế
giới!
Đáp:
Tông thừa và Tịnh Độ, cả hai đều là
pháp thắng diệu. Do căn tánh của chúng sanh khác biệt,
chẳng khỏi phải tùy thuận căn cơ mà nói!
Hướng thượng nhất trước chẳng phải
Tịnh, chẳng phải Thiền,
mà chính là Tịnh, chính là Thiền.
Mới nói “tham cứu” là đă tùy thuận kẻ hạ
căn. Nếu thật sự là bậc đại trượng
phu, sẽ tự tin chắc chắn “tâm này làm Phật,
tâm này là Phật”. Nếu một niệm cách biệt với
Phật, chẳng gọi là Niệm Phật tam-muội. Nếu
niệm nào cũng chẳng gián đoạn với Phật,
sao lại phải nhọc sức hỏi A Nan? V́ thế,
tham cứu chữ Ai và các pháp như nhiếp tâm, sổ tức (đếm
hơi thở) v.v… đều chẳng
phải là chuyện tột bậc trong Tịnh Độ!
Chuyện tột bậc trong Tịnh Độ chính là không
có Phật ở ngoài niệm để niệm đức
Phật được niệm, không có niệm
ở ngoài
Phật để có người niệm Phật.
Ngay trong khi thực hiện, liền chẳng rơi vào bốn
câu và bách phi, toàn thân xông thẳng vào! Chỉ thấy quang
minh nơi một lỗ chân lông của A Di Đà Phật,
liền thấy mười phương vô lượng
chư Phật. Chỉ sanh vào một quốc độ Tây
Phương Cực Lạc, liền sanh vào Tịnh Độ
của mười phương chư Phật. Đấy
là con đường hướng thượng nhất
trước. Nếu bỏ hiện tiền Di Đà để
riêng nói “tự tánh Di Đà”, bỏ Tây Phương Tịnh
Độ để riêng nói “duy tâm Tịnh Độ”;
đấy là công án sai lầm, lệch lạc! Kinh dạy: “Tam
Hiền, Thập Thánh trụ quả báo. Chỉ riêng ḿnh Phật
ngự Tịnh Độ”. Đấy là một búa
đánh vào sau ót. Mười đại nguyện
vương của ngài Phổ Hiền hướng dẫn
về Cực Lạc, ai dám gom vào Quyền
Thừa?
Nhớ Phật, niệm Phật, chẳng nhờ
phương tiện, tự được tâm khai, ai bảo
là nhất định thuộc loại vụn vặt?
Chỉ nên tin sâu môn này,
nương Tín mà lập Nguyện, nương vào Nguyện
mà khởi Hạnh, tức niệm nào cũng đều
lưu xuất vô lượng Như Lai, ngồi trọn khắp
trong các quốc độ nhiều như vi trần ở
mười phương, chuyển đại pháp luân, chiếu
xưa, soi nay, chẳng phải là ngoài bổn phận. Há chỉ
chấn động đại thiên thế giới mà thôi?
Muốn biết chuyện nhà của vị tăng mặc
áo chằm, chẳng ngại nhờ vào một bài kệ của
ngài Trung Phong để gởi gắm tin tức. Kệ rằng:
“Thiền ngoại bất tằng đàm Tịnh Độ.
Tu tri Tịnh Độ ngoại vô Thiền, lưỡng trùng
công án giai niêm khước, Hùng Nhĩ phong khai ngũ diệp
liên” (Ngoài Thiền chưa từng bàn Tịnh Độ,
phải hay:
Ngoài Tịnh,
có Thiền đâu! Hai tầng công án
đều nêu cả, Hùng Nhĩ[83]
nở x̣e năm cánh sen).
* Dạy về pháp môn
Niệm Phật
Pháp
môn Niệm Phật chẳng có ǵ đặc biệt lạ
lùng, chỉ tin sâu, tận lực hành là điều trọng
yếu. Đức Phật dạy: “Nhược nhân
đản niệm Di Đà Phật, thị danh vô thượng
thâm diệu Thiền” (nếu ai chỉ niệm Di Đà
Phật, đó gọi vô thượng thâm diệu Thiền).
Ngài Thiên Thai nói: “Bốn loại tam-muội cùng gọi là
Niệm Phật, nhưng Niệm Phật tam-muội là vua
trong các tam-muội”. Ngài Vân Thê nói: “Một câu A Di Đà
Phật gồm trọn tám giáo, nhiếp trọn năm
tông”. Đáng tiếc người hiện thời coi
niệm Phật là chuyện vớ vẩn, thiển cận,
cho đó là công phu của ngu phu, ngu phụ! Do vậy, tín
đă chẳng sâu, hành cũng chẳng đắc lực.
Suốt ngày ơ hờ, công lao tịnh nghiệp chẳng
đạt được! Nếu có kẻ khéo lập
phương tiện, muốn hiểu sâu tam-muội này, cứ
hở ra là coi tham cứu chữ Ai là hướng thượng
nhất trước! Trọn chẳng biết cái tâm
năng niệm (có thể niệm) trong một niệm hiện
tiền vốn tự ĺa lỗi, dứt sai, chẳng thua
kém “tác ư ĺa dứt”. Tức là vị Phật được
niệm trong một câu hiện tiền cũng vốn tự
siêu việt t́nh kiến chấp trước, cần ǵ cứ
phải nhọc công đàm huyền thuyết diệu? Chỉ
quư sao tin đến nơi, giữ cho ổn, thẳng thừng
mà niệm, hoặc ngày đêm mười vạn câu, hoặc
năm vạn, ba vạn, dùng quyết định chẳng
khuyết làm chuẩn. Hết một đời này, thề
chẳng biến đổi. Nếu chẳng được
văng sanh, ba đời chư Phật liền thành nói dối!
Hễ được văng sanh, sẽ vĩnh viễn chẳng
thoái chuyển, các thứ pháp môn đều được
hiện tiền.
Rất kỵ hôm nay
Trương Tam,
ngày mai Lư Tứ. Gặp người thuộc Giáo Hạ, lại
nghĩ tầm chương trích cú. Gặp người thuộc
Tông Môn, lại toan tham cứu, vấn đáp. Gặp người
tŕ luật, lại tính đắp y, dùng bát. Đấy chính
là đầu mối chẳng hiểu rơ, hạng mục chẳng
rành! Há có biết niệm A Di Đà Phật thuần thục,
th́ chỗ tột cùng trong giáo lư nơi
Tam Tạng mười hai bộ đều ở trong ấy,
then chốt của một ngàn bảy trăm công án hướng
thượng cũng ở trong ấy, ba ngàn oai nghi, tám vạn
tế hạnh, tam tụ tịnh giới cũng ở trong
ấy. Có thể thật sự niệm Phật, buông xuống
thân, tâm, thế giới, tức là đại bố thí. Có
thể thật sự niệm Phật, chẳng c̣n dấy
lên tham, sân, si, tức là đại tŕ giới. Có thể thật
sự niệm Phật, chẳng so đo “đúng, sai, ta,
người”, tức là đại nhẫn nhục. Có thể
thật sự niệm Phật, chẳng có chút gián đoạn,
xen tạp, tức là đại tinh tấn. Có thể thật
sự niệm Phật, chẳng c̣n rong ruổi theo vọng
tưởng, tức
là đại Thiền Định. Có thể thật sự niệm Phật, chẳng bị
ngă rẽ nào khác mê hoặc, tức là đại trí huệ.
Hăy thử tự suy
xét, nhận biết: Nếu thân, tâm, thế giới vẫn
chưa buông xuống, ư niệm tham, sân, si vẫn tự hiện
hành, dấy lên. Đúng,
sai, ta, người, vẫn tự vướng mắc. Gián
đoạn, xen tạp, vẫn chưa trừ sạch. Vọng
tưởng rong ruổi vẫn chưa vĩnh viễn diệt
mất. Đủ loại ngă rẽ khác vẫn có thể mê
hoặc chí hướng. Đó chẳng phải là chân thật
niệm Phật. Muốn đạt tới cảnh giới
nhất tâm bất loạn, cũng chẳng có thuật nào
khác. Lúc mới thực hiện, cần dùng xâu chuỗi. Nhớ
phân minh, định vững khóa tŕnh, quyết định
chẳng khuyết. Lâu ngày thuần thục, chẳng niệm
mà tự niệm; sau đấy, nhớ số cũng
được, không nhớ cũng được. Nếu
là kẻ sơ tâm th́ càng phải nói lời tốt đẹp,
đừng nên chấp tướng. [Hễ c̣n là kẻ
sơ tâm mà] muốn học viên dung tự tại, nói chung là
tin chẳng sâu, hành chẳng tận lực, dẫu cho quư vị
giảng mười hai phần giáo, hiểu thấu một
ngàn bảy trăm câu chuyển ngữ, đều là chuyện
thuộc bờ sanh tử, khi lâm chung, chắc chắn
chẳng dùng được. Hăy trân trọng!
* Dạy về Niệm
Phật tam-muội
Niệm Phật tam-muội được gọi là Bảo
Vương tam-muội, là vua trong các tam-muội. Phàm đủ
loại tam-muội thuộc Thiên, Viên, Quyền, Thật,
không ǵ chẳng lưu xuất từ tam-muội này, không ǵ
chẳng quy hoàn môn tam-muội này! Bởi lẽ, ư chỉ trọng
yếu viên đốn tột bậc cũng là phương
tiện thiện xảo để thích hợp khắp ba
căn. Tâm tánh của chúng sanh chỉ là một mà thôi! Chỉ
do một cái tâm này vốn đă sẵn có hai môn Chân Như
và Sanh Diệt. Ngay trong khi tùy duyên mà bất biến th́ gọi
là Chân Như môn. Dẫu bất biến mà tùy duyên th́ gọi
là Sanh Diệt môn. Nương vào Chân Như môn nói Viên Thật
Giáo. Nương theo Sanh Diệt môn, nói Thiên
Quyền giáo. Ĺa Chân Như, sẽ chẳng có sanh diệt!
Quyền là Quyền trong Thật.
V́ thế,
có thể v́ Thật mà thực hiện Quyền. Ĺa sanh diệt
sẽ chẳng có Chân Như. Thật là Thật trong Quyền.
V́ thế, cần phải khai Quyền hiển Thật. V́
Thật mà thực hiện Quyền, bèn có ba giáo Tạng,
Thông, Biệt. Khai Quyền hiển Thật chỉ gom vào một
thứ là Viên Giáo! Bốn giáo Quyền, Thật, không ǵ chẳng
phải là pháp môn Niệm Phật, tức là niệm tự
Phật, niệm tha Phật, cùng niệm tự Phật và
tha Phật. Ước theo bốn giáo, sẽ thành mười
hai loại Niệm Phật tam-muội.
Lại nữa, bốn
loại tam-muội như Thường Hành (Ban Châu niệm
Phật) v.v… cùng gọi là Niệm Phật. Mỗi môn tam-muội
đều có đủ mười hai, tức là bốn
mươi tám loại. Lại nữa, niệm tha Phật
th́ hoặc niệm tướng hảo, niệm pháp môn, hoặc
niệm Thật Tướng. Phỏng theo lệ này để
suy ra niệm tự Phật, và cùng niệm tự Phật lẫn
tha Phật, th́ mỗi đều có ba [cách niệm trên
đây, tức niệm tướng hảo v.v…], trải khắp
bốn loại tam-muội. Phối ứng với bốn
giáo, bèn có một trăm bốn mươi bốn loại.
