Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 5

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

6. Thuyết

* Nói về tác pháp

 

          Phá giới tuy ác, nhưng che giấu c̣n ác hơn! Không lỗi tuy thiện, sửa lỗi càng thiện hơn! Đường lối sửa lỗi là đường nẻo chung để chứng Bồ Đề của tam thế chư Phật. Do vậy, pháp môn Ngũ Hối từ phàm phu cho đến Đẳng Giác, không ǵ chẳng phải là phương tiện để nhờ vào đó mà tiến cao hơn! Lo buồn, hối hận, keo tiếc là do chẳng cẩn trọng nơi những sự việc nhỏ nhặt; chú tâm chẳng phạm lỗi lần nữa là do biết hối hận. Họa hay phước chẳng có cửa, chỉ do mỗi người tự chuốc lấy. Ngay trong lúc người đời đang tạo tội, thật sự là đại ác, chẳng coi đó là điều nhục nhă, hướng về người khác phát lộ; đấy chính là điều thiện nhất trong các điều thiện, nhưng lại ngược ngạo coi đó là đáng xấu hổ, cam tâm làm ác, cảm thấy khổ sở khi làm lành, bèn trở thành ác nhất trong những điều ác, vĩnh viễn chẳng có thuở thoát ra! Điên đảo, ngu si, không chi hơn được nữa!

Sám hối trước đại chúng có thể khiến cho người chẳng phạm càng tăng thêm ḷng cảnh tỉnh, nỗ lực, kẻ đă phạm bèn sanh ḷng hổ thẹn sâu xa, hoặc cũng phát tâm sám hối, người học theo điều tốt sẽ tăng trưởng thiện căn, kẻ chê cười cũng gieo viễn nhân, lại c̣n có thể tiêu tội cũ của chính ḿnh, răn nhắc chính ḿnh trong vị lai! Như Lai lập pháp, chắc chắn chẳng sai. Kẻ trái nghịch lời Phật, chẳng phải là đệ tử đức Phật! Nếu đă trót tạo mà có thể sám hối, tức là bậc trượng phu dũng mănh, đáng kính, đáng nể. Một niệm dũng mănh sửa đổi, đó chính là chánh nhân để thành Phật. Chẳng phải là kẻ tín tâm chân thật, thiện căn sâu xa, sẽ chẳng thể lưu thông pháp môn này trong cơi đời. Phàm người có thể làm chuyện này, sẽ cùng với tỳ-kheo Dũng Thí nêu gương bất hủ. Chắp tay mà nói kệ rằng:

- Tội tánh vốn vô sanh, cần ǵ phải che giấu? Che giấu, tội thành có. Chẳng giấu, tội bèn không. Than ôi! Kẻ chẳng thẹn, viện cớ quán Thật Tướng. Tác pháp c̣n chẳng thể, há đạt lư Vô Sanh? Nếu thật hiểu Vô Sanh, tội tướng tức Thật Tướng. Tội đă là Thật Tướng; nên chẳng thể che giấu. Như v́ bệnh cầu thuốc, bèn thu được tiên đan, thân nhẹ nhàng cất lên. Kẻ tầm thường chẳng bệnh, đâu có thể sánh bằng! Chẳng bỏ tác pháp sám, mà nhập lư Vô Sanh. Phép sau ắt trọn trước, phép trước cũng thông sau. Thận trọng đầu đến cuối, thâm đạt các duyên khởi! Chẳng lừa dối Tam Bảo, và hộ pháp, trời, rồng. Đem tâm chân thiết ấy, tự độ lại hóa tha, hồi hướng cơi An Lạc, bèn gọi đạo Đại Thừa.

 

* Nói về diệu an

 

          Tam giới chẳng yên, giống như nhà lửa. Chỉ có người thâm nhập Hỏa Quang tam-muội mới có thể chuyển lửa nghiệp báo phiền năo thành lửa trí huệ, du hư, qua lại trong ấy tự tại vô ngại, bèn gọi là Diệu An. Cái Thể của lửa phiền năo và lửa trí huệ là một, nhưng danh xưng khác nhau! Chẳng phải là phiền năo diệt mà trí huệ sanh. Do lúc chẳng có trí huệ, phiền năo quyết chẳng diệt, cũng chẳng phải là do trí huệ sanh mà phiền năo diệt. Do lúc có trí huệ, phiền năo đă mất trước, như lúc tối th́ chẳng sáng, lúc sáng th́ chẳng tối. Tối chẳng ngăn chướng sáng, sáng chẳng phá tối. Hai pháp chẳng mâu thuẫn nhau. Do sáng và tối đều chẳng có Thể, cùng dùng hư không làm cái Thể của chúng. Trí huệ và phiền năo chẳng có Thể như thế, cùng dùng tâm tánh làm cái Thể của chúng. Như Hỏa Đại duyên nơi phân làm cảnh (tức đốt phân), mùi thối bức người; duyên nơi chiên đàn th́ hương thơm lan xa. Tâm tánh cũng thế. Duyên theo lợi th́ là tam đồ, duyên theo danh th́ là Tu La, duyên theo NThường, Thập Thiện th́ là trời, người trong Dục Giới, duyên theo Tứ Thiền, Tứ Không, th́ là Sắc, Vô Sắc Giới, duyên theo vô lậu Thiên Chân th́ là Thanh Văn, Duyên Giác, duyên theo Lục Độ, vạn hạnh, tự lợi, lợi tha th́ là Bồ Tát, duyên theo Thật Tướng th́ gọi là Phật.

Tâm tuy thuận theo duyên mà trọn thành mười giới, nhưng tánh vẫn chẳng phải là mười giới, giống như lửa tùy duyên mà thơm hay thối, tánh của nó vẫn chẳng phải là thơm hay thối. Ở ngoài các pháp thuộc mười giới, chẳng có tự tâm, nhưng cái tâm trong mỗi giới vẫn vượt ngoài mười giới. Giống như ở ngoài cỏ cây thơm, thối, sẽ chẳng có cái Thể của lửa, nhưng lửa của mỗi loại cỏ cây vẫn đốt sạch hết thảy cỏ cây! Trời, người thuộc tam thừa, long nữ, Xiển-đề trong Pháp Hoa, không ai chẳng được thọ kư làm Phật, do lửa của hết thảy cỏ cây đều có một tánh lửa. Có thể biết một thứ lửa chính là hết thảy các thứ lửa, hết thảy các thứ lửa đều là một loại lửa. Chẳng ra ngoài lửa phiền năo để riêng cầu lửa trí huệ. Chẳng ở ngoài lửa nghiệp mà riêng cầu lửa thần thông tam-muội. Chẳng ở ngoài lửa khổ báo mà riêng cầu pháp tánh chân hỏa. Ngay cả sự thông minh trong thế gian nếu đặt trong các Phật pháp, sẽ là lửa phiền năo trở thành lửa trí huệ. Dùng cái tay đẩy người để đỡ người. Dùng cái miệng hủy báng người để tán thán người. Dùng cái tâm oán ghét người để từ ái đối với người khác. Đó gọi là từ nghiệp hỏa mà thành giải thoát hỏa. Biết căn, thân, khí giới này, mỗi mỗi đều duy tâm, chẳng dấy đủ thứ t́nh kiến “đây, kia, ta, người”, th́ vạc sôi, ḷ than, rừng gươm, núi đao đều nạp vào Lạc Ư tam-muội của tăng chúng, hà huống nghịch cảnh ác duyên nhỏ nhặt của nhân gian, há chẳng phải là vật dụng để mài luyện tánh chân ư? Đó gọi là do khổ hỏa mà thành Pháp Thân hỏa, tức gọi là Hỏa Quang tam-muội.

Kệ rằng: - Khi mê, diệu pháp thành sanh tử. Đă ngộ, tam thiên tánh lặng thinh. Tĩnh lặng vốn chẳng rớt không vong, sanh tử há từng có thật thể? V́ Thật, hành Quyền nói mê, ngộ. Khai Quyền, hiển Thật dứt ngộ, mê. Mê t́nh đă dứt, há c̣n ngộ. Quyền, Thật danh xưng cũng chẳng c̣n! Chẳng Quyền, chẳng Thật, là cội pháp. Tâm, Phật, chúng sanh, tánh khác ǵ? Nương đó, kiến lập môn Quyền, Thật, cùng với Bổn, Tích chẳng nghĩ bàn. Ví như hoa sen chẳng khác thời, tứ vi[1] cũng lại chẳng sai biệt! Nói hoa là nhân, hạt là quả. Quả lại sanh nhân chẳng tận cùng. Nếu ai ngộ được tâm liên hoa, măi trong tam giới chẳng thuộc giới, liền hay chuyển được kinh như thế, trăm ngàn vạn ức vô số quyển. Tự, Chánh, Lưu Thông và Khuyến Phát, trong khoảng khảy tay, công viên măn!

 

* Nói về khiêm quang

 

          Kinh Dịch nói: “Khiêm, đức chi bính dă. Khiêm tôn nhi quang, ty nhi bất khả dụ” (Khiêm là căn bản của đạo đức. Người có phẩm đức khiêm tốn nếu thuộc địa vị tôn quư, phẩm đức càng rạng rỡ, dẫu thuộc địa vị thấp kém, chẳng có ai hơn được)[2]. Điều này chẳng khác ư chỉ “đương nhân bất nhượng ư sư” (gặp chuyện nhân nghĩa đáng phải làm, dẫu đối với thầy của ḿnh cũng chẳng nhường). Kinh dạy: “Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Chúng sanh và Phật b́nh đẳng, chẳng nên khinh hết thảy. V́ thế, dùng Khiêm để dạy. Phật và tự tâm b́nh đẳng, chớ nên phó mặc cho Phật; v́ thế, cổ vũ “chẳng nhường”. Do chẳng nhường, cho nên chẳng có ty liệt mạn. Do Khiêm, nên chẳng có tăng thượng mạn và ngă mạn, tà kiến. Đấy là thật nghĩa của Khiêm.

Muốn khế hợp thật nghĩa này, hăy nên quán kỹ tự tánh của một niệm hiện tiền. Nếu nói là Có th́ t́m nó chẳng thể được. Nếu bảo nó là Không, th́ nó ứng dụng vô tận. Cho là nó ở trong, th́ nó trọn khắp lục hư (thế giới). Cho là nó ở ngoài, cảm nhận nó tràn đầy nơi thân. Ngỡ nó là thân, th́ mộng cũng chẳng cùng ngủ, chết cũng chẳng cùng diệt! Ngỡ nó ĺa thân, trừ ngoài Tứ Đại, lục căn, rốt cuộc chẳng có h́nh tướng. Do vậy biết: Tâm tánh của phàm phu suốt ngày ở trong vọng chính là tâm tánhĺa lỗi, dứt sai, chẳng đợi sau khi thành Phật rồi mới ĺa lỗi, dứt sai. Tâm tánh của ta vốn tự ĺa lỗi, dứt sai, há có thể nhường cho Phật? Tâm tánh của hết thảy chúng sanh cũng chẳng hề không ĺa lỗi, dứt sai, há nên sanh đôi chút khinh mạn nào? Do chẳng nhường, trên là hợp với mười phương chư Phật, có cùng một từ lực với Phật Như Lai. Do chẳng khinh, dưới hợp với mười phương chúng sanh, cùng một niềm bi ngưỡng với các chúng sanh. Đó gọi là “tôn nhi quang, ty nhi bất khả du, quân tử chi chung” (nơi địa vị tôn quư th́ phẩm đức rạng rỡ, dẫu thuộc địa vị thấp hèn, phẩm đức vẫn không ai hơn được, quân tử luôn giữ trọn như thế)!

 

* Nói về hiếu văn

 

          Pháp thế gian và xuất thế gian đều lấy hiếu thuận làm cốt lơi. Kinh Phạm Vơng dạy: “Hiếu thuận phụ mẫu, sư tăng, Tam Bảo, hiếu được gọi là Giới”. Bởi lẽ, cha mẹ sanh ra sắc thân ta, sư tăng sanh ra Pháp Thân của ta, Tam Bảo sanh ra huệ mạng của ta. V́ thế, đều cần phải hiếu thuận. Nhưng muốn tu hiếu thuận, th́ càng phải niệm nào cũng tương ứng với Giới. Như Tăng Tử nói: “Vô cố nhi sát nhất trùng nghị, phi hiếu dă. Vô cố nhi chiết nhất thảo mộc, phi hiếu dă” (Vô duyên cớ mà giết một con trùng, con kiến, chẳng phải là hiếu. Vô duyên cớ mà bẻ găy một ngọn cỏ, nhánh cây, chẳng phải là hiếu). Hiếu thế gian c̣n như thế, huống hồ đại hiếu xuất thế ư? Nói tóm lại: Thật sự có thể hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng, Tam Bảo, quyết chẳng dám phạm giới, tạo ác!

Kinh dạy Hiếu gọi là Giới, chính là v́ muốn cho con người dùng Giới để hành hiếu. Phàm hiếu thế gian coi sớm chiều phụng dưỡng sắc thân là điều tối thiểu, khuyên dạy [mọi người] chẳng khiến cho cha mẹ bị nhục nhă, bị ô danh là bậc trung, dùng đạo để khuyên dụ cha mẹ chính là đạo hiếu to lớn. Hiếu xuất thế gian cũng giống như thế! Tâm siêng năng cúng dường Tam Bảo, hưng khởi Phật sự mạnh mẽ; đó là tiểu hiếu. Thoát ĺa sanh tử, chẳng khiến cho con Phật thân bị ch́m đắm lâu ngày trong tam giới, đó là trung hiếu. Phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, quán hết thảy chúng sanh từ vô thỉ tới nay đều là cha mẹ của ta, ắt muốn độ cho họ thành Phật đạo. Đấy là đại hiếu. Vua Thuấn trọn hết đạo đại hiếu thế gian, đức thẳm sâu truyền tới tai vua Nghiêu, được [vua Nghiêu truyền ngôi làm] thiên tử. Nay đứa con xuất gia trọn hết đạo đại hiếu xuất thế, đức thẳm sâu vang dội pháp giới, ắt thành Vô Thượng Bồ Đề đă rơ rồi!

 

* Nói về tẩy tâm (gột rửa cái tâm)

 

          Tâm tánh vốn tự ĺa lỗi, dứt sai, linh thông, sáng suốt, thanh tịnh, chỉ do vô thỉ vô minh mê lư gây lầm lỗi, bèn hư vọng có Tam Hoặc (Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc, Vô Minh Hoặc). Ví như mây nổi che phủ hư không, nhưng mây nổi quyết chẳng từ bên ngoài hư không mà có! Do hư không chẳng ở ngoài tánh, nên vô minh Tam Hoặc cũng há từ ngoài tâm tánh mà có, nhưng há có cái ra ngoài tâm tánh được ư? Chẳng có ǵ ngoài tâm tánh, há có cái có thể gột rửa và cái bị gột rửa? Hăy nên biết: Đă xét theo “toàn thể thành mê”, giả nói là cái có thể che (năng ế) và cái bị che (sở ế), cũng ước theo “toàn thể mê quy vào ngộ”, mà giả nói là có thể gột rửa (năng tẩy) và cái bị gột rửa (sở tẩy). Toàn thể thành mê, như toàn bộ nước thành băng. Băng tức là nước bị ngưng đọng, chẳng lưu động. Toàn thể mê quy vào ngộ, giống như toàn thể băng tan thành nước. Nước tức là băng tan, chẳng khiến cho ngăn ngại. Trong nhất tâm, đă hư vọng tạo thành Tam Hoặc. Liễu giải Tam Hoặc, sẽ thành diệu Tam Chỉ:

- Thể Chân Chỉ chính là biết rơ mười giới không ǵ chẳng phải là nhất tâm, có thể dung hội Kiến Tư Hoặc thuộc giới nội và giới ngoại.

- Phương Tiện Tùy Duyên Chỉ là biết rơ nhất tâm trọn đủ mười giới, có thể dung hội Trần Sa Hoặc thuộc giới nội và giới ngoại.

- Tức Nhị Biên Phân Biệt Chỉ là biết“nhất tâm thập giới, thập giới nhất tâm” chẳng thể nghĩ bàn, có thể dung hội căn bản Vô Minh Hoặc.

Do có thể dung hội Hoặc, Tam Chỉ đều có nghĩa là “chấm dứt”, v́ có thể biết rơ. Tam Chỉ đều có nghĩa là “ngưng dứt”, do Hoặc và Lư chẳng có hai Thể. Năng dung (cái có thể dung hội) và sở dung (cái được dung hội), năng tri (cái có thể biết) và sở tri (đối tượng được biết) chẳng có hai lẽ, Tam Chỉ đều có nghĩa “chẳng ngưng dứt”. Mỗi Chỉ trong Tam Chỉ đều có đủ ba nghĩa (chấm dứt, ngừng dứt, và chẳng ngưng dứt), tức là thành chín nghĩa. “Chín nghĩa” chỉ là Tam Chỉ, Tam Chỉ chỉ là nhất tâm. Nhất tâm vốn chẳng có năng tẩy (cái có thể gột rửa) và sở tẩy (cái được gột rửa), nhưng năng tẩy và sở tẩy rành rành chẳng xen lạm!

Dịch Truyện nói: “Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật” (thánh nhân dùng điều này để gột rửa cái tâm, ẩn tàng nơi sâu kín), ư nghĩa tột bậc là như thế đó. Đại Kinh nói: “Tam đức nhược tung, diệc bất danh diệu. Tam đức nhược hoành, diệc bất danh diệu. Tam đức bất tung bất hoành, danh bí mật tạng, năi danh vi diệu. Khế thử diệu mật, công tại ư trí. Phát thử diệu trí, bất ly ư tâm” (Tam đức nếu xét theo chiều ngang, cũng chẳng gọi là Diệu. Tam đức nếu xét theo chiều dọc, cũng chẳng gọi là Diệu. Tam đức chẳng ngang, chẳng dọc, gọi là tạng bí mật, bèn gọi là Diệu. Khế hợp sự diệu mật ấy là do công năng của trí. Phát khởi diệu trí ấy, chẳng ĺa cái tâm). Tâm trí đă phát th́ Tam Hoặc ḥa tan, như nước sôi tiêu băng, giả gọi là Tẩy.

Xin dùng kinh Phật Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) để làm chứng. Kinh dạy: “Chỉ giai thị vật, vô thị kiến giả” (Những ǵ được ông (A Nan) chỉ ra đều là vật, chẳng phải là cái thấy). Đó là nói về diệu tâm ĺa hết thảy các tướng, đó là Thể Chân Chỉ. Lại nói: “Vi tế phát minh, vô phi kiến giả” (nhận biết rơ ràng những thứ vi tế [trong muôn vật], không ǵ chẳng phải là cái Thấy). Đó là nói diệu tâm tức hết thảy các pháp, tức Phương Tiện Tùy Duyên Chỉ. Lại nói: “Thử kiến cập duyên, nguyên thị Bồ Đề diệu tịnh minh Thể, vân hà ư trung hữu thị phi thị?” (Cái Thấy ấy và cái được nó duyên theo vốn là cái thể sáng sạch mầu nhiệm của Bồ Đề, sao ở trong ấy lại có đúng và chẳng đúng cho được?) Đó là nói diệu tâm “ĺa tức, ĺa phi”, “thị tức phi tức” (“chính là” chẳng phải “chính là”). Đó là môn Tức Nhị Biên Phân Biệt Chỉ. Tức là trong một chương ấy, rành rành có đủ Tam Chỉ. Tức là mỗi Chỉ trong Tam Chỉ ấy đều chứa đựng ba nghĩa. Nếu hướng theo chỗ đó để chân thật thấu hiểu, chẳng câu nệ ngôn ngữ, văn tự, cũng chẳng trái nghịch ngôn ngữ, văn tự. Từ chỗ thấy sắc, ngửi hương, sẽ hiểu rơ rạch ṛi. Từ trong ngôn ngữ, văn tự mà soi xét, phân tích rành rẽ, mới biết giáo pháp suốt một đời đức Phật, một ngàn bảy trăm công án, nói đi, nói lại, không ǵ chẳng phải là đạo lư này!

Ngàn muôn biến hóa, đều cùng là một sợi đầu mối. Một sợi đầu mối trọn đủ biến hóa muôn ngàn, sẽ có thể ngồi trong một vi trần chuyển đại pháp luân, phá vỡ một trần lấy ra kinh quyển to bằng cơi đại thiên. Thâu vào một trần, cũng chẳng thấy có tướng đại thiên thế giới, cũng chẳng thấy tướng của một trần, cũng có thể khiến cho đại thiên và một trần, mỗi mỗi đều rành rành, chẳng ngăn ngại nhau, chẳng đoạt lấp nhau. Đó gọi là “chí hiển, chí lộ, chí vi, chí mật”, là chẳng hiển, chẳng mật, vừa hiển vừa mật. Đó gọi là chẳng thể gột rửa mà gột rửa, đó gọi là “nếu muốn sanh về Tịnh Độ, hăy nên tịnh cái tâm. Thuận theo cái tâm đă tịnh, cơi Phật sẽ tịnh!”

 

* Nói về từ tế (từ bi cứu giúp)

 

Phật đạo cứu giúp rộng khắp, lấy Hiếu làm điều cốt lơi. Hiếu bao trùm vạn hạnh. Lấy Từ làm điều trọng yếu, do sức của Từ Tâm tam-muội, thuốc độc có thể thành cam lộ, đao, gậy hóa thành hoa trời, thật sự là thuốc tốt lành để cứu Kiếp Trược, là thần chú để giải oan nghiệp. Than ôi! Tứ Đại có cùng một Thể, giác tánh chẳng sai suyển. Ǵ là người khác? Ǵ là ta? Ai là oán? Ai là thân? Do mê quá nặng, nên ngang ngược so đo đúng, sai. Do chấp nặng nề, hư vọng trở thành yêu, ghét. Yêu th́ sẽ không ngừng sanh ra nhau, ghét th́ sẽ tàn hại nhau chẳng ngớt. Thuận th́ ghét sẽ lại thành yêu; nghịch th́ yêu lại trở thành ghét! Yêu, ghét đắp đổi cho nhau, oán thân lần lượt xảy ra. Biệt nghiệp cùng tạo, bèn cảm kiếp đao binh. Nếu chẳng tu hành đại từ, dùng ǵ để cứu giúp đại nạn?

Nếu có thể thật sự dùng bảy cảnh[3] để buộc tâm, thí ba loại lạc[4] để điều ḥa ư, thậm chí trong oán duyên bậc thượng, bèn trao cho niềm vui bậc thượng, tâm sanh hỷ duyệt, chẳng c̣n ghen ghét, năo hại, dùng môn Định ấy hướng về núi đao, núi đao ắt sụp lở. Dùng môn Định ấy hướng về vạc sôi, vạc sôi ắt diệt. V́ thế biết Phổ Môn rốt ráo có thần lực vô úy, chẳng ĺa Từ tâm trong một niệm hiện tiền của chúng ta. Nếu người trong trọn khắp cơi Diêm Phù Đề đều tu môn Từ Tâm tam-muội này, Sa Bà không lập tức chuyển thành Tịnh Độ, tam thế chư Phật liền thành kẻ nói dối! Dẫu cả đại địa giết chóc, riêng một người tu môn này, người ấy chưa từng chẳng riêng ḿnh được thanh thản, thư thái, chỉ người trí mới có thể tin tưởng sâu xa!

 

* Nói về Niệm Phật tam-muội

 

          Ông Chương Khiết Chi ở Toàn Thành trần thuật sự việc trong cuộc đời của thân phụ là cụ Vũ Hành: Lâm chung ngồi niệm Phật qua đời, và nhân duyên được lănh Tam Quy, Ngũ Giới, chánh niệm thiện chung của tiên từ (mẹ) của ông ta là Vũ Thạc Nhân[5], xin tôi nói một lời trang nghiêm Tịnh Độ. Kinh Tịnh Danh dạy: “Nhược dục tịnh độ, đương tịnh kỳ tâm” (nếu muốn thanh tịnh cơi nước, hăy nên tịnh cái tâm). Tâm của hai vị tiên tôn[6] đă định, há lẽ đâu cơi nước chẳng càng thêm  tịnh ư? Hơn nữa, cư sĩ tâm hiếu thảo chẳng khuyết, sâu xa hướng về pháp môn, tâm lại tịnh, lẽ nào cơi nước càng chẳng thêm tịnh ư? Cần ǵ đợi tôi phải nói nữa, nhưng tôi có thể nói rằng:

[Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh] Diệu Tông Sao viết: “Ngũ trược nhẹ bèn thanh tịnh cơi Đồng Cư. Phương tiện khéo thấu hiểu Không th́ thanh tịnh cơi Phương Tiện. Trọn vẹn Tam Quán bèn thanh tịnh cơi Thật Báo. Rốt ráo chứng thanh tịnh cơi Tịch Quang”. Đạo Tịnh Độ như con đường rộng lớn, cố nhiên chẳng khó biết. Lư Tịnh Độ dường như biển cả, há trong một bước mà có thể trọn hết ư? Nay tập khí ngũ trược của các cụ đă nhẹ, cơi tịnh Đồng Cư ắt có thể đạt được. C̣n như các cơi tịnh Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang, khéo kế tục, khéo thực hiện, hoàn toàn cậy vào ḷng hiếu thảo của ông. Cư sĩ chỉ xét kỹ, quán kỹ một niềm hiếu thảo ấy ở trong, ở ngoài, hay ở chặng giữa? Là quá khứ, hiện tại, hay vị lai vậy? Là xanh, vàng, đỏ, trắng ư? Là dài, ngắn, vuông, tṛn ư? Là tự sanh, do cái khác sanh, do cùng sanh, hay chẳng có nhân mà sanh ư? Là có ư? Hay chẳng có? Hay vừa có vừa không? Hay chẳng phải có, chẳng phải không? Đă quán như thế, đối với tâm chẳng giữ lấy, đối với pháp chẳng chấp trước, biết rơ bản thể của hiếu thảo tức Không, tức Giả, tức Trung. Do tức Không, nên Kiến Tư tịnh. Do tức Giả, nên Trần Sa tịnh. Do tức Trung, nên Vô Minh tịnh. Do Tam Hoặc đă tịnh, ba cơi cũng tịnh. Ba cơi trong tự tâm đă tịnh, nên ba cơi của cha mẹ cũng tịnh theo, bởi chẳng có cha mẹ ở ngoài tâm!

Như quán một niệm hiếu thảo, có thể tùy ư vận dụng ḥng thanh tịnh Tam Hoặc, quán hết thảy thiện niệm, hết thảy ác niệm, hết thảy vô kư niệm cũng lại như thế. Đó gọi là Giác Ư tam-muội, c̣n gọi là Niệm Phật tam-muội. Do biết tự tâm chính là Không, được thấy Hóa Thân Phật. Biết tự tâm tức Giả, được thấy Báo Thân Phật. Biết tự tâm tức Trung, được thấy Pháp Thân Phật. Như quán tự tâm, có thể thấy Tam Phật (Pháp, Báo, Hóa), vậy th́ niệm Tam Phật cũng chính là hiển phát tam đức (Pháp Thân, Bát Nhă, giải thoát) trong tự tâm. Do đó nói: “Quán Thật Tướng của thân, quán Phật cũng thế. Quán Thật Tướng của Phật, quán thân cũng thế”. Chúng sanh và Phật chẳng hai, cha con cùng một Thể, năng độ (người hóa độ) và sở độ (người được độ) đều chẳng thể nghĩ bàn. Cẩn thận đừng nói: “Chỉ hướng về cái trước khi được cha mẹ sanh ra để tiến nhập, lănh hội”. Dẫu cho ông nói “lúc cha mẹ chưa sanh ra”, đă sớm có vô biên sanh tử, vậy th́ chỉ hướng về một niệm hiện tiền để thấy thấu suốt: Có bao giờ là do cha mẹ sanh ra? Do đó nói: “Mười đời xưa nay, từ đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm hiện tiền. Hiểu rơ trước mắt càng chẳng thừa sót pháp nào khác”. Hăy suy nghĩ sâu xa nhé!

 

* Nói về thai sen (cũng gọi là bí quyết cầu sanh Tịnh Độ)

         

          Mùa Đông năm Quư Mùi (1643), tôi hoằng dương kinh Pháp Hoa ở Phổ Đức. Cư sĩ Lư Thạch Lan quên ḿnh đă cao tuổi, đến quy y sớm nhất. Khi đó, cụ c̣n có phàm t́nh cầu con. Tôi đặt pháp danh cho cụ là Tịnh Dục (淨育). Ba năm sau, cụ chuyển cái tâm cầu con thành tạo tượng Phật, sớm chiều luyến mộ, nhất ư cầu sanh Tịnh Độ. Tôi nói: “Sự sanh nở trong thế gian máu me tạp loạn, sao có thể gọi là tịnh? Chỉ có hóa sanh trong hoa sen mới là tịnh dục (sự sanh nở thanh tịnh) chân thật. Cư sĩ hăy nên có biệt hiệu là Dựng Liên (孕蓮)”. Tôi lại xin cụ hăy dùng yếu quyết để làm bằng khoán:

- Cổ nhân nói: “Ái chẳng nặng, chẳng sanh Sa Bà. Niệm chẳng nhất, chẳng sanh Cực Lạc”. Cư sĩ đă chẳng cầu con, tức là ái đă nhẹ. Lại có thể tạo tượng Phật, tức là niệm đă nhất. Lại c̣n yếu quyết, không ǵ thiết tha bằng hai câu “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Chiên đàn bất quá là gỗ trong thế gian, hễ đốt sẽ thành tro, chạm khắc bèn thành tượng, há chẳng phải là thuận theo cái tâm mà tạo tác ư? Đă thành tượng, sớm chiều lễ bái, đối trước tượng chiêm ngưỡng. Sớm chiều ở trong tâm mục, ngoài tâm chẳng có Phật. Há chẳng phải “tức tâm nhi thị” (chính là do tâm) hay sao? Nếu biết tượng Phật được điêu khắc đích xác là “tâm làm, tâm là”, sẽ biết Cực Lạc Di Đà cũng là ‘tâm làm, tâm là’. Nếu đă biết Cực Lạc Di Đà là “tâm làm, tâm là”, ắt sẽ biết mười phương ba đời hết thảy chư Phật cũng đích xác là “tâm làm, tâm là”. Nếu biết hết thảy chư Phật “tâm làm, tâm là”, sẽ biết hết thảy Tịnh Độ cũng đích xác là “tâm làm, tâm là”. Dùng cái nhân “duy tâm thanh tịnh” để sanh trưởng duy tâm tịnh quả, vô sanh mà sanh, sanh chính là vô sanh. Nắm chắc bằng khoán này, sẽ chẳng thể nào có chuyện vẫn đọa vào nghi thành! Ngộ yếu quyết này mà vẫn bảo pháp môn Tịnh Độ chẳng phải là viên đốn tột bậc, th́ lại càng chẳng thể được!

 

* Nói với ông Trần [ư nghĩa của] pháp danh Chân Lăng, pháp hiệu Tự Chiêu

 

          Kinh Thi nói: “Kư minh thả triết, dĩ bảo kỳ thân” (đă sáng suốt lại khôn ngoan để ǵn giữ cái thân). Cái thân ấy chẳng phải là nói tới khối thịt cao bảy thước. Thánh nhân coi thiên hạ là một thân, coi muôn đời là một hơi thở. V́ thế, ắt phải giữ đúng địa vị sánh cùng trời đất, sanh trưởng vạn vật, sau đấy mới gọi là “bảo thân” (giữ ǵn thân thể). Sách Đại Học nói “minh minh đức ư thiên hạ” (làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ), Luận Ngữ nói “nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân” (khắc chế ham muốn riêng tư, hành xử theo đúng lễ nghĩa dẫu chỉ một ngày, thiên hạ đều quy phục ḷng nhân), đều là lư này! Vương Dương Minh vượt trội các Nho sĩ đời Hán, đời Tống, thẳng thừng tiếp nhận tâm học của Khổng Tử - Nhan Hồi, suốt đời dạy người khác ba chữ “trí lương tri” (thấu đạt lương tri). Lương tri (良知) chính là cái Thể của tánh đức linh thông, sáng suốt, sách Đại Học gọi nó là Minh Đức, Luận Ngữ gọi nó là Kỷ, c̣n kinh Thi gọi nó là Thân. Trí (, đạt đến) là công năng xứng tánh viên chiếu, sách Đại Học gọi là nó là Minh (, làm sáng tỏ), Luận Ngữ gọi là Khắc (), kinh Thi gọi nó là Bảo (, ǵn giữ). Nếu chẳng ngộ Lương Tri, sao có thể vận dụng nó đến tột bậc? Nếu chẳng vận dụng công năng đạt tới tột bậc, lương tri sẽ do đâu mà hiển hiện toàn thể, đạt được sự thọ dụng to lớn? Do vậy, tôi đặt cho ông pháp danh là Chân Lăng (真朗, thật sự sáng suốt), tức là chỉ thẳng cái bản thể nơi lương tri của ông. Lại mong cho ông toàn tánh khởi tu, nên lại đặt pháp hiệu là Tự Chiêu (自昭, tự sáng ngời), v́ muốn ông niệm nào cũng đều đạt tới lương tri ấy, chẳng hướng ra ngoài t́m cầu, toàn tu tại tánh. Nếu có thể nh́n vào tên mà nghĩ đến ư nghĩa, có khó ǵ “hiến chương Diêu Giang, tổ thuật Thù Tứ” (tuân thủ quy củ rạng ngời của học phái Diêu Giang, truyền thuật chân thật cái học nơi Thù Thủy và Tứ Thủy)[7], lại có khó ǵ để truy ngược sông Hy Liên Thiền, cùng đổ vào biển cả nước thơm ư?

 

* Nói về pháp khí

 

          Tràn ngập trong khoảng trời đất đều là khí cụ. Trời là vật để che phủ, đất là vật để chuyên chở. Mặt trời, mặt trăng là vật để chiếu sáng. Hư không là vật để dung nạp. Có ǵ chẳng phải là vật dụng? Há có phải chỉ có thứ hữu h́nh [mới là vật dụng] ư? Nhưng “h́nh nhi thượng’ (vật chưa có h́nh thể) nếu ĺa khỏi trời, đất, mặt trời, mặt trăng, hư không, vạn vật, th́ gần như chỉ là sừng thỏ, lông rùa đó thôi! Dẫu cho ngoài trời, đất, mặt trời, mặt trăng, hư không, vạn vật, thật sự có một pháp, được gọi là Đạo, ai có thể thấy, nghe? Nếu có thể thấy, nghe, lại chỉ là một Khí (, vật dụng) mà thôi, há gọi là “bất khí”? Do vậy, tôi biết “h́nh nhi thượng” chính là “khí tức là bất khí”. “Khí chính là bất khí” th́ mới có thể gọi là “pháp khí”.

Khổng Tử dùng bốn tŕnh tự để dạy là văn, hành, trung, tín. Người học thời cổ coi “văn, hành, trung, tín” là đạo, người học hiện thời gọi đó là Khí. Nhan Tử (Nhan Uyên, Nhan Hồi) “bác văn ước lễ, dục tùng mạt do” (học vấn rộng răi, nhưng hành vi vẫn dùng lễ nghĩa để ước thúc, muốn học theo mà chẳng thể được)[8], tức chẳng “khí” nào không phải là đạo! Trọng Do (Tử Lộ), Nhiễm Cầu (Tử Do), Công Tây Xích (Tử Hoa)[9] mỗi người có sự thiên trọng riêng, nhưng giàu, mạnh, lễ nhạc chính là có đạo nào chẳng phải là Khí? Nhưng Phật môn của chúng ta cũng thế. Tam Tạng mười hai bộ, đức Phật dùng “văn” để dạy. Tứ Đẳng, Lục Độ, đức Phật dùng “hành” để dạy. Chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm, đức Phật dùng trung tín để dạy. “Văn” là Bát Nhă đức, “hành” là giải thoát đức, “trung tín” là Pháp Thân đức. Bát Nhă có ba thứ, tức Văn Tự, Quán Chiếu, và Thật Tướng, cũng là ba đức. Giải thoát có ba thứ là tánh tịnh, viên tịnh, phương tiện tịnh, cũng là ba đức. Pháp Thân có ba, tức là tự tánh, thọ dụng và biến hóa, cũng là ba đức. Ba lần ba chẳng nhiều. Một lần ba chẳng ít. Chẳng ngang dọc, chẳng đồng thời hay khác biệt, tùy ư lấy một pháp, các pháp nhanh chóng phô bày, có khí nào chẳng phải là đạo? Có đạo nào chẳng trọn đủ hết thảy các vật dụng?

Tiên Nho nói vật vật nhất Thái Cực” (vật nào cũng là một Thái Cực). Thái Cực vốn vô cực, gần như tiếp cận, bởi coi Thái Cực là tột bậc th́ Thái Cực cũng là một thứ khí. Biết cái gốc của Thái Cực là vô cực, không vật nào chẳng phải là Thái Cực, tức chẳng vật nào không phải là đạo! Dùng điều này để tŕ giới, th́ gọi là vô thượng giới. Dùng điều này để niệm Phật th́ gọi là Vô Thượng Thiền. Dùng điều này để xem Giáo, sẽ gọi là Thậm Thâm Bát Nhă. Dùng điều này để lễ bái, tŕ tụng, làm các thiện sự, sẽ gọi là Phổ Hiền Hạnh Môn. Đem điều này để tùy loại độ sanh, sẽ gọi là du hư thần thông. Nếu chưa ngộ điều này, siêng tu hạnh môn, chỉ gọi là hữu lậu, hữu vi. Nếu ĺa các hạnh môn để riêng cầu lẽ hướng thượng nhất trước khác, chỉ gọi là “lông rùa, sừng thỏ”, cũng gọi là “bắt bóng, vồ chụp hư huyễn”. V́ thế, chẳng gọi là “bất khí”, mà nói là “pháp khí”. Bởi Khí mà được gọi là Pháp, tức là chẳng tránh né hư không ở ngoài khí, chẳng hạn cuộc trong có khí, chẳng phải có, chẳng phải không, siêu việt các hư luận. Chân Nho ư? Chân Phật ư? Tôi chẳng thể không hạn cuộc đó thôi!

 

* Nói về thánh học

 

          Cái học của Phật, Tổ, thánh hiền chẳng có ǵ khác, cầu thấu triệt tận cùng cái tâm mà thôi! “Tận cùng cái tâm” tức là chẳng ở ngoài tâm riêng lập một pháp, nhưng chẳng thiếu khuyết một pháp nào trong tâm. V́ thế, làm con, bầy tôi, em, bạn, chỉ là hiếu, trung, thuận, tín, tràn đầy ḷng trắc ẩn, nhường nhịn, hổ thẹn, biết đúng sai. Nhân, nghĩa, lễ, trí mà chẳng vận dụng khéo léo, ắt sẽ là lỗ măng, điên đảo! Có thể “cửu xử ước, trường xử lạc” (ở lâu trong cảnh nghèo khó, ở lâu trong cảnh vui sướng)[10] đều do đă liễu đạt “ngoài tâm chẳng có pháp”. Lục Tổ nói: “Pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn, nhưng chẳng có một pháp nào để có thể được, th́ gọi là Tối Thượng Thừa”.

Người thời nay vừa mới muốn thông đạt, đầy đủ hết thảy các pháp, ắt bỏ tự tâm mà cầu ở ngoài; vừa mới nói “các pháp đều chẳng thật”, ắt giữ chặt sự si ám, gàn bướng, chẳng biết nhờ vào cảnh để luyện tâm, chẳng lạ ǵ không rơi vào cái học vụn vặt, liền đọa vào hầm hố “ám chứng!” Do chẳng biết vạn pháp duy tâm, cầu tràn lan đủ mọi chuyện, mọi vật, há có đạt được! Chẳng biết tâm có đủ muôn pháp, riêng giữ lấy một cái rạng ngời, linh thông, há tránh khỏi nguy ngập? Than ôi! Rạng ngời, linh thông mà c̣n chẳng nên giữ lấy, huống hồ cái tối tăm, mịt mờ ư? Người thật sự có chí hướng đến Phật, Tổ, thánh hiền, hành xử theo đúng địa vị, chẳng mong vượt ra ngoài! Phàm phú quư, nghèo hèn, đủ mọi cảnh duyên, sẽ đều là ḷ rèn lớn, trong hết thảy mọi lúc, chẳng bị lay động bởi hoàn cảnh, càng thêm kiên cường, tăng thêm những điều trước đó vốn chưa thể làm được! Sau đấy, phú quư mà chẳng dâm, nghèo hèn chẳng đổi chí, chẳng khuất phục trước oai vũ, như tùng, bách riêng sừng sững tươi tốt trong tuyết, sương. Nhờ vào đó mà thấy được cái tâm của trời đất.

Tôi đau xót cho nề nếp chân thật của Nho, Thích nay đă đều bị quét sạch, đó là v́ kẻ học Nho cấp bách cầu phú quư, người học Phật chú trọng lợi danh, vốn chẳng ôm giữ tâm tư, hoài băo của Phật, Tổ, thánh, hiền. V́ thế, học vấn, tu dưỡng, hành môn đều vừa khéo giúp sức cho hư vọng, giống như ruộng tốt mà chẳng gieo hạt, chẳng dẫy cỏ, lại tưới phân, vun bón, chỉ tăng trưởng cỏ dại mà thôi! Người học chỉ nên hướng về thửa ruộng tự tâm để ǵn giữ mạ Bồ Đề tốt lành, cắt xén cỏ dại danh lợi, tùy thời tưới tắm, tâm đừng quên bẵng, đừng tăng trưởng vọng niệm, giữ cho đến tiết Bạch Lộ, Thu Phân[11], sẽ tự thấy tươi tốt, lại c̣n kết hạt. C̣n như trời hạn th́ dùng guồng dẫn nước, lụt th́ khơi ng̣i rănh, dẫu Thần Nông sống lại, cũng chẳng khiến cho suốt năm không có khô hạn hoặc lụt lội. Dùng phương tiện ấy để tự dưỡng thiện căn, khiến cho thành thục độ thoát, sẽ kham dùng Tứ Tất Đàn để lợi ích chúng sanh, khiến cho họ lần lượt được thành thục, giải thoát đến tột cùng ngằn mé vị lai, không ǵ chẳng độ, lại càng khẩn yếu, chỉ do bước ban đầu trong hiện thời. Bởi lẽ, càng xe xoay về hướng Nam th́ từng bước càng gần đất Sở, càng xe hướng về phương Bắc th́ càng đi càng xa. Dẫu lâu dần về sau, nhận biết, sửa lại đường lối, không chỉ tổn thương đă nhiều, cũng uổng phí bao nhiêu công phu, há chẳng đáng tiếc ư? Đấy chính là thuốc đắng giă tật, đừng nên chỉ coi như văn tự mà đọc lướt qua. Đă hiểu đạo lư, sẽ từng giọt lọt vào miệng, từ cổ họng tưới rót phủ tạng, ba trăm sáu mươi đốt xương, gần như là tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông đều thấm đẫm vị thuốc.

 

* Nói về chỗ cùng tột trong văn học

 

          Thiên hạ chẳng b́nh trị là do ḷng người chẳng sáng suốt. Ḷng người chẳng sáng suốt là do chẳng giảng giải thánh học. Chẳng giảng giải thánh học là do mưu cầu lợi lạc chẳng quên! Mưu cầu lợi lạc chẳng quên là do tự đối đăi tệ bạc với chính ḿnh. Quân tử chẳng cốt ư hậu đăi chính ḿnh, nhưng thật sự là niệm nào cũng trân trọng chính ḿnh, dẫu hiển đạt chẳng thay đổi chí hướng, dẫu nghèo hèn chí hướng vẫn chẳng giảm bớt, có ư niệm mưu cầu lợi lộc nào mà chẳng quên? Mưu cầu lợi lạc đă quên bẵng, phàm đối xử, tiếp đăi thầy bạn, tụng đọc thi thư, sẽ chuyên v́ thân tâm, tánh mạng, có thánh học nào mà chẳng giảng giải? Thánh học đă được giảng giải, “hành nhất bất nghĩa, sát nhất bất cô, nhi đắc thiên hạ bất vi” (dẫu làm một chuyện chẳng hợp đạo nghĩa, giết một người vô tội mà có được cả thiên hạ, cũng không làm)[12], có người nào mà tâm chẳng sáng tỏ? Ḷng người đă sáng tỏ, tự ḿnh đă chánh đáng, mọi vật sẽ chánh đáng theo, có thiên hạ nào mà chẳng b́nh trị ư?

Đối với văn học hiện thời, tôi chẳng biết ra sao nữa! Chẳng cầu nơi tự tâm, chẳng phù hợp thánh học, chỉ chạy theo thói đời, dốc chí cầu đỗ đạt. Nếu theo đuổi chí hướng ấy, sẽ buông lung theo ḷng ham muốn riêng tư, chẳng biết quay trở lại; chẳng trách thế đạo, ḷng người bị bại hoại to lớn, chẳng thể cứu văn được! Tuy nhiên, đấy chẳng phải là lỗi của văn chương, lỗi ở chỗ chẳng biết chỗ tột cùng của văn chương. Văn chương xuất thế, th́ đức Thích Ca Văn (Thích Ca Mâu Ni Phật) cao nhất. Văn chương b́nh trị cơi đời, Văn Tuyên (Khổng Tử) bậc nhất. Đức Thích Ca Văn xả thân cầu nửa bài kệ, đức Văn Tuyên gặp nạn, bảo: “Văn vương kư một, văn bất tại tư hồ?” (Văn Vương đă mất, văn chương chẳng phải do ta duy tŕ ư?)[13] Đấy đều là đối với văn bèn biết chỗ tột cùng. Chỗ cùng tột của văn khởi đầu từ đại thánh, đại hiền, tột cùng nơi chư Phật, Bồ Tát. Quả thật là do thánh hiền, Phật, Bồ Tát tự trau giồi đạo đức sâu thẳm. Nói đến đạo đức, văn chương, công danh phú quư trong cơi phàm th́ đều là giả dối như Ngũ Bá, đều do phi nghĩa mà đoạt lấy! Do vậy, tôi khuyên lơn chỗ tột cùng trong văn chương không có ǵ khác, chỉ là mong cho chính ḿnh thấu đạt chỗ tốt đẹp nhất nơi văn chương mà thôi!

 

* Nói về “tàng dă” (ẩn tàng nơi đồng hoang)

 

          Kinh Dịch nói: “Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật. Cát hung dữ dân đồng hoạn” (Thánh nhân dùng điều này để gột rửa cái tâm, ẩn tàng nơi sâu kín, cùng chia sẻ tốt xấu với dân chúng). Lại nói: “Đồng nhân ư dă, hanh” (những người chí đồng đạo hợp tụ tập nơi khoảng khoát, đấy là điều tốt lành, hanh thông)[14]. Bởi lẽ, chẳng ẩn tàng sẽ chẳng đủ để đạt tới cái dụng tột cùng, nhưng chẳng đặt cái dụng ấy nơi khoảng khoát, sẽ chẳng thể là đại đồng. Sơ Cửu (hào Dương đầu tiên) của quẻ Càn được giải thích là “tiềm long vật dụng” (rồng c̣n ẩn tàng, chưa vận dụng được)[15]. “Tiềm” () chính là Tàng. Tàng là cái Thể của đạo. Trải qua các giai đoạn “kiến, dịch, dược, phi[16], nhưng chẳng biến đổi bản thể. V́ thế nói: “Bất biến tắc yên” (chẳng thay đổi chí hướng)[17]. Biết tiến, thoái, tồn, vong nhưng chẳng đánh mất sự chánh đáng!

Cơi đời chỉ nói Càn là vật thuộc về Dương, Khôn là vật thuộc về Âm mà thôi! Đâu có biết “một Âm, một Dương được gọi là Đạo”, tức “h́nh nhi hạ” (cái đă có h́nh thể rơ ràng) chính là “h́nh nhi thượng” (cái chưa có h́nh thể rơ ràng). Do cái nắm giữ sự chi phối mà ẩn tàng. Do ẩn tàng mà nó lại chi phối, vốn chẳng phải là thiên lệch ư? Do đó lại nói: “Càn Khôn kỳ Dịch chi uẩn da?” (Chẳng phải là Càn Khôn được ẩn giấu trong Dịch ư?) Uẩn tức là Tàng. Ẩn tàng Càn Khôn nơi Dịch, ngoài Dịch chẳng có Càn Khôn, ngoài Càn Khôn cũng chẳng có Dịch. Lại do Dịch và Khôn tàng trong Càn. Ngoài Càn chẳng có Khôn và Dịch. Dùng Càn và Dịch ẩn tàng trong Khôn, ngoài Khôn chẳng có Dịch và Càn! Đó gọi là vật nào cũng là một Thái Cực, Thái Cực vốn vô cực!

