Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 4

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Trả lời câu hỏi của Trương Thúc Hàn

 

          Làm lành, làm ác, cố nhiên đều là căn bản của sanh tử; há kẻ chẳng làm thiện hay ác riêng chẳng phải là căn bản của sanh tử ư? Thiên đường, địa ngục nơi ta há có? Riêng chẳng nói làm lành hay làm ác há có nơi ta ư? Ngài Ô Khoa nói: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”, có khác ǵ ư chỉ “thổi lông trên vải”?[1] Nếu chẳng dùng đoạn ác, tu thiện làm cửa, chỉ mong chẳng thiện, chẳng ác, chẳng sanh, chẳng tử; đấy chính là lư do Thiện Tinh[2] sai chừng hào ly mà cách biệt vời vợi như trời với đất.

 

* Trả lời câu hỏi của Phu Tiên

 

          Pháp Hoa tam-muội gồm thâu trọn vẹn từ đầu đến cuối, quán triệt thánh, phàm. Động, tĩnh, nói năng, hành xử, hoàn toàn ở trong môn tam-muội ấy. Hiềm rằng t́nh nẩy sanh khiến trí cách biệt, tuy sử dụng hằng ngày mà chẳng biết! Dẫu chẳng biết, lư tánh có bao giờ giảm? Muốn biết lư tánh, chỉ cần quán chắc chắn một niệm tâm tánh hiện tiền thuộc vào các chỗ trong, ngoài, hay trung gian? Thuộc về quá khứ, vị lai, hay hiện tại? Có sắc tượng, ngằn hạn, xanh, vàng, dài, ngắn v.v… để có thể dơi theo tung tích ư? Hay là Không, Vô, đoạn diệt, chẳng thể diễn tả được ư? Nếu tâm tánh đă ĺa tứ cú, tuyệt bách phi, th́ các pháp được hiện bởi cái tâm như thế há chẳng ĺa cú, tuyệt phi ư?

Lại nữa, các pháp đều có tên gọi, h́nh mạo, mỗi mỗi đều có thể chỉ bày, diễn tả, tâm có tên gọi và h́nh mạo ǵ vậy? Chỉ bày, diễn tả bằng cách nào? Do vậy bèn nói “ngoài pháp chẳng có tâm” đă rơ lắm rồi! Nhưng nếu vô tâm, ai biết các pháp? Pháp hiện trong tâm như h́nh bóng hiện trong gương, như mây hiện trong không trung. Đă chẳng thể phân biệt là tâm hay là pháp, lại chẳng thể phân biệt chẳng phải tâm, chẳng phải pháp; bảo “chẳng phải Thật Tướng, Thật Tánh”, có được hay chăng? Phật giới là Thật Tướng, cho đến địa ngục giới cũng là Thật Tướng. Thật Tướng của Phật giới là vô tướng, vô bất tướng, trọn đủ bách giới thiên như, cho đến Thật Tướng của địa ngục giới cũng là vô tướng, vô bất tướng, trọn đủ bách giới thiên như. Chánh báo của mười giới là Thật Tướng. Quốc độ giả danh thuộc mười giới cũng là Thật Tướng. Đă chẳng có một pháp nào không phải là Thật Tướng, vậy th́ chẳng có pháp nào không phải là Pháp Hoa tam-muội.

Đừng đối với Thật Tướng pháp giới mà hư vọng dấy lên kiến giải của phàm phu và Nhị Thừa. Dẫu ngẫu nhiên dấy lên, thuận theo cái Thấy ấy, vẫn là Thật Tướng, vẫn là pháp giới. Liễu đạt như thế, chẳng quên, chẳng giúp[3], lâu ngày ḥa thành một khối, tự nhiên tương ứng với Pháp Hoa tam-muội. Chớ nên bỏ lối viên đốn riêng biệt này, cũng đừng sợ đường tắt riêng biệt này. Đây là pháp viên đốn nhất, thẳng tắt nhất. Nếu là Sự hành để giúp thành tựu Lư Quán, th́ có Tam Muội Sám Nghi[4] của tổ Trí Giả, hăy siêng năng hành, sẽ có thể chứng quả. Nếu chẳng tụng một kinh, chẳng vào đàn tràng tu hành, th́ hăy như Thường Bất Khinh quán hết thảy chúng sanh quyết định thành Phật. Gặp cảnh, chạm duyên, luôn quán [những cảnh duyên ấy chính] là Phật pháp giới. Những ǵ mắt trông thấy, không ǵ chẳng phải là Phật sắc. Những ǵ tai nghe, không ǵ chẳng phải là Phật thanh. Những ǵ mũi ngửi, không ǵ chẳng phải là Phật hương. Những ǵ lưỡi nói, không ǵ chẳng phải là Phật hiệu. Những ǵ thân tiếp xúc, không ǵ chẳng phải là Phật cảnh. Những ǵ ư duyên theo, không ǵ chẳng phải là Phật pháp. Do vậy, đạt được sáu căn thanh tịnh, chuyển tam chướng trọn vẹn. Đó gọi là “có thể chuyển Pháp Hoa”, chẳng bị chê bai “kể chuyện ăn, đếm của báu”, cũng chẳng chuốc họa “ám chứng, chẳng nghe”.

 

* Trả lời hai câu hỏi của Dung Am

 

          1) Thiện ác vô tánh, trước hết, cần phải luận tâm. Nếu tâm mê đối với điều thiện th́ công nhỏ nhặt mà tội ác to lớn. Nếu tâm ngộ điều thiện, công to mà sức ác nhỏ bé. Bởi lẽ, tuy thiện, ác đều sẵn có trong tánh, nhưng do một đằng thuận, một đằng nghịch, sẽ chuốc báo tùy theo ư niệm ấy mạnh hay yếu, cũng chẳng nhất định. Người học đánh mất chánh niệm, chỉ quư sao giác chiếu. Nếu có thể giác chiếu, dẫu phiền năo tưng bừng, ắt sẽ giảm dần. Cốt sao khi đối trước cảnh, sẽ giác mạnh mẽ. Trong thường ngày, cốt sao giác miên mật. Lại cốt sao Lư và Sự đều cùng vận dụng, Hiển và Mật giúp lẫn nhau, dốc công “nguy, vi, tinh, nhất”[5] cốt yếu là do ḿnh, chẳng do ai khác!

          2) Pháp chấp là căn bản vô minh. Ngă chấp là chi mạt vô minh. Luận theo sự sanh khởi, th́ trước là pháp, sau là ngă. Luận theo đoạn trừ, th́ trước là ngă, sau là pháp. Nhưng viên nhân (người căn cơ thuộc Viên Giáo) quán thẳng vào tâm tánh, ngă và pháp vốn tự rỗng không, há có trước sau? Hoặc là khai viên giải, do tập khí ngă chấp mạnh mẽ, chẳng ngại trước hết sẽ quán Nhân Không.

 

* Trả lời ba câu hỏi của Trạm Tŕ Công (có đính kèm lời hỏi)

 

          1) Hỏi: Chữ Biết là cửa ngơ của diệu hay họa. Hai môn đều cùng là một thứ biết, thực hiện công phu như thế nào? Lại nữa, cái Biết ấy nếu có cái được biết th́ [cái tâm để biết và pháp được biết] đối đăi, sẽ thành vọng. Nếu chẳng có ǵ được biết, có ǵ được biểu lộ để nói là Biết? Lại c̣n sử dụng [cái tâm có công năng] biết để nhận biết cái Biết hay không? Hay chẳng khởi [công năng] biết mà biết cái Biết vậy!

          Đáp: Nơi tri kiến, lập ra một cái Biết th́ chính là Họa môn. Tri kiến chẳng có kiến, sẽ là Diệu môn. Nếu chẳng liễu đạt tánh của Năng và Sở là Không, sẽ so đo hư vọng “ngoài tâm có pháp”. Cái Biết ấy liền gọi là Bất Giác. Nếu liễu đạt “ngoài tâm chẳng có pháp”, Năng và Sở chẳng hai, cái Biết ấy sẽ gọi là Thỉ Giác, cũng gọi là Diệu Quán Sát Trí, cũng gọi là Vô Trần Trí. Trí ấy từ bản thể mà khởi, lại chiếu vào bản thể. Tuy vẫn là tự chiếu, nhưng thật sự chẳng có cái có thể chiếu (năng chiếu) và cái được chiếu (sở chiếu). Do liễu đạt cái Thể bất nhị, trong địa vị Danh Tự, trực tiếp dùng trí này, niệm nào cũng thấu đạt “ngoài tâm chẳng có pháp, pháp nào cũng là duy tâm”. Bất luận thời kiếp, bất luận công dụng, cho tới [khi đă liễu đạt] kim cang hậu tâm[6], vĩnh viễn đoạn sanh tướng vô minh, Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, bèn gọi là Cứu Cánh Giác. Nay công phu thực hiện chánh yếu là khởi lên cái Biết, biết “ngoài cái Thể của Biết, chẳng có pháp nào khác”. Ngài Vĩnh Gia nói “chỉ biết mà thôi!” Nếu chẳng khởi lên cái Biết, biết “chỉ biết”, chưa hề chẳng thuận theo vọng năng và vọng sở. Đối với Tam Minh, sách Đại Thừa Chỉ Quán đă nói dùng điều ǵ để y chỉ khá tường tận!

          2) Lại hỏi: Nếu dấy lên cái Biết để biết “chỉ biết”, sợ rằng “chỉ biết” sẽ trở thành cái được biết. Cái Biết do khởi lên cái biết, sẽ không ǵ chẳng phải là Năng và Sở, sợ rằng khi dụng tâm, sẽ rơi vào khuôn sáo vọng tưởng, phải khéo dụng tâm như thế nào để khởi cái Biết, ḥng biết cái ‘chỉ biết’ mà chẳng đọa trong ṿng Năng và Sở hư vọng vậy?

          Đáp: Chẳng trừ vật nào khác, chỉ giữ lấy cái Biết. Do ngoài Biết, chẳng có pháp, bèn gọi là “chỉ biết”. Liễu đạt “chỉ biết”, th́ một chữ Biết cũng là tên gọi gượng ép, vốn chẳng có một vật, há thành cái được biết ư? Nếu có cái được biết, sẽ lại trở thành một vật, chẳng phải là “chỉ biết”. Phương tiện để thực hiện là cưỡng quán “các pháp chẳng thật, chỉ là nhất tâm”. Do quán tâm chẳng có tâm tướng, t́m chẳng thể được; sau đấy mới ngộ nhập pháp môn “chỉ biết”. Hai phương tiện trước đều là Duy Tâm Thức Quán. Thoạt đầu là trừ tánh phân biệt; kế đó, trừ tánh Y Tha, ngộ nhập “chỉ biết”. Đấy là Chân Như Thật Quán, chứng Viên Thành Thật Tánh.

          3) Hỏi: Sách Ma Ha Chỉ Quán trước hết coi Thức Ấm là “sở quán cảnh (cảnh để quán), nhưng năng quán (cái tâm để quán) cũng dùng ư thức, có cách nào biện định Năng và Sở?

          Đáp: Niệm trước là năng quán. Niệm sau là sở quán. Do năng quán hoàn toàn dùng nhất tâm Tam Quán, liền biết niệm sau được dấy lên hoàn toàn là nhất cảnh tam đế. Đă là nhất cảnh tam đế, “khởi” chính là “chẳng khởi”, cũng chẳng trở ngại “chẳng khởi mà khởi”. Khởi mà vô khởi th́ gọi là Đế (); vô khởi mà khởi th́ được gọi là Quán (). Đó gọi là Đế Quán. Tên gọi khác nhau, Thể như nhau. V́ thế, Năng và Sở là hai mà chẳng phải hai vậy!

 

* Mười câu hỏi đáp trong đàn tràng (có trích dẫn)

 

          Nằm bệnh trong chốn núi sâu, tôi gượng bệnh bàn định các kinh Phạm Vơng và Phật Đảnh, nguồn cội của giới và thừa, chỉ thú của tánh và tu, cội gốc của Viên Thông, diệu lư thường trụ đều được giăi bày hết cả. Nhưng đối với các chỗ mang ư nghĩa then chốt, liên quan ách yếu, chẳng có ai thốt ra lời nào thưa hỏi tôi, há có phải là do chưa biết hỏi đến nguyên do đấy chăng? Bàn luận xong, tôi kết đàn tụng chú theo công khóa, những người cùng chí hướng cũng kết hậu an cư[7] tại đó. Mỗi dịp Bố-tát (tụng giới), liền cùng nhau đàm luận. Do vậy, tôi bèn lập ra mười câu hỏi, những người cùng chí hướng ai nấy đều đáp. Ưu khuyết đều lộ ra. Đại để phần nhiều là [đại chúng] thường nhật đa phần luôn nương theo văn tự để hiểu nghĩa, ít nhập lư quán tâm xứ. Do đó, chẳng thể hiểu thấu triệt. V́ vậy, tôi bèn soạn ra mười lời giải đáp. Than ôi! Ngôn ngữ tức là đạo, đạo chẳng phải là ngôn ngữ. Những lời vấn đáp khá giống như nhá cơm mớm cho trẻ, đến khi chúng nó biết lẽ tốt xấu, ắt sẽ nôn mửa! Nhưng hôi thối hay thần kỳ, phân ḅ mà khéo dùng, há chẳng phải sẽ là tăng thượng duyên cho lúa mới ư?

1) Hỏi: Giới thừa hoăn hay cấp, bốn câu liệu giản vốn phát xuất từ kinh luận, rốt cuộc lấy ǵ làm Giới? Lấy ǵ làm Thừa? Như Đại Luận nói mười giới th́ Giới chính là Thừa. Phạm Vơng nói “tạm ĺa Bồ Đề tâm sẽ mắc tội khinh cấu”, tức Thừa chính là Giới. Hơn nữa, trong bốn giáo, mỗi giáo đều có Giới, có Thừa. Đối với mỗi điều, đều cần phải biết chỗ quy kết, sau đấy mới thương lượng hoăn hay cấp như thế nào?     

Đáp: Thừa và Giới cùng nương vào một tánh, vốn chẳng khác Thể. V́ thế, duyên tu và liễu tu cũng thường chính là lẫn nhau, như kinh Phạm Vơng và Đại Luận đă nói. Nhưng chúng sanh chất chứa mê muội đă lâu, Lư chướng và Sự chướng mỗi đằng đều có nặng, nhẹ, khiến cho khi tu cũng chia thành hoăn đăi hay gấp gáp. Đấy là coi các thứ tánh nghiệp và giá nghiệp là Giới, coi Niệm, Xứ, quán huệ là Thừa. Đối với Tạng Giáo và Thông Giáo, Giới chỉ luật nghi của thất chúng, c̣n Thừa là hai thứ niệm quán sanh diệt và vô sanh. Biệt Giáo và Viên Giáo coi Giới là các điều khinh trọng trong Phạm Vơng và luật nghi của thất chúng, Thừa chỉ hai loại là niệm quán vô lượng và vô tác. Mỗi đằng xét theo giáo ấy, hễ có Sự chướng nặng, Lư chướng nhẹ, kham tu quán huệ, nhưng dễ phạm tánh tội và giá tội, th́ gọi là Thừa Cấp Giới Hoăn. Tự có Lư chướng nặng, mà Sự chướng nhẹ, kham có thể thủ hộ giới, nhưng chẳng thông đạt Lư Quán, th́ gọi là Giới Cấp Thừa Hoăn. Nếu cả hai chướng đều nhẹ, th́ là Giới Thừa Câu Cấp. Hai chướng đều nặng, ắt là Giới Thừa Câu Hoăn. Đó là nói đại lược quy kết. Nay đă nghe đều có Phật Tánh, lại biết Giới chính là duyên nhân hoàn toàn do tánh khởi, Thừa chính là liễu nhân hoàn toàn do tánh khởi. Lại c̣n toàn tu tại tánh, cho nên cấp giới chính là cấp thừa, cấp thừa chính là cấp giới, há chịu trải qua tam đồ lần nữa rồi mới ngộ đạo ư? Lại há chịu tŕ trệ lâu ngày trong chốn nhân thiên, chẳng quy vào Thật Tế ư?    

          2) Kinh Phạm Vơng nói “chẳng thọ Phật giới th́ là súc sanh, gỗ, đá”. Lại nữa, người phạm giới chẳng khác súc sanh hay gỗ! Phàm kẻ chẳng thọ giới, sống uổng, chết phí, nên gọi là súc sanh. Do chẳng có thuở giác ngộ, nên như gỗ, đá! Thọ giới liền nhập địa vị Phật, nhưng vi phạm th́ vẫn chẳng khác súc sanh, khúc gỗ! Vậy th́ thọ giới chẳng có mảy may lợi ích ǵ ư?

          Đáp: Vĩnh viễn ở ngoài cửa, hay vĩnh viễn vứt bỏ biển Phật, th́ đều là khổ cả. Nhưng chẳng thọ giới, chưa chắc đă đều đọa địa ngục, phá giới chắc chắn đọa địa ngục. Một đằng thường ở trong tối tăm, cho nên đáng thương. Một đằng là bỏ sáng vào tối, thật đáng buồn! Nhưng chẳng thọ giới, sẽ chẳng có thuở thành Phật. Do phá giới mà đọa lạc, vẫn tạo thành chủng tử cho cái duyên thành Phật. Đó là lợi ích thù thắng của thọ giới. C̣n như chưa thọ mà đă phát tâm thọ tŕ, do lầm lạc mà phạm, bèn ân cần, trân trọng sám trừ, gỗ đá đều chẳng phải là gỗ đá vậy!

          3) Người chẳng thọ giới, tuy đánh mất lợi ích to lớn, nhưng không có tội phá giới! Như vậy th́ trong địa ngục sẽ chẳng có kẻ không thọ giới ư? Lại nói tuy thọ mà chẳng học, tức là v́ chẳng biết nên không mắc tội! Tham dự vào giới đàn, liền có thể xem Giáo, tham Thiền. Lại như trong bóng tối đạp phải quả cà, ngỡ đó là con cóc, mạng chung đọa địa ngục. Nếu theo Luật, đạp nhầm con cóc, c̣n chẳng kết tội, huống hồ đạp quả cà! Vậy th́ người học Luật mắc tội ư? Hay là kẻ chẳng học Luật mắc tội? Nếu bảo là “kẻ đó chỉ do so đo hư vọng phá giới mà đọa. Nếu chẳng ngờ vực, hoảng sợ, sẽ chẳng đọa”, vậy th́ bà ni Bảo Liên Hương[8], tỳ-kheo Thiện Tinh đều chẳng ngờ vực, sợ hăi, v́ sao cũng đều bị đọa? Nếu bảo “tánh tội chẳng thể làm, c̣n giá tội không học cũng chẳng trở ngại ǵ”, cớ sao Y La long vương[9] làm tổn hại lá cây mà chiêu cảm nỗi khổ tột bậc, tỳ-kheo Nan Đề phá căn bản giới mà chứng quả vậy?

          Đáp: Kẻ chẳng thọ giới nếu tạo tội ác nặng nề, vẫn đọa trong tam đồ. Kẻ hủy tịnh giới, tuy có đủ cả tánh tội và giá tội, nếu siêng năng sám hối, tội vẫn có thể diệt. Do vậy, ắt phải nên thọ giới. Người học Luật hiểu rơ khai, giá, tŕ, phạm, chưa phạm th́ biết ǵn giữ, đă phạm bèn có thể trừ. Kẻ chẳng học đă chẳng biết tránh tội, lại chẳng biết thoát tội, tội lỗi ắt ngày càng tích tụ. Do vậy, đă thọ rồi, ắt cần phải học. Bồ Tát đối với tội nhỏ luôn sanh ḷng sợ hăi to lớn, chỉ chẳng tạo ba cái nhân ác. V́ thế, chẳng sợ ba ác đạo. Nếu ương ngạnh làm chủ tể, to gan dối ḷng, nói dối là vô tội, Bảo Liên và Y La đúng là những tấm gương rành rành vậy!

          4) Nhà Nho nói “quân tử tôn đức tánh nhi đạo học vấn, trí quảng đại nhi tận tinh vi, cực cao minh nhi đạo Trung Dung, ôn cố nhi tri tân, đôn hậu dĩ sùng lễ” (quân tử tôn sùng chuyện tu dưỡng đạo đức, truy cầu kiến thức bằng học vấn sao cho đạt đến cảnh giới rộng lớn, tột bậc tinh vi, tột bậc cao minh, nhưng vẫn phụng hành đạo Trung Dung, ôn cũ để biết mới, thành tâm, thành ư, tôn sùng lễ nghĩa)[10]giống hay khác với Phật pháp? Hay là vừa giống vừa khác? Hay chẳng giống, chẳng khác? Lục Tượng Sơn tôn trọng đức tánh, Tử Dương (Châu Hy) coi trọng theo đuổi học vấn, mâu thuẫn lẫn nhau đến nỗi [các môn đồ của họ] tranh chấp kịch liệt! Có phải là một đằng đúng, một đằng sai hay không? Hay là đều đúng, đều sai? Hơn nữa, vượt thoát đúng sai như thế nào để rốt ráo chẳng vướng khuyết điểm?

          Đáp: Nho và Phật có khi danh đồng, nghĩa khác, như “đức tánh quảng đại, tinh vi” v.v… Một đằng là đạo lư thế gian, một đằng là đạo lư xuất thế. Có khi danh và nghĩa đều đồng, nhưng quy về điều cốt lơi lại khác, như “vấn học trí tận” (hỏi han học tập cho thấu đạt tận cùng) v.v… Cách thực hiện chẳng khác, nhưng khi đạt đến kết quả cuối cùng th́ chia thành thế gian và xuất thế gian. Nhưng v́ Thật mà thực hiện Quyền, Nho cũng là nhân thừa trong ngũ thừa. Khai Quyền hiển Thật th́ đạo lư thế gian cũng thuận theo Thật Tướng. Do vậy, đối với bốn câu đồng, biệt, hễ chấp th́ đều là báng, khéo dùng th́ chính là Tứ Tất Đàn[11]. Tượng Sơn tuy coi trọng đức tánh, chẳng phế bỏ học vấn. Tử Dương tuy coi trọng theo đuổi học vấn, chẳng bỏ sót đức tánh. Hiểu được ư chỉ này, tợ hồ là hai môn Đốn Ngộ và Tiệm Tu. Chẳng hiểu ư này, sẽ là hai chứng bệnh cuồng vọng và ngu hèn. Có thể nói hễ đúng th́ đều là đúng, sai th́ đều là sai. Nhưng “quảng đại tinh vi” v.v… đều là các nghĩa sẵn có trong đức tánh. “Trí tận” v.v… đều là chuyện được coi trọng trong theo đuổi học vấn, vốn chẳng phải là hai pháp sánh ngang nhau, sao có thể riêng coi trọng, hoặc riêng coi khinh? Đấy chính là vượt thoát hai đằng đúng, sai, vĩnh viễn chẳng để lại điều tệ vậy!

          5) Kinh Phật Đảnh nói “hiết tức Bồ Đề” (hễ dứt [vọng tâm] th́ chính là Bồ Đề), sao lại phải nhờ vào tu chứng? Đó là nói với người đă tận các lậu, nhưng c̣n bị vướng mắc trong nghi hối. Lại nói “chẳng trải qua nhiều kiếp nhọc nhằn, chẳng thể tránh nạn”, là nói với người đă khai ngộ, nhưng chưa trừ lậu. Một đằng là Sở Tri Chướng nặng nề, một đằng là Phiền Năo Chướng nặng nề. Do đó, Như Lai do bệnh mà phát thuốc như thế. Bọn chúng ta hai chướng đều nặng, lại chưa khai ngộ, lại chưa trừ lậu, [vậy th́] phải trừ lậu trước? Hay khai ngộ trước? Hay cùng tiến hành cả hai công phu ấy? Trừ lậu như thế nào? Khai ngộ như thế nào? Cùng tiến hành th́ thực hiện như thế nào?

Đáp: Hai chướng tuy nặng, đều chẳng có thật thể. Chỉ nghiên cứu thấu triệt viên tông, liền dùng viên giải để trừ sạch nghiệp tập. Phương cách để thực hiện chẳng ra ngoài thập thừa quán pháp. Thượng căn chỉ dùng một pháp [trong mười phép Quán ấy], trung căn th́ dùng từ hai đến bảy, hạ căn th́ dùng trọn cả mười. Siêng ṛng tu tập, chướng nào chẳng phá?

          6) Nhĩ môn tối thắng là do căn thù thắng? Hay do tánh thù thắng? Nếu là căn thù thắng, tức là nhĩ căn và sự mệt nhọc [do bị ngón tay đè chặt trên lỗ tai quá lâu] đều là [tướng hư vọng] “do trợn mắt mà sanh tướng mệt nhọc”[12] trong Bồ Đề, há có thể nương vào sự sanh diệt ấy làm cái gốc để tu nhân? Nếu tánh là thù thắng th́ tánh của nhĩ căn đă chẳng phải là tánh của năm căn kia, sao lại nói “trong tánh biết lẫn nhau”, và “lục giải nhất vong”[13] (sáu cái nút đă cởi th́ một cái khăn cũng mất)?

          Đáp: Do nhĩ môn dễ hiển tánh nên thù thắng, chẳng phải là tánh có thù thắng hay kém cỏi! Cũng chẳng phải là cảnh dùng nhĩ căn. Chỉ là nhờ vào nhĩ cảnh để quán chân tánh. Tánh tức là bất sanh, bất diệt, cũng lại chẳng phải là một, chẳng phải là sáu! V́ thế, hễ xoay lại [phản quán] một tánh [nơi tánh của sáu căn] th́ cả sáu đều giải thoát. Sáu căn đă giải thoát th́ một căn cũng mất.

          7) Nhĩ môn có ba nghĩa chân thật, vậy th́ căn là viên thông thường ư? Hay tánh là viên thông thường ư? Nếu căn là [viên thông thưng], chẳng nên nói “niêm trạm phát thính, thính tinh ánh thanh, quyển thanh thành căn”[14] Lại chớ nên nói ĺa động, ĺa tĩnh, vốn chẳng có thính chất (sắc chất của nhĩ căn). Nếu tánh là [viên thông thường], th́ tánh của nhĩ căn chính là tánh của năm căn kia, hay chẳng phải là tánh của năm căn kia? Nếu chẳng phải, vẫn là gạn hỏi giống như trong phần trước! Nếu chính là [tánh viên thông thường], th́ do quán cái tánh ấy, sẽ kiêm

thấu đạt cái tướng của nó. Nếu chẳng phải kiêm, th́ sẽ là ngoài tánh có tướng. Nếu thật sự kiêm, th́ phải nên từ trong nhĩ căn mà thấy sắc, ngửi hương, nếm vị, cảm nhận sự tiếp xúc. Nếu chẳng thấy sắc v.v…, sẽ chẳng gọi là tánh viên thông. Nếu nói là “có thể” [thấy sắc, ngửi hương v.v…], rốt cuộc dùng nhĩ căn để thấy, ngửi, nếm, nhận biết như thế nào? Nếu bảo là “sáu căn dùng lẫn cho nhau”, cần phải đợi chứng nhập, th́ nhân quả vẫn chẳng tương ứng! Nếu nói tuy chưa hữu dụng, nhưng lư đích xác là như thế, xin chỉ điểm để biết như thế nào ḥng khỏi sai?

          Đáp: Vốn do “một cái tinh minh chia thành sáu món ḥa hợp” (từ nhất tâm chia thành tác dụng của sáu căn), vậy th́ bản tánh của sáu món ḥa hợp đều là viên thông thường, cũng chẳng phải là có hai tánh, nhưng riêng xét theo mê t́nh để chọn lựa. Ở phương này (thế giới Sa Bà), nhĩ môn dễ hiển lộ sự chân thật, nên gọi là Lợi (, nhạy bén); các môn khác khó hiển, nên gọi là Độn (, chậm lụt). Chẳng phải là cảnh dùng nhĩ căn làm viên thông thường. Khi mới thực hiện, chính là muốn bỏ vứt bỏ sanh diệt để giữ lấy chân thường; đó gọi là “nhập lưu vong sở”, c̣n chẳng được dùng Nhĩ Căn. Ngoài th́ thuận theo hai tướng động và tĩnh, sao có thể dùng các chuyện như thấy sắc, ngửi hương v.v… để vấn nạn được! Như nước trong chưa biến hiện [các h́nh tướng], liền quở trách nó sao không biến hiện hết thảy. Nếu nước có thể biến hiện, lại ghét nó lẫn lộn. Nếu [do nhĩ căn] chẳng thể thấy sắc, ngửi hương, liền ngờ nhân quả chẳng tương ứng, [sẽ giống] như do nước đục chẳng biến hiện, bèn nói trong ấy “chẳng có nước trong” ư? C̣n như đối với sự chỉ điểm trong hiện tiền, th́ tai tự nghe pháp, miệng thưa hỏi, thân thừa sự, chính là nghĩa “biết lẫn nhau” trong tánh. Chẳng thể dùng tai để thấy sắc v.v… chính là nghĩa trái nghịch trong khi đang sử dụng. Đem hai thứ mê t́nh vọng kiến “biết lẫn nhau” và “trái nghịch lẫn nhau” nhất loạt buông xuống hết th́ mới có thể nhập Nhĩ Môn tam-muội.

          8) Tông Thiên Thai nói “thiện và ác đều có sẵn trong tánh”, nghĩa ấy chẳng đúng! Nói “tánh chẳng phải là thiện hay ác”, tức là chẳng ngăn ngại thiện, ác. Nếu tánh thật sự có thiện, sẽ chẳng dung ác. Nếu tánh thật sự có ác, sẽ chẳng dung thiện. Như trong kinh Phật Đảnh, ngài Măn Từ (Phú Lâu Na) dùng “nước và lửa chẳng lấn diệt lẫn nhau” để cật vấn, Như Lai cũng chỉ giải thích rằng “Thể của hư không chẳng phải là các tướng”, chẳng cự tuyệt chuyện nêu tỏ các tướng! Diệu giác minh tâm trước hết chẳng phải là nước, lửa, cớ sao chẳng dung thông lẫn nhau? Ngẫm kỹ hai câu “Thể chẳng phải là các tướng, trước hết chẳng phải là lửa nước” th́ tánh chẳng phải là thiện hay ác đă rơ rồi! Bảy Đại đều một mực là pháp vô kư (chẳng thiện, chẳng ác), vẫn cần phải bỏ tướng th́ mới có thể hiểu tánh, huống hồ thiện ác là pháp hữu kư mà có thể nói là [tánh] “đều có” [thiện và ác] được ư?

Đáp: Nếu nói “tánh chẳng phải là thiện hay ác, chẳng trở ngại thiện ác”, vậy th́ thiện, ác từ chỗ nào mà có để chúng có thể lẫn lộn, nhiễu loạn tánh? Sau khi đă hiển tánh, thiện ác lại quy vào đâu? Hơn nữa, ngay trong lúc thiện, ác, tánh “chẳng thiện ác” lại tránh né đến chỗ nào để đoạn diệt? Khi thiện, ác đi, tánh “chẳng thiện ác” lại từ đâu đến để sanh? Nếu nói “thiện ác vô tánh, thuận theo vọng duyên mà có”, đă chẳng có tánh, cái ǵ sẽ tùy duyên? Đă là tùy duyên, ắt có năng tùy (cái có thể tùy duyên) và sở tùy (đối tượng để tùy duyên). Sở tùy chính là mê, ngộ, nhiễm, tịnh. Năng tùy há chẳng phải là tánh thiện, tánh ác ư? Hơn nữa, cái duyên mê, ngộ, nhiễm, tịnh được “tùy thuận” ấy ở ngoài tánh, hay ở trong tánh? Nếu ở ngoài tánh, tánh chẳng thường trọn khắp. Nếu chẳng ĺa tánh, sao nói “chẳng phải là có đủ”? Nào có biết cái tánh vô tánh chính là thật tánh của thiện và ác. Nếu trong tánh chẳng có đủ thiện và ác, dẫu gặp các duyên như mê, ngộ, nhiễm, tịnh v.v… chắc chắn chẳng thể hiện thiện hay ác trong tu tập được! Như trong cát chẳng có tánh của dầu, dẫu gặp duyên đè ép, trọn chẳng chảy ra dầu.

Xin hăy dựa theo thí dụ ấy để suy rộng ra: Nếu Không chẳng phải chính là các tướng, các tướng há từ ngoài Không mà đến? Khi Không hiện, há tướng ra ngoài Không? Lại c̣n ngay trong khi hiện tướng, Không tránh né đến chỗ nào để bị đoạn diệt? Tướng mất rồi th́ Không từ đâu mà có để lại sanh? Hăy nên biết: Hư không chẳng đến, chẳng đi, chẳng diệt, chẳng sanh, bèn biết “trong các tướng, tánh Không bất động”. Có thể phỏng theo đó để biết: Khi hiện thiện, hiện ác, tạng tánh bất biến. Đă biết ngay trong khi tùy duyên mà chính là lúc bất biến, lại có thể phỏng theo đó để biết: Ngay trong khi bất biến, chính là lúc tùy duyên. V́ thế, thấu đạt nghĩa “bất biến tùy duyên”, tức là khi chưa dấy lên tu thiện, tu ác, chẳng phải là không có tánh thiện, ác! Như khi các tướng nước và lửa chưa hiện, chẳng phải là không có tánh lửa và nước, do tánh Không chân thủy, tánh Không chân hỏa. Thấu đạt nghĩa “tùy duyên bất biến”, th́ khi bừng bừng tạo thiện, tạo ác, cũng chẳng có thật pháp thiện hay ác. Như ngay trong khi nước và lửa hiện, chẳng khác tánh của hư không, do tánh nước chân không, tánh lửa chân không. Mê nơi tướng th́ toàn thể tánh chính là tướng, bị vọng kiến khuynh đoạt. V́ thế nói: “Quán tướng vốn là vọng”. Tức là chỉ quán tướng nơi tánh, vọng tánh của tướng cũng là vọng. Ngộ tánh th́ toàn thể tướng chính là tánh. Tùy ư lấy một tướng, sẽ đều là “cùng chính là”, “cùng chẳng phải”. Ĺa tức là chẳng ĺa, “là” tức “chẳng phải chính là”. Do đó nói “quán tánh vốn là chân”, tức là có thể quán tánh nơi tướng, chân tướng của tánh cũng là chân. Như thế th́ hư không chẳng phải là các tướng, các tướng cũng chẳng phải là các tướng. “Không” chẳng ngại nêu tỏ các tướng, các tướng cũng chẳng ngại nêu tỏ các tướng. Do vậy đạt được ư nghĩa “đều hiện”.

Lại nữa, tâm trước đó chẳng phải là lửa và nước, nước lửa cũng trước đó chẳng phải là nước lửa. “Trước” chẳng phải là “trước” trong “trước sau”, mà chỉ có nghĩa “vốn sẵn”. V́ thế, không chỉ khi chưa hiện nước lửa, tánh nước chính là tánh lửa, tánh lửa chính là tánh nước, quyết định chẳng lấn diệt lẫn nhau. Tuy trong khi nước, lửa hiện, nước vốn chẳng phải là nước, lửa vốn chẳng phải là lửa, cũng chắc chắn chẳng lấn diệt lẫn nhau. Do vậy, có các chuyện vào nước chẳng ch́m, vào lửa chẳng cháy, phần trên thân tuôn nước, phần dưới thân bốc lửa, vào trong đất như trong hư không, ở trên hư không như đang ở trên mặt đất v.v... Do vọng kiến nẩy sanh liền khuynh đoạt, chỉ tùy tâm ứng lượng, thuận theo nghiệp phát hiện đó thôi!

Do đó biết: Ngoài tướng chẳng có tánh, bỏ tướng tức là bỏ tánh. Ngoài tánh chẳng có tướng, hiểu tánh sẽ hiểu tướng. Nếu [cho rằng] “bỏ tướng th́ mới hiểu tánh”, hết sức chẳng đúng! Hễ bỏ sắc tướng th́ là Không tướng. Bỏ Không tướng th́ là sắc tướng. Bỏ hữu t́nh tâm tướng th́ sẽ là vô t́nh sắc không tướng. Bỏ tướng vô t́nh, sẽ là tướng hữu t́nh. Bỏ tướng căn trần vô phân biệt, sẽ là thức tướng có phân biệt. Bỏ tướng phân biệt, sẽ là tướng chẳng phân biệt. Bỏ vọng tướng căn trần thức, sẽ là giác minh chân tướng. Bỏ chân tướng, sẽ là vọng tướng. Rốt cuộc, tướng nào để có thể bỏ? Tánh nào để có thể hiểu? Kinh dạy: “Khí sanh diệt, thủ chân thường giả, trực khí kỳ ư chân thường trung vọng kiến sanh diệt chi t́nh. Thủ kỳ tức sanh diệt xứ, liễu ngộ chân thường chi trí nhĩ” (Bỏ sanh diệt, giữ lấy chân thường là thẳng thừng bỏ t́nh chấp vọng kiến sanh diệt trong chân thường. Giữ lấy điều ấy chính là cái trí liễu ngộ chân thường từ ngay chỗ sanh diệt).

Hăy thử suy gẫm phần kinh văn giảng về Thất Đại [trong kinh Lăng Nghiêm]. Trước hết, dùng Không để dung hội Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Kế đó dùng giác để dung hội năm đại như Không, Địa v.v… Kế đó, dùng Tinh để dung thông Căn và Trần sáu đại. Kế đó, dùng Tri để dung thông bảy đại như Thức, Căn, Địa v.v… Tức là “Sắc và Không bất nhị, y báo và chánh báo bất nhị, kiến phần, tướng phần và tự chứng bất nhị, chân và vọng bất nhị” đă rơ rồi! Do vậy, chính v́ tánh bất biến trọn đủ thiện và ác, cho nên có thể toàn thể tùy duyên, nhưng thiện tu và ác tu chính v́ đă nắm trọn chân tánh. Do đó, toàn thể lại bất biến, bất biến mà toàn thể là tùy duyên. Bởi vậy nói là “Lư trọn đủ ba ngàn [các pháp]”. Tùy duyên mà toàn thể bất biến, nên gọi là “Sự tạo ba ngàn”. Hơn nữa, “Lư có đủ” chỉ là có đủ nơi Sự tạo, Sự tạo chỉ là tạo nơi Lư trọn đủ. V́ thế, tuy nói thành hai loại, vẫn chẳng phải là sáu ngàn [các pháp]. Tuy nói thành hai tầng, mà là tầng tầng vô tận!

          9) Kinh Niết Bàn nói Phật tánh thường trụ, nói hai thí dụ là “sữa, lạc”, và “hạt, cây”. Nếu sữa vốn có tánh của lạc, cho đến thục tô vốn có tánh của đề hồ, sao lại phải nhờ vào các duyên như khéo léo khuấy đảo v.v…? Nếu hạt cây Ni Câu Đà vốn sẵn có tánh [thân cây cao] năm trượng, sao lại phải nhờ vào các duyên như đất, nước v.v...? Pháp nhờ vào duyên th́ là vô thường, há được gọi là Thường ư? Lại nói sữa có tánh lạc cho nên khuấy sữa, chẳng khuấy nước, do hạt có tánh của cây, nên gieo hạt, chẳng gieo cát. Đấy là “sẽ có”, chẳng phải là “hiện tại có”, cũng chẳng gọi là Thường! Lại nữa, nay thấy trong lạc có lẫn nước, bèn chẳng sanh ra tô. Hạt cây nung qua lửa, sẽ chẳng nẩy mầm. Đúng là chứng tỏ “ba thứ không, hai thứ có”[15], kẻ đó đáng gọi là Sở Tri Chướng nặng nề, chẳng thể quyết chứng Đại Bồ Đề!

          Đáp: Thường chẳng phải là cái Thường chết cứng. Tánh có nghĩa là “chẳng thay đổi”. Kinh Niết Bàn đă nói về Phật tánh thường trụ, sợ có kẻ mê muội chấp tánh, phế tu, tức là trở thành thiên nhiên ngoại đạo[16]. V́ thế nói “cần phải nhờ vào duyên nhân và liễu nhân”. Do liễu nhân và duyên nhân tuy thuộc vào tu, nhưng khi ở nơi nhân th́ cùng gọi là Tánh Đức. Chánh nhân do Lư phát khởi, tuy hoàn toàn là tánh, nhưng khi đắc quả th́ cùng gọi là Tu Đức. Vậy th́ cái tánh “vô tánh” tức là thật tánh. Bản thể của pháp duyên sanh là vô sanh. [Dùng h́nh ảnh] hai con chim cùng bay để sánh ví thường và vô thường, nghĩa ấy là như thế đó! Nếu trong khi đang Có mà chẳng gọi là Thường, ắt sẽ chấp cái ngưng đọng bất biến chết cứng là Thường, có khác ǵ thường kiến ngoại đạo? Lại nữa, sữa và lạc, hạt và cây, nước và lửa có thể bị ngăn chướng, nhưng Phật tánh chẳng như vậy. Xiển Đề đoạn thiện, rốt cuộc lại sanh. Nhị Thừa chứng Không, cũng rốt cuộc hồi Đại. V́ thế, lại có Phật tánh hùng mănh, chẳng thể ngăn trở, hủy hoại, ví như kim cang, mà “tam vô, nhị hữu” trọn chẳng phải là cách nói liễu nghĩa! Há có nên chấp một tí thí dụ để rồi cật vấn toàn thể pháp ư?