Trong mỗi loại, lại có vô lượng cảnh quán sai
biệt, chẳng thể tuyên
nói trọn hết.
Nhưng một pháp Tŕ
Danh phát xuất từ Phật Thuyết A Di Đà Kinh, vẫn
ở ngoài các loại tam-muội vừa được nói
trên đây! Chính là như Quán Kinh đă nói: “Nhữ nhược
bất năng niệm bỉ Phật giả, ưng
xưng Vô Lượng Thọ Phật danh tự” (Nếu
ông chẳng thể niệm đức Phật ấy, hăy nên
xưng danh tự của Vô Lượng Thọ Phật).
Pháp môn Tŕ Danh này tuy giống như tùy thuận hạng trung
hạ, nhưng vẫn là viên đốn nhất. Bởi lẽ,
cái tâm được tŕ, bất luận hiểu hay chẳng
hiểu, bản thể của nó không ǵ chẳng phải là
Nhất Cảnh Tam Đế. Cái tâm năng tŕ, bất luận
thấu đạt hay không, bản thể của nó không ǵ
chẳng phải là Nhất
Tâm Tam Quán. Xin hăy suy
ngẫm lời ấy. Sáu chữ Di Đà do danh mà là danh, do
tâm nên là danh, mà cũng là danh cũng là tâm nên là danh, là chẳng
phải danh chẳng phải tâm mà là danh. Nếu “do danh” mà là danh, danh phải
nên tự tŕ, nào đợi tâm tŕ? Lại nữa, danh có thể
tự tŕ, liên quan ǵ đến tâm? Nếu “do tâm” mà có danh, th́ tâm vốn
có danh, cớ sao khi chẳng tŕ, danh chẳng hiện? Nếu
là “cũng là danh mà
cũng là tâm”
nên là danh, [vậy th́] danh đă có thể có danh, sao lại phải
đợi tâm? Tâm có thể có danh, há phải đợi
danh? Hơn nữa, danh tự ấy nửa nào thuộc
danh, nửa nào thuộc tâm? Hơn nữa, khi chẳng tŕ, nửa
phần danh thuộc về danh tuy chẳng có, nửa phần
danh thuộc về tâm phải tồn tại. Khi tách ra, mỗi
đằng đều chẳng có; khi hợp lại, sao có
cho được? Nếu “chẳng có danh, chẳng có tâm
nên là danh”, th́ đă là chẳng phải danh, chẳng phải
tâm, sao lại có danh tự Di Đà? Suy xét danh như thế
th́ tánh của Danh Tự là Không, duyên sanh huyễn hữu. Tự
tánh của một danh tự chính là tánh của hết thảy
các danh tự. Danh tự tức pháp giới, Trung Đạo
Thật Tướng. Nêu lên một, sẽ thâu tóm toàn bộ,
chẳng có pháp nào ở ngoài danh tự. Cảnh đế
được niệm đă là như thế, th́ cái quán trí
có thể niệm cứ phỏng theo đó mà biết.
Lại nữa, gộp
chung cả ba cảnh ấy, gọi chung là Diệu Giả.
Nêu lên chánh báo để bao trùm y báo, nêu ra hóa chủ để
gồm thâu đồ chúng, nêu giả danh để bao gồm
thật pháp. Một
câu danh hiệu, [trọn đủ] ba ngàn [các pháp] rành rành. Lại
nữa, gộp chung ba phép Quán ấy, gọi chung là Không, do
t́m tâm chẳng có dấu vết. Lại nữa, nếu danh
là tâm, lại có thứ
ǵ là danh? Nếu danh chẳng phải là tâm, sao tâm tŕ danh? Nếu
tâm là danh, sao lại là tâm? Nếu tâm chẳng phải là
danh, danh liên quan ǵ với tâm? Trong khoảng giữa ấy,
không có đúng, hay chẳng đúng, há chẳng phải chính
là Trung ư? Ngài Hổ Khê nói: “Cảnh là diệu Giả,
Quán là Không. Cảnh quán cùng mất, tức là Trung. Chiếu
mất, há từng có sau trước? Nhất tâm viên tuyệt,
trọn chẳng có tung tích”, chính là nói về điều
này vậy! Ngộ lư này mà tŕ danh, th́ một xưng, một
niệm, nhanh chóng viên măn Vô Thượng Bồ Đề. Nếu
chưa ngộ, hăy lần xâu chuỗi, nhớ số, cặm
cụi suốt năm, chưa hề chẳng ngầm hợp
đạo diệu, hoàn toàn ở trong diệu cảnh, diệu
quán. Huân tập lâu ngày, tánh đức dần dần hiển
lộ, như người nhuốm mùi hương, thân có
hương thơm, chẳng
nhờ đến phương tiện, tự được
tâm khai. Do đó, chư tổ Liên
Tông cực lực hoằng dương. Ai là người có
trí mà bỏ cách này để cầu đường lối
khác ư?
* Vấn đáp đêm
trừ tịch
Vị
duy-na hỏi: “Ngày Ba Mươi tháng Chạp, thỉnh thầy
thẳng thừng nêu bày lẽ hướng
thượng nhất trước?”
Đáp: - Vốn sẵn
hiện thành, chẳng do ai mà có!
Vị Tây Đường
hỏi: - Vốn sẵn hiện thành, v́ sao muốn chứng
mà chẳng thể chứng ngay?
Đáp: - Sao lại nhọc
ḷng muốn chứng?
Một lúc lâu sau, vị
Tây Đường thưa: - Người mong chứng hiếm
hoi!
Sư bèn nói: - Văn
Thù dấy lên [kiến chấp] thấy Phật, thấy
Pháp, đức Thế Tôn liền biếm trích [Văn Thù]
vào giữa hai núi Thiết Vi. Ngài Cao Phong nói: “Hiện thời,
có ai dấy lên kiến chấp thấy Phật, thấy
Pháp, phải nên chắp tay tán thán”. V́ sao vậy? Nếu
đến thời tiết, lư ấy tự tỏ lộ!
Đức Thế Tôn biếm trích ngài Văn Thù nhằm
răn kẻ cầu Phật pháp ở ngoài tâm. Ngài Cao Phong
tán thán hai cái thấy, nhằm khuyên lơn người cam
tâm vứt bỏ Phật pháp! Chỉ thấu đạt “ngoài tâm chẳng có
Phật pháp nào khác”,
th́ mới có thể hăm hở cầu Phật pháp. Cổ
nhân chẳng chấp Phật, Pháp, Tăng mà cầu, cầu
như thế đó, há có giống như người hiện
thời, vừa mới nói “cầu Phật, cầu Pháp”
liền mê muội tông chỉ “tánh cụ” (tánh sẵn
trọn đủ); mới vừa nói “chẳng
Phật, chẳng Pháp”, liền muốn phế bỏ
toàn bộ tu chứng! Kiến chấp lệch lạc, tà vạy,
liên quan ǵ với viên tông?
Các cư sĩ hỏi:
- Trong lời đáp của ngài Đại Huệ, Ngài cho rằng
ba câu đầu của Trung Dung là tam thân, có phạm lỗi
hay không?
Đáp: - Tông nhăn viên
thông, nêu ra bất cứ ǵ để nói cũng đều
được, rành rành là chẳng phạm lỗi! Nhưng
Trung Dung của ngài Đại Huệ chẳng phải là
Trung Dung của Tử Tư!
Lại hỏi: - V́ sao
Thanh Lương quốc sư nói “hư vọng muốn
dung ḥa Nho và Thích, sẽ đọa vào Vô Gián?”
Đáp: - Nho là pháp thế
gian. Chấp là như nhau, tức là báng pháp xuất thế,
do vậy phạm đọa. Nay vâng theo tông chỉ “Sự
Sự vô ngại” của Hoa Nghiêm, th́ như ngoại
đạo Biến Hành cùng chứng giải thoát. Lại
vâng theo ư chỉ “khai hiển” của kinh Pháp Hoa, ngôn ngữ
ứng xử trong cơi đời đều thuận theo
chánh pháp. Do đó, chẳng có lỗi ǵ! Thiền sư Tinh Cốc
nói: “V́ kẻ ngoài cửa mà nói câu ‘đồng’ là ‘bất
đồng’, ắt họ đâm ra nghi báng. V́ người
đă nhập môn nói câu ‘khác’ là ‘chẳng khác’, ắt họ
sẽ bám víu vào tập khí cũ. V́ người đă
thăng đường nói
câu ‘song diệc’ (cũng đồng, cũng dị), khiến
cho họ biết nguyên ủy của sự sai biệt. V́
người đă nhập thất,
nói câu ‘song phi’ (chẳng đồng,
chẳng dị). Lời thô, lẽ tế,
cùng quy vào Đệ Nhất Nghĩa Đế”. Nho,
Thích chỉ là danh tự giả lập, há có đồng hay
dị để luận định được ư?
Lại hỏi: - Lại
như nếu lúc mừng, giận, buồn, vui chưa phát,
và một niệm chưa sanh th́ là giống hay là khác?
Đáp: - Nếu khi hừng
hực mừng, giận, buồn, vui mà vẫn là chưa
phát th́ có thể nói là “một niệm bất sanh, toàn thể
hiển hiện”. Nếu ĺa một niệm hiện tiền,
để riêng cầu trước khi một niệm
chưa sanh, bảo đó là ‘hướng thượng’, sẽ
hoàn toàn đọa trong diệt tướng pháp trần. Hăy
nên biết: Niệm chính là vô niệm, cho nên nói là ‘chưa
sanh’. Mừng, giận, buồn, vui, tức chẳng mừng,
giận, buồn, vui; cho nên nói là ‘chưa phát’. Hiểu
được như thế đó th́ mới có thể nói
là đồng. Nếu chẳng phải vậy, bốn câu
đều sai!
Lại hỏi: - Bồ
Đề Lưu Chi là pháp sư Đại Thừa, sao lại
chê trách tổ Đạt Ma?
Đáp: - Nam Nhạc
Tư đại sư cũng hứng chịu bảy lần
chê trách; những trường hợp ấy đều có
hai nghĩa:
1) Ước theo Thật,
bậc Quyền vị đại sĩ chẳng liễu
đạt viên thừa, như tứ chúng tăng thượng
mạn đánh đập ngài Thường
Bất Khinh vậy.
2) Ước theo Quyền,
chính là hiển thị chỗ mầu nhiệm của Nam Nhạc
và Đạt Ma, giống như Điều Đạt là
chân thiện tri thức vậy!
Vị Tây Đường
hỏi: - Đă nói là truyền riêng ngoài giáo (giáo ngoại biệt
truyền), sao bốn quyển kinh Lăng Già lại có thể
ấn tâm?