 

* Nói về Sỉ Am

 

          Sỉ (, xấu hổ, thẹn nhục) là tâm. Tinh thần của tâm th́ gọi là Thánh. Thánh nhân bất quá có Sỉ mà thôi! Những ǵ kẻ phú quư phàm tục ham chuộng, bậc hào kiệt coi đó là hổ thẹn. Công danh là điều mà bậc hào kiệt khoe khoang, thánh nhân coi đó là điều hổ thẹn. Hổ thẹn tột bậc là thánh hiền. Được hiển đạt chẳng kiêu căng, thuộc địa vị nghèo hèn, chí hướng chẳng tổn giảm, có thể dùng đạo để giúp đỡ thiên hạ, Đại Vũ, Hậu Tắc[18], Nhan Tử (Nhan Uyên) khắp cơi đất đều là như thế. Hạnh trong thế gian này đă có hổ thẹn như thế, đạo xuất thế lẽ đâu chẳng phải như vậy? Ngũ dục trong cơi trời, người, Sắc, Vô Sắc Định, là những thứ phàm phu, ngoại đạo ưa chuộng, tam thừa hiền thánh coi đó là đáng hổ thẹn. Thiên Chân Niết Bàn là điều Nhị Thừa ưa chuộng, các vị đại Bồ Tát coi đó là điều đáng hổ thẹn. Thần thông xuất Giả được các vị Bồ Tát đề cao, hành nhân Viên Đốn coi đó là điều đáng hổ thẹn. V́ vậy, người có ḷng hổ thẹn nhất trong thế gian và xuất thế gian, không ǵ hơn hành nhân Viên Đốn. Danh Tự coi chưa dự vào NPhẩm là đáng hổ thẹn. Quán Hạnh coi chưa tịnh hóa lục căn là đáng hổ thẹn. Tương Tự coi chưa chứng pháp tánh là đáng hổ thẹn. Phần Chân coi chưa viên măn bản thể là đáng hổ thẹn. Do vậy, đạt đến địa vị Diệu Giác, nhưng chẳng thấy công lao ấy. Đối với con người, hổ thẹn quan trọng lắm thay! Thật đúng như vậy đấy!

 

* Nói với Sài Lập

 

          Hết thảy các danh hiệu, không ǵ chẳng phải là tánh Không. Nghĩa của tánh Không chẳng thể cùng tận. Cái Không chẳng thể tận, chính là Đệ Nhất Nghĩa Không. Do đó, cái Thể của mỗi một danh hiệu chính là pháp giới, chớ nên dùng sự việc hạn cuộc trong thế gian hay xuất thế gian để lănh hội! Chỉ có chuyện siêu việt thế gian lẫn xuất thế gian là có thể vào trọn khắp thế gian và xuất thế gian. Sài trong thế gian: Khổng Tử nói Sài là ngu. Lập trong thế gian: Khổng Tử nói lập nơi lễ. Tử Cao[19] chân chẳng giẫm lên bóng, sâu bọ mới nở chẳng giết, cây cối đang tươi tốt chẳng bẻ, lúc tỵ nạn, chẳng theo ngơ tắt, chẳng chịu chui lỗ chó, mới có thể thấy được cái ân của người [từng bị ông xử phạt] chặt chân, chẳng phải gọi là ngu chẳng sánh bằng ư? “Sài” trong xuất thế: Đức Thích Ca hàng phục ngoại đạo khổ hạnh, bèn thị hiện sáu năm khổ hạnh trong Tuyết Sơn, xương xẩu ḷi ra, nhưng chẳng từ bỏ. V́ vậy gọi là “sài lập” (gy đét như thanh củi). Tuy khổ hạnh chẳng phải là chánh đạo, nhưng nhờ vào đó để hàng phục ngoại đạo, tức là tự lập, khiến cho người khác được lập, đều do ư này!

Nay cư sĩ muốn làm thánh hiền thế gian, hăy nên học theo Tử Cao. Muốn làm Phật, Tổ xuất thế, hăy nên học theo đức Thích Ca. Nếu có thể học đạo thế gian, xuất thế gian này, sẽ có thể siêu việt thế gian và xuất thế gian, đạt được hai thứ thù thắng. “Ngươi có gậy chống, cho ngươi cái gậy chống. Ngươi không có gậy chống, đoạt gậy chống của ngươi”. Tung hoành giết chết tươi, không ǵ chẳng tự tại. Gọi là Sài Lập cũng được, chẳng gọi là Sài Lập cũng được. Ba ngàn tánh tướng, bách giới thiên như đều hiện rạng ngời trong hai chữ Sài Lập! Sài Lập là pháp giới. Hết thảy các pháp hướng đến sài lập, nhưng chẳng hướng đến được! Sài lập c̣n chẳng thể được, huống hồ hướng đến, hay chẳng hướng đến! Mê sài lập pháp giới bèn là vô thỉ lưu chuyển sanh tử. Ngộ sài lập pháp giới, sẽ mau chứng an lạc diệu thường. Do đó biết: Lục phàm pháp giới vốn ở nơi thân cư sĩ tự giữ lấy luân hồi. Tứ thánh pháp giới cũng từ nơi thân cư sĩ phóng quang, chấn động cơi đất. Cư sĩ có hiểu hay không? Rành rành chẳng lộ vật nào khác, đừng ngỡ ma-ni là thủy tinh!

 

* Nói về Trà Tỳ

         

          Con người thọ sanh, chỉ là thức, thọ, và hơi ấm mà thôi. Thức là do nghiệp dẫn dắt. Thọ (tuổi thọ) và hơi ấm chính là tướng biến hiện của Thức. Nương vào hơi thở ra vào th́ gọi là Thọ, tức là Phong Đại. Hơi ấm là Hỏa Đại. Ngoài Thức, chẳng có Thọ và hơi ấm. Ngoài nghiệp, chẳng có Thức. Ngoài vọng tưởng, chẳng có nghiệp. Nghiệp là cái nhân của thọ sanh. Ba thứ thức, thọ và hơi ấm chính là cái quả của thọ sanh. Nhân quả đều chẳng ra ngoài vọng tưởng. Vọng tưởng vô tánh, cho nên nhân quả cũng đều là vô tánh đă rơ rồi! Chúng sanh từ trong pháp nhân quả vô tánh, quen thói dấy khởi vọng tưởng, đủ mọi cách so đo, chấp trước, cho rằng có thật ngă, thật pháp, oan uổng hứng chịu luân hồi.

Đấng Đại Giác thương xót, bèn lập phương tiện: Sống th́ dạy dùng Quán Ngă Pháp Không, khiến cho cái nhân gây khổ vĩnh viễn đoạn dứt. Chết th́ dạy dùng Phật sự trà-tỳ, khiến cho mau chóng thoát khỏi sự vướng mắc nơi tối tăm. Bởi lẽ, hỏa táng là để giúp cho Nhị Không Quán Huệ. Phàm phu t́nh chấp nặng nề, chẳng thấy lư minh bạch, nhắc đến trà-tỳ bèn quở trách là “vô t́nh cảm”. Sở Thạch đại sư thị tịch vào năm Hồng Vũ thứ ba (1370), khi đó, cấm hỏa táng. Sư muốn tuân theo chế định của đức Phật, Minh Thái Tổ đặc biệt cho phép. Ôi! Thánh hiền hiểu rơ dường ấy, há c̣n nghi chăng? Lăo cư sĩ Nghi Chi bỏ phần mộ do thầy bói chọn lựa, nhập thường trụ tại Thê Hà, phát nguyện ắt tuân theo lệ hỏa táng, [nếu cụ] chẳng quán sâu xa Ngă Không và Pháp Không th́ sẽ chẳng thể được [như thế]!

 

* Nói về tŕ danh niệm Phật trải qua chín phẩm và bốn cơi

 

          Nếu muốn nhanh chóng thoát nỗi khổ luân hồi, không ǵ bằng tŕ danh niệm Phật, cầu sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu muốn quyết định được sanh vào thế giới Cực Lạc, lại chẳng ǵ bằng dùng Tín để dẫn đường. Nguyện là cái roi thúc đằng sau. Tín kiên quyết, nguyện thiết tha, dẫu tán tâm niệm Phật, ắt cũng văng sanh. Tín chẳng chân thật, nguyện chẳng dũng mănh, dẫu nhất tâm bất loạn, vẫn chẳng được văng sanh.

Thế nào là Tín?

- Một là tin vào nguyện lực của A Di Đà Phật.

- Hai là tin vào lời dạy của Thích Ca Văn Phật.

- Ba là tin lời tán thán của chư Phật trong sáu phương. Bậc chánh nhân quân tử trong thế gian đă chẳng nói dối, huống hồ Phật Di Đà, Phật Thích Ca và sáu phương chư Phật há nói dối ư?

Chẳng tin điều này, quả thật chẳng thể cứu! V́ thế, cần phải trước hết là sanh ḷng tin sâu xa, chớ nên ngờ vực!

Thế nào là Nguyện? Trong hết thảy mọi lúc, ghét nỗi khổ sanh tử trong Sa Bà, vui thích, hâm mộ niềm vui Bồ Đề nơi Tịnh Độ. Hễ làm điều ǵ, dù thiện hay ác, thiện bèn hồi hướng cầu sanh, ác bèn sám nguyện cầu sanh. Trọn chẳng có hai chí! Đó gọi là Nguyện.

Tín và Nguyện đă có, niệm Phật mới là chánh hạnh, cải ác tu thiện đều là trợ hạnh. Tùy thuộc công sức cạn hay sâu mà chia thành chín phẩm, bốn cơi, chẳng xen lạm mảy may nào. Chỉ do chính ḿnh chọn lựa, suy xét, chẳng cần phải hỏi han ai khác! Đó là tin sâu, nguyện thiết tha niệm Phật, nhưng khi niệm Phật, tâm lắm nỗi tán loạn, sẽ chính là hạ phẩm hạ sanh. Tin sâu, nguyện thiết tha niệm Phật, nhưng khi niệm Phật th́ tán loạn ít dần, đó chính là hạ phẩm trung sanh. Tin sâu, nguyện thiết tha niệm Phật, nhưng khi niệm Phật chẳng tán loạn th́ là hạ phẩm thượng sanh. Niệm đạt tới Sự nhất tâm bất loạn, chẳng dấy tham, sân, si, tức là ba phẩm văng sanh thuộc trung phẩm. Niệm đạt đến Sự nhất tâm bất loạn, tùy ư đoạn Kiến Tư hay Trần Sa trước, cũng có thể phục đoạn vô minh, th́ chính là ba phẩm văng sanh thuộc thượng phẩm. V́ thế, tín nguyện tŕ danh niệm Phật cũng có thể trải qua chín phẩm, đích xác chẳng sai lầm.

Lại nữa, tín nguyện tŕ danh tiêu trừ, chế phục nghiệp chướng, mang theo Hoặc đi văng sanh, tức là Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ. Tín nguyện tŕ danh, tŕ đến mức đoạn hết Kiến Tư mà văng sanh, tức là Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ. Tín nguyện tŕ danh, phá rỗng rang một phần vô minh mà văng sanh, tức là Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ. Tín nguyện tŕ danh, tŕ đến chỗ rốt ráo, đoạn hết vô minh mà văng sanh, tức là Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Do đó, tŕ danh có thể tịnh bốn cơi cũng là đích xác chẳng sai lầm!

Hỏi: Tŕ danh như thế nào th́ sẽ có thể đoạn vô minh?

Đáp rằng: Đối với danh hiệu Phật được tŕ, bất luận ngộ hay chẳng ngộ, không ǵ chẳng phải là Nhất Cảnh Tam Đế. Cái tâm có thể tŕ niệm, bất luận đạt hay không đạt, không ǵ chẳng phải là Nhất Tâm Tam Quán. Chỉ v́ chúng sanh vọng tưởng chấp trước, t́nh kiến phân biệt, do vậy, chẳng khế nhập viên thường. Trọn chẳng biết [cái tâm] có thể tŕ (năng tŕ) chính là Thỉ Giác, đức Phật được tŕ (sở tŕ) chính là Bổn Giác. Nay thẳng thừng mà tŕ, ngoài tŕ chẳng có Phật, ngoài Phật chẳng có tŕ, năng và sở chẳng hai, tức là Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, gọi là Cứu Cánh Giác.

Hỏi: Đă là Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, lập tức chính là Thường Tịch Quang, sao cũng nói là văng sanh?

Đáp: Nếu thấu đạt ngay một niệm hiện tiền chính là Thường Tịch Quang, lại có nói văng sanh th́ há có trở ngại ǵ? Bởi văng chính là chẳng phải văng, chẳng phải văng mà văng, sanh chính là vô sanh, vô sanh mà sanh. Văn Thù, Thiện Tài sanh về Tây Phương là như thế đó. Ôi chao! Nam tử! Chẳng cần phải nghĩ ngợi!

 

7. Văn

* Giới dâm văn (bài văn khuyên kiêng dâm)

 

          Mọi người biết nghiệp sát sanh thê thảm nhất, chẳng biết nghiệp tà dâm càng thảm hơn! Mọi người biết quả báo do sát sanh khốc liệt nhất, chẳng biết quả báo của tà dâm càng khốc liệt hơn! Bởi lẽ, đủ mọi thứ thọ sanh do dâm dục khởi đầu! Đủ mọi thứ tạo tội là do có sanh. Dâm là cái gốc của sanh, sanh là cái gốc của tội. V́ thế, nỗi khổ cùng cực trong tam đồ, ương họa sót lại trong đời người, ư dâm vừa mới chớm, hết thảy đều dấy lên. Tập khí dâm khó đoạn, như lửa đốt đồng. Nơi cực thối tha, lầm tưởng là thơm tho. Nơi cực ô uế, tưởng lầm là khiết tịnh! Bạ chỗ nào cũng tằng tịu với nhau, khác ǵ súc sanh? Nhiễm xúc trái đạo, hơn cả gà, chó! Người có lương tâm đôi chút, sẽ phải nên thống thiết dứt bặt, huống hồ kẻ thông minh, học thức, cam làm chuyện táng tận lương tâm, chẳng biết nhục đấy ư?

Một niệm dục tâm chính là cái nhân của giường sắt, cột đồng. Một niệm ái tâm là cái nhân của băng cứng rét buốt, huống hồ trọn đủ chuyện phi pháp ư? Diệt luân lư, loạn luân thường, trần sa kiếp số chẳng đủ trọn hết cái tội ấy! Ngàn vạn ức lời, không đủ đếm sự ác đó! Cần phải phát tâm hổ thẹn, sợ hăi to lớn, thệ nguyện to lớn. Thà bị lửa nướng, đao khoét, trọn chẳng cùng hết thảy nam nữ dục tâm tiếp xúc. Thà tan thân, nát xương, trọn chẳng giao cấu ô uế cùng hết thảy nam nữ. Nếu quên mất chánh niệm, sẽ phạm lỗi cũ, ắt sẽ gặp độc hại, tai nạn ngang trái, thân hăm vào địa ngục trong khi c̣n sống.

Do quyết tâm mạnh mẽ ấy, khéo ǵn giữ ḷng, luôn luôn sám trừ nghiệp cũ, thiết tha hối lỗi, đổi mới, ngơ hầu có thể tu bạch pháp. Lại c̣n siêng năng xem những câu cách ngôn trong kinh luận để tự khích lệ, chẳng bỏ phế, quên bẵng, siêng tu quán hạnh đối trị để trừ gốc độc. Nếu không, dẫu có nhiều trí huệ, Thiền Định hiện tiền, ắt rơi vào ma đạo, vĩnh viễn chẳng có thuở thoát ra! Dẫu thế trí biện thông, chưa hề là đại khí, sẽ theo nghiệp mà đọa ngay! Trăm kiếp ngàn đời, hứng chịu mọi nỗi thiêu đốt, c̣n chẳng thể thành ma, huống hồ thành Phật! C̣n đánh mất thân người, huống hồ có thể văng sanh ư? Xin hăy trong lúc thanh vắng, lắng ḷng suy nghĩ, đối với cảnh bèn nỗ lực ngăn ngừa. Nếu không, chư Phật chẳng có cách nào, bạn lành chẳng biết làm sao được!

 

* Khuyến giới sát văn (bài văn khuyên kiêng giết)

 

          Kể từ khi Phật pháp truyền sang Đông, con người biết sát sanh là giới đứng đầu. Những lời khuyên răn để lại, chứa chật nhà, chất đống cao tận rường, nhưng vẫn c̣n nhiều kẻ chẳng ngộ. Oan nghiệp hư vọng kết lại, tụ tập, chẳng thể nhanh chóng tháo gỡ. Kinh dạy: “Trừ Xa-ma-tha, cập Phật xuất thế, bất năng trừ diệt” (Trừ phi do Xa-ma-tha và Phật ra đời, chẳng thể trừ diệt). Than ôi! Cơi đời này mờ mịt, dùng ǵ để ngăn chặn được? Sát nghiệp đă dày, trở thành kiếp binh đao. Giặc cướp tơi bời, chiến tranh chẳng dứt, Phật Thích Ca đă nhập diệt, đức Di Lặc chưa giáng sanh. Nếu muốn cứu vớt, chỉ tận lực tu Xa-ma-tha. Xa-ma-tha được phương này dịch thành Diệu Chỉ (妙止). Dứt hết thảy các điều ác phải bắt đầu bằng ngưng giết chóc. Nếu có thể ngưng giết, tức là ngưng hết thảy điều ác. Lại nữa, Chỉ có ba nghĩa:

1) Một là Thể Chân Chỉ (體真止, pháp Chỉ bằng cách thấy hiểu lẽ Chân): Quán thân này chỉ do Tứ Đại hợp thành, chẳng có mảy may thật ngă để có thể đạt được. Ngă đă là chẳng thật, há nên giết sanh vật khác để dưỡng nó? Ta và chúng nó đều chẳng thật, tức là có cùng một Thể, sao nỡ giết chóc?

2) Hai là Phương Tiện Tùy Duyên Chỉ (方便隨緣止): Quán hết thảy các loài thông minh hay ngu xuẩn từ vô thỉ tới nay, luôn cùng ta làm cha, mẹ, vợ, con, thân duyên quyến thuộc lẫn nhau, theo nghiệp mà thay đổi h́nh vóc; do vậy, chẳng nhận biết. Nếu giết hại [các sanh vật], đó chính là giết lục thân của chính ḿnh trong quá khứ, sao không dùng đủ mọi phương tiện để cứu vớt, che chở họ?

3) Ba là Tức Nhị Biên Phân Biệt Chỉ (息二邊分別止, pháp Chỉ bằng cách ngưng dứt phân biệt hai bên). Nếu chỉ quán Sanh Không, bi tâm chẳng hừng hực. Chỉ quán thân duyên quyến thuộc, từ tâm chẳng trọn. Nay quán thẳng thừng các hàm linh ngọ ngoạy đều có Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Bất luận lớn, nhỏ, thăng, giáng, Bổn Giác b́nh đẳng, trọn chẳng có hai. Nơi răng lợn hiện hóa Phật[20], trong con ṣ hiện h́nh Đại Sĩ[21]. Rắn độc nghe kệ mà chuyển thân chứng quả[22]. Con két niệm Phật, đem thiêu có xá-lợi. Hăy nên biết các loại trùng bọ bay, ḅ, có vảy, mang lông, hoặc là quá khứ chư Phật, hoặc là hiện tại Như Lai, hoặc vị lai Thế Tôn, há lẽ nào có thể giết ư? Có thể tu ba môn Chỉ ấy, sẽ thành tựu ba ḷng Từ. Ba ḷng Từ đă thành, gọi là Phật xuất thế. Một người tu sẽ chuyển hóa nhiều người. Nhiều người tu, sẽ chuyển hóa vô tận, truyền nhau hóa độ rộng khắp, phổ biến mười phương, ngơ hầu sát nghiệp thê thảm nhất có thể ngưng dứt, có thể cứu được kiếp trược binh đao.

Sa-di Tu Nguyên Tánh đă tŕ trai giới từ bé, năm Quư Dậu bỗng nẩy sanh ư tưởng ăn thịt, mộng tới âm phủ, thấy trọn vẹn, rành rẽ, rơ ràng quả báo thảm độc phải hứng chịu của kẻ sát sanh, bèn đổi tâm tự gắng sức, do đă biết sâu xa lỗi họa mới dám khăng khăng khuyên bảo người khác. Tôi v́ ông ta giảng nói rộng để giúp sức, nguyện khắp người có ḷng nhân, bậc quân tử trong thiên hạ thấu hiểu đức hiếu sanh của trời đất, thôi thúc ḷng trắc ẩn của thánh hiền, ắt khiến cho cơ duyên giết chóc vĩnh viễn đoạn, thiên hạ quy vào ḷng nhân, lại c̣n nghĩ Sa Bà khổ, không, hâm mộ Lạc Bang thường tịnh. Một niệm, mười niệm đều phô tỏ Tam Quán diệu tu; tự răn ḿnh, răn người, ắt hợp tam từ diệu hạnh. Chỉ và Quán chẳng hai, phước huệ đều cao, kết nghiệp hư vọng như nước sôi tiêu tan tuyết; vậy th́ Phật Thích Ca mỉm cười trong cơi Tịch Quang, Phật Di Lặc x̣e tay nơi trời Đâu Suất, Phật Vô Lượng Thọ ở ngay trên đỉnh đầu, Quán Thế Âm sẽ là bạn thù thắng!

 

* Bài văn khuyên trọn khắp mọi người kiêng giết, niệm Phật của Phóng Sanh Xă chùa Huệ Ứng  

 

          Loài vật dẫu cực bé, chưa từng có loài nào chẳng tham sống, ghét chết. Cái tâm tham sống, ghét chết ấy hoàn toàn là phiền hoặc, cũng hoàn toàn do linh tri, linh giác phát hiện. Chúng ta tham sống, ghét chết, t́nh kiến giống hệt như loài vật. Nếu sẵn có t́nh kiến ấy, có cùng ham muốn, điều chán ghét đừng làm [giống như nhau], há lẽ nào chẳng phải là linh tri linh giác? Nếu mê muội t́nh kiến ấy, chỉ biết mạng ta đáng tham, chẳng biết loài khác cũng tham sống. Ta bị chết là điều đáng ghét lắm, chẳng biết loài khác cũng ghét chết, há chẳng phải là phiền hoặc ư? Do vậy, nếu muốn phóng sanh, trước hết cần phải kiêng giết. Muốn dẹp trừ sanh tử phiền hoặc, ắt cần phải thâm tâm niệm Phật. Thâm tâm là cái tâm tự cứu, cứu người khác. Phật là trí linh tri linh giác tột bậc. Thâm tâm niệm Phật là dùng cái tâm “cứu ḿnh, cứu người khác” để khế nhập trí linh tri linh giác tột cùng, khiến cho dù ta hay người khác, niệm nào cũng đều giải thoát. Dùng điều này làm chánh hạnh, dùng chẳng giết, đại bi, phóng sanh, đại từ để giúp trang nghiêm, ắt sẽ sanh về Cực Lạc, hoa sen hóa hiện, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. V́ thế, các vị như Thiền hữu Tu Đàm, cư sĩ Công Lộ v.v… tận tâm kiệt lực đều khuyến thỉnh trọn khắp. Người hữu duyên gặp bản đồ Phật này, xin hăy chuyên ṛng thọ tŕ, xoay vần khuyên lơn người khác, công đức sẽ càng chẳng thể nghĩ bàn! Hăy nên biết: Chúng sanh và Phật có cùng một Thể, Phật là chúng sanh vô thượng, chúng sanh chính là vị lai chư Phật. Một niệm là hết thảy niệm, hết thảy các niệm là một niệm vậy!

 

8. Ngẫu lục[23]

* Phạm thất ngẫu đàm  (gồm 55 điều)

 

          1) Chỉ quư kiến địa của ông, chẳng quư kinh nghiệm từng trải của ông. Tức là hễ có kiến địa, ắt có kinh nghiệm từng trải. Có kinh nghiệm từng trải, chưa chắc đă có kiến địa. Nay c̣n kèm thêm cuồng giải, hủy hoại đức hạnh. Đau xót thay!

2) Do Giới sanh Định, do Định sanh mà Giới càng hoàn bị. Do Định mà phát Huệ. Huệ phát th́ Giới và Định càng thù thắng. Do vậy, [Giới, Định, Huệ] được gọi là Tam Vô Lậu Học. Nay vừa mới tu tập Định, Giới đă hoang phế trước. Vừa mới học Huệ, Định đă ch́m đắm trước! Dùng cái sau để phế trừ cái trước, giống như dựng kèo bèn đào nát nền móng, toan lợp ngói bèn đẵn bỏ kèo cột! Muốn thong dong, ngủ nghỉ trong ấy, có được hay chăng?

3) Chỉ nắm được cái thần th́ mới có thể bỏ dấu tích. Hễ đánh mất lẽ trọng yếu, ắt phải nhiễm bệnh. V́ thế, người tŕ luật hiện thời, mười người hết chín kẻ gián đoạn. Diễn giáo th́ mười người hết chín bị lưu chuyển. Hoằng Tông th́ mười người hết chín kẻ hư vọng! Đạt được cái thần, bỏ h́nh tích th́ trăm người chẳng được một!

4) Tam Học Giới Định Huệ là đại cương của Phật pháp, là con đường trọng yếu để thoát khổ. Nay cũng thấy luật sư gặp trở ngại, liền phế trừ giới. Thấy pháp sư bị lưu chuyển, bèn vứt bỏ Giáo. Thấy Tông sư hư vọng, liền gạt bỏ Thiền. Sao lại do nghẹn mà bỏ ăn, cam ḷng chịu đói đến chết?

5) Có Giới mà chẳng có Định, Huệ; có Định mà chẳng có Giới, Huệ; có Huệ mà chẳng có Giới, Định; đấy đều chẳng phải là Giới, Định Huệ chân thật! Có Giới mà chẳng có Định, Huệ, sẽ đọa vào các tầng trời thuộc cơi Dục. Có Giới và Định mà chẳng có Huệ, sẽ đọa vào Sắc Giới và Vô Sắc Giới Thiên. Có Định mà chẳng có Giới và Huệ, đọa làm đất, gỗ, vàng, đá, hoặc tan tác hư mất, tiêu trầm. Có Định và Huệ mà chẳng có Giới, đọa làm tà ma, thần, quỷ. Có Huệ mà chẳng có Giới và Định, sẽ chẳng thoát khỏi nỗi khổ trong ba đường ác. Có người bảo: “Nếu như vậy, cổ nhân giữ lấy thừa gấp giới hoăn, sẽ ở nơi đâu? Đáp rằng: “Nói là hoăn, chẳng phải là không có. Hơn nữa, bậc hào kiệt cùng với người cấp thừa, hoăn giới, đọa ác đạo rồi lại thăng lên, sao bằng người giới lẫn thừa đều gấp, thường gần Phật, chẳng lui sụt. Lại do Giới sanh Định, do Định phát Huệ, “giới gấp” chính là bậc thang cho “thừa gấp”. Nếu nhờ vào kinh giáo để làm cái gốc cho danh lợi, cậy vào Thoại Đầu để làm chiêu bài ḥng tránh né, vứt bỏ giới, th́ giới không chỉ hoăn, mà c̣n bỏ phế, thừa tuy gọi là cấp mà thật ra là hoăn, hết sức chẳng phải là tâm liệu giản [đối với giới và thừa] của cổ nhân.

6) Tôi ở Kính Sơn, mới thọ pháp ngày ăn một bữa, có Thiền giả nói: “Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới mới là điều cần chú trọng, chứ chuyện này có thể chẳng cần tuân thủ nghiêm ngặt”. Tôi chẳng buồn đáp. Than ôi! Luông tuồng, hồ đồ là bệnh chung trong cơi đời này! Hiểu văn, biết nghĩa, há được mấy ai? Nếu hoăn đăi [nơi Giới], phải nên nói là Định đoạt Giới, Đạo đoạt Giới, chứ một chữ Cộng nói sao cho thông được?

7) Người xưa thọ giới, coi đó là nền tảng của tu tâm. Người thọ giới hiện thời, ngă mạn ngất ngưởng. Người xưa học Giáo, coi đó là cửa ngơ để học đạo. Người hiện thời học Giáo, dùng đó làm cái cớ để phá giới! Cổ nhân tham Thiền, coi đó là hạnh tăng thượng trọng yếu. Người hiện thời tham Thiền vứt bỏ giới chẳng nhắc tới, báng bổ đường lối học Giáo! Trừ khử điều tệ, ngăn ngừa sai trái, th́ sẽ là bậc hào kiệt vậy!

8) Nhân địa chẳng chân thật, sẽ chuốc lấy cái quả cong vạy! V́ sao nói vậy? Vừa mới thọ giới, đă có chí làm Luật Sư. Vừa nghe kinh, đă có chí làm pháp sư. Vừa mới tham Thiền, đă có chí làm Tông Sư. Chẳng là Luật Sư, Pháp Sư, Tông Sư, sẽ chẳng thèm thọ giới, nghe Giáo, tham Thiền, giống như tự viện chẳng được cúng thí, sẽ chẳng dùng đến kinh sám, Nho sĩ trong cơi đời nếu chẳng làm quan, sẽ chẳng theo đ̣i cử nghiệp, đào kép hoặc nha dịch nếu chẳng được lợi, sẽ chẳng trang điểm biểu diễn, chẳng tiếp đón, chẳng chạy việc vậy! Tuy vậy, do pháp thế gian chỉ cầu lợi, sự tuy kém cỏi, nhưng chẳng phạm lỗi to tát. Học hành chỉ nhằm để cầu phú quư, sẽ đắc tội với Tuyên Ni (Khổng Tử). Dùng Phật pháp để đổi chác hư danh, nhuốm bẩn chánh giáo!

9) Người xưa thông thấu cửa ải cuối cùng được gọi là bậc tông tượng, bậc thông hiểu rộng khắp Tam Tạng được gọi là pháp sư. Trần nghiệp chẳng thể xâm phạm th́ gọi là tŕ luật. Nay cũng hiểu thô thiển đôi chút cơ duyên, liền dùng Tông để tự khoe khoang. Tạm biết lưu thông giáo điển bèn dùng Giáo để tự phụ. Chỉ giữ được bốn trọng giới căn bản, bèn dùng Giới để tự măn. Căn khí hẹp ḥi, kém cỏi dường ấy, ai có thể gánh vác chánh pháp?

10) Tôi trụ tại Long Cư, có vị lăo tăng xem kinh Bảo Tích, nói: “Nếu xem kinh này trước, chẳng làm ḥa thượng được!” Tôi nói: “Nếu chẳng xem kinh này, sẽ chẳng làm ḥa thượng được!” Tức là chẳng thành pháp của ḥa thượng! Ôi! Chỉ có thể nói với người hiểu biết, khó nói với người thế tục!

11) Tôi vừa mới thọ Bồ Tát Giới, phát tâm xem Luật Tạng, xà-lê Cổ Đức thử rằng: “Ông đă thọ Đại, sao lại tu tập Tiểu?” Tôi thưa: “Lầu cao bốn tầng, đă tạo tầng trên, há có thể phế tầng dưới ư?” Sư nói: “Thân đă đến tầng trên, há mắt vẫn nh́n theo tầng dưới?” Tôi thưa: “Dẫu thăng lên trời Tha Hóa, Phật vốn chẳng ĺa Tịch Diệt Đạo Tràng”.

12) Một cành hoa đă giơ lên sau khi nói Tam Tạng, Đạt Ma đến [Trung Hoa] vào lúc Phật pháp đang thịnh hành. Vẽ rồng xong, vừa điểm nhăn, rồng liền bay lên. Nay bóng rồng c̣n chẳng có, điểm tṛng mắt ở chỗ nào?

13) Gần đây, khuyết điểm lớn nhất của Tông và Giáo là tâm chánh pháp chẳng tha thiết, kiến chấp môn đ́nh lừng lẫy. Nào có biết: Hễ v́ chánh pháp, chẳng mong môn đ́nh cao mà nó tự cao chẳng sánh bằng! V́ môn đ́nh th́ chánh pháp v́ bị tranh chấp mà càng nhuốm bẩn, tỳ vết!

14) Thời cổ, bậc đại tông tượng quét phăng giáo, coi là nghĩa học, [v́ người học] tưởng ngón tay là mặt trăng, chẳng thấy mặt trăng thật sự. Vị đó tuy đă thông suốt giáo lư, nhưng chẳng thể đích thân chứng, đích thân đạt đến. V́ thế, phế trừ sự nương vào hiểu biết, ḥng tiến nhập thông suốt thật sự. Người học hiện thời, giáo lư c̣n chưa mộng thấy, sao có thể quét sạch cho được? [Cứ tùy tiện phế bỏ học Giáo], đó chẳng phải là tội gièm báng pháp ư?

15) Như Lai ứng thế, tùy cơ mà lập giáo. V́ thế có Đại Thừa và Tiểu Thừa cùng hành, chẳng trái nghịch. Hàng Tiểu Thừa xuất gia, thọ Cụ Túc Giới, trước là dùng học Giới làm nền tảng. Kế đó, đọc tụng, tọa Thiền, tùy ư tu một pháp, chẳng cần phải kiêm hành. Hàng Đại Thừa cũng ắt phải lấy Giới làm nền tảng! Kế đó, đọc tụng, tọa Thiền, tuy tùy theo căn cơ mà chia thành chủ hạnh và trợ hạnh, nhưng phải kiêm tu, quyết chẳng có ai một mực Thiền Tư mà chẳng thông hiểu liễu nghĩa, hoặc một mực thọ tŕ, diễn nói mà chẳng chú trọng quán tâm. Chẳng thông hiểu liễu nghĩa, ắt sẽ thành phạm li đắm đuối nơi Thiền duyệt. Chẳng chú trọng quán tâm, sao tránh khỏi bị chê gièm là “kể chuyện ăn”? Nhằm thời Mạt Pháp, Tam Học hễ tách rời th́ Thi La chỉ trở thành phước trong cơi trời người. Nhưng tŕ, phạm chẳng thông đạt, sẽ c̣n chưa đảm bảo thân trời, người được! Thiền Tư thường bị chê cười là “vô văn” (không nghe pháp, không hiểu biết giáo pháp), Giới lẫn Huệ đều hoang phế, phần nhiều rơi vào ác thủ kiến. Tŕ, nói thường v́ mưu cầu danh lợi, nhưng Giới lẫn Định đều phế, hiếm kẻ chẳng rơi vào thói nói suông! Ôi! Nếu có được bậc hào kiệt chấn hưng t́nh trạng suy đồi này, tôi nguyện sâu xa dùng thân làm giường, ṭa.

16) Mạt pháp suy bại chính v́ chẳng phân biệt tà, chánh. Nhằm thuở này, chẳng rảnh để so đo cạn sâu, hăy gấp nên biện định tà, chánh. Nếu nói về cạn, sâu, th́ tam-muội của Như Lai, ngài Ca Diếp chẳng biết. Tam-muội của ngài Ca Diếp, A Nan chẳng biết. Cho đến Lục Quần tỳ-kheo c̣n vượt xa Mă Minh, Long Thọ. Thời Chánh Pháp mà c̣n như thế, thuở Mạt Pháp há có thể cầu toàn trọn vẹn được ư? Nếu luận về tà, chánh, th́ chim [Ca Lăng] Tần Già c̣n ở trong vỏ trứng, đă hơn hẳn các loài chim khác. Chút ít chất độc Tỳ Sương đă tổn thương tánh mạng, sao chẳng biện định nơi nhỏ nhiệm ư? V́ thế, người chánh đáng dẫu nông cạn, vẫn có thể [đáng để] nương theo. Kẻ tà, dẫu sâu xa vẫn nên chê trách. Người chánh tuy nông cạn, ắt hại ít mà lợi nhiều. Kẻ tà tuy sâu, ắt hại nhiều mà lợi ít. Muốn biện định tà chánh đến tột cùng, chưa từng ra ngoài hai loại định lượng dựa theo Giáo Lư.

17) Tông là vô ngôn Giáo, Giáo là hữu ngôn Tông”, đó là lời chí lư! Tam Tạng mười hai bộ, hễ ngầm khế hợp th́ đều là Tông. Đă là vô ngôn, sao có thể nói là Giáo? Một ngàn bảy trăm công án, hễ nêu lên th́ đều là Giáo. Đă hữu ngôn, sao có thể gọi là Tông? V́ thế, chẳng dùng nói hay chứng để phân định Tông và Giáo. Chỉ v́ lập bày môn đ́nh mà thành gă nhai bă hèm[24]!

18) Tôi đă từng thấy nhiều trường hợp khi bị vướng mắc nơi Giáo, bèn tham Thiền, khi Thiền bị bí lối th́ học Giáo, nhưng có khi [làm như thế, Giáo và Thiền] có thể cứu giúp lẫn nhau, mà cũng có thể là mỗi đằng tự cứu. Ấy là v́ khuyết điểm ở nơi hành nhân, chẳng phải là lỗi của pháp môn! Thế nào là mỗi đằng tự cứu? Đối với cọp thật nghĩa, quyết chẳng thể dùng bánh vẽ để khỏi đói. Người hành Thiền chân thật, quyết chẳng đọa vào Ác Thủ Không Kiến. Tam Tạng mười hai bộ, không một pháp nào chẳng khuyên tu hành. Nay kẻ chẳng tu hành đều là phường phản giáo, chẳng phải là người học Giáo! Đại ư [Đạt Ma Tổ Sư] từ phương Tây sang [Trung Hoa] là “chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật”. Nay chẳng chú trọng kiến tánh thành Phật, cứ hư vọng phô trương tà giải, sẽ đều là kẻ báng Thiền, chẳng phải là người tham Thiền! Đă nói là “kiến tánh”, há có thể bài bác Giáo và Luật ở ngoài tánh ư? Đă thành bậc giác ngộ, há xếp Giáo và Luật vào bất giác ư? Nếu như chưa thể, dùng một câu Thoại Đầu làm phương tiện để kiến tánh thành Phật, quyền biến xếp nó đứng đầu vạn hạnh, ắt phải tin tới nơi, giữ cho vững, chẳng quản đúng, sai, thân lẫn đời đều quên bẵng, phát phẫn như bị giết cha, gấp gáp như lửa cháy mày. Lạnh, nóng, đói, khát c̣n chẳng rảnh biết tới. Giới luật, giáo môn, rảnh đâu mà báng bổ!

Thẳng thừng dùng một môn thâm nhập, dẫu chưa thể kiêm tu, vẫn là một tấm gương đă treo, sẽ có thể chứa đựng nhiều h́nh bóng. V́ thế, nêu lên Thoại Đầu, vạn duyên đều bỏ, đó chính là Đàn (bố thí). Mười ác đều dứt, tức là Giới. Bất động trước gió cảnh giới, tức là Nhẫn. Miên mật chẳng gián đoạn, tức là Tinh Tấn. Chẳng c̣n duyên khác, tức là Thiền. Chân nghi rành rành, tột cùng nẻo nghĩa sâu xa, đạt đến cảnh giới ly tuyệt, tầm tư không c̣n chỗ nương, năng sở cùng tuyệt; đó chính là Huệ. Nếu chẳng thể xả duyên, dứt ác, bất động miên mật, sẽ chẳng có duyên nào khác, chân nghi rành rành, th́ hăy nên biết: Đó chẳng gọi là thật sự cử thoại đầu!” Đă chẳng phải là thật sự đề khởi [thoại đầu], cứ riêng dùng nó làm chiêu bài để tránh né, đó lại là cái gốc của tà kiến; há có phải là lỗi của pháp môn ư?

V́ vậy, biết Giáo và Thiền, pháp chẳng hơn kém! Riêng v́ nhân địa chẳng chân thật, bị lợi danh đoạt chí, chẳng tránh khỏi làm trùng trong thân sư tử. Nếu thật sự cầu cái gốc ấy, Thiền cũng chẳng có khuyết điểm, há phải cầu Giáo để cứu Thiền? Giáo cũng chẳng có bệnh, cần ǵ cầu cứu Thiền? Lại nữa, tuy nhân địa của học nhân có thể chẳng đúng, nhưng nếu gặp vị thầy chánh đáng, sẽ tự có thể dùng trung để giáo dưỡng kẻ bất trung, dùng tài để giáo dưỡng kẻ bất tài[25]. Chỉ có vị thầy nào mà mắt của chính vị đó chẳng sáng, chưa hiểu rơ chuyện của chính ḿnh, sẽ mù quáng dẫn [người học theo] vào hầm sâu! Dẫu là bậc chánh nhân, vẫn bị thảm độc, huống hồ người vừa mới sơ cơ ư? V́ thế, tôi nói: “Pháp môn bị hoại là do người chống đỡ pháp môn bại hoại!”

19) Chỉ có bậc tông tượng thật sự có thể quở trách người theo Giáo nói suông. Chỉ có bậc “chân nghĩa hổ” (cọp nơi nghĩa chân thật) có thể quở trách kẻ tông thừa mù mờ. Nếu không, tự cứu chẳng xuể, sao lại kiên cố đấu đá ư?

20) Người hiện thời phạm khuyết điểm chẳng phải v́ không đề khởi thoại đầu, mà phạm lỗi do chẳng biết nguyên do đề khởi. Chẳng phạm lỗi v́ phế vạn duyên, mà phạm lỗi v́ phế chẳng tận. Cũng chẳng phạm lỗi v́ dạy người khác đề khởi thoại đầu, mà phạm lỗi do chẳng biết nguyên do cần dạy. Hơn nữa, vạn duyên đều phế, sao thân, tâm, thế giới vẫn y chang chẳng phế? Phế ác, chẳng phế thiện, vẫn thuộc trời người. Phế thiện, chẳng phế ác, ắt thọ báo trong ba đường ác. Xả trời người, hướng theo tam ác, đáng gọi là “có trí” được chăng?

Lại nữa, thân, tâm, thế giới đă chẳng thể buông xuống toàn thể, vậy th́ chân thật thoại đầu ắt chẳng thể thẳng thừng gánh vác. Dùng cái tâm ơ hờ, loáng thoáng để đề khởi thoại đầu mờ mịt, chính là tự dối gạt. Nơi kẻ ơ hờ, hời hợt mà mù mờ đề khởi thoại đầu, tức là gạt người! Đem vị thầy dối người để dối gạt kẻ đệ tử tự dối, sao chẳng có tội với pháp môn cho được? Do đó, ngài Vân Thê nói: Người khác cho là phục hưng Phật pháp, tôi cho là Tông phong đă hư hoại quá nặng”.

21) Chỉ có ba hạng người có thể tham Thoại Đầu:

- Một là xưa đă có linh căn, vừa thực hiện liền rạch ṛi, thân, tâm, thế giới toàn thể buông xuống. Gươm báu kim cang lập tức vung lên, măi cho tới khi đại sự hoàn tất. Sau đó, hoặc gặp tri thức, hoặc xem khế kinh, ấn chứng tự tâm, tiếp dẫn hậu học.

- Hai là tuy chưa hiểu rất rơ đường nẻo, nhưng có thể nương theo một vị thầy sáng mắt, quyết tâm tham cứu, đến chỗ ngơ rẽ, thầy có thể v́ ta chỉ điểm, đến chỗ khúc mắc, thầy có thể v́ ta tháo gỡ, đến chỗ cửa ải, thầy có thể v́ ta thúc đẩy.

- Ba là chưa thể biết rơ sâu xa đường nẻo, lại chẳng có một vị chân sư, ắt phải hiểu thấu triệt giáo lư th́ mới một dạ tham cứu. Tuy chưa thể thông suốt các kinh điển trong Tam Tạng, nhưng một bộ Lăng Nghiêm chẳng thể không ṛng rặt, thuần thục. Ví như một ḿnh đi xa, nếu chẳng hỏi sẵn lộ tŕnh, chắc chắn sẽ có sai lầm.

Trừ ba loại ấy ra, những phường hời hợt, loáng thoáng khác muốn tham Thiền, ngộ đạo, chắc chắn mười người lầm lẫn cả mười!

 22) Hám Sơn đại sư sánh ví thoại đầu như ḥn ngói để gơ cửa, chí lí lắm thay! Biết “vốn chẳng có thật pháp” th́ mới có thể vận dụng pháp mà chẳng bị pháp trói buộc. Nếu có bệnh th́ phải nói toạc ra. Nếu chẳng sanh tâm tha thiết th́ như thí dụ “cái bè” trong kinh Kim Cang, hoặc “ngón tay chỉ [mặt trăng]” trong kinh Viên Giác, cũng có lỗi ư? Hơn nữa chỉ nói toạc ra, biết ngói chẳng phải vật báu, vừa khéo để gơ cửa. Nếu chẳng nói toạc ra, ắt sẽ quên khuấy gơ cửa, suốt ngày ngắm nghía viên ngói! Thần đan cứu bệnh, nhưng con người chỉ chăm bẵm căn bệnh, há chẳng phải vừa ngu vừa cuồng ư?

          23) Trở về nguồn th́ tánh chẳng hai, phương tiện có nhiều môn, nhưng tham Thiền, niệm Phật, Chỉ Quán đều là phương tiện. Đă nói là “môn”, há giống nhau ư? Nếu biết toàn tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh, th́ cả ba môn đều nhất trí, há có khác ư? V́ thế, chân tu chỉ cốt sao “theo đường về nhà”, nói đồng hay dị, càng thêm hư luận!

24) Hám Sơn đại sư nói lời phương tiện, thuận theo thời Mạt mà mở ra một môn trợ đạo khế Lư, khế cơ, đă tốt lành lại càng tốt lành hơn. Chắc là có kẻ phủ nhận, bảo: “Chánh đạo chẳng đắc lực, lại tu trợ đạo, đối với Giáo môn th́ được, chứ Tông thừa th́ chắc chắn chẳng thể!” Ôi! Nếu luận theo lẽ “hướng thượng nhất trước, thoại đầu cũng chẳng dùng tới! Đă chấp nhận thoại đầu, tức là đă thuộc về phương tiện, sao lại riêng phế trừ trợ đạo? Ắt chẳng thể chấp thuận dùng tŕ chú làm trợ đạo! Do trước đó đă chẳng chấp thuận đề khởi, nắm giữ thoại đầu, mà thoại đầu lại được Tông chấp thuận; đó là báng Tông. Coi các hạnh như tŕ chú v.v… là Giáo, cho nên chẳng chấp nhận; đấy là khinh Giáo! Khinh Giáo, báng Tông, há chỉ mắc tội với Hám Sơn đại sư, mà c̣n khiến cho tam thế chư Phật bị oan uổng.

25) Hàng tri thức hiện thời thường đối với kẻ lợi căn bèn dạy tham Thiền, kẻ độn căn th́ dạy niệm Phật, tức [chấp rằng] “tham Thiền chỉ thích hợp cho căn cơ bậc thượng, niệm Phật chỉ thích hợp hàng trung hạ”. Cho rằng Thiền chẳng thích hợp căn cơ trung, hạ, tức là báng Thiền. [Cho rằng] niệm Phật chẳng thích hợp căn cơ bậc thượng, tức là báng Giáo. Thiền lẫn Giáo đều báng, thổi thành gió, khiến cho Thiền chỉ có hư danh, mà niệm Phật cũng chẳng có thật hạnh, đáng buồn thay! Nào có biết tham Thiền, niệm Phật, và tu Giáo Quán, mỗi đằng đều có túc căn. Mỗi một căn tánh đều chia thành ba phẩm:

- Người thuộc đệ nhất phẩm trong Thiền môn, hễ tiếp xúc liền liễu đạt, chẳng c̣n chuyện ǵ khác. Xưa đă có linh căn, như đúng thời tuôn mưa. Người thuộc đệ nhị phẩm, thẳng thừng chẳng ngờ vực, ẩn sâu, ngầm dưỡng, chờ đến khi dưa chín, cuống rụng, đại dụng hiện tiền, long thiên thúc đẩy xuất hiện, tùy ư lợi sanh. Người thuộc đệ tam phẩm có đủ niềm nghi phẫn to lớn, như nỗi oán bị giết cha, dốc trọn một đời suy xét rốt ráo việc này.

- Người niệm Phật thuộc đệ nhất phẩm đốn ngộ “tự tâm là Phật”, niệm nào cũng viên minh. Người thuộc phẩm thứ hai, tin sâu “tự tâm làm Phật”, niệm nào cũng nhập lư. Người thuộc phẩm thứ ba tin sâu Phật lực vô lượng, niệm nào cũng diệt ác. Lại có bốn loại, tức là niệm tự tánh của Phật, niệm tướng hảo và công đức của Phật, niệm danh hiệu Phật, và niệm h́nh tượng Phật. Bốn loại ấy, mỗi loại đều thông ba phẩm.