          10) Hỏi: Tông Thiên Thai nói hai tầng “Lư có đủ, Sự tạo ba ngàn pháp”, cũng như trong cái tâm nhỏ nhoi đă sẵn đủ, điều ấy chẳng đúng! [Bởi lẽ], Lư trọn đủ là điều vốn sẵn có th́ c̣n có thể được, chứ Sự tạo th́ khi một niệm khởi, ắt sẽ rơi vào một giới. Đă rơi vào một giới, chín giới kia đều ẩn. Dẫu cho một giới c̣n có đủ mười giới, nhưng cũng chỉ là mười giới trong một giới, chẳng phải là mười giới trong mười giới. Ngài U Khê nói: “Khi một giới hiện, chín giới kia ngầm ẩn”. Đă nói là “ngầm ẩn” th́ “Sự tạo ba ngàn [các pháp]”[17] chẳng ở trong một niệm đă rơ rồi. Nay sách Phạm Vơng Huyền Nghĩa nói: “Một giới đă hiện, chín giới đều cùng phô trọn”. Hăy thử xem Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa), khi tướng địa ngục hiện chính là Phật giới diệt, hạ phẩm tướng sen vàng hiện, tức là địa ngục diệt. Sao có thể cùng phô tỏ cho được?

          Đáp: Tâm chẳng có h́nh chất, chẳng có ngằn hạn, chẳng thể cắt, xé. Một niệm rơi vào một giới nào, tức là toàn thể cái tâm, chẳng phải là chút phần của tâm. Đă là toàn thể của cái tâm tạo thành một niệm ấy, cũng ắt là toàn thể tác dụng của cái tâm quy vào một niệm ấy, cũng ắt là một niệm ấy nhanh chóng trọn đủ đại dụng của toàn thể cái tâm. Như Khổng Tử làm Thừa Điền[18], liền dùng toàn thể của thánh nhân để chăn nuôi trâu, dê, cũng tức là đem toàn thể tác dụng “xuất tướng, nhập tướng”[19] để quy vào những người chăn trâu, dê. Cũng tức là khi chăn trâu, dê, hỏi đến chuyện thuộc văn chương, vơ bị, không ǵ Ngài chẳng thể biết, há có phải khi chăn [trâu, dê] th́ chẳng phải toàn thể của Khổng Tử, Ngài chẳng sử dụng toàn thể năng lực của tướng quân hay tể tướng ư? Cái nghĩa “ngầm ẩn” hoặc “sẵn trọn đủ” nếu dùng “hiện” (hiển hiện) để đối ứng “minh” (, ngầm ẩn tàng), dùng “khởi” (, dấy lên) để đối ứng “phục” (, ẩn tàng), th́ chắc chắn rằng: Nếu Sự tạo chẳng phải là một niệm liền nhanh chóng trọn đủ, há thành viên lư được ư? Nay đă biết một giới vẫn trọn đủ mười giới, tức là mỗi giới đều trọn đủ các giới kia, tầng tầng vô tận. Quang minh nơi gương, bóng hiện nơi châu, há có ranh giới rạch ṛi? Tức là ba ngàn tánh tướng cũng được nêu ra đại lược. Dẫu xét trường hợp Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) đọa địa ngục, ở ngay trước đức Phật, lại c̣n toàn thân rơi hăm, chắp tay niệm Nam-mô, bèn thành vô căn tín, liền được thọ kư. Hạ phẩm văng sanh tức là lửa địa ngục hóa thành gió mát, hoa, Phật. Có thể thấy địa ngục giới và Phật giới toàn thể chính là lẫn nhau, dung thông trọn khắp lẫn nhau chẳng thể nghĩ bàn. Đấy là ư chỉ “tánh cụ” (tánh trọn đủ) của tông Thiên Thai, là điều trọng yếu trong quán tâm. Do vậy, thật sự có thể truyền tâm ấn của Phật, thù thắng vượt xa các tông khác.

 

* Lại vấn đáp lần nữa

 

          Hỏi: Những vị giảng thuyết trong thế gian cho rằng: Sơ tâm ngưỡng mộ, tin tưởng Trung Đạo, nhưng chẳng thể nhanh chóng quán. Trước hết, dùng Không và Giả làm phương tiện, trong tánh tuy có đủ ba cái nhân (chánh nhân, liễu nhân và duyên nhân), nhưng chúng chẳng chính là lẫn nhau. Trong tu, tuy dùng Tam Quán (Không, Giả, Trung), nhưng không cùng lúc. V́ thế gọi là “tánh hoành, tu tung” (tánh theo chiều ngang, tu theo chiều dọc). Lại do khai phát theo thứ tự, nơi quả th́ đồng thời trọn đủ, nên gọi là “nhân tung, quả hoành” (nhân theo chiều dọc, quả theo chiều ngang). Chỉ có hành nhân Viên Giáo sơ tâm liền hiểu tam đức bí tạng (Pháp Thân, Bát Nhă, giải thoát), thẳng thừng dùng Nhất Tâm Tam Quán, tiến phá vô minh. Sơ Tín tùy ư đoạn Kiến Hoặc, thấy Chân Đế. Thất Tín tùy ư đoạn Tư Hoặc. Bát Tín, Cửu Tín, Thập Tín tùy ư đoạn nội ngoại Trần Sa, thấy Tục Đế. Sơ Trụ phá một phần, tức phá một phẩm vô minh, thấy Trung Đế. Phá Hoặc hoàn toàn dùng Tam Quán; do vậy chẳng phải là “chiều dọc”. Đoạn Hoặc chẳng phải theo thứ tự mà là có thứ tự, cho nên chẳng phải là “chiều ngang”. Nay lập một lời cật vấn: Đă là hoàn toàn dùng Tam Quán, theo thứ tự thấy Tam Đế, th́ vẫn là Trí theo chiều ngang, Đoạn theo chiều dọc, mà cũng là tu theo chiều ngang, chứng theo chiều dọc, nhân theo chiều ngang, quả theo chiều dọc. Dẫu là người căn cơ cực bén nhạy, chẳng trụ Thập Tín, rốt cuộc vượt lên Sơ Trụ, cho đến Diệu Giác, cũng chỉ là Trí và Đoạn đều theo chiều ngang, há có phải là “chẳng ngang dọc, chẳng đồng thời hay khác biệt” ư?

Đáp: Đế quán của Biệt Giáo được gọi là “ngang dọc đều khác biệt” do chẳng liễu đạt “Tam Quán chỉ là nhất tâm, Tam Đế chỉ là một cảnh”. Nhất tâm vốn sẵn là Tam Quán, một cảnh rành rành trọn đủ Tam Đế, như vua cùng tướng quân và thừa tướng chỉ là cùng một nước. Tuy chỉ là một nước, nhưng rành rành có cả ba người, tức là một vua và hai bầy tôi. Chẳng hiểu rơ nghĩa “vua, tôi”, ắt sự hạn cục “cùng lúc” hay “khác biệt” thành lập, “cùng lúc” thành chiều ngang, “khác biệt” thành chiều dọc, khiến cho tánh và tu cách biệt, nhân và quả chẳng ngang nhau. Người Viên Giáo hiểu rơ cái Thể của nhất tâm, tức là trong “chẳng nghĩ bàn”, cái tâm ấy có thể phá sự hiểu biết theo t́nh kiến đối với phàm, thánh, bèn gọi là Không. Cái tâm ấy có thể lập đạo lư thánh phàm, liền gọi là Giả. Hiểu rơ cái Thể của một cảnh được gọi tức là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Cảnh ấy vốn chẳng phải là Biến Kế Sở Chấp, liền gọi là Chân. Cảnh ấy vốn do Y Tha hiện, bèn gọi là Tục. Sơ tâm hiểu tam đức bí tạng, thẳng thừng dùng Nhất Tâm Tam Quán để phá trọn Tam Hoặc. Nhưng sơ tâm khi đoạn Kiến Hoặc, dựa theo chỗ phá Hoặc mà gọi là Không Quán. Thấy chỗ Chân Đế, bèn gọi là Diệu Giả, nhưng khi chưa phá, hoàn toàn coi Chân Đế là Kiến Hoặc. Sau khi đă phá, hoàn toàn coi Kiến Hoặc là Chân Đế. Như nước thành băng, băng lại trở thành nước. Băng và nước có cùng tánh ướt, Kiến Hoặc và Chân Đế cũng lại giống như thế. Thể chính là pháp giới, chẳng thể phá lập, bèn gọi là Trung Quán. Do đó biết chẳng phá, chẳng lập, mà luận định phá, lập, bèn gọi là Không và Giả. Ngay trong lúc phá chính là lúc lập, vốn chẳng có phá hay lập, bèn nói là Trung. Như nơi biên cương nhiễu loạn, mănh tướng xuất chinh, triệu dân quy phục, hiền tướng phủ dụ, an ủi. Xét ra để luận định, chỉ là vương sĩ, vương dân vậy. Tuy chỉ dụng một pháp quán mà là [trọn đủ] Tam Quán, sao có thể nói là “chiều ngang” ư? Cái được trông thấy là một Đế mà đều là Tam Đế, chính là Chân tức Tục, tức Trung, vĩnh viễn khác với Thiên Chân, há có thể nói là “chiều dọc” ư?

Thập Tín thấy Tục, Sơ Trụ thấy Trung, cũng lại giống như thế. Cái có thể phá tuy dùng trọn Tam Quán, nhưng vẫn lấy một phép Quán làm chủ. V́ thế, chẳng phải cùng lúc, chẳng phải là chiều ngang. Cái được thấy tuy tùy ư theo thứ tự, nhưng mỗi Đế không ǵ chẳng phải là Tam Đế. Do vậy, chẳng phải khác, chẳng phải dọc! Phỏng theo đó, tuy trong tánh có đủ ba cái nhân, nhưng duyên nhân và liễu nhân không có công năng, cùng gọi là chánh nhân. V́ thế, chẳng phải là ngang, dọc, đồng thời, khác biệt”. Như nước nhà vô sự, chẳng phải là không có tướng quân và thừa tướng, nhưng tướng quân và thừa tướng chẳng hiển lộ năng lực, chỉ nghe nhắc tới tên của vị quốc chúa. Trong tu nhân, hoàn toàn nhờ vào duyên nhân và liễu nhân, nhưng oai quyền của duyên nhân và liễu nhân do chánh nhân ban cho. V́ thế, cũng chẳng phải là “ngang, dọc, cùng lúc, khác biệt”. Như sai khiến tướng quân, sai sử thừa tướng đều do vị thánh chúa, nhưng thánh chúa không cậy công, đều nói là sức của tướng quân và thừa tướng. C̣n như trong quả vị, tuy tam đức đồng thời hiển lộ trọn vẹn, nhưng vẫn lấy Pháp Thân làm chủ, cũng chẳng phải là “ngang, dọc, cùng lúc, khác biệt”. Do Bát Nhă và giải thoát vốn là cái mà Pháp Thân sẵn có, chẳng phải là mới đạt được! Như ba người cùng hưởng thái b́nh, nhưng tướng quân và thừa tướng vốn là cựu thần, vẫn phụng sự chủ cũ, chẳng chinh phạt, chẳng ban cho.

Lại nữa, tướng quân chuyên về vơ, vua và thừa tướng chẳng phải là không có khả năng vơ bị. V́ thế, Tam Quán đều cùng phá hết thảy các pháp. Thừa tướng chuyên văn, chẳng phải là vua và tướng quân chẳng có tài văn chương. V́ thế, Tam Quán đều lập hết thảy các pháp. Vua chuyên thống ngự, tướng quân và thừa tướng chẳng phải là không có phẩm đức của vua. V́ thế, Tam Quán đều thống ngự hết thảy các pháp. Nếu mỗi người trong ba người chỉ có một đức, dẫu thống ngự hay thuận tùng, vẫn là theo chiều dọc, vẫn khác biệt! Nếu ba người chẳng thống ngự hay tùy thuận nhau, tuy mỗi người đều trọn đủ tam đức, vẫn là theo chiều ngang, vẫn là đồng thời, đều chẳng thể sánh ví viên quán được. Nếu chỉ có một người trọn đủ tam đức, chẳng có tướng quân và thừa tướng, tuy nói chung chẳng có dọc, ngang, cùng lúc, khác biệt, sẽ chẳng thành quốc pháp, càng chẳng thể sánh ví viên quán. Nếu ba người ai nấy đều trọn đủ tam đức, lại thống ngự, tùy thuận với nhau, chẳng phải là cảnh giới ấy mà hư vọng muốn phá, lập, phủ dụ, thống ngự, cũng chẳng thể sánh ví viên quán. Nay cái bị phá, cái được lập, cái bị thống ngự đều là cảnh giới hiện lượng của tự tâm. Hăy suy nghĩ đi!

Hơn nữa, đấy cũng là sánh ví một phần, chẳng phải là thí dụ trọn vẹn. Do Nghiêu, Thuấn thống trị hạn cuộc trong chín châu[20], Trung Đế thống ngự hết thảy các pháp, theo chiều dọc th́ tột cùng, theo chiều ngang th́ trọn khắp, chẳng có chút tánh tướng nào có thể lọt ngoài Trung Đế. Hơn nữa, Nghiêu, Thuấn khiến cho dân an, đạt tới b́nh trị tột cùng, nhưng chẳng thể khiến cho ai nấy đều trọn là Nghiêu, Thuấn! Trung Quán thống ngự hết thảy các pháp, chẳng có một vi trần hay sát-na nào chẳng nắm giữ toàn bộ cái Thể của Trung Đạo, chẳng trọn đủ hoàn toàn đại dụng của Trung Đạo. Mỗi mỗi đều là tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, khó thể nghĩ bàn được! Nho nói: “Thánh nhân bất tri bất năng, Nghiêu, Thuấn do bệnh” (Thánh nhân c̣n có điều chẳng thể làm, có điều chẳng biết, Nghiêu, Thuấn c̣n có khuyết điểm), dụng ư nêu tỏ đạo này. Chỉ Phật là có thể trọn hết. Lại nói: “Đạo bất viễn nhân, hạ học, thượng đạt” (đạo chẳng xa người, dưới là học, trên là thấu đạt), có ư nêu rơ: Tâm chẳng ĺa tông này, tức là nhập môn giống nhau, nhưng đạt đến đích khác nhau. Dạy bảo khác nhau, nhưng ư như nhau. Lời tôi càng chẳng phải là dối gạt vậy!

 

* Hỏi đáp về tánh học khai mông[21] (tức là giải đáp rộng hơn về câu thứ tư trong đàn tràng)

         

          Chỗ tột bậc giống nhau và khác nhau giữa Nho và Thích, điểm then chốt khinh, trọng giữa tánh và học đă bị hồ đồ lâu ngày. Muốn cởi gỡ mối nghi ấy, trước hết cần phải dựa theo sách Nho để giải thích ư nghĩa của văn từ, ḥng vượt thoát hai cái ải đúng và sai. Kế đó, dựa theo ư của hai ông (tức Châu Hy và Lục Tượng Sơn) để phán định đúng, sai, ḥng nêu bày sự công luận công bằng. Sau đó, đối ứng với Phật giáo để biện định cặn kẽ sự giống nhau và khác nhau, ḥng nêu tỏ Quyền, Thật, Bổn, Tích.

Trước hết, dựa theo sách Nho để giải thích ư nghĩa. Châu Hy chú giải, coi “đức tánh”“tồn tâm” (trau luyện cái tâm), coi “đạo vấn học” (truy cầu tri thức, học vấn) là “trí tri” (đạt tới sự hiểu biết trọn vẹn), coi trí quảng đại, cực cao minh, ôn cố, đôn hậu” (tột bậc cao rộng, cực cao minh, thường ôn luyện những điều đă biết, tăng trưởng phẩm đức sâu dày) thuộc về “tồn tâm”, coi “tận tinh vi đạo Trung Dung tri tân sùng lễ” (tột bực trau luyện đến mức tinh vi ḥng đạt tới Trung Dung để thông đạt cái mới, nhưng vẫn tôn sùng lễ nghĩa) thuộc về “trí tri”. Giống như hai vật cần lẫn nhau, chưa phải là tông chỉ “nhất quán”. Do vậy, v́ coi trọng hay coi nhẹ [một phương diện] mà thành ra sự tranh chấp to lớn.

Nay nói: Trước hết, xướng suất đại đạo là đă bao gồm cả hai khía cạnh ấy, bèn là “dương dương ưu ưu đồng thị đạo” (mênh mông, bát ngát, ưu mỹ, phong phú, cùng là đạo). V́ thế, cùng gọi [cả hai khía cạnh ấy] là Đại. Chẳng thể nói là “dương dương” (洋洋, mênh mông, bát ngát) chỉ là không ǵ to lớn chẳng lọt vào không gián đoạn, chẳng thể nói “ưu ưu” (優優, ưu mỹ, phong phú) chỉ là không điều nhỏ nhặt nào lọt ra ngoài cái cùng cực. Lại càng chẳng thể nói “dương dương” chỉ là đức tánh, chẳng do học hỏi tri thức mà có! [Chẳng thể] bảo “ưu ưu” chỉ là học hỏi, chẳng liên quan đức tánh! Nhưng đại đạo hoàn toàn phát khởi từ tánh, hoàn toàn ngưng kết nơi đức. V́ thế, gọi là Đức Tánh, giống như nhà Phật nói Như Lai Tạng Tánh vậy. Do tạng tánh tuy mười giới giống nhau, chỉ riêng Như Lai là có thể hợp lại [tánh của mười giới]. Do vậy, gọi là Như Lai Tạng, chẳng gọi là Địa Ngục Tạng Tánh, hoặc Nhân Thiên Tạng Tánh v.v… Như thế th́ hai chữ Đức Tánh đă bao hàm chỉ thú “tánh, tu, nhân, quả”, nhưng rộng lớn, tinh vi v.v… đều là các ư nghĩa mà đức tánh vốn sẵn có. Thấu đạt cùng tận, cho đến đề cao, đều là sự tu tập mầu nhiệm nơi việc theo đuổi tri thức.

Đề cao đức tánh ấy th́ mới là theo đuổi học thức. Theo đuổi học thức th́ mới là đề cao đức tánh. Nếu không, tánh [của mỗi cá nhân] gần giống như nhau, nhưng do bị huân tập khác nhau mà thành khác xa, ch́m đắm trong ô nhiễm, giống như nói “Pháp Thân lưu chuyển trong năm đường làm chúng sanh”. Nhưng [sách Trung Dung nói “đức tánh rộng lớn”, tức là mênh mông bát ngát sanh khởi, [bảo đức tánh] là “tinh vi” chính là ưu mỹ, phong phú trăm ngàn điều. [Nói đức tánh là] “cao minh” là ư nói nó có thể sánh cùng trời sanh thành muôn vật. Trung Dung là chẳng ĺa các mối quan hệ con, bầy tôi, em, bạn. V́ thế nói là “được bẩm thọ từ lúc mới sanh”. “Tân” [trong “tri tân”] chính là giúp thành tựu các giềng mối. “Hậu” [trong “đôn hậu”] nghĩa là cha, con, vua, tôi v.v… đều do thiên tánh đă định. “Lễ” [trong “sùng lễ”] là kính ngưỡng, phụng sự, chăm sóc, nuôi nấng v.v… đều là những chuyện phải nên thực hiện của con người.

Trong cơi đời, có khi rộng lớn mà chẳng tinh vi, như cá biển thân dài chừng đó do-tuần, vô ư rời khỏi nước, bị dế, kiến thừa cơ áp bức[22]. Có khi rộng lớn mà tinh vi như vua A Tu La biến thân to bằng núi Tu Di. Lại có thể huyễn nhập vào lỗ của ngó sen. Đức tánh cũng thế, tuy mênh mông, bát ngát ṿi vọi tột bậc, nhưng lại là toàn thể nhiếp nhập trong một oai nghi. Tùy ư nêu ra một oai nghi nhỏ nhặt, vẫn trọn đủ toàn thể đức tánh, chẳng phải là chút phần của đức tánh. Cơi đời có khi tinh vi mà chẳng rộng lớn như ngoạn khí[23] v.v… vi diệu, tinh xảo, nhưng chẳng kham sử dụng. Có khi tinh vi mà rộng lớn như châu Ma Ni, tṛn sáng, thanh tịnh, chẳng to lớn cho mấy, đặt trên tràng cao, tuôn chất báu khắp bốn đại châu. Đức tánh cũng thế, tuy trăm ngàn h́nh thức phức tạp, nhưng tùy ư lấy một thứ, sẽ đều trọn đủ công năng sanh trưởng phù hợp, chẳng phải là chút phần công năng. Cơi đời có thứ cao minh mà chẳng trung dung, như ngày hè chói chang, mắt chẳng thể nh́n được. Có cái cao minh mà trung dung như quang minh của chư Phật vượt xa trăm ngàn mặt trời, nhưng người được quang minh ấy chạm đến lại thanh lương. Đức tánh cũng thế, thượng đạt ở ngay nơi hạ học, tức là chỗ tột bậc của trời sanh trưởng muôn vật, chẳng ĺa lề lối ngôn hạnh tầm thường! Đời có thứ trung dung mà chẳng cao minh, như người lành nơi thôn làng có khi bị chèn ép, bị lừa dối. Có khi trung dung mà cao minh, như bậc thánh trong mỗi thời, ôn ḥa nhưng nghiêm nghị. Đức tánh cũng thế, hạ học mà toàn thể là thượng đạt, dẫu là những thứ lụn vụn như quét dọn, ứng đối, đều trọn đủ tác dụng xoay chuyển càn khôn. Đời có thứ cũ kỹ chẳng mới, như áo cũ nát chẳng thể mặc được nữa. Có cái cũ mà thường mới, như đàn dao cầm từ thượng cổ, mỗi phen vuốt, vỗ là một phen phát ra âm thanh. Đức tánh cũng thế, sanh ra hết thảy sự nghiệp đạo đức, văn chương, kinh luân chẳng thể cùng tận. Đời có thứ mới mà chẳng cũ như thức ăn ngon chẳng thể bày ra lần nữa. Có cái mới mà thường cũ như Xuân đến hoa nở, cây cối chưa từng thay đổi [quy luật ấy]. Đức tánh cũng thế, tuy sinh ra hết thảy sự nghiệp kinh luân, đạo đức, văn chương, nhưng cái Thể của nó thường như cũ. Đời có cái nồng hậu nhưng chẳng phải là lễ, như nghé con theo mẹ, quyến luyến tự nhiên, nhưng chẳng biết nghi tiết. Có khi nồng hậu mà hữu lễ, như con hiếu thảo phụng sự cha mẹ, Đông ấm, Hạ mát, sáng tối thăm hỏi, phát xuất từ chí tánh, chẳng do miễn cưỡng. Đức tánh cũng thế, tuy phát xuất từ thiên chân mà tự có lễ tiết. Đời có khi lễ mà chẳng nồng hậu như [thời Chiến Quốc] sáu nước quy phục nước Tần v́ t́nh thế bất đắc dĩ. Có khi hữu lễ mà nồng hậu như Khổng Tử lạy ở dưới thềm, trọn hết lễ, chẳng siểm nịnh[24]. Đức tánh cũng thế, tuy trăm ngàn h́nh thái phức tạp, trọn chẳng phải là miễn cưỡng bày ra. Lại nữa, rộng lớn nhưng chẳng trọn hết tinh vi, cũng tự có kẻ học rộng nghe nhiều, tán thành th́ chỉ đúng phần nào, phủ định th́ hoàn toàn sai trái. Do đă chẳng tinh vi, cho nên chẳng thể đạt tới rộng lớn tột cùng. Tột cùng tinh vi mà chẳng dẫn đến rộng lớn, vẫn tự nói là “một môn thâm nhập”, nếu chấp nhận th́ là đúng một phần, hễ phủ định th́ toàn thể đều sai. Do đă không rộng lớn, cho nên chẳng thể tận cùng tinh vi được! Cực cao minh mà chẳng theo đuổi Trung Dung, vẫn tự nói là “khoát đạt đại độ” (mênh mông bao dung), nhưng ĺa Trung Dung th́ chẳng thể coi là cao minh, chẳng gọi là cùng cực được! Theo đuổi Trung Dung mà chẳng tột bậc cao minh, mà vẫn tự nói là “ngôn hạnh tương cố” (lời nói và hành vi tương ứng), nhưng bỏ cao minh mà trụ nơi kém hèn, thô lậu, đó chẳng phải là đạo của người quân tử!

Ôn cũ mà chẳng biết mới, vẫn tự nói là “giữ ǵn đức tánh”, nhưng đức tánh há có phải là si ngốc, bướng bỉnh như thế ư? Biết mới mà chẳng ôn cũ, vẫn tự nói là “mỗi ngày đều tăng trưởng”, chỉ như ng̣i rănh có thể nhanh chóng khô cạn[25]. Đôn hậu mà chẳng chuộng lễ, vẫn tự nói “thuận theo cái vốn sẵn chân thật”, chẳng tránh khỏi đánh đồng loài người với trâu, ngựa! Chuộng lễ mà chẳng đôn hậu, vẫn tự nói “cử chỉ theo đúng khuôn phép”, đâm ra trung tín đơn bạc, là đầu mối gây loạn vậy. V́ thế, ắt biết rộng, lớn, tinh, vi v.v... không ǵ chẳng phải là đức tánh, đều cần phải theo đuổi sự học tập, kiến thức để đề cao [đức tánh], sẽ là toàn tu nơi tánh, toàn tánh khởi tu. Đă chẳng phải là hai lẽ, há thiên lệch khinh hay trọng một phương diện nào ư? Đấy là vượt thoát hai cái ải đúng, sai, hoàn toàn thâu về chỗ sở trường của hai ông, vĩnh viễn dứt bặt điều tệ của hai ông (Lục Tượng Sơn và Châu Hy).

Kế đó là quyết trạch hai ông. Ư của Tượng Sơn là nếu chẳng đề cao đức tánh, th́ học hỏi và chẳng học hỏi đều vô dụng, nhưng có thể đề cao đức tánh th́ chính là học hỏi thật sự. Giống như đức Phật nói “thắng tịnh minh tâm, bất tùng nhân đắc, hà tạ cù lao” (cái tâm thanh tịnh, thù thắng, sáng suốt chng do con người phí sạch tâm cơ, há có phải do nhọc nhằn mà ḥng đạt được)[26]. Chịu vất vả tu chứng cũng giống như “bổn lai vô vật” (vốn chẳng có vật ǵ) của Lục Tổ. Lại tức là “ngô đạo nhất dĩ quán chi” (đạo của ta dùng một nguyên lư để xuyên suốt) của Khổng Tử, tức là thâu nhiếp chuyện tôn sùng đức tánh vào học hỏi, chẳng cậy vào đức tánh mà buông bỏ học hỏi. V́ thế, được gọi là Hiền. Ư của Tử Dương cho rằng nếu chẳng theo đuổi học thức, dẫu đàm luận đức tánh cao siêu, sẽ như cái được gọi là Lư Phật chẳng liên quan đến tu chứng. Ắt phải theo đuổi sự học hỏi, mở rộng tri thức để thành tựu chí đức (đức tột cùng) th́ mới có thể đạt đạo là bản chất của tánh, giống như Bồ Đề Niết Bàn do đức Phật đă nói [dẫu ai nấy đều có sẵn trong tánh, nhưng] vẫn c̣n xa vời, cần phải trải qua nhiều kiếp siêng khổ tu chứng, cũng giống như Thần Tú nói “thời thời phất thức” (luôn luôn lau chùi), lại chính là “dung đức chi hành, dung ngôn chi cẩn” (trong xử thông thường, luôn giữ đạo đức, đối với lời lẽ trong mọi lúc thông thường đều cẩn trọng) của Khổng Tử, hạ học mà thượng đạt, tức là dùng học hỏi, tri thức để tôn cao đức tánh, chẳng phải là cậy vào học hỏi để xếp xó đức tánh, cũng đáng gọi là Hiền. Như vậy, ngộ “đức tánh” như Tượng Sơn đă nói th́ đă là theo đuổi sự học hỏi. Ngộ “theo đuổi học hỏi, tri thức” như Tử Dương đă nói, đức tánh tự được tôn cao! Có thể nói là [ư kiến của hai ông] đều đúng, nhưng dường như Tượng Sơn là đốn ngộ, so với Tử Dương là tiệm tu, sẽ cao hơn một bậc!

Nhưng nếu chấp vào lời nói của Tượng Sơn, chẳng hiểu ư chỉ, th́ sẽ là suy nghĩ mà chẳng học, giống như kẻ cuồng Thiền hiện thời cùng bị hăm vào hầm hiểm nguy. Khổng Tử gọi đó là “nguy ngập”. Chấp lời nói của Tử Dương mà chẳng hiểu ư chỉ, sẽ là học mà chẳng suy nghĩ, sẽ giống như Giáo, Luật hiện thời chẳng thật sự chứng đắc! Khổng Tử bảo đó là “không đúng”, có thể nói là hễ sai th́ đều sai. Nhưng chẳng thật chứng th́ c̣n thông với sáu đường, chứ hăm vào hố hiểm, ắt đọa tam đồ. Tượng Sơn gây thói tệ so với Tử Dương c̣n gấp bội hơn nữa! Nếu xét theo hai cái học của hai ông để cứu đồ đệ của họ, cũng có hai lượt:

- Một là nghịch cứu, dùng thuốc của Tượng Sơn để trị bệnh của Tử Dương. Dùng thuốc của Tử Dương để trị bệnh của Tượng Sơn.

- Hai là thuận cứu, chấp lời của Tượng Sơn để nêu bày ư chỉ chân thật của Tượng Sơn. Chấp lời của Tử Dương để nêu bày ư chỉ chân thật của Tử Dương. Trọn chẳng bằng hướng theo nghĩa đầu tiên để thấu suốt th́ hai bệnh chẳng sanh, hai loại thuốc đều vô dụng.

Sau đó, đối ứng với Phật giáo để biện định tỉ mỉ. Trước hết, cần phải biết năm câu này:

1) Có khi cùng danh xưng mà nghĩa khác biệt.

2) Có khi danh xưng và ư nghĩa đều giống như nhau, nhưng quy vào chỗ cốt lơi khác biệt.

3) Lại cần phải biết hai thứ diệu nghĩa đối đăi và dứt bặt đối đăi.

4) Sau đó, ước theo Tích và ước theo Quyền để biện định, thâu kết lại.

5) Ước theo Thật, ước theo Bổn để dung hội, ngơ hầu vĩnh viễn diệt mất hư luận, mà tranh luận cũng tiêu.

Nói “có khi cùng danh xưng mà nghĩa khác biệt” th́ đối với hai chữ Đức Tánh và tám nghĩa vốn sẵn có trong đức tánh như rộng lớn, tinh vi v.v… Chỗ giống nhau là danh xưng Đức Tánh và các nghĩa như rộng lớn v.v… Chỗ khác biệt là Nho coi thiên mạng là Tánh. Tu sao cho trên là hợp với trời th́ gọi là Đức. Lăo th́ coi tự nhiên là như vậy, cưỡng gọi đó là Đạo, coi nó là Tánh. Lại c̣n quy vào “chẳng có danh, chẳng có vật” là Đức, một mực phán định là thiên thừa, vẫn chẳng trọn hết sự sai biệt nơi thiên đạo, sợ rằng chẳng ra ngoài pháp môn thuộc [các tầng trời] Tứ Vương, Đao Lợi v.v… Nh́n thấy [các tầng trời đó] xa cách nhân gian, bèn nói là tự nhiên,“vô danh, vô vật”. Suy xét cao hơn, bốn tầng trời Không Cư Thiên từ Dạ Ma trở lên cũng lấy tự nhiên làm Tánh. Do Dục Giới chưa đạt tới các môn Định và thượng phẩm Thập Thiện để làm Đức, Ma Thiên coi tương thông với mạng căn là tánh, rộng hóa hiện bảy báu, tăng thêm nhiều của báu, nữ nhân đẹp đẽ là Đức. Sơ Thiền Thiên coi thoát khỏi dục là Tánh, coi ly sanh hỷ lạc là Đức. Nhị Thiền Thiên coi siêu xuất giác quán[27]Tánh, coi định sanh hỷ lạc là Đức. Tam Thiền Thiên coi vĩnh viễn chẳng có hỷ thủy là Tánh, coi ly hỷ diệu lạc là Đức. Tứ Thiền Thiên coi bất động là Tánh, coi xả niệm thanh tịnh là Đức. Vô Tưởng Thiên coi nhất niệm bất sanh là Tánh, coi diệt tâm và tâm sở là Đức. Tứ Không Thiên coi siêu xuất cái lồng Sắc là Tánh, coi vi tế định tâm là Đức. Tạng Giáo trong Phật pháp coi Chân Đế là Tánh, coi trạch diệt vô vi là đức. Thông Giáo coi “các pháp vô sanh” là Tánh, coi Thể không trí quả (cái quả trí huệ do thấu hiểu Không) là Đức. Biệt Giáo coi “ĺa lỗi, tuyệt sai, chẳng phải Trung ĐạoTánh, chứng Pháp Thân, Bát Nhă, giải thoát là Đức. Viên Giáo lấy chân tâm thường trụ bất sanh, bất diệt, chẳng ngang, chẳng dọc, tam đức bí tạng là Tánh, nhất tâm tam trí diệu hợp lư Như Lai Tạng là Đức. Tuy có cùng danh xưng là Đức Tánh, nhưng ư nghĩa mỗi đằng mỗi khác. V́ vậy, trọn đủ tám nghĩa, thuận theo đó mà đều sai khác.

Nho chỉ coi sự sanh khởi mênh mông, bát ngát là rộng lớn, cho đến coi sự kính ngưỡng, phụng sự, chăm sóc, nuôi nấng là Lễ như trong phần trên đă nói. Lăo th́ coi “sanh trời, sanh đất” là rộng lớn, “mờ mịt, tối tăm” là tinh vi, coi thần quỷ, thần đế là cao minh, coi kết tụ tinh khí khiến cho thân thể nhu thuận là trung dung, trường tồn muôn đời là cũ, “sanh một, sanh hai, sanh ba, sanh vạn vật”[28] là mới, “trở lại sự thuần phác” là Hậu (sâu dày), “thủ thư, thủ hắc” (giữ lấy sự nhu nhược, giữ lấy cái đen tối)[29]Lễ. Các tầng trời như Dạ Ma Thiên v.v… đều coi cảnh giới tăng gấp bội là rộng lớn, sự thọ dụng mầu nhiệm gấp bội là tinh vi, chẳng nhờ vào mặt trời, mặt trăng là cao minh, dùng Thập Thiện để thâu nhiếp tán loạn là Trung Dung, thành tựu trước hết vào lúc kiếp sơ là cũ, quả báo biến hóa là mới, tùy thuận thiện tánh là Hậu, ba nghiệp trọn thiện là Lễ. Ma Thiên coi thống nhiếp Dục Giới là rộng lớn, vượt ngoài biến hóa và chẳng biến hóa là tinh vi, oai lực tự tại sống trên đỉnh Dục Giới là cao minh, chẳng ĺa trần lao là Trung Dung, ngộ cội nguồn của bổn mạng là cũ, tự tại hóa hiện là mới, bị lưới ái thâu nhiếp là Hậu, quyến thuộc trang nghiêm là Lễ. Mỗi tầng trời Tứ Thiền đều coi bỏ được nỗi khổ thô chướng của các tầng trời thấp hơn là rộng lớn, đạt được sự thoát ĺa tịnh diệu bậc thượng là tinh vi, an trụ trong chỗ thù thắng là cao minh, hành mười Thiền chi là Trung Dung, vượt thoát các kiếp lớn nhỏ là cũ, hỷ lạc xả thọ tương ứng là mới, cùng một Định thể là Hậu, vua, bầy tôi, dân chúng v.v… sai biệt là Lễ. Vô Tưởng Thiên coi chẳng có các tưởng gây chướng ngại là rộng lớn, Thể giống như gỗ, đá là tinh vi, cư ngụ cao hơn Tứ Thiền là cao minh, diệt tâm và tâm sở là Trung Dung, nửa kiếp đầu diệt là cũ, nửa kiếp sau sanh là mới, thuận theo tánh bất động là Hậu, theo thứ tự khiến cho tâm lự diệt mất như tro tàn th́ là Lễ. Tứ Không Thiên coi cái Thể giống như thái hư là rộng lớn, tâm và tâm sở vi tế là tinh vi, siêu việt trọn khắp sự trói buộc bởi Sắc là cao minh, chẳng ĺa tâm tưởng là Trung Dung, báo cảnh chẳng có thành, trụ, hoại, không là cũ, thọ dụng Thiền vị là mới, thuận theo vô sắc tánh là Hậu, theo thứ tự chứng nhập là Lễ. Tạng Giáo và Thông Giáo mỗi giáo đều có tam thừa. Tuy Thể Không Quán và Tích Không Quán khéo vụng khác nhau, cùng coi Vô Vi Niết Bàn, ĺa ngă và ngă sở, mênh mông như hư không là rộng lớn, vượt khỏi các hư luận vọng tưởng “đoạn, thường, có, không” là tinh vi, xa ĺa tam giới, thành tựu Nhất Thiết Trí là cao minh, nương theo Giới mà trụ, nương theo Niệm Xứ để hành đạo là Trung Dung, pháp tánh nhân duyên chẳng có tác giả là cũ, quán Đế Quán Duyên xuất sanh tam thừa đạo quả là mới. Nhị Thừa riêng coi việc dùng cảnh tỉnh, giác ngộ vô thường, cầu mau chóng xuất ly là Hậu, nhiếp thân, miệng, ư, giải thoát khỏi sự trói buộc của nghiệpLễ. Đại sĩ (Bồ Tát) riêng coi tự xót ḿnh, thương người, nguyện đều tế độ là Hậu, tam tụ tịnh giới, thượng cầu hạ hóa là Lễ. Biệt Giáo coi Vô Lượng Tứ Đế, nhân quả của mười giới là rộng lớn, duyên nhân và liễu nhân tu chứng Trung Đạo Phật tánh là tinh vi, Phật nhăn Chủng Trí siêu việt chín giới là cao minh, do cảnh nhân duyên, lần lượt tu Tam Quán là trung dung, Bổn Giác vô thỉ là cũ, hai thứ trang nghiêm công đức và trí huệ và mới, ba loại tâm Từ theo thứ tự là Hậu, lần lượt phụng sự chư Phật trải khắp chín giới, đủ loại nghi quỹ là Lễ. Viên Giáo th́ coi cái [tâm tánh hiện tiền] nhỏ bé trọn đủ ba ngàn [tánh tướng], tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, chẳng thiếu, chẳng thừa là rộng lớn, ba ngàn tánh tướng trọn đủ lẫn nhau, mỗi sắc, mỗi hương không ǵ chẳng phải là Trung Đạo là tinh vi, nhất tâm tam trí chiếu cùng tột pháp giới là cao minh, vô tác tứ niệm Nhất Tâm Tam Quán là Trung Dung, tùy duyên mà bất biến là cũ. Do vậy, hết thảy các pháp không ǵ chẳng có đủ trong tánh, tứcbất biến mà tùy duyên là mới. Do vậy, nhân quả Quyền Thật lập bày không có ngằn mé, tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt là Hậu. V́ thế, trên là phù hợp với vô duyên từ lực, dưới là phù hợp niềm bi ngưỡng đồng thể, nhưng hăm hở thường hành ban cho, cứu bạt, trên là phụng sự chư Phật, dưới là ứng với các căn cơ. Đó là Lễ. Do vậy, các nghiệp tánh, giá, hết thảy đều thành giới thể vô tận, đều gọi là vô thượng đạo giới. Đó là “danh xưng giống nhau mà nghĩa khác nhau”.

Nói tới “danh nghĩa đều giống như nhau, nhưng quy vào điều cốt lơi th́ khác biệt”, bất luận Nho hay Lăo, Sắc, Vô Sắc Định, cho đến Tạng, Thông, Biệt, Viên, muốn dùng chí đức để chứng đạo, ắt phải theo đuổi sự học hỏi để nâng cao [đức tánh]. Muốn có học vấn chân thật, ắt phải đề cao đức tánh để theo đuổi. Muốn chứng sự rộng lớn của đức tánh, ắt phải cùng tận sự tinh vi đến mức tột cùng. Muốn chứng sự tinh vi của đức tánh, ắt phải cùng tột sự rộng lớn để trọn hết. Muốn chứng sự cao minh của đức tánh, ắt phải vận dụng tột bậc Trung Dung. Muốn chứng Trung Dung trong đức tánh, ắt phải dùng sự tột bậc cao minh để tiến hành. Muốn chứng cái cũ nơi đức tánh, ắt phải dùng biết cái mới để ôn luyện. Muốn chứng cái mới nơi tánh đức, ắt dùng ôn luyện cái cũ để biết. Muốn chứng sự nồng hậu trong tánh đức, ắt phải dùng sự tôn sùng lễ để đôn đốc. Muốn chứng cái lễ nơi tánh đức, ắt dùng đôn hậu để đề cao. Đó gọi là danh và nghĩa đều giống nhau. Nhưng học hỏi như thế, mỗi đằng đều coi cái được họ đề cao là đức tánh. V́ thế, Nho đă trở thành bậc thánh trong nhân gian, sánh vai cùng trời, đất. Lăo trở thành bậc thánh trong thiên đạo, là mẹ biến hóa của vạn vật. Cho đến bậc thánh được thành tựu từ tam thừa của Tạng Giáo và Thông Giáo vĩnh viễn vượt khỏi sanh tử. Bậc thánh do Báo Thân viên măn mà thành tựu trong Biệt Giáo vĩnh viễn vượt ngoài phương tiện. Bậc thánh do Pháp Thân thanh tịnh mà thành tựu trong Viên Giáo th́ mới thật sự có thể cùng tận tánh. Đó là sự vĩnh viễn khác biệt khi quy vào điều cốt lơi.

