Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 6

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

10. Luận

* Tham cứu niệm Phật luận

         

          Trí và Lư nơi Bổn Giác diệu minh, Chân Như pháp giới vốn chẳng chia thành Năng và Sở. Y báo và chánh báo trọn chẳng có tự lượng và tha lượng. Chỉ do mê vọng, Biến Kế Chấp ngang ngược nẩy sanh, trái nghịch giác tánh mà chín pháp giới xen bày, do mê muội chân cảnh mà ba cơi huyễn hiện, nhọc công đức Thế Tôn ta rủ ḷng Từ lập giáo, thuận theo căn tánh của chúng sanh mà chỉ dạy vô lượng pháp môn, hoặc hiển thuyết liễu nghĩa, hoặc đàm luận ẩn tàng, hoặc khéo léo tiếp dẫn căn cơ thiên lệch khiến cho họ dần dần nhập đạo, hoặc thẳng thừng gieo chủng tử Viên Giáo khiến cho họ nhanh chóng khơi mở, sáng suốt. Hoặc là từ trong một pháp, nói phân biệt thành vô lượng, hoặc dùng phương tiện lạ để thiện xảo giúp hiển lộ Nhất Thừa. Tuy lưới giáo muôn vàn sai khác, không ǵ chẳng nhằm đánh thức chín giới từ giấc mộng dài, khiến cho họ trở về sự giác ngộ vốn có, hiểu rơ ba cơi huyễn vọng ngăn che, khiến cho họ ngầm khế hợp Tịch Quang mà thôi!

Nhưng liễu nghĩa bậc nhất trong các liễu nghĩa, viên đốn nhất trong các pháp viên đốn, phương tiện bậc nhất trong các phương tiện, không ǵ bằng một môn Tịnh Độ. V́ sao nói vậy? Thuận theo cái tâm tịnh, cơi Phật sẽ tịnh. Kiến Tư tịnh bèn siêu thăng cơi Đồng Cư. Trần Sa tịnh bèn siêu thăng cơi Phương Tiện. Vô Minh tịnh bèn siêu thăng cơi Thật Báo. V́ thế nói “duy Phật nhất nhân cư Tịnh Độ” (chỉ riêng một ḿnh đức Phật ngự trong Tịnh Độ), lẽ nào chẳng phải là bất liễu nghĩa? Khi tâm chúng sanh niệm Phật, tâm này làm Phật, tâm này là Phật, do một niệm nhanh chóng nhập Phật hải. V́ thế nói: “Nhất xưng nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (Xưng nam-mô Phật một tiếng, đều đă thành Phật đạo). “Nhược nhân chuyên niệm Di Đà Phật, thị danh vô thượng thâm diệu Thiền” (nếu ai chuyên niệm Di Đà Phật, th́ gọi vô thượng thâm diệu Thiền), há chẳng phải là chí viên, chí đốn ư? Quả đức nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn! Cái tâm tu nhân và tín lực cũng chẳng thể nghĩ bàn. Cảm ứng đạo giao, nét khắc in xuống, ấn nát[1]. Là phàm phu mà đều bất thoái, chưa đoạn Hoặc mà được “hoành siêu” (vượt thoát tam giới theo chiều ngang). Lại c̣n thích hợp trọn khắp ba căn, bao trùm bốn cơi [Tịnh Độ] theo chiều ngang. Ngũ trược nhẹ, tịnh, bèn sanh trong cơi Đồng Cư. Khéo léo thấu hiểu Không th́ sanh trong cơi Phương Tiện. Tam Quán viên tịnh liền ở trong cơi Thật Báo. Cứu Cánh Giác Tịnh th́ ở trong cơi Tịch Quang. C̣n chẳng có ǵ sánh bằng, huống hồ có ǵ hơn được ư? Do vậy, gọi là công đức chẳng thể nghĩ bàn, là pháp thế gian khó tin.

Nói chung, điều trọng yếu cốt lơi là cần phải trọn đủ ba món Tín, Nguyện, Hạnh. Tín là tín Sự, tín Lư, tín tự, tín tha, tín nhân, tín quả, biết “ngoài tâm chẳng có cơi, ngoài cơi chẳng có tâm, ngoài tánh chẳng có Phật, ngoài Phật chẳng có tánh”. Nhân ắt bao trùm quả, quả ắt thấu triệt nhân. Nguyện th́ niệm niệm hồi hướng, tâm tâm hướng về. Hạnh th́ vô lượng pháp môn, hội quy nhất trí, nhưng chánh hạnh Tịnh Độ càng phải lấy niệm Phật làm đầu. Xét ra, một hạnh niệm Phật có nhiều đường lối. Kinh Tiểu Bổn coi trọng tŕ danh, Lăng Nghiêm chỉ ức niệm, Quán Kinh chủ yếu là quán cảnh, Đại Tập[2] th́ quán Thật Tướng của Phật. Đời sau, các vị thiền sư trí thấu triệt, lại mở ra đường lối tham cứu. Vân Thê đại sư cực lực chủ trương Tịnh Độ, cũng chẳng phế cách nói ấy, nhưng pháp môn tuy khác, đều cùng lấy Tịnh Độ làm chỗ quy túc. Riêng cách nói tham cứu đă xen lạm với Thiền Tông, chẳng phải là không có chỗ xen tạp, lầm lẫn đáng bàn!

Nay thử luận xem: Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt. Nếu thật sự có thể tin chắc, sẽ thẳng thừng biết chỗ về. Người chưa liễu giải, chẳng ngại nghi chấp. V́ thế, công án chữ Ai (“ai là người niệm Phật?”) tùy thuận thích ứng thời cơ, có lợi lớn mà cũng có hại lớn. Nói “lợi lớn” là do niệm có thể mệt mỏi, hoăn đăi, [tham cứu sẽ] khiến cho [hành nhân] tận lực truy xét sâu xa, có tác dụng giúp phát khởi khá nhiều. Hơn nữa, [nếu như hành nhân] chưa hiểu rơ “tánh của niệm vốn là Không, Năng và Sở chẳng hai”, nhờ vào ḥn ngói gơ cửa này, sẽ đều có lợi ích sâu xa. Ắt phải lấy Tịnh Độ làm chủ, tham cứu để giúp, [bất luận] thấu triệt hay chưa, th́ mới chẳng chướng ngại văng sanh. Nói “hại lớn” là đă xen lẫn tham cứu, tức là chỉ cậy vào linh tánh của chính ḿnh, chẳng cầu Phật lực, chỉ muốn được sáng tỏ trong đời hiện tại, chẳng c̣n nguyện văng sanh, hoặc do nghi mà sanh chướng, bảo là “chẳng thể sanh”, thậm chí phế bỏ vạn hạnh, vứt bỏ kinh điển. Bổn ư của cổ nhân là nhiếp Thiền quy Tịnh, đối với Thiền Tông mà mở ra cơ duyên quyền biến này! Người hiện thời hiểu sai, phần nhiều tới mức bỏ Tịnh theo Thiền; đối với Tịnh Tông, đâm ra trở thành phá pháp, hoàn toàn trái nghịch chánh nhân Tịnh nghiệp, sao có thể mong văng sanh cơi ấy cho được?

Hỏi: Tịnh Độ là chủ, có thể coi tham cứu là niệm Phật hay không?

Đáp: Tham cứu và niệm đều thuộc về Hạnh. Thiết tha th́ tham cứu cũng văng sanh, chẳng thiết tha th́ niệm cũng chẳng sanh! Lại nữa, tuy có hạnh thiết tha, nhưng tín và nguyện hướng dẫn văng sanh. Nếu chẳng có tín nguyện dẫn đường, sẽ chẳng văng sanh!

Hỏi: Người đă triệt ngộ có cần phải văng sanh hay không?

Đáp: Phổ Hiền nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc. Từ Sơ Địa cho tới Thập Địa đều nói “chẳng ĺa niệm Phật”. Di Sơn[3] phát nguyện thừa sự mười phương chư Phật chẳng hề mệt nhọc. Thanh Quy của ngài Bách Trượng có các hạng mục như khóa tụng, đưa tiễn người mất v.v… không ǵ chẳng chỉ quy Tịnh Độ. V́ thế, ngài Thiên Như nói: “Nếu thật sự ngộ đạo th́ sanh về Tịnh Độ một vạn con trâu chẳng kéo lại được!” Ngài Vân Thê (tổ Liên Tŕ) nói: “Sau khi đă ngộ mà chẳng mong văng sanh, chắc chắn lăo huynh chưa ngộ!” Do vậy biết: Hễ kẻ nào nói “chẳng cần sanh về Tịnh Độ” đều là hạng tăng thượng mạn, chẳng phải là người thật sự nhập địa vị Bồ Tát!

Hỏi: Niệm Phật kiêm tham cứu có thể làm trợ hạnh. Tham Thiền kiêm nguyện văng sanh, chẳng phải là cái tâm chụp giựt ư?

Đáp: Tịnh Độ mà chẳng có Thiền, chẳng phải là Tịnh Độ chân thật. Thiền mà không có Tịnh Độ, chẳng phải là Thiền chân thật! Nhưng Thiền của Tịnh Độ vốn chẳng cần tham cứu, chỉ nhất tâm bất loạn tức là Tĩnh. Danh hiệu rành rành tức là Lự. C̣n như Tịnh Độ nơi Thiền th́ phải chứng cái tâm cực tịnh, chẳng thể dùng Lư để đoạt Sự. Chư tổ xưa kia đă hết sạch phàm t́nh, chưa quên thánh giải, chẳng ngại tùy cơ quét sạch chấp trước. Học nhân đời sau tuy có Càn Huệ, nhưng chưa khô cạn nhiễm tập (tập khí đắm nhiễm), nếu chẳng phát nguyện văng sanh, sẽ y như cũ mà luân chuyển theo nghiệp! Tứ Liệu Giản của tổ Vĩnh Minh, “mười niệm chẳng khuyết” của ngài S Thạch v.v… chính là nói “có Thiền, có Tịnh”, há có phải là cái tâm chụp giựt ư?

Hỏi: Tham cứu niệm Phật và pháp môn Chỉ Quán giống nhau, hay khác nhau?

Đáp: Lư th́ dung thông lẫn nhau, nhưng pháp môn thật sự có sai khác! Chỉ Quán dùng Tín để nhập, c̣n tham cứu th́ dùng nghi để nhập. Chỉ Quán tuy thích hợp trọn khắp ba căn, nhưng bậc thượng căn mới thật sự hiểu rơ. Tham cứu tuy cũng thích hợp khắp ba căn, nhưng chỉ có bậc thượng căn mới đạt được Đại Tổng Tŕ. Hơn nữa, kẻ hạ căn hoặc niệm Phật, hoặc tham cứu, tuy chưa thấu đạt lư sâu Chỉ Quán, nhưng Lư không ǵ chẳng trọn. Bởi lẽ, đặt cái tâm một chỗ chính là Chỉ. Dụng tâm tham cứu và niệm tức là Quán. V́ thế, kẻ trung căn hoặc nhờ vào Giải để khởi Niệm Hạnh, hoặc do bế tắc nơi Giải mà phát khởi t́nh kiến tham cứu. Tuy thuận theo căn cơ mà thành ra vận dụng bất đồng, đều chẳng đánh mất đại nghĩa của Chỉ Quán. Chỉ có bậc thượng căn thẳng thừng tương ứng, cảnh và trí như một, Quán Đế chẳng hai; khi đó, niệm và “chẳng niệm” đều đạt tới rốt ráo, bèn không có ǵ để có thể tham cứu! V́ sao vậy? Chỉ lănh hội theo ngôn từ, khiến cho tông phong bị khuất lấp. Hiểu rành rẽ nơi từng câu, Phật, Tổ bị ch́m, lấp. V́ thế biết: Cách nói “tham cứu niệm Phật” là Quyền, chẳng phải Thật; đó là trợ, chẳng phải là chánh. Tuy chẳng thể phế, càng chớ nên chấp! Hễ phế bỏ, sẽ bị thiếu một hạnh trong vạn hạnh. Hễ chấp th́ do một hạnh mà chướng ngại vạn hạnh! Bậc cao minh học đạo hăy thử suy tính kỹ càng rồi nỗ lực mà hành!

 

* Từ bi duyên khổ chúng sanh luận

 

          Chẳng hiểu rơ lư Phật tánh nơi chính ḿnh, mờ mịt đối với nghĩa đồng Th, chỉ biết chuộng thiện, ghét ác, chẳng biết ban vui, dẹp khổ, coi dị loại bàng sanh như cỏ rác, thấy chúng bị vây hăm trong tội khổ, bèn coi là chuyện đương nhiên. Ai biết loài chúng sanh có hàm thức ngọ ngoạy có tri giác chẳng khác [chúng ta]! Bè đảng ác mắt quáng, loài người đều giống hệt như thế, do mê muội tánh linh mà cố ư chuốc lấy tội khiên đă là đáng thương! Do túc chướng mà vô cớ mắc lưới, càng đáng đau xót! Vậy mà có kẻ mắt thấy nỗi kinh hoàng, tai nghe tiếng kêu đau thảm thiết, không chỉ thờ ơ, chẳng quan tâm, đoái hoài, lại c̣n nói ngay “đáng phải nên như vậy!” Than ôi! Bi gọi là dẹp khổ, xả những loài ấy, lấy ǵ để duyên? Từ gọi là ban vui, hướng tới đường lành nào [mà thiếu ḷng bi], há có ích ǵ? Giới Bổn Kinh nói “Bồ Tát ư ác nhân sở, khởi từ bi tâm, thâm ư thiện nhân” (Bồ Tát đối với kẻ ác, dấy ḷng từ bi sâu đậm c̣n hơn với người lành) là có nguyên do vậy! Chưa suy xét ư chỉ ấy, cứ viện cớ trừng phạt sai trái, tự ỷ vào phước báo tạm thời, tà mạn đầy ắp dạ, vui mừng trước nỗi khổ cùng cực của kẻ khác, có khác ǵ La Sát? Há có chút nào ngộ thường trụ từ tâm, chẳng có nỗi đau cắt da đồng thể ư?

Nếu như nói: “Từ bi và cứu bạt chính là công năng nơi cái quả. Hổ thẹn, khuyên răn ngăn dứt, quả thật là diệu hạnh nơi cái nhân. Do vậy, tôn sùng hiền thiện được gọi là Tàm. Khinh thường, chống cự bạo ác gọi là Quư. Dùng tàm quư để tự trang nghiêm th́ mới có thể đoạn ác, tu thiện. Từ bi lợi vật chính là tiếp độ cơi đời, độ sanh!” Kẻ sơ tâm sao lại viện cớ của bậc đại thánh? Ôi! Lầm mất rồi! Từ bi, tàm quư đều cùng gọi là thiện tâm! Trong lúc tu nhân, bèn có thể cùng tu, có thể cùng viên măn nơi cái quả. Nếu như ông luận định, Bồ Tát chẳng tu TVô Lượng Tâm, Phật quả sẽ chẳng gọi là “trọn đủ tàm quư”, thiếu khuyết chẳng nhỏ, tội bèn ngập trời! Nào có biết từ bi và tàm quư thành tựu lẫn nhau khít khao! Có tàm quư th́ mới có từ bi, chẳng có từ bi sẽ chẳng có tàm quư! Ấy là do liễu đạt “tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt”. Quán Phật chính là tâm, đó là sanh tàm quư. Quán chúng sanh chính là Phật, đó là khởi từ bi. Tôn sùng tánh hiền thiện vốn sẵn có, tùy nguyện ban cho hết thảy chúng sanh niềm vui sẵn có nơi tánh đức, cự tuyệt tập khí bạo ác do mê chân, tùy nguyện dẹp trừ hết thảy các nỗi khổ nơi tánh đức của chúng sanh. Có một phần tàm quư th́ mới có một phần từ bi. Có mười phần từ bi th́ mới có mười phần tàm quư. Ông nay thấy những kẻ cùng bẩm thọ huyết khí này, cùng ôm linh giác, trái nghịch chân tâm của chính ḿnh, oan uổng khốn khổ, chẳng nghĩ cứu vớt, ngược ngạo khởi tâm kiêu ngạo, không chỉ là chẳng từ bi mà c̣n là thuộc loại không hổ thẹn!

Nếu ngộ biết tâm tánh, biết đích xác “chúng sanh và Phật đồng thể”, thấy các vị Phật vị lai ấy oan uổng đọa trong tam đồ, bát nạn, mắt thấy ḷng đau, tất bật cứu vớt như đói ăn, khát uống, muốn bỏ mà chẳng thể! Sao nỡ nhẫn tâm coi là thông thường, ngược ngạo coi chuyện cứu giúp là viễn vông ư? Chỉ sợ thiện báo đời trước hữu hạn, khổ quả trong đời khác vô cùng. Đă vĩnh viễn cách biệt ḷng Bi trọn vẹn, chư Phật cũng khó ch́a tay cứu giúp. Do vậy, những kẻ cười nhạo khổ luân ngày nay, ngày sau sẽ bị khổ luân cười nhạo! Đáng buồn thay!

 

* Luận về mười lợi ích to lớn của giới “không ăn phi thời”

 

          Khách hỏi Đỗ Đa Tử[4] rằng: “Tôi nghe nói giết, trộm, dâm, dối gọi là tánh tội. Uống rượu hôn mê, đánh mất chủng tử trí huệ. Ăn thịt chúng sanh, đoạn đại từ bi. Do vậy, Như Lai chế giới, thất chúng[5] cùng tuân theo. Cố nhiên chẳng nghi hoặc. C̣n như thức ăn thông thường để dưỡng thân, có lỗi lầm ǵ mà chế giới không ăn phi thời nghiêm ngặt dường ấy? Nguyện nghe ư chỉ ấy”.

Đỗ Đa Tử nói: - Tôi chính đang muốn tŕnh bày lẽ trọng yếu của trai pháp để tạo khuôn phép cho hành nhân, ông hỏi đúng lúc lắm! Trai pháp là đại đạo để hành chung cho đệ tử của thập phương tam thế chư Phật, là luật trọng yếu trong pháp thoát sanh tử. Ngu phu khăng khăng v́ bụng miệng, cam làm kẻ [ham chuộng] uống ăn. Đă sợ hăi luật định này, sao không biện định lợi ích của giới này? Nay bổn ư chế lập giới của Như Lai vốn tận thiện, tận mỹ, sao không kiệt lực trần thuật? Nêu ra đại lược, [giới ấy] có mười điều lợi ích to lớn:

1) Một là đoạn duyên sanh tử. Kinh dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai nhân dâm dục nhi chánh tánh mạng” (hết thảy chúng sanh đều do dâm dục mà có tánh mạng). Lại nói: “Tam giới chúng sanh giai y ẩm thực nhi đắc tồn hoạt. Sở vị đoạn thực, xúc thực, tư thực, thức thực” (Chúng sanh trong ba cơi đều nương vào ăn uống mà được sống sót. Đó gọi là ăn bằng cách cắn xé, ăn bằng cách đụng chạm, ăn bằng cách nghĩ tưởng, ăn bằng thức). Do vậy, xét theo đó, dâm dục cố nhiên là chánh nhân của sanh tử, ăn uống chính là tăng thượng duyên bậc nhất của sanh tử, đều thuộc vào ngũ dục, riêng vun quén cái thân khổ độc này để mượn đó mà tu đạo, chẳng thể hoàn toàn đoạn. Ngay như ăn đúng thời, c̣n tưởng là quỷ Khoáng Dă ăn thịt con, há dung buông lung ăn phi thời ư?

2) Hai là biểu thị nghĩa Trung Đạo. Tông Thiên Thai nói: “Ăn trước Ngọ biểu thị phương tiện đạo tợ hồ có pháp để có thể đắc. Quá khỏi giữa trưa không ăn, biểu thị ngoài Trung Đạo ra, chẳng cần chi nữa!” Đó là Lư Quán, hoàn toàn cậy nơi Sự cảnh. Nếu thô giới c̣n chẳng tự ǵn giữ, há chẳng giống như người thế tục ban đêm vẫn ăn uống ư? Phóng túng là bất cập. Nếu giống như ngoại đạo, ngày ăn một hạt mè, hoặc một hạt lúa mạch th́ là thái quá. Hạnh chẳng thích đáng, chẳng vừa phải, sẽ do đâu mà khế hội diệu lư?

3) Ba là điều ḥa thân thể, ít bệnh. Tỳ (spleen, lá lách) chủ tín, ăn nhiều lượt, dễ tổn thương tỳ nhất. V́ thế, Huyền Môn coi kiêng ăn tối là thuật hay khéo để dưỡng sanh, há gọi là “ráng chịu đói” ư?

4) Bốn là đạo nghiệp được tôn cao. Ngài Triệu Châu nói: “Hai thời cơm cháo chính là chỗ tạp dụng tâm”. Hai thời mà đă tạp, huống hồ ba, bốn ư? Nhà Nho nói: “Ẩm thực chi nhân, tắc nhân tiện chi” (kẻ chỉ ham mê ăn uống sẽ bị người khác khinh rẻ). Nay tuân thủ nghiêm ngặt trai pháp, chuyên ṛng tu đạo, đạo nghiệp tự hưng thịnh.

5) Năm là kiên cố giới phẩm. Ăn tối trợ hỏa, trợ khí, tăng trưởng dâm tâm. Nay dứt bặt thanh tịnh, giới thể cứng chắc.

6) Sáu là kham có thể tu Định. Đoạn loạn tưởng tạp thực, thân tâm nhẹ nhàng, bén nhạy, đắc Định chẳng khó.

7) Bảy là xuất sanh trí huệ, ăn tối tăng Hôn Cái. Nay thanh tịnh, hiểu rơ, tĩnh lặng, chẳng chướng quán huệ. Lại nữa, đối với bốn loại ăn, đúng như pháp mà tưởng chán ĺa, liền có thể đoạn Hoặc trong tam giới.

8) Tám là ĺa nghiệp quỷ, nghiệp súc sanh. Súc sanh ăn sau Ngọ. Quỷ ăn ban đêm. Chẳng tŕ trai pháp này, sẽ chẳng khác quỷ và súc sanh, bị lôi kéo vào loài ấy. Giữ trai pháp này, xa ĺa cái duyên sanh vào hai đường ấy.

9) Chín là chẳng gây phiền năo cho đàn-na tín thí, tức là như người sống bằng khất thực, nếu sau Ngọ lại ôm bát [đi khất thực], sẽ trở thành suốt ngày chỉ thấy sa-môn lui tới, ắt sẽ khiến cho thí chủ sanh ḷng bực bội. Nay sau Ngọ, chỉ ngồi yên tu đạo, sẽ có thể khiến cho Tăng lẫn tục đều an.

10) Mười là chẳng quấy nhiễu hành nhân. Hiện thời, tùng lâm ăn tối, người trong bếp chỉ lo nấu nướng, suốt đời bận bịu, chẳng khác kẻ làm mướn. Nếu hiểu rơ trai pháp, sẽ chẳng có sự phiền năo ấy, cùng tu đạo nghiệp.

Do vậy, chư Phật xuất thế, ắt lập chế định này, thậm chí đối với cư sĩ tại gia c̣n dạy trong sáu ngày chay mỗi tháng, hăy thọ pháp Bát Quan Trai để gieo nhân duyên vĩnh viễn thoát ly, huống hồ sa-di, tỳ-kheo mà có thể chẳng hổ, chẳng thẹn, thọ thực phi thời ư? Nếu có nhân duyên bệnh khổ, Phật tự lập quy chế “phi thời tương, thất nhật dược”[6] để cứu giúp, trọn chẳng có lẽ nào coi ăn tối là dược thạch! Nguyện bậc cao minh hăy tin sâu, tận lực hành!

 

* Luận định niệm Phật chính là Thiền Quán

         

Có người hỏi Ngẫu Ích Tử rằng: “Tham Thiền, Giáo Quán, và pháp môn Niệm Phật là đồng hay dị?”

Đáp rằng: - Đồng hay dị đều là hư luận! Tức vừa là đồng vừa là dị, chẳng đồng chẳng dị, cũng đều là hư luận. Do ba loại pháp môn (Thiền, Giáo, Tịnh) không ǵ chẳng ĺa bốn câu. Nếu biết hết thảy các pháp không ǵ chỉ là tự tánh nơi cái tâm, vẫn có thể dùng bốn câu để diễn tả rơ rệt. V́ sao? Thiền Na (Dhyāna) trong tiếng Phạn được phương này dịch là Tĩnh Lự (靜慮). Tĩnh tức là Định. Lự tức là Huệ. Tĩnh tức Chỉ. Lự tức Quán. Tĩnh tức Tịch. Lự tức Chiếu. Do vậy, chính là Định Huệ, là Chỉ Quán, là Tịch Chiếu, đều là một Thể, nhưng khác tên. Hoặc nói Tịch Chiếu là xét theo tánh, hai điều kia là xét theo tu. Chỉ Quán xét theo nhân, Định Huệ xét theo quả, bất quá là một lối nói đó thôi!

Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta tuy hôn mê, điên đảo, mê hoặc, nhưng linh tri trọn chẳng thể diệt. Tuy lưu chuyển, nhiễu loạn rối ren, bản thể trọn chưa từng lay động. Đấy há chẳng phải là cội nguồn chân chánh của Tịch Chiếu, là huyết mạch của Chỉ Quán, là căn cứ của Định Huệ ư? Tham cứu một niệm tâm tánh hiện tiền này th́ gọi là tham Thiền. Liễu đạt một niệm tâm tánh hiện tiền này th́ gọi là Chỉ Quán. Tư duy, nhớ giữ một niệm tâm tánh hiện tiền này th́ gọi là niệm Phật. Bởi lẽ, niệm là cái trí Thỉ Giác, Phật là lư Bổn Giác. Như vậy th́ pháp môn Niệm Phật có niệm tự Phật niệm tha Phật. Sự khác biệt giữa tự Phật và tha Phật như sau: Nếu chỉ niệm tự Phật, sẽ hoàn toàn giống như tham Thiền và Chỉ Quán. Nếu chỉ niệm tha Phật th́ vừa dị vừa đồng với tham Thiền và Chỉ Quán. Nếu niệm cả tha Phật lẫn tự Phật, sẽ chẳng khác, chẳng giống tham Thiền và Chỉ Quán.         

Niệm tự Phật chính là Tứ Niệm Xứ Quán, tức là quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp. Nếu hết thảy các pháp môn chẳng được thâu nhiếp bởi Tứ Niệm Xứ, sẽ chính là pháp ngoại đạo. V́ thế biết là giống như Thiền Quán. Niệm tha Phật th́ hoặc niệm tướng hảo, hoặc pháp môn, hoặc Thật Tướng, hoặc chẳng thể thực hiện ba loại niệm ấy, bèn chỉ tŕ danh hiệu. Nếu niệm tướng hảo th́ tợ hồ một mực khác với Thiền Quán, nhưng ắt phải ngưng dứt duyên khác, chuyên quán đức Phật ấy, vẫn giống như Chỉ Quán, cũng giống như Tịnh Lự. Niệm pháp môn có thể phỏng theo đó mà suy ra. Nếu niệm Thật Tướng, tuy nhờ vào chuyện coi Phật quả của người khác là khác biệt, nhưng trọn chẳng có hai loại Thật Tướng, rốt ráo là giống nhau. Nếu tŕ danh hiệu, một mực khác với Thiền Quán, nhưng bất luận hiểu hay chẳng hiểu, bản thể của danh hiệu được tŕ không ǵ chẳng phải là Nhất Cảnh Tam Đế, bản thể của cái tâm có thể tŕ không ǵ chẳng phải là Nhất Tâm Tam Quán. Do vậy nói: “Minh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong. Phật hiệu gieo vào loạn tâm, loạn tâm chẳng thể không chuyên nhất”.

Do vậy, tâm chẳng duyên theo điều ǵ khác th́ chính là Tĩnh, là Chỉ. Danh hiệu rành rành phân minh tức là Lự, là Quán, cũng rốt cuộc là giống nhau. C̣n như cùng niệm tự Phật lẫn tha Phật, biết rơ tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt, bèn nhờ vào tha Phật để giúp hiển lộ bản tánh. Do ngộ bản tánh, cho nên chẳng khác với Thiền Quán. Do nhờ vào tha Phật, cho nên chẳng giống với Thiền Quán. Đó gọi là “phương tiện thù thắng, khác lạ, là pháp môn vô thượng”. Kinh Văn Thù Bát Nhă, kinh Ban Châu Tam Muội, kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật v.v… đều nói rơ liễu nghĩa viên đốn này, nhưng [Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh] Diệu Tông Sao giải thích càng tường tận hơn. Phàm người gởi tâm nơi Tịnh Độ, chẳng thể không nghiên cứu kỹ lưỡng, để tận lực thực hiện vậy!

 

11. Biện định       

* Biện định sự sai lầm đối với giới y

 

          Người xuất gia có giới y, giống như kẻ làm quan có công phục. Giới đă là bảy chúng khác nhau, y há nhất loạt giống nhau chẳng khác ư? Đức Phật v́ hàng tỳ-kheo mà chế ra ba y:

- Một là Tăng-già-lê (Saṁghāti) vốn nên có chín điều, hoặc mười hai điều; bần cùng không làm sao được, là chuyện bất đắc dĩ, bèn dùng hai mươi lăm điều gọi là Hậu Hậu Phẩm, chẳng phải là Thượng Thượng Phẩm!

- Hai là Uất-đa-la-tăng (Uttrāsaṅga) chỉ dùng bảy điều.

- Ba là An-đà-hội (Antarvāsa) chỉ dùng năm điều.

Ba y này đều gọi là Ca-sa (Kāṣāya), do là hoại sắc, chẳng phải có màu sắc rực rỡ, cũng gọi là Điền Y (田衣), do có h́nh dạng giống như thửa ruộng. Lại nữa, Tăng là ruộng phước cho người đời. V́ tỳ-kheo-ni mà chế ra năm loại y, [tức là ngoài] ba y giống như trên, tăng thêm y che nách[7] và y tắm. V́ Sa-di, chế ra hai loại y:

- Một là thượng y, tức y ca-sa không may chằm, cũng gọi là “mạn điều y” (y không có điều), màu sắc giống như tỳ-kheo, nhưng cách may khác với tỳ-kheo, chỉ là may thẳng một tấm, không được cắt thành từng mảnh. V́ thế, Luật Bộ nói: “Cầu tịch đồ đệ, mạn điều thị phục. Triếp phi ngũ điều, thâm vi tội lạm” (Đồ đệ cầu tịch diệt, y phục là y không có điều. Tự tiện mặc y năm điều, sẽ mắc tội xen lạm sâu xa). Bởi lẽ, Sa-di tuy đă xuất gia, nhưng chưa dự vào hàng Tăng Bảo. V́ thế, chẳng được đắp y năm điều, huống hồ y bảy điều, chín điều ư?

- Hai là nội y, tức y che nách v.v… Tiếng Phạn gọi [y loại này] là Tăng-cước-khi (Sakaksikā).      

Là Bồ Tát Ưu-bà-tắc th́ được dạy chứa ba y không có điều, quy chế giống như sa-di. Khi vào đàn tràng hành đạo mới được phép mặc, thường ngày không được đắp, cho nên khác với Sa-di. Y được may trong hiện thời hết sức trái nghịch luật pháp! Sự sai lầm ấy có mười điều, xin trần thuật cặn kẽ:

1) Thọ Sa-di giới liền cho phép trọn đủ ba y. Đó là một sai lầm.

2) Sa-di tự tiện đắp y bảy điều, rốt cuộc chẳng khác tỳ-kheo. Đó là hai điều sai lầm.

3) Người đời trước không hiểu biết làm bừa, tự tiện cho Ưu-bà-tắc được phép đắp ba y. Người đời sau do uốn nắn sai lầm, bèn cấm tiệt Ưu-bà-tắc không được chứa mạn y. Đó là ba điều sai lầm.

4) Tạo hết thảy các y, đều lấy theo chiều dọc là ba khủy tay, theo chiều ngang là năm khủy tay làm hạn. Nếu tăng giảm đôi chút, cần phải xét theo thân h́nh và cánh tay. Nay th́ [các y được may thành] dọc ba khủy tay, ngang là sáu khủy tay, lầm lạc nói [may như vậy để] khi xếp y sẽ ngay ngắn”. Đó là bốn điều sai lầm.

5) Y phước điền chỉ cốt sao h́nh dạng giống như thửa ruộng, nhưng nay lầm lẫn bảo là cần khai thông đường nước chảy. Đó là năm điều sai lầm!

6) Năm điều hoặc bảy điều v.v… bất quá là cắt xén sao cho khác với y phục thế tục, nay lầm lạc nói là biểu thị Tu Di, mặt trời, mặt trăng, tứ thiên vương v.v… Đó là sáu điều sai lầm.

7) Y Tăng-già-lê vốn dịch là Đại Y, nay gọi lầm là Tổ Y. Đó là bảy điều sai lầm.

8) Chế định ba y, ngàn vị Phật đều giống nhau, cho nên gọi là Thiên Phật Y. Trong Chánh Ngoa Tập [của tổ Liên Tŕ] đă biện định điều này, nay lại c̣n thêu h́nh Phật lên y. Đó là tám điều sai lầm.

9) Y phục, ngọa cụ mà hết thảy người xuất gia sử dụng do là hoại sắc, nên được gọi chung là ca-sa. Nay lại ngược ngạo dùng năm màu để may. Đó là chín điều sai lầm.

10) Sở dĩ đức Phật và ngài Đại Ca Diếp dùng y để đổi y, nhằm nêu tỏ đức thù thắng của bậc Đầu-đà. Nay [ngài Ca Diếp] giữ y [của đức Phật] để đợi Phật Di Lặc [giáng thế], ḥng giúp thành tựu Phật sự Long Hoa. Sở dĩ ngài Đạt Ma truyền y cho Nhị Tổ nhằm biểu tín, khiến cho kẻ khác chẳng nghi. Nay có kẻ chẳng thọ giới luật, chỉ trao y, tiến th́ chẳng có chánh pháp nhăn tàng hoặc tâm ấn để có thể truyền trao, thoái th́ chẳng có danh vị tỳ-kheo hoặc sa-di để ǵn giữ. Không những chỉ thành lưu truyền Thế Đế, mà c̣n đại loạn tràng tướng của thánh hiền! Đó là mười điều sai lầm.

Than ôi! Chỉ một cái giới y mà đă sai lầm dường ấy, lẽ nào chánh pháp chẳng ch́m đắm, suy đồi ư? Người có chí xin hăy đối với mỗi sự, mỗi pháp, đều tuân theo chế định của đức Phật, chỉ mong lợi ḿnh, lợi người khác, chớ bảo là chấp tướng để rồi náu ḿnh trong hầm vô tướng vậy!

 

* Biện định về cách xưng hô trong pháp phái

 

          Khách hỏi Ngẫu Ích Tử rằng: “Pháp phái xuất gia chính là tông phổ[8] của tộc tánh. Ngài không cho là đúng, v́ sao vậy?”

Đáp rằng: - Chí thân trong thế gian, không ǵ bằng máu mủ trực hệ. Chí thân trong xuất thế, không ǵ bằng pháp đạo. Pháp đạo vốn ĺa danh tướng, há nên coi danh tự là phái ư? Đức Phật tuy nói “bốn con sông đổ vào biển, đều mất tên gọi gốc. Bốn chủng tánh xuất gia đều gọi là Thích Tử”, đấy chỉ là một họ mà thôi, há ắt phải đèo thêm một cái tên? V́ thế, Kiều Trần Như, Đại Ca Diếp, Mục Kiền Liên v.v… đều là họ ngoài đời. A Nan Đà, Sa Già Đà, A Na Luật v.v… đều là tên thế tục. [Sau khi các Ngài] xuất gia chứng quả, thuở ấy dùng ngay các danh xưng ấy để gọi [các Ngài]. Đời sau, cũng dùng những danh xưng ấy để lưu truyền. Như vậy th́ đặt riêng pháp danh đă chẳng phải là do luật chế định rồi, huống hồ pháp phái ư?

Nơi Đông Độ, Ngũ Tổ truyền xuống hai vị, Nam là Huệ Năng, Bắc là Thần Tú. Mă Tổ[9] truyền xuống ba người: Tây Đường là Trí Tạng, Bách Trượng là Hoài Hải, Nam Tuyền là Phổ Nguyện. Hơn nữa, Nam Nhạc có tên là Hoài Nhượng. Bách Trượng là đích tôn của Ngài, chưa hề kiêng kỵ. Tông Môn thật sự có pháp phái ư? Ngài Bắc Tề là thầy, Nam Nhạc là tṛ. Thầy tên là Huệ Văn, tṛ tên là Huệ Tư. Từ Vân và Tứ Minh cùng thờ một thầy là Bảo Vân, một vị tên là Tuân Thức, vị kia tên Tri Lễ. Tông Thiên Thai thật sự có pháp phái hay không? Hơn nữa, Tông Môn lại có Đại Bổn và Tiểu Bổn, Thiên Thai có Đại Oai và Tiểu Oai, pháp danh thật sự đủ để luận định ư?

Tính xuống thời cận đại, tuy cách nói pháp phái đă lưu hành; nhưng bậc cao thượng vẫn chẳng quan tâm. Như ngài Mật Tạng tên là Đạo Khai, Giới Sơn tên là Truyền Như, Đối Phong tên là Chân Hoằng, Đạm Cư tên là Pháp Khải, Hàn Hôi tên là Như Kỳ, đều chẳng mất phần là đệ tử của ngài Tử Bách. Thiện tri thức thật sự có pháp phái ư? Sào Tùng tên là Huệ Tẩm, Nhất Vũ tên là Thông Nhuận, Uẩn Phác tên là Như Ngu[10], đều chẳng mất phần là đệ tử của ngài Tuyết Lăng, pháp sư thật sự có pháp phái hay không? Chỉ là đạo chẳng đủ để truyền, pháp chẳng đủ để trao, chẳng biết giới luật đáng tôn trọng, chẳng biết nhiệm vụ chánh yếu là kế thừa! Người làm thầy chỉ tham quyến thuộc, kẻ làm tṛ chỉ chuyên phụ họa lợi lộc thế gian, bèn dùng hư danh ràng buộc lẫn nhau, chứ ư nghĩa thầy tṛ thật sự đă bị quét sát đất, há chẳng đau đớn ư?

Khách nói: “Pháp phái chẳng đúng, đă được nghe dạy rồi! Huynh đệ trong pháp môn, tăng tục chẳng ngăn cách ư?” Đáp rằng: “Đồng môn mà coi như huynh đệ, há chỉ là chẳng biết pháp xuất thế, mà cũng là chẳng biết pháp thế gian! Hơn nữa, giống như công khanh, giống như trăm quan, tiểu lại, muôn dân, đều là thần dân của thiên tử. Nhưng trăm quan chẳng được gọi bậc công khanh là huynh đệ. Cho đến muôn dân chẳng được gọi các quan chức nhỏ là huynh đệ. V́ sao? Do phân chia khác biệt! Phật pháp cũng thế. Trong pháp tỳ-kheo, người từ mười hạ trở lên là bậc ḥa thượng. Từ năm hạ trở lên là bậc A-xà-lê. Tỳ-kheo-ni tuân phụng Bát Kính Pháp, dẫu trăm tuổi hạ vẫn lễ dưới chân tỳ-kheo mới học. Tỳ-kheo-ni đă dự vào hàng Tăng Bảo, riêng coi tỳ-kheo là thượng chúng, ni là hạ chúng. Lễ số rạch ṛi như thế, huống hồ Thức-xoa-ma-na chỉ học pháp, chưa dự vào pháp sự của chúng tăng ư? Huống hồ Sa-di, Sa-di ni chỉ có cùng lợi dưỡng với Tăng chúng, chưa dự vào hàng Tăng ư? Muốn gọi tỳ-kheo là huynh đệ, khác ǵ quan lại gọi bậc tể phụ là huynh đệ? Lại huống hồ hàng Ưu-bà-tắc v.v… chẳng được có cùng lợi dưỡng với Tăng ư? Muốn gọi Sa-di là huynh đệ, khác ǵ thứ dân gọi quan lại là huynh đệ?

Hơn nữa, khi đức Phật mới xuất thế, trưởng giả Đề Vị (Trapusa)[11] thọ Ngũ Giới trước hết, gọi Phật là thầy. Năm tỳ-kheo sau đó mới tôn đức Phật làm thầy, Đề Vị chẳng phải là anh, năm tỳ-kheo chẳng phải là em! Khi đức Phật truyền Tam Quy, bèn nói “quy y vị lai Tăng”, cho nên [trưởng giả Đề Vị] không chỉ chẳng dám coi năm vị tỳ-kheo là em, mà cũng chẳng dám coi năm vị tỳ-kheo ấy là anh. Do quy y Tăng tức hết thảy Tăng đều là thầy của ta, cho đến vị cuối cùng là Tu Bạt Đà La (Subadra) cũng là thầy của ta. Kẻ thế tục hiện thời, chọn một vị tỳ-kheo danh đức để lễ làm thầy, lén lút vênh váo rằng: “Ta là môn nhân của vị tri thức X… hay pháp sư Y…”, mà vị tri thức hay vị pháp sư đó cũng lén lút khoe rằng: “Cư sĩ X…, tể quan Y… quy y ta”. Ôi! Nếu là như thế th́ phải nên nói “quy y Phật, quy y Pháp, kết giao một vị đại đức” th́ được, chứ nói “quy y Tăng” có được hay chăng?

Tu Đạt Đa (Sudatta) thoạt đầu nghe danh hiệu Phật, ban đêm vội đến gặp đức Phật. Vừa mới nghe thuyết pháp, liền chứng Tam Quả, đă dự vào Thắng Nghĩa Tăng Bảo rồi! Ông tạo tinh xá Kỳ Hoàn (Jetavana) để cúng Phật và Tăng. Phàm người mới xuất gia chưa biết Phật pháp, Tu Đạt Đa hằng ngày dạy bảo, ắt lễ dưới chân người xuất gia, sau đấy mới thuyết pháp. Không chỉ chẳng dám tự nhận làm thầy giáo thọ, mà c̣n chẳng dám coi ḿnh là anh, trọn chẳng dám coi ḿnh là em, hoặc xem ḿnh là đàn anh của người mới xuất gia. La Hầu La xuất gia, tôn ngài Xá Lợi Phất làm ḥa thượng. Quân Đề (Kunti)[12] xuất gia, cũng tôn ngài Xá Lợi Phất làm ḥa thượng. La Hầu La là tỳ-kheo, Quân Đề c̣n là Sa-di, chẳng hề nghe gọi La Hầu La là anh! Tức là cái Thể của Trụ Tŕ Tam Bảo nghiêm ngặt nhất cũng giống như lễ pháp trong triều đ́nh. Triều đ́nh mà không có lễ pháp th́ trên dưới chẳng biện định, thiên hạ bèn loạn. Phật pháp chẳng có luật nghi, thất chúng không được biện định rơ ràng, sự hóa đạo bị dứt, há chẳng nên biện định ư?

 

12. Nghị luận

* Trộm bàn về sự tông truyền của Nho và Thích (có lời tựa)

 

          Đại đạo ở trong ḷng người, xưa nay chỉ có một lư này, chẳng do Phật, Tổ, thánh hiền riêng có được! Thống nhiếp sự khác biệt cùng cực quy vào sự đồng nhất tột cùng, Thích, Nho, Lăo chẳng thể hạn cuộc được! Luận định khít khao sự thật, đạo chẳng phải là thế gian, chẳng phải là xuất thế gian, mà dùng đạo để nhập lẽ Chân, th́ gọi là “xuất thế”, dùng đạo để nhập cơi tục th́ gọi là “thế gian”. Chân và Tục đều là h́nh tích, nhưng h́nh tích chẳng ĺa đạo. Hễ chấp trước h́nh tích để nói đạo th́ đạo ẩn. V́ vậy nói: “H́nh nhi thượng th́ gọi là đạo. H́nh nhi hạ th́ gọi là khí”. Lại nói: “Quân tử thượng đạt, tiểu nhân hạ đạt”. Than ôi! Nay kẻ cầu đạo nơi h́nh tích, sao có thể hạ học mà thượng đạt ư? Nêu bày trực tiếp tâm tánh, vượt khỏi khuôn sáo “đồng, dị”.

Tôi thử bàn rằng: Đạo chẳng một, sao lại chấp một đằng là đạo? Đạo chẳng phải là ba, sao lại chia thành tam giáo để cầu đạo? Riêng dựa theo h́nh tích Chân và Tục để đành hư vọng suy tưởng th́ Nho và Lăo đều nương vào Chân để điều ngự Tục, khiến cho Tục chẳng trái nghịch Chân. Thích th́ dùng Tục để nêu tỏ Chân, Chân chẳng lẫn lộn Tục. V́ thế, Nho và Lăo chuyên trị thế (xử lư quốc sự, giữ yên cho cơi đời b́nh trị), nhưng ngầm làm bậc thang xuất thế. Thích chủ xuất thế, nhưng ngầm giúp đỡ thế gian. C̣n như nội đan, ngoại đan[13], vốn chẳng phải là tông chỉ của Lăo Tử, chẳng đáng biện luận! Vậy th́ nói đến Nho, Lăo và Khổng đều thuộc vào đó. Nói đến Thích th́ Thiền và Giáo đều ở trong ấy. V́ vậy, chỉ nói “trộm bàn về sự tông truyền trong Nho và Thích”.

          Đạo học của Nho cũng đă lâu. Thời thượng cổ chẳng có văn tự chẳng thể khảo chứng. Có thể khảo chứng từ thời Nghiêu - Thuấn, Nghiêu “doăn chấp quyết trung”[14], Thuấn “nguy vi tinh nhất” đều là “ngoài tâm chẳng có pháp”. V́ thế, trời đất nhờ vào chánh khí mà giữ đúng vị trí, muôn vật nhờ vào chánh khí mà sanh thành, quán triệt muôn đời xưa nay, chẳng thể vượt khỏi đạo này. Nối tiếp kiến tri[15] của vua Cao Dao[16], văn tri của vua Thang, bất quá vẫn là biết cái tâm này, lư này mà thôi! Biết th́ cận kiến (thấy sự việc ở gần) cũng được, viễn văn (nghe từ xa) cũng được; chẳng coi xa hay gần là thân hay sơ. Hàn Dũ nói: “Nghiêu truyền cho Thuấn, Thuấn truyền cho Vũ”. Than ôi! Là vật ǵ mà có thể truyền lẫn cho nhau vậy? Ví như những người bắn tên, đích xác là chuyên chú. Người có tài khéo và sức mạnh trước th́ bắn trúng trước, người có tài khéo và sức mạnh sau th́ bắn trúng sau, hoặc là cùng thời, hoặc là khác đời, cốt sao ai nấy bắn trúng đích mà thôi! Đích ngắm chẳng thể truyền, tài khéo chẳng thể truyền, sức mạnh chẳng thể truyền, tức là nói kiến tri hay văn tri th́ được, chứ bảo là truyền lẫn cho nhau há có được hay không? Kiến tri chẳng phải chỉ có vua Vũ hay Cao Dao! Phàm Tắc, Khế, Bá Ích[17] v.v… đều là thấy mà biết đó thôi!

Văn tri không chỉ vua Thang. Y Doăn cày ruộng nơi Hữu Sân, vui thích đạo Nghiêu - Thuấn nơi Thang là kiến tri, c̣n đối với Nghiêu, Thuấn, Vũ v.v… cũng là nghe mà biết vậy. Văn Vương đă mất, Vũ Vương, Châu Công lại qua đời, Trụ Hạ Sử[18] nghe mà biết [đạo của Nghiêu, Thuấn]. Khổng Tử hỏi về lễ[19], than [Lăo Tử] giống như rồng. Tức là đối với Lăo Đam (Lăo Tử)[20] lại là thấy mà biết. Môn nhân [của Khổng Tử] tôn sùng, đề cao thầy ḿnh, chẳng nhắc tới Lăo Tử. Mạnh Tử cũng noi theo đường lối cũ ấy. Nhan Hồi đối với Khổng Tử thật sự là kiến tri, nhưng ông kế thừa cái học của Khổng Tử, lại mất trước Khổng Tử, chẳng giống như Thái Công (Khương Tử Nha) đối với Văn Vương, Y Doăn đối với Thang, Vũ đối với Thuấn. V́ thế, Mạnh Tử không nhắc tới. Nhan Uyên chết, Khổng Tử khóc lóc, đau ḷng, lại than “kim dă tắc vong” (nay đạo đă mất rồi). V́ thế, cổ nhân nói “Nhan Tử mất, thánh học mất theo” chẳng phải là lời hư vọng vậy. Mạnh Tử nói: “Nhiên nhi vô hữu hồ nhĩ, tắc diệc vô hữu hồ nhĩ” (nếu như ta không truyền lại đạo thống ấy, trong tương lai cũng sẽ không có người nghe đạo ấy mà thành thánh nhân vậy), ấy là v́ cũng chẳng dám hư vọng gánh vác đấy ư?

Cái Công[21] đạt được chút phần nơi cái học của Lăo Tử bèn giúp nhà Hán cai trị, đời Hán liền hết sức b́nh trị. Cái học của Khổng - Mạnh đến đời Hán thất truyền. Trong Định Tánh Thư, Châu Liêm Khê thời Bắc Tống nói: “Tánh là trong ṿng cương, nhu, thiện, ác mà thôi!” và trong Thái Cực Đồ Thuyết, ông nói: “Thái Cực vốn vô cực”. Ngẫm kỹ hai lời ấy, sẽ thật sự đạt được tâm pháp của Khổng - Nhan. Các nhà Nho về sau giải thích lăng xăng, hiếm có ai biết ngữ mạch ấy, lại c̣n nói: “Có thể là [Châu Liêm Khê] chẳng soạn Định Tánh Thư”. Ôi! Đáng buồn thay! Ngay như kẻ cập môn[22], Tŕnh Minh Đạo giống như Tăng Tử, Tử Tư [đối với tâm học của Khổng Tử], Tŕnh Y Xuyên giống như Tử Hạ[23] mà thôi. Lục Tượng Sơn thời Nam Tống “tiên lập hồ kỳ đại giả” (chú trọng đặt vững cái tâm)[24], bèn đạt được tâm pháp của họ Mạnh, nhưng chẳng tin “Thái Cực vô cực”, lần lượt bác bỏ, Tử Dương (Châu Hy) lại lần lượt cứu vớt. Tôi thấy kẻ bài bác lẫn người cứu đều chẳng thật sự hiểu biết Châu Tử (Châu Đôn Di). Vương Dương Minh đại ngộ tại Long Trường, đề xướng ba chữ “trí lương tri” (致良知) để làm bí quyết chân thật ḥng thành thánh. Dẫu nói ông ta là Nhan Tử (Nhan Uyên), cũng chẳng phải là không được ư?

Thích (đạo Phật) đối với đạo học, mười phương ba đời không ǵ chẳng thấu triệt. Thế giới này, thời này khởi đầu bằng đức Thích Ca, kế thừa bởi Ca Diếp, Nan Đà v.v… Tại Chấn Đán th́ Viễn công (Lư Sơn Huệ Viễn) tạo Pháp Tánh Luận, La Thập than “vị này chưa xem kinh Phật mà đă có thể biết Phật lư”. Bắc Tề Huệ Văn đại sư đọc Trung Luận của Long Thọ, ngộ tâm tông viên đốn. Hai vị ấy đều có thể gọi là “do nghe mà biết”. Bồ Đề Đạt Ma đại sư do thọ kư mà sang phương Đông giáo hóa, có thể gọi là “do thấy mà biết”. Sau Viễn công, phàm những ai tu Tịnh nghiệp được văng sanh đều thuộc loại kiến tri, văn tri. Có người chỉ xác lập bảy vị tổ của Liên Tông, tức là chỉ xét theo sự thực hành và giáo hóa chuyên trọng nhất. Nhưng các vị như tôn giả Tứ Minh, Từ Vân Sám Chủ v.v…, có vị nào chẳng từng dùng Tịnh Độ để tu hành, giáo hóa? C̣n như Thập Nghi Luận của Trí Giả đại sư, Bảo Vương Luận của pháp sư Phi Tích, Tịnh Độ Hoặc Vấn của thiền sư Thiên Như, Hoài Tịnh Độ Thi của thiền sư Sở Thạch, Niệm Phật Trực Chỉ của pháp sư Diệu Hiệp càng là hữu công đối với pháp môn Tịnh Độ. Tới thời cận đại th́ Sanh Vô Sanh Luận của thầy U Khê, Tây Phương Hợp Luận của Viên Trung Lang[25] đều là hậu duệ đích truyền của Viễn Công.

Tổ Đạt Ma truyền tới Lục Tổ, bèn có hai môn cam lộ là Nam Nhạc và Thanh Nguyên. Môn dường như có hai, chứ đạo chẳng hai! “Hai” là thuốc độc, chẳng phải là cam lộ. Lại do mấy lượt truyền thừa mà có năm tông. Người có năm, chứ tông chẳng phải là năm. Năm tức là cành nhánh, chẳng phải là cội gốc của Tông. Ví như ao A Nậu Đạt (Anavatapta, Vô Nhiệt Năo Tŕ, Thanh Lương Tŕ), từ một ḍng nước mà chia thành bốn con sông, đổ vào biển cả. Sông có bốn, nước chẳng có bốn! Nay chẳng biết ao là một, chẳng biết nước là một, chẳng biết biển là một. Chỉ riêng từ bốn con sông mà dấy lên cái thấy rộng, hẹp, cong, thẳng, xa, gần, phủ định hay tán thành lẫn nhau, có gọi là trí được hay chăng?

Kế thừa ngài Bắc Tề có Nam Nhạc Huệ Tư đại sư, soạn Đại Thừa Chỉ Quán Pháp Môn bốn quyển, thật sự là tâm yếu của Viên Đốn. Kế đó, có Thiên Thai Trí Khải đại sư soạn ra ba loại Ma Ha Chỉ Quán, Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Văn Cú, và các bộ sớ như Duy Ma, Nhân Vương, Kim Quang Minh, Phổ Môn Phẩm, Thập Lục Quán v.v… Do vậy, Giáo Quán hết sức hoàn bị. Trải qua năm đời truyền thừa, tới ngài Kinh Khê trung hưng đạo ấy. Lại truyền qua tám đời, tới ngài Tứ Minh bèn chấn hưng lần nữa. Từ đấy về sau, do tách ra thành ba nhà (ba chi phái) mới dần dần bị suy thoái.

Pháp sư Huyền Trang đời Đường dạo khắp Thiên Trúc, học Duy Thức Tông nơi pháp sư Giới Hiền[26], học trọn hết những điều vị ấy biết, thông hiểu cả những điều vị ấy chưa biết, rộng lớn, tinh vi, thật sự là con của Di Lặc, Thiên Thân, cháu chắt nhiều đời sau của Thích Ca Văn Phật. Thầy Từ Ân Khuy Cơ tuy thật sự kế thừa, nhưng xem Pháp Hoa Huyền Tán do Ngài đă soạn, sợ rằng chưa biết toàn bộ Linh Sơn pháp đạo, chẳng trách sách Duy Thức vốn là gươm thần để phá tan hai chấp, bị ngược ngạo biến thành cái học về danh tướng, cũng thật đáng buồn!

Quốc sư Hiền Thủ Pháp Tạng có môn đồ là Vũ Hậu (Vũ Tắc Thiên), thanh danh nhờ đó càng vang rền. Ngài sớ giải kinh Hoa Nghiêm theo bản dịch đời Tấn. Do kinh chưa hoàn bị, lời Sớ cũng sơ lược, cho nên chẳng lưu truyền. Bộ Khởi Tín Luận Sớ được lưu truyền, nông cạn, thô lậu, chi ly, hết sức đánh mất tông chỉ của Mă Minh đại sư, trọn chẳng đáng xem! Phương Sơn Lư Trưởng Giả có Tân Hoa Nghiêm Kinh Luận, khá nêu được đại cương [của kinh Hoa Nghiêm]. Quốc sư Thanh Lương Trừng Quán lại soạn Sớ Sao, cương lẫn mục đều cùng nêu, có thể nói là đă đạt tới chỗ sâu thẳm của kinh Tạp Hoa (Hoa Nghiêm). Tăng, tục đời sau thường riêng chuộng [bản sớ giải] của Phương Sơn (Lư Thông Huyền), có thể nói là tâm khí thô phù vậy. Chẳng biết ngài Thanh Lương tuy là người nối pháp cách xa của ngài Hiền Thủ, nhưng thật ra là màu xanh sanh từ màu lam vậy! Khuê Phong chính là bậc tông đồ tuân theo tri kiến của ngài Hà Trạch[27], chi ly, mâu thuẫn, sao có thể hiển lộ rạng ngời đạo của ngài Thanh Lương?

Thiền Tông kể từ sau Sở Thạch Phạm Kỳ đại sư trở đi, chưa nghe nói có ai, có lẽ là Tử Bách lăo nhân đấy chăng? Ngài Thọ Xương Vô Minh vẫn chẳng thẹn với phong cách của cổ nhân. Tông Thiên Thai đă thất truyền từ lâu, Bách Tùng Chân Giác được xưng là Minh Dương Cô Phượng (chim phượng cô độc vùng Minh Dương), chỉ soạn lược giải về ba ngàn bài tụng thuộc Hữu Môn và Lăng Nghiêm Bách Vấn (một trăm câu hỏi về kinh Lăng Nghiêm). Ngài U Khê kế thừa, lừng danh một thời, nhưng chỉ có Sanh Vô Sanh Luận đáng ca ngợi là hoàn bích, nhưng tác phẩm ngài đắc ư nhất là Viên Thông Sớ thật sự chưa thỏa măn ư mọi người! V́ sao? Chỉ có thể ngồi xếp bằng viết lên hư không các chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh rồi ngồi thoát hóa, bèn thành người trong cơi Liên Hoa.

Vân Thê Châu Hoằng đại sư cực lực chủ trương Tịnh Độ, khen ngợi Giới, khen ngợi Giáo, khen ngợi Thiền, thống thiết chê trách khẩu đầu tam-muội, quả thật là bậc Bồ Tát cứu đời. Hám Sơn Đức Thanh đại sư khôi phục rộng răi tổ đ́nh Tào Khê. Tuổi già bế quan niệm Phật, công khóa một ngày đêm là sáu vạn tiếng. V́ thế, sau khi Ngài ngồi qua đời, hai mươi mấy năm sau, mở khám ra xem, toàn thân chẳng nát, bèn giống như Lục Tổ lưu lại nhục thân, trời, người chiêm ngưỡng, há Ngài chẳng thuộc vào liệt tổ của Liên Tông ư?

Nếu nói: “Đạo của Phật, Tổ, ắt phải là thầy tṛ trao nhận th́ mới có căn cứ đích xác. Nếu không, chuyện nối pháp chẳng tường tận, trọn khó thể gây ḷng tin được!” Vô Danh Tử bèn thưa rằng: “Ví như các vị thế chủ, chẳng phải là Kiệt[28] được truyền ngôi từ Đại Vũ, Trụ được truyền ngôi từ Thành Thang ư? Nếu thân chẳng có đạo, thiên tử chẳng bằng kẻ thất phu! Nay tuy có sư thừa, nhưng điên đảo che giấu giáo giới của Như Lai, há có khác ǵ những gă đó? Hán Cao Tổ, Minh Thái Tổ đều xuất thân thảo măng, ai trao ngôi hoàng đế cho họ? Nếu đắc đạo, thất phu rốt cuộc mở ra đại thống! Nay tuy thiếu sư thừa, nếu có thể tự khế hợp tâm ấn của Phật, Tổ, cũng chẳng phải là như vậy ư? Ắt phải như ông đă luận chỉ chấp nhận có thấy mới biết, chẳng chấp nhận do có nghe mà biết, có được hay không? Hơn nữa, ông lại chẳng nghe có trường hợp thầy tṛ trọn đủ mà đều chẳng đáng nhắc tới ư? Ví như con hát và kẻ đánh bạc, há chẳng có thầy tṛ truyền dạy ư? Nhưng bất quá là cách diễn tuồng và cách đấu đá mà thôi! V́ vậy, tôi nói: Chấp vào h́nh tích để nói về đạo th́ đạo ẩn. Ví như những người bắn tên, mong sao ai nấy bắn trúng đích mà thôi! Mười phương ba đời chỉ có một cái đích ấy, thường trụ bất biến, sao c̣n phải đợi truyền? Tài khéo và sức mạnh ở nơi mỗi người, cha chẳng thể truyền cho con, con chẳng thể đạt được từ cha! Có ǵ để truyền? Hoặc do thấy mà biết, hoặc do nghe mà biết ư? Tới khi biết là một, th́ sẽ biết đúng là chẳng thể truyền. Nói có thể truyền th́ tột bậc là diễn tuồng hoặc tranh đấu chẳng ngừng, chẳng phải là đạo của Phật, Tổ, thánh hiền vậy!