- Người thuộc phẩm thứ nhất trong Giáo Quán vừa mới nghe viên lư, nhanh chóng phát khởi sơ tâm, thành Chánh Giác trong một sát-na, thị hiện tám tướng [thành đạo] trong một trăm thế giới. Người thuộc phẩm thứ hai tin nhất cảnh tam đế, tịnh hóa lục căn nơi sanh thân, chế phục trụ địa vô minh, dẹp tan Kiến Tư trần cấu. Người thuộc phẩm thứ ba do nghe kinh mà phát khởi viên giác, tu quán hạnh ngũ phẩm, tu tập Tam Quán để huân tập, chế phục ngũ trụ, tiến hướng nẻo giác. Do vậy bèn nói: “Pháp chẳng có hơn, kém, đúng bệnh th́ thuốc đều linh nghiệm. Căn cơ có sâu hay cạn, hễ chấp vào toa thuốc th́ thuốc trở thành bệnh”.

26) Thân bị bệnh th́ biết lo sầu, gia đ́nh thiếu thốn th́ biết lo sầu, năm nào chẳng được mùa bèn biết lo sầu, các nơi chẳng yên tĩnh bèn biết lo sầu. Chỉ riêng đại sự chưa giải quyết xong, chẳng lo buồn! Phật pháp sắp diệt, chẳng ưu tư. Chúng sanh nghiệp nặng mà chẳng lo buồn. Hoặc tuy lo buồn mà chẳng biết nguyên do v́ sao lo buồn, hoặc lại tăng gấp bội nỗi lo buồn ấy. Ôi! Lo buồn há có lúc xong xuôi ư?

27) Sở dĩ tông thừa siêu thắng là v́ có đủ các công đức, nhưng chẳng trụ vào đâu. Nếu coi “chẳng trọn đủ” là “chẳng trụ”, có khác ǵ nhà chẳng có hộc[26] gạo, lượng vàng nào, mà bảo là “đứa con vượt hẳn ngàn vàng”.

28) Thời cổ, Tướng tông dễ mà Tánh tông th́ khó, cho nên ngài Huyền Trang bỏ tánh, tu tập tướng. Diễn Giáo dễ, chứng Tông khó, nên ngài Thần Quang đứng trong tuyết, chặt cánh tay. Nay th́ chẳng phải vậy! Dùng Tông để ăn to nói lớn, mà Giáo th́ mù tịt. Dùng Giáo để tự phụ, Tướng tông rối nùi. Than ôi! Biến cái dễ dàng thành khó khăn; đối với cái rất khó, ngỡ là dễ dàng! Chẳng thể nâng một cái lông vũ mà có thể nâng một trăm quân[27], chẳng thể thấy một xe củi, mà có thể thấy mảy lông, đứa bé cao năm thước chẳng mắc lừa được!

29) Tôi đến chơi các núi, thấy trọn t́nh thái của người lẫn vật, điên đảo nhiều nhất, hoàn toàn chẳng thể nêu trọn hết được. Lại như thức ăn, y phục, đó là trần lao, chỉ sợ chẳng siêng năng [lo liệu]. Tŕ tụng, lễ bái là nghiệp thù thắng, chỉ sợ chẳng lười nhác. Tam Tụ Tịnh Giới là chánh nhân xuất thế, [vậy mà bị] chán ghét là phiền phức sâu xa. Kế mưu sinh trong trăm năm là căn bản của sanh tử, cứ thường lo thiếu sót. V́ Phật pháp mà dựng cao tràng kiêu mạn, do cầu vật chất lợi lộc, thể diện mà nhanh chóng quên bẵng [Phật pháp]. Thậm chí, cùng một lời, nếu bảo là phát xuất từ kinh luận nào đó, sẽ vứt bỏ như oán địch. Nếu bảo là phát xuất từ bộ ngữ lục nào đó, bèn yêu mến như trân bảo. [Đa số người học Phật cho rằng] chuyện thuộc thế duyên, chẳng trở ngại đạo, c̣n giới luật, giáo môn sẽ trái nghịch lẽ hướng thượng! Ôi! Tôi chẳng biết sẽ đi về đâu!

30) Giáo là ǵ? Tông là ǵ? Lập bày ngôn ngữ gọi là Giáo. Quên t́nh ngầm khế hợp là Tông. V́ thế, tuy nói Tông là “giáo ngoại biệt truyền” (truyền riêng ngoài giáo), thật sự là “giáo nội chân truyền” (chân thật truyền trong Giáo). Giống như lấy ngón tay chỉ mặt trăng, ngỡ ngón tay là mặt trăng th́ chẳng thể được! Nói “cái được chỉ” chẳng phải là mặt trăng, cũng chẳng thể được! Hơn nữa, ngôn giáo của chư Phật đều là ngón tay, sao riêng ngữ lục của chư Tổ chẳng phải là ngón tay ư? Chẳng ngỡ ngón tay của Phật là mặt trăng, sao lại riêng nhận lầm coi ngón tay của Tổ? Lại c̣n cho rằng: Điều tổ chỉ là mặt trăng, điều Phật chỉ chẳng phải là mặt trăng! Tin vào điều do chư tổ chỉ, sao riêng chẳng tin điều Phật chỉ? Con người điên đảo quá đáng!

31) Phát đại tâm c̣n dễ, có chánh kiến khó hơn. Có chánh kiến c̣n dễ, siêng tu tập càng khó hơn. Siêng tu tập c̣n dễ, trừ tâm bệnh càng khó. Nhưng tâm bệnh chẳng trừ, sao có thể chuyên chú trọng tu tập? Chẳng siêng tu tập, sao có thể giữ lấy chánh kiến? Chánh kiến chẳng trọn đủ, há có phải là đại tâm chân thật? Đúng là phát đại tâm khó lắm!

32) Cái ải lợi lộc chẳng phá, sẽ bị kinh hoảng bởi được, mất. Cái ải danh vọng chẳng phá, sẽ bị hủy báng hay khen ngợi đả động. Đă bị được, mất, khen ngợi, hủy báng xoay chuyển, c̣n dùng Thiền đạo Phật pháp để ăn nói lớn lối được chăng?

33) Chẳng thấy khuyết điểm của chính ḿnh là ngu. Đă thấy mà cứ giữ chặt th́ là ngu nhất trong những điều ngu! Chẳng thấy ưu điểm của người khác là ác. Thấy mà giấu diếm th́ là ác nhất trong những điều ác.

34) Nếu ai hỏi tôi: “Ông nguyện ǵ?” [Đáp]: “Nguyện sanh Tây Phương?” “Lại nguyện ǵ?” “Nguyện vào địa ngục”. Hỏi: “Đó là cái tâm như thế nào vậy?” Đáp: “Tây Phương th́ trên là phụng sự chư Phật, địa ngục th́ dưới là hóa độ chúng sanh. Phật khởi đầu từ đức Di Đà, do nguyện vương thù thắng. Chúng sanh th́ khởi đầu từ địa ngục, v́ bi tâm thiết tha!

35) Có Thiền giả hỏi tôi: “Thực hành công phu ǵ?” Thưa: “Niệm Phật”. Hỏi: “Niệm Phật để làm ǵ?” Đáp: “Cầu sanh Tây Phương”. Thiền gi quở: “Sao chẳng lănh hội tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, mà dùng vọng niệm, vọng cầu để làm ǵ?” Tôi hỏi: “Ông cho rằng A Di Đà Phật ở ngoài tánh ư? Cực Lạc quốc độ ở ngoài tâm ư? Tâm tánh cũng quá chật hẹp rồi! Nếu như ông nói “chẳng niệm, chẳng cầu, chẳng phải là Ác Thủ Không ư?”

36) Thiện tri thức giống như lương y, đúng chăng? Lương y có thể kiêm chữa các bệnh, mà cũng có thể chuyên trị một bệnh. Kiêm chữa th́ ứng theo bệnh mà cho thuốc. Chuyên trị th́ chẳng phải bệnh ấy, sẽ chẳng chữa. V́ thế, đều có thể thọ yểu mà sống chết. Nếu chỉ có một kỹ năng duy nhất mà gồm thâu trọn các chứng bệnh, sẽ gây hại, tổn thương nhiều lắm, huống hồ một nghề chưa tinh ư?

          37) Tục ngữ có nói: “Đối trước người chân thật, chẳng nói lời giả được!” Nay th́ đối trước kẻ giả dối cũng chẳng nói lời thật, buồn thay!

38) Tục ngữ có câu: “Ba ngày chẳng bán được một gánh thật. Một ngày bán được ba gánh giả”. Tôi nói: “Thà ngàn ngày chẳng bán được một gánh thật, chẳng mong một ngày bán được ngàn gánh giả!”

39) Người ta cho rằng tham Thiền sẽ ngộ đạo, chẳng cần cầu sanh Tây Phương. Niệm Phật th́ sanh về Tây, chưa chắc đă có thể ngộ đạo ngay! Trọn chẳng biết: Sau khi ngộ, vẫn chẳng thể không sanh về Tây Phương. Huống hồ chưa chắc đă ngộ ư? Lại nữa, Thiền giả muốn sanh về Tây Phương, chẳng cần phải đổi thành niệm Phật. Chỉ cần trọn đủ tín, nguyện, th́ tham Thiền chính là hạnh Tịnh Độ. Lại nữa, niệm Phật tới mức nhất tâm bất loạn, Năng và Sở đều mất, liền đạt được Vô Sanh Pháp Nhẫn, há chẳng phải là ngộ đạo ư? Do vậy, tham Thiền hay niệm Phật đều có thể ngộ đạo, đều có thể sanh Tây. Nhưng có nghi bèn tham, chẳng nghi bèn niệm, tùy theo mỗi người lúc tu tập mà tự châm chước!

40) Cổ nhân càng tự hạ thấp ḿnh, phẩm cách càng cao. Người hiện thời tự thấy ḿnh càng cao, phẩm cách càng hèn. Cổ nhân càng tự thu nhỏ ḿnh, đạo càng lớn. Người hiện thời tự cậy càng to, đạo càng bé tẹo. Cổ nhân tự xét ḿnh càng thiếu sót, đức càng hoàn bị. Người hiện thời càng tự cậy chính ḿnh hoàn bị, đức càng thiếu sót! Đó gọi là chẳng suy xét nơi căn bản, chỉ xem xét đằng ngọn!

41) Kẻ tiểu nhân coi lỗi của chính ḿnh là lỗi của người khác, thường oán trời, hờn người. Quân tử coi lỗi của người khác là lỗi của chính ḿnh, thường tự vấn để trách ḿnh, chẳng nói là lỗi của người khác mà bảo là lỗi của chính ḿnh. Có bốn cách nh́n như mắt thấy ác sắc, tai nghe tiếng ác v.v… đều nghĩ là do nghiệp của chính ḿnh cảm vời, chẳng liên quan chuyện khác. Ác cảnh lăng xăng, đều chỉ là thức biến hiện, hư huyễn chẳng thật. Phiền năo của chúng sanh vô lượng, hăy nên độ, hăy nên đoạn là phận sự của chính ḿnh. Chúng sanh tu ác chính là tánh ác. Chúng sanh tánh ác chính là tánh của chính ḿnh ác.

42) Pháp tánh vốn thường trụ, sao lại chia thành Chánh Pháp và Tượng Pháp? Chia làm Chánh Pháp và Tượng Pháp, hoàn toàn do con người đó thôi! Than ôi! Nhằm cuối đời Mạt, là lúc cách thánh đă xa, mười người hết chín kẻ v́ lợi, kẻ v́ danh th́ là một phần mười. V́ sanh tử của chính ḿnh mà phát tâm Nhị Thừa th́ trong trăm ngàn người có được một kẻ. V́ đại địa chúng sanh phát vô thượng tâm th́ vạn vạn người mới được một. Đó chỉ là liệu giản trong số những người tu Thiền đấy nhé, chứ người sống trong chùa và tục nhân, lại chẳng cần phải nói nữa, Phật pháp sẽ trông cậy vào đâu?

43) Sanh về Tây Phương dùng ba loại tâm là chí thành tâm, thâm tâm, và hồi hướng phát nguyện tâm. Vận dụng ba cái tâm ấy măi cho đến khi thành Phật. Người thuận theo thói tục cũng có ba loại tâm là tâm coi thường, tâm hời hợt, và tâm qua quít. Do ba cái tâm ấy mà thường rong ruổi trong năm đường. Than ôi! Loại trước th́ trong ba trăm ngàn người có lẽ có được một người, loại sau th́ trong ba trăm ngàn chắc chẳng ai không phải là như vậy! Chẳng trách người miệng nói “cầu sanh” đông đảo, người chân thật văng sanh ít ỏi!

44) Trong thuở Mạt Pháp, có ba loại bệnh chẳng thể cứu: Chuộng đạt được mà chẳng chuộng dụng công. Chuộng sơ lược, chẳng ưa rộng. Chuộng đồng, chẳng chuộng dị. Giao du với bè bạn có ba điều ác lớn: Thích thuận, chẳng thích nghịch. Chuộng miệng nói đúng, tâm nghĩ sai. Ưa kẻ khác thua kém ḿnh, chẳng ưa người hơn ḿnh. Học vấn có ba lỗi lớn: Ưa nhiều, chẳng ưa tinh ṛng. Đuổi theo cái ngọn, chẳng cầu cái gốc. Cầu giải, chẳng cầu chứng.

45) Cổ nhân sớ giải kinh, luận, ắt nêu tỏ những điều u huyền, vi tế, chỉ bày chỗ chỉ quy, nêu ra cương yếu, nói rơ cách tu. Do vậy, nương vào bất cứ một sách nào, đều có thể liễu sanh tử, thượng hoằng, hạ hóa. Đời sau sợ rườm rà mà vứt bỏ, tuy giống như khéo biết lẽ biến thông, nhưng thật ra hết sức tổn thương giáo nhăn! Như Ngũ Bá tôn Châu, nhưng nhà Châu càng bị họ tước xẻo quyền lực. Than ôi! Nắm cành quên thân cây, tội vốn chẳng do tiên hiền. Do nghẹn mà bỏ ăn, giáo huấn há có thể bỏ sót kẻ hậu duệ? Sao người phù tŕ giáo chẳng nghĩ ngợi sâu xa?

46) Tôi thấy người thuộc các điện đường học kinh giáo và những người làm lụng [trong tự viện] khinh thường lẫn nhau. Người học kinh giáo nói: “Bọn họ chẳng biết Giáo, chẳng biết Lư, cứ hùng hục siêng năng làm lụng mà thôi, chẳng như chúng ta khiến cho tùng lâm rạng rỡ, những kẻ quyền quư chẳng thể đối đáp được!” Những người làm tạp vụ nói: “Ta dốc cạn sức làm lụng, bọn họ khoanh tay chờ ăn, chẳng giữ giới đức, học nghiệp chẳng thành, há chẳng phải bọn phóng đăng ư?” Tôi thương xót, riêng nghĩ rằng: “Bọn học kinh điển sao chẳng nghĩ nỗi nhọc nhằn của người làm tạp vụ? Họ thật sự là ngoại hộ của ta, ta chẳng có thật hạnh, ngồi hưởng sẽ khó tiêu. Tức là hết thảy đều nghĩ như Phổ Hiền. Những người làm tạp vụ, sao không nghĩ chính ḿnh chướng nặng, không có chủng tử Văn Huân? Họ thông minh, nhạy bén, đều do túc nhân, liền nghĩ hết thảy đều là đạo sư, tùng lâm chẳng mấy chốc hưng thịnh ư?

Lại thấy Thiền đường và Tạng đường khinh miệt lẫn nhau. Thiền khinh Tạng là dùi mài nơi giấy cũ để mong được cúng thí. Nếu bảo họ tọa hương, há có thể được ư, mà cũng có thể ư? Tạng khinh Thiền rằng: “Họ ăn không ngồi rồi, thân chẳng mệt nhọc, giữ lấy sự ngu si, chẳng dụng tâm để nghiên cứu liễu nghĩa, mờ mịt chẳng biết ǵ! Cảnh tỉnh họ hôn trầm th́ sân tâm bừng bừng dấy động, chẳng có ai ngộ đạo, nối gót nhau bị ma dựa. Sao bằng xem kinh, gieo cái nhân Bát Nhă, làm lụng c̣n đạt được phước nhân thiên!” Tôi ưu thương gấp bội, lại thay họ nghĩ rằng: Đại sự thuộc điện đường của chính ḿnh chưa giải quyết xong, giọt nước cũng khó tiêu! Bọn họ ứng, họa (đối đáp khi có người đến hỏi đạo hay vấn nạn), có công ngoại hộ, duyệt tạng là cái gốc của Tư Tu. Nếu ta niệm nào cũng thân thiết, pháp hạnh cũng chẳng vượt trội tín hạnh. Nếu [người tọa Thiền] ơ hờ, tự thong dong, Thiền tụng đâm ra cao vượt tọa Thiền. Nhưng người thuộc Tạng Đường sao chẳng nghĩ: Hiểu rơ lư nhưng không tu hành. Kể chuyện ăn, rốt cuộc chẳng no! Phát tâm muốn tọa Thiền, sẽ hơn hẳn mười phương luận sư. Huống hồ tạ tuyệt muôn duyên, cùng trừ hôn trầm, tán loạn, chuyên tâm nơi lẽ hướng thượng, tham cứu tận cùng cội gốc. Nếu chúng ta tán tâm, há có thể phảng phất được ư, mà pháp môn cũng chẳng sáng tỏ ư? Chỉ có kẻ ôm ḷng kiêu căng, ḷng ghen ghét thường lộ ra ngoài miệng, khiến cho thị phi nổi dậy như ong, Thể lẫn Đoạn đôi đằng đều bị thương tổn, đều là trùng trong thân sư tử.

47) Phàm kẻ có trí nhạy bén hăy nên hành nơi Huệ, kẻ có sức mạnh hăy nên hành nơi Định. Mỗi đằng cũng có hai loại. Hai thứ huệ hạnh th́:

- Một là chỉ từ huệ nhập, sáng suốt tột bực bèn chân thành, chẳng phiền tu định mà tự đắc định. Đấy là do túc nhân sâu dày, tập khí ít mỏng.

- Hai là có thể phát văn giải (do nghe mà thông hiểu), chẳng thể chứng ngay, ắt phải nương vào giải mà khởi hạnh. Hạnh khởi, giải tuyệt. Nếu chẳng một phen dũng mănh tu tập, sẽ chẳng thể đích thân chứng đắc. V́ thế, cần phải dùng định lực giúp đỡ.

Định hạnh cũng có hai:

- Một là đơn đao trực nhập, liền có thể thấu triệt tận cùng nguồn đáy các pháp. Đấy cũng là do túc nhân sâu dày, sức chánh kiến mạnh mẽ.

- Hai là chỉ có thể giữ chết cứng, chẳng thể quyền biến, thường đọa vào Không Kiến, hoặc tham đắm vị Thiền. Cầu giải thoát mà ngược ngạo bị trói buộc, cầu thăng lên đâm ra đọa xuống, ắt phải dùng huệ hạnh để giúp th́ mới khỏi đọa hầm sụp hố.

Lại có người trí lẫn lực cùng đầy đủ, Định lẫn Huệ cùng vẹn, như những vị nghe pháp đắc đạo thuở đức Phật tại thế và Lục Tổ v.v… Nếu nhờ vào Tông Giáo để giúp nẩy mầm huệ về sau, mượn Thoại Đầu để làm cái cớ thoái thác, huệ hạnh lẫn định hạnh hai đằng đều chẳng thể đảm đương, sẽ đều là trùng trong thân sư tử.

48) Vân Thê đại sư đă nêu tỏ pháp môn Niệm Phật như sau: “Có Sự nhất tâm bất loạn và Lư nhất tâm bất loạn. Có người nói tŕ danh hiệu là Sự nhất tâm, tham cứu chữ Ai là Lư nhất tâm, sao mà sai lầm đến thế? Sự nhất tâm là rành rẽ, phân minh, chẳng hôn trầm, chẳng tán loạn. Lư nhất tâm là ngầm khế hợp Vô Sanh, hiểu thấu suốt tự tánh. Tức là khi tham thoại đầu thuần thục, vẫn thuộc vào Sự môn. Khi niệm, tâm lẫn Phật cùng mất chính là quy vào phương diện Lư, há có phải là Sự riêng chỉ niệm, Lư riêng chỉ tham ư?” Lại nữa, tham cứu chữ Ai (tức tham cứu câu “ai là người niệm Phật?”), nói là suy xét theo Lư th́ được, chứ bảo là Lư nhất tâm, sẽ chẳng được! Nhưng chẳng phải là hạng người phù hợp th́ suy xét Lư cũng chẳng thể dễ dàng! V́ lẽ nào vậy? Sự có công năng bao gồm Lư, Lư chẳng thể tồn tại một ḿnh! Mong hăy suy xét kỹ!

49) Nhị kiến (kiến chấp có đôi bên) hết sức tai hại! Phiền năo, Bồ Đề, sanh tử, Niết Bàn cùng nương vào một tâm, nhưng rành rành thành hai. Tông Thừa và Giáo Thừa cùng truyền bởi một đức Phật mà bị tách rời thành hai. Pháp tánh, pháp tướng cùng được nắm giữ trong một âm thanh mà bị phán định thành hai. Huệ giải và hạnh môn cùng được diễn nói trong một giáo, mà bị phán định thành hai. Nhị kiến lăng xăng th́ chánh kiến diệt mất.

50) Tọa Thiền tuy danh xưng chỉ có một, nhưng thật ra là sáu, tức là Viên Đốn Thiền, Thứ Đệ Thiền, Lợi Huệ Thiền, Độn Tu Thiền, Thế Tục Thiền, và Giả Danh Thiền.

Viên Đốn Thiền là vừa nghe chánh pháp nhăn tàng, Niết Bàn diệu tâm chẳng thể nghĩ bàn, lư tánh vi diệu, bèn phát cái tâm ấy. Lại có bốn thứ:

- Một là vừa nghe liền ngộ, nhanh chóng chứng tự tâm, chẳng rơi vào tầng cấp, trọn đủ Trí Đức.

- Hai là do chưa đốn chứng, liền hết sức nghi phẫn ngút trời, lập tức hai đằng y báo lẫn chánh báo đều quên bẵng, phàm lẫn thánh đều dứt, hôn trầm, tán loạn chẳng có chỗ nương gá, trí và lư chẳng có chỗ tụ hợp, nghiễm nhiên như người chết c̣n thở, măi cho tới khi tro lạnh, đậu nổ.

- Ba là chưa thể ngay lập tức thành phiến, nhưng thật sự tin tưởng, nỗi nghi đă được an. Dẫu bị nghiệp lực vô thỉ quấn trói, các thứ chướng duyên hôn ám, tán loạn, chẳng bị thoái thất cái tâm ban đầu, hoặc một mực đơn độc khởi lên, hoặc đạo phẩm giúp thành tựu, suốt đời chẳng dấy tâm danh lợi, chẳng dấy tâm thừa sót. Xét theo cơ th́ độn, ước theo căn th́ cũng gọi là chủng tử viên đốn.

- Bốn là trước hết lưu tâm nơi giáo điển, t́m hiểu rơ ràng lư tánh, thuận theo đó mà khởi quán hạnh, gọi là Càn Huệ. Kế đó, đạt được Tương Tự lư thủy, gọi là nhập Tín Tâm. Kế đó bèn phát tâm, gọi là Nhập Chánh Vị, liền cùng một trí đức với đốn ngộ. Cần biết đốn ngộ vốn do huân tập nhiều đời. V́ thế, sơ tâm chẳng thể không gieo chủng tử sâu dày nơi giáo tột cùng.

Thứ Đệ Thiền th́ trước là dùng Không Huệ để tu Nhất Thiết Trí, quán hết thảy các pháp không ǵ chẳng đều là Không. Kế đó, dùng Giả Huệ để tu Đạo Chủng Trí, quán hết thảy các pháp được kiến lập từ Không. Sau đó, dùng Trung Huệ để tu Nhất Thiết Chủng Trí, quán hết thảy các pháp chẳng Không, chẳng Giả, tức là Đệ Nhất Nghĩa Tâm.

Lợi Huệ Thiền là thông đạt hết thảy các pháp như huyễn, như mộng, toàn bộ cái Thể của chúng là Không, do chẳng Không nên là Không.

Độn Tu Thiền lại có bốn loại:

- Một là đắc Thần Túc hành Bồ Tát đạo, tu căn bản Tứ Thiền, nương vào đó phát khởi thần thông.

- Hai là quán sâu mười hai nhân duyên, cắt đứt vô minh.

- Ba là quán sâu Tứ Đế, trong sát-na đoạn Hoặc, chứng Chân.

- Bốn là tuy biết rơ Khổ Đế, ắt phải [tu tập theo] Cửu Thứ Đệ Định, lần lượt đoạn Hoặc, chứng Chân.

Thế Tục Thiền lại có hai loại:

- Một là phàm phu dùng tâm ưa thích và chán ngán để tu tám môn Định trước.

- Hai là ngoại đạo chấp vào Niết Bàn của họ để tu tập môn Định của chính ḿnh.

Giả Danh Thiền lại có ba loại:

- Một là tuy nghe danh ngôn viên đốn, hâm mộ danh, nhưng chẳng hiểu nghĩa, gượng đề khởi một câu thoại đầu, vẫn chưa hiểu trọn hết nghĩa lư trong câu thoại đầu ấy, huống hồ chỗ tột cùng nơi nghĩa lư. Người ấy dùng một câu thoại đầu để làm cái cớ thoái thác, phế trọn các điều lành khác, chết cứng nơi cọc buộc lừa, tuy hơi bị hôn trầm, tán loạn, vẫn chưa đạt được Thiền Định thế tục, mong chi viên đốn! Tuy chẳng có hại to lớn, nhưng đă đánh mất vô lượng công đức nơi Văn Huân.

- Hai là đối với cơ duyên của chư tổ, cầu đạo lư sâu xa, quên ăn, bỏ ngủ, may ra đạt được chỗ tiến nhập nghĩa lư, liền ngỡ đă có tỉnh phát, đạt được cái gốc, liền nảy sanh ư tưởng vốn chẳng lo sầu. Người ấy tuy chẳng bài bác vạn hạnh, nhưng thường náu ḿnh trong tấm giáp vô sự. Lại c̣n tách Giải và Hạnh thành hai đằng, đó gọi là “báng chân Bát Nhă”.

- Ba là chỉ chuộng hư danh, do cơ duyên giúp sanh khởi tà huệ, ăn nói hồ đồ, loạn xạ, hại ḿnh, hại người, hoặc đeo hư danh, nói là tham thoại đầu, nhưng là hạng ăn bám, giấu dốt, chẳng trừ hôn trầm, tán loạn, yêu ghét luôn lừng lẫy, ăn suông của đàn thí, bại hoại pháp môn.

Trong sáu loại trên đây, tổng cộng thành mười lăm loại. Nếu lại liệu giản, hạng kém hơn càng nhiều! Than ôi! Cuối đời Mạt, chỉ mong có được cái danh, chẳng đếm xỉa thực chất, trách sao Tông, Giáo chẳng lè tè sát đất!

51) Cổ nhân nói “đối với thuyền không người chèo bị trôi giạt, mảnh ngói bị gió thổi rớt từ trên mái xuống, sẽ chẳng sanh sân”. Nay cũng sanh sân. Sẻ hót, quạ kêu chẳng phân biệt, nay cũng phân biệt. Cảnh duyên nghịch thuận, mong chi thoát khỏi!

52) Pháp môn có bảy tướng hoại và sáu tướng hưng thịnh.

Những ǵ là bảy tướng hoại:

- Một là sợ yểu mạng, hoặc biết số mạng cô độc, do nhà nghèo bèn xuất gia.

- Hai là lánh nạn, không nơi nương náu, hoặc do bực tức, mong được yên vui mà tự xuất gia.

- Ba là do cầu thanh cao nên tự xuất gia.

- Bốn là do hiếu danh nên thọ giới.

- Năm là do hiếu danh nên nghe kinh.

- Sáu là do giấu dốt nên tham Thiền.

- Bảy là do hiếu danh nên tham Thiền.

Bảy loại ấy tuy cao hay thấp khác nhau, nhưng hơn, kém rành rành, đều là nhân địa chẳng chân thật, bại hoại pháp môn giống hệt như nhau. Những ǵ là sáu tướng hưng thịnh?

- Một là v́ sanh tử cho nên xuất gia.

- Hai là v́ đại Bồ Đề nên xuất gia.

- Ba là để làm nền tảng cho sự tu hành mà thọ giới.

- Bốn là v́ [thông hiểu] đường nẻo tu hành cho nên nghe kinh.

- Năm là v́ liễu sanh tử cho nên tham Thiền.

- Sáu là v́ đắc Chủng Trí nên tham Thiền.

Sáu loại tuy lớn nhỏ khác nhau, Thiên, Viên khác biệt, nhưng đều cùng là nhân địa chân chánh, có thể hưng thịnh chánh pháp như nhau. Ôi! Phàm những người cùng loại với tôi, vẫn nên tự suy xét. Nếu nhân địa chân thật, mong hăy khéo tự ǵn giữ, ngơ hầu rốt cuộc chánh đáng, chẳng lọt vào tà! Nếu nhân địa chưa chân thật, hăy thống thiết tự hối cải, nhanh chóng quay về chân, chẳng ch́m đắm trong ngụy, ngơ hầu tự cứu, mà cũng cứu pháp môn.

53) Người chân chánh quán tà pháp, tà pháp cũng thành chánh. Tà nhân quán chánh pháp, chánh pháp cũng thành tà. Người sâu xa quán pháp nông cạn, pháp nông cạn cũng thành sâu xa. Người nông cạn quán pháp sâu, pháp sâu cũng thành nông cạn. Người viên căn quán pháp lệch lạc, pháp lệch cũng thành viên. Người lệch lạc quán viên pháp, viên pháp cũng thành lệch. Đạo nhân quán tục pháp, tục pháp cũng thành đạo. Kẻ tục quán đạo pháp, đạo pháp cũng thành tục. Than ôi! Nay chánh thành tà, sâu thành cạn, viên thành thiên, đạo thành tục là chuyện thường thấy! Hăy thử tự phân định từng điều, nếu biết căn bệnh, ắt sẽ biết thuốc chữa. Hết sức mong mỏi!

54) Có khi tên gọi giống nhau mà thật ra khác nhau. Như Phật nói Đạo th́ là ba loại Bồ Đề. Lăo nói Đạo th́ là hư vô tự nhiên. Nho nói Đạo th́ là ngũ thường, ngũ luân[28], chẳng thể đánh đồng được! Có khi danh khác mà thật ra là đồng, như tông Thiên Thai nói Nhất Tâm Tam Quán, Hiền Thủ nói Nhất Chân Pháp Giới, Tướng Tông nói Thắng Nghĩa Duy Thức, Thiền Tông nói hướng thượng nhất trước, chưa hề có chút khác biệt nào! Ví như là một đế đô mà gọi là Bắc Kinh, hoặc Yên Đô, hoặc Thuận Thiên Phủ. Có người ca ngợi chữ Bắc Kinh, chê Yên Đô là kém hèn. Hoặc có kẻ ca ngợi Yên Đô, chê Thuận Thiên là kém hèn, ta biết kẻ đó ắt bị kẻ khác chê cười. Những kẻ chia ngăn tánh, tướng, Nam Bắc lập đảng, có khác ǵ chuyện này hay chăng?

55) Cư sĩ Lư Tùng Giang ngụ tại chùa Thiên Phong, dũng mănh muốn xuất gia. Tôi hỏi: “Ông muốn xuất gia mà đă từng xem kinh hay chưa?” “Chưa ạ!” “Xem ngữ lục hay chưa?” “Xem đôi chút”. “V́ sao xem ngữ lục mà chẳng xem kinh?” Đáp: “Kinh th́ rắc rối, chi ly, ngữ lục sảng khoái dễ xem”. Tôi nói: “Sảng khoái dễ xem th́ không ǵ bằng truyện Thủy Hử, hoặc Tam Quốc Chí”.

 

* Ngẫu nhiên viết hai đoạn

 

          1) Chư Phật tu điều thiện xứng tánh, cho nên có thể hóa thân trăm ngàn ức, tự tại độ chúng sanh. Chúng sanh tạo điều ác xứng tánh, cho nên một thân có thể trọn khắp trong tám vạn bốn ngàn đại địa ngục, một ngày một đêm hứng chịu đủ tám vạn nỗi khổ sanh tử. Như vậy th́ cảnh giới của Phật chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới của chúng sanh cũng chẳng thể nghĩ bàn, chỉ v́ một niệm hiện tiền vốn tự chẳng thể nghĩ bàn, người có trí có nên thuận theo hay chăng?

2) Tứ Hung[29] tồn tại trong đời Nghiêu - Thuấn, chẳng thể tự sống yên. Khổng - Mạnh sống vào thời loạn Xuân Thu Chiến Quốc, nhưng loạn lạc chẳng đủ biến cải niềm vui của họ. Do vậy biết: Được hay mất hoàn toàn do tự tâm, ngoại cảnh há có liên quan? Người hiện thời chẳng lo đối trị tâm mà cứ bận ḷng nơi cảnh, chẳng mê hoặc lắm ư?

 

* Đọc xong Dương Minh Toàn Tập, ngẫu nhiên viết hai đoạn

 

1) Quân tử hay tiểu nhân, cái Thể của lương tri chưa hề khác biệt! Một đằng do bị ḷng riêng tư che phủ mà chẳng thể đạt đến tận cùng, bèn ghét công chánh, đố kỵ tài năng, vu hăm trung lương, không ǵ chẳng làm. Ôi! Đáng buồn thay! Chỉ có quân tử sáng ngời, bát ngát như hư không, trọn chẳng so đo thị phi, biện định được, mất. V́ thế, tiểu nhân trọn không ǵ chẳng chuốc lấy chất độc ấy, nhưng kẻ ch́m đắm chưa sâu vẫn có thể hóa thành quân tử. Hễ chống trái, sẽ chẳng cách biệt tiểu nhân cho mấy! Nhưng giữa ngọc và đá, sừng, ngọc ắt bị hư nát trước. Thông hiểu hai môn quán vô ngă trong nhà Phật, diệu chỉ rành rành, ai nói bậc đại nho trong thế gian chẳng phải là cỏ tranh xuất thế[30] ư? Chắc có người phê phán Vương Dương Minh có lúc chê bai Phật, nghi ông ta chưa quên môn đ́nh; đó là v́ chưa luận định thời thế lúc ấy, chưa đặt chính ḿnh vào vị trí của ông ta. Than ôi! Các bậc đại Nho kế thừa Dương Minh, không ai chẳng say mê Phật thừa, chẳng phải là công năng luyện chất tô thành rượu đó ư?

2) Học bất luận Nho hay Thích, đều trọng chân, khinh ngụy như nhau! Nếu cái học chân thật, tuy một thuở bị sàm báng, bị đè nén, sự sáng suốt tinh thuần trọn chẳng thể bị vùi lấp. Nếu cái học là hư ngụy, tuy một thuở dối đời, trộm danh, vẻ xấu xa ắt cũng rốt cuộc lộ ra. V́ thế nói là “tư dân” (dân chúng ấy). Sở dĩ thời Tam Đại thẳng thừng hành xử đúng đạo, mà thẳng thừng theo đúng đạo chính là bản thể của lương tri đó thôi! Thấu hiểu tột cùng cái bản thể ấy, sẽ có thể kiến lập trời đất, được quỷ thần chứng thực, chờ đợi trăm đời[31], huống hồ dân trong đời này mà thôi ư? Ta thấy dân trong thuở ấy tin tưởng, c̣n bọn quyền gian riêng vu hăm, bọn tục nho riêng bài xích; riêng bọn quyền gian, tục nho chẳng có lương tri ư? Đặc biệt là có khi do bị che lấp mà chẳng thấu đạt tột cùng. Than ôi! Đều cùng có bản thể ấy, nhưng do chẳng thấu đạt, cho nên đều cùng ác như Cẩn, Bân[32]. Có thể thấu đạt th́ đều cùng thiện như Dương Minh. Đọc sách thánh hiền, hăy nên thận trọng, dè dặt như thế nào? Trong Phật môn hiện thời, kẻ bị sa chân vào hư ngụy cũng nhiều. Tôi v́ sợ hăi điều ấy, muốn giảm thiểu, nhưng chưa thể! Đọc sách này, bất giác cảm động, phát phẫn tuôn lệ.

 

* Ngẫu nhiên viết hai đoạn

         

          1) Duy Thức lấy “phá trọn Ngă Chấp và Pháp Chấp” làm tông thú. Do vậy, nhờ vào lập pháp làm cửa nẻo để trừ t́nh chấp. Bát Nhă dùng “dung hội hết thảy các pháp, không ǵ chẳng phải là diệu lư” làm tông thú. V́ thế nhờ vào phá chấp làm cửa nẻo để lập Lư. Như vậy th́ Duy Thức nên gọi là “phá tướng”, Bát Nhă nên gọi là “lập pháp”, nhưng khi truyền thừa lại trái ngược gọi Duy Thức là Tướng Tông, gọi Bát Nhă là Không Tông, sai mất rồi!

2) Thiền sư Ô Khoa v́ thị giả mà thổi sợi lông trên vải, đó chỉ là phương tiện để nhập tín môn, nhưng cơi đời phần nhiều cho đó là chuyện tột cùng. Ngài v́ ông Bạch Hương Sơn (Bạch Cư Dị) nêu ra hai câu “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”, đúng là thấu xương, triệt tủy, là điểm khởi đầu và kết thúc trọn vẹn của pháp môn, nhưng cơi đời phần nhiều coi đó là chuyện nông cạn, chẳng lạ ǵ Giải và Hạnh tách rời, chẳng thấu đạt Thật Tướng chánh ấn!

 

* Gượng bệnh vấn đáp cùng khách đến thăm núi, bèn ngẫu nhiên viết

 

          Linh Phong có năm điều tốt, bốn điều xấu. Năm điều tốt là ǵ? Một là suối đă ngọt lại nhiều. Hai là chẳng nghe chuyện thăng trầm trong thế tục. Ba là chẳng nắng gắt. Bốn là mùa lạnh chỉ cần đốt củi. Năm là ít muỗi. Bốn điều xấu là ǵ? Một là khi bệnh, khó kiếm thuốc thang. Hai là khi nghèo túng, vay mượn khó khăn. Ba là gió lốc thổi tốc ngói. Bốn là đất khô cằn nhiều cát, sanh sản gạo, rau đều có vị kém cỏi. Khách nói: “Dám hỏi bốn điều xấu cũng có thể ngăn chặn ư?” Người trong núi nói: “Được chứ!” Khách nói: “Xin nghe cách giải quyết”. Người trong núi nói: “Tiết chế ăn uống, cẩn thận nóng lạnh th́ ít bệnh. Như vậy sẽ đỡ phải dùng thuốc men. Thiểu dục, biết đủ, sẽ chẳng nghèo, như vậy sẽ ngăn chặn vay mượn. Lợp tranh cho chặt, tô vách kỹ lưỡng, dán giấy che cửa sổ, đóng chặt cửa, điều ấy sẽ ngăn được gió. Vâng theo giáo giới của đức Phật, đối với thức ăn ngon dở đừng hư vọng phân biệt, [chỉ nghĩ thức ăn] nhằm chữa bệnh thân thể khô gầy, điều ấy sẽ ngăn được vị kém”. Khách lạy thưa: “Lành thay! Vâng theo lời dạy, xin suốt đời nương theo Ngài mà trụ”.

 

9. Giải

* Giải thích “trí tri cách vật” (dựa theo Phật pháp để giải thích cho ông Đường Nghi Chi)

 

          Tri () là bản thể của Minh Đức, chính là Đệ Nhất Nghĩa Đế diệu tâm, chẳng phải Không, chẳng phải Giả, nhưng thật sự ĺa hết thảy các tướng, chính là hết thảy các pháp. “Trí” () là Nhất Tâm Tam Quán, liễu đạt một Đế chính là ba Đế. “Vật” () là mê nơi cái Thể của Tri, bèn huyễn hiện thân, tâm, quốc gia, thiên hạ, như nước ngưng đọng thành băng. “Cách” () là suy xét đến cùng thân, tâm, nhà, nước, thiên hạ đều như huyễn ảnh, trọn chẳng phải là thật ngă, thật pháp, như dùng hơi nóng để làm tan băng cứng. Muốn có nước, không ǵ bằng làm tan băng. Muốn trí tri (thấu hiểu sự hay biết, hiểu biết đến tột cùng), không ǵ bằng cách vật (trừ khử mê chấp đối với vật dục, hiểu thấu suốt mọi vật là hư huyễn). Băng tan, nước hiện, vật đă bị cách th́ sẽ biết đến tột cùng. Vật là cảnh được quán, cách là cái trí có thể quán. Tri là Đế được hiển.

Nhất Tâm Tam Quán gọi là Cách Vật. Nhất Tâm Tam Đế chẳng ẩn hối th́ gọi là Trí Tri. Chớ nên nghĩ Trí Tri là Không Quán, coi Cách Vật là Giả Quán (do ông Đường hiểu lầm nên phá trừ). Biết rơ ngũ vị bách pháp[33] đều chẳng có thật ngă, thật pháp; đó là Vật Cách. Chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí là Tri Trí. Chuyển thức thứ bảy thành B́nh Đẳng Tánh Trí là Ư Thành. Chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Kính Trí là Tâm Chánh. Chuyển năm thức trước thành Thành Sở Tác Trí là Thân Tu. Do một thân thanh tịnh, nhiều thân sẽ thanh tịnh, cho tới do một thế giới thanh tịnh mà hết thảy thế giới thanh tịnh. Hết thảy thế giới thanh tịnh là gia tề, quốc trị, thiên hạ b́nh. Chỉ một công phu Vật Cách đạt đến tận cùng, cái học Trí Tri mới chẳng thiếu khuyết; đó gọi là rốt ráo chẳng ĺa bước đầu vậy!

 

* Giải đáp vấn nạn về tạng tánh (năm điều)

 

          1) Gạn hỏi: Tùy duyên há gọi là bất biến, bất biến há được tùy duyên?

Giải: Nếu chẳng phải là cái Thể bất biến, sao có công dụng tùy duyên? Chẳng phải là công dụng tùy duyên, sao hiển lộ cái Thể bất biến?

2) Gạn hỏi: Cái Thể bất biến là thường, công dụng tùy duyên là vô thường, vẫn chia thành một đằng là thường, một đằng là vô thường?

Giải: Do Thể bất biến, nên diệu dụng bất biến. Do Thể thường, Dụng cũng thường. Do Dụng tùy duyên, nên toàn bộ Thể cũng tùy duyên. Do Dụng vô thường, nên Thể cũng vô thường. Thường và vô thường, hai con chim cùng bay!

3) Gạn hỏi: Ngay trong khi tùy duyên, bất biến há tồn tại? Sau khi đă ngộ bất biến, há c̣n tùy duyên?

Giải: Ngay trong lúc tùy duyên, tùy duyên chính là bất biến, chẳng có bất biến tồn tại riêng khác. Như ngoài hai mặt trăng, chẳng có mặt trăng thật sự. Hai mặt trăng chính là mặt trăng thật sự. Ngộ bất biến, bất biến tùy ngộ duyên. Hiểu rơ Thường, sẽ chẳng mê hoặc. Như mắt thanh tịnh thấy vầng trăng thật sự, lại chẳng thấy có hai mặt trăng!

4) Gạn hỏi: Mặt trăng có thể tùy thuận ư? “Thấy” là cái bị tùy thuận ư?

Giải: Dùng mặt trăng làm thí dụ. Mặt trăng thật sự bất biến, một hay hai đều tùy duyên. Mặt trăng thật sự tùy người mà thấy là một hay thấy là hai. Bất biến thường tự tùy duyên. Thấy một hay thấy hai, thật sự chẳng có mặt trăng nào khác. Tùy duyên thường tự bất biến, luận theo cái Thấy, tánh Thấy bất biến. Thấy một hay thấy hai, đều tùy duyên. Thấy một là thấy chân thật. Thấy hai là thấy hư vọng, nhưng cái Thấy chỉ là một Thể mà có chân hay vọng. Bất biến thường tùy duyên, chân kiến hay vọng kiến đều là thấy. Tùy duyên thường bất biến.

5) Gạn hỏi: Mặt trăng có thể tùy thuận, tức là cái được thấy (sở kiến). Thấy là năng kiến (cái có thể thấy), chính là cái được tùy thuộc[34], gọi là bất nhị ư?

Giải: Đấy chẳng phải là bất nhị! Cần phải biết mặt trăng chẳng ở trên bầu trời, cái Thấy chẳng ở nơi mắt. Trăng ở trên bầu trời, cái Thấy ở nơi mắt, hai vật cách xa, v́ sao thành thấy cho được? Hơn nữa, mặt trăng chẳng đến mắt, mắt chẳng đến trời. Trăng đến mắt th́ bầu trời chẳng có mặt trăng. Cái Thấy đến trời th́ mắt sẽ chẳng thấy. Mắt chẳng thấy th́ chẳng phải mặt trăng bèn thấy cái ǵ? Chẳng phải thấy mặt trăng nào? Nếu mặt trăng là cái Thấy, sao lại gọi là mặt trăng? Nếu mặt trăng chẳng phải là cái Thấy, sao gọi là thấy mặt trăng? Nếu cái Thấy là mặt trăng, lại như thế nào gọi là Thấy? Nếu cái Thấy chẳng phải là mặt trăng, sao gọi là thấy mặt trăng? Từ đó thấu hiểu, mới biết Năng và Sở chẳng hai. Tánh bất nhị chính là bất biến. Mê th́ gọi là hai, ngộ bèn biết chẳng hai, gọi chung là “tùy duyên”. Một tánh mà tùy theo mê hay ngộ, bèn có hai duyên. Mê hay ngộ nói chung đều là một tánh chẳng thay đổi!

 

10. Thư

* Thư gởi mẹ

         

          Ngày Ba tháng Giêng năm Giáp Tư (1624), con trai phương ngoại[35] là Trí Húc, cung kính đốt hương trên cánh tay, trích máu nơi chót lưỡi, kính bạch dưới gối của mẫu thân đại nhân. Con trai thuở bé được dạy bảo trong gia đ́nh, hơi khôn lớn bèn tự lấy đạo học (Tống Nho) làm trách nhiệm, chẳng biết cha nên chôn, mẹ nên phụng dưỡng, chỉ v́ một chuyện sanh tử ai nấy đều có, suy nghĩ sâu xa trong đêm thanh tĩnh, thật đáng sợ hăi! Như cậu Hai đang làm quan hiển hách bỗng qua đời, cháu Ngu chưa tới tuổi thành niên, đang khỏe mạnh mà mất sớm. Thân mạng vô thường như sương buổi sớm, đại nạn xảy tới th́ già, trẻ đều chẳng trốn được. Biển khổ mênh mông, ai có thể tránh khỏi? Nghĩ đến tự thân, đă cảm thấy chua xót, chạnh tưởng cha mất, mẹ già, tâm t́nh bội phần thương cảm. Thân thể của người thân đă là như vậy, chúng sanh nào có khác ǵ? Nếu chẳng sớm tính phương xuất thế, chỉ sợ hối hận chẳng kịp.

Con nhớ lúc hai mươi mốt tuổi, đến hỏi thầy chiêm tinh tuổi thọ của mẹ, nói lúc sáu mươi hai hoặc sáu mươi ba, ắt sẽ đến kỳ hạn. Con bèn đối trước Phật, lập thệ nguyện sâu xa: Chỉ nguyện giảm tuổi thọ của con, bạc bẽo công danh của con, ắt mong mẹ đạt tới thượng thọ. Nay đă thiết tha nghĩ ĺa dục, nếu manh nha một niệm đối đăi, há là ư niệm cầu tăng thọ cho mẹ! Con lại sao có thể đảm bảo chẳng chết yểu ư? Chuyện sanh nở vốn là cái gốc khổ của thế gian, huống hồ công danh đều có định số. Dẫu thanh vân đắc chí, khó chống lại sanh tử! Cậu Hai chính là tấm gương rành rành. Sao bằng ḷng hiếu của Địa Tạng đại sĩ, tôn giả Mục Liên, ân cha mẹ bao kiếp đều được độ thoát?

Con tuổi thiếu niên bêu riếu Đại Sĩ, nhờ mẹ thống thiết kềm cặp, nay được sửa lỗi theo thiện, dốc chí xuất thế, sợ mẹ t́nh thương yêu khó cắt, chẳng thể không cứng ḷng chắc dạ, ngầm hành phương tiện. Lại sợ mẹ ngày đêm thương nhớ, nên con đối trước Tam Bảo đốt hương, trích huyết, từ xa gởi thư dâng mẹ, ngưỡng mong mẹ chớ bận ḷng, chỉ nỗ lực niệm Phật, cầu thoát luân hồi, đối với những thân thuộc có thể khuyên bảo, đều nên dùng ư chỉ này để chỉ dạy họ.