Nói tới “hai thứ diệu trong đối đăi và dứt bặt đối đăi”, nếu đem người so với trời, đem Dục Giới so với Sắc Giới, lần lượt cho đến đem Biệt Giáo so với Viên Giáo, th́ ở ngoài sự rộng lớn ấy lại càng rộng lớn hơn, ở trong sự tinh vi lại càng tinh vi hơn, trên cao minh lại càng cao minh hơn, trong cái Trung Dung lại càng trung dung hơn. V́ thế, trước cái cũ lại càng cũ hơn, sau cái mới lại càng mới hơn, nồng hậu cũng càng nồng hậu, lễ cũng càng châu đáo hơn. Nếu dùng Viên để xem Biệt, dùng Biệt để xem Thông, cho đến dùng trời để xem người th́ rộng lớn, tinh vi v.v… sẽ đều là hữu danh vô nghĩa. V́ thế, từ dưới nh́n lên, cách truyền thừa nào cũng đều diệu. Từ trên nh́n xuống, pháp nào cũng đều thô. Đó là dựa theo sự đối đăi để nói diệu. Nếu dứt bặt đối đăi để nói diệu th́ là: V́ Thật mà hành Quyền, khai Quyền nhằm hiển Thật. Dù Biệt, dù Thông, dù Tạng, dù trời, dù người, đều rốt ráo đồng quy Nhất Thừa. Viên nhân nhận lănh pháp, chẳng pháp nào không viên, tức là pháp nào cũng đều diệu. Đă biết lư này th́ mới có thể luận định chọn lựa, thâu thập, có thể dung, có thể hội.

Sau đó là ước theo Tích, theo Quyền để chọn lựa, thu lấy v.v… Phân định th́ toàn là sai, Nho là pháp thế gian, Phật là xuất thế. Nho lại nói thiên mạng là tánh, kinh Dịch nói “Thái Cực sanh lưỡng nghi”, hoàn toàn thuộc loại “chẳng phải nhân mà coi là nhân”, chẳng biết chánh nhân duyên pháp, thuộc loại luận định theo kiến chấp. Chồng, vợ, cha, con v.v… ân ái lôi kéo, chằng buộc, thuộc về sự luận định theo ái. Đạo thuận theo trời, đạo pháp tự nhiên của Lăo Tử chính là vô nhân luận (luận thuyết cho rằng vạn sự tự nhiên mà có, chẳng có nguyên nhân), chẳng biết chánh nhân duyên pháp, cũng thuộc loại luận định theo kiến chấp! Thâu kết lại th́ trong pháp môn ngũ thừa, Nho thuộc nhân thừa. Ngũ Thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) như họ đă nói ứng hợp với Ngũ Giới. Các pháp khác ứng hợp phần nào với Thập Thiện, chưa hoàn toàn giống như pháp của đấng Kim Luân Vương. Lăo thuộc thiên thừa, chưa thấu triệt tận cùng thiên đạo, như trong phần trước đă nói. Xét đến cùng để nói, [Nho và Lăo] đều chẳng bằng xuất sanh tử của Tạng Giáo, huống hồ so với Thông Giáo, Biệt Giáo, và Viên Giáo ư? Nhưng đấy là ước theo Tích, ước theo Quyền [để luận định] đó thôi!

Nếu ước theo Thật, ước theo Bổn để dung hội, thánh nhân ở phương này là Bồ Tát hóa hiện, do Như Lai sai khiến. Kinh Đại Quán Đảnh nói: “Phật tiên khiển tam thánh, văng hóa Chi Na, sở lập táng pháp” (Trước hết, Phật sai ba vị thánh đến ứng hóa tại Trung Hoa, lập ra cách chôn cất). Đối với chỗ trọng yếu nhất của Nam Châu (Nam Diêm Phù Đề), nếu pháp hóa của ba vị thánh hăy c̣n, th́ chánh pháp của Như Lai cũng nhờ vào đó mà lưu hành. Nhưng sách Liệt Tử[30] đă chép trọn lời Khổng Tử tán thán Phật. Lăo Tử cưỡi trâu ra khỏi cửa ải, muốn tới thưa hỏi bậc Đại Giác. Tới chừng nghe Ngài đă thị tịch, bèn than thở quay về. Kinh sử đă chép rơ dường ấy. Người đời sau chẳng thấu đạt, lăng xăng dấy lên tranh căi, há hợp lư ư? Nhưng tam thánh chẳng nói đại lược giáo pháp xuất thế v́ cơ duyên chưa tới, chẳng thể không làm như vậy! Vả nữa, căn cơ ở Ngũ Thiên Trúc đă chín muồi, Phật bèn thị hiện giáng sanh. Thoạt đầu, xướng kinh Hoa Nghiêm, cả hội như điếc, câm. Không chỉ cần phải nói A Hàm để làm khởi đầu, dần dần [tiếp dẫn], mà c̣n kiêm lập giới thiện cho trời người để dẫn dắt trước, huống chi cơ duyên [của chúng sanh] nơi phương này xa đến một ngàn năm sau! Nếu nói pháp xuất thế, ai có thể tin tưởng? V́ thế, dùng Quyền Trí thị hiện dấu tích, chẳng thể không thị hiện giống như phàm phu, ngoại đạo, nhưng ngay như sách Nho cũng chưa từng chẳng tiết lộ cơ duyên mầu nhiệm. Các nhà Nho về sau chưa thể tự suy xét, mà cũng chẳng thấy được cửa nẻo, biết Quyền mà chẳng biết Thật! V́ thế, Khổng Tử than thở “Nhan Hồi hiếu học, nay cũng đă mất”, hiển lộ sâu xa kể từ Tăng Tử trở đi, đều là [những kẻ chỉ] biết Tích mà chẳng biết Bổn, biết Quyền mà chẳng biết Thật.

Sao nói là “tiết lộ cơ duyên mầu nhiệm?” Như phần Hệ Từ Truyện[31] của kinh Dịch có nói: “Dịch hữu Thái Cực. Thị sanh lưỡng nghi, lưỡng nghi sanh tứ tượng, tứ tượng sanh bát quái” (Dịch có Thái Cực, bèn sanh ra lưỡng nghi (âm và dương). Lưỡng nghi sanh ra tứ tượng (thiếu dương, thái dương, thiếu âm, thái âm). Tứ tượng sanh ra bát quái). Lời này rất đáng nên tham cứu tường tận. Phàm đă nói “Dịch có Thái Cực”, tức Thái Cực là cái được sở hữu bởi Dịch. Rốt cuộc Dịch là vật ǵ mà có Thái Cực? Nếu coi các nét vạch và lời chú gii các quẻ là Dịch, th́ đáng lẽ phải nói “Thái Cực sanh ra trời đất, trời đất sanh ra muôn vật, rồi mới có Phục Hy dựa vào đó mà vẽ thành các quẻ, Châu Văn Vương bởi đó mà viết lời Hệ Từ”, sao lại nói ngược là “Dịch có Thái Cực”. Đă là Dịch có Thái Cực, tức Dịch lư cố nhiên có trước Thái Cực. Nếu nó chẳng phải là Phật Tánh cội nguồn của chúng ta, th́ là vật nào vậy? Đă là cội nguồn Phật tánh, lại c̣n ở trước Thái Cực, há nên nói khinh mạn là thiên chi sở phú” (được trời ban cho) ư? Chẳng hiểu đấy chính là nói về tự tánh của cái tâm, nhưng gọi nó là Dịch đó thôi! Do phàm phu chấp trước Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh đă lâu, coi duyên ảnh của lục trần là tướng của tự tâm, trọn chẳng thể lănh hội được điều này. V́ thế, Tất Đàn thiện xảo đành phải gởi gắm một cách nhỏ nhiệm trong lời Hệ Từ.

Hăy nên biết Dịch chính là tánh Chân Như, có ư nghĩa “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Tuy ngầm nói là Dịch; nhưng cái Chân Như này chỉ có tánh đức, chưa có tu đức. V́ thế, chẳng giữ lấy tự tánh. Niệm bất giác dấy lên bèn có vô minh. Vô thỉ trụ địa vô minh ấy chính là căn bản của hai thứ sanh tử, ngầm gọi nó là Thái Cực. Do Minh được lập, mà tối tăm, mê muội là Không. Đối đăi với nhau thành phong luân dao động. Đấy chính là cái được gọi là “động nhi sanh Dương” (do động mà sanh ra Dương). Do vô minh kiên cố được lập , tạo thành kim luân có ngăn ngại. Đấy chính là cái được gọi là “tĩnh nhi sanh Âm” (do tĩnh mà sanh ra Âm) [trong kinh Dịch]. Gió và kim loại chà xát nhau, ánh lửa xuất hiện, chất báu sáng sạch [do lửa nung nấu] có thể sanh ra sự thấm ướt, tạo thành thủy luân thấm xuống dưới, tức là cái được gọi là “lưỡng nghi sanh tứ tượng”. Lửa bốc lên, nước tuôn xuống, va chạm, kích phát lẫn nhau mà lập ra cái kiên cố, tức là biển cả hoặc châu lục, là núi, hoặc là cây cối. Đó gọi là “tứ tượng sanh bát quái” cho tới sanh ra muôn vật[32]. Danh tướng hơi khác, đại thể là giống như nhau.

Thuận theo đó th́ sanh tử khởi đầu, trái ngược lại th́ luân hồi chấm dứt. V́ thế lại nói “Dịch nghịch số”, cũng là đă chỉ dạy mọi người đôi chút về ư chỉ xuất thế trọng yếu. Lăo Tử nói “đạo sanh thiên địa”, ư nghĩa cũng giống như vậy, nhưng vẫn chưa nói rơ “đó chính là tự tánh của cái tâm”, đều là v́ cơ duyên chưa chín muồi! Hơn nữa, câu nói trong Dịch Truyện “tịch nhiên, bất động, cảm nhi toại thông” (vắng lặng, bất động, hễ cảm liền thông) chính là cái Thể tịch chiếu bất nhị; c̣n câu “Càn Khôn kỳ Dịch chi môn” (Càn và Khôn là cửa ngơ của Dịch)[33] chính là hai phép tu quán Lưu Chuyển và Hoàn Diệt nghịch thuận. Do tánh giác diệu minh, Bổn Giác sáng ngời, mầu nhiệm, chẳng liên quan đến tu chứng, chẳng thuộc vào mê ngộ; nhưng mê th́ cái Thể của Chiếu trở thành tán loạn, cái Thể của Tịch trở thành tối tăm, trái nghịch ṭa thành Niết Bàn, thuận theo con đường sanh tử, hoàn toàn do hai môn Động và Tĩnh ấy. Đó gọi là “nghịch tu”, cũng gọi là “tu ác”. Ngộ th́ nhờ vào Động để giác sự tối tăm ấy, gọi đó là Quán; nhờ vào Tĩnh để thâu nhiếp sự tán loạn, gọi đó là Chỉ. Ngược ḍng sanh tử, thuận hướng tới biển Niết Bàn, cũng do hai môn Động và Tĩnh ấy, gọi là “thuận tu”, cũng gọi là “tu thiện”. Nhưng tu chia thành thuận và nghịch, tánh chẳng tăng, giảm. Lại nữa, tuy thiện, ác đều vốn sẵn có nơi tánh, nhưng đạo ắt thăng, trầm. Ư chỉ bí mật như vậy há khác ǵ viên tông?

Bồ Tát hiện thân, chắc chắn chẳng phải là nói suông. Cứ học theo mà chẳng suy xét, lỗi tại các nhà Nho về sau. Hơn nữa, đă biết lời đàm luận bí mật của đức Tuyên Thánh (Khổng Tử), cũng như đă nắm được diệu chỉ “khai, hiển” của Pháp Hoa, sẽ liền có thể giải thích Trung Dung chính là Phật pháp viên đốn. [Nho gia nói] “thiên mạng chi vị tánh” (thiên mạng được gọi là tánh), “thiên” chẳng phải là hướng tới bầu trời xanh thăm thẳm, cũng chẳng phải các tầng trời Đao Lợi, Dạ Ma v.v… mà chính là Đệ Nhất Nghĩa Thiên trong kinh Niết Bàn. Đừng hiểu Mạng là “mạng lệnh”, mà chính là cái t́nh kiến hư vọng, chấp tŕ sắc thân liên tục bất đoạn nơi thức thứ tám, tức là sanh diệt và chẳng sanh diệt ḥa hợp mà trở thành A Lại Da Thức. Thức y chính là tánh hữu sanh, do toàn chân khởi vọng, nên “thiên” lại được gọi là “mạng”. Do toàn vọng là chân, Mạng lại được gọi là Thiên. Toàn chân khởi vọng, tức là bất biến mà tùy duyên. Toàn vọng là chân, tức tùy duyên mà bất biến. “Suất tánh” (bản chất của tánh) được gọi là Đạo. Trong tạng tánh ấy có hết thảy các chủng tử nhiễm, tịnh, thiện, ác. Nếu toàn là chủng tử ác nhiễm dấy lên hiện hành, th́ chính là đạo của tiểu nhân, cũng gọi là “nghịch tu”. Nếu chủng tử thuần tịnh thiện trong tánh khởi lên hiện hành, sẽ là đạo của quân tử, cũng gọi là “thuận tu”. [Câu nói] “đạo nhị, nhân dữ bất nhân nhi dĩ hỹ” (Đạo có hai loại là nhân và bất nhân mà thôi) hoàn toàn phù hợp ư này, mà cũng phù hợp tông chỉ “tánh trọn đủ” của tông Thiên Thai.

Tu đạo được gọi là Giáo. Đạo của tiểu nhân cần phải trừ cho hết; đạo của quân tử cần phải tu tập viên măn. Đấy chính là giáo pháp của thánh hiền, chỉ mong con người sẽ trái ngược nghịch tu, quy phục thuận tu, tức là do “tùy duyên” mà ngộ “bất biến”. Ba câu hợp lại thành điều cốt lơi, chánh đáng từ đầu đến đuôi. Phàm mỗi câu, mỗi chữ, đều có thể quy trọn vào chí lư. Nói tóm lại, nếu nắm được ư chỉ “khai, hiển” của kinh Pháp Hoa, th́ đối với các ngôn ngữ xử sự trong cơi đời, các sản nghiệp để sinh sống, thậm chí cười đùa, giận chửi, ca khúc diễm lệ, thi từ t́nh tứ, vẫn thuận theo chánh pháp Thật Tướng, huống hồ các lời đàm luận lư tánh trong thế gian ư? Đấy chính là Trung Dung của Trí Húc, chẳng phải là Trung Dung của Tử Tư[34]. Như thiền sư Đại Huệ Tông Cảo coi ba câu ấy chính là ba thân Pháp, Báo, Hóa, cũng chỉ là Trung Dung của Tông Cảo. Nếu Tử Tư thật sự biết Trung Dung của Tông Cảo, Trí Húc, Khổng Tử sẽ vội ấn khả ngay, sao đến nỗi v́ Nhan Uyên chết mà đau ḷng xót dạ, tự nói là “thiên táng” (trời chôn vùi [đạo của ta]), lại c̣n tưởng nhớ. Lại c̣n than “kim dă tắc vong” (nay đạo của ta đă mất) ư?

Xưa kia, Mạnh Tử đă lần lượt trần thuật cái đạo hiểu biết do thấy nghe, bèn kết lại rằng “nhiên nhi vô hữu hồ nhĩ, tắc diệc vô hữu hồ nhĩ?” (Nhưng không có người kế thừa [đạo của Khổng Tử] như thế, thật sự cũng chẳng có người được như thế ư?), tức là Mạnh Tử c̣n chẳng chịu chấp nhận Tăng Tử hay Tử Tư là bậc thấy biết, huống hồ Khổng Tử [lại chấp nhận họ là kẻ thấy biết ư]! Ngài dùng nhất quán để truyền, nhưng chỉ dạy đích xác sự học hỏi chân thật nhằm đề cao đức tánh như thế. Đấy chính là phương cách để ra tay, giở chân (tức phương cách để thực hiện), chẳng phải là “tin tức khi đă về đến nhà” (hàm ư: Chẳng phải là tin tức chân thật nơi kết quả tối hậu).

Lại nữa cái Nhất thuộc Quyền Lư (tức “nhất” trong câu nói “ngô đạo dĩ nhất nhi quán chi”) nơi Tích chẳng phải là cái Nhất nơi Thật Lư thuộc Bổn. Nay dựa theo bổn ư lập giáo của tam thánh, có thể nói thẳng thừng là “tương đồng” cũng được, do không ǵ chẳng phải là v́ Thật mà hành Quyền. Xét theo sự lập bày môn đ́nh của tam giáo, có thể nói thẳng thừng là “khác biệt” cũng được, do Nho và Lăo chỉ nói Quyền Lư, lại hạn cuộc trong đường trời người. Phật nói Quyền, nói Thật, đều là v́ xuất thế. Xét theo Quyền th́ công phu giống nhau, nhưng xét đến rốt cuộc th́ khác biệt, nên nói “vừa giống, vừa khác” cũng được. Xét theo Thật th́ Bổn chẳng hoại Tích, Tích chẳng che giấu Bổn, nên nói “chẳng giống nhau, chẳng khác nhau” cũng được.

Thiền sư Tinh Cốc Thọ nói: “V́ người ngoài cửa nói là giống nhau, Nếu không, sẽ bị coi là dị đoan. V́ người đă nhập môn mà nói khác; nếu không, sẽ rơi vào tập khí cũ. V́ người đă thăng đường mà nói cũng giống nhau, cũng khác nhau, do kiến Lư chưa chắc chắn. Cần phải phân tích tỉ mỉ, khiến cho biết trong giống nhau có khác nhau, trong khác nhau có giống nhau. V́ người đă nhập thất mà nói chẳng giống nhau, chẳng khác nhau. Thô ngôn hay tế ngữ đều là Đệ Nhất Nghĩa, há lại có Nho hay Thích để luận ư? Hiểu được lời ấy, do thứ tự của nó thuận theo Tứ Tất Đàn, nhưng luận định cặn kẽ theo phương tiện thuyết pháp th́ trong bốn câu, mỗi mỗi đều trọn đủ Tứ Tất Đàn, lại quư khi gặp đúng lúc bèn khéo dùng. Chớ nên cố chấp lời ấy, khiến cho nó trở thành pháp chết cứng!

 

* Đáp hai mươi hai câu hỏi về kinh Đại Phật Đảnh (đính kèm câu hỏi)

 

1) Hỏi: A Nan và Ma Đăng Già cùng nhờ vào sức thần chú, sao Ma Đăng Già chứng Tam Quả trước, A Nan về sau mới đắc Pháp Thân?

          Đáp: Như Lai nói pháp, hiền, ngu, lợi độn, chứng ngộ trước sau, muôn phần chẳng như nhau, chuyện này há đáng nghi ư? Nếu luận theo bổn địa của hai vị ấy, đều là bậc Đại Quyền phát khởi. Ngộ có trước, sau, đều nhằm làm gương cho chúng sanh. Nếu luận theo Tích, Ma Đăng Già dục hừng hực, phải gấp đối trị trước. A Nan viên giải chưa khai, phải nói rơ mới ngộ. Nếu chẳng tiêu dục tâm, A Nan sẽ do đâu mà được thoát? Nếu A Nan chứng trước, đại giáo sẽ do đâu mà được khơi mở? Quán Tích biết Bổn, cũng chẳng phải là hai lẽ!

          2) Hỏi: Do tâm sanh nên đủ loại pháp sanh. Do pháp sanh, nên đủ loại tâm sanh. Nếu pháp là trước, cớ sao tâm sanh th́ pháp sanh? Nếu là tâm trước, cớ sao pháp sanh th́ tâm sanh? Nếu tâm và pháp là một, cớ sao lại do lẫn nhau? Nếu là hai, rốt cuộc cái nào trước, cái nào sau?

          Đáp: Tâm và pháp vốn chẳng phải là một hay khác! Do chẳng phải là một, có thể nói vọng t́nh là do tướng. Do chẳng phải là khác, nên chẳng có trước sau, như nước và băng có cùng một tánh ướt. Nếu hỏi ướt và nước, băng, cái nào có trước, có sau, sẽ trọn chẳng thể được! Nhưng ước theo mê và vọng, có thể trong cái chẳng có trước sau mà cưỡng nói trước sau. Tánh giác ắt minh, vọng là minh giác, tâm sanh th́ pháp sanh, dẫn khởi trần lao phiền năo v.v… pháp sanh th́ tâm sanh. V́ thế nói: Ba thứ Hoặc, nghiệp, khổ dựa vào lẫn nhau, cho tới vọng minh chẳng dấy lên, tánh giác cũng chẳng mang tên gọi là “tâm tánh”. Đă có thể gọi là tâm, mà cũng có thể gọi là pháp. Do vậy là pháp tánh, pháp giới, pháp trụ, pháp vị. Hăy nên biết: Tâm và pháp đều là giả danh, thật sự chẳng có hai Thể. Chẳng hai mà hai, bất biến tùy duyên. Hai mà chẳng hai, tùy duyên bất biến. Do vậy, hai lời ấy tuy một mực ước theo phương diện mê, thật sự hiển thị ư chỉ “ngoài tâm chẳng có pháp; ngoài pháp chẳng có tâm”. Bởi mê th́ không chỉ vọng tâm và vọng pháp dường như có hai thứ khác biệt, tức là toàn thể chân tâm và chân pháp trở thành hai thứ vọng, như hoa đốm h́nh thành trên hư không, nước đóng thành băng, sợi gai thành rắn. Nếu ngộ th́ không chỉ chân tâm, chân pháp trước nay chẳng hai, mà ngay cả toàn thể vọng tâm và vọng pháp đều quy vào Nhất Chân, như hoa đốm vốn là không, băng chính là nước, rắn tức là gai vậy!

          3) Hỏi: A Nan tự nói tức năng suy giả, ngă tương vi tâm” (con coi cái có thể suy luận là tâm); v́ sao phán định đó chỉ là “cái được suy luận”?

          Đáp: Chúng sanh mê muội, ngỡ chính ḿnh là vật, coi vật là chính ḿnh, đều là coi Sở thành Năng. Nếu thấu đạt cái tánh có thể suy diễn, chàng Diễn Nhă ngộ cái đầu [hiện bóng trong gương là cái đầu của chính ḿnh] sẽ chẳng điên cuồng bỏ chạy. Sách Văn Cú giải thích “cái có thể suy diễn” là tâm như sau: “Tuy A Nan coi cái có thể suy diễn là tâm, thật ra đó là h́nh bóng của cái được suy diễn, chẳng phải thật sự là cái có thể suy diễn. Cái có thể thật sự suy diễn tuy là Kiến Phần của thức thứ sáu, tức Ư Thức, nhưng cái Kiến Phần ấy chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, vốn ĺa lỗi, dứt sai, như mắt chẳng thể thấy mắt, sao có thể nêu ra coi như là giống nhau được, mà nói là “con coi cái có thể suy diễn là tâm” ư? V́ vậy, Như Lai quở rằng: - Ông chấp cái tánh được hiểu biết do phân biệt, giác quán là tâm”. Cái tâm ấy hễ ĺa sắc, hương, vị, xúc, sẽ chẳng có toàn tánh, rơ ràng là nói cái tánh được biết rơ ấy chẳng phải là tánh có thể biết. Kinh Viên Giác [quở trách kẻ] lầm nhận duyên ảnh của sáu trần là tướng của tự tâm; kinh này (kinh Lăng Nghiêm) nói về cái tưởng hư vọng đối với tướng tiền trần[35] đều là vật. Ngài A Nan nói: “Ly thử giác tri, cánh vô sở hữu” (Ĺa sự hay biết ấy, trọn chẳng có ǵ). Há chẳng phải là cho rằng duyên khí[36] chính là giác tri ư? Duyên khí là h́nh ảnh của cái được biết, chẳng phải là Kiến Phần có thể biết, có thể cảm nhận, do Kiến Phần trước nay vô tướng, Kiến Phần vô tướng mà lầm tưởng là hữu tướng, liền thấy [sợi dây thừng] thành rắn. Nếu hiểu rơ Kiến Phần tuy vọng, thật sự vốn là vô tướng, th́ Y Tha lập tức tiêu quy vào Viên Thành. Do vậy, tông Thiên Thai chuyên lập thức thứ sáu là cảnh được quán. Ví như dùi gỗ sanh ra lửa, lửa liền đốt gỗ, hợp với các cách nói “Thức Ấm vốn là Như Lai Tạng, thức biết rơ, giác minh chân thức trong kinh này, chẳng khác nào Không hợp với Không, nước hợp với nước, đó là “chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật. Chẳng động một bước mà về nhà đă lâu”, thật sự là pháp ấn viên đốn vô thượng. Ngài A Nan chưa chứng Sơ Quả, hoàn toàn phạm lỗi “chẳng có tâm mà so đo là tâm” của phàm phu, ngoại đạo! Như Lại gạn hỏi để phá trừ đủ mọi cách, bất quá “muốn t́m tâm mà trọn chẳng thể được” đó thôi!

          4) Hỏi: Duyên tâm hiện có tác dụng, v́ sao phán quyết “chẳng thể suy luận?” Kinh dạy: “Nhữ đẳng thượng dĩ duyên tâm thính pháp” (các ông vẫn dùng tâm duyên theo các trần để nghe pháp), đấy cũng là chấp thuận duyên tâm có thể nghe ư?

          Đáp: Dùng từ ngữ Danh Sắc sẽ có thể gồm trọn hết thảy các pháp. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều là Sắc. Thọ, tưởng, hành, thức đều là Danh. “Danh” chỉ có tên gọi, chẳng có sắc tướng. Do vậy, tám tâm vương, năm mươi mốt tâm sở, Tướng Phần của chúng đều là sắc, Kiến Phần đều là Danh. Kinh dạy: “Vọng hữu duyên khí, ư trung tích tụ, giả danh vi tâm” (Hư vọng có duyên khí tích tụ trong ấy, giả gọi là tâm). Kiến Phần chỉ có Danh, v́ sao có thể gọi là Khí, có thể tích tụ trong ấy? Duyên khí tích tụ tức là một món vật, một món vật tức là Tướng Phần. Duy Thức nói: “Do Tướng Phần theo Lư th́ không có tác dụng năng duyên”. A Nan cho đó là cái có thể duyên (năng duyên), cũng như cho rằng mắt có thấy, phù trần nhăn ắt chẳng thể thấy, duyên ảnh tâm ắt chẳng thể biết. V́ thế, [đức Phật] phá [kiến chấp ấy] rằng “c̣n dùng duyên tâm (cái tâm duyên theo ngoại trần) để nghe pháp, tức là nói duyên tâm là duyên khí, cũng gọi là Phong Đại, chắc chắn chẳng có công năng nghe pháp, há c̣n lầm tưởng là có thể nghe pháp ư? Đó là từ pháp âm của ta (đức Phật) làm duyên, khởi lên h́nh bóng của pháp âm, chẳng phải là tâm tánh như ta đă nói. Cổ nhân nói: “Chính là hư không có thể giảng”, nay lại phỏng theo đó để nói: “Chính là hư không có thể nghe”. “Như thế nào” đến chỗ này đă tiết lộ chẳng ít, biết tôi, trách tội tôi, chưa rơ là người nào vậy?

          5) Hỏi: A Nan đạt được Pháp Thân, nhưng chẳng giải thoát. Phú Lâu Na đắc La Hán, vẫn có ngờ vực, hối hận. Nếu chỉ ngộ Lư, há có Sự ở ngoài Lư? Nếu chỉ là trừ sạch các chướng ngại về mặt Sự, há có Lư ở ngoài Sự? Nếu Lư chướng th́ dùng Lư để trừ, Sự chướng th́ dùng Sự để dứt, [hai cách trừ chướng ấy] chẳng nhiếp thuộc lẫn nhau, sao trở thành viên tông cho được?

          Đáp: A Nan Phiền Năo Chướng nặng nề, Măn Từ (Phú Lâu Na) Sở Tri Chướng nặng nề. Do Lư và Sự chẳng hai mà là hai, nên chia thành Căn Bản và Chi Mạt. Như rễ, cành, lá của cái cây cùng thuộc đại địa tứ vi, cũng tự chẳng phân biệt mà phân biệt. A Nan chặt rễ, cành lá vẫn c̣n xanh. Măn Từ khô cành, rễ chưa nhổ. C̣n như hai câu “Lư chướng th́ dùng Lư để trừ…” lại áp dụng chung cho cả bốn giáo, chớ nên thẳng thừng coi phiền năo là Sự chướng, coi sở tri (những ǵ chính ḿnh hiểu biết) là Lư chướng. Giới nội, giới ngoại[37], mỗi đằng đều luận định hai hạnh Sự và Lư.

          6) Hỏi: Trong quyển ba, ngài A Nan đă đạt được Pháp Thân, v́ sao lại nhiều lượt cầu khai thị? Trong quyển bốn, Ngài nghi hoặc đă tiêu trừ, tâm ngộ Thật Tướng, nhưng lại như người lang bạt, được nhà c̣n t́m cửa, gần như Pháp Thân ở ngoài cửa ư?

          Đáp: Pháp Thân chẳng có được, mất, trọn chẳng có trong, ngoài. Chỉ do mê hay ngộ mà có sai khác, thuận theo đó mà chia thành tu chứng sai biệt. Tuy xét theo tu chứng, chẳng trở ngại tánh chân, như hư không chẳng phải là trượng, thước; nhưng trượng, thước hiển lộ hư không. [Ngài A Nan] “đạt được Pháp Thân” như trong quyển ba [đă nói] là nói theo tương tự giải hạnh. Trong quyển thứ tư, Ngài cầu thỉnh nhập môn là xét theo phần chứng TĐoạn. [Do vậy] chẳng trái nghịch! Cổ nhân nói: “Đạo khoáng vô nhai, phùng nhân bất tận” (Đạo rộng mênh mông không bờ bến, gặp người chẳng tận). [Trong kinh ấy, ngài A Nan] đại ngộ mười tám lần, tiểu ngộ chẳng đếm được số. Đấy là lư do A Nan nhiều phen khai ngộ, chốn chốn trần thuật nỗi nghi, trọn chẳng ở trong cảnh chưa trọn đủ mà nẩy sanh ư tưởng “đă trọn đủ”. Đáng than đời Mạt tu mù luyện đui, trong hoàn cảnh tĩnh lặng, hễ đạt được quang cảnh một hai phen lục trần vừa dứt, liền ngỡ là đă trăm ngàn phần thỏa đáng! Tự lầm, lầm người, ngay cả tương tự Pháp Thân c̣n chưa mộng thấy, huống hồ đích thân liếc thấy cửa của ṭa nhà lộng lẫy ư? Phật pháp chẳng phải là đạo lư ấy. Hăy cẩn thận!

7) Hỏi: Hai vật đất và nước, tánh vốn là Chân Không, cớ ǵ cứ phải bỏ bùn đất để giữ lấy nước trong?

          Đáp: Nước và đất chẳng ra ngoài hư không, ví như Thập Giới, Ngũ Ấm chẳng ĺa tạng tánh. Nay dùng nước trong để sánh ví Ngũ Ấm thuộc Phật giới trong chín giới. Dùng bùn đất để sánh ví Ngũ Ấm thuộc chín giới trong Phật giới. Ắt phải vứt bỏ ô trược trong chín giới để thành sự thanh tịnh của Phật giới. Nếu đất, bùn chẳng trừ khử, tự tánh chúng sanh ắt chẳng độ được, tự tánh phiền năo ắt chẳng đoạn được! Nếu chẳng ắt giữ lấy nước trong th́ tự tánh pháp môn ắt chẳng học được, tự tánh Phật đạo ắt chẳng thành được! Chấp tánh phế tu, trở thành đại tà kiến!

          8) Hỏi: Đă là dùng pháp có thể thực hiện để sánh ví tướng sanh diệt của mười tám giới, dùng hư không để sánh ví tánh bất sanh bất diệt của Như Lai Tạng, v́ sao lại dùng chuyện đất gieo vào nước để sánh ví những vị như A Nan thân đang ở trong ngũ trược, dùng chuyện khử bùn ḥng có thuần nước trong để sánh ví thường, lạc, ngă, tịnh của Như Lai? Sách Văn Cú tuy cho rằng ngũ trược thích hợp để sánh ví, do nước tinh thuần ứng hợp với thí dụ về hư không, sao Như Lai chẳng thẳng thừng nương vào tạng tánh như hư không để làm cái gốc tu nhân, mà lại riêng dạy “gạn đục, khơi trong” vậy?

          Đáp: Kinh nói “như trừng trược thủy, trữ ư tịnh khí” (như lắng trong nước đục, chứa trong đồ đựng thanh tịnh). “Khí” (, đồ đựng) ví như mười tám giới, bảy đại[38]. Đồ đựng rỗng không bên trong, ví như mười tám giới và bảy đại đều là tạng tánh. Mười tám giới và bảy đại đều là cảnh được quán, dùng đồ đựng để sánh ví. Trong cảnh vốn sẵn có diệu đế, nên dùng đồ đựng rỗng không để sánh ví. Đối với cái trí có thể quán cảnh đế, dùng nước được chứa đựng để sánh ví. V́ nước ví như Kiến Phần, đất ví như Tướng Phần. Kiến Phần của chúng sanh thuộc lục phàm ắt phải giữ lấy tướng Đồng Cư Độ. Kiến Phần của chúng sanh Nhị Thừa ắt giữ lấy tướng Phương Tiện Độ. Kiến Phần của Bồ Tát chúng sanh ắt giữ lấy tướng Thật Báo Độ. V́ thế, đều là ô trược. Chỉ có Kiến Phần của Phật trực tiếp duyên Chân Như, chẳng c̣n kèm theo tướng hư vọng luyến mến, vướng mắc trong ba cơi, như đồ chứa nước bên trong rỗng không. Cho tới tướng sáng tinh thuần tức là tám thức chuyển thành bốn trí. Do Căn Bản Trí chẳng có Tướng Phần, nên gọi là “khử bùn thuần nước”. Do Hậu Đắc Trí có thể hiện tướng, gọi là “hết thảy biến hiện”. Tuy có biến hiện, vẫn là vô lậu. V́ thế nói là “chẳng là phiền năo”, đều ứng hợp với diệu đức thanh tịnh của Niết Bàn. Do vậy, biết là dùng hư không để sánh ví tánh chẳng sanh diệt. Hễ chứng, sẽ thành công đức vô vi vô lậu, tức là Pháp Thân, cũng tức là “tịnh phần chân thật tánh” được nói trong Đại Thừa Chỉ Quán. Dùng thuần nước trong để sánh ví Tứ Trí Bồ Đề nơi Phật quả. Hễ chứng, sẽ thành công đức hữu vi vô lậu, tức là Báo Thân, cũng tức là “tịnh phần y tha tánh” trong Đại Thừa Chỉ Quán. Duy Thức nói nó thuần vô lậu, cũng có thể quy nhiếp vào Viên Thành Thật Tánh. Dùng hết thảy biến hiện để sánh ví công đức lợi tha của Phật quả; đó là gọi là anh nhi hạnh, bệnh hạnh v.v… tức là Hóa Thân, cũng tức là “tịnh phần phân biệt tánh” trong Đại Thừa Chỉ Quán. Theo thứ tự, phối ứng với Tam Niết Bàn, Tam Bồ Đề[39], tam đức bí tạng, đều không ǵ chẳng được! Phật ngữ xảo diệu, Phật ư sâu xa, há do vài lời, chút nghĩa mà có thể nói trọn hết được ư?

          9) Hỏi: Không ví như Niết Bàn tức là liễu nhân đă được hiểu rơ. Nước ví như Bồ Đề, vẫn là cái được sanh bởi sanh nhân, há có phải đều là cái Thể vốn thanh tịnh hay chăng? Lại nữa, hư không chẳng có ngằn mé, nước có bến bờ, khác nào lư Niết Bàn trọn khắp, mà trí Bồ Đề chẳng trọn khắp ư?

          Đáp: Nước trong vốn chẳng phải được sanh bởi sanh nhân. Do trong nước đục vốn sẵn tánh nước trong, cho nên lắng đục sẽ trong, có thể sánh ví chuyển thức thành trí. Chỉ là chuyển đổi cái tên, chẳng có thật tánh. V́ thế, chẳng giống như cách nói quyền biến của Tướng Tông. [Suy xét] ngằn mé của hư không và nước, quán tướng của chúng vốn là vọng. Tánh nước chân không, tánh không chân thủy, vốn sẵn thanh tịnh, b́nh đẳng trọn khắp pháp giới.

          10) Hỏi: Ngài A Nan đă đắc Pháp Thân nơi địa vị Tương Tự, cớ sao nghe mà chẳng hiểu rơ, tự phát khởi, lời lẽ vẫn là nghi kiến thính ly trần, tất cánh vô Thể” (thấy, nghe nếu ĺa Trần, sẽ rốt ráo chẳng có Thể), ngỡ đó là đoạn diệt? Thoạt đầu, [khi được đức Phật] gạn hỏi cái tâm đang mê, Ngài đă ngộ tánh chân, sao chẳng dùng những điều đă được chỉ bày trước đó làm lệ [để phỏng theo mà suy ra]?

          Đáp: Khi ấy, A Nan đă đoạn Kiến Hoặc, biết sáu căn hư vọng, chẳng có ngă và ngă sở, chẳng chấp duyên ảnh là tâm, nhưng Tư Hoặc và vô minh chưa đoạn. V́ thế, Ngài muốn vứt bỏ vọng, cầu chân, chưa thể hiểu “vọng chính là chân”. Đối với hai nghĩa quyết định, dụng ư là tu Quán nơi Định cảnh. Ví như lắng chất đục bèn được nước trong, chẳng bỏ nước đục để cầu nước trong chi khác. Ngài A Nan chấp tướng ô trược trong hiện tiền, nghi nó chẳng có tánh “nước trong”, chẳng biết tánh nước trong ở ngay trong nước đục. Kinh Chiêm Sát nói: “Sơ tâm ưng tiên tập Duy Tâm Thức Quán” (sơ tâm hăy nên tu tập Duy Tâm Thức Quán trước). Trong sách [Đại Thừa] Chỉ Quán, ngài Nam Nhạc cũng răn “chẳng được quán ngay vào Viên Thành”. Ấy là v́ tánh Viên Thành hoàn toàn ở trong Y Tha và trong phân biệt. Ĺa phân biệt hiện tiền và cảnh Y Tha, sẽ chẳng có tánh Viên Thành Thật để có thể đạt được! Toàn bộ nước thành sóng, ngoài sóng chẳng riêng có nước! Nhà Thiền thời Mạt mê muội diệu chỉ của phép tu Quán nơi Định cảnh, ĺa ngoài Sự cảnh để cao luận Lư tánh. Lư tánh bị so đo, hoàn toàn trở thành phân biệt. Đó gọi là “chưa chứng vô vi mà biện định Viên Giác, tánh Viên Giác sẽ giống như lưu chuyển”. Phân biệt chừng bằng hào ly, cách biệt như trời với đất! Ngài A Nan biết rơ thói tệ này nên mới nêu ra nghi vấn ấy!

          11) Hỏi: Long vương, hà nữ, thần hư không có thể lắng nghe, cảm nhận sự tiếp xúc, chẳng thuận theo phù trần[40], [vậy th́] trụ trong thắng nghĩa như thế nào? Nếu chẳng có thắng nghĩa, sẽ chẳng nên là phàm. Hơn nữa, thắng nghĩa căn có chỗ chứng tri hay không?

          Đáp: Thắng nghĩa nương vào phù trần, là ước theo mê vọng để nói. Rồng dùng sừng để nghe, thắng nghĩa bèn nương theo sừng. Thần sông dùng mũi, cũng có thể phỏng theo lệ đó mà suy. Không Thần (thần cai quản hư không) chẳng có nghiệp quả thô sắc, nhưng có Định quả sắc, nương theo đó cảm nhận, tiếp xúc. Nhưng đoạn kinh văn này chính là để hiển thị tánh của sáu căn chẳng dựa theo phù trần căn và thắng nghĩa căn. Dù phàm hay thánh, lư ấy chẳng hai, chẳng phải là nói “chẳng có thắng nghĩa th́ chính là thánh, có thắng nghĩa tức là phàm”. Nhưng phàm phu mê chính ḿnh, ngỡ là vật, lại tưởng vật là chính ḿnh. Do vậy, có thấy, nghe, hay, biết, ắt đều nhờ vào phù trần căn và thắng nghĩa căn. Thánh nhân trái trần, hợp giác, toàn thể trần là giác. V́ có thể nhờ vào căn để tỏ lộ, sáu căn dùng lẫn cho nhau, nói “thánh chẳng có sáu căn” cũng được, mà nói “thánh mới có sáu căn” cũng được! C̣n như thắng nghĩa căn của phàm phu chỉ có thể do so sánh mà biết. Nếu chẳng có sáu căn, sẽ trọn chẳng sanh khởi thức, như đèn chẳng có tim, ngọn lửa sẽ chẳng sanh. Ngọn lửa chỉ chiếu sáng nơi khác, chẳng soi sáng tim đèn.

          12) Hỏi: Như Nhĩ Căn, những ǵ là thức thứ sáu, thức thứ bảy, và thức thứ tám? Lại từ Văn, Tư, Tu, th́ Tư thuộc vào thức thứ sáu, dụng tâm như thế nào? Lại biện định điều này như thế nào? Tư nơi thức thứ bảy và thức thứ tám lại như thế nào?  

