Linh Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
6
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
10. Luận
* Tham cứu niệm Phật
luận
Trí
và Lư nơi Bổn Giác diệu minh, Chân Như pháp giới vốn
chẳng chia thành Năng và Sở. Y báo và chánh báo trọn chẳng
có tự lượng và tha lượng. Chỉ do mê vọng,
Biến Kế Chấp ngang
ngược nẩy sanh, trái nghịch giác tánh mà chín pháp giới
xen bày, do mê muội chân cảnh mà ba cơi huyễn hiện, nhọc
công đức Thế Tôn ta rủ ḷng Từ lập giáo, thuận
theo căn tánh của chúng sanh mà chỉ dạy vô lượng
pháp môn, hoặc hiển thuyết liễu nghĩa, hoặc
đàm luận ẩn tàng, hoặc khéo léo tiếp dẫn
căn cơ thiên lệch khiến cho
họ dần dần nhập đạo,
hoặc thẳng thừng gieo chủng tử Viên Giáo khiến
cho họ nhanh chóng
khơi mở, sáng suốt.
Hoặc là từ trong một pháp, nói phân biệt thành vô
lượng, hoặc dùng phương tiện lạ để
thiện xảo giúp hiển lộ Nhất Thừa. Tuy lưới giáo muôn vàn sai khác, không ǵ chẳng
nhằm đánh thức chín giới từ giấc mộng dài,
khiến cho họ trở về sự
giác ngộ vốn có, hiểu rơ ba cơi huyễn vọng
ngăn che, khiến cho họ ngầm khế hợp Tịch
Quang mà thôi!
Nhưng liễu
nghĩa bậc nhất trong các liễu nghĩa, viên đốn
nhất trong các pháp viên đốn, phương tiện bậc
nhất trong các phương tiện, không ǵ bằng một
môn Tịnh Độ. V́ sao nói vậy? Thuận theo cái tâm tịnh,
cơi Phật sẽ tịnh. Kiến Tư tịnh bèn siêu
thăng cơi Đồng Cư. Trần Sa tịnh bèn siêu
thăng cơi Phương Tiện. Vô Minh tịnh bèn siêu
thăng cơi Thật Báo. V́ thế nói “duy Phật nhất
nhân cư Tịnh Độ” (chỉ riêng một ḿnh
đức Phật ngự trong Tịnh Độ), lẽ nào
chẳng phải là bất liễu nghĩa? Khi tâm chúng sanh
niệm Phật, tâm này làm Phật, tâm này là Phật, do một niệm mà nhanh chóng nhập Phật
hải. V́ thế nói: “Nhất xưng nam-mô Phật, giai
dĩ thành Phật đạo” (Xưng nam-mô Phật một
tiếng, đều đă thành Phật đạo). “Nhược
nhân chuyên niệm Di Đà Phật, thị danh vô thượng
thâm diệu Thiền” (nếu ai chuyên niệm Di Đà Phật,
th́ gọi vô thượng thâm diệu Thiền), há chẳng
phải là chí viên, chí đốn ư? Quả đức
nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn! Cái tâm tu nhân và tín lực
cũng chẳng thể nghĩ bàn. Cảm ứng đạo
giao, nét khắc in xuống, ấn nát[1].
Là phàm phu mà đều bất thoái, chưa đoạn Hoặc
mà được “hoành siêu” (vượt thoát tam giới
theo chiều ngang). Lại c̣n thích hợp trọn khắp ba
căn, bao trùm bốn cơi [Tịnh Độ] theo chiều
ngang. Ngũ trược nhẹ, tịnh, bèn sanh trong cơi
Đồng Cư. Khéo léo thấu hiểu Không th́ sanh trong
cơi Phương Tiện. Tam Quán viên tịnh liền ở
trong cơi Thật Báo. Cứu Cánh Giác Tịnh th́ ở trong cơi Tịch
Quang. C̣n chẳng có ǵ sánh bằng, huống hồ có ǵ
hơn được ư? Do vậy, gọi là công đức
chẳng thể nghĩ bàn, là pháp thế gian khó tin.
Nói chung, điều trọng
yếu cốt lơi là cần phải trọn đủ ba món
Tín, Nguyện, Hạnh. Tín là tín Sự, tín Lư, tín tự, tín
tha, tín nhân, tín quả, biết “ngoài tâm chẳng có cơi,
ngoài cơi chẳng có tâm, ngoài tánh chẳng có Phật, ngoài Phật
chẳng có tánh”. Nhân ắt bao trùm quả, quả ắt
thấu triệt nhân. Nguyện th́ niệm niệm hồi
hướng, tâm tâm hướng về. Hạnh th́ vô lượng
pháp môn, hội quy nhất trí, nhưng chánh hạnh Tịnh
Độ càng phải lấy niệm Phật làm đầu.
Xét ra, một hạnh niệm
Phật có nhiều đường lối. Kinh Tiểu Bổn
coi trọng tŕ danh, Lăng Nghiêm chỉ ức niệm, Quán
Kinh chủ yếu là quán cảnh, Đại Tập[2]
th́ quán Thật Tướng của Phật. Đời sau,
các vị thiền sư trí thấu triệt, lại mở
ra đường lối tham cứu. Vân Thê đại
sư cực lực chủ trương Tịnh Độ,
cũng chẳng phế cách nói ấy, nhưng pháp môn tuy
khác, đều cùng lấy Tịnh Độ làm chỗ quy
túc. Riêng cách nói tham cứu là
đă xen lạm với Thiền Tông, chẳng phải là
không có chỗ xen tạp, lầm lẫn đáng bàn!
Nay thử luận xem:
Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt. Nếu
thật sự có thể tin chắc, sẽ
thẳng thừng biết chỗ về.
Người chưa liễu giải, chẳng ngại nghi
chấp. V́ thế, công án chữ Ai (“ai là người niệm
Phật?”) tùy thuận thích ứng thời cơ, có lợi
lớn mà cũng có hại lớn. Nói “lợi lớn” là do
niệm có thể mệt mỏi, hoăn đăi, [tham cứu sẽ]
khiến cho [hành nhân] tận lực truy xét sâu xa, có tác dụng
giúp phát khởi khá nhiều. Hơn nữa, [nếu như
hành nhân] chưa hiểu rơ “tánh của niệm vốn là
Không, Năng và Sở chẳng hai”, nhờ vào ḥn ngói gơ cửa
này, sẽ đều có lợi ích sâu xa. Ắt phải lấy
Tịnh Độ làm chủ, tham cứu để giúp, [bất
luận] thấu triệt hay chưa,
th́ mới chẳng chướng ngại văng sanh. Nói “hại
lớn” là đă xen lẫn tham cứu, tức là chỉ cậy
vào linh tánh của chính ḿnh, chẳng cầu Phật lực,
chỉ muốn được sáng tỏ trong đời hiện
tại, chẳng c̣n nguyện văng sanh, hoặc do nghi mà sanh
chướng, bảo là “chẳng thể sanh”, thậm
chí phế bỏ vạn hạnh, vứt bỏ kinh điển.
Bổn ư của cổ nhân là nhiếp Thiền quy Tịnh,
đối với Thiền Tông mà mở ra cơ duyên quyền
biến này! Người hiện thời hiểu sai, phần
nhiều tới mức bỏ Tịnh theo Thiền; đối với
Tịnh Tông,
đâm ra trở thành phá pháp, hoàn toàn trái nghịch chánh nhân Tịnh
nghiệp, sao có thể mong văng sanh cơi ấy cho được?
Hỏi: Tịnh Độ
là chủ, có thể coi tham cứu là niệm Phật hay
không?
Đáp: Tham cứu và niệm
đều thuộc về Hạnh. Thiết tha th́ tham cứu
cũng văng sanh, chẳng thiết tha th́ niệm cũng chẳng
sanh! Lại nữa, tuy có hạnh thiết tha, nhưng tín và
nguyện hướng dẫn văng sanh. Nếu chẳng có tín
nguyện dẫn đường, sẽ chẳng văng sanh!
Hỏi: Người
đă triệt ngộ có cần phải văng sanh hay không?
Đáp: Phổ Hiền
nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc.
Từ Sơ Địa cho tới Thập Địa đều
nói “chẳng ĺa niệm Phật”. Di Sơn[3]
phát nguyện thừa sự mười phương chư
Phật chẳng hề mệt nhọc. Thanh Quy của ngài
Bách Trượng có các hạng mục như khóa tụng,
đưa tiễn người mất v.v… không ǵ chẳng
chỉ quy Tịnh Độ. V́ thế, ngài Thiên Như nói: “Nếu
thật sự ngộ đạo th́ sanh về Tịnh
Độ một vạn con trâu chẳng kéo lại
được!” Ngài Vân Thê (tổ Liên Tŕ) nói: “Sau khi
đă ngộ mà chẳng mong văng sanh, chắc chắn lăo
huynh chưa ngộ!” Do vậy biết: Hễ kẻ nào
nói “chẳng cần sanh về Tịnh Độ” đều
là hạng tăng thượng mạn, chẳng phải là
người thật sự nhập địa vị Bồ
Tát!
Hỏi: Niệm Phật
kiêm tham cứu có thể làm trợ hạnh. Tham Thiền
kiêm nguyện văng sanh, chẳng phải là cái tâm chụp giựt
ư?
Đáp: Tịnh Độ
mà chẳng có Thiền, chẳng phải là Tịnh Độ
chân thật. Thiền mà không có Tịnh Độ, chẳng
phải là Thiền chân thật!
Nhưng Thiền của Tịnh Độ vốn chẳng
cần tham cứu, chỉ nhất tâm bất loạn tức
là Tĩnh. Danh hiệu rành rành tức là Lự. C̣n như Tịnh
Độ nơi Thiền th́ phải chứng cái tâm cực
tịnh, chẳng thể dùng Lư để đoạt Sự.
Chư tổ xưa kia đă hết sạch phàm t́nh,
chưa quên thánh giải, chẳng ngại tùy cơ quét sạch
chấp trước. Học nhân đời sau tuy có Càn Huệ,
nhưng chưa khô cạn nhiễm tập (tập khí đắm
nhiễm), nếu chẳng phát nguyện văng sanh, sẽ y
như cũ mà luân chuyển theo nghiệp! Tứ Liệu Giản của tổ
Vĩnh Minh, “mười niệm chẳng khuyết” của
ngài Sở
Thạch v.v… chính là nói “có Thiền, có Tịnh”, há có phải
là cái tâm chụp giựt ư?
Hỏi: Tham cứu niệm
Phật và pháp môn Chỉ Quán giống nhau, hay khác
nhau?
Đáp: Lư th́ dung thông lẫn
nhau, nhưng pháp môn thật sự có sai khác! Chỉ Quán dùng
Tín để nhập, c̣n tham cứu th́ dùng nghi để nhập.
Chỉ Quán tuy thích hợp trọn khắp ba căn,
nhưng bậc thượng căn mới thật sự
hiểu rơ. Tham cứu tuy cũng thích hợp khắp ba
căn, nhưng chỉ có bậc thượng căn mới
đạt được Đại Tổng Tŕ. Hơn nữa,
kẻ hạ căn hoặc niệm Phật, hoặc tham cứu,
tuy chưa thấu đạt lư sâu Chỉ Quán, nhưng Lư
không ǵ chẳng trọn. Bởi lẽ, đặt cái tâm ở một chỗ chính
là Chỉ. Dụng tâm tham cứu và
niệm tức là Quán. V́ thế, kẻ trung căn hoặc
nhờ vào Giải để khởi Niệm Hạnh, hoặc
do bế tắc nơi Giải mà phát khởi t́nh kiến
tham cứu. Tuy thuận theo căn cơ mà thành ra vận dụng
bất đồng, đều chẳng đánh mất
đại nghĩa của Chỉ Quán. Chỉ có bậc
thượng căn thẳng thừng tương ứng, cảnh
và trí như một, Quán Đế
chẳng hai;
khi đó, niệm và “chẳng
niệm” đều đạt tới rốt ráo, bèn không có ǵ để
có thể tham cứu! V́ sao vậy? Chỉ lănh hội
theo ngôn từ, khiến cho tông
phong bị khuất lấp. Hiểu rành rẽ nơi từng
câu, Phật, Tổ bị ch́m, lấp. V́ thế biết:
Cách nói “tham cứu niệm
Phật” là Quyền, chẳng phải là
Thật; đó là trợ,
chẳng phải là chánh. Tuy chẳng thể
phế, càng chớ nên chấp! Hễ
phế bỏ, sẽ bị thiếu một hạnh trong vạn
hạnh. Hễ chấp th́ do một hạnh mà chướng
ngại vạn hạnh! Bậc cao minh học đạo
hăy thử suy tính kỹ càng rồi nỗ lực mà hành!
* Từ bi duyên khổ
chúng sanh luận
Chẳng
hiểu rơ lư Phật tánh nơi chính ḿnh, mờ mịt đối
với nghĩa “đồng
Thể”, chỉ biết chuộng
thiện, ghét ác, chẳng biết ban vui, dẹp khổ, coi
dị loại bàng sanh như cỏ rác, thấy chúng bị
vây hăm trong tội khổ, bèn coi
là chuyện đương nhiên. Ai biết loài chúng sanh có
hàm thức ngọ ngoạy có tri giác chẳng khác [chúng ta]! Bè đảng ác mắt
quáng, loài người đều giống hệt như thế,
do mê muội tánh linh mà cố ư chuốc lấy tội khiên
đă là đáng thương! Do túc chướng mà vô cớ
mắc lưới, càng đáng đau xót! Vậy mà
có kẻ mắt thấy nỗi kinh hoàng, tai nghe tiếng kêu
đau thảm thiết, không chỉ thờ ơ, chẳng
quan tâm, đoái hoài, lại c̣n nói ngay “đáng phải nên
như vậy!” Than ôi! Bi gọi là “dẹp
khổ”,
xả những loài ấy, lấy ǵ để duyên? Từ
gọi là “ban
vui”,
hướng tới đường lành nào [mà thiếu ḷng
bi], há có ích ǵ? Giới Bổn Kinh nói “Bồ Tát ư ác
nhân sở, khởi từ bi tâm, thâm ư thiện nhân” (Bồ
Tát đối với kẻ ác, dấy ḷng từ bi sâu đậm
c̣n hơn với người lành) là có nguyên do vậy!
Chưa suy
xét ư chỉ ấy, cứ
viện cớ trừng phạt sai
trái, tự ỷ vào phước báo tạm thời, tà mạn
đầy ắp dạ, vui mừng trước nỗi khổ
cùng cực của kẻ khác, có khác ǵ La Sát? Há có chút nào ngộ
“thường
trụ từ tâm”,
chẳng có nỗi đau “cắt da đồng
thể”
ư?
Nếu như nói: “Từ
bi và cứu bạt chính là công năng nơi cái quả. Hổ
thẹn, khuyên răn ngăn dứt, quả thật là diệu
hạnh nơi cái nhân. Do vậy, tôn sùng hiền thiện
được gọi là Tàm. Khinh thường, chống cự
bạo ác gọi là Quư. Dùng tàm quư để tự trang nghiêm
th́ mới có thể đoạn ác, tu thiện. Từ bi lợi
vật chính là tiếp độ cơi đời, độ
sanh!” Kẻ sơ tâm sao lại viện cớ của bậc
đại thánh? Ôi! Lầm mất rồi! Từ bi, tàm quư
đều cùng gọi là thiện tâm! Trong lúc tu nhân,
bèn có thể cùng tu, có thể cùng viên măn nơi cái quả. Nếu
như ông luận định, Bồ Tát chẳng tu Tứ
Vô Lượng
Tâm,
Phật quả sẽ chẳng gọi là “trọn đủ
tàm quư”, thiếu khuyết chẳng nhỏ, tội bèn ngập
trời! Nào có biết từ bi và tàm quư thành tựu lẫn
nhau khít khao! Có tàm quư th́ mới có từ bi, chẳng có từ
bi sẽ chẳng có tàm quư! Ấy là do liễu đạt “tâm,
Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Quán Phật
chính là tâm, đó là sanh tàm quư. Quán chúng sanh chính là Phật,
đó là khởi từ bi. Tôn sùng tánh hiền thiện vốn
sẵn có, tùy nguyện ban cho hết thảy chúng sanh niềm
vui sẵn có nơi tánh đức, cự tuyệt tập
khí bạo ác do mê chân, tùy nguyện dẹp trừ hết thảy
các nỗi khổ nơi tánh đức của chúng sanh. Có một
phần tàm quư th́ mới có một phần từ bi. Có
mười phần từ bi th́ mới có mười phần
tàm quư. Ông nay thấy những kẻ cùng bẩm thọ huyết
khí này, cùng ôm linh giác, trái nghịch chân tâm của chính ḿnh,
oan uổng khốn khổ, chẳng nghĩ cứu vớt,
ngược ngạo khởi tâm kiêu ngạo, không chỉ là
chẳng từ bi mà c̣n là thuộc loại không hổ thẹn!
Nếu ngộ biết
tâm tánh, biết đích xác “chúng sanh và Phật đồng
thể”,
thấy các vị Phật vị lai ấy oan uổng đọa
trong tam đồ, bát nạn, mắt thấy ḷng đau, tất
bật cứu vớt như đói ăn, khát uống, muốn
bỏ mà chẳng thể! Sao nỡ nhẫn tâm coi là thông
thường, ngược ngạo coi chuyện cứu giúp
là viễn vông ư? Chỉ sợ thiện báo đời
trước hữu hạn, khổ quả trong đời
khác vô cùng. Đă vĩnh viễn cách biệt ḷng Bi trọn vẹn,
chư Phật cũng khó ch́a tay cứu giúp. Do vậy, những
kẻ cười nhạo khổ luân ngày nay, ngày sau sẽ
bị khổ luân cười nhạo! Đáng buồn thay!
* Luận về mười
lợi ích to lớn của giới “không ăn phi thời”
Khách
hỏi Đỗ Đa Tử[4]
rằng: “Tôi nghe nói giết, trộm, dâm, dối gọi là
tánh tội. Uống rượu hôn mê, đánh mất chủng
tử trí huệ. Ăn thịt chúng sanh, đoạn đại
từ bi. Do vậy, Như Lai chế giới, thất chúng[5]
cùng tuân theo. Cố nhiên chẳng nghi hoặc. C̣n như thức
ăn thông thường để dưỡng thân, có lỗi
lầm ǵ mà chế giới không ăn phi thời nghiêm ngặt
dường ấy? Nguyện nghe ư chỉ ấy”.
Đỗ Đa Tử
nói: - Tôi chính đang muốn tŕnh bày lẽ trọng yếu
của trai pháp để tạo khuôn phép cho hành nhân, ông hỏi
đúng lúc lắm! Trai pháp là đại đạo để
hành chung cho đệ tử của thập
phương tam thế chư Phật, là luật trọng yếu
trong pháp thoát sanh tử. Ngu phu khăng khăng v́ bụng miệng,
cam làm kẻ [ham chuộng] uống
ăn. Đă sợ hăi luật định này, sao không biện
định lợi ích của giới này? Nay bổn ư chế
lập giới của Như Lai vốn tận thiện, tận
mỹ, sao không kiệt lực trần
thuật? Nêu ra đại lược, [giới ấy] có
mười điều lợi ích to lớn:
1) Một là đoạn
duyên sanh tử. Kinh dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai
nhân dâm dục nhi chánh tánh mạng” (hết thảy chúng
sanh đều do dâm dục mà có tánh mạng). Lại nói: “Tam
giới chúng sanh giai y ẩm thực nhi đắc tồn
hoạt. Sở vị đoạn thực, xúc thực,
tư thực, thức thực” (Chúng sanh trong ba cơi đều
nương vào ăn uống mà được sống sót.
Đó gọi là ăn bằng cách cắn xé, ăn bằng
cách đụng chạm, ăn bằng cách nghĩ tưởng,
ăn bằng thức). Do vậy, xét theo đó, dâm dục cố
nhiên là chánh nhân của sanh tử, ăn uống chính là
tăng thượng duyên bậc nhất của sanh tử,
đều thuộc vào ngũ dục, riêng vun quén cái thân khổ
độc này để mượn đó mà tu đạo,
chẳng thể hoàn toàn đoạn. Ngay như ăn
đúng thời, c̣n tưởng là quỷ Khoáng Dă ăn thịt
con, há dung buông lung ăn phi thời ư?
2) Hai là biểu thị
nghĩa Trung Đạo. Tông Thiên Thai nói: “Ăn trước
Ngọ biểu thị phương tiện đạo tợ
hồ có pháp để có thể đắc. Quá khỏi giữa
trưa không ăn, biểu thị ngoài Trung Đạo ra, chẳng
cần chi nữa!” Đó là Lư Quán, hoàn toàn cậy nơi
Sự cảnh. Nếu thô giới c̣n chẳng tự ǵn giữ,
há chẳng giống như người thế tục ban
đêm vẫn ăn uống ư?
Phóng túng là bất cập. Nếu giống như ngoại
đạo, ngày ăn một hạt mè, hoặc một
hạt lúa mạch th́ là thái quá. Hạnh chẳng thích
đáng, chẳng vừa
phải, sẽ do đâu mà khế hội diệu lư?
3) Ba là điều ḥa
thân thể, ít bệnh. Tỳ
(spleen, lá lách) chủ tín, ăn nhiều lượt,
dễ tổn thương tỳ nhất. V́ thế, Huyền
Môn coi “kiêng
ăn tối”
là thuật hay khéo để dưỡng sanh, há gọi là
“ráng chịu đói” ư?
4) Bốn là đạo
nghiệp được tôn cao. Ngài Triệu Châu nói: “Hai
thời cơm cháo chính là chỗ tạp dụng tâm”. Hai
thời mà đă là tạp,
huống hồ ba, bốn ư? Nhà Nho nói: “Ẩm thực
chi nhân, tắc nhân tiện chi” (kẻ chỉ ham mê ăn
uống sẽ bị người khác khinh rẻ). Nay tuân thủ
nghiêm ngặt trai pháp, chuyên ṛng tu đạo, đạo nghiệp
tự hưng thịnh.
5) Năm là kiên cố
giới phẩm. Ăn tối trợ hỏa, trợ khí,
tăng trưởng dâm tâm. Nay dứt bặt thanh tịnh,
giới thể cứng chắc.
6) Sáu là kham có thể tu
Định. Đoạn loạn tưởng tạp thực,
thân tâm nhẹ nhàng, bén nhạy, đắc Định chẳng
khó.
7) Bảy là xuất
sanh trí huệ, ăn tối tăng Hôn
Cái. Nay thanh tịnh,
hiểu rơ, tĩnh lặng, chẳng chướng quán huệ.
Lại nữa, đối với
bốn loại ăn, đúng như
pháp mà tưởng chán ĺa, liền có thể đoạn Hoặc
trong tam giới.
8) Tám là ĺa nghiệp quỷ,
nghiệp súc sanh. Súc sanh ăn sau Ngọ. Quỷ ăn ban
đêm. Chẳng tŕ trai pháp này, sẽ chẳng khác quỷ và
súc sanh, bị lôi kéo vào loài ấy. Giữ trai pháp này, xa ĺa
cái duyên sanh vào hai đường ấy.
9) Chín là chẳng gây phiền
năo cho đàn-na
tín thí, tức là như người sống bằng khất
thực, nếu sau Ngọ lại ôm bát
[đi khất thực], sẽ trở thành
suốt ngày chỉ thấy sa-môn lui tới, ắt sẽ
khiến cho thí chủ sanh ḷng bực
bội. Nay sau Ngọ, chỉ ngồi yên tu đạo, sẽ
có thể khiến cho Tăng lẫn tục đều an.
10) Mười là chẳng
quấy nhiễu hành nhân. Hiện thời, tùng lâm ăn tối,
người trong bếp chỉ lo nấu nướng, suốt
đời bận bịu, chẳng khác kẻ làm mướn.
Nếu hiểu rơ trai pháp, sẽ chẳng có sự phiền
năo ấy, cùng tu đạo nghiệp.
Do vậy, chư Phật
xuất thế, ắt lập chế định này, thậm
chí đối với cư sĩ tại gia c̣n dạy trong
sáu ngày chay mỗi tháng, hăy thọ pháp Bát Quan
Trai để gieo nhân duyên vĩnh viễn thoát ly, huống hồ
sa-di, tỳ-kheo mà có thể chẳng hổ, chẳng thẹn,
thọ thực phi thời ư? Nếu có nhân duyên bệnh
khổ, Phật tự lập quy chế “phi thời
tương, thất nhật dược”[6]
để cứu giúp, trọn chẳng có lẽ nào coi
ăn tối là dược thạch! Nguyện bậc cao
minh hăy tin sâu, tận lực
hành!
* Luận định
niệm Phật chính là Thiền Quán
Có người hỏi
Ngẫu Ích Tử rằng: “Tham Thiền, Giáo Quán, và pháp môn
Niệm Phật là đồng hay dị?”
Đáp rằng: - Đồng
hay dị đều là hư luận! Tức vừa là đồng
vừa là dị, chẳng đồng chẳng dị,
cũng đều là hư luận. Do ba loại pháp môn (Thiền, Giáo, Tịnh) không ǵ chẳng ĺa bốn
câu. Nếu biết hết thảy các pháp không ǵ chỉ là tự
tánh nơi cái tâm, vẫn có thể dùng bốn câu để
diễn tả rơ rệt. V́ sao? Thiền Na (Dhyāna) trong tiếng Phạn được
phương này dịch là Tĩnh Lự (靜慮).
Tĩnh tức là Định. Lự tức là Huệ.
Tĩnh tức Chỉ. Lự tức Quán. Tĩnh tức Tịch.
Lự tức Chiếu. Do vậy, chính là Định Huệ,
là Chỉ Quán, là Tịch Chiếu, đều là một Thể, nhưng khác tên. Hoặc
nói Tịch Chiếu là xét theo tánh, hai điều kia là xét
theo tu. Chỉ Quán xét theo nhân, Định Huệ xét theo quả,
bất quá là một lối nói đó thôi!
Một niệm tâm tánh
hiện tiền của chúng ta tuy hôn mê, điên đảo,
mê hoặc, nhưng linh tri trọn chẳng thể diệt.
Tuy lưu chuyển, nhiễu loạn rối ren, bản thể
trọn chưa từng lay động.
Đấy há chẳng phải là cội nguồn chân chánh của
Tịch Chiếu, là huyết mạch của Chỉ Quán, là
căn cứ của Định Huệ ư? Tham cứu một
niệm tâm tánh hiện tiền này th́ gọi là tham Thiền.
Liễu đạt một niệm tâm tánh hiện tiền
này th́ gọi là Chỉ Quán. Tư duy, nhớ giữ một
niệm tâm tánh hiện tiền này th́ gọi là niệm Phật.
Bởi lẽ, niệm là cái trí Thỉ Giác, Phật là lư Bổn
Giác. Như vậy th́ pháp môn Niệm
Phật có niệm tự Phật
và niệm tha Phật. Sự khác biệt
giữa tự Phật và
tha Phật như sau: Nếu chỉ niệm tự Phật,
sẽ hoàn toàn giống như tham Thiền và Chỉ Quán. Nếu
chỉ niệm tha Phật th́ vừa dị vừa đồng
với tham Thiền và Chỉ Quán. Nếu niệm cả tha
Phật lẫn tự Phật, sẽ chẳng khác, chẳng
giống tham Thiền và Chỉ Quán.
Niệm tự Phật
chính là Tứ Niệm Xứ Quán, tức là quán thân, quán thọ,
quán tâm, quán pháp. Nếu hết thảy các pháp môn chẳng
được thâu nhiếp bởi Tứ Niệm Xứ, sẽ
chính là pháp ngoại đạo. V́ thế biết là giống
như Thiền Quán. Niệm tha Phật th́ hoặc niệm
tướng hảo, hoặc pháp môn, hoặc Thật Tướng,
hoặc chẳng thể thực hiện ba loại niệm
ấy, bèn chỉ tŕ danh hiệu. Nếu niệm tướng
hảo th́ tợ hồ một mực khác với Thiền
Quán, nhưng ắt phải ngưng dứt duyên khác, chuyên quán đức Phật ấy, vẫn
giống như Chỉ Quán,
cũng giống như Tịnh Lự. Niệm
pháp môn có thể phỏng theo đó mà suy ra. Nếu niệm
Thật Tướng, tuy nhờ vào chuyện coi Phật quả
của người khác là khác biệt, nhưng trọn chẳng
có hai loại Thật Tướng, rốt ráo là giống
nhau. Nếu tŕ danh hiệu, một mực khác với Thiền
Quán, nhưng bất luận hiểu hay chẳng hiểu, bản
thể của danh hiệu được tŕ không ǵ chẳng
phải là Nhất Cảnh Tam Đế, bản thể của
cái tâm có thể tŕ không ǵ chẳng phải là Nhất Tâm Tam
Quán. Do vậy nói: “Minh châu gieo vào nước đục,
nước đục chẳng thể không trong. Phật hiệu
gieo vào loạn tâm, loạn tâm chẳng thể không chuyên nhất”.
Do vậy, tâm chẳng
duyên theo điều ǵ khác th́ chính là Tĩnh, là Chỉ. Danh
hiệu rành rành phân minh tức là Lự, là Quán, cũng rốt
cuộc là giống nhau. C̣n như cùng niệm tự Phật
lẫn tha Phật, biết rơ “tâm,
Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”,
bèn nhờ vào tha Phật để giúp hiển lộ bản
tánh. Do ngộ bản tánh, cho nên chẳng khác với Thiền
Quán. Do nhờ vào tha Phật, cho nên chẳng giống với
Thiền Quán. Đó gọi là “phương tiện thù thắng,
khác lạ, là pháp môn vô thượng”. Kinh Văn Thù Bát
Nhă, kinh Ban Châu Tam Muội, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật
v.v… đều nói rơ liễu
nghĩa viên đốn này, nhưng [Quán Vô Lượng Thọ
Phật Kinh] Diệu Tông Sao giải thích càng tường tận
hơn. Phàm người gởi tâm nơi Tịnh Độ,
chẳng thể không nghiên cứu kỹ lưỡng, để
tận lực thực hiện vậy!
11. Biện định
* Biện định sự
sai lầm đối với giới y
Người
xuất gia có giới y, giống như kẻ làm quan có công
phục. Giới đă là bảy chúng khác nhau, y há nhất loạt
giống nhau chẳng khác ư?
Đức Phật v́ hàng tỳ-kheo mà chế ra ba y:
- Một
là Tăng-già-lê
(Saṁghāti) vốn nên có chín điều, hoặc mười hai
điều; bần cùng không làm sao được, là chuyện
bất đắc dĩ, bèn dùng hai mươi lăm điều
gọi là Hậu Hậu Phẩm, chẳng phải là Thượng
Thượng Phẩm!
- Hai là Uất-đa-la-tăng
(Uttrāsaṅga) chỉ dùng bảy điều.
- Ba là An-đà-hội (Antarvāsa) chỉ dùng năm
điều.
Ba y này đều gọi
là Ca-sa (Kāṣāya),
do là hoại sắc, chẳng phải có màu sắc rực rỡ,
cũng gọi là Điền Y
(田衣), do có h́nh dạng giống
như thửa ruộng. Lại nữa, Tăng là ruộng
phước cho người đời.
V́ tỳ-kheo-ni mà chế ra năm loại
y, [tức là ngoài] ba y giống như trên, tăng thêm y che
nách[7]
và y tắm. V́ Sa-di, chế ra hai loại y:
- Một là thượng
y, tức y ca-sa không may chằm, cũng gọi là “mạn
điều y” (y không có điều), màu sắc giống
như tỳ-kheo, nhưng cách may khác với tỳ-kheo, chỉ
là may
thẳng một tấm, không được cắt
thành từng mảnh. V́ thế, Luật Bộ nói: “Cầu
tịch đồ đệ, mạn điều thị phục.
Triếp phi ngũ điều, thâm vi tội lạm”
(Đồ đệ cầu tịch diệt, y phục là y
không có điều. Tự tiện mặc y năm điều, sẽ
mắc tội xen lạm sâu xa). Bởi lẽ, Sa-di tuy
đă xuất gia, nhưng chưa dự vào hàng Tăng Bảo.
V́ thế, chẳng được đắp y năm
điều, huống hồ y bảy điều, chín điều
ư?
- Hai là nội y, tức
y che nách v.v… Tiếng Phạn gọi [y loại này] là
Tăng-cước-khi (Saṁkaksikā).
Là Bồ Tát Ưu-bà-tắc
th́ được dạy chứa ba y không có điều,
quy chế giống như sa-di. Khi vào đàn tràng hành đạo
mới được phép mặc, thường ngày không
được đắp, cho nên khác với Sa-di. Y
được may trong hiện thời hết sức trái
nghịch luật pháp! Sự sai lầm ấy có mười
điều, xin trần thuật cặn kẽ:
1) Thọ Sa-di giới
liền cho phép trọn đủ ba y.
Đó là một sai lầm.
2) Sa-di tự tiện
đắp y bảy điều, rốt cuộc chẳng
khác tỳ-kheo. Đó là hai điều sai lầm.
3) Người đời
trước không hiểu biết làm bừa, tự tiện
cho Ưu-bà-tắc được phép đắp ba y.
Người đời sau do uốn nắn sai lầm, bèn cấm
tiệt Ưu-bà-tắc không được chứa mạn
y. Đó là ba điều sai lầm.
4) Tạo hết thảy
các y, đều lấy theo chiều dọc là ba khủy
tay, theo chiều ngang là năm khủy tay làm hạn. Nếu
tăng giảm đôi chút, cần phải xét theo thân h́nh và
cánh tay. Nay th́ [các y được may thành] dọc ba khủy
tay, ngang là sáu khủy tay, lầm lạc nói “[may
như vậy để] khi xếp y sẽ ngay ngắn”.
Đó là bốn điều sai lầm.
5) Y phước điền
chỉ cốt sao h́nh dạng giống như thửa ruộng,
nhưng nay lầm lẫn bảo là cần khai thông
đường nước chảy. Đó là năm điều
sai lầm!
6) Năm điều hoặc
bảy điều v.v… bất quá là cắt xén sao cho khác với
y phục thế tục, nay lầm lạc nói là biểu thị
Tu Di, mặt trời, mặt trăng, tứ thiên
vương v.v… Đó là sáu điều sai lầm.
7) Y Tăng-già-lê vốn
dịch là Đại Y, nay gọi lầm là Tổ Y. Đó
là bảy điều sai lầm.
8) Chế định
ba y, ngàn vị Phật đều giống nhau, cho nên gọi
là Thiên Phật Y. Trong Chánh
Ngoa Tập [của tổ Liên Tŕ] đă biện định điều này, nay lại
c̣n thêu h́nh Phật lên y. Đó là tám điều
sai lầm.
9) Y phục, ngọa cụ
mà hết thảy người xuất gia sử dụng do
là hoại sắc, nên được gọi chung là ca-sa. Nay
lại ngược ngạo dùng năm màu
để may. Đó là chín điều sai lầm.
10) Sở dĩ đức
Phật và ngài Đại Ca Diếp dùng y để đổi
y, nhằm nêu tỏ đức thù thắng của bậc Đầu-đà. Nay
[ngài Ca Diếp] giữ y [của đức Phật] để
đợi Phật Di Lặc [giáng thế], ḥng giúp thành tựu
Phật sự Long Hoa. Sở dĩ ngài
Đạt Ma truyền y cho Nhị Tổ
nhằm biểu tín, khiến cho kẻ khác chẳng nghi. Nay
có kẻ chẳng thọ giới luật, chỉ trao y, tiến
th́ chẳng có chánh pháp nhăn tàng hoặc tâm ấn để
có thể truyền trao,
thoái th́ chẳng có danh vị tỳ-kheo hoặc sa-di để
ǵn giữ. Không những chỉ thành lưu truyền Thế
Đế, mà c̣n đại loạn
tràng tướng của thánh hiền! Đó là mười
điều sai lầm.
Than ôi! Chỉ một
cái giới y mà đă sai lầm dường ấy, lẽ
nào chánh pháp chẳng ch́m đắm, suy đồi ư?
Người có chí xin hăy đối với mỗi sự, mỗi
pháp, đều tuân theo chế định của đức
Phật, chỉ mong lợi ḿnh, lợi người khác, chớ
bảo là chấp tướng để rồi náu ḿnh trong
hầm vô tướng vậy!
* Biện định về
cách xưng hô trong pháp phái
Khách
hỏi Ngẫu Ích Tử rằng: “Pháp phái xuất gia chính
là tông phổ[8]
của tộc tánh. Ngài không cho là đúng, v́ sao vậy?”
Đáp rằng: - Chí
thân trong thế gian,
không ǵ bằng máu mủ trực hệ. Chí thân trong xuất
thế, không ǵ bằng pháp đạo. Pháp đạo vốn
ĺa danh tướng, há nên coi danh tự là phái ư? Đức
Phật tuy nói “bốn con sông đổ vào biển, đều
mất tên gọi gốc. Bốn chủng tánh xuất gia
đều gọi là Thích Tử”, đấy chỉ là một
họ mà thôi, há ắt phải đèo thêm một cái tên? V́ thế,
Kiều Trần Như, Đại Ca Diếp, Mục Kiền
Liên v.v… đều là họ ngoài đời. A Nan Đà, Sa
Già Đà, A Na Luật v.v… đều là tên thế tục.
[Sau khi các Ngài] xuất gia chứng quả, thuở ấy
dùng ngay các danh xưng ấy để gọi [các Ngài].
Đời sau, cũng dùng những danh xưng ấy để
lưu truyền. Như vậy th́ đặt riêng pháp danh
đă chẳng phải là do luật chế định rồi,
huống hồ pháp phái ư?
Nơi Đông Độ,
Ngũ Tổ truyền xuống hai vị, Nam là Huệ
Năng, Bắc là Thần Tú. Mă Tổ[9]
truyền xuống ba người: Tây Đường là Trí
Tạng, Bách Trượng là Hoài Hải, Nam Tuyền là Phổ
Nguyện. Hơn nữa, Nam Nhạc có tên là Hoài Nhượng.
Bách Trượng là đích tôn của Ngài, chưa hề
kiêng kỵ. Tông Môn thật sự có pháp phái ư? Ngài Bắc
Tề là thầy, Nam Nhạc là tṛ. Thầy tên là Huệ
Văn, tṛ tên là Huệ Tư. Từ Vân và Tứ Minh cùng thờ
một thầy là Bảo Vân, một vị tên là Tuân Thức,
vị kia tên Tri Lễ. Tông Thiên Thai thật
sự có pháp phái hay không? Hơn nữa, Tông
Môn lại có Đại Bổn và Tiểu Bổn, Thiên Thai
có Đại Oai và Tiểu Oai, pháp danh thật sự đủ
để luận định ư?
Tính xuống thời cận
đại, tuy cách nói pháp phái đă lưu hành; nhưng bậc
cao thượng vẫn chẳng quan tâm. Như ngài Mật Tạng
tên là Đạo Khai, Giới Sơn tên là Truyền Như,
Đối Phong tên là Chân Hoằng, Đạm Cư tên là
Pháp Khải, Hàn Hôi tên là Như Kỳ, đều chẳng mất
phần là đệ tử của ngài Tử Bách. Thiện tri thức
thật sự có pháp phái ư? Sào Tùng tên là Huệ Tẩm,
Nhất Vũ tên là Thông Nhuận, Uẩn
Phác tên là Như Ngu[10],
đều chẳng mất phần là đệ tử của
ngài Tuyết Lăng, pháp sư thật sự có pháp phái hay không?
Chỉ là đạo chẳng đủ để truyền,
pháp chẳng đủ để trao, chẳng biết giới
luật đáng tôn trọng, chẳng biết nhiệm vụ
chánh yếu là kế thừa!
Người làm thầy chỉ tham quyến thuộc, kẻ
làm tṛ chỉ chuyên phụ họa lợi lộc thế
gian, bèn dùng hư danh ràng buộc lẫn nhau, chứ ư
nghĩa thầy tṛ thật sự đă bị quét sát đất,
há chẳng đau đớn ư?
Khách nói: “Pháp phái chẳng đúng,
đă được nghe dạy rồi! Huynh đệ
trong pháp môn, tăng tục chẳng ngăn cách ư?”
Đáp rằng: “Đồng môn mà coi như huynh đệ,
há chỉ là chẳng biết pháp xuất thế, mà cũng
là chẳng biết pháp thế gian! Hơn nữa, giống
như công khanh, giống như trăm quan, tiểu lại,
muôn dân, đều là thần dân của thiên tử. Nhưng
trăm quan chẳng được gọi bậc công khanh
là huynh đệ. Cho đến muôn dân chẳng được gọi các quan
chức nhỏ là huynh đệ. V́ sao? Do phân chia khác biệt!
Phật pháp cũng thế. Trong pháp tỳ-kheo, người
từ mười hạ trở lên là bậc ḥa thượng.
Từ năm hạ trở lên là bậc A-xà-lê. Tỳ-kheo-ni
tuân phụng Bát Kính Pháp, dẫu trăm tuổi hạ vẫn
lễ dưới chân tỳ-kheo mới học. Tỳ-kheo-ni
đă dự vào hàng Tăng Bảo, riêng coi tỳ-kheo là
thượng chúng, ni là hạ chúng. Lễ số rạch ṛi
như thế, huống hồ Thức-xoa-ma-na chỉ học
pháp, chưa dự vào pháp sự của chúng tăng ư? Huống
hồ Sa-di, Sa-di ni chỉ có cùng lợi dưỡng với
Tăng chúng, chưa dự vào hàng Tăng ư? Muốn gọi
tỳ-kheo là huynh đệ, khác ǵ quan lại gọi bậc
tể phụ là huynh đệ? Lại huống hồ hàng
Ưu-bà-tắc v.v… chẳng được có cùng lợi
dưỡng với Tăng ư? Muốn gọi Sa-di là
huynh đệ, khác ǵ thứ dân gọi quan lại là huynh
đệ?
Hơn nữa, khi đức
Phật mới xuất thế, trưởng giả Đề
Vị (Trapusa)[11]
thọ Ngũ Giới trước hết,
gọi Phật là thầy. Năm tỳ-kheo sau đó mới
tôn đức Phật làm thầy, Đề Vị chẳng
phải là anh, năm tỳ-kheo chẳng phải là em! Khi đức Phật
truyền Tam Quy,
bèn nói “quy y vị lai Tăng”, cho nên [trưởng giả Đề Vị]
không chỉ chẳng dám coi năm vị tỳ-kheo là em, mà
cũng chẳng dám coi năm vị tỳ-kheo ấy là anh.
Do quy y Tăng tức hết thảy Tăng đều là
thầy của ta, cho đến vị cuối cùng là Tu Bạt
Đà La (Subadra) cũng là thầy của
ta. Kẻ thế tục hiện thời,
chọn một vị tỳ-kheo danh đức để lễ
làm thầy, lén lút vênh váo rằng: “Ta là môn nhân của vị
tri thức X… hay pháp sư Y…”, mà vị tri thức hay vị
pháp sư đó cũng lén lút khoe rằng: “Cư sĩ X…, tể
quan Y… quy y ta”. Ôi! Nếu là như thế th́ phải nên nói “quy
y Phật, quy y Pháp, kết giao một vị đại
đức” th́ được, chứ nói “quy y
Tăng” có được hay chăng?
Tu Đạt Đa
(Sudatta) thoạt đầu nghe danh hiệu Phật, ban
đêm vội đến gặp đức Phật. Vừa
mới nghe thuyết pháp, liền chứng Tam Quả, đă
dự vào Thắng Nghĩa Tăng Bảo rồi! Ông tạo
tinh xá Kỳ Hoàn (Jetavana) để cúng Phật và Tăng.
Phàm người mới xuất gia chưa biết Phật
pháp, Tu Đạt Đa hằng ngày dạy bảo, ắt lễ
dưới chân người xuất gia, sau đấy mới
thuyết pháp. Không
chỉ chẳng dám tự nhận làm thầy giáo thọ, mà
c̣n chẳng dám coi ḿnh là anh, trọn chẳng dám coi ḿnh là em,
hoặc xem ḿnh là đàn anh của người mới xuất
gia. La Hầu La xuất gia, tôn ngài Xá Lợi Phất làm ḥa
thượng. Quân Đề (Kunti)[12]
xuất gia, cũng tôn ngài Xá Lợi Phất làm ḥa thượng.
La Hầu La là tỳ-kheo, Quân Đề c̣n là Sa-di, chẳng
hề nghe gọi La Hầu La là anh! Tức là cái Thể của
Trụ Tŕ Tam Bảo nghiêm ngặt
nhất cũng giống như lễ pháp trong triều
đ́nh. Triều đ́nh mà không có lễ pháp th́ trên dưới
chẳng biện định,
thiên hạ bèn loạn. Phật pháp chẳng có luật nghi,
thất chúng không được biện định rơ ràng,
sự hóa đạo bị dứt, há chẳng nên biện
định ư?
12. Nghị luận
* Trộm bàn về sự
tông truyền của Nho và Thích (có
lời tựa)
Đại
đạo ở trong ḷng người, xưa nay chỉ có một
lư này, chẳng do Phật, Tổ, thánh hiền riêng có
được! Thống nhiếp sự khác biệt cùng cực
quy vào sự đồng nhất tột cùng, Thích, Nho, Lăo chẳng
thể hạn cuộc được! Luận định
khít khao sự thật, đạo chẳng phải là thế
gian, chẳng phải là xuất thế gian, mà dùng đạo
để nhập lẽ Chân, th́ gọi là “xuất thế”, dùng
đạo để nhập cơi tục th́ gọi là “thế
gian”. Chân và Tục đều là h́nh tích, nhưng h́nh tích
chẳng ĺa đạo. Hễ chấp
trước h́nh tích để nói đạo th́ đạo ẩn.
V́ vậy nói: “H́nh nhi thượng th́ gọi là đạo.
H́nh nhi hạ th́ gọi là khí”. Lại nói: “Quân tử
thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt”.
Than ôi! Nay kẻ cầu đạo nơi h́nh tích, sao có thể
hạ học mà thượng đạt ư? Nêu bày trực
tiếp tâm tánh, vượt khỏi
khuôn sáo “đồng, dị”.
Tôi thử bàn rằng:
Đạo chẳng một, sao lại chấp một đằng
là đạo? Đạo chẳng phải là ba,
sao lại chia thành tam giáo để cầu đạo? Riêng
dựa theo h́nh tích Chân và Tục để đành hư vọng
suy tưởng th́ Nho và Lăo đều nương vào Chân
để điều ngự Tục, khiến cho Tục chẳng
trái nghịch Chân. Thích th́ dùng Tục để nêu tỏ
Chân, Chân chẳng lẫn lộn Tục. V́ thế, Nho và Lăo
chuyên trị thế (xử lư quốc sự, giữ yên cho
cơi đời b́nh trị), nhưng ngầm làm bậc thang
xuất thế. Thích chủ xuất thế, nhưng ngầm
giúp đỡ thế gian. C̣n như nội đan, ngoại
đan[13],
vốn chẳng phải là tông chỉ của Lăo Tử, chẳng
đáng biện luận! Vậy th́ nói đến Nho, Lăo và
Khổng đều thuộc vào đó. Nói đến Thích
th́ Thiền và Giáo đều ở trong ấy. V́ vậy, chỉ
nói “trộm bàn về sự tông truyền trong Nho và Thích”.
Đạo
học của Nho cũng đă lâu. Thời
thượng cổ chẳng có văn tự
chẳng thể khảo chứng. Có thể khảo chứng
từ thời Nghiêu - Thuấn, Nghiêu “doăn chấp quyết
trung”[14],
Thuấn “nguy vi tinh nhất” đều là “ngoài tâm chẳng
có pháp”. V́ thế, trời đất nhờ vào chánh khí mà giữ
đúng vị trí, muôn vật nhờ vào chánh khí mà sanh thành,
quán triệt muôn đời xưa nay, chẳng thể
vượt khỏi đạo này. Nối tiếp kiến
tri[15]
của vua Vũ và Cao Dao[16],
văn tri của vua Thang, bất quá vẫn là biết cái tâm
này, lư này mà thôi! Biết th́ “cận kiến”
(thấy sự việc ở gần) cũng được,
“viễn
văn”
(nghe từ xa) cũng được;
chẳng coi xa hay gần là thân hay
sơ. Hàn Dũ nói: “Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn
truyền cho Vũ”. Than ôi! Là vật ǵ mà có thể truyền
lẫn cho nhau vậy?
Ví như những người bắn tên, đích xác là chuyên
chú.
Người có tài khéo và sức mạnh
trước th́ bắn trúng trước, người có tài
khéo và sức mạnh sau th́ bắn trúng sau, hoặc là cùng thời,
hoặc là khác đời, cốt sao ai nấy bắn trúng
đích mà thôi! Đích ngắm chẳng thể truyền, tài
khéo chẳng thể truyền, sức mạnh chẳng thể
truyền, tức là nói kiến tri hay văn tri th́ được,
chứ bảo là “truyền
lẫn cho nhau”
há có được hay không? Kiến tri chẳng phải chỉ
có vua Vũ hay Cao Dao! Phàm Tắc, Khế, Bá Ích[17]
v.v… đều là thấy mà biết đó thôi!
Văn tri không chỉ
vua Thang. Y Doăn cày ruộng nơi Hữu Sân, vui thích đạo
Nghiêu - Thuấn nơi Thang là kiến tri, c̣n đối với
Nghiêu, Thuấn, Vũ v.v… cũng là nghe mà biết vậy.
Văn Vương đă mất, Vũ Vương, Châu Công
lại qua đời, Trụ Hạ Sử[18]
nghe mà biết [đạo của Nghiêu, Thuấn]. Khổng
Tử hỏi về lễ[19],
than [Lăo Tử] giống như rồng. Tức là đối
với Lăo Đam (Lăo Tử)[20]
lại là thấy mà biết. Môn nhân [của
Khổng Tử] tôn sùng, đề cao thầy
ḿnh, chẳng nhắc tới Lăo Tử. Mạnh Tử
cũng noi theo đường lối cũ ấy. Nhan Hồi
đối với Khổng Tử thật sự là kiến
tri, nhưng ông kế thừa cái học của Khổng Tử,
lại mất trước Khổng Tử, chẳng giống
như Thái Công (Khương Tử Nha) đối với
Văn Vương, Y Doăn đối với Thang, Vũ đối
với Thuấn. V́ thế, Mạnh Tử không nhắc tới.
Nhan Uyên chết, Khổng Tử khóc lóc,
đau ḷng, lại than “kim dă tắc vong” (nay đạo
đă mất rồi). V́ thế, cổ nhân nói “Nhan Tử
mất, thánh học mất theo” chẳng phải là lời
hư vọng vậy. Mạnh Tử nói: “Nhiên nhi vô hữu
hồ nhĩ, tắc diệc vô hữu hồ nhĩ” (nếu
như ta không truyền lại đạo thống ấy,
trong tương lai cũng sẽ không có người nghe
đạo ấy mà thành thánh nhân vậy), ấy là v́
cũng chẳng dám hư vọng gánh vác đấy ư?
Cái Công[21]
đạt được chút phần nơi cái học của
Lăo Tử bèn
giúp nhà Hán cai trị, đời Hán
liền hết sức b́nh trị. Cái học của Khổng
- Mạnh đến đời Hán thất truyền. Trong
Định Tánh Thư, Châu Liêm Khê thời Bắc Tống
nói: “Tánh là trong ṿng cương, nhu, thiện, ác mà thôi!”
và trong Thái Cực Đồ Thuyết, ông nói: “Thái Cực
vốn vô cực”. Ngẫm kỹ hai lời ấy, sẽ thật
sự đạt được tâm pháp của Khổng -
Nhan. Các nhà Nho về sau giải thích lăng xăng, hiếm
có ai biết ngữ mạch ấy, lại c̣n nói: “Có thể
là [Châu Liêm Khê] chẳng soạn Định Tánh Thư”. Ôi!
Đáng buồn thay! Ngay như kẻ cập môn[22],
Tŕnh Minh Đạo giống như Tăng Tử, Tử
Tư [đối với tâm học của Khổng Tử],
Tŕnh Y Xuyên giống như Tử Hạ[23]
mà thôi. Lục Tượng Sơn thời Nam Tống “tiên
lập hồ kỳ đại giả” (chú trọng
đặt vững cái tâm)[24],
bèn đạt được tâm pháp của họ Mạnh,
nhưng chẳng tin “Thái Cực vô cực”, lần
lượt bác bỏ, Tử Dương (Châu Hy) lại lần
lượt cứu vớt. Tôi thấy kẻ bài bác lẫn
người cứu đều chẳng thật sự hiểu
biết Châu Tử (Châu Đôn Di). Vương Dương
Minh đại ngộ tại Long Trường, đề
xướng ba chữ “trí lương tri” (致良知) để
làm bí quyết chân thật ḥng thành thánh. Dẫu nói ông ta là
Nhan Tử (Nhan Uyên), cũng chẳng phải là không
được ư?
Thích (đạo Phật)
đối với đạo học,
mười phương ba đời không ǵ chẳng thấu
triệt. Thế giới này, thời này khởi đầu
bằng đức Thích Ca, kế thừa bởi Ca Diếp,
Nan Đà v.v… Tại Chấn Đán th́ Viễn công (Lư
Sơn Huệ Viễn) tạo Pháp Tánh Luận, La Thập
than “vị này chưa xem kinh Phật mà đă có
thể biết Phật lư”. Bắc
Tề Huệ Văn đại sư đọc Trung Luận
của Long Thọ, ngộ tâm tông viên đốn. Hai vị ấy
đều có thể gọi là “do nghe mà biết”. Bồ
Đề Đạt Ma đại sư do thọ kư mà sang phương Đông
giáo hóa, có thể gọi là “do thấy mà biết”. Sau
Viễn công, phàm những ai tu Tịnh nghiệp được
văng sanh đều thuộc loại kiến tri, văn tri.
Có người chỉ xác lập bảy vị tổ của
Liên Tông, tức là chỉ xét theo sự thực hành và giáo hóa
chuyên trọng nhất. Nhưng các vị như tôn giả Tứ
Minh, Từ Vân Sám Chủ v.v…,
có vị nào chẳng từng dùng Tịnh Độ để
tu hành, giáo hóa? C̣n như Thập Nghi Luận của Trí Giả
đại sư, Bảo Vương Luận của pháp
sư Phi Tích, Tịnh Độ Hoặc Vấn của thiền
sư Thiên Như, Hoài Tịnh Độ Thi của thiền
sư Sở Thạch, Niệm Phật Trực Chỉ của
pháp sư Diệu Hiệp càng là hữu công đối với
pháp môn Tịnh Độ. Tới thời cận đại
th́ Sanh Vô Sanh Luận của thầy U Khê, Tây Phương Hợp
Luận của Viên Trung Lang[25]
đều là hậu duệ đích truyền của Viễn
Công.
Tổ Đạt Ma
truyền tới Lục Tổ, bèn có hai môn cam lộ là Nam
Nhạc và Thanh Nguyên. Môn dường như có hai, chứ
đạo chẳng hai! “Hai” là thuốc độc, chẳng
phải là cam lộ. Lại do mấy
lượt truyền thừa mà có năm tông.
Người có năm, chứ tông chẳng phải là
năm. Năm tức là cành nhánh, chẳng phải là cội
gốc của Tông. Ví như ao A Nậu Đạt (Anavatapta, Vô Nhiệt Năo Tŕ, Thanh Lương
Tŕ), từ một ḍng nước mà chia thành bốn con sông, đổ vào biển cả.
Sông có bốn, nước chẳng có bốn! Nay chẳng biết
ao là một, chẳng biết nước là một, chẳng
biết biển là một. Chỉ riêng từ bốn
con sông mà dấy lên cái thấy rộng, hẹp, cong, thẳng,
xa, gần, phủ định hay tán thành lẫn nhau,
có gọi là trí được hay chăng?
Kế thừa ngài Bắc
Tề có Nam Nhạc Huệ Tư đại sư, soạn
Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn bốn quyển, thật
sự là tâm yếu của Viên Đốn. Kế đó, có
Thiên Thai Trí Khải đại sư soạn ra ba loại là Ma Ha Chỉ Quán, Pháp
Hoa Huyền Nghĩa, Văn Cú, và các bộ sớ như Duy
Ma, Nhân Vương, Kim Quang Minh, Phổ Môn Phẩm, Thập
Lục Quán v.v… Do vậy, Giáo Quán hết sức hoàn bị.
Trải qua năm đời truyền thừa, tới ngài Kinh Khê
trung hưng đạo ấy. Lại truyền qua tám đời, tới
ngài Tứ Minh bèn chấn hưng lần nữa. Từ
đấy về sau, do tách
ra thành ba nhà (ba chi phái) mới dần dần bị suy thoái.
Pháp sư Huyền Trang
đời Đường dạo khắp Thiên Trúc, học
Duy Thức Tông nơi pháp sư Giới Hiền[26],
học trọn hết những điều vị ấy biết,
thông hiểu cả những điều vị ấy
chưa biết, rộng lớn, tinh vi, thật sự là con
của Di Lặc, Thiên Thân, cháu chắt nhiều đời
sau của Thích Ca Văn Phật. Thầy Từ Ân Khuy Cơ
tuy thật sự kế thừa, nhưng xem Pháp Hoa Huyền
Tán do Ngài đă soạn, sợ rằng chưa
biết toàn bộ Linh Sơn pháp đạo, chẳng trách
sách Duy Thức vốn là gươm thần để phá
tan hai chấp, bị ngược ngạo biến thành cái học
về danh tướng, cũng thật đáng buồn!
Quốc sư Hiền
Thủ Pháp Tạng có môn đồ là Vũ Hậu (Vũ Tắc
Thiên), thanh danh nhờ đó càng vang rền. Ngài sớ
giải kinh Hoa Nghiêm theo bản dịch đời Tấn.
Do kinh chưa hoàn bị, lời Sớ cũng sơ lược,
cho nên chẳng lưu truyền. Bộ Khởi Tín Luận Sớ
được lưu truyền, nông cạn, thô lậu, chi
ly, hết sức đánh mất tông chỉ của Mă Minh
đại sư, trọn chẳng đáng xem! Phương
Sơn Lư Trưởng Giả có Tân Hoa Nghiêm Kinh Luận, khá
nêu được đại cương [của kinh Hoa
Nghiêm]. Quốc sư Thanh Lương Trừng Quán lại soạn
Sớ Sao, cương lẫn mục đều cùng nêu, có
thể nói là đă đạt tới chỗ sâu thẳm của
kinh Tạp Hoa (Hoa Nghiêm). Tăng, tục đời sau
thường riêng chuộng [bản sớ giải] của
Phương Sơn (Lư Thông Huyền), có thể nói là tâm khí
thô phù vậy. Chẳng biết ngài Thanh Lương tuy là
người nối pháp cách xa của ngài Hiền Thủ,
nhưng thật ra là “màu
xanh sanh từ màu lam” vậy!
Khuê Phong chính là bậc tông đồ tuân theo tri kiến của
ngài Hà Trạch[27],
chi ly, mâu thuẫn, sao có thể hiển lộ rạng ngời
đạo của ngài Thanh Lương?
Thiền Tông kể từ
sau Sở Thạch Phạm Kỳ đại sư trở
đi, chưa nghe nói có ai, có lẽ là Tử Bách lăo nhân đấy
chăng? Ngài Thọ Xương Vô Minh vẫn chẳng thẹn
với phong cách của cổ nhân. Tông Thiên Thai đă thất
truyền từ lâu, Bách Tùng Chân Giác được xưng
là Minh Dương Cô Phượng (chim phượng cô độc vùng
Minh Dương), chỉ soạn lược
giải về ba ngàn bài tụng thuộc Hữu Môn và
Lăng Nghiêm Bách Vấn (một trăm câu hỏi về kinh
Lăng Nghiêm). Ngài U Khê kế thừa, lừng danh một
thời, nhưng chỉ có Sanh Vô Sanh Luận đáng ca ngợi
là hoàn bích, nhưng tác phẩm ngài đắc ư nhất là
Viên Thông Sớ thật sự chưa thỏa măn ư mọi
người! V́ sao? Chỉ có thể ngồi xếp bằng
viết lên hư không các chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh rồi
ngồi thoát hóa, bèn thành người trong cơi Liên Hoa.
Vân Thê Châu Hoằng
đại sư cực lực chủ trương Tịnh
Độ, khen ngợi Giới, khen ngợi Giáo, khen ngợi
Thiền, thống thiết chê trách khẩu đầu tam-muội,
quả thật là bậc Bồ Tát cứu đời. Hám
Sơn Đức Thanh đại sư khôi phục rộng
răi tổ đ́nh Tào Khê. Tuổi già bế quan niệm Phật,
công khóa một ngày đêm là sáu vạn tiếng. V́ thế,
sau khi Ngài ngồi qua đời, hai mươi mấy
năm sau, mở khám ra xem, toàn thân chẳng nát, bèn giống
như Lục Tổ lưu lại nhục thân, trời,
người chiêm ngưỡng, há Ngài chẳng thuộc vào
liệt tổ của Liên Tông ư?
Nếu nói: “Đạo
của Phật, Tổ, ắt phải là thầy tṛ trao nhận
th́ mới có căn cứ đích xác. Nếu không, chuyện
nối pháp chẳng tường tận, trọn khó thể
gây ḷng tin được!” Vô Danh Tử bèn thưa rằng:
“Ví như các vị thế chủ, chẳng phải là Kiệt[28]
được truyền ngôi từ Đại Vũ, Trụ
được truyền ngôi từ Thành Thang ư? Nếu
thân chẳng có đạo, thiên tử chẳng bằng kẻ
thất phu! Nay tuy có sư thừa, nhưng điên đảo
che giấu giáo giới của Như Lai, há có khác ǵ những
gă đó? Hán Cao Tổ, Minh Thái Tổ đều xuất thân
thảo măng, ai trao ngôi hoàng đế cho họ? Nếu
đắc đạo, thất phu rốt cuộc mở ra đại
thống! Nay tuy thiếu sư thừa, nếu có thể tự
khế hợp tâm ấn của Phật, Tổ, cũng chẳng
phải là như vậy ư? Ắt phải
như ông đă luận chỉ chấp
nhận có thấy mới biết, chẳng chấp nhận
do có nghe mà biết, có được hay không? Hơn nữa,
ông lại chẳng nghe có trường hợp thầy tṛ trọn
đủ mà đều chẳng đáng nhắc tới
ư? Ví như con hát và kẻ đánh bạc, há chẳng có
thầy tṛ truyền dạy ư? Nhưng bất quá là cách
diễn tuồng và cách đấu đá mà thôi! V́ vậy,
tôi nói: “Chấp vào h́nh tích
để nói về đạo th́ đạo ẩn”.