 

* Gởi vị thầy thế độ là ngài Tuyết Lănh

 

          Từ biệt thầy bỗng chốc đă ba năm, tự xét con chẳng ra ǵ, chẳng thể báo ân thầy. Nay nhằm cuối thời Tượng Pháp, có ba điều đáng đau ḷng khóc lóc, ba điều đáng xót thương. Pháp Tỳ Ni là nền tảng đầu tiên của Tam Học, là căn bản xuất thế, Tăng Bảo nhờ vào đó mà được lập danh, chánh pháp nhờ vào đó mà trụ thế, nhưng hiếm có sư thừa, nhiều điều sai lầm, khiến cho chánh pháp đọa lạc sát đất, tăng luân đoạn tuyệt. Đó là một điều đáng đau đớn! Giáo pháp trong Tam Tạng là đường lối để tu hành, là lẽ trọng yếu để xuất khổ, [nhưng người học Phật hiện thời] chỉ y văn hiểu nghĩa, nào biết quán tâm? Phế bỏ chương pháp cũ của bậc tiên triết, chỉ mong sao sướng tai, khoái miệng nhất thời, khiến cho Thiền môn quở trách là “dây leo, cám bă”. Đó là hai điều đau ḷng. Hướng thượng nhất trước của Tông Môn vốn là cách “điểm sắt thành vàng” của bậc thượng thượng căn, nay chỉ thành lập bày môn đ́nh. Thương lượng đạo lư nếu chẳng đọa vào cuồng vọng vô tri, liền đọa vào tri kiến tạp độc. Cũng có kẻ trừ bỏ sự lập bày, quét sạch đạo lư, đa phần rơi vào khuôn sáo ám chứng, tu mù, luyện đui, thật sự là đường hiểm! Diệu pháp vô thượng hóa thành tệ bạc đến nỗi ấy. Đó là ba điều đau ḷng.

Điều đáng thương xót thứ nhất là [người tu] nhờ vào Phật pháp để mưu cầu danh lợi, chẳng có tâm thật sự v́ người khác. Hai là chỉ biết ḿnh giỏi, chẳng biết người khác hay! Chỉ thấy người dở, chẳng thấy ḿnh tệ, ôm chặt điều ḿnh đạt được, hướng tới chỗ không có Phật để xưng tôn quư, chẳng thể buông xuống thể diện, đả phá tâm lượng hạn cuộc, theo gót ngàn vạn người để xuyên qua. Ba là phần lớn dối Phật, chẳng nghĩ tam giới không yên, bảo Tịnh Độ chẳng cần phải sanh, Di Đà chẳng cần niệm. Viên Trung Lang phán định [những kẻ suy nghĩ như thế] là “duy tâm đọa, Viên Thật đọa”, đúng là lời định luận xác đáng! Nhằm thời mạt vận, chẳng có đủ đại nhẫn lực, đại nguyện, đại trí, đại thiện xảo phương tiện lực, chỉ ưa chuộng vá víu những chỗ nhỏ nhặt, sao có thể đạt tới tột bậc b́nh trị? Bác Sơn lăo sư tuy kiến xứ chưa thấu triệt nguồn đáy, nhưng thật sự khổ công tu luyện, kẻ học tṛ không ra ǵ này và Ngài đạt được lợi ích lẫn nhau, nhưng nếu chẳng uống thuốc ấy th́ đại nhẫn nguyện trí sẽ phải đợi thưa hỏi!

         

* Thư dâng lên xà-lê Cổ Đức

 

          Từ năm hạ trở về trước, chuyên ṛng giới luật[36]. “Chuyên ṛng” há phải chỉ là đắp y, tŕ bát mà thôi! Nhiệm vụ trọng yếu bậc nhất trong Luật là thường nhất tâm, niệm chẳng lầm loạn, tức là nương vào Tứ Niệm Xứ để hành đạo. Tứ Niệm Xứ Huệ là tổng quan của Phật pháp. Chẳng có Niệm Xứ Huệ, khoác ca-sa như lá phan treo trên tượng gỗ, lễ bái như chày giă lên cao, xuống thấp, Lục Độ vạn hạnh đều giống như ngoại đạo khổ hạnh, chẳng liên quan đến chân tu. Nếu nương theo Niệm Xứ để hành đạo th́ do công đức tŕ giới, trong hiện tại có thể đạt được Tứ Sa Môn quả, cho đến Thập Địa trong Viên Giáo, quyết chẳng khó đạt được. Nhiệm vụ trọng yếu thứ hai là phải hiểu rơ cùng tột khai, giá, tŕ, phạm trong hai trăm năm mươi giới. Nếu không, suốt mười hai thời, chỉ mang danh tỳ-kheo suông, sẽ kết vô lượng tội. Nói đến, nghe mà kinh hăi, nghĩ đến vỡ gan, nếu hai điều ấy chẳng hiểu rơ, có khác ǵ tà giới? Thói tệ đời Mạt, nếu chẳng có người sức lớn, sẽ chẳng thể văn hồi. Thầy con đức thịnh, danh rạng, Tăng tục cùng khâm kính, con biết Ngài là bậc được chư Phật phó thác vậy!

 

* Thư phúc đáp Mậu Lâm luật chủ

 

          Hai tạng Kinh và Luận được nói bởi cả năm loại người, [chỉ riêng] Giới kinh do Như Lai tự nói, Đẳng Giác c̣n chẳng thể kham. Ví như lễ nhạc, chinh phạt phát xuất từ thiên tử. Ngài Ca Diếp bạch chùy[37] rằng: “Những điều do đức Phật chế định, chẳng nên trừ bỏ. Những điều đức Phật chẳng chế định, chớ nên tự chế”. Đó là khuôn phép ngàn đời chẳng đổi. Đối với lời hỏi về trường hợp thọ giới cho từng người một, khi đại nạn mới chấp nhận [đồng thời truyền giới cho] ba người [cùng một lúc], quá bốn sẽ chẳng đắc giới[38]. Không chỉ Tăng Kỳ, Căn Bản, Tứ Phần v.v… đều có kinh văn; hơn nữa, đắc giới và bất đắc giới có mối quan hệ chẳng nhỏ, dám ngại rườm rà ư?

Ba y [của người xuất gia] chỉ dài ba khủy tay[39], rộng năm khủy tay, vượt quá th́ mỗi bước sẽ kết thành Đẳng Lưu Tội. Nếu [kích thước] bằng với y của Phật, sẽ kết tội thuộc thiên thứ ba [trong ngũ thiên tụ của Cụ Túc Giới]. Nay [y của tăng sĩ tại Trung Hoa] theo chiều dọc là ba [khủy tay], chiều ngang là sáu [khủy tay], đến cánh tay trái [th́ y ca-sa] được xếp thành ba tầng, lại tự chẳng liên quan đến y Ca Hy Na[40]. Công Đức Y gồm năm điều mười ô[41], thọ hay xả đều có lúc nhất định, há chỉ nên tŕ y này, coi vĩnh viễn là tam y? Giới ăn phi thờivốn chẳng cho phép khai, nay nói “bảy loại được coi là chẳng ăn quá ngọ” hoàn toàn chẳng có xuất xứ!

Trong Luật có tám loại, mười loại cho phép khai, tức là triển chuyển thực, biệt chúng thực, và bất tác dư thực pháp[42] để ăn, đều thuộc vào trước ngọ, há có phải là phi thời ư? Lúc mang ư tưởng ăn phi thời, vẫn bị kết tội Đột Cát La[43]. Để uống thuốc sau khi đă bị ói, chỉ được phép dùng lúa mạch đem nấu, sao cho hạt chẳng nở bét, lọc lấy nước mà uống, chẳng nghe có chuyện quyền biến cho phép. Lại ĺa y mà ngủ[44], có kinh văn kết tội. Chẳng tŕ bát th́ năm bộ luật[45] chẳng chép kết tội. Lại nữa, đối với da thuộc, y phục vật dụng bằng lông thú, các kinh khác đă phân loại, nói tường tận, chẳng phải là phá giới, có thể nói là chẳng phải chuyện to tát. Nhưng quá ngọ mà ăn, rành rành kết tội trong thiên thứ ba [giới tỳ-kheo] chưa thể gọi là chuyện vặt vănh được. Vượt biển đeo phao, chẳng bỏ phao chừng bằng hạt cải, huống hồ thiên thứ ba ví như bàn tay, có thể coi là nhỏ nhoi ư?

Lại nữa, sách Ngũ Bách Vấn hoàn toàn tương phản với hơn năm trăm quyển Luật Tạng. Sử dụng sách Ngũ Bách Vấn, ắt phế trừ năm trăm quyển [Luật Tạng]. Tuân theo năm trăm quyển, chẳng thể không dùng Ngũ Bách Vấn. Nếu bảo là do đức Phật nói, chẳng thể bàn luận, th́ các thứ như Thọ Sanh, Huyết Bồn, Cao Vương v.v… cũng chẳng xưng là do Phật nói ư? Luật học sai lệch, đă chẳng phải là chuyện một ngày. Tuyên Công (Khổng Tử), Á Thánh (Mạnh Tử) bị Hoài Tố[46] chê bai, bậc đại hiền Nghĩa Tịnh bị sách Phiên Dịch Danh Nghĩa[47] chê gièm, bài bác. V́ thế biết: Từ Như Lai trở xuống, bậc Đẳng Giác c̣n chưa thể xưng là Nhất Thiết Trí, thế tục chẳng thích hợp nghe khuôn phép của tỳ-kheo. Một đằng xuất phát từ Căn Bản Tát Bà Đa Bộ (Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ), một đằng xuất phát từ lời tựa của Giới Nhân Duyên Kinh. Trần thuật căn bản của Nhân Duyên Bộ, là vào thời Ca Diếp Phật, kẻ ngoại đạo toan phá pháp, giả vờ theo tỳ-kheo học. Tỳ-kheo bảo thế tục được nghe kinh luận, c̣n Tỳ Nại Da giáo th́ thế tục chẳng thích hợp để nghe. Ngoại đạo bèn quyền biến xuất gia học tập, sau đó phá hoại. Nếu thế tục chẳng thích hợp nghe, th́ nửa tháng tụng giới, tức là Tam Tạng đều cùng tồn tại, tự có thể mở xem, há đợi xuất gia mới học? Nếu nói là xuất phát từ Tát Bà Đa Bộ, chẳng xuất phát từ Tăng Kỳ, th́ sách Ngũ Bách Vấn há chẳng phát xuất từ Tăng Kỳ Bộ ư?

 

* Thư trả lời Chí Long

 

          Chẳng kiêng bệnh, chẳng kỵ chữa trị, đúng là hoa Ưu Đàm thời Mạt Pháp. Đă tự biết bệnh, lại biết bệnh của thói tục. Dũng mănh tự chữa, lại c̣n chữa trị người khác; đó chính là chân thật tu hành. Nếu không, biết bệnh mà chẳng chữa bệnh, gốc bệnh ở ngay tại đó. Người ắt có phương cách siêu quần bạt tục th́ mới có thể thoát ĺa bẫy rập sanh tử. Ái kiến trong đời người nếu có chút chưa quên, th́ vô thượng bạch pháp trông mong như thế nào đây? Tử Bách đại sư nói: “Những ǵ có nơi t́nh, ắt chẳng có nơi Lư. Những ǵ có nơi Lư, ắt chẳng có nơi t́nh”. Cổ nhân nói: “Biết một thước chẳng bằng hành một tấc!” Đóng chặt cửa xem lời nói của bậc tôn túc để tự cảnh tỉnh khó chống lại hiện cảnh đă quen biết. Nếu giữ theo lối cũ, có thể chắc chắn tiến bước trên con đường ấy, há kế sách năm mươi ba lần tham học [của Thiện Tài đồng tử] là vụng về, mà tam đăng cửu thượng[48] cũng là phí công ư?

 

* Thư trả lời sư bá Bác Sơn Vô Dị

         

Giới bổn Phạm Vơng là pháp Bồ Tát riêng trong Biệt Giáo và Viên Giáo thuộc giới ngoại, hàng xuất gia Bồ Tát thuộc Tạng Giáo và Thông Giáo trong giới nội (trong tam giới) không có giới pháp riêng, cùng vâng giữ luật nghi tỳ-kheo, chỉ phát tâm tự độ liền gọi là Nhị Thừa, phát tâm độ người khác th́ gọi là Bồ Tát. Nhưng trong giới nội, chẳng được bỏ bổn vị mà mong mỏi suông giới ngoại (vượt ngoài tam giới). Bậc đại sĩ thuộc giới ngoại ắt cần phải vâng giữ Quyền pháp để qua lại trong tam giới. Do đó, Bồ Tát tỳ-kheo khác xa Bồ Tát tại gia nam nữ. Thời gần đây đều nói “những điều được chế định trong Tiểu Thừa, Đại Thừa đều khai; những điều tỳ-kheo phải ǵn giữ, Bồ Tát đều chẳng màng”, đều thuộc loại đồn đại, hoàn toàn chẳng có thật nghĩa!

 

* Hai lá thư trả lời Thủy Lâm

 

          1) Đă gặp sự duyên, lại sanh ḷng chán khổ, chẳng tránh khỏi thêm một tầng công án. Chẳng dính dáng đến chuyện trọng yếu, lại càng thêm u uất, phẫn nộ. Đấy lại là tầng công án thứ ba. Muốn bỏ điều ấy để chuyên niệm Di Đà, đó là bốn tầng công án. Đă nói “chuyện đă qua không tính nữa”, lại muốn xua tan nỗi nghi. Đó là năm tầng công án. Công án càng nhiều, cách biệt pháp tướng càng xa. Duy Thức Luận viết: “Hết thảy chỉ có thức, có đủ loại tướng chuyển đều nương vào thức mà biến. Nếu do thức biến, chẳng nên là tự thức áp bức, làm khổ tự thức”. Kinh dạy: “A Di Đà Phật thị pháp giới thân” (A Di Đà Phật là thân pháp giới), vậy th́ sự duyên chẳng phải chuyện trong thân Di Đà ư? Từ ngay vị Di Đà ấy và vị Di Đà được niệm ấy, há chẳng phải là từ trong thân Di Đà mà ôm giữ một đằng, xả một đằng ư? Xả th́ chắc chắn chẳng thể xả, ôm giữ th́ quyết chẳng thể ôm giữ. Hướng đến chỗ chẳng thể ôm giữ hay bỏ đi ấy để lănh hội th́ sẽ như mặt trời rực rỡ giữa không trung, sương mù nghi hoặc tiêu tan.

2) Toàn thân buông xuống, trống lổng, sạch trơn, tương tự th́ cố nhiên là tương tự, nhưng phải th́ chẳng phải. Ly Sanh Hỷ Lạc chính là toàn thân buông xuống trong Sơ Thiền. Định Sanh Hỷ Lạc là toàn thân buông xuống trong Nhị Thiền. Xả niệm thanh tịnh chính là toàn thân buông xuống nơi Tứ Thiền. Tâm và tâm sở bất hằng hành diệt, tức là toàn thân buông xuống của vô tưởng ngoại đạo. Tâm và tâm sở hằng hành diệt chính là toàn thân buông xuống của Diệt Tận Định thánh nhân, nhưng so với Đại Định của Na Già (Phật), vẫn chẳng khác lửa đom đóm so với ánh sáng mặt trời! Cái tâm mong mỏi của túc hạ sẽ ở trong cảnh nào? Nếu cũng may mắn mà bị vọng tưởng, suy nghĩ tán loạn ngăn chướng, sẽ khiến cho chẳng sụp hầm rơi hào. Nếu cứ thẳng thừng mà tiến, sợ rằng chư Phật cũng chẳng thể cứu nổi! Chuyện này chẳng thể do một lời mà có thể nói hết được! Hễ có thể rỗng rang tâm ư, sẽ chẳng ngại có phần nào thương lượng được!

 

* Thư gởi Liễu Nhân

 

          Tuổi chưa trưởng thành, thói đời đố kỵ, chớ nên dễ dăi hành cước. Thường thường là do hảo tâm mà hành cước, người cao sẽ bị thoái thất đạo tâm, kẻ thấp sẽ bị đồng hóa cùng thế tục. Chẳng phải là trí huệ to lớn, sức mạnh mẽ, hiếm ai có thể xuất loại bạt tụy! Kinh Viên Giác nói: “Nhất thiết chúng sanh thân tâm giai thị vô minh. Dục cầu trí huệ, tu thân thiện hữu” (Hết thảy chúng sanh thân tâm đều là vô minh. Muốn cầu trí huệ, cần phải thân cận bạn lành). Nhưng cầu bạn lành trong đời Mạt cũng rất khó nói! Có một vài kẻ lắm hạnh môn, nhưng trí nhăn tối tăm. Có một ít kẻ có lắm học thức, nhưng hạnh nghiệp hoang phế. Trong số đó, bỏ khuyết, chọn ưu, chính ḿnh cần phải có con mắt chánh đáng. Nếu không, sẽ chẳng khỏi mù mờ vậy!

 

* Thư gởi Tào Nguyên (ba lá thư)

 

          1) Đối với cái gọi là “thẳng thừng gánh vác”, cần phải đặt ḿnh vào vị trí của thánh hiền ngàn đời. Kẻ chẳng ra ǵ này là hạng người theo sóng đuổi sóng! Lời lẽ và hành vi tương ứng, cái tâm và h́nh tích phù hợp th́ mới từ đầu đến cuối chẳng hai, tối và sáng chẳng gián đoạn. Ngài Hám Sơn nói: “Học đạo th́ điều thứ nhất là phải có tánh cách cương quyết. Kế đó là hiểu biết, tâm lượng rộng răi. Kế đó là tâm sanh tử tha thiết. Cương quyết th́ sẽ chẳng bị t́nh kiến, ham muốn che lấp. Hiểu biết, tâm lượng to th́ sẽ chẳng bị xoay chuyển bởi những cái trước mắt. Tâm v́ sanh tử tha thiết sẽ chẳng xuôi theo tập khí” tức là như thiền sư Linh Nguyên nói “khiến cho những điều khó khăn trong thế tục thành dễ dàng, hoăn đăi những thứ cấp bách trong cơi đời”. Đó là thuốc tốt lành bậc nhất, mong hăy đúng thời uống vào, đừng sợ đắng miệng, khiến cho bệnh trầm kha tích tụ bao kiếp trọn chẳng được chữa trị.

Sách Thức Luận của pháp sư Tân (thiền sư Tân Y) là có nỗi khổ tâm riêng, mong hăy lắng ḷng nghiền ngẫm lănh hội chỗ hay khéo trong ấy, có thể trừ bỏ tập khí hư vọng th́ sẽ là sâu mầu. Nếu cái tâm quyết định mong giữ lấy công lao, có khác ǵ nông phu trông ngóng mùa Thu [để sớm thu hoạch nông sản], dẫu chia chẻ nghĩa lư [chi ly] như tơ tằm, lông ḅ, chỉ là thô thiển mà thôi! Người chẳng hiểu ư này, đa phần mắc tiếng chê cười “đếm của báu”, mong hăy tự nỗ lực.

2) Đối với lời khen đăi bôi, quân tử chẳng ưa thích. Đối với lời chê trách để mong được toàn vẹn, người thông đạt chẳng chối từ. Tự xét ḿnh có điều đáng thẹn, chẳng oán trách người khác. Tự xét ḿnh không lầm lỗi, nào ngại kẻ khác lắm lời! Dùng đó để đối trị cái tâm, chẳng luận xưa kia hay hiện thời.

3) Người có chí chẳng khó, khó ở chỗ có ḷng nhẫn. Sự chẳng khó xem xét, khó ở chỗ có ḷng bao dung. V́ thế nói: “Hữu dung đức năi đại, hữu nhẫn năi hữu tế” (Có ḷng bao dung, đức bèn lớn. Có ḷng nhẫn, bèn có thành tựu).

 

* Thư trả lời Tào Nguyên (hai lá thư)

 

          1) Sám hối ân cần, cảm Phật quang hiện ra, tuy chỉ hai tấc, cũng là điềm báo đắc giới. Kế đó, mắc bệnh nhẹ, là do túc tập (夙習, tập khí từ đời trước) xen lẫn, cũng như do trước kia bụng miệng phạm giới mà ra. Nhưng một bộ Pháp Hoa, Đại Bi Sám hai thời vẫn rốt cuộc chẳng thay đổi th́ là bậc trượng phu dũng mănh vậy.

2) Viên Giáo kể từ Danh Tự sơ tâm liền dùng Phật tri Phật kiến để tu hành. Bậc hào kiệt trượng phu trọn đủ hết thảy vô minh phiền năo, riêng hướng đến chỗ băng nhọn, mũi kiếm để đi. Chẳng do băng nhọn, mũi kiếm, sẽ chẳng thể đúc vô minh phiền năo thành Bồ Đề Bát Nhă được! Trời trao trách nhiệm to lớn, ắt trước hết phải đối với khổ sở, nhọc nhằn vẫn chẳng loạn, khiến cho tâm tánh nhẫn nại. Sắt cứng chẳng luyện, sẽ chẳng thành thép. Ngọc đẹp chẳng mài giũa, sẽ chẳng óng mượt. Tùng, bách chẳng trải qua lúc rét buốt, sẽ chẳng nẩy nở xanh tươi. Cô thần, nghiệt tử chẳng trải qua hun đúc khắc nghiệt, sẽ chẳng hiển đạt. Há có kẻ nào sẵn tập khí cơm cháo, h́nh thái êm ả, thảnh thơi, mà có thể nghiễm nhiên đạt được tiến bộ nơi đạo này ư? Cảnh duyên nhỏ nhoi sẽ trở thành sự chướng, do thường ngày chẳng có mảy may chỗ nào khế hợp ư xứ cả!

Nếu thông đạt diệu lư, th́ chuyện trái nghịch cực ác hiện tiền sẽ là huyền diệu bậc nhất, sẽ là thầy sáng, bạn lành bậc nhất. Nếu bỏ các cảnh giới như thế, pháp nào để có thể tu được, ngộ được, chứng đắc nhanh chóng được ư? Huống hồ học vấn lúc thường ngày phần lớn chú trọng nơi ngôn ngữ, văn tự, chẳng hướng đến chỗ thấu hiểu nghĩa lư và tận lực hành để khảo nghiệm. Chuyển được chỗ ách yếu này th́ mới là cái nhân của Đại Thừa Tịnh Độ vậy!

 

* Thư gởi huynh Bích Như

 

          Biết [chính ḿnh] vô duyên với tham cứu, liền hướng về chỗ hữu duyên để tiến nhập. Trở về nguồn chẳng hai, phương tiện có nhiều cửa! Phương cách thực hiện bất đồng, về đến nhà là một! Đều là pháp môn của Phật, Tổ, có ǵ là tiến, thoái, hơn, kém? Có thể lấy, bỏ, yêu, ghét, há cứ khăng khăng đổi lấy một cái danh hăo là trượng phu ư? Huynh thuộc pháp hệ Vân Thê, từng phụng sự ngài U Khê. Ngài Vân Thê th́ Giáo, Luật kiêm tu, ngài U Khê th́ Giáo và Quán cùng nêu, đều là cầu, bến, há chẳng phải là trực chỉ ư? Chỉ v́ tâm mọi người chẳng thấu hiểu, cho nên nguyện chẳng to tát!

Sanh về Tây Phương th́ quư nơi đại Bồ Đề tâm bảo. Nếu tâm bảo tồn tại, dẫu mang theo Hoặc, vẫn có thể văng sanh. Nếu mê tâm bảo, tham Thiền đă sớm thành hai đằng. Nếu xoay chuyển được chỗ then chốt ấy, chân thật chẳng lừa dối, sẽ đúng là khéo chân thật tham ngộ. Nếu chẳng xoay chuyển được, bị tập khí cũ vùi lấp, ắt cần phải nương theo Giáo và Luật để đại khai huệ nhăn, luyện thành cốt khí cứng cỏi th́ mới tương ứng. Xin hăy gấp chú ư.

Lại nữa, căn bệnh của Thiền nhân đời mạt là to gan, căn bệnh của lăo huynh là nhát gan. To gan th́ sẽ phóng túng chẳng kiêng dè, hướng thẳng về Nê Lê (địa ngục). Gan bé ắt ngại trước lo sau, chẳng được tự tại. Thiện, ác tuy khác biệt, chẳng thể đánh đồng nhất loạt được! Muốn thấu triệt cái Thể thanh lương, hăy đem toàn thể t́nh kiến định, tán, tịnh, uế” buông xuống th́ mới được!

 

* Thư gửi huynh Quy Nhất

 

          Chim ắt phải học bay, sau đó lông vũ mọc đầy đủ. Thuyền ắt phải học chèo, sau đó mới vượt sông ng̣i. Tùng, bách ắt phải trải qua tiết Đông, sau đó mới vững vàng, kiên cố. Hành nhân ắt phải lấy Phật, Tổ làm điều mong mỏi của chính ḿnh, sau đó sẽ thành Phật, thành Tổ. Nếu dùng cái nhân ngờ vực như cáo, lấp ló như chuột, để mong cầu cái quả “bước đi như sư tử, ngoái nh́n như voi”, sợ là chẳng thể được! Phát đại Bồ Đề tâm, khiến cho bi trí cân bằng th́ mới được!

 

* Thư gửi Oánh Nhiên

 

          Hào kiệt lập thân, quyết lấy phá ngă chấp và pháp chấp làm chuẩn đích. Ngă chấp chẳng phá, chắc chắn chẳng thể làm bậc chí nhân ngàn đời được. Pháp chấp chẳng phá, chắc chắn chẳng thể hoằng dương chánh pháp của Như Lai, tài năng, khí phách lừng lẫy một đời được. Cần phải mở nhăn giới ngàn đời, thành tựu học thức ngàn đời, th́ mới chẳng phụ linh tánh của chính ḿnh. Nếu không, chỉ giống như cỏ mùa Xuân tươi tốt, rốt cuộc chẳng thể cứng cỏi như tùng, bách.

 

* Thư gửi Bất Vong

 

          Nhiệm vụ trọng yếu bậc nhất của người học là phải quyết trừ tập khí. Quả thật là dùng pháp viên đốn để trừ sạch tập khí cũ. Gió mạnh thổi cát, quả thật chẳng gian nan, hiểm trở. Nếu tập nhiễm chẳng trừ, đàm huyền thuyết diệu sẽ là hữu danh vô thật. Sợ rằng đạo của ngài Thiên Thai, Kinh Khê chẳng phải là như vậy! Thuốc đắng giă tật, những người có bệnh đều cùng kham uống, đừng để huệ mạng của Như Lai chết yểu nhé!

 

* Thư gởi Nhiếp Tam

 

          Thường thấy nhiều người có đủ loại chướng nạn đối với chuyện thù thắng, như tục lụy, bệnh khổ, cha mẹ, trưởng bối, quyến thuộc, vô lượng ràng buộc gây trở ngại, cắt đứt duyên lành, phí uổng ḷng tin tưởng, ngưỡng mộ, hoài băo tốt lành chẳng được thỏa. Nhưng người không có chướng nạn, ngược lại ḷng tín mộ hời hợt, cạn cợt, quần áo xộc xệch, tay dơ cầm kinh, giống hệt như gă học tṛ bần hàn đối với cử nghiệp. Lại c̣n chỉ nhớ danh ngôn, chuyên thích bám sát từng câu, hiểu nghĩa theo mặt chữ; cam tâm khiến cho tam thế chư Phật bị oan uổng. Móc lợi, mua danh, vĩnh viễn trái nghịch đạo xuất yếu Nhất Thừa, không chỉ là đă tới núi báu mà quay về tay không. Đúng là “sợ khó mặc ca-sa lần nữa, nhân duyên tốt thành nhân duyên ác” chính là nói về điều này!

Như Lai thuyết giáo, chư tổ hoằng kinh, đều nhằm mở mắt cho chúng sanh, làm cầu bến trong thuở kiếp trược. Chẳng chú trọng hướng vào đó, sẽ là tu mù, luyện đui. Nay muốn chẳng phạm tập khí ác của đời Mạt, chẳng phụ cái nhân cũ và duyên trong hiện tại, th́:

- Một là cần phải tin cảnh giới của chư Phật, mỗi người chúng ta ai nấy đều sẵn có, vốn chẳng sai biệt, chẳng sanh lui sụt, khiếp nhược.

- Hai là phải ngưỡng vọng chư Phật. Hăy hổ thẹn chính ḿnh có linh tánh, câu nào cũng đều quy về chính ḿnh. Chớ nên kể chuyện ăn, đếm của báu!

- Ba là phải trống ḷng, ưa chuộng điều thiện. Hễ ai hay hơn ta đôi chút, sẽ đều là thầy bạn.

- Bốn là phải nên bi mẫn hết thảy. Phàm những ai có thể đem ư này để răn nhắc họ, bèn chẳng tiếc sức rát miệng.

- Năm là khoan dung với người khác, nghiêm khắc với chính ḿnh. Phàm đối với những kẻ chẳng đúng pháp, đều nên sanh ḷng thương xót, chớ thấy lỗi của họ. Những người học trong thời gần đây, hễ thấy người khác buông lung, mà ḿnh chẳng xuôi theo họ, bèn sanh ḷng kiêu mạn. Đó đều là tăng trưởng sanh tử, đáng sợ thay!

 

* Thư gửi huynh Như Thị

 

          Huynh đoạn dục, trừ ái, cố nhiên là phải có phương cách gay gắt, nhưng điều thân, bảo vệ chúng sanh th́ vẫn c̣n thiếu phương tiện. Hướng vào trong, hăy mở rộng hoài băo để dưỡng thần; ngoài th́ suy xét thấu hiểu t́nh đời để tiếc phước. Căn bệnh ấy chưa chắc đă chẳng phải là duyên nhị lợi.

 

* Thư gửi Trần Mân Chiêu (hai lá thư)

 

          1) Tháng Tám, sư Tinh Cốc quy Tây. Tháng Chín, sư Bích Như từ trần. Trong một tháng, mất đi hai bạn thâm giao, đều là bậc rường cột trong pháp môn. Đau ḷng thay! Tôi thường nghĩ đại sự nhân duyên, nếu chẳng phải là Định Huệ trang nghiêm, bi trí cùng vận dụng, quả thật khó thể thỏa đáng trong một đời được! Thầy Tinh Cốc huệ lực có thừa, nhưng Định lực không đủ. Thầy Bích Như Định Huệ cân bằng, nhưng bi nguyện chưa sâu, đều chẳng tránh khỏi thiếu sót công án. Nh́n vào những người cùng mặc áo thâm, hiếm có ai tâm v́ sanh tử, huống hồ Bồ Đề tâm! Trời, người giảm bớt, tam ác ngập tràn, sao có cùng cực? Ṭa nhà lớn sắp nghiêng, một cột khó chống đỡ. Chỉ có người nhất định có thể thắng trời, thề sẽ xoay chuyển sự khó khăn trong thế tục, làm chậm lại sự gấp gáp trong thói đời, vứt bỏ danh lợi, tuyệt trừ ồn náo, ǵn giữ thâm tâm. Phải dùng hoằng nguyện để vận dụng sức lâu bền, bất biến, ngơ hầu chẳng thẹn với người bảo bọc đứa con côi[49]. Nguyện cư sĩ đoạn trừ cái tâm dính dáng tràn lan, giảm bớt những chuyện chẳng cần gấp, dốc chí suy nghĩ những điều gần gũi, tự đạt được bản lănh sâu xa để mong cùng báo ân Phật, chẳng dùng gươm báu chém bùn, chẳng lấy bảo châu bắn sẻ. Đấy chính ḷng thành thiết tha của kẻ hèn này!

2) Một hạt cải che trời, một hạt bụi phủ đất, chữ qua ba lần chép, chữ Ô () biến thành chữ Yên (), Phật pháp bị suy hao, do đấy mà dần dần xảy ra, chẳng phải là thiên ma và ngoại đạo có thể phá được! Phá hoại cơ nghiệp nhà Châu là do Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công. Đạo b́nh trị cơi đời biện định nghiêm ngặt vương đạo và bá đạo[50]. Bận ḷng chia thành hai cái ải nghĩa và lợi, thấy, nghe, nói năng, cư xử chẳng giữ lễ chân thật; vậy th́ cái hạnh để khắc trừ oán, dục sao có thể đạt được? Tôi dốc chí mong ẩn cư, nhân định thắng thiên. Đây thật sự là mỗi chữ đều là huyết lệ!

 

* Thư gửi Hàn Liên Châu

 

          Bà Vi Đề Hy do con trai ác nghịch mà dấy lên tịnh nghiệp chánh nhân, Khánh Hỷ (A Nan) dùng nhiễm duyên[51] để dẫn khởi kinh Lăng Nghiêm. Ác nhân duyên là hảo nhân duyên, sẽ chuyển họa thành phước do mỗi người chú ư. Nếu thuận theo Biến Kế phân biệt, trên tuyết lại thêm sương, oán kết có thuở nào xong! Nếu thông đạt nhân quả bao kiếp lâu xa, oán thân trong hiện tại đều chẳng phải do trời giáng xuống, đất nẩy ra. Dùng cái tâm từ bi, nhẫn nại để điều đ́nh, giải thích, dùng cái nh́n “[mọi pháp hữu vi đều như] mộng huyễn” để tiêu trừ những t́nh kiến vướng mắc, chưa chắc [những mối quan hệ ấy] không phải là một phương tiện giúp chính ḿnh rèn tâm luyện tánh, tỏ lộ chân thường. Tục ngữ có câu: “Ngă như thế nào th́ phải học đứng lên từ đó, đèn chẳng xén bấc sẽ chẳng sáng, chuông không gơ chẳng kêu, đá nơi núi khác có thể dùng để mài ngọc”. Bùn lầy sanh hoa sen, thần kỳ xuất hiện từ thối nát. Cảnh tượng nơi bổn địa của chúng ta chôn giấu kín đáo, căn môn ẩn núp, không lúc nào chẳng thôi thúc toan hiện, hơi nhờ vào ngoại duyên vừa tác động, sẽ nứt toác mà tỏa rạng. Nếu chẳng chịu hướng theo đấy để lănh hội, Phật giới liền thành ma giới, như sương, tuyết, băng lạnh, tùng, bách càng thêm tươi tốt, các cỏ cây khác đều bay màu. Lỗi ở chính ḿnh, chẳng tại cảnh. Hơn nữa, nhân giả tuy bỏ tỳ-kheo và Sa Di Luật Nghi, nhưng Đại Sĩ Mộc Xoa (Bồ Tát giới) cố nhiên nên ǵn giữ, nương vào Bồ Đề giới quang ấy th́ mới có thể chịu đựng được sự khinh mạn, tiêu nạn. Nói kiểu này tợ hồ viễn vông, nhưng sự thật là như thế đó. Mong hăy suy nghĩ cặn kẽ, tận lực mà hành.

 

* Thư gửi Tu Nhă Pháp Chủ

 

          Vân Thê đại sư nói: “Cổ nhân trước tác phần nhiều vào lúc tuổi già. Ấy là v́ đạo rộng không bờ bến, gặp người bất tận. Các vị tạo sớ luận đời trước dốc cạn tinh thần một đời, thông thạo rộng răi học vấn trong ngoài, mới có được một hai tác phẩm lưu truyền cho đời, vẫn chẳng tránh khỏi bị hậu hiền chê bai, bài bác”. Huống hồ rơm rạ nơi tai miệng nhất thời mà muốn lưu truyền trong nhân gian ư? Cần phải thấy đến nơi, dưỡng đến chốn, do an cư, vốn liếng sâu dày lưu xuất, ắt sẽ rạng trời, rực đất, ngời xưa, ḷa nay, chẳng phải là ở ngoài bổn phận! Tỳ Ni càng chẳng dễ do mấy lời, vài chữ mà trước tác. Ví như lễ nhạc, chinh phạt từ thiên tử lưu xuất; nếu có chút nào tiếm đoạt, lén trộm, tội ấy chẳng nhỏ. Tôi đính kèm Truyền Phật Tâm Ấn Kư Chú[52] để tŕnh lên ông xem, ông này (người soạn tác phẩm ấy) học vấn lẫn hiểu biết đều phong phú, giải lẫn hạnh đều xuất sắc, kham làm bậc tác gia trong thời gần đây. Hăy trống ḷng nghiền ngẫm, sẽ biết chưa dễ đạt được như vậy!

 

* Trả lời Tŕnh Quư Thanh

 

          Pháp môn chẳng suy v́ không có ngoại hộ, mà suy v́ nội bộ chẳng ǵn giữ. Chủ tŕ pháp môn th́ trước hết phải nhận định phương hướng rơ ràng, nghiêm ngặt. Sau đó, tùy thời, tùy sức mà hưng khởi huyễn sự, đều thuộc vào Phổ Hiền Hạnh Môn. Hễ có đôi chút dính dáng tâm danh lợi thế gian, Phật pháp chỉ thành pháp thế gian, thật đáng buồn sâu đậm!

 

* Thư trả lời Viên Văn

 

          Như Lai cuối cùng lấy “phù luật, đàm thường” làm tông. Nếu phế Sự bàn Lư, Lư trở thành chẳng có. Các vị như Trí Giả, Kinh Khê, không vị nào chẳng giới hạnh như băng, sương, mới kham nêu gương ngàn đời. Há có thể dùng đồ chứa chất độc để đựng đề hồ ư? Kẻ chẳng ra ǵ này tuy thoạt đầu nhúng chàm nơi Tông Môn, vẫn dốc ḷng nơi vườn giáo. Nay chẳng thể không lấy tŕ giới làm nhiệm vụ cấp bách bậc nhất, lại thấy những hiểu biết sai lầm về Luật học so với Thiền và Giáo càng nhiều hơn, bèn soạn Yếu Tập để thuận tiện dạy người chẳng hiểu biết. Bỏ lối ṃn do cả cơi đời đều hướng theo, noi theo đường lối mà những kẻ có vai vế trong thời này đều chê trách, người biết nỗi khổ tâm của tôi chỉ có Như Lai! Nhân giả giới lẫn thừa đều gấp, sẽ được Như Lai sai khiến, [khiến cho] pháp vận có thể văn hồi, mừng rỡ chẳng thể ngủ được!

 

* Thư gửi Vạn Uẩn Ngọc

 

          Quư địa thiếu khuyết Văn Huân đă lâu, hạn chế sự thấy nghe. Nếu kiến thức hủ bại của Tống Nho c̣n một mảy chưa sạch, sẽ chẳng thể đàm luận Phật pháp sâu xa. Huống hồ ở trong chướng ngại hủ bại mà toan thương lượng Tông, Giáo chân chánh, quả thật rất ư là khó! Thà dùng trăm ngàn đao bén chọc nát tai, trọn chẳng nỡ nghe nói “Phật là người do phương tiện mà nói lời dối gạt”. Thà dùng trăm ngàn đao bén cắt phăng cái lưỡi, trọn chẳng chịu nói “Phật chấp nhận do phương tiện mà nói pháp dối gạt”. Thà dùng trăm ngàn đao bén bằm nát tâm can, trọn chẳng thể hiểu kinh Phật giống như ngụ ngôn. Lời ấy nếu có một chữ nào chẳng xuất phát từ chân tâm, không chỉ là chết rồi sẽ đọa vào ngục Kéo Lưỡi, mà cái lưỡi trong hiện đời cũng sẽ nát hoại. Hăy nên biết: Đức Đại Thánh Tuyên Ni (Khổng Tử) nếu đem so với đức Phật, sẽ như ngôi sao bé tí so với vầng trăng tṛn, đốm lửa đem so với cả cánh đồng cháy rực, sông ng̣i so với biển cả, lănh tụ địa phương so với triều đ́nh. Nếu chẳng thể tin lời này, sẽ là kẻ báng Phật, chẳng thể nói là tin Phật được!

 

* Thư gửi Vương Giản Tại

 

          Bậc quân tử thời cổ, v́ tạo lập chuyện trong thế giới, bị một nhà chê trách c̣n chẳng đoái hoài, cho đến cả thiên hạ chê trách, vẫn chẳng đoái hoài. Huống hồ mưu cầu đại pháp xuất thế là mưu kế sâu xa trải bao kiếp nhiều như vi trần mà có thể chỉ hạn chế trong tai miệng một thời, chiều theo t́nh người trong thói tục ư? Cư sĩ chẳng phải là không có chí nguyện, chỉ là c̣n thiếu sức hiểu biết, muốn mở mang sự hiểu biết ngàn đời, ắt cần phải xem Quy, Giới (Tam Quy, Ngũ Giới) như Thái Sơn, xem cơi đời như lông hồng, ngơ hầu làm trụ đá giữa ḍng. Nếu không, chẳng thể xưng là hào kiệt được!

 

* Thư gửi Phan Giới Như

 

          Tài, sắc, sân, mạn, thanh trược hơi khác nhau, nhưng đều cùng là mười tập nhân (cái nhân của tập khí), cùng cảm sáu thứ giao báo[53]. Nếu phối ứng riêng nhân quả, mạn thuộc về Tu La, sân thuộc vào địa ngục. Càng đáng sợ hơn là tự ưu đăi ḿnh, trách móc, tệ bạc với người khác, ḿnh đă có rồi mới cầu cho người khác có. Nếu ḿnh không có, chẳng mong cho người khác có. Tuyết Lăng đại sư nói: “Chớ nên dùng thánh hiền để uốn nắn con người, [mà cũng] chẳng thể buông lung mặc t́nh”. Những lời ấy đều là thuốc tốt lành đúng với chứng bệnh của cư sĩ. Mong hăy luôn luôn uống [thuốc ấy], ḥng làm bằng khoán cho Liên Bang!

 

* Thư gửi Hồ Viễn Chí

 

          V́ Thiền lâm mà t́m chủ nhân, do nguyện hoằng dương, hộ tŕ mà tận lực thương lượng sắp đặt, tự biết là sáng suốt. Trộm nghĩ đối với người đảm nhiệm vai tṛ khởi xướng[54], chẳng bằng cử người hiền đảm nhiệm. Có Quư Hiền lăo sư là đích tử của ngài Vân Thê, tuổi tác lẫn đức hạnh đều cao, từ và nguyện cùng rộng, dùng lễ cung kính nghênh thỉnh, chắc Ngài sẽ chấp thuận. Bần nạp cùng với thầy Quy Nhất rút thăm ở Động Đ́nh, đă hứa an cư, Luật chẳng cho phép sửa đổi. Lại c̣n chính ḿnh bận chuyện, động tĩnh chẳng trở ngại, nhưng viết sách, lập ngôn, ắt cần phải có hoàn cảnh yên tĩnh. Nạp tăng có sở trường viết lách, nhưng ứng tiếp, thù tạc kém cỏi. Nếu chấp thuận hay từ chối không khéo, sẽ là ưu lẫn khuyết đều hỏng. Huống hồ Luật học đă bị hiểu sai lạc gần một ngàn năm, hễ trừ khử điều sai trái, uốn nắn thói tệ, sẽ thành trái nghịch thế tục, chỉ đành lánh ḿnh trong núi sâu, tụ họp những người thật sự có cùng chí hướng ḥng làm kế truyền đăng. Nếu muốn lưu hành khắp thiên hạ, sẽ phạm vào sự húy kỵ của đương thời, họa chẳng lường được!

Hoằng thệ Đại Thừa do khoan dung mà thành to lớn. Trụ tŕ Tăng Bảo do được đề cao, tôn trọng quá cục bộ, đă đau đớn trở thành thói tệ hữu danh vô thực, ắt phải tuân theo phương châm “quư tinh ṛng, chẳng quư nhiều”. Nếu sống trong một ngôi chùa nổi tiếng, kẻ cầu giới ắt nhiều, hễ nghiêm khắc chọn lựa [giới tử xứng đáng] sẽ thành đầu mối chuốc oán. Nếu dễ dăi chấp thuận, sẽ là khởi đầu cho hoại pháp. Tiến thoái đều lúng túng, sao có thể kham được?

Than ôi! Hiện thời người trong thiên hạ xưng là Đốn, xưng là Viên, xưng là Đại Thừa, đầy ắp trong nước. Chỉ riêng một mạch Thanh Văn không chỉ xếp lên gác cao, mà c̣n bị xem thường như cỏ rác! Nhớ khi xưa lúc đức Thế Tôn cầm cành hoa giơ lên, hiện vẻ mỉm cười, thật sự là ai vậy? Thiền sư Linh Nguyên Duy Thanh nói: “Biến những ǵ thế tục coi là khó khăn thành dễ dàng, làm chậm lại sự gấp rút trong thói đời hiện thời”. Tôi tạc dạ lời ấy đă lâu, người sầu đừng hướng về người đang sầu mà nói. Nói với người sầu, nỗi sầu muộn sẽ giết người. Cư sĩ có mắt kim cang, thăm ḍ nguồn cội biển pháp, cũng nên chấp nhận lời ấy!

 

* Thư gửi thầy Kim Đài

 

          Hỏa dục (hộ-ma, hỏa cúng dường) trong đàn tŕ chú, trong cách nói của Tăng và tục chẳng nhất trí. Bởi lẽ, chú đàn (đàn tràng để tŕ chú) thanh tịnh chẳng cho phép nữ nhân được bước vào, cũng chẳng nên cho tăng, tục tùy tiện bước vào. Người vào đàn phải trai giới, tắm gội th́ mới hợp chế định. Lại nữa, thuyết “chú tâm” do ngài Trường Thủy đề xướng, nhưng trong lời Sớ cũng chẳng dám xác quyết tự cho là đúng. Đă chẳng có kinh văn để làm căn cứ, ắt phải nên đi nhiễu đàn một trăm lẻ tám lượt là tốt nhất. Đàn tràng vô thượng tại Chấn Đán (Trung Hoa) chỉ có hai nơi, được trời rồng cùng ǵn giữ, chư Phật cùng nghĩ nhớ. Sau khi tái tạo, mong hăy sao lục lời này!

 

* Thư gửi Giới Minh

 

          Ông nay sáu thời tinh tấn, tôi cảm thấy vui mừng, an ủi. Cần phải biết: Đấy là phước bậc nhất trong thế gian, thọ dụng bậc nhất, thiên ma, quỷ thần đều e dè. Ắt phải chiết phục t́nh ư, dùng ba phần cảnh chẳng như ư để tự rèn luyện th́ mới là pháp khí, mới có thể văn hồi định nghiệp. Hăy gắng lên!

 

* Thư trả lời huynh Linh Ẩn

 

          Sống th́ cầu dốc chí ẩn cư, chết th́ hạ hạ phẩm văng sanh; đó là kết cục đă định của đệ. Huynh đạo nhăn rơ ràng, chí lực dũng mănh, bén nhạy, đời này ắt hoàn tất đạo nghiệp, nhưng các tập khí thuộc loại cơm cháo, tập khí thích hưởng thụ an nhàn, thô phù, hư luận, tập khí tính trước lo sau, mỗi mỗi đều phải thẳng thừng cắt đứt th́ mới có thể tạo lập cương vực thánh hiền. Đấy lại càng là những điều mà kẻ chẳng ra ǵ này khăng khăng biết thân, biết phận. Muôn vàn mong thầy Cừ hăy cứng rắn làm chủ tể đối với môn Tịnh Độ, giống như Hàn Tín lập trận dựa lưng vào nước[55], đừng sanh một niệm e sợ chẳng thể văng sanh. Hết sức ghi nhớ nhé!

 

* Thư trả lời Tiền Nguyên Xung

 

          Cùng là một pháp môn, nhưng nội hộ và ngoại hộ vận dụng mỗi đằng một khác. Nội hộ tŕ biện định tà chánh, chẳng thể không nghiêm ngặt. Ngoại hộ giữ trách nhiệm kim thang[56], chẳng thể không khoan dung, giống hệt như thợ giỏi tách rời ngọc và đá, giống hệt như ném chuột phải kiêng vỡ đồ. Nói chung, lấy chuyện hoằng dương, hộ tŕ chánh pháp làm bổn hoài, dù thay đổi địa vị vẫn đều như thế. Chuyện nghiệp chướng chẳng ra ngoài nhân quả. Lư nhân quả thống nhiếp mười giới. Kinh Lăng Nghiêm lấy “bất sanh bất diệt” làm cái gốc để tu nhân, sau đấy mới tu chứng viên thành quả địa. Pháp Hoa dùng Nhất Thừa nhân quả làm tông. Quán Kinh nói “tin sâu nhân quả, chẳng báng Đại Thừa” chính là thượng phẩm trung sanh, tức là bên Giáo rộng dùng nhân quả làm cốt lơi đàm luận.