Đáp: - Truyền riêng
ngoài giáo tức là chân truyền trong giáo: Như do ngón tay mà
thấy mặt trăng, ngón tay chẳng phải là mặt
trăng, chẳng phải là cái được chỉ không
phải mà mặt trăng. Ĺa kinh một chữ, tức giống
như ma nói! Chẳng dùng kinh quyển để ấn tâm,
sao gọi là “truyền tâm ấn” của Phật cho
được? Lại nữa, chỗ mầu nhiệm
trong tông thừa là đoạt t́nh, chẳng đoạt pháp[84].
Do chấp trước văn tự, cần phải nói “chẳng
lập”. Nếu chấp “chẳng lập”, đâm ra diệu
dược trở thành bệnh nặng. Đúng là “y kinh
hiểu nghĩa, tam thế chư tổ bị oan uổng”.
Do vậy, vẫn cần phải dùng Giáo để ấn
tâm.
Hễ xem những lời
lẽ trong nhà Thiền, cần phải có con mắt “siêu
phương” (vượt khỏi các t́nh chấp, giới
hạn, thiên kiến). Lại như bài kệ của Thần
Tú, Ngũ Tổ dạy người khác lễ bái, tŕ tụng,
nương theo đó để tu hành, có thể làm Phật,
làm Tổ. Lục Tổ viết kệ, bị [Ngũ Tổ]
dùng hài xóa đi, bảo “vẫn chưa kiến tánh”. Mọi
người đều cho rằng “công nhận và phủ
định trái ngược với ư Tổ”. [Ngũ Tổ] lại
c̣n ngầm che chở Lục Tổ. [Nếu chỉ nh́n vào
những chuyện ấy mà chẳng suy gẫm sâu xa, tức
là] chẳng biết khi ấy, Phật pháp c̣n thịnh, t́nh
người c̣n thuần. Những người truy đuổi
[Lục Tổ] đều là những người dũng
mănh v́ pháp, trọn chẳng phải là tranh đoạt
hư danh, hư vị, sao cứ nghĩ hạn cuộc
như “binh bất yếm trá” (dụng binh chẳng sợ
dối trá), khiến cho pháp môn bị xấu hổ vậy?
Hăy nên biết: Bài kệ
của ngài Thần Tú tuy vướng vào tiệm tu, nhưng
trăm ngàn phần ổn
thỏa, thích đáng. Bài kệ của Lục Tổ tuy hết
sức viên đốn, nhưng hễ hiểu sai chừng bằng
hào ly, sẽ cách biệt như trời với đất.
Lănh hội th́ sẽ thẳng thừng vượt thoát, hiểu
lầm sẽ vĩnh viễn đọa lạc. Ngũ Tổ
thưởng là thật thưởng, phạt là thật phạt,
chẳng phải là giả bộ! Lại c̣n ắt ngầm
trao y để làm tin, bảo Lục Tổ ra đi. Chính là
v́ muốn cùng Lục Tổ cùng chống đỡ huệ
mạng tiệm tu trong Viên Môn, chẳng nỡ ḷng khiến
cho chúng sanh trong
hiện tại và vị lai lầm lạc
đọa hầm, sụp hào, bèn ngầm bảo vệ Thần
Tú. Do vậy, khiến cho Lục Tổ chịu đủ nỗi
khổ trốn chạy, truy đuổi để Lục Tổ
có lúc được biểu lộ rạng ngời,
được chia cho nửa pháp ṭa. Sao lại được
như thế? Há v́ Ngũ Tổ cũng từng nhận
vàng, lụa, mà đệ tử nối pháp chẳng cam ḷng
ư? Lục Tổ do được [người khác]
tŕnh thư tiến cử là bậc đắc pháp, dẫu
đă tiếp nhận nguyên lưu (mạng mạch của
Phật, Tổ), nhưng tâm can khiếp đảm, chẳng
thể thăng ṭa, phẩy
phất trần ư? Nếu có thể đối với
ngữ lục, thấy được ư chỉ ngoài văn
tự, th́ cũng sẽ có thể thấy ư chỉ vượt
ngoài văn tự nơi ngàn kinh muôn luận, sẽ chẳng
chỉ hiểu nghĩa theo mặt chữ, cũng lại
chẳng ĺa kinh luận một chữ nào! Nếu chẳng
phải như vậy,
Tam Tạng mười hai bộ, một ngàn bảy trăm
công án, đều là ngón tay chỉ mặt trăng, ngỡ
ngón tay của Tổ là mặt trăng, hoặc ngỡ ngón
tay của Phật là mặt nguyệt, có khác chi đâu?
* V́ Đại Dă [giảng
thuyết]
Ba
môn Thiền, Giáo, Luật đều chẳng phải là
ngoài tâm có pháp. V́ thế, chia ra rồi chấp trước,
cố nhiên là sai lầm! Hợp lại để cầu,
cũng sai luôn! Do chia ra rồi chấp trước, sẽ
nẩy sanh đấu tranh. Hợp lại để cầu,
sẽ thành tràn lan, luông tuồng. [Hai căn bệnh ấy]
đều do chẳng biết đau đáu v́ sanh tử, thẳng
thừng tiến hướng Bồ Đề. V́ thế,
chỉ mong danh, chẳng mong mỏi
thật, cầu nơi cành nhánh, chẳng cầu nơi cội
rễ. Phàm Thiền, Giáo, Luật đều là danh; thật
sự có thể tự giác, giác tha, đó là Thật. Cơ
phong, chuyển ngữ, kệ tụng, niêm đề là cành
nhánh của Thiền, c̣n thấu triệt, thoát khỏi thức
t́nh mới là căn bản của Thiền. Dựa theo kinh
văn để giải thích ư nghĩa, chương cú, danh
tướng, đó là cành nhánh của Giáo; quán tâm nhập chứng
là căn bản của Giáo. Đắp y, tŕ bát, tích trượng,
giày cỏ là cành
nhánh của Luật; đoạn pháp hữu lậu là
căn bản của Luật.
Nếu nương vào
Thiền mà thấu triệt, thoát khỏi thức t́nh, lo ǵ
chẳng quán tâm nhập chứng, chẳng đoạn pháp hữu
lậu? Nếu nương theo Giáo, quán tâm nhập chứng,
lo ǵ chẳng đoạn pháp hữu lậu, chẳng thấu
triệt, thoát khỏi t́nh thức? Nếu nương theo
Luật để đoạn pháp hữu lậu, lo ǵ chẳng
thấu triệt, thoát khỏi thức t́nh, chẳng quán tâm
nhập chứng? Không chỉ tách ra chẳng thể tách ra,
mà hợp lại cũng chẳng thể hợp. Do tách ra
th́ chẳng thể tách ra, các bậc đại thánh đại
hiền từ cổ, không vị nào chẳng quán thông Tam Học.
Do hợp lại bèn chẳng thể hợp, cho nên bậc
tri thức chân thật xưa nay, không vị nào chẳng
chuyên chú một môn! Các vị như Lục Tổ, Nam Nhạc
v.v… chưa từng v́ kẻ khác truyền giới, thuyết
kinh. Các vị như Khuy Cơ, Trường Thủy v.v…
chưa từng v́ người khác dạy Thiền hay truyền
giới. Các vị như Đạo Tuyên, Hoài Tố v.v…
chưa từng v́ kẻ khác thượng đường,
giảng kinh. Ngay như trong các bậc tôn túc cận đại,
cũng có vị mang phong thái cổ nhân đáng ngưỡng
mộ. Như thiền sư Thọ Xương biết sâu
xa ư của Giáo và Luật, nhưng trọn chẳng truyền
giới, giảng kinh. Pháp sư Tuyết Lăng biết sâu xa ư
Thiền và Luật, trọn chẳng đề niêm, truyền
giới. Hai vị luật chủ Đại Hội và Thị
Quyền cũng biết ư Thiền và Giáo, trọn chẳng
đàm Tông, thuyết Giáo! C̣n như Tử Bách đại
sư học trùm Tam Tạng, chứng quả Vô Sanh, đạo
cao, đức dày, rạng ngời như vầng mặt trời,
bèn suốt đời trọn chẳng thượng
đường, chẳng giảng kinh, chẳng
truyền giới, chỉ dạy kẻ
khác chân tham thật cứu, thâm nhập kinh tạng, thề
tŕ năm giới căn bản mà thôi!
Nh́n vào chuyện trong
pháp môn, [các tấm gương ấy đáng] tôn trọng
chi bằng? Há giống như người đời sau,
lơ mơ chẳng hiểu biết, cứ luông tuồng,
chẳng e dè, dám tự tiện
thượng đường, giảng diễn, truyền
giới, như gă bần tiện chỉ nhắm vượt
lên cao ḥng chuyên cầu lợi, gần như chẳng ai
không coi chánh pháp của Như Lai như một món đồ
để diễn tuồng! Than ôi, đau đớn thay! Bậc
hiền nhân ở Giang Hữu[85]
là Đại Dă khổ tâm cầu một lời ḥng nêu tỏ
cội nguồn của Tam Học. Tôi bảo: - Người
học một bước ra khỏi cửa, trước hết
cần phải thống thiết dứt bặt hư danh
tiểu lợi trước mắt và kế mưu sanh trong
trăm năm. Ắt phải ép thân theo lệ của bậc
thánh hiền thiên cổ, thề hướng theo một niệm
hiện tiền, nhận biết, giữ lấy huyết mạch
chân chánh của Tam Học, hướng vào trong chiếc ḷ
to lửa bốc rừng rực để ngàn rèn, trăm
luyện, trở thành vàng ṛng óng chuốt. Sau đấy, ẩn
giấu tài năng, hướng đến ḷ hương
nơi miếu cổ để an thân lập mạng. Suốt
đời tâm chí chẳng dấy một
niệm phập phều, xao động. Măi cho đến
khi chết ngất sống lại, ví như đậu nổ
trong tro lạnh, chẳng có mảy may ư niệm “có ngă” th́ mới
có thể là “đại dă” (大冶,ḷ luyện
to lớn) nung phàm đúc thánh vậy! Đại chúng hăy trân
trọng!
* Trà thoại đêm trừ
tịch năm Tân Măo (1651)
Trà
thoại các phương phần nhiều nói về chuyện
hướng thượng, riêng Húc hủ bại chẳng vậy,
mà
cùng các bạn nói về chuyện thọ
dụng thường ngày trong nhà! Đức Phật chế
định tỳ-kheo hành Lục Ḥa Kính. Do vậy,
Tăng-già được gọi là Ḥa Hợp Chúng: Thân ḥa
đồng trụ, khẩu ḥa vô tránh, ư ḥa đồng duyệt,
giới ḥa đồng tu, kiến ḥa đồng giải, lợi
ḥa đồng quân. Tuân thủ Lục Ḥa bèn gọi là
Tăng Bảo. Điều trọng yếu chỉ là một
từ tâm. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Nhữ
đẳng ưng đương thân nghiệp hành Từ,
khẩu nghiệp hành Từ, ư nghiệp hành Từ” (Các
ông hăy nên thân nghiệp hành Từ, khẩu nghiệp hành Từ,
ư nghiệp hành Từ). Hăy nên biết: Từ
có thể đóng chặt các cửa đường ác, sanh
trọn khắp vô lượng các điều thiện.
