Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 7

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

16. Đề từ và lời bạt

* Ghi sau bài huyết thư thọ giới của thiền sư Đối Phong

 

          Tâm, Phật chúng sanh, vốn chẳng sai biệt; do chẳng thấu đạt tự tánh thanh tịnh, bị khách trần nhuốm bẩn, bèn có thăng trầm trong tam giới. V́ thế, muốn thoát ṿng khổ, không ǵ bằng tŕ giới trước hết. Muốn thanh tịnh giới căn, không ǵ bằng hối lỗi trước. Kinh dạy: “Ba La Đề Mộc Xoa là đại sư của đại chúng”. Lại nói: “Hữu nhị chủng kiện nhi: Nhất, tự bất tác tội. Nhị, tác dĩ năng hối” (có hai loại người mạnh mẽ: Một là tự chẳng tạo tội, hai là đă làm mà có thể sám hối). Thời Mạt, đă hủy phạm hạnh, lại chú trọng che giấu, chép vào non cao, giấu ngoài biển cả. Dẫu gặp thiện tri thức chân thật, sao có thể cứu vớt được ư?

Lời thề viết bằng máu của thiền sư Đối Phong trải qua gần bốn mươi năm, nét chữ vẫn như mới. Thoạt đầu, [bản chép lời thề ấy] được truyền cho ngài Giám Không Ninh, rồi truyền cho ngài Trí Độ Hoằng. Nếu chẳng nhờ vào đại nguyện kiên cố, sẽ chẳng thể được như thế! Kinh Phạm Vơng dạy: “Minh nhân nhẫn huệ cường, năng tŕ như thị pháp” (người sáng suốt, nhẫn huệ mạnh mẽ có thể tŕ pháp như vậy), há chẳng đúng như vậy ư? Bài văn này sẽ cùng với giới tánh bất hoại, khiến cho khắp mọi người được thấy nghe trong vị lai sẽ cùng ngộ tự tánh thanh tịnh giới thể, chẳng khác đích thân bẩm thọ trước Tử Bách đại sư vậy!

 

* Lời bạt khắc in kinh Thập Nhị Đầu Đà

 

          Đầu Đà có ư nghĩa “rũ phủi trần lao”, gồm mười hai pháp, tôn giả Ca Diếp suốt đời phụng hành. Đức Thế Tôn nói “chánh pháp trụ thế, hoàn toàn nhờ vào vị này. Cho đến lúc vận mạt, [thế gian] hư vọng gọi người để râu tóc là Đầu Đà[1], c̣n chẳng biết giới tỳ-kheo là chuyện như thế nào, huống hồ pháp Đầu Đà ư? Tôi tuy căn cơ kém cỏi, chỉ tŕ một hai phần, nhưng mỗi phen mở ra xem, sẽ là một phen cảm động, hổ thẹn, mong cũng sẽ giống như các vị hiền đạt. Sao lục, khắc in lần nữa để lưu hành, kính nguyện người thấy, nghe, tùy hỷ, sẽ phát tâm tăng thượng, phụng tŕ phần nào, ngơ hầu chẳng mấy chốc sẽ có thể trùng hưng chánh pháp!

 

* Lời bạt sau bản kinh chép bằng máu (viết cho Cự sa-di)

 

          Thường nghĩ đại pháp khó gặp như hoa Ưu Đàm. Mùa Thu năm Mậu Th́n (1628), trích máu từ đầu lưỡi, chép các kinh Phạm Vơng, Địa Tạng v.v… Nay chỉ được vài phẩm, gộp lại thành sách. Đầu tiên là chương Quyết Định Minh Hối[2], kế đến là phẩm An Lạc Hạnh, Thập Nhị Đầu Đà, Bát Đại Nhân Giác, và Đại Thừa Giới Kinh. Bởi lẽ, để cắt đứt nguồn các ác, rộng hành đạo từ bi. Kế đó là hội Bảo Hoa Phu[3], được nghe danh hiệu của mười phương Phật, kết thúc bằng chương Thế Chí Viên Thông, nhiếp quy Tây Phương Tịnh Độ. Ôi! Trọn đủ các giới hạnh, đọc tụng Phương Đẳng, thượng thượng phẩm văng sanh nhờ vào bằng khoán này. Nhưng ngài Thiên Thai nói: “Mỗi một sanh nhân (cái nhân để được văng sanh) đều được phán định thành chín phẩm, tùy thuộc đối trị Hoặc cạn hay sâu mà chia thành địa vị thấp hay cao”. Do vậy, ba bậc, bốn cơi, đất báu, nghi thành, chỉ chú trọng cái tâm, chẳng luận sự, là do chẳng cô phụ một niệm ban đầu hoan hỷ kính cẩn tiếp nhận đó thôi! Chắp tay ghi lời bạt.

 

* Lời bạt cho Thủy Tâm Tŕ Kim Cang Kinh

 

          Kể từ khi Ngũ Tổ dùng kinh Kim Cang Bát Nhă để ấn tâm, kinh này liền thành của báu trong cơi đời. Nhưng người đời hiểu theo văn tự, cứ một mực gạt bỏ tướng để nói rơ Không, hết sức đánh mất ư chỉ “vô trụ sanh tâm”. Kinh dạy: “Hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới, tu phước, ư thử chương cú, năng sanh tín tâm” (năm trăm năm sau, có người tŕ giới, tu phước, đối với chương cú này có thể sanh tín tâm). Lại nói: “Phát Bồ Đề giả, bất thuyết đoạn diệt” (Phát Bồ Đề là chẳng nói đoạn diệt). Ôi! Chỉ hai lời ấy đă đáng để suy nghĩ. Bởi lẽ, vô trụ vượt khỏi chấp Hữu của phàm phu, ngoại đạo, sanh tâm vượt thoát sự ch́m đắm trong cái Không của Nhị Thừa. Vô trụ th́ mười giới đều “chẳng phải”, sanh tâm th́ mười giới đều “chính là”. Ngăn, chiếu đồng thời, chúng sanh và Phật chẳng hai, giữa ḍng và đôi bờ nhất loạt cắt đứt. Hăy nên biết: Văn Tự Bát Nhă (muôn h́nh tượng, muôn hạnh, cùng với âm thanh, một chấm, một vạch, đều cùng gọi là Văn Tự Bát Nhă), chẳng một, chẳng khác với Quán Chiếu Thật Tướng. Thọ tŕ như thế sẽ có thể cứu chữa khuyết điểm của Không Tông vậy!

 

* Lời bạt giảo chánh, khắc in quyển thượng và quyển hạ kinh Phạm Vơng

 

           Kinh Phạm Vơng được lưu truyền nơi Đông Độ do ngài La Thập khởi xướng, nhưng riêng quyển Hạ được hoằng truyền do ngài Trí Giả khởi đầu. Thời ngài Trí Giả, đạo pháp hưng thịnh, căn tánh nhạy bén, mọi người tinh thông giáo điển, thấu hiểu uyên bác Đại Thừa; do đó, Ngài riêng nêu giới tướng khinh, trọng để tiện hành tŕ. Người hiện thời căn tánh ngày càng độn, học pháp ngày càng bỏ phế, đăng đàn thọ giới chỉ khoác lấy hư danh, đối với pháp môn Tâm Địa mờ mịt chẳng hiểu biết. Đă chẳng thể học rộng, nghe nhiều, ngay cả quyển thượng c̣n chẳng để vào mắt, sao có thể đối với ba mươi tâm, mỗi mỗi đều hiểu pháp dụng theo thứ tự? Mỗi điều đều chẳng hiểu, chẳng biết hết thảy các pháp, tức là tự dối gạt mà cũng là gạt gẫm người khác, nghiễm nhiên xưng là Bồ Tát giới tử, há chẳng phải là nhuốm bẩn giáo pháp cao tột ư?

Tôi lạm khoác pháp phục, tâm người nước Kỷ[4] lo âu tha thiết, tính hợp chú quyển thượng và quyển hạ, và cũng tính khắc chánh kinh. Nhưng quyển thượng do bị ẩn kín đă lâu, “lỗ ngư” c̣n ít, chứ quyển hạ truyền tụng trong đời, “hợi thỉ”[5] rất nhiều! Chỉ có cổ bản của ngài Vân Thê khéo hợp với sách Nghĩa Sớ, đích xác là có thể nương theo. Hơn nữa, sách Nghĩa Sớ từ phần kệ tụng mở đầu, nhân duyên khiến cho kinh có tên Phạm Vơng đă được chỉ bày trong quyển thượng. Nhưng quyển thượng trong Đại Tạng kết thúc bằng Thập Địa, đem phần kinh văn phó chúc phụng tŕ ngược ngạo đặt vào đầu quyển hạ. Nay ngẫm kỹ văn nghĩa, từ những điều được nói trong phẩm Hiền Kiếp trở đi, đích xác là phần kinh văn kết lại của quyển thượng. Từ “nhĩ thời Thích Ca” (lúc bấy giờ Phật Thích Ca) trở đi, đích xác là phần Tự của quyển hạ. Kính dùng bản Đại Tạng đă khắc trong mỗi triều đại vốn thường chia một quyển thành hai quyển, nay tôi theo lệ, hợp hai quyển thành một quyển, dựa theo ư nghĩa để phân định tiết, đoạn. C̣n như giới tướng trọng, khinh vốn là cách phân khoa của các nhà sớ giải, trong Đại Tạng vốn chẳng có, chẳng nên lén lút đưa vào kinh, nhưng có thể xếp riêng sau kinh. Hơn nữa, giới tướng ấy do tiên hiền truyền lại, người trí tuân theo đă có sự bất định. Nay nương theo Luật Tạng để suy xét, phân tích, cũng chẳng phải là không có ǵ chẳng thể thương lượng, trong phần chú giải mỗi điều, tôi sẽ châm chước, chọn lựa. Nguyện khắp những ai thấy, nghe, tùy hỷ, đọc tụng, thọ tŕ, sẽ cùng ngộ Phạm Vơng minh châu, nhanh chóng khế hợp bổn nguyên tâm địa.

 

* Lời tựa cho bản in gộp chung các kinh Đầu Đà, Di Giáo, Phạm Vơng

         

          Cư sĩ Liên Châu chép rồi khắc in kinh Phạm Vơng, lại c̣n khắc gộp chung kinh Đầu Đà Di Giáo. Có kẻ bàn rằng: “Đại Thừa và Tiểu Thừa dạy bảo khác biệt, chỉ thú khác biệt một trời, một vực. Kinh Phạm Vơng lợi sanh, dính dáng cơi tục, chẳng xả trần lao. Kinh Di Giáo và Đầu Đà gạt bỏ ngoại vật, chỉ mong tự giác ngộ. Tách rời nhau th́ đôi bên cùng tốt đẹp, gộp lại th́ đôi đằng đều bị tổn thương. Nay gộp chung thành một bản, chẳng khiến cho người đọc tụng khóc ṛng nơi ngă rẽ ư?” Có người giải thích rằng: “Nhị Thừa tuy khác biệt, cùng do kim khẩu. Mặt trời, mặt trăng soi chiếu, cùng vận hành chẳng trái nghịch”. Lại giải rằng: “Bồ Tát có hai loại, trí tăng thượng th́ trước Không, sau Giả. Bi tăng thượng th́ trước Giả, sau Không. Phương tiện có nhiều cửa, trở về nguồn chẳng hai!”

Ôi! Đấy đều là chẳng thấu đạt ư chỉ vi nhiệm của thánh giáo, chưa biết ư nghĩa tột cùng của việc lưu thông. Phàm cứu người té giếng, Tuyên Ni có điều ǵ chẳng phù hợp, ở ngoài cái ṿ lại chuyển một cái ṿ[6], cả cơi đời hay biết, há kẻ chính ḿnh có bệnh nhưng chẳng chữa mà lại có thể chữa bệnh cho người khác được ư? Anh nhi, bệnh hạnh[7], cùng phù hợp với thánh hạnh và bệnh hạnh, chưa hiểu rơ thiên hạnh, chỉ tăng thêm hư luận! Do vậy, trong hội Hoa Nghiêm, nhị Phổ xướng họa[8], gọi là Ly Thế Gian: Chẳng dựng tràng tinh tấn, tuân phụng giới viễn ly, sao có thể thâm nhập tâm địa? Nắm tay Tam Hiền, Thập Thánh, chẳng bị ái kiến cắn nuốt ư? Bồ Tát Giới Bổn Kinh dạy: “Thanh Văn thâm nhạo Niết Bàn, úy yếm phiền năo, bách thiên vạn bội, bất cập Bồ Tát thâm nhạo Niết Bàn, úy yếm phiền năo” (Thanh Văn yêu thích Niết Bàn sâu xa, chán sợ phiền năo. Trăm ngàn vạn lần chẳng sánh bằng Bồ Tát yêu thích Niết Bàn sâu xa, chán sợ phiền năo), ư nói: Các vị Thanh Văn chỉ v́ tự lợi. Bồ Tát chẳng như vậy, mà v́ trọn khắp chúng sanh. Các Ngài tu tập tâm chẳng ô nhiễm, hơn hẳn A La Hán thành tựu hữu lậu, ĺa các phiền năo. Đọc một chương này, các mối nghi sẽ nhanh chóng tháo gỡ. Ba kinh vừa khéo thành tựu lẫn nhau, chẳng trước, chẳng sau. Gộp lại th́ tốt đẹp đôi bề, tách ra th́ đôi bên cùng bị thương tổn. Nguyện người đọc tụng dùng cái tâm chẳng chấp trước để hành Bồ Tát đạo, dùng Bồ Đề tâm tu hạnh viễn ly. Như Phổ Môn thị hiện “chiếu Ngũ Uẩn đều không để độ khổ ách”, từ dưới đất vọt lên cao, trụ trong hư không ở phương dưới hoằng dương Pháp Hoa, chẳng chỉ là Xuân lan, Thu cúc, mà chính là thở cùng một lỗ mũi vậy!

 

* Lời tựa cho bản kinh Pháp Hoa chép bằng máu của Kư Nam khai sĩ

 

          Dùng máu chép một pháp, nhiếp quy vào Phổ Hiền hạnh hải, sắp bày rành rẽ giới chương Phạm Vơng. Chỉ riêng nguyên do là chưa được nêu bày, đến nỗi lũ cuồng huệ miệt thị là hữu tướng! Phàm căn bản sanh tử từ vô thỉ, không ǵ nặng bằng Thân Kiến. Diệu pháp xuất thế không ǵ bằng trước hết đập nát núi Tát Ca Da. Tát Ca Da Kiến (Satkāya-dṛṣṭi, Thân Kiến) đă phá, ṿng quay sanh tử vĩnh viễn chấm dứt. Đó gọi là “tôn trọng chánh pháp”, gọi là “dùng pháp để cúng dường Như Lai”. Pháp Hoa, Lăng Nghiêm tán thán sâu xa chuyện đốt cánh tay, ngón tay, và công đức đốt hương cũng v́ cớ này! Hoặc là nói “chặt tay phiền năo, đốt thân vô minh”, há cứ phải khăng khăng là thân máu thịt ư? Trọn chẳng biết chúng sanh kết tập sâu dày, máu thịt hư huyễn như chất mỡ che lấp con mắt, bản thể của nó chính là vô minh phiền năo.

Vị tăng hỏi ngài Tử Bách: “Như thế nào là căn bản sanh tử?” Đáp: “Chỉ là cái thân của ông!” Tăng hỏi: “Như vậy th́ chết rồi sẽ thoát sanh tử?” Sư nghiêm mặt, quát to! Than ôi! Tác dụng của bậc đại nhân há hạng người nghĩa học biết nổi! Bởi lẽ, thật sự từ nửa bài kệ mà ngộ thấu triệt, cho nên dạy người tự nhiên càng thân thiết! Người có thể trích máu, đốt hương, dẫu chưa hiểu lư, cũng là tiền phương tiện để phá địch. Nếu cao giọng đàm luận lư tánh, chẳng nhập hạnh môn, núi cao Thân Kiến sẽ do đâu mà nát vụn? Tôi thường thấy diệu hạnh này, ắt thâm tâm tùy hỷ. Huống hồ Diệu Kinh (kinh Diệu Pháp Liên Hoa) [nói] khai Quyền hiển Thật, giơ tay, cúi đầu đều thành Phật đạo. Người có thể phát trọn cái tâm này, hành chuyện này, không chỉ hội Linh Sơn chưa tan, nào biết nơi biên địa Chi Na, chẳng có ba lượt biến hóa mà thành Tịnh Độ! Khai sĩ Kư Nam chính là cháu của ngài Tử Bách, ắt có thể ngộ ư của một tiếng quát. Năm nào [ông ta] ngồi đạo tràng, ngài Tử Bách sẽ khiến ṭa tháp báu ấy vọt lên để làm chứng vậy!

 

* Lời bạt cho cư sĩ Vân Lộc tŕ Kim Cang kinh

 

          Kinh Đại Bát Nhă dạy: “Hữu Bồ Tát thành tựu khai trí, nhất cú trung giải vô lượng nghĩa. Hữu thành tựu diễn trí, nhất cú nghĩa tác vô lượng thuyết” (Có Bồ Tát thành tựu khai trí, từ trong một câu hiểu vô lượng nghĩa. Có vị thành tựu diễn trí, từ trong ư nghĩa của một câu mà nói thành vô lượng). Do vậy một pháp Bát Nhă hoặc nói thành sáu trăm quyển, hoặc nói ba mươi quyển, hoặc nói một quyển, hoặc nói một chương, rộng, lược tuy khác nhau, nhưng đều tương ứng với Bát Nhă rất sâu, giống hệt như nhau! Nếu đạt được khai trí và diễn trí, sẽ là nhiều hay ít vô ngại. Nếu chỉ thấy là văn tự th́ chỉ hai chữ Bát Nhă đă tự là dây leo, chẳng phải là đă phạm lỗi “vịn cành, nắm lá” rồi ư? Pháp sư thời Mạt tâm chẳng thật sự ngộ, chỉ hướng theo tai miệng mà khởi lên kiến giải, hoặc chuộng văn tự rườm rà, hoặc ưa giản lược, đều gọi là Biến Kế t́nh chấp, sẽ do đâu mà nhập trí huệ của Phật?

Trí huệ của Phật như người có mắt, ánh mặt trời chiếu sáng, thấy đủ loại sắc, từ trong một mà hiểu vô lượng, từ trong vô lượng mà hiểu một. Trong rừng gai góc, thẳng lưng vượt qua; trên đất trắng sạch, chẳng lưu dấu tay, sao lại xả một đằng này, theo một đằng kia mới khoe là thẳng, chóng ư? Kinh Duy Ma dạy: “Vô ly văn tự thuyết giải thoát” (chẳng ĺa văn tự để nói giải thoát). Kinh Pháp Hoa dạy: “Ngôn từ tướng tịch diệt” (tướng ngôn từ tịch diệt). Do vậy biết: Bậc tứ y đại sĩ hoằng diễn khoa chương, nói ngang, nói dọc, đều chẳng mâu thuẫn Bát Nhă! Kẻ chưa thông đạt, tự vướng mắc bởi dây leo, chẳng phải là lỗi của thuyết pháp. Nếu quét sạch, chúng sanh chỗ nào cũng sanh chấp trước, đối với lời lẽ trọng yếu, càng trầm trệ trong t́nh trần. Cổ nhân nói: “Nếu coi ‘chẳng lập văn tự’ là cao. Chỉ hai chữ ‘chẳng lập’ đă chính là văn tự!” Phế nhiều, chấp ít, si chấp càng sâu.

Nguyện [người học sẽ] do một chương Tâm Kinh tiến lên thành một quyển Kim Cang, lại tiến lên thành Ma Ha Bát Nhă ba mươi quyển, Đại Bát Nhă sáu trăm quyển, đối với Tam Tạng mười hai bộ đều thấu triệt cùng tận ư chỉ sai biệt nơi ngôn thuyết đều quy vào tông “lư tánh Bát Nhă” th́ Văn Tự, Quán Chiếu, Thật Tướng, sẽ nêu ra một chính là ba, nói ba chính là một, phải trái đều gặp nguồn chẳng thể nghĩ bàn! Ǵ là căn bản? Ǵ là cành nhánh? Xem những kẻ khư khư chọn lấy bản đơn giản, dễ dàng, tự xưng là thẳng thừng minh bạch, chẳng khác vua Dạ Lang[9] vậy. Kệ rằng: - Thái A[10] trong vỏ đă uy phong, vung hướng Đương Dương[11] chẳng phải mài, rễ đốt quanh co đều đứt sạch, cắt nát hư không chẳng vết hằn”.

 

* Lời bạt tự soạn cho Bạch Ngưu Thập Tụng

 

          Học đạo đă chẳng thể vụn vặt, mà cũng chẳng thể lỗ măng! Chư Phật thuyết pháp, có khi nói thí dụ một phần, có khi nói thí dụ toàn phần. Công án chăn trâu có thể sánh ví cơ duyên của tông thừa trong hiện thời, mà cũng có thể sánh ví sự tu chứng Phật đạo trong A-tăng-kỳ kiếp! Huống hồ người căn cơ Viên giáo khéo siêu việt, tuy sáu mà thường tức, há do Viên Dung mà trở ngại Hàng Bố, ắt phải ôm giữ ḷng tăng thượng mạn đối với lư tánh th́ mới gọi là “chẳng rơi vào các giai vị” ư? Có người chê trách các bài tụng này phối ứng với từng địa vị, chẳng giống như khí tượng của nạp tăng. Tôi bèn nói: “Mừng cho lăo huynh hiểu Tổ Sư Thiền, chứ đối với Như Lai Thiền chưa hề mộng thấy!”

 

* Lời Bạt tự ghi cho Trùng Định Thọ Bồ Tát Giới Pháp

 

          Trộm thấy tỳ-kheo thọ giới, luật có nghi thức nhất định. Năm bộ tuy sai khác, [chỉ là] đại đồng tiểu dị. V́ thế, hăy nên chuyên tuân theo Tứ Phần, tước bỏ những phần kinh văn rườm rà bị trộm đưa vào sau này. Cách thọ Bồ Tát giới, kinh luận mỗi đằng mỗi khác! Phạm Vơng, Anh Lạc, Địa Tŕ, Thiện Giới[12] và Tâm Địa Quán[13] v.v… nhằm thích ứng căn cơ sai khác, tường tận hay giản lược khác biệt! Do vậy, ư chỉ chế định, giáo hạnh v.v… mỗi mỗi đều thuận theo ư ḿnh mà lập thêm khoa, điều, tuy văn từ đẹp đẽ, ư nghĩa tường tận, nhưng xét đến tột cùng th́ hoặc là nghĩa do văn từ [rườm rà] mà ẩn, đâm ra chẳng thẳng thừng, nhanh chóng bằng kinh, luận. Nay cách thọ Phạm Vơng đă thất truyền, chỉ c̣n h́nh bóng đại lược. Chỉ có Địa Tŕ và Anh Lạc là đích xác có thể nương theo đó để truyền thừa. Kính châm chước từ ba nhà (tức ba bản kinh Phạm Vơng, Địa Tŕ và Anh Lạc) để dung hội thành một cách thức, ngơ hầu tường tận mà đơn giản vừa đúng, để người trao, kẻ nhận đều hiểu rơ ràng, giản dị, tránh khỏi lỗi tạp loạn, thiếu thứ tự!

 

* Lời bạt tự ghi cho sách Phạm Vơng Hợp Chú

 

          Bổn nguyên tâm địa mọi chúng sanh hàm thức đều cùng có. Tánh giới vô nhiễm tuy sử dụng hằng ngày mà chẳng biết. Do mắt có màng mộng mà [thấy có] hoa đốm quay cuồng trên hư không. [Luân Vương nằm] mộng làm thân kiến t́m thứ tanh tưởi dưới thềm, nhưng cái Thể quang đăng vẫn y hệt, thân Luân Vương vẫn y như cũ. Buồn thay vọng Hoặc, oan uổng hứng chịu huyễn luân, nhọc nhằn đức Từ Tôn hiện thân cùng chịu hoạn nạn, thị hiện thành Phật chẳng mệt mỏi trong tám ngàn [lần][14], rủ ḷng hóa hiện chẳng thiên vị trong các cơi nhiều như vi trần. Một giọt tâm địa đă phô bày, trầm mê tích tụ bao kiếp liền lập tức tỉnh. Nhưng rương đựng sách kiên cố đă lâu, chỉ phô bày nửa viên châu[15]; hiềm rằng tôi ngu muội, mong được thấy toàn bộ của báu, bèn dốc sạch tâm tư, cạn hết căn cơ, góp một hạt bụi vào non Thái. Nghĩ pháp duyên chẳng dễ dàng, nước mắt liền giàn giụa. Nguyện những người cùng nghiệp với tôi, hăy suy nghĩ sâu xa, tận lực học tập, giải và hạnh cùng tuân, ḿnh và người đều lợi lạc, ngơ hầu trên báo ân Phật, chẳng phụ linh tánh của chính ḿnh.

 

* Lời bạt cho chuyện Tích Như khai sĩ khắc in sách Bát Nhă Chiếu Chân Luận

         

          Bát Nhă vô danh, hết thảy các pháp đều là tên riêng của Bát Nhă. Hết thảy các pháp chẳng có Thể, Bát Nhă chính là tự thể của hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp chẳng thể gọi tên. Do đó, Bát Nhă cũng chẳng thể đặt tên. Bát Nhă chẳng có cái Thể riêng. V́ thế, hết thảy các pháp đều chẳng có cái Thể riêng. Cơi đời có kẻ muốn nhờ vào ngôn ngữ, hoặc dứt tuyệt ngôn ngữ để hiển thị Bát Nhă, đều là chẳng thấu đạt tam đức viên dung của Bát Nhă rất sâu.

Thế nào là tam đức viên dung? Một là Thật Tướng Bát Nhă, gọi là Pháp Thân đức. Hai là Quán Chiếu Bát Nhă, gọi là Bát Nhă đức. Ba là Văn Tự Bát Nhă, gọi là Giải Thoát đức. Ba đức ấy chẳng phải là ba, mà cũng chẳng phải nhất định là một, do hết thảy đều là Thật Tướng, đều là Quán Chiếu, đều là Văn Tự. Do đó, sáu trăm quyển chẳng nhiều, hai trăm sáu mươi mấy chữ chẳng ít! Thậm chí hậu hiền trước thuật, không chừng đến mấy chục hoặc cả trăm vị, hễ hiểu th́ mỗi chữ đều là tháo niêm, chẳng hiểu th́ mỗi chữ càng thêm trói buộc. Chiếu Chân Luận của Trừng công cũng là một trong số đó. Nguyện người thấy [sách ấy] lập tức tương ứng với Bát Nhă rất sâu, chẳng c̣n nhờ vào ngôn ngữ hay dứt bặt ngôn ngữ để hiểu. Nếu đối với chuyện này mà chẳng nhờ, chẳng dứt tuyệt, th́ sáu trăm quyển hay cả Đại Tạng đều chẳng nhờ hay dứt tuyệt được! Một đốm lửa thiêu trọn khắp cánh đồng đấy nhé!

 

* Lời bạt cho bản kinh Pháp Hoa chép bằng máu

 

          Hết thảy lời Phật đều là tṛng mắt cho các chúng sanh, là huệ mạng của ngàn vị thánh, huống hồ vô thượng diệu pháp ư? Hết thảy đọc, tụng, thọ tŕ đều là cái nhân chân thật của Bát Nhă, là bè báu để thoát khổ. Huống hồ trích máu làm mực ư? Thiền nhân đuổi bắt cái hư huyễn, cao giọng bàn danh, Lư, chẳng biết thật hạnh, họ là kẻ chưa ngộ Lư! Nếu họ thật sự ngộ Lư, hết thảy các hạnh sẽ không ǵ chẳng phải là diệu lư, có sự tướng ǵ để loại trừ bớt, có lư tánh nào để có thể đề cao ư? Huống hồ từ vô thỉ, ngă chấp của chúng sanh luôn nặng nề. Dù Tông hay Giáo, đều gấp đối trị. Chính phải nên nhờ vào cái nhân nhỏ nhiệm ấy để sung măn đại hạnh trong ba A-tăng-kỳ, khiến cho tập khí chánh sử nhất loạt bị phá sạch, có thể nói: “Từ ngay nơi Sự mà là Lư, từ ngay nơi Tiệm mà là Đốn”. Há có nên vứt bỏ sự chân thật này, cứ coi nói suông là diệu ngộ ư? Pháp hữu Nhũ Sanh xưa kia đă gieo chánh tín, tuổi vừa mới ứng pháp đă tạo công đức chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, tham học nhiều vị tri thức, chẳng nhuốm phải Thiền bệnh trong thời gần đây, trong tương lai sẽ đích thân thấy một hội Linh Sơn, mới biết máu thịt, chấm, vạch, toàn thể là Pháp Hoa tam-muội, là vô tướng An Lạc Hạnh, cái quả chẳng ở ngoài hữu tướng An Lạc Hạnh!

 

* Lời bạt cho bản kinh Pháp Hoa do Uẩn Khiêm chép

 

          Năm loại pháp sư trong kinh này là thọ tŕ, đọc, tụng, giải nói, biên chép. Phàm thọ tŕ, đọc, tụng, giải nói, có thể sanh giải thành quán, tự uốn nắn chính ḿnh, uốn nắn người khác, gọi là pháp sư cố nhiên là đáng nên, nhưng người biên chép mà cũng được gọi là pháp sư ư? Biên chép càng là tự uốn nắn chính ḿnh, uốn nắn người khác, càng dễ sanh giải thành quán! Xin nói rơ hơn: Đều là cùng một loại giấy, bút, mực, một cổ tay, dùng đó để viết dâm từ, diễm khúc, sẽ tạo thành cái nhân tam đồ. Viết điển tịch thế gian, sẽ thành cái nhân của trời, người. Viết A Hàm Tam Tạng, sẽ thành cái nhân xuất thế. Viết Đại Thừa Phương Đẳng, sẽ thành cái nhân Bồ Tát. Viết Diệu Pháp Liên Hoa, sẽ chỉ là Phật nhân. Nếu giấy, bút, mực, tay chẳng thể chép diệu pháp, cũng ắt chớ nên viết dâm từ, diễm khúc khiến cho kẻ khác ch́m đắm. Nếu có thể viết dâm từ, diễm khúc, cũng ắt có thể viết Diệu Pháp để soi sáng người khác. Cùng một tánh linh, cùng một duyên giúp đỡ, cùng một công năng mà mười giới thăng trầm, chẳng tách biệt mà tách biệt là như thế đó!

Hơn nữa, dâm từ, diễm khúc tuy là cái nhân của tam đồ, vẫn trọn đủ mười giới. Như nghe nói “nếu kẻ khác vô tâm, ta cũng thôi”, bèn nhanh chóng hiểu rơ tâm địa, đấy chẳng phải là Phật nhân ư? Phật giới mà c̣n có th́ những giới khác [trong mười pháp giới] cũng có thể biết vậy! Diệu Pháp Liên Hoa tuy là cái nhân của Phật giới, vẫn trọn đủ mười giới. Như kinh nói rơ “báng tư kinh giả, hoạch tội vô lượng” (kẻ báng kinh này mắc tội vô lượng), chẳng phải là cái nhân của địa ngục ư? Địa ngục c̣n có, các giới khác cũng có thể suy ra mà biết.

Than ôi! Công năng của cổ tay là một, giấy, bút, mực là trợ duyên cũng giống y hệt, tánh linh tri giác cũng là một, mười giới chẳng có đủ những nhân duyên ấy sẽ chẳng thành. Do những thứ ấy mà mười giới bèn trọn đủ. Đă thành, lại c̣n trọn đủ lẫn nhau, ắt có tướng, tánh, thể, lực v.v… như thế, bách giới thiên như rạng ngời trong khoảng giấy, mực, trong khoảng tay và bút, trong khoảng một tánh linh. Ba cái nhân của tánh đức, ba cái nhân của tu đức, tánh và tu thành tựu lẫn nhau, tánh và tu bất nhị, có thể rạng ngời nơi Thật Tướng sâu thẳm. Lại c̣n dạy người khác đọc tụng, khiến cho giải thành, quán phát, chẳng phải là tự uốn nắn chính ḿnh, uốn nắn người khác tối thắng đó ư? Nguyện người viết, người đọc, sẽ lănh hội diệu lư Thật Tướng, dùng đó làm cái gốc cho diệu tu, đừng nói “chỉ kết cái nhân xa xôi cho mai sau”. Bậc thầy diệu pháp gặp chuyện nhân chẳng nhường chính là ở chỗ này!

 

* Lời bạt cho lời nguyện chép trọn khắp kinh Pháp Hoa bằng máu

 

          Trong hết thảy các kinh điển của Như Lai, Pháp Hoa được gọi là vua. Trong hết thảy sự cúng dường của hành nhân, dùng máu chép kinh là cao tột nhất. Bởi lẽ, ngũ thời, bát giáo cho tới Pháp Hoa, không lư nào chẳng tận, không căn cơ nào chẳng thâu nhiếp. V́ thế, một câu nhiễm vào thần thức, một lời làm chủng tử, ắt đạt đến thành Phật, há chẳng phải do công đức của cả bộ kinh ư? Cái mà chúng ta khó xả không ǵ bằng bản thân. C̣n như trích máu làm mực, ân cần trịnh trọng tột bậc! Thân Kiến đă phá, há có khác ǵ ngài Dược Vương đốt cánh tay ư? Tôi thường cảm khái đời Mạt chuyên coi trọng kiến giải rỗng tuếch, nói suông tam-muội, lan truyền khắp hoàn vũ, coi Tứ An Lạc Hạnh như mảy lông! Bậc khai sĩ giữ giới “chẳng ăn phi thời” nghiêm cẩn như Viễn công, vạn thiện trang nghiêm, siêng năng giống như ngài Diên Thọ. Lại phát tâm thù thắng thành tựu công đức này, há năm loại hay mười loại công đức có thể sánh bằng được ư?

 

* Lời bạt cho bản kinh Pháp Hoa do Đạt Quyền chép

         

          Kinh này gọi là đại huệ b́nh đẳng, cũng gọi là “vua trong các kinh”. Huệ b́nh đẳng th́ pháp cũng b́nh đẳng, cớ sao riêng gọi là “vua”? Bởi lẽ, tuy pháp b́nh đẳng, nhưng do chúng sanh mê, nên hư vọng thấy sai biệt. Do vậy, giáo pháp suốt một đời đức Phật khéo phù hợp mê t́nh, từ trong chẳng sai khác mà nói sai biệt. Cho tới khi xướng diễn tột cùng nơi Linh Sơn mới nói rơ sai khác vốn chẳng sai khác”. Trong hội ấy, hết thảy các pháp đều thành Phật pháp, hoàn toàn do công của Pháp Hoa! Nh́n lại “Hoa Nghiêm kiêm, A Hàm đản, Phương Đẳng đối, Bát Nhă đới”[16], đều chẳng thể sánh bằng. Huống hồ cực xướng Bổn môn, ba đời lợi ích chúng sanh, nhiều phen gieo, nhiều phen chín muồi, nhiều phen thoát ĺa. Trước chẳng phải là khởi đầu bằng Đại Thông [Trí Thắng Phật], Oai Âm [Vương Phật], sau chẳng tột cùng “củi cháy hết thành tro, lửa tắt”. Phàm công giáo hóa tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang của Như Lai, lập bày cương yếu của giáo vơng, triệt để hiển thị, trọn hết chẳng c̣n ẩn tàng chút nào! Do vậy, khó gặp hơn hoa Ưu Đàm! Công thọ tŕ bằng với Pháp Thân! Phật pháp diệu, sanh pháp diệu, chẳng ĺa tâm pháp diệu! Diệu tâm nơi một niệm hiện tiền được gọi là Liên Hoa. Ngộ tâm liên hoa th́ hết thảy các pháp không ǵ chẳng phải là liên hoa! Tâm là kinh vương (vua trong các kinh), tâm là b́nh đẳng đại huệ. Thấu đạt thật nghĩa này th́ mới gọi là thấu đạt Quyền, hăy gắng lên!

 

* Lời Bạt cho bản chép kinh Hoa Nghiêm bằng máu của Tam Học

 

          Trong giáo pháp suốt một đời đức Phật, Hoa Nghiêm là căn bản pháp luân, do v́ Thật mà hành Quyền, lưu xuất vô lượng pháp môn, khai Quyền, hiển Thật, trở về biển pháp giới tánh. Tuy pháp môn Quyền hay Thật bất đồng, nhưng ư chỉ trọng yếu “tánh, tu” chưa từng sai khác chút nào. Tựa đề của kinh này là Đại Phương Quảng, tức là chỉ thẳng tánh tam đức bí tạng nơi một niệm hiện tiền của chúng ta. “Phật Hoa Nghiêm” là nói xứng tánh khởi lên công hạnh tu đức viên đốn. Chẳng thấu đạt tam đức nơi thể tánh, vạn hạnh trang nghiêm vào đâu? Chẳng dùng sự trang nghiêm của Phật để trang nghiêm, tánh đức sao đủ để quư trọng? Phật Hoa Trang Nghiêm là Tam Học Giới Định Huệ mà thôi. Giới học, Định học, phước đức trang nghiêm; vô thượng Huệ học, trí huệ trang nghiêm. Huệ cố nhiên là Phật huệ, phước cũng là Phật phước, khác biệt vời vợi ba pháp của lương y cũ, cao vượt ba cách tu của Quyền giáo, mỗi mỗi đều gọi là Phật Hoa.

Kinh chẳng nói đó sao? “Cụ túc thọ tŕ oai nghi giới pháp, năng linh Tam Bảo chủng tánh bất đoạn” (Thọ tŕ trọn đủ oai nghi và giới pháp, có thể khiến cho chủng tánh Tam Bảo chẳng dứt). Giới đă toàn thể là Phật giới, Định, Huệ có ǵ chẳng phải là Phật? Dùng Phật hoa viên đốn để trang nghiêm tâm tánh đại phương quảng, sẽ là toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh, mà thân và cơi của đức Tỳ Lô Giá Na chẳng ĺa một niệm tâm của phàm phu bậc hạ! Nếu đề cao thánh cảnh, sẽ ty mạn bảo “ta là phàm phu, sao có thể tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt?” Nếu chấp tánh đức, sẽ kiêu mạn nói “ta thật sự bằng với chư thánh, vậy th́ tánh đại phương quảng của ta vốn tự b́nh đẳng, sao lại phải cao vượt chín pháp giới, thành Đẳng Chánh Giác?” Thiền sư Tam Học dùng máu chép kinh vương, tôi liền v́ thầy ấy nêu tỏ ba tầng cấp trong Phật học, khiến cho từng giọt máu đều lưu xuất từ lỗ chân lông của Phổ Hiền, mỗi giọt đều trọn đủ kinh quyển to bằng cơi đại thiên, chẳng có ǵ khác cả!

 

* Lời bạt tự ghi sau Pháp Hoa Luân Quán

 

          Lư Bạch lên lầu Hoàng Hạc, thấy bài thơ do Thôi Hạo[17] đă viết, bèn gác bút, do biết ḿnh chẳng thể làm thơ hay hơn được! Trí Giả đại sư đích thân chứng Pháp Hoa tam-muội, [kiến giải của] Quang Trạch[18] c̣n bị phá, huống hồ là các vị chú giải khác! Người đời sau lại lũ lượt tŕnh bày kiến giải, v́ chưa có học thức như Thanh Liên (Lư Bạch). Các bạn khuyên tôi chú giải Pháp Hoa, tôi kiên quyết dùng ư này để từ chối. Vừa khéo có pháp hữu Đạt Tế đứng trông coi khắc in kinh, mong tôi tóm tắt ư chỉ chánh yếu của toàn bộ bản kinh để tạo thuận tiện cho hàng sơ học. Do vậy, kính dựa theo Huyền Nghĩa và Văn Cú, trích lục những điều đại cương, đặt tên là Luân Quán, ngơ hầu thuật lại [ư kiến của] cổ nhân, chứ chẳng phải là hư vọng viết lách!

 

* Lời bạt tự soạn cho sách Diệu Huyền Tiết Yếu

 

          Một chữ pháp môn, biển mực chẳng trọn hết. Chín mươi ngày đàm luận chữ Diệu[19], há đáng nói là nhiều! Hơn nữa, Tứ Biện trong chín mươi ngày, văn nghĩa há có hạn lượng, ngài Chương An [Quán Đảnh][20] chỉ ghi chép đại lược! Đó là do độn căn đời Mạt, vẫn sợ rườm rà, ngó thấy sách Diệu Huyền (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa) như biển, cam tâm làm con ếch chấp nhặt, chẳng tiến cao hơn, vô thượng đề hồ chẳng nhiễm giọt nào! Đáng đau xót thay!

Trộm nghe Đại Trí Độ Luận một ngàn quyển, [khi dịch sang tiếng Hán] ngài La Thập rút gọn c̣n một phần mười. Toàn bộ sách Ma Ha Chỉ Quán ngài Kinh Khê chỉ sao lục đại ư [trong lời giảng của tổ Trí Giả]. Do phỏng theo ư chỉ ấy, tôi soạn thành sách Diệu Huyền Tiết Yếu gồm hai quyển, ngơ hầu [người đọc] dính dáng mảy may, sẽ dần dần đầy ắp pháp vị. Sau đấy, [người học sẽ] t́m ṭi trọn vẹn sách Huyền Nghĩa, chứng sâu xa Pháp Hoa tam-muội. Hành động này chưa chắc đă không phải là một phương cách khuyên nhủ dần dần. Nếu chỉ giữ lấy sách Tiết Yếu, rốt cuộc gác bỏ toàn bộ trân bảo, cố nhiên tôi là tội nhân của các vị Trí Giả và Chương An, nhưng các Ngài cũng là tội nhân của tôi vậy!

 

* Đề từ cho thủ quyển[21] của Nhược Thủy Quan Chủ

         

Văn Thù khởi Phật kiến, pháp kiến, bị [đức Thế Tôn] biếm trích vào núi Thiết Vi. Ngài Cao Phong nói: “Nay có người khởi Phật kiến, pháp kiến, bèn chắp tay tán thán. V́ sao vậy? Nếu đến thời tiết, lư ấy tự phô tỏ”. Đây là phương cách lỗi lạc của bậc vượt ngoài khuôn khổ. Bản lănh trong Tông môn tương tự đại y vương: Gấp gáp th́ trị đằng ngọn, hoăn đăi th́ trị đằng gốc. Lại có thuận trị và nghịch trị khác nhau, mong sao khỏi bệnh, chẳng chấp phô bày đơn thuốc, hoặc trách móc chẳng có hiệu nghiệm! Thiền học đời Mạt lầm lạc tự lập tông, chẳng biết liễu nhân và duyên nhân luôn giúp nhau, nhờ cậy lẫn nhau. Cố nhiên là hễ có liễu nhân tánh phát khởi, duyên nhân sẽ nhanh chóng trọn đủ. Cũng có khi duyên nhân tánh đă chín muồi, liễu nhân bỗng phát khởi. Như thuyền và nước giúp lẫn nhau, chẳng thể bảo nước có thể thong thả mà thuyền nên gấp gáp, hoặc thuyền có thể thong thả mà nước nên gấp gáp.

Nhược Thủy Quan Chủ duyệt Đại Tạng đă lâu, đă hiểu rơ trọn hết hay chưa? Nếu đă hiểu rơ mà vẫn chưa liếc nh́n, tức là Phật kiến, pháp kiến, đáng nên bị biếm trích vào Thiết Vi. Nếu chưa hiểu trọn hết, tức là Văn có thừa, nhưng huệ chẳng đủ, đúng là nên hướng theo đó ḥng cầu khai huệ tánh. Đó gọi là “thời đến, lư sẽ phô tỏ”. Nghịch trị chẳng thể th́ hăy thuận trị. Thử xét xem thường ngày khi đối trước kinh quyển, cùng với lúc đề khởi thoại đầu trên bồ đoàn, đằng nào đắc lực? Lúc nào chẳng đắc lực? Đằng nào có thể trừ khử tập khí, đằng nào chẳng thể? Hễ phát thuốc chữa bệnh, nghe theo các lương y, nhưng hữu hiệu hay vô hiệu th́ vẫn phải do chính ḿnh tự kiểm chứng. Xưa kia có người chỉ uống tỳ sương, do vậy, lâu ngày thành bệnh liệt. Y sĩ say rượu, lầm cho [bệnh nhân] uống tỳ sương, bỗng dưng khỏi bệnh. Nay Tam Tạng tuy giống như chất độc Tỳ Sương, sợ đă uống lâu ngày, chưa chắc chẳng do vậy mà được lành bệnh vậy!

 

* Đề từ cho Chí Hiếu Hồi Xuân Truyện

 

          Nho coi hiếu là cái gốc của trăm hạnh, Phật coi hiếu là cốt lơi của chí đạo. Bởi cái tâm báo ân xuất phát từ t́nh muôn phần chẳng thể giải, như Hoàng Hội Khanh cắt thịt đùi để chữa bệnh ngặt cho mẹ. Mẹ thọ tám mươi hai tuổi đều do chân t́nh cảm vời. T́nh ấy được gọi là pháp thế gian, thật sự là nền tảng của Bồ Đề. Bảo đó là xuất thế th́ bất quá là ái dục hư vọng. Quân tử đối với điều này chẳng thể không học, chẳng thể không thấu đạt. Xưa kia, mẹ từng cắn ngón tay mà con đau ḷng; liễu đạt điều này sẽ có thể ngộ pháp tánh đồng thể, biết pháp môn duy tâm, hiếu thế gian liền trở thành hiếu xuất thế!