 

13.

* Giới Thạch Cư kư

 

          Do tánh tịch quang bị ngũ trụ trần lao phủ lấp mà hết thảy hàm thức hiếm  khi nào ở yên! Dẫu Tứ Thiền, Tứ Không và cơi Phương Tiện, vẫn là tạm ở! Nhưng dùng con mắt chánh pháp để nh́n th́ tướng thế gian chính là tướng thường trụ, điều hay khéo là chẳng bị vật chuyển, th́ sẽ có thể chuyển vật. Do đó, kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến dữ kiến duyên, tịnh sở tưởng tướng. Như hư không hoa, bổn vô sở hữu, nguyên thị Bồ Đề diệu tịnh minh thể” (Thấy và cái được thấy, đều là tướng được tưởng. Như hoa đốm trên hư không, vốn chẳng có ǵ, vốn là cái thể Bồ Đề sáng sạch, mầu nhiệm). Bởi lẽ, chỉ có liễu đạt vô sở hữu th́ mới khế nhập Bồ Đề. Nếu chạy theo cảnh mà nẩy sanh t́nh chấp, sẽ bởi đó mà lưu chuyển liên tục.

Tôi đọc phần giải thích về hào Lục Nhị trong quẻ Dự (Lôi Phong Dự) như sau: “Giới vu thạch, bất chung nhật” (kiên cố như đá, chẳng phí phạm ngày tháng)[29], chưa hề chẳng xếp sách lại mà than thở: Lục đạo chú trọng Hữu. Nhị Thừa chú trọng Không. Tạng, Thông Bồ Tát chú trọng độ huyễn. Biệt Giáo đại sĩ chỉ chú trọng nơi Trung, đều là chưa hiểu rơ pháp giới thuận theo vô minh mà lưu chuyển, há như viên đốn sơ tâm, ngộ nhân duyên chính là Không, Giả, Trung, pháp vốn vô trụ, vật cũng chẳng dời. Đó là gần như nhỏ nhiệm, chẳng dung một cái chớp mắt, huống hồ suốt ngày ư?

Vô sanh sát-na được gọi là Giới (). Thường tự tịch diệt được sánh ví là Thạch (). Dung thông cơi nước trong chót lông, dung hội xưa nay trong một niệm hiện tiền. Do cả ba chẳng sai biệt, bèn đạt được hai thứ thù thắng, chẳng nịnh hót, chẳng khinh nhờn, nghĩa tột bậc ở nơi đó. Ai nói là tâm học của đức Tuyên Ni (Khổng Tử) chỉ trong lục hợp (thế gian), c̣n pháp yếu của đức Mâu Ni chẳng ở trong các hoạt động thường ngày! Do cư sĩ Quyền Khả đề bảng tên cho nơi ḿnh ở là Giới Thạch, tôi bèn viết bài kư.

 

* Ghi lại chuyến đến chơi Bảo Thọ Đường tại Uyên Hồ

 

          Bốn ngày trước Trung Thu năm Giáp Thân (1644), cư sĩ Diêu Quảng Nhược mời tôi đến chơi biệt thất. Thất ở bên bờ Uyên Hồ, cách cầu Ngũ Long mấy dặm. Nơi ấy hết sức u nhàn, hồng liệu[30] rợp lối, chẳng sắp đặt cao thấp, đăng đối rườm rà. Lá sen phủ kín mặt ao, mùi sen c̣n tỏa ngát. Nhà viện cất ở phía Bắc ao, đều theo lối mộc mạc, cổ kính, đơn giản. Đi theo hành lang về phía Đông là tới chỗ Bảo Thọ Đường.

Quảng Nhược nói với tôi: “Ṭa nhà này vốn là chỗ Tăng sĩ ở. Tới thời tiên quân (cha) th́ đă biến thành nhà thế tục. Về sau, do lợp lại mái, dưới rường nhà t́m được một quyển kinh Kim Cang. Công nhân lấy làm lạ, đem thưa với tôi. Đêm hôm trước đó, tôi từng nằm mộng. Mộng thấy đến một gian đại sảnh rách nát, có vị tăng quyên mộ tôi ba trăm lạng. Tôi chưa đáp ứng. Vị tăng nói: ‘Sẽ dùng một chuyện để làm chứng’. Sư bèn chỉ xuống đất, bỗng có một ṭa tháp từ đất vọt lên. Sư bảo tôi: ‘Ông vốn thiếu duyên ba trăm lạng với ṭa tháp này, cần phải đền bồi’. Ngày hôm sau, bỗng nghe t́m được kinh trong rường nhà, bèn tới đó xem. Vịn thang trèo lên, tận mắt thấy tháp Chân Như theo thân vọt ra, giống hệt như đă thấy trong mộng. V́ thế, nay lại dùng làm Tăng xá để phụng dưỡng mẹ tôi và tịnh lữ mấy chục vị đều cùng huân tu tại đây”.

Tôi từng nói một pháp mộng mị chí huyễn, nhưng chí linh. Trong một tối mà có thể hiện trọn khắp chuyện ba đời. Hăy thử xem phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, khởi đầu là sơ tâm, rốt cuộc là Diệu Giác, đều chẳng ra khỏi Như Mộng tam-muội. V́ thế, biết các pháp trong tam giới, quả thật không ǵ chẳng phải là mộng. Giấc mộng thành Phật, há có phải thật sự là mộng huyễn ư? Cư sĩ Quảng Nhược tin mộng và tỉnh chẳng hai, liền có thể thực hiện lời hứa trong mộng, xả vườn làm am, lại c̣n tạo thành ḷng đại hiếu xuất thế. Hôm nay đến chơi ṭa nhà này, nghe lời ấy, đều ấn nhập trong một giấc mộng của Quảng Nhược, tôi lại nằm mộng mà soạn bài kư như thế đó!

 

* Ghi lại chuyện văng sanh của bà họ Đoan

 

          Mùa Đông năm Ất Dậu (1645), ông Chương Kiết Chi ở Toàn Thành đem hạnh chân thật của cha mẹ đă quá văng xin tôi ban lời, tôi nêu ra Niệm Phật tam-muội để ấn chứng. Nay cư sĩ nhớ lại hai vị lăo nhân tin Phật, quả thật do vợ là Đoan Thị [khởi phát], bèn xin tôi nói một lời để nêu tỏ, cũng như muốn giải quyết nỗi nghi. Ngẫu Ích đạo nhân cả đời chẳng phí công viết tiểu truyện cho người khác, riêng chuyện văng sanh th́ chẳng đợi thỉnh, nếu tất nhiên là chuyện thấy, nghe rành rẽ, sẽ viết. Tôi quen biết ông Kiết Chi chưa lâu. Núi này cách Toàn Thành khá xa, tôi lại chưa từng đến đó, dường như vẫn chưa thể xếp vào thể loại “thấy, nghe rơ ràng” được. Nhưng Kiết Chi tín tâm chuyên dốc, khiêm hư, cẩn trọng, chẳng phải là kẻ chịu nói dối. Hơn nữa, hễ [người khác] có nỗi nghi đối với đại pháp, lẽ nào chẳng quyết nghi cho. Xin dùng ngay lời của ông ta để hướng dẫn ư ấy.

Ông ta nói: “Người vợ đă mất của tôi là Đoan Thị, gả cho tôi lúc mười bảy tuổi, liền cùng chí hướng ăn chay với tôi, thích bố thí, chẳng tích cóp riêng tư, chẳng thích đồ trang sức trân quư, hay y phục đẹp đẽ, chẳng giận dữ chửi mắng kẻ hầu, hiếu thảo phụng sự bố mẹ chồng mà vẫn sợ chẳng chu đáo. Biết ḿnh không sanh nở được, bèn mua thiếp về hầu tôi, chuyên tâm lần chuỗi niệm Phật. Được hơn một năm, bệnh ngặt nghèo, xin mẹ chồng đồng thanh niệm Phật. Cô ta muốn từ tạ ra đi, mẹ chồng lớn tiếng kêu ở lại, đợi cho em ruột là Đoan Thượng Khanh gặp mặt, bèn kéo dài đến ngày hôm sau. [Khi em bà ta đến], vĩnh biệt em trai, tiếng nói [dơng dạc] như nam tử, cực lực đàm luận phẩm tiết to lớn nơi lễ, nghĩa, hiếu, hữu suốt nửa ngày chẳng mệt. Đến tối, lại xin mẹ chồng giúp niệm Phật, suốt ba ngày chẳng ăn uống, chẳng nói lời thừa nào. Tới ngày Hai Mươi Chín tháng Tám năm Quư Mùi (1643) đời Sùng Trinh, bèn cát tường qua đời. Cha tôi do vậy bị cảm động, khởi phát, bảy ngày sau ngồi qua đời. Mùa Thu năm sau, mẹ tôi lại nương theo quy giới mà mất. Vừa nghe Quán Kinh Sớ Sao nói lâm chung mười niệm thành tựu, cũng được văng sanh, chẳng biết là người vợ đă khuất của tôi có được văng sanh hay không?”

Ngẫu Ích đạo nhân nghe xong, thở dài bảo:

- Rất tuyệt! Tâm lực chẳng thể nghĩ bàn, Phật lực chẳng thể nghĩ bàn. Thiện căn và tín căn túc thế chẳng thể nghĩ bàn! Con vẹt, con nhồng c̣n được văng sanh, nếu nói “người niệm Phật chẳng được văng sanh”, há có được hay chăng? Lũ chúng ta sanh nhằm thời Mạt, đă chẳng có thiên nhăn, lại chẳng có Túc Mạng Trí Thông, chẳng tin lời Phật th́ tin lời nào đây? Nếu tin chắc lời Phật chẳng nghi, Sa Bà chẳng khác nào quán trọ, Tịnh Độ chẳng khác quê nhà. Riêng lạ thay những vị áo chằm (Tăng sĩ) thông minh, lanh lợi lại chẳng bằng nữ giới, đáng buồn sâu đậm thay! Tôi tuổi thiếu niên chí dũng mănh tham cứu, thấy quả vị Phật, tổ c̣n chẳng màng, mong dùng đó để báo ân khó báo của cha mẹ. Tuổi trung niên lắm chướng, nhiều bệnh, nay th́ nhất ư rong ruổi về Tây, nhưng do tán tâm hoằng pháp, so tính công phu để xác định phẩm vị, chỉ kham hạ phẩm hạ sanh! Mỗi lần nghĩ tới cha mẹ trong pháp giới, chẳng khỏi huyết lệ lẫn lộn. Đâm ra chẳng bằng cô gái họ Đoan đă hưởng trước niềm vui nơi cung sen, lại c̣n cứu bạt bố mẹ chồng cùng thoát ṿng khổ, thành tựu đại hiếu xuất thế. Cư sĩ chỉ nên cầu nơi chính ḿnh, nếu chẳng nghi tâm ḿnh chính là tâm Phật, tức là chẳng nghi lời Phật. Nếu chẳng nghi lời Phật, tức đối với chuyện thiện nữ sanh về Tịnh Độ cũng chẳng nghi vậy!

Than ôi! Đó là chuyện trong nhà Kiết Chi, lời này chính do đích thân Kiết Chi nói, thế mà nỗi nghi được văng sanh hay không c̣n phải gạn hỏi tôi rồi mới tin. Mai sau, những ai đọc bài kư này, có thể nhanh chóng tin vào tự tâm, như cô gái họ Đoan nắm chắc bằng khoán văng sanh chẳng sai lạc hay chăng?

 

* Bài kư về đàn Đại Bi tại Tổ Đường U Thê Thiền Tự

 

          Hai giáo Hiển và Mật của Như Lai đều trọn đủ bốn loại Tất Đàn, nhưng Mật Giáo chú trọng nghi thức trong đàn tràng nhất. Bởi lẽ, toàn Lư thành Sự, toàn Sự nhiếp Lư, thẳng thừng dùng cảnh nơi Sự để quán chắc chắn, vốn chẳng phải chỉ nhờ vào Sự để biểu thị pháp mà thôi! Quán Thế Âm Bồ Tát ḷng Từ trọn khắp biển các cơi nước, có đại nhân duyên với thế giới Sa Bà. Trong Đại Tạng, chú do Ngài nói ra nhiều nhất, chỉ có Đại Bi Tâm Chú riêng lưu thông thịnh hành nhất. Đời Tống có Tứ Minh tôn giả Pháp Trí đại sư, là La Hầu La con đức Phật tái lai, chuyên tu Mật hạnh, nương theo Thiên Thai Giáo Quán, sáng lập hành pháp Đại Bi tam-muội, mười khoa hành đạo, thập thừa quán tâm, đều là bí yếu của Phật, Tổ, là tổng tŕ của vạn pháp, há chỉ dùng âm thanh và sắc tướng để trông đẹp mắt mà thôi ư? Đời gần đây, tại Vũ Lâm, [hành pháp ấy được] lưu thông đặc biệt rộng răi, nhưng lắm nỗi lầm loạn. Tôi bất đắc dĩ, đặc biệt biện định sự sai lầm.

Trạm Tŕ Như công ở Tổ Đường là cao túc của Viễn Ngân thiền sư, là pháp tôn của Tuyết Lăng đại sư, trước kia tại Chân Tịch đă đích thân tu hạnh này, trải qua bốn kỳ. Kế đó, Sư trụ tại Đậu Diệp B́nh ở Khuông Sơn, tuân phụng [hành pháp này] làm nhật khóa. Về sau, do sư huynh là ngài Như Huyễn Hành dẫn theo vị hộ pháp là cư sĩ Thái Nhị Bạch lên núi, cầu thỉnh Sư đứng ra làm chủ coi sóc mọi chuyện ở U Thê. Sư bèn phát nguyện rằng: “Nếu muốn tôi đến phục dịch tại Thiền Đường, ắt phải kiến lập Đại Bi Sám Đàn, ḥng đạt được lợi ích thật sự nơi Văn Huân, Văn Tu”. Do vậy, quanh quẩn bảy năm mới xếp đặt xong.

Đàn ở bên phải Tàng Kinh Các, tượng Phật hướng về phía Nam, tượng Đại Bi hướng về phía Đông. Phía bên phải đàn là quán đường và trai đường, pḥng tắm, liêu của thị giả v.v… Công tŕnh xây dựng đă hoàn tất, thỉnh tôi soạn bài kư, khiến cho hậu duệ nghe biết. Tôi nghĩ Trạm Công là bậc kỳ túc tham cứu đă lâu, chẳng chấp vào những điều đă được nghe từ trước, khẳng khái nghe tôi sửa đổi những sai lầm lâu ngày. Thật sự là bậc đại hào kiệt! Ngài lại c̣n căn dặn tôi: “Tinh lực suốt cả đời tôi dốc cạn nơi cái đàn này, sợ hậu duệ vô tri phỏng đoán, lại lầm tưởng là Dật Lăo Đường, cũng ắt cậy ông nói một lời sẵn để uốn nắn”. Tôi hoảng sợ, bèn nâng bút viết lời căn dặn rằng:

- Đại bi tam-muội, hàm linh vốn sẵn có, nhưng đă mê từ bao kiếp lâu xa, luân hồi trong các nẻo. Bồ Tát ḷng Từ rộng lớn, dùng phương tiện khéo độ, văn tự tánh Không, diễn chương cú mầu nhiệm, đúng như pháp tụng tŕ, không đâu cảm vời mà chẳng giáng phó. Hành nghi của ngài Tứ Minh lưu truyền ngàn đời, lâu ngày bị sai lệch. Tôi v́ vậy kinh sợ, vừa mới lời biện định chỗ sai lầm, các kẻ tiểu trí tranh nhau tức giận. Trạm công dũng cảm thay, chẳng mê nơi ngơ rẽ, đắp tịnh đàn này, trời, rồng bảo hộ. Mong đàn thất này ngàn năm như một ngày, trai pháp cung kính, nghiêm túc, lúc ăn cũng chẳng mất [sự nghiêm túc ấy]. Thiền lữ huân tu, đừng trở thành chốn dưỡng nhàn cho người già cả. Đông, Hạ an cư, Xuân, Thu nỗ lực. Hạnh nguyện giúp nhau, cùng về tịnh vực. Hư không có thể tận, hoằng thệ chẳng ngơi. Nếu có kẻ trái nghịch, là kẻ bại đức trong pháp môn, th́ tŕ chú thần vương ắt sẽ trừ dẹp. Ngửa xin oai linh, chứng cho ḷng chân thật này, cả trăm ức năm, vĩnh viễn lưu lại cách thức thơm thảo!

 

* Bài kư về Tàng Kinh Các thuộc U Thê Thiền Tự nơi Tổ Đường

         

Y văn hiểu nghĩa, tam thế chư Phật bị oan uổng. Ĺa kinh một chữ, liền giống như ma nói. Tông và Giáo chẳng dung tách rời, đă rơ rệt rồi! Ngài Ma Ha Ca Diếp là Sơ Tổ ở Tây Thổ. Đức Phật thị tịch, Ngài chẳng cúng dường xá-lợi mà chỉ chú trọng kết tập pháp tạng. Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ của Đông Độ, tận lực tảo trừ tập khí nương theo văn tự mà hiểu nghĩa, vẫn dùng kinh Lăng Già để ấn tâm, há giống như đời sau tiếm trộm danh hiệu, địa vị, tranh nhau loại bỏ điển tịch của vương thất, mặc t́nh thôn tính, bạo ngược ư? Tổ Đường chùa U Thê vốn do Dung Tổ tu tập tĩnh tọa quán tâm địa. Về sau, [Dung Tổ] được Tứ Tổ chỉ điểm đắc ngộ, bèn truyền đại pháp. Đạo ấy truyền xa thành hai đường. Dưới đỉnh Phù Dung thưa thớt đă lâu.

Trong niên hiệu Chánh Đức[31], có con cháu nhà Lâm Tế, hiệu là Hải Thiên đến sống tại cuộc đất này. Nối pháp có Tuyết Lăng đại sư chính là ngài Từ Ân tái lai. Khi ấy, người thọ pháp là các vị như Thụy Lân v.v… Tử Bách đại sư cũng từng cầm gậy, đội nón tre đến tham phỏng. Bởi lẽ, kể từ khi có nhà Đường tới nay, chưa có lúc nào hưng thịnh như thuở ấy. Ngài Tuyết Lăng tịch, cao túc là Viễn Ngân pháp chủ kế tục duy tŕ tùng lâm. Ngài Viễn Ngân mất, cao túc là Như Huyễn pháp chủ lại kế tục duy tŕ rồi truyền cho pháp đệ là Trạm Tŕ Như công. Trạm công tham học với Chân Tịch Văn Cốc lăo nhân đă lâu, ẩn cư tại Khuông Nhạc. Đă tiếp nhận lời thỉnh, bèn buông xuống thân tâm, chuyên lo liệu Phật sự. Bảy, tám năm qua, chẳng có lúc nào rảnh rỗi! Nay các nguyện đă hoàn tất, chỉ có công tŕnh dựng Tàng Kinh Các mới được một nửa, nhằm lúc tôi nhận lời thỉnh, hoằng dương, diễn giảng kinh Pháp Hoa. Trạm công bảo đáng nên để lại một lời để ghi chép chuyện này.

Trước đó, đối với Đại Bi Sám Đàn, tôi đă có ghi lại một bài minh. Nay Tàng Kinh Các tuy chưa hoàn thành, thật sự đă ứng hợp với điều cấp bách nhất trong ḷng tôi. Bởi lẽ, huệ mạng của Phật, Tổ hoàn toàn nhờ vào Tam Tạng mới được lưu truyền. Nghĩ lại đời Tống, các tạng kinh có tới mười mấy loại, nay chỉ c̣n Nam Tạng và Bắc Tạng, khá lộn xộn. Tạng kinh theo bản gốc của Gia Hưng vẫn chưa toàn vẹn. Đúng là nỗi sợ “chín đỉnh treo bằng một sợi tơ”[32]. Hơn nữa, phường “thử tức, điểu không” (nói suông lư Không) xem kinh điển như oán gia. Nếu chẳng dốc sức hộ tŕ, sẽ có những điều chẳng nỡ nói. Trạm công coi chuyện này là gấp rút, phải chăng là được Như Lai sai khiến để làm chuyện Như Lai đó chăng? Xin hăy đem lời này bảo với các đồng nhân, ắt sẽ cùng nhau phát tâm thù thắng. Xin lưu lại lời này, khắc vào đá cứng, ắt sẽ trăm đời chẳng mê mờ vậy!

 

* Bi kư trùng tu điện gác chùa Minh Khánh

 

Chuyện lập ra tượng và giáo đă bắt đầu từ thời đức Phật. Tới khi truyền sang [Trung Hoa] vào đời Hán, hết sức thịnh hành vào thời Nam Bắc Lục Triều, trải từ thời Đường - Tống tới nay, chưa từng suy giảm chút nào. Do vậy, lâm cung, phạm sát[33] như sao sa trải khắp chín châu. Phàm những nơi danh sơn hay cuộc đất thù thắng, không đâu chẳng có Trụ Tŕ Tam Bảo làm ruộng phước cho cơi đời. Do nghĩa giác pháp ḥa hợp được dân chúng vâng giữ, chẳng thể diệt mất. Nhưng Trụ Tŕ Tam Bảo vốn được kiến lập từ Nhất Thể Tam Bảo, nhưng Nhất Thể Tam Bảo ắt nhờ vào Trụ Tŕ Tam Bảo để tỏ rơ. Sáng tỏ th́ thành tựu chính ḿnh, thành tựu chúng sanh, tự mừng, mừng cho người khác. Do vậy, [chùa chiền] tạm phế rồi lại hưng, không ǵ chẳng là sự ứng hiện mầu nhiệm toàn tánh khởi tu.

Nơi góc Tây Nam của Tùng Lăng, hơn bảy mươi dặm, có Ma Khê. Phía Nam khe suối ấy là chùa Minh Khánh vốn ở giữa nước, h́nh như hoa sen, lưng dựa vào chỗ hoang vu, hướng mặt về đồng hoang. Hai bên là các ḍng nước vây quanh. Vị khai sơn là thiền sư Trí Sân, sống vào cuối đời Đường. Trong niên hiệu Càn Phù[34] đời Tống, có thầy bí mật dựng Ích Hữu Đường, nói rằng: “Phàm là bậc Tam Tạng ẩn giấu h́nh tích nơi đây, đều là bạn tốt của tôi”. Như thế th́ phong thái “tôn hiền, giữ lấy điều lành” có thể tưởng được! Trong niên hiệu Tuyên Đức[35], nạp tử Quảng Thiện mở rộng nền móng, xây cất quy mô. Năm Giáp Tuất (1574) thời Vạn Lịch, điện, gác, Thiền đường một đêm cháy tan thành tro. Hơn bốn mươi năm, chỉ thấy ngói, sạn. Cho tới năm Mậu Ngọ (1618), ngài Thuận Thương Úc của chùa này quyết chí khôi phục, đích thân gánh vác việc nhọc nhằn này, chẳng nề hà lao khổ! Do vậy, các vị như Liên Vũ, Tùng Giản v.v… dốc cạn ḷng thành giúp sức. Nhất thời tăng, tục hưởng ứng, thí tài, thí lực, khuyên lơn, tán thán, tùy hỷ. Chẳng mấy chốc, đại điện sửa mới, sơn môn, nhà ngang, nhà bếp, liêu pḥng của tăng chúng đều lần lượt hoàn thành. Trong thời gian ấy, người bố thí cúng dường chẳng dễ kể trọn số, nhưng cư sĩ Trọng Kế Phong đổ công sức nhiều nhất, c̣n kinh sách Đại Tạng do ngài Ngụ Trung Niệm riêng tự ḿnh hoàn thành.

Từ nay, người an cư có tôn tượng để chiêm lễ, có pháp bảo để xem đọc, vân thủy tăng có chỗ nghỉ đêm, ngày có chỗ ăn uống. Nghiễm nhiên phục hồi quang cảnh cũ thời Đường - Tống, vĩnh viễn đứng đầu các ngôi chùa tại Tùng Lăng vậy! Trộm nghĩ: Người sáng lập cơ nghiệp dẫu gian khó vẫn dũng mănh tiến bước, người giữ ǵn được thành tựu bởi ḷng kiên trinh. Chẳng dũng mănh tiến bước, sao có thể làm đầu? Chẳng kiên trinh, sẽ chẳng có ǵ để khéo ǵn giữ cho mai sau! Nay th́ một miếng ngói, que củi, hạt gạo, không ǵ chẳng do tiền nhân nhọc nhằn chịu khổ mà có, do đàn tín thắt lưng buộc bụng mà thành. Do vậy, ghi lại đầu đuôi để nói với người chưa nghe, ngơ hầu khéo kế thừa, khéo tiếp nối lâu ngày chẳng suy bại vậy!

 

14. Duyên khởi

* Duyên khởi của Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu

         

          Tỳ Ni Tạng là kỷ cương của Phật pháp, là mạng mạch của Tăng Già, là cầu bến trong biển khổ, là đạo trọng yếu của Niết Bàn. Kể từ thuở xướng suất đầu tiên tại Kê Viên[36], [đức Phật] gọi “thiện lai” (khéo đến) mà giới thể [của vị tỳ-kheo mới xuất gia] nhờ đó được thành, cho tới khi ẩn ánh (nhập diệt) nơi cội Hạc (rừng cây Sa La), truyền cố mạng[37] lấy Mộc Xoa (giới luật) làm trọng. Ắt do có phạm, nên mới giá (, ngăn che), bản thể là giúp đỡ vô tác. Nếu do duyên mà khai, và thuận theo cơ duyên mà chế định, Dụng lại khế hợp diệu viên. Thật sự là đường lối chung cho cả Tiểu lẫn Đại, há phải là nẻo riêng của Thanh Văn? Xót thay, cuối đời Tượng Pháp, hiếm người liễu đạt chân tông! Kẻ ngu mê muội chẳng nghe [giới luật], kẻ cuồng gạt phăng [giới luật] như những thứ vớ vẩn, dùng Thiền cơ để khéo trốn tránh, hoặc dùng Phương Quảng để nại cớ [chẳng tuân thủ giới luật], hoàn toàn thuộc loại chấp theo văn tự, ai suy nghĩ thật nghĩa?

Lại như ngài Huệ Năng đă lănh tâm ấn, đă xiển dương, giáo hóa tại Tào Khê, vẫn dùng phương cách đăng đàn thọ Cụ Túc Giới. Ngài Trừng Quán hoằng dương rộng lớn kinh Hoa Nghiêm, nêu khuôn phép trong triều, ngoài nội, ắt phải dùng mười lời thề ḥng kiềm giữ tấm thân. Bởi lẽ, đấng Đại Hùng ngự nơi tối cực, Pháp Bảo và Tăng Bảo đều do chánh giác mà rạng ngời. Nhưng đấng Thiện Thệ ẩn giấu cơ (nhập diệt), hai ngôi Phật và Pháp cùng nhờ vào Tăng Già mà kiến lập. Nếu chỉ chú trọng mười giới và các giới khinh, có khác ǵ kẻ tại gia? Nếu chẳng do Ngũ Thiên Thất Tụ[38], sao [đại chúng] biết gương cao ĺa tục? Do vậy biết giới kinh Phạm Vơng thu trọn cả năm đường, chỉ trừ địa ngục, tức là do Thông mà thành Đại. Tỳ Ni Pháp Tạng chỉ chấp thuận loài người, vẫn ngăn che các nạn[39], chính v́ hạn cuộc mà trở thành tôn quư, ắt khiến cho họ ngưỡng mộ Đại Thừa. Nếu chẳng cam ḷng vâng giữ các chi tiết nhỏ nhặt, tự có thể để tóc, xả giới y, làm hoa Ưu Bát trong lửa. Nếu có ḷng xót thương thời Mạt Pháp, có chí duy tŕ [mạng mạch của Như Lai], há có thể buông lung, phóng đăng, làm trùng trong thân sư tử ư?

          Trí Húc tự nghĩ chướng sâu, lại buồn sanh muộn, đau ḷng v́ bóng câu qua khe cửa chẳng chuộc được, bỏ mẹ hiền khoác lấy áo thâm, nghĩ Lạc Thổ có thể quay về. Ngưỡng mộ ngài Liên Tŕ mà học theo di trước. Gấp biện định cương tông, thường ôm chí theo đ̣i phong cách của ngài Tử Bách, do hộ pháp mà vong thân, nguyện tiếp nối phái Khuông Sơn. Nh́n thói đời hiện thời mà than dài, đọc kinh Di Giáo càng thêm đau xót! Do vào cuối Đông năm Giáp Tư (1624), lễ tháp Vô Lượng Quang, phát tâm tăng thượng gấp bội, bèn cầu xà-lê Cổ Đức chứng minh tôi học Bồ Tát giới. Kế đó, duyệt trọn hai bộ Luật Đại, Tiểu Thừa, liền đề cao luật Tứ Phần, chọn lọc ư kiến của các nhà, sao lục thành bộ Sự Nghĩa Yếu Lược. Ư kiến thô lậu, tối tăm, ngu muội, lan man, bộp chộp, khó thể tu tập cao xa, tính làm tư lương cho kẻ lẩn khuất nơi hang hốc, chẳng có tâm kiêm lợi.

Mùa Xuân năm Mậu Th́n (1628), gặp Tuyết Hàng Tiếp công là người có chí nghiêm tịnh [Tỳ Ni]. Do suy nghĩ, cái tâm vào núi sẵn có trước đó càng thêm sốt sắng. V́ những điều sao lục hăy c̣n sơ lược, thiếu sót, bèn ở Long Cư, lại kiểm kinh văn thuộc tông của chính ḿnh và các tông khác trong Đại Tạng. Phàm những điều thiết yếu đều sao lục, những chỗ đáng nên khinh, trọng đều thích hợp sâu xa, tường tận, nêu rơ cặn kẽ chuẩn mực khai, giá, lại c̣n tham cứu Đại Luật, chỉ bày cặn kẽ chỗ giống nhau và khác nhau, ḥng tránh cho kẻ câu nệ, chấp trước chẳng chuốc phải tội ương báng bổ là Tiểu Thừa, kẻ thích luông tuồng khó thể viện cớ biện bác. Khảo đính hoàn thành, đổi tên sách thành Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu. Lại c̣n cùng hai người bạn là Bích Như và Quy Nhất thương nghị, khảo chứng, tham cứu, giảo đính, ḥng xiển dương cặn kẽ tột bậc.

Than ôi! Tập sách này tuy so với cái Thể Diệu Cao, chẳng khác nào vi trần, nhưng đối với tư cách kém hèn, đă gọi là kiệt lực. Đáng tiếc là giải huệ sơ sài, vụng về, chính ḿnh tu hành thiếu khuyết, ngửa lên bèn thẹn với bậc tiên triết thuở trước, cúi xuống lại tủi hổ với hậu hiền. Chỉ mong đồng học thiện hữu xét soi nỗi khổ tâm của tôi, thương xót sự kém cỏi của tôi, nhất ư nắm giữ, cùng phù tŕ pháp vận, ngơ hầu báo ân Phật trong muôn một!

 

* Duyên khởi Tịnh nghiệp tại chùa Linh Phong

 

          Từng thấy Tịnh Độ thù thắng, lạ lùng không do Tịch Quang, Thật Báo, hay Phương Tiện, mà là tại Đồng Cư. Bởi lẽ, ba cơi trước phải đoạn Hoặc rồi mới có thể sanh về; chỉ có Đồng Cư thẳng thừng dùng Tín và Nguyện để hướng dẫn, cảm ứng đạo giao. Tập khí ngũ trược hơi nhẹ, liền thoát khỏi nỗi khổ tam giới, sẽ lại chính là Tây Phương Cực Lạc, theo chiều dọc thấu triệt các cơi Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang. Do vậy, kẻ hạ ngu đều có thể vượt lên cơi ấy, bậc thượng trí trọn chẳng thể vượt ngoài cương vực ấy. Ba loại căn cơ đều cùng thích ứng, Tứ Tất Đàn đều trọn. Chánh pháp trụ thế, chư Tổ đă cùng hoằng dương [pháp môn này]. Bến mê thuở mạt vận, tứ y sao có thể riêng tán dương?

Hiềm rằng cơi đời viện cớ “trực chỉ”, xếp Tây Phương vào loại độn căn. Kẻ “học nói Đại Thừa”[40] coi Tịnh Độ là nghỉ hưu, không nghĩ “chẳng nhờ vào phương tiện, tự được tâm khai”, há có đường tắt nào như thế đó? Diệu hoa đầy ắp lẵng, cúng trọn khắp ức phương, há giống như Tiểu Thừa? Lại c̣n đă ngộ trực chỉ, bèn gọi là “kiến tánh thành Phật”, cớ sao cự tuyệt Di Đà ở ngoài tự tánh? Đă nương vào đại nguyện, ắt cần phải nghiêm tịnh cơi Phật, v́ đâu lại loại trừ Cực Lạc khỏi biển các cơi nước? Thanh Văn, Quyền giáo chẳng nghe danh hiệu vị Phật ở phương khác. Thần lực của Tứ Quả chỉ quẩn quanh trong cơi tam thiên. Đấng Thiện Thệ tôn quư đặc biệt nơi mười vạn cơi ngoài phương xa, nếu chẳng phải là bậc đại sĩ thắng tấn hoặc bậc trượng phu dũng mănh, ai có thể thân cận, thừa sự? Vừa mới sanh trong đài sen, đều là A Bệ Bạt Trí, so với kẻ dốc chí tham cứu, mong chứng quả trong ba đời, [hoặc so với người] đă ngộ tâm tông, vẫn nói “đời đời bất thoái, có hy vọng thành Phật” th́ khó, dễ, nhanh, chậm, có thể biết rành rành! Sáu phương Điều Ngự cùng thốt lời tán dương. Biến Cát, Văn Thù thành tâm khuyên lơn, phát khởi, há lừa dối ta ư?

Pháp truyền sang Chấn Đán (Trung Hoa), Thiền, Luật, tánh, tướng, đều là pháp lâu ngày, thói tệ nẩy sanh. Thế đă tận cùng, cần phải biến đổi. Chỉ có kế sách huyền diệu khởi đầu từ núi Khuông, kết thúc tại Ngũ Vân[41], hoặc khắc đồng hồ sen trong sáu thời, hoặc phát diệu tông nơi Tam Quán, hoặc hướng dẫn vạn thiện đồng quy, hoặc dung hội nhất tâm nơi Sự, Lư. Pháp không ǵ chẳng thâu, không căn cơ nào chẳng nhiếp thọ. V́ thế, pháp được lưu truyền càng thêm lâu, pháp đạo càng tỏa sáng, tiếng giáo hóa lan truyền, xa thấu tận hang cùng hốc tận. Tại Linh Phong Giảng Tự ở Chương Nam, ngài Thạch Nga Kỳ thỉnh ngài Tuyết Hàng Tiếp kết xă trong núi này. Lại có sa-di Băo Nhất Túy, cư sĩ Tŕnh Quư Thanh cùng bẩm thọ hoằng nguyện của đấng Di Đà, cùng xiển dương pháp môn của ngài Thế Chí. Phật thanh lồng lộng, khiến thông reo, chim hót đều hiển viên thông, tăng đức hài ḥa, dẫn dắt kẻ chăn trâu, người cày ruộng cùng nhập tam-muội, siêu thoát tam giới theo chiều ngang, chẳng phiền chín lượt tu theo thứ tự. Theo chiều dọc, thấu triệt Tịch Quang, chẳng đợi ba A-tăng-kỳ để chứng quả. Đúng là cầu bến nơi Kiếp Trược, là đuốc báu trong nẻo tối tăm.

 

* Duyên khởi của thắng hội Bát Quan Trai Giới

 

          Chẳng hiểu rơ ư Tổ, chẳng có con mắt xuất thế chánh đáng, chẳng giảng giáo pháp, tu hành chẳng có con đường chánh đáng, chẳng tŕ trai giới, chẳng có công phu tu tập chánh đáng. Thói tệ chung thời Mạt Pháp đă lâu rồi. Tôi thường nói với những bậc có chí: “Chẳng hiểu rơ ư Tổ, chẳng đáng để cùng luận định giáo pháp. Chẳng tinh thông giáo pháp, chẳng đáng để bàn thảo trai giới”. Đấy là nói theo “Lư ngộ, Sự tu”. C̣n như “do Giới sanh Định, do Định phát Huệ”, giáo môn trong một đời đức Phật nếu chẳng do cửa ngơ ấy, sẽ trọn khó thể nhập thất! Thiện tín vùng Tuy Lư phỏng theo chế định của đức Phật, lập ra hội Lục Trai. Trong sáu ngày trai, mỗi ngày tu một hạnh:

- Mồng Tám phóng sanh, trước là khiến cho ḷng đồng thể đại bi tràn trề.

- Mười Bốn lễ sám, nhằm tịnh hóa tam chướng của ḿnh lẫn người.

- Mười Lăm tụng kinh để gieo Văn Huân viên đốn.

- Hai Mươi Ba suy xét giáo nghĩa, ḥng khai nẻo giác nơi tự tâm.

- Hai Mươi Chín tọa Thiền để ngộ cội nguồn của nhất tâm.

- Ba Mươi niệm Phật, ḥng tịnh hóa bốn cơi duy tâm.

Giáp ṿng trở lại từ đầu, vĩnh viễn tinh tấn chẳng biếng nhác! Người chưa gieo thiện căn, sẽ khiến cho được gieo. Người đă gieo thiện căn, sẽ khiến cho tăng trưởng. Lần lượt khuyên dụ, giáo hóa, khiến cho dần dần thâm nhập. Thành thục bởi đó, giải thoát cũng bởi đó. T́m hiểu quá tŕnh phát triển từ đầu đến cuối, chưa từng ĺa pháp Bát Trai Giới này, ngơ hầu tạo một chuyển biến trong thuở mạt vận vậy!

 

* Duyên khởi thoái giới và lời căn dặn

 

          Trí Húc sanh năm Kỷ Hợi (1599) đời Vạn Lịch. Vào lúc hai mươi bốn tuổi, tức năm Nhâm Tuất (1622) thuộc năm Thiên Khải thứ hai, đau xót nghĩ sanh tử là chuyện lớn, cha chưa chôn, mẹ chẳng phụng dưỡng, quyết chí xuất gia. Khi đó, tôn giả Tử Bách đă thị tịch, Vân Thê lăo nhân cũng dời sang An Dưỡng, Hám Sơn đại sư viễn du nơi Tào Khê, tôi chẳng đủ sức sang đó. Các vị tri thức khác th́ tôi chẳng ưa chuộng, bèn làm tạp vụ tại Vân Thê, tọa Thiền tại Song Kính, tham phỏng thiện hữu nơi Thiên Thai, niệm nào cũng hướng tới tông thừa, Giáo lẫn Luật đều hoăn đăi. Về sau, do mấy phen bị bức bách, thường là mỗi khi sắp đến lúc công phu đắc lực, ắt bị chướng duyên xâm phạm, quấy nhiễu. Do vậy, tôi nghĩ sau khi đức Phật diệt độ, lấy giới làm thầy, nhưng rốt cuộc chẳng biết chuyện thọ giới thế nào là đúng như pháp? Thế nào là chẳng như pháp? Chỉ do Vân Thê có dạy học giới, bèn theo gót Thiên Thai, giẫm băng xông tuyết, t́m sang Ngũ Vân, khổ nhọc t́m đến khẩn cầu pháp sư Cổ Đức làm A-xà-lê, đối trước tượng ḥa thượng Liên Tŕ, đảnh thọ Tứ Phần Giới Bổn. Khi đó là hai mươi lăm tuổi, nhằm ngày mồng Tám tháng Chạp năm Quư Hợi (1623). Ngày Hai Mươi Mốt tháng Chạp năm Giáp Tư (1624) lại đến Vân Thê, thọ Bồ Tát giới. Mùa Xuân năm Ất Sửu (1625), duyệt Luật Tạng hơn bốn mươi ngày tại Cổ Ngô, sao lục thành một bản Sự Nghĩa Yếu Lược. Từ đấy về sau, vẫn nhất tâm tham cứu tông thừa.

Mùa Xuân năm Mậu Th́n (1628), Tuyết Hàng Tiếp công giữ tôi ở lại Long Cư. Lại duyệt Luật Tạng một lượt, mới hoàn thành bộ Tập Yếu bốn quyển. Mùa Xuân năm Kỷ Tỵ (1629), tiễn ngài Tinh Cốc Thọ tới Bác Sơn xuống tóc. Thiền sư Vô Dị thấy [tác phẩm ấy], ưa thích, muốn đem in ngay. Tôi nói “chưa thể”. Mùa Đông năm ấy, cùng sư Quy Nhất Trù, kết giới an cư tại Long Cư, lại duyệt Luật một lần nữa, giảo đính hoàn tất. Mồng Một tháng Giêng năm Canh Ngọ (1630), đốt hương trên cánh tay, trích máu từ lưỡi, gởi thư cho Tinh Cốc. Cuối tháng Ba, Tinh Cốc cùng ngài Như Thị Phưởng từ Kim Lăng trở về, đến Long Cư, thỉnh thầy Quư Hiền làm ḥa thượng, Tân Y pháp chủ làm Yết Ma xà-lê, Giác Nguyên pháp chủ làm Giáo Thọ xà-lê, thọ giới tỳ-kheo.

Tôi duyệt Luật Tạng ba lượt, mới biết chuyện thọ giới đúng pháp hay chẳng đúng pháp! Người học giới pháp cố nhiên ắt chẳng có lư ấy, nhưng thấy, nghe các luật đường cũng hoàn toàn chẳng có một nơi nào như pháp. Mùa Hạ năm ấy, v́ hai, ba người bạn tận lực giảng giải, nghiên cứu. Nào ngờ hoặc là t́m cành ḍ lá, chẳng biết cương yếu, hoặc Đông buông, Tây túm, trọn chẳng lưu tâm. Hoặc người hơi có ư lưu tâm th́ thân vướng bệnh nặng, chẳng nghe được một nửa. Các duyên khác đầy dẫy, không đáng trách! Tôi hết sức thất vọng, sau khi giải hạ, kết đàn tŕ chú Đại Bi. Tinh Cốc đem sách ấy tŕnh lên Kim Đài pháp chủ, Ngài liền giao cho thợ khắc in. Năm sau, tôi vào đàn tŕ chú Đại Bi mười vạn lượt để gia bị; nhưng đă phát nguyện thoái hưu. Hai năm sau, tức năm Quư Dậu (1633), khi An Cư, làm tám cái thăm, dâng trước tượng Phật, đốt mười lọn hương, suốt một Hạ tŕ chú gia bị. Ngày Tự Tứ, lại đốt thêm sáu lọn hương trên đỉnh đầu, rút được cái thăm làm “Bồ Tát sa-di”, tự vui mừng sâu xa, nguyện vĩnh viễn làm kẻ ngoại hộ phụng sự tỳ-kheo đúng pháp. Tôi đă suy nghĩ chín chắn mạt vận quyết khó thể văn hồi, chánh pháp quyết khó trụ thế lâu dài, tôi lại bệnh khổ ngày càng tăng, chẳng lâu sau sẽ chết. Nghĩ lại chí hướng thuở mới xuất gia, mảy may chưa thỏa. Khổ tâm mấy năm, cũng thành rỗng tuếch! Xét ḿnh tự trách, xót xa đau ḷng, sợ lẫn lộn dấu vết cố hương, sống uổng, chết phí. V́ thế, quyết chí lánh ḿnh cho xong kiếp sống tàn này, đem nguyên bộ Tập Yếu viết tay giao cho tỳ-kheo Triệt Nhân Hải. Lại c̣n ứa lệ dặn ḍ:

- Than ôi! Phật pháp suy dần. Khi Phật pháp hưng thịnh, một mạch Tỳ Ni như tơ chẳng dứt. Giáo đạo, Thiền Tông càng là hỗn loạn. Tôi mấy năm khổ tâm, chẳng thể ngăn chặn cơn sóng cuồng trong muôn một, chỉ hoàn thành sách này, và Vấn Biện Âm Nghĩa, mỗi loại gồm hai quyển. Mỗi câu văn, mỗi chữ đều chẳng dám tuân theo chủ ư của riêng ḿnh. Mỗi nghĩa, mỗi pháp đều phù hợp thánh giáo. Bởi lẽ, tinh tủy của Luật Bộ, cũng như giềng mối của Thiền, Giáo, sẽ do cửa ngơ này mà có thể đăng đường, nhập thất. Cầm tấm gương này, sẽ có thể chiếu tận gan mật, biện định chánh tà. Tiếc là ông căn tánh hơi độn, chỉ biết các điều mục khai, giá, tŕ, phạm, chẳng thông đạt cội nguồn Tam Học nhất quán. Lại c̣n phước tướng chưa thuần, sức trí huệ mỏng, khuyết thiếu biện tài, thiếu thốn học vấn, há có thể hoằng truyền ngay đạo này! Nhưng nghĩ ông theo tôi du cước đă năm Hạ, có ba sự đáng chấp nhận:

1) Trải mấy phen kềm cặp nghiệt ngă, khó kham, khó nhẫn, ông trọn chẳng ngă ḷng. Dẫu chưa nhanh chóng thay đổi cái nh́n cũ, đă nhiều lượt tạm có lợi ích tốt hơn.

2) Có người đúng như pháp thọ Cụ Túc Giới, chưa chịu chú tâm hành tŕ, chỉ có ông sau khi nghe Tập Yếu, đối với các giới khinh, trọng, đều suy nghĩ đích thân hành tŕ.

3) Trong hai năm Quư Dậu, Giáp Tuất, tôi lênh đênh khổ năo, riêng ḿnh ông tận tâm kiệt lực giúp đỡ trong khi trắc trở, chẳng mảy may hai ḷng.

Trn đủ ba điều thiện tột bậc ấy, lẽ đâu ắt chẳng kham gánh vác chánh pháp? Chỉ cần giải hạnh song tu, giới lẫn thừa đều gấp, cái tâm rỗng rang, ư chí chắc thật, mở rộng tầm nh́n, vững vàng gót chân, tận hết sức của chính ḿnh để tu tŕ, chẳng màng ngoại duyên tự tụ họp. Vạn phần chớ bộp chộp, vọng động, khiến cho pháp môn bị xấu hổ lây. Nếu chưa chế phục phiền năo, chưa mở huệ nhăn, chưa trọn biện tài, học vấn chưa dồi dào, dẫu có phước vận, cần phải tận lực tu tập, huống hồ dấy ư niệm đ̣i hỏi ư? Khắc khổ thân h́nh, vững bền nguyện lực, nương theo Niệm Xứ để tinh tấn hành đạo. Dùng Luật Tạng làm Pháp Thân cha mẹ, như đi vào vực sâu, bước trên băng mỏng, ǵn giữ một mạch này. Nếu gặp bậc anh triết, sẽ ân cần, trân trọng phó chúc. Không có người, thà thờ trong tháp, miếu, tôn tượng, hăy cẩn thận chớ trao cho người không xứng đáng. Thiên định có thể thắng nhân, nhưng nhân định cũng có thể thắng thiên. Tôi khổ công suy nghĩ vô số lượt, phát vô số hoằng nguyện, dùng vô số tâm lực, chẳng thể khiến cho năm vị tỳ-kheo như pháp cộng trụ. Đấy là thiên định, nhưng tâm tư ấy, nguyện ấy, tâm ấy, sức ấy, há sẽ phí uổng? Nếu ông khéo kế tục chí của tôi, hăy kính giữ lấy để đợi bậc hậu hiền, ngơ hầu cũng có thể gọi là nhân định đấy chăng? Từ đầu đến cuối chẳng quên lời tôi căn dặn, ngàn dặm cùng một phong thái. Nếu không, sẽ trần kiếp vĩnh viễn cách biệt. Hăy gắng lên!

 

* Duyên khởi khuyến hóa tŕ danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát

 

          Điều thiết yếu nhất đối với chúng ta, không ǵ bằng tự tâm. Khéo nói rơ tâm yếu trong thế gian, không ǵ bằng Phật pháp! Nhưng Phật pháp chẳng có Tăng sẽ không truyền, Tăng Bảo chẳng có giới sẽ chẳng lập! Giới chính là giềng mối của Phật pháp, là đường lối trọng yếu để minh tâm đấy chăng? Cảm khái chánh giáo ngày càng suy vi, tập tục biến đổi con người, kẻ đầu trọc, áo thâm chẳng biết giới tỳ-kheo là chuyện như thế nào? Một hai vị hoằng dương Luật Học truyền bá Thế Đế, đối với “khai, giá, tŕ, phạm mờ mịt chẳng hiểu! Huống hồ oai nghi tăng thượng, tịnh hạnh tăng thượng, Ba La Đề Mộc Xoa tăng thượng ư? Lại c̣n huống hồ nương vào Tứ Niệm Xứ để hành đạo, tăng tâm, tăng huệ ḥng thành tựu tam tụ[42], ngũ chi ư? Than ôi! Tam tụ, ngũ chi chẳng hiểu, nói là Đại Thừa Tăng Bảo, tôi chẳng tin! Tăng đă hữu danh vô nghĩa, bảo là “truyền tŕ Phật pháp, hiểu rơ tự tâm”, tôi càng chẳng tin được!

Kiên Tịnh Tín Bồ Tát thương xót, bèn hỏi đấng Thích Tôn. Thích Tôn bội phần thương xót, giao trách nhiệm cho Địa Tạng đại sĩ. Đại Sĩ càng thương xót sâu đậm, nói kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo. Kinh dạy: “Ác nghiệp đa hậu giả, bất đắc tức học Định, Huệ, đương tiên tu sám pháp. Sở dĩ giả hà? Thử nhân túc tập ác tâm mănh lợi, hiện tại tất đa tạo ác, hủy phạm trọng cấm. Nhược bất sám tịnh, nhi tu Định Huệ, tắc đa chướng ngại, bất năng khắc hoạch. Hoặc thất tâm, thác loạn, hoặc ngoại tà sở năo, hoặc nạp thọ tà pháp, tăng trưởng ác kiến. Cố tiên tu sám hối. Nhược giới căn thanh tịnh, cập túc thế trọng tội đắc vi bạc giả, tắc ly chư chướng” (Kẻ ác nghiệp nhiều và dày, chẳng được học Định, Huệ ngay, mà hăy nên tu sám pháp trước. V́ cớ sao vậy? Người ấy do tập khí đời trước, ác tâm mạnh mẽ, hiện tại ắt tạo nhiều ác, hủy phạm trọng cấm. Nếu chẳng sám hối thanh tịnh mà tu Định Huệ, sẽ có nhiều chướng ngại, chẳng thể quyết đạt được. Hoặc mất trí, lầm loạn, hoặc bị ngoại tà quấy năo, hoặc vâng nhận tà pháp, tăng trưởng ác kiến. V́ thế, tu sám hối trước. Nếu giới căn thanh tịnh, và trọng tội đời trước ít, mỏng, sẽ ĺa các chướng).

Lại nói: “Tuy học tín giải, tu Duy Tâm Thức Quán, Chân Như Thật Quán, nhi thiện căn nghiệp bạc, vị năng tấn xu. Chư ác phiền năo bất đắc tiệm phục. Kỳ tâm nghi khiếp, bố úy, cập chủng chủng chướng ngại. Ưng nhất thiết thời xứ, thường cần tụng niệm ngă chi danh tự. Nhược đắc nhất tâm, thiện căn tăng trưởng. Kỳ ư mănh lợi, đương quán ngă cập chư Phật Pháp Thân, dữ kỷ tự thân, thể tánh b́nh đẳng, vô nhị, vô biệt, bất sanh, bất diệt, thường, lạc, ngă, tịnh, công đức viên măn, thị khả quy y. Hựu quán kỷ thân tâm tướng vô thường, khổ, vô ngă, bất tịnh, như huyễn, như hóa, thị khả yếm ly. Như thị quán giả, tốc đắc tăng trưởng tịnh tín chi tâm, sở hữu chư chướng tiệm tiệm tổn giảm. Thử nhân danh vi học tập văn ngă danh giả. Nhược tạp loạn cấu tâm, tụng ngă danh tự, bất danh vi văn, dĩ bất năng sanh quyết định tín giải, đản hoạch thế gian thiện báo, bất đắc quảng đại thâm diệu lợi ích” (Tuy học tín giải, tu Duy Tâm Thức Quán, Chân Như Thật Quán, nhưng thiện căn nghiệp mỏng, chưa thể tăng tấn, các ác phiền năo chẳng thể dần dần chế phục. Cái tâm ngờ vực, khiếp hăi, kinh hoảng, và đủ mọi chướng ngại. Hăy nên trong hết thảy mọi lúc, mọi nơi, thường siêng tụng niệm danh tự của ta. Nếu đắc nhất tâm, căn lành tăng trưởng, tâm ư mạnh mẽ, nhạy bén. Hăy nên quán Pháp Thân của ta và chư Phật và thân của chính ḿnh thể tánh b́nh đẳng, chẳng hai, chẳng khác, bất sanh, bất diệt, thường, lạc, ngă, tịnh, công đức viên măn, đáng nên quy y. Lại quán tướng thân tâm của chính ḿnh vô thường, khổ, vô ngă, bất tịnh, như huyễn, như hóa, đáng nên chán ĺa. Quán như thế rồi, sẽ mau được tăng trưởng cái tâm tịnh tín, tất cả các chướng dần dần giảm bớt. Người ấy gọi là học tập, nghe danh hiệu ta. Nếu tâm tạp loạn, trần cấu, dẫu tụng danh hiệu của ta, chẳng gọi là nghe, do chẳng thể sanh tín giải quyết định, chỉ đạt được thiện báo thế gian, chẳng đạt được lợi ích rộng lớn, sâu mầu).

Than ôi! Do vậy thấy rằng: Giới chẳng thanh tịnh, quyết chẳng dễ tu hai phép Quán. Chẳng tu hai phép Quán, sao có thể do đâu mà khế chứng Nhất Thật? Nhưng muốn cho giới căn thanh tịnh, mà bỏ sám hối, tŕ danh, há c̣n có phương tiện nào khác ư? Hơn nữa, một pháp Tŕ Danh nếu nói nông cạn, gần gũi, th́ ngu phu, ngu phụ ai mà chẳng thể không nhép miệng được! Nếu nói sâu xa, chẳng thông đạt Pháp Thân b́nh đẳng, cấu tâm tạp loạn, th́ chẳng được gọi là Nghe! Do vậy biết: Dùng hai phép Quán làm kim chỉ nam. Có thể tu hai phép Quán th́ mới gọi là “nghe danh hiệu Bồ Tát”. Lấy nghe danh hiệu làm phương tiện, chân thật tŕ danh. Đó là nhiếp trọn vẹn hai phép Quán; do vậy gọi là Văn Chướng Tịnh (trừ sạch chướng ngại nơi cái Nghe). Chướng trừ sạch bèn đắc giới. Đắc giới th́ Định, Huệ phát sanh. Định Huệ là chứng nhập Nhất Thật. Minh tâm kiến tánh là Tăng Bảo chân thật, Phật pháp chân truyền. Lũ chúng ta sanh nhằm cuối thời Mạt, nghe chân pháp này, hăy nên nỗ lực tự gắng công!

 

* Duyên khởi của Thành Duy Thức Luận Quán Tâm Pháp Yếu

         

          “Vạn pháp duy thức” th́ khu ô sa-di[43] cũng có thể nói được, nhưng nghiên cứu sâu xa chỉ quy th́ bậc kỳ túc[44] vẫn phần nhiều lầm lạc! Chẳng có chi khác! Do nương theo văn tự mà hiểu nghĩa, có Giáo mà chẳng có Quán đó thôi! Nhưng pháp quán tâm thật sự chẳng ở ngoài Giáo! Thử xem mười quyển luận văn, có chỗ nào chẳng nêu rơ “ngoài tâm chẳng có pháp”, tức tâm pháp chính là cảnh được quán. Hiểu rơ pháp chỉ là tâm, đó chẳng phải là cái trí có thể quán hay sao? Cái trí có thể quán dấy lên, nhị chấp (ngă chấp và pháp chấp) sẽ rỗng không, chân tánh hiện. Do đó, dù cảnh, dù giáo, dù lư, dù hạnh, dù quả, đều gọi là Duy Thức. Nhưng Ngũ Vị[45], Ngũ Quán[46], đều duy nhất xuyên suốt, tuy nhiều thứ nhưng chẳng tạp, tuy sâu xa nhưng chẳng loạn. Điều đáng cảm khái là cổ sớ đă bị thất truyền, những v làm thầy, mỗi vị hiểu một cách, văn lẫn nghĩa c̣n bị sai lầm, Lư Quán há đáng nương cậy? Kẻ độn căn đă ngước nh́n biển cả mà lùi bước, người lợi căn lại t́m cầu nơi chi tiết vặt vănh.

Tông chỉ Tứ Phần (Kiến Phần, Tướng Phần, Tự Chứng Phần, Chứng Tự Chứng Phần) chưa am hiểu, tông chỉ Nhất Tâm uổng công lập bày. Lư Tam Tánh (Biến Kế Sở Chấp Tánh, Y Tha Khởi Tánh, Viên Thành Thật Tánh) chưa thấu triệt, lư tột cùng Nhị Đế sao quy về? Nhờ có sách [Duy Thức] Khai Mông Vấn Đáp giữ được đại khái, và các lời viện dẫn trong Đại Sao, Tông Kính có thể làm căn cứ. Nhưng ngược ḍng t́m về tận cùng nguồn cội, th́ các bộ luận như Du Già Sư Địa, Hiển Dương [Thánh Giáo] càng là biển để Hoàng Hà đổ vào. Do vậy, các bộ [Thành Duy Thức Luận] Âm Nghĩa của pháp sư Thiệu Giác, [Duy Thức] Tập Giải của pháp sư Nhất Vũ, [Thành Duy Thức Luận] Chứng Nghĩa của cư sĩ Vũ Thái không ǵ chẳng cạn sạch tinh lực, vắt kiệt tư duy, khảo sát tinh vi cực sâu, nhưng giáo đạo đă được nêu rơ, chứ quán đạo chưa được hiển lộ. Nối tiếp có pháp sư Tân Y, kết hợp lại các ư kiến đó, tận lực trần thuật Ngũ Quán, bao trùm các nhà (các vị chú giải trước đó). Sách c̣n chưa khắc in, tôi chỉ được dự phần lợi ích [do được xem đọc trước]. Khéo sao có đôi ba người cùng chí hướng, toan từ đường lối “cái có thể biến hiện và cái được biến hiện sai biệt” để làm ch́a khóa ḥng mở toang “tánh có đủ, tánh trọn khắp, viên dung”, tôi bèn mạo phạm múa lưỡi, cũng như chấp bút. Chẳng dám viết dông dài, chỉ mong thẳng thừng hiểu rơ quán tâm, ngơ hầu người giảng giải hay sao lục có tài liệu để tu luyện cao diệu hơn!

