Linh
Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần
7
Linh Phong Ngẫu Ích
đại sư soạn
Pháp sư Thành Thời
biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
16. Đề từ và lời bạt
* Ghi sau bài huyết thư thọ giới của thiền
sư Đối Phong
Tâm, Phật chúng sanh, vốn
chẳng sai biệt; do chẳng thấu đạt tự
tánh thanh tịnh, bị khách trần nhuốm bẩn, bèn có
thăng trầm trong tam giới. V́ thế, muốn thoát ṿng
khổ, không ǵ bằng tŕ giới trước hết. Muốn
thanh tịnh giới căn, không ǵ bằng hối lỗi
trước. Kinh dạy: “Ba La Đề Mộc Xoa là
đại sư của đại chúng”. Lại nói: “Hữu
nhị chủng kiện nhi: Nhất, tự bất tác tội. Nhị,
tác dĩ năng hối” (có hai loại người mạnh
mẽ: Một là tự chẳng
tạo tội, hai là đă làm mà có thể sám hối). Thời
Mạt, đă hủy phạm hạnh, lại chú trọng che
giấu, chép vào non cao, giấu ngoài biển cả. Dẫu gặp
thiện tri thức chân thật, sao có thể cứu vớt
được ư?
Lời thề viết bằng máu của thiền
sư Đối Phong trải qua gần bốn mươi
năm, nét chữ vẫn như mới. Thoạt đầu,
[bản chép lời thề ấy] được truyền
cho ngài Giám Không Ninh, rồi truyền cho ngài Trí Độ Hoằng.
Nếu chẳng nhờ vào đại nguyện kiên cố,
sẽ chẳng thể được như thế! Kinh Phạm
Vơng dạy: “Minh nhân nhẫn huệ cường,
năng tŕ như thị pháp”
(người sáng suốt, nhẫn huệ mạnh mẽ có
thể tŕ pháp như vậy), há chẳng đúng như vậy
ư? Bài văn này sẽ cùng với giới tánh bất hoại,
khiến cho khắp mọi người được thấy
nghe trong vị lai sẽ cùng ngộ tự tánh thanh tịnh
giới thể, chẳng khác đích thân bẩm thọ
trước Tử Bách đại sư vậy!
* Lời bạt khắc
in kinh Thập Nhị Đầu Đà
Đầu
Đà có ư nghĩa “rũ phủi trần lao”, gồm
mười hai pháp, tôn giả Ca Diếp suốt đời
phụng hành. Đức Thế Tôn nói “chánh
pháp trụ thế, hoàn toàn nhờ vào vị này”.
Cho đến lúc vận mạt, [thế gian] hư vọng
gọi người để râu tóc là Đầu Đà[1],
c̣n chẳng biết giới tỳ-kheo là chuyện như thế
nào, huống hồ pháp Đầu Đà ư? Tôi tuy căn
cơ kém cỏi, chỉ tŕ một hai phần, nhưng mỗi
phen mở ra xem, sẽ là một phen cảm động, hổ
thẹn, mong cũng sẽ giống như các vị hiền
đạt. Sao lục, khắc in lần nữa để
lưu hành, kính nguyện người thấy, nghe, tùy hỷ,
sẽ phát tâm tăng thượng, phụng tŕ phần nào,
ngơ hầu chẳng mấy chốc sẽ có thể trùng
hưng chánh pháp!
* Lời bạt sau bản
kinh chép bằng máu (viết cho Cự
sa-di)
Thường
nghĩ đại pháp khó gặp như hoa Ưu Đàm. Mùa
Thu năm Mậu Th́n (1628), trích máu từ đầu lưỡi,
chép các kinh Phạm Vơng, Địa Tạng v.v… Nay chỉ
được vài phẩm, gộp lại thành sách. Đầu
tiên là chương Quyết Định Minh Hối[2],
kế đến là phẩm An Lạc Hạnh, Thập Nhị
Đầu Đà, Bát Đại Nhân Giác,
và Đại Thừa Giới Kinh. Bởi lẽ,
để cắt đứt nguồn các ác, rộng hành
đạo từ bi. Kế đó là hội Bảo Hoa Phu[3],
được nghe danh hiệu của mười
phương Phật, kết thúc bằng chương Thế
Chí Viên Thông, nhiếp quy Tây Phương Tịnh Độ.
Ôi! Trọn đủ các giới hạnh, đọc tụng
Phương Đẳng, thượng thượng phẩm
văng sanh nhờ vào bằng khoán này. Nhưng ngài Thiên Thai nói: “Mỗi
một sanh nhân (cái nhân để được văng sanh)
đều được phán định thành chín phẩm,
tùy thuộc đối trị Hoặc cạn hay sâu mà chia
thành địa vị thấp hay cao”. Do vậy, ba bậc,
bốn cơi, đất báu, nghi thành, chỉ chú trọng cái
tâm, chẳng luận sự, là do chẳng cô phụ một
niệm ban đầu hoan hỷ kính cẩn tiếp nhận
đó thôi! Chắp tay ghi lời bạt.
* Lời bạt cho Thủy
Tâm Tŕ Kim Cang Kinh
Kể
từ khi Ngũ Tổ dùng kinh Kim Cang Bát Nhă để ấn
tâm, kinh này liền thành của báu trong cơi đời.
Nhưng người đời hiểu theo văn tự, cứ
một mực gạt bỏ tướng để nói rơ Không, hết sức
đánh mất ư chỉ “vô trụ sanh tâm”. Kinh dạy:
“Hậu ngũ bách tuế, hữu tŕ giới, tu phước,
ư thử chương cú, năng sanh tín tâm” (năm
trăm năm sau, có người tŕ giới, tu phước,
đối với chương cú này có thể sanh tín tâm). Lại
nói: “Phát Bồ Đề giả, bất thuyết đoạn
diệt” (Phát Bồ Đề là chẳng nói đoạn
diệt). Ôi! Chỉ hai lời ấy đă đáng để
suy nghĩ. Bởi lẽ, “vô
trụ”
vượt khỏi chấp Hữu của phàm phu, ngoại
đạo, “sanh
tâm” vượt thoát sự ch́m đắm
trong cái Không của Nhị Thừa. Vô trụ th́ mười
giới đều “chẳng phải”, sanh tâm th́ mười
giới đều “chính là”. Ngăn, chiếu đồng
thời, chúng sanh và Phật chẳng hai, giữa ḍng và
đôi bờ nhất loạt cắt đứt. Hăy nên biết:
Văn Tự Bát Nhă (muôn h́nh tượng, muôn hạnh, cùng với
âm thanh, một chấm, một vạch, đều cùng gọi
là Văn Tự Bát Nhă), chẳng một, chẳng khác với
Quán Chiếu Thật Tướng. Thọ tŕ như thế
sẽ có thể cứu chữa khuyết điểm của
Không Tông vậy!
* Lời bạt giảo
chánh, khắc in quyển thượng và quyển hạ kinh
Phạm Vơng
Kinh Phạm Vơng được
lưu truyền nơi Đông Độ do ngài La Thập khởi
xướng, nhưng riêng quyển Hạ được hoằng
truyền do ngài Trí Giả khởi đầu. Thời ngài
Trí Giả, đạo pháp hưng thịnh, căn tánh nhạy
bén, mọi người tinh thông giáo điển, thấu hiểu
uyên bác Đại Thừa; do đó, Ngài riêng
nêu giới tướng khinh, trọng để tiện
hành tŕ. Người hiện thời căn tánh ngày càng độn,
học pháp ngày càng bỏ phế, đăng đàn thọ
giới chỉ khoác lấy hư danh, đối với
pháp môn Tâm Địa mờ mịt chẳng hiểu biết.
Đă chẳng thể học rộng, nghe nhiều, ngay cả
quyển thượng c̣n chẳng để vào mắt, sao
có thể đối với ba mươi tâm, mỗi mỗi
đều hiểu pháp dụng theo thứ tự? Mỗi điều
đều chẳng hiểu, chẳng biết hết thảy
các pháp, tức là tự dối gạt mà cũng là gạt gẫm
người khác, nghiễm nhiên xưng là Bồ Tát giới
tử, há chẳng phải là nhuốm bẩn giáo pháp cao tột
ư?
Tôi lạm khoác pháp phục,
tâm người nước Kỷ[4]
lo âu tha thiết, tính hợp chú quyển thượng và quyển
hạ, và cũng tính khắc chánh kinh. Nhưng quyển
thượng do bị ẩn kín đă lâu, “lỗ ngư”
c̣n ít, chứ quyển hạ truyền tụng trong đời,
“hợi thỉ”[5]
rất nhiều! Chỉ có cổ bản của ngài Vân
Thê khéo hợp với sách Nghĩa Sớ, đích xác là có thể
nương theo. Hơn nữa, sách Nghĩa Sớ từ phần
kệ tụng mở đầu, nhân duyên khiến cho kinh có
tên Phạm Vơng đă được chỉ bày trong quyển
thượng. Nhưng quyển thượng trong Đại
Tạng kết thúc bằng Thập Địa, đem phần
kinh văn “phó
chúc phụng tŕ” ngược ngạo
đặt vào đầu quyển hạ. Nay ngẫm kỹ
văn nghĩa, từ những điều được
nói trong phẩm Hiền Kiếp trở đi, đích xác là
phần kinh văn kết lại của quyển thượng.
Từ “nhĩ thời Thích Ca” (lúc bấy giờ Phật
Thích Ca) trở đi, đích xác là phần Tự của quyển
hạ. Kính dùng bản Đại Tạng đă khắc
trong mỗi triều đại vốn thường chia một
quyển thành hai quyển, nay tôi theo lệ, hợp hai quyển
thành một quyển, dựa theo ư nghĩa để phân
định tiết, đoạn. C̣n như giới tướng
trọng, khinh vốn là cách phân khoa của các nhà sớ giải,
trong Đại Tạng vốn chẳng có, chẳng nên lén
lút đưa vào kinh, nhưng có thể xếp riêng sau kinh.
Hơn nữa, giới tướng ấy do tiên hiền
truyền lại, người trí tuân theo đă có sự bất
định. Nay nương theo Luật Tạng để
suy xét, phân tích, cũng chẳng phải là không có ǵ chẳng
thể thương lượng, trong phần chú giải mỗi
điều, tôi sẽ châm chước, chọn lựa. Nguyện
khắp những ai thấy, nghe, tùy hỷ, đọc tụng,
thọ tŕ, sẽ cùng ngộ Phạm Vơng minh châu, nhanh chóng
khế hợp bổn nguyên tâm địa.
* Lời tựa cho bản
in gộp chung các kinh Đầu Đà, Di Giáo, Phạm Vơng
Cư
sĩ Liên Châu chép rồi khắc in kinh Phạm Vơng, lại
c̣n khắc gộp chung kinh Đầu
Đà và Di Giáo. Có kẻ bàn
rằng: “Đại Thừa và Tiểu Thừa dạy bảo
khác biệt, chỉ thú khác biệt một trời, một
vực. Kinh Phạm Vơng lợi sanh, dính dáng cơi tục, chẳng
xả trần lao. Kinh Di Giáo và Đầu Đà gạt bỏ
ngoại vật, chỉ mong tự giác ngộ. Tách rời
nhau th́ đôi bên cùng tốt đẹp, gộp lại th́
đôi đằng đều bị tổn thương.
Nay gộp chung thành một bản, chẳng khiến cho
người đọc tụng khóc ṛng nơi ngă rẽ
ư?” Có người giải thích rằng: “Nhị Thừa
tuy khác biệt, cùng do kim khẩu. Mặt trời, mặt
trăng soi chiếu, cùng vận hành chẳng trái nghịch”.
Lại giải rằng: “Bồ Tát có hai loại, trí
tăng thượng th́ trước Không, sau Giả. Bi
tăng thượng th́ trước Giả, sau Không.
Phương tiện có nhiều cửa, trở về nguồn
chẳng hai!”
Ôi! Đấy đều
là chẳng thấu đạt ư chỉ vi
nhiệm của thánh giáo, chưa biết ư
nghĩa tột cùng của việc lưu thông. Phàm cứu
người té giếng, Tuyên Ni có điều ǵ chẳng phù
hợp, ở ngoài cái ṿ lại chuyển một cái ṿ[6],
cả cơi đời hay biết, há kẻ chính ḿnh có bệnh
nhưng chẳng chữa mà lại có thể chữa bệnh
cho người khác được ư? Anh nhi, bệnh hạnh[7],
cùng phù hợp
với thánh hạnh và bệnh hạnh,
chưa hiểu rơ thiên hạnh, chỉ tăng thêm hư luận!
Do vậy, trong hội Hoa Nghiêm, nhị Phổ xướng
họa[8],
gọi là Ly Thế Gian: Chẳng dựng tràng tinh tấn,
tuân phụng giới viễn ly, sao có thể thâm nhập tâm
địa? Nắm tay Tam Hiền, Thập Thánh, chẳng bị
ái kiến cắn nuốt ư? Bồ Tát Giới Bổn
Kinh dạy: “Thanh Văn thâm nhạo Niết Bàn, úy yếm
phiền năo, bách thiên vạn bội, bất cập Bồ
Tát thâm nhạo Niết Bàn, úy yếm phiền năo” (Thanh
Văn yêu thích Niết Bàn sâu xa, chán sợ phiền năo.
Trăm ngàn vạn lần chẳng sánh bằng Bồ Tát yêu
thích Niết Bàn sâu xa, chán sợ phiền năo), ư nói: Các vị
Thanh Văn chỉ v́ tự lợi. Bồ Tát chẳng
như vậy, mà v́ trọn khắp chúng sanh. Các Ngài tu tập
tâm chẳng ô nhiễm, hơn hẳn A La Hán thành tựu hữu
lậu, ĺa các phiền năo. Đọc một chương
này, các mối nghi sẽ nhanh chóng tháo gỡ. Ba kinh vừa
khéo thành tựu lẫn nhau, chẳng trước, chẳng
sau. Gộp lại th́ tốt đẹp đôi bề, tách
ra th́ đôi bên cùng bị thương tổn. Nguyện
người đọc tụng dùng cái tâm chẳng chấp
trước để hành Bồ Tát đạo, dùng Bồ
Đề tâm tu hạnh viễn ly. Như Phổ Môn thị
hiện “chiếu Ngũ Uẩn đều không để
độ khổ ách”, từ dưới đất vọt
lên cao, trụ trong hư không ở phương dưới
hoằng dương Pháp Hoa, chẳng chỉ là Xuân lan, Thu
cúc, mà chính là “thở
cùng một lỗ mũi” vậy!
* Lời tựa cho bản
kinh Pháp Hoa chép bằng máu của Kư Nam khai sĩ
Dùng
máu chép một pháp, nhiếp quy vào Phổ Hiền hạnh hải,
sắp bày rành rẽ giới chương Phạm Vơng. Chỉ
riêng nguyên do là chưa được nêu bày, đến nỗi
lũ cuồng huệ miệt thị là hữu tướng!
Phàm căn bản sanh tử từ vô thỉ, không ǵ nặng
bằng Thân Kiến. Diệu pháp xuất
thế không ǵ bằng trước
hết đập nát núi Tát Ca Da. Tát Ca Da Kiến
(Satkāya-dṛṣṭi, Thân Kiến) đă phá, ṿng quay sanh tử vĩnh viễn
chấm dứt. Đó gọi là “tôn trọng chánh pháp”,
gọi là “dùng pháp để cúng
dường Như Lai”. Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm tán thán sâu xa chuyện đốt cánh tay, ngón tay, và công
đức đốt hương cũng v́ cớ này! Hoặc
là nói “chặt tay phiền năo, đốt thân vô minh”, há
cứ phải khăng khăng là thân máu thịt ư? Trọn
chẳng biết chúng sanh kết tập sâu dày, máu thịt
hư huyễn như chất mỡ che lấp con mắt, bản
thể của nó chính là vô minh phiền năo.
Vị tăng hỏi
ngài Tử Bách: “Như thế nào là căn bản sanh tử?”
Đáp: “Chỉ là cái thân của ông!” Tăng hỏi:
“Như vậy th́ chết rồi sẽ thoát sanh tử?”
Sư nghiêm mặt, quát to! Than ôi! Tác dụng của bậc
đại nhân há hạng người nghĩa học biết
nổi! Bởi lẽ, thật sự từ nửa bài kệ
mà ngộ thấu triệt, cho nên dạy người tự nhiên càng
thân thiết! Người có thể trích máu, đốt
hương, dẫu chưa hiểu lư, cũng là tiền
phương tiện để phá địch. Nếu cao giọng
đàm luận lư tánh, chẳng nhập hạnh môn, núi cao
Thân Kiến sẽ do đâu mà nát vụn? Tôi thường thấy
diệu hạnh này, ắt thâm tâm tùy hỷ. Huống hồ
Diệu Kinh (kinh Diệu Pháp Liên
Hoa) [nói] khai Quyền hiển Thật, giơ
tay, cúi đầu đều thành Phật đạo.
Người có thể phát trọn cái tâm này, hành chuyện
này, không chỉ hội Linh Sơn chưa tan, nào biết
nơi biên địa Chi Na, chẳng có ba lượt biến
hóa mà thành Tịnh Độ! Khai sĩ Kư Nam chính là cháu của
ngài Tử Bách, ắt có thể ngộ ư của một tiếng
quát. Năm nào
[ông ta] ngồi đạo tràng, ngài Tử
Bách sẽ khiến ṭa tháp báu ấy vọt lên để làm
chứng vậy!
* Lời bạt cho
cư sĩ Vân Lộc tŕ Kim Cang kinh
Kinh
Đại Bát Nhă dạy: “Hữu Bồ Tát thành tựu
khai trí, nhất cú trung giải vô lượng nghĩa. Hữu
thành tựu diễn trí, nhất cú nghĩa tác vô lượng
thuyết” (Có Bồ Tát thành tựu khai trí, từ trong một
câu hiểu vô lượng nghĩa. Có vị thành tựu diễn
trí, từ trong ư nghĩa của một câu mà nói thành vô
lượng). Do vậy một pháp Bát Nhă hoặc nói thành sáu
trăm quyển, hoặc nói ba mươi quyển, hoặc
nói một quyển, hoặc nói một chương, rộng,
lược tuy khác nhau, nhưng đều tương ứng
với Bát Nhă rất sâu, giống hệt như nhau! Nếu
đạt được khai trí và diễn trí, sẽ là nhiều
hay ít vô ngại. Nếu chỉ thấy là văn tự th́ chỉ hai chữ
Bát Nhă đă tự là dây leo, chẳng phải là đă phạm
lỗi “vịn cành, nắm lá” rồi ư? Pháp sư thời
Mạt tâm chẳng thật sự ngộ, chỉ hướng
theo tai miệng mà khởi lên kiến giải, hoặc chuộng
văn tự rườm rà, hoặc ưa giản lược,
đều gọi là Biến Kế t́nh chấp, sẽ do
đâu mà nhập trí huệ của Phật?
Trí huệ của Phật
như người có mắt, ánh mặt trời chiếu
sáng, thấy đủ loại sắc, từ trong một
mà hiểu vô lượng, từ trong vô lượng mà hiểu
một. Trong rừng gai góc, thẳng lưng vượt qua;
trên đất trắng sạch, chẳng lưu dấu tay,
sao lại xả một đằng này, theo một đằng
kia mới khoe là “thẳng,
chóng”
ư? Kinh Duy Ma dạy: “Vô ly văn tự thuyết giải
thoát” (chẳng ĺa văn tự để nói giải
thoát). Kinh Pháp Hoa dạy: “Ngôn từ tướng tịch
diệt” (tướng ngôn từ tịch diệt). Do vậy
biết: Bậc tứ y
đại sĩ hoằng diễn khoa chương, nói ngang,
nói dọc, đều chẳng mâu thuẫn Bát Nhă! Kẻ
chưa thông đạt, tự vướng mắc bởi
dây leo, chẳng phải là lỗi của thuyết pháp. Nếu
quét sạch, chúng sanh chỗ nào cũng sanh chấp trước,
đối với lời lẽ trọng yếu,
càng trầm trệ trong t́nh trần. Cổ nhân nói: “Nếu
coi ‘chẳng lập văn tự’ là cao. Chỉ hai chữ
‘chẳng lập’ đă chính là văn tự!” Phế nhiều,
chấp ít, si chấp càng sâu.
Nguyện [người
học sẽ] do một chương Tâm Kinh tiến lên thành
một quyển Kim Cang, lại tiến lên thành Ma Ha Bát Nhă ba
mươi quyển, Đại Bát Nhă sáu trăm quyển,
đối với Tam Tạng mười hai bộ đều
thấu triệt cùng tận ư
chỉ sai biệt nơi ngôn thuyết đều quy vào tông
“lư tánh Bát Nhă” th́ Văn Tự, Quán Chiếu, Thật
Tướng, sẽ nêu ra một chính là ba, nói ba chính là một,
phải trái đều gặp nguồn chẳng thể
nghĩ bàn! Ǵ là căn bản?
Ǵ là cành nhánh? Xem
những kẻ khư khư chọn lấy bản
đơn giản, dễ dàng, tự xưng là “thẳng thừng
minh bạch”,
chẳng khác vua Dạ Lang[9]
vậy. Kệ rằng: - Thái A[10]
trong vỏ đă uy phong, vung hướng Đương
Dương[11]
chẳng phải mài, rễ đốt quanh co đều
đứt sạch, cắt nát hư không chẳng vết hằn”.
* Lời bạt tự
soạn cho Bạch Ngưu Thập Tụng
Học
đạo đă chẳng thể vụn vặt, mà cũng
chẳng thể lỗ măng! Chư Phật thuyết pháp, có
khi nói thí dụ một phần, có khi nói thí dụ toàn phần.
Công án chăn trâu có thể sánh ví cơ duyên của tông thừa
trong hiện thời, mà cũng có thể sánh ví sự tu chứng
Phật đạo trong A-tăng-kỳ kiếp! Huống hồ
người căn cơ Viên giáo khéo siêu việt, tuy sáu mà
thường tức, há do Viên Dung mà trở ngại Hàng Bố,
ắt phải ôm giữ ḷng tăng thượng mạn
đối với lư tánh th́ mới gọi là “chẳng
rơi vào các giai vị” ư? Có người chê trách các bài tụng
này phối ứng với từng địa vị, chẳng
giống như khí tượng của nạp tăng. Tôi
bèn nói: “Mừng cho lăo huynh hiểu Tổ Sư Thiền, chứ
đối với Như Lai Thiền chưa hề mộng
thấy!”
* Lời Bạt tự
ghi cho Trùng Định Thọ Bồ Tát Giới Pháp
Trộm
thấy tỳ-kheo thọ giới, luật có nghi thức nhất
định. Năm bộ tuy sai khác, [chỉ là] đại
đồng tiểu dị. V́ thế, hăy nên chuyên tuân theo Tứ
Phần, tước bỏ những phần kinh văn
rườm rà bị trộm đưa vào sau này. Cách thọ
Bồ Tát giới, kinh luận mỗi đằng mỗi
khác! Phạm Vơng, Anh Lạc, Địa Tŕ, Thiện Giới[12]
và Tâm Địa Quán[13]
v.v… nhằm thích ứng căn cơ sai khác, tường
tận hay giản lược khác biệt! Do vậy, ư chỉ
chế định, giáo hạnh v.v… mỗi mỗi đều
thuận theo ư ḿnh mà lập thêm khoa, điều, tuy văn từ
đẹp đẽ, ư nghĩa tường tận,
nhưng xét đến tột cùng th́ hoặc là nghĩa do
văn
từ [rườm rà] mà ẩn, đâm ra chẳng
thẳng thừng, nhanh chóng bằng kinh, luận. Nay cách thọ
Phạm Vơng đă thất truyền, chỉ c̣n h́nh bóng đại
lược. Chỉ có Địa Tŕ và Anh Lạc là đích
xác có thể nương theo đó để truyền thừa.
Kính châm chước từ ba nhà (tức ba bản kinh Phạm
Vơng, Địa Tŕ và Anh Lạc) để dung hội thành một
cách thức, ngơ hầu tường tận mà đơn giản
vừa đúng, để người trao, kẻ nhận
đều hiểu rơ ràng, giản dị, tránh khỏi lỗi
tạp loạn, thiếu thứ tự!
* Lời bạt tự
ghi cho sách Phạm Vơng Hợp Chú
Bổn
nguyên tâm địa mọi chúng sanh hàm thức đều
cùng có. Tánh giới vô nhiễm tuy sử dụng hằng ngày
mà chẳng biết. Do mắt có màng mộng mà [thấy có]
hoa đốm quay cuồng trên hư không. [Luân Vương
nằm] mộng làm thân kiến t́m
thứ tanh tưởi dưới thềm, nhưng
cái Thể quang đăng vẫn y hệt, thân Luân Vương
vẫn y như cũ. Buồn thay vọng Hoặc, oan uổng
hứng chịu huyễn luân, nhọc nhằn đức Từ
Tôn hiện thân cùng chịu hoạn nạn, thị hiện
thành Phật chẳng
mệt mỏi trong tám ngàn [lần][14],
rủ ḷng hóa hiện chẳng thiên vị trong các cơi nhiều
như vi trần. Một giọt tâm địa đă phô
bày, trầm mê tích tụ bao kiếp liền lập tức
tỉnh. Nhưng rương đựng sách kiên cố
đă lâu, chỉ phô bày nửa viên châu[15];
hiềm rằng tôi ngu muội, mong được thấy
toàn bộ của báu, bèn dốc sạch
tâm tư, cạn hết căn cơ, góp một hạt bụi
vào non Thái. Nghĩ pháp duyên chẳng dễ dàng, nước mắt
liền giàn giụa. Nguyện những người cùng nghiệp
với tôi, hăy suy nghĩ sâu xa, tận lực học tập,
giải và hạnh cùng tuân, ḿnh và người đều lợi
lạc, ngơ hầu trên báo ân Phật, chẳng phụ linh
tánh của chính ḿnh.
* Lời bạt cho chuyện
Tích Như khai sĩ khắc in sách Bát Nhă Chiếu Chân Luận
Bát
Nhă vô danh, hết thảy các pháp đều là tên riêng của
Bát Nhă. Hết thảy các pháp chẳng có Thể, Bát Nhă chính
là tự thể của hết thảy các pháp. Hết thảy
các pháp chẳng thể gọi tên. Do đó, Bát Nhă cũng chẳng
thể đặt tên. Bát Nhă chẳng có cái Thể riêng. V́
thế, hết thảy các pháp đều chẳng có cái Thể
riêng. Cơi đời có kẻ muốn nhờ vào ngôn ngữ,
hoặc dứt tuyệt ngôn ngữ để hiển thị
Bát Nhă, đều là chẳng thấu đạt tam đức
viên dung của Bát Nhă rất sâu.
Thế nào là tam đức
viên dung? Một là Thật Tướng Bát Nhă, gọi là Pháp
Thân đức. Hai là Quán Chiếu Bát Nhă, gọi là Bát Nhă
đức. Ba là Văn Tự Bát Nhă, gọi là Giải Thoát
đức. Ba đức ấy chẳng phải là ba, mà
cũng chẳng phải nhất định là một, do hết
thảy đều là Thật Tướng, đều là
Quán Chiếu, đều là Văn Tự. Do đó, sáu
trăm quyển chẳng nhiều, hai trăm sáu mươi
mấy chữ chẳng ít! Thậm chí hậu hiền
trước thuật, không chừng đến mấy chục
hoặc cả trăm vị, hễ hiểu th́ mỗi chữ
đều là tháo niêm, chẳng hiểu th́ mỗi chữ
càng thêm trói buộc. Chiếu Chân Luận của Trừng
công cũng là một trong số đó. Nguyện người
thấy [sách ấy] lập tức tương ứng với
Bát Nhă rất sâu, chẳng c̣n nhờ vào ngôn ngữ hay dứt
bặt ngôn ngữ để hiểu. Nếu đối với
chuyện này mà chẳng nhờ, chẳng dứt tuyệt,
th́ sáu trăm quyển hay cả Đại Tạng đều
chẳng nhờ hay dứt tuyệt được! Một
đốm lửa thiêu trọn khắp cánh đồng
đấy nhé!
* Lời bạt cho bản
kinh Pháp Hoa chép bằng máu
Hết
thảy lời Phật đều là tṛng mắt cho các chúng
sanh, là huệ mạng của ngàn vị thánh, huống hồ
vô thượng diệu pháp ư? Hết thảy đọc,
tụng, thọ tŕ đều là cái nhân chân thật của
Bát Nhă, là bè báu để thoát khổ. Huống hồ trích
máu làm mực ư? Thiền nhân đuổi bắt cái
hư huyễn, cao giọng bàn danh, Lư, chẳng biết thật
hạnh, họ là kẻ chưa ngộ Lư! Nếu họ thật
sự ngộ Lư, hết thảy các hạnh sẽ không ǵ chẳng
phải là diệu lư, có sự tướng ǵ để loại
trừ bớt, có lư tánh nào để có thể đề
cao ư? Huống hồ từ vô thỉ, ngă chấp của
chúng sanh luôn nặng nề. Dù Tông hay Giáo, đều gấp
đối trị. Chính phải nên nhờ vào cái nhân nhỏ
nhiệm ấy để sung măn đại hạnh trong ba
A-tăng-kỳ, khiến cho tập khí chánh sử nhất
loạt bị phá sạch, có thể nói: “Từ ngay nơi Sự
mà là Lư, từ ngay nơi Tiệm mà là Đốn”. Há có nên vứt
bỏ sự chân thật này, cứ coi nói suông là diệu ngộ
ư? Pháp hữu Nhũ Sanh xưa kia đă gieo chánh tín, tuổi
vừa mới ứng pháp đă tạo công đức chẳng
thể nghĩ bàn. Do vậy, tham học nhiều vị tri
thức, chẳng nhuốm phải Thiền bệnh trong thời
gần đây, trong tương lai sẽ đích thân thấy
một hội Linh Sơn, mới biết máu thịt, chấm,
vạch, toàn thể là Pháp Hoa tam-muội, là vô tướng
An Lạc Hạnh, cái
quả chẳng ở ngoài hữu tướng
An Lạc Hạnh!
* Lời bạt cho bản
kinh Pháp Hoa do Uẩn Khiêm chép
Năm
loại pháp sư trong kinh này là thọ tŕ, đọc, tụng,
giải nói, biên chép. Phàm thọ tŕ, đọc, tụng, giải
nói, có thể sanh giải thành quán, tự uốn nắn
chính ḿnh, uốn nắn người khác, gọi là pháp
sư cố nhiên là đáng nên, nhưng người biên chép
mà cũng được gọi là pháp sư ư? Biên chép
càng là tự uốn nắn chính ḿnh, uốn nắn người
khác, càng dễ sanh giải thành quán! Xin nói rơ hơn: Đều
là cùng một loại giấy, bút, mực, một cổ
tay, dùng đó để viết dâm từ, diễm khúc, sẽ
tạo thành cái nhân tam đồ. Viết điển tịch
thế gian, sẽ thành cái nhân của trời, người.
Viết A Hàm Tam Tạng, sẽ thành cái nhân xuất thế.
Viết Đại Thừa Phương Đẳng, sẽ
thành cái nhân Bồ Tát. Viết Diệu Pháp Liên Hoa, sẽ chỉ
là Phật nhân. Nếu giấy, bút, mực, tay chẳng thể
chép diệu pháp, cũng ắt chớ nên viết dâm từ,
diễm khúc khiến cho kẻ khác ch́m đắm. Nếu có
thể viết dâm từ, diễm khúc, cũng ắt có thể
viết Diệu Pháp để soi
sáng người khác. Cùng một tánh linh,
cùng một duyên giúp đỡ, cùng một công năng mà
mười giới thăng trầm, chẳng tách biệt
mà tách biệt là như thế đó!
Hơn nữa, dâm từ,
diễm khúc tuy là cái nhân của tam đồ, vẫn trọn
đủ mười giới. Như nghe nói “nếu kẻ
khác vô tâm, ta cũng thôi”, bèn nhanh chóng hiểu rơ tâm địa,
đấy chẳng phải là Phật nhân ư? Phật giới
mà c̣n có th́ những giới khác [trong mười pháp giới]
cũng có thể biết
vậy! Diệu Pháp Liên Hoa tuy là cái nhân của Phật giới,
vẫn trọn đủ mười giới. Như kinh
nói rơ “báng tư kinh giả, hoạch tội vô lượng”
(kẻ báng kinh này mắc tội vô lượng), chẳng
phải là cái nhân của địa ngục ư? Địa
ngục c̣n có, các giới khác cũng có thể suy ra mà biết.
Than ôi! Công năng của
cổ tay là một, giấy, bút, mực là trợ duyên
cũng giống y hệt, tánh linh tri giác cũng là một,
mười giới chẳng có đủ những nhân duyên ấy
sẽ chẳng thành. Do những thứ ấy mà mười
giới bèn trọn đủ. Đă thành, lại c̣n trọn
đủ lẫn nhau, ắt có tướng, tánh, thể, lực
v.v… như thế, bách giới thiên như rạng ngời
trong khoảng giấy, mực, trong khoảng tay và bút, trong
khoảng một tánh linh. Ba cái nhân của tánh đức, ba
cái nhân của tu đức, tánh và tu thành tựu lẫn
nhau, tánh và tu bất nhị, có thể rạng ngời
nơi Thật Tướng sâu thẳm. Lại c̣n dạy
người khác đọc tụng, khiến cho giải
thành, quán phát, chẳng phải là tự uốn nắn chính
ḿnh, uốn nắn người khác tối thắng đó
ư? Nguyện người viết, người đọc,
sẽ lănh hội diệu lư Thật Tướng, dùng đó
làm cái gốc cho diệu tu, đừng nói “chỉ kết
cái nhân xa xôi cho mai sau”. Bậc thầy diệu pháp gặp
chuyện nhân chẳng nhường chính là ở chỗ này!
* Lời bạt cho lời
nguyện chép trọn khắp kinh Pháp Hoa bằng máu
Trong
hết thảy các kinh điển của Như Lai, Pháp Hoa
được gọi là vua. Trong hết thảy sự cúng
dường của hành nhân, dùng máu chép kinh là cao tột nhất.
Bởi lẽ, ngũ thời, bát giáo cho tới Pháp Hoa, không
lư nào chẳng tận, không căn cơ nào chẳng thâu nhiếp.
V́ thế, một câu nhiễm vào thần thức, một lời
làm chủng tử, ắt đạt đến thành Phật,
há chẳng phải do công đức của cả bộ
kinh ư? Cái mà chúng ta khó xả không ǵ bằng bản thân.
C̣n như trích máu làm mực, ân cần trịnh trọng tột
bậc! Thân Kiến đă phá, há có khác ǵ ngài Dược
Vương đốt cánh tay ư? Tôi thường cảm
khái đời Mạt chuyên coi trọng kiến giải rỗng
tuếch, nói suông tam-muội, lan truyền khắp hoàn
vũ, coi Tứ An Lạc Hạnh như mảy lông! Bậc
khai sĩ giữ giới “chẳng ăn phi thời”
nghiêm cẩn như Viễn công, vạn thiện trang nghiêm,
siêng năng giống như ngài Diên Thọ. Lại phát tâm
thù thắng thành tựu công đức này, há năm loại
hay mười loại công đức có thể sánh bằng
được ư?
* Lời bạt cho bản
kinh Pháp Hoa do Đạt Quyền chép
Kinh
này gọi là “đại
huệ b́nh đẳng”,
cũng gọi là “vua trong các kinh”. Huệ b́nh đẳng
th́ pháp cũng b́nh đẳng, cớ sao riêng gọi là “vua”?
Bởi lẽ, tuy pháp b́nh đẳng, nhưng do chúng sanh mê,
nên hư vọng thấy sai biệt. Do vậy, giáo pháp suốt
một đời đức Phật khéo phù hợp mê t́nh,
từ trong
chẳng sai khác mà nói sai biệt. Cho tới
khi xướng diễn tột cùng nơi Linh Sơn mới
nói rơ “sai khác vốn
chẳng sai khác”.
Trong hội ấy, hết thảy các pháp đều thành Phật
pháp, hoàn toàn do công của Pháp Hoa! Nh́n lại “Hoa Nghiêm kiêm,
A Hàm đản, Phương Đẳng đối, Bát Nhă
đới”[16],
đều chẳng thể sánh bằng. Huống hồ
cực xướng Bổn môn, ba đời lợi ích chúng
sanh, nhiều phen gieo, nhiều phen chín muồi, nhiều phen
thoát ĺa. Trước chẳng phải là khởi đầu
bằng Đại Thông [Trí Thắng Phật], Oai Âm
[Vương Phật], sau chẳng tột
cùng “củi cháy hết thành tro, lửa
tắt”. Phàm công giáo hóa tột cùng theo chiều dọc, trọn
khắp theo chiều ngang của Như Lai, lập bày
cương yếu của giáo vơng, triệt để hiển
thị, trọn hết chẳng c̣n ẩn tàng chút nào! Do vậy, khó gặp hơn hoa Ưu
Đàm! Công thọ tŕ bằng với Pháp Thân! Phật
pháp diệu, sanh pháp diệu, chẳng ĺa tâm pháp diệu! Diệu
tâm nơi một niệm hiện tiền được gọi
là Liên Hoa. Ngộ tâm liên hoa th́ hết thảy các pháp không ǵ
chẳng phải là liên hoa! Tâm là kinh vương (vua trong các
kinh), tâm là b́nh đẳng đại huệ. Thấu đạt
thật nghĩa này th́ mới gọi là thấu đạt
Quyền, hăy gắng lên!
* Lời Bạt cho bản
chép kinh Hoa Nghiêm bằng máu của Tam Học
Trong
giáo pháp suốt một đời đức Phật, Hoa
Nghiêm là căn bản pháp luân, do v́ Thật mà hành Quyền,
lưu xuất vô lượng pháp môn, khai Quyền, hiển
Thật, trở về biển pháp giới tánh. Tuy pháp môn
Quyền hay Thật bất đồng, nhưng ư chỉ trọng
yếu “tánh, tu” chưa từng sai khác chút nào. Tựa đề
của kinh này là Đại Phương Quảng, tức là
chỉ thẳng tánh tam đức bí tạng nơi một
niệm hiện tiền của chúng ta. “Phật Hoa Nghiêm” là
nói xứng tánh khởi lên công hạnh tu đức viên
đốn. Chẳng thấu đạt tam đức
nơi thể tánh, vạn hạnh trang nghiêm vào đâu? Chẳng
dùng sự trang nghiêm của Phật để trang nghiêm,
tánh đức sao đủ để quư trọng? Phật
Hoa Trang Nghiêm là Tam Học Giới Định Huệ mà thôi.
Giới học, Định học, phước đức
trang nghiêm; vô thượng Huệ học, trí huệ trang
nghiêm. Huệ cố nhiên là Phật huệ, phước
cũng là Phật phước, khác biệt vời vợi
ba pháp của lương y cũ, cao vượt ba cách tu của
Quyền giáo, mỗi mỗi đều gọi là Phật
Hoa.