Thiền môn tưởng lầm nhân quả chẳng phải là lẽ hướng thượng, Lư và Sự đều mê, đêm dài chẳng sáng. Không chỉ mê muội đối với ư chỉ của Phật, mà c̣n trái nghịch Nho Tông. Kinh Dịch nói “tích thiện dư khánh” (chất chứa điều thiện th́ niềm vui có thừa), kinh Thư bảo “tác thiện bách tường” (làm thiện giáng trăm điều tốt lành), há có phải đều là cách nói dành cho kẻ ngu ư? Người nghị luận chánh đáng chẳng mưu cầu lợi lộc, người có ḷng nhân hiểu đạo sẽ chẳng cậy công, đúng là cái học chân thật để tu thân lập mạng vậy. Trọn chớ nên nói “chẳng đứng dưới vách tường sắp nghiêng sụp”[57] là biết mạng! Nay dùng thiện tâm dũng mănh để văn hồi nghiệp chướng quyết định đă tích tụ xưa kia. Như mũi tên rời khỏi dây cung, vượn tay dài có thể bắt lấy. Vượn trí Bồ Tát cũng giống như thế, dùng tay phương tiện đón lấy mũi tên định nghiệp, khiến cho nó chẳng rơi xuống đất, cũng chẳng ghim vào thân. Đấy chính là chân thật sám hối. Không chỉ là những điều mong cầu trong pháp thế gian đều được như nguyện, lại c̣n tăng trưởng chánh tín, khai phát Bồ Đề. Do bệnh mà có được toa thuốc tiên, không chỉ trừ bệnh mà c̣n có thể phi thăng!

 

* Thư căn dặn thầy Triệt Nhân

 

          Tôi hy vọng nơi ông rất cao, đừng tự ty, rất xa, đừng tự [hạn chế ḿnh nơi ư hướng] gần gũi, rất rộng, chớ tự hẹp ḥi, rất lớn, chớ tự nhỏ nhoi, rất tôn quư, đừng tự hèn, rất trọng, đừng tự khinh, rất ổn, đừng tự hời hợt, rất miên mật, đừng tự sơ sài, rất vi tế, đừng tự bỉ lậu, rất diệu, chớ tự thô. Tự mong mỏi đạt được như thánh hiền là cao. Vô số trần kiếp tức là xa. Trọn khắp biển các cơi nước là rộng. Siêu việt Quyền, Tiểu là lớn. Chẳng nhiễm danh lợi là tôn quư. Chẳng khinh dễ, qua quít là trọng. Đầu đuôi hệt như nhau là ổn. Suy xét tinh tế, tận lực thực hiện là vi mật. Cùng lư tận tánh là vi tế. Khai Phật tri kiến là diệu.

Than ôi! Luật Môn suy bại th́ đại pháp cũng nguy, do chẳng trọn đủ mười đức trên đây! Hiếm ai chống chọi lại làn sóng suy đồi ấy, hăy gắng lên! Thứ nhất là cần phải nương vào Niệm Xứ để hành đạo, tùy văn nhập quán. Hễ đụng chuyện bèn thấu hiểu cái tâm, lấy tâm quán làm chủ, xem Giáo làm trợ. Thứ hai là cần phải chuyên xét lỗi ḿnh, đừng trách người khác sai trái. Thứ ba là cần phải theo đuổi học vấn thoát sanh tử, đừng theo đuổi học vấn xu phụ thời thế. Thứ tư là cần phải ḥa quang đồng trần, mong chớ khoe khoang, bày tṛ khác lạ! Muốn xem giáo điển, hăy nên đọc trọn các bộ Huyền Nghĩa và Thích Thiêm. Kế đó là Thập Bất Nhị Môn Tường Giải[58]. Kế đó là năm trăm quyển Luật Tạng và Đại Thừa Luật năm mươi quyển. Kế đến là sách [Ma Ha] Chỉ Quán và Phụ Hành. Kế đến là các kinh Tiểu Thừa như kinh A Hàm v.v… Sau đấy mới xem đến các kinh luận khác. Nếu gấp gáp tu chứng, chỉ có Luật Tạng chẳng thể không duyệt, những thứ khác đều tùy ư.

Vạn phần chớ vọng tưởng xuất đầu lộ diện, chỉ nên chân thật tu hành, sẽ giải quyết sanh tử ổn thỏa. Đừng nên sửa đổi pháp danh của người khác. Vị thầy Thế Độ và thầy truyền giới, dạy giới, truyền pháp đều có t́nh cha con [với người cầu thế độ]. Sửa pháp danh chính là khinh miệt vị thầy Thế Độ, tổn thương lư, trái nghịch t́nh, vô đạo hết mức! Bậc tri thức xưa nay, chẳng nghe nói có pháp phái. Hiềm rằng đời Mạt coi đó là thân thiết. Tôi nghe người thọ giới trước bèn ngồi trước, người thọ giới sau bèn ngồi sau, chẳng nghe nói người được đặt pháp danh trước th́ là sư huynh, người được đặt pháp danh sau là sư đệ. Đă coi pháp phái là trọng, ắt coi giới pháp là khinh; chú, bác, em, cháu, nghiễm nhiên chẳng khác thế tục. Đáng thẹn, đáng nhục lắm thay! Phải nên thống thiết răn dè!

Chẳng được cong vạy, xu nịnh kẻ quyền quư. Cần phải như gia phong của Đạt đại sư[59]. Nếu chẳng thể, thà chết, chẳng xuất đầu lộ diện. Chớ nên thâu nhận nhiều đồ chúng, nuôi nhiều sa-di, nhận nhiều kẻ xin y chỉ. Giáo huấn chẳng chu đáo, ắt mắc lỗi hoại pháp. Rất kỵ làm các chuyện như biếu xén hàng bạch y v.v… Rất kỵ không biết hổ thẹn, đến nhà người ta niệm kinh, bái sám, dần dần trở thành ứng phó. Ngay như khi đàn việt đến sơn môn làm phước, cần phải dạy họ tôn trọng Phật pháp. Đừng làm theo khuôn sáo của các tùng lâm trong hiện thời! Đối với vật dụng của vị tỳ-kheo đă mất, hăy nên y theo Luật chia cho hiện tiền Tăng, chớ nên học theo thói cổ xướng[60] tệ lậu! Những chuyện khác chẳng thể nêu trọn, đều dùng Luật làm quy tắc chỉ đạo th́ sẽ chẳng phạm lỗi. Chẳng nghe lời tôi th́ chẳng phải là em tôi vậy!

 

* Thư trả lời Hồ Thiện Trụ

 

          Tự lợi, lợi tha, cần phải biết người, biết ta, biết thời, biết thế. Nạp tăng tôi thường tự xét, cơi đời bảo tôi tŕ luật bậc nhất, quả thật càng thêm hổ thẹn, sợ hăi! Bất luận Tam Tụ hay Thập Chi, tám vạn [oai nghi] vi tế, ngay cả hai trăm năm mươi giới, tôi chưa hành được một phần vạn! Lại c̣n bất luận giá tội, ngoại trừ hai điều uống rượuăn quá Ngọ, các tội khác đều chưa tịnh. Kể cả bảy chi thuộc tánh tội, chỉ có thể tránh khỏi “cố ư giết hại”, chẳng thể ngăn ngừa phạm lầm. Chỉ có thể chẳng lầm lạc nhân quả, chẳng dám lấy vật thuộc Tam Bảo làm của riêng, nhưng chưa thể “tiền để mua gạch th́ sẽ chẳng dùng để mua ngói” như cổ nhân. Tuy giữ thân chẳng phạm, chưa thể mộng mị đều thanh tịnh. Chẳng nói dối, nói đôi chiều, nhưng chẳng thể không có ác khẩu, nói thêu dệt! Ấy là v́ đă nhiều kiếp thừa cấp giới hoăn, tập quen thành tánh, hổ thẹn khôn cùng!

Đă lui xuống làm Sa-di, càng chẳng có lẽ nào hoằng giới. Chuyện thuộc tông thừa, lúc chưa xuất gia, tôi đă lưu tâm. Khổ công tham cứu mười năm, mới hơi biện định chân, ngụy, chẳng dám dùng Giáo, Luật xen tạp. Đường lối Giáo Quán cậy vào túc nhân, hơi thấy được chỗ sâu thẳm, nhưng chẳng dám coi là chân thật, vẫn tự ngờ, sợ sệt. Nhưng hai đường lối ấy đều chẳng hợp thời nghi, chỉ có khổ hạnh trong núi, thay cho hết thảy chúng sanh cầu tiêu túc nghiệp, trừ chướng mà thôi, chẳng dám cố chấp vậy! Chi phí đi đường vốn chẳng nên lănh, nhưng do tiết lạnh bức bách, đổi lấy áo ấm, cũng thấy là nhân quả chẳng rơ ràng lắm. Đó là một mối sơ sót, hoăn đăi trong giới luật vậy!

 

* Thư trả lời Trác Tả Xa

         

          Vào núi chẳng phải là kế ẩn ḿnh, [mà do] đau xót nghĩ đại pháp nghiêng ngửa, suy đồi, sức mỏng manh khó cứu, đành đợi nhân định thắng thiên vậy! Do bị ông lầm lẫn tiến cử với Diệp Tông Bá[61], bảo là tôi Tông Thuyết đều thông, giải lẫn hạnh đều đạt, thật sự càng thêm hổ thẹn! Do hiện thời, những người xưng là “Tông Thuyết đều thông, giải lẫn hạnh đều đạt” cố nhiên chưa tránh khỏi chẳng được như vậy! Nếu so với các bậc “Tông Thuyết đều thông, giải lẫn hạnh đều đạt” thời cổ, chẳng thể bén gót được! Mấy năm qua, tôi bị các đạo hữu lôi kéo, hư danh thịnh mà thật hạnh ít ỏi, nhiều lượt tính kế vào núi. Nay mới được toại nguyện nửa chừng, đang muốn đă ẩn sâu lại sâu hơn, há có thể v́ cư sĩ mà nhanh chóng thay đổi khí tiết ư? Chỗ ông Diệp xin đem nguyên thư hoàn lại.

 

* Thư trả lời Trần Mân Chiêu (hai lá thư)

 

          1) Ṭa nhà lớn chẳng phải do một cột chống đỡ. Những năm qua, chỉ có đạo hữu nghe theo lời khuyên, nhưng tập khí của chúng sanh mỗi người có sự thiên trọng riêng, chẳng thể như nước và sữa ḥa hợp. Nhắc đến chuyện ấy, huyết lệ đầm đ́a mà thôi! Tôi thường nói “kẻ bại hoại pháp môn chính là kẻ chống đỡ pháp môn”. Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công tôn nhà Châu mà đích thị là lư do khiến nhà Châu suy hoại. Thống thiết răn dè c̣n chẳng xuể, sao nỡ giẫm theo vết xe đổ ấy? Than ôi! Chí xuất gia thuở đầu là mong gấp đạt được thánh quả. Mười lăm, mười sáu năm qua, rốt cuộc trở thành luống uổng, thẹn trời, hổ đất, c̣n nói ǵ được nữa? Dẫu mười lăm, mười sáu năm hành cước, xé toạc da mặt, buông bỏ thân mạng, chỉ đối với Phật Bồ Đề đă biết rơ đường nẻo về nhà, nhưng thân khô, khí lụn, tiến lên khó khăn. Muốn truyền cho một người, đừng để Phật chủng cuối cùng v́ tôi mà đứt đoạn, vẫn rốt cuộc chưa gặp được ai! Than ôi! Đau ḷng cả trong lúc ngủ nghỉ, khóc măi mà thôi!

Ông ở trong hoàn cảnh khá khó khăn, đạo niệm càng kiên cố, tôi cảm thấy an ủi sâu xa. Thường thấy các loại ngoại đạo, tà mị, trí kém, nói năng thô lậu, vẫn cứ dùng lời ngon tiếng ngọt mê hoặc khiến cho thiên hạ hậu thế có người truyền thuật. Đại để là riêng có một loại tinh thần triệt để duy tŕ, huống hồ dùng đó để tŕ chánh pháp ư? Chỉ tự xét ḿnh, tự cổ vũ, bất tất phải cầu ai khác. Thuyền Tử[62] thân táng trong nước, Giáp Sơn[63] hoằng dương rộng răi đạo ấy. Ngài Kinh Khê dùng thân cư sĩ tham học nhiều năm, sau đấy mới xuất gia, suốt đời không lên pháp ṭa, sách lưu truyền muôn đời, chẳng thể ṃn diệt! Mơ gỗ của Tuyên Thánh, Mạnh Kha khéo biện định đều cùng loại như thế. Nguyện cư sĩ cùng biết ư ấy, chưa đỗ Tiến Sĩ, há đáng lo buồn? Tâm hăy nên siêng gắng nơi đạo nghiệp, thề lấy chuyện nối tiếp huệ mạng của Phật, Tổ làm nhiệm vụ cấp bách.

          2) Đại pháp bước vào mùa Thu, loạn thần, tặc tử trọn khắp thiên hạ. Gần đây tuy hơi suy, nhưng chánh pháp bị ṃn diệt, cảm thấy nguyên khí khá khó bề khôi phục, chưa thể mong cấp tốc được! Nạp tăng dùng tấm thân cô thần nghiệt tử, riêng ôm ấp trách nhiệm bảo vệ đứa con côi [của đức Phật]. Tuy cảm thương thấu tủy, chẳng thể không hùa theo phương cách của Ngu Trọng, Di Dật[64] thoi thóp hơi tàn. Cư sĩ kiệt lực hoằng dương, hộ tŕ tức là đại học vấn, đại tinh tấn, quư ở chỗ tự chú trọng mà thôi! Thánh lực, trí xảo, tuy khít khao chống đỡ nhau, nhưng chẳng phải do xảo lực mà đạt được, nhưng cũng trọn chẳng ĺa xảo lực. Sao bằng ông Ngô Lang Mai, chẳng dám khuấy động danh tự!

 

* Thư trả lời Trí Long

 

          Sau khi lánh khỏi thanh danh thế gian, tội đáng chết muôn phần, đă hối hận chậm trễ, những ngày tháng truyền pháp hạn hẹp càng phô tỏ sự vụng về, nhưng thọ dụng cả đời chỉ là một lời “nhiều hư chẳng bằng ít thật”, ngơ hầu chẳng đến nỗi đem thân báng bổ Tam Bảo vậy. Chuyện thoái giới cũng là do tôi làm tỳ-kheo hiện thời th́ có thừa sức, nhưng làm sa-di thời cổ th́ lại không đủ. Thà bỏ cái “có thừa” để hướng theo cái “chẳng đủ” vậy!

 

* Thư gửi Từ Vũ Hải

 

          Cư sĩ sanh trưởng phú quư, chẳng biết những chuyện khổ nhỏ nhoi trong thế gian, huống hồ nỗi khổ to lớn này! Nhưng bậc hùng tài, đại lược, can đảm, hiểu biết cao rộng, sẵn có thiên tư cái thế, có học vấn ngàn đời, ôm ḷng kiêu mạn, thông minh, chẳng để thiên hạ vào mắt. Đối với pháp thế gian và xuất thế gian, thô tâm, hời hợt, chưa nhập pháp môn vi tế trí rất sâu, chẳng do sự rèn cặp ác nghiệt này, sao có thể dự vào cương vực của thánh hiền, vào chỗ uyên áo sâu thẳm của Phật, Tổ?

Trời giáng trách nhiệm to lớn, ắt gieo những chuyện trái ngang. Đối với bốn chữ “động tâm nhẫn tánh”[65], chẳng ngại mười suy, trăm nghĩ, đó chính là pháp dược bậc nhất trong hoàn vũ vậy. Thượng cửu (vạch liền thứ sáu) trong quẻ Càn là Kháng Long Hữu Hối, nhưng “bất thực thạc quả” (chẳng hưởng thụ thành quả to lớn), chuyển thành “bất viễn nhi phục” (chưa đi xa đă trở lại)[66]. Tượng Từ lại nói: “Chí nhật bế quan, thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh phương” (tới ngày Đông Chí, cổ tiên vương liền đóng cửa, lái buôn chẳng qua lại buôn bán, vua chúa không ḍ xét các địa phương), tức ư nghĩa “tiềm long vật dụng” (rồng c̣n ẩn tàng, chưa thể hiện công năng của chính ḿnh). Đầy, vơi, biến hóa, thông đến đạo tột cùng, nơi thông bèn dấy lên tắc, do tắc mà thành thông. Do đó, phép Quán trong tông Thiên Thai chú trọng chỗ khéo biết. Tôi hằng ngày v́ cư sĩ tŕ chú Đại Bi bảy biến, lấy thoát nạn làm kỳ hạn, vạn phần mong ông hăy tự yêu thương chính ḿnh mà gắng sức.

 

* Thư gửi huynh Linh Ẩn

 

          Nhăn quan, chí hướng, kiến thức của huynh đều đủ làm bậc lưu danh thiên cổ, nhưng chẳng thể lưu danh thiên cổ là do thiếu cốt khí cương quyết. Vận dụng cốt khí cương quyết để đối trị huyễn duyên th́ mới có thể hoàn tất đại sự. Đă có được Hoa Nghiêm Đại Sao, ư đệ là muốn duyệt kỹ một lượt, ḥng t́m chỗ thật sự phù hợp và khác biệt so với tông Thiên Thai, chứ bàn luận hời hợt ở ngoài cửa[67], chưa đủ làm chứng cứ. Nghe nói huynh đối với Thiên Thai Giáo Quán đă có tín nhập, càng nguyện huynh hăy lắng ḷng t́m ṭi thấu triệt tận nguồn cội. Thời gian vùn vụt, ngày một già suy, tự nghĩ lại mà đau ḷng, nào dám múa lưỡi!

 

* Thư trả lời Hạng Tịnh Tánh

 

          Kệ họa đáp lại rơi vào loại khẩu đầu tam-muội, rất giống như nghé con mới sanh chẳng sợ cọp. Cư sĩ vốn chánh tín, chuyên dốc, chân thật, mà cũng làm chuyện hư giả này ư? Cổ nhân nói lầm một lời, đọa làm thân chồn hoang năm trăm đời; há nên hư vọng bàn Bát Nhă? Chỉ gieo chủng tự kéo lưỡi ra cày, muôn phần mong hăy kiêng dè! Đừng coi đó là chuyện giỡn chơi b́nh thường! Phàm thi kệ th́ có thể viết, chứ những lời lẽ sáo rỗng luông tuồng, chớ nên phỏng theo! Để có thể dạo chơi nơi đế hương th́ cái tâm vâng giữ Quy Giới chẳng thể quên! Trong chốn bụi trần mù mịt, hăy học sống trong núi, gió bụi sao có thể nhuốm bẩn con người, con người nhiễm phải gió bụi đó thôi!

 

* Thư gửi Từ Vũ Hải (thư thứ hai)

 

          Đến chỗ ngụ cư tại Tuyền Châu, liền lấy thư của cư sĩ mấy năm qua ra xem, biết ông trong khổ duyên, đạt được lợi ích như thế. Trước kia, bần nạp tán thán tông Thiên Thai, cư sĩ chưa thâm nhập. Nay đă được như vậy hay chưa? Trong thư, lời nói với thầy Như Thị, mỗi chữ đều là kim vàng, khéo có cùng một nguyện v́ ông ta mà phát nguyện như nạp tăng, nhưng chẳng biết nguyện đă phát v́ cư sĩ có thích hợp tôn ư hay không? Phàm biết người th́ sáng suốt, tự biết th́ mạnh mẽ. Tự biết th́ sáng suốt, tự thắng ḿnh là mạnh mẽ. Cư sĩ có thể biết người khác, có thật sự tự biết chính ḿnh hay không? Nếu tự biết, có thể tự thắng hay không?

Sự huyền diệu trong tông Thiên Thai bàn luận chẳng xuể! Đối với “tu thân, chánh tâm” trong sách Đại Học, “cư dịch sĩ mạng” (thuận theo sự biến đổi của hoàn cảnh để cư xử phù hợp mạng trời) của sách Trung Dung, xin hăy nghĩ ba lượt. Ngũ dục, bát phong, thánh nhân tam giáo cùng quở trách. Một mảy phân, toàn thể là nhơ uế. Một tí TSương, toàn thể là độc. Đừng thấy điều thiện nhỏ nhoi mà không làm, chớ nghĩ là điều ác nhỏ nhặt mà chẳng trừ, th́ mới chẳng phụ đôi ba lượt lănh nhận Bồ Tát đại giới. Tông Thiên Thai nói: “Dùng bốn giới trước làm cái cảnh được quán, sáu phép Quán sau đó th́ Sự và Lư chính là lẫn nhau”. Người đời khinh miệt Sự mà vẫn muốn đề cao Lư sâu; chiêm nghiệm bèn biết cách nh́n ấy hư huyễn, chẳng có căn bản! Đă thiếu khuyết sự cảnh, quán cũng cậy vào đâu? Kinh Khê tôn giả nói như thế đó, mong hăy suy nghĩ tường tận!

 

* Thư gửi đại đức Triệt Nhân

         

          Hàng tỳ-kheo chân thật ít ỏi, chẳng được mấy người! Chẳng biết ngày nào sẽ được cùng trụ với năm vị tỳ-kheo đúng pháp? Giăi bày sơ tâm ngoại hộ của tôi như thế, nói đến đây, gan ruột đứt từng tấc. Tất cả chẳng dứt như chỉ liền một mạch, chỉ gởi cho túc hạ, muôn phần trân trọng, yêu mến. Hăy dưỡng đức, học rộng để quyết gánh vác, đừng là kẻ cuối cùng đoạn diệt Phật chủng, khiến cho tôi ôm ḷng tiếc nuối thiên thu. Hết sức mong mỏi! Xa cách ba ngàn dặm, chưa rơ Ngài dụng tâm như thế nào? Nếu chẳng thể niệm nào cũng tương ứng với diệu quán, ắt sẽ đánh mất lợi ích do được Văn Huân mài giũa cũng nhiều lắm thay!

 

* Thư gửi Hằng Như

 

          Tục ngữ có nói: “Người Hồ, người Việt cừu oán nhau, ngồi cùng một thuyền vượt sông, gặp nạn hiểm v́ gió nước, vẫn cứu nhau như tay phải và tay trái”. Thường nghĩ Phần Đoạn sanh tử khác nào gió to, sóng dữ, nhưng những người xuất gia do đố kỵ lẫn nhau, trí chẳng bằng người Hồ người Việt ngồi cùng thuyền! Chẳng có chi khác, do chẳng từng đau đáu nghĩ tới sanh tử vậy. Nay đă biết đau đáu nghĩ tới sanh tử, há c̣n dùng danh tướng thế gian để làm kế mưu sinh nữa hay chăng?

 

* Thư gửi Phi Huyễn

 

          Chuyện này sẽ ngày một thân thiết, ngày càng gần gũi, hay sẽ ngày càng xa, ngày càng lợt lạt? Nếu chẳng có bạn lành, thầy sáng kềm cặp, sợ sẽ dần dần thoái thất sơ tâm ấy. Cơi đời hiện thời đă là như vậy, đời mai sau có thể suy ra mà biết! Lặng im nghĩ ngợi, há có thể chẳng sợ hăi ư? Cần phải lắng tâm xem đọc, nghiền ngẫm sách Phật Đảnh Văn Cú (Lăng Nghiêm Kinh Văn Cú). Thấy chẳng thấu suốt th́ cũng cần phải gắng sức đọc. Chuột gặm quan tài, chắc chắn có ngày sẽ thủng! Đấy chính là Thoại Đầu, là công phu tham Thiền, là Ma Ha Chỉ Quán. Cần phải tin cho trót, giữ cho vững, th́ mới có thọ dụng chân thật. Hăy gắng lên.

 

* Thư trả lời Tịnh Thiền

 

          Pháp môn Tịnh Độ vốn bao trùm hết thảy Tông, Giáo, thâu trọn khắp hết thảy các căn cơ. V́ thế, trên là từ Phật, Tổ, thánh hiền trước tác cũng phong phú, rộng lớn nhất. Muốn trích lấy những điều tinh yếu để lợi ích các phẩm, cần phải thâu thập trọn các chỗ ưu việt, dùng tâm ngộ để chứng th́ mới có thể lưu truyền. Nếu đối với môn này, chưa đạt tới chỗ sâu thẳm, hăy nên chú trọng dốc sức tu, đừng vội vàng chú trọng trước tác. Độ người là chuyện trọng yếu, hăy lấy phương tiện trí huệ làm gốc. Hễ có trí huệ, sẽ có thể suy xét lư Quyền, Thật; xứng lư mà nói, nghĩa sẽ không ǵ chẳng trọn. Có phương tiện th́ sẽ có thể trang nghiêm văn chương, văn đúng như nghĩa, người xem đều vui thích.

 

Nay Châu Tập th́ lư chỉ được bảy tám phần, văn chương chỉ được năm sáu phần, có lẽ nên huân dưỡng sâu đậm, lại c̣n phải rèn luyện cho khéo. Ư nghĩa chu đáo, khiến cho người khác đọc kỹ, chỉ có Di Đà Sớ Sao, Long Thư Tịnh Độ Văn v.v… Sợ rằng sách Diệu Tông Sao c̣n chưa nghiên cứu cùng tột, xin khuyên ông hăy nghiền ngẫm kỹ lưỡng. Tham khảo các sách Thập Nghi, Hoặc Vấn, Tịnh Độ Chỉ Quy, Bảo Vương Tam Muội, Tây Phương Hợp Luận v.v… rốt cuộc sẽ được mở rộng tầm mắt. Sau đấy, dùng cái tâm từ bi quán sát cơ nghi ở phương này, chọn lọc một lời, nửa câu để lợi ích họ, công đức sẽ càng thù thắng!

 

* Thư gửi Vương Đông Lư

 

          Chuyện này tuy thẳng thừng, nhanh chóng, nhưng cũng rất quanh co, khúc chiết. Tuy b́nh dị, nhưng cũng hết sức tinh tế. Ông Ngô đối với chỗ b́nh dị, thẳng chóng đă tin tưởng, nhưng đối với chỗ quanh co, khúc chiết, tinh tế, cần phải đầu sào tiến thêm bước nữa! Đối với chuyện này, cư sĩ ắt phải dốc công đổ sức th́ mới có thể thăng đường nhập thất!

 

* Thư gửi Tuyết Hàng pháp chủ

 

          Điều phục, thủ hộ người khác chính là chỗ để điều phục, thủ hộ chính ḿnh. Điều phục một phần tập khí của chính ḿnh th́ mới có thể điều phục một phần tập khí của người khác. Coi người khác như chính ḿnh, xả ḿnh theo người, huyết mạch quả thật ở chỗ ấy. “Bản thân trẫm có tội, chẳng do muôn phương! Muôn phương có tội, tội nơi thân trẫm”[68]. “Ái nhân bất thân, phản kỳ nhân. Trị nhân bất trị, phản kỳ trí. Lễ nhân bất đáp, phản kỳ kính” ([Mạnh Tử nói]: Yêu mến người khác, nhưng người khác chẳng thân cận ta, phải tự xét chính ḿnh có thiếu ḷng nhân hay không? Cai trị người khác mà chẳng thể cai trị tốt đẹp, phải phản tỉnh chính ḿnh có trí hay không? Dùng lễ đối xử với người khác, mà người khác chẳng cư xử lễ độ lại, phải phản tỉnh chính ḿnh có đủ ḷng tôn kính hay chăng). Đứa trẻ ba tuổi đọc được, ông cụ tám mươi chẳng làm được! Chẳng trách người thọ giới Bồ Tát th́ nhiều, người hành đạo Bồ Tát hiếm hoi!

 

* Thư trả lời Đặng Tĩnh Khởi

 

          Tham Thiền, niệm Phật, khéo dùng th́ không ǵ chẳng phải là thuốc. Chẳng khéo dùng th́ không ǵ chẳng tăng thêm bệnh. Lại c̣n nếu chấp thuốc th́ là bệnh, hoặc mượn bệnh làm thuốc, mọi sự chẳng thể nhất loạt như nhau được, chẳng thể dùng vài câu để trọn hết! Sanh tử là chuyện lớn, Phật đạo huyền diệu. Nếu hiểu biết nửa vời, công phu nhỏ nhoi th́ c̣n chẳng nên việc, huống hồ cứ một mực chết cứng nơi câu văn ư? Hai câu “Thiền vốn chẳng tham, Phật vốn chẳng niệm” vừa là đề hồ, mà cũng là thuốc độc! Nay những kẻ réo trời, quở mắng Phật, Tổ, chính là đọa trong cái hầm “chẳng tham, chẳng niệm”! Nếu là chân tham, chân niệm, chắc chắn chẳng có thái độ ngông cuồng ấy!

 

* Thư gửi Tŕnh Dụng Cửu

 

          Tôi hằng ngày v́ cư sĩ tŕ bảy biến chú Đại Bi, suốt năm sáu năm chưa từng thiếu một ngày. Cư sĩ bảo tôi tŕ chú Chuẩn Đề, tôi sẽ tŕ giúp một trăm vạn lượt. Chỉ mong ông dốc ḷng tin tưởng chú lực chẳng thể nghĩ bàn, dứt bặt vọng tưởng nắm níu. Nếu một niệm vọng tưởng chưa tận, tức là chưa tin chú đến nơi, dẫu hai vị Đại Bi và Chuẩn Đề Đại Bồ Tát cũng chẳng làm thế nào được! Kẻ không ra ǵ này thuở mười hai, mười ba tuổi liền biết có đạo mạch thánh hiền; nay biết tuy đạt đến tối hậu, [đạo Nho] có khác với Phật pháp, nhưng nhập môn quả thật giống nhau. Nếu pháp thế gian hơi trái nghịch với đường lối của thánh hiền, ắt xuất thế chắc chắn chẳng thể nào là Phật, Tổ chân thật được!

Ngày nay chuyện hối lộ được thực hiện công khai, trượng phu thà suốt đời lênh đênh, thề chẳng giẫm theo dấu vết hèn kém ấy, ngơ hầu ngăn chặn được cơn sóng cuồng loạn trong muôn một. Nếu chẳng tránh khỏi đuổi theo sóng, chỉ mong cầu đạt được một lúc, oan uổng một tầm để đủ một thước, sẽ đi về đâu? Đấy hết sức chẳng phải là điều tôi mong mỏi nơi bậc cao minh. Ông mộng thấy được thiên thần trao thẻ, th́ đó là Đại Phạm Thiên Vương, chẳng phải là ngài Vi Đà! Nay có chín mươi chín bài thần sách trích từ kinh Đại Quán Đảnh Thần Chú[69], Nam Tạng lẫn Bắc Tạng đều xếp vào ḥm chữ Cung[70]. Hăy gấp lấy đó để lưu thông, đừng nên đổi rừng, đừng dùng Dịch Lâm[71] để cẩu thả cho xong trách nhiệm!

 

* Thư gửi Hành Thứ

 

          Tôi nhớ từ lúc mười hai, mười ba tuổi, đă coi đạo mạch ngàn đời (đạo Nho) là trách nhiệm của chính ḿnh, liền nhơn nhơn tự đắc. Thiên tử chẳng thể buộc làm bầy tôi, chư hầu chẳng thể buộc làm bạn bè![72] Huống hồ nay tôi được ghé dự vào Tăng Bảo, há thư từ, bái thiếp của tể quan trong thế gian có thể lay động được ư? Mang bệnh trong non sâu, đă chẳng nghĩ tưởng nhập thế gian. Dẫu nay bị huyễn duyên lôi kéo, lưu lạc nơi Chương, Tuyền (Chương Châu và Tuyền Châu), trọn chưa từng yết kiến một vị cư sĩ tể quan nào. Nếu vùng Thiều Trung chẳng bắt buộc sử dụng khuôn sáo thế gian ấy, có thể dung người nhàn tản phương ngoại chuyên dùng Phật pháp giáo hóa các phẩm, sai một người cầm thư của túc hạ đến, tôi sẽ đến đó. Nếu chẳng thể làm như vậy, đừng miễn cưỡng!

 

* Thư gửi Tự Trúc

 

          Ba bài tụng gửi kèm theo để ông xem. Ngôn ngữ văn tự là ngón tay chỉ mặt trăng. Người thật sự hiểu sâu xa đạo lư uyên áo nơi mỗi sự vật, chỉ có thánh nhân mà thôi! Tế Minh[73] suốt đời là con rối, toàn là diễn tả bằng ngọn bút, trọn chẳng an thân lập mạng nơi ngọn bút. Nh́n vào chiếc quạt trong tay tiên nhân, diều hâu đă vượt khỏi Tân La từ lâu rồi![74]

 

* Thư trả lời Vương Tư Cổ

 

          Lăo tử nói: “Vị học nhật ích, vị đạo nhật tổn” (v́ học mà ngày càng tăng, v́ đạo mà ngày càng tổn)[75]. Dịch Truyện nói: “Tổn, đức chi tu, Ích, đức chi dũ” (quẻ Sơn Trạch Tổn là tu đức, quẻ Phong Lôi Ích là đức càng dồi dào). Cư sĩ tinh lực tuy giảm, nhưng tín tâm, hổ thẹn càng tăng; đó chính là cầu, bến nơi biển khổ. Chẳng cầu tiến mà không bị thụt lùi, há chẳng phải là trong khoảng học vấn và tu tŕ ư? Phàm phu chẳng ai là không hiếu thắng, ham tiến lên, chẳng biết lấy lui làm tiến! Ngài Ca Diếp nguyện ở sau mọi người, chẳng vượt trước chúng sanh, bèn thành bậc tỵ tổ[76] ngàn đời. Bệnh tật chính là thuốc tốt lành cho chúng ta, tiêu tan hết sạch các vọng tưởng trong cơi trần hoàn. Thấy thấu suốt thân này hư huyễn, biết sâu xa quán môn “khổ, không, vô thường, vô ngă”, đều cậy vào có bệnh cảnh vậy! Nguyện ông hăy rộng ḷng nhẫn nại, an nhẫn, chẳng phiền bực, suy tưởng “tùy duyên tiêu nghiệp cũ”, tưởng “chuyển báo nặng thành lănh báo nhẹ”, tưởng “chịu khổ thay cho chúng sanh”, chính là chẳng v́ không được như người khác mà hổ thẹn.

 

* Thư gửi thiền sư Vĩnh Giác

 

          Pháp vận ngày một suy vi, bậc lăo thành rơi rụng. Móng thú, vết chim[77] giao nhau tại Trung Quốc, bọn trẻ nít c̣n hôi sữa đua nhau xưng là tông chủ. Ư chỉ vi nhiệm “giơ cành hoa lên” đă thấp lè tè sát đất, tới nay không chỉ thật đáng buồn, mà c̣n đáng nhục nữa! Chỉ có lăo sư tuổi cao, đức rộng, nắm vững tâm ấn hai chữ “bất khẳng” (chẳng chịu) của ngài Thọ Xương, chẳng cần phải duỗi thân gào rống mà cáo, chó rừng đă sợ run. Do vậy, một giải Tuyền Nam, tuy gió tanh đă theo thời thổi đến, nhưng may là độc khí chưa thâm nhập. Lăo sư đă chấp thuận trụ lâu nơi ấy, ngăn chặn ngoại tà, dưỡng dục chủng tử lành, khiến cho đôi ba người có chí được tiếp nhận pháp mạch của lăo sư. Trong tương lai, sau khi ma đảng thất bại, ngọn đèn nơi Tuyền Nam Phật quốc sẽ có soi khắp thiên hạ. Kẻ chẳng ra ǵ này do bị huyễn duyên lôi kéo, chẳng thể cầm giữ khăn, b́nh[78], vẫn mong pháp giá sớm quang lâm, ngơ hầu tôi được một phen gặp gỡ từ nhan, cũng như muốn được giăi bày nỗi khổ tâm cả một đời. Do đó, dám mạo muội, liền giúp sức khuyến thỉnh!

 

* Thư gửi Châu Tẩy Tâm

 

          “Chẳng thể nói toạc ra v́ sợ đóng lấp ngộ môn” chính là một đường lối phương tiện riêng để tham cứu vậy. Tông Môn cũng có khi chẳng ngại thẳng thừng nói toạc ra, huống hồ Giáo Quán, huống chi Tịnh Độ ư? Chỉ thú của Tịnh Độ hoàn toàn trong sách Diệu Tông Sao. Dẫu tŕ danh chẳng tu Giáo Quán, há có thể chẳng thấu đạt lẽ tột cùng “bốn cơi ngang dọc” ư? Sách Tây Phương Hợp Luận cũng là một bộ sách hữu công của Tịnh Độ. Bài Viên Thông Văn Cú của kẻ chẳng ra ǵ này cũng thâu trọn cương tông của Niệm Phật tam-muội, nhưng ngôn từ đơn giản, nghĩa phong phú, cũng chính nhằm nêu bày cương lănh trong cái học. Chẳng thăm ḍ trọn khắp giáo pháp suốt một đời đức Phật, sẽ chẳng đủ để hàm nhiếp trọn hết trong mấy ngàn chữ.

Nếu chuyên lo liệu cho chính ḿnh, sẽ chẳng rảnh để lợi người, chỉ ngày đêm mười vạn câu Di Đà để cầu văng sanh. Đối với hết thảy các chỗ trọng yếu trong Tông, Giáo, chẳng cần phải cố ư cầu thông suốt. Chỉ được thấy Di Đà, nào lo chi khai ngộ! Đó là một đằng luận định. Nếu đại bi v́ người khác, ắt sẽ nghĩ dùng các câu chữ sao cho mười phần tinh tường, rơ rệt, ngơ hầu có thể lợi khắp ba căn. Nếu không, một pháp vừa mới lập, một điều tệ liền nẩy sanh. Huống hồ thời Mạt, đủ loại ngữ lục thuộc Thiền, Giáo, Tịnh Độ chất đống cao tới tận rường, há nên chú trọng dùng trước tác vừa xen tạp lại vừa chẳng tinh thuần để đua tranh sự phong phú với thói tục ư? Đối với pháp hiệu, tôi bèn viết dông dài một bài[79], lư lẽ trong ấy khá là điều trọng yếu để nhập đạo. Hăy nên nương theo nghĩa, đừng nương theo văn th́ mới nên!

 

* Thư gửi Hàn Mậu Di

 

Chấm câu cho Tử Bách Tập đă xong. Vị này là hạng phàm phu lè tè sát đất, tận lực chiến đấu với ma quân phiền năo, hoàn tất [đại sự liễu sanh tử] trong một đời. Đúng là “sư tử ngồi trên đất, là vảy vàng vượt lưới”[80]. Nay xem pháp ngữ của Ngài, ṛng rặt, quyết liệt, đúng là đủ khiến cho kẻ tham lam trở thành liêm khiết, kẻ khiếp nhược được tự lập, khiến cho những thứ tà mị quyến rũ bất giác băng tan, ngói vỡ! Mong ông hăy lưu tâm kỹ lưỡng, ắt sẽ “từ nơi canh, từ nơi vách, từ trong giấc ngủ”[81] mà trông thấy!

 

* Thư gửi thường trụ núi Cửu Hoa

 

          Năm xưa, tôi gởi thân nơi núi báu. Đối với hết thảy các vị hành giả tinh ṛng Luật, liền tưởng như Địa Tạng Đại Sĩ. Dẫu một hai vị chẳng câu nệ tiểu tiết, cũng tưởng như Chí Công, Tế Điên v.v… Nơi đất thánh đạo tràng, rắn rồng hỗn tạp, phàm thánh chen lẫn, chẳng dám dùng mắt trâu, dê để suy lường hư vọng kẻo tự chuốc lấy trọng tội Vô Gián! Tôi chợt nghe trong núi hơi có nạn dấy lên, tuy đại Bồ Tát thị hiện bản lănh, nhưng kinh dạy: “Ninh phá thiên Phật giới, mạc d ngoại nhân tri” (dẫu phá ngàn giới của Phật, đừng cho người ngoài biết). Hơn nữa, sách thế gian có chép: “Người Hồ và người Việt cừu địch với nhau, ngồi cùng thuyền gặp băo, ắt cứu nhau như tay phải với tay trái”. Cuộc đất báu Cửu Hoa là chỗ hiện hóa của Địa Tạng Từ Tôn, đại chúng trong núi, không ai chẳng phải là con cháu chân thật của đức Địa Tạng, chẳng biết đă trải mấy kiếp tu hành mà đến được danh sơn phước địa này. Chỉ v́ nỗi căm phẫn nhỏ nhoi một buổi mà đến nỗi chẳng bằng người Hồ, người Việt cùng thuyền. Đó chẳng phải là nói “một hạt cải che trời, một hạt bụi phủ đất” ư?

Trí Húc là kẻ không ra ǵ, thuở bé vô tri, hủy báng Tam Bảo, tội ngập hư không, cậy vào ḷng từ sâu, nguyện dày của Địa Tạng Đại Sĩ dẹp trừ tà kiến của tôi, khiến cho tôi được ghé dự ḍng Tăng. V́ thế, hiện thời xưng là “cô thần” (孤臣, bầy tôi cô quạnh) của đức Địa Tạng. Đại chúng trong núi đều là ấu chúa của tôi. Bầy tôi chẳng có ư niệm khinh vua, nhưng có chức trách can gián vua. Chỉ là thật sự hoảng sợ, chắp tay, cúi đầu, dập đầu, hướng vọng núi báu, giăi bày lời thưa tŕnh trung thành, chỉ nguyện các thầy ai nấy bỏ cái tâm thị phi nhân ngă, nghĩ tới cái Thể của pháp môn và sơn môn, cùng tu Vô Tránh tam-muội, vĩnh viễn truyền bá đạo phong của Đại Sĩ. Cổ nhân nói: “Quan bất dung châm, tư thông xa mă”[82]. Lại nói: “Gia vô tiểu nhân, bất thành quân tử” (nhà không có tiểu nhân, chẳng thành quân tử). Dẫu thật sự có kẻ chẳng phải là quyến thuộc chân chánh của Đại Sĩ, cũng phải nên từ bi, khoan dung, khiến cho họ dần dần gieo thiện căn th́ mới nên!

 

* Thư gửi Vương Quư Diên

 

          Kinh Tịnh Nghiệp Chướng[83] đích thị do đức Phật nói, chẳng có mảy may đáng nghi. Xin hăy thử nói xem, đức Phật rộng độ hết thảy chúng sanh như đại y vương, cũng giống như một vị đại tiên có thể chữa khỏi bệnh ắt phải chết, chẳng phải là dơi theo mấy ḍng mực mà có thể nghĩ bàn được! Kinh Đại Bát Niết Bàn v́ vua A Xà Thế sám hối tội lỗi, giống như kinh này. Cái gọi là Thật Tướng Sám, Vô Sanh Sám thẳng thừng cạn khô nguồn tội, ḍng tội tự cạn. Như lật nghiêng đại địa, cây cối nương vào chỗ nào? Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Khước lai quán thế gian, do như mộng trung sự. Ma Đăng Già tại mộng, thùy năng lưu nữ h́nh?” (nh́n thế gian giống như chuyện trong mộng. Ma Đăng Già trong mộng, ai có thể giữ lại h́nh tướng nữ nhân). Lại nói: “Thượng vô bất sát, bất đạo, bất dâm, hà huống cánh hữu sát, đạo, dâm sự” (C̣n chẳng có chẳng giết, chẳng trộm, chẳng dâm, hà huống c̣n có chuyện giết, trộm, dâm) đều là nói về ư chỉ này. Ấy là do vua A Xà Thế cùng với tỳ-kheo Vô Cấu Quang hiện nay và tỳ-kheo Dũng Thí trong quá khứ, ba vị ấy do hổ thẹn, sợ hăi cấp bách tha thiết, tâm hối lỗi chẳng khác nhau. V́ thế, diệu dược để đối trị cũng chẳng khác!

Ấy là v́ lương y đối với chứng thũng độc vô danh, thoạt đầu hơ nóng chẳng đau, bèn hơ nóng tới [khi người bệnh] đau tột bậc bèn dừng. Vừa mới hơ nóng liền đau th́ hơ nóng tới khi không đau mới ngừng. Nếu chẳng như vậy, bệnh sẽ chẳng thể chữa được! Trong Tỳ Ni Tạng, quở trách phá giới là “pháp đứt đầu”, tức là đối với kẻ không đau, bèn hơ nóng cho tới khi đau tột bậc. Kinh này và kinh Đại Niết Bàn nói rơ “tội tánh vốn không”, tức là đối với kẻ cực đau, bèn nướng cho tới khi chẳng đau. Diệu pháp như vậy chỉ là cứu mạng thần đan cho kẻ vô tri lầm lạc phạm giới, chẳng phải là “nói Không mà hành Có”, giúp kẻ tà huệ để viện cớ.

Nói “quán nơi phạm tức là chẳng phạm” th́ chỉ một chữ Quán đă là bao nhiêu huệ giải, bao nhiêu công phu. Ví như dùi gỗ lấy lửa, lửa xuất hiện, ắt gỗ mất đi. Nếu cái tâm phạm giới mảy may chưa tận, há gọi là “quán nơi phạm tức là chẳng phạm” ư? Cố nhiên biết kinh này thật sự là pháp môn viên đốn vô thượng, chỉ nên theo đường về nhà, chẳng đổi dây đàn, thay đường lối, cùng với kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn v.v… có cùng một manh mối. V́ thế, có thể khiến cho người phạm tội nghe xong, vĩnh viễn nhổ trừ tội căn. Người chưa phạm nghe thấy, sẽ vĩnh viễn chẳng phạm. Ví như một viên linh đan, bất luận có bệnh hay không bệnh, chỉ chịu uống vào, đều có thể nhẹ ḿnh bay xa, đâu phải chỉ tăng thêm tuổi thọ mà thôi! Nếu đọc kinh này mà chẳng vĩnh viễn ĺa các chuyện dâm, giết, trộm v.v… cùng với những kẻ không đọc giống như gặp linh đan mà chẳng chịu uống, thân vướng trọng bệnh, há có phải là linh đan khiến cho mắc bệnh ư?

Nếu kẻ chẳng hổ thẹn, muốn lấy đó để viện cớ, xin hăy nói rằng:

- Ngươi phạm giới cũng giống như hai vị tỳ-kheo [được nói trong kinh] do bất đắc dĩ [mà phạm giới] ư? Sau khi đă phạm, lại như hai vị tỳ-kheo ấy kinh sợ phát lộ, cấp thiết cầu thương xót ư? Dẫu cầu thương xót như hai vị tỳ-kheo, có gặp Phật, Bồ Tát thuyết pháp hay không? Dẫu nghe pháp này, có như hai vị tỳ-kheo thuận theo kinh văn mà nhập quán, đốn ngộ Vô Sanh, vĩnh viễn đoạn dâm tâm hay chăng? Họ đă thấu đạt pháp không, vĩnh viễn trừ tập khí dâm. Một vị thành Phật trong vị lai, một vị thành Phật trong hiện tại, nhưng cái quả báo do giết người, hoặc là đền trả ngay trong khi tu nhân, hoặc thành Phật rồi mới thọ. Như [đức Phật đă thành Phật vẫn thị hiện thọ báo bị đâm bởi] cái thương bằng vàng, bị nhức đầu, theo đúng lẽ ắt phải có. Khéo đúng như cổ nhân đă nói: “Như thế nào là vốn sẵn là Không? Chính là nghiệp chướng. Nghiệp chướng là như thế nào? Vốn sẵnKhông. Do đó biết: Người đại triệt đại ngộ chỉ có thể chẳng đọa địa ngục, chắc chắn chẳng có lẽ nào không đền trả nợ cũ!” Tôn giả Sư Tử, Thần Quang đại sư, Tăng Triệu, Nham Đầu[84] v.v… là những chứng cứ rành rành. Chẳng đọc trọn khắp Đại Tạng, hiểu sâu xa giáo nhăn, tông nhăn, chớ nên khinh thị bàn luận! C̣n như tỳ-kheo Vô Cấu Quang trong hiện tại, ngẫu nhiên có cùng tên với Vô Cấu Quang Phật trong quá khứ. Như Quán Thế Âm Bồ Tát có cùng tên với cổ Quán Âm Phật, tỳ-kheo Ca Diếp có cùng tên với cổ Ca Diếp Phật, sao lại lẫn lộn coi là một được?

C̣n như sách Khai Nguyên [Thích Giáo Lục] xếp kinh này vào mục lục các kinh được dịch vào đời Tần như đă nói là khi thuật bày mục lục của Đại Tạng trong niên hiệu Khai Nguyên[85] đời Đường, đối với kinh ngẫu nhiên mất tên người dịch, do tương truyền [kinh này] được dịch vào thời Diêu Tần, bèn xếp vào mục lục kinh dịch đời Tần. Kinh trong Đại Tạng mất tên người dịch khá nhiều, chưa chắc đă đều là ngụy kinh, chớ nên dùng chuyện này để chê trách. Than ôi! Kẻ cuồng Thiền đời Mạt hiếm kẻ biết giáo điển, hạng pháp sư chỉ biết nương vào văn từ để hiểu nghĩa lại chẳng có kiến thức chân chánh, “thử tức, điểu không”[86] trọn khắp hoàn vũ. Cư sĩ có thể lưu tâm như vậy, có thể nói là hoa Ưu Đàm Bát! Nhưng kinh vương chân chánh cần phải được xiển dương ư chỉ u huyền để chỉ bảo cho người chưa nghe th́ mới thấy bản lănh của Duy Ma Đại Sĩ. Nếu thô thiển, bộp chộp, phán ngay là “khả nghi”, ma vương nghe rồi sẽ hớn hở, hoan hỷ, quan hệ cũng chẳng nhỏ đâu nhé!