Đáp: Hai thứ phù trần căn và thắng nghĩa căn của Nhĩ Căn đều là Tướng Phần của thức thứ tám. “Văn tinh” (聞精)[41] tức là Kiến Phần của thức thứ tám. Thức thứ bảy và thứ tám vốn sẵn duyên với nhau. Nương vào thức thứ bảy, lại phát sanh thức thứ sáu tức Ư Thức, cùng với Nhĩ Thức do Nhĩ Căn phát khởi đều cùng duyên Thanh Tướng. Đó là duyên khởi của tám thức tướng. Chữ Tư () trong Tư Tu (思修) chính là quán kỹ nơi tánh Nghe, tức Không, tức Giả, tức Trung, chẳng thuận theo Thanh và Sắc mà lưu chuyển. Điều này tuy có cùng danh xưng với Tư trong năm món Biến Hành[42], nhưng thật ra, nó tương ứng với Diệu Quán Sát Trí, lại cùng khởi với Huệ trong Biệt Cảnh[43], cũng như giúp đỡ các tâm sở thiện như Tín v.v… V́ thế gọi là Tư Huệ. Nếu giải thích Tư theo lối thông thường, ắt sẽ coi tâm tạo tác là tánh, coi các thứ thiện phẩm bị tâm sai sử là nghiệp, tương ứng với thức thứ sáu, giống như nó duyên trọn khắp tam lượng. Tương ứng với thức thứ bảy, giống như nó chỉ duyên nội ngă. Tương ứng với thức thứ tám, giống như nó chẳng thể biết chỗ chấp thọ. Đó là sự sai biệt nơi tướng của Tư vậy!

          13) Hỏi: Sơ tâm, khi xoay lại tánh Nghe, lại bị sắc, hương, vị, xúc, pháp lôi kéo, tác động, chẳng rơ là nó từ ngay nơi cảnh mà đả phá các thứ ấy để nhập chân lưu? Hay là trở về bổn căn để nhập chân lưu?

          Đáp: Bị các món trần khác lôi kéo, tác động, chỉ là do công phu chưa đắc lực, kiến địa chẳng rơ ràng! Nếu Nhĩ môn có thể ngộ viên thông thường, dùng cái viên thông thường ấy để quán, mỗi pháp được trải qua sẽ đều là Nhĩ Môn tam-muội. V́ thế nói: “Đấy là vi trần Phật, nhất lộ Niết Bàn môn”. C̣n như đối trị theo chiều thuận hay đối trị theo chiều nghịch, tùy theo ư thích, tùy theo sự thích hợp, tùy theo sự đối trị, tùy theo lư, chớ nên chấp trước một đằng! Sách Ma Ha Chỉ Quán lập ra mười cảnh, trước hết là quán Ấm tâm, các giới nhập và chín cảnh sau đó đợi chúng phát khởi rồi mới quán. Biết lệ ấy, điều cốt yếu trong tu tâm là chẳng khóc nơi ngơ rẽ vậy!

          14) Hỏi: Hai thứ thân và tâm đều xả trừ, lấy ǵ để tu nhập Tam-ma-địa, há lại riêng có một thân tâm ư?

          Đáp: Cái tâm chấp ngă chính là cội gốc sanh tử. Do cái ngă chấp ấy bèn yêu mến cái thân. “Có thân tức là có ngă. Ĺa thân có ngă. Ngă lớn thân nhỏ. Thân lớn ngă nhỏ” là bốn điều [ngă kiến] khác biệt. Nếu nói “thân chính là ngă”, muôn phần sẽ chẳng có chuyện chịu xả. Nếu hư vọng so đo Xả chính là đoạn diệt, chẳng có nỗi khổ về sau, vẫn chưa liễu đạt cái tâm so đo hư vọng ấy chính là cái gốc khổ. Nếu cho rằng “ĺa thân có ngă”, thấy thân nhiều khổ, xả thân sẽ chẳng khổ. Đấy chính là v́ ngă kiến mà xả thân, chẳng phải là có thể xả cái tâm ngă kiến ấy! Chỉ có đem bốn loại ngă kiến ấy nhất loạt buông bỏ, ngay cả huyễn thân cũng nhất quyết xả được. Hai thứ đều xả, th́ cả hai đều là diệu dụng, sẽ có thể nhập Tam-ma-địa. V́ thế, chỉ biết hễ buông xuống thân tâm này, phường trộm cướp sẽ biến thành dân lành. Chẳng buông xuống được, dân lành liền chính là phường trộm cướp!

          15) Hỏi: Lúc mới thực hiện mà chẳng đắc lực th́ sau đó tŕ chú để giúp thêm, có được hay không? Hay là tŕ chú cùng hành với cảnh được quán? Kiêm [thực hiện] cả hai th́ cũng được gọi là “thâm nhập một môn” hay không?

          Đáp: Căn tánh của chúng sanh muôn ngàn sai khác, hoặc hiển ngộ, hoặc mật chứng, hoặc cần phải có trợ hạnh, hoặc chẳng cần trợ hạnh, chẳng phải là nhất loạt như nhau, nhưng đều là một môn thâm nhập. Nếu chẳng có chướng duyên, cứ thẳng thừng tu cảnh quán. Nếu sợ chướng xâm phạm, hăy kiêm tŕ mật ấn. Hiển, mật, chánh, trợ, đều cần phải tương ứng với diệu quán, th́ mới phù hợp với ư chỉ “một môn thâm nhập”.

          16) Hỏi: Luận xa tới cái nguồn tác động, lỗi từ vô thỉ. Luận gần th́ chính là một niệm trong hiện tại. Ĺa niệm hiện tại th́ có vô thỉ hay không? Nếu có th́ sao hiểu trọn một niệm? Nếu không, sao lại có một niệm hiện thời?

          Đáp: Ĺa một niệm hiện tại, sẽ chẳng có vô thỉ để có thể luận. Đối với một niệm hiện tiền chính là toàn thể tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, căn, thân, khí giới, chủng tử thiện, ác, mà ĺa một niệm hiện tiền, sẽ trọn chẳng có chút thật pháp nào để có thể đạt được! V́ thế nói: Mười đời xưa nay từ đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm hiện tiền.

          17) Hỏi: Đă đạt được Pháp Thân, lại thỉnh [đức Phật chỉ dạy] đạt tới các điều mục tu hành theo thứ tự như thế nào, đạt tới đâu th́ mới gọi là nhập địa?” Há Pháp Thân có thứ tự lần lượt sai khác ư?

          Đáp: Pháp Thân chẳng sai biệt. Sai biệt chẳng ĺa Pháp Thân. Tu hành chẳng có thứ tự lần lượt. Thứ tự nương vào sự tu hành [mà có]. Như hư không chẳng có xa hay gần, nhưng xa hay gần chẳng ĺa hư không. Dũng mănh tu tập chẳng có thứ tự, nhưng thứ tự nương theo sự dũng mănh tu tập. Ngài A Nan ngộ tâm, tức là ngộ tánh chẳng sai biệt, giống như thái hư. Ngài cầu thỉnh tu hành tức là viên hạnh, giống như dũng mănh tu tập, do dũng mănh tu tập xa hay gần mà luận định thứ tự sai biệt. Nếu chỉ chấp thuận nghĩa “chẳng có thứ tự, chẳng sai biệt”, sẽ là do tánh mà phế tu, mê muội ư chỉ “tức mà thường sáu” (Lục Tức Phật). Đă là chẳng sai biệt, th́ cũng chẳng có vô sai biệt để có thể được, chẳng có thứ tự th́ cũng chẳng có “vô thứ tự” để có thể đạt được. Như không có gần, xa, th́ cũng chẳng có hư không. Đă mê muội sáu nghĩa, th́ Tức cũng chẳng thành. Cần phải liễu đạt toàn tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh, tức là từ đầu tới cuối đều dùng Phật tri, Phật kiến để tu hành. Tiệm trong Viên Giáo chính là Viên, Tiệm Viên (Viên trong Tiệm Giáo) chẳng thể sánh bằng được!

          18) Hỏi: Cố nhiên thân là thường trụ, lâu dài chẳng hư hoại, mất đi. Hơn nữa, Sắc Ấm đă là Không, Thọ, Tưởng, Hành Ấm đều diệt, từ đâu mà khởi trưởng tưởng (ư tưởng cho rằng sắc thân tăng trưởng). Đó là nói Sắc nào là thân vậy?

          Đáp: Ngũ Ấm nhiếp thuộc lẫn nhau. Sắc Ấm chưa phá th́ Ngũ Ấm đều là Sắc. Sắc phá, Thọ hiện, Ngũ Ấm đều là Thọ. Thọ phá, Tưởng c̣n, Ngũ Ấm đều là Tưởng. Tưởng phá, Hành hiển, Ngũ Ấm đều là Hành. Nay Hành phá, Thức lộ, tức Ngũ Ấm đều là Thức. V́ thế, sanh diệt tuy diệt, nhưng trong khi tịch diệt tinh diệu chưa viên măn, theo đúng lẽ vẫn trọn đủ Ngũ Ấm, chỉ có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, không ǵ chẳng phải là cảnh giới tịch diệt chưa viên măn. Há có phải là hành nhân đến đấy sẽ trọn chẳng có sắc thân, mà cũng chẳng có khổ, lạc, giác quán, cử chỉ, động tĩnh ư? Ấy là do thức thứ sáu tương ứng với tâm hạnh, khi tu quán nơi Định cảnh, theo thứ tự, quán cảnh giới của Thức Ấm, sẽ thấy sự tinh vi, trọn vẹn của Thức Ấm, bèn sanh “trưởng tưởng”. Tưởng ấy chính từ quán hạnh mà khởi. Sắc ấy chính là Thức Ấm chấp thọ.

          19) Hỏi: Đệ lục ngoại đạo viên hư vô tâm, nương vào vĩnh viễn diệt để làm cái để quy y. [Sách Văn Cú] chú giải rằng: Khiến cho tâm và tâm sở chẳng hằng hành diệt mất. Công lực đến mức ấy, phải nên bằng với ḍng thánh, nhưng lại trở thành đoạn diệt; lỗi ở chỗ nào? Đă đoạn diệt, lại có cái quả nào để có thể thành được? Sao có thể gieo được?

Đáp: Trong Vô Tưởng Định, tuy diệt tâm và các tâm sở vô hằng hành, chỉ do so đo cái hư huyễn trong sự sáng suốt, coi đó là phương tiện, tức là Kiến Hoặc hoàn toàn tồn tại. Do vậy, tuy chế phục Tư Hoặc thuộc địa vị thấp hơn, vẫn chấp chết cứng vọng tưởng sanh tử thuộc Vô Tưởng Thiên, lầm tưởng đó là chân thật, [do vậy], chắc chắn chẳng nhập ḍng thánh. Lỗi ở chỗ chưa từng chân thật khai viên giải trước. Do vậy, trong địa vị Quán Hạnh, tuy thấy cảnh giới tịch diệt ấy, chẳng biết đó toàn là tinh tưởng vi tế điên đảo[44] mà sanh thắng giải. Tuy nói là đoạn diệt, chẳng phải là thật sự đoạn diệt, vẫn thuộc vào mười hai loại sanh[45]. Đó gọi “loạn tưởng khô khan, vô tưởng yết-nam”[46]. V́ vậy gọi là Chủng, mà cũng gọi là Quả vậy!

          20) Hỏi: Thủ Lăng Nghiêm đại định từ quán hạnh nhập, tức là coi quán hạnh là Định ư? Hay là có thứ tự, có xuất nhập? Hay là rốt cuộc đạt đến rốt ráo th́ mới có thể gọi là đại định ư?

          Đáp: Muốn biết thể tướng của đại định, cần phải hiểu rơ diệu chỉ về tánh và tu. Chúng sanh vốn trọn đủ tánh Đại Phật Đảnh, tức là cái Thể của Đại Định. Như nói Ấm, Nhập, Xứ, Giới, cho đến thất đại đều là Như Lai Tạng, diệu Chân Như tánh, đều là thể tánh của đại định. Chúng sanh đang mê, chỉ có Lư Tức Đại Định. Ngộ lư ấy th́ là Danh Tự Đại Định. Nương theo Phật tri, Phật kiến để tu hành th́ là Quán Hạnh Đại Định. Công quán hạnh đă sâu, Tương Tự Lư phát khởi, sáu căn thanh tịnh, như dùi [gỗ lấy lửa, thấy gỗ] bốc khói. Đó là Tương Tự Đại Định. Trong mỗi sự, mỗi pháp, phần chứng lư Tam Đức Bí Tạng, đó là Phần Chứng Đại Định. Cho đến chứng thấu triệt, chẳng thiếu, chẳng thừa, th́ là Cứu Cánh Đại Định. Từ đầu đến đuôi là một lư, được gọi là Tánh. Sáu địa vị chuyển biến, công thuộc về tu. Tu chẳng ở ngoài tánh, ngộ tánh th́ mới thành tu. Như người chơi cờ vây đánh thắng chẳng vượt ngoài thế cục của bàn cờ. Phải biết thế cờ th́ mới có thể đánh thắng.

          21) Hỏi: Từ phá bảy chỗ[47], đạt tới hiển lộ tạng tánh, Thể và Dụng được nêu bày, Chân và Tục đều hiển, trời và đất có cùng căn cội, vạn vật nhất thể, chẳng có sanh tử để có thể đạt được, chẳng có Niết Bàn để có thể chứng. Lại chọn lựa Nhĩ Căn làm phương tiện. Nhĩ Căn tức thấy, nghe, hay, biết, hừng hực thành sai khác, đấy chính là quang ảnh môn đầu[48]. Nơi thường trụ chân tâm, tự tướng vượt thoát, sao lại từ tu chứng mà nhập Tam-ma-đề?

          Đáp: Chẳng ngộ diệu tánh, sẽ chẳng có ǵ để thành tu. Không chú trọng chân tu, sẽ chẳng có ǵ để hiển tánh. Kinh thoạt đầu phá duyên ảnh chẳng phải là tâm, nhằm hiển lộ “kiến tánh chẳng phải là vật”. Dung hội bốn khoa để quy vào tánh, nêu tỏ thất đại viên măn trọn khắp, nhằm sánh ví kẻ cuồng chạy quàng mà đầu chẳng mất, gă nghèo túng đi xin ăn mà châu tự c̣n, đều là “chỉ thẳng vào tâm người, kiến tánh thành Phật”, hiển lộ đế lư viên dung nhằm khai diệu ngộ. Kế đó, nương vào diệu ngộ ấy để khởi chân tu. Nhờ vào cái nhạy bén nhất nơi phương này là Nhĩ Căn ḥng lănh hội tánh thể vốn viên, vốn thông, vốn thường. Do đó, được gọi là “dùng bất sanh bất diệt để làm cái gốc tu nhân”. Sau đấy, viên thành sự tu chứng nơi quả địa. Gươm báu kim cang chân thật ấy có Hoặc nào chẳng phá? Lư nào chẳng phơi bày? Nếu chẳng biết tánh của Nhĩ Căn chính là tánh diệu Chân Như của Như Lai Tạng, khinh mạn nói là “cùng một Thể, chẳng có sanh tử, chẳng có Niết Bàn”, sẽ hoàn toàn rơi vào cách nói tương tự “quang ảnh môn đầu”, chẳng hiểu biết tông thú của kinh này quá đáng! Hăy thử lấy đoạn kinh văn biện định chuyện gơ chuông để kiểm nghiệm chỗ chân thường, lắng ḷng nghĩ kỹ, sẽ tự biết chỗ sai trong lời hỏi!

          22) Hỏi: Đa văn chẳng có công năng sánh bằng tu tập, nghĩ nhớ diệu lư thanh tịnh trong mười hai bộ kinh của mười phương Như Lai nhiều như cát sông Hằng chỉ tăng thêm hư luận. Nhiều kiếp Văn Huân, chẳng thể thoát nạn. Trải bao kiếp nghĩ nhớ sự trang nghiêm mầu nhiệm bí mật của Như Lai, chẳng bằng một ngày tu vô lậu nghiệp. A Nan c̣n bị quở trách như thế, người hiện thời nếu tŕ kinh này cũng có lợi ích ǵ chăng?

          Đáp: A Nan phạm khuyết điểm do chẳng xoay lại cái Nghe, chẳng phải là lỗi do đa văn. Kinh quở trách chuyện một mực chỉ nghe, chẳng phải là dạy không nghe! Chính v́ người hiện thời ngu độn, y giáo tu hành, do sợ họ sảy chân, [lạc vào] si Thiền, ám chứng, đọa lạc há có ngờ chi? Do vậy, tùy thuận căn tánh, bèn dạy họ tŕ kinh sâu. Người lợi căn sẽ có thể thuận theo kinh văn mà nhập chứng. Kẻ độn căn cũng có thể vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo, ngơ hầu tránh khỏi cái họa trở thành Vô Văn tỳ-kheo[49] vậy!

 

* Mười ba câu vấn đáp về yếu chỉ của Giáo Quán (đính kèm câu hỏi)

 

          1) Hỏi: Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức, hai nghĩa ấy là giống nhau hay khác nhau?

          Đáp: Tâm thức bao gồm chân và vọng. Hạn cuộc th́ tâm thuộc vào chân, thức thuộc vào vọng. Duy tâm là nghĩa của Tánh tông. Nương vào đó mà lập ra Chân Như Thật Quán. Duy thức là nghĩa của Tướng tông, nương vào đó mà lập ra Duy Tâm Thức Quán. Liệu giản hai pháp Quán, cần phải t́m trong Chiêm Sát Hành Pháp mới biết chỗ giống nhau mà khác nhau, tuy khác nhau mà giống nhau vậy!

          2) Hỏi: Biến Kế và Y Tha cần phải phá, Viên Thành có cần phải phá hay chăng? Viên Thành chẳng cần phá th́ Biến Kế và Y Tha cũng chẳng cần phải phá đúng không? Phá và chẳng phá, xin thầy phân tích tường tận?

          Đáp: Ba tánh vốn chẳng phải nhất định là ba, cũng chẳng nhất định là một. Nói “Biến Kế và Y Tha nhập Viên Thành Thật” chỉ là liễu đạt “Biến Kế vốn là Không, Y Tha như huyễn”, chính là tánh Viên Thành Thật, chẳng phải là riêng có! Nếu thấy có Viên Thành Thật th́ vẫn là Biến Kế, cũng cần phải phá hết. Nếu biết ba tánh (Biến Kế, Y Tha, Viên Thành Thật) tức là ba vô tánh (tướng vô tánh, sanh vô tánh, thắng nghĩa vô tánh), th́ Biến Kế và Y Tha vốn chẳng thể phá. Do chẳng thể phá, cho nên trọn đủ sáng sạch, chia thành ba tánh, cần phải phá sạch. Do vậy, lại nói tam vô tánh. Lại dùng thí dụ để chỉ rơ: Liễu đạt dây thừng chính là gai, cho nên Y Tha chẳng thật, Biến Kế há có? Cho rằng thừng là rắn, tánh của gai chẳng đổi, nhưng hư vọng nẩy sanh sợ hăi. Khi mê th́ toàn thể gai là rắn. Rắn, thừng, gai đều là mê t́nh. Lúc ngộ, toàn thể rắn là sợi gai; rắn, thừng, gai đều là ngộ cảnh. Nếu nói gai tức là thừng, gai chẳng phải là thừng, gai vừa là thừng vừa chẳng phải là thừng, gai vừa chẳng phải là thừng, chẳng phải không là thừng. Cho tới lần lượt chuyển đổi, tạo thành bốn câu, sẽ đều thành Biến Kế. Nếu chẳng khởi Tánh Kế (Biến Kế Sở Chấp Tánh), biết sâu xa lư “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến”, dùng nhân duyên Tứ Tất Đàn khéo nói bốn câu đủ mọi cách, th́ hai nghĩa tam tánh và tam vô tánh cùng thành. Do vậy, biết là “chẳng phá, chẳng lập”, mà luận “phá, lập”, phá lập đồng thời, phá lập chẳng hai!

          3) Hỏi: Ba nhân trọn đủ th́ mới gọi là “viên tu”. Xin hăy dạy về một niệm hiện tiền, chánh nhân, duyên nhân, liễu nhân là ǵ? Và tướng sai biệt nơi nhân trong mỗi địa vị, khiến cho chẳng sanh tăng thượng mạn hoặc thoái khuất?

          Đáp: Tánh trọn đủ ba nhân, chỉ là ba thứ Hoặc, nghiệp, khổ hiện tiền mà thôi! “Hoặc” chính là chủng tử của liễu nhân. Nghiệp chính là chủng tử của duyên nhân. Khổ chính là chánh nhân Phật tánh. Nếu xét theo hành nhân để chỉ ra ba cái nhân, phép quán “có thể quán” là liễu nhân Phật tánh. Cảnh được quán là duyên nhân Phật tánh. Dù năng, dù sở, dù tâm, dù pháp, chỉ là một Thật Đế, đó tức chánh nhân Phật tánh. Biết rơ ba điều ấy, nương theo đấy để tu tập, th́ gọi là Danh Tự Vị Tướng (tướng thuộc địa vị Danh Tự). Quán lực ấy sâu xa, chế phục trọn vẹn ngũ trụ[50], đó là Quán Hạnh Vị Tướng. Sáu căn thanh tịnh là Tương Tự Vị Tướng. Tám tướng thành đạo, ba thân hiển lộ trọn vẹn là Phần Chứng Vị Tướng. Cạn nguồn vô minh, cùng tận bờ đáy của biển giác, là Cứu Cánh Vị Tướng. Biết một niệm trọn đủ ba cái nhân, há sanh thoái khuất? Biết đạo lực chẳng thể lăng phí, há sanh tăng thượng mạn? Hăy suy nghĩ, tu tập nhé!

          4) Hỏi: Trong khi quán tâm, tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, vi trần sát độ một niệm trọn đủ. Quán sát như thế th́ có khế hợp pháp môn “cụ tự” (măn tự) hay chăng? Nếu dấy lên dị kiến, dùng tứ vận[51], tứ tánh để suy, nếu chẳng khởi dị kiến, chỉ niệm như trên, th́ niệm hiện tiền ư? Hay là có cách nào khác?

          Đáp: Chỉ là hiểu suông, chưa thật sự hiện tiền, vẫn phải dùng hai thứ quán đạo để thiện xảo tấn tu, chẳng c̣n cách nào khác! Đích xác là trong một trần thấy tánh tướng của pháp giới từ đầu đến cuối th́ mới thành diệu quán.

          5) Hỏi: Ngay trong khi quán tâm, mắt thấy sắc như h́nh bóng phản chiếu trong gương, tai nghe tiếng như gió trong hư không, cho đến ư thức t́m kiếm cái “có thể duyên” (năng duyên) trọn chẳng có tung tích. Chính ngay trong khi ấy, v́ sao lại có lúc như người vô sự, có lúc như người biết chuyện, có lúc như người có chuyện, có lúc như người si ngốc đối với sự vật, xoắn xít trong ḷng, làm thế nào để trừ sạch?

          Đáp: Thấy sắc như h́nh bóng phản chiếu trong gương, nghe âm thanh như gió trong hư không, năng duyên chẳng có tung tích, đều là cảnh giới chưa phá Sắc Ấm. Cần phải suy xét chuyện t́m kiếm cái năng duyên này. A Nan có thể t́m kiếm, chẳng tạm thời quên bẵng công phu tứ vận, tức là liễu nghĩa chánh tu. Nếu là lúc vô sự, tứ vận sẽ được vận dụng để phá, chớ nên trụ trong chiếc áo giáp vô sự. C̣n như đối với biết sự, hữu sự, và nghi sự, th́ phải suy xét cái biết, cái có, cái nghi ấy; như vậy th́ những nỗi quẩn quanh vương vấn sẽ tự trừ, chẳng cần phải sợ nỗi vương vấn quẩn quanh ấy mà lập ư cũng bị trừ!

          6) Hỏi: Khi suy xét để loại trừ, tâm chẳng thể được, sao có ba phép Quán? Cảnh chẳng thể được, sao có Tam Đế? Tâm lẫn cảnh đều chẳng thể được, sao có năng và sở? Như thế là khế hợp liễu nghĩa hay chăng?

          Đáp: Tâm và cảnh đều chẳng thể được, có phải là đoạn diệt hay không ư? Nếu là đoạn diệt, chỉ là hiện thời ai hỏi pháp ấy? Nếu chẳng đoạn diệt, do tâm chẳng thể được, đúng là Nhất Tâm Tam Quán. Cảnh chẳng thể được, thật sự là Nhất Cảnh Tam Đế. Nếu đều chẳng thể được, năng và sở dung hội lẫn nhau, dứt mất. Đúng là tâm và cảnh chẳng hai. Tôn giả Hổ Khê[52] có lời tụng rằng: “Cảnh là diệu giả, quán là không. Cảnh, quán cùng mất, chính là Trung. Quên chiếu há từng có sau trước? Nhất tâm viên tuyệt, không tung tích”. Chỉ do quên nên chiếu, chỉ do chiếu nên quên. Quả thật là một danh xưng chẳng mất, th́ muôn ngàn danh nghĩa sai khác đều tỏ lộ!

          7) Hỏi: Đối với căn, thân, khí giới, đă liễu đạt chỉ do nhất tâm kiến lập. Cái tâm ấy là có, hay không có? Vừa có vừa không? Hay chẳng phải có, chẳng phải không? Nếu xét theo mật ngữ của đương sự, th́ ngộ xứ có cạn, sâu, tà, chánh hay chăng?

          Đáp: Căn, thân, khí giới, bất luận đạt hay chẳng đạt, trước nay chỉ là duy tâm. Chẳng phải tâm kiến lập pháp, chẳng phải pháp do tâm lập. Nếu có năng kiến (cái có thể thấy) và sở kiến (cái được thấy), sẽ chẳng gọi là duy tâm. V́ ngoài tâm chẳng có pháp, nên gọi là duy tâm. Duy tâm th́ các nghĩa như duy sắc, duy hương v.v… hết thảy đều thành. Diệu tâm pháp ấy ĺa bốn câu, tuyệt bách phi, chỉ dùng diệu ngộ để lănh hội, dùng Tất Đàn để nói. Đích xác là có thể từ bốn môn mà nhập đạo, không chỉ chẳng rơi vào bốn câu, mà c̣n chiếu trọn bốn câu, đó tức là chánh, là sâu. Nếu ĺa bốn câu, lại rơi vào câu thứ năm là “chẳng thể nói”, sẽ là tà, sẽ là nông cạn!

          8) Hỏi: Sách Tập Yếu giải thích nhất thể Tam Bảo như sau: “Một niệm hiện tại vốn có đủ Tam Đế, đang mê chẳng giác là Pháp Bảo. Cái trí có thể giác Tam Đế là Phật Bảo. Đế trí ḥa hợp là Tăng Bảo”. Chúng sanh niệm nào cũng hướng theo cảnh, chẳng hiểu rơ tự tâm, trái nghịch chỗ được tiếp xúc, chẳng thể giác trí và ḥa hợp nghĩa, sao lại là có đủ Pháp Bảo cho được?

          Đáp: Chúng sanh hướng theo cảnh, thật sự có cảnh ở ngoài tâm để có thể hướng tới ư? Thật sự ở ngoài giác thể mà có một cái vọng niệm có thể hướng đến [cảnh] ư? Dẫu cho có một cái giác hư vọng có thể hướng theo cảnh, th́ cái pháp hư vọng được hướng đến ấy thật sự có thể phân biệt để mỗi đằng ở một chỗ ư? Nếu niệm nào cũng đều hướng ra ngoài, sẽ trọn chẳng có pháp ở bên ngoài để có thể hướng đến, mà cũng chẳng thể tách thành hai chỗ! Như vậy th́ Lư Tức Tam Bảo đă rành rành rồi!

          9) Hỏi: Cái tâm nhỏ nhoi vốn chẳng có ngằn mé đến, đi, cũng chẳng phải là đoạn diệt. Nay trong mỗi niệm, luôn gắng công nơi điều thiện chẳng dám chống trái, nghĩ điều ác chẳng dám giấu diếm, thường đối trước tam tôn xót xa cầu xin hối lỗi. Dụng tâm như thế có khế hợp chánh tu hay chăng?

          Đáp: Cái tâm có thể gắng sức, có thể suy nghĩ, điều thiện để có thể gắng sức, điều ác để có thể nghĩ [sám hối] há có ngằn mé, đến, đi để có thể đạt được hay không? Nếu thấu đạt tánh thiện ác chính là thật tánh, sự sanh diệt chẳng có h́nh tượng, ngằn mé, động, tĩnh, đến, đi, đầu, cuối, ắt sẽ tu thiện ngày một tăng nhiều, tu ác ngày càng giảm bớt, nhưng tăng giảm trọn chẳng thể được. Đó chính là con đường tu hành chân chánh. Nếu thấy có điều thiện để có thể tăng, có điều ác để có thể tổn giảm, sẽ trở thành Thiên Tiểu. Nếu chẳng thấy có, mặc kệ thiện ác, sẽ trở thành ma tà, ngoại đạo. Hăy suy xét kỹ!

          10) Hỏi: Khi tŕ kinh, làm thế nào để bản thể của mỗi chữ, mỗi câu đều chính là cảnh chẳng thể nghĩ bàn?

          Đáp: Pháp tánh của câu chữ vốn chẳng thể nghĩ bàn, lại hỏi như thế nào, th́ sẽ trở thành có thể nghĩ bàn! Nếu thường nhật quán tâm đắc lực, ngay trong khi tŕ kinh, niệm Phật, sẽ chẳng mâu thuẫn với quán tâm. Đấy chính là môn Chân Như Thật Quán. Kẻ chưa liễu đạt, cần phải dùng Duy Tâm Thức Quán, tứ vận, tứ tánh để suy xét tánh của các câu, chữ ấy. Nếu biết bản thể của chúng chính là Không, toàn thể chính là Giả, cũng lại chính là Trung, cái tâm suy nghĩ, bàn bạc sẽ dứt bặt!

          11) Hỏi: “Phiền năo tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn” là xét theo mê, hay theo ngộ, hay theo tánh, hay theo tu?

          Đáp: Lư tánh vốn sẵn là như thế, chẳng liên quan đến mê hay ngộ. Ngộ th́ biết [nó vốn sẵn] “chính là”, chẳng phải do ngộ rồi mới “chính là”. Mê th́ chẳng biết “chính là”, nhưng chưa từng chẳng “chính là”. Chỉ có cái tánh “tức” (chính là) ấy th́ mới có thể khởi cái tu “chính là”. Cái tu được khởi lên ấy rốt cuộc chính là tánh. Chẳng có chút pháp nào ở ngoài tánh mà khởi lên được!

          12) Hỏi: Một niệm bất sanh, toàn thể hiện. Một niệm bất sanh chính là Như Như Phật, lại chỉ là viên đốn ư? Hay cũng có thiên, tiệm, tà, chánh ư?

          Đáp: Dùng danh để định nghĩa, muôn phần chẳng được một. Dùng nghĩa để định danh, muôn phần chẳng mất một. Đối với lời đàm luận viên đốn, tùy theo từng loại mà hiểu. Người ngoài so đo duyên ảnh là tâm, như đá chèn cỏ, khiến cho cỏ chẳng mọc được! Nói đó chính là Như Như Phật, thật ra là thành vô tưởng ngoại đạo. Đối với người bẩm thọ Tạng Giáo, biết căn trần là duyên, bèn có niệm sanh. Xa ĺa căn trần, niệm tánh vĩnh viễn tịch, được nhập Niết Bàn, gọi là Như Như Phật. Thật ra, chỉ thành tiểu quả. Đối với người bẩm thọ Thông Giáo, biết rơ niệm chẳng có tự tánh, cầu cái tướng sanh ấy trọn chẳng thể được, gọi là Như Như Phật. Thật ra, chỉ là Càn Huệ. Xét theo người bẩm thọ Biệt Giáo, th́ sanh là vọng thức, Chân Như lắng đọng chẳng sanh, gọi là Như Như Phật, cũng gọi là Tố Pháp Thân, vẫn cần phải trang nghiêm bằng trí hạnh. Chỉ có người bẩm thọ Viên Giáo, rơ biết một niệm hiện tiền chính là pháp giới bất biến tùy duyên, vô sanh mà nói sanh. Tùy duyên bất biến, sanh chính là bất sanh. Do vậy, toàn thể hiển hiện, gọi là Như Như Phật, tức là b́nh đẳng với Thể và Dụng của tam thế chư Phật. Ba giáo trước là Thiên, chỉ Viên Giáo là Viên. Ba giáo sau đều có nghĩa Đốn, chỉ có Tạng Giáo thuộc Tiệm. Bốn giáo đều chánh, ngoại đạo là tà. Than ôi! Cơi đời do vướng mắc trong ngôn từ, câu chữ, liền nói “nhất niệm bất sanh tức là Như Như Phật”, có bao giờ phân tích, lựa bày đến chỗ này hay chăng? Tông chỉ Viên Đốn trở thành hữu danh vô nghĩa đă lâu!

          13) Hỏi: Dùng một bài kệ trong Trung Luận[53] để phối ứng với tứ giáo, th́ phối ứng riêng biệt nhất định, hay là tùy theo từng loại mà hiểu? Mong được phân tích thật nghĩa để kiểm nghiệm giáo nhăn!

          Đáp: Kệ thâu nhiếp trọn hết Quyền, Thật, Lư, Sự, không ǵ chẳng trọn. Ngài Thiên Thai nương vào đó, lập ra tứ giáo. Giáo trước chẳng bao gồm giáo sau, nhưng giáo sau ắt có đủ [các giáo nghĩa thuộc] giáo trước, được chép trong phần giải thích rộng, rạng ngời như mặt trời, mặt trăng. Nếu thuận theo mỗi loại để hiểu, lại có bốn loại riêng biệt: Như đối với pháp sanh bởi nhân duyên, có người nghe rồi liền cho rằng các pháp cậy vào nhân, nhờ vào duyên mà lần lượt sanh khởi, chẳng có Phạm Thiên, vi trần v.v… làm nhân duyên, cũng chẳng phải là không có nhân, không có duyên mà có các pháp. Lại có người biết nhân chẳng thật sự là nhân, duyên chẳng thật sự là duyên, sanh chẳng phải thật sự là sanh, pháp chẳng thật sự là pháp, như hoa đốm trên không, như vật trong mộng, bèn nói gọi là do nhân duyên mà sanh”. Lại có người biết vô minh là nhân, cảnh giới là duyên, sanh ra nhân quả sai biệt của mười giới. Lại có người biết nhất tâm trọn đủ ba ngàn tánh tướng làm nhân, tùy thuộc mê hay ngộ mà trọn thành mười giới nhiễm hay tịnh làm duyên.

Kế đó, đối với câu “tức Không”, có người nghe xong, liền cho rằng “do các pháp vô ngă và ngă sở, nên là Không”. Lại có người cho rằng “Pháp Thể tự Không, chẳng phải v́ diệt mà Không”. Lại có người bảo: Pháp chẳng có thật tánh, do Thể chẳng thể được nên là Không. Lại có người cho rằng: Pháp nào cũng đều chẳng phải Không, chẳng phải Giả, chẳng phải Trung, do Tam Đế đều phá nên là Không.

Kế đó, đối với câu “giả danh”, có người nghe xong liền nói Tục Đế là Hữu, cho nên gọi là giả danh. Lại có người cho rằng: Các pháp như huyễn; v́ thế gọi là giả danh. Lại có người cho rằng “pháp nào cũng sanh ra nhân quả sai biệt của mười pháp giới”, v́ thế gọi là giả danh. Lại có người cho rằng: Pháp nào cũng đều tức Không, tức Giả, tức Trung, Tam Đế cùng lập, nên gọi là giả danh.

Kế đó, đối với câu “Trung Đạo”, có người nghe xong liền nói “do ĺa Đoạn, ĺa Thường, nên gọi là Trung Đạo”. Lại có người cho rằng: Do Chân và Tục chẳng hai, nên là Trung. Lại có người cho rằng: Do chẳng Không, chẳng Giả, nên là Trung. Lại có người cho rằng: Mỗi pháp không ǵ chẳng phải là Thật Tướng, thật tánh, Giả và Không đều là Trung, chẳng thấy có pháp nào khác với pháp giới, nên là Trung.

Nhưng cái Không của người đầu tiên là “vô ngă và ngă sở”, sanh tử chẳng phải là Niết Bàn, cho nên nghĩa Không chẳng thành. Tục Đế là giả hữu, các pháp chẳng dung nhiếp, nên nghĩa Giả chẳng thành. Trong ĺa đoạn, ĺa thường, chẳng chứng Pháp Thân ứng với Bổn, nên nghĩa Trung chẳng thành. Xét đến thực chất, chỉ thành một câu “nhân duyên sở sanh pháp” (các pháp sanh bởi nhân duyên) mà thôi!

Người thứ hai th́ do [chấp vào] cái Giả “các pháp như huyễn”, chẳng biết huyễn lại tạo huyễn, nghĩa Giả chẳng thành! Đối với cái Trung “Chân Tục bất nhị”, chẳng biết Thể của Trung là bất Không, nên nghĩa Trung chẳng thể thành. Xét đến thực chất, chỉ thành câu “nhân duyên tức Không” mà thôi.      

Người thứ ba do chấp cái Trung “chẳng Không, chẳng Giả”, chẳng biết Trung Đạo trọn đủ hết thảy các pháp, trọn khắp hết thảy các pháp, chẳng biết chẳng có pháp nào không phải là Trung Đạo. Xét đến thực chất, chỉ thành câu “nhân duyên tức Không, tức Giả”.

Chỉ có người thứ tư biết rơ nhân chính là pháp giới, thâu nhiếp khắp hết thảy các pháp, chẳng có một pháp nào vượt ngoài nhân. Duyên tức là pháp giới, cho đến năng sanh (cái có thể sanh), sở sanh (pháp được sanh), không ǵ chẳng phải là pháp giới. Không cũng là pháp giới, Giả cũng là pháp giới, Trung cũng là pháp giới. Thông th́ gồm đủ bốn câu. Biệt th́ một câu “tức Trung” đă đủ. Đó là v́ sao Trí Giả đại sư bỏ Thông, giữ lấy Biệt, thẳng thừng dựa vào bốn câu để lập ra tứ giáo.

Lại nữa, “nhân duyên sở sanh pháp” (pháp sanh bởi nhân duyên) chính là Sanh Diệt Tứ Đế. “Ngă thuyết tức thị Không” (ta nói chính là Không) tức Vô Sanh Tứ Đế. “Diệc danh vi giả danh” (Cũng tên là giả danh) tức Vô Lượng Tứ Đế. “Diệc danh Trung Đạo nghĩa” (Cũng là nghĩa Trung Đạo) tức Vô Tác Tứ Đế. Lại nữa, biết chánh nhân duyên cảnh, Sanh Diệt, Vô Sanh, Vô Lượng, Vô Tác đều là nhân duyên. Biết “tức Không” đều chính là Không, biết “tức Giả” đều chính là Giả, đều là giả danh. Biết Trung Đạo đều là Trung Đạo. Lại nữa, biết Sanh Diệt Tứ Đế, nhân duyên Không, Giả, Trung đều là sanh diệt. Biết Vô Sanh Tứ Đế đều là Vô Sanh. Biết Vô Lượng Tứ Đế đều là Vô Lượng. Biết Vô Tác Tứ Đế đều là Vô Tác.

 

 * Trả lời câu hỏi của Từ Trọng Thao

 

          Bốn câu kệ của Trung Luận đàm luận đế lư sâu xa, chẳng dính dáng tới công phu quán chiếu. Hiểu rơ đế lư th́ quán chiếu cũng ở trong đấy. Trước hết, chia thành hai phần: Câu đầu tiên nói về Sự cảnh, ba câu sau đó hiển thị Tam Đế. Nêu lên Sự cảnh th́ bất luận sắc hay tâm, giả hay thật, đều là cậy vào nhân, nhờ vào duyên mà sanh, tức là nói: Trọn khắp thập giới, thập như, bách giới thiên như, ba ngàn tánh tướng, mỗi mỗi đều gọi là “pháp sanh bởi nhân duyên”. Nếu nói tâm là cái nhân của trần, trần là cái duyên của tâm, sẽ hết sức vướng vất, trở ngại! Nếu hiểu sai câu này, phần kinh văn sau đó sẽ quy kết như thế nào! Huống chi Không, Giả, Trung thẳng thừng ước theo pháp được sanh, trọn đủ, trọn hiện, chớ nên hiểu theo thứ tự, càng chớ nên gán ghép với quán môn. Giáo nhăn tinh diệu, quyết chẳng phải là kẻ thô tâm, hời hợt có thể lănh hội được! Đành đợi cho đến khi cư sĩ đă thành tựu hạnh môn, xoay ḿnh xông vào. Nói đại lược th́ chỉ nói là các thứ Sự cảnh được sanh bởi nhân duyên, không ǵ chẳng ngay khi đó bèn chính là Không, Giả, Trung. Do vậy, nếu đàm luận cặn kẽ, dẫu chín mươi ngày vẫn chẳng trọn hết ư chỉ ấy. Nay câu “tức Không” nửa đúng, nửa sai, Giả và Trung hoàn toàn cách xa, há có thể vội vàng lẫn lộn vung bút ư?