 

* Đề từ cho Độc Tỉnh Biên

 

          Tôi thuở bé chuyên chú Lư Học, liền coi báng Phật là trách nhiệm, ghét sự khác biệt! Hơi lớn, liền cho là giống nhau. Học tập lâu ngày, mới biết vừa giống vừa khác. Nay cũng biết chẳng phải giống, chẳng phải khác, vẫn chẳng ngại nói giống, nói khác. Châu Tử ở Vĩnh Ấp, Nho mà huyền, huyền mà Thiền, Thiền mà lại Nho. Sau khi từ quan, viết Độc Tỉnh Biên (獨省編). Phàm những ǵ chẳng thấy nghe, Nho nói là “độc” (), nhưng “đại bổn” và “đạt đạo”[22] trong ấy. Huyền lại càng huyền, Lăo gọi là “độc”, nhưng cửa ngơ của các điều huyền diệu ở trong ấy. T́m tâm trọn chẳng thể được, Thích gọi là “độc”, nhưng bách giới thiên như trọn đủ. Những điều này thật sự chẳng thể gộp chung lại coi là nhất loạt như nhau được, tuy riêng biệt mà chẳng cách ngăn, cũng là để nói với kẻ chưa tỉnh đó thôi! Hễ tỉnh th́ ǵ là một, ǵ là khác? Vắng lặng, bất động, “độc” cũng chẳng thể được, hễ cảm bèn thông, sâu thẳm chẳng thể loạn. Ngay trong khi vắng lặng, muôn điều cảm vời hiển hiện rạng ngời; ngay trong khi cảm, bản thể vắng lặng. Sau khi thiên hạ đă quy vào ḷng nhân, càng chẳng có nỗi sợ “giữ ǵn tâm chí chẳng để vùi lấp” hay “bỏ mất”. Các vị hăy cảnh tỉnh!

 

* Lời bạt cho bản chép kinh Pháp Hoa bằng máu của Quán Tuyền khai sĩ

 

          Kinh dạy: “Thí như cao nguyên, tạc tỉnh cầu thủy, nhược tiệm chí nê, khứ thủy tất cận. Bồ Tát phát đại tâm, diệc phục như thị. Nhược đắc phùng thử Pháp Hoa kinh vương, tức cận A Nậu Bồ Đề” (Ví như trên cao nguyên, đào giếng t́m nước, nếu đào dần tới bùn, ắt cách nước đă gần. Bồ Tát phát đại tâm cũng giống như thế. Nếu được gặp gỡ Pháp Hoa là vua trong các kinh này, tức gần với Vô Thượng Bồ Đề). Nho cũng nói: “Hữu vi giả, nhược quật tỉnh cửu nhận, bất cập tuyền, do vi khí tỉnh” (Người có bản lănh ví như đào giếng sâu chín nhận mà chẳng đến mạch nước [th́ cái giếng đă đào đó] coi như phí công)

Ôi! Ước theo Giáo để luận mạch nước, ngũ thời, tứ giáo, không ǵ bằng Pháp Hoa. Pháp Hoa chính là mạch nước. Ước theo Quán để luận mạch nước, Văn Tự như đất, Văn Huệ như ướt, Tư Huệ như bùn, c̣n Tu Huệ là mạch nước. Bậc Khai Sĩ nếu coi A Hàm là đất, Phương Đẳng là ướt, Bát Nhă là bùn, hăy nên đối với mỗi câu văn, mỗi chữ trong kinh, mỗi giọt máu đều coi như suối thơm trong mát. Nếu cầu cái suối Tu Huệ, hăy nên tùy văn nhập quán, hệt như chẳng ĺa cao nguyên, đào bới cho đến khi gặp nước. Đào, khoét đă lâu, mạch nước ẩn kín ắt trào lên, cũng đừng ĺa văn tự, câu chữ, giọt máu này, kẻo trở thành giếng hoang!

 

* Lời bạt cho bản chép kinh Phật Đảnh của Liên Châu

         

          Kinh dạy: “Nhất niệm tương thử pháp môn ư mạt kiếp khai thị vị học, thị nhân tội chướng ứng niệm tiêu diệt, biến kỳ sở thọ địa ngục khổ thành An Lạc quốc” (Một niệm đem pháp môn này khai thị cho người chưa học trong kiếp mạt, tội chướng của người ấy lập tức tiêu diệt, biến nỗi khổ phải hứng chịu trong địa ngục thành cơi An Lạc). Xét ra một niệm tột nhỏ, sao có lực dụng như thế? Cần phải biết: Tánh của một niệm vốn tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang. Hết thảy lư, sự, tánh, tướng đều chẳng ra ngoài một niệm hiện tiền. V́ thế, một niệm mê, sanh tử lồng lộng. Một niệm ngộ, luân hồi nhanh chóng dứt. Thử nghĩ trong thường nhật, khởi Hoặc, tạo nghiệp, rốt cuộc là ai? Nay chép kinh, sám hối, rốt cuộc lại là ai? Ư niệm sám hối nghiệp đă tạo ấy là ở trong, ngoài, hay chặng giữa? Là xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tṛn ư? Là quá khứ, hiện tại, vị lai ư? Nếu t́m th́ trọn chẳng thể được, tức tội phước chẳng có chủ, gọi là chân sám hối. Do đó, ngài A Nan nhanh chóng đạt được Pháp Thân tánh, tỳ-kheo-ni thành A La Hán. Nếu từ trong “vô khả đắc”, hư vọng so đo “có tâm để có thể đạt được”, vừa phạm liền hối. Đă hối mà vẫn phạm th́ như bệnh sốt rét cách nhật, mong chi thuở nào xong? Nhưng Đại Thừa duyên chủng chẳng thể nghĩ bàn, gắng sức tận lực thực hiện, công chẳng hư luống, thiện căn xuất thế dần dần thù thắng, chủng tử hữu lậu thế gian dần tiêu, như sáng phá tối cũng quyết chẳng lừa dối vậy!

 

* Đề từ cho Linh Dị Tạp Lục

 

          Khổng Tử chẳng nói chuyện quái lực, loạn thần, nhưng quái thần cũng như lực loạn chẳng phải là không có. Dân chúng bị trói chặt trong sự thấy nghe quen thuộc; ngẫu nhiên có chuyện ǵ vượt ngoài sự quen thuộc, bèn hời hợt cho là quái lạ. Nào có nghĩ chỉ một tấm thân hiện tại, mắt, tai v́ sao thấy, nghe, miệng v́ sao có thể nếm và nói, chân có thể đứng và đi, cũng chẳng rất quái lạ ư? Phật chứng sự mầu nhiệm nơi tâm tánh, chẳng hạn cuộc trong thói quen, cũng chẳng linh dị ư? Mọi người nh́n vào, linh dị khôn ngằn, bảo là Phật linh dị. Đấy là chẳng biết tâm tánh vốn mầu nhiệm, cũng như dấu tích linh dị của Phật chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng hay, chẳng biết. Đó lại c̣n tệ hơn con ếch nơi đáy giếng, con trùng mùa Hạ. Tuy vậy, con ếch nơi đáy giếng, con trùng mùa Hạ, có loài nào chẳng linh dị, chỉ là tánh linh dị vốn b́nh đẳng. V́ thế, vẫn có thể dùng sự linh dị để giác ngộ họ. Khi họ đă nhận biết sự linh dị, lại nhận biết đấy chẳng phải là linh dị, có thể nói với họ lời chẳng thể nói vậy!

 

* Đề từ cho Xác Cổ (bàn định về chuyện xưa)

 

          Thánh nhân đă qua đi, nhưng c̣n được chép trong kinh, sử, nhưng kinh sử cố nhiên chẳng truyền thuật đầy đủ cái tâm của thánh nhân, nhưng người khéo hiểu cái tâm của thánh nhân chưa hề ĺa kinh sử. Đă từ kinh sử mà lănh hội cái tâm của thánh nhân, lại bảo thánh nhân thật sự đă qua rồi, há có được hay chăng? Văn Vương mất, nhưng văn chương c̣n đó, trời chẳng thể chôn, người chẳng thể chết! Do vậy, tôi biết kẻ chẳng khéo đọc kinh sử th́ cổ chưa hề chẳng phải là kim, người khéo đọc th́ kim cũng chưa hề chẳng phải là cổ! Kim mà cổ th́ ngôn chính là vô ngôn, văn chính là vô văn, đừng dấy lên cái thấy là hai vậy!

 

* Lời bạt cho bài kệ của Tỳ Xá Phù Phật

 

          Tử Bách đại sư nói: “Suốt đời tŕ nửa bài kệ của Tỳ Xá Phù Phật, một câu rưỡi đă thuần thục, nửa câu chưa thuần thục. Nếu thuần thục nửa câu ấy, sẽ thoát sanh tử”. Tỳ Xá Phù (Viśvabhu) được phương này dịch là Biến Nhất Thiết Tự Tại (遍一切自在, tự tại trong trọn khắp hết thảy), kết thúc Trang Nghiêm Kiếp, khởi đầu Hiền Kiếp. V́ vậy, nửa bài kệ của Ngài chính là thuốc tốt lành bậc nhất. Chúng sanh tuy bị bệnh chẳng đồng nhất, nhưng gốc bệnh bất quá là hư vọng ngỡ Tứ Đại là thân tướng của chính ḿnh, hư vọng ngỡ duyên ảnh của lục trần là tướng tự tâm mà thôi! Nay dùng Tứ Đại để quán thân, biết chẳng phải là thân; dùng duyên ảnh để quán tâm, biết tâm chẳng phải là tâm. Đă thấu đạt hư vọng chấp trước thân tâm tức chẳng phải là thân tâm, lẽ nào chẳng tự tại? Nhưng Tỳ Xá Phù Phật chẳng thuộc trong Trang Nghiêm Kiếp, mà là cái trí chẳng có thân tâm trong một niệm của ta đó thôi! Nếu thật sự thấu đạt thân tâm vốn là Không, há chỉ đức Tỳ Xá Phù chẳng ĺa một niệm hiện tại, mà trọn khắp mười phương thế giới, quá khứ, hiện tại, vị lai chư Phật đều chẳng ĺa một niệm hiện tại!

 

* Lời bạt cho bản kinh Kim Cang chép bằng máu

 

          Luận nói: “Quán trí của Bồ Tát chọn lấy cái đơn giản, nhưng quán cảnh trọn khắp, đạt được cái quả to lớn, ví như chày kim cang hai đầu to rộng, c̣n chỗ để cầm th́ nhỏ”. Do đó Bồ Tát chỉ quán tâm tánh trong một niệm, t́m th́ trọn chẳng thể được, hiện rạng ngời muôn pháp, chẳng có Năng, chẳng có Sở, chẳng đúng, chẳng sai, bèn thấu đạt ba thứ Bát Nhă đều như kim cang; đó là thật sự có thể nắm lấy. Phật tử Hành Huyễn dùng máu chép tối thượng thừa. Đấy là Kim Cang? Hay là đă khéo nắm giữ vậy? Phật tử đừng thấy là hai th́ mới nên!

 

* Đề từ cho Tranh Chăn Trâu

 

          Chăn trâu ví như tu chứng, vốn xuất phát từ các kinh luận, chẳng phải là được đặt ra để bàn luận; nhưng rốt cuộc trâu là vật ǵ? Người chăn là ai? Phổ Thiền viết kệ tụng, Vân Thê khắc tranh. Pháp hữu Đích Trung lại vẽ thành quyển, tôi lại ghi cước chú, như trâu đă vào chuồng, đầu và móng đều đă lọt qua, chỉ có cái đuôi chẳng qua được. Hăy nói xem cái đuôi ấy là trắng hay đen, là có hay không? Người hiểu tin tức ấy, chẳng ngại cùng ông nh́n vầng trăng ở ngoài mây!

 

* Lời bạt tự ghi cho lần tái bản sách Tam Tụng

 

          Chẳng tin “truyền riêng ngoài Giáo” là báng Tông, bảo “ngoài Giáo thật sự có truyền riêng” tức là báng Giáo! Hay là chẳng tin “truyền riêng ngoài Giáo” là báng Giáo, bảo “ngoài Giáo thật sự có truyền riêng” th́ là báng Tông! Bỏ cả hai đường lối ấy, chiết trung, dung hợp như thế nào? Chẳng thấy nói “như thế th́ cũng chẳng được! Chẳng như thế th́ cũng chẳng được! Như thế hay chẳng như thế đều chẳng được!” Lại nói: “Như thế th́ cũng được, chẳng như thế th́ cũng được! Như thế hay chẳng như thế đều được!” Tuy nhiên, sai bằng hào ly, cách biệt như trời với đất. Sơn nạp[23] cam đọa Vô Gián, tiếm lạm soạn ba bài tụng, chưa rơ là ngoài Giáo hay là trong Giáo? Là biệt truyền, hay chẳng phải biệt truyền? Nếu gặp phải người chẳng có mắt nh́n vào, người không có tai mà nghe, ắt sẽ có cái để có thể biện định!

 

* Lời bạt tự ghi cho sách Tánh Học Khai Mông

 

          Đây là câu hỏi thứ tư trong lời đáp riêng cho mười câu hỏi. Ấy là v́ đối với Tánh học của hai nhà (Nho và Phật), cơi đời ít người kiêm thông thạo cả hai. Nho chưa chắc đă học Phật, dẫu học tập cũng khó thấy được chỗ sâu thẳm. Người học Phật chưa chắc đă học Nho, dẫu học cũng chẳng chịu nghiên cứu tinh ṛng. Tôi lúc mười hai tuổi theo thầy học chữ, hiểu thô thiển nghĩa sách, bèn lấy Đạo học (Lư Học của Tống Nho) làm trách nhiệm của chính ḿnh. Đối với công năng giữ ḷng cung kính, thận trọng dẫu ở riêng một ḿnh, và lẽ trọng yếu “thấu hiểu tận cùng, trừ khử vật dục” đă có nghiên cứu sâu xa. Lúc hai mươi tuổi, xem chương sách Nhan Uyên hỏi về ḷng nhân, trộm nghi câu “thiên hạ quy nhân” (thiên hạ quy vào ḷng nhân), khổ công tận lực tham cứu, suy khảo, quên ăn bỏ ngủ suốt ba ngày đêm, bỗng dưng đại ngộ, nhanh chóng thấy huyết mạch chân thật, cốt tủy chân thật của Khổng - Nhan, do biết sự truyền thừa “văn tri” (sự thấy biết do nghe giảng) và “dùng ḷng thành đối xử với người khác” của Khổng Tử, các nhà Nho đời Hán, đời Tống chẳng thể suy tính, bàn luận được!

Bốn năm sau, biết đại pháp xuất thế, phát tâm ĺa tục, trước là tham Thiếu Thất Thiền Tông, sau là học Thiên Thai Giáo Quán, chẳng khác nào đều như vũng biển! Mười lăm, mười sáu năm chỉ dính một giọt, đành hướng về biển rộng mà thở than! Nh́n lại tâm học Khổng - Nhan [do chính ḿnh] đă ngộ trước kia, nay lại là một giọt trong một giọt! Than ôi! Đạo mênh mông chẳng có bờ bến như thế đó, những kẻ được dính dáng đôi chút bèn tự cho là đủ, khác nào ếch ngồi đáy giếng? Nhưng lại biết tánh của một giọt chính là tánh của biển cả. Do vậy, thân là Thích tử mà lại thích nêu ra tâm học của Khổng - Nhan để dạy người khác; biết và chẳng biết, phó mặc cho sáng tối. Câu hỏi này là do những người cùng chí hướng chưa am hiểu, kèo nài tôi nêu bày đại khái, bèn từ trong một giọt nước biển, lại trích ra một giọt như thế, biết chắc là bậc thông hiểu rộng răi sẽ chê cười, nhưng đối với bản lănh của thần long, biết đâu chẳng do từ đó mà mà giăng mây, tuôn mưa, lại nào có biết nhờ đó mà lượn vào biển thẳm vậy!

 

* Lời Bạt tự soạn cho sách Di Giáo Giải

 

          Húc chưa xuất gia, đọc kinh Di Giáo liền biết mỗi chữ đều là huyết lệ. Đă được xuống tóc, khoác áo thâm, chưa từng quên bẵng. Tiếc nuối chướng sâu, hai mươi mấy năm luống uổng chẳng đạt được! [Tự xét ḿnh] chẳng phải là đạo nhân, lại chẳng phải là bạch y, xét ḷng hổ thẹn tột bậc. Cư sĩ Trầm Phủ Đôn cố thỉnh chú giải kinh này. Ôi chao! Tôi chẳng thể tu công đức thế gian và xuất thế gian, chỉ dùng văn từ, ngôn ngữ để làm con chim thuyết pháp cho chư thiên đó chăng? Nhưng may ra soi sáng một kẽ hở, há nỡ tiếc nuối? Nhờ công đức này, phá chướng, sách tấn cái mới, nguyện khắp v́ người cùng mắc nạn mà hồi hướng Tây Phương, làm chim Ca Lăng Tần Già thay đức Di Đà rộng tuyên pháp yếu th́ mới nên!

 

* Lời bạt tự ghi cho sách Di Đà Yếu Giải

 

          Kinh dạy: “Mạt thế ức ức nhân tu hành, hăn nhất đắc đạo, duy y niệm Phật đắc độ” (Đời mạt ức ức người tu hành, hiếm được một người đắc đạo, chỉ nương vào niệm Phật mà đắc độ). Than ôi! Đấy chính là lúc này vậy! Bỏ pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này, có ǵ để yên được nữa? Húc lúc mới xuất gia, cũng tự phụ tông thừa mà coi thường giáo điển, hư vọng nói “pháp tŕ danh nhằm thích ứng căn cơ trung hạ”. Về sau, do bệnh nặng, phát ư về Tây. Kế đó, nghiên cứu hai bộ sách Diệu Tông Sao và Viên Trung Sao, mới biết Niệm Phật tam-muội là vô thượng bảo vương, mới chịu quyết tâm chấp tŕ danh hiệu, một vạn con trâu chẳng kéo lại được! Bạn tôi là ông Khứ Bệnh, muốn cho ư chỉ chánh yếu của kinh này được sáng tỏ mà từ ngữ chẳng rườm rà, tôi mới nguyện cho khắp các hữu t́nh cùng sanh về Cực Lạc, chẳng thể từ chối. Cất bút vào ngày Hai Mươi Bảy tháng Chín năm Đinh Hợi (1647), hoàn thành bản thảo vào ngày mồng Năm tháng Mười. Nguyện cho mỗi câu, mỗi chữ đều làm tư lương, mỗi người thấy nghe đều đạt tới Bất Thoái. Tin hay ngờ đều gieo hạt giống đạo, tán thán hay hủy báng đều cùng về giải thoát. Ngưỡng mong chư Phật, Bồ Tát nhiếp thọ chứng minh, các bạn đồng học tùy hỷ gia bị.

 

* Lời bạt tự soạn cho sách Châu Dịch Thiền Giải

 

          Khi xưa, tôi sang chơi Ôn Lăng, có vị họ Quách hỏi về Dịch, bèn cất bút viết lách, trước là Ngũ Truyện[24], kế đó là Thượng Kinh, chứ Hạ Kinh[25] chưa giải được một nửa, bèn gác lại lời thỉnh. Nay thừa dịp bàn luận Đại Thừa Chỉ Quán đă xong, bèn nêu dạy Dịch học, mới hoàn tất bản thảo trước đó. Chao ôi! Từ đất Mân sang đất Ngô, cuộc đất chẳng qua hơn ba ngàn dặm, từ mùa Đông năm Tân Tỵ (1641) đến mùa Hạ Ất Dậu (1645) năm nay, thời gian bất quá là một ngàn hai trăm mấy chục ngày, thế sự huyễn mộng sai khác muôn ngàn. Đó là giao dịch (thay đổi theo thứ tự) hay biến dịch? C̣n như xét tận cùng sự sai biệt th́ thời lẫn nơi chốn đều thay đổi, nhưng cái không đổi th́ vẫn y hệt như cũ. Do vậy tôi biết mặt trời, mặt trăng trọn khắp bầu trời nhưng chẳng thay đổi, Hoàng Hà và Trường Giang đua nhau tuôn rót nhưng không chảy. Triệu công (Tăng Triệu) chẳng dối gạt ta! Đạt được cái “chẳng đổi” ấy đối ứng với cái “thay đổi tột cùng”, xem xét cái thay đổi tột cùng ấy để suy nghiệm cái chẳng thay đổi, thường và vô thường, hai con chim cùng bay! Tôi nào có biết Văn Vương [bị Trụ Vương giam cầm] tại Dũ Lư, Châu Công bị vu cáo, Khổng Tử đi khắp nơi mà chẳng truyền dạy được, ba lượt đứt dây buộc sách, chẳng đồng cảm nơi điều này ư? Do vậy, lại cất bút viết lời bạt.

 

* Lời bạt tự ghi cho sách Duy Thức Tâm Yếu

 

          Sách Tông Kính Lục viết: “Trí huệ hợp với đa văn, trọn chẳng chấp vào lời nói, hoặc nhận ngón tay [là mặt trăng]. Đa văn độ trí huệ, hòng khỏi trở thành cô lậu nh́n vách”. Nếu một vi trần chưa hiểu rơ, đó là hăy c̣n vô minh, do chẳng hiểu [chính ḿnh] đang bị ngăn chướng! Huống hồ trong căn môn nơi tự thân, trong vận dụng thường nhật, có vô lượng pháp môn đáng nên cấp bách, nhưng hoàn toàn chưa hiểu được một môn! Nếu muốn v́ người khác [giảng giải], sẽ dựa vào đâu để phân tích? Chỉ thành tự dối gạt, đâm ra đọa vào vô tri. Mắt của chính ḿnh chẳng sáng, sao có thể mở mắt cho kẻ khác được? Cần phải dùng tam lượng (hiện lượng, tự lượng, thánh ngôn lượng) để xác định đúng, sai, chân tu chẳng lạm, bốn phần (tướng phần, kiến phần, tự chứng phần, chứng tự chứng phần) thành Thể, Dụng của chúng, chánh lư chẳng thiếu khuyết. Sau đấy, mười nhân, bốn duyên[26], biện định chỗ sanh khởi tạp, nhiễm. Tam báo (hiện báo, sanh báo, hậu báo), ngũ quả[27] soi xét chỗ chân tục hướng về. Nếu chẳng thông đạt tam lượng, phân định chân, vọng như thế nào đây? Chẳng biết bốn phần, Thể lẫn Dụng sẽ đều mất.

Lại nói: “Nhất tâm Thật Tướng đều là các pháp. Các pháp được sanh đều từ thiện ác hiện hành huân tập. Thức thứ tám chứa đựng chủng tử làm nhân, phát khởi báo ứng nhiễm hay tịnh sai biệt là quả. Nếu chẳng phân tích vi tế, vấn đáp quyết nghi, sẽ do đâu mà đạt đến cội nguồn tổng biệt của nhất tâm, thấu triệt bờ mé tánh tướng của tám thức?” Nắm dây chài chính của tấm lưới giơ lên, cốt ư để căng lưới; chẳng thể bỏ lưới giữ dây chài. Giơ cổ áo lên là để mặc áo, chẳng thể bỏ áo giữ lấy cổ áo! V́ thế, Sự và Lư cùng hiểu rơ th́ mới thông với ư chỉ viên măn. Giáo lẫn Quán cùng vận dụng th́ mới thấu đạt nhất thừa. Lại nói: “Chẳng do Giáo chỉ ra, sẽ do đâu mà biết tự tâm? Nếu chẳng do Giáo mà nêu tỏ, cũng cần phải nhờ vào Giáo để ấn khả. Nếu không, đều thành tự nhiên ngoại đạo, hoặc ám chứng thiền sư. Giả sử sanh ra liền biết, cũng là do nhiều đời nghe kinh, huân tập chủng tử, được bổn nguyện của chư thánh ngầm gia bị”.

Than ôi! Vĩnh Minh đại sư là đích tôn của tông Pháp Nhăn, ngộ bằng với chư tổ, rát miệng, buốt ḷng khuyên răn dường ấy! Ai nói Thành Duy Thức Luận chẳng phải là yếu quyết truyền tâm của Phật, Tổ ư? Tôi tiếc nuối v́ chướng sâu, Hoặc nặng, chẳng thể quyết chứng, nhưng đối với nguồn cội của tánh, tướng, đă hơi nh́n được một mối, chắc là được chư thánh ngầm gia bị. V́ thế, cũng chẳng dám tự giấu kín, giăi bày cạn hết tia sáng nơi kẽ hở, giăi bày hết ra. Cất bút vào ngày Hai Mươi Lăm tháng Ba năm Đinh Hợi (1647), hoàn thành bản thảo vào ngày Hai Mươi Lăm tháng Năm, trải qua hai tháng, soạn thành Quán Tâm Pháp Yếu mười quyển. Lại nguyện người thấy, nghe tùy hỷ, bất thoái Bồ Đề. Dù tin hay nghi, đều thành chủng tử tốt đẹp, cùng sanh vào Cực Lạc tịnh bang, trước là thân cận A Di Đà Phật, lại vào hội đầu Long Hoa, làm nh Hưởng Chúng cho Di Lặc Thế Tôn, tận đời vị lai rộng độ trọn hết hàm thức rồi mới chứng Niết Bàn.

 

* Lời tựa viết sau chuyện pháp hữu Từ Tế khất thực nuôi mẹ

 

          Giữa Thu năm Mậu Tư (1648), pháp hữu Từ Tế xin tôi lại viết lời tựa. Do vậy, tôi tự trách, khôn ngăn nước mắt giàn giụa. Thuở bé, tôi có ư nguyện dưỡng chí, lúc hai mươi tuổi tang cha, ôm hận suốt đời. Hai mươi bốn tuổi xuất gia, bỏ mẹ chẳng phụng dưỡng, v́ muốn định thời hạn mong chứng quả ḥng báo ân cha mẹ. Chẳng ngờ lúc hai mươi tám tuổi, mẹ lại bỏ cơi đời, buồn đau dằng dặc, gan ruột đứt từng tấc. Vẫn nói: Quyết chí vào non sâu, mong đạt được một phần thỏa đáng, may ra chuộc tội khiên ngập trời. Tới lúc ba mươi mốt tuổi, bị đạo hữu lôi kéo, ép buộc, dần dần bị vướng mắc vào lưới danh vọng, khiến cho chí hướng ngầm tu, mật chứng càng thêm lỡ làng!

Nay tuổi đă tṛn năm mươi, cha mẹ bỏ tôi đă tṛn ba mươi năm, đă chẳng thể như ngài Mục Kiền Liên tự chứng quả, thường nghĩ kết một tịnh đàn, mời mười người bạn tu Tịnh Độ Sám Pháp. Hiềm rằng túi, bát trống trải, tệ hơn kẻ hành khất, thường trong đêm thanh, trằn trọc buồn than. C̣n như Từ Tế một bát ngàn nhà, thừa hoan dưới gối[28], đúng là niềm vui chẳng nghĩ bàn! Tăng, tục khéo thông đạt, bèn dùng hạt gạo, cọng củi để giúp cho ḷng hiếu dưỡng của ông ta. Đúng là phước chẳng nghĩ bàn! Tôi chẳng có phước ấy, cho nên chẳng có niềm vui ấy, nghiệp đời trước nặng nề, c̣n nói ǵ được nữa! Kính sanh ḷng tùy hỷ sâu xa đối với phước ấy, niềm vui ấy. Đem thiện căn tùy hỷ này thí trọn khắp hữu t́nh trong pháp giới ḥng cùng đạt được phước ấy, niềm vui ấy, cho đến báo ân cha mẹ trong bao kiếp, tích chứa cái nhân thành Chánh Giác, vĩnh viễn ĺa nỗi khổ vô phước, vô lạc của kẻ không ra ǵ này. Do vậy, gạt lệ mà lại viết điều này!

 

* Lời bạt cho bản chép kinh Đại Phật Đảnh của thầy Bối Lâm

 

          Tôi nghe thầy Bối Lâm giỏi chép kinh Phật, được các bạn phàm phu ở Giới Am khâm phục. Khéo sao ông Trầm Phủ Thọ cho tôi xem bản chép tay kinh Đại Phật Đảnh của Sư. Mỗi lần viết một chữ, Sư ắt lễ một lạy, tinh thành, đoan nghiêm, mực thước, ngàn đời khó thấy phong cách ấy. C̣n phần Phạm văn và tượng Minh Vương chẳng khác được Ngũ Thiên đích thân trao truyền; bởi lẽ, thật sự đạt được trong các môn Định, chẳng phải là qua loa! Sư gởi chí nơi An Dưỡng, thệ nguyện rộng sâu, thị tịch, trà-tỳ, xương đều là năm màu. Phủ Thọ chuyên tu Tịnh nghiệp, hợp ư Sư nhất, cho nên có được bản chép tay nhiều nhất. Than ôi! Cơi đời coi rẻ giáo thừa, khinh bạc Tịnh Độ, há có ai chuyên trọng như Sư? Lại há có được người người như Phủ Thọ để đạt được điều chủ yếu ấy ư?

 

* Đề từ cho Ngọc Lăng Thí Trà Sách

 

          Tánh thủy vốn sẵn như vậy, trọn khắp pháp giới, tùy tâm ứng lượng, hoặc là vạc sôi trào nước tiểu, hoặc là máu mủ, suối trong, hoặc là thuốc cam lộ của chư thiên, hoặc là nước tám công đức trong Tịnh Độ, đều theo nghiệp mà hiện, chẳng phải là nhân duyên, chẳng phải là tánh tự nhiên. Toàn thể của tánh chân đă là tùy tâm ứng lượng, vậy th́ các thứ như vạc sôi, tám đức v.v… có ǵ chẳng phải là vốn sẵn trọn khắp pháp giới ư? Nhưng Biến Kế t́nh chấp vắt ngang trong tánh chân, chia thành nước, lửa, chia thành lạnh, nóng, đói, khát. Do vậy, chư Phật quyền trí thuận theo t́nh chấp, chẳng tranh chấp với cơi đời, do lạnh, nóng mà ấm, mát, do đói, khát mà ăn uống, do thấy nước, lửa mà điều ḥa, bèn mở ra đủ loại pháp môn thí thực, thí trà.

Chỉ riêng đối với pháp môn này, có kẻ do mê muội nhân quả lại thành pháp giới tam đồ. Kẻ chấp tướng, chấp ngă, lại thành pháp giới Tu La. Gắng sức làm lành, tạo thành pháp giới nhân thiên. Hiểu rơ vốn là Không, trở thành pháp giới Nhị Thừa. Thâm nhập duyên khởi, rộng diễn hạnh môn, thành pháp giới Bồ Tát. Thông đạt Thật Tướng, chẳng nhập, chẳng tự đạt được, thành pháp giới của chư Phật. Tuy nương vào pháp môn này, xuất hiện đủ mười pháp giới, đối với sự tướng vẫn chẳng tăng giảm, mà đối với pháp tánh cũng chẳng tăng giảm. Do vậy, bất biến mà thường tùy duyên, lư trọn đủ lại c̣n thành sự tạo. Tùy duyên mà thường bất biến, sự tạo vẫn bao gồm lư trọn đủ. Do vậy, người có thể thí, vật được thí, và người nhận bố thí đều trọn đủ hai tầng ba ngàn [tánh tướng]. Đó gọi là tam luân thể vắng lặng, duyên khởi vô sanh, ba ngàn vô tánh vậy! Há có ĺa những chuyện thường ngày trong hiện tiền mà riêng có một lẽ hướng thượng nhất trước ư?

Ngọc công tạo pháp chẳng nghĩ bàn này, đưa văn từ cho Ngẫu Ích Húc Tử xem. Húc bèn niêm tụng[29] rằng: “Chẳng hiểu mà nhận trà này, đọa vào địa ngục A Tỳ. Người thí trà này, cũng đọa vào địa ngục A Tỳ. Thấu hiểu, ắt người thí thành vô thượng Bồ Đề, người uống cũng thành vô thượng Bồ Đề”. Tuy vậy, đấy vẫn là lời lẽ dựa trên t́nh chấp so đo mê, ngộ. Rốt ráo siêu t́nh quá lượng, chẳng thuộc vào mê, ngộ, sẽ là như thế nào vậy? Chẳng ngại nhờ đầu lưỡi cụ bà Triệu Châu[30], thong thả đáp rằng: “Uống trà đi!”

 

* Lời bạt cho “Khúc Ca Nghe Kinh Pháp Hoa của pháp sư Tu Nhă đời Đường” do Hám Sơn đại sư chép

 

          Tâm tột bậc mầu nhiệm. Tam thế Phật nương vào đấy mà thành đạo, mười hai loài[31] nương vào đó mà luân chuyển. Núi, sông, mặt trời, mặt trăng nương vào đó mà huyễn hiện. Văn tự, âm thanh nương vào đó mà phát khởi, tuyên thuyết. Tâm chẳng thể h́nh dung bằng ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ chưa từng chẳng phải chính là tâm. Tùy thuộc mỗi một lời, ắt đều nắm vững toàn thể đại dụng của tâm, nhưng đến trọn hết đời vị lai diễn vô lượng ngôn ngữ cũng chẳng trọn hết sự mầu nhiệm của một niệm tâm! Ai nấy đều trọn đủ diệu tâm, đạt được kinh Pháp Hoa mầu nhiệm từ cụ già Thích Ca, ngơ hầu cước chú kinh Pháp Hoa mầu nhiệm. Có được bài ca nghe pháp mầu nhiệm của pháp sư Tu Nhă; đại lược tán dương từ ngữ hay đẹp tuyệt diệu trong khúc ca ấy. Lại có được thủ bút tuyệt diệu của ngài Hám Sơn, đáng xưng là hai thứ tuyệt vời. Cơi đời có kẻ chẳng biết tự tâm mầu nhiệm, kinh Pháp Hoa mầu nhiệm, và sự mầu nhiệm của khúc ca này, chỉ trân quư thủ bút tuyệt diệu của ngài Hám Sơn, sáng tối ngắm nghía. Nào có biết do chữ mà biết tới khúc ca, do khúc ca mà biết kinh, do kinh mà ngộ cái tâm. Như vậy th́ diệu tự, diệu ca, diệu kinh, không ǵ chẳng từ diệu tâm lưu xuất, không ǵ chẳng trở về diệu tâm. Ai nói “ngoài tâm có pháp, ngoài pháp lại riêng có tâm” ư?

 

* Lời bạt cho Thập Đại Ngại Hạnh (thập đại ngại hạnh trích từ Bảo Vương Tam Muội và Niệm Phật Trực Chỉ)

 

          Phật, tổ, thánh hiền, chẳng có ai không dùng nghịch cảnh làm ḷ rèn lớn. Trong Tứ Thánh Đế của đức Phật, Khổ Đế đứng đầu. Lại c̣n gọi bát khổ là tám vị thầy. Nếu hơi có t́nh kiến chuộng thuận, ghét nghịch, rốt cuộc sẽ cùng mục nát với cỏ mùa Hạ mà thôi! Sao có thể như tùng, bách cao vút giữa sương, tuyết cho được? Ngọc đẹp chẳng mài giũa, chẳng trở thành vật quư. Vàng thô chẳng luyện, chẳng tinh ṛng. Chuông không gơ chẳng ngân. Đao chẳng mài chẳng bén. Há có trời sanh Di Lặc, tự nhiên Thích Ca ư? Muốn làm thánh, hiền, Phật, Tổ, ắt chịu đựng chửi bới như uống cam lộ, gặp cảnh trái ngang như có được vật chí bảo, th́ mới gọi là “gặp cảnh hoạn nạn bèn hành xử theo hoạn nạn”, mới có thể ở trong uế độ mà gieo cái nhân Tịnh Độ, mới như hoa sen vượt ngoài bùn, vượt thẳng lên Bất Thoái. Nếu vô sự th́ nói đăi bôi là niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ; hễ gặp chuyện chẳng như ư, liền hối hận, bực bội, than thở, tôi sợ tam-muội chẳng thành, sanh Tây chưa bảo đảm! Cần phải đối với mười đại ngại hạnh này, mỗi mỗi tự kiểm nghiệm, nếu thật sự khi bệnh tật, khi khó khăn, thậm chí khi bị oan ức, chỉ càng tăng thêm cái tâm niệm Phật, hiểu rơ Khổ Không Quán, th́ búp sen sẽ ngày một tươi nhuận, đáng gọi là Bảo Vương tam-muội vậy!

 

* Lời bạt cho bức thêu kinh Kim Cang của cô gái họ Đường

 

          Cơi đời thêu hoa, thêu chim, sử dụng lụa, chỉ, tay và tâm. Dùng lụa đẹp, chỉ mịn, tâm linh thông, tay khéo léo mà thêu hoa và chim, th́ sẽ là hoa và chim. Chuyển sang thêu kinh Bát Nhă th́ sẽ là Bát Nhă. Nói Bát Nhă và hoa chim là khác, th́ lụa, chỉ, tâm, tay thật sự có ǵ khác chăng? Bảo hoa, chim giống với Bát Nhă th́ cái quả “thăng, trầm, khổ, vui” có giống nhau hay không? Dùng lụa đẹp, chỉ mịn để thêu hoa, chim, cũng như nói “Pháp Thân lưu chuyển, gọi là chúng sanh”. Nếu dùng những thứ đó để thêu Bát Nhă, giống như nói “khổ chính là Pháp Thân, là Thật Tướng Bát Nhă”. Dùng cái tâm linh thông để thêu hoa, chim, giống như nói Bồ Đề chính là phiền năo. Dùng những thứ ấy để thêu Bát Nhă, cũng giống như nói “phiền năo tức là Bồ Đề, là Quán Chiếu Bát Nhă”. Dùng tay khéo léo để thêu hoa, chim, giống như nói “Niết Bàn chính là sanh tử”. Dùng ngay thứ ấy để thêu Bát Nhă, giống như nói “kết nghiệp chính là giải thoát”, là Văn Tự Bát Nhă.

Tam Bát Nhă chỉ trong một then chốt chuyển biến, nhưng lụa và chỉ chẳng chuyển, tâm chẳng chuyển, tay không chuyển, tức có thể chuyển tam chướng thành tam đức, có nghĩa tam chướng chính là tam đức! Lục Tổ nói: “Chỉ chuyển cái tên, chẳng có thật tánh”. Nếu chẳng có lụa, chỉ, chẳng có tâm và tay, sẽ chẳng thể thêu Bát Nhă, cũng há có thể thêu hoa, chim ư? Nói hoa, chim chẳng do lụa đẹp, chỉ mịn, tâm linh thông, tay khéo tạo thành, tôi chẳng tin! Biết điều này th́ bọ hung lục tức[32] đă nghĩ ra quá nửa rồi!

Thiện nữ họ Đường thấy thần kim giáp, chính là thần cầm chày kim cang vốn sẵn có trong tự tâm, bèn triệt ngộ cái tâm này. Ba món Bát Nhă (Văn Tự, Quán Chiếu, và Thật Tướng) chẳng có hai Thể, dùng nguyện lực đại bi đồng thể thủ hộ Văn Tự Bát Nhă, khiến cho pháp giới chúng sanh do vậy mà khởi quán chiếu, chứng Thật Tướng. Nh́n vào sự cảm ứng của tín nữ họ Đường, liền có thể tin vào sự cảm ứng nơi tự tâm. Tin vào sự cảm ứng nơi tự tâm, sẽ có thể tin cảm ứng chính là chẳng phải cảm ứng, chẳng phải cảm ứng chính là không ǵ chẳng cảm, không ǵ chẳng ứng. Đó gọi là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu). Đó gọi là cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn, là Bát Nhă rốt ráo, là hoa, chim rốt ráo!

 

* Lời bạt cho bản chép kinh Đại Phật Đảnh của ông Khứ Bệnh

 

          Như Lai Tạng bất biến tùy duyên, toàn thể là thiện, ác. Thiện, ác tùy duyên bất biến, toàn thể chính là Như Lai Tạng. Như mặt trời mọc, thiên hạ sáng sủa. Mặt trời lặn, thiên hạ tối tăm. Hư không thuận theo đó mà sáng hay tối, chẳng phải là sáng hay tối có thể tăng giảm. Ông Khứ Bệnh nhân một niệm mê mà phá, phạm, nay do một niệm ngộ mà tận sức chép Đại Thừa. Mặt trời đă mọc rồi, tâm tánh vẫn như cũ, chẳng sai chạy, xin đừng nghi nữa, lại chẳng nên mê tối nữa!

 

* Lời bạt cho Tứ Thập Bát Nguyện Quyển

 

          Kinh Đại Bát Nhă nói: “Hằng sa Bồ Tát phát vô thượng tâm, hoặc nhất nhị đắc bất thoái giả, cái vô thiện xảo phương tiện, tuy đa kiếp cần hành Lục Độ, bất miễn thoái đọa Thanh Văn, Bích Chi Phật địa, huống bất năng cần hành Lục Độ giả hồ?” (Bồ Tát nhiều như cát sông Hằng phát tâm vô thượng, hoặc một hai người đạt được bất thoái, do không có phương tiện thiện xảo, dẫu nhiều kiếp siêng hành Lục Độ, chẳng khỏi lui sụt xuống địa vị Thanh Văn, Bích Chi Phật, huống hồ kẻ chẳng thể siêng hành Lục Độ ư?) Nhưng kinh Pháp Hoa dạy: “Nhược văn nhất cú, nhất kệ, ngă diệc dữ thọ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề kư” (nếu nghe một câu, một kệ [của kinh Pháp Hoa này], ta cũng thọ kư Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác [cho người ấy]) lại là như thế nào? Cần phải biết Pháp Hoa luận định từ khởi đầu cho đến kết thúc, dẫu đọa trần kiếp, về sau ắt thành Phật, do không ai vượt ngoài Phật tánh. Nhưng đại chúng kết duyên từ thời Đại Thông [Trí Thắng] Phật, nay có người c̣n trụ trong địa vị Thanh Văn, cho đến các đệ tử Thanh Văn trong tương lai vẫn được mười sáu vị vương tử giáo hóa. V́ thế, Bát Nhă nói lắm kẻ thoái đọa, đọc Pháp Hoa càng thêm chứng nghiệm! Hễ nghe danh hiệu Phật, rốt ráo thành Phật, thoái hay bất thoái, nhanh chậm một trời, một vực! Nhưng cái duyên thoái đọa là trong nhất thời, bèn lưu chuyển trong năm đường, trải qua vô lượng trăm ngàn vạn ức hằng hà sa kiếp, hứng chịu vô lượng khổ. Thử suy nghĩ sâu xa, há chẳng lạnh ḷng táng đảm ư?

Đức Thích Tôn thành đạo, dùng Phật nhăn quán những người cùng phát tâm trong quá khứ, hoặc đang ở trong tam đồ hứng chịu khổ sở cùng cực, hoặc ở trong đường trời, người đang đắm đuối dục lạc, hoặc sanh trong Sắc Giới, Vô Sắc Giới, cố chấp giữ lấy sự si mê, ương bướng, hoặc chứng Thanh Văn, Bích Chi Phật, giữ lấy sự đắm ch́m trong không tịch. Chao ơi! Những người cùng phát tâm với đức Thích Ca mà c̣n lần khân như thế, há nghi những kẻ mới kết duyên với các vị vương tử đọa lạc há ngờ chi? Chúng ta sáng tối hễ hơi có nạn duyên, bệnh khổ, c̣n cảm thấy khó nhẫn! Vậy th́ kẻ cam chịu một niệm sai lầm, chuốc lấy họa ương thoạt ch́m thoạt nổi dài lâu, há chẳng phải là “người không lo xa, ắt có buồn gần” đấy ư?

Thế nào là phương tiện thiện xảo? Chính là như Bát Nhă nói “quán hết thảy các pháp là Không, độ hết thảy chúng sanh”. Quán hết thảy các pháp là Không, danh lợi sao đáng vương vấn trong tâm? Độ thoát hết thảy chúng sanh, khổ hạnh nào chẳng thể gắng công? Quán Không mà chẳng độ sanh, đọa vào địa vị Nhị Thừa. Độ sanh mà chẳng quán Không, đọa vào ái kiến từ. Huống hồ buông lung ngă mạn và chẳng có ḷng Từ thế gian! Tham lợi danh cũng chướng ngại, lệch lạc lư, một hạt cải che trời, một lóng tay bịt mắt. Báu ma-ni nguyện ẩn măi trong bùn lầy, hết sức đáng tiếc! Nhưng một hạt cải, một ngón tay, gạt bỏ cũng khó ǵ, chỉ do chẳng chịu gạt bỏ đó thôi! Nếu niệm nào cũng có thể duyên theo nguyện vương này, sẽ chẳng phụ sơ tâm nhân địa, mặt trời rực rỡ giữa hư không, sương ái tiêu diệt. Do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng chóng thành Chánh Giác chỉ v́ lẽ này mà thôi!

 

* Lời đề từ giúp cho bản in Mai Hoa Vịnh do Trương Hưng công khắc in

 

Tôi thuở bé hết sức ưa chuộng quả mơ, hễ ăn liền ăn mấy trăm quả, nhưng trọn chẳng biết cái vẻ đẹp cuốn hút của hoa mơ. Nay răng đă yếu dần, hễ nói đến quả mơ chua, miệng vẫn nhễu nước miếng, điệu bộ giống hệt như xưa! Lại c̣n biết hoa mơ thanh tú, thơm tho, tao nhă, riêng tươi tốt trong tiết lạnh hằng năm, chỉ thấy bậc cao nhân, tài sĩ mới đạt được như thế. Than ôi! Ăn quả mà chẳng biết hoa; đă biết hoa, chẳng c̣n có thể tham trái được nữa. Trộm lấy làm lạ là nay kẻ vừa biết hoa, kẻ vịnh hoa đua nhau tạo thành khúc điệu kỳ diệu; nhưng kẻ mê quả đă lâu, chưa từng thấy một ai vịnh quả! Xưa kia, đức Thế Tôn dùng hoa sen khéo sánh ví diệu pháp, Thiên Thai đại sư dùng nghĩa Quyền, Thật để giải thích. V́ Thật mà hành Quyền, như do v́ hạt sen mà có hoa, dụng ư nơi Thật. Khai Quyền hiển Thật, như hoa nở, hạt sen hiện, dụng ư nơi Quyền.