Kinh chẳng nói đó
sao? “Cụ túc thọ tŕ oai nghi giới pháp, năng linh
Tam Bảo chủng tánh bất đoạn” (Thọ tŕ trọn
đủ oai nghi và giới pháp, có thể khiến cho chủng
tánh Tam Bảo chẳng dứt). Giới đă toàn thể là
Phật giới, Định,
Huệ có ǵ chẳng phải là Phật? Dùng Phật hoa viên
đốn để trang nghiêm tâm tánh đại
phương quảng, sẽ là toàn tánh khởi tu, toàn tu tại
tánh, mà thân và cơi của đức Tỳ Lô Giá Na chẳng
ĺa một niệm tâm của phàm phu bậc hạ! Nếu
đề cao thánh cảnh, sẽ ty mạn bảo “ta là phàm
phu, sao có thể tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai
biệt?” Nếu chấp tánh đức, sẽ kiêu mạn
nói “ta thật sự bằng với chư thánh, vậy th́
tánh đại phương quảng của ta vốn tự
b́nh đẳng, sao lại phải cao vượt chín pháp giới,
thành Đẳng Chánh Giác?” Thiền sư Tam Học dùng máu
chép kinh vương, tôi liền v́ thầy ấy nêu tỏ ba tầng
cấp trong Phật học, khiến cho
từng giọt máu đều lưu
xuất từ lỗ chân lông của Phổ Hiền, mỗi
giọt đều trọn đủ kinh quyển to bằng
cơi đại thiên, chẳng có ǵ khác cả!
* Lời bạt tự
ghi sau Pháp Hoa Luân Quán
Lư Bạch lên lầu
Hoàng Hạc, thấy bài thơ do Thôi Hạo[17] đă
viết, bèn gác bút, do biết ḿnh chẳng thể làm thơ
hay hơn được! Trí Giả đại sư
đích thân chứng Pháp Hoa tam-muội, [kiến giải của]
Quang Trạch[18] c̣n
bị phá, huống hồ là các vị chú giải khác!
Người đời sau lại lũ lượt tŕnh bày
kiến giải, v́ chưa có học thức như Thanh Liên (Lư Bạch). Các bạn khuyên tôi chú
giải Pháp Hoa, tôi kiên quyết dùng ư này để từ chối.
Vừa khéo có pháp hữu Đạt Tế đứng trông
coi khắc in kinh, mong tôi tóm tắt ư chỉ chánh yếu của
toàn bộ bản kinh để tạo thuận tiện cho
hàng sơ học. Do vậy, kính dựa theo Huyền
Nghĩa và Văn Cú, trích lục những điều đại
cương, đặt tên là Luân Quán, ngơ hầu thuật lại
[ư kiến của] cổ nhân, chứ chẳng phải là
hư vọng viết lách!
* Lời bạt tự
soạn cho sách Diệu Huyền Tiết Yếu
Một
chữ pháp môn,
biển mực chẳng trọn hết. Chín mươi ngày
đàm luận chữ Diệu[19],
há đáng nói là nhiều! Hơn nữa, Tứ Biện trong
chín mươi ngày, văn nghĩa há có hạn lượng,
ngài Chương An [Quán Đảnh][20]
chỉ ghi chép đại lược! Đó là do độn
căn đời Mạt, vẫn sợ rườm rà, ngó
thấy sách Diệu Huyền (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền
Nghĩa) như biển, cam tâm làm con ếch chấp nhặt,
chẳng tiến cao hơn, vô thượng đề hồ
chẳng nhiễm giọt nào! Đáng đau xót thay!
Trộm nghe Đại
Trí Độ Luận một ngàn quyển, [khi dịch sang
tiếng Hán] ngài La Thập rút gọn c̣n một phần
mười. Toàn bộ sách Ma Ha Chỉ Quán ngài Kinh Khê chỉ
sao lục đại ư [trong lời giảng của tổ
Trí Giả]. Do phỏng theo ư chỉ ấy, tôi soạn thành
sách Diệu Huyền Tiết Yếu gồm hai quyển, ngơ
hầu [người đọc] dính
dáng mảy may, sẽ dần dần đầy ắp pháp vị.
Sau đấy, [người học sẽ] t́m ṭi trọn vẹn
sách Huyền Nghĩa, chứng sâu xa Pháp Hoa tam-muội. Hành
động này chưa chắc đă không phải là một
phương cách khuyên nhủ dần dần. Nếu chỉ
giữ lấy sách Tiết Yếu, rốt cuộc gác bỏ
toàn bộ trân bảo, cố nhiên tôi là tội nhân của
các vị Trí Giả và Chương An, nhưng các Ngài
cũng là tội nhân của tôi vậy!
* Đề từ cho
thủ quyển[21]
của Nhược Thủy Quan Chủ
Văn Thù khởi Phật
kiến, pháp kiến, bị [đức Thế Tôn] biếm
trích vào núi Thiết Vi. Ngài Cao Phong nói: “Nay có người
khởi Phật kiến, pháp kiến, bèn chắp tay tán thán.
V́ sao vậy? Nếu đến thời tiết, lư ấy tự
phô tỏ”. Đây là phương cách lỗi lạc của
bậc vượt ngoài khuôn khổ. Bản lănh trong Tông môn
tương tự đại y vương: Gấp gáp th́ trị
đằng ngọn, hoăn đăi th́ trị đằng gốc.
Lại có thuận trị và nghịch trị khác nhau, mong
sao khỏi bệnh, chẳng chấp phô bày đơn thuốc,
hoặc trách móc chẳng có hiệu nghiệm! Thiền học
đời Mạt lầm lạc tự lập tông, chẳng
biết liễu nhân và duyên nhân luôn giúp nhau, nhờ cậy lẫn
nhau. Cố nhiên là hễ có liễu nhân tánh phát khởi, duyên
nhân sẽ nhanh chóng trọn
đủ. Cũng có khi duyên nhân tánh đă chín muồi, liễu
nhân bỗng phát khởi. Như thuyền và nước giúp
lẫn nhau, chẳng thể bảo nước có thể
thong thả mà thuyền nên gấp gáp,
hoặc thuyền có thể thong thả mà nước nên gấp gáp.
Nhược Thủy
Quan Chủ duyệt Đại Tạng đă lâu, đă hiểu
rơ trọn hết hay chưa? Nếu đă hiểu rơ mà vẫn
chưa liếc nh́n, tức là Phật kiến, pháp kiến,
đáng nên bị biếm trích vào Thiết Vi. Nếu chưa
hiểu trọn hết, tức là Văn có thừa,
nhưng huệ chẳng đủ, đúng là nên hướng
theo đó ḥng cầu khai huệ tánh. Đó gọi là “thời
đến, lư sẽ phô tỏ”. Nghịch trị chẳng
thể th́ hăy thuận trị. Thử xét xem thường
ngày khi đối trước kinh quyển, cùng với lúc
đề khởi thoại đầu trên bồ đoàn,
đằng nào đắc lực? Lúc nào chẳng đắc
lực? Đằng nào có thể trừ khử tập khí,
đằng nào chẳng thể? Hễ phát thuốc chữa
bệnh, nghe theo các lương y, nhưng hữu
hiệu hay vô hiệu th́ vẫn phải do chính ḿnh tự kiểm
chứng. Xưa kia có người chỉ uống tỳ
sương, do vậy, lâu ngày thành bệnh
liệt. Y sĩ say rượu, lầm cho [bệnh nhân] uống
tỳ sương, bỗng dưng khỏi bệnh. Nay Tam Tạng
tuy giống như chất độc Tỳ
Sương, sợ đă uống lâu ngày, chưa chắc chẳng
do vậy mà được lành bệnh vậy!
* Đề từ cho
Chí Hiếu Hồi Xuân Truyện
Nho
coi hiếu là cái gốc của trăm hạnh, Phật coi
hiếu là cốt lơi của chí đạo. Bởi cái tâm báo
ân xuất phát từ t́nh muôn phần chẳng thể giải,
như Hoàng Hội Khanh cắt thịt đùi để chữa
bệnh ngặt cho mẹ. Mẹ thọ tám mươi hai
tuổi đều do chân t́nh cảm vời. T́nh ấy
được gọi là pháp thế gian, thật sự là nền
tảng của Bồ Đề. Bảo đó là xuất thế
th́ bất quá là ái dục hư vọng. Quân tử đối
với điều này chẳng thể không học, chẳng
thể không thấu đạt. Xưa kia, mẹ từng cắn
ngón tay mà con đau ḷng; liễu đạt
điều này sẽ có thể ngộ pháp tánh đồng
thể, biết pháp môn duy tâm, hiếu thế gian liền trở
thành hiếu xuất thế!
* Đề từ cho
Độc Tỉnh Biên
Tôi
thuở bé chuyên chú Lư Học, liền coi báng Phật là trách
nhiệm, ghét sự khác biệt! Hơi lớn, liền cho
là giống nhau. Học tập lâu ngày, mới biết vừa
giống vừa khác. Nay cũng biết
chẳng phải giống, chẳng phải khác, vẫn chẳng
ngại nói giống, nói khác. Châu Tử ở Vĩnh Ấp,
Nho mà huyền, huyền mà Thiền, Thiền mà lại Nho.
Sau khi từ quan, viết Độc Tỉnh Biên (獨省編).
Phàm những ǵ chẳng thấy nghe, Nho nói là “độc”
(獨),
nhưng “đại bổn” và “đạt đạo”[22]
ở trong ấy. Huyền lại càng huyền,
Lăo gọi là “độc”, nhưng cửa ngơ của các
điều huyền diệu ở trong ấy. T́m tâm trọn
chẳng thể được, Thích gọi là “độc”,
nhưng bách giới thiên như trọn đủ. Những
điều này thật sự chẳng thể gộp
chung lại coi là nhất loạt như nhau được,
tuy riêng biệt mà chẳng cách ngăn, cũng là để
nói với kẻ chưa tỉnh đó thôi! Hễ tỉnh
th́ ǵ là một, ǵ là khác? Vắng lặng, bất động,
“độc” cũng chẳng thể được, hễ
cảm bèn thông, sâu thẳm chẳng thể loạn. Ngay
trong khi vắng lặng, muôn điều cảm vời hiển
hiện rạng ngời; ngay trong khi cảm, bản thể
vắng lặng. Sau khi thiên hạ đă quy vào ḷng nhân, càng
chẳng có nỗi sợ “giữ ǵn tâm chí chẳng để
vùi lấp” hay “bỏ mất”. Các vị hăy cảnh tỉnh!
* Lời bạt cho bản
chép kinh Pháp Hoa bằng máu của Quán Tuyền khai sĩ
Kinh
dạy: “Thí như cao nguyên, tạc tỉnh cầu thủy,
nhược tiệm chí nê, khứ thủy tất cận. Bồ
Tát phát đại tâm, diệc phục như thị. Nhược
đắc phùng thử Pháp Hoa kinh vương, tức cận
A Nậu Bồ Đề” (Ví như trên cao nguyên, đào
giếng t́m nước, nếu đào dần tới bùn, ắt
cách nước đă gần. Bồ Tát phát đại tâm
cũng giống như thế. Nếu được gặp
gỡ Pháp Hoa là vua trong các kinh này, tức gần với Vô
Thượng Bồ Đề). Nho cũng nói: “Hữu vi
giả, nhược quật tỉnh cửu nhận, bất
cập tuyền, do vi khí tỉnh” (Người có bản
lănh ví như đào giếng sâu chín nhận mà chẳng đến
mạch nước [th́ cái giếng đă đào đó] coi
như phí công)
Ôi! Ước theo Giáo
để luận mạch nước, ngũ thời, tứ
giáo, không ǵ bằng Pháp Hoa. Pháp Hoa chính là mạch nước.
Ước theo Quán để luận mạch nước,
Văn Tự như đất, Văn Huệ như ướt,
Tư Huệ như
bùn, c̣n Tu Huệ là mạch nước. Bậc Khai Sĩ nếu
coi A Hàm là đất, Phương Đẳng là ướt,
Bát Nhă là bùn, hăy nên đối với mỗi câu văn, mỗi
chữ trong kinh, mỗi giọt máu đều coi như suối
thơm trong mát. Nếu cầu cái suối Tu Huệ, hăy nên
tùy văn nhập quán, hệt như chẳng ĺa cao nguyên,
đào bới cho đến khi gặp nước. Đào,
khoét đă lâu, mạch nước ẩn kín ắt trào lên,
cũng đừng ĺa văn tự, câu chữ, giọt máu
này, kẻo trở thành
giếng hoang!
* Lời bạt cho bản
chép kinh Phật Đảnh của Liên Châu
Kinh
dạy: “Nhất niệm tương thử pháp môn ư
mạt kiếp khai thị vị học, thị nhân tội
chướng ứng niệm tiêu diệt, biến kỳ sở
thọ địa ngục khổ thành An Lạc quốc”
(Một niệm đem pháp môn này khai thị cho người
chưa học trong kiếp mạt, tội chướng của
người ấy lập tức tiêu diệt, biến nỗi
khổ phải hứng chịu trong địa ngục
thành cơi An Lạc). Xét ra một niệm tột nhỏ, sao
có lực dụng như thế? Cần phải biết: Tánh
của một niệm vốn tột cùng theo chiều dọc,
trọn khắp theo chiều ngang. Hết thảy lư, sự,
tánh, tướng đều chẳng ra ngoài một niệm
hiện tiền. V́ thế, một niệm mê, sanh tử lồng
lộng. Một niệm ngộ, luân hồi nhanh chóng dứt.
Thử nghĩ trong thường nhật, khởi Hoặc,
tạo nghiệp, rốt cuộc là ai? Nay chép kinh, sám hối,
rốt cuộc lại là ai? Ư niệm sám hối nghiệp
đă tạo
ấy là ở trong, ngoài, hay chặng giữa?
Là xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tṛn ư?
Là quá khứ, hiện tại, vị lai ư? Nếu t́m th́
trọn chẳng thể được, tức tội
phước chẳng có chủ, gọi là “chân
sám hối”.
Do đó, ngài A Nan nhanh chóng đạt được Pháp
Thân tánh, tỳ-kheo-ni thành A La Hán. Nếu từ trong “vô khả
đắc”, hư vọng so đo “có tâm để có
thể đạt được”, vừa phạm liền
hối. Đă hối mà vẫn phạm th́ như bệnh sốt
rét cách nhật, mong chi thuở nào xong? Nhưng Đại Thừa
duyên chủng chẳng thể nghĩ bàn, gắng sức tận
lực thực hiện, công chẳng hư luống, thiện
căn xuất thế dần dần thù thắng, chủng
tử hữu lậu thế gian dần tiêu, như sáng phá tối
cũng quyết chẳng lừa dối vậy!
* Đề từ cho
Linh Dị Tạp Lục
Khổng
Tử chẳng nói chuyện quái lực, loạn thần,
nhưng quái thần cũng như lực loạn chẳng
phải là không có. Dân chúng bị trói chặt trong sự thấy
nghe quen thuộc;
ngẫu nhiên có chuyện ǵ vượt
ngoài sự quen thuộc, bèn hời hợt cho là quái lạ.
Nào có nghĩ chỉ một tấm thân hiện tại, mắt,
tai v́ sao thấy, nghe, miệng v́ sao có thể nếm và nói,
chân có thể đứng và đi, cũng chẳng rất
quái lạ ư? Phật chứng sự mầu nhiệm
nơi tâm tánh, chẳng hạn cuộc trong thói quen, cũng
chẳng linh dị ư? Mọi người nh́n vào, linh dị
khôn ngằn, bảo là Phật linh dị. Đấy là chẳng
biết tâm tánh vốn mầu nhiệm, cũng như dấu
tích linh dị của Phật chẳng thấy, chẳng
nghe, chẳng hay, chẳng biết. Đó lại c̣n tệ
hơn con ếch nơi đáy giếng, con trùng mùa Hạ.
Tuy vậy, con ếch nơi đáy giếng, con trùng mùa Hạ,
có loài nào chẳng linh dị, chỉ là tánh linh dị vốn
b́nh đẳng. V́ thế, vẫn có thể dùng sự linh dị
để giác ngộ họ. Khi họ đă nhận biết
sự linh dị, lại nhận biết đấy chẳng
phải là linh dị, có thể nói với họ lời chẳng
thể nói vậy!
* Đề từ cho
Xác Cổ (bàn định về
chuyện xưa)
Thánh
nhân đă qua đi, nhưng c̣n được chép trong kinh,
sử, nhưng kinh sử cố nhiên chẳng truyền thuật
đầy đủ cái tâm của thánh nhân, nhưng người
khéo hiểu cái tâm của thánh nhân chưa hề ĺa kinh sử.
Đă từ kinh sử mà lănh hội cái tâm của thánh nhân,
lại bảo “thánh
nhân thật sự đă qua rồi”,
há có được hay chăng? Văn Vương mất,
nhưng văn chương c̣n đó, trời chẳng thể
chôn, người chẳng thể chết! Do vậy, tôi biết
kẻ chẳng khéo đọc kinh sử th́ cổ chưa hề
chẳng phải là kim, người khéo đọc th́ kim
cũng chưa hề chẳng phải là cổ! Kim mà cổ
th́ ngôn chính là vô ngôn, văn chính là vô văn, đừng dấy
lên cái thấy là hai vậy!
* Lời bạt cho bài
kệ của Tỳ Xá Phù Phật
Tử
Bách đại sư nói: “Suốt đời tŕ nửa
bài kệ của Tỳ Xá Phù Phật, một câu rưỡi
đă thuần thục, nửa câu
chưa thuần thục. Nếu thuần thục nửa
câu ấy, sẽ thoát sanh tử”.
Tỳ Xá Phù (Viśvabhu) được phương này dịch là Biến Nhất
Thiết Tự Tại (遍一切自在, tự tại trong trọn khắp hết thảy),
kết thúc Trang Nghiêm Kiếp, khởi đầu Hiền Kiếp.
V́ vậy, nửa bài kệ của Ngài chính là thuốc tốt
lành bậc nhất. Chúng sanh tuy bị bệnh
chẳng đồng nhất, nhưng gốc bệnh bất
quá là hư vọng ngỡ Tứ Đại là thân tướng
của chính ḿnh, hư vọng ngỡ duyên ảnh của lục
trần là tướng tự tâm mà thôi! Nay dùng Tứ Đại
để quán
thân, biết chẳng phải là thân; dùng duyên ảnh để
quán tâm, biết tâm chẳng phải là tâm. Đă thấu
đạt hư vọng chấp trước thân tâm tức
chẳng phải là thân tâm, lẽ nào chẳng tự tại?
Nhưng Tỳ Xá Phù Phật chẳng thuộc trong Trang
Nghiêm Kiếp, mà là cái trí chẳng có thân tâm trong một niệm
của ta đó thôi! Nếu thật sự thấu đạt
“thân tâm vốn là
Không”,
há chỉ đức Tỳ Xá Phù chẳng ĺa một niệm
hiện tại, mà trọn khắp mười phương
thế giới, quá khứ, hiện tại, vị lai
chư Phật đều chẳng ĺa một niệm hiện
tại!
* Lời bạt cho bản
kinh Kim Cang chép bằng máu
Luận
nói: “Quán trí của Bồ Tát chọn lấy cái đơn
giản, nhưng quán cảnh trọn khắp, đạt
được cái quả to lớn, ví như chày kim cang hai
đầu to rộng, c̣n chỗ để cầm th́ nhỏ”.
Do đó Bồ Tát chỉ quán tâm tánh trong một niệm, t́m
th́ trọn chẳng thể được, hiện rạng
ngời muôn pháp, chẳng có Năng, chẳng có Sở, chẳng
đúng, chẳng sai, bèn thấu đạt ba thứ Bát Nhă
đều như
kim cang; đó là thật
sự có thể nắm lấy. Phật tử Hành Huyễn
dùng máu chép tối thượng thừa. Đấy là Kim
Cang?
Hay là đă khéo nắm giữ vậy? Phật
tử đừng thấy là hai th́ mới nên!
* Đề từ cho
Tranh Chăn Trâu
Chăn
trâu ví như tu chứng, vốn xuất phát từ các kinh luận,
chẳng phải là được đặt ra để
bàn luận; nhưng rốt cuộc trâu là vật ǵ? Người
chăn là ai? Phổ Thiền viết kệ tụng, Vân Thê
khắc tranh. Pháp hữu Đích Trung lại vẽ thành quyển,
tôi lại ghi cước chú, như trâu đă vào chuồng,
đầu và móng đều đă lọt qua, chỉ có cái
đuôi chẳng qua được. Hăy nói xem cái đuôi ấy
là trắng hay đen, là có hay không? Người hiểu tin tức
ấy, chẳng ngại cùng ông nh́n vầng trăng ở
ngoài mây!
* Lời bạt tự
ghi cho lần tái bản sách Tam Tụng
Chẳng
tin “truyền riêng ngoài Giáo” là báng Tông, bảo “ngoài
Giáo thật sự có truyền riêng” tức là báng Giáo! Hay
là chẳng tin “truyền riêng ngoài Giáo” là báng Giáo, bảo
“ngoài Giáo thật sự có truyền riêng” th́ là báng Tông!
Bỏ cả hai đường lối ấy, chiết
trung, dung hợp như thế nào? Chẳng thấy nói “như
thế th́ cũng chẳng được! Chẳng như
thế th́ cũng chẳng được! Như thế
hay chẳng như thế đều chẳng được!”
Lại nói: “Như thế th́ cũng được, chẳng
như thế th́ cũng được! Như thế hay
chẳng như thế đều được!” Tuy
nhiên, sai bằng hào ly, cách biệt như trời với
đất. Sơn nạp[23]
cam đọa Vô Gián, tiếm lạm soạn ba bài tụng,
chưa rơ là ngoài Giáo hay là trong Giáo? Là biệt truyền, hay chẳng phải
biệt truyền? Nếu gặp phải người chẳng
có mắt nh́n vào, người không có tai mà nghe, ắt sẽ
có cái để có
thể biện định!
* Lời bạt tự
ghi cho sách Tánh
Học Khai Mông
Đây
là câu hỏi thứ tư trong lời đáp riêng cho mười
câu hỏi. Ấy là v́ đối với Tánh học của
hai nhà (Nho và Phật), cơi đời ít người kiêm thông
thạo cả hai. Nho chưa chắc đă học Phật,
dẫu học tập cũng khó thấy được chỗ
sâu thẳm. Người học Phật chưa chắc
đă học Nho, dẫu học cũng chẳng chịu
nghiên cứu tinh ṛng. Tôi lúc mười hai tuổi theo thầy
học chữ, hiểu thô thiển nghĩa sách, bèn lấy
Đạo học (Lư Học của Tống Nho) làm trách nhiệm
của chính ḿnh. Đối với công năng giữ ḷng
cung kính, thận trọng dẫu ở riêng một ḿnh, và lẽ
trọng yếu “thấu hiểu tận cùng, trừ khử
vật dục” đă có nghiên cứu sâu xa. Lúc hai
mươi tuổi, xem chương sách Nhan Uyên hỏi về
ḷng nhân, trộm nghi câu “thiên hạ quy nhân” (thiên hạ
quy vào ḷng nhân), khổ công tận lực tham cứu, suy khảo,
quên ăn bỏ ngủ suốt ba ngày đêm, bỗng
dưng đại ngộ, nhanh chóng thấy huyết mạch
chân thật, cốt tủy chân thật của Khổng -
Nhan, do biết sự truyền thừa “văn tri” (sự
thấy biết do nghe giảng) và “dùng ḷng thành đối xử
với người khác” của Khổng Tử, các nhà Nho
đời Hán, đời Tống chẳng thể suy tính,
bàn luận được!
Bốn năm sau, biết
đại pháp xuất thế, phát tâm ĺa tục, trước
là tham Thiếu Thất Thiền Tông, sau là học Thiên Thai
Giáo Quán, chẳng khác nào đều như vũng biển!
Mười lăm, mười sáu năm chỉ dính một
giọt, đành hướng về biển rộng mà thở
than! Nh́n lại tâm học Khổng - Nhan [do chính ḿnh] đă
ngộ
trước kia, nay lại là một
giọt trong một giọt! Than ôi! Đạo mênh mông chẳng
có bờ bến như thế đó, những kẻ
được dính dáng đôi chút bèn tự cho là đủ, khác nào ếch ngồi
đáy giếng? Nhưng lại biết tánh của một
giọt chính là tánh của biển cả. Do vậy, thân là
Thích tử mà lại thích nêu ra tâm học của Khổng -
Nhan để dạy người khác; biết và chẳng
biết, phó mặc cho sáng tối. Câu hỏi này là do những
người cùng chí hướng chưa am hiểu, kèo nài tôi
nêu bày đại khái, bèn từ trong một giọt nước
biển, lại trích ra một giọt như thế, biết
chắc là bậc thông hiểu rộng răi sẽ chê cười,
nhưng đối với bản lănh của thần long,
biết đâu chẳng do từ đó mà mà giăng mây, tuôn
mưa, lại nào có biết nhờ đó mà lượn vào
biển thẳm vậy!
* Lời Bạt tự
soạn cho sách Di Giáo Giải
Húc
chưa xuất gia, đọc kinh Di Giáo liền biết mỗi
chữ đều là huyết lệ. Đă được
xuống tóc, khoác áo thâm, chưa từng quên bẵng. Tiếc
nuối chướng sâu, hai mươi mấy năm luống
uổng chẳng đạt được! [Tự xét ḿnh]
chẳng phải là đạo nhân, lại chẳng phải
là bạch y, xét ḷng hổ thẹn tột bậc. Cư
sĩ Trầm Phủ Đôn cố thỉnh chú giải kinh
này. Ôi chao! Tôi chẳng thể tu công đức thế gian
và xuất thế gian, chỉ dùng văn từ, ngôn ngữ
để làm con chim thuyết pháp cho chư thiên đó
chăng? Nhưng may ra soi sáng một kẽ hở, há nỡ
tiếc nuối? Nhờ công đức này, phá chướng,
sách tấn cái mới, nguyện khắp v́ người cùng
mắc nạn mà hồi hướng Tây Phương, làm
chim Ca Lăng Tần Già thay đức Di Đà rộng tuyên
pháp yếu th́ mới nên!
* Lời bạt tự
ghi cho sách Di Đà Yếu Giải
Kinh
dạy: “Mạt thế ức ức nhân tu hành, hăn nhất
đắc đạo, duy y niệm Phật đắc
độ” (Đời mạt ức ức người
tu hành, hiếm được một người đắc
đạo, chỉ nương vào niệm Phật mà đắc
độ). Than ôi! Đấy chính là lúc này vậy! Bỏ
pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này, có ǵ để yên
được nữa? Húc lúc mới xuất gia, cũng tự
phụ tông thừa mà coi thường giáo điển,
hư vọng nói “pháp tŕ danh nhằm thích ứng căn
cơ trung hạ”. Về sau, do bệnh nặng, phát ư về
Tây. Kế đó,
nghiên cứu hai bộ sách Diệu Tông Sao và Viên Trung Sao, mới
biết Niệm Phật tam-muội là vô thượng bảo
vương, mới chịu quyết tâm chấp tŕ danh hiệu, một vạn
con trâu chẳng kéo lại được! Bạn tôi là ông
Khứ Bệnh, muốn cho ư chỉ chánh yếu của kinh
này được sáng tỏ mà từ ngữ chẳng
rườm rà, tôi mới nguyện cho khắp các hữu
t́nh cùng sanh về Cực Lạc, chẳng thể từ chối.
Cất bút vào ngày Hai Mươi Bảy tháng Chín năm
Đinh Hợi (1647),
hoàn thành bản thảo vào ngày mồng Năm tháng Mười.
Nguyện cho mỗi câu, mỗi chữ đều làm tư
lương, mỗi người thấy nghe đều
đạt tới Bất Thoái. Tin hay ngờ đều gieo
hạt giống đạo, tán thán hay hủy báng đều
cùng về giải thoát. Ngưỡng mong chư Phật, Bồ
Tát nhiếp thọ chứng minh, các bạn đồng học
tùy hỷ gia bị.
* Lời bạt tự
soạn cho sách Châu Dịch Thiền Giải
Khi
xưa, tôi sang chơi Ôn
Lăng, có vị họ Quách hỏi về Dịch, bèn cất
bút viết lách, trước là Ngũ Truyện[24],
kế đó là Thượng Kinh, chứ Hạ Kinh[25]
chưa giải được một nửa, bèn
gác lại lời thỉnh. Nay thừa dịp bàn luận
Đại Thừa Chỉ Quán đă xong, bèn nêu dạy Dịch
học, mới hoàn tất bản thảo trước
đó. Chao ôi! Từ đất Mân sang đất Ngô, cuộc
đất chẳng qua hơn ba ngàn dặm, từ mùa
Đông năm Tân Tỵ (1641) đến mùa Hạ Ất Dậu
(1645) năm nay, thời gian bất quá là một ngàn hai
trăm mấy chục ngày, thế sự huyễn mộng
sai khác muôn ngàn. Đó là giao dịch (thay đổi theo thứ
tự) hay biến dịch? C̣n như xét tận cùng sự
sai biệt th́ thời lẫn nơi chốn đều thay
đổi, nhưng cái không đổi th́ vẫn y hệt
như cũ. Do vậy tôi biết mặt trời, mặt
trăng trọn khắp bầu trời nhưng chẳng
thay đổi, Hoàng Hà và Trường Giang đua nhau tuôn rót
nhưng không chảy. Triệu công (Tăng Triệu) chẳng
dối gạt ta! Đạt được cái “chẳng
đổi” ấy đối ứng với cái “thay đổi
tột cùng”, xem xét cái thay đổi tột cùng ấy để
suy nghiệm cái chẳng thay đổi, thường và vô
thường, hai con chim cùng bay! Tôi nào có biết Văn
Vương [bị Trụ Vương giam cầm] tại
Dũ Lư, Châu Công bị vu cáo, Khổng Tử đi khắp
nơi mà chẳng truyền dạy được, ba lượt
đứt dây buộc sách, chẳng đồng cảm
nơi điều này ư? Do vậy, lại cất bút viết
lời bạt.
* Lời bạt tự
ghi cho sách Duy Thức Tâm Yếu
Sách
Tông Kính Lục viết: “Trí huệ hợp với đa
văn, trọn chẳng chấp vào lời nói, hoặc nhận
ngón tay [là mặt trăng]. Đa văn độ trí huệ,
hòng
khỏi trở thành cô lậu nh́n vách”. Nếu
một vi trần chưa hiểu rơ, đó là hăy c̣n vô minh, do
chẳng hiểu [chính ḿnh] đang bị ngăn chướng!
Huống hồ trong căn môn nơi tự thân, trong vận
dụng thường nhật, có vô lượng pháp môn
đáng nên cấp bách, nhưng hoàn toàn chưa hiểu
được một môn! Nếu muốn v́ người
khác [giảng giải], sẽ dựa vào đâu để
phân tích? Chỉ thành tự dối gạt, đâm ra đọa
vào vô tri. Mắt của chính ḿnh chẳng sáng, sao có thể mở
mắt cho kẻ khác được? Cần phải dùng tam
lượng (hiện lượng, tự lượng, thánh
ngôn lượng) để xác định đúng, sai, chân
tu chẳng lạm, bốn phần (tướng phần, kiến
phần, tự chứng phần, chứng tự chứng
phần) thành Thể, Dụng của chúng, chánh lư chẳng
thiếu khuyết. Sau đấy, mười nhân, bốn
duyên[26],
biện định chỗ sanh khởi tạp, nhiễm.
Tam báo (hiện báo, sanh báo, hậu báo), ngũ quả[27]
soi xét chỗ chân tục hướng về. Nếu chẳng
thông đạt tam lượng, phân định chân, vọng như thế
nào đây? Chẳng biết bốn phần, Thể lẫn
Dụng sẽ đều mất.
Lại nói: “Nhất
tâm Thật Tướng đều là các pháp. Các pháp
được sanh đều từ thiện ác hiện
hành huân tập. Thức thứ tám chứa đựng chủng
tử làm nhân, phát khởi báo ứng nhiễm hay tịnh sai
biệt là quả. Nếu chẳng phân tích vi tế, vấn
đáp quyết nghi, sẽ do đâu mà đạt đến
cội nguồn tổng biệt của nhất tâm, thấu
triệt bờ mé tánh tướng của tám thức?” Nắm
dây chài chính của tấm lưới giơ lên,
cốt ư để căng lưới; chẳng thể bỏ
lưới giữ dây chài. Giơ cổ áo lên là để mặc
áo, chẳng thể bỏ áo giữ lấy cổ áo! V́ thế, Sự
và Lư cùng hiểu rơ th́ mới thông với ư chỉ viên măn.
Giáo lẫn Quán cùng vận dụng th́ mới thấu đạt
nhất thừa. Lại nói: “Chẳng do Giáo chỉ ra, sẽ
do đâu mà biết tự tâm? Nếu chẳng do Giáo mà nêu tỏ,
cũng cần phải nhờ vào Giáo để ấn khả.
Nếu không, đều thành tự nhiên ngoại đạo,
hoặc ám chứng thiền sư. Giả sử sanh ra liền
biết, cũng là do nhiều đời nghe kinh, huân tập
chủng tử, được bổn nguyện của
chư thánh ngầm gia bị”.
Than ôi! Vĩnh Minh đại
sư là đích tôn của tông Pháp Nhăn, ngộ bằng với
chư tổ, rát miệng, buốt ḷng khuyên răn dường
ấy! Ai nói Thành Duy Thức Luận chẳng phải là yếu
quyết truyền tâm của Phật, Tổ ư? Tôi tiếc
nuối v́ chướng sâu, Hoặc nặng, chẳng thể
quyết chứng, nhưng đối với nguồn cội
của tánh, tướng, đă hơi nh́n được một
mối, chắc là được chư thánh ngầm gia bị.
V́ thế, cũng chẳng dám tự giấu kín, giăi bày cạn
hết tia sáng nơi kẽ hở, giăi bày hết ra. Cất
bút vào ngày Hai Mươi Lăm tháng Ba năm Đinh Hợi
(1647), hoàn thành bản thảo vào ngày Hai Mươi Lăm
tháng Năm, trải qua hai tháng, soạn thành Quán Tâm Pháp Yếu
mười quyển. Lại nguyện người thấy,
nghe tùy hỷ, bất thoái Bồ Đề. Dù tin hay nghi,
đều thành chủng tử tốt đẹp, cùng sanh vào Cực
Lạc tịnh bang, trước là thân cận A Di Đà Phật,
lại vào hội đầu Long Hoa, làm Ảnh
Hưởng Chúng cho Di Lặc Thế
Tôn, tận đời vị lai rộng độ trọn
hết hàm thức rồi mới chứng Niết Bàn.
* Lời tựa viết
sau chuyện pháp hữu Từ Tế khất thực nuôi mẹ
Giữa
Thu năm Mậu Tư (1648), pháp hữu Từ Tế xin tôi lại
viết lời tựa. Do vậy, tôi tự trách, khôn
ngăn nước mắt giàn giụa. Thuở bé, tôi có ư
nguyện dưỡng chí, lúc hai mươi tuổi tang cha,
ôm hận suốt đời. Hai mươi bốn tuổi
xuất gia, bỏ mẹ chẳng phụng dưỡng, v́ muốn định
thời hạn mong chứng quả ḥng báo ân cha mẹ. Chẳng
ngờ lúc hai mươi tám tuổi, mẹ lại bỏ
cơi đời, buồn đau dằng dặc, gan ruột
đứt từng tấc. Vẫn nói: “Quyết
chí vào non sâu, mong đạt được một phần
thỏa đáng, may ra chuộc tội khiên ngập trời”.
Tới lúc ba mươi mốt tuổi, bị đạo hữu
lôi kéo, ép buộc, dần dần bị vướng mắc
vào lưới danh vọng, khiến cho chí hướng “ngầm
tu, mật
chứng”
càng thêm lỡ làng!
Nay tuổi đă tṛn
năm mươi, cha mẹ bỏ tôi đă tṛn ba
mươi năm, đă chẳng thể như ngài Mục
Kiền Liên tự chứng quả, thường nghĩ kết
một tịnh đàn, mời mười người bạn
tu Tịnh Độ Sám Pháp. Hiềm rằng túi, bát trống
trải, tệ hơn kẻ hành khất, thường trong
đêm thanh, trằn trọc buồn than. C̣n như Từ Tế
một bát ngàn nhà, thừa hoan dưới gối[28],
đúng là niềm vui chẳng nghĩ bàn! Tăng, tục khéo thông
đạt, bèn dùng hạt gạo, cọng củi để
giúp cho ḷng hiếu dưỡng của ông ta. Đúng là
phước chẳng nghĩ bàn! Tôi chẳng có phước
ấy, cho nên chẳng có niềm vui ấy, nghiệp đời
trước nặng nề, c̣n nói ǵ được nữa!
Kính sanh ḷng tùy hỷ sâu xa đối với phước ấy,
niềm vui ấy. Đem thiện căn tùy hỷ này thí trọn
khắp hữu t́nh trong pháp giới ḥng cùng đạt
được phước ấy, niềm vui ấy, cho
đến báo ân cha mẹ trong bao kiếp, tích chứa cái
nhân thành Chánh Giác, vĩnh viễn ĺa nỗi khổ “vô
phước, vô lạc” của kẻ không
ra ǵ này. Do vậy, gạt lệ mà lại viết điều
này!
* Lời bạt cho bản
chép kinh Đại Phật Đảnh của thầy Bối
Lâm
Tôi
nghe thầy Bối Lâm giỏi chép kinh Phật, được
các bạn phàm phu ở Giới Am khâm phục. Khéo sao ông Trầm
Phủ Thọ cho tôi xem bản chép tay kinh Đại Phật
Đảnh của Sư. Mỗi lần viết một chữ,
Sư ắt lễ một lạy, tinh thành, đoan nghiêm, mực
thước, ngàn đời khó thấy phong cách ấy. C̣n
phần Phạm văn và tượng Minh Vương chẳng
khác được Ngũ Thiên đích thân trao truyền; bởi lẽ, thật
sự đạt được trong các môn Định, chẳng
phải là qua loa! Sư gởi chí nơi An Dưỡng, thệ
nguyện rộng sâu, thị tịch, trà-tỳ,
xương đều là năm màu. Phủ Thọ chuyên tu Tịnh
nghiệp, hợp ư Sư
nhất, cho nên có được bản chép tay nhiều nhất.
Than ôi! Cơi đời coi rẻ giáo thừa, khinh bạc Tịnh
Độ, há có ai chuyên trọng như Sư? Lại há có
được người người như Phủ Thọ
để đạt được điều chủ yếu
ấy ư?
* Đề từ cho
Ngọc Lăng Thí Trà Sách
Tánh
thủy vốn sẵn như vậy, trọn khắp pháp
giới, tùy tâm ứng lượng, hoặc là vạc sôi
trào nước tiểu, hoặc là máu mủ, suối trong,
hoặc là thuốc cam lộ của chư thiên, hoặc là
nước tám công đức trong Tịnh Độ, đều
theo nghiệp mà hiện, chẳng phải là nhân duyên, chẳng
phải là tánh tự nhiên. Toàn thể của tánh chân đă
là tùy tâm ứng lượng, vậy th́ các thứ như vạc
sôi, tám đức v.v… có ǵ chẳng phải là vốn sẵn
trọn khắp pháp giới ư? Nhưng Biến Kế
t́nh chấp vắt ngang trong tánh chân, chia thành nước, lửa,
chia thành lạnh, nóng, đói, khát. Do vậy, chư Phật
quyền trí thuận theo t́nh chấp, chẳng tranh chấp
với cơi đời, do lạnh, nóng mà ấm, mát, do
đói, khát mà ăn uống, do thấy nước, lửa
mà điều ḥa, bèn mở ra đủ loại pháp môn thí
thực, thí trà.