 

* Trả lời hai câu hỏi của Nhị Hoa

 

          Muốn hiểu rơ Đại Bát Niết Bàn, cn biết ư nghĩa Vô Dư Niết Bàn của Tiểu Thừa. Chưa hiểu rơ nghĩa trong Tiểu Thừa, sẽ do đâu mà bàn luận Đại Thừa? Nay nói về Vô Dư Niết Bàn. Một là bàn về tướng bí mật, hai là khai hiển để nói.

1) Tướng bí mật: Đức Phật và Kỳ Bà tới một vùng hoang vu, Ngài lấy xương khô để nói, hỏi về thiện ác lúc sống, nam, nữ, thọ, yểu, cho đến chết đi về đâu, [Kỳ Bà] chẳng đáp sai mảy may. Đức Phật hướng đến một ngọn núi khác ở nơi xa, lấy một khúc xương. Kỳ Bà đôi ba lượt búng xương để nghe, mờ mịt chẳng biết. Đức Phật bảo: “Đây là xương của một vị La Hán, đă quên ngă tướng, đă đoạn hậu hữu, chẳng thuộc vào ba đời, chẳng bị tam giới ràng buộc, nên ông chẳng thể biết được!” Nh́n từ đấy, Vô Dư Niết Bàn đă là chẳng thể nghĩ bàn, huống hồ Đại Niết Bàn ư? Đừng nên thấy nói như vậy, bèn hiểu là đoạn diệt! Ngoại đạo hỏi “La Hán sau khi chết là có hay không?” Đức Phật đáp “đều là hư luận”. Lại hỏi: “Rốt cuộc là như thế nào?” Đức Phật nói: “Củi chất chứa, ném vào đó một mồi lửa nhỏ, cháy măi chẳng dứt. Lần lượt thêm củi vào, [lửa] lần lượt bùng cháy mạnh hơn. Nếu như củi hết, lửa cũng diệt theo. Lửa ấy có chỗ đi hay không có chỗ đi? Là đoạn diệt, hay chẳng đoạn diệt?” Ngoại đạo nói: “Lửa không có chỗ đi, cũng chẳng phải là đoạn diệt. Lửa diệt ở chỗ này, chẳng phải là hết thảy tánh lửa đều diệt”. Đức Phật nói: “La Hán cũng giống như thế, củi Hoặc nghiệp hết, lửa quả báo diệt. Há có ǵ để có thể nói là có đi hay chẳng đi, đoạn và chẳng đoạn”. Đó là nói theo tướng bí mật.

2) “Khai hiển” là Nhị Thừa chỉ đoạn Phần Đoạn sanh tử trong tam giới, vẫn chưa vĩnh viễn đoạn Biến Dịch sanh tử ở ngoài tam giới. Dẫu Phàm Thánh Đồng Cư Độ chẳng có chỗ thọ sanh, vẫn thọ pháp tánh sanh thân thuộc Phương Tiện Hữu Dư Độ. Tuy thân pháp tánh chẳng phải là đoạn hay thường, vẫn dường như có đến, đi. Như Lai đă trọn hết ngũ trụ, vĩnh viễn đă mất hai loại chết (Biến Dịch và Phần Đoạn), biết hết thảy các pháp không ǵ chẳng phải là tức tâm tự tánh, chẳng ĺa chỗ hiện tại mà vắng lặng viên thường. Ước theo chánh báo th́ gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân. Ước theo y báo th́ gọi là cơi Thường Tịch Quang. Ước theo trí đức th́ gọi là Vô Thượng Bồ Đề. Ước theo đoạn đức th́ gọi là Đại Bát Niết Bàn. Thân và cơi chẳng hai, trí đoạn khó nghĩ. Nói tóm lại, chẳng có một vi trần nào chẳng phải là toàn thể đại dụng thuộc pháp giới chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai. Do đó nói “thân Phật đầy ắp pháp giới, hiện trọn khắp trước các chúng sanh”. Tường, vách, ngói, sỏi, thanh tịnh Pháp Thân, mỗi sắc, mỗi hương, không ǵ chẳng phải là Trung Đạo. Hăy nên biết: Cảnh giới sanh tử luân hồi của chúng sanh toàn là cảnh giới Đại Bát Niết Bàn của Như Lai. Người say thấy nhà xoay, tức là người tỉnh thấy nhà chẳng xoay, chẳng phải là hai căn nhà! Phật thành Vô Thượng Giác, đích thân chứng tướng vốn sẵn thường tịch diệt của các pháp, chẳng xuất, chẳng nhập, chẳng diệt, chẳng sanh, là tánh tịnh Niết Bàn, nhân quả của hai thứ tử (Biến Dịch và Phần Đoạn) vĩnh viễn đoạn, được gọi là Viên Tịnh Niết Bàn. V́ chúng sanh mà thị hiện sanh diệt làm phương tiện để tịnh Niết Bàn. Kinh nói “đức Phật nhập Niết Bàn” chính là [nói theo] tướng tịnh thuộc phương tiện, chẳng phải là Di Đà vô lượng kiếp sau mới chứng Đại Niết Bàn.

 

* Trả lời năm câu hỏi về tỳ-kheo giới (đính kèm lời hỏi)

 

          1) Hỏi: Trời người có thể ǵn giữ cái học Tỳ Ni th́ khi phước hết, sẽ như thế nào? Nếu người nào đối với Tông, Giáo [chú trọng] mở nhăn mục trước, coi Đạo Cộng Giới là nhiệm vụ cấp bách, quư trọng kiến địa, chẳng coi trọng hành tŕ, có phải là chẳng đúng hay không?

          Đáp: Cái học Tỳ Ni chính là chánh nhân xuất thế. Có Giới Ba La Mật th́ Phật địa mới măn, há chỉ là phước nhân thiên ư? Khai nhăn trong Tông, Giáo, tuy nói là tương tự, nhưng ĺa Giới mà riêng bàn về Tông, Giáo, sẽ đọa vào ác kiến! Ngài Quy Sơn nói: “Pháp tịch Tỳ Ni c̣n chưa được may mắn phụng sự, há có thể biện định rành rẽ liễu nghĩa thượng thừa ư?” Ngài Kinh Khê nói: “Dùng bốn giới đầu làm cảnh, dùng sáu [giới sau đó] để quán, Sự và Lư chính là lẫn nhau, hăy nên biết Thiên Tụ[54] chẳng thể thiếu khuyết một điều nào!” Người đời khinh miệt Sự, vẫn muốn đạt tới Lư sâu, hăy nghiệm biết phép Quán ấy trơ trọi, rỗng tuếch, chẳng có gốc! Đă thiếu quán cảnh, cũng chẳng có cách nào quán được! Lời giáo huấn chân thành của Tông, Giáo đă rành rành, sao chẳng suy gẫm? Vô Thượng Giới mà phán định thuộc nhân thiên, bỏ luật nghi mà bàn suông Đạo Cộng Giới, chánh kiến đă phá, ắt sẽ bỏ lơ hành tŕ, đường ác tam đồ chắc chắn có phần, muốn được làm trời, người vẫn chẳng thể được!

          2) Hỏi: Đối với phường độn căn thời Mạt, chỉ nên nói đại lược những điểm trọng yếu [trong giới luật]. Cơi đời c̣n sợ Tứ Phần Luật Tạng rườm rà, sao chẳng nêu ra những điều cốt lơi của giới bổn Tứ Phần, thêm vào chú thích đại lược để cởi gỡ nỗi nghi [mà thôi]?        

Đáp: Cố chấp, si dại, ương ngạnh, trọn chẳng có ngày giải trừ, ắt cần phải học rộng, đừng nên nói sơ lược th́ mới có thể cứu chữa được! Nếu chỉ giải thích sơ lược kèm theo đối với khai, giá, tŕ, phạm, [học nhân] sao có thể hiểu rơ cho được? Người yêu thích Phật pháp đă khó có thể thông, kẻ quen thói biếng nhác vẫn chưa chắc chịu học! Tiến thoái đều thất thố, [chỉ giảng nói giới luật sơ sài th́] có lợi ích ǵ?

          3) Hỏi: Một môn Niệm Phật rộng lớn, đơn giản, dễ dàng. Nhất tâm niệm Phật tự nhiên dứt ác, ngừa sai, c̣n như Luật Tướng mênh mông, đă chẳng đơn giản, dễ dàng, mà quả tột bậc chỉ là Thanh Văn, lại chẳng rộng lớn, chẳng hay khéo bằng chuyên hoằng dương Tịnh Độ!

          Đáp: Tŕ giới và niệm Phật vốn là một môn. Tịnh giới là nhân, Tịnh Độ là quả! Nếu coi T Danh là đường tắt, học Luật là quanh co, th́ đă trái nghịch lời dặn ḍ chân thành trước lúc [đức Phật] lâm chung, sao có thành tựu Niệm Phật tam-muội cho được? Chướng cấu lắm nỗi buộc ràng, há sanh Tịnh Độ được ư? Giống như biển chẳng có bờ, há chẳng rộng lớn ư? Đảm bảo giải thoát, há chẳng đơn giản, dễ dàng? V́ thế, người nhất tâm niệm Phật ắt phải nghĩ dứt ác, ngừa sai, bèn chuyên ṛng nơi Luật Học. Người chuyên ṛng nơi Luật Học th́ mới có thể quyết định văng sanh, lại c̣n nhất tâm niệm Phật, hiện thời là nối tiếp hưng thịnh Tam Bảo, lâm chung thượng phẩm thượng sanh. Pháp môn mầu nhiệm, không chi hơn pháp này! Chỉ là cùng một đại sự, sao lại chống trái, khiến cho kẻ hiểu biết bật cười?

          4) Hỏi: Tội do chê bai, chán ghét, chế định tùy theo nơi chốn. Phương này chẳng chê gièm, há trái nghịch thánh huấn? Lại c̣n nhằm lúc mạt vận, ngoại duyên chẳng thuận lợi, nội nhân ít thiếu, cứ muốn chẳng sai phạm dẫu bằng mảy lông để diễn Giáo, hoằng Tông, ắt Phật pháp chẳng thể lưu truyền rộng răi. Toàn vẹn tiểu tiết mà đánh mất lợi ích to lớn, há có phải là bổn tâm của Bồ Tát?

          Đáp: Do hết thảy tri kiến mà Như Lai v́ khắp chúng sanh trong cơi đại thiên chế định giới luật. [Những kẻ chống trái] như Lục Quần tỳ-kheo v.v… cũng là bậc đại quyền thị hiện, thấu hiểu tâm thái của đời Mạt mà thị hiện duyên phạm giới. Chính v́ t́nh người biếng nhác, chẳng chịu b́nh đẳng ǵn giữ giới khinh hay trọng đến nỗi trở thành mạt vận. Nay muốn hoằng Tông, diễn Giáo, ắt phải lấy tŕ giới làm gốc. Nội nhân đă thuần hậu, ngoại duyên tự thịnh. Từ tướng bạch hào tỏa ra một phần quang minh, quyết chẳng phải là lời dối trá! Nếu coi giới là tiểu tiết, sẽ thành báng pháp, đàm Tông, thuyết Giáo đều thành luông tuồng, mờ mịt. Nếu có ngoại duyên thuận lợi, sẽ đều thành ma nghiệp, có ích ǵ cho chánh pháp?

          5) Hỏi: Chư Tổ tại Tây Càn tinh thông Tam Học, nơi đây là chốn xa xôi, thời gian đă xa vời, ít người thấy nghe. Chỉ có từ thời Đường - Tống trở đi là có vài bậc thầy, tung tích tỏ lộ, nhưng ở bên ḍng nước, hoặc chốn rừng rậm, dùng ba cái sọt trúc, một cái cuốc để tự sống thanh tịnh, tới khi suất lănh đồ chúng th́ coi “một ngày không làm, một ngày không ăn” là quy củ thơm thảo chân thật. C̣n như lúc hoằng dương, tiếp độ đại chúng rộng lớn bèn dùng một gậy, một tiếng quát để nêu bày lẽ hướng thượng, đều chẳng tương ứng với Luật Học. Kẻ hảo tâm xuất gia do hành cước vào núi, cho tới khi lên ṭa, đắp y [để thuyết pháp], không ai chẳng phỏng theo quy cách ấy! Nay c̣n chấp nhận chư tổ như trên là tỳ-kheo chân thật ư? Nếu chẳng phải, sao họ có thể tiếp nối ngôi vị Tổ? Nếu là phải, sao họ chẳng tuân thủ giới luật? Lại nữa, nay kẻ tiếp nối ngôi vị Tổ, theo lệ coi thường Luật Học; các tổ trước kia cũng coi thường ư? Lại nữa, người tiếp nối ngôi vị hiện thời, chẳng tuân thủ giới mà truyền trao giới cho người khác; chư tổ xưa kia cũng truyền giới cho người khác ư?

          Đáp: Tổ có ba loại:

1. Một là bậc nghiêm tịnh Tỳ Ni, là tấm gương to lớn cho tam giới, như Viễn Công (tổ Huệ Viễn), Trí Giả, Tả Khê, Vĩnh Gia, Kinh Khê, Đại Mai, Vĩnh Minh, Cao Phong, Trung Phong, Sở Thạch v.v… Bậc tri thức xưa nay như thế cũng rất nhiều, đáng nên kính ngưỡng, phỏng theo.

2. Hai là sanh nhằm thời Mạt, do t́nh thế bất đắc dĩ, tuân theo di mạng của đức Phật, xả vi tế giới, ở nơi vắng lặng, bèn đẵn cây, đốt rẫy, lănh chúng th́ khai khẩn ruộng đất. Nhưng các giới như “chẳng ăn phi thời” v.v… vẫn tự tuân hành. V́ thế, buổi tối dùng dược thạch, chẳng giống như cơm, cháo. Ngài Đức Sơn khất thực cũng do nh́n theo bóng dáng[55], nhưng các vị tri thức ấy sẽ chẳng chịu truyền giới cho người khác. Do vậy, từ thời Đường - Tống tới nay, có chùa Thiền giảng Luật. Người mới xuất gia phần nhiều học Luật. Nếu nắm vững Luật, bèn tự hoằng truyền Luật. Chẳng nắm được, bèn tập giảng, tham Thiền, chỉ là xả giới vi tế, chẳng xả trọng giới và tánh giới. Lại có người tiến ngay vào Thiền, Giáo, tức là hạng “thừa cấp giới hoăn”, nhưng vẫn thủ hộ năm giới căn bản, chắc chắn chẳng có lẽ nào hủy trọng giới, quyết chẳng dám tự xưng là tỳ-kheo mà khinh dễ Luật Học, chỉ thẹn chưa thể [giữ trọn vẹn giới Luật] là điều đáng xấu hổ nơi đức hạnh. C̣n việc xuất thế tiếp độ người khác th́ hoặc là thọ giới phẩm lần nữa, tánh, giá đều tịnh như Lục Tổ v.v… Hoặc chỉ nêu một ḿnh lẽ hướng thượng để tiếp độ riêng một loại căn cơ như ngài Thọ Xương v.v… Như có người hỏi ngài Thọ Xương: “Đức Phật chế định tỳ-kheo không được đào đất, tổn thương cỏ cây, nay sao lại trồng trọt, cày cấy, thâu hoạch?” Sư đáp: “Bọn ta chỉ ngộ Phật tâm, kham truyền ư Tổ, chỉ dạy kẻ đương cơ, khiến cho họ hiểu biết tâm tánh và phương cách của chánh pháp, chỉ xưng là cư sĩ cạo tóc, nào dám nhận danh xưng tỳ-kheo”. Lại hỏi: “Nếu có tỳ-kheo đúng như pháp, Sư coi như thế nào?” Đáp: “Sẽ kính trọng như Phật, dùng lễ đối đăi như thầy”. Chẳng phải là không làm, mà thật ra là chưa thể! Lại như Tử Bách đại sư suốt đời ăn một bữa cháo, một bữa cơm, chẳng hề ăn vặt, hông chẳng ngả xuống chiếu suốt bốn mươi mấy năm. Do Ngài chẳng thể tŕ giới vi tế, trọn đời chẳng dám truyền giới Sa-Di và tỳ-kheo cho người khác. Nếu bất đắc dĩ, th́ truyền thọ pháp Ngũ Giới mà thôi! Than ôi! Chư tổ xưa kia kính trọng Luật Học ngần ấy, há dám coi thường ư? Nếu coi thường Luật, chắc chắn thuộc phường tà kiến, chẳng phải là bậc tông tượng!

3) Ba là đại dụng hiện tiền, xét theo căn cơ mà tạo lợi ích, phá nghi chấp của người khác, chẳng câu nệ quy củ thường hằng. Như Văn Thù Bồ Tát cầm gươm bức Phật kết hạ ở ba chỗ[56]. Tỳ-kheo Trọng Thắng cùng ngồi với người nữ, khiến cho kẻ đó chứng Vô Sanh. Cho đến Hàn Sơn và Thập Đắc quở trách Luật Chủ, Quy Nam chém mèo, rắn[57]. Ví như lương y dùng tỳ sương[58] để trị bệnh, đại tướng dùng kế lạ để trừ giặc, nhưng chẳng thể coi đó là khuôn phép. Lại nữa, phàm kẻ quở Phật, chửi Tổ, phang đập đau đớn, hay quát tháo dữ dội, đều là bất đắc dĩ mà dùng. Nói đến binh khí th́ đó là vật bất tường, chẳng phải là vải bông, thóc gạo. Sử dụng thích đáng, nơi h́nh tích th́ dường như trái Luật, nhưng thật ra là tŕ luật chân thật, do nắm được ư chỉ của Luật. Như kinh nói phu nhân Mạt Lợi uống rượu để cứu người khỏi bị giết[59], đức Phật tán thán bà ta thật sự tŕ trai giới. Bồ Tát xét căn cơ mà làm các chuyện như giết, trộm v.v… nhưng chẳng vi phạm Bồ Tát Giới, c̣n sanh nhiều công đức. Nếu chẳng đúng lẽ, sẽ thành đặt bày môn đ́nh, như Ưu Mạnh học đ̣i Thúc Ngao[60], Tông đă chẳng ra Tông, Luật lại chẳng phải là Luật, báng Đại Bát Nhă, khiến cho kẻ hậu học ngờ vực, lầm lạc, báo ứng dữ dội trong chốn tam đồ, sẽ do đâu mà tránh được? Nếu c̣n dẫn dụ kẻ ngu, tạo đủ loại phước, do phước lực duy tŕ, chẳng đọa lạc ngay, rốt cuộc là quyến thuộc của ngoại đạo, tà ma, chẳng phải là đệ tử của Phật!

Thời Mạt có nhiều loại yêu ma, dối gạt, mê hoặc người đời như thế đó. Chúng nó bị ma nhiếp phục, phụ trợ, được nhiều cúng dường, tụ tập đại chúng cả trăm ngàn người, quyến thuộc, con cháu trọn khắp thiên hạ, hủy giới, hủy giáo, phá hoại pháp luân chân chánh của Như Lai. Kẻ ngu tiểu vô tri hâm mộ thanh danh của chúng nó, tranh nhau bắt chước, khiến cho người hảo tâm xuất gia đều lọt vào bè đảng ấy, cầu thăng lên, đâm ra đọa xuống, buồn ḷng, xót dạ lắm thay! Nhưng do vẫn lấy Tam Bảo làm cảnh sở duyên, khi tội báo đă hoàn tất, vẫn nhờ vào sức của Phật, Pháp, Tăng, Giới mà được độ thoát. Ma vương nói với đức Phật: “Trong thời Mạt Pháp của Ngài, tôi sẽ sai quyến thuộc ăn cơm của Ngài, đắp y của Ngài để phá hoại pháp của Ngài”. Đức Phật bảo: “Ông chỉ tự hoại, Pháp chẳng hoại”. Nay muốn chẳng đọa tam đồ, lại c̣n dự vào thánh quả, xin hăy ắt khởi đầu bằng tŕ giới. Nếu mang cái danh thọ giới, lại khinh rẻ giới pháp, đă không tinh tường giới pháp, lại c̣n v́ người khác truyền giới, lại chẳng dạy họ học giới, c̣n nói giới là Tiểu Thừa, chẳng cần học tập, ắt quyết đọa tam đồ, là quyến thuộc của ma, tự hứng chịu nỗi khổ, không ai có thể chịu thay, rốt cuộc cũng ắt đều thành Phật cả. Tôi chẳng dám khinh rẻ!

 

* Đáp các câu hỏi của ông Đường Nghi Chi về ư nghĩa trong sách (có trích dẫn)

 

          “Trí cập chi” (do trí mà thấu hiểu) chính là nói tới “cách vật trí tri” (hiểu biết sự vật để thấu đạt tới tận cùng) trong sách Đại Học, và “trạch hồ Trung Dung, đắc nhất thiện” (chọn lựa đạo Trung Dung là đạt được một phương cách tốt lành) trong sách Trung Dung. “Nhân thủ chi” (dùng ḷng nhân để giữ lấy), tức là “thành ư chánh tâm” trong sách Đại Học và “quyền quyền phục ưng nhi phất thất chi dă” (vâng giữ chặt chẽ trong tâm, chẳng dám để mất) trong sách Trung Dung. “Trang lỵ chi” (trang trọng mà thực hiện) tức là “tu thân” trong sách Đại Học và “thành thân” (誠身) trong sách Trung Dung. “Động chi dĩ lễ” (dùng lễ để cảm động người khác) tức là “tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ” trong sách Đại Học và “thuận thân, tín hữu, hoạch thượng” (thuận thảo với người thân, giữ chữ tín với bạn bè, được bề trên tin tưởng) trong sách Trung Dung. Thánh nhân thuyết pháp, ứng theo bệnh mà cho thuốc. Nếu v́ trí chưa thấu hiểu, bèn nói “tri đức giả tiễn hỹ” (kẻ thấu hiểu đức hiếm hoi lắm). Do suy nghĩ vô ích chẳng bằng học; suy nghĩ mà chẳng học sẽ luống công mệt nhọc. Đấy là ư nghĩa coi trọng “lớp lang, thứ tự được điều ḥa từ lúc khởi đầu[61] của Mạnh Tử. Nay quở trách chuyện công năng do “trí cập chi”“nhân thủ chi” chính là ư nghĩa kiêm coi trọng “kết thúc sự điều ḥa thứ tự, lớp lang của Mạnh Tử (tuy bắn trúng bia, nhưng chẳng đúng vào hồng tâm, vẫn chẳng phải là giỏi bắn. Huống hồ chẳng trúng hồng tâm cũng chẳng trúng bia! Tài khéo và sức mạnh [trong việc bắn cung] đều chẳng thể coi thường. Trước hết luận về sự khéo léo, sau đó bàn về sức mạnh). “Càn tri đại thỉ, Khôn tác thành vật” (Biết Càn là sự khởi đầu to lớn, Khôn tạo thành muôn vật)[62]. Có Khôn mà không có Càn, cố nhiên là chẳng thể được. Có Càn mà chẳng có Khôn, há lại có thể được ư? Chẳng có bước đầu, sẽ chẳng có khởi thủy cho cái rốt ráo cuối cùng; chẳng về đến nhà, sẽ chẳng coi là kết cục cho bước đầu tiên. Đấy là cái học “hợp nhất trí và nhân” của Nho môn, cũng giống như cái học “giải hạnh thấu triệt lẫn nhau” của Phật môn. Chẳng rườm rà bàn thêm về Nho, xin hăy nói về cái học trong nhà Phật. Cần phải chia thành tứ giáo để biện định nội, ngoại, tiểu, đại, thiên, viên. Xin hăy suy nghĩ cặn kẽ, đng coi thường!

          Tạng Giáo biết tam giới khổ, không, vô thường, vô ngă, bất tịnh, đó gọi là “trí cập chi” (trí thấu hiểu). Niệm nào cũng đều tương ứng với Tứ Niệm Xứ, chẳng dấy lên Kiến Tư phiền năo, bèn gọi là “nhân năng thủ chi” (do ḷng nhân bèn ǵn giữ sự thấu hiểu ấy). Thân khẩu ư nghiệp luôn tương ứng với ba ngàn tám vạn luật nghi, gọi là “trang dĩ lỵ chi” (trang trọng thực hiện ḥng đạt tới), đạt được “chẳng quên niệm”. Trong hết thảy các thời, ứng theo căn cơ mà lập giáo, đó là “động chi dĩ lễ”. Uất Đầu Lam Phất nhập Hữu Đảnh Định cũng tương tự “nhân thủ” (dùng ḷng nhân để ǵn giữ). Oai nghi tịch tĩnh có lớp lang, giống như “trang lỵ” (trang trọng thực hiện). Do cái được gọi là “Định môn” mà nhiếp hóa nhiều người phục tùng đạo ấy, tương tự như “động chi dĩ lễ”. Do trí ấy chưa đạt tới xuất thế, nên “thủ” (ǵn giữ, duy tŕ [đạo ấy]) chẳng gọi là Nhân, Lỵ (thực hiện) chẳng gọi là Trang, Động chẳng gọi là Lễ (Uất Đầu Lam Phất cũng là trí đă đạt tới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, nhưng chẳng phải là trí xuất thế gian).

          Tu Đà Hoàn xả giới hoàn tục là “trí cập chi, nhân bất năng thủ chi” (trí đă thấu hiểu, nhưng chưa thể dùng ḷng nhân để giữ lấy sự hiểu biết do cái trí thấu đạt ấy). Xá Lợi Phất có tập khí sân, Tất Lăng Già (Tất Lăng Già Bà Ta, Pilindavatsa) có tập khí mạn, Nan Đà có tập khí tham, Kiều Phạm Ba Đề (Gavāṃpati) có tập khí nhai nhóp nhép v.v… Các vị ấy có thể dùng nhân để giữ lấy, nhưng chưa thể trang trọng thực hiện. Thần thông của các vị Ca Diếp, Mục Liên v.v… phải tác ư mới có, tức là xử sự vẫn chưa ḥa toàn tương ứng với lễ.

          Thông Giáo biết tam giới như mộng, huyễn, hoa đốm trên không, trăng trong nước, gọi là “trí cập chi”. Niệm nào cũng đều tương ứng với Không Quán, gọi là “nhân năng thủ chi”. Đối với hai câu “trang dĩ lỵ chi”, luận định giống như Tạng Giáo. Cực quả trong Tạng Giáo tuy đạt đến cảnh giới “động chi dĩ lễ” (xử sự đều hợp lễ), nhưng chẳng thấu đạt “các pháp vốn Không”, chẳng gọi là “trí cập chi”. Do trí chưa đạt tới, chẳng gọi là “nhân thủ” (giữ ǵn bằng ḷng nhân) v.v… Kiến Địa và Bạc Địa cũng có người xả giới hoàn tục, tức “chẳng thể giữ lấy”. Đă đạt tới địa vị nhưng chẳng trừ khử tập khí, nên chẳng phải là “trang lỵ” (trang trọng thực hiện). Địa vị Bích Chi Phật tập khí chưa tận, gọi là “động chi bất dĩ lễ” (xử sự chẳng hoàn toàn tương ứng với lễ).

          Biệt Giáo biết sanh tử là hữu biên, Niết Bàn là vô biên, Chân Như pháp tánh chẳng phải có, chẳng phải không. Nương vào Chân Như sẽ thành cái Có thuộc về sanh tử, cái Không thuộc Niết Bàn, đó gọi là “trí cập chi”. Trước là dùng Không Quán để đoạn Kiến Tư Hoặc, thoát khỏi bờ Hữu nơi sanh tử, gọi là “nhân năng thủ chi”. Kế đó, Giả Quán phá Trần Sa Hoặc, thoát khỏi bờ Vô nơi Niết Bàn, gọi là “trang dĩ lỵ chi”. Sau đó, Trung Quán phá Vô Minh Hoặc, chứng cái Thể của Trung Đạo. Từ Thể khởi Dụng, gọi là “động chi dĩ lễ”. Cực quả của Thông Giáo tuy đạt tới cảnh giới “động chi dĩ lễ”, nhưng chẳng thấu đạt Trung Đạo pháp tánh, nên chẳng gọi là “trí cập chi”. Do trí chưa đạt tới, nên chẳng gọi là “nhân thủ” v.v… Thập Tín có thoái thất tức là “nhân bất năng thủ chi”. Thập Trụ tự lợi, tức là chẳng “trang dĩ lỵ chi”. Thập Hạnh chưa tu Trung Đạo, Thập Hồi Hướng chưa chứng Trung Đạo, tức là “động chi bất dĩ lễ”.

          Viên Giáo biết “hết thảy các pháp đều là Phật pháp, Thật Tướng của pháp giới, tánh và tướng thường trụ. Mỗi sắc, mỗi hương, không ǵ chẳng phải là Trung Đạo, sanh tử tức Niết Bàn, phiền năo tức Bồ Đề”, có thể phá trừ trọn khắp hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, có thể kiến lập hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, có thể thống nhiếp, dung quán hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian, gọi là “trí cập chi”. Niệm nào cũng đều tương ứng với Chỉ Quán viên diệu ấy, chế phục trọn vẹn ngũ trụ phiền năo, gọi là “nhân năng thủ chi”. Sáu căn thanh tịnh, gọi là “trang dĩ lỵ chi”. Nhập vô công dụng diệu đạo, gọi là “động chi dĩ lễ”. Lại nữa, trí, nhân, trang, lễ của Viên Giáo mỗi mỗi viên dung, mỗi mỗi đều thâu nhiếp lẫn nhau, chẳng phải một, chẳng phải bốn, tuy một mà là bốn.

Trong địa vị Danh Tự, bèn có danh tự “trí, nhân, trang, lễ”, cho đến địa vị Cứu Cánh, bèn có “trí, nhân, trang, lễ” rốt ráo. Nay gọi Danh Tự “trí, nhân, trang, lễ” bằng tên gọi chung là “trí cập chi”. Quán Hạnh “trí, nhân, trang, lễ” được gọi chung là “nhân năng thủ chi”. Tương Tự “trí, nhân, trang, lễ” được gọi chung là “trang dĩ lỵ chi”. Phần Chứng và Cứu Cánh “trí, nhân, trang, lễ” được gọi chung là “động chi dĩ lễ”. Viên Dung chẳng trở ngại Hàng Bố[63], Hàng Bố chẳng trở ngại Viên Dung, do pháp vô vi mà có sai biệt, chính là nói về điều này. Thập Hồi Hướng trong Biệt Giáo tuy đạt được cảnh giới tương tự “động chi dĩ lễ”, nhưng chưa đạt được tánh Trung Đạo viên dung chẳng thể nghĩ bàn, chẳng gọi là “trí cập chi”. Do trí chẳng đạt mức nên chẳng gọi là “nhân thủ” (dùng ḷng nhân để ǵn giữ) v.v…

          Danh Tự khai viên giải, nhưng chưa chế phục phiền năo, tức là “nhân bất năng thủ chi”. Quán Hạnh chế phục Ngũ Trụ, nhưng chưa thanh tịnh lục căn, tức là chẳng “trang dĩ lỵ chi”. Tương Tự đă tịnh lục căn, nhưng chẳng nhập vô công dụng đạo, tức là chẳng “động chi dĩ lễ”. Quy Sơn đại sư nói: “Khó đạt được sự kỳ diệu của Tông này, cần phải hết sức dụng tâm cẩn mật” chính là tán thán sâu xa sự khó khăn của “trí cập chi” trong Viên Giáo. Có thể đốn ngộ chánh nhân trong ấy, sẽ là bậc thềm để xuất trần. Nếu có thể đời đời bất thoái, địa vị Phật chắc chắn có thể mong đạt tới. Đó là “trí cập chi” của Viên Giáo, đ̣i hỏi phải có công năng toàn vẹn của “nhân thủ”!

 

* Giải đáp chín câu hỏi về Thành Duy Thức Luận (có đính kèm lời hỏi)    

 

          1) Hỏi: Mạt Na tương ứng với huệ. V́ thế, trong cái nhân, nó thuận theo thức thứ sáu mà chuyển thành trí. C̣n Tạng Thức chẳng có Huệ, cho tới khi đạt được cái quả th́ mới trọn vẹn. Năm thức trước đă đều có Huệ, lại c̣n đều có thiện, nhưng lại thuộc vào Chuyển Thức. V́ sao chẳng thuận theo thức thứ sáu để chuyển ngay trong cái nhân mà cũng phải đợi đạt tới quả th́ mới viên măn?

          Đáp: Huệ của Mạt Na chính là ngă kiến. Ngă kiến chẳng có tự thể, thẳng thừng dùng Huệ làm Thể. Thức thứ sáu vào trong hai phép Quán (Duy Tâm Thức Quán và Chân Như Thật Quán). Thức thức bảy th́ hai chấp (ngă chấp và pháp chấp) chẳng thể hiện hành. V́ thế, được chuyển thành B́nh Đẳng Tánh Trí. Nhưng thức thứ sáu vượt khỏi Pháp Không Quán, thức thứ bảy vẫn khởi Pháp Chấp. Thức thứ sáu vượt khỏi Sanh Không Quán, thức thứ bảy vẫn khởi Ngă Chấp. Nhưng thức thứ bảy là bất cộng thân y[64] của thức thứ sáu. V́ thế, thức thứ sáu chuyển [thức thành trí], nhưng thức thứ bảy chẳng chuyển. Như năm thức trước tuy đều có huệ, nhưng chẳng tương ứng với ngă kiến, cho nên huệ rất kém. Tuy có điều thiện, nhưng là tạm tương ứng với điều thiện của thức thứ sáu hoặc điều thiện nơi cảnh giới, chẳng thể đoạn Hoặc, chứng Lư. Bởi lẽ, muốn đoạn Hoặc, cần phải do tâm Định. Do trong Định tâm phần nhiều chẳng có năm thức trước, măi cho tới khi chứng quả vị, các chủng tử hữu lậu trong thức thứ tám đă tận, [thức thứ tám] chuyển thành tương ứng với Đại Viên Kính Trí (Ādarśa-jñāna), bèn gọi là Vô Cấu Thức (Amala). Từ tịnh thức ấy, biến hiện Tướng Phần của ngũ căn. Do thuần vô lậu, nương vào đó mà phát khởi thức, [các thức được phát khởi ấy] cũng thành vô lậu, gọi là tâm phẩm tương ứng với Thành Sở Tác Trí (Krtyānusthāna-jñāna), chỉ thuộc vào tác dụng hóa độ người khác nơi quả, chẳng thể tự lợi, chẳng giống như thức thứ bảy.

          2) Hỏi: Do có ngă kiến, các kiến khác chẳng sanh. Do trong một tâm chẳng có hai huệ, sao lại là “đă có ngă kiến mà lại c̣n tương ứng với huệ?”

          Đáp: Tâm Sở có giả và thật, như Huệ trong Biệt Cảnh th́ có tự thể, c̣n năm thứ kiến trong mười phiền năo th́ chẳng có Thể, chỉ dùng nhiễm huệ làm Thể. Nay Huệ tương ứng với thức thứ bảy chưa chuyển, toàn thể là ngă kiến và pháp kiến. Đă chuyển th́ toàn thể đều thành B́nh Đẳng Tánh Trí (Samatā-jñāna). V́ thế nói: “Xét theo nghĩa th́ sai biệt”. Há có phải là trong một tâm mà có hai huệ ư?

          3) Hỏi: Ngă Kiến tồn tại trong Mạt Na, dùng Huệ làm Thể. Do nghĩa khác biệt, vẫn tồn tại cùng với huệ. Vong niệm (忘念, quên mất ư niệm) lấy niệm làm Thể, sao cũng chẳng do nghĩa khác biệt mà tương ứng với niệm?

          Đáp: Do Mạt Na có huệ và có ngă kiến, cùng tồn tại với ngă kiến, tức là cùng với huệ tồn tại. Vong niệm lấy niệm làm Thể, chẳng trọn khắp nhiễm tâm. Do lấy Si làm Thể th́ mới trọn khắp nhiễm tâm. Chỉ do ngă si nơi thức thứ bảy, biết nó chẳng có chánh niệm. Do đó, chê trách là “vong niệm”, đều chẳng có tự thể. Xét theo phương diện lầm lỗi mà lập ra hai thứ ấy!

          4) Hỏi: Nói thức ấy (Mạt Na Thức) duyên theo cái mà nó nương vào, như có hậu thức bèn duyên tiền ư[65]. Nếu gạn rằng “cái để nương vào của năm thức trước là ngũ căn, cũng là tăng thượng duyên, sao lại riêng chẳng chấp thuận đó là cái để duyên vào?” Xin hăy phân tích cặn kẽ ư nghĩa “duyên vào” của thức!

          Đáp: Thức thứ bảy chỉ là nội môn chuyển[66], cho nên có thể coi cái để nó nương vào là cái để nó duyên theo. Năm thức trước chỉ là ngoại chuyển, nên chẳng thể coi cái để chúng nương vào là cái để duyên theo, chớ nên dựa theo đó!

          5) Hỏi: Ư thức nương vào ư, có ba thứ phân biệt. Nếu nương vào sắc, sẽ giống như năm thức trước. Thức thứ tám cũng nương theo ư, chẳng thuận theo sắc căn, sao lại chỉ có tự tánh phân biệt, chẳng thuận theo niệm mà so đo?

          Đáp: Sáu thức đầu đều thuộc về Chuyển Thức[67], nhưng một thức (ư thức) nương theo tâm pháp, năm thức kia nương theo sắc pháp, cho nên phân biệt. Thức thứ tám chẳng thuộc vào Chuyển Thức, chỉ là cái được huân tập, chỉ là một loại có tánh vô kư luôn chuyển. Nếu nó cũng có đủ ba thứ phân biệt th́ sẽ có chuyển đổi, nhưng các chủng tử được huân tŕ sẽ đều chẳng thành được!

          6) Hỏi: Duy Thức Ngũ Quán và hai phép Quán trong kinh Chiêm Sát giống nhau hay khác nhau?

          Đáp: Trừ hư, giữ thật, xả lạm, lưu thuần, nhiếp gốc về ngọn, ẩn kém, hiển thắng, đều từ Duy Tâm Thức Quán mở ra. Nếu trừ tướng, chứng tánh, nghĩa vẫn thuộc vào hai phép Quán. Như nói Tục Hữu, Chân Không, th́ vẫn là Duy Tâm Thức Quán. Nếu trừ chấp tướng, thấu đạt “tướng chính là tánh” th́ chính là Chân Như Thật Quán.

          7) Hỏi: Tư () có thể khiến cho tâm tạo tác. Tư tương ứng với thức thứ tám sẽ khiến tạo những ǵ?

          Đáp: Móng tay mọc, tóc mọc dài, gân chuyển, mạch nhảy, tóc bạc, mặt nhăn, khí suy, dung mạo tiều tụy, mặt trời, mặt trăng nối tiếp nhau ngày đêm, sông ng̣i đua nhau chảy, biển xanh và ruộng dâu đổi chỗ cho nhau, Xuân, Hạ đắp đổi, đều do thức thứ tám tạo tác.

          8) Hỏi: Sân chỉ là bất thiện, vậy th́ Sơ Quả và Nhị Quả tùy ư khởi sân tâm bèn gọi là bất thiện ư? Có tương ứng với vô tàm, vô quư hay không? Có thể phát nghiệp nhuận sanh[68] hay không?

          Đáp: Người học thất niệm (mất chánh niệm) bèn dấy ḷng sân, cũng gọi là bất thiện. Niệm ấy cũng gọi là “vô tàm, vô quư” (chẳng xấu hổ, chẳng thẹn), nhưng đă đoạn Kiến Hoặc, cố nhiên chẳng phát khởi nghiệp, thiện tâm dễ khởi, ác tâm dễ diệt, chẳng nhuận sanh.

          9) Hỏi: Địa vị Tự Tại chỉ có lạc hỷ xả, do chư Phật đă đoạn các chuyện ưu khổ, nhưng các [thứ báo ứng trong đời hiện tại] như cái thương bằng vàng [bỗng xuất hiện muốn đâm đức Phật], như [đức Phật và chư Tăng không được cúng dường trong ba tháng Hạ, phải] ăn lúa mạch của ngựa v.v… có được gọi là Khổ hay không? Ưu niệm chúng sanh th́ có gọi là Ưu hay không? Lại như dao sắc trên đỉnh đầu như chém gió Xuân, có được gọi là chẳng có ưu khổ hay không?

          Đáp: Danh nghĩa Duy Thức như ưu, hỷ, lạc, khổ v.v… mỗi đằng đều có giới hạn, chỉ riêng Phật mới có thể thật sự không ưu khổ. Chuyện cái thương bằng vàng, ăn lúa mạch dành cho ngựa trong đời này là đại quyền thị hiện, vốn chẳng phải là chuyện thật, cho nên chẳng phải là khổ hay ưu. [Đức Phật] nghĩ tới chúng sanh cũng chẳng giống phàm phu trăm mối lo nghĩ bứt rứt! Đối diện gió như dao chém, tuy chẳng ưu khổ, vẫn chẳng giống như Phật quả, do Phật quả chẳng thể bị hại! C̣n như xứng tánh cực đàm, Bồ Tát chứng ưu khổ một phần, chư Phật rốt ráo hết ưu khổ. Người đă quên tướng danh tự th́ mới có thể tin nổi!

 

* Trả lời ba câu hỏi về cách tŕ chú Chuẩn Đề (đính kèm lời hỏi)

 

          1) Hỏi: Hết thảy các kinh văn năng thuyên (có thể diễn nói) ắt có cái Thể sở thuyên (được diễn nói). Hai thứ “thuyên” của Hiển và Mật là giống nhau hay khác nhau? Lại nữa, đức Phật dùng ǵ để hiển thuyết, lại dùng ǵ để mật thuyết?