Ôi! Kẻ trước kia mê ăn trái mơ mà chẳng vịnh trái mơ, bệnh tại chẳng hành Quyền! Nay đă biết Quyền mà đa phần vịnh Quyền, công có thể quên Thật ư? Xét ra, Quyền Thật cũng rất khó biện định. V́ Thật mà hành Quyền, ngoài Quyền chẳng có Thật. Do đó, kẻ chấp Quyền là Thật th́ chẳng đúng, mà câu nệ Quyền là Quyền th́ cũng chẳng phải. Khai Quyền hiển Thật, th́ ngoài Thật chẳng có Quyền. Do vậy, ĺa Thật cầu Quyền cũng chẳng đúng, bỏ Quyền bàn Thật cũng sai luôn! Hiện thời, có người bàn Thật, phần lớn là như nói đến quả mơ cho đỡ khát, là mẹo vặt lừa dối của họ Tào[33] đó thôi! Coi mơ là mơ, chẳng bằng coi không phải mơ là mơ, coi chẳng phải mơ là chẳng phải mơ, chẳng bằng coi mơ là không phải mơ. Mơ là một sông Hằng, một sông Hằng là quả mơ. Bỏ cái thấy của người, trời, cá, rồng, cố nhiên là chẳng có một con sông nào khác! Bỏ lời vịnh của các bậc quân tử, há có riêng một quả mơ ư? Các vị quân tử ai nấy đều vịnh hoa mơ, tự nhiên là hoa mơ phủ trời, rợp đất. Ông Trương Hưng trầm tĩnh, kiên quyết, Tăng Tŕ thông minh siêu quần, dẫu theo sau người khác mà do gắng công luôn vượt lên. Nếu nêu tỏ trọn vẹn, sẽ đều cùng hiện, sao lại hỏi chẳng dung hội ư? Chắc là ư nghĩa như thế đấy ư? Chắc là ư nghĩa như vậy đó chăng? Các vị quân tử đă mượn hoa mơ để viết lên điều mong muốn, tôi cũng mượn đó mà đùa bỡn đề từ vậy!

 

* Lời bạt tự ghi cho sách Pháp Hoa Hội Nghĩa

 

          Than ôi! Diệu pháp viên đốn, bao kiếp lâu xa khó gặp gỡ. Tôi là kẻ ngu muội, do duyên ǵ may mắn gặp gỡ? Mỗi lần giở xem, dường như đă được nghe từ trước, há chẳng phải do sức oai thần của ngài Phổ Hiền, do công thủ hộ của đức Thích Ca ư? Trí Giả đại sư chẳng thể biên soạn thêm, [thế nhưng] bậc hậu hiền chấp chặt, tranh đấu ào ạt nẩy sanh, [khiến cho] pháp môn “viên dung, dứt bặt đối đăi” gần như trở thành t́nh kiến “đây, kia, đúng, sai!” Tường thành, hào lũy của người hoằng kinh ngày càng cao, càng sâu. Kẻ ngóng nh́n, nỗi nghi sợ mỗi ngày thêm nẩy! Tai nghe, mắt nh́n, vặn tay, đau ḷng, bèn chẳng nề hà bản thân kém cỏi, vụng về, dông dài [viết lời] giới thiệu. Cất bút từ ngày Mồng Năm tháng Mười Một năm Kỷ Sửu (1649), mới viết xong lời tựa, nằm bệnh mất nửa tháng. Tới ngày Mười Chín, mới có thể miễn cưỡng tiến hành. Sáng tối siêng gắng, tay chẳng ngừng viết, mắt không ngừng đọc, tới ngày Hai Mươi Sáu tháng Chạp chỉ hoàn thành tám quyển Hội Nghĩa. Nghỉ ba ngày Tết, tới hôm Nguyên Đán năm Canh Dần (1650), liền thử nhắc bút. Lại phải qua một tháng mới hoàn thành. Tính ra, Hội Nghĩa gồm mười sáu quyển, vận dụng trọn tâm lực suốt sáu mươi tám ngày.

Chao ơi! Từng nghe cổ nhân trong một nén hương, liền có thể tụng rành rẽ một bộ Hoa Nghiêm, nhưng Húc tôi cũng là hạng độn căn, cặm cụi đến mức ấy, cũng đáng chê cười lắm thay! Nhưng nhờ vào lời khuyên nhủ này để tiếp dẫn kẻ sơ học, khiến cho họ dần dần ngộ Thật Tướng của Pháp Hoa, chẳng đến nỗi rốt cuộc gác kiếm, mà cũng chẳng ngó nh́n biển khơi [ngao ngán], th́ Thích Ca, Phổ Hiền, và Trí Giả ắt cũng thương xót Húc độn căn mà càng thêm soi thấu nỗi khổ tâm của Húc vậy.

 

* Lời bạt tự ghi cho Chiêm Sát Sớ

 

          Nhớ mùa Đông năm Tân Mùi (1631), tôi ngụ tại Bắc Thiên Mục, có ông Từ Vũ Hải ở Ôn Lăng, pháp danh là Hoằng Khải, nói đến diệu điển Chiêm Sát này. Tôi đặc biệt sai người sang Vân Thê thỉnh được. Mở ra đọc, buồn vui chen lẫn. Mùa Đông năm Quư Dậu (1633), nương theo kinh để lập sám. Mùa Hạ năm Ất Hợi (1635), giảng diễn, chia khoa. Khi đó liền có ư nguyện viết sớ giải, nhưng bệnh tật, bận bịu xen lẫn, bấm tay tính ra đă mười lăm năm rồi! Phạm Vơng, Phật Đảnh, Duy Thức, Pháp Hoa đều đă chú thích, riêng nguyện cũ này vẫn chưa đền bồi, đáng than lắm thay!

Canh Dần (1650) năm nay, đă trải năm mươi hai năm sống trên cơi đời, trăm ư niệm đă nguội lạnh, ngẫu nhiên cùng với mấy người cùng chí hướng, vẫn đến kết Hạ tại Bắc Thiên Mục, dốc ḷng nơi Tỳ Ni. Tôi nghĩ đời Mạt, muốn đắc tịnh giới, mà bỏ pháp Chiêm Sát luân tướng, sẽ chẳng có đường lối nào khác, bèn cất bút vào ngày Mồng Một tháng Sáu, trải mười bốn ngày bèn hoàn thành bản thảo, dùng một giọt để giúp cho biển cả, nâng một hạt bụt để bồi đắp núi Tu Di, tuy vô ích cho sự cao sâu, mong khéo dùi mài nơi sữa, lạc để hiến cho những người cùng chí hướng sẽ cùng được hưởng đề hồ.

 

* Lời bạt tự ghi cho Bồ Tát Giới Bổn Kinh Tiên Yếu

 

          Tôi soạn Phạm Vơng Hợp Chú đă đem tất cả khai, giá, tŕ, phạm trong kinh này dung hội hết trong mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Do có người mỗi nửa tháng tụng giới bổn này, kiên nhẫn thỉnh tôi soạn tiên thích (箋釋, sớ giải những điểm trọng yếu), tôi sợ phạm lỗi trùng lặp, rườm rà, bèn từ chối đôi ba lượt. Người ấy bèn thỉnh rằng: “Độn căn thời Mạt hoặc là chẳng thể xem trọn khắp bản Hợp Chú, nếu chẳng khiến cho người biết đại lược đại ư, há họ chẳng phạm tội vô tri ư?” Do vậy, tôi gắng chú giải những chỗ thiết yếu nhất để tạo thuận tiện cho người mới học. C̣n như Bồ Tát tỳ-kheo tự phải nên học trọn khắp Luật Tạng của Đại, Tiểu Thừa, dẫu là Bồ Tát sa-di và Ưu-bà-tắc cũng phải nên học rộng kinh luật Đại Thừa, há có nên giữ lấy một giọt này, bỏ mặc biển cả ư?

 

* Lời bạt cho kinh Kim Cang

 

          Đối với ư chỉ trọng yếu của Kim Cang Bát Nhă th́ một câu ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm) đă đủ bao trùm. Bởi vô trụ chính là cái được gọi là “ưng trụ” (hăy nên trụ), “sanh tâm” chính là cái được gọi là “hàng phục cái tâm”, nhưng hai chữ “sanh tâm” càng là công phu để thực hiện. Do ngoại phàm chẳng sanh tâm xuất thế; do vậy, luôn trụ trong sanh tử. Nhị Thừa chẳng sanh thâm tâm “thượng hoằng, hạ hóa”, nên luôn trụ trong Niết Bàn. Chỉ có Bồ Tát chẳng trụ trong lục trần mà hành Lục Độ, cho nên có thể trụ đúng như lời dạy, gọi là Đệ Nhất Nghĩa Trụ, cũng gọi là “trụ trong Phật trụ”.

Thử nghiền ngẫm những chỗ khuyên sanh tâm trong kinh, chẳng phải chỉ có một. Như nói “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm”. Lại nói: “Ưng như thị sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh cái tâm thanh tịnh như thế). Lại nói: “Tín tâm thanh tịnh, tắc sanh Thật Tướng” (tín tâm thanh tịnh bèn sanh Thật Tướng). Lại nói: “Vị lợi ích nhất thiết chúng sanh, ưng như thị bố thí” (v́ lợi ích hết thảy chúng sanh hăy nên bố thí như thế). Lại nói: “Dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp” (Dùng vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy các thiện pháp). Cho đến “ư pháp bất thuyết đoạn diệt tướng” (đối với pháp chẳng nói tướng đoạn diệt) v.v… Trong khoảng giữa, lại nói thẳng thừng: “Ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên sanh tâm chẳng trụ vào đâu). Do vậy mà xem, nếu chẳng sanh tâm tu Lục Độ, sẽ trụ trong tướng đoạn diệt. V́ thế, tôi thường nói: “Kinh này lấy Thật Tướng làm Thể, coi quán chiếu là Tông, dùng văn tự làm Dụng”. Người xưa nói “vô tướng làm Thể, vô trụ làm Tông”, chẳng đúng!

 

* Đề từ cho bức họa

 

          Thấy núi quên đạo, bị cổ nhân quở trách. Huống hồ dốc ư miêu tả sơn thủy để làm đồ cổ ngoạn ư? Người vẽ, người cầu đều lănh ba mươi gậy. Tuy nhiên, ngoài tâm chẳng có pháp, đầy mắt là non xanh. Nếu có thể thấu hiểu, hết thảy các pháp mà nét vẽ hướng đến, sẽ ngồi nơi đạo tràng được vẽ, chuyển pháp luân trong nét vẽ, độ người và vật được vẽ, chứng tượng Phật được vẽ, sẽ bị tôi đập ba mươi gậy. Đó là Phổ Hiền rộng hưng khởi sự cúng dường vậy!

 

* Ba bài đề từ cho Thiệu Thạch Sanh Tập Đào Cận Thể (tập thơ Cận Thể[34] của Thiệu Thạch Sanh phỏng theo phong cách Đào Uyên Minh)

 

          1) Thơ văn kỳ tuyệt xưa nay, không ǵ chẳng từ lương tri biến hiện, nhưng người mê muội cho là nhất định thuộc cổ hay kim, chẳng biết chúng đều là tâm ảnh của chính chúng ta. V́ thế, bị thơ văn sai khiến, chẳng thể khéo dùng thơ văn! Tập này thật sự khéo dùng [thể thơ của ông] Đào đấy chăng? Tuy nói là Đào Thi (thơ theo phong cách Đào Uyên Minh), quả thật là h́nh bóng của ông Thiệu!

          2) Gơ ngọc, rung vàng, chẳng phải là không tốn công. Nung phàm, đúc thánh, không ǵ chẳng do tài. Nếu huyết mạch bế tắc, cánh tay sẽ chẳng thể điều khiển cổ tay, cổ tay chẳng thể điều khiển ngón tay, huống hồ vật ngoài thân ư? Nếu thấu đạt tánh, t́nh ấy, rồng có thể cuộn, cọp có thể chạy, huống hồ câu thơ ư? Tuy vậy, rồng, cọp c̣n dễ chế phục, chẳng khéo sử dụng câu thơ, sự giận dữ trong câu thơ c̣n quá hơn rồng, cọp vậy!

3) Ông Thiệu chẳng phải là không biết tự kiềm chế, phỏng theo họ Đào mà quên mất chính ḿnh. Ông Thiệu chẳng phải là không biết vẫn phỏng theo ông Đào, v́ luật [thơ ràng buộc] mà quên mất [phong cách thơ ca của ông] Đào. Quên chính ḿnh th́ ông Đào cũng là chính ḿnh. Quên ông Đào th́ chính ḿnh cũng là ông Đào. Thiên hạ có kẻ chẳng quên mà có thể sử dụng ư? Tay quên nên giữ, chân quên nên đi, mắt quên nên nh́n, miệng quên nên nói. Trang Tử nói “ngư tương vong ư giang hồ”[35] cũng khá gần giống. Quên tác dụng th́ chính là đại vong, mà cũng quên luôn cái quên ấy th́ là đại dụng. Ông Thiệu sẽ đạt đến chỗ ấy!

 

* Đề từ cho Thiết Tâm Kiều Sách

 

          Kinh Đại Phật Đảnh nói Sắc Ấm của chúng sanh bất quá lấy vọng tưởng kiên cố làm gốc. Vọng tưởng mà nói là “kiên cố”, tức chẳng phải là kiên cố đă rơ rồi. V́ thế, núi có thể dời, biển có thể cạn, vàng, đá có thể tuôn chảy, thế giới có thể hoại, không, cho đến hư không có thể tiêu mất, sao khăng khăng có một cái cầu cho được! Cầu có lơi sắt giống như một khối thịt người. Sắt c̣n có thể trộm, th́ khối thịt càng dễ bị đoạt, càng chẳng khó khăn ǵ! Khối thịt có sắc chất ngăn ngại trong một khoảng thời gian mà c̣n chẳng khó, dễ bị đoạt mất. Vậy th́ duyên ảnh chợt sanh, chợt diệt, càng chẳng khó. Do vậy, duyên ảnh không chỉ chẳng phải là chân tâm, mà cũng c̣n chẳng phải là vọng tưởng.

Vọng tưởng chẳng có Thể, chẳng có tướng, không phương vị, không nơi chốn, nhưng dùng trọn khắp Ngũ Ấm làm gốc. Tuy nó hết sức chẳng thật, nhưng cũng rất khó đoạt. Chúng sanh từ vô thỉ tới nay dùng cái vọng tưởng ấy kiên cố chẳng thể đoạt, chỉ có Phật là có thể chẳng đoạt mà đoạt. Đó gọi là khiến cho vọng tưởng làm Phật, vọng tưởng niệm Phật, chỉ là dùng ngay cái vọng tưởng chẳng thể đoạt khiến cho nó trở lại bản tánh chẳng thể đoạt của niệm. Do vậy, đấy chính là Thủ Lăng Nghiêm Vương tam-muội rốt ráo kiên cố. Nếu bỏ vọng tưởng để riêng t́m chân tâm niệm Phật, chỗ nào sẽ có chân tâm để có thể đạt được? Nếu coi chẳng niệm là thật, lại đọa trong rỗng không, tan tác, tiêu trầm, và khuôn sáo vọng tưởng khô khan. V́ thế nói: “Đoạn trừ vọng tưởng càng thêm bệnh, hướng đến Chân Như cũng vẫn tà!” Nếu dùng cái tâm vọng tưởng để hăng hái niệm Phật th́ chính là “Thuấn Nhă Đa tánh khả tiêu vong, Thước Ca La[36] tâm vô động chuyển” (tánh Chân Không có thể tiêu vong, tâm kiên cố chẳng hề lay động).

 

* Đề từ cho bức tranh Mây Đùn ở Chi Am

 

Kinh nói: “Nhất thiết nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành thể” (hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do cái tâm mà thành Thể). Toàn thể của cái tâm đă là hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần, th́ cái ǵ gọi là tâm? Lại c̣n cái ǵ gọi là chẳng phải tâm? V́ vậy, tâm chẳng thể là chuẩn mực, chỉ biến đổi thích đáng. Nhưng chỉ biến đổi thích đáng mà rốt cuộc chẳng thể biến. Tuyên Thánh (Khổng Tử) hiểu được điều này, biết tâm tánh này không chỉ chẳng thể gọi là Khí (), mà cũng chẳng thể gọi là Đạo, Ngài chỉ nói: “Trí cập chi, nhân năng thủ chi” (dựa vào trí để thấu hiểu, dùng ḷng nhân để ǵn giữ) mà thôi, “tri chi, hảo chi, nhạo chi” (đă biết, bèn yêu chuộng, vui thích) mà thôi. “Ngă phi sanh nhi tri chi, hiếu cổ mẫn dĩ cầu chi” (ta chẳng phải sanh ra đă biết, mà là do chuộng cổ, siêng năng, sốt sắng cầu t́m [kiến thức từ cổ nhân]) mà thôi. “Học nhi thời tập chi, học chi, vấn chi, tư chi, biện chi, hành chi” (đă học rồi bèn ôn tập, học tập, hỏi han, suy nghĩ, biện định, thực hành) mà thôi.

Cư sĩ Thiệp Giang đặt tên cho cái am của ḿnh là Chi Am, hỏi Lư Sơn Tĩnh Chủ Trạm công rằng: “Chi Am là như thế nào?” Cảnh công nói: “Xưa kia, nạp tăng ở Ngưỡng Thiên B́nh, mây tụ ở sườn núi, mưa láy pháy ở chân núi, mắt thấy rơ đỉnh núi, đó là trạng thái biến đổi vậy”. Thiệp Giang vui mừng, bèn vẽ lại. Tôi nói: “Một niệm nhỏ nhoi của chúng ta nhanh chóng trọn đủ mười giới, bách giới thiên như, lư trọn, sự tạo, không thừa, không thiếu, rạng ngời cùng hiện, không chuyện ǵ chẳng xếp đặt. Như một niệm, hết thảy các niệm cũng lại như thế. Như tâm pháp, hết thảy sắc pháp cũng như thế. Như thật pháp, hết thảy giả danh cũng như thế. Đó là nói Chi Am, lạnh lẽo, mây, bút, mực, giấy, cổ tay, chủ, khách, tăng, tục, năng, sở, mỗi mỗi không ǵ chẳng là đại dụng của toàn thể. Ngũ nhăn chẳng thể thấy trọn hết, ngũ nhĩ chẳng thể nghe trọn hết, không ǵ chẳng phải là am, không am nào chẳng phải là [hết thảy mọi pháp]”. Trạm công, Thiệp Giang ai nấy đều cười to. Đem bức vẽ ấy quy vào niệm, sẽ là con đức Phật vậy!

 

* Lời bạt về chuyện thượng tọa Hằng Chánh thọ tŕ bản kinh do Châu Nguyên Giới viết

 

          Tể quan trong cơi đời, đại lược có năm loại:

1) Nương vào đại nguyện luân, thượng hoằng, hạ độ, đă ngộ ư chỉ “vô trụ sanh tâm”, có thể Phổ Môn thị hiện, luôn dùng tám điều giác ngộ của bậc đại nhân để tự giác, giác ngộ người khác.

2) Đă có tỉnh phát, chưa đoạn sai lầm do một niệm tập nhiễm, dẫu đọa vào phước to, vẫn có thể chẳng quên cái nhân gốc, ở trong dục mà nghĩ thoát khỏi. Sơn Cốc[37], Đông Pha là hạng người này vậy.

3) Xưa kia đă hướng về Tam Bảo, gieo cội phước sâu đậm, nay hưởng chức tể quan, dẫu chưa đốn ngộ nguồn tâm, nhưng cực lực hoằng dương, hộ tŕ. Lục Ngũ Đài[38] là hạng người ấy.

4) Đời trước là vị Tăng khổ hạnh, đạo nhăn chưa sáng tỏ, trần tâm chưa đoạn, thấy cảnh vinh quư, sanh ḷng ưa thích, hâm mộ sâu xa. Tuy nương vào thiện căn khổ hạnh bèn được như nguyện, nhưng buông lung trong ngũ dục, chẳng thể tự thoát ra được, tức là như Châu Nguyên Giới[39].

5) Vốn chẳng tin Tam Bảo, do tin vào phước thiện, được làm thân tể quan, thường tự cao, tự đại, chẳng biết quy y, phụng tŕ giới phẩm, nhưng vẫn hành điều thiện thế gian, lại thọ tạp báo Tu La, quỷ thần. Nếu buông lung hành các ác hạnh, sẽ vĩnh viễn đọa trong tam đồ mà thôi.

Trong hội Đại Tập, hết thảy các vị Bồ Tát hướng về đức Thế Tôn đau đớn khóc lóc, tuôn lệ, phát thệ nguyện lớn: Trước khi chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, khẩn cầu Phật gia hộ, thà đọa địa ngục, chẳng làm vua, quan, tể quan. Bởi các Ngài đă thấy sâu xa họa hoạn của phú quư, mười phần dường như đọa lạc hết chín, thăng tấn th́ trăm người chẳng được một. Than ôi! Phú quư như mây nổi, sao có thể hăm người? Châu Nguyên Giới chẳng ch́m đắm khi làm Trạng Nguyên, mà là lúc làm vị lăo tăng ở Khuông Sơn. Nhưng trong khi bị ch́m đắm, vẫn có thể chép pháp bảo này, đáng gọi là “ăn chút kim cang, rốt cuộc chẳng tiêu”, chẳng phải vậy ư? Kinh này nói Như Lai dạy hết thảy các pháp đều là Phật pháp, lại bảo: “Phật pháp chính là chẳng phải Phật pháp, th́ gọi là Phật pháp”. Nguyên Giới có thể biết nghĩa này, sẽ đem lầm đền lỡ, theo đường về nhà. Ch́m đắm trong đường phú quư nào khác h́nh tượng Phổ Môn thị hiện. Tiếc là Nguyên Giới đă mất, tôi viết lời bạt cho bản kinh ông chép, những mong tạo thành nhân duyên đắc độ cho vị lai. Nguyện những ai mai sau đọc kinh này, thấy lời bạt này, chưa làm tể quan th́ đừng ưa chuộng sự vinh hiển ấy, giẫm theo vết xe đổ ấy; đă là tể quan, hăy gấp dùng chuyện này để làm gương răn ḿnh, sớm mong theo đường về nhà th́ mới nên!

Thượng tọa Hằng Chánh hằng ngày tŕ kinh này, kiêm niệm A Di Đà Phật, chuyên cầu Tịnh Độ, há sợ lầm lẫn, đọa lạc ư? Cụ Hằng chẳng đọa vào vết xe đổ của Nguyên Giới, Nguyên Giới ắt nương theo cụ Hằng lên lạc độ. Tôi tổn ḿnh, lợi người, chưa đạt tới nhất tâm bất loạn, riêng đối với khuôn sáo tể quan đă khám phá từ lâu! Trong tương lai, ắt sẽ cùng cụ Hằng Nguyên Giới gặp gỡ, chuyện tṛ nơi ao quư, đất báu, nhớ lại lời này hôm nay, cùng ấn chứng bậc đại sĩ của đức Thế Tôn như thế này, như thế kia!

 

* Đề từ chuyện Lạc Ngu tôn túc phó chúc Thập Bát Cao Hiền Quyển cho Châu Bổn Liên

 

          Xuất gia là chuyện của bậc đại trượng phu, chẳng phải là vương hầu, tướng quân, tể tướng có thể làm được! Niệm Phật lại là chuyện cực viên đốn, chẳng phải là chuyện mà Thiền, Giáo, luật sư tầm thường có thể làm được! Viễn công từ thuở c̣n để chỏm, văn tài lừng lẫy. Sau khi xuất gia, kết xă tại Đông Lâm, thiên tử chẳng thể khuất phục khí tiết của Ngài, đúng là bậc ẩn sĩ muôn đời. Chẳng trách mười tám vị cao hiền đồng ḷng tôn sùng, ngưỡng mộ, nhưng các vị danh sĩ như Đào, Tạ chỉ đành lê la ở ngoài cửa. Đời sau, cái học của họ Thích suy dần, Thiền giảng, luật sư không ai chẳng ngưỡng mộ một, hai vị tể quan, ve văn, bầu bạn với người đời. Than ôi! So với Viễn công sẽ là như thế nào vậy?

Mùa Thu năm Kỷ Tỵ (1629), tôi từng gặp tôn túc Lạc Ngu, thấy ngài cốt khí cao vời, có phong phạm của bậc tiền bối, so với những kẻ bất tịnh, keo kiệt, và xu phụ quyền thế trong hiện thời th́ hơn hẳn cả trăm ngàn lần! Ngài có chí trung hưng liên xă, từ Khuông Sơn đem về quyển sách này, chẳng giao phó cho con cháu trong nhà chùa, mà riêng giao cho cư sĩ Châu Bổn Liên. Có lẽ thấy sâu xa chẳng thể phó chúc cho học tṛ trong nhà chùa, c̣n cư sĩ luôn có chí xuất trần. [Cư sĩ] lại có hai người con trước đó đă xuống tóc, trong ba người chắc sẽ có một người có thể thoát khỏi tập khí ác trong hiện thời, có thể khôi phục, chấn hưng gia phong của Viễn tổ (tổ Huệ Viễn) vậy!

 

* Lời bạt cho Hoa Nghiêm Đại Điển do cư sĩ Dư Nhất Tố viết theo lối chữ Khải

 

           Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm hiển lộ thẳng thừng tâm tánh trong một niệm hiện tiền của chúng ta. Cái Thể của tâm tánh chẳng có đối đăi, cho nên là Đại. Tướng chẳng khiếm khuyết nên là Phương. Dụng chẳng có ngằn mé, nên là Quảng. Tâm tánh vốn không ǵ chẳng giác nên là Phật. Vốn không ǵ chẳng chứa đựng nên là Hoa. Vốn không ǵ chẳng hiển lộ nên là Nghiêm. Chúng sanh mê điều này, oan uổng hứng chịu luân hồi, như đem kinh quyển to bằng đại thiên giấu kín trong vi trần. Chư Phật, Bồ Tát ngộ điều này, liền đắc đại giải thoát, như chẻ vi trần để thọ dụng kinh quyển to bằng cơi đại thiên. Do vậy, khi mới thành Chánh Giác, hải ấn hiện rạng ngời, mười hội chẳng ĺa sát-na, một xứ nhanh chóng trọn khắp các biển cơi nước. Tầng tầng vô tận, ví như minh châu nơi cái lưới của Thiên Đế, các pháp dung thông lẫn nhau như gương Tần[40] chồng bóng. Tùy ư nêu ra một chữ, đều trọn đủ lục tướng, thập huyền[41]. Nếu ngộ một câu, ắt thấu triệt thiên như bách giới. Viên Dung và Hàng Bố tách ra càng hợp lại. Sự, Lư, tánh, tu ḥa lẫn, càng thêm dính kết. Biển giáo nuốt vạn ḍng, ḥa lẫn thành một vị. Một giọt nơi nguồn Thiền, rộng tuôn trăm sông.

V́ thế, ngài Long Thọ thoạt đầu ngỡ ḿnh là bậc lợi căn, tự cho ḿnh vượt trội đức Phật, [sau khi] đă được thấy tạng kinh trong cung rồng, ngă chấp bất giác tiêu mất, huống hồ những kẻ nông cạn thời Mạt ư? Năm xưa, điển tịch của nhà Châu ch́m đắm, chư hầu tiếm lạm, trộm quyền, cho đến bồi thần chấp mạng[42], hoàn toàn chưa nghe âm hưởng của lễ nhạc, trộm ăn to nói lớn dối đời rằng: “Năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài, dùng con mắt chánh đáng để xem, chưa khỏi gieo đầu vào bồn đựng keo[43]. Người siêu thoát há nên lần khân như thế?” Ôi! Kẻ quê mùa ăn cơm gạo lức, cười nhạo vương công [ăn gạo đă xay giă], há chỉ là Dạ Lang Vương mà thôi! Dư Nhất Tố đă trang nghiêm biển tánh Hoa Nghiêm trong một niệm hiện tiền, há chẳng thẳng thừng gánh gác, lại há có được chút ít đă cho là đủ ư?

 

* Lời bạt tự ghi cho Tây Hữu Nghệ Dư

 

          Năm Mậu Tư (1648), tôi huyễn ngụ tại Diệp Viên tên là Mạn Cảo, soạn Tây Hữu Nghệ Dư (những lời nói mớ của Tây Hữu đạo nhân), v́ tuy niệm nào cũng quy về lạc thổ, nhưng giấc mộng lợi người vẫn chưa quên. Mùa Thu năm Kỷ Sửu (1649), về nằm tại Linh Phong. Mùa Đông năm Canh Dần (1650), mùa Hạ năm Tân Măo (1651), lại múa lưỡi[44] tại hai nơi Tổ Đường và Trường Can, cho đến mùa Thu năm Nhâm Th́n (1652), [thiên ma] Ba Tuần ra sức, giúp phá ư tưởng lợi người trong mộng. Bèo trôi ḍng Ngô, thuyền giạt sóng Ngô, lời nói mớ trong mộng[45] từ rày dứt bặt. Từ nay về sau như phiến mây đơn côi, chim hoang, tuy cùng ở trong đêm dài vô minh, riêng là một phen huyễn mộng. Nếu có ai chê cười, chẳng dung lại viết tiếp thiên sách này!

 

* Bốn lời bạt cho việc giảo định sách Tông Kính Lục

 

          1) Thánh hiền thị hiện xuất thế, giác ngộ quần mê, bất đắc dĩ mà nói năng. Nói ư chỉ “vô ngôn” ấy, tức văn tự chẳng phải là văn tự, chẳng ĺa văn tự mà nói giải thoát, há chẳng phải là ba môn Bát Nhă: Thật Tướng, Quán Chiếu, và Văn Tự vốn chẳng một, khác, cùng lúc, hay khác biệt, có thể nghĩ bàn ư? Tương truyền Vĩnh Minh đại sư là hóa thân của Phật Di Đà. Ngài đắc pháp nơi Thiều quốc sư[46], là đích tôn của tông Pháp Nhăn. Tông nhăn viên minh, phạm hạnh trong sạch. Thấy sai lầm tách rời Tông và Giáo trong mạt vận, bèn tập hợp nghĩa học sa-môn thuộc ba tông nơi Tông Kính Đường, rộng biện luận chỉ thú “tánh, tướng” của tông Thiên Thai và Hiền Thủ để cân nhắc tâm tông, gom góp thành Tông Kính Lục một trăm quyển, chẳng khác Khổng Tử tập đại thành. Chưa đầy một trăm năm, các vị như Pháp Dũng v.v… tự tiện thêm thắt. Do vậy, [sách ấy bị trở thành] chi ly, tạp thuyết, gai mắt mọi người, đến nỗi những người như Viên Trung Lang ngược ngạo ngờ vực đạo nhăn của ngài Vĩnh Minh chưa thấu triệt, cũng đáng buồn thay!

Tôi sanh cũng muộn, chẳng gặp bậc tông tượng tiền bối, chỉ lưu tâm dốc sức nơi chuyện bậc hạ đă hơn ba mươi năm. Lại c̣n luôn t́m ṭi giáo pháp liễu nghĩa tột bậc, hơi thấy được đầu mối. Đọc sách này đă ba lượt, trộm thấy có chỗ chưa thỏa đáng. Biết lỗi là do Pháp Dũng, quyết chẳng do ngài Vĩnh Minh. Đầu Thu năm Quư Tỵ (1653), loại bỏ những chỗ vớ vẩn, tạp loạn, giữ lại những chỗ trân bảo. Số quyển vẫn là một trăm, vấn đáp vẫn có hơn ba trăm bốn mươi đoạn, mỗi mỗi đều nêu bày chỗ khởi đầu và kết thúc, ngơ hầu hậu hiền xem đến chẳng đến nỗi nh́n biển cả mà thở than, khổ sở khóc than nơi ngă rẽ vậy!

          2) Chư Tổ ở trời Tây Tông Thuyết kiêm thông; do vậy có thể nối tiếp huệ mạng của Phật, lợi ích trời người trọn khắp. Nơi cơi này như Bắc Tề, Nam Nhạc, Trí Giả, Đỗ Thuận, chưa từng chẳng lấy Thiền quan (禪關, chỗ mấu chốt trong Thiền học) làm gốc. Đạt Ma, Lục Tổ, các cụ trong năm tông chưa từng chẳng dùng thánh giáo để ấn chứng. Trọn chẳng có ai thuận theo ư riêng tự coi là đúng mà có thể gọi là Thiền, hoặc đếm cát, đếm của báu mà có thể gọi là Giáo được. Tính xuống cuối đời Đường, Ngũ Quư[47], Thiền và Giáo phủ định lẫn nhau, Tánh và Tướng đối lập, Thiên Thai và Hiền Thủ chê gièm lẫn nhau, cam lộ đâm ra trở thành thuốc độc. V́ thế, Vĩnh Minh đại sư kinh sợ, bèn soạn thành Tông Kính Lục một trăm quyển ḥng răn nhắc người đời sau. Tuy [tác phẩm ấy] bị Pháp Dũng xen tạp, nhưng người sáng mắt nh́n vào, vàng, cát có thể biện định ngay. Như trăm lạng vàng ṛng, bỏ vào mười lượng đậu thạch[48], lập tức mất độ sáng. Một hộc bạch sán[49], bỏ vào đó mấy thưng hạt cỏ lồng vực[50], liền cảm thấy tạp loạn, bất tịnh. Nếu trừ bỏ đậu thạch, hạt cỏ dại, vàng sẽ sáng rực như cũ, tinh túy của gạo chẳng thay đổi. Than ôi! Hậu hiền chưa đạt được pháp nhăn sai biệt, hăy cẩn thận, chớ hư vọng thêm thắt vào trước tác của bậc tiên thánh. Tôi giở xem sách này, tới nay đă bốn lượt, thường t́m ṭi ắt có lợi ích mới mẻ, quả thật giúp ích cho việc quán tâm, trọn chẳng thể dùng đạo lư của văn tự thế gian để lănh hội. Tuy vậy, người sầu đừng nói với kẻ chẳng sầu. Nói với người chẳng sầu, họ chẳng biết, phụ ḷng mong mỏi của ông đấy thôi!

          3) Cổ nhân nói: “Dựa theo văn tự để hiểu nghĩa, tam thế Phật bị oan uổng. Ĺa kinh một chữ tức là giống như ma nói”. Đấy là lời chí lư. Kể từ khi Thiền và Giáo tách rời, Phật bị oan uổng, ma thuyết trọn khắp trong nước. Nếu chẳng phải là bậc cổ Phật hiện thân, quả thật chẳng dễ cứu. Đọc kỹ lời vấn đáp, dẫn chứng trong Tông Kính Lục, bảo [tổ Vĩnh Minh] chẳng phải là công thần bậc nhất trong thời Mạt Pháp của đức Thích Ca, há có được chăng? Nhưng chỉ có người triệt ngộ tông chỉ “vô ngôn” mới có thể khéo léo chỉ dạy giáo pháp “hữu ngôn”. Người hiện thời phải nhờ vào lời ấy để khế hội vô ngôn th́ mới chẳng chết cứng nơi ngôn từ. Nếu thẳng thừng coi đó là điều cốt lơi, chẳng biết ĺa ngón tay để được mặt trăng, dẫu liễu ngộ rành rành, vẫn là tam thế Phật bị oan uổng! Xưa kia, Tống Thái Tổ muốn chinh phạt Giang Nam, [Nam Đường] Hậu Chủ (Lư Dục) sai một người giỏi biện bác yết kiến, thưa: “Giang Nam thờ bệ hạ như thờ cha, sao cha lại chinh phạt con?” Thái Tổ nói: “Cha con ở khác nơi, có được hay chăng?” Kẻ biện bác sững sờ, chẳng đáp được! Ôi! Kẻ đọc Tông Kính Lục mà chẳng tỉnh ngộ, tôi sợ rằng khi gặp Diêm lăo, sẽ ngạc nhiên lắm! Nhưng nếu bỏ xó, chẳng đọc, lại có khác ǵ do nghẹn mà bỏ ăn!

          4) Người thuộc Giáo Hạ chẳng chịu tọa Thiền và người tọa Thiền chẳng chịu học Giáo, tuy là lỗi của thầy, nhưng cũng do kẻ đó chưa thật sự phát đại Bồ Đề tâm. Chưa phát đại Bồ Đề tâm tức là chưa từng chẳng biết đau ḷng v́ sanh tử đại sự. Nếu thật sự v́ đại sự sanh tử, sao chịu đem văn và nghĩa đối lập, tự giữ lấy ám chứng ư? Như muốn tới Trường An, miệng ắt hỏi đường, chân ắt chẳng ngừng. Hỏi mà không đi, trọn chẳng thể đến. Đi mà chẳng hỏi, ắt gặp ngơ rẽ. Nay kẻ hiểu nghĩa chết cứng theo văn tự, nào khác kẻ hỏi đường nhưng chẳng đi. Kẻ giữ lấy ám chứng, khác nào kẻ đi mà chẳng hỏi đường! Than ôi! Dùng cung cách như thế để cầu thoát sanh tử, thành tựu vô thượng đạo, khó lắm thay! Sách Tông Kính Lục đă chỉ ra con đường ấy, lại c̣n thống thiết sách tấn, có thể nói là từ bi triệt để. Nếu lại nhờ vào đó để giúp biện bác, sẽ giống như nằm trên giường xem Hoàng Dư Khảo[51] và Trường An Chí[52], rộng hướng về kẻ thôn dă mà khoác lác các chuyện trên đường, chẳng phải là không thể mê hoặc, đả động kẻ ngu! Tôi sợ là hễ gặp phải người từng đến Trường An, ắt sẽ khôn ngăn lúng túng vậy!

 

* Lời bạt tự soạn cho Liệt Vơng Sớ

 

           Khởi Tín Luận là chánh ấn truyền tâm của Phật, Tổ, là tổng tŕ của pháp tánh và pháp tướng. Như Lai đem Đại Thừa A Tỳ Đàm phó chúc cho ngài Di Lặc, đem Ma Ha Bát Nhă giao phó cho ngài Văn Thù. Bát Nhă phá chấp Hữu, hiển lộ Diệu Hữu. A Tỳ Đàm phá Ác Không, ḥng hiển lộ Chân Không. Một âm tuyên nói, chưa từng có ư chỉ sai khác. Sau khi đức Phật diệt độ năm trăm năm, dị kiến nẩy sanh. Mă Minh đại sĩ ứng với lời huyền kư của đức Phật, trùng hưng chánh pháp. Thoạt đầu là chỉ dạy ngoại đạo chấp ngă, sau đó rộng hiển lộ diệu tông Nhị Không (nhân không và pháp không), thực hiện vô ngă đại sư tử hống, phá sự thiên chấp của phàm phu, ngoại đạo, Nhị Thừa, nêu ra điều cốt lơi của một trăm lạc-xoa[53] kinh điển Đại Thừa, tạo luận đại lược, diễn giải hai môn nhất tâm, tức là do sanh diệt mà hiển lộ Chân Như, gồm thâu diệu chỉ “Bát Nhă chân không bất không”. Từ ngay Chân Như mà biện định sanh diệt, xiển dương lời lẽ huyền diệu “huyễn hữu mà chẳng hữu” của A Tỳ Đàm. Sau đấy, ngài Long Thọ nương theo Bát Nhă mà tạo Trung Luận, lại c̣n dùng nghĩa Không để thành tựu hết thảy các pháp. Ngài Hộ Pháp nương vào A Tỳ Đàm để giải thích Duy Thức, lại c̣n dùng huyễn hữu để hiển lộ hai loại Không. V́ thế biết: Ba vị đại Bồ Tát Mă Minh, Long Thọ, và Hộ Pháp cùng khế hội Phật tâm, chẳng có chút trái nghịch, sai khác nào! Hiềm rằng [đời sau, những kẻ] y văn giải nghĩa, câu nệ danh tướng, mê muội chỉ quy, đả kích kẻ khác ư kiến, kéo bè kết đảng những kẻ cùng ư kiến, dựng môn đ́nh đấu đá kiên cố, đàn luận sai lạc ư chỉ của bậc thánh, hiểu sai chân thừa, trăm ngàn năm qua rốt cuộc cùng ở trong đêm dài.

Buồn thay thời Mạt, thật đáng đau ḷng! Húc nghiệp chướng quấn sâu, chưa dự vào chánh vị, do mảy may điều thiện trong túc nhân mà khẽ lách vào Viên tông. Năm trước giải tán hết người học, dốc chí mong tu chứng. Mùa Xuân năm nay vào Tân An, ngụ tại Hồi Long ở Hấp Ph, lén giải luận này, trải qua mười một ngày, bản thảo mới hoàn thành. Việc này trên là nhờ sức gia bị của chư Phật, Bồ Tát, Mă Minh đại sư mới tạm chẳng bị nghi trệ. Lại c̣n cậy vào sức ngoại hộ của Tŕ Tuần pháp chủ mới chẳng có duyên nào khác. C̣n như cái ải tánh tướng, đủ thứ vấn đáp, biện định th́ do giới tử Kiên Mật Thành Thời đă thưa bày với tôi khá nhiều!

 

* Lời bạt cho bản kinh Pháp Hoa do cư sĩ Ngô Đại Niên chép

 

          Kinh tạng Pháp Hoa sâu thẳm, u viễn, không ai có thể đạt tới. Chẳng phải là không thể đạt đến, nhưng trong “chẳng có người”, lại hư vọng so đo có người; do vậy, suốt ngày hành mà chẳng tự giác. Nếu thấu đạt “hết thảy các pháp vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả, không pháp tướng, cũng chẳng phải là phi pháp tướng”, th́ vi trần, sát độ, mười đời xưa nay, luôn là một bộ diệu kinh. Phật tử trụ nơi đây chính là Phật thọ dụng thường trụ nơi ấy, kinh hành, ngồi, đứng, sao có thể đạt đến hay chẳng đạt đến để có thể phân biệt ư? Trong hội Linh Sơn, tán thán sâu xa một niệm tín giải và công đức thọ tŕ, biên chép, chẳng phải là lời hư giả. Cư sĩ Đại Niên chép diệu điển tới ba bộ, cháu nội là Sán Như trân trọng cất giữ, cúng dường, Ngẫu Ích đạo nhân mở xem, tùy hỷ, đạt đến hay chưa đạt đến? Đừng nghĩ bàn mới nên!

 

* Viết sau Bạc Ngạn Quyển của cư sĩ Ngô Mạnh Khai

 

          Phần Đoạn là bờ này, hai loại Niết Bàn Vô Dư và Hữu Dư là bờ kia. Biến Dịch là bờ này, Vô Trụ Đại Bát Niết Bàn là bờ kia. Không chỉ là vô trụ, mà c̣n là không đâu chẳng trụ, cũng chỉ không đâu chẳng trụ th́ mới thành vô trụ. V́ thế nói “chẳng bờ kia, chẳng bờ này, chẳng ở giữa ḍng mà độ chúng sanh”. Lại nói: “Ở trên cơi trời th́ giống như cơi trời, trong loài người th́ giống như loài người”. Xét như vậy, có chỗ nào đạt đến mà chẳng phải là bờ? Có bờ nào chẳng thể cập bến? V́ thế, chẳng cần phải hỏi cập bờ nào, hoặc hỏi có thể đậu thuyền nơi pháp nào? Dùng ái kiến để cập bờ, chỗ cập bờ không ǵ chẳng phải là bờ sanh tử. Dùng Không quán để cập bờ, chỗ cập bờ không ǵ chẳng phải là bờ Nhị Thừa. Dùng Lục Độ vạn hạnh để cập bờ, chỗ cập bờ không ǵ chẳng phải là bờ Bồ Tát. Dùng Bát Nhă rất sâu để cập bờ, chỗ cập bờ không ǵ chẳng phải là bờ Thật Tướng pháp giới.

Mạnh Khai dựng Bạc Ngạn Hiên là do ḷng hiếu thảo. Có ḷng hiếu thế gian chưa ĺa ái kiến. Có ḷng hiếu xuất thế gian, và cũng có ḷng hiếu xuất thế gian tương ứng với Không quán huyễn độ. Có ḷng hiếu xuất thế gian thượng thượng là Bát Nhă rất sâu. Mạnh Khai trai giới đă lâu, chẳng cam tâm nơi hiếu thảo thế gian. Từ ḷng hiếu xuất thế, tuân theo ḷng hiếu xuất thế thượng thượng, cái hiên[54] ấy có phải là thuyền Bát Nhă đó chăng? Nguyện cư sĩ ngồi chiếc thuyền ấy, dùng Phật độ (佛度, các Ba La Mật) làm mái chèo quế, dùng Phật hạnh làm chiếc sào lan, dùng hồng danh của chư Phật làm chiếc buồm cao, dùng hoằng nguyện văng sanh Tịnh Độ của chư Phật làm gió mạnh, ắt sẽ cùng cha mẹ cập bến báu nơi ao hoa. Sau đấy, trọn hết mười phương thế giới, không ǵ chẳng phải là lạc độ.

 

* Viết sau bài Tri Túc Ca

 

          Gỗ ắt có lửa, gặp duyên mới phát. Tâm có Bát Nhă cũng lại giống như thế. Lăo, bệnh, tử, sanh, đều là duyên thù thắng để phát khởi Bát Nhă. Ngu phu tập khí nặng nề, thiện căn mỏng manh, như gỗ ướt chẳng thể bốc lửa. Chỉ có kẻ xưa kia gieo thiện căn đă lâu, b́nh thời Hoặc nghiệp đă nhẹ ít, tuy chẳng thấy kẻ ấy siêng năng tu hành, nhưng nhà tối ngàn năm, một ngọn đèn nhanh chóng trừ sạch. Đọc bài Tri Túc Ca của Tế ông, quả thật là như vậy! Mạnh Tử Khai dốc ḷng tin tưởng Tam Bảo, cháu nội là Chân Tín, ăn chay từ bé, Bát Nhă tâm đăng đúng là chưa hề chẳng bừng bừng tiếp nối, ư nghĩa “tích loại”[55] hiếu từ đều như thế, tôi tùy hỷ sâu xa để giúp cho.

 

17. Sớ

* Sớ khuyến hóa tŕ Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn số lượng bằng một thế giới để trang nghiêm thánh tượng đức Địa Tạng

 

          Phật Thích Ca nói “định nghiệp chẳng thể cứu” nhằm khiến cho cái tâm tạo tội nguội lạnh. Địa Tạng Bồ Tát nói chân ngôn Diệt Định Nghiệp nhằm an ủi khách nơi đường cùng! Húc thuở bé học theo Đông Lỗ[56], thường báng Tây Càn. Nhờ Quán Âm đại sĩ cảm vời, nhiếp thọ; về sau, được nghe Địa Tạng Bổn Nguyện tôn kinh, mới phát đại tâm, thề rỗng không chín giới. Nay được dự vào tăng luân, thần thức được nhiễm thừa, giới, đều do nguyện từ bi ngầm gia hộ chẳng thể hư dối. Bèn nghĩ Sa Bà tệ ác, ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ tụ tập như ác-xoa (aksa)[57], vô thượng đề hồ đều thành độc dược. Người tŕ luật chỉ chú trọng y bát, đối với tác, phạm, chỉ, tŕ, mờ mịt chẳng hiểu. Người học Giáo chỉ cốt sao sướng tai, khoái miệng, đối với Thiền Na lư quán, mờ mịt, chẳng đạt được ǵ! Người tham Tông trôi lăn theo cơ cảnh, đùa bỡn tinh hồn (精魂), chứ đối với chân nguyên tâm, Phật, chưa hề đích thân chứng nhập mảy may! Một môn Tịnh Độ hơi thiết thực đối với thời cơ, cũng khổ nỗi nhiều phần trở thành thoái thác, chưa hợp Đại Thừa chẳng thể nghĩ bàn! Ấy là do nghiệp nặng, chướng sâu, trược trí lưu chuyển, dẫu có bậc thánh, cũng chẳng làm như thế nào được!