Người có từ tâm th́ kẻ sân trông thấy sẽ
hoan hỷ, kẻ sợ hăi trông thấy sẽ an ổn, kẻ
lo buồn trông thấy sẽ cởi gỡ mối lo, kẻ
khổ sở trông thấy sẽ vui sướng. Thậm
chí chim, thú trông thấy, chẳng sanh tâm độc hại,
kinh sợ. Hăy thử xem: Ma cũng hiện tướng hảo,
quang minh thù thắng đặc biệt của Phật,
nhưng khiến cho người trông thấy hắn hoảng
hốt, bất an, do ma chẳng có từ tâm! Phật
cũng hiện tướng Minh Vương, phẫn nộ,
oai mănh, nhưng khiến cho người trông thấy dẹp
tội, sanh điều lành, do Ngài có sức từ!
Trí Húc hủ bại suốt
đời chưa từng xuống tóc cho người nào,
cũng chưa từng đổi tên cho một ai. Phàm những
người đồng trụ đều là thập
phương đây kia, do pháp đạo mà thành người
thân, t́nh chẳng ưa ghét. Chỉ mong các vị bạn hữu
ai nấy hăy tu Từ Tâm tam-muội, chớ nên thuận theo
thói tục mà nhuốm bẩn, cũng chớ gắng gượng
lập dị, hăy chân thành tuân theo giới luật của
đức Phật, thống thiết trừ khử vọng
t́nh. Trừ được một phần tập khí, tức
là một phần tu hành, tiêu tan được một phần
lệch lạc, riêng tư, đấy chính là một phần
học vấn. Trí Húc hủ bại đức mỏng,
duyên cạn, thề chẳng mong môn đ́nh náo nhiệt, truyền
bá Thế Đế, chỉ cần ai nấy đều v́
đại sự, nghĩ báo ân sâu, dùi mài lẫn nhau, tận
lực cứu văn phong thái suy đồi, ngơ hầu chẳng
cô phụ một phen đồng trụ. Cuối
cùng, ngày Ba Mươi tháng Chạp đă
đến, đảm bảo có sự thọ dụng chân
thật, chẳng đến nỗi
như con cua rơi vào nước sôi! Trân trọng!
Linh
Phong Tông Luận
Phần
4 hết
[1] Theo Cảnh Đức
Truyền Đăng Lục, thiền sư Ô Khoa
Đạo Lâm có thị giả tên là Hội Thông, bỗng một
hôm Hội Thông muốn từ biệt thầy ra
đi. Sư hỏi: “Nay ông đi đến đâu?”
Thưa: “Hội Thông v́ pháp mà xuất gia, nhưng ḥa thượng
chẳng rủ ḷng từ răn dạy, nay con muốn
đi các nơi tham học Phật pháp”. Sư nói: “Nếu
là Phật pháp, ở chỗ ta đây cũng có đôi chút”.
Hỏi: “Thế nào là Phật pháp của ḥa thượng?”
Sư liền rút lấy một sợi bông trên vải, khẽ
thổi, Hội Thông liền lănh ngộ huyền chỉ. Từ
đó từ ngữ “xuy mao bố” ngụ ư Phật
pháp không đâu chẳng tồn tại, chẳng thể dính
mắc!
[2] Thiện Tinh (Sunaksatra), c̣n dịch là Thiện
Tú, là con trai của đức Thế Tôn (vị này là anh em
cùng cha khác mẹ với La Hầu La. Ngoài Da Thâu Đà La, Thái Tử có hai
người thiếp nữa, không rơ Thiện Tinh là con của
bà nào. Do La Hầu La là con của thái tử phi Da Thâu Đà
La, nên chỉ La Hầu
La thường được nhắc đến). Vị
này sau khi xuất gia, đoạn được phiền
năo trong Dục Giới, đắc Đệ Tứ Thiền
Định. Về sau, do thân cận bạn ác, thoái thất giải thoát, cho rằng “chẳng có pháp
Niết Bàn”, khởi tà kiến
phủ định nhân quả, dấy lên ác tâm đối với
đức Phật, tán thán
ngoại đạo tu theo hạnh của chó là chân thật
A La Hán, bị đọa vào địa ngục Vô Gián ngay
trong khi c̣n sống.
[3] Nguyên văn “vật
vong, vật trợ”. Từ ngữ này xuất phát từ
một đoạn trong thiên Công Tôn Sửu sách Mạnh Tử:
“Tất hữu sự yên nhi vật chánh, tâm vật vong, vật
trợ trưởng dă”. Câu này được chú giải
là trong quá tŕnh bồi dưỡng chánh khí, tâm đừng
để quên bẵng, mà cũng không cần phải dùng các
biện pháp can thiệp gấp gáp khiến cho tâm tăng
trưởng. Họ dùng một thí dụ như sau: Người
nông dân gieo mạ, muốn giúp cho mạ tăng trưởng
nhanh hơn, bèn mỗi ngày kéo mạ cao lên một chút, rốt
cuộc mạ chết sạch!
[4] Pháp Hoa Tam Muội
Sám Nghi c̣n gọi là Pháp Hoa Tam Muội Hành Pháp, Pháp Hoa Tam Muội
Nghi, hoặc Pháp Hoa Kinh Tam Muội Nghi, tên gọi đầy
đủ là Pháp Hoa Tam Muội Hành Sự Vận Tưởng
Bổ Trợ Nghi Lễ Pháp Hoa Kinh Nghi Thức. Sách này
được coi là tinh túy về Pháp Hoa Tam Muội do ngài
Trí Giả được truyền thừa từ ngài Nam Nhạc
Huệ Tư.
[5] Tức “nhân
tâm duy nguy, đạo tâm duy nguy, duy tinh duy nhất” như đă được
giải thích trong phần trước.
[6] Kim cang hậu
tâm là môn Định đă đoạn được phiền năo cực vi tế nhất
nơi địa vị tối hậu của Bồ Tát. Do
tác dụng của trí khi đó sẽ kiên cố, sắc bén
ví như kim cang, nên gọi là kim cang định. Có ba tâm nhập,
trụ, xuất. Khi nhập th́ vẫn là chúng sanh, khi xuất
bèn thành Phật. Khi trụ vị hoàn măn, khi sắp xuất
Định bèn gọi là kim cang hậu tâm.
[7] Thông thường
An Cư theo truyền thống Phật giáo Bắc Truyền
là từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy (nếu
gọi đích xác th́ đó là Tiền An Cư). Nhưng nếu
nói cặn kẽ hơn th́ như Tây Vực Kư chép: “Tăng
sĩ tại Ấn Độ vâng theo thánh giáo của đức
Phật, có hai kỳ an cư. Ba tháng đầu là từ ngày mười
sáu tháng Năm cho đến ngày Rằm tháng Tám. Hậu an
cư là từ Mười Sáu tháng Sáu cho đến ngày
mười Sáu tháng Chín”.
[8] Theo kinh Lăng
Nghiêm, quyển tám có nói ngài A Nan sau khi được Như
Lai khai thị về ư nghĩa của mật ấn Bát
Đát Ra, và nghe tên gọi của bộ kinh liễu
nghĩa ấy, do đốn ngộ thánh vị tu tấn
trong Thiền Na, bèn thưa
tŕnh kiến giải. Trong đó, có đoạn Ngài nói: “Thế Tôn! Bảo Liên Hương tỳ-kheo-ni
tŕ Bồ Tát giới, tư hành dâm dục, vọng ngôn hành
dâm phi sát, phi thâu, vô hữu nghiệp báo. Phát thị ngữ
dĩ, tiên ư nữ căn sanh đại mănh hỏa, hậu
ư tiết tiết mănh hỏa thiêu nhiên, đọa Vô Gián
ngục. Lưu Ly đại vương, Thiện Tinh tỳ-kheo,
Lưu Ly vị tru Cù Đàm tộc tánh, Thiện Tinh vọng
thuyết nhất thiết pháp Không, sanh thân hăm nhập A Tỳ
địa ngục. Thử chư địa ngục, vi hữu
định xứ, vi phục tự nhiên” (bạch đức
Thế Tôn, tỳ-kheo-ni Bảo Liên Hương giữ giới
Bồ Tát, lén hành dâm dục, nói xằng bậy là ‘hành dâm chẳng phải giết, chẳng phải trộm,
chẳng có nghiệp báo’. Nói lời ấy
xong, trước hết là từ nữ căn sanh lửa
cháy bừng, sau đó là từng lóng đốt đều
sanh ra lửa mạnh thiêu đốt, đọa vào ngục
Vô Gián. Đại vương Lưu Ly, tỳ-kheo Thiện
Tinh. Lưu Ly giết hại ḍng họ Cù Đàm, Thiện
Tinh hư vọng nói ‘hết thảy
các pháp rỗng tuếch’, hăm vào trong
địa ngục Vô Gián trong khi c̣n sống. Các địa
ngục ấy là chỗ nhất định, lại c̣n tự
nhiên).
[9] Y La Long
Vương (Elāpattra), theo Huệ Uyển Âm Nghĩa, tên
này dịch nghĩa là Cực Xú Khí (cực hôi thối). Tiền
thân của long vương khi làm tỳ-kheo dưới thời
Phật Ca Diếp, khéo thông hiểu Tam Tạng, tu tập
đắc Định, thường kinh hành dưới cội
cây Y La. Có một lần, vị tỳ-kheo ấy
kinh hành bị lá rơi trúng trán đau điếng, nổi
sân tâm, dùng hai tay bẻ cành, tước ngọn, vặt lá,
đạp giẫm lá cây, chửi bới hung bạo, đến
nỗi mạng chung, đọa làm thân long vương, chịu
mọi khổ năo.
[10] Đây là một
đoạn trích trong thiên hai mươi bảy của sách
Trung Dung. Chúng tôi chuyển ngữ theo cách diễn giải của
trang nhà Cổ Thi Văn Vơng.
[11] Tứ Tất
Đàn nghĩa đen là bốn pháp bố thí trọn khắp,
tức là bốn phương diện lợi ích trong sự
giáo hóa chúng sanh của Phật pháp:
1) Thế giới Tất
Đàn: Tùy thuận pháp thế gian mà nói các nghĩa nhân duyên
ḥa hợp, dùng tư tưởng, ngôn ngữ, quan niệm của
thế gian, tri kiến thế tục, nói pháp thích hợp với
thế tục để dẫn dắt chúng sanh đạt
được chánh trí, thâm nhập Phật pháp.
2) Vị nhân Tất
Đàn: Thuận theo căn tánh của từng chúng sanh mà nói
các pháp xuất thế thực tiễn, khiến cho chúng sanh
sanh khởi thiện căn.
3) Đối trị Tất
Đàn: Đối trị tham, sân, si, theo đúng bệnh mà
cho thuốc, đoạn ác sanh thiện cho chúng sanh.
4) Đệ Nhất
Nghĩa Tất Đàn: Phá trừ hết thảy luận
nghị, ngôn ngữ, trực tiếp dùng Đệ Nhất
Nghĩa để nói rơ lư Thật Tướng của các
pháp, khiến cho chúng sanh khế nhập giáo pháp.
