Linh
Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
5
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
6. Thuyết
* Nói về tác pháp
Phá
giới tuy ác, nhưng che giấu c̣n ác hơn! Không lỗi
tuy thiện, sửa lỗi càng thiện hơn! Đường
lối sửa lỗi là đường nẻo chung để
chứng Bồ Đề của tam thế chư Phật.
Do vậy,
pháp môn Ngũ Hối từ phàm phu cho đến Đẳng
Giác, không ǵ chẳng phải là phương tiện để
nhờ vào đó mà tiến cao hơn! Lo buồn, hối hận, keo tiếc
là do chẳng cẩn trọng nơi những sự việc
nhỏ nhặt;
chú tâm chẳng phạm lỗi lần nữa là do biết hối
hận. Họa hay phước chẳng có cửa, chỉ
do mỗi người tự chuốc lấy. Ngay trong lúc
người đời đang tạo tội, thật sự
là đại ác, chẳng coi đó là điều nhục
nhă, hướng về người khác phát lộ; đấy chính là
điều thiện nhất trong các điều thiện,
nhưng lại ngược ngạo coi đó là đáng xấu
hổ, cam tâm làm ác, cảm thấy khổ sở
khi làm lành,
bèn trở thành ác nhất trong những điều ác,
vĩnh viễn chẳng có thuở thoát ra! Điên đảo,
ngu si, không chi hơn được nữa!
Sám hối trước
đại chúng có thể khiến cho người chẳng
phạm càng tăng thêm ḷng cảnh tỉnh, nỗ lực,
kẻ đă phạm bèn sanh ḷng hổ thẹn sâu xa, hoặc
cũng phát tâm sám hối, người học theo điều
tốt sẽ tăng trưởng thiện căn, kẻ
chê cười cũng gieo viễn nhân, lại c̣n có thể
tiêu tội cũ của chính ḿnh, răn nhắc chính ḿnh
trong vị lai! Như Lai lập pháp, chắc chắn chẳng
sai. Kẻ trái nghịch lời Phật, chẳng phải là
đệ tử đức Phật! Nếu
đă trót tạo mà có thể sám hối, tức là bậc
trượng phu dũng mănh, đáng kính, đáng nể. Một
niệm dũng mănh sửa đổi, đó chính là chánh nhân
để thành Phật. Chẳng phải là kẻ tín tâm chân
thật, thiện căn sâu xa, sẽ chẳng thể
lưu thông pháp môn này trong cơi đời. Phàm người có
thể làm chuyện này, sẽ cùng với tỳ-kheo Dũng
Thí nêu gương bất hủ. Chắp tay mà nói kệ rằng:
- Tội tánh vốn
vô sanh, cần ǵ phải che giấu? Che giấu, tội
thành có. Chẳng giấu, tội bèn không. Than ôi! Kẻ chẳng
thẹn, viện cớ quán Thật Tướng. Tác pháp c̣n
chẳng thể, há đạt lư Vô Sanh? Nếu thật hiểu Vô Sanh, tội tướng
tức Thật Tướng. Tội đă là Thật Tướng;
nên chẳng thể che giấu. Như v́ bệnh cầu thuốc,
bèn thu được tiên đan, thân nhẹ
nhàng cất lên. Kẻ
tầm thường chẳng bệnh, đâu có thể sánh
bằng! Chẳng bỏ tác pháp sám, mà nhập lư Vô Sanh. Phép
sau ắt trọn trước, phép trước cũng thông
sau. Thận trọng đầu đến cuối, thâm
đạt các duyên khởi!
Chẳng lừa dối
Tam Bảo, và hộ pháp, trời, rồng. Đem tâm chân thiết
ấy, tự độ lại hóa tha, hồi hướng
cơi An Lạc, bèn gọi đạo Đại Thừa.
* Nói về diệu an
Tam
giới chẳng yên, giống như nhà lửa. Chỉ có
người thâm nhập Hỏa Quang tam-muội mới có thể
chuyển lửa nghiệp báo phiền năo thành lửa trí huệ,
du hư, qua lại
trong ấy tự tại vô ngại,
bèn gọi là Diệu An. Cái Thể của lửa phiền
năo và lửa trí huệ là một, nhưng danh xưng khác
nhau! Chẳng phải là phiền năo diệt mà trí huệ
sanh. Do lúc chẳng có trí huệ, phiền năo quyết chẳng
diệt, cũng chẳng phải là do trí huệ sanh mà phiền
năo diệt. Do lúc có trí huệ, phiền năo đă mất
trước, như lúc tối th́ chẳng sáng, lúc sáng th́ chẳng
tối. Tối chẳng ngăn chướng sáng, sáng chẳng
phá tối. Hai pháp chẳng
mâu thuẫn nhau. Do sáng và tối đều chẳng có Thể,
cùng dùng hư không làm cái Thể của chúng. Trí huệ và phiền
năo chẳng có Thể như thế, cùng dùng tâm tánh làm cái Thể
của chúng.
Như Hỏa Đại duyên nơi
phân làm cảnh (tức
đốt phân),
mùi thối bức người; duyên nơi chiên đàn th́
hương thơm lan
xa. Tâm tánh cũng thế. Duyên theo lợi th́ là tam đồ,
duyên theo danh th́ là Tu La, duyên theo Ngũ
Thường, Thập
Thiện th́ là trời, người trong Dục Giới, duyên
theo Tứ Thiền, Tứ Không, th́ là Sắc, Vô Sắc Giới,
duyên theo vô lậu Thiên Chân th́ là Thanh Văn, Duyên Giác, duyên
theo Lục Độ, vạn hạnh, tự lợi, lợi
tha th́ là Bồ Tát, duyên theo Thật Tướng th́ gọi
là Phật.
Tâm tuy thuận theo duyên
mà trọn thành mười giới, nhưng tánh vẫn chẳng
phải là mười giới, giống như lửa tùy
duyên mà thơm hay thối, tánh của nó vẫn chẳng phải
là thơm hay thối. Ở ngoài các pháp thuộc mười
giới, chẳng có tự tâm, nhưng cái tâm trong mỗi giới
vẫn vượt ngoài mười giới. Giống
như ở ngoài cỏ cây thơm, thối, sẽ chẳng
có cái Thể của lửa, nhưng lửa của mỗi
loại cỏ cây vẫn đốt sạch hết thảy
cỏ cây! Trời,
người thuộc tam thừa, long nữ, Xiển-đề
trong Pháp Hoa, không ai chẳng được thọ kư làm Phật,
do lửa của hết thảy cỏ cây đều có một
tánh lửa.
Có thể biết một thứ lửa
chính là hết thảy các thứ lửa, hết thảy các
thứ lửa đều là một loại lửa. Chẳng
ra ngoài lửa phiền năo để riêng cầu lửa trí
huệ. Chẳng ở ngoài lửa nghiệp mà riêng cầu
lửa thần thông tam-muội. Chẳng ở ngoài lửa
khổ báo mà riêng cầu pháp tánh chân hỏa. Ngay cả sự
thông minh trong thế gian nếu đặt trong các Phật
pháp, sẽ là lửa phiền năo trở thành lửa trí huệ.
Dùng cái tay đẩy người để đỡ
người. Dùng cái miệng hủy báng người để
tán thán người. Dùng cái tâm oán ghét người để
từ ái đối với người khác. Đó gọi
là từ nghiệp hỏa mà thành giải thoát hỏa. Biết
căn, thân, khí giới này, mỗi mỗi đều duy tâm,
chẳng dấy đủ thứ t́nh kiến “đây, kia,
ta, người”, th́ vạc sôi, ḷ than, rừng gươm,
núi đao đều nạp vào Lạc Ư tam-muội của
tăng chúng, hà huống nghịch cảnh ác duyên nhỏ nhặt
của nhân gian, há chẳng phải là vật dụng để
mài luyện tánh chân ư? Đó gọi là do khổ hỏa
mà thành Pháp Thân hỏa, tức gọi là Hỏa Quang tam-muội.
Kệ rằng: - Khi
mê, diệu pháp thành sanh tử. Đă ngộ, tam thiên tánh lặng
thinh. Tĩnh lặng vốn chẳng rớt không vong, sanh tử
há từng
có thật thể? V́ Thật, hành Quyền nói mê, ngộ.
Khai Quyền, hiển Thật dứt ngộ, mê. Mê t́nh
đă dứt, há c̣n ngộ. Quyền, Thật danh xưng
cũng chẳng c̣n! Chẳng Quyền, chẳng Thật, là
cội pháp. Tâm, Phật, chúng sanh,
tánh khác ǵ? Nương
đó, kiến lập môn
Quyền, Thật, cùng với Bổn, Tích chẳng nghĩ
bàn. Ví như hoa sen chẳng khác thời, tứ vi[1]
cũng lại chẳng sai biệt! Nói hoa là nhân, hạt là
quả. Quả
lại sanh nhân chẳng tận cùng. Nếu ai ngộ
được tâm liên hoa, măi trong tam giới chẳng thuộc
giới, liền hay chuyển được kinh như thế,
trăm ngàn vạn ức vô số quyển. Tự, Chánh,
Lưu Thông và Khuyến Phát, trong khoảng khảy tay, công
viên măn!
* Nói về khiêm quang
Kinh
Dịch nói: “Khiêm, đức chi bính dă. Khiêm tôn nhi quang, ty
nhi bất khả dụ” (Khiêm là căn bản của
đạo đức. Người có phẩm đức
khiêm tốn nếu thuộc địa vị tôn quư, phẩm
đức càng rạng rỡ, dẫu thuộc địa vị
thấp
kém, chẳng có ai hơn được)[2].
Điều này chẳng khác ư chỉ “đương nhân
bất nhượng ư sư” (gặp chuyện nhân
nghĩa đáng phải làm, dẫu đối với thầy
của ḿnh cũng chẳng nhường). Kinh dạy: “Tâm,
Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Chúng sanh
và Phật b́nh đẳng, chẳng nên khinh hết thảy.
V́ thế, dùng Khiêm để dạy. Phật và tự tâm
b́nh đẳng, chớ nên phó mặc cho Phật; v́ thế,
cổ vũ “chẳng nhường”. Do chẳng
nhường, cho
nên chẳng có ty liệt mạn. Do
Khiêm, nên chẳng có tăng thượng mạn và ngă mạn,
tà kiến. Đấy là thật nghĩa của Khiêm.
Muốn khế hợp
thật nghĩa này, hăy nên quán kỹ tự tánh của một
niệm hiện tiền. Nếu nói là Có th́ t́m nó chẳng thể
được. Nếu bảo nó là Không, th́ nó ứng dụng
vô tận. Cho là nó ở trong, th́ nó trọn khắp lục
hư (thế giới). Cho là nó ở ngoài, cảm nhận
nó tràn đầy nơi thân. Ngỡ nó là thân, th́ mộng
cũng chẳng cùng ngủ, chết cũng chẳng cùng diệt!
Ngỡ nó ĺa thân, trừ ngoài Tứ Đại, lục
căn, rốt cuộc chẳng có h́nh tướng. Do vậy
biết: Tâm tánh của phàm phu suốt ngày ở trong vọng
chính là tâm tánh “ĺa
lỗi, dứt sai”, chẳng đợi
sau khi thành Phật rồi mới “ĺa
lỗi, dứt sai”. Tâm tánh của ta vốn tự “ĺa lỗi, dứt sai”, há có thể nhường
cho Phật?
Tâm tánh của hết thảy chúng sanh cũng chẳng hề
không “ĺa lỗi, dứt
sai”, há nên sanh đôi
chút khinh mạn nào? Do chẳng nhường, trên là hợp với
mười phương chư Phật, có cùng một từ
lực với Phật Như Lai. Do chẳng khinh, dưới
hợp với mười phương chúng sanh, cùng một
niềm bi ngưỡng với các chúng sanh. Đó gọi là “tôn
nhi quang, ty nhi bất khả du, quân tử chi chung”
(nơi địa vị tôn quư th́ phẩm đức rạng
rỡ, dẫu thuộc địa vị thấp hèn, phẩm
đức vẫn không ai hơn được, quân tử
luôn giữ trọn như thế)!
* Nói về hiếu
văn
Pháp
thế gian và xuất thế gian đều lấy hiếu
thuận làm cốt lơi. Kinh Phạm Vơng dạy: “Hiếu
thuận phụ mẫu, sư tăng, Tam Bảo, hiếu được gọi là Giới”. Bởi lẽ, cha mẹ
sanh ra sắc thân ta, sư tăng sanh ra Pháp Thân của ta, Tam Bảo sanh ra huệ
mạng của ta. V́ thế, đều cần phải hiếu
thuận. Nhưng muốn tu hiếu thuận, th́ càng phải
niệm nào cũng tương ứng với Giới.
Như Tăng Tử nói: “Vô cố nhi sát nhất trùng nghị,
phi hiếu dă. Vô cố nhi chiết nhất thảo mộc,
phi hiếu dă” (Vô duyên cớ mà giết một con trùng,
con kiến, chẳng phải là hiếu. Vô duyên cớ mà bẻ
găy một ngọn cỏ, nhánh cây, chẳng phải là hiếu).
Hiếu thế gian c̣n như thế, huống hồ đại
hiếu xuất thế ư? Nói tóm lại: Thật sự
có thể hiếu thuận với cha mẹ, sư tăng,
Tam Bảo, quyết chẳng dám phạm giới, tạo ác!
Kinh dạy “Hiếu gọi là Giới”,
chính là v́ muốn cho con người dùng Giới để
hành hiếu. Phàm hiếu thế gian coi sớm chiều phụng
dưỡng sắc thân là điều tối thiểu,
khuyên dạy [mọi người] chẳng khiến cho cha mẹ
bị nhục nhă, bị ô danh là bậc trung, dùng đạo
để khuyên dụ cha mẹ chính là đạo hiếu
to lớn. Hiếu xuất thế gian cũng giống
như thế! Tâm
siêng năng cúng dường Tam Bảo, hưng khởi Phật
sự mạnh mẽ; đó là tiểu hiếu. Thoát ĺa sanh
tử, chẳng khiến cho con Phật thân bị ch́m đắm
lâu ngày trong tam giới, đó là trung hiếu. Phát Vô Thượng
Bồ Đề tâm, quán hết thảy chúng sanh từ vô thỉ
tới nay đều là cha mẹ của ta, ắt muốn
độ cho họ thành Phật đạo. Đấy là
đại hiếu. Vua Thuấn trọn hết đạo
đại hiếu thế gian, đức thẳm sâu truyền
tới tai vua Nghiêu, được [vua Nghiêu truyền ngôi
làm] thiên tử. Nay đứa con xuất gia trọn hết
đạo đại hiếu xuất thế, đức
thẳm sâu vang dội pháp giới, ắt thành Vô Thượng
Bồ Đề đă rơ rồi!
* Nói về tẩy tâm (gột
rửa cái tâm)
Tâm
tánh vốn tự ĺa lỗi, dứt sai, linh thông, sáng suốt,
thanh tịnh, chỉ do vô thỉ vô minh mê lư gây lầm lỗi,
bèn hư vọng có Tam Hoặc (Kiến Tư Hoặc, Trần Sa
Hoặc, Vô Minh Hoặc). Ví như mây nổi
che phủ hư không, nhưng mây nổi quyết chẳng từ
bên ngoài hư không mà có! Do hư không chẳng ở ngoài tánh,
nên vô minh Tam Hoặc cũng há từ ngoài tâm tánh mà có,
nhưng há có cái ra ngoài tâm tánh được ư? Chẳng
có ǵ ngoài tâm tánh, há có cái có thể gột rửa và cái bị
gột rửa?
Hăy nên biết: Đă xét theo “toàn thể thành mê”, giả nói là
cái có thể che (năng
ế) và cái bị che (sở ế), cũng ước
theo “toàn thể mê quy vào ngộ”, mà giả nói là có thể gột
rửa (năng
tẩy) và cái bị gột rửa (sở tẩy).
Toàn thể thành mê, như toàn bộ nước thành
băng. Băng tức là nước bị ngưng đọng,
chẳng lưu động. Toàn thể mê quy vào ngộ, giống
như toàn thể băng tan thành nước. Nước tức
là băng tan, chẳng khiến cho ngăn ngại. Trong nhất
tâm, đă hư vọng tạo thành Tam Hoặc. Liễu giải
Tam Hoặc, sẽ thành diệu Tam Chỉ:
- Thể Chân Chỉ
chính là biết rơ mười giới không ǵ chẳng phải
là nhất tâm, có thể dung hội Kiến Tư Hoặc
thuộc giới nội và giới ngoại.
- Phương Tiện
Tùy Duyên Chỉ là biết rơ nhất tâm trọn đủ
mười giới, có thể dung hội Trần Sa Hoặc
thuộc giới nội và giới ngoại.
- Tức Nhị Biên Phân Biệt Chỉ là biết rơ “nhất tâm thập
giới, thập giới nhất tâm” chẳng thể
nghĩ bàn, có thể dung hội căn bản Vô Minh Hoặc.
Do có thể dung hội
Hoặc, Tam Chỉ đều có nghĩa là “chấm dứt”,
v́ có thể biết rơ. Tam Chỉ đều có nghĩa là
“ngưng dứt”, do Hoặc và Lư chẳng có hai Thể.
Năng dung (cái có thể dung hội) và sở dung (cái
được dung hội), năng tri (cái có thể biết)
và sở tri (đối tượng được biết)
chẳng có hai lẽ, Tam Chỉ đều có nghĩa “chẳng
ngưng dứt”. Mỗi Chỉ trong Tam Chỉ đều
có đủ ba nghĩa (chấm dứt, ngừng dứt, và
chẳng ngưng dứt), tức là thành chín nghĩa. “Chín
nghĩa” chỉ là Tam Chỉ, Tam Chỉ chỉ là nhất
tâm. Nhất tâm vốn chẳng có năng tẩy (cái có thể
gột rửa) và sở tẩy (cái được gột
rửa), nhưng năng tẩy và sở tẩy rành rành chẳng
xen lạm!
Dịch Truyện nói: “Thánh
nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng ư mật” (thánh
nhân dùng điều này để gột rửa cái tâm, ẩn
tàng nơi sâu kín), ư nghĩa tột bậc là như thế
đó. Đại Kinh nói: “Tam đức nhược tung,
diệc bất danh diệu. Tam đức nhược
hoành, diệc bất danh diệu. Tam đức bất tung
bất hoành, danh bí mật tạng, năi danh vi diệu. Khế
thử diệu mật, công tại ư trí. Phát thử diệu
trí, bất ly ư tâm” (Tam đức nếu xét theo chiều
ngang, cũng chẳng gọi là Diệu.
Tam đức nếu xét theo chiều dọc, cũng chẳng
gọi là Diệu.
Tam đức chẳng ngang, chẳng dọc, gọi là tạng
bí mật, bèn gọi là Diệu. Khế hợp sự diệu
mật ấy là do công năng của trí. Phát khởi diệu
trí ấy, chẳng ĺa cái tâm). Tâm trí đă phát th́ Tam Hoặc
ḥa tan, như nước sôi tiêu băng, giả gọi là Tẩy.
Xin dùng kinh Phật
Đảnh (kinh Lăng Nghiêm) để làm chứng. Kinh dạy:
“Chỉ giai thị vật, vô thị kiến giả” (Những
ǵ được ông (A Nan) chỉ ra đều là vật,
chẳng phải là cái thấy). Đó là nói về diệu
tâm ĺa hết thảy các tướng, đó là Thể Chân Chỉ.
Lại nói: “Vi tế phát minh, vô phi kiến giả” (nhận
biết rơ ràng những thứ vi tế [trong muôn vật],
không ǵ chẳng phải là cái Thấy). Đó là nói diệu
tâm tức hết thảy các pháp, tức Phương Tiện
Tùy Duyên Chỉ. Lại nói: “Thử kiến cập duyên,
nguyên thị Bồ Đề diệu tịnh minh Thể, vân hà ư
trung hữu thị phi thị?”
(Cái Thấy ấy và cái được nó duyên theo vốn là
cái thể sáng sạch mầu nhiệm của Bồ Đề,
sao ở trong ấy lại có đúng và chẳng đúng cho
được?) Đó là nói diệu tâm “ĺa tức, ĺa
phi”, “thị tức phi tức” (“chính là” chẳng phải
“chính là”). Đó là môn Tức Nhị Biên Phân Biệt Chỉ.
Tức là trong một chương ấy, rành rành có đủ
Tam Chỉ. Tức là mỗi Chỉ trong Tam Chỉ ấy
đều chứa đựng ba nghĩa. Nếu hướng
theo chỗ
đó để chân thật thấu hiểu,
chẳng câu nệ ngôn ngữ, văn tự, cũng chẳng
trái nghịch ngôn ngữ, văn tự.
Từ chỗ thấy sắc, ngửi
hương, sẽ
hiểu rơ rạch ṛi. Từ
trong ngôn ngữ, văn tự mà soi xét, phân tích rành rẽ, mới
biết giáo pháp suốt một đời đức Phật,
một ngàn bảy trăm công án, nói đi, nói lại, không
ǵ chẳng phải là đạo lư này!
Ngàn muôn biến hóa,
đều cùng là một sợi đầu mối. Một
sợi đầu mối trọn đủ biến hóa muôn
ngàn, sẽ có thể ngồi trong một vi trần chuyển
đại pháp luân, phá vỡ một trần lấy ra kinh
quyển to bằng cơi đại
thiên. Thâu vào một trần, cũng chẳng thấy có
tướng đại thiên thế giới, cũng chẳng
thấy tướng của một trần, cũng có thể
khiến cho đại thiên và một trần, mỗi mỗi
đều rành rành, chẳng ngăn ngại nhau, chẳng
đoạt lấp nhau. Đó gọi là “chí hiển, chí lộ,
chí vi, chí mật”, là chẳng hiển, chẳng mật, vừa
hiển vừa mật. Đó gọi là chẳng thể gột
rửa mà gột rửa, đó gọi là “nếu muốn
sanh về Tịnh Độ, hăy nên tịnh cái tâm. Thuận
theo cái tâm đă tịnh, cơi Phật sẽ tịnh!”
* Nói về từ tế
(từ bi cứu giúp)
Phật đạo cứu
giúp rộng khắp, lấy Hiếu làm điều cốt
lơi. Hiếu bao trùm vạn hạnh. Lấy Từ làm điều
trọng yếu, do sức của Từ Tâm tam-muội, thuốc
độc có thể thành cam lộ, đao, gậy hóa thành hoa
trời, thật sự là thuốc tốt lành để cứu Kiếp Trược,
là thần chú để giải oan nghiệp. Than ôi! Tứ
Đại có cùng một Thể, giác tánh chẳng sai suyển.
Ǵ là người khác? Ǵ là ta? Ai là oán? Ai là thân? Do mê quá nặng,
nên ngang ngược so đo đúng, sai. Do chấp nặng
nề, hư vọng trở thành
yêu, ghét. Yêu th́ sẽ không ngừng sanh ra nhau, ghét th́ sẽ
tàn hại nhau chẳng ngớt. Thuận th́ ghét sẽ lại thành
yêu; nghịch th́ yêu lại trở thành ghét! Yêu, ghét đắp
đổi cho nhau, oán thân lần lượt xảy ra. Biệt
nghiệp cùng tạo, bèn cảm kiếp đao binh. Nếu
chẳng tu hành đại từ, dùng ǵ để cứu
giúp đại nạn?
Nếu có thể thật
sự dùng bảy cảnh[3]
để buộc tâm, thí ba loại lạc[4]
để điều ḥa ư, thậm chí trong oán
duyên bậc thượng, bèn trao cho niềm vui bậc
thượng, tâm sanh hỷ duyệt, chẳng c̣n ghen ghét,
năo hại,
dùng môn Định ấy
hướng về núi đao, núi đao ắt sụp lở.
Dùng môn Định ấy
hướng về vạc sôi, vạc sôi ắt diệt. V́
thế biết Phổ Môn rốt ráo có thần lực vô úy,
chẳng ĺa Từ
tâm trong một niệm hiện tiền của chúng ta. Nếu
người trong trọn khắp cơi Diêm Phù Đề đều
tu môn Từ Tâm tam-muội này, Sa Bà không lập tức chuyển
thành Tịnh Độ, tam thế chư Phật liền
thành kẻ nói dối! Dẫu cả đại địa
giết chóc, riêng một người tu môn này, người ấy
chưa từng chẳng riêng ḿnh được thanh thản,
thư thái, chỉ người trí mới có thể tin
tưởng sâu xa!
* Nói về Niệm Phật
tam-muội
Ông
Chương Khiết Chi ở Toàn Thành trần thuật sự
việc trong cuộc đời của thân phụ là cụ
Vũ Hành: Lâm chung ngồi niệm Phật qua đời, và
nhân duyên được lănh Tam Quy, Ngũ Giới, chánh niệm
thiện chung của tiên từ (mẹ) của ông ta là
Vũ Thạc Nhân[5],
xin tôi nói một lời trang nghiêm Tịnh Độ. Kinh Tịnh
Danh dạy: “Nhược dục tịnh độ,
đương tịnh kỳ tâm” (nếu muốn thanh tịnh
cơi nước, hăy nên tịnh cái tâm). Tâm của hai vị
tiên tôn[6]
đă định, há lẽ đâu cơi nước chẳng càng thêm tịnh ư? Hơn nữa, cư
sĩ tâm hiếu thảo chẳng khuyết, sâu xa hướng
về pháp môn, tâm lại tịnh, lẽ nào cơi nước
càng chẳng thêm tịnh
ư? Cần ǵ đợi tôi phải nói nữa, nhưng
tôi có thể nói rằng:
[Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh] Diệu Tông Sao viết: “Ngũ trược
nhẹ bèn thanh tịnh cơi Đồng Cư. Phương tiện
khéo thấu hiểu Không th́ thanh tịnh cơi Phương Tiện.
Trọn vẹn Tam Quán bèn thanh tịnh cơi Thật Báo. Rốt
ráo chứng thanh tịnh cơi Tịch Quang”. Đạo Tịnh
Độ như con đường rộng lớn, cố
nhiên chẳng khó biết. Lư Tịnh Độ dường
như biển cả, há trong một
bước mà có thể trọn hết ư? Nay tập
khí ngũ trược của
các cụ đă nhẹ, cơi tịnh Đồng Cư ắt
có thể đạt được. C̣n như các cơi tịnh
Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang, khéo kế tục,
khéo thực hiện, hoàn
toàn cậy vào ḷng hiếu thảo của ông. Cư sĩ chỉ
xét kỹ, quán kỹ một niềm hiếu thảo ấy
ở trong, ở ngoài, hay ở chặng giữa? Là quá khứ,
hiện tại, hay vị lai vậy? Là xanh, vàng, đỏ,
trắng ư? Là dài, ngắn, vuông, tṛn ư? Là tự sanh,
do cái khác sanh, do cùng sanh, hay chẳng có nhân mà sanh ư? Là có
ư? Hay chẳng có? Hay vừa có vừa không? Hay chẳng
phải có, chẳng phải không? Đă quán như thế,
đối với tâm chẳng giữ lấy, đối với
pháp chẳng chấp trước, biết rơ bản thể
của hiếu thảo tức Không, tức Giả, tức
Trung. Do tức Không, nên Kiến Tư tịnh. Do tức Giả,
nên Trần Sa tịnh. Do tức Trung, nên Vô Minh tịnh. Do
Tam Hoặc đă tịnh, ba cơi cũng tịnh. Ba cơi trong tự
tâm đă tịnh, nên ba cơi của cha mẹ cũng tịnh
theo, bởi chẳng
có cha mẹ ở ngoài tâm!
Như quán một niệm
hiếu thảo, có thể tùy ư vận dụng ḥng
thanh tịnh Tam Hoặc, quán hết thảy thiện niệm,
hết thảy ác niệm, hết thảy vô kư niệm
cũng lại như thế. Đó gọi là Giác Ư tam-muội,
c̣n gọi là Niệm Phật tam-muội. Do biết tự
tâm chính là Không, được thấy Hóa Thân Phật. Biết
tự tâm tức Giả, được thấy Báo Thân Phật.
Biết tự tâm tức Trung, được thấy Pháp
Thân Phật. Như quán tự tâm, có thể thấy Tam Phật
(Pháp, Báo, Hóa), vậy th́ niệm Tam Phật cũng chính là hiển
phát tam đức (Pháp Thân, Bát Nhă, giải thoát) trong tự
tâm. Do đó nói: “Quán Thật Tướng của thân, quán
Phật cũng thế. Quán Thật Tướng của Phật,
quán thân cũng thế”. Chúng sanh và Phật chẳng hai,
cha con cùng một Thể, năng độ (người hóa
độ) và sở độ (người được
độ) đều chẳng thể nghĩ bàn. Cẩn thận
đừng nói: “Chỉ hướng về cái trước
khi được cha mẹ sanh ra để tiến nhập,
lănh hội”. Dẫu cho ông nói “lúc cha mẹ chưa sanh
ra”, đă sớm có vô biên sanh tử, vậy th́ chỉ
hướng về một niệm hiện tiền để
thấy thấu suốt: Có bao giờ là do cha mẹ sanh ra?
Do đó nói: “Mười đời xưa nay, từ
đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm
hiện tiền. Hiểu rơ trước mắt càng chẳng
thừa sót pháp nào khác”. Hăy suy nghĩ sâu xa nhé!
* Nói về thai sen (cũng
gọi là bí quyết cầu sanh Tịnh Độ)
Mùa
Đông năm Quư Mùi (1643), tôi hoằng dương kinh Pháp
Hoa ở Phổ Đức. Cư sĩ Lư Thạch Lan quên
ḿnh đă cao tuổi, đến quy y sớm nhất. Khi
đó, cụ c̣n có phàm t́nh cầu con. Tôi đặt pháp danh
cho cụ là Tịnh Dục (淨育).
Ba năm sau, cụ chuyển cái tâm cầu con thành tạo
tượng Phật, sớm chiều luyến mộ, nhất
ư cầu sanh Tịnh Độ. Tôi nói: “Sự sanh nở
trong thế gian máu me tạp loạn, sao có thể gọi là
tịnh? Chỉ có hóa sanh trong hoa sen mới là tịnh dục
(sự sanh nở thanh tịnh) chân thật. Cư sĩ hăy
nên có biệt hiệu là Dựng Liên
(孕蓮)”.
Tôi lại xin cụ hăy dùng yếu quyết để làm bằng
khoán:
- Cổ nhân nói: “Ái chẳng
nặng, chẳng sanh Sa Bà. Niệm chẳng nhất, chẳng
sanh Cực Lạc”. Cư sĩ đă chẳng cầu
con, tức là ái đă nhẹ. Lại có thể tạo
tượng Phật, tức là niệm đă nhất. Lại
c̣n có
yếu quyết, không ǵ thiết tha bằng
hai câu “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Chiên đàn
bất quá là gỗ trong thế gian, hễ đốt sẽ
thành tro, chạm khắc bèn thành tượng, há chẳng phải
là thuận theo cái tâm mà tạo tác ư? Đă thành tượng,
sớm chiều lễ bái, đối trước tượng
chiêm ngưỡng. Sớm chiều ở trong tâm mục,
ngoài tâm chẳng có Phật. Há chẳng phải “tức
tâm nhi thị” (chính là do tâm) hay sao? Nếu biết tượng
Phật được điêu khắc đích xác là “tâm
làm, tâm là”, sẽ biết Cực Lạc Di Đà cũng
là ‘tâm làm, tâm là’. Nếu đă biết Cực Lạc
Di Đà là “tâm làm, tâm là”, ắt sẽ biết mười
phương ba đời hết thảy chư Phật
cũng đích xác là “tâm làm, tâm là”. Nếu biết hết
thảy chư Phật “tâm làm, tâm là”, sẽ biết hết
thảy Tịnh Độ cũng đích xác là “tâm làm, tâm
là”. Dùng cái nhân “duy tâm thanh tịnh” để sanh
trưởng duy tâm tịnh quả, vô sanh mà sanh, sanh chính là
vô sanh. Nắm chắc bằng khoán này, sẽ chẳng thể
nào có chuyện vẫn đọa vào nghi thành! Ngộ yếu
quyết này mà vẫn bảo pháp môn Tịnh Độ chẳng
phải là viên đốn tột bậc, th́ lại càng chẳng
thể được!
* Nói với ông Trần
[ư nghĩa của] pháp danh Chân Lăng, pháp hiệu Tự Chiêu
Kinh
Thi nói: “Kư minh thả triết, dĩ bảo kỳ thân”
(đă sáng suốt lại khôn ngoan để ǵn giữ cái
thân). Cái thân ấy chẳng phải là nói tới khối thịt
cao bảy thước. Thánh nhân coi thiên hạ là một
thân, coi muôn đời
là một hơi thở. V́ thế, ắt phải giữ
đúng địa vị sánh cùng trời đất, sanh
trưởng vạn vật, sau đấy mới gọi
là “bảo thân” (giữ ǵn thân thể). Sách Đại
Học nói “minh minh đức ư thiên hạ” (làm sáng
tỏ đức sáng trong thiên hạ), Luận Ngữ nói “nhất
nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân”
(khắc chế ham muốn riêng tư, hành xử theo
đúng lễ nghĩa dẫu chỉ một ngày, thiên hạ
đều quy phục ḷng nhân), đều là lư này!
Vương Dương Minh vượt trội các Nho sĩ
đời Hán, đời Tống, thẳng thừng tiếp
nhận tâm học của Khổng Tử - Nhan Hồi, suốt
đời dạy người khác ba chữ “trí
lương tri” (thấu đạt lương tri).
Lương tri (良知)
chính là cái Thể của tánh đức
linh thông, sáng suốt, sách Đại Học gọi nó là Minh
Đức, Luận Ngữ gọi nó là Kỷ, c̣n kinh Thi
gọi nó là Thân. Trí (致, đạt đến) là công năng xứng tánh viên chiếu,
sách Đại Học gọi là nó là Minh (明, làm sáng
tỏ), Luận Ngữ gọi là Khắc (克),
kinh Thi gọi nó là Bảo (保, ǵn giữ).
Nếu chẳng ngộ Lương Tri, sao có thể vận
dụng nó đến tột bậc? Nếu chẳng vận
dụng công năng đạt tới tột bậc,
lương tri sẽ do đâu mà hiển
hiện toàn thể, đạt được sự thọ
dụng to lớn? Do vậy, tôi đặt cho ông pháp danh là
Chân Lăng (真朗, thật sự sáng suốt), tức
là chỉ thẳng cái bản thể nơi lương tri của
ông. Lại mong cho ông toàn tánh khởi tu, nên lại đặt
pháp hiệu là Tự Chiêu (自昭, tự sáng ngời), v́ muốn
ông niệm nào cũng đều đạt tới
lương tri ấy, chẳng hướng ra ngoài t́m cầu,
toàn tu tại tánh. Nếu có thể nh́n vào
tên mà nghĩ đến ư nghĩa, có khó
ǵ “hiến chương Diêu Giang, tổ thuật Thù Tứ”
(tuân thủ quy củ rạng ngời của học phái
Diêu Giang, truyền thuật chân thật cái học nơi Thù
Thủy và Tứ Thủy)[7],
lại có khó ǵ để truy ngược sông Hy Liên Thiền,
cùng đổ vào biển cả nước thơm ư?
* Nói về pháp khí
Tràn
ngập trong khoảng trời đất đều là khí cụ.
Trời là vật để che phủ, đất là vật
để chuyên chở. Mặt trời, mặt trăng là vật
để chiếu sáng. Hư không là vật để dung nạp.
Có ǵ chẳng phải là vật dụng? Há có phải chỉ
có thứ hữu h́nh [mới là vật dụng] ư?
Nhưng “h́nh nhi thượng’ (vật chưa có h́nh thể)
nếu ĺa khỏi trời, đất, mặt trời, mặt
trăng, hư không, vạn vật, th́ gần như chỉ
là “sừng
thỏ, lông rùa”
đó thôi! Dẫu cho ngoài trời, đất, mặt trời,
mặt trăng, hư không, vạn vật, thật sự
có một pháp, được gọi là Đạo, ai có thể
thấy, nghe? Nếu có thể thấy, nghe, lại chỉ
là một Khí (器, vật dụng)
mà thôi, há gọi là “bất khí”? Do vậy, tôi biết “h́nh
nhi thượng” chính là “khí tức là bất khí”. “Khí
chính là bất khí” th́ mới có thể gọi là “pháp
khí”.
Khổng Tử dùng bốn
tŕnh tự để dạy là văn, hành, trung, tín. Người
học thời cổ coi “văn, hành, trung, tín” là đạo,
người học hiện thời gọi đó là Khí. Nhan
Tử (Nhan Uyên, Nhan Hồi) “bác văn ước lễ,
dục tùng mạt do” (học vấn rộng răi,
nhưng hành vi vẫn dùng lễ nghĩa để ước
thúc, muốn học theo mà chẳng thể được)[8],
tức chẳng “khí” nào không phải là đạo! Trọng
Do (Tử Lộ), Nhiễm Cầu (Tử Do), Công Tây Xích (Tử
Hoa)[9]
mỗi người có sự thiên trọng riêng, nhưng
giàu, mạnh, lễ nhạc chính là có đạo nào chẳng
phải là Khí? Nhưng Phật môn của chúng ta cũng thế.
Tam Tạng mười hai bộ, đức Phật dùng
“văn” để dạy. Tứ Đẳng, Lục Độ,
đức Phật dùng “hành” để dạy.
Chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng phát nguyện tâm,
đức Phật dùng trung tín để dạy. “Văn” là
Bát Nhă đức, “hành” là giải thoát đức, “trung tín”
là Pháp Thân đức. Bát Nhă có ba thứ, tức Văn Tự,
Quán Chiếu, và Thật Tướng, cũng là ba đức.
Giải thoát có ba thứ là tánh tịnh, viên tịnh,
phương tiện tịnh, cũng là ba đức. Pháp
Thân có ba, tức là tự tánh, thọ dụng và biến hóa,
cũng là ba đức. Ba lần ba chẳng nhiều. Một
lần ba chẳng ít. Chẳng ngang dọc, chẳng đồng
thời hay khác biệt, tùy ư lấy một pháp, các pháp nhanh
chóng phô bày, có khí nào chẳng phải là đạo? Có đạo
nào chẳng trọn đủ hết thảy các vật dụng?
Tiên Nho nói “vật vật nhất Thái Cực” (vật nào cũng là
một Thái Cực).
Thái Cực vốn vô cực, gần như tiếp cận,
bởi coi Thái Cực là tột bậc th́ Thái Cực
cũng là một thứ khí. Biết cái gốc của Thái Cực
là vô cực, không vật nào chẳng phải là Thái Cực,
tức chẳng vật nào không phải là đạo! Dùng
điều này để tŕ giới, th́ gọi là vô thượng
giới. Dùng điều này để niệm Phật th́ gọi
là Vô Thượng Thiền. Dùng điều này để xem
Giáo, sẽ gọi là Thậm Thâm Bát Nhă. Dùng điều này
để lễ bái, tŕ tụng, làm các thiện sự, sẽ
gọi là Phổ Hiền Hạnh Môn. Đem điều này
để tùy loại độ sanh, sẽ gọi là du hư thần
thông. Nếu chưa ngộ điều này, siêng tu hạnh
môn, chỉ gọi là hữu lậu, hữu vi. Nếu ĺa
các hạnh môn để riêng cầu lẽ hướng
thượng nhất trước khác, chỉ gọi là “lông
rùa, sừng thỏ”, cũng gọi là “bắt bóng, vồ
chụp hư huyễn”. V́ thế, chẳng gọi là “bất
khí”, mà nói là “pháp khí”. Bởi Khí mà được gọi
là Pháp, tức là chẳng tránh né hư không ở ngoài khí, chẳng
hạn cuộc trong có khí, chẳng phải có, chẳng phải
không, siêu việt các hư luận. Chân Nho ư? Chân Phật
ư? Tôi chẳng thể không hạn cuộc đó thôi!
* Nói về thánh học
Cái học của Phật, Tổ, thánh hiền
chẳng có ǵ khác, cầu thấu triệt tận cùng cái tâm
mà thôi! “Tận cùng cái tâm” tức là chẳng ở ngoài
tâm riêng lập một pháp, nhưng chẳng thiếu khuyết
một pháp nào trong tâm. V́ thế, làm con, bầy tôi, em, bạn,
chỉ là hiếu, trung, thuận, tín, tràn đầy ḷng trắc
ẩn, nhường nhịn, hổ thẹn, biết
đúng sai. Nhân, nghĩa, lễ, trí mà chẳng vận dụng
khéo léo, ắt sẽ là lỗ măng, điên đảo! Có thể
“cửu xử ước, trường xử lạc”
(ở lâu trong cảnh nghèo khó, ở lâu trong cảnh vui
sướng)[10]
đều do đă liễu đạt “ngoài tâm chẳng
có pháp”. Lục Tổ nói: “Pháp nào cũng đều
thông, pháp nào cũng đều trọn, nhưng chẳng có một pháp nào để có thể được, th́ gọi
là Tối Thượng Thừa”.
Người thời
nay vừa mới muốn thông đạt, đầy đủ
hết thảy các pháp, ắt bỏ tự tâm mà cầu ở
ngoài; vừa mới nói “các pháp đều chẳng thật”,
ắt giữ chặt sự si ám, gàn bướng, chẳng
biết nhờ vào cảnh để luyện tâm, chẳng
lạ ǵ không rơi vào cái học vụn vặt, liền
đọa vào hầm hố “ám chứng!” Do chẳng biết
“vạn
pháp duy tâm”,
cầu tràn lan đủ mọi chuyện, mọi vật,
há có đạt được! Chẳng biết tâm có đủ
muôn pháp, riêng giữ lấy một cái “rạng
ngời, linh thông”,
há tránh khỏi nguy ngập?
Than ôi! Rạng ngời, linh thông mà c̣n chẳng nên giữ lấy,
huống hồ
cái tối tăm, mịt mờ ư?
Người thật sự có chí hướng đến Phật,
Tổ, thánh hiền, hành xử theo đúng địa vị,
chẳng mong vượt ra ngoài! Phàm phú quư, nghèo hèn, đủ
mọi cảnh duyên, sẽ đều là ḷ rèn lớn, trong
hết thảy mọi lúc, chẳng bị lay động bởi
hoàn cảnh, càng thêm kiên cường, tăng thêm những
điều trước đó vốn chưa thể làm
được! Sau đấy, phú quư mà chẳng dâm, nghèo hèn
chẳng đổi chí, chẳng khuất phục trước
oai vũ, như tùng, bách riêng sừng sững tươi tốt
trong tuyết, sương. Nhờ vào đó mà thấy
được cái tâm của trời đất.
Tôi đau xót cho nề
nếp chân thật của Nho, Thích nay đă đều bị
quét sạch, đó là v́ kẻ học Nho cấp bách cầu
phú quư, người học Phật chú trọng lợi danh,
vốn chẳng ôm giữ tâm tư, hoài băo của Phật,
Tổ, thánh, hiền. V́ thế, học vấn, tu dưỡng,
hành môn đều vừa khéo giúp sức cho hư vọng,
giống như ruộng tốt mà chẳng gieo hạt, chẳng
dẫy cỏ, lại tưới phân, vun bón, chỉ
tăng trưởng cỏ dại mà thôi! Người học
chỉ nên hướng về thửa ruộng tự tâm để ǵn
giữ mạ Bồ Đề tốt lành, cắt xén cỏ
dại danh lợi, tùy thời tưới tắm, tâm đừng
quên bẵng, đừng tăng trưởng vọng niệm,
giữ cho đến tiết Bạch Lộ, Thu Phân[11],
sẽ tự thấy tươi tốt, lại c̣n kết
hạt. C̣n như trời hạn th́ dùng guồng dẫn
nước, lụt th́ khơi ng̣i rănh, dẫu Thần Nông sống
lại, cũng chẳng khiến cho suốt năm không có
khô hạn hoặc lụt lội. Dùng phương tiện ấy để tự
dưỡng thiện căn, khiến cho thành thục độ
thoát, sẽ kham dùng Tứ Tất Đàn để lợi
ích chúng sanh, khiến cho họ lần lượt được
thành thục, giải thoát đến tột cùng ngằn mé
vị lai, không ǵ chẳng độ, lại càng khẩn yếu,
chỉ do bước ban đầu trong hiện thời. Bởi
lẽ, càng xe xoay về hướng Nam th́ từng bước
càng gần đất Sở, càng xe hướng về
phương Bắc th́ càng đi càng xa. Dẫu lâu dần về
sau, nhận biết, sửa lại đường lối,
không
chỉ tổn thương đă nhiều, mà cũng
uổng phí bao nhiêu công phu, há chẳng đáng tiếc ư?
Đấy chính là thuốc đắng giă tật, đừng
nên chỉ coi như văn tự mà đọc lướt
qua. Đă hiểu đạo lư, sẽ từng giọt lọt
vào miệng, từ cổ họng tưới rót phủ tạng,
ba trăm sáu mươi đốt xương, gần
như là tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông đều thấm
đẫm vị thuốc.
* Nói về chỗ cùng
tột trong văn học
Thiên
hạ chẳng b́nh trị là do ḷng người chẳng
sáng suốt. Ḷng người chẳng sáng suốt là do chẳng
giảng giải thánh học. Chẳng giảng giải
thánh học là do mưu cầu lợi lạc chẳng quên!
Mưu cầu lợi lạc chẳng quên là do tự đối
đăi tệ bạc với chính ḿnh. Quân tử chẳng cốt
ư hậu đăi chính ḿnh, nhưng thật sự là niệm
nào cũng trân trọng chính ḿnh, dẫu hiển đạt
chẳng thay đổi chí hướng, dẫu nghèo hèn chí
hướng vẫn chẳng
giảm bớt, có ư niệm mưu cầu lợi lộc
nào mà chẳng quên? Mưu cầu lợi lạc đă quên bẵng,
phàm đối xử, tiếp đăi thầy bạn, tụng
đọc thi thư, sẽ chuyên v́ thân tâm, tánh mạng, có
thánh học nào mà chẳng giảng giải? Thánh học
đă được giảng giải, “hành nhất bất
nghĩa, sát nhất bất cô, nhi đắc thiên hạ bất
vi” (dẫu làm một chuyện chẳng hợp đạo
nghĩa, giết một người vô tội mà có
được cả thiên hạ, cũng không làm)[12],
có người nào mà tâm chẳng sáng tỏ? Ḷng người
đă sáng tỏ, tự ḿnh đă chánh đáng, mọi vật
sẽ chánh đáng theo, có thiên hạ nào mà chẳng b́nh trị
ư?
Đối với
văn học hiện thời, tôi chẳng biết ra sao nữa!
Chẳng cầu nơi tự tâm, chẳng phù hợp thánh học,
chỉ chạy theo thói đời, dốc chí cầu đỗ
đạt. Nếu theo đuổi chí hướng ấy, sẽ
buông lung theo ḷng ham muốn riêng tư, chẳng biết quay
trở lại;
chẳng trách thế đạo, ḷng người bị bại
hoại to lớn, chẳng thể cứu văn được!
Tuy nhiên, đấy chẳng phải là lỗi của
văn chương, lỗi ở chỗ chẳng biết
chỗ tột cùng của văn chương. Văn
chương xuất thế, th́ đức Thích Ca Văn
(Thích Ca Mâu Ni Phật) cao nhất. Văn chương b́nh trị
cơi đời, Văn Tuyên (Khổng Tử) bậc nhất.
Đức Thích Ca Văn xả thân cầu nửa bài kệ,
đức Văn Tuyên gặp nạn, bảo: “Văn
vương kư một, văn bất tại tư hồ?”
(Văn Vương đă mất, văn chương chẳng
phải do ta duy tŕ ư?)[13]
Đấy đều là đối với văn bèn biết
chỗ tột cùng. Chỗ cùng tột của văn khởi
đầu từ đại thánh, đại hiền, tột
cùng nơi chư Phật, Bồ Tát. Quả thật là do
thánh hiền, Phật, Bồ Tát tự trau giồi đạo
đức sâu thẳm. Nói đến đạo đức,
văn chương, công danh phú quư trong cơi phàm th́ đều
là giả dối như Ngũ Bá, đều do phi nghĩa
mà đoạt lấy! Do vậy, tôi khuyên lơn chỗ tột
cùng trong văn chương không có ǵ khác, chỉ là mong cho
chính ḿnh thấu đạt chỗ tốt đẹp nhất
nơi văn chương mà thôi!
* Nói về “tàng dă” (ẩn
tàng nơi đồng hoang)
Kinh
Dịch nói: “Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm, thoái tàng
ư mật. Cát hung dữ dân đồng hoạn” (Thánh
nhân dùng điều này để gột rửa cái tâm, ẩn
tàng nơi sâu kín, cùng chia sẻ tốt xấu với dân
chúng). Lại nói: “Đồng nhân ư dă, hanh” (những
người chí đồng đạo hợp tụ tập
nơi khoảng khoát, đấy là điều tốt lành,
hanh thông)[14].
Bởi lẽ, chẳng ẩn tàng sẽ chẳng đủ
để đạt tới cái dụng tột cùng,
nhưng chẳng đặt cái dụng ấy nơi khoảng
khoát, sẽ chẳng thể là đại đồng.
Sơ Cửu
(hào Dương đầu tiên) của
quẻ Càn được giải thích là “tiềm long vật
dụng” (rồng c̣n ẩn tàng, chưa vận dụng
được)[15].
“Tiềm” (潛)
chính là Tàng. Tàng là cái Thể của
đạo. Trải qua các giai đoạn “kiến, dịch,
dược, phi”[16],
nhưng chẳng biến đổi bản thể. V́ thế
nói: “Bất biến tắc yên” (chẳng thay đổi
chí hướng)[17].
Biết “tiến,
thoái, tồn,
vong”
nhưng chẳng đánh mất sự chánh đáng!
Cơi đời chỉ
nói Càn là vật thuộc về Dương, Khôn là vật
thuộc về Âm mà thôi! Đâu có biết “một Âm, một
Dương được gọi là Đạo”, tức
“h́nh nhi hạ” (cái đă có h́nh thể rơ ràng) chính là “h́nh
nhi thượng” (cái chưa có h́nh thể rơ ràng). Do cái nắm
giữ sự chi phối mà ẩn tàng. Do ẩn tàng mà nó lại
chi phối, vốn chẳng phải
là thiên lệch ư? Do đó lại nói: “Càn Khôn kỳ Dịch
chi uẩn da?” (Chẳng phải là Càn Khôn được
ẩn giấu trong Dịch ư?) Uẩn tức là Tàng. Ẩn
tàng Càn Khôn nơi Dịch, ngoài Dịch chẳng có Càn Khôn,
ngoài Càn Khôn cũng chẳng có Dịch. Lại do Dịch và
Khôn tàng trong Càn. Ngoài Càn chẳng có Khôn và Dịch. Dùng Càn và Dịch
ẩn tàng trong Khôn, ngoài Khôn chẳng có Dịch và Càn! Đó
gọi là “vật
nào cũng là một Thái Cực, Thái Cực vốn vô cực!”