Ví như những người bắn tên, mong sao ai nấy bắn
trúng đích mà thôi! Mười phương ba đời chỉ
có một cái đích ấy, thường trụ bất biến,
sao c̣n phải đợi truyền? Tài khéo và sức mạnh ở nơi mỗi người, cha chẳng thể
truyền cho con, con chẳng thể
đạt được từ cha!
Có ǵ để truyền? Hoặc do thấy mà
biết, hoặc do nghe mà biết ư? Tới khi biết
là một, th́ sẽ biết đúng
là chẳng thể truyền. Nói có thể
truyền th́ tột bậc là diễn tuồng hoặc tranh
đấu chẳng ngừng, chẳng phải là đạo
của Phật, Tổ, thánh hiền vậy!
13. Kư
* Giới Thạch
Cư kư
Do
tánh tịch quang bị ngũ trụ trần lao phủ lấp
mà hết thảy hàm thức hiếm khi nào ở yên! Dẫu Tứ Thiền,
Tứ Không và cơi Phương Tiện, vẫn là tạm ở!
Nhưng dùng con mắt chánh pháp để nh́n th́ tướng
thế gian chính là tướng thường trụ, điều
hay khéo là “chẳng bị vật chuyển, th́ sẽ có thể
chuyển vật”. Do đó, kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến
dữ kiến duyên, tịnh sở tưởng tướng.
Như hư không hoa, bổn vô sở hữu, nguyên thị Bồ
Đề diệu tịnh minh thể” (Thấy và cái
được thấy, đều là tướng
được tưởng. Như hoa đốm trên hư
không, vốn chẳng có ǵ, vốn là cái thể Bồ Đề
sáng sạch, mầu nhiệm). Bởi lẽ, chỉ có liễu
đạt vô sở hữu th́ mới khế nhập Bồ
Đề. Nếu chạy theo cảnh mà nẩy sanh t́nh chấp,
sẽ bởi đó mà lưu chuyển liên tục.
Tôi đọc phần
giải thích về hào Lục Nhị trong quẻ Dự (Lôi
Phong Dự) như sau: “Giới vu thạch, bất chung nhật”
(kiên cố như đá, chẳng phí phạm ngày tháng)[29],
chưa hề chẳng xếp sách lại mà than thở: Lục đạo
chú trọng Hữu.
Nhị Thừa chú trọng Không.
Tạng, Thông Bồ Tát chú trọng
độ huyễn. Biệt Giáo đại sĩ chỉ chú
trọng nơi Trung, đều là chưa hiểu rơ pháp giới
thuận theo vô minh mà lưu chuyển, há như viên đốn
sơ tâm, ngộ nhân duyên chính là Không, Giả, Trung, pháp vốn
vô trụ, vật cũng chẳng dời. Đó là gần
như nhỏ nhiệm, chẳng dung một cái chớp mắt,
huống hồ suốt ngày ư?
Vô sanh sát-na được
gọi là Giới (介).
Thường tự tịch diệt được sánh ví
là Thạch (石). Dung thông cơi nước
trong chót lông, dung hội xưa nay trong một niệm hiện
tiền. Do cả ba chẳng sai biệt, bèn đạt
được hai thứ thù thắng, chẳng nịnh hót,
chẳng khinh nhờn, nghĩa tột bậc ở nơi
đó. Ai nói là tâm học của đức Tuyên Ni (Khổng
Tử) chỉ trong lục hợp (thế gian), c̣n pháp yếu
của đức Mâu Ni chẳng ở trong các hoạt động
thường ngày! Do cư sĩ Quyền Khả đề
bảng tên cho nơi ḿnh ở là Giới Thạch, tôi bèn viết
bài kư.
* Ghi lại chuyến
đến chơi Bảo Thọ Đường tại
Uyên Hồ
Bốn
ngày trước Trung Thu năm Giáp Thân (1644), cư sĩ Diêu
Quảng Nhược mời tôi đến chơi biệt
thất. Thất ở bên bờ Uyên Hồ, cách cầu
Ngũ Long mấy dặm. Nơi ấy hết sức u
nhàn, hồng liệu[30]
rợp lối, chẳng sắp đặt cao thấp,
đăng đối rườm rà.
Lá sen phủ kín mặt ao, mùi sen c̣n tỏa
ngát. Nhà viện cất ở phía Bắc ao, đều theo lối
mộc mạc, cổ kính, đơn giản. Đi theo hành
lang về phía Đông là tới chỗ Bảo Thọ
Đường.
Quảng Nhược
nói với tôi: “Ṭa nhà này vốn là chỗ Tăng sĩ ở.
Tới thời tiên quân (cha) th́ đă biến thành nhà thế
tục. Về sau, do lợp lại mái, dưới rường
nhà t́m được một quyển kinh Kim Cang. Công
nhân lấy làm lạ, đem thưa với tôi. Đêm hôm
trước đó, tôi từng nằm mộng. Mộng thấy
đến một gian đại sảnh rách nát, có vị
tăng quyên mộ tôi ba trăm lạng. Tôi chưa đáp ứng.
Vị tăng nói: ‘Sẽ dùng một chuyện để làm
chứng’. Sư bèn chỉ xuống đất, bỗng có một
ṭa tháp từ đất vọt lên. Sư bảo tôi: ‘Ông vốn
thiếu duyên ba trăm lạng với ṭa tháp này, cần phải
đền bồi’. Ngày hôm sau, bỗng nghe t́m được
kinh trong rường nhà, bèn tới đó xem. Vịn thang
trèo lên, tận mắt thấy tháp Chân Như theo thân vọt
ra, giống hệt như đă thấy trong mộng. V́ thế,
nay lại dùng làm Tăng xá để phụng dưỡng
mẹ tôi và tịnh lữ mấy chục vị đều
cùng huân tu tại đây”.
Tôi từng nói một
pháp mộng mị chí huyễn, nhưng chí linh. Trong một
tối mà có thể hiện trọn khắp chuyện ba
đời. Hăy thử xem phẩm An Lạc Hạnh trong kinh
Pháp Hoa, khởi đầu là sơ tâm, rốt cuộc là Diệu
Giác, đều chẳng ra khỏi Như Mộng tam-muội.
V́ thế, biết các pháp trong tam giới,
quả thật không ǵ chẳng phải là mộng. Giấc
mộng thành Phật, há có phải thật sự là mộng
huyễn ư? Cư sĩ Quảng Nhược tin “mộng
và tỉnh chẳng hai”, liền có thể
thực hiện lời hứa trong mộng, xả vườn
làm am, lại c̣n tạo thành ḷng đại hiếu xuất
thế. Hôm nay đến chơi ṭa nhà này, nghe lời ấy,
đều ấn nhập trong một giấc mộng của
Quảng Nhược, tôi lại nằm mộng mà soạn
bài kư như thế đó!
* Ghi lại chuyện
văng sanh của bà họ Đoan
Mùa Đông năm Ất Dậu (1645), ông
Chương Kiết Chi ở Toàn Thành đem hạnh chân thật của cha mẹ đă quá văng xin tôi ban lời,
tôi nêu ra Niệm Phật tam-muội để ấn chứng.
Nay cư sĩ nhớ lại hai vị lăo nhân tin Phật, quả
thật do vợ là Đoan Thị [khởi phát], bèn xin tôi
nói một lời để nêu tỏ, cũng như muốn
giải quyết nỗi nghi. Ngẫu Ích đạo nhân cả đời chẳng phí
công viết tiểu truyện cho người khác, riêng chuyện
văng sanh th́ chẳng đợi thỉnh, nếu tất nhiên
là chuyện thấy, nghe rành rẽ, sẽ viết. Tôi quen biết
ông Kiết Chi chưa lâu. Núi này cách Toàn Thành khá xa, tôi lại
chưa từng đến đó, dường như vẫn
chưa thể xếp vào thể loại “thấy, nghe rơ
ràng” được. Nhưng Kiết Chi tín tâm chuyên dốc,
khiêm hư, cẩn trọng, chẳng phải là kẻ chịu
nói dối. Hơn nữa, hễ [người khác] có nỗi
nghi đối với đại pháp, lẽ nào chẳng quyết
nghi cho. Xin dùng ngay lời của ông ta để hướng
dẫn ư ấy.
Ông ta nói: “Người
vợ đă mất của tôi là Đoan Thị, gả cho
tôi lúc mười bảy tuổi, liền cùng chí hướng
ăn chay với tôi, thích bố thí, chẳng tích cóp riêng
tư, chẳng thích đồ trang sức trân quư, hay y
phục đẹp đẽ, chẳng giận dữ chửi
mắng kẻ hầu, hiếu thảo phụng sự bố
mẹ chồng mà vẫn sợ chẳng chu đáo. Biết
ḿnh không sanh nở được, bèn mua thiếp về hầu
tôi, chuyên tâm lần chuỗi niệm Phật. Được
hơn một năm, bệnh ngặt nghèo, xin mẹ chồng
đồng thanh niệm Phật. Cô ta muốn từ tạ
ra đi, mẹ chồng lớn tiếng kêu ở lại,
đợi cho em ruột là Đoan Thượng Khanh gặp
mặt, bèn kéo dài đến ngày hôm sau.
[Khi em bà ta đến], vĩnh biệt em
trai, tiếng nói [dơng dạc] như nam tử, cực lực
đàm luận phẩm tiết to lớn nơi lễ,
nghĩa, hiếu, hữu suốt nửa ngày chẳng mệt.
Đến tối, lại xin mẹ chồng giúp niệm Phật,
suốt ba ngày chẳng ăn uống, chẳng nói lời thừa
nào. Tới ngày Hai Mươi Chín tháng Tám năm Quư Mùi (1643)
đời Sùng Trinh,
bèn cát tường qua đời. Cha tôi do vậy bị cảm
động, khởi phát, bảy ngày sau ngồi qua đời.
Mùa Thu năm sau, mẹ tôi lại nương theo quy giới
mà mất. Vừa nghe Quán Kinh Sớ Sao nói ‘lâm chung mười
niệm thành tựu, cũng được văng sanh’,
chẳng biết là người vợ đă khuất của
tôi có được văng sanh hay không?”
Ngẫu Ích đạo
nhân nghe xong, thở dài bảo:
- Rất tuyệt! Tâm lực
chẳng thể nghĩ bàn, Phật lực chẳng thể
nghĩ bàn. Thiện căn và tín căn túc thế chẳng
thể nghĩ bàn! Con vẹt, con nhồng c̣n được
văng sanh, nếu nói “người niệm Phật chẳng
được văng sanh”, há có được hay chăng? Lũ chúng
ta sanh nhằm thời Mạt, đă chẳng có thiên nhăn, lại
chẳng có Túc Mạng Trí Thông, chẳng tin lời Phật
th́ tin lời nào đây? Nếu tin chắc lời Phật
chẳng nghi, Sa Bà chẳng khác nào quán trọ, Tịnh Độ
chẳng khác quê nhà. Riêng lạ thay những vị áo chằm
(Tăng sĩ) thông minh, lanh lợi lại chẳng bằng
nữ giới, đáng buồn sâu đậm thay! Tôi tuổi
thiếu niên chí dũng mănh tham cứu, thấy quả vị
Phật, tổ c̣n chẳng
màng, mong dùng đó để báo ân khó báo của cha mẹ. Tuổi
trung niên lắm chướng, nhiều bệnh, nay th́ nhất
ư rong ruổi về Tây, nhưng do
tán tâm hoằng pháp, so tính công phu để
xác định phẩm vị, chỉ kham hạ phẩm hạ
sanh! Mỗi lần nghĩ tới cha mẹ trong pháp giới,
chẳng khỏi huyết lệ lẫn lộn. Đâm ra chẳng
bằng cô gái họ Đoan đă hưởng trước
niềm vui nơi cung sen, lại c̣n cứu bạt bố mẹ
chồng cùng thoát ṿng khổ, thành tựu đại hiếu
xuất thế. Cư sĩ chỉ nên cầu nơi chính
ḿnh, nếu chẳng nghi tâm ḿnh chính là tâm Phật, tức là
chẳng nghi lời Phật. Nếu chẳng nghi lời Phật,
tức là đối với
chuyện thiện nữ sanh về Tịnh Độ
cũng chẳng nghi vậy!
Than ôi! Đó là chuyện
trong nhà Kiết Chi, lời này chính là do đích thân Kiết Chi nói, thế mà
nỗi nghi được văng sanh hay không c̣n phải gạn
hỏi tôi rồi mới tin. Mai sau, những ai đọc
bài kư này, có thể nhanh chóng tin vào tự tâm, như cô gái họ
Đoan nắm chắc bằng khoán văng sanh chẳng sai lạc
hay chăng?
* Bài kư về đàn
Đại Bi tại Tổ Đường U Thê Thiền Tự
Hai
giáo Hiển và Mật của Như Lai đều
trọn đủ bốn loại Tất
Đàn, nhưng Mật Giáo chú trọng nghi thức trong
đàn tràng nhất. Bởi lẽ, toàn Lư thành Sự, toàn Sự
nhiếp Lư, thẳng thừng dùng cảnh nơi Sự
để quán chắc chắn, vốn chẳng phải chỉ
nhờ vào Sự để biểu thị pháp mà thôi! Quán Thế
Âm Bồ Tát ḷng Từ trọn khắp biển các cơi nước,
có đại nhân duyên với thế giới Sa Bà. Trong Đại
Tạng, chú do Ngài nói ra nhiều nhất, chỉ có Đại
Bi Tâm Chú riêng lưu thông thịnh hành nhất. Đời Tống
có Tứ Minh tôn giả Pháp Trí đại sư, là La Hầu
La con đức Phật tái lai, chuyên tu Mật hạnh,
nương theo Thiên Thai Giáo Quán, sáng lập hành pháp Đại
Bi tam-muội, mười khoa hành đạo, thập thừa
quán tâm, đều là bí yếu của Phật, Tổ, là tổng
tŕ của vạn pháp, há chỉ dùng âm thanh và sắc tướng
để trông đẹp mắt mà thôi ư? Đời gần
đây, tại Vũ Lâm, [hành pháp ấy được]
lưu thông đặc biệt rộng răi, nhưng lắm nỗi
lầm loạn. Tôi bất đắc dĩ, đặc biệt
biện định sự sai lầm.
Trạm Tŕ Như công ở
Tổ Đường là cao túc của Viễn Ngân thiền
sư, là pháp tôn của Tuyết Lăng đại sư,
trước kia tại Chân Tịch đă đích thân tu hạnh
này, trải qua bốn kỳ. Kế đó, Sư trụ tại
Đậu Diệp B́nh ở Khuông Sơn, tuân phụng [hành
pháp này] làm nhật khóa. Về sau, do sư huynh là ngài Như Huyễn Hành
dẫn theo vị hộ pháp là cư sĩ Thái Nhị Bạch
lên núi, cầu thỉnh Sư đứng ra làm chủ coi sóc
mọi chuyện ở U Thê. Sư bèn phát nguyện rằng:
“Nếu muốn tôi đến phục dịch tại Thiền
Đường, ắt phải kiến lập Đại
Bi Sám Đàn, ḥng đạt được lợi ích thật
sự nơi Văn Huân, Văn Tu”. Do vậy, quanh quẩn
bảy năm mới xếp đặt xong.
Đàn ở bên phải
Tàng Kinh Các, tượng Phật hướng về phía Nam,
tượng Đại Bi hướng về phía Đông.
Phía bên phải đàn là quán đường và trai đường,
pḥng tắm, liêu của thị giả v.v… Công tŕnh xây dựng
đă hoàn tất, thỉnh tôi soạn bài kư, khiến cho hậu
duệ nghe biết. Tôi nghĩ Trạm Công là bậc kỳ
túc tham cứu đă lâu, chẳng chấp vào những điều
đă được nghe từ trước, khẳng khái
nghe tôi sửa đổi những sai lầm lâu ngày. Thật
sự là bậc đại hào kiệt! Ngài lại c̣n
căn dặn tôi: “Tinh lực suốt cả đời tôi
dốc cạn nơi cái đàn này, sợ hậu duệ vô
tri phỏng đoán, lại lầm tưởng là Dật
Lăo Đường, cũng ắt cậy
ông nói một lời sẵn để uốn nắn”. Tôi
hoảng sợ, bèn nâng bút viết lời căn dặn rằng:
- Đại bi tam-muội,
hàm linh vốn sẵn có, nhưng đă mê từ bao kiếp
lâu xa, luân hồi trong các nẻo. Bồ Tát ḷng Từ rộng
lớn, dùng phương tiện khéo độ, văn tự
tánh Không, diễn chương cú mầu nhiệm, đúng
như pháp tụng tŕ, không đâu cảm vời mà chẳng
giáng phó. Hành nghi của ngài Tứ Minh lưu truyền ngàn
đời, lâu ngày bị sai lệch. Tôi v́ vậy kinh sợ,
vừa mới lời biện định chỗ sai lầm,
các kẻ tiểu trí tranh nhau tức giận. Trạm công
dũng cảm thay, chẳng mê nơi ngơ rẽ, đắp
tịnh đàn này, trời, rồng bảo hộ. Mong
đàn thất này ngàn năm như một ngày, trai pháp cung
kính, nghiêm túc, lúc ăn cũng chẳng
mất [sự nghiêm
túc ấy]. Thiền lữ huân tu, đừng trở thành chốn
dưỡng nhàn cho người già cả.
Đông, Hạ an cư, Xuân, Thu nỗ lực. Hạnh
nguyện giúp nhau, cùng về tịnh vực. Hư không có thể
tận, hoằng thệ chẳng ngơi. Nếu có kẻ
trái nghịch, là kẻ bại đức trong pháp môn, th́ tŕ
chú thần vương ắt sẽ trừ dẹp. Ngửa
xin oai linh, chứng cho ḷng chân thật này, cả trăm ức
năm,
vĩnh viễn lưu lại cách thức thơm thảo!
* Bài kư về Tàng Kinh
Các thuộc U Thê Thiền Tự nơi Tổ Đường
Y văn hiểu
nghĩa, tam thế chư Phật bị oan uổng. Ĺa kinh
một chữ, liền giống như ma nói. Tông và Giáo chẳng
dung tách rời, đă rơ rệt rồi! Ngài
Ma Ha Ca Diếp là Sơ Tổ ở Tây
Thổ. Đức Phật thị tịch, Ngài chẳng
cúng dường xá-lợi mà chỉ chú trọng kết tập
pháp tạng. Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ của
Đông Độ, tận lực tảo trừ tập khí “nương
theo văn tự mà hiểu nghĩa”,
vẫn dùng kinh Lăng Già để ấn tâm, há giống
như đời sau tiếm trộm danh hiệu, địa
vị, tranh nhau loại bỏ điển tịch của
vương thất, mặc t́nh thôn tính,
bạo ngược ư? Tổ Đường chùa U Thê vốn
do Dung Tổ tu tập tĩnh tọa quán tâm địa. Về
sau, [Dung Tổ] được Tứ Tổ chỉ điểm
đắc ngộ, bèn truyền đại pháp. Đạo ấy
truyền xa thành hai đường. Dưới đỉnh
Phù Dung thưa thớt đă lâu.
Trong niên hiệu Chánh
Đức[31],
có con cháu nhà Lâm Tế, hiệu là Hải Thiên đến sống
tại cuộc đất này. Nối pháp có Tuyết Lăng
đại sư chính là ngài Từ Ân tái lai. Khi ấy,
người thọ pháp là các vị như Thụy Lân v.v… Tử
Bách đại sư cũng từng cầm gậy, đội
nón tre đến tham phỏng. Bởi lẽ, kể từ
khi có nhà Đường tới nay, chưa có lúc nào hưng
thịnh như thuở ấy. Ngài Tuyết Lăng tịch, cao
túc là Viễn Ngân pháp chủ kế tục duy tŕ tùng lâm. Ngài
Viễn Ngân mất, cao túc là Như Huyễn pháp chủ lại
kế tục duy tŕ rồi truyền cho pháp đệ là Trạm
Tŕ Như công. Trạm công tham học với Chân Tịch
Văn Cốc lăo nhân đă lâu, ẩn cư tại Khuông Nhạc.
Đă tiếp nhận lời thỉnh, bèn buông xuống thân
tâm, chuyên lo liệu Phật sự. Bảy, tám năm qua, chẳng
có lúc nào rảnh rỗi! Nay các nguyện đă hoàn tất,
chỉ có công tŕnh dựng Tàng Kinh Các mới được
một nửa, nhằm lúc tôi nhận lời thỉnh, hoằng
dương, diễn giảng kinh Pháp Hoa. Trạm công bảo
đáng nên để lại một lời để ghi
chép chuyện này.
Trước đó,
đối với Đại Bi Sám Đàn,
tôi đă có ghi lại một bài minh. Nay Tàng Kinh Các tuy
chưa hoàn thành, thật sự đă ứng hợp với
điều cấp bách nhất trong ḷng tôi. Bởi lẽ,
huệ mạng của Phật, Tổ hoàn toàn nhờ vào Tam
Tạng mới được lưu truyền. Nghĩ lại
đời Tống, các tạng kinh có tới mười mấy
loại, nay chỉ c̣n Nam Tạng và Bắc Tạng, khá lộn
xộn. Tạng kinh theo bản gốc của Gia Hưng vẫn
chưa toàn vẹn. Đúng là nỗi sợ “chín đỉnh
treo bằng một sợi tơ”[32].
Hơn nữa, phường “thử tức, điểu
không” (nói suông lư Không) xem kinh điển như oán gia. Nếu
chẳng dốc sức hộ tŕ, sẽ có những điều
chẳng nỡ nói. Trạm công coi chuyện này là gấp
rút, phải chăng là được Như Lai sai khiến
để làm chuyện Như Lai đó chăng? Xin hăy
đem lời này bảo với các đồng nhân, ắt sẽ
cùng nhau phát tâm thù thắng. Xin lưu lại lời này, khắc
vào đá cứng, ắt sẽ trăm đời chẳng
mê mờ vậy!
* Bi kư trùng tu điện
gác chùa Minh Khánh
Chuyện lập ra
tượng và giáo đă bắt đầu từ thời
đức Phật. Tới khi truyền sang [Trung Hoa] vào
đời Hán, hết sức thịnh hành vào thời Nam Bắc
Lục Triều, trải từ thời Đường - Tống
tới nay, chưa từng suy giảm chút nào. Do vậy, lâm
cung, phạm sát[33]
như sao sa trải khắp chín châu. Phàm những nơi danh
sơn hay cuộc đất thù thắng, không đâu chẳng
có Trụ Tŕ Tam Bảo làm ruộng phước cho cơi đời.
Do nghĩa giác pháp ḥa hợp được dân chúng vâng giữ,
chẳng thể diệt mất.
Nhưng Trụ Tŕ Tam Bảo vốn được kiến
lập từ Nhất Thể Tam Bảo, nhưng Nhất Thể
Tam Bảo ắt nhờ vào Trụ Tŕ Tam Bảo để
tỏ rơ. Sáng tỏ th́ thành tựu chính ḿnh, thành tựu
chúng sanh, tự mừng, mừng cho người khác. Do vậy,
[chùa chiền] tạm phế rồi lại hưng, không ǵ
chẳng là sự ứng hiện mầu nhiệm “toàn tánh khởi tu”.
Nơi góc Tây Nam của
Tùng Lăng, hơn bảy mươi dặm, có Ma Khê. Phía
Nam khe suối ấy là chùa Minh Khánh vốn ở giữa
nước, h́nh như hoa sen, lưng dựa vào chỗ hoang
vu, hướng mặt về đồng hoang. Hai bên là các
ḍng nước vây quanh. Vị khai sơn là thiền sư
Trí Sân, sống vào cuối đời Đường. Trong
niên hiệu Càn Phù[34]
đời Tống, có thầy bí mật dựng Ích Hữu
Đường, nói rằng: “Phàm là bậc Tam Tạng ẩn
giấu h́nh tích nơi đây, đều là bạn tốt của
tôi”. Như thế th́ phong thái “tôn hiền, giữ lấy
điều lành” có thể tưởng được!
Trong niên hiệu Tuyên Đức[35],
nạp tử Quảng Thiện mở rộng nền móng,
xây cất quy mô. Năm Giáp Tuất (1574) thời Vạn Lịch,
điện, gác, Thiền
đường một đêm cháy tan thành tro. Hơn bốn
mươi năm, chỉ thấy ngói, sạn. Cho tới
năm Mậu Ngọ (1618), ngài Thuận
Thương Úc của chùa này quyết chí khôi phục,
đích thân gánh vác việc nhọc nhằn này, chẳng nề
hà lao khổ! Do vậy, các vị như Liên Vũ, Tùng Giản
v.v… dốc cạn ḷng thành giúp sức. Nhất thời
tăng, tục hưởng ứng, thí tài, thí lực, khuyên
lơn, tán thán, tùy hỷ. Chẳng mấy chốc, đại
điện sửa mới, sơn môn, nhà ngang, nhà bếp,
liêu pḥng của tăng chúng đều lần lượt
hoàn thành. Trong thời gian ấy, người bố thí cúng
dường chẳng dễ kể trọn số, nhưng
cư sĩ Trọng Kế Phong đổ công sức nhiều
nhất, c̣n kinh sách Đại Tạng do ngài
Ngụ Trung Niệm riêng tự ḿnh hoàn
thành.
Từ nay, người
an cư có tôn tượng để chiêm lễ, có pháp bảo
để xem đọc, vân thủy tăng có chỗ nghỉ
đêm, ngày có chỗ ăn uống. Nghiễm nhiên phục hồi
quang cảnh cũ thời Đường - Tống,
vĩnh viễn đứng đầu các ngôi chùa tại
Tùng Lăng vậy! Trộm nghĩ: Người
sáng lập cơ nghiệp dẫu gian khó vẫn dũng mănh
tiến bước, người
giữ ǵn được thành tựu bởi ḷng kiên trinh.
Chẳng dũng mănh tiến bước,
sao có thể làm đầu? Chẳng
kiên trinh, sẽ chẳng
có ǵ để khéo ǵn giữ cho mai sau!
Nay th́ một miếng ngói, que củi, hạt gạo, không
ǵ chẳng do tiền nhân nhọc nhằn chịu khổ mà
có, do đàn tín thắt lưng buộc bụng mà thành. Do vậy,
ghi lại đầu đuôi để nói với người
chưa nghe, ngơ hầu khéo kế thừa, khéo tiếp nối
lâu ngày chẳng suy bại vậy!
14. Duyên khởi
* Duyên khởi của Tỳ
Ni Sự Nghĩa Tập Yếu
Tỳ
Ni Tạng là kỷ cương của Phật pháp, là mạng
mạch của Tăng Già, là cầu bến trong biển khổ,
là đạo trọng yếu của Niết Bàn. Kể từ
thuở xướng suất đầu tiên tại Kê Viên[36],
[đức Phật] gọi “thiện lai” (khéo đến)
mà giới thể [của vị tỳ-kheo mới xuất
gia] nhờ
đó được thành, cho tới khi ẩn
ánh (nhập diệt) nơi
cội Hạc (rừng cây Sa La), truyền cố mạng[37]
lấy Mộc Xoa
(giới luật) làm trọng. Ắt do
có phạm, nên mới giá (遮, ngăn
che), bản thể là giúp đỡ vô tác. Nếu do duyên mà
khai, và thuận theo cơ duyên mà chế định, Dụng
lại khế hợp diệu viên. Thật sự là
đường lối chung cho cả Tiểu lẫn Đại,
há phải là nẻo riêng của Thanh Văn? Xót thay, cuối
đời Tượng Pháp, hiếm người liễu
đạt chân tông! Kẻ
ngu mê muội chẳng nghe [giới luật], kẻ cuồng
gạt phăng [giới luật]
như những thứ vớ vẩn,
dùng Thiền cơ để khéo trốn
tránh, hoặc dùng Phương Quảng để nại cớ
[chẳng tuân thủ giới luật], hoàn toàn thuộc loại
chấp theo văn tự, ai suy nghĩ thật nghĩa?
Lại như ngài Huệ
Năng đă lănh tâm ấn, đă xiển dương, giáo
hóa tại Tào Khê, vẫn dùng phương cách đăng
đàn thọ Cụ Túc Giới. Ngài Trừng Quán hoằng
dương rộng lớn kinh Hoa Nghiêm, nêu khuôn phép trong triều,
ngoài nội, ắt phải dùng mười lời thề
ḥng kiềm giữ tấm thân. Bởi lẽ, đấng
Đại Hùng ngự nơi tối cực, Pháp Bảo và
Tăng Bảo đều do chánh giác mà rạng ngời.
Nhưng đấng Thiện Thệ ẩn giấu cơ
(nhập diệt), hai ngôi Phật và Pháp cùng nhờ vào
Tăng Già mà kiến lập. Nếu chỉ chú trọng
mười giới và các giới khinh, có khác ǵ kẻ tại
gia? Nếu chẳng do Ngũ Thiên Thất Tụ[38],
sao [đại chúng] biết gương cao ĺa tục? Do vậy
biết giới kinh Phạm Vơng thu trọn cả năm
đường, chỉ trừ địa ngục, tức
là do Thông mà thành Đại. Tỳ Ni Pháp Tạng chỉ chấp
thuận loài người, vẫn
ngăn che các nạn[39],
chính v́ hạn cuộc mà trở thành tôn quư, ắt khiến
cho họ ngưỡng mộ Đại Thừa. Nếu chẳng
cam ḷng vâng giữ các chi tiết nhỏ nhặt, tự có thể
để tóc, xả giới y, làm hoa Ưu Bát trong lửa.
Nếu có ḷng xót thương thời Mạt Pháp, có chí duy
tŕ [mạng mạch của
Như Lai], há có thể buông lung, phóng đăng, làm trùng trong
thân sư tử ư?
Trí
Húc tự nghĩ chướng sâu, lại buồn sanh muộn,
đau ḷng v́ bóng câu qua khe cửa chẳng chuộc
được, bỏ mẹ hiền khoác lấy áo thâm,
nghĩ Lạc Thổ có thể quay về. Ngưỡng mộ
ngài Liên Tŕ mà học theo di trước. Gấp biện
định cương tông, thường ôm chí theo đ̣i
phong cách của ngài Tử Bách, do hộ pháp mà vong thân, nguyện
tiếp nối phái Khuông Sơn. Nh́n thói đời hiện
thời mà than dài, đọc kinh
Di Giáo càng thêm đau xót! Do vào cuối
Đông năm Giáp Tư (1624), lễ tháp Vô Lượng Quang, phát tâm tăng thượng gấp bội,
bèn cầu xà-lê Cổ Đức chứng
minh tôi học Bồ Tát giới. Kế đó, duyệt trọn
hai bộ Luật Đại, Tiểu Thừa, liền
đề cao luật Tứ Phần, chọn lọc ư kiến
của các nhà, sao lục thành bộ Sự Nghĩa Yếu
Lược. Ư kiến thô lậu, tối tăm, ngu muội, lan
man, bộp chộp, khó thể tu tập cao xa, tính làm tư
lương cho kẻ lẩn khuất nơi hang hốc, chẳng
có tâm kiêm lợi.
Mùa Xuân năm Mậu
Th́n (1628), gặp Tuyết Hàng Tiếp công là người có
chí nghiêm tịnh [Tỳ Ni]. Do suy nghĩ, cái tâm vào núi sẵn có trước đó
càng thêm sốt sắng. V́ những điều sao lục
hăy c̣n sơ lược, thiếu sót, bèn ở Long Cư, lại
kiểm kinh văn thuộc tông của chính ḿnh và các tông khác
trong Đại Tạng. Phàm những điều thiết yếu
đều sao lục, những chỗ đáng nên khinh, trọng
đều thích hợp sâu xa, tường tận, nêu rơ cặn kẽ chuẩn
mực “khai,
giá”,
lại c̣n tham cứu Đại Luật, chỉ bày cặn
kẽ chỗ giống nhau và khác nhau, ḥng tránh cho kẻ câu nệ,
chấp trước chẳng chuốc phải tội
ương báng bổ là Tiểu Thừa, kẻ thích luông tuồng
khó thể viện cớ biện bác. Khảo đính hoàn
thành, đổi tên sách thành Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập
Yếu. Lại c̣n cùng hai người bạn là Bích Như
và Quy Nhất thương nghị, khảo chứng, tham cứu,
giảo đính,
ḥng xiển dương cặn kẽ tột bậc.
Than ôi! Tập sách này
tuy so với cái Thể Diệu Cao,
chẳng khác nào vi trần, nhưng đối với tư
cách kém hèn, đă gọi là kiệt lực. Đáng tiếc
là giải huệ sơ sài, vụng về, chính ḿnh tu hành
thiếu khuyết, ngửa lên bèn thẹn
với bậc tiên triết thuở trước, cúi xuống lại tủi
hổ với hậu hiền. Chỉ mong đồng học
thiện hữu xét soi nỗi khổ tâm của tôi,
thương xót sự kém cỏi của tôi, nhất ư nắm
giữ, cùng phù tŕ pháp vận, ngơ hầu báo ân Phật trong
muôn một!
* Duyên khởi Tịnh
nghiệp tại chùa Linh Phong
Từng thấy Tịnh
Độ thù thắng, lạ lùng không do Tịch Quang, Thật
Báo, hay Phương Tiện, mà là tại Đồng Cư.
Bởi lẽ, ba cơi trước phải đoạn Hoặc
rồi mới có thể sanh về;
chỉ có Đồng Cư thẳng thừng
dùng Tín và Nguyện để hướng dẫn, cảm ứng
đạo giao. Tập khí ngũ trược hơi nhẹ,
liền thoát khỏi nỗi khổ tam giới, sẽ lại chính là
Tây Phương Cực Lạc, theo chiều dọc thấu
triệt các cơi Phương Tiện, Thật Báo, và Tịch Quang. Do vậy,
kẻ hạ ngu đều có thể vượt lên cơi ấy,
bậc thượng trí trọn chẳng thể vượt
ngoài cương vực ấy. Ba loại căn cơ đều
cùng thích ứng, Tứ Tất Đàn đều trọn.
Chánh pháp trụ thế, chư Tổ đă cùng hoằng
dương [pháp môn này]. Bến mê thuở mạt vận, tứ
y sao có thể riêng tán dương?
Hiềm rằng cơi đời
viện cớ “trực chỉ”, xếp Tây
Phương vào loại độn căn. Kẻ “học
nói Đại Thừa”[40]
coi Tịnh Độ là nghỉ hưu, không
nghĩ “chẳng nhờ vào phương tiện, tự
được tâm khai”, há có đường tắt nào như thế
đó? Diệu hoa đầy ắp lẵng, cúng trọn khắp
ức phương, há giống như Tiểu Thừa? Lại
c̣n đă ngộ trực chỉ, bèn gọi là “kiến
tánh thành Phật”, cớ sao cự tuyệt Di Đà ở
ngoài tự tánh? Đă nương vào đại nguyện, ắt
cần phải nghiêm tịnh cơi Phật, v́ đâu lại loại
trừ Cực Lạc khỏi biển các cơi nước?
Thanh Văn, Quyền giáo chẳng nghe danh hiệu vị Phật
ở phương khác. Thần lực của Tứ Quả
chỉ quẩn quanh
trong cơi tam thiên. Đấng Thiện Thệ tôn quư đặc
biệt nơi mười vạn cơi ngoài phương xa, nếu
chẳng phải là bậc đại sĩ thắng tấn
hoặc bậc trượng phu dũng mănh, ai có thể thân
cận, thừa sự? Vừa mới sanh trong đài sen,
đều là A Bệ Bạt Trí,
so với kẻ dốc chí tham cứu,
mong chứng quả trong ba đời, [hoặc so với
người] đă ngộ tâm tông, vẫn nói “đời
đời bất thoái, có hy vọng thành Phật” th́ “khó,
dễ, nhanh, chậm”, có thể biết
rành rành! Sáu phương Điều Ngự cùng thốt lời
tán dương. Biến Cát, Văn Thù thành tâm khuyên lơn,
phát khởi, há lừa dối ta ư?
Pháp truyền sang Chấn
Đán
(Trung Hoa), Thiền, Luật, tánh, tướng,
đều là pháp lâu ngày, thói tệ nẩy sanh. Thế
đă tận cùng, cần
phải biến đổi. Chỉ có kế sách huyền diệu
khởi đầu từ núi Khuông, kết thúc tại
Ngũ Vân[41],
hoặc khắc đồng hồ sen trong sáu thời, hoặc
phát diệu tông nơi Tam Quán, hoặc hướng dẫn vạn
thiện đồng quy, hoặc dung hội nhất tâm
nơi Sự, Lư. Pháp không ǵ chẳng thâu, không căn cơ
nào chẳng nhiếp thọ. V́ thế, pháp được
lưu truyền càng thêm lâu, pháp đạo càng tỏa sáng,
tiếng giáo hóa lan truyền, xa thấu tận hang cùng hốc
tận. Tại Linh Phong Giảng Tự ở Chương
Nam, ngài Thạch Nga Kỳ thỉnh ngài
Tuyết Hàng Tiếp kết xă trong núi này. Lại có sa-di Băo
Nhất Túy, cư sĩ Tŕnh Quư Thanh cùng bẩm thọ hoằng
nguyện của đấng Di Đà, cùng xiển
dương pháp môn của ngài Thế Chí. Phật thanh lồng
lộng, khiến thông reo,
chim hót đều hiển viên thông, tăng đức hài
ḥa, dẫn dắt kẻ
chăn trâu, người cày ruộng cùng nhập tam-muội,
siêu thoát tam giới theo chiều ngang, chẳng phiền chín
lượt tu theo thứ tự. Theo chiều dọc, thấu
triệt Tịch Quang, chẳng đợi ba A-tăng-kỳ
để chứng quả. Đúng là cầu bến nơi
Kiếp Trược, là đuốc báu trong nẻo tối
tăm.
* Duyên khởi của
thắng hội Bát Quan Trai Giới
Chẳng
hiểu rơ ư Tổ, chẳng có con mắt xuất thế
chánh đáng, chẳng giảng giáo pháp, tu hành chẳng có con
đường chánh đáng, chẳng tŕ trai giới, chẳng
có công phu tu tập chánh đáng. Thói tệ chung thời Mạt
Pháp đă lâu rồi. Tôi thường nói với những bậc
có chí: “Chẳng hiểu rơ ư Tổ, chẳng đáng để
cùng luận định giáo pháp. Chẳng tinh thông giáo pháp, chẳng
đáng để bàn thảo trai giới”.
Đấy là nói theo “Lư ngộ, Sự tu”. C̣n như “do
Giới sanh Định, do Định phát Huệ”, giáo
môn trong một đời đức Phật nếu chẳng
do cửa ngơ ấy, sẽ trọn khó thể nhập thất!
Thiện tín vùng Tuy Lư phỏng theo chế định của
đức Phật, lập ra hội Lục Trai. Trong sáu
ngày trai, mỗi ngày tu một hạnh:
- Mồng Tám phóng sanh,
trước là khiến cho ḷng đồng thể đại
bi tràn trề.
- Mười Bốn lễ
sám, nhằm tịnh hóa tam chướng của ḿnh lẫn
người.
- Mười Lăm tụng
kinh để gieo Văn Huân viên đốn.
- Hai Mươi Ba suy
xét giáo nghĩa, ḥng khai nẻo giác nơi tự tâm.
- Hai Mươi Chín tọa
Thiền để ngộ cội nguồn của nhất
tâm.
- Ba Mươi niệm
Phật, ḥng tịnh hóa bốn cơi duy tâm.
Giáp ṿng trở lại
từ đầu, vĩnh viễn tinh tấn chẳng biếng
nhác! Người chưa gieo thiện căn, sẽ khiến
cho được gieo. Người đă gieo thiện
căn, sẽ khiến cho tăng trưởng. Lần
lượt khuyên dụ, giáo hóa, khiến cho dần
dần thâm nhập. Thành thục bởi đó, giải thoát
cũng bởi đó. T́m hiểu quá tŕnh phát triển từ
đầu đến cuối, chưa từng ĺa pháp Bát Trai Giới
này, ngơ hầu tạo một chuyển biến trong thuở
mạt vận vậy!
* Duyên khởi thoái giới
và lời căn dặn
Trí
Húc sanh năm Kỷ Hợi (1599) đời Vạn Lịch.
Vào lúc hai mươi bốn tuổi, tức
năm Nhâm Tuất (1622) thuộc năm Thiên Khải thứ
hai, đau xót nghĩ sanh tử là chuyện lớn, cha
chưa chôn, mẹ chẳng phụng dưỡng, quyết
chí xuất gia. Khi đó, tôn giả Tử Bách đă thị
tịch, Vân Thê lăo nhân cũng dời sang An Dưỡng, Hám
Sơn đại sư viễn du nơi Tào Khê, tôi chẳng
đủ sức sang đó. Các vị tri thức khác th́ tôi chẳng ưa chuộng, bèn làm
tạp vụ tại Vân Thê, tọa Thiền tại Song
Kính, tham phỏng thiện hữu nơi Thiên Thai, niệm
nào cũng hướng tới tông thừa, Giáo lẫn Luật
đều hoăn đăi. Về sau, do mấy phen bị bức
bách, thường là mỗi khi sắp đến lúc công phu
đắc lực, ắt bị chướng duyên xâm phạm,
quấy nhiễu. Do vậy, tôi nghĩ sau khi đức Phật
diệt độ, lấy giới làm thầy, nhưng rốt
cuộc chẳng biết chuyện thọ giới thế
nào là đúng như pháp? Thế
nào là chẳng như pháp? Chỉ do Vân Thê có dạy học
giới, bèn theo gót Thiên
Thai, giẫm băng xông tuyết, t́m sang Ngũ Vân, khổ
nhọc t́m đến khẩn cầu pháp sư Cổ Đức
làm A-xà-lê, đối trước tượng ḥa thượng
Liên Tŕ, đảnh thọ Tứ Phần Giới Bổn.
Khi đó là hai mươi lăm tuổi, nhằm ngày mồng
Tám tháng Chạp năm Quư Hợi (1623). Ngày Hai Mươi Mốt
tháng Chạp năm Giáp Tư (1624) lại đến Vân Thê, thọ
Bồ Tát giới. Mùa Xuân năm Ất Sửu (1625), duyệt
Luật Tạng hơn bốn mươi ngày tại Cổ
Ngô, sao lục thành một bản Sự Nghĩa Yếu
Lược. Từ đấy về sau, vẫn nhất tâm
tham cứu tông thừa.
Mùa Xuân năm Mậu
Th́n (1628), Tuyết Hàng Tiếp công giữ tôi ở lại
Long Cư. Lại duyệt Luật Tạng một lượt,
mới hoàn thành bộ Tập Yếu bốn quyển. Mùa
Xuân năm Kỷ Tỵ (1629), tiễn ngài
Tinh Cốc Thọ tới Bác Sơn xuống
tóc. Thiền sư Vô Dị
thấy [tác phẩm ấy], ưa thích, muốn đem in
ngay. Tôi nói “chưa thể”. Mùa Đông năm ấy, cùng
sư Quy Nhất Trù, kết giới an cư tại Long
Cư, lại duyệt Luật một lần nữa, giảo
đính hoàn tất. Mồng Một tháng Giêng năm Canh Ngọ
(1630), đốt hương trên cánh tay, trích máu từ
lưỡi, gởi thư cho Tinh Cốc. Cuối tháng Ba,
Tinh Cốc cùng ngài Như
Thị Phưởng từ Kim Lăng trở về, đến
Long Cư, thỉnh thầy Quư Hiền làm ḥa thượng,
Tân Y pháp chủ làm Yết Ma xà-lê, Giác Nguyên pháp chủ làm
Giáo Thọ xà-lê, thọ giới tỳ-kheo.
Tôi duyệt Luật Tạng
ba lượt, mới biết chuyện
thọ giới đúng pháp hay chẳng đúng pháp!
Người học giới pháp cố nhiên ắt chẳng
có lư ấy, nhưng thấy, nghe các luật đường
cũng hoàn toàn chẳng có một nơi nào như pháp. Mùa Hạ
năm ấy, v́ hai, ba người bạn tận lực giảng
giải, nghiên cứu. Nào ngờ hoặc là t́m cành ḍ lá, chẳng
biết cương yếu, hoặc Đông buông, Tây túm, trọn
chẳng lưu tâm. Hoặc người
hơi có ư lưu tâm th́ thân vướng
bệnh nặng, chẳng nghe được một nửa.
Các duyên khác đầy dẫy, không đáng trách! Tôi hết sức
thất vọng, sau khi giải hạ, kết đàn tŕ chú
Đại Bi. Tinh Cốc đem sách ấy tŕnh lên Kim Đài
pháp chủ, Ngài liền giao cho thợ khắc in. Năm sau,
tôi vào đàn tŕ chú Đại Bi mười vạn lượt
để gia bị; nhưng đă phát nguyện thoái
hưu. Hai năm sau, tức năm Quư Dậu (1633), khi An
Cư, làm tám cái thăm, dâng trước tượng Phật,
đốt mười lọn hương, suốt một
Hạ tŕ chú gia bị. Ngày Tự Tứ, lại đốt
thêm sáu lọn hương trên đỉnh đầu, rút
được cái thăm làm “Bồ Tát sa-di”, tự
vui mừng sâu xa, nguyện vĩnh viễn làm kẻ ngoại
hộ phụng sự tỳ-kheo đúng pháp. Tôi đă suy
nghĩ chín chắn mạt vận quyết khó thể văn hồi,
chánh pháp quyết khó trụ thế lâu dài, tôi lại bệnh
khổ ngày càng tăng, chẳng lâu sau sẽ chết.
Nghĩ lại chí hướng thuở mới
xuất gia, mảy may chưa thỏa. Khổ tâm mấy
năm, cũng thành rỗng tuếch! Xét ḿnh tự trách, xót
xa đau ḷng, sợ lẫn lộn dấu vết cố
hương, sống uổng, chết phí. V́ thế, quyết
chí lánh ḿnh cho xong kiếp sống tàn này,
đem nguyên bộ Tập Yếu viết tay giao
cho tỳ-kheo
Triệt Nhân Hải. Lại c̣n ứa lệ
dặn ḍ:
- Than ôi! Phật pháp suy
dần. Khi Phật pháp hưng thịnh, một mạch Tỳ
Ni như tơ chẳng dứt. Giáo đạo, Thiền
Tông càng là hỗn loạn. Tôi mấy năm khổ tâm, chẳng
thể ngăn chặn cơn
sóng cuồng trong muôn một, chỉ hoàn thành sách này, và Vấn
Biện Âm Nghĩa, mỗi loại gồm hai quyển. Mỗi
câu văn, mỗi chữ đều chẳng dám tuân theo chủ
ư của riêng ḿnh. Mỗi nghĩa, mỗi pháp đều phù
hợp thánh giáo. Bởi lẽ, tinh tủy của Luật Bộ,
cũng như giềng mối của Thiền, Giáo, sẽ
do cửa ngơ này mà có thể đăng đường, nhập
thất. Cầm tấm gương này, sẽ có thể chiếu
tận gan mật, biện định chánh tà. Tiếc là ông
căn tánh hơi độn, chỉ biết các điều
mục “khai,
giá, tŕ, phạm”,
chẳng thông đạt cội nguồn Tam Học nhất
quán. Lại c̣n phước tướng chưa thuần, sức
trí huệ mỏng, khuyết thiếu biện tài, thiếu
thốn học vấn, há có thể hoằng truyền ngay
đạo này! Nhưng nghĩ ông theo tôi du cước
đă năm Hạ,
có ba sự đáng chấp nhận:
1) Trải
mấy phen kềm cặp nghiệt ngă, khó kham, khó nhẫn,
ông trọn chẳng ngă ḷng. Dẫu chưa nhanh chóng thay
đổi cái nh́n cũ, đă nhiều lượt tạm
có lợi ích tốt hơn.
2) Có
người đúng như pháp thọ Cụ Túc Giới,
chưa chịu chú tâm hành tŕ, chỉ có ông sau khi nghe Tập
Yếu, đối với các giới khinh, trọng, đều
suy nghĩ đích thân hành tŕ.
3) Trong
hai năm Quư Dậu, Giáp Tuất, tôi lênh đênh khổ năo,
riêng ḿnh ông tận tâm kiệt lực
giúp đỡ trong khi trắc trở, chẳng mảy may
hai ḷng.
Trọn
đủ ba điều thiện tột bậc ấy, lẽ
đâu ắt chẳng kham gánh vác chánh pháp? Chỉ cần giải
hạnh song tu, giới lẫn thừa đều gấp,
cái tâm rỗng rang, ư chí chắc thật, mở rộng tầm
nh́n, vững vàng gót chân, tận hết sức của chính
ḿnh để tu tŕ, chẳng màng ngoại duyên tự tụ
họp. Vạn phần chớ bộp chộp, vọng
động, khiến cho pháp môn bị xấu hổ lây. Nếu
chưa chế phục phiền năo, chưa mở huệ
nhăn, chưa trọn biện tài, học vấn chưa dồi
dào, dẫu có phước vận, cần phải tận lực
tu tập, huống hồ dấy ư niệm đ̣i hỏi
ư? Khắc khổ thân h́nh, vững bền nguyện lực,
nương theo Niệm Xứ để tinh tấn hành
đạo. Dùng Luật Tạng làm Pháp Thân cha mẹ, như
đi vào vực sâu,
bước trên băng mỏng, ǵn giữ một mạch
này. Nếu gặp bậc anh triết, sẽ ân cần, trân
trọng phó chúc. Không có người, thà thờ trong tháp, miếu,
tôn tượng, hăy cẩn thận chớ trao cho người
không xứng đáng. Thiên định có thể thắng
nhân, nhưng nhân định cũng có thể thắng thiên.
Tôi khổ công suy nghĩ vô số lượt, phát vô số
hoằng nguyện, dùng vô số tâm lực, chẳng thể
khiến cho năm vị tỳ-kheo như pháp cộng trụ.
Đấy là thiên định, nhưng tâm tư ấy, nguyện
ấy, tâm ấy, sức ấy, há sẽ phí uổng? Nếu
ông khéo kế tục chí của tôi, hăy kính giữ lấy
để đợi bậc hậu hiền, ngơ hầu
cũng có thể gọi là nhân định đấy
chăng? Từ đầu đến cuối chẳng quên
lời tôi căn dặn, ngàn dặm cùng một phong thái. Nếu
không, sẽ trần kiếp vĩnh viễn cách biệt. Hăy
gắng lên!
* Duyên khởi khuyến
hóa tŕ danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát
Điều thiết yếu nhất đối với chúng ta, không ǵ bằng tự tâm. Khéo nói rơ tâm yếu
trong thế gian, không ǵ bằng Phật pháp! Nhưng Phật
pháp chẳng có Tăng sẽ không truyền, Tăng Bảo
chẳng có giới sẽ chẳng lập! Giới chính là
giềng mối của Phật pháp, là đường lối
trọng yếu để minh tâm đấy chăng? Cảm
khái chánh giáo ngày càng suy vi, tập tục biến đổi
con người, kẻ đầu trọc, áo thâm chẳng
biết giới tỳ-kheo là chuyện như thế nào? Một
hai vị hoằng dương Luật Học truyền bá
Thế Đế, đối với “khai,
giá, tŕ, phạm” mờ mịt chẳng hiểu! Huống
hồ oai nghi tăng thượng, tịnh hạnh tăng
thượng, Ba La Đề Mộc Xoa tăng thượng
ư? Lại c̣n huống hồ nương vào Tứ Niệm
Xứ để hành đạo, tăng tâm, tăng huệ
ḥng thành tựu tam tụ[42],
ngũ chi ư? Than ôi! Tam tụ, ngũ chi chẳng hiểu,
nói là Đại Thừa Tăng Bảo, tôi chẳng tin!
Tăng đă hữu danh vô nghĩa, bảo là “truyền
tŕ Phật pháp, hiểu rơ tự tâm”, tôi càng chẳng tin
được!
Kiên Tịnh Tín Bồ
Tát thương xót, bèn hỏi đấng Thích Tôn.
Thích Tôn bội
phần thương xót, giao trách nhiệm cho
Địa Tạng đại sĩ. Đại Sĩ
càng thương xót sâu đậm, nói kinh Chiêm Sát Thiện Ác
Nghiệp Báo. Kinh dạy: “Ác nghiệp đa hậu giả,
bất đắc tức học Định, Huệ,
đương tiên tu sám pháp. Sở dĩ giả hà? Thử
nhân túc tập ác tâm mănh lợi, hiện tại tất
đa tạo ác, hủy phạm trọng cấm. Nhược
bất sám tịnh,
nhi tu Định Huệ, tắc đa chướng ngại,
bất năng khắc hoạch. Hoặc thất tâm, thác loạn,
hoặc ngoại tà sở năo, hoặc nạp thọ tà pháp,
tăng trưởng ác kiến. Cố tiên tu sám hối.
Nhược giới căn thanh tịnh, cập túc thế
trọng tội đắc vi bạc giả, tắc ly
chư chướng” (Kẻ ác nghiệp
nhiều và dày, chẳng được học Định, Huệ ngay, mà hăy
nên tu sám pháp trước. V́ cớ sao vậy? Người ấy
do tập khí đời trước, ác tâm mạnh mẽ,
hiện tại ắt tạo nhiều ác, hủy phạm trọng
cấm. Nếu chẳng sám hối thanh tịnh mà tu Định
Huệ, sẽ có nhiều chướng ngại, chẳng thể
quyết đạt được. Hoặc mất trí, lầm
loạn, hoặc bị ngoại tà quấy năo, hoặc vâng
nhận tà pháp, tăng trưởng ác kiến. V́ thế, tu
sám hối trước. Nếu giới căn thanh tịnh,
và trọng tội đời trước ít, mỏng, sẽ
ĺa các chướng).
Lại nói: “Tuy học
tín giải, tu Duy Tâm Thức Quán, Chân Như Thật Quán, nhi
thiện căn nghiệp bạc, vị năng
tấn xu. Chư ác phiền năo bất đắc tiệm
phục. Kỳ tâm nghi khiếp, bố úy, cập chủng
chủng chướng ngại. Ưng nhất thiết thời
xứ, thường cần tụng niệm ngă chi danh tự.
Nhược đắc nhất tâm, thiện căn tăng
trưởng. Kỳ ư mănh lợi, đương quán ngă cập
chư Phật Pháp Thân, dữ kỷ tự thân, thể tánh
b́nh đẳng, vô nhị, vô biệt, bất sanh, bất diệt,
thường, lạc, ngă, tịnh, công đức viên măn, thị
khả quy y. Hựu quán kỷ
thân tâm tướng vô thường, khổ, vô ngă, bất tịnh,
như huyễn, như hóa, thị khả yếm ly. Như
thị quán giả, tốc đắc tăng trưởng
tịnh tín chi tâm, sở hữu chư chướng tiệm
tiệm tổn giảm. Thử nhân danh vi học tập
văn ngă danh giả. Nhược tạp loạn cấu
tâm, tụng ngă danh tự, bất danh vi văn, dĩ bất
năng sanh quyết định tín giải, đản hoạch
thế gian thiện báo, bất đắc quảng đại
thâm diệu lợi ích” (Tuy học tín giải,
tu Duy Tâm Thức Quán, Chân Như Thật Quán, nhưng thiện
căn nghiệp mỏng, chưa thể
tăng tấn, các ác phiền năo chẳng thể dần dần
chế phục. Cái tâm ngờ vực, khiếp hăi, kinh hoảng,
và đủ mọi chướng ngại. Hăy nên trong hết
thảy mọi lúc, mọi nơi, thường siêng tụng
niệm danh tự
của ta. Nếu đắc nhất
tâm, căn lành tăng trưởng, tâm ư mạnh mẽ, nhạy
bén. Hăy nên quán Pháp Thân của ta và chư Phật và thân của
chính ḿnh thể tánh b́nh đẳng, chẳng hai, chẳng
khác, bất sanh, bất diệt, thường, lạc, ngă,
tịnh, công đức viên măn, đáng nên quy y. Lại quán tướng thân
tâm của chính ḿnh vô thường, khổ,
vô ngă, bất tịnh, như huyễn, như hóa, đáng nên
chán ĺa. Quán như thế rồi, sẽ mau được
tăng trưởng cái tâm tịnh tín, tất cả các
chướng dần dần giảm bớt. Người ấy
gọi là học tập, nghe danh hiệu ta. Nếu tâm tạp
loạn, trần cấu, dẫu tụng danh hiệu của
ta, chẳng gọi là nghe, do chẳng thể sanh tín giải
quyết định, chỉ đạt được thiện
báo thế gian, chẳng đạt được lợi
ích rộng lớn, sâu mầu).
Than ôi! Do vậy thấy
rằng: Giới chẳng thanh tịnh, quyết chẳng dễ
tu hai phép Quán. Chẳng tu hai phép Quán, sao có thể do đâu mà
khế chứng Nhất
Thật? Nhưng muốn cho giới căn
thanh tịnh, mà bỏ sám hối, tŕ danh, há c̣n có
phương tiện nào khác ư? Hơn nữa, một pháp
Tŕ Danh nếu nói nông cạn, gần gũi, th́ ngu phu, ngu phụ
ai mà chẳng thể không nhép miệng được! Nếu
nói sâu xa, chẳng thông đạt Pháp Thân b́nh đẳng, cấu
tâm tạp loạn, th́ chẳng được gọi là
Nghe! Do vậy biết: Dùng hai phép Quán làm
kim chỉ nam. Có thể tu hai phép Quán th́ mới gọi là “nghe
danh hiệu Bồ Tát”. Lấy nghe danh hiệu làm
phương tiện, chân thật tŕ danh. Đó là nhiếp
trọn vẹn hai phép Quán; do vậy gọi là Văn Chướng
Tịnh (trừ sạch chướng ngại nơi cái
Nghe). Chướng trừ sạch bèn đắc giới.
Đắc giới th́ Định, Huệ phát sanh. Định
Huệ là chứng nhập Nhất Thật. Minh tâm kiến
tánh là Tăng Bảo chân thật, là
Phật pháp
chân truyền. Lũ chúng ta sanh nhằm cuối thời
Mạt, nghe chân pháp này, hăy nên nỗ lực tự gắng
công!
* Duyên khởi của
Thành Duy Thức Luận Quán Tâm Pháp Yếu
“Vạn
pháp duy thức” th́ khu ô sa-di[43]
cũng có thể nói được, nhưng
nghiên cứu sâu xa chỉ quy th́ bậc kỳ túc[44]
vẫn phần nhiều lầm lạc! Chẳng có chi khác!
Do nương theo văn tự mà hiểu nghĩa, có Giáo mà
chẳng có Quán đó thôi! Nhưng pháp quán tâm thật sự
chẳng ở ngoài Giáo! Thử xem mười quyển luận
văn, có chỗ nào chẳng nêu rơ “ngoài tâm chẳng có
pháp”, tức tâm pháp chính là cảnh được quán. Hiểu
rơ “pháp
chỉ là tâm”,
đó chẳng phải là cái trí có thể quán hay sao? Cái trí có
thể quán dấy lên, nhị chấp (ngă chấp và pháp chấp)
sẽ rỗng không, chân tánh hiện. Do đó, dù cảnh, dù
giáo, dù lư, dù hạnh, dù quả, đều gọi là Duy Thức.
Nhưng Ngũ Vị[45],
Ngũ Quán[46],
đều duy nhất xuyên suốt, tuy nhiều thứ
nhưng chẳng tạp, tuy sâu xa nhưng chẳng loạn.
Điều đáng cảm khái là cổ sớ đă bị
thất truyền, những vị
làm thầy, mỗi vị hiểu một cách, văn lẫn
nghĩa c̣n bị sai lầm, Lư Quán há đáng nương cậy?
Kẻ độn căn đă ngước nh́n biển cả
mà lùi bước, người lợi căn lại t́m cầu
nơi chi tiết vặt vănh.
Tông chỉ Tứ Phần
(Kiến Phần, Tướng Phần, Tự Chứng Phần,
Chứng Tự Chứng Phần) chưa am hiểu, tông chỉ
Nhất Tâm uổng công lập bày. Lư Tam Tánh (Biến Kế
Sở Chấp Tánh, Y Tha Khởi Tánh, Viên Thành Thật Tánh)
chưa thấu triệt, lư tột cùng Nhị Đế sao
quy về? Nhờ có sách [Duy Thức] Khai Mông Vấn Đáp
giữ được đại khái, và
các lời viện dẫn trong Đại Sao, Tông Kính có thể
làm căn cứ. Nhưng ngược ḍng t́m về tận
cùng nguồn cội, th́ các bộ luận như Du Già Sư
Địa, Hiển Dương [Thánh Giáo] càng là biển
để Hoàng Hà đổ vào.
Do vậy, các bộ [Thành Duy Thức Luận] Âm Nghĩa của
pháp sư Thiệu Giác, [Duy Thức] Tập Giải của
pháp sư Nhất Vũ, [Thành Duy Thức Luận] Chứng
Nghĩa của cư sĩ Vũ Thái không ǵ chẳng cạn
sạch tinh lực, vắt kiệt tư duy, khảo sát
tinh vi cực sâu, nhưng giáo đạo đă được
nêu rơ, chứ quán đạo chưa được hiển
lộ. Nối tiếp có pháp sư Tân Y, kết hợp lại
các ư kiến đó, tận lực trần thuật Ngũ
Quán, bao trùm các nhà (các vị chú giải trước đó). Sách c̣n chưa khắc
in, tôi chỉ được
dự phần lợi ích [do được xem đọc
trước]. Khéo sao có đôi ba người cùng chí hướng,
toan từ đường lối “cái có thể biến hiện
và cái được biến hiện sai biệt”
để làm ch́a khóa ḥng mở toang “tánh có
đủ, tánh trọn khắp, viên dung”, tôi bèn mạo phạm
múa lưỡi,
cũng như chấp bút. Chẳng dám viết dông dài, chỉ
mong thẳng thừng hiểu rơ quán tâm, ngơ hầu người
giảng giải hay sao lục có tài liệu để tu luyện
cao diệu hơn!
15. Tự
* Lời tựa cho
Thượng Hữu Lục
Tôi mười hai,
mười ba tuổi đă nghĩ mong có bạn lành. Hai
mươi bốn tuổi xuất gia, càng mong có đồng
học thiện tri thức, nhưng chỉ coi chánh trực,
thành tín, đa văn là quư.
Đúng là chẳng nghĩ thành tín là do trống
ḷng, cương nghị, quyết đoán,
nhưng phải chú ư cẩn thận trong hành động. Lần
lữa bảy năm, tôi chẳng biết một ai, mà
cũng không ai biết đến tôi, hoài băo “lệ trạch”[47]
càng bị vùi lấp, che khuất, gần như chẳng tự
nhận biết nữa! Đầu mùa Hạ năm trước,
Tinh Cốc Thọ công do thấy
Bạch Ngưu Thập Tụng của tôi, bèn thành mối kết
giao ngàn đời, nhưng tôi chẳng biết có Tinh công.