 

* Thư gửi Nhẫn Thảo

 

          Thân bệnh dễ trị, tâm bệnh khó trừ. Cổ nhân nói: “Khắc kỷ th́ phải riêng khắc từ chỗ khó khắc”. Từ Vân đại sư cũng nói: “Hành nhân ai nấy đều có tập khí ác từ vô thỉ. Muốn cầu nhanh chóng ĺa bỏ, hăy nên quan sát chính ḿnh thiên trọng tập khí nào để quở trách, vứt bỏ, điều phục, ngưng dứt, khiến cho b́nh phục, đừng để cho nó hiện hành, uổng phí công phu. Phàm tập khí ác chỉ là giết, trộm, dâm, dối mà thôi. Trong mười hai thời, trong bốn oai nghi, nếu có ư niệm xáo động người khác, sẽ có thể gây tổn phước, giảm thọ nhất!

 

* Thư trả lời Ngô Duật Tu

         

          Thanh Long Sao[87] há có thể bảo là bằng vai phải lứa với tác phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa? V́ [Thanh Long Sao là những lời giảng giải của ngài Đức Sơn] lúc chưa ngộ, c̣n đang mày ṃ suy tính, bàn bạc, quyết chẳng thể coi là đại đạo! V́ thế, ngài Đức Sơn nói: “Cùng tột các biện định về huyền nghĩa, tợ như đặt một mảy lông trong thái hư. Dốc cạn những điều then chốt trong thế gian, tợ hồ gieo một giọt nước vào kẽm núi[88] to”. Bậc trượng phu thốt lời, nhả khí chân thật, chẳng lừa dối như thế đó! Có thể nói là bội phần minh bạch, sao lại ngược ngạo tối tăm, hư vọng so sánh [Thanh Long Sao] với Huyền Nghĩa và Văn Cú như biển cả, như hư không, bèn nghi một đằng thiêu, một đằng chẳng thiêu ư? Người mê đời Mạt xem ngữ lục thường có tập khí ác như thế đó, chẳng nghĩ hễ so sánh sẽ chẳng thích đáng cho lắm! [Cứ so đo như vậy th́ sẽ cho rằng] Kim Cang, Pháp Hoa đều có thể thiêu! Cái tội báng pháp cũng to lớn, đáng sợ lắm thay! Xin hăy thiêu sạch dây leo khô héo mục nát trong tay ngài Đức Sơn, khuyết điểm của lời nói ấy chẳng khó biết!

 

* Thư trả lời Diêm Tịnh Độ

 

          Văn tự tánh Không; v́ thế, quán triệt Tam Tạng vốn chẳng có một chữ, chẳng phải là coi “dù một chữ Đinh () cũng chẳng biết” là “vô tự”. Đời Mạt, hạng tỳ-kheo không chịu học hỏi, viện cớ “tổ Đạt Ma chẳng lập văn tự” để giấu cái vụng về của chính ḿnh cũng đáng nực cười thay! Biết chẳng khó, hành mới khó. Cố nhiên là vậy! Lại phải nên biết “hành chẳng khó, biết càng khó hơn”. Chẳng biết mà hành, đọa hầm, sụp hào!

Mười quyển kinh Phật Đảnh khuyến khích tu hành bậc nhất, nhưng trước hết lấy khai viên giải làm phương tiện ban đầu. Hai chương Văn Thù và Phổ Hiền trong kinh Viên Giác cũng phải khai giải trước. Các sách Đại Thừa Chỉ Quán, Ma Ha Chỉ Quán v.v… không ǵ chẳng đều như vậy. Tham cứu ư chỉ học vấn, suy nghĩ, biện định, tận lực hành giống như phù tiết hợp nhau. Cách tu hành giống như chỉnh dây đàn: Dây chùng sẽ chẳng phát ra tiếng. Dây căng sẽ đứt, chớ quên, chớ giúp, ngơ hầu từng bước theo thứ tự tấn tu. Con đường tu hành chân chánh ắt phải lấy Không Quán làm chủ, nhanh chóng, thẳng thừng, lẹ làng, không ǵ bằng nửa bài kệ của Phật Tỳ Xá Phù[89]. Đọc kỹ, lặng nghĩ, khiến cho thấu xương, lọt tủy. Tử Bách Toàn Tập mong hăy t́m xem. Có được pháp ấn ấy, sẽ có thể biện định tà chánh, chẳng bị lầm lẫn bởi tà sư hiện thời!

 

* Thư gửi Trí Long

 

          Trắc trở, hoạn nạn chính là một ḷ rèn lớn để nung luyện người anh dũng, linh thông thành Phật, thành Tổ. Có thể tiếp nhận sự nung luyện, sẽ như tùng, bách gặp tiết Đông rét buốt càng vững chắc, chẳng như con trùng mùa Hạ, hoa mùa Xuân vừa mới gặp gió, sương đă tan tác chẳng ra ǵ. Tùng, bách, hoa, cỏ bẩm thọ tánh chất bất đồng, chẳng thể cưỡng được! Một niệm hiện tiền tâm tánh linh thông, sáng suốt, há có sắc chất nhất định? Chỉ quư một niệm hiện tiền tự lập, mắt nh́n thấu suốt thân, tâm, thế giới, dốc sức buông xuống tập khí hưởng thụ an nhàn, cơm cháo thường ngày, hướng đến núi đao rừng gươm ra vào vui chơi, có gian hiểm chi đâu? Dẫu chẳng buông xuống thân, tâm, thế giới, t́nh kiến xuống được, nhưng thân, tâm, thế giới chưa từng chẳng phải là hoa đốm trên hư không? Dẫu chẳng trừ được tập khí hưởng thụ an nhàn, cơm cháo, nhưng nghiệp vận xảy đến, có chỗ nào để giữ vững sự hưởng thụ an nhàn, cơm cháo như ư?

Ngàn kinh vạn luận đều là khí cụ để mài ṃn tập khí. Tập khí chẳng trừ, học vấn có ích ǵ? Chẳng thể thân cận thầy sáng, bạn lành để được kềm cặp nghiêm ngặt, t́m kiếm mấy bộ sách Phật pháp tốt đẹp, ngồi thanh nhàn, lặng lẽ, đốt hương, thưởng trà, lật ra xem. Nắm giữ đại học vấn kiểu ấy c̣n chẳng thể là thánh hiền thế gian, huống hồ Phật, Tổ ư? Nếu do ơ hờ mà có thể đạt thành Phật, thành Tổ như thế, Thiện Tài sẽ thường khóc ṛng, thật sự là kẻ vụng về nhất trong ngàn đời, sao có thể làm gương cho Hoa Nghiêm, Bát Nhă được?

 

* Thư gửi Thể Cảnh

 

Chuyện của bậc đại trượng phu xuất gia chẳng phải là vương hầu, tướng quân, tể tướng có thể làm được! Nhưng chẳng khó có khởi đầu mà là khó có kết thúc! V́ thế, nhân quả tà chánh ắt phải dùng bốn câu để liệu giản. Hăy nên mỗi ngày đều thận trọng suốt ngày, như vào rừng sâu, đi trên băng mỏng, mong đạt đến chỗ thọ dụng chân thật, muôn phần đừng to gan hời hợt, bị lường gạt, mê hoặc nửa chừng, để rồi mất thân người dưới lớp áo ca-sa! Thiết tha căn dặn vậy!

 

* Thư gửi Đinh Liên Lữ

 

          Một môn Tịnh Độ hữu danh vô thật đă lâu. Cư sĩ tự ḿnh tu hành thực tiễn, nêu gương cho Tăng lẫn tục. Đấy chính là nguyện quang của A Di Đà Phật tỏa sáng vậy. Nhưng đời Mạt thường thấy cong vẹo [cho rằng pháp môn này] là trung, hạ, chẳng biết là pháp chí viên, chí đốn, thích hợp trọn khắp ba căn. Hăy nên ngẫm sâu nghĩ chín hai sách Diệu Tông Sao và Tây Phương Hợp Luận, sẽ có thể phá trừ các so đo tà vạy!

 

* Thư trả lời Chuyển Y

 

          Ông chỉ dạy Giới Sanh đến đây, đủ thấy ḷng tiếp dẫn, nhưng nạp tăng là Nhạc Vũ Mục (Nhạc Phi), chẳng phải là Hoài Âm Hầu (Hàn Tín). Dụng Cửu một mực thô tâm, bộp chộp, đọa vào khuôn sáo xấu ác của văn chương đương thời, đối với tánh và tướng của Đại Thừa đều hiểu theo mặt văn tự, ngôn ngữ, đợi cho tới khi chẳng có kết quả nơi Thiền Tông, mới nghĩ kết thất quán tâm. Pháp quán tâm rất khó nói. Tông Môn trong thời gần đây phần nhiều là hành cước để hỏi đạo, chỉ có tông Thiên Thai là đă biết bờ bến rồi mới hành cước. Đường nẻo tu hành, chẳng khác ǵ mười gấp bội thành trăm, chỉ sợ chẳng phải là lúa mạ chân thật của Giáo Hạ! Lúa mạ chân thật há bị Thiền Tông coi thường, cũng nào có sợ bị coi thường!

Nếu là chủng tử chân thật của Thai Tông, ngôn ngữ lẫn sách vở thế gian đều chẳng mâu thuẫn, há có chuyện khinh Duy Thức, coi người học chẳng ra ǵ. Đáng thương chúng sanh bị t́nh kiến phủ lấp, trở thành mê muội, trọn chẳng có kiến thức tót vời. Vừa mới nhập tông Thiên Thai, liền nhuốm chứng bệnh nặng của tông Thiên Thai. Vừa mới vào Thiền môn, liền nhuốm phải bệnh nặng của Thiền môn. Chưa được thanh tịnh, đă vướng hẹp ḥi trước. Chưa đạt được ḥa, đă đạt chẳng cung kính trước. Mong chẳng ch́m đắm trong thói đời hiện thời, có được mấy ai? Đại trượng phu xuất gia chẳng liều ḿnh hai ba đời vùi đầu triệt để [tu tập], mà cứ vội mong mười năm, hai mươi năm sau sẽ hoằng dương Tông, Giáo, tu thiên tước (tước vị cơi trời) để cầu nhân tước (tước vị của nhân gian), rốt cuộc ắt mất sạch mà thôi!

 

* Thư trả lời Tŕnh Dụng Cửu

 

          Hành nhân viên đốn Xuân, Hạ, Thu, Đông, không lúc nào chẳng phải là lúc quán tâm. Ngày đêm sáu thời, không ǵ chẳng phải là cơ hội để quán tâm. Đi, đứng, ngồi, nằm, không ǵ chẳng phải là chuyện quán tâm. Thuyết pháp, nghe pháp, không ǵ chẳng phải là duyên quán tâm. Nếu ắt phải đợi tới dịp an cư kết Đông, sau đấy mới quán tâm, th́ ba thời giảng diễn vẫn là “kể chuyện ăn, đếm của báu”, giảng và nghe chẳng tương ứng với quán tâm! Khi quán tâm, chắc chắn cũng chẳng tương ứng với giáo lư. Nếu là như vậy, dẫu trăm lượt giảng kinh trong các tiết Xuân, Hạ, Thu, và trăm mùa Đông quán tâm, rốt cuộc là hai chuyện tách rời, là bản lănh thô thiển, nông cạn của thư sinh, chẳng phải là tri kiến siêu việt tót vời! Thốt lời hèn tệ, trước nay đáng than!

Kinh dạy: “Nhân mạng tại hô hấp gian” (Mạng người trong hơi thở). Đạo Nho nói: “Tài thuyết cô đăi minh nhật, tiện bất khả dă” (Vừa mới nói “đành chờ đến ngày mai” là đă không được rồi)! Chỉ có điều là cư sĩ một mực chẳng chịu ngay lập tức tùy văn nhập quán, hư vọng nói “hết thảy mọi người đều chẳng thể ngay lập tức tùy văn nhập quán”. Hăy nên thống thiết nghĩ tận lực sửa đổi, đừng làm chuyện vớ vẩn như gă lùn xem tuồng![90]

 

* Thư gửi Thiện Siêu

 

          Pháp thế gian và xuất thế gian, hiếu và từ bậc nhất. Dùng từ tâm để tu hiếu hạnh, có thể thuận thảo với cha mẹ, sẽ cảm động quỷ thần, huống hồ đối với sư trưởng xuất thế ư? Hăy cố gắng, đừng để mặc cho t́nh ư chi phối!

 

* Thư gửi Vương Cổ Học

 

          Trượng phu cao minh chẳng khó, khó ở chỗ tinh tế. Nếu tinh tế bèn dùng lư của [Khổng] Nho để giải thích Lư [trong quan điểm của Tống Nho], sẽ có thể phân tích đồng, dị đến tột cùng. Tông nhăn, giáo nhăn có thể nhờ vào đó mà chứng một nguồn hợp nhất.

 

* Thư gửi Trầm Phủ Thọ và Trầm Phủ Đôn

 

          Hành pháp Chiêm Sát do được anh em ông khắc in thành kinh sách, nhưng kẻ chẳng ra ǵ này đă nhiều lượt kết đàn, đều chẳng đạt được luân tướng thanh tịnh. Như vậy th́ có thể khiến cho thiên hạ hậu thế tin tưởng hay chăng? Nay thề tạo trận dựa lưng vào nước, yểm tử quan[91] để lễ sám. [Chú giải] kinh Thập Nhị Đầu Đà[92] đợi sau này có lẽ dám múa bút, chứ nay đang lúc d́m thuyền, phá nồi, chưa rảnh để tạo tác những lời lẽ suông được!

 

* Thư gửi Thánh Khả

 

          Kẻ chẳng ra ǵ này tội lỗi nơi ba nghiệp chẳng ít, tâm nhơ bẩn tạp loạn, sao có thể đạt được luân tướng thanh tịnh? Do vậy, phát tâm hổ thẹn, lui xuống làm kẻ chỉ thọ Tam Quy, thề chẳng làm thầy, làm gương, thề chẳng tiếp nhận người khác lễ bái, thề chẳng ra khỏi núi, thề đạt được luân tướng thanh tịnh. Bất luận trăm ngày hay ngàn ngày, sáu năm hay chín năm, lấy cái chết làm kỳ hạn. Từ tạ chuyện ở Gia Hưng xong, kế tiếp sẽ từ tạ chuyện ở Lưu Đô (Nam Kinh).

 

* Thư gửi Liễu Nhân và hết thảy Tăng, tục

 

          Tống Nho nói: “Tài vượt quá đức th́ bất tường, danh vượt quá sự thật th́ có tai ương. Văn chương vượt quá phẩm chất th́ không thể tăng tấn được”. Riêng Húc đă phạm cả ba bệnh ấy, chẳng trách tŕ trệ nơi địa vị phàm phu đă lâu, chẳng dự lên bậc thánh! Húc từ thuở mười hai, mười ba, do tự lấy đạo học (Tống Nho) làm trách nhiệm mà phỉ báng Tam Bảo, tội ấy đáng đọa vào địa ngục Vô Gián, bốn mươi tám nguyện của Phật Di Đà chẳng thâu nhận. Do thiện căn chưa mất, ngầm nương sức của hai vị Đại Sĩ Quán Âm và Địa Tạng, chuyển nghi thành tín, chuyển tà về chánh. Hai mươi năm qua, tận lực hoằng dương chánh pháp mong tiêu tội báng pháp. Hiềm rằng phiền năo sâu dày, đối với các giới phẩm, chỉ nói suông, chứ không thể hành!

Ngày Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy) năm Quư Dậu (1633), tôi rút thăm, lui xuống làm Bồ Tát sa-di; bởi lẽ, làm tỳ-kheo hiện thời th́ thừa sức, nhưng làm sa-di thời cổ th́ chẳng đủ! Thà bỏ cái dư để mong cái chẳng đủ. Túc chướng sâu nặng, bệnh ma quấn trói. Từ đấy, ẩn thân nơi Cửu Hoa, ngỡ có thể suốt đời ở đó. Hơn nửa năm, lại dần dần lan truyền, lần lượt trụ tại Tân An, rồi đất Mân, rồi Thiều Thành, Tuy Lư, Lưu Đô, hư danh càng thịnh, thật đức càng thêm hoang phế! Mùa Hạ năm nay, ngă bệnh hai phen, cầu chết chẳng được. Huệ giải thường nhật tuy rành rành, nhưng thật sự chưa hề đạt được đại thọ dụng. Hơn nữa, đối với sách Chiêm Sát Hành Pháp, ngẫm kỹ nghĩ chín rồi mới dám tuân theo cách thức thời cổ để soạn thành nghi thức cặn kẽ mà giản dị, trọn chẳng trái nghịch tông chỉ của kinh. Lễ [hành pháp ấy] ở Tây Hồ bốn thất, chẳng đạt được luân tướng thanh tịnh. Năm ngoái, lễ hai thất vẫn chẳng được. Nay vào núi lễ một thất, rồi lại lễ một ngày, vẫn không được! Khi lễ sám, tập khí phiền năo hiện hành, dấy lên, càng cảm thấy dị thường. Do đó, phát tâm quyết định, xả sạch tất cả tịnh giới thuộc Bồ Tát sa-di, chỉ làm một đệ tử Tam Quy, đợi Liễu Nhân tấn sơn[93] để bế quan một ngàn ngày, cầu Phật, Bồ Tát từ bi cứu bạt. Nếu không, thà nát vụn nắm xương này trong quan pḥng vậy!

 

* Thư gửi Trầm Kính Viên

 

          Nghe nói Dương Thừa Thừa và Tiếu thiền sư bất ḥa. Phàm tham học tri thức, cần phải lănh hội sở trường của họ, đừng chê trách sở đoản của họ. Pháp môn sâu xa, Đẳng Giác c̣n chưa hiểu trọn hết, huống hồ tri thức hiện thời ư? Dấy lỗi nơi pháp, phước đâm ra trở thành tội. Mong cùng đến giải trừ sự khúc mắc vặt vănh ấy th́ pháp môn may mắn lắm thay!

 

* Thư trả lời Hàn Triều Tập

 

          Đối với nỗi khổ nơi cảnh, sanh ḷng chán nhàm. Đó là trí huệ thuộc Khổ Đế. Chán khổ sẽ chẳng dám tạo nghiệp. Đấy là trí huệ thuộc Tập Đế. Nhân chẳng sanh th́ quả chẳng sanh. Đó là trí huệ thuộc Diệt Đế. Ân cần biết sám hối. Đó chính là trí huệ thuộc Đạo Đế. Sở kiến của Tu Đà Hoàn là thấy được điều này mà thôi! Sở chứng của A La Hán là chứng điều này mà thôi. Xả giới chẳng đúng pháp, chẳng cần phải nghi, do đă xả rồi! Nhưng tánh tội tồn tại trong thế gian, há tội phạm pháp ư? Thọ giới chẳng đúng pháp, cả cơi đời đều là như vậy, cũng chẳng cần phải nghi! Nhưng đúng như pháp mà hành một ngày, sẽ được một ngày công đức. Du Già Sư Địa Luận đă nói rất tường tận. Nhằm thuở đời Mạt, chẳng thể tuân theo lệ của thời Chánh Pháp được! Phàm phạm giới, tạo ác, cố nhiên là có tội, sao niệm Phật, chép kinh lại riêng là vô phước ư? Đều là lời Phật dạy, sao lại một đằng th́ tin, một đằng chẳng tin, để rồi cam tâm đọa trong hầm sầu lo, ngờ vực vậy?

Hối lỗi đích đáng th́ danh vượt hạnh. Nếu vượt quá lẽ thích đáng, sẽ thành hối cái[94]. Ngàn kinh vạn luận chỉ mong sao mọi người thẳng thừng an tâm. An tâm chẳng có thuật nào khác! Chỉ là biết pháp vô tánh đó thôi! Bát Nhă nói tâm quá khứ, hiện tại, vị lai chẳng thể được! Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm bất vọng thủ quá khứ pháp, diệc bất tham trước vị lai sự, bất ư hiện tại hữu sở trụ. Liễu đạt tam thế tất không tịch” (Tâm chẳng hư vọng giữ lấy pháp quá khứ, cũng chẳng tham đắm chuyện vị lại. Chẳng trụ vào hiện tại. Liễu đạt ba đời đều không tịch). Nhân giả nghe đă nhàm tai rồi chứ? Sao chẳng mỗi lúc đều quan sát vậy?

Tịnh Độ nhanh chóng, thẳng thừng, lẹ làng, rộng lớn, viên dung, chí đốn, tột dễ, không căn cơ nào chẳng thâu nhiếp, không tội nào chẳng diệt. Nhân giả vừa phát tâm liền biết quy hướng, cớ sao hơn ba mươi năm vẫn nửa tin, nửa ngờ? Tôi đặc biệt sao lục hai công án văng sanh để giúp tín lực. Muôn phần chớ trù trừ! Chỉ quán sát một niệm hiện tiền duyên khởi vô sanh, nguồn tội tự khô cạn. Chuyện này hết sức chẳng khó, nhưng người ta thấy là khó khăn lắm!

 

* Thư trả lời Đường Nghi Chi

 

          Sách Diệu Tông Sao chẳng thể sửa đổi một chữ nào. Bởi lẽ, Đại Tiểu A Di Đà Kinh thích hợp trọn khắp ba căn, chú giải cần phải bao gồm cạn lẫn sâu. Nay kinh này (Quán Kinh) nhằm để chuyên độ những bậc đại căn viên đốn như Vi Đề Hy v.v… khiến cho họ ngộ Vô Sanh Nhẫn ngay trong hiện đời. Nếu chưa thấu triệt ư chỉ “một tâm làm Phật, là Phật”, sẽ trọn chẳng có Lư để nương theo Sự mà tu Quán. Ngài Vân Thê nói “tâm thô cảnh tế, diệu quán khó thành” vốn bắt nguồn từ [ư kiến của] các vị đại tổ sư như ngài Thiện Đạo v.v… thật sự chẳng phải là nói ṃ!

Húc cho rằng: Căn tánh thời Tống hơi thông lợi, ngài Tứ Minh Tri Lễ nêu tỏ [ư chỉ của Quán Kinh] vẫn c̣n sơ lược. Nếu nay đại sư lại trước tác, chỉ đành giải thích tường tận, sao có thể tiết yếu? Người thợ thuộc loại bậc thầy há v́ thợ vụng mà sửa đổi dây mực! Hậu Nghệ[95] quyết chẳng v́ kẻ bắn vụng mà biến đổi bia bắn. Chuyện này quan hệ chẳng nhỏ. Nếu viên giải chẳng mười hai phần thấu triệt, liền muốn tác quán, chưa có ai chẳng chuốc phải ma sự! Chỉ có một pháp Tŕ Danh trăm ngàn phần ổn thỏa, thích đáng! C̣n Quán Kinh và Diệu Tông Sao đành chỉ kết chủng tử viên đốn cho người khác, hoặc là chúng sanh căn tánh chẳng thể hư vọng suy lường sẽ cũng tự có thể hiểu. Nếu hiểu th́ chắc chắn chẳng hiềm rằng nhiều. Nếu chưa hiểu mà lược bớt [Diệu Tông Sao] th́ có ích ǵ cho họ? Gạt bỏ chỗ nông cạn, giữ lấy chỗ sâu xa, kẻ sơ cơ càng chẳng thể hiểu. Nếu gạt bỏ chỗ sâu, giữ lại chỗ nông cạn, sẽ hết sức trái nghịch tông chỉ của kinh. Suy đi, nghĩ lại, muôn vàn phần chớ nên manh nha ư niệm ấy!

 

* Thư trả lời Liên Chước

 

          Ông xuất gia, sẽ nối tiếp pháp mạch của Liên Tŕ đại sư. Xưa kia, Tuyết Công chẳng nhẫn được sự kềm cặp, cam tâm đạt thành tựu nhỏ nhoi. Dương Sanh chí lớn, tài vẹn, nhưng nhân địa thiếu chân thành, đều là cổ nhân cả rồi, thật đáng than thở, bùi ngùi! Húc phước hèn, chướng sâu, chỉ đành làm chuyện vớ vẩn nghiên cứu cái học quê kệch, ḍ theo câu chữ, cậy vào hai ba kẻ thơ dại chưa nhiễm phải thói ác trong thời gần đây, chỉ gieo chủng tử kim cang. Nếu [là kẻ] trước đó đă có thành kiến, chỉ đành lắc đầu không đếm xỉa tới mà thôi! Tự thẹn trăm luyện ngàn giồi, trọn chẳng đoạn Hoặc, chứng quả. Phàm phu đủ mọi phiền năo trói buộc, dùng nhục nhăn làm Phật nhăn, dù Giáo hay Tông, đều chẳng có mảy may ngờ vực, vướng mắc. Do vậy, trước tác thật nhiều, đều có thể tham khảo chư Phật, Tổ mong để lại cho trăm đời. Ḷng tự tín chân thật ấy chẳng thể lừa dối thiên hạ. Được ông cho xem Tâm Kinh Khẩu Nghĩa, riêng trọn thấy học rộng, tài hoa. Nếu muốn khắc in, chẳng ngại châm chước lần nữa. Do t́nh nghĩa tột cùng trong pháp môn, chẳng thể nào xu phụ, a dua được. Nếu biết ḷng tôi, chắc sẽ chẳng trách tội vậy!

 

* Thư đáp Hàn Phục Viễn

 

          Bệnh của ông do nghẹn đàm mà ra, nghẹn lại do chẳng nh́n thấu suốt cảnh mà ra. Đủ loại nghịch cảnh có thể rèn tâm tánh nhẫn nại, tăng trưởng điều ta vốn chẳng thể làm được, đều là duyên do để thành tựu chính ḿnh mà thôi! Thế đạo suy loạn, Nho môn từ lâu đă chẳng có người. Nguyện túc hạ dốc chí làm bậc quân tử nho. Người học Phật trong thời gần đây, vừa mới nghe giảng đă chỉ mong làm pháp sư. Nếu chẳng nghĩ làm pháp sư, sẽ chẳng chịu dốc ḷng nơi Phật pháp. Nếu là kẻ học Nho, vừa đọc sách, đă chỉ mong đỗ Tiến Sĩ. Nếu chẳng mong đỗ Tiến Sĩ, sẽ chẳng học hành! Trọn chẳng biết học hành chính là con đường chánh đáng của thánh hiền, nghiên cứu Phật pháp là con đường chánh đáng để thành Bồ Đề, sanh về Tây Phương! Buồn thay! Nhưng Phật môn c̣n có một hai người biết thành Phật, Nho môn trọn chẳng có một ai nghĩ làm thánh hiền, sao cơi đời chẳng loạn cho được? Đă loạn sao lại có thể b́nh trị cho được? Túc hạ nếu thật sự phát khởi cái tâm quyết định làm thánh hiền, mà đức Thích Ca chẳng ngầm xoa đầu, Khổng Tử chẳng ngày đêm ủng hộ, sẽ chẳng có lẽ ấy!

 

* Thư trả lời Trương Trung Trụ

 

          Nho học và Thích học tuy đạt đến mục đích th́ khác biệt, nhưng nhập môn đại để tương đồng. Nếu nói “tôn đức tánh” (đề cao đức tánh) mà “đạo vấn học” (theo đuổi sự học hỏi) th́ chính là nói “toàn tánh khởi tu”. Nếu nói “hạ học mà thượng đạt” tức là nói toàn tu hiển tánh. Chẳng hề có ai không ngộ trọn vẹn “tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”, mà có thể nói là công phu tu chứng được! Cũng chẳng có ai không tu sâu thập thừa diệu quán mà có thể đạt tới cực quả rốt ráo. V́ thế, trong thời gần đây, pháp môn giản lược, cẩu thả sẽ dễ tụ tập, h́nh thành nhất, nhưng cũng khó đạt đến mục đích nhất. Vô thượng tâm ấn của Phật, Tổ khó thực hiện nhất, nhưng dễ thành tựu nhất. Ngài Quy Sơn nói: “Tông này khó đạt được chỗ kỳ diệu. Hết sức cần phải dụng tâm cặn kẽ, sẽ có thể đốn ngộ chánh nhân trong ấy đều là thềm, bậc để xuất trần. Nếu có thể đời đời chẳng lui sụt, chắc chắn có thể mong đạt được địa vị Phật”. Lời lẽ của bậc tông tượng thời cổ thảy đều châm chước, ổn thỏa, thận trọng như thế đó, há có nên lầm tưởng một gậy, một tiếng hét, một câu, một kệ [trong cách điểm hóa của nhà Thiền] là lời lẽ cùng tột ư?

Đối với các sách ông hỏi, sách Đại Thừa Chỉ Quán tánh tướng tổng tŕ, quả thật cùng với hai sách Phật Đảnh Huyền Văn và Duy Thức Tâm Yếu đúng là [cốt lơi] trong, ngoài. Nếu lưu tâm lâu ngày, sẽ nắm được huyết mạch, sẽ có thể suy nghĩ quá nửa giáo pháp suốt một đời đức Phật. Có thể nương theo sách Tiểu Chỉ Quán để hành tŕ. Ma Ha Chỉ Quán uyên thâm, mênh mông, cần phải cùng xem kèm với sách Phụ Hành. Đối với diệu pháp được nói thuộc Thiền Ba La Mật Môn, nếu công phu hơi đắc lực, có thể dùng để xem cũng được! Hai sách Lục Diệu Môn và Duy Ma Sớ đă bị lưu lạc lâu ngày tại Hải Đông (Triều Tiên, Nhật Bản), nếu cậy vào sức to lớn, lại được chiếu tỏa nơi đất này (Trung Hoa) th́ chính là chuyện thần kỳ muôn đời, ngày đêm đều cầu chúc!

 

* Thư trả lời Trần Mân Chiêu

 

          Gượng bệnh soạn thảo Pháp Hoa Hội Nghĩa, bảy mươi ngày hoàn thành, nhưng mỗi khi nghĩ Phật đạo sâu xa, chưa từng chẳng nước mắt đầm đ́a. Xưa kia, ngài Quy Sơn ba lượt làm quốc vương, bèn quên bẵng Túc Mạng. Giới lăo[96] một niệm ngẫu nhiên sai lầm, lại làm Tô Đông Pha. Chứng đoạn khó khăn, cố nhiên chẳng đợi phải nói nữa. Lại nhớ trong kinh, ngài A Nan bạch Phật: “Mười hai nhân duyên, đặc biệt dễ hiểu”. Đức Phật bảo A Nan: “Đừng nói như vậy. Trừ một ḿnh Phật ra, những người khác chẳng thể hiểu cùng tận biển tánh nhân duyên”. Ngài liền nêu ra chuyện cũ để quở trách. Xưa kia có A Tu La Tử, thưa với cha rằng: “Biển cả rất cạn”. Cha nói: “Thân ta cao bảy ngàn do-tuần, do huyễn thuật, biến thành mười sáu vạn tám ngàn do-tuần bèn thấu tận đáy. Ngươi c̣n bé, thân chỉ cao bảy trăm do-tuần, lại chưa có huyễn thuật, sao lại coi thường biển này vậy?” Con không tin, gieo thân vào biển, ch́m lỉm trong sóng lớn, gần như táng mạng! Cha dùng huyễn lực vớt ra, chỉ c̣n thở thoi thóp! Đức Phật bảo A Nan: “Vua A Tu La thuở trước chính là thân ta. A Tu La tử chính là thân ông. Xưa kia, ông coi thường biển cả, chịu nỗi khổ sóng vùi. Nay lại ở trong pháp của ta, coi thường biển pháp mười hai nhân duyên quá sâu, sẽ chuốc lấy ác báo”. Do vậy, A Nan hổ thẹn, hối cải, thề chẳng khởi ư tưởng khinh dễ pháp. Cho đến sau khi Như Lai diệt độ, [A Nan] mới hoàn tất đại sự (chứng Sơ Quả), truyền tâm tông của đức Phật. Giải ngộ khó khăn như thế đó, há có thể coi thường ư? Nghĩ tới hai nỗi khó khăn ấy, mới hết sức buồn đau. [Hiềm rằng người đời] lầm lạc khiến tôi mang nhục được ca ngợi, cho là tôi đă nghĩa lư lẫn văn từ đều thấu đáo, giải và hạnh cùng vẹn, chẳng phải là càng khiến cho tôi không biết giấu mặt vào đâu ư?

 

* Thư trả lời Đạo Quan

 

          Chuyện thuộc bổn phận của chúng ta giống như uống nước, lạnh, nóng tự biết. Nhưng có người trước đó đă uống nước, biết lạnh, nóng, chẳng mảy may gạt gẫm người ấy được! Do vậy, đối với thập thừa quán pháp, cần phải biết thứ tự. Nếu có Quán mà chẳng có Giáo, chưa có ai chẳng đọa vào tăng thượng mạn. Đă là bốn góc đều sụp sát đất, chẳng giống như “khi mê th́ Pháp Hoa chuyển”, có thể luôn chuyển kinh này, tùy văn nhập chứng th́ mới gọi là “dụng tâm chẳng xen tạp”. Nếu chẳng xem một chữ, th́ chữ “một” ấy vẫn là vật gây trở ngại cho cái tâm, há chẳng phải là hư không đă nát, mà chữ “một” vẫn chưa nát ư? Đại địa đă ch́m, chữ Một vẫn chưa ch́m. Thấy th́ sẽ bị nó tạp, chẳng trở thành một phiến ư? Mong hăy suy nghĩ kỹ, ắt sẽ phun cơm đầy bàn!

 

* Thư trả lời Đạt Giới

 

          Tâm siêng năng làm phước, chớ nên chỉ tham thanh nhàn. Thiếu niên thanh nhàn là chuyện bất tường; nếu chẳng hao thọ th́ sẽ tổn phước. Đối với hai chữ “thanh nhàn” tưởng như thuốc độc, th́ mới có chút phần nơi con đường xuất sanh tử. Học thuộc kinh tuy tốt, chẳng phải là nhiệm vụ chánh yếu của người xuất gia. Châu Lợi (ngài Châu Lợi Bàn Đặc) chẳng tụng thuộc nửa bài kệ, mà chứng sâu xa hai loại giải thoát. Đề Bà thuở tại gia, thông đạt mười hai bộ Vi Đà, xuất gia thông thạo tám vạn pháp tạng, chẳng cứu nổi địa ngục A Tỳ, khổ sở trong ba đại kiếp. Ḅ uống nước thành sữa, rắn uống nước thành độc. Trí học thành Kiến Đế, ngu học thành sanh tử, chẳng thể không suy nghĩ sâu xa!

 

* Thư trả lời Tùng Khê pháp chủ

 

          Mùa Xuân năm Quư Hợi (1623), lúc bái kiến tôn giả U Khê[97], nhằm lúc tôi vướng Thiền bệnh, chưa nhận được chút lợi ích nào! Mùa Đông năm Mậu Th́n (1628), gặp huynh Quy Nhất, mới hối hận khi trước đă chạm mặt mà bỏ lỡ! Tôi từng trích máu, đốt hương viết bài văn cúng dường sư bá, gởi đến Thai Lănh, bấm ngón tay tính ra đă hai mươi hai năm rồi! Một mạch tông Thiên Thai, anh tôi (tức Tùng Khê pháp chủ) dũng mănh gánh vác; kế đó, ngài Đạt Nguyệt Quản cũng góp sức phần nào! Xem phần hội hợp sách Huyền Thiêm của ngài, một chữ cũng chẳng dám sửa đổi chút nào, biết là gia phong chẳng suy đọa vậy! Như đứa em hèn tệ này, tuổi thiếu niên trúng lầm chất độc xấu ác của Tông Môn, quen thói luông tuồng, cái tội bộp chộp đă thấu tận tủy. Nay tuy thống thiết trừ khử, tập khí thừa sót khó trừ. V́ thế, học tập Thai Tông qua các di trước, chẳng dám mạo nhận pháp phái, thật sợ trước thuật ngẫu nhiên có chỗ sai lệch, đâm ra chuốc lấy tiếng chê bai là “kẻ ở ngoài núi, trái nghịch tông”.

Em soạn thuật Pháp Hoa Hội Nghĩa gần đây là do tại Lưu Đô nhiễm mùi vị chua thối rỗng tuếch của bạn tri âm đă lâu, trọn chẳng biết cương tông Quyền, Thật, Bổn, Tích, huống hồ đạt được bốn món lợi ích Tất Đàn do quán tâm ư? Nói tới tam đại, ngũ tiểu[98], vừa mới mở sách ra, không ǵ chẳng phải là dơi nh́n biển cả mà lùi bước. Bất đắc dĩ, trộm lấy ư chỉ từ sách Văn Cú và ngài Diệu Lạc (Kinh Khê tôn giả), riêng diễn giải bằng lời văn b́nh dị, cặn kẽ, ḥng làm phương tiện dẫn dụ kẻ mờ mịt mà thôi! Trong khi giải thích kinh văn, cách chấm câu không ǵ chẳng phải là sai khác đôi chút, chứ đối với ư nghĩa, thời tiết trong giáo pháp, há dám có nghị luận sai khác ư? Nhưng đặt để ở ngoài cửa [tông Thiên Thai], chẳng ngại xưng là công thần. Thâu đệ vào trong thất, ắt chẳng khỏi là nghịch tử. Hiểu tôi hay trách tội tôi, đành nghe theo mà thôi!

 

* Thư gửi Đường Nghi Chi

 

          Đọc lời tựa sách Tu Hành Hội Nghĩa, biết ông có kiến giải trác tuyệt, chỉ nói: Tu hành cần phải tu Bát Nhă, Bát Nhă lấy Thật Tướng làm Thể, quán chiếu làm Tông, vô trụ sanh tâm làm nhân, Chủng Trí rốt ráo làm quả. Kinh nói: “Ư pháp thật vô sở đắc, bất khả dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến Như Lai, vô hữu pháp đắc Bồ Đề, cố Nhiên Đăng thọ kư” (Đối với pháp thật sự chẳng có ǵ để đạt được, chẳng thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai, chẳng có pháp để đắc Bồ Đề. V́ thế được Phật Nhiên Đăng thọ kư), đều là chỉ dạy lúc mới thực hiện. Dùng “vô sở đắc” làm quán môn phương tiện, tức là nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên đừng trụ vào đâu mà sanh tâm). Cư sĩ ngược lại phán định đó là Đệ Nhất Nghĩa Đế, đó là điều đáng nên bàn định.

Luận nói: “Chẳng ĺa Phật thế trụ, cung cấp Như Lai trụ, cầu Phật giáo thọ trụ” đều nhằm chỉ rơ: Trong địa vị Bồ Tát, đạt được một phần thọ dụng chân thật. Đó gọi là dần dần trụ trong Cứu Cánh Chủng Trí. Cư sĩ ngược lại phán định là lời lẽ trung thực, khoan dung. Đấy là điều thứ hai đáng nên thương lượng. Xin dùng thí dụ để nói rơ: Hoàng Đế mất châu, Vọng Tượng t́m được! Nay đối với “pháp thật sự chẳng có ǵ để đạt được” v.v… đều là Vọng Tượng t́m cầu, há có thể gọi đó là Đệ Nhất Nghĩa Đế ư? “Chẳng ĺa Phật thế, cung cấp Như Lai, cầu Phật dạy bảo, đều là tên gọi khác của huyền châu, há có thể gọi đó là công phu thiết thực ư? Tuy Vương Văn Thành (Vương Dương Minh) nói: “Gọi răn dè, cẩn thận, e sợ[99] là bản thể th́ cũng được, gọi chẳng thấy chẳng nghe là công phu cũng được”. Nhưng răn dè, cẩn thận, e sợ rốt cuộc là công phu để thấu đạt bản thể, giống như cái được gọi là “ư pháp thật vô sở đắc” (nơi pháp thật sự không ǵ để đạt được) v.v… “Chẳng thấy, chẳng nghe” rốt cuộc là bản thể được hiển lộ bởi công phu, giống như nói “chẳng ĺa Phật trụ thế” v.v… Nếu thẳng thừng coi “vô sở đắc” v.v… là Đệ Nhất Nghĩa Đế, khác ǵ Thiên Không? Coi “chẳng ĺa Phật trụ thế” v.v… là công phu, có khác ǵ chấp tướng? Dùng công phu chấp tướng để cầu Thiên Không Nghĩa Đế, đó là trái nghịch Bát Nhă, há có phải là tu hành Bát Nhă ư?

Các mối quan hệ ấy mê, ngộ rạch ṛi, nếu chịu lănh hội cặn kẽ một phen, sẽ chẳng chỉ có một phen chân thật thọ dụng, ngay như đối với lỗ mũi của cổ nhân, cũng quyết chẳng hướng theo chỗ giống nhau hay khác nhau nơi văn tự để suy đoán. Nạp tăng gần đây duyệt lại sáu trăm quyển Đại Bát Nhă, thấy nghĩa thú ấy càng rộng, càng giản ước, không pháp nào chẳng lưu xuất từ đấy, không pháp nào chẳng quy vào đó. Lục Tổ nói “pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn, nhưng không có một pháp để có thể được”. Chính v́ không có một pháp nào để có thể được; cho nên pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn, không một pháp nào để có thể đạt được. Thực hiện công phu nơi tối thượng thừa, pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn, tối thượng thừa viên măn bản thể. Nếu có một pháp để có thể được, sẽ bị một pháp ấy trở ngại, chẳng thể “pháp nào cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn” được.

Như Đường Thái Tông nếu chẳng một phen liều ḿnh tan nhà, mất thân, sao có trọn thiên hạ cho được? Tức là lấy thiên hạ làm nhà, lấy thiên hạ làm thân. Quên thân, quên nhà, chính là thân và nhà không ǵ lớn bằng. V́ thế, đối với pháp thật sự chẳng có ǵ để đạt được, sẽ luôn chẳng ĺa Phật thế (đời có Phật xuất hiện). Chẳng dùng tướng để thấy Như Lai, tức là luôn cung cấp Như Lai. Chẳng có pháp để đắc Bồ Đề, sẽ có thể cầu Phật dạy bảo. Như vậy th́ mới gọi là tu hành Bát Nhă, mới có thể hàng phục cái tâm, mới là trụ nơi nên trụ. Nếu không, y theo văn tự để hiểu nghĩa, ba đời chư Phật bị oan uổng. Dẫu hành Lục Ba La Mật trăm ngàn vạn kiếp, do có sở đắc làm phương tiện, rốt cuộc gọi là xa ĺa Bát Nhă rất sâu mà thôi! Xưa kia, tôi lầm lạc soạn Phá Không Luận để phá cái [kiến chấp] “đắc Không” của người hiện thời. Nếu vô sở đắc, sẽ chẳng đắc Hữu, mà cũng chẳng đắc Không, cũng chẳng đắc “vô sở đắc”, có ǵ để có thể phá nữa ư?

 

* Thư đáp Đường Nghi Chi (hai lá thư)

 

          1) Ư hỏi, xin nói thẳng ra. Câu hỏi của ngài Tử Bách là lời hỏi trọng yếu, hỏi thiết thực, hỏi mầu nhiệm, là lời hỏi chặn ngang yết hầu, là lời hỏi đoạn dứt mạng căn. Hăy chú trọng nơi chỗ hỏi, sẽ mười phần vẹn mười ngộ đạo. Lời hỏi của cư sĩ là lời hỏi ngây ngốc, lời hỏi lẩn quẩn, lời hỏi đùa bỡn, lời hỏi chẳng thông đạt nghĩa lư, là lời hỏi Phật sẽ chẳng đáp. Nếu hưng theo đó để suy nghĩ loạn xạ, sẽ mười phần chắc mười là phát tà! Kinh dạy chẳng nên nghĩ mà cứ nghĩ, chẳng nên hỏi mà cứ hỏi, đâm ra thành cái trí nhiễm độc.

Sáu trăm quyển Bát Nhă được gồm thâu trong Tâm Kinh. Tâm Kinh chỉ có hai ba trăm chữ, nhưng một lời “chiếu kiến Ngũ Uẩn” đă bao gồm trọn vẹn. Một lời “chiếu kiến” được bao gồm trọn vẹn trong hai chữ “sắc tâm”. Phàm cái được chiếu (sở chiếu), không ǵ chẳng thuộc vào Sắc, cái có thể chiếu (năng chiếu) không ǵ chẳng thuộc về tâm. Nhưng Năng và Sở đều vô tánh, do vọng niệm mà lập. Một niệm nhỏ nhoi chính là nguồn cội của sắc tâm. Xét đến một niệm ấy vừa khởi, chẳng từ đâu mà khởi, hoàn toàn nương theo chân tánh. Nhưng chân chẳng phải là cái nhân của vọng, do nhân nào mà khởi vọng? Chân chẳng phải là ngoài Hữu, vọng há đến từ bên ngoài? Lần lượt suy xét, loại trừ, rốt cuộc cái vọng ấy từ đâu mà dấy khởi?

Mối nghi t́nh thật sự như tường bạc, vách sắt ấy chính là thoại đầu thật sự, Bất luận năm, tháng, thời, kiếp, chỉ có khối nghi ấy. Lông mày cùng đại địa kết chặt, để hiểu th́ cần phải t́m một phần sáng suốt. Chuột chui vào sừng trâu đến chỗ đầu nhọn, chắc chắn sẽ có chỗ đoạn trừ điên đảo. Lại như chuột gặm quan tài, chẳng thủng sẽ chẳng ngừng. Nghi như thế, đừng quên, đừng giúp, khi cơ duyên đến, phun đất mà ngộ, mới biết thế giới, thân, tâm, vốn là mộng mắt, hoa đốm trên không vốn chẳng sanh, cũng lại chẳng diệt. Há có vô thỉ kiếp trước? Nguyên do dấy lên ư niệm lúc tối sơ có thể hỏi, như kẻ si nói mớ.

Xét theo ngộ môn phun đất ấy, lại chia thành cạn, sâu, tà, chánh. Nếu nói đại lược, có người đạt được tin tức cắt đứt hai đầu này, sẽ nói là “hễ là không th́ vĩnh viễn là không”, chẳng c̣n tu chứng để có thể luận, tức là ác thủ không kiến, đâm ra đọa vào hố to. Có người tuy đạt được điều ấy, biết rơ “thân, tâm, thế giới đều như mộng, ảnh”, chấp trước dần dần nhẹ bớt, tu hành dần dần tiến. Đó là Càn Huệ. Có người đạt được điều ấy, biết “thân, tâm, thế giới tuy như huyễn cảnh”, chỉ có “chân tâm bất sanh, bất diệt” là chỗ nương vào của hết thảy sanh diệt. Do vậy, hưng khởi Lục Độ vạn hạnh như mây để giúp trang nghiêm chân tâm, tự lợi và lợi tha chính là Trung Đạo chánh tín. Có người đạt được điều ấy, liễu giải hư vọng vô sanh, toàn là tánh khởi, chân tánh chẳng sanh, chẳng diệt, tức là hết thảy các pháp cũng sẽ ngay lập tức đều là bất sanh, bất diệt. Chân tánh trọn đủ hết thảy các pháp, tạo hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp cũng đều trọn đủ hết thảy các pháp, tạo hết thảy các pháp, bèn thấy các pháp dung thông lẫn nhau, trọn đủ lẫn nhau, trọn khắp lẫn nhau, chứa trọn lẫn nhau. Tuy lại tầng tầng dung hội, trọn đủ, trọn khắp, chứa trọn, vẫn chẳng không ở nơi đâu. Tuy không ở nơi đâu, nhưng vô tận, vô tận, pháp nào cũng đều rành rành. Đó gọi là phàm phu trọn đủ phiền năo trói buộc có thể biết tạng bí mật của Như Lai. Dẫu là nhục nhăn, mà gọi là Phật nhăn. Từ đầu tới cuối, dùng Phật tri Phật kiến ấy để tu hành, thẳng đến viên măn Bồ Đề, quy vào vô sở đắc, trung gian vĩnh viễn chẳng có các tướng cong vạy.

Ngài Quy Sơn nói: “Tông này khó đạt được chỗ kỳ diệu. Cần phải dụng tâm kỹ càng, chánh nhân đốn ngộ trong ấy, sẽ là thềm, bậc xuất thế. Nếu đời đời có thể chẳng thoái, chắc chắn có thể mong đạt tới địa vị Phật” chính là nói về điều này. Há giống như những kẻ giảng giải đời sau, hư vọng so đo tích lũy công hạnh, chẳng hiểu pháp tánh b́nh đẳng! Lại há giống như kẻ cuồng Thiền hiện thời, hư vọng so đo “tức tâm, tức Phật”, chẳng biết nghĩa môn sai biệt đó ư? Nhưng muốn phát khi diệu ngộ, hoặc từ Tư mà nhập, hoặc từ Văn nhập, Sự chẳng nhất loạt như nhau! Chỉ nên gột sạch tri kiến trước đó, khiến cho sạch hết chẳng sót, th́ mới kham có lợi ích mới!