* Nói về Sỉ Am
Sỉ
(恥, xấu hổ,
thẹn nhục) là tâm. Tinh thần của
tâm th́ gọi là Thánh. Thánh nhân bất quá có Sỉ mà thôi! Những
ǵ kẻ phú quư phàm tục ham
chuộng, bậc hào kiệt coi đó là hổ thẹn. Công
danh là điều mà bậc hào kiệt khoe khoang, thánh nhân coi
đó là điều hổ thẹn. Hổ thẹn tột bậc
là thánh hiền. Được hiển đạt chẳng
kiêu căng, thuộc địa vị nghèo hèn, chí hướng
chẳng tổn giảm, có thể dùng đạo để
giúp đỡ thiên hạ, Đại Vũ, Hậu Tắc[18],
Nhan Tử (Nhan Uyên) khắp
cơi đất đều là như thế. Hạnh trong thế gian này đă có hổ thẹn
như thế, đạo xuất thế lẽ đâu chẳng
phải như vậy? Ngũ dục trong cơi trời,
người, Sắc, Vô Sắc Định, là những thứ
phàm phu, ngoại đạo ưa chuộng, tam thừa hiền
thánh coi đó là đáng hổ thẹn. Thiên Chân Niết Bàn
là điều Nhị Thừa ưa chuộng, các vị
đại Bồ Tát coi đó là điều đáng hổ
thẹn. Thần thông xuất Giả được các vị
Bồ Tát đề cao, hành nhân Viên Đốn coi đó là
điều đáng hổ thẹn. V́ vậy, người
có ḷng hổ thẹn nhất trong thế gian và xuất thế
gian, không ǵ hơn hành nhân Viên Đốn. Danh Tự coi
chưa dự vào Ngũ
Phẩm
là đáng hổ thẹn. Quán Hạnh coi chưa tịnh hóa
lục căn là đáng hổ thẹn. Tương Tự
coi chưa chứng pháp tánh là đáng hổ thẹn. Phần
Chân coi chưa viên măn bản thể là đáng hổ thẹn.
Do vậy, đạt đến địa vị Diệu
Giác,
nhưng chẳng thấy công lao ấy. Đối với
con người, hổ thẹn quan trọng lắm thay! Thật
đúng như vậy đấy!
* Nói với Sài Lập
Hết
thảy các danh hiệu, không ǵ chẳng phải là tánh Không.
Nghĩa của tánh Không chẳng thể cùng tận. Cái Không
chẳng thể tận, chính là Đệ Nhất Nghĩa
Không. Do đó, cái Thể của mỗi một danh hiệu
chính là pháp giới, chớ nên dùng sự việc hạn cuộc
trong thế gian hay xuất thế gian để lănh hội!
Chỉ có chuyện siêu việt thế gian lẫn xuất
thế gian là có thể vào trọn khắp thế gian và xuất
thế gian. Sài trong thế gian: Khổng Tử nói Sài là ngu.
Lập trong thế gian: Khổng Tử nói lập nơi lễ.
Tử Cao[19]
chân chẳng giẫm lên bóng, sâu bọ mới nở chẳng
giết, cây cối đang tươi tốt chẳng bẻ,
lúc tỵ nạn, chẳng theo ngơ tắt, chẳng chịu
chui lỗ chó, mới có thể thấy được cái
ân của người [từng bị ông xử phạt] chặt
chân, chẳng phải gọi là “ngu chẳng sánh bằng”
ư? “Sài” trong xuất thế: Đức Thích Ca hàng
phục ngoại đạo khổ hạnh, bèn thị hiện
sáu năm khổ hạnh trong Tuyết Sơn, xương xẩu
ḷi ra, nhưng chẳng từ bỏ.
V́ vậy gọi là “sài lập” (gầy
đét như thanh củi). Tuy khổ hạnh chẳng
phải là chánh đạo, nhưng nhờ vào đó để
hàng phục ngoại đạo, tức là tự lập,
khiến cho người khác được lập, đều
do ư này!
Nay cư sĩ muốn
làm thánh hiền thế gian, hăy nên học theo Tử Cao. Muốn
làm Phật, Tổ xuất thế, hăy nên học theo đức
Thích Ca. Nếu có thể học đạo thế gian, xuất
thế gian này, sẽ có thể siêu việt thế gian và xuất
thế gian, đạt được hai thứ thù thắng.
“Ngươi có gậy chống, cho ngươi cái gậy
chống. Ngươi không có gậy chống, đoạt gậy
chống của ngươi”. Tung hoành giết chết
tươi, không ǵ chẳng tự tại. Gọi là Sài Lập
cũng được, chẳng gọi là Sài Lập
cũng được. Ba ngàn tánh tướng, bách giới
thiên như đều hiện rạng ngời trong hai chữ
Sài Lập! Sài Lập là pháp giới. Hết thảy các pháp
hướng đến sài lập, nhưng chẳng hướng
đến được! Sài lập c̣n chẳng thể
được, huống hồ hướng đến,
hay chẳng hướng đến! Mê sài lập pháp giới
bèn là vô thỉ lưu chuyển sanh tử. Ngộ sài lập
pháp giới, sẽ mau chứng an lạc diệu thường.
Do đó biết: Lục phàm pháp giới vốn ở
nơi thân cư sĩ tự giữ lấy luân hồi. Tứ
thánh pháp giới cũng từ nơi thân cư sĩ phóng
quang, chấn động cơi đất. Cư sĩ có hiểu
hay không? Rành rành chẳng lộ vật nào khác, đừng
ngỡ ma-ni là thủy tinh!
* Nói về Trà Tỳ
Con
người thọ sanh, chỉ là thức, thọ, và
hơi ấm mà thôi. Thức là do nghiệp dẫn dắt.
Thọ (tuổi thọ) và hơi ấm chính là tướng
biến hiện của Thức. Nương vào hơi thở
ra vào th́ gọi là Thọ, tức là Phong Đại. Hơi ấm
là Hỏa Đại. Ngoài Thức,
chẳng có Thọ và hơi ấm. Ngoài nghiệp, chẳng có Thức. Ngoài vọng tưởng, chẳng có
nghiệp. Nghiệp là cái nhân của thọ sanh.
Ba thứ thức, thọ và hơi ấm chính là cái quả
của thọ sanh. Nhân và quả
đều chẳng ra ngoài vọng tưởng. Vọng tưởng
vô tánh, cho nên nhân quả cũng đều
là vô tánh đă rơ rồi! Chúng sanh từ
trong pháp nhân quả vô tánh, quen thói dấy khởi vọng
tưởng, đủ mọi cách so đo, chấp trước,
cho rằng có thật ngă, thật pháp, oan uổng hứng chịu
luân hồi.
Đấng Đại
Giác thương xót, bèn lập phương tiện: Sống
th́ dạy dùng Quán Ngă Pháp Không, khiến cho cái nhân gây khổ
vĩnh viễn đoạn dứt. Chết th́ dạy dùng
Phật sự trà-tỳ, khiến cho mau chóng thoát khỏi sự
vướng mắc nơi tối tăm. Bởi lẽ, hỏa
táng là để giúp cho Nhị Không Quán Huệ. Phàm phu t́nh chấp
nặng nề, chẳng thấy lư minh bạch, nhắc
đến trà-tỳ bèn quở trách là “vô t́nh cảm”. Sở
Thạch đại sư thị tịch vào năm Hồng
Vũ thứ ba (1370), khi đó, cấm hỏa táng. Sư muốn
tuân theo chế định của đức Phật, Minh
Thái Tổ đặc biệt cho phép. Ôi! Thánh hiền hiểu
rơ dường ấy, há c̣n nghi chăng? Lăo
cư sĩ Nghi Chi bỏ phần mộ do thầy bói chọn
lựa, nhập thường trụ tại Thê Hà, phát nguyện
ắt tuân theo lệ hỏa táng, [nếu cụ] chẳng
quán sâu xa Ngă Không và Pháp Không th́ sẽ chẳng thể
được
[như thế]!
* Nói về tŕ danh niệm
Phật trải qua chín phẩm và bốn cơi
Nếu
muốn nhanh chóng thoát nỗi khổ luân hồi, không ǵ bằng
tŕ danh niệm Phật, cầu sanh về thế giới Cực
Lạc. Nếu muốn quyết định được
sanh vào thế giới Cực Lạc, lại chẳng ǵ bằng
dùng Tín để dẫn đường. Nguyện là cái roi
thúc đằng sau. Tín kiên quyết, nguyện thiết tha, dẫu
tán tâm niệm Phật, ắt cũng văng sanh. Tín chẳng
chân thật, nguyện chẳng dũng mănh, dẫu nhất
tâm bất loạn, vẫn chẳng được văng sanh.
Thế nào là Tín?
- Một là tin vào nguyện
lực của A Di Đà Phật.
- Hai là tin vào lời dạy
của Thích Ca Văn Phật.
- Ba là tin lời tán thán của chư Phật
trong sáu phương. Bậc chánh nhân quân tử trong thế
gian đă chẳng nói dối, huống hồ Phật Di
Đà, Phật Thích Ca và sáu phương chư Phật há nói
dối ư?
Chẳng tin điều
này, quả thật chẳng thể cứu! V́ thế, cần
phải trước hết là sanh ḷng tin sâu xa, chớ nên ngờ
vực!
Thế nào là Nguyện?
Trong hết thảy mọi lúc, ghét nỗi khổ sanh tử
trong Sa Bà, vui thích, hâm mộ niềm vui Bồ Đề
nơi Tịnh Độ. Hễ làm điều ǵ, dù thiện
hay ác, thiện bèn hồi hướng cầu sanh, ác bèn sám
nguyện cầu sanh. Trọn chẳng có hai chí! Đó gọi
là Nguyện.
Tín và Nguyện đă
có, niệm Phật mới là chánh hạnh, cải ác tu thiện
đều
là trợ hạnh. Tùy thuộc công sức
cạn hay sâu mà chia thành chín phẩm, bốn cơi, chẳng xen
lạm mảy may nào. Chỉ do chính ḿnh chọn lựa, suy
xét, chẳng cần phải hỏi han ai khác! Đó là tin
sâu, nguyện thiết tha
niệm Phật, nhưng khi niệm Phật, tâm lắm nỗi
tán loạn, sẽ chính là hạ phẩm hạ sanh. Tin sâu,
nguyện thiết tha
niệm Phật, nhưng khi niệm Phật th́ tán loạn
ít dần, đó chính là hạ phẩm trung sanh. Tin sâu, nguyện
thiết tha niệm Phật,
nhưng khi niệm Phật chẳng tán loạn th́ là hạ
phẩm thượng sanh. Niệm đạt tới Sự
nhất tâm bất loạn, chẳng dấy tham, sân, si, tức
là ba phẩm văng sanh thuộc trung phẩm. Niệm đạt
đến Sự nhất tâm bất loạn, tùy ư đoạn
Kiến Tư hay Trần Sa trước, cũng có thể
phục đoạn vô minh, th́ chính là ba phẩm văng sanh thuộc
thượng phẩm. V́ thế, tín nguyện tŕ danh niệm
Phật cũng có thể trải qua chín phẩm, đích xác
chẳng sai lầm.
Lại nữa, tín nguyện
tŕ danh tiêu trừ, chế phục nghiệp chướng,
mang theo Hoặc đi văng sanh, tức là Phàm Thánh Đồng
Cư Tịnh Độ. Tín nguyện tŕ danh, tŕ đến
mức đoạn hết Kiến Tư mà văng sanh, tức
là Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ. Tín
nguyện tŕ danh, phá rỗng rang một phần vô minh mà văng
sanh, tức là Thật Báo Trang Nghiêm
Tịnh Độ. Tín nguyện tŕ danh, tŕ đến chỗ
rốt ráo, đoạn hết vô minh mà văng sanh, tức là
Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Do đó, tŕ
danh có thể tịnh bốn cơi cũng là đích xác chẳng
sai lầm!
Hỏi: Tŕ danh như
thế nào th́ sẽ có thể đoạn vô minh?
Đáp rằng: Đối với danh
hiệu Phật được tŕ, bất
luận ngộ hay chẳng ngộ, không ǵ chẳng phải
là Nhất Cảnh Tam Đế. Cái tâm có thể tŕ niệm,
bất luận đạt hay không đạt, không ǵ chẳng
phải là Nhất Tâm Tam Quán. Chỉ v́ chúng sanh vọng
tưởng chấp trước, t́nh kiến phân biệt,
do vậy, chẳng khế nhập viên thường. Trọn chẳng
biết [cái tâm] có thể tŕ (năng tŕ) chính là Thỉ Giác,
đức Phật được tŕ (sở tŕ) chính là Bổn
Giác. Nay thẳng thừng mà tŕ, ngoài tŕ chẳng có Phật,
ngoài Phật chẳng có tŕ, năng và sở chẳng hai, tức
là Thỉ Giác hợp với Bổn Giác, gọi là Cứu
Cánh Giác.
Hỏi: Đă là Thỉ
Giác hợp với Bổn Giác, lập tức chính là Thường
Tịch Quang, sao cũng nói là văng sanh?
Đáp: Nếu thấu
đạt ngay một niệm hiện tiền
chính là Thường Tịch Quang, lại có
nói “văng
sanh”
th́ há có trở ngại ǵ? Bởi văng chính là chẳng phải
văng, chẳng phải văng mà văng, sanh chính là vô sanh, vô sanh mà
sanh. Văn Thù, Thiện Tài sanh về Tây Phương là
như thế đó. Ôi chao! Nam tử! Chẳng cần phải
nghĩ ngợi!
7. Văn
* Giới dâm văn
(bài văn khuyên kiêng dâm)
Mọi người biết nghiệp sát sanh
thê thảm nhất, chẳng biết nghiệp tà dâm càng thảm
hơn! Mọi người biết quả báo do sát sanh khốc
liệt nhất, chẳng biết quả báo của tà dâm
càng khốc liệt hơn! Bởi lẽ, đủ mọi
thứ thọ sanh do dâm dục khởi đầu! Đủ
mọi thứ tạo tội là do có sanh. Dâm là cái gốc của
sanh, sanh là cái gốc của tội. V́ thế, nỗi khổ
cùng cực trong tam đồ, ương họa sót lại
trong đời người, ư dâm vừa mới chớm,
hết thảy đều dấy lên. Tập khí dâm khó
đoạn, như lửa đốt đồng. Nơi cực
thối tha, lầm
tưởng là thơm tho. Nơi cực ô uế, tưởng lầm
là khiết tịnh! Bạ chỗ nào cũng tằng tịu
với nhau, khác ǵ súc sanh? Nhiễm xúc trái đạo, hơn
cả gà, chó! Người có lương tâm đôi chút, sẽ
phải nên thống thiết dứt bặt, huống hồ
kẻ thông minh, học thức, cam làm chuyện táng tận
lương tâm, chẳng biết nhục đấy ư?
Một niệm dục
tâm chính là cái nhân của giường sắt, cột đồng.
Một niệm ái tâm là cái nhân của băng cứng rét buốt,
huống hồ trọn đủ chuyện phi pháp ư? Diệt
luân lư, loạn luân thường, trần sa kiếp số
chẳng đủ trọn hết cái tội ấy! Ngàn vạn
ức lời, không đủ đếm sự ác đó! Cần
phải phát tâm hổ thẹn, sợ hăi to lớn, thệ
nguyện to lớn. Thà bị lửa nướng, đao
khoét, trọn chẳng cùng hết thảy nam nữ dục
tâm tiếp xúc. Thà tan thân,
nát xương, trọn chẳng giao cấu ô uế cùng hết
thảy nam nữ. Nếu quên mất chánh niệm, sẽ phạm
lỗi cũ, ắt sẽ gặp độc hại, tai nạn
ngang trái, thân hăm vào địa ngục trong khi c̣n sống.
Do quyết tâm mạnh
mẽ ấy, khéo ǵn giữ ḷng, luôn luôn sám trừ nghiệp
cũ, thiết tha hối lỗi, đổi mới, ngơ hầu
có thể tu bạch pháp. Lại c̣n siêng năng xem những
câu cách ngôn trong kinh luận để tự khích lệ, chẳng
bỏ phế, quên bẵng, siêng tu quán hạnh đối trị
để trừ gốc độc. Nếu không, dẫu có
nhiều trí huệ, Thiền Định hiện tiền, ắt
rơi vào ma đạo, vĩnh viễn chẳng có thuở
thoát ra! Dẫu thế trí biện thông, chưa hề là
đại khí, sẽ theo nghiệp mà đọa ngay!
Trăm kiếp ngàn đời, hứng chịu mọi nỗi
thiêu đốt, c̣n chẳng thể thành ma, huống hồ
thành Phật! C̣n đánh mất thân người, huống hồ
có thể văng sanh ư? Xin hăy trong lúc thanh vắng, lắng
ḷng suy nghĩ, đối với cảnh bèn nỗ lực
ngăn ngừa. Nếu không, chư Phật chẳng có cách
nào, bạn lành chẳng biết làm sao được!
* Khuyến giới sát
văn (bài văn khuyên kiêng giết)
Kể
từ khi Phật pháp truyền sang Đông, con người
biết sát sanh là giới đứng đầu. Những lời
khuyên răn để lại, chứa chật nhà, chất
đống cao tận rường, nhưng vẫn c̣n nhiều
kẻ chẳng ngộ. Oan nghiệp hư vọng kết lại,
tụ tập, chẳng thể nhanh chóng tháo gỡ. Kinh dạy:
“Trừ Xa-ma-tha, cập Phật xuất thế, bất
năng trừ diệt” (Trừ phi do Xa-ma-tha và Phật
ra đời, chẳng thể trừ diệt). Than ôi! Cơi
đời này mờ mịt, dùng ǵ để ngăn chặn
được?
Sát nghiệp đă dày, trở thành kiếp binh đao. Giặc
cướp tơi bời, chiến tranh chẳng dứt, Phật
Thích Ca đă nhập diệt, đức
Di Lặc chưa giáng sanh. Nếu muốn
cứu vớt, chỉ tận lực tu Xa-ma-tha. Xa-ma-tha
được phương này dịch thành Diệu Chỉ
(妙止). Dứt hết thảy
các điều ác phải bắt đầu bằng
ngưng giết chóc. Nếu có thể ngưng giết, tức
là ngưng hết thảy điều ác. Lại nữa,
Chỉ có ba nghĩa:
1) Một là Thể
Chân Chỉ (體真止, pháp Chỉ bằng
cách thấy hiểu lẽ Chân): Quán thân này
chỉ do Tứ Đại hợp thành, chẳng có mảy
may thật ngă để có thể đạt được.
Ngă đă là chẳng thật, há nên giết
sanh vật khác để dưỡng nó? Ta và chúng nó đều
chẳng thật, tức là có cùng một Thể, sao nỡ
giết chóc?
2) Hai là
Phương Tiện Tùy Duyên Chỉ (方便隨緣止): Quán hết thảy
các loài thông minh hay ngu xuẩn từ vô thỉ tới nay,
luôn cùng ta làm cha, mẹ, vợ, con, thân duyên quyến
thuộc lẫn nhau, theo nghiệp mà thay đổi h́nh vóc;
do vậy, chẳng nhận biết. Nếu giết hại
[các sanh vật], đó chính là giết lục thân của
chính ḿnh trong quá khứ, sao không dùng đủ mọi
phương tiện để cứu vớt, che chở họ?
3) Ba là Tức Nhị
Biên Phân Biệt Chỉ (息二邊分別止, pháp Chỉ bằng
cách ngưng dứt phân biệt hai bên). Nếu chỉ quán
Sanh Không, bi tâm chẳng hừng hực. Chỉ quán thân duyên
quyến
thuộc, từ tâm chẳng trọn.
Nay quán thẳng thừng các hàm linh ngọ ngoạy đều
có Phật tánh, đều sẽ thành Phật. Bất luận
lớn, nhỏ, thăng, giáng, Bổn Giác b́nh đẳng,
trọn chẳng có hai. Nơi răng lợn hiện hóa Phật[20],
trong con ṣ hiện h́nh Đại Sĩ[21].
Rắn độc nghe kệ mà chuyển thân chứng quả[22].
Con két niệm Phật, đem thiêu có xá-lợi. Hăy nên biết
các loại trùng bọ bay, ḅ, có vảy, mang lông, hoặc là
quá khứ chư Phật, hoặc là hiện tại Như
Lai, hoặc vị lai Thế Tôn, há lẽ nào có thể giết
ư? Có thể tu ba môn Chỉ ấy, sẽ thành tựu ba
ḷng Từ. Ba ḷng Từ đă thành, gọi là Phật xuất
thế. Một người tu sẽ chuyển hóa nhiều
người. Nhiều người tu, sẽ chuyển hóa vô
tận, truyền nhau hóa độ rộng khắp, phổ
biến mười phương, ngơ hầu sát nghiệp thê
thảm nhất có thể ngưng dứt, có thể cứu
được kiếp trược binh đao.
Sa-di
Tu Nguyên Tánh đă tŕ trai giới từ bé, năm Quư Dậu
bỗng nẩy sanh ư tưởng ăn thịt, mộng tới
âm phủ, thấy trọn vẹn, rành rẽ, rơ ràng quả
báo thảm độc phải hứng chịu của kẻ
sát sanh, bèn đổi tâm tự gắng sức, do đă biết
sâu xa lỗi họa mới dám khăng khăng khuyên bảo người
khác. Tôi v́ ông ta giảng nói rộng để giúp sức, nguyện khắp
người có ḷng nhân, bậc quân tử trong thiên hạ thấu
hiểu đức hiếu sanh của trời đất, thôi thúc
ḷng trắc ẩn của thánh hiền, ắt khiến cho cơ duyên giết
chóc vĩnh viễn đoạn, thiên hạ
quy vào ḷng nhân, lại c̣n nghĩ Sa Bà khổ, không, hâm mộ
Lạc Bang thường tịnh. Một niệm, mười
niệm đều phô tỏ Tam Quán
diệu tu; tự răn ḿnh, răn người, ắt hợp
tam từ diệu hạnh. Chỉ và Quán chẳng hai, phước
huệ đều cao, kết nghiệp hư vọng
như nước sôi tiêu tan tuyết; vậy
th́ Phật Thích Ca mỉm cười trong cơi
Tịch Quang, Phật Di Lặc x̣e tay nơi trời Đâu
Suất, Phật Vô Lượng Thọ ở ngay trên đỉnh
đầu, Quán Thế Âm sẽ là bạn thù thắng!
* Bài văn khuyên trọn khắp mọi người
kiêng giết, niệm Phật của Phóng Sanh Xă chùa Huệ Ứng
Loài
vật dẫu cực bé, chưa từng có loài nào chẳng
tham sống, ghét chết. Cái tâm “tham sống, ghét chết” ấy hoàn toàn là phiền
hoặc, cũng hoàn toàn do linh tri, linh giác phát hiện. Chúng ta tham sống, ghét chết,
t́nh kiến giống hệt như loài vật. Nếu sẵn
có t́nh kiến ấy, có cùng ham muốn, điều chán ghét
đừng làm [giống như nhau], há lẽ nào chẳng phải
là linh tri linh giác? Nếu mê muội t́nh kiến ấy, chỉ
biết mạng ta đáng tham, chẳng biết loài khác
cũng tham sống. Ta bị chết là điều đáng
ghét lắm, chẳng biết loài khác cũng ghét chết, há
chẳng phải là phiền hoặc ư? Do vậy, nếu
muốn phóng sanh, trước hết cần phải kiêng giết.
Muốn dẹp trừ sanh tử phiền hoặc, ắt cần phải thâm tâm niệm Phật. Thâm tâm là cái tâm tự
cứu, cứu người khác. Phật là trí linh tri linh
giác tột bậc. Thâm tâm niệm Phật là dùng cái tâm “cứu
ḿnh, cứu người khác” để khế nhập
trí linh tri linh giác tột cùng, khiến cho dù ta hay người
khác, niệm nào cũng đều giải thoát. Dùng điều
này làm chánh hạnh, dùng chẳng giết, đại bi, phóng
sanh, đại từ để giúp trang
nghiêm, ắt sẽ sanh về Cực Lạc, hoa sen hóa hiện,
vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. V́ thế,
các vị như Thiền hữu Tu Đàm, cư sĩ Công Lộ
v.v… tận tâm kiệt lực đều khuyến thỉnh
trọn khắp. Người hữu duyên gặp bản
đồ Phật này, xin hăy chuyên ṛng thọ tŕ, xoay vần
khuyên lơn người khác, công đức sẽ càng chẳng
thể nghĩ bàn! Hăy nên biết: Chúng sanh và Phật có cùng một
Thể, Phật là chúng sanh vô thượng, chúng sanh chính là vị
lai chư Phật. Một niệm là hết thảy niệm,
hết thảy các niệm là một niệm vậy!
8. Ngẫu lục[23]
* Phạm thất ngẫu
đàm (gồm
55 điều)
1)
Chỉ quư kiến địa của ông, chẳng quư kinh
nghiệm từng trải của ông. Tức là hễ có kiến
địa, ắt có kinh nghiệm từng trải. Có kinh
nghiệm từng trải, chưa chắc đă có kiến
địa. Nay c̣n kèm thêm cuồng giải, hủy hoại
đức hạnh. Đau xót thay!
2) Do
Giới sanh Định, do Định sanh mà Giới càng
hoàn bị. Do Định mà phát Huệ. Huệ phát th́ Giới
và Định càng thù thắng. Do vậy, [Giới, Định,
Huệ] được gọi là Tam Vô Lậu Học. Nay vừa
mới tu tập Định, Giới đă hoang phế
trước. Vừa mới học Huệ, Định
đă ch́m đắm trước! Dùng cái sau để phế
trừ cái trước, giống như dựng kèo bèn
đào nát nền móng, toan lợp ngói bèn đẵn bỏ
kèo cột! Muốn thong dong, ngủ nghỉ trong ấy, có
được hay chăng?
3) Chỉ
nắm được cái thần th́ mới có thể bỏ
dấu tích. Hễ đánh mất lẽ trọng yếu, ắt
phải nhiễm bệnh. V́ thế, người tŕ luật
hiện thời, mười người hết chín kẻ
gián đoạn. Diễn giáo th́ mười người hết
chín bị lưu chuyển. Hoằng Tông th́ mười
người hết chín kẻ hư vọng! Đạt
được cái thần, bỏ h́nh tích th́ trăm người
chẳng được một!
4)
Tam Học Giới Định Huệ là đại
cương của Phật pháp, là con đường trọng
yếu để thoát khổ. Nay cũng thấy luật
sư gặp trở ngại,
liền phế trừ giới. Thấy pháp sư bị
lưu chuyển,
bèn vứt bỏ Giáo. Thấy Tông sư hư vọng, liền gạt bỏ
Thiền. Sao lại do nghẹn mà bỏ ăn, cam ḷng chịu
đói đến chết?
5)
Có Giới mà chẳng có Định, Huệ; có Định
mà chẳng có Giới, Huệ; có Huệ mà chẳng có Giới,
Định;
đấy đều chẳng phải là Giới, Định
Huệ chân thật! Có Giới mà chẳng có Định, Huệ,
sẽ đọa vào các tầng trời thuộc cơi Dục.
Có Giới và Định mà chẳng có Huệ, sẽ đọa
vào Sắc Giới và Vô Sắc Giới Thiên. Có Định
mà chẳng có Giới và Huệ, đọa làm đất, gỗ,
vàng, đá, hoặc tan tác hư mất, tiêu trầm. Có Định
và Huệ mà chẳng có Giới, đọa làm tà ma, thần,
quỷ. Có Huệ mà chẳng có Giới và Định, sẽ
chẳng thoát khỏi nỗi khổ trong ba đường
ác. Có người bảo: “Nếu như vậy, cổ nhân
giữ lấy thừa gấp giới hoăn, sẽ ở
nơi đâu?”
Đáp
rằng: “Nói là hoăn, chẳng phải là không có.
Hơn nữa, bậc hào kiệt cùng với người cấp
thừa, hoăn giới, đọa ác đạo rồi lại
thăng lên, sao bằng người giới lẫn thừa
đều gấp, thường gần Phật, chẳng
lui sụt. Lại do Giới sanh Định, do Định
phát Huệ, “giới gấp” chính là bậc thang cho “thừa
gấp”. Nếu nhờ vào kinh giáo để làm cái gốc
cho danh lợi, cậy vào Thoại
Đầu để làm chiêu bài ḥng
tránh né,
vứt bỏ giới, th́ giới không chỉ
hoăn, mà c̣n bỏ
phế, thừa tuy gọi là cấp mà thật ra là hoăn, hết
sức chẳng phải là tâm liệu giản [đối với
giới và thừa] của cổ nhân.
6)
Tôi ở Kính Sơn, mới thọ pháp ngày ăn một bữa,
có Thiền giả nói: “Định Cộng Giới và Đạo
Cộng Giới mới là điều cần chú trọng,
chứ chuyện này có thể chẳng cần tuân thủ
nghiêm ngặt”. Tôi chẳng buồn đáp. Than ôi! Luông tuồng,
hồ đồ là bệnh chung trong cơi đời này! Hiểu
văn, biết nghĩa, há được mấy ai? Nếu
hoăn đăi [nơi Giới],
phải nên nói là Định đoạt Giới, Đạo
đoạt Giới, chứ một chữ Cộng nói sao
cho thông được?
7)
Người xưa thọ giới, coi đó là nền tảng
của tu tâm. Người thọ giới hiện thời,
ngă mạn ngất ngưởng. Người xưa học
Giáo, coi đó là cửa ngơ để học đạo.
Người hiện thời học Giáo, dùng đó làm cái cớ
để phá giới! Cổ nhân tham Thiền, coi đó là hạnh
tăng thượng trọng yếu. Người hiện
thời tham Thiền vứt bỏ giới chẳng nhắc
tới, báng bổ đường lối học Giáo! Trừ
khử điều tệ, ngăn ngừa sai trái, th́ sẽ
là bậc hào kiệt vậy!
8)
Nhân địa chẳng chân thật, sẽ chuốc lấy
cái quả cong vạy! V́ sao nói vậy? Vừa mới
thọ giới, đă có chí làm Luật Sư. Vừa nghe
kinh, đă có chí làm pháp sư. Vừa mới tham Thiền,
đă có chí làm Tông Sư. Chẳng là Luật Sư, Pháp
Sư, Tông Sư, sẽ chẳng thèm thọ giới, nghe
Giáo, tham Thiền, giống như tự viện chẳng
được cúng thí, sẽ chẳng dùng đến kinh
sám, Nho sĩ trong cơi đời nếu chẳng làm quan, sẽ
chẳng theo đ̣i cử nghiệp, đào kép hoặc nha dịch
nếu chẳng được lợi, sẽ chẳng
trang điểm biểu diễn, chẳng tiếp đón,
chẳng chạy việc vậy! Tuy vậy, do pháp thế
gian chỉ cầu lợi, sự tuy kém cỏi, nhưng chẳng
phạm lỗi to tát. Học hành chỉ nhằm để
cầu phú quư, sẽ đắc tội với Tuyên Ni (Khổng
Tử). Dùng Phật pháp để đổi chác hư danh,
nhuốm bẩn chánh giáo!
9)
Người xưa thông thấu cửa ải cuối cùng
được gọi là bậc tông tượng, bậc
thông hiểu rộng khắp Tam Tạng được gọi
là pháp sư. Trần nghiệp chẳng thể xâm phạm
th́ gọi là tŕ luật. Nay cũng hiểu thô thiển
đôi chút cơ duyên, liền dùng Tông để tự khoe
khoang. Tạm biết lưu thông giáo điển bèn dùng Giáo
để tự phụ. Chỉ giữ được bốn
trọng giới căn bản, bèn dùng Giới để tự
măn. Căn khí hẹp ḥi, kém cỏi dường ấy, ai có
thể gánh vác chánh pháp?
10)
Tôi trụ tại Long Cư, có vị lăo tăng xem kinh Bảo
Tích, nói: “Nếu xem kinh này trước, chẳng làm ḥa
thượng được!” Tôi nói: “Nếu chẳng xem
kinh này, sẽ chẳng làm ḥa thượng được!”
Tức là chẳng thành pháp của ḥa thượng! Ôi! Chỉ
có thể nói với người hiểu biết, khó nói với
người thế tục!
11) Tôi
vừa mới thọ Bồ Tát Giới, phát tâm xem Luật
Tạng, xà-lê Cổ Đức thử rằng: “Ông đă thọ
Đại, sao lại tu tập Tiểu?” Tôi thưa: “Lầu
cao bốn tầng, đă tạo tầng trên, há có thể phế
tầng dưới ư?” Sư nói: “Thân đă đến tầng
trên, há mắt vẫn nh́n theo tầng dưới?” Tôi
thưa: “Dẫu thăng lên trời Tha Hóa, Phật vốn
chẳng ĺa Tịch Diệt Đạo Tràng”.
12)
Một cành hoa đă giơ lên sau khi nói Tam Tạng, Đạt
Ma đến [Trung Hoa] vào lúc Phật pháp đang thịnh
hành. Vẽ rồng xong, vừa điểm nhăn, rồng liền
bay lên. Nay bóng rồng c̣n chẳng có, điểm tṛng mắt
ở chỗ nào?
13)
Gần đây, khuyết điểm lớn nhất của
Tông và Giáo là tâm v́
chánh pháp chẳng tha thiết, kiến chấp môn đ́nh lừng
lẫy. Nào có biết: Hễ v́ chánh pháp, chẳng mong môn
đ́nh cao mà nó tự cao chẳng sánh bằng! V́ môn đ́nh
th́ chánh pháp v́ bị tranh chấp mà càng nhuốm bẩn, tỳ
vết!
14)
Thời cổ, bậc đại tông tượng quét
phăng giáo, coi là nghĩa học, [v́ người học]
tưởng ngón tay là mặt trăng, chẳng thấy mặt
trăng thật sự. Vị đó tuy đă thông suốt
giáo lư, nhưng chẳng thể đích thân chứng, đích
thân đạt đến. V́ thế, phế trừ sự
nương vào hiểu biết, ḥng tiến nhập thông suốt
thật sự. Người học hiện thời, giáo lư
c̣n chưa mộng thấy, sao có thể quét sạch cho
được? [Cứ tùy tiện phế bỏ học
Giáo], đó chẳng phải là tội gièm báng pháp ư?
15)
Như Lai ứng thế, tùy cơ mà lập giáo. V́ thế
có Đại Thừa và Tiểu Thừa cùng hành, chẳng
trái nghịch. Hàng Tiểu Thừa xuất gia, thọ Cụ
Túc Giới, trước là dùng học Giới làm nền tảng.
Kế đó, đọc tụng, tọa Thiền, tùy ư tu một
pháp, chẳng cần phải kiêm hành. Hàng Đại Thừa
cũng ắt phải lấy Giới làm nền tảng! Kế
đó, đọc tụng, tọa Thiền, tuy tùy theo
căn cơ mà chia thành chủ hạnh và trợ hạnh,
nhưng phải kiêm tu, quyết chẳng có ai một mực
Thiền Tư mà chẳng thông hiểu liễu nghĩa, hoặc
một mực thọ tŕ, diễn nói mà chẳng chú trọng
quán tâm. Chẳng thông hiểu liễu nghĩa, ắt sẽ
thành phạm lỗi
đắm đuối nơi Thiền
duyệt. Chẳng chú trọng quán tâm, sao tránh khỏi bị
chê gièm là “kể chuyện
ăn”? Nhằm thời Mạt Pháp, Tam Học hễ tách rời th́ Thi La chỉ trở
thành phước trong cơi trời người. Nhưng tŕ,
phạm chẳng thông đạt, sẽ c̣n chưa đảm
bảo thân trời, người được! Thiền
Tư thường bị chê cười là “vô văn”
(không nghe pháp, không hiểu biết giáo pháp), Giới lẫn
Huệ đều hoang phế, phần nhiều rơi vào
ác thủ kiến. “Tŕ,
nói” thường v́
mưu cầu danh lợi, nhưng Giới
lẫn Định đều phế, hiếm kẻ chẳng
rơi vào thói nói suông! Ôi! Nếu có được bậc
hào kiệt chấn hưng t́nh trạng suy đồi này,
tôi nguyện sâu xa dùng thân làm giường, ṭa.
16)
Mạt pháp suy bại chính v́ chẳng phân biệt tà, chánh. Nhằm
thuở này, chẳng rảnh để so đo cạn sâu,
hăy gấp nên biện định tà, chánh. Nếu nói về
cạn, sâu, th́ tam-muội của Như Lai, ngài Ca Diếp
chẳng biết. Tam-muội của ngài Ca Diếp, A Nan chẳng
biết. Cho đến Lục Quần tỳ-kheo c̣n vượt
xa Mă Minh, Long Thọ. Thời Chánh Pháp mà c̣n như thế,
thuở Mạt Pháp há có thể cầu toàn trọn vẹn
được ư? Nếu luận về tà, chánh, th́ chim [Ca Lăng] Tần
Già c̣n ở trong vỏ trứng, đă hơn hẳn các loài
chim khác.
Chút ít chất độc Tỳ Sương
đă tổn thương tánh mạng, sao chẳng biện
định nơi nhỏ nhiệm ư? V́ thế, người
chánh đáng dẫu nông cạn, vẫn có thể [đáng
để] nương theo. Kẻ tà, dẫu sâu xa vẫn nên
chê trách. Người chánh tuy nông cạn, ắt hại ít mà
lợi nhiều. Kẻ tà tuy sâu, ắt hại nhiều mà lợi
ít. Muốn biện định tà chánh đến tột
cùng, chưa từng ra ngoài hai loại định lượng
dựa theo Giáo Lư.
17) “Tông
là vô ngôn Giáo, Giáo là hữu ngôn Tông”, đó là lời
chí lư! Tam Tạng mười hai bộ, hễ
ngầm khế hợp th́ đều là Tông. Đă là vô ngôn,
sao có thể nói là Giáo? Một ngàn bảy trăm công án, hễ
nêu lên th́ đều là Giáo. Đă hữu ngôn, sao có thể gọi
là Tông? V́ thế, chẳng dùng “nói”
hay “chứng”
để phân định Tông và Giáo. Chỉ v́ lập bày môn
đ́nh mà thành gă nhai bă hèm[24]!
18)
Tôi đă từng thấy nhiều trường hợp khi bị
vướng mắc nơi Giáo, bèn tham Thiền, khi Thiền
bị bí lối th́ học Giáo, nhưng có khi [làm như thế,
Giáo và Thiền] có thể cứu giúp lẫn nhau, mà cũng
có thể là mỗi đằng tự cứu. Ấy là v́
khuyết điểm ở nơi hành nhân, chẳng phải
là lỗi của pháp môn! Thế nào là mỗi đằng tự
cứu? Đối
với cọp thật nghĩa, quyết
chẳng thể dùng bánh vẽ để khỏi đói.
Người hành Thiền chân thật, quyết chẳng
đọa vào Ác Thủ Không Kiến. Tam Tạng mười
hai bộ, không một pháp nào chẳng khuyên tu hành. Nay kẻ
chẳng tu hành đều là phường phản giáo, chẳng
phải là người học Giáo! Đại ư [Đạt
Ma Tổ Sư] từ phương Tây sang [Trung Hoa] là “chỉ
thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật”. Nay chẳng
chú trọng kiến tánh thành Phật, cứ hư vọng phô trương
tà giải, sẽ đều là kẻ báng Thiền, chẳng
phải là người tham Thiền! Đă nói là “kiến
tánh”, há có thể bài bác Giáo và Luật ở ngoài tánh
ư? Đă thành bậc giác ngộ, há xếp Giáo và Luật
vào bất giác ư? Nếu như chưa thể, dùng một
câu Thoại Đầu làm phương tiện để kiến
tánh thành Phật, quyền biến xếp nó đứng
đầu vạn hạnh, ắt phải tin tới
nơi, giữ cho vững, chẳng quản đúng, sai, thân
lẫn đời đều quên bẵng, phát phẫn
như bị giết cha, gấp gáp như lửa cháy mày. Lạnh,
nóng, đói, khát c̣n chẳng rảnh biết tới. Giới
luật, giáo môn, rảnh đâu mà báng bổ!
Thẳng thừng dùng một
môn thâm nhập, dẫu chưa thể kiêm tu, vẫn là một
tấm gương đă treo, sẽ có thể chứa đựng
nhiều h́nh bóng. V́ thế, nêu lên Thoại Đầu, vạn
duyên đều bỏ, đó chính là Đàn (bố thí).
Mười ác đều dứt, tức là Giới. Bất
động trước gió cảnh giới, tức
là Nhẫn. Miên mật chẳng gián đoạn, tức
là Tinh Tấn. Chẳng c̣n duyên khác, tức
là Thiền. Chân nghi rành rành, tột cùng nẻo nghĩa sâu
xa, đạt đến cảnh giới ly tuyệt, tầm
tư không c̣n chỗ nương, năng sở cùng tuyệt;
đó chính là Huệ. Nếu chẳng thể xả duyên, dứt
ác, bất động miên mật, sẽ chẳng có duyên nào
khác,
chân nghi rành rành, th́ hăy nên
biết:
Đó chẳng gọi là thật sự “cử
thoại đầu!” Đă chẳng phải
là thật sự đề khởi [thoại đầu], cứ riêng
dùng nó làm chiêu bài để tránh né, đó lại là cái gốc
của tà kiến; há có phải là lỗi của pháp môn
ư?
V́ vậy, biết Giáo
và Thiền, pháp chẳng hơn kém! Riêng v́ nhân địa chẳng
chân thật, bị lợi danh đoạt chí, chẳng tránh
khỏi làm trùng trong thân sư tử. Nếu thật sự
cầu cái gốc ấy, Thiền cũng chẳng có khuyết
điểm, há phải cầu Giáo để cứu Thiền?
Giáo cũng chẳng có bệnh, cần ǵ cầu cứu Thiền?
Lại nữa, tuy nhân địa của học nhân có thể
chẳng đúng, nhưng nếu gặp vị thầy chánh
đáng, sẽ tự có thể dùng trung để giáo dưỡng
kẻ bất trung, dùng tài để giáo dưỡng kẻ
bất tài[25].
Chỉ có vị thầy nào mà mắt của chính vị
đó chẳng sáng, chưa hiểu rơ chuyện của chính
ḿnh, sẽ mù quáng dẫn [người học theo] vào hầm
sâu! Dẫu là bậc chánh nhân, vẫn bị thảm độc,
huống hồ người vừa mới sơ cơ
ư? V́ thế, tôi nói: “Pháp môn bị hoại là do người
chống đỡ pháp môn bại hoại!”
19)
Chỉ có bậc tông tượng thật sự có thể
quở trách người theo Giáo nói suông. Chỉ có bậc “chân
nghĩa hổ” (cọp nơi nghĩa chân thật) có thể
quở trách kẻ
tông thừa mù mờ. Nếu không, tự
cứu chẳng xuể, sao lại kiên cố đấu
đá ư?
20)
Người hiện thời phạm khuyết điểm
chẳng phải v́ không đề khởi thoại đầu,
mà phạm lỗi do chẳng biết nguyên do đề khởi.
Chẳng phạm lỗi v́ phế vạn duyên, mà phạm lỗi
v́ phế chẳng tận. Cũng chẳng phạm lỗi
v́ dạy người khác đề khởi thoại đầu,
mà phạm lỗi do chẳng biết nguyên do cần dạy.
Hơn nữa, vạn duyên đều phế, sao thân, tâm, thế
giới vẫn y chang chẳng phế? Phế ác,
chẳng phế thiện, vẫn thuộc trời người.
Phế thiện,
chẳng phế ác, ắt thọ báo trong ba đường
ác. Xả trời người, hướng theo tam ác,
đáng gọi là “có trí” được chăng?
Lại nữa, thân,
tâm, thế giới đă chẳng thể buông xuống toàn
thể, vậy th́ chân thật thoại đầu ắt chẳng
thể thẳng thừng gánh vác. Dùng cái tâm ơ hờ, loáng
thoáng để đề khởi thoại đầu mờ
mịt, chính là tự dối gạt. Nơi kẻ ơ hờ,
hời hợt mà mù mờ đề khởi thoại đầu,
tức là gạt người! Đem vị thầy dối
người để dối gạt kẻ đệ tử
tự dối, sao chẳng có tội với pháp môn cho
được? Do đó, ngài Vân Thê nói: “Người khác
cho là phục hưng Phật pháp, tôi cho là
Tông phong đă hư hoại quá nặng”.
21)
Chỉ có ba hạng người có thể tham Thoại
Đầu:
-
Một là xưa đă có linh căn, vừa
thực hiện liền rạch ṛi, thân, tâm, thế giới
toàn thể buông xuống. Gươm báu kim cang lập tức
vung lên, măi cho tới khi đại sự hoàn tất. Sau
đó, hoặc gặp tri thức, hoặc xem khế kinh, ấn
chứng tự tâm, tiếp dẫn hậu học.
-
Hai là tuy chưa hiểu rất rơ
đường nẻo, nhưng có thể nương theo một
vị thầy sáng mắt, quyết tâm
tham cứu, đến chỗ ngơ rẽ, thầy có thể
v́ ta chỉ điểm, đến chỗ khúc mắc, thầy
có thể v́ ta tháo gỡ, đến chỗ cửa ải,
thầy có thể v́ ta thúc đẩy.
-
Ba là chưa thể biết rơ sâu xa
đường nẻo, lại chẳng có một vị
chân sư, ắt phải hiểu thấu triệt giáo lư th́
mới một dạ tham cứu. Tuy chưa thể thông suốt
các kinh điển trong Tam Tạng, nhưng một bộ
Lăng Nghiêm chẳng thể không ṛng rặt, thuần thục.
Ví như một ḿnh đi xa, nếu chẳng hỏi sẵn
lộ tŕnh, chắc chắn sẽ có sai lầm.
Trừ ba loại ấy
ra, những phường hời hợt, loáng thoáng khác muốn
tham Thiền, ngộ đạo, chắc chắn
mười người lầm lẫn cả mười!
22)
Hám Sơn đại sư sánh ví thoại đầu như
ḥn ngói để gơ cửa, chí lí lắm thay! Biết “vốn
chẳng có thật pháp” th́ mới có thể vận dụng
pháp mà chẳng bị pháp trói buộc. Nếu có bệnh th́
phải nói toạc ra. Nếu chẳng sanh tâm tha thiết
th́ như thí dụ “cái bè” trong kinh Kim Cang, hoặc “ngón tay chỉ
[mặt trăng]” trong kinh Viên Giác, cũng có lỗi ư?
Hơn nữa chỉ nói toạc ra, biết ngói chẳng phải
vật báu, vừa khéo để gơ cửa. Nếu chẳng
nói toạc ra, ắt sẽ quên khuấy gơ cửa, suốt
ngày ngắm nghía viên ngói! Thần đan cứu bệnh,
nhưng con người chỉ chăm bẵm căn bệnh,
há chẳng phải vừa ngu vừa cuồng ư?
23) Trở về nguồn
th́ tánh chẳng hai, phương tiện có nhiều môn,
nhưng tham Thiền, niệm Phật, Chỉ Quán đều
là phương tiện. Đă nói là “môn”, há giống nhau
ư? Nếu biết toàn tánh khởi tu, toàn tu nơi tánh,
th́ cả ba môn đều nhất trí, há có khác ư? V́ thế,
chân tu chỉ cốt sao “theo đường về nhà”, nói
đồng hay dị, càng thêm hư luận!
24)
Hám Sơn đại sư nói lời phương tiện,
thuận theo thời Mạt mà mở ra một môn trợ
đạo khế Lư, khế cơ, đă tốt lành lại
càng tốt lành hơn. Chắc là có kẻ phủ nhận, bảo:
“Chánh đạo chẳng đắc lực, lại tu trợ
đạo, đối với Giáo môn th́ được, chứ
Tông thừa th́
chắc chắn chẳng thể!” Ôi! Nếu
luận theo lẽ “hướng
thượng nhất trước”,
thoại đầu cũng chẳng dùng tới! Đă chấp
nhận thoại đầu, tức là đă thuộc về
phương tiện, sao lại riêng phế trừ trợ
đạo? Ắt chẳng thể chấp thuận dùng tŕ
chú làm trợ đạo! Do trước
đó đă chẳng chấp thuận đề khởi, nắm
giữ thoại đầu, mà thoại đầu lại
được Tông chấp thuận;
đó là báng Tông. Coi các hạnh như tŕ chú v.v… là Giáo, cho nên
chẳng chấp nhận; đấy là khinh
Giáo! Khinh Giáo, báng Tông, há chỉ mắc tội với Hám
Sơn đại sư, mà c̣n khiến cho tam thế chư
Phật bị oan uổng.
25)
Hàng tri thức hiện thời thường đối với
kẻ lợi căn bèn dạy tham Thiền, kẻ độn
căn th́ dạy niệm Phật, tức [chấp rằng]
“tham Thiền chỉ thích hợp cho căn cơ bậc
thượng, niệm Phật chỉ thích hợp hàng trung hạ”.
Cho rằng Thiền chẳng thích hợp căn cơ trung,
hạ, tức là báng Thiền. [Cho rằng] niệm Phật
chẳng thích hợp căn cơ bậc thượng, tức
là báng Giáo. Thiền lẫn Giáo đều báng, thổi thành
gió, khiến cho Thiền chỉ có hư danh, mà niệm Phật
cũng chẳng có thật hạnh, đáng buồn thay! Nào
có biết tham Thiền, niệm Phật, và tu Giáo Quán, mỗi
đằng đều có túc căn. Mỗi một căn
tánh đều chia thành ba phẩm:
- Người thuộc
đệ nhất phẩm trong Thiền môn, hễ tiếp
xúc liền liễu đạt, chẳng c̣n chuyện ǵ khác.
Xưa đă có linh căn, như đúng thời tuôn mưa.
Người thuộc đệ nhị phẩm, thẳng thừng
chẳng ngờ vực, ẩn sâu, ngầm dưỡng, chờ
đến khi dưa chín, cuống rụng, đại dụng
hiện tiền, long thiên thúc đẩy xuất hiện,
tùy ư lợi sanh. Người thuộc đệ tam phẩm
có đủ niềm nghi phẫn to lớn, như nỗi
oán bị giết cha, dốc trọn một đời suy
xét rốt ráo việc này.
- Người niệm
Phật thuộc đệ nhất phẩm đốn ngộ
“tự tâm là Phật”, niệm nào cũng viên minh. Người
thuộc phẩm thứ hai, tin sâu “tự tâm làm Phật”, niệm
nào cũng nhập lư. Người thuộc phẩm thứ
ba tin sâu Phật lực vô lượng, niệm nào cũng
diệt ác. Lại có bốn loại, tức là niệm tự
tánh của Phật, niệm tướng hảo và công đức
của Phật, niệm danh hiệu Phật, và niệm h́nh
tượng Phật. Bốn loại ấy, mỗi loại
đều thông ba phẩm.