 

15. Tự

* Lời tựa cho Thượng Hữu Lục

 

Tôi mười hai, mười ba tuổi đă nghĩ mong có bạn lành. Hai mươi bốn tuổi xuất gia, càng mong có đồng học thiện tri thức, nhưng chỉ coi chánh trực, thành tín, đa văn là quư. Đúng là chẳng nghĩ thành tín là do trống ḷng, cương nghị, quyết đoán, nhưng phải chú ư cẩn thận trong hành động. Lần lữa bảy năm, tôi chẳng biết một ai, mà cũng không ai biết đến tôi, hoài băo “lệ trạch”[47] càng bị vùi lấp, che khuất, gần như chẳng tự nhận biết nữa! Đầu mùa Hạ năm trước, Tinh Cốc Thọ công do thấy Bạch Ngưu Thập Tụng của tôi, bèn thành mối kết giao ngàn đời, nhưng tôi chẳng biết có Tinh công. Hơn nửa năm thường tranh luận, tôi chẳng thể nhận được lợi ích, mà Thọ công cũng không cách nào tạo lợi ích cho tôi. Giữa Đông, lại gặp thầy Quy Nhất Trù, [thầy ấy] mới có thể chiếu theo sở đoản của tôi để giúp tôi đạt được lợi ích. Sau đấy, ngày càng có chỗ mở mang. Tới tháng Giêng năm sau, lại gặp Tuyết Hàng Tiếp công. Ba người chúng tôi thấy có chỗ dùi mài lẫn nhau, bèn tận lực đè nén ngă mạn, dẹp ḷng siểm khúc, khiến cho [mỗi người] nhanh chóng biết có con đường tu hành chánh đáng. Họ được lợi ích to lớn, tôi cũng được lợi ích sâu dần. Hai thầy Quy Nhất và Tinh Cốc cũng hết sức được lợi. Từ đấy trở đi, mới biết niềm vui thật sự do t́nh bạn.

Than ôi! T́nh nghĩa bạn bè há dễ đạt được ư? Chỉ có tâm rỗng rang th́ mới sáng suốt. Có sáng suốt th́ mới có thể biết sở trường của người khác. Đă hiểu biết người khác th́ sau đó mới thẳng thắn giao thiệp, tin tưởng lẫn nhau, đa văn huân tập lẫn nhau. Nếu kiến chấp vắt ngang trong dạ, người khác chẳng thể lợi ích ta, ta cũng chẳng thể lợi ích người khác, chỉ có thể giao du hời hợt, phù phiếm, sao có thể đạt được thực chất chánh trực, thành tín, đa văn?

Lại như Tuyết công cùng tôi kết giao ở Ngũ Vân, thầy Quy Nhất cùng tôi quen biết nơi núi Kinh Thai. Tinh công và tôi cũng đă biện luận từ Hạ đến Thu, mà t́nh bạn bền chắc ḥa hợp, đều đợi đến ngày nay mới định, chẳng phải là do xưa kia đă phạm lỗi chẳng trống ḷng ư? Nhưng nếu chẳng do thầy Quy Nhất, sẽ chẳng thể khiến cho Tinh công lợi ích tôi. Chẳng phải do Tinh công, cũng chẳng thể khiến cho thầy Quy Nhất lợi ích tôi. Chẳng phải do tôi th́ cũng chẳng thể khiến cho hai thầy Quy Nhất và Tinh Cốc lợi ích lẫn nhau. Nếu chẳng có ba người chúng tôi, sẽ chẳng thể tạo lợi ích to lớn cho Tuyết công; nhưng nếu chẳng có Tuyết công, sẽ chẳng thể khiến cho ba người chúng tôi đều đạt được lợi ích to lớn. Sanh ra ta là cha mẹ, thành tựu ta là bằng hữu. Ai chẳng tin như vậy? Nay đă được vui sướng v́ nhiều bạn hiền, há lẽ đâu sanh tâm chán đủ ư? Do vậy, sao lục nguyên văn các bản thảo xướng họa để dùng làm tiền phương tiện cho bạn lành. Phàm ai muốn làm hạng tột bậc trong ngàn đời, hăy nên đừng v́ văn từ thô vụng mà coi thường nỗi khổ tâm này!

 

* Lời tựa cho Quảng Hiếu

 

          Ḷng hiếu của vua Thuấn được gọi là đại, ḷng hiếu của Vũ Châu (Châu Vũ Vương) được gọi là đạt. Đại là do có đức mà làm thánh nhân. Đạt là do kế tục chí hướng, nối tiếp sự nghiệp. Đấy là ḷng hiếu tột bậc trong thế gian. Mở rộng ra, từ những điều đă biết mà suy diễn rộng hơn, có thể luận định ḷng hiếu xuất thế. Ḷng hiếu xuất thế nếu chẳng phải là bậc thánh của các thánh, sẽ chẳng thể trọn hết được! Chỉ có đấng đại hùng Thế Tôn từ sơ phát tâm đă thông đạt sâu xa nhân duyên từ bao kiếp lâu xa, quán lục đạo chúng sanh đều là cha mẹ của chính ḿnh từ vô thỉ tới nay, chỉ do mê ám mà luân hồi, ngu muội, hư vọng, gian trá há chỉ bội phần Cổ Tẩu[48]! V́ thế, diệu hạnh trong A-tăng-kỳ kiếp, thẳng thừng muốn cho trọn hết chúng sanh giới đều được vui sướng, không ai chẳng thuận tùng, liền cung kính, răn dè, lại há chỉ bội phần Đại Thuấn! Do vậy, khi mới thành Chánh Giác, xướng lên Mộc Xoa đầu tiên, ắt lấy hiếu thuận làm Tông. Đó là đại hiếu xuất thế bậc nhất.

Kế đó, Địa Tạng đại sĩ, tôn giả Mục Liên phát vô lượng nguyện, địa ngục cùng nhanh chóng được giải thoát, thiết cúng Vu Lan, vong mẫu liền được sanh lên trời, kế thừa chí chưa từng có của người đời trước, thực hiện chuyện ắt phải nên làm của người đời trước. Đó là thông đạt hiếu xuất thế bậc nhất.

Chúng ta đă phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo, nghĩ tới sanh thân phụ mẫu của mỗi người, hoặc lúc sống chẳng nghe Tam Bảo, hoặc tuy nghe mà chẳng tin, hoặc tuy tin mà chẳng hiểu, hoặc tuy hiểu mà chẳng tu. Cho tới khi mạng sống theo duyên mà tàn tạ, báo theo nghiệp đổi dời, thăng trầm trong cửu hữu[49], nếm đủ ba nỗi khổ (khổ khổ, hành khổ, hoại khổ), khi đó mà bỏ mặc chẳng cứu vớt, há c̣n có chí hướng ǵ nữa ư? Bỏ quy y, c̣n có ǵ để phụng sự? Kế thừa chí hướng, nối tiếp sự nghiệp là trách nhiệm của mỗi người.

Cư sĩ Trần Mân Chiêu rộng tu hiếu thảo, dùng tâm hạnh chân thật của nhà Phật để làm sự nghiệp nơi chân Nho, v́ cha mẹ quá văng, sắp đặt vật cúng tốt đẹp, hành phóng sanh, xin đặt pháp danh, cầu ban pháp ngữ. Sự siêu tiến bạt độ ấy há chỉ cha mẹ một đời hay bảy đời sẽ được giải thoát, mà sẽ là trong mỗi vi trần có hết thảy các biển thế giới, biển hết thảy chúng sanh trong mỗi một thế giới, biển hết thảy quyến thuộc của mỗi một chúng sanh, không ai chẳng giải thoát! V́ lẽ nào vậy? Do đồng thể. Ngộ pháp tánh đồng thể ấy, bèn dùng đó để làm người chủ tŕ phóng sanh ḥng báo ân thọ sanh, để nói lời vô sanh. Hễ mê th́ quyết chẳng thể tự toàn vẹn được, nhưng cầu ân huệ nơi bậc thiện tín hiền đạt. [Mạnh Tử nói] “sở dĩ con người chẳng khác cầm thú cho mấy”, há dối ta ư? Nói nghĩ tới [bản thân tôi] thuở trước, chôn từ phụ, ĺa bỏ bi mẫu, cố nhiên h́nh tích khác biệt, nhưng tâm thật sự đồng, nh́n vào hành động thù thắng ấy, ḷng ôm nỗi buồn thương, đau xót! Do vậy, có bài kệ Quảng Hiếu, chẳng thể không v́ cư sĩ nêu ra: “Không trung huyễn sắc như bươm bướm, chốn tĩnh nhàn thanh có gà tre, đừng nói vườn xưa tin tức bặt, hoa rơi nước chảy phủ đầy khe!”

 

* Lời tựa về chuyện tháp báu Trường Can phóng quang

 

          Cố nhiên cơi đời có chuyện tột bậc chân thật, nhưng do kẻ hư ngụy ngờ vực, rốt cuộc trở thành ngụy. Cũng có chuyện tột bậc hư ngụy, nhưng do được người chân thật tin tưởng, rốt cuộc trở thành chân thật. Chân và ngụy vốn chẳng phải là thật pháp, chỉ là hiện lượng trong tự tâm của đương nhân. Thử xem chuyện sa-di chứng Tứ Quả do người khác giỡn ném[50], khất sĩ ngộ pháp Không trong khi ngầm lẩn trốn. Học đạo với ḷng chân tín c̣n được như thế đó. Chúng sanh đời Mạt, trược trí bừng bừng, cái tâm chụp giật thường xoay chuyển, đă chẳng tin vào chính ḿnh, lại c̣n ngờ kẻ khác, bàn lỗi của người khác th́ vẻ mặt linh hoạt, thần t́nh hào hứng, khen điều lành của người khác th́ trề môi, nhe răng. Chẳng trách niệm và bi cách biệt, càng lúc càng hướng đến tối tăm!

Tháp Đại Báo Ân[51] trang nghiêm bậc nhất trong thiên hạ, trời, rồng giúp rập, được nương giữ bởi thiện căn của chúng sanh. V́ thế, khi lạc thành, đă hiển lộ điều lành lạ lùng chép trong các bộ quốc sử, tùy cơ cảm mà phóng tia sáng báu, được các bậc kỳ lăo truyền tụng, vốn chẳng phải là chuyện quái đản, há hồ nghi ư? Riêng chuyện Bích Huy thượng nhân cầu quang minh liền được quang minh, mọi người đều công nhận. Thượng nhân thấy quang minh, có người cùng thấy, sách ghi là “đại chúng cùng cảm vời”, há có phải tự bịa đặt? Há chẳng biết pháp tánh đồng thể, như gương và ánh sáng nhiếp thuộc lẫn nhau, nhập vào nhau, dung thông lẫn nhau. Đức Thế Tôn ngự trong chúng hội, ai nấy đều đối với Phật nói là Như Lai riêng thuyết pháp cho chính ḿnh! Thượng nhân nói tháp riêng tỏa ánh sáng cho Ngài, cũng có lỗi ǵ? Lại có người nêu ra cuộc đời của thượng nhân để bàn luận. Tôi nói: “Được thấy quang minh nơi tháp tức là túc nhân sâu dày. Nếu muốn nghi thượng nhân, há chẳng phải cũng là nghi luôn tháp ư? Tôi do tin tháp, mà tin luôn thượng nhân”.

Kệ rằng: - Phật quang vốn thường trụ. Như trăng ở trên không. Nước tâm chúng sanh tịnh, hiện bóng khắp muôn phương. Tín là thủy thanh châu, hay lắng trong nước trí. Sám hối sâu, chân thành. Cảm ứng chẳng ngằn mé. Lành thay ngài Bích Huy, tâm thông với diệu tháp. Đèn hiện dáng như mây. Sen rơi xuống như mưa. Gọi là chân thật quang. Gọi là Thường Tịch Quang. Chẳng rơ nghĩa chân huyễn, há khinh mạn so đo! Ta biết hết thảy pháp, chẳng giả cũng chẳng chân. Chỉ tín nguyện đến cùng, nắm tay dạo quang minh.

 

* Lời tựa sách Sa-di Tŕ Phạm Khảo

 

          Sở sinh viên[52] làm thư lại trong điện thứ bảy của cơi Âm, xem sổ sách thấy ghi vợ trộm gà của hàng xóm, bèn bảo vợ mau trả lại. Khoản ghi tội ấy bèn tiêu mất. Người thế tục tạo tội nhỏ nhoi như thế mà c̣n chẳng trốn khỏi sự soi xét của cơi âm như vậy, huống hồ Sa-di theo Phật xuất gia, hưởng lợi dưỡng giống như Tăng, thề tŕ mười loại tịnh giới đến hết tuổi thọ, sao chẳng luôn luôn tự suy xét, khiến cho âm phủ nắm quyền vậy? Nhưng những điều khoản ấy, bậc thượng sĩ tuy chẳng ắt phải ghi, nhưng chẳng ngại ghi chép. Bậc trung sĩ ắt ghi chép cẩn thận. Hạ sĩ quả thật chẳng thể ghi chép, bèn viện cớ “chẳng bắt buộc phải ghi”, nào có biết đă được ghi chép sẵn [trong cơi Âm]!

 

* Lời tựa về sự khảo sát tŕ hay phạm trong giới Đại Tỳ-kheo

 

          Năm thí dụ về cái phao nổi[53] chính là nói thí dụ về Ngũ Thiên (năm loại chính trong Cụ Túc Giới) của tỳ-kheo, đáng phải nên [hiểu rơ] khinh, trọng v.v… để thủ hộ, nhưng cơi đời coi khinh [giới luật] là Tiểu Thừa. Giới thân đă tổn, Định Huệ từ đâu mà có? Chẳng trách hạnh lẫn quả đều bị chôn vùi, rốt cuộc trở thành mạt vận. Kinh dạy: “Tŕ giả bất tác Tượng Pháp pháp diệt tận tưởng, năng linh chánh pháp vĩnh bất đoạn diệt” (người tŕ [giới] chẳng nghĩ là pháp diệt mất trong thời Tượng Pháp, có thể khiến cho chánh pháp vĩnh viễn chẳng đoạn diệt). Bậc hào kiệt chẳng chờ đợi mà dấy lên. Đức Phật đă chẳng dùng xa hay gần để luận định thân, sơ; há lại dùng trước sau để phân định thời kiếp ư? Nguyện những người có cùng chí hướng với tôi, ai nấy nghĩ cái Thể tôn quư của tỳ-kheo, Tỳ Ni khó gặp gỡ, may có được tăng tướng đường đường, phải nên tuân thủ Biệt Biệt Mộc Xoa[54], trước là hối lỗi, sau là tụng giới, th́ mới hợp với khoa trưởng tịnh (tăng trưởng sự thanh tịnh), Tăng luân thịnh vượng hơn, Phật pháp được hoằng dương. Nhưng riêng giới tướng tỳ-kheo phức tạp, hơn nữa tội danh, tội chủng (các thể loại tội) hoàn toàn chẳng thích hợp cho người chưa thọ giới biết. V́ thế, chỉ xếp theo số lượng, điều mục thuộc mỗi thiên. Người tŕ hăy tự nên học thuộc Tứ Phần Giới Bổn và Luật Tạng Toàn Thư, những điều khác chẳng nói cặn kẽ!

 

* Lời tựa khắc in Tịnh Độ Sám

 

          Chẳng tịnh, chẳng uế, Chân Như mờ mịt; tức uế, tức tịnh, Phật tánh mịt mờ. Tin tưởng lời chân thành của đức Thích Ca, ngộ nguyện luân của ngài Pháp Tạng, mới biết dù Luật, dù Giáo, dù Thiền, không ǵ chẳng lưu xuất từ pháp môn Tịnh Độ, không ǵ chẳng trở về pháp môn Tịnh Độ. Tôi thoạt đầu dốc chí nơi tông thừa, tận lực khổ công tham cứu mấy năm, tuy chẳng dám khởi tăng thượng mạn tự nói là “đă về đến nhà”, nhưng công phu tu tập đắc lực, liền bảo “có thể chẳng sanh về Tịnh Độ”. Tới khi bị bệnh gần chết, chỗ đắc lực thường ngày chẳng mảy may dùng được, mới một dạ về Tây, nhưng vẫn chẳng bỏ điều ḿnh tham cứu, cho rằng ḿnh thuộc loại “có Thiền, có Tịnh”. Măi cho tới sau khi gặp ngài Bác Sơn, mới biết căn bệnh trong nhà Thiền thuở đời Mạt, bèn đơn giản bỏ Thiền, tu Tịnh. Tuy mang tiếng chê gièm “do nghẹn mà bỏ ăn” vẫn chẳng màng! Tới nay, chuyên chú nơi Tịnh nghiệp đă ba năm rồi, hừng hực bỏ uế, giữ tịnh, vốn chẳng khác đường lối với “chẳng lấy, bỏ”, so với “ư của tổ sư từ phương Tây sang”, há chẳng phải là thẳng chóng hơn ư? Tôi thường đau xót kẻ cuồng Thiền trong đời Mạt, “điểu không, thử tức” (nói Lư suông), không chỉ bài bác Tịnh Độ, mà c̣n báng bổ, bêu riếu Tông phong. Cư sĩ Quư Thanh do thấy chùa Phật Nhật khắc in [kinh sách của] sáu tông, bèn đảm nhiệm một môn Tịnh Độ, bắt đầu bằng sám nghi. Sách này gồm mười khoa hành đạo, ngũ hối luyện tâm, thấu triệt nguồn Sự, Lư, tột cùng tánh, tu, như đốt một viên ḥa hương, uống một giọt nước biển, có hương nào chẳng trọn, nước nào chẳng được thấm? Do vậy, tôi bèn viết lời tựa.

 

* Lời tựa về chuyện cư sĩ Vân Lộc tŕ kinh Kim Cang

         

          Năm Độ như mù, Bát Nhă như người hướng dẫn. Hạnh như chân, huệ như mắt. Mắt và chân cùng vận dụng, vào trong ao trong mát. Do vậy, kinh Kim Cang Bát Nhă này là kim chỉ nam của vạn hạnh, là căn nhà chánh yếu trong Đại Thừa. Cơi đời chẳng thông đạt Thật Tướng ấn, hư vọng bàn luận Vô Tướng tông, lầm lẫn chấp trước một lời “tức, phi”, chẳng biết chỉ quy của “thị danh”. Vạn hạnh đă chẳng có, chánh giải cũng bị chôn vùi. Đọc, tụng, giảng nói đều là phỉ báng, đáng than thay! Ví như tự chặt chân ḿnh, sẽ do đâu đến được nơi xa? Bỏ sót kẻ mù ḷa, người hướng dẫn có ích ǵ? Đối với pháp, chẳng nói tướng đoạn diệt, Phật ngữ rành rành, sao chẳng suy nghĩ? Sắc tức là Không, chẳng phải gạt bỏ Sắc để t́m Không! Chẳng có pháp để đắc Bồ Đề, mà thọ kư làm Phật. Tứ cú, bách phi thẳng thừng dứt sạch, nào nhọc công dùng chổi lông rùa để quét sạch bóng hoa đốm trên hư không? Tŕ giới, tu phước th́ đối với chương cú này mới có thể sanh tín tâm. Năm trăm năm sau, thọ tŕ, đọc tụng như thế th́ mới đạt được!

 

* Lời tựa khắc in bộ Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ

 

          Niệm Phật tam-muội là phương tiện thù thắng, lạ lùng của Như Lai, thâu nhiếp cả phàm lẫn thánh, thích hợp lợi căn lẫn độn căn. Dùng một niệm về thẳng biển Phật, chí viên, chí đốn, do là Đệ Nhất Liễu Nghĩa. Nhưng kẻ mê nghĩa, chạy theo danh tự, thấy chúng sanh Ngũ Nghịch đủ mọi điều ác mười niệm văng sanh, ngược ngạo nghĩ là [pháp môn này] chuyên nhiếp độ kẻ phàm phu kém cỏi, chỉ hóa độ phường độn căn, có thể nói là “mê muội ư chỉ mầu nhiệm của Phật, báng bổ, khinh nhờn kinh sâu”. Tôi cảm khái hành nhân đời Mạt lắm nghi, nhiều chướng, khó ngộ, khó khai, đối với pháp môn sâu mầu, nếu chẳng chấp Sự quên Lư, ắt chấp Lư bác bỏ Sự. Kẻ chấp Sự vẫn kham làm cái nhân văng sanh hạ phẩm, kẻ chấp Lư rốt cuộc ch́m trong Ác Thủ Không Kiến. Đến nỗi ấy th́ đạo trực chỉ đâm ra biến thành hầm sâu đoạn diệt; chẳng nhờ vào kim vàng, ai bóc được màng mộng [nơi mắt]?

Đạo sư Diệu Hiệp, về pháp th́ tiếp nối tông thừa, giáo th́ hưng khởi liên xă, ứng với lời thọ kư “hổ đội sừng” của ngài Vĩnh Minh, đàm luận Bảo Vương tam-muội thông suốt, cảnh lẫn quán đều được nêu tỏ, mối nghi mảy may đều bị phá, xiển dương duy tâm đến mức cùng tột, y báo và chánh báo rành rành, chỉ bày nguồn cội tự tánh, cảm ứng chẳng sai chạy, khiến cho người thông đạt sẽ dùng Lư để dung hội Sự, nhưng Lư chẳng ở ngoài Sự. Kẻ ngu sẽ do Sự mà nhập Lư, nhưng Sự kèm theo công năng của Lư. Quả thật là tiền phương tiện để trừ Hoặc, là bằng khoán sanh Tây. Hai trăm năm qua, sự lưu thông [sách này] gần như bị lấp khuất, Liên Tŕ đại sư mong được xem mà chẳng thể, nhưng nguyện lực chẳng ṃn. Hàn cư sĩ từ chỗ thiền sư Vạn Dung mà t́m được, cho tôi mượn xem, [cảm nhận] như thấm đẫm đề hồ, ân cần xót thương thuở kiếp trược, mừng cầu bến hăy c̣n, vội vàng mưu tính đem in ḥng truyền bá rộng răi. Nguyện khắp những ai thấy, nghe, tùy hỷ, sẽ gieo cái nhân trọn vẹn nơi Lạc Độ, người đọc, tụng, tư duy sẽ chứng Bảo Vương pháp ấn, lần lượt thông hiểu, ngộ giải, cùng thoát trầm luân, ngơ hầu chẳng phụ duyên lành hy hữu vậy!

 

* Lời tựa ấn hành Thiền Nhân Duyệt Thai Tạng

 

          Đạo Giáo Quán khó diễn nói được. Bậc thượng huệ biện định, mênh mông như biển cả, tạo thành thói tệ bèn “đuổi theo ḍng, quên nguồn”, khiến kẻ độn căn từng than thở “dơi nh́n biển cả”. Người đề cao tu chứng đạt tới sự tinh ṛng như cột sắt; kẻ chẳng hiểu ư sẽ là ôm cây đợi thỏ, phải chịu tiếng chê gièm “không học hiểu, ám chứng”. Chỉ có ngài Trí Giả ngộ Pháp Hoa tam muội, đắc Toàn đà-la-ni, chín mươi ngày đàm luận chữ Diệu, đạt tột cùng chỗ sâu thẳm trong lưới giáo, thập thừa tu tâm, đạt trọn đủ quán môn, đèn nối tiếp đèn, chư tổ truyền cho nhau, vượt trội Hiền Thủ và Từ Ân để riêng hưng thịnh, tranh tiếng thơm cùng Hoàng Mai, Thiếu Thất. Tâm ấn chói ngời mặt trời, mặt trăng, truyền thừa, tu tập trọn khắp Trung Hoa, ngoại quốc. Nhưng các tác phẩm to lớn nhất th́ có ba loại là Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú, và Ma Ha Chỉ Quán. Huyền Nghĩa và Văn Cú chủ yếu nói về Giáo, nói kèm theo Quán. Riêng sách Chỉ Quán th́ Giáo là phụ, Quán là chánh, vĩnh viễn chẳng vướng lỗi “kể chuyện ăn, đếm của báu”, vượt trội mối họa “ám chứng, chẳng nghe học!”

Kinh Khê đại sư xiển dương, soạn sách phù trợ cho bộ Huyền Nghĩa là Thích Thiêm, phù trợ cho Văn Cú là Diệu Lạc, phù trợ cho bộ Chỉ Quán là Phụ Hành. Đúng là huệ mạng của Phật, Tổ, là con mắt của chúng sanh. Cổ nhân nói “giáo nghĩa Thiên Thai tồn tại th́ Phật pháp tồn tại. Giáo nghĩa Thiên Thai mất đi, Phật pháp cũng mất” chẳng phải là dối gạt chúng ta vậy. Hành nhân thời Mạt chướng sâu, căn độn, học cạn, chí kém, lỗ măng phá diệt, chỉ chú trọng sướng tai, khoái miệng, chỉ hiểu nghĩa theo văn tự, bám chặt câu cú, qua quưt, cẩu thả, ḥng làm tư lương cho danh lợi. Nói tới cội nguồn sâu thẳm của Phật pháp, đạo mạch của thánh hiền, bèn rêu rao rằng: “Đời người mấy chốc, có thể toan tính sống hết tuổi thọ đến thuở bạc đầu ư?” Chẳng nghĩ huyễn ảnh “bóng ngựa trắng vụt qua khe cửa hẹp”, danh lợi há giúp được ǵ? Nếu có thể khế nhập chân nguyên, c̣n nên thề bao kiếp vĩnh viễn. Huống hồ pháp chẳng có rườm rà hay đơn giản, mê hay ngộ là do mỗi người. Một câu chẳng hiểu, nhọc nhằn ́ ạch ngàn núi. Duyên từ bao kiếp lâu xa tụ đến, đắc Tổng T trong nháy mắt. Kẻ hơi có tâm huyết, quyết chẳng đành ḷng tự vứt bỏ, tự ruồng rẫy, đánh mất môn cam lộ này!

 

* Lời tựa cho Ngụ Am

         

          Thanh Văn tứ khô (四枯)[55], Bồ Tát tứ vinh (四榮), dùng con mắt chánh đáng để xem, gọi là bát đảo (八倒, tám điều điên đảo). Câu Hữu, câu Vô, vừa Hữu vừa Vô, chẳng phải Hữu chẳng phải Vô, nói theo Tất Đàn th́ gọi là Tứ Môn. Các điều này đều có thể luận chung trong ṿng lục hợp[56], bàn ngoài lục hợp. Kinh Pháp Hoa dạy: “Tam giới vô an, do như hỏa trạch” (Ba cơi chẳng yên, giống như nhà lửa). Lại nói: “Đại hỏa sở thiêu thời, ngă thử độ an ổn” (Khi lửa lớn thiêu đốt, cơi ta đây an ổn). Ngọn núi Linh Thứu thật sự ở ngoài tam giới, hay ở trong tam giới vậy? V́ thế, Tứ Y đại sĩ[57] luận cặn kẽ bốn loại Tịnh Độ, ắt trước hết nói rơ cùng tột theo chiều dọc và chiều ngang. Theo chiều dọc th́ mỗi cơi khác biệt. Theo chiều ngang th́ mỗi cơi chính là lẫn nhau. Chỉ có điều khác biệt là do Kiến Tư chưa tận, chẳng ĺa Đồng Cư. Trần Sa chưa tận, chẳng ĺa cơi Phương Tiện. Vô minh chưa tận, chẳng ĺa cơi Thật Báo. [Bốn cơi] chính là lẫn nhau v́ chúng sanh trong chín pháp giới từ ngay trong một niệm có thể thấy Phật cảnh. Viên măn Diệu Giác, lúc nào cũng ứng hiện trong mười phương. Đáng ở trong địa ngục do ác nghịch th́ Hữu Gián hay Vô Gián đều là chỗ ngụ. Đáng thuộc ngạ quỷ do keo tham th́ đồng hoang hay núi, chằm đều là chỗ ngụ. Đáng làm súc sanh do ngu si th́ nước, đất, hư không là chỗ ngụ. Đáng làm Tu La do kiêu mạn th́ Tu Di hay biển cả là chỗ ngụ. Đáng làm loài người do Ngũ Giới th́ các xứ trong bốn châu là chỗ ngụ. Đáng thuộc các tầng trời nơi Dục Giới do Thập Thiện th́ địa cư, không cư là chỗ ngụ. Đáng thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới do Thiền Định th́ Tứ Thiền, Tứ Không là chỗ ngụ. Đáng là Thanh Văn do đế trí, đáng là Duyên Giác do hoàn diệt, Phương Tiện Hữu Dư sẽ là chỗ họ ngụ. Đáng là Bồ Tát do Lục Độ vạn hạnh th́ Thật Báo vô chướng là chỗ họ ngụ. Họ thuận theo lẽ đáng nên mà ở yên nơi chỗ ngụ. Đối với chỗ ngụ theo đúng lẽ đáng nên, họ đều chấp trước. Do đó, phàm phu bao kiếp vĩnh viễn trầm luân trong tam giới, Nhị Thừa luôn đọa trong hầm vô vi. Bậc Địa Tiền đại sĩ cùng vướng mắc nơi Hữu Dư, tuy dự cao vào ḍng thánh, vẫn thuộc trong quả báo, nên mới đối với chỗ ngụ, chẳng biết là ngụ.

Than ôi! Giấc mộng quê nhà vẫn chưa hoàn toàn tỉnh giấc; ở đậu nơi đất khách, sao là rốt ráo cho được? Chỉ có vâng thuận giáo pháp trí huệ, tác quán xứng tánh, ngộ Tịch Quang trong cái nhỏ nhoi, mới có thể biện định ư nghĩa chân thật của cư ngụ. Hễ nói đến “ngụ”, th́ hết thảy các pháp đều hướng đến ngụ, thân và cơi như nhau, Lư và Sự b́nh đẳng. Đấy cũng là “ngụ” rốt ráo. Một thứ rốt ráo th́ hết thảy đều rốt ráo. Thật Báo, Phương Tiện, Đồng Cư, không ǵ chẳng phải là chân tịnh. Thấp hơn điều này là Phần Chứng, Tương Tự, Quán Hạnh, và Danh Tự, cạn, sâu tuy rất khác, nhưng đạt được Lư giống hệt như nhau. Nếu mê muội lư này, ắt sẽ nhận lầm chân thật, cố nhiên thuộc phàm t́nh. Biết rơ như huyễn, trọn gọi là “thiên giải” (偏解, hiểu lệch về một bên), há xứng với ư nghĩa “ngụ” ư? Ánh Bột khai sĩ đặt tên cho cái thất này là Ngụ Am. Cái thất vuông một trượng nơi thành Tỳ Da Ly[58], lầu báu của đức Di Lặc, tôi lau mắt chờ đợi vậy!

 

* Lời tựa cho tu Tịnh Độ Sám và Phóng Sanh Xă

 

          Pháp môn Tịnh Độ vốn v́ chúng sanh mê tự tánh sẵn có, chẳng biết lư Thường Tịch Quang, sanh tử cuồn cuộn, chẳng hề ngưng nghỉ. V́ thế, nhờ vào nguyện thù thắng của đức Di Đà làm tăng thượng duyên; do đó, Tịnh Độ có bốn loại là Tịch Quang, Thật Báo, Phương Tiện, và Đồng Cư. Nhưng ba cơi trước, nếu chẳng đoạn Hoặc, sẽ chẳng thể sanh, lại c̣n có ư nghĩa “vượt khỏi tam giới theo chiều dọc”. V́ thế, riêng chỉ Tây Phương An Dưỡng Đồng Cư, khiến cho người lợi căn liền nhanh chóng thanh tịnh bốn cơi, kẻ độn căn cũng nương vào đấy mà thoát ṿng khổ trước hết! Tuy đúng là đơn giản, dễ dàng, cũng chẳng phải là qua loa! Kinh Di Đà dạy: “Bất khả dĩ thiểu thiện căn, phước đức, nhân duyên, đắc sanh bỉ quốc. Nhất nhật năi chí thất nhật, chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, tức đắc văng sanh” (Chẳng thể do ít thiện căn, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cơi ấy. Từ một ngày cho đến bảy ngày, chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, liền được văng sanh). Nhất tâm bất loạn, dẫu chưa đoạn Hoặc, há có thể chẳng chế phục Hoặc ư? Nếu sự nghiệp Sa Bà vướng mắc, lôi kéo khắp nơi, khi gặp ngũ dục, sẽ như keo, như sơn. Khi gặp nghịch duyên, sẽ kết hận, ôm oán, nhưng lúc sắp mạng chung, Phật Di Đà tiếp dẫn, người ấy quyết chẳng thể dự vào số đó! Quán Kinh lại nói: “Nghịch ác chi nhân, lâm chung thập niệm, giai đắc văng sanh” (Kẻ nghịch ác lâm chung mười niệm đều được văng sanh). Phàm lâm chung mười niệm, ắt gieo sâu thiện căn. Nay gặp cảnh duyên nghịch thuận, bèn chẳng có chánh niệm, huống hồ khi lâm chung ư?

Hơn nữa, lâm chung sự khổ hiện ra, chỉ nhờ vào thiện hữu cảnh tỉnh, dắt d́u. Nay giữa lúc thanh thiên bạch nhật, c̣n chẳng thể tin, nhận, phụng hành lời khuôn phép chân thật của thầy, bạn thông sáng, vậy th́ lúc lâm chung, mong chi thiện hữu hiện tiền? Dẫu họ hiện tiền khai thị, [nhưng người sắp mất] thần thức hôn mê, muốn cầu tín giải, điều ấy lại chắc chắn chẳng thể trông cậy được! C̣n như pháp ngũ hối, vốn v́ kẻ vô tri tạo tội, chẳng thể làm sao được, bèn dạy họ dốc ḷng phát lộ, tu sửa mai sau, sửa đổi lỗi trước, mười tâm nghịch thuận thống thiết khẩn khoản cùng cực, chẳng thể xem giống như kẻ hờ hững, hời hợt, kiêm dùng tứ pháp giúp thành tựu hạnh này, khuyến thỉnh diệt ma chướng báng pháp, tùy hỷ diệt trọng chướng ghen tỵ, hồi hướng diệt chướng keo tham, chấp trước ba cơi, phát nguyện diệt chướng “thoái thất, vui mừng, quên bẵng, lầm lẫn”, bèn có ba nghĩa sám hối là tác pháp, giữ lấy tướng, và vô sanh. Tác pháp là vâng theo những điều đă nói trong Luật, đối diện sám hối. “Giữ lấy tướng” tức là trang nghiêm, thanh tịnh đạo tràng, chuyên cầu cảm ứng. Vô Sanh là quán sâu Thật Tướng, đoạn nguồn phiền năo. Nếu vừa sám lại phạm, chẳng chấp nhận tác pháp! Đă chẳng thể tuân theo luật tác pháp, ắt chẳng chiêu hiền cảm thánh. Đă chẳng thấy một sắc, một tướng của thánh hiền, sao có thể nhanh chóng chứng Pháp Thân thanh tịnh của thánh hiền? V́ thế, ba loại pháp ấy, pháp trước chẳng kiêm pháp sau, nhưng có thể thông với pháp sau. Pháp sau ắt đầy đủ pháp trước, nhưng chẳng phế pháp trước.

Do vậy có thể thấy: Pháp môn Tịnh Độ là thuốc. Yêu mến, sân hận trong Sa Bà là thứ kỵ thuốc. Pháp môn Ngũ Hối là thuốc, [vọng niệm] liên tục chẳng đoạn là thứ kỵ. Vừa mới uống thuốc này, lại tiếp xúc thứ cấm kỵ, có được hay chăng? Từ Vân đại sư gộp chung hai thứ phương tiện xảo diệu ấy, soạn thuật thành Văng Sanh Sám Nghi. Lại nói: “Hành nhân ai nấy đều có tập khí ác từ vô thỉ. Hăy nhanh chóng cầu ĺa bỏ, chớ để hành pháp phí uổng công lao!” Thuốc và chất kỵ rành rành có thể suy nghĩ vậy!

Chắc có kẻ nói: “Nghe danh tự ‘bạch hào’, công đức chẳng thể hạn lượng. Nghe danh hiệu một vị Phật, hai vị Bồ Tát diệt tội trong vô số kiếp, há ác pháp hiện tiền có thể so sánh, chống cự hay chăng?” Ôi! Lầm mất rồi! Không thấy kinh Chiêm Sát [đă nói] ư? Kinh xưng tụng đại bi nguyện lực của Địa Tạng Bồ Tát, các vị đại Bồ Tát khác đều không thể sánh bằng! Kinh ấy dạy: “Năng văn ngă danh giả, vị đắc quyết định tín, lợi ích hành cố. Nhược tạp loạn cấu tâm, xưng tụng ngă danh tự, bất danh vi Văn, dĩ bất năng sanh quyết định tín giải cố” (Có thể nghe tên của ta, tức là đạt được niềm tin quyết định, do làm chuyện lợi ích. Nếu tâm cấu trược, tạp loạn, dẫu xưng tụng danh tự của ta, chẳng thể gọi là Nghe, do chẳng thể sanh tín giải quyết định). Bởi lẽ, tạp loạn tức là chẳng có Định, chẳng tương ứng với Xa-ma-tha (Chỉ). “Cấu” là chẳng có huệ, chẳng tương ứng với Tỳ-bát-xá-na (Quán). Chẳng tương ứng với hai phép Quán, tức là chẳng biết Pháp Thân của ngài Địa Tạng, Pháp Thân của chư Phật, và thân của chính ḿnh chẳng hai, chẳng khác. Do vậy, chẳng gọi là Nghe. Trí Giả đại sư giải thích tựa đề của Thập Lục Quán Kinh, ắt dựa theo tam đức bí tạng. Ngài giải thích tựa đề kinh Pháp Hoa, dùng chín mươi ngày để đàm luận chữ Diệu. Do vậy Ngài nói: “Nếu nghe danh tự tựa đề [của kinh], đạt được công đức chẳng thể hạn lượng”. Nếu chẳng giải thích như thế, sao đạt được vô lượng công đức? Nay tâm tạp loạn, cấu trược, dẫu nghe mà như chẳng nghe. Phiền năo hiện hành hừng hực chẳng ngơi, dùng đó để thoát khổ, giống như dùng chén nước đổ vào cỗ xe [đang cháy], cho đến khi lâm chung chẳng có hiệu nghiệm, ngược ngạo nghi Phật pháp chẳng linh! Tự lầm, lầm người, đọa tội báng pháp, giống như uống thuốc lại ăn chất cấm kỵ, đâm ra táng mạng, bèn nói “y vương giết người”, điên đảo đến mức cùng cực như thế đó!

Riêng một chuyện phóng sanh, bỏ ra tiền của yêu mến của riêng ḿnh để chuộc mạng cho chúng, thói tệ nh́n chung ít hơn! Nhưng nếu coi trọng [các loài] thân h́nh to lớn, đối với loài trùng, gịi nhỏ nhít, nghĩ chúng kém hèn, hoặc chú ư nhiều đến các loài vật nhỏ bé, đối với những thứ bị giết chóc bởi đồ tể trong hiện tiền, khởi tâm keo tiếc, hoặc lưu ư dị loại, chứ riêng đối với loài người, cứ hư vọng cách biệt oán thân, yêu ghét chẳng ngớt! Đă mê muội từ tâm b́nh đẳng, sẽ chẳng có ǵ để làm cái gốc cho niệm Phật, lễ sám! Trí Giả đại sư nói: “Dẫu nhập đạo tràng sám hối, ác tâm chẳng chuyển, ác nghiệp chẳng hoại, khổ hạnh vô ích, phí công, nhọc sức, như chày lên xuống giă vào cối, rốt cuộc có lợi ích ǵ?” [Kinh Pháp Hoa nói] dẫu giơ tay, cúi đầu, đều thành Phật đạo. Đùa bỡn khoác ca-sa, vẫn là cái nhân xa, há sáu thời khổ hạnh, hoàn toàn chẳng có công dụng ư? Chỉ v́ duyên nhân sức yếu, chẳng thể đối địch hiện nghiệp tuôn rót! Tượng Nham khai sĩ kết Văng Sanh Sám Xă, mua loài vật phóng sanh, bi lẫn trí cùng vận dụng, dùng cái tâm Bồ Đề ấy để làm chánh hạnh văng sanh. Tôi bèn nói rộng nghĩa này để chỉ bày vậy!

 

* Lời tựa cho Văn Tu Xă

 

          T́nh nghĩa “lệ trạch” chẳng nhắc tới, cái học tánh mạng ắt bỏ phế. Nho coi trọng dùng văn để tụ hội bạn bè, dùng bằng hữu để giúp cho điều nhân, đức Phật gọi [những người như thế] là thiện tri thức. Đó là đại nhân duyên đắc đạo, là phạm hạnh toàn vẹn. Pháp thế gian và xuất thế gian, không ǵ chẳng coi bằng hữu là nhiệm vụ cấp bách. Thời đă suy, “xă” dùng thơ rượu để gia nhập, phóng túc dục vọng nơi tai, mắt, là cửa nẻo tăng trưởng buông lung!

Không chỉ Nho là như thế! Than ôi! Cạo tóc, khoác áo thâm, quần tụ suốt ngày để muốn làm ǵ vậy? Dẫu chẳng đến nỗi mê hoa, nghiện rượu, nhưng tầm chương, trích cú, chỉ mong sướng tai, khoái miệng! Có khi nào nhận biết cái tâm, thấu đạt cội nguồn hay chăng? Hoặc là do nghẹn mà bỏ ăn, đến nỗi chỉ chuộng kế kiếm sống trên bồ đoàn, chưa sáng đạo nhăn, lại thiếu sự dùi mài. Dẫu chẳng đóng chắc cọc chèo mà toan vung vẩy mái chèo, nhưng do lăng phí thời gian, ắt đến nỗi dấy lên kiến chấp, dấy lên kiêu mạn, rơi hào, sụp hố, ám chứng, tà Thiền, bệnh c̣n tệ hơn “kể chuyện ăn, đếm của báu”, tự chẳng có trí huệ chân thật. Người triệt để v́ sanh tử, ai có thể vượt ngoài hai loại ải kiên cố ấy, thực hiện riêng một phen rốt ráo?

Nhất Thừa khai sĩ cầu tịch diệt trong biển pháp, tận mắt thấy thói tệ đang lưu hành, tâm sốt sắng lo xa, pháp xă Đế Nhất cứ mỗi quư lấy ba ngày dùng sám-ma hướng dẫn, dùng kinh luận làm thực chất, chân và mắt cùng vận dụng, mau chóng nhập thanh lương, hướng về tôi xin đặt tên và viết lời tựa. Tôi chắp tay tùy hỷ, đặt tên là Văn Tu (聞修). Do Văn (nghe) mà sanh Thật Huệ, như chất béo giúp cho ngọn lửa [cháy mạnh hơn]. Nghe pháp mà chẳng tu hành, giống như kẻ điếc tấu âm nhạc. Nay tự tu trong chín mươi ngày, cùng nghe trong ba ngày, nhưng trong ba ngày đó vẫn chẳng phế tu, chín mươi ngày tự chẳng khuyết Văn. Từ Văn khởi Tu th́ Tư chẳng cần phải đợi nói nữa. Tam Huệ tự tốt lành, Tam Huệ tự gắng sức. Dùng Tam Huệ để kiên cường ư chí, trống ḷng, thật sự đặt vững gót chân, ngăn ngừa thói tệ, chánh pháp lại sáng ngời. Đó là hành động này.

 

* Lời tựa tự đặt cho Tịnh Tín Đường Sơ Tập

 

          Mùa Hạ năm Bính Dần (1626), tiên từ ĺa đời, tôi liền đốt bỏ bút, nghiên. Về sau, do duyệt Tạng tạm dùng đến. Thấm thoát đă qua tám năm, tháng ngày chồng chất, ghi chép hỗn độn càng nhiều. Môn nhân hiếu sự, liền sao lục lấy, chẳng đủ để giữ, mà cũng chẳng đủ để hủy. Phân thải của dê con là vật hèn tệ nhất, nhưng có thể trị lành bệnh sốt rét cách nhật và nghẹt mũi. Nay thiên hạ nóng lạnh, ái kiến lắm nỗi, lời lẽ của tôi chẳng ra tṛ trống ǵ, sao biết chẳng thể cùng góp công hiệu với phân dê ư? Bèn gạt bỏ những chỗ rườm rà, thừa thăi, một hai phần bản thảo thiếu khuyết lúc chưa xuất gia, những phần lúc chưa vào núi trước năm Bính Tư (1636), đặt tên là Tịnh Tín Đường Sơ Tập. Nếu dùng con mắt của Kỳ Bà để nh́n, cũng là đặt sắc lam trở lại hư không, chưa từng chẳng phải là vị thuốc có thể chọn dùng được!

 

* Lời tựa sau khi khắc in Tam Thiên Hữu Môn Tụng Giải

 

          Bắc Tề đại sư đạt được đạo Trung Luận của ngài Long Thọ, truyền cho ngài Nam Nhạc, [ngài Nam Nhạc] lại truyền cho ngài Trí Giả. Giáo Quán bắt đầu được lưu truyền, lư Quyền Thật được nêu tỏ, giải lẫn hạnh đều diệu, chân thật truyền tâm ấn của Phật, phủ trùm các tông. Ngài Kinh Khê đời Đường và Tứ Minh đời Tống đều được xưng tụng là bậc trung hưng giáo chủ; do đó, khiến cho hoa sen trong nhà lửa cùng được thấm cam lộ, Lương Túc, Trần Quán[59] đều là những người [được hưởng cam lộ] ấy. Từ thời Nguyên - Minh đến nay, đạo này chẳng được mạnh mẽ, hoặc là có Giáo chẳng có Quán, như kẻ nghèo đếm của báu, hoặc có Quán mà chẳng có Giáo, đem phàm lạm thánh. Năm đầu thời Thần Miếu, Diệu Phong lăo nhân khởi xướng, một người dạy, lắm kẻ nói ra nói vào, khôn ngăn ồn ào. Cư sĩ Khai Chi Phùng bèn tận lực thỉnh Sư chú giải Hữu Môn Tụng để làm phong thái cho bậc sĩ quân tử. Sư ngôn từ thông đạt, lư rạng ngời, tăng tục nhất trí hướng về sự giáo hóa.

Tới nay đă sáu mươi năm, cổ bản chẳng c̣n thấy nữa, tôi nghĩ dẫy sạch cỏ dại lần nữa, thật sự nhờ vào hai vị đại sĩ Diệu Phong và Khai Chi Phùng. Do vậy lại giảo chánh bản khắc ḥng báo pháp ân, và in kèm sách Oánh Trung Thượng Minh Trí, ḥng nêu tỏ lẫn nhau. Nếu người đọc biết Hữu tâm nhỏ nhoi chính là Hữu chẳng thể nghĩ bàn, chính là Diệu Giả, chính là sơ môn của Viên Giáo, chính là pháp giới, trọn đủ ba ngàn các pháp chẳng thiếu, chẳng thừa, há chẳng phải là trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật ư? Há chẳng phải là cảnh chẳng thể nghĩ bàn, trọn đủ chín pháp thành một Đại Thừa, chẳng sanh ḷng thoái khuất, chẳng sanh tăng thượng mạn ư? Ôi! Nếu chẳng đọc sách này, sao biết sự mầu nhiệm của tam đại ngũ tiểu (ba bộ chú giải lớn và năm bộ chú giải nhỏ của tông Thiên Thai)? Nếu chẳng chuyên ṛng, thuần thục tam đại ngũ tiểu, sao biết được cái hay của lời giải bài tụng này?

 

* Lời tựa cho Tứ Thư Ngẫu Ích Giải

 

          Ngẫu Ích Tử mười hai tuổi đàm luận Lư Học, nhưng chẳng biết Lư. Hai mươi tuổi học tập huyền môn, nhưng chẳng biết huyền. Hai mươi ba tuổi tham Thiền, mà chẳng biết Thiền. Hai mươi bảy tuổi học Luật, nhưng chẳng biết Luật. Ba mươi sáu tuổi diễn Giáo, nhưng chẳng biết Giáo. Cho tới khi bệnh nặng gần chết, quay về nằm bẹp tại Cửu Hoa, chất cặn mục nát ngỡ là món ngon, cám bă ngỡ là lương thực, quên bẵng h́nh hài, đoạn duyên đời, muôn mối lo nghi đều thành tro tàn, nhất tâm không nơi gởi gắm. Sau đấy mới biết Nho, huyền, Thiền, Luật, Giáo, không ǵ chẳng phải là lá dương và nắm tay suông, thuận theo sự mong muốn của trẻ thơ mà khuyên dụ. Dụ đúng ư, nó sẽ cười khanh khách. Dụ chẳng đúng, nó sẽ khóc oa oa. Trẻ thơ khóc, cười tự tại, há tổn hại ǵ đến cha mẹ? V́ thế, con cười th́ cha mẹ vui; con khóc, cha mẹ lo. Thiên tánh tương quan, muốn bỏ mà chẳng thể! “Phạt kha, phạt kha, kỳ tắc bất viễn” (đẽo cán ŕu, đẽo cán ŕu, cách làm chẳng xa)[60]. Nay khuyên dụ người này, tức là để sau đó, người ấy sẽ khuyên dụ kẻ khác. Nếu vẫn chẳng tránh khỏi thuận theo nắm tay suông hay lá vàng mà khóc, cười, há có thể khuyên dụ người khác ư?

Do tỳ-kheo Triệt Nhân từ trong hoạn nạn, trắc trở, khá am tường Luật học, nhưng chưa hiểu rơ Thiền Quán, nhiều lượt gắng sức, rốt cuộc vẫn c̣n bị ngăn cách bởi một tấm màng. Sư bèn chí thành thỉnh ư đức Phật, rút được cái thăm “cần nhờ vào Tứ Thư để giúp hiển thị Đệ Nhất Nghĩa Đế”. Tôi bèn gượng bệnh mà nêu ra những ư chỉ chánh yếu, viết xong bỏ vào trong các ống đựng, bấm tay đếm đă mười mấy năm. Triệt Nhân đă qua đời lâu rồi! Than ôi! Sự đổi, người khuất, thân và cơi đời có ǵ là thật? Thấy nghe như cũ, xưa nay nào khác? Cái biến đổi chưa hề biến, cái chẳng biến đổi cũng chưa hề bất biến, há c̣n chấp trước vào mỗi bên, phần nào là vô thường, phần nào là thường nữa ư?

Mùa Hạ năm nay, viết xong Thành Duy Thức Tâm Yếu, ngẫu nhiên dùng sức thừa đọc lại bản thảo cũ, sửa đổi chỗ chưa thỏa đáng, bổ sung thêm những chỗ chưa đầy đủ. Trước hết là Luận Ngữ, kế đó là Trung Dung rồi đến Đại Học, cuối cùng là Mạnh Tử. Luận Ngữ là sách của Khổng Tử; do vậy, xếp đầu tiên. Trung Dung và Đại Học đều do Tử Tư trước tác nên xếp kế đó. Tử Tư trước hết soạn Trung Dung, trong Đới Lễ[61], [sách này] được xếp vào hàng thứ ba mươi mốt. Sau đó, soạn Đại Học, Đới Lễ xếp [sách này] vào hàng thứ bốn mươi hai. Chương đầu tiên của Đại Học là “tại minh minh đức”, nhằm thừa tiếp chương trước (tức sách Trung Dung) để nói về “dư hoài minh đức” (ta vốn ôm ấp đức sáng), vốn chẳng phải là một kinh mười truyện[62]. Bản cũ cũng chẳng bị “thác giản” (thứ tự lầm loạn)[63], cư sĩ Vương Dương Minh đă biện định. Mạnh Tử theo học với Tử Tư, cho nên [sách Mạnh Tử được] xếp ra sau [Trung Dung và Đại Học]. Giải Luận Ngữ gọi là “điểm nhăn”, ḥng mở ra quang minh xuất thế. Giải Trung Dung và Đại Học được gọi là “trực chỉ”, do đàm luận nguồn tâm bất nhị. Giải Mạnh Tử được gọi là “trạch nhũ” (chọn sữa). Uống lấy chất thuần vị, chừa nước lại. Phật, Tổ thánh hiền đều chẳng có thật pháp để ràng buộc con người, chỉ v́ mọi người mà tháo niêm, cởi trói, nay cũng bất quá là dùng gỗ chêm để nạy cái chêm khác văng ra, ḥng giúp nêu tỏ tâm ấn của thánh hiền đó thôi!

 

* Lời tựa tự soạn cho sách Phạm Vơng Hợp Chú

 

          Lớn lao thay giáo pháp trong phẩm Tâm Địa của kinh Phạm Vơng, chỉ điểm nguồn cội sâu thẳm của tâm tánh, đích xác chỉ bày từ đầu đến cuối sự diệu tu, Giới lẫn Thừa đều gấp, Đốn và Tiệm cùng thâu nhiếp, ước theo Bổn, Tích, ngang, dọc đều khai, kiêm ư chỉ uyên áo của Hoa Nghiêm và Pháp Hoa. Xét ra, quán hạnh Sự lẫn Lư đều trọn vẹn, gồm thâu cương lănh to tát của ngũ thời, bát giáo. Kinh văn tuy chỉ truyền một phẩm, nhưng ư nghĩa thật sự quán triệt toàn bộ bản kinh.

Xưa kia, vào thời Trí Giả đại sư, căn tánh của con người c̣n nhạy bén, đă rộng tuyên pháp môn Giáo Quán, cho nên Ngài chỉ sớ giải phần giới pháp trong quyển hạ. Đại sư am hiểu tinh tường Luật Tông, lời văn giản ước mà nghĩa rộng răi, chỉ bày cho kẻ hiểu Luật thuở ấy th́ dễ dàng, chứ khai ngộ cho người mờ mịt đối với Luật hiện thời sẽ khó khăn lắm! Đă hơn một ngàn năm, [kinh này] đă trở thành bí điển từ lâu! Ngài Vân Thê đă nêu bày những điều ẩn kín, nhưng lời Sớ vẫn có nhiều chỗ thiếu sót, dễ gây ngờ vực. Hơn nữa, tuy quyển hạ đă được sớ giải, nhưng quyển thượng vẫn chưa được mở mang, xiển dương! Than ôi! Tứ y đại sĩ đối với pháp há có tâm tiếc nuối ư? Chúng sanh duyên mỏng, hiếm gặp gỡ pháp môn hy hữu!

Trí Húc thuở bé tôn sùng Lư Học, lấy đó làm trách nhiệm ngàn đời, chỉ hận chướng sâu, huệ kém, chấp Đông Lỗ bèn báng Tây Càn[64]. Về sau, nghe bài tựa sách Tự Tri Lục, và lời bàn luận về “lương tri tịch cảm” (do lương tri mà thầm cảm vời) mới phát khởi tín tâm. Do nghe kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, nghe kinh Đại Phật Đảnh (Lăng Nghiêm), dũng mănh mong xuất thế, quyết chí thề tham Thiền, trốn nhà hành cước. Dẫu mấy lượt phát khởi ngộ giải, nhưng chẳng có thuở quyết chứng! Nhờ có chánh nhân hổ thẹn, chẳng dám lầm lẫn gánh vác, sanh tăng thượng mạn, giẫm theo vết xe đổ đại vọng ngữ trước nay, bèn nghĩ sức túc nhân mỏng ít, phải nên kiêm Giới, kiêm Giáo để tự huân tu. Do vậy, tham cứu các sách Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Ma Ha Chỉ Quán v.v… học tập Giáo Quán của tông Thiên Thai. C̣n một tạng Tỳ Ni đă đọc kỹ ba lượt, vâng lấy kinh Phạm Vơng làm công khóa hằng ngày, bèn đối với những lời dạy nhằm nêu bày chỗ ẩn kín và thiếu khuyết gây ngờ vực [của người xưa], bỗng dưng hiểu rành rành. Ngay như quyển thượng [của kinh Phạm Vơng], lời văn cổ kính, nghĩa u huyền, xưa kia bảo là chẳng thể chấm câu, [nay th́] diệu chỉ rành rành hiện tiền. Do vậy, tôi tính soạn hợp chú nhằm bổ túc chỗ thiếu sót của người thuở trước. Tuy đă phát chí ấy, duyên chướng lắm nỗi, sáu bảy năm qua, vẫn lần khân chưa được toại nguyện!

Năm trước bệnh nặng, mới trốn vào trong núi. Vừa khéo ngài Như Thị Đạo Phưởng từ đất Mân (Phước Kiến) đến t́m, v́ tiên sư của Ngài mà thỉnh giảng kinh này. Vui mừng v́ cùng chí hướng; do vậy, gượng bệnh phô diễn. Chẳng ngờ tâm hoa bùng nở, suối nghĩa tuôn trào, vội nâng bút ghi chép lại thành Huyền Nghĩa một quyển và Hợp Chú bảy quyển. Chú giải xong, trần thuật gốc ngọn để thưa với bậc triết nhân mai sau. Bởi trước kia đă có cái nhân mọn, nay lại tụng niệm đă lâu, nửa đời nghiền ngẫm sâu xa, không ǵ chẳng là ngàn điều suy nghĩ mới được một. Do vậy, đối với sự tướng Lư Quán, chẳng tiếc mỗi một điều đều chỉ bày, đúng là đưa nửa cánh tay giúp bậc hành giả dốc chí tận lực hành tŕ được khai giải. Người sau này coi đến, xin đừng cho là rườm rà, rắc rối mà chán ghét, coi thường, ngơ hầu giải lẫn hạnh cùng viên măn. Coi sách này như thí dụ cái bè [trong kinh Kim Cang] cũng được!

 

* Lời tựa tự soạn sau sách Tán Lễ Địa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi

 

          Đại pháp mờ mịt đă lâu, lắm kẻ hiểu lầm, chấp Đại, báng Tiểu, cả cơi đời đều là như thế. Nhưng các nỗi khổ trong địa ngục sau khi đă thọ, dư báo câm ngọng lại khó thể cùng tận! V́ vậy, Địa Tạng từ tôn, trong hội Đại Tập[65] hiện tướng Thanh Văn, đức Thế Tôn rộng tán thán phẩm đức thù thắng. Lại c̣n nói so sánh rằng: “Giả ư Di Lặc, Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại, Phổ Hiền, căng-già-sa đẳng chư đại Bồ Tát sở, bách kiếp chí tâm quy y, xưng niệm, lễ cúng, cầu chư sở nguyện, bất như nhất thực khoảnh, quy y, xưng niệm, lễ cúng Địa Tạng Bồ Tát, dĩ cửu tu kiên cố đại nguyện, đại bi, dũng mănh tinh tấn quá chư Bồ Tát cố dă” (Giả sử ở chỗ các vị đại Bồ Tát như Di Lặc, Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại, Phổ Hiền v.v… số nhiều như cát sông Hằng, trong trăm kiếp chí tâm quy y, xưng niệm, lễ bái, cúng dường, cầu các điều nguyện, chẳng bằng trong khoảng một bữa ăn, quy y xưng niệm, lễ bái, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, do Ngài tu đại nguyện, đại bi kiên cố đă lâu, dũng mănh tinh tấn vượt quá các vị Bồ Tát khác). Bởi lẽ, thời Mạt nói băi buôi là Đại Thừa rất dễ, c̣n chính ḿnh thực hiện Tăng hạnh rất khó! Phải biết: Phế Tiểu mà bàn Đại th́ ngay cả Đại cũng chẳng phải! Ngộ Đại dùng Tiểu th́ ngay cả Tiểu cũng vốn thù thắng! Do vậy, kinh Pháp Hoa răn người hoằng kinh ắt phải nương vào Tứ An Lạc Hạnh, kinh Niết Bàn tột bậc đàm luận Phật tánh thường trụ. Đối với chuyện phù trợ giới luật, công đức của Đại Sĩ càng riêng thịnh, Ngài được [ca ngợi] như vậy cũng là do điều này đấy chăng?

Trí Húc tiếc nuối sâu xa, do tập khí xấu ác từ đời trước, tuổi thiếu niên tận lực xúc phạm Tam Bảo, tạo tội Vô Gián. Nhờ thiện căn chưa mất, được nghe tôn kinh [Địa Tạng] Bổn Nguyện, biết đại hiếu xuất thế, bèn chuyển tà kiến mà sanh chánh tín. Vẫn do dư nghiệp báng pháp, dẫu siêng khổ tu chứng, vẫn chẳng chứng được Pháp Nhẫn. Mỗi khi xem đọc ba kinh của Đại Sĩ[66], liền chẳng khỏi lệ đẫm đầm đ́a, đau xót thuở trước vô tri, cảm Đại Sĩ cứu vớt. Do vậy nghĩ: Trong thuở trược trí lưu chuyển, người cùng mắc họa ấy chẳng ít, kính vâng theo kinh Thập Luân và hai kinh Bổn Nguyện, Chiêm Sát, soạn thành sám nghi này, ngơ hầu cùng gột rửa tội khiên khi trước, quyết cầu quả mai sau, chẳng rốt cuộc là Vô Y Hạnh! Chưa dự vào chánh vị Vô Sanh đều có thể tu theo, bất luận là kẻ sơ tâm hay học Phật đă lâu!