          Đáp: Ngàn kinh vạn luận, dù Hiển hay Mật, đều chỉ thẳng tâm người ḥng họ kiến tánh thành Phật. Trừ cái tâm ấy ra, chẳng có cái nào khác để diễn nói, giống như nói: “Sáu kinh đều là cước chú của cái tâm ta. Hiển Mật thuyết là có khi do hiển thuyết mà [người nghe] đạt được bốn món lợi ích, có khi do mật thuyết mà [người nghe] đạt được bốn món lợi ích. Phật trí soi xét căn cơ, có thể tùy thuận thí hóa. Lương y dựa theo chứng bệnh mà cho thuốc thích nghi, chẳng sai chạy vậy!

          2) Hỏi: Xứng Thể khởi nguyện, gọi là phát Bồ Đề, thượng cầu, hạ hóa, chẳng hề ĺa bỏ, nay phát Bồ Đề tâm được nói trong cách hành tŕ này đều là theo Nho tông hoặc giáo pháp thế gian, có giống với Phật pháp hay không?

          Đáp: Bậc tông tượng trong Nho giáo thời cổ đều là Phật, Bồ Tát thị hiện làm thầy, làm bậc hướng dẫn ḥng tiếp dẫn lũ mê. Giáo pháp thế gian được [các vị ấy] lập ra, không ǵ chẳng phải là Phật pháp. Các nhà Nho về sau câu nệ, hư huyễn, chẳng thể dẫn thân xúc trưởng[69], bèn bị môn đ́nh ngăn cách. Suy xét theo lẽ thật, thánh nhân trước hết đă thấu hiểu “ngă tâm đồng nhiên” (tâm ta cũng tương đồng), há chẳng phải là ư chỉ “tam vô sai biệt” (tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt) ư? Ưa thích đạo của Nghiêu, Thuấn, “nhược kỷ thôi nhi nạp chư cấu trung” (giống như chính ḿnh đẩy người khác xuống khe rănh cho họ chết mất đi)[70], há chẳng phải là hoài băo “thượng cầu, hạ hóa” ư? Nhưng chó, trâu, và con người tánh đều như nhau, Cáo Tử[71] tự chẳng dám thừa nhận, Mạnh Tử lại bảo “nhân cầm cơ hy” (người và cầm thú chẳng khác nhau cho mấy), há chẳng phải là bằng chứng của “tuy do huân tập mà cách xa, nhưng tánh vẫn gần giống như nhau” ư?

          3) Hỏi: Sách Hiển Mật Viên Thông[72] cho rằng chẳng giữ trai giới, chẳng kiêng rượu thịt, mà thường đạt được ứng nghiệm, sao lại riêng nói pháp này[73], khiến cho người khác sợ khó?

          Đáp: Nói chung, tŕ chú mỗi đằng đều có điều cốt lơi riêng. Năm bộ[74] đă khác nhau, ba loại cũng khác. Sách Hiển Mật Viên Thông đính kèm những điều xen tạp, chẳng phải là kim cang chánh ấn. Nương theo đó để hành tŕ mà đạt được linh ứng, là do hành nhân dốc ḷng tin tưởng, gắng sức hành bèn được cảm vời. Nếu chỉ coi đó là đúng như pháp để phụng tŕ, th́ sự linh ứng há chẳng phải chỉ là cầu công danh, con cái mà thôi! Huống hồ gần đây người tŕ th́ nhiều mà kẻ đạt được ứng nghiệm ít ỏi, không chỉ do tin chẳng chuyên dốc, hành chưa tận sức, mà cũng do pháp chưa hay khéo. Nhưng nay vâng theo kinh để kết đàn, tŕ các pháp như Bát Quan Trai Giới v.v… bất quá là các phương tiện sử dụng đă lâu nhằm hạn định thời hạn ḥng đạt hiệu quả mà lập bày, chẳng phải là cách tŕ chú thường nhật đều cần phải hành như thế.

 

* Vấn đáp trong hai khóa hành tŕ Pháp Hoa lần thứ ba và lần thứ tư (những điều khác xem trong phần kệ tụng)

 

          1) Hỏi: Tam thân và tam tự tánh là giống nhau, hay khác nhau?

          Đáp: Tam tự tánh (Biến Kế Sở Chấp Tánh, Y Tha Khởi Tánh, Viên Thành Thật Tánh) và tam thân (Pháp, Báo, Ứng) vừa đồng, vừa biệt! Đồng là do ngộ tánh Viên Thành Thật, bèn chứng hiểu Pháp Thân, do tịnh hóa Y Tha, bèn thành tựu Báo Trí Thân, do ngộ Biến Kế vốn Không, thành Phổ Ứng Thân. Biệt là tam thân ước theo quả đức, ước theo ngộ mà hiển. Tam tánh là ước theo cảnh giới, thông cả mê lẫn ngộ.

          2) Hỏi: Hết thảy các pháp đều có thể tạo thành bốn câu. Lại như ba tánh, mỗi tánh đều có bốn câu, phải nên nói như thế nào?

          Đáp: Bốn câu của Biến Kế Sở Chấp Tánh là:

- Do có t́nh nên là thường.

- Do Lư vô, nên vô thường.

- Do có t́nh tức là Lư vô, nên cũng là thường, cũng vô thường.

- Do Lư vô tức là t́nh có, nên chẳng phải thường, chẳng phải vô thường.

Bốn câu của Y Tha Khởi Tánh là:

- Do duyên sanh nên là thường.

- Do vô tánh nên vô thường.

- Do duyên sanh tức là vô tánh, nên cũng thường, cũng vô thường.

- Do vô tánh tức là duyên sanh, nên chẳng phải thường, chẳng phải vô thường.

Bốn câu của Viên Thành Thật Tánh là:

- Do Lư có nên thường.

- Do t́nh chẳng có, nên vô thường.

- Do Lư có tức là t́nh chẳng có, nên cũng thường, cũng vô thường.

- Do t́nh không có tức là Lư có, nên chẳng phải thường, chẳng phải vô thường.

Cũng có thể ước theo “bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến” mà tạo thành bốn câu. Lại chỉ ước theo Y Tha Khởi Tánh để biện định ba tánh nhằm minh định bốn câu:

- Do trong Y Tha Tánh có Viên Thành Thật Tánh, nên thường, như trong thừng có sợi gai.

- Do trong Y Tha Tánh không có Biến Kế Sở Chấp Tánh, nên vô thường, như trong thừng chẳng có rắn.

- Do cùng chiếu nên cũng thường, cũng vô thường.

- Do song giá (cùng ngăn che, tức cùng phủ định cả hai bên), nên chẳng phải thường, chẳng phải vô thường.

Hăy nên biết ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ đều là Y Tha Khởi Tánh. Trong Y Tha Khởi lại có bốn câu. Bốn câu của Y Tha Khổ (nỗi khổ do Y Tha Khởi Tánh dẫn khởi) chính là bốn câu nơi Pháp Thân sẵn có nơi tánh. Bốn câu của Y Tha Hoặc chính là bốn câu của Báo Thân sẵn có trong tánh. Bốn câu của Y Tha Nghiệp chính là bốn câu của Ứng Thân sẵn có trong tánh. Lại nữa, ba thân của Phật tứcba tự tánh thuộc tịnh phần, mỗi đằng đều có bốn câu.

 

4. Phổ thuyết[75]

* Phổ thuyết vào đêm Trừ Tịch năm Đinh Hợi (1647) tại Tổ Đường chùa U Thê

         

          Các huynh đệ muốn khôi phục bổn lai diện mục (diện mạo sẵn có), cần phải phá hai thứ ngă chấp và pháp chấp. Muốn phá hai thứ ngă chấp và pháp chấp, trước hết, nghiêm trừ tri kiến theo thói tục. Tri kiến theo thói tục là ǵ? Người hiện thời vừa mới xuất gia tham học, liền muốn làm thiện tri thức. Chỉ riêng điều này, đă há chẳng phải là ngă chấp ư? Hoặc lại dùng Luật để phủ định Giáo, hoặc dùng Giáo để bài xích Thiền, do Thiền mà coi thường Giáo, khinh rẻ Luật, há chẳng phải là pháp chấp ư? Dẫu cho dung ḥa, chẳng phủ nhận lẫn nhau, vẫn hiếm khi kiêm thiện (cùng coi nhau là tốt lành).

Hơn nữa, luật sư chẳng bận tâm căn tánh như thế nào, nhất loạt mong mọi người tŕ luật. Pháp sư chẳng hỏi căn tánh như thế nào, nhất loạt mong mọi người nghe kinh. Tông sư chẳng quan tâm căn tánh như thế nào, nhất loạt mong mọi người tham Thiền. Há lại chẳng phải là hai thứ ngă chấp và pháp chấp ư? Trọn chẳng biết ba thứ Thiền, Giáo, Luật đều do Như Lai tùy thuận cơ nghi mà nói, há có pháp chết cứng?

Tôi nay v́ các huynh đệ triệt để nói toạc ra. Nếu thật sự v́ sanh tử mà tŕ giới, tŕ giới ắt cũng ngộ đạo. Thật sự v́ sanh tử mà nghe kinh, nghe kinh ắt cũng ngộ đạo. Thật sự v́ sanh tử mà tham Thiền, tham Thiền ắt cũng ngộ đạo. Thật sự v́ sanh tử mà làm phước, làm phước ắt cũng ngộ đạo. Chuyên tu một pháp cũng ngộ đạo. Giúp lẫn nhau thành tựu cũng ngộ đạo, v́ nhân địa chân chánh. Nếu muốn làm luật sư truyền giới, muốn làm pháp sư nghe kinh, muốn làm tông sư tham Thiền, muốn có quyền thế để làm phước, th́ truyền giới, nghe kinh, tham Thiền, làm phước, ắt đều đọa trong ba đường ác. V́ thế, Trí Giả đại sư nói: “V́ lợi danh mà phát Bồ Đề tâm, đó chính là cái nhân của tam đồ”. Khác biệt chừng hào ly, cách biệt như trời với đất! Nhận định sai chuẩn mực, đề hồ thành thuốc độc. Nay những vị truyền giới, nghe kinh, tham Thiền, làm phước, ngoài miệng cũng nói “thật v́ sanh tử”, trong tâm chẳng biết sanh tử là đại khổ. Lửa cháy tận mày, chỉ đành trơ mắt nh́n! Trọn chẳng biết từ vô thỉ kiếp tới nay, thoạt trồi, thoạt hụp, oan uổng hứng chịu bao nhiêu chua xót. Dẫu nay may mắn được làm thân người, may mắn có h́nh tướng tăng sĩ, cũng đă trải qua bao nhiêu gian khổ, nhưng vẫn chưa chịu bừng tỉnh đại ngộ. Điều này có khác ǵ chim én hoặc chim sẻ ở dưới mái nhà?

Hơn nữa, nay chính là đêm Ba Mươi tháng Chạp, cổ nhân dùng điều này để sánh ví khi đại mạng đă hết, bức thiết chi bằng? Người hiện thời vui sướng ḥ reo, uống trà, chưa từng nghĩ quang âm trăm năm c̣n được mấy chốc? Há chẳng đau ḷng ư? Khi tôi xuất gia, cậu tôi đă bảo: “Pháp sư truyền bá Thế Đế, cháu ta quyết chẳng làm giống như thế, ắt sẽ làm thiện tri thức đấy chăng?” Tôi thưa: “Pháp sư là con rùa đen, thiện tri thức là con rùa, cháu đều chẳng đọa vào hầm hố ấy”. Cậu tôi hỏi: “Rốt cuộc là như thế nào?” Tôi thưa: “Phật c̣n không làm, huống hồ những thứ khác!” Cậu hỏi: “Vậy th́ v́ sao cháu xuất gia?” Tôi thưa: “Chỉ muốn khôi phục lại diện mục sẵn có của cháu”. Cậu tôi khen hay. Than ôi! Chí ban đầu của tôi là như thế đó, vẫn bị hư danh làm hại, chẳng thỏa măn chí sẵn có, hổ thẹn sâu xa. Huống hồ sơ tâm liền muốn làm thiện tri thức ư?

Giả sử làm một vị thiện tri thức Thế Đế, sẽ cứu giúp được chuyện ǵ? Danh lợi ngày càng nặng, chánh pháp ngày càng suy. Phá hoại nhà Châu là do Tề Hoàn Công và Tấn Văn Công! Hơn nữa, trong các vị thiện tri thức mà chính tôi mắt thấy, tai nghe, chỉ có ḿnh Tử Bách đại sư đă chứng Vô Sanh, đă được tự tại. Các vị đại lăo khác lập tùng lâm, mở ṭa giảng, lập quy củ, điều luật rộng lớn, chu đáo, tường tận, danh vang khắp trong nước, khi lâm chung, đều chẳng khỏi vướng mắc, ràng buộc, quyến luyến, đâm ra chẳng bằng Hám Sơn đại sư và sư bá U Khê lúc tuổi già một mặt thầm lặng tu, chẳng quản chuyện trong tùng lâm, đều được an tường ngồi qua đời. Lại chẳng bằng thiền sư Tuyết Đ́nh, hay pháp sư Linh Nguyên, suốt đời chẳng câu nệ tiểu tiết, lâm chung cũng thanh thản. V́ thế biết: Lập bày môn đ́nh không chỉ vô ích đối với bổn phận, mà c̣n chính là chằng néo, giết người! Tôi tiếc nuối chính ḿnh chướng sâu, sức mỏng, giới phẩm vẫn có nhiều thiếu sót, tŕ danh vẫn thuộc tán tâm, nhưng đă biết rơ sâu xa lỗi hại của sanh tử. V́ thế, quyết chẳng dám làm bộ làm tịch, to gan lớn mật, dối ḷng, nay đă hai năm tụ hội, chẳng lâu sau tính sẽ chia tay. V́ thế, tận lực phơi bày gan ruột, v́ các huynh đệ thực hiện lần cảnh sách cuối cùng này. Kính mong quư vị chú ư trân trọng.

 

* Phổ thuyết tại Nhân Nghĩa Viện ở Phong Nam thuộc Hấp Tây

         

          Các vị nhân giả! Sanh tử là chuyện lớn, vô thường nhanh chóng, sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết sẽ đi về đâu! Đó là nỗi khổ Phần Đoạn sanh tử. Đổi dời trong mỗi niệm, sát-na chẳng trụ; đó là nỗi khổ Biến Dịch sanh tử. Hai thứ khổ ấy chỉ là cành nhánh của sanh tử, chưa phải là cội nguồn của sanh tử! Như thế nào là cội nguồn của hai loại sanh tử? Chẳng thấu hiểu Nhất Chân pháp giới! Bất giác niệm dấy lên, bèn có vô minh, hư vọng từ trong tánh b́nh đẳng bèn chia thành năng và sở, chia thành sắc và tâm, chia thành hữu vi và vô vi, chia thành hữu lậu và vô lậu, chia thành y báo và chánh báo, chia thành nhân, quả, chia thành thiện, ác, chia thành khổ, vui, chia thành trong, ngoài, chia thành lớn, nhỏ, cho tới đủ loại phân biệt hư vọng. Đó chính là cội nguồn của Biến Dịch sanh tử. Chẳng biết hết thảy các pháp nhân duyên vô tánh, hư vọng so đo đủ loại tri kiến như ta, người, chúng sanh, thọ giả, hư vọng dấy lên đủ thứ phiền năo như tham, sân, si, mạn v.v… Đó là cội nguồn của Phần Đoạn sanh tử. Hai thứ cội nguồn ấy đều chẳng ĺa một niệm hiện tiền hư vọng vô minh. Nếu dùng chánh nhăn để quán hư vọng vô minh, [sẽ thấy nó] chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa, chẳng trong quá khứ, chẳng thuộc hiện tại, chẳng thuộc vị lai, chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải dài, ngắn, vuông, tṛn, chẳng phải thanh, hương, vị, xúc, pháp, chẳng phải là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư, ngay lập tức là Chân Không Thật Tướng, nhưng do chúng sanh chẳng thấu hiểu, tự sanh mê hoặc, điên đảo, lưu chuyển vô cùng. Do vậy, chư Phật xuất hiện, tổ sư từ phương Tây sang, chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật, không ǵ chẳng nhằm phá hai loại căn nguyên ấy.

Chỉ như Nhị Tổ gặp Sơ Tổ, thưa: “Tâm con chưa an, xin thầy an tâm cho”. Sơ Tổ nói: “Đem cái tâm của ông ra đây, ta sẽ an cho ông”. Lâu sau, Nhị Tổ thưa:
“Con t́m tâm trọn chẳng thể được”. Sơ Tổ nói: “Ta đă an cái tâm cho ông rồi”. Chỉ một câu “t́m tâm trọn chẳng thể được” này, cần phải hết sức chú trọng, đừng giống như con
vẹt nói Thiền, chỉ có thể học nói suông! Tôi lại hỏi các vị: Đă là chẳng thể được, ai lại là người t́m tâm?

Lại như cái thân hiện tiền này, chẳng ngoài sáu giới là Địa, Thủy, Hỏa,  Phong, Không và Thức. Tướng cứng chắc trong thân là địa giới. Tướng ướt là thủy giới. Tướng nóng là hỏa giới. Tướng động là phong giới.          Chỗ rỗng trong xương, lóng, các lỗ và chỗ các phủ tạng thông với nhau là không giới. Thấy, nghe, hay, biết, phân biệt, vọng tưởng là tâm thức giới. Nếu nói do tướng cứng chắc có thể t́m tâm th́ đại địa đều có thể t́m tâm. [Nếu nói] tướng ướt cũng có thể t́m tâm th́ sông ng̣i, nước biển đều có thể t́m tâm. Nếu do tướng ấm mà có thể t́m tâm th́ đèn, lửa bếp cho tới kiếp hỏa đều có thể t́m tâm. Nếu do tướng động mà có thể t́m tâm th́ gió lớn nhỏ cho đến Tỳ Lam[76] cũng có thể t́m tâm. Nếu không giới có thể t́m tâm th́ hiện tiền hư không cũng có thể t́m tâm. Nếu do thấy, nghe, hay, biết có thể t́m tâm th́ lại gọi cái ǵ là thấy, nghe, hay, biết? Mắt như trái nho, tai như lá non cuộn, mũi như hai móng tay rủ xuống, lưỡi như vầng trăng non, thân như cái trống thắt eo, đều là sắc pháp. Làm sao có thể thấy, có thể nghe, có thể ngửi, có thể nếm, có thể cảm nhận? Ư như nh́n vào pḥng tối, tướng tối tăm, lờ mờ, tự chẳng biết rơ, sao có thể biết? Thấy, nghe, hay, biết đă là chẳng thể được, sao có thể t́m tâm? Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức, sáu giới như thế đều chẳng thể t́m tâm, rốt cuộc ai là người có thể t́m tâm?

Nếu là một nam tử có tâm huyết, đă [chia chẻ] đến đó, chẳng phân tích được nữa, chẳng thấu hiểu được, chắc chắn sẽ t́m cách thấu hiểu một phần, t́m ṭi đến chỗ sơn cùng thủy tận, tương tự như tường đồng, vách sắt, chuột chui vào sừng trâu, măi cho đến khi cùng đường bít lối, trong khoảng hướng đến chỗ hữu ư và vô ư, bỗng nhiên đánh mất lỗ mũi do mẹ sanh ra, mới biết cái có thể kiếm và cái bị kiếm thật sự trọn chẳng thể được th́ mới là bước đầu tiên trong Tông Môn. Nếu cho rằng ngoài cách này, riêng có sự tu hành nào khác; đó là thiên ma ngoại đạo. Nếu cho rằng từ rày trở đi, chẳng c̣n tu hành nữa, sẽ là sáng đánh ba ngàn, chiều đánh tám trăm, sẽ bị biếm vào địa ngục A Tỳ. V́ sao vậy? Như Nhị Tổ nửa đời hoằng pháp, sau khi đem đại pháp giao cho Tam Tổ, lại trà trộn vào cơi trần, ứng xử như bậc khất sĩ để điều phục cái tâm. Ôi! T́m tâm đă trọn chẳng thể được, cớ sao lại nói “điều tâm?” Trọn chẳng phải là Nhị Tổ trước sau ăn nói mâu thuẫn đâu nhé!

Hăy nên biết chuyện này hết sức chẳng dễ dàng! Tổ sư Quy Sơn bảo: “Khó đạt được chỗ hay khéo của tông này, phải nên tỉ mỉ dụng tâm để có thể đốn ngộ chánh nhân trong ấy, ḥng làm bậc thềm để xuất trần. Nếu có thể đời đời chẳng thoái thất, chắc chắn có thể mong đạt tới địa vị Phật”. Các vị tông tượng xưa nay đối với đại sự nhân duyên này, xiết bao thận trọng, chân thật, thiết tha, há giống như bọn cuồng Thiền uế trược thời Mạt, vừa mới hiểu biết nửa vời, đă liền hướng về người khác hư vọng ngoác to mồm, dối ḿnh, lừa người, phá hoại ư Tổ, di họa vô cùng!

Hăy nên biết: Nếu hiểu từ chỗ “trọn chẳng thể được” để an tâm, sẽ chẳng có một vật nào để có thể tham đắm, sẽ là tùy thuận tu hành Thí Ba La Mật. Lại chẳng có mảy trần để có thể nhiễm, tức là tùy thuận tu hành Giới Ba La Mật. Lại chẳng có nhân ngă, đúng, sai để có thể luận, tức là tùy thuận tu hành Nhẫn Ba La Mật. Lại chẳng xen tạp giải đăi, tức là tùy thuận tu hành Tinh Tấn Ba La Mật. Lại chẳng có vọng tưởng tán loạn, tức là tùy thuận tu hành Thiền Ba La Mật. Lại chẳng điên đảo, ngu si, tức là tùy thuận tu hành Bát Nhă Ba La Mật. Phương cách ấy chính là “hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm”. Trừ pháp môn tâm tánh này ra, chỗ nào có giới để có thể tŕ, có giáo để có thể xem, có Thiền để có thể tham? Huống hồ các luật nghi Đại, Tiểu Thừa do Như Lai đă chế định đều nhằm đoạn trừ hữu lậu trong hiện tại và vị lai, thẳng thừng an tâm, vốn là chí viên, chí đốn. Giáo pháp do đức Như Lai đă nói trong suốt một đời Ngài đều nhằm phá trừ ngă chấp và pháp chấp, thẳng thừng an tâm, cũng là chí viên chí đốn. Một ngàn bảy trăm công án của tổ sư đều là tùy cơ lập giáo, ḥng gỡ niêm, cởi trói, chém phăng cái ải t́nh kiến, gông xiềng thức, thẳng thừng an tâm, cũng là chí viên chí đốn.

Nếu chẳng thể đoạn pháp hữu lậu, tức là chẳng biết dụng ư của Giới. Chẳng thể phá ngă chấp và pháp chấp, tức là chẳng thể biết giáo ư. Chẳng thể chém phăng ải t́nh, xiềng thức, tức là chẳng biết v́ sao Tổ từ Tây sang! Đă chẳng biết giới ư, giáo ư, tổ ư, dẫu cho ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, tánh nghiệp, giá nghiệp, thảy đều thanh tịnh, chỉ là cái nhân của cái quả hữu lậu nhỏ bé trong đường trời, người! Dẫu Tam Tạng mười hai bộ, không ǵ chẳng quán triệt nhuần nhuyễn, đàm luận ngũ thời bát giáo, Quyền, Thật, Bổn, Tích thảy đều hiểu rơ, vẫn chỉ là kẻ nghèo đếm vật báu của kẻ khác, chính ḿnh chẳng có nửa đồng! Dẫu công án [nghiền ngẫm] nát nhừ, cơ phong, chuyển ngữ, tụng cổ[77], niêm cổ[78], thượng đường, phổ thuyết v.v… mỗi mỗi đều thông hiểu, chỉ là tăng trưởng kiêu mạn, tô vẽ để che giấu sai trái, dối gạt trời, người, đều được gọi là “nhân địa chẳng chân thật, chuốc lấy cái quả cong vạy”. Tà nhân thuyết chánh pháp, chánh pháp cũng thành tà. V́ thế, kinh Viên Giác dạy: “Mạt thế chúng sanh vô linh cầu ngộ, duy ích đa văn, tăng trưởng ngă kiến. Đản đương tinh cần hàng phục phiền năo, vị đắc linh đắc, vị chứng linh chứng” (Chẳng dạy chúng sanh trong đời cầu ngộ, v́ chỉ tăng thêm đa văn, tăng trưởng ngă kiến. Chỉ nên [dạy họ] siêng ṛng hàng phục phiền năo, khiến kẻ chưa đắc sẽ đắc, kẻ chưa chứng sẽ chứng), chính là nói về chuyện này.

Các vị nhân giả! Chuyện xuất sanh tử hết sức chẳng dễ dàng! Ngẫu Ích đạo nhân hai mươi bốn tuổi xuất gia, thật sự v́ đại sự sanh tử, quả thật chẳng chấp một mảy ư kiến, thật sự chẳng dùng một tí khí phách, thật sự chẳng v́ một tí danh lợi nào, chỉ v́ ẩn ḿnh chẳng kín, bị một hai đạo hữu ép buộc, công dụng chưa thuần đă truyền bá quá sớm, đến nỗi ba mươi năm qua bị lầm lạc bởi hư danh quá mức. Cho tới hiện thời, tóc bạc, mặt nhăn, sanh tử đại sự vẫn chưa giải quyết thỏa đáng, nói ra đáng xấu hổ, nghĩ tới đáng đau đớn! Do vậy, b́nh sanh thề chẳng dám xưng là chứng, xưng là Tổ, kẻo phạm đại vọng ngữ. Thề chẳng dám nhiếp thọ đồ chúng, đăng đàn truyền giới. Trước nay, hoàn toàn thề chẳng dám nhận lời thỉnh của tùng lâm để mở đại pháp tịch, bởi thật sự chẳng chịu dối ḿnh, tự lầm lẫn vậy! Nay cư sĩ Ngô Huyền Thúy v́ khắp tăng, tục, đặc biệt thỉnh tôi khai thị pháp môn siêu sanh thoát tử này. Ngẫu Ích chưa từng thật sự siêu sanh thoát tử, sao có thể khai thị cho người khác? Nhưng đă cùng ở trong biển sanh tử, may là đối với pháp xuất sanh tử này, hơi biết đường nẻo chân chánh. V́ thế, chẳng ngại cùng các vị nhân giả thật thà thương lượng bước đầu tiên nhất:

Nếu thật sự muốn siêu sanh thoát tử, điều thứ nhất là chớ nên phỏng đoán suy lường theo ư riêng ḿnh. Thứ hai, chớ nên dùng khí phách để gánh vác[79]. Thứ ba, chớ nên xen tạp cái tâm danh lợi. Sang đất Mân (Phước Kiến) th́ đi theo phương Nam, sang đất Yên th́ theo phương Bắc. Hễ sai lối, sẽ càng đi càng xa. Đây thật sự là mỗi lời đều là huyết lệ, mỗi chữ đều buốt ḷng. Chỉ sợ người sầu đừng nói với kẻ chẳng sầu. Có nói th́ người chẳng sầu cũng không biết! Các vị nhân giả có biết sầu hay không? Đức Phật dạy: “Đắc nhân thân giả như trảo thượng thổ. Thất nhân giả như đại địa thổ. Nhất khẩu khí bất lai, tiện hướng lư thai mă phúc, hồ toản loạn tràng. Động kinh thiên sanh bách kiếp, đắc xuất đầu lai, tri thị kỷ thời? (Được thân người như đất trong kẽ móng tay. Mất thân người như đất trong đại địa. Một hơi thở ra, không hít vào được nữa, liền hướng vào thai lừa, bụng ngựa, giăy dụa, va đụng lung tung. Trải qua ngàn đời trăm kiếp, chẳng biết là lúc nào được thoát ra?)

Huống chi thời Mạt, tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng. Một gă mù dẫn lũ đui, cùng kéo nhau vào hố lửa! Do vậy, Vĩnh Minh đại sư nói: “Không Thiền, có Tịnh Độ, vạn tu, vạn người về. Có Thiền, không Tịnh Độ, mười người, chín lầm đường”. Hám Sơn đại sư lại nói: “Nay th́ nếu có Thiền mà không có Tịnh Độ, há phải mười người th́ chín người lạc lối, dám bảo đảm là mười một người đều lạc”. Những lời ấy đều là thâm từ đại bi, chân ngữ, thật ngữ. Lại nguyện các vị nhân giả đừng đọa vào vết xe đổ cuồng dă, hăy nên thẳng thừng đau đáu nghĩ tới vô thường, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Đời này chẳng độ kiếp này, kiếp nào mới độ cho xong thân này? Trân trọng!

 

* Phổ thuyết tại Thiên Mă Viện ở Hấp Phổ

 

Kinh  Hoa Nghiêm dạy: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (Nếu ai muốn rơ biết, ba đời hết thảy Phật, nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ tâm tạo). Kinh Kim Cang dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện. Ưng tác như thị quán” (hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như chớp. Hăy nên quán như thế). Hăy nên biết chỉ thú của hai bài kệ ấy chẳng khác nhau! Đă chỉ do tâm tạo th́ đều là hữu vi. Đă chỉ là hữu vi, th́ đều như mộng, huyễn. Nhưng hữu vi có hai loại:

- Một là hữu vi hữu lậu, tức lục phàm pháp giới.

- Hai là hữu vi vô lậu, tức tứ thánh pháp giới.

Mười giới thánh phàm tuy khác nhau, nhưng rốt cuộc đều chỉ do tâm tạo; nhưng hữu vi hữu lậu như mộng, huyễn, c̣n hữu vi vô lậu do thuận theo pháp tánh, chẳng phải là mộng, huyễn. Thế nào là lục phàm đều chỉ do tâm tạo? Nếu một niệm tương ứng với thượng phẩm Thập Ác, tức toàn thể của pháp giới là địa ngục. Một niệm tương ứng trung phẩm Thập Ác, tức toàn thể của pháp giới là súc sanh. Một niệm tương ứng hạ phẩm Thập Ác, tức toàn thể của pháp giới là ngạ quỷ. Một niệm tương ứng với hạ phẩm Thập Thiện, toàn thể của pháp giới là Tu La. Một niệm tương ứng với trung phẩm Thập Thiện, toàn thể của pháp giới là nhân đạo. Một niệm tương ứng với thượng phẩm Thập Thiện, toàn thể của pháp giới là thiên đạo. Lục đạo này không chỉ là tam đồ, mà ngay cả hạ giới nhân thiên, sanh tử qua lại, đều như huyễn, như mộng! Ngay như Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ chẳng khỏi đọa lạc không vong, đều như mộng, huyễn.

V́ sao nói tứ thánh cũng đều chỉ là do tâm tạo? Nếu có thể biết Khổ đoạn Tập, hâm mộ Diệt, tu Đạo, siêng tu Giới Định Huệ phẩm, chứng đắc Thiên Chân Niết Bàn, toàn thể của pháp giới sẽ là Thanh Văn. Có thể quán kỹ mười hai nhân duyên lưu chuyển và hoàn diệt, được giác ngộ, toàn thể của pháp giới sẽ là Độc Giác. Có thể dùng tiên tri để giác ngộ hậu tri, dùng tiên giác để giác ngộ kẻ hậu giác, rộng tu Lục Độ vạn hạnh, tự lợi, lợi tha, toàn thể của pháp giới sẽ là Bồ Tát. Bồ Tát lại có bốn loại:

- Nếu nương vào Sanh Diệt Tứ Đế, phát Tứ Hoằng Thệ Nguyện, ba đại A-tăng-kỳ kiếp chế phục Hoặc, độ sanh, tức là Tạng Giáo Bồ Tát.

- Nương vào Vô Sanh Tứ Đế để phát Tứ Hoằng, trước là đoạn chánh sử và tập khí hư phù nhuận sanh, độ chúng như huyễn, tức là Thông Giáo Bồ Tát.

- Nương theo Vô Lượng Tứ Đế, phát Tứ Hoằng, không chỉ hóa độ lục phàm thoát Phần Đoạn sanh tử, mà c̣n kiêm độ tam thừa quyền thánh thoát Biến Dịch sanh tử, tức Biệt Giáo Bồ Tát.

- Nếu có thể triệt ngộ một niệm tâm tánh hiện tiền vốn tự cùng tột theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, chúng sanh mê, toàn thể là Tập Khổ, nhưng cái tâm ấy chẳng giảm. Chư Phật đă ngộ, toàn thể là Đạo Diệt, nhưng cái tâm ấy không tăng. Diệu tâm tuy đồng, mê và ngộ cách biệt vời vợi, bèn nương theo Vô Tác Tứ Đế phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, xứng tánh tu hành Lục Độ vạn hạnh, tự giác, giác tha, tức là Viên Giáo Bồ Tát.

Phước trí do bốn loại Bồ Tát này tu tập được gọi là hữu vi vô lậu, huống hồ công hạnh viên măn, đồng quy Vô Thượng Bồ Đề, tức toàn thể pháp giới là tứ trí Bồ Đề. Thân và cơi vô lậu tột cùng ngằn mé vị lai, lợi lạc hữu t́nh, há cũng có thể nói là “như huyễn, như mộng” ư? Nhưng trong tứ thánh, Nhị Thừa tuy thoát khỏi sanh tử, chỉ chứng Thiên Chân, chẳng thấu đạt toàn thể tâm tánh, chỉ gọi là “hữu vi vô lậu”. Chư Phật, Bồ Tát có thể chứng toàn thể tâm tánh. V́ thế, ước theo toàn tánh khởi tu, có thể gọi là hữu vi vô lậu cũng được. Nếu ước theo toàn tu tại tánh, sẽ có thể gọi là vô vi vô lậu cũng được! Kinh Kim Cang nói “như huyễn, như mộng” để phá ngă chấp và pháp chấp của phàm phu, ngoại đạo, và Nhị Thừa.

Phàm mộng cảnh tuy Không, nhưng mộng tâm chính là giác tâm. Huyễn sự tuy hư, nhưng huyễn vốn cũng chẳng hoàn toàn là hư. Bọt nước tuy chẳng thật, nhưng chẳng phải là không có nước. Ảnh tuy chẳng thật, nhưng chẳng phải là không có chất, bèn biết: Lục phàm sanh tử qua lại, tuy như huyễn, mộng, nhưng Phật tánh cũng chẳng đoạn diệt, chỉ là sử dụng hằng ngày mà chẳng biết. Bồ Tát biết rơ một niệm tâm tánh hiện tiền thường hằng xưa nay, vốn chẳng sanh diệt, trên là bằng với chư Phật, dưới là bằng với chúng sanh. Tuy chẳng muốn thượng cầu hạ hóa cũng chẳng thể được. Nhưng tuy phát đại Bồ Đề tâm, tập khí hư vọng từ vô thỉ vô minh nặng nề, quán lực nhẹ, yếu, sợ dễ thoái chuyển, ắt cần phải dùng sự viên giải ấy để chuyên niệm A Di Đà Phật, cầu sanh thế giới Cực Lạc. Bởi một niệm tâm tánh hiện tiền của ta vốn tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, vốn trọn đủ vô biên sát hải[80]. Trong vô biên sát hải nơi tâm tánh của ta, thật sự có thế giới Cực Lạc ở ngoài mười vạn cơi Phật, thật sự có A Di Đà Phật đang hiện diện. Trước là chứng tâm tánh, từ bi tiếp dẫn hết thảy kẻ đang mê. Ta nay dùng sức của Bồ Đề tâm, xưng danh hiệu của Ngài, liền cùng với A Di Đà Phật như hư không ḥa vào hư không, nước hợp với nước. V́ thế, xưng danh một tiếng chính là một tiếng nhất tâm bất loạn. Xưng danh mười tiếng tức là mười tiếng nhất tâm bất loạn. Cho tới xưng danh bảy ngày, tức là bảy ngày nhất tâm bất loạn. V́ trong khi đang xưng danh, sẽ trọn chẳng có hai tâm, cho nên chẳng thể loạn.

Hoặc là nói Thập Ác Ngũ Nghịch, lâm chung mười niệm c̣n được văng sanh, cần ǵ thường ngày phải cặm cụi xưng danh? Nói như vậy hết sức chẳng đúng! Kinh dạy: “Thập Ác Ngũ Nghịch đắc văng sanh giả, tất quá khứ tằng chủng Bồ Đề chủng tử” (Kẻ Thập Ác Ngũ Nghịch mà được văng sanh, ắt là do trong quá khứ đă từng gieo hạt giống Bồ Đề). Nếu chẳng có hạt giống Bồ Đề, sao có thể gặp thiện hữu? Dẫu gặp thiện hữu khuyên phát tâm, cũng sao có thể nhanh chóng sanh khởi tín nguyện, xưng niệm hồng danh ư? V́ thế, phàm là bậc tu tâm Tịnh nghiệp, hăy gấp lănh hội diệu tâm, phát Bồ Đề nguyện, xưng niệm A Di Đà Phật, dẫu chẳng đoạn Hoặc, vẫn có thể đới nghiệp văng sanh, siêu thoát tam giới theo chiều ngang, chính là pháp môn chẳng thể nghĩ bàn. Mười phương chư Phật dùng vô lượng lưỡi, vô lượng âm, tán thán pháp môn này, vẫn chẳng thể tận. Hăy nên tin chắc, gắng sức thực hiện. Nay cư sĩ Hoàng Nam Ngô Thánh Hà và pháp hữu Kiên Mật đặc biệt v́ lệnh tiên từ[81] là ưu bà di Thành Tịnh Hồng thái nhụ nhân[82], thỉnh nói pháp yếu, tôi kính cẩn v́ bà mà nêu ra.

 

5. Trà thoại

* Buổi trà thoại giải đáp cho ông Trác Tả Xa (đính kèm lời hỏi của Bác Sơn Khải)

         

          Hỏi: Thượng đường th́ siêu việt Phật, Tổ, tiếp chúng bèn quyền biến tiếp dẫn hàng trung hạ; đây chính là khuôn sáo ắt sẽ rơi vào của bậc tông tượng chưa ngộ tâm pháp trong thói tục, đến nỗi các pháp như Thiền, Giáo, Luật và Tịnh Độ đều mất cương tông, đều thành thật pháp, [dẫn đến t́nh trạng] “người trí chẳng có cái để nương theo, kẻ ngu bèn miệt thị, vứt bỏ hết thảy” là có nguyên do vậy! Đức Phật nói: “Nếu ai chuyên niệm Di Đà Phật, th́ gọi là vô thượng thâm diệu Thiền”. Hiện tại, kẻ tâm cơ quỷ quyệt, tâm tánh buông lung, một mực ăn nói quàng xiên, chắc chắn chẳng bằng người náu ḿnh chân thật niệm Phật. Há có nên v́ người thượng thượng bài bác chẳng có Tịnh Độ, dạy hăy ngộ “cơi chính là tâm”, mà chẳng nên thâu nhiếp hàng trung hạ vào quyền thừa, phá hoại chân pháp? Huống hồ đấng Pháp Vương tự tại nơi pháp, tùy thời ứng theo căn cơ, tự chẳng trần thuật kiến giải, sao cứ phải dựa dẫm các bậc cổ túc khác đề cao Thiền, chèn ép Tịnh? Lại c̣n xin lưỡi gươm bén ngót, đánh cái trống có bôi thuốc độc, chuyển pháp luân to lớn, như thế nào là bản lănh “toàn thân nhập vào con đường Lư hướng thượng, đạp thẳng trên đỉnh đầu Tỳ Lô để đi” trong môn Niệm Phật? Như thế nào để khi học nhân vừa mới thực hiện, liền ĺa bốn câu, dứt bách phi để niệm Phật? Như thế nào là một búa tối hậu tột cùng đánh vào sau ót chỗ sai lầm của người niệm Phật? Trước nay, lời lẽ trong Tông môn như vách đá dốc ngược cao vạn trượng, hễ dính dáng tới Tịnh Độ, nhất định coi đó thuộc loại vụn vặt! Mong ḥa thượng hăy đem những lời lẽ như “tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” gạt sang một bên, đích thân thấy cảnh giới của Như Lai, nhanh chóng nói một lượt, ḥng chấn động đại thiên thế giới!

          Đáp: Tông thừa và Tịnh Độ, cả hai đều là pháp thắng diệu. Do căn tánh của chúng sanh khác biệt, chẳng khỏi phải tùy thuận căn cơ mà nói! Hướng thượng nhất trước chẳng phải Tịnh, chẳng phải Thiền, mà chính là Tịnh, chính là Thiền. Mới nói “tham cứu” là đă tùy thuận kẻ hạ căn. Nếu thật sự là bậc đại trượng phu, sẽ tự tin chắc chắn “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Nếu một niệm cách biệt với Phật, chẳng gọi là Niệm Phật tam-muội. Nếu niệm nào cũng chẳng gián đoạn với Phật, sao lại phải nhọc sức hỏi A Nan? V́ thế, tham cứu chữ Ai và các pháp như nhiếp tâm, sổ tức (đếm hơi thở) v.v… đều chẳng phải là chuyện tột bậc trong Tịnh Độ! Chuyện tột bậc trong Tịnh Độ chính là không có Phật ở ngoài niệm để niệm đức Phật được niệm, không có niệm ở ngoài Phật để có người niệm Phật. Ngay trong khi thực hiện, liền chẳng rơi vào bốn câu và bách phi, toàn thân xông thẳng vào! Chỉ thấy quang minh nơi một lỗ chân lông của A Di Đà Phật, liền thấy mười phương vô lượng chư Phật. Chỉ sanh vào một quốc độ Tây Phương Cực Lạc, liền sanh vào Tịnh Độ của mười phương chư Phật. Đấy là con đường hướng thượng nhất trước. Nếu bỏ hiện tiền Di Đà để riêng nói “tự tánh Di Đà”, bỏ Tây Phương Tịnh Độ để riêng nói “duy tâm Tịnh Độ”; đấy là công án sai lầm, lệch lạc! Kinh dạy: “Tam Hiền, Thập Thánh trụ quả báo. Chỉ riêng ḿnh Phật ngự Tịnh Độ”. Đấy là một búa đánh vào sau ót. Mười đại nguyện vương của ngài Phổ Hiền hướng dẫn về Cực Lạc, ai dám gom vào Quyền Thừa? Nhớ Phật, niệm Phật, chẳng nhờ phương tiện, tự được tâm khai, ai bảo là nhất định thuộc loại vụn vặt?