- Người thuộc
phẩm thứ nhất trong Giáo Quán vừa mới nghe viên
lư, nhanh chóng phát khởi sơ tâm, thành Chánh Giác trong một
sát-na, thị hiện tám tướng [thành đạo] trong
một trăm thế giới. Người thuộc phẩm
thứ hai tin nhất cảnh tam đế, tịnh hóa lục
căn nơi sanh thân, chế phục trụ địa vô
minh, dẹp tan Kiến Tư trần cấu. Người
thuộc phẩm thứ ba do nghe kinh mà phát khởi viên giác,
tu quán hạnh ngũ phẩm, tu tập Tam Quán để
huân tập, chế phục ngũ trụ, tiến hướng
nẻo giác. Do vậy bèn nói: “Pháp chẳng có hơn, kém,
đúng bệnh th́ thuốc đều linh nghiệm. Căn
cơ có sâu hay cạn, hễ chấp vào toa thuốc th́ thuốc
trở thành bệnh”.
26)
Thân bị bệnh th́ biết lo sầu, gia đ́nh thiếu
thốn th́ biết lo sầu, năm nào chẳng được
mùa bèn biết lo sầu, các nơi chẳng yên tĩnh bèn biết
lo sầu. Chỉ riêng đại sự chưa giải quyết
xong, chẳng lo buồn!
Phật pháp sắp diệt, chẳng ưu tư. Chúng sanh
nghiệp nặng mà chẳng lo buồn. Hoặc tuy lo buồn
mà chẳng biết nguyên do v́ sao lo buồn, hoặc lại
tăng gấp bội nỗi lo buồn ấy. Ôi! Lo buồn
há có lúc xong xuôi ư?
27)
Sở dĩ tông thừa siêu thắng là v́ có đủ các
công đức, nhưng chẳng trụ vào đâu. Nếu
coi “chẳng trọn đủ” là “chẳng trụ”, có khác
ǵ nhà chẳng có hộc[26]
gạo, lượng vàng nào, mà bảo là “đứa con
vượt hẳn ngàn vàng”.
28)
Thời cổ, Tướng tông dễ mà Tánh tông th́ khó, cho
nên ngài Huyền Trang bỏ tánh, tu tập tướng.
Diễn Giáo dễ, chứng Tông khó, nên ngài Thần Quang
đứng trong tuyết, chặt cánh tay. Nay th́ chẳng phải
vậy! Dùng Tông để ăn to nói lớn, mà Giáo th́ mù tịt.
Dùng Giáo để tự phụ, Tướng tông rối
nùi. Than ôi! Biến cái dễ dàng thành khó khăn; đối với cái
rất khó,
ngỡ là dễ dàng! Chẳng thể nâng một cái lông
vũ mà có thể nâng một trăm quân[27],
chẳng thể thấy một xe củi, mà có thể thấy
mảy lông, đứa bé cao năm thước chẳng mắc
lừa được!
29) Tôi đến chơi các núi, thấy
trọn t́nh thái của người lẫn vật, điên
đảo nhiều nhất, hoàn toàn chẳng thể nêu trọn
hết được. Lại như thức ăn, y phục,
đó là trần lao, chỉ sợ chẳng siêng năng [lo
liệu]. Tŕ tụng, lễ bái là nghiệp thù thắng, chỉ
sợ chẳng lười nhác. Tam Tụ Tịnh Giới
là chánh nhân xuất thế, [vậy mà bị] chán ghét là phiền
phức sâu xa. Kế mưu sinh trong trăm năm là căn
bản của sanh tử, cứ thường lo thiếu
sót. V́ Phật pháp mà dựng cao tràng kiêu mạn, do cầu vật
chất lợi lộc, thể diện mà nhanh chóng quên bẵng
[Phật pháp]. Thậm chí, cùng một lời, nếu bảo
là phát xuất từ kinh luận nào đó, sẽ vứt bỏ
như oán địch. Nếu
bảo là phát xuất từ bộ ngữ lục nào đó,
bèn yêu mến như trân bảo. [Đa số người học
Phật cho rằng] chuyện thuộc thế duyên, chẳng
trở ngại đạo, c̣n giới luật, giáo môn sẽ
trái nghịch lẽ hướng thượng! Ôi! Tôi chẳng
biết sẽ đi về đâu!
30) Giáo là ǵ? Tông là ǵ? Lập bày ngôn ngữ gọi là Giáo. Quên t́nh ngầm khế hợp là Tông. V́ thế, tuy nói
Tông là “giáo ngoại biệt truyền”
(truyền riêng ngoài giáo), thật sự
là “giáo nội chân truyền” (chân thật truyền
trong Giáo). Giống như lấy ngón tay chỉ mặt
trăng, ngỡ ngón tay là mặt trăng th́ chẳng thể
được! Nói “cái được chỉ” chẳng phải
là mặt trăng, cũng chẳng thể được!
Hơn nữa, ngôn giáo của chư Phật đều là
ngón tay, sao riêng ngữ lục của chư Tổ chẳng
phải là ngón tay ư? Chẳng ngỡ ngón tay của Phật
là mặt trăng, sao lại riêng nhận lầm coi ngón tay
của Tổ? Lại c̣n cho rằng: Điều tổ chỉ
là mặt trăng, điều Phật chỉ chẳng phải
là mặt trăng! Tin vào điều do chư tổ chỉ,
sao riêng chẳng tin điều Phật chỉ? Con người
điên đảo quá đáng!
31)
Phát đại tâm c̣n dễ, có chánh kiến khó hơn. Có
chánh kiến c̣n dễ, siêng tu tập càng khó hơn. Siêng tu tập
c̣n dễ, trừ tâm bệnh càng khó. Nhưng tâm bệnh chẳng
trừ, sao có thể chuyên chú trọng tu tập? Chẳng
siêng tu tập, sao có thể giữ lấy chánh kiến?
Chánh kiến chẳng trọn đủ, há có phải là
đại tâm chân thật? Đúng là phát đại tâm khó lắm!
32)
Cái ải lợi lộc chẳng phá, sẽ bị kinh hoảng
bởi “được,
mất”.
Cái ải danh vọng chẳng phá, sẽ bị hủy báng
hay khen ngợi đả động. Đă bị “được,
mất, khen ngợi, hủy báng” xoay chuyển, c̣n
dùng Thiền đạo Phật pháp để ăn nói lớn
lối được chăng?
33)
Chẳng thấy khuyết điểm của chính ḿnh là
ngu. Đă thấy mà cứ giữ chặt th́ là ngu nhất
trong những điều ngu! Chẳng thấy ưu điểm
của người khác là ác. Thấy mà giấu diếm th́
là ác nhất trong những điều ác.
34)
Nếu ai hỏi tôi: “Ông nguyện ǵ?” [Đáp]: “Nguyện
sanh Tây Phương?” “Lại nguyện ǵ?” “Nguyện vào
địa ngục”. Hỏi: “Đó là cái tâm như thế
nào vậy?” Đáp: “Tây Phương th́ trên là phụng sự
chư Phật, địa ngục th́ dưới là hóa
độ chúng sanh. Phật khởi đầu từ đức
Di Đà, do nguyện vương thù thắng. Chúng sanh th́ khởi
đầu từ địa ngục, v́ bi tâm thiết tha!”
35) Có
Thiền giả hỏi tôi: “Thực hành công phu ǵ?” Thưa:
“Niệm Phật”. Hỏi: “Niệm Phật để làm
ǵ?” Đáp: “Cầu sanh Tây Phương”. Thiền giả
quở: “Sao chẳng lănh hội tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ, mà dùng vọng niệm, vọng cầu
để làm ǵ?” Tôi hỏi: “Ông cho rằng A Di Đà Phật
ở ngoài tánh ư? Cực Lạc quốc độ ở
ngoài tâm ư? Tâm tánh cũng quá chật hẹp rồi! Nếu như ông nói “chẳng
niệm, chẳng cầu”,
chẳng phải là Ác Thủ Không ư?”
36)
Thiện tri thức giống như lương y, đúng
chăng? Lương y có thể kiêm chữa các bệnh, mà
cũng có thể chuyên trị một bệnh. Kiêm chữa
th́ ứng theo bệnh mà cho thuốc. Chuyên trị th́ chẳng
phải bệnh ấy, sẽ chẳng chữa. V́ thế,
đều có thể thọ yểu mà sống chết. Nếu
chỉ có một kỹ năng duy nhất mà gồm thâu trọn
các chứng bệnh, sẽ gây hại, tổn thương
nhiều lắm, huống hồ một nghề chưa tinh
ư?
37) Tục ngữ có
nói: “Đối trước người chân thật, chẳng
nói lời giả được!” Nay th́ đối
trước kẻ giả dối cũng chẳng nói lời
thật, buồn thay!
38)
Tục ngữ có câu: “Ba ngày chẳng bán được một
gánh thật. Một ngày bán được ba gánh giả”. Tôi
nói: “Thà ngàn ngày chẳng bán được một gánh thật,
chẳng mong một ngày bán được ngàn gánh giả!”
39)
Người ta cho rằng tham Thiền sẽ ngộ đạo,
chẳng cần cầu sanh Tây Phương. Niệm Phật
th́ sanh về Tây, chưa chắc đă có thể ngộ
đạo ngay! Trọn chẳng biết: Sau khi ngộ, vẫn
chẳng thể không sanh về Tây Phương. Huống hồ
chưa chắc đă ngộ ư? Lại nữa, Thiền
giả muốn sanh về Tây Phương, chẳng cần
phải đổi thành niệm Phật. Chỉ cần trọn
đủ tín, nguyện, th́ tham Thiền chính là hạnh Tịnh
Độ. Lại nữa, niệm Phật tới mức
nhất tâm bất loạn, Năng và Sở đều mất,
liền đạt được Vô Sanh Pháp Nhẫn, há chẳng
phải là ngộ đạo ư? Do vậy, tham Thiền
hay niệm Phật đều có thể ngộ đạo,
đều có thể sanh Tây. Nhưng có nghi bèn tham, chẳng
nghi bèn niệm, tùy theo mỗi người lúc tu tập mà tự
châm chước!
40)
Cổ nhân càng tự hạ thấp ḿnh, phẩm cách càng cao.
Người hiện thời tự thấy ḿnh càng cao, phẩm
cách càng hèn. Cổ nhân càng tự thu nhỏ ḿnh, đạo
càng lớn. Người hiện thời tự cậy càng
to, đạo càng bé tẹo. Cổ nhân tự xét ḿnh càng thiếu
sót, đức càng hoàn bị. Người hiện thời
càng tự cậy chính
ḿnh hoàn bị, đức càng thiếu sót! Đó gọi là
chẳng suy xét nơi căn bản, chỉ xem xét đằng
ngọn!
41)
Kẻ tiểu nhân coi lỗi của chính ḿnh là lỗi của
người khác, thường oán trời, hờn người.
Quân tử coi lỗi của người khác là lỗi của
chính ḿnh, thường tự vấn để trách ḿnh, chẳng
nói là lỗi của người khác mà bảo là lỗi của
chính ḿnh. Có bốn cách nh́n như mắt thấy ác sắc,
tai nghe tiếng ác v.v… đều nghĩ là do nghiệp của
chính ḿnh cảm vời, chẳng liên quan chuyện khác. Ác cảnh
lăng xăng, đều chỉ là thức biến hiện,
hư huyễn chẳng thật. Phiền năo của chúng
sanh vô lượng, hăy nên độ, hăy nên đoạn là phận
sự của chính ḿnh. Chúng sanh tu ác chính là tánh ác. Chúng sanh
tánh ác chính là tánh của chính ḿnh ác.
42)
Pháp tánh vốn thường trụ, sao lại chia thành Chánh
Pháp và Tượng Pháp? Chia làm Chánh Pháp và Tượng Pháp,
hoàn toàn do con người đó thôi! Than ôi! Nhằm cuối
đời Mạt, là lúc cách thánh đă xa, mười
người hết chín kẻ v́ lợi, kẻ v́ danh th́ là
một phần mười. V́ sanh tử của chính ḿnh mà
phát tâm Nhị Thừa th́ trong trăm ngàn người có
được một kẻ. V́ đại địa chúng
sanh phát vô thượng tâm th́ vạn vạn người mới
được một. Đó chỉ là liệu giản
trong số những người tu Thiền đấy nhé,
chứ người sống trong chùa và tục nhân, lại
chẳng cần phải nói nữa, Phật pháp sẽ trông
cậy vào đâu?
43)
Sanh về Tây Phương dùng ba loại tâm là chí thành tâm,
thâm tâm, và hồi hướng phát nguyện tâm. Vận dụng
ba cái tâm ấy măi cho đến khi thành Phật.
Người thuận theo thói tục cũng có ba loại tâm
là tâm coi thường, tâm hời hợt, và tâm qua quít. Do ba
cái tâm ấy mà thường rong ruổi trong năm
đường. Than ôi! Loại trước th́ trong ba
trăm ngàn người có lẽ có được một
người, loại sau th́ trong ba trăm ngàn chắc chẳng
ai không phải là như vậy! Chẳng trách người
miệng nói “cầu sanh” đông đảo, người
chân thật văng sanh ít ỏi!
44)
Trong thuở Mạt Pháp, có ba loại bệnh chẳng thể
cứu: Chuộng đạt được mà chẳng chuộng
dụng công. Chuộng sơ lược, chẳng ưa rộng.
Chuộng đồng, chẳng chuộng dị. Giao du với
bè bạn có ba điều ác lớn: Thích thuận, chẳng
thích nghịch. Chuộng miệng nói đúng, tâm nghĩ sai.
Ưa kẻ khác thua kém ḿnh, chẳng ưa người
hơn ḿnh. Học vấn có ba lỗi lớn: Ưa nhiều,
chẳng ưa tinh ṛng. Đuổi theo cái ngọn, chẳng
cầu cái gốc. Cầu giải, chẳng cầu chứng.
45)
Cổ nhân sớ giải kinh, luận, ắt nêu tỏ những
điều u huyền, vi tế, chỉ bày chỗ chỉ
quy, nêu ra cương yếu, nói rơ cách tu. Do vậy,
nương vào bất cứ một sách nào, đều có thể
liễu sanh tử, thượng hoằng, hạ hóa. Đời
sau sợ rườm rà mà vứt bỏ, tuy giống như
khéo biết lẽ biến thông, nhưng thật ra hết sức
tổn thương giáo nhăn! Như Ngũ Bá tôn Châu, nhưng
nhà Châu càng bị họ tước xẻo quyền lực.
Than ôi! Nắm cành quên thân cây, tội vốn chẳng do tiên
hiền. Do nghẹn mà bỏ ăn, giáo huấn há có thể
bỏ sót kẻ hậu duệ? Sao người phù tŕ giáo chẳng
nghĩ ngợi sâu xa?
46)
Tôi thấy người thuộc các điện đường
học kinh giáo và những người làm lụng [trong tự
viện] khinh thường lẫn nhau. Người học
kinh giáo nói: “Bọn họ chẳng biết Giáo, chẳng biết
Lư, cứ hùng hục siêng năng làm lụng mà thôi, chẳng
như chúng ta khiến cho tùng
lâm rạng rỡ, những kẻ quyền quư chẳng thể
đối đáp được!” Những người làm
tạp vụ nói: “Ta dốc cạn sức làm lụng, bọn
họ khoanh tay chờ ăn, chẳng giữ giới đức,
học nghiệp chẳng thành, há chẳng phải là bọn phóng đăng
ư?” Tôi thương xót, riêng nghĩ rằng: “Bọn học
kinh điển sao chẳng nghĩ nỗi nhọc nhằn
của người làm tạp vụ? Họ
thật sự là ngoại hộ của ta, ta chẳng có thật
hạnh, ngồi hưởng sẽ khó tiêu. Tức là hết
thảy đều nghĩ như Phổ Hiền. Những
người làm tạp vụ, sao không nghĩ chính ḿnh
chướng nặng, không có chủng tử Văn Huân? Họ
thông minh, nhạy bén, đều do túc nhân, liền nghĩ hết
thảy đều là đạo sư, tùng lâm chẳng mấy
chốc hưng thịnh ư?”
Lại thấy Thiền
đường và Tạng đường khinh miệt lẫn
nhau. Thiền khinh Tạng là dùi mài nơi giấy cũ
để mong được cúng thí. Nếu bảo họ
tọa hương, há có thể được ư, mà
cũng có thể ư? Tạng khinh Thiền rằng: “Họ
ăn không ngồi rồi, thân chẳng mệt nhọc, giữ
lấy sự ngu si, chẳng dụng tâm để nghiên cứu
liễu nghĩa,
mờ mịt chẳng biết ǵ! Cảnh tỉnh họ
hôn trầm th́ sân tâm bừng bừng dấy động, chẳng
có ai ngộ đạo, nối gót nhau bị ma dựa. Sao bằng
xem kinh, gieo cái nhân Bát Nhă, làm lụng c̣n đạt được
phước nhân thiên!” Tôi ưu thương gấp bội,
lại thay họ nghĩ rằng: Đại sự thuộc
điện đường của chính ḿnh chưa giải
quyết xong, giọt nước cũng khó tiêu! Bọn họ
ứng, họa (đối đáp khi có người đến
hỏi đạo hay vấn nạn), có công ngoại hộ,
duyệt tạng là cái gốc của Tư Tu. Nếu ta niệm
nào cũng thân thiết, pháp hạnh cũng chẳng vượt
trội tín hạnh. Nếu [người
tọa Thiền] ơ hờ, tự
thong dong, Thiền tụng đâm ra cao vượt tọa
Thiền. Nhưng người thuộc Tạng Đường
sao chẳng nghĩ: Hiểu rơ lư nhưng không tu hành. Kể
chuyện ăn, rốt cuộc chẳng no! Phát tâm muốn
tọa Thiền, sẽ hơn hẳn mười
phương luận sư. Huống hồ tạ tuyệt
muôn duyên, cùng trừ hôn trầm, tán loạn, chuyên tâm nơi lẽ hướng
thượng, tham cứu tận cùng cội gốc. Nếu
chúng ta tán tâm, há có thể phảng phất được
ư, mà pháp môn cũng chẳng sáng tỏ ư? Chỉ có kẻ
ôm ḷng kiêu căng, ḷng ghen ghét thường lộ ra ngoài miệng,
khiến cho thị phi nổi dậy như ong, Thể lẫn
Đoạn đôi đằng đều bị
thương tổn, đều là trùng trong thân sư tử.
47)
Phàm kẻ có trí nhạy bén hăy nên hành nơi Huệ, kẻ
có sức mạnh hăy nên hành nơi Định. Mỗi đằng
cũng có hai loại. Hai thứ huệ hạnh th́:
- Một là chỉ từ
huệ nhập, sáng suốt tột bực bèn chân thành, chẳng
phiền tu định mà tự đắc định.
Đấy là do túc nhân sâu dày, tập khí ít mỏng.
- Hai là có thể phát
văn giải (do nghe mà thông hiểu), chẳng thể chứng
ngay, ắt phải nương vào giải mà khởi hạnh.
Hạnh khởi, giải tuyệt. Nếu chẳng một
phen dũng mănh tu tập, sẽ chẳng thể đích thân
chứng đắc. V́ thế, cần phải dùng định
lực giúp đỡ.
Định hạnh
cũng có hai:
- Một là đơn
đao trực nhập, liền có thể thấu triệt
tận cùng nguồn đáy các pháp. Đấy cũng là do
túc nhân sâu dày, sức chánh kiến mạnh mẽ.
- Hai là chỉ có thể
giữ chết cứng, chẳng thể quyền biến,
thường đọa vào Không Kiến, hoặc tham đắm
vị Thiền. Cầu giải thoát mà ngược ngạo
bị trói buộc, cầu thăng lên đâm ra đọa
xuống, ắt phải dùng huệ hạnh để giúp
th́ mới khỏi đọa hầm sụp hố.
Lại có người trí
lẫn lực
cùng đầy đủ, Định lẫn Huệ cùng vẹn,
như những vị nghe pháp đắc đạo thuở
đức Phật tại thế và Lục Tổ v.v… Nếu
nhờ vào Tông Giáo để giúp nẩy mầm huệ về
sau, mượn Thoại Đầu để làm cái cớ
thoái thác, huệ hạnh lẫn định hạnh hai
đằng đều chẳng thể đảm
đương, sẽ đều là trùng trong thân sư tử.
48)
Vân Thê đại sư đă nêu tỏ pháp môn Niệm Phật
như sau: “Có Sự nhất tâm bất loạn và Lư nhất
tâm bất loạn. Có người nói tŕ danh hiệu là Sự
nhất tâm, tham cứu chữ Ai là Lư nhất tâm, sao mà sai lầm
đến thế? Sự nhất tâm là rành rẽ, phân minh,
chẳng hôn trầm, chẳng tán loạn. Lư nhất tâm là ngầm
khế hợp Vô Sanh, hiểu thấu suốt tự tánh. Tức
là khi tham thoại đầu thuần thục, vẫn thuộc
vào Sự môn. Khi niệm, tâm lẫn Phật cùng mất chính
là quy vào phương diện Lư, há có phải là Sự riêng
chỉ niệm, Lư riêng chỉ tham ư?” Lại nữa,
tham cứu chữ Ai (tức tham cứu câu “ai là người
niệm Phật?”), nói là suy xét theo Lư th́ được,
chứ bảo là Lư nhất tâm, sẽ chẳng được!
Nhưng chẳng phải là hạng người phù hợp
th́ suy xét Lư cũng chẳng thể dễ dàng! V́ lẽ nào vậy?
Sự có công năng bao gồm Lư, Lư chẳng thể tồn
tại một ḿnh! Mong
hăy suy xét kỹ!
49)
Nhị kiến (kiến chấp có đôi bên) hết sức
tai hại! Phiền năo, Bồ Đề, sanh tử, Niết
Bàn cùng nương vào một tâm, nhưng rành rành thành hai.
Tông Thừa và Giáo Thừa cùng truyền bởi một đức
Phật mà bị tách rời thành hai. Pháp tánh, pháp tướng
cùng được nắm giữ trong một âm thanh mà bị
phán định thành hai. Huệ giải và hạnh môn cùng
được diễn nói trong một giáo, mà bị phán
định thành hai. Nhị kiến lăng xăng th́ chánh
kiến diệt mất.
50)
Tọa Thiền tuy danh xưng chỉ có một, nhưng thật
ra là sáu, tức là Viên Đốn Thiền, Thứ Đệ
Thiền, Lợi Huệ Thiền, Độn Tu Thiền, Thế
Tục Thiền, và Giả Danh Thiền.
Viên Đốn Thiền
là vừa nghe chánh pháp nhăn tàng, Niết Bàn diệu tâm chẳng
thể nghĩ bàn, lư tánh vi diệu, bèn phát cái tâm ấy. Lại
có bốn thứ:
- Một là vừa nghe
liền ngộ, nhanh chóng chứng tự tâm, chẳng
rơi vào tầng cấp, trọn đủ Trí Đức.
- Hai là do chưa đốn
chứng, liền hết sức nghi phẫn ngút trời, lập
tức hai đằng y báo lẫn chánh báo đều quên bẵng,
phàm lẫn thánh đều dứt, hôn trầm, tán loạn
chẳng có chỗ nương gá, trí và lư chẳng có chỗ
tụ hợp, nghiễm nhiên
như người chết c̣n thở, măi cho tới khi tro lạnh,
đậu nổ.
- Ba là chưa thể
ngay lập tức thành phiến, nhưng thật sự tin
tưởng, nỗi nghi đă được an. Dẫu bị nghiệp
lực vô thỉ quấn trói, các thứ chướng duyên
hôn ám, tán loạn,
chẳng bị thoái thất cái tâm ban đầu, hoặc một
mực đơn độc khởi lên, hoặc đạo
phẩm giúp thành tựu, suốt đời chẳng dấy
tâm danh lợi, chẳng dấy tâm thừa sót. Xét theo cơ
th́ độn, ước theo căn th́ cũng gọi là chủng
tử viên đốn.
- Bốn là trước
hết lưu tâm nơi giáo điển, t́m hiểu rơ ràng lư
tánh, thuận theo đó mà khởi quán hạnh, gọi là Càn
Huệ. Kế đó, đạt được
Tương Tự lư thủy, gọi là nhập Tín Tâm. Kế
đó bèn phát tâm, gọi là Nhập Chánh Vị, liền cùng một
trí đức với đốn ngộ. Cần biết
đốn ngộ vốn do huân tập nhiều đời.
V́ thế, sơ tâm chẳng thể không gieo chủng tử
sâu dày nơi giáo tột cùng.
Thứ Đệ Thiền
th́ trước là dùng Không Huệ để tu Nhất Thiết
Trí, quán hết thảy các pháp không ǵ chẳng đều là
Không. Kế đó, dùng Giả Huệ để tu Đạo
Chủng Trí, quán hết thảy các pháp được kiến
lập từ Không. Sau đó, dùng Trung Huệ để tu Nhất
Thiết Chủng Trí, quán hết thảy các pháp chẳng
Không, chẳng Giả, tức là Đệ Nhất Nghĩa
Tâm.
Lợi Huệ Thiền
là thông đạt hết thảy các pháp như huyễn,
như mộng, toàn bộ cái Thể của chúng là Không, do
chẳng Không nên là Không.
Độn Tu Thiền
lại có bốn loại:
- Một là đắc
Thần Túc hành Bồ Tát đạo, tu căn bản Tứ
Thiền, nương vào đó phát khởi thần thông.
- Hai là quán sâu mười
hai nhân duyên, cắt đứt vô minh.
- Ba là quán sâu Tứ
Đế, trong sát-na đoạn Hoặc, chứng Chân.
- Bốn là tuy biết
rơ Khổ Đế, ắt phải [tu tập theo] Cửu
Thứ Đệ Định, lần lượt đoạn
Hoặc, chứng Chân.
Thế Tục Thiền
lại có hai loại:
- Một là phàm phu dùng
tâm ưa thích và chán ngán để tu tám môn Định
trước.
- Hai là ngoại đạo
chấp vào Niết Bàn của họ để tu tập môn
Định của chính ḿnh.
Giả Danh Thiền lại
có ba loại:
- Một là tuy nghe danh
ngôn viên đốn, hâm mộ danh, nhưng chẳng hiểu
nghĩa, gượng đề khởi một câu thoại
đầu, vẫn chưa hiểu trọn hết nghĩa
lư trong câu thoại đầu ấy, huống hồ chỗ
tột cùng nơi nghĩa lư. Người ấy dùng một
câu thoại đầu để làm cái cớ thoái thác, phế
trọn các điều lành khác, chết cứng nơi cọc
buộc lừa, tuy hơi bị hôn trầm, tán loạn, vẫn
chưa đạt được Thiền Định thế
tục, mong chi viên đốn! Tuy chẳng có hại to lớn,
nhưng đă đánh mất vô lượng công đức
nơi Văn Huân.
- Hai là đối với
cơ duyên của chư tổ, cầu đạo lư sâu xa,
quên ăn, bỏ ngủ, may ra đạt được chỗ
tiến nhập nghĩa lư, liền ngỡ đă có tỉnh
phát, đạt được cái gốc,
liền nảy sanh ư tưởng vốn chẳng lo sầu.
Người ấy tuy chẳng bài bác vạn hạnh,
nhưng thường náu ḿnh trong tấm giáp vô sự. Lại
c̣n tách Giải và Hạnh thành hai đằng, đó gọi
là “báng chân Bát Nhă”.
- Ba là chỉ chuộng
hư danh, do cơ duyên giúp sanh khởi tà huệ, ăn nói hồ
đồ, loạn xạ,
hại ḿnh, hại người, hoặc đeo hư danh,
nói là tham thoại đầu, nhưng là hạng ăn bám,
giấu dốt, chẳng trừ hôn trầm, tán loạn, yêu
ghét luôn lừng lẫy, ăn suông của đàn thí, bại
hoại pháp môn.
Trong sáu loại trên
đây, tổng cộng thành mười lăm loại. Nếu
lại liệu giản, hạng kém hơn càng nhiều! Than
ôi! Cuối đời Mạt, chỉ mong có được
cái danh, chẳng đếm xỉa thực chất, trách sao
Tông, Giáo chẳng lè tè sát đất!
51)
Cổ nhân nói “đối với thuyền không người
chèo bị trôi giạt, mảnh ngói bị
gió thổi rớt từ trên mái xuống,
sẽ chẳng sanh sân”. Nay cũng sanh sân. Sẻ
hót, quạ kêu chẳng phân biệt, nay cũng phân biệt.
Cảnh duyên nghịch thuận, mong chi thoát khỏi!
52)
Pháp môn có bảy tướng hoại và sáu tướng
hưng thịnh.
Những ǵ là bảy
tướng hoại:
- Một là sợ yểu
mạng, hoặc biết số mạng cô độc, do nhà
nghèo bèn xuất gia.
- Hai là lánh nạn, không
nơi nương náu, hoặc do bực tức, mong
được yên vui
mà tự xuất gia.
- Ba là do cầu thanh cao
nên tự xuất gia.
- Bốn là do hiếu
danh nên thọ giới.
- Năm là do hiếu
danh nên nghe kinh.
- Sáu là do giấu dốt
nên tham Thiền.
- Bảy là do hiếu
danh nên tham Thiền.
Bảy loại ấy
tuy cao hay thấp khác nhau, nhưng hơn, kém rành rành, đều
là nhân địa chẳng chân thật, bại hoại pháp
môn giống hệt như nhau. Những ǵ là sáu tướng
hưng thịnh?
- Một là v́ sanh tử
cho nên xuất gia.
- Hai là v́ đại Bồ
Đề nên xuất gia.
- Ba là để làm nền
tảng cho sự tu hành mà thọ giới.
- Bốn là v́ [thông hiểu]
đường nẻo tu hành cho nên nghe kinh.
- Năm là v́ liễu
sanh tử cho nên tham Thiền.
- Sáu là v́ đắc Chủng
Trí nên tham Thiền.
Sáu loại tuy lớn
nhỏ khác nhau, Thiên, Viên khác biệt, nhưng đều
cùng là nhân địa chân chánh, có thể hưng thịnh
chánh pháp như nhau. Ôi! Phàm những người cùng loại
với tôi, vẫn nên tự suy xét. Nếu nhân địa
chân thật, mong hăy khéo tự ǵn giữ, ngơ hầu rốt
cuộc chánh đáng, chẳng lọt vào tà! Nếu nhân địa
chưa chân thật, hăy thống thiết tự hối cải,
nhanh chóng quay về chân, chẳng ch́m đắm trong ngụy,
ngơ hầu tự cứu, mà cũng cứu pháp môn.
53)
Người chân chánh quán tà pháp, tà pháp cũng thành chánh. Tà
nhân quán chánh pháp, chánh pháp cũng thành tà. Người sâu xa
quán pháp nông cạn, pháp nông cạn cũng thành sâu xa. Người
nông cạn quán pháp sâu, pháp sâu cũng thành nông cạn. Người
viên căn quán pháp lệch lạc, pháp lệch cũng thành
viên. Người lệch lạc quán viên pháp, viên pháp cũng
thành lệch. Đạo nhân quán tục pháp, tục pháp
cũng thành đạo. Kẻ tục quán đạo pháp,
đạo pháp cũng thành tục. Than ôi! Nay chánh thành tà, sâu
thành cạn, viên thành thiên, đạo thành tục là chuyện
thường thấy! Hăy thử tự phân định từng
điều, nếu biết căn bệnh, ắt sẽ biết
thuốc chữa. Hết sức mong mỏi!
54)
Có khi tên gọi giống nhau mà thật ra khác nhau. Như Phật
nói Đạo th́ là ba loại Bồ Đề. Lăo nói Đạo
th́ là hư vô tự nhiên. Nho nói Đạo th́ là ngũ
thường, ngũ luân[28],
chẳng thể đánh đồng được! Có khi
danh khác mà thật ra là đồng, như tông Thiên Thai nói Nhất
Tâm Tam Quán, Hiền Thủ nói Nhất Chân Pháp Giới, Tướng
Tông nói Thắng Nghĩa Duy Thức, Thiền Tông nói “hướng
thượng nhất trước”,
chưa hề có chút khác biệt nào! Ví như là một đế
đô mà gọi là Bắc Kinh, hoặc Yên Đô, hoặc Thuận
Thiên Phủ. Có người ca ngợi chữ Bắc Kinh,
chê Yên Đô là kém hèn. Hoặc có kẻ ca ngợi Yên Đô,
chê Thuận Thiên là kém hèn, ta biết kẻ đó ắt bị
kẻ khác chê cười. Những kẻ chia ngăn tánh, tướng, Nam Bắc
lập đảng, có khác ǵ chuyện này hay chăng?
55)
Cư sĩ Lư Tùng Giang ngụ tại chùa Thiên Phong, dũng
mănh muốn xuất gia. Tôi hỏi: “Ông muốn xuất gia
mà đă từng xem kinh hay chưa?” “Chưa ạ!” “Xem ngữ
lục hay chưa?” “Xem đôi chút”. “V́ sao xem ngữ lục mà chẳng
xem kinh?” Đáp: “Kinh th́ rắc rối, chi ly, ngữ lục
sảng khoái dễ xem”. Tôi nói: “Sảng khoái dễ xem th́
không ǵ bằng truyện Thủy Hử, hoặc Tam Quốc
Chí”.
* Ngẫu nhiên viết
hai đoạn
1)
Chư Phật tu điều thiện xứng tánh, cho nên có
thể hóa thân trăm ngàn ức, tự tại độ
chúng sanh. Chúng sanh tạo
điều ác xứng tánh, cho nên một thân có thể trọn
khắp trong tám vạn bốn ngàn đại địa ngục,
một ngày một đêm hứng chịu đủ tám vạn
nỗi khổ sanh tử. Như vậy th́ cảnh giới
của Phật chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới
của chúng sanh cũng chẳng thể nghĩ bàn, chỉ
v́ một niệm hiện tiền vốn tự chẳng thể
nghĩ bàn, người có trí có nên thuận theo hay chăng?
2) Tứ Hung[29]
tồn tại trong đời Nghiêu - Thuấn, chẳng thể
tự sống yên. Khổng - Mạnh sống vào thời loạn
Xuân Thu Chiến Quốc, nhưng loạn lạc chẳng
đủ biến cải niềm vui của họ. Do vậy
biết: Được hay mất hoàn toàn do tự tâm, ngoại
cảnh há có liên quan? Người hiện thời chẳng
lo đối trị tâm mà cứ bận ḷng nơi cảnh,
chẳng mê hoặc lắm ư?
* Đọc xong
Dương Minh Toàn Tập, ngẫu nhiên viết hai đoạn
1) Quân tử hay tiểu
nhân, cái Thể của lương tri chưa hề khác biệt!
Một đằng do bị ḷng riêng tư che phủ mà chẳng
thể đạt đến tận cùng, bèn ghét công chánh,
đố kỵ tài năng, vu hăm trung lương, không ǵ chẳng
làm. Ôi! Đáng buồn thay! Chỉ có quân tử sáng ngời,
bát ngát như hư không, trọn chẳng so đo thị
phi, biện định được, mất.
V́ thế, tiểu nhân trọn không ǵ chẳng chuốc lấy
chất
độc ấy,
nhưng kẻ ch́m đắm chưa sâu vẫn có thể
hóa thành quân tử. Hễ chống trái, sẽ chẳng cách
biệt tiểu nhân cho mấy! Nhưng giữa ngọc và
đá, sừng, ngọc ắt bị hư nát trước.
Thông hiểu hai môn quán vô ngă trong nhà Phật, diệu chỉ
rành rành, ai nói bậc đại nho trong thế gian chẳng
phải là cỏ tranh xuất thế[30]
ư? Chắc có người phê phán Vương Dương
Minh có lúc chê bai Phật, nghi ông ta chưa quên môn đ́nh;
đó là v́ chưa luận định thời thế lúc ấy,
chưa đặt chính ḿnh vào vị trí của ông ta. Than ôi!
Các bậc đại Nho kế thừa Dương Minh,
không ai chẳng say mê Phật thừa, chẳng phải là
công năng luyện chất tô thành rượu đó ư?
2) Học bất luận
Nho hay Thích, đều trọng chân, khinh ngụy như nhau!
Nếu cái học chân thật, tuy một thuở
bị sàm báng, bị đè nén, sự sáng suốt tinh thuần
trọn chẳng thể bị vùi lấp. Nếu cái học
là hư ngụy, tuy một thuở dối đời, trộm danh, vẻ
xấu xa ắt
cũng rốt cuộc lộ ra. V́ thế
nói là “tư dân” (dân chúng ấy).
Sở dĩ thời Tam Đại thẳng thừng hành xử
đúng đạo, mà thẳng thừng theo đúng đạo
chính là bản thể của lương tri đó thôi! Thấu
hiểu tột cùng cái bản thể ấy, sẽ có
thể kiến lập trời đất, được
quỷ thần chứng thực, chờ đợi trăm
đời[31],
huống hồ dân trong đời này mà thôi ư? Ta thấy
dân trong thuở ấy tin tưởng, c̣n bọn quyền
gian riêng vu hăm, bọn tục nho riêng bài xích; riêng
bọn quyền gian, tục nho chẳng
có lương tri ư? Đặc biệt là có khi do bị
che lấp mà chẳng thấu đạt tột cùng. Than ôi!
Đều cùng có bản thể ấy, nhưng do chẳng
thấu đạt, cho nên đều cùng
ác như Cẩn,
Bân[32].
Có thể thấu đạt th́ đều cùng
thiện như Dương Minh. Đọc sách thánh hiền,
hăy nên thận trọng, dè dặt như thế nào? Trong Phật
môn hiện thời, kẻ bị sa chân vào hư ngụy
cũng nhiều. Tôi v́ sợ hăi điều ấy, muốn
giảm thiểu, nhưng chưa thể! Đọc sách
này, bất giác cảm động, phát phẫn tuôn lệ.
* Ngẫu nhiên viết
hai đoạn
1)
Duy Thức lấy “phá trọn Ngă Chấp và Pháp Chấp”
làm tông thú. Do vậy, nhờ vào lập pháp làm cửa nẻo
để trừ t́nh chấp. Bát Nhă dùng “dung hội hết
thảy các pháp,
không ǵ chẳng phải là diệu lư”
làm tông thú. V́ thế nhờ vào phá chấp làm cửa nẻo
để lập
Lư. Như vậy th́ Duy Thức nên gọi là “phá tướng”,
Bát Nhă nên gọi là “lập pháp”, nhưng khi truyền thừa
lại trái ngược gọi Duy Thức là Tướng
Tông, gọi Bát Nhă là Không Tông, sai mất rồi!
2) Thiền sư Ô Khoa
v́ thị giả mà thổi sợi lông trên vải, đó chỉ
là phương tiện để nhập tín môn, nhưng cơi
đời phần nhiều cho đó là chuyện tột
cùng. Ngài v́ ông Bạch Hương Sơn (Bạch Cư Dị)
nêu ra hai câu “đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều thiện”, đúng là thấu xương, triệt
tủy, là điểm khởi đầu và kết thúc trọn
vẹn của pháp môn, nhưng cơi đời phần nhiều
coi đó là chuyện nông cạn, chẳng lạ ǵ Giải
và Hạnh tách rời, chẳng thấu đạt Thật
Tướng chánh ấn!
* Gượng bệnh
vấn đáp cùng khách đến thăm núi, bèn ngẫu
nhiên viết
Linh
Phong có năm điều tốt, bốn điều xấu.
Năm điều tốt là ǵ? Một là suối đă ngọt
lại nhiều. Hai là chẳng nghe chuyện thăng trầm
trong thế tục. Ba là chẳng nắng gắt. Bốn là
mùa lạnh chỉ cần đốt củi. Năm là ít muỗi.
Bốn điều xấu là ǵ? Một là khi bệnh, khó kiếm
thuốc thang. Hai là khi nghèo túng, vay mượn khó khăn. Ba
là gió lốc thổi tốc ngói. Bốn là đất khô cằn
nhiều cát, sanh sản gạo, rau đều có vị kém cỏi.
Khách nói: “Dám hỏi bốn điều xấu cũng có thể
ngăn chặn ư?” Người trong núi nói: “Được
chứ!” Khách nói: “Xin nghe cách giải quyết”. Người
trong núi nói: “Tiết chế ăn uống, cẩn thận
nóng lạnh th́ ít bệnh. Như vậy sẽ đỡ phải
dùng thuốc men. Thiểu dục, biết đủ, sẽ
chẳng nghèo, như vậy sẽ ngăn chặn vay mượn.
Lợp tranh cho chặt, tô vách kỹ lưỡng, dán giấy
che cửa sổ, đóng chặt cửa, điều ấy
sẽ ngăn được gió. Vâng theo giáo giới của
đức Phật, đối với thức ăn ngon dở
đừng hư vọng phân biệt, [chỉ nghĩ thức
ăn] nhằm chữa bệnh thân thể khô
gầy, điều ấy sẽ ngăn được vị
kém”. Khách lạy thưa: “Lành thay! Vâng theo lời dạy, xin
suốt đời nương theo Ngài mà trụ”.
9. Giải
* Giải thích “trí tri
cách vật” (dựa theo Phật
pháp để giải thích cho ông Đường Nghi Chi)
Tri (知) là bản thể
của Minh Đức, chính là Đệ Nhất Nghĩa
Đế diệu tâm, chẳng phải Không, chẳng phải
Giả, nhưng thật sự ĺa hết thảy các tướng,
chính là hết thảy các pháp. “Trí” (致) là Nhất Tâm Tam Quán, liễu đạt một Đế
chính là ba Đế. “Vật” (物) là mê nơi cái Thể của Tri, bèn huyễn hiện
thân, tâm, quốc gia, thiên hạ, như nước ngưng
đọng thành băng. “Cách” (格) là suy xét đến cùng thân, tâm, nhà, nước,
thiên hạ đều như huyễn ảnh, trọn chẳng
phải là thật ngă, thật pháp, như dùng hơi nóng
để làm tan băng cứng. Muốn có nước,
không ǵ bằng làm tan băng. Muốn “trí
tri” (thấu hiểu sự
hay biết, hiểu biết đến tột cùng), không ǵ
bằng “cách vật” (trừ khử mê
chấp đối với vật dục, hiểu thấu
suốt mọi vật là hư huyễn). Băng tan,
nước hiện, vật đă
bị “cách” th́ sẽ biết đến tột cùng. Vật
là cảnh được quán, “cách” là cái trí có thể
quán. “Tri” là Đế
được hiển.
Nhất
Tâm Tam Quán gọi là Cách Vật. Nhất Tâm Tam Đế chẳng
ẩn hối th́ gọi là Trí Tri. Chớ nên nghĩ Trí Tri là
Không Quán, coi Cách Vật là Giả Quán (do ông Đường
hiểu lầm nên phá trừ). Biết rơ ngũ vị bách
pháp[33]
đều chẳng có thật ngă, thật pháp; đó
là Vật Cách. Chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán
Sát Trí là Tri Trí. Chuyển thức thứ bảy thành B́nh
Đẳng Tánh Trí là Ư Thành. Chuyển thức thứ tám
thành Đại Viên Kính Trí là Tâm Chánh. Chuyển năm thức
trước thành Thành Sở Tác Trí là Thân Tu. Do một thân
thanh tịnh, nhiều thân sẽ thanh tịnh, cho tới do
một thế giới
thanh tịnh mà hết thảy thế
giới thanh tịnh. Hết thảy thế giới thanh tịnh
là gia tề, quốc trị, thiên hạ b́nh. Chỉ một
công phu Vật Cách đạt đến tận cùng, cái học
Trí Tri mới chẳng thiếu khuyết; đó gọi là “rốt
ráo chẳng ĺa bước đầu” vậy!
* Giải đáp vấn
nạn về tạng tánh
(năm điều)
1) Gạn
hỏi: Tùy duyên há gọi là bất biến, bất biến
há được tùy duyên?
Giải: Nếu chẳng
phải là cái Thể bất biến, sao có công dụng tùy
duyên? Chẳng phải là công dụng tùy duyên, sao hiển lộ
cái Thể bất biến?
2) Gạn hỏi: Cái Thể
bất biến là thường, công dụng tùy duyên là vô
thường, vẫn là chia thành một
đằng là thường, một đằng là vô thường?
Giải: Do Thể bất
biến, nên diệu dụng bất biến. Do Thể
thường, Dụng cũng thường. Do Dụng tùy
duyên, nên toàn bộ Thể cũng tùy duyên. Do Dụng vô
thường, nên Thể cũng vô thường. Thường
và vô thường, hai con chim cùng bay!
3) Gạn hỏi: Ngay
trong khi tùy duyên, bất biến há tồn tại? Sau khi
đă ngộ bất biến, há c̣n tùy duyên?
Giải: Ngay trong lúc tùy
duyên, tùy duyên chính là bất biến, chẳng có bất biến
tồn tại riêng khác. Như ngoài hai mặt trăng, chẳng
có mặt trăng thật sự. Hai mặt trăng chính là
mặt trăng thật sự. Ngộ bất biến, bất
biến tùy ngộ duyên. Hiểu rơ Thường, sẽ
chẳng mê hoặc. Như mắt thanh tịnh thấy vầng
trăng thật sự, lại chẳng thấy có hai mặt
trăng!
4) Gạn hỏi: Mặt
trăng có thể tùy thuận ư? “Thấy” là cái bị
tùy thuận ư?
Giải: Dùng mặt
trăng làm thí dụ. Mặt trăng thật sự bất
biến, một hay hai đều tùy duyên. Mặt trăng thật
sự tùy người mà thấy là một hay thấy là hai.
Bất biến thường tự tùy duyên. Thấy
một hay thấy hai, thật sự chẳng có mặt
trăng nào khác. Tùy duyên thường tự bất biến,
luận theo cái Thấy,
tánh Thấy bất biến. Thấy một hay thấy hai,
đều tùy duyên. Thấy một là thấy chân thật.
Thấy hai là thấy hư vọng, nhưng cái Thấy chỉ
là một Thể mà có chân hay vọng. Bất biến thường
tùy duyên, chân kiến hay vọng kiến đều là thấy.
Tùy duyên thường bất biến.
5) Gạn hỏi: Mặt
trăng có thể tùy thuận, tức là cái được
thấy (sở kiến). Thấy là năng kiến (cái có thể
thấy), chính là cái được tùy thuộc[34],
gọi là bất nhị ư?
Giải: Đấy chẳng
phải là bất nhị! Cần phải biết mặt
trăng chẳng ở trên bầu trời, cái Thấy chẳng
ở nơi mắt. Trăng ở trên bầu trời, cái
Thấy ở nơi mắt, hai vật cách
xa, v́ sao thành “thấy” cho được?
Hơn nữa, mặt trăng chẳng đến mắt,
mắt chẳng đến trời. Trăng đến mắt
th́ bầu trời chẳng có mặt trăng. Cái Thấy
đến trời th́ mắt sẽ chẳng thấy. Mắt
chẳng thấy th́ chẳng phải mặt trăng bèn thấy
cái ǵ? Chẳng phải thấy mặt trăng nào? Nếu mặt
trăng là cái Thấy, sao lại gọi là mặt trăng?
Nếu mặt trăng chẳng phải là cái Thấy,
sao gọi là thấy mặt trăng? Nếu cái Thấy là mặt
trăng, lại như thế nào gọi là Thấy? Nếu
cái Thấy chẳng phải là mặt trăng, sao gọi là
thấy mặt trăng? Từ đó thấu hiểu, mới
biết Năng và Sở chẳng hai. Tánh bất nhị
chính là bất biến. Mê th́ gọi là hai, ngộ bèn biết
chẳng hai, gọi chung là “tùy duyên”. Một tánh mà tùy theo mê
hay ngộ, bèn có hai duyên. Mê hay ngộ nói chung đều là một
tánh chẳng thay đổi!
10. Thư
* Thư gởi mẹ
Ngày
Ba tháng Giêng năm Giáp Tư (1624), con trai phương ngoại[35]
là Trí Húc, cung
kính đốt hương trên cánh tay, trích
máu nơi chót lưỡi, kính bạch dưới gối của
mẫu thân đại nhân. Con trai thuở bé được
dạy bảo trong gia đ́nh, hơi khôn lớn bèn tự lấy
đạo học (Tống Nho) làm trách nhiệm, chẳng biết
“cha
nên chôn, mẹ nên phụng dưỡng”,
chỉ v́ một chuyện sanh tử ai nấy đều
có, suy nghĩ sâu xa trong đêm thanh tĩnh,
thật đáng sợ hăi! Như cậu Hai đang làm quan hiển
hách bỗng qua đời, cháu Ngu chưa tới tuổi
thành niên, đang khỏe mạnh mà mất sớm. Thân mạng
vô thường như sương buổi sớm, đại
nạn xảy tới th́ già, trẻ đều chẳng trốn
được. Biển khổ mênh mông, ai có thể tránh khỏi?
Nghĩ đến tự thân, đă cảm thấy chua xót,
chạnh tưởng cha mất, mẹ già, tâm t́nh bội phần
thương cảm. Thân thể của người
thân đă là như vậy, chúng sanh nào có khác ǵ? Nếu chẳng
sớm tính phương xuất thế, chỉ sợ hối
hận chẳng kịp.
Con nhớ lúc hai
mươi mốt tuổi, đến hỏi thầy chiêm
tinh tuổi thọ của mẹ, nói lúc sáu mươi hai hoặc
sáu mươi ba, ắt sẽ đến kỳ hạn. Con
bèn đối trước Phật, lập thệ nguyện
sâu xa: Chỉ nguyện giảm tuổi thọ của con, bạc
bẽo công danh của con, ắt mong mẹ đạt tới
thượng thọ. Nay đă thiết tha nghĩ ĺa dục,
nếu manh nha một niệm đối đăi, há là ư niệm
cầu tăng thọ cho mẹ! Con lại sao có thể
đảm bảo chẳng chết yểu ư? Chuyện
sanh nở vốn là cái gốc khổ của thế gian, huống
hồ công danh đều có định số. Dẫu thanh
vân đắc chí, khó chống lại sanh tử! Cậu Hai
chính là tấm gương rành rành. Sao bằng ḷng hiếu của
Địa Tạng đại sĩ, tôn giả Mục Liên,
ân cha mẹ bao kiếp đều được độ
thoát?
Con tuổi thiếu
niên bêu riếu Đại Sĩ, nhờ mẹ thống thiết
kềm cặp, nay được sửa lỗi theo thiện,
dốc chí xuất thế, sợ mẹ t́nh thương yêu
khó cắt, chẳng thể không cứng ḷng chắc dạ,
ngầm hành phương tiện. Lại sợ mẹ ngày
đêm thương nhớ, nên con đối trước
Tam Bảo đốt hương, trích huyết, từ xa gởi
thư dâng mẹ, ngưỡng mong mẹ chớ bận
ḷng, chỉ nỗ lực niệm Phật, cầu thoát luân
hồi, đối với những thân thuộc có thể
khuyên bảo, đều nên dùng ư chỉ này để chỉ
dạy họ.