Chỉ có Địa Tạng từ tôn bi sâu, nguyện nặng, chuyên thương xót kẻ ương ngạnh, c̣n có thể chuyển tà tâm sâu dày của con trong thuở ấy, khiến cho con được chánh tín xuất gia, há khó chuyển chúng sanh trong đại địa do vô tri mà phạm tội khiến cho họ quy vào Chân Tế ư? Do vậy, con đối trước Tam Bảo, phát tâm muốn tạo điện Vạn Phật bằng đồng, chính giữa thờ Đại Sĩ để vĩnh viễn trấn giữ Cửu Hoa. Bèn thọ pháp ngày ăn một bữa, kết đàn một trăm ngày, tŕ Diệt Định Nghiệp chân ngôn năm trăm vạn lần. Lại khuyến hóa Tăng, tục đại tâm hoặc tŕ mười vạn, hoặc trăm ngàn vạn để cộng thành [con số] mười vạn vạn, biểu thị con số tam thiên đại thiên thế giới, dùng tổng số ấy để thờ trong ḷng tượng Đại Sĩ, ḥng làm bằng khoán giáo hóa rộng răi mười phương trong vị lai.

 

* Sớ tạo tượng Tỳ Lô Phật

 

          Người đời ưa chuộng đàm luận lư vô tướng, nhưng chẳng thấu đạt Thật Tướng ấn, lầm lạc coi khoát đạt không là thanh tịnh Pháp Thân, nào có biết Pháp Thân thanh tịnh vi diệu, trọn đủ ba mươi hai tướng, nhờ Sự để biểu thị pháp Hoa Tạng huyền môn. Do vậy, trong thời Mạt Pháp, coi tạo h́nh tượng Phật là công đức bậc nhất. Trang nghiêm đất, gỗ tức là trang nghiêm Pháp Thân. Biển tướng nơi mười thân[58] hoàn toàn ở trong một vi trần. Do vậy, thí một trần có thể vào trong vô tận tướng hảo quang minh của Như Lai. Nhưng một lần chiêm ngưỡng, một lễ có thể chứng vô biên công đức hải tạng của Như Lai. Vị khai sĩ X… đă muốn tạc tượng Tỳ Lô, nhưng quán như thế, chẳng lo không người trợ duyên. Các vị thượng thiện nếu muốn ngộ lư như thế, chỉ gieo nhân duyên này, chẳng lo chánh nhân chẳng hiển! Duyên này nếu thành tựu, phép Quán này nếu thành công, th́ mới tin nguyện lực của Tỳ Lô Giá Na Phật trọn khắp các cơi nhiều như cát, hừng hực thuyết pháp, chẳng có gián đoạn vậy!

 

* Sớ chép Đại Tạng Kinh

 

          Kể từ khi Phật pháp truyền sang Đông Độ, trải dài hơn một ngàn năm trăm năm, Tam Tạng bao gồm gần bảy ngàn quyển, ṿi vọi như Tuyết sơn vương, các thứ thuốc đều có đủ, mênh mông như nước biển cả, các thứ báu đều đầy ắp. Người mạnh chân chẳng thể trèo tới đỉnh, kẻ khéo vượt chẳng thể lường hạn lượng, chẳng trách kẻ ngước nh́n tâm đầy chua xót, ngóng biển cả mà kinh sợ tột cùng ư? Nhưng phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện có nói: “Thư tả kinh quyển, tích như Tu Di sơn” (Biên chép kinh quyển, chất như núi Tu Di). Phàm chuyện vượt ngoài hạn lượng, chỉ có người vượt ngoài hạn lượng là có thể thực hiện. Có kẻ bảo: “Phật pháp chẳng nhiều nhặn ǵ, sao lại dùng hành vi rườm rà ấy?” Ôi! Chẳng ĺa văn tự để nói giải thoát. Nếu thật sự lănh hội “chẳng nhiều”, Phật pháp trong một Đại Tạng há có nhiều chăng? Dẫu cho kẻ một chữ Đinh chẳng biết, chính là đang dây cà dây muống chẳng ít! Hăy nên biết “nhiều, ít, có, không” đều là hư vọng phân biệt. Tôi từng cảm khái người học Giáo chẳng thèm nghe lẽ hướng thượng, người tọa Thiền bài bác Phật pháp là vật ở bên ngoài, nào khác dùng bánh vẽ để khỏi đói, toan đi sang đất Sở mà xoay càng xe về phía Bắc ư?

Khai sĩ Nguyệt Tâm ở Long Cư đối với chuyện này đă tin đến nơi đến chốn, tự nói “căn tánh hèn kém, cơ duyên chưa gặp”, bèn dùng tŕ giới làm hạnh trọng yếu, lấy Tịnh Độ làm chỉ quy, cũng như muốn chép Đại Tạng để trợ duyên. Đấy thật sự là chuyện chẳng nghĩ bàn trong hiện thời. Học Thiền mà chẳng hủy giới là chuyện chẳng nghĩ bàn bậc nhất trong hiện thời. Lại chẳng phủ nhận Tịnh Độ, đó là chuyện chẳng nghĩ bàn thứ hai trong Tịnh Độ. Lại chẳng quét sạch Giáo, đó là chuyện chẳng nghĩ bàn thứ ba trong hiện thời. Huống chi người xem Đại Tạng đă hiếm thấy, huống hồ có thể chép ư? Càng là chuyện xưa nay chẳng nghĩ bàn! Đă phát tâm như thế, bèn dự vào hạng người vượt ngoài hạn lượng, sẽ thấy một truy, một thù[59] trang nghiêm biển pháp, tức Đàn Độ (Bố Thí Độ) chính là Bát Nhă, gọi là Đàn chẳng nghĩ bàn. Mỗi chấm, mỗi vạch ngộ nhập chân nguyên, tức biên chép chính là tu chứng, gọi là “viết chẳng thể nghĩ bàn!” Bố thí hoặc biên chép như thế, bổn nhân, quả báo, cùng vào trong cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, mà tôi là kẻ c̣n thuộc trong số lượng lại nói chuyện vượt ngoài số lượng này, cũng lại chẳng thể nghĩ bàn!

 

* Sớ trích máu chép kinh Hoa Nghiêm

         

          Tôi đọc Hoa Nghiêm, đến phần Thiện Tài thấy trong một lỗ chân lông của đức Phổ Hiền đều có hải hội trong các cơi Phật nhiều như số vi trần, dạo quanh trọn khắp [các cơi ấy] trải qua vi trần kiếp trọn chẳng có cùng tận, nào hay thân tướng chẳng thể nghĩ bàn! Cho tới khi ngài Phổ Hiền tự nói nguyện vương, bèn nói “bác b́ vi chỉ, thích huyết vi mặc, dĩ tủy vi thủy, tích cốt vi bút, thư tả kinh quyển, tích như Tu Di” (lột da làm giấy, trích máu làm mực, dùng tủy làm nước, bẻ xương làm bút, biên chép kinh quyển chất chứa như núi Tu Di). Do vậy biết: Chẳng phải là đại hạnh thù thắng, sẽ chẳng thể trang nghiêm Tỳ Lô pháp giới; chẳng phải diệu pháp Nhất Thừa, sẽ chẳng viên măn nguyện vương rộng lớn!

Nếu chẳng thâm tâm tín giải diệu pháp Nhất Thừa, nương theo giải mà khởi hạnh, hăy nên biết Hoa Tạng trang nghiêm, há chỉ thấy rơ trong một lỗ chân lông của Phổ Hiền? Đó cũng chính là chúng ta lănh hội từ trong cái tâm nhỏ nhoi. Do vậy, khai sĩ Nguyệt Tâm dốc chí thề trích máu biên chép. Tám mươi mốt quyển [kinh Hoa Nghiêm] có thể hoàn thành trong tháng Tám. Trong ấy, dù giấy, bút, dù hương, hay trang nghiêm thành tựu, dù thức ăn cỗ cúng, cần mười ba lạng, biểu thị thế giới [Sa Bà] này ở ngay trong tầng thứ mười ba [của thế giới Hoa Tạng]. Mỗi lạng làm thành mười duyên, biểu thị thập giới. Mỗi duyên chia thành mười phần, biểu thị mười nguyện. Mỗi nguyện hàm nhiếp mười giới, mỗi giới bao trọn sát hải, ngơ hầu người thí, người nhận dung thông lẫn nhau thành quang minh nơi cái lưới của Thiên Đế, dù pháp hay tài đều chen bóng lẫn nhau trong chuỗi anh lạc của Tạp Hoa[60].

 

* Sớ sửa chữa đường sá chùa Vĩnh Khánh

         

          Tŕ Địa Bồ Tát bồi phẳng đất đợi Phật, đức Phật xoa đỉnh đầu, bảo: “Thiện nam tử! Đương b́nh tâm địa, tắc thế giới tự b́nh” (Thiện nam tử! Hăy nên b́nh tâm địa, thế giới sẽ tự b́nh). Đấy là dùng Sự để độ người khác, chỉ bày pháp môn duy tâm, khiến cho từ Sự mà nhập Lư. Chỉ có điều hai đường Lư, Sự chẳng thể coi là giống hệt như nhau, nhưng chẳng tách rời được! Dùng pháp làm phẳng phiu cơi đất để b́nh cái tâm, hết thảy duy tâm. Dùng pháp b́nh tâm để làm phẳng phiu cơi đất, hết thảy duy địa! Duy tâm tuy diệu, do c̣n đối đăi nên là thô. Duy địa mầu nhiệm, mới gọi là dứt bặt đối đăi. Lại như con đường lớn trước núi Vĩnh Khánh, vốn phẳng phiu, cần ǵ phải sửa chữa? Nhưng kiến chấp cao, thấp” chưa quên, công sửa chữa, san phẳng ấy bèn hữu hiệu. Công tuy có làm, nhưng hạnh thật sự chẳng làm! Hạnh chất chứa trong vô lượng sóng kiếp, tâm được khai trong một lời xoa đỉnh đầu. Nhân bao trùm, quả thấu triệt, chỉ là Nhất Thừa. Nếu ĺa đất mà bàn tâm, tâm lại há có? Vẽ vời lên hư không, chẳng phải là viên đốn thừa. Đối với việc này, một ḥn ngói, một viên sỏi, đều cùng chứng Cứu Cánh Tịch Quang. Một lượng, một thù, đều nhập Thủ Lăng Nghiêm tam-muội.

 

* Sớ Linh Nham Tự thỉnh Đại Tạng Kinh

 

          Hết thảy Như Lai từ vô ngôn thuyết đạo, phương tiện thuyết pháp. Hết thảy các Bồ Tát từ ngôn ngữ tam muội, ngộ nhập vô ngôn. Ngôn thuyết tánh Không, là giải thoát chân thật. Nếu ĺa văn tự để cầu lư, sẽ chính là ám chứng, si Thiền, chẳng phải là chánh pháp nhăn tàng. Tôi vốn bỏ Nho, học Phật, cũng hư vọng nói là đạo đơn truyền, thật ra là giáo ngoại, một mực tính kế mưu sinh trên bồ đoàn! Hết thảy các kinh luận đặt trên gác cao! Về sau gặp các vị kỳ túc như Chân Tịch, Bác Sơn v.v… xét lại lẽ được mất xưa nay, mới biết Thiền bệnh trong đời Mạt chính là trụ trong vô tri, vô giải, chẳng liên quan tới đa học, đa văn, tương phản với sự chứng nhập của học nhân đời Đường, Tống. “Nương theo văn tự để hiểu nghĩa, tam thế chư Phật bị oan uổng. Ĺa kinh một chữ tức là giống như ma nói”. Lời thiện tri thức quả thật chẳng dối gạt ta! “Học mà chẳng nghĩ sẽ lạc lối, nghĩ mà chẳng học sẽ biếng nhác”. Đối với lời thật trong Nho tông, càng thêm tin tưởng.

Tôi bèn phát tâm duyệt khắp Đại Tạng, thu thập đầy đủ các loại thuốc để tự chữa và chữa cho người khác. Vừa muốn trước là chú giải Phạm Vơng, nêu ra cương tông của Luật Học, bèn rút thăm thỉnh ư Phật để quyết định chỗ an cư. Trong chín lá thăm, riêng rút được Bách Phước Viện thuộc chùa Linh Nham, núi Linh Phong. Tính ở đấy một năm để chú giải kinh rồi lại sang nơi khác để hoàn tất ư nguyện duyệt tạng từ thuở đầu. Có sáu vị tăng và sa-di, quyên tiền chừng đó, đề xướng thỉnh Đại Tạng để giữ tôi ở lại lâu dài. Tuyết Hàng pháp chủ nhóm họp các duyên khiến cho cuộc đất không có Phật pháp này bỗng sáu thứ chấn động, oán và ma cùng dứt tuyệt, lạc lối và giải đăi đều cùng trừ khử, Phật ấn, Nho tông, giúp sức lẫn nhau. Tăng, tục có tín tâm, chẳng ai không giúp tùy hỷ!

 

* Sớ khuyến hóa niệm A Di Đà Phật đồng sanh Tịnh Độ

 

          Do chính ḿnh chẳng hiểu lư “duy tâm bổn tánh”, người học đạo bộp chộp đề cao huyền lư, coi rẻ sự tướng, thậm chí ngỡ Đoạn Không là Tịch Quang, nghi Tây Phương chẳng phải là Thật Tướng, cũng như phán định [pháp môn Tịnh Độ] là Quyền Thừa, xem như chẳng có! Do vậy, công đức chẳng thể nghĩ bàn rốt cuộc trở thành pháp khó tin, ch́m đắm lâu dài trong bến mê, đau xót khôn ngằn! Chẳng biết Sự Lư nhất trí, chúng sanh và Phật cùng một nguồn, tám vạn bốn ngàn tướng hảo quang minh hiển nhiên tại mười vạn ức phương rành rành ở trong chân tâm. Tâm đă tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, cơi cũng tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang, Phật cũng tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo chiều ngang. Chẳng tin cơi Phật là thật, há biết tâm tánh chẳng hư? Nếu thật sự ngộ cội nguồn của tâm tánh, ắt liễu đạt mười giới nhiễm hay tịnh đều do một tâm. Do tâm nhiễm nên thăng trầm trong sáu đường, ác cảnh Sa Bà rành rành. Do tâm tịnh nên một đường thanh tịnh, Cực Lạc vốn sẵn trang nghiêm. Hiềm rằng thấy Sa Bà là có, mê lầm ngỡ Cực Lạc là không. Lại lớn lối xưng là viên đốn, ra rả bàn vô ngại, coi “hân, yếm” (ưa thích Cực Lạc, chán nhàm Sa Bà) là viễn vông, coi “lấy, bỏ” thành hai chuyện!

Nếu thật sự ngộ viên tông, hân yếm có bao giờ chẳng viên! Thật sự chứng vô ngại th́ lấy bỏ cũng há có trở ngại? Ắt cứ muốn ĺa Tịnh Độ để bàn duy tâm, bỏ Di Đà ḥng nói bản tánh, ngang ngược cách biệt tự, tha, cắt, xé Sự, Lư, liệu giản đúng như thật, [th́ kẻ chấp trước như vậy] chỉ thành ác thủ không kiến! Há bằng hừng hực giữ ư niệm “quyết định cầu sanh”, hiểu rơ niệm chính là vô niệm, sanh chính là vô sanh. Nếu chẳng hiểu rơ “niệm mà vô niệm, sanh mà vô sanh”, hăy dùng chúng sanh trong tâm của chư Phật để niệm chư Phật trong tâm chúng sanh, chẳng cần biết trí hay ngu, đều quy vào biển giác. Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật.

Phật là Bổn Giác, niệm là Thỉ Giác. Thỉ Giác và Bổn Giác hợp nhau, lập tức là Cứu Cánh Giác. Năng và Sở rành rành, Năng và Sở tánh tuyệt, chí viên, chí đốn, chân thật vô ngại, siêu việt hết thảy các pháp môn, gọi là “vua trong các tam-muội. Đấy chính là lư do sáu phương Điều Ngự cực lực xưng dương, lịch đại tổ sư tận tâm tu tập, khuyến hóa. Bậc đại đức siêu thắng dốc chí tu Tịnh nghiệp, muốn khiến cho chúng sanh trong cơi đại thiên ai nấy gánh vác chuyện này, bèn lập kế hoạch to lớn, rộng khuyên tăng, tục, hoặc tự niệm, hoặc chuyển thỉnh, hoặc dùng miệng ca ngợi, hoặc giúp đỡ bằng cách khác. Tự niệm th́ mỗi niệm đều phù hợp khít khao Phật tánh. Giáo hóa người khác th́ ai nấy đều nhanh chóng lănh hội Bồ Đề, dụng tâm tốt lành, lại c̣n rộng lớn. Tôi đặc biệt viết lời trần thuật để thưa với những người cùng có Phật tánh.

 

* Bài sớ về chuyện thiền nhân Tượng Nham khuyến hóa trai tăng mười vạn tám ngàn vị Tăng

 

          Mọi người chỉ biết tôn trọng Phật pháp, chẳng biết coi trọng Tăng. Chỉ biết Tăng tôn trọng Phật pháp, chẳng biết Phật pháp coi Tăng là trọng! Chẳng có Tăng, pháp luân sẽ chấm dứt. Pháp luân dứt th́ huệ mạng của Phật đoạn tuyệt. V́ thế, so trong các phước điền thời Mạt, không ǵ bằng cúng Tăng. Cố nhiên Tăng bất đồng, có chân thật tăng, có thanh tịnh tăng, có tăng như dê câm, có tăng chẳng biết hổ thẹn. Phàm chân thật th́ gọi là Thắng Nghĩa, thanh tịnh th́ gọi là thế tục. Chẳng phải là thắng nghĩa th́ thế tục chẳng tôn trọng. Chẳng có thế tục th́ thắng nghĩa không nơi nương gởi! V́ thế, Ứng Chân đại sĩ, Địa Thượng Bồ Tát thường hiện thân trong thế tục, không chỉ cùng tu thanh tịnh, mà c̣n thị hiện dấu tích không hổ thẹn để cảnh tỉnh phàm phu nhục nhăn, khiến cho họ biết chẳng thể coi thường Tăng tướng.

Do vậy, người làm Tăng phải nên tự khéo suy xét, chọn lựa, răn dè các hạnh không hổ thẹn, hạnh dê câm, do thanh tịnh mà tiến tới chân tu. Cúng Tăng th́ phải nên cung kính, thừa sự hết thảy, coi hạng tăng dê câm, tăng không hổ thẹn đều giống như bậc tịnh lữ chân thật. Sau đấy, nh́n thấy, gặp gỡ Tăng, không vị nào chẳng phải là ruộng thù thắng. Biết nguyên do ấy, sẽ cảm cách hiền thánh. Nếu tâm sanh phân biệt, dẫu cúng năm trăm vị La Hán, chẳng bằng gặp một vị phàm tăng.

Khai sĩ Tượng Nham muốn tậu một trăm mẫu ruộng làm tăng điền, trải qua ba năm chưa thành, bèn hỏi tôi nguyên do khó thành. Tôi gập một lóng ngón tay nói: “Lập ruộng cho tăng, ắt phải kiếm được người thay thế khéo kế tục. Nếu không, sẽ bị trở thành của riêng”. Lại gập ngón tay thứ hai, nói: “Một mẫu, nửa mẫu, người ta sợ hăi chẳng dám lănh nhận”. Lại gập ngón tay thứ ba, nói: “Ruộng nhà chùa chẳng trọn khắp mười phương, hẹp mà xấu”. Khai sĩ tỉnh ngộ, nói: “Như vậy th́ nên làm như thế nào?” Tôi nói: “Chẳng bằng mở rộng hoài băo, ngay lập tức tiêu trừ rỗng rang ư niệm ấy (ư niệm tậu ruộng). Hăy giáo hóa trọn khắp người dù dư dật hay khốn khó, b́nh đẳng cúng dường đại chúng đây, kia. Một đồng tiền, một hạt gạo, đều gieo vào ruộng thù thắng, dứt bặt tội khiên tạo nghiệp cho kẻ ngu phế tăng điền thành của riêng trong tương lai, mở ra điều thiện tùy tâm nhiều ít của mỗi người trong hiện tại. Tiến hành dần dần, con số há phải chỉ là mười vạn tám ngàn, cuộc đất nào hạn cuộc nơi Giang Tả, Chiết Hữu? Thời gian há chỉ hạn định ba năm đă hoàn tất ư? Trong mỗi niệm đều cùng trọn khắp hàm thức trong pháp giới cúng dường pháp giới Tăng Bảo cho tới tột cùng vị lai, chẳng hề chán nhàm. Một đồng, một hạt của mỗi vị đàn-na thảy đều cúng trọn khắp hết thảy Tăng-già. Mỗi chiếc răng, mỗi g̣ má của mỗi vị tăng thảy đều có thể thọ trọn khắp hết thảy cúng dường. Luận về phước bố thí th́ rộng lớn hay nhỏ nhặt đều vô ngại. Luận về thọ dụng th́ phàm thánh chen lẫn. Chỉ trong nhật dụng hiện tiền chính là cảnh giới sở hành của Phổ Hiền. Hăy nên tin chắc, tận lực thực hiện!

 

* Sớ quyên mộ khắc in phạm bản của các kinh Đại Thừa đă được giảo chánh

 

          Trộm xem Sơ Tổ truyền đạo, dùng kinh Lăng Già để ấn tâm, ngũ diệp[61] lưu tiếng thơm, Kim Cang chứng ngộ, bởi thật sự có thể giải thoát văn tự th́ mới là ngôn từ tịch diệt. Chẳng hiểu đại ư “từ phương Tây đến”, mọi người ở Đông Độ mù mờ, dùng ma thuyết ḥng giải nỗi oan của Phật, do chẳng thông hiểu mà hư vọng xưng là “tự lập”. Ta lẫn người đều lầm, Tông lẫn Thuyết cùng bị thương tổn! Than ôi! Xưa kia, [đức Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ] muốn lay tỉnh kẻ đang đắm đuối trong mê ám, chỉ cốt sao chỉ rơ diện mạo cho chúng sanh. Nay muốn cc lực chấn chỉnh thói tệ đương thời, ắt cần phải sốt sắng noi theo khuôn lối cũ. Ví như làm thánh, làm hiền, nếu bỏ lục kinh, tứ thư, sẽ chẳng có chuẩn đích. Thành Phật, làm tổ, chỉ có kinh điển Đại Thừa làm kim chỉ nam. Xét thấy pháp đạo suy bại, sai ngoa chẳng phải chỉ một. Không chỉ chẳng thể khởi tu đúng như lời dạy, mà c̣n chẳng thể khéo hiểu nghĩa thú. Không chỉ chẳng thể khéo hiểu nghĩa thú, lại c̣n chẳng thể giảo chánh câu văn, từ ngữ. Như Phạm Vơng Giới Kinh được tăng đồ truyền tụng mà lỗi sai càng nhiều. Kinh Kim Cang Bát Nhă được cả cơi đời thọ tŕ mà bị tăng thêm, giảm bớt quá đáng. Pháp môn suy bại có phần nào v́ lẽ đó!

Than ôi! Hành nhân đời Mạt căn ngày càng độn, chướng ngày càng sâu, bụng rỗng tuếch, tâm cao ngất ngưởng, tu mù, luyện đui, đă chuốc lấy tiếng chê cười Dạ Lang, lại c̣n vướng nạn vô văn (chẳng nghe, chẳng học kinh pháp). Chẳng phải là bậc trọn đủ tổng tŕ, giảo chánh chỗ sai lạc để sửa cho đúng văn nghĩa, dùng ǵ để khai phát diệu giải, sách tấn chân tu ư? Cư sĩ Liên Châu t́m ṭi các kinh, chỉnh lư thành bản tốt nhất, đích thân chép lại cho khắc in ḥng rộng lưu thông, đúng là duyên lành hiếm có, là pháp hỷ tối thắng. Tăng, tục đại tâm, cảm niệm sâu xa xưa nay, khiến cho sớm được thành tựu vậy!

 

* Sớ khuyến hóa đức tượng Địa Tạng bằng sắt

 

          Hồng chung có tánh vô biên âm, gơ một tiếng bèn nhanh chóng thấu tận Thiết Vi. Địa Tạng trọn đồng thể đại bi, hễ chiêm lễ liền nhanh chóng được cứu bạt. Để có thể mong giác ngộ nơi U Minh, hăy nên chuyển chướng duyên trong hiện tại. Ngài Tâm Hoài Lễ ở Linh Phong đă đúc chuông, gơ chuông, lại nghĩ tạo tượng ấy. Tuy vẽ vời, khắc, họa tánh đều cùng là tánh đồng hư không, nhưng [tượng Địa Tạng] luyện thành thép thuần, có thể biểu thị sự kiên cố, bất hoại. Tứ đức chẳng phải trần, nhưng nhờ vào một trần mà hiển lộ trọn vẹn. Tam thân chẳng có h́nh tượng, liền dùng ảnh tượng để phô bày khéo léo. Dâng lời tới bậc cao hiền, cùng hành đàn thí. Người giúp sắt như phát khởi cái tâm chánh nhân, có thể vượt lên diệu quả Pháp Thân. Người giúp than như phát khởi cái tâm liễu nhân, có thể ngộ quang minh Bát Nhă. Người giúp thức ăn, chi dng, như phát khởi cái tâm duyên nhân, có thể tạo nền tảng cho thần thông giải thoát. Từ đại sĩ mà phát cái tâm ấy, đúng là toàn tánh khởi tu. Do niềm tin của đại chúng mà thành tượng này, chính là toàn tu tại tánh. Sự như thế, Lư như thế, nhân như thế, quả như thế, chân ngữ, thật ngữ, hăy suy nghĩ chắc chắn, thực hành chắc chắn!

 

* Sớ khuyến hóa cúng dường giúp thiền nhân Ngũ Uẩn bế quan

         

          Học nhân từ thời cổ chưa từng có ai chẳng vạch cỏ, ngóng gió, tham phỏng rộng khắp. Chưa nghe ai khô khan giữ lấy một cái thất mà có thể tiến bộ trên đường đạo. Nhưng phải có chánh nhăn th́ mới có thể tham học các phương, tận lực học th́ mới có thể có con mắt ấy! Xét theo phương diện tận lực học pháp th́ hoặc là chọn lựa thầy, bạn, hoặc nhờ vào cảnh để luyện tâm. C̣n nếu như cứ ê a trong một thất, dẫu tận lực học vẫn biến thành hạn cuộc! Thiền nhân Ngũ Uẩn tính bế quan để học Giáo, Luật. Từ cái ải này chuyển sang cái ải khác là do [sự nỗ lực] của Thiền nhân, quyết sẽ do thế giới [Tất Đàn] mà bỗng ngộ lợi ích do đối trị [Tất Đàn]. Do sự việc mà thành tựu sự việc là vì cậy vào thiện tín. Đúng là có thể cậy vào ngoại hộ mà ngầm vận dụng quyền truyền dạy, chờ tới lúc then chốt, mới tin vào công đức của chính ḿnh lẫn người khác đều chẳng lừa dối vậy!

 

* Sớ quyên mộ cúng gạo trường sanh để lễ sám, tŕ chú của Hàm Bạch quan chủ

 

          Mê chân dấy vọng, ai chẳng tạo nghiệp? Nghiệp có nặng, nhẹ, quả báo thuận theo đó [mà có nặng, nhẹ]. Trong ấy, chuyển nặng thành nhẹ, chuyển nhẹ thành chẳng c̣n, chỉ riêng có một môn sám hối mà thôi! Nghiệp nặng mà có thể sám hối sâu xa, nghiệp liền băng tiêu. Tội nhẹ mà chẳng có tâm sám trừ, rốt cuộc trở thành định nghiệp. Do vậy, kinh tán thán hai loại người mạnh mẽ: Một là chẳng tạo tội, hai là đă trót làm mà có thể sám hối. Chẳng tạo tội, cố nhiên là ổn thỏa, thích đáng. Đă tạo mà có thể sám hối, nếu sức sám hối sâu xa, càng đáng gọi là mạnh mẽ. Tam thế chư Phật khởi đầu từ danh tự sơ tâm cho đến sau khi đă chứng Đẳng Giác, không vị nào chẳng dùng Ngũ Hối làm phương tiện tấn tu. Hăy nên biết:

- Tác pháp sám có thể diệt nghiệp chướng.

- Thủ tướng sám[62] có thể diệt báo chướng.

- Vô sanh sám có thể diệt phiền năo chướng.

Tam chướng diệt trọn vẹn, tam đức viên thành, tam thân hiển lộ trọn vẹn, thẳng thừng, nhanh chóng. Đó gọi là “buông dao mổ xuống, lập tức thành Phật”. Khai sĩ Hàm Bạch đau đáu nghĩ tới lỗi trước, khéo nghĩ cách bù lỗi, tính bế quan để v́ trọn khắp pháp giới chúng sanh sửa lỗi trước, tu tỉnh cho mai sau. Hăy nên biết: Vừa mới phát cái tâm này, định nghiệp đă chuyển. Tôi đă v́ ông ta truyền dạy Đại Bi Tâm Chú Hành Pháp, cũng dạy chân ngôn Diệt Định Nghiệp của Địa Tạng Bồ Tát, đều là thuốc tốt lành để trừ tận gốc chủng tử tập khí căn trần. Siêng hành tŕ, sáu thời chẳng khuyết, nhất tâm bất loạn, sẽ tự độ, độ người, pháp nào cũng đều trọn đủ, chẳng lo thiếu duyên trợ đạo. Có ai mà chẳng có vô lượng nghiệp? Ai chẳng muốn cùng với hành nhân chân thật cùng vào trong biển sám-ma thanh tịnh? Pháp tùy hỷ chẳng đợi người khác khuyên lơn vậy!

 

* Sớ trợ duyên khai sĩ Huyền Tố kết lều tranh để tu Chỉ Quán

 

          Chẳng hiểu đạo Chỉ Quán th́ trong thiên hạ sẽ chẳng có chân Thích. Nếu chẳng bàn tới “học tư chi trí” (vận dụng tột cùng học tập và suy khảo), thiên hạ sẽ chẳng có chân Nho. Đạo Nho là “tận tâm tri tánh”[63]. V́ thế, “đốc hành” (chuyên dốc thực hành) một chuyện, ắt phải ở sau rốt trong “học vấn tư biện[64]. Rất dễ bỏ sót “tư biện”, do vậy, càng phải nên “khoan cư”.“Khoan cư” tức là tên gọi khác của “tư biện”. Dùng tâm thần để lănh hội, cho nên nói “khoan dĩ cư chi” (dùng ḷng khoan dung nhân hậu để cư xử). Do khéo léo quyết định chọn lựa, nên nói là “thận tư, minh biện” (suy nghĩ cẩn thận, biện định rơ ràng). Thánh học uyên nguyên, ắt phải hướng theo chỗ then chốt ấy để thấu triệt th́ mới chẳng lo lỗ măng diệt mất.

Phật đạo lấy kiến tánh minh tâm làm chỉ quy, lấy tín hạnh và pháp hành làm phương tiện. Tín hành để nắm giữ Giáo, há bỏ quán tâm? Pháp hạnh quán tâm, há dung ĺa Giáo? Do vậy, chư tổ Tây Thiên, không vị nào chẳng quán triệt Tam Tạng, thâm nhập các môn Thiền. Nam Nhạc, Thiên Thai hoằng thông Bát Nhă, Pháp Hoa, cũng không vị nào chẳng coi quán tâm là trọng yếu, mắt và chân cùng vận dụng vào ao thanh lương. Nếu không, dùi mài nơi giấy cũ, rốt cuộc chuốc lấy tiếng chê cười “kể chuyện ăn, đếm của báu”, ngồi lạnh ngắt trên bồ đoàn, chẳng khỏi mắc họa ám chứng, vô văn! Học chẳng nghĩ, ắt sai lầm; nghĩ mà chẳng học, ắt lười nhác. Pháp truyền sang Đông Độ, môn đ́nh dần dần đi vào ngơ rẽ. Người lập pháp vốn là quyền nghi cứu chữa bệnh nhất thời; lần lượt lưu truyền, [các tông] bèn thành [đối lập nhau như] nước, lửa! Tông và Giáo phủ định lẫn nhau, tánh và tướng đối lập, Thiên Thai và Hiền Thủ bài bác lẫn nhau. Vốn ai nấy đều đúng, do chấp vào ngôn từ nên đều sai. Hơn nữa, người thuộc Giáo Hạ chẳng nghĩ tu chứng, các vị thuộc Tông Thừa phần nhiều rơi vào đường hiểm đến nỗi hạnh quả chẳng thành, giáo đạo gần dứt mất.

Chỉ có một tông Thai Lănh (tông Thiên Thai) khởi đầu từ Trí Giả, Chương An, giai đoạn giữa là các cụ Kinh Khê, Tứ Minh, lại gần đây là các vị đại sư Diệu Phong, U Khê nối tiếp nhau hưng khởi, Giáo lẫn Quán cùng nêu, tín lẫn pháp đều vẹn. Do vậy, có thể vượt trội quán đạo đ́u hiu của các giáo Hiền Thủ, Từ Ân, cũng hơn hẳn giáo pháp lờ mờ của các tông Tào Động, Lâm Tế. Một sợi tơ ở phương Đông Nam đúng là có thể buộc chín đỉnh Phật pháp chẳng rơi, là cầu, bến trong đời Mạt, bỏ pháp này th́ sẽ theo pháp nào đây?

Khai sĩ Huyền Tố là bậc tuyển nhă[65] trong rừng Nho, bỗng ngộ vô thường, nhanh chóng xuống tóc, nương thân nơi Thai Lănh, chân chẳng bước ra khỏi cửa U Khê đă mấy năm, ôm bệnh tham cứu, cầu học, sáng tối chẳng phế, dốc công đổ sức nơi học vấn và tư biện, đáng gọi là bậc “chẳng đạt được, sẽ chẳng ngừng cố gắng”. Ông dốc chí hành một sự, nay chính là đúng lúc, tính tuân theo di mạng của Như Lai, dùng hạnh Đầu Đà, trụ A Lan Nhă. Nhưng muốn chánh tu, trước hết cần có phương tiện, trong ṿng ngũ duyên, bốn sự đứng đầu. Đấy là người có chí làm bậc chân Nho, giúp thành tựu sự nghiệp chân Thích này. Tôi thường nói “chẳng phải là chân Thích, sẽ chẳng đủ để b́nh trị cơi đời”. Do vậy, hết thảy Tam Bảo thường có thể ủng hộ thế gian, mà chân Nho cũng đủ để xuất thế. V́ thế, hết thảy quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ hữu đạo thường có thể nhớ nghĩ lời Phật phó chúc. Người có con mắt chân chánh nhất định sẽ có thể thấu đạt sâu xa ư này, biết có phước điền thế gian tồn tại.

 

* Sớ trợ duyên khắc in Chiêm Sát Hành Pháp

 

          Kinh Dịch nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (nhà chất chứa điều thiện, ắt niềm vui có thừa. Nhà chứa điều bất thiện, ắt tai ương có thừa). Kinh Thư chép: “Huệ địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng. Tác thiện giáng chi bách tường, tác ác giáng chi bách ương” (thuận theo đạo trời mà hành sẽ dẫn đến cát tường. Hễ trái nghịch, sẽ dẫn đến hung hiểm. [Cát, hung] chỉ là giống như bóng theo h́nh, như tiếng vọng lại của âm thanh. Làm lành th́ trời giáng xuống trăm điều tốt lành. Làm ác th́ trời giáng xuống trăm tai ương). Thuyết nhân quả báo ứng chưa hề chẳng sáng tỏ rơ rệt trong thế gian. Nhưng Nho luận theo đời hiện tại, chưa đủ để dứt hết nghi t́nh của kẻ ngu.

Kể từ khi kinh Phật được truyền vào Chi Na, nói trọn quả báo ba đời, càng tăng thêm sự hiểu biết đối với những điều Nam Cung Quát[66] đă ngộ, và lời ca ngợi “bậc thượng đức” của Khổng Tử, sự lư chẳng dối gạt. Nhưng Tam Tạng nói quyền biến, chỉ nói về pháp nhân duyên, chưa nói thẳng thừng “nhân duyên vô tánh”. V́ thế nói: “Phật có thể chuyển hết thảy các nghiệp, chẳng thể chuyển định nghiệp”. Cho tới trong hội Đại Thừa, mới rộng nói rơ ḷng Từ sâu xa đặc biệt thù thắng, lập phương tiện thù thắng, lạ lùng. Nương theo lư “vạn pháp duy tâm, duyên sanh vô tánh”, lập ra hai pháp sám Thủ Tướng và Vô Sanh để thông cùng tận Tác Pháp Sám. Sau đấy, tội chẳng lớn, nhỏ, chướng chẳng cạn, sâu, hễ y giáo hành tŕ, đều kham tiêu diệt. Như mặt trời rạng rỡ giữa hư không, sương, móc nhanh chóng tiêu mất.

Kẻ mê muội cho rằng trọng tội được phép sám hối, bèn mở rộng cửa tội (phóng túng làm ác) là v́ không chỉ chẳng biết ḷng Từ rộng lớn của Phật, Bồ Tát, mà cũng nào có biết liễu nghĩa trong Nho môn! Khổng Tử nói: “Quá nhi bất cải, thị vị quá hỹ. Ưu hối lận giả, tồn hồ giới, chấn vô cữu giả, tồn hồ hối” (Có lỗi mà chẳng sửa đổi, đó là lầm lỗi. Do lo buồn, hối hận, tiếc nuối, sẽ chú ư những điều nhỏ nhặt, lo lắng, dè dặt sao chẳng phạm lỗi; đó là do có ư niệm hối hận vậy), nhằm dạy rơ đầu mối để mọi người sửa lỗi đổi mới.

Phàm tội có nặng hay nhẹ, chuyện chẳng phải là nhất loạt một lẽ. Pháp thế gian chẳng thể trị th́ Phật pháp có thể trị. Tác pháp [sám hối] chẳng thể trị, thủ tướng [sám hối] trị được. Thủ tướng chẳng thể trị, vô sanh [sám hối] trị được. Vậy th́ pháp rốt ráo ĺa khổ giải thoát, chẳng thể không quy công cho Phật môn, lại chẳng thể không quy công cho các vị đại sĩ Quán Âm, Địa Tạng. Đức Quán Âm ứng hiện trong mười phương thế giới, càng hữu duyên với ngũ trược. Đức Địa Tạng dạo trong Sa Bà ngũ trược, đối với tam đồ, ḷng Bi càng sâu nặng. Như cha mẹ b́nh đẳng yêu thương các con, nhưng đối với đứa c̣n thơ ấu và vô năng, ḷng càng thiên trọng.

Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo này quả thật là cầu bến bậc nhất cho kẻ nhiều chướng trong thời Mạt. Kiên Tịnh Tín Bồ Tát ân cần dốc ḷng cầu thỉnh, Thích Ca Mâu Ni Phật trân trọng phó chúc. Lợi trọn khắp ba căn, Tứ Tất Đàn đều trọn khắp. Chẳng chướng nào không trừ, chẳng ngờ vực nào không phá. Ba loại luân tướng hoàn toàn nương vào Lư để thành tựu Sự; do vậy có thể từ ngay nơi Sự mà thấu đạt Lư. Hai loại quán đạo, hoàn toàn là từ ngay nơi Sự mà nhập Lư, chưa từng chấp Lư phế Sự. Lại c̣n trần thuật tường tận sám pháp, dù thủ tướng, hay vô sanh, chưa từng chỉ bày cặn kẽ. Khai thị xưng danh, quán Pháp Thân, quán thân chính ḿnh, nhanh chóng cùng nhất trí. Cho tới khéo an ủi, nói đủ loại phương tiện hay khéo, chẳng trái nghịch thật lư. Hai quyển kinh ấy đă gồm thâu đại cương trong giáo pháp suốt một đời đức Phật, nêu cao yếu lănh tánh tướng của Thiền Tông, phô trọn tường tận tâm thiết tha v́ loài người của Phật, Tổ. Tôi nương theo kinh để lập sám, cư sĩ Tŕnh Dụng Cửu quyên tiền và cũng khuyến mộ thiện tín giúp thành tựu. Đấy chính là muốn tự lập, lập người, muốn tự ḿnh thông đạt, khiến cho người khác cũng thông đạt tột bậc, ai nói học Phật chẳng phải là chuyện thuộc Phật sự của nhà Nho vậy!

 

* Sớ hóa duyên vạn bát

 

          Rồng có được một giọt nước, sẽ tạo mây, tuôn sương, nhuần thấm khắp hoàn vũ. Công ấy quả thật là do nước hay do rồng? Hay chẳng phải là công của nước và rồng? Bảo là công tại nước th́ chỉ là một giọt, đúng là gặp nắng gắt nung nóng liền khô cạn, người khát uống vào chẳng thể dịu mát lưỡi! Nói công bởi rồng th́ đặt rồng nơi cao nguyên, c̣n chẳng tránh khỏi nỗi đau đớn v́ cát nóng, nỗi khổ quằn quại. Bảo là công chẳng do rồng lẫn nước th́ sao hai vật gặp gỡ bèn thành tựu lẫn nhau. Rồng đă là chẳng thể nghĩ bàn, nước cũng chẳng thể nghĩ bàn! Ôi! Do điều này có thể ngộ diệu lư trong pháp giới, mà lại c̣n có thể sánh ví cửa ngơ trọng yếu trong tu chứng, bởi nước giống như phước, rồng ví như huệ. Tánh của rồng và nước chính là Chân Như pháp tánh. Nếu tánh của nước chẳng phải là tánh Chân Như, vốn chẳng thể trọn khắp pháp giới, dẫu gặp chân long, há có thể khiến cho sóng trào vọt? Nếu tánh của rồng chẳng phải là tánh Chân Như, vốn chẳng thể ẩn hiện thần minh, dẫu gặp chân thủy, há có thể biến hóa bay lượn? Chỉ có rồng xứng tánh chế ngự nước xứng tánh, rồng linh mà nước cũng linh. Do nước xứng tánh có được rồng xứng tánh, nước diệu mà rồng càng diệu.

Hai đằng phước huệ cũng lại giống như thế. Tu phước chẳng tu huệ, phước là hữu lậu, hữu vi, có ngằn hạn, có cùng tận. Tu huệ không tu phước, huệ chẳng sáng suốt, chẳng chói rực, chẳng có lực dụng, chẳng trang nghiêm. Chỉ dùng phước xứng tánh để giúp cho huệ xứng tánh, như rồng có được nước, dẫu ít ỏi vẫn chẳng thể coi thường. Huệ xứng tánh tạo phước xứng tánh, như nước gặp rồng, dẫu ít, vẫn chẳng thể cùng tận. Nhưng do phước huệ nhị luân lại có cùng một pháp tánh, đều là chẳng thể nghĩ bàn! Nếu một vi trần phước tụ chẳng bằng với pháp giới, sao có thể khiến cho món cúng dường hai đồng [tiền mua dầu cúng đèn] nhỏ nhoi [của bà lăo ăn mày] có thể nhanh chóng vượt trội đèn cúng suốt bốn mươi dặm của vua Ba Tư Nặc? Nếu một niệm thật sự sáng suốt chẳng thấu triệt toàn thể, sao có thể khiến cho vừa buông dao mổ xuống, liền dự vào số lượng một ngàn vị Phật trong Hiền Kiếp. Do vậy, tu huệ ắt phải chân thật, đừng giống như rắn, trăn chẳng thể bay lên. Tu phước chẳng chọn lựa, đừng như rùa biển chỉ khoe nước nhiều!

Nhưng huệ môn phải biện định nghiêm ngặt chân, ngụy, “lấy, bỏ” tinh tường. Phước môn th́ dung thông lớn nhỏ khác biệt, tùy duyên càng diệu! Do vậy, Tam Học của người xuất gia nhờ vào thầy, bạn để t́m ṭi, nghiên cứu. Tứ sự sử dụng hằng ngày và cơm ăn th́ cậy vào đàn-na. Thầy bạn ắt phải chọn lựa rồi mới tinh tường, đàn-na ắt phải b́nh đẳng rồi mới trọn khắp. Muốn hành ḷng Từ b́nh đẳng, quả thật chẳng ǵ bằng lập duyên vạn bát. Mỗi người đảm nhận một bát, ra sức rất dễ. Nhóm họp nhiều người thành cả vạn, làm phước thật nhiều. Như trong một căn pḥng, trọn đủ một vạn ngọn đèn, ánh sáng của mỗi ngọn đèn đều trọn khắp cả pḥng.

Hăy nên biết: Thí một bát chính là đă trọn đủ công đức của một vạn bát. Huống chi đèn nào cũng tiếp nối, ngọn lửa sáng thêm. Ăn no, trừ tối, công trọn hết thảy, há chỉ công đức vạn bát mà thôi! Nhiều cũng là pháp giới, ít vẫn là pháp giới. Do ít vẫn là pháp giới, một bát ắt chẳng thẹn ít ỏi. Do nhiều vẫn là pháp giới, chớ nên thấy vô số bát là xa xỉ. Cổ nhân nói: “Thiện nhân hành thiện, duy nhật bất túc” (người lành làm lành, ban ngày chẳng đủ). Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thập đại nguyện vương, vô yếm, vô túc” (mười đại nguyện vương, chẳng chán, chẳng đủ). Xin hăy trong biển tánh pháp giới này, giăng mây đại pháp, tuôn mưa đại pháp, mỗi giọt đều quy vào biển cả. Đừng hỏi nước từ đâu mà đến, cũng đừng hỏi nước ấy sẽ đi về đâu!