 

* Lời tựa an cư Chỉ Quán Sơn Pḥng

 

          Tôi bàn luận kinh Đại Phật Đảnh, tới quyển thứ năm, thấy nói: “Phật pháp tùng nhân duyên sanh, phi thủ thế gian ḥa hợp thô tướng” (Phật pháp sanh từ nhân duyên, chẳng phải là giữ lấy thô tướng ḥa hợp của thế gian), nhanh chóng ngộ ư chỉ “Phật pháp từ các duyên” của kinh Pháp Hoa. Diệu chỉ của hai kinh khéo sao nêu ra cùng một đường lối. Ngài Trí Giả chứng Pháp Hoa tam-muội, nắm rơ thập diệu nơi Bổn, Tích[67], quy trọn vẹn vào cái tâm nhỏ nhoi, dạy pháp môn Ma Ha Chỉ Quán, cùng với diệu Xa-ma-tha, Tam-ma, Thiền-na của kinh này phù hợp khít khao. Về sau, những người chú giải kinh điển này không ngờ có tới mười hoặc trăm vị, bỏ Ma Ha Chỉ Quán để lập riêng một đường lối, càng ngày càng xa hơn. Đó là v́ Ma Ha Chỉ Quán đích xác là nhân duyên đại sự của Như Lai, chẳng phải là thô tướng ḥa hợp của thế gian.

Xin nói rằng: Tánh giác diệu minh, Bổn Giác minh diệu, tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch, chẳng phải là cội nguồn chân thật bất nhị của Chỉ Quán ư? Mê cái nguồn chân thật này, bản thể Tịch trở thành tối tăm, bản thể Chiếu trở thành tán loạn. Do vậy, tánh bất biến thuận theo nhiễm duyên mà thành chín giới. Ngộ sự tối tăm, tán loạn này, tán loạn vốn đă tịch, tối tăm cũng vốn chiếu, tức là tánh bất biến thuận theo tịnh duyên mà thành Phật giới. Tuy thành Phật giới, cội nguồn chân thật chẳng tăng. Tuy thành chín giới, cội nguồn chân thật chẳng giảm. Cái lư tùy duyên ấy trải qua nhiễm và tịnh mà trọn bất biến. Tùy duyên tức bất biến là cái nhân của đại sự. Bất biến tức tùy duyên thì là cái duyên của đại sự. Do đó nói: “Như Lai nêu tỏ pháp thế gian và xuất thế gian, biết cái nhân vốn có của chúng, thuận theo cái được duyên mà lưu xuất”. Người biết nghĩa này mới biết “tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”, cũng biết sáu mà thường tc, tu chẳng ở ngoài tánh. Tuy tức mà thường sáu. Tánh chẳng phế tu, tu chẳng ở ngoài tánh, chẳng đọa vào nhân duyên. Tánh chẳng phế tu, chẳng đọa tự nhiên. Trong cơi đời có kẻ chỉ nghe danh tự Chỉ Quán suông, hư vọng nói chỉ thuộc vào tu thành, nào có biết nẻo chân thật “tánh tu bất nhị”?

Tôi xuất gia hành cước, không cách nào đạt được lợi ích. Đối với kinh này, chưa từng vướng mắc một chữ, mà cũng chưa hề ĺa một chữ. Về sau, đọc giáo nghĩa Thiên Thai, thường thấy dẫn kinh Chiêm Sát. Kinh Chiêm Sát chỉ bày cảnh Nhất Thật, đó chính là cái nhân của đại sự. Kinh chỉ dạy hai loại Quán, đó chính là cái duyên của một đại sự. Càng tin mật nhân của Như Lai, vạn hạnh của Bồ Tát, một môn siêu xuất, chẳng hai, chẳng ba. Đúng là chẳng lừa dối ta! Mỗi khi nêu ra nghĩa này để chỉ điểm cho người chưa nghe, tùy thuộc căn tánh của họ, ai nấy đều đạt được pháp hỷ. Ôi! Nếu tôi cùng các bạn chẳng cùng trọn đủ cái nhân này, sẽ trọn chẳng liên quan đến pháp tánh. Chẳng gieo cái duyên này đã lâu, há người nói và kẻ nghe có thể hợp ư ư?

Ngài Trí Giả hướng vọng kinh này lễ bái, suốt mười tám năm chẳng được thấy. Hơn một trăm năm sau, ngài Bát Lạt Mật Đế (Pramiti) mổ bắp chân [giấu kinh vào vết mổ] truyền tới. Nỗi khổ tâm của hai vị Đại Sĩ há có phải v́ kẻ chấp chặt văn tự mà thêm thắt dây leo ư? Ắt phải Giáo Quán cùng nêu tỏ, do ngón tay mà thấy mặt trăng. Do kinh này mà thông suốt Chỉ Quán. Do Chỉ Quán mà tin thấu triệt lời tôi nói chẳng phải lừa bịp! Nay do kết hạ chín mươi ngày, quả thật là duyên nhân trải qua kiếp số nhiều như vi trần, bèn nêu ra một bài tụng để giúp cho diệu quán. Tụng rằng: - Chưa dứt cuồng tâm, đầu vẫn đó. Nhà đẹp đă ngắm, cửa chẳng tận. Triệt ngộ mật nhân chẳng sanh diệt. Vạn hạnh mới hay rốt ráo đồng!

 

* Lời tựa tự soạn cho sách Tuyệt Dư Biên

         

          Đối với sự tu hành trong suốt một đời, trăm điều chẳng được một điều hay khéo! Chỉ riêng đại Bồ Đề tâm, quên thân v́ pháp, xả ḿnh theo người là kham vâng theo các đấng từ tôn trong ba đời. Từ năm Canh Ngọ (1630) cho tới năm Giáp Tuất (1634), trong ṿng năm năm, mấy lượt gặp cảnh khốn khó quấy nhiễu mà chẳng lùi bước. Tới giữa Thu năm Ất Hợi (1635), chí trọn chẳng được thỏa. Mùa Xuân năm Bính Tư (1636) bèn ẩn cư, giữa đường bệnh nặng, bèn ở nhờ nơi Cửu Hoa, xót xa cầu đảo Bổn Sư Địa Tạng, vẫn có cơ hội duyệt kinh tạng, trước thuật. Than ôi! Văn tự tánh Không, tánh Không tức là Thật Tướng. Thật Tướng ĺa hết thảy các tướng, chính là hết thảy các pháp, há ĺa văn tự mà được giải thoát ư? Xưa kia đă vứt bỏ bút, nghiên, tuy dứt mà chẳng dứt, nay cũng chẳng tuyệt mà tuyệt, đành gọi là Tuyệt Dư!

 

* Lời tựa khuyên tŕ kinh Đại Phật Đảnh

 

          Tam nhân[68] tánh đức, dứt bặt đối đăi, trọn khắp thường hằng, ngộ tánh thành tu th́ gọi là Viên Thông. Hiện tại ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ chính là chánh thể của kinh thuộc Giáo, Lư, Hạnh, nhưng kẻ mê nặng nề tuy sử dụng hằng ngày mà chẳng biết. Do vậy, nương theo Thật Tướng mà chỉ bày văn tự. Nương theo văn tự để giúp cho quán chiếu. Quán chiếu văn tự đều là Thật Tướng. Quán chiếu Thật Tướng đều là văn tự. Văn tự và Thật Tướng đều quán chiếu. Từ ngay nơi bản thể của Thật Tướng và bản thể của văn tự mà quán chiếu bản thể. Thật Tướng là thường, mà văn tự quán chiếu cũng là thường. Thật Tướng trọn khắp, văn tự quán chiếu cũng trọn khắp. Thật Tướng giác, văn tự quán chiếu cũng giác. Thật Tướng tôn quư, văn tự quán chiếu cũng tôn quư. Thật Tướng chẳng thể thấy, văn tự quán chiếu cũng chẳng thể thấy. Thật Tướng chẳng thể là Vô, văn tự quán chiếu cũng chẳng thể là Vô. Than ôi! Đă ngộ Thật Tướng, há dung chẳng nhờ vào văn tự? Chưa thông đạt Thật Tướng, há dung chẳng siêng năng quán chiếu ư? Đă quán chiếu sâu, biết chẳng có văn tự ở ngoài Thật Tướng. Kẻ chưa quán chiếu tinh tường, há biết Thật Tướng trong văn tự ư? Tuy chẳng biết Thật Tướng của văn tự, nhưng Thật Tướng chưa hề chẳng phải chính là văn tự.

Trí Giả đại sư suốt đời lễ bái kinh Đại Phật Đảnh, Bát Lạt tôn giả truyền [sang Trung Hoa] bằng cách mổ bắp chân [giấu kinh vào đó], chẳng dùng Thật Tướng để quán chiếu, đều nhờ vào văn tự làm duyên ư? Chắc có kẻ nói: “Cái mà thánh nhân chẳng thể trao truyền đă qua mất rồi. Cái được truyền là cám bă”. [Nói như vậy] tức là chưa thấu đạt ư chỉ “Thật Tướng, quán chiếu và văn tự trọn khắp lẫn nhau”. Xưa kia, thầy toán trao bí quyết cho con. Con đọc thuộc, nhưng chẳng thể dùng. Có người theo học bí quyết, bèn tính toán chẳng kém cha [kẻ đó], vậy th́ nói: “Bí quyết có hay khéo ư? Sao người con học thuộc mà chẳng biết? Bí quyết chẳng hay khéo ư? Sao người khác học rồi bèn có thể tính toán?” Hơn nữa, không có người con học thuộc, người khác sẽ học từ chỗ nào? Cố nhiên tôi chẳng mong con của kẻ khác sẽ như thế. Dẫu con là như thế, vẫn hơn kẻ chẳng tụng đọc! Huống hồ pháp lực chẳng thể nghĩ bàn, Phật lực chẳng thể nghĩ bàn, tánh giác lực chẳng thể nghĩ bàn, huân tập chẳng nghĩ bàn, trọn khắp chẳng nghĩ bàn. Đó là cái nhân chân thật để thành Phật, há khẩu quyết tính toán có thể sánh ví được ư?

 

* Khuyên tŕ phẩm Tâm Địa của kinh Phạm Vơng

 

          Phàm người hữu tâm đều có thể thành Phật, đều thuộc vào phạm vi của giới luật nhà Phật. Đă thuộc vào phạm vi của giới luật nhà Phật, há dung chẳng tụng giới pháp này? Giới pháp này có tên gọi là phẩm Tâm Địa. Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp càng chẳng có tâm. V́ thế, lại nói: “Bất thọ giới giả, như mộc thạch, vô tâm, danh vi ngoại đạo” (kẻ chẳng thọ giới như gỗ, đá, chẳng có tâm, gọi là ngoại đạo). Ôi! Đáng nên suy nghĩ! Người thời này cao giọng đàm luận tâm tánh, hư vọng bảo “chẳng cần thọ giới!” C̣n người chịu thọ giới th́ mờ mịt chẳng biết tâm tánh là vật như thế nào? Một nghĩa vừa mới mờ mịt, hai thứ bệnh liền sanh. Cái tâm đàm luận cuồng vọng cố nhiên chẳng phải là chân tâm. Giới được bẩm thọ ngu muội, cũng chẳng phải là chân giới! Nhưng Sự có thể kèm theo Lư, giới thiện (điều thiện do vâng giữ giới) vẫn có thể làm cái duyên nhân xa. Lư chẳng thể tồn tại một ḿnh, đàm luận suông chính là căn cơ của tà kiến! Do vậy, kinh Niết Bàn được xướng lên tối hậu, liền coi chống đỡ Luật là Tông. Phạm Vơng [được đức Phật nói] lúc mới thành đạo, Mộc Xoa được kết trước. Một phẩm Tâm Địa càng là cầu, bến cho thuở mạt kiếp, là đuốc báu trong đường tối.

Tôi thương xót sa-di Liễu Nhân Quả, phước lẫn huệ đều thiếu, khuyến khích ông ta lấy phẩm này làm khóa tụng hằng ngày. [Nhờ đó, ông ta] được hưởng đôi chút pháp hỷ, bèn nghĩ khuyên lơn những người cùng hàng. Kinh dạy: “Bồ Tát thường ưng hóa nhất thiết phát Bồ Đề tâm. Nhược bất phát giáo hóa chúng sanh tâm giả, phạm khinh cấu tội quả dă” (Bồ Tát hăy thường nên giáo hóa hết thảy phát Bồ Đề tâm. Nếu chẳng phát tâm giáo hóa chúng sanh, sẽ phạm tội quả khinh cấu). Hăy gắng lên! Vững cái thần, mạnh cái chí, giữ bản lănh thường hằng, chuyên dốc cái hạnh. Trọn hết hữu t́nh trong đại địa đều quy vào pháp môn Tâm Địa, đừng coi ba ngàn [tánh tướng] là rốt ráo!

 

* Lời tựa khuyến hóa tŕ thần chú Đại Phật Đảnh

 

          Thần chú vô thượng Ma Ha Tất Đát Đa Bát Đát Ra (Mahā-sitātapatra, Đại Bạch Tán Cái) truyền vào Chi Na, đă quen được xếp vào khóa tụng hằng ngày. Có thể nói là duyên chủng Đại Thừa của phương này mạnh mẽ, nhưng sự sai ngoa trong truyền thừa đă tích tụ. Có kẻ gọi sáu chữ Tất Đát Đa Bát Đát Ra là chú tâm; có người gọi đó là tên của thần chú, riêng coi mấy câu từ chữ “đát điệt tha” (tadyatha) trở đi là chú tâm, bịa đặt vô căn cứ, chống lại ư chỉ từ bi của đức Phật, đều đáng đau ḷng! Kinh đàm luận tột bậc công đức của chú tâm, bảo kẻ tối tăm chưa thể tụng được, hăy nên chép lại, thờ trong Thiền Đường, hoặc đeo trên thân, trọn chẳng nghe nói chỉ mấy câu là chú tâm. Nếu chỉ là mấy câu, sao đến nỗi tâm tối tăm, chẳng nhớ nổi, phải dùng viết, thờ, đeo trên thân để làm Phật sự?

Bởi lẽ, mười quyển kinh văn rơ ràng, hiển thị Như Lai tạng tâm. Năm hội thần chú ngầm diễn nói Như Lai tạng tâm. Hiển và Mật tuy khác, nhưng tâm và tánh cùng một lư. Toàn thể tâm thành chú, toàn bộ chú truyền tâm. Do vậy gọi là “tâm chú”, cũng gọi là “chú tâm”. Thiền nhân Giải Thiên rộng khuyên những người chân tín, tận lực hành tŕ hoặc tŕ trọn, hoặc chép trọn, để tự thờ hoặc đeo, và chuyển thí cho người khác, ngơ hầu nhờ vào thần lực để hiển phát tự tâm. Một là chấn chỉnh sai ngoa trong đời Mạt, cùng được thọ kư quán đảnh. Ngài A Nan v́ đại chúng thỉnh [đức Phật] tuyên thuyết lần nữa, Như Lai phóng quang nói lại. Hộ pháp nêu lời phát nguyện thỉnh gia bị, Kim Cang Tạng Vương bao kiếp hướng theo, thâu tóm công năng đều vào đấy cả!

 

* Lời tựa tự ghi cho sách Châu Dịch Thiền Giải

 

          Ngẫu Ích Tử kết Đông tại Nguyệt Đài, ngoài lúc Thiền tụng, cầm vi biên (kinh Dịch)[69] để chú giải. Nếu có ai hỏi: “Ông chú giải kinh Dịch đấy ư?” Tôi thưa: “Đúng vậy!” Lại có người nh́n thấy hỏi: “Ông chú giải chẳng phải là kinh Dịch ư?” Tôi nói: “Đúng vậy!” Lại có người thấy, bèn hỏi: “Ông chú giải vừa là kinh Dịch, vừa chẳng phải là kinh Dịch ư?” Tôi nói: “Đúng vậy!” Lại có kẻ trông thấy hỏi: “Ông chú giải chẳng phải là kinh Dịch, chẳng phải không là kinh Dịch ư?” Tôi nói: “Đúng thế!” Thị giả cười nói: “Nếu là như vậy, bèn đọa trong bốn câu!”

Tôi nói: - Ông chẳng nghe “bốn câu đều chẳng thể nói; do có nhân duyên th́ đều có thể nói” ư? Nhân duyên chính là Tứ Tất Đàn. Có người nói ta là Thích tử, do thông Nho nên có thể giải Dịch, đó là hoan hỷ. Do vậy [người đó] nói là Dịch, tôi bèn bảo là đúng. Đấy chính là Thế Giới Tất Đàn. Hoặc có kẻ nói “Thích tử làm sao có thể chú giải kinh Dịch giống như kẻ tục Nho”, biết lời chú giải chẳng phải là kinh Dịch, thiện tâm bèn nẩy sanh. Cho nên họ nói “chẳng phải là Dịch”, tôi bảo là đúng. Đó là Vị Nhân Tất Đàn. Hoặc nói “Nho và Thích đă chẳng phân biệt. Nếu biết Dịch và chẳng phải Dịch ắt có sai biệt, tuy khác mà đồng, tuy đồng mà khác”, căn bệnh lẫn lộn sẽ chẳng khởi lên được! Do đó, nói “vừa là Dịch vừa chẳng phải là Dịch,” tôi bảo đúng; đó là Đối Trị Tất Đàn! Hoặc có kẻ nói “Nho và Thích ắt có thật pháp”. Nếu biết “chẳng phải là Dịch” th́ Nho chẳng nhất định là Nho. Biết “chẳng phải không là Dịch”, th́ Thích chẳng nhất định là Thích, chỉ có danh tự mà chẳng có thật tánh, nhanh chóng thấy lư chẳng thể nghĩ bàn. V́ thế nói “chẳng phải là Dịch, chẳng phải không là Dịch”, tôi đáp “đúng đấy”; đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

Thị giả thưa: - Chẳng phải vậy! Nếu lời chú giải chẳng phải là Dịch, nhưng người ta nói là Dịch, có thể giúp cho pháp xuất thế, sẽ trở thành tăng ích báng. Nếu chẳng phải là Dịch, người ta nói “thầy tự nói Thiền, có bao giờ biết Dịch”, trở thành tổn giảm báng. Nếu vừa là Dịch vừa chẳng phải Dịch, người ta nói “Nho vốn chẳng phải là Thiền, Thiền cũng chẳng phải là Nho”, trở thành tương vi báng. Nếu chẳng phải là Dịch, chẳng phải không là Dịch, người ta nói “Nho chẳng thành Nho, Thiền chẳng thành Thiền”, trở thành hư luận báng! Con chẳng thấy đó là Tứ Tất Đàn!

Tôi nói: - Đó là lẽ cố nhiên. Ông chẳng nghe nhân sâm khéo bồi bổ, nhưng người cần bổ khí uống vào sẽ chết ngay lập tức ư? Đại Hoàng[70] gây tổn hại nhất, nhưng người đầy bụng uống vào, lập tức lành bệnh. Trời sanh trưởng muôn vật, nhưng vật cố nhiên có loài gặp mùa Xuân bèn mục nát. Mùa Hạ trưởng dưỡng các loài, nhưng cỏ cũng bị khô héo trong mùa Hạ. Mùa Thu cây cối tiêu điều, nhưng cúc trổ hoa. Mùa Đông [mọi vật] ẩn tàng, nhưng tùng, bách xanh mướt, hoa mai thơm ngát. Nếu ắt phải chọn lựa có lợi, chẳng có hại rồi mới làm, trời đất chẳng thể không tiếc nuối! Hơn nữa, đức Phật dùng mắt Từ xem xét cơi đại thiên, các căn cơ đă chín muồi, sau đấy mới thị hiện giáng sanh, vẫn c̣n có ma Ba Tuần gây rối, chín mươi lăm loại ngoại đạo đố kỵ, Đề Bà Đạt Đa nhiều phen nghĩ cách làm hại. Há chỉ Nghiêu, Thuấn được gọi là vẫn có khuyết điểm ư? Nguyên do tôi chú giải Dịch không có ǵ khác, dùng Thiền để nhập Nho, dẫn dụ Nho biết Thiền. Dẫu chẳng đạt được bốn món lợi ích, dấy lên bốn thứ hủy báng, cũng như do đất mà ngă, vẫn từ đất mà đứng lên. Bỏ chất độc trong sữa, sữa chuyển thành đề hồ, chất độc ấy vẫn c̣n đó. Biến Hành là thầy của ngoại đạo, Tát Giá là thủ lănh Ni Kiền Tử[71], ư tại nơi đó!” Thị giả lại bái tạ rằng: “Đấy là điều đệ tử chẳng thể thấu đạt được, xin hăy ghi lại để ǵn giữ”.

 

* Lời tựa tự ghi sau phần Huyền Văn của kinh Đại Phật Đảnh

         

          Giáo pháp trong kinh Đại Phật Đảnh tột bậc thay! Nương vào diệu tánh để khai diệu ngộ, khởi diệu hạnh để trải qua các địa vị mầu nhiệm, thành tựu diệu quả để quy vào diệu tánh, vĩnh viễn thoát khỏi sự trầm luân trong bảy đường[72], chẳng rơi vào ngơ rẽ trong khi tu tâm. Giới lẫn Thừa đều gấp, Đốn và Tiệm cùng dung thông, Hiển và Mật giúp nhau, Lư và Sự chẳng hai, đúng là kim chỉ nam trong biển giáo, là chánh nhăn của Tông Thừa. Lúc Húc hai mươi ba tuổi, nhằm năm Tân Dậu (1621), bắt đầu được Văn Huân, quyết chí ĺa tục. Năm sau, xuống tóc, khoác áo thâm, tọa Thiền tại Song Kính, mỗi khi gặp các cảnh trong khi tĩnh tọa, không ǵ chẳng nhờ vào chiếc kim vàng này! Trong hai mùa Hè Ất Sửu (1625) và Bính Dần (1626), bị đôi ba người bạn thúc ép diễn nói hai lượt, hiểu tâm rất nhiều, nguyện chú trọng xiển phát. Do dốc chí nơi tông thừa, chưa rảnh để soạn thuật. Mùa Xuân năm Kỷ Tỵ (1629), quanh quẩn một trăm ngày ở chỗ sư bá Bác Sơn Vô Dị, đau xót sâu xa trước Thiền bệnh thời Mạt, mới một dạ nghiên cứu cùng tận giáo nhăn ḥng bổ khuyết chỗ lệch lạc. Dẫu duyệt khắp Đại Tạng, nhưng chỗ hội quy chẳng ra ngoài hai kinh Phạm Vơng và Phật Đảnh. Bảy năm sau, tức năm Bính Tư (1636), ôm bệnh lẩn trốn tại Cửu Hoa. Năm sau, có mấy người cùng chí hướng, thích nghe yếu chỉ của kinh này, một phen thương lượng, nghiên cứu, càng hiểu tâm hơn.

Năm Mậu Dần (1638), kết Hạ tại Tân An, lại nêu ra diệu nghĩa, càng thêm tinh ṛng, sáng tỏ gấp bội. Mùa Hạ năm nay, hoằng pháp tại Ôn Lăng, thầy Tụng Trửu Phưởng và hết thảy tri kỷ khăng khăng thỉnh tôi sớ giải nhằm khải phát những chỗ tiền nhân chưa phát. Tôi nói: “Kinh này các bản chú giải cũ đă nhiều! Nếu chỉ bày nhiều, sẽ càng thêm lóa mắt, ù tai”. Thầy Phưởng nói: “Chẳng phải vậy! Thuốc chẳng có sang hay hèn, trị khỏi bệnh là thuốc hay! Pháp chẳng có tinh hay thô, cứu đúng lúc th́ là trọng yếu. Nghĩ đau xót thời mạt, Tông và Giáo tách rời nhau, toàn là nói ‘biệt truyền’ thật sự là ở ngoài giáo, nào có biết trong giáo luôn có chân truyền! Dẫu bảo họ cắt đứt ngón tay [chỉ trăng], họ vẫn y hệt như cũ, chưa từng thấy mặt trăng! Thường nghe nghĩa do thầy tôi lập, nhanh chóng, gọn gàng, thật sự tương ứng với tông chỉ nơi bổn phận, trọn chẳng giẫm theo khuôn sáo của tiền nhân, mới tin chẳng ĺa văn tự mà nói giải thoát chẳng lừa dối ta vậy! Sao nỡ ẩn kín diệu ngộ ấy, chẳng chỉ dạy toàn thể cho người khác? Thầy tôi đối với pháp há có tâm keo tiếc ư?”

Khi ấy, lại có các thầy Tu Bạch Mộ và Nhược Thủy Luân cực lực khuyên lơn tôi thực hiện. Tôi cảm kích ư họ, kiêm xét nguyện cũ, soạn thành Huyền Nghĩa hai quyển, Văn Cú mười quyển. Cố nhiên chẳng dám bày vẽ lập dị với cổ nhân, mà cũng chẳng dám gượng ép cho giống hệt cổ nhân. Hiểu tôi hay trách tội tôi, đành nghe theo các bậc cao minh mà thôi!

 

* Lời tựa cho Phóng Sanh Xă một ngàn người của Duyệt Sơ khai sĩ

 

          Tôi thuở bé tôn sùng Lư Học, biết “đức to lớn trong trời đất gọi là Sanh; ḷng trắc ẩn là đầu mối của ḷng nhân”, đâm ra ngờ vực họ Thích chỉ nói quá nhiều về vô sanh, chẳng đếm xỉa t́nh người! Hơi lớn hơn, thấy nhà Nho tuy nói “dân bào, vật dữ” (dân là người ruột thịt của ta, loài vật cũng có linh giác giống như ta), nhưng miệng ăn thỏa thích thứ ngon béo, tranh nhau viện cớ “xa lánh nhà bếp” là phương cách thể hiện ḷng nhân, chưa từng nghĩ đến nỗi khổ do bị đao chặt, kêu gào. Tuy một niệm bất nhẫn ắt chẳng thể diệt, nhưng bị các dị thuyết tham lam, tàn nhẫn che lấp, trọn chẳng thể mở rộng [ḷng nhân] được, c̣n hội phóng sanh tốt lành thường do Thích tử sáng lập, lại c̣n suy cùng tận thân duyên trải bao kiếp, xem họ là Tứ Đại cùng một Thể, xét tột cùng th́ ai nấy đều có Phật tánh, coi đức hiếu sanh là tốt đẹp, ắt khiến cho trọn hết hàm linh trong đại địa đều chứng Vô Sanh mới thôi!

Than ôi! Do vậy bèn nói rằng: Chẳng thông đạt Vô Sanh, sao có thể hiếu sanh? Chẳng phải thật sự hiếu sanh, sao có thể chứng Vô Sanh? Từ đấy, chẳng ngó ngàng danh giáo (đạo Nho), nhanh nhẩu xuống tóc, do thật sự thấy đại từ đại bi xuất thế mới là đại trung, đại hiếu, đại trí, đại nhân. V́ thế, chẳng chịu Dạ Lang tự phong (tự cao, tự đại). Duyệt Sơ khai sĩ thề khuyên một ngàn người phóng sanh, cùng tu TTâm tam-muội. Tôi nói môn tam-muội này hăy nên khiến cho [các chúng sanh nhiều như] số vi trần trong một cơi nước cùng chứng, đâu phải chỉ một ngàn người! Nói “một ngàn người” chính là nói theo phân lượng phàm phu hiện tiền có thể đạt được mà thôi. Số một ngàn đă trọn, bèn đảnh lễ một ngàn vị Phật, ngơ hầu lục đạo bi ngưỡng, cùng với từ lực của chư Phật “quả thấu triệt, nhân bao trùm”, cúng dường một ngàn vị Tăng, giúp cho Lư và Sự cùng dung thông, chúng sanh và Phật chẳng hai, hiếu sanh và vô sanh, dù Lư hay Sự, đều đă là cùng tột theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang!

 

* Lời tựa tặng huynh Diễn Như

 

          Tôi từng cảm khái người thuộc đời Mạt, mánh khóe ngày một sâu, cách đạo ngày một xa, cái tâm danh tướng ngày càng nặng nề, phương cách để đạt được lợi ích ngày càng ít ỏi. Cầu quên bẵng mánh khóe hư vọng, coi nhẹ danh tướng, thong dong vui sướng, chẳng bị đắm nhiễm bởi tập khí theo thói tục, chắc là thầy Diễn Như Lâm đấy chăng? xuất thân từ danh gia vọng tộc họ Nhan ở Chương Nam, xuống tóc xuất gia tại Hổ Không, vực dậy đạo tràng đă bị bỏ hoang cả ngàn đời, khiến được thay đổi mới mẻ. trụ tŕ mười lăm năm, trăm chuyện đều toàn vẹn, bèn đi hành cước. Thoạt đầu đến Vũ Lâm, tham học với các vị pháp chủ Tự Không và Kim Đài. Kế đó, tới Ngô Trung, gặp các vị Thiền đức như Hán Nguyệt, Đảnh Mục v.v… vâng giữ giới Sa-di. Kế đó, tới Lưu Đô, đến Cổ Lâm Am để được trọn vẹn giới. Trở về, gặp gỡ ngài Tuyết Quan Ngân, lên núi Hoàng Bá, yết kiến ngài Ẩn Nguyên Kỳ. Cuối cùng, tôn bậc lăo túc là Văn Cốc làm thầy. Sư được đặt pháp danh, tập ngồi Thiền, chứng giới phẩm lần nữa, quải tích tại giới đàn Cam Lộ ở Khai Nguyên. Vừa đúng lúc tôi tới đó, Sư hết sức vui mừng, v́ tôi mà suất lănh đại chúng giải kết giới. Tôi tới Đại Sơn, Sư đă sang trước. Đợi chuyện diễn giảng xong, tận lực từ chối lời thỉnh của các vị tại Hổ Không, Tiên Đ́nh, vẫn cùng tôi kết hạ tại Đại Sơn.

Tôi thường thấy người đời hễ có chỗ tạm ở, liền muốn nghĩ cách ở yên lâu dài. Nay Hổ Không, Tiên Đ́nh đều là chốn chùa chiền hữu danh ngời ngời, Sư thong dong chẳng bận ḷng, há chẳng phải là không màng đến ư? Nhưng du hư giải thoát, nghiễm nhiên thoát ly ngoại vật, chỉ có thể tự lợi, chưa thể lợi người! Sư từng tham học rộng với các bậc tri thức, tôn sùng Văn Cốc lăo túc, lại tiếc nuối gặp gỡ tôi muộn màng. Tôi là thứ chẳng ra tṛ trống ǵ, đành gác lại đó. Sư thử suy nghĩ: Người học hiện thời, không chỉ là chưa đắc mà nói đă đắc, chưa chứng nói đă chứng, nhưng nghe Sư đă riêng định đường lối trọng yếu, cắt đứt thoại đầu cuồng thiền. V́ thế, người có trí nói rằng: “Chân Tịch đối với ngài Vân Thê, ví như Hữu Nhược[73] đối với Khổng Tử”. Sao Sư không kế thừa quy củ thơm thảo ấy, kiêm Luật, kiêm Giáo, dùng niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ làm chỉ quy? Nếu có người thuộc căn tánh Tông Môn, chẳng ngại để họ khổ tham thật cứu, chỉ thống thiết răn người ấy đừng bắt bóng, chụp hư. Chương Nam Phật quốc hết sức mong mỏi Sư chấn hưng sự suy đồi, thẳng thừng tạo thành gia phong của bậc tán thánh[74], chỉ mong sao đừng vô sự mệt tâm mà thôi!

 

* Lời tựa tặng huynh Thuần Như

 

          Chúng Hựu[75] từng dạy rằng: “Thiện tri thức là đại nhân duyên để đắc đạo, là phạm hạnh toàn vẹn”. Tùy thuộc người ấy tu một loại pháp môn nào, tự lợi thành tựu, đáng nêu gương cho đàn em, th́ là bậc thiện tri thức giáo thọ. Vận dụng tâm xuất thế chân thật, tu pháp tam thừa xuất thế, chẳng trái nghịch chí nguyện, kiến giải chẳng ngược ngạo, th́ là bậc thiện tri thức đồng hạnh. Khéo ǵn giữ ba nghiệp, khéo cúng dường tứ sự, ngơ hầu hành nhân được yên tâm tu đạo, th́ là thiện tri thức ngoại hộ.

Tôi từ năm Nhâm Tuất (1622) xuất gia, tới nay đă mười chín năm, học theo thầy vô thường, chơi với bạn vô thường, căn độn, sức kém, thường cậy vào cảnh duyên để tự luyện, thấy điều thiện liền mong làm theo mà chẳng đạt được, thấy điều ác trong tâm tự phản tỉnh mà càng thêm hổ thẹn. Trong ba loại thiện tri thức, chỉ có giáo thọ là nhiều nhất. Bởi lẽ, ba người cùng đi, ắt có người là thầy ta. Huống hồ pháp thế gian và xuất thế gian, mỗi đằng đều có bậc trưởng giả ư? Lại c̣n huống hồ kết bạn lâu ngày, như Tào Nguyên siêng học, Tuyết Hàng tâm đau đáu, huynh Tinh Cốc gắt gao, thầy Tụng Trửu ḷng tin chuyên dốc, thầy Quy Nhất chẳng thuận theo thói tục, thầy Tu Nhă nhạt nhẽo danh lợi, khiêm nhượng ư? Huống hồ gặp gỡ, tham yết, như thầy Vô Dị từ bi rộng lớn, thầy Văn Cốc nghiêm cẩn, tinh tế, điềm tĩnh, thầy Vô Tận hoằng dương Giáo Quán ư? Lại c̣n như thầy Trạm Minh tiến dẫn tôi xuống tóc với thầy Tuyết Lănh, thầy Giới Tông truyền thọ giới Sa-di, thầy Cổ Đức truyền Bồ Tát giới, cho đến Hám Sơn đại sư viết thư thăm hỏi, an ủi, khuyên nhủ, kết giao bằng thần thức trong giấc mộng mị, nhiều lượt sách tấn, phát khởi ư?

C̣n như đồng hành thiện tri thức, cả đời chỉ có được một người là huynh Bích Như Hạo. Ngoại hộ thiện tri thức th́ ở Tùng Lăng có được một người là ngài Giám Không Ninh. Ở Ngô Môn có được một người là ngài Trúc Phan Tịnh. Nay tại Đơn Hà, có được một người là ngài Thuần Như Bạch. Ninh công giúp hộ tŕ tôi bế quan, đích thân làm thị giả, chẳng để cho bất cứ một ai dù Tăng hay tục tự tiện quấy nhiễu tôi. Tịnh công hộ tŕ tôi kết đàn, trăm điều cần thiết, không ǵ chẳng đều trọn vẹn, vẫn nói “một thân hèn mọn trơ trọi, lo liệu mọi việc dễ dàng!”

Nay mấy người cùng chí hướng kết Hạ tại Đại Sơn, cùng nhau chuyên lo liệu chuyện của chính ḿnh. Hai thời khóa tụng cũng không tham dự, khiến cho những người đồng chí với tôi chẳng bị quấy nhiễu ḥng tấn tu nơi đạo, so với hai vị trước đó, càng khó khăn hơn nữa. Hơn nữa, Tịnh công lánh thân nơi Mật, kèm thêm Thiền, Ninh công tuy hướng theo chuyện tŕ giới, tận lực cúng dường, bất quá hướng theo đường lối làm phước. Ngài Thuần Như Bạch tôn hiền, bao dung với đại chúng, bụng dạ rộng răi, đă bổ túc trọn vẹn cho khuyết điểm của tôi, nhưng trống ḷng, chuộng thiện, hâm mộ Phật pháp, c̣n có thể an ủi niềm mong đồng hạnh của tôi, há hai vị Ninh công và Tịnh công có thể bằng được ư?

Xưa kia, Dương Kỳ[76] trực viện mười năm, con cháu đầy đất. Học nhân Tứ Minh thỉnh Giáo Quán nơi Pháp Trí đại sư, được giao phó lo chuyện thường trụ suốt ba năm, mới lại nêu ra câu hỏi trước đó. Sư ra oai, quát một tiếng, [ngài Tứ Minh] liền đốn ngộ viên tông “tánh trọn đủ”. Tỳ-kheo Thật Lực phát nguyện nơi Ca Diếp Phật, nguyện trong thời Phật Thích Ca sẽ làm vị trông coi ngọa cụ cho Tăng bậc nhất. Ngài nương theo bổn nguyện lực, làm thân đồng tử xuất gia tại Kỳ Viên. Sư thấy các khách tỳ-kheo đến đi rộn rịp, lại phát nguyện rằng: “Tôi khi hai mươi tuổi, sau khi được thọ Cụ Túc Giới, sẽ lo liệu việc này”. Tới khi thọ Cụ Túc Giới, chứng quả, niệm Không, Vô Tướng, Vô Tác tam-muội, nguyện ấy liền dứt. Đức Phật đem nguyện đời trước quở trách, Sư bèn suốt đời trông coi ngọa cụ của Tăng. Khách tỳ-kheo đến, Sư đều đích thân sắp xếp pḥng ốc. Canh một bèn phóng quang từ một ngón tay, đến canh hai bèn phóng quang từ hai ngón tay, cho đến canh năm, bèn phóng quang từ năm ngón tay. Sư được khắp mười phương đại chúng, chư Phật, Bồ Tát khen ngợi, niệm nào cũng nhập Định phóng quang, niệm nào cũng xuất định an ủi khách. Đó là Thiện Nhập Xuất Trụ Chư Thiền tam-muội. Nhưng tác dụng thần thông như thế, rốt cuộc há có ĺa một niệm hiện tiền của chúng ta ư? Do vậy nói: Có thể quán tâm tánh th́ gọi là Thượng Định. Thuần công đối với điều này đă thẳng thừng lănh hội, tức là thở cùng lỗ mũi với Thật Lực, Tứ Minh, và Dương Kỳ, thậm chí thở cùng lỗ mũi với tam thế chư Phật, đều có thể một bề xuyên suốt vậy!

 

* Lời tựa khắc in Tinh Cốc Thiền Sư Bút Ngữ

 

          Luận Ngữ có câu: “Chúng ố chi, tất sát yên” (mọi người ghét, hăy nên suy xét). Con người tuy chí ngu, nếu quan tâm danh vọng, cầu lợi, há cũng chịu chấp nhận một thân chuốc lấy người khác ghét bỏ; c̣n như bị mọi người ghét bỏ mà chẳng băn khoăn, có thể biết là riêng có nỗi khổ tâm! Bạn tôi là thầy Tinh Cốc Thọ tham phỏng rộng nhiều, dấu chân cơ hồ in khắp nửa thiên hạ. Phàm những nơi thầy đă trụ, người yêu mến, kính sợ được một phần mười, c̣n chán ngán, ngờ vực th́ là chín phần mười. Tuy thiếu khuyết phương tiện tiếp độ chúng sanh, nhưng tấm ḷng son sắt, thật sự muốn cho ḿnh lẫn người cùng đạt tới Chánh Giác, trọn chẳng thể diệt mất! Nay xem di thư của thầy, tuy phê phán khuyết điểm của người khác, nhưng chẳng giấu diếm ưu điểm của họ, sử dụng sở trường của ḿnh, chẳng kiêng dè sở đoản của chính ḿnh, thẳng thừng tuôn trút ḷng thành thiết tha, chẳng hề kiêng dè, cũng chẳng tô vẽ, lấp liếm. Thuốc hay đắng miệng, cố nhiên là đời Mạt chẳng thể uống, há chẳng phải là thời Mạt càng phải nên uống gấp ư?

Thầy Tinh Cốc Thọ đă mất, chỉ c̣n thầy Tụng Trửu Phưởng khâm phục ân nghiêm ngặt dùi mài, gom góp thư từ qua lại cả đời, ghép thành Bút Ngữ muốn đem in. Thầy Phưởng lại mất, cao túc là thầy Hoàn Nhất Bổn tận lực mưu tính chuyện ấy. Than ôi! Nỗi khổ tâm suốt đời của Thọ sư, chỉ có Phưởng sư là có thể biết ân, báo ân. Do Phưởng sư nửa đời siêng năng, khẩn thiết, lại chỉ có Bổn công kế tục chí hướng, hoàn thành sự nghiệp. Thầy Tinh Cốc Thọ cố nhiên nhờ thầy Tụng Trửu Phưởng mà chẳng mục nát, thầy Phưởng cũng nhờ ngài Hoàn Nhất Bổn để rốt cuộc được lưu truyền. Hiếu thuận ắt được báo đáp, ai chẳng tin như vậy? Tôi và thầy Tinh Cốc Thọ chơi với nhau thân thiết nhất, đạt được lợi ích lẫn nhau nhiều nhất. Từ nay trở đi, đúng là chẳng thể lại được như thế nữa! V́ vậy, gạt lệ đề tựa.

 

* Lời tựa tự đề cho Mân Du Tập

 

          Kể từ năm Bính Tư (1636), tôi ngọa bệnh tại Cửu Hoa, chẳng c̣n nghĩ tới nhân gian nữa. Mùa Thu năm Mậu Dần (1638), thực hiện lời ước hẹn với bạn tôi là thầy Tụng Trửu, huyễn du Mân Nam, tính bế quan tĩnh tọa. Nào ngờ hai miếng da bịt trống làm kế mưu sinh cho tọa chủ. Lênh đênh trong khoảng Ôn Lăng, Hà Chương gần bốn năm, đủ mọi điều xấu trong nhà, rêu rao gần trọn[77]! Hai ba người cùng chí hướng cứ muốn khắc in. Tôi bẩm tánh quạnh quẽ, chẳng thông hiểu nhân t́nh, tất cả lời lẽ đa phần đụng chạm điều kỵ húy đương thời, người lưu truyền chắc là chẳng phải là người yêu mến tôi! Nhưng do nghiệp vướng vào thân, đành phó cho long thiên, thật sự chẳng dám tự ái, bèn viết dăm lời mào đầu để thiên hạ hậu thế nghe rồi sẽ thấu hiểu tôi hay trách tội tôi vậy!

 

* Lời tựa Nhập Pháp Giới (tặng Tŕnh Quư Thanh)

 

          Pháp giới là cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn. Kinh Pháp Hoa nói: “Trị thế ngôn ngữ, tư sanh nghiệp đẳng, giai thuận chánh pháp” (Những lời lẽ để b́nh trị cơi đời, những nghề nghiệp để nuôi thân v.v... đều thuận theo chánh pháp). Đều thuận theo chánh pháp th́ đều chẳng thể nghĩ bàn! Người học dùng cái tâm nghĩ bàn để nhập, sao có thể thông đạt pháp giới cho được? Nhưng chẳng thông pháp giới, chưa hề chẳng phải chính là pháp giới! V́ sao vậy? Cái tâm nghĩ bàn vốn chẳng thể nghĩ bàn! Biết hết thảy cái tâm nghĩ bàn vốn chính là cái tâm chẳng nghĩ bàn, th́ hết thảy cảnh giới nghĩ bàn vốn chính là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Thông đạt nghĩ bàn chính là chẳng nghĩ bàn, bèn có thể phát Bồ Đề. Phát cái tâm đại Bồ Đề chân chánh ấy, bèn có thể nhập pháp giới!

Chẳng thấy Hoa Nghiêm đó sao? Thiện Tài tham học tri thức, đều nói “con đă phát Bồ Đề tâm”, tri thức chỉ dạy Thiện Tài ắt nói cảnh giới giải thoát mà họ đă chứng. Các vị như Đức Vân v.v… chẳng bàn tới, chứ núi đao, đống lửa của Bà La Môn, hương điều ḥa của trưởng giả, thuyền trưởng lái thuyền vào biển, người nữ nhờ dục để ĺa tham, tự trí (trí huệ đối với văn tự) của đồng tử Bồ Tát[78], có bao giờ ĺa cảnh giới nghĩ bàn mà riêng có sự giải thoát chẳng thể nghĩ bàn ư? Lại sao có thể trong cảnh giới chẳng nghĩ bàn, cưỡng đặt sự nghĩ bàn ư?

Thập Nguyện cư sĩ Tŕnh Quư Thanh phát Bồ Đề tâm đă lâu, tự nhập pháp môn. Thoạt đầu, ông tham Thiền ở Kính Sơn, đă tu tập giáo pháp Duy Thức. Kế đó, tu Phật Thân Quán, cho tới khi ḥa quang lợi vật, hộ tŕ pháp đạo, khuyên dụ quần linh, chỉ bằng cách chỉ điểm Phong Thủy, phán quyết Âm Dương mà thôi. Phong Thủy, Âm Dương chẳng phải là tà nhân duyên hay vô nhân duyên cũng đă rơ rệt rồi. [Nói theo kinh Lăng Nghiêm], giác minh ứng với trống rỗng, tối tăm, đối đăi với nhau mà dao động, gió bèn bắt đầu dấy lên. Chất báu tỏa sáng, sanh ra sự thấm ướt, ánh lửa nung nấu bốc lên trên, nước tự nhiên xuất hiện. V́ thế, Hoa Tạng Trang Nghiêm thế giới hải chính là Phong Thủy tuyệt đại. Động là Dương, tĩnh là Âm. Động, tĩnh thừa tiếp nhau, mọi vật bèn có sanh thành biến hóa. Động và tĩnh thay thế nhau, thế giới bèn có thành, trụ, hoại, không. Gộp chung lại để luận, bất quá là Tướng Phần nơi tâm thức của chúng ta toàn thể hư vọng, nhưng toàn thể vọng đều nương vào Chân. Pháp sanh bởi nhân duyên, tức Không, Giả, Trung. V́ thế, Lưu Ly Quang[79] quán tướng động của gió, hợp thành mười phương Phật, truyền một diệu tâm. Ngài Nguyệt Quang tu thủy quán, đắc Vô Sanh Nhẫn, viên măn Bồ Đề. Bởi lẽ, tánh thủy chân không, tánh không chân thủy. Tánh phong chân không, tánh không chân phong. Tuy tùy tâm ứng lượng, theo nghiệp mà phát hiện, nhưng mỗi mỗi bất đồng, chưa hề chẳng phải là vốn sẵn thanh tịnh, trọn khắp pháp giới.

Cương yếu của Kham Dư (Phong Thủy, Địa Lư) không ǵ ra ngoài hai mươi bốn sơn[80]. Nếu nh́n theo Liên Hoa Đài Tạng, cơi Hoan Hỷ là Chấn, cơi An Lạc là Đoài, Bảo Tướng ở cung Ngọ, thành tựu cung Tư. Ngay như thế giới Sa Bà, lại có đủ hai mươi bốn núi. Tứ thiên hạ ở phía Đông của Hoa Tạng, thuộc vị trí cung Măo. Xét theo tứ thiên hạ, Nam Diêm Phù Đề ở vị trí quẻ Ly. Lại xét theo Nam Diêm Phù Đề, vẫn có đủ hai mươi bốn núi. Chấn Đán (Trung Hoa) ở góc Đông Bắc của Nam Châu (Nam Diêm Phù Đề), tức trong khoảng giữa cung Chấn và Cấn. Mà hai kinh (Bắc Kinh và Nam Kinh), mười ba tỉnh[81] lại tự luận hai mươi bốn núi. Lại xét theo một phủ trong một tỉnh, một huyện trong một phủ, một nhà trong một huyện, một pḥng trong một nhà, thậm chí một cái tọa cụ trong một pḥng, mỗi mỗi không ǵ chẳng trọn đủ hai mươi bốn núi! Không ǵ chẳng trọn đủ các ngôi sao cát hung trong thiên địa bàn[82]. Lại c̣n ngay nơi cái tọa cụ này, Đông nh́n về phía Tây, Nam nh́n về phía Bắc. Từ cái tọa cụ này nh́n sang cái tọa cụ khác, nh́n ngó lẫn nhau, chẳng có chỗ nào chừng bằng chót lông mà chẳng trọn đủ toàn thể đại dụng của hai mươi bốn núi. Hai mươi bốn núi nơi chót lông chính là hai mươi bốn núi nơi Hoa Tạng Giới, chẳng chia thành hai, hay chẳng hai, chẳng khác, chẳng đoạn. Do vậy nói: Pháp giới trong một vi trần chẳng nhỏ, pháp giới trong pháp giới chẳng lớn, đó là có thể nghĩ bàn hay chẳng thể nghĩ bàn vậy?

Bất biến tùy duyên, cả pháp giới là một chót lông. Tùy duyên bất biến, một chót lông trọn đủ pháp giới. Như thế mới biết Phong Thủy có thể nghĩ bàn vốn chẳng thể nghĩ bàn. Quư Thanh vốn chứng hiện lượng này, chẳng ĺa thuyết Phong Thủy, Âm Dương mà nói trọn hết thảy các pháp môn. Kẻ không biết cho là Phong Thủy, nào có biết là dùng đại Bồ Đề tâm để quán cảnh chẳng nghĩ bàn, tức là dùng đó để măn Bồ Tát hạnh, tiến nhập Phổ Hiền đạo ư? Ngày sau, đức Phật ngồi nơi đạo tràng, có kẻ đi về phương Nam[83], Thập Nguyện cư sĩ sẽ bảo rằng: “Ta chỉ biết pháp môn Phong Thủy thiện xảo này, như các vị Bồ Tát Ma Ha Tát trí huệ như biển cả, nguyện lực như hư không, chứng trọn tánh, tướng sai biệt của pháp giới, biết trọn khắp hết thảy các pháp vô sai biệt, ta sao có thể biết được, nói được hạnh công đức ấy! Ngươi hăy nên theo thứ tự tham yết, thỉnh cầu, cho tới khi đắc Nhất Sanh Bổ Xứ, Ngẫu Ích đạo nhân sẽ duỗi tay phải xoa đỉnh đầu ngươi vậy!”

 

* Lời tựa tặng cư sĩ Điều Hương

 

          Ngẫu Ích Tử nói: - Cái Thể của sáu trần, không ǵ chẳng phải là pháp giới. Cái có thể huân phát Bồ Đề tâm, không ǵ bằng hương; nhưng hương chính là pháp giới, đâu chỉ huân phát Bồ Đề, có thể nói thẳng là Bồ Đề vậy. Lại nữa, đă nói là Bồ Đề, cũng có thể nói là mười giới nhiễm tịnh bách giới thiên như. Lại nữa, đă nói là bách giới thiên như, chẳng cần phải nói là hương nữa! Lại nữa, chẳng gọi là hương, cũng bất tất phải nói là bách giới thiên như. Hương hay bách giới thiên như đều là danh tự. Danh tự tánh Không. Một danh, hết thảy danh. Một nghĩa, hết thảy nghĩa. Chỗ nào gọi là Hàng Bố? Chỗ nào gọi là Viên Dung? Nhưng hai nghĩa Hàng Bố và Viên Dung chẳng mong thành mà tự thành. Do đó, sáu tướng “tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại” trong pháp môn thẳng thừng hướng vào trong một vi trần mà biện định. Như một hương trần, hết thảy các trần, hết thảy các pháp, không ǵ chẳng như vậy. Thông đạt điều này, sẽ có thể nhập môn giải thoát của trưởng giả Dục Hương.

Đời suy, đạo yếu, ma tà, ngoại đạo tràn ngập! Cả cơi phàm, giới hương, Thiền hương, huệ hương, cho đến Tịnh Độ hương vương đều bị mai một trong chợ cá, khiến cho phường con buôn đua nhau nêu chiêu bài, khắc phân người thành chiên đàn. V́ thế, mong sao có được bậc siêu phương biện định chân, giả! Nhưng hương vương chân thật quyết chẳng lẫn lộn với Y Lan[84]! Dẫu mặc cho tỵ căn điên đảo, bỏ cái này, lấy cái kia, há [hương vương] có bao giờ giảm mùi thơm ngát? Điều đáng đau ḷng là do ở yên trong nhà xí đă lâu, chẳng có ư tưởng xuất ly. Cư sĩ Mậu Di ở Thiều Thủy thương xót, muốn cùng giúp một tay cho trưởng giả Ưu Bát Hoa, bèn lấy hiệu là Điều Hương Cư Sĩ. Phàm đối với mười loại hương vương [của trưởng giả Ưu Bát Hoa] như Tượng Tạng…, mỗi thứ danh tự, mỗi thứ h́nh tướng, mỗi thứ sanh khởi, và mỗi thứ căn bản, hễ tùy ư lấy một thứ, đều có thể đốt, có thể bôi, cũng có thể nghiền thành bột, há đợi ḥa chế rồi mới gọi là thơm lạ ư? Nhưng tách rời th́ mỗi thứ đều thơm, ḥa hợp lại th́ càng khéo. Nếu như gỗ mục hợp với vật liệu hư nát, chỉ tăng thêm mùi thối. Lại có nhiều loại hương pha tạp gỗ thối, ngay cả hương cũng thối. Hương mà c̣n thối, huống hồ thật sự chẳng có hương ư?

Thời cổ, Luật học hưng thịnh, Luật Nghi Giới, Định Cộng Giới, Đạo Cộng Giới, hễ nêu ra một thứ, sẽ thâu tóm toàn bộ, chẳng cần riêng cầu Thiền hay Giáo, mà Thiền lẫn Giáo hoàn toàn ở trong đó. Bảo là “tự tánh thành tựu” cố nhiên là được, mà nói là “do ḥa hợp mà thành” cũng được. Thiền, Giáo cũng thế. Giáo nói “thân, khẩu, ư tịnh, tùy văn nhập quán”, chẳng phải chính là Luật và Thiền ư? Thiền nói “pháp nào cũng đều là Không, pháp nào cũng đều trọn, nhưng chẳng có một pháp nào để có thể được”, chẳng thống nhiếp Luật và Giáo ư? Nay chẳng phải vậy! Người tŕ Luật không chỉ mờ mịt Thiền và Giáo, hỏi đến ba vạn tám ngàn [oai nghi] cũng mờ mịt. Người diễn Giáo th́ không chỉ khuyết thiếu Thiền và Luật, mà gạn hỏi chuyện nương theo Giáo để quán tâm, cũng khuyết thiếu luôn! Kẻ tham Thiền không chỉ Giáo và Luật chưa thông, chưa trọn, hễ hạch hỏi về cương tông “vô thật pháp”, [kẻ đó] bèn hiểu thật pháp là pháp chết cứng.

Nếu như vậy th́ trong cơi Chi Na, sao đạt được diệu hương để điều ḥa? Nhưng trong mười đại hương vương, vốn chưa từng chẳng ở trong quốc độ Sa Bà, chỉ thân khẩu trong hiện tiền chính là giới hương chủng. Tâm biết cái Thể vắng lặng chính là Định hương chủng. Cái niệm giác nhận biết thông linh sáng suốt chính là Huệ hương chủng. Chủng tử của Giới, Định, Huệ đă trọn, tức là Thiền, Giáo, Luật vốn sẵn đạt được! Cư sĩ thử lấy mà điều chế, khiến cho hương thơm ngát nồng nàn lan tỏa. Do một người thanh tịnh, nhiều người sẽ thanh tịnh. Do một thế giới thanh tịnh, nhiều thế giới sẽ thanh tịnh, khiến cho trong ngũ trược ác thế này, ai nấy đều đắc vô căn tín, như cây Y Lan tỏa hương chiên đàn, ai nói Thiều Thủy chẳng phải là sông Hy Liên[85]? Trưởng giả chẳng chính là pháp giới tạng Tỳ Lô Giá Na đó ư?

 

* Lời tựa về chuyện Quán Tuyền khai sĩ giáo hóa một vạn người suốt đời niệm Phật cùng sanh Tịnh Độ

 

          Điều trọng yếu trong xuất thế không ǵ hơn nguyện lực. Nguyện do Tín đúc thành, sanh ra Hạnh. Chẳng có Tín, sẽ chẳng có Nguyện. Chẳng có Nguyện, sao có thể nói là Tín được? Chẳng có Nguyện, sẽ chẳng có Hạnh. Nguyện liên tục, chẳng phải là Hạnh sẽ liên tục ư? Do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng đă phát bốn mươi tám nguyện, bốn loại Tịnh Độ của A Di Đà Phật bởi đó mà được trang nghiêm. Từ đấy trở đi, nguyện nguyện liên tục, tức là đèn thắp đèn vô tận. Chư Tổ Liên Tông kham làm bằng khoán. Pháp hữu Quán Tuyền Nhất trích máu chép kinh Pháp Hoa, dốc ḷng siêng lễ Đại Bi Hành Pháp, suốt đời mỗi ngày niệm Phật một vạn câu. Nay muốn hóa độ người khác, cho rằng một vạn câu rốt cuộc khó áp dụng [cho mọi người], bất luận là một ngàn, một trăm, hay mười câu, thậm chí một câu, nhưng suốt đời chẳng thay đổi, sẽ quyết định là Bảo Vương tam-muội hoành siêu, tức là một niệm bèn được văng sanh, chẳng lừa dối ta. Tôi tán thán cách nói ấy. Đấy chính là công cứ văng sanh, là thềm, bậc của Phật, Tổ. Tôi viết lời mào đầu để khuyên [mọi người] ghi danh vào sổ ấy, ḥng mong được ghi danh nơi búp sen, chẳng cần cầu pháp viên đốn chi khác, trong một niệm đă vượt lên Phật địa!

 

* Lời tựa về năng thừa, sở thừa

 

          Phàm đàm luận cao xa nhưng chẳng hiểu rơ ư chỉ “tánh, tu”, do Hoặc (phiền năo) mà quên bẵng Năng và Sở; đó là v́ chưa thấu đạt thật nghĩa của Năng và Sở. Có người khéo chế ngự, cưỡi thiên lư mă, vượt ngàn dặm, nhưng do khéo cầm cương, chẳng thấy là đă vượt ngàn dặm. Nếu kẻ cầm cương chẳng khéo, chẳng khéo chế ngự mà điều khiển ngựa, có thể vượt ngàn dặm được chăng? Nhưng chế ngự chẳng có thuật chi khác, chỉ có xe lẫn ngựa cùng quên mà thôi. Người chẳng quên ngựa, chẳng chế ngự ngựa được. Ngựa chẳng quên xe, chẳng kéo xe được! Nói người quên xe và ngựa, ngựa quên xe và người th́ được, chứ nói không người, không xe, không ngựa, há có được chăng?

Hành nhân viên đốn biết chánh nhân chân tánh, coi đó là cái Thể của xe. Coi liễu nhân quán chiếu như ngựa giỏi. Duyên nhân giúp thành, coi như trọn đủ các Độ. Ba điều ấy chẳng một, chẳng khác; v́ thế, cần lẫn nhau mà quên lẫn nhau, bèn nêu ra tánh là ba để tu thành ba. Cái có thể cưỡi là Văn Huệ, cái được cưỡi là giáo thừa. Cái có thể cưỡi là Tư Huệ, cái được cưỡi là Hạnh thừa. Cái có thể cưỡi là Tu Huệ, cái được cưỡi là Lư Thừa. Từ tánh mà tu, Năng và Sở rành rành, nhưng cùng quên bất nhị. Đó gọi là “toàn tánh thành tu, toàn tu tức tánh”. Dương Trí Cầm ở Cô Thành lắng ḷng nơi giáo nghĩa Thiên Thai, hiệu là Thừa Thừa cư sĩ. Giáo hành lư thừa giống như đàn Dao Cầm[86] thời thượng cổ, nếu chẳng có ngón tay khéo léo, diệu âm sẽ chẳng phát ra, ắt phải dùng Tam Huệ để nương cậy, mới biết Giáo Quán bất nhị.