* Gởi vị thầy
thế
độ là ngài Tuyết Lănh
Từ
biệt thầy bỗng chốc đă ba năm, tự xét
con chẳng ra ǵ, chẳng thể báo ân thầy. Nay nhằm
cuối thời Tượng Pháp, có ba điều đáng
đau ḷng khóc lóc, ba điều đáng xót thương. Pháp
Tỳ Ni là nền tảng đầu tiên của Tam Học,
là căn bản xuất thế, Tăng Bảo nhờ vào
đó mà được lập danh, chánh pháp nhờ vào
đó mà trụ thế, nhưng hiếm có sư thừa,
nhiều điều sai lầm, khiến cho chánh pháp đọa
lạc sát đất, tăng luân đoạn tuyệt.
Đó là một điều đáng đau đớn! Giáo
pháp trong Tam Tạng là đường lối để tu
hành, là lẽ trọng yếu để xuất khổ,
[nhưng người học Phật hiện thời] chỉ
y văn hiểu nghĩa, nào biết quán tâm? Phế bỏ
chương pháp cũ của bậc tiên triết, chỉ
mong sao sướng tai, khoái
miệng nhất thời, khiến cho Thiền môn quở
trách là “dây leo, cám bă”. Đó là hai điều đau ḷng.
Hướng thượng nhất trước của Tông
Môn vốn là cách “điểm sắt thành vàng” của bậc
thượng thượng căn, nay chỉ thành lập bày
môn đ́nh. Thương lượng đạo lư nếu chẳng
đọa vào cuồng vọng vô tri, liền đọa vào
tri kiến tạp độc. Cũng có kẻ trừ bỏ
sự
lập bày, quét sạch đạo lư,
đa phần rơi vào khuôn sáo ám chứng, tu mù, luyện
đui, thật sự là đường hiểm! Diệu pháp vô
thượng hóa thành tệ bạc đến nỗi ấy.
Đó là ba điều đau ḷng.
Điều đáng
thương xót thứ nhất là [người tu] nhờ
vào Phật pháp để mưu cầu danh lợi, chẳng
có tâm thật sự v́ người khác. Hai là chỉ biết
ḿnh giỏi, chẳng biết người khác hay! Chỉ thấy
người dở, chẳng thấy ḿnh tệ, ôm chặt
điều ḿnh đạt được, hướng tới
chỗ không có Phật để xưng tôn quư, chẳng thể
buông xuống thể diện, đả phá tâm lượng
hạn cuộc, theo gót ngàn vạn người để
xuyên qua. Ba là phần lớn dối Phật, chẳng
nghĩ “tam
giới không yên”,
bảo “Tịnh Độ
chẳng cần phải sanh, Di Đà chẳng cần niệm”. Viên
Trung Lang phán
định [những kẻ suy nghĩ như thế] là “duy
tâm đọa, Viên Thật đọa”, đúng là lời
định luận xác đáng! Nhằm thời mạt vận,
chẳng có đủ đại nhẫn lực, đại
nguyện, đại trí, đại thiện xảo
phương tiện lực, chỉ ưa chuộng vá víu những
chỗ nhỏ nhặt, sao có thể đạt tới tột
bậc b́nh trị? Bác Sơn lăo sư tuy kiến xứ
chưa thấu triệt nguồn đáy, nhưng thật sự
khổ công tu luyện, kẻ học tṛ không ra ǵ này và Ngài
đạt được lợi ích lẫn nhau, nhưng nếu
chẳng uống thuốc ấy th́ đại nhẫn nguyện
trí sẽ phải đợi thưa hỏi!
* Thư dâng lên xà-lê Cổ
Đức
Từ
năm hạ trở về trước, chuyên ṛng giới
luật[36].
“Chuyên ṛng” há phải chỉ là đắp y, tŕ bát mà
thôi! Nhiệm vụ trọng yếu bậc nhất trong Luật
là thường nhất tâm, niệm chẳng lầm loạn,
tức là nương vào Tứ Niệm Xứ để
hành đạo. Tứ Niệm Xứ Huệ là tổng quan
của Phật pháp. Chẳng có Niệm Xứ Huệ, khoác
ca-sa như lá phan treo trên tượng gỗ, lễ bái
như chày giă lên cao, xuống thấp, Lục Độ vạn
hạnh đều giống như ngoại đạo khổ
hạnh, chẳng liên quan đến chân tu. Nếu
nương theo Niệm Xứ để hành đạo th́
do công đức tŕ giới, trong hiện tại có thể
đạt được Tứ Sa Môn quả, cho đến
Thập Địa trong Viên Giáo, quyết chẳng khó đạt
được. Nhiệm vụ trọng yếu thứ hai
là phải hiểu rơ cùng tột khai, giá, tŕ, phạm trong hai
trăm năm mươi giới. Nếu không, suốt
mười hai thời, chỉ mang danh tỳ-kheo suông, sẽ
kết vô lượng tội. Nói đến, nghe mà kinh hăi, nghĩ đến
vỡ gan, nếu hai điều ấy chẳng hiểu rơ,
có khác ǵ tà giới? Thói tệ đời Mạt, nếu chẳng
có người sức lớn, sẽ chẳng thể văn hồi.
Thầy con đức thịnh, danh rạng, Tăng tục
cùng khâm kính, con biết Ngài là bậc được chư
Phật phó thác vậy!
* Thư phúc đáp Mậu
Lâm luật chủ
Hai
tạng Kinh và Luận được nói bởi cả
năm loại người, [chỉ riêng] Giới kinh do
Như Lai tự nói, Đẳng Giác c̣n chẳng thể kham.
Ví như lễ nhạc, chinh phạt phát xuất từ
thiên tử.
Ngài Ca Diếp bạch chùy[37]
rằng: “Những điều do đức Phật chế
định, chẳng nên trừ bỏ. Những điều
đức Phật chẳng chế định, chớ nên
tự chế”. Đó là khuôn phép ngàn đời chẳng
đổi. Đối với lời hỏi về trường
hợp thọ giới cho từng người một, khi
đại nạn mới chấp nhận [đồng thời
truyền giới cho] ba người [cùng một lúc],
quá bốn sẽ chẳng đắc giới[38].
Không chỉ Tăng Kỳ, Căn
Bản, Tứ Phần v.v…
đều có kinh văn; hơn nữa, đắc giới
và bất đắc giới có mối quan hệ chẳng
nhỏ, dám ngại rườm rà ư?
Ba y [của người
xuất gia] chỉ dài ba khủy tay[39],
rộng năm khủy tay, vượt quá th́ mỗi bước
sẽ kết thành Đẳng Lưu Tội. Nếu [kích
thước] bằng với y của Phật, sẽ kết
tội thuộc thiên thứ ba [trong ngũ thiên tụ của
Cụ Túc Giới]. Nay [y của tăng sĩ tại Trung
Hoa] theo chiều dọc là ba [khủy tay], chiều ngang là
sáu [khủy tay], đến cánh tay trái [th́ y ca-sa] được
xếp thành ba tầng, lại tự chẳng liên quan đến
y Ca Hy Na[40].
Công Đức Y gồm năm điều mười ô[41],
thọ hay xả đều có lúc nhất định, há chỉ
nên tŕ y này, coi vĩnh viễn là tam y? Giới “ăn
phi thời”
vốn chẳng cho phép khai, nay nói “bảy
loại được coi là chẳng ăn quá ngọ”
hoàn toàn chẳng có xuất xứ!
Trong Luật có tám loại,
mười loại cho phép khai, tức là triển chuyển
thực, biệt chúng thực, và bất tác dư thực
pháp[42]
để ăn, đều thuộc vào trước ngọ,
há có phải là phi thời ư? Lúc mang ư tưởng ăn
phi thời, vẫn bị kết tội Đột Cát La[43].
Để uống thuốc sau khi đă bị ói, chỉ
được phép dùng lúa mạch đem nấu, sao cho hạt chẳng
nở bét, lọc lấy nước mà uống, chẳng
nghe có chuyện quyền biến cho phép. Lại ĺa y mà ngủ[44],
có kinh văn kết tội. Chẳng tŕ bát th́ năm bộ
luật[45]
chẳng chép kết tội. Lại nữa, đối với
da thuộc, y phục vật dụng bằng lông thú, các kinh
khác đă phân loại, nói tường tận, chẳng phải
là phá giới, có thể nói là chẳng phải chuyện to
tát. Nhưng quá ngọ mà ăn, rành rành kết tội trong
thiên thứ ba [giới tỳ-kheo] chưa thể gọi là
chuyện vặt vănh được. Vượt biển
đeo phao, chẳng bỏ phao chừng bằng hạt cải,
huống hồ thiên thứ ba ví như bàn tay, có thể coi
là nhỏ nhoi ư?
Lại nữa, sách
Ngũ Bách Vấn hoàn toàn tương phản với hơn
năm trăm quyển Luật Tạng. Sử dụng sách
Ngũ Bách Vấn, ắt phế trừ năm trăm quyển
[Luật Tạng]. Tuân theo năm trăm quyển, chẳng
thể không dùng Ngũ Bách Vấn. Nếu bảo là do đức
Phật nói, chẳng thể bàn luận, th́ các thứ
như Thọ Sanh, Huyết Bồn, Cao Vương v.v…
cũng chẳng xưng là do Phật nói ư? Luật học
sai lệch, đă chẳng phải là chuyện một ngày.
Tuyên Công (Khổng Tử), Á Thánh (Mạnh Tử) bị Hoài
Tố[46]
chê bai, bậc đại hiền Nghĩa Tịnh bị
sách Phiên Dịch Danh Nghĩa[47]
chê gièm, bài bác. V́ thế biết: Từ Như Lai trở xuống,
bậc Đẳng Giác c̣n chưa thể xưng là Nhất
Thiết Trí, thế tục chẳng thích hợp nghe khuôn
phép của tỳ-kheo. Một đằng xuất phát từ
Căn Bản Tát Bà Đa Bộ (Thuyết Nhất Thiết
Hữu Bộ), một đằng xuất phát từ lời tựa của Giới
Nhân Duyên Kinh. Trần thuật căn bản của Nhân Duyên
Bộ, là vào thời Ca Diếp Phật, kẻ ngoại
đạo toan phá pháp, giả vờ theo tỳ-kheo học.
Tỳ-kheo bảo thế tục được nghe kinh luận,
c̣n Tỳ Nại Da giáo th́ thế tục chẳng thích hợp
để nghe. Ngoại đạo bèn quyền biến xuất
gia học tập, sau đó phá hoại. Nếu thế tục
chẳng thích hợp nghe, th́ nửa tháng tụng giới, tức
là Tam Tạng đều cùng tồn tại, tự có thể
mở xem, há đợi xuất gia mới học? Nếu
nói là xuất phát từ Tát Bà Đa Bộ, chẳng xuất
phát từ Tăng Kỳ, th́ sách Ngũ Bách Vấn há chẳng
phát xuất từ Tăng Kỳ Bộ ư?
* Thư trả lời
Chí Long
Chẳng
kiêng bệnh, chẳng kỵ chữa trị, đúng là hoa
Ưu Đàm thời Mạt Pháp. Đă tự biết bệnh,
lại biết bệnh của thói tục. Dũng mănh tự
chữa, lại c̣n chữa trị người khác; đó
chính là chân thật tu hành. Nếu không, biết bệnh mà chẳng
chữa bệnh, gốc
bệnh ở ngay tại đó. Người ắt có
phương cách siêu quần bạt tục th́ mới có thể
thoát ĺa bẫy rập sanh tử. Ái kiến trong đời
người nếu có chút chưa quên, th́ vô thượng bạch
pháp trông mong như thế nào đây? Tử Bách đại
sư nói: “Những ǵ có nơi t́nh, ắt chẳng có
nơi Lư. Những ǵ có nơi Lư, ắt chẳng có nơi t́nh”. Cổ
nhân nói: “Biết một thước chẳng bằng hành
một tấc!” Đóng chặt cửa xem lời nói của
bậc tôn túc để tự cảnh tỉnh khó chống
lại hiện cảnh đă quen biết. Nếu giữ
theo lối cũ, có thể chắc chắn tiến bước
trên con đường ấy, há kế sách năm
mươi ba lần tham học [của Thiện Tài đồng
tử] là vụng về, mà tam đăng cửu thượng[48]
cũng là phí công ư?
* Thư trả lời
sư bá Bác Sơn Vô Dị
Giới bổn Phạm
Vơng là pháp Bồ Tát riêng trong Biệt Giáo và Viên Giáo thuộc
giới ngoại, hàng xuất gia Bồ Tát thuộc Tạng
Giáo và Thông Giáo trong giới nội (trong tam giới) không có
giới pháp riêng, cùng vâng giữ luật nghi tỳ-kheo, chỉ
phát tâm tự độ liền gọi là Nhị Thừa,
phát tâm độ người khác th́ gọi là Bồ Tát.
Nhưng trong giới nội, chẳng được bỏ
bổn vị mà mong mỏi suông giới ngoại (vượt
ngoài tam giới). Bậc đại sĩ thuộc giới
ngoại ắt cần phải vâng giữ Quyền
pháp để qua lại trong tam giới. Do đó, Bồ Tát
tỳ-kheo khác xa Bồ Tát tại gia nam nữ. Thời gần
đây đều nói “những điều được
chế định trong Tiểu Thừa, Đại Thừa
đều khai; những điều tỳ-kheo phải ǵn
giữ, Bồ Tát đều chẳng màng”, đều thuộc
loại đồn đại, hoàn toàn chẳng có thật
nghĩa!
* Hai lá thư trả lời
Thủy Lâm
1)
Đă gặp sự duyên, lại sanh ḷng chán khổ, chẳng
tránh khỏi thêm một tầng công án. Chẳng dính dáng
đến chuyện trọng yếu, lại càng thêm u uất,
phẫn nộ. Đấy lại là tầng công án thứ
ba. Muốn bỏ điều ấy để chuyên niệm
Di Đà, đó là bốn tầng công án. Đă nói “chuyện
đă qua không tính nữa”, lại muốn xua tan nỗi nghi.
Đó là năm tầng công án. Công án càng nhiều, cách biệt
pháp tướng càng
xa. Duy Thức Luận viết: “Hết thảy chỉ có
thức, có đủ loại tướng chuyển đều
nương vào thức mà biến. Nếu do thức biến,
chẳng nên là tự thức áp bức, làm khổ tự thức”.
Kinh dạy: “A Di Đà Phật thị pháp giới thân”
(A Di Đà Phật là thân pháp giới), vậy th́ sự duyên
chẳng phải chuyện trong thân Di Đà ư? Từ ngay
vị Di Đà ấy và vị Di Đà được niệm
ấy, há chẳng phải là từ trong thân Di Đà mà ôm giữ
một đằng, xả một đằng ư? Xả
th́ chắc chắn chẳng thể xả, ôm giữ th́ quyết
chẳng thể ôm giữ. Hướng đến chỗ
chẳng thể ôm giữ hay bỏ đi ấy để
lănh hội th́ sẽ như mặt trời rực rỡ giữa
không trung, sương mù nghi hoặc tiêu tan.
2) Toàn
thân buông xuống, trống lổng, sạch
trơn, tương tự th́ cố nhiên là tương tự,
nhưng phải th́ chẳng phải. Ly Sanh Hỷ Lạc
chính là toàn thân buông xuống trong Sơ Thiền. Định
Sanh Hỷ Lạc là toàn thân buông xuống
trong Nhị Thiền. Xả niệm thanh tịnh chính là toàn
thân buông xuống nơi Tứ Thiền. Tâm và tâm sở bất
hằng hành diệt, tức là toàn thân buông xuống của
vô tưởng ngoại đạo. Tâm và tâm sở hằng
hành diệt chính là toàn thân buông xuống của Diệt Tận
Định thánh nhân, nhưng so với Đại Định
của Na Già (Phật), vẫn chẳng khác
lửa đom đóm so với ánh sáng mặt trời! Cái tâm
mong mỏi của túc hạ sẽ ở trong cảnh nào? Nếu
cũng may mắn mà bị vọng tưởng, suy nghĩ
tán loạn ngăn chướng, sẽ khiến cho chẳng
sụp hầm rơi hào. Nếu cứ thẳng thừng mà
tiến, sợ rằng chư Phật cũng chẳng thể
cứu nổi! Chuyện này chẳng thể do một lời
mà có thể nói hết được! Hễ có thể rỗng
rang tâm ư, sẽ chẳng ngại có phần nào thương
lượng được!
* Thư
gởi Liễu Nhân
Tuổi
chưa trưởng thành, thói đời đố kỵ,
chớ nên dễ dăi hành cước. Thường thường
là do hảo tâm mà hành cước, người cao sẽ bị
thoái thất đạo tâm, kẻ thấp sẽ bị
đồng hóa cùng thế tục. Chẳng phải là trí huệ
to lớn, sức mạnh mẽ, hiếm ai có thể xuất
loại bạt tụy! Kinh
Viên Giác nói: “Nhất thiết chúng sanh thân tâm giai thị vô
minh. Dục cầu trí huệ, tu thân thiện hữu” (Hết
thảy chúng sanh thân tâm đều là vô minh. Muốn cầu
trí huệ, cần phải thân cận bạn lành). Nhưng
cầu bạn lành trong đời Mạt cũng rất khó
nói! Có một vài kẻ lắm hạnh môn, nhưng trí nhăn tối
tăm. Có một ít kẻ có lắm học thức, nhưng hạnh nghiệp hoang phế.
Trong số đó, bỏ khuyết, chọn ưu, chính ḿnh cần phải
có con mắt chánh đáng. Nếu không, sẽ chẳng khỏi
mù mờ vậy!
* Thư gởi Tào
Nguyên (ba lá thư)
1)
Đối với cái gọi là “thẳng thừng gánh
vác”, cần phải đặt ḿnh vào vị trí của
thánh hiền ngàn đời. Kẻ chẳng ra ǵ này là hạng
người theo sóng đuổi sóng! Lời
lẽ và hành vi tương ứng, cái tâm và h́nh tích phù hợp
th́ mới từ đầu đến cuối chẳng hai,
tối và sáng chẳng gián đoạn. Ngài Hám Sơn nói: “Học
đạo th́ điều thứ nhất là phải có tánh
cách cương quyết. Kế đó là hiểu biết,
tâm lượng rộng răi. Kế đó là tâm sanh tử tha
thiết. Cương quyết th́ sẽ chẳng bị t́nh
kiến, ham muốn che lấp. Hiểu biết, tâm lượng
to th́ sẽ chẳng bị xoay chuyển bởi những
cái trước mắt. Tâm v́ sanh tử tha thiết sẽ
chẳng xuôi theo tập khí” tức là như thiền
sư Linh Nguyên nói “khiến cho những điều khó
khăn trong thế tục thành dễ dàng, hoăn đăi những
thứ cấp bách trong cơi đời”. Đó là thuốc
tốt lành bậc nhất, mong hăy đúng thời uống
vào, đừng sợ đắng miệng, khiến cho bệnh
trầm kha tích tụ bao kiếp trọn chẳng được
chữa trị.
Sách Thức Luận
của pháp sư Tân (thiền sư Tân Y)
là có nỗi khổ tâm riêng, mong hăy lắng ḷng nghiền ngẫm
lănh hội chỗ hay khéo trong ấy, có
thể trừ bỏ tập khí hư vọng th́ sẽ là
sâu mầu. Nếu cái tâm quyết định mong giữ lấy công lao, có khác
ǵ nông phu trông ngóng mùa Thu [để sớm thu hoạch nông sản],
dẫu chia chẻ nghĩa lư [chi ly] như tơ tằm,
lông ḅ, chỉ là thô thiển mà thôi! Người chẳng hiểu
ư này, đa phần mắc tiếng chê cười “đếm
của báu”, mong hăy tự nỗ lực.
2) Đối với lời
khen đăi bôi, quân tử chẳng ưa thích. Đối với
lời chê trách để mong được toàn vẹn,
người thông đạt chẳng chối từ. Tự
xét ḿnh có điều đáng thẹn, chẳng oán trách
người khác. Tự xét ḿnh không lầm lỗi, nào ngại
kẻ khác lắm lời! Dùng đó để đối
trị cái tâm, chẳng luận xưa kia
hay hiện thời.
3) Người có chí chẳng
khó, khó ở chỗ có ḷng nhẫn. Sự chẳng khó xem xét, khó ở chỗ có
ḷng bao dung. V́ thế nói: “Hữu dung đức năi đại,
hữu nhẫn năi hữu tế” (Có ḷng bao dung, đức
bèn lớn. Có ḷng nhẫn, bèn có thành tựu).
* Thư trả lời
Tào Nguyên (hai lá thư)
1)
Sám hối ân cần, cảm Phật quang hiện ra, tuy chỉ
hai tấc, cũng là điềm báo đắc giới. Kế
đó, mắc bệnh nhẹ, là do túc tập (夙習, tập
khí từ đời trước) xen lẫn, cũng như
do trước kia bụng miệng phạm giới mà ra.
Nhưng một bộ Pháp Hoa, Đại Bi Sám hai thời vẫn
rốt cuộc chẳng thay đổi th́ là bậc trượng
phu dũng mănh vậy.
2) Viên Giáo kể từ
Danh Tự sơ tâm liền dùng Phật tri Phật kiến
để tu hành. Bậc hào kiệt trượng phu trọn
đủ hết thảy vô minh phiền năo, riêng hướng
đến chỗ băng nhọn, mũi kiếm để
đi. Chẳng do băng nhọn, mũi kiếm, sẽ chẳng
thể đúc vô minh phiền năo thành Bồ Đề Bát Nhă
được! Trời trao trách nhiệm to lớn, ắt
trước hết phải đối với khổ sở,
nhọc nhằn vẫn chẳng loạn, khiến cho tâm
tánh nhẫn nại. Sắt cứng chẳng luyện, sẽ
chẳng thành thép. Ngọc đẹp chẳng mài giũa, sẽ
chẳng óng mượt. Tùng, bách chẳng trải qua lúc rét
buốt, sẽ chẳng nẩy nở xanh tươi. Cô thần,
nghiệt tử chẳng trải qua hun đúc khắc nghiệt,
sẽ chẳng hiển đạt. Há có kẻ nào sẵn tập
khí cơm cháo, h́nh thái êm ả, thảnh thơi, mà có thể
nghiễm nhiên đạt được tiến bộ
nơi đạo này ư? Cảnh duyên nhỏ nhoi sẽ trở
thành sự chướng, do thường ngày chẳng có mảy
may chỗ nào khế hợp ư xứ cả!
Nếu thông đạt
diệu lư, th́ chuyện trái nghịch cực ác hiện tiền
sẽ là huyền diệu bậc nhất, sẽ là thầy
sáng, bạn lành bậc nhất. Nếu bỏ các cảnh giới
như thế, pháp nào để có thể tu được,
ngộ được, chứng đắc nhanh chóng
được ư? Huống hồ học vấn lúc
thường ngày phần lớn chú trọng nơi ngôn ngữ,
văn tự, chẳng hướng đến chỗ thấu
hiểu nghĩa lư và tận lực hành để khảo
nghiệm. Chuyển được chỗ ách yếu này th́
mới là cái nhân của Đại Thừa Tịnh Độ
vậy!
* Thư gởi huynh
Bích Như
Biết
[chính ḿnh] vô duyên với tham cứu, liền hướng về
chỗ hữu duyên để tiến nhập. Trở về
nguồn chẳng hai, phương tiện có nhiều cửa!
Phương cách thực hiện bất đồng, về
đến nhà là một! Đều là pháp môn của Phật,
Tổ, có ǵ là tiến, thoái, hơn, kém? Có thể lấy, bỏ,
yêu, ghét, há cứ khăng khăng đổi lấy một
cái danh hăo là trượng phu ư? Huynh thuộc pháp hệ
Vân Thê, từng phụng sự ngài U Khê. Ngài Vân Thê th́ Giáo, Luật
kiêm tu, ngài U Khê th́ Giáo và Quán cùng nêu, đều là cầu, bến,
há chẳng phải là trực chỉ ư? Chỉ v́ tâm mọi
người chẳng thấu hiểu, cho nên nguyện chẳng
to tát!
Sanh về Tây
Phương th́ quư nơi đại Bồ Đề tâm bảo.
Nếu tâm bảo tồn tại, dẫu mang theo Hoặc, vẫn
có thể văng sanh. Nếu mê tâm bảo, tham Thiền đă sớm
thành hai đằng. Nếu xoay chuyển được chỗ
then chốt ấy, chân thật chẳng lừa dối, sẽ
đúng là khéo chân thật tham ngộ. Nếu chẳng xoay
chuyển được, bị tập khí cũ vùi lấp,
ắt cần phải nương theo Giáo và Luật để
đại khai huệ nhăn, luyện thành cốt khí cứng
cỏi th́ mới tương ứng. Xin hăy gấp chú ư.
Lại nữa, căn
bệnh của Thiền nhân đời mạt là to gan,
căn bệnh của lăo huynh là nhát gan. To gan th́ sẽ phóng
túng chẳng kiêng dè, hướng thẳng về Nê Lê (địa ngục).
Gan bé ắt ngại trước lo sau, chẳng được
tự tại. Thiện, ác tuy khác biệt, chẳng thể
đánh đồng nhất loạt được! Muốn
thấu triệt cái Thể thanh lương, hăy đem toàn
thể t́nh kiến “định,
tán, tịnh, uế”
buông xuống th́ mới được!
* Thư gửi huynh Quy
Nhất
Chim
ắt phải học bay, sau đó lông vũ mọc đầy
đủ. Thuyền ắt phải học chèo, sau đó mới
vượt sông ng̣i. Tùng, bách ắt phải trải qua tiết
Đông, sau đó mới vững vàng, kiên cố. Hành nhân ắt
phải lấy Phật, Tổ làm điều mong mỏi của
chính ḿnh, sau đó sẽ thành Phật, thành Tổ. Nếu
dùng cái nhân ngờ vực như cáo, lấp ló như chuột,
để mong cầu cái quả “bước đi như
sư tử, ngoái nh́n như voi”, sợ là chẳng thể
được! Phát đại Bồ Đề tâm, khiến
cho bi trí cân bằng th́ mới được!
* Thư gửi Oánh
Nhiên
Hào
kiệt lập thân, quyết lấy phá ngă chấp và pháp chấp
làm chuẩn đích. Ngă chấp chẳng phá, chắc chắn
chẳng thể làm bậc chí nhân ngàn đời được.
Pháp chấp chẳng phá, chắc chắn chẳng thể hoằng
dương chánh pháp của Như Lai,
tài năng, khí phách lừng lẫy một đời
được. Cần phải mở
nhăn giới ngàn đời, thành tựu học thức ngàn
đời, th́ mới chẳng phụ linh tánh của chính
ḿnh. Nếu không, chỉ giống như cỏ mùa Xuân
tươi tốt, rốt cuộc chẳng thể cứng
cỏi như tùng, bách.
* Thư gửi Bất
Vong
Nhiệm
vụ trọng yếu bậc nhất của người
học là phải quyết trừ tập khí. Quả thật
là dùng pháp viên đốn để trừ sạch tập
khí cũ. Gió mạnh thổi cát, quả thật chẳng
gian nan, hiểm trở. Nếu tập nhiễm chẳng trừ,
đàm huyền thuyết diệu sẽ là hữu danh vô thật.
Sợ rằng đạo của ngài Thiên Thai, Kinh Khê chẳng
phải là như vậy! Thuốc đắng giă tật, những
người có bệnh đều cùng kham uống, đừng
để huệ mạng của Như Lai chết yểu
nhé!
* Thư gởi Nhiếp
Tam
Thường
thấy nhiều người có đủ loại chướng
nạn đối với chuyện thù thắng, như tục
lụy, bệnh khổ, cha mẹ, trưởng bối, quyến
thuộc, vô lượng ràng buộc gây trở ngại, cắt
đứt duyên lành, phí uổng ḷng tin tưởng, ngưỡng
mộ, hoài băo tốt lành chẳng được thỏa.
Nhưng người không có chướng nạn, ngược
lại ḷng tín mộ hời hợt, cạn cợt, quần
áo xộc xệch, tay dơ cầm kinh, giống hệt
như gă học tṛ bần hàn đối với cử nghiệp.
Lại c̣n chỉ nhớ danh ngôn, chuyên thích bám sát từng
câu, hiểu nghĩa theo mặt chữ; cam
tâm khiến cho tam thế chư Phật
bị oan uổng. Móc lợi,
mua danh, vĩnh viễn trái nghịch đạo xuất yếu
Nhất Thừa, không chỉ là đă tới núi báu mà quay về
tay không. Đúng là “sợ khó mặc ca-sa lần nữa,
nhân duyên tốt thành nhân duyên ác” chính là nói về điều
này!
Như Lai thuyết
giáo, chư tổ hoằng kinh, đều nhằm mở mắt
cho chúng sanh, làm cầu bến trong thuở kiếp trược.
Chẳng chú trọng hướng vào đó, sẽ là tu mù,
luyện đui. Nay muốn chẳng phạm tập khí ác của
đời Mạt, chẳng phụ cái nhân cũ và duyên trong
hiện tại, th́:
-
Một là cần phải tin cảnh
giới của chư Phật, mỗi người chúng ta
ai nấy đều sẵn có, vốn chẳng sai biệt,
chẳng sanh lui sụt, khiếp nhược.
-
Hai là phải ngưỡng vọng
chư Phật. Hăy hổ thẹn chính ḿnh có linh tánh, câu nào
cũng đều quy về chính ḿnh. Chớ nên kể chuyện
ăn, đếm của báu!
-
Ba là phải trống ḷng, ưa chuộng
điều thiện. Hễ ai hay hơn ta đôi chút, sẽ
đều là thầy bạn.
-
Bốn là phải nên bi mẫn hết
thảy. Phàm những ai có thể đem ư này để
răn nhắc họ, bèn chẳng tiếc sức rát miệng.
-
Năm là khoan dung với người
khác, nghiêm khắc với chính ḿnh. Phàm đối với những
kẻ chẳng đúng pháp, đều nên sanh ḷng
thương xót, chớ thấy lỗi của họ. Những
người học trong thời gần đây, hễ thấy
người khác buông lung, mà ḿnh chẳng xuôi theo họ, bèn
sanh ḷng kiêu mạn. Đó đều là tăng trưởng
sanh tử, đáng sợ thay!
* Thư gửi huynh
Như Thị
Huynh
đoạn dục, trừ ái, cố nhiên là phải có
phương cách gay gắt, nhưng điều thân, bảo
vệ chúng sanh th́ vẫn c̣n thiếu phương tiện.
Hướng vào trong, hăy mở rộng hoài băo để
dưỡng thần; ngoài th́ suy xét thấu hiểu t́nh
đời để tiếc phước. Căn bệnh ấy
chưa chắc đă chẳng phải là
duyên nhị lợi.
* Thư gửi Trần
Mân Chiêu (hai lá thư)
1)
Tháng Tám, sư Tinh Cốc quy Tây. Tháng Chín, sư Bích Như từ
trần. Trong một tháng, mất đi hai bạn thâm giao,
đều là bậc rường cột trong pháp môn. Đau
ḷng thay! Tôi thường nghĩ đại sự nhân duyên,
nếu chẳng phải là Định Huệ trang nghiêm, bi
trí cùng vận dụng, quả thật khó thể thỏa
đáng trong một đời được! Thầy Tinh
Cốc huệ lực có thừa, nhưng Định lực
không đủ. Thầy Bích Như Định Huệ cân bằng,
nhưng bi nguyện chưa sâu, đều chẳng tránh khỏi
thiếu sót công án. Nh́n vào những người cùng mặc
áo thâm, hiếm có ai tâm v́ sanh tử, huống hồ Bồ
Đề tâm! Trời, người giảm
bớt, tam ác ngập tràn, sao có cùng cực? Ṭa nhà lớn sắp
nghiêng, một cột khó chống đỡ. Chỉ có
người nhất định có thể thắng trời,
thề sẽ xoay chuyển sự khó khăn trong thế tục,
làm chậm lại sự gấp gáp trong thói đời, vứt
bỏ danh lợi, tuyệt trừ ồn náo, ǵn giữ thâm
tâm. Phải dùng hoằng nguyện để vận dụng
sức lâu bền, bất biến, ngơ hầu chẳng thẹn
với người bảo bọc đứa con côi[49].
Nguyện cư sĩ đoạn trừ cái tâm dính dáng tràn
lan, giảm bớt những chuyện chẳng cần gấp,
dốc chí suy nghĩ những điều gần gũi, tự
đạt được bản lănh sâu xa để mong
cùng báo ân Phật, chẳng dùng gươm báu chém bùn, chẳng lấy
bảo châu bắn sẻ. Đấy chính ḷng thành thiết tha của
kẻ hèn này!
2) Một hạt cải
che trời, một hạt bụi phủ đất, chữ
qua ba lần chép, chữ Ô (烏) biến thành chữ Yên (焉), Phật pháp bị
suy hao, do đấy mà dần dần xảy ra, chẳng phải
là thiên ma và ngoại đạo có thể phá được!
Phá hoại cơ nghiệp nhà Châu là do Tề
Hoàn Công, Tấn Văn Công. Đạo b́nh trị cơi đời
biện định nghiêm ngặt vương đạo và
bá đạo[50].
Bận ḷng chia thành hai cái ải nghĩa và lợi, thấy,
nghe, nói năng, cư xử chẳng giữ lễ chân thật;
vậy th́ cái hạnh để khắc trừ oán, dục
sao có thể đạt được? Tôi dốc chí mong ẩn
cư, nhân định thắng thiên. Đây thật sự
là mỗi chữ đều là huyết lệ!
* Thư gửi Hàn Liên
Châu
Bà
Vi Đề Hy do con trai ác nghịch mà dấy
lên tịnh nghiệp chánh nhân, Khánh Hỷ (A Nan) dùng nhiễm
duyên[51]
để dẫn
khởi kinh Lăng Nghiêm. Ác nhân duyên là hảo nhân duyên, sẽ
chuyển họa thành phước
là do mỗi người chú ư. Nếu thuận
theo Biến Kế phân biệt, trên tuyết lại thêm
sương, oán kết có thuở nào xong! Nếu thông đạt
nhân quả bao kiếp lâu xa,
oán thân trong hiện tại đều chẳng phải do trời
giáng xuống, đất nẩy
ra. Dùng cái tâm từ bi, nhẫn nại để điều
đ́nh, giải thích, dùng cái nh́n “[mọi pháp hữu vi đều
như] mộng huyễn” để tiêu trừ những t́nh
kiến vướng mắc, chưa chắc [những mối
quan hệ ấy] không phải là một phương tiện
giúp chính ḿnh rèn tâm luyện
tánh, tỏ lộ chân thường. Tục ngữ có câu: “Ngă
như thế nào th́ phải học đứng lên từ
đó, đèn chẳng xén bấc sẽ chẳng sáng, chuông
không gơ chẳng kêu, đá nơi núi khác có thể dùng để
mài ngọc”. Bùn lầy sanh hoa sen, thần kỳ xuất
hiện từ thối nát. Cảnh tượng nơi bổn
địa của chúng ta chôn giấu kín đáo, căn môn ẩn
núp, không lúc nào chẳng thôi thúc toan hiện, hơi nhờ
vào ngoại duyên vừa tác động, sẽ nứt toác mà
tỏa rạng. Nếu chẳng
chịu hướng theo đấy để lănh hội,
Phật giới liền thành ma giới, như sương,
tuyết, băng lạnh, tùng, bách càng thêm tươi tốt,
các cỏ cây khác đều bay màu. Lỗi ở chính ḿnh, chẳng
tại cảnh. Hơn nữa, nhân giả tuy bỏ tỳ-kheo
và Sa Di Luật Nghi, nhưng Đại Sĩ Mộc Xoa (Bồ
Tát giới) cố nhiên nên ǵn giữ, nương vào Bồ
Đề giới quang ấy th́ mới có thể chịu
đựng được sự khinh mạn, tiêu nạn.
Nói kiểu này tợ hồ viễn vông, nhưng sự thật
là như thế đó. Mong hăy suy nghĩ cặn kẽ, tận
lực mà hành.
* Thư gửi Tu Nhă
Pháp Chủ
Vân
Thê đại sư nói: “Cổ nhân trước tác phần
nhiều vào lúc tuổi già. Ấy là v́ đạo rộng
không bờ bến, gặp người bất tận. Các vị
tạo sớ luận đời trước dốc cạn
tinh thần một đời, thông thạo rộng răi học
vấn trong ngoài, mới có được một hai tác phẩm
lưu truyền cho đời, vẫn chẳng tránh khỏi
bị hậu hiền chê bai, bài bác”. Huống hồ
rơm rạ nơi tai miệng nhất thời mà muốn
lưu truyền trong nhân gian ư? Cần phải thấy
đến nơi, dưỡng đến chốn, do an
cư, vốn liếng sâu dày lưu xuất, ắt sẽ rạng
trời, rực đất, ngời xưa, ḷa nay, chẳng phải là ở ngoài bổn
phận! Tỳ Ni càng chẳng dễ do mấy
lời, vài chữ mà trước
tác. Ví như lễ nhạc, chinh phạt từ thiên tử
lưu xuất; nếu có chút nào tiếm đoạt, lén trộm,
tội ấy chẳng nhỏ. Tôi đính kèm Truyền Phật
Tâm Ấn Kư Chú[52]
để tŕnh lên ông xem, ông này (người soạn tác phẩm
ấy) học vấn lẫn hiểu biết đều
phong phú, giải lẫn hạnh đều xuất sắc,
kham làm bậc tác gia trong thời gần đây. Hăy trống
ḷng nghiền ngẫm, sẽ biết chưa dễ đạt
được như vậy!
* Trả lời Tŕnh
Quư Thanh
Pháp
môn chẳng suy v́ không có ngoại hộ, mà suy v́ nội bộ
chẳng ǵn giữ. Chủ tŕ pháp môn th́ trước hết
phải nhận định phương hướng rơ
ràng, nghiêm ngặt. Sau đó, tùy thời, tùy sức mà
hưng khởi huyễn sự, đều thuộc vào Phổ
Hiền Hạnh Môn. Hễ có đôi chút dính dáng tâm danh lợi
thế gian, Phật pháp chỉ thành pháp thế gian, thật
đáng buồn sâu đậm!
* Thư trả lời
Viên Văn
Như Lai cuối cùng lấy “phù luật,
đàm thường” làm tông. Nếu phế Sự bàn Lư,
Lư trở thành chẳng có. Các vị như Trí Giả, Kinh
Khê, không vị nào chẳng giới hạnh như băng,
sương, mới kham nêu gương ngàn đời. Há có thể
dùng đồ chứa chất độc để đựng
đề hồ ư? Kẻ chẳng ra ǵ này tuy thoạt
đầu nhúng chàm nơi Tông Môn, vẫn dốc ḷng nơi
vườn giáo. Nay chẳng thể không lấy tŕ giới
làm nhiệm vụ cấp bách bậc nhất, lại thấy
những hiểu biết sai lầm về Luật học
so với Thiền và Giáo càng nhiều hơn, bèn soạn Yếu
Tập để thuận tiện dạy người chẳng
hiểu biết. Bỏ lối ṃn do cả cơi đời
đều hướng theo, noi theo đường lối
mà những kẻ có vai vế trong thời này đều chê trách, người biết nỗi khổ tâm của
tôi chỉ có Như Lai! Nhân giả giới lẫn thừa
đều gấp, sẽ được Như Lai sai khiến,
[khiến cho] pháp vận có thể văn hồi, mừng rỡ
chẳng thể ngủ được!
* Thư gửi Vạn
Uẩn Ngọc
Quư
địa thiếu khuyết Văn Huân đă lâu, hạn chế
sự thấy nghe. Nếu kiến thức hủ bại của
Tống Nho c̣n một mảy chưa sạch, sẽ chẳng
thể đàm luận Phật pháp sâu xa. Huống hồ ở
trong chướng ngại hủ bại mà toan thương
lượng Tông, Giáo chân chánh, quả thật rất ư
là khó! Thà dùng trăm ngàn đao bén chọc nát tai,
trọn chẳng nỡ nghe nói “Phật là
người do phương tiện mà
nói lời dối gạt”. Thà dùng trăm ngàn đao bén cắt phăng
cái lưỡi, trọn chẳng chịu nói “Phật
chấp nhận do phương tiện mà nói pháp dối gạt”.
Thà dùng trăm ngàn đao bén bằm nát tâm can, trọn chẳng
thể hiểu kinh Phật giống như ngụ
ngôn. Lời ấy nếu có một chữ nào chẳng xuất
phát từ chân tâm, không chỉ là chết rồi sẽ đọa
vào ngục Kéo Lưỡi, mà cái lưỡi trong hiện
đời cũng sẽ nát hoại. Hăy nên biết: Đức
Đại Thánh Tuyên Ni (Khổng Tử) nếu đem so với
đức Phật, sẽ như ngôi sao bé tí so với vầng
trăng tṛn, đốm lửa đem so với cả cánh
đồng cháy rực, sông ng̣i so với biển cả,
lănh tụ địa phương so với triều
đ́nh. Nếu chẳng thể tin lời này, sẽ là kẻ
báng Phật, chẳng thể nói là tin Phật được!
* Thư gửi
Vương Giản Tại
Bậc
quân tử thời cổ, v́ tạo lập chuyện trong thế
giới, bị một nhà chê trách c̣n chẳng đoái hoài,
cho đến cả thiên hạ chê trách, vẫn chẳng
đoái hoài. Huống hồ mưu cầu đại pháp xuất
thế là mưu kế sâu xa trải bao kiếp nhiều
như vi trần mà có thể chỉ hạn chế trong tai
miệng một thời, chiều theo t́nh người trong
thói tục ư? Cư sĩ chẳng phải là không có chí
nguyện, chỉ là c̣n thiếu sức hiểu biết, muốn
mở mang sự hiểu biết ngàn đời, ắt cần
phải xem Quy, Giới (Tam Quy, Ngũ Giới) như Thái
Sơn, xem cơi đời như lông hồng, ngơ hầu làm trụ
đá giữa ḍng. Nếu không, chẳng thể xưng là
hào kiệt được!
* Thư gửi Phan Giới
Như
Tài,
sắc, sân, mạn, thanh trược hơi khác nhau,
nhưng đều cùng là mười tập nhân (cái nhân của
tập khí), cùng cảm sáu thứ giao báo[53].
Nếu phối ứng riêng nhân quả, mạn thuộc về
Tu La, sân thuộc vào địa ngục. Càng đáng sợ
hơn là tự ưu đăi ḿnh, trách móc, tệ bạc với
người khác, ḿnh
đă có rồi mới cầu cho người khác có. Nếu
ḿnh không có, chẳng mong cho người khác có. Tuyết Lăng
đại sư nói: “Chớ nên dùng thánh hiền để
uốn nắn con người, [mà
cũng] chẳng thể buông
lung mặc t́nh”. Những lời ấy
đều là thuốc tốt lành đúng với chứng bệnh
của cư sĩ. Mong hăy luôn luôn uống [thuốc ấy],
ḥng làm bằng khoán cho Liên Bang!
* Thư gửi Hồ
Viễn Chí
V́
Thiền lâm mà t́m chủ nhân, do nguyện hoằng
dương, hộ tŕ mà tận lực thương lượng
sắp đặt, tự biết là sáng suốt. Trộm
nghĩ đối với người đảm nhiệm
vai tṛ khởi xướng[54],
chẳng bằng cử người hiền đảm nhiệm.
Có Quư Hiền lăo sư là đích tử của ngài Vân Thê, tuổi
tác lẫn đức hạnh đều cao, từ và nguyện
cùng rộng, dùng lễ cung kính nghênh thỉnh, chắc Ngài sẽ
chấp thuận. Bần nạp cùng với thầy Quy Nhất
rút thăm ở Động Đ́nh, đă hứa an cư,
Luật chẳng cho phép sửa đổi. Lại c̣n chính
ḿnh bận chuyện, động tĩnh chẳng trở ngại,
nhưng viết sách, lập ngôn, ắt cần phải có
hoàn cảnh yên tĩnh. Nạp tăng có sở trường
viết lách, nhưng ứng tiếp, thù tạc kém cỏi.
Nếu chấp thuận hay từ chối không khéo, sẽ
là ưu lẫn khuyết đều hỏng. Huống hồ
Luật học đă bị hiểu sai lạc gần một
ngàn năm, hễ trừ khử điều sai trái, uốn
nắn thói tệ, sẽ thành trái nghịch thế tục,
chỉ đành lánh ḿnh trong núi sâu, tụ họp những
người thật sự có cùng chí hướng ḥng làm kế
truyền đăng. Nếu muốn lưu hành khắp
thiên hạ, sẽ phạm vào sự húy kỵ của
đương thời, họa chẳng lường
được!
Hoằng thệ Đại
Thừa do khoan dung mà thành to lớn. Trụ tŕ Tăng Bảo
do được đề cao, tôn trọng quá cục bộ,
đă đau đớn trở thành thói tệ hữu danh vô
thực, ắt phải tuân theo phương châm “quư tinh
ṛng, chẳng quư nhiều”. Nếu sống trong một
ngôi chùa nổi
tiếng, kẻ cầu giới ắt nhiều,
hễ nghiêm khắc chọn lựa [giới tử xứng
đáng] sẽ thành đầu mối chuốc oán. Nếu dễ
dăi chấp thuận, sẽ là khởi
đầu cho hoại pháp. Tiến thoái đều lúng túng,
sao có thể kham được?
Than ôi! Hiện thời
người trong thiên hạ xưng là Đốn, xưng là
Viên, xưng là Đại Thừa, đầy ắp trong
nước. Chỉ riêng một mạch Thanh Văn không chỉ
xếp lên gác cao, mà c̣n bị xem thường như cỏ
rác! Nhớ khi xưa lúc đức Thế Tôn cầm cành hoa
giơ lên, hiện vẻ mỉm cười, thật sự
là ai vậy? Thiền sư Linh Nguyên Duy
Thanh nói: “Biến những ǵ thế
tục coi là khó khăn thành dễ dàng, làm chậm lại sự
gấp rút trong thói đời hiện thời”. Tôi tạc
dạ lời ấy đă lâu, người sầu đừng
hướng về người đang sầu mà nói. Nói với
người sầu, nỗi sầu muộn sẽ giết
người. Cư sĩ có mắt kim cang, thăm ḍ nguồn
cội biển pháp, cũng nên chấp nhận lời ấy!
* Thư gửi thầy
Kim Đài
Hỏa
dục (hộ-ma, hỏa cúng dường) trong đàn tŕ
chú, trong cách nói của Tăng và tục chẳng nhất
trí. Bởi lẽ, chú đàn (đàn tràng để tŕ chú)
thanh tịnh chẳng cho phép nữ nhân được
bước vào, cũng chẳng nên cho tăng, tục tùy tiện
bước vào. Người vào đàn phải trai giới,
tắm gội th́ mới hợp chế định. Lại
nữa, thuyết “chú tâm” do ngài Trường Thủy đề
xướng, nhưng trong lời Sớ cũng chẳng dám
xác quyết tự
cho là đúng. Đă chẳng có kinh
văn để làm căn cứ, ắt phải nên đi
nhiễu đàn một trăm lẻ tám lượt là tốt
nhất. Đàn tràng vô thượng tại Chấn Đán
(Trung Hoa) chỉ có hai nơi, được trời rồng
cùng ǵn giữ, chư Phật cùng nghĩ nhớ. Sau khi tái tạo,
mong hăy sao lục lời này!
* Thư gửi Giới
Minh
Ông
nay sáu thời tinh tấn, tôi cảm thấy vui mừng, an ủi.
Cần phải biết: Đấy là phước bậc
nhất trong thế gian, thọ dụng bậc nhất,
thiên ma, quỷ thần đều e dè. Ắt phải chiết
phục t́nh ư, dùng ba phần “cảnh chẳng
như ư”
để tự rèn luyện th́ mới là pháp khí, mới có
thể văn hồi định nghiệp. Hăy gắng lên!
* Thư trả lời
huynh Linh Ẩn
Sống
th́ cầu dốc
chí ẩn cư, chết th́ hạ hạ phẩm văng sanh;
đó là kết cục đă định của đệ.
Huynh đạo nhăn rơ ràng, chí lực dũng mănh, bén nhạy,
đời này ắt hoàn tất đạo nghiệp,
nhưng các tập khí thuộc loại cơm cháo, tập
khí thích hưởng thụ an nhàn, thô phù, hư luận, tập
khí tính trước lo sau, mỗi mỗi đều phải
thẳng thừng cắt đứt th́ mới có thể tạo
lập cương vực thánh hiền. Đấy lại
càng là những
điều mà kẻ chẳng ra ǵ này
khăng khăng biết thân, biết phận. Muôn vàn mong thầy
Cừ hăy cứng rắn làm chủ tể đối với
môn Tịnh Độ, giống như Hàn Tín lập trận
dựa lưng vào nước[55],
đừng sanh một niệm e sợ chẳng thể văng
sanh. Hết sức ghi nhớ nhé!
* Thư trả lời
Tiền Nguyên Xung
Cùng
là một pháp môn, nhưng nội hộ và ngoại hộ vận
dụng mỗi đằng một khác. Nội hộ tŕ biện
định tà chánh, chẳng thể không nghiêm ngặt. Ngoại
hộ giữ trách nhiệm kim thang[56],
chẳng thể không khoan dung, giống hệt như thợ
giỏi tách rời ngọc và đá, giống hệt như
ném chuột phải kiêng vỡ đồ. Nói chung, lấy
chuyện hoằng dương, hộ tŕ chánh pháp làm bổn
hoài, dù thay đổi địa vị vẫn đều
như thế. Chuyện nghiệp chướng chẳng ra
ngoài nhân quả. Lư nhân quả thống nhiếp mười
giới. Kinh Lăng Nghiêm lấy “bất sanh bất diệt”
làm cái gốc để tu nhân, sau đấy mới tu chứng viên
thành quả địa.
Pháp Hoa dùng Nhất Thừa nhân quả
làm tông. Quán Kinh nói “tin sâu nhân quả, chẳng báng Đại
Thừa” chính là thượng phẩm trung sanh, tức là
bên Giáo rộng dùng nhân quả làm cốt lơi đàm luận.
Thiền môn tưởng
lầm nhân quả chẳng phải là lẽ hướng
thượng, Lư và Sự đều mê, đêm dài chẳng
sáng. Không chỉ mê muội đối với ư chỉ của
Phật, mà c̣n trái nghịch Nho Tông. Kinh Dịch nói “tích thiện
dư khánh” (chất chứa điều thiện th́ niềm
vui có thừa), kinh Thư bảo “tác thiện bách tường”
(làm thiện giáng trăm điều tốt lành), há có phải
đều là cách nói dành cho kẻ ngu ư? Người nghị
luận chánh đáng chẳng mưu cầu lợi lộc,
người có ḷng nhân hiểu đạo sẽ chẳng cậy
công, đúng là cái học chân thật để tu thân lập
mạng vậy. Trọn chớ nên nói “chẳng đứng
dưới vách tường sắp nghiêng sụp”[57]
là biết mạng! Nay dùng thiện tâm dũng mănh để
văn hồi nghiệp chướng quyết định
đă tích tụ xưa kia. Như mũi tên rời khỏi
dây cung, vượn tay dài có thể bắt lấy. Vượn
trí Bồ Tát cũng giống như thế, dùng tay
phương tiện đón lấy
mũi tên định nghiệp, khiến cho nó chẳng
rơi xuống đất, cũng chẳng ghim vào thân.