Chỉ riêng đối
với pháp môn này, có kẻ do mê muội nhân quả
lại thành pháp giới tam
đồ. Kẻ chấp tướng, chấp ngă, lại
thành pháp giới Tu La. Gắng sức làm lành, tạo
thành pháp giới nhân thiên. Hiểu rơ vốn là Không, trở
thành pháp giới Nhị Thừa. Thâm nhập duyên khởi, rộng
diễn hạnh môn, thành pháp giới
Bồ Tát. Thông đạt Thật
Tướng, chẳng nhập, chẳng tự đạt
được, thành pháp giới của chư Phật. Tuy
nương vào pháp môn này, xuất hiện đủ mười
pháp giới, đối với sự tướng vẫn
chẳng tăng giảm, mà đối với pháp tánh
cũng chẳng tăng giảm. Do vậy, bất biến
mà thường tùy duyên, lư trọn đủ lại c̣n thành
sự tạo. Tùy duyên mà thường bất biến, sự
tạo vẫn bao gồm lư trọn đủ. Do vậy,
người có thể thí, vật được thí, và
người nhận bố thí đều trọn đủ
hai tầng ba ngàn [tánh tướng]. Đó gọi là “tam
luân thể vắng lặng, duyên khởi vô sanh, ba ngàn vô tánh” vậy!
Há có ĺa những chuyện thường ngày trong hiện tiền
mà riêng có một lẽ hướng thượng nhất
trước ư?
Ngọc công tạo pháp
chẳng nghĩ bàn này, đưa văn từ cho Ngẫu
Ích Húc Tử xem. Húc bèn niêm tụng[29]
rằng: “Chẳng hiểu mà nhận trà này, đọa
vào địa ngục A Tỳ. Người thí trà này,
cũng đọa vào địa ngục A Tỳ. Thấu
hiểu, ắt người thí thành vô thượng Bồ
Đề, người uống cũng thành vô thượng
Bồ Đề”. Tuy vậy, đấy vẫn là lời
lẽ dựa trên t́nh chấp so đo mê, ngộ. Rốt ráo
siêu t́nh quá lượng, chẳng thuộc vào mê, ngộ, sẽ
là như thế nào vậy? Chẳng ngại nhờ đầu
lưỡi cụ bà Triệu Châu[30],
thong thả đáp rằng: “Uống trà đi!”
* Lời bạt cho
“Khúc Ca Nghe Kinh Pháp Hoa của pháp sư Tu Nhă đời
Đường” do Hám Sơn đại sư chép
Tâm
tột bậc mầu nhiệm. Tam thế Phật
nương vào đấy mà thành đạo, mười hai
loài[31]
nương vào đó mà luân chuyển. Núi, sông, mặt trời,
mặt trăng nương vào đó mà huyễn hiện.
Văn tự, âm thanh nương vào đó mà phát khởi,
tuyên thuyết. Tâm chẳng thể h́nh dung bằng ngôn ngữ,
nhưng ngôn ngữ chưa từng chẳng phải chính là
tâm. Tùy thuộc mỗi một lời, ắt đều
nắm vững toàn thể đại dụng của tâm,
nhưng đến trọn hết đời vị lai diễn
vô lượng ngôn ngữ cũng chẳng trọn hết sự
mầu nhiệm của một niệm
tâm! Ai nấy đều trọn đủ diệu tâm,
đạt được kinh Pháp Hoa mầu nhiệm từ cụ già Thích Ca, ngơ hầu
cước chú kinh Pháp Hoa mầu nhiệm. Có
được bài ca nghe
pháp mầu nhiệm của pháp sư Tu Nhă; đại
lược tán dương từ ngữ hay đẹp tuyệt
diệu trong khúc ca ấy. Lại có được thủ
bút tuyệt diệu của ngài Hám Sơn, đáng xưng là
hai thứ tuyệt vời. Cơi đời có kẻ
chẳng biết tự tâm mầu nhiệm, kinh Pháp Hoa mầu
nhiệm, và sự mầu nhiệm của khúc ca này, chỉ
trân quư thủ bút tuyệt diệu của ngài Hám Sơn, sáng
tối ngắm nghía. Nào có biết do chữ mà biết tới
khúc ca, do khúc ca mà biết kinh, do kinh mà ngộ cái tâm. Như
vậy th́ diệu tự, diệu ca, diệu kinh, không ǵ chẳng
từ diệu tâm lưu xuất, không ǵ chẳng trở về
diệu tâm. Ai nói “ngoài tâm có pháp, ngoài pháp lại riêng có tâm”
ư?
* Lời bạt cho Thập
Đại Ngại Hạnh (thập
đại ngại hạnh trích từ Bảo Vương
Tam Muội và Niệm Phật Trực Chỉ)
Phật,
tổ, thánh hiền, chẳng có ai không dùng nghịch cảnh
làm ḷ rèn lớn. Trong Tứ Thánh Đế của đức
Phật, Khổ Đế đứng đầu. Lại
c̣n gọi bát khổ là tám vị thầy. Nếu hơi có
t́nh kiến “chuộng
thuận, ghét nghịch”,
rốt cuộc sẽ cùng mục nát với cỏ mùa Hạ
mà thôi! Sao có thể như tùng, bách cao vút giữa
sương, tuyết cho được? Ngọc đẹp
chẳng mài giũa, chẳng trở thành vật quư. Vàng thô
chẳng luyện, chẳng tinh ṛng. Chuông không gơ chẳng
ngân. Đao chẳng mài chẳng bén. Há có trời sanh Di Lặc,
tự nhiên Thích Ca ư? Muốn làm thánh, hiền, Phật, Tổ,
ắt chịu đựng chửi bới như uống
cam lộ, gặp cảnh trái ngang như có được
vật chí bảo, th́ mới gọi là “gặp cảnh hoạn
nạn bèn hành xử theo hoạn nạn”, mới có thể
ở trong uế độ mà gieo cái nhân Tịnh Độ,
mới như hoa sen vượt ngoài bùn, vượt thẳng
lên Bất Thoái. Nếu vô sự th́ nói đăi bôi là niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Độ; hễ gặp chuyện
chẳng như ư, liền hối hận, bực bội,
than thở, tôi sợ tam-muội chẳng thành, sanh Tây
chưa bảo đảm! Cần phải đối với
mười đại ngại hạnh này, mỗi mỗi tự
kiểm nghiệm, nếu thật sự khi bệnh tật,
khi khó khăn, thậm chí khi bị oan ức, chỉ càng
tăng thêm cái tâm niệm Phật, hiểu rơ Khổ Không
Quán, th́ búp sen sẽ ngày một tươi nhuận, đáng
gọi là Bảo Vương tam-muội vậy!
* Lời bạt cho bức
thêu kinh Kim Cang của cô gái họ Đường
Cơi
đời thêu hoa, thêu chim, sử dụng lụa, chỉ,
tay và tâm. Dùng lụa đẹp, chỉ mịn, tâm linh thông,
tay khéo léo mà thêu hoa và chim,
th́ sẽ là hoa và chim. Chuyển sang thêu kinh Bát Nhă th́ sẽ
là Bát Nhă. Nói Bát Nhă và hoa chim là khác, th́ lụa, chỉ, tâm, tay
thật sự có ǵ khác chăng? Bảo hoa, chim giống với
Bát Nhă th́ cái quả “thăng, trầm, khổ, vui” có giống
nhau hay không? Dùng lụa đẹp, chỉ mịn để
thêu hoa, chim, cũng như nói “Pháp Thân lưu chuyển, gọi
là chúng sanh”. Nếu dùng những thứ đó để
thêu Bát Nhă, giống như nói “khổ chính là Pháp Thân, là Thật
Tướng Bát Nhă”. Dùng cái tâm linh thông để thêu hoa,
chim, giống như nói “Bồ Đề
chính là phiền năo”.
Dùng những thứ ấy để thêu Bát Nhă, cũng giống
như nói “phiền năo tức là Bồ Đề, là Quán
Chiếu Bát Nhă”. Dùng tay khéo léo để thêu hoa, chim, giống
như nói “Niết Bàn chính là sanh tử”. Dùng ngay thứ
ấy để thêu Bát Nhă, giống như nói “kết
nghiệp chính là giải thoát”, là Văn Tự Bát Nhă.
Tam Bát Nhă chỉ trong một
then chốt chuyển biến, nhưng lụa và chỉ chẳng
chuyển, tâm chẳng chuyển, tay không chuyển, tức
có thể chuyển tam chướng thành tam đức, có
nghĩa “tam chướng
chính là tam đức!” Lục
Tổ nói: “Chỉ chuyển cái tên, chẳng có thật
tánh”. Nếu chẳng có lụa, chỉ, chẳng có tâm và
tay, sẽ chẳng thể thêu Bát Nhă, cũng há có thể
thêu hoa, chim ư? Nói “hoa,
chim chẳng do lụa đẹp, chỉ mịn, tâm linh
thông, tay khéo tạo thành”,
tôi chẳng tin! Biết điều này th́ “bọ
hung lục tức”[32] đă
nghĩ ra quá nửa rồi!
Thiện nữ họ
Đường thấy thần kim giáp, chính là thần cầm
chày kim cang vốn sẵn có trong tự tâm, bèn triệt ngộ
cái tâm này. Ba món Bát Nhă (Văn Tự, Quán Chiếu, và Thật
Tướng) chẳng có hai Thể, dùng nguyện lực
đại bi đồng thể thủ hộ Văn Tự
Bát Nhă, khiến cho pháp giới chúng sanh do vậy mà khởi
quán chiếu, chứng Thật Tướng. Nh́n vào sự cảm
ứng của tín nữ họ Đường, liền có
thể tin vào sự cảm ứng nơi tự tâm. Tin vào sự
cảm ứng nơi tự tâm, sẽ có thể tin cảm ứng
chính là chẳng phải cảm ứng, chẳng phải cảm
ứng chính là không ǵ chẳng cảm, không ǵ chẳng ứng.
Đó gọi là “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
(hăy nên sanh cái tâm chẳng trụ vào đâu). Đó gọi là
cảm ứng đạo giao chẳng thể nghĩ bàn, là
Bát Nhă rốt ráo, là hoa, chim rốt ráo!
* Lời bạt cho bản
chép kinh Đại Phật Đảnh của ông Khứ Bệnh
Như
Lai Tạng bất biến tùy duyên, toàn thể là thiện,
ác. Thiện,
ác tùy duyên bất biến, toàn thể chính là Như Lai Tạng.
Như mặt trời mọc, thiên hạ sáng sủa. Mặt
trời lặn, thiên hạ tối tăm. Hư không thuận
theo đó mà sáng hay tối, chẳng phải là sáng hay tối
có thể tăng giảm. Ông Khứ Bệnh nhân một niệm
mê mà phá, phạm, nay do một niệm ngộ mà tận sức
chép Đại Thừa. Mặt trời đă mọc rồi,
tâm tánh vẫn như cũ, chẳng sai chạy, xin đừng
nghi nữa, lại chẳng nên mê tối nữa!
* Lời bạt cho Tứ
Thập Bát Nguyện Quyển
Kinh
Đại Bát Nhă nói: “Hằng sa Bồ Tát phát vô thượng
tâm, hoặc nhất nhị đắc bất thoái giả,
cái vô thiện xảo phương tiện, tuy đa kiếp
cần hành Lục Độ, bất miễn thoái đọa
Thanh Văn, Bích Chi Phật địa, huống bất
năng cần hành Lục Độ giả hồ?” (Bồ
Tát nhiều như cát sông Hằng phát tâm vô thượng, hoặc
một hai người đạt
được bất thoái, do không có phương tiện
thiện xảo, dẫu
nhiều kiếp siêng hành Lục Độ, chẳng khỏi
lui sụt xuống địa vị Thanh Văn, Bích Chi Phật,
huống hồ kẻ chẳng thể siêng hành Lục Độ
ư?) Nhưng kinh Pháp Hoa dạy: “Nhược văn nhất
cú, nhất kệ, ngă diệc dữ thọ A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề kư” (nếu nghe một
câu, một kệ [của kinh Pháp Hoa này], ta cũng thọ
kư Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác [cho người ấy])
lại là như thế nào? Cần phải biết Pháp Hoa
luận định từ khởi đầu cho đến
kết thúc, dẫu đọa trần kiếp, về sau ắt
thành Phật, do không ai vượt ngoài Phật tánh. Nhưng
đại chúng kết duyên từ thời Đại Thông
[Trí Thắng] Phật, nay có người c̣n trụ trong
địa vị Thanh Văn, cho đến các đệ tử
Thanh Văn trong tương lai vẫn được mười
sáu vị vương tử giáo hóa. V́ thế, Bát Nhă nói lắm
kẻ thoái đọa, đọc Pháp Hoa càng thêm chứng
nghiệm! Hễ nghe danh hiệu Phật, rốt ráo thành Phật,
thoái hay bất thoái, nhanh chậm một trời, một vực!
Nhưng cái duyên thoái đọa là trong nhất thời, bèn
lưu chuyển trong năm đường, trải qua vô
lượng trăm ngàn vạn ức hằng hà sa kiếp,
hứng chịu vô lượng khổ. Thử suy nghĩ
sâu xa, há chẳng lạnh ḷng táng đảm ư?
Đức Thích Tôn thành
đạo, dùng Phật nhăn quán những người cùng
phát tâm trong quá khứ, hoặc đang ở trong tam đồ
hứng chịu khổ sở cùng cực, hoặc ở
trong đường trời, người đang đắm
đuối dục lạc, hoặc sanh trong Sắc Giới,
Vô Sắc Giới, cố chấp giữ lấy sự si
mê, ương bướng, hoặc chứng Thanh Văn,
Bích Chi Phật, giữ lấy sự đắm ch́m trong
không tịch. Chao ơi! Những người cùng phát tâm với
đức Thích Ca mà c̣n lần khân như thế, há nghi những
kẻ mới kết
duyên với các vị vương tử
đọa lạc
há ngờ chi? Chúng ta sáng tối hễ hơi có nạn
duyên,
bệnh khổ, c̣n cảm thấy khó nhẫn!
Vậy th́ kẻ cam chịu một niệm sai lầm, chuốc
lấy họa ương thoạt ch́m thoạt nổi dài
lâu, há chẳng phải là “người không lo xa, ắt có
buồn gần” đấy ư?
Thế nào là
phương tiện thiện xảo? Chính là như Bát Nhă
nói “quán hết thảy các pháp là Không, độ hết thảy
chúng sanh”. Quán hết thảy các pháp là Không, danh lợi
sao đáng vương vấn trong tâm? Độ thoát hết
thảy chúng sanh, khổ hạnh nào chẳng thể gắng
công? Quán Không mà chẳng độ sanh, đọa vào địa
vị Nhị Thừa. Độ sanh mà chẳng quán Không,
đọa vào ái kiến từ. Huống hồ buông lung ngă
mạn và chẳng có ḷng Từ thế gian! Tham lợi danh
cũng chướng ngại, lệch
lạc lư, một hạt cải che trời,
một lóng tay bịt mắt. Báu ma-ni nguyện ẩn măi
trong bùn lầy, hết sức đáng tiếc! Nhưng một
hạt cải, một ngón tay, gạt bỏ cũng khó ǵ,
chỉ do chẳng chịu gạt bỏ đó thôi! Nếu
niệm nào cũng có thể duyên theo nguyện vương
này, sẽ chẳng phụ sơ tâm nhân địa, mặt
trời rực rỡ giữa hư không, sương ái tiêu
diệt. Do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng chóng thành Chánh Giác
chỉ v́ lẽ này mà thôi!
* Lời đề từ
giúp cho bản in Mai Hoa Vịnh do Trương Hưng công khắc
in
Tôi thuở bé hết sức
ưa chuộng quả mơ, hễ ăn liền ăn mấy
trăm quả,
nhưng trọn chẳng biết cái vẻ đẹp cuốn
hút của hoa mơ. Nay răng đă yếu dần, hễ
nói đến quả mơ chua, miệng vẫn nhễu
nước miếng, điệu bộ giống hệt
như xưa! Lại c̣n biết hoa mơ thanh tú, thơm
tho, tao nhă, riêng tươi tốt trong tiết lạnh hằng
năm, chỉ thấy bậc cao nhân, tài sĩ mới đạt
được như thế. Than ôi! Ăn quả mà chẳng
biết hoa; đă biết hoa, chẳng c̣n có thể tham trái
được nữa. Trộm lấy làm lạ là nay kẻ
vừa biết hoa, kẻ vịnh hoa đua nhau tạo thành
khúc điệu kỳ diệu; nhưng kẻ mê quả đă lâu,
chưa từng thấy một ai vịnh quả! Xưa
kia, đức Thế Tôn dùng hoa sen khéo sánh ví diệu pháp,
Thiên Thai đại sư dùng nghĩa Quyền, Thật
để giải thích. V́ Thật mà hành Quyền, như do
v́ hạt sen mà có hoa, dụng ư nơi Thật. Khai Quyền
hiển Thật, như hoa nở, hạt sen hiện, dụng
ư nơi Quyền.
Ôi! Kẻ trước
kia mê ăn trái mơ mà chẳng vịnh trái mơ, bệnh
tại chẳng hành Quyền! Nay đă biết Quyền mà
đa phần vịnh Quyền, công có thể quên Thật
ư? Xét ra, Quyền Thật cũng rất khó biện
định. V́ Thật mà hành Quyền, ngoài Quyền chẳng
có Thật. Do đó, kẻ chấp Quyền là Thật th́ chẳng
đúng, mà câu nệ Quyền là Quyền th́ cũng chẳng
phải. Khai Quyền hiển Thật, th́ ngoài Thật chẳng
có Quyền. Do vậy, ĺa Thật cầu Quyền cũng chẳng
đúng, bỏ Quyền bàn Thật cũng sai luôn! Hiện
thời, có người bàn Thật, phần lớn là
như nói đến quả mơ cho đỡ khát, là mẹo
vặt lừa dối của họ Tào[33]
đó thôi! Coi mơ là mơ, chẳng bằng coi không phải
mơ là mơ, coi chẳng phải mơ là chẳng phải
mơ, chẳng bằng coi mơ là không phải mơ.
Mơ là một sông Hằng, một sông Hằng là quả
mơ. Bỏ cái thấy của người, trời, cá, rồng,
cố nhiên là chẳng có một con sông nào khác! Bỏ
lời vịnh của các bậc quân tử, há có riêng một
quả mơ ư? Các vị quân tử ai nấy đều
vịnh hoa mơ, tự nhiên là hoa mơ phủ trời, rợp
đất. Ông Trương Hưng trầm tĩnh, kiên quyết,
Tăng Tŕ thông minh siêu quần, dẫu theo sau người
khác mà do gắng công luôn vượt lên.
Nếu nêu tỏ trọn vẹn, sẽ đều cùng hiện,
sao lại hỏi chẳng dung hội ư? Chắc là ư
nghĩa như thế đấy ư? Chắc là ư nghĩa
như vậy đó chăng? Các vị quân tử đă
mượn hoa mơ để viết lên điều mong
muốn, tôi cũng mượn đó mà đùa bỡn đề
từ vậy!
* Lời bạt tự
ghi cho sách Pháp Hoa Hội Nghĩa
Than ôi! Diệu pháp viên đốn, bao kiếp lâu xa khó
gặp gỡ. Tôi là kẻ ngu muội, do duyên ǵ may mắn
gặp gỡ? Mỗi lần giở xem, dường
như đă được nghe từ trước, há
chẳng phải do sức oai thần của ngài Phổ
Hiền, do công thủ hộ của đức Thích Ca
ư? Trí Giả đại sư chẳng thể biên
soạn thêm, [thế nhưng] bậc hậu hiền
chấp chặt, tranh đấu ào ạt nẩy sanh,
[khiến cho] pháp môn “viên dung, dứt bặt đối
đăi” gần như trở thành t́nh kiến “đây,
kia, đúng, sai!” Tường thành, hào lũy của
người hoằng kinh ngày càng cao, càng sâu. Kẻ ngóng
nh́n, nỗi nghi sợ mỗi ngày thêm nẩy! Tai nghe,
mắt nh́n, vặn tay, đau ḷng, bèn chẳng nề hà bản thân kém cỏi, vụng
về, dông dài [viết lời] giới thiệu. Cất bút
từ ngày Mồng Năm tháng Mười Một năm
Kỷ Sửu (1649), mới viết xong lời tựa,
nằm bệnh mất nửa tháng. Tới ngày Mười
Chín, mới có thể miễn cưỡng tiến hành. Sáng
tối siêng gắng, tay chẳng ngừng viết, mắt
không ngừng đọc, tới ngày Hai
Mươi Sáu tháng Chạp chỉ hoàn thành tám
quyển Hội Nghĩa. Nghỉ ba ngày Tết,
tới hôm Nguyên Đán năm Canh Dần (1650), liền
thử nhắc bút. Lại phải qua một tháng mới
hoàn thành. Tính ra, Hội Nghĩa
gồm mười sáu quyển, vận dụng trọn tâm
lực suốt sáu mươi tám ngày.
Chao ơi! Từng nghe cổ nhân trong
một nén hương, liền có thể tụng rành rẽ
một bộ Hoa Nghiêm, nhưng Húc tôi cũng là hạng
độn căn, cặm cụi đến mức ấy,
cũng đáng chê cười lắm thay! Nhưng nhờ
vào lời khuyên nhủ này để tiếp dẫn kẻ
sơ học, khiến cho họ dần dần
ngộ Thật Tướng của Pháp Hoa, chẳng
đến nỗi rốt cuộc gác kiếm, mà cũng
chẳng ngó nh́n biển khơi [ngao ngán], th́ Thích Ca, Phổ
Hiền, và Trí Giả ắt cũng thương xót Húc
độn căn mà càng thêm soi thấu nỗi khổ tâm
của Húc vậy.
* Lời bạt tự
ghi cho Chiêm Sát Sớ
Nhớ
mùa Đông năm Tân Mùi (1631), tôi ngụ tại Bắc Thiên
Mục, có ông Từ Vũ Hải ở Ôn Lăng, pháp danh là
Hoằng Khải,
nói đến diệu điển Chiêm Sát này. Tôi đặc biệt
sai người sang Vân Thê thỉnh được. Mở ra
đọc, buồn vui chen lẫn. Mùa Đông năm Quư Dậu
(1633), nương theo kinh để lập sám. Mùa Hạ
năm Ất Hợi (1635), giảng diễn, chia khoa. Khi
đó liền có ư nguyện viết sớ giải, nhưng
bệnh tật, bận bịu xen lẫn, bấm tay tính ra
đă mười lăm năm rồi! Phạm Vơng, Phật
Đảnh, Duy Thức, Pháp Hoa đều đă chú thích,
riêng nguyện cũ này vẫn chưa đền bồi,
đáng than lắm thay!
Canh Dần (1650) năm
nay, đă trải năm mươi hai năm sống trên
cơi đời, trăm ư niệm đă nguội lạnh, ngẫu
nhiên cùng với mấy
người cùng chí hướng, vẫn đến kết
Hạ tại Bắc Thiên Mục, dốc ḷng nơi Tỳ
Ni. Tôi nghĩ đời Mạt, muốn đắc tịnh
giới, mà bỏ pháp Chiêm Sát luân tướng, sẽ chẳng
có đường lối nào khác, bèn cất bút vào ngày Mồng
Một tháng Sáu, trải mười bốn ngày bèn hoàn thành bản
thảo, dùng một giọt để giúp cho biển cả,
nâng một hạt bụt để bồi đắp núi
Tu Di, tuy vô ích cho sự
cao sâu, mong khéo dùi mài nơi sữa, lạc để hiến
cho những người cùng chí hướng sẽ cùng được
hưởng đề hồ.
* Lời bạt tự
ghi cho Bồ Tát Giới Bổn Kinh Tiên Yếu
Tôi
soạn Phạm Vơng Hợp Chú đă đem tất cả
khai, giá, tŕ, phạm trong kinh này dung hội hết trong
mười giới trọng và bốn
mươi tám giới khinh. Do có người mỗi nửa
tháng tụng giới bổn này, kiên nhẫn thỉnh tôi soạn
tiên thích (箋釋, sớ giải những
điểm trọng yếu), tôi sợ phạm lỗi trùng
lặp, rườm rà, bèn từ chối đôi ba lượt.
Người ấy bèn thỉnh rằng: “Độn căn
thời Mạt hoặc là chẳng thể xem trọn khắp
bản Hợp Chú, nếu chẳng khiến cho người
biết đại lược đại ư, há họ chẳng
phạm tội vô tri ư?” Do vậy, tôi gắng chú giải
những chỗ thiết yếu nhất để tạo
thuận tiện cho người mới học. C̣n như Bồ
Tát tỳ-kheo tự phải nên học trọn khắp Luật
Tạng của Đại,
Tiểu Thừa, dẫu là Bồ Tát sa-di và Ưu-bà-tắc
cũng phải nên học
rộng kinh luật Đại Thừa, há có nên giữ lấy
một giọt này, bỏ mặc biển cả ư?
* Lời bạt cho kinh
Kim Cang
Đối
với ư chỉ trọng yếu của Kim Cang Bát Nhă th́ một câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm” (hăy nên chẳng
trụ vào đâu mà sanh tâm)
đă đủ bao trùm. Bởi vô trụ chính là cái
được gọi là “ưng trụ” (hăy nên trụ),
“sanh tâm” chính là cái được gọi là “hàng
phục cái tâm”, nhưng hai chữ “sanh
tâm” càng là công phu để thực hiện. Do ngoại
phàm chẳng sanh tâm xuất thế; do vậy, luôn trụ
trong sanh tử. Nhị Thừa chẳng sanh thâm tâm “thượng
hoằng, hạ hóa”,
nên luôn trụ trong Niết Bàn. Chỉ có Bồ Tát chẳng
trụ trong lục trần mà hành Lục
Độ, cho nên có thể trụ đúng như lời dạy,
gọi là Đệ Nhất Nghĩa Trụ, cũng gọi
là “trụ trong Phật trụ”.
Thử nghiền ngẫm
những chỗ khuyên sanh tâm trong kinh, chẳng phải chỉ
có một. Như nói “phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm”. Lại nói:
“Ưng như thị sanh thanh tịnh tâm” (hăy nên sanh cái
tâm thanh tịnh như thế). Lại nói: “Tín tâm thanh tịnh,
tắc sanh Thật Tướng” (tín tâm thanh tịnh bèn
sanh Thật Tướng). Lại nói: “Vị lợi ích
nhất thiết chúng sanh, ưng như thị bố thí”
(v́ lợi ích hết thảy chúng sanh hăy nên bố thí như
thế). Lại nói: “Dĩ vô ngă, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ
giả, tu nhất thiết thiện pháp” (Dùng vô ngă, vô
nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả để tu hết thảy
các thiện pháp). Cho đến “ư pháp bất thuyết
đoạn diệt tướng” (đối với pháp
chẳng nói tướng đoạn diệt) v.v… Trong khoảng
giữa, lại nói thẳng
thừng: “Ưng sanh vô sở trụ tâm” (hăy nên sanh tâm
chẳng trụ vào đâu). Do vậy mà xem, nếu chẳng
sanh tâm tu Lục Độ, sẽ trụ trong tướng
đoạn diệt. V́ thế, tôi thường nói: “Kinh
này lấy Thật Tướng làm Thể, coi quán chiếu
là Tông, dùng văn tự làm Dụng”. Người xưa
nói “vô tướng làm Thể, vô trụ làm Tông”, chẳng
đúng!
* Đề từ cho bức
họa
Thấy
núi quên đạo, bị cổ nhân quở trách. Huống hồ
dốc ư miêu tả sơn thủy để làm đồ cổ
ngoạn ư? Người vẽ, người cầu
đều lănh ba mươi gậy. Tuy nhiên, ngoài tâm chẳng
có pháp, đầy mắt là non xanh. Nếu có thể thấu
hiểu, hết thảy các pháp mà nét vẽ hướng
đến, sẽ ngồi nơi đạo tràng được
vẽ, chuyển pháp luân trong nét vẽ, độ người
và vật được vẽ, chứng tượng Phật
được vẽ, sẽ bị tôi đập ba
mươi gậy. Đó là Phổ Hiền rộng hưng
khởi sự cúng dường vậy!
* Ba bài đề từ
cho Thiệu Thạch Sanh Tập Đào Cận Thể (tập
thơ Cận Thể[34]
của Thiệu Thạch Sanh phỏng theo phong cách Đào
Uyên Minh)
1)
Thơ văn kỳ tuyệt xưa nay, không ǵ chẳng từ
lương tri biến hiện, nhưng người mê muội
cho là nhất định thuộc cổ hay kim, chẳng biết
chúng đều là tâm ảnh của chính chúng ta. V́ thế, bị
thơ văn sai khiến, chẳng thể khéo dùng thơ
văn! Tập này thật sự khéo dùng [thể thơ của
ông] Đào đấy chăng? Tuy nói là Đào Thi (thơ theo
phong cách Đào Uyên Minh), quả thật là h́nh bóng của ông
Thiệu!
2)
Gơ ngọc, rung vàng, chẳng phải là không tốn công. Nung
phàm, đúc thánh, không ǵ chẳng do tài. Nếu huyết mạch
bế tắc, cánh tay sẽ chẳng thể điều khiển
cổ tay, cổ tay chẳng thể điều khiển
ngón tay, huống hồ vật ngoài thân ư? Nếu thấu
đạt tánh, t́nh ấy, rồng có thể cuộn, cọp
có thể chạy, huống hồ câu thơ ư? Tuy vậy,
rồng, cọp c̣n dễ chế phục, chẳng khéo sử
dụng câu thơ, sự giận dữ trong câu thơ c̣n
quá hơn rồng, cọp vậy!
3) Ông Thiệu chẳng
phải là không biết tự kiềm chế, phỏng theo
họ Đào mà quên mất chính ḿnh. Ông Thiệu chẳng phải
là không biết vẫn phỏng theo ông Đào, v́ luật
[thơ ràng buộc] mà quên mất [phong cách thơ ca của
ông] Đào. Quên chính ḿnh th́ ông Đào cũng là chính ḿnh. Quên
ông Đào th́ chính ḿnh cũng là ông Đào. Thiên hạ có kẻ
chẳng quên mà có thể sử dụng ư? Tay quên nên giữ,
chân quên nên đi, mắt quên nên nh́n, miệng quên nên nói. Trang
Tử nói “ngư tương vong ư giang hồ”[35]
cũng khá gần giống. Quên tác dụng th́ chính là
đại vong, mà cũng quên luôn cái quên ấy th́ là đại
dụng. Ông Thiệu sẽ đạt đến chỗ ấy!
* Đề từ cho
Thiết Tâm Kiều Sách
Kinh
Đại Phật Đảnh nói Sắc Ấm của
chúng sanh bất quá lấy vọng tưởng kiên cố
làm gốc. Vọng tưởng mà nói là “kiên cố”, tức
chẳng phải là kiên cố đă rơ rồi. V́ thế, núi
có thể dời, biển có thể cạn, vàng, đá có thể
tuôn chảy, thế giới có thể hoại, không, cho
đến hư không có thể tiêu mất, sao khăng
khăng có một cái cầu cho được! Cầu có
lơi sắt giống như một khối thịt người.
Sắt c̣n có thể trộm, th́ khối thịt càng dễ
bị đoạt, càng chẳng khó khăn ǵ! Khối thịt
có sắc chất ngăn ngại trong một khoảng thời
gian mà c̣n chẳng khó, dễ bị đoạt mất. Vậy
th́ duyên ảnh chợt sanh,
chợt diệt, càng chẳng khó. Do vậy, duyên ảnh
không chỉ chẳng phải là chân tâm,
mà cũng c̣n chẳng phải là vọng tưởng.
Vọng tưởng chẳng
có Thể, chẳng có tướng, không phương vị,
không nơi chốn, nhưng dùng trọn khắp Ngũ Ấm
làm gốc. Tuy nó hết sức chẳng thật, nhưng
cũng rất khó đoạt. Chúng sanh từ vô thỉ tới
nay dùng cái vọng tưởng ấy kiên cố chẳng thể
đoạt, chỉ có Phật là có thể chẳng đoạt
mà đoạt. Đó gọi là khiến cho vọng tưởng
làm Phật, vọng tưởng niệm Phật, chỉ là dùng ngay cái vọng tưởng
chẳng thể đoạt khiến cho nó trở lại
bản tánh chẳng thể đoạt của niệm. Do vậy,
đấy chính là Thủ Lăng Nghiêm Vương tam-muội
rốt ráo kiên cố. Nếu bỏ vọng tưởng
để riêng t́m chân tâm niệm Phật, chỗ nào sẽ
có chân tâm để có thể đạt
được? Nếu coi chẳng niệm
là thật, lại đọa trong rỗng không, tan tác, tiêu
trầm, và khuôn sáo vọng tưởng khô khan. V́ thế
nói: “Đoạn trừ vọng
tưởng càng thêm bệnh,
hướng đến Chân Như cũng vẫn tà!” Nếu
dùng cái tâm vọng tưởng để hăng hái niệm
Phật th́ chính là “Thuấn Nhă Đa tánh khả tiêu vong,
Thước Ca La[36]
tâm vô động chuyển” (tánh Chân Không có thể tiêu
vong, tâm kiên cố chẳng hề lay động).
* Đề từ cho bức
tranh Mây Đùn ở Chi Am
Kinh nói: “Nhất thiết
nhân quả, thế giới, vi trần, nhân tâm thành thể”
(hết thảy nhân quả, thế giới, vi trần, do
cái tâm mà thành Thể). Toàn thể của cái tâm đă là hết
thảy nhân quả, thế giới, vi trần, th́ cái ǵ gọi
là tâm? Lại c̣n cái ǵ gọi là chẳng phải tâm? V́ vậy,
tâm chẳng thể là chuẩn mực, chỉ biến đổi
thích đáng. Nhưng chỉ biến đổi thích đáng
mà rốt cuộc chẳng thể biến. Tuyên Thánh (Khổng
Tử) hiểu được điều này, biết tâm
tánh này không chỉ chẳng thể gọi là Khí (器), mà cũng chẳng
thể gọi là Đạo, Ngài
chỉ nói: “Trí cập chi, nhân
năng thủ chi” (dựa vào trí để thấu hiểu,
dùng ḷng nhân để ǵn giữ) mà thôi, “tri chi, hảo
chi, nhạo chi” (đă biết, bèn yêu chuộng, vui thích)
mà thôi. “Ngă phi sanh nhi tri chi, hiếu cổ mẫn dĩ cầu
chi” (ta chẳng phải sanh ra đă biết, mà là do chuộng
cổ, siêng năng, sốt sắng cầu t́m [kiến thức
từ cổ nhân]) mà thôi. “Học nhi thời tập chi, học chi, vấn
chi, tư chi, biện chi, hành chi”
(đă học rồi bèn ôn tập, học
tập, hỏi han, suy nghĩ, biện định,
thực hành) mà thôi.
Cư sĩ Thiệp
Giang đặt tên cho cái am của ḿnh là Chi Am, hỏi Lư
Sơn Tĩnh Chủ Trạm công rằng: “Chi Am là như thế
nào?” Cảnh công nói: “Xưa kia, nạp tăng ở Ngưỡng
Thiên B́nh, mây tụ ở sườn núi, mưa láy pháy ở
chân núi, mắt thấy rơ đỉnh núi, đó là trạng
thái biến đổi vậy”. Thiệp Giang vui mừng,
bèn vẽ lại. Tôi nói: “Một niệm nhỏ nhoi của
chúng ta nhanh chóng trọn đủ mười giới, bách
giới thiên như, lư trọn, sự tạo, không thừa,
không thiếu, rạng ngời cùng hiện, không chuyện ǵ
chẳng xếp đặt. Như một niệm, hết
thảy các niệm cũng lại như thế. Như tâm
pháp, hết thảy sắc pháp cũng như thế.
Như thật pháp, hết thảy giả danh cũng
như thế. Đó là nói Chi Am, lạnh lẽo, mây, bút, mực,
giấy, cổ tay, chủ, khách, tăng, tục, năng, sở,
mỗi mỗi không ǵ chẳng là đại dụng của
toàn thể. Ngũ nhăn chẳng thể thấy trọn hết,
ngũ nhĩ chẳng thể nghe trọn hết, không ǵ chẳng
phải là am, không am nào chẳng phải là [hết thảy
mọi pháp]”. Trạm công, Thiệp Giang ai nấy đều
cười to. Đem bức vẽ ấy quy vào niệm, sẽ
là con đức Phật vậy!
* Lời bạt về
chuyện thượng tọa Hằng Chánh thọ tŕ bản
kinh do Châu Nguyên Giới viết
Tể
quan trong cơi đời, đại lược có năm loại:
1) Nương vào đại
nguyện luân, thượng hoằng, hạ độ,
đă ngộ ư chỉ “vô trụ sanh tâm”, có thể Phổ
Môn thị hiện, luôn dùng tám điều giác ngộ của
bậc đại nhân để tự giác, giác ngộ
người khác.
2) Đă có tỉnh phát,
chưa đoạn sai lầm do một niệm tập nhiễm,
dẫu đọa vào phước to, vẫn có thể chẳng
quên cái nhân gốc, ở trong dục mà nghĩ thoát khỏi.
Sơn Cốc[37],
Đông Pha là hạng người này vậy.
3) Xưa kia đă
hướng về Tam Bảo, gieo cội phước sâu
đậm, nay hưởng chức tể quan, dẫu
chưa đốn ngộ nguồn tâm, nhưng cực lực
hoằng dương, hộ tŕ. Lục Ngũ Đài[38]
là hạng người ấy.
4) Đời trước
là vị Tăng khổ hạnh, đạo nhăn chưa sáng
tỏ, trần tâm chưa đoạn, thấy cảnh vinh
quư, sanh ḷng ưa
thích, hâm mộ sâu xa. Tuy nương vào thiện
căn khổ hạnh bèn được như nguyện,
nhưng buông lung trong ngũ dục, chẳng thể tự
thoát ra được, tức là như Châu Nguyên Giới[39].
5) Vốn chẳng tin
Tam Bảo, do tin vào phước thiện, được
làm thân tể quan, thường tự cao, tự đại,
chẳng biết quy y, phụng tŕ giới phẩm, nhưng
vẫn hành điều thiện thế gian, lại thọ
tạp báo Tu La, quỷ thần. Nếu buông lung hành các ác hạnh,
sẽ vĩnh viễn đọa trong tam đồ mà thôi.