[12] Nguyên văn “trừng
phát lao tướng” (瞪發勞相), trích từ câu
kinh Lăng Nghiêm “A Nan! Thí như hữu nhân, dĩ lưỡng
thủ chỉ cấp tắc ư nhĩ, nhĩ căn
lao cố, đầu trung tác thanh, kiêm nhĩ dữ lao,
đồng thị Bồ Đề trừng phát lao tướng”. Câu này được
bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Kinh Dịch Giải của cư sĩ Vương Trị
B́nh diễn giải như sau: “A Nan! Ví như có người,
dùng hai ngón tay tận lực đè chặt lỗ tai. Lỗ
tai do bị đè chặt, đâm ra mệt mỏi, trong
đầu cảm thấy có tiếng ù ù, tai và hiện
tượng nẩy sanh do bị đè chặt đều là
hiện tượng hư vọng sanh ra trong Bồ Đề,
giống như trợn mắt nh́n hư không một lúc lâu
sẽ thấy trên hư không có hoa đốm xuất hiện”.
[13] Đây là một
thí dụ khác dùng trong kinh Lăng Nghiêm. Đức Phật
dùng một cái khăn thắt thành sáu cái nút để
sánh ví Niết Bàn. Sáu nút thắt tượng trưng cho sự
sanh tử nơi sáu căn. Khi các chấp trước
nơi sáu căn đă chẳng c̣n, ví như đă tháo hết sáu nút thắt, th́ cái khăn Niết Bàn
cũng chẳng c̣n (tức là chẳng c̣n chấp trước
có sanh tử và Niết Bàn).
[14] Đây là ba câu
trong đoạn kinh văn “do động tĩnh đẳng,
nhị chủng tương kích, ư diệu viên trung, niêm
trạm phát thính, thính tinh ánh thanh, quyển thanh thành căn,
căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ
đại”. Cư sĩ Vương Trị B́nh
diễn giải như sau: “Do hai hiện tượng
động và tĩnh tranh đoạt lẫn nhau, mà trong
tánh vốn viên diệu, dẫn khởi từ trong bản
thể vốn bất động, tĩnh lặng sanh khởi
thính giác có thể nghe nhận âm thanh. Cái tinh túy (tức bản
thể của thính giác) của cái Nghe ấy ảnh
hiện âm thanh, hợp thành tác dụng của nhĩ
căn. Cội gốc của căn chính là tứ đại
thanh tịnh”.
[15] Đây là quan
điểm phân loại các chủng tánh trong Pháp Tướng
Duy Thức Tông. Tam Vô là định
tánh Thanh Văn, định tánh Duyên Giác và vô tánh, do không có chủng tử Phật cho nên rốt ráo chẳng
thể thành Phật. Nhị Hữu là định
tánh Bồ Tát và bất định tánh Bồ Tát đều
có Phật chủng tử, nên ắt có thể thành Phật.
Do cách nói này mâu thuẫn với điều kinh Đại
Bát Niết Bàn dạy (“Nhất Xiển Đề cũng
có thể thành Phật”), nên trong lời đáp,
Tổ chê cách nói này chẳng liễu nghĩa!
[16] Thiên nhiên ngoại
đạo tức là ngoại đạo chấp mọi
pháp tự nhiên sanh ra và mất đi,
chẳng có nhân duyên.
[17] Ba ngàn các pháp
chính là từ trong một niệm tâm, có đủ mười
giới (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Tu La, trời,
người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật),
trong mỗi giới ấy lại có đủ mười
giới khác nên 10x10=100 pháp giới, mà mỗi giới lại
có mười như thị (như thị tướng,
như thị tánh… như phẩm Phương Tiện của
kinh Pháp Hoa đă nói), nên thành một
ngàn Như Pháp Giới, đối ứng với ba đời,
bèn thành ba ngàn các pháp. “Sự tạo tam ngàn” tức là từ
trong một tâm, thuận theo các duyên mà tạo tác, sanh khởi
ba ngàn các pháp ấy.
[18] Thừa Điền
(乘田) là một chức
quan nhỏ được đặt ra vào thời Xuân Thu,
chịu trách nhiệm cai quản gia súc của một nước
chư hầu.
[19] Xuất tướng
nhập tướng (出將入相): Chữ Tướng thứ nhất là tướng quân, chữ
Tướng thứ hai là tể tướng. Đây là một
thành ngữ ca ngợi người có tài đức vẹn
toàn. Lúc cần có thể ra ngoài cầm quân
đánh giặc, lúc về triều có thể giữ chức
tể tướng, giúp vua trông coi việc triều chánh.
[20] Chín châu (cửu
châu) là từ ngữ chỉ chung khu vực sinh sống của
Hán tộc vào thời Tiên Tần. Danh xưng này được
thấy chép đầu tiên trong thiên Vũ Cống của
sách Thượng Thư. Theo đó, sau khi trị được
nạn lụt, Đại Vũ chia thiên hạ thành chín châu
(có thuyết nói Hoàng Đế mới là người xác lập
chín châu. Có thuyết lại nói Chuyên Húc Cao Dương Thị
mới là người xác lập chín châu). Chín châu là:
1) Dự: Đại bộ phận thuộc
tỉnh Hà Nam, do đây là lănh thổ của nước Tấn
thời Xuân Thu, về sau bị tách ra thành Hàn, Triệu, Ngụy,
nên c̣n gọi là Tam Tấn.
2) Thanh: tức bán đảo Sơn
Đông.
3) Từ: Vùng đất giữa Bắc
sông Hoài, phía Nam Thái Sơn, phía Đông Hoàng Hải, bao gồm
phía Bắc Giang Tô, phía Bắc tỉnh An Huy và phía Nam tỉnh
Sơn Đông.
4) Dương: Vùng đất ở phía Nam
sông Hoài, thuộc lưu vực Trường Giang cho đến
Lănh Nam.
5) Kinh: Tương ứng với hai
tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc hiện thời.
6) Lương: Tương ứng với một
phần Thiểm Tây, tỉnh Tứ Xuyên và một phần
Vân Nam.
7) Ung: Vùng đất bao gồm phần
lớn tỉnh Thiểm Tây, Ninh Hạ, Thanh Hải, Cam Túc,
Tân Cương hiện thời.
8) Kư: Vùng đất bao gồm thành
phố Bắc Kinh, Thiên Tân, tỉnh Hà Bắc, Hà Nam và tỉnh
Liêu Ninh.
9) Duyện: Vùng đất bao gồm phía Tây
tỉnh Sơn Đông, vùng Đông Bắc tỉnh Hà Nam, và
Đông Nam tỉnh Hà Bắc.
[21] Tánh học
khai mông có nghĩa là chỉ dạy cho kẻ chưa hiểu
biết về Tánh học.
[22] Câu này được
viết theo ư của một câu trong thiên Chủ Thuật Huấn
của sách Hoài Nam Tử: “Thôn châu chi ngư, đăng nhi thất
thủy, nhi chế vu lâu nghị, ly kỳ cư địa”
(Con cá có thể nuốt trộng cái thuyền, vô ư bị
đánh dạt vào bờ (ĺa khỏi nước), bị dế,
kiến chế phục là v́ nó đă ĺa khỏi nơi ḿnh
sinh sống).
[23] Ngoạn khí (玩器) là những vật
để thưởng ngoạn (ngắm nh́n) tức là những
vật điêu khắc hoặc chế tác tinh xảo thường
dùng với mục đích trang trí, ngắm nh́n, không có tác dụng
thực tiễn như lư hương bằng ngọc,
các món đồ điêu khắc, chạm trổ bằng gỗ quư, ngọc, bằng
đồng, bằng đá v.v… Hoặc các loại vật hiếm lạ
như cây san hô, các loại đá có h́nh dạng kỳ lạ
v.v…
[24] Đây là một
câu nói của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ luận
định về lễ. Sách viết: “Ma mạo, lễ
dă. Kim dă thuần, kiệm. Ngô tùng chúng. Bái hạ, lễ dă.
Kim bái hồ thượng, thái dă. Tuy vi chúng, ngô tùng hạ”.
Tăng Sĩ Cường chú giải như sau: “Khổng
Tử nói: - Dùng sợi gai để bện thành mũ,
đó là cổ lễ. Nay dùng sợi tơ thuần màu
đen để dệt thành mũ. Đó là tiết kiệm,
nên ta thuận theo đại chúng mà làm như thế. Bầy
tôi thấy vua bèn lạy dưới bậc thềm, rồi
mới bước lên gặp mặt vua. Đó là cổ lễ.
Nay trực tiếp bỏ cách lễ dưới bậc thềm
mà bước lên gặp mặt rồi vái chào, đó là thái
độ ngạo mạn. Tuy trái nghịch đại chúng,
ta vẫn tuân theo cổ lễ”.
[25] Đây là một
câu viết theo ư trong sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu hạ: “Cẩu
vi vô thể, thất bát nguyệt chi gian vũ tập, câu
quái giai doanh, kỳ hạc dă, khả lập nhi đăi” (Nếu
chẳng có cái Thể, sẽ như trong tháng Bảy, tháng
Tám mưa dầm, ng̣i rănh trong ruộng đều tràn đầy
nước, nhưng chúng sẽ nhanh chóng bị khô cạn).
[26] Đây là một câu trong kinh Lăng
Nghiêm nói về diệu bổn tâm tánh, chúng tôi chuyển ngữ
theo ư giải thích của pháp sư Viên Anh.
[27] Giác Quán c̣n dịch là Tầm Tư. Giác
hàm nghĩa t́m cầu, so lường, tức là sự suy
nghĩ thô thiển đối với sự lư. Quán tức
là tỉ mỉ suy xét danh nghĩa, tinh thần, tác dụng
v.v… của các pháp. Hai thứ này đều gây trở ngại
cho Định tâm từ Nhị Thiền trở lên. Nếu chúng tiếp tục
sanh khởi, chánh niệm sẽ bị lệch đi, thân
tâm lao tổn, cho nên được coi là một loại Tùy Phiền
Năo.
[28] Đây là nói dựa theo một câu
trong chương thứ bốn mươi hai của Đạo
Đức Kinh: “Đạo sanh nhất, nhất sanh nhị,
nhị sanh tam, tam sanh vạn vật”, ngụ ư: Đạo
có thể sanh trưởng vạn vật từ ít đến
nhiều. Chương Thiên Văn Huấn trong sách Hoài Nam Tử
giảng: “Đạo khởi thủy là một, một
th́ chẳng sanh. Do vậy chia thành hai thứ
là Âm và Dương. Âm và Dương ḥa hợp
bèn sanh ra vạn vật. ‘Ba’ là nói Âm và Dương ḥa hợp”.
[29] Đây là một câu nói trích từ
chương hai mươi tám của Đạo Đức
Kinh: “Tri hùng thủ thư, tri bạch thủ hắc, tri
vinh thủ nhục” (Biết đực giữ lấy
cái, biết trắng giữ lấy đen, biết vinh giữ
lấy nhục). “Hùng” hàm nghĩa dũng mănh, c̣n
Thư là nhu ḥa, nhún nhường. Ba câu này thường
được giải thích là thái độ khiêm hạ,
nhún nhường, không phải là thấp hèn, mà là ẩn giấu
tài năng, ḥa đồng trong đối nhân xử thế.