Đấy chính là chân thật sám hối. Không chỉ là những
điều mong cầu trong pháp thế gian đều
được như nguyện, lại c̣n tăng trưởng
chánh tín, khai phát Bồ Đề. Do bệnh mà có được
toa thuốc tiên, không chỉ trừ bệnh mà c̣n có thể
phi thăng!
* Thư căn dặn
thầy Triệt Nhân
Tôi
hy vọng nơi ông rất cao, đừng tự ty, rất
xa, đừng tự [hạn chế ḿnh nơi ư hướng]
gần gũi, rất rộng, chớ tự hẹp ḥi, rất
lớn, chớ tự nhỏ nhoi, rất tôn quư, đừng
tự hèn, rất trọng, đừng tự khinh, rất ổn,
đừng tự hời hợt, rất miên mật, đừng
tự sơ sài, rất vi tế, đừng tự bỉ lậu,
rất diệu, chớ tự thô. Tự mong mỏi đạt
được như thánh hiền là cao. Vô số trần
kiếp tức là xa. Trọn khắp biển các cơi nước
là rộng. Siêu việt Quyền, Tiểu là lớn. Chẳng
nhiễm danh lợi là tôn quư. Chẳng khinh dễ, qua quít là
trọng. Đầu đuôi hệt như nhau là ổn. Suy
xét tinh tế, tận lực thực hiện là vi mật.
Cùng lư tận tánh là vi tế. Khai Phật tri kiến là diệu.
Than ôi! Luật Môn suy bại
th́ đại pháp cũng nguy, do chẳng trọn đủ
mười đức trên đây! Hiếm ai chống chọi
lại làn
sóng suy đồi ấy, hăy gắng lên!
Thứ nhất là cần phải nương vào Niệm Xứ
để hành đạo, tùy văn nhập quán. Hễ
đụng chuyện bèn thấu hiểu cái tâm, lấy tâm
quán làm chủ, xem Giáo làm trợ. Thứ hai là cần phải
chuyên xét lỗi ḿnh, đừng trách người khác sai
trái. Thứ ba là cần phải theo đuổi học vấn
thoát sanh tử, đừng theo đuổi học vấn
xu phụ thời thế. Thứ tư là cần phải
ḥa quang đồng trần, mong chớ khoe khoang, bày tṛ khác
lạ! Muốn xem giáo điển, hăy nên đọc trọn
các bộ Huyền Nghĩa và Thích Thiêm. Kế đó là Thập
Bất Nhị
Môn Tường Giải[58].
Kế đó là năm trăm quyển Luật Tạng và
Đại Thừa Luật năm mươi quyển. Kế
đến là sách [Ma Ha] Chỉ Quán và Phụ Hành. Kế
đến là các kinh Tiểu Thừa như kinh A Hàm v.v… Sau
đấy mới xem đến các kinh luận khác. Nếu
gấp gáp tu chứng, chỉ có Luật Tạng chẳng thể
không duyệt, những thứ khác đều tùy ư.
Vạn phần chớ
vọng tưởng xuất đầu lộ diện, chỉ
nên chân thật tu hành, sẽ giải quyết sanh tử ổn
thỏa. Đừng nên sửa đổi pháp danh của
người khác. Vị thầy Thế Độ và thầy
truyền giới, dạy giới, truyền pháp đều
có t́nh cha con [với người cầu thế độ].
Sửa pháp danh chính là khinh miệt vị thầy Thế
Độ, tổn thương lư, trái nghịch t́nh, vô đạo
hết mức! Bậc tri thức xưa nay, chẳng nghe
nói có pháp phái. Hiềm rằng đời Mạt coi đó là
thân thiết. Tôi nghe người thọ giới trước
bèn ngồi trước, người thọ giới sau bèn
ngồi sau, chẳng nghe nói người được
đặt pháp danh trước th́ là sư huynh, người
được đặt pháp danh sau là sư đệ.
Đă coi pháp phái là trọng, ắt coi giới pháp là khinh;
chú, bác, em, cháu, nghiễm nhiên chẳng khác thế tục.
Đáng thẹn, đáng nhục lắm thay! Phải nên thống
thiết răn dè!
Chẳng được
cong vạy, xu nịnh kẻ quyền quư. Cần phải
như gia phong của Đạt đại sư[59].
Nếu chẳng thể, thà chết,
chẳng xuất đầu lộ diện. Chớ nên thâu
nhận nhiều đồ chúng, nuôi nhiều sa-di, nhận
nhiều kẻ xin y chỉ. Giáo huấn chẳng chu đáo,
ắt mắc lỗi hoại pháp. Rất kỵ làm các chuyện
như biếu xén hàng bạch y v.v… Rất kỵ không biết
hổ thẹn, đến nhà người ta niệm kinh,
bái sám, dần dần trở thành ứng phó. Ngay như khi
đàn việt đến sơn môn làm phước, cần
phải dạy họ tôn trọng Phật pháp. Đừng
làm theo khuôn sáo của các tùng lâm trong hiện thời! Đối
với vật dụng của vị tỳ-kheo đă mất,
hăy nên y theo Luật chia cho hiện tiền Tăng, chớ
nên học theo thói cổ xướng[60] tệ lậu!
Những chuyện khác chẳng thể nêu trọn, đều
dùng Luật làm quy tắc chỉ đạo th́ sẽ chẳng
phạm lỗi. Chẳng nghe lời tôi th́ chẳng phải
là em tôi vậy!
* Thư trả lời
Hồ Thiện Trụ
Tự
lợi, lợi tha, cần phải biết người, biết
ta, biết thời, biết thế. Nạp tăng tôi
thường tự xét, cơi đời bảo tôi tŕ luật
bậc nhất, quả thật càng thêm hổ thẹn, sợ
hăi! Bất luận Tam Tụ hay Thập Chi, tám vạn [oai
nghi] vi tế, ngay cả hai trăm năm mươi
giới, tôi chưa hành được một phần vạn!
Lại c̣n bất luận giá tội, ngoại trừ hai
điều “uống
rượu”
và “ăn
quá Ngọ”,
các tội khác đều chưa tịnh. Kể cả bảy
chi thuộc tánh tội, chỉ có thể tránh khỏi “cố
ư giết hại”, chẳng thể ngăn ngừa phạm
lầm. Chỉ có thể chẳng lầm lạc nhân quả,
chẳng dám lấy vật thuộc Tam Bảo làm của
riêng, nhưng chưa thể “tiền để mua gạch
th́ sẽ chẳng dùng để mua ngói” như cổ nhân.
Tuy giữ thân chẳng phạm, chưa thể mộng mị
đều thanh tịnh. Chẳng nói dối, nói đôi chiều,
nhưng chẳng thể không có ác khẩu, nói thêu dệt! Ấy
là v́ đă nhiều kiếp thừa cấp giới hoăn, tập
quen thành tánh, hổ thẹn khôn cùng!
Đă lui xuống làm
Sa-di, càng chẳng có lẽ nào hoằng giới. Chuyện
thuộc tông thừa, lúc chưa xuất gia, tôi đă lưu
tâm. Khổ công tham cứu mười năm, mới hơi
biện định chân, ngụy, chẳng
dám dùng Giáo, Luật xen tạp. Đường lối Giáo
Quán cậy vào túc nhân, hơi thấy được chỗ
sâu thẳm, nhưng chẳng dám coi là chân thật, vẫn tự
ngờ, sợ sệt. Nhưng hai đường lối ấy
đều chẳng hợp thời nghi, chỉ có khổ hạnh
trong núi, thay cho hết thảy chúng sanh cầu tiêu túc nghiệp,
trừ chướng mà thôi, chẳng dám cố chấp vậy!
Chi phí đi đường vốn chẳng nên lănh, nhưng do
tiết lạnh bức bách, đổi lấy áo ấm,
cũng thấy là nhân quả chẳng rơ ràng lắm. Đó
là một mối sơ sót, hoăn đăi trong giới luật vậy!
* Thư trả lời
Trác Tả Xa
Vào
núi chẳng phải là kế ẩn ḿnh, [mà do] đau xót
nghĩ đại pháp nghiêng ngửa, suy đồi, sức
mỏng manh khó cứu, đành đợi nhân định thắng
thiên vậy! Do bị ông lầm lẫn tiến cử với
Diệp Tông Bá[61],
bảo là tôi “Tông
và Thuyết
đều thông, giải lẫn hạnh đều đạt”,
thật sự càng thêm hổ thẹn!
Do hiện thời, những người xưng là “Tông và Thuyết
đều thông, giải lẫn hạnh đều đạt” cố
nhiên chưa tránh khỏi chẳng được như vậy!
Nếu so với các bậc “Tông và
Thuyết đều thông, giải lẫn
hạnh đều đạt” thời
cổ, chẳng thể bén gót được! Mấy
năm qua,
tôi bị các đạo hữu lôi kéo,
hư danh thịnh mà thật hạnh ít ỏi, nhiều
lượt tính kế vào núi. Nay mới được toại
nguyện nửa chừng, đang muốn đă ẩn sâu lại
sâu hơn, há có thể v́ cư sĩ mà nhanh chóng thay đổi
khí tiết ư? Chỗ ông Diệp xin đem nguyên thư
hoàn lại.
* Thư trả lời
Trần Mân Chiêu (hai lá thư)
1)
Ṭa nhà lớn chẳng phải do một cột chống
đỡ. Những năm qua, chỉ có đạo hữu
nghe theo lời khuyên, nhưng tập khí của chúng sanh mỗi
người có sự thiên trọng riêng, chẳng thể
như nước và sữa ḥa hợp. Nhắc đến
chuyện ấy, huyết lệ đầm đ́a mà thôi!
Tôi thường nói “kẻ bại hoại pháp môn chính là kẻ
chống đỡ pháp môn”. Tề Hoàn Công, Tấn Văn
Công tôn nhà Châu mà đích thị là lư do khiến nhà Châu suy hoại.
Thống thiết răn dè c̣n chẳng xuể, sao nỡ giẫm
theo vết xe đổ ấy? Than ôi! Chí xuất gia thuở
đầu là mong gấp đạt được thánh quả.
Mười lăm, mười sáu năm qua, rốt cuộc
trở thành luống
uổng, thẹn trời, hổ đất, c̣n nói ǵ
được nữa? Dẫu mười lăm, mười
sáu năm hành cước, xé toạc da mặt, buông bỏ
thân mạng, chỉ đối với Phật Bồ Đề
đă biết rơ đường nẻo về nhà, nhưng
thân khô, khí lụn, tiến lên khó khăn. Muốn truyền
cho một người, đừng để Phật chủng
cuối cùng v́ tôi mà đứt đoạn, vẫn rốt
cuộc chưa gặp được ai! Than ôi! Đau ḷng
cả trong lúc ngủ nghỉ, khóc măi mà thôi!
Ông ở trong hoàn cảnh
khá khó khăn, đạo niệm càng kiên cố, tôi cảm
thấy an ủi sâu xa. Thường thấy các loại ngoại
đạo, tà mị, trí kém, nói năng thô lậu, vẫn cứ
dùng lời ngon tiếng ngọt mê hoặc khiến cho thiên
hạ hậu thế có người truyền thuật.
Đại để là riêng có một loại tinh thần
triệt để duy tŕ,
huống hồ dùng đó để tŕ chánh pháp ư? Chỉ
tự xét ḿnh, tự cổ vũ, bất tất phải cầu
ai khác. Thuyền Tử[62]
thân táng trong nước, Giáp Sơn[63]
hoằng dương rộng răi đạo ấy. Ngài Kinh
Khê dùng thân cư sĩ tham học nhiều năm, sau đấy
mới xuất gia, suốt đời không lên pháp ṭa, sách
lưu truyền muôn đời, chẳng thể ṃn diệt!
Mơ gỗ của Tuyên Thánh, Mạnh Kha khéo biện định
đều cùng loại như thế. Nguyện cư sĩ
cùng biết ư ấy, chưa đỗ Tiến Sĩ, há
đáng lo buồn?
Tâm hăy nên siêng gắng nơi đạo nghiệp, thề lấy
chuyện nối tiếp huệ mạng của Phật, Tổ
làm nhiệm vụ cấp bách.
2)
Đại pháp bước vào mùa Thu, loạn thần, tặc
tử trọn khắp thiên hạ. Gần
đây tuy hơi suy, nhưng chánh pháp bị
ṃn diệt, cảm thấy nguyên khí khá khó bề khôi phục,
chưa thể mong cấp tốc được! Nạp
tăng dùng tấm thân cô thần nghiệt tử, riêng
ôm ấp trách nhiệm bảo vệ đứa con côi [của
đức Phật]. Tuy cảm thương thấu tủy,
chẳng thể không hùa theo phương cách của Ngu Trọng,
Di Dật[64]
thoi thóp hơi tàn. Cư sĩ kiệt lực hoằng
dương, hộ tŕ tức là đại học vấn,
đại tinh tấn, quư ở chỗ tự chú trọng
mà thôi! Thánh lực, trí xảo, tuy khít khao chống đỡ
nhau, nhưng chẳng phải do xảo lực mà đạt
được, nhưng cũng trọn chẳng ĺa xảo
lực. Sao bằng ông Ngô Lang Mai, chẳng dám khuấy động
danh tự!
* Thư trả lời
Trí Long
Sau
khi lánh khỏi thanh danh thế gian, tội đáng chết
muôn phần, đă hối hận chậm trễ, những
ngày tháng truyền pháp hạn hẹp càng phô tỏ sự vụng
về, nhưng thọ dụng cả đời chỉ là
một lời “nhiều hư chẳng bằng ít thật”,
ngơ hầu chẳng đến nỗi đem thân báng bổ
Tam Bảo vậy. Chuyện thoái giới cũng là do tôi làm
tỳ-kheo hiện thời th́ có thừa sức, nhưng làm
sa-di thời cổ th́ lại không đủ. Thà bỏ cái
“có thừa” để hướng theo cái “chẳng đủ”
vậy!
* Thư
gửi Từ Vũ Hải
Cư
sĩ sanh trưởng phú quư, chẳng biết những chuyện
khổ nhỏ nhoi trong thế gian, huống hồ nỗi
khổ to lớn này! Nhưng bậc hùng tài, đại
lược, can đảm, hiểu biết cao rộng, sẵn
có thiên tư cái thế, có học vấn ngàn đời, ôm
ḷng kiêu mạn, thông minh, chẳng để thiên hạ vào mắt.
Đối với pháp thế gian và xuất thế gian, thô
tâm, hời hợt, chưa nhập pháp môn vi tế trí rất
sâu, chẳng do sự rèn cặp ác nghiệt này, sao có thể
dự vào cương vực của thánh hiền, vào chỗ
uyên áo sâu thẳm của Phật, Tổ?
Trời giáng trách nhiệm
to lớn, ắt gieo những chuyện trái ngang. Đối
với bốn chữ “động tâm nhẫn tánh”[65],
chẳng ngại mười suy, trăm nghĩ, đó chính
là pháp dược bậc nhất trong hoàn vũ vậy.
Thượng cửu (vạch liền thứ sáu) trong quẻ
Càn là Kháng Long Hữu Hối, nhưng “bất thực thạc
quả” (chẳng hưởng thụ thành quả to lớn),
chuyển thành “bất viễn nhi phục” (chưa
đi xa đă trở lại)[66].
Tượng Từ lại nói: “Chí nhật bế quan,
thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh
phương” (tới ngày Đông Chí, cổ tiên
vương liền đóng cửa, lái buôn chẳng qua
lại buôn bán, vua chúa không ḍ xét các địa phương),
tức ư nghĩa “tiềm long vật dụng” (rồng
c̣n ẩn tàng, chưa thể hiện công năng của
chính ḿnh). Đầy, vơi, biến hóa, thông đến
đạo tột cùng, nơi thông bèn dấy lên tắc, do tắc
mà thành thông. Do đó, phép Quán trong tông Thiên Thai
chú trọng chỗ khéo biết. Tôi hằng ngày v́ cư
sĩ tŕ chú Đại Bi bảy biến, lấy thoát nạn
làm kỳ hạn, vạn phần mong ông hăy tự yêu
thương chính ḿnh mà gắng sức.
* Thư gửi huynh
Linh Ẩn
Nhăn
quan, chí hướng, kiến thức của huynh đều
đủ làm bậc lưu danh thiên cổ, nhưng chẳng
thể lưu danh thiên cổ là do thiếu cốt khí
cương quyết. Vận dụng cốt khí cương
quyết để đối trị huyễn duyên th́ mới
có thể hoàn tất đại sự. Đă có được
Hoa Nghiêm Đại Sao, ư đệ là muốn duyệt kỹ
một lượt, ḥng t́m chỗ thật sự phù hợp
và khác biệt so với tông Thiên Thai, chứ bàn luận hời
hợt ở ngoài cửa[67],
chưa đủ làm chứng cứ. Nghe nói huynh đối
với Thiên Thai Giáo Quán đă có tín nhập, càng nguyện huynh hăy
lắng ḷng t́m ṭi thấu triệt tận nguồn cội. Thời
gian vùn vụt, ngày một già suy, tự nghĩ lại mà
đau ḷng, nào dám múa lưỡi!
* Thư trả lời
Hạng Tịnh Tánh
Kệ
họa đáp lại rơi vào loại khẩu đầu
tam-muội, rất giống như nghé con mới sanh chẳng
sợ cọp. Cư sĩ vốn chánh tín, chuyên dốc, chân
thật, mà cũng làm chuyện hư giả này ư? Cổ
nhân nói lầm một lời, đọa làm thân chồn
hoang năm trăm đời; há nên hư vọng bàn Bát Nhă?
Chỉ gieo chủng tự kéo lưỡi ra cày, muôn phần
mong hăy kiêng dè! Đừng coi đó là chuyện giỡn
chơi b́nh thường! Phàm thi kệ th́ có thể viết,
chứ những lời lẽ sáo rỗng luông tuồng,
chớ nên phỏng theo! Để có thể dạo chơi
nơi đế hương th́ cái tâm vâng giữ Quy
Giới
chẳng thể quên! Trong chốn bụi trần mù mịt,
hăy học sống trong núi, gió bụi sao có thể nhuốm
bẩn con người, con người nhiễm phải gió
bụi đó thôi!
* Thư gửi Từ
Vũ Hải (thư thứ hai)
Đến
chỗ ngụ cư tại Tuyền Châu, liền lấy
thư của cư sĩ mấy năm qua ra xem, biết
ông trong khổ duyên,
đạt được lợi ích như thế. Trước
kia, bần nạp tán thán tông Thiên Thai, cư sĩ chưa
thâm nhập. Nay đă được như vậy hay
chưa? Trong thư, lời nói với thầy Như Thị,
mỗi chữ đều là kim vàng, khéo có cùng một nguyện
v́ ông ta mà phát nguyện như nạp tăng, nhưng chẳng
biết nguyện đă phát v́ cư sĩ có thích hợp tôn
ư hay không? Phàm biết người th́ sáng suốt, tự biết
th́ mạnh mẽ. Tự biết th́ sáng suốt, tự thắng
ḿnh là mạnh mẽ. Cư sĩ có thể biết người
khác, có thật sự tự biết chính ḿnh hay không? Nếu
tự biết, có thể tự thắng hay không?
Sự huyền diệu
trong tông Thiên Thai bàn luận chẳng xuể! Đối với
“tu thân, chánh tâm” trong sách Đại Học, “cư dịch
sĩ mạng” (thuận theo sự biến đổi của
hoàn cảnh để cư xử phù hợp mạng trời)
của sách Trung Dung, xin hăy nghĩ ba lượt. Ngũ dục,
bát phong, thánh nhân tam giáo cùng quở trách. Một mảy phân,
toàn thể là nhơ uế. Một tí Tỳ
Sương,
toàn thể là độc. Đừng thấy điều
thiện nhỏ nhoi mà không làm, chớ nghĩ là điều
ác nhỏ nhặt mà chẳng trừ, th́ mới chẳng phụ
đôi ba lượt lănh nhận Bồ Tát đại giới.
Tông Thiên Thai nói: “Dùng bốn giới trước làm
cái cảnh được quán,
sáu phép Quán sau đó th́ Sự
và Lư chính là lẫn nhau”. Người đời
khinh miệt Sự mà vẫn muốn đề cao Lư sâu;
chiêm nghiệm bèn biết cách nh́n ấy hư huyễn, chẳng có
căn bản! Đă thiếu khuyết sự cảnh, quán
cũng cậy vào đâu? Kinh Khê tôn giả nói như thế
đó, mong hăy suy nghĩ tường tận!
* Thư gửi đại
đức Triệt Nhân
Hàng
tỳ-kheo chân thật ít ỏi, chẳng được mấy
người! Chẳng biết ngày nào sẽ được
cùng trụ với năm vị tỳ-kheo đúng pháp? Giăi
bày sơ tâm ngoại hộ của tôi như thế, nói
đến đây, gan ruột đứt từng tấc. Tất
cả chẳng dứt như chỉ liền một mạch,
chỉ gởi cho túc hạ, muôn phần trân trọng, yêu mến.
Hăy dưỡng đức, học rộng để quyết
gánh vác, đừng là kẻ cuối cùng đoạn diệt
Phật chủng, khiến cho tôi ôm ḷng tiếc nuối thiên
thu. Hết sức mong mỏi! Xa cách ba ngàn dặm, chưa
rơ Ngài dụng tâm như thế nào? Nếu chẳng thể
niệm nào cũng tương ứng với diệu quán, ắt
sẽ đánh mất lợi ích do được Văn
Huân mài giũa cũng nhiều lắm thay!
* Thư gửi Hằng
Như
Tục
ngữ có nói: “Người Hồ, người Việt cừu
oán nhau, ngồi cùng một thuyền vượt sông, gặp nạn
hiểm v́ gió nước,
vẫn cứu nhau như tay phải và tay trái”.
Thường nghĩ Phần Đoạn sanh tử khác nào
gió to,
sóng dữ,
nhưng những người xuất gia do đố kỵ
lẫn nhau, trí chẳng bằng người Hồ người
Việt ngồi cùng thuyền! Chẳng có chi khác, do chẳng
từng đau đáu nghĩ tới sanh tử vậy. Nay
đă biết đau đáu nghĩ tới sanh tử, há c̣n
dùng danh tướng thế gian để làm kế mưu
sinh nữa hay chăng?
* Thư gửi Phi Huyễn
Chuyện
này sẽ ngày một thân thiết, ngày càng gần gũi, hay
sẽ ngày càng xa, ngày càng lợt lạt? Nếu chẳng có
bạn lành, thầy sáng kềm cặp, sợ sẽ dần
dần thoái thất sơ tâm ấy. Cơi đời hiện
thời đă là như vậy, đời mai sau có thể
suy ra mà biết! Lặng im nghĩ ngợi, há có thể chẳng
sợ hăi ư? Cần phải lắng tâm xem đọc,
nghiền ngẫm sách Phật Đảnh Văn Cú (Lăng
Nghiêm Kinh Văn Cú). Thấy chẳng thấu suốt th́ cũng cần
phải gắng sức đọc. Chuột gặm quan tài,
chắc chắn có ngày sẽ thủng! Đấy chính là Thoại Đầu, là công phu tham
Thiền, là Ma Ha Chỉ Quán. Cần phải tin cho trót, giữ
cho vững, th́ mới có thọ dụng chân thật. Hăy gắng
lên.
* Thư trả lời
Tịnh Thiền
Pháp
môn Tịnh Độ vốn bao trùm hết thảy Tông,
Giáo, thâu trọn khắp hết thảy các
căn cơ. V́ thế, trên là từ Phật, Tổ, thánh hiền
trước tác cũng phong phú, rộng lớn nhất. Muốn
trích lấy những điều tinh yếu để lợi
ích các phẩm, cần phải thâu thập trọn các chỗ
ưu việt, dùng tâm ngộ để chứng th́ mới
có thể lưu truyền. Nếu đối với môn này,
chưa đạt tới chỗ sâu thẳm, hăy nên chú trọng
dốc sức tu, đừng vội vàng chú trọng trước
tác. Độ người là chuyện trọng yếu, hăy
lấy phương tiện trí huệ làm gốc. Hễ có
trí huệ, sẽ có thể suy xét lư Quyền, Thật; xứng lư mà nói,
nghĩa sẽ không ǵ chẳng trọn. Có phương tiện
th́ sẽ có thể trang nghiêm văn chương, văn
đúng như nghĩa, người xem đều vui thích.
Nay Châu Tập th́ lư chỉ
được bảy tám phần, văn chương chỉ
được năm sáu phần, có lẽ nên huân dưỡng
sâu đậm, lại c̣n phải rèn luyện cho khéo. Ư
nghĩa chu đáo, khiến cho người khác
đọc kỹ, chỉ có Di Đà Sớ Sao, Long Thư Tịnh
Độ Văn v.v… Sợ rằng sách Diệu Tông Sao c̣n
chưa nghiên cứu cùng tột, xin khuyên ông hăy nghiền ngẫm
kỹ lưỡng.
Tham khảo các sách Thập Nghi, Hoặc
Vấn, Tịnh Độ Chỉ Quy, Bảo Vương
Tam Muội, Tây Phương Hợp Luận v.v… rốt cuộc sẽ
được mở rộng tầm mắt. Sau đấy,
dùng cái tâm từ bi quán sát cơ nghi ở phương này, chọn
lọc một lời, nửa câu để lợi ích họ,
công đức sẽ càng thù thắng!
* Thư gửi
Vương Đông Lư
Chuyện
này tuy thẳng thừng, nhanh chóng, nhưng cũng rất quanh
co, khúc chiết. Tuy b́nh dị, nhưng cũng hết sức
tinh tế. Ông Ngô đối với chỗ b́nh dị, thẳng
chóng đă tin tưởng, nhưng đối
với chỗ quanh co, khúc chiết, tinh tế, cần phải
“đầu
sào tiến thêm bước nữa!”
Đối với chuyện này, cư sĩ ắt phải
dốc công đổ sức th́ mới có thể thăng
đường nhập thất!
* Thư gửi Tuyết
Hàng pháp chủ
Điều
phục, thủ hộ người khác chính là chỗ để
điều phục, thủ hộ chính ḿnh. Điều phục
một phần tập khí của chính ḿnh th́ mới có thể
điều phục một phần tập khí của
người khác. Coi người khác như chính ḿnh, xả
ḿnh theo người, huyết mạch quả thật ở
chỗ ấy. “Bản thân trẫm có tội, chẳng do
muôn phương! Muôn phương có tội, tội nơi
thân trẫm”[68].
“Ái nhân bất thân, phản kỳ nhân. Trị nhân bất
trị, phản kỳ trí. Lễ nhân bất đáp, phản
kỳ kính” ([Mạnh Tử nói]: Yêu mến người
khác, nhưng người khác chẳng thân cận ta, phải
tự xét chính ḿnh có thiếu ḷng nhân hay không? Cai trị
người khác mà chẳng thể cai trị tốt đẹp,
phải phản tỉnh chính ḿnh có trí hay không? Dùng lễ
đối xử với người khác, mà người
khác chẳng cư xử lễ độ lại, phải
phản tỉnh chính ḿnh có đủ ḷng tôn kính hay
chăng). Đứa trẻ ba tuổi đọc được,
ông cụ tám mươi chẳng làm được! Chẳng
trách người thọ giới Bồ Tát th́ nhiều,
người hành đạo Bồ Tát hiếm hoi!
* Thư trả lời
Đặng Tĩnh Khởi
Tham
Thiền, niệm Phật, khéo dùng th́ không ǵ chẳng phải
là thuốc. Chẳng khéo dùng th́ không ǵ chẳng tăng thêm bệnh.
Lại c̣n nếu chấp thuốc th́ là bệnh, hoặc
mượn bệnh làm thuốc, mọi sự chẳng thể
nhất loạt như nhau được, chẳng thể
dùng vài câu để trọn hết! Sanh tử là chuyện
lớn, Phật đạo huyền diệu. Nếu hiểu
biết nửa vời, công phu nhỏ nhoi th́ c̣n chẳng nên
việc, huống hồ cứ một mực chết cứng
nơi câu văn ư? Hai câu “Thiền vốn chẳng
tham, Phật vốn chẳng niệm” vừa là đề
hồ, mà cũng là thuốc độc! Nay những kẻ
réo trời, quở mắng Phật, Tổ, chính là đọa
trong cái hầm “chẳng tham, chẳng niệm”! Nếu
là chân tham, chân niệm, chắc chắn chẳng có thái độ
ngông cuồng ấy!
* Thư gửi Tŕnh Dụng
Cửu
Tôi
hằng ngày v́ cư sĩ tŕ bảy biến chú Đại
Bi, suốt năm sáu năm chưa từng thiếu một
ngày. Cư sĩ bảo tôi tŕ chú Chuẩn Đề, tôi sẽ
tŕ giúp một trăm vạn lượt. Chỉ mong ông dốc
ḷng tin tưởng chú lực chẳng thể nghĩ bàn, dứt
bặt vọng tưởng nắm níu. Nếu một niệm
vọng tưởng chưa tận, tức là chưa tin chú
đến nơi, dẫu hai vị Đại Bi và Chuẩn
Đề Đại Bồ Tát cũng chẳng làm thế
nào được! Kẻ không ra ǵ này thuở mười
hai, mười ba tuổi
liền biết có đạo mạch thánh hiền; nay biết
tuy đạt đến tối hậu, [đạo Nho] có
khác với Phật pháp, nhưng nhập môn quả thật
giống nhau. Nếu pháp thế gian hơi trái nghịch với
đường lối của thánh hiền, ắt xuất
thế chắc chắn chẳng thể nào là Phật, Tổ
chân thật được!
Ngày nay chuyện hối
lộ được thực hiện công khai, trượng
phu thà suốt đời lênh đênh, thề chẳng giẫm
theo dấu
vết hèn kém ấy, ngơ hầu ngăn
chặn được cơn sóng cuồng loạn trong muôn
một. Nếu chẳng tránh khỏi đuổi theo sóng, chỉ
mong cầu đạt được một lúc, oan uổng
một tầm để đủ một thước, sẽ
đi về đâu? Đấy hết
sức chẳng phải là điều tôi mong mỏi nơi
bậc cao minh. Ông mộng thấy được thiên thần
trao thẻ, th́ đó là Đại Phạm Thiên Vương,
chẳng phải là ngài Vi Đà! Nay có chín mươi chín bài
thần sách trích từ kinh Đại Quán Đảnh Thần
Chú[69],
Nam Tạng lẫn Bắc Tạng đều xếp vào ḥm
chữ Cung[70].
Hăy gấp lấy đó để lưu thông, đừng
nên đổi rừng, đừng dùng Dịch Lâm[71]
để cẩu thả cho xong trách nhiệm!
* Thư gửi Hành Thứ
Tôi
nhớ từ lúc mười hai, mười ba tuổi,
đă coi đạo mạch ngàn đời (đạo Nho)
là trách nhiệm của chính ḿnh, liền nhơn nhơn tự
đắc. Thiên tử chẳng thể buộc làm bầy
tôi, chư hầu chẳng thể buộc làm bạn bè![72]
Huống hồ nay tôi được ghé dự vào Tăng Bảo,
há thư từ, bái thiếp của tể quan trong thế
gian có thể lay động được ư? Mang bệnh
trong non sâu, đă chẳng nghĩ tưởng nhập thế
gian. Dẫu nay bị huyễn duyên lôi kéo, lưu lạc
nơi Chương, Tuyền (Chương Châu và Tuyền
Châu), trọn chưa từng yết kiến một vị
cư sĩ tể quan nào. Nếu vùng Thiều Trung chẳng
bắt buộc sử dụng khuôn sáo thế gian ấy, có
thể dung người nhàn tản phương ngoại
chuyên dùng Phật pháp giáo hóa các phẩm, sai một người
cầm thư của túc hạ đến, tôi sẽ đến
đó. Nếu chẳng thể làm như vậy, đừng
miễn cưỡng!
* Thư gửi Tự
Trúc
Ba
bài tụng gửi kèm theo để ông xem. Ngôn ngữ
văn tự là ngón tay chỉ mặt trăng. Người thật
sự hiểu sâu xa đạo lư uyên áo nơi mỗi sự
vật, chỉ có thánh nhân mà thôi! Tế Minh[73]
suốt đời là con rối, toàn là diễn tả bằng
ngọn bút, trọn chẳng an thân lập mạng nơi ngọn
bút. Nh́n vào chiếc quạt trong tay tiên nhân, diều hâu
đă vượt khỏi Tân La từ lâu rồi![74]
* Thư trả lời
Vương Tư Cổ
Lăo
tử nói: “Vị học nhật ích, vị đạo nhật
tổn” (v́ học mà ngày càng tăng, v́ đạo mà ngày
càng tổn)[75].
Dịch Truyện nói: “Tổn, đức chi tu, Ích, đức
chi dũ” (quẻ Sơn Trạch Tổn là tu đức,
quẻ Phong Lôi Ích là đức càng dồi dào). Cư sĩ
tinh lực tuy giảm, nhưng tín tâm, hổ thẹn càng
tăng; đó chính là cầu, bến nơi biển khổ.
Chẳng cầu tiến mà không bị thụt lùi, há chẳng
phải là trong khoảng học vấn và tu tŕ ư? Phàm phu chẳng ai là
không hiếu thắng, ham tiến lên, chẳng biết lấy
lui làm tiến! Ngài Ca Diếp nguyện ở sau mọi
người, chẳng vượt trước chúng sanh, bèn
thành bậc tỵ tổ[76]
ngàn đời. Bệnh tật chính là thuốc tốt lành
cho chúng ta, tiêu tan hết sạch các vọng tưởng
trong cơi trần
hoàn. Thấy thấu suốt thân này hư
huyễn, biết sâu xa quán môn “khổ, không, vô thường,
vô ngă”, đều cậy vào có bệnh cảnh vậy!
Nguyện ông hăy rộng ḷng nhẫn nại, an nhẫn, chẳng
phiền bực, suy tưởng “tùy duyên tiêu nghiệp
cũ”, tưởng “chuyển báo nặng thành lănh báo nhẹ”,
tưởng “chịu khổ thay cho chúng sanh”, chính là chẳng
v́ không được như người khác mà hổ thẹn.
* Thư gửi thiền
sư Vĩnh Giác
Pháp
vận ngày một suy vi, bậc lăo thành rơi rụng. Móng
thú, vết
chim[77]
giao nhau tại Trung Quốc, bọn trẻ nít c̣n
hôi sữa đua nhau xưng là tông chủ. Ư chỉ vi nhiệm
“giơ cành hoa lên” đă thấp lè
tè sát đất, tới nay không chỉ thật đáng buồn,
mà c̣n đáng nhục nữa! Chỉ có lăo sư tuổi cao,
đức rộng, nắm vững tâm ấn hai chữ “bất
khẳng” (chẳng chịu) của
ngài Thọ Xương, chẳng cần phải duỗi thân gào
rống mà cáo, chó rừng đă sợ run. Do vậy, một
giải Tuyền Nam, tuy gió tanh đă theo thời thổi
đến, nhưng may là độc khí chưa thâm nhập.
Lăo sư đă chấp thuận trụ lâu nơi ấy,
ngăn chặn ngoại tà, dưỡng dục chủng tử
lành, khiến cho đôi ba người có chí được
tiếp nhận pháp mạch của lăo sư. Trong
tương lai, sau khi ma đảng thất bại, ngọn
đèn nơi Tuyền Nam Phật quốc sẽ có soi khắp
thiên hạ. Kẻ chẳng ra ǵ này do bị huyễn duyên
lôi kéo, chẳng thể cầm giữ khăn, b́nh[78],
vẫn mong pháp giá sớm quang lâm, ngơ hầu tôi được
một phen gặp gỡ từ nhan, cũng như muốn
được giăi bày nỗi khổ tâm cả một đời.
Do đó, dám mạo muội, liền giúp sức khuyến thỉnh!
* Thư gửi Châu Tẩy
Tâm
“Chẳng
thể nói toạc ra v́ sợ đóng lấp ngộ môn”
chính là một đường lối phương tiện riêng để
tham cứu vậy. Tông Môn cũng có khi chẳng ngại thẳng
thừng nói toạc ra, huống hồ Giáo Quán, huống chi
Tịnh Độ ư? Chỉ thú của Tịnh Độ
hoàn toàn trong sách Diệu Tông Sao. Dẫu tŕ danh chẳng tu
Giáo Quán, há có thể chẳng thấu đạt lẽ tột
cùng “bốn cơi ngang dọc” ư? Sách Tây Phương Hợp
Luận cũng là một bộ sách hữu công của Tịnh
Độ. Bài Viên Thông Văn Cú của kẻ chẳng ra ǵ
này cũng thâu trọn cương tông của Niệm Phật
tam-muội, nhưng ngôn từ đơn giản, nghĩa
phong phú, cũng chính nhằm nêu bày cương lănh trong cái học.
Chẳng thăm ḍ trọn khắp giáo pháp suốt một
đời đức Phật, sẽ chẳng đủ
để hàm nhiếp trọn hết trong mấy ngàn chữ.
Nếu chuyên lo liệu
cho chính ḿnh, sẽ chẳng rảnh để lợi
người, chỉ ngày đêm mười vạn câu Di
Đà để cầu văng sanh.
Đối với hết thảy các chỗ trọng yếu
trong Tông, Giáo, chẳng cần phải cố ư cầu thông
suốt. Chỉ được thấy Di Đà, nào lo chi
khai ngộ! Đó là một đằng luận định.
Nếu đại bi v́ người khác, ắt sẽ
nghĩ dùng các câu chữ sao cho mười
phần tinh tường, rơ rệt,
ngơ hầu có thể lợi khắp ba căn. Nếu không, một
pháp vừa mới lập, một điều tệ liền
nẩy sanh. Huống hồ thời Mạt, đủ loại
ngữ lục thuộc Thiền, Giáo, Tịnh Độ chất
đống cao tới tận rường, há có nên chú trọng dùng
trước tác vừa xen tạp lại vừa chẳng
tinh thuần để đua tranh sự phong phú với thói
tục ư? Đối với pháp hiệu, tôi
bèn viết dông dài một bài[79],
lư lẽ trong ấy khá là điều trọng yếu để
nhập đạo. Hăy nên nương theo nghĩa, đừng
nương theo văn th́ mới nên!
* Thư gửi Hàn Mậu
Di
Chấm câu cho Tử
Bách Tập đă xong. Vị này là hạng phàm phu lè tè sát
đất, tận lực chiến đấu với ma
quân phiền năo, hoàn tất [đại sự liễu sanh tử]
trong một đời. Đúng là “sư tử ngồi
trên đất, là vảy vàng vượt lưới”[80].
Nay xem pháp ngữ của Ngài, ṛng rặt, quyết liệt,
đúng là đủ khiến cho kẻ tham lam trở thành
liêm khiết, kẻ khiếp nhược được tự
lập, khiến cho những thứ tà mị quyến
rũ bất giác băng tan, ngói vỡ! Mong ông hăy lưu tâm
kỹ lưỡng, ắt sẽ “từ nơi canh, từ
nơi vách, từ trong giấc ngủ”[81]
mà trông thấy!
* Thư gửi thường
trụ núi Cửu Hoa
Năm
xưa, tôi gởi thân nơi núi báu. Đối với hết
thảy các vị hành giả tinh ṛng Luật, liền tưởng
như Địa Tạng Đại Sĩ. Dẫu một
hai vị chẳng câu nệ tiểu tiết, cũng tưởng
như Chí Công, Tế Điên v.v… Nơi đất thánh đạo
tràng, rắn rồng hỗn tạp, phàm thánh chen lẫn, chẳng
dám dùng mắt trâu, dê để suy lường hư vọng
kẻo tự chuốc lấy trọng tội Vô Gián! Tôi chợt
nghe trong núi hơi có nạn dấy lên, tuy đại Bồ
Tát thị hiện bản lănh, nhưng kinh dạy: “Ninh
phá thiên Phật giới, mạc dữ
ngoại nhân tri” (dẫu phá ngàn giới
của Phật, đừng cho người ngoài biết).
Hơn nữa, sách thế gian có chép: “Người Hồ
và người Việt cừu địch với nhau, ngồi
cùng thuyền gặp băo, ắt cứu nhau như tay phải
với tay trái”. Cuộc
đất báu Cửu Hoa là chỗ hiện
hóa của Địa Tạng Từ Tôn, đại chúng
trong núi, không ai chẳng phải là con cháu chân thật của
đức Địa Tạng, chẳng biết đă trải
mấy kiếp tu hành mà đến được danh
sơn phước địa này. Chỉ v́ nỗi căm
phẫn nhỏ nhoi một buổi mà đến nỗi chẳng
bằng người Hồ, người Việt cùng thuyền.
Đó chẳng phải là nói “một hạt cải che trời,
một hạt bụi phủ đất” ư?
Trí Húc là kẻ không ra
ǵ, thuở bé vô tri, hủy báng Tam Bảo, tội ngập
hư không, cậy vào ḷng từ sâu, nguyện dày của
Địa Tạng Đại Sĩ dẹp trừ tà kiến
của tôi, khiến cho tôi được ghé dự
ḍng Tăng. V́ thế, hiện thời xưng là “cô thần”
(孤臣, bầy
tôi cô quạnh) của đức Địa Tạng. Đại
chúng trong núi đều là ấu chúa của tôi. Bầy tôi chẳng
có ư niệm khinh vua, nhưng có chức trách can gián vua. Chỉ
là thật sự hoảng sợ, chắp tay, cúi đầu,
dập đầu, hướng vọng núi báu, giăi bày lời
thưa tŕnh trung thành, chỉ nguyện các thầy ai nấy
bỏ cái tâm thị phi nhân ngă, nghĩ tới cái Thể của
pháp môn và sơn môn, cùng tu Vô Tránh tam-muội, vĩnh viễn
truyền bá đạo phong của Đại Sĩ. Cổ
nhân nói: “Quan bất dung châm, tư thông xa mă”[82].
Lại nói: “Gia vô tiểu nhân, bất thành quân tử”
(nhà không có tiểu nhân, chẳng thành quân tử). Dẫu thật
sự có kẻ chẳng phải là quyến thuộc chân
chánh của Đại Sĩ, cũng phải nên từ bi,
khoan dung, khiến cho họ dần dần gieo thiện
căn th́ mới nên!
* Thư gửi
Vương Quư Diên
Kinh
Tịnh Nghiệp Chướng[83]
đích thị do đức Phật nói, chẳng có mảy
may đáng nghi. Xin hăy
thử nói xem, đức Phật rộng độ hết
thảy chúng sanh như đại y vương, cũng giống
như một vị
đại tiên có thể chữa khỏi bệnh ắt phải
chết, chẳng phải là dơi theo mấy ḍng mực mà có
thể nghĩ bàn được! Kinh Đại Bát Niết
Bàn v́ vua A Xà Thế mà sám
hối tội lỗi, giống như kinh này. Cái gọi là Thật Tướng Sám, Vô
Sanh Sám thẳng thừng cạn
khô nguồn tội, ḍng tội tự cạn. Như lật
nghiêng đại địa, cây cối nương vào chỗ
nào? Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Khước
lai quán thế gian, do như mộng trung sự. Ma
Đăng Già tại mộng, thùy năng lưu nữ
h́nh?” (nh́n thế gian giống như chuyện trong mộng.
Ma Đăng Già trong mộng, ai có thể giữ lại
h́nh tướng nữ nhân). Lại nói: “Thượng vô bất
sát, bất đạo,
bất dâm, hà huống cánh hữu sát, đạo, dâm sự”
(C̣n chẳng có chẳng giết, chẳng trộm, chẳng
dâm, hà huống c̣n có chuyện giết, trộm, dâm) đều
là nói về ư chỉ này. Ấy là do vua A Xà Thế cùng với
tỳ-kheo Vô Cấu Quang hiện nay và tỳ-kheo Dũng Thí
trong quá khứ, ba vị ấy do hổ thẹn, sợ hăi
cấp bách tha thiết, tâm hối lỗi chẳng khác nhau.
V́ thế, diệu dược để đối trị
cũng chẳng khác!
Ấy là v́ lương
y đối với chứng thũng độc vô danh, thoạt
đầu hơ nóng chẳng đau, bèn hơ nóng tới
[khi người bệnh] đau tột bậc bèn dừng.
Vừa mới hơ nóng liền đau th́ hơ nóng tới
khi không đau mới ngừng. Nếu chẳng như vậy,
bệnh sẽ chẳng thể chữa được!
Trong Tỳ Ni Tạng, quở trách phá giới là “pháp đứt
đầu”, tức là đối với kẻ không
đau, bèn hơ nóng cho tới khi đau tột bậc. Kinh
này và kinh Đại Niết Bàn nói rơ “tội tánh vốn
không”, tức là đối với kẻ cực đau,
bèn nướng cho tới khi chẳng đau. Diệu pháp
như vậy chỉ là cứu mạng thần đan cho kẻ
vô tri lầm lạc phạm giới, chẳng phải là
“nói Không mà hành Có”, giúp kẻ tà huệ để viện cớ.
Nói “quán nơi phạm
tức là chẳng phạm” th́ chỉ một chữ Quán
đă là bao nhiêu huệ giải, bao nhiêu công phu. Ví như dùi
gỗ lấy lửa, lửa xuất hiện, ắt gỗ
mất đi. Nếu cái tâm phạm giới mảy may
chưa tận, há gọi là “quán nơi phạm tức là
chẳng phạm” ư? Cố nhiên biết kinh này thật
sự là pháp môn viên đốn vô thượng, chỉ nên
theo đường về nhà, chẳng đổi dây
đàn, thay đường lối, cùng với kinh Hoa Nghiêm,
Pháp Hoa, Niết Bàn v.v… có cùng một manh mối. V́ thế,
có thể khiến cho người phạm tội nghe xong,
vĩnh viễn nhổ trừ tội căn. Người
chưa phạm nghe thấy, sẽ vĩnh viễn chẳng
phạm. Ví như một viên linh đan, bất luận có bệnh
hay không bệnh, chỉ chịu uống vào, đều có thể
nhẹ ḿnh bay xa, đâu phải chỉ tăng thêm tuổi
thọ mà thôi! Nếu đọc kinh này mà chẳng vĩnh
viễn ĺa các chuyện dâm, giết, trộm v.v… cùng với
những kẻ không đọc giống như gặp linh
đan mà chẳng chịu uống, thân vướng trọng
bệnh, há có phải là linh đan khiến cho mắc bệnh
ư?
Nếu kẻ chẳng
hổ thẹn, muốn lấy đó để viện cớ,
xin hăy nói rằng:
- Ngươi phạm
giới cũng giống như hai vị tỳ-kheo
[được nói trong kinh] do bất đắc dĩ [mà
phạm giới] ư? Sau khi đă phạm, lại như
hai vị tỳ-kheo ấy kinh sợ phát lộ, cấp thiết
cầu thương xót ư? Dẫu cầu thương xót
như hai vị tỳ-kheo, có gặp Phật, Bồ Tát thuyết
pháp hay không? Dẫu nghe pháp này, có như hai vị tỳ-kheo
thuận theo kinh văn mà nhập quán, đốn ngộ Vô
Sanh, vĩnh viễn đoạn dâm tâm hay chăng? Họ
đă thấu đạt pháp không, vĩnh viễn trừ tập
khí dâm. Một vị thành Phật trong vị lai, một vị
thành Phật trong hiện tại, nhưng cái quả báo do giết
người, hoặc là đền trả ngay trong khi tu
nhân, hoặc thành Phật rồi mới
thọ. Như [đức Phật đă thành Phật vẫn
thị hiện thọ báo bị đâm bởi] cái thương bằng vàng, bị nhức đầu, theo đúng lẽ ắt phải
có. Khéo đúng như cổ nhân đă nói: “Như thế
nào là vốn sẵn là Không? Chính là nghiệp chướng. Nghiệp chướng
là như thế nào? Vốn sẵn
là Không.
Do đó biết: Người đại triệt đại
ngộ chỉ có thể chẳng đọa địa ngục,
chắc chắn chẳng có lẽ nào không đền trả
nợ cũ!” Tôn giả Sư Tử,
Thần Quang đại sư, Tăng Triệu, Nham Đầu[84]
v.v… là những chứng cứ rành rành. Chẳng đọc
trọn khắp Đại Tạng, hiểu sâu xa giáo nhăn,
tông nhăn, chớ nên khinh thị bàn luận! C̣n như tỳ-kheo
Vô Cấu Quang trong hiện tại, ngẫu nhiên có cùng tên với
Vô Cấu Quang Phật trong quá khứ. Như Quán Thế Âm Bồ
Tát có cùng tên với cổ Quán Âm Phật, tỳ-kheo Ca Diếp
có cùng tên với cổ Ca Diếp Phật, sao lại lẫn
lộn coi là một được?
C̣n như sách Khai
Nguyên [Thích Giáo Lục] xếp kinh này vào mục lục các
kinh được dịch vào đời Tần như
đă nói là v́
khi thuật bày mục lục của
Đại Tạng trong niên hiệu Khai Nguyên[85]
đời Đường, đối với kinh ngẫu
nhiên mất tên người dịch, do tương truyền
[kinh
này] được dịch vào thời Diêu
Tần, bèn xếp vào mục lục kinh dịch đời
Tần. Kinh trong Đại Tạng mất tên người
dịch khá nhiều, chưa chắc đă đều là ngụy
kinh, chớ nên dùng chuyện này để chê trách. Than ôi! Kẻ
cuồng Thiền đời Mạt hiếm kẻ biết
giáo điển, hạng pháp sư chỉ biết
nương vào văn từ để hiểu nghĩa lại
chẳng có kiến thức chân chánh, “thử tức,
điểu không”[86]
trọn khắp hoàn vũ. Cư sĩ có thể lưu tâm
như vậy, có thể nói là hoa Ưu Đàm Bát! Nhưng
kinh vương chân chánh cần phải được xiển
dương ư chỉ u huyền để chỉ bảo cho
người chưa nghe th́ mới thấy bản lănh của
Duy Ma Đại Sĩ. Nếu thô thiển, bộp chộp,
phán ngay là “khả nghi”, ma vương nghe rồi sẽ
hớn hở, hoan hỷ, quan hệ cũng chẳng nhỏ
đâu nhé!
* Thư gửi Nhẫn
Thảo
Thân
bệnh dễ trị, tâm bệnh khó trừ. Cổ nhân nói:
“Khắc kỷ th́ phải riêng
khắc từ chỗ khó khắc”.
Từ Vân đại sư cũng nói: “Hành nhân ai nấy
đều có tập khí ác từ vô thỉ. Muốn cầu
nhanh chóng ĺa bỏ, hăy nên quan sát chính ḿnh thiên trọng tập
khí nào
để quở
trách, vứt bỏ, điều phục, ngưng dứt,
khiến cho b́nh phục, đừng để cho nó hiện
hành, uổng phí công phu”.