Chỉ nên tin sâu môn này, nương Tín mà lập Nguyện, nương vào Nguyện mà khởi Hạnh, tức niệm nào cũng đều lưu xuất vô lượng Như Lai, ngồi trọn khắp trong các quốc độ nhiều như vi trần ở mười phương, chuyển đại pháp luân, chiếu xưa, soi nay, chẳng phải là ngoài bổn phận. Há chỉ chấn động đại thiên thế giới mà thôi? Muốn biết chuyện nhà của vị tăng mặc áo chằm, chẳng ngại nhờ vào một bài kệ của ngài Trung Phong để gởi gắm tin tức. Kệ rằng: “Thiền ngoại bất tằng đàm Tịnh Độ. Tu tri Tịnh Độ ngoại vô Thiền, lưỡng trùng công án giai niêm khước, Hùng Nhĩ phong khai ngũ diệp liên” (Ngoài Thiền chưa từng bàn Tịnh Độ, phải hay: Ngoài Tịnh, có Thiền đâu! Hai tầng công án đều nêu cả, Hùng Nhĩ[83] nở x̣e năm cánh sen).

 

* Dạy về pháp môn Niệm Phật

 

          Pháp môn Niệm Phật chẳng có ǵ đặc biệt lạ lùng, chỉ tin sâu, tận lực hành là điều trọng yếu. Đức Phật dạy: “Nhược nhân đản niệm Di Đà Phật, thị danh vô thượng thâm diệu Thiền” (nếu ai chỉ niệm Di Đà Phật, đó gọi vô thượng thâm diệu Thiền). Ngài Thiên Thai nói: “Bốn loại tam-muội cùng gọi là Niệm Phật, nhưng Niệm Phật tam-muội là vua trong các tam-muội”. Ngài Vân Thê nói: “Một câu A Di Đà Phật gồm trọn tám giáo, nhiếp trọn năm tông”. Đáng tiếc người hiện thời coi niệm Phật là chuyện vớ vẩn, thiển cận, cho đó là công phu của ngu phu, ngu phụ! Do vậy, tín đă chẳng sâu, hành cũng chẳng đắc lực. Suốt ngày ơ hờ, công lao tịnh nghiệp chẳng đạt được! Nếu có kẻ khéo lập phương tiện, muốn hiểu sâu tam-muội này, cứ hở ra là coi tham cứu chữ Ai là hướng thượng nhất trước! Trọn chẳng biết cái tâm năng niệm (có thể niệm) trong một niệm hiện tiền vốn tự ĺa lỗi, dứt sai, chẳng thua kém “tác ư ĺa dứt”. Tức là vị Phật được niệm trong một câu hiện tiền cũng vốn tự siêu việt t́nh kiến chấp trước, cần ǵ cứ phải nhọc công đàm huyền thuyết diệu? Chỉ quư sao tin đến nơi, giữ cho ổn, thẳng thừng mà niệm, hoặc ngày đêm mười vạn câu, hoặc năm vạn, ba vạn, dùng quyết định chẳng khuyết làm chuẩn. Hết một đời này, thề chẳng biến đổi. Nếu chẳng được văng sanh, ba đời chư Phật liền thành nói dối! Hễ được văng sanh, sẽ vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, các thứ pháp môn đều được hiện tiền.

Rất kỵ hôm nay Trương Tam, ngày mai Lư Tứ. Gặp người thuộc Giáo Hạ, lại nghĩ tầm chương trích cú. Gặp người thuộc Tông Môn, lại toan tham cứu, vấn đáp. Gặp người tŕ luật, lại tính đắp y, dùng bát. Đấy chính là đầu mối chẳng hiểu rơ, hạng mục chẳng rành! Há có biết niệm A Di Đà Phật thuần thục, th́ chỗ tột cùng trong giáo lư nơi Tam Tạng mười hai bộ đều ở trong ấy, then chốt của một ngàn bảy trăm công án hướng thượng cũng ở trong ấy, ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, tam tụ tịnh giới cũng ở trong ấy. Có thể thật sự niệm Phật, buông xuống thân, tâm, thế giới, tức là đại bố thí. Có thể thật sự niệm Phật, chẳng c̣n dấy lên tham, sân, si, tức là đại tŕ giới. Có thể thật sự niệm Phật, chẳng so đo “đúng, sai, ta, người”, tức là đại nhẫn nhục. Có thể thật sự niệm Phật, chẳng có chút gián đoạn, xen tạp, tức là đại tinh tấn. Có thể thật sự niệm Phật, chẳng c̣n rong ruổi theo vọng tưởng, tức là đại Thiền Định. Có thể thật sự niệm Phật, chẳng bị ngă rẽ nào khác mê hoặc, tức là đại trí huệ.

Hăy thử tự suy xét, nhận biết: Nếu thân, tâm, thế giới vẫn chưa buông xuống, ư niệm tham, sân, si vẫn tự hiện hành, dấy lên. Đúng, sai, ta, người, vẫn tự vướng mắc. Gián đoạn, xen tạp, vẫn chưa trừ sạch. Vọng tưởng rong ruổi vẫn chưa vĩnh viễn diệt mất. Đủ loại ngă rẽ khác vẫn có thể mê hoặc chí hướng. Đó chẳng phải là chân thật niệm Phật. Muốn đạt tới cảnh giới nhất tâm bất loạn, cũng chẳng có thuật nào khác. Lúc mới thực hiện, cần dùng xâu chuỗi. Nhớ phân minh, định vững khóa tŕnh, quyết định chẳng khuyết. Lâu ngày thuần thục, chẳng niệm mà tự niệm; sau đấy, nhớ số cũng được, không nhớ cũng được. Nếu là kẻ sơ tâm th́ càng phải nói lời tốt đẹp, đừng nên chấp tướng. [Hễ c̣n là kẻ sơ tâm mà] muốn học viên dung tự tại, nói chung là tin chẳng sâu, hành chẳng tận lực, dẫu cho quư vị giảng mười hai phần giáo, hiểu thấu một ngàn bảy trăm câu chuyển ngữ, đều là chuyện thuộc bờ sanh tử, khi lâm chung, chắc chắn chẳng dùng được. Hăy trân trọng!

 

* Dạy về Niệm Phật tam-muội

         

          Niệm Phật tam-muội được gọi là Bảo Vương tam-muội, là vua trong các tam-muội. Phàm đủ loại tam-muội thuộc Thiên, Viên, Quyền, Thật, không ǵ chẳng lưu xuất từ tam-muội này, không ǵ chẳng quy hoàn môn tam-muội này! Bởi lẽ, ư chỉ trọng yếu viên đốn tột bậc cũng là phương tiện thiện xảo để thích hợp khắp ba căn. Tâm tánh của chúng sanh chỉ là một mà thôi! Chỉ do một cái tâm này vốn đă sẵn có hai môn Chân Như và Sanh Diệt. Ngay trong khi tùy duyên mà bất biến th́ gọi là Chân Như môn. Dẫu bất biến mà tùy duyên th́ gọi là Sanh Diệt môn. Nương vào Chân Như môn nói Viên Thật Giáo. Nương theo Sanh Diệt môn, nói Thiên Quyền giáo. Ĺa Chân Như, sẽ chẳng có sanh diệt! Quyền là Quyền trong Thật. V́ thế, có thể v́ Thật mà thực hiện Quyền. Ĺa sanh diệt sẽ chẳng có Chân Như. Thật là Thật trong Quyền. V́ thế, cần phải khai Quyền hiển Thật. V́ Thật mà thực hiện Quyền, bèn có ba giáo Tạng, Thông, Biệt. Khai Quyền hiển Thật chỉ gom vào một thứ là Viên Giáo! Bốn giáo Quyền, Thật, không ǵ chẳng phải là pháp môn Niệm Phật, tức là niệm tự Phật, niệm tha Phật, cùng niệm tự Phật và tha Phật. Ước theo bốn giáo, sẽ thành mười hai loại Niệm Phật tam-muội.

Lại nữa, bốn loại tam-muội như Thường Hành (Ban Châu niệm Phật) v.v… cùng gọi là Niệm Phật. Mỗi môn tam-muội đều có đủ mười hai, tức là bốn mươi tám loại. Lại nữa, niệm tha Phật th́ hoặc niệm tướng hảo, niệm pháp môn, hoặc niệm Thật Tướng. Phỏng theo lệ này để suy ra niệm tự Phật, và cùng niệm tự Phật lẫn tha Phật, th́ mỗi đều có ba [cách niệm trên đây, tức niệm tướng hảo v.v…], trải khắp bốn loại tam-muội. Phối ứng với bốn giáo, bèn có một trăm bốn mươi bốn loại. Trong mỗi loại, lại có vô lượng cảnh quán sai biệt, chẳng thể tuyên nói trọn hết.

Nhưng một pháp Tŕ Danh phát xuất từ Phật Thuyết A Di Đà Kinh, vẫn ở ngoài các loại tam-muội vừa được nói trên đây! Chính là như Quán Kinh đă nói: “Nhữ nhược bất năng niệm bỉ Phật giả, ưng xưng Vô Lượng Thọ Phật danh tự” (Nếu ông chẳng thể niệm đức Phật ấy, hăy nên xưng danh tự của Vô Lượng Thọ Phật). Pháp môn Tŕ Danh này tuy giống như tùy thuận hạng trung hạ, nhưng vẫn là viên đốn nhất. Bởi lẽ, cái tâm được tŕ, bất luận hiểu hay chẳng hiểu, bản thể của nó không ǵ chẳng phải là Nhất Cảnh Tam Đế. Cái tâm năng tŕ, bất luận thấu đạt hay không, bản thể của nó không ǵ chẳng phải là Nhất Tâm Tam Quán. Xin hăy suy ngẫm lời ấy. Sáu chữ Di Đà do danh mà là danh, do tâm nên là danh, mà cũng là danh cũng là tâm nên là danh, là chẳng phải danh chẳng phải tâm mà là danh. Nếu do danh mà là danh, danh phải nên tự tŕ, nào đợi tâm tŕ? Lại nữa, danh có thể tự tŕ, liên quan ǵ đến tâm? Nếu do tâm mà có danh, th́ tâm vốn có danh, cớ sao khi chẳng tŕ, danh chẳng hiện? Nếu là cũng là danh mà cũng là tâm nên là danh, [vậy th́] danh đă có thể có danh, sao lại phải đợi tâm? Tâm có thể có danh, há phải đợi danh? Hơn nữa, danh tự ấy nửa nào thuộc danh, nửa nào thuộc tâm? Hơn nữa, khi chẳng tŕ, nửa phần danh thuộc về danh tuy chẳng có, nửa phần danh thuộc về tâm phải tồn tại. Khi tách ra, mỗi đằng đều chẳng có; khi hợp lại, sao có cho được? Nếu “chẳng có danh, chẳng có tâm nên là danh”, th́ đă là chẳng phải danh, chẳng phải tâm, sao lại có danh tự Di Đà? Suy xét danh như thế th́ tánh của Danh Tự là Không, duyên sanh huyễn hữu. Tự tánh của một danh tự chính là tánh của hết thảy các danh tự. Danh tự tức pháp giới, Trung Đạo Thật Tướng. Nêu lên một, sẽ thâu tóm toàn bộ, chẳng có pháp nào ở ngoài danh tự. Cảnh đế được niệm đă là như thế, th́ cái quán trí có thể niệm cứ phỏng theo đó mà biết.

Lại nữa, gộp chung cả ba cảnh ấy, gọi chung là Diệu Giả. Nêu lên chánh báo để bao trùm y báo, nêu ra hóa chủ để gồm thâu đồ chúng, nêu giả danh để bao gồm thật pháp. Một câu danh hiệu, [trọn đủ] ba ngàn [các pháp] rành rành. Lại nữa, gộp chung ba phép Quán ấy, gọi chung là Không, do t́m tâm chẳng có dấu vết. Lại nữa, nếu danh là tâm, lại có thứ ǵ là danh? Nếu danh chẳng phải là tâm, sao tâm tŕ danh? Nếu tâm là danh, sao lại là tâm? Nếu tâm chẳng phải là danh, danh liên quan ǵ với tâm? Trong khoảng giữa ấy, không có đúng, hay chẳng đúng, há chẳng phải chính là Trung ư? Ngài Hổ Khê nói: “Cảnh là diệu Giả, Quán là Không. Cảnh quán cùng mất, tức là Trung. Chiếu mất, há từng có sau trước? Nhất tâm viên tuyệt, trọn chẳng có tung tích”, chính là nói về điều này vậy! Ngộ lư này mà tŕ danh, th́ một xưng, một niệm, nhanh chóng viên măn Vô Thượng Bồ Đề. Nếu chưa ngộ, hăy lần xâu chuỗi, nhớ số, cặm cụi suốt năm, chưa hề chẳng ngầm hợp đạo diệu, hoàn toàn ở trong diệu cảnh, diệu quán. Huân tập lâu ngày, tánh đức dần dần hiển lộ, như người nhuốm mùi hương, thân có hương thơm, chẳng nhờ đến phương tiện, tự được tâm khai. Do đó, chư tổ Liên Tông cực lực hoằng dương. Ai là người có trí mà bỏ cách này để cầu đường lối khác ư?

 

* Vấn đáp đêm trừ tịch

 

          Vị duy-na hỏi: “Ngày Ba Mươi tháng Chạp, thỉnh thầy thẳng thừng nêu bày lẽ hướng thượng nhất trước?”

Đáp: - Vốn sẵn hiện thành, chẳng do ai mà có!

Vị Tây Đường hỏi: - Vốn sẵn hiện thành, v́ sao muốn chứng mà chẳng thể chứng ngay?

Đáp: - Sao lại nhọc ḷng muốn chứng?

Một lúc lâu sau, vị Tây Đường thưa: - Người mong chứng hiếm hoi!

Sư bèn nói: - Văn Thù dấy lên [kiến chấp] thấy Phật, thấy Pháp, đức Thế Tôn liền biếm trích [Văn Thù] vào giữa hai núi Thiết Vi. Ngài Cao Phong nói: “Hiện thời, có ai dấy lên kiến chấp thấy Phật, thấy Pháp, phải nên chắp tay tán thán”. V́ sao vậy? Nếu đến thời tiết, lư ấy tự tỏ lộ! Đức Thế Tôn biếm trích ngài Văn Thù nhằm răn kẻ cầu Phật pháp ở ngoài tâm. Ngài Cao Phong tán thán hai cái thấy, nhằm khuyên lơn người cam tâm vứt bỏ Phật pháp! Chỉ thấu đạt ngoài tâm chẳng có Phật pháp nào khác, th́ mới có thể hăm hở cầu Phật pháp. Cổ nhân chẳng chấp Phật, Pháp, Tăng mà cầu, cầu như thế đó, há có giống như người hiện thời, vừa mới nói “cầu Phật, cầu Pháp” liền mê muội tông chỉ “tánh cụ” (tánh sẵn trọn đủ); mới vừa nói “chẳng Phật, chẳng Pháp”, liền muốn phế bỏ toàn bộ tu chứng! Kiến chấp lệch lạc, tà vạy, liên quan ǵ với viên tông?

Các cư sĩ hỏi: - Trong lời đáp của ngài Đại Huệ, Ngài cho rằng ba câu đầu của Trung Dung là tam thân, có phạm lỗi hay không?

Đáp: - Tông nhăn viên thông, nêu ra bất cứ ǵ để nói cũng đều được, rành rành là chẳng phạm lỗi! Nhưng Trung Dung của ngài Đại Huệ chẳng phải là Trung Dung của Tử Tư!

Lại hỏi: - V́ sao Thanh Lương quốc sư nói “hư vọng muốn dung ḥa Nho và Thích, sẽ đọa vào Vô Gián?”

Đáp: - Nho là pháp thế gian. Chấp là như nhau, tức là báng pháp xuất thế, do vậy phạm đọa. Nay vâng theo tông chỉ “Sự Sự vô ngại” của Hoa Nghiêm, th́ như ngoại đạo Biến Hành cùng chứng giải thoát. Lại vâng theo ư chỉ “khai hiển” của kinh Pháp Hoa, ngôn ngữ ứng xử trong cơi đời đều thuận theo chánh pháp. Do đó, chẳng có lỗi ǵ! Thiền sư Tinh Cốc nói: “V́ kẻ ngoài cửa mà nói câu ‘đồng’ là ‘bất đồng’, ắt họ đâm ra nghi báng. V́ người đă nhập môn nói câu ‘khác’ là ‘chẳng khác’, ắt họ sẽ bám víu vào tập khí cũ. V́ người đă thăng đường nói câu ‘song diệc’ (cũng đồng, cũng dị), khiến cho họ biết nguyên ủy của sự sai biệt. V́ người đă nhập thất, nói câu ‘song phi’ (chẳng đồng, chẳng dị). Lời thô, lẽ tế, cùng quy vào Đệ Nhất Nghĩa Đế”. Nho, Thích chỉ là danh tự giả lập, há có đồng hay dị để luận định được ư?

Lại hỏi: - Lại như nếu lúc mừng, giận, buồn, vui chưa phát, và một niệm chưa sanh th́ là giống hay là khác?

Đáp: - Nếu khi hừng hực mừng, giận, buồn, vui mà vẫn là chưa phát th́ có thể nói là “một niệm bất sanh, toàn thể hiển hiện”. Nếu ĺa một niệm hiện tiền, để riêng cầu trước khi một niệm chưa sanh, bảo đó là ‘hướng thượng’, sẽ hoàn toàn đọa trong diệt tướng pháp trần. Hăy nên biết: Niệm chính là vô niệm, cho nên nói là ‘chưa sanh’. Mừng, giận, buồn, vui, tức chẳng mừng, giận, buồn, vui; cho nên nói là ‘chưa phát’. Hiểu được như thế đó th́ mới có thể nói là đồng. Nếu chẳng phải vậy, bốn câu đều sai!

Lại hỏi: - Bồ Đề Lưu Chi là pháp sư Đại Thừa, sao lại chê trách tổ Đạt Ma?

Đáp: - Nam Nhạc Tư đại sư cũng hứng chịu bảy lần chê trách; những trường hợp ấy đều có hai nghĩa:

1) Ước theo Thật, bậc Quyền vị đại sĩ chẳng liễu đạt viên thừa, như tứ chúng tăng thượng mạn đánh đập ngài Thường Bất Khinh vậy.

2) Ước theo Quyền, chính là hiển thị chỗ mầu nhiệm của Nam Nhạc và Đạt Ma, giống như Điều Đạt là chân thiện tri thức vậy!

Vị Tây Đường hỏi: - Đă nói là truyền riêng ngoài giáo (giáo ngoại biệt truyền), sao bốn quyển kinh Lăng Già lại có thể ấn tâm?

Đáp: - Truyền riêng ngoài giáo tức là chân truyền trong giáo: Như do ngón tay mà thấy mặt trăng, ngón tay chẳng phải là mặt trăng, chẳng phải là cái được chỉ không phải mà mặt trăng. Ĺa kinh một chữ, tức giống như ma nói! Chẳng dùng kinh quyển để ấn tâm, sao gọi là “truyền tâm ấn” của Phật cho được? Lại nữa, chỗ mầu nhiệm trong tông thừa là đoạt t́nh, chẳng đoạt pháp[84]. Do chấp trước văn tự, cần phải nói “chẳng lập”. Nếu chấp “chẳng lập”, đâm ra diệu dược trở thành bệnh nặng. Đúng là “y kinh hiểu nghĩa, tam thế chư tổ bị oan uổng”. Do vậy, vẫn cần phải dùng Giáo để ấn tâm.

Hễ xem những lời lẽ trong nhà Thiền, cần phải có con mắt “siêu phương” (vượt khỏi các t́nh chấp, giới hạn, thiên kiến). Lại như bài kệ của Thần Tú, Ngũ Tổ dạy người khác lễ bái, tŕ tụng, nương theo đó để tu hành, có thể làm Phật, làm Tổ. Lục Tổ viết kệ, bị [Ngũ Tổ] dùng hài xóa đi, bảo “vẫn chưa kiến tánh”. Mọi người đều cho rằng “công nhận và phủ định trái ngược với ư Tổ”. [Ngũ Tổ] lại c̣n ngầm che chở Lục Tổ. [Nếu chỉ nh́n vào những chuyện ấy mà chẳng suy gẫm sâu xa, tức là] chẳng biết khi ấy, Phật pháp c̣n thịnh, t́nh người c̣n thuần. Những người truy đuổi [Lục Tổ] đều là những người dũng mănh v́ pháp, trọn chẳng phải là tranh đoạt hư danh, hư vị, sao cứ nghĩ hạn cuộc như “binh bất yếm trá” (dụng binh chẳng sợ dối trá), khiến cho pháp môn bị xấu hổ vậy?

Hăy nên biết: Bài kệ của ngài Thần Tú tuy vướng vào tiệm tu, nhưng trăm ngàn phần ổn thỏa, thích đáng. Bài kệ của Lục Tổ tuy hết sức viên đốn, nhưng hễ hiểu sai chừng bằng hào ly, sẽ cách biệt như trời với đất. Lănh hội th́ sẽ thẳng thừng vượt thoát, hiểu lầm sẽ vĩnh viễn đọa lạc. Ngũ Tổ thưởng là thật thưởng, phạt là thật phạt, chẳng phải là giả bộ! Lại c̣n ắt ngầm trao y để làm tin, bảo Lục Tổ ra đi. Chính là v́ muốn cùng Lục Tổ cùng chống đỡ huệ mạng tiệm tu trong Viên Môn, chẳng nỡ ḷng khiến cho chúng sanh trong hiện tại và vị lai lầm lạc đọa hầm, sụp hào, bèn ngầm bảo vệ Thần Tú. Do vậy, khiến cho Lục Tổ chịu đủ nỗi khổ trốn chạy, truy đuổi để Lục Tổ có lúc được biểu lộ rạng ngời, được chia cho nửa pháp ṭa. Sao lại được như thế? Há v́ Ngũ Tổ cũng từng nhận vàng, lụa, mà đệ tử nối pháp chẳng cam ḷng ư? Lục Tổ do được [người khác] tŕnh thư tiến cử là bậc đắc pháp, dẫu đă tiếp nhận nguyên lưu (mạng mạch của Phật, Tổ), nhưng tâm can khiếp đảm, chẳng thể thăng ṭa, phẩy phất trần ư? Nếu có thể đối với ngữ lục, thấy được ư chỉ ngoài văn tự, th́ cũng sẽ có thể thấy ư chỉ vượt ngoài văn tự nơi ngàn kinh muôn luận, sẽ chẳng chỉ hiểu nghĩa theo mặt chữ, cũng lại chẳng ĺa kinh luận một chữ nào! Nếu chẳng phải như vậy, Tam Tạng mười hai bộ, một ngàn bảy trăm công án, đều là ngón tay chỉ mặt trăng, ngỡ ngón tay của Tổ là mặt trăng, hoặc ngỡ ngón tay của Phật là mặt nguyệt, có khác chi đâu?

 

* V́ Đại Dă [giảng thuyết]

 

          Ba môn Thiền, Giáo, Luật đều chẳng phải là ngoài tâm có pháp. V́ thế, chia ra rồi chấp trước, cố nhiên là sai lầm! Hợp lại để cầu, cũng sai luôn! Do chia ra rồi chấp trước, sẽ nẩy sanh đấu tranh. Hợp lại để cầu, sẽ thành tràn lan, luông tuồng. [Hai căn bệnh ấy] đều do chẳng biết đau đáu v́ sanh tử, thẳng thừng tiến hướng Bồ Đề. V́ thế, chỉ mong danh, chẳng mong mỏi thật, cầu nơi cành nhánh, chẳng cầu nơi cội rễ. Phàm Thiền, Giáo, Luật đều là danh; thật sự có thể tự giác, giác tha, đó là Thật. Cơ phong, chuyển ngữ, kệ tụng, niêm đề là cành nhánh của Thiền, c̣n thấu triệt, thoát khỏi thức t́nh mới là căn bản của Thiền. Dựa theo kinh văn để giải thích ư nghĩa, chương cú, danh tướng, đó là cành nhánh của Giáo; quán tâm nhập chứng là căn bản của Giáo. Đắp y, tŕ bát, tích trượng, giày cỏ là cành nhánh của Luật; đoạn pháp hữu lậu là căn bản của Luật.

Nếu nương vào Thiền mà thấu triệt, thoát khỏi thức t́nh, lo ǵ chẳng quán tâm nhập chứng, chẳng đoạn pháp hữu lậu? Nếu nương theo Giáo, quán tâm nhập chứng, lo ǵ chẳng đoạn pháp hữu lậu, chẳng thấu triệt, thoát khỏi t́nh thức? Nếu nương theo Luật để đoạn pháp hữu lậu, lo ǵ chẳng thấu triệt, thoát khỏi thức t́nh, chẳng quán tâm nhập chứng? Không chỉ tách ra chẳng thể tách ra, mà hợp lại cũng chẳng thể hợp. Do tách ra th́ chẳng thể tách ra, các bậc đại thánh đại hiền từ cổ, không vị nào chẳng quán thông Tam Học. Do hợp lại bèn chẳng thể hợp, cho nên bậc tri thức chân thật xưa nay, không vị nào chẳng chuyên chú một môn! Các vị như Lục Tổ, Nam Nhạc v.v… chưa từng v́ kẻ khác truyền giới, thuyết kinh. Các vị như Khuy Cơ, Trường Thủy v.v… chưa từng v́ người khác dạy Thiền hay truyền giới. Các vị như Đạo Tuyên, Hoài Tố v.v… chưa từng v́ kẻ khác thượng đường, giảng kinh. Ngay như trong các bậc tôn túc cận đại, cũng có vị mang phong thái cổ nhân đáng ngưỡng mộ. Như thiền sư Thọ Xương biết sâu xa ư của Giáo và Luật, nhưng trọn chẳng truyền giới, giảng kinh. Pháp sư Tuyết Lăng biết sâu xa ư Thiền và Luật, trọn chẳng đề niêm, truyền giới. Hai vị luật chủ Đại Hội và Thị Quyền cũng biết ư Thiền và Giáo, trọn chẳng đàm Tông, thuyết Giáo! C̣n như Tử Bách đại sư học trùm Tam Tạng, chứng quả Vô Sanh, đạo cao, đức dày, rạng ngời như vầng mặt trời, bèn suốt đời trọn chẳng thượng đường, chẳng giảng kinh, chẳng truyền giới, chỉ dạy kẻ khác chân tham thật cứu, thâm nhập kinh tạng, thề tŕ năm giới căn bản mà thôi!

Nh́n vào chuyện trong pháp môn, [các tấm gương ấy đáng] tôn trọng chi bằng? Há giống như người đời sau, lơ mơ chẳng hiểu biết, cứ luông tuồng, chẳng e , dám tự tiện thượng đường, giảng diễn, truyền giới, như gă bần tiện chỉ nhắm vượt lên cao ḥng chuyên cầu lợi, gần như chẳng ai không coi chánh pháp của Như Lai như một món đồ để diễn tuồng! Than ôi, đau đớn thay! Bậc hiền nhân ở Giang Hữu[85] là Đại Dă khổ tâm cầu một lời ḥng nêu tỏ cội nguồn của Tam Học. Tôi bảo: - Người học một bước ra khỏi cửa, trước hết cần phải thống thiết dứt bặt hư danh tiểu lợi trước mắt và kế mưu sanh trong trăm năm. Ắt phải ép thân theo lệ của bậc thánh hiền thiên cổ, thề hướng theo một niệm hiện tiền, nhận biết, giữ lấy huyết mạch chân chánh của Tam Học, hướng vào trong chiếc ḷ to lửa bốc rừng rực để ngàn rèn, trăm luyện, trở thành vàng ṛng óng chuốt. Sau đấy, ẩn giấu tài năng, hướng đến ḷ hương nơi miếu cổ để an thân lập mạng. Suốt đời tâm chí chẳng dấy một niệm phập phều, xao động. Măi cho đến khi chết ngất sống lại, ví như đậu nổ trong tro lạnh, chẳng có mảy may ư niệm “có ngă” th́ mới có thể là “đại dă” (大冶,ḷ luyện to lớn) nung phàm đúc thánh vậy! Đại chúng hăy trân trọng!

 

* Trà thoại đêm trừ tịch năm Tân Măo (1651)

 

          Trà thoại các phương phần nhiều nói về chuyện hướng thượng, riêng Húc hủ bại chẳng vậy, mà cùng các bạn nói về chuyện thọ dụng thường ngày trong nhà! Đức Phật chế định tỳ-kheo hành Lục Ḥa Kính. Do vậy, Tăng-già được gọi là Ḥa Hợp Chúng: Thân ḥa đồng trụ, khẩu ḥa vô tránh, ư ḥa đồng duyệt, giới ḥa đồng tu, kiến ḥa đồng giải, lợi ḥa đồng quân. Tuân thủ Lục Ḥa bèn gọi là Tăng Bảo. Điều trọng yếu chỉ là một từ tâm. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: “Nhữ đẳng ưng đương thân nghiệp hành Từ, khẩu nghiệp hành Từ, ư nghiệp hành Từ” (Các ông hăy nên thân nghiệp hành Từ, khẩu nghiệp hành Từ, ư nghiệp hành Từ). Hăy nên biết: Từ có thể đóng chặt các cửa đường ác, sanh trọn khắp vô lượng các điều thiện. Người có từ tâm th́ kẻ sân trông thấy sẽ hoan hỷ, kẻ sợ hăi trông thấy sẽ an ổn, kẻ lo buồn trông thấy sẽ cởi gỡ mối lo, kẻ khổ sở trông thấy sẽ vui sướng. Thậm chí chim, thú trông thấy, chẳng sanh tâm độc hại, kinh sợ. Hăy thử xem: Ma cũng hiện tướng hảo, quang minh thù thắng đặc biệt của Phật, nhưng khiến cho người trông thấy hắn hoảng hốt, bất an, do ma chẳng có từ tâm! Phật cũng hiện tướng Minh Vương, phẫn nộ, oai mănh, nhưng khiến cho người trông thấy dẹp tội, sanh điều lành, do Ngài có sức từ!

Trí Húc hủ bại suốt đời chưa từng xuống tóc cho người nào, cũng chưa từng đổi tên cho một ai. Phàm những người đồng trụ đều là thập phương đây kia, do pháp đạo mà thành người thân, t́nh chẳng ưa ghét. Chỉ mong các vị bạn hữu ai nấy hăy tu Từ Tâm tam-muội, chớ nên thuận theo thói tục mà nhuốm bẩn, cũng chớ gắng gượng lập dị, hăy chân thành tuân theo giới luật của đức Phật, thống thiết trừ khử vọng t́nh. Trừ được một phần tập khí, tức là một phần tu hành, tiêu tan được một phần lệch lạc, riêng tư, đấy chính là một phần học vấn. Trí Húc hủ bại đức mỏng, duyên cạn, thề chẳng mong môn đ́nh náo nhiệt, truyền bá Thế Đế, chỉ cần ai nấy đều v́ đại sự, nghĩ báo ân sâu, dùi mài lẫn nhau, tận lực cứu văn phong thái suy đồi, ngơ hầu chẳng cô phụ một phen đồng trụ. Cuối cùng, ngày Ba Mươi tháng Chạp đă đến, đảm bảo có sự thọ dụng chân thật, chẳng đến nỗi như con cua rơi vào nước sôi! Trân trọng!

Linh Phong Tông Luận

Phần 4 hết

 



[1] Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, thiền sư Ô Khoa Đạo Lâm có thị giả tên là Hội Thông, bỗng một hôm Hội Thông muốn từ biệt thầy ra đi. Sư hỏi: “Nay ông đi đến đâu?” Thưa: “Hội Thông v́ pháp mà xuất gia, nhưng ḥa thượng chẳng rủ ḷng từ răn dạy, nay con muốn đi các nơi tham học Phật pháp”. Sư nói: “Nếu là Phật pháp, ở chỗ ta đây cũng có đôi chút”. Hỏi: “Thế nào là Phật pháp của ḥa thượng?” Sư liền rút lấy một sợi bông trên vải, khẽ thổi, Hội Thông liền lănh ngộ huyền chỉ. Từ đó từ ngữ “xuy mao bố” ngụ ư Phật pháp không đâu chẳng tồn tại, chẳng thể dính mắc!

[2] Thiện Tinh (Sunaksatra), c̣n dịch là Thiện Tú, là con trai của đức Thế Tôn (vị này là anh em cùng cha khác mẹ với La Hầu La. Ngoài Da Thâu Đà La, Thái Tử có hai người thiếp nữa, không rơ Thiện Tinh là con của bà nào. Do La Hầu La là con của thái tử phi Da Thâu Đà La, nên chỉ La Hầu La thường được nhắc đến). Vị này sau khi xuất gia, đoạn được phiền năo trong Dục Giới, đắc Đệ Tứ Thiền Định. Về sau, do thân cận bạn ác, thoái thất giải thoát, cho rằng chẳng có pháp Niết Bàn, khởi tà kiến phủ định nhân quả, dấy lên ác tâm đối với đức Phật, tán thán ngoại đạo tu theo hạnh của chó là chân thật A La Hán, bị đọa vào địa ngục Vô Gián ngay trong khi c̣n sống.

[3] Nguyên văn “vật vong, vật trợ”. Từ ngữ này xuất phát từ một đoạn trong thiên Công Tôn Sửu sách Mạnh Tử: “Tất hữu sự yên nhi vật chánh, tâm vật vong, vật trợ trưởng dă”. Câu này được chú giải là trong quá tŕnh bồi dưỡng chánh khí, tâm đừng để quên bẵng, mà cũng không cần phải dùng các biện pháp can thiệp gấp gáp khiến cho tâm tăng trưởng. Họ dùng một thí dụ như sau: Người nông dân gieo mạ, muốn giúp cho mạ tăng trưởng nhanh hơn, bèn mỗi ngày kéo mạ cao lên một chút, rốt cuộc mạ chết sạch!

[4] Pháp Hoa Tam Muội Sám Nghi c̣n gọi là Pháp Hoa Tam Muội Hành Pháp, Pháp Hoa Tam Muội Nghi, hoặc Pháp Hoa Kinh Tam Muội Nghi, tên gọi đầy đủ là Pháp Hoa Tam Muội Hành Sự Vận Tưởng Bổ Trợ Nghi Lễ Pháp Hoa Kinh Nghi Thức. Sách này được coi là tinh túy về Pháp Hoa Tam Muội do ngài Trí Giả được truyền thừa từ ngài Nam Nhạc Huệ Tư.

[5] Tức “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy nguy, duy tinh duy nhất” như đă được giải thích trong phần trước.

[6] Kim cang hậu tâm là môn Định đă đoạn được phiền năo cực vi tế nhất nơi địa vị tối hậu của Bồ Tát. Do tác dụng của trí khi đó sẽ kiên cố, sắc bén ví như kim cang, nên gọi là kim cang định. Có ba tâm nhập, trụ, xuất. Khi nhập th́ vẫn là chúng sanh, khi xuất bèn thành Phật. Khi trụ vị hoàn măn, khi sắp xuất Định bèn gọi là kim cang hậu tâm.

[7] Thông thường An Cư theo truyền thống Phật giáo Bắc Truyền là từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy (nếu gọi đích xác th́ đó là Tiền An Cư). Nhưng nếu nói cặn kẽ hơn th́ như Tây Vực Kư chép: “Tăng sĩ tại Ấn Độ vâng theo thánh giáo của đức Phật, có hai kỳ an cư. Ba tháng đầu là từ ngày mười sáu tháng Năm cho đến ngày Rằm tháng Tám. Hậu an cư là từ Mười Sáu tháng Sáu cho đến ngày mười Sáu tháng Chín”.

[8] Theo kinh Lăng Nghiêm, quyển tám có nói ngài A Nan sau khi được Như Lai khai thị về ư nghĩa của mật ấn Bát Đát Ra, và nghe tên gọi của bộ kinh liễu nghĩa ấy, do đốn ngộ thánh vị tu tấn trong Thin Na, bèn thưa tŕnh kiến giải. Trong đó, có đoạn Ngài nói: “Thế Tôn! Bảo Liên Hương tỳ-kheo-ni tŕ Bồ Tát giới, tư hành dâm dục, vọng ngôn hành dâm phi sát, phi thâu, vô hữu nghiệp báo. Phát thị ngữ dĩ, tiên ư nữ căn sanh đại mănh hỏa, hậu ư tiết tiết mănh hỏa thiêu nhiên, đọa Vô Gián ngục. Lưu Ly đại vương, Thiện Tinh tỳ-kheo, Lưu Ly vị tru Cù Đàm tộc tánh, Thiện Tinh vọng thuyết nhất thiết pháp Không, sanh thân hăm nhập A Tỳ địa ngục. Thử chư địa ngục, vi hữu định xứ, vi phục tự nhiên” (bạch đức Thế Tôn, tỳ-kheo-ni Bảo Liên Hương giữ giới Bồ Tát, lén hành dâm dục, nói xằng bậy là hành dâm chẳng phải giết, chẳng phải trộm, chẳng có nghiệp báo. Nói lời ấy xong, trước hết là từ nữ căn sanh lửa cháy bừng, sau đó là từng lóng đốt đều sanh ra lửa mạnh thiêu đốt, đọa vào ngục Vô Gián. Đại vương Lưu Ly, tỳ-kheo Thiện Tinh. Lưu Ly giết hại ḍng họ Cù Đàm, Thiện Tinh hư vọng nói hết thảy các pháp rỗng tuếch, hăm vào trong địa ngục Vô Gián trong khi c̣n sống. Các địa ngục ấy là chỗ nhất định, lại c̣n tự nhiên).

[9] Y La Long Vương (Elāpattra), theo Huệ Uyển Âm Nghĩa, tên này dịch nghĩa là Cực Xú Khí (cực hôi thối). Tiền thân của long vương khi làm tỳ-kheo dưới thời Phật Ca Diếp, khéo thông hiểu Tam Tạng, tu tập đắc Định, thường kinh hành dưới cội cây Y La. Có một lần, vị tỳ-kheo ấy kinh hành bị lá rơi trúng trán đau điếng, nổi sân tâm, dùng hai tay bẻ cành, tước ngọn, vặt lá, đạp giẫm lá cây, chửi bới hung bạo, đến nỗi mạng chung, đọa làm thân long vương, chịu mọi khổ năo.

[10] Đây là một đoạn trích trong thiên hai mươi bảy của sách Trung Dung. Chúng tôi chuyển ngữ theo cách diễn giải của trang nhà Cổ Thi Văn Vơng.

[11] Tứ Tất Đàn nghĩa đen là bốn pháp bố thí trọn khắp, tức là bốn phương diện lợi ích trong sự giáo hóa chúng sanh của Phật pháp:

1) Thế giới Tất Đàn: Tùy thuận pháp thế gian mà nói các nghĩa nhân duyên ḥa hợp, dùng tư tưởng, ngôn ngữ, quan niệm của thế gian, tri kiến thế tục, nói pháp thích hợp với thế tục để dẫn dắt chúng sanh đạt được chánh trí, thâm nhập Phật pháp.

2) Vị nhân Tất Đàn: Thuận theo căn tánh của từng chúng sanh mà nói các pháp xuất thế thực tiễn, khiến cho chúng sanh sanh khởi thiện căn.

3) Đối trị Tất Đàn: Đối trị tham, sân, si, theo đúng bệnh mà cho thuốc, đoạn ác sanh thiện cho chúng sanh.

4) Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn: Phá trừ hết thảy luận nghị, ngôn ngữ, trực tiếp dùng Đệ Nhất Nghĩa để nói rơ lư Thật Tướng của các pháp, khiến cho chúng sanh khế nhập giáo pháp.

[12] Nguyên văn “trừng phát lao tướng” (瞪發勞相), trích từ câu kinh Lăng Nghiêm “A Nan! Thí như hữu nhân, dĩ lưỡng thủ chỉ cấp tắc ư nhĩ, nhĩ căn lao cố, đầu trung tác thanh, kiêm nhĩ dữ lao, đồng thị Bồ Đề trừng phát lao tướng”. Câu này được bộ Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Dịch Giải của cư sĩ Vương Trị B́nh diễn giải như sau: “A Nan! Ví như có người, dùng hai ngón tay tận lực đè chặt lỗ tai. Lỗ tai do bị đè chặt, đâm ra mệt mỏi, trong đầu cảm thấy có tiếng ù ù, tai và hiện tượng nẩy sanh do bị đè chặt đều là hiện tượng hư vọng sanh ra trong Bồ Đề, giống như trợn mắt nh́n hư không một lúc lâu sẽ thấy trên hư không có hoa đốm xuất hiện”.