Trong hội Đại
Tập, hết thảy các vị Bồ Tát hướng về
đức Thế Tôn đau đớn khóc lóc, tuôn lệ,
phát thệ nguyện lớn: Trước khi chứng Vô Sanh
Pháp Nhẫn, khẩn cầu Phật gia hộ, thà đọa
địa ngục, chẳng làm vua, quan, tể quan. Bởi
các Ngài đă thấy sâu xa họa hoạn của phú quư,
mười phần dường như đọa lạc hết
chín, thăng tấn th́ trăm người chẳng
được một. Than ôi! Phú quư như mây nổi, sao có
thể hăm người? Châu Nguyên Giới chẳng ch́m đắm
khi làm Trạng Nguyên, mà là lúc làm vị lăo tăng ở Khuông
Sơn. Nhưng trong khi bị ch́m đắm, vẫn có thể
chép pháp bảo này,
đáng gọi là “ăn chút kim cang, rốt cuộc chẳng
tiêu”, chẳng phải vậy ư? Kinh này nói Như Lai dạy “hết
thảy các pháp đều là Phật pháp”, lại
bảo: “Phật pháp chính là chẳng phải Phật pháp,
th́ gọi là Phật pháp”. Nguyên Giới có thể biết
nghĩa này, sẽ đem lầm đền lỡ, theo
đường về nhà. Ch́m đắm trong đường
phú quư nào khác h́nh tượng Phổ Môn thị hiện. Tiếc
là Nguyên Giới đă mất, tôi viết lời bạt cho
bản kinh ông chép, những mong tạo thành nhân duyên đắc
độ cho vị lai. Nguyện những ai mai sau đọc
kinh này, thấy lời bạt này, chưa làm tể quan th́
đừng ưa chuộng sự vinh hiển ấy, giẫm
theo vết xe đổ ấy; đă là tể quan, hăy gấp
dùng chuyện này để làm gương răn ḿnh, sớm
mong theo đường về nhà th́ mới nên!
Thượng tọa Hằng
Chánh hằng ngày tŕ kinh này, kiêm niệm A Di Đà Phật,
chuyên cầu Tịnh Độ, há sợ lầm lẫn,
đọa lạc ư? Cụ Hằng chẳng đọa
vào vết xe đổ của Nguyên Giới, Nguyên Giới ắt
nương theo cụ Hằng lên lạc độ. Tôi tổn
ḿnh, lợi người, chưa đạt tới nhất
tâm bất loạn, riêng đối với khuôn sáo tể
quan đă khám phá từ lâu! Trong tương lai, ắt sẽ
cùng cụ Hằng và
Nguyên Giới gặp gỡ, chuyện tṛ nơi ao quư, đất
báu, nhớ lại lời này hôm nay, cùng ấn chứng bậc
đại sĩ của đức Thế Tôn như thế
này, như thế kia!
* Đề từ chuyện
Lạc Ngu tôn túc phó chúc Thập Bát Cao Hiền Quyển cho
Châu Bổn Liên
Xuất
gia là chuyện của bậc đại
trượng phu, chẳng phải là vương hầu,
tướng quân, tể tướng có thể làm được! Niệm Phật lại
là chuyện cực viên đốn, chẳng phải là chuyện
mà Thiền, Giáo, luật sư tầm thường có thể
làm được! Viễn công từ thuở c̣n để
chỏm, văn tài lừng lẫy. Sau khi xuất gia, kết
xă tại Đông Lâm, thiên tử chẳng thể khuất phục
khí tiết của Ngài, đúng là bậc ẩn sĩ muôn
đời. Chẳng trách mười tám vị cao hiền
đồng ḷng tôn sùng, ngưỡng mộ, nhưng các vị
danh sĩ như Đào, Tạ chỉ đành lê la ở
ngoài cửa. Đời sau, cái học của họ Thích suy
dần, Thiền giảng, luật sư không ai chẳng
ngưỡng mộ một, hai vị tể quan, ve văn, bầu
bạn với người đời. Than ôi! So với Viễn
công sẽ là như thế nào vậy?
Mùa Thu năm Kỷ Tỵ
(1629), tôi từng gặp tôn túc Lạc Ngu, thấy ngài cốt
khí cao vời, có
phong phạm của bậc tiền bối, so với những
kẻ bất tịnh, keo kiệt, và xu phụ quyền thế
trong hiện thời th́ hơn hẳn cả trăm ngàn lần!
Ngài có chí trung hưng liên xă, từ Khuông Sơn đem về
quyển sách này, chẳng giao phó cho con cháu trong nhà chùa, mà
riêng giao cho cư sĩ Châu Bổn Liên. Có lẽ thấy sâu
xa chẳng thể phó chúc cho học
tṛ trong nhà chùa, c̣n cư sĩ luôn có chí xuất
trần. [Cư sĩ] lại có hai người con trước
đó đă xuống tóc, trong ba người chắc sẽ
có một người có thể thoát khỏi tập khí ác
trong hiện thời, có thể khôi phục, chấn hưng
gia phong của Viễn tổ (tổ
Huệ Viễn) vậy!
* Lời bạt cho Hoa
Nghiêm Đại Điển do cư sĩ Dư Nhất Tố
viết theo lối chữ Khải
Kinh Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm hiển lộ thẳng thừng tâm tánh
trong một niệm hiện tiền của chúng ta. Cái Thể
của tâm tánh chẳng có đối đăi, cho nên là Đại.
Tướng chẳng khiếm khuyết nên là Phương.
Dụng chẳng có ngằn mé, nên là Quảng. Tâm tánh vốn
không ǵ chẳng giác nên là Phật. Vốn không ǵ chẳng chứa
đựng nên là Hoa. Vốn không ǵ chẳng hiển lộ
nên là Nghiêm. Chúng sanh mê điều này, oan uổng hứng chịu
luân hồi, như đem kinh quyển to bằng đại
thiên giấu kín trong vi trần. Chư Phật, Bồ Tát ngộ
điều này,
liền đắc đại giải thoát, như chẻ
vi trần để thọ dụng kinh quyển to bằng
cơi đại thiên. Do vậy, khi
mới thành Chánh Giác, hải ấn hiện
rạng ngời, mười hội chẳng ĺa sát-na, một
xứ nhanh chóng trọn khắp các biển cơi nước.
Tầng tầng vô tận, ví như minh châu nơi cái lưới
của Thiên Đế, các pháp dung thông lẫn nhau như
gương Tần[40]
chồng bóng. Tùy ư nêu ra một chữ, đều trọn
đủ lục tướng, thập
huyền[41].
Nếu ngộ một câu, ắt thấu triệt thiên
như bách giới. Viên Dung và Hàng Bố tách ra càng hợp lại.
Sự, Lư, tánh, tu ḥa lẫn,
càng thêm dính kết. Biển giáo nuốt vạn ḍng, ḥa lẫn
thành một vị. Một giọt nơi nguồn Thiền,
rộng tuôn trăm sông.
V́ thế, ngài Long Thọ thoạt
đầu ngỡ ḿnh là bậc lợi căn, tự cho
ḿnh vượt trội đức
Phật, [sau khi] đă được thấy tạng kinh
trong cung rồng, ngă chấp bất giác tiêu mất, huống
hồ những kẻ nông cạn thời Mạt ư?
Năm xưa, điển tịch của nhà Châu ch́m đắm,
chư hầu tiếm lạm, trộm quyền, cho đến
bồi thần chấp mạng[42],
hoàn toàn chưa nghe âm hưởng của lễ nhạc, trộm
ăn to nói lớn dối đời rằng: “Năm
mươi ba lần tham học của Thiện Tài, dùng con
mắt chánh đáng để xem, chưa khỏi gieo đầu
vào bồn đựng keo[43].
Người siêu thoát há nên lần khân như thế?” Ôi! Kẻ
quê mùa ăn cơm gạo lức, cười nhạo
vương công [ăn gạo đă xay giă], há chỉ là Dạ
Lang Vương mà thôi! Dư Nhất Tố đă trang nghiêm
biển tánh Hoa Nghiêm trong một niệm hiện tiền, há
chẳng thẳng thừng gánh gác, lại há có được
chút ít đă cho là đủ ư?
* Lời bạt tự
ghi cho Tây Hữu Nghệ Dư
Năm
Mậu Tư (1648), tôi huyễn ngụ tại Diệp Viên tên là
Mạn Cảo, soạn Tây Hữu Nghệ Dư (những lời nói mớ của Tây
Hữu đạo nhân), v́ tuy niệm nào
cũng quy về lạc thổ, nhưng giấc mộng lợi
người vẫn chưa quên. Mùa Thu năm Kỷ Sửu
(1649), về nằm tại Linh Phong. Mùa Đông năm Canh Dần
(1650), mùa Hạ năm Tân Măo (1651), lại múa lưỡi[44]
tại hai nơi Tổ Đường và Trường Can,
cho đến mùa Thu năm Nhâm Th́n (1652), [thiên ma] Ba Tuần
ra sức, giúp phá ư tưởng lợi người trong mộng.
Bèo trôi ḍng Ngô, thuyền giạt sóng Ngô, lời nói mớ
trong mộng[45]
từ rày dứt bặt. Từ nay về sau như phiến
mây đơn côi, chim hoang dă,
tuy cùng ở trong đêm dài vô minh, riêng là một phen huyễn
mộng. Nếu có ai chê cười, chẳng dung lại viết
tiếp thiên sách này!
* Bốn lời bạt
cho việc giảo định sách Tông Kính Lục
1)
Thánh hiền thị hiện xuất thế, giác ngộ quần
mê, bất đắc dĩ mà nói năng. Nói ư chỉ “vô
ngôn” ấy, tức văn tự chẳng phải là
văn tự, chẳng ĺa văn tự mà nói giải thoát,
há chẳng phải là ba môn Bát Nhă: Thật Tướng, Quán
Chiếu, và Văn Tự vốn chẳng một, khác, cùng
lúc, hay khác biệt, có thể
nghĩ bàn ư? Tương truyền Vĩnh
Minh đại sư là hóa thân của Phật Di Đà. Ngài đắc pháp
nơi Thiều quốc sư[46],
là đích tôn của tông Pháp Nhăn. Tông nhăn viên minh, phạm hạnh
trong sạch. Thấy sai lầm tách rời Tông và Giáo trong mạt
vận, bèn tập hợp nghĩa học sa-môn thuộc ba
tông nơi Tông Kính Đường, rộng biện luận
chỉ thú “tánh, tướng” của tông Thiên Thai và Hiền
Thủ để cân nhắc tâm tông, gom góp thành Tông Kính Lục
một trăm quyển, chẳng khác Khổng Tử tập
đại thành. Chưa đầy một trăm năm,
các vị như Pháp Dũng v.v… tự tiện thêm thắt. Do vậy, [sách ấy
bị trở thành] chi ly, tạp thuyết, gai mắt mọi
người, đến nỗi những người
như Viên Trung Lang ngược ngạo ngờ vực đạo
nhăn của ngài Vĩnh Minh chưa thấu triệt, cũng
đáng buồn thay!
Tôi sanh cũng muộn,
chẳng gặp bậc tông tượng tiền bối, chỉ
lưu tâm dốc sức nơi chuyện bậc hạ
đă hơn ba mươi năm. Lại c̣n luôn t́m ṭi giáo
pháp liễu nghĩa tột bậc, hơi thấy
được đầu mối. Đọc sách này đă
ba lượt, trộm thấy có chỗ chưa thỏa
đáng. Biết lỗi là do Pháp Dũng, quyết chẳng
do ngài Vĩnh Minh. Đầu Thu năm Quư Tỵ (1653), loại
bỏ những chỗ vớ vẩn, tạp loạn, giữ
lại những chỗ trân bảo. Số quyển vẫn
là một trăm, vấn đáp vẫn có hơn ba trăm bốn
mươi đoạn, mỗi mỗi đều nêu bày chỗ
khởi đầu và kết thúc, ngơ hầu hậu hiền
xem đến chẳng đến nỗi nh́n biển cả
mà thở than, khổ sở khóc than nơi ngă rẽ vậy!
2)
Chư Tổ ở trời Tây Tông Thuyết kiêm thông; do vậy có thể
nối tiếp huệ mạng của Phật, lợi ích
trời người trọn khắp. Nơi cơi này như Bắc
Tề, Nam Nhạc, Trí Giả, Đỗ Thuận, chưa từng
chẳng lấy Thiền quan (禪關, chỗ
mấu chốt trong Thiền học) làm gốc. Đạt
Ma, Lục Tổ, các cụ trong năm tông chưa từng
chẳng dùng thánh giáo để ấn chứng. Trọn chẳng
có ai thuận theo ư riêng tự coi là đúng mà có thể gọi
là Thiền, hoặc “đếm
cát, đếm của báu”
mà có thể gọi là Giáo được. Tính xuống cuối
đời Đường, Ngũ Quư[47],
Thiền và Giáo phủ định lẫn nhau, Tánh và Tướng
đối lập, Thiên Thai và Hiền Thủ chê gièm lẫn
nhau, cam lộ đâm ra trở thành thuốc độc. V́
thế, Vĩnh Minh đại sư kinh sợ, bèn soạn
thành Tông Kính Lục một trăm quyển ḥng răn nhắc
người đời sau. Tuy [tác phẩm ấy] bị
Pháp Dũng xen tạp, nhưng người sáng mắt nh́n
vào, vàng, cát có thể biện định ngay. Như trăm
lạng vàng ṛng, bỏ vào mười lượng đậu
thạch[48],
lập tức mất độ sáng. Một hộc bạch
sán[49],
bỏ vào đó mấy thưng hạt cỏ lồng vực[50],
liền cảm thấy tạp loạn, bất tịnh. Nếu
trừ bỏ đậu thạch, hạt cỏ dại,
vàng sẽ sáng rực như cũ, tinh túy của gạo chẳng
thay đổi. Than ôi! Hậu hiền chưa đạt
được pháp nhăn sai biệt, hăy cẩn thận, chớ
hư vọng thêm thắt vào trước tác của bậc
tiên thánh. Tôi giở xem sách này, tới nay đă bốn lượt,
thường t́m ṭi ắt có lợi ích mới mẻ, quả
thật giúp ích cho việc quán tâm, trọn chẳng thể
dùng đạo lư của
văn tự thế gian để lănh hội. Tuy vậy,
người sầu đừng nói với kẻ chẳng sầu.
Nói với người chẳng sầu, họ
chẳng biết, phụ ḷng mong mỏi của ông đấy
thôi!
3) Cổ
nhân nói: “Dựa theo văn tự để hiểu
nghĩa, tam thế Phật bị oan uổng. Ĺa kinh một
chữ tức là giống như ma nói”. Đấy là lời
chí lư. Kể từ khi Thiền và Giáo tách rời, Phật bị
oan uổng, ma thuyết trọn khắp trong nước. Nếu
chẳng phải là bậc cổ Phật hiện thân, quả
thật chẳng dễ cứu.
Đọc kỹ lời vấn đáp, dẫn chứng
trong Tông Kính Lục, bảo [tổ Vĩnh Minh] chẳng phải
là công thần bậc nhất trong thời Mạt Pháp của
đức Thích Ca, há
có được chăng? Nhưng chỉ có người
triệt ngộ tông chỉ “vô ngôn” mới có thể khéo léo
chỉ dạy giáo pháp “hữu ngôn”. Người hiện thời
phải nhờ vào lời ấy để khế hội “vô ngôn” th́ mới chẳng
chết cứng nơi ngôn từ. Nếu thẳng thừng
coi đó là điều cốt lơi, chẳng biết ĺa ngón
tay để được mặt trăng, dẫu liễu
ngộ rành rành, vẫn là tam thế Phật bị oan uổng!
Xưa kia, Tống Thái Tổ muốn chinh phạt Giang Nam,
[Nam Đường] Hậu Chủ (Lư Dục) sai một
người giỏi biện bác yết kiến, thưa:
“Giang Nam thờ bệ hạ như thờ cha, sao cha lại
chinh phạt con?” Thái Tổ nói: “Cha con ở khác nơi, có
được hay chăng?” Kẻ biện bác sững sờ,
chẳng đáp được! Ôi! Kẻ đọc Tông
Kính Lục mà chẳng tỉnh ngộ, tôi sợ rằng khi
gặp Diêm lăo, sẽ ngạc nhiên lắm! Nhưng nếu bỏ
xó, chẳng đọc, lại có khác ǵ do nghẹn mà bỏ
ăn!
4)
Người thuộc Giáo Hạ chẳng chịu tọa Thiền
và người tọa Thiền chẳng chịu học
Giáo, tuy là lỗi của thầy, nhưng cũng do kẻ
đó chưa thật sự phát đại Bồ Đề
tâm. Chưa
phát đại Bồ Đề tâm tức là
chưa từng chẳng biết đau ḷng v́ sanh tử
đại sự. Nếu thật sự v́ đại sự
sanh tử, sao chịu đem văn và nghĩa đối lập,
tự giữ lấy ám chứng ư? Như muốn tới
Trường An, miệng ắt hỏi đường,
chân ắt chẳng ngừng. Hỏi mà không đi, trọn
chẳng thể đến. Đi mà chẳng hỏi, ắt
gặp ngơ rẽ. Nay kẻ hiểu nghĩa chết
cứng theo văn tự, nào khác kẻ hỏi
đường nhưng chẳng đi. Kẻ giữ lấy
ám chứng, khác nào kẻ đi mà chẳng hỏi đường!
Than ôi! Dùng cung cách như thế để cầu thoát sanh tử,
thành tựu vô thượng đạo, khó lắm thay! Sách
Tông Kính Lục đă chỉ ra con đường ấy, lại
c̣n thống thiết sách tấn, có thể nói là từ bi triệt
để. Nếu lại nhờ vào đó để giúp biện
bác, sẽ giống như nằm trên giường xem Hoàng
Dư Khảo[51]
và Trường An Chí[52],
rộng hướng về kẻ thôn dă mà khoác lác các chuyện
trên đường, chẳng phải là không thể mê hoặc,
đả động kẻ ngu! Tôi sợ là hễ gặp
phải người từng đến Trường An, ắt
sẽ khôn ngăn lúng túng vậy!
* Lời bạt tự
soạn cho Liệt Vơng Sớ
Khởi Tín Luận là chánh ấn
truyền tâm của Phật, Tổ, là tổng tŕ của
pháp tánh và pháp tướng. Như Lai đem Đại Thừa
A Tỳ Đàm phó chúc cho ngài Di Lặc, đem
Ma Ha Bát Nhă giao phó cho ngài Văn Thù. Bát
Nhă phá chấp Hữu, hiển lộ Diệu Hữu. A Tỳ
Đàm phá Ác Không, ḥng hiển lộ
Chân Không. Một âm tuyên nói, chưa từng có ư chỉ sai
khác. Sau khi đức Phật diệt độ năm
trăm năm, dị kiến nẩy sanh. Mă Minh đại
sĩ ứng với lời huyền kư của đức
Phật, trùng hưng chánh pháp. Thoạt đầu là chỉ
dạy ngoại đạo chấp ngă, sau đó rộng
hiển lộ diệu tông Nhị Không (nhân không và pháp không),
thực hiện vô
ngă đại sư tử hống, phá sự thiên chấp của
phàm phu, ngoại đạo, Nhị Thừa, nêu ra điều
cốt lơi của một trăm lạc-xoa[53]
kinh điển Đại Thừa, tạo luận đại
lược, diễn giải hai môn nhất tâm, tức là do
sanh diệt mà hiển lộ Chân Như, gồm thâu diệu
chỉ “Bát Nhă chân không bất không”. Từ
ngay Chân Như mà biện định sanh diệt, xiển
dương lời lẽ huyền diệu “huyễn hữu
mà chẳng hữu” của A Tỳ Đàm. Sau đấy,
ngài Long Thọ nương theo Bát Nhă mà tạo Trung Luận,
lại c̣n dùng nghĩa Không để thành tựu hết thảy
các pháp. Ngài Hộ Pháp nương vào A Tỳ Đàm để
giải thích Duy Thức, lại c̣n dùng huyễn hữu
để hiển lộ hai loại Không. V́ thế biết:
Ba vị đại Bồ Tát Mă Minh, Long Thọ, và Hộ
Pháp cùng khế hội Phật tâm, chẳng có chút trái nghịch,
sai khác nào! Hiềm rằng [đời sau, những kẻ]
y văn giải nghĩa, câu nệ danh tướng, mê muội
chỉ quy, đả kích kẻ khác ư kiến, kéo bè kết
đảng những kẻ cùng ư kiến, dựng môn
đ́nh đấu đá kiên cố, đàn luận sai lạc
ư chỉ của bậc thánh, hiểu sai chân thừa,
trăm ngàn năm qua rốt cuộc cùng ở trong đêm
dài.
Buồn thay thời Mạt,
thật đáng đau ḷng! Húc nghiệp chướng quấn
sâu, chưa dự vào chánh vị, do mảy may điều
thiện trong túc nhân mà khẽ lách vào Viên tông. Năm trước
giải tán hết người học, dốc chí
mong tu chứng. Mùa Xuân năm nay vào Tân An, ngụ tại Hồi
Long ở Hấp Phổ,
lén giải luận này, trải qua mười một ngày, bản
thảo mới hoàn thành. Việc này trên là nhờ sức gia
bị của chư Phật, Bồ Tát, Mă Minh đại
sư mới tạm chẳng bị nghi trệ. Lại c̣n
cậy vào sức ngoại hộ của Tŕ Tuần pháp chủ
mới chẳng có duyên nào khác. C̣n như cái ải tánh tướng,
đủ thứ vấn đáp, biện định th́ do
giới tử Kiên Mật Thành Thời đă thưa bày với
tôi khá nhiều!
* Lời bạt cho bản
kinh Pháp Hoa do cư sĩ Ngô Đại Niên chép
Kinh
tạng Pháp Hoa sâu thẳm, u viễn, không ai có thể đạt
tới. Chẳng phải là không thể đạt đến,
nhưng trong “chẳng có người”, lại hư vọng
so đo có người;
do vậy, suốt ngày hành mà chẳng tự giác. Nếu thấu
đạt “hết thảy các pháp vô ngă, vô nhân, vô chúng
sanh, vô thọ giả, không pháp tướng, cũng chẳng
phải là phi pháp tướng”, th́ vi trần, sát độ,
mười đời xưa nay, luôn là một bộ diệu
kinh. Phật tử trụ nơi đây chính là Phật thọ
dụng thường trụ nơi ấy, kinh hành, ngồi,
đứng, sao có thể đạt đến hay chẳng
đạt đến để có thể phân biệt
ư? Trong hội Linh Sơn, tán thán sâu xa một niệm tín
giải và công đức thọ tŕ, biên chép, chẳng phải
là lời hư giả. Cư sĩ Đại Niên chép diệu
điển tới ba bộ, cháu nội là Sán Như trân trọng cất giữ,
cúng dường, Ngẫu Ích đạo nhân mở xem, tùy hỷ,
đạt đến hay chưa đạt đến?
Đừng nghĩ bàn mới
nên!
* Viết sau Bạc Ngạn
Quyển của cư sĩ Ngô Mạnh Khai
Phần
Đoạn là bờ này, hai loại Niết Bàn Vô Dư và Hữu
Dư là bờ kia. Biến Dịch là bờ này, Vô Trụ
Đại Bát Niết Bàn là bờ kia. Không chỉ là vô trụ,
mà c̣n là không đâu chẳng trụ, cũng chỉ không
đâu chẳng trụ th́ mới thành vô trụ. V́ thế
nói “chẳng bờ kia, chẳng bờ này, chẳng ở
giữa ḍng mà độ chúng sanh”. Lại nói: “Ở
trên cơi trời th́ giống như cơi trời, trong loài
người th́ giống như loài người”. Xét
như vậy, có chỗ nào đạt đến mà chẳng
phải là bờ? Có bờ nào chẳng thể cập bến?
V́ thế, chẳng cần phải hỏi cập bờ nào,
hoặc hỏi có thể đậu thuyền nơi pháp
nào? Dùng ái kiến để cập bờ, chỗ cập bờ
không ǵ chẳng phải là bờ sanh tử. Dùng Không quán
để cập bờ, chỗ cập bờ không ǵ chẳng
phải là bờ Nhị Thừa. Dùng Lục Độ vạn
hạnh để cập bờ, chỗ cập bờ không
ǵ chẳng phải là bờ Bồ Tát. Dùng Bát Nhă rất sâu
để cập bờ, chỗ cập bờ không ǵ chẳng
phải là bờ Thật Tướng pháp giới.
Mạnh Khai dựng Bạc
Ngạn Hiên là do ḷng hiếu thảo. Có ḷng hiếu thế
gian chưa ĺa ái kiến. Có ḷng hiếu xuất thế gian,
và cũng có ḷng hiếu xuất thế gian tương ứng
với Không quán huyễn độ. Có ḷng hiếu xuất
thế gian thượng thượng là Bát Nhă rất sâu. Mạnh
Khai trai giới đă lâu, chẳng cam tâm nơi hiếu thảo
thế gian. Từ ḷng hiếu xuất
thế, tuân theo ḷng hiếu xuất thế thượng
thượng, cái hiên[54]
ấy có phải là thuyền Bát Nhă đó chăng? Nguyện
cư sĩ ngồi chiếc thuyền ấy, dùng Phật
độ (佛度, các Ba La Mật) làm mái
chèo quế, dùng Phật hạnh làm chiếc sào lan, dùng hồng
danh của chư Phật làm chiếc buồm cao, dùng hoằng
nguyện văng sanh Tịnh Độ của chư Phật
làm gió mạnh, ắt sẽ cùng cha mẹ cập
bến báu nơi ao hoa. Sau
đấy, trọn hết mười phương thế
giới, không ǵ chẳng phải
là lạc độ.
* Viết sau bài Tri Túc
Ca
Gỗ
ắt có lửa, gặp duyên mới phát. Tâm có Bát Nhă cũng
lại giống như
thế. Lăo, bệnh, tử, sanh, đều là duyên thù thắng
để phát khởi Bát Nhă. Ngu phu tập khí nặng nề,
thiện căn mỏng manh, như gỗ ướt chẳng
thể bốc lửa. Chỉ có kẻ xưa kia gieo thiện
căn đă lâu, b́nh thời Hoặc nghiệp đă nhẹ
ít, tuy chẳng thấy kẻ ấy siêng năng
tu hành, nhưng nhà tối ngàn năm, một
ngọn đèn nhanh chóng trừ sạch. Đọc bài Tri
Túc Ca của Tế ông, quả thật là như vậy! Mạnh
Tử Khai dốc ḷng tin tưởng Tam Bảo, cháu nội
là Chân Tín, ăn chay từ bé, Bát Nhă tâm đăng đúng là
chưa hề chẳng bừng bừng tiếp nối, ư
nghĩa “tích loại”[55]
hiếu từ đều như thế, tôi tùy hỷ
sâu xa để giúp cho.
17. Sớ
* Sớ khuyến hóa
tŕ Diệt Định Nghiệp Chân Ngôn số lượng bằng
một thế giới để trang nghiêm thánh tượng
đức Địa Tạng
Phật
Thích Ca nói “định nghiệp chẳng thể cứu” nhằm
khiến cho cái tâm tạo tội nguội lạnh. Địa
Tạng Bồ Tát nói chân ngôn Diệt Định Nghiệp
nhằm an ủi khách nơi đường cùng! Húc thuở
bé học theo Đông Lỗ[56],
thường báng Tây Càn. Nhờ Quán Âm đại sĩ cảm
vời, nhiếp thọ; về sau, được nghe
Địa Tạng Bổn Nguyện tôn kinh, mới phát
đại tâm, thề rỗng không chín giới. Nay
được dự vào tăng luân, thần thức
được nhiễm thừa, giới, đều do nguyện
từ bi ngầm gia hộ chẳng thể hư dối.
Bèn nghĩ Sa Bà tệ ác, ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ
tụ tập như ác-xoa (aksa)[57],
vô thượng đề hồ đều thành độc
dược. Người tŕ luật chỉ chú trọng y
bát, đối với “tác,
phạm, chỉ, tŕ”,
mờ mịt chẳng hiểu. Người học Giáo chỉ
cốt sao sướng tai, khoái miệng, đối với
Thiền Na lư quán, mờ mịt,
chẳng đạt được ǵ! Người tham Tông
trôi lăn theo cơ cảnh, đùa bỡn tinh hồn (精魂), chứ đối
với chân nguyên tâm, Phật, chưa hề
đích thân chứng nhập mảy may! Một môn Tịnh
Độ hơi thiết thực đối với thời
cơ, cũng khổ nỗi nhiều phần trở thành
thoái thác, chưa hợp Đại Thừa chẳng thể
nghĩ bàn! Ấy là do nghiệp nặng, chướng sâu,
trược trí lưu chuyển, dẫu có bậc thánh,
cũng chẳng làm như thế nào được!
Chỉ có Địa Tạng
từ tôn bi sâu, nguyện nặng, chuyên thương xót kẻ
ương ngạnh, c̣n có thể chuyển tà tâm sâu dày của
con trong thuở ấy, khiến cho con được
chánh tín xuất gia, há khó chuyển chúng
sanh trong đại địa do vô tri mà phạm tội khiến
cho họ quy vào Chân Tế ư? Do vậy, con đối
trước Tam Bảo,
phát tâm muốn tạo điện Vạn Phật bằng
đồng, chính giữa thờ Đại Sĩ để
vĩnh viễn trấn giữ Cửu Hoa. Bèn thọ pháp
ngày ăn một bữa, kết đàn một trăm ngày,
tŕ Diệt Định Nghiệp chân ngôn năm trăm vạn
lần. Lại khuyến hóa Tăng, tục đại tâm
hoặc tŕ mười vạn, hoặc trăm ngàn vạn
để cộng thành [con số] mười vạn vạn,
biểu thị con số tam thiên đại thiên thế giới,
dùng tổng số ấy để thờ trong ḷng tượng
Đại Sĩ,
ḥng làm bằng khoán giáo hóa rộng răi mười
phương trong vị lai.
* Sớ tạo tượng
Tỳ Lô Phật
Người
đời ưa chuộng đàm luận lư vô tướng,
nhưng chẳng thấu đạt Thật Tướng ấn,
lầm lạc coi khoát đạt không là thanh tịnh Pháp
Thân, nào có biết Pháp Thân thanh tịnh vi diệu, trọn
đủ ba mươi hai tướng, nhờ Sự để
biểu thị pháp Hoa Tạng huyền môn. Do vậy, trong
thời Mạt Pháp, coi tạo h́nh tượng Phật là
công đức bậc nhất. Trang nghiêm đất, gỗ
tức là trang nghiêm Pháp Thân. Biển tướng nơi
mười thân[58]
hoàn toàn ở trong một vi trần. Do vậy, thí một trần
có thể vào trong vô tận tướng hảo quang minh của
Như Lai. Nhưng một lần chiêm ngưỡng, một
lễ có thể chứng vô biên công đức hải tạng
của Như Lai. Vị khai sĩ X… đă muốn tạc
tượng Tỳ Lô, nhưng quán như thế, chẳng
lo không người trợ duyên. Các vị thượng thiện
nếu muốn ngộ lư như thế, chỉ gieo nhân duyên
này, chẳng lo chánh nhân chẳng hiển! Duyên này nếu
thành tựu, phép Quán này nếu thành công, th́ mới tin nguyện
lực của
Tỳ Lô Giá Na Phật trọn khắp
các cơi nhiều như cát, hừng hực thuyết pháp, chẳng
có gián đoạn vậy!
* Sớ chép Đại
Tạng Kinh
Kể
từ khi Phật pháp truyền sang Đông Độ, trải
dài hơn một ngàn năm trăm năm, Tam Tạng bao gồm
gần bảy ngàn quyển, ṿi vọi như Tuyết
sơn vương, các thứ thuốc đều có đủ,
mênh mông như nước biển cả, các thứ báu
đều đầy ắp. Người mạnh chân chẳng
thể trèo tới đỉnh, kẻ khéo vượt chẳng
thể lường hạn lượng, chẳng trách kẻ
ngước nh́n tâm đầy chua xót,
ngóng biển cả mà
kinh sợ tột cùng ư? Nhưng phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện có nói: “Thư tả kinh quyển, tích
như Tu Di sơn” (Biên chép kinh quyển, chất như
núi Tu Di). Phàm chuyện vượt ngoài hạn lượng,
chỉ có người vượt ngoài hạn lượng
là có thể thực hiện. Có
kẻ bảo: “Phật pháp chẳng nhiều
nhặn ǵ, sao lại dùng hành vi rườm rà ấy?” Ôi! Chẳng
ĺa văn tự để nói giải thoát. Nếu thật
sự lănh hội “chẳng nhiều”, Phật pháp trong một
Đại Tạng há có nhiều chăng? Dẫu cho kẻ một chữ Đinh chẳng
biết, chính là đang dây cà dây muống chẳng ít!
Hăy nên biết “nhiều, ít, có, không” đều là hư vọng
phân biệt. Tôi từng cảm khái người học Giáo
chẳng thèm nghe lẽ hướng thượng, người
tọa Thiền bài bác Phật pháp là vật ở bên ngoài,
nào khác dùng bánh vẽ để khỏi đói, toan đi
sang đất Sở mà xoay càng xe về phía Bắc ư?
Khai sĩ Nguyệt Tâm ở
Long Cư đối với chuyện này đă tin đến
nơi đến chốn, tự nói “căn tánh hèn kém,
cơ duyên chưa gặp”, bèn dùng tŕ giới làm hạnh trọng
yếu, lấy Tịnh
Độ làm chỉ quy, cũng như muốn chép Đại
Tạng để
trợ duyên. Đấy thật sự là chuyện chẳng
nghĩ bàn trong hiện thời. Học Thiền mà chẳng
hủy giới là chuyện chẳng nghĩ bàn bậc nhất
trong hiện thời. Lại chẳng phủ nhận Tịnh
Độ, đó là chuyện chẳng nghĩ bàn thứ hai
trong Tịnh Độ. Lại chẳng quét sạch Giáo,
đó là chuyện chẳng nghĩ bàn thứ ba trong hiện
thời. Huống chi người xem Đại Tạng
đă hiếm thấy, huống hồ có thể chép ư? Càng là chuyện
xưa nay chẳng nghĩ bàn! Đă phát tâm như thế,
bèn dự vào hạng người vượt ngoài hạn
lượng, sẽ thấy một truy, một thù[59]
trang nghiêm biển pháp, tức Đàn Độ (Bố
Thí Độ) chính là Bát Nhă, gọi là Đàn chẳng
nghĩ bàn. Mỗi chấm, mỗi vạch ngộ nhập
chân nguyên, tức biên chép chính
là tu chứng, gọi là “viết chẳng thể nghĩ
bàn!” Bố thí hoặc biên chép như thế, bổn nhân, quả
báo, cùng vào trong cảnh giới giải thoát chẳng thể
nghĩ bàn, mà tôi là kẻ c̣n thuộc trong số lượng
lại nói chuyện vượt ngoài số lượng này, cũng lại chẳng
thể nghĩ bàn!
* Sớ trích máu
chép kinh Hoa Nghiêm
Tôi
đọc Hoa Nghiêm, đến phần Thiện Tài thấy
trong một lỗ chân lông của đức Phổ Hiền
đều có hải hội trong các cơi Phật nhiều
như số vi trần, dạo quanh trọn khắp [các cơi
ấy] trải qua vi trần kiếp mà
trọn chẳng có cùng tận, nào hay
thân tướng chẳng thể nghĩ bàn! Cho tới khi
ngài Phổ Hiền tự nói nguyện vương, bèn nói “bác
b́ vi chỉ, thích huyết vi mặc, dĩ tủy vi thủy,
tích cốt vi bút, thư tả kinh quyển, tích như Tu Di”
(lột da làm giấy, trích máu làm mực, dùng tủy làm
nước, bẻ xương làm bút, biên chép kinh quyển
chất chứa như núi Tu Di). Do vậy biết: Chẳng
phải là đại hạnh
thù thắng, sẽ chẳng thể trang nghiêm Tỳ Lô pháp
giới; chẳng phải diệu pháp Nhất
Thừa, sẽ chẳng
viên măn nguyện vương rộng lớn!
Nếu chẳng thâm tâm
tín giải diệu pháp Nhất
Thừa, nương
theo giải mà khởi hạnh, hăy nên biết Hoa Tạng
trang nghiêm, há chỉ thấy rơ trong một lỗ chân lông của
Phổ Hiền? Đó
cũng chính là chúng ta lănh hội từ trong cái tâm nhỏ
nhoi. Do vậy, khai sĩ Nguyệt Tâm dốc chí thề trích
máu biên chép. Tám mươi mốt quyển [kinh Hoa Nghiêm] có thể
hoàn thành trong tháng Tám. Trong ấy, dù giấy, bút, dù
hương, hay trang nghiêm thành tựu, dù thức ăn cỗ
cúng, cần mười ba lạng, biểu thị thế
giới [Sa Bà] này ở ngay trong tầng thứ mười
ba [của thế giới Hoa Tạng]. Mỗi lạng làm
thành mười duyên, biểu thị thập giới. Mỗi
duyên chia thành mười phần, biểu thị mười
nguyện. Mỗi nguyện hàm nhiếp mười giới,
mỗi giới bao trọn sát hải, ngơ hầu người
thí, người nhận dung thông lẫn nhau thành quang minh
nơi cái lưới của Thiên Đế, dù pháp hay tài đều
chen bóng lẫn nhau trong chuỗi anh lạc của Tạp
Hoa[60].
* Sớ sửa chữa
đường sá chùa Vĩnh Khánh
Tŕ
Địa Bồ Tát bồi phẳng đất đợi
Phật, đức Phật xoa đỉnh đầu, bảo:
“Thiện nam tử! Đương b́nh tâm địa, tắc
thế giới tự b́nh” (Thiện nam tử! Hăy nên b́nh
tâm địa, thế giới sẽ tự b́nh). Đấy
là dùng Sự để độ người khác, chỉ
bày pháp môn duy tâm, khiến cho từ Sự mà nhập Lư. Chỉ
có điều hai đường Lư, Sự chẳng thể
coi là giống hệt như
nhau, nhưng chẳng tách rời được! Dùng pháp làm
phẳng phiu cơi đất để b́nh cái tâm, hết thảy
duy tâm. Dùng pháp b́nh tâm để làm phẳng phiu cơi đất,
hết thảy duy địa! Duy tâm tuy diệu, do c̣n đối
đăi nên là thô. Duy địa mầu nhiệm, mới gọi
là dứt bặt đối đăi. Lại như con
đường lớn trước núi Vĩnh Khánh, vốn
phẳng phiu, cần ǵ phải sửa chữa? Nhưng kiến
chấp “cao, thấp”
chưa quên, công sửa chữa, san phẳng ấy bèn hữu
hiệu. Công tuy có làm, nhưng hạnh thật sự chẳng
làm! Hạnh chất
chứa trong vô lượng sóng kiếp, tâm
được khai trong một lời xoa đỉnh đầu.
Nhân bao trùm, quả thấu triệt, chỉ là Nhất Thừa. Nếu ĺa
đất mà bàn tâm, tâm lại há có? Vẽ vời lên hư
không, chẳng phải là viên đốn thừa. Đối
với việc này, một ḥn ngói, một viên sỏi, đều cùng
chứng Cứu Cánh Tịch Quang. Một lượng, một
thù, đều nhập
Thủ Lăng Nghiêm tam-muội.