 

* Lời tựa về Phóng Sanh Liên Xă chùa Huệ Ứng

 

          Có thể dùng đạo Nho để dạy th́ rộng lớn, sâu xa mà chẳng thể tối tăm, tột cùng lục hợp, trong ngoài chẳng ṿng vèo. Xưa kia, tôi hư vọng câu nệ cái học của Tŕnh, Châu, không chỉ nh́n biển thẳm [Phật pháp], lại c̣n dấy khởi bài xích. Nay đă hăm hở tiến vào trong ấy; lạ thay! Có thể khéo dùng phương tiện lạ, thù thắng của Nho, Như Lai, Quán Âm, và Địa Tạng để chuyển biến tà tâm của tôi, khiến tôi sanh chánh tín. Tôi do nương vào oai lực của Như Lai, hiện sư tử hống, phá trọn khắp tà tâm của hết thảy ngoại đạo. Loài vật tuy nhỏ bé, có loài nào chẳng có tâm yêu mạng? Chỉ ngay cái tâm yêu mạng ấy đă chính là Phật tánh chân thường. Cái tâm ấy chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở trung gian, chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai, chẳng có, chẳng không, chẳng phải cũng có cũng không, chẳng phải không phải có, không phải không, vốn tự ĺa lỗi, dứt sai, chẳng thể nghĩ bàn! Mê tâm tánh chân thường, chân lạc, chân ngă, chân tịnh ấy, lầm lẫn ngỡ Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, ngỡ duyên ảnh của sáu trần là tướng tự tâm. V́ vậy, ở trong đó, chia ra người, chia ra vật, dấy ḷng yêu, nẩy ḷng ghét, Hoặc nghiệp khổ luân tuần hoàn chẳng ngơi.

Nếu có thể thẳng thừng quán chắc chắn một niệm tâm tánh hiện tiền, tợ hồ hạn cuộc trong duyên ảnh của Tứ Đại, nhưng thật sự chẳng thể hạn cuộc trong duyên ảnh Tứ Đại. Như tâm, Phật cũng giống như thế. Giống như Phật, chúng sanh cũng thế, liền biết tâm, Phật, chúng sanh, cả ba đích xác là chẳng sai biệt. Sát sanh chính là giết vị lai chư Phật trong tự tâm. Phóng sanh tức là thả vị lai chư Phật trong tự tâm. Nếu thả vị lai chư Phật trong tự tâm, sẽ chính là Niệm Phật tam-muội thật sự. Tu Niệm Phật tam-muội chính là luôn chuyển kinh Diệu Pháp Liên Hoa trăm ngàn vạn ức bộ, đạo của Thích Ca Như Lai chẳng bị đọa lạc sát đất. Ấy là do loài hàm thức có linh tánh, không loài nào chẳng đều trọn đủ toàn thể đại dụng. Nay nêu lên toàn thể đại dụng để lập xă, viết văn, làm thơ, tạo đủ loại pháp ngữ, há c̣n than thở văn hiến chẳng đủ để làm bằng chứng ư? V́ thế, đặt tựa đề cho bản biên soạn này là Năng Nho Văn Hiến, và viết lời tựa.

 

* Lời tựa tự đề cho lần tái bản bộ Phá Không Luận

         

          Kinh dạy: “Ninh khởi hữu kiến như Tu Di Sơn, vật khởi ác thủ không kiến như giới tử hứa” (thà khởi hữu kiến như núi Tu Di, đừng khởi ác thủ không kiến chừng bằng hạt cải). Bởi lẽ, do Không kiến, sẽ bài bác chẳng có nhân quả, có thể đoạn thiện căn của ngũ thừa, nhưng Bát Nhă như đống lửa lớn, bốn phía đều chẳng thể chạm! Hễ chạm vào, sẽ bị đốt! Nếu chẳng chấp trước, nấu chín thức ăn, thân sẽ ấm áp, trừ tối tăm. Đấy là sánh ví bốn môn đều có thể nhập đạo, lại v́ sao riêng phá Không? Cần phải biết: Hễ phá câu “Không” th́ bốn câu đều bị phá! Phá câu Không chính là để hiển thị Không Môn. Không Môn hiển th́ bốn môn đều hiển. Bồ Tát muốn trọn đủ hết thảy Phật pháp, hăy nên học Bát Nhă. Bát Nhă há chỉ là Thỉ Giáo nơi phá tướng mà thôi ư?

Hơn nữa, như kinh này, một mặt nói “hữu tŕ giới, tu phước giả, ư thử chương cú năng sanh tín tâm” (có người tŕ giới, tu phước đối với chướng cú này có thể sanh tín tâm), một đằng lại nói “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu để sanh cái tâm. Hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu). Kế đó, lại nói: “Dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy thiện pháp, liền đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác) cho đến nói: “Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm giả, ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng” (Phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đối với pháp chẳng nói tướng đoạn diệt). Đấy há chẳng phải là chánh ấn của Thật Tướng Đại Thừa ư? Trong bộ luận này, tôi phát khởi ư trước thuật tại Vũ Thủy; kế đó, hoàn thành bản thảo tại Hà Chương. Khắc in lần thứ nhất tại Hà Chương, khắc lần nữa tại Thiều Thành, nay lại khắc in ở Lưu Đô (Nam Kinh). Tôi mừng v́ tăng, tục tại vương thành có đại nhân duyên Bát Nhă rất sâu, bèn dùng mấy lời để đặt ở đầu sách vậy!

 

* V́ ông Dương Phụ Chi mà viết lời tựa cho bộ Kim Cang Tập Giải

 

          Giáo pháp suốt một đời đức Phật đều là cầu bến rộng, lớn trong biển sanh tử, nhưng Bát Nhă càng là chiếc tàu nhanh chóng. Bồ Tát không ai chẳng học Bát Nhă mà thành Vô Thượng Bồ Đề được! Bát Nhă gồm mười sáu hội[87], dung hội hết thảy Ma Ha Diễn (Mahāyāna, Đại Thừa), là pháp chung để ba thừa cùng tiến, để bất cộng Bồ Tát riêng tu. Chỉ có hội thứ chín là hội Kim Cang, chỉ thẳng ư chỉ mầu nhiệm “vô trụ sanh tâm”. V́ thế nói là “v́ người phát Đại Thừa, tối thượng thừa” mà nói; bởi lẽ, đàm luận chánh ấn Thật Tướng viên đốn tột bậc. V́ vậy, ngài Hoàng Mai (Ngũ Tổ) [dùng kinh này để] ấn tâm, Lục Tổ [nghe một câu trong kinh này mà] ngộ đạo.

Theo cách hiểu trong cơi đời, chỉ lấy “vô trụ, vô tướng” làm tông thể của kinh, há có biết Bát Nhă như đống lửa lớn, bốn phía đều chẳng thể giữ lấy; bốn môn đều có thể nhập ư? Tôi thường nghiền ngẫm [những chỗ] kinh so sánh phước, mỗi chỗ đều nêu ra chuyện xả tài, xả thân, dường như là Bát Nhă công năng thù thắng, c̣n bố thí công năng kém cỏi. Nhưng đầu kinh có nói: “Bồ Tát ư pháp ưng vô sở trụ hành ư bố thí” (Bồ Tát đối với pháp, hăy nên chẳng trụ vào đâu để hành bố thí). Lại nói: “Bồ Tát bất trụ tướng bố thí, kỳ phước đức bất khả tư lượng” (Bồ Tát chẳng trụ tướng để bố thí, phước đức ấy chẳng thể lường được!) Do vậy nói “bố thí tức Bát Nhă”, chẳng phải là ĺa bố thí mà đàm luận riêng Bát Nhă!

Di Lặc, Vô Trước, Thiên Thân, Công Đức Thí, bốn vị đại Bồ Tát tạo luận, đều nói “bố thí trọn đủ Tam Đàn”, Tam Đàn (Tài Thí, Pháp Thí, Vô Úy Thí) nhiếp trọn Lục Độ. Người đời sau dẫu chú thích, há có thể vượt trội bốn vị đại Bồ Tát để nêu ra ư kiến thần kỳ ư? Tuyên Thánh (Khổng Tử) nói: “Hữu đức giả, tất hữu ngôn” (Người có đức ắt có ngôn luận tốt đẹp). Tôi cũng nói: “Tu Bát Nhă ắt tu bố thí”. Người đời nay chẳng vậy, cao giọng bàn luận Bát Nhă, không ai chẳng vỗ ngực, [nhưng nếu] bảo họ tu xả th́ trong tâm kinh sợ, ăn nói ngược ngạo lấp liếm “ắt đừng chấp tướng”. Nào có biết chẳng chấp tướng bố thí, đă sớm chấp tướng keo tham! Nếu keo tham mà chẳng có tướng keo tham, sao chẳng bố thí mà chẳng có tướng bố thí sẽ hay khéo hơn? Kinh dạy: “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (Pháp c̣n nên bỏ, huống hồ phi pháp). Chấp bố thí là chấp pháp, há chấp keo tham chẳng phải là chấp phi pháp ư? Đó gọi là “vô đức, vô ngôn”! Nhưng Phật pháp như rừng chiên đàn, người vào đó dù hữu tâm hay vô tâm, đều nhuốm mùi thơm. Các bản chú giải xưa nay, tuy chưa chắc đă hoàn toàn thích đáng, vẫn không ǵ chẳng có diệu hương Bát Nhă tồn tại trong ấy! Bộ Tập Giải này được soạn ra là v́ lẽ ấy đó ư?

 

* Lời tựa tự soạn cho lần tái bản tác phẩm Đại Phật Đảnh Kinh Huyền Văn

 

          Hai tông Tánh và Tướng như sóng với nước, chẳng thể phân cách, nhưng thói xấu trong hiện thời đến mức chia sông để uống nước! Há đấy là lỗi của Văn Thù, Di Lặc, mà cũng há có phải là ư chỉ của Mă Minh, Hộ Pháp ư? Nói là Chân Như thọ huân (Chân Như tiếp nhận sự huân tập), ví như kiếp hỏa cháy sạch, há hư không riêng lạnh? Bảo là “Chân Như chẳng thọ huân”, ví như kiếp hỏa rạng ngời, há hư không có bao giờ tan hoại? V́ thế hiểu biết lời này, gộp lại sẽ là đôi đằng cùng đẹp đẽ. Nếu chẳng hiểu tông chỉ, tách rời ra, hai đằng đều tổn thương. Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Hư không thể phi quần tướng, bất cự chư tướng phát huy” (Thể của hư không chẳng phải là các tướng, nhưng chẳng cự tuyệt các tướng được phô rơ). Chỉ một lời này, hai mối nghi đều tiêu tan! Khéo sao Trí Giả đại sư có nói: “Thiên chấp pháp tánh sanh ra hết thảy các pháp, nào khác tự sanh? Thiên chấp Lê Da (A Lại Da Thức) sanh ra hết thảy các pháp, nào khác dị sanh?” Phỏng theo đó mà suy, dẫu nói pháp tánh và A Lại Da Thức ḥa hợp sanh ra hết thảy các pháp, nào khác cộng sanh? Chẳng phải pháp tánh, chẳng phải A Lại Da Thức sanh ra hết thảy các pháp, nào khác chẳng có nhân duyên mà sanh? Bốn câu đó, không ǵ chẳng phải là báng!

Nếu khéo thông đạt Vô Sanh, chẳng dấy Tánh Kế (Biến Kế Sở Chấp Tánh), tuy bốn câu chẳng thể nói, nhưng có nhân duyên Tứ Tất Đàn th́ cũng có thể nói, tức là “Chân Như chẳng nghĩ bàn, huân sanh hết thảy các pháp. A Lại Da Thức là tánh có thể huân, sanh ra hết thảy các pháp”, đều không ǵ chẳng được. Bèn biết ngài Trí Giả thật sự ngộ bí yếu Quyền Thật, đối với kinh [Lăng Nghiêm] chưa được truyền đến, Ngài đă huyền hợp chỉ thú dường ấy. Kinh truyền đến, ngài Trí Giả đă chẳng c̣n tại thế. Người tu tập theo tông Thiên Thai mê muội đối với Duy Thức, người tu tập Pháp Tướng mê muội đối với viên lư. Do đó, các bản sớ giải đều bỏ sót cương yếu, chẳng xét tới chỗ thật sự quy hướng của nghĩa lư, [khác nào] muỗi chích cọc sắt, cứ phán định theo văn tự, rơi vào t́nh cảnh đục lỗ nhét râu[88].

Húc chưa xuống tóc, đă từng nghiên cứu kinh này, mỗi khi giở xem các bản chú giải cũ, [cảm thấy] mê man, ngơ ngác rất nhiều. Về sau, do tọa Thiền tại Song Kính, mới tháo gỡ sự trói buộc nơi văn tự. Lại do mấy phen giảng diễn, thấu hiểu sâu cội gốc của dây leo[89], và t́m hiểu hai tông, dung hợp vào tâm kính. Cho tới khi đến Ôn Lăng hoằng pháp, mới có dịp cầm bút ghi nhanh lại, hoàn thành bản thảo chẳng lâu sau, gọt giũa toàn tất, lưu bản gốc tại giới đàn Cam Lộ, chẳng thể đem theo đến giang ngoại. Nay do sang chơi Phổ Đức, hơi lộ ra thứ đă cất giữ, các bạn cho in lại. Lại thuật vài lời ḥng xé toạc rào giậu ngàn đời chưa phá, đă phạm phải điều cấm kỵ nghiêm ngặt từ trước tới nay, địa vị thấp kém mà nói năng cao kỳ, sao tránh khỏi tội? Nhưng bậc quân tử xuất thế sẽ rộng ḷng chẳng v́ người [hèn tệ] mà bỏ lời vậy!

 

* Lời tựa tự ghi cho sách Đại Thừa Chỉ Quán Thích Yếu

 

          Đại Thừa là tên gọi khác của tâm tánh. Chỉ Quán là tên gọi khác của Tịch Chiếu. Thói đời thường ĺa tâm tánh để riêng t́m kiếm Đại Thừa, ĺa Chỉ Quán để riêng bàn Tịch Chiếu, khác ǵ đang cưỡi trâu mà t́m trâu, Bính Đinh đồng tử[90] cầu lửa? Đạo của Nho gia có “do thấy mà biết” (kiến tri) và “do nghe mà biết” (văn tri). Phật đạo cũng thế! Bắc Tề đại sư ngộ ư nghĩa của bốn câu kệ trong Trung Luận, thẳng thừng tiếp nhận tâm ấn của ngài Long Thọ, truyền cho ngài Nam Nhạc, [Nam Nhạc] lại truyền cho ngài Thiên Thai. Ngài Thiên Thai soạn thuật các sách như Ma Ha Chỉ Quán v.v… Do vậy, pháp môn Chỉ Quán được nghe rộng răi trong cơi đời. Đốn, Tiệm, Bất Định, ba pháp cùng viên là do ngài Nam Nhạc chỉ dạy, khéo léo truyền tâm yếu, cơi đời đều chưa nghe. Nay thử đọc kỹ, quả thật là tổng cương trọn vẹn của ba môn Chỉ Quán. Văn chẳng rườm rà mà nghĩa trọn vẹn, riêng ngài Từ Vân Sám Chủ vào năm trăm năm sau đă viết lời tựa để lưu hành. Cho tới nay lại hơn năm trăm năm, lời vi diệu sắp dứt mất, tôi hổ thẹn chính ḿnh chẳng mẫn nhuệ, chưa thể nghe đạo, chỉ đành bắt chước người mù sờ voi, soạn thuật sách Thích Yếu để giúp tuyên truyền. Hai vị cư sĩ Lư Thạch Lan và Trương Nhụ Hàm gom góp các duyên khắc in. Do vậy, viết lời tựa trần thuật đơn giản đầu mối của duyên khởi Đại Thừa!

 

* Lời tựa về chuyện cư sĩ Cảnh Tâm tŕ kinh Địa Tạng Bổn Nguyện và kiêm khuyên lơn mọi người

 

          “Duy thánh vọng niệm tác cuồng, duy cuồng khắc niệm tác thánh” (Chỉ là thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế ư niệm bèn thành thánh). Đấy chính là đích truyền của “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi” (ḷng người nguy hiểm, đạo tâm nhỏ nhiệm). Phật pháp cũng thế, một niệm mê cơi Thường Tịch Quang, liền thành địa ngục A Tỳ. Một niệm ngộ, địa ngục A Tỳ sẽ chính là cơi Thường Tịch Quang. Do vậy, kinh Địa Tạng Bổn Nguyện có cùng một huyết mạch với Hoa Nghiêm. Hăy thử xem thế giới Hoa Nghiêm, tức Không, tức Giả, tức Trung chẳng thể nghĩ bàn! Các nỗi khổ trong địa ngục cũng tức Không, tức Giả, tức Trung chẳng thể nghĩ bàn! Hoa Nghiêm giảng về Tịnh Độ vốn sẵn có trong tự tâm khiến cho mọi người biết mà quay về. Kinh Địa Tạng nói về khổ luân vốn sẵn có trong tự tâm, khiến cho mọi người biết mà né tránh. Một đằng quay về, một đằng né tránh, chỉ thú vĩnh viễn khác biệt; nhưng quay về cũng là duy tâm, mà tránh né cũng là duy tâm. Ngoài tâm, chắc chắn chẳng có pháp nào khác; Nho nói là “đạo nhị”, tức nhân và bất nhân mà thôi! Nguy hiểm thay, vi diệu thay! Thiện lợi là cái ải để chia tách Thuấn và Đạo Chích. Trừ khử hay ǵn giữ là chỗ khác biệt giữa con người và cầm thú. Đọc kỹ lưỡng kinh Bổn Nguyện rồi mà chẳng nghĩ “tự giác, giác tha, thoát khỏi địa ngục, trở về Hoa Tạng”, ắt là kẻ bất nhân cùng cực! Cư sĩ Cảnh Tâm thương xót, bèn cả đời thọ tŕ, lại c̣n khuyên bảo người khác. Tôi nói: Vừa mới phát cái tâm ấy, khổ luân trong địa ngục đă liền nhanh chóng dứt bặt”. Hoan hỷ viết lời tựa để thay cho pháp giới chúng sanh mà khuyên nhủ trọn khắp vậy!

 

* Lời tựa tặng Thạch Tông bế quan lễ sám, chiêm nghiệm luân tướng      

 

          Phật pháp chẳng có chi khác, trái ngược t́nh đời mà thôi! Tâm quán chẳng có chi khác, tương phản vọng tưởng so đo, chấp trước mà thôi. Nay người học Phật pháp toàn là mượn Phật pháp để giúp cho t́nh đời. Kẻ nói quán tâm, càng do quán tâm mà tăng thêm suy tưởng, chấp trước. Chánh pháp suy sụp sát đất, Tăng luân sắp tuyệt, đau đớn lắm thay! Những kẻ truyền tâm pháp của Khổng - Nhan trong cận đại, chỉ có một ḿnh tiên sinh Dương Minh. Người truyền tâm pháp của Phật, Tổ, chỉ có một ḿnh Tử Bách đại sư. Húc chào đời cũng muộn, khi học Nho, chẳng được thân cận ngài Dương Minh. Về sau học Phật, chẳng được kính cẩn thừa sự ngài Tử Bách. Do vậy, tuy đại lược liếc thấy một tia nhỏ nơi nguồn mạch của Nho và Thích, biết nó khác biệt vời vợi so với Lư học và Thiền cơ đang được truyền bá trong Thế Đế, nhưng vì chướng dày, huệ yếu, phước mỏng, tập khí mạnh mẽ, cho nên nửa đời lầm lẫn trong hư danh, chẳng thật sự đạt tới. Sau đó, cảm thấy rất thẹn với [thân phận] tỳ-kheo, bèn lui xuống cầu vắng lặng. Nay càng thẹn với chân nghĩa của Sa-di, chỉ xưng là “chỉ thọ Tam Quy”, càng chẳng dám đem lời nào tặng cho người khác!

Nhưng trộm nghĩ kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo vốn là bi tâm triệt để của đấng Thích Ca đại thánh, là phương tiện vượt ngoài khuôn khổ của đức Địa Tạng. Ba thứ luân tướng khéo chỉ dạy nhân duyên nghiệp báo, không mối nghi nào chẳng giải quyết. Hai loại quán đạo nêu tỏ sâu xa phương tiện lănh hội, tiến nhập, ḥng có thể tiến lên Đại Thừa. Dùng Ngũ Hối và xưng danh để khơi gợi dung mạo trước đó (bản lai diện mục), dùng cảnh giới Nhất Thật để b́nh đẳng quy hướng. Bản thể của Ngũ Hối vừa khít trái ngược t́nh đời. Hai phép Quán xét về bản thể khít khao trái ngược vọng tưởng, so đo, chấp trước. Sám hối và phát lộ, vĩnh viễn đoạn tiếp nối, diệt nghiệp chướng. Khuyến thỉnh và thuyết pháp diệt ma chướng. Tùy hỷ công đức diệt chướng ngại ghen ghét. Thiện xảo hồi hướng diệt chấp Hữu chướng. Phát nguyện kiên cố diệt chướng ngại thoái thất. Duy Tâm Thức Quán, trước là biết cảnh bên ngoài vốn hư giả, đều do tâm hiện. Kế đó, thông đạt nội tâm như huyễn, trọn chẳng chân thật. Chân Như Thật Quán thấu đạt sâu xa dù cảnh hay tâm, đều chỉ là pháp tánh. Pháp tánh bất sanh, bất diệt. Do vậy, bản thể của các pháp đều bất sanh, bất diệt. Như ngàn bọt nước, vạn con sóng, đều chỉ là tánh ướt. Ngàn vật, muôn h́nh tượng đều chỉ là tánh vàng.

Ngũ Hối lật nhào Sự chướng từ vô thỉ. Hai phép Quán lật nhào Lư chướng từ vô thỉ. Hai chướng đă tịnh, trở thành hai thân Chân và Ứng. Tam tụ tịnh giới một niệm phát khởi trọn vẹn, tướng tam luân thanh tịnh riêng biểu thị thủ tín, ḥng hiển lộ trụ tŕ Tăng Bảo dẫu dứt tuyệt mà vẫn có thể tiếp nối. Mạnh Kha nói “hào kiệt chi sĩ vô Văn Vương do hưng, văn nhi tri chi, bất dị kiến nhi tri chi” (hào kiệt dẫu chẳng có Văn Vương vẫn hưng khởi. Do nghe mà biết sẽ chẳng khác do thấy mà biết). Than ôi! Tôi có thể biết ư chỉ to lớn của kinh Chiêm Sát, nương theo kinh lập ra pháp sám, nhưng chính ḿnh chẳng thể đạt được luân tướng [thanh tịnh], ai sẽ tin tưởng? Đấy thật sự là nói về thuốc mà chẳng uống, lỗi chẳng ở nơi thuốc. Toa thuốc tốt, vị thuốc hay, có sẵn rành rành, Địa Tạng Bồ Tát quyết chẳng dối ta! Tôi phạm lỗi “đă biết mà chẳng uống”, thề sẽ uống. Pháp hữu Thạch Tông đă hiểu ḷng tôi trước, cũng sẽ bế quan để cầu được thanh tịnh. Nguyện ai nấy nỗ lực, ngày đêm bôi, thoa, và kiêng chất kỵ thuốc, tránh gió máy, ngày sau sẽ thành hậu duệ chân thật của đức Xá Na. Một phiến đá Linh Phong cùng ngọn núi Linh Thứu bậc nhất sẽ đồng thời gật đầu vậy!

 

* Lời tựa cho Duyên Cư

 

          Pháp thế gian và xuất thế gian đều là duyên sanh. Duyên sanh vô tánh. V́ thế, chỉ bậc chí nhân có thể tùy duyên mà chẳng đánh mất lẽ chân. Lẽ chân tức là duyên mà chẳng phải duyên, chẳng phải duyên mà chẳng ngại các duyên. Lư Phương Sơn đă nói rất khéo: “Một niệm đốn ngộ duyên khởi vô sanh, vượt ngoài kiến giải của hàng Tam Thừa Quyền Học”. Bởi lẽ, phàm phu tham chấp huyễn duyên, chẳng thể ĺa bỏ, Nhị Thừa nhàm chán sanh duyên, chẳng thể du hư, hiện ra, mất đi, đều do chưa hiểu rơ vô sanh, hư vọng trở thành lấy, bỏ. Nếu quán chắc chắn duyên khởi nhiễm tịnh, tứ tánh vô sanh, vô sanh th́ vô diệt, vô diệt bèn chẳng tụ, chẳng tán, có pháp ǵ đáng vui? Có pháp ǵ đáng chán? Do vậy, hành xử theo đúng địa vị, chẳng nhập mà tự đạt được.

Kinh dạy: “Cực Lạc tu hành nhất kiếp, bất như Sa Bà tu hành nhất nhật” (Tu hành một kiếp trong Cực Lạc chẳng bằng tu hành một ngày trong Sa Bà). Tôi cũng nói: “Xuất gia tu hành một kiếp, chẳng bằng tại gia tu hành một ngày”. Tại gia nhiều nhân duyên ác ràng buộc, mà có thể chẳng quên Tam Bảo, chẳng bỏ chánh niệm. Đó là hoa sen trong lửa, hy hữu, khó có. Xuất gia ĺa hồng trần, ở yên trong chốn núi rừng, bậc thượng sẽ ch́m đắm, vướng mắc trong không tịch, chẳng nghĩ tới nỗi khổ của người đời. Bậc hạ th́ do tĩnh cùng cực, sẽ mong động, đâm ra hâm mộ vinh hoa nơi chốn thành thị, triều đ́nh, há được như Ma-ni trong nước đục, mặc cho nước vùi dập mà vẫn sáng trong như cũ! Cư sĩ Dă Đường đổi tên chỗ đọc sách thành Duyên Cư, tức là biết duyên, trọn chẳng nghĩ là thật. Do biết chẳng thật, trọn chẳng tham đắm, mà cũng chẳng chán, dứt, chỉ tùy duyên tiêu nghiệp cũ là được. Ngẫu Ích Tử ngồi khô khốc trong Tạng đường của Bắc Thiên Mục, nghe vậy bèn tùy hỷ, tùy tiện viết bài này để ấn chứng, chắc cư sĩ cũng vỗ tay vậy!

 

* Bài tựa cho Liên Lậu Thanh Âm (tiếng trong trẻo của đồng hồ sen)

 

          Kinh dạy: “Nhược dục tịnh độ, tiên tịnh kỳ tâm. Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” (Nếu muốn thanh tịnh cơi nước, hăy thanh tịnh cái tâm trước. Thuận theo cái tâm thanh tịnh, cơi Phật sẽ thanh tịnh). Đó là ư chỉ “Sự, Lư, nhân, quả” cùng được nêu tỏ, là đàm luận về Tự, Tha, Quyền, Thật bất nhị. Nếu mê muội th́ hễ mê bèn coi duyên ảnh là tâm, chắc chắn sẽ lầm lẫn cho rằng [tâm] ở trong sắc thân, chẳng biết núi sông, hư không, đại địa ở ngoài sắc thân đều là vật được hiện trong chân tâm mầu nhiệm, sáng suốt. V́ thế, Tây Phương Cực Lạc thế giới chính là duy tâm Tịnh Độ, Lạc Bang giáo chủ đang hiện diện chính là tự tánh Di Đà. Trong Diệu Tông Sao, ngài Tứ Minh nói: “Ứng Phật hiển lộ, bổn tánh sáng suốt, nhờ vào nghĩa bên ngoài mà thành lập, do duy tâm quán mà lập”, há giống như kẻ ngu lầm nhận duyên ảnh của sáu trần là tướng của tự tâm, khiến cho mười vạn ức cơi ở ngoài tâm tánh ư? Xét ra, chỉ một niệm tâm tánh hiện tiền t́m chẳng thể được. Đó chính là nghĩa Không. Hiện rạng ngời muôn pháp, đó chính là nghĩa Giả. Ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp chẳng có tâm; đó chính là nghĩa Trung. Mê tâm th́ chính là Không, gọi là Kiến Tư Hoặc. Mê tâm tức Giả, gọi là Trần Sa Hoặc. Mê tâm tức là Trung, gọi là Vô Minh Hoặc. Tam Hoặc lừng lẫy, bốn cơi do vậy đều uế.

Nay nhất tâm niệm Phật, chẳng so đo ngă và ngă sở, tức là nghĩa Không hiển. Khi niệm Phật, Phật thuận theo tâm mà hiện, liền biết mười pháp giới đều chỉ do tâm tạo, tức là nghĩa Giả được hiển lộ. Không chỉ là tâm làm Phật, mà cũng là tâm này là Phật, tức nghĩa Trung được hiển lộ. Ba nghĩa của nhất tâm đă được hiển lộ, liền có thể phá trọn vẹn Tam Hoặc, thanh tịnh trọn vẹn bốn cơi, vẫn là trong “chẳng có thứ tự” mà giả nói thứ tự. Quán Hạnh phá Hoặc, cơi Đồng Cư được thanh tịnh. Tương Tự Phá Hoặc, cơi Phương Tiện được thanh tịnh. Phần Chứng phá Hoặc, cơi Thật Báo được thanh tịnh. Cứu Cánh phá Hoặc, cơi Thường Tịch Quang vĩnh viễn đạt được thanh tịnh. Do tức Trung cho nên Thường, do tức Giả cho nên Tịch, do tức Không cho nên Quang. Lại c̣n Tam Đế đều là Thường, Tam Hoặc đều Tịch, tam trí đều Quang. Đấy là một mà chẳng phải một, nêu ra một mà chính là ba. Ba mà chẳng phải ba, nói ba th́ chính là một, chẳng ngang dọc, chẳng cùng hàng hay tách biệt, chẳng thể nghĩ bàn, gọi là bí mật tạng. A Di Đà Phật đă chứng điều này trước, hết thảy chúng sanh mê điều này đă lâu. Hiện thời chúng ta chuyên dốc ḷng niệm điều này th́ gọi là Niệm Phật tam-muội. Đó là “tâm tịnh th́ cơi tịnh”.

Trước ngộ, sau tu, gọi là Lư nhất tâm. Lư đă nhất th́ Sự cũng nhất. Trước tu, sau ngộ, gọi là Sự nhất tâm. Sự nhất th́ Lư cũng nhất. Nhất Hạnh tam-muội của ngài Văn Thù, mười đại nguyện vương của đức Phổ Hiền, Viễn công (tổ Huệ Viễn) khắc đồng hồ sen ở Đông Lâm, ngài Vân Thê lấy hiệu là Liên Tŕ để tỏ rơ chí, đều quy hướng tột bậc vào điều này. Lăo cư sĩ Đinh Liên Lữ tin sâu, hạnh chuyên dốc có thừa, xem trọn khắp các pháp yếu Tịnh Độ xưa nay, chọn lấy những điều cảnh tỉnh nhất, đặt tên là Liên Lậu Thanh Âm, mở đầu bằng pháp thù thắng, kết thúc bằng cảm ứng trong hiện tại, chia thành hai mươi lăm chương, lớp lang rạch ṛi, mọi mối nghi tiêu tan. Phàm những điều nghi chẳng thể cưỡng tháo gỡ là do vốn chẳng thể nghi! Do vậy, tôi tiếm lạm viết lời tựa như thế này!

 

* Lời tựa in lại bộ Thành Duy Thức Luận Tự Khảo Lục

 

          Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Hai tông Tánh và Tướng cũng vì vậy mà lập. Do nói “nhất tâm Chân Như”, nên gọi là Tánh Tông. Tám thức sanh diệt, nên gọi là Tướng Tông. Riêng chẳng nói tâm có chân tâm, vọng tâm, thức có chân thức và vọng thức ư? Ngài Mă Minh nương theo nhất tâm mà tạo Khởi Tín Luận, lập ra hai môn Chân Như và sanh diệt. Sanh diệt có bao giờ ĺa chân tâm mà riêng có một cái Thể ư? Ngài Thiên Thân dựa trên tám thức mà tạo Tam Thập Tụng, nêu rơ Chân Như chính là thật tánh của thức, cùng với hết thảy các pháp chẳng một, chẳng khác! Chân Như có bao giờ ĺa vọng thức mà có riêng một tướng ư? Trung Luận của ngài Long Thọ nói “pháp sanh bởi nhân duyên tức là Không, Giả, Trung”, ngoài sanh diệt chẳng có Chân Như. Kinh Lăng Già dạy: “Tâm, ư thức bát chủng, tục cố. Tướng hữu biệt, chân cố, tướng vô biệt” (Tâm, ư, thức tám loại là tục. Do tướng có khác là chân, cho nên tướng chẳng khác). Do tướng và sở tướng (cái được gọi là tướng) chẳng có, nên Chân Như và sanh diệt chẳng một, chẳng khác. Nhưng trong Thức Luận, Hộ Pháp Bồ Tát đă nêu ra điều trọng yếu nhất. Ngài nói thẳng: “V́ trừ khử chấp trước hư vọng ‘ngoài tâm và tâm sở, thật sự có cảnh’, nên nói chỉ có thức. Nếu chấp duy thức là thật sự có, giống như chấp vào ngoại cảnh th́ cũng là pháp chấp”. Ôi! Nếu hiểu được ư này, sao đến nỗi chia sông để uống nước ư?

Từng luận rằng: Tánh chuyển theo tướng, có tánh nào chẳng phải là tướng? Nếu chẳng thông đạt trọn khắp các tướng vô lượng sai biệt, nào có biết diệu tánh trọn đủ công năng nhiễm và tịnh như thế! Tướng vốn dung thông với tánh, có tướng nào chẳng phải là tánh? Nếu chẳng biết sâu xa một tánh viên đốn trọn đủ, sao biết các tướng không ǵ chẳng phải là Sự Sự vô ngại pháp giới? Do đó, tông Thiên Thai tột bậc đàm luận Thật Tướng, ắt xét theo bách giới thiên như. Phàm ngũ vị bách pháp, riêng bách giới thiên như chẳng phải là tánh và tướng ư? Bách giới thiên như, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng. Ngũ vị bách pháp[91] riêng chẳng phải là Thật Tướng ư? Nếu chẳng phân biệt ngũ vị bách pháp, chân, tục, giả, thật, đủ thứ hiện tướng sai biệt, đủ thứ bất đồng, liền nói nhỏ nhoi như tướng sáng đă liên tục không ngừng bất đồng, một giả th́ hết thảy đều giả, chẳng gần như luông tuồng ư?

Ngài Hộ Pháp luận định xác quyết về tâm pháp và tâm sở pháp, mỗi pháp đều có bốn phần. Tướng Phần mỗi thứ đều bất đồng th́ được, chứ Kiến Phần có thể nào một mực bất đồng ư? Giả sử Kiến Phần mỗi mỗi bất đồng th́ c̣n được, chứ Tự Chứng Phần và Chứng Tự Chứng Phần có thể một mực bất đồng ư? Dẫu cho một mực bất đồng, tâm vương gồm tám món, tâm sở năm mươi mốt món, khiến cho một người thật sự có năm mươi chín món Tự Chứng và Chứng Tự Chứng Phần rành rành đối lập, chẳng biết lẫn nhau, gần như là cắt xẻ lung tung ư? Nếu như tâm vương và tâm sở chỉ cùng một Tự Chứng Phần Chứng Tự Chứng Phần, sao lại có thể nói tâm pháp và tâm sở pháp mỗi mỗi đều do bốn phần hợp thành? Gần như đọa vào chấp trước “Dụng biệt, Thể đồng” đó ư?

Lại dựa theo Tướng Phần để định luận, như giơ lên một cành hoa, bản chất của đóa hoa ấy chính là Tướng Phần nơi Đại Viên Kính Trí của Như Lai. Mắt đức Phật trông thấy hoa, đó chính là Tướng Phần của Thành Sở Tác Trí. Phật trí nhận biết hoa, đó là Tướng Phần của Diệu Quán Sát Trí. Ba thứ ấy (ba Tướng Phần nơi ba trí) là một hay là khác? Nếu chắc chắn là khác, chỗ nào riêng có ba đóa hoa? Nếu chắc chắn là một, khi Phật nhăn chẳng nh́n, nó chỉ diệt Tướng Phần của Thành Sở Tác Trí, chứ hai thứ khác vẫn tồn tại. Khi Phật trí chẳng duyên, chỉ diệt Tướng Phần của Diệu Quán Sát Trí, bản chất vẫn c̣n. Lại nữa, khi mắt thấy hoa, sẽ có Tướng Phần của nhăn thức. Ngửi mùi hương của hoa, nếm vị của hoa, đụng chạm cảm nhận hoa, mỗi đằng đều có Tướng Phần của tỵ thức, thiệt thức, và thân thức. Một ḿnh đức Phật đă là như thế, ngài Ca Diếp lại có tứ vi của ba đóa hoa. Trăm vạn người, trời, mỗi mỗi đều có tứ vi của ba đóa hoa. Vô lượng tứ vi của ba đóa hoa như vậy cùng tồn tại một chỗ, giống như một tấm gương, chẳng tạp, chẳng loạn, chẳng hai, chẳng khác. Trong trăm vạn người, trời, tùy ư lấy Tướng Phần của một người, ắt sẽ nhiếp Tướng Phần của hết thảy mọi người. Trong các thức như nhăn thức v.v…, khi tùy ư lấy Tướng Phần của một thức, ắt sẽ thâu nhiếp Tướng Phần của các thức khác. Tầng tầng vô tận, vô tận tầng tầng, há có thể nghĩ bàn ư? Hay chẳng thể nghĩ bàn ư? Một hoa đă là như vậy, mọi vật đều như vậy. Sắc trần đă là như vậy, sáu trần cũng đều như vậy! Tướng Phần có chất mà c̣n như thế, sao riêng Kiến Phần chẳng phải là như vậy? Kiến Phần thông tam lượng (hiện lượng, tỷ lượng, thánh ngôn lượng) c̣n như thế, Tự Chứng và Chứng Tự Chứng Phần chỉ hiện lượng, há lại không phải là như vậy ư?

Người hoằng truyền Tướng Tông đời sau v́ sao tự lập rào giậu ngăn chia từng chỗ, chưa từng suy nghĩ sâu xa vậy? V́ thế, tu tập tánh, chẳng tu tập tướng, chưa có ai chẳng mịt mờ. Tu tập tướng, chẳng tu tập tánh, chưa có ai chẳng lầm lạc, vướng mắc! Chỉ có một ḿnh sách Đại Thừa Chỉ Quán của Nam Nhạc Huệ Tư đại thiền sư được viết trước khi Thức Luận được truyền đến, đă xiển phát trọn vẹn chỗ sâu thẳm, bí mật nơi tánh, tướng; bởi lẽ, đă chứng sâu Vô Sư Trí, sau đó muốn nói rơ tâm yếu, phải nhờ vào văn tự, ngôn ngữ. Hăy nên biết: Thành Duy Thức Luận giúp ích to lớn cho tánh học. Tiếc rằng sau khi ngài Từ Ân mất đi, bản chú sớ (tức Thành Duy Thức Luận Thuật Kư) đă bị thất truyền, hiện thời chỉ rải rác trong các sách như Đại Sao (tức Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao), Tông Kính Lục, và hai quyển Khai Mông[92] c̣n giữ được đôi chút đầu mối. Từ thời lập quốc[93] đến nay, rốt cuộc trở thành tuyệt học! Đầu thời Vạn Lịch, Tử Bách đại sư nối tiếp đạo của ngài Tịch Âm, nồng nhiệt tán dương tông này, bèn có các sách Tục Thuyên, Chứng Nghĩa, Tập Giải. Tác phẩm Âm Nghĩa của Thiều pháp sư tuy trội hơn, nhưng sách Âm Nghĩa chưa toàn vẹn, cho nên chẳng được lưu thông. Cơ pháp chủ tiếp tục bổ sung, soạn thành sớ giải, cũng khá vắn tắt. Huệ pháp chủ cho rằng lời sớ nhiều chỗ sai lầm, lại soạn thành sách Tự Khảo Lục này.

Tôi cho rằng: Tông này tới đây mới viên măn, tột bậc sâu xa mà chẳng loạn, sâu thẳm, vi tế tột bậc mà chẳng huyễn vọng, tường tận, rơ ràng tột bậc mà có cương yếu. Nếu chẳng phải là diệu ngộ, sẽ chẳng thấu hiểu cùng tận. Trước tác của các vị [cổ đức] cố nhiên chưa đạt tới tột bậc, nhưng mỗi tác phẩm đều có sở trường, nếu do vậy mà cầu, sẽ tự đạt được bản lănh sâu xa, tiếp nhận cội nguồn của tánh và tướng, chẳng ĺa một niệm hiện tiền mà biết mười hai phần giáo thuộc tam thừa đều chính là cước chú cho cái tâm ta, hít thở cùng một lỗ mũi với Mă Minh, Thiên Thân, há c̣n đợi tôi nói mới biết chỗ sâu, cạn, được, mất ư?

 

* Lời tựa về chuyện kết liên xă lần nữa ở ngọn Hương Lô thuộc Lư Sơn

 

          Phật pháp du nhập Chấn Đán, Đại, Tiểu đều cùng trần thuật, Quyền và Thật cùng bày, cốt sao thích hợp trọn khắp ba căn. Nhưng thâu nhiếp căn cơ rộng nhất, nghĩa môn viên đốn nhất, không ǵ bằng Tịnh Độ. Ngài La Thập vừa dịch kinh A Di Đà, Viễn sư (Sơ Tổ Huệ Viễn) bèn thuận theo đó kết liên xă nơi Đông Lâm. Khi ấy, mười tám vị cao hiền đều là bậc nhân kiệt lừng lẫy, tụ tập cùng một nơi. Các vị như Đào, Tạ (Đào Tiềm, Tạ Linh Vận) đều mở to mắt dơi theo đó, có thể biết những vị khác [sẽ như thế nào]!

Ngọn Hương Lô cách Đông Lâm năm dặm, gần đây có bậc cao hiền yêu chuộng sự thâm u thù thắng nơi ấy, dựng lều tranh để ở, bèn gọi là Linh Vực. Đời Đường, Bạch Hương Sơn (Bạch Cư Dị) dựng thảo đường bên ngọn núi, bèn gọi là Cao Hiền Kết Mao Xứ (chỗ bậc cao hiền dựng lều tranh), tức chùa Di Ái. Thời Thế Miếu (thời Minh Thế Tông), thiền sư Vô Tận Đăng quải tích tại đó. Sau khi Ngài thị tịch, tới nay toàn thân chẳng ră, như nhập Thiền Định. Ngài Vô Tận Đăng đắc pháp nơi ngài Thiên Kỳ Bổn Thụy, quả thật là con cháu đời thứ chín của ngài Cao Phong. Trong niên hiệu Thần Miếu, pháp sư Tuyết Lăng Hồng Ân hóa đạo rộng lớn, huệ giải lẫy lừng, có Thạch Môn Kỷ pháp chủ sống tại đó, riêng dùng sự tinh tấn tu hành để tiếp nối, hết sức được ngài Hám Sơn coi trọng, thầy Chuyên Ngu kính ngưỡng nhất. Ngài cũng thản nhiên thị tịch trước ngọn núi.

Chùa Di Ái ở Hương Sơn thoạt đầu chỉ có một vị cao hiền, nay có hai vị Vô Tận Đăng và Thạch Môn Kỷ, trở thành ba. Pháp tôn của ngài Thạch Môn Kỷ là ngài Phất Trần Thái hầu ngài Chuyên Ngu đă lâu, xuất nhập Thiền giảng lại trở về Tịnh Độ, nguyện nối gót thơm thảo của Viễn công, mở lại huyền môn liên xă, xin tôi nói một lời để dẫn khởi. Tôi kết giao với Thái công (ngài Phất Trần Thái) chưa lâu, nhưng cùng hành sám-ma nơi đàn Đại Bi, [biết Sư là người] chân thành, chuyên dốc, chân thật, khẩn thiết, chẳng phải là hạng phù phiếm dung tục! Cho tới khi kết Hạ để bàn bạc, nghiên cứu Chỉ Quán, thấy Sư lănh hội khá nhiều, t́nh đồng chí liên bang thật sự tăng trưởng. Tôi mong kẻ sĩ, thứ dân nghe tiếng sẽ hưng khởi, phàm thánh đều vận ḷng thành kiên cố, ngơ hầu thịnh sự ở Đông Lâm dẫu chẳng được chuyên chú, tốt đẹp như xưa, nhưng Phật sự năm trăm năm sau càng là hiếm có, khó được gấp bội, mà công sức cũng trăm ngàn vạn lần gấp bội thuở ấy!

 

* Lời tựa khuyên niệm Đậu Nhi Phật

 

          Bổn Giác nơi tâm gọi là Phật, Thỉ Giác nơi tâm gọi là Niệm. Nh́n vào Bổn Giác trong ḷng người, tợ hồ khác biệt, nhưng luôn đồng, c̣n Thỉ Giác tùy thuộc mỗi người mà vận dụng, tuy đồng nhưng luôn dị. V́ thế, trái trần, hợp giác, bèn gọi là Thỉ Giác. Trái giác, hợp trần, bèn gọi là vô minh. Vô minh chẳng có Thể, liền dùng Thỉ Giác làm Thể. Thỉ Giác chẳng có tướng, liền lấy vô minh làm tướng. V́ thế, khi chúng sanh nghĩ tới ngũ dục, liền gọi là Dục Giới vô minh. Niệm Tứ Thiền, Tứ Không, bèn gọi là Sắc Giới, Vô Sắc Giới vô minh. Nghĩ tới đoạn, thường, liền gọi là tà kiến vô minh. Niệm Niết Bàn th́ gọi là giới ngoại vô minh. Chỉ có khi niệm Phật, liền gọi là Thỉ Giác. V́ thế nói: “Biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng. Khi tâm chúng sanh tưởng Phật, cái tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Do đó, hết thảy các pháp môn không ǵ chẳng lưu xuất từ pháp môn Niệm Phật này, không ǵ chẳng nhiếp nhập trong pháp môn Niệm Phật. Một niệm tương ứng một niệm Phật, một ngày tương ứng một ngày Phật, thẳng chóng, viên đốn, ĺa kiến siêu t́nh. Mă Tổ nói “tức tâm tức Phật” bởi đă thấu đạt sâu xa điều này! Phàm biết “tức tâm tức Phật”, trọn không lúc nào chẳng phải là lúc niệm Phật; nhưng kẻ mê th́ lầm tưởng duyên ảnh là tâm, lại hư vọng nói “tâm đă chính là Phật, cần ǵ phải niệm nữa!” Do vậy, bất đắc dĩ, chuyển thành phương tiện, nói “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật”. Lại nói: “Chẳng phải là tâm, chẳng phải là Phật, chẳng phải là vật” v.v… Đấy là tùy thuận, nhằm tháo niêm, cởi trói cho hàng trung hạ, chẳng phải là ý chỉ gốc “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”!

Người đời sau như Hàn Lô đuổi theo cục đất[94], ngược ngạo coi “chẳng phải tâm, chẳng phải Phật” cho tới các loại câu nói hiểm hóc là đặc biệt, lạ lùng, coi “tức tâm tức Phật” là tầm thường, khác ǵ ưa chuộng ba đậu[95], đại hoàng, khạc bỏ cao lương mỹ vị ư? Tại Đồng Thành có hai người, kết bạn làm khách. Một người chết, bạn chôn cất, đem tiền bạc về giao cho vợ người ấy. Vợ ngờ vực, bạn hết sức phẫn nộ, tới chỗ đặt thi thể, bày đồ cúng tế, khóc kể. Quỷ và bạn vấn đáp như khi c̣n sống, bèn cùng trở về làm chứng. Giữa đường gặp chuyện, ngẫu nhiên [người c̣n sống] niệm một câu A Di Đà Phật. Quỷ gào to: “Sao lại phóng quang dọa tôi?” Người ấy càng niệm gấp mấy câu. Quỷ sợ hăi nói: “Ông vừa niệm, ngực liền tỏa ánh sáng năm màu hơn mười trượng, chói ḷa tâm mục tôi, chẳng thể gần ông được nữa! Ông hăy trở về nói với vợ tôi, bảo cô ta tự đến, tôi sẽ v́ ông rửa oan!” Người bạn do vậy, tỉnh ngộ, xuất gia làm cao tăng. Than ôi! Vừa mới dấy một niệm, quang luân liền tỏa ra. Do đó, Thọ Xương đại sư nói: “Cái tâm niệm Phật chính là Phật, há phải đâu là lúc này niệm Phật, lúc khác thành Phật ư?” Tiếc là quỷ chẳng gieo thiện căn, không nghe danh hiệu Phật, cho nên sợ hăi! Nếu vốn là người niệm Phật, sẽ nhờ vào duyên lành ấy, lẽ nào chẳng nhanh chóng siêu thăng cơi lạc ư?

Cư sĩ Tất Quán tham yết trọn hết nạp Tăng[96] trong thiên hạ, bèn kiên quyết niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, kiêm khuyên người khác dùng hạt đậu niệm Phật để kết Phật duyên. Thân người nhỏ như hạt đậu, trong khi niệm Phật, thân tức phóng quang, được gọi là “Phật thân đầy ắp pháp giới”, chẳng phải vậy ư? Nay dùng đậu để niệm Phật, đậu ắt phóng quang. Dùng đậu phóng quang để làm thức ăn phóng quang, vào trong bụng chúng Tăng, bất luận người niệm Phật hay không niệm Phật, ắt đều luôn phóng quang minh. Nay người gặp quang minh ấy, hữu tâm, vô tâm, đều được giải thoát. Ánh sáng chiếu lẫn nhau, thành đèn vô tận, tức là chúng sanh giới nhanh chóng rỗng không, càng chẳng ắt cần phải bàn lẽ “hướng thượng nhất trước” nữa! Đấy chính là công án tột cùng trong các công án. Tăng hỏi ngài Triệu Châu: “Như thế nào là Pháp Thân Chủ của Tỳ Lô Sư?” Ngài Triệu Châu nói: “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật”. Xin hăy dùng lời chân thành ấy làm chứng!

 

* Lời tựa cho Phóng Sanh Xă

 

Đức Phật lấy sát sanh làm giới đứng đầu, Nho coi hiếu sanh là đức lớn. Vua Thành Thang mở lưới [cho các loài thú bị vướng lưới thoát ra], Tử Sản nuôi cá, đều toàn là ḷng trắc ẩn của ta đó thôi! Tràn đầy ḷng trắc ẩn th́ ḷng nhân chẳng thể không vận dụng mạnh mẽ. Mở rộng ra để thông hiểu các điều khác, sẽ là đại từ, đại bi. Tâm người, tâm Phật, có phải là hai tâm đâu nhỉ? Tâm người chẳng khác tâm Phật, tức Sa Bà chẳng khác Cực Lạc, ai nói kiếp trược chẳng thể chuyển? Muốn từ tâm người mà chứng tâm Phật, chuyển kiếp trược thành Tịnh Độ, không có thuật nào mầu nhiệm hơn phóng sanh. Pháp phóng sanh được khuếch trương đă lâu. Dẫu một chén nước chẳng cứu được xe củi đang cháy, nhưng nếu mỗi người một chén rồi lại một chén không ngớt, rồi lại tiếp một chén. Chén nước nhiều, xe đang bốc lửa lẽ nào chẳng diệt?

Hiện thời sát vận tơi bời, toàn là do đồng phận ác nghiệp chiêu cảm, chẳng do nước Từ tam-muội, ai có thể dứt bặt? Chẳng biết tâm học của Tuyên Ni (Khổng Tử), tâm pháp của Cù Đàm (Phật Thích Ca), ai có thể hành được? Phóng Sanh Xă của Tế Sanh Am đă đứt đoạn rồi lại được tiếp nối, người nối tiếp đều là cao túc trong Nho môn, đúng là ư chí kiên định, tiếp nối sự truyền dạy trung hậu, khoan thứ, khiến cho Phóng Sanh Xă ấy được mở rộng, dài lâu, chính là sự nghiệp vĩ đại trong trời đất, xoay chuyển càn khôn, hoàn toàn đều thuộc trong đó. Nếu chẳng cô phụ Phóng Sanh Xă ấy, sẽ chẳng cô phụ đạo mạch của Khổng môn và sự phó chúc nơi Linh Sơn, rốt ráo chẳng phụ cái tâm trắc ẩn vốn sẵn có.

 

* Lời tựa tự soạn cho bản in Trùng Đính Chư Kinh Nhật Tụng

         

Tỳ-kheo thời đức Phật hoặc tu tập tọa Thiền, hoặc hành đầu-đà, hoặc chuyên chú phạm bái, hoặc chuyên thuyết pháp, hướng đến đạo Niết Bàn. Thoạt đầu chẳng có khuôn phép nhất định, nhưng đều tuân theo lời giáo huấn sáng suốt của đức Phật, chẳng hề hư vọng tuân theo ư ḿnh! Pháp truyền sang Đông Độ, thoạt đầu cũng giống như thế. Kể từ khi Mă Tổ lập tùng lâm, Bách Trượng lập Thanh Quy, cơi đời phỏng theo, bèn mỗi nơi nẩy sanh ư kiến riêng tư, hư vọng tăng thêm quy củ. Như đối với sách Bách Trượng Thanh Quy trong Đại Tạng và ba tập Chư Kinh Nhật Tụng được lưu truyền, những điều bịa đặt, xuyên tạc chẳng kể cho xiết, nào có biết trong đường tu hành chân chánh, chỉ nội một chuyện là khóa tụng sáng tối đă bị so le, lệch lạc, chỉ chú trọng xướng, tán, trống, năo bạt, hết sức đáng than!

Ḥa thượng Vân Thê đă giảo chánh, khắc in thành bản cố định, các nơi ở Cổ Hàng đa phần tuân hành, nhưng thói tệ tích tụ tại Lưu Đô (Nam Kinh) chưa sửa đổi mảy may! Tôi bèn cùng với học lữ U Thê dốc sức đính chánh sai ngoa, tính khắc in lại. Lại bỏ những chỗ rườm rà, viễn vông, chỉ giữ những điều thiết yếu, và chọn từ Luật Tạng những lời răn nhắc, sách tấn thân tâm, hữu ích cho kẻ mới học để bổ sung đại lược một đôi điều, ḥng dùng làm của chung cho những người cùng chí hướng. Nguyện bậc cao minh giữ sự thanh nhă của Thiền Quán, ngơ hầu có thể tùy văn nhập chứng, đừng hâm mộ âm hưởng Du Già!

 

* Lời tựa cho kinh Bi Hoa

 

          Đấng đại bi Thích Tôn có thể làm chuyện khó khăn, so với mười phương ba đời chư Phật, được trọn khắp xưng tụng là bậc dũng mănh, nhưng kinh Bi Hoa trần thuật lại càng tường tận. Kinh này c̣n gọi là Đại Thừa Đại Bi Phân Đà Lợi Kinh, ngụ ư: Nhiếp thủ các Bồ Tát trong Tịnh Độ như các loại hoa khác, chỉ có đại bi khổ hạnh Bồ Tát là như hoa Phân Đà Lợi (Puṇḍarīka, hoa sen trắng). Nhưng đấng Thích Tôn thành Phật đă từ nhiều kiếp như số vi trần trong biển các cơi nước, v́ chúng sanh mà trong các kiếp trước nhiều như cát sông Hằng, thị hiện làm đại thần Bảo Hải. Con trưởng của đại thần thành Phật, hiệu là Bảo Tạng. [Bảo Hải] đă khuyên một ngàn con trai của Luân Vương và các tiểu vương, cúng Phật, phát tâm, mỗi vị đều giữ lấy Tịnh Độ, riêng Ngài phát bi thệ, nguyện giữ lấy uế độ.

Than ôi! Bọn chúng ta cấu nặng, chướng sâu, đă từ lâu bị mười phương chư Phật vứt bỏ, tụ tập trong thế gian ngũ trược này. Nếu chẳng do đức Thích Tôn triệt để đại bi, sẽ do đâu mà được nghe pháp yếu xuất thế? Hăy nên biết: Tứ chúng đệ tử trong hiện thời, không ai chẳng do xưa kia đă uống máu đại bi, ăn thịt đại bi, thọ dụng đầu, mắt, tủy, năo đại bi, và các thân phần khác, Thích Tôn xả vô lượng thân phần máu thịt để tạo thành chủng tử Bồ Đề cho chúng ta. Bọn chúng ta vẫn chẳng nghĩ báo ân, c̣n đáng làm người nữa ư?

Kinh dạy: “Bồ Tát hữu tứ pháp giải đăi. Nhất nguyện thủ tịnh thế giới. Nhị nguyện ư tịnh chúng tác Phật sự. Tam nguyện thành Phật bất thuyết Thanh Văn, Bích Chi pháp. Tứ nguyện thành Phật thọ mạng vô lượng. Hữu tứ chủng tinh tấn: Nhất nguyện thủ bất tịnh thế giới. Nhị bất tịnh nhân trung tác Phật sự. Tam thành Phật thuyết tam thừa pháp. Tứ thành Phật đắc trung thọ” (Bồ Tát có bốn pháp giải đăi. Một, nguyện giữ lấy thế giới thanh tịnh. Hai, nguyện làm Phật sự trong đại chúng thanh tịnh. Ba, nguyện thành Phật chẳng nói pháp Thanh Văn và Bích Chi Phật. Bốn, nguyện thành Phật thọ mạng vô lượng. Có bốn loại tinh tấn: Một, nguyện giữ lấy thế giới bất tịnh. Hai, làm Phật sự trong những người bất tịnh. Ba, thành Phật bèn nói pháp tam thừa. Bốn, thành Phật bèn đắc thọ lượng vừa phải). Tông yếu của kinh này nhất loạt chẳng ra ngoài những điều ấy. Nhưng giải đăi Bồ Tát nhiều như cát sông Hằng, c̣n tinh tấn Bồ Tát cho tới nay chưa tới mười vị! Do đó, Thích Tôn tuy tự giữ lấy uế độ, vẫn khuyên chúng sanh trong uế độ cầu sanh Cực Lạc, rát miệng căn dặn chẳng phải một lần!

Bọn chúng ta tin lời đại bi, liền cùng có tâm đại bi. Đă sanh về Cực Lạc th́ mới có thể nhanh chóng vào thế giới bất tịnh, ở trong những người bất tịnh, nói đủ mọi pháp, nhiều lượt thị hiện sanh diệt, là vị Bồ Tát tinh tấn bậc nhất. Ông Đường Nghi Chi ở phủ Ngô Hưng vừa đọc kinh này, khôn ngăn cảm động, khóc ṛng. Ông Cảnh Ám Nhiên ở Sơn Đông vừa nghe kinh này, liền thề lưu thông. Đấy đều là quyến thuộc chân thật của đức Thích Tôn, là hoa Phân Đà Lợi trong hết thảy mọi người. Kinh này lưu hành lâu dài trong thế gian, sẽ độ trọn hết ngũ trược chẳng khó. Tôi thâm tâm tùy hỷ bèn viết lời tựa.

 

* Lời tựa cho bộ Thành Duy Thức Luận Di Âm Hợp Hưởng

 

          Tột bậc thay giáo pháp Thành Duy Thức, phá Biến Kế ngă pháp, t́nh kiến nhanh chóng rỗng không, hiển lộ Y Tha, Viên Thành, Chân Tục diệu đế nhờ đó mà được kiến lập. V́ thế, dùng hai chữ Duy Thức để đặt tựa đề, ngũ quán đă hoàn toàn được nêu tỏ. Ngài Thiên Thân soạn kệ tụng, các vị như Hộ Pháp v.v… soạn luận. Ba mươi hàng chẳng là ít, một trăm quyển chẳng là nhiều! Thật sự là bí quyết trọng yếu để quán tâm, là Đại Thừa sơ môn vậy! Ngài Huyền Trang rút gọn thành mười quyển, truyền cho ngài Khuy Cơ. Bản sớ giải của ngài Khuy Cơ thất truyền, bèn thành tuyệt tích! Có thầy Thiệu Giác Thừa trọn đủ vô sư trí, do nghe mà biết, soạn thuật thành sách [Thành Duy Thức Luận] Âm Nghĩa gồm tám quyển, trước tác sắp hoàn thành, bỗng dưng về Tây. Do vậy, các vị cao sĩ trong số các đệ tử ai nấy ra sức chú giải, như Sớ của sư Biện Âm Cơ, Tự Khảo Lục của thầy Linh Nguyên Huệ. Ai nấy cũng đă dốc cạn sức suy tư tinh tế, vắt kiệt tài lực, đều là thăng đường có thừa, nhưng nhập thất chưa đủ. V́ thế, khiến cho người học tông này, không cách nào đạt đến chỗ tột bậc!