Hơn nửa năm thường tranh luận, tôi chẳng
thể nhận được lợi ích, mà Thọ công
cũng không cách nào tạo lợi ích cho tôi. Giữa Đông,
lại gặp thầy Quy Nhất Trù, [thầy ấy] mới
có thể chiếu theo sở đoản của tôi để
giúp tôi đạt được lợi ích. Sau đấy,
ngày càng có chỗ mở mang. Tới tháng Giêng năm sau,
lại gặp Tuyết Hàng Tiếp công. Ba người chúng
tôi thấy có chỗ dùi mài lẫn nhau, bèn tận lực
đè nén ngă mạn, dẹp ḷng siểm khúc, khiến cho [mỗi
người] nhanh chóng biết có con đường tu hành
chánh đáng. Họ được lợi ích to lớn, tôi
cũng được lợi ích sâu dần. Hai thầy Quy
Nhất và Tinh Cốc cũng hết sức được
lợi. Từ đấy trở đi, mới biết niềm
vui thật sự do t́nh bạn.
Than ôi! T́nh nghĩa bạn
bè há dễ đạt được ư? Chỉ có tâm rỗng
rang th́ mới sáng suốt. Có sáng suốt
th́ mới có thể biết sở
trường của người khác. Đă hiểu biết
người khác th́ sau đó mới thẳng thắn giao thiệp,
tin tưởng lẫn nhau, đa văn huân tập lẫn
nhau. Nếu kiến chấp vắt ngang trong dạ, người
khác chẳng thể lợi ích ta, ta cũng chẳng thể
lợi ích người khác, chỉ có thể giao du hời hợt,
phù phiếm, sao có thể đạt được thực
chất “chánh
trực, thành tín, đa văn?”
Lại như Tuyết
công cùng tôi kết giao ở Ngũ Vân, thầy Quy Nhất
cùng tôi quen biết nơi núi Kinh Thai. Tinh công và tôi cũng
đă biện luận từ Hạ đến Thu, mà t́nh bạn
bền chắc ḥa hợp, đều đợi đến
ngày nay mới định, chẳng phải là do xưa kia
đă phạm lỗi chẳng trống ḷng ư? Nhưng nếu
chẳng do thầy Quy Nhất, sẽ chẳng thể khiến
cho Tinh công lợi ích tôi. Chẳng phải do Tinh công, cũng
chẳng thể khiến cho thầy Quy Nhất lợi ích
tôi. Chẳng phải do tôi th́ cũng chẳng thể khiến
cho hai thầy Quy Nhất và Tinh Cốc lợi ích lẫn
nhau. Nếu chẳng có ba người chúng tôi, sẽ chẳng
thể tạo lợi ích to lớn
cho Tuyết công; nhưng nếu chẳng
có Tuyết công, sẽ chẳng thể khiến cho ba người
chúng tôi đều đạt được lợi ích to lớn.
Sanh ra ta là cha mẹ, thành tựu ta là bằng
hữu. Ai chẳng tin như vậy? Nay đă được
vui sướng v́ nhiều bạn hiền, há lẽ
đâu sanh tâm chán đủ ư? Do vậy,
sao lục nguyên văn các bản thảo xướng họa để dùng làm tiền phương tiện
cho bạn lành. Phàm ai muốn làm hạng tột bậc trong
ngàn đời, hăy nên đừng v́ văn từ thô vụng
mà coi thường nỗi khổ tâm này!
* Lời tựa cho Quảng
Hiếu
Ḷng
hiếu của vua Thuấn được gọi là “đại”, ḷng hiếu của
Vũ Châu (Châu Vũ Vương) được gọi là “đạt”. Đại là do có
đức mà làm thánh nhân. Đạt là do kế tục chí
hướng, nối tiếp sự nghiệp. Đấy là
ḷng hiếu tột bậc trong thế gian. Mở rộng
ra, từ những điều đă biết mà suy diễn rộng
hơn, có thể luận định ḷng hiếu xuất thế.
Ḷng hiếu xuất thế nếu
chẳng phải là bậc thánh của
các thánh,
sẽ chẳng thể
trọn hết được! Chỉ có đấng đại
hùng Thế Tôn từ sơ phát tâm đă thông đạt sâu
xa nhân duyên từ bao kiếp lâu xa, quán lục đạo chúng
sanh đều là cha mẹ của chính ḿnh từ vô thỉ
tới nay, chỉ do mê ám mà luân hồi, ngu muội, hư vọng,
gian trá há chỉ bội phần Cổ Tẩu[48]! V́ thế, diệu
hạnh trong A-tăng-kỳ kiếp, thẳng thừng muốn
cho trọn hết chúng sanh giới đều
được vui sướng, không ai chẳng thuận
tùng, liền cung kính, răn dè, lại há chỉ bội phần
Đại Thuấn! Do vậy, khi mới thành Chánh Giác,
xướng lên Mộc Xoa đầu tiên, ắt lấy hiếu
thuận làm Tông. Đó là đại hiếu xuất thế
bậc nhất.
Kế đó, Địa
Tạng đại sĩ, tôn giả Mục Liên phát vô lượng
nguyện, địa ngục cùng nhanh chóng được
giải thoát, thiết cúng Vu Lan, vong mẫu liền
được sanh lên trời, kế thừa chí chưa từng
có của người đời trước, thực hiện
chuyện ắt phải nên làm của người đời
trước. Đó là thông đạt hiếu xuất thế
bậc nhất.
Chúng ta đă phát Bồ
Đề tâm, hành Bồ Tát đạo, nghĩ tới sanh
thân phụ mẫu của mỗi người, hoặc lúc sống
chẳng nghe Tam Bảo, hoặc tuy nghe mà chẳng tin, hoặc
tuy tin mà chẳng hiểu, hoặc tuy hiểu mà chẳng tu.
Cho tới khi mạng sống theo duyên mà tàn tạ, báo theo
nghiệp đổi dời, thăng trầm trong cửu hữu[49],
nếm đủ ba nỗi khổ (khổ khổ, hành khổ,
hoại khổ), khi đó mà bỏ mặc chẳng cứu
vớt, há c̣n có chí hướng ǵ nữa ư? Bỏ quy y,
c̣n có ǵ để phụng sự? Kế thừa chí hướng,
nối tiếp sự nghiệp là trách nhiệm của mỗi
người.
Cư sĩ Trần Mân
Chiêu rộng tu hiếu thảo, dùng tâm hạnh chân thật
của nhà Phật để làm sự nghiệp nơi chân
Nho, v́ cha mẹ quá văng, sắp đặt vật cúng tốt
đẹp, hành phóng sanh, xin đặt pháp danh, cầu ban
pháp ngữ. Sự siêu tiến bạt độ ấy há chỉ
cha mẹ một đời hay bảy đời sẽ
được giải thoát, mà sẽ là trong mỗi vi trần
có hết thảy các biển thế giới, biển hết
thảy chúng sanh trong mỗi một thế giới, biển
hết thảy quyến thuộc của mỗi một
chúng sanh, không ai chẳng giải thoát! V́ lẽ nào vậy?
Do đồng thể. Ngộ pháp tánh đồng thể ấy,
bèn dùng đó để làm người chủ tŕ phóng sanh ḥng
báo ân thọ sanh, để nói lời vô sanh. Hễ mê th́ quyết
chẳng thể tự toàn vẹn được, nhưng
cầu ân huệ nơi bậc thiện tín hiền đạt.
[Mạnh Tử nói] “sở dĩ con người chẳng
khác cầm thú cho mấy”, há dối ta ư? Nói nghĩ tới
[bản thân tôi] thuở trước, chôn từ phụ, ĺa
bỏ bi mẫu, cố nhiên h́nh tích khác biệt, nhưng tâm
thật sự đồng, nh́n vào hành động thù thắng
ấy, ḷng ôm nỗi buồn thương, đau xót! Do vậy,
có bài kệ Quảng Hiếu, chẳng thể không v́ cư
sĩ nêu ra: “Không trung huyễn sắc như bươm
bướm, chốn tĩnh nhàn thanh có gà tre, đừng nói
vườn xưa tin tức bặt, hoa rơi nước
chảy phủ đầy khe!”
* Lời tựa về
chuyện tháp báu Trường Can phóng quang
Cố
nhiên cơi đời có chuyện tột bậc chân thật,
nhưng do kẻ hư ngụy ngờ vực, rốt cuộc
trở thành ngụy. Cũng có chuyện tột bậc
hư ngụy, nhưng do được người chân thật
tin tưởng, rốt cuộc trở thành chân thật.
Chân và ngụy vốn chẳng phải là thật pháp, chỉ
là hiện lượng trong tự tâm của
đương nhân. Thử xem chuyện sa-di chứng Tứ
Quả do người khác giỡn ném[50],
khất sĩ ngộ pháp Không trong khi ngầm lẩn trốn.
Học đạo với ḷng chân tín c̣n được
như thế đó. Chúng sanh đời Mạt, trược
trí bừng bừng, cái tâm chụp giật thường xoay
chuyển, đă chẳng tin vào chính ḿnh, lại c̣n ngờ kẻ
khác, bàn lỗi của người khác th́ vẻ mặt linh
hoạt, thần t́nh hào hứng, khen điều lành của
người khác th́ trề môi, nhe răng. Chẳng trách niệm
và bi cách biệt, càng lúc càng hướng đến tối
tăm!
Tháp Đại Báo Ân[51]
trang nghiêm bậc nhất trong thiên hạ, trời, rồng
giúp rập, được nương giữ bởi thiện
căn của chúng sanh. V́ thế, khi lạc thành, đă hiển
lộ điều lành lạ lùng chép trong các bộ quốc
sử, tùy cơ cảm mà phóng tia sáng báu, được các
bậc kỳ lăo truyền tụng, vốn chẳng phải
là chuyện quái đản, há hồ nghi ư? Riêng chuyện
Bích Huy thượng nhân cầu quang minh liền được
quang minh, mọi người đều công nhận. Thượng
nhân thấy quang minh, có người cùng thấy, sách ghi là “đại
chúng cùng cảm vời”, há có phải tự bịa đặt? Há chẳng biết
pháp tánh đồng thể, như gương và ánh sáng nhiếp
thuộc lẫn nhau, nhập vào nhau, dung thông lẫn nhau.
Đức Thế Tôn ngự trong chúng hội, ai nấy
đều đối với Phật nói là Như Lai riêng
thuyết pháp cho chính ḿnh! Thượng nhân nói tháp riêng tỏa
ánh sáng cho Ngài, cũng có lỗi ǵ? Lại có người nêu
ra cuộc đời của thượng nhân để bàn
luận. Tôi nói: “Được thấy quang minh nơi tháp
tức là túc nhân sâu dày. Nếu muốn nghi thượng
nhân, há chẳng phải cũng là nghi luôn tháp ư? Tôi do tin
tháp, mà tin luôn thượng nhân”.
Kệ rằng: - Phật
quang vốn thường trụ. Như trăng ở trên
không. Nước tâm chúng sanh tịnh, hiện bóng khắp
muôn phương. Tín là thủy thanh châu, hay lắng trong
nước trí. Sám hối sâu, chân thành. Cảm ứng chẳng
ngằn mé. Lành thay ngài Bích Huy, tâm thông với diệu tháp.
Đèn hiện dáng như mây. Sen rơi xuống như
mưa. Gọi là chân thật quang. Gọi là Thường Tịch
Quang. Chẳng rơ nghĩa chân huyễn, há khinh mạn so đo!
Ta biết hết thảy pháp, chẳng giả cũng chẳng
chân. Chỉ tín nguyện đến cùng, nắm tay dạo
quang minh.
* Lời tựa sách
Sa-di Tŕ Phạm Khảo
Sở
sinh viên[52]
làm thư lại trong điện thứ bảy của cơi
Âm, xem sổ sách thấy ghi vợ trộm gà của hàng xóm,
bèn bảo vợ mau trả lại. Khoản ghi tội ấy
bèn tiêu mất. Người thế tục tạo tội nhỏ
nhoi như thế mà c̣n chẳng trốn khỏi sự soi
xét của cơi âm như vậy,
huống hồ Sa-di theo Phật xuất gia, hưởng lợi
dưỡng giống như Tăng, thề tŕ mười
loại tịnh giới đến hết tuổi thọ, sao
chẳng luôn luôn tự suy xét, khiến cho âm phủ nắm
quyền vậy? Nhưng những điều khoản ấy,
bậc thượng sĩ tuy chẳng ắt phải ghi,
nhưng chẳng ngại ghi chép. Bậc trung sĩ ắt
ghi chép cẩn thận. Hạ sĩ quả thật chẳng
thể ghi chép, bèn viện cớ “chẳng bắt buộc
phải ghi”, nào có biết đă được ghi chép sẵn
[trong cơi Âm]!
* Lời
tựa về sự khảo sát tŕ hay phạm trong giới
Đại Tỳ-kheo
Năm
thí dụ về cái phao nổi[53]
chính là nói thí dụ về Ngũ Thiên (năm loại chính
trong Cụ Túc Giới) của tỳ-kheo, đáng phải
nên [hiểu rơ] khinh, trọng v.v… để thủ hộ,
nhưng cơi đời coi khinh [giới luật] là
Tiểu Thừa. Giới thân đă tổn, Định Huệ
từ đâu mà có? Chẳng trách hạnh lẫn quả
đều bị chôn vùi, rốt cuộc trở thành mạt
vận. Kinh dạy: “Tŕ giả bất tác Tượng
Pháp pháp diệt tận tưởng, năng linh chánh pháp
vĩnh bất đoạn diệt” (người tŕ [giới]
chẳng nghĩ là pháp diệt mất trong thời Tượng
Pháp, có thể khiến cho chánh pháp vĩnh viễn chẳng
đoạn diệt). Bậc hào kiệt chẳng chờ
đợi mà dấy lên. Đức Phật đă chẳng
dùng xa hay gần để luận định thân, sơ; há lại dùng
trước sau để phân định thời kiếp
ư? Nguyện những người có cùng chí hướng
với tôi, ai nấy nghĩ cái Thể tôn quư của tỳ-kheo,
Tỳ Ni khó gặp gỡ, may có được tăng
tướng đường đường, phải nên
tuân thủ Biệt Biệt Mộc Xoa[54],
trước là hối lỗi, sau là tụng giới, th́ mới
hợp với khoa “trưởng
tịnh”
(tăng trưởng sự thanh tịnh), Tăng luân thịnh
vượng hơn, Phật pháp được hoằng
dương. Nhưng riêng giới tướng tỳ-kheo phức
tạp, hơn nữa tội danh, tội chủng (các thể loại tội)
hoàn toàn chẳng thích hợp cho người chưa thọ
giới biết. V́ thế, chỉ xếp theo số lượng,
điều mục thuộc mỗi thiên. Người tŕ hăy
tự nên học
thuộc Tứ Phần Giới Bổn
và Luật Tạng Toàn Thư, những điều khác chẳng
nói cặn kẽ!
* Lời tựa khắc
in Tịnh Độ Sám
Chẳng
tịnh, chẳng uế, Chân Như mờ mịt; tức uế,
tức tịnh, Phật tánh mịt mờ. Tin tưởng
lời chân thành của đức Thích Ca, ngộ nguyện
luân của ngài Pháp Tạng, mới biết dù Luật, dù
Giáo, dù Thiền, không ǵ chẳng lưu xuất từ pháp
môn Tịnh Độ, không ǵ chẳng trở về pháp môn
Tịnh Độ. Tôi thoạt đầu dốc chí nơi
tông thừa, tận lực khổ công tham cứu mấy
năm, tuy chẳng dám khởi tăng thượng mạn
tự nói là “đă về đến nhà”, nhưng công
phu tu tập đắc lực, liền bảo “có thể
chẳng sanh về Tịnh Độ”. Tới khi bị bệnh
gần chết, chỗ đắc lực thường ngày
chẳng mảy may dùng được, mới một dạ
về Tây, nhưng vẫn chẳng
bỏ điều ḿnh tham cứu, cho rằng ḿnh thuộc
loại “có Thiền, có Tịnh”. Măi cho tới sau khi gặp
ngài Bác Sơn, mới biết căn bệnh trong nhà Thiền
thuở đời Mạt, bèn đơn giản bỏ Thiền,
tu Tịnh. Tuy mang tiếng chê gièm “do nghẹn mà bỏ
ăn” vẫn chẳng màng! Tới nay, chuyên chú nơi Tịnh
nghiệp đă ba năm rồi, hừng hực bỏ uế,
giữ tịnh, vốn chẳng khác đường lối
với “chẳng lấy, bỏ”, so với “ư của
tổ sư từ phương Tây sang”, há chẳng phải
là thẳng chóng hơn ư? Tôi thường đau xót kẻ
cuồng Thiền trong đời Mạt, “điểu
không, thử tức” (nói Lư suông), không chỉ bài bác Tịnh
Độ, mà c̣n báng bổ, bêu riếu Tông phong. Cư sĩ
Quư Thanh do thấy chùa Phật Nhật khắc in [kinh sách của]
sáu tông, bèn đảm nhiệm một môn Tịnh Độ,
bắt đầu bằng sám nghi. Sách này gồm mười
khoa hành đạo, ngũ hối luyện tâm, thấu triệt
nguồn Sự, Lư, tột cùng tánh, tu, như đốt một
viên ḥa hương, uống một giọt nước biển,
có hương nào chẳng trọn, nước nào chẳng
được thấm? Do vậy, tôi bèn viết lời tựa.
* Lời tựa về
chuyện cư sĩ Vân Lộc tŕ kinh Kim Cang
Năm
Độ như mù, Bát Nhă như người hướng dẫn.
Hạnh như chân, huệ như mắt. Mắt và chân cùng
vận dụng, vào trong ao trong mát. Do vậy, kinh Kim Cang Bát
Nhă này là kim chỉ nam của vạn hạnh, là căn nhà
chánh yếu trong Đại Thừa. Cơi đời chẳng
thông đạt Thật Tướng ấn, hư vọng
bàn luận Vô Tướng tông, lầm lẫn chấp
trước một lời “tức, phi”, chẳng biết
chỉ quy của “thị danh”. Vạn hạnh đă
chẳng có, chánh giải cũng bị chôn vùi. Đọc, tụng,
giảng nói đều là phỉ báng, đáng than thay! Ví
như tự chặt chân ḿnh, sẽ do đâu đến
được nơi xa? Bỏ sót kẻ mù ḷa, người
hướng dẫn có ích ǵ? Đối với pháp, chẳng
nói tướng đoạn diệt, Phật ngữ rành
rành, sao chẳng suy nghĩ? Sắc tức là Không, chẳng
phải gạt bỏ Sắc để t́m Không! Chẳng có
pháp để đắc Bồ Đề, mà thọ kư làm
Phật. Tứ cú, bách phi thẳng thừng dứt sạch,
nào nhọc công dùng chổi lông rùa để quét sạch bóng
hoa đốm trên hư không? Tŕ giới, tu phước th́
đối với chương cú này mới có thể sanh
tín tâm. Năm trăm năm sau, thọ tŕ, đọc tụng
như thế th́ mới đạt được!
* Lời tựa khắc
in bộ Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực
Chỉ
Niệm
Phật tam-muội là phương tiện thù thắng, lạ
lùng của Như Lai, thâu nhiếp cả phàm lẫn thánh,
thích hợp lợi căn lẫn độn căn. Dùng một
niệm về thẳng biển Phật, chí viên, chí đốn,
do là Đệ Nhất Liễu Nghĩa. Nhưng kẻ mê
nghĩa, chạy theo danh tự, thấy chúng sanh Ngũ Nghịch
đủ mọi điều ác mười niệm văng
sanh, ngược ngạo nghĩ là [pháp môn này] chuyên nhiếp
độ kẻ phàm phu kém cỏi, chỉ hóa độ
phường độn căn, có thể nói là “mê muội
ư chỉ mầu nhiệm của Phật, báng bổ, khinh nhờn
kinh sâu”. Tôi cảm khái hành nhân đời Mạt lắm
nghi, nhiều chướng, khó ngộ, khó khai, đối với
pháp môn sâu mầu, nếu
chẳng chấp Sự quên Lư, ắt
chấp Lư bác bỏ Sự. Kẻ chấp Sự vẫn
kham làm cái nhân văng sanh hạ phẩm, kẻ chấp Lư rốt
cuộc ch́m trong Ác Thủ Không Kiến. Đến nỗi ấy
th́ đạo trực chỉ đâm ra biến thành hầm
sâu đoạn diệt; chẳng nhờ vào
kim vàng, ai bóc được màng mộng [nơi mắt]?
Đạo sư Diệu
Hiệp, về pháp th́ tiếp nối tông thừa, giáo th́ hưng khởi liên xă, ứng với
lời thọ kư “hổ đội sừng” của
ngài Vĩnh Minh, đàm luận Bảo Vương tam-muội
thông suốt, cảnh lẫn quán đều được
nêu tỏ, mối nghi mảy may đều bị phá, xiển
dương duy tâm đến mức cùng tột, y báo và chánh
báo rành rành, chỉ bày nguồn cội tự tánh, cảm ứng
chẳng sai chạy, khiến cho người thông đạt
sẽ dùng Lư để dung hội Sự, nhưng Lư chẳng
ở ngoài Sự. Kẻ ngu sẽ do Sự mà nhập Lư,
nhưng Sự kèm theo công năng của Lư. Quả thật
là tiền phương tiện để
trừ Hoặc, là bằng khoán sanh Tây. Hai trăm
năm qua, sự lưu thông [sách này] gần
như bị lấp khuất, Liên Tŕ đại sư mong
được xem mà chẳng thể, nhưng nguyện lực
chẳng ṃn. Hàn cư sĩ từ chỗ thiền sư Vạn
Dung mà t́m được, cho tôi mượn xem, [cảm nhận]
như thấm đẫm đề hồ, ân cần xót
thương thuở kiếp trược, mừng cầu bến
hăy c̣n, vội vàng mưu tính đem in ḥng truyền bá rộng
răi. Nguyện khắp những ai thấy, nghe, tùy hỷ, sẽ
gieo cái nhân trọn vẹn nơi Lạc Độ, người
đọc, tụng, tư duy sẽ chứng Bảo
Vương pháp ấn, lần lượt thông hiểu, ngộ
giải, cùng thoát trầm luân, ngơ hầu chẳng phụ
duyên lành hy hữu vậy!
* Lời tựa ấn
hành Thiền Nhân Duyệt Thai Tạng
Đạo Giáo Quán khó diễn nói được.
Bậc thượng huệ biện định, mênh mông
như biển cả, tạo thành thói tệ bèn “đuổi
theo ḍng, quên nguồn”, khiến kẻ độn căn từng
than thở “dơi nh́n biển cả”. Người đề
cao tu chứng đạt tới sự tinh ṛng như cột
sắt; kẻ chẳng hiểu ư sẽ là
ôm cây đợi thỏ, phải chịu tiếng chê gièm
“không học hiểu, ám chứng”. Chỉ có ngài Trí Giả
ngộ Pháp Hoa tam muội, đắc Toàn đà-la-ni, chín
mươi ngày đàm luận chữ Diệu, đạt tột
cùng chỗ sâu thẳm trong lưới giáo, thập thừa
tu tâm, đạt trọn đủ quán môn, đèn nối tiếp
đèn, chư tổ truyền cho nhau, vượt trội
Hiền Thủ và Từ Ân để riêng hưng thịnh,
tranh tiếng thơm cùng Hoàng Mai, Thiếu Thất. Tâm ấn
chói ngời mặt trời, mặt trăng, truyền thừa,
tu tập trọn khắp Trung Hoa, ngoại quốc.
Nhưng các tác phẩm to lớn nhất th́ có ba loại là
Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú, và Ma Ha Chỉ Quán.
Huyền Nghĩa và Văn Cú chủ yếu nói về Giáo,
nói kèm theo Quán. Riêng sách Chỉ Quán th́ Giáo là phụ, Quán là
chánh, vĩnh viễn chẳng vướng lỗi “kể
chuyện ăn, đếm của báu”, vượt trội
mối họa “ám chứng, chẳng nghe học!”
Kinh Khê đại
sư xiển dương, soạn sách
phù trợ cho bộ Huyền Nghĩa là Thích Thiêm, phù trợ
cho Văn Cú là Diệu Lạc, phù trợ cho bộ Chỉ
Quán là Phụ Hành. Đúng là huệ mạng của Phật,
Tổ, là con mắt của chúng sanh. Cổ nhân nói “giáo
nghĩa Thiên Thai tồn tại th́ Phật pháp tồn tại.
Giáo nghĩa Thiên Thai mất đi, Phật pháp cũng mất”
chẳng phải là dối gạt chúng ta vậy. Hành nhân thời
Mạt chướng sâu, căn độn, học cạn,
chí kém, lỗ măng phá diệt, chỉ chú trọng sướng
tai, khoái miệng, chỉ
hiểu nghĩa theo văn tự, bám chặt câu cú, qua quưt,
cẩu thả, ḥng làm tư lương cho danh lợi. Nói tới
cội nguồn sâu thẳm của Phật pháp, đạo
mạch của thánh hiền, bèn rêu rao rằng: “Đời
người mấy chốc, có thể toan tính sống hết
tuổi thọ đến thuở bạc đầu
ư?” Chẳng nghĩ huyễn ảnh “bóng ngựa trắng
vụt qua khe cửa hẹp”, danh lợi há giúp được
ǵ? Nếu có thể khế nhập chân nguyên, c̣n nên thề
bao kiếp vĩnh viễn. Huống hồ pháp chẳng có
rườm rà hay đơn giản, mê hay ngộ là do mỗi
người. Một câu chẳng hiểu, nhọc nhằn ́
ạch ngàn núi. Duyên từ bao kiếp lâu xa tụ đến,
đắc Tổng
Tŕ trong nháy mắt.
Kẻ hơi có tâm huyết, quyết chẳng đành ḷng tự
vứt bỏ, tự ruồng rẫy, đánh mất môn cam
lộ này!
* Lời tựa cho Ngụ
Am
Thanh Văn “tứ khô” (四枯)[55], Bồ
Tát “tứ vinh” (四榮), dùng con mắt chánh đáng để xem, gọi là
bát đảo (八倒, tám điều điên đảo). Câu Hữu, câu Vô, vừa
Hữu vừa Vô, chẳng phải Hữu
chẳng phải Vô, nói theo Tất Đàn th́ gọi là Tứ
Môn. Các điều này đều có thể luận chung trong
ṿng lục hợp[56],
bàn ngoài lục hợp. Kinh Pháp Hoa dạy: “Tam giới vô
an, do như hỏa trạch” (Ba cơi chẳng yên, giống
như nhà lửa). Lại nói: “Đại hỏa sở
thiêu thời, ngă thử độ an ổn” (Khi lửa lớn
thiêu đốt, cơi ta đây an ổn). Ngọn núi Linh Thứu
thật sự ở ngoài tam giới,
hay ở trong tam giới vậy? V́ thế, Tứ Y đại
sĩ[57]
luận cặn kẽ bốn loại Tịnh Độ, ắt
trước hết nói rơ cùng tột theo chiều dọc và
chiều ngang. Theo chiều dọc th́ mỗi cơi khác biệt.
Theo chiều ngang th́ mỗi cơi chính là lẫn nhau. Chỉ có
điều khác biệt là do Kiến Tư chưa tận,
chẳng ĺa Đồng Cư. Trần Sa chưa tận, chẳng
ĺa cơi Phương Tiện. Vô minh chưa tận, chẳng
ĺa cơi Thật Báo. [Bốn cơi] chính là lẫn nhau v́ chúng sanh
trong chín pháp giới từ ngay trong một niệm có thể
thấy Phật cảnh. Viên măn Diệu Giác, lúc nào cũng ứng
hiện trong mười phương. Đáng ở trong địa
ngục do ác nghịch th́ Hữu Gián hay Vô Gián đều là
chỗ ngụ. Đáng thuộc ngạ quỷ do keo tham th́
đồng hoang hay núi, chằm đều là chỗ ngụ.
Đáng làm súc sanh do ngu si th́ nước, đất, hư
không là chỗ ngụ. Đáng làm Tu La do kiêu mạn th́ Tu Di
hay biển cả là chỗ ngụ. Đáng làm loài người
do Ngũ Giới th́ các xứ trong bốn châu là chỗ ngụ.
Đáng thuộc các tầng trời nơi Dục Giới
do Thập Thiện th́ địa cư, không cư là chỗ
ngụ. Đáng thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới
do Thiền Định th́ Tứ Thiền, Tứ Không là chỗ
ngụ. Đáng là Thanh Văn do đế trí, đáng là Duyên
Giác do hoàn diệt, Phương Tiện Hữu Dư sẽ
là chỗ họ ngụ. Đáng là Bồ Tát do Lục Độ
vạn hạnh th́ Thật Báo vô chướng là chỗ họ
ngụ. Họ thuận theo lẽ đáng nên mà ở yên
nơi chỗ ngụ. Đối với chỗ ngụ theo
đúng lẽ đáng nên, họ đều chấp trước.
Do đó, phàm phu bao kiếp vĩnh viễn trầm luân trong
tam giới, Nhị Thừa luôn đọa trong hầm vô vi.
Bậc Địa Tiền đại sĩ cùng vướng
mắc nơi Hữu Dư, tuy dự cao vào ḍng thánh, vẫn
thuộc trong quả báo, nên mới đối với chỗ
ngụ, chẳng biết là ngụ.
Than ôi! Giấc mộng
quê nhà vẫn chưa hoàn toàn tỉnh giấc; ở đậu nơi đất khách, sao là rốt
ráo cho được? Chỉ có vâng thuận giáo pháp trí huệ,
tác quán xứng tánh, ngộ Tịch Quang trong cái nhỏ nhoi,
mới có thể biện định ư nghĩa chân thật
của cư ngụ. Hễ nói đến “ngụ”,
th́ hết thảy các pháp đều hướng đến
ngụ, thân và cơi như nhau, Lư và Sự b́nh đẳng.
Đấy cũng là “ngụ” rốt ráo. Một thứ
rốt ráo th́ hết thảy đều rốt ráo. Thật
Báo, Phương Tiện, Đồng Cư, không ǵ chẳng
phải là chân tịnh. Thấp hơn điều này là Phần
Chứng, Tương Tự, Quán Hạnh, và Danh Tự, cạn, sâu tuy rất khác,
nhưng đạt được Lư giống hệt
như nhau. Nếu mê muội lư này, ắt sẽ nhận lầm
chân thật, cố nhiên thuộc phàm t́nh. Biết rơ như
huyễn, trọn gọi là “thiên giải” (偏解,
hiểu lệch về một bên), há xứng với ư
nghĩa “ngụ” ư? Ánh Bột khai sĩ đặt
tên cho cái thất này là Ngụ Am. Cái thất vuông một
trượng nơi thành Tỳ Da Ly[58],
lầu báu của đức Di Lặc, tôi lau mắt chờ
đợi vậy!
* Lời tựa cho tu Tịnh
Độ Sám và Phóng Sanh Xă
Pháp
môn Tịnh Độ vốn v́ chúng sanh mê tự tánh sẵn
có, chẳng biết lư Thường Tịch Quang, sanh tử
cuồn cuộn, chẳng hề ngưng nghỉ. V́ thế,
nhờ vào nguyện thù thắng của đức Di Đà
làm tăng thượng duyên;
do đó, Tịnh Độ có bốn loại là Tịch
Quang, Thật Báo, Phương Tiện, và Đồng Cư.
Nhưng ba cơi trước, nếu chẳng đoạn Hoặc, sẽ chẳng thể
sanh, lại c̣n có ư nghĩa “vượt khỏi tam giới
theo chiều dọc”. V́ thế, riêng chỉ Tây
Phương An Dưỡng Đồng Cư, khiến cho người lợi
căn liền nhanh chóng thanh tịnh bốn cơi, kẻ độn
căn cũng nương vào đấy mà thoát ṿng khổ
trước hết! Tuy đúng là đơn giản, dễ
dàng, cũng chẳng phải là qua loa! Kinh Di Đà dạy: “Bất
khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức,
nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc. Nhất nhật năi
chí thất nhật, chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất
loạn, tức đắc văng sanh” (Chẳng thể do
ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà
được sanh về cơi ấy. Từ một ngày cho
đến bảy ngày, chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất
loạn, liền được văng sanh). Nhất tâm bất
loạn, dẫu chưa đoạn Hoặc, há có thể chẳng
chế phục Hoặc ư? Nếu sự nghiệp Sa Bà
vướng mắc, lôi kéo khắp nơi, khi gặp ngũ
dục, sẽ như keo, như sơn. Khi gặp nghịch
duyên, sẽ kết hận, ôm oán, nhưng lúc sắp mạng
chung, Phật
Di Đà tiếp dẫn, người ấy
quyết chẳng thể dự vào số đó! Quán Kinh lại
nói: “Nghịch ác chi nhân, lâm chung thập niệm,
giai đắc văng sanh” (Kẻ nghịch ác
lâm chung mười niệm đều được văng
sanh). Phàm lâm chung mười niệm, ắt gieo sâu thiện
căn. Nay gặp cảnh duyên nghịch thuận, bèn chẳng
có chánh niệm, huống hồ khi lâm chung ư?
Hơn nữa, lâm chung
sự khổ hiện ra, chỉ nhờ vào thiện hữu
cảnh tỉnh, dắt d́u. Nay giữa lúc thanh thiên bạch
nhật, c̣n chẳng thể tin, nhận, phụng hành lời
khuôn phép chân thật của thầy, bạn thông sáng, vậy
th́ lúc lâm chung, mong chi thiện hữu hiện tiền? Dẫu
họ hiện tiền khai thị, [nhưng người sắp
mất] thần thức hôn mê, muốn cầu
tín giải, điều ấy lại chắc chắn chẳng
thể trông cậy được! C̣n như pháp ngũ hối,
vốn v́ kẻ vô tri tạo tội, chẳng thể làm sao
được, bèn dạy họ dốc ḷng phát lộ, tu sửa
mai sau, sửa đổi lỗi trước, mười
tâm nghịch thuận thống thiết khẩn khoản
cùng cực, chẳng thể xem giống như kẻ hờ
hững, hời hợt, kiêm dùng tứ pháp giúp thành tựu hạnh
này, khuyến thỉnh diệt ma chướng báng pháp, tùy hỷ
diệt trọng chướng ghen tỵ, hồi hướng
diệt chướng keo tham, chấp trước ba cơi, phát
nguyện diệt chướng “thoái thất, vui mừng,
quên bẵng, lầm lẫn”, bèn có ba nghĩa sám hối là
tác pháp, giữ lấy tướng,
và vô sanh. Tác pháp là vâng theo những điều đă nói trong
Luật, đối diện sám hối. “Giữ lấy
tướng” tức là trang nghiêm, thanh tịnh đạo
tràng, chuyên cầu cảm ứng. Vô Sanh là quán sâu Thật
Tướng, đoạn nguồn phiền năo. Nếu vừa
sám lại phạm, chẳng chấp nhận tác pháp! Đă
chẳng thể tuân theo luật tác pháp, ắt chẳng chiêu
hiền cảm thánh. Đă chẳng thấy một sắc,
một tướng của thánh hiền, sao có thể nhanh
chóng chứng Pháp Thân thanh tịnh của thánh hiền? V́ thế,
ba loại pháp ấy, pháp trước chẳng kiêm pháp sau,
nhưng có thể thông với pháp sau. Pháp sau ắt đầy
đủ pháp trước, nhưng chẳng phế pháp
trước.
Do vậy có thể thấy:
Pháp môn Tịnh Độ là thuốc. Yêu mến, sân hận
trong Sa Bà là thứ kỵ thuốc. Pháp môn Ngũ Hối là
thuốc, [vọng niệm] liên tục chẳng đoạn
là thứ kỵ. Vừa mới uống thuốc này, lại
tiếp xúc thứ cấm kỵ, có được hay
chăng? Từ Vân đại sư gộp chung hai thứ
phương tiện xảo diệu ấy, soạn thuật
thành Văng Sanh Sám Nghi. Lại nói: “Hành nhân ai nấy đều
có tập khí ác từ vô thỉ. Hăy nhanh chóng cầu ĺa bỏ,
chớ để hành pháp phí uổng công lao!” Thuốc và
chất kỵ rành rành có thể suy nghĩ vậy!
Chắc có kẻ nói:
“Nghe danh tự ‘bạch hào’, công đức chẳng thể
hạn lượng. Nghe danh hiệu một vị Phật,
hai vị Bồ Tát diệt tội trong vô số kiếp, há
ác pháp hiện tiền có thể so sánh, chống cự hay
chăng?” Ôi! Lầm mất rồi! Không thấy kinh Chiêm Sát
[đă nói] ư? Kinh xưng tụng đại bi nguyện
lực của Địa Tạng Bồ Tát, các vị đại
Bồ Tát khác đều không thể sánh bằng! Kinh ấy
dạy: “Năng văn ngă danh giả, vị đắc
quyết định tín, lợi ích hành cố. Nhược
tạp loạn cấu tâm, xưng tụng ngă danh tự, bất
danh vi Văn,
dĩ bất năng sanh quyết định tín giải cố”
(Có thể nghe tên của ta, tức là đạt được
niềm tin quyết định, do làm chuyện lợi ích.
Nếu tâm cấu trược, tạp loạn, dẫu
xưng tụng danh tự của ta, chẳng thể gọi
là Nghe, do chẳng thể sanh tín giải quyết định).
Bởi lẽ, tạp loạn tức là chẳng có Định,
chẳng tương ứng với Xa-ma-tha (Chỉ). “Cấu”
là chẳng có huệ, chẳng tương ứng với Tỳ-bát-xá-na
(Quán). Chẳng tương ứng với hai phép Quán, tức
là chẳng biết “Pháp Thân của ngài
Địa Tạng, Pháp Thân của chư Phật, và thân của
chính ḿnh chẳng hai, chẳng khác”.
Do vậy, chẳng gọi là Nghe. Trí Giả đại
sư giải thích tựa đề của Thập Lục
Quán Kinh, ắt dựa theo tam đức bí tạng. Ngài giải
thích tựa đề kinh Pháp Hoa, dùng chín mươi ngày
để đàm luận chữ Diệu. Do vậy Ngài nói: “Nếu
nghe danh tự tựa đề [của kinh],
đạt được công đức chẳng thể hạn
lượng”. Nếu chẳng giải
thích như thế, sao đạt được vô lượng
công đức? Nay tâm tạp loạn, cấu trược,
dẫu nghe mà như chẳng nghe. Phiền năo hiện hành hừng
hực chẳng ngơi, dùng đó để thoát khổ, giống
như dùng chén nước đổ vào cỗ xe [đang
cháy], cho đến khi lâm chung chẳng có hiệu nghiệm,
ngược ngạo nghi Phật pháp chẳng linh! Tự lầm,
lầm người, đọa tội báng pháp, giống
như uống thuốc lại ăn chất cấm kỵ,
đâm ra táng mạng, bèn nói “y vương giết người”,
điên đảo đến mức cùng cực như thế
đó!
Riêng một chuyện
phóng sanh, bỏ ra tiền của yêu mến của riêng ḿnh
để chuộc mạng cho
chúng, thói tệ nh́n chung ít hơn! Nhưng nếu coi trọng [các loài]
thân h́nh to lớn, đối với loài trùng, gịi nhỏ nhít,
nghĩ chúng kém hèn, hoặc chú ư nhiều đến các loài vật
nhỏ bé, đối với những thứ bị giết
chóc bởi đồ tể trong hiện tiền, khởi
tâm keo tiếc, hoặc lưu ư dị loại, chứ riêng
đối với loài người, cứ hư vọng
cách biệt oán thân, yêu ghét chẳng ngớt! Đă mê muội
từ tâm b́nh đẳng, sẽ chẳng có ǵ để làm
cái gốc cho niệm Phật, lễ sám! Trí Giả đại
sư nói: “Dẫu nhập đạo tràng sám hối, ác
tâm chẳng chuyển, ác nghiệp chẳng hoại, khổ
hạnh vô ích, phí công, nhọc
sức, như chày lên xuống giă vào cối, rốt cuộc
có lợi ích ǵ?” [Kinh Pháp Hoa nói] dẫu
giơ tay, cúi đầu, đều thành Phật đạo.
Đùa bỡn khoác ca-sa, vẫn là cái nhân xa, há sáu thời khổ
hạnh, hoàn toàn chẳng có công dụng ư? Chỉ v́ duyên
nhân sức yếu, chẳng thể đối địch
hiện nghiệp tuôn rót! Tượng Nham khai sĩ kết
Văng Sanh Sám Xă, mua loài vật phóng sanh, bi lẫn trí cùng vận
dụng, dùng cái tâm Bồ Đề ấy để làm
chánh hạnh văng sanh. Tôi bèn nói rộng nghĩa này để
chỉ bày vậy!
* Lời tựa cho
Văn Tu Xă
T́nh
nghĩa “lệ trạch” chẳng nhắc tới, cái
học “tánh mạng” ắt
bỏ phế. Nho coi trọng dùng văn để tụ hội
bạn bè, dùng bằng hữu để giúp cho điều
nhân, đức Phật gọi [những người
như thế] là thiện tri thức. Đó là đại nhân
duyên đắc đạo, là phạm hạnh toàn vẹn.
Pháp thế gian và xuất thế gian, không ǵ chẳng coi bằng
hữu là nhiệm vụ cấp bách. Thời đă suy, “xă”
dùng thơ rượu để gia nhập, phóng túc dục
vọng nơi tai, mắt,
là cửa nẻo tăng trưởng buông lung!
Không chỉ Nho là
như thế! Than ôi! Cạo tóc, khoác áo thâm, quần tụ
suốt ngày để muốn làm ǵ vậy? Dẫu chẳng
đến nỗi mê hoa, nghiện rượu, nhưng tầm
chương, trích cú, chỉ mong sướng tai, khoái miệng!
Có khi nào nhận biết cái tâm, thấu đạt cội
nguồn hay chăng? Hoặc là do nghẹn mà bỏ ăn,
đến nỗi chỉ chuộng kế kiếm sống
trên bồ đoàn, chưa sáng đạo nhăn, lại thiếu
sự dùi mài. Dẫu chẳng đóng chắc cọc chèo mà toan vung
vẩy mái chèo, nhưng
do lăng phí thời gian, ắt đến nỗi
dấy lên kiến chấp, dấy lên kiêu mạn, rơi hào,
sụp hố, ám chứng,
tà Thiền, bệnh c̣n tệ hơn “kể chuyện
ăn, đếm của báu”, tự chẳng có trí huệ
chân thật. Người triệt để v́ sanh tử,
ai có thể vượt ngoài hai loại ải kiên cố ấy,
thực hiện riêng một phen rốt
ráo?
Nhất Thừa khai
sĩ cầu tịch diệt trong biển pháp, tận mắt
thấy thói tệ đang lưu hành, tâm sốt sắng lo
xa, pháp xă Đế Nhất cứ mỗi quư lấy ba ngày
dùng sám-ma hướng dẫn, dùng kinh luận làm thực chất,
chân và mắt cùng vận
dụng, mau chóng nhập thanh lương, hướng về
tôi xin đặt tên và viết lời tựa. Tôi chắp
tay tùy hỷ, đặt tên là Văn Tu (聞修).
Do Văn
(nghe) mà sanh Thật Huệ, như chất
béo giúp cho ngọn lửa [cháy mạnh
hơn]. Nghe pháp mà chẳng tu hành, giống
như kẻ điếc tấu âm nhạc. Nay tự tu
trong chín mươi ngày, cùng nghe trong ba ngày, nhưng trong ba
ngày đó vẫn chẳng phế tu, chín mươi ngày tự
chẳng khuyết Văn. Từ Văn khởi Tu th́ Tư
chẳng cần phải đợi nói nữa. Tam Huệ tự
tốt lành, Tam Huệ tự gắng sức. Dùng Tam Huệ
để kiên cường ư chí, trống ḷng, thật sự
đặt vững gót chân, ngăn ngừa thói tệ, chánh
pháp lại sáng ngời. Đó là hành động này.
* Lời tựa tự
đặt cho Tịnh Tín Đường Sơ Tập
Mùa
Hạ năm Bính Dần (1626), tiên từ ĺa đời, tôi
liền đốt bỏ bút, nghiên. Về sau, do duyệt Tạng
tạm dùng đến. Thấm thoát đă qua tám năm, tháng
ngày chồng chất, ghi chép hỗn độn càng nhiều.
Môn nhân hiếu sự, liền sao lục lấy, chẳng
đủ để giữ, mà cũng chẳng đủ
để hủy. Phân thải của dê con là vật hèn tệ
nhất, nhưng có thể trị lành bệnh sốt rét
cách nhật và nghẹt mũi. Nay thiên hạ nóng lạnh, ái
kiến lắm nỗi, lời lẽ của tôi chẳng ra
tṛ trống ǵ, sao biết chẳng thể cùng góp
công hiệu với phân dê ư? Bèn gạt bỏ những chỗ
rườm rà, thừa thăi, một hai phần bản thảo
thiếu khuyết lúc chưa xuất gia, những phần
lúc chưa vào núi trước năm Bính Tư (1636), đặt
tên là Tịnh Tín Đường Sơ Tập. Nếu dùng
con mắt của Kỳ Bà để nh́n, cũng là đặt
sắc lam trở lại hư không, chưa từng chẳng
phải là vị thuốc có thể chọn dùng được!
* Lời tựa sau khi
khắc in Tam Thiên Hữu Môn Tụng Giải
Bắc
Tề đại sư đạt được đạo
Trung Luận của ngài Long Thọ, truyền cho ngài Nam Nhạc,
[ngài Nam Nhạc] lại truyền cho ngài Trí Giả. Giáo Quán bắt
đầu được lưu truyền, lư Quyền Thật
được nêu tỏ, giải lẫn hạnh đều
diệu, chân thật truyền tâm ấn của Phật, phủ
trùm các tông. Ngài Kinh Khê đời Đường và Tứ
Minh đời Tống đều được xưng tụng
là bậc trung hưng giáo chủ; do đó, khiến cho hoa
sen trong nhà lửa cùng được thấm cam lộ,
Lương Túc, Trần Quán[59]
đều là những người [được hưởng
cam lộ] ấy. Từ thời Nguyên - Minh đến nay,
đạo này chẳng được mạnh mẽ, hoặc
là có Giáo chẳng có Quán, như kẻ nghèo đếm của
báu, hoặc có Quán mà chẳng có Giáo, đem phàm lạm thánh.
Năm đầu thời Thần Miếu, Diệu Phong lăo
nhân khởi xướng, một người dạy, lắm
kẻ nói ra nói vào, khôn ngăn ồn ào. Cư sĩ Khai Chi
Phùng bèn tận lực thỉnh Sư chú giải Hữu Môn
Tụng để làm phong thái cho bậc sĩ quân tử.
Sư ngôn từ thông đạt, lư rạng ngời, tăng
tục nhất trí hướng về sự giáo hóa.
Tới nay đă sáu
mươi năm, cổ bản chẳng c̣n thấy nữa,
tôi nghĩ dẫy sạch cỏ dại lần nữa, thật
sự nhờ vào hai vị đại sĩ Diệu Phong và
Khai Chi
Phùng. Do vậy lại giảo chánh bản
khắc ḥng báo pháp ân, và in kèm sách Oánh Trung Thượng Minh
Trí, ḥng nêu tỏ lẫn nhau. Nếu người đọc
biết Hữu tâm nhỏ nhoi chính là Hữu chẳng thể
nghĩ bàn, chính là Diệu Giả, chính là sơ môn của
Viên Giáo, chính là pháp giới, trọn đủ ba ngàn các pháp
chẳng thiếu, chẳng thừa, há chẳng phải là
trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật ư?
Há chẳng phải là cảnh chẳng thể nghĩ bàn, trọn
đủ chín pháp thành một Đại Thừa, chẳng
sanh ḷng thoái khuất, chẳng sanh tăng thượng mạn
ư? Ôi! Nếu chẳng đọc sách này, sao biết sự
mầu nhiệm của tam đại ngũ tiểu (ba bộ
chú giải lớn và năm bộ chú giải nhỏ của
tông Thiên Thai)? Nếu chẳng chuyên ṛng, thuần thục tam
đại ngũ tiểu, sao biết được cái
hay của lời giải bài tụng này?
* Lời tựa cho Tứ
Thư Ngẫu Ích Giải
Ngẫu
Ích Tử mười hai tuổi đàm luận Lư Học,
nhưng chẳng biết Lư. Hai mươi tuổi học tập
huyền môn, nhưng chẳng biết huyền. Hai
mươi ba tuổi tham Thiền, mà chẳng biết Thiền.
Hai mươi bảy tuổi học Luật, nhưng chẳng
biết Luật. Ba mươi sáu tuổi diễn Giáo,
nhưng chẳng biết Giáo. Cho tới khi bệnh nặng
gần chết, quay về nằm bẹp tại Cửu
Hoa, chất cặn mục nát ngỡ là món ngon, cám bă ngỡ
là lương thực, quên bẵng h́nh hài, đoạn duyên
đời, muôn mối lo nghi đều thành tro tàn, nhất
tâm không nơi gởi gắm. Sau đấy mới biết
Nho, huyền, Thiền, Luật, Giáo, không ǵ chẳng phải
là lá dương và nắm tay suông, thuận theo sự mong muốn
của trẻ thơ mà khuyên dụ. Dụ đúng ư, nó sẽ
cười khanh khách. Dụ chẳng đúng, nó sẽ khóc
oa oa. Trẻ thơ khóc, cười tự tại, há tổn
hại ǵ đến cha mẹ? V́ thế, con cười th́
cha mẹ vui;
con khóc, cha mẹ lo. Thiên tánh tương quan, muốn bỏ
mà chẳng thể! “Phạt kha, phạt kha, kỳ tắc
bất viễn” (đẽo cán ŕu, đẽo cán ŕu, cách
làm chẳng xa)[60].
Nay khuyên dụ người này, tức là để sau
đó, người ấy sẽ khuyên dụ kẻ khác. Nếu
vẫn chẳng tránh khỏi thuận theo nắm tay suông hay
lá vàng mà khóc, cười, há có thể khuyên dụ người
khác ư?
Do tỳ-kheo Triệt
Nhân từ trong hoạn nạn, trắc trở, khá am tường
Luật học, nhưng chưa hiểu rơ Thiền Quán, nhiều
lượt gắng sức, rốt cuộc vẫn c̣n bị
ngăn cách bởi một tấm màng. Sư bèn chí thành thỉnh
ư đức Phật, rút được cái thăm “cần
nhờ vào Tứ Thư để giúp hiển thị Đệ
Nhất Nghĩa Đế”. Tôi bèn gượng bệnh
mà nêu ra những ư chỉ chánh yếu, viết xong bỏ vào
trong các ống đựng, bấm tay đếm đă
mười mấy năm. Triệt Nhân đă qua đời
lâu rồi! Than ôi! Sự đổi, người khuất,
thân và cơi đời có ǵ là thật? Thấy nghe như
cũ, xưa nay nào khác? Cái biến đổi chưa hề
biến, cái chẳng biến đổi cũng chưa hề
bất biến, há c̣n chấp trước vào mỗi bên, phần
nào là vô thường, phần nào là thường nữa
ư?
Mùa Hạ năm nay, viết
xong Thành Duy Thức Tâm Yếu, ngẫu nhiên dùng sức thừa
đọc lại bản thảo cũ, sửa đổi
chỗ chưa thỏa đáng, bổ sung thêm những chỗ
chưa đầy đủ. Trước hết là Luận
Ngữ, kế đó là Trung Dung rồi đến Đại
Học, cuối cùng là Mạnh Tử. Luận Ngữ là sách
của Khổng Tử; do vậy, xếp đầu tiên.
Trung Dung và Đại Học đều do Tử Tư
trước tác nên xếp kế đó. Tử Tư trước
hết soạn Trung Dung, trong Đới Lễ[61],
[sách này] được xếp vào hàng thứ ba mươi
mốt. Sau đó, soạn Đại Học, Đới Lễ
xếp [sách này] vào hàng thứ bốn mươi hai.
Chương đầu tiên của Đại Học là “tại
minh minh đức”, nhằm thừa tiếp
chương trước (tức sách Trung Dung) để nói
về “dư hoài minh đức” (ta vốn ôm ấp
đức sáng), vốn chẳng phải là một kinh
mười truyện[62].
Bản cũ cũng chẳng bị “thác giản” (thứ
tự lầm loạn)[63],
cư sĩ Vương Dương Minh đă biện định.
Mạnh Tử theo học với Tử Tư, cho nên [sách Mạnh
Tử được] xếp ra sau [Trung Dung và Đại Học].
Giải Luận Ngữ gọi là “điểm nhăn”,
ḥng mở ra quang minh xuất thế. Giải Trung Dung và
Đại Học được gọi là “trực chỉ”,
do đàm luận nguồn tâm bất nhị. Giải Mạnh
Tử được gọi là “trạch nhũ” (chọn
sữa). Uống lấy chất thuần vị, chừa
nước lại.
Phật, Tổ thánh hiền đều chẳng có thật
pháp để ràng buộc con người, chỉ v́ mọi
người mà tháo niêm, cởi
trói, nay cũng bất quá là dùng gỗ chêm để nạy
cái chêm khác văng ra, ḥng giúp nêu tỏ tâm ấn của thánh
hiền đó thôi!
* Lời tựa tự
soạn cho sách Phạm Vơng Hợp Chú
Lớn
lao thay giáo pháp trong phẩm Tâm Địa của kinh Phạm
Vơng, chỉ điểm nguồn cội sâu thẳm của
tâm tánh, đích xác chỉ bày từ đầu đến cuối
sự diệu tu, Giới lẫn Thừa đều gấp,
Đốn và Tiệm cùng thâu nhiếp, ước theo Bổn,
Tích, ngang, dọc đều khai, kiêm ư chỉ uyên áo của
Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Xét ra, quán hạnh Sự lẫn Lư đều
trọn vẹn, gồm thâu cương lănh to tát của
ngũ thời, bát giáo. Kinh văn tuy chỉ truyền một
phẩm, nhưng ư nghĩa thật sự quán triệt toàn bộ
bản kinh.
Xưa kia,
vào thời Trí Giả đại sư, căn tánh của
con người c̣n nhạy bén, đă rộng tuyên pháp môn Giáo
Quán, cho
nên Ngài chỉ sớ giải phần
giới pháp trong quyển hạ. Đại sư am hiểu
tinh tường Luật Tông, lời văn giản ước
mà nghĩa rộng răi, chỉ bày cho kẻ hiểu Luật
thuở ấy th́ dễ dàng, chứ khai ngộ cho người
mờ mịt đối với Luật hiện thời sẽ
khó khăn lắm! Đă hơn một ngàn năm, [kinh này] đă
trở thành bí điển từ lâu! Ngài Vân Thê đă nêu bày
những điều ẩn kín, nhưng lời Sớ vẫn
có nhiều chỗ thiếu sót, dễ gây ngờ vực. Hơn
nữa, tuy quyển hạ đă được sớ giải,
nhưng quyển thượng vẫn chưa được
mở mang, xiển dương! Than ôi! Tứ y
đại sĩ đối với pháp há có tâm tiếc nuối
ư? Chúng sanh duyên mỏng, hiếm gặp gỡ pháp môn hy
hữu!
Trí Húc thuở bé tôn sùng
Lư Học, lấy đó làm trách nhiệm ngàn đời, chỉ
hận chướng sâu, huệ kém, chấp Đông Lỗ
bèn báng Tây Càn[64].
Về sau, nghe bài tựa sách Tự Tri Lục, và lời bàn
luận về “lương tri tịch cảm” (do lương tri mà thầm cảm vời)
mới phát khởi tín tâm. Do nghe kinh
Địa Tạng Bổn Nguyện, nghe kinh Đại Phật
Đảnh (Lăng Nghiêm),
dũng mănh mong xuất thế, quyết chí thề tham Thiền,
trốn nhà hành cước. Dẫu mấy lượt phát
khởi ngộ giải, nhưng chẳng có thuở quyết
chứng! Nhờ có chánh nhân hổ thẹn, chẳng dám lầm
lẫn gánh vác, sanh tăng thượng mạn, giẫm theo
vết xe đổ đại vọng ngữ trước
nay, bèn nghĩ sức túc nhân mỏng ít, phải nên kiêm Giới,
kiêm Giáo để tự huân tu. Do vậy, tham cứu các sách
Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Ma Ha Chỉ Quán v.v… học tập
Giáo Quán của tông Thiên Thai. C̣n một tạng Tỳ Ni
đă đọc kỹ ba lượt, vâng lấy kinh Phạm
Vơng làm công khóa hằng ngày, bèn đối với những lời
dạy nhằm nêu bày chỗ
ẩn kín và thiếu khuyết gây ngờ vực [của
người xưa], bỗng
dưng hiểu rành rành. Ngay như quyển thượng [của
kinh Phạm Vơng], lời văn cổ kính, nghĩa u huyền,
xưa kia bảo là chẳng thể chấm câu, [nay th́] diệu
chỉ rành rành hiện
tiền. Do vậy, tôi
tính soạn hợp chú nhằm bổ túc chỗ thiếu sót
của người thuở trước. Tuy đă phát chí ấy,
duyên chướng lắm nỗi, sáu bảy năm qua, vẫn
lần khân chưa được toại nguyện!
Năm trước bệnh
nặng, mới trốn vào trong núi. Vừa khéo ngài Như Thị
Đạo Phưởng
từ đất Mân (Phước Kiến)
đến t́m, v́ tiên sư của Ngài
mà thỉnh giảng kinh này. Vui mừng v́ cùng chí hướng;
do vậy, gượng bệnh phô diễn. Chẳng ngờ
tâm hoa bùng nở, suối nghĩa tuôn trào, vội nâng bút ghi
chép lại thành Huyền Nghĩa một quyển và Hợp
Chú bảy quyển. Chú giải xong, trần thuật gốc
ngọn để thưa với bậc triết nhân mai
sau. Bởi trước kia đă có cái nhân mọn, nay lại
tụng niệm đă lâu, nửa đời nghiền ngẫm
sâu xa, không ǵ chẳng là ngàn điều suy nghĩ mới
được một. Do vậy, đối với sự
tướng Lư Quán, chẳng tiếc mỗi một điều
đều chỉ bày, đúng là đưa nửa cánh tay
giúp bậc hành giả dốc chí tận lực hành tŕ
được khai giải. Người sau này coi đến,
xin đừng cho là rườm rà, rắc rối mà chán
ghét, coi thường, ngơ hầu giải lẫn hạnh cùng
viên măn. Coi sách này như thí dụ cái bè [trong kinh Kim Cang]
cũng được!
* Lời tựa tự
soạn sau sách Tán Lễ
Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi
Đại pháp mờ mịt đă lâu, lắm
kẻ hiểu lầm, chấp Đại, báng Tiểu, cả
cơi đời đều là như thế. Nhưng các nỗi
khổ trong địa ngục sau khi đă thọ, dư
báo câm ngọng lại khó thể cùng tận! V́ vậy,
Địa Tạng từ tôn, trong hội Đại Tập[65]
hiện tướng Thanh Văn, đức Thế Tôn rộng
tán thán phẩm đức thù thắng. Lại c̣n nói so sánh rằng:
“Giả ư Di Lặc, Diệu Cát Tường, Quán Tự
Tại, Phổ Hiền, căng-già-sa đẳng chư
đại Bồ Tát sở, bách kiếp chí tâm quy y, xưng
niệm, lễ cúng, cầu chư sở nguyện, bất
như nhất thực khoảnh, quy y, xưng niệm, lễ cúng Địa Tạng Bồ
Tát, dĩ cửu tu kiên cố đại nguyện, đại
bi, dũng mănh tinh tấn quá chư Bồ Tát cố dă” (Giả sử ở chỗ các vị đại Bồ
Tát như Di Lặc, Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại,
Phổ Hiền v.v… số nhiều như cát sông Hằng, trong
trăm kiếp chí tâm quy y, xưng niệm, lễ bái, cúng
dường, cầu các điều nguyện, chẳng bằng
trong khoảng một bữa ăn, quy y xưng niệm, lễ
bái, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, do Ngài tu
đại nguyện, đại bi kiên cố đă lâu,
dũng mănh tinh tấn vượt quá các vị Bồ Tát
khác). Bởi lẽ, thời Mạt nói băi buôi là Đại
Thừa rất dễ, c̣n chính ḿnh thực hiện Tăng hạnh
rất khó! Phải biết: Phế Tiểu mà bàn Đại
th́ ngay cả Đại cũng chẳng phải! Ngộ
Đại dùng Tiểu th́ ngay cả Tiểu cũng vốn
thù thắng! Do vậy, kinh Pháp Hoa răn người hoằng
kinh ắt phải nương vào Tứ An Lạc Hạnh,
kinh Niết Bàn tột bậc đàm luận Phật tánh
thường trụ. Đối với chuyện phù trợ
giới luật, công đức của Đại
Sĩ càng riêng thịnh,
Ngài được [ca ngợi] như vậy cũng là do
điều này đấy chăng?
Trí Húc tiếc nuối
sâu xa, do tập khí xấu ác từ đời trước,
tuổi thiếu niên tận lực xúc phạm Tam Bảo, tạo
tội Vô Gián. Nhờ thiện căn chưa mất,
được nghe tôn kinh [Địa Tạng] Bổn Nguyện,
biết đại hiếu xuất thế, bèn chuyển tà
kiến mà sanh chánh tín. Vẫn do dư nghiệp báng pháp, dẫu
siêng khổ tu chứng, vẫn chẳng chứng được
Pháp Nhẫn. Mỗi khi xem đọc ba kinh của Đại
Sĩ[66],
liền chẳng khỏi lệ đẫm đầm
đ́a, đau xót thuở trước vô tri, cảm Đại
Sĩ cứu vớt. Do vậy nghĩ: Trong thuở trược
trí lưu chuyển, người cùng mắc họa ấy
chẳng ít, kính vâng theo kinh Thập Luân và hai kinh Bổn Nguyện,
Chiêm Sát, soạn thành sám nghi này, ngơ hầu cùng gột
rửa tội khiên khi trước, quyết cầu quả
mai sau, chẳng rốt cuộc là Vô Y Hạnh! Chưa dự
vào chánh vị Vô Sanh đều có thể tu theo, bất luận
là kẻ sơ tâm hay học Phật đă lâu!