Phàm tập khí ác chỉ là giết, trộm, dâm, dối mà
thôi. Trong mười hai thời, trong bốn oai nghi, nếu
có ư niệm xáo động người khác, sẽ có thể
gây tổn phước, giảm thọ nhất!
* Thư trả lời
Ngô Duật Tu
Thanh
Long Sao[87]
há có thể bảo là bằng vai phải lứa với tác
phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa? V́ [Thanh Long Sao là những
lời giảng giải của ngài Đức Sơn] lúc
chưa ngộ, c̣n
đang mày ṃ suy tính, bàn bạc, quyết chẳng
thể coi là đại đạo! V́ thế, ngài Đức
Sơn nói: “Cùng tột các biện định về huyền
nghĩa, tợ như đặt một mảy lông trong
thái hư. Dốc cạn những điều then chốt
trong thế gian, tợ hồ gieo một giọt nước
vào kẽm núi[88]
to”. Bậc
trượng phu thốt lời, nhả
khí chân thật,
chẳng lừa dối như thế đó! Có thể nói là
bội phần minh bạch, sao lại ngược ngạo
tối tăm, hư vọng so
sánh [Thanh Long Sao] với
Huyền
Nghĩa và Văn Cú như biển cả,
như hư không,
bèn nghi “một đằng
thiêu, một đằng
chẳng thiêu”
ư? Người mê đời Mạt xem ngữ lục
thường có tập khí ác như
thế đó, chẳng nghĩ hễ so
sánh sẽ chẳng thích đáng cho lắm! [Cứ so đo
như vậy th́ sẽ cho rằng] Kim Cang, Pháp Hoa đều
có thể thiêu! Cái tội báng pháp cũng to lớn, đáng sợ
lắm thay! Xin hăy thiêu sạch dây leo khô héo mục nát trong
tay ngài Đức Sơn, khuyết điểm của lời
nói ấy chẳng khó biết!
* Thư trả lời
Diêm Tịnh Độ
Văn
tự tánh Không;
v́ thế, quán triệt Tam Tạng vốn chẳng có một
chữ, chẳng phải là coi “dù một chữ Đinh (丁)
cũng chẳng biết” là “vô tự”. Đời Mạt, hạng
tỳ-kheo không chịu học hỏi, viện cớ “tổ
Đạt Ma chẳng lập văn tự” để giấu
cái vụng về của chính ḿnh cũng đáng nực
cười thay! Biết chẳng khó, hành mới khó. Cố
nhiên là vậy! Lại phải nên biết “hành chẳng
khó, biết càng khó hơn”. Chẳng biết mà hành, đọa
hầm, sụp hào!
Mười quyển
kinh Phật Đảnh khuyến khích tu hành bậc nhất,
nhưng trước hết lấy khai viên giải làm
phương tiện ban đầu. Hai chương Văn
Thù và Phổ Hiền trong kinh Viên Giác cũng phải khai giải
trước. Các sách Đại Thừa Chỉ Quán, Ma Ha Chỉ
Quán v.v… không ǵ chẳng đều như vậy. Tham cứu
ư chỉ học vấn, suy nghĩ, biện định, tận
lực hành giống như phù và tiết hợp nhau.
Cách tu hành giống như chỉnh dây đàn: Dây chùng sẽ
chẳng phát ra tiếng. Dây căng sẽ đứt, chớ
quên, chớ giúp, ngơ hầu từng bước theo thứ tự
tấn tu. Con đường tu hành chân chánh ắt phải
lấy Không Quán làm chủ, nhanh chóng, thẳng thừng, lẹ
làng, không ǵ bằng nửa bài kệ của Phật Tỳ
Xá Phù[89].
Đọc kỹ, lặng nghĩ, khiến cho thấu
xương, lọt tủy. Tử Bách Toàn Tập mong hăy t́m
xem. Có được pháp ấn ấy, sẽ có thể biện
định tà chánh, chẳng bị lầm lẫn bởi tà
sư hiện thời!
* Thư gửi Trí Long
Trắc
trở, hoạn nạn chính là một ḷ rèn lớn để
nung luyện người anh dũng, linh thông thành Phật,
thành Tổ. Có thể tiếp nhận sự nung luyện, sẽ
như tùng, bách gặp tiết Đông rét buốt càng vững
chắc, chẳng như con trùng mùa Hạ, hoa mùa Xuân vừa
mới gặp gió, sương đă tan tác chẳng ra ǵ.
Tùng, bách, hoa, cỏ bẩm thọ tánh chất bất đồng,
chẳng thể cưỡng được! Một niệm
hiện tiền tâm tánh linh thông, sáng suốt, há có sắc chất
nhất định? Chỉ quư một niệm hiện tiền
tự lập, mắt nh́n thấu suốt thân, tâm, thế
giới, dốc sức buông xuống tập khí hưởng
thụ an nhàn, cơm cháo thường ngày, hướng
đến núi đao rừng gươm ra vào vui chơi, có
gian hiểm chi đâu? Dẫu chẳng buông xuống thân,
tâm, thế giới, t́nh kiến xuống được,
nhưng thân, tâm, thế giới chưa từng chẳng phải
là hoa đốm trên hư không? Dẫu chẳng trừ được
tập khí hưởng thụ an nhàn, cơm cháo, nhưng
nghiệp vận xảy đến, có chỗ nào để
giữ vững sự hưởng thụ an nhàn, cơm cháo
như ư?
Ngàn kinh vạn luận
đều là khí cụ để mài ṃn tập khí. Tập
khí chẳng trừ, học vấn có ích ǵ? Chẳng thể
thân cận thầy sáng, bạn lành để được
kềm cặp nghiêm ngặt, t́m kiếm mấy bộ sách
Phật pháp tốt đẹp, ngồi thanh nhàn, lặng lẽ,
đốt hương, thưởng trà, lật ra
xem. Nắm giữ đại học vấn kiểu ấy
c̣n chẳng thể là thánh hiền thế gian, huống hồ
Phật, Tổ ư? Nếu do ơ hờ mà có thể
đạt thành Phật, thành Tổ như thế, Thiện
Tài sẽ thường khóc ṛng, thật sự là kẻ vụng
về nhất trong ngàn đời, sao có thể làm
gương cho Hoa Nghiêm, Bát Nhă được?
* Thư gửi Thể
Cảnh
Chuyện của bậc
đại trượng phu xuất gia chẳng phải là
vương hầu, tướng quân, tể tướng có
thể làm được! Nhưng chẳng khó có khởi
đầu mà là khó có kết thúc! V́ thế, nhân quả tà
chánh ắt phải dùng bốn câu để liệu giản.
Hăy nên mỗi ngày đều thận trọng suốt ngày,
như vào rừng sâu, đi trên băng mỏng, mong đạt
đến chỗ thọ dụng chân thật,
muôn phần đừng to gan hời hợt, bị lường
gạt, mê hoặc nửa chừng, để rồi mất
thân người dưới
lớp áo ca-sa! Thiết tha căn dặn
vậy!
* Thư gửi Đinh
Liên Lữ
Một
môn Tịnh Độ hữu danh vô thật đă lâu. Cư
sĩ tự ḿnh tu hành thực tiễn, nêu gương cho
Tăng lẫn tục. Đấy chính là nguyện quang của
A Di Đà Phật tỏa sáng vậy. Nhưng đời Mạt
thường thấy cong vẹo [cho rằng pháp môn này] là
trung, hạ, chẳng biết là pháp chí viên, chí đốn,
thích hợp trọn khắp ba căn. Hăy nên ngẫm sâu
nghĩ chín hai sách Diệu Tông Sao và Tây Phương Hợp
Luận, sẽ có thể phá trừ các so đo tà vạy!
* Thư trả lời
Chuyển Y
Ông
chỉ dạy
Giới Sanh đến đây, đủ thấy ḷng tiếp
dẫn, nhưng nạp tăng là Nhạc Vũ Mục (Nhạc
Phi), chẳng phải là Hoài Âm Hầu (Hàn Tín). Dụng Cửu
một mực thô tâm, bộp chộp, đọa vào khuôn sáo
xấu ác của văn chương đương thời,
đối với tánh và tướng của Đại Thừa
đều hiểu theo mặt văn tự, ngôn ngữ,
đợi cho tới khi chẳng có kết quả nơi
Thiền Tông, mới nghĩ kết thất quán tâm. Pháp quán
tâm rất khó nói. Tông Môn trong thời gần đây phần
nhiều là hành cước để hỏi đạo, chỉ
có tông Thiên Thai là đă biết bờ bến rồi mới
hành cước. Đường nẻo tu hành, chẳng khác
ǵ mười gấp bội thành trăm, chỉ sợ chẳng
phải là lúa mạ chân thật của Giáo Hạ! Lúa mạ
chân thật há bị Thiền Tông coi thường, cũng
nào có sợ bị coi thường!
Nếu là chủng tử
chân thật của Thai Tông, ngôn ngữ lẫn sách vở thế
gian đều chẳng mâu thuẫn, há có chuyện khinh Duy
Thức, coi người học chẳng ra ǵ. Đáng
thương chúng sanh bị t́nh kiến phủ lấp, trở
thành mê muội, trọn chẳng có kiến thức tót vời.
Vừa mới nhập tông Thiên Thai, liền nhuốm chứng
bệnh nặng của tông Thiên Thai. Vừa mới vào Thiền
môn, liền nhuốm phải bệnh nặng của Thiền
môn. Chưa được thanh tịnh, đă vướng
hẹp ḥi trước. Chưa đạt được
ḥa, đă đạt chẳng cung
kính trước. Mong chẳng ch́m đắm trong thói đời
hiện thời, có được mấy ai? Đại
trượng phu xuất gia chẳng liều ḿnh hai ba đời
vùi đầu triệt để [tu tập], mà cứ vội mong
mười năm, hai mươi năm sau sẽ hoằng
dương Tông, Giáo, tu thiên tước (tước vị
cơi trời) để cầu nhân tước (tước vị
của nhân gian), rốt cuộc ắt mất sạch mà
thôi!
* Thư trả lời
Tŕnh
Dụng Cửu
Hành
nhân viên đốn Xuân, Hạ, Thu, Đông, không lúc nào chẳng
phải là lúc quán tâm. Ngày đêm sáu thời, không ǵ chẳng
phải là cơ hội để quán tâm. Đi, đứng,
ngồi, nằm, không ǵ chẳng phải là chuyện quán
tâm. Thuyết pháp, nghe pháp, không ǵ chẳng phải là duyên
quán tâm. Nếu ắt phải đợi tới dịp an
cư kết Đông, sau đấy mới quán tâm, th́ ba thời
giảng diễn vẫn là “kể chuyện ăn, đếm
của báu”, giảng và nghe chẳng tương ứng với
quán tâm! Khi quán tâm, chắc chắn cũng chẳng
tương ứng với giáo lư. Nếu là như vậy, dẫu
trăm lượt giảng kinh trong các tiết Xuân, Hạ,
Thu, và trăm mùa Đông quán tâm, rốt cuộc là hai chuyện
tách rời, là bản lănh thô thiển, nông cạn của
thư sinh, chẳng phải là tri kiến siêu việt tót vời!
Thốt lời hèn tệ, trước nay đáng than!
Kinh dạy: “Nhân mạng
tại hô hấp gian” (Mạng người trong hơi thở).
Đạo Nho nói: “Tài thuyết cô đăi minh nhật, tiện
bất khả dă” (Vừa mới nói “đành chờ
đến ngày mai” là đă không được rồi)! Chỉ
có điều là cư sĩ một mực chẳng chịu
ngay lập tức tùy văn nhập quán, hư vọng nói
“hết thảy mọi người đều chẳng thể
ngay lập tức tùy văn nhập quán”. Hăy nên thống thiết
nghĩ tận lực sửa đổi, đừng làm
chuyện vớ vẩn như gă lùn xem tuồng![90]
* Thư gửi Thiện
Siêu
Pháp
thế gian và xuất thế gian, hiếu và từ bậc
nhất. Dùng từ tâm để tu hiếu hạnh, có thể
thuận thảo với cha mẹ, sẽ cảm động
quỷ thần, huống hồ đối với sư
trưởng xuất thế ư? Hăy cố gắng, đừng
để mặc cho t́nh ư chi phối!
* Thư gửi
Vương Cổ Học
Trượng
phu cao minh chẳng khó, khó ở chỗ tinh tế. Nếu
tinh tế bèn dùng lư của [Khổng]
Nho để giải thích Lư [trong quan
điểm của Tống Nho], sẽ có thể phân tích
đồng, dị đến tột cùng. Tông nhăn, giáo nhăn
có thể nhờ vào đó mà chứng một nguồn hợp
nhất.
* Thư gửi Trầm
Phủ Thọ và Trầm Phủ Đôn
Hành
pháp Chiêm Sát do được anh em ông khắc in thành kinh sách,
nhưng kẻ chẳng ra ǵ này đă nhiều lượt kết
đàn, đều chẳng đạt được luân
tướng thanh tịnh. Như vậy th́ có thể khiến
cho thiên hạ hậu thế tin tưởng hay chăng? Nay
thề tạo trận dựa lưng vào nước, yểm
tử quan[91]
để lễ sám. [Chú giải] kinh
Thập Nhị Đầu Đà[92]
đợi sau này có lẽ dám múa bút, chứ nay đang lúc d́m
thuyền, phá nồi, chưa rảnh để tạo tác
những lời lẽ suông được!
* Thư gửi Thánh Khả
Kẻ
chẳng ra ǵ này tội lỗi nơi ba nghiệp chẳng
ít, tâm nhơ bẩn tạp loạn, sao có thể đạt
được luân tướng thanh tịnh? Do vậy, phát
tâm hổ thẹn, lui xuống làm kẻ chỉ thọ Tam
Quy, thề chẳng làm thầy, làm gương, thề chẳng
tiếp nhận người khác lễ bái, thề chẳng
ra khỏi núi, thề đạt được luân tướng
thanh tịnh. Bất luận trăm ngày hay ngàn ngày, sáu
năm hay chín năm, lấy cái chết làm kỳ hạn. Từ
tạ chuyện ở Gia Hưng xong, kế tiếp sẽ
từ tạ chuyện ở Lưu Đô (Nam Kinh).
* Thư gửi Liễu
Nhân và hết thảy Tăng, tục
Tống
Nho nói: “Tài vượt quá đức th́ bất tường,
danh vượt quá sự thật th́ có tai ương.
Văn chương vượt quá phẩm chất th́ không
thể tăng tấn được”. Riêng Húc đă phạm
cả ba bệnh ấy, chẳng trách tŕ trệ nơi
địa vị phàm phu đă lâu, chẳng dự lên bậc
thánh! Húc từ thuở mười hai, mười ba, do tự
lấy đạo học (Tống Nho) làm trách nhiệm mà phỉ
báng Tam Bảo, tội ấy đáng đọa vào địa
ngục Vô Gián, bốn mươi tám nguyện của Phật
Di Đà chẳng thâu nhận. Do thiện
căn chưa mất, ngầm nương sức của
hai vị Đại Sĩ Quán Âm và Địa Tạng, chuyển
nghi thành tín, chuyển tà về chánh. Hai mươi năm
qua, tận lực hoằng dương chánh pháp mong tiêu tội
báng pháp. Hiềm rằng phiền năo sâu dày, đối với
các giới phẩm, chỉ nói suông, chứ không thể hành!
Ngày Trung Nguyên (Rằm tháng Bảy)
năm Quư Dậu (1633), tôi rút
thăm, lui xuống làm Bồ Tát sa-di; bởi
lẽ, làm tỳ-kheo hiện thời th́ thừa sức,
nhưng làm sa-di thời cổ th́ chẳng đủ! Thà bỏ
cái dư để mong cái chẳng đủ. Túc chướng
sâu nặng, bệnh ma quấn trói. Từ đấy, ẩn
thân nơi Cửu Hoa, ngỡ có thể suốt đời ở
đó. Hơn nửa năm, lại dần dần lan truyền,
lần lượt trụ tại Tân An, rồi đất
Mân, rồi Thiều Thành, Tuy Lư, Lưu Đô, hư danh càng
thịnh, thật đức càng thêm hoang phế! Mùa Hạ
năm nay, ngă bệnh hai phen,
cầu chết chẳng được. Huệ giải
thường nhật tuy rành rành, nhưng thật sự
chưa hề đạt được đại thọ
dụng. Hơn nữa, đối với sách Chiêm Sát Hành
Pháp,
ngẫm kỹ nghĩ chín rồi mới
dám tuân theo cách thức thời cổ để soạn
thành nghi thức cặn kẽ mà giản dị, trọn chẳng
trái nghịch tông chỉ của kinh. Lễ [hành pháp ấy] ở
Tây Hồ bốn thất, chẳng đạt được
luân tướng thanh tịnh. Năm ngoái, lễ hai thất
vẫn chẳng được. Nay vào núi lễ một thất,
rồi lại lễ một ngày, vẫn không được!
Khi lễ sám, tập khí phiền năo hiện hành, dấy lên,
càng cảm thấy dị thường. Do đó, phát tâm quyết
định, xả sạch tất cả tịnh giới
thuộc Bồ Tát sa-di, chỉ làm một đệ tử
Tam Quy, đợi Liễu Nhân tấn sơn[93]
để bế quan một ngàn ngày, cầu Phật, Bồ
Tát từ bi cứu bạt. Nếu không, thà nát vụn nắm
xương này trong quan pḥng vậy!
* Thư gửi Trầm
Kính Viên
Nghe
nói Dương Thừa Thừa và Tiếu thiền sư bất ḥa. Phàm
tham học tri thức, cần phải lănh hội sở
trường của họ, đừng chê trách sở
đoản của họ. Pháp môn sâu xa, Đẳng Giác c̣n
chưa hiểu trọn hết, huống hồ tri thức
hiện thời ư? Dấy lỗi nơi pháp, phước
đâm ra trở thành tội. Mong cùng đến giải trừ
sự khúc mắc vặt vănh ấy th́ pháp môn may mắn lắm
thay!
* Thư trả lời
Hàn Triều Tập
Đối
với nỗi khổ nơi cảnh, sanh ḷng chán nhàm. Đó
là trí huệ thuộc Khổ Đế. Chán khổ sẽ
chẳng dám tạo nghiệp. Đấy là trí huệ thuộc
Tập Đế. Nhân chẳng sanh th́ quả chẳng sanh.
Đó là trí huệ thuộc Diệt Đế. Ân cần biết
sám hối. Đó chính là trí huệ thuộc Đạo Đế.
Sở kiến của Tu Đà Hoàn là thấy được
điều này mà thôi! Sở chứng của A La Hán là chứng
điều này mà thôi. Xả giới chẳng đúng pháp, chẳng
cần phải nghi, do đă xả rồi! Nhưng tánh tội
tồn tại trong thế gian, há có tội
phạm pháp ư? Thọ giới chẳng đúng pháp, cả
cơi đời đều là như vậy, cũng chẳng
cần phải nghi! Nhưng đúng như pháp mà hành một
ngày, sẽ được một ngày công đức. Du Già
Sư Địa Luận đă nói rất tường tận.
Nhằm thuở đời Mạt, chẳng thể tuân theo
lệ của thời Chánh Pháp được! Phàm phạm
giới, tạo ác, cố nhiên là có tội, sao niệm Phật,
chép kinh lại riêng là vô phước ư? Đều là lời
Phật dạy, sao lại một đằng th́ tin, một
đằng chẳng tin,
để rồi cam tâm đọa trong hầm sầu lo, ngờ
vực vậy?
Hối lỗi đích
đáng th́ danh vượt hạnh. Nếu vượt quá lẽ
thích đáng, sẽ thành hối cái[94].
Ngàn kinh vạn luận chỉ mong sao mọi người thẳng
thừng an tâm. An tâm chẳng có thuật nào khác! Chỉ là biết
pháp vô tánh đó thôi! Bát Nhă nói “tâm quá
khứ, hiện tại, vị lai chẳng thể
được!” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tâm
bất vọng thủ quá khứ pháp, diệc bất tham
trước vị lai sự, bất ư hiện tại hữu
sở trụ. Liễu đạt tam thế tất không tịch”
(Tâm chẳng hư vọng giữ lấy pháp quá khứ,
cũng chẳng tham đắm chuyện vị lại. Chẳng
trụ vào hiện tại. Liễu đạt ba đời
đều không tịch). Nhân giả nghe đă nhàm tai rồi
chứ? Sao chẳng mỗi lúc đều quan sát vậy?
Tịnh Độ nhanh
chóng, thẳng thừng, lẹ làng, rộng lớn, viên dung, chí
đốn, tột dễ, không căn cơ nào chẳng thâu
nhiếp, không tội nào chẳng diệt. Nhân giả vừa
phát tâm liền biết quy hướng, cớ sao hơn ba
mươi năm vẫn nửa tin, nửa ngờ? Tôi
đặc biệt sao lục hai công án văng sanh để
giúp tín lực. Muôn phần chớ trù trừ! Chỉ quán sát
một niệm hiện tiền duyên khởi vô sanh, nguồn
tội tự khô cạn. Chuyện này hết sức chẳng
khó, nhưng người ta thấy là khó khăn lắm!
* Thư trả lời
Đường Nghi Chi
Sách Diệu Tông Sao chẳng thể sửa
đổi một chữ nào. Bởi lẽ, Đại Tiểu
A Di Đà Kinh thích hợp trọn khắp ba
căn, chú giải cần phải bao gồm cạn lẫn
sâu. Nay kinh này (Quán Kinh) nhằm để chuyên độ những
bậc đại căn viên đốn như Vi Đề Hy v.v… khiến cho họ ngộ Vô
Sanh Nhẫn ngay trong hiện đời. Nếu chưa thấu
triệt ư chỉ “một tâm làm Phật, là Phật”, sẽ trọn chẳng có Lư để nương theo Sự
mà tu Quán. Ngài Vân Thê nói “tâm thô cảnh tế, diệu quán
khó thành” vốn bắt nguồn từ [ư kiến của]
các vị đại tổ sư như ngài Thiện Đạo
v.v… thật sự chẳng phải là nói ṃ!
Húc cho rằng:
Căn tánh thời Tống hơi thông lợi, ngài Tứ
Minh Tri Lễ nêu tỏ [ư chỉ của Quán Kinh] vẫn c̣n
sơ lược. Nếu nay đại sư lại
trước tác, chỉ đành giải thích tường tận,
sao có thể tiết yếu? Người thợ thuộc
loại bậc thầy há v́ thợ vụng mà sửa đổi
dây mực! Hậu Nghệ[95]
quyết chẳng v́ kẻ bắn vụng mà biến đổi
bia bắn. Chuyện này quan hệ chẳng nhỏ. Nếu
viên giải chẳng mười hai phần thấu triệt,
liền muốn tác quán, chưa có ai chẳng chuốc phải
ma sự! Chỉ có một pháp Tŕ Danh trăm ngàn phần ổn
thỏa, thích đáng! C̣n Quán Kinh và Diệu Tông
Sao đành chỉ kết chủng tử viên đốn cho
người khác, hoặc là chúng sanh căn tánh chẳng thể
hư vọng suy lường sẽ cũng tự có thể
hiểu. Nếu hiểu th́ chắc chắn chẳng hiềm
rằng nhiều. Nếu chưa hiểu mà lược bớt
[Diệu Tông Sao] th́ có ích ǵ cho họ? Gạt bỏ chỗ
nông cạn, giữ lấy chỗ sâu xa, kẻ sơ cơ
càng chẳng thể hiểu. Nếu gạt bỏ chỗ
sâu, giữ lại chỗ nông cạn, sẽ hết sức
trái nghịch tông chỉ của kinh. Suy đi, nghĩ lại,
muôn vàn phần chớ nên manh nha ư niệm ấy!
* Thư trả lời
Liên Chước
Ông xuất gia, sẽ nối tiếp pháp mạch
của Liên Tŕ đại sư. Xưa kia, Tuyết Công chẳng
nhẫn được sự kềm cặp, cam tâm đạt
thành tựu nhỏ nhoi. Dương Sanh chí lớn, tài vẹn,
nhưng nhân địa thiếu chân thành, đều là cổ
nhân cả rồi, thật đáng than thở, bùi ngùi! Húc
phước hèn, chướng sâu, chỉ đành làm chuyện
vớ vẩn nghiên cứu cái học quê kệch, ḍ theo câu chữ, cậy vào hai ba kẻ thơ dại chưa nhiễm
phải thói ác trong thời gần đây, chỉ gieo chủng
tử kim cang. Nếu [là kẻ] trước đó
đă có thành kiến, chỉ đành lắc
đầu không đếm xỉa tới mà thôi! Tự thẹn
trăm luyện ngàn giồi, trọn chẳng đoạn
Hoặc, chứng quả. Phàm phu đủ mọi phiền
năo trói buộc, dùng nhục nhăn làm Phật nhăn, dù Giáo hay
Tông, đều chẳng có mảy may ngờ vực, vướng
mắc. Do vậy, trước tác thật nhiều, đều
có thể tham khảo chư Phật, Tổ mong để lại
cho trăm đời. Ḷng tự tín chân thật ấy chẳng
thể lừa dối thiên hạ. Được ông cho xem
Tâm Kinh Khẩu Nghĩa, riêng trọn thấy học rộng,
tài hoa. Nếu muốn khắc in, chẳng ngại châm
chước lần nữa. Do t́nh nghĩa tột cùng trong
pháp môn, chẳng thể nào xu phụ, a
dua được. Nếu biết ḷng tôi, chắc sẽ chẳng
trách tội vậy!
* Thư đáp Hàn Phục
Viễn
Bệnh
của ông do nghẹn đàm mà ra, nghẹn lại do chẳng
nh́n thấu suốt cảnh mà ra. Đủ loại nghịch
cảnh có thể rèn tâm tánh nhẫn nại, tăng trưởng
điều ta vốn chẳng thể làm được,
đều là duyên do để thành tựu chính ḿnh mà thôi! Thế
đạo suy loạn, Nho môn từ lâu đă chẳng có
người. Nguyện túc hạ dốc chí làm bậc quân tử
nho. Người học Phật trong thời gần đây,
vừa mới nghe giảng đă chỉ mong làm pháp sư. Nếu
chẳng nghĩ làm pháp sư, sẽ chẳng chịu dốc
ḷng nơi Phật pháp. Nếu là kẻ học Nho, vừa
đọc sách, đă chỉ mong đỗ Tiến Sĩ. Nếu
chẳng mong đỗ Tiến Sĩ, sẽ chẳng học
hành! Trọn chẳng biết học hành chính là con
đường chánh đáng của thánh hiền, nghiên cứu
Phật pháp là con đường chánh đáng để
thành Bồ Đề, sanh về Tây Phương! Buồn
thay! Nhưng Phật môn c̣n có một hai người biết
thành Phật, Nho môn trọn chẳng có một ai nghĩ làm
thánh hiền, sao cơi đời chẳng loạn cho
được? Đă loạn sao lại có thể b́nh trị
cho được? Túc hạ nếu thật sự phát khởi
cái tâm quyết định làm thánh hiền, mà đức
Thích Ca chẳng ngầm xoa đầu, Khổng Tử chẳng
ngày đêm ủng hộ, sẽ chẳng có lẽ ấy!
* Thư trả lời
Trương Trung Trụ
Nho
học và Thích học tuy đạt đến mục
đích th́ khác biệt, nhưng nhập môn đại để
tương đồng. Nếu nói “tôn đức tánh”
(đề cao đức tánh) mà “đạo vấn học”
(theo đuổi sự học hỏi) th́ chính là nói “toàn
tánh khởi tu”. Nếu nói “hạ học mà thượng
đạt” tức là nói “toàn
tu hiển tánh”.
Chẳng hề có ai không ngộ trọn vẹn “tâm, Phật,
chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”, mà có thể nói là
công phu tu chứng được! Cũng chẳng có ai không
tu sâu thập thừa diệu quán mà có thể đạt tới
cực quả rốt ráo. V́ thế, trong thời gần
đây, pháp môn giản lược, cẩu thả sẽ dễ
tụ tập, h́nh thành nhất, nhưng cũng khó đạt
đến mục đích nhất. Vô thượng tâm ấn
của Phật, Tổ khó thực hiện nhất, nhưng
dễ thành tựu nhất. Ngài Quy Sơn nói: “Tông này khó
đạt được chỗ kỳ diệu. Hết sức
cần phải dụng tâm cặn kẽ, sẽ có thể
đốn ngộ chánh nhân trong ấy đều là thềm,
bậc để xuất trần. Nếu có thể đời
đời chẳng lui sụt, chắc chắn có thể
mong đạt được địa vị Phật”.
Lời lẽ của bậc tông tượng thời cổ
thảy đều châm chước, ổn thỏa, thận
trọng như thế đó, há có nên lầm tưởng một
gậy, một tiếng hét, một câu, một kệ [trong
cách điểm hóa của nhà Thiền] là lời lẽ cùng
tột ư?
Đối với các
sách ông hỏi, sách Đại Thừa Chỉ Quán tánh tướng
tổng tŕ, quả thật cùng với hai sách Phật Đảnh
Huyền Văn và Duy Thức Tâm Yếu đúng là [cốt
lơi] trong, ngoài. Nếu lưu tâm lâu ngày, sẽ nắm
được huyết mạch, sẽ có thể suy nghĩ quá nửa
giáo pháp suốt một đời đức
Phật.
Có thể nương theo sách Tiểu
Chỉ Quán để hành tŕ. Ma Ha Chỉ Quán uyên thâm, mênh
mông, cần phải cùng xem kèm với sách Phụ Hành. Đối
với diệu pháp được nói thuộc Thiền Ba
La Mật Môn, nếu công phu hơi đắc lực, có thể
dùng để xem cũng được! Hai sách Lục Diệu
Môn và Duy Ma Sớ đă bị lưu lạc lâu ngày tại Hải
Đông (Triều Tiên, Nhật Bản), nếu cậy vào sức
to lớn, lại được chiếu tỏa nơi
đất này (Trung Hoa) th́ chính là chuyện thần kỳ
muôn đời, ngày đêm đều cầu chúc!
* Thư trả lời
Trần Mân Chiêu
Gượng
bệnh soạn thảo Pháp Hoa Hội Nghĩa, bảy
mươi ngày hoàn thành, nhưng mỗi khi nghĩ Phật
đạo sâu xa, chưa từng chẳng nước mắt
đầm đ́a. Xưa kia, ngài Quy Sơn ba lượt làm
quốc vương, bèn quên bẵng Túc Mạng. Giới lăo[96]
một niệm ngẫu nhiên sai lầm, lại làm Tô Đông
Pha. Chứng đoạn khó khăn, cố nhiên chẳng
đợi phải nói nữa. Lại nhớ trong kinh, ngài A
Nan bạch Phật: “Mười hai nhân duyên, đặc
biệt dễ hiểu”. Đức Phật bảo A Nan:
“Đừng nói như vậy. Trừ một ḿnh Phật
ra, những người khác chẳng thể hiểu cùng tận
biển tánh nhân duyên”. Ngài liền nêu ra chuyện cũ
để quở trách. Xưa kia có A Tu La Tử, thưa với
cha rằng: “Biển cả rất cạn”. Cha nói: “Thân ta
cao bảy ngàn do-tuần, do huyễn thuật, biến thành
mười sáu vạn tám ngàn do-tuần bèn thấu tận
đáy. Ngươi c̣n bé, thân chỉ cao bảy trăm do-tuần,
lại chưa có huyễn thuật, sao lại coi thường
biển này vậy?” Con không tin, gieo thân vào biển, ch́m lỉm
trong sóng lớn, gần như táng mạng! Cha dùng huyễn
lực vớt ra, chỉ c̣n thở thoi thóp! Đức Phật
bảo A Nan: “Vua A Tu La thuở trước chính là thân ta.
A Tu La tử chính là thân ông. Xưa kia, ông coi thường biển
cả, chịu nỗi khổ sóng vùi. Nay lại ở trong
pháp của ta, coi thường biển
pháp mười hai nhân duyên quá sâu, sẽ chuốc lấy ác
báo”. Do vậy, A Nan hổ thẹn, hối cải, thề
chẳng khởi ư tưởng khinh dễ pháp. Cho đến
sau khi Như Lai diệt độ, [A Nan] mới hoàn tất
đại sự (chứng Sơ Quả), truyền tâm tông
của đức Phật. Giải ngộ khó khăn
như thế đó, há có thể coi thường ư?
Nghĩ tới hai nỗi khó khăn ấy, mới hết sức
buồn đau. [Hiềm rằng người đời] lầm
lạc khiến tôi mang nhục được ca ngợi,
cho là tôi đă nghĩa lư lẫn văn từ đều thấu
đáo, giải và hạnh cùng vẹn, chẳng phải là
càng khiến cho tôi không biết giấu mặt vào đâu
ư?
* Thư trả lời
Đạo Quan
Chuyện
thuộc bổn phận của chúng ta giống như uống
nước, lạnh, nóng tự biết. Nhưng có người
trước đó đă uống nước, biết lạnh,
nóng, chẳng mảy may gạt gẫm người ấy
được! Do vậy, đối với thập thừa
quán pháp, cần phải biết thứ tự. Nếu có
Quán mà chẳng có Giáo, chưa có ai chẳng đọa vào
tăng thượng mạn. Đă là bốn góc đều
sụp sát đất, chẳng giống như “khi mê th́ Pháp
Hoa chuyển”, có thể luôn chuyển kinh này, tùy văn nhập
chứng th́ mới gọi là “dụng tâm chẳng xen tạp”.
Nếu chẳng xem một chữ, th́ chữ “một” ấy
vẫn là vật gây trở ngại cho cái tâm, há chẳng phải
là hư không đă nát, mà chữ “một” vẫn
chưa nát ư? Đại địa đă ch́m, chữ Một
vẫn chưa ch́m. Thấy th́ sẽ bị nó tạp, chẳng
trở thành một phiến ư? Mong hăy suy nghĩ kỹ, ắt
sẽ phun cơm đầy bàn!
* Thư trả lời
Đạt Giới
Tâm
siêng năng làm phước, chớ nên chỉ tham thanh nhàn.
Thiếu niên thanh nhàn là chuyện bất tường; nếu
chẳng hao thọ th́ sẽ tổn phước. Đối
với hai chữ “thanh nhàn” tưởng như thuốc
độc,
th́ mới có chút phần nơi con đường xuất
sanh tử. Học thuộc kinh tuy tốt, chẳng phải
là nhiệm vụ chánh yếu của người xuất
gia. Châu Lợi (ngài Châu Lợi Bàn Đặc) chẳng tụng
thuộc nửa bài kệ, mà chứng sâu xa hai loại giải
thoát. Đề Bà thuở tại gia, thông đạt mười
hai
bộ Vi Đà, xuất gia thông thạo
tám vạn pháp tạng, chẳng cứu nổi địa
ngục A Tỳ, khổ sở trong ba đại kiếp.
Ḅ uống nước thành sữa, rắn uống nước
thành độc. Trí học thành Kiến Đế, ngu học
thành sanh tử, chẳng thể không suy nghĩ sâu xa!
* Thư trả lời
Tùng Khê pháp chủ
Mùa
Xuân năm Quư Hợi (1623), lúc bái kiến tôn giả U Khê[97],
nhằm lúc tôi vướng Thiền
bệnh, chưa nhận được chút lợi ích nào!
Mùa Đông năm Mậu Th́n (1628), gặp huynh Quy Nhất, mới
hối hận khi trước đă chạm mặt mà bỏ
lỡ! Tôi từng trích máu, đốt hương viết
bài văn cúng dường sư bá, gởi đến Thai
Lănh, bấm ngón tay tính ra đă hai mươi hai năm rồi!
Một mạch tông Thiên Thai, anh tôi (tức Tùng Khê pháp chủ)
dũng mănh gánh vác; kế
đó, ngài Đạt Nguyệt
Quản cũng góp sức phần nào! Xem phần hội hợp
sách Huyền Thiêm của ngài, một chữ cũng chẳng
dám sửa đổi chút nào, biết là gia phong chẳng suy
đọa vậy! Như đứa em hèn tệ này, tuổi
thiếu niên trúng lầm chất độc xấu ác của
Tông Môn, quen thói luông tuồng, cái tội bộp chộp
đă thấu tận tủy. Nay tuy thống thiết trừ
khử, tập khí thừa sót khó trừ. V́ thế, học
tập Thai Tông qua các di trước, chẳng dám mạo nhận
pháp phái, thật sợ trước thuật ngẫu nhiên có
chỗ sai lệch, đâm ra chuốc lấy tiếng chê bai
là “kẻ ở ngoài núi, trái nghịch tông”.
Em soạn thuật Pháp
Hoa Hội Nghĩa gần đây là do tại Lưu Đô
nhiễm mùi vị chua thối rỗng tuếch của bạn
tri âm
đă lâu, trọn chẳng biết cương
tông Quyền, Thật, Bổn, Tích, huống hồ đạt
được bốn món lợi ích Tất Đàn do quán tâm
ư? Nói tới tam đại, ngũ tiểu[98],
vừa mới mở sách ra, không ǵ chẳng phải là dơi
nh́n biển cả mà lùi bước. Bất đắc
dĩ, trộm lấy ư chỉ từ sách Văn Cú và ngài Diệu
Lạc (Kinh Khê tôn giả), riêng diễn giải bằng lời
văn b́nh dị, cặn kẽ, ḥng làm phương tiện
dẫn dụ kẻ mờ mịt mà thôi! Trong khi giải
thích kinh văn, cách chấm câu không ǵ chẳng phải là sai
khác đôi chút, chứ đối với ư nghĩa, thời
tiết trong giáo pháp, há dám có nghị luận sai khác ư?
Nhưng đặt để ở ngoài cửa [tông Thiên
Thai], chẳng ngại xưng là công thần. Thâu đệ
vào trong thất, ắt chẳng khỏi là nghịch tử.
Hiểu tôi hay trách tội tôi, đành nghe theo mà thôi!
* Thư gửi
Đường Nghi Chi
Đọc
lời tựa sách Tu Hành Hội Nghĩa, biết ông có kiến
giải trác tuyệt, chỉ nói: Tu hành cần phải tu Bát
Nhă, Bát Nhă lấy Thật Tướng làm Thể, quán chiếu
làm Tông, vô trụ sanh tâm làm nhân, Chủng Trí rốt ráo làm
quả. Kinh nói: “Ư pháp thật vô sở đắc, bất
khả dĩ tam thập nhị tướng đắc kiến
Như Lai, vô hữu pháp đắc Bồ Đề, cố
Nhiên Đăng thọ kư” (Đối với pháp thật
sự chẳng có ǵ để đạt được,
chẳng thể dùng ba mươi hai tướng để
thấy Như Lai, chẳng có pháp để đắc Bồ
Đề. V́ thế được
Phật Nhiên Đăng thọ kư), đều là chỉ dạy
lúc mới thực hiện. Dùng “vô sở đắc”
làm quán môn phương tiện, tức là nói “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên đừng trụ vào
đâu mà sanh tâm). Cư sĩ ngược lại phán định
đó là Đệ Nhất Nghĩa Đế, đó là
điều đáng nên bàn định.
Luận nói: “Chẳng
ĺa Phật thế trụ, cung cấp Như Lai trụ, cầu
Phật giáo thọ trụ” đều nhằm chỉ
rơ: Trong địa vị Bồ Tát, đạt được
một phần thọ dụng chân thật. Đó gọi là
“dần
dần trụ trong Cứu Cánh Chủng Trí”.
Cư sĩ ngược lại phán định là lời lẽ
trung thực, khoan dung. Đấy là điều thứ hai
đáng nên thương lượng. Xin dùng thí dụ để
nói rơ: Hoàng Đế mất châu, Vọng Tượng t́m
được! Nay đối với “pháp thật sự chẳng
có ǵ để đạt được” v.v… đều là
Vọng Tượng t́m cầu, há có thể gọi đó là
Đệ Nhất Nghĩa Đế ư? “Chẳng ĺa
Phật thế, cung cấp Như Lai, cầu Phật dạy bảo”,
đều là tên gọi khác của huyền châu, há có thể
gọi đó là công phu thiết thực ư? Tuy
Vương Văn Thành (Vương Dương Minh) nói: “Gọi
răn dè, cẩn thận, e sợ[99]
là bản thể th́ cũng được, gọi chẳng
thấy chẳng nghe là công phu cũng được”.
Nhưng “răn
dè, cẩn thận, e sợ” rốt cuộc là
công phu để thấu đạt bản thể, giống
như cái được gọi là “ư pháp thật vô sở
đắc” (nơi pháp thật sự không có ǵ
để đạt được) v.v… “Chẳng thấy,
chẳng nghe” rốt cuộc là bản thể được
hiển lộ bởi công phu, giống như nói “chẳng
ĺa Phật trụ thế” v.v… Nếu thẳng thừng
coi “vô sở đắc” v.v… là Đệ Nhất
Nghĩa Đế, khác ǵ Thiên Không? Coi “chẳng ĺa Phật
trụ thế” v.v… là công phu, có khác ǵ chấp tướng?
Dùng công phu chấp tướng để cầu Thiên Không
Nghĩa Đế, đó là trái nghịch Bát Nhă, há có phải
là tu hành Bát Nhă ư?
Các mối quan hệ ấy
mê, ngộ rạch ṛi,
nếu chịu lănh hội cặn kẽ một phen, sẽ chẳng
chỉ có một phen chân thật thọ dụng, mà ngay như đối
với lỗ mũi của cổ nhân, cũng quyết chẳng
hướng theo chỗ giống nhau hay khác nhau nơi
văn tự để suy đoán. Nạp tăng gần
đây duyệt lại sáu trăm quyển Đại Bát
Nhă, thấy nghĩa thú ấy càng rộng, càng giản ước,
không pháp nào chẳng lưu xuất từ đấy, không pháp nào chẳng quy vào đó.
Lục Tổ nói “pháp nào cũng đều thông, pháp nào
cũng đều trọn, nhưng không có một pháp để
có thể được”. Chính v́ không có một pháp nào
để có thể được; cho nên pháp nào cũng
đều thông, pháp nào cũng đều trọn, không một
pháp nào để có thể đạt được. Thực
hiện công phu nơi tối thượng thừa, pháp nào
cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn, tối
thượng thừa viên măn bản thể. Nếu có một
pháp để có thể được, sẽ bị một
pháp ấy trở ngại, chẳng thể “pháp nào
cũng đều thông, pháp nào cũng đều trọn” được.
Như Đường
Thái Tông nếu chẳng một phen liều
ḿnh tan nhà, mất thân, sao có trọn thiên hạ cho được?
Tức là lấy thiên hạ
làm nhà, lấy thiên hạ làm thân. Quên thân, quên nhà, chính là thân
và nhà không ǵ lớn bằng. V́ thế, đối với
pháp mà
thật sự chẳng có ǵ để
đạt được, sẽ luôn chẳng ĺa Phật
thế (đời có Phật xuất hiện). Chẳng
dùng tướng để thấy Như Lai, tức là luôn
cung cấp Như Lai. Chẳng có pháp để đắc Bồ
Đề, sẽ có thể cầu Phật dạy bảo.
Như vậy th́ mới gọi là tu hành Bát Nhă, mới có thể
hàng phục cái tâm, mới là “trụ
nơi nên trụ”. Nếu
không, y theo văn tự để hiểu nghĩa, ba đời
chư Phật bị oan uổng. Dẫu hành Lục Ba La Mật
trăm ngàn vạn kiếp, do có sở đắc làm
phương tiện, rốt cuộc gọi là “xa ĺa Bát Nhă rất sâu” mà thôi! Xưa kia,
tôi lầm lạc soạn Phá Không Luận để phá cái
[kiến chấp] “đắc Không” của người hiện
thời. Nếu vô sở đắc, sẽ chẳng đắc
Hữu, mà cũng chẳng đắc Không, cũng chẳng
đắc “vô sở đắc”, có ǵ để có thể
phá nữa ư?
* Thư đáp
Đường Nghi Chi (hai
lá thư)
1) Ư
hỏi, xin nói thẳng ra. Câu hỏi của ngài Tử Bách
là lời hỏi trọng yếu, hỏi thiết thực,
hỏi mầu nhiệm, là lời hỏi chặn ngang yết
hầu, là lời hỏi đoạn dứt mạng
căn. Hăy chú trọng nơi chỗ hỏi, sẽ mười
phần vẹn mười ngộ đạo. Lời hỏi
của cư sĩ là lời hỏi ngây ngốc, lời hỏi
lẩn quẩn, lời hỏi đùa bỡn, lời hỏi
chẳng thông đạt nghĩa lư, là lời hỏi Phật
sẽ chẳng đáp. Nếu hướng
theo đó để suy nghĩ loạn xạ, sẽ mười
phần chắc mười là phát tà!
Kinh dạy chẳng nên nghĩ mà cứ nghĩ, chẳng nên
hỏi mà cứ hỏi, đâm ra thành cái trí nhiễm độc.
Sáu trăm quyển Bát
Nhă được gồm thâu trong Tâm Kinh. Tâm Kinh chỉ có
hai ba trăm chữ, nhưng một lời “chiếu kiến
Ngũ Uẩn” đă bao gồm trọn vẹn. Một lời
“chiếu kiến” được bao gồm trọn vẹn
trong hai chữ “sắc tâm”. Phàm cái được chiếu
(sở chiếu), không ǵ chẳng thuộc vào Sắc, cái có
thể chiếu (năng chiếu) không ǵ chẳng thuộc
về tâm. Nhưng Năng và Sở đều vô tánh, do vọng
niệm mà lập. Một niệm nhỏ nhoi chính là nguồn
cội của sắc tâm. Xét đến một niệm ấy
vừa khởi, chẳng từ đâu mà khởi, hoàn toàn
nương theo chân tánh. Nhưng chân chẳng phải là cái
nhân của vọng, do nhân nào mà khởi vọng? Chân chẳng
phải là ngoài Hữu, vọng há đến từ bên ngoài?
Lần lượt suy xét, loại trừ, rốt cuộc
cái vọng ấy từ đâu mà dấy khởi?
Mối nghi t́nh thật
sự như tường bạc, vách sắt ấy chính là
thoại đầu thật sự, Bất luận năm,
tháng, thời, kiếp, chỉ có khối nghi ấy. Lông mày
cùng đại địa kết chặt, để hiểu
th́ cần phải t́m một phần sáng suốt. Chuột
chui vào sừng trâu đến chỗ đầu nhọn, chắc
chắn sẽ có chỗ đoạn trừ điên đảo.
Lại như chuột gặm quan tài, chẳng thủng sẽ
chẳng ngừng. Nghi như thế, đừng quên, đừng
giúp, khi cơ duyên đến, phun đất mà ngộ, mới
biết thế giới, thân, tâm, vốn là mộng mắt,
hoa đốm trên không vốn chẳng sanh, cũng lại
chẳng diệt. Há có vô thỉ kiếp trước? Nguyên
do dấy lên ư niệm lúc tối sơ có thể hỏi,
như kẻ si nói mớ.
Xét theo ngộ môn phun
đất ấy, lại chia thành cạn, sâu, tà, chánh. Nếu
nói đại lược, có người đạt
được tin tức cắt đứt hai đầu
này, sẽ nói là “hễ là không th́ vĩnh viễn là không”, chẳng
c̣n tu chứng để có thể luận, tức là ác thủ
không kiến, đâm ra đọa vào hố to. Có người
tuy đạt
được điều ấy, biết
rơ “thân, tâm, thế giới đều như
mộng, ảnh”, chấp trước dần dần nhẹ
bớt, tu hành dần dần tiến. Đó là Càn Huệ. Có
người
đạt được điều ấy, biết
“thân, tâm, thế giới tuy như huyễn cảnh”,
chỉ có “chân tâm bất sanh, bất diệt” là chỗ
nương vào của hết thảy sanh diệt. Do vậy,
hưng khởi Lục
Độ vạn hạnh như
mây để giúp trang nghiêm chân tâm, tự
lợi và lợi tha chính là Trung Đạo chánh tín. Có người
đạt
được điều ấy, liễu
giải hư vọng vô sanh, toàn là tánh khởi, chân tánh chẳng
sanh, chẳng diệt, tức là hết thảy các pháp cũng sẽ
ngay lập tức đều là bất sanh, bất diệt.
Chân tánh trọn đủ hết thảy các pháp, tạo hết
thảy các pháp.
Hết thảy các pháp cũng đều
trọn đủ hết thảy các pháp, tạo hết thảy
các pháp, bèn thấy các pháp dung thông lẫn nhau, trọn đủ
lẫn nhau, trọn khắp lẫn nhau, chứa trọn lẫn
nhau. Tuy lại tầng tầng dung hội, trọn đủ,
trọn khắp, chứa trọn, vẫn chẳng không ở
nơi đâu. Tuy không ở nơi đâu, nhưng vô tận,
vô tận, pháp nào cũng đều rành rành. Đó gọi là
phàm phu trọn đủ phiền năo trói buộc có thể
biết tạng bí mật của Như Lai. Dẫu là nhục
nhăn, mà gọi là Phật nhăn. Từ đầu tới cuối,
dùng Phật tri Phật kiến ấy để tu hành, thẳng
đến viên măn Bồ Đề, quy vào vô sở đắc,
trung gian vĩnh viễn chẳng có các tướng cong vạy.
Ngài Quy Sơn nói: “Tông
này khó đạt được chỗ kỳ diệu. Cần
phải dụng tâm kỹ càng, chánh nhân đốn ngộ
trong ấy, sẽ
là thềm, bậc xuất thế. Nếu đời đời
có thể chẳng thoái, chắc chắn có thể mong đạt
tới địa vị Phật” chính
là nói về điều này. Há giống như những kẻ
giảng giải đời sau, hư vọng so đo tích
lũy công hạnh, chẳng hiểu pháp tánh b́nh đẳng!
Lại há giống như kẻ cuồng Thiền hiện
thời, hư vọng so đo “tức tâm, tức Phật”,
chẳng biết nghĩa môn sai biệt đó
ư? Nhưng muốn phát khởi diệu ngộ, hoặc
từ Tư mà nhập, hoặc từ Văn nhập, Sự
chẳng nhất loạt như nhau! Chỉ nên gột sạch
tri kiến trước đó, khiến cho sạch hết
chẳng sót,
th́ mới kham có lợi ích mới!
2) Lời
ngông cuồng nghe mà kinh hăi, mong được tiếp nhận,
chẳng vứt bỏ. Cho phép tôi dùng lời trung thực
để thưa tŕnh. Chữ nào cũng là kim vàng, đáng
ghi tạc, đáng biên chép! Than ôi! Sau khi huynh Tỉnh Cốc
qua đời, đă lâu chẳng được nghe lời
lẽ chánh trực, chân thành. Nay may mắn sao, có được
vị lăo cư sĩ này! Tuy tập khí sâu nặng, sẽ
nhiều lượt nghĩ tới vị thuốc tốt
lành này, sẽ dần dần được lành. Tôi suốt
đời lắm nỗi lỗi lầm, không chỉ hai loại
là nóng giận và dễ dăi vui mừng. Càng mong chẳng tiếc
lời thẳng thắn khiến cho tôi sửa đổi.