 

* Sớ quyên mộ dựng Hoa Nghiêm Các của Uẩn Không Tinh Xá

 

          Pháp truyền sang Chấn Đán (Trung Hoa), kinh quyển rực rỡ, phong phú nhất không ǵ bằng Hoa Nghiêm, đơn giản nhất không ǵ bằng Tâm Kinh. Xét theo chỉ thú, rộng, lược thâu nhiếp lẫn nhau. Như câu nói “chiếu kiến Ngũ Uẩn đều là Không” của Tâm Kinh, ai nấy đều biết, nhưng chưa rơ dùng ǵ để chiếu? Nếu chiếu bằng tà huệ, sẽ bảo “chết rồi chẳng có tướng là Không”. Chiếu bằng Bát Nhă của Thanh Văn th́ sáu phần suy xét, chia chẻ, coi t́m ngă chẳng thể được là Không. Chiếu bằng duyên khởi Bát Nhă th́ Thể hư, vô tánh, như huyễn, như mộng là Không. Chiếu bằng bất cộng Bát Nhă th́ hai bên há được, ĺa lỗi, dứt sai là Không. Chiếu bằng Bát Nhă rất sâu th́ các pháp như Sắc v.v… hoàn toàn chính là pháp giới, Thể dứt tuyệt mảy trần, lượng tột cùng ngang dọc, trọn đủ, chứa đựng trọn khắp, vô chướng, vô ngại là Không. Nương theo đó để tu Quán, mỗi pháp đều tùy tâm, gọi là Quán Tự Tại. Mỗi trần đều trọn đủ, cũng gọi là Phổ Hiền; diệu trí dung hội thấu triệt cũng gọi là Văn Thù. Đại từ che phủ trọn khắp cũng gọi là Di Lặc. Pháp Thân chân thường cũng gọi là Tỳ Lô. Có thể bao trùm ba bộ Hoa Nghiêm thượng, trung, hạ bằng một lời. Gác báu lồng lộng, rạng rỡ trong tâm mục đợi mưu tính [xây dựng bằng] đất, nước ư? Nhưng kinh Hoa Nghiêm dùng sáu tướng (thành, hoại, tổng, biệt, dị, đồng) để nêu rơ Tông. Chẳng có hoại th́ ǵ là thành? Chẳng có biệt, lấy ǵ để nêu tỏ Tổng? Chẳng có dị, lấy ǵ để hin thị đồng? Như thế th́ một công tŕnh đất, gỗ chính là “nhờ vào sự để biểu thị pháp ḥng sanh giải” được nói trong mười huyền môn. Tinh Phàm, xin hăy dùng chuyện này để tự tỉnh, khiến cho người khác tỉnh ngộ!

 

* Sớ quyên mộ dầu để thắp hải đăng

 

          Thuở kiếp sơ, thân người có quang minh, chẳng cần đến mặt trời, mặt trăng. Quang minh nơi thân giảm dần, mặt trời, mặt trăng sanh ra. Nhưng mặt trời, mặt trăng có lúc chẳng chiếu, kế đó bèn dùng đuốc. Công đức của đèn đuốc không chỉ bằng mặt trời, mặt trăng mà thôi! Mặt trời, mặt trăng thuộc bi điền, dùng đèn đuốc cúng dường, bi và kính cùng đầy đủ. Huống hồ Địa Tạng đại sĩ dùng vô duyên từ lực, đồng thể bi tâm, thị hiện ngự tại đầu non Cửu Tử, cứu trọn khắp các hàm thức nhiều như cát, bụi. Linh tháp nhục thân, bốn biển quy y. Do vậy, có chuyện cúng hải đăng.

Hăy nên biết: Một tia sáng chiếu soi, hoàn toàn phô bày tự tánh diệu minh. Duyên thiện đă ấp ủ, chánh nhân và liễu nhân cùng hiển lộ. Nếu bảo là sự tướng, là trần duyên, chẳng liên quan đến sự tu chứng, sẽ chính là ĺa Sự để bàn Lư, ĺa cảnh để t́m tâm! Lư như lông rùa, tâm như sừng thỏ, ai cùng vạn thiện trang nghiêm, tạo thành cái quả Lưỡng Túc? Xưa có kẻ trộm vật trong chùa, cắt bấc của ngọn đèn thờ Phật [cho đèn sáng hơn], c̣n cảm báo nhiều kiếp thân có quang minh. Huống hồ dùng hảo tâm cúng thí, nhờ ḷng từ bi của Đại Sĩ, khiến cho từng ánh lửa soi tỏa khắp u đồ, sẽ nối tiếp huệ đăng của Như Lai, rạng ngời đuốc báu trong pháp giới. Dù tự hay tha, cùng mở toang cửa ải tối tăm trong đêm dài, há phải chỉ là lạc báo trong sanh tử mà thôi ư? Xin hăy mau phát tâm, đừng để hối hận về sau!

 

* Sớ tổ chức khóa tu Hoa Nghiêm tại Phù Dung Các núi Cửu Hoa

 

          Tôi thường nói hăy nên tham cứu kinh Địa Tạng Bổn Nguyện cùng với kinh Hoa Nghiêm tám mươi mốt quyển. Hoa Nghiêm nói về cảnh giới Phật, xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn. Bổn Nguyện nói về cảnh giới địa ngục, cũng xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn. Một đằng là thuận tánh mà tu, hưởng niềm vui pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn. Một đằng là nghịch tánh mà tu, hứng chịu nỗi khổ pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn. Thuận hay nghịch tuy khác nhau, nhưng “toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh” là một! Một niệm mê Phật giới, tánh chẳng nghĩ bàn, tức là cơi Thường Tịch Quang thuận theo ư niệm mà hóa thành núi đao, rừng gươm, ḷ than, vạc sôi! Một niệm ngộ địa ngục tánh chẳng nghĩ bàn, ắt dụng cụ hành h́nh trong Nê Lê ngay lập tức hóa thành điện Phổ Quang Minh[67], Tịch Diệt đạo tràng. Mê, ngộ tuy khác, tánh đức chẳng tăng, chẳng giảm, lại là một! Nhưng tánh đức tuy chẳng tăng, giảm, chẳng nghịch, thuận, chẳng thuộc vào mê, ngộ. Mê là nghịch tu trong chín giới, bèn cảm hai thứ khổ báo sanh tử là Phần Đoạn và Biến Dịch. Ngộ th́ thuận tu trong Phật giới, bèn thành hai thứ chuyển y là Bồ Đề và Niết Bàn. Mê là Tam Hoặc, ngộ là tam trí. Nghịch tu là Thập Ác, Ngũ Nghịch; thuận tu là Lục Độ vạn hạnh.

Sanh tử là tứ tướng trong tam giới, chuyển y là Tứ Đức nơi tam thân. Khổ tức là Pháp Thân, Hoặc tức là Bát Nhă, Nghiệp tức là giải thoát. Ngạn ngữ nói: “Xô người hay đỡ người chỉ là một tay. Khen người hay chê người chỉ là một miệng”. Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Như nước thành băng, băng lại thành nước”, ai lại chẳng tin như vậy ư? Như thế th́ chín đóa phù dung đúng là có thể biểu thị pháp giống như chín hội trong Hoa Nghiêm, há nói kinh Địa Tạng Bổn Nguyện chỉ là sự tướng nhân quả, địa ngục mà thôi ư? Huống hồ thế giới Hoa Tạng an trụ trong đại liên hoa. Như Lai thành đạo cũng ngồi trên hoa sen báu, nhưng các địa ngục Ưu Bát La, Ba Đầu Ma v.v… cũng lại gọi tên là Thanh Liên Hoa, Xích Liên Hoa. Có thể thấy mỗi danh từ, mỗi thí dụ, mỗi sự, mỗi pháp, thảy đều trọn đủ mười giới, tùy thuộc đương nhân mê, ngộ, thuận, nghịch như thế nào đó thôi! Pháp tánh chẳng nghĩ bàn, Thể chẳng phải là các tướng, chẳng trở ngại các tướng mà nêu tỏ, địa ngục và Tịch Quang há có gián cách? Nguyện các vị khai sĩ suất lănh các đàn việt sẽ lấy đó làm nhân duyên để thuận tu, khai phát chánh ngộ, vậy th́ hai quả núi Thiết Vi sẽ chính là Kim Cang Bồ Đề đạo tràng, không ǵ chẳng khiến cho lửa mạnh huyễn hóa sen vàng, hết sức mầu nhiệm!

 

* Sớ kiến tạo tháp chúng tăng ở núi Cửu Hoa

 

          Phước điền có hai thứ là kính và bi. Kính điền th́ coi “điền” là thù thắng. Bi điền th́ coi tâm là thù thắng. Cúng xá-lợi phước bằng hư không; đó là kính điền. Thương xót đến cả xương khô, được muôn đời xưng tụng là Nhân Chủ; đó là bi điền. Công đức của một điền đă là chẳng nghĩ bàn, huống hồ bi và kính cùng trọn đủ ư? Phàm La Hán Tứ Quả chứng nhập Vô Sanh, vĩnh viễn ĺa ngă chấp, đă nhập Niết Bàn, chẳng yêu mến xương khô. Phàm phu tỳ-kheo chưa đoạn Tư Hoặc, nếu thi hài bị phơi bày, thần thức sẽ bất an. Thần thức bất an, thật đáng buồn! Đường đường Tăng Bảo khả kính, nhưng phàm thánh khó lường, nơi thần thánh sâu thẳm, rắn rồng hỗn tạp, nhục nhăn há biết người được gọi là phàm tăng chẳng phải là đại sĩ khéo tùy thuận thị hiện ư? Do vậy, tùy ư thờ một bộ xương, sao chẳng trọn đủ bi điền lẫn kính điền?

Cửu Hoa là danh sơn bậc nhất trong thiên hạ, thi hài phơi giăi trong đồng hoang, mắt ngó run rẩy, ḷng đau nhoi nhói. Tôi vừa mới tới núi, trước hết canh cánh chuyện này, vừa khéo có các vị trưởng lăo cùng cổ vũ, bèn chẳng nề hà thô lậu, vụng về, lên tiếng xướng suất trước tiên. Người thấy nghe, tùy hỷ, bất luận là tăng hay tục, dù ít hay nhiều, đều đă gieo cái nhân tối thắng, ắt đạt được cái quả vô thượng. Kính th́ thành Phật đạo có thừa, bi th́ độ chúng sanh vô lượng. Bèn nói kệ rằng:

          - Tăng tướng đường đường, là biển phước đức. Dẫu là xương mục, phước tánh há đổi? Dựng tháp thờ phụng, sẽ tới Phạm Thiên. Dẫu chỉ một trượng, ai nói chẳng vậy? Đại sĩ thị hiện, trọn khắp sanh tử. Xương mục xanh bầm, khóa móc hoàng kim. Khảy tay, chắp tay, chân nhân đích xác. Ai làm chứng vậy? Diệu Pháp Hoa Kinh.

         

* Sớ quyên mộ tạo dựng Kính Tự Am

 

          Thế giới Sa Bà dùng ngôn ngữ, âm thanh làm giáo thể. Do vậy, mỗi một văn tự đều liên quan tới huệ mạng của Phật, Tổ, và nguyên lưu[68] của thánh học. Kính trọng chữ chính là tôn kính đức Văn Tuyên Chí Thánh (Khổng Tử) và Thích Ca Văn Thế Tôn, khơi mở kẻ tối tăm, vun bồi hạt giống trí huệ, há nông cạn ư? Ôn Lăng là xứ văn hiến, luôn được gọi là Phật quốc. Nay có Kính Tự Am được thành lập, là chỗ khơi mở nguồn đạo Thù, Tứ[69], mà cũng là phản chiếu tâm quang của Tây Trúc. Ai nấy đều có thể làm Nghiêu - Thuấn, phàm là người có tâm đều có thể thành Phật. Xin hăy nương theo lời ấy để hành, phàm đối với những thứ giấy mực có chấm, vạch bị vứt bỏ, đều có thể thấy vua Nghiêu nơi tường, thấy Phật trong ngói, sỏi. Lại phải căn dặn rằng: Hết thảy giấy viết chữ chắc chắn có thể xem như Lục Kinh, Tam Tạng, nhưng Lục Kinh, Tam Tạng, sao có thể coi giống như hết thảy các thứ giấy có chữ được! Am xây xong, thỉnh tôi viết lời này!

 

* Sớ khuyến hóa niệm Phật của sa-di Tịnh Nhiên

 

          Kinh dạy: “Nhất xưng Nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (Niệm Mô Phật một tiếng, đều đă thành Phật đạo). Đó là nói về chánh nhân Phật tánh, ai nấy vốn sẵn đủ. V́ thế, xứng tánh mà dấy lên duyên nhân và liễu nhân, ắt cùng với chánh nhân đạt đến rốt ráo. Do vậy, Niệm Phật tam-muội được gọi là vua trong các tam-muội, nhiếp trọn khắp hết thảy tam-muội. Tu môn tam-muội này, có ba loại: Một là chỉ niệm tha Phật, hai là chỉ niệm tự Phật, ba là tự Phật và tha Phật đều niệm. Tuy tu hành có ba cách, nhưng thành công là một.

Một là niệm tha Phật, tức là nương vào quả đức trang nghiêm của A Di Đà Phật làm cảnh để ta niệm. Chuyên tâm chú ư mà ức niệm. Hoặc nhớ danh hiệu, hoặc tưởng tướng hảo, hoặc duyên theo cái nhân rộng lớn trong thuở xưa nơi bốn mươi tám nguyện, hoặc nghĩ đức thù thắng trong hiện tại như lực, vô úy v.v… Hoặc quán chánh báo, hoặc quán y báo, gọi chung là niệm tha Phật. Cốt sao rành rẽ, rơ ràng, nhất tâm bất loạn, tức là công tu tam-muội đă thành, nhanh chóng lên cơi tịnh. Như các vị thượng thiện nhân ở Đông Lâm đă chứng điều này.

Hai là niệm tự Phật, quán một niệm hiện tiền, cái tâm nhỏ bé này, vô thể, vô tánh, trọn khắp theo chiều ngang, tột cùng theo chiều dọc, ĺa lỗi, dứt sai, chẳng thể nghĩ bàn, trọn đủ bách giới thiên như, đủ loại tánh, tướng, b́nh đẳng chẳng hai với tam thế chư Phật. Quán sát như thế, công sâu, sức đạt đến mức, chế phục trọn vẹn Ngũ Trụ, sáu căn thanh tịnh, phá rỗng rang vô minh, nhanh chóng nhập bí tạng. Như hai mươi tám vị Tổ ở Tây Thiên, sáu vị Tổ ở Đông Độ, và Nam Nhạc đại sư, Thiên Thai Trí Giả đều chứng ngộ điều này.

Ba là tự tha Phật cùng niệm. Biết tâm, Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt. Chúng sanh là chúng sanh trong tâm chư Phật, chư Phật là chư Phật trong tâm chúng sanh, nhờ vào y báo và chánh báo nơi cái quả ấy để hiển lộ lư trí nơi tự tâm của chính ḿnh. Như Quán Kinh nói “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Do tâm tánh của ta vốn sẵn có công đức chẳng thể nghĩ bàn, oai lực nơi cái quả của chư Phật chẳng thể nghĩ bàn, cho nên cảm ứng đạo giao, ta và người chẳng cách biệt, cực quả viên nhân, xứng lư tỏa sáng. Như pháp môn tu tập của các vị Vĩnh Minh Diên Thọ, Sở Thạch Phạm Kỳ chính là chứng đắc điều này.

Phương tiện có nhiều môn, trở về nguồn chẳng hai, tùy hành theo một lối, đều về đến nhà, chớ ngờ lo, kẻo tự cách biệt bến bờ trọng yếu. Nay sa-di Tịnh Nhiên gởi ḷng nơi Tịnh Độ, kiêm dùng pháp này để rộng hóa độ người hữu duyên. Hăy nên biết: Chỉ trong một niệm liền có thể làm quyến thuộc của Đại Thế Chí Pháp Vương Tử, hăy cẩn thận, đừng tự khinh, tự khuất lấp! Lại nguyện người thấy, nghe sanh ḷng tùy hỷ sâu xa, cùng ghi tên vào sổ sen, cũng thận trọng chẳng tự miệt thị, miệt thị người khác, ngơ hầu cùng viên thành Chủng Trí, khiến cho Ngũ Trược rỗng không. Hăy gắng lên!

 

* Sớ khuyến hóa niệm Phật của sa-di Nhẫn Thảo

 

          Di Đà Như Lai dùng bốn mươi tám nguyện để nhiếp hóa mười phương. Thế Chí đại sĩ dùng Niệm Phật tam-muội để dạo trong thế giới này. Hăy nên biết: Chúng sanh thời Mạt bỏ một môn Tịnh Độ mà cầu thoát sanh tử, sẽ chẳng thể được! Phật pháp không có nhiều phương cách, nhưng lâu dài, thường hằng th́ khó kiếm được người! Dũng mănh một lúc chẳng bằng suốt đời không mỏi nhọc. Do vậy, Từ Vân đại sư dạy pháp môn Thập Niệm vào sáng sớm, tôn giả Phi Tích xiển dương diệu chỉ “nhất niệm mà được văng sanh”.

Nay sa-di Nhẫn Thảo phát tâm khuyên trọn khắp Tăng, tục tu môn Niệm Phật tam-muội này, mỗi ngày khởi đầu bằng mười vạn câu, cho tới một trăm, hoặc chỉ mười tiếng, thậm chí mỗi ngày niệm một tiếng, chẳng câu nệ số lượng nhiều hay ít, chỉ lấy suốt đời chẳng gián đoạn làm khuôn khổ, dùng công phu “đói ăn, khát uống” này để làm bằng khoán cho đất báu ao quư. Nếu có thể trong một niệm nhanh chóng phá vô minh, sẽ vượt thoát lên Tịch Quang Tịnh Độ. Nhanh chóng đoạn Trần Sa, liền vượt lên Thật Báo Tịnh Độ. Nhanh chóng đoạn Kiến Tư, liền vượt lên Phương Tiện Tịnh Độ. Dẫu chưa đoạn Hoặc, ngũ trược dần dần lặng trong, Phật quang dần lộ, lên Đồng Cư Tịnh Độ, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, cố nhiên chẳng sai lầm vậy! Nguyện khắp người thấy nghe đối với chuyện này, tưởng như hội thù thắng ở Đông Lâm, hết thảy ghi tên vào sổ sen, mong làm mười tám vị cao hiền[70], nhất tâm niệm khắp tam thế Phật, mà Niệm Phật tam-muội rành rành hiện tiền.

 

* Sớ kiến lập Vu Lan Bồn hội

         

          Tôi thấy đạo trọng yếu nơi đức tột cùng thuộc thế gian và xuất thế gian đều không có ǵ hơn ḷng hiếu từ được. Thế gian chẳng có hiếu và từ, sẽ chẳng có ǵ để thành thánh hiền. Xuất thế gian chẳng có hiếu và từ, sẽ chẳng có ǵ để làm Phật, Tổ. V́ thế, Hiếu Từ danh xưng chỉ có một, nhưng thật ra có bốn ư:

1) Phụng dưỡng cha mẹ, nuôi nấng con cháu, khiến cho mọi người đều được hoan hỷ. Đó là Thế Giới Tất Đàn.

2) Có thể kế thừa người trước, truyền cho người sau, khiến cho [ai nấy] đều được sanh điều thiện. Đó là Vị Nhân Tất Đàn.    

3) Thuận theo lời can ngăn, giữ nghiêm việc giáo huấn trong gia đ́nh, khiến cho đều được diệt ác. Đó là Đối Trị Tất Đàn.

4) Khiến cho mọi người yêu thích, tín thuận, khải phát khiến cho mọi người đều chánh đáng, khiến cho họ đều được nhập Lư. Đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

Hơn nữa, [hiếu thảo với] cha mẹ trong một đời là lẽ cố nhiên. Suy đến cùng cực, [chúng sanh] chẳng có ân sanh thân sâu nặng trải nhiều kiếp từ vô thỉ tới nay ư? Cố nhiên là phải dưỡng dục con cháu trong một nhà, nhưng mở rộng ra, chẳng phải là hàm linh trong pháp giới đều như con đỏ của chúng ta ư? Do vậy, nhà Nho trọn hết đạo ấy trong hiện tiền, c̣n nhà Phật th́ mở rộng đến bao kiếp. Nhà Nho chỉ nêu ra đầu mối trong thế giới này, nhà Phật th́ gồm thâu cùng tận sát hải. Nhà Nho chẳng cho đó là đúng, cho nên câu nệ cái hư huyễn. Nếu nhà Phật chẳng cho là đúng, th́ sẽ thành hoang đường, vô căn cứ! Nhà Nho dẫn khởi mà chẳng phát, cho nên chỉ nêu bày cái khởi đầu. Nhà Phật đầy ắp, không gì chẳng tận” là do xét đến chung cực, khác nào vàng rung, ngọc chạm. Do vậy, kể từ khi đại pháp dần dần truyền sang phương Đông, đă hơn một ngàn năm, bậc đạt nhân cao sĩ không ai chẳng lănh hội cái tâm. C̣n như bọn Xương Lê, Hối Am[71] tuy thoạt đầu cực lực chống đối, về sau đều chẳng khỏi nghiêng ḷng ái mộ! Ấy là v́ tông chỉ “hiếu từ” trọn chẳng phải là thừa thăi!

Ngày Rằm tháng Bảy năm nay là ngày Đại Mục Kiền Liên thiết cúng để cứu độ mẹ. Ngài Mục Liên đă chứng quả Ứng Chân (La Hán), lục thông bậc nhất, nhưng muốn báo từ ân, c̣n cần phải nhờ vào sức của Tam Bảo và chúng tăng, huống hồ lũ ta ư? Bọn chúng ta chẳng phải sanh từ cây dâu rỗng ruột, tâm chẳng phải là đá tảng, nghĩ tưởng ân sâu vơng cực[72], ôm nỗi buồn vĩnh viễn suốt đời. Nếu chẳng nhờ vào pháp sự Lan Bồn, sao đại lược giăi bày nỗi niềm chất chứa?

Nói đến Vu Lan Bồn, cơi này dịch là Giải Đảo Huyền Khí (解倒懸器). Bởi lẽ, nỗi khổ trong cơi âm giống như bị treo ngược. Nay dùng đồ đựng thanh tịnh, sắp đặt đầy đủ các vật cúng tốt đẹp, có thể khiến cho [vong nhân] vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ cùng cực. Phàm con cháu hiếu thảo hăy cẩn trọng chớ ăn nói lớn lối, tự tô vẽ mà nói: “Cha tôi, ông tôi linh ứng ở trên trời, há bị vướng mắc lâu ngày trong tam đồ ư?” Ôi! Khó nói lắm! Đă chưa nghe pháp môn Tứ Đế xuất thế, lại c̣n chưa chắc đă tuân hành Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện, ai có thể tránh khỏi nỗi khổ luân hồi? Nếu bỏ mặc ngày này, [người đă khuất] hết sức mong mỏi con cháu tạo phước cứu tế, nhưng chúng nó lại bỏ xó, hờ hững, há an tâm ư?

Hơn nữa, kinh đă dạy rồi đó, “nhược phụ mẫu hiện tại giả, phước lạc bách niên. Nhược thất thế phụ mẫu, tự tại hóa sanh, nhập thiên hoa quang” (nếu cha mẹ c̣n sống, sẽ phước lạc trăm năm. C̣n cha mẹ trong bảy đời sẽ tự tại hóa sanh, vào trong quang minh của hoa trời). Đấy chính là công đức lợi ích. Lại c̣n chẳng phải chỉ là giải đảo huyền (giải thoát nạn bị treo ngược) mà thôi! Người có lòng nhân, bậc quân tử, hăy nên nỗ lực như thế nào để cùng thành tựu hội này. Kinh Thi có câu: “Hiếu tử bất quỹ, vĩnh tích nhĩ loại” (Hành vi của hiếu tử chẳng có lúc nào cạn kiệt, lan tỏa con cái và ḍng họ, tức là sẽ dạy rộng răi khắp thiên hạ). Tôi hết sức mong mỏi nhà Nho sẽ làm thánh hiền, đệ tử Phật sẽ mong làm Phật, làm Tổ vậy!

 

* Sớ trợ duyên cho khai sĩ Phu Tiên thủ khám[73]

         

          Có hiếu đạo thế gian và hiếu đạo xuất thế. Hiếu thế gian là phụng dưỡng không ngằn mé, lập thân, hành đạo mà thôi! Hiếu xuất thế là tu ṛng đạo nghiệp, rộng độ bao kiếp mà thôi! C̣n như hiếu thế gian và hiếu xuất thế, trọn vẹn cả đôi đằng th́ như Hoàng Mai Mục Châu quả thật chẳng có nhiều! Nay thấy khai sĩ Phu Tiên thuộc ḍng họ danh giá ở Thanh Sơn, đời đời học tập lễ nhạc của Đông Lỗ. Vừa đến lúc tráng niên bèn phát tâm học Phật, dạo khắp môn đ́nh của Chân Tịch, Bác Sơn, dùng pháp lực, nguyện lực khuyên cha mẹ của chính ḿnh ăn chay trường, tu đạo, cung phụng ngọt bùi suốt hai mùa nóng lạnh. Lại khuyên họ hiện trọn vẹn tăng tướng, gần được một năm, họ bèn về Tây, bởi tuổi đă tám mươi sáu. Ông vẫn thủ khám tại chân núi Hổ Khâu, ngày đêm phạm bái, khiến cho kẻ làm con trong thiên hạ phải hổ thẹn v́ bất hiếu, cũng như gột rửa nỗi oan “chẳng biết đến cha” trong đạo Phật.

Ôi! Chỉ có học Phật rồi mới biết Nho, cũng chỉ có chân Nho mới có thể học Phật. Kẻ chẳng ra ǵ này xuất gia, cha chưa chôn, mẹ chưa phụng dưỡng, vốn mong hiểu rơ đại sự rồi mới tính kế bện giày [sống qua ngày để phụng dưỡng mẹ], nhưng túc chướng sâu nặng khiến cho từ mẫu bỏ tôi về Tây, ôm nỗi tiếc nuối suốt đời, than thở măi trong giấc ngủ! Riêng khai sĩ có thể [cha mẹ c̣n] sống th́ tận dưỡng, chết bèn trọn hết ḷng thành, Húc cũng thật hổ thẹn, chẳng biết núp vào đâu! Kẻ phương ngoại như mây trôi nổi, chẳng thể giúp chút tịnh tài, giăi bày thừa thăi lời suông, khắp v́ người có ḷng nhân và hiếu tử, tuyên dương nỗi chí t́nh ấy. Có ai tâm hoan hỷ thích giúp đỡ, khiến cho khai sĩ hoàn thành giai đoạn hiếu thảo cuối cùng này, cũng là ḷng Từ rộng lớn lan tỏa những người cùng chí hướng vậy.

 

* Sớ về công đức trai tăng của khai sĩ Thiện Sanh

         

          Mua đầu ngựa chết, ắt thiên lư mă đưa tới[74]. Trai tăng một vị tăng tầm thường, thánh tăng thuộc tam thừa sẽ cảm cách. Đó là lẽ tất nhiên, chẳng có ǵ là lạ? Người đời hư vọng sanh phân biệt, đua nhau muốn xả phàm, giữ lấy thánh, nhưng cư sĩ Quách Vĩnh Định biết “phàm, thánh là một Thể”, tự phát tâm trai tăng một vạn vị, lại khuyến hóa người khác trai tăng một vạn vị. Chẳng tự hành Đàn Thí, sẽ chẳng đủ chuyển hóa người khác! Chẳng rộng khuyến hóa kết duyên, chẳng đủ để thỏa măn nguyện lực của chính ḿnh, đáng nên khuyên lơn vậy!

 

* Sớ trùng tu Quán Âm Am

 

          Phổ Môn thị hiện, không cơi nào chẳng phải là toàn thân, ǵ là thành? Ǵ là hoại? Cần phải biết: Thị hiện hoại, hay thị hiện thành, đều làm tăng thượng duyên cho bọn chúng ta đó thôi! Nếu hướng về Đại Sĩ thí một đồng, một hạt, ví như gieo một giọt nước vào biển cả, sẽ nhanh chóng có cùng một Thể với biển, cho đến hết thời vị lai, quyết chẳng tiêu mất, cạn kiệt! Nay đích thân gặp đấng đại từ bi phụ, nhờ vào cổ Quán Âm Am ở ngơ Đại Bản đă nghiêng ngả, hư nát làm chỗ thuyết pháp, nhờ khai sĩ Hằng Nguyên làm người thuyết pháp. Hằng Nguyên thấu đạt sâu xa pháp môn “diệu tá” (khéo léo nhờ cậy) này, lại nhờ tôi thay ông ta Phổ Môn thuyết pháp. Tôi nói với Hằng Nguyên: “Có người giúp cho việc to lớn này, chẳng cần biết nhiều hay ít, ông đều có thể thọ kư Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cho người ấy”.

 

* Sớ Đại Bi viên hạnh

 

          Quán Âm đại sĩ có nhân duyên sâu nhất với Sa Bà, mà Đại Bi Đà La Ni càng là pháp môn bí yếu mật truyền tâm ấn, v́ dùng tâm chẳng nghĩ bàn, tŕ lời chẳng nghĩ bàn để huân tập chẳng nghĩ bàn, Chân Như biến hiện chẳng nghĩ bàn, “ṭ ṿ chú tử[75], chẳng biết nhanh chóng giống như ḿnh. Xét ra, chú này kể từ khi tôn giả Tứ Minh thiết lập hành pháp, từ đời Nguyên tới đời Minh chưa từng dứt tuyệt đề xướng. Một là truyền nơi Thiên Thai, lại truyền vào Vũ Lâm, nghi thức đàn tràng, vật cúng bởi đó càng thịnh, nhưng pháp thức Lư quán chẳng tránh khỏi có chữ qua ba lần sao chép, “ô, yên” (,) bị chép lầm thành Mă (). Tôi đă từng sang vùng Ngô, Việt, thường muốn sửa cho đúng phần nào sai ngoa, nhưng thiên hạ tụng “thủy lạo hạc”[76] đă lâu, đua nhau chê tôi già nua, lẩm cẩm, [không nghe theo], đành than thở măi mà thôi!

Khai sĩ Trạm Tŕ ở Tổ Đường nghĩ đúng như pháp tạo đàn, trang nghiêm tượng. Tôi vui mừng v́ Tăng, tục phương này chưa nhiễm tập khí sai ngoa, vẫn c̣n có thể uốn nắn cho đúng từ đầu, bèn nói mấy lời thừa thăi ngơ hầu nghi thức trong đàn vật cúng sẽ đúng như pháp để pháp thức lư quán theo thứ tự đều được nêu bày đầy đủ. Như thế th́ dù Hiển hay Mật, dù Thiền hay Giáo, sẽ đều là cùng một nguyên tắc quán triệt!

 

* Sớ trợ duyên kết xă tu Tịnh nghiệp và duyệt Hoa Nghiêm Đại Sao

 

          A Di Đà Phật dùng pháp giới tạng thân để thị hiện thành đạo tại Cực Lạc, có bốn mươi tám nguyện rộng thâu nhiếp các căn cơ. Tỳ Lô Giá Na Phật cũng dùng pháp giới tạng thân để thị hiện thành đạo nơi Sa Bà, bèn có mười đại nguyện vương của Phổ Hiền dẫn về An Dưỡng. Do vậy, muốn cầu sanh Tịnh Độ, cần phải t́m hiểu thấu đáo tông Hoa Nghiêm. Muốn nhận biết tông Hoa Nghiêm, cần phải cầu sanh Tịnh Độ. Chắc có kẻ cười cợt: “Hoa Nghiêm Sự Sự vô ngại pháp giới, ngay nơi đây chính là Thường Tịch Quang, sao lại bỏ đây, cầu kia vậy?” Thưa rằng: “Đă là Sự Sự vô ngi, tức là do đây mà cầu kia, há có ngăn ngại ǵ? Ngay nơi đây đă là Thường Tịch Quang, tức Tây Phương cũng là Thường Tịch Quang. Do là Thường Tịch Quang, cố nhiên chẳng thể xả, chẳng thể cầu, cũng có ǵ ngại xả, ngại cầu? Xả tịch quang uế như thế để cầu tịch quang tịnh, sanh th́ quyết định sanh, đi th́ quyết định chẳng đi, sanh th́ thật sự chẳng sanh, đi th́ quyết định đi, há có ǵ trở ngại?” Người ấy chẳng biết nói sao. Tôi nói: “Nếu ông chẳng hiểu, hăy thưa hỏi Tỳ Lô Giá Na. Nếu ông chẳng thể thấy Tỳ Lô Giá Na, hăy thưa hỏi Phổ Hiền nguyện vương. Nếu ông chẳng thể thấy Phổ Hiền nguyện vương, xin hăy ở ngă tư đường, chắp tay nói với mọi người rằng: ‘Xin thí cho tôi một đồng tiền’, ắt sẽ có người bảo với ông!”

 

* Sớ quyên mộ khắc in Hám Sơn Đại Sư Toàn Tập

 

          Căn cơ của phương này dùng văn tự làm giáo thể. V́ thế, Nho hiệu Văn Tuyên, Phật hiệu Thích Ca Văn. Do tánh thiên lưu xuất văn chương, văn chương có thể nghe, tức là tánh thiên có thể nghe. Do văn chương mà thông đạt tánh thiên, tánh thiên chẳng thể nghe, tức là văn chương cũng chẳng thể nghe ư? Phật pháp truyền vào Chi Na, dần dần chú trọng hiểu nghĩa theo văn tự! Tổ Đạt Ma lúc mới đến, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, gột rửa tập khí văn tự, có thể nói là châm cứu đúng huyệt, nhưng vẫn dùng kinh Lăng Già để ấn tâm. Văn chương và tánh thiên chưa hề rành rành tách rời thành hai đằng đă rơ rồi! Sau mấy lượt truyền thừa, kinh Lăng Già lại trở thành lưu truyền danh tướng. Do vậy, các vị đại tông tượng đua nhau ra sức cứu vớt, văn hồi, muốn cho [học nhân] đều siêu t́nh ly kiến, tháo niêm cởi trói, phá hết sạch tâm thức phàm phu, sao cho phù hợp Tu Đa La mới thôi, chưa hề dám trái nghịch lời Phật, tự phô phang kiến giải! Truyền đến hiện thời, công án của năm tông gần như lại trở thành học vấn danh tự đó ư?

Chỉ có Hám Sơn đại sư nương theo nguyện lực cũ, vốn từ Tây Phương tái lai, khởi đầu từ Trường Can, cất bước hành cước, đă có khí khái của hương tượng rẽ đôi ḍng nước. Sau đó tại Ngũ Đài, ở trong tuyết, chết ngất rồi tỉnh lại, dạo khắp giang hồ, viết lách lưu loát. Thương đời Mạt vô văn, ám chứng, đă mê muội đối với lời Phật, mà cũng đánh mất Phật tâm; do vậy, Ngài trước thuật khá nhiều, pháp ngữ, thơ văn v.v… Bốn mươi hai quyển, đều do lăo nhân tùy ư nói ra, nhiều chỗ cảnh tỉnh, phát khởi mọi người. Pháp quyến là Hư Trung khéo chép thành sách, tŕnh lên quan thái sử Tiền Mục Trai. Có một sa-môn vô lại mạo nhận từ chỗ Thái Sử tới, đem di cảo đi mất. Nay cao túc là X… kế thừa chí của thầy ḿnh, xin tôi một lời để thưa với đàn tín. Tôi cảm kích ân sâu tiếp dẫn trong mộng của sư ông, thẹn chẳng có ǵ để báo đáp, bèn ứa nước mắt viết bài sớ này.

 

* Sớ trùng tu đại điện chùa Pháp Vân tại đỉnh Ngũ Nhũ ở Lư sơn

 

           Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” (Nếu ai muốn hiểu rơ, ba đời hết thảy Phật, nên quán tánh pháp giới, hết thảy do tâm tạo). Bởi lẽ, từ vô thỉ cho đến tột cùng đời vị lai, chỉ có một cái tâm này chẳng có thời khắc nào chẳng tạo đủ loại Ngũ Ấm, tạo đủ loại thế gian, tạo đủ loại quốc độ. Tạo mà thành, chẳng từ đâu đến. Tạo mà hoại, chẳng đi về đâu, chẳng thể nói là “duy tâm” ư? V́ thế, trong cơi đời có người thấu đạt duy tâm th́ mới có thể bàn luận với họ về cái được tạo tác, mà cũng chỉ có người khéo hiểu cái khéo được tạo th́ mới có thể cùng ngộ duy tâm. Người hiện thời nh́n cái tâm này hạn cuộc, chưa từng biết “ngoài tâm chẳng có pháp”, lại c̣n coi rẻ Sự tạo (tạo tác nơi mặt Sự), chưa thể biết ngoài Sự chẳng có Lư. Do vậy, hễ nhắc đến trang nghiêm cơi Phật, [kẻ đó sẽ] vội vàng bảo “chớ nên chấp tướng”. Than ôi! Cố nhiên là chớ nên chấp tướng, nhưng phi tướng lại há nên chấp ư?

Nếu thấu đạt duy tâm th́ tướng chính là phi tướng, cái tâm này tạo đại điện. Cái tâm này đă là đại điện, sao lại chấp Có? Nếu chẳng dùng cái tâm ấy để tạo đại điện, lại đem cái tâm ấy tạo đủ loại y báo và chánh báo tệ ác, há có khoảnh khắc nào chẳng tạo? Nhưng tạo đại điện là cái duyên mầu nhiệm của Phật giới. Duyên nhân nếu chín muồi, liễu nhân ắt phát khởi. Nếu liễu nhân phát khởi, chánh nhân ắt phô tỏ, mới biết tạo chính là chẳng phải tạo. Nh́n lại chuyện phí uổng tâm lực ấy để tạo các tạp nghiệp khác, nói lấp liếm là “chẳng tạo”, rốt cuộc chẳng tránh khỏi luân hồi, há có thể nói là giống hệt như nhau ư? Chùa Pháp Vân nơi đỉnh Ngũ Nhũ của Khuông Lư ngày càng cũ nát, hư sụp, đồ đệ là X… chẳng ĺa trong tâm của chúng ta, lập ra duyên lành này. Tôi v́ tăng tục nguyện tạo Phật giới, chẳng mong tạo chín giới, nên thưa bày như thế đó!

 

* Sớ niệm đậu nhi Phật (niệm Phật bằng cách dùng hạt đậu để nhớ số)

 

          Tuyết sơn có loại thuốc tên là Tỳ Già Ma (Vigama), nếu mắt nh́n thấy, mắt sẽ được thanh tịnh. Nếu mũi ngửi thấy, mũi sẽ được thanh tịnh. Nếu thân đụng chạm, thân sẽ được an ổn. Nếu đem bôi lên trống, đánh trống trong quân đội, tất cả mũi tên độc sẽ liền rơi khỏi thân. Than ôi! Một nhánh cỏ sao có công năng dường ấy? Kẻ ngu chẳng tránh khỏi ngờ vực! A Di Đà Phật vạn đức tôn chủ, nhân địa tích tập trải A-tăng-kỳ, quả trọn vẹn mười kiếp. Nguyện vương vô tận, phước huệ vô cùng. Tán tâm xưng danh một tiếng, cũng diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Kẻ nghi một nhánh cỏ, sao lại có thể tin sâu, chẳng ngờ vực [bổn nguyện của A Di Đà Phật]?

Có người niệm Phật chẳng dùng xâu chuỗi để ghi nhớ, mà ghi nhớ bằng đậu. Lại đem đậu ấy cúng dường hải chúng, khiến cho [Phật hiệu] ch́m vào da thịt, thấu xương tủy, cho đến các lỗ chân lông khắp thân đều phóng Phật quang, tám vạn bốn ngàn hộ trùng [trong thân người] đều được độ thoát. Công đức ấy khó nghĩ, khó bàn. Niệm đậu, thí đậu, công đức b́nh đẳng. Đậu là pháp giới, mười phương chư Phật, tam thế đạo sư đều ở trong một hạt đậu ấy, chuyển đại pháp luân, hiện cơi Bảo Vương. Đấy là đậu hay chẳng phải đậu? Chẳng phải đậu, chẳng phải không là đậu ư? Hễ có thể tin một hạt đậu ấy th́ sẽ có thể chẳng nghi một nhánh cỏ. Nhắc lại bằng kệ rằng:

- Đậu ấy lưu xuất tự Nê Hoàn, khó thể phân chia, tách nhỏ ra. Chẳng phải đậu, nuốt xuống, rõ ràng không chỗ trốn. Lại chẳng phải đậu, chẳng phi đậu, đổ ra nhiều bằng đấu Ma Kiệt! (cái đấu của xứ Ma Kiệt Đà)

 

* Sớ khuyên tái lập chuyện thí quan tài của Tam Giáo Từ ở Kim Lăng

 

          Tam giáo sâu hay cạn, chưa rảnh để biện định, nhưng cái tâm nhân từ với người, yêu thương muôn vật th́ giống nhau, bởi nhân ái chẳng phải do hoàn cảnh bên ngoài bồi đắp thành. Đi trong đồng hoang, chằm vắng, thấy hài cốt ngổn ngang, xương khô vương văi, chẳng có ai không kinh hăi, thương cảm. Tràn đầy ḷng trắc ẩn, ḷng nhân chẳng thể ngăn, Nho dùng “bảo dân” (保民, an dân, dưỡng dân, che chở dân), Đạo dĩ “bất tỳ lệ ư vật” (不疵癘於物, chẳng khiến cho muôn vật bị tai ương, bệnh tật), Thích dùng “độ tận chúng sanh”, giống như thuốc chống da dẻ nứt nẻ[77], vận dụng có lớn hay nhỏ. V́ thế, tôi nói người cầu đạo, cầu nơi tam giáo, chẳng bằng cầu nơi tự tâm. Tự tâm là cội nguồn của tam giáo. Tam giáo đều được lập bày từ cái tâm ấy. Nếu chẳng có tự tâm, tam giáo đều chẳng có! Nếu mê muội tự tâm, tam giáo đều mê muội. Nếu biết cái tâm ấy mà mở rộng, tràn đầy, lo ǵ tam giáo chẳng đều trở thành khuôn đúc?

Tâm đủ để đúc luyện tam giáo, bèn gọi là “có thể tận tánh”, mà cũng có thể tận hết tánh của người và vật. Tận hết tánh của người và vật, bèn biết dân không chỉ là ruột thịt của ta, loài vật không chỉ giống như ta. Do vậy, một người dân đói tức là ta đói, một người dân rét tức là ta rét, một nắm xương khô chưa chôn tức là ta chưa chôn. Coi nỗi khổ trong cả thiên hạ là nỗi khổ của chính ḿnh. Coi điều thiện của cả thiên hạ là điều thiện của chính ḿnh. V́ thế, không chi to lớn bằng tạo điều lành cho người khác, khiến cho một giọt thiện cùng vào trong biển chí thiện chẳng ngằn mé, chẳng cùng tận. Như thế th́ mới có thể nói là “đạo cùng tận tánh” được.

Tam Giáo Từ ở Kim Lăng từ năm Quư Hợi (1623) đề xướng thí quan tài. Chủ tŕ chuyện này là đại đức Liễu Huyền. Hai mươi năm qua, đă thí hơn ba vạn cỗ. Liễu Huyền qua đời, kèm thêm gặp cảnh biến đổi, chuyện ấy bèn ngưng. Nay người dân lưu lạc, khổ nạn gấp bội thuở trước, hồ ly, ruồi, nhặng trọn khắp đồng hoang, ng̣i rănh. Người có ḷng nhân, bậc quân tử gấp rút bàn tiếp tục thực hiện, cũng là do tấm ḷng muôn phần chẳng nỡ vậy. Bởi đó, tôi dẫn chuyện này để nói rộng thêm. Xưa kia Mạnh Tử bảo “hiếu tử yểm thân” (con hiếu che giấu lỗi xấu của cha mẹ), quả đúng như vậy. Nhưng người có ḷng nhân đi qua [chỗ có xương khô rơi văi], dẫu chẳng phải là thân hữu, trán cũng ắt toát mồ hôi, mắt cũng phải nh́n ngó. Hăy nên biết: Hết thảy hữu t́nh vốn sẵn đồng thể, do vậy gọi là “cùng một gốc”. Do vậy kẻ coi cha mẹ giống như người ngoài đường, ác tột cùng, bạc bẽo tột bậc! Coi người ngoài đường như cha mẹ, tốt lành to lớn, ḷng Từ dày đặc. Một người lành sẽ khiến cho trời giáng điều tốt lành. Một niệm từ khiến cho vũ trụ an b́nh. Huống hồ mọi người tốt lành làm lành, mọi người nhân từ cùng thể hiện ḷng từ, công đức há có thể nghĩ bàn ư?

Xưa kia, Thiên Đế cùng A Tu La giao chiến, lúc thắng, lúc bại đôi ba lượt, do trong cơi đời có một người muốn làm thiện sự, bỗng muốn ngưng rồi lại làm. Chắc là có người hỏi tôi: “Một niệm tiến thoái của thất phu, sao lại liên quan đến chuyện Thiên Đế thắng hay bại?” Tôi nói: “Như hai đầu cán cân, mỗi chỗ đều là hai mươi lượng. Nếu dùng một phân để thêm vào một chỗ, chỗ ấy sẽ thành nặng hơn!” V́ thế nói: “Thiên hạ là thiên hạ của cả thiên hạ”. Lại nói: “Dùng thân để quán thân. Dùng thiên hạ để quán thiên hạ”. Nay mỗi người quyên một đồng, một thù, một lượng, khiến cho ân trạch thấm đến xương khô. Quán thân, quán thiên hạ là ở chỗ này mà thôi!