* Lời tựa an
cư Chỉ Quán Sơn Pḥng
Tôi
bàn luận kinh Đại Phật Đảnh, tới quyển
thứ năm,
thấy nói: “Phật pháp tùng nhân duyên sanh, phi thủ thế
gian ḥa hợp thô tướng” (Phật pháp sanh từ
nhân duyên, chẳng phải là giữ lấy thô tướng
ḥa hợp của thế gian), nhanh chóng ngộ ư chỉ “Phật
pháp từ các duyên” của kinh Pháp Hoa. Diệu chỉ của
hai kinh khéo sao nêu ra cùng một đường lối. Ngài
Trí Giả chứng Pháp Hoa tam-muội, nắm rơ thập diệu
nơi Bổn, Tích[67],
quy trọn vẹn vào cái tâm nhỏ nhoi, dạy pháp môn Ma Ha
Chỉ Quán, cùng với diệu Xa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na của
kinh này phù hợp khít khao. Về sau, những người
chú giải kinh điển này không ngờ có tới mười
hoặc trăm vị, bỏ Ma Ha Chỉ Quán để lập
riêng một đường lối, càng ngày càng xa hơn.
Đó là v́ Ma Ha Chỉ Quán đích xác là nhân duyên đại sự
của Như Lai, chẳng phải là thô tướng ḥa hợp
của thế gian.
Xin nói rằng: Tánh giác
diệu minh, Bổn Giác minh diệu, tịch mà thường
chiếu, chiếu mà thường tịch, chẳng phải
là cội nguồn chân thật bất nhị của Chỉ
Quán ư? Mê cái nguồn chân thật này, bản thể Tịch
trở thành tối tăm, bản thể Chiếu trở
thành tán loạn. Do vậy, tánh bất biến thuận theo
nhiễm duyên mà thành chín giới. Ngộ sự tối
tăm, tán loạn này, tán loạn vốn đă tịch, tối
tăm cũng vốn chiếu, tức là tánh bất biến
thuận theo tịnh duyên mà thành Phật giới. Tuy thành Phật
giới, cội nguồn chân thật chẳng tăng. Tuy thành
chín giới, cội nguồn chân thật chẳng giảm.
Cái lư tùy duyên ấy trải qua nhiễm và tịnh mà trọn
bất biến. Tùy
duyên tức bất biến là cái
nhân của đại sự. Bất biến tức tùy duyên
thì là cái duyên của đại sự. Do
đó nói: “Như Lai nêu tỏ pháp thế gian và xuất thế
gian, biết cái nhân vốn có của chúng, thuận theo cái
được duyên mà lưu xuất”. Người biết
nghĩa này mới biết “tâm, Phật, chúng sanh cả ba
chẳng sai biệt”, cũng biết
sáu mà thường tức,
tu chẳng ở ngoài tánh. Tuy tức mà thường sáu. Tánh
chẳng phế tu, tu chẳng ở ngoài tánh, chẳng đọa
vào nhân duyên. Tánh chẳng phế tu, chẳng đọa tự
nhiên. Trong cơi đời có kẻ chỉ nghe danh tự Chỉ
Quán suông, hư vọng nói chỉ thuộc vào tu thành, nào có
biết nẻo chân thật “tánh tu bất nhị”?
Tôi xuất gia hành
cước, không cách nào đạt được lợi
ích. Đối với kinh này, chưa từng vướng mắc
một chữ, mà cũng chưa hề ĺa một chữ. Về
sau, đọc giáo
nghĩa Thiên Thai, thường thấy dẫn kinh Chiêm Sát.
Kinh Chiêm Sát chỉ bày cảnh Nhất Thật, đó chính là
cái nhân của đại sự. Kinh chỉ dạy hai loại
Quán, đó chính là cái duyên của một đại sự.
Càng tin mật nhân của Như Lai, vạn hạnh của
Bồ Tát, một môn siêu xuất, chẳng hai, chẳng ba.
Đúng là chẳng lừa dối ta! Mỗi khi nêu ra
nghĩa này để chỉ điểm cho người
chưa nghe, tùy thuộc căn tánh của họ, ai nấy
đều đạt được pháp hỷ. Ôi! Nếu
tôi cùng các bạn chẳng
cùng trọn đủ cái nhân này, sẽ trọn chẳng
liên quan đến pháp tánh. Chẳng gieo cái duyên này đã lâu,
há người nói và kẻ nghe có thể hợp ư ư?
Ngài Trí Giả hướng
vọng kinh này lễ bái, suốt mười tám năm chẳng
được thấy. Hơn một trăm năm sau,
ngài Bát Lạt Mật Đế (Pramiti)
mổ bắp chân [giấu kinh vào vết
mổ] truyền tới. Nỗi khổ tâm của hai vị
Đại Sĩ há có phải v́ kẻ chấp chặt
văn tự mà thêm thắt dây leo ư? Ắt phải Giáo
Quán cùng nêu tỏ, do ngón tay mà thấy mặt trăng. Do kinh
này mà thông suốt Chỉ Quán. Do Chỉ Quán mà tin thấu triệt
lời tôi nói chẳng phải lừa
bịp! Nay do kết hạ chín mươi
ngày, quả thật là duyên nhân trải qua kiếp số nhiều
như vi trần, bèn nêu ra một bài tụng để giúp
cho diệu quán. Tụng rằng: - Chưa dứt cuồng
tâm, đầu vẫn đó. Nhà đẹp đă ngắm, cửa
chẳng tận. Triệt ngộ mật nhân chẳng sanh diệt.
Vạn hạnh mới hay rốt ráo đồng!
* Lời tựa tự
soạn cho sách Tuyệt Dư Biên
Đối
với sự tu hành trong suốt một đời, trăm
điều chẳng được một điều hay
khéo! Chỉ riêng đại Bồ Đề tâm, quên thân v́
pháp, xả ḿnh theo người là kham vâng theo các đấng
từ tôn trong ba đời. Từ năm Canh Ngọ (1630)
cho tới năm Giáp Tuất (1634), trong ṿng năm năm, mấy
lượt gặp cảnh khốn khó quấy nhiễu mà
chẳng lùi bước. Tới
giữa Thu năm Ất Hợi (1635), chí trọn chẳng
được thỏa. Mùa Xuân năm Bính Tư (1636) bèn ẩn
cư, giữa đường bệnh nặng, bèn ở nhờ
nơi Cửu Hoa, xót xa cầu đảo Bổn Sư
Địa Tạng, vẫn có cơ hội duyệt kinh tạng,
trước thuật. Than ôi! Văn tự tánh Không, tánh Không
tức là Thật Tướng. Thật Tướng ĺa hết
thảy các tướng, chính là hết thảy các pháp, há ĺa
văn tự mà được giải thoát ư? Xưa kia
đă vứt bỏ bút, nghiên, tuy dứt mà chẳng dứt,
nay cũng chẳng tuyệt mà tuyệt, đành gọi là
Tuyệt Dư!
* Lời tựa khuyên
tŕ kinh Đại Phật Đảnh
Tam
nhân[68]
tánh đức, dứt bặt đối đăi, trọn khắp
thường hằng, ngộ tánh thành tu th́ gọi là Viên
Thông. Hiện tại ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ chính
là chánh thể của kinh thuộc Giáo,
Lư, Hạnh, nhưng kẻ mê nặng nề tuy sử dụng
hằng ngày mà chẳng biết. Do vậy, nương theo
Thật Tướng mà chỉ bày văn tự. Nương
theo văn tự để giúp cho quán chiếu. Quán chiếu
văn tự đều là Thật Tướng. Quán chiếu
Thật Tướng đều là văn tự. Văn tự
và Thật Tướng đều quán chiếu. Từ ngay
nơi bản thể của Thật Tướng và bản
thể của văn tự mà quán chiếu
bản thể. Thật Tướng là thường, mà
văn tự quán chiếu cũng là thường. Thật
Tướng trọn khắp, văn tự quán chiếu
cũng trọn khắp. Thật Tướng giác, văn tự
quán chiếu cũng giác. Thật Tướng tôn quư, văn
tự quán chiếu cũng tôn quư. Thật Tướng chẳng
thể thấy, văn tự quán chiếu cũng chẳng
thể thấy. Thật Tướng chẳng thể là Vô,
văn tự quán chiếu cũng chẳng thể là Vô. Than
ôi! Đă ngộ Thật Tướng, há dung chẳng nhờ
vào văn tự? Chưa thông đạt Thật Tướng,
há dung chẳng siêng năng quán chiếu ư? Đă quán chiếu
sâu, biết chẳng có văn tự ở ngoài Thật
Tướng. Kẻ chưa quán chiếu tinh tường, há
biết Thật Tướng trong văn tự ư? Tuy
chẳng biết Thật Tướng của văn tự,
nhưng Thật Tướng chưa hề
chẳng phải chính là văn tự.
Trí Giả đại
sư suốt đời lễ bái
kinh Đại Phật Đảnh, Bát Lạt tôn giả
truyền [sang Trung Hoa] bằng cách mổ bắp chân [giấu
kinh vào đó], chẳng dùng Thật Tướng để
quán chiếu, đều nhờ vào văn tự làm duyên
ư? Chắc có kẻ nói: “Cái mà thánh nhân chẳng thể
trao truyền đă qua mất rồi. Cái được
truyền là cám bă”. [Nói như vậy] tức là chưa thấu
đạt ư chỉ “Thật Tướng, quán chiếu và
văn tự trọn khắp lẫn nhau”. Xưa kia, thầy
toán trao bí quyết cho con. Con đọc thuộc, nhưng chẳng
thể dùng. Có người theo học bí quyết,
bèn tính toán chẳng kém cha [kẻ đó], vậy th́ nói: “Bí
quyết có hay khéo ư? Sao người con học thuộc
mà chẳng biết? Bí quyết chẳng hay khéo ư? Sao
người khác học rồi bèn có thể tính toán?” Hơn
nữa, không có người con học thuộc, người
khác sẽ học từ chỗ nào? Cố nhiên tôi chẳng
mong con
của kẻ khác sẽ như thế.
Dẫu con là như thế, vẫn hơn kẻ chẳng tụng
đọc! Huống hồ pháp lực chẳng thể
nghĩ bàn, Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, tánh
giác lực chẳng thể nghĩ bàn, huân tập chẳng
nghĩ bàn, trọn khắp chẳng nghĩ bàn. Đó là cái
nhân chân thật để thành Phật, há khẩu quyết
tính toán có thể sánh ví được ư?
* Khuyên tŕ phẩm Tâm
Địa của kinh Phạm Vơng
Phàm
người hữu tâm đều có thể thành Phật,
đều thuộc vào phạm vi của giới luật
nhà Phật. Đă thuộc vào phạm vi của giới luật
nhà Phật, há dung chẳng tụng giới pháp này? Giới
pháp này có tên gọi là phẩm Tâm Địa. Ngoài tâm chẳng
có pháp, ngoài pháp càng chẳng có tâm. V́ thế, lại nói: “Bất
thọ giới giả, như mộc thạch, vô tâm, danh vi
ngoại đạo” (kẻ chẳng thọ giới
như gỗ, đá, chẳng có tâm, gọi là ngoại đạo).
Ôi! Đáng nên suy nghĩ! Người thời này cao giọng
đàm luận tâm tánh, hư vọng bảo “chẳng cần
thọ giới!” C̣n người chịu thọ giới th́
mờ mịt chẳng biết tâm tánh là vật như thế
nào? Một nghĩa vừa mới mờ mịt, hai thứ
bệnh liền sanh. Cái tâm đàm luận cuồng vọng
cố nhiên chẳng phải là chân tâm. Giới được
bẩm thọ ngu muội, cũng chẳng phải là chân giới!
Nhưng Sự có thể kèm theo Lư, giới thiện (điều
thiện do vâng giữ giới) vẫn có thể làm cái duyên
nhân xa. Lư chẳng thể tồn tại một ḿnh, đàm
luận suông chính là căn cơ của tà kiến! Do vậy,
kinh Niết Bàn được xướng lên tối hậu,
liền coi chống đỡ Luật là Tông. Phạm Vơng
[được đức Phật nói] lúc mới thành đạo,
Mộc Xoa được kết trước. Một phẩm
Tâm Địa càng là cầu, bến cho thuở mạt kiếp,
là đuốc báu trong đường tối.
Tôi thương xót sa-di
Liễu Nhân Quả,
phước lẫn huệ đều thiếu, khuyến
khích ông ta lấy phẩm này làm khóa tụng hằng ngày. [Nhờ
đó, ông ta] được hưởng đôi chút pháp hỷ,
bèn nghĩ
khuyên lơn những người cùng
hàng. Kinh dạy: “Bồ Tát thường ưng hóa nhất
thiết phát Bồ Đề tâm. Nhược bất phát
giáo hóa chúng sanh tâm giả, phạm khinh cấu tội quả
dă” (Bồ Tát hăy thường nên giáo hóa hết thảy
phát Bồ Đề tâm. Nếu chẳng phát tâm giáo hóa chúng
sanh, sẽ phạm tội quả khinh cấu). Hăy gắng
lên! Vững cái thần, mạnh cái chí, giữ bản lănh
thường hằng, chuyên dốc cái hạnh. Trọn hết
hữu t́nh trong đại địa đều quy vào pháp
môn Tâm
Địa,
đừng coi ba ngàn [tánh tướng] là rốt ráo!
* Lời tựa khuyến
hóa tŕ thần chú Đại Phật Đảnh
Thần
chú vô thượng Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra (Mahā-sitātapatra,
Đại Bạch Tán Cái)
truyền vào Chi Na, đă quen được xếp vào khóa tụng
hằng ngày. Có thể nói là duyên chủng Đại Thừa
của phương này mạnh mẽ, nhưng sự sai
ngoa trong truyền thừa đă tích tụ. Có kẻ gọi
sáu chữ Tất Đát Đa Bát Đát Ra là chú tâm; có
người gọi đó là tên của thần chú, riêng coi mấy
câu từ chữ “đát điệt tha” (tadyatha) trở
đi là chú tâm, bịa đặt vô căn cứ, chống
lại ư chỉ từ bi của đức Phật, đều
đáng đau ḷng! Kinh đàm luận tột bậc công
đức của chú tâm, bảo kẻ tối tăm
chưa thể tụng được, hăy nên chép lại, thờ
trong Thiền Đường, hoặc đeo trên thân, trọn
chẳng nghe nói chỉ mấy câu là chú tâm. Nếu chỉ là
mấy câu, sao đến nỗi tâm tối tăm, chẳng
nhớ nổi, phải dùng viết, thờ, đeo trên thân
để làm Phật sự?
Bởi lẽ, mười
quyển kinh văn rơ ràng, hiển thị Như Lai tạng
tâm. Năm hội thần chú ngầm diễn nói Như Lai tạng
tâm. Hiển và Mật tuy khác, nhưng tâm và tánh cùng một
lư. Toàn thể tâm thành chú, toàn bộ chú truyền tâm. Do vậy
gọi là “tâm chú”, cũng gọi là “chú tâm”. Thiền
nhân Giải Thiên rộng khuyên những người chân tín,
tận lực hành tŕ hoặc tŕ trọn, hoặc chép trọn,
để tự thờ hoặc đeo, và chuyển thí cho
người khác, ngơ hầu nhờ vào thần lực để
hiển phát tự tâm. Một là chấn chỉnh sai ngoa
trong đời Mạt, cùng được thọ kư quán
đảnh. Ngài A Nan v́ đại chúng thỉnh [đức
Phật] tuyên thuyết lần nữa, Như Lai phóng quang
nói lại. Hộ pháp nêu lời phát nguyện thỉnh gia bị,
Kim Cang Tạng Vương bao kiếp hướng
theo, thâu tóm công năng đều vào đấy cả!
* Lời tựa tự
ghi cho sách Châu Dịch Thiền Giải
Ngẫu
Ích Tử kết Đông tại Nguyệt Đài, ngoài lúc Thiền
tụng, cầm vi biên (kinh Dịch)[69]
để chú giải. Nếu có ai hỏi: “Ông chú giải
kinh Dịch đấy ư?” Tôi thưa: “Đúng vậy!” Lại
có người nh́n thấy hỏi: “Ông chú giải chẳng
phải là kinh Dịch ư?” Tôi nói: “Đúng vậy!” Lại
có người thấy, bèn hỏi: “Ông chú giải vừa là
kinh Dịch, vừa chẳng phải là kinh Dịch ư?”
Tôi nói: “Đúng vậy!” Lại có kẻ trông thấy hỏi:
“Ông chú giải chẳng phải là kinh Dịch, chẳng phải
không là kinh Dịch ư?” Tôi nói: “Đúng thế!” Thị giả
cười nói: “Nếu là như vậy, bèn đọa trong
bốn câu!”
Tôi nói: - Ông chẳng
nghe “bốn câu đều chẳng thể nói; do có nhân
duyên th́ đều có thể nói” ư? Nhân duyên chính là Tứ
Tất Đàn. Có người nói ta là Thích tử, do thông Nho nên có
thể giải Dịch, đó là hoan hỷ. Do vậy
[người đó] nói là Dịch, tôi bèn bảo là đúng.
Đấy chính là Thế Giới Tất Đàn. Hoặc có
kẻ nói “Thích tử làm sao có thể chú giải kinh Dịch
giống như kẻ tục Nho”, biết lời chú giải
chẳng phải là kinh Dịch, thiện tâm bèn nẩy
sanh. Cho nên họ nói “chẳng phải là Dịch”, tôi bảo
là đúng. Đó là Vị Nhân Tất Đàn. Hoặc nói “Nho
và Thích đă chẳng phân biệt. Nếu biết Dịch
và chẳng phải Dịch ắt có sai biệt, tuy khác mà
đồng, tuy đồng mà khác”, căn bệnh lẫn lộn
sẽ chẳng khởi lên được! Do đó, nói “vừa
là Dịch vừa chẳng phải là Dịch,” tôi bảo
đúng; đó là Đối
Trị Tất Đàn! Hoặc có kẻ nói “Nho và Thích ắt
có thật pháp”. Nếu biết “chẳng phải là Dịch”
th́ Nho chẳng nhất định là Nho. Biết “chẳng
phải không là Dịch”, th́ Thích chẳng nhất định
là Thích, chỉ có danh tự mà chẳng có thật tánh, nhanh
chóng thấy lư chẳng thể nghĩ bàn. V́ thế nói “chẳng
phải là Dịch, chẳng phải không là Dịch”, tôi
đáp “đúng đấy”;
đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.
Thị giả thưa:
- Chẳng phải vậy! Nếu lời chú giải chẳng
phải là Dịch, nhưng người ta nói là Dịch, có
thể giúp cho pháp xuất thế, sẽ trở thành
tăng ích báng. Nếu chẳng phải là Dịch, người
ta nói “thầy tự nói Thiền, có bao giờ biết Dịch”,
trở thành tổn giảm báng. Nếu vừa là Dịch vừa
chẳng phải Dịch, người ta nói “Nho vốn chẳng
phải là Thiền, Thiền cũng chẳng phải là
Nho”, trở thành tương vi báng. Nếu chẳng phải
là Dịch, chẳng phải không là Dịch, người ta
nói “Nho chẳng thành Nho, Thiền chẳng thành Thiền”, trở
thành hư luận báng! Con chẳng thấy đó là Tứ Tất
Đàn!
Tôi nói: - Đó là lẽ
cố nhiên. Ông chẳng nghe nhân sâm khéo bồi bổ,
nhưng người cần bổ khí uống vào sẽ chết
ngay lập tức ư? Đại Hoàng[70]
gây tổn hại nhất, nhưng người đầy
bụng uống vào, lập
tức lành bệnh. Trời sanh trưởng muôn vật,
nhưng vật cố nhiên có loài gặp mùa Xuân bèn mục
nát. Mùa Hạ trưởng dưỡng các loài, nhưng cỏ
cũng bị khô héo trong mùa Hạ. Mùa Thu cây cối tiêu
điều, nhưng cúc trổ hoa. Mùa Đông [mọi vật] ẩn
tàng, nhưng tùng, bách xanh mướt, hoa mai thơm ngát. Nếu
ắt phải chọn lựa có lợi, chẳng có hại
rồi mới làm, trời đất chẳng thể không
tiếc nuối! Hơn nữa, đức Phật dùng mắt
Từ xem xét cơi đại thiên, các căn cơ đă chín muồi,
sau đấy mới thị hiện giáng sanh, vẫn c̣n có
ma Ba Tuần gây rối, chín mươi lăm loại ngoại
đạo đố kỵ, Đề Bà Đạt Đa
nhiều phen nghĩ cách làm hại. Há chỉ Nghiêu, Thuấn
được gọi là vẫn có khuyết điểm
ư? Nguyên do tôi chú giải Dịch không có ǵ khác, dùng Thiền
để nhập Nho, dẫn dụ Nho biết Thiền. Dẫu
chẳng đạt được bốn món lợi ích, dấy
lên bốn thứ hủy báng, cũng như do đất mà
ngă, vẫn từ đất mà đứng lên. Bỏ chất
độc trong sữa, sữa chuyển thành đề hồ,
chất độc ấy vẫn c̣n đó. Biến Hành là thầy
của ngoại đạo, Tát Giá là thủ lănh Ni Kiền Tử[71],
ư tại nơi đó!” Thị giả lại bái tạ rằng:
“Đấy là điều đệ tử chẳng thể
thấu đạt được, xin hăy ghi lại để ǵn giữ”.
* Lời tựa tự
ghi sau phần Huyền Văn của kinh Đại Phật
Đảnh
Giáo
pháp trong kinh Đại Phật Đảnh tột bậc
thay! Nương vào diệu tánh để khai diệu ngộ,
khởi diệu hạnh để trải qua các địa
vị mầu nhiệm, thành tựu diệu quả để
quy vào diệu tánh, vĩnh viễn thoát khỏi sự trầm
luân trong bảy đường[72],
chẳng rơi vào ngơ rẽ trong khi tu tâm. Giới lẫn Thừa
đều gấp, Đốn và Tiệm cùng dung thông, Hiển
và Mật giúp nhau, Lư và Sự chẳng hai, đúng là kim chỉ
nam trong biển giáo, là chánh nhăn của Tông Thừa. Lúc Húc hai
mươi ba tuổi, nhằm năm Tân Dậu (1621), bắt
đầu được Văn Huân, quyết chí ĺa tục.
Năm sau, xuống tóc, khoác áo thâm, tọa Thiền tại
Song Kính, mỗi khi gặp các cảnh trong khi tĩnh tọa,
không ǵ chẳng nhờ vào chiếc kim vàng này! Trong hai mùa Hè Ất
Sửu (1625) và Bính Dần (1626), bị đôi ba người
bạn thúc ép diễn nói hai lượt, hiểu tâm rất
nhiều, nguyện chú trọng xiển phát. Do dốc chí
nơi tông thừa, chưa rảnh để soạn thuật.
Mùa Xuân năm Kỷ Tỵ (1629), quanh quẩn một
trăm ngày ở chỗ sư bá Bác Sơn Vô Dị, đau
xót sâu xa trước Thiền bệnh thời Mạt, mới
một dạ nghiên cứu cùng tận giáo nhăn ḥng bổ khuyết
chỗ lệch lạc. Dẫu duyệt khắp Đại
Tạng, nhưng chỗ hội quy chẳng ra ngoài hai kinh Phạm
Vơng và Phật Đảnh. Bảy năm sau, tức năm
Bính Tư (1636), ôm bệnh lẩn trốn tại Cửu Hoa.
Năm sau, có mấy người cùng chí hướng, thích
nghe yếu chỉ của kinh này, một phen thương
lượng, nghiên cứu, càng hiểu tâm hơn.
Năm Mậu Dần
(1638), kết Hạ tại Tân An, lại nêu ra diệu
nghĩa, càng thêm tinh ṛng, sáng tỏ gấp bội. Mùa Hạ
năm nay, hoằng pháp tại Ôn Lăng, thầy Tụng Trửu
Phưởng và hết thảy tri kỷ khăng khăng thỉnh
tôi sớ giải nhằm khải phát những chỗ tiền
nhân chưa phát. Tôi nói: “Kinh này các bản chú giải cũ
đă nhiều! Nếu chỉ bày nhiều, sẽ càng thêm
lóa mắt, ù tai”. Thầy Phưởng nói: “Chẳng phải
vậy! Thuốc chẳng có sang hay hèn, trị khỏi bệnh
là thuốc hay! Pháp chẳng có tinh hay thô, cứu đúng lúc
th́ là trọng yếu. Nghĩ đau xót thời mạt, Tông
và Giáo tách rời nhau, toàn là nói ‘biệt truyền’ thật sự
là ở ngoài giáo, nào có biết trong giáo luôn có chân truyền!
Dẫu bảo họ cắt đứt ngón tay [chỉ
trăng], họ vẫn y hệt như
cũ, chưa từng thấy mặt trăng! Thường
nghe nghĩa do thầy tôi lập, nhanh chóng, gọn gàng, thật
sự tương ứng với tông chỉ nơi bổn
phận, trọn chẳng giẫm theo khuôn sáo của tiền
nhân, mới tin ‘chẳng
ĺa văn tự mà nói giải thoát’
chẳng lừa dối ta vậy! Sao nỡ ẩn kín diệu
ngộ ấy,
chẳng chỉ dạy toàn thể cho người khác? Thầy
tôi đối với pháp há có tâm keo tiếc ư?”
Khi ấy, lại có các
thầy Tu Bạch Mộ và Nhược Thủy Luân cực
lực khuyên lơn tôi thực hiện. Tôi cảm kích ư họ,
kiêm xét nguyện cũ, soạn thành Huyền Nghĩa hai quyển,
Văn Cú mười quyển. Cố nhiên chẳng dám bày vẽ
lập dị với cổ nhân, mà cũng chẳng dám
gượng ép cho giống hệt cổ nhân. Hiểu tôi hay
trách tội tôi, đành nghe theo các bậc cao minh mà thôi!
* Lời tựa cho
Phóng Sanh Xă một ngàn người của Duyệt Sơ
khai sĩ
Tôi
thuở bé tôn sùng Lư Học, biết “đức to lớn
trong trời đất gọi là Sanh; ḷng trắc ẩn là
đầu mối của ḷng nhân”, đâm ra ngờ vực
họ Thích chỉ nói quá nhiều về vô sanh, chẳng
đếm xỉa t́nh người! Hơi lớn hơn, thấy
nhà Nho tuy nói “dân bào, vật dữ” (dân là người
ruột thịt của ta, loài vật cũng có linh giác giống
như ta), nhưng miệng
ăn thỏa thích thứ ngon béo, tranh nhau viện cớ “xa
lánh nhà bếp” là phương cách thể hiện ḷng nhân,
chưa từng nghĩ đến nỗi khổ do bị
đao chặt, kêu gào. Tuy một niệm bất nhẫn ắt
chẳng thể diệt, nhưng bị các dị thuyết
tham lam, tàn nhẫn che lấp, trọn chẳng thể mở
rộng [ḷng nhân] được, c̣n hội phóng sanh tốt
lành thường do Thích tử sáng lập, lại c̣n suy cùng
tận thân duyên trải bao kiếp, xem họ là Tứ Đại
cùng một Thể, xét tột cùng th́ ai nấy đều có
Phật tánh, coi đức hiếu sanh là tốt đẹp,
ắt khiến cho trọn hết hàm linh trong đại
địa đều chứng Vô Sanh mới thôi!
Than ôi! Do vậy bèn nói
rằng: Chẳng thông đạt Vô Sanh, sao có thể hiếu
sanh? Chẳng phải thật sự hiếu sanh, sao có thể
chứng Vô Sanh? Từ đấy, chẳng ngó ngàng danh giáo
(đạo Nho), nhanh nhẩu xuống tóc, do thật sự
thấy đại từ đại bi xuất thế mới
là đại trung, đại hiếu, đại trí, đại
nhân. V́ thế, chẳng chịu Dạ Lang tự phong (tự
cao, tự đại). Duyệt Sơ khai sĩ thề
khuyên một ngàn người phóng sanh, cùng tu Từ
Tâm
tam-muội. Tôi nói môn tam-muội này hăy nên khiến cho [các
chúng sanh nhiều như] số vi trần trong một cơi
nước cùng chứng, đâu phải chỉ một ngàn
người! Nói “một ngàn người” chính là nói theo phân
lượng phàm phu hiện tiền có thể đạt
được mà thôi. Số một ngàn đă trọn, bèn
đảnh lễ một ngàn vị Phật, ngơ hầu lục
đạo bi ngưỡng, cùng với từ lực của
chư Phật “quả thấu triệt, nhân bao trùm”,
cúng dường một ngàn vị Tăng, giúp cho Lư và Sự
cùng dung thông, chúng sanh và Phật chẳng hai, hiếu sanh và
vô sanh, dù Lư hay Sự, đều đă là cùng tột theo chiều
dọc, trọn khắp theo chiều ngang!
* Lời tựa tặng
huynh Diễn Như
Tôi
từng cảm khái người thuộc đời Mạt,
mánh khóe ngày một sâu, cách đạo ngày một xa, cái tâm
danh tướng ngày càng nặng nề, phương cách
để đạt được lợi ích ngày càng ít ỏi.
Cầu quên bẵng mánh khóe hư vọng, coi nhẹ danh
tướng, thong dong vui sướng, chẳng bị đắm
nhiễm bởi tập khí theo thói tục,
chắc là thầy Diễn Như Lâm đấy chăng? Sư
xuất thân từ danh gia vọng tộc họ Nhan ở
Chương Nam, xuống tóc xuất gia tại Hổ Không,
vực dậy đạo tràng đă bị bỏ hoang cả
ngàn đời, khiến được thay đổi mới
mẻ. Sư
trụ tŕ mười lăm năm, trăm chuyện đều
toàn vẹn, bèn đi hành cước. Thoạt đầu
đến Vũ Lâm, tham học
với các vị pháp chủ Tự Không và Kim
Đài. Kế đó, tới Ngô Trung, gặp các vị Thiền
đức như Hán Nguyệt, Đảnh Mục v.v… vâng
giữ giới Sa-di. Kế đó, tới Lưu Đô,
đến Cổ Lâm Am để được trọn vẹn
giới. Trở về, gặp gỡ ngài Tuyết Quan Ngân,
lên núi Hoàng Bá, yết kiến ngài Ẩn Nguyên Kỳ. Cuối
cùng, tôn bậc lăo túc là Văn Cốc làm thầy. Sư
được đặt pháp danh, tập ngồi Thiền,
chứng giới phẩm lần nữa, quải tích tại
giới đàn Cam Lộ ở Khai Nguyên. Vừa đúng lúc
tôi tới đó, Sư hết sức vui mừng, v́ tôi mà suất
lănh đại chúng giải kết giới. Tôi tới Đại
Sơn, Sư đă sang trước. Đợi chuyện diễn
giảng xong, tận lực từ chối lời thỉnh
của các vị tại Hổ Không, Tiên Đ́nh, vẫn cùng
tôi kết hạ tại Đại Sơn.
Tôi thường thấy
người đời hễ có chỗ tạm ở, liền
muốn nghĩ cách ở yên lâu dài. Nay Hổ Không, Tiên
Đ́nh đều là chốn chùa chiền hữu danh ngời
ngời, Sư thong dong chẳng bận ḷng, há chẳng phải
là không màng đến ư? Nhưng du hư giải thoát, nghiễm
nhiên thoát ly ngoại vật, chỉ có thể tự lợi,
chưa thể lợi người! Sư từng tham học
rộng với các bậc tri thức, tôn sùng Văn Cốc
lăo túc, lại tiếc nuối gặp gỡ tôi muộn
màng. Tôi là thứ chẳng ra tṛ trống ǵ, đành gác lại
đó. Sư thử suy nghĩ: Người học hiện
thời, không chỉ là chưa đắc mà nói đă đắc,
chưa chứng nói đă chứng, nhưng nghe Sư đă
riêng định đường lối trọng yếu, cắt
đứt thoại đầu cuồng thiền. V́ thế,
người có trí nói rằng: “Chân Tịch đối với
ngài Vân Thê, ví như Hữu Nhược[73]
đối với Khổng Tử”. Sao Sư không kế
thừa quy củ thơm thảo ấy, kiêm Luật, kiêm
Giáo, dùng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ làm chỉ
quy? Nếu có người thuộc căn tánh Tông Môn, chẳng
ngại để họ khổ tham thật cứu, chỉ
thống thiết răn người ấy đừng bắt
bóng, chụp hư. Chương Nam Phật quốc hết
sức mong mỏi Sư chấn hưng sự suy đồi,
thẳng thừng tạo thành gia phong của bậc tán thánh[74],
chỉ mong sao đừng vô sự mệt tâm mà thôi!
* Lời tựa tặng
huynh Thuần Như
Chúng
Hựu[75]
từng dạy rằng: “Thiện tri thức là đại
nhân duyên để đắc đạo, là phạm hạnh
toàn vẹn”. Tùy thuộc người ấy tu một loại
pháp môn nào, tự lợi thành tựu, đáng nêu gương
cho đàn em, th́ là bậc thiện tri thức giáo thọ. Vận
dụng tâm xuất thế chân thật, tu pháp tam thừa xuất
thế, chẳng trái nghịch chí nguyện, kiến giải
chẳng ngược ngạo,
th́ là bậc thiện tri thức đồng hạnh. Khéo
ǵn giữ ba nghiệp, khéo cúng dường tứ sự,
ngơ hầu hành nhân được yên tâm tu đạo, th́ là
thiện tri thức ngoại hộ.
Tôi từ năm Nhâm Tuất
(1622) xuất gia, tới nay đă mười chín năm, học
theo thầy vô thường, chơi với bạn vô thường,
căn độn, sức kém, thường cậy vào cảnh
duyên để tự luyện, thấy điều thiện
liền mong làm theo mà chẳng đạt được, thấy
điều ác trong tâm tự phản tỉnh mà càng thêm hổ
thẹn. Trong ba loại thiện tri thức, chỉ có giáo
thọ là nhiều nhất. Bởi lẽ, ba người
cùng đi, ắt có người là thầy ta. Huống hồ
pháp thế gian và xuất thế gian, mỗi đằng
đều có bậc trưởng giả ư? Lại c̣n
huống hồ kết bạn lâu ngày, như Tào Nguyên siêng học,
Tuyết Hàng tâm đau đáu, huynh Tinh Cốc gắt gao, thầy
Tụng Trửu ḷng tin chuyên dốc, thầy Quy Nhất chẳng
thuận theo thói tục, thầy Tu Nhă nhạt nhẽo danh lợi,
khiêm nhượng ư? Huống hồ gặp gỡ, tham yết,
như thầy Vô Dị từ bi rộng lớn, thầy
Văn Cốc nghiêm cẩn, tinh tế, điềm tĩnh,
thầy Vô Tận hoằng dương Giáo Quán ư? Lại
c̣n như thầy Trạm Minh tiến dẫn tôi xuống
tóc với thầy Tuyết Lănh, thầy Giới Tông truyền
thọ giới Sa-di, thầy Cổ Đức truyền Bồ
Tát giới, cho đến Hám Sơn đại sư viết
thư thăm hỏi, an ủi, khuyên nhủ, kết giao bằng
thần thức trong giấc mộng mị, nhiều lượt
sách tấn, phát khởi ư?
C̣n như đồng
hành thiện tri thức, cả đời chỉ có
được một người là huynh Bích Như Hạo.
Ngoại hộ thiện tri thức th́ ở Tùng Lăng có
được một người là ngài Giám Không Ninh. Ở
Ngô Môn có được một người là ngài Trúc Phan Tịnh.
Nay tại Đơn Hà, có được một người
là ngài Thuần Như Bạch. Ninh công giúp hộ tŕ tôi bế
quan, đích thân làm thị giả, chẳng để cho bất
cứ một ai dù Tăng hay tục tự tiện quấy
nhiễu tôi. Tịnh công hộ tŕ tôi kết đàn, trăm
điều cần thiết, không ǵ chẳng đều trọn
vẹn, vẫn nói “một thân hèn mọn trơ trọi, lo
liệu mọi việc dễ dàng!”
Nay mấy người cùng chí hướng kết
Hạ tại Đại Sơn, cùng nhau chuyên lo liệu chuyện
của chính ḿnh. Hai thời khóa tụng cũng không tham dự,
khiến cho những người đồng chí với tôi
chẳng bị quấy nhiễu ḥng tấn tu nơi đạo,
so với hai vị trước đó, càng khó khăn hơn
nữa. Hơn nữa, Tịnh công lánh thân nơi Mật,
kèm thêm Thiền, Ninh công tuy hướng theo chuyện tŕ giới,
tận lực cúng dường, bất quá hướng theo
đường lối làm phước. Ngài Thuần Như
Bạch tôn hiền, bao dung với đại chúng, bụng
dạ rộng răi, đă bổ
túc trọn vẹn cho khuyết điểm của tôi,
nhưng trống ḷng, chuộng thiện, hâm mộ Phật
pháp, c̣n có thể an ủi niềm mong đồng hạnh của
tôi, há hai vị Ninh công và Tịnh công có thể bằng
được ư?
Xưa kia,
Dương Kỳ[76]
trực viện mười năm, con cháu đầy đất.
Học nhân Tứ Minh thỉnh Giáo Quán nơi Pháp Trí đại
sư, được giao phó lo chuyện thường trụ
suốt ba năm, mới lại nêu ra câu hỏi trước
đó. Sư ra oai, quát một tiếng, [ngài Tứ Minh] liền
đốn ngộ viên tông “tánh trọn đủ”. Tỳ-kheo
Thật Lực phát nguyện nơi Ca Diếp Phật, nguyện
trong thời Phật Thích Ca sẽ làm vị trông coi ngọa
cụ cho Tăng bậc nhất. Ngài nương
theo bổn nguyện lực, làm thân đồng tử xuất
gia tại Kỳ Viên. Sư thấy các khách tỳ-kheo đến
đi rộn rịp, lại phát nguyện rằng: “Tôi khi
hai mươi tuổi, sau khi được thọ Cụ
Túc Giới, sẽ lo liệu việc này”. Tới khi thọ
Cụ Túc Giới,
chứng quả, niệm Không, Vô
Tướng, Vô Tác tam-muội, nguyện ấy liền dứt.
Đức Phật đem nguyện đời trước
quở trách, Sư bèn suốt đời trông coi ngọa cụ
của Tăng. Khách tỳ-kheo đến, Sư đều
đích thân sắp xếp pḥng ốc. Canh một bèn phóng
quang từ một ngón tay, đến canh hai bèn phóng quang từ
hai ngón tay, cho đến canh năm, bèn phóng quang từ
năm ngón tay. Sư được khắp mười
phương đại chúng, chư Phật, Bồ Tát khen
ngợi, niệm nào cũng nhập Định phóng quang, niệm
nào cũng xuất định an ủi khách. Đó là Thiện
Nhập Xuất Trụ Chư Thiền tam-muội. Nhưng
tác dụng thần thông như thế, rốt cuộc há có
ĺa một niệm hiện tiền của chúng ta ư? Do vậy
nói: “Có
thể quán tâm tánh th́ gọi là Thượng Định”.
Thuần công đối với điều này đă thẳng
thừng lănh hội, tức là thở cùng lỗ mũi với
Thật Lực, Tứ Minh, và Dương Kỳ, thậm
chí thở cùng lỗ mũi với tam thế chư Phật,
đều có thể một bề xuyên suốt vậy!
* Lời tựa khắc
in Tinh Cốc Thiền Sư Bút Ngữ
Luận
Ngữ có câu: “Chúng ố chi, tất sát yên” (mọi
người ghét, hăy nên suy xét). Con người tuy chí ngu, nếu
quan tâm danh vọng, cầu lợi, há cũng chịu chấp
nhận một thân chuốc lấy
người khác ghét bỏ; c̣n như bị mọi người
ghét bỏ mà chẳng băn khoăn, có thể biết là
riêng có nỗi khổ tâm! Bạn tôi là thầy Tinh Cốc Thọ
tham phỏng rộng nhiều, dấu chân cơ hồ in khắp
nửa thiên hạ. Phàm những nơi thầy đă trụ,
người yêu mến, kính sợ được một phần
mười, c̣n chán ngán, ngờ vực th́ là chín phần
mười. Tuy thiếu khuyết phương tiện tiếp
độ chúng sanh, nhưng tấm ḷng son sắt, thật sự
muốn cho ḿnh lẫn người cùng đạt tới
Chánh Giác, trọn chẳng thể diệt mất! Nay xem di
thư của thầy, tuy phê phán khuyết
điểm của người khác, nhưng chẳng giấu
diếm ưu điểm của họ, sử dụng sở
trường của ḿnh, chẳng kiêng dè sở đoản
của chính ḿnh, thẳng thừng tuôn trút ḷng thành thiết
tha, chẳng hề kiêng dè, cũng chẳng tô vẽ, lấp
liếm. Thuốc hay đắng miệng, cố nhiên là
đời Mạt chẳng thể uống, há chẳng phải
là thời Mạt càng phải nên uống gấp ư?
Thầy Tinh Cốc
Thọ đă mất, chỉ c̣n thầy Tụng
Trửu Phưởng khâm phục ân nghiêm ngặt dùi mài, gom
góp thư từ qua lại cả đời, ghép thành Bút Ngữ
muốn đem in. Thầy Phưởng lại mất, cao
túc là thầy Hoàn Nhất Bổn tận lực mưu tính
chuyện ấy. Than ôi! Nỗi khổ tâm suốt đời
của Thọ sư, chỉ có Phưởng sư là có thể
biết ân, báo ân. Do Phưởng sư nửa đời
siêng năng, khẩn thiết, lại chỉ có Bổn công
kế tục chí hướng, hoàn thành sự nghiệp. Thầy Tinh Cốc Thọ
cố nhiên nhờ thầy Tụng
Trửu Phưởng mà chẳng mục
nát, thầy Phưởng
cũng nhờ ngài Hoàn Nhất Bổn
để rốt cuộc được lưu truyền.
Hiếu thuận ắt được báo đáp, ai chẳng
tin như vậy? Tôi và thầy Tinh Cốc
Thọ chơi với nhau thân thiết nhất,
đạt được lợi ích lẫn nhau nhiều nhất.
Từ nay trở đi, đúng là chẳng thể lại
được như thế nữa! V́ vậy, gạt lệ
đề tựa.
* Lời tựa tự
đề cho Mân Du Tập
Kể
từ năm Bính Tư (1636), tôi ngọa
bệnh tại Cửu Hoa, chẳng c̣n nghĩ tới nhân
gian nữa. Mùa Thu năm Mậu Dần (1638), thực hiện
lời ước hẹn với bạn tôi là thầy Tụng
Trửu, huyễn du Mân Nam, tính bế quan tĩnh tọa. Nào
ngờ hai miếng da bịt trống làm kế mưu sinh
cho tọa chủ. Lênh đênh trong khoảng Ôn Lăng, Hà
Chương gần bốn năm, đủ mọi điều
xấu trong nhà, rêu rao gần trọn[77]!
Hai ba người cùng chí hướng cứ muốn khắc
in. Tôi bẩm tánh quạnh quẽ, chẳng thông hiểu nhân
t́nh, tất cả lời lẽ đa phần đụng
chạm điều kỵ húy đương thời,
người lưu truyền chắc là chẳng phải là
người yêu mến tôi! Nhưng do nghiệp vướng
vào thân, đành phó cho long thiên, thật sự chẳng dám tự
ái, bèn viết dăm lời mào đầu để
thiên hạ hậu thế nghe rồi sẽ thấu hiểu
tôi hay trách tội tôi vậy!
* Lời tựa Nhập
Pháp Giới (tặng Tŕnh Quư
Thanh)
Pháp
giới là cảnh giới giải thoát chẳng thể
nghĩ bàn. Kinh Pháp Hoa nói: “Trị thế ngôn ngữ,
tư sanh nghiệp đẳng, giai thuận chánh pháp” (Những
lời lẽ để b́nh trị cơi đời, những
nghề nghiệp để nuôi thân v.v... đều thuận
theo chánh pháp). Đều thuận theo
chánh pháp th́ đều chẳng thể
nghĩ bàn! Người học dùng cái tâm nghĩ bàn để
nhập, sao có thể thông đạt pháp giới cho
được?
Nhưng chẳng thông pháp giới, chưa hề chẳng phải
chính là pháp giới! V́ sao vậy? Cái tâm nghĩ bàn vốn chẳng
thể nghĩ bàn! Biết hết thảy cái tâm nghĩ bàn
vốn chính là cái tâm chẳng nghĩ bàn, th́ hết thảy
cảnh giới nghĩ bàn vốn chính là cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn! Thông đạt nghĩ bàn chính là chẳng
nghĩ bàn, bèn có thể phát Bồ Đề. Phát cái tâm đại
Bồ Đề chân
chánh ấy,
bèn có thể nhập pháp giới!
Chẳng thấy Hoa
Nghiêm đó sao? Thiện Tài tham học tri thức, đều
nói “con đă phát Bồ Đề tâm”, tri thức chỉ
dạy Thiện Tài ắt nói cảnh giới giải thoát mà
họ đă chứng. Các vị như Đức Vân v.v… chẳng
bàn tới, chứ núi đao, đống lửa của Bà
La Môn, hương điều ḥa của trưởng giả,
thuyền trưởng lái thuyền vào biển, người
nữ nhờ dục để ĺa tham, tự trí (trí huệ đối với văn tự) của
đồng tử Bồ Tát[78],
có bao giờ ĺa cảnh giới nghĩ bàn mà riêng có sự
giải thoát chẳng thể nghĩ bàn ư? Lại sao có
thể ở trong cảnh giới
chẳng nghĩ bàn, cưỡng đặt sự nghĩ
bàn ư?
Thập Nguyện
cư sĩ Tŕnh Quư Thanh phát Bồ Đề tâm đă lâu, tự
nhập pháp môn.
Thoạt đầu, ông
tham Thiền ở Kính
Sơn, đă tu tập giáo pháp Duy Thức. Kế đó, tu
Phật Thân Quán, cho tới khi ḥa quang lợi vật, hộ
tŕ pháp đạo, khuyên dụ quần linh, chỉ bằng cách chỉ
điểm Phong Thủy, phán quyết Âm Dương mà thôi.
Phong Thủy, Âm Dương chẳng phải là tà nhân duyên
hay vô nhân duyên cũng đă rơ rệt rồi.
[Nói theo kinh Lăng Nghiêm], giác minh ứng với trống rỗng,
tối tăm, đối đăi với nhau mà dao động,
gió bèn bắt đầu dấy lên. Chất báu tỏa sáng,
sanh
ra sự thấm ướt, ánh lửa nung nấu
bốc lên trên, nước tự nhiên xuất hiện. V́ thế,
Hoa Tạng Trang Nghiêm thế giới hải chính là Phong Thủy
tuyệt đại. Động là Dương, tĩnh là
Âm. Động, tĩnh thừa tiếp nhau, mọi vật
bèn có sanh thành biến hóa. Động
và tĩnh thay thế nhau, thế giới bèn có thành, trụ,
hoại, không. Gộp
chung lại để luận, bất
quá là Tướng Phần nơi tâm thức của chúng ta
toàn thể hư vọng, nhưng toàn thể vọng đều
nương vào Chân.
Pháp sanh bởi nhân duyên, tức Không, Giả, Trung. V́ thế,
Lưu Ly Quang[79]
quán tướng động của gió, hợp thành mười
phương Phật, truyền một diệu
tâm. Ngài Nguyệt Quang tu thủy quán, đắc Vô Sanh Nhẫn,
viên măn Bồ Đề. Bởi lẽ, tánh thủy chân
không, tánh không chân thủy. Tánh phong chân không, tánh không chân
phong. Tuy tùy tâm ứng lượng, theo nghiệp mà phát hiện,
nhưng mỗi mỗi bất đồng, chưa hề chẳng
phải là vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp
giới.
Cương yếu
của Kham Dư (Phong Thủy, Địa Lư) không ǵ ra ngoài hai mươi bốn sơn[80].
Nếu nh́n theo Liên Hoa Đài Tạng, cơi Hoan Hỷ là Chấn,
cơi An Lạc là Đoài, Bảo Tướng ở cung Ngọ,
thành tựu cung Tư. Ngay như thế giới Sa Bà, lại có
đủ hai mươi bốn núi. Tứ thiên hạ ở
phía Đông của Hoa Tạng, thuộc vị trí cung Măo. Xét
theo tứ thiên hạ, Nam Diêm Phù Đề ở vị trí
quẻ Ly. Lại xét theo Nam Diêm Phù Đề, vẫn có
đủ hai mươi bốn núi. Chấn Đán (Trung Hoa)
ở góc Đông Bắc của Nam Châu (Nam Diêm Phù Đề),
tức trong khoảng giữa cung Chấn và Cấn. Mà hai kinh (Bắc Kinh và Nam Kinh), mười
ba tỉnh[81] lại tự luận
hai mươi bốn núi. Lại xét theo một phủ trong
một tỉnh, một huyện trong một phủ, một
nhà trong một huyện, một pḥng trong một nhà, thậm
chí một cái tọa cụ trong một pḥng, mỗi mỗi
không ǵ chẳng trọn đủ hai mươi bốn núi!
Không ǵ chẳng trọn đủ các ngôi sao cát hung trong thiên
địa bàn[82].
Lại c̣n ngay nơi cái tọa cụ này, Đông nh́n về
phía Tây, Nam nh́n về phía Bắc. Từ cái tọa cụ này
nh́n sang cái tọa cụ khác, nh́n ngó lẫn nhau, chẳng có
chỗ nào chừng bằng chót lông mà chẳng trọn đủ
toàn thể đại dụng của hai mươi bốn
núi. Hai mươi bốn núi nơi chót lông chính là hai
mươi bốn núi nơi Hoa Tạng Giới, chẳng
chia thành hai, hay chẳng hai, chẳng
khác, chẳng đoạn. Do vậy nói: Pháp giới trong một
vi trần chẳng nhỏ, pháp giới trong pháp giới chẳng
lớn, đó là có thể nghĩ bàn hay chẳng thể
nghĩ bàn vậy?
Bất biến tùy
duyên, cả pháp giới là một chót lông. Tùy duyên bất biến,
một chót lông trọn đủ pháp giới. Như thế
mới biết Phong Thủy có thể nghĩ bàn vốn chẳng
thể nghĩ bàn. Quư Thanh vốn chứng hiện lượng
này, chẳng ĺa thuyết Phong Thủy, Âm Dương mà nói
trọn hết thảy các pháp môn. Kẻ không biết cho là
Phong Thủy, nào có biết là dùng đại Bồ Đề
tâm để quán cảnh chẳng nghĩ bàn, tức là dùng
đó để măn Bồ Tát hạnh, tiến nhập Phổ
Hiền đạo ư? Ngày sau, đức Phật ngồi
nơi đạo tràng, có kẻ đi về phương
Nam[83],
Thập Nguyện cư sĩ sẽ bảo rằng: “Ta
chỉ biết pháp môn Phong Thủy thiện xảo này,
như các vị Bồ Tát Ma Ha Tát trí huệ như biển
cả, nguyện lực như hư không, chứng trọn
tánh, tướng sai biệt
của pháp giới, biết trọn khắp hết thảy
các pháp vô sai biệt, ta sao có thể biết được,
nói được hạnh công đức ấy!
Ngươi hăy nên theo thứ tự tham yết, thỉnh cầu,
cho tới khi đắc Nhất Sanh Bổ Xứ, Ngẫu
Ích đạo nhân sẽ duỗi tay phải xoa đỉnh
đầu
ngươi vậy!”
* Lời tựa tặng cư
sĩ Điều Hương
Ngẫu
Ích Tử nói: - Cái Thể của sáu trần, không ǵ chẳng
phải là pháp giới. Cái có thể huân phát Bồ Đề
tâm, không ǵ bằng hương; nhưng hương chính là
pháp giới, đâu chỉ huân phát Bồ Đề, có thể
nói thẳng là Bồ Đề vậy. Lại nữa,
đă nói là Bồ Đề, cũng có thể nói là mười
giới nhiễm tịnh bách giới thiên như. Lại nữa,
đă nói là bách giới thiên như, chẳng cần phải
nói là hương nữa! Lại nữa, chẳng gọi là
hương, cũng bất tất phải nói là bách giới
thiên như. Hương hay bách giới thiên như đều
là danh tự. Danh tự tánh Không. Một danh, hết thảy
danh. Một nghĩa, hết thảy nghĩa. Chỗ nào gọi
là Hàng Bố? Chỗ nào gọi là Viên Dung? Nhưng hai
nghĩa Hàng Bố và Viên Dung chẳng mong thành mà tự thành.
Do đó, sáu tướng “tổng, biệt, đồng, dị,
thành, hoại” trong pháp môn thẳng thừng hướng vào
trong một vi trần mà biện định. Như một
hương trần, hết thảy các trần, hết thảy
các pháp, không ǵ chẳng như vậy.
Thông đạt điều này, sẽ có thể nhập môn
giải thoát của trưởng giả Dục
Hương.
Đời suy, đạo yếu,
ma tà, ngoại đạo tràn ngập! Cả cơi phàm, giới
hương, Thiền hương, huệ hương, cho
đến Tịnh Độ hương vương đều
bị mai một trong chợ cá, khiến cho phường
con buôn đua nhau nêu chiêu bài, khắc phân
người thành chiên đàn. V́ thế, mong sao có được
bậc siêu phương biện định chân, giả! Nhưng hương vương
chân thật quyết chẳng lẫn lộn với Y Lan[84]!
Dẫu mặc cho tỵ căn điên đảo, bỏ cái
này, lấy cái kia, há [hương vương] có bao giờ giảm mùi thơm ngát? Điều đáng đau ḷng là do ở
yên trong nhà xí đă lâu, chẳng có ư tưởng xuất ly.
Cư sĩ Mậu Di ở Thiều Thủy
thương xót, muốn cùng giúp một tay cho trưởng
giả Ưu Bát Hoa, bèn lấy hiệu là Điều
Hương Cư Sĩ. Phàm đối
với mười loại hương
vương [của trưởng giả Ưu Bát Hoa] như Tượng
Tạng…, mỗi thứ danh
tự, mỗi thứ h́nh tướng, mỗi thứ sanh
khởi, và mỗi thứ căn bản, hễ tùy ư lấy
một thứ, đều
có thể đốt, có thể bôi, cũng
có thể nghiền thành bột, há đợi ḥa chế rồi
mới gọi là thơm lạ ư? Nhưng tách rời th́
mỗi thứ đều thơm, ḥa hợp lại th́ càng
khéo. Nếu như gỗ mục hợp với vật liệu
hư nát, chỉ tăng thêm mùi thối. Lại có nhiều
loại hương pha tạp gỗ thối, ngay cả
hương cũng thối. Hương mà c̣n thối, huống
hồ thật sự chẳng có hương ư?
Thời cổ, Luật
học hưng thịnh, Luật Nghi Giới, Định Cộng
Giới, Đạo Cộng Giới, hễ nêu ra một thứ,
sẽ thâu tóm toàn bộ, chẳng cần riêng cầu Thiền
hay Giáo, mà Thiền lẫn Giáo hoàn toàn ở trong đó. Bảo
là “tự tánh thành tựu” cố nhiên là được, mà
nói là “do ḥa hợp mà thành” cũng được. Thiền,
Giáo cũng thế. Giáo nói “thân, khẩu, ư tịnh, tùy
văn nhập quán”, chẳng phải chính là Luật và
Thiền ư? Thiền nói “pháp nào cũng đều là
Không, pháp nào cũng đều trọn, nhưng chẳng có
một pháp nào để có thể được”, chẳng
thống nhiếp Luật và Giáo ư? Nay chẳng phải vậy!
Người tŕ Luật không chỉ mờ mịt Thiền
và Giáo, hỏi đến ba vạn tám ngàn [oai nghi] cũng mờ
mịt. Người diễn Giáo th́ không chỉ khuyết
thiếu Thiền và Luật, mà gạn hỏi chuyện
nương theo Giáo để quán tâm, cũng khuyết thiếu
luôn! Kẻ tham Thiền không chỉ Giáo và Luật chưa
thông, chưa trọn, hễ hạch
hỏi về cương tông “vô thật pháp”, [kẻ
đó] bèn hiểu thật pháp là pháp chết cứng.
Nếu như vậy
th́ trong cơi Chi Na, sao đạt được diệu
hương để điều ḥa? Nhưng trong mười
đại hương vương, vốn chưa từng
chẳng ở trong quốc độ Sa Bà, chỉ thân khẩu
trong hiện tiền chính là giới hương chủng.
Tâm biết cái Thể vắng lặng chính là Định
hương chủng. Cái niệm giác nhận biết thông
linh sáng suốt chính là Huệ hương chủng. Chủng
tử của Giới, Định, Huệ đă trọn, tức
là Thiền, Giáo, Luật vốn sẵn đạt
được! Cư sĩ thử lấy mà điều chế,
khiến cho hương thơm ngát nồng nàn lan tỏa. Do
một người thanh tịnh, nhiều người sẽ
thanh tịnh. Do một thế giới thanh tịnh, nhiều
thế giới sẽ thanh tịnh, khiến cho trong ngũ
trược ác thế này, ai nấy đều
đắc vô căn tín, như cây Y Lan tỏa hương
chiên đàn, ai nói Thiều Thủy chẳng phải là sông Hy
Liên[85]?
Trưởng giả chẳng chính là pháp giới tạng Tỳ
Lô Giá Na đó ư?
* Lời tựa về
chuyện Quán Tuyền khai sĩ giáo hóa một vạn
người suốt đời niệm Phật cùng sanh Tịnh
Độ
Điều
trọng yếu trong xuất thế không ǵ hơn nguyện
lực. Nguyện do Tín đúc thành, sanh ra Hạnh. Chẳng
có Tín, sẽ chẳng có
Nguyện. Chẳng có Nguyện, sao có thể nói là
Tín được? Chẳng có Nguyện, sẽ
chẳng có Hạnh. Nguyện liên tục, chẳng phải
là Hạnh sẽ liên tục ư? Do vậy, tỳ-kheo Pháp
Tạng đă phát bốn mươi tám nguyện, bốn loại
Tịnh Độ của A Di Đà Phật bởi đó mà
được trang nghiêm. Từ đấy trở đi,
nguyện nguyện liên tục, tức là đèn thắp
đèn vô tận. Chư Tổ Liên Tông kham làm bằng khoán.
Pháp hữu Quán Tuyền Nhất trích máu chép kinh Pháp Hoa, dốc
ḷng siêng lễ Đại Bi Hành Pháp, suốt đời mỗi
ngày niệm Phật một vạn câu. Nay muốn hóa độ
người khác, cho rằng một vạn câu rốt cuộc
khó áp dụng [cho mọi người], bất luận là một
ngàn, một trăm, hay mười câu, thậm chí một
câu, nhưng suốt đời chẳng thay đổi, sẽ
quyết định là Bảo Vương tam-muội hoành
siêu, tức là một niệm bèn được văng sanh, chẳng
lừa dối ta. Tôi tán thán cách nói ấy. Đấy chính là
công cứ văng sanh, là thềm, bậc của
Phật, Tổ. Tôi viết lời mào đầu để
khuyên [mọi người] ghi danh vào sổ
ấy, ḥng mong được
ghi danh nơi búp sen, chẳng cần cầu pháp viên đốn
chi khác, trong một niệm đă vượt lên Phật
địa!
* Lời tựa về
năng thừa, sở thừa
Phàm đàm luận cao xa nhưng chẳng
hiểu rơ ư chỉ “tánh, tu”, do Hoặc
(phiền năo) mà quên bẵng Năng và
Sở; đó là v́ chưa thấu
đạt thật nghĩa của Năng và Sở.
Có người khéo chế ngự, cưỡi thiên lư mă,
vượt ngàn dặm, nhưng do khéo cầm cương,
chẳng thấy là đă vượt ngàn dặm. Nếu kẻ
cầm cương chẳng khéo, chẳng khéo chế ngự
mà điều khiển ngựa, có thể vượt ngàn dặm
được chăng? Nhưng chế ngự chẳng có
thuật chi khác, chỉ có xe lẫn ngựa cùng quên mà thôi.
Người chẳng quên ngựa, chẳng chế ngự
ngựa được. Ngựa chẳng quên xe, chẳng
kéo xe được! Nói “người
quên xe và ngựa”, “ngựa quên xe và
người”
th́ được, chứ
nói “không người,
không xe, không ngựa”,
há có được chăng?
Hành nhân viên đốn
biết chánh nhân chân tánh, coi đó là
cái Thể của xe. Coi liễu
nhân quán chiếu như ngựa giỏi. Duyên nhân giúp thành,
coi như trọn đủ các Độ. Ba điều ấy
chẳng một, chẳng khác; v́ thế, cần lẫn nhau
mà quên lẫn nhau, bèn nêu ra tánh là ba để tu thành ba. Cái có
thể cưỡi là Văn Huệ, cái được
cưỡi là giáo thừa. Cái có thể cưỡi là Tư
Huệ, cái được cưỡi là Hạnh thừa.
Cái có thể cưỡi là Tu Huệ, cái được
cưỡi là Lư Thừa. Từ tánh mà tu, Năng và Sở
rành rành, nhưng cùng quên bất nhị. Đó gọi là “toàn
tánh thành tu, toàn tu tức tánh”. Dương Trí Cầm ở
Cô Thành lắng ḷng nơi giáo nghĩa Thiên Thai, có hiệu là Thừa
Thừa cư sĩ. Giáo hành lư thừa giống như
đàn Dao Cầm[86]
thời thượng cổ, nếu chẳng có ngón tay khéo
léo, diệu âm sẽ chẳng phát ra, ắt phải dùng Tam Huệ để
nương cậy, mới biết Giáo Quán bất nhị.
* Lời tựa về
Phóng Sanh Liên Xă chùa Huệ Ứng
Có
thể dùng đạo Nho để dạy th́ rộng lớn,
sâu xa mà chẳng thể tối tăm, tột cùng lục hợp,
trong ngoài chẳng ṿng vèo.
Xưa kia, tôi hư vọng câu nệ cái học của
Tŕnh, Châu, không chỉ nh́n biển thẳm [Phật pháp], lại
c̣n dấy khởi bài xích. Nay đă hăm hở tiến vào
trong ấy; lạ thay! Có thể khéo dùng phương tiện
lạ, thù thắng
của Nho, Như Lai, Quán Âm, và Địa Tạng để
chuyển biến tà tâm của tôi, khiến tôi sanh chánh tín.
Tôi do nương vào oai lực của Như Lai, hiện
sư tử hống, phá trọn khắp tà tâm của hết
thảy ngoại đạo. Loài vật tuy nhỏ bé, có loài
nào chẳng có tâm yêu mạng? Chỉ ngay cái tâm yêu mạng ấy
đă chính là Phật tánh chân thường. Cái tâm ấy chẳng
ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở trung gian, chẳng
phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng
phải vị lai, chẳng có, chẳng không, chẳng phải
cũng có cũng không, chẳng phải “không
phải có, không phải không”, vốn tự ĺa lỗi,
dứt sai, chẳng thể nghĩ bàn! Mê tâm tánh chân thường,
chân lạc, chân ngă, chân tịnh ấy, lầm lẫn
ngỡ Tứ Đại là thân tướng của
chính ḿnh, ngỡ duyên ảnh của sáu trần là tướng
tự tâm. V́ vậy, ở trong đó, chia ra người,
chia ra vật, dấy ḷng yêu, nẩy ḷng ghét, Hoặc nghiệp
khổ luân tuần hoàn chẳng ngơi.