Chỉ có thầy Tân Y Chân là hậu duệ đích truyền của ngài Thiệu Giác, theo hầu thầy lâu nhất, sức Văn Huân riêng sâu xa, bèn có thể kế tục chí hướng, tiếp nối sở học của thầy, học rộng, nói cặn kẽ, dựa theo sách Khai Mông làm kim chỉ nam, sưu tập [những điểm trọng yếu] từ Tông Kính và Đại Sao làm chứng cứ, truy ngược lại cội nguồn từ các bộ luận Du Già Sư Địa và Hiển Dương Thánh Giáo, tạo thành sách Di Âm Hợp Hưởng, tận lực trần thuật ngũ quán, chỉ dạy cặn kẽ ba chi. Do vậy, tham khảo, giảo đính suốt hai mươi mấy năm, ba lượt sửa đổi bản thảo. Mùa Hạ năm Nhâm Ngọ (1642), tôi được lạm phần xem trước. Tuy chưa tốt nghiệp, đă trộm thỉnh với thầy rằng: “Khi khắc in, nguyện được kèm thêm vài lời thừa thăi để khuyến phát”. Nay đă hơn năm năm, cách biệt ngàn dặm, tôi cũng sợ đại pháp sẽ thành mây khói, gắng gượng soạn Quán Tâm Pháp Yếu. Nhưng bản khắc của thầy Tân Y Chân sắp hoàn tất, bỗng gửi thư nhắc lại nguyện mọn khi trước. Do t́nh nghĩa chẳng thể từ chối được, chẳng nề hà kém cỏi mà viết lời tựa. Người học đời sau nếu có ai do những lời minh bạch, đơn giản, dễ dàng của tôi mà nhập môn. Sau đấy, xem tác phẩm tập đại thành của Sư để nắm trọn hết chỗ uyên áo, muốn chẳng nói là tiếng vàng rung, ngọc khua, há có được chăng?

 

* Lời tựa tái bản bộ Y Quán của Mạnh Cảnh Nghi

         

          Đại y vương đă nói: “Hết thảy phàm phu hư vọng nhận Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, coi duyên ảnh của lục trần tâm tướng của chính ḿnh. Do vậy, có sanh, lăo, bệnh, khổ”. Lầm lẫn nhận Tứ Đại là thân, Tứ Đại vốn chẳng phải là thân đă rơ rồi. Hư vọng nhận duyên ảnh là tâm, duyên ảnh cũng chẳng phải là tâm đă rơ rồi! Duyên ảnh c̣n chẳng gọi là tâm, huống hồ trái tim thịt ư? Nhưng kinh Đại Phật Đảnh dạy: “Nhữ thân, nhữ tâm, giai thị diệu minh chân tinh diệu tâm trung sở hiện vật” (Thân ông, tâm ông đều là vật được hiện trong diệu tâm chân tinh diệu minh). Tức Tứ Đại và duyên ảnh có ǵ chẳng phải là Tướng Phần của tâm? Châu Liêm Khê (Châu Hy) nói: “Vô cực mà thái cực”. Lại nói: “Thái cực vốn vô cực”. “Thái cực” chính là nói tâm là cội nguồn của vạn pháp. “Vô cực” là t́m tâm trọn chẳng thể được; nhưng tâm chẳng thể được th́ Tứ Đại và duyên ảnh cũng chẳng thể được. Tứ Đại và duyên ảnh đă là chẳng thể được th́ bệnh cũng chẳng thể được. Như bệnh đă chẳng thể được, cần ǵ phải dùng đến Y? Xét thấp xuống, hễ có tâm bèn có thân, có thân bèn có bệnh, có bệnh ắt lại nhờ vào thuốc men. Do vậy, đức Phật chế định tứ sự cúng dường, th́ thuốc men là một thứ trong ấy. Lại c̣n coi không uống thuốcuống chẳng đúng thuốc là loại hoạnh tử thứ nhất. Thật vậy, thuốc có liên quan đến thân, tâm và tánh mạng.

Xét ra, con người bị bệnh chẳng do Tứ Đại ở ngoài thân, mà là do Tứ Đại ở trong thân. Chẳng do Tứ Đại hữu h́nh trong tâm, mà là do Tứ Đại vô h́nh trong thân. Lại chẳng do Tứ Đại vô h́nh, mà là do cái tâm chẳng phải hữu h́nh, chẳng phải vô h́nh. Đối với tâm, t́m nó trọn chẳng thể được, nhưng chẳng phải là không có. Tâm tạo đủ muôn vật trong trời đất nhưng chẳng phải là có. Chẳng phải tĩnh, chẳng phải động, có thể động, có thể tĩnh. Một niệm động là Phong Đại vô h́nh, là trời. Trời do tích chứa động mà thành, có h́nh tượng là Càn. Một niệm tĩnh, là chất vàng vô h́nh, gọi là Địa Đại. Địa là do tích tụ tĩnh mà thành, có h́nh tượng là Khôn. Càn, Khôn kiến lập, động mài xát với tĩnh, h́nh thành lửa vô t́nh. Hỏa là tác dụng của trời, mà là căn cội của nước, có h́nh tượng là Ly. Ở trên không là mặt trời, lửa nung vàng, tạo thành nước vô h́nh. Nước là tác dụng của Địa, phối ứng với lửa, có h́nh tượng là Khảm, ở trên bầu trời là mặt trăng. Nước lửa vô h́nh tiếp xúc nhau, nước lửa hữu h́nh do đó được tạo lập. Nước lửa được tạo lập th́ Ngũ Hành đầy đủ. Do vậy có tim, gan, tỳ, phổi, thận, được gọi là Ngũ Quan, hợp với NTinh và NNhạc được xếp vào Tam Tài, đều là Tướng Phần do vọng tâm biến hiện. V́ thế, trị nơi hữu h́nh, chẳng bằng chữa trị nơi vô h́nh. Trị vô h́nh chẳng bằng trị nơi nguồn cội của động tĩnh. Đấy là luận định tột cùng của bậc đại y vương xuất thế. Điều ḥa Tứ Đại vô h́nh chính là ngoại duyên tăng thượng ḥng dẹp khổ, ban vui. Bởi lẽ, hậu thiên đă trở thành chất, chẳng c̣n điều trị được nữa, ắt phải điều ḥa nước lửa vô h́nh, dùng thuận theo tác dụng của trời đất để phù trợ cái gốc của Ngũ Hành.

Sách Y Quán (醫貫) của Triệu Dưỡng Quỳ đă đạt được chỗ then chốt ấy, noi theo đó, sẽ có thể dần dần đạt đến mức độ của Kỳ Bà. Cầu cao hơn, sẽ có thể chứng phép Viên Thông của Dược Vương. Mở rộng đến cùng cực, sẽ là đại y vương Năng Nhân cũng có thể thành. Cư sĩ Mạnh Cảnh Nghi đạt được truyền thừa “văn tri” (do nghe mà biết) của Y Quán, ngộ biết người mắc bệnh đều vốn do lao tâm, chỉ riêng lấy chuyện bồi dưỡng nước lửa vô h́nh làm nhiệm vụ trọng yếu, chẳng như hạng tầm thường đuổi theo gốc, mê ngọn. Tôi lắm bệnh, danh y hiếm người vừa ra tay liền chữa lành. Riêng Cảnh Nghi mỗi lần cho uống một thang, bệnh liền khỏi ngay. Ông ta lại càng dốc ḷng tin tưởng Phật lư, chuộng đạo ḥng tăng tấn tay nghề. Do vậy, tôi giảo chánh, khắc in sách này ḥng giúp ích cho hậu học, tạo lợi ích cho thiên hạ hậu thế nhiều hơn, nhờ vào đó để giúp truyền bá.

 

* Lời tựa tự soạn cho Tịnh Tín Đường Tục Tập

 

          Năm Nhâm Ngọ (1642), tôi từ đất Mân tới Ngô Hưng, vâng mạng Tam Bảo, dốc chí truyền trao ánh sáng nơi một khe hở, vượt khỏi gian nan, trở ngại, bỏ chùa Thiết Phật để sang Thiên Ninh tại Tuy Lư. Bỏ Thiên Ninh về ở Linh Phong tại Chương Nam. Lần lượt trải qua Phổ Đức, Tế Sanh, kết xă tại U Thê thuộc Ngưu Thủ, hư danh ngày càng thịnh, nhưng chí hướng trọn chẳng hành được. Đă là như thế, tâm ấn của Phật, Tổ sẽ gởi gắm vào đâu? Cổ nhân nói: “Tam chiết quăng nhi tri y, duyệt nhân đa nhi hiểu tướng” (ba lượt găy tay sẽ biết y, tiếp xúc nhiều người sẽ hiểu tướng pháp). Tôi găy tay không chỉ ba lần. Dùng danh để nhử tôi, chẳng bằng thật ḷng quở trách tôi! Tôi sẽ v́ danh ư? Khoan dung với chính ḿnh, nghiêm ngặt với kẻ khác, chẳng bằng tự xét để tự hối. Hối tuy chậm, vẫn hơn chẳng hối đấy ư? V́ thế, từ mùa Hạ năm Nhâm Ngọ (1642) cho đến mùa Đông năm Đinh Hợi (1647), gộp [những thứ viết lách lẻ tẻ] thành Tịnh Tín Đường Tục Tập, do chưa hoàn tất nguyện duyệt Tạng và trước thuật, chỉ đành chưa gác bút vậy!

 

* Lời tựa tặng Lưu Kim Độ

 

          Khổng Tử nói: “Thánh nhân ngô bất đắc kiến. Kiến quân tử tư khả hỹ” (Thánh nhân ta chẳng được thấy, thấy bậc quân tử là được rồi). Lại nói: “Quân tử tai! Cừ Bá Ngọc bang hữu đạo tắc sĩ, vô đạo tắc khả quyển nhi hoài chi” (Cừ Bá Ngọc là bậc quân tử! Chánh trị trong đất nước đúng đạo đức th́ ông ra làm quan, vua vô đạo th́ ông lui về, giữ vững chí hướng). Bá Ngọc sống vào thời Vệ Linh Công, chẳng thấy hữu đạo mà làm quan ư? Nhưng nói với sứ giả “quả quá vị năng” (chưa thể bớt lỗi), ngầm chẳng thay đổi khí tiết, khiến cho Nam Tử[97] tin tưởng, Bá Ngọc làm người mà được cả ngàn năm sau nghiễm nhiên công nhận.

Ông Lưu Kim Độ ở Mạt Lăng quả là Bá Ngọc trong thời chúng ta. Cư sĩ từ bé đă lừng danh văn học, Ngụy Quốc, Tứ Tử đều tôn ông làm thầy. Nếu ông có chí làm quan to, sẽ dễ dàng như vặt rau, nhưng ông đạm bạc, điềm nhiên thoái ẩn, dùng đạo để tự vui. Năm Đinh Tỵ (1617), ông gặp Vô Dị thiền sư, liền dốc chí quy y, được đặt pháp danh là Đạo Trừng. Năm Quư Mùi (1643), tôi nhận lời thỉnh của Phổ Đức, ông lại cùng những người cùng chí hướng vâng nhận pháp Bát Quan Trai. Tới nay đă ba năm ăn chay trường, lại vĩnh viễn ăn chay. Nhưng người ăn chay được gọi là “đạo nhân” th́ trong cơi đời cũng chẳng ít, cớ sao tôi riêng coi cư sĩ là bậc quân tử? Quân tử chẳng phải là kẻ cố ư khác người, mà là người khác chẳng thể làm giống như vậy được! Ở trong cảnh khốn quẫn mà thong dong, giữ vững ḷng nhân, tôn sùng lễ, nghèo mà có thể bố thí, làm lành chẳng mệt mỏi, hộ tŕ chánh pháp, chẳng bộc lộ tài năng. Đấy chẳng phải là người hiền ư? Hiểu rành rẽ nhưng chẳng phô phang ra miệng, công thành chẳng cậy công, cẩn trọng, ít nói như kẻ ngu độn, chậm chạp, nhưng mưu tính cho người khác ắt tận trung, kết giao với người khác th́ từ đầu đến đuôi như một, xem cảnh ngang trái như ngói trên mái nhà bị gió cuốn rơi, như thuyền trống bị gió cuốn trên sông. Tuy nói là chưa ngộ, tôi ắt nói là ông đă gần với đạo, há phải đợi giơ phất trần chỉ trỏ, thốt lời, nêu lời b́nh công án cổ rồi sau đấy mới xưng là Tông? Phải trích cú tầm chương, chia khoa giải thích ư nghĩa rồi sau đó mới xưng là Giáo ư? Là cao ắt do g̣ đống; là thấp ắt do sông, chằm. Nền tảng quân tử của cư sĩ đầy ắp, ưu việt tiến nhập thánh vực, có khó khăn ǵ đâu? Điều ấy khiến cho tôi bội phục sâu xa, ngưỡng vọng thiết tha, viết lời tựa này để tặng vậy!

 

* Lời tựa tặng cho Trương Hưng công

 

          Sách Luận Ngữ vừa mở đầu, liền nói cái học “thời tập”[98], nhưng người được Khổng môn xưng là hiếu học, bất quá là một ḿnh Nhan Tử! Cái đạo trong việc học cố nhiên khó nói! Lăo Đam (Lăo Tử) bảo “vị học nhật ích, vị đạo nhật tổn” (v́ học mà ngày một tăng thêm, v́ đạo mà ngày một giảm bớt). Học và đạo nếu có thể tách rời, sao có thể xưng là đại Đại Học cho được? “Bất thiên nộ, bất nhị quá” (chẳng trút giận sang người khác, chẳng phạm lỗi lần nữa) là tổn hay ích vậy? “Thân dân chỉ chí thiện” (thân cận dân chúng ḥng giáo hóa họ khôi phục tánh đức đạt tới điều thiện tột cùng), là ích hay là tổn? Quẻ Phong Lôi Ích, [được giải thích là] quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải” (quân tử thấy điều lành bèn hướng theo, có lỗi liền sửa). Quẻ Sơn Trạch Tổn, [được giải thích là] quân tử dĩ trừng phẫn, trất dục” (quân tử nén giận, đè nén ham muốn). Nén giận, khắc chế ham muốn chính là cách sửa lỗi to lớn. Sửa lỗi sẽ khôi phục điều thiện vốn sẵn có, bèn gọi là “thiên thiện” (chuyển hướng đến thiện), chẳng phải là riêng có điều thiện để có thể chuyển dời! V́ thế, hiểu rơ “tổn” và “ích” chẳng hai, có thể biết: Học hay đạo đều nhất trí.

Cái học được nói trong cơi đời chẳng phải vậy! Tập luyện từ chương, dốc sức nơi thi cử, ḥng giành lấy phú quư. Mô phỏng tự thiếp[99], tinh tường thơ văn để thành bậc danh sĩ. Khảo sát xưa nay, học rộng sách vở nhằm chú trọng đa văn. Nghiên cứu binh pháp, luận định chánh trị, ḥng lập công nghiệp. Chuộng khí tiết, giữ vững liêm, tín để nêu bày ḿnh là bậc cao khiết. Đàm luận danh lư, quở trách Thích, Lăo để tiếp nối ngọn lửa của Nho gia. Xem công án, viết ngữ lực, ḥng phụ trợ Thiền Tông. Giữ huyệt Đan Điền, điều ḥa hơi thở để củng cố thân và thần. Ôi! Đối với thiên hạ và quốc gia có thể quân bằng, tước lộc có thể từ chối, có thể đạp lên lưỡi gươm trần, thánh hiền tiên tổ cũng có thể phỏng theo [th́ chẳng c̣n ai quan tâm nữa]. Do vậy, cái học của Khổng - Nhan chẳng tồn tại nữa! V́ thế nói “Trung Dung chẳng thể nào!”

Nhưng Trung là nói khi mừng, giận, buồn, vui chưa phát sanh. C̣n Dung là tiết chế mừng, giận, buồn, vui vừa đúng mực. Hễ phát ra đều tiết chế đúng mực, tức là “hằng chỉ, hằng nhất” (luôn ngưng dứt, luôn nhất quán). Chẳng trái nghịch cái Trung khi chưa phát, chẳng trút giận, chẳng phạm lỗi lần nữa, cẩn thật, dè dặt, khéo khôi phục cái Thể của Chỉ và Nhất. Cái Thể của Chỉ và Nhất, thánh phàm b́nh đẳng. Do vậy, nó là cái gốc to lớn của thiên hạ, nhưng cái Ḥa trong Trung Tiết (tiết chế đúng mực) ắt phải từ cẩn thận, dè dặt để đạt tới cái hiểu biết tột cùng! Do vậy, Khổng Tử là đại thánh nhân vẫn lo lắng “đức chẳng tu, học chẳng giảng, nghe điều nghĩa chẳng thể hành theo, điều bất thiện chẳng thể sửa đổi”. Há có phải là Ngài cố ư nói khiêm tốn đâu nhé! Thật sự là biết tâm thể vốn diệu, học lực chưa dễ cùng tận vậy! Do đó, Ngài nói “phát phẫn vong thực, lạc dĩ vong ưu, bất tri lăo chi tương chí. Ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá” (phát phẫn quên ăn, vui quên mất lo nghĩ, chẳng biết đă già rồi. Ta năm mươi tuổi học kinh Dịch, có thể chẳng phạm lỗi lớn). Thiên Thai đại sư nói: “Nghiên cứu lẽ chân, tột cùng lẽ vọng th́ gọi là Học. Chân cùng, vọng hết, gọi là vô học”. Than ôi! Vô học chẳng thể dễ dàng đạt được! Vậy th́ cái học có bao giờ xong? Qua lời than “thệ giả như tư” (trôi đi như thế)[100], Khổng Tử nói về cái học cũng sâu lắm! Thông với đạo của ngày đêm, mà biết sanh tử c̣n chẳng có hai nẻo, há cho rằng già trẻ cái tâm khác nhau ư?

Năm Kỷ Tỵ (1629), tôi gặp cư sĩ, biết là bậc dốc chí nơi cái học. Năm Quư Mùi (1643), tôi nhận lời thỉnh của Phổ Đức [giảng diễn tại đó], cư sĩ hằng ngày đến nghe pháp. Thưa hỏi rất nhiều, nhưng chưa buông xuống cử nghiệp; do vậy, sức học chưa chuyên. Mùa Đông năm Ất Dậu (1645), tôi ở Tổ Đường. Mùa Xuân năm Bính Tuất (1646), cư sĩ đến gặp, bắt đầu chuyên lấy cái học làm nhiệm vụ. Nay nh́n lại sáu năm, cảm thấy xúc cảm tràn trề, muốn bỏ mà chẳng thể. Tôi đối với tăng, tục ở Kim Lăng, t́m người tuổi càng cao, chí càng chuyên dốc, chẳng chịu tự hạn chế nơi điều ḿnh đă đạt được, chỉ có ḿnh cư sĩ mà thôi! Cư sĩ hiếu học, chỉ ḿnh tôi vui mừng, mà cái học như tôi đă nói, cũng chỉ riêng cư sĩ là có thể tin sâu. Tôi há có được ai nấy đều giống như cư sĩ để nói về cái học, gần là quên Linh Phong hẻo lánh, xa là có thể dần dà về Cực Lạc? Người như cư sĩ chẳng được mấy ai! Do vậy, tôi niệm nào cũng nghĩ về Cực Lạc, luôn luôn nhớ tới Linh Phong. Điều chẳng ngăn cách tôi và cư sĩ là học mạch. Dẫu cư sĩ chẳng đạt tới Linh Phong tuyền thạch, ắt sẽ cùng tôi đến ao báu nơi Cực Lạc!

 

* Lời tựa cho bộ Kim Cang Kinh Kệ Luận Sớ Chú        

 

          “Đức Phật dùng một âm thanh diễn nói pháp, chúng sanh tùy theo mỗi loại mà được hiểu”. Hiểu biết tuy khác, chứng lư như nhau. Bởi lẽ, Tam Tạng thiên chân đă trọn đủ tứ môn, tứ Tất Đàn, huống hồ kinh diễn nói viên giáo, Ma-ni ứng hiện trọn khắp các sắc ư? Trong hội Đại Bát Nhă, Như Lai đặc biệt tuyên nói Kim Cang Bát Nhă, v́ người phát tối thượng thừa mà nói. Tối thượng thừa th́ có nghi nào chẳng phá, có trụ nào chẳng đạt tới? Nghi có thể chướng lư. Nghi phá th́ lư tự sáng ngời. Lư thật sự vô trụ, ngộ lư th́ trụ bởi đó mà lập. Do vậy, ngài Vô Trước xét theo trụ vị để giải thích, ngài Thiên Thân dựa theo đoạn nghi để giải thích, lần lượt là trong và ngoài, không phải là mỗi vị chỉ nêu ra một cách nh́n mà thôi. Nhưng hai bộ luận ấy chẳng ngăn trở lẫn nhau! Do mỗi nghi đều có thể chướng trụ, mỗi trụ đều có nghi c̣n sót lại, chưa thể một mực phối hợp theo chiều dọc được! Riêng đối với người đọc đời sau, nếu cú nghĩa khó thông, bèn thoái thác bảo là “trực chỉ”, ngỡ “chẳng lập văn tự” là cao, hoặc kẻ giảng nói lưu loát, bèn chèn ư kiến riêng vào cho tiện, gần như chẳng thể thấy ư chỉ của Như Lai.

Lăo cư sĩ Hà Sớ Viên đă theo học nơi cửa Tử Bách đại sư đă lâu, cho nên có thể riêng thấu hiểu kệ luận, trầm tư thông hiểu, bèn soạn sớ chú ḥng giúp ích cho hậu học. Cụ chỉ trần thuật chứ không trước tác, tin tưởng, ưa chuộng cổ đức, thật sự được Như Lai sai khiến hành Như Lai sự vậy. Tôi từng nói Vô Trước và Thiên Thân biết sâu xa “chẳng phải là bậc Đẳng Giác, sẽ chẳng thể hiểu cùng tận Phật pháp”. V́ thế, đối với chuyện nêu rơ trụ và đoạn nghi, mỗi vị chỉ dạy một khía cạnh, dùng sự khéo léo “hiển lộ để dẫn khởi, chứ không nói toạc ra”. Người đời sau chưa biết lư ẩn tàng, hạnh chưa đạt đến chân thật, cách biệt Vô Trước và Thiên Thân rất xa, bèn hư vọng toan tạo lập ư nghĩa. Nếu chẳng phạm lỗi chấp tướng, vướng danh, liền vướng vào thói “chụp không, bắt ảnh”, gần như chẳng trở thành tội khiên báng pháp đó ư? Sao bằng dựa ngay vào kệ luận để cầu th́ sẽ gần gũi hơn. Tôi suốt đời nghiên cứu kinh luận, ắt vốn tứ y[101], chẳng thích các ư kiến xuyên tạc, mờ mịt vô căn cứ trong thời gần đây! V́ thế, đối với bản sớ chú này, tùy hỷ sâu đậm, cũng nguyện cho người đời sau đọc sách này, sẽ do ngón tay mà thấy mặt trăng, chẳng cần phải lăng xăng theo đuổi các dị thuyết mà cứ cho là học rộng vậy!

 

* Lời tựa cho bộ Kim Cang Bát Nhă Hội Nghĩa

 

          Bát Nhă hết sức khó diễn tả! Không chỉ khó diễn tả, mà tu hành cũng khó khăn. Tu hành đă khó, mà diễn nói càng chẳng dễ. Đời chưa có người trọn đủ mắt và chân để có thể an ổn vào ao thanh lương. Sức chân mạnh mẽ th́ thị lực lại yếu, hoặc mắt có sức nh́n xa, sức chân lại suy yếu. Chân mạnh th́ đến rồi mới thấy, mắt nh́n xa th́ dơi nh́n mà biết trước. Đạo giải hành có khác như thế! V́ vậy, tôi đối với những bản giải thích kinh Kim Cang từ trước đến nay đều chẳng thể không thở dài!

Giáo pháp suốt một đời của đức Như Lai lấy Bát Nhă làm tông yếu. Đối với người lợi căn, sẽ nghe thấy suốt bốn mươi chín năm [đức Phật] thường nói Bát Nhă. Đối với kẻ độn căn, phải trải qua [các thời] A Hàm, Phương Đẳng th́ mới được nghe [Bát Nhă]. Như đối với phần kinh Kim Cang thuộc vào sau tám phần của đại hội, Như Lai v́ người phát tối thượng thừa mà nói, sâu xa, vi diệu, chẳng khác nào nh́n ngang thành rặng, nh́n bên cạnh thành ngọn núi. Vô Trước hiển trụ, Thiên Thân đoạn nghi, tuy là anh và em đều khó được, Xuân lan, Thu cúc, đối với toàn thể “thời đến vật sanh” của kinh này cũng chỉ là [chỉ ra] một cái vằn [của con báo] mà thôi! Sở chứng của người đời sau cố nhiên chẳng sánh bằng hai vị ở Tây Vực, sở ngộ lại chẳng bằng Thiên Thai Trí Giả. Nói càng lắm, đạo càng tối, ư chỉ càng nông cạn, từ ngữ càng rườm! Muốn hiểu chân tông, chỉ nhọc nhằn bút, lưỡi!

Khéo thay cư sĩ Đường Nghi Chi riêng nêu tu hành là cái gốc để hiểu nghĩa. Nếu có thể tu hành Bát Nhă, niệm nào cũng quan sát các pháp chẳng phải là pháp, không ǵ chẳng phải là Thật Tướng, đủ loại văn tự đều là cám bă, cũng đều có thể hóa thành thần kỳ, có thể làm nhát kim đâm xuống đỉnh đầu của hạng tỳ-kheo không nghe pháp! Nếu như [đối với người] bỏ nước chọn sữa, là bậc Bồ Tát ngỗng chúa, tôi nào dám múa lưỡi ư?

 

* Lời tựa cho bộ Tây Phương Hợp Luận

 

          Chỉ có bậc đại triệt đại ngộ mới có thể cùng họ đàm luận Niệm Phật tam-muội! Nếu không, đối với khả năng và sự hiểu biết của kẻ b́nh phàm, vẫn kém xa “người nhân thấy bèn nói là nhân. Người trí nh́n vào bèn nói là trí”. Tổ Đạt Ma từ phương Tây sang, làm chuyện phi thường, có lợi lớn mà cũng ắt có hại lớn. Than ôi! Người xưa may mắn đạt được đại lợi, người đời nay chỉ có đại hại mà thôi! Ai có thể dùng ngộ đạo làm tiên phong, dùng niệm Phật làm nẻo sau, ổn thỏa tiến hướng nẻo vô thượng giác? Viên Trung Lang tuổi trẻ dĩnh ngộ, chém phăng đầu lưỡi của bậc Thiền túc một thuở, người chẳng biết chỉ cho ông là bậc văn nhân thông huệ. Về sau, ông lại thâm nhập pháp giới, quy tâm nơi Lạc Quốc, soạn thành Tây Phương Hợp Luận gồm mười quyển. Mỗi chữ đều từ ngộ môn chân thật lưu xuất. V́ thế, trọn chẳng có một chữ nào giẫm theo vết cũ, lại chẳng có một chữ nào bịa đặt. Tuy ông c̣n chưa đạt đến chỗ tột cùng sâu thẳm trong tông Thiên Thai, nhưng thấu triệt Thiền cơ, dung hội quán triệt giáo lư của Phương Sơn (Lư Thông Huyền) và Thanh Lương chẳng sót. Chắc có kẻ nghi bậc danh nạp lăo túc chưa dễ thông hiểu trọn khắp Phật, Tổ, Tông, Giáo, lẽ đâu kẻ thiếu niên vừa mới đỗ đạt, ngũ dục chưa trừ mà có thể đạt đến như vậy. Trọn chẳng biết là do nhiều đời huân tập, chẳng phải là ngẫu nhiên!

Từng nghe đồn ba anh em họ Viên[102] là hậu thân của Tam Tô[103] đời Tống. Ôi! Trung Lang quả thật là Đông Pha, tiến rất cao nơi Phật pháp. Tôi thường nói các bậc tạo công nghiệp đời Minh kém xa thời Hán, Đường, Tống. Lư Học phạm sai lầm lớn, một ḿnh Vương Dương Minh thẳng thừng nối tiếp tâm mạch của Khổng - Nhan. Cư sĩ trong Phật môn th́ Lương Túc đời Đường, Trần Quán đời Tống, Viên Hoằng Đạo đời Minh, chưa thể sánh bằng được! Trung Túc[104] v́ thuở đầu ngẫu nhiên nghi câu “đem kinh Kim Cang lau lưng tượng đất”[105], bị Thiền giả chê cười. Thử đọc Tam Thiên Hữu Môn Tụng của ông ta, c̣n cười nổi hay không? Trung Lang tuổi thiếu niên phong lưu tiêu sái, cũng bị Tăng, tục coi thường. Thử đọc Tây Phương Hợp Luận của ông ta, c̣n cười nổi hay chăng? Than ôi! Người thời nay chẳng có con mắt đọc sách, chẳng trách họ lấy tai làm mắt! Tôi riêng sưu tập bản in [Tây Phương Hợp Luận] được chấm câu, có ghi chú và lời phê b́nh được in tại Ngô Môn, tính khắc in lại để lưu thông rộng răi, khiến cho trọn khắp pháp giới hữu t́nh từ nay trở đi tin chắc pháp môn Niệm Phật chí viên, chí đốn, vượt trội hết thảy Thiền, Giáo, Luật, thống nhiếp hết thảy Thiền, Giáo, Luận, chẳng c̣n phải khóc lóc, than thở nơi ngă rẽ nữa!

 

* Lời tựa tự soạn cho bộ Thai Tông Hội Nghĩa

 

          Chắc là có kẻ hỏi Ngẫu Ích Tử rằng: - Tôi nghe giảng kinh Pháp Hoa th́ không ai hay hơn tông Thiên Thai. V́ thế, Trí Giả đại sư sau khi diệu ngộ, dùng tứ vô ngại biện tài chẳng thể nghĩ bàn để tuyên nói hai sách Huyền Nghĩa và Văn Cú. Tôn giả Chương An ghi lại mỗi sách gồm mười quyển, chẳng khác ǵ ngài A Nan kết tập. Cho tới tôn giả Kinh Khê lại dùng sách Thích Thiêm để chắp cánh cho Huyền Nghĩa, viết sách Văn Cú Kư để chắp cánh cho Văn Cú. Do vậy, Giáo Quán sáng ngời, được xưng tụng là các vị tổ trung hưng [tông Thiên Thai]. Nương theo đó để tu chứng, người đắc đạo như rừng. Dẫu có thánh nhân xuất hiện lần nữa, cũng chẳng thể nói thêm một chữ thừa thăi nào! Trước kia, đă từng thấy trong lời Bạt cho phần Luân Quán của ông có nói: “Ví như bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hạo đă khiến cho Lư Bạch phải gác bút”. Nay sao lại vô duyên cớ viết lách vậy? 

Ngẫu Ích thưa: - Ôi! Đấy cũng là nỗi khổ tâm muôn phần bắt đắc dĩ của tôi. Tôi ngụ tại Ôn Lăng, viết Luân Quán là v́ muốn dẫn dụ người học Phật trong thiên hạ chẳng ai không dốc ḷng nơi tam đại bộ[106]. Nay bấm ngón tay đếm đă mười mấy năm rồi! Lưỡi đớ, tai điếc, chưa thể khuyên được đôi ba người dốc sức nơi Giáo Quán, họ đều than thở các bộ sách ấy mênh mông, rườm rà khác nào nh́n vào biển cả bát ngát. Nếu chẳng bỏ công trích yếu đại lược đôi chút, các pháp viên đốn trong các sách Huyền Nghĩa, Thích Thiêm của ngài Diệu Lạc[107] sẽ đành đến nỗi cất trên gác cao ư?”

Hỏi: - Nếu là như vậy, chỉ cần sao lục, trích yếu Văn Cú và Văn Cú Kư, phỏng theo lệ của sách Diệu Huyền Tiết Yếu là được rồi, sao lại khoa phán, đổi văn, lén trộm thêm vào ư ḿnh, gọi thẳng thừng là Hội Nghĩa vậy?

Đáp: - Đấy càng là chuyện bất đắc dĩ! Thời cổ, kinh và chú sớ đều cùng lưu hành, cho nên sớ giải ư nghĩa của kinh, đối với các điều uyên áo, chẳng ngại nêu rơ tường tận, sâu xa, c̣n đối với những chỗ kinh nói rơ ràng th́ chỉ chia khoa, chỉ điểm đôi chút mà thôi. Người đời sau gượng ép ghép sớ vào kinh, khiến cho câu chữ trong kinh văn bị xé lẻ khi đọc. Nay muốn thuận theo kinh văn để diễn giải ư nghĩa, mà vẫn chẳng tổn thương huyết mạch của kinh văn, lẽ nào chẳng chia đại lược thành từng khoa?

Trí Giả đại sư biện tài phô diễn. Sau khi đại sư thị tịch, ngài Chương An kết tập. Tuy hoàn toàn phù hợp ư nghĩa của đại sư [đă dạy], chưa chắc đă một mực đều là lời văn của đại sư? V́ thế, văn phong cổ kính, chất phác, chẳng chú trọng gọt giũa bóng bẩy, chỉ có đọc lâu mới biết sự hay khéo. Kẻ sơ tâm đối trước các tác phẩm ấy đều mờ mịt, lẽ nào chẳng thay đổi lời văn đôi chút ư? Tôn giả Kinh Khê vàng ṛng qua trăm lần luyện, văn lẫn nghĩa đều sâu xa, nhưng cũng v́ mang hơi hướng thuở Lục Triều[108], hơi chẳng hợp thời cơ cho lắm. Đối với chuyện xiển dương, tiết lộ ư chỉ ngoài lời của đại sư, kẻ luôn theo gịng đếm chữ sẽ trọn chẳng thể biết được, há cũng chẳng giống như lén thêm vào ư kiến của ḿnh ư?

Pháp Hoa kinh tạng sâu chắc, u viễn, Trí Giả đại sư có thể khế hội cội nguồn kinh ấy, há có thể tuyên nói trọn hết những điều uẩn tàng ư? Tôn giả Chương An ghi lại những điểm trọng yếu, há có thể chép tường tận trọn hết được ư? Ngay như tôn giả Kinh Khê có thể xiển dương yếu nghĩa, cũng có thể phân tích trọn hết các lẽ khúc chiết ư? Nay tôi dùng điều sở đắc do suy nghĩ ngàn mối của phàm phu để phù hợp thời nghi, há v́ sợ bị chê gièm trái nghịch cổ nhân mà chẳng dốc cạn đôi chút hiểu biết, trộm lấy ư nghĩa để ghép thêm vào các khoa ư? Người hiểu tôi th́ chỉ là Hội Nghĩa, mà trách tội tôi thì cũng chỉ là Hội Nghĩa đó thôi!

 

* Lời tựa tự soạn cho bộ Trùng Trị Tỳ Ni Sự Nghĩa Tập Yếu

 

          Tôi sanh vào giờ Hợi ngày mồng Ba tháng Năm năm Kỷ Hợi (1599) đời Vạn Lịch. Tới ngày mồng Bảy tháng Năm năm Nhâm Tuất (1622) bèn xuống tóc xuất gia, nhằm lúc hai mươi bốn tuổi. Năm sau, thọ Cụ Túc Giới trước tượng Vân Thê ḥa thượng. Năm kế đó, lại thọ Bồ Tát Giới trước tháp của ḥa thượng. Mùa Xuân năm hai mươi bảy tuổi, duyệt Luật một lượt, sao lục thành bộ Sự Nghĩa Yếu Lược, chỉ hơn một trăm trang. Mùa Hạ năm sau, duyệt Luật lần thứ hai, sao lục thành bốn tập. Mùa Đông kế đó, duyệt Luật lần thứ ba, tạo thành sáu tập, tổng cộng là mười tám quyển. Mùa Hạ lúc tôi ba mươi hai tuổi, ba người bạn là Thọ, Phưởng, Tiếp giảng cặn kẽ một lượt, thêm hai tập đầu và cuối, tổng cộng là tám tập. Năm sau nữa, Kim Đài pháp chủ cho khắc in tại chùa Phật Nhật ở Cao Đ́nh. Mùa Đông năm ấy, tại Linh Phong, chỉ giảng bảy quyển, cho đến mùa Hạ năm sau mới xong. Người nghe được mười mấy vị, chỉ có tỳ-kheo Triệt Nhân tận lực hành theo. Mùa Hạ năm sau, tại chùa Tây Tiểu Hồ ở Kim Đ́nh, giảng thấu triệt một lượt, có chín người nghe. Người có thể lưu tâm chỉ có Triệt Nhân, Tự Quán và Huyễn Duyên đại đức.

Mùa Đông kế đó, tôi ở Huyễn Trụ Am tại Ngô Môn, lại giảng một lượt, được năm sáu người nghe, chỉ có hai vị tỳ-kheo Tự Quán và Tăng Tụ tận lực hành tŕ. Lúc ba mươi tám tuổi, tôi vào Cửu Hoa. Bốn mươi tuổi, vào đất Mân (Phước Kiến). Bốn mươi bốn tuổi tới Thiều Thành, từ đấy trở đi đă mười ba, mười bốn năm, chẳng có ai hỏi tới. Ba vị Triệt Nhân, Tự Quán và Tăng Tụ lại đều qua đời. Cái học Tỳ Ni quả thật chẳng khác ǵ hàng hóa ế ẩm! Khi tôi năm mươi mốt tuổi, vào mùa Đông, từ Kim Lăng trở về nằm tại Linh Phong. Mùa Hạ kế đó, có mười mấy người phát tâm học Luật, ép tôi giảng lần nữa. Do vậy, nghĩ những điều đă biên tập, tuy đă thâu thập mọi điều quan trọng, vẫn chưa mỗi mỗi đều chiết trung. Hơn nữa, hai sách Vấn Biện và Âm Nghĩa đến nay vẫn chưa in. Chẳng bằng hội nhập vào sách Tập Yếu, sửa chữa lần nữa, cũng như loại trừ một hai chỗ rườm rà, viễn vông, sao cho đơn giản, thiết thực, ngơ hầu kẻ độn căn cũng chẳng đến nỗi nh́n biển cả.

 

* Lời tựa tái bản Bảo Vương Tam Muội Niệm Phật Trực Chỉ

 

          Sở dĩ Niệm Phật tam-muội được gọi là Bảo Vương v́ như châu Ma-ni mưa trọn khắp hết thảy các báu tam-muội. Như Chuyển Luân Vương thống ngự trọn khắp hết thảy các vua tam-muội, bởi đây là pháp môn chí viên, chí đốn. Khởi đầu bằng Hoa Nghiêm, kết thúc bằng Pháp Hoa, giáo pháp suốt một đời đức Phật không ǵ chẳng nhằm tán dương Bảo Vương tam-muội này! Khởi đầu từ Văn Thù, Phổ Hiền, cho tới Vĩnh Minh, Sở Thạch, hết thảy Bồ Tát, thánh tổ, không vị nào chẳng tu chứng, hoằng thông Bảo Vương tam-muội này. Nhưng kẻ mê muội trong cơi đời cứ ngỡ tự tánh Di Đà chẳng phải là Lạc Bang giáo chủ, ngỡ duy tâm Tịnh Độ chẳng ở ngoài mười vạn ức cơi nơi phương Tây, lầm nhận duyên ảnh của sáu trần là tướng tự tâm, hoàn toàn chẳng biết mười phương pháp giới, mỗi mỗi không ǵ chẳng phải chính là tự tánh của cái tâm, cũng chẳng đáng buồn ư?

Cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, tại Ngân Giang có vị đại thiện tri thức tên là Diệu Hiệp xót thương kẻ tà kiến sâu xa, soạn thuật Niệm Phật Trực Chỉ gồm hai mươi hai thiên, thất truyền trong cơi đời đă lâu. Vân Thê lăo nhân muốn xem mà chẳng thể được! Trong niên hiệu Thần Miếu, thiền bá Vạn Dung ở Cổ Ngô ngẫu nhiên t́m được bản sách này trong đống sách cũ, cùng với Bảo Vương Luận do pháp sư Phi Tích biên soạn đời Đường, cùng là những bản sách Vân Thê lăo nhân muốn xem mà chẳng thể được! Hàn Triều Tập trước hết khắc Bảo Vương Luận tại Vân Thê. Tôi lại cho khắc in sách ấy, lưu lại chùa Phật Nhật. Nay cư sĩ Xa Mật Phiên lại khắc in lần nữa tại Trường Can, tôi bèn riêng ghi lại [duyên do] để thưa tŕnh với hậu hiền!

 

* Lời tựa tự soạn cho sách Ngẫu Niêm Vấn Đáp

 

          Nhớ mùa Thu năm Quư Dậu (1633), tôi qua nhà cư sĩ Tŕnh Quư Thanh ở Cô Thành, gặp thiền sư Tuyết Đ́nh. Ngài Tuyết Đ́nh bo tôi rằng: “Thiền là cương lănh của Giáo, là căn bản của Giáo. Nay người theo Giáo chẳng tin có Thiền, giống như chấp nhận lưới không có dây chài, vịn cành, vin lá chẳng có cội rễ, sao mà mê hoặc đến thế?” Tôi thưa rằng: “Thầy nói thật chí lư! Thiền là giềng mối của Giáo, Giáo là giềng mối của Thiền. Thiền là cổ áo của Giáo. Giáo là vạt, tay áo, gấu áo của Thiền. Thiền là căn bản của Giáo, Giáo là cành, lá, hoa, trái của Thiền. Người học Giáo bỏ cương lănh, căn bản, cố nhiên là mê lầm to lớn. Nay Thiền sĩ lại bỏ lưới, chỉ giữ lại dây chài, bỏ vạt, tay áo, gấu áo để chỉ giữ lấy cổ áo, bỏ cành, lá, hoa, trái để riêng giữ lấy cội cây khô khốc, chẳng càng mê hoặc hơn ư?” Thầy Tuyết Đ́nh không đáp được!

Than ôi! Thiền và Giáo sao có thể tách rời được? Chư Tổ xưa kia chưa dám ĺa kinh một chữ; các vị đại giáo chủ xưa kia, chưa có ai chẳng thấu triệt tâm tông, đạt được sự vận dụng to lớn. Hiềm rằng đời Mạt thấy thành hai nẻo, thật đáng buồn thay! Tôi mỗi lần giảng, ắt cực lực nêu lên căn bản và cương lănh để dạy người khác, nhưng hiếm người biết thấu hiểu! Tôi lại từng soạn ba bài tụng để tiết lộ tin tức này, nhưng người mê muội vẫn cho là giáo ư, chẳng phải là tông ư! Ôi chao! Nếu tông ư ĺa giáo ư, chẳng phải là rốt cuộc giống như ma nói ư? Nay lại nhào nặn viên bột nếp thành bánh mè nướng để dỗ kẻ khóc oa oa, lại nói rốt cuộc là Tông hay là Giáo? Ôi! Đối trước kẻ si, chẳng thể nói mộng!

 

* Lời tựa tặng Trịnh Hoàn Đức niệm Phật

 

          Tôi từng đọc thấy Thập Lục Quán Kinh nói: “Chư Phật Chánh Biến Tri hải tùng tâm tưởng sanh. Thị cố, chúng sanh tâm tưởng Phật thời, thị tâm tức thị tam thập nhị tướng, bát thập chủng hảo. Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật” (Biển Chánh Biến Tri của chư Phật sanh từ tâm tưởng. V́ thế, khi tâm chúng sanh tưởng Phật, tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo. Tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật). Ôi! Đó chính là bí yếu chân thật của Niệm Phật tam-muội. Bởi lẽ, chỉ nói “làm Phật”, chẳng nói “là Phật”, tức Phật chẳng phải là cố hữu, có khác ǵ Quyền Thừa? Chỉ nói “là Phật”, chẳng nói “làm Phật”, tức là Phật chẳng phải là tu chứng, khác ǵ ma tà, ngoại đạo? Do vậy, kinh Đại Phật Đảnh nêu tỏ pháp thế gian và xuất thế gian. Biết cái nhân cội gốc ấy, thuận theo duyên mà lưu xuất. Đă biết cái nhân cội gốc th́ mười giới không ǵ chẳng phải chính là cái tâm, tức Phật giới chẳng phải là tâm ư? Tùy theo duyên mà lưu xuất th́ mười giới không ǵ chẳng do tâm mà tạo, tức Phật giới chẳng do tâm làm ra ư?

Năm Kỷ Tỵ (1629), tôi gặp lăo cư sĩ Trịnh Thiên Lư, thấy thánh tượng do cụ vẽ, vi tế, tinh diệu, khéo hơn thợ trời, bỗng ngộ ư chỉ “tâm làm Phật, tâm là Phật”. Con trưởng cụ là ông Hoàn Đức càng dốc công đến tột cùng. Hoàn Đức tham cứu công án “người niệm Phật là ai?” đă lâu. Tôi nói:

- Nếu tin hai câu ‘tâm này làm Phật, tâm này là Phật’, mà c̣n tham chữ Ai, sẽ khiến cho kẻ khác ôm bụng cười to! Bài kệ trong kinh Đại Tập có nói: “Nhược nhân đản niệm Di Đà Phật, thị danh vô thượng thâm diệu Thiền. Chí tâm tưởng tượng kiến Phật thời, tức thị bất sanh bất diệt pháp” (Nếu ai được thấy Di Đà Phật, th́ gọi vô thượng thâm diệu Thiền. Khi chí tâm tưởng thấy được Phật, tức là pháp bất sanh bất diệt). Đại Thế Chí Pháp Vương Tử nói: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền, đương lai, tất định kiến Phật, khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ tới phương tiện mà tự được tâm khai’). Thiền sư Vĩnh Minh nói: ‘Một niệm tương ứng một niệm Phật. Một ngày tương ứng một ngày Phật’. Thiền sư Thọ Xương nói: ‘Cái tâm niệm Phật chính là Phật’. Sao lại ngờ vực? Sao lại nghi ngờ?

 

* Lời tựa cho Trịnh Thiên Lư Lăo Cư Sĩ Tập

 

          Kẻ chẳng lập chí làm thánh hiền, Phật, Tổ, ắt phú quư sẽ dâm, nghèo hèn sẽ bị đổi dời, gặp oai vũ sẽ bị khuất phục, gặp chuyện đắc ư sẽ vui sướng, tự măn, gặp chuyện trái ư sẽ oán cừu bừng bừng! T́m được người có thể tự phản tỉnh, tự phê phán, tự an, tự yên phận, hiếm hoi lắm! Huống hồ lại c̣n tùy theo mọi chuyện mà tự giác, giác tha ư! Tôi đọc kỹ bản thảo của lăo cư sĩ Trịnh Thiên Lư, biết cụ chẳng phải là hạng ẩn sĩ thích văn chương, mà là bậc trích tiên (tiên bị đọa) dốc tâm nơi bậc Đại Giác. Suốt đời cụ vẽ tượng Phổ Môn nhiều nhất, trên mỗi bức vẽ, ắt có bài tán. Tượng Bố Đại cũng thế. Lời tán ắt cảnh tỉnh, phát khởi kẻ t́nh kiến mê chấp. Lời lẽ tha thiết tột bậc khiến cho người khác rởn lông, buốt xương. Kế đó, cụ vẽ nhiều h́nh tượng Đạt Ma. Bài tán ghi trên tượng ắt gơ động nẻo hướng thượng, khiến cho kẻ khác do ngón tay mà thấy mặt trăng. Cụ vẽ sơn thủy ắt vịnh, lời vịnh đều thanh thoát, vượt xa ngoài t́nh lụy, chẳng phải do khéo gọt giũa câu chữ mà thành!

Nhưng điều khiến tôi càng khâm phục hơn là các câu cụ tự khuyên, tự cảnh tỉnh, tự hối, tự trách. Ấy là do cái tâm cụ, niệm nào cũng muốn vào núi tu đạo, nhưng huyễn duyên chưa toại, chẳng khỏi chưa toại chí đă đi biền biệt! Than ôi! Nếu chẳng ôm ấp cùng một hoài băo xuất thế như cụ, sao biết được nỗi khổ trong suốt cuộc đời? Nếu chẳng biết nỗi khổ trong cuộc đời cụ, há biết cụ thật sự suy nghĩ xuất thế ư? Con trưởng là Hoàn Đức biết chí của cha, bảo tôi xếp đặt theo thứ tự để lưu truyền bản thảo ấy. Trước hết là Phổ Môn Tán, kế đó là Bố Đại Tán, rồi đến Đạt Ma Tán, kế đó là các bài thơ đề trên các bức vẽ, và các bức Tiên Ảnh Đồ (bức tranh về bóng cái roi), Thiên Cổ Âm Đồ (bức tranh về âm thanh của cái trống cơi trời) v.v…sẽ cho in khắc để lưu hành riêng, ở đây chẳng nhắc lại! Thử mở ra ngắm nghía, quả thật là trích tiên quy tâm đấng Đại Giác, quyết chẳng phải là kẻ ẩn dật yêu thích văn chương trong thế gian. Than ôi! Phật đạo dài xa chỉ ở ngay trước mắt. Tuy chỉ ở ngay trước mắt, nhưng hành trong bao kiếp rộng xa, trọn chẳng thể tận! Đời có kẻ chẳng biết nỗi khó khăn, sợ là chưa từng thật sự ngộ cái dễ dàng. Cụ Thiên Lư đă biết nỗi khó khăn ấy, tuy muốn chẳng nói là cụ đă ngộ điều dễ dàng, há có được hay không? Người khéo luận cho rằng Thiên Lư phẩm cách thanh nhă, tài hoa, phong trí chẳng kém Nam Cung Quát[109].

 

* Lời tựa ghi sau sổ sách phát chẩn tại Giang Ninh

 

          Tâm tánh là một, nhưng nguy ngập hay vi diệu khác biệt. Sự khác biệt ấy giống như băng và nước, tánh ướt chẳng thể khác. Điều khác biệt là bậc thượng trí yên vui, giàu có, tôn quư, vinh hiển, kẻ hạ ngu bần cùng, khốn khổ. Do chẳng thể khác, bậc thượng trí ắt coi hạ ngu là chỗ để dấy ḷng Từ, vận ḷng Bi. Hạ ngu ắt nhờ vào thượng trí làm người chủ yếu cứu nạn, khỏi khổ. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhân ư chúng sanh nhi khởi đại bi, nhân ư đại bi sanh Bồ Đề tâm. Nhân Bồ Đề tâm, thành Đẳng Chánh Giác. Nhất thiết Bồ Tát nhược vô chúng sanh, tất bất năng thành Vô Thượng Bồ Đề” (Do chúng sanh mà dấy ḷng đại bi. Do đại bi mà sanh Bồ Đề tâm. Do Bồ Đề tâm mà thành Đẳng Chánh Giác. Hết thảy Bồ Tát nếu không có chúng sanh, ắt sẽ chẳng thể Đẳng Chánh Giác). Lời ấy chí lư thay!

Mùa Xuân năm Tân Măo (1651), Trường Can bị mưa dầm suốt mười ngày, dân không lẽ sống, ấy là do tự tạo oan nghiệt. Chế Đài[110] Mă công và các ông Vương, Nguy, thương xót họ không nơi nương tựa, lập ra mười mấy chỗ thí cháo, suốt một trăm ngày. Tổng cộng quyên ra hơn một vạn đồng, cứu dân đói hơn bảy mươi vạn người. Than ôi! Chẳng nương vào tánh chẳng thể khác, sẽ do đâu mà khiến cho mạng sắp dứt lại được sống tiếp, thân gần chết mà lại được phục sanh? Hơn nữa, khi nhận cơm cháo, dẫu kẻ tối tăm, ngu độn, không ai chẳng biết miệng xưng Phật hiệu, tâm cảm từ ân, chỉ do một bữa ăn ấy đă kết thành cái duyên thù thắng “thành Phật trong tương lai”, chủng tử kim cang quyết chẳng thể hoại. Chẳng phải là Phổ Môn thị hiện thân tể quan để hành Bồ Tát đạo, há có thể chuyển tội thành phước, chuyển tai ương thành cát tường thần tốc như thế đó? Tuy vậy, dân chưa chán tội, trời chưa chán loạn, trên là văn hồi ư trời, dưới là cứu vớt ngu dân, chỉ có cậy vào bậc đại nhân sức lớn. Tôi vui mừng sâu xa trước nghĩa cử ấy, càng mong luôn có hành động này, càng mong nghĩa cử không ǵ bằng như thế sẽ do gió mưa thuận ḥacó thể vĩnh viễn chẳng dùng đến nghĩa cử ấy!

 

* Lời tựa cho Duy Ma Kinh Đề Xướng Lược Luận

 

          Kinh dạy: “Chư Phật giải thoát, đương ư chúng sanh tâm hạnh trung cầu” (Sự giải thoát của chư Phật hăy nên cầu từ trong tâm hạnh của chúng sanh). Xét ra, tâm hạnh của chúng sanh muôn ngàn sai khác; tâm hạnh nhiều, giải thoát cũng nhiều. Giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, tâm hạnh cũng chẳng thể nghĩ bàn! Nhưng kẻ cầu giải thoát trong cơi đời không ai chẳng đọa vào hang nghĩ bàn, Phật Thích Ca lẽ nào không thị hiện giáng sanh, ngài Duy Ma lẽ đâu chẳng thị hiện bị bệnh? Thị hiện giáng sanh, thị hiện bệnh tật, cho tới hội Pháp Hoa, Quyền và Thật mới dung hội. Chánh pháp đă xa, người học cuối thời Tượng Pháp ai nấy theo ư của riêng ḿnh, ai nấy thuận theo tập khí, coi pháp môn Bất Nhị như băng, than! Dẫu có chứng ngộ, chưa quên pháp chấp, vẫn chia cách tánh, tướng, Nam Bắc khác kiểu, huống hồ kẻ y thông[111] ư? Tôi đă từng xem các bản chú giải thời cổ, có bản nêu được đại cương tương tự như thời Hán, có bản nêu ra được muôn điều mục tương tự như đời Đường. C̣n như muốn truy tới lễ nhạc của Thành Châu (Châu Thành Vương)[112], mà bỏ qua Trí Giả đại sư, sẽ chưa thể coi là toàn vẹn được! “Tương tự Hán” sẽ có thể cảnh tỉnh mọi người, khiến cho họ thọ dụng ngay lập tức, nhưng có thói tệ là cuồng! “Tợ hồ đời Đường” có thể làm khuôn phép cho mọi người, khiến cho b́nh dị, ổn thỏa, thích đáng, khuyết điểm là vụn vặt. V́ thế, trước thuật của đôi bên kết hợp lại th́ sẽ tốt đẹp đôi đàng! Hễ chấp th́ không ǵ chẳng phải là bệnh!

Trong niên hiệu Thần Miếu đời Minh, Chân Nhất đạo nhân ở Duy Dương hiệu là Vô Dụng Giả (kẻ vô tích sự), sống ở núi Pháp Hoa tại Vũ Lâm, đặt tên am là Tây Phương. Chẳng rơ ai là người nối pháp. Các thứ trước thuật, phần lớn giống như những trước tác của Phương Sơn. Nếu chẳng có túc căn và ngộ môn, quyết chẳng thể lănh hội một chữ! Tiếc chưa ngộ được sự kiềm chế đối với bản sắc, chưa tránh khỏi cung cách xen tạp bá đạo[113] đời Hán, nhưng nhanh chóng, thẳng thừng, so với các trước thuật trong thời gần đây, vượt trội hơn hẳn! Thuở đó, một hai vị nổi tiếng và ǵn giữ tế hạnh, có thể khiến cho kẻ tôn sùng đông đảo, như Tử Dương và môn đệ, ngược ngạo coi [chủ thuyết của] Lục Tượng Sơn là Thiền Học mà bài xích! Than ôi! Tượng Sơn chẳng thể bị diệt mất, [dẫu bị coi là] vô dụng đối với đời sau, sao có thể diệt mất được những ǵ ông ta đă đóng góp trong cuộc đời ḿnh ư? Nếu thử b́nh tâm, ḥa khí, đừng nói theo thành kiến do chấp vào ư kiến được tiếp xúc đầu tiên để đọc sách Duy Ma Đề Xướng Lược Luận này, bảo nó chẳng phải là pháp mạch của Phương Sơn, tôi chẳng tin. Chẳng v́ bạch bích có vết rạn nhỏ mà bỏ mặc, chẳng v́ ṿng tay ôm chưa đủ một thước mà chê bỏ, rượu ngon có chút cặn[114], chẳng phải là cái học văn tự nông cạn mà có thể sánh bằng được. Thâm cảm xưa nay, thở dài viết lời tựa.

 

* Lời tựa tự soạn ở cuối tác phẩm Lăng Già Nghĩa Sớ

                  

          C̣n nhớ tôi vừa mới phát tâm liền theo đuổi Thiền Tông. Mấy năm sau, dính dáng Luật, dính dáng Giáo, trước thuật khá nhiều, riêng đối với kinh Lăng Già th́ tính duyệt Tạng xong mới chú giải. Năm Nhâm Th́n (1652) kết hạ tại Thịnh Khê, không có chỗ để mượn Đại Tạng, bèn nâng bút [viết lời chú giải] vào ngày mồng Ba tháng Sáu, tới ngày Mười Một tháng Tám gác bút. Ở Lănh Hương Đường tại Nam Giao của Trường Thủy, chỉ duyệt Tạng bảy mươi ngày, nhưng Phật sự, ma sự, bệnh chướng, ngoại chướng, đành phí uổng thời gian! Đổi ba chỗ mới hoàn thành bản thảo. Than ôi! Bấm tay tính nghĩ các trước thuật, tác phẩm ǵ cũng thuận lợi, dễ dàng, chứ sớ giải Lăng Già sao mà trái nghịch, khó khăn! Có phải là do pháp môn tự giác thánh trí đúng là để phá thói tệ trong đời Mạt, cho nên khích động Ba Tuần phẫn nộ đó ư? Nhưng Ba Tuần có thể khiến cho tôi ngồi chẳng ấm chỗ, nhưng chẳng thể quấy nhiễu ước vọng của tôi, ngăn trở bút trận của tôi, tôi ắt sẽ hóa độ Ba Tuần cùng thành Phật đạo. Ngài Duy Ma nói “tà ma ngoại đạo, giai ngô thị giả” (tà ma, ngoại đạo đều là kẻ hầu của tôi), há chẳng đáng tin ư? Tôi thẹn v́ bị hư danh gây lầm lẫn, phạm phải lời thọ kư “hiểu đạo mà chẳng hành đạo” của ngài Đạt Ma, nhưng vẫn c̣n hơn là “nói đạo mà chẳng hiểu đạo”. Bậc hiền đạt nếu có thể do lời nói mà nhập nghĩa, như đèn soi các sắc, ngơ hầu chẳng phụ nỗi khổ tâm “tổn ḿnh lợi người” của tôi.

 

* Lời tựa ghi cuối bản giảo chánh, khắc in Đại A Di Đà Kinh

 

          A Di Đà Phật dùng pháp giới tạng thân thị hiện ngự tại Tây Phương Tịnh Độ, chỉ có vi trần Lạc độ ấy hàm nhiếp vô biên biển cơi nước Hoa Tạng chẳng thể nghĩ bàn. Đó gọi là “pháp môn Quyền Thật bất nhị”, vào trọn khắp tâm tưởng của hết thảy chúng sanh, chẳng đọa trong t́nh kiến so đo của hết thảy chúng sanh. Mười phương chư Phật cùng nhau xưng dương. Trong đại hội Bảo Tích, ra rả khuyên văng sanh. Trong các bản được lưu hành riêng th́ có bản của cư sĩ Vương Long Thư đời Tống dựa theo bốn bản dịch của kinh này (kinh Vô Lượng Thọ), do chưa thấy bản tốt nhất trong kinh Bảo Tích (tức Vô Lượng Thọ Hội), liền hội tập bốn bản dịch, bỏ những chỗ khuyết điểm, chọn lấy phần ưu điểm, đặt tên là Đại A Di Đà Kinh lưu thông trong cả cơi đời hơn một ngàn năm rồi! Tôn túc Vạn Dung ở Thọ Sanh Am có được bản cũ từ nhà in, so sánh với Nam Tạng và Bắc Tạng, văn lẫn lư đều ưu, các đồ tôn của Ngài khắc in. Đấy chính là nguyện luân của ngài Pháp Tạng xưa nay nhất trí. Người chép kinh là cư sĩ Vương Trinh Minh, tôi sang Ngô Môn là để chấm câu[115] vậy.