* Sớ Linh Nham Tự
thỉnh Đại Tạng Kinh
Hết
thảy Như Lai từ vô ngôn thuyết đạo,
phương tiện thuyết pháp. Hết thảy các Bồ
Tát từ ngôn ngữ tam muội, ngộ nhập vô ngôn. Ngôn
thuyết tánh Không, là giải thoát chân thật. Nếu ĺa
văn tự để cầu lư, sẽ chính là ám chứng,
si Thiền, chẳng phải là chánh pháp nhăn tàng. Tôi vốn bỏ
Nho, học Phật, cũng hư vọng nói là “đạo
đơn truyền”,
thật ra là giáo ngoại, một mực tính kế mưu
sinh trên bồ đoàn! Hết thảy các kinh luận đặt
trên gác cao! Về sau gặp các vị kỳ túc như Chân Tịch,
Bác Sơn v.v… xét lại lẽ được mất
xưa nay, mới biết Thiền bệnh trong đời
Mạt chính là trụ trong vô tri, vô giải, chẳng liên quan
tới đa học, đa văn, tương phản với
sự chứng nhập của học nhân đời
Đường, Tống. “Nương theo văn tự
để hiểu nghĩa, tam thế chư Phật bị
oan uổng. Ĺa kinh một chữ tức là giống như
ma nói”. Lời thiện tri thức quả thật chẳng
dối gạt ta! “Học mà chẳng nghĩ sẽ lạc lối,
nghĩ mà chẳng học sẽ biếng nhác”. Đối với lời thật trong Nho tông, càng
thêm tin tưởng.
Tôi bèn phát tâm duyệt
khắp Đại Tạng, thu thập đầy đủ
các loại thuốc để tự chữa và chữa cho
người khác. Vừa muốn trước là chú giải
Phạm Vơng, nêu ra cương tông của Luật Học,
bèn rút thăm thỉnh ư Phật để quyết định
chỗ an cư. Trong chín lá thăm, riêng rút được
Bách Phước Viện thuộc chùa Linh Nham, núi Linh Phong.
Tính ở đấy một năm để chú giải
kinh rồi lại sang nơi khác để hoàn tất ư nguyện
duyệt tạng từ thuở đầu. Có sáu vị
tăng và sa-di, quyên tiền chừng đó, đề xướng
thỉnh Đại Tạng để giữ tôi ở lại
lâu dài. Tuyết Hàng pháp chủ nhóm họp các duyên khiến
cho cuộc đất không có Phật pháp này bỗng có sáu thứ chấn
động, oán và ma cùng dứt tuyệt, lạc lối và
giải đăi đều cùng trừ khử, Phật ấn, Nho tông, giúp sức lẫn
nhau. Tăng, tục có tín tâm, chẳng ai không giúp tùy hỷ!
* Sớ khuyến hóa niệm
A Di Đà Phật đồng sanh Tịnh Độ
Do
chính ḿnh chẳng hiểu lư “duy tâm bổn tánh”, người
học đạo bộp chộp đề cao huyền lư,
coi rẻ sự tướng, thậm chí ngỡ Đoạn
Không là Tịch Quang, nghi Tây Phương chẳng phải là
Thật Tướng, cũng như phán định [pháp môn
Tịnh Độ] là Quyền Thừa, xem như chẳng
có! Do vậy, công đức chẳng thể nghĩ bàn rốt
cuộc trở thành pháp khó tin, ch́m đắm lâu dài trong bến
mê, đau xót khôn ngằn! Chẳng biết Sự Lư nhất
trí, chúng sanh và Phật cùng một nguồn, tám vạn bốn
ngàn tướng hảo quang minh hiển nhiên tại mười
vạn ức phương rành rành ở trong chân tâm. Tâm
đă tột cùng theo chiều dọc, trọn khắp theo
chiều ngang, cơi cũng tột cùng theo chiều dọc, trọn
khắp theo chiều ngang, Phật cũng tột cùng theo chiều
dọc, trọn khắp theo chiều ngang. Chẳng tin cơi Phật
là thật, há biết tâm tánh chẳng hư? Nếu thật
sự ngộ cội nguồn của tâm tánh, ắt liễu đạt
mười giới nhiễm hay tịnh đều do một
tâm. Do tâm nhiễm nên thăng trầm trong sáu đường,
ác cảnh Sa Bà rành rành. Do tâm tịnh nên một đường
thanh tịnh, Cực Lạc vốn sẵn trang nghiêm. Hiềm
rằng thấy Sa Bà là có, mê lầm ngỡ Cực Lạc
là không. Lại lớn lối xưng là viên đốn, ra rả
bàn vô ngại, coi “hân, yếm”
(ưa thích Cực Lạc, chán nhàm Sa Bà) là viễn vông, coi “lấy,
bỏ” thành hai chuyện!
Nếu thật sự
ngộ viên tông, hân yếm có bao giờ chẳng viên! Thật sự chứng
vô ngại th́ lấy bỏ cũng há có trở ngại? Ắt
cứ muốn ĺa Tịnh Độ để bàn duy tâm, bỏ
Di Đà ḥng nói bản tánh, ngang ngược cách biệt tự,
tha, cắt, xé Sự, Lư, liệu giản đúng như thật,
[th́ kẻ chấp trước như vậy] chỉ thành
ác thủ không kiến! Há bằng hừng hực giữ ư
niệm “quyết định cầu sanh”, hiểu rơ niệm
chính là vô niệm, sanh chính là vô sanh. Nếu
chẳng hiểu rơ “niệm mà vô niệm,
sanh mà vô sanh”, hăy dùng
chúng sanh trong tâm của chư Phật để niệm
chư Phật trong tâm chúng sanh, chẳng cần biết trí
hay ngu, đều quy vào biển giác. Một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật.
Phật là Bổn Giác,
niệm là Thỉ Giác. Thỉ Giác
và Bổn Giác
hợp nhau, lập tức là Cứu
Cánh
Giác. Năng và Sở rành rành, Năng và Sở
tánh tuyệt, chí viên, chí đốn, chân thật vô ngại,
siêu việt hết thảy các pháp môn, gọi là “vua trong
các tam-muội”. Đấy chính là
lư do sáu phương Điều Ngự cực lực
xưng dương, lịch đại tổ sư tận
tâm tu tập, khuyến hóa. Bậc đại đức
siêu thắng dốc chí tu Tịnh nghiệp, muốn khiến
cho chúng sanh trong cơi đại thiên ai nấy gánh vác chuyện
này, bèn lập kế hoạch
to lớn, rộng khuyên tăng, tục, hoặc tự niệm,
hoặc chuyển thỉnh, hoặc dùng miệng ca ngợi,
hoặc giúp
đỡ bằng cách khác. Tự niệm th́ mỗi
niệm đều phù hợp khít khao Phật tánh. Giáo hóa người
khác th́ ai nấy đều nhanh chóng lănh hội Bồ Đề,
dụng tâm tốt lành, lại
c̣n rộng lớn. Tôi đặc biệt viết lời trần
thuật để thưa với những người cùng
có Phật tánh.
* Bài sớ về chuyện thiền nhân Tượng
Nham khuyến hóa trai tăng mười vạn tám ngàn vị
Tăng
Mọi người chỉ
biết tôn trọng Phật pháp, chẳng biết coi trọng
Tăng. Chỉ biết Tăng tôn trọng Phật pháp, chẳng
biết Phật pháp coi Tăng là trọng! Chẳng có Tăng,
pháp luân sẽ chấm dứt. Pháp luân dứt th́ huệ mạng
của Phật đoạn tuyệt. V́ thế, so trong các
phước điền thời Mạt, không ǵ bằng cúng
Tăng. Cố nhiên Tăng bất đồng, có chân thật
tăng, có thanh tịnh tăng, có tăng như dê câm, có
tăng chẳng biết hổ thẹn. Phàm chân thật th́
gọi là Thắng Nghĩa, thanh tịnh th́ gọi là thế
tục. Chẳng phải là thắng nghĩa th́ thế tục
chẳng tôn trọng. Chẳng có thế tục th́ thắng
nghĩa không
nơi nương
gởi! V́ thế, Ứng Chân đại sĩ, Địa
Thượng Bồ Tát thường hiện thân trong thế
tục, không chỉ cùng tu thanh tịnh, mà c̣n thị hiện
dấu tích không hổ thẹn để cảnh tỉnh
phàm phu nhục nhăn, khiến cho họ biết chẳng thể
coi thường Tăng tướng.
Do vậy, người làm Tăng phải nên
tự khéo suy xét, chọn lựa,
răn dè các hạnh không hổ thẹn, hạnh dê câm, do
thanh tịnh mà tiến tới chân tu. Cúng Tăng th́ phải
nên cung kính, thừa sự hết thảy, coi hạng
tăng dê câm, tăng không hổ thẹn đều giống
như bậc tịnh lữ chân thật. Sau đấy, nh́n
thấy, gặp
gỡ
Tăng, không vị
nào chẳng
phải là ruộng thù thắng. Biết nguyên do ấy, sẽ
cảm
cách hiền thánh. Nếu tâm sanh phân biệt, dẫu cúng
năm trăm vị La Hán, chẳng bằng gặp một
vị phàm tăng.
Khai sĩ Tượng Nham muốn tậu một
trăm mẫu ruộng làm tăng điền, trải qua
ba năm chưa thành, bèn hỏi tôi nguyên do khó thành. Tôi gập
một lóng ngón tay nói: “Lập ruộng cho tăng, ắt phải
kiếm
được người thay thế khéo kế tục. Nếu
không, sẽ bị trở thành của riêng”. Lại gập
ngón tay thứ hai, nói: “Một mẫu, nửa mẫu,
người ta sợ hăi chẳng dám lănh nhận”. Lại gập
ngón tay thứ ba, nói: “Ruộng nhà chùa chẳng trọn khắp
mười phương, hẹp mà xấu”. Khai sĩ tỉnh
ngộ, nói: “Như vậy th́ nên làm như thế nào?” Tôi
nói: “Chẳng bằng mở rộng hoài băo, ngay lập tức
tiêu trừ rỗng rang ư niệm ấy (ư
niệm tậu ruộng). Hăy giáo hóa trọn khắp người
dù dư dật hay khốn khó, b́nh đẳng cúng dường
đại chúng đây, kia. Một đồng tiền, một
hạt gạo, đều gieo vào ruộng thù thắng, dứt
bặt tội khiên tạo nghiệp cho kẻ ngu phế
tăng điền thành của riêng trong tương lai, mở
ra điều
thiện tùy tâm nhiều ít của mỗi người trong
hiện tại. Tiến hành dần dần, con số há phải
chỉ là mười vạn tám ngàn, cuộc đất nào
hạn cuộc nơi Giang Tả, Chiết Hữu? Thời
gian há chỉ hạn định ba năm đă hoàn tất
ư? Trong mỗi niệm đều cùng trọn khắp
hàm thức trong pháp giới cúng dường pháp giới
Tăng Bảo cho tới tột cùng vị lai, chẳng hề
chán nhàm. Một đồng, một hạt của mỗi vị
đàn-na thảy đều cúng trọn khắp hết thảy
Tăng-già. Mỗi chiếc răng, mỗi g̣ má của mỗi
vị tăng thảy đều có thể thọ trọn
khắp hết thảy cúng dường. Luận về
phước bố thí th́ rộng lớn hay nhỏ nhặt đều vô ngại. Luận về
thọ dụng th́ phàm thánh chen lẫn. Chỉ trong nhật
dụng hiện tiền chính là cảnh giới sở hành của
Phổ Hiền. Hăy nên tin chắc, tận lực thực hiện!
* Sớ quyên mộ khắc in phạm bản của
các kinh Đại Thừa đă được giảo
chánh
Trộm xem Sơ Tổ truyền
đạo, dùng kinh Lăng Già để ấn tâm, ngũ diệp[61]
lưu tiếng thơm, Kim Cang chứng ngộ, bởi
thật sự có thể giải thoát văn tự th́ mới
là ngôn từ tịch diệt. Chẳng hiểu
đại ư “từ phương Tây đến”, mọi
người ở Đông Độ mù mờ, dùng ma thuyết
ḥng giải nỗi oan của Phật, do chẳng thông hiểu
mà hư vọng xưng là “tự lập”. Ta lẫn người
đều lầm, Tông lẫn Thuyết cùng bị
thương tổn! Than ôi! Xưa kia, [đức
Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ]
muốn lay tỉnh kẻ đang đắm đuối
trong mê ám, chỉ cốt sao chỉ rơ diện mạo cho
chúng sanh. Nay muốn cực
lực chấn chỉnh thói tệ đương thời,
ắt cần phải sốt sắng noi theo khuôn lối
cũ. Ví như làm thánh, làm hiền, nếu bỏ lục
kinh, tứ thư, sẽ chẳng có chuẩn đích. Thành
Phật, làm tổ, chỉ có kinh điển Đại Thừa
làm kim chỉ nam. Xét
thấy pháp đạo suy bại, sai ngoa chẳng
phải chỉ một. Không chỉ chẳng thể khởi
tu đúng như lời dạy, mà c̣n chẳng thể khéo hiểu
nghĩa thú. Không chỉ chẳng
thể khéo hiểu nghĩa thú, lại c̣n chẳng
thể giảo chánh câu văn, từ ngữ. Như Phạm
Vơng Giới Kinh được tăng đồ truyền
tụng mà lỗi sai càng nhiều. Kinh Kim Cang Bát Nhă
được cả cơi đời thọ tŕ mà bị
tăng thêm, giảm bớt quá đáng. Pháp môn suy bại có
phần nào v́ lẽ đó!
Than ôi! Hành nhân đời
Mạt căn ngày càng độn, chướng ngày càng sâu, bụng
rỗng tuếch, tâm cao ngất ngưởng, tu mù, luyện
đui, đă chuốc lấy tiếng chê cười Dạ
Lang, lại c̣n vướng nạn “vô
văn” (chẳng
nghe, chẳng học kinh pháp).
Chẳng phải là bậc trọn đủ tổng tŕ, giảo
chánh chỗ sai lạc để sửa cho đúng văn
nghĩa, dùng ǵ để khai phát diệu giải, sách tấn
chân tu ư? Cư sĩ Liên Châu t́m ṭi các kinh, chỉnh lư
thành bản tốt nhất, đích
thân chép lại cho khắc in ḥng rộng
lưu thông, đúng là duyên lành hiếm có, là pháp hỷ tối
thắng. Tăng, tục
đại tâm, cảm niệm sâu xa xưa nay, khiến cho sớm
được thành tựu vậy!
* Sớ khuyến hóa
đức tượng Địa Tạng bằng sắt
Hồng
chung có tánh vô biên âm, gơ một tiếng bèn nhanh chóng thấu tận
Thiết Vi. Địa Tạng trọn đồng thể
đại bi, hễ chiêm lễ liền nhanh chóng được cứu
bạt. Để có thể mong giác ngộ nơi U Minh, hăy
nên chuyển chướng duyên trong hiện tại. Ngài Tâm
Hoài Lễ ở Linh Phong đă đúc chuông, gơ chuông, lại
nghĩ tạo tượng ấy. Tuy vẽ vời,
khắc, họa tánh đều cùng là tánh đồng hư
không, nhưng [tượng Địa Tạng] luyện
thành thép thuần, có thể biểu thị sự kiên cố,
bất hoại. Tứ đức chẳng phải trần,
nhưng nhờ vào một trần mà hiển lộ trọn
vẹn. Tam thân chẳng có h́nh tượng, liền dùng ảnh
tượng để phô bày khéo léo. Dâng lời tới bậc
cao hiền, cùng hành đàn thí. Người giúp sắt
như phát khởi cái tâm chánh nhân, có thể vượt lên
diệu quả Pháp Thân. Người giúp than như phát khởi
cái tâm liễu nhân, có thể ngộ quang minh Bát Nhă. Người
giúp thức ăn, chi dụng, như phát khởi
cái tâm duyên nhân, có thể tạo nền tảng cho thần
thông giải thoát. Từ
đại sĩ mà phát cái tâm ấy,
đúng là toàn tánh khởi tu. Do niềm tin của đại
chúng mà thành tượng này, chính là toàn tu tại tánh. Sự
như thế, Lư như thế, nhân như thế, quả
như thế, chân ngữ, thật ngữ, hăy suy nghĩ chắc
chắn, thực hành chắc chắn!
* Sớ khuyến hóa
cúng dường giúp thiền nhân Ngũ Uẩn bế quan
Học
nhân từ thời cổ chưa từng có ai chẳng vạch
cỏ, ngóng gió, tham phỏng rộng khắp. Chưa nghe ai
khô khan giữ lấy một cái thất mà có thể tiến
bộ trên đường đạo. Nhưng phải có
chánh nhăn th́ mới có thể tham học các phương, tận
lực học th́ mới có thể có con mắt ấy! Xét
theo phương diện tận lực học pháp th́ hoặc
là chọn lựa thầy, bạn, hoặc nhờ vào cảnh
để luyện tâm. C̣n nếu như cứ ê a trong một
thất, dẫu tận lực học vẫn biến thành
hạn cuộc! Thiền nhân Ngũ Uẩn tính bế quan
để học Giáo, Luật. Từ cái ải này chuyển
sang cái ải khác là do [sự nỗ lực] của Thiền
nhân, quyết sẽ do thế giới [Tất Đàn] mà bỗng
ngộ lợi ích do đối trị [Tất Đàn]. Do sự
việc mà thành tựu sự việc là vì cậy
vào thiện tín. Đúng là có thể cậy vào ngoại hộ
mà ngầm vận dụng quyền truyền dạy, chờ
tới lúc then chốt, mới tin vào công đức của
chính ḿnh lẫn người khác đều chẳng lừa
dối vậy!
* Sớ quyên mộ cúng
gạo trường sanh để lễ sám, tŕ chú của
Hàm Bạch quan chủ
Mê
chân dấy vọng, ai chẳng tạo nghiệp? Nghiệp
có nặng, nhẹ, quả báo thuận theo đó [mà có nặng,
nhẹ]. Trong ấy, chuyển nặng thành nhẹ, chuyển
nhẹ thành chẳng c̣n, chỉ riêng có một môn sám hối
mà thôi! Nghiệp nặng mà có thể sám hối sâu xa, nghiệp
liền băng tiêu. Tội nhẹ mà chẳng có tâm sám trừ,
rốt cuộc trở thành định nghiệp. Do vậy,
kinh tán thán hai loại người mạnh mẽ: Một là
chẳng tạo tội, hai là đă trót làm mà có thể sám hối.
Chẳng tạo tội, cố nhiên là ổn thỏa, thích
đáng. Đă tạo mà có thể sám hối, nếu sức
sám hối sâu xa, càng đáng gọi là “mạnh
mẽ”.
Tam thế chư Phật khởi đầu từ danh tự
sơ tâm cho đến sau khi đă chứng Đẳng
Giác, không vị nào chẳng dùng Ngũ Hối làm
phương tiện tấn tu. Hăy nên biết:
- Tác pháp sám có thể diệt
nghiệp chướng.
- Thủ tướng
sám[62]
có thể diệt báo chướng.
- Vô sanh sám có thể diệt
phiền năo chướng.
Tam chướng diệt
trọn vẹn, tam đức viên thành, tam thân hiển lộ
trọn vẹn, thẳng thừng, nhanh chóng. Đó gọi
là “buông dao mổ xuống, lập tức thành Phật”.
Khai sĩ Hàm Bạch đau đáu nghĩ tới lỗi
trước, khéo nghĩ cách bù lỗi, tính bế quan để
v́ trọn khắp pháp giới chúng sanh sửa lỗi
trước, tu tỉnh cho mai sau. Hăy nên biết: Vừa mới
phát cái tâm này, định nghiệp đă chuyển. Tôi
đă v́ ông ta truyền dạy Đại Bi Tâm Chú Hành Pháp,
cũng dạy chân ngôn Diệt Định Nghiệp của
Địa Tạng Bồ Tát, đều là thuốc tốt
lành để trừ tận gốc chủng tử tập
khí căn trần. Siêng hành tŕ, sáu thời chẳng khuyết,
nhất tâm bất loạn, sẽ tự độ, độ
người, pháp nào cũng đều trọn đủ,
chẳng lo thiếu duyên trợ đạo. Có ai mà chẳng
có vô lượng nghiệp? Ai chẳng muốn cùng với
hành nhân chân thật cùng vào trong biển sám-ma thanh tịnh?
Pháp tùy hỷ chẳng đợi người khác khuyên
lơn vậy!
* Sớ trợ duyên
khai sĩ Huyền Tố kết lều tranh để tu Chỉ
Quán
Chẳng
hiểu đạo Chỉ Quán th́ trong thiên hạ sẽ chẳng
có chân Thích. Nếu
chẳng bàn tới “học tư chi
trí” (vận dụng tột cùng học tập và suy khảo),
thiên hạ sẽ chẳng có chân Nho. Đạo Nho là “tận
tâm tri tánh”[63].
V́ thế, “đốc hành” (chuyên dốc thực hành) một
chuyện, ắt phải ở sau rốt trong “học vấn
tư biện”[64].
Rất dễ bỏ sót “tư biện”, do vậy, càng
phải nên “khoan cư”.“Khoan cư” tức
là tên gọi khác của “tư biện”. Dùng tâm thần
để lănh hội, cho nên nói “khoan dĩ cư chi”
(dùng ḷng khoan dung nhân hậu để cư xử). Do khéo
léo quyết định chọn lựa, nên nói là “thận
tư,
minh biện” (suy nghĩ cẩn thận,
biện định rơ ràng). Thánh học uyên nguyên, ắt
phải hướng theo chỗ then chốt ấy để
thấu triệt th́ mới chẳng lo lỗ măng diệt mất.
Phật đạo lấy
kiến tánh minh tâm làm chỉ quy, lấy tín hạnh và pháp
hành làm phương tiện. Tín hành để nắm giữ
Giáo, há bỏ quán tâm?
Pháp hạnh quán tâm, há dung ĺa Giáo?
Do vậy, chư tổ Tây Thiên, không vị nào chẳng quán
triệt Tam Tạng, thâm nhập các môn Thiền. Nam Nhạc,
Thiên Thai hoằng thông Bát Nhă, Pháp Hoa, cũng không vị nào chẳng
coi quán tâm là trọng yếu, mắt và chân cùng vận dụng
vào ao thanh lương. Nếu không, dùi mài nơi giấy
cũ, rốt cuộc chuốc lấy tiếng chê cười
“kể chuyện ăn, đếm của báu”, ngồi
lạnh ngắt trên bồ đoàn, chẳng khỏi mắc
họa ám chứng, vô văn! Học mà
chẳng nghĩ, ắt sai lầm;
nghĩ mà chẳng học, ắt lười nhác. Pháp truyền
sang Đông Độ, môn đ́nh dần dần đi vào ngơ
rẽ. Người lập pháp vốn là quyền nghi cứu
chữa bệnh nhất thời; lần lượt
lưu truyền, [các
tông] bèn thành [đối lập nhau như] nước,
lửa! Tông và Giáo phủ định lẫn nhau, tánh và
tướng đối lập, Thiên Thai và Hiền Thủ
bài bác lẫn nhau. Vốn ai nấy đều đúng, do chấp
vào ngôn từ nên đều sai. Hơn nữa, người
thuộc Giáo Hạ chẳng nghĩ tu chứng, các vị
thuộc Tông Thừa phần nhiều rơi vào đường
hiểm đến nỗi hạnh quả chẳng thành,
giáo đạo gần dứt mất.
Chỉ có một tông
Thai Lănh (tông Thiên Thai) khởi đầu từ Trí Giả,
Chương An, giai đoạn giữa là các cụ Kinh Khê,
Tứ Minh, lại gần đây là các vị đại
sư Diệu Phong, U Khê nối tiếp nhau hưng khởi,
Giáo lẫn Quán cùng nêu, tín lẫn pháp đều vẹn. Do vậy,
có thể vượt trội quán đạo đ́u hiu của
các giáo Hiền Thủ, Từ Ân, cũng hơn hẳn giáo
pháp lờ
mờ của các tông Tào Động, Lâm Tế.
Một sợi tơ ở phương Đông Nam đúng là
có thể buộc chín đỉnh Phật pháp chẳng
rơi, là cầu, bến trong đời Mạt, bỏ pháp
này th́ sẽ theo pháp nào đây?
Khai sĩ Huyền Tố
là bậc tuyển nhă[65]
trong rừng Nho, bỗng ngộ vô thường, nhanh chóng xuống
tóc, nương thân nơi Thai Lănh, chân chẳng bước
ra khỏi cửa U Khê đă mấy năm, ôm bệnh tham cứu, cầu học,
sáng tối chẳng phế, dốc công
đổ sức nơi học vấn
và tư biện, đáng gọi là bậc “chẳng đạt
được, sẽ chẳng ngừng cố gắng”.
Ông dốc chí hành một sự, nay chính là đúng lúc, tính
tuân theo di mạng của Như Lai, dùng hạnh Đầu
Đà, trụ A Lan Nhă. Nhưng muốn chánh tu, trước
hết cần có phương tiện, trong ṿng ngũ duyên,
bốn sự đứng đầu. Đấy là người
có chí làm bậc chân Nho, giúp thành tựu sự nghiệp chân
Thích này. Tôi thường nói “chẳng phải là chân Thích,
sẽ chẳng đủ để b́nh trị cơi đời”.
Do vậy, hết thảy Tam Bảo thường có thể
ủng hộ thế gian, mà chân Nho cũng đủ để
xuất thế. V́ thế, hết thảy quốc
vương, đại thần, trưởng giả,
cư sĩ hữu đạo thường có thể nhớ
nghĩ lời Phật phó chúc. Người có con mắt chân chánh nhất
định sẽ có thể thấu đạt sâu xa ư này,
biết có phước điền thế gian tồn tại.
* Sớ trợ duyên khắc
in Chiêm Sát Hành Pháp
Kinh
Dịch nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư
khánh, tích bất thiện chi gia, tất hữu dư
ương” (nhà chất chứa điều thiện, ắt
niềm vui có thừa. Nhà chứa điều bất thiện,
ắt tai ương có thừa). Kinh Thư chép: “Huệ
địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng.
Tác thiện giáng chi bách tường, tác ác giáng chi bách
ương” (thuận theo đạo trời mà hành sẽ
dẫn đến cát tường. Hễ trái nghịch, sẽ
dẫn đến hung hiểm. [Cát, hung] chỉ là giống
như bóng theo h́nh, như tiếng vọng lại của âm
thanh. Làm lành th́ trời giáng xuống trăm điều tốt
lành. Làm ác th́ trời
giáng xuống trăm tai ương). Thuyết nhân quả
báo ứng chưa hề chẳng sáng tỏ rơ rệt trong
thế gian. Nhưng Nho luận theo đời hiện tại,
chưa đủ để dứt hết nghi t́nh của kẻ
ngu.
Kể từ khi kinh Phật
được truyền vào Chi Na, nói trọn quả báo ba
đời, càng tăng thêm sự
hiểu biết đối với những điều Nam
Cung Quát[66]
đă ngộ, và lời ca ngợi
“bậc thượng đức” của
Khổng Tử, sự lư chẳng dối gạt. Nhưng
Tam Tạng nói quyền biến, chỉ nói về pháp nhân
duyên, chưa nói thẳng thừng “nhân duyên vô tánh”. V́ thế
nói: “Phật có thể chuyển hết thảy các nghiệp,
chẳng thể chuyển định nghiệp”. Cho tới
trong hội Đại Thừa, mới rộng nói rơ ḷng Từ
sâu xa đặc biệt thù thắng, lập phương tiện
thù thắng, lạ lùng. Nương theo lư “vạn pháp duy
tâm, duyên sanh vô tánh”, lập ra hai pháp sám Thủ Tướng
và Vô Sanh để thông cùng tận Tác
Pháp Sám.
Sau đấy, tội chẳng lớn, nhỏ, chướng
chẳng cạn, sâu, hễ y giáo hành tŕ, đều kham tiêu
diệt. Như mặt trời rạng rỡ giữa
hư không, sương, móc nhanh chóng tiêu mất.
Kẻ mê muội cho rằng
“trọng
tội được phép sám hối”,
bèn mở rộng cửa tội (phóng túng làm ác) là v́ không chỉ
chẳng biết ḷng Từ rộng lớn
của Phật, Bồ Tát, mà cũng nào có biết liễu nghĩa
trong Nho môn! Khổng Tử nói: “Quá nhi bất cải, thị
vị quá hỹ. Ưu hối lận giả, tồn hồ
giới, chấn vô cữu giả, tồn hồ hối”
(Có lỗi mà chẳng sửa đổi, đó là lầm lỗi.
Do lo buồn, hối hận, tiếc nuối, sẽ chú ư những
điều nhỏ nhặt, lo lắng, dè dặt sao chẳng
phạm lỗi; đó là do có ư niệm hối hận vậy),
nhằm dạy rơ đầu mối để mọi
người sửa lỗi đổi mới.
Phàm tội có nặng
hay nhẹ, chuyện chẳng phải là nhất loạt một
lẽ. Pháp thế gian chẳng thể trị th́ Phật
pháp có thể trị. Tác pháp [sám hối] chẳng thể trị,
thủ tướng [sám hối] trị được. Thủ
tướng chẳng thể trị, vô sanh [sám hối] trị
được. Vậy th́
pháp rốt ráo ĺa khổ giải thoát, chẳng thể không
quy công cho Phật môn, lại chẳng thể không quy công cho
các vị đại sĩ Quán Âm, Địa Tạng. Đức Quán
Âm ứng hiện trong mười phương thế giới,
càng hữu duyên với ngũ trược. Đức Địa
Tạng dạo trong Sa Bà ngũ trược, đối với
tam đồ, ḷng Bi
càng sâu nặng. Như cha mẹ b́nh đẳng yêu
thương các con, nhưng đối với đứa
c̣n thơ ấu và vô năng, ḷng càng thiên trọng.
Kinh Chiêm Sát Thiện Ác
Nghiệp Báo này quả thật là cầu bến bậc nhất
cho kẻ nhiều chướng trong thời Mạt. Kiên Tịnh
Tín Bồ Tát ân cần dốc ḷng cầu thỉnh, Thích Ca
Mâu Ni Phật trân trọng phó chúc. Lợi trọn khắp ba
căn, Tứ Tất Đàn đều trọn khắp. Chẳng
chướng nào không trừ, chẳng ngờ vực nào
không phá. Ba loại luân tướng hoàn toàn nương vào Lư
để thành tựu Sự; do vậy có thể từ ngay
nơi Sự mà thấu đạt Lư. Hai loại quán đạo,
hoàn toàn là từ ngay nơi Sự mà nhập Lư, chưa từng
chấp Lư phế Sự. Lại c̣n trần thuật tường
tận sám pháp, dù thủ tướng, hay vô sanh, chưa từng
chỉ bày cặn kẽ. Khai thị xưng danh, quán Pháp
Thân, quán thân chính ḿnh, nhanh chóng cùng nhất trí. Cho tới khéo
an ủi, nói đủ loại phương tiện hay khéo,
chẳng trái nghịch thật
lư. Hai quyển kinh ấy đă gồm thâu đại
cương trong giáo pháp suốt một đời đức
Phật, nêu cao yếu lănh tánh tướng của Thiền
Tông, phô trọn tường tận tâm thiết tha v́ loài người của
Phật, Tổ. Tôi nương theo kinh để lập
sám, cư sĩ Tŕnh Dụng Cửu quyên tiền và cũng
khuyến mộ thiện tín giúp thành tựu. Đấy
chính là muốn tự lập, lập người, muốn
tự ḿnh thông đạt, khiến cho người khác
cũng thông đạt tột bậc, ai nói học Phật
chẳng phải là chuyện thuộc Phật sự của
nhà Nho vậy!
* Sớ hóa duyên vạn
bát
Rồng
có được một giọt nước, sẽ tạo
mây, tuôn sương, nhuần thấm khắp hoàn vũ. Công
ấy quả thật là do nước hay do rồng? Hay chẳng
phải là công của nước và rồng? Bảo là công tại
nước th́ chỉ là một giọt, đúng là gặp nắng
gắt nung nóng liền khô cạn, người khát uống
vào chẳng thể dịu mát lưỡi! Nói công bởi rồng
th́ đặt rồng nơi cao nguyên, c̣n chẳng tránh khỏi
nỗi đau đớn v́ cát nóng, nỗi khổ quằn
quại. Bảo là công chẳng do rồng lẫn nước
th́ sao hai vật gặp gỡ bèn thành tựu lẫn nhau. Rồng đă là chẳng
thể nghĩ bàn, nước cũng chẳng thể
nghĩ bàn! Ôi! Do điều này có thể ngộ diệu lư
trong pháp giới, mà lại c̣n có thể sánh ví cửa ngơ trọng
yếu trong tu chứng, bởi nước giống như
phước, rồng ví như huệ. Tánh của rồng
và nước chính là Chân Như pháp tánh. Nếu tánh của
nước chẳng phải là tánh Chân Như, vốn chẳng
thể trọn khắp pháp giới, dẫu gặp chân long,
há có thể khiến cho sóng
trào vọt? Nếu tánh của rồng chẳng phải là
tánh Chân Như, vốn chẳng thể ẩn hiện thần
minh, dẫu gặp chân thủy, há có thể biến hóa bay
lượn? Chỉ có rồng xứng tánh chế ngự
nước xứng tánh, rồng linh mà nước cũng
linh. Do nước xứng tánh có được rồng xứng
tánh, nước diệu mà rồng càng diệu.
Hai đằng phước
huệ cũng lại giống như thế. Tu phước
chẳng tu huệ, phước là hữu lậu, hữu
vi, có ngằn hạn, có cùng tận. Tu huệ không tu phước,
huệ chẳng sáng suốt, chẳng
chói rực, chẳng có lực dụng, chẳng
trang nghiêm. Chỉ dùng phước xứng tánh để
giúp cho huệ xứng tánh, như rồng có được
nước, dẫu ít ỏi vẫn chẳng thể coi
thường. Huệ xứng tánh tạo phước xứng
tánh, như nước gặp rồng, dẫu ít, vẫn chẳng
thể cùng tận. Nhưng do phước huệ nhị
luân lại có cùng một pháp tánh, đều là chẳng thể
nghĩ bàn! Nếu một vi trần
phước tụ chẳng bằng với pháp giới, sao
có thể khiến cho món cúng dường hai đồng [tiền
mua dầu cúng đèn] nhỏ nhoi [của bà lăo ăn mày] có
thể nhanh chóng vượt trội đèn cúng suốt bốn
mươi dặm của vua Ba Tư Nặc? Nếu một
niệm thật sự sáng suốt chẳng thấu triệt
toàn thể, sao có thể khiến cho vừa buông dao mổ
xuống, liền dự vào số lượng một ngàn vị
Phật trong Hiền Kiếp. Do vậy, tu huệ ắt phải
chân thật, đừng giống như rắn, trăn chẳng
thể bay lên. Tu phước chẳng chọn
lựa, đừng như rùa biển chỉ
khoe nước nhiều!
Nhưng huệ môn phải
biện định nghiêm ngặt chân, ngụy, “lấy, bỏ”
tinh tường. Phước môn th́ dung thông lớn nhỏ
khác biệt, tùy duyên càng diệu! Do vậy, Tam Học của
người xuất gia nhờ vào thầy, bạn để
t́m ṭi, nghiên cứu. Tứ sự sử dụng hằng
ngày và cơm ăn th́ cậy vào đàn-na. Thầy bạn ắt
phải chọn lựa rồi mới tinh tường,
đàn-na ắt phải b́nh đẳng rồi mới trọn
khắp. Muốn hành ḷng Từ
b́nh đẳng, quả thật chẳng ǵ bằng lập
duyên vạn bát. Mỗi người đảm nhận một
bát, ra sức rất dễ. Nhóm họp nhiều người
thành cả vạn, làm phước thật nhiều. Như
trong một căn pḥng, trọn đủ một vạn ngọn
đèn, ánh sáng của mỗi ngọn đèn đều trọn
khắp cả pḥng.
Hăy nên biết: Thí một
bát chính là đă trọn đủ công đức của một
vạn bát. Huống chi đèn nào cũng tiếp nối, ngọn
lửa sáng thêm. Ăn no, trừ tối, công trọn hết
thảy, há chỉ công đức vạn bát mà thôi! Nhiều
cũng là pháp giới, ít vẫn là pháp giới. Do ít vẫn là pháp
giới, một bát ắt chẳng thẹn ít ỏi. Do nhiều
vẫn là pháp giới, chớ nên thấy vô số bát là xa xỉ.
Cổ nhân nói: “Thiện nhân hành thiện, duy nhật bất
túc” (người lành làm lành, ban ngày chẳng đủ).
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Thập đại nguyện
vương, vô yếm, vô túc” (mười đại nguyện
vương, chẳng chán, chẳng đủ). Xin hăy trong biển
tánh pháp giới này, giăng mây đại pháp, tuôn mưa
đại pháp, mỗi giọt đều quy vào biển cả.
Đừng hỏi nước từ đâu mà đến,
cũng đừng hỏi nước ấy sẽ đi về
đâu!
* Sớ quyên mộ dựng
Hoa Nghiêm Các của Uẩn Không Tinh Xá
Pháp
truyền sang Chấn Đán (Trung Hoa), kinh quyển rực rỡ,
phong phú nhất không ǵ bằng Hoa Nghiêm, đơn giản
nhất không ǵ bằng Tâm Kinh. Xét theo chỉ thú, rộng,
lược thâu nhiếp lẫn nhau. Như câu nói “chiếu
kiến Ngũ Uẩn đều là Không” của Tâm Kinh,
ai nấy đều biết, nhưng chưa rơ dùng ǵ để
chiếu? Nếu chiếu bằng tà huệ, sẽ bảo “chết
rồi chẳng có tướng là Không”. Chiếu bằng
Bát Nhă của Thanh Văn th́ sáu phần suy xét, chia chẻ,
coi “t́m ngă chẳng thể
được”
là Không. Chiếu bằng duyên khởi Bát Nhă th́ Thể
hư, vô tánh, như huyễn, như mộng là Không. Chiếu
bằng bất cộng Bát Nhă th́ hai bên há được,
ĺa lỗi, dứt sai là Không. Chiếu bằng Bát Nhă rất
sâu th́ các pháp như Sắc v.v… hoàn toàn chính là pháp giới, Thể
dứt tuyệt mảy trần, lượng tột cùng
ngang dọc, trọn đủ, chứa đựng trọn
khắp, vô chướng, vô ngại là Không. Nương theo
đó để tu Quán, mỗi pháp đều tùy tâm, gọi
là Quán Tự Tại. Mỗi trần đều trọn
đủ, cũng gọi là Phổ Hiền; diệu trí dung
hội thấu triệt cũng gọi là Văn Thù. Đại
từ che phủ trọn khắp cũng gọi là Di Lặc.
Pháp Thân chân thường cũng gọi là Tỳ Lô. Có thể
bao trùm ba bộ Hoa Nghiêm thượng, trung, hạ bằng một
lời. Gác báu lồng lộng, rạng rỡ trong tâm mục
há đợi mưu
tính [xây dựng bằng] đất, nước ư?
Nhưng kinh Hoa Nghiêm dùng sáu tướng (thành, hoại, tổng,
biệt, dị, đồng) để nêu rơ Tông. Chẳng
có hoại th́ ǵ là thành? Chẳng có biệt, lấy ǵ để
nêu tỏ Tổng? Chẳng có dị, lấy ǵ để hiển thị đồng?
Như thế th́ một công tŕnh đất, gỗ chính là “nhờ
vào sự để biểu thị pháp ḥng sanh giải”
được nói trong mười huyền môn. Tinh Phàm, xin hăy
dùng chuyện này để tự tỉnh, khiến cho người khác tỉnh
ngộ!