Nếu có thể thẳng
thừng quán chắc chắn một niệm tâm tánh hiện
tiền, tợ hồ hạn cuộc trong duyên ảnh của
Tứ Đại, nhưng thật sự chẳng thể hạn
cuộc trong duyên ảnh Tứ Đại. Như tâm, Phật cũng giống
như thế. Giống như Phật, chúng sanh cũng thế,
liền biết “tâm,
Phật, chúng sanh, cả
ba đích xác là chẳng sai biệt”.
Sát sanh chính là giết vị lai chư Phật trong tự
tâm. Phóng sanh tức là thả vị lai chư Phật trong tự
tâm. Nếu thả vị lai chư Phật trong tự tâm, sẽ
chính là Niệm Phật tam-muội thật sự. Tu Niệm
Phật tam-muội chính là luôn chuyển kinh Diệu Pháp Liên
Hoa trăm ngàn vạn ức bộ, đạo của Thích
Ca Như Lai chẳng bị đọa lạc sát đất.
Ấy là do loài hàm thức có linh tánh, không loài nào chẳng
đều trọn đủ toàn thể đại dụng.
Nay nêu lên toàn thể đại dụng để lập
xă, viết văn, làm thơ, tạo đủ loại pháp
ngữ, há c̣n than thở văn hiến chẳng đủ
để làm bằng chứng ư? V́ thế, đặt tựa
đề cho bản biên soạn này là Năng Nho Văn Hiến,
và viết lời tựa.
* Lời tựa tự
đề cho lần tái bản bộ Phá Không Luận
Kinh
dạy: “Ninh khởi hữu kiến như Tu Di Sơn, vật
khởi ác thủ không kiến như giới tử hứa”
(thà khởi hữu kiến như núi Tu Di, đừng khởi
ác thủ không kiến chừng bằng hạt cải). Bởi
lẽ, do Không kiến, sẽ bài bác chẳng có nhân quả,
có thể đoạn thiện căn của ngũ thừa,
nhưng Bát Nhă như đống lửa lớn, bốn phía
đều chẳng thể chạm! Hễ chạm vào, sẽ
bị đốt! Nếu chẳng chấp trước, nấu chín thức ăn, thân
sẽ ấm áp, trừ tối tăm. Đấy là sánh ví bốn
môn đều có thể nhập đạo, lại v́ sao
riêng phá Không? Cần phải biết: Hễ phá câu “Không” th́
bốn câu đều bị phá! Phá câu Không chính là để
hiển thị Không Môn. Không Môn hiển th́ bốn môn đều
hiển. Bồ Tát muốn trọn đủ hết thảy
Phật pháp, hăy nên học Bát Nhă. Bát Nhă há chỉ là Thỉ
Giáo nơi phá tướng mà thôi ư?
Hơn nữa, như kinh này, một
mặt nói “hữu tŕ giới, tu phước giả,
ư thử chương cú năng sanh tín tâm” (có người
tŕ giới, tu phước đối với chướng
cú này có thể sanh tín tâm), một đằng lại nói “ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, ưng sanh vô sở trụ
tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu để sanh cái
tâm. Hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu). Kế
đó, lại nói: “Dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ
giả tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Dùng vô
ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết
thảy thiện pháp, liền đắc Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác) cho đến nói: “Phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm giả, ư pháp
bất thuyết đoạn diệt tướng” (Phát
tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đối với
pháp chẳng nói tướng đoạn diệt). Đấy
há chẳng phải là chánh ấn của Thật Tướng
Đại Thừa ư? Trong bộ luận này, tôi phát khởi
ư trước thuật tại Vũ Thủy; kế đó, hoàn
thành bản thảo tại Hà Chương. Khắc in lần
thứ nhất tại Hà Chương, khắc lần nữa
tại Thiều Thành, nay lại khắc in ở Lưu
Đô (Nam Kinh). Tôi mừng v́ tăng, tục tại
vương thành có đại nhân duyên Bát Nhă rất sâu, bèn
dùng mấy lời để
đặt ở đầu sách vậy!
* V́ ông Dương Phụ
Chi mà viết lời tựa cho
bộ Kim Cang Tập Giải
Giáo
pháp suốt một đời đức Phật đều
là cầu bến rộng, lớn
trong biển sanh tử, nhưng Bát Nhă
càng là chiếc tàu nhanh
chóng. Bồ Tát không có ai chẳng học Bát Nhă mà thành Vô
Thượng Bồ Đề được! Bát Nhă gồm
mười sáu hội[87],
dung hội hết thảy Ma Ha Diễn (Mahāyāna, Đại Thừa), là pháp chung để ba thừa
cùng tiến, để bất cộng Bồ
Tát riêng tu. Chỉ
có hội thứ chín là hội Kim Cang, chỉ thẳng ư chỉ
mầu nhiệm “vô trụ sanh tâm”. V́ thế nói là “v́
người phát Đại Thừa, tối thượng thừa”
mà nói; bởi lẽ, đàm luận chánh ấn Thật
Tướng viên đốn tột bậc. V́ vậy, ngài Hoàng Mai (Ngũ Tổ) [dùng
kinh này để] ấn tâm, Lục Tổ [nghe một câu
trong kinh này mà] ngộ đạo.
Theo cách hiểu trong cơi
đời, chỉ lấy “vô trụ, vô tướng”
làm tông thể của kinh, há có biết Bát Nhă như đống
lửa lớn, bốn phía đều chẳng thể giữ
lấy; bốn môn đều có thể nhập ư? Tôi
thường nghiền ngẫm [những
chỗ] kinh so sánh phước, mỗi chỗ
đều nêu ra chuyện xả tài, xả thân, dường
như là Bát Nhă công năng thù thắng, c̣n bố thí công
năng kém cỏi. Nhưng đầu kinh có nói: “Bồ
Tát ư pháp ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (Bồ
Tát đối với pháp, hăy nên chẳng trụ vào đâu
để hành bố thí). Lại nói: “Bồ Tát bất trụ
tướng bố thí, kỳ phước đức bất
khả tư lượng” (Bồ Tát chẳng trụ
tướng để bố thí, phước đức ấy
chẳng thể lường được!)
Do vậy nói “bố thí tức Bát Nhă”, chẳng phải
là ĺa bố thí mà đàm luận riêng Bát Nhă!
Di Lặc, Vô Trước,
Thiên Thân, Công Đức Thí, bốn vị đại Bồ
Tát tạo luận, đều nói “bố
thí trọn đủ Tam Đàn”, Tam Đàn (Tài Thí, Pháp
Thí, Vô Úy Thí) nhiếp trọn Lục Độ. Người
đời sau dẫu chú thích, há có thể vượt trội
bốn vị đại Bồ Tát để nêu ra ư kiến
thần kỳ ư? Tuyên Thánh (Khổng Tử) nói: “Hữu
đức giả, tất hữu ngôn” (Người có
đức ắt có ngôn luận tốt đẹp). Tôi
cũng nói: “Tu Bát Nhă ắt tu bố thí”. Người
đời nay chẳng vậy, cao giọng bàn luận Bát
Nhă, không ai chẳng vỗ ngực, [nhưng nếu] bảo
họ tu xả th́ trong tâm kinh sợ, ăn nói
ngược ngạo lấp liếm “ắt đừng
chấp tướng”. Nào có biết chẳng chấp
tướng bố thí, đă sớm chấp tướng
keo tham! Nếu keo tham mà chẳng có tướng keo tham, sao
chẳng “bố thí mà chẳng
có tướng bố thí” sẽ
hay khéo hơn? Kinh dạy: “Pháp thượng ưng xả,
hà huống phi pháp” (Pháp c̣n nên bỏ, huống hồ phi
pháp). Chấp bố thí là chấp pháp, há chấp keo tham chẳng
phải là chấp phi pháp ư? Đó gọi là “vô đức,
vô ngôn”! Nhưng Phật pháp như rừng chiên đàn,
người vào đó dù hữu tâm hay vô tâm, đều nhuốm
mùi thơm. Các bản chú giải xưa nay, tuy chưa chắc
đă hoàn toàn thích đáng, vẫn không ǵ chẳng có diệu
hương Bát Nhă tồn tại trong ấy! Bộ Tập
Giải này được soạn ra là v́ lẽ ấy
đó ư?
* Lời tựa tự
soạn cho lần tái bản tác phẩm Đại Phật
Đảnh Kinh Huyền Văn
Hai tông Tánh và Tướng như sóng với
nước, chẳng thể phân cách, nhưng thói xấu trong hiện thời đến mức chia sông để uống nước! Há đấy
là lỗi của Văn Thù, Di Lặc, mà cũng há có phải
là ư chỉ của Mă Minh, Hộ Pháp ư? Nói là “Chân Như thọ huân” (Chân Như tiếp nhận sự
huân tập), ví như kiếp hỏa cháy sạch, há hư
không riêng lạnh? Bảo là “Chân Như chẳng thọ
huân”, ví như kiếp hỏa rạng ngời, há hư không
có bao giờ tan hoại? V́ thế hiểu biết lời
này, gộp lại sẽ là đôi đằng cùng đẹp
đẽ. Nếu chẳng hiểu tông chỉ, tách rời
ra, hai đằng đều tổn
thương. Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Hư
không thể phi quần tướng, bất cự chư
tướng phát huy” (Thể của hư không chẳng
phải là các tướng, nhưng chẳng cự tuyệt
các tướng được phô rơ). Chỉ một lời
này, hai mối nghi đều tiêu tan! Khéo sao Trí Giả đại
sư có nói: “Thiên chấp pháp tánh sanh ra hết thảy các
pháp, nào khác tự sanh? Thiên chấp Lê Da (A Lại Da Thức)
sanh ra hết thảy các pháp, nào khác dị sanh?” Phỏng
theo đó mà suy, dẫu nói pháp tánh và A Lại
Da Thức ḥa hợp sanh ra hết thảy các pháp, nào khác cộng
sanh? Chẳng phải pháp tánh, chẳng phải A Lại Da
Thức sanh ra hết thảy các pháp, nào khác chẳng có nhân
duyên mà sanh? Bốn câu đó, không ǵ chẳng phải là báng!
Nếu khéo thông đạt
Vô Sanh, chẳng dấy Tánh Kế (Biến Kế Sở Chấp
Tánh), tuy bốn câu chẳng thể nói, nhưng có nhân duyên Tứ
Tất Đàn th́ cũng có thể nói, tức là “Chân
Như chẳng nghĩ bàn, huân sanh hết thảy các pháp. A
Lại Da Thức là tánh có thể huân, sanh ra hết thảy
các pháp”, đều không ǵ chẳng được. Bèn biết
ngài Trí Giả thật sự ngộ bí yếu Quyền Thật,
đối với kinh [Lăng Nghiêm] chưa được
truyền đến, Ngài đă
huyền hợp chỉ thú dường ấy. Kinh truyền
đến, ngài Trí Giả đă chẳng c̣n tại thế.
Người tu tập theo tông Thiên Thai mê muội đối
với Duy Thức, người tu tập Pháp Tướng
mê muội đối với viên lư. Do đó, các bản sớ
giải đều bỏ sót
cương yếu, chẳng xét tới
chỗ thật sự quy hướng
của nghĩa lư, [khác nào] muỗi chích cọc sắt, cứ
phán định theo văn tự, rơi vào t́nh cảnh
đục lỗ nhét râu[88].
Húc chưa xuống tóc,
đă từng nghiên cứu kinh này, mỗi khi giở xem các bản
chú giải cũ, [cảm thấy] mê
man, ngơ ngác rất nhiều. Về sau, do tọa Thiền
tại Song Kính, mới tháo gỡ sự trói buộc nơi
văn tự. Lại do mấy phen giảng diễn, thấu
hiểu sâu cội gốc của dây leo[89],
và t́m hiểu hai tông, dung hợp vào tâm kính. Cho tới khi
đến Ôn Lăng hoằng pháp, mới có dịp cầm
bút ghi nhanh lại, hoàn thành bản
thảo chẳng lâu sau, gọt giũa toàn tất,
lưu bản gốc tại giới đàn Cam Lộ, chẳng
thể đem theo đến giang ngoại. Nay do sang chơi
Phổ Đức, hơi lộ ra thứ đă cất giữ,
các bạn cho in lại. Lại thuật vài lời ḥng xé toạc
rào giậu ngàn đời chưa phá, đă phạm phải
điều cấm kỵ nghiêm ngặt từ trước
tới nay, địa vị thấp kém mà nói năng cao kỳ,
sao tránh khỏi tội? Nhưng bậc quân tử xuất
thế sẽ rộng ḷng chẳng v́ người [hèn tệ]
mà bỏ lời vậy!
* Lời tựa tự
ghi cho sách Đại Thừa Chỉ Quán Thích Yếu
Đại
Thừa là tên gọi khác của tâm tánh. Chỉ Quán là tên gọi
khác của Tịch Chiếu. Thói đời thường
ĺa tâm tánh để riêng t́m kiếm Đại Thừa, ĺa
Chỉ Quán để riêng bàn Tịch Chiếu, khác ǵ
đang cưỡi trâu mà t́m trâu, Bính Đinh đồng tử[90]
cầu lửa? Đạo của Nho gia có “do thấy mà biết”
(kiến tri) và “do nghe mà biết” (văn tri). Phật đạo
cũng thế! Bắc
Tề đại sư ngộ ư nghĩa của bốn câu
kệ trong Trung Luận, thẳng thừng tiếp nhận
tâm ấn của ngài Long Thọ, truyền cho ngài Nam Nhạc,
[Nam Nhạc] lại truyền cho ngài Thiên Thai. Ngài Thiên Thai soạn
thuật các sách như Ma Ha Chỉ Quán v.v… Do vậy, pháp môn
Chỉ Quán được nghe rộng răi trong cơi đời.
Đốn, Tiệm, Bất Định, ba pháp cùng viên là do
ngài Nam Nhạc chỉ dạy, khéo léo truyền tâm yếu,
cơi đời đều chưa nghe. Nay thử đọc
kỹ, quả thật là tổng cương trọn vẹn
của ba môn Chỉ Quán. Văn chẳng rườm rà mà
nghĩa trọn vẹn, riêng ngài Từ Vân Sám Chủ vào
năm trăm năm sau đă viết lời tựa để
lưu hành. Cho tới nay lại hơn năm trăm
năm, lời vi diệu sắp dứt mất, tôi hổ
thẹn chính ḿnh chẳng mẫn nhuệ, chưa thể
nghe đạo, chỉ đành bắt chước người
mù sờ voi, soạn thuật sách Thích Yếu để giúp
tuyên truyền. Hai vị cư sĩ Lư Thạch Lan và
Trương Nhụ Hàm gom góp các duyên khắc in. Do vậy,
viết lời tựa trần thuật đơn giản
đầu mối của duyên khởi Đại Thừa!
* Lời tựa về
chuyện cư sĩ Cảnh Tâm tŕ kinh Địa Tạng
Bổn Nguyện và kiêm khuyên lơn mọi người
“Duy
thánh vọng niệm tác cuồng, duy cuồng khắc niệm
tác thánh” (Chỉ là thánh mất niệm thành cuồng, cuồng
khắc chế ư niệm bèn thành thánh). Đấy chính là
đích truyền của “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy
vi” (ḷng người
nguy hiểm, đạo tâm nhỏ nhiệm).
Phật pháp cũng thế, một niệm mê cơi Thường
Tịch Quang, liền thành địa ngục A Tỳ. Một
niệm ngộ, địa ngục A Tỳ sẽ chính là
cơi Thường Tịch Quang. Do vậy, kinh Địa Tạng
Bổn Nguyện có cùng một huyết
mạch với Hoa Nghiêm. Hăy thử xem thế giới Hoa
Nghiêm, tức Không, tức Giả, tức Trung chẳng thể
nghĩ bàn! Các nỗi khổ trong địa ngục
cũng tức Không, tức Giả, tức Trung chẳng thể
nghĩ bàn! Hoa Nghiêm giảng về Tịnh Độ vốn
sẵn có trong tự tâm khiến cho mọi người biết
mà quay về. Kinh Địa Tạng nói về khổ luân vốn
sẵn có trong tự tâm,
khiến cho mọi người biết mà né
tránh. Một đằng quay về, một đằng né
tránh, chỉ thú vĩnh viễn khác biệt; nhưng quay về
cũng là duy tâm, mà tránh né cũng là duy tâm. Ngoài tâm, chắc
chắn chẳng có pháp nào khác; Nho nói là “đạo
nhị”, tức nhân và bất nhân mà thôi! Nguy hiểm thay,
vi diệu thay! Thiện lợi là cái ải để chia
tách Thuấn và Đạo Chích. Trừ khử hay ǵn giữ
là chỗ khác biệt giữa con người và cầm thú.
Đọc kỹ lưỡng kinh Bổn Nguyện rồi
mà chẳng nghĩ “tự giác, giác tha, thoát khỏi địa
ngục, trở về Hoa Tạng”, ắt là kẻ bất
nhân cùng cực! Cư sĩ Cảnh Tâm thương xót, bèn cả
đời thọ tŕ, lại c̣n khuyên bảo người
khác. Tôi nói: “Vừa
mới phát cái tâm ấy, khổ luân trong địa ngục
đă liền nhanh chóng dứt bặt”. Hoan
hỷ viết lời tựa để thay cho pháp giới
chúng sanh mà khuyên nhủ trọn khắp vậy!
* Lời tựa tặng
Thạch Tông bế quan lễ sám, chiêm nghiệm luân tướng
Phật
pháp chẳng có chi khác, trái ngược t́nh đời mà
thôi! Tâm quán chẳng có chi khác, tương phản vọng
tưởng so đo, chấp trước mà thôi. Nay người
học Phật pháp toàn là mượn Phật pháp để
giúp cho t́nh đời. Kẻ nói quán tâm, càng do quán tâm mà
tăng thêm suy tưởng, chấp trước. Chánh pháp
suy sụp sát đất, Tăng luân sắp tuyệt,
đau đớn lắm thay! Những kẻ truyền tâm
pháp của Khổng - Nhan trong cận đại, chỉ có một
ḿnh tiên sinh Dương Minh. Người truyền tâm pháp của
Phật, Tổ,
chỉ có một ḿnh Tử Bách đại sư. Húc chào
đời cũng muộn, khi học Nho, chẳng
được thân cận ngài Dương Minh. Về sau học
Phật, chẳng được kính cẩn thừa sự
ngài Tử Bách. Do vậy, tuy đại lược liếc
thấy một tia nhỏ nơi nguồn mạch của
Nho và Thích, biết nó khác biệt vời vợi so với Lư
học và Thiền cơ đang được truyền bá
trong Thế Đế, nhưng vì chướng
dày, huệ yếu, phước mỏng, tập khí mạnh
mẽ, cho nên nửa đời lầm lẫn trong hư
danh, chẳng thật sự đạt tới. Sau đó, cảm
thấy rất thẹn với [thân phận] tỳ-kheo,
bèn lui xuống cầu vắng lặng. Nay càng thẹn với
chân nghĩa của Sa-di, chỉ xưng là “chỉ thọ
Tam Quy”, càng chẳng dám đem lời nào tặng cho
người khác!
Nhưng trộm
nghĩ kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo vốn là bi tâm
triệt để của đấng
Thích Ca đại thánh, là phương tiện
vượt ngoài khuôn khổ của đức Địa Tạng.
Ba thứ luân tướng khéo chỉ dạy nhân duyên nghiệp
báo, không mối nghi nào chẳng giải quyết. Hai loại
quán đạo nêu tỏ sâu xa phương tiện lănh hội,
tiến nhập, ḥng có thể tiến lên Đại Thừa.
Dùng Ngũ Hối và xưng danh để khơi gợi
dung mạo trước đó (bản lai diện mục),
dùng cảnh giới Nhất Thật để b́nh đẳng
quy hướng. Bản thể của Ngũ Hối vừa
khít trái ngược t́nh đời. Hai phép Quán xét về bản
thể khít khao trái ngược vọng tưởng, so
đo, chấp trước. Sám hối và phát lộ, vĩnh
viễn đoạn tiếp nối, diệt nghiệp
chướng. Khuyến thỉnh và thuyết pháp diệt ma
chướng. Tùy hỷ công đức diệt chướng
ngại ghen ghét. Thiện xảo hồi hướng diệt
chấp Hữu chướng. Phát nguyện kiên cố diệt
chướng ngại thoái thất. Duy Tâm Thức Quán,
trước là biết cảnh bên ngoài vốn hư giả,
đều do tâm hiện. Kế đó, thông đạt nội
tâm như huyễn, trọn chẳng chân thật. Chân Như
Thật Quán thấu đạt sâu xa dù cảnh hay tâm, đều
chỉ là pháp tánh. Pháp tánh bất sanh, bất diệt. Do vậy,
bản thể của các pháp đều bất sanh, bất
diệt. Như ngàn bọt nước, vạn con sóng, đều
chỉ là tánh ướt. Ngàn vật, muôn h́nh tượng
đều chỉ là tánh vàng.
Ngũ Hối lật
nhào Sự chướng từ vô thỉ. Hai phép Quán lật
nhào Lư chướng từ vô thỉ. Hai chướng đă
tịnh, trở thành hai thân Chân và Ứng. Tam tụ tịnh
giới một niệm phát khởi trọn vẹn, tướng
tam luân thanh tịnh riêng biểu thị thủ tín, ḥng hiển
lộ trụ tŕ Tăng Bảo dẫu dứt tuyệt mà vẫn
có thể tiếp nối. Mạnh Kha nói “hào kiệt chi
sĩ vô Văn Vương do hưng, văn nhi tri chi, bất
dị kiến nhi tri chi” (hào kiệt dẫu
chẳng có Văn Vương vẫn
hưng khởi. Do nghe mà biết sẽ chẳng khác do thấy
mà biết). Than ôi! Tôi có thể biết ư chỉ to lớn của
kinh Chiêm Sát, nương theo kinh lập ra pháp sám, nhưng
chính ḿnh chẳng thể đạt được luân
tướng
[thanh tịnh], ai sẽ tin tưởng?
Đấy thật sự là nói về thuốc mà chẳng uống,
lỗi chẳng ở nơi thuốc. Toa thuốc tốt,
vị thuốc hay, có sẵn rành rành, Địa Tạng Bồ
Tát quyết chẳng dối ta! Tôi phạm lỗi “đă biết
mà chẳng uống”, thề sẽ uống. Pháp hữu Thạch
Tông đă hiểu ḷng tôi trước, cũng sẽ bế
quan để cầu được thanh tịnh. Nguyện
ai nấy nỗ lực, ngày đêm bôi, thoa, và kiêng chất kỵ
thuốc, tránh gió máy, ngày sau sẽ thành hậu duệ chân thật
của đức Lô Xá
Na. Một phiến đá Linh Phong cùng ngọn núi Linh Thứu
bậc nhất sẽ đồng thời gật đầu
vậy!
* Lời tựa cho
Duyên Cư
Pháp
thế gian và xuất thế gian đều là duyên sanh. Duyên
sanh vô tánh. V́ thế, chỉ bậc chí nhân có thể tùy duyên
mà chẳng đánh mất lẽ chân. Lẽ chân tức là
duyên mà chẳng phải duyên, chẳng phải duyên mà chẳng
ngại các duyên. Lư Phương Sơn đă nói rất khéo: “Một
niệm đốn ngộ duyên khởi vô sanh, vượt
ngoài kiến giải của hàng Tam Thừa Quyền Học”.
Bởi lẽ, phàm phu tham chấp huyễn duyên, chẳng thể
ĺa bỏ, Nhị Thừa nhàm chán sanh duyên, chẳng thể
du hư, hiện ra, mất đi, đều do chưa hiểu
rơ vô sanh, hư vọng trở thành lấy, bỏ. Nếu
quán chắc chắn duyên khởi nhiễm tịnh, tứ
tánh vô sanh, vô sanh th́ vô diệt, vô diệt bèn chẳng tụ,
chẳng tán, có pháp ǵ đáng vui?
Có pháp ǵ đáng chán? Do vậy, hành xử
theo đúng địa vị, chẳng nhập mà tự
đạt được.
Kinh dạy: “Cực
Lạc tu hành nhất kiếp, bất như Sa Bà tu hành nhất
nhật” (Tu hành một kiếp trong Cực Lạc chẳng
bằng tu hành một ngày trong Sa Bà).
Tôi cũng nói: “Xuất gia tu hành một
kiếp, chẳng bằng tại gia tu hành một ngày”. Tại
gia nhiều nhân duyên ác ràng buộc, mà có thể chẳng quên
Tam Bảo, chẳng bỏ chánh niệm. Đó là hoa sen trong
lửa, hy hữu, khó có. Xuất gia ĺa hồng trần, ở
yên trong chốn núi rừng, bậc thượng sẽ ch́m
đắm, vướng mắc trong không tịch, chẳng
nghĩ tới nỗi khổ của người đời.
Bậc hạ th́ do tĩnh cùng cực, sẽ mong động,
đâm ra hâm mộ vinh hoa nơi chốn thành thị, triều
đ́nh, há được như Ma-ni trong nước đục,
mặc cho nước vùi dập
mà vẫn sáng trong như cũ! Cư sĩ Dă Đường
đổi tên chỗ đọc sách thành Duyên Cư, tức
là biết duyên, trọn chẳng nghĩ là thật. Do biết
chẳng thật, trọn chẳng tham đắm, mà
cũng chẳng chán, dứt, chỉ “tùy
duyên tiêu nghiệp cũ”
là được. Ngẫu Ích Tử ngồi khô khốc
trong Tạng đường của Bắc Thiên Mục,
nghe vậy bèn tùy hỷ, tùy tiện viết bài này để
ấn chứng, chắc cư sĩ cũng vỗ tay vậy!
* Bài tựa cho Liên Lậu
Thanh Âm (tiếng trong trẻo
của đồng hồ sen)
Kinh
dạy: “Nhược dục tịnh độ, tiên tịnh
kỳ tâm. Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh”
(Nếu muốn thanh tịnh cơi nước, hăy thanh tịnh
cái tâm trước. Thuận theo cái tâm thanh tịnh, cơi Phật
sẽ thanh tịnh). Đó là ư chỉ “Sự, Lư, nhân, quả”
cùng được nêu tỏ, là đàm luận về Tự,
Tha, Quyền, Thật bất nhị. Nếu mê muội th́ hễ
mê bèn coi duyên ảnh là tâm, chắc chắn sẽ lầm lẫn
cho rằng [tâm] ở trong sắc thân, chẳng biết núi
sông, hư không, đại địa ở ngoài sắc thân
đều là vật được hiện trong chân tâm mầu
nhiệm, sáng suốt. V́ thế, Tây Phương Cực Lạc
thế giới chính là duy tâm Tịnh Độ, Lạc
Bang giáo chủ đang hiện diện chính là tự tánh Di
Đà. Trong Diệu Tông Sao, ngài Tứ Minh nói: “Ứng Phật
hiển lộ, bổn tánh sáng suốt, nhờ vào nghĩa
bên ngoài mà thành lập, do duy tâm quán mà lập”, há giống
như kẻ ngu lầm nhận duyên ảnh của sáu trần
là tướng của tự tâm, khiến cho mười vạn
ức cơi ở ngoài tâm tánh ư? Xét ra, chỉ một niệm
tâm tánh hiện tiền t́m chẳng thể được.
Đó chính là nghĩa Không. Hiện rạng ngời muôn pháp,
đó chính là nghĩa Giả. Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài
pháp chẳng có tâm; đó chính là nghĩa Trung. Mê tâm th́ chính là
Không, gọi là Kiến Tư Hoặc. Mê tâm tức Giả,
gọi là Trần Sa Hoặc. Mê tâm tức là Trung, gọi là
Vô Minh Hoặc. Tam Hoặc lừng lẫy, bốn cơi do vậy
đều uế.
Nay nhất tâm niệm
Phật,
chẳng so đo ngă và ngă sở, tức là nghĩa Không hiển.
Khi niệm Phật, Phật thuận theo tâm mà hiện, liền
biết mười pháp giới đều chỉ do tâm tạo,
tức là nghĩa Giả được hiển lộ.
Không chỉ là tâm làm Phật, mà cũng là tâm này là Phật, tức
nghĩa Trung được hiển lộ. Ba nghĩa của
nhất tâm đă được hiển lộ, liền có
thể phá trọn vẹn Tam Hoặc, thanh tịnh trọn
vẹn bốn cơi, vẫn là trong “chẳng có thứ tự”
mà giả nói thứ tự. Quán Hạnh phá Hoặc, cơi Đồng
Cư được thanh tịnh. Tương Tự Phá Hoặc,
cơi Phương Tiện được thanh tịnh. Phần
Chứng phá Hoặc, cơi Thật Báo được thanh tịnh.
Cứu Cánh phá Hoặc, cơi Thường Tịch Quang vĩnh
viễn đạt được thanh tịnh. Do tức
Trung cho nên Thường, do tức Giả cho nên Tịch, do
tức Không cho nên Quang. Lại c̣n Tam Đế đều
là Thường, Tam Hoặc đều Tịch, tam trí đều
Quang. Đấy là một
mà chẳng phải một, nêu ra một mà chính
là ba. Ba mà chẳng phải ba, nói ba th́ chính là một, chẳng
ngang dọc, chẳng cùng hàng hay tách biệt,
chẳng thể nghĩ bàn, gọi là bí mật tạng. A Di
Đà Phật đă chứng điều này trước, hết
thảy chúng sanh mê điều này đă lâu. Hiện thời
chúng ta chuyên dốc ḷng niệm
điều này th́ gọi là Niệm Phật tam-muội.
Đó là “tâm tịnh th́ cơi tịnh”.
Trước ngộ,
sau tu, gọi là Lư nhất tâm. Lư đă nhất th́ Sự
cũng nhất. Trước tu, sau ngộ, gọi là Sự
nhất tâm. Sự nhất th́ Lư cũng nhất. Nhất Hạnh
tam-muội của ngài Văn Thù, mười đại nguyện
vương của đức Phổ Hiền, Viễn công
(tổ Huệ Viễn) khắc đồng hồ sen ở
Đông Lâm, ngài Vân Thê lấy hiệu là Liên Tŕ để tỏ
rơ chí, đều quy hướng tột bậc vào điều
này. Lăo cư sĩ Đinh Liên Lữ tin sâu, hạnh chuyên dốc
có thừa, xem trọn khắp các pháp yếu Tịnh Độ
xưa nay, chọn lấy những điều cảnh tỉnh
nhất, đặt tên là Liên Lậu Thanh Âm, mở đầu
bằng pháp thù thắng, kết thúc bằng cảm ứng
trong hiện tại, chia thành hai mươi lăm
chương, lớp lang rạch ṛi, mọi mối nghi tiêu
tan. Phàm những điều nghi chẳng thể cưỡng
tháo gỡ là do vốn chẳng thể nghi! Do vậy, tôi tiếm
lạm viết lời tựa như thế này!
* Lời tựa in lại
bộ Thành Duy Thức Luận Tự Khảo Lục
Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Hai tông Tánh và Tướng
cũng vì
vậy mà lập. Do nói “nhất tâm Chân
Như”, nên gọi là Tánh Tông. Tám thức sanh diệt, nên
gọi là Tướng Tông. Riêng chẳng nói tâm có chân tâm, vọng
tâm, thức có chân thức và vọng thức ư? Ngài Mă
Minh nương theo nhất tâm mà tạo Khởi Tín Luận,
lập ra hai môn Chân Như và sanh diệt. Sanh diệt có bao
giờ ĺa chân tâm mà riêng có một cái Thể ư? Ngài Thiên
Thân dựa trên tám thức mà tạo Tam Thập Tụng, nêu
rơ Chân Như chính là thật tánh của thức, cùng với
hết thảy các pháp chẳng một, chẳng khác! Chân
Như có bao giờ ĺa vọng thức mà có riêng một
tướng ư? Trung Luận của ngài Long Thọ nói “pháp
sanh bởi nhân duyên tức là Không, Giả, Trung”, ngoài sanh
diệt chẳng có Chân Như. Kinh Lăng Già dạy: “Tâm,
ư thức bát chủng, tục cố. Tướng hữu biệt,
chân cố, tướng vô biệt” (Tâm, ư, thức tám loại
là tục. Do tướng có khác là chân, cho nên tướng chẳng
khác). Do tướng và sở tướng (cái được
gọi là tướng) chẳng có, nên Chân Như và sanh diệt
chẳng một, chẳng khác. Nhưng trong Thức Luận,
Hộ Pháp Bồ Tát đă nêu ra điều trọng yếu
nhất. Ngài nói thẳng: “V́ trừ khử chấp
trước hư vọng ‘ngoài tâm và tâm sở, thật sự có cảnh’,
nên nói chỉ có thức. Nếu chấp duy thức là thật
sự có, giống như chấp vào ngoại cảnh th́
cũng là pháp chấp”. Ôi! Nếu hiểu
được ư này, sao đến nỗi chia sông để
uống nước ư?
Từng luận rằng:
Tánh chuyển theo tướng, có tánh nào chẳng phải là
tướng? Nếu chẳng thông đạt trọn khắp
các tướng vô lượng sai biệt, nào có biết diệu
tánh trọn đủ công năng nhiễm và tịnh như
thế! Tướng vốn dung thông với tánh, có tướng
nào chẳng phải là tánh? Nếu chẳng biết sâu xa một
tánh viên đốn trọn đủ, sao biết các tướng
không ǵ chẳng phải là Sự Sự vô ngại pháp giới?
Do đó, tông Thiên Thai tột bậc đàm luận Thật
Tướng, ắt xét theo bách giới thiên như. Phàm
ngũ vị bách pháp, riêng bách giới thiên như chẳng
phải là tánh và tướng ư? Bách giới thiên như, không ǵ chẳng phải
là Thật Tướng. Ngũ vị bách pháp[91]
riêng chẳng phải là Thật Tướng ư? Nếu
chẳng phân biệt ngũ vị bách pháp, chân, tục, giả,
thật, đủ thứ hiện tướng sai biệt,
đủ thứ bất đồng, liền nói nhỏ
nhoi như tướng sáng đă liên tục không ngừng bất
đồng, một giả th́ hết thảy đều giả,
chẳng gần như luông tuồng ư?
Ngài Hộ Pháp luận
định xác quyết về tâm
pháp và
tâm sở pháp, mỗi pháp đều
có bốn phần. Tướng
Phần mỗi thứ đều bất đồng th́
được, chứ Kiến Phần có thể nào một
mực bất đồng ư? Giả sử Kiến Phần
mỗi mỗi bất đồng th́ c̣n được, chứ
Tự Chứng Phần và Chứng Tự Chứng Phần
có thể một mực bất đồng ư? Dẫu
cho một mực bất đồng, tâm vương gồm
tám món, tâm sở năm mươi mốt món, khiến cho một
người thật sự có năm mươi chín món Tự
Chứng và Chứng Tự Chứng Phần rành rành đối lập,
chẳng biết lẫn nhau, gần như là cắt xẻ
lung tung ư? Nếu như tâm vương và tâm sở chỉ
cùng một Tự Chứng Phần
và Chứng Tự Chứng Phần, sao lại
có thể nói tâm pháp
và tâm sở pháp mỗi
mỗi đều do bốn phần hợp thành? Gần
như đọa vào chấp trước “Dụng biệt,
Thể đồng” đó ư?
Lại dựa theo
Tướng Phần để định luận, như
giơ lên một cành hoa, bản chất của đóa hoa ấy
chính là Tướng Phần nơi Đại Viên Kính Trí của
Như Lai. Mắt đức Phật trông thấy hoa, đó
chính là Tướng Phần của Thành Sở Tác Trí. Phật
trí nhận biết hoa, đó là Tướng Phần của
Diệu Quán Sát Trí. Ba thứ ấy (ba Tướng Phần
nơi ba trí) là một hay là khác? Nếu chắc chắn là
khác, chỗ nào riêng có ba đóa hoa? Nếu chắc chắn
là một, khi Phật nhăn chẳng nh́n, nó chỉ diệt Tướng Phần
của Thành Sở Tác Trí, chứ
hai thứ khác vẫn tồn tại. Khi Phật trí chẳng
duyên, chỉ diệt Tướng Phần của Diệu
Quán Sát Trí, bản chất vẫn c̣n. Lại nữa, khi mắt
thấy hoa, sẽ có Tướng Phần của nhăn thức.
Ngửi mùi hương của hoa, nếm vị của hoa,
đụng chạm cảm nhận hoa, mỗi đằng
đều có Tướng Phần của tỵ thức,
thiệt thức, và thân thức. Một ḿnh đức Phật
đă là như thế, ngài Ca Diếp lại có tứ vi của
ba đóa hoa. Trăm vạn người, trời, mỗi mỗi
đều có tứ vi của ba đóa hoa. Vô lượng tứ
vi của ba đóa hoa như vậy cùng tồn tại một
chỗ, giống như một tấm gương, chẳng
tạp, chẳng loạn, chẳng hai, chẳng khác. Trong
trăm vạn người, trời, tùy ư lấy Tướng
Phần của một người, ắt sẽ nhiếp
Tướng Phần của hết thảy mọi người.
Trong các thức như nhăn thức v.v…, khi tùy ư lấy Tướng
Phần của một thức, ắt
sẽ thâu nhiếp Tướng Phần của các thức
khác. Tầng tầng vô tận, vô tận tầng
tầng, há có thể nghĩ bàn ư? Hay chẳng thể
nghĩ bàn ư? Một hoa đă là như vậy, mọi vật
đều như vậy. Sắc trần đă là như vậy,
sáu trần cũng đều như vậy! Tướng Phần
có chất mà c̣n
như thế, sao riêng Kiến Phần chẳng phải là
như vậy? Kiến Phần thông tam lượng (hiện lượng, tỷ lượng,
thánh ngôn lượng) c̣n như thế, Tự
Chứng và Chứng Tự Chứng Phần chỉ có hiện lượng, há lại không phải
là như vậy ư?
Người hoằng
truyền Tướng Tông đời sau v́ sao tự lập rào giậu
ngăn chia từng chỗ, chưa từng suy nghĩ sâu xa
vậy? V́ thế, tu tập
tánh, chẳng tu tập tướng, chưa có ai chẳng mịt mờ.
Tu tập tướng, chẳng tu tập tánh, chưa có ai chẳng lầm lạc,
vướng mắc! Chỉ có một ḿnh sách Đại Thừa
Chỉ Quán của Nam Nhạc Huệ Tư đại thiền
sư được viết trước khi Thức Luận
được truyền đến, đă xiển phát trọn
vẹn chỗ sâu thẳm, bí mật nơi tánh, tướng; bởi lẽ,
đă chứng sâu Vô Sư Trí, sau đó muốn
nói rơ tâm yếu, phải nhờ vào văn tự, ngôn ngữ.
Hăy nên biết: Thành Duy Thức Luận giúp ích to lớn cho
tánh học. Tiếc rằng sau khi ngài Từ Ân mất
đi, bản chú sớ (tức Thành Duy Thức
Luận Thuật Kư) đă bị thất
truyền, hiện thời chỉ rải rác trong các sách
như Đại Sao (tức Hoa Nghiêm
Kinh Sớ Sao), Tông Kính Lục,
và hai quyển Khai Mông[92] là c̣n giữ
được đôi chút đầu mối. Từ thời
lập quốc[93]
đến nay, rốt cuộc trở thành tuyệt học! Đầu thời
Vạn Lịch, Tử Bách đại sư nối tiếp
đạo của ngài Tịch Âm, nồng nhiệt tán
dương tông này, bèn có các sách Tục Thuyên, Chứng
Nghĩa, Tập Giải. Tác
phẩm Âm Nghĩa của Thiều pháp sư tuy trội
hơn, nhưng sách Âm Nghĩa chưa toàn vẹn, cho nên chẳng
được lưu thông. Cơ pháp chủ tiếp tục
bổ sung, soạn thành sớ giải, cũng khá vắn tắt.
Huệ pháp chủ cho rằng lời sớ nhiều chỗ
sai lầm, lại soạn thành sách Tự Khảo Lục
này.
Tôi cho rằng: Tông này tới
đây mới viên măn, tột bậc sâu xa mà chẳng loạn,
sâu thẳm, vi tế tột bậc mà chẳng huyễn vọng,
tường tận, rơ ràng tột bậc mà có cương yếu.
Nếu chẳng phải là diệu ngộ, sẽ chẳng
thấu hiểu cùng tận. Trước
tác của các vị [cổ đức] cố nhiên chưa
đạt tới tột bậc, nhưng
mỗi tác phẩm đều có sở trường, nếu
do vậy mà cầu, sẽ tự đạt được
bản lănh sâu xa, tiếp nhận cội nguồn của
tánh và tướng, chẳng ĺa một niệm hiện tiền
mà biết mười hai phần giáo thuộc tam thừa
đều chính là cước chú cho cái tâm ta, hít thở cùng
một lỗ mũi với Mă Minh, Thiên Thân, há c̣n đợi
tôi nói mới biết chỗ sâu, cạn, được, mất
ư?
* Lời tựa về
chuyện kết liên xă lần nữa ở ngọn
Hương Lô thuộc Lư Sơn
Phật
pháp du nhập Chấn Đán, Đại, Tiểu đều
cùng trần thuật, Quyền và Thật cùng bày, cốt sao
thích hợp trọn khắp ba căn. Nhưng thâu nhiếp
căn cơ rộng nhất, nghĩa môn viên đốn nhất,
không ǵ bằng Tịnh Độ. Ngài La Thập vừa dịch
kinh A Di Đà, Viễn sư (Sơ Tổ Huệ Viễn)
bèn thuận theo đó kết liên xă nơi Đông Lâm. Khi ấy,
mười tám vị cao hiền đều là bậc nhân kiệt
lừng lẫy, tụ tập cùng một nơi. Các vị
như Đào, Tạ (Đào Tiềm, Tạ
Linh Vận) đều mở to mắt dơi theo
đó, có thể biết những vị khác [sẽ như
thế nào]!
Ngọn Hương Lô
cách Đông Lâm năm dặm, gần đây có bậc cao hiền
yêu chuộng sự thâm u thù thắng nơi ấy, dựng
lều tranh để ở, bèn gọi là Linh Vực. Đời
Đường, Bạch Hương Sơn (Bạch Cư
Dị) dựng thảo đường bên ngọn
núi, bèn gọi là Cao Hiền Kết Mao Xứ (chỗ bậc
cao hiền dựng lều tranh), tức chùa Di Ái. Thời Thế
Miếu (thời Minh Thế Tông), thiền sư Vô Tận
Đăng quải tích tại đó. Sau khi Ngài thị tịch,
tới nay toàn thân chẳng ră, như nhập Thiền Định.
Ngài Vô Tận Đăng đắc pháp nơi ngài Thiên Kỳ
Bổn Thụy, quả thật là con cháu đời thứ
chín của ngài Cao Phong. Trong niên hiệu Thần Miếu,
pháp sư Tuyết Lăng Hồng Ân hóa đạo rộng lớn,
huệ giải lẫy lừng, có Thạch Môn Kỷ pháp chủ
sống tại đó, riêng dùng sự tinh tấn tu hành để
tiếp nối, hết sức được ngài Hám
Sơn coi trọng, thầy Chuyên Ngu kính ngưỡng nhất.
Ngài cũng thản nhiên thị tịch trước ngọn
núi.
Chùa Di Ái ở
Hương Sơn thoạt đầu chỉ có một vị
cao hiền, nay có hai vị Vô Tận Đăng và Thạch
Môn Kỷ, trở thành ba. Pháp tôn của ngài Thạch Môn Kỷ
là ngài Phất Trần Thái hầu ngài Chuyên Ngu đă lâu, xuất
nhập Thiền giảng lại trở về Tịnh
Độ, nguyện nối gót thơm thảo của Viễn
công, mở lại huyền môn liên xă, xin tôi nói một lời
để dẫn khởi. Tôi kết giao với Thái công
(ngài Phất Trần Thái) chưa lâu, nhưng cùng hành sám-ma
nơi đàn Đại Bi, [biết Sư là người]
chân thành, chuyên dốc, chân thật, khẩn thiết, chẳng
phải là hạng phù phiếm dung tục! Cho tới khi kết
Hạ để bàn bạc, nghiên cứu Chỉ Quán, thấy
Sư lănh hội khá nhiều, t́nh đồng chí liên bang thật
sự tăng trưởng. Tôi mong kẻ sĩ, thứ dân
nghe tiếng sẽ hưng khởi, phàm thánh đều vận
ḷng thành kiên cố, ngơ hầu thịnh sự ở Đông
Lâm dẫu chẳng được chuyên chú, tốt đẹp
như xưa, nhưng Phật sự năm trăm năm
sau càng là hiếm có, khó được gấp bội, mà
công sức cũng trăm ngàn vạn lần gấp bội
thuở ấy!
* Lời tựa khuyên
niệm Đậu Nhi Phật
Bổn
Giác nơi tâm gọi là Phật, Thỉ Giác nơi tâm gọi
là Niệm. Nh́n vào Bổn
Giác trong ḷng người, tợ hồ khác biệt, nhưng
luôn đồng, c̣n Thỉ Giác tùy thuộc mỗi người
mà vận dụng, tuy đồng nhưng luôn dị. V́ thế,
trái trần, hợp giác, bèn gọi là Thỉ Giác. Trái giác, hợp
trần, bèn gọi là vô minh. Vô minh chẳng có Thể, liền
dùng Thỉ
Giác làm Thể. Thỉ Giác chẳng có
tướng, liền
lấy vô minh làm tướng. V́ thế,
khi chúng sanh nghĩ tới ngũ dục, liền gọi là
Dục Giới vô minh. Niệm Tứ Thiền, Tứ Không,
bèn gọi là Sắc Giới, Vô Sắc Giới vô minh.
Nghĩ tới “đoạn,
thường”,
liền gọi là tà kiến vô minh. Niệm Niết Bàn th́ gọi
là giới ngoại vô minh. Chỉ có khi niệm Phật, liền
gọi là Thỉ Giác. V́ thế nói: “Biển Chánh Biến
Tri của chư Phật
sanh từ tâm tưởng. Khi
tâm chúng sanh tưởng Phật, cái tâm ấy chính là ba
mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo.
Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.
Do đó, hết thảy các pháp môn không ǵ chẳng lưu xuất
từ pháp môn Niệm
Phật này, không ǵ chẳng nhiếp nhập trong pháp môn Niệm Phật. Một
niệm tương ứng một niệm Phật, một
ngày tương ứng một ngày Phật, thẳng chóng,
viên đốn, ĺa kiến siêu t́nh. Mă Tổ nói “tức
tâm tức Phật” bởi đă thấu đạt sâu
xa điều này! Phàm biết “tức tâm tức Phật”,
trọn không lúc nào chẳng phải là lúc niệm Phật; nhưng kẻ mê
th́ lầm tưởng duyên ảnh là tâm, lại hư vọng
nói “tâm đă chính là Phật, cần ǵ phải niệm nữa!”
Do vậy, bất đắc dĩ, chuyển thành
phương tiện, nói “chẳng phải tâm, chẳng phải
Phật”. Lại nói: “Chẳng phải là tâm, chẳng
phải là Phật, chẳng phải là vật” v.v… Đấy
là tùy thuận, nhằm tháo niêm, cởi trói cho hàng trung hạ,
chẳng phải là ý chỉ gốc “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”!
Người đời
sau như Hàn Lô đuổi theo cục đất[94],
ngược ngạo coi “chẳng phải tâm, chẳng phải
Phật” cho tới các loại câu nói hiểm hóc là đặc
biệt, lạ lùng, coi “tức tâm tức Phật” là tầm
thường, khác ǵ ưa chuộng ba đậu[95],
đại hoàng, khạc bỏ cao lương mỹ vị
ư? Tại Đồng Thành có hai người, kết bạn
làm khách. Một người chết, bạn chôn cất,
đem tiền bạc về giao cho vợ người ấy.
Vợ ngờ vực, bạn hết sức phẫn nộ,
tới chỗ đặt thi thể, bày đồ cúng tế,
khóc kể. Quỷ và bạn vấn đáp như khi c̣n sống,
bèn cùng trở về làm chứng. Giữa đường gặp
chuyện, ngẫu nhiên [người c̣n sống] niệm một câu A
Di Đà Phật. Quỷ gào to: “Sao lại phóng quang dọa
tôi?” Người ấy càng niệm gấp mấy câu. Quỷ
sợ hăi nói: “Ông vừa niệm, ngực liền tỏa
ánh sáng năm màu hơn mười trượng, chói ḷa tâm
mục tôi, chẳng thể gần ông được nữa!
Ông hăy trở về nói với vợ tôi, bảo cô ta tự
đến, tôi sẽ v́ ông rửa oan!” Người bạn
do vậy, tỉnh ngộ, xuất gia làm cao tăng. Than ôi!
Vừa mới dấy một niệm, quang luân liền tỏa
ra. Do đó, Thọ Xương đại sư nói: “Cái
tâm niệm Phật chính là Phật, há phải đâu là lúc
này niệm Phật, lúc khác thành Phật ư?” Tiếc là
quỷ chẳng gieo thiện căn, không nghe danh hiệu Phật,
cho nên sợ hăi! Nếu vốn là người niệm Phật,
sẽ nhờ vào duyên lành ấy, lẽ nào chẳng nhanh
chóng siêu thăng cơi lạc ư?
Cư sĩ Tất Quán
tham yết trọn hết nạp Tăng[96]
trong thiên hạ, bèn kiên quyết niệm Phật, cầu
sanh Tịnh Độ, kiêm khuyên người khác dùng hạt
đậu niệm Phật để kết Phật duyên.
Thân người nhỏ như hạt đậu, trong khi niệm
Phật, thân tức phóng quang, được gọi là “Phật
thân đầy ắp pháp giới”, chẳng phải vậy
ư? Nay dùng đậu để niệm Phật, đậu
ắt phóng quang. Dùng đậu phóng quang để làm thức
ăn phóng quang, vào trong bụng chúng Tăng, bất luận
người niệm Phật hay không niệm Phật, ắt
đều luôn phóng quang minh. Nay người gặp quang minh
ấy, hữu tâm, vô tâm, đều được giải
thoát. Ánh sáng chiếu lẫn nhau, thành đèn vô tận, tức
là chúng sanh giới nhanh chóng rỗng không, càng chẳng ắt
cần phải bàn lẽ “hướng thượng nhất
trước” nữa! Đấy chính là
công án tột cùng trong các công án. Tăng hỏi ngài Triệu
Châu: “Như thế nào là Pháp Thân Chủ của Tỳ Lô
Sư?” Ngài Triệu Châu nói: “A Di Đà Phật, A Di
Đà Phật”. Xin hăy dùng lời chân thành ấy làm chứng!
* Lời tựa cho
Phóng Sanh Xă
Đức Phật lấy
sát sanh làm giới đứng đầu, Nho coi hiếu sanh
là đức lớn. Vua Thành Thang mở lưới [cho các
loài thú bị vướng lưới thoát ra], Tử Sản
nuôi cá, đều toàn là ḷng trắc ẩn của ta đó
thôi! Tràn đầy ḷng trắc ẩn th́ ḷng nhân chẳng thể
không vận dụng mạnh mẽ. Mở rộng ra để
thông hiểu các điều khác, sẽ là đại từ,
đại bi. Tâm người, tâm Phật, có phải là hai
tâm đâu nhỉ? Tâm người chẳng khác tâm Phật, tức
Sa Bà chẳng khác Cực Lạc, ai nói kiếp trược
chẳng thể chuyển? Muốn từ tâm người mà
chứng tâm Phật, chuyển kiếp trược thành Tịnh
Độ, không có thuật nào mầu nhiệm hơn phóng
sanh. Pháp phóng sanh được khuếch trương
đă lâu. Dẫu một chén nước chẳng cứu
được xe củi đang
cháy, nhưng nếu mỗi người
một chén rồi lại một chén không ngớt, rồi lại
tiếp một chén. Chén nước nhiều, xe đang bốc
lửa lẽ nào chẳng diệt?
Hiện thời
sát vận tơi bời, toàn là do đồng phận ác nghiệp
chiêu cảm, chẳng do nước Từ tam-muội, ai có
thể dứt bặt? Chẳng biết tâm học của
Tuyên Ni (Khổng Tử), tâm pháp của Cù Đàm (Phật
Thích Ca), ai có thể hành được? Phóng Sanh Xă của Tế
Sanh Am đă đứt đoạn rồi lại
được tiếp nối, người nối tiếp
đều là cao túc trong Nho môn, đúng là ư chí kiên định,
tiếp nối sự truyền dạy trung hậu, khoan thứ,
khiến cho Phóng Sanh Xă ấy được mở rộng,
dài lâu, chính là sự nghiệp vĩ đại trong trời
đất, xoay chuyển càn khôn, hoàn toàn đều thuộc
trong đó. Nếu chẳng cô phụ Phóng Sanh Xă ấy, sẽ
chẳng cô phụ đạo mạch của Khổng môn và
sự phó chúc nơi Linh Sơn, rốt ráo chẳng phụ
cái tâm trắc ẩn vốn sẵn có.
* Lời tựa tự
soạn cho bản in Trùng Đính Chư Kinh Nhật Tụng
Tỳ-kheo thời
đức Phật hoặc tu tập tọa Thiền, hoặc
hành đầu-đà, hoặc chuyên chú phạm bái, hoặc
chuyên thuyết pháp, hướng đến đạo Niết
Bàn. Thoạt đầu chẳng có khuôn phép nhất định,
nhưng đều tuân theo lời giáo huấn sáng suốt của
đức Phật, chẳng hề
hư vọng tuân theo ư ḿnh! Pháp truyền
sang Đông Độ, thoạt đầu cũng giống
như thế. Kể từ khi Mă Tổ lập tùng lâm, Bách
Trượng lập Thanh Quy, cơi đời phỏng theo, bèn
mỗi nơi nẩy sanh ư kiến riêng tư, hư vọng
tăng thêm quy củ. Như đối với sách Bách
Trượng Thanh Quy trong Đại Tạng và ba tập
Chư Kinh Nhật Tụng được lưu truyền,
những điều bịa đặt, xuyên tạc chẳng
kể cho xiết, nào có biết trong đường tu hành
chân chánh, chỉ nội một chuyện là khóa tụng sáng
tối đă bị so
le, lệch lạc, chỉ chú trọng xướng, tán, trống,
năo bạt, hết sức đáng than!
Ḥa thượng Vân Thê
đă giảo chánh, khắc in thành bản cố định,
các nơi ở Cổ Hàng đa phần tuân hành, nhưng
thói tệ tích tụ tại Lưu Đô (Nam
Kinh) chưa sửa đổi mảy may!
Tôi bèn cùng với học lữ ở
U Thê dốc sức đính chánh sai ngoa,
tính khắc in lại. Lại
bỏ những chỗ rườm rà, viễn vông, chỉ
giữ những điều thiết yếu, và chọn từ
Luật Tạng những lời răn nhắc, sách tấn
thân tâm, hữu ích cho kẻ mới học để bổ
sung đại lược một đôi điều, ḥng dùng làm của
chung cho những người cùng chí hướng. Nguyện
bậc cao minh giữ sự thanh nhă của Thiền Quán, ngơ
hầu có thể tùy văn nhập chứng, đừng hâm
mộ âm hưởng Du Già!
* Lời tựa cho kinh
Bi Hoa
Đấng
đại bi Thích Tôn có thể làm chuyện khó khăn, so với
mười phương ba đời chư Phật,
được trọn khắp xưng tụng là bậc
dũng mănh, nhưng kinh Bi Hoa trần thuật lại càng
tường tận. Kinh này c̣n gọi là Đại Thừa
Đại Bi Phân Đà Lợi Kinh, ngụ ư: Nhiếp thủ
các Bồ Tát trong Tịnh Độ như các loại hoa
khác, chỉ có đại bi khổ hạnh Bồ Tát là
như hoa Phân Đà Lợi (Puṇḍarīka, hoa
sen trắng). Nhưng đấng Thích Tôn thành Phật đă
từ nhiều kiếp như số vi trần trong biển
các cơi nước, v́ chúng sanh mà trong các kiếp trước
nhiều như cát sông Hằng, thị hiện làm
đại thần Bảo Hải. Con trưởng của
đại thần thành Phật, hiệu là Bảo Tạng.
[Bảo Hải] đă khuyên một ngàn con trai của Luân
Vương và các tiểu vương, cúng Phật, phát tâm, mỗi
vị đều giữ lấy Tịnh Độ, riêng
Ngài phát bi thệ, nguyện giữ lấy uế độ.
Than ôi! Bọn chúng ta cấu
nặng, chướng sâu, đă từ lâu bị mười
phương chư Phật vứt bỏ, tụ tập
trong thế gian ngũ trược này. Nếu chẳng do
đức Thích Tôn triệt để đại bi, sẽ
do đâu mà được nghe pháp yếu xuất thế?
Hăy nên biết: Tứ chúng đệ tử trong hiện thời,
không ai chẳng do xưa kia đă uống máu đại bi,
ăn thịt đại bi, thọ dụng đầu, mắt,
tủy, năo đại bi, và các thân phần khác, Thích Tôn xả
vô lượng thân phần máu thịt để tạo
thành chủng tử Bồ Đề cho chúng ta. Bọn chúng
ta vẫn chẳng nghĩ báo ân, c̣n đáng làm người nữa
ư?
Kinh dạy: “Bồ
Tát hữu tứ pháp giải đăi. Nhất nguyện thủ
tịnh thế giới. Nhị nguyện ư tịnh chúng
tác Phật sự. Tam nguyện thành Phật bất thuyết
Thanh Văn, Bích Chi pháp. Tứ nguyện thành Phật thọ
mạng vô lượng. Hữu tứ chủng tinh tấn:
Nhất nguyện thủ bất tịnh thế giới. Nhị
bất tịnh nhân trung tác Phật sự. Tam thành Phật
thuyết tam thừa pháp. Tứ thành Phật đắc
trung thọ” (Bồ Tát có bốn pháp giải đăi. Một,
nguyện giữ lấy thế giới thanh tịnh. Hai,
nguyện làm Phật sự trong đại chúng thanh tịnh.
Ba, nguyện thành Phật chẳng nói pháp Thanh Văn và Bích
Chi Phật. Bốn,
nguyện thành Phật thọ mạng vô lượng. Có bốn
loại tinh tấn: Một, nguyện giữ lấy thế
giới bất tịnh.
Hai, làm Phật sự trong những người bất tịnh.
Ba, thành Phật bèn nói pháp tam thừa. Bốn, thành Phật
bèn đắc thọ lượng vừa phải). Tông yếu
của kinh này nhất loạt chẳng ra ngoài những
điều ấy. Nhưng giải đăi Bồ Tát nhiều
như cát sông Hằng, c̣n tinh tấn Bồ Tát cho tới nay
chưa tới mười vị! Do đó, Thích Tôn tuy tự
giữ lấy uế độ, vẫn khuyên chúng sanh trong uế
độ cầu sanh Cực Lạc, rát miệng căn dặn
chẳng phải một lần!
Bọn chúng ta tin lời
đại bi, liền cùng có tâm đại bi. Đă sanh về
Cực Lạc th́ mới có thể
nhanh chóng vào thế giới bất tịnh,
ở trong những người bất tịnh, nói đủ
mọi pháp, nhiều lượt thị hiện sanh diệt,
là vị Bồ Tát tinh tấn bậc nhất. Ông Đường
Nghi Chi ở phủ Ngô Hưng vừa đọc kinh này,
khôn ngăn cảm động, khóc ṛng. Ông Cảnh Ám Nhiên ở
Sơn Đông vừa nghe kinh này, liền thề lưu
thông. Đấy đều là quyến thuộc chân thật
của đức Thích Tôn, là hoa Phân Đà Lợi trong hết
thảy mọi người. Kinh này lưu hành lâu dài trong thế
gian, sẽ độ trọn hết ngũ trược chẳng
khó. Tôi thâm tâm tùy hỷ bèn viết lời tựa.
* Lời tựa cho bộ
Thành Duy Thức Luận Di Âm Hợp Hưởng
Tột
bậc thay giáo pháp Thành Duy Thức, phá Biến Kế ngă
pháp, t́nh kiến nhanh chóng rỗng không, hiển lộ Y Tha,
Viên Thành, Chân Tục diệu đế nhờ đó mà
được kiến lập. V́ thế, dùng hai chữ Duy
Thức để đặt tựa đề, ngũ quán
đă hoàn toàn được nêu tỏ. Ngài Thiên Thân soạn
kệ tụng, các vị như Hộ Pháp v.v… soạn luận.
Ba mươi hàng chẳng là ít, một trăm quyển chẳng
là nhiều! Thật sự là bí quyết trọng yếu
để quán tâm, là Đại Thừa sơ môn vậy!
Ngài Huyền Trang rút gọn thành mười quyển, truyền
cho ngài Khuy Cơ. Bản sớ giải của ngài Khuy
Cơ thất truyền, bèn thành tuyệt tích! Có thầy Thiệu
Giác Thừa trọn đủ vô sư trí, do nghe mà biết,
soạn thuật thành sách [Thành
Duy Thức Luận] Âm Nghĩa gồm
tám quyển, trước tác sắp hoàn thành, bỗng
dưng về Tây. Do vậy, các vị cao sĩ trong số
các đệ tử ai nấy ra sức chú giải, như Sớ
của sư Biện Âm Cơ, Tự Khảo Lục của
thầy Linh Nguyên Huệ. Ai nấy cũng đă dốc cạn
sức suy tư tinh tế, vắt kiệt tài lực, đều là thăng
đường có thừa, nhưng nhập thất chưa
đủ. V́ thế, khiến cho người học tông
này, không cách nào đạt đến chỗ tột bậc!