Nhưng chuyện nổi nóng là v́ hết sức bất
đắc dĩ. Năm trăm đệ tử, mỗi vị
đều nói cái nhân của chính ḿnh. Tuy chẳng phải là
ư Phật, nhưng mỗi vị đều được
gọi là “khéo nói”. Do nhập môn bất đồng,
nhưng về đến nhà là một, lại chẳng biết
ư chân thật của Phật, đều thuận theo quyền
môn của Phật. Do vậy, chẳng trở ngại. Nếu
như Dương Mặc[100]
tràn trề nhân nghĩa, ắt Mạnh Tử phải sợ,
rảnh đâu để lo biện bác, chê gièm ư? Do vậy,
Từ Minh mắng chửi các phương, Đại Huệ
thống thiết quở trách ám chứng, vướng đại
họa mà chẳng dám tránh né, chắc là có riêng một
đường lối, chẳng thể xếp cùng loại
với pháp của Vân Thê, Trúc Lâm được. Tuy vậy,
kẻ hèn này dốc sức học theo [tư thái] chẳng
cần phẫn nộ mà vẫn oai nghiêm. Cư sĩ lượng
thứ sâu xa nỗi khổ do bị vùi dập, chắc là
cũng chấp thuận đấy chăng?
* Thư gửi Đạt
Nguyệt pháp chủ
Tôn
giả một ḿnh rảo gót trong tông Thiên Thai, không chỉ gần
là thừa tiếp đầu mối của ngài U Khê, mà thật
sự là xa hơn th́ c̣n
kế thừa giáo pháp của ngài Kinh Khê, chẳng như một
phái Cao Đ́nh hữu danh vô thực. Từng nghe trong tông
Thiên Thai có nhiều người thuận tùng, cớ sao trong
môn Tức Trung lại có vàng nung chảy trào khỏi khuôn
đúc vậy? Nhớ mùa Xuân năm Giáp Tuất (1634), thấy
bộ Pháp Hoa Bách Vấn của Kim Nhă Thái. Khi đó, tôi
cười x̣a, cất đi, chẳng ngờ đă trải
qua bảy năm, [sách
ấy] chưa bị hủy diệt bởi
búa ŕu! Nay lại được khắc in xong, sao lại
phóng túng không kiêng dè đến thế? Tuy [tác phẩm ấy]
tệ lậu, nông cạn, tệ hại, vẫn có một
hạng người mù từ thuở lọt ḷng liền vâng
theo lời dạy bảo ấy. Nơi tôn giả đă chẳng
răn đe, gây hại cho kẻ ngu muội, tiểu trí
đến mức
nào?
Xưa kia, đức
Thế Tôn đối với sự trái nghịch của
Đề Bà Đạt Đa, ắt sai Xá Lợi
Phất hướng đến các vua chúa, quan lại, nói rộng
tội lỗi của Đề Bà Đạt Đa. Há tôn
giả có thể riêng im lặng ư? Tôi thấy chuyện
tiếm lạm, trộm lén ấy, ḷng bi dâng trào từ gan,
phổi, đành tự dấn thân học đ̣i tắm gội,
xin thảo phạt[101],
thẳng thừng phê phán những nghi vấn tà vạy của
ông ta, tŕnh lên các vị phương trượng. Pháp đạo
suy bại càng thậm tệ vào lúc này, người phá hoại
chánh giáo không chỉ ḿnh họ Kim. Tôn giả khi trước
làm thân cư sĩ, đă được trời, người
trọng vọng, huống hồ nay nghiễm nhiên là nghi biểu
sa-môn.
Thích Ca, Trí Giả, Kinh Khê nếu thật sự nh́n vào, sao
dung tôn giả thoái thác trách nhiệm ấy?
* Thư gửi Kiến
Nguyệt luật chủ
Luật
học bị sai lạc đă gần một ngàn năm. Hai
vị thầy Nghĩa Tịnh và Hoài Tố đă mất,
trọn chẳng có người có thể biết rơ khai,
giá, tŕ, phạm, nặng, nhẹ, hoăn, gấp. Gần
đây, Mẫn Trung Đại Huệ luật chủ mới
uốn nắn được một nửa ít ỏi, vẫn
chưa khôi phục được quy củ thơm thảo
thời đức Phật. Húc lại bạc đức,
ít phước, chẳng đáng cho người khác tin
tưởng, thức ngủ than thở măi, lệ đẫm
đầm đ́a. Ṭa nhà lớn sắp nghiêng, chắc chắn
một cột chẳng thể chống đỡ nổi. Gần đây, nghe nói tọa
hạ phấn phát chí hướng kim cang, nắm giữ
đuốc trí huệ, trừ khử thói tệ, tuân theo thời
cổ, tôi vui mừng chẳng ngủ được. Mong
được gặp gỡ, dâng trọn tấc ḷng ḥng
tăng thêm sự thánh minh, để bụi trần lắng
xuống đại địa, nước đổ vào biển
thẳm. Tọa hạ đă đắc tận thiện tận
mỹ, Húc cũng chẳng bị ôm hận “ôm đá chứa
châu mà bị chặt chân”[102].
Mùa Hạ năm nay, giảo duyệt cặn kẽ sách Tập
Yếu một lượt, bèn sửa chữa hoàn tất. Số
quyển so với bản cũ chẳng nhiều hơn,
nhưng lược bỏ phần rườm rà, bổ
sung những chỗ trọng yếu, khá là tinh giản, vâng
theo lời khuyên của bậc sáng mắt!
* Thư gửi Lưu
Thuần Chi
Đại
sự nhân duyên này bị sai ngoa tích tụ đă lâu, người
lanh lợi thường thêm thắt ư kiến, dám khí phách
gánh vác, như các vị Từ Tập v.v… đáng là những
tấm gương tày đ́nh! Sách Ngũ Đăng Hoa há chẳng
bị người sáng mắt ngàn đời cười nhạo
ư? Ông Trần Dục hoằng dương, hộ tŕ sâu
xa, là nhục thân Vi Đà, nhưng trong chuyện thuộc bổn
phận, có khi tinh tế, xảo diệu, chẳng thẹn
với cổ nhân. Có khi thô sơ, qua quít, c̣n chẳng kham
xách hài rơm cho tọa chủ, mà cũng chưa từng trải
qua rèn luyện. Trong pháp môn, ông ta có kinh nghiệm tột bậc,
nhưng trọn chẳng gánh nổi chữ Ngộ, rất
thích chiếm tiện nghi, ư hướng hơi sút kém, thua xa
cái hư tâm lúc c̣n là Tú Tài! Khoa cử trong thế gian thật
sự có thể mai một bậc hiền hào ư? Đáng
sợ thay!
* Thư trả lời
Trương Trung Trụ
Ông
ban lời phủ dụ “căn bệnh chung trong cơi đời
là chỉ ưa chuộng đạo tràng náo nhiệt”, quả
thật là một mũi kim đâm thẳng vào đỉnh
đầu của thầy tṛ trong hiện thời. Sáng tối
Phật hiệu và chú Đại Bi chính là thuyền Từ
trong biển hoạn lộ. Tự lợi, lợi tha, pháp
đều trọn đủ! Chỉ sợ ở ngay trong
điện Hàm Nguyên mà vẫn t́m Trường An. Nhưng
trượng thất[103]
lưu tâm giáo pháp viên đốn, chắc chắn chẳng
giống như bọn sĩ phu lanh lợi trong thời gần
đây, đánh mất tiện nghi ngay nơi chỗ đạt
được tiện nghi!
* Thư gửi Tiền
Mục Trai
Mùa
Hạ năm nay,
hai lần bệnh nặng gần chết. Đến cuối
Thu mới duyệt Đại Tạng xong. Giữa Đông
lại bệnh khá nặng, suốt bảy ngày đêm chẳng
thể ngồi, nằm, chẳng thể ăn uống, chẳng
thể điều trị, chẳng có cách nào phân giải,
chỉ đành đau ḷng khóc lóc xưng danh tự Phật,
Bồ Tát, cầu sanh Tịnh Độ mà thôi. Phàm phu trọn
đủ phiền năo trói buộc, tổn ḿnh, lợi
người, người khác chưa ắt được
lợi, ḿnh đă mắc hại như vậy đó!
Thường ngày thật sự chỉ ra sức nơi tâm
tánh, vẫn chưa đắc lực, huống hồ chỉ
dùng
sức nơi văn tự ư? Xuất sanh tử, thành Bồ
Đề, trọn chẳng phải là chuyện dễ dàng!
Chẳng phải là bậc trượng thất, ai biết
lời thật ấy?
* Thư trả lời
Tiền Mục Trai
“Tế
Vân đấu tránh”[104]
chẳng khác tṛ đùa trẻ con. Đọc Nho Thích Tông Truyền
Thiết Nghị (trộm bàn về sự tông truyền
trong đạo Nho và đạo Phật), đáng phó cho một
trận cười vậy! Chuyện Tục
Đăng tập hợp trọn khắp ngữ lục
đời Minh mới thành, chẳng phải là chuyện có
thể hoàn tất trong sáng tối. Thân chưa vùi lấp vào
ng̣i rănh (ư nói chưa chết), sẽ lấy ba bốn
năm làm kỳ hạn. Trước thuật cần phải
thật sự từ trong tâm khảm của chính ḿnh lưu
xuất th́ mới có thể rạng ngời, trước
sau chưa từng có! Nếu chẳng phải do an trụ,
bản lănh sâu xa, trái phải đều gặp nguồn, lại
c̣n đọc rộng tột cùng các sách, chọn lọc trọn
khắp các điều hay, sẽ trọn chẳng phải
là tùy tiện dựa theo lương tri phát hiện mà thâu thập,
chẳng thể gọi
là “tập đại thành”[105]
được!
Đại Bồ Tát
nương theo nguyện lực mà xiển dương chánh
pháp, cần phải như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả,
Thanh Lương, lập
ra chuẩn tắc tối cao ngàn đời. C̣n
như các vị Khuê Phong, Trường Thủy, tuy mỗi vị
đều có sở đắc, vẫn chưa tránh khỏi
bị người sáng mắt phê phán, huống hồ những
kẻ khác ư? Xin trượng thất hăy cân nhắc! Hám
Sơn đại sư tánh tướng thông thuyết, lâu
ngày bị Giáo gia chê cười là vô dụng, gây hại.
Đạt đại sư dùng tám pháp thuộc Năng
và Sở
để giải thích hai chữ tánh và cảnh, bất quá
v́ tuân theo sự sai lầm của Lỗ Am[106],
tu tập mà chẳng suy xét, ngọc trắng có vết rạn
nhỏ. Giao Quang đề xướng “dùng Căn chẳng
dùng Thức”, chất độc truyền khắp thiên hạ,
gây họa vô cùng, chẳng phải do một lời mà nói trọn
hết được! Giảo đối sách Tông Kính
đă xong, xin gởi trở về núi. Sách Thông Dực[107]
như đă hứa cũng xin rộng ḷng giao cho!
Linh
Phong Tông Luận, phần 5 hết
[1] Tứ vi: Bốn loại
sắc, hương, vị, xúc cực vi tế. Chúng chính là
nguyên tố của sắc pháp, nương vào đó mà hóa
thành Tứ Đại.
[2] Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách diễn giải của trang nhà Hán Điển.
[3] Bảy
cảnh: Chính là bảy loại cảnh dùng để tu Từ
Bi Quán, bao gồm: Người thân thuộc thượng phẩm,
người thân thuộc trung phẩm, người thân thuộc
hạ phẩm, hạ phẩm oán, trung phẩm oán, thượng
phẩm oán và chẳng oán thân.
[4] Tam lạc
tức ba loại lạc:
1) Ngoại lạc:
Sự vui sướng do năm thức (nhăn thức, nhĩ
thức…) duyên theo ngũ trần.
2) Nội lạc:
Tức niềm vui sanh bởi ư thức do Sơ Thiền, Nhị
Thiền, Tam Thiền v.v…
3) Pháp lạc lạc:
Tức niềm vui sanh bởi pháp lạc, do trí huệ sanh
khởi, cũng do xa ĺa tâm chấp ngă, tâm chẳng an chúng
sanh v.v…
[5] Thạc Nhân (碩人) vốn là một
danh xưng hàm nghĩa “người phụ nữ
hiền hậu, đức hạnh, ẩn dật”. Kể từ đời Tống, vợ
của quan Thị Lang trở lên được phong hiệu
là Thạc Nhân. Về sau, từ ngữ này được
dùng để tôn xưng phụ nữ.
[6] Kính
ngữ để gọi cha mẹ quá văng của người
khác.
[7] Diêu Giang học phái
chính là một trường phái Nho học theo chủ
trương Tâm Học của Vương Dương Minh (ông này tên thật là
Vương Thủ Nhân, tự là Bá An, hiệu là
Dương Minh Tử). Ông vốn quê ở Diêu Huyện thuộc
phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang. Diêu Giang là con
sông lớn chảy qua Diêu Huyện. Tứ Thủy và Thù Thủy
là hai con sông chảy qua huyện Khúc Phụ (quê hương
của Khổng Tử).
[8] Đoạn này viết
vắn tắt nên hơi khó hiểu.
Trong thiên Tử Hăn sách Luận Ngữ, nguyên văn như
sau: “Nhan Uyên quư nhi thán viết: - Ngưỡng chi di cao, toản chi di
kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu, phu tử tuần
tuần thiện dụ nhân, bác dĩ ngă văn, ước
ngă dĩ lễ, dục băi bất năng, tức kiệt
ngô tài, như
hữu sở lập trác nhĩ, tuy dục tùng chi, mạt
do dă dĩ” (Nhan Uyên than rằng: “Đạo của phu tử ngửa
trông càng cao, dùi mài càng cứng, nh́n th́ như ở đằng
trước, bỗng đă ra sau. Phu tử từng bước
khéo khuyên dạy tôi, dùng các thứ kinh điển để
mở rộng kiến thức của tôi, dùng lễ để
ước thúc hành vi của tôi, khiến cho tôi không thể ngưng học tập. Dẫu
tôi dùng cạn hết tài sức vẫn như nh́n vào thứ
sừng sững trước mặt tôi, tuy muốn theo
đuổi ḥng đạt được như Ngài, nhưng vẫn chẳng
thể được). Chúng tôi chuyển ngữ đoạn
này theo cách diễn giải đăng trên trang nhà Phật
Giáo Huệ Nhật, phần Nho Gia Văn Hóa.
[9] Ba vị này đều
là học tṛ của Khổng Tử, Tử Do và Nhiễm Cầu
thích ra làm quan để giúp dân giàu nước mạnh, Công
Tây Xích chỉ chuyên chú trọng lễ nhạc.
[10] Đây là một câu nói
trong thiên Lư Nhân sách Luận Ngữ: “Bất nhân giả, bất
khả dĩ cửu xử ước, bất khả
dĩ trường xử lạc. Nhân giả an nhân, tri giả
lợi nhân” (kẻ bất nhân chẳng thể ở măi
trong cảnh nghẻo khổ mà cũng chẳng thể ở
măi trong cảnh vui sướng, v́ họ rất dễ bị hoàn cảnh xoay chuyển,
chẳng vâng giữ bổn phận. Người có ḷng nhân
th́ sẽ an vui trong điều nhân đức, chẳng mong
mỏi sẽ đạt được ǵ do chuyện nhân
đức đem lại. Người có trí do lợi ḿnh, lợi người mà
hăng hái làm chuyện nhân đức). Chúng tôi chuyển ngữ
câu này theo cách giải thích của Tử Viên trong loạt bài
Luận Ngữ Giản Thuyết trong tạp chí Minh Luân của
Đài Trung Liên Xă.
[11] Bạch Lộ và Thu
Phân là hai trong hai mươi bốn tiết khí theo cách phân
định thời tiết của Trung Hoa trong một
năm. Tiết Bạch Lộ thường bắt đầu từ 7-9 tháng Chín, c̣n Thu Phân bắt đầu
ngày 22-24 tháng Chín. Sách Nguyệt
Lệnh Thất Thập Nhị Hầu Tập Giải giảng:
“Hơi nước từ
đất bốc lên ngưng thành sương, mùa Thu thuộc
Kim, Kim màu trắng. Bạch là sương có màu trắng. Khí trời bắt đầu
chuyển sang tiết lạnh, ban ngày c̣n nóng, nhưng đêm
xuống nhiệt độ hạ dần”. Lúc này các loài chim bắt
đầu bay xuống phương Nam tránh rét. Khi ấy, mặt trời c̣n chiếu
thẳng xuống đường xích đạo, điểm
chiếu thẳng của mặt trời sẽ chuyển dần về phương Nam.
Trong thời
gian tiết khí này, ngày đêm vẫn c̣n dài bằng nhau, nên gọi là
Thu Phân (chia đều), tương ứng với tiết
Xuân Phân. Sau tiết Thu Phân, ngày ở Bắc Bán Cầu sẽ
ngắn dần, đêm dài dần, trong khi tại Nam Bán Cầu th́ ngược
lại.
[12] Đây là nói theo ư của
Mạnh Tử: “Sát nhất vô cô dĩ thủ thiên hạ,
nhân giả bất vi dă” (Giết một người vô tội
sẽ được cả thiên hạ, người có ḷng
nhân vẫn chẳng làm). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo
lời giảng của pháp sư Ngộ Đạo trong loạt
bài giảng về Quần Thư Trị Yếu.
[13] Đây là một câu nói
trích từ thiên Tử Hăn trong sách Luận Ngữ: “Tử
úy vu Khuông, viết: - Văn vương kư một, văn bất
tại tư hồ? Thiên chi tương táng tư văn dă,
hậu tử giả bất đắc dữ vu tư
văn dă. Thiên chi vị táng tư văn dă, Khuông nhân kỳ
như dư hà?” (Khổng Tử bị uy hiếp, vây hăm
ở đất Khuông, nói: - Châu Văn Vương đă mất,
văn minh lễ nhạc của Ngài há chẳng phải do
ta ǵn giữ ư? Nếu trời muốn tiêu diệt
văn minh, lễ nhạc ấy, ta chết rồi cũng
không có ai ǵn giữ nữa. Nếu trời chưa diệt
văn minh lễ nhạc ấy, người đất
Khuông làm ǵ được ta?) Chúng tôi chuyển ngữ
đoạn này theo lời chú giải của Tiền Mục.
Khổng Tử từ nước Vệ sang nước Trần,
đi qua đất Khuông (nay thuộc huyện Trường
Viên, tỉnh Hà Nam). Trước
đó, Dương Hổ là người nước Lỗ
từng cướp bóc đất Khuông. Khi đó, người
đất Khuông thấy tướng mạo Khổng Tử
tương tự Dương Khuông, tưởng là
Dương Khuông quay lại, nay thấy Ngài không có quân lính, bèn vây hăm, toan giết
chết. Tiền Mục cho rằng “văn” trong đoạn
Luận Ngữ trên đây phải hiểu là chế độ
lễ nhạc, là đại đạo.
[14] Đây là một câu thuộc
phần Quái Từ (giải thích ư nghĩa của quẻ)
trong kinh Dịch nhằm giải thích quẻ Thiên Hỏa
Đồng Nhân. Chúng tôi chuyển ngữ theo cách giải
thích của trang nhà Quốc Dịch Đường. Theo họ,
Dă phải hiểu là chỗ khoảng khoát, đồng trống
ở ngoài các thành ấp thời cổ.
[15] Quẻ Càn do sáu vạch liền tạo
thành, mỗi vạch ấy được gọi là hào
Dương. Mỗi hào
Dương lại được gọi là Cửu. Sơ
Cửu tức là hào thứ nhất (tính từ phía
dưới lên). Ư nghĩa của hào này được giải thích
là “tiềm long vật dụng” tượng trưng
cho sự việc mới phát triển h́nh thành, dẫu có
ưu thế tiềm tàng, nhưng chưa đủ sức,
chưa gặp thời cơ thuận lợi để vận
dụng tốt đẹp, giống như rồng c̣n ẩn
trong nước, chưa đủ sức bay lên để
phun mưa, nhả mây.
[16] Tức là lần
lượt nói về các hào trong quẻ Càn. Sơ Cửu là “tiềm
long vật dụng”, hào thứ hai là “kiến long tại
điền” (thấy rồng nơi ruộng, tức
đă đủ tài đức để xuất đầu
lộ diện). Hào thứ ba là “quân tử chung nhật
càn càn, tịch dịch nhược lệ, vô cữu” (ư
nói quân tử tài đức đă hiển hiện, sẽ
khiến cho người khác chú ư, suốt ngày đêm đều
phải cảnh giác, răn nhắc chính ḿnh để pḥng
ngừa tai họa. Hành xử như thế th́ dẫu trong
cảnh tai họa, vẫn không phạm sai lầm). Hào thứ
tư là “hoặc dược tại uyên, vô cữu” (hoặc
nhào xuống vực, không phạm sai lầm, tức là tùy
cơ ứng xử thích hợp). Hào thứ năm là “phi
long tại thiên, lợi kiến đại nhân” tức
là rồng bay vọt lên trời, tự do, tự tại,
lên cao xuống thấp, tùy ư tự tại.
[17] Đây là nói theo ư của
một đoạn trong sách Trung Dung: “Quân tử ḥa nhi bất
lưu, cường tai kiểu! Trung lập nhi bất ỷ,
cường tai kiểu! Quốc hữu đạo, bất
biến tắc yên, cường tai kiểu! Quốc vô đạo,
chí tử bất biến, cường tai kiểu”. Khổng
Dĩnh Đạt giải thích: “Bậc quân tử ḥa
đồng với mọi người, nhưng chẳng bị
lôi cuốn, biến đổi theo thói tục, đó là
người thật sự mạnh mẽ. Giữ ǵn
được sự trung chánh chẳng thiên vị, đó
là người thật sự mạnh mẽ. Quốc gia có
thịnh trị bèn chẳng thay đổi chí hướng,
đó là người thật sự mạnh mẽ. Quốc
gia rối loạn, kiên tŕ giữ vững tiết tháo, thà chết
chẳng biến đổi, đó là người thật sự
mạnh mẽ”.
[18] Vua Vũ (禹) c̣n gọi là Đại
Vũ, thuộc bộ tộc Hạ Hầu, họ Tự,
tên là Văn Mạng, cháu tám đời của Hiên Viên Hoàng
Đế. Do có công trị thủy (ngăn ngừa lũ lụt),
ông được Đế Thuấn truyền ngôi, sáng lập
ra nhà Hạ.
Tắc hay Hậu Tắc
(后稷), họ Cơ, tên là
Khí, được coi là thỉ tổ nông nghiệp của
Trung Hoa. Ông sanh ở Tắc Sơn (nay là huyện Tắc
Sơn thành phố Vận Thành, tỉnh Sơn Tây). Ông là thỉ
tổ nhà Châu. Theo truyền thuyết, mẹ ông là
Khương Nguyên thuộc bộ tộc Hữu Thai, do giẫm
vào vết chân của người khổng lồ mà hoài thai
sanh ra ông. Coi đó là bất tường, nên ba lần bà vứt bỏ ông; do vậy, ông có tên là
Khí (棄, vứt bỏ).
Ông giỏi trồng trọt, dạy dân cách gieo lúa mạch
và lúa tẻ (tắc), được vua phong làm Tắc Quan
(c̣n gọi là Nông Sư, tức chức quan chuyên trông coi nông
nghiệp. Người đầu tiên giữ chức này là
con của Viêm Đế tên là Trụ, về sau được
tôn xưng là Cốc Thần), cho
nên ông được gọi là Hậu Tắc,
được vua ban họ là Cơ, và phong thực ấp ở
đất Thai. Do có công giúp dân cày cấy, ấm no, ông
được tôn là thần, với danh xưng Châu Tắc,
Tổ Linh, hoặc Tắc Thần, Nông Tắc Đế
Quân, Tắc Vương, Nông Tắc Thần v.v… được
tế bằng lễ Giao, và các triều đại xếp
ngày tế tự ông vào hàng “quốc tế” (tế lễ do triều đ́nh chủ
xướng, vua đích thân làm chủ tế, hoặc sai
quan khâm mạng chủ tế). Con cháu của ông tiếp tục
giữ chức quan Hậu Tắc cho đến thời Bất
Truật, do nhà Hạ suy vong, triều
đ́nh phế bỏ
chức Nông Quan mới thôi.
[19] Tử Cao, tên thật
là Cao Sài, c̣n gọi là Quư Cao, là một trong bảy
mươi hai đệ tử đắc ư của Khổng
Tử. Ông là người nước Vệ, có thuyết nói
ông là hậu duệ của Tề Văn Công, thân cao chưa
tới sáu thước Tàu. Khổng Tử ca ngợi ông học
vấn tuy chẳng đủ, nhưng tấm ḷng từ mẫn, công chánh, làm người
rất khá. Ông làm quan coi ngục, từng phán một người
có tội phải bị chặt chân. Về sau, nước
Vệ nội loạn, ông bị đuổi bắt, phải
trốn ra khỏi thành, được người có tội
chặt chân ấy (khi đó làm lính giữ thành) cứu giúp
thoát khỏi sự truy bắt. Ông ngạc
nhiên hỏi: “Tôi từng v́ xử án mà ra lệnh chặt
chân ông, sao ông lại cứu giúp tôi mà không báo cừu?”
Người ấy đáp: “Ông chặt chân tôi v́ tôi phạm
pháp, tội đáng phải chịu. Tôi biết khi ông kết
tội tôi, mặt lộ vẻ ưu sầu, biết ông
t́m cách giảm án, nhưng tội trạng đă rành rành,
không làm ǵ được. Tôi biết ông là chánh nhân quân tử,
không thể nào làm khác được. Do
vậy, tôi kính trọng ông”.
[20] Theo Tế Bắc Triều
Tiên Sinh Kê Lặc Tập, vào ngày mồng Một tháng Ba
năm Sùng Ninh thứ hai (1103), người dân họ Chức
ở huyện Hoạch Hỷ thuộc Vệ Châu giết lợn
tế thần, vứt xương đầu lợn. Con chó săn của một
người dân khác là họ Lưu ngậm xương tha về.
Nó cứ gầm gừ bốn
ngày, chẳng gặm xương. Người
ấy sai con chẻ xương ra, thấy trong cái răng cối
bên trái của đầu lợn, có một khối thịt
to bằng ngón cái, màu tươi nhuận như ngọc biếc.
Xem kỹ th́ là tượng Như Lai, trong búi tóc có viên châu
to bằng hạt gạo, nhắm mắt, ngồi xếp bằng,
trang nghiêm đẹp đẽ. Người kéo đến
xem cả vạn. Em họ của tác giả tập sách ấy chép lại điều
chính mắt thấy nghe gởi cho ông.
[21] Theo Phật Tổ Thống
Kỷ quyển bốn mươi hai, Đường
Văn Tông ăn ṣ. Có một con ṣ cậy vỏ măi không
được. Vua liền đốt hương cầu
khẩn, vỏ ṣ tách ra, trong thân ṣ hóa hiện h́nh Quán Âm
Đại Sĩ đang ngồi, tướng hảo trang
nghiêm. Vua kinh sợ, hạ chiếu mời thiền sư
Duy Chánh vào cung hỏi nguyên do. Sư nói: “Mọi vật chẳng
ứng hiện hư huyễn! Đấy là do bệ hạ
có tín tâm rộng lớn. Kinh dạy đáng nên dùng thân nào
để độ được bèn hiện thân ấy
để thuyết pháp”. Vua nói: “Đại Sĩ tuy hiện
thân, chưa nghe thuyết pháp”. Sư hỏi: “Bệ hạ
thấy chuyện này là b́nh thường ư? Có tin hay
không?” Vua nói: “Chuyện hy hữu, lẽ đâu chẳng
tin!” Sư nói: “Bồ Tát đă thuyết pháp rồi đó!”
Vua hết sức vui mừng, xuống chiếu truyền tự
viện trong thiên hạ lập tượng Quán Âm, gọi
là Cáp Lỵ Quán Âm (Quán Âm ngồi trong vỏ ṣ).
[22] Theo phẩm Chư
Thiên Lai Hạ Cúng Dường của kinh Soạn Tập
Bách Duyên (do ưu-bà-tắc Chi Khiêm dịch vào đời
Đông Ngô), trong thành Vương Xá, có một trưởng
giả tên là Hiền Diện, của cải vô lượng,
nhưng tham lam, siểm khúc, ghen ghét, chẳng hề có tâm bố
thí. Hễ thấy sa-môn, bà-la-môn, người nghèo khổ
đến xin, ông ta liền xua đuổi,
chửi mắng thậm tệ. Sau khi mạng chung, do tiếc
của, đọa làm thân rắn độc canh giữ tài
sản, cắn mổ bất cứ ai đến gần.
Vua Tần Bà Sa La nghe chuyện, cầu Phật cứu giúp.
Đức Phật đến nơi, rắn nổi sân,
toan cắn chết Phật. Đức Phật dùng từ
tâm, từ năm đầu ngón tay phóng quang ngũ sắc,
điều phục sân tâm, khiến rắn nhớ lại
kiếp trước. Rắn hổ thẹn, sám hối, chui
vào bát của đức Phật. Đức Phật cầm
về, mọi người đua nhau đến xem. Rắn
càng hổ thẹn, liền mạng chung, sanh lên trời
Đao Lợi. Vị trời ấy nhớ lại chuyện
cũ, bèn xuống vườn trúc Ca Lan Đà nơi đức
Phật ngự, cúng dường, đảnh lễ,
tán thán, nghe đức Phật thuyết pháp bèn đắc quả Tu Đà
Hoàn.
[23] Ngẫu Lục (偶錄) có thể hiểu
thô thiển là những ghi chép ngẫu nhiên. Đây thường
là tập hợp những đoạn văn hoặc các bài viết ngắn ghi lại những
cảm nghĩ bất chợt của người viết
trước một sự kiện, hoặc một t́nh huống nào đó.
Đôi khi nó được dùng để gọi tập hợp
những ghi chép tản mạn không theo một tŕnh tự nhất
định nào, như bộ Tang Thương Ngẫu Lục
của Phạm Đ́nh Hổ và Nguyễn Án vậy. Hoặc
có thể là danh xưng để gọi tập hợp những
ghi chép tâm đắc như bộ Y Y Ngẫu Lục của
Trần Niệm Tổ đời Thanh tổng hợp những
kinh nghiệm chẩn trị trong Trung Y.
[24] Đây là một công án
trong nhà Thiền liên quan đến thiền sư Hoàng Bá Hy
Vận. Ngài quở trách kẻ câu nệ ngôn ngữ, văn
tự chỉ là phường hít bă của Thích Ca, Đạt
Ma, giống như kẻ nếm bă hèm, chẳng biết
được vị thật sự của rượu.
Công án thứ mười một
trong sách Bích Nham Lục ghi như sau: “Hoàng Bá dạy đại
chúng rằng: ‘Các vị toàn là những gă nhai bă hèm, hành
cước như thế, chỗ nào có ngày nay? Có
biết là trong nước Đại Đường chẳng
có thiền sư hay không?’ Khi đó, có một vị Tăng
thưa: ‘Lại như các vị giáo hóa, suất lănh đồ
chúng ở các nơi lại là như thế nào?' Hoàng Bá nói:
- Chẳng bảo là không có Thiền, chỉ là không có thầy”. Theo ông Đinh Phước Bảo, ư Tổ là nói: Đại
Đường tuy rộng lớn, trọn chẳng có bậc
thầy có thể giảng thiền để hướng dẫn hành giả, chỉ biết nhai lại
những ngôn từ sáo rỗng của người xưa.
Người hành cước tuy tham phỏng khắp nơi
nhưng chấp vào văn tự, chẳng biết thật
sự thể nghiệm hầu khai phá Phật tánh vốn sẵn
có nơi chính ḿnh.
[25] Đây cũng là một
câu trích từ thiên Ly Lâu Hạ sách Mạnh Tử: “Trung
dưỡng bất trung, tài dưỡng bất tài”. Các
nhà chú giải giảng Trung phải hiểu là vừa phải
đúng mực, không thái quá, bất cập. “Tài” có nghĩa
là phẩm đức tốt đẹp, c̣n Dưỡng có
nghĩa là bồi dưỡng, giáo dục, hun đúc. Tức
là dùng các phẩm đức tốt đẹp để
hun đúc, dạy bảo, khiến cho người
chưa có những phẩm đức ấy cũng trở
thành tốt đẹp hơn.
[26] Hộc (斛) là đơn vị
đo dung lượng thời cổ. Từ thời
Đường trở về trước, một Hộc
chính là một Thạch, tức mười đấu gạo.
Từ đời Tống trở đi, một Hộc chỉ
là năm đấu. Một đấu là mười
thăng. Một thăng là 1,035 lít.
[27] Quân (鈞) là đơn vị
đo trọng lượng thời cổ. Theo Thuyết
Văn Giải Tự, ba mươi cân là một Quân.
[28] Ngũ thường:
Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Ngũ luân (năm mối quan hệ
cơ bản) gồm “phụ tử hữu thân, quân thần
hữu nghĩa, phu phụ hữu biệt, huynh đệ hữu
tự, bằng hữu hữu tín” (cha con có t́nh thân, vua
tôi có nghĩa, vợ chồng có trách nhiệm khác biệt,
anh em có trên dưới, bạn bè giữ chữ tín).
[29] Theo truyền thuyết,
Tứ Hung là bốn con vật hoặc
bốn nhân vật hung bạo thời cổ đại.
Chúng sống ở bốn phương vào thời Nghiêu - Thuấn. Theo
chương Thuấn Điển trong sách Thượng
Thư, Tứ Hung là Cộng Công (vốn là thủy thần,
con cháu của Viêm Đế, do tranh giành ngôi vua với Chuyên
Húc, tức giận húc đổ núi Bất Chu, khiến trời
bị nghiêng, đất bị nghiêng về phía Đông Nam),
Hoan Đâu (c̣n gọi là Hoan Đầu, Quán Đầu, cháu
nội của Cổn, thủ lănh của bộ tộc Tam
Miêu, được mô tả là có mỏ quạ, hai cánh,
thích ăn cá), Cổn (cha của Đại Vũ, do trị
thủy bị thất bại, bị đày ra Vũ
Sơn, hóa thành con Hoàng Năi (rùa ba chân) ḅ xuống vực
Vũ Uyên), Tam Miêu (một bộ lạc đă nổi loạn
chống lại vua Nghiêu).
Theo Tả Truyện th́
tứ hung là bốn con quái vật:
1) Hỗn Độn:
H́nh thể cực lớn, có bốn cánh, thân giống
như gấu, nhưng không
có đầu đuôi.
2) Cùng Kỳ: Giống
như con trâu to, lông như lông nhím, chỉ có một cánh,
thích ăn thịt người.
3) Đào Ngột: Thân
như con cọp to, lông chó, dài đến hai thước, mặt
người, chân hổ, hai răng nanh rất dài như
răng lợn ḷi, c̣n có tên là Ngao Ngận, hoặc Nan Huấn.
4) Thao Thiết, c̣n gọi
là Bào Hao, h́nh dạng như con dê, mặt người, mắt
mọc dưới nách, răng cọp, tay người,
ăn không bao giờ biết no, biểu trưng cho sự
tham lam vô độ.
Khi nói đến Tứ
Hung, thường hiểu theo thuyết thứ hai.
[30] Nguyên văn “xuất
thế bạch mao”. Bạch mao (白茅) là một loại cỏ
tranh, thường mọc ở các chỗ bờ nước,
rễ rất dài, màu trắng, có vị hơi ngọt,
có thể dùng làm thuốc. Thời cổ, người ta coi
bạch mao là một vật thanh khiết, có thể
giao cảm với thượng thiên. Do vậy, khi cúng bái,
người ta thường kết cỏ tranh để chứa
đựng hay che phủ các phẩm vật
tế lễ. Thậm chí, khi thiên tử nhà Châu phong đất
cho chư hầu, cũng dùng cỏ tranh bọc lấy một
ḥn đất nơi ấy, biểu thị trao quyền cai
trị nơi mảnh đất ấy cho vua chư hầu.
Do đó, Tổ dùng chữ “xuất thế bạch mao”
để ca ngợi Vương Dương Minh là người
có phẩm đức thanh khiết, kham lănh trách nhiệm
hướng dẫn người khác noi theo đường
lối xuất thế chân chánh.
[31] Câu này dựa theo ư một
đoạn trong sách Trung Dung: “Cố quân tử chi đạo,
bổn chư thân, chinh chư thứ dân, khảo chư tam
vương nhi vô bất mậu, kiến chư thiên địa
nhi bất bột, chất chư quỷ thần nhi vô nghi,
bách thế dĩ sĩ thánh nhân chi bất hoặc”. Các
nhà chú giải như Khổng Dĩnh Đạt v.v… cho rằng
Chất phải hiểu là chứng thực [khi bị chất
vấn], và giảng đoạn trên đây như sau: “V́
thế, đạo của người quân tử được
vị quân tử ấy thực hiện nơi bản thân,
được dân chúng tán thành. Đạo ấy xét trong thời
đại của ba vị thánh vương cũng chẳng
có sai lầm, xếp đặt trong bất cứ nơi
nào trong thế gian cũng đều chẳng mâu thuẫn,
có chất vấn quỷ thần th́ quỷ thần cũng
chẳng nghi, đợi đến thánh nhân trăm đời
sau nh́n vào đạo lư ấy cũng chẳng có điểm
nào không thấu hiểu”.
[32] Cẩn
Bân, tức là Lưu Cẩn và Ngụy Bân, hai thái giám quyền
lực nhất trong đời Minh. Họ lũng đoạn
chính quyền, đẩy Trung Hoa vào t́nh trạng đói rách
lầm than. Bè lũ tám tên thái giám loạn triều chính
được gọi là Bát Hổ. Lưu Cẩn quê ở
Hưng B́nh, tỉnh Thiểm Tây, vào cung trong niên hiệu
Thành Hóa (1465-1478) thời Minh Hiến Tông. Thoạt đầu
hắn được điều đi làm chức Tư
Hương trông coi Mậu Lăng (lăng của Minh Hiến
Tông), rồi chuyển sang hầu Thái Tử (tức Châu Hậu
Do). Do biết diễn tuồng và khéo lấy ḷng, hắn
được Thái Tử coi là kẻ tâm phúc. Khi Thái Tử
lên ngôi (tức Minh Vũ Tông), hắn cấu kết với
các hoạn quan Mă Vĩnh Thành, Cao Phụng, La Tường,
Ngụy Bân, Khưu Tụ, Cốc Đại Dụng và
Trương Vĩnh để mê hoặc nhà vua, sàm tấu
hăm hại trung thần, cất nhắc lũ xu nịnh.
Lưu Cẩn thường đem các động vật hiếm
lạ, con hát, hoặc đấu sĩ dâng lên vua, dụ vua
cải trang ra khỏi cung ăn chơi. Hắn được
thăng lên làm Nội Quan Giám, cai quản toàn bộ thái giám.
Hắn xúi vua bắt các quan trấn thủ địa
phương phải dâng vàng về triều, mua đất
riêng lập trang trại (gọi là hoàng trang) hơn ba
trăm chỗ. Khi các quan như Lưu Kiện, Tạ Thiên,
Lư Đông Dương, Dương Nguyên, Hộ Bộ
Thượng Thư Vi Văn dâng sớ xin xử chết bọn
Bát Hổ v́ tội xúi vua trầm mê sắc dục, bọn
chúng khóc lóc, vua mềm ḷng, ngay trong đêm ban tội chết
cho các vị quan ấy. Vua c̣n phong cho Bát Hổ chức
Đại Học Sĩ. Tuy chức quan chỉ là Tư Lễ
Giám, nhưng Lưu Cẩn trực tiếp khống chế
triều chánh. Vua c̣n u mê, phong cho chúng quyền hạn ngang
hàng với các quan đứng đầu địa
phương, thậm chí có quyền cao hơn về mặt
dân sự và tư pháp. Vua đắm đuối trong hưởng
lạc, không nh́n đến tấu chương. Năm 1510,
An Hóa vương Châu Trí Phàm làm loạn, khởi binh tại
Ninh Hạ với danh nghĩa “thảo trừ bọn
Lưu Cẩn”. Lưu Cẩn giấu nhẹm tin tức, chỉ
sai Đô Ngự Sử Dương Nhất Thanh và một
trong Bát Hổ là Trương Vĩnh đi dẹp loạn.
Do Lưu Cẩn chuyên quyền, Trương Vĩnh oán hận
Lưu Cẩn đă lâu, lại được Nhất Thanh
đốc xúi. Trương Vĩnh liền bàn mưu với
bọn Bát Hổ nhân lúc Lưu Cẩn xuất cung bèn hạch
tội Lưu Cẩn. Vua nghe theo, cho người giết
Lưu Cẩn. Khi tịch biên gia sản, mới thấy hắn
thâu tàng 250 vạn lượng vàng, năm ngàn vạn lượng
bạc…
[33] Ngũ vị bách pháp
là cách phân loại hết thảy vạn hữu của Duy
Thức do Thế Thân Bồ Tát chủ
trương trong hai bộ luận Đại Thừa Bách
Pháp Minh Môn Luận và Hiển Dương Thánh Giáo Luận.
Do trong phẩm Bổn Địa của Du Già Sư Địa
Luận đă chia hết thảy vạn hữu thành sáu
trăm sáu mươi pháp, khá rườm rà, khó nhớ, Thế
Thân Bồ Tát bèn đơn giản hóa thành một trăm
pháp và chia thành năm vị (năm loại lớn) là tâm
pháp (tức bảy thức, nhăn thức, nhĩ thức, tỵ
thức…), tâm sở pháp (các tác dụng tâm lư (tham, sân, mạn,
nghi, vô chánh kiến...), sắc pháp (như
ngũ căn, ngũ trần v.v…), tâm bất tương ứng
hành pháp (như mạng căn, vô thường, thời
v.v…), và vô vi pháp (như hư không vô vi, diệt trạch vô
vi…)
[34] Do câu này khó diễn
đạt cho rơ ràng, chúng tôi đành xin giải thích rườm
rà ư của lời hỏi như thế này: Mặt trăng
là đối tượng bị nh́n thấy, cái Thấy của
người nh́n là chủ thể nh́n thấy [mặt
trăng ấy], nhưng cái Thấy đó phải tùy thuộc
có một đối tượng để thấy, nên cái
Thấy cũng gọi là “sở tùy” (bị tùy thuộc vào
đối tượng được thấy). Vừa mới
nói là cái Thấy là năng kiến, nay lại nói nó là “sở tùy”, tức là cái Thấy
vừa là năng vừa là sở, cho nên có thể hiểu
là năng và sở chẳng hai hay
không?
[35] Phương ngoại
(方外) thoạt đầu
chỉ có nghĩa là “nơi xa xôi”, trong Nam Hoa Kinh, Trang Tử
đă dùng với ư nghĩa “vượt ngoài lễ
pháp thế tục, tiêu dao vô ngại”. Do đó,
người ta thường dùng chữ này để chỉ
người xuất gia.
[36] Ư nói người xuất
gia, khi tuổi hạ chưa đủ năm năm, phải
chuyên ṛng tu học giới luật.
[37] Bạch chùy (白椎) là gơ pháp khí (thường
là chuông gia tŕ) để thưa tŕnh. Người bạch
chùy được gọi là Bạch Chùy Sư, thường
do một vị tôn túc thông hiểu pháp đảm nhiệm.
Sách Tổ Đ́nh Sự Uyển chép: “Bạch chùy là luật
nghi của đức Thế Tôn. Muốn cử biện
Phật sự, ắt trước hết phải tác bạch
nhằm nói rơ pháp với đại chúng. Nay bạch chùy
trong Tông Môn ắt phải do một vị tôn túc biết
pháp đảm nhiệm. Vị trưởng lăo đă an tọa
rồi, [Bạch Chùy Sư] bèn bạch rằng: ‘Pháp diên long tượng
chúng, đương quán Đệ Nhất Nghĩa’. Trưởng
lăo thấy đại chúng xướng lời bạch xong,
bèn nói: ‘Đế quán pháp vương pháp, pháp vương
pháp như thị’. Đấy là quy củ chân thật của
tiên đức, đều chẳng đánh mất Phật
ư”.
[38] Theo Luật Tạng,
khi truyền thọ đại giới (Cụ Túc Giới),
vị Đàn Đầu Ḥa Thượng chỉ truyền
giới cho từng người một. Truyền xong một
người rồi mới đến giới tử kế
tiếp thọ giới. Trong trường hợp có đại
nạn (như có rắn độc, giặc giă), có thể
quyền biến truyền giới cho ba người cùng một
lúc, nhưng không được truyền giới cùng lúc cho
bốn người trở lên. Nếu truyền giới cho
bốn người cùng một lúc trở lên, giới tử
sẽ không đắc giới,
mà truyền giới sư cũng mắc tội!
[39] Khủy tay dịch từ
chữ Trửu (肘) là đơn
vị đo độ dài, tính từ khủy tay cho tới
ngón giữa, ước chừng hơn 40cm.
[40] Ca Hy Na (Kaṭhina) c̣n phiên âm là Ca Đề hoặc
Yết Hy Na, dịch nghĩa là Kiên Thật (dày chắc), hoặc
Công Đức. Do sau khi tỳ-kheo an cư chín mươi
ngày, được tín thí cúng dường y. Y do công an
cư nên có năm đức; v́ thế, y ấy được
gọi là Công Đức Y.
[41] Y Ca Hy Na theo quy định
là y năm điều. Tức là y được may bằng
năm mảnh vải dài ghép lại. Mỗi mảnh gọi
là một điều. Mỗi điều lại cắt
thành hai miếng một dài, một ngắn, nên toàn bộ
cái y sẽ là mười miếng may ghép lại với
nhau.
[42] Triển Chuyển Thực
là ăn xong một bữa chánh, chuyển đến một
vị trí khác lại ăn lần nữa, luật không cho
phép điều này trừ phi v́ sự duyên rất đặc
biệt. Từ bốn vị tỳ-kheo trở lên, tụ họp
riêng tại một chỗ để ăn th́ gọi là Biệt
Chúng Thực. Bất Tác Dư Thực là chẳng ăn ngoài bữa
chính, tức là lư do bệnh tật, để uống thuốc,
có thể chừa lại thức ăn để ăn sau
đó. Nếu chẳng bị bệnh, không được
làm như vậy, cho nên gọi là Bất Tác Dư Thực.
[43] Đột Cát La (Duskrïta) dịch nghĩa là Thất Ư
Tội, Tiểu Quá (lỗi nhỏ), Việt Tỳ Ni (trái
vượt Luật Tạng), tức là những tội do
khởi ư khiến cho thân và khẩu nghiệp làm ác. Có nhiều
loại Đột Kiết La, như cộng tướng
Đột Cát La, tức đào đất, chặt cây để
t́m kho báu, Tri Đột Cát La là biết ḿnh có tội,
nhưng không phát lộ sám hối, vẫn cứ che giấu
v.v…
[44] Đức Phật chế
định tăng ni không được ĺa ba y mà ngủ
nghỉ ở nơi khác.
[45] Ngũ Bộ Luật:
Theo tương truyền, sau khi đức Phật nhập
diệt, vào thời vua A Dục, môn hạ của tổ
Ưu Ba Cúc Đa (Upagupta) do bất đồng quan điểm,
chia thành năm phái là Ma Ha Tăng Kỳ
(Đại Chúng), Đàm Ma Quật Đa (Pháp Tạng), Di Sa
Tắc (Hóa Địa), Ca Diếp Duy (Ẩm Quang) và Tát Bà
Đa (Thuyết Nhất Thiết Hữu). Do đó, Luật
Tạng tùy theo quan điểm nhấn mạnh hay giảm
khinh mà h́nh thành năm bộ Luật khác nhau:
1) Thập Tụng Luật
của Nhất Thiết Hữu Bộ, sáu mươi mốt
quyển, do ngài Phất Nhă Đa La mang tới Trung Hoa,
được các vị Cưu Ma La Thập dịch và Tỳ
Ma La Xoa giảo chánh vào thời Diêu Tần.
2) Đàm Vô Đức
Tứ Phần Luật của Pháp Tạng Bộ, bốn
mươi sáu quyển, do ngài Trúc Phật Niệm dịch
vào đời Diêu Tần.
3) Ma Ha Tăng Kỳ Luật
của Đại Chúng Bộ, bốn mươi quyển,
do các vị Pháp Hiển và Phật Đà Bạt Đà dịch
tại đạo tràng ở Kiến Khang trong thời
Đông Tấn.
4) Di Sa Tắc Luật
của Hóa Địa Bộ, ba mươi tư quyển,
do Trí Thắng dịch vào thời Lưu Tống.
5) Quảng Luật của
Ẩm Quang Bộ. Bộ luật này chưa được
truyền dịch đầy đủ, chỉ có một
quyển Giải Thoát Giới Kinh được ngài Bát Nhă
Lưu Chi dịch vào thời Đông Ngụy.
[46] Hoài Tố (737-799), pháp
tự Tàng Chân, người xứ Linh Lăng, Vĩnh Châu,
là một tăng sĩ kiêm thư pháp gia nổi tiếng
đời Đường, nổi tiếng với lối
Cuồng Thảo, người đời Đường gọi
ông là Túy Tăng (vị tăng say sưa). Ông xuất gia từ
nhỏ, đặc biệt yêu thích thư pháp. Do nghèo không có
giấy để luyện viết, ông dùng lá chuối làm giấy.
Ông tánh t́nh phóng túng, cho rằng rượu dùng để
dưỡng tánh. Thường múa bút viết chữ mỗi
khi nếm rượu. Rượu vào bèn cao hứng, bất
kể vách tường, vật dụng, xiêm áo, chỗ nào viết
được th́ ông đều vung bút đề thơ.
[47] Phiên Dịch Danh
Nghĩa Tập là một loại từ điển Sanskrit
– Hán do Pháp Vân biên soạn vào đời Nam Tống. Sách liệt
kê các từ vựng được dịch từ tiếng
Phạn sang Hán.
[48] Khi chưa liễu ngộ,
thiền sư Tuyết Phong đă ba lần lên núi Đầu
Tử tham phỏng thiền sư Đại Đồng.
Đó gọi là Tam Đăng. Cửu thượng là ngài Tuyết Phong chín lần lên núi Động
Sơn để tham yết ngài Động Sơn
Lương Giới.
[49] Nguyên văn “anh chử”
(嬰杵) tức là nói tới
Tŕnh Anh và Công Tôn Chử Cữu. Năm 597 trước Công
Nguyên, quan tư khấu nước Tấn là Đồ Ngạn
Cổ lấy lư do Triệu Thuẫn tham dự mưu sát Tấn
Linh Công (Cơ Di Cao), chẳng thèm hỏi ư vua kế vị
Tấn Cảnh Công (Cơ Nhụ), đă xua quân tàn sát diệt tộc
họ Triệu, giết chết những người đứng
đầu của họ Triệu là Triệu Sóc, Triệu Đồng,
Triệu Quát, Triệu Anh Tề. Vợ của Triệu Sóc
là Triệu Trang Cơ (chị ruột của Tấn Thành
Công) đang mang thai, trốn vào cung của Tấn Cảnh
Công để ẩn núp, sinh được một trai. Công
Tôn Chử Cữu bàn bạc với bạn là Tŕnh Anh t́m cách
bảo toàn mạng sống đứa con côi của Triệu
Sóc, đem giấu đứa bé đi. Đồ Ngạn Cổ
lục soát không t́m được đứa con ấy.