 

* Lời tựa khắc in chung hai kinh Di Đà và Kim Cang

         

          Chẳng tịnh, chẳng uế là cái Thể của Bát Nhă. Biết tịnh, biết uế là Chiếu của Bát Nhă. Giữ tịnh, bỏ uế là Dụng của Bát Nhă. V́ thế, chẳng dùng Bát Nhă để dẫn đường mà có thể sanh về Tịnh Độ, chẳng có lẽ ấy! Chẳng dùng Tịnh Độ làm chỗ quy hướng mà có thể gọi là Bát Nhă, chưa hề nghe thấy! Chắc là có kẻ nói: “Kinh Di Đà thuộc bộ Phương Đẳng, Kim Cang thuộc bộ Bát Nhă, thời và giáo đă khác, chỉ quy sao là một cho được?”

Tôi nói: - Kiến chấp kiên cố thay! Giáo pháp suốt một đời Như Lai trừ Thanh Văn Tạng, những thứ khác đều được gọi là kinh điển Phương Đẳng Đại Thừa. Bát Nhă lẽ nào chẳng phải là Phương Đẳng ư? Từ sau đêm thành đạo cho tới đêm nhập Nê Hoàn (Niết Bàn), trong khoảng đó, [đức Phật] thường nói Bát Nhă. Lẽ đâu Phương Đẳng chẳng phải là Bát Nhă ư? Huống chi Tịnh Độ huyền môn, Lư không ǵ chẳng bao trùm, Sự không ǵ chẳng thâu nhiếp! Từ Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Đại Tập, Bát Nhă cho tới Pháp Hoa, không ǵ chẳng hướng dẫn trở về An Dưỡng. Chỉ riêng cơi An Dưỡng trọn đủ ngang dọc bốn loại Tịnh Độ, mà bốn loại Tịnh Độ trọn chẳng ĺa cái tâm nhỏ bé trong một niệm hiện tiền, chẳng ngang, chẳng dọc, vừa ngang, vừa dọc. Do vậy, kinh dạy: “Trang nghiêm Phật độ giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm” (Trang nghiêm cơi Phật tức chẳng trang nghiêm, bèn gọi là trang nghiêm). Đấy chính là chứng cớ chân thật của Tịnh Độ vậy. Đời Mạt chấp mê, chẳng thông đạt tâm tánh, vốn sẵn chẳng ngoài. Nói duy tâm liền bác Tịnh Độ, nói Tịnh Độ liền mê mất duy tâm, nào có biết Tây Phương Cực Lạc rộng răi tột cùng Hoa Tạng? Hoa Tạng trang nghiêm chẳng vượt ngoài tâm tánh! Do khai sĩ Vô Ngă khắc gộp chung hai kinh Di Đà và Kim Cang, tôi đặc biệt ghi lời tựa!

 

* Lời tựa cho Thiên Nhạc Minh Không Tập của Bào Tánh Tuyền

 

          Tôi đọc Dịch Truyện tới câu “thiên địa bế, hiền nhân ẩn” (trời đất đóng lại, bậc hiền nhân ẩn khuất), chưa từng chẳng xếp sách, thở dài! Kể từ khi kim thần hiện mộng[116], chánh pháp truyền sang phương Đông, bậc đại thiện tri thức có kiến giải nhạy bén đúng thời xuất hiện, chẳng thể tính nổi số! Cho tới thời Tống - Nguyên, kẻ mạo nhận, trộm lấy danh vị ngày càng nhiều, người đạt được chánh tri kiến ngày càng ít ỏi! Do vậy, Vân Thê lăo nhân thường than “trong nước Chi Na, t́m một vị Tu Đà Hoàn chẳng thể được!” cũng có phần nào là nói quá khích! Tôi trộm cho rằng: Nếu t́m người chứng quả nơi những người mọi người đều biết, quả thật chẳng dễ. Nhưng nếu t́m trong số những người ẩn giấu h́nh tích, chẳng bộc lộ tài năng, có lẽ chẳng phải là không có! Chỉ thẹn thiếu tốn phương tiện giao thông thù thắng để có thể đi khắp hoàn vũ ḥng tham phỏng mà thôi! Gần đây, Thiền đạo bị tiếm lạm, tôi chẳng nỡ thấy, nghe! Chẳng bàn ti chuyện chứng quả đă tuyệt tích, dẫu là người [thông hiểu] đường nẻo đoan chánh cũng chẳng dễ t́m được! Tôi thường nửa đêm đau ḷng khóc lóc. Do vậy, riêng đối với Tây Phương Hợp Luận của Viên Thạch Công[117] sanh ḷng tùy hỷ sâu xa, cho là “không cốc túc âm”[118] (tiếng bước chân trong hang vắng).

Mùa Đông năm trước, tôi sang Tuy Lư, Vương Chỉ Am cho xem sách Thiên Nhạc Minh Không (tiếng nhạc trời vang rền trên hư không) do Bào Tánh Tuyền biên soạn. Tánh Tuyền là người xứ Sơn Âm, buôn bán gỗ cây dó[119], thoạt đầu lễ Tử Bách đại sư. Sư dạy ông đọc kỹ Lăng Nghiêm và Pháp Hoa, ông bèn cậy người viết chữ đẹp, chép tỉ mỉ, đoan chánh thành kinh bổn, cho khắc ván lưu thông. Kế đó, ông lại dốc chí nơi các bộ sách Hoa Nghiêm Hợp Luận, Đại Thừa Chỉ Quán, Truyền Đăng, Tông Kính v.v… qua lại với Trạm Nhiên thiền sư, sau đấy bèn quy y Vân Thê đại sư, ngồi qua đời, siêu đăng cơi sen. Ôi! Hết sức hy hữu!

Tập sách ấy được cư sĩ Đào Thạch Lương giảo duyệt, giao cho người bạn là Tiền Vĩnh Minh. Vĩnh Minh lúc sắp mất, giao cho Chỉ Am. Chỉ Am mang theo người, qua lại vạn dặm đă suốt mười năm, muốn tính khắc in, nhưng chưa được như ư nguyện. Do vậy, tôi được giở xem nguyên cảo, mới tin [Tánh Tuyền] là bậc chánh tri kiến. Tuy khó thể coi là người được mọi người biết đến, nhưng vẫn chẳng phải là bậc ẩn giấu h́nh tích, giấu diếm tài năng. Lập luận của ông, chủ yếu coi minh tâm kiến tánh là chuyện cấp bách, lấy chuyện ngộ rồi tu hành là chánh yếu, do lănh hội sâu xa ư chỉ của Hợp Luận, cũng như đă đăng đường sách Tông Kính, kham làm một mũi kim đâm vào đỉnh đầu của kẻ cuồng Thiền trong đời Mạt. Chẳng trách kẻ cuồng Thiền ghét bỏ sách gây hại cho chính họ, vu báng ngược lại là [ông Bào tự tiện lập ra] một đường lối khác! Than ôi! Ông Bào tại An Dưỡng quốc vẳng nghe lời ấy, cũng sẽ cười ḅ ư?

 

* Lời tựa tự soạn cho bộ Tây Hữu Nghệ Dư

 

          Sở Thạch đại sư thị tịch, bảo Mộng Đường rằng: “Ta đi đây”. Mộng Đường hỏi: “Đi đến nơi nào?” Đáp: “Đến Tây Phương”. Mộng Đường nói: “Tây Phương có Phật, Đông phương chẳng có Phật ư?” Sư nghiêm mặt, quát một tiếng rồi qua đời. Tôi thẹn chẳng có đức như ngài Sở Thạch, nhưng vừa khéo có chí như Sư. Thế mà bốn mươi chín năm sai trái, hối hận chẳng kịp. Nay đă năm mươi, vẫn cứ nói mớ chẳng dứt, cũng chẳng đáng buồn lắm sao? Trang Sanh nói: “Có đại giác rồi sau đó mới biết đấy là giấc mộng lớn”. Đă chưa đại giác, sao tránh khỏi nói mớ? Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Thí như hữu nhân, thục mị nghệ ngôn, thị nhân tuy tắc biệt vô sở tri, kỳ ngôn dĩ thành âm vận luân thứ, linh bất mị giả, hàm ngộ kỳ ngữ” (Ví như có người ngủ say nói mớ, tuy người ấy chẳng hay biết ǵ, nhưng lời nói đă thành âm vận, theo đúng thứ tự, khiến cho người chẳng ngủ đều hiểu lời ấy).

Tôi cũng giống như thế, suốt đời trước tác, mùa Xuân năm Bính Tư (1636) khi trước, tụ tập [các bài viết riêng lẻ] thành Tịnh Tín Đường Sơ Tập. Mùa Thu năm Mậu Dần (1638) khi trước, gom thành Tuyệt Dư Biên. Mùa Hạ năm Nhâm Ngọ (1642) khi trước, gom thành Mân Du Tập. Mùa Đông năm Đinh Hợi (1647) khi trước, gom góp thành Tịnh Tín Đường Tục Tập, đều là lời nói mớ. Đầu Xuân năm Mậu Tư (1648), ngụ tại Ngẫu Hoa Ổ, phàm những lúc nổi hứng viết lách đều giao cho thị giả cất giữ, đặt tên là Tây Hữu Nghệ Ngôn (những lời mớ của Tây Hữu)[120]. Trăm đời sau, có người chẳng mê ngủ chưa từng chẳng gặp gỡ trong sáng tối!

 

* Lời tựa tự soạn cho tác phẩm Tuyển Phật Phổ

 

          Cách nói “tuyển Phật” bắt nguồn từ chuyện Thiền khách chỉ điểm cho Đơn Hà giác ngộ, c̣n Tuyển Phật Độ được truyền thừa khởi đầu từ Nại Ma Tăng. Học sĩ Giải Tấn[121] vẽ Thăng Quan Đồ; do vậy, Nại Ma Tăng vẽ Tuyển Phật Đồ, ắt phải am hiểu rộng răi giáo thừa, biết Thiền, Luật sâu xa, chẳng hề có chuyện chẳng thông đạt trong pháp môn mà tự tiện dám noi theo ư riêng tự sáng lập! Tiếc là đồ h́nh ấy đă thất truyền, chẳng thể nào được thấy. Năm Kỷ Mùi (1619) thời Vạn Lịch, tôi từng ở Lưu Đô tạo một bức Thăng Phật Đồ, trọn chẳng có thứ tự, đáng bị chê cười! Năm Quư Hợi (1623), ở Vũ Lâm, tùy hỷ một bức Tuyển Phật Đồ do U Khê Vô Tận đại sư vẽ ra, hiển thị trọn đủ cùng tột mười pháp giới thăng trầm, đủ gọi là tốt đẹp tột bậc! Năm Ất Sửu (1625), tại Tùng Lăng thấy một bức vẽ thâu nhiếp tam giáo, nhưng lư chẳng đạt tới mức rơ ràng, cũng chẳng đáng giữ lấy. Năm Kỷ Tỵ (1629), huyễn ngụ tại Linh Cốc, có người cho xem một bức đồ h́nh khác, nói là do Nại Ma vẽ, nhưng văn lư càng chẳng thông, sợ rằng chẳng phải là vật cũ, chắc là kẻ ngu si, cuồng vọng mạo danh!

Bất đắc dĩ, phỏng theo ư của ngài U Khê, tự chế ra một bức đồ h́nh, tăng thêm nhân hạnh thánh phàm, và chủng tánh sai biệt để chỉ rơ căn cơ chẳng phải là một loại như nhau. Nếu là kẻ thuộc địa vị vô căn tín, và đại quyền hộ pháp, do mở ra con đường chuyển biến trọn vẹn, tâm nghịch ác mạnh mẽ, chuẩn theo Quán Kinh mà quy về Tịnh Độ. A Tỳ khổ sở cùng cực, nương theo Hoa Nghiêm mà mau lên Đâu Suất. Chư thiên có nỗi khổ giáng đức, biếm trụy. Vô Sắc có nỗi ương hại bị luân chuyển sau khi đă đạt đến tột cùng của Tứ Không Thiền, [những điều này] vốn đều phát xuất từ giáo thừa, chẳng phải là đoán ṃ!

Lại nữa, ngài U Khê chỉ dùng một hạt xúc xắc Phật luân để gieo, cho nên thăng trầm cách biệt vời vợi, c̣n ở đây tôi gieo cả bốn hạt, cho nên chuyển biến chẳng có ngằn mé. Năm Tân Mùi (1631) cho khắc in, đă được lưu truyền rộng nơi đất Ngô. Kế đó, tại Tây Sơn ở Cổ Hàng, thấy hai đồ h́nh khác cũng chưa toàn mỹ, cho nên đều chẳng lưu truyền. Năm Tân Tỵ (1641), tôi ngụ tại Chương Nam, thường nghĩ đến bản đă khắc tại Ngô Môn vẫn còn có chỗ chưa thích đáng, lại sửa một đồ h́nh, dùng sáu hạt xúc xắc để gieo, vừa được một giới c̣n tạo mười giới, một lần gieo đă hiển thị trọn vẹn sự thăng trầm. Năm Quư Mùi (1643) cho khắc in tại Tuy Lư, nhưng sáu hạt xúc xắc cùng gieo, sáu chữ cùng hiện cặn kẽ, chuẩn xác, tường tận, rơ ràng, thuận tiện [hướng dẫn] hành động [cho người gieo], nhưng kẻ thô tâm hời hợt thường thấy là khổ.

Mùa Đông năm Tân Măo (1651), trở về nằm tại Linh Phong, nghĩ măi đến lợi ích của đồ h́nh này có thể khiến cho người ta ngay trong lúc vui chơi, nhanh chóng biết nỗi nhọc nhằn do qua lại trong sáu đường, sự sai biệt trong lẽ xuất yếu của tam thừa, dũng mănh, thiết tha niệm Phật, cầu thoát khổ luân, quả thật chẳng thể nghĩ bàn! Nhưng đồ h́nh của ngài U Khê phạm khuyết điểm quá đơn giản, hai đồ h́nh của tôi phạm lỗi quá rườm rà, trằn trọc, trăn trở, suốt đêm chẳng ngủ, bèn nghĩ chỉ dùng hai hạt xúc xắc để gieo cho thuận tiện. Đă dễ hành mà lại nhiều chuyển biến, lại tự tay vẽ một đồ h́nh, tăng tục đều ca ngợi là tận thiện, tận mỹ, bảo tôi rằng: “Đồ h́nh này được lưu hành, quả thật đáng khiến cho mọi người thông đạt hết thảy Phật pháp, xin lại viết lời phổ (giải thích) ḥng giảng rơ, khiến cho kẻ ngu cũng nhờ vào đấy biết rõ đạo lư thế gian và xuất thế gian. Dẫu người có trí cũng chẳng dám hư vọng tăng giảm trong ấy được!” Tôi nghe theo lời ấy bèn soạn lời phổ như sau…

 

* Lời tựa tự soạn cho Liệt Vơng Sớ

 

          Đạo của Phật, Tổ, dùng tâm truyền tâm. Bồ Tát tạo luận giải thích thông suốt kinh cũng chỉ v́ một đại sự này. Do vậy nói: “T́m cầu chắc thật trong mười phương, trọn chẳng có thừa nào khác”. Do tùy thuận các căn cơ mà từ Thật hành Quyền, nói ra đủ loại đạo, như ba loại cây, hai loại cỏ [trong kinh Pháp Hoa], được nhuần thấm khác nhau, nhưng cơn mưa có thể thấm nhuần vốn chỉ có một vị. Do đó nói: “Như ăn thạch mật, chính giữa và ngoài ŕa đều ngọt”. Lại nói: “Lời thô tháp và lời dịu dàng đều quy vào Đệ Nhất Nghĩa”, há có nên chấp chết cứng văn tự, đánh mất ư chỉ, ngang ngược chấp vào danh tướng, chia cắt hư không ư? Hơn nữa, như Di Lặc Thế Tôn, xét theo Tích th́ thuộc địa vị Bổ Xứ, c̣n Bổn th́ khó nghĩ tưởng. Vô Trước và Thiên Thân là bậc phụ bật (輔弼) cho hội Long Hoa, nào khác Văn Thù và Phổ Hiền? C̣n như Mă Minh, Long Thọ đều được miệng vàng thọ kư, truyền tâm tông của Phật, trước thuật của các Ngài chắc chắn chẳng hề trái nghịch, khác biệt nhau! Nhưng giảng sư đời sau tự tiện hư vọng phán định rằng: “Duy Thức Luận của Thiên Thân là lập tướng Thỉ Giáo, Trung Luận của Long Thọ là phá tướng Thỉ Giáo, Khởi Tín Luận của Mă Minh là Chung Giáo kiêm Đốn Giáo, đều chưa phải là viên!”

Than ôi! Đấy cũng là chẳng suy nghĩ quá đáng! Ngài Thiên Thân đề cao Du Già, kiến lập Duy Thức. Trước hết, Ngài dùng Duy Thức để phá ngă chấp và pháp chấp. Kế đó, chỉ rơ thức cũng như huyễn, chẳng phải là chân thật có. Do vậy, cũng gọi là Phá Sắc Tâm Luận, gọi là “lập tướng giáo” (giáo pháp xác lập tướng) có được hay không? Ngài Long Thọ nương theo Bát Nhă rất sâu, quét sạch trọn khắp t́nh chấp của tứ tánh ḥng hiển lộ pháp tánh. Do vậy nói: “Muốn trọn đủ hết thảy Phật pháp, hăy nên học Bát Nhă”. Lại nói: “Nếu cho rằng chẳng có cái Không này, hết thảy chẳng làm, do có nghĩa Không, hết thảy đều được thành”. Gọi đó là “phá tướng giáo” có được hay không? Mă Minh dùng Nhất Tâm Chân Như môn để hiển lộ Bát Nhă rất sâu, đó là thuận theo trí mà nói; dùng Nhất Tâm Sanh Diệt Môn để hiển lộ tám thức trong Du Già Bát Thức chính là thuận theo t́nh kiến mà nói. Chân Như chính là Nhất Chân pháp giới, thống nhiếp Lư Sự mà dứt bặt Sự Lư: Sanh diệt tức là Sự được thành bởi toàn thể Lư, cái Lư của toàn thể Sự vô tánh. Hai môn đều chẳng ĺa nhất tâm, không một môn sanh diệt nào chẳng phải là toàn thể Chân Như. Không một môn Chân Như nào chẳng hoàn toàn trọn đủ sanh diệt. Đấy chính là Sự Sự vô ngại pháp giới, bảo nó “bất đồng với Duy Thức và Trung Luận, vẫn chưa phải là Nhất Thừa viên cực”, há có được hay không?

Huống hồ trong các kinh luận đều nói Chân Như và hết thảy các pháp như nước và sóng, chẳng một, chẳng khác, chứng cứ chân thật sẵn có, há dung thiên chấp ư? Bởi lẽ, nếu nói nhất định là một, th́ Chân Như chẳng sanh diệt, hết thảy các pháp cũng phải nên chẳng sanh, chẳng diệt. Hoặc là hết thảy các pháp sanh diệt, lẽ ra Chân Như cũng sanh diệt. Cố nhiên là chẳng thể! Nếu nói chắc chắn là khác, Chân Như sẽ chẳng phải là thật tánh của hết thảy các pháp, phải nên ở ngoài hết thảy các pháp mà riêng có ngằn hạn, chẳng thường, chẳng biến, [nếu là như thế] lại càng chẳng thể!

V́ vậy, Khởi Tín Luận nói “Chân Như chịu huân tập”, ví như khi chạm vào sóng, chính là chạm vào nước. Do vậy, phá chấp trước “chắc chắn là khác”, nhưng chẳng hề nói Chân Như thuận theo sự huân tập mà chuyển biến. Duy Thức nói “Chân Như chẳng thể huân”, ví như khi sóng dao động th́ tánh ướt bất động. Do vậy, phá chấp trước “chắc chắn là một”, chưa hề nói “riêng có một cái Chân Như tĩnh lặng” (Duy Thức Luận nói: “Chẳng giống với các tông khác, ĺa sắc, tâm v.v… bèn có pháp thật sự chân thường, gọi là Chân Như”. Lại nói: “Chân Như chính là thật tánh của Duy Thức”. Kinh văn nói rành rẽ như thế, người đời sau lại đem Chân Như tĩnh lặng để vu báng Duy Thức, tội đến mức nào?) Như thế th́ Duy Thức nói “do Chân nên tướng chẳng khác” chính là Nhất Tâm Chân Như Môn của Khởi Tín. “Do Tục, nên tướng có sai khác” chính là Nhất Tâm Sanh Diệt Môn của Khởi Tín vậy.

Kinh Lăng Già dạy: “Chư thức hữu tam chủng tướng, vị chuyển tướng, nghiệp tướng, chân tướng” (Các thức có ba loại tướng, tức là chuyển tướng, nghiệp tướng và chân tướng). Sách Tông Kính giải thích rằng: “Khởi tâm th́ gọi là Chuyển, do tám thức đều khởi, do đều có sanh diệt, bèn gọi là Chuyển Tướng. Động th́ là nghiệp, tám thức đều động, đều gọi hết là Nghiệp Tướng. Chân tánh của tám thức đều gọi là Chân Tướng”. Xét theo đó, Khởi Tín và Duy Thức đều đề cao Lăng Già, cũng đă rơ rồi! Điểm được đề cao đă giống nhau, tức các danh nghĩa tự nhiên chẳng trái nghịch. Các nhà chú sớ chẳng thể dùng nghĩa để định danh, bèn tự tiện nương theo danh định nghĩa, đến nỗi [cho rằng] hai luận trái nghịch nhau như nước với lửa, chẳng đáng buồn lắm ư?

Trong Đại Tạng, có hai bản Đại Thừa Khởi Tín Luận[122], nhưng bản đời Đường, văn từ rơ ràng, nghĩa thông thuận. Trước kia đă lưu thông bản đời Lương, tôi chẳng dám tự tiện truyền bá, kính rút thăm để thỉnh ư Phật quyết định, rút được cái thăm “hăy nên giải thích bản đời Đường”, bèn dốc cạn một chút ánh sáng nơi kẽ hở, mổ xẻ tận cùng chỗ mê chấp giữa hai tông. Môn nhân là Thành Thời xin đặt tên [bản sớ giải này] là Liệt Vơng Sớ.

 

* Lời tựa tự soạn cho Huyễn Du Tạp Tập

 

          Mùa Xuân năm Quư Tỵ (1653), tôi hành cước đơn độc. Giới tử Kiên Mật mời đến Tân An. Kết hạ và đông ở Hấp Phổ, trải qua các nơi Thang Tuyền và Bạch Nhạc đến cuối Thu. Mùa Xuân năm Giáp Ngọ (1654), từ Vũ Lâm, Cô Thành vào Linh Phong. Bấm tay tính ra trong một năm, quá nửa dứt tuyệt [chuyện viết lách] thù tạc, chỉ có mùa Xuân năm nay, bút mực mênh mông, mà giữ lại bản thảo mười phần chẳng được ba. Đă ở tại Tạng Đường, ngẫu nhiên xem lại giấy tờ, chưa đầy bốn mươi trang giấy. V́ thế, chẳng chia môn phân loại, chỉ căn cứ theo thời điểm khác nhau để định thứ tự, gọi là Huyễn Du Tạp Tập.

 

* Lời tựa tự soạn cho bộ Duyệt Tạng Tri Tân

 

          Ngoài tâm không có pháp, cho nên tổ sư dạy “tâm chính là pháp”. Ngoài pháp chẳng có tâm, cho nên đại sĩ xiển dương “pháp tức là tâm”, cùng truyền Phật mạng ḥng giác ngộ mê t́nh. Trọn chẳng có ai muốn hoằng truyền Phật ngữ, mà chẳng biết nghiên cứu Phật tâm sâu xa! Cũng chẳng có ai đă ngộ Phật tâm, mà vẫn chẳng thể diệu đạt Phật ngữ! Nay th́ sư tăng nói suông văn tự, Thiền lữ lơ mơ, sờ soạng, rốt cuộc là như thế nào đây? Than ôi! Tôi chẳng nỡ nói!

Xưa kia, đức Thế Tôn thị hiện nhập Niết Bàn, Sơ Tổ Đại Ca Diếp bạch với đại chúng rằng: “Xá-lợi của Như Lai chẳng phải là chuyện của chúng ta, chúng ta hăy nên kết tập Tam Tạng trước, đừng để cho Phật pháp bị diệt nhanh chóng!” Than ôi! Nếu Tam Tạng thật sự chẳng đáng để truyền Phật tâm, v́ sao Sơ Tổ lại coi kết tập là nhiệm vụ cấp bách? Trộm cho rằng: Thiền Tông có Tam Tạng, giống như Dịch Thu[123] có quân cờ. Tam Tạng cần Thiền Tông, giống như quân cờ cần có nước cờ linh động. Cùng một con cờ, người giỏi chơi cờ vây, nước nào cũng đều linh hoạt, kẻ chẳng giỏi chơi cờ vây, nước nào cũng tắc tị! Đều cùng là Tam Tạng này, người biết Phật tâm th́ lời nào cũng đều liễu nghĩa; kẻ chẳng biết Phật tâm th́ chữ nào cũng đều phạm khuyết điểm! Chỉ v́ chấp chặt vào từ ngữ mà sanh kiến chấp, bèn muốn hoàn toàn vứt bỏ Phật ngữ, có khác ǵ kẻ do nghẹn bèn bỏ ăn?

Tam Tạng chẳng thể vứt bỏ, ví như ăn uống chẳng thể bỏ. Ăn uống chẳng điều ḥa, ắt sanh bệnh hoạn. Chẳng học tập Tam Tạng, trí nhăn ắt tối tăm. Nh́n vào tạng thừa do các triều đại đă khắc, hoặc tùy theo thứ tự năm tháng mà nhập Tạng, hoặc xét theo kinh trùng nhau[124] hay đơn độc mà phân loại, Đại Thừa, Tiểu Thừa hỗn tạp, trước sau chẳng hợp tiêu chuẩn, đến nỗi người mở xem, mờ mịt chẳng biết hoăn, gấp ra sao! V́ thế, Đại Tạng được tôn thờ trong các chùa, bất quá là chỉ tồn tại danh cú văn thân[125], phong kín, ǵn giữ mà thôi, chẳng khiến cho người duyệt đọc thấu đạt chỉ quy, biện định Quyền, Thật, huệ mạng của Phật, Tổ. Đúng là chẳng khác nỗi sợ chín đỉnh treo bằng một sợi tơ!

Chỉ vào đời Tống có cư sĩ Vương Cổ sáng tác Pháp Bảo Tiêu Mục, đời Minh có sa-môn Uẩn Không nối tiếp soạn Vựng Mục Nghĩa Môn, đều đáng gọi là nhọc nhằn! Nhưng sách Tiêu Mục chỉ thuận theo thứ tự trong Tống Tạng, nêu bày manh mối đại lược, cố nhiên chưa tận mỹ! Sách Nghĩa Môn thoạt đầu nương theo ư vị ngũ thời giáo, trần thuật sơ sài, đại khái, cũng chưa tận thiện. Khi Húc ba mươi tuổi, phát tâm duyệt Tạng. Năm sau, gặp huynh Bích Như Hạo tại Bác Sơn, Sư ra rả đem nghĩa, loại, nội dung diễn đạt, thứ tự căn dặn. Do vậy, mỗi khi mở xem Tạng kinh, vừa đọc vừa ghi chép, phàm trải qua các nơi Long Cư, Cửu Hoa, Hà Chương, Ôn Lăng, U Thê, Thạch Thành, Trường Thủy, Linh Phong tám chỗ, trải qua hai mươi bảy năm, mới hoàn thành bản thảo, rốt cuộc chẳng dám chia chẻ, phán định hư không, chỉ nhờ vào đó để hơi biện định phương vị, ngơ hầu người chưa duyệt Tạng sẽ biết trước sau theo đúng lẽ. Người đă duyệt sẽ thông đạt Quyền, Thật nhiếp thuộc. Người tŕ nghĩa có thể do ước lược mà biết rộng. Người chú trọng văn tự sẽ có thể hiểu rộng quy vào ước lược. Dù Quyền hay Thật đều chẳng ra ngoài nhất tâm. Dù rộng hay lược, đều thông một tướng, [do vậy] đặt tên [cho sách này] là Duyệt Tạng Tri Tân vậy!

 

* Lời tựa tự soạn cho Pháp Hải Quán Lan

 

          Tử Dư Thị[126] nói: “Xem nước th́ có cách, ắt phải xem sóng gợn”, huống hồ biển pháp Đại Tạng rất sâu vô lượng. Chẳng nắm được cái thuật (phương cách), sao có thể quán được? Luận chung về pháp môn tu chứng, mênh mông như trần sa, chẳng phải chỉ tám vạn bốn ngàn mà thôi! Nhưng dùng năm môn để thâu nhiếp, sẽ trọn hết không ǵ chẳng tận! V́ sao? Muốn dạo chơi trong biển Phật, trước hết phải sắm sửa thuyền giới. Giới đă tịnh th́ giải hạnh có thể tuân hành. Hạnh viên th́ bí mật nhờ đó mà chứng. Chứng nhập th́ cái quả nơi y báo tự trang nghiêm. V́ thế, đầu tiên là Luật Tông, nêu rơ khởi đầu của sự tu tạo. Kế đến là các giáo, nhằm nói rơ đường lối để khai giải. Kế đến là Thiền Quán, nói rơ sự tu hành thực tiễn. Kế đó là Mật Tông, nhằm nêu rơ sự cảm ứng vi diệu. Rốt cuộc là Tịnh Độ, nhằm nói rơ chỗ đồng quy của chính ḿnh và người khác. Ngài Trung Phong Minh Bổn nói: “Mật chú như mùa Xuân, giáo thừa như mùa Hạ, Nam Sơn Luật Tông như mùa Thu, Thiền Tông như mùa Đông”. Thoạt nghe cũng tợ hồ thỏa đáng, nhưng xét nghĩ thêm, chưa chắc đă đều đúng cả!

Luận định khít khao các tông, hăy nên xét theo chỗ chỉ quy, đừng xét theo dấu vết. Cấm chú bí mật như mùa Đông, khiến cho sanh ư c̣n hàm tàng chưa phát khởi, há hoàn toàn giống như mùa Xuân? Giới là sơ môn của Phật pháp, Nho chẳng học Lễ, sẽ không có ǵ để lập; Thích không thọ giới, chẳng cho phép nghe giáo! Tham Thiền như mùa Xuân, khiến cho thảo mộc nứt vỏ [nẩy mầm], há giống như mùa Thu? Há nói đức Phật chế định Tỳ Ni giống như Tiêu Hà chế luật, bèn coi là [giới luật] mang hơi hướng túc sát[127] ư? Thiền từ trong vô tu chứng, khéo luận tu chứng, vô chứng mà chứng, tức là Thể bao hàm muôn tác dụng, có thể coi giống như mùa Đông. Vô tu mà tu, tức trừ bỏ những thứ hoa mỹ để hướng đến cái thật, thật sự giống như mùa Thu. Giáo Thừa như mùa Hạ, tôi không phản đối. Chỉ có điều bốn môn ấy chẳng môn nào không lấy Tịnh Độ làm chỗ nương về, cũng giống như đất là vua của cả bốn thời. Hai thừa Đại và Tiểu đều lấy giới luật làm đầu, nhưng Đại ắt kiêm Tiểu, Tiểu chẳng kiêm Đại. Nam Sơn chẳng dám tự xưng là Đại Thừa, chẳng nên lấy Nam Sơn đặt tên tông, nhưng nói Luật Tông như mùa Xuân th́ được!

Giáo cũng tự có Đại Thừa và Tiểu Thừa, trời Tây th́ tách ra, c̣n cơi này th́ từ thời Tấn - Ngụy trở đi, hoặc tách ra, hoặc kiêm, nay đều riêng hoằng dương Đại Thừa. Lại có ba nhà: Một là Thiên Thai Tông, hai là Hiền Thủ Tông, ba là Từ Ân Tông. Thiên Thai th́ Giáo Quán cùng nêu, có thể coi Giáo như mùa Hạ, Quán như mùa Thu. Hiền Thủ th́ Giáo nhiều, Quán ít. Thanh Lương thu Thiền về Đốn Giáo, Khuê Phong tự lập tam giáo để đối ứng với tam tông, vậy th́ tam giáo như mùa Hạ, ba tông như mùa Thu. Từ Ân (ngài Huyền Trang) hoằng dương Duy Thức, tự tu Đâu Suất quán môn. Ngài Khuy Cơ dạy đại lược Duy Thức Ngũ Quán, chưa từng thật sự khuyên tu, nhưng sau mùa Hạ nhất định có mùa Thu, do người học tự lănh hội mà thôi. V́ thế lại nói các giáo như mùa Hạ, Thiền cũng tự có hai môn Đại và Tiểu. Trong Đại Thừa, lại chia thành Đốn và Tiệm. Ở đây chẳng bàn tới Tiểu và Đại Tiệm. Sau khi Đạt Ma thừa dịp Phật giáo thịnh hành, đặc biệt tới [Trung Hoa] chỉ dạy tâm yếu, như vẽ rồng điểm nhăn, khiến cho rồng bay đi. Cho tới Lục Tổ, không ǵ đều chẳng phải là như vậy. Tuy nhờ vào Lăng Già và Kim Cang để ấn tâm, chưa từng phế giáo, chỉ quư do hạnh khởi giải, trọn chẳng chấp thuận bám rịt vào khuôn sáo tri giải. V́ thế, cùng với Chỉ Quán viên diệu của tông Thiên Thai giống như mùa Thu.

Mật Tông chỉ có pháp Đại Thừa, thân vào đàn, kết mật ấn, miệng tụng mật ngôn, ư chuyên mật quán, gọi là Tam Mật pháp môn. Nếu luận theo kẻ mới tu th́ ắt trước là tŕ tịnh giới, phát Bồ Đề tâm, hiểu lư pháp giới, th́ mới được phép vào đàn, định kỳ hạn cầu chứng, cũng là từ Xuân Hạ mà vào Thu. Nay xét theo thần chú do chư Phật đă nói, chẳng được phiên dịch, chỉ dạy tŕ tụng, khiến cho người ấy ngay lập tức chứng nhập. Lại khiến cho người nghe, thậm chí gặp bóng, vương bụi, đều thành chủng tử giải thoát rốt ráo. V́ thế, chỉ nói Mật Tông như mùa Đông.

Tịnh Độ là tam đức bí tạng, thường, lạc ngă, tịnh là chỗ an ổn rốt ráo. Đó gọi là Thường tức Pháp Thân, Tịch tức giải thoát, Quang tức Bát Nhă, chẳng một, chẳng ba, nhưng mà là ba, là một, chẳng dọc, chẳng ngang, không cùng lúc, chẳng tách rời, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng hai mà là hai. Do vậy, toàn thể y báo tức chánh báo, được gọi là Phật thân. Toàn thể chánh báo tức y báo, gọi là Tịnh Độ! Chỉ có điều đối với Thường Tịch Quang pháp tánh thân và cơi ấy, v́ toàn thể đều mê mà thành tam giới lục đạo. Do thiên chứng, chấp giữ, bèn thành Thanh Văn, Duyên Giác. Quyền vị Bồ Tát tùy phần ngộ giải, thành ra tam hiền, thập thánh. Do vậy, chư Phật v́ Thật mà hành Quyền, pháp tánh bất động, hiện ra ba cơi: Để tiếp độ tam hiền thập thánh, thị hiện Thật Báo Tịnh Độ. Để tiếp độ Thanh Văn, Duyên Giác, Quyền vị Bồ Tát, thị hiện Phương Tiện Tịnh Độ. V́ tiếp độ tam giới lục đạo phàm phu, thị hiện Đồng Cư Tịnh Độ. Nhưng các chúng sanh, căn tánh bất đồng, ưa muốn cũng khác, hoặc do tŕ tam tụ giới mà thanh tịnh bốn cơi, hoặc do tu tập giáo, hiểu nghĩa rất sâu mà thanh tịnh bốn cơi. Hoặc do Thiền Quán, trực ngộ tự tâm mà thanh tịnh bốn cơi. Hoặc do chuyên tu Tam Mật, truyền tŕ chú ấn mà thanh tịnh bốn cơi. Hoặc do một môn duy nhất mà thanh tịnh bốn cơi. Hoặc hai môn, ba môn, bốn môn mà thanh tịnh bốn cơi. Như thảo mộc hoa quả trong thế gian, hoặc sanh trưởng, hoặc chín rụng vào mùa Đông, hoặc chỉ trải qua một mùa liền chín muồi, hoặc trải qua hai mùa, ba mùa, cho đến trải qua trọn bốn mùa mới chín muồi. V́ thế, cần phải nói: Tịnh Độ như đất là vua của bốn mùa!

Tám vạn bốn ngàn cho đến trần sa pháp môn, chẳng có pháp nào không có giới, chẳng có pháp nào không có chánh giải, chẳng có pháp nào không chuyên dốc hành tŕ, chẳng có pháp nào không chứng mật, chẳng có pháp nào không quy vào Tịnh Độ. Do vậy nói: “Năm môn thâu nhiếp trọn, không ǵ chẳng trọn hết”. Nhưng Giới không có giải hạnh, sẽ chẳng phải là Giới. Giáo chẳng có giới hạnh, sẽ chẳng phải là Giáo. Thiền chẳng có giới và giáo, sẽ chẳng phải là Thiền. Mật chẳng có giới, hạnh, và Thiền, sẽ chẳng phải là Mật. Chẳng phải Giới, chẳng phải Giáo, chẳng phải Thiền, chẳng phải Mật, sẽ chẳng phải là cái nhân chân thật của Tịnh Độ. Chẳng có bốn loại Tịnh Độ th́ Giới, Giáo, Thiền, Mật chẳng có thật quả! Chẳng có thật nhân, thật quả, sẽ chẳng hiển lộ tâm tánh “chẳng phải nhân, chẳng phải quả”. Chẳng hiển lộ tâm tánh, sẽ chẳng có ǵ để quán biển pháp rất sâu vô lượng, thấu triệt nguồn đáy. Do vậy, dùng gợn sóng thuộc năm môn làm phương cách để xem xét biển pháp, nguyện người cùng chí hướng sẽ cùng hành.

 

* Lời tựa tự soạn cho Huyễn Trụ Tạp Biên

 

          Tôi nhớ từ đầu mùa Đông năm Tân Mùi (1631), vào Linh Phong, nay đă trải qua hai mươi bốn năm rồi. Huyễn duyên bất định, ra vào nhiều phen. Chỉ kết Đông vào năm Tân Mùi, kết Hạ năm Nhâm Thân (1632), kết hạ năm Quư Mùi (1643), kết Đông năm Giáp Thân (1644), kết Đông năm Kỷ Sửu (1649), kết Hạ năm Canh Dần (1650) mà thôi! Mùa Xuân năm Quư Dậu (1633), Giáp Thân (1644) và mùa Đông năm Tân Măo (1651) đều tạm vào lại ra, chiếu chẳng kịp ngồi ấm chỗ, cũng chẳng phải là phụ núi thiêng sâu đậm ư? Ngày Ba Mươi giữa Xuân năm Giáp Ngọ (1654), từ Tân An trở về, mới quyết thống thiết tạ từ các duyên khác, quyết chí ở yên. Những năm khác gọi là huyễn du, nay nên gọi là Huyễn Trụ, ngẫu nhiên có trước thuật, bèn gọi là Huyễn Trụ Tạp Biên.

Linh Phong Tông Luận phần 6 hết



[1] Nguyên văn “văn thành, ấn hoại”. Đây là một từ ngữ dựa trên kỹ thuật đúc đồng thời cổ. Dùng sáp làm ấn, tức là dùng sáp để làm khuôn, áp khuôn vào chất bùn, rót kim loại vào, sáp tan chảy, nhưng vết khắc trên khuôn ấn đă in vào chất bùn, tạo thành vết chạm khắc trên đồng. Kinh điển thường dùng điều này làm thí dụ. Nếu nói theo pháp niệm Phật ở đây th́ “ấn hoại” ví như sắc thân tuy đoạn diệt, nhưng “nét khắc đă h́nh thành” tức là văng sanh Tịnh Độ.

[2] Ư nói kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập Hiền Hộ do ngài Xà Na Quật Đa và Cấp Đa dịch vào đời Tùy. Kinh này chủ yếu dạy về pháp Ban Châu tam-muội.

[3] Tức là ngài Di Sơn Duy Nhiên, sống vào cuối đời Đường, suốt đời tu tŕ nghiêm khổ, sống hết sức giản dị. Sau khi triệt ngộ nguồn tâm, Ngài quyết ư ẩn cư nơi núi rừng. Do thời thế, loạn lạc, dân t́nh khốn khổ, lênh đênh thất tán, họ lưu lạc đến chỗ thiền sư. Thiền sư cứu giúp họ sống sót, vất vả làm lụng để nuôi sống họ. Một hôm, do quá sức, Sư gục xuống bên cạnh con suối nhỏ rồi qua đời tại đó. Khi mai táng Sư, họ chỉ t́m được một thiên nguyện văn. Đọc nguyện văn, họ mới biết chí hướng của Ngài, không ai chẳng cảm động rơi lệ. Tới thời Càn Long, khi tu chỉnh Đại Tạng Kinh, không hiểu v́ sao thiên nguyện văn ấy được đặt ngay trên bàn vị quan giữ trách nhiệm tổng biên tập. Xét ra, ngài Di Sơn thân thế chẳng rơ ràng, tuyệt đối chẳng phù hợp tiêu chuẩn nhập tạng, nhưng những người đă đọc qua bài nguyện văn ấy, không ai chẳng kiên quyết muốn đưa vào Đại Tạng. Trong khi mọi người đang tranh luận ồn ào, từ tờ nguyện văn ấy, bỗng phát ra ánh sáng bảy màu chiếu sáng cả tự viện và bầu trời, đồng thời có âm thanh ầm ́ như sấm động, chứng tỏ long thiên ủng hộ, chứng minh bài nguyện văn ấy. Do vậy, viên quan chủ biên chẳng do dự, nhập tạng bài nguyện văn ấy. Bài văn ấy có tên là Lễ Phật Phát Nguyện Văn.

[4] Đỗ Đa Tử là người hành hạnh Đầu Đà (Dhūta). Chữ Dhūta c̣n được phiên âm là Đỗ Đa, Đỗ Đồ, Độc Tha, Đầu Đa, Thâu Đa…

[5] Thất chúng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, ưu-bà-tắc, và ưu-bà-di.

[6] Tương (漿) ở đây là nước trái cây ép, nghĩa là khi bị bệnh có thể dùng nước trái cây ép (không có xác) để uống thuốc hay chống đói. Thất nhật dược là các loại thuốc, hoặc các chất dịch có tác dụng dinh dưỡng nếu v́ bệnh tật có thể dùng, nhưng không được trữ quá bảy ngày.

[7] Y che nách (yểm dịch y, Sakaksikā), c̣n gọi là Tăng Kỳ Chi, Tăng Khước Kỳ Ca, Tăng Ca Chi, Tăng Khước Kỳ, Tăng Khước Khi, Tăng Cước Khi v.v… C̣n gọi tắt là Kỳ Chi hoặc Kiệt Chi. Loại y này mặc lót trong y An Đà Hội, che kín hai nách, che kín ngực, và vai trái. Về sau, tỳ-kheo cũng được phép mặc thêm y này.

[8] Phổ () hiểu theo nghĩa đen là một loại thể tài văn học nhằm ghi chép mối quan hệ huyết thống và hôn nhân giữa các thành viên trong một gia tộc, cũng như lược thuật tiểu sử của những thành viên đóng vai tṛ chủ yếu hay hiển đạt trong gia tộc. Những gia tộc lớn có thể chép cặn kẽ về khởi nguồn của gia tộc như vị thỉ tổ là ai, nguồn gốc của tên họ, quê hương gốc, đến đời nào th́ chuyển sang sống tại đâu, có bao nhiêu chi phái v.v… Chẳng hạn như họ Tư Mă là do vị thỉ tổ giữ chức quan ấy, hoặc như họ Lỗ vốn là hậu duệ của Cơ Hoàn (con của Châu Công Đán) ở đất Lỗ (thuộc tỉnh Sơn Đông hiện thời). Tới khi nước Lỗ bị Sở Khảo Liệt Vương diệt quốc, hậu duệ của vua nước Lỗ phải lưu vong, bèn lấy tên nước làm họ. Hoặc dùng đất phong làm họ như họ Lữ (con cháu của Viêm Đế, vốn là họ Khương. Vào thời nhà Hạ, do người trưởng họ được phong ở đất Lữ, con cháu bèn lấy họ là Lữ) v.v… Phổ có thể chia thành ba loại:

1) Tông phổ: Ghi chép về hậu duệ của một vị tổ, tức là bản ghi chép toàn thể con cháu của một vị thỉ tổ. Sách Lễ Tang Phục Tiểu Kư quy định: “Biệt tử là tổ, kế tiếp biệt tử là tông, người kế thừa xưng là tiểu tông”. Biệt tử là những người con không phải là con đích (con trưởng của chánh thất) của thiên tử hoặc chư hầu. Sở dĩ có quy định này v́ khi xưa, người ta có thói quen gán ghép tổ tiên của ḿnh là hậu duệ của một vị đế vương hay vua chư hầu nào đó.

2) Tộc phổ: Ghi chép con cháu các chi chánh và thứ của cùng một chi họ hay nhiều chi họ trong một tông. Chẳng hạn một họ lớn có thể chia ra cư trú ở nhiều nơi, mỗi chi họ như vậy có ghi chép riêng th́ gọi là tộc phổ.

3) Gia phổ (thường đọc thành gia phả): Chỉ chép con cháu trực hệ của vị gia chủ. Chẳng hạn, một ông tổ có nhiều con. Nếu chép toàn bộ các con cháu của ông tổ ấy th́ là tông phổ. Chỉ ghi chép con cháu của một trong những người con ấy th́ gọi là tộc phổ. Từ trong chi họ ấy, đến đời nào đó, lại tách ra thành một chi họ riêng (do di cư, do đổi tên v́ kỵ húy, v́ trốn tránh truy nă v.v…), tài liệu chỉ ghi chép riêng con cháu của vị đó gọi là gia phổ. Do chiến tranh, loạn lạc, hiện thời, ngoại trừ những tộc họ rất lớn như họ Khổng ở Trung Hoa c̣n tông phổ, chứ đa phần chỉ có gia phổ.

[9] Mă Tổ tức Mă Tổ Đạo Nhất (709-788) là đệ tử của Nam Nhạc Hoài Nhượng. Hoài Nhượng là đệ tử đắc pháp của Lục Tổ Huệ Năng. Do ngài Bách Trượng Hoài Hải là đệ tử của ngài Mă Tổ (Mă Tổ có hai đệ tử là Nam Tuyền Phổ Nguyện và Bách Trượng Hoài Hải), nên ngài Bách Trượng được gọi là đích tôn. Trong số các đệ tử của ngài Bách Trượng, có hai đệ tử nổi tiếng nhất là Hoàng Bá Hy Vận và Quy Sơn Linh Hựu. Đệ tử của ngài Hoàng Bá Hy Vận là Lâm Tế Nghĩa Huyền (sáng lập tông Lâm Tế). Ngài Quy Sơn sáng lập tông Quy Ngưỡng. Một vị đệ tử khác của ngài Bách Trượng là thiền sư Vô Ngôn Thông sang Giao Châu, trụ tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, lập ra thiền phái Vô Ngôn Thông, truyền được mười bảy thế hệ. Trong số đó, có những vị lỗi lạc trong lịch sử và Thiền học Việt Nam như Khuông Việt, Thông Biện, Măn Giác, Minh Không, và Giác Hải.

[10] “Tên” ở đây tức là pháp danh. Theo thông lệ, pháp danh phải bắt đầu bằng chữ thuộc kệ truyền thừa pháp phái. Ví dụ như trong tông phái Lâm Tế Liễu Quán th́ chữ khởi đầu lần lượt theo các đời là “thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng…”. Chẳng hạn như ḥa thượng Tịnh Khiết, do quy y với ḥa thượng Phước Chỉ (pháp danh là Thanh Thái), nên Ngài có pháp danh là Trừng Thông. Ở đây, tuy cùng thọ giới với một thầy là Tử Bách đại sư, nhưng các vị Mật Tạng, Giới Sơn, Đối Phong, Đạm Cư v.v… có pháp danh chẳng đặt theo kệ truyền ḍng của pháp phái.

[11] Theo kinh Quảng Đại Trang Nghiêm, phẩm Thương Nhân Mông Kư (thương nhân được thọ kư), khi đức Phật mới thành đạo, chưa hóa độ năm vị tỳ-kheo đầu tiên, Ngài đang tĩnh tọa dưới cây Bồ Đề, th́ có hai thương nhân là Đề Lệ Phú Sa (Trapusa, thường bị gọi tắt thành Đề Vị) và Ba Lợi Ca (Bhallika) cầm đầu một đoàn xe gồm năm trăm cỗ xe chở châu báu đi ngang qua. Họ bèn cúng dường đức Thế Tôn, nghe giảng pháp nhân thiên, quy y Thế Tôn, trở thành hai vị Ưu Bà Tắc đầu tiên.

[12] Vị này vốn ḍng Bà La Môn, bảy tuổi xuất gia, được ngài Xá Lợi Phất dẫn đến tinh xá Kỳ Hoàn nghe thuyết pháp, chứng đắc quả vị A La Hán. Ngài đă đắc đạo, cảm ân thầy, bn phát thệ suốt đời làm Sa-di để phụng sự thầy.

[13] Nội Đan là thuật ngữ của Đạo giáo chỉ một phương pháp tu luyện. Do họ chủ trương thân người là một tiểu thiên địa, nhân thiên hợp nhất, họ vận dụng các phương pháp hít thở (chẳng hạn như Khí Công) và các phương pháp vận động (thường gọi là Đạo Dẫn) để tu luyện Tinh, Khí, Thần, nhằm rèn luyện thân thể khỏe mạnh, kéo dài thọ mạng, kết nội đan, thậm chí thành tiên, đạt tới mục đích trường sanh bất lăo. Quan điểm luyện Nội Đan được coi là bắt nguồn từ Hoàng Đế Nội Kinh. Sau đó, được các tông phái của Đạo giáo đề cao, sáng lập ra nhiều cách luyện Nội Đan khác nhau như các thuyết trong Thái B́nh Kinh, Tham Đồng Khế, Hoàng Đ́nh Kinh (thường đọc trại thành kinh Huỳnh Đ́nh), Tánh Mạng Khuê Chỉ, Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ v.v…

Ngoại Đan được coi là h́nh thức tiên khởi của hóa học hiện đại. Tức là các đạo sĩ thấy Nội Đan quá khó khăn, phải tu tập rất lâu, kết quả lại không bảo đảm, bèn dùng các loại dược liệu pha chế với ch́, thủy ngân v.v… để luyện ra những loại thuốc gọi là kim đan v́ tin rằng uống vào sẽ trường sanh bất lăo, hoặc thoát thai hoán cốt thành tiên. Để hỗ trợ cho kim đan, họ c̣n sáng chế ra phù chú, lôi pháp (điều khiển sấm) v.v… Vật liệu để luyện kim đan đa phần là kim loại nặng, hoặc hóa chất gây hại cho cơ thể như vàng, bạc, ch́, thiếc, thủy ngân, thạch miên (abestos), lưu huỳnh, đảm phàn (sulphate đồng) v.v… Trong lịch sử, nhiều vua chúa v́ mê muội thuật luyện đan, uống kim đan rồi phát điên, lở loét mà chết, hoặc do uống kim đan mà bệnh t́nh nguy ngập như Đường Thái Tông, Đường Vũ Tông, Đường Hiến Tông v.v…

[14] “Doăn chấp quyết trung” thường được giải thích là xử sự và ngôn hạnh đúng mức, chẳng lệch lạc, phù hợp đạo trung chánh. “Nguy vi tinh nhất” là nói gọn của “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất” (ḷng người biến đổi dễ dàng nên rất nguy hiểm, đạo tâm th́ nhỏ nhiệm, để xử sự cho đúng th́ phải chuyên tinh, chuyên nhất mới ḥng ǵn giữ được trung đạo).

[15] Kiến Tri là sự hiểu biết do đích thân trông thấy. Từ ngữ này phát xuất từ thiên Tận Tâm Hạ của sách Mạnh Tử. C̣n Văn Tri là sự hiểu biết do nghe nói. Theo các nhà chú giải, Mạnh Tử nói Kiến Tri với dụng ư những người như vua Vũ hoặc Cao Dao do chính mắt trông thấy cách hành xử nhân nghĩa, đạo đức của vua Thuấn bèn cũng biết học theo đó. C̣n như Văn Vương hoặc Khổng Tử là do nghe nói những phẩm chất tốt đẹp của vua Nghiêu, vua Thuấn mà biết xác lập cách hành xử, phẩm cách đúng đắn.

[16] Cao Dao họ Yển, c̣n gọi là Cữu Đào, hoặc Cữu Dao, là một hiền thần vào thời vua Thuấn và nhà Hạ, chưởng quản h́nh pháp từ thời vua Thuấn, nổi tiếng chánh trực.

[17] Đây là những vị công thần của vua Thuấn. Tắc tên là Cơ Khí, làm Tắc Quan (chức quan quản trị nông nghiệp, nên thường được gọi là Hậu Tắc), dạy dân trồng trọt ngũ cốc, khiến dân chúng no ấm. Khế làm Tư Đồ (chức quan quản lư việc giáo hóa dân chúng sống theo nhân nghĩa, đạo đức, tương đương với bộ trưởng Giáo Dục hiện thời). Theo thiên Thuấn Điển trong sách Thượng Thư, vua Thuấn thấy dân chúng không biết sống thân thiện, ḥa mục, bèn sai Khế làm Tư Đồ để chưởng quản việc giáo dục họ nhân, nghĩa, từ, cung kính v.v… Tới thời Chiến Quốc, do chính quyền không coi trọng giáo dục, Tư Đồ hầu như chỉ chưởng quản nhân viên hành chánh. Bá Ích c̣n có tên là Bá Y, c̣n gọi là Đại Phí, họ Doanh, con của Đại Nghiệp. Bá Ích được phong làm Ngu Quan dạy dân săn bắt thú, đánh cá v.v… Tương truyền, do những tri thức thu thập được khi theo vua Đại Vũ trị thủy, ông viết thành tác phẩm Sơn Hải Kinh.

[18] Trụ Hạ Sử tức là chức quan Ngự Sử. Do khi vào chầu vua, vị trí của quan ngự sử là đứng dưới cây cột chính của điện chầu, nên gọi là Trụ Hạ Sử. Ở đây, Trụ Hạ Sử là nói đến Lăo Tử do ông từng giữ chức này.

[19] Khổng Tử từng nói với đệ tử là Nam Cung Kính Thúc: “Viên quan giữ kinh điển của nhà Châu là Lăo Đam tinh thông xưa nay, biết cội nguồn của lễ nhạc, hiểu lẽ trọng yếu trong đạo đức, nay ta muốn sang đó cầu thọ giáo, ngươi có muốn cùng đi hay không?” Khổng Tử cùng Lăo Tử đàm đạo suốt đêm, được Lăo Tử giới thiệu với quan chưởng quản lễ nhạc của nhà Châu là Trường Hoằng, t́m hiểu rất sâu về lễ nhạc và đạo đức của Lăo Tử. Khi trở về nước Lỗ, khi được hỏi về Lăo Tử, Khổng Tử ca ngợi Lăo Tử giống như rồng, chí thú cao diệu, khó thể hiểu thấu, biến hóa khôn lường!

[20] Lăo Tử họ Lư (có thuyết nói ông họ Lăo), tên là Nhĩ, tên tự là Đam và Bá Dương. Do vậy, đôi khi gọi là Lăo Đam. Do ông làm quan quản lư sách vở và ngự sử (Trụ Hạ Sử) của nhà Châu, nên c̣n gọi là Trụ Hạ Sử. Tư tưởng vô vi của ông về sau được Trang Châu, Dương Châu, Liệt Ngự Khấu v.v… phát triển, h́nh thành trường phái triết học gọi là Đạo gia (khác với Đạo giáo do Trương Đạo Lăng sáng lập, chỉ mượn danh xưng của Lăo Tử để tô vẽ cho sự chính thống của tôn giáo do chính mình sáng lập, mang nặng tính chất phù chú, luyện đan, cầu thành tiên, trường sanh bất tử, không phải là chủ trương thanh tĩnh vô vi của Lăo Tử).

[21] Cái Công là một danh nhân thời Tây Hán, Sử không chép tên thật ca ông. Chỉ biết ông là người xứ Giao Tây (nay thuộc vùng Cao Mật, tỉnh Sơn Đông), thông hiểu tư tưởng Hoàng Lăo. Tể tướng Tào Tham dùng hậu lễ mời ông làm cố vấn, ông đề nghị áp dụng tư tưởng Hoàng Lăo để dân tự an tịnh.

[22] Cập môn: Tiến nhập vào một môn, một học thuyết, đă phần nào thông hiểu, nhưng chưa nắm được chỗ bí yếu, tinh túy của môn ấy.

[23] Tử Hạ tên thật là Bốc Thương, tên tự là Tử Hạ, là đệ tử của Khổng Tử, nổi tiếng về văn tài. Sau khi Khổng Tử mất, Tử Hạ sống ở Tây Hà, làm thầy của Ngụy Văn Hầu. Con trai Tử Hạ chết sớm, ông thương khóc đến nỗi mù mắt. Tŕnh Minh Đạo là Tŕnh Hạo, Tŕnh Y Xuyên là Tŕnh Di. Hai anh em ông này được tôn xưng là người trung hưng Lư Học (tức Tống Nho).

[24] Câu này phát xuất từ thiên Cáo Tử sách Mạnh Tử: “Nhĩ mục chi quan bất tư, nhi tế vu vật, vật giao vật, tắc dẫn chi nhi dĩ hỹ. Tâm chi quan tắc tư, tư tắc đắc chi, bất tư tắc bất đắc dă. Thử thiên chi sở dữ ngă giả, tiên lập hồ kỳ đại giả, tắc kỳ tiểu giả phất năng đoạt dă. Thử vi đại nhân nhi dĩ hỹ” (Tai mắt là khí quan chẳng thể suy nghĩ, cho nên chúng bị ngoại vật che lấp. Do chúng cũng là một vật, khi tiếp xúc với ngoại vật, sẽ dễ bị lôi cuốn vào đường mê. Tâm cũng là khí quan, nhưng có năng lực suy nghĩ, hễ suy nghĩ bèn có cái để đạt được, chẳng suy nghĩ sẽ không đạt được. Đó là điều trời riêng ban cho ta. Do vậy, trước hết phải đặt vững cái chánh yếu trong thân thể là cái tâm, [tâm đă vững rồi] th́ các khí quan nhỏ hơn sẽ chẳng bị ngoại vật đoạt mất. Như thế th́ sẽ có thể trở thành bậc quân tử). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách giải thích của trang nhà Nho Học Tự Tập Thất. Lục Tượng Sơn nhấn mạnh cái tâm trong học thuyết của ḿnh, nên Tổ Ngẫu Ích mới nói Lục Tượng Sơn “đạt được tâm pháp của họ Mạnh”.

[25] Viên Trung Lang chính là Viên Hoằng Đạo (1568-1610). Ông có tên tự là Trung Lang, hiệu là Thạch Công, Lục Hưu, và Thạch Đầu cư sĩ. Ông là người huyện Công An, thuộc phủ Kinh Châu, tỉnh H Quảng, là một quan chức thời Minh, đồng thời là một văn gia nổi tiếng. Cùng với anh Viên Tông Đạo và em trai là Viên Trung Đạo, họ được người đương thời tôn xưng là Công An Tam Viên. Ông ba lượt ra làm quan, ba lượt về ở ẩn, nổi tiếng liêm khiết, nổi tiếng về văn tài, chủ trương cải cách thi ca, h́nh thành một trường phái văn chương cách tân được gọi là Công An Phái. Ông chủ trương Thiền - Tịnh như một, phê b́nh giới văn nhân thời đó thích đàm Thiền nhưng chẳng chịu tu hành, thậm chí chuộng nói Thiền nhưng chẳng hiểu Thiền là ǵ. Ngoài Tây Phương Hợp Luận, ông c̣n soạn bộ Tông Kính Nhiếp Lục luận định về Thiền cũng được đánh giá rất cao. Thậm chí bạn ông là Ngu Thuần Hy c̣n coi Tây Phương Hợp Luận phải được xếp ngang hàng với A Di Đà Kinh Sớ Sao của tổ Liên Tŕ Vạn Thiện Đồng Quy Tập của tổ Vĩnh Minh.