          2) Lời ngông cuồng nghe mà kinh hăi, mong được tiếp nhận, chẳng vứt bỏ. Cho phép tôi dùng lời trung thực để thưa tŕnh. Chữ nào cũng là kim vàng, đáng ghi tạc, đáng biên chép! Than ôi! Sau khi huynh Tỉnh Cốc qua đời, đă lâu chẳng được nghe lời lẽ chánh trực, chân thành. Nay may mắn sao, có được vị lăo cư sĩ này! Tuy tập khí sâu nặng, sẽ nhiều lượt nghĩ tới vị thuốc tốt lành này, sẽ dần dần được lành. Tôi suốt đời lắm nỗi lỗi lầm, không chỉ hai loại là nóng giận và dễ dăi vui mừng. Càng mong chẳng tiếc lời thẳng thắn khiến cho tôi sửa đổi. Nhưng chuyện nổi nóng là v́ hết sức bất đắc dĩ. Năm trăm đệ tử, mỗi vị đều nói cái nhân của chính ḿnh. Tuy chẳng phải là ư Phật, nhưng mỗi vị đều được gọi là “khéo nói”. Do nhập môn bất đồng, nhưng về đến nhà là một, lại chẳng biết ư chân thật của Phật, đều thuận theo quyền môn của Phật. Do vậy, chẳng trở ngại. Nếu như Dương Mặc[100] tràn trề nhân nghĩa, ắt Mạnh Tử phải sợ, rảnh đâu để lo biện bác, chê gièm ư? Do vậy, Từ Minh mắng chửi các phương, Đại Huệ thống thiết quở trách ám chứng, vướng đại họa mà chẳng dám tránh né, chắc là có riêng một đường lối, chẳng thể xếp cùng loại với pháp của Vân Thê, Trúc Lâm được. Tuy vậy, kẻ hèn này dốc sức học theo [tư thái] chẳng cần phẫn nộ mà vẫn oai nghiêm. Cư sĩ lượng thứ sâu xa nỗi khổ do bị vùi dập, chắc là cũng chấp thuận đấy chăng?

 

* Thư gửi Đạt Nguyệt pháp chủ

 

          Tôn giả một ḿnh rảo gót trong tông Thiên Thai, không chỉ gần là thừa tiếp đầu mối của ngài U Khê, mà thật sự là xa hơn th́ c̣n kế thừa giáo pháp của ngài Kinh Khê, chẳng như một phái Cao Đ́nh hữu danh vô thực. Từng nghe trong tông Thiên Thai có nhiều người thuận tùng, cớ sao trong môn Tức Trung lại có vàng nung chảy trào khỏi khuôn đúc vậy? Nhớ mùa Xuân năm Giáp Tuất (1634), thấy bộ Pháp Hoa Bách Vấn của Kim Nhă Thái. Khi đó, tôi cười x̣a, cất đi, chẳng ngờ đă trải qua bảy năm, [sách ấy] chưa bị hủy diệt bởi búa ŕu! Nay lại được khắc in xong, sao lại phóng túng không kiêng dè đến thế? Tuy [tác phẩm ấy] tệ lậu, nông cạn, tệ hại, vẫn có một hạng người mù từ thuở lọt ḷng liền vâng theo lời dạy bảo ấy. Nơi tôn giả đă chẳng răn đe, gây hại cho kẻ ngu muội, tiểu trí đến mức nào?

Xưa kia, đức Thế Tôn đối với sự trái nghịch của Đề Bà Đạt Đa, ắt sai Xá Lợi Phất hướng đến các vua chúa, quan lại, nói rộng tội lỗi của Đề Bà Đạt Đa. Há tôn giả có thể riêng im lặng ư? Tôi thấy chuyện tiếm lạm, trộm lén ấy, ḷng bi dâng trào từ gan, phổi, đành tự dấn thân học đ̣i tắm gội, xin thảo phạt[101], thẳng thừng phê phán những nghi vấn tà vạy của ông ta, tŕnh lên các vị phương trượng. Pháp đạo suy bại càng thậm tệ vào lúc này, người phá hoại chánh giáo không chỉ ḿnh họ Kim. Tôn giả khi trước làm thân cư sĩ, đă được trời, người trọng vọng, huống hồ nay nghiễm nhiên là nghi biểu sa-môn. Thích Ca, Trí Giả, Kinh Khê nếu thật sự nh́n vào, sao dung tôn giả thoái thác trách nhiệm ấy?

 

* Thư gửi Kiến Nguyệt luật chủ

 

          Luật học bị sai lạc đă gần một ngàn năm. Hai vị thầy Nghĩa Tịnh và Hoài Tố đă mất, trọn chẳng có người có thể biết rơ khai, giá, tŕ, phạm, nặng, nhẹ, hoăn, gấp. Gần đây, Mẫn Trung Đại Huệ luật chủ mới uốn nắn được một nửa ít ỏi, vẫn chưa khôi phục được quy củ thơm thảo thời đức Phật. Húc lại bạc đức, ít phước, chẳng đáng cho người khác tin tưởng, thức ngủ than thở măi, lệ đẫm đầm đ́a. Ṭa nhà lớn sắp nghiêng, chắc chắn một cột chẳng thể chống đỡ nổi. Gần đây, nghe nói tọa hạ phấn phát chí hướng kim cang, nắm giữ đuốc trí huệ, trừ khử thói tệ, tuân theo thời cổ, tôi vui mừng chẳng ngủ được. Mong được gặp gỡ, dâng trọn tấc ḷng ḥng tăng thêm sự thánh minh, để bụi trần lắng xuống đại địa, nước đổ vào biển thẳm. Tọa hạ đă đắc tận thiện tận mỹ, Húc cũng chẳng bị ôm hận “ôm đá chứa châu mà bị chặt chân”[102]. Mùa Hạ năm nay, giảo duyệt cặn kẽ sách Tập Yếu một lượt, bèn sửa chữa hoàn tất. Số quyển so với bản cũ chẳng nhiều hơn, nhưng lược bỏ phần rườm rà, bổ sung những chỗ trọng yếu, khá là tinh giản, vâng theo lời khuyên của bậc sáng mắt!

 

* Thư gửi Lưu Thuần Chi

 

          Đại sự nhân duyên này bị sai ngoa tích tụ đă lâu, người lanh lợi thường thêm thắt ư kiến, dám khí phách gánh vác, như các vị Từ Tập v.v… đáng là những tấm gương tày đ́nh! Sách Ngũ Đăng Hoa há chẳng bị người sáng mắt ngàn đời cười nhạo ư? Ông Trần Dục hoằng dương, hộ tŕ sâu xa, là nhục thân Vi Đà, nhưng trong chuyện thuộc bổn phận, có khi tinh tế, xảo diệu, chẳng thẹn với cổ nhân. Có khi thô sơ, qua quít, c̣n chẳng kham xách hài rơm cho tọa chủ, mà cũng chưa từng trải qua rèn luyện. Trong pháp môn, ông ta có kinh nghiệm tột bậc, nhưng trọn chẳng gánh nổi chữ Ngộ, rất thích chiếm tiện nghi, ư hướng hơi sút kém, thua xa cái hư tâm lúc c̣n là Tú Tài! Khoa cử trong thế gian thật sự có thể mai một bậc hiền hào ư? Đáng sợ thay!

 

* Thư trả lời Trương Trung Trụ

 

          Ông ban lời phủ dụ “căn bệnh chung trong cơi đời là chỉ ưa chuộng đạo tràng náo nhiệt”, quả thật là một mũi kim đâm thẳng vào đỉnh đầu của thầy tṛ trong hiện thời. Sáng tối Phật hiệu và chú Đại Bi chính là thuyền Từ trong biển hoạn lộ. Tự lợi, lợi tha, pháp đều trọn đủ! Chỉ sợ ở ngay trong điện Hàm Nguyên mà vẫn t́m Trường An. Nhưng trượng thất[103] lưu tâm giáo pháp viên đốn, chắc chắn chẳng giống như bọn sĩ phu lanh lợi trong thời gần đây, đánh mất tiện nghi ngay nơi chỗ đạt được tiện nghi!

 

* Thư gửi Tiền Mục Trai

 

          Mùa Hạ năm nay, hai lần bệnh nặng gần chết. Đến cuối Thu mới duyệt Đại Tạng xong. Giữa Đông lại bệnh khá nặng, suốt bảy ngày đêm chẳng thể ngồi, nằm, chẳng thể ăn uống, chẳng thể điều trị, chẳng có cách nào phân giải, chỉ đành đau ḷng khóc lóc xưng danh tự Phật, Bồ Tát, cầu sanh Tịnh Độ mà thôi. Phàm phu trọn đủ phiền năo trói buộc, tổn ḿnh, lợi người, người khác chưa ắt được lợi, ḿnh đă mắc hại như vậy đó! Thường ngày thật sự chỉ ra sức nơi tâm tánh, vẫn chưa đắc lực, huống hồ chỉ dùng sức nơi văn tự ư? Xuất sanh tử, thành Bồ Đề, trọn chẳng phải là chuyện dễ dàng! Chẳng phải là bậc trượng thất, ai biết lời thật ấy?

 

* Thư trả lời Tiền Mục Trai

 

          “Tế Vân đấu tránh”[104] chẳng khác tṛ đùa trẻ con. Đọc Nho Thích Tông Truyền Thiết Nghị (trộm bàn về sự tông truyền trong đạo Nho và đạo Phật), đáng phó cho một trận cười vậy! Chuyện Tục Đăng tập hợp trọn khắp ngữ lục đời Minh mới thành, chẳng phải là chuyện có thể hoàn tất trong sáng tối. Thân chưa vùi lấp vào ng̣i rănh (ư nói chưa chết), sẽ lấy ba bốn năm làm kỳ hạn. Trước thuật cần phải thật sự từ trong tâm khảm của chính ḿnh lưu xuất th́ mới có thể rạng ngời, trước sau chưa từng có! Nếu chẳng phải do an trụ, bản lănh sâu xa, trái phải đều gặp nguồn, lại c̣n đọc rộng tột cùng các sách, chọn lọc trọn khắp các điều hay, sẽ trọn chẳng phải là tùy tiện dựa theo lương tri phát hiện mà thâu thập, chẳng thể gọi là “tập đại thành”[105] được!

Đại Bồ Tát nương theo nguyện lực mà xiển dương chánh pháp, cần phải như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả, Thanh Lương, lập ra chuẩn tắc tối cao ngàn đời. C̣n như các vị Khuê Phong, Trường Thủy, tuy mỗi vị đều có sở đắc, vẫn chưa tránh khỏi bị người sáng mắt phê phán, huống hồ những kẻ khác ư? Xin trượng thất hăy cân nhắc! Hám Sơn đại sư tánh tướng thông thuyết, lâu ngày bị Giáo gia chê cười là vô dụng, gây hại. Đạt đại sư dùng tám pháp thuộc Năng và Sở để giải thích hai chữ tánh và cảnh, bất quá v́ tuân theo sự sai lầm của Lỗ Am[106], tu tập mà chẳng suy xét, ngọc trắng có vết rạn nhỏ. Giao Quang đề xướng “dùng Căn chẳng dùng Thức”, chất độc truyền khắp thiên hạ, gây họa vô cùng, chẳng phải do một lời mà nói trọn hết được! Giảo đối sách Tông Kính đă xong, xin gởi trở về núi. Sách Thông Dực[107] như đă hứa cũng xin rộng ḷng giao cho!

Linh Phong Tông Luận, phần 5 hết



[1] Tứ vi: Bốn loại sắc, hương, vị, xúc cực vi tế. Chúng chính là nguyên tố của sắc pháp, nương vào đó mà hóa thành Tứ Đại.

[2] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải của trang nhà Hán Điển.

[3] Bảy cảnh: Chính là bảy loại cảnh dùng để tu Từ Bi Quán, bao gồm: Người thân thuộc thượng phẩm, người thân thuộc trung phẩm, người thân thuộc hạ phẩm, hạ phẩm oán, trung phẩm oán, thượng phẩm oán và chẳng oán thân.

[4] Tam lạc tức ba loại lạc:

1) Ngoại lạc: Sự vui sướng do năm thức (nhăn thức, nhĩ thức…) duyên theo ngũ trần.

2) Nội lạc: Tức niềm vui sanh bởi ư thức do Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền v.v…

3) Pháp lạc lạc: Tức niềm vui sanh bởi pháp lạc, do trí huệ sanh khởi, cũng do xa ĺa tâm chấp ngă, tâm chẳng an chúng sanh v.v…

[5] Thạc Nhân (碩人) vốn là một danh xưng hàm nghĩa người phụ nữ hiền hậu, đức hạnh, ẩn dật. Kể từ đời Tống, vợ của quan Thị Lang trở lên được phong hiệu là Thạc Nhân. Về sau, từ ngữ này được dùng để tôn xưng phụ nữ.

[6] Kính ngữ để gọi cha mẹ quá văng của người khác.

[7] Diêu Giang học phái chính là một trường phái Nho học theo chủ trương Tâm Học của Vương Dương Minh (ông này tên thật là Vương Thủ Nhân, tự là Bá An, hiệu là Dương Minh Tử). Ông vốn quê ở Diêu Huyện thuộc phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Diêu Giang là con sông lớn chảy qua Diêu Huyện. Tứ Thủy và Thù Thủy là hai con sông chảy qua huyện Khúc Phụ (quê hương của Khổng Tử).

[8] Đoạn này viết vắn tắt nên hơi khó hiểu. Trong thiên Tử Hăn sách Luận Ngữ, nguyên văn như sau: “Nhan Uyên quư nhi thán viết: - Ngưỡng chi di cao, toản chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu, phu tử tuần tuần thiện dụ nhân, bác dĩ ngă văn, ước ngă dĩ lễ, dục băi bất năng, tức kiệt ngô tài, như hữu sở lập trác nhĩ, tuy dục tùng chi, mạt do dă dĩ” (Nhan Uyên than rằng: “Đạo của phu tử ngửa trông càng cao, dùi mài càng cứng, nh́n th́ như ở đằng trước, bỗng đă ra sau. Phu t từng bước khéo khuyên dạy tôi, dùng các thứ kinh điển để mở rộng kiến thức của tôi, dùng lễ để ước thúc hành vi của tôi, khiến cho tôi không thể ngưng học tập. Dẫu tôi dùng cạn hết tài sức vẫn như nh́n vào thứ sừng sững trước mặt tôi, tuy muốn theo đuổi ḥng đạt được như Ngài, nhưng vẫn chẳng thể được). Chúng tôi chuyển ngữ đoạn này theo cách diễn giải đăng trên trang nhà Phật Giáo Huệ Nhật, phần Nho Gia Văn Hóa.

[9] Ba vị này đều là học tṛ của Khổng Tử, Tử Do và Nhiễm Cầu thích ra làm quan để giúp dân giàu nước mạnh, Công Tây Xích chỉ chuyên chú trọng lễ nhạc.

[10] Đây là một câu nói trong thiên Lư Nhân sách Luận Ngữ: “Bất nhân giả, bất khả dĩ cửu xử ước, bất khả dĩ trường xử lạc. Nhân giả an nhân, tri giả lợi nhân” (kẻ bất nhân chẳng thể ở măi trong cảnh nghẻo khổ mà cũng chẳng thể ở măi trong cảnh vui sướng, v́ họ rất dễ bị hoàn cảnh xoay chuyển, chẳng vâng giữ bổn phận. Người có ḷng nhân th́ sẽ an vui trong điều nhân đức, chẳng mong mỏi sẽ đạt được ǵ do chuyện nhân đức đem lại. Người có trí do lợi ḿnh, lợi người mà hăng hái làm chuyện nhân đức). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích của Tử Viên trong loạt bài Luận Ngữ Giản Thuyết trong tạp chí Minh Luân của Đài Trung Liên Xă.

[11] Bạch Lộ và Thu Phân là hai trong hai mươi bốn tiết khí theo cách phân định thời tiết của Trung Hoa trong một năm. Tiết Bạch Lộ thường bắt đầu từ 7-9 tháng Chín, c̣n Thu Phân bắt đầu ngày 22-24 tháng Chín. Sách Nguyệt Lệnh Thất Thập Nhị Hầu Tập Giải giảng: “Hơi nước từ đất bốc lên ngưng thành sương, mùa Thu thuộc Kim, Kim màu trắng. Bạch là sương có màu trắng. Khí trời bắt đầu chuyển sang tiết lạnh, ban ngày c̣n nóng, nhưng đêm xuống nhiệt độ hạ dần”. Lúc này các loài chim bắt đầu bay xuống phương Nam tránh rét. Khi ấy, mặt trời c̣n chiếu thẳng xuống đường xích đạo, điểm chiếu thẳng của mặt trời sẽ chuyển dần về phương Nam. Trong thời gian tiết khí này, ngày đêm vẫn c̣n dài bằng nhau, nên gọi là Thu Phân (chia đều), tương ứng với tiết Xuân Phân. Sau tiết Thu Phân, ngày ở Bắc Bán Cầu sẽ ngắn dần, đêm dài dần, trong khi tại Nam Bán Cầu th́ ngược lại.

[12] Đây là nói theo ư của Mạnh Tử: “Sát nhất vô cô dĩ thủ thiên hạ, nhân giả bất vi dă” (Giết một người vô tội sẽ được cả thiên hạ, người có ḷng nhân vẫn chẳng làm). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo lời giảng của pháp sư Ngộ Đạo trong loạt bài giảng về Quần Thư Trị Yếu.

[13] Đây là một câu nói trích từ thiên Tử Hăn trong sách Luận Ngữ: “Tử úy vu Khuông, viết: - Văn vương kư một, văn bất tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dă, hậu tử giả bất đắc dữ vu tư văn dă. Thiên chi vị táng tư văn dă, Khuông nhân kỳ như dư hà?” (Khổng Tử bị uy hiếp, vây hăm ở đất Khuông, nói: - Châu Văn Vương đă mất, văn minh lễ nhạc của Ngài há chẳng phải do ta ǵn giữ ư? Nếu trời muốn tiêu diệt văn minh, lễ nhạc ấy, ta chết rồi cũng không có ai ǵn giữ nữa. Nếu trời chưa diệt văn minh lễ nhạc ấy, người đất Khuông làm ǵ được ta?) Chúng tôi chuyển ngữ đoạn này theo lời chú giải của Tiền Mục. Khổng Tử từ nước Vệ sang nước Trần, đi qua đất Khuông (nay thuộc huyện Trường Viên, tỉnh Hà Nam). Trước đó, Dương Hổ là người nước Lỗ từng cướp bóc đất Khuông. Khi đó, người đất Khuông thấy tướng mạo Khổng Tử tương tự Dương Khuông, tưởng là Dương Khuông quay lại, nay thấy Ngài không có quân lính, bèn vây hăm, toan giết chết. Tiền Mục cho rằng “văn” trong đoạn Luận Ngữ trên đây phải hiểu là chế độ lễ nhạc, là đại đạo.

[14] Đây là một câu thuộc phần Quái Từ (giải thích ư nghĩa của quẻ) trong kinh Dịch nhằm giải thích quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân. Chúng tôi chuyển ngữ theo cách giải thích của trang nhà Quốc Dịch Đường. Theo họ, Dă phải hiểu là chỗ khoảng khoát, đồng trống ở ngoài các thành ấp thời cổ.

[15] Quẻ Càn do sáu vạch liền tạo thành, mỗi vạch ấy được gọi là hào Dương. Mỗi hào Dương lại được gọi là Cửu. Sơ Cửu tức là hào thứ nhất (tính từ phía dưới lên). Ư nghĩa của hào này được giải thích là “tiềm long vật dụng” tượng trưng cho sự việc mới phát triển h́nh thành, dẫu có ưu thế tiềm tàng, nhưng chưa đủ sức, chưa gặp thời cơ thuận lợi để vận dụng tốt đẹp, giống như rồng c̣n ẩn trong nước, chưa đủ sức bay lên để phun mưa, nhả mây.

[16] Tức là lần lượt nói về các hào trong quẻ Càn. Sơ Cửu là “tiềm long vật dụng”, hào thứ hai là “kiến long tại điền” (thấy rồng nơi ruộng, tức đă đủ tài đức để xuất đầu lộ diện). Hào thứ ba là “quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược lệ, vô cữu” (ư nói quân tử tài đức đă hiển hiện, sẽ khiến cho người khác chú ư, suốt ngày đêm đều phải cảnh giác, răn nhắc chính ḿnh để pḥng ngừa tai họa. Hành xử như thế th́ dẫu trong cảnh tai họa, vẫn không phạm sai lầm). Hào thứ tư là “hoặc dược tại uyên, vô cữu” (hoặc nhào xuống vực, không phạm sai lầm, tức là tùy cơ ứng xử thích hợp). Hào thứ năm là “phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân” tức là rồng bay vọt lên trời, tự do, tự tại, lên cao xuống thấp, tùy ư tự tại.

[17] Đây là nói theo ư của một đoạn trong sách Trung Dung: “Quân tử ḥa nhi bất lưu, cường tai kiểu! Trung lập nhi bất ỷ, cường tai kiểu! Quốc hữu đạo, bất biến tắc yên, cường tai kiểu! Quốc vô đạo, chí tử bất biến, cường tai kiểu”. Khổng Dĩnh Đạt giải thích: “Bậc quân tử ḥa đồng với mọi người, nhưng chẳng bị lôi cuốn, biến đổi theo thói tục, đó là người thật sự mạnh mẽ. Giữ ǵn được sự trung chánh chẳng thiên vị, đó là người thật sự mạnh mẽ. Quốc gia có thịnh trị bèn chẳng thay đổi chí hướng, đó là người thật sự mạnh mẽ. Quốc gia rối loạn, kiên tŕ giữ vững tiết tháo, thà chết chẳng biến đổi, đó là người thật sự mạnh mẽ”.

[18] Vua Vũ () c̣n gọi là Đại Vũ, thuộc bộ tộc Hạ Hầu, họ Tự, tên là Văn Mạng, cháu tám đời của Hiên Viên Hoàng Đế. Do có công trị thủy (ngăn ngừa lũ lụt), ông được Đế Thuấn truyền ngôi, sáng lập ra nhà Hạ.

Tắc hay Hậu Tắc (后稷), họ Cơ, tên là Khí, được coi là thỉ tổ nông nghiệp của Trung Hoa. Ông sanh ở Tắc Sơn (nay là huyện Tắc Sơn thành phố Vận Thành, tỉnh Sơn Tây). Ông là thỉ tổ nhà Châu. Theo truyền thuyết, mẹ ông là Khương Nguyên thuộc bộ tộc Hữu Thai, do giẫm vào vết chân của người khổng lồ mà hoài thai sanh ra ông. Coi đó là bất tường, nên ba lần bà vứt bỏ ông; do vậy, ông có tên là Khí (, vứt bỏ). Ông giỏi trồng trọt, dạy dân cách gieo lúa mạch và lúa tẻ (tắc), được vua phong làm Tắc Quan (c̣n gọi là Nông Sư, tức chức quan chuyên trông coi nông nghiệp. Người đầu tiên giữ chức này là con của Viêm Đế tên là Trụ, về sau được tôn xưng là Cốc Thần), cho nên ông được gọi là Hậu Tắc, được vua ban họ là Cơ, và phong thực ấp ở đất Thai. Do có công giúp dân cày cấy, ấm no, ông được tôn là thần, với danh xưng Châu Tắc, Tổ Linh, hoặc Tắc Thần, Nông Tắc Đế Quân, Tắc Vương, Nông Tắc Thần v.v… được tế bằng lễ Giao, và các triều đại xếp ngày tế tự ông vào hàng quốc tế (tế lễ do triều đ́nh chủ xướng, vua đích thân làm chủ tế, hoặc sai quan khâm mạng chủ tế). Con cháu của ông tiếp tục giữ chức quan Hậu Tắc cho đến thời Bất Truật, do nhà Hạ suy vong, triều đ́nh phế bỏ chức Nông Quan mới thôi.

[19] Tử Cao, tên thật là Cao Sài, c̣n gọi là Quư Cao, là một trong bảy mươi hai đệ tử đắc ư của Khổng Tử. Ông là người nước Vệ, có thuyết nói ông là hậu duệ của Tề Văn Công, thân cao chưa tới sáu thước Tàu. Khổng Tử ca ngợi ông học vấn tuy chẳng đủ, nhưng tấm ḷng từ mẫn, công chánh, làm người rất khá. Ông làm quan coi ngục, từng phán một người có tội phải bị chặt chân. Về sau, nước Vệ nội loạn, ông bị đuổi bắt, phải trốn ra khỏi thành, được người có tội chặt chân ấy (khi đó làm lính giữ thành) cứu giúp thoát khỏi sự truy bắt. Ông ngạc nhiên hỏi: “Tôi từng v́ xử án mà ra lệnh chặt chân ông, sao ông lại cứu giúp tôi mà không báo cừu?” Người ấy đáp: “Ông chặt chân tôi v́ tôi phạm pháp, tội đáng phải chịu. Tôi biết khi ông kết tội tôi, mặt lộ vẻ ưu sầu, biết ông t́m cách giảm án, nhưng tội trạng đă rành rành, không làm ǵ được. Tôi biết ông là chánh nhân quân tử, không thể nào làm khác được. Do vậy, tôi kính trọng ông”.

[20] Theo Tế Bắc Triều Tiên Sinh Kê Lặc Tập, vào ngày mồng Một tháng Ba năm Sùng Ninh thứ hai (1103), người dân họ Chức ở huyện Hoạch Hỷ thuộc Vệ Châu giết lợn tế thần, vứt xương đầu lợn. Con chó săn của một người dân khác là họ Lưu ngậm xương tha về. Nó cứ gầm gừ bốn ngày, chẳng gặm xương. Người ấy sai con chẻ xương ra, thấy trong cái răng cối bên trái của đầu lợn, có một khối thịt to bằng ngón cái, màu tươi nhuận như ngọc biếc. Xem kỹ th́ là tượng Như Lai, trong búi tóc có viên châu to bằng hạt gạo, nhắm mắt, ngồi xếp bằng, trang nghiêm đẹp đẽ. Người kéo đến xem cả vạn. Em họ của tác giả tập sách ấy chép lại điều chính mắt thấy nghe gởi cho ông.

[21] Theo Phật Tổ Thống Kỷ quyển bốn mươi hai, Đường Văn Tông ăn ṣ. Có một con ṣ cậy vỏ măi không được. Vua liền đốt hương cầu khẩn, vỏ ṣ tách ra, trong thân ṣ hóa hiện h́nh Quán Âm Đại Sĩ đang ngồi, tướng hảo trang nghiêm. Vua kinh sợ, hạ chiếu mời thiền sư Duy Chánh vào cung hỏi nguyên do. Sư nói: “Mọi vật chẳng ứng hiện hư huyễn! Đấy là do bệ hạ có tín tâm rộng lớn. Kinh dạy đáng nên dùng thân nào để độ được bèn hiện thân ấy để thuyết pháp”. Vua nói: “Đại Sĩ tuy hiện thân, chưa nghe thuyết pháp”. Sư hỏi: “Bệ hạ thấy chuyện này là b́nh thường ư? Có tin hay không?” Vua nói: “Chuyện hy hữu, lẽ đâu chẳng tin!” Sư nói: “Bồ Tát đă thuyết pháp rồi đó!” Vua hết sức vui mừng, xuống chiếu truyền tự viện trong thiên hạ lập tượng Quán Âm, gọi là Cáp Lỵ Quán Âm (Quán Âm ngồi trong vỏ ṣ).

[22] Theo phẩm Chư Thiên Lai Hạ Cúng Dường của kinh Soạn Tập Bách Duyên (do ưu-bà-tắc Chi Khiêm dịch vào đời Đông Ngô), trong thành Vương Xá, có một trưởng giả tên là Hiền Diện, của cải vô lượng, nhưng tham lam, siểm khúc, ghen ghét, chẳng hề có tâm bố thí. Hễ thấy sa-môn, bà-la-môn, người nghèo khổ đến xin, ông ta liền xua đuổi, chửi mắng thậm tệ. Sau khi mạng chung, do tiếc của, đọa làm thân rắn độc canh giữ tài sản, cắn mổ bất cứ ai đến gần. Vua Tần Bà Sa La nghe chuyện, cầu Phật cứu giúp. Đức Phật đến nơi, rắn nổi sân, toan cắn chết Phật. Đức Phật dùng từ tâm, từ năm đầu ngón tay phóng quang ngũ sắc, điều phục sân tâm, khiến rắn nhớ lại kiếp trước. Rắn hổ thẹn, sám hối, chui vào bát của đức Phật. Đức Phật cầm về, mọi người đua nhau đến xem. Rắn càng hổ thẹn, liền mạng chung, sanh lên trời Đao Lợi. Vị trời ấy nhớ lại chuyện cũ, bèn xuống vườn trúc Ca Lan Đà nơi đức Phật ngự, cúng dường, đảnh lễ, tán thán, nghe đức Phật thuyết pháp bèn đắc quả Tu Đà Hoàn.

[23] Ngẫu Lục (偶錄) có thể hiểu thô thiển là những ghi chép ngẫu nhiên. Đây thường là tập hợp những đoạn văn hoặc các bài viết ngắn ghi lại những cảm nghĩ bất chợt của người viết trước một sự kiện, hoặc một t́nh huống nào đó. Đôi khi nó được dùng để gọi tập hợp những ghi chép tản mạn không theo một tŕnh tự nhất định nào, như bộ Tang Thương Ngẫu Lục của Phạm Đ́nh Hổ và Nguyễn Án vậy. Hoặc có thể là danh xưng để gọi tập hợp những ghi chép tâm đắc như bộ Y Y Ngẫu Lục của Trần Niệm Tổ đời Thanh tổng hợp những kinh nghiệm chẩn trị trong Trung Y.

[24] Đây là một công án trong nhà Thiền liên quan đến thiền sư Hoàng Bá Hy Vận. Ngài quở trách kẻ câu nệ ngôn ngữ, văn tự chỉ là phường hít bă của Thích Ca, Đạt Ma, giống như kẻ nếm bă hèm, chẳng biết được vị thật sự của rượu. Công án thứ mười một trong sách Bích Nham Lục ghi như sau: “Hoàng Bá dạy đại chúng rằng: ‘Các vị toàn là những gă nhai bă hèm, hành cước như thế, chỗ nào có ngày nay? Có biết là trong nước Đại Đường chẳng có thiền sư hay không?’ Khi đó, có một vị Tăng thưa: ‘Lại như các vị giáo hóa, suất lănh đồ chúng ở các nơi lại là như thế nào?' Hoàng Bá nói: - Chẳng bảo là không có Thiền, chỉ là không có thầy”. Theo ông Đinh Phước Bảo, ư Tổ nói: Đại Đường tuy rộng lớn, trọn chẳng có bậc thầy có thể giảng thiền để hướng dẫn hành giả, chỉ biết nhai lại những ngôn từ sáo rỗng của người xưa. Người hành cước tuy tham phỏng khắp nơi nhưng chấp vào văn tự, chẳng biết thật sự thể nghiệm hầu khai phá Phật tánh vốn sẵn có nơi chính ḿnh.

[25] Đây cũng là một câu trích từ thiên Ly Lâu Hạ sách Mạnh Tử: “Trung dưỡng bất trung, tài dưỡng bất tài”. Các nhà chú giải giảng Trung phải hiểu là vừa phải đúng mực, không thái quá, bất cập. “Tài” có nghĩa là phẩm đức tốt đẹp, c̣n Dưỡng có nghĩa là bồi dưỡng, giáo dục, hun đúc. Tức là dùng các phẩm đức tốt đẹp để hun đúc, dạy bảo, khiến cho người chưa có những phẩm đức ấy cũng trở thành tốt đẹp hơn.

[26] Hộc () là đơn vị đo dung lượng thời cổ. Từ thời Đường trở về trước, một Hộc chính là một Thạch, tức mười đấu gạo. Từ đời Tống trở đi, một Hộc chỉ là năm đấu. Một đấu là mười thăng. Một thăng là 1,035 lít.

[27] Quân () là đơn vị đo trọng lượng thời cổ. Theo Thuyết Văn Giải Tự, ba mươi cân là một Quân.

[28] Ngũ thường: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Ngũ luân (năm mối quan hệ cơ bản) gồm “phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, huynh đệ hữu tự, bằng hữu hữu tín” (cha con có t́nh thân, vua tôi có nghĩa, vợ chồng có trách nhiệm khác biệt, anh em có trên dưới, bạn bè giữ chữ tín).

[29] Theo truyền thuyết, Tứ Hung là bốn con vật hoặc bốn nhân vật hung bạo thời cổ đại. Chúng sống ở bốn phương vào thời Nghiêu - Thuấn. Theo chương Thuấn Điển trong sách Thượng Thư, Tứ Hung là Cộng Công (vốn là thủy thần, con cháu của Viêm Đế, do tranh giành ngôi vua với Chuyên Húc, tức giận húc đổ núi Bất Chu, khiến trời bị nghiêng, đất bị nghiêng về phía Đông Nam), Hoan Đâu (c̣n gọi là Hoan Đầu, Quán Đầu, cháu nội của Cổn, thủ lănh của bộ tộc Tam Miêu, được mô tả là có mỏ quạ, hai cánh, thích ăn cá), Cổn (cha của Đại Vũ, do trị thủy bị thất bại, bị đày ra Vũ Sơn, hóa thành con Hoàng Năi (rùa ba chân) ḅ xuống vực Vũ Uyên), Tam Miêu (một bộ lạc đă nổi loạn chống lại vua Nghiêu).

Theo Tả Truyện th́ tứ hung là bốn con quái vật:

1) Hỗn Độn: H́nh thể cực lớn, có bốn cánh, thân giống như gấu, nhưng không có đầu đuôi.

2) Cùng Kỳ: Giống như con trâu to, lông như lông nhím, chỉ có một cánh, thích ăn thịt người.

3) Đào Ngột: Thân như con cọp to, lông chó, dài đến hai thước, mặt người, chân hổ, hai răng nanh rất dài như răng lợn ḷi, c̣n có tên là Ngao Ngận, hoặc Nan Huấn.

4) Thao Thiết, c̣n gọi là Bào Hao, h́nh dạng như con dê, mặt người, mắt mọc dưới nách, răng cọp, tay người, ăn không bao giờ biết no, biểu trưng cho sự tham lam vô độ.

Khi nói đến Tứ Hung, thường hiểu theo thuyết thứ hai.

[30] Nguyên văn “xuất thế bạch mao”. Bạch mao (白茅) là một loại cỏ tranh, thường mọc ở các chỗ bờ nước, rễ rất dài, màu trắng, có vị hơi ngọt, có thể dùng làm thuốc. Thời cổ, người ta coi bạch mao là một vật thanh khiết, có thể giao cảm với thượng thiên. Do vậy, khi cúng bái, người ta thường kết cỏ tranh để chứa đựng hay che phủ các phẩm vật tế lễ. Thậm chí, khi thiên tử nhà Châu phong đất cho chư hầu, cũng dùng cỏ tranh bọc lấy một ḥn đất nơi ấy, biểu thị trao quyền cai trị nơi mảnh đất ấy cho vua chư hầu. Do đó, Tổ dùng chữ “xuất thế bạch mao” để ca ngợi Vương Dương Minh là người có phẩm đức thanh khiết, kham lănh trách nhiệm hướng dẫn người khác noi theo đường lối xuất thế chân chánh.

[31] Câu này dựa theo ư một đoạn trong sách Trung Dung: “Cố quân tử chi đạo, bổn chư thân, chinh chư thứ dân, khảo chư tam vương nhi vô bất mậu, kiến chư thiên địa nhi bất bột, chất chư quỷ thần nhi vô nghi, bách thế dĩ sĩ thánh nhân chi bất hoặc”. Các nhà chú giải như Khổng Dĩnh Đạt v.v… cho rằng Chất phải hiểu là chứng thực [khi bị chất vấn], và giảng đoạn trên đây như sau: “V́ thế, đạo của người quân tử được vị quân tử ấy thực hiện nơi bản thân, được dân chúng tán thành. Đạo ấy xét trong thời đại của ba vị thánh vương cũng chẳng có sai lầm, xếp đặt trong bất cứ nơi nào trong thế gian cũng đều chẳng mâu thuẫn, có chất vấn quỷ thần th́ quỷ thần cũng chẳng nghi, đợi đến thánh nhân trăm đời sau nh́n vào đạo lư ấy cũng chẳng có điểm nào không thấu hiểu.

[32] Cẩn Bân, tức là Lưu Cẩn và Ngụy Bân, hai thái giám quyền lực nhất trong đời Minh. Họ lũng đoạn chính quyền, đẩy Trung Hoa vào t́nh trạng đói rách lầm than. Bè lũ tám tên thái giám loạn triều chính được gọi là Bát Hổ. Lưu Cẩn quê ở Hưng B́nh, tỉnh Thiểm Tây, vào cung trong niên hiệu Thành Hóa (1465-1478) thời Minh Hiến Tông. Thoạt đầu hắn được điều đi làm chức Tư Hương trông coi Mậu Lăng (lăng của Minh Hiến Tông), rồi chuyển sang hầu Thái Tử (tức Châu Hậu Do). Do biết diễn tuồng và khéo lấy ḷng, hắn được Thái Tử coi là kẻ tâm phúc. Khi Thái Tử lên ngôi (tức Minh Vũ Tông), hắn cấu kết với các hoạn quan Mă Vĩnh Thành, Cao Phụng, La Tường, Ngụy Bân, Khưu Tụ, Cốc Đại Dụng và Trương Vĩnh để mê hoặc nhà vua, sàm tấu hăm hại trung thần, cất nhắc lũ xu nịnh. Lưu Cẩn thường đem các động vật hiếm lạ, con hát, hoặc đấu sĩ dâng lên vua, dụ vua cải trang ra khỏi cung ăn chơi. Hắn được thăng lên làm Nội Quan Giám, cai quản toàn bộ thái giám. Hắn xúi vua bắt các quan trấn thủ địa phương phải dâng vàng về triều, mua đất riêng lập trang trại (gọi là hoàng trang) hơn ba trăm chỗ. Khi các quan như Lưu Kiện, Tạ Thiên, Lư Đông Dương, Dương Nguyên, Hộ Bộ Thượng Thư Vi Văn dâng sớ xin xử chết bọn Bát Hổ v́ tội xúi vua trầm mê sắc dục, bọn chúng khóc lóc, vua mềm ḷng, ngay trong đêm ban tội chết cho các vị quan ấy. Vua c̣n phong cho Bát Hổ chức Đại Học Sĩ. Tuy chức quan chỉ là Tư Lễ Giám, nhưng Lưu Cẩn trực tiếp khống chế triều chánh. Vua c̣n u mê, phong cho chúng quyền hạn ngang hàng với các quan đứng đầu địa phương, thậm chí có quyền cao hơn về mặt dân sự và tư pháp. Vua đắm đuối trong hưởng lạc, không nh́n đến tấu chương. Năm 1510, An Hóa vương Châu Trí Phàm làm loạn, khởi binh tại Ninh Hạ với danh nghĩa “thảo trừ bọn Lưu Cẩn”. Lưu Cẩn giấu nhẹm tin tức, chỉ sai Đô Ngự Sử Dương Nhất Thanh và một trong Bát Hổ là Trương Vĩnh đi dẹp loạn. Do Lưu Cẩn chuyên quyền, Trương Vĩnh oán hận Lưu Cẩn đă lâu, lại được Nhất Thanh đốc xúi. Trương Vĩnh liền bàn mưu với bọn Bát Hổ nhân lúc Lưu Cẩn xuất cung bèn hạch tội Lưu Cẩn. Vua nghe theo, cho người giết Lưu Cẩn. Khi tịch biên gia sản, mới thấy hắn thâu tàng 250 vạn lượng vàng, năm ngàn vạn lượng bạc…

[33] Ngũ vị bách pháp là cách phân loại hết thảy vạn hữu của Duy Thức do Thế Thân Bồ Tát chủ trương trong hai bộ luận Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận và Hiển Dương Thánh Giáo Luận. Do trong phẩm Bổn Địa của Du Già Sư Địa Luận đă chia hết thảy vạn hữu thành sáu trăm sáu mươi pháp, khá rườm rà, khó nhớ, Thế Thân Bồ Tát bèn đơn giản hóa thành một trăm pháp và chia thành năm vị (năm loại lớn) là tâm pháp (tức bảy thức, nhăn thức, nhĩ thức, tỵ thức…), tâm sở pháp (các tác dụng tâm lư (tham, sân, mạn, nghi, vô chánh kiến...), sắc pháp (như ngũ căn, ngũ trần v.v…), tâm bất tương ứng hành pháp (như mạng căn, vô thường, thời v.v…), và vô vi pháp (như hư không vô vi, diệt trạch vô vi…)

[34] Do câu này khó diễn đạt cho rơ ràng, chúng tôi đành xin giải thích rườm rà ư của lời hỏi như thế này: Mặt trăng là đối tượng bị nh́n thấy, cái Thấy của người nh́n là chủ thể nh́n thấy [mặt trăng ấy], nhưng cái Thấy đó phải tùy thuộc có một đối tượng để thấy, nên cái Thấy cũng gọi là sở tùy (bị tùy thuộc vào đối tượng được thấy). Vừa mới nói là cái Thấy là năng kiến, nay lại nói nó là sở tùy, tức là cái Thấy vừa là năng vừa là sở, cho nên có thể hiểu là năng sở chẳng hai hay không?

[35] Phương ngoại (方外) thoạt đầu chỉ có nghĩa là “nơi xa xôi”, trong Nam Hoa Kinh, Trang Tử đă dùng với ư nghĩa vượt ngoài lễ pháp thế tục, tiêu dao vô ngại. Do đó, người ta thường dùng chữ này để chỉ người xuất gia.

[36] Ư nói người xuất gia, khi tuổi hạ chưa đủ năm năm, phải chuyên ṛng tu học giới luật.

[37] Bạch chùy (白椎) là gơ pháp khí (thường là chuông gia tŕ) để thưa tŕnh. Người bạch chùy được gọi là Bạch Chùy Sư, thường do một vị tôn túc thông hiểu pháp đảm nhiệm. Sách Tổ Đ́nh Sự Uyển chép: “Bạch chùy là luật nghi của đức Thế Tôn. Muốn cử biện Phật sự, ắt trước hết phải tác bạch nhằm nói rơ pháp với đại chúng. Nay bạch chùy trong Tông Môn ắt phải do một vị tôn túc biết pháp đảm nhiệm. Vị trưởng lăo đă an tọa rồi, [Bạch Chùy Sư] bèn bạch rằng: ‘Pháp diên long tượng chúng, đương quán Đệ Nhất Nghĩa’. Trưởng lăo thấy đại chúng xướng lời bạch xong, bèn nói: ‘Đế quán pháp vương pháp, pháp vương pháp như thị’. Đấy là quy củ chân thật của tiên đức, đều chẳng đánh mất Phật ư”.

[38] Theo Luật Tạng, khi truyền thọ đại giới (Cụ Túc Giới), vị Đàn Đầu Ḥa Thượng chỉ truyền giới cho từng người một. Truyền xong một người rồi mới đến giới tử kế tiếp thọ giới. Trong trường hợp có đại nạn (như có rắn độc, giặc giă), có thể quyền biến truyền giới cho ba người cùng một lúc, nhưng không được truyền giới cùng lúc cho bốn người trở lên. Nếu truyền giới cho bốn người cùng một lúc trở lên, giới tử sẽ không đắc giới, mà truyền giới sư cũng mắc tội!

[39] Khủy tay dịch từ chữ Trửu () là đơn vị đo độ dài, tính từ khủy tay cho tới ngón giữa, ước chừng hơn 40cm.

[40] Ca Hy Na (Kaṭhina) c̣n phiên âm là Ca Đề hoặc Yết Hy Na, dịch nghĩa là Kiên Thật (dày chắc), hoặc Công Đức. Do sau khi tỳ-kheo an cư chín mươi ngày, được tín thí cúng dường y. Y do công an cư nên có năm đức; v́ thế, y ấy được gọi là Công Đức Y.

[41] Y Ca Hy Na theo quy định là y năm điều. Tức là y được may bằng năm mảnh vải dài ghép lại. Mỗi mảnh gọi là một điều. Mỗi điều lại cắt thành hai miếng một dài, một ngắn, nên toàn bộ cái y sẽ là mười miếng may ghép lại với nhau.

[42] Triển Chuyển Thực là ăn xong một bữa chánh, chuyển đến một vị trí khác lại ăn lần nữa, luật không cho phép điều này trừ phi v́ sự duyên rất đặc biệt. Từ bốn vị tỳ-kheo trở lên, tụ họp riêng tại một chỗ để ăn th́ gọi là Biệt Chúng Thực. Bất Tác Dư Thực là chẳng ăn ngoài bữa chính, tức là lư do bệnh tật, để uống thuốc, có thể chừa lại thức ăn để ăn sau đó. Nếu chẳng bị bệnh, không được làm như vậy, cho nên gọi là Bất Tác Dư Thực.

[43] Đột Cát La (Duskrïta) dịch nghĩa là Thất Ư Tội, Tiểu Quá (lỗi nhỏ), Việt Tỳ Ni (trái vượt Luật Tạng), tức là những tội do khởi ư khiến cho thân và khẩu nghiệp làm ác. Có nhiều loại Đột Kiết La, như cộng tướng Đột Cát La, tức đào đất, chặt cây để t́m kho báu, Tri Đột Cát La là biết ḿnh có tội, nhưng không phát lộ sám hối, vẫn cứ che giấu v.v…

[44] Đức Phật chế định tăng ni không được ĺa ba y mà ngủ nghỉ ở nơi khác.

[45] Ngũ Bộ Luật: Theo tương truyền, sau khi đức Phật nhập diệt, vào thời vua A Dục, môn hạ của tổ Ưu Ba Cúc Đa (Upagupta) do bất đồng quan điểm, chia thành năm phái Ma Ha Tăng Kỳ (Đại Chúng), Đàm Ma Quật Đa (Pháp Tạng), Di Sa Tắc (Hóa Địa), Ca Diếp Duy (Ẩm Quang) và Tát Bà Đa (Thuyết Nhất Thiết Hữu). Do đó, Luật Tạng tùy theo quan điểm nhấn mạnh hay giảm khinh mà h́nh thành năm bộ Luật khác nhau:

1) Thập Tụng Luật của Nhất Thiết Hữu Bộ, sáu mươi mốt quyển, do ngài Phất Nhă Đa La mang tới Trung Hoa, được các vị Cưu Ma La Thập dịch và Tỳ Ma La Xoa giảo chánh vào thời Diêu Tần.

2) Đàm Vô Đức Tứ Phần Luật của Pháp Tạng Bộ, bốn mươi sáu quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch vào đời Diêu Tần.

3) Ma Ha Tăng Kỳ Luật của Đại Chúng Bộ, bốn mươi quyển, do các vị Pháp Hiển và Phật Đà Bạt Đà dịch tại đạo tràng ở Kiến Khang trong thời Đông Tấn.

4) Di Sa Tắc Luật của Hóa Địa Bộ, ba mươi tư quyển, do Trí Thắng dịch vào thời Lưu Tống.

5) Quảng Luật của Ẩm Quang Bộ. Bộ luật này chưa được truyền dịch đầy đủ, chỉ có một quyển Giải Thoát Giới Kinh được ngài Bát Nhă Lưu Chi dịch vào thời Đông Ngụy.

[46] Hoài Tố (737-799), pháp tự Tàng Chân, người xứ Linh Lăng, Vĩnh Châu, là một tăng sĩ kiêm thư pháp gia nổi tiếng đời Đường, nổi tiếng với lối Cuồng Thảo, người đời Đường gọi ông là Túy Tăng (vị tăng say sưa). Ông xuất gia từ nhỏ, đặc biệt yêu thích thư pháp. Do nghèo không có giấy để luyện viết, ông dùng lá chuối làm giấy. Ông tánh t́nh phóng túng, cho rằng rượu dùng để dưỡng tánh. Thường múa bút viết chữ mỗi khi nếm rượu. Rượu vào bèn cao hứng, bất kể vách tường, vật dụng, xiêm áo, chỗ nào viết được th́ ông đều vung bút đề thơ.

[47] Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập là một loại từ điển Sanskrit – Hán do Pháp Vân biên soạn vào đời Nam Tống. Sách liệt kê các từ vựng được dịch từ tiếng Phạn sang Hán.

[48] Khi chưa liễu ngộ, thiền sư Tuyết Phong đă ba lần lên núi Đầu Tử tham phỏng thiền sư Đại Đồng. Đó gọi là Tam Đăng. Cửu thượng là ngài Tuyết Phong chín lần lên núi Động Sơn để tham yết ngài Động Sơn Lương Giới.