 

* Sớ Thủy Lục Đại Trai

 

          Sách Phật Tổ Thống Kỷ[78] chép: “Lương Vũ Đế mộng thấy thần tăng bảo rằng: ‘Lục đạo tứ sanh thọ khổ vô lượng, sao không làm Thủy Lục Đại Trai để cứu vớt?’ Vua hỏi các sa-môn, chẳng ai biết. Chỉ có ngài Chí Công khuyên vua t́m rộng trong kinh luận, ắt có nhân duyên. Vua liền truyền nghênh thỉnh Đại Tạng, hằng ngày giở xem, sáng lập nghi thức, ba năm bèn hoàn thành. Vua bèn tạo dựng đạo tràng, vào nửa đêm, đích thân nâng văn bản nghi thức, tắt hết đèn đuốc, bạch cùng Phật rằng: ‘Nếu lư giúp thánh, phàm, nguyện con lạy xong, đứng lên, đèn đuốc tự sáng. Nếu thể thức chưa tường tận, đèn vẫn tối như cũ’. Nói xong, lễ thứ nhất, đèn đuốc đều bừng sáng. Lễ thứ hai, cung điện chấn động. Lễ thứ ba, trời mưa hoa. Ngày Rằm tháng Hai năm Thiên Giám thứ tư (505), vua bèn thiết trai đàn tại chùa Kim Sơn. Vua vào chỗ quỳ, sai Hữu luật sư tuyên đọc nghi thức. Khi đó, sự linh ứng chẳng thể chép trọn. Trong thời Châu - Tùy, nghi thức này chẳng được lưu hành.

Tới niên hiệu Hàm Hanh[79] đời Đường, Anh thiền sư tại chùa Pháp Hải ở Tây Kinh mộng thấy Thái Sơn Phủ Quân[80] thỉnh đến thuyết pháp. Sư ngồi một ḿnh nơi phương trượng, thấy dị nhân tới trước mặt, thưa: ‘Trước kia, ở chỗ Thái Sơn Phủ Quân, tôi trộm thấy tôn dung. Trong cơi đời có Thủy Lục Đại Trai có thể hữu ích cho cơi u minh, kinh văn do Lương Vũ Đế soạn tập. Nay vị Tăng đất Ngô là Nghĩa Tế ở chùa Đại Giác có được [nghi thức ấy]. Mong sư đến đó cầu để như pháp lập đàn”. Sư liền sang chùa Đại Giác, quả nhiên có được nghi thức ấy, bèn vào ngày Rằm trong tháng đó làm trai đàn. Trai đàn xong, dị nhân khi trước cùng đồ chúng, quyến thuộc mười mấy người đến cảm tạ: ‘Đệ tử là Tần Trang Tương Vương[81]’. Lại chỉ đồ chúng bảo: ‘Đây là Phạm Tuy, Nhương Hầu, Bạch Khởi, Vương Tiễn, Trương Nghi, Trần Chẩn, đều là bầy tôi của nước Tần, đều v́ tội của chính ḿnh mà bị giam kín nơi âm phủ. Xưa kia, Lương Vũ Đế thiết trai hội tại Kim Sơn, bầy tôi của Trụ Vương đời trước đều được giải thoát. Khi ấy, đệ tử cũng tạm được dứt khổ. Do chuyện trong ngục chưa quyết định, chưa được thoát khỏi. Nay đệ tử và những người này và vua tôi các nước đều nương pháp lực được sanh vào nhân gian”. Nói xong, ẩn mất. Từ đấy, Anh công thường lập trai hội này lưu hành trong thiên hạ”.

C̣n như trong năm Hàm Thuần[82] đời Tống, có người nói [trai đàn này] là do ư chỉ của Kim Sơn Việt Vương, chuyên v́ các bầy tôi thuở trước mà báo đáp ân họ đă dốc sức v́ vua, v́ nước, tức là chưa thấy ư nghĩa b́nh đẳng cộng tu. Pháp sư Chí Bàn tận lực phục hưng, soạn tiếp nối tạo thành nghi thức mới gồm sáu quyển, vẽ h́nh tượng [các tôn thánh trong trai đàn] thành hai mươi sáu bức. Từ đời Tống đến đời Minh, lại trải qua hơn năm trăm năm, Vân Thê đại sư nương theo nghi thức ấy hơi sửa đổi, lược bớt, lưu hành tại Cổ Hàng. Trí Húc từng ở Vân Thê được gặp hội thù thắng ấy, thấy đàn pháp tinh nghiêm, Lư Sự đầy đủ, rơ ràng, gồm thâu mười pháp giới trong một khóa pháp hội, vận tâm Tam Quán nơi sát hải, đúng là công đức chẳng thể nghĩ bàn.

Năm Bính Tuất (1646), tôi sang chơi Kim Sơn, lấy nghi thức ấy ra xem, [thấy nhiều chỗ] lan man, lờ mờ, chẳng thể t́m ṭi, truy cứu. Đó là do sau khi ngài Chí Bàn giảo định, [bản nghi thức ấy được] lưu hành tại Tứ Minh, cơi đời gọi là Nam Thủy Lục. C̣n nghi thức cũ ở Kim Sơn, kể từ thời Tống - Nguyên tới nay, bị những kẻ trụ tŕ Thế Đế thêm thắt xen tạp, chỉ chuộng nhiệt náo, cốt ư sướng tai khoái mắt người thế tục, cơi đời gọi đó là Bắc Thủy Lục. Vân Thê đại sư trọn đủ con mắt chọn lựa pháp, cho nên chẳng theo bản Bắc hay bản Nam. [Ngài quy định] đối với mỗi lần thiết cúng, kết giới, bí mật thủ hộ, th́ trừ vị chủ đàn là một người, hai vị biểu bạch[83], trai chủ một người, hương đăng năm người ra, những người khác đều chiêm lễ ở ngoài màn, chẳng được vào trong nội đàn. Người trong đàn ra vào, ắt thảy đều thay áo, tắm gội. Do vậy, được gọi là “như pháp cúng dường”. Chẳng giống như các nơi, bày thánh tượng quá lố, mặc sức cho nam nữ chen chúc đến xem, đến nỗi những kẻ uống rượu, ăn thịt, hút thuốc, nhai tỏi đều có thể hun ô uế tôn nghi! Con trai trưởng của cụ Trịnh Thiên Lư ở Tân Đô, chủ nhân của Tam Tạng Điện ở Hoàn Đức là Thất Tịnh, Dương Trường Công ở Tân Đô, Trần Mân Chiêu ở Giang Ninh, Đàm Tảo Am ở Tuy Lư, muốn khiến cho pháp này lại được lưu thông; đ̣, bến không ǵ chẳng tột bậc. Xét đến nguồn cội của pháp này, chỉ Húc là khá có thể khảo sát tường tận, dám tiếm lạm trần thuật duyên khởi để thưa với bậc hiền đạt.

 

18. Truyện

* Tiểu truyện về Liễu Nhất Nguyên thiền sư chùa Thụy Quang (kèm theo lời tán)

         

          Liễu Nhất thiền sư là con nhà họ Châu ở huyện Trường Châu, từ bé đă nổi tiếng hào hiệp trong họ hàng, làng nước. Lúc hai mươi ba tuổi, bỗng nghĩ xuất thế, lễ ngài Lam Viên Viễn ở chùa Thụy Quang, được đặt pháp danh là Định Nguyên. Do thấy câu “đạp trước xng chùy ngạnh tự thiết” (đạp phải quả cân cứng như sắt) hết sức nghi, ngày đêm [quán niệm] chẳng gián đoạn, có tỉnh. Lại nghi công án “như thế nào là quỷ thần chẳng kiếm được”, lưu tâm nhiều năm, cũng có ngộ nhập. Thiền sư Vân Môn Trạm Nhiên sang chơi đất Ngô, Sư tŕnh sở kiến, được ngài Trạm Nhiên ấn khả. Từ đó trở đi, chỉ tụng kinh Viên Giác làm công khóa ban đêm, ngày th́ xem Đại Bát Nhă, xử sự đối đăi, vẫn y hệt như cũ, trọn chẳng biểu hiện sự khác lạ nào.

Ngày Mười Sáu tháng Giêng năm Bính Th́n (1616) đời Vạn Lịch, Sư bảo các vị như Trúc Dao Tịnh v.v… rằng: “Tôi sắp đi xa”. Do vậy, xem lịch chọn ngày Hai Mươi Sáu, lại bảo: “Người chỉ một lần chết, chẳng có chi lạ. Tôi nêu pháp chết trước, các ông tùy hỷ”. Sư bèn ngồi xếp bằng, từ chân tới đỉnh, dần dần như băng. Khoảng hai tiếng đồng hồ, Sư tỉnh lại, bảo: “Con người sợ chết, chứ chẳng có chi khác, như tắm nước ấm, ngủ trong mền ấm, chỉ lười thức dậy mà thôi!” Tới kỳ hạn, cả chùa ai nấy đều được Sư căn dặn. Sư bảo họ đặt [thi thể] trong chum, phong kín, ba năm sau mở ra xem. Lại bảo học nhân Vô Vân rằng: “Tôi hằng ngày dạy ông Pháp Hoa, vậy hăy nói xem giấy là Pháp Hoa ư? Chữ là Pháp Hoa ư? Nếu hiểu, vô biên kho báu sẽ cùng lănh được. Chẳng hiểu, lại đọc ba mươi năm”. Sư lại hét một tiếng, bảo: “Hăy nói xem, tiếng hét này cùng với toàn bộ kinh Pháp Hoa là đồng hay biệt?” Sư lại hét một tiếng, cười to, ngồi xếp bằng qua đời. Đại chúng dựng tháp thờ toàn thân ở Thổ Sơn thuộc chùa ấy. Sư thọ bốn mươi sáu tuổi, Tăng lạp hai mươi bốn năm. Do Sư nương theo An Lạc Hạnh, chẳng nuôi đồ chúng, cho nên chẳng có đích truyền y bát. Nay Tịnh công thờ phối hưởng trong nhà Tổ, Xuân Thu chẳng thay đổi vậy. Tán rằng:

- Chuyện trong Tông môn, hay ở chỗ ngầm tu thầm chứng, phù hợp khít khao giáo thừa. Người hiểu một cơ, một cảnh, sẽ bán đầy một mâm. Kẻ miệt thị kinh điển, đúng là vun bồi rễ mầm sanh tử. Nguyên công đến đi tự tại, há chỉ do sức tham ngộ trên bồ đoàn. Ấy là do dùng Bát Nhă, Viên Giác để ấn tâm, ḥa quang đồng trần mà ứng thế. Do vậy, tuy chẳng có cơ duyên xuất thế, mà quang minh lúc cuối cùng đă chiếu rạng ngời thiên địa. Kẻ tăng thượng mạn nghe sự tiến hướng của Sư mà hổ thẹn!

 

* Chuyện văng sanh của thiền sư Vạn An Vân tại Vũ Lâm

 

          Thiền sư Vạn An ở chùa Cát Tường, húy là Đại Vân, là con nhà họ Quách tại huyện Nhân Ḥa đất Hàng. Em dâu là Ngô Thị, giữ tiết hạnh, khổ tu. Do vậy, Sư cảm động, phát khởi, đến xuất gia tại chùa Vĩnh Khánh, thọ Cụ Túc Giới tại Vân Thê. Sư sống ở Bắc Giao, dốc chí nơi Tịnh nghiệp, người nương theo đông đảo! Trạm Nhiên Nguyên tĩnh chủ khâm phục hạnh tu trong sạch của Sư, xả am làm thập phương viện. Sư xét thấy nơi ấy xưa kia có chùa Cát Tường, bèn suất lănh các thiện hữu, tận lực phục hồi quang cảnh cũ. Chẳng đầy mấy năm, điện Phật, tăng liêu đều rạng ngời hoàn bị. Quy ước cộng trụ một mực vâng theo quy chế của Vân Thê. Thiền lữ lui tới được tiếp đăi ân cần. Chẳng tậu điền sản, chẳng đặt chỗ lấy củi, trăm thứ cần thiết đều phó mặc ngoại duyên, chẳng dính líu tà mạng, thống thiết trừ khử thói tệ đương thời, tận lực noi theo phong thái cổ. Ṭa giảng trong tùng lâm vừa hơi hoàn thành, Sư thị hiện bệnh nhẹ, liền thôi ăn uống, bớt nói năng, chuyên tu Tịnh nghiệp. Được một tháng, vợ và con gái đến thăm hỏi, Sư quở trách: “Di Đà chẳng niệm, niệm ta để làm ǵ?” Lâm chung, Sư nói với học tṛ đắc ư là Trí Kinh rằng: “Hăy v́ ta quét dọn, Phật đến đón rồi”. Đỡ Sư lên ngồi xếp bằng, niệm Phật qua đời. Sư thọ năm mươi chín tuổi, tăng lạp mười một hạ. Vợ là Đại Pháp, em dâu là Đại Hải, con trai là Trí Thủ, con gái là Trí Âm, cháu gái là Trí Chân, đều cùng xuất gia tu đạo.

 

* Chuyện văng sanh của ưu-bà-di Trí Phước ở Ngô Hưng (kèm theo lời tán)

         

          Ưu-bà-di Trí Phước là con cháu họ Lô ở Cô Tô, gả cho ông Tŕnh Quư Thanh ở Tân An. Quư Thanh dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, lưu ngụ[84] tại Ngô Hưng, tận lực tạo tác phước nghiệp. Bà Lô lo trọn hết việc nhà để giúp chồng chẳng mệt mỏi, thích bố thí rộng răi, chẳng tích cóp của cải riêng, tâm lẫn ngôn từ đều ngay thẳng, thận trọng, bớt tiêu dùng, chẳng thích đồ trang sức quư báu, quần áo đẹp đẽ, chẳng nóng giận, chửi bới người hầu. Bà ăn chay, lần chuỗi, công khóa mỗi ngày niệm hai, ba vạn câu Phật hiệu, coi pháp thế gian như nhai sáp. Năm Nhâm Thân (1632), lúc bà ba mươi chín tuổi, mắc bệnh ngặt, vội thỉnh pháp sư Cổ Đức truyền thọ Tam Quy, Ngũ Giới, và thưa hỏi pháp yếu Tịnh Độ, một dạ về Tây. Gặp cơn thống khổ, chỉ siêng năng xưng Phật hiệu.

Quư Thanh v́ bà đọc Hoa Nghiêm đại kinh, tới chỗ tham trọn khắp tri thức, đối với mỗi môn giải thoát, cũng đều nhất nhất lănh hội. Ông lại sách tấn bà rằng: “Trăm kiếp ngàn đời, trong lúc này hăy nỗ lực tiến thẳng, đừng do dự nữa!” Do vậy, bà lớn tiếng niệm Phật trong nửa tháng, thấy hai vị cao tăng lần lượt tới, càng thêm siêng năng, chuyên ṛng, dũng mănh niệm suốt đêm. Mẹ bà khóc lóc, con gái bà an ủi, bà đều xua đuổi: “Đừng loạn tâm tôi”. Giờ Th́n ngày hôm sau, bà đích thân thấy hóa Phật, hoa sen, bèn cảm thấy tinh thần thoải mái, ánh mắt, sắc mặt tươi sáng, vội đ̣i nước thơm để tắm gội, chắp tay hướng về Tây, liên tiếp niệm Phật, cát tường qua đời nhằm lúc chánh Ngọ ngày mồng Tám tháng Mười Một. Tối hôm ấy, khắp thân bà đă lạnh, đỉnh đầu vẫn c̣n nóng. Tán rằng:

- Buồn thay tam giới, ái dục là cội. Chẳng trừ cội gốc, mong chi sanh Tây! Cơi nước hoa sen, măi ĺa trần t́nh. Duyên ấy đoạn được, chất ấy bèn thành. Phước, trí dũng mănh, nữ kiệt anh hùng. Mau gặp thắng hữu, đều do túc nhân. Một ngày một đêm, tịnh niệm công sâu. Đài hoa tiếp dẫn, mắt thấy phân minh. Mẹ con, ân ái, cây khô, băng lạnh. Cát tường qua đời, vĩnh biệt ṿng khổ. Tôi xót hàm thức, triền sử quẩn quanh, luyến đời huyễn này, bao kiếp mê chân. Lầm lẽ xuất yếu, nào biết bờ diệu! Chấp giữ quả suông, trái nhân tịnh diệu, ai hay chánh tín, rộng bước lên cao. Tôi nay tùy hỷ, nguyện cùng quần linh, nhanh trừ lưới nghi, chứng nhập huyền môn.

 

* Tiểu truyện của thiền sư Giám Không Ninh ở Tùng Lăng

 

Phương Ngoại Sứ[85] nói: “Đời có khi đại tài mà tiểu dụng, được cả cơi đời cùng ca ngợi. Người ấy trọn chẳng truyền”. Như thiền sư Giám Không Như Ninh thuộc họ Trầm ở Tùng Lăng, dáng vẻ trang trọng, quắc thước, chí cao vượt những kẻ cùng hàng. Năm Đinh Hợi (1587) đời Vạn Lịch, Sư lễ ngài Hoài Lâm Mậu, xuất gia tại Quán Âm Thiền Viện ở Phương Tiêm. Ngài Hoài Lâm Mậu qua đời, Sư mới mười bảy tuổi, trơ trọi một thân, hằng ngày bị quấy nhiễu, chẳng bỏ đi. Thiền sư Đối Phong Hoằng thấy Sư c̣n trẻ mà chí kiên quyết, tận lực giúp đỡ, nói với bậc trưởng giả là ngài Kính Am Lục quyên tiền sửa chữa. Ngài Thân Văn Định nghe tiếng, đến nơi đó, tự tay đề biển ngạch, mới được ở yên. Sư chỉ dẫy cỏ, tận lực cày cấy, trọn chẳng chèo kéo, bám víu ai. Cho tới năm Bính Dần (1626) đời Thiên Khải, đă có tiền dư dả, bèn quyên ra, [kiến tạo] tượng thờ, điện vũ, thay đổi rạng rỡ. Năm Mậu Th́n (1628), Sư đến chơi Phổ Đà, quải đơn tại Tàng Kinh Điện của chùa Thánh Thọ.

Khi đó, chùa Tiếp Đăi ở Nam Quan thiếu người, mời Sư trông kho. Sau một năm, Sư làm chủ kho. Sư chỉnh đốn chỗ hư sụp, nghiêm túc giữ Thanh Quy, luôn gánh vác việc nặng trước, hưởng dụng b́nh đẳng. Sư riêng mở ra chỗ nghỉ đêm cho học nhân, dựa theo chế định trong Luật, lập ra Vô Tận Tạng. Ruộng đất ngày một tăng thêm, dứt bặt thói tệ tích cóp. Sau bốn năm, túi rỗng hơi đầy, lại quyên mộ tu bổ đại điện. Chẳng đầy mấy tháng đă hoàn thành, Sư bèn thị hiện bệnh nhẹ, dứt thuốc thang, kiểm điểm chuyện trong thường trụ cặn kẽ phân minh, giă biệt đại chúng. Thượng thủ rơi lệ, Sư quở rằng: “Già đầu rồi mà c̣n theo kiểu cách nữ nhi!” Sư dạy: Sau khi mất, đưa xương vào tháp Phổ Đồng, thượng thủ thỉnh [lưu xương của Sư để] trấn Phương Tiêm, Sư im lặng chấp thuận. Ngày hôm sau, Sư lặng lẽ không tiếng động, cát tường qua đời. Đại chúng kiểm đăy của Sư, chẳng có một phân tiền! Sư thọ năm mươi chín tuổi, Tăng lạp chín hạ. Sư đă mất mà tiếng thơm càng vang, người bàn định chẳng ai không nói Sư là công thần bậc nhất của chùa Tiếp Đăi, đáng xếp vào bậc liệt tổ trung hưng của Phương Tiêm. Than ôi! Đấy đều là những người chẳng biết Ngài vậy. Phương công tận lực cày cấy ở Phương Tiêm cũng bùi ngùi than thở: “Chẳng ngờ Ngài v́ cuộc đất này mà mai một nửa đời người”.

Năm Ất Sửu (1625) đời Thiên Khải, tôi ngẫu nhiên cùng đôi ba vị pháp hữu kết hạ trong am, bàn luận nghĩa trọng yếu trong kinh Đại Phật Đảnh. Sư đă nghe pháp môn xuất thế, dũng mănh nhớ lại nguyện cũ, nhanh chóng đem chuyện trong am giao cho thượng túc, xin thọ giới với Mậu Lâm luật chủ, cùng với tôi kết hạ tại Thừa Thiên, nghiên cứu Luật học. Tôi do tiên từ đă khuất, sắp ở ẩn. Sư chèo kéo bế quan, dùng thân hộ tŕ chuyến đi trên biển, cũng hầu hạ tôi. Do muốn kiểm luật, nghiêm tịnh Tỳ Ni, nên về ở chùa Thánh Thọ. Khi ấy, Sư lưỡi chẳng nếm thức ăn phi thời, tay chẳng rời chuỗi viên minh, gởi ḷng nơi Tây Phương, chẳng c̣n biết có chuyện trong thế gian, cơi người, bảo là “chí ban đầu sắp toại”.

Chẳng ngờ cái duyên tại Tiếp Đăi dần dần bức bách cái thân, Sư hai phen cực lực chối từ nhiều lượt, đàn tín hộ tŕ bốn lượt kiên tŕ khuyên nhủ, muôn phần chẳng làm sao được, đành phải gánh vác, nhưng chí thật sự phù tá pháp môn. Lâm chung, Sư bảo đệ tử đưa xương vào biển Lục Ḥa Tăng, bởi dốc chí học trong đời sau. C̣n như chấp thuận lời thỉnh của Phương Tiêm, chẳng nói mà im lặng. Sự im lặng ấy khác nào khi xưa tận lực cày cấy, dựa vào cán cuốc mà thở dài vậy! Sư chẳng toại chí thâm nhập pháp môn, cho nên cả hai nơi được nhờ ơn; người khác tuy chắt lưỡi, nhưng tôi thấy càng chẳng vừa ư, bởi chẳng phải là đại tài, tiểu dụng, sao lại trở thành công lao chẳng trọn vẹn như thế? Tôi biết Sư, truyền bảo chí Sư để nói với người có chí mà tŕnh độ c̣n non nớt vậy!

 

* Tiểu truyện chung của hai người bạn là Bích Như và Tinh Cốc (kèm lời tán)

 

          Thiền sư Bích Như, húy Quảng Hạo, con nhà họ Vương ở Thai Châu, tục danh là Kính Cốc, hiệu là Bá Vô. Cha là Sĩ Kỳ, làm Đại Đồng Khai Phủ, có tiếng thanh liêm. Sư đến tuổi nhược quan (hai mươi) liền có chí xuất thế, lễ Vân Thê Liên Tŕ đại sư, thọ Ngũ Giới, được đặt pháp danh như hiện thời. Năm Bính Ngọ (1606) thời Vạn Lịch, Sư đỗ hiếu liêm[86] lúc đó, Sư hai mươi bảy tuổi. Trải qua hai kỳ thi lớn, khảng khái trúng tuyển, v́ gấp muốn báo đền nỗi nhọc nhằn chăm sóc, nuôi nấng, v́ mong xuất thế. Sư được bổ làm huyện lệnh Tân Kim, yêu dân như con. Do làm quan, giới đức phần nào thiếu sót.

Năm Mậu Ngọ (1618), Sư nhập cận[87], thuyền neo tại Địch Cảng, mộng thấy quỷ sứ dẫn hồn đến gặp vua cơi âm. Vua quở trách chuyện phá giới, sai tống vào ngục. Bên cạnh vua có viên quan cơi âm thay Sư thỉnh cầu, xin vua xem xét những chuyện đă làm sau khi phá giới, thấy thiện nhiều, ác ít, bèn tha cho, chẳng tống giam vào ngục, chỉ khoét mắt đóng vào trụ. Tới khi Sư tỉnh giấc, hai mắt đều ḷa. Uống thuốc chữa trị, lại mộng thấy vua cơi âm quở mắng, lại lấy hai cây đinh to đóng vào hai vành mắt, hết sức đau đớn, kêu thất thanh mà tỉnh giấc. Sư bèn chẳng uống thuốc, xin từ chức, dựng thất bên cạnh chùa Cao Minh ở núi Thiên Thai, hằng ngày tụng kinh Kim Cang Bát Nhă và Đại Bi tâm chú. Hành pháp chưa đầy một năm, mắt lại sáng dần. Các thân hữu khuyên Sư ra làm quan trở lại. Sư than rằng: “Đời người mấy chốc, dũng mănh cầu xuất thế chẳng xuể, vẫn c̣n làm chuyện kiếm sống nơi sừng ốc, đầu ruồi ư?” Chỉ v́ thái phu nhân hăy c̣n, chưa nỡ ḷng bỏ đi. Nhưng đă nghĩ muốn ĺa tục, lại v́ mẹ ngăn ngại, há chẳng nguyện mẹ đạt đến thượng thọ ư? Khi đó, có người do con xuất gia mà buồn khóc, thái phu nhân cười bảo: “Chuyện tốt bậc nhất, đáng phải nên coi là vui mừng, may mắn, sao lại khóc? Nếu là tôi, tôi quyết chẳng làm như thế”.

Do vậy, Sư an tâm trốn đi xa, xuống tóc nơi đất Sở, đơn thân hành cước, nếm đủ các nỗi khổ, thọ giới phẩm, bế quan xem Luật, và chép Hoa Nghiêm đại pháp. Kế đó, trải qua các nơi tại Khuông Lư, đến Bác Sơn, theo đại chúng tham Thiền, chẳng ai biết đến. Khéo sao, tôi và thầy Quy Nhất đưa thầy Tinh Cốc đến Bác Sơn xuống tóc. Sư lúc ở Cao Minh, đă từng giao du với thầy Quy Nhất. Một hôm, thầy Quy Nhất ở trong đại chúng cầm tay Sư hỏi: “Ngài là hồi sanh Vương Bá Vô phải không?” Chẳng kiêng dè, mới là thật t́nh. Một hôm, Sư thấy tôi cùng với thiền sư Vô Dị đàm luận chuyện thọ giới cặn kẽ nhất; do vậy, than thở Luật học gần đây hết sức hỗn loạn. Ngài vốn do phá giới đích thân bị cơi âm khiển trách. Sư muốn lưu tâm nơi đạo ấy đă lâu, nhưng đă thưa hỏi các vị luật chủ có tiếng, hiếm ai chẳng mù mờ. Tôi đưa sách Tỳ Ni Yếu Tập cho Sư xem, Sư vừa đọc vừa tán thưởng, than là chưa từng có, bèn kết giao thành bạn bè ngàn đời.

Ngài lại biết tôi chú trọng duyệt Tạng, liền gợi ư căn dặn: “Đối với nghĩa loại của Tam Tạng, hăy nên soạn chung thành một sách. Những chỗ cân nhắc thấy là trọng yếu trong Tam Tạng, tập hợp những điểm trọng yếu của các tông, nghiên cứu những Phật sự, biện định đúng sai, hăy nên mỗi thứ soạn riêng thành một sách. Phát Bồ Đề tâm tập, lục độ tập, nên soạn thành hai sách. Các chuyện y, bát, và thọ giới, thuyết giới, yết-ma trong Tỳ Ni, những chuyện phải nên làm trong thường nhật, hăy nên sưu tập để đính kèm sau sách Tập Yếu. Kinh Phạm Vơng tuy đă có hai vị đại sĩ nêu tỏ, hăy nên bổ sung bằng Di Lặc Giới Bổn, và các kinh có liên quan, gom lại đính kèm sau phần giới điều của chánh kinh. Sau đấy, vận dụng tài khéo và kiến thức để bổ túc những điều người trước thiếu sót, mà cũng chẳng đánh mất vai tṛ là trung thần của hai vị đại sĩ. Chớ nên v́ tránh né hiềm nghi mà bỏ lỡ chuyện thù thắng này. Đối với Sa-di giới, Ưu-bà-tắc giới, đều phải nên nêu tỏ đôi chút, ghép vào sau sách Tập Yếu. Đối với tám điều trên, đệ trước kia đọc Khế Kinh, đă có nguyện mọn. Hận là già nua, ṃn mỏi, tinh lực đă tiêu vong, gần đây lại lo kiếm sống trên bồ đoàn, chẳng thể đền đáp cái nguyện ấy. May gặp bậc thợ khéo, kính giúp sức cho đương cơ. Nếu rượu tam-muội đă tiêu, vẫn mong dâng nửa cánh tay góp sức. Nếu không, sẽ kết ‘đai lụa trắng’[88] trong đời sau vậy!” Tôi vâng dạ, từ tạ rằng: “Xưa kia đệ cũng có chí ấy, chẳng mưu tính mà hợp, hai chuyện thứ sáu và thứ tám, đệ đă làm rồi”.

Không lâu sau, Sư bế quan nơi tĩnh thất ở Đông Phong. Năm sau, thái phu nhân do bệnh nặng, [người nhà] hai lượt báo tang, Sư bèn trở về thăm. Thái phu nhân nói: “Ta nói con xuất gia, ta chẳng buồn khóc, nay có đúng như vậy hay không? Hăy gắng lên, ta tự khéo dưỡng mấy năm, con cũng khéo học. Đừng để chuyện này trở ngại đại sự xuất thế”. Sư vâng theo từ mạng, sang Vũ Lâm, cùng với pháp sư Tân Y tâm đầu ư hợp. Khi đó, tôi vào Hiếu Phong, chọn đường đi qua Vũ Lâm. Sư nói: “Sách Tập Yếu tuy đă được tham đính, nhưng tôi thật sự chưa hoàn toàn thông suốt. Tôi nghĩ nghe thầy truyền giảng rồi lại tu tập, chẳng để nói suông! Nay gặp pháp tịch Hoa Nghiêm, chẳng thể kéo lê kiếp sống tàn mà nương theo. Nếu c̣n sống, sang năm tôi sẽ vào núi [Linh Phong] kết hạ”. Chưa đầy mười ngày, Sư thị hiện mắc bệnh nhẹ, biết trước lúc mất, sai thị giả viết di chúc dặn ḍ hai con rồi nhiếp tâm niệm Phật mà đi.

Than ôi! Do Sư mẫn tuệ, hiếu học, đă hiểu rồi liền có thể hành, trọn đủ chánh nhân xuất thế, ôm đại nguyện Bồ Đề, khiêm cung, đức dày, đối xử ḥa hảo với mọi người, chẳng thẹn thuộc pháp phái của Liên sư (Liên Tŕ đại sư). Trời chẳng cho Sư sống thêm mấy năm, chẳng phải là đại bất hạnh cho pháp môn ư? Sư sanh năm Canh Th́n (1580) thời Vạn Lịch, mất vào năm Tân Mùi (1631) đời Sùng Trinh, thọ năm mươi hai tuổi, pháp lạp năm năm. Sư thị hiện ở địa vị đang học, cho nên chẳng truyền y bát, chỉ có Hồi Sanh Kỷ được lưu truyền trong cơi đời. Pháp sư Kim Đài chùa Phật Nhật dựng tháp thờ toàn thân Sư tại chân núi Cao Đ́nh.        

          Thiền sư Tinh Cốc, húy Đạo Thọ, con nhà họ Hà ở Ôn Lăng, tục danh là Khải Đồ. Lúc đang học văn chương, do đọc Lăng Già Kư của Hám Sơn đại sư, vừa đọc, vừa khóc, phát tâm xuất thế, bỏ cử nghiệp, chuyên nghiên cứu tông thừa. Do cha hăy c̣n, Sư chẳng được xuất gia, dùng thân cư sĩ cùng với các đạo hữu Như Thị, Vũ Hải v.v… hằng ngày cùng dùi mài lẫn nhau. Vùng Tuyền Nam thiếu Văn Huân đă lâu, rừng Tăng không có người biết tham cứu, Sư bèn hành cước. Sư cổ vũ một hai vị anh kiệt, đặc biệt đi xa. Tăng, tục tại Mân Trung mới có người hơi phát tâm lên miền Bắc học nơi Giang, Chiết. Thoạt đầu, Sư tới Khuông sơn, yết kiến Hám Sơn đại sư, thấy Ngài quy mô rộng răi, nhưng đối với chuyện tham cứu sanh tử chưa thiết tha cho lắm, bèn rời đi, t́m đến Bác Sơn. Tại Bác Sơn, Sư ở riêng một biệt thất, gắng công tham cứu hơn một năm. Sư thường cùng ngài Vô Dị luận bàn rất hăng, ngài Vô Dị chẳng trách móc, do biết Sư riêng có sở trường. Nhưng pháp môn của ngài Vô Dị là ắt phải trước Định, sau Huệ, Sư tự suy xét chủng tánh [của chính ḿnh], phải nên là trước Huệ, sau Định, bệnh không đúng thuốc, sao có thể chữa trị!

Sư bèn sang Vũ Lâm ở phương Đông, tham phỏng pháp sư Vô Tận thuộc tông Thiên Thai. Sư gặp bạn cũ là thầy Quy Nhất, đức lẫn nghiệp đều tiến, nghi pháp sư ắt có người khác kềm cặp đặc biệt, bèn nương theo, được xem những giáo lư cùng tột như Diệu Tông Sao v.v… Nh́n lại huệ giải thuở trước, cảm thấy bội phần tinh tế. Sư theo đuổi sự tham cứu đến tận Ngô Môn, từ Ngô Môn đến đất Hàng, ngụ tại Long Cư. Khi đó, tôi đang duyệt Đại Tạng ở Long Cư, Sư vừa gặp liền hỏi: “Có trước tác ǵ hay không?” Tôi đem Bạch Ngưu Thập Tụng cho Sư xem. Sư hết sức vui thích, bèn muốn kết giao làm bạn ngàn đời, tôi chưa cho là đúng. Tụ hợp đă lâu, Sư thường cùng tôi tranh luận kịch liệt. Tôi nói: “Vị cư sĩ này chưa chắc đă suy xét kỹ lưỡng lời tôi”. Về sau, do cùng kết Đông với sư Quy Nhất, ngẫu nhiên bàn định về pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông, thầy Quy Nhất chủ tŕ cuộc tranh luận, bảo Sư đúng, tôi sai. Do vậy, tôi lắng ḷng nghiên cứu cuộc tranh luận trước đó, thấy ḿnh thua kém quá nửa. Do vậy, bèn cùng kết t́nh bạn ngàn đời, khích lệ Sư sớm trở về tăng tướng.

Sư cho rằng trước đó đă lễ ngài Bác Sơn, chẳng nỡ bỏ thầy. Sư cùng tôi vui vẻ về Bác Sơn. Thầy Vô Dị đích thân xuống tóc, nhưng chưa cho thọ giới Sa-di và tỳ-kheo. Bởi lẽ, chuyện thọ giới đă từng ước định với thầy Quư Hiền, ắt phải khôi phục quy chế cổ. Mùa Xuân năm Canh Ngọ (1630), tôi bị bệnh nằm bẹp tại Long Cư, đốt hương trên cánh tay, trích máu đầu lưỡi viết thư gởi cho Sư. Sư cùng thầy Như Thị đến, lễ thầy Quư Hiền làm ḥa thượng, thầy Giác Nguyên làm Giáo Thọ A-xà-lê, thầy Tân Y làm Yết-ma A-xà-lê, tận lực phục hồi quy củ của Như Lai, đúng như pháp thọ giới sa-di và giới tỳ-kheo, chỉ có Bồ Tát Giới là không thọ lại, v́ cho rằng lúc làm cư sĩ, đă từng thọ nơi ngài Bác Sơn.

Sư kết hạ an cư, nghe Tỳ Ni Tập Yếu. Sư tu tập tông thừa đă lâu, đạt được lợi ích to lớn, cũng chẳng tránh khỏi nhiễm phải thói tệ của tông ấy: Chẳng thể lưu tâm nơi Luật Học! Nhưng sợ phụ nỗi khổ tâm của tôi, do biết thầy Phật Nhật Kim Đài tâm rỗng rang, chuộng điều thiện, bèn tận lực thỉnh thầy ấy lưu thông Tập Yếu. Mùa Thu năm Tân Mùi (1631), thầy Phật Nhật bị bệnh mất. Than ôi! Thầy ấy cũng là kỳ nhân bậc nhất. V́ pháp môn mà thường va chạm sự kỵ húy trong đương thời, v́ bạn đạo mà thường quên bản thân, huệ nhăn siêu quần, cơ biện cao sâu, lỗi lạc, chuyên dốc, thường dùng cách nói nhanh gọn, sắc bén để giành phần thắng. Dẫu là bậc cao đức nổi danh trong nhà Thiền muốn cùng Sư tranh biện, thường là giống như đụng phải Nhạc gia quân[89]. Dần dần đạt tới mức chẳng thua kém ngài Đâu Suất Giác Phạm cho mấy! Tôi nói Bác Sơn có đệ tử “màu xanh phát xuất từ màu chàm”[90], sao lại nhập diệt nhanh đến thế? Sư sanh năm Quư Mùi (1583) thời Vạn Lịch, thọ bốn mươi chín tuổi, pháp lạp hai năm. Tháp trà-tỳ của pháp sư Kim Đài, gởi xương gần thầy Bích Như. Thầy Như Thị được lợi ích từ Sư nhiều nhất, gom góp những ghi chép thường ngày của Sư, đặt tên là Bút Ngữ để lưu thông, trần thuật hành trạng, giữ lễ đệ tử sau khi Sư đă mất, chẳng khiến cho kẻ trọng danh tướng, coi thường pháp ân trong thiên hạ hậu thế hổ thẹn ư?

          Phương Ngoại Sứ nói: “Hai thầy đều chơi thân với tôi nhất. Sư Bích Như nhân từ, ôn ḥa, sư Tinh Cốc thương xót, nhưng nghiêm khắc. Sư Bích Như thông minh, nhạy bén, tường tận, minh xác. Sư Tinh Cốc trầm tĩnh, kiên quyết, nhưng tinh nhuệ. Sư Bích Như hằng ngày đọc mấy quyển, vừa xem liền hiểu rơ. Sư Tinh Cốc nghiền ngẫm một câu, một kệ, trải cả mười ngày, một tháng chẳng bỏ qua. V́ thế, sư Tinh Cốc phục sư Bích Như thông hiểu rộng răi, sư Bích Như phục sư Tinh Cốc tinh tường, thấu triệt. Sư Bích Như đến đâu, mọi người đều yêu mến. Sư Tinh Cốc đến đâu, mọi người đều sợ. Sư Bích Như chỉ muốn được lợi ích từ nơi người khác, chẳng dám tạo lợi ích cho người khác. V́ thế, có thể hỏi điều chẳng thể, hỏi nhiều điều mà kẻ khác ít hỏi. Cho tới khi lâm chung, vẫn chắp tay hỏi pháp, khiến thị giả dập đầu lễ kính. Sư Tinh Cốc chỉ muốn lợi ích người khác, coi đó là lợi ích cho chính ḿnh. V́ thế, từ đất Mân tới Giang Hữu, từ đất Ngô tới Vũ Lâm, không đâu chẳng v́ thích tranh biện khiến cho các giảng tịch chê gièm. Cho tới khi lâm chung, Sư nhớ nghĩ bạn cũ là Như Thị, khuyên ông ta nên tự biết suy xét, giống như to tiếng quát nạt, bảo: “Ngàn đời há có thánh hiền tự lợi, ích kỷ?”

Ôi! Khổng Tử nói “bất đắc trung hành, tất dă cuồng quyến” (chẳng hành xử đúng mực, ắt sẽ thành quá mức cuồng vọng hoặc bảo thủ). Mạnh Tử gọi Bá Di và Liễu Hạ cùng là thánh nhân; hai sư Xuân lan, Thu cúc, mỗi vị đều có ưu điểm riêng, há ắt phải dung thông cả hai đằng th́ mới gọi là đức toàn vẹn ư? Họ chơi với tôi, thầy Bích Như muốn được tôi tạo lợi ích, chẳng thể không dùng đôi chút lời lẽ nhỏ nhẹ để lợi ích tôi. Thầy Tinh Cốc muốn tạo lợi ích cho tôi, cũng chẳng thể không nhận đôi chút lợi ích từ tôi, đều là những chỗ đặc biệt trong cuộc đời. Điều đáng đau ḷng là thầy Bích Như muốn học Tỳ Ni mà chưa toại chí, thầy Tinh Cốc đă học mà chẳng thể dốc sức. Chánh pháp của Như Lai, ai sẽ cùng gánh vác? Than ôi! Trong ṿng một tháng, hai thầy cùng nối tiếp nhau qua đời. Tôi tuy có một hai người cùng chí hướng, họ chỉ có thể nhận lợi ích, chẳng thể lợi ích tôi, hoặc là lợi ích lẫn nhau, nhưng vui thích hay chống trái, chẳng thể nhắm mắt [phó mặc] trong lửa mạnh của ḷ đỏ rực, buông tay nơi mũi đao buốt lạnh! Như hai thầy, đối với đại sự nhân duyên c̣n chẳng tránh khỏi vướng mắc nơi công án, huống hồ những kẻ chẳng bằng hai thầy ư? Do vậy, tôi than thở khôn xiết, cam ḷng suốt đời ở trong núi sâu!

 

* Chuyện văng sanh của sư Tụng Trửu

 

          Sư húy là Hoằng Tư, tên tự là Như Thị, người xứ Lưu Việt, Tấn Giang, họ Trần. Tuổi để chỏm đă vào chùa Khai Nguyên ở quận nhà, lễ ngài Tiếu Măn Toàn thuộc Trạm Nhiên Tinh Xá làm thầy. Sau khi xuống tóc, chuộng thơ văn, chẳng quan tâm đến tiền bạc, gạo thóc, khí tiết khảng khái, Tăng tục đều kính nể. Lúc hai mươi bảy tuổi, Sư bỗng phát tâm xuất thế, kết giao với thầy Nguyệt Đài Tâm Mặc và cư sĩ Hà Tinh Cốc làm bạn sanh tử, sớm chiều tham cứu đại sự, tột bậc quên thân, gió, mưa, lạnh, nóng đều chẳng bỏ phế. Khi đó, Phật pháp ở Ôn Lăng hoang phế đă lâu, Văn Huân thiếu chủng tử, Sư riêng cùng Tinh Cốc cổ vũ mấy người, yết kiến thiền sư Vô Dị ở Bác Sơn xin thọ Cụ Túc Giới, khổ công tham cứu chữ Vô, chẳng ngả lưng xuống chiếu suốt ba năm.

Ngài Vô Dị thương xót Sư chuyên cần, sợ Sư ngă bệnh, nói thí dụ điều chỉnh dây đàn để khuyên lơn. Sư tạm nghỉ ngơi, trọn chẳng cởi y. Sư chí hướng xa xôi, to lớn, dẫu có tỉnh ngộ vẫn chẳng tự cho là đủ, cũng chẳng có hành vi cẩu thả như người khác. Người cùng hàng coi Sư như kẻ chất phác, tŕ độn, cố nhiên Sư hiểu rơ đúng sai, thấu suốt như gương Tần. Sư ĺa Bác Sơn, sang chơi Chiết Trực, học tập Giáo Quán nơi U Khê, thấy rơ khuyết điểm ám chứng trong đời Mạt, tuân theo giáo huấn “hổ đội sừng” của ngài Vĩnh Minh, bèn gởi tâm nơi An Dưỡng, mong đạt đến Vạn Thiện Đồng Quy. Cho tới khi thầy Tinh Cốc xuống tóc, Sư do được hưởng lợi ích dạy bảo từ thầy Tinh Cốc nhiều nhất, muốn tôn [thầy Tinh Cốc] làm bậc tăng lạp cao hơn. Hơn nữa, ở Bác Sơn thọ giới chẳng như pháp, liền xả giới đă thọ trước đó, lễ thầy Quư Hiền làm ḥa thượng, Giác Nguyên và Tân Ư hai vị pháp sư làm A-xà-lê. Kế đó, thầy Tinh Cốc thọ giới tỳ-kheo, kiêm thọ Bồ Tát đại giới, kết hạ nghe tôi giảng Luật Yếu. Năm sau, thầy Tinh Cốc về Tây. Sư do Toàn công (ngài Tiếu Măn Toàn) tuổi đă cao, bèn trở về hầu hạ, sáng lập Bát Quan Xă để tiếp dẫn cư sĩ. Từ đấy trở đi, Tăng tục của Ôn Lăng mới biết có chánh giới của Như Lai.

Sư thấy như vậy vẫn chưa đủ, chỉ mong tưởng thầy sáng, bạn lành. Năm năm sau, lại trốn khỏi vùng Chiết Giang, đạp băng tuyết, t́m đến tôi ở đầu non Cửu Tử. Chẳng bao lâu, Toàn công qua đời, đồ tôn của Ngài khóc lóc, xin Sư trở về Tuyền Châu, bèn ước định với tôi tiếp tục tới Tử Vân tính bế quan. Cho tới khi tôi đến thực hiện lời ước hẹn, chưa đầy một năm, Sư đă thị hiện bị bệnh, vời tôi đến giúp niệm Phật, sai thị giả cạo tóc, tắm gội. Tắm xong, Sư ngồi ngay ngắn, chắp tay rồi qua đời, chánh niệm phân minh, thần thanh khí định. Bốn tiếng sau, đỉnh đầu vẫn c̣n ấm. Sư đă gởi thân nơi búp sen, chẳng c̣n ngờ chi nữa!

Sư suốt đời tiêu dùng hết sức tiết kiệm, áo rách, giày vá, mấy chục năm như một ngày. Tôi từng cười bảo: “Vua Thuấn bỏ thiên hạ như vứt chiếc giày cũ, Sư bỏ giày cũ như thiên hạ”. Sư tư lự, bảo: “Tôi chẳng cố ư làm ra vẻ keo kiệt, do thẹn đức mỏng chẳng kham tiêu xài của đàn na tín thí đó thôi!”. Sư cam tâm đạm bạc, chịu đựng mệt mỏi, siêng ṛng Thiền tụng, ngủ trễ, thức sớm, dẫu bệnh ngặt nguy ngập, vẫn chẳng trễ năi, thiếu sót, đúng là có phong cách của cổ nhân. Đối với thầy bạn thân tín, Sư chịu đựng sự kềm cặp ác nghiệt như uống cam lộ. Dẫu trong các vị cổ nhân, cũng chẳng có mấy người được như vậy! Nếu như Sư sống lâu hơn, gần là sẽ sánh bằng Dị Nham, xa là có thể nói gót Đoạn Nhai. Tiếc là Sư chỉ sống được năm mươi năm, giới lạp mới mười hạ, tự độ cố nhiên đă thừa, công lợi tha chưa được một nửa. Đau xót thay!