Chỉ có thầy Tân Y
Chân là hậu duệ đích truyền của
ngài Thiệu Giác, theo hầu thầy
lâu nhất, sức Văn Huân riêng sâu xa, bèn có thể kế
tục chí hướng, tiếp nối sở học của
thầy, học rộng, nói cặn kẽ, dựa theo sách
Khai Mông làm kim chỉ nam, sưu tập [những điểm
trọng yếu] từ Tông Kính và Đại Sao làm chứng
cứ, truy ngược lại cội nguồn từ các bộ
luận Du Già Sư Địa và Hiển Dương Thánh
Giáo, tạo thành sách Di Âm Hợp Hưởng, tận lực
trần thuật ngũ quán, chỉ dạy cặn kẽ ba
chi. Do vậy, tham khảo, giảo đính suốt hai
mươi mấy năm, ba lượt sửa đổi
bản thảo. Mùa Hạ năm Nhâm Ngọ (1642), tôi được
lạm phần xem
trước. Tuy chưa tốt nghiệp, đă trộm thỉnh
với thầy rằng: “Khi khắc in, nguyện
được kèm thêm vài lời thừa thăi để khuyến
phát”. Nay đă hơn năm năm, cách biệt ngàn dặm,
tôi cũng sợ đại pháp sẽ thành mây khói, gắng
gượng soạn Quán Tâm Pháp Yếu. Nhưng bản khắc
của thầy Tân Y
Chân sắp hoàn tất, bỗng gửi thư nhắc lại
nguyện mọn khi trước.
Do t́nh nghĩa chẳng thể từ chối được,
chẳng nề hà kém cỏi mà viết lời tựa.
Người học đời sau nếu có ai do những lời
minh bạch, đơn giản, dễ dàng của tôi mà nhập
môn. Sau đấy, xem tác phẩm tập đại thành của
Sư để nắm trọn hết chỗ uyên áo, muốn
chẳng nói là tiếng vàng rung, ngọc khua, há có được
chăng?
* Lời tựa tái bản
bộ Y Quán của Mạnh Cảnh Nghi
Đại
y vương đă nói: “Hết thảy phàm phu hư vọng
nhận Tứ Đại là thân tướng của chính
ḿnh, coi duyên ảnh của lục trần tâm tướng của
chính ḿnh. Do vậy, có sanh, lăo, bệnh, khổ”. Lầm lẫn
nhận Tứ Đại là thân, Tứ Đại vốn
chẳng phải là thân đă rơ rồi. Hư vọng nhận
duyên ảnh là tâm, duyên ảnh cũng chẳng phải là tâm
đă rơ rồi! Duyên ảnh c̣n chẳng gọi là tâm, huống
hồ trái tim thịt ư? Nhưng kinh Đại Phật
Đảnh dạy: “Nhữ thân, nhữ tâm, giai thị diệu
minh chân tinh diệu tâm trung sở hiện vật”
(Thân ông, tâm ông đều là vật được hiện
trong diệu tâm chân tinh diệu minh). Tức Tứ Đại
và duyên ảnh có ǵ chẳng phải là Tướng Phần
của tâm? Châu Liêm Khê (Châu Hy) nói: “Vô cực mà thái cực”.
Lại nói: “Thái cực vốn vô cực”. “Thái cực”
chính là nói tâm là cội nguồn của vạn pháp. “Vô cực”
là t́m tâm trọn chẳng thể được; nhưng tâm chẳng
thể được th́ Tứ Đại và duyên ảnh
cũng chẳng thể được. Tứ Đại
và duyên ảnh đă là chẳng thể được th́ bệnh
cũng chẳng thể được. Như bệnh
đă chẳng thể được, cần ǵ phải
dùng đến Y? Xét thấp xuống, hễ có tâm bèn có thân,
có thân bèn có bệnh, có bệnh ắt lại nhờ vào thuốc
men. Do vậy, đức Phật chế định tứ
sự cúng dường, th́ thuốc men là một thứ trong ấy.
Lại c̣n coi “không
uống thuốc”
và “uống chẳng
đúng thuốc”
là loại hoạnh tử thứ nhất. Thật vậy,
thuốc có liên quan đến thân, tâm và tánh mạng.
Xét ra, con người bị
bệnh chẳng do Tứ Đại ở ngoài thân, mà là do
Tứ Đại ở trong thân. Chẳng do Tứ Đại
hữu h́nh trong tâm, mà là do Tứ Đại vô h́nh trong thân.
Lại chẳng do Tứ Đại vô h́nh, mà là do cái tâm chẳng
phải hữu h́nh, chẳng phải vô h́nh. Đối với
tâm, t́m nó trọn chẳng thể được, nhưng
chẳng phải là không có. Tâm tạo đủ muôn vật
trong trời đất nhưng chẳng phải là có. Chẳng
phải tĩnh, chẳng phải động, có thể
động, có thể tĩnh.
Một niệm động là Phong Đại
vô h́nh, là trời. Trời do tích chứa động mà thành,
có h́nh tượng là Càn. Một niệm tĩnh, là chất
vàng vô h́nh, gọi là Địa Đại. Địa là do
tích tụ tĩnh mà thành, có h́nh tượng là Khôn. Càn, Khôn
kiến lập, động mài xát với tĩnh, h́nh thành lửa
vô t́nh. Hỏa là tác dụng của trời, mà là căn cội
của nước, có h́nh tượng là Ly. Ở trên không
là mặt trời, lửa nung vàng, tạo thành nước
vô h́nh. Nước là tác dụng của Địa, phối
ứng với lửa, có h́nh tượng là Khảm, ở
trên bầu trời là mặt trăng. Nước và lửa vô h́nh tiếp
xúc nhau, nước và lửa
hữu h́nh do đó được tạo lập. Nước
và lửa được
tạo lập th́ Ngũ Hành đầy đủ. Do vậy
có tim, gan, tỳ, phổi, thận, được gọi
là Ngũ Quan, hợp với Ngũ
Tinh và Ngũ Nhạc được
xếp vào Tam Tài, đều là Tướng Phần do vọng
tâm biến hiện. V́ thế, trị nơi hữu h́nh, chẳng
bằng chữa trị nơi vô h́nh. Trị vô h́nh chẳng
bằng trị nơi nguồn cội của động
tĩnh. Đấy là luận định
tột cùng của bậc đại y
vương xuất thế. Điều ḥa Tứ Đại
vô h́nh chính là ngoại duyên tăng thượng ḥng dẹp
khổ, ban vui. Bởi lẽ, hậu thiên đă trở thành
chất, chẳng c̣n điều trị được nữa,
ắt phải điều ḥa nước lửa vô h́nh, dùng
thuận theo tác dụng của trời đất để
phù trợ cái gốc của Ngũ Hành.
Sách Y Quán (醫貫) của Triệu
Dưỡng Quỳ đă đạt được chỗ
then chốt ấy, noi theo đó, sẽ
có thể dần dần đạt đến mức độ
của Kỳ Bà. Cầu cao hơn, sẽ có thể chứng
phép Viên Thông của Dược Vương. Mở rộng
đến cùng cực, sẽ
là đại y vương Năng Nhân
cũng có thể thành. Cư sĩ Mạnh Cảnh Nghi đạt
được truyền thừa “văn tri” (do nghe mà
biết) của Y Quán, ngộ biết người mắc bệnh
đều vốn do lao tâm, chỉ riêng lấy chuyện bồi
dưỡng nước lửa vô h́nh làm nhiệm vụ trọng
yếu, chẳng như hạng tầm thường đuổi
theo gốc, mê ngọn. Tôi lắm bệnh, danh y hiếm
người vừa ra tay liền chữa lành. Riêng Cảnh
Nghi mỗi lần cho uống một thang, bệnh liền
khỏi ngay. Ông ta lại càng dốc ḷng tin tưởng Phật
lư, chuộng đạo ḥng tăng tấn tay nghề. Do vậy, tôi
giảo chánh, khắc in sách này ḥng giúp ích cho hậu học,
tạo lợi ích cho thiên hạ
hậu thế nhiều hơn, nhờ
vào đó để giúp truyền bá.
* Lời tựa tự
soạn cho Tịnh Tín Đường Tục Tập
Năm
Nhâm Ngọ (1642), tôi từ
đất Mân tới Ngô Hưng, vâng mạng Tam Bảo, dốc
chí truyền trao ánh sáng nơi một khe hở, vượt
khỏi gian nan, trở ngại, bỏ chùa Thiết Phật
để sang Thiên Ninh tại Tuy Lư. Bỏ Thiên Ninh về ở
Linh Phong tại Chương Nam. Lần lượt trải
qua Phổ Đức, Tế Sanh, kết xă tại U Thê thuộc
Ngưu Thủ, hư danh ngày càng thịnh, nhưng chí hướng
trọn chẳng hành được. Đă là như thế,
tâm ấn của Phật, Tổ sẽ gởi gắm vào
đâu? Cổ nhân nói: “Tam chiết quăng nhi tri y, duyệt
nhân đa nhi hiểu tướng” (ba lượt găy tay sẽ
biết y, tiếp xúc nhiều người sẽ hiểu
tướng pháp). Tôi găy tay không chỉ ba lần. Dùng danh
để nhử tôi, chẳng bằng thật ḷng quở
trách tôi! Tôi sẽ v́ danh ư? Khoan dung với chính ḿnh, nghiêm
ngặt với kẻ khác, chẳng bằng tự xét để
tự hối. Hối tuy chậm, vẫn hơn chẳng hối
đấy ư? V́ thế, từ mùa Hạ năm Nhâm Ngọ
(1642) cho đến mùa Đông năm Đinh Hợi (1647), gộp
[những thứ viết lách lẻ tẻ] thành Tịnh Tín
Đường Tục Tập, do chưa hoàn tất nguyện
duyệt Tạng và trước thuật, chỉ đành
chưa gác bút vậy!
* Lời tựa tặng
Lưu Kim Độ
Khổng
Tử nói: “Thánh nhân ngô bất đắc kiến. Kiến
quân tử tư khả hỹ” (Thánh nhân ta chẳng
được thấy, thấy bậc quân tử là
được rồi). Lại nói: “Quân tử tai! Cừ
Bá Ngọc bang hữu đạo tắc sĩ, vô đạo
tắc khả quyển nhi hoài chi” (Cừ Bá Ngọc là bậc
quân tử! Chánh trị trong đất nước đúng
đạo đức th́ ông ra làm quan, vua vô đạo th́
ông lui về, giữ vững chí hướng). Bá Ngọc sống
vào thời Vệ Linh Công, chẳng thấy hữu đạo
mà làm quan ư? Nhưng nói với sứ giả “quả
quá vị năng” (chưa thể bớt lỗi), ngầm
chẳng thay đổi khí tiết,
khiến cho Nam Tử[97]
tin tưởng, Bá Ngọc làm người mà được cả
ngàn năm sau nghiễm nhiên công nhận.
Ông Lưu Kim Độ
ở Mạt Lăng quả là Bá Ngọc trong thời chúng
ta. Cư sĩ từ bé đă lừng danh văn học, Ngụy
Quốc, Tứ Tử đều tôn ông làm thầy. Nếu
ông có chí làm quan to, sẽ dễ dàng như vặt rau,
nhưng ông đạm bạc, điềm nhiên thoái ẩn,
dùng đạo để tự vui.
Năm Đinh Tỵ (1617), ông gặp Vô Dị thiền
sư, liền dốc chí quy y, được đặt
pháp danh là Đạo Trừng. Năm Quư Mùi (1643), tôi nhận
lời thỉnh của Phổ Đức, ông lại cùng những
người cùng chí hướng vâng nhận pháp Bát Quan Trai.
Tới nay đă ba năm ăn chay trường, lại
vĩnh viễn ăn chay. Nhưng người ăn chay
được gọi là “đạo nhân” th́ trong cơi
đời cũng chẳng ít, cớ sao tôi riêng coi cư
sĩ là bậc quân tử? Quân tử chẳng phải là kẻ
cố ư khác người, mà là người khác chẳng thể
làm giống như vậy được! Ở trong cảnh
khốn quẫn mà thong dong, giữ vững ḷng nhân, tôn sùng lễ,
nghèo mà có thể bố thí, làm lành chẳng mệt mỏi, hộ
tŕ chánh pháp, chẳng bộc lộ tài năng. Đấy chẳng
phải là người hiền ư? Hiểu rành rẽ
nhưng chẳng phô phang ra miệng, công thành chẳng cậy
công, cẩn trọng, ít nói như kẻ ngu độn, chậm
chạp, nhưng mưu tính cho người khác ắt tận
trung, kết giao với người khác th́ từ đầu
đến đuôi như một, xem cảnh ngang trái như
ngói trên mái nhà bị gió cuốn rơi, như
thuyền trống
bị gió cuốn trên sông. Tuy nói là chưa ngộ,
tôi ắt nói là ông đă gần với đạo, há phải
đợi giơ phất trần chỉ trỏ, thốt lời,
nêu lời b́nh công án cổ rồi sau đấy mới
xưng là Tông? Phải
trích cú tầm chương, chia khoa giải thích ư nghĩa rồi
sau đó mới xưng là Giáo ư? Là cao ắt do g̣ đống; là thấp ắt do
sông, chằm. Nền tảng quân tử của cư sĩ
đầy ắp, ưu việt tiến nhập thánh vực,
có khó khăn ǵ đâu? Điều ấy khiến cho tôi bội
phục sâu xa, ngưỡng vọng thiết tha, viết lời
tựa này để tặng vậy!
* Lời tựa tặng
cho Trương Hưng công
Sách
Luận Ngữ vừa mở đầu, liền nói cái học
“thời tập”[98],
nhưng người được Khổng môn xưng là
hiếu học, bất quá là một ḿnh Nhan Tử! Cái đạo
trong việc học cố nhiên khó nói! Lăo Đam (Lăo Tử)
bảo “vị học nhật ích, vị đạo nhật
tổn” (v́ học mà ngày một tăng thêm, v́ đạo
mà ngày một giảm bớt). Học và đạo nếu
có thể tách rời, sao có thể xưng là “đại Đại Học”
cho được? “Bất thiên nộ, bất nhị
quá” (chẳng trút giận sang người khác, chẳng
phạm lỗi lần nữa) là tổn hay ích vậy? “Thân
dân chỉ chí thiện” (thân cận dân chúng ḥng giáo hóa họ
khôi phục tánh đức đạt tới điều thiện
tột cùng), là ích hay là tổn? Quẻ Phong Lôi Ích,
[được giải thích là] “quân tử
dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá
tắc cải” (quân tử thấy
điều lành bèn hướng theo, có lỗi liền sửa).
Quẻ Sơn Trạch Tổn, [được giải
thích là] “quân
tử dĩ trừng phẫn, trất dục” (quân
tử nén giận, đè nén ham muốn). Nén giận, khắc chế ham muốn
chính là cách sửa lỗi to lớn. Sửa
lỗi sẽ khôi phục điều thiện vốn sẵn
có, bèn gọi là “thiên thiện” (chuyển hướng
đến thiện), chẳng phải là riêng có điều
thiện để có thể chuyển dời! V́ thế, hiểu
rơ “tổn” và “ích” chẳng hai, có thể biết: Học hay
đạo đều nhất trí.
Cái học được
nói trong cơi đời chẳng phải vậy! Tập luyện
từ chương, dốc sức nơi thi cử, ḥng
giành lấy phú quư. Mô phỏng tự thiếp[99],
tinh tường thơ văn để thành bậc danh
sĩ. Khảo sát xưa nay, học rộng sách vở nhằm
chú trọng đa văn. Nghiên cứu binh pháp, luận định
chánh trị, ḥng lập công nghiệp. Chuộng khí tiết,
giữ vững liêm, tín để nêu bày ḿnh là bậc cao khiết.
Đàm luận danh lư, quở trách Thích, Lăo để tiếp
nối ngọn lửa của Nho gia. Xem công án, viết ngữ
lực, ḥng phụ trợ Thiền Tông. Giữ huyệt
Đan Điền, điều ḥa hơi thở để
củng cố thân và thần. Ôi! Đối với thiên hạ
và quốc gia có thể quân bằng, tước lộc có thể
từ chối, có thể đạp lên lưỡi
gươm trần, thánh hiền tiên tổ cũng có thể
phỏng theo [th́ chẳng c̣n ai
quan tâm nữa]. Do vậy, cái học của
Khổng - Nhan chẳng tồn tại nữa! V́ thế nói “Trung
Dung chẳng thể nào!”
Nhưng Trung là nói khi mừng,
giận, buồn, vui chưa phát sanh. C̣n Dung là tiết chế
mừng, giận, buồn, vui vừa đúng mực. Hễ
phát ra đều tiết chế đúng mực, tức là “hằng
chỉ, hằng nhất” (luôn ngưng dứt, luôn nhất
quán). Chẳng trái nghịch
cái Trung khi chưa phát, chẳng trút giận, chẳng
phạm lỗi lần nữa, cẩn
thật, dè dặt, khéo khôi phục cái Thể của Chỉ
và Nhất. Cái Thể của Chỉ và Nhất, thánh phàm b́nh
đẳng. Do vậy, nó
là cái gốc to lớn của thiên hạ, nhưng cái Ḥa
trong Trung Tiết (tiết chế đúng mực) ắt phải
từ cẩn thận, dè dặt để đạt tới
cái hiểu biết tột cùng! Do vậy, Khổng Tử là
đại thánh nhân vẫn lo lắng “đức chẳng
tu, học chẳng giảng, nghe điều nghĩa chẳng
thể hành theo, điều bất thiện chẳng thể
sửa đổi”. Há có phải là Ngài cố ư nói khiêm tốn
đâu nhé! Thật sự là
biết tâm thể vốn diệu, học lực chưa dễ
cùng tận vậy!
Do đó, Ngài nói “phát phẫn
vong thực, lạc dĩ vong ưu, bất tri lăo chi
tương chí. Ngũ thập dĩ học Dịch, khả
dĩ vô đại quá” (phát phẫn quên ăn, vui quên mất
lo nghĩ, chẳng biết đă già rồi. Ta năm mươi
tuổi học
kinh Dịch, có thể chẳng phạm lỗi lớn).
Thiên Thai đại sư nói: “Nghiên cứu lẽ chân, tột
cùng lẽ vọng th́ gọi là Học. Chân cùng, vọng hết,
gọi là vô học”. Than ôi! Vô học chẳng thể dễ
dàng đạt được! Vậy th́ cái học
có bao giờ xong? Qua lời than “thệ giả như
tư” (trôi đi như thế)[100],
Khổng Tử nói về cái học cũng sâu lắm! Thông
với đạo của ngày
đêm, mà biết sanh tử c̣n chẳng có hai nẻo, há cho
rằng già trẻ cái tâm khác nhau ư?
Năm Kỷ Tỵ
(1629), tôi gặp cư sĩ, biết là bậc dốc chí
nơi cái học. Năm Quư Mùi (1643), tôi
nhận lời thỉnh của Phổ
Đức [giảng diễn tại đó], cư sĩ hằng
ngày đến nghe pháp. Thưa hỏi rất nhiều,
nhưng chưa buông xuống cử nghiệp; do vậy, sức
học chưa chuyên. Mùa Đông năm Ất Dậu (1645),
tôi ở Tổ Đường. Mùa Xuân năm Bính Tuất
(1646), cư sĩ đến gặp, bắt đầu chuyên lấy
cái học làm nhiệm vụ. Nay nh́n lại sáu năm, cảm
thấy xúc cảm tràn trề,
muốn bỏ mà chẳng thể. Tôi đối với
tăng, tục ở Kim Lăng, t́m người tuổi
càng cao, chí càng chuyên dốc, chẳng chịu tự hạn
chế nơi điều ḿnh đă đạt được,
chỉ có ḿnh cư sĩ mà thôi!
Cư sĩ hiếu học, chỉ ḿnh tôi vui mừng, mà cái
học như tôi đă nói, cũng chỉ riêng cư sĩ
là có thể tin sâu. Tôi há có được ai nấy đều
giống như cư sĩ để nói về cái học,
gần là quên Linh Phong hẻo lánh, xa là có thể dần dà về
Cực Lạc? Người như cư sĩ chẳng
được mấy ai! Do vậy, tôi niệm nào cũng
nghĩ về Cực Lạc, luôn luôn nhớ tới Linh
Phong. Điều chẳng ngăn cách tôi và cư sĩ là học
mạch. Dẫu cư sĩ chẳng đạt tới Linh
Phong tuyền thạch, ắt sẽ cùng tôi đến ao báu
nơi Cực Lạc!
* Lời tựa cho bộ
Kim Cang Kinh Kệ Luận Sớ Chú
“Đức
Phật dùng một âm thanh diễn nói pháp, chúng sanh tùy theo mỗi
loại mà được hiểu”. Hiểu biết tuy
khác, chứng lư như nhau. Bởi lẽ, Tam Tạng thiên
chân đă trọn đủ tứ môn, tứ Tất
Đàn, huống hồ kinh diễn nói viên giáo, Ma-ni ứng
hiện trọn khắp các sắc ư? Trong hội Đại
Bát Nhă, Như Lai đặc biệt tuyên nói Kim Cang Bát Nhă, v́
người phát tối thượng thừa mà nói. Tối
thượng thừa th́ có nghi nào chẳng phá, có trụ nào
chẳng đạt tới? Nghi có thể chướng lư.
Nghi phá th́ lư tự sáng
ngời. Lư thật sự vô trụ, ngộ lư th́ trụ bởi
đó mà lập. Do vậy, ngài Vô Trước xét theo trụ
vị để giải thích, ngài Thiên Thân dựa theo đoạn
nghi để giải thích, lần lượt là trong và
ngoài, không phải là mỗi vị chỉ nêu ra một cách
nh́n mà thôi. Nhưng hai bộ luận ấy chẳng ngăn
trở lẫn nhau! Do mỗi nghi đều có thể
chướng trụ, mỗi trụ đều có nghi c̣n sót
lại, chưa thể một mực phối hợp theo
chiều dọc được! Riêng đối với
người đọc đời sau, nếu cú nghĩa khó
thông, bèn thoái thác bảo là “trực chỉ”, ngỡ “chẳng
lập văn tự” là cao, hoặc kẻ giảng nói lưu loát, bèn
chèn ư kiến riêng vào cho tiện, gần như chẳng thể
thấy ư chỉ của Như Lai.
Lăo cư sĩ Hà Sớ
Viên đă theo học nơi cửa Tử Bách đại
sư đă lâu, cho nên có thể riêng thấu hiểu kệ
luận, trầm tư thông hiểu, bèn soạn sớ chú
ḥng giúp ích cho hậu học. Cụ chỉ trần thuật
chứ không trước tác, tin tưởng, ưa chuộng
cổ đức, thật sự được Như Lai
sai khiến hành Như Lai sự vậy. Tôi từng
nói Vô Trước và Thiên Thân biết sâu xa “chẳng phải
là bậc Đẳng Giác, sẽ chẳng thể hiểu
cùng tận Phật pháp”. V́ thế, đối với chuyện
nêu rơ trụ và đoạn nghi, mỗi vị chỉ dạy
một khía cạnh, dùng sự khéo léo “hiển lộ
để dẫn khởi, chứ không nói toạc ra”.
Người đời sau chưa biết lư ẩn tàng, hạnh
chưa đạt đến chân thật, cách biệt Vô
Trước và Thiên Thân rất xa, bèn hư vọng toan tạo
lập ư nghĩa. Nếu chẳng phạm lỗi chấp
tướng, vướng danh, liền vướng vào thói
“chụp không, bắt ảnh”, gần như chẳng trở
thành tội khiên báng pháp đó ư? Sao bằng dựa ngay
vào kệ luận để cầu th́ sẽ gần gũi
hơn. Tôi suốt đời nghiên cứu kinh luận, ắt
vốn tứ y[101],
chẳng thích các ư kiến xuyên tạc, mờ mịt vô
căn cứ trong thời gần đây! V́ thế, đối
với bản sớ chú này, tùy hỷ sâu đậm,
cũng nguyện cho người đời sau đọc
sách này, sẽ do ngón tay mà thấy mặt trăng, chẳng
cần phải lăng xăng theo đuổi các dị thuyết
mà cứ cho là học rộng vậy!
* Lời tựa cho bộ
Kim Cang Bát Nhă Hội Nghĩa
Bát
Nhă hết sức khó diễn tả! Không chỉ khó diễn
tả, mà tu hành cũng khó khăn. Tu hành đă khó, mà diễn
nói càng chẳng dễ. Đời chưa có người trọn
đủ mắt và chân để có thể an ổn vào ao
thanh lương. Sức chân mạnh mẽ th́ thị lực
lại yếu, hoặc mắt có sức nh́n xa, sức chân
lại suy yếu. Chân mạnh th́ đến rồi mới
thấy, mắt nh́n xa th́ dơi nh́n mà biết trước.
Đạo giải hành há
có khác như thế! V́ vậy, tôi đối với những
bản giải thích kinh Kim Cang từ trước đến
nay đều chẳng thể không thở dài!
Giáo pháp suốt một
đời của đức Như Lai lấy Bát Nhă làm tông
yếu. Đối
với người lợi căn, sẽ
nghe thấy suốt bốn mươi chín năm
[đức Phật] thường nói Bát Nhă. Đối với
kẻ độn căn, phải trải qua [các thời] A
Hàm, Phương Đẳng th́ mới được nghe [Bát Nhă].
Như đối với phần kinh Kim Cang thuộc vào sau
tám phần của đại hội, Như Lai v́ người
phát tối thượng thừa mà nói, sâu xa,
vi diệu, chẳng khác nào “nh́n
ngang thành rặng, nh́n bên cạnh thành ngọn núi”.
Vô Trước hiển trụ, Thiên Thân đoạn nghi, tuy
là anh và em đều khó được,
Xuân lan, Thu cúc, đối với toàn thể “thời
đến vật sanh” của kinh này cũng chỉ là
[chỉ ra] một cái
vằn [của con báo] mà thôi!
Sở chứng của người đời sau cố
nhiên chẳng sánh bằng hai vị ở Tây Vực, sở
ngộ lại chẳng bằng Thiên Thai Trí Giả. Nói càng lắm,
đạo càng tối, ư chỉ càng nông cạn, từ ngữ
càng rườm rà!
Muốn hiểu chân tông, chỉ nhọc nhằn bút, lưỡi!
Khéo thay cư sĩ
Đường Nghi Chi riêng nêu tu hành là cái gốc để
hiểu nghĩa. Nếu có thể tu hành Bát Nhă, niệm nào
cũng quan sát các pháp chẳng phải là pháp, không ǵ chẳng
phải là Thật Tướng, đủ loại văn tự
đều là cám bă, cũng đều có thể hóa thành thần
kỳ, có thể làm nhát kim đâm xuống đỉnh đầu
của hạng tỳ-kheo không nghe pháp! Nếu như [đối
với người] bỏ nước chọn sữa, là bậc
Bồ Tát ngỗng chúa, tôi nào dám múa lưỡi ư?
* Lời tựa cho bộ
Tây Phương Hợp Luận
Chỉ
có bậc đại triệt đại ngộ mới có
thể cùng họ đàm luận Niệm Phật tam-muội!
Nếu không, đối với khả năng và sự hiểu
biết của kẻ b́nh phàm, vẫn kém xa “người
nhân thấy bèn nói là nhân. Người trí nh́n vào bèn nói là trí”.
Tổ Đạt
Ma từ phương Tây sang, làm chuyện phi thường,
có lợi lớn mà cũng ắt có hại lớn. Than ôi!
Người xưa may mắn đạt được
đại lợi, người đời nay chỉ có
đại hại mà thôi! Ai có thể dùng ngộ đạo
làm tiên phong, dùng niệm Phật làm nẻo sau, ổn thỏa
tiến hướng nẻo vô thượng giác? Viên Trung
Lang tuổi trẻ dĩnh ngộ, chém
phăng đầu lưỡi của bậc Thiền túc một
thuở, người chẳng biết chỉ cho ông là bậc
văn nhân thông huệ. Về sau, ông lại thâm nhập pháp
giới, quy tâm nơi Lạc Quốc, soạn thành Tây
Phương Hợp Luận gồm mười quyển. Mỗi
chữ đều từ ngộ môn chân thật lưu xuất.
V́ thế, trọn chẳng có một chữ nào giẫm theo
vết cũ, lại chẳng có một chữ nào bịa
đặt. Tuy ông c̣n chưa đạt đến chỗ tột
cùng sâu thẳm trong tông Thiên Thai, nhưng thấu triệt
Thiền cơ, dung hội quán triệt giáo lư của
Phương Sơn (Lư Thông Huyền)
và Thanh Lương chẳng sót. Chắc có kẻ nghi bậc
danh nạp lăo túc chưa dễ thông hiểu trọn khắp
Phật, Tổ, Tông, Giáo, lẽ đâu kẻ thiếu niên vừa
mới đỗ đạt, ngũ dục chưa trừ
mà có thể đạt đến như vậy. Trọn chẳng
biết là do nhiều đời huân tập, chẳng phải
là ngẫu nhiên!
Từng nghe đồn
ba anh em họ Viên[102]
là hậu thân của Tam Tô[103]
đời Tống. Ôi! Trung Lang quả thật là Đông
Pha, tiến rất cao nơi Phật pháp. Tôi thường
nói các bậc tạo công nghiệp đời Minh kém xa thời
Hán, Đường, Tống. Lư Học phạm sai lầm lớn,
một ḿnh Vương Dương Minh thẳng thừng nối
tiếp tâm mạch của Khổng - Nhan. Cư sĩ trong
Phật môn th́ Lương Túc đời Đường, Trần
Quán đời Tống, Viên Hoằng Đạo đời
Minh, chưa thể sánh bằng được! Trung Túc[104]
v́ thuở đầu ngẫu nhiên nghi câu “đem kinh Kim
Cang lau lưng tượng đất”[105],
bị Thiền giả chê cười. Thử đọc
Tam Thiên Hữu Môn Tụng của ông ta, c̣n cười nổi
hay không? Trung Lang tuổi thiếu niên phong lưu tiêu sái,
cũng bị Tăng, tục
coi thường. Thử đọc Tây Phương Hợp
Luận của ông ta, c̣n cười nổi hay chăng? Than
ôi! Người thời nay chẳng có con mắt đọc
sách, chẳng trách họ lấy tai làm mắt! Tôi riêng
sưu tập bản in [Tây Phương Hợp Luận]
được chấm câu, có ghi chú và lời phê b́nh
được in tại Ngô Môn, tính khắc in lại để
lưu thông rộng răi, khiến cho trọn khắp pháp giới
hữu t́nh từ nay trở đi tin chắc pháp môn Niệm
Phật chí viên, chí đốn, vượt trội hết
thảy Thiền, Giáo, Luật, thống nhiếp hết thảy
Thiền, Giáo, Luận, chẳng c̣n phải khóc lóc, than thở
nơi ngă rẽ nữa!
* Lời tựa tự
soạn cho bộ Thai Tông Hội Nghĩa
Chắc là có kẻ hỏi Ngẫu
Ích Tử rằng: - Tôi nghe giảng kinh Pháp Hoa th́ không ai hay hơn tông Thiên
Thai. V́ thế, Trí Giả đại sư sau khi diệu
ngộ, dùng tứ vô ngại biện tài chẳng thể
nghĩ bàn để tuyên nói hai sách Huyền Nghĩa và
Văn Cú. Tôn giả Chương An ghi lại mỗi sách
gồm mười quyển, chẳng khác ǵ ngài A Nan kết
tập. Cho tới tôn giả Kinh Khê lại dùng sách Thích Thiêm
để chắp cánh cho Huyền Nghĩa, viết
sách Văn Cú Kư để chắp cánh cho Văn Cú. Do
vậy, Giáo Quán sáng ngời, được xưng tụng
là các vị tổ trung hưng [tông Thiên Thai]. Nương
theo đó để tu chứng, người đắc
đạo như rừng. Dẫu có thánh nhân xuất
hiện lần nữa, cũng chẳng thể nói thêm một
chữ thừa thăi nào! Trước kia, đă từng
thấy trong lời Bạt cho phần Luân Quán của ông có
nói: “Ví như bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hạo
đă khiến cho Lư Bạch phải gác bút”. Nay sao
lại vô duyên cớ viết lách vậy?
Ngẫu Ích thưa: - Ôi! Đấy
cũng là nỗi khổ tâm muôn phần bắt đắc
dĩ của tôi. Tôi ngụ tại Ôn Lăng, viết Luân
Quán là v́ muốn dẫn dụ người học Phật
trong thiên hạ chẳng ai không dốc ḷng nơi tam
đại bộ[106]. Nay bấm ngón tay đếm
đă mười mấy năm rồi! Lưỡi
đớ, tai điếc, chưa thể khuyên
được đôi ba người dốc sức nơi
Giáo Quán, họ đều than thở các bộ sách ấy
mênh mông, rườm rà khác nào nh́n vào biển cả bát ngát.
Nếu chẳng bỏ công trích yếu đại
lược đôi chút, các pháp viên đốn trong các sách
Huyền Nghĩa, Thích Thiêm của ngài Diệu Lạc[107] sẽ đành đến
nỗi cất trên gác cao ư?”
Hỏi: - Nếu là như vậy,
chỉ cần sao lục, trích yếu Văn Cú và Văn Cú
Kư, phỏng theo lệ của sách Diệu Huyền Tiết
Yếu là được rồi, sao lại khoa phán,
đổi văn, lén trộm thêm vào ư ḿnh, gọi
thẳng thừng là Hội Nghĩa vậy?
Đáp: - Đấy càng là chuyện
bất đắc dĩ! Thời cổ, kinh và chú sớ
đều cùng lưu hành, cho nên sớ giải ư nghĩa
của kinh, đối với các điều uyên áo,
chẳng ngại nêu rơ tường tận, sâu xa, c̣n
đối với những chỗ kinh nói rơ ràng th́ chỉ
chia khoa, chỉ điểm đôi chút mà thôi. Người
đời sau gượng ép ghép sớ vào kinh, khiến cho
câu chữ trong kinh văn bị xé lẻ khi đọc. Nay
muốn thuận theo kinh văn để diễn giải ư
nghĩa, mà vẫn chẳng tổn thương huyết
mạch của kinh văn, lẽ nào chẳng chia
đại lược thành từng khoa?
Trí Giả đại sư biện tài
phô diễn. Sau khi đại sư thị tịch, ngài
Chương An kết tập. Tuy hoàn toàn phù hợp ư
nghĩa của đại sư [đă dạy], chưa
chắc đă một mực đều là lời văn
của đại sư? V́ thế, văn phong cổ kính,
chất phác, chẳng chú trọng gọt giũa bóng bẩy, chỉ có đọc lâu mới
biết sự hay khéo. Kẻ sơ tâm đối
trước các tác phẩm ấy đều mờ mịt,
lẽ nào chẳng thay đổi lời văn đôi chút
ư? Tôn giả Kinh Khê vàng ṛng qua trăm lần luyện,
văn lẫn nghĩa đều sâu xa, nhưng cũng v́
mang hơi hướng thuở Lục Triều[108], hơi chẳng hợp
thời cơ cho lắm. Đối với chuyện
xiển dương, tiết lộ ư chỉ ngoài lời
của đại sư, kẻ luôn theo gịng đếm
chữ sẽ trọn chẳng thể biết
được, há cũng chẳng giống như lén thêm
vào ư kiến của ḿnh ư?
Pháp Hoa kinh tạng sâu chắc, u
viễn, Trí Giả đại sư có thể khế
hội cội nguồn kinh ấy, há có thể tuyên nói
trọn hết những điều uẩn tàng ư? Tôn
giả Chương An ghi lại những
điểm trọng yếu, há có thể chép
tường tận trọn hết được ư?
Ngay như tôn giả Kinh Khê có thể xiển dương
yếu nghĩa, cũng có thể phân tích trọn hết các
lẽ khúc chiết ư? Nay tôi dùng điều sở
đắc do suy nghĩ ngàn mối của phàm phu để
phù hợp thời nghi, há v́ sợ bị chê gièm trái
nghịch cổ nhân mà chẳng dốc cạn đôi chút
hiểu biết, trộm lấy ư nghĩa để ghép
thêm vào các khoa ư? Người hiểu tôi th́ chỉ là
Hội Nghĩa, mà trách tội tôi thì cũng chỉ là Hội Nghĩa đó
thôi!
* Lời tựa tự
soạn cho bộ Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập
Yếu
Tôi sanh vào giờ Hợi ngày mồng Ba tháng
Năm năm Kỷ Hợi (1599) đời Vạn Lịch.
Tới ngày mồng Bảy tháng Năm năm Nhâm Tuất
(1622) bèn xuống tóc xuất gia, nhằm lúc hai mươi bốn
tuổi. Năm sau, thọ Cụ Túc Giới trước
tượng Vân Thê ḥa thượng. Năm kế đó, lại
thọ Bồ Tát Giới trước tháp của ḥa thượng.
Mùa Xuân năm hai mươi bảy tuổi, duyệt Luật
một lượt, sao lục thành bộ Sự Nghĩa Yếu
Lược, chỉ hơn một trăm trang. Mùa Hạ
năm sau, duyệt Luật lần thứ hai, sao lục
thành bốn tập. Mùa Đông kế đó, duyệt Luật
lần thứ ba, tạo thành sáu tập, tổng cộng là
mười tám quyển. Mùa Hạ lúc tôi ba mươi hai tuổi,
v́ ba người bạn là Thọ, Phưởng, Tiếp
giảng cặn kẽ một lượt, thêm hai tập
đầu và cuối, tổng cộng là tám tập. Năm
sau nữa, Kim Đài pháp chủ cho khắc in tại chùa Phật
Nhật ở Cao Đ́nh. Mùa Đông năm ấy, tại
Linh Phong, chỉ giảng bảy quyển, cho đến mùa
Hạ năm sau mới xong. Người nghe được
mười mấy vị, chỉ có tỳ-kheo Triệt Nhân
tận lực hành theo. Mùa Hạ năm sau, tại chùa Tây Tiểu
Hồ ở Kim Đ́nh, giảng thấu triệt một
lượt, có chín người nghe. Người
có thể lưu tâm chỉ có Triệt Nhân, Tự Quán và Huyễn
Duyên đại đức.
Mùa Đông kế
đó, tôi ở Huyễn Trụ Am tại Ngô Môn, lại giảng
một lượt, được năm sáu người
nghe, chỉ có hai vị tỳ-kheo Tự Quán và Tăng Tụ
tận lực hành tŕ. Lúc ba mươi tám tuổi, tôi vào Cửu
Hoa. Bốn mươi tuổi, vào đất Mân (Phước
Kiến). Bốn mươi bốn tuổi tới Thiều
Thành, từ đấy trở đi đă mười ba,
mười bốn năm, chẳng có ai hỏi tới. Ba vị
Triệt Nhân, Tự Quán và Tăng Tụ lại đều
qua đời. Cái học Tỳ Ni quả thật chẳng
khác ǵ hàng hóa ế ẩm! Khi tôi năm mươi mốt tuổi,
vào mùa Đông, từ Kim Lăng trở về nằm tại
Linh Phong. Mùa Hạ kế đó, có mười mấy
người phát tâm học Luật, ép tôi giảng lần nữa.
Do vậy, nghĩ những điều đă biên tập, tuy
đă thâu thập mọi điều quan trọng, vẫn
chưa mỗi mỗi đều chiết trung. Hơn nữa,
hai sách Vấn Biện và Âm Nghĩa đến nay vẫn
chưa in. Chẳng bằng hội nhập vào sách Tập Yếu,
sửa chữa lần nữa, cũng như loại trừ
một hai chỗ rườm rà, viễn vông, sao cho
đơn giản, thiết thực, ngơ hầu kẻ độn
căn cũng chẳng đến nỗi nh́n biển cả.
* Lời tựa tái bản
Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ
Sở
dĩ Niệm Phật tam-muội được gọi là
Bảo Vương v́ như châu Ma-ni mưa trọn khắp
hết thảy các báu tam-muội. Như Chuyển Luân
Vương thống ngự trọn khắp hết thảy
các vua tam-muội, bởi đây là pháp môn chí viên, chí đốn.
Khởi đầu bằng Hoa Nghiêm, kết thúc bằng Pháp
Hoa, giáo pháp suốt một đời đức Phật
không ǵ chẳng nhằm tán dương Bảo Vương
tam-muội này! Khởi đầu từ Văn Thù, Phổ
Hiền, cho tới Vĩnh Minh, Sở Thạch, hết thảy
Bồ Tát, thánh tổ, không vị
nào chẳng tu chứng, hoằng thông Bảo Vương
tam-muội này. Nhưng kẻ mê muội trong cơi đời
cứ ngỡ tự tánh Di Đà chẳng phải là Lạc
Bang giáo chủ, ngỡ duy tâm Tịnh Độ chẳng ở
ngoài mười vạn ức cơi nơi phương Tây, lầm
nhận duyên ảnh của sáu trần là tướng tự
tâm, hoàn toàn chẳng biết mười phương pháp giới,
mỗi mỗi không ǵ chẳng phải chính là tự tánh của
cái tâm, cũng chẳng đáng buồn ư?
Cuối đời
Nguyên, đầu đời Minh, tại Ngân Giang có vị
đại thiện tri thức tên là Diệu Hiệp xót
thương kẻ tà kiến sâu xa, soạn thuật Niệm
Phật Trực Chỉ gồm hai mươi hai thiên, thất
truyền trong cơi đời đă lâu. Vân Thê lăo nhân muốn
xem mà chẳng thể được! Trong niên hiệu Thần
Miếu, thiền bá Vạn Dung ở Cổ Ngô ngẫu nhiên
t́m được bản sách này trong đống sách cũ,
cùng với Bảo Vương Luận do pháp sư Phi Tích
biên soạn đời Đường, cùng là những bản
sách Vân Thê lăo nhân muốn xem mà chẳng thể được!
Hàn Triều Tập trước hết khắc Bảo
Vương Luận tại Vân Thê. Tôi lại cho khắc in
sách ấy, lưu lại chùa Phật Nhật. Nay cư
sĩ Xa Mật Phiên
lại khắc in lần nữa tại Trường Can, tôi bèn
riêng ghi lại
[duyên do] để thưa tŕnh với hậu
hiền!
* Lời tựa tự
soạn cho sách Ngẫu Niêm Vấn Đáp
Nhớ
mùa Thu năm Quư Dậu (1633), tôi qua nhà cư sĩ
Tŕnh Quư Thanh ở Cô Thành, gặp thiền sư Tuyết
Đ́nh. Ngài Tuyết Đ́nh bảo tôi rằng: “Thiền là cương lănh của Giáo,
là căn bản của Giáo. Nay người theo Giáo chẳng
tin có Thiền, giống như chấp nhận lưới
không có dây chài, vịn cành, vin lá chẳng có cội rễ,
sao mà mê hoặc đến thế?” Tôi thưa rằng: “Thầy
nói thật chí lư! Thiền là giềng mối của Giáo,
Giáo là giềng mối của Thiền. Thiền là cổ áo
của Giáo. Giáo là
vạt, tay áo, gấu áo của Thiền. Thiền là căn
bản của Giáo, Giáo là cành, lá, hoa, trái của Thiền.
Người học Giáo bỏ cương lănh, căn bản,
cố nhiên là mê lầm to lớn. Nay Thiền sĩ lại bỏ
lưới, chỉ giữ lại dây chài, bỏ vạt,
tay áo, gấu áo để chỉ giữ lấy cổ áo, bỏ
cành, lá, hoa, trái để riêng giữ lấy cội cây khô
khốc, chẳng càng mê hoặc hơn ư?” Thầy Tuyết
Đ́nh không đáp được!
Than ôi! Thiền và Giáo
sao có thể tách rời được?
Chư Tổ xưa kia chưa dám ĺa kinh một chữ; các
vị đại giáo chủ xưa kia, chưa có ai chẳng
thấu triệt tâm tông, đạt được sự vận
dụng to lớn. Hiềm rằng đời Mạt thấy
thành hai nẻo, thật đáng buồn thay! Tôi mỗi lần
giảng, ắt cực lực nêu lên căn bản và
cương lănh để dạy người khác, nhưng
hiếm người biết thấu hiểu! Tôi lại từng
soạn ba bài tụng để tiết lộ tin tức
này, nhưng người mê muội vẫn cho là giáo ư, chẳng
phải là tông ư! Ôi chao! Nếu tông ư ĺa giáo ư, chẳng phải
là rốt cuộc giống như ma nói ư? Nay lại
nhào nặn viên bột nếp thành
bánh mè nướng để dỗ kẻ
khóc oa oa, lại nói rốt cuộc
là Tông hay là Giáo? Ôi! Đối trước kẻ si, chẳng thể nói
mộng!
* Lời tựa tặng
Trịnh Hoàn Đức niệm Phật
Tôi
từng đọc thấy Thập Lục Quán Kinh nói: “Chư
Phật Chánh Biến Tri hải tùng tâm tưởng sanh. Thị
cố,
chúng sanh tâm tưởng Phật thời, thị tâm tức
thị tam thập nhị tướng, bát thập chủng
hảo. Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật”
(Biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ
tâm tưởng. V́ thế, khi tâm chúng sanh tưởng Phật,
tâm ấy chính là ba mươi hai
tướng, tám mươi thứ hảo.
Tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật). Ôi! Đó chính là
bí yếu chân thật của Niệm Phật tam-muội. Bởi
lẽ, chỉ nói “làm Phật”, chẳng nói “là Phật”, tức
Phật chẳng phải là cố hữu, có khác ǵ Quyền
Thừa? Chỉ nói “là Phật”, chẳng nói “làm Phật”, tức
là Phật chẳng phải là tu chứng, khác ǵ ma tà, ngoại
đạo? Do vậy, kinh Đại Phật Đảnh
nêu tỏ pháp thế gian và xuất thế gian. Biết cái
nhân cội gốc ấy, thuận theo duyên mà lưu xuất.
Đă biết cái nhân cội gốc th́ mười giới
không ǵ chẳng phải chính là cái tâm, tức Phật giới
chẳng phải là tâm ư? Tùy theo duyên mà lưu xuất th́
mười giới không
ǵ chẳng do tâm mà tạo, tức Phật giới chẳng
do tâm làm ra ư?
Năm Kỷ Tỵ
(1629), tôi gặp lăo cư sĩ Trịnh Thiên Lư, thấy
thánh tượng do cụ vẽ, vi tế, tinh diệu, khéo
hơn thợ trời, bỗng ngộ ư chỉ “tâm làm Phật,
tâm là Phật”. Con trưởng cụ là ông Hoàn Đức
càng dốc công đến tột cùng. Hoàn Đức tham cứu
công án “người niệm Phật là ai?” đă lâu. Tôi
nói:
- Nếu tin hai câu ‘tâm
này làm Phật, tâm này là Phật’, mà c̣n tham chữ Ai, sẽ
khiến cho kẻ khác ôm bụng cười to! Bài kệ
trong kinh Đại Tập có nói: “Nhược nhân đản
niệm Di Đà Phật, thị danh vô thượng thâm diệu
Thiền. Chí tâm tưởng tượng kiến Phật thời,
tức thị bất sanh bất diệt pháp” (Nếu ai
được thấy Di Đà Phật, th́ gọi vô
thượng thâm diệu Thiền. Khi chí tâm tưởng thấy
được Phật, tức là pháp bất sanh bất diệt).
Đại Thế Chí Pháp Vương Tử nói: “Ức
Phật, niệm Phật, hiện tiền, đương
lai, tất định kiến Phật, khứ Phật bất
viễn, bất giả phương tiện, tự đắc
tâm khai” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền,
tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật
chẳng xa, chẳng nhờ tới phương tiện mà
tự được tâm khai’). Thiền sư Vĩnh Minh
nói: ‘Một niệm tương ứng một niệm Phật.
Một ngày tương ứng một ngày Phật’. Thiền
sư Thọ Xương nói: ‘Cái tâm niệm Phật chính
là Phật’. Sao lại ngờ vực?
Sao lại nghi ngờ?
* Lời tựa cho Trịnh
Thiên Lư Lăo Cư Sĩ Tập
Kẻ
chẳng lập chí làm thánh hiền, Phật, Tổ, ắt
phú quư sẽ dâm, nghèo hèn sẽ bị đổi dời, gặp
oai vũ sẽ bị khuất phục, gặp chuyện
đắc ư sẽ vui sướng, tự măn, gặp chuyện
trái ư sẽ oán cừu bừng bừng! T́m được
người có thể tự phản tỉnh, tự phê
phán, tự an, tự yên phận, hiếm hoi lắm! Huống
hồ lại c̣n tùy theo mọi chuyện mà tự giác, giác
tha ư! Tôi đọc kỹ bản thảo của lăo
cư sĩ Trịnh Thiên Lư, biết cụ chẳng phải
là hạng ẩn sĩ thích văn chương, mà là bậc
trích tiên (tiên bị đọa) dốc tâm nơi bậc
Đại Giác. Suốt đời cụ vẽ tượng
Phổ Môn nhiều nhất, trên mỗi bức vẽ, ắt
có bài tán. Tượng Bố Đại cũng thế. Lời
tán ắt cảnh tỉnh, phát khởi kẻ t́nh kiến mê
chấp. Lời lẽ tha thiết tột bậc khiến
cho người khác rởn lông, buốt xương. Kế
đó, cụ vẽ nhiều h́nh tượng Đạt Ma.
Bài tán ghi trên tượng ắt gơ động nẻo hướng
thượng, khiến cho kẻ khác do ngón tay mà thấy mặt
trăng. Cụ vẽ sơn thủy ắt vịnh, lời
vịnh đều thanh thoát, vượt xa
ngoài t́nh lụy, chẳng phải do khéo gọt giũa câu chữ
mà thành!
Nhưng điều khiến
tôi càng khâm phục hơn là các câu cụ tự khuyên, tự
cảnh tỉnh, tự hối, tự trách. Ấy là do cái
tâm cụ, niệm nào cũng muốn vào núi tu đạo,
nhưng huyễn duyên chưa toại, chẳng khỏi
chưa toại chí đă đi biền biệt! Than ôi! Nếu
chẳng ôm ấp cùng một hoài băo xuất thế như cụ,
sao biết được nỗi khổ trong suốt cuộc
đời? Nếu chẳng biết nỗi khổ trong cuộc
đời cụ, há biết cụ thật sự suy
nghĩ xuất thế ư? Con trưởng là Hoàn Đức
biết chí của cha, bảo tôi xếp đặt theo thứ
tự để lưu truyền bản thảo ấy.
Trước hết là Phổ Môn Tán, kế đó là Bố
Đại Tán, rồi đến Đạt Ma Tán, kế
đó là các bài thơ đề trên các bức vẽ, và các bức
Tiên Ảnh Đồ (bức tranh về bóng cái roi), Thiên Cổ
Âm Đồ (bức tranh về âm thanh của cái trống
cơi trời) v.v…sẽ cho in khắc để lưu
hành riêng, ở đây chẳng nhắc lại!
Thử mở ra ngắm nghía, quả thật là trích tiên quy
tâm đấng Đại Giác, quyết chẳng phải là
kẻ ẩn dật yêu thích văn chương trong thế
gian. Than ôi! Phật đạo dài xa chỉ ở ngay trước
mắt. Tuy chỉ ở ngay trước mắt, nhưng
hành trong bao kiếp rộng xa, trọn chẳng thể tận!
Đời có kẻ chẳng biết nỗi khó khăn, sợ
là chưa từng thật sự ngộ cái dễ dàng. Cụ
Thiên Lư đă biết nỗi khó khăn ấy, tuy muốn chẳng
nói là cụ đă ngộ điều dễ dàng, há có
được hay không? Người khéo luận cho rằng
Thiên Lư phẩm cách thanh nhă, tài hoa, phong trí chẳng kém Nam Cung Quát[109].
* Lời tựa ghi sau
sổ sách phát chẩn tại Giang Ninh
Tâm tánh là một, nhưng nguy ngập hay vi diệu
khác biệt. Sự khác biệt ấy giống như
băng và nước, tánh ướt chẳng thể khác.
Điều khác biệt là bậc thượng trí yên vui,
giàu có, tôn quư, vinh hiển, kẻ hạ ngu bần cùng, khốn
khổ. Do chẳng thể khác, bậc thượng trí ắt
coi hạ ngu là chỗ để dấy ḷng Từ, vận
ḷng Bi. Hạ ngu ắt nhờ vào thượng trí làm người
chủ yếu cứu nạn, khỏi khổ. Kinh Hoa Nghiêm
nói: “Nhân ư chúng sanh nhi khởi đại bi, nhân ư
đại bi sanh Bồ Đề tâm. Nhân Bồ Đề
tâm, thành Đẳng Chánh Giác. Nhất thiết Bồ Tát
nhược vô chúng sanh, tất bất năng thành Vô Thượng
Bồ Đề” (Do chúng sanh mà dấy ḷng đại bi.
Do đại bi mà sanh Bồ Đề tâm. Do Bồ Đề
tâm mà thành Đẳng Chánh Giác. Hết thảy Bồ Tát nếu
không có chúng sanh, ắt sẽ chẳng thể Đẳng
Chánh Giác). Lời ấy chí lư thay!
Mùa Xuân năm Tân Măo
(1651), Trường Can bị mưa dầm suốt mười
ngày, dân không lẽ sống, ấy là do tự tạo oan nghiệt.
Chế Đài[110]
Mă công và các ông Vương, Nguy, thương xót họ không
nơi nương tựa, lập ra mười mấy chỗ
thí cháo, suốt một trăm ngày. Tổng cộng quyên ra
hơn một vạn đồng, cứu
dân đói hơn bảy mươi vạn người. Than
ôi! Chẳng nương vào tánh chẳng thể khác, sẽ
do đâu mà khiến cho mạng sắp dứt lại
được sống tiếp, thân gần chết mà lại
được phục sanh? Hơn nữa, khi nhận
cơm cháo, dẫu kẻ tối tăm, ngu độn, không ai chẳng
biết miệng xưng Phật hiệu, tâm cảm từ
ân, chỉ do một bữa ăn ấy đă kết thành cái duyên thù thắng
“thành Phật trong tương lai”, chủng tử kim cang quyết
chẳng thể hoại. Chẳng phải là Phổ Môn thị
hiện thân tể quan để hành Bồ Tát đạo,
há có thể chuyển tội thành phước, chuyển tai
ương thành cát tường thần tốc như thế
đó? Tuy vậy, dân
chưa chán tội, trời chưa chán loạn, trên là văn hồi
ư trời, dưới là cứu vớt ngu dân, chỉ có cậy vào bậc
đại nhân sức lớn. Tôi vui mừng sâu xa trước
nghĩa cử ấy, càng mong luôn có hành động này, càng
mong nghĩa cử không ǵ bằng như thế sẽ do gió
mưa thuận ḥa mà có
thể vĩnh viễn chẳng dùng đến nghĩa cử
ấy!
* Lời tựa cho Duy
Ma Kinh Đề Xướng Lược Luận
Kinh
dạy: “Chư Phật giải thoát, đương
ư chúng sanh tâm hạnh trung cầu” (Sự giải
thoát của chư Phật hăy nên cầu từ trong tâm hạnh
của chúng sanh). Xét
ra, tâm hạnh của chúng sanh muôn ngàn sai
khác;
tâm hạnh nhiều, giải thoát cũng nhiều. Giải
thoát chẳng thể nghĩ bàn, tâm hạnh cũng chẳng
thể nghĩ bàn! Nhưng kẻ cầu giải thoát trong
cơi đời không ai chẳng đọa vào hang nghĩ bàn,
Phật Thích Ca lẽ nào không thị hiện giáng sanh, ngài
Duy Ma lẽ đâu chẳng thị hiện bị bệnh?
Thị hiện giáng sanh, thị hiện bệnh tật, cho
tới hội Pháp Hoa, Quyền và Thật mới dung hội.
Chánh pháp đă xa, người học cuối thời Tượng
Pháp ai nấy theo ư của riêng ḿnh, ai nấy thuận theo tập
khí, coi pháp môn Bất Nhị như băng, than! Dẫu có chứng
ngộ, chưa quên pháp chấp, vẫn chia cách tánh, tướng,
Nam Bắc khác kiểu, huống hồ kẻ y thông[111]
ư? Tôi đă từng xem các bản chú giải thời cổ,
có bản nêu được đại cương
tương tự như thời Hán, có bản nêu ra
được muôn điều mục tương tự
như đời Đường. C̣n như muốn truy tới
lễ nhạc của Thành Châu (Châu Thành Vương)[112],
mà bỏ qua Trí Giả đại sư,
sẽ chưa thể coi là toàn vẹn
được! “Tương tự Hán” sẽ có thể cảnh
tỉnh mọi người, khiến cho họ thọ dụng
ngay lập tức, nhưng có thói tệ là cuồng! “Tợ
hồ đời Đường” có thể làm khuôn phép cho
mọi người, khiến cho b́nh dị, ổn thỏa,
thích đáng, khuyết điểm là vụn vặt. V́ thế,
trước thuật của đôi bên kết hợp lại
th́ sẽ tốt đẹp đôi đàng! Hễ chấp
th́ không ǵ chẳng phải là bệnh!
Trong niên hiệu Thần
Miếu đời Minh, Chân Nhất đạo nhân ở Duy
Dương hiệu là Vô Dụng Giả
(kẻ vô tích sự), sống ở núi
Pháp Hoa tại Vũ Lâm, đặt tên am là Tây Phương.
Chẳng rơ ai là người nối pháp. Các thứ trước
thuật, phần lớn giống như những
trước tác của Phương
Sơn. Nếu chẳng có túc căn và ngộ môn, quyết
chẳng thể lănh hội một chữ! Tiếc chưa
ngộ được sự kiềm chế đối với
bản sắc, chưa tránh khỏi cung cách xen tạp bá
đạo[113]
đời Hán, nhưng nhanh chóng, thẳng thừng, so với
các trước thuật trong thời gần đây, vượt
trội hơn hẳn! Thuở đó, một hai vị nổi
tiếng và ǵn giữ tế hạnh, có thể khiến cho
kẻ tôn sùng đông đảo, như Tử Dương
và môn đệ, ngược ngạo coi [chủ thuyết của]
Lục Tượng Sơn là Thiền Học mà bài xích! Than
ôi! Tượng Sơn chẳng thể bị diệt mất,
[dẫu
bị coi là] vô dụng đối với
đời sau, sao có thể diệt mất được
những ǵ ông ta đă đóng góp trong cuộc đời
ḿnh ư? Nếu thử b́nh tâm, ḥa khí, đừng nói theo
thành kiến do chấp vào ư kiến được tiếp
xúc đầu tiên để đọc sách Duy Ma Đề
Xướng Lược Luận này, bảo nó chẳng phải
là pháp mạch của Phương Sơn, tôi chẳng tin. Chẳng
v́ bạch bích có vết rạn nhỏ mà bỏ mặc, chẳng
v́ ṿng tay ôm chưa đủ một thước mà chê bỏ,
rượu ngon có chút cặn[114],
chẳng phải là cái học văn tự nông cạn mà có
thể sánh bằng được. Thâm cảm xưa nay, thở
dài viết lời tựa.
* Lời tựa tự
soạn ở cuối tác phẩm Lăng Già Nghĩa Sớ
C̣n
nhớ tôi vừa mới phát tâm liền theo đuổi Thiền
Tông. Mấy năm sau, dính dáng Luật, dính dáng Giáo, trước
thuật khá nhiều, riêng đối với kinh Lăng Già
th́ tính duyệt Tạng xong mới chú giải. Năm Nhâm
Th́n (1652) kết hạ tại Thịnh Khê, không có chỗ
để mượn Đại Tạng, bèn nâng bút [viết
lời chú giải] vào ngày mồng Ba tháng Sáu, tới ngày
Mười Một tháng Tám gác bút. Ở Lănh Hương
Đường tại Nam Giao của Trường Thủy,
chỉ duyệt Tạng bảy mươi ngày, nhưng Phật
sự, ma sự, bệnh chướng, ngoại chướng,
đành phí uổng thời gian! Đổi ba chỗ mới
hoàn thành bản thảo. Than ôi! Bấm tay tính nghĩ các
trước thuật, tác phẩm ǵ cũng thuận lợi,
dễ dàng, chứ sớ giải Lăng Già sao mà trái nghịch,
khó khăn! Có phải là do pháp môn tự giác thánh trí đúng
là để phá thói tệ trong đời Mạt, cho nên
khích động Ba Tuần phẫn nộ đó ư?
Nhưng Ba Tuần có thể khiến cho tôi ngồi chẳng
ấm chỗ, nhưng chẳng thể quấy nhiễu
ước vọng của tôi, ngăn trở bút trận của
tôi, tôi ắt sẽ hóa độ Ba Tuần cùng thành Phật
đạo. Ngài Duy Ma nói “tà ma ngoại đạo, giai ngô
thị giả” (tà ma, ngoại đạo đều là kẻ
hầu của tôi), há chẳng đáng tin ư? Tôi thẹn
v́ bị hư danh gây lầm lẫn, phạm phải lời
thọ kư “hiểu đạo mà chẳng hành đạo”
của ngài Đạt Ma, nhưng vẫn c̣n hơn là “nói
đạo mà chẳng hiểu đạo”. Bậc hiền
đạt nếu có thể do lời nói mà nhập
nghĩa, như đèn soi các sắc, ngơ hầu chẳng phụ
nỗi khổ tâm “tổn ḿnh lợi người” của
tôi.
* Lời tựa ghi cuối
bản giảo chánh, khắc in Đại A Di Đà Kinh
A Di
Đà Phật dùng pháp giới tạng thân thị hiện ngự
tại Tây Phương Tịnh Độ, chỉ có vi trần
Lạc độ ấy hàm nhiếp vô biên biển cơi nước
Hoa Tạng chẳng thể nghĩ bàn. Đó gọi là “pháp
môn Quyền Thật bất nhị”, vào trọn khắp
tâm tưởng của hết thảy chúng sanh, chẳng
đọa trong t́nh kiến so đo của hết thảy
chúng sanh. Mười phương chư Phật cùng nhau xưng dương.
Trong đại hội Bảo Tích, ra rả khuyên văng sanh.
Trong các bản được lưu hành riêng th́ có bản của
cư sĩ Vương Long Thư đời Tống dựa
theo bốn bản dịch của kinh này (kinh Vô Lượng
Thọ), do chưa thấy bản tốt nhất trong kinh Bảo
Tích (tức Vô Lượng Thọ Hội), liền hội
tập bốn bản dịch, bỏ những chỗ khuyết
điểm, chọn lấy phần ưu điểm,
đặt tên là Đại A Di Đà Kinh lưu thông trong cả
cơi đời hơn một ngàn năm rồi! Tôn túc Vạn
Dung ở Thọ Sanh Am có được bản cũ từ
nhà in, so
sánh với Nam Tạng và Bắc Tạng,
văn lẫn lư đều ưu, các đồ tôn của
Ngài khắc in. Đấy chính là nguyện luân của ngài
Pháp Tạng xưa nay nhất trí. Người chép kinh là
cư sĩ Vương Trinh Minh, tôi sang Ngô Môn là để
chấm câu[115]
vậy.