[30] Liệt Tử
là Liệt Ngự Khấu (450-375 trước Công Nguyên). Ông
là người nước Trịnh thời Xuân Thu,
được coi là bậc tiên phong mở đường
cho Đạo Gia, chủ trương quư trọng sự
thanh hư. Tiểu sử của ông không được ghi
chép, chỉ thấy nhắc đến rải rác trong các
sách Trang Tử, Yến Tử, Quản Tử, Mặc Tử,
Hàn Phi Tử v.v… Tác phẩm thành danh của ông là bộ sách
Liệt Tử. Sách ấy chủ yếu đề xướng
thanh tịnh, vô vi. Đạo gia tương truyền ông từng
học với Quan Doăn Hỷ, bái Hồ Khâu Tử làm thầy,
sau đó lại theo học với Chi Bá Cao Tử, đắc
đạo, có thể cưỡi gió mà đi. Đường
Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) do thích huyền thuật,
đă dâng phong hiệu cho ông là Xung Hư Chân Nhân. V́ thế,
Đạo Gia gọi sách Liệt Tử là Xung Hư Kinh.
[31] Hệ Từ
Truyện là một trong mười phần giải thích của kinh Dịch (mười phần ấy
được gọi là Thập Dực). Nội dung phần
này giải thích nghĩa lư chung của Châu Dịch, chia thành
hai thiên, tương truyền do chính Khổng Tử chấp
bút, hệ thống hóa những lời giảng của Châu
Văn Vương, nhưng theo các nhà nghiên cứu, phần
này là công tŕnh sáng tác tập thể của các Nho sĩ từ
thời Chiến Quốc cho tới Tây Hán. Họ cho rằng
Hệ Từ chính là nhận thức quan và phương pháp
luận của Nho gia.
[32] Đoạn này Tổ hoàn toàn dựa
theo ư kinh Lăng Nghiêm để giải thích sự sanh thành
của vạn vật nhằm đối ứng với
cách nói của kinh Dịch.
[33] Câu này trích từ phần Hệ Từ
của kinh Dịch: “Càn Khôn, kỳ Dịch chi môn da? Càn,
Dương vật dă. Khôn, Âm vật dă. Âm Dương hợp
đức nhi cang nhu hữu thể”. Câu này được
giải thích là “Càn Khôn có phải là cửa nẻo để
tiến nhập Dịch hay không? Càn là vật có tánh chất
Dương, Khôn là vật có tánh chất Âm. Đức tánh của
Âm và Dương ḥa hợp, bèn có h́nh thể
cứng hay mềm”.
[34] Tử Tư (子思) là tên tự của Khổng Cấp
(483-402 trước Công Nguyên), cháu nội của Khổng Tử
(Tử Tư là con trai của Khổng Lư), người
được coi là kế thừa thánh học của Khổng
Tử. Ông được bốn
tuổi th́ Khổng Tử mất, cha ông đă mất khi
ông vừa mới sanh ra, nên theo học với môn đệ
của Khổng Tử là Tăng Sâm. Ông từng làm quan
dưới thời Lỗ Mục Công. Tương truyền,
sách Trung Dung do ông trước tác, c̣n bộ sách Tử Tư
Tử do ông viết th́ đă thất truyền. Ông được Nho gia tôn xưng
là Thuật Thánh (述聖), cùng với Nhan Hồi
(Phục Thánh), Tăng Sâm (Tông Thánh), và Mạnh Tử (Á
Thánh) hợp thành Tứ Thánh trong đạo Nho.
[35] Tiền trần tức sáu trần
(sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Do chúng đối
ứng với sáu căn, được nhận biết bởi
sáu căn, nên gọi là “tiền trần”.
[36] Duyên khí (緣氣) c̣n gọi là duyên ảnh, hoặc duyên sự, là một trong bốn
phần của tâm thức. Kiến Phần (công năng nhận
biết các trần) của một căn thức khi tiếp
xúc với ngoại trần, sinh ra h́nh bóng của ngoại
duyên trong thức. Cái h́nh bóng ấy được gọi
là Duyên Ảnh. V́ nó thuộc phạm vi nhận biết của
Kiến Phần, nên c̣n gọi là Duyên
Khí. Và do nó cũng là sự tướng được duyên
theo của tâm tánh, nên gọi là Duyên Sự.
[37] Giới nội: Thuộc trong tam giới.
Giới ngoại: Vượt ngoài tam giới.
[38] Bảy đại
là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến và Thức.
[39] Tam Niết Bàn có hai cách hiểu:
1) Dựa theo quan điểm Thể,
Tướng, Dụng của tông Thiên Thai mà lập ra ba loại
Niết Bàn:
a. Tánh tịnh Niết Bàn: Thật
Tướng của các pháp chẳng thể nhiễm, chẳng
thể tịnh.
b. Viên tịnh Niết Bàn: Trí tột
bậc là Viên, Hoặc hết sạch là Tịnh. Trí nếu
khế hợp Lư, Hoặc rốt ráo chẳng sanh, trí rốt
ráo chẳng diệt.
c. Phương tiện tịnh Niết
Bàn: Trí có thể khế hợp Lư, chiếu mọi căn
cơ. Chiếu rồi ắt sẽ rủ ḷng ứng hiện,
cơ cảm liền sanh. Sanh mà chẳng sanh. Cơ duyên hết
bèn diệt, diệt mà chẳng diệt.
2) Dựa theo Tiểu Thừa, tam thừa,
và Nhất Thừa mà có ba loại sai biệt:
a. Tiểu Thừa Niết Bàn: Nếu
thân trí c̣n thừa sót th́ là Hữu Dư Niết Bàn. Chẳng
c̣n sót lại thân trí th́ gọi là Vô Dư Niết Bàn. Hai loại
này đều lấy nhiều lượt sanh diệt làm Thể.
b. Tam thừa Niết Bàn, lại chia
thành năm loại: Vô trụ Niết Bàn, tánh tịnh Niết
Bàn, phương tiện tịnh Niết Bàn, hữu dư
Niết Bàn, và vô dư Niết Bàn (do sợ rườm rà
nên không ghi chi tiết).
c. Nhất Thừa Niết Bàn: Nếu
nói theo Biệt Giáo, lại chia thành mười loại Niết
Bàn như trong phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm
đă nói cặn kẽ.
Tam Bồ Đề cũng có hai cách
hiểu:
1) Tam Bồ Đề là Thanh Văn
Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề và Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề.
2) Ứng Hóa Phật Bồ Đề,
Báo Phật Bồ Đề và Pháp Thân Bồ Đề.
[40] Phù trần: Hết
thảy các pháp hữu vi hư giả chẳng thật, ô
nhiễm chân tánh, nên gọi là Phù Trần.
[41] Văn tinh tức
là tánh Nghe. Do tánh Nghe ấy chân thật, không bị biến
đổi, dao động bởi huyễn thanh, nên gọi
là Tinh.
[42] Biến Hành (徧行) là một loại trong
các loại tâm sở. Do khi nhận thức khởi lên, sẽ
luôn phát sanh tác dụng tâm lư, có tánh chất phổ biến,
nên gọi là Biến Hành. Đại Thừa Quảng
Ngũ Uẩn Luận giải thích: “Tâm sở này trọn
khắp hết thảy các tâm thiện, bất thiện, vô
kư, nên gọi là Biến Hành”. Biến Hành gồm:
1) Xúc là tác dụng tinh thần khi
căn, cảnh và thức ḥa hợp, có thể hiểu
đơn giản là cảm giác chủ quan hay khách quan.
2) Tác Ư: Tác dụng tinh thần do
chuyên chú tâm ư để nhận biết.
3) Thọ: Tác dụng lănh nạp của
tâm thức khi Xúc phát sanh.
4) Tưởng: Tác dụng tâm lư sau
khi đă có Thọ phát sanh, in dấu h́nh bóng của cảnh.
5) Tư: Nội tâm đối với
cảnh dẫn khởi bởi tưởng bèn có sự suy
diễn, so đo, nẩy sanh ư niệm yêu, ghét,
lo, buồn v.v…
[43] Biệt Cảnh (別境) chính là các tâm sở (tác
dụng tâm lư) phát sanh khi tâm vương duyên theo các cảnh giới khác biệt, gồm năm
món là Dục, Thắng Giải, Định, Huệ, và Niệm.
[44] Đây là một trong năm thứ
vọng tưởng điên đảo được nói
đến trong kinh Hoa Nghiêm. Vi tế tinh tưởng (微細精想) chính là vọng tưởng điên đảo, tức Thức Ấm. Bản chất
của thức (Thức Tinh) hết sức xáo động, giống như nước
chảy xiết, nhưng vi tế, thoạt nh́n dường
như rất tĩnh lặng. Do chúng sanh chẳng nhận
biết, cho là tĩnh lặng, nên gọi là điên đảo.
[45] Các hữu
t́nh do khởi vọng tưởng điên đảo mà tạo
nghiệp, phải theo nghiệp mà thọ báo, cho nên có mười
hai loại h́nh thái là noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu
sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu
sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng và phi vô tưởng.
[46] Yết Nam là phiên âm của chữ
Ghana, có nghĩa là “cứng chắc, sâu
dày, kiên cố, ngưng đọng dày đặc”. Chữ này c̣n được phiên
âm thành Kiện Nam, hoặc Kiển
Nam.
[47] Tức đức Phật gạn hỏi
cái tâm ở đâu, ngài A Nan nêu ra bảy chỗ, đều
bị đức Phật phủ định.
[48] Đây là một thuật ngữ
trong nhà Thiền chỉ sự chấp trước hư vọng,
giống như thấy bóng trăng rọi, thấy ánh
trăng, bèn ngỡ đó là mặt trăng chân thật,
không nhận biết mặt trăng thật sự ở
trên bầu trời.
[49] Tức hạng
tỳ-kheo không chịu học hỏi giáo lư, cứ ù ù cạc
cạc không hiểu biết ǵ, hoặc tuy học không dụng
công quán chiếu, nghiên cứu, dẫu có học mà cũng
như không học.
[50] Ngũ Trụ (hay c̣n gọi là
Ngũ Trụ Địa) là năm loại phiền năo:
1) Kiến nhất xứ trụ
địa: Kiến Hoặc thuộc tam giới như Thân
Kiến v.v… Khi nhập Kiến Đạo sẽ đoạn
trừ, nên gọi là Kiến Nhất Xứ.
2) Dục ái trụ địa: Phiền
năo thuộc Dục Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc
và Vô Minh.
3) Sắc ái trụ địa: Phiền
năo thuộc Sắc Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc
và Vô Minh.
4) Hữu ái trụ địa: Phiền
năo thuộc Vô Sắc Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc
và Vô Minh. Hữu Ái hàm nghĩa hữu vi sanh tử.
5) Vô minh trụ địa: Hết
thảy vô minh trong tam giới.
[51] Tứ vận là quá tŕnh vận dụng
và tiến triển của tâm thức do sách Ma Ha Chỉ Quán
đề xướng, gồm vị niệm (chưa dấy
khởi ư niệm), dục niệm (tâm sắp khởi ư niệm),
niệm (khởi ư niệm), niệm dĩ (niệm đă
xong).