Sư giao thiệp với hàng sĩ phu, ắt tùy bệnh khát của họ, làm dịu cơn khát của họ bằng những lời lẽ thẳng thừng, chẳng kiêng dè. Thị giả của Sư sao lục thành sách, tôi đùa bỡn ghi tựa là Lăo Bà Thiền. Sách gồm có kệ tụng, thơ vịnh mấy chục bài. Một tháng trước khi ngă bệnh, Sư bỗng đốt đi. Sư từng dùng một bài kệ trong Luật, khắc cạnh chỗ ngồi. Kệ rằng: “Danh dự và lợi dưỡng, được kẻ ngu yêu mến. Hay tổn hại pháp lành. Như gươm chặt đầu người”. Sư chưa từng chẳng giao du với bậc hương thân hiền đạt, nhưng tâm cố nhiên đă thấy thấu suốt như thế đó. C̣n nhớ bài tuyệt cú vịnh Cúc của Sư như sau: “Ly cúc sổ hành tùy thượng hạ, vô tâm chỉnh lư nhậm tha hoành. Hậu tiên bất dữ thời hoa cạnh, tự thổ sương trung nhất đoạn hương” (tạm dịch: Bên giậu, so le cúc mấy nhành, chẳng màng cắt tỉa, mọc tung hoành. Sau trước chẳng cùng hoa đua sắc, trong sương tự thoảng chút hương thanh). Từ bài thơ ấy có thể thấy đại khái. Sư tự cho là tinh thần, căn tánh hơi độn, về già xưng là Tụng Trửu Đạo Nhân (誦帚道人)[91]. Sư có chí bế quan để chuyên tu Tịnh nghiệp. Sư lại có hiệu là Tàng Lục tỳ-kheo[92] (藏六比丘), c̣n như [danh xưng] Đạo Phưởng Nhất, húy Tắc Dị, là do Sư được thầy đặt. Xét Khai Sĩ Truyện ở Tử Vân, đă chép tám mươi người, nay sẽ ghép thêm Sư, xưng là người thứ tám mươi mốt.

 

* Tiểu truyện của Tự Quán Ấn xà-lê

 

          Phương Ngoại Sứ nói: “Pháp đạo hưng thịnh th́ một người suy bại đă là nhiều. Cho tới khi suy vi, nhiều người phù trợ vẫn chẳng đủ. Há ma lực thật sự hơn hẳn đạo lực ư? Do đồng phận vọng t́nh, thuận theo th́ dễ, trái nghịch th́ khó. Có được người biến điều khó khăn trong thế tục thành dễ dàng, khiến cho điều cấp bách trong thói đời trở thành hoăn đăi, dẫu chí lớn chưa toại, vẫn đáng là trụ đá giữa ḍng, nghiễm nhiên xưng là bậc hào kiệt”.

Pháp hữu Tự Quán gần như được như thế đó chăng? Pháp hữu tên là Chiếu Ấn, người xứ Giang Phổ, Ứng Thiên, họ ngoài đời là Diêu. Lúc mười hai tuổi, đoạn rượu thịt, xuất gia tại Trúc Lăng Am thuộc chùa Đại Báo Ân. Tằng tổ (cụ cố) là Vân Đài công tu tập Thiền Tư đă lâu, biết cháu là pháp khí. Sư học chữ với ông nội của sư là Tây Luân công Ngọc Thành, thích tập luyện thơ văn. Các vị Tự Bộ[93] như các ông Lưu, Điền càng thêm kính trọng, làm thầy khi Sư c̣n bé, giáo huấn nghiêm ngặt, chánh đáng. Sư phụng sự bậc kỳ túc trọn lễ. Bậc trưởng thượng trong chùa đều coi trọng Sư. Lúc hai mươi ba tuổi, Sư bỗng phát tâm xuất thế, bỏ bút nghiên, tham học với Vân Cốc lăo nhân, thỉnh vấn pháp yếu. Sư lắm bệnh, da dẻ b ghẻ chốc đă lâu, chưa rảnh để đi xa được. Năm Đinh Măo (1627), đêm trừ tịch tại Thê Hà, Sư ngẫu nhiên có câu thơ rằng: “Thử tế dục hà tín, đăng hoa phàm kỷ cá?” (lúc này muốn tin ǵ, đèn hoa đă mấy dạo?) Ngâm chưa xong, ánh đèn bỗng tắt ngúm, một thoáng sau, đèn sáng lại, Sư bất giác toát mồ hôi, buốt xương, dũng mănh tỉnh ngộ vô thường. Từ đấy trở đi, thấy chuyện trong thế gian như gỗ khô, tro tàn.

Mùa Thu năm Kỷ Tỵ (1629), tôi đến chơi Thê Hà mới gặp gỡ pháp hữu, tặng bài kệ rằng: “Cơi đời chẳng biết chân, riêng ta chẳng mến giả, phục ông tánh b́nh thản. Kham nhập Tỳ Ni Xă”. Pháp hữu nhận lấy. Mùa Xuân năm Nhâm Thân (1632), Sư bèn vào Linh Phong kết hạ. Tôi v́ Sư làm yết-ma, truyền trao Cụ Túc Giới. Sư chuyên tinh nghe Luật, hễ hiểu liền hành, chẳng chịu nói suông. Bạn học đua nhau vặn hỏi, chỉ có pháp hữu lặng thinh như kẻ ngu, nhưng chân thật thực hiện, chẳng có tập khí màu mè bề ngoài.

Năm Bính Tư (1636), tôi dưỡng bệnh, ẩn ḿnh tại Cửu Hoa, pháp hữu sống ở Vũ Thủy, xem khắp các sách thuộc Luật Tạng. Năm Đinh Sửu (1637), đến t́m tôi ở ngọn núi Cửu Tử để thương lượng, ấn chứng ư chỉ trọng yếu của các kinh Phạm Vơng và Phật Đảnh. Tôi thấy Sư hành tŕ có thừa, nhưng huệ giải chưa đủ, liền lập ra mười câu hỏi trong đàn tràng để rèn cặp. Sư quên ăn, bỏ ngủ, suy nghĩ sâu xa, tận lực t́m ṭi từ Thu đến Đông, có chỗ tỉnh ngộ, biết chuyện này to lớn, lâu xa, bèn tự gắng công, ẩn giấu tài năng, cẩn thận ǵn giữ. Năm Mậu Dần (1638), tôi sang Ôn Lăng. Pháp hữu trở về, tuân theo kinh Di Giáo, nương vào Luật Tạng mà trụ, nương vào Tứ Niệm Xứ để hành đạo, chẳng mong mỏi pháp thế gian. Khi đó, bạn đồng tham tự phụ là kẻ thông suốt, thường chê cười Sư, Sư vẫn thản nhiên chẳng màng. Cho tới năm Nhâm Ngọ (1642), tôi từ Ôn Lăng trở lại, toan cùng pháp hữu cùng dựng pháp tràng, nhưng trước đó một năm, tức năm Tân Tỵ (1641), pháp hữu đă qua đời.

Than ôi! Ba tông đối lập nhau, pháp đạo suy vi, ai nấy chú trọng đề cao danh tiếng, đều chẳng có nền tảng. Nếu bảo với họ nguồn cội của Tam Học, quy củ thơm thảo thời đức Phật, chẳng có ai không bịt mũi cười cợt, ngoác miệng chê bai! Pháp hữu tin tưởng tôi trong lúc cả cơi đời gièm chê, hủy báng, kể từ lúc tôi chín sống một chết và lúc chia tay vào năm Mậu Dần (1638), bao kẻ ồn ào, tuyên truyền đủ thứ, mà Sư có thể khăng khăng tự rèn luyện đến chết chẳng thay đổi. Lắng ḷng quán Phật, quay về chánh niệm, cho đến khi qua đời, tăng, tục mới tưởng nhớ, há chẳng trác tuyệt ư?

Đại Báo Ân Tự trong niên hiệu Thần Miếu đă xuất hiện hai vị kiệt xuất, một là Hám Sơn đại sư, hai là Tuyết Lăng đại sư. Thầy Chiếu Ấn vừa mới xuất gia, liền dốc chí noi theo đức hạnh tốt đẹp của tiền nhân. Tuổi thọ chỉ tṛn bốn mươi, pháp lạp vẫn chưa đủ mười hạ. Những người biết tiếng, khâm phục Sư trong thuở ấy chẳng ngoài mấy người như Trịnh Trung Thừa, Tiền Kinh Triệu, những vị hiển đạt trong làng như Lăng Quan Cầu, Trần Mân Chiêu, cư sĩ Trần Phi Bạch, Trương Hưng Công. Tôi nói hai cụ (Hám Sơn và Tuyết Lăng) đă khó có, thầy Chiếu Ấn càng khó có hơn! Nếu chẳng suy nghĩ, hiểu biết sâu xa, ai chịu bỏ đường lối dễ dàng cả cơi đời đang hướng theo, để riêng đi trên con đường cỏ cao một trượng hết sức gập ghềnh? Xưa kia, Mạnh Kha luận định cổ nhân, coi người chết đói tại Thủ Dương (Bá Di, Thúc Tề), cùng với quan A Hành (tể tướng) đời Thương (tức Y Doăn), và quan Sĩ Sư đất Lỗ (tức Liễu Hạ Huệ) đều là bậc thánh, đúng là chẳng dùng Thế Đế để phẩm đề. Tôi cho rằng hai vị đại sĩ Hám Sơn và Tuyết Lăng cùng với thầy Chiếu Ấn cùng xưng là Báo Ân Tam Kiệt, há chẳng được hay sao?

 

* Chuyện văng sanh của tôn giả Diệu Viên (kèm lời tán)

 

          Tôn giả Diệu Viên, húy Như Hội, là con nhà họ Đàm ở Yên Đô (Bắc Kinh), nhiều đời thế tập Vạn Hộ Hầu[94], ăn chay từ bé. Ba mươi chín tuổi, Sư xuất gia, thề hành Đầu Đà, chẳng ngả ḿnh xuống chiếu. Trước sau, Sư đă đốt sáu ngón tay, chứ đốt đỉnh đầu, nung cánh tay th́ chẳng tính nổi số. Thoạt đầu, Sư xuống phương Nam, chỉ chú trọng khổ hạnh. Trụ Tŕ Ngưu Đầu khích lệ Sư nghiên cứu Lư, hết sức cảm phát. Sư nhất tâm niệm Phật, bèn rỗng rang quên bẵng thân thể và cơi đời, chẳng tự xưng đă ngộ. Sư gặp hết thảy tăng, tục, chẳng hề hàn huyên, riêng ḿnh độc hành, chẳng tích cóp thứ thừa thăi. Mùa Hạ xả áo mùa Đông, mùa Đông xả áo mùa Hạ. Các danh sơn trong thiên hạ, Sư đều đến thăm gần như trọn khắp. Sư tâm nhân từ mà h́nh sắc nghiêm nghị, phàm khai thị cho người khác, ắt mạnh bạo, thành khẩn, chẳng thuận theo thói thường.

Năm Bính Tuất (1646), tôi gặp tôn giả ở khúc sông Thạch Thành; kế đó, cùng trụ tại Tế Sanh Am, quanh quẩn mấy ngày. Ngài ưa tôi chất phác, thật thà, tôi kính Ngài v́ giới đức, Thiền Định. Thường khi đi, ngồi, ắt nhường cho Ngài. Mùa Thu năm Mậu Tư (1648), Sư sang Thanh Giang Phố ở Hoài An. Đại chúng thấy Sư nghi dung bất phàm, lưu lại cúng dường. Chẳng lâu sau, Sư dùng một bộ y tặng chủ nhân Vạn Đức Am, lại căn dặn ràng: “Tôi không lâu sau sẽ đi, riêng có một sự tướng nhờ cậy thầy”. Chủ nhân hỏi: “Ḥa thượng vừa mới đến, sao lại nói ra đi?” Đáp rằng: “Đi sang Tây Phương. Thầy có thể đem xác tôi bỏ xuống sông để kết duyên Tịnh Độ trọn khắp cùng trùng, cá?” Chủ nhân từ tạ, chẳng dám. Tôn giả nói: “Nếu như vậy th́ sau khi trà-tỳ, đem xương ḥa với bột ḿ để kết duyên cho tôi th́ sao?” Chủ nhân nói: “Được!” Do vậy, Sư bảo chủ nhân sửa soạn giùm đuốc lớn, hương thơm; mọi người chẳng đoán được ư Ngài. Đến đêm hôm Mười Chín tháng Mười, vào lúc canh tư, Sư bỗng gọi chủ nhân nói: “Hăy v́ tôi mở rộng các cửa, đốt hương, thắp đuốc”. Chủ nhân đốt đuốc xong th́ Sư đă lẳng lặng ngồi qua đời. Bốn phương nghe mùi hương lạ, tranh nhau tới lễ bái, cúng dường. [Am chủ] tuân mạng trà-tỳ (hỏa thiêu), [nghiền xương] làm thành viên bột, thả xuống sông. Sư thọ bảy mươi mốt tuổi, Tăng lạp ba mươi hai năm. Tôn giả thuở trước ở tại Thủy Thảo Am, có nói với ngài Đạo Lưu Trừng rằng: “Nhất tâm niệm Phật, chuyên cầu thượng phẩm thượng sanh. Đó là Đệ Nhất Nghĩa Đế trong lẽ hướng thượng nhất trước, các ông nếu chẳng chịu tin, thử xem ta trong tương lai được sanh về Tịnh Độ sẽ liền tin!” Ôi! Nay quả đúng là như vậy. Tán rằng:

- Tịnh Độ hoành siêu, viên đốn hiếm có. Phật, Tổ tán dương, khác âm cùng miệng. Sanh manh chẳng biết, vẫn t́m nơi khác. Lầm tưởng dung thông, trọn thành trần cấu. Duy ngài Diệu Viên, rống như sư tử. Một câu Di Đà, rộng thí, lược giữ, quang minh cuối cùng, cơ duyên thị hiện, chẳng phải ngẫu nhiên, kính lạy, cùng về. Cùng thề chẳng dám, tụt hậu sau Ngài!

 

* Chuyện văng sanh của Tân pháp sư thuộc Liên Cư Am

 

Pháp sư húy Đại Chân, hiệu Tân Y, con nhà họ Châu thuộc Đông Thành, Vũ Lâm. Cha là X…, mẹ là Lưu Thị. Lúc c̣n nằm trong địu[95], Sư đă có thể chắp tay, niệm Nam-mô Phật Đà. Tới khi biết đi, chẳng tụ tập cùng bọn trẻ, gom cát để vẽ tháp Phật trên đất, hoặc ngồi xếp bằng nh́n mũi. Chín tuổi, cha mẹ bàn bạc, định đính hôn cho Sư với con gái nhà họ Diệp, Sư khóc lóc từ chối, tới chỗ ngài Liên Cư Thiệu thọ Tam Quy, Ngũ Giới, bèn nương dưới ṭa. Thiệu sư đốc thúc học hành rất nghiêm. Sư căn tánh hơi độn, nhiều lần bị rèn cặp nghiệt ngă, nhưng kiên tŕ, chẳng lui sụt, giải đãi. Mười lăm tuổi, xuống tóc làm Sa-di. Hai mươi tuổi, vào Vân Thê thọ Cụ Túc Giới. Đêm ấy, Sư mộng thấy ḿnh đắp y Tăng-già-lê, lên ṭa cao, diễn nói Bát Nhă, gạn hỏi lẽ thật, đắc vô tác giới. Do vậy, người hoằng giới, diễn pháp cùng thời với Sư tuy nhiều, nhưng [trong số những vị] đồng chân nhập đạo, ắt tôn Sư là bậc nhất.

Sư lại học tập giáo pháp do ngài Liên Cư Thiệu diễn giảng, người khác dốc sức một phần, ta dốc sức mười phần. Người khác dốc sức mười phần, ta dốc sức trăm phần, lấy đêm làm ngày. Tông chỉ của Từ Ân và Thai Nhạc, Sư thường lănh hội thông suốt, nhưng tâm càng rỗng rang, chí càng dũng mănh. Bất luận trước thuật của tiên hiền, hay những người sau Sư trong đời này như Thiền của Tinh Cốc Thọ, Giáo của Quy Nhất Trù và Quản Chánh Kiến, Luật của kẻ không ra ǵ là Trí Húc, Nho của Bích Như Hạo, Sư đều chọn lấy điều hay của mỗi người, như biển cả chẳng cự tuyệt các ḍng nước.

Cha mẹ Sư tuổi đă cao, trước sau lễ ngài Liên Cư Thiệu xin xuất gia, sống khác lều. Cha tên là Phương Châu sa-môn, mẹ tên là Thuận Tu am chủ. Sư phụng dưỡng không sai sót, mấy chục năm như một ngày, cùng với Thiệu sư được xưng tụng là chí hiếu, có phong thái của Trần tôn túc[96] thời cổ. V́ thế, các vị hộ pháp đề biển nơi thất ấy là Mục Đường (睦堂). Thiệu sư qua đời, Sư lo liệu hậu sự xong xuôi, cảm nhận duyên trái nghịch, bèn thanh thản rời xa. Do pháp sư Giác Nguyên ở Đồng Lư thỉnh, bèn tới đó nương nhờ, ở cùng gỗ đá, vui cùng nai, lợn[97], chẳng c̣n nghĩ tưởng cơi người và thế gian. Trải mấy mùa nóng, lạnh, đàn na hộ pháp viết thư mời Sư trở về lại chủ tŕ chùa Liên Cư, tận lực hoằng dương đạo của Thiệu sư. Sư viết Duy Thức Hợp Hưởng, kiêm truyền trao kim cang bảo giới. Lại lập đàn Đại Bi, nghiêm ngặt tu tập Lư sám và Sự sám, Giáo và Quán mới cùng được nêu.

Lúc bảy mươi mốt tuổi, Sư căn dặn trọn khắp các môn đệ truyền tŕ Giáo Quán, tự chọn đất dựng tháp. Mùa Thu năm sau, Sư thị hiện bệnh nhẹ, ba ngày sau hôm Tự Tứ, Sư ngồi xếp bằng trên ghế dựa, để lại di giáo, và cũng tụ tập cư sĩ, đệ tử, dặn ḍ họ hộ tŕ chánh pháp. Bảy hôm sau, Sư tắm rửa, thay quần áo, đă đi nằm lại thức dậy, bảo mang ṭa đặt trước giường, ngồi xếp bằng trên đó, tay cầm xâu chuỗi, cùng với đại chúng niệm Di Đà Phật hiệu. Trong khoảnh khắc, tiếng niệm và hơi thở cùng dứt, mũi tḥ ra đũa ngọc hơn một thước, đă hơn hai tiếng đồng hồ mà đỉnh đầu vẫn nóng. Khi đó là giờ Ngọ ngày Hai Mươi Lăm tháng Bảy năm Canh Dần (1650), pháp lạp năm mươi ba năm. Trước đó, ưu-bà-tắc họ Châu mộng thấy thiên nhạc đón Sư về Tây, vội dẫn thân thuộc mấy người đến thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Am chủ Đạo Thanh trước đó vào ngày mồng Một Tết, đă mộng thấy Sư ngồi trên đài sen. Sư văng sanh Tịnh Độ, há c̣n ngờ chi! Tán rằng:

- Xưa kia, Phật đem chánh pháp nhăn tàng, phó chúc Đại Ca Diếp. Sau khi đức Phật nhập diệt, Ca Diếp suất lănh một ngàn vị A La Hán, kết tập Tam Tạng. Do vậy biết: Để truyền tâm ấn của Phật, ắt phải cùng hoằng Tam Học, tánh và tướng cùng thấu triệt, như Đạt Ma dùng Lăng Già ấn tâm, Lục Tổ ắt đăng đàn thọ Cụ Túc Giới. Những điều khác có thể suy ra mà biết. C̣n như Hoa Nghiêm, Đại Tập, Bảo Tích, Pháp Hoa, các kinh Đại Thừa, không ǵ chẳng hoằng truyền, tán thán Tịnh Độ. Mă Minh, Long Thọ, các đại tổ sư, không vị nào chẳng gởi tâm nơi Cực Lạc, há chỉ Liên Tông thập tổ mà thôi! Sư tổ Vân Thê, cha Thiệu Giác, Giáo để gột tâm, Luật để gột ái, siêng tu Ngũ Hối, học trọn ba tông. Chẳng trách ấn nát, vết khắc đă thành, như nhập tam-muội. Lũ “thử tức điểu không” (người nói suông lư tánh), quen thói ăn nói lớn lối lừa dối Phật, nghe phong thái của Sư, há cũng chẳng thẹn chút nào ư?

 

* Tiểu truyện ông Tŕnh Quư Thanh ở Tân An (và lời tán)

 

          Cư sĩ Quư Thanh là con thứ ba của ông Tŕnh Tiểu Khê ở Tân An, tên là Văn Tế, pháp danh là Thông Huệ. Ông học hành tại Tây Thiên Mục, ngẫu nhiên yết kiến tháp Cao Phong đại sư, bất giác khóc ṛng, cắt thịt ở bắp tay chừng một tấc để dâng cúng, bèn quyết chí thề tham cứu. Ông lễ Tuyết Kiệu thiền túc làm thầy, khắc khổ dụng công đă lâu, bèn có chỗ nhập. Ông đă vào Thái Học, do anh cả ưa thích thuật Kham Dư[98], ông bèn học tập, lo liệu trọn khắp các giảng ṭa nơi tùng lâm. Tự ví ḿnh như Tư Mă Đầu Đà[99]. Tới Bác Sơn, thiền sư Vô Dị hết sức kính yêu, lúc rời đi, Sư tiễn chân ông năm dặm đường.

Cư sĩ cho là nhà Thiền thời Mạt chẳng thông đạt giáo lư, bèn lập Lục Niên Giảng Xă tại Liên Cư, thỉnh mười vị pháp chủ luân phiên lên ṭa giảng giải. Lại do yếu môn trong tu hành là cần phải thấu đạt pháp tướng, bèn mời Tự B́nh pháp chủ đến trượng thất, v́ thiện tín tại Cô Thành, lại diễn giảng Thành Duy Thức Luận. Tuy bận bịu, ông vẫn dành thời gian đến lắng nghe. Ngày đêm suy xét cái tâm, thấu hiểu sâu xa cương yếu của Từ Ân. Ông thường đọc Hoa Nghiêm đại điển và Phát Bồ Đề Tâm Luận v.v… Vừa đọc ra tiếng, nước mắt liền rơi. Ông tự đặt hiệu là Thập Nguyện Cư Sĩ. Phàm phóng sanh, giúp người trong tù ngục, lễ sám, hoằng pháp, không ǵ chẳng đích thân xướng suất trước tiên, cổ vũ cho thành tựu.

Ông Kinh Triệu Tiền Nguyên Xung chôn con, cư sĩ cùng với ông ta thực hiện phước nghiệp to lớn, gần tới ba mươi vạn đồng. Kinh Triệu mất, cư sĩ cũng chôn con, càng cảm nhận vô thường mạnh mẽ, bèn đóng cửa, tạ khách, chuyên tu phép quán thân Phật cao một trượng sáu thước. Thoạt đầu mờ mịt, mông lung, dần dần hiện thân Phật rơ ràng nơi tâm mục, chỉ có điều màu sắc tối tăm. Ông càng thêm khổ công, thiết tha, lắng ḷng suy tưởng chẳng thôi, bỗng trên hư không có tiếng dạy rằng: “Nếu muốn thấy thân kim sắc, trước hết phải tưởng thân Phật có màu đỏ”. Ông vâng theo lời dạy, quán tưởng, quả nhiên được nhắm mắt, mở mắt đều thấy rơ ràng. Quang minh nơi thân Phật chiếu sáng bốn vách của căn thất. Mọi vật trong thất đều thành kim sắc. Xuất Định, thấy người thế gian như màu tro xám.

Một hôm, đang trong lúc ngồi xếp bằng, Phật quán hiện tiền, người nhà đẩy cửa phát ra tiếng, ông bỗng giật ḿnh xuất Định, chẳng thấy Phật nữa. Do vậy, ngộ “Phật sanh từ tâm tưởng, vốn chẳng đến đi”, nhưng vẫn chẳng bỏ quán môn. Nhưng v́ bận việc quá nhiều, công phu dần dần giảm sút, thường lấy đó làm điều tiếc hận. Mùa Xuân năm Canh Dần (1650), ông ta thưa với tôi: “Tới nay con mới ngộ yếu quyết để sanh Tây là cần phải buông xuống Sa Bà”. Tôi rất đồng ư. Bởi lẽ, tuy cư sĩ tu Phật thân quán, vẫn nghĩ thân sau sẽ làm đế vương hoằng pháp, hoặc lm thiên thần hộ thế, thường bị tôi thống thiết quở trách. Mùa Thu năm Tân Măo (1651), ông mắc bệnh ở bụng, liền căn dặn hậu sự, bỏ các tạp duyên, vẽ thánh tượng tiếp dẫn để giúp cho quán lực. Tới ngày mồng Hai tháng Chín, ông cát tường qua đời. Cư sĩ sanh năm Mậu Tư (1588) thời Vạn Lịch, thấy thế giới sáu mươi bốn năm. Trước sau, ông sanh mười một người con, chỉ c̣n hai, nói với tôi rằng: “Trong đời, con thường mộng thấy hành quân chinh phạt, cầm cờ chỉ huy mọi người. Chắc là sát nghiệp đời trước quá nặng. Do vậy, sanh con nhiều mà không nuôi được!” Vợ cả của ông là Lô Thị, pháp danh Trí Phước, đă lên Tịnh Độ trước.

Cư sĩ mất rồi, trưởng nữ thương nhớ khôn nguôi. Đến thất thứ nhất, mộng thấy cư sĩ bảo: “Ta đă ở ngoài Ngô Môn bốn mươi dặm, làm thần hộ pháp già-lam cho một đại tùng lâm”. Phương Ngoại Sứ nói: “Quư Thanh đă sớm tham Thiền, lại tinh thông Duy Thức, quy tâm Tịnh nghiệp. Nổi tiếng về Phong Thủy như thế, rốt cuộc làm thần hộ pháp già-lam, chưa là đăng địa Bồ Tát, chẳng thể chế phục trọn hết hiện hành phiền năo. Cơi đời cố nhiên chẳng thiếu Quư Thanh, nhưng đại Bồ Đề tâm chủng há giấu được ư?”

 

* Tiểu truyện chung của hai vị sư Ảnh Cừ và Đạo Sơn

         

Thầy Ảnh Cừ là con nhà họ Tôn ở Tuy Lư, xuất gia tại Thí Am ở phủ ấy, pháp danh Thanh Chiểu. Thầy Đạo Sơn, tên tự là Linh Ẩn, con nhà họ Tôn ở Vũ Lâm, xuất gia tại Phổ Đà Tĩnh Thất, pháp danh Vĩnh Khuưch. Năm đầu niên hiệu Thiên Khải, có pháp sư Băo Phác Liên kiêm thọ Long Tŕ thiền học, sáng lập Tịnh Danh Am tại Vũ Khang. Hai thầy cùng tụ hội trong một điện đường, kết t́nh nghĩa kim lan thế ngoại. Từ đấy, như h́nh với bóng suốt hai mươi mấy năm. Thầy Ảnh Cừ trầm tĩnh, ít cười nói, thầy Linh Ẩn th́ hoạt bát, hay khôi hài, tợ hồ chẳng hợp nhau, nhưng thận trọng, kiệm ước, thanh cao, ít thích tụ tập, th́ cùng một lối. Do vậy, bắt đầu từ lúc theo học tại giảng ṭa cho đến khi trụ tĩnh (tĩnh tu), chẳng khác nước ḥa với sữa. Đă tham cứu Thiền học của ngài Băo Phác, lại nghe Giáo từ pháp sư Cổ Đức.

Ngài Cổ Đức là A-xà-lê thọ giới của tôi, nhưng tôi suốt đời chẳng nhập giảng tịch, tuy là đồng môn với hai thầy, thoạt đầu chẳng biết nhau. Tới mùa Xuân năm Ất Hợi (1635), bị mưa kẹt lại Tường Phù mới nghe biết [hai thầy]. Mùa Đông năm ấy, hai thầy được xem Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán, rất hối hận thấy hai sách ấy quá muộn! Biết pháp môn viên đốn của tông Thiên Thai, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, đúng là chẳng khác đơn truyền chánh ấn, nhưng Lục Tức loại trừ xen lạm, càng đủ để cứu chữa khuyết điểm cuồng Thiền trong thời Mạt. Bởi lẽ, thầy Ảnh Cừ tu Thiền tọa đă lâu, khá thông thuộc giáo điển. Thầy Linh Ẩn từng ở trong Tịnh Danh Đường có chỗ tỉnh, thường than Thiền học các phương lần hồi ngoa ngụy, chẳng thể cùng đàm luận được, chỉ gởi tâm t́nh trong câu thơ, xướng họa với các bậc danh túc như Tuyết Kiệu, Thu Đàm, coi đời này giống như ḥa lẫn với bọn ô trược, sợ bị nhuốm bẩn lây, cam tâm đạm bạc, giữ sự vắng lặng khô khan, run sợ như trong băng tuyết lạnh lẽo, cao vời như hạc trong mây. Nay đọc thơ của thầy, vẫn có thể tưởng như thấy h́nh bóng của thầy. Ngày mồng Tám tháng Chín năm Tân Tỵ (1641), thầy Ảnh Cừ thị tịch, hưởng thọ năm mươi lăm tuổi. Năm sau, vào ngày Hai Mươi Lăm tháng Chín năm Nhâm Ngọ (1642), thầy Linh Ẩn thị tịch, thọ bốn mươi bảy tuổi. Di cốt cùng đưa vào tháp Phổ Đồng ở Tây Khê.

Thầy Ảnh Cừ sau khi hành cước, giữ hạnh Đầu Đà, mọi chuyện mặc cho thầy Linh Ẩn làm, chỉ chắp tay thầm lặng tĩnh tu mà thôi. Thầy Linh Ẩn chỉ xuống tóc thế độ cho hai người, một vị tên là Phước Cụ, tự Giới Tâm, theo tôi du hành đă lâu. Vị kia tên là Phước Định, tự Chỉ Lâm, lớn hơn Sư một tuổi, nhưng xuất gia sau Phước Cụ, tức người hiện thời đang đốc thúc khắc in thi cảo, cũng có thể siêng năng lễ tụng, chẳng đọa gia phong. Hai thầy vốn khó ḥa hợp nhất, nhưng một phen giao du th́ t́nh bạn đạo thân thiết nhất, thường khiến cho người khác nhớ măi chẳng quên. Trước nay, họ chưa từng chú trọng mưu cầu lợi lộc, chẳng lo toan việc đời. Tăng, tục vùng Tuy Lư thường nhớ tưởng, hâm mộ phong thái cao cả của họ, đúng là hoa Ưu Đàm trong đời Mạt, há đợi lên pháp đàn, dựng cán phất trần, th́ mới gọi là bậc thầy khuôn mẫu của trời người ư?  

Linh Phong Tông Luận

Phần 7 hết

 

 

 

 

 



[1] Không biết từ lúc nào, nhưng đến đời Tống đă phổ biến một loại “tăng sĩ”, gọi là Đầu Đà, hoặc Hành Giả, thường để nguyên râu tóc, mặc áo tăng sĩ, trên đầu đeo một đai sắt bịt tóc, có mảnh sắt h́nh trăng lưỡi liềm trước trán, tay cầm giới đao, thường đi khắp nơi, hóa duyên và hành hiệp. Tuy mang tiếng là Đầu Đà, nhưng họ không hề tuân thủ giới luật của nhà Phật, cũng như không giữ một hạnh Đầu Đà nào, lại c̣n ăn thịt, uống rượu tùy ư.

[2] Tức chương Thanh Tịnh Minh Hối trong kinh Thủ Lăng Nghiêm.

[3] Đây là hội Công Đức Bảo Hoa Phu Bồ Tát, tức hội thứ ba mươi tư trong kinh Đại Bảo Tích.

[4] Xuất phát từ thành ngữ “Kỷ nhân ưu thiên” (người nước Kỷ lo trời sập) vốn xuất phát từ thiên Thiên Thụy trong sách Liệt Tử, nhằm trào phúng người lo chuyện không đâu. Kỷ là một nước chư hầu từ đời nhà Thương cho đến thời Chiến Quốc, tồn tại hơn một ngàn năm. Vua nước này họ Tự, là hậu duệ của Đại Vũ. Sau khi vua Thành Thang diệt nhà Hạ, đă phong cho con cháu nhà Hạ là Đông Lâu Công làm vua đất Kỷ (nay là Kỷ huyện thuộc tỉnh Hà Nam). Sử chỉ chép vị vua đầu tiên của nước Kỷ được phong dưới thời Tây Châu là Đông Lâu Công. Nước Kỷ hoàn toàn diệt vong bởi nước Sở vào năm 445 trước công nguyên dưới thời Kỷ Giản Công (Tự Xuân).

[5] Lỗ ngưhợi thỉ đều là những từ ngữ chỉ sự sai sót trong khi sao chép, v́ chữ Lỗ () rất gần với chữ Ngư (), Hợi () và Thỉ () khá giống nhau, nếu không chú ư sẽ bị chép sai chữ.

[6] Ở đây có hai thành ngữ:

1) “Tuyên Ni sở phủ” là một câu trong thiên Ung Dă sách Luận Ngữ: “Tử kiến Nam Tử, Tử Lộ bất duyệt, phu tử thỉ chi viết: - Dư sở phủ giả, thiên yếm chi, thiên yếm chi” (Khổng Tử đến gặp Nam Tử, Tử Lộ không vui. Khổng Tử chỉ lên trời, thề: “Nếu ta có điều ǵ sai trái, trời sẽ ghét bỏ ta”). Nam Tử là vợ Vệ Linh Công, nổi tiếng dâm đăng. Tử Lộ không vui v́ nghĩ Khổng Tử gặp người dâm đăng như vậy sẽ bị tổn hại danh tiếng, không đúng với cách hành xử, hoặc cho rằng Khổng Tử muốn cầu cạnh để có một chức quan nên gặp bà ta. Tổ dùng thành ngữ này ở đây với ngụ ư: Mọi chuyện phải nh́n cho thấu đáo, đừng chấp nhặt vào h́nh tướng bề ngoài rồi có thành kiến.

2) “Ung ngoại vận ung” (ngoài ṿ, chuyển ṿ) là một câu trong bài Thuyền Tử Khúc của ḥa thượng Xuy Vạn nhằm nhắc nhở mọi người đừng chấp trước đối với tam giáo. Theo Ngài, tam giáo giống như ba cái ṿ, nếu chuyển một cái ṿ vào giữa, tức là chỉ biết những ǵ chứa đựng trong cái ṿ ấy, chẳng biết hai cái ṿ kia. Ngụ ư: Đối với mọi việc, phải biết nh́n toàn thể, đừng hạn cuộc tầm nh́n.

[7] Anh nhi hạnh, bệnh hạnh, thiên hạnh, phạm hạnh, và thánh hạnhnăm hạnh của thánh nhân được nhắc đến trong kinh Đại Bát Niết Bàn. Ngụ ư chư Phật, Bồ Tát, thánh hiền thuận theo căn tánh của chúng sanh mà nói các phương tiện giống như nói lá vàng là tiền hoặc vàng để dụ cho trẻ nín khóc. C̣n bệnh hạnh là các phương tiện thuận theo căn bệnh phiền năo của chúng sanh mà nói ra phương tiện đối trị thích hợp.

[8] Trong phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm, nơi điện Phổ Quang Minh trong đạo tràng Bồ Đề A Lan Nhă nước Ma Kiệt Đề, Phổ Huệ Bồ Tát thưa hỏi Phổ Hiền Bồ Tát về cảnh giới của Bồ Tát. Do vậy, Phổ Hiền Bồ Tát bèn nói cảnh giới rộng lớn của Bồ Tát như chỗ y chỉ, kỳ đặc tưởng, mười hạnh, mười thứ siêng tinh tấn v.v…

[9] Dạ Lang là một vương quốc cổ của người Tây Nam Di đă có từ thời Chiến Quốc, tồn tại cho đến năm 27 trước Công Nguyên, thuộc khu vực Quư Châu hiện thời. Thời Hán Vũ Đế, Đường Mông sang sứ Nam Việt Quốc (của Triệu Đà) đă phát hiện nước Dạ Lang. Vũ Đế bèn t́m cách ép Dạ Lang làm chư hầu, Dạ Lang Hầu lúc đó là Đa Đồng, tự xưng là Dạ Lang Vương không phục, nói: “Hán và ta, ai lớn hơn?” Từ đó, xuất phát thành ngữ “Dạ Lang tự đại” ngụ ư chê trách kẻ kiêu căng, tự măn, kiến thức hẹp ḥi.

[10] Thái A là một trong mười thanh bảo kiếm thời cổ (Hiên Viên, Trạm Lư, Xích Tiêu, Thái A, Thất Tinh, Long Uyên, Can Tương, Mạc Da, Ngư Trường, Thuần Quân và Thừa Ảnh). Tương truyền thanh kiếm này do hai nhà đúc kiếm trứ danh là Âu Dă Tử nước Việt và Can Tương nước Ngô hợp sức đúc thành. Do tin đồn vua Sở nắm giữ kiếm Thái A mà nước Tấn đă xua quân vây kinh thành nước Sở suốt ba năm để ép vua Sở giao nộp kiếm Thái A.

[11] Đương Dương là thành phố thuộc cấp huyện ở tỉnh Hồ Bắc. Thành phố này chính là huyện Đương Dương do Bạch Khởi thiết lập đời Tần Chiêu Tương Vương khi đem quân đánh Sở. Ở đây, có một ngôi chùa nổi tiếng là chùa Ngọc Tuyền. Đó là đạo tràng của Thần Tú đại sư. Trí Giả đại sư cũng từng trụ ở đây tu Giáo Quán, và mộng thấy Quan Công hiện thân xin quy y, phát thệ làm hộ pháp cho Phật giáo.

[12] Thiện Giới chính là Bồ Tát Thiện Giới Kinh, do pháp sư Cầu Na Bạt Đà La dịch vào thời Lưu Tống, gồm chín quyển, chia thành ba mươi phẩm. Kinh trần thuật đức Phật tại vườn Cấp Cô Độc nói pháp sám hối bằng cách xưng danh ba mươi lăm vị Phật (đây là cơ sở để soạn ra Hồng Danh Bảo Sám về sau). Khi đó, ngài Ưu Ba Ly xuất Định, nói ra quyết định Tỳ Ni. Kế đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nêu ra cứu cánh Tỳ Ni. Sau này, Di Lặc Bồ Tát dựa theo kinh này để soạn Thập Địa Luận. Bản kinh Địa Trì chính là một phần của Thập Địa Luận. Kinh này còn có một bản dịch khác, cũng gọi là Bồ Tát Thiện Giới Kinh, chỉ nói về sáu giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, do ngài Huyền Trang dịch. Xét ra, bản dịch của ngài Huyền Trang chỉ là bản dịch khác của phẩm Giới trong kinh Bồ Tát Thiện Giới do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch.

[13] Tâm Địa Quán có tên gọi đầy đủ là Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh gồm tám quyển, chia thành mười ba phẩm, do ngài Bát Nhã dịch vào đời Đường. Trong kinh này đức Phật vì các vị Đẳng Giác Bồ Tát như Văn Thù, Di Lặc v.v… trần thuật hàng xuất gia trụ A Lan Nhã hãy nên quán tâm địa, diệt vọng tưởng như thế nào để thành Phật đạo.

[14] Kinh nói Phật Thích Ca đă thị hiện thành Phật tám ngàn lần trong cơi Sa Bà để độ chúng sanh.

[15] Nguyên văn “lang hàm cửu cố, bán châu cẩn tŕnh”: Lang hàm là cái hộp hay rương nhỏ đựng sách bằng gỗ. Do thời cổ, khổ giấy có hạn, mỗi quyển sách chỉ chừng bốn mươi hay năm mươi trang, kinh sách in hay chép gồm nhiều quyển, để khỏi thất lạc, phải làm một cái hộp gỗ đựng các quyển của cùng một bản kinh gọi là “lang hàm”. Đôi khi cái hộp được trang trí, cẩn đá quư, châu báu rất đẹp đẽ. Câu này có ư nói chúng sanh ch́m đắm vào h́nh tướng bề ngoài, mê muội nơi văn tự, h́nh tướng của bản kinh, chẳng thấy được viên châu hay chỉ thấy phần nào của viên châu (tức nội dung siêu tuyệt của bản kinh). Do vậy, Tổ phải chú giải với ước vọng người đọc nhờ đó mà lănh hội thật nghĩa của bản kinh, không chấp trước văn tự hay h́nh thức.

[16] Đây là cách phân định đặc tánh của bốn thời giáo đầu theo tông Thiên Thai:

1) Hoa Nghiêm kiêm: Hoa Nghiêm nói chủ yếu về Viên Giáo, nói kèm về Biệt Giáo.

2) A Hàm đản: Thời A Hàm chỉ nói về Tạng Giáo.

3) Phương Đẳng đối: Thời Phương Đẳng tương thông cả bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên, nhằm đối trị tột cùng các phiền năo, chấp trước.

4) Bát Nhă đới: Thời Bát Nhã chủ yếu nói về Viên Giáo, nhưng đôi khi kèm theo Thông và Biệt Giáo, nên gọi là Đới (kèm theo).

[17] Lư Bạch (701-762), tự là Thái Bạch, hiệu là Thanh Liên cư sĩ, là một đại thi nhân thuộc đời Thịnh Đường. Cùng với Đỗ Phủ, ông trở thành biểu tượng cho Đường thi. Do thích uống rượu và tài làm thơ, ông được người đương thời gọi là Tửu Tiên, hay Trích Tiên Nhân. Trong tác phẩm nổi tiếng về thơ Đường là Đường Thi Tam Bách Thủ (ba trăm bài thơ Đường) do Tôn Thù biên soạn, có đến bốn mươi hai bài là thơ của ông.

Thôi Hạo (?-754) là một thi nhân đời Đường, quê ở Biện Châu (nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam), không được ghi chép nhiều về tiểu sử. Chỉ biết ông đỗ Tiến Sĩ năm Khai Nguyên thứ mười (722), từng làm Giám Sát Ngự Sử, rồi làm thuộc hạ của Tiết Độ Sứ Hà Đông, huyện úy huyện Phù Câu, Thái Bộc Tự Thừa. Chức quan cao nhất của ông là Tư Huân Viên Ngoại Lang, tức là đường quan trường của ông khá lận đận. Thơ của ông hay, nhưng bị thất lạc nhiều, chỉ c̣n giữ được bốn mươi hai bài. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông chính là bài thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu. 

Hoàng Hạc Lâu là một ṭa lầu trên núi Xà Sơn thuộc Vũ Xương, thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc), là một trong bốn ngôi lầu nổi tiếng của đất Giang Nam. Hoàng Hạc Lâu hiện thời có năm tầng, cao 50,4 mét. Ṭa lầu này được xây từ năm Hoàng Vũ thứ hai (223) đời Đông Ngô do sắc lệnh của vua nước Ngô thời ấy là Tôn Quyền. Ṭa lầu này bị thiêu hủy và xây lại nhiều lần (riêng trong thời Minh - Thanh, ngôi lầu này đă bị bảy lần phá hủy v́ chiến tranh, loạn lạc). Ngôi lầu hiện thời được xây dựng lại vào năm 1985 trên nền cũ. Theo truyền thuyết, tiên nhân Vương Tử An thích tu tiên, từng thấy trên lầu này có vị tiên cưỡi hạc vàng giáng xuống, cùng họ Vương uống rượu. Sau đó cỡi hạc bay đi mất. V́ thế, lầu này có tên gọi là Hoàng Hạc Lâu. Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hạo như sau: “Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, bạch vân thiên tải không du du, t́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Thi sĩ Tản Đà dịch như sau: “Hạc vàng ai cưỡi đi đâu? Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ! Hạc vàng đi mất từ xưa, ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay. Hán Dương sông tạnh cây bày, băi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non. Quê hương khuất bóng hoàng hôn, trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai?”

[18] Quang Trạch (467-529) là vị Tăng sống vào đời Nam Triều. Bảy tuổi xuất gia, có pháp hiệu là Pháp Vân. Sư cùng với Tăng Mân và Trí Tạng, được xưng tụng là “ba vị đại pháp sư đời Lương”. Sư thường trụ tích tại chùa Quang Trạch ở Giang Tô, nên người đời thường gọi Sư là Quang Trạch. Sư khéo giảng Pháp Hoa, tác phẩm chú sớ kinh Pháp Hoa của Sư được gọi là Quang Trạch Sớ, có tên gọi đầy đủ là Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kư.

[19] Khi giảng đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tổ Trí Giả đă dùng chín mươi ngày để giảng ư nghĩa chữ Diệu, kinh sách thường gọi chuyện này là “cửu tuần đàm diệu”. Tuần () là mười ngày, không phải là tuần lễ thường dùng trong tiếng Việt.

[20] Chương An Quán Đảnh (561-632) là cao tăng sống vào đời Tùy, họ Ngô, có tên tự là Pháp Vân, pháp hiệu Quán Đảnh, người huyện Chương An, tỉnh Chiết Giang. Ngài là đồ đệ đắc ư của tổ Trí Giả, được tông Thiên Thai tôn xưng là đệ tứ tổ. Ngài xuất gia lúc bảy tuổi, tôn ngài Huệ Chửng chùa Nhiếp Tịnh làm thầy. Hai mươi tuổi thọ Cụ Túc Giới. Năm 584, Ngài vào chùa Quang Trạch, theo hầu tổ Trí Giả. Khi tổ giảng kinh Pháp Hoa, Ngài ghi lại lời giảng, tạo thành sách Pháp Hoa Văn Cú. Khi Tổ sang chùa Ngọc Tuyền rồi chùa Thiền Chúng, cũng như trở về Thiên Thai, Ngài luôn theo hầu Tổ, tận lực ghi chép lời giảng của Tổ. Riêng Ngài cũng trước tác các bộ Niết Bàn Huyền Nghĩa, Niết Bàn Kinh Sớ, Quán Tâm Luận Sớ, Tứ Niệm Xứ, Quốc Thanh Bách Lục.

[21] Có thể tạm hiểu thủ quyển (手卷) như một thứ sổ tay hay bút kư của một người nào đó, nhằm ghi chép những điều tâm đắc trong học hỏi, hoặc đơn giản chỉ là những ghi chú trọng yếu trong quá tŕnh học tập.