Tŕnh Anh bảo Công Tôn Chử Cữu đem một đứa
trẻ khác giấu vào trong núi, giả vờ tung tin rằng
ai cho ḿnh ngàn vàng, sẽ mật báo chỗ giấu diếm
đứa con côi họ Triệu. Đồ Ngạn Cổ
đáp ứng, dẫn quân đến bắt, Chử Cữu
giả vờ giận dữ chửi bới Tŕnh Anh, năn
nỉ Đồ Ngạn Cổ chỉ giết ḿnh Chử
Cữu, tha cho đứa bé. Cho tới năm 583 trước
Công Nguyên, Tŕnh Anh mới có cơ hội phục cừu, diệt
Đồ Ngạn Cổ, khôi phục họ Triệu. Tổ
dùng chữ “anh chử” ở đây để chỉ
chư tổ, chư thiện tri thức đă đổ
công dốc sức bảo toàn chúng ta là những đứa
con côi của đấng pháp vương.
[50] Vương đạo
là đường lối cai trị dân bằng đạo
đức, nhân nghĩa, lễ nhạc của Tam
Vương (Đại Vũ nhà Hạ, Thành Thang nhà
Thương, và Châu Vũ Vương) để uốn nắn
thiên hạ trở về sự chánh đáng, thuận ḥa,
thiên hạ quy phục, nhưng không bị tổn
hại. Bá đạo là đường lối cai trị bằng
mưu mẹo, vũ lực, giả nhân giả nghĩa,
cường bạo để thống trị, đàn áp kẻ
chống đối nhằm buộc kẻ khác phải thần
phục chính ḿnh.
[51] Ngài A Nan suưt bị Ma
Đăng Già dùng chú thuật quyến rũ phạm dâm giới,
may được đức Phật sai Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát dùng chú Lăng Nghiêm đến cứu. Do vậy,
Ngài hổ thẹn chính ḿnh chỉ đa văn không chú trọng
quán tâm, thỉnh Phật chỉ dạy phương pháp tu
hành quán tâm, mở ra đại pháp Lăng Nghiêm.
[52]
Đây chính là bộ Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư
Chú do ngài U Khê Truyền Đăng chú giải tác phẩm
Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư do Hổ Khê Sa-môn Hoài
Tắc biên soạn.
[53] Sáu giao báo là sáu thứ
ác báo do sáu thức tạo nghiệp mà cảm vời:
1) Kiến báo: Lâm chung
thấy lửa mạnh đầy khắp mười
phương, thần thức của người mất
đọa trong khói, lửa, nhập Vô Gián
địa ngục.
2) Văn báo: Khi lâm chung
thấy sóng gió ngập trời, thần thức của
người mất đọa vào nước cuốn, vào
trong Vô Gián địa ngục.
3) Khứu báo: Khi lâm
chung, thấy hơi độc tràn ngập xa gần, thần
thức của người mất từ dưới đất
vọt lên, vào trong Vô Gián địa ngục.
4) Vị báo: Khi lâm
chung, trước hết thấy lưới sắt, lửa
hừng giăng kín trọn khắp thế giới, thần
thức của người mất lọt vào lướt,
bị treo ngược đầu, vào trong Vô Gián địa
ngục.
5) Xúc báo: Khi lâm chung,
trước hết thấy núi lớn từ bốn phía ép
lại, chẳng có đường nào thoát ra. Thần thức
của người mất thấy ngục tốt đầu
trâu, La Sát đầu ngựa tay cầm giáo mác, xua vào cửa
thành, hướng đến Vô Gián địa ngục.
6) Tư báo: Khi lâm chung,
trước hết thấy gió ác thổi nát quốc độ,
thần thức của vong giả bị cuốn lên hư
không, rơi vào Vô Gián địa ngục.
[54] Nguyên văn “bào lăo”
(鲍老) là một vai tṛ phụ
trong tuồng hát thời cổ, thường đeo mặt
nạ, biểu diễn phun khói lửa, cầm thanh la vừa
gơ vừa nhảy để chọc cười, hoặc khiến cho sân khấu sinh động ḥng lôi cuốn
khán giả cho vở tuồng
chính.
[55] Vào tháng Mười
năm 204 trước Công Nguyên, quân Hán và quân Triệu (do Trần Dư thống
lănh) giao chiến tại
Tỉnh Kinh Khẩu. Tướng nhà Hán là Hàn Tín lợi dụng
tâm lư khinh địch của Trần Dư, sắp trận
cho quân lính xoay lưng về phía sông, đập nồi, d́m
thuyền. Đó là điều đại kỵ trong cách dụng
binh, v́ hễ thua trận sẽ không có đường rút
lui. Quả nhiên, Trần Dư nghĩ Hàn Tín bất tài, xua
quân ồ ạt tiến công, không pḥng thủ doanh trại,
c̣n quân Hán không c̣n đường lui, liều chết chiến
đấu. Đồng thời, Hàn Tín lại điều
một cánh kỵ binh cướp doanh trại quân Triệu,
cắm cờ quân Hán, khiến quân Triệu sa sút tinh thần.
Bị hai đằng giáp công, quân Triệu thua to, Trần
Dư bị giết tại trận.
[56] Kim thang là nói gọn của
“kim thành thang tŕ” (thành bằng kim loại, hào lũy chứa
nước sôi), ư nói pḥng thủ nghiêm ngặt.
[57] Đây là một câu nói
trong sách Mạnh Tử: “Mạc phi mạng dă, thuận thọ
kỳ chánh, thị cố tri mạng giả bất lập
hồ nham tường chi hạ, tận kỳ đạo
nhi tử giả, chánh mạng dă. Trất cốc tử dă,
phi chánh mạng dă” (Chẳng có thứ ǵ không phải là
thiên mạng. Thuận theo thiên mạng là lẽ chánh
đáng. V́ thế, người biết mạng chẳng
đứng dưới vách tường sắp nghiêng sụp.
Do tận lực hành xử đúng đạo mà chết
chính là biết vận mạng chánh đáng. C̣n phạm tội
bị gông cùm mà chết th́ chẳng phải là vận mạng
chánh đáng). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giảng
giải trên trang nhà Cổ Thi Văn Vơng.
[58]Tác phẩm
này có tên gọi đầy đủ là Thập Bất Nhị
Môn Chỉ Yếu Sao Tường Giải, gồm bốn
quyển, do ngài Khả Độ biên soạn để chú
giải tác phẩm Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu
Sao. Thập Bất Nhị Môn chính là phần kết lại
Thập Diệu của kinh Pháp Hoa trong tác phẩm Pháp Hoa Huyền
Nghĩa Thích Thiêm của Kinh Khê Tôn Giả. Chương Thập
Bất Nhị này được đánh giá rất cao, nên
được tách ra để tiện lưu hành riêng, và
được nhiều người viết chú giải
như Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu Sao (do ngài Trạm
Nhiên soạn), Thập Bất Nhị Môn Nghĩa (do Đạo
Thúy soạn), Pháp Hoa Thập Diệu Bất Nhị Môn Thị
Châu Chỉ (Nguyên Thanh soạn), Chú Pháp Hoa Bổn Tích Thập
Bất Nhị Môn (Tông Dục soạn), Thập Bất Nhị
Môn Văn Tâm Giải (do Nhân Nhạc soạn)…
[59] Tức là hành xử giống
như tổ Đạt Ma. Khi Lương Vũ Đế
vênh váo hỏi Tổ: “Trẫm xây bao nhiêu chùa, độ cả
ngàn vị tăng xuất gia, có công đức nhiều hay
không?” Tổ đáp thẳng: “Chẳng có công đức”. Nếu
Tổ xu nịnh, khen vua công đức
rất nhiều, sẽ được trọng vọng,
cúng dường trọng hậu, đâu phải ẩn ḿnh
nh́n vách trên Thiếu Thất chín năm? Ở đây, tổ Ngẫu Ích khuyên thầy
Triệt Nhân cũng phải giữ vững gia phong ấy,
nói đúng sự thật, không sợ mất ḷng, không v́ lợi
lộc mà xu nịnh kẻ quyền quư.
[60] Cổ
Xướng là khi vị Tăng đă mất, các vật dụng
sở hữu của vị ấy sẽ được
định giá (gọi là Cổ), rồi hô giá cho các vị
c̣n sống ra giá để mua (vị nào trả cao nhất
sẽ mua được). Đó gọi là Xướng.
[61] Tông Bá là một chức
quan thiết lập từ thời Tây Châu, địa vị
thấp hơn Tam Công, là một trong Lục Khanh, chuyên
chưởng quản lễ nghi. Về sau, kiêm nhiệm chưởng quản tông
miếu và các lễ nghi tế tự v.v… Sau đấy, khi Lục Khanh mất
đi, triều đ́nh thành lập Lục Bộ,
do vai tṛ của Lễ Bộ Thượng Thư gần giống
như quan Tông Bá, nên Lễ Bộ Thượng Thư vẫn
thường được gọi là Đại Tông Bá, c̣n
Lễ Bộ Thị Lang th́ gọi là Tiểu Tông Bá (hay Thiếu Tông Bá).
[62] Thuyền Tử Đức
Thành là một vị cao tăng cuối đời
Đường, sống ước chừng từ niên hiệu
Trinh Nguyên cho đến niên hiệu Khai Thành. Ngài là người
xứ Toại Ninh, tỉnh Tứ Xuyên, là đệ tử
nối pháp của Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư làm bạn tham học với hai
vị Đạo Ngô Viên Trí và Vân Nham Đàm Thịnh. Sư ẩn cư tại
bên bờ sông Hoa Đ́nh (nay thuộc huyện Tùng Giang, thành
phố Thượng Hải), chèo đ̣ để tùy duyên hóa độ mọi
người. Do vậy, người đời gọi Ngài
là Thuyền Tử Ḥa Thượng. Về sau, có vị
Tăng tên Thiện Hội được
Đạo Ngô chỉ điểm, tới cầu pháp nơi Ngài.
Nhận biết Thiện Hội đă hoàn toàn học
được sự truyền thừa, Sư bèn lật úp
thuyền, thị tịch. Để kỷ niệm thầy,
Thiện Hội lập chùa Pháp Nhẫn ngay bên chỗ ḥa
thượng Đức Thuyền lật thuyền.
[63] Giáp Sơn chính là ngài
Thiện Hội (804-881). Sư là người xứ Hiện
Đ́nh thuộc Hán Quảng (nay là huyện Tương
Dương, tỉnh Hồ Bắc). Sư chín tuổi
đă xuất gia, thoạt đầu tham học với
ngài Đạo Ngô. Vâng theo lời khuyên của Đạo
Ngô Viên Trí, Sư t́m tới Hoa
Đ́nh, cầu học với ngài Thuyền Tử Đức
Thành. Sau khi đắc pháp nơi ngài Thuyền Tử Đức
Thành, Sư trụ tại chùa Pháp Nhẫn một thời
gian. Tới năm thứ Hàm Thông 11 (870), Sư trụ tích tại Giáp Sơn thuộc Tế
Châu, nên được gọi là Giáp Sơn ḥa thượng.
[64] Ngu Trọng và Di Dật
là hai nhân vật được ca tụng là “dật dân”, tức những
người có chí khí thanh cao, ẩn dật, không dấn ḿnh
vào danh lợi. Ngu Trọng chính là Cơ Ung. Do ông là con thứ hai của Cổ Công Đản, nên thường
được gọi là Trọng Ung. Khi biết cha là Cổ
Công Đản muốn truyền ngôi cho người con út là
Quư Lịch v́ con trai của Quư Lịch là Cơ Xương (Châu Văn Vương sau này) có tài năng và hiền
đức. Để tránh cho Quư Lịch lâm vào cảnh khó xử,
ông đă cùng anh cả là Thái Bá trốn xuống vùng Giang Nam,
xâm ḿnh, cạo tóc. Do cả hai
ông có tài đức,
dân địa phương tôn Thái Bá làm vua, lập ra nước
Ngô. Khi Thái Bá chết, Trọng Ung bị dân chúng ép lên nối
ngôi. Kinh truyện không chép ǵ về Di Dật, chỉ cho biết
ông là hậu duệ của Di Trọng Niên (quan đại
phu nước Tề).
[65] “Động tâm nhẫn
tánh” là một thành ngữ phát xuất từ câu nói của
Mạnh Tử trong thiên Cáo Tử Hạ sách Mạnh Tử:
“Thiên tương giáng đại nhậm vu tư nhân dă, tất
tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ
thể phu, không phạp kỳ thân, hành phất loạn kỳ
sở, sở dĩ động tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ
sở bất năng” (trời ban trách nhiệm lớn
cho người nào, ắt sẽ khiến cho người ấy
tâm chí khổ sở, nhọc nhằn gân cốt, thân thể
đói kém, thiếu thốn, gây ra những chuyện rối ren,
trái ư, cho nên khiến cho người ấy tâm kinh động,
tăng trưởng ḷng nhẫn nại, ḥng tăng trưởng
những điều người đó chưa thể làm
được). “Động tâm nhẫn tánh” do vậy
được dùng như một thành ngữ, hàm ư: Kiên tŕ,
nhẫn nại trước các thử thách trong mọi hoàn
cảnh.
[66] Ở đây, Tổ
đă sử dụng cả ba quẻ trong kinh Dịch là quẻ
Thuần Càn, quẻ Sơn Địa Bác và quẻ Địa
Lôi Phục. Hai quẻ đầu đều có vạch thứ
sáu là hào Dương (một vạch liền). Đối với
quẻ Càn, hào Dương đó được gọi là
Thượng Cửu (mỗi vạch Dương được
kinh Dịch gọi là Cửu) được gọi là Kháng
Long Hữu Hối (rồng bay lên cao, Dương đến
tột cùng, nếu không biết kiềm chế, ắt sẽ
gặp họa, tức là sẽ có điều phải hối
hận). Thượng Cửu trong quẻ Bác được
giải thích là “thạc quả bất thực” (chẳng
thọ hưởng thành quả to lớn do nỗ lực của
chính ḿnh). Sơ Cửu (hào Dương thứ nhất) của
quẻ Phục được giải thích là “bất viễn
nhi phục” (đi chưa xa đă trở lại). Tổ
dùng ba quẻ này để diễn tả ư khuyên ông Từ:
Dẫu là người có tài năng lỗi lạc, thành tích
ưu tú, nếu không biết náu ḿnh, kiềm chế, sẽ
dẫn đến những tai vạ bất ngờ,
nhưng nếu biết chẳng cậy công, biết náu
ḿnh, mọi chuyện sẽ đẹp đẽ, an ḥa.
[67] Ư nói: Để t́m hiểu
và luận bàn chỗ đồng nhất và khác biệt trong
giáo nghĩa của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm, phải triệt
để nghiên cứu giáo nghĩa tông Hoa Nghiêm như tổ
dành thời gian nghiên cứu Hoa Nghiêm Đại Sao, chứ
không thể dựa vào nhận định của người
khác, chẳng nghiên cứu tường tận giáo nghĩa
Hoa Nghiêm mà chơ miệng
bàn suông
được!
[68] Đây là một đoạn
trong thiên Nghiêu Viết của sách Luận Ngữ: “Trẫm
cung hữu tội, vô dĩ vạn phương. Vạn
phương hữu tội, tội tại trẫm cung”,
là lời nhắn nhủ của vua Thuấn dành cho Đại
Vũ khi nhường ngôi. Vua Thuấn nhắc lại những
điều đă được vua Nghiêu căn dặn.
[69] Bộ kinh này có tên gọi
đầy đủ là Phật Thuyết Đại Quán
Đảnh Thần Chú Kinh, mười hai quyển, do ngài Bạch
Thi Lê Mật Đa La dịch vào thời Đông Tấn. Bộ
kinh này gồm mười hai bộ kinh nhỏ hợp thành
như Phật Thuyết Quán Đảnh Tam Quy Ngũ Giới
Đới Bội Hộ Thân Chú Kinh, Phật Thuyết Quán
Đảnh Thất Vạn Nhị Thiên Thần Vương
Hộ Tỳ Kheo Chú Kinh v.v… Chẳng rơ “thần
sách” ở đây là ǵ, chúng tôi đoán là các bài thần
chú, v́ mỗi kinh trong ấy đều nói rất nhiều
bài thần chú.
[70] Đại Tạng
Kinh thời Minh gồm hai bản Hồng Vũ Nam Tạng
và Vĩnh Lạc Bắc Tạng. Nói về Bắc Tạng
th́ có 1.621 bộ kinh, gồm 6.361 quyển, chia thành 636 “hàm”
(函, thường được dịch
là Hàm, tức cái hộp, cái rương chứa các quyển
kinh). Vào năm Vạn Lịch 12 (1584) lại tuyển thêm
các trước thuật thuộc các tông gồm ba mươi sáu loại, khắc thành 410 quyển nữa, chia thành bốn mươi mốt Hàm. Để phân biệt, Phật môn dùng các chữ trong Thiên Tự Văn để gọi
tên các Hàm.
Chẳng hạn các kinh thuộc hệ thống Bát Nhă gồm
720 quyển, chia thành ba mươi lăm bộ, gồm
mười tám tập, được chia thành 72 hàm. Thiên Tự
Văn là một bài văn vần có một ngàn chữ không
trùng lặp, do Châu Hưng Tự sáng tác vào đời Nam
Lương. Theo truyền thuyết, Lương Vũ Đế
đă chọn một ngàn chữ Hán từ tác phẩm
thư pháp của thư pháp gia trứ
danh Vương Hy Chi để bắt thân quyến luyện
viết chữ. Sau đó, để người học
thư pháp dễ nhớ, vua sai Châu Hưng Tự sắp xếp
các chữ ấy thành một bài văn chương. Tài
năng của Châu Hưng Tự là lời văn nhất
quán, lưu loát, đẹp đẽ, gần như mỗi
câu đều nhằm dẫn dụng các ư nghĩa từ
các bộ cổ thư nổi tiếng như kinh Dịch,
Xuân, Thu, Hoài Nam Tử, kinh Thi, Hiếu Kinh, Luận Ngữ v.v… Do vậy, về
sau bài văn này thường được dùng để
dạy trẻ học vỡ ḷng cùng với Tam Tự Kinh.
Bài này
mở đầu bằng câu “thiên địa huyền
hoàng, vũ trụ hồng hoang” và kết thúc bằng câu
“vị ngữ trợ giả, yên tai hồ dă”. Chữ
Cung là chữ thứ 153 trong bài văn ấy (mở đầu
câu “cung duy cúc dưỡng, khởi cảm hủy
thương”, hàm ư “thân này do cha mẹ nuôi dưỡng, chăm bẵm, chẳng
dám tổn hại, thương tổn”).
[71] Dịch Lâm c̣n gọi
là Tiêu Thị Dịch Lâm gồm mười sáu quyển, do
Tiêu Cám soạn vào thời Tây Hán nhằm diễn giải
kinh Dịch.
[72] Đây là một câu nói
của Nguyên Hiến nhằm diễn tả ư chí cao đẹp
của người ẩn sĩ, không xu phụ kẻ quyền
quư. Theo chương Tiết Sĩ (người có khí tiết) của Lưu Hướng
viết vào đời Tây Hán, Nguyên Hiến sống ở
đất Lỗ, nghèo hèn, đắp đất làm nhà, dùng
cỏ dại để lợp
mái, rách nát, ẩm
thấp, nhưng vẫn an vui ca hát. Tử Cống nghe tiếng,
ngồi xe do ngựa mập mạnh kéo, ăn mặc hoa lệ,
đến thăm, thấy Nguyên Hiến dùng lá dâu kết
thành mũ đội, cầm gậy gỗ lê ra tiếp,
bèn hỏi: “Ô! Tiên sinh bị bệnh ǵ?” Nguyên Hiến trả
lời: “Không có tiền của th́ gọi là nghèo, học mà
chẳng thể hành th́ gọi là bệnh. Ta nghèo chứ
không bệnh. Học để làm người, dùng chính ḿnh
để làm gương, chứ mặc kệ nhân
nghĩa, xe ngựa khoe khoang, Hiến chẳng nỡ làm
như vậy!” Tử Cống nghe nói, hổ thẹn,
chẳng từ biệt bỏ đi. Nguyên Hiến lê dép, kéo
gậy, ca hát trở vào. Trong lời
hát, có hai câu trên
đây, ngụ ư bậc ẩn sĩ thanh cao, dưỡng
chí quên thân, không ai làm phiền lụy được, thiên tử,
chư hầu không thể ép buộc ta được!
[73] Tục
danh của Tổ là Chung Tế Minh.
[74] Ở đây, Tổ
dùng hai điển tích:
1) Điển tích thứ
nhất trích từ Tụng Cổ của pháp sư Thích Tâm Nguyệt đời Tống,
trong đó có hai câu: “Cấp tu trước nhăn khán tiên
nhân, mạc khán tiên nhân thủ trung phiến” (hăy gấp
chú ư đến tiên nhân, đừng nh́n vào chiếc quạt
trong tay tiên nhân).
2) Điển tích thứ
hai trích từ sách Ngũ Đăng Hội
Nguyên quyển mười lăm về cuộc đối
đáp giữa thiền sư Vân Môn Văn Yển và một
vị tăng. Sư hỏi vị Tăng: “Từ đâu
đến?” Tăng thưa: “Từ Kinh Nam đến”.
Sư nói: “Mùa Hạ ở
chỗ nào?” Đáp: “Phân kim”. Sư nói: “Có sự tướng
muốn hỏi, được chứ?” Tăng nói: “Xin hăy
nói”. Sư nói: “Con diều hâu đă vượt sang Tân La từ
lâu rồi”. Các vị chú giải giảng: “Khi đối
đáp cơ phong mà c̣n nghĩ ngợi th́ đă rơi vào
ṿng tư duy, chậm trễ mất rồi, chẳng lănh hội
Thiền ư, giống như khi hành giả c̣n đang ch́m trong
tư duy, suy lường th́ con diều hâu đă bay từ
Trung Hoa sang đất Tân La mất rồi.
Tân La (Silla) là một vương quốc cổ thuộc
Trung và Nam Bộ Đại Hàn hiện thời.
Tổ Ngẫu Ích dùng
hai điển tích này nhằm răn nhắc Tự Trúc: Nếu
không chú ư lănh hội chỗ uyên áo của Phật pháp qua các
lời kệ tụng, chỉ chấp chặt vào văn tự,
đào bới, suy lường văn tự, sẽ giống
như người thay v́ quan sát tiên nhân, chỉ chăm chú
nh́n vào cái quạt mong t́m hiểu tiên nhân, sẽ đánh mất
cơ duyên lănh hội như Thiền giả ch́m đắm
trong suy nghĩ sẽ không lănh hội được Thiền ư.
[75] Ư nói: Học hành th́ kiến
thức tích lũy ngày càng nhiều, học đạo th́
ngày càng phải khiêm hư, trống ḷng, bỏ dần những
chấp trước.
[76] Tỵ
tổ (鼻祖) có cùng một nghĩa với Thỉ
Tổ, nghĩa là vị tổ đầu tiên. Tỵ vốn
có nghĩa là Tự. Do trong Giáp Cốt Văn, chữ Tự
viết có h́nh dạng tương tự với cái mũi
nên dẫn khởi thành âm Tỵ. Theo Thuyết Văn Giải
Tự, Tự vào thời cổ được dùng như
đại từ nhân xưng chỉ người đầu
tiên. Do đó, Tỵ được hiểu theo nghĩa dẫn
khởi là đầu tiên, trước hết.
[77] Nguyên văn “thú
đề, điểu tích”. Đây là một thành ngữ
ngụ ư chỉ một địa phương mà dấu vết
con người hiếm hoi, là nơi chim thú tụ hợp. Tổ
dùng thành ngữ này với ư nghĩa than thở: Người
chân thật tu hành hiếm hoi, kẻ mạo danh trục lợi
th́ nhiều.
[78] Ư nói: Chẳng thể
làm đệ tử đích thân phụng sự.
[79] Tức bài “nói
về Tẩy Tâm” trong phần Thuyết.
[80] “Sư tử ngồi
trên mặt đất” là xuất phát từ một câu
nói của Lâm Tế Nghĩa Huyền: “Hữu thời nhất
hát như kim cang vương bảo kiếm, hữu thời
nhất hát như cứ địa kim mao sư tử”
(Có lúc gào một tiếng như gươm báu kim cang
vương, có lúc hét một tiếng như sư tử
lông vàng ngồi trên mặt đất). Thiền lâm dùng từ
ngữ này để ca ngợi người đă chứng
ngộ, ngôn từ thuyết pháp chấn nhiếp các ngôn luận
hư vọng. Mỗi lời đều tuyên bày Thật
Tướng. “Vảy vàng thoát khỏi lưới” là một
công án trong Bích Nham Lục. Ngài Huệ Nhiên thuộc Tam Thánh
Viện hỏi thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn:
“Con cá vảy vàng lọt khỏi lưới chẳng biết
lấy ǵ để ăn?” Ngài Tuyết Phong nói: “Đợi
ông thoát khỏi lưới, sẽ nói cho ông biết”. Các vị
chú giải giảng: Câu hỏi của ngài Huệ Nhiên hàm
nghĩa: Đă thoát khỏi phiền năo trói buộc th́ nên tu
tŕ như thế nào? Câu trả lời của ngài Tuyết
Phong hàm nghĩa: Ông c̣n đang ở trong lưới phiền
năo, làm sao biết được cảnh giới của sự
giải thoát phiền năo? Hăy gấp tu tŕ ḥng giải thoát
đi! Do vậy, từ ngữ “vảy vàng thoát khỏi
lưới” (thấu vơng kim lân) nhằm ca ngợi
người đă thoát khỏi phiền năo trói buộc.
[81] Đây là một thành
ngữ diễn tả ư với ḷng nghĩ tưởng chân
thành, điều mong tưởng sẽ được cụ
thể hóa trong mọi sự thường nhật. Thành ngữ
này phát xuất từ truyện Lư Cố trong Hậu Hán
Thư: “Tích Nghiêu tồ chi hậu, Thuấn ngưỡng
mộ tam niên, tọa tắc kiến Nghiêu vu tường,
thực tắc đổ Nghiêu vu canh” (Xưa kia sau
khi vua Nghiêu mất, Thuấn ngưỡng mộ suốt ba
năm, khi ngồi bèn thấy vua
Nghiêu nơi tường, khi ăn bèn thấy vua Nghiêu trong
canh).
[82] Đây là một thành
ngữ trong Thiền lâm gồm hai ư tưởng đối
lập với nhau: “Quan bất dung châm” ư nói việc
quan phải nghiêm ngặt, dẫu chuyện sai sót nhỏ nhặt
như cái kim cũng không thể bao dung được. “Tư
thông xa mă” ư nói đối với việc tư th́ dẫu
sai khác to đùng như xe, ngựa vẫn có thể xí xóa
được. Từ đó, câu này được dùng với
ư nghĩa phương tiện tùy cơ tiếp dẫn
người học của các vị thiện tri thức.
Nhưng Tổ dùng thành ngữ này với ư nghĩa: Nếu
xét theo lẽ công, tức là đối với sự tu hành
của chính ḿnh, chẳng thể mặc kệ những sai
lầm nhỏ nhặt, nhưng nếu xét theo t́nh đồng
đạo, những bất đồng ư kiến dẫu to
lớn cách mấy vẫn có thể xí xóa, bao dung.
[83] Kinh
này c̣n có tên gọi là Tịnh Nghiệp Bộ Kinh, hoặc Tịnh
Trừ Nghiệp Chướng Kinh, được dịch
vào thời Tây Tần (351-431). Nội dung kinh trần thuật:
Tỳ-kheo Vô Cấu Quang vào thành khất thực, bị dâm
nữ dùng chú thuật ép phạm căn bản giới. Tỳ-kheo
sanh tâm khổ năo to lớn, gặp Bồ Tát Văn Thù khuyên
đến gặp đức Phật, đức Phật
bèn thuyết pháp vô tánh khiến cho tỳ-kheo phát tâm đại
Bồ Đề, được Phật thọ kư; do vậy,
rộng nói các pháp tịnh trừ nghiệp chướng, xiển
minh sự thật “hết thảy các pháp vốn sẵn
thanh tịnh”. Đó là căn bản để tịnh hóa
nghiệp chướng.
[84] Tôn
giả Sư Tử (Siṁha) là vị
tổ thứ hai mươi bốn của Thiền Tông tại
Ấn Độ. Ngài thuở bé theo ngài Bà La Tăng xuất
gia tu Định, về sau gặp tôn giả Hạc Lặc
Na (Haklena-yaśa) điểm ngộ, trao truyền chánh pháp
nhăn tàng, phó chúc làm tổ thứ hai mươi bốn. Sau
đó, Ngài du hóa sang xứ Kế Tân, hóa độ các vị
Ba Lợi Ca, Đạt Ma Đạt v.v… sai họ đi
truyền pháp ở Nam Thiên Trúc, c̣n chính ḿnh ở lại Kế
Tân. Đương thời, quốc vương Kế Tân
là Di La Quật bách hại Phật giáo, một hôm bảo tôn
giả: “Ngươi đă ĺa sanh tử hay chưa? Đă
ĺa th́ thí cho ta cái đầu đi”. Tôn giả đáp: “Thân
chẳng do ngă mà có, nào tiếc cái đầu?” Vua bèn rút
gươm chém bay đầu tôn giả, máu phun lên hóa thành sữa
trắng như bạc cao mấy thước, tay vua
cũng tự nhiên đứt ĺa, rơi xuống đất.
Thần
Quang đại sư tức ngài Huệ Khả (487-593), là
đệ tử nối pháp của tổ Bồ Đề
Đạt Ma. Ngài c̣n được gọi là Tăng Khả,
hiệu là Thần Quang, được tôn thụy hiệu
là Đại Hoằng Thiền Sư. Thoạt đầu,
Ngài xuất gia với thiền sư Bảo Tĩnh tại
Hương Sơn thuộc Long Môn (Lạc Dương). Lúc
bốn mươi tuổi, đến Tung sơn yết kiến
Bồ Đề Đạt Ma, đắc tâm pháp. Ngài cùng một
đệ tử đắc pháp của tổ Đạt Ma
là Đạo Lâm truyền pháp tại Nghiệp Đô, bị
thiền sư Đạo Hằng đố kỵ, vu cáo là
truyền tụng ma ngữ, cho nên Ngài bị bắt bớ,
giam cầm, hành hạ nhiều lượt. Ngài cũng từng
hứng chịu nạn diệt giáo do Bắc Châu Vũ
Đế khởi xướng vào năm 574.
Thích
Tăng Triệu (384-414) là người Trường An, là
đệ tử nổi tiếng của ngài La Thập.
Đa số những bản kinh do ngài La Thập dịch
đều được nhuận văn bởi Tăng
Triệu, cho thấy Ngài văn bút tài hoa như thế nào.
Ngài được coi là bậc Giải Không đệ nhất
của Trung Hoa do thấu đạt tư tưởng Bát
Nhă, và được coi là nhân vật tiên phong của Tam Luận
Tông. Ngài tuổi nhỏ nhà nghèo, phải chép sách kiếm sống,
nên đọc rất nhiều tác phẩm kinh điển nổi
tiếng của Trung Hoa. Về sau, do đọc kinh Duy Ma,
giác ngộ bèn xuất gia. Về sau, ngài La Thập đến
Cô Tạng (nay là huyện Vũ Oai tỉnh Cam Túc), Ngài bèn
theo sang đó, cầu học, được ngài La Thập
cực lực tán dương. Về sau, La Thập
được Diêu Hưng đưa về Trường
An, Tăng Triệu cũng theo về, tham dự dịch
trường, cùng với Đạo Dung, Tăng Duệ và
Đạo Sanh được xưng tụng là Quan Trung Tứ
Kiệt. Năm 410, Ngài từng giúp Phật Đà Da Xá dịch
Tứ Phần Luật và Trường A Hàm. Ngài mất sớm
tại Trường An, có thuyết nói Ngài bị Diêu
Hưng xử tử. Khi mất, Ngài mới 31 tuổi.
Nham
Đầu Toàn Hoát là thiền sư nối pháp của ngài
Đức Sơn Tuyên Giám, người xứ Tuyền Châu.
Diện mạo thanh tú, khí độ rộng răi, tánh t́nh
phóng khoáng. Ngài hành cước nhiều nơi, từng mong
đến tham học với tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền,
nhưng gần đến nơi th́ Lâm Tế đă tịch.
Măi cho đến khi gặp Đức Sơn Tuyên Giám mới
đắc pháp, Ngài lui về núi Nham Đầu ở Ngạc
Châu, đến băi cát, Ngài ở cạnh sông làm người
đưa đ̣. Trong niên hiệu Quang Khải đời
Đường, giặc kéo đến đ̣i nạp tiền.
Do Ngài chẳng có ǵ để đưa, chúng bèn đâm chết
Ngài!
[85] Khai Nguyên là
niên hiệu được sử dụng từ năm 713
đến năm 741 đời Đường Huyền
Tông (Đường Minh Hoàng, tức Lư Long Cơ).
Đường Huyền Tông sử dụng ba niên hiệu
là Tiên Thiên, Khai Nguyên và Thiên Bảo.
[86] Đây là thành ngữ
chê trách kẻ không hiểu biết, chỉ nói suông, rập
khuôn những từ ngữ trong kinh điển để
làm bộ đă liễu giải, chứ hoàn toàn chẳng hiểu
nghĩa, giống như nghe nói “sắc tức là không, tức
giả, tức không, tức trung…” bèn lặp đi lặp lại như chuột
kêu chút chít, hoặc chim bay trên không kêu suông.
[87] Ngài Đức Sơn
Tuyên Giám (782-865) người xứ Kiếm Nam (nay thuộc
tỉnh Tứ Xuyên), họ ngoài đời là Châu, xuất
gia từ bé, hai mươi tuổi thọ Cụ Túc Giới.
Sư nghiên cứu chuyên ṛng Luật Tạng, quán thông chỉ
thú của kinh Đại Thừa. Do vậy, bèn sớ giải
kinh Kim Cang, viết Thanh Long Sớ Sao,
được người đương thời xưng
tụng bằng mỹ hiệu Châu Kim Cang. Nghe nói
phương Nam thịnh hành Thiền Trực Chỉ của
Lục Tổ Huệ Năng tương phản sở học
của chính ḿnh, Sư cả giận nói: “Kẻ xuất gia
ngàn kiếp học oai nghi, vạn kiếp học tế hạnh
của Phật, mà vẫn chẳng được thành Phật.
Nay gă ma ở phương Nam dám nói chỉ thẳng tâm
người, kiến tánh thành Phật, ta phải quét sạch
sào huyệt của hắn, diệt chủng loại đó
để báo ân Phật”. Do vậy, Sư gánh Thanh Long Sao từ
Tứ Xuyên đi về phương Nam. Trên đường
đi Lễ Dương, Sư thấy một bà lăo bán bánh, liền hạ gánh, hỏi
mua. Bà lăo hỏi: “Văn tự chi đó?” Sư đáp:
“Thanh Long Sớ Sao”. “Giảng giải kinh ǵ thế?” “Kinh
Kim Cang”. Bà lăo bảo: “Tôi hỏi câu này, nếu pháp sư
đáp được, tôi sẽ cúng thầy điểm
tâm. Nếu không đáp được, đi chỗ khác nhé!
Kinh Kim Cang dạy: ‘Tâm quá khứ chẳng thể được,
tâm hiện tại chẳng thể được, tâm vị
lai chẳng thể được’. Chẳng biết ḥa
thượng muốn điểm cái tâm nào?” Sư không
đáp được, phải gánh Thanh Long Sao đi. Đến
Lễ Dương, Sư tham yết thiền
sư Long Đàm Sùng Tín thuộc pháp hệ của Lục Tổ
Huệ Năng, được điểm hóa, bèn đốt Thanh
Long Sao, hoằng dương pháp của
ngài Sùng Tín.
[88] Kẽm núi là
khoảng sông chảy kèm giữa hai vách núi.
[89] Bài kệ của Tỳ
Xá Phù Phật: “Giả tá Tứ Đại dĩ vi thân,
tâm bổn vô sanh nhân cảnh hữu, tiền cảnh nhược
vô, tâm diệc vô. Tội phước như huyễn, khởi
diệc diệt” (Mượn nhờ Tứ Đại
để làm thân, tâm vốn vô sanh, do cảnh có. Tiền cảnh
nếu không, tâm cũng không. Tội phước như huyễn,
khởi rồi diệt).
[90] “Gă lùn
xem tuồng” (矮子看戏, ải
tử khán hư) vốn là một thành ngữ phát xuất từ
sách Châu Tử Ngữ Loại. Theo
đó, tại một tiểu trấn nọ, có một
gă lùn, cao chưa đến ba thước Tàu (tức
chưa đầy một thước Tây) theo người
khác đi xem diễn tuồng. Do chẳng
thấy được ǵ, hắn ta chỉ
nghe người khác bàn tán bèn nói hùa theo, thấy người
ta cười cũng cười to, thấy người ta
chê bai cũng chê theo.
[91] Yểm tử quan: Bế
quan đến chết.
[92] Kinh Phật
Thuyết Thập Nhị Đầu Đà Kinh, c̣n gọi là
Sa Môn Đầu Đà Kinh được ngài Cầu Na Bạt
Đà La dịch vào đời Lưu Tống, chủ yếu
giảng về mười hai hạnh Đầu Đà.
[93] Do thời cổ, tự
viện thường xây cất trong vùng núi non, nên ngôi vị
Trụ Tŕ của một ngôi chùa được gọi là
Sơn Chủ. Đến nhận làm Trụ Tŕ của một
ngôi chùa sẽ được gọi là Tấn Sơn. Nghi
thức tiếp nhận ngôi Trụ Tŕ sẽ được
gọi là Tấn Sơn đại điển.
[94] Hối cái nói đầy
đủ là Điệu Hối Cái
(Auddhatya-kaukrtya-āvarana): Điệu là tâm xao động,
bất an. Hối là đối với việc đă làm bèn
áo năo, hối hận. Do nó có thể ngăn chướng
định tâm, nên gọi là Cái (蓋, che lấp, ngăn
chướng). Điệu Hối Cái chính là nói gộp chung
hai thứ phiền năo điệu cử (lao chao, phận phều)
và truy hối (đă làm rồi hối hận) thành một
món Cái.
[95] Hậu Nghệ
(后羿) c̣n gọi là Đại Nghệ
hay Nghệ, là một nhân vật thiện xạ trong truyền
thuyết cổ Trung Hoa. Tương truyền, khi đó có
mười mặt trời xuất hiện khiến thế
gian khô cháy, dân t́nh khốn khổ. Hậu Nghệ đă bắn
rớt chín mặt trời, chỉ chừa lại một mặt
trời. Vợ của Hậu Nghệ là Hằng Nga (Thường
Nga). Do lén uống thuốc tiên bất tử của Tây
Vương Mẫu, Hằng Nga bay lên cung trăng và sống
ở đó (điển tích này thường gọi là “Hằng
Nga bôn nguyệt”). Sách Thái B́nh Ngự Lăm lại nói sau khi
bay lên cung trăng, Hằng Nga biến thành con thiềm thừ
(con cóc), nên cổ thư thường gọi mặt
trăng là Thiềm Cung.
[96] Tức Ngũ Tổ
Sư Giới, do trụ tŕ chùa Ngũ Tổ nên gọi là
Ngũ Tổ Sư Giới, không liên quan ǵ đến
Ngũ Tổ Đại Mai Hoằng Nhẫn của Thiền
Tông.
[97] U Khê tôn giả tức
là ngài U Khê Truyền Đăng (1554-1628) là Tổ thứ ba
mươi của tông Thiên Thai. Ngài trung hưng tông Thiên Thai
vào cuối đời Minh. Ngài họ Diệp, tên tự là
Vô Tận, biệt hiệu là Hữu Môn, người huyện
Tây An, phủ Cù Châu, tỉnh Chiết Giang. Thuở nhỏ,
Ngài học Nho. Do đọc Long Thư Tịnh Độ
Văn mà phát tâm hướng Phật. Năm Vạn Lịch
thứ bảy (1579), sau một trận bệnh nặng,
Ngài xin xuất gia với thiền sư Ánh Am, được
truyền dạy Vĩnh Gia Tập. Sau đó, Ngài y chỉ
pháp sư Bách Tùng Chân Giác. Về sau, trụ tích tại đạo tràng U
Khê thuộc chùa Cao Minh, trung hưng đạo tràng này. Ngoài
Thiên Thai Giáo Quán, Sư tinh thông Tịnh Độ Tông và Thiền
Tông, giảng kinh hơn bốn mươi năm. Đầu
niên hiệu Sùng Trinh (1628), vào ngày 21 tháng Năm, biết giờ
phút lâm chung sắp đến, Ngài
giảng dạy lần cuối tại chùa Thạch Sơn,
đối trước đại chúng đề năm chữ
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, lớn tiếng xướng đề
kinh rồi thị tịch. Ngài trước tác khá nhiều
như Ngô Trung Thạch Phật Tướng Hảo Sám
Nghĩa, Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn Kư Chú, Thiên Thai
Sơn Phương Ngoại Chí, U Khê Văn Tập, Lăng
Nghiêm Kinh Viên Thông Sớ, Lăng Nghiêm Kinh Viên Thông Sớ Tiền
Mao, Lăng Nghiêm Kinh Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Kinh Huyền
Nghĩa Tập Lược, Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận,
Duy Ma Kinh Vô Ngă Sớ, Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh
Đồ Tụng, A Di Đà Kinh Lược Giải Viên
Trung Sao… Trong đó, hai tác phẩm Tịnh Độ Sanh Vô
Sanh Luận và A Di Đà Kinh Lược Giải Viên Trung Sao
được những vị nghiên cứu giáo nghĩa Tịnh
Độ đánh giá rất cao.
[98] Tam đại là ba bộ
chú giải kinh Pháp Hoa của Trí Giả đại sư (do
môn nhân Quán Đảnh ghi lại) gồm Pháp Hoa Huyền
Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú và Ma Ha Ha Chỉ Quán. Ngũ tiểu
là các bộ chú sớ Kim Quang Minh Huyền Nghĩa, Kim Quang
Minh Kinh Văn Cú, Quán Âm Huyền Nghĩa, Quán Âm Nghĩa Sớ
và Quán Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ đều
do Trí Giả đại sư soạn.
[99] Nguyên văn “giới
thận khủng cụ” (戒慎恐懼) vốn phát xuất từ
sách Trung Dung: “Thị cố, quân tử giới thận kỳ
sở bất đổ, khủng cụ kỳ sở bất
văn” (v́ thế, quân tử răn dè, cẩn thận
nơi cái chẳng thấy, e sợ nơi cái chẳng nghe).
“Giới thận khủng cụ” có thể hiểu thô
thiển là luôn lưu tâm, cẩn thận, ngăn ngừa tâm hư phù ĺa khỏi đạo.
[100] Dương là
Dương Châu chủ trương thuyết vị ngă, Mặc
là Mặc Địch chủ trương kiêm ái. Thuyết của
hai ông bị Nho gia coi là dị đoan. Dương Châu
(430-360 trước Công Nguyên), tên tự là Tử Cư hoặc
Tử Thủ, chủ trương thuyết duy ngă luận,
cá nhân chủ nghĩa, hưởng lạc chủ nghĩa
v.v… Học thuyết của ông là bảo toàn sanh mạng và thiên chân của ḿnh.
Câu nói nổi tiếng của ông là “không v́ cái lợi lớn
của thiên hạ mà chịu mất đi một sợi
lông chân của ḿnh”.
Mặc Địch
(468-376 trước Công Nguyên) là người nước Lỗ
(có thuyết nói ông là người nước Tống), ngoài
việc là một nhà tư tưởng, ông c̣n là một nhà
khoa học, nhà giáo dục, và quân sự. Sở dĩ ông bị
Nho gia công kích v́ ông cho rằng Nho gia quá rườm rà, lễ
nhạc và chánh sự quá phức tạp, nẩy sanh những
phiền toái vô ích, chê họ nói nhân nghĩa ngoài miệng mà
thôi! Ông chủ
trương đời sống chất phác, nhu cầu vừa
đủ, giảm bớt chi tiêu, lược bỏ những
lễ nhạc rườm rà trong quan, hôn, tang, tế của
Nho gia.
[101] Năm thứ mười
bốn đời Lỗ Ai Công
(năm 481 trước Công Nguyên), Điền Thành Tử giết vua
nước Tề là Tề Giản Công. Khổng Tử nghe
tin, lo ngại nước Lỗ sẽ có kẻ học theo
gương ấy. V́ vậy, Ngài
trai giới, tắm
gội rồi mới vào chầu Lỗ Ai Công tâu: “Điền Hằng (Điền Thành Tử) giết
vua, xin bệ hạ xuất binh thảo phạt Điền Thành Tử”. Ở
đây, Tổ mượn điển tích này để nói
lên sự lo ngại đối với tác hại của tà
thuyết trong sách Pháp Hoa Bách Vấn bèn chẳng ngại
đụng chạm mà thẳng thừng thưa tŕnh với
Đạt Nguyệt pháp chủ
(Đôi khi có sách chép là Trần Thành Tử v́ thời cổ,
Trần và Điền có cùng âm đọc, nên hai chữ này
có khi dùng lẫn cho nhau).
[102] Tức chuyện Biện
Ḥa là người nước Sở, biết
đá có ngọc, bèn dâng tảng đá ấy lên Sở Lịch
Vương. Thợ ngọc
bảo đó chỉ là đá. Lịch
Vương trách Biện Ḥa dối vua, sai người chặt chân trái họ Biện. Đến thời Sở
Vũ Vương, Biện Ḥa lại dâng lên. Thợ ngọc
lại bảo là đá, vua sai chặt nốt chân phải.
Măi cho đến khi Sở Văn Vương lên ngôi, Biện
Ḥa ôm đá ngồi khóc dưới chân núi Kinh suốt ba ngày
ba đêm, khóc cạn nước mắt đến nỗi
mắt tuôn máu. Văn Vương nghe nói, bèn sai thợ chẻ
đá, quả nhiên có được ngọc quư, liền đặt tên là Ḥa Thị
Bích (ngọc họ Ḥa). Bích tức là một loại ngọc
quư được chạm khắc, dùng để cúng tế
thần linh. Theo truyền thuyết, viên ngọc ấy
được Sở Oai Vương ban thưởng cho
quan lệnh doăn Chiêu Dương v́ có công diệt nước
Việt. Chiêu Dương mở tiệc, khoe ngọc. Trong
tiệc có kẻ gây rối, khiến viên ngọc bị thất
lạc. Có người đổ riệt Trương Nghi
là kẻ trộm ngọc, khiến ông ta bị tra khảo gần
chết. Về sau, Trương Nghi trở thành tướng
quốc nước Tần, đem quân đánh Sở đ̣i
ngọc để trả thù. Nhưng ngọc vẫn bị
thất lạc. Về sau, viên ngọc ấy lọt sang
nước Triệu. Vua Tần là Tần Chiêu Tương
Vương biết vua nước Triệu là Triệu Huệ
Văn Vương có ngọc, bèn sai sứ sang thương
thuyết xin đổi mười lăm ṭa thành để
lấy viên ngọc đó. Do vậy, có thành ngữ “giá trị
liên thành”. Về sau, Tần diệt lục quốc, Tần
Thủy Hoàng sai điêu khắc ngọc họ Ḥa thành ấn
báu truyền quốc gọi là Truyền Quốc Tỷ. Trên
mặt ấn có khắc tám chữ Thọ Mạng Ư
Thiên, Kư Thọ Vĩnh Xương (nhận mạng từ
trời, lâu bền tốt đẹp măi măi).
[103] “Trượng thất”
là cái thất vuông vức, mỗi bề chỉ rộng
đúng một trượng, tức là cái thất của
cư sĩ Duy Ma Cật. Cổ nhân dùng chữ “trượng
thất” để tôn xưng hàng tại gia cư sĩ,
ngụ ư: Tuy bận bịu gia vụ, lo toan nghề nghiệp,
mà tâm vẫn b́nh lặng, an trụ trong giải thoát như
ngài Duy Ma Cật.
[104] “Tế Vân đấu
tránh” là cuộc tranh luận về pháp phái cuối thời
Minh do Mật Vân Viên Ngộ thuộc tông Lâm Tế chủ
xướng. Thoạt đầu, do có ư kiến năm tông
phái nhà Thiền là vô căn cứ. Do vậy, Hán Nguyệt Pháp Tạng
thuộc tông Lâm Tế viết Ngũ Đăng Nguyên biện
luận năm tông phái Thiền đều phù hợp pháp ấn
từ thời Oai Âm Vương Phật. Đệ tử của
ông ta là Mật Vân Viên Ngộ thấy cách nói ấy thiếu
thuyết phục, bèn viết Tịch Vọng Cứu Lược
Thuyết, nhằm chứng minh sự truyền thừa của Thiền
Tông từ quá khứ
thất Phật, hai mươi tám vị Tổ của Thiên
Trúc, sáu vị Tổ của Đông Độ, và truyền
thừa từ ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng trở
đi cho đến người cuối cùng là Hán Nguyệt
Pháp Tạng. Đệ tử ông ta là Phí Ẩn Thông Dung lại
soạn Ngũ Đăng Nghiêm Thống với mục
đích “thanh lư môn hộ”, gạt bỏ những vị chứng
ngộ do tự học theo di trước, tự ngộ
v.v… Cuộc tranh luận này dẫn đến khuynh hướng
cực đoan khi khẳng định chỉ có pháp hệ
của Mật Vân Viên Ngộ là đích truyền, khiến
cho các tông phái, môn đ́nh nhà Thiền tại Trung Hoa tranh luận
ồn ào không dứt.
[105] “Tập đại
thành” (集大成) là dung hội các
tư tưởng, học thuyết, phong cách, tài khéo v.v…
thành một hệ thống hoàn chỉnh, thống nhất.
[106] Lỗ Am là biệt hiệu
của Kim Tông Nhất (1597-1675). Ông quê ở Khánh Châu (Đại
Hàn), tác phẩm của ông được tập hợp
thành Lỗ Am Văn Tập.
[107] Thông Dực (通翼) là một tác phẩm
của Tăng Đại Kỳ biên soạn, chủ yếu
là tư tưởng Nho học, nhưng tham khảo rất
nhiều giáo nghĩa Phật môn, nhằm xiển
dương ư nghĩa “Nho Phật bất nhị”. Sách
bao gồm các đề mục nhân quả, bảo vệ
sanh mạng, quỷ thần, mộng mị, các nghĩa lư của
Nho và Phật v.v…