[13] Đây là một thí dụ khác dùng trong kinh Lăng Nghiêm. Đức Phật dùng một cái khăn thắt thành sáu cái nút để sánh ví Niết Bàn. Sáu nút thắt tượng trưng cho sự sanh tử nơi sáu căn. Khi các chấp trước nơi sáu căn đă chẳng c̣n, ví như đă tháo hết sáu nút thắt, th́ cái khăn Niết Bàn cũng chẳng c̣n (tức là chẳng c̣n chấp trước có sanh tử và Niết Bàn).

[14] Đây là ba câu trong đoạn kinh văn “do động tĩnh đẳng, nhị chủng tương kích, ư diệu viên trung, niêm trạm phát thính, thính tinh ánh thanh, quyển thanh thành căn, căn nguyên mục vi thanh tịnh tứ đại”. Cư sĩ Vương Trị B́nh diễn giải như sau: “Do hai hiện tượng động và tĩnh tranh đoạt lẫn nhau, mà trong tánh vốn viên diệu, dẫn khởi từ trong bản thể vốn bất động, tĩnh lặng sanh khởi thính giác có thể nghe nhận âm thanh. Cái tinh túy (tức bản thể của thính giác) của cái Nghe ấy ảnh hiện âm thanh, hợp thành tác dụng của nhĩ căn. Cội gốc của căn chính là tứ đại thanh tịnh”.

[15] Đây là quan điểm phân loại các chủng tánh trong Pháp Tướng Duy Thức Tông. Tam Vô là định tánh Thanh Văn, định tánh Duyên Giác và vô tánh, do không có chủng tử Phật cho nên rốt ráo chẳng thể thành Phật. Nhị Hữu là định tánh Bồ Tát và bất định tánh Bồ Tát đều có Phật chủng tử, nên ắt có thể thành Phật. Do cách nói này mâu thuẫn với điều kinh Đại Bát Niết Bàn dạy (“Nhất Xiển Đề cũng có thể thành Phật”), nên trong lời đáp, Tổ chê cách nói này chẳng liễu nghĩa!

[16] Thiên nhiên ngoại đạo tức là ngoại đạo chấp mọi pháp tự nhiên sanh ra mất đi, chẳng có nhân duyên.

[17] Ba ngàn các pháp chính là từ trong một niệm tâm, có đủ mười giới (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Tu La, trời, người, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật), trong mỗi giới ấy lại có đủ mười giới khác nên 10x10=100 pháp giới, mà mỗi giới lại có mười như thị (như thị tướng, như thị tánh… như phẩm Phương Tiện của kinh Pháp Hoa đă nói), nên thành một ngàn Như Pháp Giới, đối ứng với ba đời, bèn thành ba ngàn các pháp. “Sự tạo tam ngàn” tức là từ trong một tâm, thuận theo các duyên mà tạo tác, sanh khởi ba ngàn các pháp ấy.

[18] Thừa Điền (乘田) là một chức quan nhỏ được đặt ra vào thời Xuân Thu, chịu trách nhiệm cai quản gia súc của một nước chư hầu.

[19] Xuất tướng nhập tướng (出將入相): Chữ Tướng thứ nhất là tướng quân, chữ Tướng thứ hai là tể tướng. Đây là một thành ngữ ca ngợi người có tài đức vẹn toàn. Lúc cần có thể ra ngoài cầm quân đánh giặc, lúc về triều có thể giữ chức tể tướng, giúp vua trông coi việc triều chánh.

[20] Chín châu (cửu châu) là từ ngữ chỉ chung khu vực sinh sống của Hán tộc vào thời Tiên Tần. Danh xưng này được thấy chép đầu tiên trong thiên Vũ Cống của sách Thượng Thư. Theo đó, sau khi trị được nạn lụt, Đại Vũ chia thiên hạ thành chín châu (có thuyết nói Hoàng Đế mới là người xác lập chín châu. Có thuyết lại nói Chuyên Húc Cao Dương Thị mới là người xác lập chín châu). Chín châu là:

1) Dự: Đại bộ phận thuộc tỉnh Hà Nam, do đây là lănh thổ của nước Tấn thời Xuân Thu, về sau bị tách ra thành Hàn, Triệu, Ngụy, nên c̣n gọi là Tam Tấn.

2) Thanh: tức bán đảo Sơn Đông.

3) Từ: Vùng đất giữa Bắc sông Hoài, phía Nam Thái Sơn, phía Đông Hoàng Hải, bao gồm phía Bắc Giang Tô, phía Bắc tỉnh An Huy và phía Nam tỉnh Sơn Đông.

4) Dương: Vùng đất ở phía Nam sông Hoài, thuộc lưu vực Trường Giang cho đến Lănh Nam.

5) Kinh: Tương ứng với hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc hiện thời.

6) Lương: Tương ứng với một phần Thiểm Tây, tỉnh Tứ Xuyên và một phần Vân Nam.

7) Ung: Vùng đất bao gồm phần lớn tỉnh Thiểm Tây, Ninh Hạ, Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương hiện thời.

8): Vùng đất bao gồm thành phố Bắc Kinh, Thiên Tân, tỉnh Hà Bắc, Hà Nam và tỉnh Liêu Ninh.

9) Duyện: Vùng đất bao gồm phía Tây tỉnh Sơn Đông, vùng Đông Bắc tỉnh Hà Nam, và Đông Nam tỉnh Hà Bắc.

[21] Tánh học khai mông có nghĩa là chỉ dạy cho kẻ chưa hiểu biết về Tánh học.

[22] Câu này được viết theo ư của một câu trong thiên Chủ Thuật Huấn của sách Hoài Nam Tử: “Thôn châu chi ngư, đăng nhi thất thủy, nhi chế vu lâu nghị, ly kỳ cư địa” (Con cá có thể nuốt trộng cái thuyền, vô ư bị đánh dạt vào bờ (ĺa khỏi nước), bị dế, kiến chế phục là v́ nó đă ĺa khỏi nơi ḿnh sinh sống).

[23] Ngoạn khí (玩器) là những vật để thưởng ngoạn (ngắm nh́n) tức là những vật điêu khắc hoặc chế tác tinh xảo thường dùng với mục đích trang trí, ngắm nh́n, không có tác dụng thực tiễn như lư hương bằng ngọc, các món đồ điêu khắc, chạm trổ bằng gỗ quư, ngọc, bằng đồng, bằng đá v.v… Hoặc các loại vật hiếm lạ như cây san hô, các loại đá có h́nh dạng kỳ lạ v.v…

[24] Đây là một câu nói của Khổng Tử trong sách Luận Ngữ luận định về lễ. Sách viết: “Ma mạo, lễ dă. Kim dă thuần, kiệm. Ngô tùng chúng. Bái hạ, lễ dă. Kim bái hồ thượng, thái dă. Tuy vi chúng, ngô tùng hạ”. Tăng Sĩ Cường chú giải như sau: “Khổng Tử nói: - Dùng sợi gai để bện thành mũ, đó là cổ lễ. Nay dùng sợi tơ thuần màu đen để dệt thành mũ. Đó là tiết kiệm, nên ta thuận theo đại chúng mà làm như thế. Bầy tôi thấy vua bèn lạy dưới bậc thềm, rồi mới bước lên gặp mặt vua. Đó là cổ lễ. Nay trực tiếp bỏ cách lễ dưới bậc thềm mà bước lên gặp mặt rồi vái chào, đó là thái độ ngạo mạn. Tuy trái nghịch đại chúng, ta vẫn tuân theo cổ lễ”.

[25] Đây là một câu viết theo ư trong sách Mạnh Tử, thiên Ly Lâu hạ: “Cẩu vi vô thể, thất bát nguyệt chi gian vũ tập, câu quái giai doanh, kỳ hạc dă, khả lập nhi đăi” (Nếu chẳng có cái Thể, sẽ như trong tháng Bảy, tháng Tám mưa dầm, ng̣i rănh trong ruộng đều tràn đầy nước, nhưng chúng sẽ nhanh chóng bị khô cạn).

[26] Đây là một câu trong kinh Lăng Nghiêm nói về diệu bổn tâm tánh, chúng tôi chuyển ngữ theo ư giải thích của pháp sư Viên Anh.

[27] Giác Quán c̣n dịch là Tầm Tư. Giác hàm nghĩa t́m cầu, so lường, tức là sự suy nghĩ thô thiển đối với sự lư. Quán tức là tỉ mỉ suy xét danh nghĩa, tinh thần, tác dụng v.v… của các pháp. Hai thứ này đều gây trở ngại cho Định tâm từ Nhị Thiền trở lên. Nếu chúng tiếp tục sanh khởi, chánh niệm sẽ bị lệch đi, thân tâm lao tổn, cho nên được coi là một loại Tùy Phiền Năo.

[28] Đây là nói dựa theo một câu trong chương thứ bốn mươi hai của Đạo Đức Kinh: “Đạo sanh nhất, nhất sanh nhị, nhị sanh tam, tam sanh vạn vật”, ngụ ư: Đạo có thể sanh trưởng vạn vật từ ít đến nhiều. Chương Thiên Văn Huấn trong sách Hoài Nam Tử giảng: “Đạo khởi thủy là một, một th́ chẳng sanh. Do vậy chia thành hai thứ là Âm và Dương. Âm và Dương ḥa hợp bèn sanh ra vạn vật. ‘Ba’ là nói Âm và Dương ḥa hợp”.

[29] Đây là một câu nói trích từ chương hai mươi tám của Đạo Đức Kinh: “Tri hùng thủ thư, tri bạch thủ hắc, tri vinh thủ nhục” (Biết đực giữ lấy cái, biết trắng giữ lấy đen, biết vinh giữ lấy nhục). “Hùng” hàm nghĩa dũng mănh, c̣n Thư là nhu ḥa, nhún nhường. Ba câu này thường được giải thích là thái độ khiêm hạ, nhún nhường, không phải là thấp hèn, mà là ẩn giấu tài năng, ḥa đồng trong đối nhân xử thế.

[30] Liệt Tử là Liệt Ngự Khấu (450-375 trước Công Nguyên). Ông là người nước Trịnh thời Xuân Thu, được coi là bậc tiên phong mở đường cho Đạo Gia, chủ trương quư trọng sự thanh hư. Tiểu sử của ông không được ghi chép, chỉ thấy nhắc đến rải rác trong các sách Trang Tử, Yến Tử, Quản Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử v.v… Tác phẩm thành danh của ông là bộ sách Liệt Tử. Sách ấy chủ yếu đề xướng thanh tịnh, vô vi. Đạo gia tương truyền ông từng học với Quan Doăn Hỷ, bái Hồ Khâu Tử làm thầy, sau đó lại theo học với Chi Bá Cao Tử, đắc đạo, có thể cưỡi gió mà đi. Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) do thích huyền thuật, đă dâng phong hiệu cho ông là Xung Hư Chân Nhân. V́ thế, Đạo Gia gọi sách Liệt Tử là Xung Hư Kinh.

[31] Hệ Từ Truyện là một trong mười phần giải thích của kinh Dịch (mười phần ấy được gọi là Thập Dực). Nội dung phần này giải thích nghĩa lư chung của Châu Dịch, chia thành hai thiên, tương truyền do chính Khổng Tử chấp bút, hệ thống hóa những lời giảng của Châu Văn Vương, nhưng theo các nhà nghiên cứu, phần này là công tŕnh sáng tác tập thể của các Nho sĩ từ thời Chiến Quốc cho tới Tây Hán. Họ cho rằng Hệ Từ chính là nhận thức quan và phương pháp luận của Nho gia.

[32] Đoạn này Tổ hoàn toàn dựa theo ư kinh Lăng Nghiêm để giải thích sự sanh thành của vạn vật nhằm đối ứng với cách nói của kinh Dịch.

[33] Câu này trích từ phần Hệ Từ của kinh Dịch: “Càn Khôn, kỳ Dịch chi môn da? Càn, Dương vật dă. Khôn, Âm vật dă. Âm Dương hợp đức nhi cang nhu hữu thể”. Câu này được giải thích là “Càn Khôn có phải là cửa nẻo để tiến nhập Dịch hay không? Càn là vật có tánh chất Dương, Khôn là vật có tánh chất Âm. Đức tánh của Âm và Dương ḥa hợp, bèn có h́nh thể cứng hay mềm”.

[34] Tử Tư (子思) là tên tự của Khổng Cấp (483-402 trước Công Nguyên), cháu nội của Khổng Tử (Tử Tư là con trai của Khổng Lư), người được coi là kế thừa thánh học của Khổng Tử. Ông được bốn tuổi th́ Khổng Tử mất, cha ông đă mất khi ông vừa mới sanh ra, nên theo học với môn đệ của Khổng Tử là Tăng Sâm. Ông từng làm quan dưới thời Lỗ Mục Công. Tương truyền, sách Trung Dung do ông trước tác, c̣n bộ sách Tử Tư Tử do ông viết th́ đă thất truyền. Ông được Nho gia tôn xưng là Thuật Thánh (述聖), cùng với Nhan Hồi (Phục Thánh), Tăng Sâm (Tông Thánh), và Mạnh Tử (Á Thánh) hợp thành Tứ Thánh trong đạo Nho.

[35] Tiền trần tức sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Do chúng đối ứng với sáu căn, được nhận biết bởi sáu căn, nên gọi là “tiền trần”.

[36] Duyên khí (緣氣) c̣n gọi là duyên ảnh, hoặc duyên sự, là một trong bốn phần của tâm thức. Kiến Phần (công năng nhận biết các trần) của một căn thức khi tiếp xúc với ngoại trần, sinh ra h́nh bóng của ngoại duyên trong thức. Cái h́nh bóng ấy được gọi là Duyên Ảnh. V́ nó thuộc phạm vi nhận biết của Kiến Phần, nên c̣n gọi là Duyên Khí. Và do nó cũng là sự tướng được duyên theo của tâm tánh, nên gọi là Duyên Sự.

[37] Giới nội: Thuộc trong tam giới. Giới ngoại: Vượt ngoài tam giới.

[38] Bảy đại là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Không, Kiến và Thức.

[39] Tam Niết Bàn có hai cách hiểu:

1) Dựa theo quan điểm Thể, Tướng, Dụng của tông Thiên Thai mà lập ra ba loại Niết Bàn:

a. Tánh tịnh Niết Bàn: Thật Tướng của các pháp chẳng thể nhiễm, chẳng thể tịnh.

b. Viên tịnh Niết Bàn: Trí tột bậc là Viên, Hoặc hết sạch là Tịnh. Trí nếu khế hợp Lư, Hoặc rốt ráo chẳng sanh, trí rốt ráo chẳng diệt.

c. Phương tiện tịnh Niết Bàn: Trí có thể khế hợp Lư, chiếu mọi căn cơ. Chiếu rồi ắt sẽ rủ ḷng ứng hiện, cơ cảm liền sanh. Sanh mà chẳng sanh. Cơ duyên hết bèn diệt, diệt mà chẳng diệt.

2) Dựa theo Tiểu Thừa, tam thừa, và Nhất Thừa mà có ba loại sai biệt:

a. Tiểu Thừa Niết Bàn: Nếu thân trí c̣n thừa sót th́ là Hữu Dư Niết Bàn. Chẳng c̣n sót lại thân trí th́ gọi là Vô Dư Niết Bàn. Hai loại này đều lấy nhiều lượt sanh diệt làm Thể.

b. Tam thừa Niết Bàn, lại chia thành năm loại: Vô trụ Niết Bàn, tánh tịnh Niết Bàn, phương tiện tịnh Niết Bàn, hữu dư Niết Bàn, và vô dư Niết Bàn (do sợ rườm rà nên không ghi chi tiết).

c. Nhất Thừa Niết Bàn: Nếu nói theo Biệt Giáo, lại chia thành mười loại Niết Bàn như trong phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm đă nói cặn kẽ.

Tam Bồ Đề cũng có hai cách hiểu:

1) Tam Bồ Đề là Thanh Văn Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề và Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.

2) Ứng Hóa Phật Bồ Đề, Báo Phật Bồ Đề và Pháp Thân Bồ Đề.

[40] Phù trần: Hết thảy các pháp hữu vi hư giả chẳng thật, ô nhiễm chân tánh, nên gọi là Phù Trần.

[41] Văn tinh tức là tánh Nghe. Do tánh Nghe ấy chân thật, không bị biến đổi, dao động bởi huyễn thanh, nên gọi là Tinh.

[42] Biến Hành (徧行) là một loại trong các loại tâm sở. Do khi nhận thức khởi lên, sẽ luôn phát sanh tác dụng tâm lư, có tánh chất phổ biến, nên gọi là Biến Hành. Đại Thừa Quảng Ngũ Uẩn Luận giải thích: “Tâm sở này trọn khắp hết thảy các tâm thiện, bất thiện, vô kư, nên gọi là Biến Hành”. Biến Hành gồm:

1) Xúc là tác dụng tinh thần khi căn, cảnh và thức ḥa hợp, có thể hiểu đơn giản là cảm giác chủ quan hay khách quan.

2) Tác Ư: Tác dụng tinh thần do chuyên chú tâm ư để nhận biết.

3) Thọ: Tác dụng lănh nạp của tâm thức khi Xúc phát sanh.

4) Tưởng: Tác dụng tâm lư sau khi đă có Thọ phát sanh, in dấu h́nh bóng của cảnh.

5) Tư: Nội tâm đối với cảnh dẫn khởi bởi tưởng bèn có sự suy diễn, so đo, nẩy sanh ư niệm yêu, ghét, lo, buồn v.v…

[43] Biệt Cảnh (別境) chính là các tâm sở (tác dụng tâm lư) phát sanh khi tâm vương duyên theo các cảnh giới khác biệt, gồm năm món là Dục, Thắng Giải, Định, Huệ, và Niệm.

[44] Đây là một trong năm thứ vọng tưởng điên đảo được nói đến trong kinh Hoa Nghiêm. Vi tế tinh tưởng (微細精想) chính là vọng tưởng điên đảo, tức Thức Ấm. Bản chất của thức (Thức Tinh) hết sức xáo động, giống như nước chảy xiết, nhưng vi tế, thoạt nh́n dường như rất tĩnh lặng. Do chúng sanh chẳng nhận biết, cho là tĩnh lặng, nên gọi là điên đảo.

[45] Các hữu t́nh do khởi vọng tưởng điên đảo mà tạo nghiệp, phải theo nghiệp mà thọ báo, cho nên có mười hai loại h́nh thái là noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng và phi vô tưởng.

[46] Yết Nam là phiên âm của chữ Ghana, có nghĩa là cứng chắc, sâu dày, kiên cố, ngưng đọng dày đặc. Chữ này c̣n được phiên âm thành Kiện Nam, hoặc Kiển Nam.

[47] Tức đức Phật gạn hỏi cái tâm ở đâu, ngài A Nan nêu ra bảy chỗ, đều bị đức Phật phủ định.

[48] Đây là một thuật ngữ trong nhà Thiền chỉ sự chấp trước hư vọng, giống như thấy bóng trăng rọi, thấy ánh trăng, bèn ngỡ đó là mặt trăng chân thật, không nhận biết mặt trăng thật sự ở trên bầu trời.

[49] Tức hạng tỳ-kheo không chịu học hỏi giáo lư, cứ ù ù cạc cạc không hiểu biết ǵ, hoặc tuy học không dụng công quán chiếu, nghiên cứu, dẫu có học mà cũng như không học.

[50] Ngũ Trụ (hay c̣n gọi là Ngũ Trụ Địa) là năm loại phiền năo:

1) Kiến nhất xứ trụ địa: Kiến Hoặc thuộc tam giới như Thân Kiến v.v… Khi nhập Kiến Đạo sẽ đoạn trừ, nên gọi là Kiến Nhất Xứ.

2) Dục ái trụ địa: Phiền năo thuộc Dục Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc và Vô Minh.

3) Sắc ái trụ địa: Phiền năo thuộc Sắc Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc và Vô Minh.

4) Hữu ái trụ địa: Phiền năo thuộc Vô Sắc Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc và Vô Minh. Hữu Ái hàm nghĩa hữu vi sanh tử.

5) Vô minh trụ địa: Hết thảy vô minh trong tam giới.

[51] Tứ vận là quá tŕnh vận dụng và tiến triển của tâm thức do sách Ma Ha Chỉ Quán đề xướng, gồm vị niệm (chưa dấy khởi ư niệm), dục niệm (tâm sắp khởi ư niệm), niệm (khởi ư niệm), niệm dĩ (niệm đă xong).

[52] Tôn giả Hổ Khê chính là ngài Thích Liễu Nhiên (1077-1141), hiệu là Chí Thông, sống vào thời Nam Tống. Lúc bảy tuổi, Ngài phát tâm đến xin xuất gia với ḥa thượng Tường Phù Đạo Trung chùa Bạch Liên tại Thai Châu (thuộc huyện Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang). Mười sáu tuổi, được đặc cách thọ Cụ Túc Giới, học Thiên Thai Giáo Quán với ngài An Quốc Nguyên Huệ. Sau đó, một đêm Ngài nằm mộng thấy Quán Âm Bồ Tát ngồi trong rừng trúc, pháp sư Mă Nhất đứng hầu, tán thán Bồ Tát bằng một trăm bài kệ. Tỉnh giấc, Sư chỉ nhớ được nửa bài kệ, từ đó, bỗng khai phát trí huệ biện tài. Pháp sư chuyên hoằng dương Giáo Quán, nhưng không lơ là công hạnh Tịnh Độ. Một đêm, Ngài mộng thấy hai con rồng từ trên mây giáng xuống, bỗng hóa thành hai vị trời đến vái chào pháp sư, rồi rút một quyển sách trong tay áo, bảo: “Bảy ngày sau, Sư sẽ về Tây”. Pháp sư tỉnh giấc, biết sắp tới lúc văng sanh. Đến ngày đó, bèn sai đánh trống nhóm họp đại chúng, thăng ṭa thuyết pháp, phó chúc hậu sự, nói kệ từ biệt. Kế đó, bảo đại chúng to tiếng tụng kinh Di Đà. Khi tụng đến câu “Tây Phương thế giới, Sư liền tọa hóa. Đại chúng nghe trên không trung có tiếng nhạc tri, tỏa hào quang cát tường. Sư để lại các trước tác như Thập Bất Nhị Môn Khu Yếu, Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn Tông Viên Kư, Luật Tông Vấn Đáp, Thích Môn Quy Kính Nghi Thông Chân Kư, Công Đức Thiên Sám Nghi và Hổ Khê Tập.

[53] Tức bài kệ: “Nhân duyên sở sanh pháp, ngă thuyết tức thị Không, diệc danh vi giả danh, diệc danh Trung Đạo nghĩa” (Pháp sanh bởi nhân duyên, ta nói chính là Không, cũng gọi là giả danh, cũng là nghĩa Trung Đạo).

[54] Thiên Tụ (篇聚) là từ ngữ chỉ chung giới luật của tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Do Cụ Túc Giới chia thành năm tụ, sáu tụ, hoặc bảy tụ (các loại lớn). Nói chính xác hơn, luận định về tội quả th́ chia thành các Thiên, c̣n luận định về ư nghĩa cấp yếu như tội tánh và cái nhân gây nên tội th́ chia thành các Tụ.

[55] Ư nói: Ngài Đức Sơn phỏng theo hạnh khất thực của Tăng đoàn thời đức Phật tại thế.

[56] Chuyện này được chép trong kinh Đại Bảo Tích, quyển 15. Theo đó, có năm trăm vị Bồ Tát đă dụng công tu hành, đắc Túc Mạng Trí. Họ dùng Túc Mạng Trí quán sát đời quá khứ, phát hiện chính ḿnh tạo tội nghiệp cực nặng, sanh ḷng sợ hăi không kiềm chế được, luôn ưu sầu, khủng hoảng. Cũng v́ thế, dẫu gắng sức dụng công tu hành, chẳng thể đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Để độ họ, Văn Thù Bồ Tát làm ra vẻ cầm gươm bén chạy đến bên Phật, toan đâm Ngài, tợ hồ sắp phạm tội Ngũ Nghịch. Đức Phật nói: “Ngươi muốn đâm ta, đương nhiên có lư do. Ta chẳng sợ ngươi đâm, nhưng hăy khoan đă, trước hết nghĩ cách thiện xảo rồi hăy đâm ta chẳng muộn”. Văn Thù Bồ Tát ngừng lại ra vẻ suy nghĩ. Đức Phật dạy: “Ngươi muốn đâm ta, ắt phải thiện xảo, đúng pháp. Nếu không, sẽ mắc đại tội. Hăy nên biết: Hết thảy các pháp trong thế gian, đều như huyễn, như hóa, sanh mạng thể của ta cũng như huyễn, như hóa, chẳng có một cái ngă thật sự, chẳng thật sự có người khác. Thử hỏi ngươi cầm gươm toan giết người nào? Tương lai sẽ lại thọ ương báo như thế nào? Ta bảo ngươi: Nếu thật sự có một người, ngươi giết kẻ đó, sẽ thành tội sát hại, mới khiến cho ngươi thọ ương báo. Hết thảy các pháp đă là như huyễn, như hóa, tánh của ta và người chẳng thể được, đương nhiên không có ǵ gọi là sát hại, cũng không có trọng tội sát hại để có thể được!” Năm trăm vị Bồ Tát nghe dạy, liễu đạt tội tánh vốn không tịch, liền chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn.

[57] Đây là hai công án được chép trong Lược Thiền Lâm Loại Tập, quyển bốn. Quy là Quy Tông Thường, Nam là Nam Tuyền Nguyện. Sách ấy chép: “Thiền sư Quy Tông Chi Thường đang dẫy cỏ, có một vị tọa chủ đến tham yết. Ngẫu nhiên thấy một con rắn ḅ qua, Sư vung cuốc chặt nó đứt đôi. Tọa chủ thất sắc: ‘Tôi kính ngưỡng Ngài đă lâu, ngờ đâu là một gă sa môn thô tệ!’ Sư nói: ‘Ông thô hay tôi thô?’ Tọa chủ nói: ‘Thế nào là thô?’ Sư cầm chặt cán cuốc. Lại hỏi: ‘Thế nào là tế?’ Sư làm tư thế chém rắn. Tọa chủ hỏi: ‘Nên hành theo như thế nào?’ Sư nói: “Vâng theo để hành hăy gác lại đó, chỗ nào ông thấy tôi chém rắn?’ Tọa chủ không trả lời được”.

Cũng trong sách ấy chép: “Ngài Nam Tuyền Nguyện do tăng chúng Đông Đường và Tây Đường tranh nhau một con mèo. Sư xách mèo lên, hỏi: ‘Đại chúng đáp được th́ cứu nó, chẳng đáp được th́ ta chém nó’. Đại chúng không đáp được, Sư bèn chém nó. Đến tối, ngài Triệu Châu trở về. Đại chúng khuyên ngài hỏi ư Sư. Sư lập lại câu hỏi, Triệu Châu bèn đội dép lên đầu bỏ đi. Sư nói: - Nếu ông có mặt đă cứu được con mèo!”

[58] Tỳ sương (砒霜) c̣n gọi là Bạch Tỳ, Hạc Đảnh Hồng, chính là arsenic trioxide (As2O3) là một hóa chất rất độc. Trong công nghiệp, nó được sử dụng để chế thuốc trừ sâu và chế biến thủy tinh. Đôi khi nó được dùng dưới tên gọi Trisenox để chữa một loại ung thư bạch huyết cầu.

[59] Phu nhân Mạt Lợi đang thọ Bát Quan Trai Giới th́ có một kẻ hầu do phạm tội nhỏ khiến vua giận dữ, toan sai lôi ra chém, bà liền trang điểm lộng lẫy, khoác y phục đẹp nhất, nhảy múa, ca hát, dâng rượu khiến cho vua Tần Bà Sa La vui sướng, đồng ư tha chết cho kẻ đó.

[60] Tôn Thúc Ngao (630-593 trước Công Nguyên) tên thật là Ngao, họ Vĩ, tên tự là Tôn Thúc, là một vị Lệnh Doăn (tương đương với chức tể tướng) trứ danh của nước Sở thời Xuân Thu. Ông vừa có tài trị thủy, vừa có tài thao lược quân sự. Ông nổi tiếng liêm khiết, nghèo đến nỗi khi chết con cái không sắm nổi quan tài để chôn cha. Khi sắp mất, ông biết con ḿnh là Tôn An tài năng xoàng xĩnh, căn dặn con đừng nhận quan tước. Nếu vua nhất quyết phong đất, đừng nhận đất phong rộng lớn, chỉ xin một cuộc đất nghèo hèn là Tẩm Khâu, v́ nơi đó là một cuộc đất cằn cỗi, xa xôi, không ai tranh giành th́ con cháu mới an hưởng nhiều đời được. Sở Trang Vương có một gă kép hát sủng ái họ Mạnh. V́ thế, người đương thời gọi gă là Mạnh Ưu hoặc Ưu Mạnh (“ưu nhân” nghĩa là kép hát). Mạnh Ưu rất có tài biểu diễn, khéo lấy ḷng vua. Một hôm, Mạnh Ưu ra ngoài chơi, thấy Tôn An đang vất vả đẵn củi, thân h́nh hốc hác, cảm thương, bèn t́m cách nhắc nhở nhà vua. Anh ta bèn chế mũ áo, luyện tập điệu bộ giống hệt như Tôn Thúc Ngao, biểu diễn cho vua xem. Sở Trang Vương tưởng nhớ Tôn Thúc Ngao, định phong chức cho Tôn An, nhưng Tôn An tuân theo di mạng, không dám nhận quan tước, chỉ xin được phong đất Tẩm Khâu để làm ruộng, sống qua ngày. Ở đây nói Ưu Mạnh học đ̣i Thúc Ngao, ư nói dẫu Ưu Mạnh cử chỉ, bộ dáng, lời lẽ giống hệt như Thúc Ngao lúc sanh tiền, nhưng trọn chẳng thể nào có tài năng, đức độ như Tôn Thúc Ngao được!

[61] Câu này dựa theo ư của Mạnh Tử: “Bá Di, thánh chi thanh giả dă. Y Doăn thánh chi nhậm dă. Liễu Hạ Huệ thánh chi ḥa giả dă. Khổng Tử, thánh chi thời giả dă. Khổng Tử chi vị tập đại thành. Tập đại thành dă giả, kim thanh nhi ngọc chấn chi dă. Kim thanh dă giả, thỉ điều lư dă. Ngọc chấn chi dă giả, chung điều lư dă. Thỉ điều lư giả, trí chi sự dă. Chung điều lư, thánh chi sự dă” (Bá Di, Thúc Tề là bậc thanh bạch trong các vị thánh nhân, Y Doăn là người gánh vác trách nhiệm nặng nề trong hàng thánh nhân. Liễu Hạ Huệ là bậc ḥa đồng trong các vị thánh nhân. Khổng Tử là người biết thời thế trong các thánh nhân. Có thể gọi Khổng Tử là bậc tập đại thành. Tập đại thành có ư nghĩa giống như ḥa nhạc, trước là gơ chuông đồng, cuối cùng dùng tiếng khánh bằng ngọc để kết thúc. Gơ chuông đồng trước hết là để điều ḥa tiết tấu. Gơ khánh ngọc nhằm kết thúc nhịp điệu ấy. Khởi đầu tiết tấu là chuyện thuộc về trí, kết thúc tiết tấu là chuyện của bậc thánh).

[62] Câu này được giải thích bằng rất nhiều cách, phổ biến nhất là cách giải thích của Khổng Dĩnh Đạt: “Càn là khí thái dương (thái dương ở đây là dương cực thịnh trong Tứ Tượng, không phải là mặt trời), vạn vật đều được sanh khởi từ khí này, nên bảo biết nó là sự khởi đầu to lớn. Khôn là h́nh dạng của đất, là Âm. Khôn có thể tạo tác, sanh thành muôn vật. Thoạt đầu là vô h́nh, chưa có tạo tác, nên chỉ nói là Biết. Vạn vật đă h́nh thành, mọi việc có thể tạo tác, nên gọi là Tác”.

[63] Viên Dung và Hành Bố là hai khái niệm về sự tu chứng từ địa vị Bồ Tát cho đến Phật quả trong giáo nghĩa Hoa Nghiêm. Lần lượt tấn tu theo từng địa vị th́ gọi là Hàng Bố (xếp bày theo thứ tự), như các phẩm Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng trong kinh Hoa Nghiêm thuộc về Hàng Bố Môn. Viên Dung chính là sơ hậu tương tức (trước và sau chính là lẫn nhau), thường được diễn tả một là hết thảy, hết thảy là một, trong mỗi địa vị hàm dung hết thảy các địa vị v.v…

[64] Thức thứ bảy là Mạt Na Thức, c̣n gọi là Ư Căn, hàm nghĩa nó là cái gốc sanh ra Ư Thức, do chấp ngă rất mạnh. Do Ư Thức sanh khởi trực tiếp từ Mạt Na Thức, nên Mạt Na Thức được gọi là “thân y” (親依, đích thân nương nhờ). Do chỉ có Ư Thức nương vào Mạt Na để sanh khởi, chẳng liên quan đến các thức khác, nên gọi là “bất cộng” (不共).

[65] Tức là đối tượng tác động vào Mạt Na chính là Ư. Mạt Na dùng Ư Thức làm đối tượng để duyên theo (lănh nhận, tiếp xúc, nhận biết).

[66] Ngoại môn chuyển là như năm căn duyên theo ngũ trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc) để sanh khởi ra thức tương ứng với căn đó, nhưng Mạt Na Thức chỉ duyên theo ư là cái được cảm nhận bởi tâm nên gọi là Nội Môn Chuyển.

[67] Chuyển Thức (Pravrtti-vijñāna): “Chuyển” hàm nghĩa chuyển biến, chuyển đổi, đổi khác. Hàm nghĩa bảy thức đầu đều nương vào A Lại Da Thức (Tạng Thức, thức thứ tám). Chúng lại duyên theo các cảnh thuộc lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà nẩy sanh thiện, ác, vô kư.

[68] Phát nghiệp nhuận sanh nói cặn kẽ sẽ là do Hoặc khởi nghiệp, do Hoặc nhuận sanh, tức là do phiền năo vun bồi, khiến cho nghiệp nẩy nở, tăng trưởng, dẫn sanh cái quả trong vị lai. “Nhuận sanh” là nói tới tác dụng của Hoặc trong việc tăng trưởng, sanh khởi cái quả. Chẳng hạn như người lâm chung, nếu đam luyến thân thể, gia đ́nh, cảnh duyên, sự mê hoặc ấy sẽ “nhuận sanh” thân Trung Hữu, tức là thân Trung Ấm sẽ sanh khởi, có h́nh dạng giống như lúc sanh tiền.

[69] Dẫn thân xúc trưởng (引伸觸長, c̣n nói là “dẫn thân xúc loại”) có nghĩa là từ một nguyên tắc của sự vật mà có thể suy diễn rộng ra, thấu hiểu những điều tương tự, mở rộng kiến thức.

[70] Đây là một ư dựa theo câu nói trích từ sách Mạnh Tử nói về đức độ của Y Doăn: “Tư thiên hạ chi dân thất phu, thất phụ hữu bất bị Nghiêu Thuấn chi trạch giả, nhược kỷ thôi nhi nạp chi cấu trung” (Suy nghĩ nếu có kẻ nam người nữ tầm thường nào trong dân chúng khắp thiên hạ chẳng được nhuần thấm đạo của Nghiêu, Thuấn, liền cảm thấy như chính ḿnh đă xô người đó xuống khe rănh trong núi cho họ chết phứt đi).

[71] Cáo Tử (告子, không rơ năm sanh và năm mất), tên là Bất Hại, là một nhà tư tưởng thời Đông Châu Chiến Quốc. Có thuyết nói ông là học tṛ của Mạnh Tử, nhưng do không thấy trước tác lưu truyền, có người ngờ đây là một nhân vật được đặt ra. Theo truyền thuyết, Cáo Tử từng theo học với Mặc Tử, có biện tài, chủ trương: Con người “vô thiện, vô bất thiện”, về sau do bị hoàn cảnh ảnh hưởng mới có thiện và bất thiện khác biệt.

[72] Tức sách Hiển Mật Viên Thông Thành Phật Tâm Yếu Tập do sa-môn Đạo Chân soạn vào đời Liêu. Sách chia làm hai quyển, gồm bốn môn: Hiển Mật Tâm Yếu, Mật Giáo Tâm Yếu, Hiển Mật Song Biện, và Khánh Ngộ Thuật Hoài, chủ yếu nêu bày kinh nghiệm và tâm đắc trong học Phật của tác giả, nhất là trong việc hành tŕ mật pháp Chuẩn Đề. Sách cũng chép về nghi quỹ hành tŕ, cũng như phản ánh tư tưởng Hoa Nghiêm rất sâu.

[73] Ư nói tác phẩm Chuẩn Đề Tŕ Pháp của tổ Ngẫu Ích.

[74] Năm bộ: Theo quan điểm của hệ thống Kim Cang Giới (tức dựa theo giáo nghĩa trong kinh Kim Cang Đảnh) th́ các pháp tu trong Mật Tông được chia thành năm bộ loại là Phật bộ, Liên Hoa Bộ, Bảo Bộ, Kim Cang Bộ và Yết Ma Bộ. Trong khi đó, nếu xét theo hệ thống Thai Tạng Giới (đặt căn bản trên kinh Đại Nhật) th́ gồm ba loại là Phật Bộ, Liên Hoa Bộ, và Kim Cang Bộ.

[75] Phổ thuyết (普說) hàm nghĩa nhóm họp đại chúng mà thuyết pháp, c̣n gọi là thăng ṭa (陞座). Phổ thuyết khác với thượng đường (上堂) ở chỗ khi Phổ Thuyết, không cần phải đốt hương, chú nguyện, pháp sư không cần phải đắp pháp y, tán hương v.v… Thông thường, Phổ Thuyết được cử hành tại Phương Trượng Thất hoặc pháp đường. Tuy vậy, Bách Trượng Thanh Quy lại quy định Phổ Thuyết là do đại chúng đốt hương cầu thỉnh vị thầy khai thị trước đó. Thị giả sai vị khách đầu (tức Tri Khách Sư) lập bảng thông báo cho đại chúng (gọi là Phổ Thuyết Bài), xếp dọn pháp đường. Dùng cháo sáng xong, đánh năm tiếng trống, thỉnh trụ tŕ hoặc trưởng lăo thăng ṭa.

[76] Tỳ Lam (Vairambhaka, Verambhavāta), c̣n phiên âm là Tỳ Lam Bà, Bệ Lam Bà, Phệ Lam Bà, Phệ Lam Tăng Già, dịch nghĩa Tốc Tấn Phong, hoặc Bạo Phong, là một loại gió mạnh nhất, có thể thổi nát mọi thứ. Sách Huệ Lâm Âm Nghĩa (quyển mười ba) nói Tỳ Lam chính là gió mạnh khi kiếp hỏa bốc cháy, có thể thổi nát thế giới.

[77] Tụng Cổ: Đối với các công án nhằm khai thị của cổ nhân (thường gọi là CTắc), bèn dùng kệ tụng để biểu đạt đơn giản, nên gọi là Tụng Cổ. Về sau, cách này trở thành một thể loại riêng, thịnh hành từ thời Tống trở đi. Những vị Thiền sư nổi danh với Tụng Cổ là Tuyết Đậu Trùng Hiển, Hoằng Trí Chánh Giác, Vô Môn Huệ Khai v.v… Các bài Tụng Cổ cũng được thâu thập tạo thành sách như Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (do Pháp Ứng sưu tập), Thiền Môn Chư Tổ Sư Kệ Tụng (do Như Hữu sưu tập), Không Cốc Tập, Hư Đường Tập v.v…

[78] Niêm Cổ (拈古), c̣n gọi là Niêm Đề, hoặc Niêm Tắc, là thuật ngữ chỉ thiền sư dùng công án xưa (cổ tắc) để giảng giải, thường là có thêm lời b́nh. Niêm Cổ dùng văn xuôi khác với Tụng Cổ dùng văn vần.

[79] Ư nói trong tu hành chớ nên cậy tài, chớ nên v́ thể diện mà làm chuyện vượt quá khả năng, cũng như v́ thể diện mà không hiểu nói là hiểu, chưa chứng nói là chứng v.v… Cũng như đừng tự cao mà cho rằng pháp môn này, pháp môn nọ dành cho kẻ trung hạ, ta là bậc thượng căn phải tu pháp khác v.v…

[80] Sát là sát độ (tức cơi nước, cơi giáo hóa của một vị Phật). Do các quốc độ nhiều vô lượng vô biên, nên dùng biển để sánh ví, gọi là “sát hải” (biển cơi nước).

[81] Lệnh tiên từ: Từ ngữ để gọi mẹ người khác đă quá văng với ư kính trọng.

[82] Nhụ nhân (孺人): Thời cổ, nhụ nhân là tiếng gọi vợ của quan đại phu. Đến thời Minh - Thanh, mẹ và vợ của quan viên thất phẩm trở lên mới được gọi là Nhụ Nhân.

[83] Núi Hùng Nhĩ ở phía Tây Lạc Dương, là một chi mạch của Tần Lănh, thuộc địa phận tỉnh Hà Nam. Sau khi mất, tổ Đạt Ma được chôn tại đó.

[84] Ư nói: Trừ khử t́nh chấp, chẳng phải là phủ nhận, phế bỏ pháp.

[85] Thời cổ, gọi phía Đông của sông là Tả, phía Tây là Hữu. Giang Hữu tức là phía Tây sông Trường Giang, tức các vùng Vu Hồ, Cửu Giang, Nam Kinh v.v… Hoặc nói chung là tỉnh Giang Tây hiện thời.