[26] Giới Hiền (Śīlabhadra, 529-645), c̣n được phiên âm là Thi La Bạt Đà La, thuộc ḍng vua chúa xứ Tam Ma Đát Trá của Ấn Độ. Ngài chuyên nghiên cứu Đại Thừa Du Già (Duy Thức), đồng thời là một luận sư trứ danh của học phái này. Khi ngài Huyền Trang đến học, ngài Giới Hiền là viện trưởng của học viện Na Lan Đà.

[27] Hà Trạch tức là ngài Thích Thần Hội (720-794), là người huyện Phụng Tường, thuộc quận Phù Phụng đời Đường. Ngài theo học với Vô Tướng đại sư chùa Tịnh Chúng ở Thành Đô (Tứ Xuyên), kế thừa thiền phái của vị này. Vô Tướng đại sư là người Đại Hàn, vốn là vương tử xứ Tân La (Silla), sang Trung Hoa cầu pháp, đắc Thiền pháp nơi ngài Trí Sân (đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn). Ngài Khuê Phong từng học Thiền với ngài Hà Trạch Thần Hội.

[28] Vua Kiệt họ Tự, thuộc bộ tộc Hậu Hạ Thị, tên là Lư Quư, là vị vua thứ mười bảy, và là vua cuối cùng của nhà Hạ. Vua Kiệt thân thể cường tráng, có thể tay không đánh cọp, beo. Do sủng ái Mạt Hỷ, vua Kiệt bỏ bê triều chánh, dùng bào lạc (cột tội nhân vào ống đồng rồi đổ than nung đỏ để thiêu tội nhân) giết chết đại thần Quan Phong Long, phung phí công quỹ để xây Dao Đài nhằm lấy ḷng Mạt Hỷ. Khi Thương Thang dấy binh, Kiệt thua trận phải chạy ra Minh Điều. Sau khi bại trận lần nữa tại Minh Điều, nhà Hạ diệt vong. Hạ Kiệt bị đày ra Nam Sào rồi bệnh chết tại đó. Con ông ta là Thuần Duy chạy sang biên cương phía Bắc Trung Hoa, trở thành thỉ tổ của tộc Hung Nô.

[29] Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải của trang nhà Quốc Dịch Học.

[30] Hồng Liệu (紅蓼, Persicaria orientalis) c̣n gọi là Hồng Thảo, Đại Hồng Liệu, Du Long, hoặc Cẩu Vĩ Ba Hoa, là một loại cây thân thảo có hoa, thường được người Âu Tây gọi thông tục là Princess Feather. Cây mọc thành bụi, thân thẳng, có đốt, phủ kín lông tơ. Lá có h́nh giống như trái tim, nhưng hơi thon dài, có lông tơ phủ kín. Hoa có màu hồng phấn, hoặc hồng tươi mọc thành chùm dài. Loại thảo mộc này hay mọc nơi ẩm thấp như ven hồ. Thân và lá có thể dùng làm thuốc dưới danh xưng Hồng Thảo.

[31] Chánh Đức là niên hiệu của Minh Vũ Tông (Châu Hậu Chiếu) sử dụng từ năm 1506 đến năm 1521.

[32] Đây là một thành ngữ sánh ví nỗi nguy hiểm khôn lường, có thể xảy ra họa hoạn bất cứ lúc nào, tương tự thành ngữ “thiên quân nhất phát” (ngàn cân treo sợi tóc). Theo truyền thuyết, sau khi lập ra nhà Hạ, vua Đại Vũ dùng vàng và đồng do các châu mục tiến cống, đúc thành chín cái đỉnh nhằm biểu thị chín châu trong thiên hạ. Từ đó, cửu đỉnh được dùng để biểu thị cho quyền uy của thiên tử. Tuy vậy, sách Thượng Thư Chánh Nghĩa bảo chỉ có một cái đỉnh, do vàng và đồng của chín châu đúc thành nên gọi là cửu đỉnh, chứ không phải là thật sự có chín cái đỉnh. Bất luận ư nghĩa thật sự là như thế nào, cửu đỉnh được mô tả rất to, rất nặng, mỗi cái đỉnh nặng một ngàn “quân” (khoảng bảy tấn rưỡi). Tương truyền, Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ có sức mạnh cử đỉnh, tức là có thể vác một cái đỉnh đi một ṿng quanh sân mặt không đổi sắc, không thở dốc.

[33] Lâm cung (琳宮) có nghĩa là cung điện đẹp đẽ, rực rỡ, hiểu theo nghĩa hẹp là tiên cung hoặc đạo quán. Phạm sát (梵剎) là chùa thờ Phật. Phạm có nghĩa là thanh tịnh. Sát là từ chữ Sát-độ (ksetra) có nghĩa là khu vực, vùng đất, hoặc khoảnh đất. Do chùa được coi là nơi thanh tịnh, nơi để tu hành thanh tịnh nên gọi “phạm sát”.

[34] E rằng chỗ này khi biên tập, pháp sư Thành Thời chép sai, v́ Càn Phù là niên hiệu sử dụng đầu tiên của Đường Hy Tông (Lư Hoàn) từ năm 874 đến năm 879. Đường Hy Tông sử dụng năm niên hiệu là Càn Phù, Quảng Minh, Trung Ḥa, Quang Khải, và Văn Đức.

[35] Tuyên Đức là niên hiệu của Minh Tuyên Tông (Châu Chiêm Cơ) sử dụng từ năm 1426 đến năm 1435.

[36] Kê Viên là cách phiên âm khác Kỳ Viên (Jetavana). Khu vườn này c̣n được phiên âm là Kỳ Hoàn, Kỳ Thụ Viên, Kỳ Đà Lâm Viên, Thệ Đa Lâm, Kỳ Thụ Cấp Cô Độc Viên v.v…

[37] Cố Mạng là lời căn dặn của đế vương trước khi mất. Di chiếu được soạn sẵn để áp dụng sau khi vua mất cũng được gọi là CMạng. Ở đây, chữ này dùng để chỉ những lời dạy tối hậu của đức Bổn Sư.

[38] Ngũ Thiên Thất Tụ là cách phân loại các giới trong Cụ Túc Giới của tỳ-kheo. Ngũ Thiên là các giới được chia thành năm loại lớn: Ba La Di, Tăng Tàn, Ba Dật Đề, Đề Xá Ni, và Đột Kiết La, tức là chia các giới theo mức độ nặng nhẹ. Chẳng hạn phạm giới thuộc loại Ba La Di sẽ mất tư cách tăng sĩ, phải trục xuất ra khỏi Tăng đoàn. Thất Tụ là cách chia các giới tỉ mỉ hơn gồm Ba La Di, Tăng Tàn, Thâu Lan Giá, Ba Dật Đề, Đề Xá Ni, Đột Kiết La và Ác Thuyết.

[39] Ư nói Cụ Túc Giới quy định các điều cấm ngặt truyền trao Cụ Túc Giới cho kẻ nào phạm phải những điều cấm ấy. Những điều đó được gọi chung là Giá Nạn. Giới tử nào phạm phải một trong những điều giá nạn đó sẽ không được thọ giới, ví dụ như là phi nhân th́ không được thọ giới, không được cha mẹ cho phép, trốn nợ mà xin xuất gia, chẳng phải là đàn ông đích thực hoặc là người đă thiến th́ không được thọ giới tỳ-kheo v.v… Nếu người thọ giới giấu diếm, vị thầy thọ giới cũng biết mà vẫn cứ truyền giới th́ thầy lẫn tṛ đều mắc tội.

[40] Tức là kẻ chỉ học kinh điển Đại Thừa để biện bác suông, nhắc đi, nhắc lại những giáo nghĩa Đại Thừa như con vẹt, chẳng thông hiểu ư chỉ thâm sâu trong ấy.

[41] Ngũ Vân là một rặng núi ở phía Tây thành Hàng Châu. Ở đó, có ba ngôi chùa nổi tiếng là Vân Thê, Thiên Tŕ và Chân Tế. Về sau, chỉ c̣n lại chùa Vân Thê, tức là đạo tràng của tổ Liên Tŕ. Theo Vân Thê Sơn Pḥng Tạp Lục, do trên đỉnh núi thường có mây ngũ sắc quanh quẩn, nên núi có tên là Ngũ Vân, hoặc núi Vân Thê. Về sau, mây lành phủ kín một hang đá trên đỉnh núi, người đương thời gọi đó là Vân Thê Ổ (ổ mây đọng). Năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống, vị tăng Đại Phiến Chí Phùng kết am tu hành tại đó. Trong hang có nhiều hổ, Sư đến, hổ đều ngoan ngoăn thần phục, nên Sư được gọi là Phục Hổ thiền sư. Ngô Việt Vương bèn cho xây chùa tại đó, đặt tên là chùa Vân Thê.

[42] Tam tụ: Nhiếp Thiện Pháp Tụ, Nhiếp Luật Nghi Tụ, Nhiếp Chúng Sanh Tụ.

[43] Khu ô sa-di (sa-di đuổi quạ) là sa-di từ bảy tuổi đến mười ba tuổi, có thể đuổi quạ chẳng cho chúng cướp đoạt thức ăn, hoặc ăn thóc lúa đang phơi. Theo Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao, có ba hạng sa-di:

1) Hạ Phẩm sa-di, tức Khu Ô sa-di vừa nói trên đây.

2) Trung Phẩm sa-di, từ mười bốn tuổi cho đến mười chín tuổi, c̣n gọi là Ứng Pháp sa-di.

3) Thượng Phẩm sa-di từ hai mươi tuổi trở lên, c̣n gọi là Danh Tự sa-di, v́ họ vốn đủ tư cách làm Tăng, nhưng do chưa đủ duyên, chỉ là sa-di.

[44] Kỳ túc (耆宿) có nghĩa đen là người cao tuổi, đức cao đáng trọng. Nếu dùng trong nhà Phật thì là bậc pháp lạp cao, giới hạnh lẫn phẩm đức đều đáng tôn trọng.

[45] Tức là Đại Thừa Ngũ Vị, tức năm địa vị tu đạo trong Duy Thức:

1) Tư lương vị: Tức địa vị hàm nhiếp hữu lậu thiện để đạt tới Phật quả, bao gồm Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng v.v… Do dùng phước đức và thế gian làm tư lương nên gọi là Tư Lương Vị.

2) Gia Hạnh Vị, tức Bồ Tát thuộc Tứ Gia Hạnh (Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất), do đă đạt được tư lương, bèn gia cộng dụng hạnh để nhập Kiến Đạo (Hoan Hỷ Địa).

3) Thông Đạt Vị, c̣n gọi là Kiến Đạo Vị, tức Sơ Địa Bồ Tát.

4) Tu Tập Vị, c̣n gọi là Tu Đạo Vị, từ Nhị Địa cho đến Thập Địa Bồ Tát.

5) Cứu Cánh Vị, tức quả vị Diệu Giác của Phật.

[46] Ngũ Quán có nhiều cách hiểu, nhưng theo mạch văn ở đây, phải hiểu Ngũ Hạnh chính là Ngũ Quán của tông Thiên Thai:

1) Chân Quán: Quán lư Chân Đế, đoạn Kiến Tư Hoặc, thuộc về Không Quán.

2) Thanh Tịnh Quán: tức Giả Quán do thân đă trừ Kiến Tư Hoặc, đoạn Trần Sa Hoặc.

3) Quảng Đại Trí Huệ Quán: Trung Quán do đoạn Vô Minh Hoặc, đạt được trí huệ rộng lớn.

4) Bi Quán: Dùng ba phép Quán trên đây để quán chúng sanh, đoạn trừ khổ năo cho họ.

5) Từ Quán: Dùng ba phép Quán trên đây để quán chúng sanh, ban vui cho họ.

[47] Lệ Trạch (麗澤) có nghĩa là ao hồ thông với nhau. Kinh Dịch khi giảng về quẻ Lệ Trạch Đoài đă nói quẻ ấy có nghĩa quân tử cùng bạn bè nghiên cứu, học tập. Do vậy, Lệ Trạch thường được hiểu là t́nh bạn thân thiết, dùi mài, đốc thúc lẫn nhau cùng tiến bộ.

[48] Cổ Tẩu (nghĩa đen là ông già mù), cha của vua Thuấn. Không rơ ông tên thật là ǵ, chỉ biết ông là cháu tám đời của Hoàng Đế, là cháu nội của Cùng Vọng, con trai của Kiều Ngưu. Cổ Tẩu tánh t́nh hung hăn, ương bướng, mù quáng nghe lời vợ kế và chiều theo em cùng cha khác mẹ của vua Thuấn là Tượng, thường hăm hại vua Thuấn, nhưng vua Thuấn vẫn luôn một niềm hiếu kính đối với cha.

[49] Cửu hữu: Chín chỗ cư trụ của chúng sanh chưa giải thoát sanh trong tam giới, c̣n gọi là Cửu Hữu T́nh Cư, Cửu Chúng Sanh Cư. Cửu Hữu bao gồm:

1) Nhân gian và sáu tầng trời thuộc Dục Giới.

2) Sơ Thiền Thiên.

3) Nhị Thiền Thiên.

4) Tam Thiền Thiên.

5) Vô Tưởng Thiên trong Tứ Thiền Thiên.

6) Không Xứ Thiên.

7) Thức Xứ Thiên.

8) Vô Sở Hữu Xứ Thiên.

9) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên.

[50] Đây là câu chuyện một sa-di cầu chứng Tứ Quả. Có một vị tăng thấy người ấy ngờ nghệch, bèn chọc ghẹo bảo có bí thuật giúp người ấy chứng quả nhanh chóng. Vị sa-di tin lời, lần lượt đứng vào bốn góc nhà, để vị Tăng ấy cầm banh ném vào đầu, lần thứ nhất nói: “Ngươi đă chứng Sơ Quả” cho đến lần thứ tư, nói: “Ngươi đă chứng Tứ Quả”. Sa-di lạy tạ, cho biết chính ḿnh đă thật sự chứng Tứ Quả. Vị sa-di ấy đă chứng Tứ Quả do tâm chân thành.

[51] Tháp Đại Báo Ân thuộc chùa Trường Can tại làng Trường Can, thuộc khu Tần Hoài, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô. Ṭa tháp lưu ly hiện thời được xây dựng từ thời Vĩnh Lạc cho đến Tuyên Đức, được coi là ṭa tháp sứ lớn nhất tại Trung Hoa. Thoạt đầu, pháp sư Khang Tăng Hội đem xá-lợi đến đây trong niên hiệu Xích Ô nhà Đông Ngô. Ngô đế bèn dựng chùa Kiến Sơ và tháp A Dục để thờ phụng. Về sau, Tôn Hạo phá hủy tháp. Nơi này bị bỏ phế cho đến niên hiệu Kiến Khang khi Lưu Tát A đào được xá lợi, bèn dựng chùa Trường Can (đặt theo tên làng) để thờ phụng và xuất gia làm Tăng, tức ḥa thượng Thích Huệ Đạt. Tháp được trùng tu qua các đời Tấn Giản Văn Đế và Lương Vũ Đế. Tới thời Bắc Tống, đổi tên thành chùa Thiên Hỷ. Chùa bị hủy hoại v́ chiến tranh. Đến thời Minh Thành Tổ, trong niên hiệu Vĩnh Lạc cho trùng tu. Không lâu sau, chùa lại bị một tăng nhân đốt cháy. Tới năm Vĩnh Lạc thứ mười (1412) mới được xây lại, với mục đích báo ân cha mẹ của nhà vua, đổi tên thành chùa Đại Báo Ân, nhưng dân chúng vẫn quen gọi là chùa Trường Can.

[52] Vào thời Minh - Thanh, sinh viên còn gọi là Tú Tài, hoặc Đệ Tử Viên là người đã đậu ba trường trong kỳ thi Hương, nhưng không đậu hoặc chưa đậu trường thi thứ tư, được cho vào học trong Quan Học (trường do chánh quyền thành lập, bảo trợ), chẳng hạn như Thái Học hoặc Quốc Tử Giám ở kinh đô, hoặc các trường do chánh quyền thành lập ở phủ, huyện, châu. Đôi khi sinh viên còn được gọi là Tường Sanh, Cống Sanh (người có thành tích ưu tú, có thể được đề bạt vào học Quốc Tử Giám, có thể được bổ ra làm quan), Giám Sanh (nếu theo học tại Quốc Tử Giám), Thái Học Sanh. 

[53] Đây là một câu chuyện ẩn dụ trong kinh Đại Bát Niết Bàn: Có người đeo phao vượt biển. Quỷ La-sát lần lượt xin toàn bộ cái phao, nửa cái phao, một phần nhỏ phao, xin một tí phao to bằng lóng tay, và xin một tí phao chỉ bằng chừng vi trần, người ấy đều kiên quyết từ chối. Theo các vị chú giải, xin toàn bộ cái phao là dụ dỗ người ấy phạm bốn giới trọng. Xin nửa cái phao là dụ dỗ người ấy phạm giới Tăng Tàn. Xin một phần nhỏ phao là dụ dỗ người ấy phạm tội Thâu Lan Giá. Xin bằng lóng tay là dụ dỗ người ấy phạm tội Đề Xá. Xin bằng vi trần là dụ dỗ người ấy phạm tội Đột Kiết La.

[54] Biệt Biệt Mộc Xoa là một cách dịch nghĩa chữ Ba La Đề Mộc Xoa (Pratimokṣa, giới luật). Những cách dịch nghĩa khác là Tùy Thuận Giải Thoát, Xứ Xứ Giải Thoát, Biệt Biệt Giải Thoát, Tối Thắng, Vô Đẳng Học, Hộ Giải Thoát v.v…

[55] Thanh Văn đối với pháp thường, lạc, ngă, tịnh thấy là khổ, không, vô thường, vô ngă. Đó là tứ khô của Thanh Văn. Bồ Đề đối với pháp Niết Bàn thường thấy là thường, lạc, ngă, tịnh. Đó là tứ vinh của Bồ Tát.

[56] Lục hợp (六合) là một thuật ngữ trong huyền học Trung Hoa, biểu thị các mối quan hệ giữa biểu thị bốn phương và trên, dưới. Từ đó, mở rộng ra, lục hợp là các mối quan hệ giữa muôn vật trong thế gian. Do vậy, khi nói “lục hợp” th́ hiểu là thế gian, tức là chỉ trong tam giới mà thôi!

[57] Tứ Y đại sĩ là bốn loại người kham làm chỗ y chỉ cho chúng sanh, c̣n gọi là Nhân Tứ Y, hoặc Tứ Y Bồ Tát:

1) Xuất thế phàm phu, tức người trọn đủ tánh phiền năo, nhưng thật sự tu tŕ, có chí hướng xuất thế.

2) Tu Đà Hoàn và Tư Đà Hàm.

3) A Na Hàm.

4) A La Hán.

[58] Tức cái thất vuông vức, mỗi bề vừa đúng một trượng của ngài Duy Ma Cật ở thành Tỳ Da Ly (Vaiśālī). Lầu báu của ngài Di Lặc tức là lầu gác Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng của Di Lặc Bồ Tát được nói trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm.

[59] Lương Túc (752-793), tự là Kính Chi, là một quan chức đời Đường, đồng thời là văn gia nổi danh. Ông có văn tài, được Thôi Cung ca ngợi là “kỷ cương trong rừng Nho”. Ông dốc ḷng tin tưởng giáo nghĩa Thiên Thai. Khi ở Thường Châu, ông xin làm đệ tử ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, và được khen ngợi: “Trong triều đ́nh chỉ có ḿnh học sĩ Lương Túc hiểu đạo này” (theo Đường Thai Châu Quốc Thanh Tự Trạm Nhiên Truyện).

Trần Quán (1057-1124), tự Oánh Trung, hiệu Liễu Ông, biệt hiệu là Hoa Nghiêm cư sĩ, là một viên quan nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông làm quan đến chức Tả Chánh Ngôn, nổi tiếng nói thẳng.

[60] Đây là hai câu trong bài thơ Phạt Kha trong phần Quốc Phong của kinh Thi. Nguyên văn “phạt kha, phạt kha, phi phủ bất khắc. Thú thê như hà? Phi môi bất đắc. Phạt kha, phạt kha, kỳ tắc bất viễn, ngă cấu chi tử, biên đậu hữu tiễn” (đẽo cán ŕu, không có ŕu sẽ chẳng đẽo được. Cưới vợ bằng cách nào? Chẳng có mai mối, sẽ chẳng được. Đẽo cán ŕu th́ quy tắc ở gần ngay đó. Nếu muốn thấy mặt cô dâu, hăy sắp đặt tiệc rượu). Ở đây, Tổ chỉ mượn ư hai câu để nói mọi việc muốn thực hiện, phải hiểu rơ quy tắc của nó.

[61] Đới Lễ tức là sách Lễ Kư do anh em họ Đới biên soạn. Lễ Kư tức là tập hợp các lời giải thích Lễ Kinh của học tṛ Khổng Tử cũng như các nhà Nho thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Nguyên thủy Lễ Kư được lưu truyền tản mạn và số lượng khá nhiều. Theo Hán Thư, sách gồm một trăm ba mươi mốt thiên do bảy mươi người khác nhau biên soạn. Đến thời Hán, các bản ấy được chọn lọc, rút gọn, hệ thống, chủ yếu chia thành ba tác phẩm chính:

1) Đại Đới Lễ Kư gồm tám mươi lăm thiên do Đới Đức biên soạn.

2) Tiểu Đới Lễ Kư gồm bốn mươi chín thiên do Đới Thánh (em Đới Đức) biên soạn.

3) Đức Phổ Lễ Kư gồm bốn mươi chín thiên do Đức Phổ biên soạn.

Hiện thời, bản Đức Phổ đă thất truyền, bản Đại Đới bị tàn khuyết. Do đó, hễ nói đến Lễ Kư th́ đa số là nói bản Tiểu Đới.

[62]Gọi là một kinh mười truyện tức là sách Đại Học được chia thành mười chương. Các nhà chú giải cho rằng đây là lời dạy của Khổng Tử được Tử Tư thuật lại. Sách chỉ có hai trăm lẻ năm chữ, nhưng chia thành mười chương là do các môn nhân giải thích thêm ư của Tăng Tử.

[63] Thác giản (錯簡): Thuở xưa, chưa có giấy, sách được ghi chép lên các thẻ tre (thường gọi là Giản), dùng dây xâu lại, cái dây ấy gọi là Vi Biên. Lâu ngày, dây bị đứt phải xâu lại. Do vô ư có thể xâu các thẻ không đúng thứ tự. Sách bị xâu không đúng thứ tự th́ gọi là “thác giản”. Từ ngữ này được dùng với ư nghĩa mở rộng để chỉ nội dung lộn xộn, không theo thứ tự, hay bị sai thứ tự.

[64] Đông Lỗ là Khổng giáo. Do Khổng Tử là người nước Lỗ, thuộc Trung Hoa ở phương Đông, nên gọi Khổng giáo là Đông Lỗ. Tây Càn là trời Tây, tức Phật giáo tại Ấn Độ.

[65] Tức kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân. Trong Đại Tạng Kinh, kinh này có hai bản dịch:

1) Đại Phương Quảng Thập Luân Kinh, mất tên dịch giả, không rơ dịch vào thời nào.

2) Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh (Daśacakra Kṣitigarbha Sūtra) do ngài Huyền Trang dịch vào đời Đường.

Ngoài ra, trong Đại Tạng c̣n có Phật Thuyết Địa Tạng Bồ Tát Đà La Ni Kinh không ghi tên người dịch, tương ứng với phẩm Tự của kinh Thập Luân.

[66] Tức kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân, và Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo.

[67] Tổ Trí Giả đă căn cứ vào phần Tích Môn (chủ yếu là phẩm Phương Tiện thuộc mười bốn phẩm đầu của kinh Pháp Hoa) lập ra Tích Môn Thập Diệu là cảnh diệu, trí diệu, hạnh diệu, vị diệu, tam pháp diệu, cảm ứng diệu, thần thông diệu, thuyết pháp diệu, quyến thuộc diệu, và công đức lợi ích diệu. Căn cứ trong Bổn Môn (mười bốn phẩm sau, chủ yếu là phẩm Thọ Lượng), lập ra Bổn Môn Thập Diệu là bổn nhân diệu, bổn quả diệu, bổn quốc độ diệu, bổn cảm ứng diệu, bổn thần thông diệu, bổn thuyết pháp diệu, bổn quyến thuộc diệu, bổn Niết Bàn diệu, bổn thọ mạng diệu, và bổn lợi ích diệu.

[68] Tam nhân là chánh nhân, liễu nhân và duyên nhân.

[69] Thời Khổng Tử chưa có giấy, sách phải viết lên thẻ tre có khoét lỗ, xâu lại bằng dây (thường làm bằng da trâu thuộc) để tạo thành sách. Cái dây ấy được gọi là “vi biên” (韋編). Khổng Tử đọc kinh Dịch đến nỗi ba lượt đứt vi biên, cho nên về sau, người ta thường dùng chữ Vi Biên để chỉ kinh Dịch.

[70] Đại Hoàng là tên gọi chung của một loại thảo mộc mọc nhiều năm, chia thành hai loại:

- Đại Hoàng dùng để ăn (Rhubarb), thân mập có màu đỏ hồng, lá to xanh rộng, mọc từ củ. Phần dùng để ăn là cọng lá. Chúng có thể dùng để trộn rau ăn sống, hoặc nấu với đường để làm bánh, hoặc các món tráng miệng khác, hoặc đôi khi ép lấy nước trộn với nước dâu để làm món giải khát.

- Đại Hoàng dùng làm thuốc (thường gọi là Mă Đề Đại Hoàng, tên khoa học là Rheum officinale, còn gọi là Hoàng Lương, hay Tướng Quân, hay Dược Dụng Đại Hoàng) h́nh dáng khác biệt hẳn với Rhubarb. Loại này mọc nhiều ở Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Vân Nam, được dùng làm thuốc để thông tiểu tiện, hạ hỏa, được coi là rất đắng, rất hàn, có thể làm tróc niêm mạc miệng, có tác dụng mạnh mẽ, khi dùng phải hết sức cẩn thận.

[71] Biến Hành (Sarvagāmin) là vị thiện tri thức thứ hai mươi trong năm mươi ba vị thiện tri thức của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm. Biến Hành là ngoại đạo, nhưng thông đạt môn giải thoát Chí Nhất Thiết Xứ của Bồ Tát, diễn nói đủ loại nghề khéo, dùng phương tiện là Tứ Nhiếp Pháp, xưng tán Bồ Đề hạnh và Bồ Đề tâm, hoặc nói các khổ báo trong địa ngục, khiến cho chúng sanh kinh sợ, phát Bồ Đề tâm, vui cầu điều thiện, gieo các thiện căn, hoặc rộng nói về công đức, oai lực của chư Như Lai khiến cho chúng sanh hoan hỷ, thân cận Phật pháp.

Tát Giá Ni Kiền Tử (Mahāsatya-nirgrantha), dịch nghĩa là Đại Hữu Ly Hệ, là một ngoại đạo, thủ lănh của Ni Kiền Tử (lơa thể ngoại đạo, tức đạo Jain sau này). Do gặp vua Úc Xà Diên Thành Nghiêm Xí nói pháp thế gian và xuất thế gian, Tát Giá được giác ngộ, bèn đến ra mắt đức Phật, được Ngài giảng dạy cảnh giới của Bồ Tát hạnh, thần thông, biến hóa của Bồ Tát v… Sau đó, đức Phật thọ kư. Nội dung cuộc vấn đáp ấy được ghi lại thành bộ kinh Đại Tát Giá Ni Kiền Tử Thọ Kư, mười quyển, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang tiếng Hán vào thời Nguyên Ngụy.

[72] Bảy đường tức là sáu đường (trời, người, A Tu La, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) cộng thêm tiên đạo. Tức là tách các tiên từ trời và A Tu La ra thành một đường riêng.

[73] Hữu Nhược (518-418 trước Công Nguyên), tên tự là Tử Hữu, là người nước Lỗ. Ông nổi tiếng là người hiền. Mạnh Tử nói sau khi Khổng Tử mất, Tử Hạ, Tử Trương và Tử Du coi ông như thánh nhân, tính phụng sự như Khổng Tử, nhưng Tăng Tử phản đối. Đường Huyền Tông phong tặng ông tước Biện Bá, Tống Chân Tông gia phong B́nh Dương Hầu, vua Gia Tĩnh (Minh Thế Tông) nhà Minh phong ông là Tiên Hiền Hữu Tử.

[74] Bậc thánh nhàn tản, không bị ràng buộc, câu nệ.

[75] Chúng Hựu (眾祐) là một trong mười hiệu của Như Lai, dịch nghĩa của chữ Bạc Già Phạm (Bhagavat). Đây là cách dịch nghĩa rất xưa. Từ đời Tây Tấn trở đi, chữ này được dịch thành Thế Tôn. Chúng Hựu hàm nghĩa “các đức thành tựu, các phước hợp thành, trọn đủ các phước” v.v…

[76] Dương Kỳ Phương Hội (992-1049) là thiền sư đời Tống, là người sáng lập chi phái Dương Kỳ của tông Lâm Tế. Do Ngài trụ tích tại Phổ Minh Thiền Viện núi Dương Kỳ, nên người đương thời gọi ghép tên núi vào pháp danh của Sư thành Dương Kỳ Phương Hội. Ngài xuất gia nơi ngài Thạch Sương Sở Viên, giữ chức Giám Viện (do vậy Tổ Ngẫu Ích mới nói là “trực viện mười năm”). Ngài chấn hưng tông phong, tiếp độ người học, môn đ́nh hưng thịnh, nghiễm nhiên trở thành một phái lớn trong tông Lâm Tế. Sư có mười ba đệ tử đắc ư, trong đó, các vị nổi tiếng Bạch Vân Thủ Đoan, Bảo Ninh Nhân Dũng v.v… Từ tông Dương Kỳ, xuất hiện những vị thiền sư nổi tiếng như Thọ Thánh Sở Văn, Thượng Phương Nhật Ích, Ngũ Tổ Pháp Diễn, Phật Nhăn Thanh Viễn, Thái B́nh Huệ Cần, Viên Ngộ Khắc Cần v.v…

[77] Ở đây, ư Tổ chỉ nói tự khiêm. Do Ngài đi đến đâu cũng được mời diễn giảng, nên Ngài sánh ví ḿnh như miếng da bịt trên trống, hễ gơ bèn phát ra tiếng, chứ không cố ư giảng diễn. Ngài lại tự khiêm chuyện diễn giảng giống như kiếm cơm qua ngày, nên mới nói kế mưu sinh cho tọa chủ. Ngài lại coi những điều Ngài diễn giảng là thiển cận, lỗi thời, nên gọi “gia xú” (điều xấu trong nhà).

[78] Đây là các vị thiện tri thức được nhắc tới trong năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử:

1) Đức Vân tỳ-kheo (Meghaśrī-bhiksu, c̣n dịch là Công Đức Vân, hoặc Cát Tường Vân). Vị này dạy môn giải thoát Ức Niệm Nhất Thiết Chư Phật Cảnh Giới Trí Huệ Quang Minh Phổ Kiến.

2) Thắng Nhiệt Bà-la-môn (Jayosmāya, c̣n dịch là Phương Tiện Mạng), vị này dạy Thiện Tài gieo ḿnh vào đống lửa, trèo lên núi đao để chứng đắc môn giải thoát Bồ Tát Trụ tam-muội và Bồ Tát Tịch Tĩnh Lạc Thần Thông tam-muội.

3) Dục Hương trưởng giả (Utpala-bhūti, c̣n dịch là Thanh Liên Hoa Hương, hoặc Ưu Bát Hoa Hương), dạy pháp môn giải thoát Điều Ḥa Nhất Thiết Hương.

4) Thuyền trưởng Bà Thi La (Vairocana, c̣n dịch là Tự Tại Hải Sư), dạy Thiện Tài môn giải thoát Đại Bi Tràng Hạnh.

5) Cô gái Bà Tu Mật Đa (Vasumitrā, c̣n dịch là Bà Tu Di Đa Nữ), thị hiện thân tham dục, dạy Thiện Tài môn Bồ Tát Ly Tham Tế Giải Thoát.

6) Thiện Tri Chúng Nghệ Đồng Tử (Śilpābhijña) dạy Thiện Tài đồng tử bốn mươi hai tự mẫu Hoa Nghiêm, mỗi chữ tương ứng với một trí, nên gọi là Tự Trí.

[79] Lưu Ly Quang pháp vương tử là vị Bồ Tát thứ hai mươi mốt được nói trong hai mươi lăm vị Bồ Tát trần thuật pháp viên thông của kinh Lăng Nghiêm. Ngài quán tánh gió bèn chứng Viên Thông.

[80] Hai mươi bốn sơn là thuật ngữ Phong Thủy. Thầy Phong Thủy dùng la bàn để xác định phương vị. Mặt la bàn có h́nh tṛn, tức 360 độ, được chia thành hai mươi bốn cung (mỗi cung gồm mười lăm độ) dùng đó để xác định vị trí của mạch núi và chỗ nó hướng về, nên gọi là hai mươi bốn sơn. “Sơn” ở đây có nghĩa là núi thật hay chỉ là chỗ cao trong thế đất. Họ lại dùng Bát Quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn v.v…) để phối ứng với hai mươi bốn núi, mỗi Quái bao gồm ba “núi”.

[81] Thời Minh, toàn thể Trung Hoa chỉ chia thành mười ba tỉnh, tức Thiểm Tây, Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Nam, Chiết Giang, Giang Tây, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Phước Kiến, Quảng Tây, Quư Châu, và Vân Nam. Bắc Kinh mới đầu gọi là Bắc B́nh, sau thời Vĩnh Lạc đổi thành Bắc Trực Lệ, c̣n Nam Kinh th́ gọi là Ứng Thiên Phủ, về sau đổi thành Nam Trực Lệ.

[82] Thiên địa bàn tức là một loại đồ h́nh thể hiện sự vận động của địa cầu so với mặt trời, mặt trăng và tinh tú (chủ yếu là Nhị Thập Bát Tú) trong Thái Dương Hệ, đặt chùm sao Bắc Đẩu làm trung tâm. Đồ h́nh coi phương Đông nằm phía dưới tương ứng với hai thiên can là Giáp, Ất, ba địa chi là Dần, Măo, Th́n, và bảy ngôi sao là Giác, Cang, Đê, Pḥng, Tâm, Vĩ, Cơ

[83] Ư nói: Sẽ có người tham học các vị thiện tri thức giống như Thiện Tài đồng tử, luôn đi về phương Nam. Tổ đă có một luận định ư nghĩa chân thật của phương Nam được nói trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm.

[84] Y Lan (Erāvaṇa) c̣n gọi là Y La, Ế La, Nhân La Na v.v… là tên một loại cây, hoa đẹp đẽ, nhưng mùi rất khó ngửi, mùi hôi thối xông đến bốn mươi dặm!

[85] Sông Hy Liên là phiên âm không chính xác của sông Ni Liên Thiền (Nairanjananadi), nay là sông Fagu, tức một nhánh phụ của sông Hằng. Bồ Đề Già Da (Buddha-gayā, nơi đức Phật thành đạo) ở bờ Đông của sông này.

[86] Dao Cầm còn gọi là Cổ Cầm, Ngọc Cầm, Ngũ Huyền Cầm, và Thất Huyền Cầm. Đây là loại đàn cổ nhất vẫn còn được sử dụng. Đàn Cổ Cầm được coi là âm sắc trang trọng, khoan hòa, thâm trầm, nên được giới Nho sĩ rất yêu chuộng. Không rõ Cổ Cầm được phát minh từ thời nào, nhưng các thư tịch đời Thương - Châu đã nhắc tới Cổ Cầm. Thoạt đầu chỉ có năm dây, nên gọi là Ngũ Huyền Cầm. Về sau, tăng lên bảy dây, nên gọi là Thất Huyền Cầm (danh xưng này ít dùng). Cổ Cầm thịnh hành nhất vào thời Đường, nhưng do khó sử dụng, nên dần dần rất ít người biết chơi, chỉ gần đây Cổ Cầm mới được ưa thích và người biết chơi Cổ Cần tăng lên nhiều.

[87] Kinh Đại Bát Nhă sáu trăm quyển là tổng tập của toàn thể các kinh Bát Nhă, được chia thành mười sáu hội (tức mười sáu phần):

1) Hội thứ nhất nói tại núi Linh Thứu, gồm bốn trăm quyển đầu, chia thành 79 phẩm, c̣n gọi là Thập Vạn Tụng Bát Nhă, tương ứng với Thượng Phẩm Bát Nhă.

2) Hội thứ hai (từ quyển 401 đến quyển 478), chia thành 85 phẩm, cũng nói tại núi Linh Thứu, c̣n gọi là Nhị Vạn Ngũ Thiên Tụng Bát Nhă, hoặc Đại Phẩm Bát Nhă.

3) Hội thứ ba (từ quyển 479 đến quyển 537), chia thành 31 phẩm, c̣n gọi là Nhất Vạn Bát Thiên Tụng Bát Nhă, cũng nói tại núi Linh Thứu. Hai hội thứ hai và thứ ba tương ứng với Trung Phẩm Bát Nhă trong cách phân định Cửu Bộ Bát Nhă.

4) Hội thứ tư (từ quyển 538 đến quyển 555), chia thành 29 phẩm, c̣n gọi là Bát Thiên Tụng Bát Nhă hoặc Tiểu Phẩm Bát Nhă.

5) Hội thứ năm (từ quyển 556 đến quyển 565), chia thành 24 phẩm, c̣n gọi là Tứ Thiên Tụng Bát Nhă. Hội thứ tư và thứ năm tương ứng với Hạ Phẩm Bát Nhă trong Cửu Bộ Bát Nhă, cũng nói tại núi Linh Thứu.

6) Hội thứ sáu (từ quyển 566 đến quyển 573), chia thành 17 phẩm, tương ứng với Thắng Thiên Vương Bát Nhă.

7) Hội thứ bảy (từ quyển 574 đến quyển 575), thường gọi là Mạn Thù Thất Lợi Phần, tương ứng với kinh Văn Thù Thuyết Bát Nhă. Phần này nói tại vườn Cấp Cô Độc.

8) Hội thứ tám (chỉ có quyển 576), c̣n gọi là Na Già Thất Lợi Bát Nhă, tương ứng với kinh Nhu Thủ Bồ Tát, cũng nói tại vườn Cấp Cô Độc.

9) Hội thứ chín (chỉ có quyển 577), được gọi là Năng Đoạn Kim Cang Phần, tức kinh Kim Cang.

10) Hội thứ mười (chỉ có quyển 578), được gọi là Bát Nhă Lư Thú Phần, c̣n gọi là Lư Thú Bách Ngũ Thập Tụng, tương ứng với kinh Lư Thú Bát Nhă. Hội này được nói trên cơi trời Tha Hóa Tự Tại.

11) Hội thứ mười một (từ quyển 579 đến quyển 583), gọi là Bố Thí Ba La Mật Đa Phần, nói tại vườn Cấp Cô Độc.

12) Hội thứ mười hai (từ quyển 584 đến quyển 588), c̣n gọi là Tịnh Giới Ba La Mật Phần, nói tại vườn Cấp Cô Độc.

13) Hội thứ mười ba (chỉ có quyển 589), c̣n gọi là An Nhẫn Ba La Mật Phần, nói tại vườn Cấp Cô Độc.

14) Hội thứ mười bốn (chỉ có quyển 590), c̣n gọi là Tinh Tấn Ba La Mật Phần, nói tại vườn Cấp Cô Độc.

15) Hội thứ mười lăm (quyển 591 và 592), c̣n gọi là Tĩnh Lự Ba La Mật Phần, nói tại núi Linh Thứu.

16) Hội thứ mười sáu (từ quyển 593 đến quyển 600), c̣n gọi là Bát Nhă Ba La Mật Đa Phần, nói tại Trúc Lâm tinh xá, tương ứng với kinh Thiện Dũng Mănh Bát Nhă.

 

 

[88] Đây là cách nói tỷ dụ chuyện áp đặt khiên cưỡng. Chuyện này bắt nguồn từ cách tạo tượng trong Đạo giáo, đa số các vị nam thần trong Đạo Giáo đều có râu dài. Để tạo tượng có râu, họ phải đục những lỗ nhỏ trên mặt tượng, nhét tóc người vào rồi dùng keo dính chắc để tạo một bộ râu đẹp cho pho tượng. Tổ có ư chê những bản chú giải trước đó do quá chấp nhặt văn tự, đă khiên cưỡng gán ghép các ư nghĩa giống như người cố ư gắn râu cho tượng thần vậy.

[89] Dây leo là thuật ngữ của Thiền Tông chỉ văn tự. “Thấu hiểu sâu cội gốc của dây leo” tức là đă hiểu rơ điều muốn diễn tả ẩn tàng trong ngôn ngữ, thấy được ư tại ngôn ngoại, chẳng mê muội chấp chặt từ ngữ.

[90] Bính Đinh đồng tử tức là Đăng Hỏa đồng tử. Do trong Ngũ Hành, hai thiên can Bính và Đinh thuộc hỏa, cho nên dùng Bính Đinh để tỷ dụ lửa.

[91] Trong Bách Pháp Minh Môn Luận, ngài Thiên Thân quy nạp hết thảy các pháp trong thế gian thành một trăm pháp. Sau đó, dựa theo tánh chất của chúng mà chia thành năm loại lớn, gọi là ngũ vị, tức tâm pháp gồm tám món, tâm sở pháp gồm năm mươi mốt món, sắc pháp mười một món, tâm bất tương ứng hành pháp gồm hai mươi bốn món, và vô vi pháp gồm sáu món.

[92] Tức sách Duy Thức Khai Mông Vấn Đáp do ngài Vân Phong soạn vào đời Nguyên, gồm hai quyển. Sách trích lục các điểm trọng yếu trong Duy Thức, chia thành một trăm mười vấn đề, lập thành vấn đáp để xiển dương ư chỉ. Sách này được coi là tài liệu trọng yếu để nhập môn Duy Thức.

[93] Ư nói: Sau khi quân Măn Châu chiếm được Trung Hoa, xác lập Thanh triều.

[94] Hàn Lô là tên một người khéo lùa chó săn thời Chiến Quốc. Người ta dùng cục đất ném chó, chó bèn đuổi theo cục đất, chẳng biết đuổi theo người. Nói “Hàn Lô đuổi theo cục đất” ngụ ư: Kẻ ngu muội chẳng biết quán tâm, cứ hư vọng truy cầu những thứ hư vọng, lăng phí tinh thần và thời gian.

[95] Ba đậu (purging croton) chính là cây bă đậu, c̣n gọi là mắc vát, cóng khói, cáng khỏi v.v… Đây là loại cây mọc hoang, quả màu vàng nhạt, khi chín sẽ tách thành ba mảnh vỏ. Hạt h́nh trứng dài chừng 10 mm, vỏ hạt cứng có màu nâu xám. Sở dĩ gọi là Ba Đậu v́ hạt có h́nh dạng giống hạt đậu, và cây mọc nhiều ở vùng Ba Thục (Tứ Xuyên). Hạt, lá và rễ cây có thể dùng làm thuốc.

[96] Tăng sĩ khoác ca-sa gồm nhiều mảnh vải may chằm lại, gọi là Nạp Y (áo chằm). Do đó, Tăng sĩ cũng được gọi là “nạp Tăng”.

[97] Nam Tử là người nước Tống, là vợ của Vệ Linh Công (Cơ Nguyên), từng thao túng chánh quyền nước vệ. Bà này là con gái của Tống B́nh Công (Tử Tuất). Do bà hết sức xinh đẹp, Vệ Linh Công hết sức sủng ái. Lại do Vệ Linh Công ngu tối, bà liền thừa cơ thao túng chánh quyền. Bà này háo sắc, thường tư thông với nhiều trai tráng, vua vẫn không màng. Tiếng xấu bà đồn thổi đến nỗi người dân lén gọi bà là “lợn cái”. Con trưởng của Vệ Linh Công là Khoái Hội lập mưu tính giết Nam Tử, sự việc bại lộ phải bỏ nước trốn đi. Vệ Linh Công chết, Nam Tử lập con của Khoái Hội là Công Tôn Chiếp làm vua, tức Vệ Xuất Công. Về sau, Khoái Hội mượn binh nước Tấn về đánh nước Vệ, giết chết Nam Tử, tự lập làm vua, Sử gọi ông ta là Vệ Hậu Trang Công. Vệ Xuất Công phải chạy sang nước Tề. Tuy tánh nết không ra gì, nhưng Nam Tử rất khâm phục Cừ Bá Ngọc là bậc hiền nhân, hết sức tôn trọng ông.

[98] Tức câu “học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?” (học rồi tùy lúc mà ôn tập, cũng chẳng vui sao?)

[99] Luyện tập cách viết chữ phỏng theo lối viết chữ của các nhà thư pháp trứ danh như phỏng theo Lan Đ́nh Tự của Vương Hy Chi, hay cách viết chữ của Nhan Chân Khanh, Tô Đông Pha v.v…

[100] Đây là một câu nói trong thiên Tử Hăn sách Luận Ngữ: “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ” (nước trôi như thế, ngày đêm chẳng ngừng), cảm khái đời người, thế sự biến hóa nhanh chóng, cũng hàm ư tiếc nuối thời gian. Khi đó, có một trận lụt lớn tại Lữ Lương, Khổng Tử dẫn học tṛ đến xem thế nước, thấy nước sông Tứ Thủy cuồn cuộn chảy như thế, Ngài bèn cảm khái thốt ra câu trên đây.

[101] Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa kinh.

[102] Ba anh em họ Viên là Viên Tông Đạo, Viên Hoằng Đạo, Viên Trung Đạo, là ba nhà văn nổi tiếng cuối đời Minh. Phong cách văn học của họ tạo thành một trường phái văn chương gọi là Công An Phái (do quê họ ở huyện Công An, tỉnh Hồ Quảng).

[103] Tam Tô là ba văn gia nổi tiếng thời Bắc Tống, tức Tô Tuân và hai con trai là Tô Thức (Tô Tử Chiêm, Tô Đông Pha) và Tô Triệt (Tô Tử Do, Dĩnh Tân Di Lăo)

[104] Trung Túc là thụy hiệu của Trần Quán.

[105] Thoạt đầu, do chưa hiểu Thiền, Trần Quán phần lớn hiểu công án theo văn tự, hoặc dùng ư kiến của chính mình để chú giải. Chỉ riêng đối với câu “Kim Cang dữ nê nhân giai bối” (Kim Cang và lau lưng tượng đất), ông không chú giải được, nên bị Thiền giả chê cười.

[106] Tam đại bộ tức là Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú, và Ma Ha Chỉ Quán.

[107] Diệu Lạc là biệt hiệu của ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, tổ thứ sáu của tông Thiên Thai. Do Ngài trụ tích tại chùa Diệu Lạc ở Thường Châu, chuyên giảng Pháp Hoa, người đương thời gọi Ngài là Diệu Lạc đại sư.

[108] Lục Triều là từ ngữ của người đời Đường tạo ra để gọi sáu triều đại trước thời Tùy - Đường, chủ yếu là nói đến các triều đại ở phương Nam Trung Hoa, gồm:

- Nhà Đông Ngô (c̣n gọi là Tôn Ngô, Tam Quốc Ngô) do Tôn Quyền sáng lập, tồn tại từ năm 229 đến năm 280, truyền được bốn đời vua, đóng đô ở Kiến Nghiệp (tức Nam Kinh hiện thời).

- Nhà Đông Tấn (317-420) do Tư Mă Duệ sáng lập (tức là tiếp nối của nhà Tây Tấn sau khi Hoa Bắc lần lượt bị các dân tộc ngoài biên ải, tức các sắc dân Nam Hung Nô, Bạch Nô, Đinh Linh, Thiết Phất, Lô Thủy Hồ, Thác Bạt Tiên Ty, Vũ Văn Tiên Ty, Khương, Phù Dư v.v… tràn vào Trung Hoa chia cắt lănh thổ, lập thành mười sáu quốc gia, sử gọi là Ngũ Hồ Thập Lục Quốc). Nhà Đông Tấn đóng đô ở Kiến Khang (Nam Kinh), truyền được mười một đời vua. Tới đời Tấn An Đế (Tư Mă Đức Tông) bị quyền thần Hoàn Huyền ép nhường ngôi. Hoàn Huyền đổi quốc hiệu thành Sở, sử thường gọi là nhà Hoàn Sở. Lưu Dụ khởi binh chinh phạt, giết chết Hoàn Huyền, khôi phục nhà Đông Tấn. Sau một thời gian, đến năm 420, Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế (Tư Mă Đức Văn), tự lên ngôi, đổi quốc hiệu thành Tống, tức nhà Lưu Tống.

- Lưu Tống (420-479), c̣n gọi là nhà Tiền Tống, do Lưu Dụ sáng lập, cũng đóng đô ở Kiến Khang, truyền được chín đời vua. Vua cuối cùng Lưu Chuẩn (Tống Thuận Đế) là con rối trong tay quyền thần Tiêu Đạo Thành, được ông ta đưa lên ngôi năm 477 rồi bị phế thành Nhữ Âm Vương năm 479. Tiêu Đạo Thành lên làm vua, đổi quốc hiệu thành Tề. Tháng Năm năm ấy, Lưu Chuẩn bị giết khi mới tṛn 12 tuổi.

- Nam Tề (479-502), c̣n gọi là Tiêu Tề, do Tiêu Đạo Thành sáng lập, cũng đóng đô tại Kiến Khang, truyền được bảy đời vua.

- Nam Lương (502-557), c̣n gọi là Tiêu Lương, Tiền Lương, hoặc Nam Triều Lương, do Tiêu Diễn (Lương Vũ Đế) sáng lập, đóng đô tại Kiến Khang, truyền được sáu đời vua.

- Trần (557-589), c̣n gọi là Nam Trần, do Trần Bá Tiên soán ngôi nhà Lương từ tay Lương Kính Đế (Tiêu Phương Trí), cũng đóng đô tại Kiến Khang, truyền được năm đời vua. Vua cuối cùng là Trần Hậu Chủ (Trần Thúc Bảo) si ám, ham ăn chơi, hưởng lạc, bị Tùy Văn Đế (Dương Kiên) xua quân Nam chinh, tiêu diệt nhà Trần, thống nhất Trung Hoa.

[109] Nam Cung Quát, c̣n có tên là Thao, tự Tử Dung, người nước Lỗ, là một trong bảy mươi hai đệ tử đắc ư của Khổng Tử. Ông được Khổng Tử xưng tụng là bậc quân tử, c̣n gả cháu gái cho.

[110] Chế Đài (制臺) là chức quan Tổng Đốc đời Minh - Thanh. Chức quan này c̣n gọi là Đốc Hiến, Chế Quân, Chế Đài, Soái, Tổng Chế, hoặc Bộ Đường. Theo quy chế đời Thanh, Tổng Đốc là chức quan hành chánh cao cấp nhất quản trị một tỉnh. Đầu thời Minh, quản lư quân vụ là quan vơ, nhưng dần dần sử dụng quan văn trông coi việc quân. Theo Đại Minh Hội Điển: “Lúc mới lập quốc, việc binh chuyên do quan vơ đảm nhiệm. Về sau, thường dùng quan văn trông nom. Quan văn th́ chỗ quan trọng gọi là Tổng Đốc, chỗ kém hơn gọi là Tuần Phủ. Tổng Đốc trước kia gọi là Quân Môn. Nhưng Tuần Phủ chỉ coi quản lư quân vụ, hoặc là Đề Đốc”. Về sau, Tổng Đốc mới kiêm quản trị dân sự.

[111] Y thông là một trong năm loại thần thông hữu lậu:

1) Phục thông: Đời trước đă từng tu luyện, tới đời này lại hiện thần thông.

2) Tu thông: Do tu luyện mà đạt được thần thông.

3) Quỷ thông: Do bị quỷ mị dựa, hoặc chính là quỷ giả hiện làm người tu, biểu lộ thần thông.

4) Yêu thông: Thần thông của loài yêu quái.

5) Y thông: Nhờ vào sức thuốc, chú lực, hoặc các biện pháp huyễn thuật khác như vận dụng ánh sáng, âm thanh, quy luật để biểu lộ huyễn thuật.

Theo Hồ Ứng Lân trong tác phẩm Thiếu Thất Sơn Pḥng Bút Tùng có nói: Vào đời Minh, trong Thiền Tông có người tên Ngộ Minh chuyên dùng y thông để dụ dỗ người khác theo hắn học đạo.

[112] Thời Châu Thành Vương (Cơ Tụng), Châu Công Đán là chú (Cơ Đán là em của Cơ Phát (Châu Vũ Vương), Cơ Tụng là con trai Cơ Phát) phù tá nhà vua, vận dụng lễ nhạc, quy định những khuôn khổ, chuẩn mực trong xă hội, quy tắc ứng xử, lễ nghi, h́nh thành một hệ thống quản trị tốt đẹp, tạo thành thời thịnh trị được gọi là Thành Khang chi trị (tức hai đời vua thịnh trị Châu Thành Vương và Châu Khang Vương). Ở đây, tổ Ngẫu Ích dùng ba triều đại để đánh giá các bản chú giải, bản chỉ nêu được đại cương th́ gọi là “tương tự đời Hán”, bản nêu ra các chi tiết chi ly th́ gọi là “tương tự đời Đường”, bản nói lên được điều cốt lơi th́ gọi là “lễ nhạc thời Thành Châu”.

[113] “Hán tạp bá đạo” là cách nói phê phán đường lối cai trị từ thời Hán Vũ Đế trở đi, chuyên chú trọng h́nh pháp, đề cao vương quyền, xử sự độc đoán, thủ đoạn tàn nhẫn, ḥng đạt tới mục đích mà thôi, không coi trọng các cách cai trị nhân từ như thời Châu (thường gọi là vương đạo). Từ ngữ này vốn phát xuất từ một câu nói của Hán Nguyên Đế. Khi thái tử Nhu Nhân trong một bữa tiệc đă khuyên vua cha đừng nên quá coi trọng bọn pháp gia (chủ trương dùng h́nh phạt và pháp luật để cai trị) để rồi dùng h́nh phạt quá nghiêm khắc với thuộc hạ, hăy nên trọng dụng Nho sĩ, cai trị bằng ḷng nhân ái. Hán Nguyên Đế giận dữ quát: “Nhà Hán tự có chế độ riêng, vốn dùng vương đạo và bá đạo xen lẫn, sao có thể dùng thuần sự giáo hóa bằng đức, áp dụng kiểu cai trị của nhà Châu ư?” Ở đây, Tổ mượn thành ngữ này để phê phán bản sớ giải chứa đựng những ư kiến cực đoan, chưa dung thông.

[114] Những thành ngữ này đều nhằm nói lên ư nghĩa: Đại thể tốt đẹp, dẫu có một vài khuyết điểm nhỏ, nhưng đừng nên vứt bỏ.

[115] Văn bản tiếng Hán thời cổ không có dấu chấm câu. Do đó, nếu không đọc kỹ, hoặc không giỏi văn tự, sẽ dễ hiểu lầm ư nghĩa. Nhằm tạo thuận tiện cho người đọc, khi in các kinh sách, thường mời người thông hiểu chấm câu trước khi in.

[116] Hán Minh Đế (Lưu Trang) mộng thấy người vàng chiếu hào quang, bay qua, bay lại trước điện. Sáng ra, vua hỏi các quan. Các quan tâu Tây Phương có thánh nhân gọi là Phật. Vua bèn phái Thái Âm sang Tây Trúc cầu pháp, thỉnh hai vị sa-môn Trúc Pháp Lan (Dharmaratna) và Ca Diếp Ma Đằng (Kāśyapa Mātaṇga) sang Trung Hoa vào năm Vĩnh B́nh thứ mười (67) truyền đạo Phật, khởi sự dịch kinh Phật.

[117] Thạch Công là biệt hiệu của Viên Hoằng Đạo.

[118] Đây là một thành ngữ hàm ư: Người sống ở nơi hoang dă, quá tịch mịch, nghe có tiếng bước chân người liền mừng rỡ. Về sau, từ ngữ được dùng theo ư nghĩa mở rộng là hiếm có, khó được!

[119] Dó c̣n gọi là ró, cốc, cấu, dâu giấy, lộc tử, dướng (paper mulberry), có tên khoa học là Broussonetia papyrifera, là một loài cây gỗ trong họ Dâu Tằm (Moraceae), mọc nhiều ở Đông Á. Cây có thể cao tới 15m, có hoa đực và hoa cái mọc riêng rẽ, quả có thể ăn được, vị ngọt, màu đỏ hay cam. Người ta thường tách vỏ cây để làm giấy. Người dân đảo Fiji c̣n dùng sợi chế từ vỏ cây này để bện quần áo.

[120] Tổ Ngẫu Ích có một biệt hiệu là Tây Hữu đạo nhân. Gọi là Tây Hữu là v́ dựa theo kinh A Di Đà nói qua khỏi mười vạn ức cơi ở phương Tây, có thế giới tên là Cực Lạc.

[121] Giải Tấn (1369-1415), tự là Đại Thân, hiệu là Xuân Vũ, là vị thủ phụ nội các (tương đương với thừa tướng) đầu tiên của nhà Minh. Ông chủ biên các bộ Minh Thái Tổ Thực Lục, Vĩnh Lạc Đại Điển v.v

[122] Đại Thừa Khởi Tín Luận (Mahāyāna śraddhotpāda śāstra) do Mă Minh Bồ Tát trước tác dựa theo giáo nghĩa trong kinh Lăng Già. Luận này có hai bản dịch:

1) Bản dịch do ngài Chân Đế Tam Tạng dịch vào đời Lương trong năm Thanh Thái thứ tư (550). Bản này được gọi là Lương dịch.

2) Bản dịch đời Đường do ngài Thật Xoa Nan Đà dịch, gọi là Đường dịch.

[123] Dịch Thu (không rơ năm sanh và năm mất) là cao thủ nổi tiếng chơi cờ vây thời Chiến Quốc. Chỉ biết ông là người nước Lỗ, Mạnh Tử trong thiên Cáo Tử có nhắc tới Dịch Thu khi giảng giải về đạo lư trị quốc: Dịch Thu dạy cờ cho đệ tử, một người chuyên tâm dốc chí, tích cực nghe giảng, một người vừa nghe vừa lo ra, do vậy, tŕnh độ chơi cờ sai biệt rất lớn.

[124] Tức là cùng một bản kinh mà có nhiều người phiên dịch khác nhau, chẳng hạn kinh Kim Cang có đến sáu bản dịch khác nhau, kinh Vô Lượng Thọ có mười hai bản dịch v.v…

[125] Đây là các từ ngữ dùng để chỉ cấu trúc trong cách phân tích ngôn từ theo quan điểm của Ấn Độ. Danh (nāman) là từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng v.v…, thường là một chữ đơn. Cú (pada) là tập hợp của nhiều danh, diễn tả một ư nghĩa trọn vẹn, chẳng hạn như “chư hành vô thường”. Văn (vyañjana) là âm tiết (syllable), hoặc tự mẫu. “Thân” có nghĩa là tập hợp. Văn thân tức là tổ hợp của hai danh trở lên, hoặc là tổ hợp từ hai Cú trở lên.

[126] Tử Dư là tên tự của Tăng Sâm, đệ tử đắc ư của Khổng Tử.

[127] Mùa Thu khiến cho lá vàng úa rơi rụng, cổ nhân gọi đó là “túc sát”.