* Lời tựa khắc
in chung hai kinh Di Đà và Kim Cang
Chẳng
tịnh, chẳng uế là cái Thể của Bát Nhă. Biết
tịnh, biết uế là Chiếu của Bát Nhă. Giữ tịnh,
bỏ uế là Dụng của Bát Nhă. V́ thế, chẳng
dùng Bát Nhă để dẫn đường mà có thể sanh về Tịnh Độ,
chẳng có lẽ ấy! Chẳng dùng Tịnh Độ làm
chỗ quy hướng mà có thể gọi là
Bát Nhă, chưa hề nghe thấy! Chắc là có kẻ nói:
“Kinh Di Đà thuộc bộ Phương Đẳng, Kim
Cang thuộc bộ Bát Nhă, thời và giáo đă khác, chỉ
quy sao là một cho được?”
Tôi nói: - Kiến chấp
kiên cố thay! Giáo pháp suốt một đời Như Lai
trừ Thanh Văn Tạng, những thứ khác đều
được gọi là kinh điển Phương Đẳng
Đại Thừa. Bát Nhă lẽ nào chẳng phải là
Phương Đẳng ư? Từ sau đêm thành đạo
cho tới đêm nhập Nê Hoàn (Niết Bàn), trong khoảng
đó, [đức Phật] thường nói Bát Nhă. Lẽ
đâu Phương Đẳng chẳng phải là Bát Nhă
ư? Huống chi Tịnh Độ huyền môn, Lư không ǵ
chẳng bao trùm, Sự không ǵ chẳng thâu nhiếp! Từ
Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Đại Tập, Bát Nhă cho tới
Pháp Hoa, không ǵ chẳng hướng dẫn trở về An
Dưỡng. Chỉ riêng cơi An Dưỡng trọn đủ
ngang dọc bốn loại Tịnh Độ, mà bốn loại
Tịnh Độ trọn chẳng ĺa cái tâm nhỏ bé trong
một niệm hiện tiền, chẳng ngang, chẳng dọc,
vừa ngang, vừa dọc. Do vậy, kinh dạy: “Trang
nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị
danh trang nghiêm” (Trang nghiêm cơi Phật tức chẳng trang
nghiêm, bèn gọi là trang nghiêm). Đấy chính là chứng cớ
chân thật của Tịnh Độ vậy. Đời Mạt
chấp mê, chẳng thông đạt tâm tánh, vốn sẵn
chẳng ngoài. Nói duy tâm liền bác Tịnh Độ, nói Tịnh
Độ liền mê mất duy tâm, nào có biết Tây
Phương Cực Lạc rộng răi tột cùng Hoa Tạng?
Hoa Tạng trang nghiêm chẳng vượt ngoài tâm tánh! Do khai
sĩ Vô Ngă khắc gộp chung hai kinh Di Đà và Kim Cang, tôi
đặc biệt ghi lời tựa!
* Lời tựa cho
Thiên Nhạc Minh Không Tập của Bào Tánh Tuyền
Tôi
đọc Dịch Truyện tới câu “thiên địa bế,
hiền nhân ẩn” (trời đất đóng lại, bậc
hiền nhân ẩn khuất), chưa từng chẳng xếp
sách, thở dài! Kể từ khi kim thần hiện mộng[116],
chánh pháp truyền sang phương Đông,
bậc
đại thiện tri thức có kiến
giải nhạy bén đúng thời xuất hiện, chẳng
thể tính nổi số! Cho tới thời Tống -
Nguyên, kẻ mạo nhận, trộm lấy danh vị ngày
càng nhiều, người đạt được chánh
tri kiến ngày càng ít ỏi! Do vậy, Vân Thê lăo nhân thường
than “trong nước Chi Na, t́m một vị Tu Đà Hoàn
chẳng thể được!” cũng có phần nào là
nói quá khích! Tôi trộm
cho rằng: Nếu t́m người chứng quả nơi
những người mọi người đều biết,
quả thật chẳng dễ. Nhưng nếu t́m trong số
những người ẩn giấu h́nh tích, chẳng bộc
lộ tài năng, có lẽ chẳng phải là không có! Chỉ
thẹn thiếu tốn phương tiện giao thông thù thắng
để có thể đi khắp hoàn vũ ḥng tham phỏng
mà thôi! Gần đây, Thiền đạo bị tiếm lạm,
tôi chẳng nỡ thấy, nghe! Chẳng bàn tới chuyện chứng
quả đă tuyệt tích, dẫu là người [thông hiểu]
đường nẻo đoan chánh cũng chẳng dễ
t́m được! Tôi thường nửa đêm đau
ḷng khóc lóc. Do vậy, riêng đối với Tây
Phương Hợp Luận của Viên Thạch Công[117]
sanh ḷng tùy hỷ sâu xa, cho là “không cốc túc âm”[118]
(tiếng bước chân trong hang vắng).
Mùa Đông năm
trước, tôi sang Tuy Lư, Vương Chỉ Am cho xem sách
Thiên Nhạc Minh Không (tiếng nhạc trời vang rền
trên hư không) do Bào
Tánh Tuyền biên soạn. Tánh Tuyền là người xứ
Sơn Âm, buôn bán gỗ cây dó[119],
thoạt đầu lễ Tử Bách đại sư. Sư dạy ông
đọc kỹ Lăng Nghiêm và Pháp Hoa, ông bèn cậy
người viết chữ đẹp, chép tỉ mỉ,
đoan chánh thành kinh bổn, cho khắc ván lưu thông. Kế
đó, ông lại dốc chí nơi các bộ sách Hoa Nghiêm Hợp
Luận, Đại Thừa Chỉ Quán, Truyền
Đăng, Tông Kính v.v… qua lại với Trạm Nhiên thiền
sư, sau đấy bèn quy y Vân Thê đại sư, ngồi
qua đời, siêu đăng cơi sen. Ôi! Hết sức hy hữu!
Tập sách ấy
được cư sĩ Đào Thạch Lương giảo
duyệt, giao cho người bạn là Tiền Vĩnh Minh.
Vĩnh Minh lúc
sắp mất, giao cho Chỉ Am. Chỉ
Am mang theo người, qua lại vạn dặm đă suốt
mười năm, muốn tính khắc in, nhưng chưa
được như ư nguyện. Do vậy, tôi được
giở xem nguyên cảo, mới tin [Tánh Tuyền] là bậc
chánh tri kiến. Tuy khó thể coi là người được
mọi người biết đến, nhưng vẫn chẳng
phải là bậc ẩn giấu h́nh tích, giấu diếm
tài năng. Lập luận của ông, chủ yếu coi minh
tâm kiến tánh là chuyện cấp bách, lấy chuyện ngộ
rồi tu hành là chánh yếu, do lănh hội sâu xa ư chỉ của
Hợp Luận, cũng như đă đăng đường
sách Tông Kính, kham làm một mũi kim đâm vào đỉnh
đầu của kẻ cuồng Thiền trong đời
Mạt. Chẳng trách kẻ cuồng Thiền ghét bỏ
sách gây hại cho chính họ, vu báng ngược lại là
[ông Bào tự tiện lập ra] một đường lối
khác! Than ôi! Ông Bào tại An Dưỡng quốc vẳng nghe
lời ấy, cũng sẽ cười ḅ ư?
* Lời tựa tự
soạn cho bộ Tây Hữu Nghệ Dư
Sở
Thạch đại sư thị tịch, bảo Mộng
Đường rằng: “Ta đi đây”. Mộng
Đường hỏi: “Đi đến nơi nào?”
Đáp: “Đến Tây Phương”. Mộng Đường
nói: “Tây Phương có Phật, Đông phương chẳng
có Phật ư?” Sư nghiêm mặt, quát một tiếng rồi
qua đời. Tôi thẹn chẳng có đức như ngài Sở Thạch,
nhưng vừa khéo có chí như Sư. Thế mà bốn
mươi chín năm sai trái, hối hận chẳng kịp.
Nay đă năm mươi, vẫn cứ nói mớ chẳng
dứt, cũng chẳng đáng buồn lắm sao? Trang Sanh
nói: “Có đại giác rồi sau đó mới biết
đấy là giấc mộng lớn”. Đă chưa
đại giác, sao tránh khỏi nói mớ? Kinh Đại Phật
Đảnh nói: “Thí như hữu nhân, thục mị nghệ
ngôn, thị nhân tuy tắc biệt vô sở tri, kỳ ngôn
dĩ thành âm vận luân thứ, linh bất mị giả,
hàm ngộ kỳ ngữ” (Ví như có người ngủ
say nói mớ, tuy người ấy chẳng hay biết ǵ,
nhưng lời nói đă thành âm vận, theo đúng thứ tự,
khiến cho người chẳng ngủ đều hiểu
lời ấy).
Tôi cũng giống
như thế, suốt đời trước tác, mùa Xuân
năm Bính Tư (1636) khi trước, tụ tập [các bài viết
riêng lẻ] thành Tịnh Tín Đường Sơ Tập. Mùa Thu năm Mậu Dần
(1638) khi trước, gom thành Tuyệt Dư Biên. Mùa Hạ
năm Nhâm Ngọ (1642) khi trước, gom thành Mân Du Tập.
Mùa Đông năm Đinh Hợi (1647) khi trước, gom góp
thành Tịnh Tín Đường Tục Tập, đều
là lời nói mớ. Đầu Xuân năm Mậu Tư (1648), ngụ
tại Ngẫu Hoa Ổ, phàm những lúc nổi hứng viết
lách đều giao cho thị giả cất giữ, đặt
tên là Tây Hữu Nghệ Ngôn (những lời mớ của
Tây Hữu)[120].
Trăm đời sau, có người chẳng mê ngủ
chưa từng chẳng gặp gỡ trong sáng tối!
* Lời tựa tự
soạn cho tác phẩm Tuyển Phật Phổ
Cách
nói “tuyển Phật” bắt nguồn từ chuyện
Thiền khách chỉ điểm cho Đơn Hà giác ngộ,
c̣n Tuyển Phật Độ được truyền thừa
khởi đầu từ Nại Ma Tăng. Học sĩ Giải
Tấn[121]
vẽ Thăng Quan Đồ; do vậy, Nại Ma Tăng vẽ
Tuyển Phật Đồ, ắt phải am hiểu rộng
răi giáo thừa, biết Thiền, Luật sâu xa, chẳng hề
có chuyện chẳng thông đạt trong pháp môn mà tự tiện
dám noi theo ư riêng tự sáng lập! Tiếc là đồ h́nh ấy
đă thất truyền, chẳng thể nào được
thấy. Năm Kỷ Mùi (1619) thời Vạn Lịch, tôi từng
ở Lưu Đô tạo một bức Thăng Phật
Đồ, trọn chẳng có thứ tự, đáng bị
chê cười! Năm Quư Hợi (1623), ở Vũ Lâm, tùy hỷ
một bức Tuyển Phật Đồ do U Khê Vô Tận
đại sư vẽ ra, hiển thị trọn đủ
cùng tột mười pháp giới thăng trầm, đủ
gọi là tốt đẹp tột bậc! Năm Ất Sửu
(1625), tại Tùng Lăng thấy một bức vẽ thâu
nhiếp tam giáo, nhưng lư chẳng đạt tới mức
rơ ràng, cũng chẳng đáng giữ lấy. Năm Kỷ
Tỵ (1629), huyễn ngụ tại Linh Cốc, có người
cho xem một bức đồ h́nh khác, nói là do Nại Ma vẽ,
nhưng văn lư càng chẳng thông, sợ rằng chẳng
phải là vật cũ, chắc là kẻ ngu si, cuồng vọng
mạo danh!
Bất đắc
dĩ, phỏng theo ư của ngài U Khê, tự chế ra một
bức đồ h́nh, tăng thêm nhân hạnh thánh phàm, và chủng
tánh sai biệt để chỉ rơ căn cơ chẳng phải
là một loại như nhau. Nếu là kẻ thuộc địa
vị vô căn tín, và đại quyền hộ pháp, do mở
ra con đường chuyển biến trọn vẹn, tâm
nghịch ác mạnh mẽ, chuẩn theo Quán Kinh mà quy về
Tịnh Độ. A Tỳ khổ sở cùng cực,
nương theo Hoa Nghiêm mà mau lên Đâu Suất. Chư thiên
có nỗi khổ giáng đức, biếm trụy. Vô Sắc
có nỗi ương hại bị luân chuyển sau khi
đă đạt đến tột cùng của Tứ Không
Thiền, [những điều này] vốn đều phát xuất
từ giáo thừa, chẳng phải là đoán ṃ!
Lại nữa, ngài U
Khê chỉ dùng một hạt xúc xắc Phật luân để
gieo, cho nên thăng trầm cách biệt vời vợi, c̣n ở
đây tôi gieo cả bốn hạt, cho nên chuyển biến
chẳng có ngằn mé. Năm Tân Mùi (1631) cho khắc in,
đă được lưu truyền rộng nơi đất
Ngô. Kế đó, tại Tây Sơn ở Cổ Hàng, thấy
hai đồ h́nh khác cũng chưa toàn mỹ, cho nên đều
chẳng lưu truyền. Năm Tân Tỵ (1641), tôi ngụ
tại Chương Nam, thường nghĩ đến bản
đă khắc tại Ngô Môn vẫn còn
có chỗ chưa thích đáng, lại sửa một đồ
h́nh, dùng sáu hạt xúc xắc để gieo, vừa
được một giới c̣n tạo mười giới,
một lần gieo đă hiển thị trọn vẹn sự
thăng trầm. Năm Quư Mùi (1643) cho khắc in tại Tuy
Lư, nhưng sáu hạt xúc xắc cùng gieo, sáu chữ cùng hiện
cặn kẽ, chuẩn xác, tường tận, rơ ràng, thuận
tiện [hướng dẫn] hành động [cho người
gieo], nhưng kẻ thô tâm hời hợt thường thấy
là khổ.
Mùa Đông năm Tân Măo
(1651), trở về nằm tại Linh Phong, nghĩ măi đến
lợi ích của đồ h́nh này có thể khiến cho
người ta ngay trong lúc vui chơi, nhanh chóng biết nỗi
nhọc nhằn do qua lại trong sáu đường, sự
sai biệt trong lẽ xuất yếu của tam thừa,
dũng mănh, thiết tha niệm Phật, cầu thoát khổ
luân, quả thật chẳng thể nghĩ bàn! Nhưng
đồ h́nh của ngài U Khê phạm khuyết điểm
quá đơn giản, hai đồ h́nh của tôi phạm lỗi
quá rườm rà, trằn trọc, trăn trở, suốt
đêm chẳng ngủ, bèn nghĩ chỉ dùng hai hạt xúc
xắc để gieo cho thuận tiện. Đă dễ hành
mà lại nhiều chuyển biến, lại tự tay vẽ
một đồ h́nh, tăng tục đều ca ngợi
là tận thiện, tận mỹ, bảo tôi rằng: “Đồ
h́nh này được lưu hành, quả thật đáng khiến
cho mọi người thông đạt hết thảy Phật
pháp, xin lại viết lời phổ (giải thích) ḥng giảng
rơ, khiến cho kẻ ngu cũng nhờ vào đấy biết rõ
đạo lư thế gian và xuất thế gian. Dẫu
người có trí cũng chẳng dám hư vọng tăng
giảm trong ấy được!” Tôi nghe theo lời ấy
bèn soạn lời phổ như sau…
* Lời tựa tự
soạn cho Liệt Vơng Sớ
Đạo
của Phật, Tổ, dùng tâm truyền tâm. Bồ Tát tạo
luận giải thích thông suốt kinh cũng chỉ v́ một
đại sự này. Do vậy nói: “T́m cầu chắc thật
trong mười phương, trọn chẳng có thừa
nào khác”. Do tùy thuận các căn cơ mà từ Thật
hành Quyền, nói ra đủ loại đạo, như ba
loại cây, hai loại cỏ [trong kinh Pháp Hoa], được
nhuần thấm khác nhau, nhưng cơn mưa có thể thấm
nhuần vốn chỉ có một vị. Do đó nói: “Như
ăn thạch mật, chính giữa và ngoài ŕa đều ngọt”.
Lại nói: “Lời thô tháp và lời dịu dàng đều
quy vào Đệ Nhất Nghĩa”, há có nên chấp chết
cứng văn tự, đánh mất ư chỉ, ngang ngược
chấp vào danh tướng, chia
cắt hư không ư? Hơn nữa, như
Di Lặc Thế Tôn, xét theo Tích th́ thuộc
địa vị Bổ Xứ, c̣n Bổn th́ khó nghĩ
tưởng. Vô Trước và Thiên Thân là bậc phụ bật (輔弼) cho hội Long Hoa, nào khác Văn Thù và
Phổ Hiền? C̣n như Mă Minh, Long Thọ đều
được miệng vàng thọ kư, truyền tâm tông của
Phật, trước thuật của các Ngài chắc chắn
chẳng hề trái nghịch, khác biệt nhau! Nhưng giảng
sư đời sau tự tiện hư vọng phán định
rằng: “Duy Thức Luận của Thiên Thân là lập
tướng Thỉ Giáo, Trung Luận của Long Thọ là
phá tướng Thỉ Giáo, Khởi Tín Luận của Mă
Minh là Chung Giáo kiêm Đốn Giáo, đều chưa phải
là viên!”
Than ôi! Đấy
cũng là chẳng suy nghĩ quá đáng! Ngài Thiên Thân đề
cao Du Già, kiến lập Duy Thức. Trước hết,
Ngài dùng Duy
Thức
để phá ngă chấp và pháp chấp. Kế đó, chỉ
rơ thức cũng như huyễn, chẳng phải là chân thật
có. Do vậy, cũng gọi là Phá Sắc Tâm Luận, gọi
là “lập tướng giáo” (giáo pháp xác lập tướng)
có được hay không? Ngài Long Thọ nương theo Bát
Nhă rất sâu, quét sạch trọn khắp t́nh chấp của
tứ tánh ḥng hiển lộ pháp tánh. Do vậy nói: “Muốn
trọn đủ hết thảy Phật pháp, hăy nên học
Bát Nhă”. Lại nói: “Nếu cho rằng chẳng
có cái Không này, hết thảy chẳng
làm, do có
nghĩa Không, hết thảy
đều được thành”. Gọi
đó là “phá tướng giáo” có được hay không? Mă
Minh dùng Nhất Tâm Chân Như môn để hiển lộ
Bát Nhă rất sâu, đó
là thuận theo trí mà nói;
dùng Nhất Tâm Sanh Diệt Môn để hiển lộ tám
thức trong Du Già Bát Thức chính là
thuận theo t́nh kiến mà nói. Chân Như chính là Nhất Chân
pháp giới, thống nhiếp Lư Sự mà dứt bặt Sự
Lư: Sanh diệt tức là Sự được thành bởi
toàn thể Lư, cái Lư của toàn thể Sự là vô tánh. Hai môn đều
chẳng ĺa nhất tâm, không một môn sanh diệt nào chẳng
phải là toàn thể Chân Như. Không một môn Chân Như
nào chẳng hoàn toàn trọn đủ sanh diệt. Đấy
chính là Sự Sự vô ngại pháp giới, bảo nó “bất
đồng với Duy Thức và Trung Luận, vẫn
chưa phải là Nhất Thừa viên cực”, há có
được hay không?
Huống hồ trong các
kinh luận đều nói Chân Như và hết thảy các
pháp như nước và sóng, chẳng một, chẳng khác,
chứng cứ chân thật sẵn có, há dung thiên chấp
ư? Bởi lẽ, nếu nói nhất định là một, th́ Chân Như chẳng
sanh diệt, hết thảy các pháp cũng
phải nên chẳng sanh, chẳng diệt.
Hoặc là hết thảy các pháp sanh diệt, lẽ ra Chân
Như cũng sanh diệt. Cố nhiên là chẳng thể! Nếu
nói chắc chắn là khác, Chân Như sẽ chẳng phải
là thật tánh của hết thảy các pháp, phải nên ở
ngoài hết thảy các pháp mà riêng có ngằn hạn, chẳng
thường, chẳng biến, [nếu là như thế] lại
càng chẳng thể!
V́ vậy, Khởi Tín
Luận nói “Chân Như chịu huân tập”, ví như
khi chạm vào sóng, chính là chạm vào nước. Do vậy,
phá chấp trước “chắc chắn là khác”, nhưng chẳng
hề nói Chân Như thuận theo sự huân tập mà chuyển
biến. Duy Thức nói “Chân Như chẳng thể huân”,
ví như khi sóng dao động th́ tánh ướt bất
động. Do vậy, phá chấp trước “chắc chắn
là một”, chưa hề nói “riêng có một cái Chân Như
tĩnh lặng” (Duy Thức Luận nói: “Chẳng giống
với các tông khác, ĺa sắc, tâm v.v… bèn có pháp thật sự
chân thường, gọi là Chân Như”. Lại nói: “Chân
Như chính là thật tánh của Duy Thức”. Kinh văn
nói rành rẽ như thế, người đời sau lại
đem Chân Như tĩnh lặng để vu báng Duy Thức,
tội đến mức nào?) Như thế th́ Duy Thức
nói “do Chân nên tướng chẳng khác” chính là Nhất
Tâm Chân Như Môn
của Khởi Tín. “Do Tục, nên tướng có sai khác”
chính là Nhất Tâm Sanh Diệt Môn của Khởi
Tín vậy.
Kinh Lăng Già dạy: “Chư
thức hữu tam chủng tướng, vị chuyển
tướng, nghiệp tướng, chân tướng”
(Các thức có ba loại tướng, tức là chuyển
tướng, nghiệp tướng và chân tướng). Sách
Tông Kính giải thích rằng: “Khởi tâm th́ gọi là Chuyển,
do tám thức đều khởi, do đều có sanh diệt,
bèn gọi là Chuyển Tướng. Động th́ là nghiệp,
tám thức đều động, đều gọi hết
là Nghiệp
Tướng.
Chân tánh của tám thức đều gọi là Chân
Tướng”.
Xét theo đó, Khởi Tín và Duy Thức đều đề
cao Lăng Già, cũng đă rơ rồi! Điểm được
đề cao đă giống nhau, tức các danh nghĩa tự
nhiên chẳng trái nghịch. Các nhà chú sớ chẳng thể
dùng nghĩa để định danh, bèn tự tiện
nương theo danh định nghĩa, đến nỗi
[cho rằng] hai luận trái nghịch nhau như nước
với lửa, chẳng đáng buồn lắm ư?
Trong Đại Tạng,
có hai bản Đại Thừa Khởi Tín Luận[122],
nhưng bản đời Đường, văn từ rơ
ràng, nghĩa thông thuận. Trước kia đă lưu thông
bản đời Lương, tôi chẳng dám tự tiện
truyền bá, kính rút thăm để thỉnh ư Phật quyết
định, rút được cái thăm “hăy nên giải
thích bản đời Đường”, bèn dốc cạn
một chút ánh sáng nơi kẽ hở, mổ xẻ tận
cùng chỗ mê chấp giữa hai tông. Môn nhân là Thành Thời
xin đặt tên [bản sớ giải này] là Liệt Vơng Sớ.
* Lời tựa tự
soạn cho Huyễn Du Tạp Tập
Mùa
Xuân năm Quư Tỵ (1653), tôi hành cước đơn
độc. Giới tử Kiên Mật mời đến Tân
An. Kết hạ và đông ở Hấp Phổ, trải qua
các nơi Thang Tuyền và Bạch Nhạc
đến cuối Thu. Mùa Xuân năm Giáp Ngọ (1654), từ Vũ Lâm,
Cô Thành vào Linh Phong. Bấm tay tính ra trong một năm, quá nửa
dứt tuyệt [chuyện viết lách] thù tạc, chỉ
có mùa Xuân năm nay, bút mực mênh mông, mà giữ lại bản
thảo mười phần chẳng được ba.
Đă ở tại Tạng Đường, ngẫu nhiên
xem lại giấy tờ, chưa đầy bốn
mươi trang giấy. V́ thế, chẳng chia môn phân loại,
chỉ căn cứ theo thời điểm khác nhau để
định thứ tự, gọi là Huyễn Du Tạp Tập.
* Lời tựa tự
soạn cho bộ Duyệt Tạng Tri Tân
Ngoài
tâm không có pháp, cho nên tổ sư dạy “tâm chính là pháp”.
Ngoài pháp chẳng có tâm, cho nên đại sĩ xiển
dương “pháp tức là tâm”, cùng truyền Phật mạng
ḥng giác ngộ mê t́nh. Trọn chẳng có ai muốn hoằng
truyền Phật ngữ, mà chẳng biết nghiên cứu
Phật tâm sâu xa! Cũng chẳng có ai đă ngộ Phật
tâm, mà vẫn chẳng thể diệu đạt Phật ngữ!
Nay th́ sư tăng nói suông văn tự, Thiền lữ
lơ mơ, sờ soạng, rốt cuộc là như thế
nào đây? Than ôi! Tôi chẳng nỡ nói!
Xưa kia, đức
Thế Tôn thị hiện nhập Niết Bàn, Sơ Tổ
Đại Ca Diếp bạch với đại chúng rằng:
“Xá-lợi của Như Lai chẳng phải là chuyện
của chúng ta, chúng ta hăy nên kết tập Tam Tạng
trước, đừng để cho Phật pháp bị diệt
nhanh chóng!” Than ôi! Nếu Tam Tạng thật sự chẳng
đáng để truyền Phật tâm, v́ sao Sơ Tổ lại
coi kết tập là nhiệm vụ cấp bách? Trộm cho
rằng: Thiền Tông có Tam Tạng, giống như Dịch
Thu[123]
có quân cờ. Tam Tạng cần Thiền Tông, giống
như quân cờ cần có nước cờ linh động.
Cùng một con cờ, người giỏi chơi cờ
vây, nước nào cũng đều linh hoạt, kẻ chẳng giỏi
chơi cờ vây, nước nào cũng tắc tị!
Đều cùng là Tam Tạng này, người biết Phật
tâm th́ lời nào cũng đều liễu nghĩa; kẻ
chẳng biết Phật tâm th́ chữ nào cũng đều
phạm khuyết điểm! Chỉ v́ chấp chặt vào
từ ngữ mà sanh kiến chấp, bèn muốn hoàn toàn vứt
bỏ Phật ngữ, có khác ǵ kẻ do nghẹn bèn bỏ
ăn?
Tam Tạng chẳng thể
vứt bỏ, ví như ăn uống chẳng thể bỏ.
Ăn uống chẳng điều ḥa, ắt sanh bệnh hoạn.
Chẳng học tập Tam Tạng, trí nhăn ắt tối
tăm. Nh́n vào tạng thừa do các triều đại
đă khắc, hoặc tùy theo thứ tự năm tháng mà nhập
Tạng, hoặc xét theo kinh trùng nhau[124]
hay đơn độc mà phân loại, Đại Thừa,
Tiểu Thừa hỗn tạp, trước sau chẳng hợp
tiêu chuẩn, đến nỗi người mở xem, mờ
mịt chẳng biết hoăn, gấp ra sao! V́ thế, Đại
Tạng được tôn thờ trong các chùa, bất quá là
chỉ tồn tại danh cú văn thân[125],
phong kín, ǵn giữ mà thôi, chẳng khiến cho người
duyệt đọc thấu đạt chỉ quy, biện
định Quyền, Thật, huệ mạng của Phật,
Tổ. Đúng là chẳng khác nỗi sợ chín đỉnh
treo bằng một sợi tơ!
Chỉ vào đời Tống
có cư sĩ Vương Cổ sáng tác Pháp Bảo Tiêu Mục,
đời Minh có sa-môn Uẩn Không nối tiếp soạn Vựng
Mục Nghĩa Môn, đều đáng gọi là nhọc nhằn!
Nhưng sách Tiêu Mục chỉ thuận theo thứ tự
trong Tống Tạng, nêu bày manh mối đại lược,
cố nhiên chưa tận mỹ! Sách Nghĩa Môn thoạt
đầu nương theo ư vị ngũ thời giáo, trần
thuật sơ sài, đại khái, cũng chưa tận thiện.
Khi Húc ba mươi tuổi, phát tâm duyệt Tạng. Năm
sau, gặp huynh Bích
Như Hạo tại Bác Sơn, Sư ra rả đem
nghĩa, loại, nội dung diễn đạt, thứ tự
căn dặn. Do vậy, mỗi khi mở xem Tạng kinh, vừa
đọc vừa ghi chép, phàm trải qua các nơi Long
Cư, Cửu Hoa, Hà Chương, Ôn Lăng, U Thê, Thạch
Thành, Trường Thủy, Linh Phong tám chỗ, trải qua
hai mươi bảy năm, mới hoàn thành bản thảo,
rốt cuộc chẳng dám chia chẻ, phán định
hư không, chỉ nhờ vào đó để hơi biện
định phương vị, ngơ hầu người
chưa duyệt Tạng sẽ biết trước sau theo
đúng lẽ. Người đă duyệt sẽ thông đạt
Quyền, Thật nhiếp thuộc. Người tŕ
nghĩa có thể do ước lược mà biết rộng.
Người chú trọng văn tự sẽ có thể hiểu
rộng quy vào ước lược. Dù Quyền hay Thật
đều chẳng ra ngoài nhất tâm. Dù rộng hay lược,
đều thông một tướng, [do vậy] đặt
tên [cho sách này] là Duyệt Tạng Tri Tân vậy!
* Lời tựa tự
soạn cho Pháp Hải Quán Lan
Tử
Dư Thị[126]
nói: “Xem nước th́ có cách, ắt phải xem sóng gợn”,
huống hồ biển pháp Đại Tạng rất sâu vô
lượng. Chẳng nắm được cái thuật
(phương cách), sao có thể quán được? Luận
chung về pháp môn tu chứng, mênh mông như trần sa, chẳng
phải chỉ tám vạn bốn ngàn mà thôi! Nhưng dùng
năm môn để thâu nhiếp, sẽ trọn hết
không ǵ chẳng tận! V́ sao? Muốn dạo chơi trong biển
Phật, trước hết phải sắm sửa thuyền
giới. Giới đă tịnh th́ giải và hạnh có thể
tuân hành. Hạnh viên th́ bí mật nhờ đó mà chứng.
Chứng nhập th́ cái quả nơi
y báo tự trang nghiêm. V́ thế, đầu
tiên là Luật Tông, nêu
rơ khởi đầu của sự tu tạo. Kế đến
là các giáo, nhằm nói rơ đường lối để
khai giải. Kế đến là Thiền Quán, nói rơ sự
tu hành thực tiễn. Kế đó là Mật Tông, nhằm
nêu rơ sự cảm ứng vi diệu. Rốt cuộc là Tịnh
Độ, nhằm nói rơ chỗ đồng quy của chính
ḿnh và người khác. Ngài Trung Phong Minh Bổn nói: “Mật
chú như mùa Xuân, giáo thừa như mùa Hạ, Nam Sơn Luật
Tông như mùa Thu, Thiền Tông như mùa Đông”. Thoạt
nghe cũng tợ hồ thỏa đáng, nhưng xét nghĩ
thêm, chưa chắc đă đều đúng cả!
Luận định
khít khao các tông, hăy nên xét theo chỗ chỉ quy, đừng
xét theo dấu vết. Cấm chú bí mật như mùa
Đông, khiến cho sanh ư c̣n hàm tàng chưa phát khởi, há
hoàn toàn giống như mùa Xuân? Giới là sơ môn của Phật
pháp, Nho chẳng học Lễ, sẽ
không có ǵ để lập;
Thích không thọ giới, chẳng cho phép nghe giáo! Tham Thiền
như mùa Xuân, khiến cho thảo mộc nứt vỏ [nẩy
mầm], há giống như mùa Thu?
Há nói đức Phật chế định Tỳ Ni giống
như Tiêu Hà chế luật, bèn coi là [giới luật] mang
hơi hướng túc sát[127]
ư? Thiền từ trong vô tu chứng, khéo luận tu chứng,
vô chứng mà chứng, tức là Thể bao hàm muôn tác dụng,
có thể coi giống như mùa Đông. Vô tu mà tu, tức trừ
bỏ những thứ hoa mỹ để hướng
đến cái thật, thật sự giống như mùa
Thu. Giáo Thừa như mùa Hạ, tôi không phản đối.
Chỉ có điều bốn môn ấy chẳng môn nào không lấy
Tịnh Độ làm chỗ nương về, cũng giống
như đất là vua của cả bốn thời. Hai thừa
Đại và Tiểu đều lấy giới luật làm
đầu, nhưng Đại ắt kiêm Tiểu, Tiểu
chẳng kiêm Đại. Nam Sơn chẳng dám tự
xưng là Đại Thừa, chẳng nên lấy Nam Sơn
đặt tên tông, nhưng nói Luật Tông như mùa Xuân th́
được!
Giáo cũng tự có
Đại Thừa và Tiểu Thừa, trời Tây th́ tách ra,
c̣n cơi này th́ từ thời Tấn - Ngụy trở đi,
hoặc tách ra, hoặc kiêm, nay đều riêng hoằng
dương Đại Thừa. Lại có ba nhà: Một là
Thiên Thai Tông, hai là Hiền Thủ Tông, ba là Từ Ân Tông.
Thiên Thai th́ Giáo Quán cùng nêu, có thể coi Giáo như mùa Hạ,
Quán như mùa Thu. Hiền Thủ th́ Giáo nhiều, Quán ít.
Thanh Lương thu Thiền về Đốn Giáo, Khuê Phong
tự lập tam giáo để đối ứng với
tam tông, vậy th́ tam giáo như mùa Hạ, ba tông như mùa
Thu. Từ Ân (ngài Huyền Trang)
hoằng dương Duy Thức, tự tu Đâu Suất
quán môn. Ngài Khuy Cơ dạy đại lược Duy Thức
Ngũ Quán, chưa từng thật sự khuyên tu, nhưng
sau mùa Hạ nhất định có mùa Thu, do người học
tự lănh hội mà thôi. V́ thế lại nói các giáo như
mùa Hạ, Thiền cũng tự có hai môn Đại và Tiểu.
Trong Đại Thừa, lại chia thành Đốn và Tiệm.
Ở đây chẳng bàn tới Tiểu và Đại Tiệm.
Sau khi Đạt Ma thừa dịp Phật giáo thịnh
hành, đặc biệt tới [Trung Hoa] chỉ dạy tâm yếu,
như vẽ rồng điểm nhăn, khiến cho rồng
bay đi. Cho tới Lục Tổ, không ǵ đều chẳng
phải là như vậy. Tuy nhờ vào Lăng Già và Kim Cang
để ấn tâm, chưa từng phế giáo, chỉ quư do hạnh khởi giải, trọn chẳng chấp
thuận bám rịt vào khuôn sáo tri giải.
V́ thế, cùng với Chỉ Quán viên diệu của tông
Thiên Thai giống như mùa Thu.
Mật Tông chỉ có
pháp Đại Thừa, thân vào đàn, kết mật ấn,
miệng tụng mật ngôn, ư chuyên mật quán, gọi là
Tam Mật pháp môn. Nếu luận theo kẻ mới tu th́ ắt
trước là tŕ tịnh giới, phát Bồ Đề tâm,
hiểu lư pháp giới, th́ mới được phép vào
đàn, định kỳ hạn cầu chứng, cũng
là từ Xuân Hạ mà vào Thu. Nay xét theo thần chú do chư
Phật đă nói, chẳng được phiên dịch, chỉ
dạy tŕ tụng, khiến cho người ấy ngay lập
tức chứng nhập. Lại khiến cho người
nghe, thậm chí gặp bóng, vương bụi, đều
thành chủng tử giải thoát rốt ráo. V́ thế, chỉ
nói Mật Tông như mùa Đông.
Tịnh Độ là
tam đức bí tạng, thường, lạc ngă, tịnh
là chỗ an ổn rốt ráo. Đó gọi là Thường
tức Pháp Thân, Tịch tức giải thoát, Quang tức Bát
Nhă, chẳng một, chẳng ba, nhưng mà là ba, là một,
chẳng dọc, chẳng ngang, không cùng lúc, chẳng tách rời,
chẳng thể nghĩ bàn, chẳng hai mà là hai. Do vậy,
toàn thể y báo tức chánh báo, được gọi là Phật
thân. Toàn thể chánh báo tức y báo, gọi là Tịnh Độ!
Chỉ có điều đối với Thường Tịch
Quang pháp tánh thân và cơi ấy, v́ toàn thể đều mê mà
thành tam giới lục đạo. Do thiên chứng, chấp
giữ, bèn thành Thanh Văn, Duyên Giác. Quyền vị Bồ
Tát tùy phần ngộ giải, thành ra tam hiền, thập
thánh. Do vậy, chư Phật v́ Thật mà hành Quyền,
pháp tánh bất động, hiện ra ba cơi: Để tiếp
độ tam hiền thập thánh, thị hiện Thật
Báo Tịnh Độ. Để tiếp độ Thanh
Văn, Duyên Giác, Quyền vị Bồ Tát, thị hiện
Phương Tiện Tịnh Độ. V́ tiếp độ
tam giới lục đạo phàm phu, thị hiện Đồng
Cư Tịnh Độ. Nhưng các chúng sanh, căn tánh bất
đồng, ưa muốn cũng khác, hoặc do tŕ tam tụ
giới mà thanh tịnh bốn cơi, hoặc do tu tập giáo,
hiểu nghĩa rất sâu mà thanh tịnh bốn cơi. Hoặc
do Thiền Quán, trực ngộ tự tâm mà thanh tịnh bốn
cơi. Hoặc do chuyên tu Tam Mật, truyền tŕ chú ấn mà
thanh tịnh bốn cơi. Hoặc do một môn duy nhất mà
thanh tịnh bốn cơi. Hoặc hai môn, ba môn, bốn môn mà
thanh tịnh bốn cơi. Như thảo mộc hoa quả
trong thế gian, hoặc sanh trưởng, hoặc chín rụng
vào mùa Đông, hoặc chỉ trải qua một
mùa liền chín muồi, hoặc trải qua hai mùa, ba mùa, cho
đến trải qua trọn bốn mùa mới chín muồi.
V́ thế, cần phải nói: Tịnh Độ như
đất là vua của bốn mùa!
Tám vạn bốn ngàn
cho đến trần sa pháp môn, chẳng có pháp nào không có giới,
chẳng có pháp nào không có chánh giải, chẳng có pháp nào
không chuyên dốc hành tŕ, chẳng có pháp nào không chứng mật,
chẳng có pháp nào không quy vào Tịnh Độ. Do vậy
nói: “Năm môn thâu nhiếp trọn, không ǵ chẳng trọn
hết”. Nhưng Giới
không có giải hạnh, sẽ chẳng phải là Giới. Giáo chẳng
có giới hạnh, sẽ chẳng phải là Giáo. Thiền chẳng
có giới và giáo, sẽ chẳng phải là Thiền. Mật
chẳng có giới, hạnh, và Thiền, sẽ chẳng phải
là Mật. Chẳng phải
Giới, chẳng phải
Giáo, chẳng phải
Thiền, chẳng phải Mật, sẽ chẳng phải
là cái nhân chân thật của Tịnh Độ. Chẳng có
bốn loại Tịnh Độ th́ Giới, Giáo, Thiền,
Mật chẳng có thật quả! Chẳng có thật nhân,
thật quả, sẽ chẳng hiển lộ tâm tánh “chẳng
phải nhân, chẳng phải quả”. Chẳng hiển lộ
tâm tánh, sẽ chẳng có ǵ để quán biển pháp rất
sâu vô lượng, thấu triệt nguồn đáy. Do vậy,
dùng gợn sóng thuộc năm môn làm phương cách để
xem xét biển pháp,
nguyện người cùng chí hướng sẽ cùng hành.
* Lời tựa tự
soạn cho Huyễn Trụ Tạp Biên
Tôi
nhớ từ đầu mùa Đông năm Tân Mùi (1631), vào
Linh Phong, nay đă trải qua hai mươi bốn năm rồi.
Huyễn duyên bất định, ra vào nhiều phen. Chỉ
kết Đông vào năm Tân Mùi, kết Hạ năm Nhâm Thân
(1632), kết hạ năm Quư Mùi (1643), kết Đông
năm Giáp Thân (1644), kết Đông năm Kỷ Sửu
(1649), kết Hạ năm Canh Dần (1650) mà thôi! Mùa Xuân
năm Quư Dậu (1633), Giáp Thân (1644) và mùa Đông năm Tân
Măo (1651) đều tạm vào lại ra, chiếu chẳng kịp
ngồi ấm chỗ, cũng chẳng phải là phụ
núi thiêng sâu đậm ư? Ngày Ba Mươi giữa Xuân
năm Giáp Ngọ (1654), từ Tân An trở về, mới
quyết thống thiết tạ từ các duyên khác, quyết
chí ở yên. Những năm khác gọi là huyễn du, nay nên
gọi là Huyễn Trụ, ngẫu nhiên có trước thuật,
bèn gọi là Huyễn Trụ Tạp Biên.
Linh
Phong Tông Luận phần 6 hết
[1] Nguyên văn “văn thành, ấn hoại”.
Đây là một từ ngữ dựa trên kỹ thuật
đúc đồng thời cổ. Dùng sáp làm ấn, tức
là dùng sáp để làm khuôn, áp khuôn vào chất bùn, rót kim loại
vào, sáp tan chảy, nhưng vết khắc trên khuôn ấn
đă in vào chất bùn, tạo thành vết chạm khắc
trên đồng. Kinh điển thường dùng điều
này làm thí dụ. Nếu nói theo pháp niệm Phật ở
đây th́ “ấn hoại” ví như sắc thân tuy
đoạn diệt, nhưng “nét khắc đă h́nh thành” tức
là văng sanh Tịnh Độ.
[2] Ư nói kinh Đại Phương Đẳng
Đại Tập Hiền Hộ do ngài Xà Na Quật Đa
và Cấp Đa dịch vào đời Tùy. Kinh này chủ yếu
dạy về pháp Ban Châu tam-muội.
[3] Tức là ngài Di Sơn Duy Nhiên, sống vào
cuối đời Đường, suốt đời tu
tŕ nghiêm khổ, sống hết sức giản dị. Sau
khi triệt ngộ nguồn tâm, Ngài quyết ư ẩn cư
nơi núi rừng. Do thời thế, loạn lạc, dân
t́nh khốn khổ, lênh đênh thất tán, họ lưu lạc
đến chỗ thiền sư. Thiền sư cứu
giúp họ sống sót, vất vả làm lụng để
nuôi sống họ. Một hôm, do quá sức, Sư gục xuống
bên cạnh con suối nhỏ rồi qua đời tại
đó. Khi mai táng Sư, họ chỉ t́m được một
thiên nguyện văn. Đọc nguyện văn, họ mới
biết chí hướng của Ngài, không ai chẳng cảm
động rơi lệ. Tới thời Càn Long, khi tu chỉnh
Đại Tạng Kinh, không hiểu v́ sao thiên nguyện
văn ấy được đặt ngay trên bàn vị
quan giữ trách nhiệm tổng biên tập. Xét ra, ngài Di
Sơn thân thế chẳng rơ ràng, tuyệt đối chẳng
phù hợp tiêu chuẩn nhập tạng, nhưng những
người đă đọc qua bài nguyện văn ấy,
không ai chẳng kiên quyết muốn đưa vào Đại
Tạng. Trong khi mọi người đang tranh luận ồn
ào, từ tờ nguyện văn ấy, bỗng phát ra ánh
sáng bảy màu chiếu sáng cả tự viện và bầu
trời, đồng thời có âm thanh ầm ́ như sấm
động, chứng tỏ long thiên ủng hộ, chứng
minh bài nguyện văn ấy. Do vậy, viên quan chủ biên
chẳng do dự, nhập tạng bài nguyện văn ấy.
Bài văn ấy có tên là Lễ Phật Phát Nguyện Văn.
[4] Đỗ Đa Tử là người hành
hạnh Đầu Đà (Dhūta). Chữ Dhūta c̣n
được phiên âm là Đỗ Đa, Đỗ Đồ,
Độc Tha, Đầu Đa, Thâu Đa…
[5] Thất chúng
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na,
ưu-bà-tắc, và ưu-bà-di.
[6]
Tương (漿) ở đây
là “nước
trái cây ép”,
nghĩa là khi bị bệnh có thể dùng nước trái
cây ép (không có xác) để uống thuốc hay chống
đói. “Thất
nhật dược” là các
loại thuốc, hoặc các chất dịch có tác dụng
dinh dưỡng nếu v́ bệnh tật có thể dùng,
nhưng không được trữ quá bảy ngày.
[7] Y che
nách (yểm dịch y, Saṁkaksikā), c̣n gọi là
Tăng Kỳ Chi, Tăng Khước Kỳ Ca, Tăng Ca
Chi, Tăng Khước Kỳ, Tăng Khước Khi, Tăng Cước
Khi v.v… C̣n gọi tắt là Kỳ Chi hoặc Kiệt Chi.
Loại y này mặc lót trong y An Đà Hội, che kín hai nách,
che kín ngực, và vai trái. Về sau, tỳ-kheo cũng
được phép mặc thêm y này.
[8] Phổ (譜) hiểu theo
nghĩa đen là một loại thể tài văn học nhằm
ghi chép mối quan hệ huyết thống và hôn nhân giữa
các thành viên trong một gia tộc, cũng như lược
thuật tiểu sử của những thành viên đóng vai
tṛ chủ yếu hay hiển đạt trong gia tộc. Những
gia tộc lớn có thể chép cặn kẽ về khởi
nguồn của gia tộc như vị thỉ tổ là ai,
nguồn gốc của tên họ, quê hương gốc,
đến đời nào th́ chuyển sang sống tại
đâu, có bao nhiêu chi phái v.v… Chẳng hạn như họ
Tư Mă là do vị thỉ tổ giữ chức quan ấy,
hoặc như họ Lỗ vốn là hậu duệ của
Cơ Hoàn (con của Châu Công Đán) ở đất Lỗ
(thuộc tỉnh Sơn Đông hiện thời). Tới
khi nước Lỗ bị Sở Khảo Liệt
Vương diệt quốc, hậu duệ của vua
nước Lỗ phải lưu vong, bèn lấy tên nước
làm họ. Hoặc dùng đất phong làm họ như họ
Lữ (con cháu của Viêm Đế, vốn là họ
Khương. Vào thời nhà Hạ, do người trưởng
họ được phong ở đất Lữ, con cháu
bèn lấy họ là Lữ) v.v… Phổ có thể chia thành ba
loại:
1) Tông phổ: Ghi chép về
hậu duệ của một vị tổ, tức là bản
ghi chép toàn thể con cháu của một vị thỉ tổ.
Sách Lễ Tang Phục Tiểu Kư quy định: “Biệt
tử là tổ, kế tiếp biệt tử là tông, người
kế thừa xưng là tiểu tông”. Biệt tử là
những người con không phải là con đích (con
trưởng của chánh thất) của thiên tử hoặc
chư hầu. Sở dĩ có quy định này v́ khi
xưa, người ta có thói quen gán ghép tổ tiên của
ḿnh là hậu duệ của một vị đế
vương hay vua chư hầu nào đó.
2) Tộc phổ: Ghi chép
con cháu các chi chánh và thứ của cùng một chi họ hay
nhiều chi họ trong một tông. Chẳng hạn một
họ lớn có thể chia ra cư trú ở nhiều
nơi, mỗi chi họ như vậy có ghi chép riêng th́ gọi
là tộc phổ.
3) Gia phổ (thường
đọc thành gia phả): Chỉ chép con cháu trực hệ
của vị gia chủ. Chẳng hạn, một ông tổ
có nhiều con. Nếu chép toàn bộ các con cháu của ông tổ
ấy th́ là tông phổ. Chỉ ghi chép con cháu của một
trong những người con ấy th́ gọi là tộc phổ.
Từ trong chi họ ấy, đến đời nào
đó, lại tách ra thành một chi họ riêng (do di cư,
do đổi tên v́ kỵ húy, v́ trốn tránh truy nă v.v…), tài
liệu chỉ ghi chép riêng con cháu của vị đó gọi
là gia phổ. Do chiến tranh, loạn lạc, hiện thời,
ngoại trừ những tộc họ rất lớn
như họ Khổng ở Trung Hoa c̣n tông phổ, chứ
đa phần chỉ có gia phổ.
[9] Mă Tổ
tức Mă Tổ Đạo Nhất (709-788)
là đệ tử của Nam Nhạc Hoài Nhượng. Hoài
Nhượng là đệ tử đắc
pháp của Lục Tổ Huệ Năng. Do ngài Bách Trượng
Hoài Hải là đệ tử của ngài Mă Tổ (Mă Tổ có hai đệ tử là Nam
Tuyền Phổ Nguyện và Bách Trượng Hoài Hải), nên
ngài Bách Trượng được gọi là đích tôn. Trong số các đệ tử của
ngài Bách Trượng, có hai đệ tử nổi tiếng
nhất là Hoàng Bá Hy Vận và Quy Sơn Linh Hựu. Đệ
tử của ngài Hoàng Bá Hy Vận là Lâm Tế Nghĩa Huyền
(sáng lập tông Lâm Tế). Ngài Quy Sơn sáng lập tông Quy
Ngưỡng. Một vị đệ tử khác của
ngài Bách Trượng là thiền sư Vô Ngôn Thông sang Giao
Châu, trụ tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng,
huyện Tiên Du, lập ra thiền phái Vô Ngôn Thông, truyền
được mười bảy thế hệ. Trong số
đó, có những vị lỗi lạc trong lịch sử
và Thiền học Việt Nam như Khuông Việt, Thông Biện,
Măn Giác, Minh Không, và Giác Hải.
[10] “Tên”
ở đây tức là pháp danh. Theo thông lệ, pháp danh phải
bắt đầu bằng
chữ thuộc kệ truyền thừa
pháp phái. Ví dụ như trong tông phái Lâm Tế Liễu
Quán th́ chữ khởi đầu lần lượt theo các
đời là “thiệt tế đại đạo, tánh
hải thanh trừng…”. Chẳng hạn như ḥa thượng
Tịnh Khiết, do quy y với ḥa thượng Phước
Chỉ (pháp danh là Thanh Thái), nên Ngài có pháp danh là Trừng
Thông. Ở đây, tuy cùng thọ giới với một thầy
là Tử Bách đại sư, nhưng các vị Mật Tạng,
Giới Sơn, Đối Phong, Đạm Cư v.v… có pháp
danh chẳng đặt theo kệ truyền ḍng của pháp
phái.
[11] Theo
kinh Quảng Đại Trang Nghiêm, phẩm Thương Nhân
Mông Kư (thương nhân được thọ kư), khi đức
Phật mới thành đạo, chưa hóa độ năm
vị tỳ-kheo đầu tiên, Ngài
đang tĩnh tọa dưới cây Bồ Đề, th́ có
hai thương nhân là Đề Lệ Phú Sa (Trapusa, thường
bị gọi tắt thành Đề Vị) và Ba Lợi Ca
(Bhallika) cầm đầu một đoàn xe gồm năm
trăm cỗ xe chở châu báu đi ngang qua. Họ bèn cúng
dường đức Thế Tôn, nghe giảng pháp nhân
thiên, quy y Thế Tôn, trở thành hai vị Ưu Bà Tắc
đầu tiên.
[12] Vị
này vốn ḍng Bà La Môn, bảy tuổi xuất gia, được
ngài Xá Lợi Phất dẫn đến tinh xá Kỳ Hoàn
nghe thuyết pháp, chứng đắc quả vị A La Hán.
Ngài đă đắc đạo, cảm ân thầy, bèn phát thệ
suốt đời làm Sa-di để phụng sự thầy.
[13] Nội
Đan là thuật
ngữ của Đạo giáo chỉ một phương
pháp tu luyện. Do họ chủ
trương thân người là một tiểu thiên địa,
nhân thiên hợp nhất, họ vận dụng các
phương pháp hít thở (chẳng hạn như Khí Công)
và các phương pháp vận động (thường gọi
là Đạo Dẫn) để tu luyện Tinh, Khí, Thần,
nhằm rèn
luyện thân thể khỏe mạnh, kéo dài thọ mạng,
kết
nội đan, thậm chí thành tiên,
đạt tới mục đích trường sanh bất
lăo. Quan điểm luyện Nội Đan được
coi là bắt nguồn từ Hoàng Đế Nội Kinh. Sau
đó, được các tông phái của Đạo giáo
đề cao, sáng lập ra nhiều cách luyện Nội Đan khác nhau như các thuyết trong Thái B́nh
Kinh, Tham Đồng Khế, Hoàng Đ́nh Kinh (thường đọc trại thành
kinh Huỳnh Đ́nh), Tánh Mạng
Khuê Chỉ, Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ v.v…
Ngoại
Đan được coi là h́nh thức tiên khởi của
hóa học hiện đại. Tức là các đạo
sĩ thấy Nội Đan quá khó
khăn, phải tu tập rất lâu, kết
quả lại không bảo đảm, bèn dùng các loại
dược liệu pha chế với ch́, thủy ngân v.v…
để luyện ra những loại thuốc gọi là
kim đan v́ tin rằng uống
vào sẽ trường sanh bất lăo, hoặc thoát thai hoán cốt
thành tiên. Để hỗ trợ cho kim đan, họ c̣n
sáng chế ra phù chú, lôi pháp (điều khiển sấm)
v.v… Vật liệu để luyện kim đan đa phần
là kim loại nặng, hoặc hóa chất
gây hại cho cơ thể như vàng, bạc, ch́, thiếc,
thủy ngân, thạch miên (abestos), lưu huỳnh, đảm
phàn (sulphate đồng) v.v… Trong lịch sử, nhiều vua
chúa v́ mê muội thuật luyện đan, uống kim đan rồi
phát điên, lở loét mà chết, hoặc do uống kim
đan mà bệnh t́nh nguy ngập như Đường Thái
Tông, Đường Vũ Tông, Đường Hiến Tông
v.v…
[14] “Doăn
chấp quyết trung” thường được giải
thích là xử sự và ngôn hạnh đúng mức, chẳng
lệch lạc, phù hợp đạo trung chánh. “Nguy vi
tinh nhất” là nói gọn của “nhân tâm duy nguy, đạo
tâm duy vi, duy tinh duy nhất” (ḷng người biến
đổi dễ dàng nên rất nguy hiểm, đạo tâm
th́ nhỏ nhiệm, để xử sự cho đúng th́ phải
chuyên tinh, chuyên nhất mới ḥng ǵn giữ
được trung đạo).
[15] Kiến
Tri là sự
hiểu biết do đích thân trông thấy. Từ ngữ
này phát xuất từ thiên Tận Tâm Hạ của sách Mạnh
Tử. C̣n Văn Tri là sự
hiểu biết do nghe nói. Theo các nhà chú giải, Mạnh Tử
nói Kiến
Tri với
dụng ư những người như vua Vũ hoặc Cao
Dao do chính mắt trông thấy cách hành xử nhân nghĩa,
đạo đức của vua Thuấn bèn
cũng biết học theo đó. C̣n như Văn
Vương hoặc Khổng Tử là do nghe nói những phẩm
chất tốt đẹp của vua Nghiêu, vua Thuấn mà biết
xác lập cách hành xử, phẩm cách đúng đắn.
[16] Cao Dao
họ Yển, c̣n gọi là Cữu Đào, hoặc Cữu
Dao, là một hiền thần vào thời vua Thuấn và nhà Hạ,
chưởng quản h́nh pháp từ thời vua Thuấn, nổi
tiếng chánh trực.
[17] Đây
là những vị công thần của vua Thuấn. Tắc
tên là Cơ Khí, làm Tắc Quan (chức quan quản trị
nông nghiệp, nên thường được gọi là Hậu
Tắc), dạy dân trồng trọt ngũ cốc, khiến
dân chúng no ấm. Khế làm Tư Đồ (chức quan quản
lư việc giáo hóa dân chúng sống theo nhân nghĩa, đạo
đức, tương đương với bộ
trưởng Giáo Dục hiện thời). Theo thiên Thuấn
Điển trong sách Thượng Thư, vua Thuấn
thấy dân
chúng không biết sống thân thiện, ḥa mục, bèn sai Khế
làm Tư Đồ để chưởng quản việc
giáo dục họ nhân, nghĩa, từ, cung kính v.v… Tới thời
Chiến Quốc, do chính quyền không coi trọng giáo dục,
Tư Đồ hầu như chỉ chưởng quản
nhân viên hành chánh. Bá Ích c̣n có tên là Bá Y, c̣n gọi là Đại
Phí, họ Doanh, con của Đại Nghiệp. Bá Ích
được phong làm Ngu Quan dạy dân săn bắt thú,
đánh cá v.v… Tương truyền, do những tri thức
thu thập được khi theo vua Đại Vũ trị
thủy, ông viết thành tác phẩm Sơn Hải Kinh.
[18] Trụ
Hạ Sử tức là chức quan Ngự Sử. Do khi vào
chầu vua, vị trí của quan ngự sử là đứng
dưới cây cột chính của điện chầu, nên gọi
là Trụ Hạ Sử. Ở đây, Trụ Hạ Sử
là nói đến Lăo Tử do ông từng giữ chức này.
[19] Khổng
Tử từng nói với đệ tử là Nam Cung Kính Thúc:
“Viên quan giữ kinh điển của nhà Châu là Lăo Đam
tinh thông xưa nay, biết cội nguồn của lễ nhạc,
hiểu lẽ trọng yếu trong đạo đức,
nay ta muốn sang đó cầu thọ giáo, ngươi có muốn
cùng đi hay không?” Khổng Tử cùng Lăo Tử đàm
đạo suốt đêm, được Lăo Tử giới
thiệu với quan chưởng quản lễ nhạc của
nhà Châu là Trường Hoằng, t́m hiểu rất sâu về
lễ nhạc và đạo đức của Lăo Tử.
Khi trở về nước Lỗ, khi được hỏi
về Lăo Tử,
Khổng Tử ca ngợi Lăo Tử giống như rồng,
chí thú cao diệu, khó thể hiểu thấu, biến hóa
khôn lường!
[20] Lăo Tử họ
Lư (có thuyết nói ông họ Lăo), tên là Nhĩ, tên tự là
Đam và Bá Dương. Do vậy, đôi khi gọi là Lăo
Đam. Do ông làm quan quản lư sách vở và ngự sử (Trụ
Hạ Sử) của nhà Châu, nên c̣n gọi là Trụ Hạ
Sử. Tư tưởng vô vi của ông về sau
được Trang Châu, Dương Châu, Liệt Ngự Khấu
v.v… phát triển, h́nh thành trường phái triết học
gọi là Đạo gia (khác với Đạo giáo do
Trương Đạo Lăng sáng lập, chỉ mượn
danh xưng của Lăo Tử để tô vẽ cho
sự chính thống của tôn giáo do chính
mình sáng lập, mang nặng tính chất phù chú, luyện
đan, cầu thành tiên, trường sanh bất tử,
không phải là chủ trương thanh tĩnh vô vi của
Lăo Tử).
[21] Cái Công
là một danh nhân thời Tây Hán, Sử không chép tên thật của ông. Chỉ
biết ông là người xứ Giao Tây (nay thuộc vùng Cao
Mật, tỉnh
Sơn Đông), thông hiểu tư tưởng Hoàng Lăo. Tể
tướng Tào Tham dùng hậu lễ mời ông làm cố vấn,
ông đề nghị áp dụng tư tưởng Hoàng Lăo
để dân tự an tịnh.
[22] Cập
môn: Tiến nhập vào một môn, một học thuyết,
đă phần nào thông hiểu, nhưng chưa nắm
được chỗ bí yếu, tinh túy của môn ấy.
[23] Tử
Hạ tên thật là Bốc Thương, tên tự là Tử
Hạ, là đệ tử của Khổng Tử, nổi
tiếng về văn tài. Sau khi Khổng Tử mất, Tử
Hạ sống ở Tây Hà, làm thầy của Ngụy
Văn Hầu. Con trai Tử Hạ chết sớm, ông
thương khóc đến nỗi mù mắt. Tŕnh Minh Đạo
là Tŕnh Hạo, Tŕnh Y Xuyên là Tŕnh Di. Hai anh em ông này được
tôn xưng là người trung hưng Lư Học (tức Tống
Nho).
[24] Câu này
phát xuất từ thiên Cáo Tử sách Mạnh Tử: “Nhĩ
mục chi quan bất tư, nhi tế vu vật, vật giao
vật, tắc dẫn chi nhi dĩ hỹ. Tâm chi quan tắc
tư, tư tắc đắc chi, bất tư tắc bất
đắc dă. Thử thiên chi sở dữ ngă giả, tiên lập
hồ kỳ đại giả, tắc kỳ tiểu giả
phất năng đoạt dă. Thử vi đại nhân nhi
dĩ hỹ” (Tai mắt là khí quan chẳng thể suy
nghĩ, cho nên chúng bị ngoại vật che lấp. Do chúng
cũng là một vật, khi tiếp xúc với ngoại vật,
sẽ dễ bị lôi cuốn vào đường mê. Tâm
cũng là khí quan, nhưng có năng lực suy nghĩ, hễ
suy nghĩ bèn có cái để đạt được, chẳng
suy nghĩ sẽ không đạt được. Đó là
điều trời riêng ban cho ta. Do vậy, trước hết
phải đặt vững cái chánh yếu trong thân thể
là cái tâm, [tâm đă vững rồi] th́ các khí quan nhỏ
hơn sẽ chẳng bị ngoại vật đoạt mất.
Như thế th́ sẽ có thể trở thành bậc quân tử).
Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích của trang nhà Nho Học
Tự Tập Thất. Lục Tượng Sơn nhấn mạnh
cái tâm trong học thuyết của ḿnh, nên Tổ Ngẫu Ích mới
nói Lục Tượng Sơn “đạt được
tâm pháp của họ Mạnh”.
[25] Viên
Trung Lang chính là Viên Hoằng Đạo (1568-1610). Ông có tên tự
là Trung Lang, hiệu là Thạch Công, Lục Hưu, và Thạch
Đầu cư sĩ. Ông là người huyện Công An,
thuộc phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng, là một
quan chức thời Minh, đồng thời là một
văn gia nổi tiếng. Cùng với anh là Viên Tông
Đạo và em trai là Viên Trung Đạo, họ được
người đương thời tôn
xưng là Công An Tam Viên. Ông ba lượt ra làm quan, ba lượt
về ở ẩn, nổi tiếng liêm khiết, nổi tiếng
về văn tài, chủ trương cải cách thi ca, h́nh
thành một trường phái văn chương cách tân
được gọi là Công An Phái. Ông chủ trương
Thiền - Tịnh
như một, phê b́nh giới văn nhân thời đó thích
đàm Thiền nhưng chẳng chịu tu hành, thậm chí chuộng nói Thiền
nhưng chẳng hiểu Thiền là ǵ. Ngoài Tây Phương
Hợp Luận, ông c̣n
soạn bộ Tông Kính Nhiếp
Lục luận định về Thiền cũng
được đánh giá rất cao. Thậm chí bạn ông
là Ngu Thuần Hy c̣n coi Tây Phương Hợp Luận phải
được xếp ngang hàng với A Di Đà Kinh Sớ
Sao của tổ Liên Tŕ và Vạn
Thiện Đồng Quy Tập của tổ Vĩnh Minh.