[52] Tôn giả Hổ Khê chính là ngài Thích
Liễu Nhiên (1077-1141), hiệu là Chí Thông, sống vào thời Nam Tống. Lúc bảy tuổi, Ngài phát tâm đến xin xuất gia với
ḥa thượng Tường Phù Đạo Trung chùa Bạch
Liên tại Thai Châu (thuộc huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết
Giang). Mười sáu tuổi, được đặc
cách thọ Cụ Túc Giới, học Thiên Thai Giáo Quán với
ngài An Quốc Nguyên Huệ. Sau đó, một đêm Ngài nằm
mộng thấy Quán Âm Bồ Tát ngồi trong rừng trúc,
pháp sư Mă Nhất đứng hầu, tán thán Bồ Tát bằng
một trăm bài kệ. Tỉnh giấc, Sư chỉ nhớ
được nửa bài kệ, từ đó, bỗng khai
phát trí huệ biện tài. Pháp sư chuyên hoằng
dương Giáo Quán, nhưng không lơ là công hạnh Tịnh
Độ. Một đêm, Ngài mộng thấy hai con rồng
từ trên mây giáng xuống, bỗng hóa thành hai vị trời
đến vái chào pháp sư, rồi rút một quyển sách
trong tay áo, bảo: “Bảy ngày sau, Sư sẽ về Tây”.
Pháp sư tỉnh giấc, biết sắp tới lúc văng sanh. Đến ngày đó, Sư bèn sai đánh trống nhóm họp
đại chúng, thăng ṭa thuyết pháp, phó chúc hậu sự,
nói kệ từ biệt. Kế đó, bảo đại
chúng to tiếng tụng kinh Di Đà. Khi tụng đến
câu “Tây Phương thế giới”, Sư liền tọa hóa. Đại
chúng nghe trên không trung có tiếng nhạc trời, tỏa hào quang cát
tường. Sư để lại các trước tác
như Thập Bất Nhị Môn Khu Yếu, Đại Thừa
Chỉ Quán Pháp Môn Tông Viên Kư, Luật Tông Vấn Đáp, Thích
Môn Quy Kính Nghi Thông Chân Kư, Công Đức Thiên Sám Nghi và Hổ
Khê Tập.
[53] Tức bài kệ: “Nhân duyên sở
sanh pháp, ngă thuyết tức thị Không, diệc danh vi giả
danh, diệc danh Trung Đạo nghĩa” (Pháp sanh bởi
nhân duyên, ta nói chính là Không, cũng gọi là giả danh,
cũng là nghĩa Trung Đạo).
[54] Thiên Tụ (篇聚) là từ ngữ chỉ chung giới
luật của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Do Cụ Túc Giới
chia thành năm tụ, sáu tụ, hoặc bảy tụ (các
loại lớn). Nói chính xác hơn, luận định về
tội quả th́ chia thành các Thiên, c̣n luận định về ư nghĩa cấp yếu
như tội tánh và cái nhân gây nên tội th́ chia thành các Tụ.
[55] Ư nói: Ngài Đức Sơn phỏng
theo hạnh khất thực của Tăng đoàn thời
đức Phật tại thế.
[56] Chuyện này
được chép trong kinh Đại Bảo Tích, quyển
15. Theo đó, có năm trăm vị Bồ Tát đă dụng
công tu hành, đắc Túc Mạng Trí. Họ dùng Túc Mạng
Trí quán sát đời quá khứ, phát hiện chính ḿnh tạo
tội nghiệp cực nặng, sanh ḷng sợ hăi không kiềm
chế được, luôn ưu sầu, khủng hoảng.
Cũng v́ thế, dẫu gắng sức dụng công tu hành,
chẳng thể đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Để
độ họ, Văn Thù Bồ Tát làm ra vẻ cầm
gươm bén chạy đến bên Phật, toan đâm
Ngài, tợ hồ sắp phạm tội Ngũ Nghịch.
Đức Phật nói: “Ngươi muốn đâm ta,
đương nhiên có lư do. Ta chẳng sợ ngươi
đâm, nhưng hăy khoan đă, trước hết nghĩ
cách thiện xảo rồi hăy đâm ta chẳng muộn”.
Văn Thù Bồ Tát ngừng lại ra vẻ suy nghĩ.
Đức Phật dạy: “Ngươi muốn đâm
ta, ắt phải thiện xảo, đúng pháp. Nếu không,
sẽ mắc đại tội. Hăy nên biết: Hết thảy
các pháp trong thế gian, đều như huyễn, như
hóa, sanh mạng thể của ta cũng như huyễn,
như hóa, chẳng có một cái ngă thật sự, chẳng
thật sự có người khác. Thử hỏi ngươi
cầm gươm toan giết người nào? Tương
lai sẽ lại thọ ương báo như thế nào? Ta
bảo ngươi: Nếu thật sự có một người,
ngươi giết kẻ đó, sẽ thành tội sát hại,
mới khiến cho ngươi thọ ương báo. Hết
thảy các pháp đă là như huyễn, như hóa, tánh của
ta và người chẳng thể được,
đương nhiên không có ǵ gọi là sát hại, cũng
không có trọng tội sát hại để có thể
được!” Năm trăm vị Bồ Tát nghe dạy,
liễu đạt tội tánh vốn không tịch, liền
chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn.
[57] Đây là hai
công án được chép trong Lược Thiền Lâm Loại
Tập, quyển bốn. Quy là Quy Tông Thường, Nam là Nam
Tuyền Nguyện. Sách ấy chép: “Thiền sư Quy Tông
Chi Thường đang dẫy cỏ, có một vị tọa
chủ đến tham yết. Ngẫu nhiên thấy một
con rắn ḅ qua, Sư vung cuốc chặt nó đứt
đôi. Tọa chủ thất sắc: ‘Tôi kính ngưỡng
Ngài đă lâu, ngờ đâu là một gă sa môn thô tệ!’
Sư nói: ‘Ông thô hay tôi thô?’ Tọa chủ nói: ‘Thế nào là
thô?’ Sư cầm chặt cán cuốc. Lại hỏi: ‘Thế
nào là tế?’ Sư làm tư thế chém rắn. Tọa chủ
hỏi: ‘Nên hành theo như thế nào?’ Sư nói: “Vâng theo
để hành hăy gác lại đó, chỗ nào ông thấy tôi
chém rắn?’ Tọa chủ không trả lời được”.
Cũng trong sách ấy chép:
“Ngài Nam Tuyền Nguyện do tăng chúng Đông Đường
và Tây Đường tranh nhau một con mèo. Sư xách mèo
lên, hỏi: ‘Đại chúng đáp được th́ cứu
nó, chẳng đáp được th́ ta chém nó’. Đại
chúng không đáp được, Sư bèn chém nó. Đến
tối, ngài Triệu Châu trở về. Đại chúng
khuyên ngài hỏi ư Sư. Sư lập lại câu hỏi, Triệu
Châu bèn đội dép lên đầu bỏ đi. Sư nói: -
Nếu ông có mặt đă cứu được con mèo!”
[58] Tỳ sương (砒霜) c̣n gọi là Bạch Tỳ, Hạc Đảnh Hồng,
chính là arsenic trioxide (As2O3)
là một hóa chất rất độc. Trong công nghiệp,
nó được sử dụng để chế thuốc
trừ sâu và chế biến thủy tinh. Đôi khi nó
được dùng dưới tên gọi Trisenox để
chữa một loại ung thư bạch huyết cầu.
[59] Phu nhân Mạt Lợi đang thọ
Bát Quan Trai Giới th́ có một kẻ hầu do phạm tội
nhỏ khiến vua giận dữ, toan sai lôi ra chém, bà liền
trang điểm lộng lẫy, khoác y phục đẹp
nhất, nhảy múa, ca hát, dâng rượu khiến cho vua Tần
Bà Sa La vui sướng, đồng ư tha chết cho kẻ
đó.
[60] Tôn Thúc Ngao (630-593 trước Công
Nguyên) tên thật là Ngao, họ Vĩ, tên tự là Tôn Thúc, là
một vị Lệnh Doăn (tương đương với chức tể
tướng) trứ danh của nước Sở thời
Xuân Thu. Ông vừa có tài trị thủy, vừa có tài thao lược quân sự. Ông nổi tiếng
liêm khiết,
nghèo đến nỗi khi
chết con cái không sắm nổi quan tài để chôn cha.
Khi sắp mất, ông biết con ḿnh là Tôn An tài năng xoàng
xĩnh, căn dặn con đừng nhận
quan tước. Nếu
vua nhất quyết phong đất, đừng nhận đất phong rộng lớn,
chỉ xin một cuộc đất nghèo hèn là Tẩm Khâu, v́ nơi đó là một cuộc
đất cằn cỗi, xa xôi, không có ai tranh giành th́ con cháu mới an hưởng nhiều
đời được. Sở Trang Vương có một
gă kép hát sủng ái họ Mạnh. V́ thế, người đương thời gọi
gă là Mạnh Ưu hoặc Ưu Mạnh (“ưu nhân”
nghĩa là kép hát). Mạnh Ưu rất có tài biểu diễn, khéo lấy ḷng vua. Một
hôm, Mạnh Ưu ra ngoài chơi, thấy Tôn An đang vất
vả đẵn củi, thân h́nh hốc hác, cảm
thương, bèn t́m cách nhắc nhở nhà vua. Anh ta bèn chế
mũ áo, luyện tập điệu bộ giống hệt
như Tôn Thúc Ngao, biểu diễn cho vua xem. Sở Trang Vương
tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao, định phong chức cho
Tôn An, nhưng Tôn An tuân theo di mạng, không dám nhận quan
tước, chỉ xin được phong đất Tẩm
Khâu để làm ruộng, sống qua ngày. Ở đây nói “Ưu Mạnh học đ̣i Thúc Ngao”, ư nói dẫu Ưu Mạnh cử chỉ, bộ dáng, lời
lẽ giống hệt như Thúc Ngao lúc sanh tiền,
nhưng trọn chẳng thể nào có tài năng, đức
độ như Tôn Thúc Ngao được!
[61] Câu này dựa theo ư của Mạnh Tử:
“Bá Di, thánh chi thanh giả dă. Y Doăn thánh chi nhậm dă. Liễu
Hạ Huệ thánh chi ḥa giả dă. Khổng Tử, thánh chi
thời giả dă. Khổng Tử chi vị tập đại
thành. Tập đại thành dă giả, kim thanh nhi ngọc chấn
chi dă. Kim thanh dă giả, thỉ điều lư dă. Ngọc chấn
chi dă giả, chung điều lư dă. Thỉ điều lư giả,
trí chi sự dă. Chung điều lư, thánh chi sự dă” (Bá
Di, Thúc Tề là bậc thanh bạch trong các vị thánh nhân,
Y Doăn là người gánh vác trách nhiệm nặng nề trong
hàng thánh nhân. Liễu Hạ Huệ là bậc ḥa đồng trong các vị thánh nhân. Khổng Tử
là người biết thời thế trong các thánh nhân. Có thể
gọi Khổng Tử là bậc tập đại thành. Tập
đại thành có ư nghĩa giống
như ḥa nhạc, trước là gơ chuông đồng, cuối
cùng dùng tiếng khánh bằng ngọc để kết thúc.