[49] Nguyên văn “anh chử” (嬰杵) tức là nói tới Tŕnh Anh và Công Tôn Chử Cữu. Năm 597 trước Công Nguyên, quan tư khấu nước Tấn là Đồ Ngạn Cổ lấy lư do Triệu Thuẫn tham dự mưu sát Tấn Linh Công (Cơ Di Cao), chẳng thèm hỏi ư vua kế vị Tấn Cảnh Công (Cơ Nhụ), đă xua quân tàn sát diệt tộc họ Triệu, giết chết những người đứng đầu của họ Triệu là Triệu Sóc, Triệu Đồng, Triệu Quát, Triệu Anh Tề. Vợ của Triệu Sóc là Triệu Trang Cơ (chị ruột của Tấn Thành Công) đang mang thai, trốn vào cung của Tấn Cảnh Công để ẩn núp, sinh được một trai. Công Tôn Chử Cữu bàn bạc với bạn là Tŕnh Anh t́m cách bảo toàn mạng sống đứa con côi của Triệu Sóc, đem giấu đứa bé đi. Đồ Ngạn Cổ lục soát không t́m được đứa con ấy. Tŕnh Anh bảo Công Tôn Chử Cữu đem một đứa trẻ khác giấu vào trong núi, giả vờ tung tin rằng ai cho ḿnh ngàn vàng, sẽ mật báo chỗ giấu diếm đứa con côi họ Triệu. Đồ Ngạn Cổ đáp ứng, dẫn quân đến bắt, Chử Cữu giả vờ giận dữ chửi bới Tŕnh Anh, năn nỉ Đồ Ngạn Cổ chỉ giết ḿnh Chử Cữu, tha cho đứa bé. Cho tới năm 583 trước Công Nguyên, Tŕnh Anh mới có cơ hội phục cừu, diệt Đồ Ngạn Cổ, khôi phục họ Triệu. Tổ dùng chữ “anh chử” ở đây để chỉ chư tổ, chư thiện tri thức đă đổ công dốc sức bảo toàn chúng ta là những đứa con côi của đng pháp vương.

[50] Vương đạo là đường lối cai trị dân bằng đạo đức, nhân nghĩa, lễ nhạc của Tam Vương (Đại Vũ nhà Hạ, Thành Thang nhà Thương, và Châu Vũ Vương) để uốn nắn thiên hạ trở về sự chánh đáng, thuận ḥa, thiên hạ quy phục, nhưng không bị tổn hại. Bá đạo là đường lối cai trị bằng mưu mẹo, vũ lực, giả nhân giả nghĩa, cường bạo để thống trị, đàn áp kẻ chống đối nhằm buộc kẻ khác phải thần phục chính ḿnh.

[51] Ngài A Nan suưt bị Ma Đăng Già dùng chú thuật quyến rũ phạm dâm giới, may được đức Phật sai Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát dùng chú Lăng Nghiêm đến cứu. Do vậy, Ngài hổ thẹn chính ḿnh chỉ đa văn không chú trọng quán tâm, thỉnh Phật chỉ dạy phương pháp tu hành quán tâm, mở ra đại pháp Lăng Nghiêm.

[52] Đây chính là bộ Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư Chú do ngài U Khê Truyền Đăng chú giải tác phẩm Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư do Hổ Khê Sa-môn Hoài Tắc biên soạn.

[53] Sáu giao báo là sáu thứ ác báo do sáu thức tạo nghiệp mà cảm vời:

1) Kiến báo: Lâm chung thấy lửa mạnh đầy khắp mười phương, thần thức của người mất đọa trong khói, lửa, nhập Vô Gián địa ngục.

2) Văn báo: Khi lâm chung thấy sóng gió ngập trời, thần thức của người mất đọa vào nước cuốn, vào trong Vô Gián địa ngục.

3) Khứu báo: Khi lâm chung, thấy hơi độc tràn ngập xa gần, thần thức của người mất từ dưới đất vọt lên, vào trong Vô Gián địa ngục.

4) Vị báo: Khi lâm chung, trước hết thấy lưới sắt, lửa hừng giăng kín trọn khắp thế giới, thần thức của người mất lọt vào lướt, bị treo ngược đầu, vào trong Vô Gián địa ngục.

5) Xúc báo: Khi lâm chung, trước hết thấy núi lớn từ bốn phía ép lại, chẳng có đường nào thoát ra. Thần thức của người mất thấy ngục tốt đầu trâu, La Sát đầu ngựa tay cầm giáo mác, xua vào cửa thành, hướng đến Vô Gián địa ngục.

6) Tư báo: Khi lâm chung, trước hết thấy gió ác thổi nát quốc độ, thần thức của vong giả bị cuốn lên hư không, rơi vào Vô Gián địa ngục.

[54] Nguyên văn “bào lăo” (鲍老) là một vai tṛ phụ trong tuồng hát thời cổ, thường đeo mặt nạ, biểu diễn phun khói lửa, cầm thanh la vừa gơ vừa nhảy để chọc cười, hoặc khiến cho sân khấu sinh động ḥng lôi cuốn khán giả cho vở tuồng chính.

[55] Vào tháng Mười năm 204 trước Công Nguyên, quân Hán và quân Triệu (do Trần Dư thống lănh) giao chiến tại Tỉnh Kinh Khẩu. Tướng nhà Hán là Hàn Tín lợi dụng tâm lư khinh địch của Trần Dư, sắp trận cho quân lính xoay lưng về phía sông, đập nồi, d́m thuyền. Đó là điều đại kỵ trong cách dụng binh, v́ hễ thua trận sẽ không có đường rút lui. Quả nhiên, Trần Dư nghĩ Hàn Tín bất tài, xua quân ồ ạt tiến công, không pḥng thủ doanh trại, c̣n quân Hán không c̣n đường lui, liều chết chiến đấu. Đồng thời, Hàn Tín lại điều một cánh kỵ binh cướp doanh trại quân Triệu, cắm cờ quân Hán, khiến quân Triệu sa sút tinh thần. Bị hai đằng giáp công, quân Triệu thua to, Trần Dư bị giết tại trận.

[56] Kim thang là nói gọn của “kim thành thang tŕ” (thành bằng kim loại, hào lũy chứa nước sôi), ư nói pḥng thủ nghiêm ngặt.

[57] Đây là một câu nói trong sách Mạnh Tử: “Mạc phi mạng dă, thuận thọ kỳ chánh, thị cố tri mạng giả bất lập hồ nham tường chi hạ, tận kỳ đạo nhi tử giả, chánh mạng dă. Trất cốc tử dă, phi chánh mạng dă” (Chẳng có thứ ǵ không phải là thiên mạng. Thuận theo thiên mạng là lẽ chánh đáng. V́ thế, người biết mạng chẳng đứng dưới vách tường sắp nghiêng sụp. Do tận lực hành xử đúng đạo mà chết chính là biết vận mạng chánh đáng. C̣n phạm tội bị gông cùm mà chết th́ chẳng phải là vận mạng chánh đáng). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giảng giải trên trang nhà Cổ Thi Văn Vơng.

[58]Tác phẩm này có tên gọi đầy đủ là Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao Tường Giải, gồm bốn quyển, do ngài Khả Độ biên soạn để chú giải tác phẩm Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao. Thập Bất Nhị Môn chính là phần kết lại Thập Diệu của kinh Pháp Hoa trong tác phẩm Pháp Hoa Huyền Nghĩa Thích Thiêm của Kinh Khê Tôn Giả. Chương Thập Bất Nhị này được đánh giá rất cao, nên được tách ra để tiện lưu hành riêng, và được nhiều người viết chú giải như Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao (do ngài Trạm Nhiên soạn), Thập Bất Nhị Môn Nghĩa (do Đạo Thúy soạn), Pháp Hoa Thập Diệu Bất Nhị Môn Thị Châu Chỉ (Nguyên Thanh soạn), Chú Pháp Hoa Bổn Tích Thập Bất Nhị Môn (Tông Dục soạn), Thập Bất Nhị Môn Văn Tâm Giải (do Nhân Nhạc soạn)…

[59] Tức là hành xử giống như tổ Đạt Ma. Khi Lương Vũ Đế vênh váo hỏi Tổ: “Trẫm xây bao nhiêu chùa, độ cả ngàn vị tăng xuất gia, có công đức nhiều hay không?” Tổ đáp thẳng: “Chẳng có công đức”. Nếu Tổ xu nịnh, khen vua công đức rất nhiều, sẽ được trọng vọng, cúng dường trọng hậu, đâu phải ẩn ḿnh nh́n vách trên Thiếu Thất chín năm? Ở đây, tổ Ngẫu Ích khuyên thầy Triệt Nhân cũng phải giữ vững gia phong ấy, nói đúng sự thật, không sợ mất ḷng, không v́ lợi lộc mà xu nịnh kẻ quyền quư.

[60] Cổ Xướng là khi vị Tăng đă mất, các vật dụng sở hữu của vị ấy sẽ được định giá (gọi là Cổ), rồi hô giá cho các vị c̣n sống ra giá để mua (vị nào trả cao nhất sẽ mua được). Đó gọi là Xướng.

[61] Tông Bá là một chức quan thiết lập từ thời Tây Châu, địa vị thấp hơn Tam Công, là một trong Lục Khanh, chuyên chưởng quản lễ nghi. Về sau, kiêm nhiệm chưởng quản tông miếu và các lễ nghi tế tự v.v… Sau đấy, khi Lục Khanh mất đi, triều đ́nh thành lập Lục Bộ, do vai tṛ của Lễ Bộ Thượng Thư gần giống như quan Tông Bá, nên Lễ Bộ Thượng Thư vẫn thường được gọi là Đại Tông Bá, c̣n Lễ Bộ Thị Lang th́ gọi là Tiểu Tông Bá (hay Thiếu Tông Bá).

[62] Thuyền Tử Đức Thành là một vị cao tăng cuối đời Đường, sống ước chừng từ niên hiệu Trinh Nguyên cho đến niên hiệu Khai Thành. Ngài là người xứ Toại Ninh, tỉnh Tứ Xuyên, là đệ tử nối pháp của Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư làm bạn tham học với hai vị Đạo Ngô Viên Trí và Vân Nham Đàm Thịnh. Sư ẩn cư tại bên bờ sông Hoa Đ́nh (nay thuộc huyện Tùng Giang, thành phố Thượng Hải), chèo đ̣ để tùy duyên hóa độ mọi người. Do vậy, người đời gọi Ngài là Thuyền Tử Ḥa Thượng. Về sau, có vị Tăng tên Thiện Hội được Đạo Ngô chỉ điểm, tới cầu pháp nơi Ngài. Nhận biết Thiện Hội đă hoàn toàn học được sự truyền thừa, Sư bèn lật úp thuyền, thị tịch. Để kỷ niệm thầy, Thiện Hội lập chùa Pháp Nhẫn ngay bên chỗ ḥa thượng Đức Thuyền lật thuyền.

[63] Giáp Sơn chính là ngài Thiện Hội (804-881). Sư là người xứ Hiện Đ́nh thuộc Hán Quảng (nay là huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc). Sư chín tuổi đă xuất gia, thoạt đầu tham học với ngài Đạo Ngô. Vâng theo lời khuyên của Đạo Ngô Viên Trí, Sư t́m tới Hoa Đ́nh, cầu học với ngài Thuyền Tử Đức Thành. Sau khi đắc pháp nơi ngài Thuyền Tử Đức Thành, Sư trụ tại chùa Pháp Nhẫn một thời gian. Tới năm thứ Hàm Thông 11 (870), Sư trụ tích tại Giáp Sơn thuộc Tế Châu, nên được gọi là Giáp Sơn ḥa thượng.

[64] Ngu Trọng và Di Dật là hai nhân vật được ca tụng là dật dân, tức những người có chí khí thanh cao, ẩn dật, không dấn ḿnh vào danh lợi. Ngu Trọng chính là Cơ Ung. Do ông là con thứ hai của Cổ Công Đản, nên thường được gọi là Trọng Ung. Khi biết cha là Cổ Công Đản muốn truyền ngôi cho người con út là Quư Lịch v́ con trai của Quư Lịch là Cơ Xương (Châu Văn Vương sau này) có tài năng và hiền đức. Để tránh cho Quư Lịch lâm vào cảnh khó xử, ông đă cùng anh cả là Thái Bá trốn xuống vùng Giang Nam, xâm ḿnh, cạo tóc. Do cả hai ông có tài đức, dân địa phương tôn Thái Bá làm vua, lập ra nước Ngô. Khi Thái Bá chết, Trọng Ung bị dân chúng ép lên nối ngôi. Kinh truyện không chép ǵ về Di Dật, chỉ cho biết ông là hậu duệ của Di Trọng Niên (quan đại phu nước Tề).

[65] “Động tâm nhẫn tánh” là một thành ngữ phát xuất từ câu nói của Mạnh Tử trong thiên Cáo Tử Hạ sách Mạnh Tử: “Thiên tương giáng đại nhậm vu tư nhân dă, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ thân, hành phất loạn kỳ sở, sở dĩ động tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất năng” (trời ban trách nhiệm lớn cho người nào, ắt sẽ khiến cho người ấy tâm chí khổ sở, nhọc nhằn gân cốt, thân thể đói kém, thiếu thn, gây ra những chuyện rối ren, trái ư, cho nên khiến cho người ấy tâm kinh động, tăng trưởng ḷng nhẫn nại, ḥng tăng trưởng những điều người đó chưa thể làm được). “Động tâm nhẫn tánh” do vậy được dùng như một thành ngữ, hàm ư: Kiên tŕ, nhẫn nại trước các thử thách trong mọi hoàn cảnh.

[66] Ở đây, Tổ đă sử dụng cả ba quẻ trong kinh Dịch là quẻ Thuần Càn, quẻ Sơn Địa Bác và quẻ Địa Lôi Phục. Hai quẻ đầu đều có vạch thứ sáu là hào Dương (một vạch liền). Đối với quẻ Càn, hào Dương đó được gọi là Thượng Cửu (mỗi vạch Dương được kinh Dịch gọi là Cửu) được gọi là Kháng Long Hữu Hối (rồng bay lên cao, Dương đến tột cùng, nếu không biết kiềm chế, ắt sẽ gặp họa, tức là sẽ có điều phải hối hận). Thượng Cửu trong quẻ Bác được giải thích là “thạc quả bất thực” (chẳng thọ hưởng thành quả to lớn do nỗ lực của chính ḿnh). Sơ Cửu (hào Dương thứ nhất) của quẻ Phục được giải thích là “bất viễn nhi phục” (đi chưa xa đă trở lại). Tổ dùng ba quẻ này để diễn tả ư khuyên ông Từ: Dẫu là người có tài năng lỗi lạc, thành tích ưu tú, nếu không biết náu ḿnh, kiềm chế, sẽ dẫn đến những tai vạ bất ngờ, nhưng nếu biết chẳng cậy công, biết náu ḿnh, mọi chuyện sẽ đẹp đẽ, an ḥa.

[67] Ư nói: Để t́m hiểu và luận bàn chỗ đồng nhất và khác biệt trong giáo nghĩa của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm, phải triệt để nghiên cứu giáo nghĩa tông Hoa Nghiêm như tổ dành thời gian nghiên cứu Hoa Nghiêm Đại Sao, chứ không thể dựa vào nhận định của người khác, chẳng nghiên cứu tường tận giáo nghĩa Hoa Nghiêm mà chơ miệng bàn suông được!

[68] Đây là một đoạn trong thiên Nghiêu Viết của sách Luận Ngữ: “Trẫm cung hữu tội, vô dĩ vạn phương. Vạn phương hữu tội, tội tại trẫm cung”, là lời nhắn nhủ của vua Thuấn dành cho Đại Vũ khi nhường ngôi. Vua Thuấn nhắc lại những điều đă được vua Nghiêu căn dặn.

[69] Bộ kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Đại Quán Đảnh Thần Chú Kinh, mười hai quyển, do ngài Bạch Thi Lê Mật Đa La dịch vào thời Đông Tấn. Bộ kinh này gồm mười hai bộ kinh nhỏ hợp thành như Phật Thuyết Quán Đảnh Tam Quy Ngũ Giới Đới Bội Hộ Thân Chú Kinh, Phật Thuyết Quán Đảnh Thất Vạn Nhị Thiên Thần Vương Hộ Tỳ Kheo Chú Kinh v.v… Chẳng rơ “thần sách” ở đây là ǵ, chúng tôi đoán là các bài thần chú, v́ mỗi kinh trong ấy đều nói rất nhiều bài thần chú.

[70] Đại Tạng Kinh thời Minh gồm hai bản Hồng Vũ Nam Tạng và Vĩnh Lạc Bắc Tạng. Nói về Bắc Tạng th́ có 1.621 bộ kinh, gồm 6.361 quyển, chia thành 636 “hàm” (, thường được dịch là Hàm, tức cái hộp, cái rương chứa các quyển kinh). Vào năm Vạn Lịch 12 (1584) lại tuyển thêm các trước thuật thuộc các tông gồm ba mươi sáu loại, khc thành 410 quyển nữa, chia thành bốn mươi mốt Hàm. Để phân biệt, Phật môn dùng các chữ trong Thiên Tự Văn để gọi tên các Hàm. Chẳng hạn các kinh thuộc hệ thống Bát Nhă gồm 720 quyển, chia thành ba mươi lăm bộ, gồm mười tám tập, được chia thành 72 hàm. Thiên Tự Văn là một bài văn vần có một ngàn chữ không trùng lặp, do Châu Hưng Tự sáng tác vào đời Nam Lương. Theo truyền thuyết, Lương Vũ Đế đă chọn một ngàn chữ Hán từ tác phẩm thư pháp của thư pháp gia trứ danh Vương Hy Chi để bắt thân quyến luyện viết chữ. Sau đó, để người học thư pháp dễ nhớ, vua sai Châu Hưng Tự sắp xếp các chữ ấy thành một bài văn chương. Tài năng của Châu Hưng Tự là lời văn nhất quán, lưu loát, đẹp đẽ, gần như mỗi câu đều nhằm dẫn dụng các ư nghĩa từ các bộ cổ thư nổi tiếng như kinh Dịch, Xuân, Thu, Hoài Nam Tử, kinh Thi, Hiếu Kinh, Luận Ngữ v.v… Do vậy, về sau bài văn này thường được dùng để dạy trẻ học vỡ ḷng cùng với Tam Tự Kinh. Bài này mở đầu bằng câu “thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang” và kết thúc bằng câu “vị ngữ trợ giả, yên tai hồ dă”. Chữ Cung là chữ thứ 153 trong bài văn ấy (mở đầu câu “cung duy cúc dưỡng, khởi cảm hủy thương”, hàm ư thân này do cha mẹ nuôi dưỡng, chăm bẵm, chẳng dám tổn hại, thương tổn).

[71] Dịch Lâm c̣n gọi là Tiêu Thị Dịch Lâm gồm mười sáu quyển, do Tiêu Cám soạn vào thời Tây Hán nhằm diễn giải kinh Dịch.

[72] Đây là một câu nói của Nguyên Hiến nhằm diễn tả ư chí cao đẹp của người ẩn sĩ, không xu phụ kẻ quyền quư. Theo chương Tiết Sĩ (người có khí tiết) của Lưu Hướng viết vào đời Tây Hán, Nguyên Hiến sống ở đất Lỗ, nghèo hèn, đắp đất làm nhà, dùng cỏ dại để lợp mái, rách nát, ẩm thấp, nhưng vẫn an vui ca hát. Tử Cống nghe tiếng, ngồi xe do ngựa mập mạnh kéo, ăn mặc hoa lệ, đến thăm, thấy Nguyên Hiến dùng lá dâu kết thành mũ đội, cầm gậy gỗ lê ra tiếp, bèn hỏi: “Ô! Tiên sinh bị bệnh ǵ?” Nguyên Hiến trả lời: “Không có tiền của th́ gọi là nghèo, học mà chẳng thể hành th́ gọi là bệnh. Ta nghèo chứ không bệnh. Học để làm người, dùng chính ḿnh để làm gương, chứ mặc kệ nhân nghĩa, xe ngựa khoe khoang, Hiến chẳng nỡ làm như vậy!” Tử Cống nghe nói, hổ thẹn, chẳng từ biệt bỏ đi. Nguyên Hiến lê dép, kéo gậy, ca hát trở vào. Trong lời hát, có hai câu trên đây, ngụ ư bậc ẩn sĩ thanh cao, dưỡng chí quên thân, không ai làm phiền lụy được, thiên tử, chư hầu không thể ép buộc ta được!

[73] Tục danh của Tổ là Chung Tế Minh.

[74] Ở đây, Tổ dùng hai điển tích:

1) Điển tích thứ nhất trích từ Tụng Cổ của pháp sư Thích Tâm Nguyệt đời Tống, trong đó có hai câu: “Cấp tu trước nhăn khán tiên nhân, mạc khán tiên nhân thủ trung phiến” (hăy gấp chú ư đến tiên nhân, đừng nh́n vào chiếc quạt trong tay tiên nhân).

2) Điển tích thứ hai trích từ sách Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển mười lăm về cuộc đối đáp giữa thiền sư Vân Môn Văn Yển và một vị tăng. Sư hỏi vị Tăng: “Từ đâu đến?” Tăng thưa: “Từ Kinh Nam đến”. Sư nói: “Mùa Hạ ở chỗ nào?” Đáp: “Phân kim”. Sư nói: “Có sự tướng muốn hỏi, được chứ?” Tăng nói: “Xin hăy nói”. Sư nói: “Con diều hâu đă vượt sang Tân La từ lâu rồi”. Các vị chú giải giảng: “Khi đối đáp cơ phong mà c̣n nghĩ ngợi th́ đă rơi vào ṿng tư duy, chậm trễ mất rồi, chẳng lănh hội Thiền ư, giống như khi hành giả c̣n đang ch́m trong tư duy, suy lường th́ con diều hâu đă bay từ Trung Hoa sang đất Tân La mất rồi. Tân La (Silla) là một vương quốc cổ thuộc Trung và Nam Bộ Đại Hàn hiện thời.

Tổ Ngẫu Ích dùng hai điển tích này nhằm răn nhắc Tự Trúc: Nếu không chú ư lănh hội chỗ uyên áo của Phật pháp qua các lời kệ tụng, chỉ chấp chặt vào văn tự, đào bới, suy lường văn tự, sẽ giống như người thay v́ quan sát tiên nhân, chỉ chăm chú nh́n vào cái quạt mong t́m hiểu tiên nhân, sẽ đánh mất cơ duyên lănh hội như Thiền giả ch́m đắm trong suy nghĩ sẽ không lănh hội được Thiền ư.

[75] Ư nói: Học hành th́ kiến thức tích lũy ngày càng nhiều, học đạo th́ ngày càng phải khiêm hư, trống ḷng, bỏ dần những chấp trước.

[76] Tỵ tổ (鼻祖) có cùng một nghĩa với Thỉ Tổ, nghĩa là vị tổ đầu tiên. Tỵ vốn có nghĩa là Tự. Do trong Giáp Cốt Văn, chữ Tự viết có h́nh dạng tương tự với cái mũi nên dẫn khởi thành âm Tỵ. Theo Thuyết Văn Giải Tự, Tự vào thời cổ được dùng như đại từ nhân xưng chỉ người đầu tiên. Do đó, Tỵ được hiểu theo nghĩa dẫn khởi là đầu tiên, trước hết.

[77] Nguyên văn “thú đề, điểu tích”. Đây là một thành ngữ ngụ ư chỉ một địa phương mà dấu vết con người hiếm hoi, là nơi chim thú tụ hợp. Tổ dùng thành ngữ này với ư nghĩa than thở: Người chân thật tu hành hiếm hoi, kẻ mạo danh trục lợi th́ nhiều.

[78] Ư nói: Chẳng thể làm đệ tử đích thân phụng sự.

[79] Tức bài “nói về Tẩy Tâm” trong phần Thuyết.

[80] “Sư tử ngồi trên mặt đất” là xuất phát từ một câu nói của Lâm Tế Nghĩa Huyền: “Hữu thời nhất hát như kim cang vương bảo kiếm, hữu thời nhất hát như cứ địa kim mao sư tử” (Có lúc gào một tiếng như gươm báu kim cang vương, có lúc hét một tiếng như sư tử lông vàng ngồi trên mặt đất). Thiền lâm dùng từ ngữ này để ca ngợi người đă chứng ngộ, ngôn từ thuyết pháp chấn nhiếp các ngôn luận hư vọng. Mỗi lời đều tuyên bày Thật Tướng. “Vảy vàng thoát khỏi lưới” là một công án trong Bích Nham Lục. Ngài Huệ Nhiên thuộc Tam Thánh Viện hỏi thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn: “Con cá vảy vàng lọt khỏi lưới chẳng biết lấy ǵ để ăn?” Ngài Tuyết Phong nói: “Đợi ông thoát khỏi lưới, sẽ nói cho ông biết”. Các vị chú giải giảng: Câu hỏi của ngài Huệ Nhiên hàm nghĩa: Đă thoát khỏi phiền năo trói buộc th́ nên tu tŕ như thế nào? Câu trả lời của ngài Tuyết Phong hàm nghĩa: Ông c̣n đang ở trong lưới phiền năo, làm sao biết được cảnh giới của sự giải thoát phiền năo? Hăy gấp tu tŕ ḥng giải thoát đi! Do vậy, từ ngữ “vảy vàng thoát khỏi lưới” (thấu vơng kim lân) nhằm ca ngợi người đă thoát khỏi phiền năo trói buộc.

[81] Đây là một thành ngữ diễn tả ư với ḷng nghĩ tưởng chân thành, điều mong tưởng sẽ được cụ thể hóa trong mọi sự thường nhật. Thành ngữ này phát xuất từ truyện Lư Cố trong Hậu Hán Thư: “Tích Nghiêu tồ chi hậu, Thuấn ngưỡng mộ tam niên, tọa tắc kiến Nghiêu vu tường, thực tắc đổ Nghiêu vu canh” (Xưa kia sau khi vua Nghiêu mất, Thuấn ngưỡng mộ suốt ba năm, khi ngồi bèn thấy vua Nghiêu nơi tường, khi ăn bèn thấy vua Nghiêu trong canh).

[82] Đây là một thành ngữ trong Thiền lâm gồm hai ư tưởng đối lập với nhau: “Quan bất dung châm” ư nói việc quan phải nghiêm ngặt, dẫu chuyện sai sót nhỏ nhặt như cái kim cũng không thể bao dung được. “Tư thông xa mă” ư nói đối với việc tư th́ dẫu sai khác to đùng như xe, ngựa vẫn có thể xí xóa được. Từ đó, câu này được dùng với ư nghĩa phương tiện tùy cơ tiếp dẫn người học của các vị thiện tri thức. Nhưng Tổ dùng thành ngữ này với ư nghĩa: Nếu xét theo lẽ công, tức là đối với sự tu hành của chính ḿnh, chẳng thể mặc kệ những sai lầm nhỏ nhặt, nhưng nếu xét theo t́nh đồng đạo, những bất đồng ư kiến dẫu to lớn cách mấy vẫn có thể xí xóa, bao dung.

[83] Kinh này c̣n có tên gọi là Tịnh Nghiệp Bộ Kinh, hoặc Tịnh Trừ Nghiệp Chướng Kinh, được dịch vào thời Tây Tần (351-431). Nội dung kinh trần thuật: Tỳ-kheo Vô Cấu Quang vào thành khất thực, bị dâm nữ dùng chú thuật ép phạm căn bản giới. Tỳ-kheo sanh tâm khổ năo to lớn, gặp Bồ Tát Văn Thù khuyên đến gặp đức Phật, đức Phật bèn thuyết pháp vô tánh khiến cho tỳ-kheo phát tâm đại Bồ Đề, được Phật thọ kư; do vậy, rộng nói các pháp tịnh trừ nghiệp chướng, xiển minh sự thật “hết thảy các pháp vốn sẵn thanh tịnh”. Đó là căn bản để tịnh hóa nghiệp chướng.

[84] Tôn giả Sư Tử (Siṁha) là vị tổ thứ hai mươi bốn của Thiền Tông tại Ấn Độ. Ngài thuở bé theo ngài Bà La Tăng xuất gia tu Định, về sau gặp tôn giả Hạc Lặc Na (Haklena-yaśa) điểm ngộ, trao truyền chánh pháp nhăn tàng, phó chúc làm tổ thứ hai mươi bốn. Sau đó, Ngài du hóa sang xứ Kế Tân, hóa độ các vị Ba Lợi Ca, Đạt Ma Đạt v.v… sai họ đi truyền pháp ở Nam Thiên Trúc, c̣n chính ḿnh ở lại Kế Tân. Đương thời, quốc vương Kế Tân là Di La Quật bách hại Phật giáo, một hôm bảo tôn giả: “Ngươi đă ĺa sanh tử hay chưa? Đă ĺa th́ thí cho ta cái đầu đi”. Tôn giả đáp: “Thân chẳng do ngă mà có, nào tiếc cái đầu?” Vua bèn rút gươm chém bay đầu tôn giả, máu phun lên hóa thành sữa trắng như bạc cao mấy thước, tay vua cũng tự nhiên đứt ĺa, rơi xuống đất.

Thần Quang đại sư tức ngài Huệ Khả (487-593), là đệ tử nối pháp của tổ Bồ Đề Đạt Ma. Ngài c̣n được gọi là Tăng Khả, hiệu là Thần Quang, được tôn thụy hiệu là Đại Hoằng Thiền Sư. Thoạt đầu, Ngài xuất gia với thiền sư Bảo Tĩnh tại Hương Sơn thuộc Long Môn (Lạc Dương). Lúc bốn mươi tuổi, đến Tung sơn yết kiến Bồ Đề Đạt Ma, đắc tâm pháp. Ngài cùng một đệ tử đắc pháp của tổ Đạt Ma là Đạo Lâm truyền pháp tại Nghiệp Đô, bị thiền sư Đạo Hằng đố kỵ, vu cáo là truyền tụng ma ngữ, cho nên Ngài bị bắt bớ, giam cầm, hành hạ nhiều lượt. Ngài cũng từng hứng chịu nạn diệt giáo do Bắc Châu Vũ Đế khởi xướng vào năm 574.

Thích Tăng Triệu (384-414) là người Trường An, là đệ tử nổi tiếng của ngài La Thập. Đa số những bản kinh do ngài La Thập dịch đều được nhuận văn bởi Tăng Triệu, cho thấy Ngài văn bút tài hoa như thế nào. Ngài được coi là bậc Giải Không đệ nhất của Trung Hoa do thấu đạt tư tưởng Bát Nhă, và được coi là nhân vật tiên phong của Tam Luận Tông. Ngài tuổi nhỏ nhà nghèo, phải chép sách kiếm sống, nên đọc rất nhiều tác phẩm kinh điển nổi tiếng của Trung Hoa. Về sau, do đọc kinh Duy Ma, giác ngộ bèn xuất gia. Về sau, ngài La Thập đến Cô Tạng (nay là huyện Vũ Oai tỉnh Cam Túc), Ngài bèn theo sang đó, cầu học, được ngài La Thập cực lực tán dương. Về sau, La Thập được Diêu Hưng đưa về Trường An, Tăng Triệu cũng theo về, tham dự dịch trường, cùng với Đạo Dung, Tăng Duệ và Đạo Sanh được xưng tụng là Quan Trung Tứ Kiệt. Năm 410, Ngài từng giúp Phật Đà Da Xá dịch Tứ Phần Luật và Trường A Hàm. Ngài mất sớm tại Trường An, có thuyết nói Ngài bị Diêu Hưng xử tử. Khi mất, Ngài mới 31 tuổi.

Nham Đầu Toàn Hoát là thiền sư nối pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám, người xứ Tuyền Châu. Diện mạo thanh tú, khí độ rộng răi, tánh t́nh phóng khoáng. Ngài hành cước nhiều nơi, từng mong đến tham học với tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, nhưng gần đến nơi th́ Lâm Tế đă tịch. Măi cho đến khi gặp Đức Sơn Tuyên Giám mới đắc pháp, Ngài lui về núi Nham Đầu ở Ngạc Châu, đến băi cát, Ngài ở cạnh sông làm người đưa đ̣. Trong niên hiệu Quang Khải đời Đường, giặc kéo đến đ̣i nạp tiền. Do Ngài chẳng có ǵ để đưa, chúng bèn đâm chết Ngài!

[85] Khai Nguyên là niên hiệu được sử dụng từ năm 713 đến năm 741 đời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng, tức Lư Long Cơ). Đường Huyền Tông sử dụng ba niên hiệu là Tiên Thiên, Khai Nguyên và Thiên Bảo.

[86] Đây là thành ngữ chê trách kẻ không hiểu biết, chỉ nói suông, rập khuôn những từ ngữ trong kinh điển để làm bộ đă liễu giải, chứ hoàn toàn chẳng hiểu nghĩa, giống như nghe nói “sắc tức là không, tức giả, tức không, tức trung…” bèn lp đi lp lại như chuột kêu chút chít, hoặc chim bay trên không kêu suông.

[87] Ngài Đức Sơn Tuyên Giám (782-865) người xứ Kiếm Nam (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên), họ ngoài đời là Châu, xuất gia từ bé, hai mươi tuổi thọ Cụ Túc Giới. Sư nghiên cứu chuyên ṛng Luật Tạng, quán thông chỉ thú của kinh Đại Thừa. Do vậy, bèn sớ giải kinh Kim Cang, viết Thanh Long Sớ Sao, được người đương thời xưng tụng bằng mỹ hiệu Châu Kim Cang. Nghe nói phương Nam thịnh hành Thiền Trực Chỉ của Lục Tổ Huệ Năng tương phản sở học của chính ḿnh, Sư cả giận nói: “Kẻ xuất gia ngàn kiếp học oai nghi, vạn kiếp học tế hạnh của Phật, mà vẫn chẳng được thành Phật. Nay gă ma ở phương Nam dám nói chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật, ta phải quét sạch sào huyệt của hắn, diệt chủng loại đó để báo ân Phật”. Do vậy, Sư gánh Thanh Long Sao từ Tứ Xuyên đi về phương Nam. Trên đường đi Lễ Dương, Sư thấy một bà lăo bán bánh, liền hạ gánh, hỏi mua. Bà lăo hỏi: “Văn tự chi đó?” Sư đáp: “Thanh Long Sớ Sao”. “Giảng giải kinh ǵ thế?” “Kinh Kim Cang”. Bà lăo bảo: “Tôi hỏi câu này, nếu pháp sư đáp được, tôi sẽ cúng thầy điểm tâm. Nếu không đáp được, đi chỗ khác nhé! Kinh Kim Cang dạy: ‘Tâm quá khứ chẳng thể được, tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị lai chẳng thể được’. Chẳng biết ḥa thượng muốn điểm cái tâm nào?” Sư không đáp được, phải gánh Thanh Long Sao đi. Đến Lễ Dương, tham yết thiền sư Long Đàm Sùng Tín thuộc pháp hệ của Lục Tổ Huệ Năng, được điểm hóa, bèn đốt Thanh Long Sao, hoằng dương pháp của ngài Sùng Tín.

[88] Kẽm núi là khoảng sông chảy kèm giữa hai vách núi.

[89] Bài kệ của Tỳ Xá Phù Phật: “Giả tá Tứ Đại dĩ vi thân, tâm bổn vô sanh nhân cảnh hữu, tiền cảnh nhược vô, tâm diệc vô. Tội phước như huyễn, khởi diệc diệt” (Mượn nhờ Tứ Đại để làm thân, tâm vốn vô sanh, do cảnh có. Tiền cảnh nếu không, tâm cũng không. Tội phước như huyễn, khởi rồi diệt).

[90] “Gă lùn xem tuồng” (矮子看戏, ải tử khán hư) vốn là một thành ngữ phát xuất từ sách Châu Tử Ngữ Loại. Theo đó, tại một tiểu trấn nọ, có một gă lùn, cao chưa đến ba thước Tàu (tức chưa đầy một thước Tây) theo người khác đi xem diễn tuồng. Do chẳng thấy được ǵ, hắn ta chỉ nghe người khác bàn tán bèn nói hùa theo, thấy người ta cười cũng cười to, thấy người ta chê bai cũng chê theo.

[91] Yểm tử quan: Bế quan đến chết.

[92] Kinh Phật Thuyết Thập Nhị Đầu Đà Kinh, c̣n gọi là Sa Môn Đầu Đà Kinh được ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống, chủ yếu giảng về mười hai hạnh Đầu Đà.

[93] Do thời cổ, tự viện thường xây cất trong vùng núi non, nên ngôi vị Trụ Tŕ của một ngôi chùa được gọi là Sơn Chủ. Đến nhận làm Trụ Tŕ của một ngôi chùa sẽ được gọi là Tấn Sơn. Nghi thức tiếp nhận ngôi Trụ Tŕ sẽ được gọi là Tấn Sơn đại điển.

[94] Hối cái nói đầy đủ là Điệu Hối Cái (Auddhatya-kaukrtya-āvarana): Điệu là tâm xao động, bất an. Hối là đối với việc đă làm bèn áo năo, hối hận. Do nó có thể ngăn chướng định tâm, nên gọi là Cái (, che lấp, ngăn chướng). Điệu Hối Cái chính là nói gộp chung hai thứ phiền năo điệu cử (lao chao, phận phều) và truy hối (đă làm rồi hối hận) thành một món Cái.

[95] Hậu Nghệ (后羿) c̣n gọi là Đại Nghệ hay Nghệ, là một nhân vật thiện xạ trong truyền thuyết cổ Trung Hoa. Tương truyền, khi đó có mười mặt trời xuất hiện khiến thế gian khô cháy, dân t́nh khốn khổ. Hậu Nghệ đă bắn rớt chín mặt trời, chỉ chừa lại một mặt trời. Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga (Thường Nga). Do lén uống thuốc tiên bất tử của Tây Vương Mẫu, Hằng Nga bay lên cung trăng và sống ở đó (điển tích này thường gọi là “Hằng Nga bôn nguyệt”). Sách Thái B́nh Ngự Lăm lại nói sau khi bay lên cung trăng, Hằng Nga biến thành con thiềm thừ (con cóc), nên cổ thư thường gọi mặt trăng là Thiềm Cung.

[96] Tức Ngũ Tổ Sư Giới, do trụ tŕ chùa Ngũ Tổ nên gọi là Ngũ Tổ Sư Giới, không liên quan ǵ đến Ngũ Tổ Đại Mai Hoằng Nhẫn của Thiền Tông.

[97] U Khê tôn giả tức là ngài U Khê Truyền Đăng (1554-1628) là Tổ thứ ba mươi của tông Thiên Thai. Ngài trung hưng tông Thiên Thai vào cuối đời Minh. Ngài họ Diệp, tên tự là Vô Tận, biệt hiệu là Hữu Môn, người huyện Tây An, phủ Cù Châu, tỉnh Chiết Giang. Thuở nhỏ, Ngài học Nho. Do đọc Long Thư Tịnh Độ Văn mà phát tâm hướng Phật. Năm Vạn Lịch thứ bảy (1579), sau một trận bệnh nặng, Ngài xin xuất gia với thiền sư Ánh Am, được truyền dạy Vĩnh Gia Tập. Sau đó, Ngài y chỉ pháp sư Bách Tùng Chân Giác. Về sau, trụ tích tại đạo tràng U Khê thuộc chùa Cao Minh, trung hưng đạo tràng này. Ngoài Thiên Thai Giáo Quán, Sư tinh thông Tịnh Độ Tông và Thiền Tông, giảng kinh hơn bốn mươi năm. Đầu niên hiệu Sùng Trinh (1628), vào ngày 21 tháng Năm, biết giờ phút lâm chung sắp đến, Ngài giảng dạy lần cuối tại chùa Thạch Sơn, đối trước đại chúng đề năm chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, lớn tiếng xướng đề kinh rồi thị tịch. Ngài trước tác khá nhiều như Ngô Trung Thạch Phật Tướng Hảo Sám Nghĩa, Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư Chú, Thiên Thai Sơn Phương Ngoại Chí, U Khê Văn Tập, Lăng Nghiêm Kinh Viên Thông Sớ, Lăng Nghiêm Kinh Viên Thông Sớ Tiền Mao, Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Tập Lược, Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận, Duy Ma Kinh Vô Ngă Sớ, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Đồ Tụng, A Di Đà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao… Trong đó, hai tác phẩm Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận và A Di Đà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao được những vị nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh Độ đánh giá rất cao.

[98] Tam đại là ba bộ chú giải kinh Pháp Hoa của Trí Giả đại sư (do môn nhân Quán Đảnh ghi lại) gồm Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú và Ma Ha Ha Chỉ Quán. Ngũ tiểu là các bộ chú sớ Kim Quang Minh Huyền Nghĩa, Kim Quang Minh Kinh Văn Cú, Quán Âm Huyền Nghĩa, Quán Âm Nghĩa Sớ và Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ đều do Trí Giả đại sư soạn.

[99] Nguyên văn “giới thận khủng cụ” (戒慎恐懼) vốn phát xuất từ sách Trung Dung: “Thị cố, quân tử giới thận kỳ sở bất đổ, khủng cụ kỳ sở bất văn” (v́ thế, quân tử răn dè, cẩn thận nơi cái chẳng thấy, e sợ nơi cái chẳng nghe). “Giới thận khủng cụ” có thể hiểu thô thiển là luôn lưu tâm, cẩn thận, ngăn ngừa tâm hư phù ĺa khỏi đạo.

[100] Dương là Dương Châu chủ trương thuyết vị ngă, Mặc là Mặc Địch chủ trương kiêm ái. Thuyết của hai ông bị Nho gia coi là dị đoan. Dương Châu (430-360 trước Công Nguyên), tên tự là Tử Cư hoặc Tử Thủ, chủ trương thuyết duy ngă luận, cá nhân chủ nghĩa, hưởng lạc chủ nghĩa v.v… Học thuyết của ông là bảo toàn sanh mạng và thiên chân của ḿnh. Câu nói nổi tiếng của ông là “không v́ cái lợi lớn của thiên hạ mà chịu mất đi một sợi lông chân của ḿnh”.

Mặc Địch (468-376 trước Công Nguyên) là người nước Lỗ (có thuyết nói ông là người nước Tống), ngoài việc là một nhà tư tưởng, ông c̣n là một nhà khoa học, nhà giáo dục, và quân sự. Sở dĩ ông bị Nho gia công kích v́ ông cho rằng Nho gia quá rườm rà, lễ nhạc và chánh sự quá phức tạp, nẩy sanh những phiền toái vô ích, chê họ nói nhân nghĩa ngoài miệng mà thôi! Ông chủ trương đời sống chất phác, nhu cầu vừa đủ, giảm bớt chi tiêu, lược bỏ những lễ nhạc rườm rà trong quan, hôn, tang, tế của Nho gia.

[101] Năm thứ mười bốn đời Lỗ Ai Công (năm 481 trước Công Nguyên), Điền Thành Tử giết vua nước Tề là Tề Giản Công. Khổng Tử nghe tin, lo ngại nước Lỗ sẽ có kẻ học theo gương ấy. V́ vậy, Ngài trai giới, tắm gội rồi mới vào chầu Lỗ Ai Công tâu: “Điền Hằng (Điền Thành Tử) giết vua, xin bệ hạ xuất binh thảo phạt Điền Thành Tử”. Ở đây, Tổ mượn điển tích này để nói lên sự lo ngại đối với tác hại của tà thuyết trong sách Pháp Hoa Bách Vấn bèn chẳng ngại đụng chạm mà thẳng thừng thưa tŕnh với Đạt Nguyệt pháp chủ (Đôi khi có sách chép là Trần Thành Tử v́ thời cổ, Trần và Điền có cùng âm đọc, nên hai chữ này có khi dùng lẫn cho nhau).

[102] Tức chuyện Biện Ḥa là người nước Sở, biết đá có ngọc, bèn dâng tảng đá ấy lên Sở Lịch Vương. Thợ ngọc bảo đó chỉ là đá. Lịch Vương trách Biện Ḥa dối vua, sai người chặt chân trái họ Biện. Đến thời Sở Vũ Vương, Biện Ḥa lại dâng lên. Thợ ngọc lại bảo là đá, vua sai chặt nốt chân phải. Măi cho đến khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện Ḥa ôm đá ngồi khóc dưới chân núi Kinh suốt ba ngày ba đêm, khóc cạn nước mắt đến nỗi mắt tuôn máu. Văn Vương nghe nói, bèn sai thợ chẻ đá, quả nhiên được ngọc quư, liền đặt tên là Ḥa Thị Bích (ngọc họ Ḥa). Bích tức là một loại ngọc quư được chạm khắc, dùng để cúng tế thần linh. Theo truyền thuyết, viên ngọc ấy được Sở Oai Vương ban thưởng cho quan lệnh doăn Chiêu Dương v́ có công diệt nước Việt. Chiêu Dương mở tiệc, khoe ngọc. Trong tiệc có kẻ gây rối, khiến viên ngọc bị thất lạc. Có người đổ riệt Trương Nghi là kẻ trộm ngọc, khiến ông ta bị tra khảo gần chết. Về sau, Trương Nghi trở thành tướng quốc nước Tần, đem quân đánh Sở đ̣i ngọc để trả thù. Nhưng ngọc vẫn bị thất lạc. Về sau, viên ngọc ấy lọt sang nước Triệu. Vua Tần là Tn Chiêu Tương Vương biết vua nước Triệu là Triệu Huệ Văn Vương có ngọc, bèn sai sứ sang thương thuyết xin đổi mười lăm ṭa thành để lấy viên ngọc đó. Do vậy, có thành ngữ “giá trị liên thành”. Về sau, Tần diệt lục quốc, Tần Thủy Hoàng sai điêu khắc ngọc họ Ḥa thành ấn báu truyền quốc gọi là Truyền Quốc Tỷ. Trên mặt ấn có khắc tám chữ Thọ Mạng Ư Thiên, Kư Thọ Vĩnh Xương (nhận mạng từ trời, lâu bền tốt đẹp măi măi).

[103] “Trượng thất” là cái thất vuông vức, mỗi bề chỉ rộng đúng một trượng, tức là cái thất của cư sĩ Duy Ma Cật. Cổ nhân dùng chữ “trượng thất” để tôn xưng hàng tại gia cư sĩ, ngụ ư: Tuy bận bịu gia vụ, lo toan nghề nghiệp, mà tâm vẫn b́nh lặng, an trụ trong giải thoát như ngài Duy Ma Cật.

[104] “Tế Vân đấu tránh” là cuộc tranh luận về pháp phái cuối thời Minh do Mật Vân Viên Ngộ thuộc tông Lâm Tế chủ xướng. Thoạt đầu, do có ư kiến năm tông phái nhà Thiền là vô căn cứ. Do vậy, Hán Nguyệt Pháp Tạng thuộc tông Lâm Tế viết Ngũ Đăng Nguyên biện luận năm tông phái Thiền đều phù hợp pháp ấn từ thời Oai Âm Vương Phật. Đệ tử của ông ta là Mật Vân Viên Ngộ thấy cách nói ấy thiếu thuyết phục, bèn viết Tịch Vọng Cứu Lược Thuyết, nhằm chứng minh sự truyền thừa của Thiền Tông từ quá khứ thất Phật, hai mươi tám vị Tổ của Thiên Trúc, sáu vị Tổ của Đông Độ, và truyền thừa từ ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng trở đi cho đến người cuối cùng là Hán Nguyệt Pháp Tạng. Đệ tử ông ta là Phí Ẩn Thông Dung lại soạn Ngũ Đăng Nghiêm Thống với mục đích “thanh lư môn hộ”, gạt bỏ những vị chứng ngộ do tự học theo di trước, tự ngộ v.v… Cuộc tranh luận này dẫn đến khuynh hướng cực đoan khi khẳng định chỉ có pháp hệ của Mật Vân Viên Ngộ là đích truyền, khiến cho các tông phái, môn đ́nh nhà Thiền tại Trung Hoa tranh luận ồn ào không dứt.

[105] “Tập đại thành” (集大成) là dung hội các tư tưởng, học thuyết, phong cách, tài khéo v.v… thành một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất.

[106] Lỗ Am là biệt hiệu của Kim Tông Nhất (1597-1675). Ông quê ở Khánh Châu (Đại Hàn), tác phẩm của ông được tập hợp thành Lỗ Am Văn Tập.

[107] Thông Dực (通翼) là một tác phẩm của Tăng Đại Kỳ biên soạn, chủ yếu là tư tưởng Nho học, nhưng tham khảo rất nhiều giáo nghĩa Phật môn, nhằm xiển dương ư nghĩa “Nho Phật bất nhị”. Sách bao gồm các đề mục nhân quả, bảo vệ sanh mạng, quỷ thần, mộng mị, các nghĩa lư của Nho và Phật v.v…