* Sớ quyên mộ dầu
để thắp hải đăng
Thuở
kiếp sơ, thân người có quang minh, chẳng cần
đến mặt trời, mặt trăng. Quang minh nơi
thân giảm dần, mặt trời, mặt trăng sanh ra.
Nhưng mặt trời, mặt trăng có lúc chẳng chiếu,
kế đó bèn dùng đuốc. Công đức của
đèn đuốc không chỉ bằng mặt trời, mặt
trăng mà thôi! Mặt
trời, mặt trăng thuộc bi điền, dùng đèn
đuốc cúng dường, bi và kính cùng đầy đủ.
Huống hồ Địa Tạng đại sĩ dùng vô
duyên từ lực, đồng thể bi tâm, thị hiện
ngự tại đầu non Cửu Tử, cứu trọn
khắp các hàm thức nhiều như cát, bụi. Linh tháp nhục
thân, bốn biển quy y. Do vậy, có chuyện cúng hải
đăng.
Hăy nên biết: Một
tia sáng chiếu soi, hoàn toàn phô bày tự tánh diệu minh.
Duyên thiện đă ấp ủ, chánh nhân và liễu nhân cùng
hiển lộ. Nếu bảo là sự tướng, là trần
duyên, chẳng liên quan đến sự tu chứng, sẽ
chính là ĺa Sự để bàn Lư, ĺa cảnh để t́m
tâm! Lư như lông rùa, tâm như sừng thỏ, ai cùng vạn
thiện trang nghiêm, tạo thành cái quả Lưỡng Túc?
Xưa có kẻ trộm vật trong chùa, cắt bấc của
ngọn đèn thờ Phật [cho đèn sáng hơn], c̣n cảm
báo nhiều kiếp thân có quang minh. Huống hồ dùng hảo
tâm cúng thí, nhờ ḷng từ bi của Đại
Sĩ,
khiến cho từng ánh lửa soi tỏa khắp u đồ,
sẽ nối tiếp huệ
đăng của Như Lai, rạng ngời đuốc
báu trong pháp giới. Dù tự hay tha, cùng mở toang cửa ải
tối tăm trong đêm dài, há phải chỉ là lạc báo
trong sanh tử mà thôi ư? Xin hăy mau phát tâm, đừng
để hối hận về sau!
* Sớ tổ chức
khóa tu Hoa Nghiêm tại Phù Dung Các núi Cửu Hoa
Tôi
thường nói hăy nên tham cứu kinh Địa Tạng Bổn
Nguyện cùng với kinh Hoa Nghiêm tám mươi mốt quyển.
Hoa Nghiêm nói về cảnh giới Phật, xứng tánh chẳng
thể nghĩ bàn. Bổn Nguyện nói về cảnh giới
địa ngục, cũng xứng tánh chẳng thể
nghĩ bàn. Một đằng là thuận tánh mà tu, hưởng
niềm vui pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn. Một đằng
là nghịch tánh mà tu, hứng chịu nỗi khổ pháp tánh
chẳng thể nghĩ bàn. Thuận hay nghịch tuy khác
nhau, nhưng “toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh” là một!
Một niệm mê Phật giới,
tánh chẳng nghĩ bàn, tức là cơi Thường Tịch
Quang thuận theo ư niệm mà hóa thành núi đao, rừng
gươm, ḷ than, vạc sôi! Một niệm ngộ địa
ngục tánh chẳng nghĩ bàn, ắt dụng cụ hành
h́nh trong Nê Lê ngay lập tức hóa thành điện Phổ
Quang Minh[67],
Tịch Diệt đạo tràng. Mê, ngộ tuy khác, tánh đức
chẳng tăng, chẳng giảm, lại là một!
Nhưng tánh đức tuy chẳng tăng, giảm, chẳng
nghịch, thuận, chẳng thuộc vào mê, ngộ. Mê là nghịch
tu trong chín giới, bèn cảm hai thứ khổ báo sanh tử
là Phần Đoạn và Biến Dịch. Ngộ th́ thuận
tu trong Phật giới, bèn thành hai thứ chuyển y là Bồ
Đề và Niết Bàn. Mê là Tam Hoặc, ngộ là tam trí.
Nghịch tu là Thập Ác, Ngũ Nghịch; thuận tu là Lục
Độ vạn hạnh.
Sanh tử là tứ
tướng trong tam giới, chuyển y là Tứ Đức
nơi tam thân. Khổ tức là Pháp Thân, Hoặc tức là
Bát Nhă, Nghiệp tức là giải thoát. Ngạn ngữ nói: “Xô
người hay đỡ người chỉ là một tay.
Khen người hay chê người chỉ là một miệng”.
Kinh Đại Phật Đảnh nói: “Như nước
thành băng, băng lại thành nước”, ai lại
chẳng tin như vậy ư? Như thế th́ chín đóa
phù dung đúng là có thể biểu thị pháp giống
như chín hội trong Hoa Nghiêm, há nói kinh Địa Tạng
Bổn Nguyện chỉ là sự tướng nhân quả,
địa ngục mà thôi ư? Huống hồ thế giới
Hoa Tạng an trụ trong đại liên hoa. Như Lai thành
đạo cũng ngồi trên hoa sen báu, nhưng các địa
ngục Ưu Bát La, Ba Đầu Ma v.v… cũng lại gọi
tên là Thanh Liên Hoa, Xích Liên Hoa. Có thể thấy mỗi danh từ,
mỗi thí dụ, mỗi sự, mỗi pháp, thảy đều
trọn đủ mười giới, tùy thuộc
đương nhân mê, ngộ, thuận, nghịch như thế
nào đó thôi! Pháp tánh chẳng nghĩ bàn, Thể chẳng phải
là các tướng, chẳng trở ngại các tướng
mà nêu tỏ, địa ngục và Tịch Quang há có gián cách?
Nguyện các vị khai sĩ suất lănh các đàn việt
sẽ lấy đó làm nhân duyên để
thuận tu, khai phát chánh ngộ, vậy th́ hai quả núi Thiết
Vi sẽ chính là Kim Cang Bồ Đề đạo tràng,
không ǵ chẳng khiến cho lửa mạnh huyễn hóa sen
vàng, hết sức mầu nhiệm!
* Sớ kiến tạo
tháp chúng tăng ở núi Cửu Hoa
Phước
điền có hai thứ là kính và bi. Kính điền th́ coi
“điền” là thù thắng. Bi điền th́ coi tâm là thù thắng.
Cúng xá-lợi phước bằng hư không; đó là kính
điền. Thương xót đến cả xương
khô, được muôn đời xưng tụng là Nhân Chủ;
đó là bi điền. Công đức của một điền
đă là chẳng nghĩ bàn, huống hồ bi và kính cùng trọn
đủ ư? Phàm La Hán Tứ Quả chứng nhập Vô
Sanh, vĩnh viễn ĺa ngă chấp, đă nhập Niết
Bàn, chẳng yêu mến xương khô. Phàm phu tỳ-kheo
chưa đoạn Tư Hoặc, nếu thi hài bị
phơi bày, thần thức sẽ bất an. Thần thức
bất an, thật đáng buồn! Đường
đường Tăng Bảo khả kính, nhưng phàm thánh khó
lường, nơi thần thánh
sâu thẳm, rắn rồng hỗn tạp, nhục
nhăn há biết người được gọi là phàm
tăng chẳng phải là đại sĩ khéo tùy thuận
thị hiện ư? Do vậy, tùy
ư thờ một bộ xương, sao
chẳng trọn đủ bi điền lẫn kính điền?
Cửu Hoa là danh sơn
bậc nhất trong thiên hạ, thi hài phơi giăi trong đồng
hoang, mắt ngó run rẩy, ḷng đau nhoi nhói. Tôi vừa mới
tới núi, trước hết canh cánh chuyện này, vừa
khéo có các vị trưởng lăo cùng cổ vũ, bèn
chẳng nề hà thô lậu, vụng về, lên tiếng
xướng suất trước tiên. Người thấy
nghe, tùy hỷ, bất luận là tăng hay tục, dù ít hay
nhiều, đều đă gieo cái nhân tối thắng, ắt
đạt được cái quả vô thượng. Kính
th́ thành Phật đạo có thừa, bi th́ độ chúng
sanh vô lượng. Bèn nói kệ rằng:
- Tăng
tướng đường đường, là biển
phước đức. Dẫu là xương mục,
phước tánh há đổi?
Dựng tháp thờ phụng, sẽ tới Phạm Thiên. Dẫu
chỉ một trượng, ai nói chẳng vậy? Đại
sĩ thị hiện, trọn khắp sanh tử.
Xương mục xanh bầm, khóa móc hoàng kim. Khảy tay,
chắp tay, chân nhân đích xác. Ai làm chứng vậy? Diệu
Pháp Hoa Kinh.
* Sớ quyên mộ tạo
dựng Kính Tự Am
Thế
giới Sa Bà dùng ngôn ngữ, âm thanh làm giáo thể. Do vậy,
mỗi một văn tự đều liên quan tới huệ
mạng của Phật, Tổ, và nguyên lưu[68]
của thánh học. Kính trọng chữ chính là tôn kính
đức Văn Tuyên Chí Thánh (Khổng Tử) và Thích Ca
Văn Thế Tôn, khơi mở kẻ tối tăm, vun bồi
hạt giống trí huệ, há nông cạn ư? Ôn Lăng là
xứ văn hiến, luôn được gọi
là Phật quốc. Nay có Kính Tự Am được thành lập,
là chỗ khơi mở nguồn
đạo Thù, Tứ[69],
mà cũng là phản chiếu tâm quang của Tây Trúc. Ai nấy
đều có thể làm Nghiêu - Thuấn, phàm là người
có tâm đều có thể thành Phật. Xin hăy nương
theo lời ấy để hành, phàm đối với những
thứ giấy mực có chấm, vạch bị
vứt bỏ,
đều có thể thấy vua Nghiêu nơi tường, thấy
Phật trong ngói, sỏi. Lại phải căn dặn rằng:
Hết thảy giấy viết chữ chắc chắn có
thể xem như Lục Kinh, Tam Tạng, nhưng Lục
Kinh, Tam Tạng, sao có thể coi giống như hết thảy
các thứ giấy có chữ được! Am xây xong, thỉnh
tôi viết lời này!
* Sớ khuyến hóa niệm
Phật của sa-di Tịnh Nhiên
Kinh
dạy: “Nhất xưng Nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật
đạo” (Niệm Mô Phật một tiếng, đều
đă thành Phật đạo). Đó là nói về chánh nhân Phật
tánh, ai nấy vốn sẵn đủ.
V́ thế, xứng tánh mà dấy lên duyên
nhân và liễu nhân, ắt cùng với chánh nhân đạt
đến rốt ráo. Do vậy, Niệm Phật tam-muội
được gọi là “vua
trong các tam-muội”,
nhiếp trọn khắp hết thảy tam-muội. Tu môn
tam-muội này, có ba loại: Một là chỉ niệm tha Phật,
hai là chỉ niệm tự Phật, ba là tự Phật và
tha Phật đều niệm. Tuy tu hành có ba cách, nhưng
thành công là một.
Một là niệm tha Phật,
tức là nương vào quả đức trang nghiêm của
A Di Đà Phật làm cảnh để ta niệm. Chuyên tâm
chú ư mà ức niệm. Hoặc nhớ danh hiệu, hoặc
tưởng tướng hảo, hoặc duyên theo cái nhân rộng
lớn trong thuở xưa nơi bốn mươi tám nguyện,
hoặc nghĩ đức thù thắng trong hiện tại
như lực, vô úy v.v… Hoặc quán chánh báo, hoặc quán y
báo, gọi chung là niệm tha Phật. Cốt sao rành rẽ,
rơ ràng, nhất tâm bất loạn, tức là công tu tam-muội
đă thành, nhanh chóng lên cơi tịnh. Như các vị thượng
thiện nhân ở Đông Lâm đă chứng điều này.
Hai là niệm tự Phật,
quán một niệm hiện tiền, cái tâm nhỏ bé này, vô
thể, vô tánh, trọn khắp theo chiều ngang, tột
cùng theo chiều dọc, ĺa lỗi, dứt sai, chẳng thể
nghĩ bàn, trọn đủ bách giới thiên như, đủ
loại tánh, tướng, b́nh đẳng chẳng hai với
tam thế chư Phật. Quán sát như thế, công sâu, sức
đạt đến mức, chế phục trọn vẹn
Ngũ Trụ, sáu căn thanh tịnh, phá rỗng rang vô minh,
nhanh chóng nhập bí tạng. Như hai mươi tám vị
Tổ ở Tây Thiên, sáu vị Tổ ở Đông
Độ, và Nam Nhạc đại sư, Thiên Thai Trí Giả
đều chứng ngộ điều này.
Ba là tự tha Phật
cùng niệm. Biết rơ “tâm,
Phật, chúng sanh, cả ba chẳng sai biệt. Chúng sanh là
chúng sanh trong tâm chư Phật, chư Phật là chư Phật
trong tâm chúng sanh”, nhờ vào y báo và
chánh báo nơi cái quả ấy để hiển lộ lư
trí nơi tự tâm của chính ḿnh. Như Quán Kinh nói “tâm
này làm Phật, tâm này là Phật”. Do tâm tánh của ta vốn
sẵn có công đức chẳng thể nghĩ bàn, oai lực
nơi cái quả của chư Phật chẳng thể
nghĩ bàn, cho nên cảm ứng đạo giao, ta và người
chẳng cách biệt, cực quả viên nhân, xứng lư tỏa
sáng. Như pháp môn tu tập của các vị Vĩnh Minh Diên
Thọ, Sở Thạch Phạm Kỳ chính là chứng đắc
điều này.
Phương tiện có
nhiều môn, trở về nguồn chẳng hai, tùy hành theo
một lối, đều về đến nhà, chớ ngờ
lo, kẻo tự cách biệt bến bờ trọng yếu.
Nay sa-di Tịnh Nhiên gởi ḷng nơi Tịnh Độ,
kiêm dùng pháp này để rộng hóa độ người
hữu duyên. Hăy nên biết: Chỉ trong một niệm liền
có thể làm quyến thuộc của Đại Thế Chí
Pháp Vương Tử, hăy cẩn thận, đừng tự
khinh, tự khuất lấp! Lại nguyện người
thấy, nghe sanh ḷng tùy hỷ sâu xa, cùng ghi tên vào sổ sen,
cũng thận trọng chẳng tự miệt thị, miệt thị người khác,
ngơ hầu cùng viên thành Chủng Trí, khiến cho Ngũ
Trược rỗng không. Hăy gắng lên!
* Sớ khuyến hóa niệm
Phật của sa-di Nhẫn Thảo
Di
Đà Như Lai dùng bốn mươi tám nguyện để
nhiếp hóa mười phương. Thế Chí đại
sĩ dùng Niệm Phật tam-muội để dạo trong
thế giới này. Hăy nên biết: Chúng sanh thời Mạt bỏ
một môn Tịnh Độ mà cầu thoát sanh tử, sẽ
chẳng thể được! Phật pháp không có nhiều
phương cách, nhưng lâu dài, thường hằng th́ khó
kiếm được người! Dũng mănh một lúc
chẳng bằng suốt đời không mỏi nhọc. Do
vậy, Từ Vân đại sư dạy pháp môn Thập Niệm
vào sáng sớm,
tôn giả Phi Tích xiển dương diệu
chỉ “nhất niệm mà được văng sanh”.
Nay sa-di Nhẫn Thảo
phát tâm khuyên trọn khắp Tăng, tục tu môn Niệm Phật
tam-muội này, mỗi ngày khởi đầu bằng mười
vạn câu, cho tới một trăm, hoặc chỉ mười
tiếng, thậm chí mỗi ngày niệm một tiếng, chẳng
câu nệ số lượng nhiều hay ít, chỉ lấy “suốt đời
chẳng gián đoạn”
làm khuôn khổ, dùng công phu “đói ăn, khát uống” này
để làm bằng khoán cho đất báu ao quư. Nếu có
thể trong một niệm nhanh chóng phá vô minh, sẽ vượt
thoát lên Tịch Quang Tịnh Độ.
Nhanh chóng đoạn Trần Sa, liền vượt lên Thật
Báo Tịnh Độ. Nhanh chóng đoạn Kiến Tư,
liền vượt lên Phương Tiện Tịnh Độ.
Dẫu chưa đoạn Hoặc,
ngũ trược dần dần lặng trong, Phật
quang dần lộ, lên Đồng Cư Tịnh Độ,
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, cố
nhiên chẳng sai lầm vậy! Nguyện khắp
người thấy nghe đối với chuyện này, tưởng như
hội thù thắng ở Đông Lâm, hết thảy ghi tên
vào sổ sen, mong làm mười tám vị cao hiền[70],
nhất tâm niệm khắp tam thế Phật, mà Niệm Phật
tam-muội rành rành hiện tiền.
* Sớ kiến lập
Vu Lan Bồn hội
Tôi
thấy đạo trọng yếu nơi đức tột
cùng thuộc thế gian và xuất thế gian đều không có ǵ hơn
ḷng hiếu từ được. Thế gian chẳng có hiếu
và từ, sẽ chẳng có ǵ để thành thánh hiền.
Xuất thế gian chẳng có hiếu và từ, sẽ chẳng có ǵ
để làm Phật, Tổ. V́ thế, Hiếu
Từ
danh xưng chỉ có một, nhưng thật ra có bốn ư:
1) Phụng dưỡng
cha mẹ, nuôi nấng con cháu, khiến cho mọi người
đều được hoan hỷ. Đó là Thế Giới
Tất Đàn.
2) Có thể kế thừa
người trước, truyền cho người sau, khiến
cho [ai nấy] đều được sanh điều thiện.
Đó là Vị Nhân Tất Đàn.
3) Thuận theo lời
can ngăn, giữ nghiêm việc giáo huấn trong gia đ́nh,
khiến cho đều được diệt ác. Đó là
Đối Trị Tất Đàn.
4) Khiến cho mọi
người yêu thích, tín thuận, khải phát khiến cho mọi
người đều chánh đáng,
khiến cho họ đều được nhập Lư.
Đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.
Hơn nữa, [hiếu
thảo với] cha mẹ trong một đời là lẽ cố
nhiên. Suy đến cùng cực, [chúng sanh] chẳng có ân sanh
thân sâu nặng trải nhiều kiếp từ vô thỉ tới
nay ư? Cố nhiên là phải dưỡng dục con cháu
trong một nhà, nhưng mở rộng ra, chẳng phải
là hàm linh trong pháp giới đều như
con đỏ của chúng ta ư? Do vậy, nhà Nho trọn hết
đạo ấy trong hiện tiền, c̣n nhà Phật th́ mở
rộng đến bao kiếp.
Nhà Nho chỉ nêu ra đầu mối trong thế giới
này, nhà Phật th́ gồm thâu cùng tận sát hải. Nhà
Nho chẳng cho đó là đúng, cho nên câu nệ cái
hư huyễn. Nếu nhà Phật chẳng cho là đúng, th́ sẽ thành hoang
đường, vô căn cứ!
Nhà Nho dẫn khởi mà chẳng phát, cho nên chỉ nêu bày cái khởi đầu.
Nhà Phật “đầy
ắp, không gì
chẳng tận” là
do xét đến chung cực, khác nào vàng rung, ngọc chạm.
Do vậy, kể từ khi đại pháp dần dần
truyền sang phương Đông, đă hơn một ngàn
năm, bậc đạt nhân cao sĩ không ai chẳng lănh hội
cái tâm. C̣n như bọn Xương Lê, Hối Am[71]
tuy thoạt đầu cực lực chống đối,
về sau đều chẳng khỏi nghiêng
ḷng ái mộ! Ấy là v́ tông chỉ “hiếu
từ” trọn chẳng phải là thừa thăi!
Ngày Rằm tháng Bảy
năm nay là ngày Đại Mục Kiền Liên thiết cúng
để cứu độ mẹ. Ngài Mục Liên đă chứng
quả Ứng Chân (La Hán), lục thông bậc nhất,
nhưng muốn báo từ ân, c̣n cần phải nhờ vào sức
của Tam Bảo và chúng tăng, huống hồ lũ ta
ư? Bọn chúng ta chẳng phải sanh từ cây dâu rỗng
ruột, tâm chẳng phải là đá tảng, nghĩ tưởng
ân sâu vơng cực[72],
ôm nỗi buồn vĩnh viễn suốt đời. Nếu chẳng nhờ
vào pháp sự Lan Bồn, sao đại lược giăi bày nỗi
niềm chất chứa?
Nói
đến Vu Lan Bồn, cơi này dịch là Giải
Đảo Huyền Khí (解倒懸器).
Bởi lẽ, nỗi
khổ trong cơi âm giống như bị treo ngược. Nay
dùng đồ đựng thanh tịnh, sắp đặt
đầy đủ các vật cúng tốt đẹp, có thể
khiến cho [vong nhân] vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ
cùng cực. Phàm con cháu hiếu thảo hăy cẩn trọng
chớ ăn nói lớn lối, tự tô vẽ mà nói: “Cha
tôi, ông tôi linh ứng ở trên trời, há bị vướng
mắc lâu ngày trong tam đồ ư?” Ôi! Khó nói lắm!
Đă chưa nghe pháp môn Tứ Đế xuất thế, lại
c̣n chưa chắc đă tuân hành Tam Quy, Ngũ Giới, Thập
Thiện, ai có thể tránh
khỏi nỗi khổ luân hồi? Nếu bỏ mặc
ngày này, [người đă khuất] hết sức mong mỏi
con cháu tạo phước cứu tế, nhưng chúng nó lại
bỏ xó, hờ hững, há an tâm ư?
Hơn nữa, kinh
đă dạy rồi đó, “nhược phụ mẫu
hiện tại giả, phước lạc bách niên. Nhược
thất thế phụ mẫu, tự tại hóa sanh, nhập
thiên hoa quang” (nếu cha mẹ c̣n sống, sẽ phước
lạc trăm năm. C̣n cha mẹ trong bảy đời sẽ
tự tại hóa sanh, vào trong quang minh của hoa trời).
Đấy chính là công đức lợi ích. Lại c̣n chẳng
phải chỉ là “giải
đảo huyền”
(giải thoát nạn bị treo ngược) mà thôi! Người
có lòng nhân, bậc quân tử, hăy nên nỗ
lực như thế nào để cùng thành tựu hội
này. Kinh Thi có câu: “Hiếu tử bất quỹ, vĩnh
tích nhĩ loại” (Hành vi của hiếu tử
chẳng có lúc nào cạn kiệt, lan tỏa con cái và ḍng họ,
tức là sẽ dạy rộng răi khắp thiên hạ).
Tôi hết sức mong mỏi nhà Nho sẽ làm thánh hiền,
đệ tử Phật sẽ mong làm Phật, làm Tổ vậy!
* Sớ trợ duyên cho
khai sĩ Phu Tiên thủ khám[73]
Có
hiếu đạo thế gian và hiếu đạo xuất
thế. Hiếu thế gian là phụng dưỡng không ngằn
mé, lập thân, hành đạo mà thôi! Hiếu xuất thế
là tu ṛng đạo nghiệp, rộng độ bao kiếp
mà thôi! C̣n như hiếu thế gian và hiếu xuất thế,
trọn vẹn cả đôi đằng th́ như Hoàng Mai Mục
Châu quả thật chẳng có nhiều! Nay thấy khai
sĩ Phu Tiên thuộc ḍng họ danh giá ở Thanh Sơn,
đời đời học tập lễ nhạc của
Đông Lỗ. Vừa đến lúc tráng niên bèn phát tâm học
Phật, dạo khắp môn đ́nh của Chân Tịch, Bác
Sơn, dùng pháp lực, nguyện lực khuyên cha mẹ của
chính ḿnh ăn chay trường, tu đạo, cung phụng
ngọt bùi suốt hai mùa nóng lạnh. Lại khuyên họ hiện
trọn vẹn tăng tướng, gần được
một năm, họ bèn về Tây, bởi tuổi đă tám
mươi sáu. Ông vẫn thủ khám tại chân núi Hổ
Khâu, ngày đêm phạm bái, khiến cho kẻ làm con trong
thiên hạ phải hổ
thẹn v́ bất hiếu, cũng như gột rửa nỗi
oan “chẳng biết đến cha” trong đạo Phật.
Ôi! Chỉ có học Phật
rồi mới biết Nho, cũng chỉ có chân Nho mới
có thể học Phật. Kẻ chẳng ra ǵ này xuất
gia, cha chưa chôn, mẹ chưa phụng dưỡng, vốn
mong hiểu rơ đại sự rồi mới tính kế bện
giày [sống qua ngày để phụng dưỡng mẹ],
nhưng túc chướng sâu nặng khiến cho từ mẫu
bỏ tôi về Tây, ôm nỗi tiếc nuối suốt đời,
than thở măi trong giấc ngủ! Riêng khai sĩ có thể
[cha mẹ c̣n] sống th́ tận dưỡng, chết bèn trọn
hết ḷng thành, Húc cũng thật hổ
thẹn, chẳng biết núp vào đâu! Kẻ phương
ngoại như mây trôi nổi, chẳng thể giúp chút tịnh
tài, giăi bày thừa thăi lời suông, khắp v́ người
có ḷng nhân và hiếu tử, tuyên dương nỗi chí t́nh ấy.
Có ai tâm hoan hỷ thích giúp đỡ, khiến cho khai sĩ
hoàn thành giai đoạn hiếu thảo cuối cùng này,
cũng là ḷng Từ
rộng lớn lan tỏa những người cùng chí
hướng vậy.
* Sớ về công
đức trai tăng của khai sĩ Thiện Sanh
Mua
đầu ngựa chết, ắt thiên lư mă đưa tới[74].
Trai tăng một vị
tăng tầm thường, thánh tăng thuộc tam thừa
sẽ cảm cách. Đó là lẽ tất nhiên, chẳng có ǵ
là lạ? Người đời hư vọng sanh phân biệt,
đua nhau muốn xả phàm, giữ lấy thánh, nhưng
cư sĩ Quách Vĩnh Định biết “phàm, thánh là một
Thể”, tự phát tâm trai tăng một vạn vị,
lại khuyến hóa người khác trai tăng một vạn
vị. Chẳng tự hành Đàn Thí, sẽ chẳng đủ
chuyển hóa người khác! Chẳng rộng
khuyến hóa kết duyên, chẳng đủ để thỏa
măn nguyện lực của chính ḿnh, đáng nên khuyên lơn
vậy!
* Sớ trùng tu Quán Âm Am
Phổ
Môn thị hiện, không cơi nào chẳng phải là toàn thân, ǵ
là thành? Ǵ là hoại? Cần
phải biết: Thị hiện hoại, hay thị hiện
thành, đều làm tăng thượng duyên cho bọn chúng
ta đó thôi! Nếu hướng về Đại Sĩ thí
một đồng, một hạt, ví như gieo một giọt
nước vào biển cả, sẽ nhanh chóng có cùng một
Thể với biển, cho đến hết thời vị
lai, quyết chẳng tiêu mất, cạn kiệt! Nay
đích thân gặp đấng đại từ bi phụ,
nhờ vào cổ Quán Âm
Am ở ngơ Đại Bản đă nghiêng ngả, hư nát
làm chỗ thuyết pháp, nhờ khai sĩ Hằng Nguyên làm
người thuyết pháp. Hằng Nguyên thấu đạt
sâu xa pháp môn “diệu tá” (khéo léo nhờ
cậy) này, lại nhờ tôi thay ông ta Phổ Môn thuyết
pháp. Tôi nói với Hằng Nguyên: “Có người giúp cho việc
to lớn này, chẳng cần biết nhiều hay ít, ông
đều có thể thọ kư Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác cho người ấy”.
* Sớ Đại Bi
viên hạnh
Quán
Âm đại sĩ có nhân duyên sâu nhất với Sa Bà, mà
Đại Bi Đà La Ni càng là pháp môn bí yếu mật truyền
tâm ấn, v́ dùng tâm chẳng nghĩ bàn, tŕ lời chẳng
nghĩ bàn để huân tập chẳng nghĩ bàn, Chân
Như biến hiện chẳng nghĩ bàn, “ṭ ṿ chú tử”[75],
chẳng biết nhanh chóng giống như ḿnh. Xét
ra, chú này kể từ khi tôn giả Tứ Minh thiết lập
hành pháp, từ đời Nguyên tới đời Minh
chưa từng dứt tuyệt đề xướng.
Một là truyền nơi Thiên Thai, lại truyền vào
Vũ Lâm, nghi thức đàn tràng, vật cúng bởi đó
càng thịnh, nhưng pháp thức Lư quán chẳng tránh khỏi
có chữ qua ba lần sao chép, “ô, yên” (烏,焉) bị chép lầm thành Mă (馬). Tôi đă từng sang vùng Ngô, Việt,
thường muốn sửa cho đúng phần nào sai ngoa,
nhưng thiên hạ tụng “thủy lạo hạc”[76]
đă lâu, đua nhau chê tôi già nua, lẩm cẩm, [không nghe
theo], đành than thở măi mà thôi!
Khai sĩ Trạm Tŕ ở
Tổ Đường nghĩ đúng như pháp tạo
đàn, trang nghiêm tượng. Tôi vui mừng v́ Tăng, tục
phương này chưa nhiễm tập khí sai ngoa, vẫn
c̣n có thể uốn nắn cho đúng từ đầu, bèn
nói mấy lời thừa thăi ngơ hầu nghi thức trong
đàn và vật cúng sẽ
đúng như pháp để pháp thức lư quán theo thứ tự
đều được nêu bày đầy đủ.
Như thế th́ dù Hiển hay Mật, dù Thiền hay Giáo, sẽ
đều là cùng một nguyên tắc quán triệt!
* Sớ trợ duyên kết
xă tu Tịnh nghiệp và duyệt Hoa Nghiêm Đại Sao
A Di
Đà Phật dùng pháp giới tạng thân để
thị hiện thành đạo tại Cực Lạc, có bốn
mươi tám nguyện rộng thâu nhiếp các căn
cơ. Tỳ Lô Giá Na Phật cũng dùng pháp giới tạng
thân để thị hiện thành đạo nơi Sa Bà,
bèn có mười đại nguyện vương của Phổ
Hiền dẫn về An Dưỡng. Do vậy, muốn cầu
sanh Tịnh Độ, cần phải t́m hiểu thấu
đáo tông Hoa Nghiêm. Muốn nhận biết
tông Hoa Nghiêm, cần phải cầu sanh Tịnh Độ.
Chắc có kẻ cười cợt: “Hoa Nghiêm Sự Sự
vô ngại pháp giới, ngay nơi đây chính là Thường
Tịch Quang, sao lại bỏ đây, cầu kia vậy?”
Thưa rằng: “Đă là Sự Sự vô ngại, tức là do
đây mà cầu kia, há có ngăn ngại ǵ? Ngay nơi
đây đă là Thường Tịch Quang, tức Tây
Phương cũng là Thường Tịch Quang. Do là
Thường Tịch Quang, cố nhiên chẳng
thể xả, chẳng thể cầu, cũng có ǵ ngại
xả, ngại cầu? Xả tịch quang uế như thế
để cầu tịch quang tịnh, sanh th́ quyết
định sanh, đi th́ quyết định chẳng
đi, sanh th́ thật sự chẳng sanh, đi th́ quyết
định đi, há có ǵ trở ngại?” Người ấy
chẳng biết nói sao. Tôi nói: “Nếu ông chẳng hiểu,
hăy thưa hỏi Tỳ Lô Giá Na. Nếu ông chẳng thể
thấy Tỳ Lô Giá Na, hăy thưa hỏi Phổ Hiền
nguyện vương. Nếu ông chẳng thể thấy Phổ
Hiền nguyện vương, xin hăy ở ngă tư
đường, chắp tay nói với mọi người
rằng: ‘Xin thí cho tôi một đồng tiền’, ắt sẽ
có người bảo với ông!”
* Sớ quyên mộ khắc
in Hám Sơn Đại Sư Toàn Tập
Căn
cơ của phương này dùng văn tự làm giáo thể.
V́ thế, Nho hiệu Văn Tuyên, Phật hiệu Thích Ca
Văn. Do tánh thiên lưu xuất văn chương, văn
chương có thể nghe, tức là tánh thiên có thể nghe.
Do văn chương mà thông đạt tánh thiên, tánh thiên chẳng
thể nghe, tức là văn chương cũng chẳng thể
nghe ư? Phật pháp truyền vào Chi Na, dần dần chú
trọng hiểu nghĩa theo văn tự! Tổ Đạt
Ma lúc mới đến, chỉ thẳng tâm người, thấy
tánh thành Phật, gột rửa tập khí văn tự, có
thể nói là châm cứu đúng huyệt, nhưng vẫn
dùng kinh Lăng Già để ấn tâm. Văn chương
và tánh thiên chưa hề rành rành tách
rời thành hai đằng
đă rơ rồi! Sau mấy lượt
truyền thừa, kinh Lăng Già lại trở thành lưu
truyền danh tướng. Do vậy, các vị đại
tông tượng đua nhau ra sức cứu vớt, văn hồi,
muốn cho [học nhân] đều siêu t́nh ly kiến, tháo
niêm cởi trói, phá hết sạch tâm thức phàm phu, sao cho
phù hợp Tu Đa La mới thôi, chưa hề dám trái nghịch
lời Phật, tự phô phang kiến giải! Truyền
đến hiện thời, công án của năm tông gần
như lại trở thành học vấn danh tự đó
ư?
Chỉ có Hám Sơn
đại sư nương theo nguyện lực cũ, vốn
từ Tây Phương tái lai, khởi đầu từ
Trường Can, cất bước hành cước, đă
có khí khái của hương tượng rẽ đôi ḍng
nước. Sau đó tại Ngũ Đài, ở trong tuyết,
chết ngất rồi tỉnh lại, dạo khắp
giang hồ, viết lách lưu loát. Thương đời
Mạt vô văn, ám chứng, đă mê muội đối với
lời Phật, mà cũng đánh mất Phật tâm; do vậy,
Ngài trước thuật khá nhiều, pháp ngữ, thơ
văn v.v… Bốn mươi hai quyển, đều do lăo
nhân tùy ư nói ra, nhiều
chỗ cảnh tỉnh, phát khởi mọi
người. Pháp quyến là Hư Trung khéo chép thành sách, tŕnh
lên quan thái sử Tiền Mục Trai. Có một sa-môn vô lại
mạo nhận từ chỗ Thái Sử tới, đem di cảo
đi mất. Nay cao túc là X… kế thừa chí của thầy
ḿnh, xin tôi một lời để thưa với đàn
tín. Tôi cảm kích ân sâu tiếp dẫn trong mộng của
sư ông, thẹn chẳng có ǵ để báo đáp, bèn ứa
nước mắt viết bài sớ này.
* Sớ trùng tu đại
điện chùa Pháp Vân tại đỉnh Ngũ Nhũ ở
Lư sơn
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhược nhân
dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật,
ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo”
(Nếu ai muốn hiểu rơ, ba đời hết thảy
Phật, nên quán tánh pháp giới, hết thảy do tâm tạo).
Bởi lẽ, từ vô thỉ cho đến tột cùng
đời vị lai, chỉ có một cái tâm này chẳng
có thời khắc nào chẳng tạo đủ loại
Ngũ Ấm, tạo đủ loại thế gian, tạo
đủ loại quốc độ. Tạo mà thành, chẳng
từ đâu đến. Tạo mà hoại, chẳng đi
về đâu, chẳng thể nói là “duy tâm” ư? V́ thế,
trong cơi đời có người thấu đạt duy tâm
th́ mới có thể bàn luận với họ về cái
được tạo tác, mà cũng chỉ có người
khéo hiểu cái khéo được tạo th́ mới có thể
cùng ngộ duy tâm. Người hiện thời nh́n cái tâm này
hạn cuộc, chưa từng biết “ngoài tâm chẳng có
pháp”, lại c̣n coi rẻ Sự tạo (tạo tác nơi mặt
Sự), chưa thể
biết “ngoài Sự chẳng
có Lư”. Do vậy, hễ
nhắc đến trang nghiêm cơi Phật, [kẻ đó sẽ]
vội vàng bảo “chớ nên chấp tướng”. Than ôi!
Cố nhiên là chớ nên chấp tướng, nhưng phi
tướng lại há nên chấp ư?
Nếu thấu đạt
“duy tâm” th́ tướng
chính là phi tướng, cái tâm này tạo đại điện.
Cái tâm này đă là đại điện, sao lại chấp
Có? Nếu chẳng dùng cái tâm ấy để tạo đại
điện, lại đem cái tâm ấy tạo đủ loại
y báo và chánh báo tệ ác, há có khoảnh khắc nào chẳng tạo?
Nhưng tạo đại điện là cái duyên mầu nhiệm
của Phật giới. Duyên nhân nếu chín muồi, liễu
nhân ắt phát khởi. Nếu liễu nhân phát khởi, chánh
nhân ắt phô tỏ, mới biết tạo chính là chẳng
phải tạo. Nh́n lại chuyện phí uổng tâm lực ấy
để tạo các tạp nghiệp khác, nói lấp liếm
là “chẳng tạo”, rốt cuộc chẳng tránh khỏi luân hồi,
há có thể nói là giống hệt như nhau ư? Chùa Pháp
Vân nơi đỉnh Ngũ Nhũ của Khuông Lư ngày
càng cũ nát, hư sụp, đồ đệ là X… chẳng
ĺa trong tâm của chúng ta, lập ra duyên lành này. Tôi
v́ tăng tục nguyện tạo Phật giới, chẳng
mong tạo chín giới, nên thưa bày như thế đó!
* Sớ niệm đậu
nhi Phật (niệm Phật bằng
cách dùng hạt đậu để nhớ số)
Tuyết
sơn có loại thuốc tên là Tỳ Già Ma (Vigama), nếu mắt
nh́n thấy, mắt sẽ được thanh tịnh. Nếu
mũi ngửi thấy, mũi sẽ được thanh tịnh.
Nếu thân đụng chạm, thân sẽ được
an ổn. Nếu đem bôi lên trống, đánh trống
trong quân đội, tất cả mũi tên độc sẽ
liền rơi khỏi thân. Than ôi! Một nhánh cỏ sao có
công năng dường ấy? Kẻ ngu chẳng tránh khỏi
ngờ vực! A Di Đà Phật vạn đức tôn chủ,
nhân địa tích tập trải A-tăng-kỳ, quả
trọn vẹn mười kiếp. Nguyện vương
vô tận, phước huệ vô cùng. Tán tâm xưng danh một
tiếng, cũng diệt trọng tội trong tám
mươi ức kiếp sanh tử. Kẻ nghi một nhánh
cỏ, sao lại có thể tin sâu, chẳng ngờ vực
[bổn nguyện của A Di Đà Phật]?