[26] Giới Hiền
(Śīlabhadra, 529-645),
c̣n được phiên âm là Thi La Bạt Đà La, thuộc
ḍng vua chúa xứ Tam Ma Đát Trá của Ấn Độ.
Ngài chuyên nghiên cứu Đại Thừa Du Già (Duy Thức),
đồng thời là một luận sư trứ danh của
học phái này. Khi ngài Huyền Trang đến học, ngài
Giới Hiền là viện trưởng của học viện
Na Lan Đà.
[27] Hà Trạch
tức là ngài Thích Thần Hội (720-794), là người huyện
Phụng Tường, thuộc quận Phù Phụng đời
Đường. Ngài theo học với Vô Tướng đại
sư chùa Tịnh Chúng ở Thành Đô (Tứ Xuyên), kế
thừa thiền phái của vị này. Vô Tướng đại
sư là người Đại Hàn, vốn là vương tử
xứ Tân La (Silla), sang Trung Hoa cầu pháp, đắc Thiền
pháp nơi ngài Trí Sân (đệ tử của Ngũ Tổ
Hoằng Nhẫn). Ngài Khuê Phong từng học Thiền với
ngài Hà Trạch Thần Hội.
[28] Vua Kiệt
họ Tự, thuộc bộ tộc Hậu Hạ Thị,
tên là Lư Quư, là vị vua thứ mười bảy, và là
vua cuối cùng của nhà Hạ. Vua Kiệt thân thể
cường tráng, có thể tay không đánh cọp, beo. Do sủng
ái Mạt Hỷ, vua Kiệt
bỏ bê triều chánh, dùng bào lạc (cột tội
nhân vào ống đồng rồi đổ than nung đỏ
để thiêu tội nhân) giết chết đại thần
Quan Phong Long, phung phí công quỹ để xây Dao Đài nhằm lấy
ḷng Mạt Hỷ. Khi Thương Thang dấy binh, Kiệt
thua trận phải chạy ra Minh Điều. Sau khi bại
trận lần nữa tại Minh Điều, nhà Hạ diệt
vong. Hạ Kiệt bị đày ra Nam Sào rồi bệnh chết
tại đó. Con ông ta là Thuần Duy chạy sang biên
cương phía Bắc Trung Hoa, trở thành thỉ tổ của
tộc Hung Nô.
[29] Chúng
tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải của
trang nhà Quốc Dịch Học.
[30] Hồng
Liệu (紅蓼, Persicaria orientalis) c̣n gọi là Hồng Thảo, Đại
Hồng Liệu, Du Long, hoặc Cẩu Vĩ Ba Hoa,
là một loại cây thân thảo có hoa, thường
được người Âu Tây gọi thông tục là Princess
Feather.
Cây mọc thành bụi, thân thẳng, có đốt, phủ
kín lông tơ. Lá có h́nh giống như trái tim, nhưng hơi thon dài, có lông tơ
phủ kín. Hoa có màu hồng phấn, hoặc hồng
tươi mọc thành chùm dài. Loại thảo mộc này
hay mọc nơi ẩm thấp như ven hồ. Thân và lá có
thể dùng làm thuốc dưới danh xưng Hồng Thảo.
[31] Chánh
Đức là niên hiệu của Minh Vũ Tông (Châu Hậu
Chiếu) sử dụng từ năm 1506 đến năm
1521.
[32] Đây
là một thành ngữ sánh ví nỗi nguy hiểm khôn lường,
có thể xảy ra họa hoạn
bất cứ lúc nào, tương tự thành ngữ “thiên
quân nhất phát” (ngàn cân treo sợi tóc). Theo truyền thuyết,
sau khi lập ra nhà Hạ, vua Đại Vũ dùng vàng và
đồng do các châu mục tiến cống, đúc thành
chín cái đỉnh nhằm biểu
thị chín châu trong thiên hạ. Từ đó, cửu đỉnh
được dùng để biểu thị cho quyền uy
của thiên tử. Tuy vậy, sách Thượng Thư Chánh
Nghĩa bảo chỉ có một cái đỉnh, do vàng và
đồng của chín châu đúc thành nên gọi là cửu
đỉnh, chứ không phải là thật sự có chín cái
đỉnh. Bất luận ư nghĩa thật sự là
như thế nào, cửu đỉnh được mô tả
rất to, rất nặng, mỗi cái đỉnh nặng một
ngàn “quân” (khoảng bảy tấn rưỡi).
Tương truyền, Tây Sở
Bá Vương Hạng Vũ có sức
mạnh cử đỉnh, tức là có thể vác một
cái đỉnh đi một ṿng quanh sân mặt không đổi
sắc, không thở dốc.
[33] Lâm cung
(琳宮) có nghĩa là cung điện đẹp đẽ, rực
rỡ, hiểu theo nghĩa hẹp là tiên cung hoặc đạo
quán. Phạm sát (梵剎) là chùa thờ Phật.
Phạm có nghĩa là thanh tịnh. Sát là từ chữ
Sát-độ (ksetra) có nghĩa là khu vực, vùng đất,
hoặc khoảnh đất. Do chùa được coi là
nơi thanh tịnh, nơi để tu hành thanh tịnh nên
gọi “phạm sát”.
[34] E rằng chỗ
này khi biên tập, pháp sư Thành Thời chép sai, v́ Càn Phù là
niên hiệu sử dụng đầu tiên của Đường
Hy Tông (Lư Hoàn) từ năm 874 đến năm 879.
Đường Hy Tông sử dụng năm niên hiệu là
Càn Phù, Quảng Minh, Trung Ḥa, Quang Khải, và Văn Đức.
[35] Tuyên Đức
là niên hiệu của Minh Tuyên Tông (Châu Chiêm Cơ) sử dụng
từ năm 1426 đến năm 1435.
[36] Kê Viên là cách
phiên âm khác Kỳ Viên (Jetavana). Khu vườn này c̣n
được phiên âm là Kỳ Hoàn, Kỳ Thụ Viên, Kỳ
Đà Lâm Viên, Thệ Đa Lâm, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc
Viên v.v…
[37] Cố
Mạng là lời
căn dặn của đế vương trước khi
mất. Di chiếu được soạn sẵn để
áp dụng sau khi vua mất cũng được gọi là
Cố Mạng. Ở
đây, chữ này
dùng để chỉ những lời dạy tối hậu
của đức Bổn Sư.
[38] Ngũ
Thiên Thất Tụ là cách phân loại các giới trong Cụ
Túc Giới của tỳ-kheo. Ngũ Thiên là các giới
được chia thành năm loại lớn: Ba La Di,
Tăng Tàn, Ba Dật Đề, Đề Xá Ni, và Đột
Kiết La, tức là chia các giới theo mức độ nặng
nhẹ. Chẳng hạn phạm giới thuộc loại
Ba La Di sẽ mất tư cách tăng sĩ, phải trục
xuất ra khỏi Tăng đoàn. Thất Tụ là cách chia
các giới tỉ mỉ hơn gồm Ba La Di, Tăng Tàn,
Thâu Lan Giá, Ba Dật Đề, Đề Xá Ni, Đột
Kiết La và Ác Thuyết.
[39] Ư nói Cụ
Túc Giới quy định các điều cấm ngặt truyền trao Cụ Túc Giới
cho kẻ nào phạm phải những điều cấm ấy.
Những điều đó được gọi
chung là Giá Nạn. Giới
tử nào phạm phải một trong những điều
giá nạn đó sẽ không được thọ giới,
ví dụ như là phi nhân th́ không được thọ giới,
không được cha mẹ cho phép, trốn nợ mà xin xuất
gia, chẳng phải là đàn ông đích thực hoặc là
người đă thiến th́ không được thọ
giới tỳ-kheo v.v… Nếu
người thọ giới giấu diếm, vị thầy
thọ giới cũng biết mà vẫn cứ truyền giới
th́ thầy lẫn tṛ đều mắc tội.
[40] Tức
là kẻ chỉ học kinh điển Đại Thừa
để biện bác suông, nhắc đi, nhắc
lại những giáo nghĩa Đại Thừa như con vẹt,
chẳng thông hiểu ư chỉ thâm sâu trong ấy.
[41] Ngũ
Vân là một rặng núi ở phía Tây thành Hàng Châu. Ở đó, có ba ngôi chùa
nổi tiếng là Vân Thê, Thiên Tŕ và Chân Tế. Về sau, chỉ
c̣n lại chùa Vân Thê, tức là đạo tràng của tổ
Liên Tŕ. Theo Vân Thê Sơn Pḥng Tạp Lục, do trên đỉnh
núi thường có mây ngũ sắc quanh quẩn, nên núi có tên là
Ngũ Vân, hoặc núi Vân Thê. Về sau, mây lành phủ kín một
hang đá trên đỉnh núi, người đương thời
gọi đó là Vân Thê Ổ (ổ mây đọng). Năm
Càn Đức thứ năm (967) đời Tống, vị
tăng Đại Phiến Chí Phùng kết am tu hành tại
đó. Trong hang có nhiều hổ, Sư đến, hổ
đều ngoan ngoăn thần phục, nên
Sư được gọi là Phục Hổ thiền
sư. Ngô Việt Vương bèn cho xây chùa tại đó,
đặt tên là chùa Vân Thê.
[42] Tam tụ: Nhiếp
Thiện Pháp Tụ, Nhiếp Luật Nghi Tụ, Nhiếp
Chúng Sanh Tụ.
[43] Khu ô
sa-di (sa-di đuổi quạ) là sa-di từ bảy tuổi
đến mười ba tuổi, có thể đuổi quạ
chẳng cho chúng cướp đoạt thức ăn, hoặc ăn thóc lúa
đang phơi. Theo Tứ Phần Luật
San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, có ba hạng sa-di:
1) Hạ
Phẩm sa-di, tức
Khu Ô sa-di vừa nói trên đây.
2) Trung
Phẩm sa-di, từ mười bốn tuổi cho đến
mười chín tuổi, c̣n gọi là Ứng Pháp sa-di.
3)
Thượng Phẩm sa-di từ hai mươi tuổi trở
lên, c̣n gọi là Danh Tự sa-di, v́ họ vốn đủ
tư cách làm Tăng, nhưng do chưa đủ duyên, chỉ
là sa-di.
[44] Kỳ túc (耆宿) có nghĩa đen là người cao tuổi, đức
cao đáng trọng. Nếu dùng trong nhà Phật thì là bậc
pháp lạp cao, giới hạnh lẫn phẩm đức
đều đáng tôn trọng.
[45] Tức là
Đại Thừa Ngũ Vị, tức năm địa
vị tu đạo trong Duy Thức:
1) Tư lương vị:
Tức địa vị hàm nhiếp hữu lậu thiện
để đạt tới Phật quả, bao gồm Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng v.v… Do
dùng phước đức và thế gian làm tư
lương nên gọi là Tư Lương Vị.
2) Gia Hạnh Vị, tức
Bồ Tát thuộc Tứ Gia Hạnh (Noăn, Đảnh, Nhẫn,
Thế Đệ Nhất), do đă đạt được
tư lương, bèn gia cộng dụng hạnh để
nhập Kiến Đạo (Hoan Hỷ Địa).
3) Thông Đạt Vị,
c̣n gọi là Kiến Đạo Vị, tức Sơ Địa
Bồ Tát.
4) Tu Tập Vị, c̣n gọi
là Tu Đạo Vị, từ Nhị Địa cho đến
Thập Địa Bồ Tát.
5) Cứu Cánh Vị, tức
quả vị Diệu Giác của Phật.
[46] Ngũ Quán có
nhiều cách hiểu, nhưng theo mạch văn ở
đây, phải hiểu Ngũ Hạnh chính là Ngũ Quán của
tông Thiên Thai:
1) Chân Quán: Quán lư Chân Đế,
đoạn Kiến Tư Hoặc, thuộc về Không Quán.
2) Thanh Tịnh Quán: tức
Giả Quán do thân đă trừ Kiến Tư Hoặc, đoạn
Trần Sa Hoặc.
3) Quảng Đại Trí
Huệ Quán: Trung Quán do đoạn Vô Minh Hoặc, đạt
được trí huệ rộng lớn.
4) Bi Quán: Dùng ba phép Quán trên
đây để quán chúng sanh, đoạn trừ khổ năo
cho họ.
5) Từ Quán: Dùng ba phép Quán
trên đây để quán chúng sanh, ban vui cho họ.
[47] Lệ
Trạch (麗澤) có
nghĩa là ao hồ thông với nhau. Kinh Dịch
khi giảng về quẻ Lệ Trạch Đoài đă nói quẻ ấy có nghĩa là “quân tử
cùng bạn bè nghiên cứu, học tập”. Do vậy,
Lệ Trạch thường
được hiểu là t́nh bạn thân thiết, dùi mài,
đốc thúc lẫn nhau cùng tiến bộ.
[48] Cổ
Tẩu (nghĩa đen là “ông già mù”), cha của
vua Thuấn. Không rơ ông tên thật là ǵ, chỉ biết ông là cháu
tám đời của Hoàng Đế, là cháu nội của
Cùng Vọng, con trai của Kiều Ngưu. Cổ Tẩu
tánh t́nh hung hăn, ương bướng, mù quáng nghe lời vợ
kế và chiều theo em cùng cha khác mẹ của vua Thuấn
là Tượng, thường hăm hại vua Thuấn, nhưng vua Thuấn
vẫn luôn một niềm hiếu kính đối với
cha.
[49] Cửu
hữu: Chín chỗ cư trụ
của chúng sanh chưa giải thoát sanh trong tam giới, c̣n gọi
là Cửu Hữu T́nh Cư, Cửu Chúng Sanh Cư. Cửu Hữu
bao gồm:
1) Nhân
gian và sáu tầng trời thuộc Dục Giới.
2)
Sơ Thiền Thiên.
3) Nhị
Thiền Thiên.
4) Tam
Thiền Thiên.
5) Vô
Tưởng Thiên trong Tứ Thiền Thiên.
6) Không
Xứ Thiên.
7) Thức
Xứ Thiên.
8) Vô Sở
Hữu Xứ Thiên.
9) Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.
[50] Đây
là câu chuyện một sa-di cầu chứng Tứ Quả. Có một
vị tăng thấy người ấy ngờ nghệch,
bèn chọc ghẹo bảo có bí thuật giúp người ấy
chứng quả nhanh chóng. Vị sa-di tin lời, lần
lượt đứng vào bốn góc nhà, để vị
Tăng ấy cầm banh ném vào đầu, lần thứ
nhất nói: “Ngươi đă chứng Sơ Quả” cho
đến lần thứ tư, nói: “Ngươi đă chứng
Tứ Quả”. Sa-di lạy tạ, cho biết chính ḿnh
đă thật sự chứng Tứ Quả. Vị sa-di ấy
đă chứng Tứ Quả do tâm chân thành.
[51] Tháp
Đại Báo Ân thuộc chùa Trường Can tại làng
Trường Can, thuộc khu Tần Hoài, thành phố Nam
Kinh, tỉnh Giang Tô. Ṭa tháp lưu ly hiện thời
được xây dựng từ thời Vĩnh Lạc cho
đến Tuyên Đức, được coi là ṭa tháp sứ
lớn nhất tại Trung Hoa. Thoạt đầu, pháp
sư Khang Tăng Hội đem xá-lợi đến đây
trong niên hiệu Xích Ô nhà Đông Ngô. Ngô đế bèn dựng
chùa Kiến Sơ và tháp A Dục để thờ phụng.
Về sau, Tôn Hạo phá hủy tháp. Nơi này bị bỏ
phế cho đến niên hiệu Kiến Khang khi Lưu Tát
A đào được xá lợi, bèn dựng chùa Trường
Can (đặt theo tên làng) để thờ phụng và xuất
gia làm Tăng, tức ḥa thượng Thích Huệ Đạt.
Tháp được trùng tu qua các đời Tấn Giản
Văn Đế và Lương Vũ Đế. Tới thời
Bắc Tống, đổi tên thành chùa Thiên Hỷ. Chùa bị
hủy hoại v́ chiến tranh. Đến thời Minh Thành
Tổ, trong niên hiệu Vĩnh Lạc cho trùng tu. Không lâu
sau, chùa lại bị một tăng nhân đốt cháy. Tới
năm Vĩnh Lạc thứ mười (1412) mới
được xây lại, với mục đích báo ân cha mẹ
của nhà vua, đổi tên thành chùa Đại Báo Ân,
nhưng dân chúng vẫn quen gọi là chùa Trường Can.
[52] Vào
thời Minh - Thanh, sinh viên còn gọi là Tú
Tài, hoặc Đệ Tử Viên là
người đã đậu ba trường
trong kỳ thi Hương, nhưng không đậu
hoặc chưa đậu trường thi
thứ tư, được cho vào học trong
Quan Học (trường do chánh quyền thành
lập, bảo trợ), chẳng hạn như
Thái Học hoặc Quốc Tử Giám
ở kinh đô, hoặc các trường do
chánh quyền thành lập ở phủ,
huyện, châu. Đôi khi sinh viên còn được
gọi là Tường Sanh, Cống Sanh
(người có thành tích ưu tú,
có thể được đề bạt vào
học Quốc Tử Giám, có thể
được bổ ra làm quan), Giám Sanh
(nếu theo học tại Quốc Tử Giám), Thái
Học Sanh.
[53] Đây là một
câu chuyện ẩn dụ trong kinh Đại Bát Niết
Bàn: Có người đeo phao vượt biển. Quỷ
La-sát lần lượt xin toàn bộ cái phao, nửa cái
phao, một phần nhỏ phao, xin một tí phao to bằng
lóng tay, và xin một tí phao chỉ bằng chừng vi trần,
người ấy đều kiên quyết từ chối.
Theo các vị chú giải, xin toàn bộ cái phao là dụ dỗ
người ấy phạm bốn giới trọng. Xin nửa
cái phao là dụ dỗ người ấy phạm giới
Tăng Tàn. Xin một phần nhỏ phao là dụ dỗ
người ấy phạm tội Thâu Lan Giá. Xin bằng
lóng tay là dụ dỗ người ấy phạm tội
Đề Xá. Xin bằng vi trần là dụ dỗ người
ấy phạm tội Đột Kiết La.
[54] Biệt
Biệt Mộc Xoa là một cách dịch
nghĩa chữ Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimokṣa, giới luật). Những cách dịch
nghĩa khác là Tùy Thuận Giải Thoát, Xứ Xứ Giải
Thoát, Biệt Biệt Giải Thoát, Tối Thắng, Vô Đẳng
Học, Hộ Giải Thoát v.v…
[55] Thanh
Văn đối với pháp thường, lạc, ngă, tịnh
thấy là khổ, không, vô thường, vô ngă. Đó là tứ
khô của Thanh Văn. Bồ Đề đối với
pháp Niết Bàn thường thấy là thường, lạc,
ngă, tịnh. Đó là tứ vinh của Bồ Tát.
[56] Lục
hợp (六合) là một
thuật ngữ trong huyền học Trung Hoa, biểu thị
các mối quan hệ giữa biểu thị bốn
phương và trên, dưới. Từ đó, mở rộng
ra, lục hợp là các mối quan hệ giữa muôn vật
trong thế gian. Do vậy, khi nói “lục hợp” th́ hiểu
là thế gian, tức là chỉ trong tam giới mà thôi!
[57] Tứ
Y đại sĩ là bốn loại người kham làm chỗ
y chỉ cho chúng sanh, c̣n gọi là Nhân Tứ Y, hoặc Tứ
Y Bồ Tát:
1) Xuất
thế phàm phu, tức người trọn đủ tánh
phiền năo, nhưng thật sự tu tŕ, có chí hướng
xuất thế.
2) Tu
Đà Hoàn và Tư Đà Hàm.
3) A Na Hàm.
4) A La
Hán.
[58] Tức
cái thất vuông vức, mỗi bề vừa
đúng một trượng của ngài Duy Ma Cật ở
thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī).
Lầu báu của ngài Di Lặc tức là lầu gác Tỳ
Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng của Di Lặc Bồ Tát
được nói trong phẩm Nhập Pháp Giới của
kinh Hoa Nghiêm.
[59]
Lương Túc (752-793), tự là Kính Chi, là một quan chức
đời Đường, đồng thời là văn
gia nổi danh. Ông có văn tài, được Thôi Cung ca ngợi
là “kỷ cương trong rừng Nho”. Ông dốc ḷng
tin tưởng giáo nghĩa Thiên Thai. Khi ở Thường
Châu, ông xin làm đệ tử ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, và
được khen ngợi: “Trong triều đ́nh chỉ
có ḿnh học sĩ Lương Túc hiểu đạo này”
(theo Đường Thai Châu Quốc Thanh Tự Trạm
Nhiên Truyện).
Trần
Quán (1057-1124), tự Oánh Trung, hiệu
Liễu Ông, biệt hiệu là Hoa Nghiêm cư sĩ, là một
viên quan nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông làm quan
đến chức Tả Chánh Ngôn, nổi tiếng nói thẳng.
[60] Đây
là hai câu trong bài thơ Phạt Kha trong phần Quốc Phong
của kinh Thi. Nguyên văn “phạt kha, phạt kha, phi phủ
bất khắc. Thú thê như hà? Phi môi bất đắc. Phạt
kha, phạt kha, kỳ tắc bất viễn, ngă cấu chi
tử, biên đậu hữu tiễn” (đẽo cán
ŕu, không có ŕu sẽ chẳng đẽo được.
Cưới vợ bằng cách nào? Chẳng có mai mối, sẽ
chẳng được. Đẽo cán ŕu th́ quy tắc ở
gần ngay đó. Nếu muốn thấy mặt cô dâu, hăy sắp
đặt tiệc rượu). Ở đây, Tổ chỉ
mượn ư hai câu để nói mọi việc muốn thực
hiện, phải hiểu rơ quy tắc của nó.
[61] Đới
Lễ tức là sách Lễ Kư do anh em họ Đới biên
soạn. Lễ Kư tức là tập hợp các lời giải
thích Lễ Kinh của học tṛ Khổng Tử cũng
như các nhà Nho thời Xuân Thu - Chiến
Quốc. Nguyên thủy Lễ Kư được lưu truyền
tản mạn và số lượng khá nhiều. Theo Hán
Thư, sách gồm một trăm ba mươi mốt thiên
do bảy mươi người khác nhau biên soạn. Đến
thời Hán, các bản ấy được chọn lọc,
rút gọn, hệ thống, chủ yếu chia thành ba tác phẩm
chính:
1) Đại
Đới Lễ Kư gồm tám mươi lăm thiên do
Đới Đức biên soạn.
2) Tiểu
Đới Lễ Kư gồm bốn mươi chín thiên do
Đới Thánh (em
Đới Đức) biên soạn.
3) Đức
Phổ Lễ Kư gồm bốn mươi chín thiên do Đức
Phổ biên soạn.
Hiện
thời, bản Đức Phổ đă thất truyền,
bản Đại Đới bị tàn khuyết. Do đó,
hễ nói đến Lễ Kư th́ đa số là nói bản
Tiểu Đới.
[62]Gọi
là “một
kinh mười truyện” tức
là sách Đại Học được chia
thành mười chương. Các nhà chú giải cho rằng
đây là lời dạy của Khổng Tử được
Tử Tư thuật lại. Sách chỉ có hai trăm lẻ
năm chữ, nhưng chia thành mười chương là
do các môn nhân giải thích thêm ư của Tăng Tử.
[63] Thác giản
(錯簡): Thuở
xưa, chưa có giấy, sách được ghi chép lên các
thẻ tre (thường gọi là Giản), dùng dây xâu lại,
cái dây ấy gọi là Vi Biên. Lâu ngày, dây bị đứt phải
xâu lại. Do vô ư có
thể xâu các
thẻ không đúng thứ tự. Sách bị xâu không đúng
thứ tự th́ gọi là “thác giản”. Từ ngữ
này được dùng với ư nghĩa mở rộng để chỉ
nội dung lộn xộn, không theo thứ tự, hay bị
sai thứ tự.
[64]
Đông Lỗ là Khổng giáo. Do Khổng Tử là người
nước Lỗ, thuộc Trung Hoa ở phương
Đông, nên gọi Khổng giáo là Đông Lỗ. Tây Càn là trời
Tây, tức Phật giáo tại Ấn Độ.
[65] Tức
kinh Đại Thừa Đại
Tập Địa Tạng Thập Luân. Trong
Đại Tạng Kinh, kinh này có hai bản dịch:
1)
Đại Phương Quảng Thập Luân Kinh, mất tên
dịch giả, không rơ dịch vào thời nào.
2)
Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập
Luân Kinh (Daśacakra Kṣitigarbha Sūtra) do ngài Huyền Trang dịch vào đời
Đường.
Ngoài
ra, trong Đại Tạng c̣n có Phật Thuyết Địa
Tạng Bồ Tát Đà La Ni Kinh không ghi tên người dịch,
tương ứng với phẩm Tự của kinh Thập
Luân.
[66] Tức
kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Đại Thừa
Đại Tập Địa Tạng Thập Luân, và Chiêm Sát Thiện
Ác Nghiệp Báo.
[67] Tổ Trí Giả
đă căn cứ vào phần Tích Môn (chủ yếu là phẩm
Phương Tiện thuộc mười bốn phẩm
đầu của kinh Pháp Hoa) lập ra Tích Môn Thập Diệu
là cảnh diệu, trí diệu, hạnh diệu, vị diệu,
tam pháp diệu, cảm ứng diệu, thần thông diệu,
thuyết pháp diệu, quyến thuộc diệu, và công
đức lợi ích diệu. Căn cứ trong Bổn Môn
(mười bốn phẩm sau, chủ yếu là phẩm Thọ
Lượng), lập ra Bổn Môn Thập Diệu là bổn
nhân diệu, bổn quả diệu, bổn quốc độ
diệu, bổn cảm ứng diệu, bổn thần
thông diệu, bổn thuyết pháp diệu, bổn quyến
thuộc diệu, bổn Niết Bàn diệu, bổn thọ
mạng diệu, và bổn lợi ích diệu.
[68] Tam nhân
là chánh nhân, liễu nhân và duyên nhân.
[69] Thời
Khổng Tử chưa có giấy, sách phải viết lên thẻ
tre có khoét lỗ, xâu lại bằng dây (thường làm bằng
da trâu thuộc) để tạo thành sách. Cái dây ấy
được gọi là “vi biên” (韋編). Khổng
Tử đọc kinh Dịch đến nỗi ba lượt
đứt vi biên, cho nên về
sau, người ta thường dùng chữ Vi Biên để
chỉ kinh Dịch.
[70] Đại
Hoàng là tên gọi chung của một loại thảo mộc
mọc nhiều năm, chia
thành hai loại:
- Đại
Hoàng dùng để ăn (Rhubarb), thân mập có màu đỏ
hồng, lá to xanh rộng, mọc từ củ. Phần dùng
để ăn là cọng lá. Chúng có thể dùng để
trộn rau ăn sống, hoặc nấu với đường
để làm bánh, hoặc
các món tráng miệng khác, hoặc đôi khi ép lấy nước
trộn với nước dâu để làm món giải khát.
- Đại
Hoàng dùng làm thuốc (thường gọi là Mă Đề
Đại Hoàng, tên
khoa học là Rheum officinale, còn gọi là Hoàng Lương,
hay Tướng Quân, hay Dược Dụng
Đại Hoàng) h́nh dáng khác
biệt hẳn với Rhubarb. Loại này mọc
nhiều ở Hồ Bắc, Tứ Xuyên,
Thiểm Tây, Vân Nam, được
dùng làm thuốc để thông tiểu tiện, hạ hỏa,
được coi là rất đắng, rất hàn, có thể
làm tróc niêm mạc miệng, có tác dụng mạnh mẽ, khi
dùng phải hết sức cẩn thận.
[71] Biến
Hành (Sarvagāmin) là vị thiện tri thức thứ hai
mươi trong năm mươi ba vị thiện tri thức
của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm. Biến
Hành là ngoại đạo, nhưng thông đạt môn giải
thoát Chí Nhất Thiết Xứ của Bồ Tát, diễn
nói đủ loại nghề khéo, dùng phương tiện
là Tứ Nhiếp Pháp, xưng tán Bồ Đề hạnh
và Bồ Đề tâm, hoặc
nói các khổ báo trong địa ngục, khiến cho chúng
sanh kinh sợ, phát Bồ Đề tâm, vui cầu
điều thiện, gieo các thiện căn, hoặc rộng
nói về công đức, oai lực của chư Như Lai
khiến cho chúng sanh hoan hỷ,
thân cận Phật pháp.
Tát Giá
Ni Kiền Tử (Mahāsatya-nirgrantha), dịch nghĩa là
Đại Hữu Ly Hệ, là một ngoại đạo,
thủ lănh của Ni Kiền Tử (lơa thể ngoại
đạo, tức đạo Jain sau này). Do gặp vua Úc Xà
Diên Thành Nghiêm Xí nói pháp thế gian và xuất thế gian, Tát Giá được
giác ngộ, bèn đến ra mắt đức Phật,
được Ngài
giảng dạy cảnh giới của Bồ Tát hạnh,
thần thông, biến hóa của Bồ Tát v… Sau đó, đức
Phật thọ kư. Nội dung cuộc vấn đáp ấy được
ghi lại thành bộ kinh Đại Tát
Giá Ni Kiền Tử Thọ Kư, mười quyển, do ngài Bồ
Đề Lưu Chi dịch sang tiếng Hán vào
thời Nguyên Ngụy.
[72] Bảy
đường tức là sáu đường (trời,
người, A Tu La, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh) cộng thêm tiên đạo. Tức là tách các tiên từ
trời và A Tu La ra thành một đường riêng.
[73] Hữu
Nhược (518-418 trước Công Nguyên), tên tự là Tử
Hữu, là người nước Lỗ. Ông nổi tiếng
là người hiền. Mạnh Tử nói sau khi Khổng Tử
mất, Tử Hạ, Tử Trương và Tử Du coi ông
như thánh nhân, tính phụng sự như Khổng Tử,
nhưng Tăng Tử phản đối. Đường
Huyền Tông phong tặng ông tước Biện Bá, Tống
Chân Tông gia phong B́nh Dương Hầu, vua Gia Tĩnh (Minh Thế
Tông) nhà Minh phong ông là Tiên Hiền Hữu Tử.
[74] Bậc
thánh nhàn tản, không bị ràng buộc, câu nệ.
[75] Chúng Hựu
(眾祐) là một
trong mười hiệu của Như Lai, dịch nghĩa
của chữ Bạc Già Phạm (Bhagavat). Đây là cách dịch
nghĩa rất xưa. Từ đời Tây Tấn trở
đi, chữ này được dịch thành Thế Tôn.
Chúng Hựu hàm nghĩa “các đức thành tựu, các
phước hợp thành, trọn đủ các phước”
v.v…
[76]
Dương Kỳ Phương Hội (992-1049) là thiền
sư đời Tống, là người sáng lập chi phái
Dương Kỳ của tông Lâm Tế. Do Ngài trụ tích tại
Phổ Minh Thiền Viện núi Dương Kỳ, nên
người đương thời gọi ghép tên núi vào
pháp danh của Sư thành
Dương Kỳ Phương Hội. Ngài xuất gia nơi ngài Thạch
Sương Sở Viên, giữ chức Giám Viện (do vậy
Tổ Ngẫu Ích mới nói là “trực viện mười
năm”). Ngài chấn hưng tông phong, tiếp độ
người học, môn đ́nh hưng thịnh, nghiễm
nhiên trở thành một phái lớn trong tông Lâm Tế. Sư
có mười ba đệ tử đắc ư, trong đó, các vị nổi
tiếng là Bạch Vân Thủ
Đoan, Bảo Ninh Nhân Dũng v.v… Từ tông Dương Kỳ, xuất hiện những
vị thiền sư nổi tiếng như Thọ Thánh Sở
Văn, Thượng Phương Nhật Ích, Ngũ Tổ
Pháp Diễn, Phật Nhăn Thanh Viễn, Thái B́nh Huệ Cần,
Viên Ngộ Khắc Cần v.v…
[77] Ở
đây, ư Tổ chỉ nói tự khiêm. Do Ngài đi đến
đâu cũng được mời diễn giảng, nên
Ngài sánh ví ḿnh như miếng da bịt trên trống, hễ
gơ bèn phát ra tiếng, chứ không cố ư giảng diễn.
Ngài lại tự khiêm chuyện diễn giảng giống
như kiếm cơm qua ngày, nên mới nói là “kế mưu
sinh cho tọa chủ”. Ngài lại
coi những điều Ngài diễn giảng là thiển cận,
lỗi thời, nên gọi “gia xú” (điều xấu
trong nhà).
[78] Đây
là các vị thiện tri thức được nhắc tới
trong năm mươi ba lần tham học của Thiện
Tài đồng tử:
1) Đức
Vân tỳ-kheo (Meghaśrī-bhiksu, c̣n dịch là Công Đức
Vân, hoặc Cát Tường Vân). Vị này dạy môn giải
thoát Ức Niệm Nhất Thiết Chư Phật Cảnh
Giới Trí Huệ Quang Minh Phổ Kiến.
2) Thắng
Nhiệt Bà-la-môn (Jayosmāya, c̣n dịch là Phương Tiện
Mạng), vị này dạy Thiện Tài gieo ḿnh vào đống
lửa, trèo lên núi đao để chứng đắc môn
giải thoát Bồ Tát Trụ tam-muội và Bồ Tát Tịch
Tĩnh Lạc Thần Thông tam-muội.
3) Dục
Hương trưởng giả (Utpala-bhūti, c̣n dịch
là Thanh Liên Hoa Hương, hoặc Ưu Bát Hoa Hương),
dạy pháp môn giải thoát Điều Ḥa Nhất Thiết
Hương.
4) Thuyền
trưởng Bà Thi La (Vairocana, c̣n dịch là Tự Tại Hải
Sư), dạy Thiện Tài môn giải thoát Đại Bi
Tràng Hạnh.
5) Cô gái
Bà Tu Mật Đa (Vasumitrā, c̣n dịch là Bà Tu Di Đa Nữ),
thị hiện thân tham dục, dạy Thiện Tài môn Bồ
Tát Ly Tham Tế Giải Thoát.
6) Thiện
Tri Chúng Nghệ Đồng Tử (Śilpābhijña) dạy
Thiện Tài đồng tử bốn mươi hai tự
mẫu Hoa Nghiêm, mỗi chữ tương ứng với một
trí, nên gọi là Tự Trí.
[79] Lưu Ly Quang
pháp vương tử là vị Bồ Tát thứ hai
mươi mốt được nói trong hai mươi
lăm vị Bồ Tát trần thuật pháp viên thông của
kinh Lăng Nghiêm. Ngài quán tánh gió bèn chứng Viên Thông.
[80] “Hai mươi bốn
sơn” là thuật ngữ
Phong Thủy. Thầy Phong Thủy dùng la bàn để xác định
phương vị. Mặt la bàn có h́nh
tṛn, tức 360 độ, được chia thành hai
mươi bốn cung (mỗi cung gồm mười
lăm độ) dùng đó để xác định vị
trí của mạch núi và chỗ nó hướng về, nên gọi
là hai mươi bốn sơn. “Sơn” ở
đây có nghĩa là núi thật hay chỉ là chỗ cao trong
thế đất. Họ lại dùng Bát Quái (Càn, Khảm, Cấn,
Chấn v.v…) để phối ứng với hai
mươi bốn núi, mỗi Quái bao gồm ba
“núi”.
[81] Thời Minh, toàn thể Trung Hoa chỉ
chia thành mười ba tỉnh, tức Thiểm Tây, Sơn
Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng,
Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phước Kiến, Quảng
Tây, Quư Châu, và Vân Nam. Bắc Kinh mới đầu gọi là
Bắc B́nh, sau thời Vĩnh Lạc đổi thành Bắc
Trực Lệ, c̣n Nam Kinh th́ gọi là Ứng Thiên Phủ, về sau đổi thành Nam Trực Lệ.
[82] Thiên địa
bàn tức là một loại đồ h́nh thể hiện sự
vận động của địa cầu so với mặt
trời, mặt trăng và tinh tú (chủ yếu là Nhị
Thập Bát Tú) trong Thái Dương Hệ, đặt chùm sao
Bắc Đẩu làm trung tâm. Đồ h́nh coi phương
Đông nằm phía dưới
tương ứng với hai thiên can là Giáp, Ất, ba địa
chi là Dần, Măo, Th́n, và bảy ngôi sao là Giác, Cang, Đê,
Pḥng, Tâm, Vĩ, Cơ…
[83] Ư nói: Sẽ có
người tham học các vị thiện tri thức giống như Thiện
Tài đồng tử, luôn đi về phương Nam. Tổ
đă có một luận định ư nghĩa chân thật của
phương Nam được nói trong phẩm Nhập Pháp
Giới của kinh Hoa Nghiêm.
[84] Y Lan (Erāvaṇa) c̣n gọi
là Y La, Ế La, Nhân La Na v.v… là tên một loại cây, hoa
đẹp đẽ, nhưng mùi rất khó ngửi, mùi hôi
thối xông đến bốn mươi dặm!
[85] Sông Hy Liên là
phiên âm không chính xác của sông Ni Liên Thiền (Nairanjananadi), nay là sông
Fagu, tức một nhánh phụ của sông Hằng. Bồ
Đề Già Da (Buddha-gayā,
nơi đức Phật thành đạo) ở bờ
Đông của sông này.
[86] Dao Cầm
còn gọi là Cổ Cầm, Ngọc Cầm,
Ngũ Huyền Cầm, và Thất Huyền Cầm.
Đây là loại đàn cổ nhất vẫn
còn được sử dụng. Đàn
Cổ Cầm được coi là âm sắc
trang trọng, khoan hòa, thâm trầm, nên
được giới Nho sĩ rất yêu
chuộng. Không rõ Cổ Cầm được
phát minh từ thời nào, nhưng các
thư tịch đời Thương - Châu đã
nhắc tới Cổ Cầm. Thoạt đầu
chỉ có năm dây, nên gọi là Ngũ Huyền
Cầm. Về sau, tăng lên bảy dây, nên gọi là
Thất Huyền Cầm (danh xưng này ít
dùng). Cổ Cầm thịnh hành nhất vào
thời Đường, nhưng do khó
sử dụng, nên dần dần rất ít
người biết chơi, chỉ gần đây
Cổ Cầm mới được ưa thích
và người biết chơi Cổ Cần
tăng lên nhiều.
[87] Kinh Đại
Bát Nhă sáu trăm quyển là tổng tập của toàn thể
các kinh Bát Nhă, được chia thành mười sáu hội
(tức mười sáu phần):
1) Hội thứ nhất
nói tại núi Linh Thứu, gồm bốn trăm quyển
đầu, chia thành 79 phẩm, c̣n gọi là Thập Vạn
Tụng Bát Nhă, tương ứng với Thượng Phẩm
Bát Nhă.
2) Hội thứ hai (từ
quyển 401 đến quyển 478), chia thành 85 phẩm,
cũng nói tại núi Linh Thứu, c̣n gọi là Nhị Vạn
Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă, hoặc Đại Phẩm Bát
Nhă.
3) Hội thứ ba (từ
quyển 479 đến quyển 537), chia thành 31 phẩm, c̣n
gọi là Nhất Vạn Bát Thiên Tụng Bát Nhă, cũng nói tại
núi Linh Thứu. Hai hội thứ hai và thứ ba
tương ứng với Trung Phẩm Bát Nhă trong cách phân
định Cửu Bộ Bát Nhă.
4) Hội thứ tư (từ
quyển 538 đến quyển 555), chia thành 29 phẩm, c̣n
gọi là Bát Thiên Tụng Bát Nhă hoặc Tiểu Phẩm Bát
Nhă.
5) Hội thứ năm (từ
quyển 556 đến quyển 565), chia thành 24 phẩm, c̣n
gọi là Tứ Thiên Tụng Bát Nhă. Hội thứ tư và
thứ năm tương ứng với Hạ Phẩm Bát
Nhă trong Cửu Bộ Bát Nhă, cũng nói tại núi Linh Thứu.
6) Hội thứ sáu (từ
quyển 566 đến quyển 573), chia thành 17 phẩm,
tương ứng với Thắng Thiên Vương Bát Nhă.
7) Hội thứ bảy (từ
quyển 574 đến quyển 575), thường gọi là
Mạn Thù Thất Lợi Phần, tương ứng với
kinh Văn Thù Thuyết Bát Nhă. Phần này nói tại vườn
Cấp Cô Độc.
8) Hội thứ tám (chỉ
có quyển 576), c̣n gọi là Na Già Thất Lợi Bát Nhă,
tương ứng với kinh Nhu Thủ Bồ Tát, cũng
nói tại vườn Cấp Cô Độc.
9) Hội thứ chín (chỉ
có quyển 577), được gọi là Năng Đoạn
Kim Cang Phần, tức kinh Kim Cang.
10) Hội thứ mười
(chỉ có quyển 578), được gọi là Bát Nhă Lư
Thú Phần, c̣n gọi là Lư Thú Bách Ngũ Thập Tụng,
tương ứng với kinh Lư Thú Bát Nhă. Hội này
được nói trên cơi trời Tha Hóa Tự Tại.
11) Hội thứ mười
một (từ quyển 579 đến quyển 583), gọi
là Bố Thí Ba La Mật Đa Phần, nói tại vườn
Cấp Cô Độc.
12) Hội thứ mười
hai (từ quyển 584 đến quyển 588), c̣n gọi là
Tịnh Giới Ba La Mật Phần, nói tại vườn
Cấp Cô Độc.
13) Hội thứ mười
ba (chỉ có quyển 589), c̣n gọi là An Nhẫn Ba La Mật
Phần, nói tại vườn Cấp Cô Độc.
14) Hội thứ mười
bốn (chỉ có quyển 590), c̣n gọi là Tinh Tấn Ba La
Mật Phần, nói tại vườn Cấp Cô Độc.
15) Hội thứ mười
lăm (quyển 591 và 592), c̣n gọi là Tĩnh Lự Ba La Mật
Phần, nói tại núi Linh Thứu.
16) Hội thứ mười
sáu (từ quyển 593 đến quyển 600), c̣n gọi là
Bát Nhă Ba La Mật Đa Phần, nói tại Trúc Lâm tinh xá,
tương ứng với kinh Thiện Dũng Mănh Bát Nhă.
[88] Đây là cách nói
tỷ dụ chuyện áp đặt khiên cưỡng. Chuyện
này bắt nguồn từ cách tạo tượng trong Đạo
giáo, đa số các vị nam thần trong Đạo Giáo
đều có râu dài. Để tạo tượng có râu, họ phải đục những lỗ nhỏ trên
mặt tượng, nhét tóc người vào rồi dùng keo dính chắc để tạo một bộ râu
đẹp cho pho tượng. Tổ có ư chê những bản
chú giải trước đó do quá chấp nhặt văn tự,
đă khiên cưỡng gán ghép các ư nghĩa giống như
người cố ư gắn râu cho tượng thần vậy.
[89] Dây leo là thuật
ngữ của Thiền Tông chỉ văn tự. “Thấu
hiểu sâu cội gốc của dây leo” tức là đă
hiểu rơ điều muốn diễn tả ẩn tàng
trong ngôn ngữ, thấy được ư tại ngôn ngoại,
chẳng mê muội chấp chặt từ ngữ.
[90] Bính Đinh
đồng tử tức là Đăng Hỏa đồng
tử. Do trong Ngũ Hành, hai thiên can Bính và Đinh thuộc hỏa,
cho nên dùng Bính Đinh để tỷ dụ lửa.
[91] Trong Bách Pháp Minh
Môn Luận, ngài Thiên Thân quy nạp hết thảy các pháp
trong thế gian thành một trăm pháp. Sau đó, dựa theo tánh chất của chúng mà chia thành năm
loại lớn, gọi là ngũ vị, tức tâm pháp gồm
tám món, tâm sở pháp gồm năm mươi mốt món, sắc
pháp mười một món, tâm bất tương ứng
hành pháp gồm hai mươi bốn món, và vô vi pháp gồm
sáu món.
[92] Tức sách
Duy Thức Khai Mông Vấn Đáp do ngài Vân Phong soạn vào
đời Nguyên, gồm hai quyển. Sách trích lục các
điểm trọng yếu trong Duy Thức, chia thành một trăm mười vấn đề,
lập thành vấn đáp để xiển dương ư
chỉ. Sách này được coi là tài liệu trọng yếu
để nhập môn Duy Thức.
[93] Ư nói: Sau khi quân
Măn Châu chiếm được Trung Hoa, xác lập Thanh triều.
[94] Hàn Lô là tên một
người khéo lùa chó săn thời Chiến Quốc.
Người ta dùng cục đất ném chó, chó bèn đuổi
theo cục đất, chẳng biết đuổi theo
người. Nói “Hàn Lô đuổi theo cục đất” ngụ
ư: Kẻ ngu muội chẳng biết quán tâm, cứ hư vọng truy cầu những thứ hư vọng,
lăng phí tinh thần và thời gian.
[95] Ba đậu
(purging croton) chính là cây bă đậu, c̣n gọi là mắc
vát, cóng khói, cáng khỏi v.v… Đây là loại cây mọc
hoang, quả màu vàng nhạt, khi chín sẽ tách thành ba mảnh
vỏ. Hạt h́nh trứng dài chừng 10 mm, vỏ hạt cứng
có màu nâu xám. Sở dĩ gọi là Ba Đậu v́ hạt có
h́nh dạng giống hạt đậu, và cây mọc nhiều
ở vùng Ba Thục (Tứ Xuyên). Hạt, lá và rễ cây có
thể dùng làm thuốc.
[96] Tăng sĩ
khoác ca-sa gồm nhiều mảnh vải may chằm lại,
gọi là Nạp Y (áo chằm). Do đó, Tăng sĩ
cũng được gọi là “nạp Tăng”.
[97] Nam Tử là
người nước Tống, là vợ của Vệ
Linh Công (Cơ Nguyên), từng thao túng chánh quyền nước
vệ. Bà này là con gái của Tống B́nh Công (Tử Tuất).
Do bà hết sức xinh đẹp, Vệ Linh Công hết sức
sủng ái. Lại do Vệ Linh Công ngu tối, bà liền thừa
cơ thao túng chánh quyền. Bà này háo sắc, thường
tư thông với nhiều trai tráng, vua vẫn không màng. Tiếng
xấu bà đồn thổi đến nỗi người
dân lén gọi bà là “lợn cái”. Con trưởng của Vệ
Linh Công là Khoái Hội lập mưu tính giết Nam Tử, sự
việc bại lộ phải bỏ nước trốn
đi. Vệ Linh Công chết, Nam Tử lập con của
Khoái Hội là Công Tôn Chiếp làm vua, tức Vệ Xuất
Công. Về sau, Khoái Hội mượn binh nước Tấn
về đánh nước Vệ, giết chết Nam Tử,
tự lập làm vua, Sử gọi ông ta là Vệ Hậu
Trang Công. Vệ Xuất Công phải chạy sang nước
Tề. Tuy tánh nết không ra gì, nhưng Nam Tử
rất khâm phục Cừ Bá Ngọc là bậc hiền nhân,
hết sức tôn trọng ông.
[98] Tức câu “học
nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?”
(học rồi tùy lúc mà ôn tập, cũng chẳng vui sao?)
[99] Luyện tập
cách viết chữ phỏng theo lối viết chữ của
các nhà thư pháp trứ danh như phỏng theo Lan Đ́nh Tự
của Vương Hy Chi, hay cách viết chữ của Nhan Chân
Khanh, Tô Đông Pha v.v…
[100] Đây là một
câu nói trong thiên Tử Hăn sách Luận Ngữ: “Thệ giả
như tư phù, bất xả trú dạ” (nước
trôi như thế, ngày đêm chẳng ngừng), cảm khái
đời người, thế sự biến hóa nhanh chóng,
cũng hàm ư tiếc nuối thời gian. Khi đó, có một
trận lụt lớn tại Lữ Lương, Khổng
Tử dẫn học tṛ đến xem thế nước,
thấy nước sông Tứ Thủy cuồn cuộn chảy
như thế, Ngài bèn cảm khái
thốt ra câu trên đây.
[101] Y pháp
bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí
bất y thức, y liễu nghĩa bất y bất
liễu nghĩa kinh.
[102] Ba anh em họ
Viên là Viên Tông Đạo, Viên Hoằng Đạo, Viên Trung
Đạo, là ba nhà văn nổi tiếng cuối đời
Minh. Phong cách văn học của họ tạo thành một
trường phái văn
chương gọi là Công An Phái (do quê họ ở huyện Công An, tỉnh Hồ Quảng).
[103] Tam Tô là ba
văn gia nổi tiếng thời Bắc Tống, tức
Tô Tuân và hai con trai là Tô Thức (Tô Tử Chiêm, Tô Đông Pha)
và Tô Triệt (Tô Tử Do, Dĩnh Tân Di Lăo)
[104] Trung Túc là thụy
hiệu của Trần Quán.
[105] Thoạt đầu,
do chưa hiểu Thiền, Trần Quán phần lớn hiểu
công án theo văn tự, hoặc dùng ư kiến của chính mình để chú giải.
Chỉ riêng đối với câu “Kim Cang dữ nê nhân giai
bối” (Kim Cang và lau lưng tượng đất), ông
không chú giải được, nên bị Thiền giả
chê cười.
[106] Tam đại bộ tức là Pháp
Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú, và Ma Ha Chỉ Quán.
[107] Diệu Lạc
là biệt hiệu của ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, tổ
thứ sáu của tông Thiên Thai. Do Ngài trụ tích tại chùa
Diệu Lạc ở Thường Châu, chuyên giảng Pháp
Hoa, người đương thời gọi Ngài là Diệu
Lạc đại sư.
[108] Lục Triều là từ ngữ của
người đời Đường tạo ra
để gọi sáu triều đại trước
thời Tùy - Đường, chủ yếu là nói
đến các triều đại ở phương Nam
Trung Hoa, gồm:
- Nhà Đông Ngô (c̣n gọi là Tôn Ngô, Tam Quốc Ngô) do
Tôn Quyền sáng lập, tồn tại từ năm 229
đến năm 280, truyền được
bốn đời vua, đóng đô ở Kiến
Nghiệp (tức Nam Kinh hiện thời).
- Nhà Đông Tấn (317-420) do Tư Mă Duệ sáng
lập (tức là tiếp nối của nhà Tây Tấn sau
khi Hoa Bắc lần lượt bị các dân tộc ngoài
biên ải, tức các sắc dân Nam Hung Nô, Bạch Nô,
Đinh Linh, Thiết Phất, Lô Thủy Hồ, Thác Bạt
Tiên Ty, Vũ Văn Tiên Ty, Khương, Phù Dư v.v… tràn vào Trung
Hoa chia cắt lănh thổ,
lập thành mười sáu quốc gia, sử gọi là
Ngũ Hồ Thập Lục Quốc). Nhà Đông Tấn
đóng đô ở Kiến Khang (Nam Kinh), truyền được
mười một đời vua. Tới đời
Tấn An Đế (Tư Mă Đức Tông) bị
quyền thần Hoàn Huyền ép nhường ngôi. Hoàn
Huyền đổi quốc hiệu thành Sở, sử
thường gọi là nhà Hoàn Sở. Lưu Dụ khởi
binh chinh phạt, giết chết Hoàn Huyền, khôi phục
nhà Đông Tấn. Sau một thời gian, đến năm
420, Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế (Tư Mă
Đức Văn), tự lên ngôi, đổi quốc
hiệu thành Tống, tức nhà Lưu Tống.
- Lưu Tống (420-479), c̣n gọi là nhà Tiền
Tống, do Lưu Dụ sáng lập, cũng đóng đô
ở Kiến Khang, truyền được chín đời
vua. Vua cuối cùng Lưu Chuẩn (Tống Thuận
Đế) là con rối trong tay quyền thần Tiêu
Đạo Thành, được ông ta đưa lên ngôi
năm 477 rồi bị phế thành Nhữ Âm Vương
năm 479. Tiêu Đạo Thành lên làm vua,
đổi quốc hiệu thành Tề. Tháng Năm năm
ấy, Lưu Chuẩn bị giết khi mới tṛn 12
tuổi.
- Nam Tề (479-502), c̣n gọi là Tiêu Tề, do Tiêu
Đạo Thành sáng lập, cũng đóng đô tại
Kiến Khang, truyền được bảy đời
vua.
- Nam Lương (502-557), c̣n gọi là Tiêu Lương,
Tiền Lương, hoặc Nam Triều Lương, do Tiêu
Diễn (Lương Vũ Đế) sáng lập, đóng
đô tại Kiến Khang, truyền được sáu
đời vua.
- Trần (557-589), c̣n gọi là Nam Trần, do Trần
Bá Tiên soán ngôi nhà Lương từ tay Lương Kính
Đế (Tiêu Phương Trí), cũng đóng đô
tại Kiến Khang, truyền được năm
đời vua. Vua cuối cùng là Trần Hậu Chủ
(Trần Thúc Bảo) si ám, ham ăn chơi, hưởng
lạc, bị Tùy Văn Đế (Dương Kiên) xua quân Nam chinh, tiêu diệt nhà
Trần, thống nhất Trung Hoa.
[109] Nam Cung Quát, c̣n có tên là Thao, tự Tử Dung,
người nước Lỗ, là một trong bảy
mươi hai đệ tử đắc ư của Khổng
Tử. Ông được Khổng Tử xưng tụng là
bậc quân tử, c̣n gả cháu gái cho.
[110] Chế Đài (制臺) là chức quan Tổng Đốc đời Minh - Thanh. Chức quan này c̣n gọi là
Đốc Hiến, Chế Quân, Chế Đài, Soái, Tổng
Chế, hoặc Bộ Đường. Theo quy chế đời
Thanh, Tổng Đốc là chức quan hành chánh cao cấp nhất
quản trị một tỉnh. Đầu thời Minh, quản
lư quân vụ là quan vơ, nhưng dần dần sử dụng
quan văn trông coi việc quân. Theo Đại Minh Hội
Điển: “Lúc mới lập quốc, việc binh chuyên
do quan vơ đảm nhiệm. Về sau, thường dùng quan văn trông nom.
Quan văn th́ chỗ quan trọng gọi là Tổng Đốc,
chỗ kém hơn gọi là Tuần Phủ. Tổng Đốc
trước kia gọi là Quân Môn. Nhưng Tuần Phủ chỉ
coi quản lư quân vụ, hoặc là Đề Đốc”. Về sau, Tổng Đốc mới
kiêm quản trị dân sự.
[111] Y thông là một trong năm loại
thần thông hữu lậu:
1) Phục thông: Đời trước
đă từng tu luyện, tới đời này lại hiện
thần thông.
2) Tu thông: Do tu luyện mà đạt
được thần thông.
3) Quỷ thông: Do bị quỷ mị
dựa, hoặc chính là quỷ giả hiện làm người
tu, biểu lộ thần thông.
4) Yêu thông: Thần thông của loài
yêu quái.
5) Y thông: Nhờ vào sức thuốc,
chú lực, hoặc các biện pháp huyễn thuật khác
như vận dụng ánh sáng, âm thanh, quy luật để
biểu lộ huyễn thuật.
Theo Hồ Ứng Lân trong tác phẩm
Thiếu Thất Sơn Pḥng Bút Tùng có nói: Vào đời Minh, trong Thiền Tông có người tên Ngộ
Minh chuyên dùng y thông để dụ dỗ người khác
theo hắn học đạo.
[112] Thời Châu Thành Vương (Cơ
Tụng), Châu Công Đán là chú (Cơ Đán là em của
Cơ Phát (Châu Vũ Vương), Cơ Tụng là con trai
Cơ Phát) phù tá nhà vua, vận dụng lễ nhạc, quy
định những khuôn khổ, chuẩn mực trong xă hội,
quy tắc ứng xử, lễ nghi, h́nh thành một hệ
thống quản trị tốt đẹp, tạo thành thời
thịnh trị được gọi là “Thành Khang chi trị” (tức hai đời
vua thịnh trị Châu Thành Vương và Châu Khang
Vương). Ở đây, tổ Ngẫu Ích dùng ba triều
đại để đánh giá các bản chú giải, bản
chỉ nêu được đại cương th́ gọi
là “tương tự đời Hán”, bản nêu ra các chi tiết
chi ly th́ gọi là “tương tự đời Đường”,
bản nói lên được điều
cốt lơi th́ gọi là
“lễ nhạc thời Thành Châu”.
[113] “Hán tạp bá đạo” là
cách nói phê phán đường lối cai trị từ thời
Hán Vũ Đế trở đi, chuyên chú trọng h́nh pháp,
đề cao vương quyền, xử sự độc
đoán, thủ đoạn tàn nhẫn, ḥng đạt tới mục đích mà thôi, không coi trọng
các cách cai trị nhân từ như thời Châu (thường
gọi là vương đạo). Từ ngữ này vốn
phát xuất từ một câu nói của Hán Nguyên Đế.
Khi thái tử Nhu Nhân trong một bữa tiệc đă khuyên
vua cha đừng nên quá coi trọng bọn pháp gia (chủ
trương dùng h́nh phạt và pháp luật để cai trị) để rồi dùng h́nh phạt quá nghiêm khắc với
thuộc hạ, hăy nên trọng dụng Nho sĩ, cai trị
bằng ḷng nhân ái. Hán Nguyên Đế giận dữ quát: “Nhà
Hán tự có chế độ riêng, vốn dùng vương
đạo và bá đạo xen lẫn, sao có thể dùng thuần
sự giáo hóa bằng đức, áp dụng kiểu cai trị
của nhà Châu ư?” Ở đây, Tổ mượn thành ngữ này để phê phán bản
sớ giải chứa đựng những ư kiến cực
đoan, chưa dung thông.
[114] Những thành ngữ này đều
nhằm nói lên ư nghĩa: Đại thể tốt đẹp, dẫu có một vài khuyết điểm nhỏ,
nhưng đừng nên vứt bỏ.
[115] Văn bản tiếng Hán thời cổ
không có dấu chấm câu. Do đó, nếu không đọc kỹ,
hoặc không giỏi văn tự, sẽ dễ hiểu lầm
ư nghĩa. Nhằm tạo thuận tiện cho người
đọc, khi in các kinh sách, thường mời người
thông hiểu chấm câu trước khi in.
[116] Hán Minh Đế (Lưu Trang) mộng thấy người vàng chiếu
hào quang, bay qua, bay lại trước điện. Sáng ra, vua hỏi các quan. Các quan tâu Tây Phương có thánh nhân gọi là Phật. Vua bèn phái Thái Âm sang Tây Trúc cầu pháp, thỉnh hai vị
sa-môn Trúc Pháp Lan
(Dharmaratna) và Ca Diếp Ma Đằng
(Kāśyapa Mātaṇga) sang Trung Hoa vào năm Vĩnh B́nh thứ mười
(67) truyền đạo Phật,
khởi sự dịch kinh Phật.
[117] Thạch Công là biệt hiệu của
Viên Hoằng Đạo.
[118] Đây là một thành ngữ hàm ư:
Người sống ở nơi hoang dă, quá tịch mịch,
nghe có tiếng bước chân người liền mừng
rỡ. Về sau, từ ngữ được dùng theo ư
nghĩa mở rộng là hiếm có, khó được!
[119] Dó c̣n gọi
là ró, cốc, cấu, dâu giấy, lộc tử, dướng
(paper mulberry), có tên khoa học là Broussonetia papyrifera, là một loài cây gỗ trong
họ Dâu Tằm (Moraceae), mọc nhiều ở Đông Á.
Cây có thể cao tới 15m, có hoa đực và hoa cái mọc
riêng rẽ, quả có thể ăn được, vị
ngọt, màu đỏ hay cam. Người ta thường
tách vỏ cây để làm giấy. Người dân đảo
Fiji c̣n dùng sợi chế từ vỏ cây này để bện
quần áo.
[120] Tổ Ngẫu Ích có một biệt
hiệu là Tây Hữu đạo nhân. Gọi là Tây Hữu là v́ dựa theo kinh A Di Đà nói qua khỏi mười vạn ức
cơi ở phương Tây, có thế giới tên là Cực Lạc.
[121] Giải Tấn
(1369-1415), tự là Đại Thân, hiệu là Xuân Vũ, là vị
thủ phụ nội các (tương đương với
thừa tướng) đầu tiên của nhà Minh. Ông chủ
biên các bộ Minh Thái Tổ Thực Lục, Vĩnh Lạc
Đại Điển v.v…
[122] Đại Thừa
Khởi Tín Luận (Mahāyāna
śraddhotpāda śāstra) do Mă Minh Bồ Tát
trước tác dựa theo giáo nghĩa trong kinh Lăng Già.
Luận này có hai bản dịch:
1) Bản dịch do ngài
Chân Đế Tam Tạng dịch vào đời Lương
trong năm Thanh Thái thứ tư (550). Bản này được
gọi là Lương dịch.
2) Bản dịch đời
Đường do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch, gọi
là Đường dịch.
[123] Dịch Thu (không rơ năm sanh và
năm mất) là cao thủ nổi tiếng chơi cờ
vây thời Chiến Quốc. Chỉ biết ông là người
nước Lỗ, Mạnh Tử trong thiên Cáo Tử có nhắc
tới Dịch Thu khi giảng giải về đạo lư
trị quốc: Dịch Thu dạy cờ cho đệ tử,
một người chuyên tâm dốc chí, tích cực nghe giảng,
một người vừa nghe vừa lo ra, do vậy, tŕnh
độ chơi cờ sai biệt rất lớn.
[124] Tức là cùng một bản kinh mà
có nhiều người phiên dịch khác nhau, chẳng hạn
kinh Kim Cang có đến sáu bản dịch khác nhau, kinh Vô
Lượng Thọ có mười hai bản dịch v.v…
[125] Đây là các từ ngữ dùng để
chỉ cấu trúc trong cách phân tích ngôn từ theo quan điểm
của Ấn Độ. Danh (nāman) là từ ngữ chỉ sự vật,
hiện tượng v.v…, thường là một chữ
đơn. Cú (pada) là tập hợp của nhiều danh, diễn
tả một ư nghĩa trọn vẹn, chẳng hạn
như “chư hành vô thường”. Văn (vyañjana) là âm tiết (syllable), hoặc tự mẫu. “Thân”
có nghĩa là tập hợp. Văn thân tức là tổ hợp
của hai danh trở lên, hoặc là tổ hợp từ hai
Cú trở lên.
[126] Tử Dư là tên tự của
Tăng Sâm, đệ tử đắc ư của Khổng Tử.
[127] Mùa Thu khiến cho lá vàng úa rơi rụng,
cổ nhân gọi đó là “túc sát”.