Gơ chuông đồng trước hết là để điều
ḥa tiết tấu. Gơ khánh ngọc nhằm kết thúc nhịp
điệu ấy. Khởi đầu tiết tấu là
chuyện thuộc về trí, kết thúc tiết tấu là
chuyện của bậc thánh).
[62] Câu này được giải thích bằng
rất nhiều cách, phổ biến nhất là cách giải
thích của Khổng Dĩnh Đạt: “Càn là khí thái
dương (thái dương ở đây là dương cực
thịnh trong Tứ Tượng, không phải là mặt trời),
vạn vật đều được sanh khởi từ
khí này, nên bảo biết nó là sự khởi đầu to lớn.
Khôn là h́nh dạng của đất, là Âm. Khôn có thể tạo
tác, sanh thành muôn vật. Thoạt đầu là vô h́nh,
chưa có tạo tác, nên chỉ nói là Biết. Vạn vật
đă h́nh thành, mọi việc có thể tạo tác, nên gọi
là Tác”.
[63] Viên Dung và Hành
Bố là hai khái niệm về sự tu chứng từ
địa vị Bồ Tát cho đến Phật quả
trong giáo nghĩa Hoa Nghiêm. Lần lượt tấn tu theo từng
địa vị th́ gọi là Hàng Bố (xếp bày theo thứ
tự), như các phẩm Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm thuộc
về Hàng Bố Môn. Viên Dung chính là sơ hậu
tương tức (trước và sau chính là lẫn nhau),
thường được diễn tả một là hết
thảy, hết thảy là một, trong mỗi địa vị
hàm dung hết thảy các địa vị v.v…
[64] Thức thứ bảy là Mạt Na
Thức, c̣n gọi là Ư Căn, hàm nghĩa nó là cái gốc sanh ra Ư Thức, do chấp
ngă rất mạnh. Do Ư Thức sanh khởi trực tiếp
từ Mạt Na Thức, nên Mạt Na Thức được
gọi là “thân y” (親依, đích thân
nương nhờ). Do chỉ có Ư Thức nương vào Mạt
Na để sanh khởi, chẳng liên quan đến các thức
khác, nên gọi là “bất cộng” (不共).
[65] Tức là đối tượng
tác động vào Mạt Na chính là Ư. Mạt Na dùng Ư Thức
làm đối tượng để duyên theo (lănh nhận,
tiếp xúc, nhận biết).
[66] Ngoại môn chuyển là như
năm căn duyên theo ngũ trần (sắc, thanh,
hương, vị, xúc) để sanh khởi ra thức
tương ứng với căn đó, nhưng Mạt Na
Thức chỉ duyên theo ư là cái được cảm nhận
bởi tâm nên gọi là Nội Môn Chuyển.
[67] Chuyển Thức
(Pravrtti-vijñāna): “Chuyển”
hàm nghĩa chuyển biến, chuyển đổi, đổi
khác. Hàm nghĩa bảy thức đầu đều
nương vào A Lại Da Thức (Tạng Thức, thức
thứ tám). Chúng lại duyên theo các cảnh thuộc lục
trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà nẩy
sanh thiện, ác, vô kư.
[68] “Phát nghiệp nhuận
sanh” nói cặn kẽ sẽ là “do Hoặc khởi nghiệp, do Hoặc
nhuận sanh”, tức là do phiền năo vun bồi, khiến cho nghiệp nẩy nở,
tăng trưởng, dẫn sanh cái quả trong vị lai. “Nhuận
sanh” là nói tới tác dụng của Hoặc trong việc
tăng trưởng, sanh khởi cái quả. Chẳng hạn
như
người lâm chung, nếu
đam luyến thân thể, gia đ́nh, cảnh duyên, sự
mê hoặc ấy sẽ “nhuận sanh” thân Trung Hữu, tức
là thân Trung Ấm sẽ sanh khởi, có h́nh dạng giống
như lúc sanh tiền.
[69] “Dẫn thân xúc trưởng” (引伸觸長, c̣n nói là “dẫn thân xúc loại”)
có nghĩa là từ một nguyên tắc của sự vật
mà có thể suy diễn rộng ra, thấu hiểu những
điều tương tự, mở rộng kiến thức.
[70] Đây là một ư dựa theo câu nói
trích từ sách Mạnh Tử nói về đức độ
của Y Doăn: “Tư thiên hạ chi dân thất phu, thất
phụ hữu bất bị Nghiêu Thuấn chi trạch giả,
nhược kỷ thôi nhi nạp chi cấu trung” (Suy nghĩ nếu có kẻ nam người nữ
tầm thường nào trong dân chúng khắp thiên hạ chẳng
được nhuần thấm đạo của Nghiêu,
Thuấn, liền cảm thấy như chính ḿnh đă xô
người đó xuống khe rănh trong núi cho họ chết
phứt đi).
[71] Cáo Tử
(告子, không rơ năm sanh và năm mất), tên là Bất Hại,
là một nhà tư tưởng thời Đông Châu Chiến
Quốc. Có thuyết nói ông là học tṛ của Mạnh Tử,
nhưng do không thấy trước tác lưu truyền, có
người ngờ đây là một nhân vật được
đặt ra. Theo truyền thuyết, Cáo Tử từng theo
học với Mặc Tử, có biện tài, chủ
trương: Con người “vô thiện, vô bất
thiện”, về sau do bị hoàn cảnh ảnh hưởng
mới có thiện và bất thiện khác biệt.
[72] Tức sách Hiển Mật Viên Thông
Thành Phật Tâm Yếu Tập do sa-môn Đạo Chân soạn
vào đời Liêu. Sách chia làm hai quyển, gồm bốn
môn: Hiển Mật Tâm Yếu, Mật Giáo Tâm Yếu, Hiển
Mật Song Biện, và Khánh Ngộ Thuật Hoài, chủ yếu
nêu bày kinh nghiệm và tâm đắc trong học Phật của
tác giả, nhất là trong việc
hành tŕ mật pháp Chuẩn Đề. Sách cũng chép về
nghi quỹ hành tŕ, cũng như phản ánh tư tưởng
Hoa Nghiêm rất sâu.
[73] Ư nói tác phẩm Chuẩn Đề
Tŕ Pháp của tổ Ngẫu Ích.
[74] Năm bộ: Theo quan điểm của hệ
thống Kim Cang Giới (tức dựa theo giáo nghĩa trong
kinh Kim Cang Đảnh) th́ các pháp tu trong Mật Tông được chia thành
năm bộ loại là Phật bộ, Liên Hoa Bộ, Bảo
Bộ, Kim Cang Bộ và Yết Ma Bộ. Trong khi đó, nếu xét theo hệ
thống Thai Tạng Giới (đặt căn bản trên
kinh Đại Nhật) th́ gồm ba loại là Phật Bộ,
Liên Hoa Bộ, và Kim Cang Bộ.
[75] Phổ thuyết (普說) hàm nghĩa nhóm họp đại
chúng mà thuyết pháp, c̣n gọi là thăng ṭa (陞座). Phổ thuyết khác với
thượng đường (上堂) ở chỗ khi Phổ Thuyết,
không cần phải đốt hương, chú nguyện,
pháp sư không cần phải đắp pháp y, tán
hương v.v… Thông thường, Phổ Thuyết được cử hành tại
Phương Trượng Thất hoặc pháp đường.
Tuy vậy, Bách Trượng Thanh Quy lại quy định
Phổ Thuyết là do đại chúng đốt
hương cầu thỉnh vị thầy khai thị
trước đó. Thị giả sai vị khách đầu
(tức Tri Khách
Sư) lập bảng thông báo
cho đại chúng (gọi là Phổ Thuyết Bài), xếp dọn
pháp đường. Dùng cháo sáng xong, đánh năm tiếng
trống, thỉnh trụ tŕ hoặc trưởng lăo thăng ṭa.
[76] Tỳ Lam (Vairambhaka, Verambhavāta), c̣n phiên âm là Tỳ Lam Bà, Bệ Lam Bà, Phệ
Lam Bà, Phệ Lam Tăng Già, dịch nghĩa Tốc Tấn
Phong, hoặc Bạo Phong, là một loại gió mạnh nhất,
có thể thổi nát mọi thứ. Sách Huệ Lâm Âm
Nghĩa (quyển mười ba) nói Tỳ Lam chính là gió mạnh khi kiếp hỏa bốc
cháy, có thể thổi nát thế giới.
[77] Tụng Cổ: Đối với các công án nhằm khai thị
của cổ nhân (thường gọi là Cổ Tắc), bèn dùng kệ tụng để biểu đạt
đơn giản, nên gọi là Tụng Cổ.
Về sau, cách này trở thành một thể loại riêng, thịnh hành
từ thời Tống trở đi. Những vị Thiền
sư nổi danh với Tụng Cổ là Tuyết Đậu Trùng Hiển,
Hoằng Trí Chánh Giác, Vô Môn Huệ Khai v.v… Các bài Tụng Cổ cũng được thâu thập tạo thành
sách như Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập
(do Pháp Ứng sưu tập), Thiền Môn Chư Tổ
Sư Kệ Tụng (do Như Hữu sưu tập), Không Cốc
Tập, Hư Đường Tập v.v…
[78] Niêm Cổ (拈古), c̣n gọi là Niêm Đề, hoặc
Niêm Tắc, là thuật ngữ chỉ thiền sư dùng
công án xưa (cổ tắc) để giảng giải,
thường là có thêm lời b́nh. Niêm Cổ dùng văn xuôi khác với Tụng Cổ dùng
văn vần.
[79] Ư nói trong tu
hành chớ nên cậy tài, chớ nên v́ thể diện mà làm
chuyện vượt quá khả năng, cũng như v́ thể
diện mà không hiểu nói là hiểu, chưa chứng nói là
chứng v.v… Cũng như đừng tự cao mà cho rằng
pháp môn này, pháp môn nọ dành cho kẻ trung hạ, ta là bậc
thượng căn phải tu pháp khác v.v…
[80] Sát là sát độ
(tức cơi nước, cơi giáo hóa của một vị Phật).
Do các quốc độ nhiều vô lượng vô biên, nên
dùng biển để sánh ví, gọi là “sát hải” (biển
cơi nước).
[81] Lệnh tiên từ: Từ ngữ
để gọi mẹ người khác đă quá văng với
ư kính trọng.
[82] Nhụ nhân (孺人): Thời cổ, nhụ
nhân là tiếng gọi vợ của quan đại phu.
Đến thời Minh - Thanh, mẹ và vợ của quan
viên thất phẩm trở lên mới được gọi là Nhụ
Nhân.
[83] Núi Hùng Nhĩ ở phía Tây Lạc
Dương, là một chi mạch của Tần Lănh, thuộc
địa phận tỉnh Hà Nam. Sau khi mất, tổ Đạt
Ma được chôn tại đó.
[84] Ư nói: Trừ khử t́nh chấp, chẳng
phải là phủ nhận, phế bỏ pháp.
[85] Thời cổ, gọi phía Đông của
sông là Tả, phía Tây là Hữu. Giang Hữu tức là phía Tây
sông Trường Giang, tức các vùng Vu Hồ, Cửu Giang,
Nam Kinh v.v… Hoặc nói chung là tỉnh Giang Tây hiện thời.