[22] Đây là hai từ ngữ được nhắc đến trong sách Trung Dung: “Quân tử giới thận hồ ư sở bất đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất văn, mạc kiến hồ ẩn, mạc hiển hồ vi. Cố quân tử thận kỳ độc dă. Hỷ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi trung. Phát nhi giai trung tiết, vị chi ḥa. Trung dă giả, thiên hạ chi đại bổn. Ḥa dă giả, thiên hạ chi đạt đạo dă” (Quân tử cẩn thận, dè dặt nơi người khác chẳng thấy, kiêng dè nơi người khác chẳng nghe thấy. Chỗ ẩn giấu nhất dễ hiển lộ nhất, chỗ vi tế nhất dễ hiện rơ nhất. Do vậy, quân tử phải cẩn thận hành vi dù chỉ có một ḿnh. Khi mừng, giận, buồn, vui chưa phát tiết th́ gọi là Trung. Đă biểu lộ ra mà có thể giữ đúng chừng mực th́ gọi là Ḥa. Trung là cội gốc to lớn của thiên hạ. Ḥa là đạo phải hành chung của cả thiên hạ). Chúng tôi chuyển ngữ đoạn này theo cách diễn giải trong sách Tứ Thư B́nh Giải.

[23] Sơn nạp: Ông tăng ở trong chốn núi non. Đây là từ ngữ khiêm xưng.

[24] Ngũ Truyện là năm phần chú giải của kinh Dịch trong Thập Dực (do có mười phần trong Thập Dực). Không rơ Ngũ Truyện ở đây là nói cụ thể những phần nào, v́ Thập Dực có đến bảy phần được gọi là Truyện, tức Thoán Truyện, Tượng Truyện, Hệ Từ Truyện, Thuyết Quái Truyện, Tự Quái Truyện, Tạp Quái Truyện, và Văn Ngôn Truyện.

[25] Kinh Dịch lưu hành hiện thời là Châu Dịch (do kinh Dịch theo truyền thuyết có ba loại là Liên Sơn, Quy Tng và Châu Dịch, nhưng chỉ c̣n Châu Dịch lưu truyền). Châu Dịch theo truyền thuyết thì là bản kinh Dịch do Châu Văn Vương (Cơ Xương) chú giải. Do kinh Dịch có sáu mươi bốn quẻ, nên được chia làm hai phần: Thượng Kinh giảng ba mươi quẻ, Hạ Kinh giảng ba mươi bốn quẻ.

[26] Mười nhân theo Duy Thức là tùy thuyết nhân, quán đăi nhân, khiên dẫn nhân, sanh khởi nhân, nhiếp thọ nhân, dẫn phát nhân, định biệt nhân, đồng sự nhân, tương vi nhân, và bất tương vi nhân. Bốn duyên là nhân duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, và tăng thượng duyên.

[27] Ngũ quả là đẳng lưu quả, dị thục quả, ly hệ quả, sĩ dụng quả, và tăng thượng quả.

[28] Nguyên văn “thừa hoan tất hạ”. Đây là thành ngữ miêu tả con cái hiếu thuận, phụng dưỡng, yêu kính cha mẹ. “Thừa hoan” hàm nghĩa con cái biết đoán ư làm đẹp ḷng cha mẹ. “Tất hạ” (dưới đầu gối) thường quây quần bên cha mẹ.

[29] Niêm Tụng tức là nêu ra lời phê b́nh hoặc tán thán một sự kiện hay một công án nào đó.

[30] Đây là một công án nổi tiếng trong nhà Thiền, được gọi là “Triệu Châu trà”. Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897) là một vị cao Tăng cuối đời Đường. Xuất gia từ bé, từng tham học với ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Có một vị Tăng đến bái yết. Sư hỏi: “Ông đă từng đến đây hay chưa?
Đáp: “Đă đến”. Sư bảo: “Uống trà đi!” Lại có một vị Tăng khác đến, Sư hỏi: “Trước kia đă đến đây hay chưa?” Thưa: “Chưa ạ”. Sư bảo: “Uống trà đi!” Vị tăng chủ tŕ nội vụ trong
Thiền thất ngạc nhiên, hỏi: “V́ sao đă đến hay chưa đến, thầy đều bảo uống trà đi?” Sư bảo: “Ông cũng uống trà đi”.

[31] Mười hai loài chúng sanh gồm: Noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, và phi vô tưởng.

[32] Câu này nói theo ư của Quán Kinh Diệu Tông Sao: “Hăy nên biết nghĩa Lục Tức chẳng chuyên tại Phật, mà hết thảy tam thừa, nhân, thiên giả thật, dưới là đến sắc, tâm của bọ hung, địa ngục đều cần phải từ Lục Tức mà biện định trước sau, tức là từ lư bọ hung cho đến cứu cánh bọ hung”. Ư nói: Đối với mỗi sự vật, mỗi huyễn tượng, đều có thể biện định Lục Tức. Tổ Ngẫu Ích mượn ư này để nói đối với hoa, chim, hay Bát Nhă được thêu đều có thể phỏng theo đó mà biện định Lục Tức (Lư Tức, Danh Tự Tức, Quán Hạnh Tức, Tương Tự Tức, Phần Chứng Tức và Cứu Cánh Tức).

[33] Đây là một câu chuyện về Tào Tháo (được nhắc đến trong Thế Thuyết Tân Ngữ của Lưu Nghĩa Khánh, rất có thể là chuyện bịa đặt ra). Theo đó, Ngụy Vũ Đế (Tào Tháo) hành quân, lạc đường, không t́m được nguồn nước. Quân sĩ đều khát nước, Tào Tháo liền sai người truyền lệnh rằng: “Đằng trước có rừng mơ, rất sai trái, chua ngọt đều có, có thể giải khát”. Binh sĩ nghe nói, đều nuốt nước miếng. Nhờ vậy mà tiếp tục hành tŕnh đến được đích.

[34] Cận Thể là một lối thơ, c̣n gọi là Cách Luật. Thể thơ này được phát triển từ thời Nam Bắc Triều đến đầu đời Đường mới hoàn bị, quy luật gieo vần, bằng trắc, đối ngẫu (chẳng hạn chia thành ngôn đối, sự đối, chánh đối, phản đối v.v…) rất nghiêm ngặt. Do thể thơ này thịnh hành đời Đường nên gọi là Cận Thể để so với Cổ Thể (thơ ca trước thời Đường). Do quy luật khá ngặt nghèo, nên c̣n gọi là Luật Thi, thường là tám câu, hoặc bốn câu (tuyệt cú). Nếu nhiều hơn tám câu, sẽ gọi là Bài Luật. Đa số các bài thơ Đường tuân theo lối này, nếu đọc theo âm Hán Việt, sẽ thấy rất rõ quy luật hòa thanh, vận điệu, trong khi đọc theo giọng tiếng Phổ Thông hiện thời, rất nhiều bài sẽ không còn thấy rõ sự chặt chẽ trong luật bằng trắc và gieo vần của thơ Cận Thể!

[35] Đây là một câu nói trích từ thiên Đại Tông Sư sách Mạnh Tử: “Tuyền hạc, ngư tương dữ xử ư lục, tương hu dĩ thấp, tương nhu dĩ mạt, bất như tương vong ư giang hồ” (khi nước suối khô cạn, cá nằm ở đáy suối, chỉ có thể nhả bọt để giúp nhau ẩm ướt, ḥng kéo dài hơi tàn. Như thế, vẫn chẳng bằng sớm thoát khỏi khổ nạn, thong dong nơi sông, hồ). Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải trong trang nhà Cổ Thi Văn Vơng.

[36] Thước Ca La (Cakra) c̣n phiên âm là Chước Ca La, Thước Yết La, dịch nghĩa là kiên cố, luân, hoặc tinh tấn. Trường Thủy Sớ giảng: “Thước Ca La là kiên cố bất hoại, c̣n dịch là Luân”. Huệ Lâm Âm Nghĩa giảng: “Thước Ca La là tinh tấn”.

[37] Sơn Cốc chính là Hoàng Đ́nh Kiên (1045-1105), tự Lỗ Trực, hiệu là Sơn Cốc đạo nhân, Dự Chương tiên sinh là một thi nhân, thư pháp gia nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông được coi là tổ sư của Giang Tây thi phái, là một trong tứ đại thư pháp gia đời Tống (Tô Thức, Hoàng Đ́nh Kiên, Mễ Phất và Thái Tương). Ông vừa tin Phật giáo vừa hâm mộ Đạo giáo, nổi tiếng hiếu thảo. Dẫu làm quan vẫn đích thân rửa bô cho cha mẹ.

[38] Lục Ngũ Đài tên thật là Quang Tổ, tự Dữ Thằng, người huyện B́nh Hồ, tỉnh Chiết Giang. Do có chí hướng về Phật pháp, nên lấy hiệu là Ngũ Đài cư sĩ, làm quan đến chức Lại Bộ Thượng Thư đời Gia Tĩnh. Ông thoạt đầu học Nho, nhưng khi đọc các ghi chép về Minh Thái Tổ và Minh Thành Tổ, nhận thấy họ rất sùng đạo Phật, liền thắc mắc đạo Phật sao lại cao hơn đạo Nho được, bèn xem kinh Phật. Đă giác ngộ liền tận lực hoằng dương, hộ tŕ Phật pháp. Khi ông gặp Tử Bách đại sư nhân dịp Ngài đến Gia Ḥa (thuộc Giang Tô) để khôi phục Lăng Nghiêm Giảng Tự, đôi bên tâm đầu ư hợp. Em ông là Lục Vân Đài cũng hết sức giúp đỡ đại sư khôi phục Ngũ Ṭa Thiền Đường.

[39] Châu Nguyên Giới tên là Chi Phiên, đỗ Tiến Sĩ thời Vạn Lịch nhà Minh, làm quan đến chức Lễ Bộ Thị Lang. Ông nổi danh về tài thư pháp, vẽ tranh sơn thủy theo phong cách của Mễ Phất đời Tống, từng soạn Kim Lăng Tứ Thập Cảnh Đồ Khảo để giải thích các cảnh đẹp tại Kim Lăng. Khi được phái sang sứ Triều Tiên, tài thư họa của ông khiến cho người Triều Tiên nể phục, đua nhau đem vàng, bạc, đồ quư đ̣i xin chữ của ông.

[40] Theo Tây Kinh Tạp Kư (do Cát Hồng biên soạn), tương truyền rằng trong cung của Tần Thủy Hoàng có một tấm gương, rộng bốn thước, cao năm thước chín tc, có thể soi tỏ ngũ tạng, lục phủ của con người, soi rơ tâm người tà hay chánh. Về sau, từ ngữ “Tần kính cao huyền” (gương Tần treo cao) được dùng để sánh ví sự sáng suốt có thể phân biệt đúng sai, thiện ác.

[41] Ngài Hiền Thủ nhằm giảng rơ tứ vô ngại cũng như những điều huyền diệu trong giáo nghĩa của kinh Hoa Nghiêm đă lập ra lục tướng viên dung và mười huyền môn của kinh Hoa Nghiêm. Do các khái niệm này quá phức tạp, chúng tôi chỉ nêu tên gọi cho đỡ rườm rà. Lục tướng viên dung (c̣n gọi là lục tướng duyên khởi) gồm tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng và hoại tướng. Mười huyền môn là đồng thời cụ túc tương ứng môn (môn đồng thời trọn đủ tương ứng), quảng hiệp tự tại vô ngại môn (môn rộng hẹp tự tại vô ngại), nhất đa tương dung bất đồng môn (môn một và nhiều dung thông lẫn nhau, nhưng bất đồng), chư pháp tương tức tự tại môn (môn các pháp chính là lẫn nhau tự tại), ẩn mật hiển liễu câu thành môn (ẩn kín và hiển lộ đều thành tựu), vi tế tương dung an lập môn, nhân đà la vơng pháp giới môn, thác sự hiển pháp sanh giải môn (nhờ vào sự để hiển thị pháp khiến sanh tín giải), thập thế cách pháp dị thành môn (môn mười đời cách biệt, thành tựu khác nhau), và chủ bạn viên dung cụ đức môn.

[42] Thời Chiến Quốc, các khanh đại phu có những viên chức giúp việc riêng gọi là “gia thần”. Khi vua chư hầu suy yếu, các khanh đại phu nổi lên thao túng chính quyền, địa vị của gia thần (giống như quản gia, thư kư, quản kho… trong các gia tộc lớn) được nâng cao, gọi là “bồi thần”, thậm chí họ trực tiếp nắm quyền quản trị đất nước (gọi là “chấp mạng”). Ở đây, từ ngữ này được dùng với ư nghĩa châm biếm những kẻ thiếu hẳn sự tu tập, hàm dưỡng, do xu phụ người quyền quư hoặc quan chức, khéo ăn nói, lạm xưng là bậc tông tượng trong nhà Phật, nắm giữ các chức sắc cai quản Tăng lữ, giống như bọn bồi thần thời Chiến Quốc.

[43] Nguyên văn “thứ thủ nhập giao bồn”, là một thành ngữ trong Thiền lâm sánh ví kẻ vướng mắc trong văn tự, ngôn ngữ chẳng thoát ra khỏi được. Giao bồn là đồ chứa đựng chất keo dính. Hễ gục đầu vào đó sẽ dính cứng ngắc trong ấy, không thoát ra được. Ư nói: Những kẻ cậy tài biện luận, thùng rỗng kêu to, cứ ngỡ chính ḿnh là bậc thông gia, do không hiểu ư chỉ của năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài, bèn chê bai là Thiện Tài vướng mắc trong từ ngữ “phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát hạnh” bèn lẩn quẩn hỏi han, tham yết thiện tri thức.

[44] Nguyên văn “cổ thần” (động đậy hai môi), tức là nói tắt của “dao thần cổ thiệt” (động môi múa lưỡi), tỷ dụ chuyện khêu chọc thị phi. Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này với dụng ư tự trào, coi chuyện Ngài giảng giải cho đại chúng về ư nghĩa kinh văn tại Tổ Đường và Trường Can như người ngủ mê nói mớ mà thôi.

[45] Tây Hữu đạo nhân là biệt hiệu của tổ Ngẫu Ích, ngụ ư: Thật sự có cơi Tây Phương Tịnh Độ, thật sự có A Di Đà ở phương Tây. Tây Hữu Nghệ Dư (西有寱餘) nghĩa là lời nói mớ trong khi mộng mị của Tây Hữu đạo nhân.

[46] Thiều quốc sư là ngài Đức Thiều (891-972), Sư họ Trần, quê ở Xử Châu (nay là thành phố Lệ Thủy, tỉnh Chiết Giang), xuất gia lúc mười bảy tuổi. Mười tám tuổi, thọ Cụ Túc Giới. Ngài tham học với thiền sư Đầu Tử Đại Đồng và thiền sư Long Nha Cư Độn. Sau đó, đắc pháp nơi ngài Thanh Lương Văn Ích, được phó chúc nối pháp của tông Pháp Nhăn. Trung Ư Vương của nước Ngô Việt khi làm thứ sử Thai Châu, nghe danh Sư đă đến hỏi đạo, tôn làm thầy. Về sau, Trung Ư Vương làm vua, bèn tôn Sư là quốc sư. Sư được coi là hậu thân của Trí Giả đại sư. Ngài lưu lại núi Thiên Thai hoằng dương Phật pháp nên gọi là Thiên Thai Thiều quốc sư, chứ Sư không thuộc tông Thiên Thai.

[47] Ngũ Quư chính là thời Ngũ Đại Thập Quốc (kéo dài từ năm 907 cho đến năm 979), tức là giai đoạn kể từ nhà Đường diệt vong cho đến khi Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) thống nhất Trung Hoa. Do khi đó có năm triều đại lớn nối tiếp nhau, nên gọi là Ngũ Đại. Ngoài ra, do có mười nước nhỏ, hoặc thần phục các triều đại lớn, hoặc độc lập (như Bắc Thục), nên gọi là Thập Quốc. Ngũ Đại là:

1) Hậu Lương (907-923) do Lương Thái Tổ (Châu Ôn) sáng lập, đóng đô ở Khai Phong, truyền được ba đời vua.

2) Hậu Đường (923-937), do Đường Trang Tông (Lư Tồn Úc) sáng lập, đóng đô ở Lạc Dương, truyền được bốn đời vua.

3) Hậu Tấn (936-947) do Tấn Cao Tổ (Thạch Kính Đường) sáng lập, đóng đô ở Khai Phong, truyền được hai đời vua.

4) Hậu Hán (947-951) do Hán Cao Tổ (Lưu Trí Viễn) sáng lập, đóng đô ở Khai Phong, truyền được hai đời vua. Đây là triều đại tồn tại ngắn ngủi nhất, trước sau chỉ có bốn năm.

5) Hậu Châu (951-960) do Châu Thái Tổ (Quách Oai), đóng đô ở Khai Phong, chỉ truyền được ba đời vua.

Thập Quốc là Ngô (do Dương Hành Mật sáng lập), Nam Đường (do Lư Biện sáng lập), Ngô Việt (do Tiền Lưu sáng lập), Mân (do Vương Thẩm Tri sáng lập), Bắc Hán (do Lưu Mân sáng lập), Tiền Thục (do Vương Kiến sáng lập), Hậu Thục (do Mạnh Tri Tường sáng lập), Kinh Nam (do Cao Quư Hưng sáng lập), Sở (do Mă Ân sáng lập), và Nam Hán (do Lưu Tập sáng lập). Trong đó, chỉ có nước Ngô Việt tồn tại lâu nhất (907-978) và các vua Ngô Việt được coi là sáng suốt, yêu dân nhất.

[48] Đậu thạch (鋀石) từ ngữ chỉ quặng đồng chưa tinh luyện, hoặc đồng trong tự nhiên chưa tinh luyện.

[49] Bạch sán (白粲) vốn là một h́nh phạt được thiết lập từ thời Tần - Hán, phụ nữ phạm tội bị phạt lựa bỏ các tạp chất như sạn, cát, hạt cỏi, trấu ra khỏi gạo trắng, phơi sảy để có được loại gạo tinh sạch dùng trong cúng tế. Loại gạo đă được lựa sạch ấy cũng gọi là Bạch Sán.

[50] Cỏ lồng vực (bại thảo, 稗草) có tên khoa học là Echinochloa crus-galli (c̣n gọi là cockspur grass, barnyard millet, water grass), có h́nh dạng giống lúa, lá dài, gốc lá hơi tím, gié ht dài vươn cao, có hạt giống như hạt kê. Đây là một giống cỏ tăng trưởng nhanh và nếu không chú ư, toàn bộ lúa trên cánh đồng sẽ bị chúng xâm lấn, gây nên mất mùa.

[51] Hoàng Dư Khảo là tên gọi tắt của bộ sách Quảng Hoàng Dư Khảo, gồm mười lăm quyển. Đây là một tác phẩm trọng yếu về địa lư Trung Hoa do Trương Nguyên Biện biên soạn vào thời Minh, dựa trên bản thảo Hoàng Dư Khảo của cha ḿnh là Trương Thiên Phục. Sách miêu tả đặc điểm địa lư của mười ba tỉnh và hai kinh thời Minh, cũng như địa vực, khí hậu, thủy thổ miền biên thùy và phong tục tập quán từng nơi.

[52] Trường An Chí gồm hai mươi ba quyển, trong đó ba quyển cuối là bản đồ, do Mẫn Cầu soạn vào đời Bắc Tống. Sách này là tổng tập nghiên cứu về cung thất, nội thành, phường thị, các huyện phụ thuộc của Trường An trải suốt các thời điểm lịch sử.

[53] Lạc-xoa (laka) là một trăm ngàn. Từ ngữ này c̣n được phiên âm là Lạc Sa, La Khất Sử.

[54] Hiên () là một kiểu nhà, trước và sau đều có mái xây cao, có rèm che phủ. Đôi khi, Hiên chỉ đơn giản là một căn pḥng nhỏ hay dăy nhà nhỏ, được xây dựng ngoài kiến trúc chính với dụng ư hóng mát, hoặc tạo một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi hay dưỡng thần, hoặc tập trung sáng tác, tu tập v.v…

[55] Tức ư nghĩa mở rộng của câu thơ “hiếu tử bất quỹ, vĩnh tích nhĩ loại” trong bài Kư Túy thuộc thiên Đại Nhă của kinh Thi. Trịnh Huyền chú giải: “Hành vi của hiếu tử chẳng có lúc nào cạn kiệt, lan tỏa tới con cái và ḍng họ, tức là sẽ dạy rộng răi khắp thiên hạ”. Về sau, chữ Tích Loại (锡类) được dùng với ư nghĩa rộng thực hiện điều thiện cho mọi người.

[56] Khổng Tử là người nước Lỗ, thuộc phương Đông, nên Đông Lỗ chỉ đạo Nho. Tây Càn (quẻ Càn thuộc về phương Tây trong Bát Quái) là từ ngữ chỉ Ấn Độ nói chung, và đạo Phật nói riêng.

[57] Ác xoa có nghĩa là xâu chuỗi, tràng hạt. Ác xoa vốn là tên gọi khác của cây Rô Nại Ra Xoa (Rudrāksa), là một loại cây có tên khoa học là Eleocarpus Ganitrus, ta thường dịch là Kim Cang Tử. Quả của nó có ba hạt mọc trên cùng một đế, khi rơi xuống đất, sẽ tụm lại một chỗ. Do vậy, thường dùng để sánh ví ba loại Hoặc, Nghiệp, Khổ thường liên quan mật thiết với nhau. Hạt Ác Xoa thường dùng làm xâu chuỗi để tụng niệm.

[58] Thập thân là mười thân của Phật theo kinh Hoa Nghiêm gồm sắc thân, báo thân, pháp thân, nguyện thân, lực thân, thọ dụng thân, giáo hóa thân, bất động thân, trí huệ thân, và công đức thân.

[59] Truy () và Thù () đều là đơn vị đo lường cực nhỏ, dùng để ví dụ sự việc cực vi tế. Truy là một phần tư của một Lượng, Thù là một phần hai mươi tư của một lượng.

[60] Tạp Hoa là cách dịch khác của chữ Hoa Nghiêm.

[61] Ngũ diệp là năm tông phái Thiền của Trung Hoa, tức Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhăn và Quy Ngưỡng. Sở dĩ gọi là Ngũ Diệp là do dựa theo bài kệ truyền pháp của tổ Đạt Ma: “Ngô bổn lai tư độ, truyền pháp cứu mê t́nh, nhất hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành” (Ta vốn đến cơi này, truyền pháp cứu mê t́nh, một hoa x̣e năm cánh, kết quả tự nhiên thành). C̣n có một cách giải thích khác: Phải hiểu ngũ diệp nghĩa là trải qua năm đời tổ sư kể từ tổ Đạt Ma chỉ đơn truyền, đến đời thứ sáu là Lục Tổ, Thiền học mới được hoằng dương mạnh mẽ.

[62] Sám hối cầu thấy tướng tốt lành để chứng nghiệm tội chướng tiêu trừ.

[63] “Tận tâm tri tánh” là một khái niệm xuất phát từ thiên Tận Tâm sách Mạnh Tử: “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tánh dă. Tri kỳ tánh, tắc tri thiên hỹ”. Câu này được Khổng Dĩnh Đạt giảng như sau: Dốc cạn hết sự suy khảo, tư duy để hành thiện như thế, sẽ hiểu rơ bản tánh của con người. Đă hiểu rơ bản tánh của con người th́ sẽ hiểu biết mạng trời.

[64] Học vấn tư biện là bốn giai đoạn đầu trong quá tŕnh học tập theo quan điểm của sách Trung Dung. Nói cụ thể hơn, năm giai đoạn trong quá tŕnh học vấn là “bác học, thẩm vấn, thận tư, minh biện, đốc hành” (học rộng, t́m hiểu tường tận, suy nghĩ cẩn thận, biện định rơ ràng, dốc sức thực hiện). “Bác học” tức là khi học một vấn đề, phải t́m ṭi rộng răi mọi khía cạnh, mọi tri thức liên quan để tránh rơi vào cách nh́n phiến diện, lệch lạc. “Thẩm vấn” là suy xét cặn kẽ các kiến thức đă thu thập, lật đi lật lại vấn đề, suy xét từng khía cạnh để loại bỏ những quan điểm sai trái. Thông qua “thận tư” tức là phán đoán khách quan để đạt tới một kết luận hoàn chỉnh. Minh biện là kết quả dựa trên thẩm vấn và thận tư để xác quyết kết luận ta đă đạt được không sai lầm, và vạch ra những quan điểm sai lầm.

[65] Tuyển nhă (雋雅) bao hàm hai ư nghĩa:

1) Lời nói ưu nhă, trang nghiêm, đẹp dẽ.

2) Người cao nhă, thoát tục.

[66] Nam Cung Quát tự là Tử Dung, c̣n gọi là Nam Dung, hoặc Nam Cung Tử, người nước Lỗ, là một trong bảy mươi hai đệ tử đắc ư của Khổng Tử. Khổng Tử khen Nam Cung Quát là người có đức hạnh, đă gả cháu gái (con của Mạnh B́, tức anh Khổng Tử) cho. Nam Cung Quát từng hỏi Khổng Tử: “Nghệ thiện xạ, Ngạo đăng châu, câu bất đắc kỳ tử nhiên. Vũ Tắc cung giá nhi hữu thiên hạ” (Hậu Nghệ giỏi bắn tên, Hàn Ngao giỏi thủy chiến, đều chết bất đắc kỳ tử. C̣n vua Vũ và Hậu Tắc đích thân cày cấy mà có được thiên hạ). Khổng Tử không đáp, Nam Cung Quát lui ra. Khổng Tử khen: “Quân tử tai nhược nhân! Thượng đức tai nhược nhân” (Bậc quân tử như thế đó, người có đức cao trọng như thế đó).

[67] Điện này ở bên cạnh Bồ Đề Đạo Tràng (Tịch Diệt đạo tràng) tại nước Ma Kiệt Đề (Magadha), còn gọi là Phổ Quang Pháp Đường. Đây chính là nơi đức Phật giảng hội thứ hai, thứ bảy và thứ tám trong chín hội của kinh Hoa Nghiêm.

[68] Nguyên lưu (源流): Sự khởi đầu và phát triển của một sự việc.

[69] Thù Tứ chính là Thùy thủy và Tứ thủy, là hai con sông ở Khúc Phụ (quê hương của Khổng Tử).

[70] Mười tám vị cao hiền tại Đông Lâm Liên Xã là Huệ Viễn đại sư, pháp sư Huệ Vĩnh, pháp sư Huệ Tŕ, pháp sư Đạo Sanh, tôn giả Phật Đà Da Xá (Buddhayaśas), tôn giả Phật Đà Bạt Đà La (Buddhabhadra), pháp sư Huệ Duệ, pháp sư Đàm Thuận, pháp sư Đạo Kính, pháp sư Đàm Hằng, pháp sư Đạo Bính, pháp sư Đàm Tiên, cư sĩ Lưu Di Dân, cư sĩ Lôi Thứ Tôn, cư sĩ Tôn Bính, cư sĩ Vương Dă, cư sĩ Vương Thuyên, và cư sĩ Châu Tục Chi.

[71]Xương Lê là ngoại hiệu của Hàn Dũ (768-824). Hàn Dũ tự là Thoái Chi, sống vào đời Đường, làm quan tới chức Binh Bộ Thị Lang rồi làm Lại Bộ Thị Lang đời Đường Hiến Tông. Do quê cha ở Xương Lê, nên ông thường tự xưng là Hàn Xương Lê. Ông đả kích đạo Phật, do phản đối vua Hiến Tông rước xương Phật, bị đày đi làm thứ sử Triều Châu. Đến Triều Châu, do giao du với Đại Điên ḥa thượng, ông t́m hiểu đạo Phật rồi ngưỡng mộ đạo Phật. Ông c̣n nổi tiếng do viết bài tế Cá Sấu với mục đích đuổi cá sấu khỏi vùng đó.

Hối Am là ngoại hiệu của Châu Hy (1130-1200), một trong những lănh tụ của Lư Học đời Tống. Ông này vay mượn nhiều từ ngữ và khái niệm của đạo Phật để giải thích đạo Nho, đề xướng Lư Học (Tống Nho) rồi ngược ngạo đả kích đạo Phật.

[72] Vơng cực (罔极) là ân cha mẹ. Vơng cực có nghĩa là chẳng có cùng cực, vô cùng vô tận, dựa theo ư hai câu thơ trong bài thơ Lục Nga thuộc phần Tiểu Nhă của kinh Thi: “Dục báo thâm ân, hạo thiên vơng cực” (muốn báo ân sâu, mênh mang trời cao).

[73] Thủ khám (守龕): Khám là một cấu trúc nhỏ, thường bằng gỗ có điêu khắc để thờ bài vị hoặc tượng thần (có thể hiểu thô thiển là trang thờ). Thủ khám hiểu theo nghĩa hẹp là thờ phụng, cúng tế trong thời gian thủ tang.

[74] Theo phần Yên Sách trong Chiến Quốc Sách, xưa kia, có một vị vua t́m cầu thiên lư mă, hứa trả ngàn vàng, nhưng suốt ba năm chẳng có được. Thị thần xin vua cho đi t́m, vua chấp thuận. Người ấy t́m ba tháng, nghe nơi nọ có thiên lư mă bèn t́m đến, tiếc thay ngựa đă chết, bèn trả năm trăm lạng vàng mua đầu ngựa đem dâng cho vua. Vua hết sức giận dữ, quở sao lại phí vàng mua đầu ngựa chết. Người ấy giải thích: “Người khác nghe chuyện này, biết bệ hạ thật tâm t́m ngựa, dẫu đầu ngựa chết vẫn trân trọng mua bằng năm trăm lạng th́ chẳng mấy chốc sẽ có người dâng thiên lư mă”. Quả nhiên, chưa đầy một năm, có người đem dâng vua ba thớt thiên lư mă.

[75] Ṭ ṿ là một loại ong hay bắt các loài côn trùng khác, chích nọc cho tê liệt, đẻ trứng lên thân chúng rồi xây tổ bằng đất bao quanh. Khi trứng nở ra, ấu trùng sẽ ăn thịt con trùng bị kư sinh đó, trưởng thành bèn đục tổ bay ra. Cổ nhân tưởng lầm con côn trùng đó biến thành ṭ ṿ, bèn đặt chuyện là ṭ ṿ bắt côn trùng về nhốt vào tổ, rủ rỉ kêu “giống ta, giống như ta”, con trùng đó sẽ dần dần biến thành ṭ ṿ. Họ gọi chuyện này là “minh linh chú tử” (ṭ ṿ dặn ḍ [loài côn trùng khác] biến thành giống như ḿnh).

[76] Đức Thế Tôn có nói một bài kệ như thế này: “Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ udayabbayaṃ. Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato udayabbayaṃ” (dịch sang tiếng Hán là: “Nhược nhân thọ bách tuế, bất tri sanh diệt pháp, bất như nhất nhật trung, hiểu liễu sanh diệt sự”, nghĩa là: Nếu có người sống đến trăm tuổi mà chẳng hiểu pháp sanh diệt, chẳng bằng chỉ sống được một ngày mà hiểu rơ pháp sanh diệt). Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, theo Tỳ Nại Da Tạp Sự, quyển bốn mươi, ngài A Nan nghe một vị Tăng tụng bài kệ ấy như sau: “Nhược nhân thọ bách tuế, bất kiến thủy bạch hạc, bất như nhất nhật trung, đắc kiến thủy bạch hạc”. Ngài A Nan giật ḿnh, v́ do âm tiếng Phạn gần giống nhau, vị Tăng ấy không suy xét, nên đă đọc sai chữ udayabbayaṃ thành một từ ngữ gần giống với chữ “thủy bạch hạc” (trong tiếng Pali, tức udaka-baka), bèn dạy vị ấy đọc cho đúng, nhưng vị ấy không nghe, bảo đệ tử ngài A Nan đă già, trí nhớ lạng quạng: “A Nan đă già nua, chẳng có sức ghi nhớ, thường nói lời sai lầm, chẳng cần phải tin ổng” rồi vẫn cứ đọc như vậy, kiên quyết không sửa đổi. Khi câu chuyện này được truyền sang Trung Hoa, lại bị diễn giải từ “thủy bạch hạc” (水白鶴) thành “thủy lăo hạc” (水老鶴) hoặc “thủy lạo hạc” (水潦鶴). Tổ dùng câu chuyện này để minh họa sự cố chấp của một số hành nhân, nhất quyết không sửa đổi dù được thiện tri thức chỉ điểm chỗ sai trong từ ngữ hoặc văn bản.

 

[77] Nguyên văn “bất quy thủ dược” (不龜手藥). Đây là một câu chuyện ngụ ngôn trích từ phần Tiêu Dao Du của sách Trang Tử. Theo đó, nước Tống có người chế ra phương thuốc khiến cho da không bị nứt nẻ v́ trời lạnh. Do vậy, gia đ́nh người ấy đời đời làm nghề giặt lụa, giặt vải. Có người nghe biết, đ̣i mua lại bằng một trăm lạng vàng. Gia đ́nh thương nghị: “Chúng ta đời đời giặt lụa, chỉ kiếm được mấy đồng, nay bán được một trăm lạng vàng, bán phứt đi cho rồi”. Người ấy mua xong, dâng lên vua Ngô. Nước Ngô và Việt đánh nhau, thường là thủy chiến. Quân Ngô nhờ có thuốc chống da nứt nẻ, sinh long hoạt hổ, đánh bại nước Việt, biến Việt thành thuộc địa. Người đó được vua phong đất thưởng công. Ư nói: Tuy cùng một phương thuốc, người nước Tống chỉ biết dùng để tay khỏi bị nứt nẻ khi giặt lụa, người khác biết dùng vào chiến trận. Ở đây, Tổ mượn chuyện này để nói con người ai cũng có ḷng nhân, nhưng Nho và Đạo chỉ biết vận dụng vào chuyện nhỏ nhặt.

[78] Phật Tổ Thống Kỷ là một bộ sử Phật giáo do ngài Chí Bàn soạn vào đời Tống. Sách hoàn thành vào năm 1269, gồm năm mươi bốn quyển. Khởi đầu bằng Thích Ca Mâu Ni Phật Bổn Kỷ, tức là chép từ năm hai mươi sáu đời Châu Chiêu Vương (1027 trước Công Nguyên) cho tới năm Hàm Thuần thứ năm (1269) đời Tống Độ Tông, ghi lại tường tận sự truyền thừa Phật giáo tại Trung Hoa. Sách chủ yếu dựa theo quan điểm của tông Thiên Thai, tuy có xen lẫn quan điểm của các tông khác. Sách trích dẫn hơn hai trăm loại thư tịch, văn từ bóng bẩy, mạch lạc, mô phỏng thể tài trong Sử Kư của Tư Mă Thiên.

[79] Hàm Hanh là niên hiệu của Đường Cao Tông sử dụng từ năm 670 đến năm 674. Đường Cao Tông có lẽ là hoàng đế thích đổi niên hiệu nhất, trước sau ông dùng mười bốn niên hiệu khác nhau, khởi đầu là Vĩnh Huy (chỉ dùng năm năm) cho đến niên hiệu cuối cùng là Hoằng Đạo (chỉ vừa đổi được một năm th́ vua mất). Năm niên hiệu cuối cùng là Điều Lộ, Vĩnh Long, Khai Diệu, Vĩnh Thuần, Hoằng Đạo, mỗi niên hiệu chỉ sử dụng đúng một năm.

[80] Thái Sơn Phủ Quân tức là thần núi Thái Sơn (ngọn núi đứng đầu trong ngũ nhạc), c̣n gọi là Đông Nhạc Đại Đế. Trong Đạo giáo, vị này có tôn hiệu là Đông Nhạc Thái Sơn Thiên Tề Đại Sanh Nhân Thánh Đại Đế, thường được gọi là Đông Nhạc Gia, hoặc Đông Nhạc Đế Quân, đứng đầu trong Ngũ Nhạc Đại Đế, chưởng quản cơi âm. Về nguồn gốc của vị thần này, Cát Hồng cho rằng ông là Phục Hy Thái Hạo. C̣n Phong Thần Diễn Nghĩa lại bảo ông chính là đại tướng Hoàng Phi Hổ của Trụ Vương đă thành thần sau khi mất.

[81] Tần Trang Tương Vương tên thật là Doanh Tử Sở, con của Tần Vương Doanh Trụ và Hạ Cơ. Thuở nhỏ, ông bị đưa sang đất Triệu làm con tin. Lă Bất Vi là một con buôn gian hùng, nói “không ǵ có lời bằng buôn vua”, bèn bỏ tiền để chuộc Doanh Tử Sở đưa về đất Tần, thuyết phục Hoa Dương phu nhân (chánh thất của vua Tần) nhận Doanh Tử Sở làm con nuôi. Khi Doanh Trụ mất, Doanh Tử Sở được nối ngôi, tức Tần Trang Tương Vương. Trước đó, Lă Bất Vi đă đem một người thiếp là Triệu Cơ đă có thai từ trước gả cho Doanh Tử Sở (khi ông này c̣n đang khốn đốn tại đất Triệu). Do vậy, Tần Thủy Hoàng (Doanh Chính, con trai trên danh nghĩa của Tần Trang Tương Vương) thật ra là con của Lă Bất Vi.

[82] Hàm Thuần là niên hiệu của Tống Độ Tông (Triệu Kỳ) từ năm 1265 đến năm 1274.

[83] Tức là hai vị kinh sư đảm nhiệm vai tṛ tả bạch và hữu bạch trong đàn tràng.

[84] Ĺa quê nhà đến trú ngụ tại một nơi khác trong một thời gian dài th́ gọi là “lưu ngụ”.

[85] Phương ngoại là từ ngữ để gọi người xuất gia. Tổ dùng từ ngữ Phương Ngoại Sứ để tự xưng.

[86] Hiếu Liêm là danh xưng để gọi học vị Cử Nhân thời Minh - Thanh. Hiếu Liêm hàm nghĩa “hiếu thuận với cha mẹ, tôn trưởng, liêm khiết, chánh trực, có tài năng”. Danh xưng Hiếu Liêm được đặt ra vào năm Nguyên Quang nguyên niên (134 trước công nguyên) thời Hán Vũ Đế theo kiến nghị của Đổng Trọng Thư. Vua xuống chiếu mỗi năm các quận chọn ra một người hiếu hoặc liêm khiết để khảo hạch, nếu người ấy có thực tài sẽ bổ ra làm quan. Khoa thi này về sau trở thành một khoa thi trọng yếu. Người được đề cử sẽ đến kinh đô, được thực tập trong các cơ quan để tập quen việc triều chánh. Sau đấy mới được cử đi làm quan tại các địa phương. Theo quy chế đời Minh - Thanh, người đỗ kỳ thi Hương được gọi là Cử Nhân, còn gọi là Hiếu Liêm, Phát Giải, Phát Đạt, Hương Tiến Sĩ, Hương Tiên Tiến, Hương Tiến v.v…

[87] Nhập cận” (入覲) là từ ngữ chỉ chư hầu hoặc quan chức ở nơi xa, vào mùa Thu, về kinh đô chầu vua. Về sau, “nhập cận” được dùng để chỉ quan lại ở tỉnh ngoài về kinh báo cáo sự t́nh với vua, hoặc được vua gọi về chầu.

[88] Nguyên văn “cảo đới” (縞帶) là cái đai lưng kết bằng lụa trắng. Đó là nói về cách phục sức của học tṛ thời cổ. Như vậy, nói “kết cảo đới” nghĩa là ước nguyện làm học tṛ.

[89] Nhạc gia quân: Quân đội của Nhạc Phi nổi tiếng thiện chiến, kỷ luật cao.

[90] Thành ngữ “thanh xuất ư lam, nhi thắng ư lam” (màu xanh phát xuất từ màu chàm, nhưng vượt trội màu chàm).

[91] Tụng Trửu là danh xưng hàm ư tự khiêm. Do khi xưa, ngài Châu Lợi Bàn Đặc căn tánh quá ngu độn, không thể thuộc nổi một bài kệ nào. Đức Phật xót thương, dạy Ngài tụng tŕ hai chữ “tảo trửu” (chổi quét), thế mà Ngài nhớ chữ đầu, quên chữ sau, măi không thuộc được. Đức Phật bảo Ngài quét dọn, cứ nhẩm hai chữ ấy. Cho đến một ngày kia, Ngài thấu hiểu ư nghĩa sâu thẳm trong hai chữ ấy, chứng đắc A La Hán. Ở đây, sư Như Thị tự xưng là Tụng Trửu nhằm sánh ví căn tánh của ḿnh cũng hết sức ngu độn, chỉ biết tụng hai chữ “tảo trửu” giống như ngài Châu Lợi Bàn Đặc, chứ không hiểu kinh điển, giáo nghĩa chi cả!

[92] Tàng Lục tỳ-kheo: Cũng là có ư khiêm xưng, giống như con rùa gặp nguy hiểm bèn giấu kín sáu chi (bốn chân và đầu, đuôi) trong mai. Ư nói, Ngài chỉ biết pḥng hộ sáu căn thụ động trước ngoại cảnh, chưa thể quán thấu triệt “tội tánh vốn không”.

[93] Tự Bộ (祠部): Ở đây là nói tới quan chức thuộc Tự Bộ Tào, trực thuộc quyền cai quản của Lễ Bộ Thượng Thư. Cơ quan này chủ quản lễ nghi, thiết lập các quy định tế tự, thờ phụng cho tông miếu. Đời Đường, chức trách của cơ quan này rất rộng, ngoài quản trị lễ nghi, c̣n kiêm thiên văn, y dược, lịch pháp, kỵ húy, bói toán, quản trị tăng ni. Đến đời Minh, vai tṛ của Tự Bộ Tào chỉ còn rút gọn thành quản trị chuyện lễ nghi, tế tự của triều đ́nh.

[94] Vạn Hộ Hầu: Nghĩa đen của từ này là chức quan được ăn lộc của một vạn gia đ́nh, tức một vạn gia đ́nh phải nộp thuế cho viên quan này. Thoạt đầu, đây chỉ là danh xưng chung để gọi chức quan rất cao. Đến đời Kim, thiết lập riêng một chức quan là Vạn Hộ Hầu, trực thuộc Xu Mật Viện, đóng tại các hành tỉnh. Đến đời Minh chỉ c̣n là danh tự chỉ chung quan cao tước cả. “Thế tập” là cha truyền, con nối, tức là khi cha mất, con cả sẽ được thừa kế chức tước ấy.

[95] Địu (襁褓, cưỡng băo) tức một mảnh vải dày, có dây buộc để mẹ buộc con vào lưng cho tiện làm việc.

[96] Trần Tôn Túc húy là Đạo Minh, là con cháu họ Trần ở Mục Châu, Giang Nam. Lúc Sư sanh ra, ánh sáng đỏ chiếu rực khắp nhà, mây lành phủ trên hư không cả mười ngày mới tan. Sư hình dáng thanh kỳ, biện luận hơn người. Do vào chùa Khai Nguyên lễ Phật, thấy Tăng chúng như bạn cố tri, bèn xin cha mẹ cho xuất gia. Sư tham học, khế nhập ý chỉ của ngài Hoàng Bá. Suốt mấy chục năm, người đến tham học với Sư, không ai chẳng khâm phục. Sư không tuân theo thói thường, nên bị kẻ nông cạn chê bai, nhưng những người cao sâu đều ngưỡng mộ Sư, gọi Sư là Trần Tôn Túc. Về sau, do thấy cha mẹ đã già, Sư về chùa Khai Nguyên, ở riêng một căn phòng, bện hài bằng cỏ bồ để lấy tiền nuôi mẹ, không hề lạm dụng một xu, một hạt gạo của nhà chùa. Do vậy, được tôn là hiếu tử. Khi giặc đến xâm phạm nơi ấy, Sư đem chiếc hài do mình bệnh treo ở cổng thành. Giặc toan vứt đi, dốc hết sức chẳng vứt được, bảo: “Mục Châu có bậc đại thánh nhân”, bèn bỏ sang thành khác. Ở đây, Tăng tục ca ngợi pháp sư Tân Y hiếu thảo giống như Trần Tôn Túc nên mới đặt tên cho cái thất ấy là Mục Đường (tòa nhà của ngài Trần Tôn Túc tại Mục Châu).

[97] Đây là một thành ngữ “dữ mộc thạch cư, dữ lộc thỉ du” (ở cùng gỗ đá, chơi cùng nai, lợn). Từ ngữ này phát xuất từ thiên Tận Tâm sách Mạnh Tử, có hai nghĩa:

1) Ở cùng với người vô tri, chưa được giáo hóa, v́ nai và lợn là những động vật thường thấy trong rừng thời cổ.

2) Lộc thỉ chỉ kẻ trí huệ thiếu khuyết.

Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này phiếm chỉ tôn giả Diệu Viên ẩn ḿnh trong đám người vô tri, ngầm giáo hóa họ.

[98] Kham Dư (堪輿) c̣n gọi là Phong Thủy, tức là thuật quán sát các nhân tố như h́nh thế, phương vị, khí tràng v.v… của cuộc đất để chọn lựa hoàn cảnh tốt đẹp cho cư trụ hoặc an táng. Kham nghĩa là thế đất nhô lên. Dư là nghiên cứu địa h́nh, địa vật. Do chú trọng các yếu tố hài ḥa giữa khí tràng, địa thế, và hướng nước chảy, nên c̣n gọi là Phong Thủy.

[99] Tư Mă Đầu Đà có thuyết nói là Lưu Tiềm, quê ở Nam Khang Phủ, sống vào đời Tống, từng giữ chức quan Tư Mă, tinh thông Phong Thủy, Địa Lư, nhưng dùng đó để độ đời. Trong khi chọn đất cho thân chủ, ông đem đạo lư nhân nghĩa, nhân quả khuyên dụ gia chủ. Ông có soạn các bộ sách Địa Lư Thiết Án, Đạt Tăng Vấn Đáp, Tư Mă Thủy Pháp để giảng giải thuật Địa Lư. Có thuyết lại nói ông là người sống đời Đường, từng tham yết thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, bảo ở Hồ Nam có một ngọn núi có thể làm chỗ ở cho một ngàn năm trăm vị thiện tri thức, nhưng ngài Bách Trượng không phải là chủ nhân của ngọn núi ấy, vị thủ tọa là Hoa Lâm Giác cũng không phải. Cho tới khi ông thấy vị Điển Tọa là Linh Hựu (tức ngài Quy Sơn), bèn bảo vị này sẽ là chủ nhân núi đó. Quả nhiên về sau đúng như vậy.