Có người niệm
Phật chẳng dùng xâu chuỗi để ghi nhớ, mà ghi
nhớ bằng đậu. Lại đem đậu ấy
cúng dường hải chúng, khiến cho [Phật hiệu]
ch́m vào da thịt, thấu xương tủy, cho đến
các lỗ chân lông khắp thân đều phóng Phật quang,
tám vạn bốn ngàn hộ trùng [trong thân người]
đều được độ thoát. Công đức ấy
khó nghĩ, khó bàn. Niệm đậu, thí đậu, công
đức b́nh đẳng. Đậu là pháp giới, mười
phương chư Phật, tam thế đạo sư
đều ở trong một hạt đậu ấy, chuyển
đại pháp luân, hiện cơi Bảo Vương. Đấy
là đậu hay chẳng phải đậu? Chẳng phải
đậu, chẳng phải không là đậu ư? Hễ
có thể tin một hạt đậu ấy th́ sẽ có thể
chẳng nghi một nhánh cỏ. Nhắc lại bằng kệ
rằng:
- Đậu ấy
lưu xuất tự Nê Hoàn, khó thể phân chia, tách nhỏ
ra. Chẳng phải đậu, nuốt xuống, rõ ràng
không chỗ trốn. Lại chẳng
phải đậu, chẳng phi đậu, đổ ra nhiều
bằng đấu Ma Kiệt!
(cái đấu của xứ Ma Kiệt Đà)
* Sớ khuyên tái lập
chuyện thí quan tài của Tam Giáo Từ ở Kim Lăng
Tam
giáo sâu hay cạn, chưa rảnh để biện định,
nhưng cái tâm “nhân
từ với người, yêu thương muôn vật” th́ giống nhau, bởi
nhân ái chẳng phải do hoàn cảnh bên ngoài bồi đắp
thành. Đi trong đồng hoang, chằm vắng, thấy
hài cốt ngổn ngang, xương khô vương văi, chẳng
có ai không kinh hăi, thương cảm. Tràn đầy ḷng trắc
ẩn, ḷng nhân chẳng thể ngăn, Nho dùng “bảo
dân” (保民, an dân, dưỡng dân, che chở dân),
Đạo dĩ “bất tỳ lệ ư vật” (不疵癘於物, chẳng
khiến cho muôn vật bị tai ương, bệnh
tật), Thích dùng “độ tận chúng sanh”, giống
như thuốc chống da dẻ nứt nẻ[77],
vận dụng có lớn hay nhỏ. V́ thế, tôi nói “người cầu
đạo, cầu nơi tam giáo, chẳng bằng cầu
nơi tự tâm”.
Tự tâm là cội nguồn của tam giáo. Tam giáo đều
được lập bày từ cái tâm ấy. Nếu chẳng
có tự tâm, tam giáo đều chẳng có! Nếu
mê muội tự tâm, tam giáo đều mê muội. Nếu biết
cái tâm ấy mà mở rộng, tràn đầy, lo ǵ tam giáo chẳng
đều trở thành khuôn đúc?
Tâm đủ để
đúc luyện tam giáo, bèn gọi là “có thể tận tánh”,
mà cũng có thể tận hết tánh của người
và vật. Tận hết tánh của người và vật, bèn biết dân không
chỉ là ruột thịt của ta, loài vật không chỉ
giống như ta. Do vậy, một người dân đói
tức là ta đói, một người dân rét tức
là ta rét,
một nắm xương khô chưa chôn tức là ta
chưa chôn. Coi nỗi khổ trong cả thiên hạ là nỗi
khổ của chính ḿnh. Coi điều thiện của cả
thiên hạ là điều thiện của chính ḿnh. V́ thế,
không chi to lớn bằng tạo điều lành cho người
khác, khiến cho một giọt thiện cùng vào trong biển
chí thiện chẳng ngằn mé, chẳng cùng tận. Như
thế th́ mới có thể nói là “đạo cùng tận
tánh” được.
Tam Giáo Từ ở Kim
Lăng từ năm Quư Hợi (1623) đề xướng
thí quan tài. Chủ tŕ chuyện này là đại đức
Liễu Huyền. Hai mươi năm qua, đă thí hơn
ba vạn cỗ. Liễu Huyền qua đời, kèm thêm gặp
cảnh biến đổi, chuyện ấy bèn ngưng. Nay
người dân lưu lạc, khổ nạn gấp bội
thuở trước, hồ ly, ruồi, nhặng trọn khắp
đồng hoang, ng̣i rănh. Người có ḷng nhân, bậc quân
tử gấp rút bàn tiếp tục thực hiện,
cũng là do tấm ḷng muôn phần chẳng nỡ vậy.
Bởi đó, tôi dẫn chuyện này để nói rộng
thêm. Xưa kia Mạnh Tử bảo “hiếu tử yểm
thân” (con hiếu che giấu lỗi xấu của cha mẹ),
quả đúng như vậy. Nhưng người có ḷng
nhân đi qua [chỗ có xương khô rơi văi], dẫu chẳng
phải là thân hữu, trán cũng ắt toát mồ hôi, mắt
cũng phải nh́n ngó. Hăy nên biết: Hết thảy hữu
t́nh vốn
sẵn đồng thể, do vậy gọi
là “cùng một gốc”. Do vậy kẻ coi cha mẹ giống
như người ngoài đường, ác tột cùng, bạc
bẽo tột bậc! Coi người ngoài đường
như cha mẹ, tốt lành to lớn, ḷng Từ dày đặc.
Một người lành sẽ khiến cho trời giáng
điều tốt lành. Một niệm từ khiến cho
vũ trụ an b́nh. Huống hồ mọi người tốt
lành làm lành, mọi người nhân từ cùng thể hiện
ḷng từ, công đức há có thể nghĩ bàn ư?
Xưa kia, Thiên Đế
cùng A Tu La giao chiến, lúc thắng, lúc bại đôi ba
lượt, do trong cơi đời có một người muốn
làm thiện sự, bỗng muốn ngưng rồi lại
làm. Chắc là có người hỏi tôi: “Một niệm tiến
thoái của thất phu, sao lại liên quan đến chuyện
Thiên Đế thắng hay bại?” Tôi nói: “Như hai đầu
cán cân, mỗi chỗ đều là hai mươi lượng.
Nếu dùng một phân để thêm vào một chỗ, chỗ
ấy sẽ thành nặng hơn!” V́ thế nói: “Thiên hạ
là thiên hạ của cả thiên hạ”. Lại nói: “Dùng
thân để quán thân. Dùng thiên hạ để quán
thiên hạ”. Nay mỗi người
quyên một đồng, một thù, một lượng, khiến
cho ân trạch thấm đến xương khô. Quán thân,
quán thiên hạ là ở chỗ này mà thôi!
* Sớ Thủy Lục
Đại Trai
Sách
Phật Tổ Thống Kỷ[78]
chép: “Lương Vũ Đế mộng thấy thần
tăng bảo rằng:
‘Lục đạo tứ sanh thọ khổ vô lượng,
sao không làm Thủy Lục Đại Trai để cứu
vớt?’ Vua hỏi các sa-môn, chẳng ai biết. Chỉ có
ngài Chí Công khuyên vua t́m rộng trong kinh luận, ắt có nhân
duyên. Vua liền truyền nghênh thỉnh Đại Tạng,
hằng ngày giở xem, sáng lập nghi thức, ba năm bèn
hoàn thành. Vua bèn tạo dựng đạo tràng, vào nửa
đêm, đích thân nâng văn bản nghi thức, tắt hết
đèn đuốc, bạch cùng Phật rằng: ‘Nếu lư
giúp thánh, phàm, nguyện con lạy xong, đứng lên,
đèn đuốc tự sáng. Nếu thể thức
chưa tường tận, đèn vẫn tối như
cũ’. Nói xong, lễ thứ nhất, đèn đuốc
đều bừng sáng. Lễ thứ hai, cung điện chấn
động. Lễ thứ ba, trời mưa hoa. Ngày Rằm
tháng Hai năm Thiên Giám thứ tư (505), vua bèn thiết trai
đàn tại chùa Kim Sơn. Vua vào chỗ quỳ, sai Hữu
luật sư tuyên đọc nghi thức. Khi đó, sự
linh ứng chẳng thể chép trọn. Trong thời Châu -
Tùy, nghi thức này chẳng được lưu hành.
Tới niên hiệu Hàm
Hanh[79]
đời Đường, Anh thiền sư tại chùa
Pháp Hải ở Tây Kinh mộng thấy Thái Sơn Phủ
Quân[80]
thỉnh đến
thuyết pháp. Sư ngồi một
ḿnh nơi phương trượng, thấy dị nhân tới
trước mặt, thưa: ‘Trước kia, ở chỗ
Thái Sơn Phủ Quân, tôi trộm thấy tôn dung. Trong cơi
đời có Thủy Lục Đại Trai có thể hữu
ích cho cơi u minh, kinh văn do Lương Vũ Đế soạn
tập. Nay vị Tăng đất Ngô là Nghĩa Tế ở
chùa Đại Giác có được [nghi thức ấy].
Mong sư đến đó cầu để như pháp lập
đàn”. Sư liền sang chùa Đại Giác, quả nhiên có
được nghi thức ấy, bèn vào ngày Rằm trong
tháng đó làm trai đàn. Trai đàn xong, dị nhân khi trước
cùng đồ chúng, quyến thuộc mười mấy
người đến cảm tạ: ‘Đệ tử là
Tần Trang Tương Vương[81]’.
Lại chỉ đồ chúng bảo: ‘Đây là Phạm Tuy,
Nhương Hầu, Bạch Khởi, Vương Tiễn,
Trương Nghi, Trần Chẩn, đều là bầy tôi của
nước Tần, đều v́
tội của chính ḿnh mà bị
giam kín nơi âm phủ. Xưa kia, Lương Vũ Đế
thiết trai hội tại Kim Sơn, bầy tôi của Trụ
Vương đời trước
đều được giải thoát. Khi ấy, đệ
tử cũng tạm được dứt khổ. Do chuyện
trong ngục chưa quyết định, chưa được
thoát khỏi. Nay đệ tử và những người
này và vua tôi các nước đều nương pháp lực
được sanh vào nhân gian”. Nói xong, ẩn mất. Từ
đấy, Anh công thường lập trai hội này
lưu hành trong thiên hạ”.
C̣n như trong năm
Hàm Thuần[82]
đời Tống, có người nói [trai đàn này] là do ư
chỉ của Kim Sơn Việt Vương, chuyên v́ các bầy
tôi thuở trước mà báo đáp ân họ đă dốc sức
v́ vua, v́ nước, tức là chưa thấy ư nghĩa b́nh
đẳng cộng tu. Pháp sư Chí Bàn tận lực phục
hưng, soạn tiếp nối tạo thành nghi thức mới
gồm sáu quyển, vẽ h́nh tượng [các tôn thánh trong
trai đàn] thành hai mươi sáu bức.
Từ đời Tống đến đời Minh, lại
trải qua hơn năm trăm năm, Vân Thê đại
sư nương theo nghi thức ấy hơi sửa đổi,
lược bớt, lưu hành tại Cổ Hàng. Trí Húc từng
ở Vân Thê được gặp hội thù thắng ấy,
thấy đàn pháp tinh nghiêm, Lư Sự đầy đủ,
rơ ràng, gồm thâu mười pháp giới trong một khóa
pháp hội, vận tâm Tam Quán nơi sát hải, đúng là
công đức chẳng thể nghĩ bàn.
Năm Bính Tuất
(1646), tôi sang chơi Kim Sơn, lấy nghi thức ấy ra
xem, [thấy nhiều chỗ] lan man, lờ mờ, chẳng
thể t́m ṭi, truy cứu. Đó là do sau khi ngài Chí Bàn giảo
định, [bản nghi thức ấy được]
lưu hành tại Tứ Minh, cơi đời gọi là Nam Thủy
Lục. C̣n nghi thức cũ ở Kim Sơn, kể từ
thời Tống - Nguyên tới nay, bị những kẻ trụ
tŕ Thế Đế thêm thắt xen tạp, chỉ chuộng
nhiệt náo, cốt ư sướng tai khoái mắt người
thế tục, cơi đời gọi đó là Bắc Thủy
Lục. Vân Thê đại sư trọn đủ con mắt
chọn lựa pháp, cho nên chẳng theo bản Bắc hay bản
Nam. [Ngài quy định] đối với mỗi lần
thiết cúng, kết giới, bí mật thủ hộ, th́ trừ
vị chủ đàn là một người, hai vị biểu
bạch[83],
trai chủ một người, hương đăng
năm người ra, những người khác đều
chiêm lễ ở ngoài màn, chẳng được vào trong nội
đàn. Người trong đàn ra vào,
ắt thảy đều thay áo, tắm gội.
Do vậy, được gọi là “như pháp cúng dường”.
Chẳng giống như các nơi, bày thánh tượng quá lố,
mặc sức cho nam nữ chen chúc đến xem, đến
nỗi những kẻ uống rượu, ăn thịt,
hút thuốc, nhai tỏi đều có thể hun ô uế tôn
nghi! Con trai trưởng của cụ Trịnh Thiên Lư ở
Tân Đô, chủ nhân của Tam Tạng Điện ở
Hoàn Đức là Thất Tịnh, Dương Trường
Công ở Tân Đô, Trần Mân Chiêu ở Giang Ninh, Đàm Tảo
Am ở Tuy Lư, muốn khiến cho pháp này lại được
lưu thông; đ̣, bến không ǵ chẳng tột bậc.
Xét đến nguồn cội của pháp này, chỉ Húc là
khá có thể khảo sát tường tận, dám tiếm lạm
trần thuật duyên khởi để thưa với bậc
hiền đạt.
18. Truyện
* Tiểu truyện về
Liễu Nhất Nguyên thiền sư chùa Thụy Quang (kèm
theo lời tán)
Liễu Nhất thiền
sư là con nhà họ Châu ở huyện Trường Châu, từ
bé đă nổi tiếng hào hiệp trong họ hàng, làng
nước. Lúc hai mươi ba tuổi, Sư bỗng nghĩ xuất thế, lễ
ngài Lam Viên Viễn ở chùa Thụy Quang, được
đặt pháp danh là Định Nguyên. Do thấy câu “đạp
trước xứng chùy ngạnh tự
thiết” (đạp
phải quả cân cứng như sắt) hết sức
nghi, ngày đêm [quán niệm] chẳng gián đoạn, có tỉnh. Lại
nghi công án “như thế nào là quỷ thần chẳng kiếm
được”, lưu tâm nhiều năm, cũng có ngộ
nhập. Thiền
sư Vân Môn
Trạm Nhiên sang chơi đất Ngô, Sư tŕnh sở kiến, được ngài Trạm Nhiên ấn
khả. Từ đó trở đi, Sư chỉ
tụng kinh Viên Giác làm công khóa ban đêm, ngày th́ xem Đại
Bát Nhă, xử sự đối đăi,
vẫn y hệt như cũ, trọn chẳng biểu hiện
sự khác lạ nào.
Ngày Mười Sáu tháng
Giêng năm Bính Th́n (1616) đời Vạn Lịch, Sư bảo
các vị như Trúc Dao Tịnh v.v… rằng: “Tôi sắp
đi xa”. Do vậy, xem lịch chọn ngày Hai Mươi
Sáu, lại bảo: “Người chỉ một lần chết,
chẳng có chi lạ. Tôi nêu pháp chết trước, các ông
tùy hỷ”. Sư bèn ngồi xếp bằng, từ chân tới
đỉnh, dần dần như băng. Khoảng hai tiếng
đồng hồ, Sư tỉnh lại, bảo: “Con
người sợ chết, chứ chẳng có chi khác,
như tắm nước ấm, ngủ trong mền ấm,
chỉ lười thức dậy mà thôi!” Tới kỳ
hạn, cả chùa ai nấy đều được
Sư căn dặn. Sư bảo họ đặt [thi thể]
trong chum, phong kín, ba năm sau mở ra xem. Lại bảo học
nhân Vô Vân rằng: “Tôi hằng ngày dạy ông Pháp Hoa, vậy
hăy nói xem giấy là Pháp Hoa ư? Chữ là Pháp Hoa ư? Nếu
hiểu, vô biên kho báu sẽ cùng lănh được. Chẳng
hiểu, lại đọc ba mươi năm”. Sư lại
hét
một tiếng, bảo: “Hăy nói xem, tiếng
hét này cùng với toàn bộ kinh Pháp Hoa là đồng hay biệt?”
Sư lại hét một tiếng, cười to, ngồi
xếp bằng qua đời. Đại chúng dựng tháp
thờ toàn thân ở Thổ Sơn thuộc chùa ấy.
Sư thọ bốn mươi sáu tuổi, Tăng
lạp hai mươi bốn năm. Do Sư nương
theo An Lạc Hạnh, chẳng nuôi đồ chúng, cho nên chẳng
có đích truyền y bát. Nay Tịnh công thờ phối
hưởng trong nhà Tổ, Xuân Thu chẳng thay đổi vậy.
Tán rằng:
- Chuyện trong Tông
môn, hay ở chỗ ngầm tu thầm chứng, phù hợp
khít khao giáo thừa. Người hiểu một cơ, một
cảnh, sẽ bán đầy một mâm. Kẻ miệt thị
kinh điển, đúng là
vun bồi rễ mầm sanh tử. Nguyên công đến
đi tự tại, há chỉ do sức tham ngộ trên bồ
đoàn. Ấy là do dùng Bát Nhă, Viên Giác để ấn tâm,
ḥa quang đồng trần mà ứng thế. Do vậy, tuy
chẳng có cơ duyên xuất thế, mà quang minh lúc cuối
cùng đă chiếu rạng ngời thiên địa. Kẻ
tăng thượng mạn nghe sự tiến hướng
của Sư mà hổ thẹn!
* Chuyện văng sanh của
thiền sư Vạn An Vân tại Vũ Lâm
Thiền
sư Vạn An ở chùa Cát Tường, húy là Đại
Vân, là con nhà họ Quách tại huyện Nhân Ḥa đất
Hàng. Em dâu là Ngô Thị, giữ tiết hạnh, khổ tu.
Do vậy, Sư cảm động, phát khởi, đến
xuất gia tại chùa Vĩnh Khánh, thọ Cụ Túc Giới
tại Vân Thê. Sư sống ở Bắc Giao, dốc chí
nơi Tịnh nghiệp, người nương theo
đông đảo! Trạm Nhiên Nguyên tĩnh chủ khâm phục
hạnh tu trong sạch của Sư, xả am làm thập
phương viện. Sư xét thấy nơi ấy xưa
kia có chùa Cát Tường, bèn suất lănh các thiện hữu,
tận lực phục hồi quang cảnh cũ. Chẳng
đầy mấy năm, điện Phật, tăng liêu
đều rạng ngời hoàn bị. Quy ước cộng
trụ một mực vâng theo quy chế của Vân Thê. Thiền
lữ lui tới được tiếp đăi ân cần.
Chẳng tậu điền sản, chẳng đặt chỗ
lấy củi, trăm thứ cần thiết đều
phó mặc ngoại duyên, chẳng dính líu tà mạng, thống
thiết trừ khử thói tệ đương thời,
tận lực noi theo phong thái cổ. Ṭa giảng trong tùng
lâm vừa hơi hoàn thành, Sư thị hiện bệnh nhẹ,
liền thôi ăn uống, bớt nói năng, chuyên tu Tịnh
nghiệp. Được một tháng, vợ và con gái đến
thăm hỏi, Sư quở trách: “Di Đà chẳng niệm,
niệm ta để làm ǵ?” Lâm chung, Sư nói với học
tṛ đắc ư là Trí Kinh rằng: “Hăy v́ ta quét dọn, Phật
đến đón rồi”. Đỡ Sư lên ngồi xếp
bằng, Sư niệm Phật qua
đời. Sư thọ năm mươi chín tuổi,
tăng lạp mười một hạ. Vợ là Đại
Pháp, em dâu là Đại Hải, con trai là Trí Thủ, con gái là
Trí Âm, cháu gái là Trí Chân, đều cùng xuất gia tu đạo.
* Chuyện văng sanh của
ưu-bà-di Trí Phước ở Ngô Hưng
(kèm theo lời tán)
Ưu-bà-di
Trí Phước là con cháu họ Lô ở Cô Tô, gả cho ông
Tŕnh Quư Thanh ở Tân An. Quư Thanh dốc ḷng tin tưởng
Phật pháp, lưu ngụ[84]
tại Ngô Hưng, tận lực
tạo tác phước nghiệp. Bà Lô lo trọn
hết việc nhà để giúp chồng chẳng mệt mỏi,
thích bố thí rộng răi, chẳng tích cóp của cải
riêng, tâm lẫn ngôn từ đều ngay thẳng, thận
trọng, bớt tiêu dùng, chẳng thích đồ trang sức
quư báu, quần áo đẹp đẽ, chẳng nóng giận,
chửi bới người hầu. Bà ăn chay, lần chuỗi,
công khóa mỗi ngày niệm hai, ba vạn câu Phật hiệu,
coi pháp thế gian như nhai sáp. Năm Nhâm Thân (1632), lúc bà ba
mươi chín tuổi, mắc bệnh ngặt, vội thỉnh
pháp sư Cổ Đức truyền thọ Tam Quy, Ngũ
Giới,
và thưa hỏi pháp yếu Tịnh Độ, một dạ
về Tây. Gặp cơn thống khổ, chỉ siêng
năng xưng Phật hiệu.
Quư Thanh v́ bà đọc
Hoa Nghiêm đại kinh, tới chỗ tham trọn khắp
tri thức, đối với mỗi môn giải thoát, cũng đều
nhất nhất lănh hội. Ông lại sách tấn bà rằng:
“Trăm kiếp ngàn đời,
trong lúc này hăy nỗ lực tiến thẳng, đừng do
dự nữa!” Do vậy, bà lớn tiếng
niệm Phật trong nửa tháng, thấy hai vị cao
tăng lần lượt tới, càng thêm siêng năng,
chuyên ṛng, dũng mănh niệm suốt đêm. Mẹ bà khóc
lóc, con gái bà an ủi, bà đều xua đuổi: “Đừng
loạn tâm tôi”. Giờ Th́n ngày hôm sau, bà đích thân thấy
hóa Phật, hoa sen, bèn cảm thấy tinh thần thoải
mái, ánh mắt, sắc mặt tươi sáng, vội đ̣i
nước thơm để tắm gội, chắp tay
hướng về Tây, liên tiếp niệm Phật, cát
tường qua đời nhằm lúc chánh Ngọ ngày mồng
Tám tháng Mười Một. Tối hôm ấy, khắp thân bà
đă lạnh, đỉnh đầu vẫn c̣n nóng. Tán rằng:
-
Buồn thay tam giới, ái dục là cội. Chẳng trừ
cội gốc, mong chi sanh Tây! Cơi nước hoa sen, măi ĺa trần
t́nh. Duyên ấy đoạn được, chất ấy
bèn thành. Phước, trí dũng mănh, nữ kiệt anh hùng.
Mau gặp thắng hữu, đều do túc nhân. Một ngày
một đêm, tịnh niệm công sâu. Đài hoa tiếp dẫn,
mắt thấy phân minh. Mẹ con, ân ái, cây khô, băng lạnh.
Cát tường qua đời, vĩnh biệt ṿng khổ.
Tôi xót hàm thức, triền sử quẩn quanh, luyến
đời huyễn này, bao kiếp mê chân. Lầm lẽ xuất
yếu, nào biết bờ diệu!
Chấp giữ quả suông, trái nhân tịnh diệu, ai hay
chánh tín, rộng bước lên cao. Tôi nay tùy hỷ, nguyện
cùng quần linh, nhanh trừ lưới nghi, chứng nhập
huyền môn.
* Tiểu truyện của
thiền sư Giám Không Ninh ở Tùng Lăng
Phương Ngoại Sứ[85]
nói: “Đời có khi đại tài mà tiểu dụng,
được cả cơi đời cùng ca ngợi. Người
ấy trọn chẳng truyền”. Như thiền sư
Giám Không Như Ninh thuộc họ Trầm ở Tùng
Lăng, dáng vẻ trang
trọng, quắc thước, chí cao vượt những kẻ
cùng hàng. Năm Đinh Hợi (1587) đời Vạn Lịch,
Sư lễ ngài Hoài Lâm Mậu, xuất gia tại Quán Âm Thiền
Viện ở Phương Tiêm. Ngài Hoài Lâm Mậu qua đời,
Sư mới mười bảy tuổi, trơ trọi một
thân, hằng ngày bị quấy nhiễu, chẳng bỏ
đi. Thiền sư Đối Phong Hoằng thấy
Sư c̣n trẻ mà chí kiên quyết, tận lực giúp đỡ,
nói với bậc trưởng giả là ngài Kính Am Lục
quyên tiền sửa chữa. Ngài Thân Văn Định nghe
tiếng, đến nơi đó, tự tay đề biển
ngạch, mới được ở yên. Sư chỉ dẫy
cỏ, tận lực cày cấy, trọn chẳng chèo kéo,
bám víu ai. Cho tới năm Bính Dần (1626) đời Thiên
Khải, đă có tiền dư dả, bèn quyên ra,
[kiến tạo] tượng thờ, điện vũ,
thay đổi rạng rỡ. Năm Mậu Th́n (1628),
Sư đến chơi Phổ Đà, quải đơn tại
Tàng Kinh Điện của chùa Thánh Thọ.
Khi đó, chùa Tiếp
Đăi ở Nam Quan thiếu người, mời Sư trông
kho. Sau một năm, Sư làm chủ kho. Sư chỉnh
đốn chỗ hư sụp, nghiêm túc giữ Thanh Quy,
luôn gánh vác việc nặng trước, hưởng dụng
b́nh đẳng. Sư riêng mở ra chỗ nghỉ đêm
cho học nhân, dựa theo chế định trong Luật,
lập ra Vô Tận Tạng. Ruộng đất ngày một
tăng thêm, dứt bặt thói tệ tích cóp. Sau bốn
năm, túi rỗng hơi đầy, lại quyên mộ tu bổ
đại điện. Chẳng
đầy mấy tháng đă hoàn thành, Sư bèn thị hiện
bệnh nhẹ, dứt thuốc thang, kiểm điểm
chuyện trong thường trụ cặn kẽ phân minh,
giă biệt đại chúng. Thượng thủ rơi lệ,
Sư quở rằng: “Già đầu rồi mà c̣n theo kiểu
cách nữ nhi!” Sư dạy: Sau khi mất, đưa
xương vào tháp Phổ Đồng, thượng thủ
thỉnh [lưu xương của Sư để] trấn
Phương Tiêm, Sư im lặng chấp thuận. Ngày hôm
sau, Sư lặng lẽ không tiếng động, cát tường
qua đời. Đại chúng kiểm đăy của Sư,
chẳng có một phân tiền! Sư thọ năm
mươi chín tuổi, Tăng lạp chín hạ. Sư
đă mất mà tiếng thơm càng vang, người bàn
định chẳng ai không nói Sư là công thần bậc
nhất của chùa Tiếp Đăi, đáng xếp vào bậc
liệt tổ trung hưng của Phương Tiêm. Than ôi!
Đấy đều là những người chẳng biết
Ngài vậy. Phương công tận lực cày cấy ở
Phương Tiêm cũng bùi ngùi than thở: “Chẳng ngờ
Ngài v́ cuộc đất này mà mai một nửa đời
người”.
Năm Ất Sửu
(1625) đời Thiên Khải, tôi ngẫu nhiên cùng đôi ba vị
pháp hữu kết hạ trong am, bàn luận nghĩa trọng
yếu trong kinh Đại Phật Đảnh. Sư đă
nghe pháp môn xuất thế, dũng mănh nhớ lại nguyện
cũ, nhanh chóng đem chuyện trong am giao cho thượng
túc, xin thọ giới với Mậu Lâm luật chủ,
cùng với tôi kết hạ tại Thừa Thiên, nghiên cứu
Luật học. Tôi do tiên từ đă khuất, sắp ở
ẩn. Sư chèo kéo bế quan, dùng thân hộ tŕ chuyến
đi trên biển, cũng hầu hạ tôi. Do muốn kiểm
luật, nghiêm tịnh Tỳ Ni, nên Sư về
ở chùa Thánh Thọ. Khi ấy, Sư lưỡi chẳng
nếm thức ăn phi thời, tay chẳng rời chuỗi
viên minh, gởi ḷng nơi Tây Phương, chẳng c̣n biết
có chuyện trong thế gian, cơi người, bảo là “chí
ban đầu sắp toại”.
Chẳng ngờ cái
duyên tại Tiếp Đăi dần dần bức bách cái
thân, Sư hai phen cực lực chối từ nhiều
lượt, đàn tín hộ tŕ bốn lượt kiên tŕ
khuyên nhủ, muôn phần chẳng làm sao được, đành
phải gánh vác, nhưng chí thật sự phù tá pháp môn.
Lâm chung, Sư bảo
đệ tử đưa xương vào biển Lục
Ḥa Tăng, bởi dốc chí học trong đời sau. C̣n
như chấp thuận lời thỉnh của
Phương Tiêm, chẳng nói mà im lặng. Sự im lặng
ấy khác nào khi xưa tận
lực cày cấy, dựa vào cán cuốc
mà thở dài vậy! Sư chẳng toại chí thâm nhập
pháp môn, cho nên cả hai nơi được nhờ ơn;
người khác tuy chắt lưỡi, nhưng tôi thấy
càng chẳng vừa ư, bởi chẳng phải là đại
tài, tiểu dụng, sao lại trở thành công lao chẳng
trọn vẹn như thế? Tôi biết Sư, truyền bảo
chí Sư để nói với
người có chí mà tŕnh độ c̣n non nớt vậy!
* Tiểu truyện chung của hai
người bạn là Bích Như và Tinh Cốc (kèm lời
tán)
Thiền
sư Bích Như, húy Quảng Hạo, con nhà họ
Vương ở Thai Châu, tục danh là Kính Cốc, hiệu
là Bá Vô. Cha là Sĩ Kỳ, làm Đại Đồng Khai Phủ,
có tiếng thanh liêm. Sư đến tuổi nhược
quan (hai mươi) liền có chí xuất thế, lễ Vân
Thê Liên Tŕ đại sư, thọ
Ngũ Giới, được đặt pháp danh như hiện
thời. Năm Bính Ngọ (1606) thời Vạn Lịch,
Sư đỗ hiếu liêm[86]
lúc đó,
Sư hai mươi bảy tuổi. Trải qua hai kỳ
thi lớn, Sư
khảng khái trúng tuyển, v́ gấp muốn
báo đền nỗi nhọc nhằn chăm sóc, nuôi nấng,
v́ mong xuất thế. Sư được bổ làm huyện
lệnh Tân Kim, yêu dân như con. Do làm quan, giới đức
phần nào thiếu sót.
Năm Mậu Ngọ
(1618), Sư nhập
cận[87],
thuyền neo tại Địch Cảng, mộng thấy quỷ
sứ dẫn hồn đến gặp vua cơi âm. Vua quở
trách chuyện phá giới, sai tống Sư vào
ngục. Bên cạnh vua có viên quan cơi âm thay Sư thỉnh cầu,
xin vua xem xét những chuyện
đă làm sau khi phá giới, thấy thiện nhiều, ác ít,
bèn tha cho, chẳng tống giam vào ngục, chỉ khoét mắt
đóng vào trụ. Tới khi Sư tỉnh giấc, hai mắt
đều ḷa. Uống thuốc chữa trị, lại mộng
thấy vua cơi âm quở mắng, lại lấy hai cây
đinh to đóng vào hai vành mắt, hết sức đau
đớn, kêu thất thanh mà tỉnh giấc. Sư bèn chẳng
uống thuốc, xin từ chức, dựng thất bên cạnh chùa Cao
Minh ở núi Thiên Thai, hằng ngày tụng kinh Kim Cang Bát Nhă
và Đại Bi tâm chú. Hành pháp chưa đầy một
năm, mắt lại sáng dần. Các thân hữu khuyên Sư
ra làm quan trở lại. Sư than rằng: “Đời
người mấy chốc, dũng mănh cầu xuất thế
chẳng xuể, vẫn c̣n làm chuyện kiếm sống
nơi sừng ốc, đầu ruồi ư?” Chỉ
v́ thái phu nhân hăy c̣n, chưa nỡ ḷng bỏ đi. Nhưng
đă nghĩ muốn ĺa tục, lại v́ mẹ ngăn ngại,
há chẳng nguyện mẹ đạt đến thượng
thọ ư? Khi đó, có người do con xuất gia mà buồn
khóc, thái phu nhân cười bảo: “Chuyện tốt bậc
nhất, đáng phải nên coi là vui mừng, may mắn, sao
lại khóc? Nếu là tôi, tôi quyết chẳng làm như thế”.
Do vậy, Sư an tâm
trốn đi xa, xuống tóc nơi đất Sở,
đơn thân hành cước, nếm đủ các nỗi
khổ, thọ giới phẩm, bế quan xem Luật, và
chép Hoa Nghiêm đại pháp. Kế đó, trải qua các
nơi tại Khuông Lư, đến Bác Sơn, theo đại
chúng tham Thiền, chẳng ai biết đến. Khéo sao, tôi
và thầy Quy Nhất đưa thầy Tinh Cốc đến
Bác Sơn xuống tóc. Sư lúc ở Cao Minh, đă từng
giao du với thầy Quy Nhất. Một hôm, thầy Quy Nhất
ở trong đại chúng cầm tay Sư hỏi: “Ngài là hồi
sanh Vương Bá Vô phải không?” Chẳng kiêng dè, mới
là thật t́nh. Một hôm, Sư thấy tôi cùng với thiền
sư Vô Dị đàm luận chuyện thọ giới cặn
kẽ nhất; do vậy, than thở Luật học gần
đây hết sức hỗn loạn. Ngài vốn do phá giới
đích
thân bị cơi âm khiển trách. Sư muốn
lưu tâm nơi đạo ấy đă lâu, nhưng đă
thưa hỏi các vị luật chủ có tiếng, hiếm
ai chẳng mù mờ. Tôi đưa sách Tỳ Ni Yếu Tập
cho Sư xem, Sư vừa đọc vừa tán thưởng,
than là chưa từng có, bèn kết giao thành bạn bè ngàn
đời.
Ngài lại biết tôi
chú trọng duyệt Tạng, liền gợi ư căn dặn:
“Đối với nghĩa loại của Tam Tạng, hăy
nên soạn chung thành một sách. Những chỗ cân nhắc
thấy là trọng yếu trong Tam Tạng, tập hợp
những điểm trọng yếu của các tông, nghiên cứu
những Phật sự, biện định đúng sai, hăy
nên mỗi thứ soạn riêng thành một sách. Phát Bồ
Đề tâm tập, lục độ tập, nên soạn
thành hai sách. Các chuyện y, bát, và thọ giới, thuyết
giới, yết-ma trong Tỳ Ni, những chuyện phải
nên làm trong thường nhật, hăy nên sưu tập để
đính kèm sau sách Tập Yếu. Kinh Phạm Vơng tuy đă có
hai vị đại sĩ nêu tỏ, hăy nên bổ sung bằng
Di Lặc Giới Bổn, và các kinh có liên quan, gom lại
đính kèm sau phần giới điều của chánh kinh.
Sau đấy, vận dụng tài khéo và kiến thức
để bổ túc những điều người
trước thiếu sót, mà cũng chẳng đánh mất
vai tṛ là trung thần của hai vị đại sĩ. Chớ
nên v́ tránh né hiềm nghi mà bỏ lỡ chuyện thù thắng
này. Đối với Sa-di giới, Ưu-bà-tắc giới,
đều phải nên nêu tỏ đôi chút, ghép vào sau sách Tập
Yếu. Đối với tám điều trên, đệ
trước kia đọc Khế Kinh, đă có nguyện mọn.
Hận là già nua, ṃn mỏi, tinh lực đă tiêu vong, gần
đây lại lo kiếm sống trên bồ đoàn, chẳng
thể đền đáp cái nguyện ấy. May gặp bậc
thợ khéo, kính giúp sức cho đương cơ. Nếu
rượu tam-muội đă tiêu, vẫn mong dâng nửa cánh
tay góp sức. Nếu không, sẽ kết ‘đai lụa trắng’[88]
trong đời sau vậy!” Tôi vâng dạ, từ tạ rằng:
“Xưa kia đệ cũng có chí ấy, chẳng mưu
tính mà hợp, hai chuyện thứ sáu và thứ tám, đệ
đă làm rồi”.
Không lâu sau, Sư bế
quan nơi tĩnh thất ở Đông Phong. Năm sau, thái
phu nhân do bệnh nặng, [người nhà] hai lượt
báo tang, Sư bèn trở về thăm. Thái phu nhân nói: “Ta nói
con xuất gia, ta chẳng buồn khóc,
nay có đúng như vậy hay không? Hăy gắng lên, ta tự
khéo dưỡng mấy năm, con cũng khéo học. Đừng
để chuyện này trở ngại đại sự xuất
thế”. Sư vâng theo từ mạng, sang Vũ Lâm, cùng với
pháp sư Tân Y tâm đầu ư hợp. Khi đó, tôi vào Hiếu
Phong, chọn đường đi qua Vũ Lâm. Sư nói:
“Sách Tập Yếu tuy đă được tham đính,
nhưng tôi thật sự chưa hoàn toàn thông suốt. Tôi
nghĩ nghe thầy truyền giảng rồi lại tu
tập, chẳng để nói suông! Nay gặp pháp tịch
Hoa Nghiêm, chẳng thể kéo lê kiếp sống tàn mà
nương theo. Nếu c̣n sống, sang năm tôi sẽ vào
núi [Linh Phong] kết hạ”. Chưa đầy mười
ngày, Sư thị hiện mắc bệnh nhẹ, biết trước lúc mất,
sai thị giả viết di chúc dặn ḍ hai con rồi nhiếp
tâm niệm Phật mà đi.
Than ôi! Do Sư mẫn
tuệ, hiếu học, đă hiểu rồi liền có thể
hành, trọn
đủ chánh nhân xuất thế, ôm đại
nguyện Bồ Đề, khiêm cung, đức dày, đối
xử ḥa hảo với mọi người, chẳng thẹn
thuộc pháp phái của Liên sư (Liên Tŕ đại sư).
Trời chẳng cho Sư sống thêm mấy năm, chẳng
phải là đại bất hạnh cho pháp môn ư? Sư
sanh năm Canh Th́n (1580) thời Vạn Lịch, mất vào
năm Tân Mùi (1631) đời Sùng Trinh, thọ năm
mươi hai tuổi, pháp lạp năm năm. Sư thị
hiện ở địa vị đang học, cho nên chẳng
truyền y bát, chỉ có Hồi Sanh Kỷ được
lưu truyền trong cơi đời. Pháp sư Kim Đài chùa
Phật Nhật dựng tháp thờ toàn thân Sư tại
chân núi Cao Đ́nh.
Thiền
sư Tinh Cốc, húy Đạo Thọ, con nhà họ Hà ở
Ôn Lăng, tục danh là Khải Đồ. Lúc đang học
văn chương, do đọc Lăng Già Kư của Hám
Sơn đại sư, vừa đọc, vừa khóc, phát
tâm xuất thế, bỏ cử nghiệp, chuyên nghiên cứu
tông thừa. Do cha hăy c̣n, Sư chẳng được xuất
gia, dùng thân cư sĩ cùng với các đạo hữu
Như Thị, Vũ Hải v.v… hằng ngày cùng dùi mài lẫn
nhau. Vùng Tuyền Nam thiếu
Văn Huân đă lâu, rừng Tăng không có người biết
tham cứu, Sư bèn hành cước. Sư cổ vũ một
hai vị anh kiệt, đặc biệt đi xa. Tăng, tục
tại Mân Trung mới có người hơi phát tâm lên miền
Bắc học nơi Giang, Chiết. Thoạt đầu,
Sư tới Khuông sơn, yết kiến Hám Sơn đại
sư, thấy Ngài quy mô rộng răi, nhưng đối với
chuyện tham cứu sanh tử chưa thiết tha cho lắm, bèn rời đi,
t́m đến Bác Sơn. Tại Bác Sơn, Sư ở riêng
một biệt thất, gắng công tham cứu hơn một
năm. Sư thường cùng ngài Vô Dị luận bàn rất
hăng, ngài Vô Dị chẳng trách móc, do biết Sư riêng
có sở trường. Nhưng pháp môn của ngài Vô Dị
là ắt phải trước Định, sau Huệ, Sư
tự suy xét chủng tánh [của chính ḿnh], phải nên là
trước Huệ, sau Định, bệnh không đúng thuốc,
sao có thể chữa trị!
Sư bèn sang Vũ Lâm ở
phương Đông, tham phỏng pháp sư Vô Tận thuộc
tông Thiên Thai. Sư gặp bạn cũ là thầy Quy Nhất,
đức lẫn nghiệp đều tiến, nghi pháp
sư ắt có người khác kềm cặp đặc biệt,
bèn nương theo, được xem những giáo lư cùng tột
như Diệu Tông Sao v.v… Nh́n lại huệ giải thuở
trước, cảm
thấy bội phần tinh tế. Sư theo
đuổi sự tham cứu đến tận Ngô Môn, từ
Ngô Môn đến đất Hàng, ngụ tại Long Cư.
Khi đó, tôi đang duyệt Đại Tạng ở Long
Cư, Sư vừa gặp liền hỏi: “Có trước
tác ǵ hay không?” Tôi đem Bạch Ngưu Thập Tụng cho
Sư xem. Sư hết sức vui thích, bèn muốn kết
giao làm bạn ngàn đời, tôi chưa cho là đúng. Tụ
hợp đă lâu, Sư thường cùng tôi tranh luận kịch
liệt. Tôi nói: “Vị cư sĩ này chưa chắc đă
suy xét kỹ lưỡng lời tôi”. Về sau, do cùng kết
Đông với sư Quy Nhất, ngẫu nhiên bàn định
về pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông, thầy Quy Nhất chủ
tŕ cuộc tranh luận, bảo Sư đúng, tôi sai. Do vậy,
tôi lắng ḷng nghiên cứu cuộc tranh luận trước
đó, thấy ḿnh thua kém quá
nửa. Do vậy, bèn cùng kết t́nh bạn ngàn đời,
khích lệ Sư sớm trở về tăng tướng.
Sư cho rằng
trước đó đă lễ ngài Bác Sơn, chẳng nỡ
bỏ thầy. Sư cùng tôi vui vẻ về Bác Sơn. Thầy
Vô Dị đích thân xuống tóc, nhưng chưa cho thọ
giới Sa-di và tỳ-kheo. Bởi lẽ, chuyện thọ
giới đă từng ước định với thầy
Quư Hiền, ắt phải khôi phục quy chế cổ. Mùa
Xuân năm Canh Ngọ (1630), tôi bị bệnh nằm bẹp
tại Long Cư, đốt hương trên cánh tay, trích máu
đầu lưỡi viết thư gởi cho Sư.
Sư cùng thầy Như Thị đến, lễ thầy
Quư Hiền làm ḥa thượng, thầy Giác Nguyên làm Giáo Thọ
A-xà-lê, thầy Tân Y làm Yết-ma A-xà-lê, tận lực phục
hồi quy củ của Như Lai, đúng như pháp thọ
giới sa-di và giới tỳ-kheo, chỉ có Bồ Tát Giới
là không thọ lại, v́ cho rằng lúc làm cư sĩ,
đă từng thọ nơi ngài Bác Sơn.
Sư kết hạ an
cư, nghe Tỳ Ni Tập Yếu. Sư tu tập tông thừa
đă lâu, đạt được lợi ích to lớn,
cũng chẳng tránh khỏi nhiễm phải thói tệ của
tông ấy: Chẳng thể lưu tâm nơi Luật Học! Nhưng sợ phụ
nỗi khổ tâm của tôi, do biết
thầy Phật Nhật Kim Đài tâm rỗng rang, chuộng
điều thiện, bèn tận lực thỉnh thầy ấy
lưu thông Tập Yếu. Mùa Thu năm Tân Mùi (1631), thầy
Phật Nhật bị bệnh mất. Than ôi! Thầy ấy
cũng là kỳ nhân bậc nhất. V́ pháp môn mà thường
va chạm sự kỵ húy trong đương thời, v́ bạn
đạo mà thường quên bản thân,
huệ nhăn siêu quần, cơ biện cao sâu, lỗi lạc,
chuyên dốc, thường dùng cách nói nhanh gọn, sắc
bén để giành phần thắng. Dẫu là bậc cao
đức nổi danh trong nhà Thiền muốn cùng Sư
tranh biện, thường là giống như đụng
phải Nhạc gia quân[89].
Dần dần đạt tới mức chẳng thua kém
ngài Đâu Suất Giác Phạm cho mấy! Tôi nói Bác Sơn có
đệ tử “màu xanh phát xuất từ màu chàm”[90],
sao lại nhập diệt nhanh đến thế? Sư
sanh năm Quư Mùi (1583) thời Vạn Lịch, thọ bốn
mươi chín tuổi, pháp lạp hai năm. Tháp trà-tỳ
của pháp sư Kim Đài, gởi xương gần thầy
Bích Như. Thầy Như Thị được lợi ích
từ Sư nhiều nhất, gom góp những ghi chép thường
ngày của Sư, đặt tên là Bút Ngữ để
lưu thông, trần thuật hành trạng, giữ lễ
đệ tử sau khi Sư đă mất, chẳng khiến
cho kẻ trọng danh tướng, coi thường pháp ân
trong thiên hạ hậu thế hổ thẹn ư?
Phương
Ngoại Sứ nói: “Hai thầy
đều chơi thân với tôi nhất. Sư
Bích Như nhân từ, ôn ḥa, sư Tinh Cốc thương
xót, nhưng nghiêm khắc. Sư Bích Như thông minh, nhạy
bén, tường tận, minh xác. Sư Tinh Cốc trầm
tĩnh, kiên quyết, nhưng tinh nhuệ. Sư Bích Như
hằng ngày đọc mấy quyển, vừa xem liền
hiểu rơ. Sư Tinh Cốc nghiền ngẫm một câu, một
kệ, trải cả mười ngày, một tháng chẳng
bỏ qua. V́ thế, sư Tinh Cốc phục sư Bích
Như thông hiểu rộng răi, sư Bích Như phục
sư Tinh Cốc tinh tường, thấu triệt. Sư
Bích Như đến đâu, mọi người đều
yêu mến. Sư Tinh Cốc đến đâu, mọi
người đều sợ. Sư Bích Như chỉ muốn
được lợi ích từ nơi người khác, chẳng
dám tạo lợi ích cho người khác. V́ thế, có thể
hỏi điều chẳng thể, hỏi nhiều điều mà kẻ
khác ít hỏi. Cho tới khi lâm chung, vẫn chắp tay hỏi
pháp, khiến thị giả dập đầu lễ kính.
Sư Tinh Cốc chỉ muốn lợi ích người
khác, coi đó là lợi ích cho chính ḿnh. V́ thế, từ
đất Mân tới Giang Hữu, từ đất Ngô tới
Vũ Lâm, không đâu chẳng v́ thích tranh biện khiến
cho các giảng tịch chê gièm. Cho tới khi lâm chung, Sư
nhớ nghĩ bạn cũ là Như Thị, khuyên ông ta nên
tự biết suy xét, giống như to tiếng quát nạt,
bảo: “Ngàn đời há có thánh hiền tự lợi,
ích kỷ?”
Ôi! Khổng Tử nói “bất
đắc trung hành, tất dă cuồng quyến” (chẳng
hành xử
đúng mực, ắt sẽ thành quá mức
cuồng vọng hoặc bảo thủ). Mạnh Tử gọi
Bá Di và Liễu Hạ cùng là thánh nhân; hai sư Xuân lan, Thu cúc,
mỗi vị đều có ưu điểm riêng, há ắt
phải dung thông cả hai đằng th́ mới gọi là
đức toàn vẹn ư? Họ chơi với tôi, thầy
Bích Như muốn được tôi tạo lợi ích, chẳng
thể không dùng đôi chút lời lẽ nhỏ nhẹ
để lợi ích tôi. Thầy Tinh Cốc muốn tạo
lợi ích cho tôi, cũng chẳng thể không nhận
đôi chút lợi ích từ tôi, đều là những chỗ
đặc biệt trong cuộc đời. Điều
đáng đau ḷng là thầy Bích Như muốn học Tỳ
Ni mà chưa toại chí, thầy Tinh Cốc đă học mà
chẳng thể dốc sức. Chánh pháp của Như Lai,
ai sẽ cùng gánh vác? Than ôi! Trong ṿng một tháng, hai thầy
cùng nối tiếp nhau qua đời. Tôi tuy có một hai
người cùng chí hướng, họ chỉ có thể nhận
lợi ích, chẳng thể lợi ích tôi, hoặc là lợi
ích lẫn nhau, nhưng vui thích hay chống trái, chẳng thể
nhắm mắt [phó mặc] trong lửa mạnh của ḷ
đỏ rực, buông tay nơi mũi đao buốt lạnh!
Như hai thầy, đối với đại sự nhân
duyên c̣n chẳng tránh khỏi vướng mắc nơi công
án, huống hồ những kẻ chẳng bằng hai thầy
ư? Do vậy, tôi than thở khôn xiết, cam ḷng suốt
đời ở trong núi sâu!
* Chuyện văng sanh của sư Tụng Trửu
Sư húy là Hoằng Tư,
tên tự là Như Thị, người xứ Lưu Việt,
Tấn Giang, họ Trần. Tuổi để chỏm
đă vào chùa Khai Nguyên ở quận nhà, lễ ngài Tiếu
Măn Toàn thuộc Trạm Nhiên Tinh Xá làm thầy. Sau khi xuống
tóc, chuộng thơ văn, chẳng quan tâm đến tiền
bạc, gạo thóc, khí tiết khảng khái, Tăng tục
đều kính nể. Lúc hai mươi bảy tuổi,
Sư bỗng phát tâm xuất thế, kết giao với thầy
Nguyệt Đài Tâm Mặc và cư sĩ Hà Tinh Cốc làm bạn sanh tử, sớm chiều
tham cứu đại sự, tột
bậc quên thân, gió, mưa, lạnh, nóng đều chẳng
bỏ phế. Khi đó, Phật pháp ở Ôn Lăng hoang phế
đă lâu, Văn Huân thiếu chủng tử, Sư riêng cùng
Tinh Cốc cổ vũ mấy người, yết kiến
thiền sư Vô Dị ở Bác Sơn xin thọ Cụ Túc
Giới, khổ công tham cứu chữ Vô, chẳng ngả
lưng xuống chiếu suốt ba năm.
Ngài Vô Dị thương xót Sư chuyên cần, sợ
Sư ngă bệnh, nói thí dụ điều chỉnh dây
đàn để khuyên lơn. Sư tạm nghỉ ngơi,
trọn chẳng cởi y. Sư chí hướng xa xôi, to lớn,
dẫu có tỉnh ngộ vẫn chẳng tự cho là đủ,
cũng chẳng có hành vi cẩu thả như người
khác. Người cùng hàng coi Sư như kẻ chất phác,
tŕ độn, cố nhiên Sư hiểu rơ đúng sai, thấu
suốt như gương Tần. Sư ĺa Bác Sơn, sang
chơi Chiết Trực, học tập Giáo Quán nơi U Khê,
thấy rơ khuyết điểm ám chứng trong đời
Mạt, tuân theo giáo huấn “hổ đội sừng”
của ngài Vĩnh Minh, bèn gởi tâm nơi An Dưỡng,
mong đạt đến Vạn Thiện Đồng Quy.
Cho tới khi thầy Tinh Cốc xuống tóc, Sư do
được hưởng lợi ích dạy bảo từ
thầy Tinh Cốc nhiều nhất, muốn tôn [thầy
Tinh Cốc] làm bậc tăng lạp cao hơn. Hơn nữa,
ở Bác Sơn thọ giới chẳng như pháp, liền
xả giới đă thọ trước đó, lễ thầy
Quư Hiền làm ḥa thượng, Giác Nguyên và Tân Ư hai vị
pháp sư làm A-xà-lê. Kế đó, thầy Tinh Cốc thọ
giới tỳ-kheo, kiêm thọ Bồ Tát đại giới,
kết hạ nghe tôi giảng Luật Yếu. Năm sau, thầy
Tinh Cốc về Tây. Sư do Toàn công (ngài Tiếu Măn Toàn) tuổi
đă cao, bèn trở về hầu hạ, sáng lập Bát Quan
Xă để tiếp dẫn cư sĩ. Từ đấy
trở đi, Tăng tục của Ôn Lăng mới biết
có chánh giới của Như Lai.
Sư thấy như vậy vẫn chưa đủ,
chỉ mong tưởng thầy
sáng, bạn lành. Năm năm sau, lại trốn khỏi
vùng Chiết Giang, đạp băng tuyết, t́m đến
tôi ở đầu non Cửu Tử. Chẳng bao lâu, Toàn
công qua đời, đồ tôn của Ngài khóc lóc, xin Sư
trở về Tuyền Châu, bèn ước định với
tôi tiếp tục tới Tử Vân tính bế quan. Cho tới
khi tôi đến thực hiện lời ước hẹn,
chưa đầy một năm, Sư đă thị hiện
bị bệnh, vời tôi đến giúp niệm Phật,
sai thị giả cạo tóc, tắm gội. Tắm xong,
Sư ngồi ngay ngắn, chắp tay
rồi qua đời, chánh niệm phân minh,
thần thanh khí định. Bốn tiếng sau, đỉnh
đầu vẫn c̣n ấm. Sư đă gởi thân nơi
búp sen, chẳng c̣n ngờ chi nữa!
Sư suốt đời tiêu dùng hết sức tiết
kiệm, áo rách, giày vá, mấy chục năm như một
ngày. Tôi từng
cười bảo: “Vua Thuấn bỏ thiên hạ như vứt
chiếc giày cũ, Sư bỏ giày cũ như thiên hạ”.
Sư tư lự, bảo: “Tôi chẳng cố ư làm ra vẻ
keo kiệt, do thẹn đức mỏng chẳng kham tiêu
xài của đàn na tín thí đó thôi!”. Sư cam tâm đạm
bạc, chịu đựng mệt mỏi, siêng ṛng Thiền
tụng, ngủ trễ, thức sớm, dẫu bệnh ngặt
nguy ngập, vẫn chẳng trễ năi, thiếu sót,
đúng là có phong cách của cổ nhân. Đối với thầy
bạn thân tín, Sư chịu đựng sự kềm cặp
ác nghiệt như uống cam lộ. Dẫu trong các vị
cổ nhân, cũng chẳng có mấy người được
như vậy! Nếu như Sư
sống lâu hơn, gần là sẽ sánh bằng
Dị Nham, xa là có thể nói gót
Đoạn Nhai. Tiếc là Sư chỉ sống được năm
mươi năm, giới lạp mới mười hạ,
tự độ cố nhiên đă thừa, công lợi tha
chưa được một nửa. Đau xót thay!
Sư giao thiệp với hàng sĩ phu, ắt tùy bệnh
khát của họ, làm dịu cơn khát của họ bằng
những lời lẽ thẳng thừng, chẳng kiêng dè.
Thị giả của Sư sao lục thành sách, tôi đùa bỡn
ghi tựa là Lăo Bà Thiền. Sách gồm có kệ tụng,
thơ vịnh mấy chục bài. Một tháng trước
khi ngă bệnh, Sư bỗng đốt đi. Sư từng
dùng một bài kệ trong Luật, khắc cạnh chỗ
ngồi. Kệ rằng: “Danh dự và lợi dưỡng,
được kẻ ngu yêu mến. Hay tổn hại pháp
lành. Như gươm chặt đầu người”.
Sư chưa từng chẳng giao du với bậc
hương thân hiền đạt, nhưng tâm cố nhiên
đă thấy thấu suốt như thế đó. C̣n nhớ
bài tuyệt cú vịnh Cúc của Sư như sau: “Ly cúc sổ
hành tùy thượng hạ,
vô tâm chỉnh lư nhậm tha hoành. Hậu tiên bất dữ
thời hoa cạnh, tự thổ sương trung nhất
đoạn hương” (tạm dịch: Bên giậu, so le cúc mấy
nhành, chẳng màng cắt
tỉa, mọc tung hoành. Sau trước chẳng
cùng
hoa đua
sắc, trong sương tự thoảng chút hương
thanh). Từ bài thơ ấy có thể thấy đại
khái. Sư tự cho là tinh thần, căn tánh hơi độn,
về già xưng là Tụng Trửu Đạo Nhân (誦帚道人)[91].
Sư có chí bế quan để chuyên tu Tịnh nghiệp.
Sư lại có hiệu là Tàng Lục tỳ-kheo[92]
(藏六比丘), c̣n
như [danh xưng] Đạo Phưởng Nhất, húy Tắc
Dị, là do Sư được thầy đặt. Xét Khai Sĩ Truyện
ở Tử Vân, đă chép tám mươi người, nay sẽ
ghép thêm Sư, xưng là người thứ tám mươi mốt.
* Tiểu truyện của Tự
Quán Ấn xà-lê
Phương
Ngoại Sứ nói: “Pháp đạo hưng thịnh th́ một
người suy bại đă là nhiều. Cho tới khi suy
vi, nhiều người phù trợ vẫn chẳng đủ.
Há ma lực thật sự hơn hẳn đạo lực
ư? Do đồng phận vọng t́nh, thuận theo th́ dễ,
trái nghịch th́ khó. Có được người biến
điều khó khăn trong thế tục thành dễ dàng,
khiến cho điều cấp bách trong thói đời trở thành
hoăn đăi, dẫu chí lớn chưa toại, vẫn
đáng là trụ đá giữa ḍng, nghiễm nhiên xưng là
bậc hào kiệt”.
Pháp hữu Tự Quán gần
như được như thế đó chăng? Pháp hữu
tên là Chiếu Ấn, người xứ Giang Phổ, Ứng
Thiên, họ ngoài đời là Diêu. Lúc mười hai tuổi,
đoạn rượu thịt, xuất gia tại Trúc Lăng
Am thuộc chùa Đại Báo Ân. Tằng tổ (cụ cố)
là Vân Đài công tu tập Thiền Tư đă lâu, biết
cháu là pháp khí. Sư học chữ với ông nội của
sư là Tây Luân công Ngọc Thành, thích tập luyện thơ
văn. Các vị Tự Bộ[93]
như các ông Lưu, Điền càng thêm kính trọng, làm thầy
khi Sư c̣n bé, giáo huấn nghiêm ngặt, chánh đáng. Sư
phụng sự bậc kỳ túc trọn lễ. Bậc
trưởng thượng trong chùa đều coi trọng
Sư. Lúc hai mươi ba tuổi, Sư bỗng phát tâm xuất
thế, bỏ bút nghiên, tham học với Vân Cốc lăo
nhân, thỉnh vấn pháp yếu. Sư lắm bệnh, da dẻ
bị ghẻ chốc
đă lâu, chưa rảnh để đi xa được.
Năm Đinh Măo (1627), đêm trừ tịch tại Thê Hà,
Sư ngẫu nhiên có câu thơ rằng: “Thử tế dục
hà tín, đăng hoa phàm kỷ cá?” (lúc này muốn tin ǵ,
đèn hoa đă mấy dạo?) Ngâm chưa xong, ánh đèn bỗng
tắt ngúm, một thoáng sau, đèn sáng lại, Sư bất giác
toát mồ hôi, buốt xương, dũng mănh tỉnh ngộ
vô thường. Từ đấy trở đi, thấy
chuyện trong thế gian như gỗ khô, tro tàn.
Mùa Thu năm Kỷ Tỵ
(1629), tôi đến chơi Thê Hà mới gặp gỡ pháp hữu,
tặng bài kệ rằng: “Cơi đời chẳng biết
chân, riêng ta chẳng mến giả, phục ông tánh b́nh thản.
Kham nhập Tỳ Ni Xă”. Pháp hữu nhận lấy. Mùa
Xuân năm Nhâm Thân (1632), Sư bèn vào Linh Phong kết hạ. Tôi v́ Sư làm yết-ma,
truyền trao Cụ Túc Giới. Sư chuyên tinh nghe Luật,
hễ hiểu liền hành, chẳng chịu nói suông. Bạn
học đua nhau vặn hỏi, chỉ có pháp hữu lặng thinh
như kẻ ngu, nhưng chân thật thực hiện, chẳng
có tập khí màu
mè bề ngoài.
Năm Bính Tư (1636), tôi
dưỡng bệnh, ẩn ḿnh tại Cửu Hoa, pháp hữu
sống ở Vũ Thủy, xem khắp các sách thuộc Luật
Tạng. Năm Đinh Sửu (1637), đến t́m tôi ở
ngọn núi Cửu Tử để thương lượng,
ấn chứng ư chỉ trọng yếu của các kinh Phạm
Vơng và Phật Đảnh. Tôi thấy Sư hành tŕ có thừa,
nhưng huệ giải chưa đủ, liền lập
ra mười câu hỏi trong đàn tràng để rèn cặp.
Sư quên ăn, bỏ ngủ, suy nghĩ sâu xa, tận lực
t́m ṭi từ Thu đến Đông, có chỗ tỉnh ngộ,
biết chuyện này to lớn, lâu xa, bèn tự gắng công,
ẩn giấu tài năng, cẩn thận ǵn giữ. Năm
Mậu Dần (1638), tôi sang Ôn Lăng. Pháp hữu trở về,
tuân theo kinh Di Giáo, nương vào Luật Tạng mà trụ,
nương vào Tứ Niệm Xứ để hành đạo,
chẳng mong mỏi pháp thế gian. Khi đó, bạn đồng
tham tự phụ là kẻ thông suốt, thường chê
cười Sư, Sư vẫn thản nhiên chẳng màng.
Cho tới năm Nhâm Ngọ (1642), tôi từ Ôn Lăng trở
lại, toan cùng pháp hữu cùng dựng pháp tràng, nhưng
trước đó một năm, tức năm Tân Tỵ
(1641), pháp hữu đă qua đời.
Than ôi! Ba tông đối
lập nhau, pháp đạo suy vi, ai nấy chú trọng đề
cao danh tiếng, đều chẳng có nền tảng. Nếu
bảo với họ nguồn cội của Tam Học, quy
củ thơm thảo thời đức Phật, chẳng
có ai không bịt mũi cười cợt, ngoác miệng chê
bai! Pháp hữu tin tưởng tôi trong lúc cả cơi đời
gièm chê, hủy báng, kể từ lúc tôi chín sống một
chết và lúc chia tay vào năm Mậu Dần (1638), bao kẻ
ồn ào, tuyên truyền đủ thứ, mà Sư có thể
khăng khăng tự rèn luyện đến chết chẳng
thay đổi. Lắng ḷng quán Phật, quay về chánh niệm,
cho đến khi qua đời, tăng, tục
mới tưởng nhớ, há chẳng trác tuyệt ư?
Đại Báo Ân Tự
trong niên hiệu Thần Miếu đă xuất hiện hai vị kiệt xuất,
một là Hám Sơn đại sư, hai là Tuyết Lăng
đại sư. Thầy Chiếu Ấn vừa mới xuất
gia, liền dốc chí noi theo đức hạnh tốt
đẹp của tiền nhân. Tuổi thọ chỉ tṛn bốn
mươi, pháp lạp vẫn chưa đủ mười
hạ. Những người biết tiếng, khâm phục
Sư trong thuở ấy chẳng ngoài mấy người
như Trịnh Trung Thừa, Tiền Kinh Triệu, những
vị hiển đạt trong làng như Lăng Quan Cầu,
Trần Mân Chiêu, cư sĩ Trần Phi Bạch,
Trương Hưng Công. Tôi nói hai cụ (Hám Sơn và Tuyết
Lăng)
đă khó có, thầy Chiếu Ấn càng khó có hơn! Nếu
chẳng suy nghĩ, hiểu biết sâu xa, ai chịu bỏ
đường lối dễ dàng cả cơi đời
đang hướng theo, để riêng đi trên con
đường cỏ cao một
trượng hết sức gập
ghềnh? Xưa kia, Mạnh Kha luận định
cổ nhân, coi người chết đói tại Thủ
Dương (Bá Di, Thúc Tề), cùng với quan A Hành (tể
tướng) đời Thương (tức Y Doăn), và quan
Sĩ Sư đất Lỗ (tức Liễu Hạ Huệ)
đều là bậc thánh, đúng là chẳng dùng Thế
Đế để phẩm đề. Tôi cho rằng hai vị
đại sĩ Hám Sơn và Tuyết Lăng cùng với thầy
Chiếu Ấn
cùng xưng là Báo Ân Tam Kiệt, há chẳng được
hay sao?
* Chuyện văng sanh của
tôn giả Diệu Viên (kèm lời tán)
Tôn giả Diệu Viên, húy
Như Hội, là con nhà họ Đàm ở Yên Đô (Bắc
Kinh), nhiều đời thế tập Vạn Hộ Hầu[94],
ăn chay từ bé. Ba mươi chín tuổi, Sư xuất
gia, thề hành Đầu Đà, chẳng ngả ḿnh xuống
chiếu. Trước sau, Sư đă đốt sáu ngón tay,
chứ đốt đỉnh đầu, nung cánh tay th́ chẳng
tính nổi số. Thoạt đầu, Sư xuống
phương Nam, chỉ chú trọng khổ hạnh. Trụ
Tŕ Ngưu Đầu khích lệ Sư nghiên cứu Lư, hết
sức cảm phát. Sư nhất tâm niệm Phật, bèn rỗng
rang quên bẵng thân thể và cơi đời, chẳng tự
xưng đă ngộ. Sư gặp hết thảy tăng,
tục, chẳng hề hàn huyên, riêng ḿnh độc hành, chẳng
tích cóp thứ thừa thăi. Mùa Hạ xả áo mùa Đông, mùa
Đông xả áo mùa Hạ. Các danh sơn trong thiên hạ,
Sư đều đến thăm gần như trọn
khắp. Sư tâm nhân từ mà h́nh sắc nghiêm nghị, phàm
khai thị cho người khác, ắt mạnh bạo, thành
khẩn, chẳng thuận theo thói thường.
Năm Bính Tuất (1646), tôi gặp tôn giả ở
khúc sông Thạch Thành; kế đó, cùng trụ tại Tế
Sanh Am, quanh quẩn mấy ngày. Ngài ưa tôi chất phác, thật
thà, tôi kính Ngài v́ giới đức, Thiền Định.
Thường khi đi, ngồi, ắt nhường cho Ngài.
Mùa Thu năm Mậu Tư (1648), Sư sang Thanh Giang Phố ở
Hoài An. Đại chúng thấy Sư nghi dung bất phàm,
lưu lại cúng dường. Chẳng lâu sau, Sư dùng một
bộ y tặng chủ nhân Vạn Đức Am, lại
căn dặn ràng: “Tôi không lâu sau sẽ đi, riêng có một
sự tướng nhờ cậy thầy”. Chủ nhân hỏi:
“Ḥa thượng vừa mới đến,
sao lại nói ra đi?” Đáp rằng: “Đi sang Tây
Phương. Thầy có thể đem xác tôi bỏ xuống
sông để kết duyên Tịnh Độ trọn khắp cùng trùng, cá?” Chủ nhân từ
tạ, chẳng dám. Tôn giả nói: “Nếu như vậy th́
sau khi trà-tỳ, đem xương ḥa với bột ḿ
để kết duyên cho tôi th́ sao?” Chủ nhân nói:
“Được!” Do vậy, Sư bảo chủ nhân sửa
soạn giùm đuốc lớn, hương thơm; mọi
người chẳng đoán được ư Ngài. Đến
đêm hôm Mười Chín tháng
Mười, vào lúc canh tư, Sư bỗng gọi chủ
nhân nói: “Hăy v́ tôi mở rộng các cửa, đốt
hương, thắp đuốc”. Chủ nhân đốt
đuốc xong th́ Sư đă lẳng lặng ngồi qua
đời. Bốn phương nghe mùi hương lạ,
tranh nhau tới lễ bái, cúng dường. [Am chủ] tuân mạng
trà-tỳ (hỏa thiêu), [nghiền
xương] làm thành viên bột, thả xuống sông. Sư
thọ bảy mươi mốt tuổi, Tăng lạp ba
mươi hai năm. Tôn giả thuở trước ở
tại Thủy Thảo Am, có nói với ngài Đạo
Lưu Trừng rằng: “Nhất tâm niệm Phật,
chuyên cầu thượng phẩm thượng sanh. Đó
là Đệ Nhất Nghĩa Đế trong lẽ hướng
thượng nhất trước, các ông nếu chẳng chịu
tin, thử xem ta trong tương lai được sanh về
Tịnh Độ sẽ liền tin!” Ôi! Nay quả
đúng là như vậy. Tán rằng:
- Tịnh Độ hoành siêu, viên đốn hiếm có. Phật, Tổ tán
dương, khác âm cùng miệng. Sanh manh chẳng biết,
vẫn t́m nơi khác. Lầm tưởng dung thông, trọn
thành trần
cấu. Duy ngài Diệu Viên, rống như sư tử. Một câu Di Đà, rộng
thí, lược giữ, quang minh cuối cùng, cơ duyên thị
hiện, chẳng phải ngẫu nhiên, kính lạy, cùng về.
Cùng thề chẳng dám, tụt hậu sau Ngài!
* Chuyện văng sanh của Tân pháp sư thuộc Liên
Cư Am
Pháp sư húy Đại Chân, hiệu Tân Y, con nhà họ
Châu thuộc Đông Thành, Vũ Lâm. Cha là X…, mẹ là Lưu
Thị. Lúc c̣n nằm trong địu[95],
Sư đă có thể chắp tay, niệm “Nam-mô Phật Đà”. Tới khi biết
đi, chẳng tụ tập cùng bọn trẻ, mà gom cát để vẽ
tháp Phật trên đất, hoặc ngồi xếp bằng
nh́n mũi. Chín tuổi, cha mẹ bàn bạc, định
đính hôn cho Sư với con gái nhà họ Diệp, Sư
khóc lóc từ chối, tới chỗ ngài Liên Cư Thiệu
thọ Tam Quy, Ngũ Giới, bèn nương dưới
ṭa. Thiệu sư đốc thúc học hành rất nghiêm.
Sư căn tánh hơi độn, nhiều lần bị
rèn cặp nghiệt ngă, nhưng kiên tŕ, chẳng lui sụt, giải đãi. Mười lăm
tuổi, xuống tóc làm Sa-di. Hai mươi tuổi, vào Vân
Thê thọ Cụ Túc Giới. Đêm ấy, Sư mộng thấy
ḿnh đắp y Tăng-già-lê, lên ṭa cao, diễn nói Bát Nhă, gạn
hỏi lẽ thật, đắc vô tác giới. Do vậy,
người hoằng giới, diễn pháp cùng thời với
Sư tuy nhiều, nhưng [trong số những vị]
đồng chân nhập đạo, ắt tôn Sư là bậc
nhất.
Sư lại học tập giáo pháp do ngài Liên Cư Thiệu
diễn giảng, người khác dốc sức một phần,
ta dốc sức mười phần. Người khác dốc
sức mười phần, ta dốc sức trăm phần,
lấy đêm làm
ngày. Tông chỉ
của Từ Ân và Thai Nhạc, Sư thường lănh hội
thông suốt, nhưng tâm càng rỗng rang, chí càng dũng mănh.
Bất luận trước thuật của tiên hiền,
hay những người sau Sư trong đời này như
Thiền của Tinh Cốc Thọ, Giáo của Quy Nhất
Trù và Quản Chánh Kiến, Luật của kẻ không ra ǵ
là Trí Húc, Nho của Bích Như Hạo, Sư đều chọn
lấy điều hay của mỗi người, như biển
cả chẳng cự tuyệt các ḍng nước.
Cha mẹ Sư tuổi đă cao, trước sau lễ
ngài Liên Cư Thiệu xin xuất gia, sống khác lều.
Cha tên là Phương Châu sa-môn, mẹ tên là Thuận Tu am chủ.
Sư phụng dưỡng không sai sót, mấy chục
năm như một ngày, cùng với Thiệu sư
được xưng tụng là chí hiếu, có phong thái của
Trần tôn túc[96]
thời cổ. V́ thế, các vị hộ pháp đề biển
nơi thất ấy là Mục Đường (睦堂). Thiệu sư qua đời, Sư lo liệu hậu
sự xong xuôi, cảm nhận duyên trái nghịch, bèn thanh thản
rời xa. Do pháp sư Giác Nguyên ở Đồng Lư thỉnh,
Sư bèn tới đó
nương nhờ, ở cùng gỗ đá, vui cùng nai, lợn[97],
chẳng c̣n nghĩ tưởng cơi người và thế
gian. Trải mấy mùa nóng, lạnh, đàn na hộ pháp viết
thư mời Sư trở về lại chủ tŕ chùa Liên
Cư, tận lực hoằng dương đạo của
Thiệu sư. Sư viết Duy Thức Hợp Hưởng,
kiêm truyền trao kim cang bảo giới. Lại lập
đàn Đại Bi, nghiêm ngặt tu tập
Lư sám và Sự sám, Giáo và Quán mới cùng được nêu.
Lúc bảy mươi mốt
tuổi, Sư căn dặn trọn khắp các môn đệ
truyền tŕ Giáo Quán, tự chọn đất dựng tháp.
Mùa Thu năm sau, Sư thị hiện bệnh nhẹ, ba
ngày sau hôm Tự Tứ, Sư ngồi xếp
bằng trên ghế dựa, để lại
di giáo, và cũng tụ tập cư sĩ, đệ tử, dặn ḍ họ hộ
tŕ chánh pháp. Bảy hôm sau, Sư tắm rửa, thay quần
áo, đă đi nằm lại thức dậy, bảo mang
ṭa đặt trước giường, ngồi xếp bằng
trên đó, tay cầm xâu chuỗi, cùng với đại
chúng niệm Di Đà Phật hiệu. Trong khoảnh khắc,
tiếng niệm và hơi thở cùng dứt, mũi tḥ ra
đũa ngọc hơn một thước, đă hơn
hai tiếng đồng
hồ mà đỉnh đầu vẫn nóng.
Khi đó là giờ Ngọ ngày Hai Mươi Lăm tháng Bảy
năm Canh Dần (1650), pháp lạp năm mươi ba
năm. Trước đó, ưu-bà-tắc họ Châu mộng
thấy thiên nhạc đón Sư về Tây, vội dẫn
thân thuộc mấy người đến thọ Tam Quy,
Ngũ Giới. Am chủ Đạo Thanh trước đó
vào ngày mồng Một Tết, đă mộng thấy Sư
ngồi trên đài sen. Sư văng sanh Tịnh Độ, há
c̣n ngờ chi! Tán
rằng:
- Xưa kia, Phật
đem chánh pháp nhăn tàng, phó chúc Đại Ca Diếp. Sau khi đức Phật
nhập diệt, Ca Diếp suất lănh một ngàn vị A
La Hán, kết tập Tam Tạng. Do vậy biết: Để
truyền tâm ấn của Phật, ắt
phải cùng hoằng Tam Học, tánh và
tướng cùng thấu triệt, như Đạt Ma dùng
Lăng Già ấn tâm, Lục Tổ ắt đăng đàn
thọ Cụ Túc Giới. Những điều khác có thể
suy ra mà biết. C̣n như Hoa Nghiêm, Đại Tập, Bảo
Tích, Pháp Hoa, các kinh Đại Thừa, không ǵ chẳng hoằng
truyền, tán thán Tịnh Độ. Mă Minh, Long Thọ, các
đại tổ sư, không vị nào chẳng gởi tâm
nơi Cực Lạc, há chỉ Liên Tông thập tổ mà
thôi! Sư tổ Vân Thê, cha Thiệu Giác, Giáo để gột
tâm, Luật để gột ái, siêng tu Ngũ Hối, học
trọn ba tông. Chẳng trách ấn nát, vết khắc
đă thành, như nhập tam-muội. Lũ “thử tức
điểu không” (người nói suông lư tánh), quen thói ăn
nói lớn lối lừa dối Phật, nghe phong thái của
Sư, há cũng chẳng thẹn chút nào ư?
* Tiểu truyện ông
Tŕnh Quư Thanh ở Tân An (và lời
tán)
Cư
sĩ Quư Thanh là con thứ ba của ông Tŕnh Tiểu Khê ở
Tân An, tên là Văn Tế, pháp danh là Thông Huệ. Ông học
hành tại Tây Thiên Mục, ngẫu nhiên yết kiến tháp
Cao Phong đại sư, bất giác khóc ṛng, cắt thịt
ở bắp tay chừng một tấc để dâng cúng,
bèn quyết chí thề tham cứu. Ông lễ Tuyết Kiệu
thiền túc làm thầy, khắc khổ dụng công đă
lâu, bèn có chỗ nhập. Ông đă vào Thái Học, do anh cả
ưa thích thuật Kham Dư[98],
ông bèn học tập, lo liệu trọn khắp các giảng
ṭa nơi tùng lâm. Tự ví ḿnh như Tư Mă Đầu
Đà[99].
Tới Bác Sơn, thiền sư Vô Dị hết sức
kính yêu, lúc rời đi, Sư tiễn chân ông năm dặm
đường.
Cư sĩ cho là nhà Thiền
thời Mạt chẳng thông đạt giáo lư, bèn lập Lục
Niên Giảng Xă tại
Liên Cư, thỉnh mười vị pháp chủ luân phiên
lên ṭa giảng giải. Lại do yếu môn trong tu hành là cần
phải thấu đạt pháp tướng, bèn mời Tự
B́nh pháp chủ đến trượng thất, v́ thiện
tín tại Cô Thành, lại diễn giảng Thành Duy Thức
Luận. Tuy bận bịu, ông vẫn dành thời
gian đến lắng nghe. Ngày đêm suy xét cái tâm, thấu
hiểu sâu xa cương yếu của Từ Ân. Ông thường
đọc Hoa Nghiêm đại điển và Phát Bồ
Đề Tâm Luận v.v… Vừa đọc ra tiếng,
nước mắt liền rơi. Ông tự đặt hiệu
là Thập Nguyện Cư Sĩ. Phàm phóng sanh, giúp người
trong tù ngục, lễ sám, hoằng pháp, không ǵ chẳng
đích thân xướng suất trước tiên, cổ
vũ cho thành tựu.
Ông Kinh Triệu Tiền
Nguyên Xung chôn con, cư sĩ cùng với ông ta thực hiện
phước nghiệp to lớn, gần tới ba
mươi vạn đồng. Kinh Triệu mất, cư
sĩ cũng chôn con, càng cảm nhận vô thường mạnh
mẽ, bèn đóng cửa, tạ khách, chuyên tu phép quán thân Phật
cao một trượng sáu thước. Thoạt đầu
mờ mịt, mông lung, dần dần hiện thân Phật
rơ ràng nơi tâm mục, chỉ có điều màu sắc tối
tăm. Ông càng thêm khổ công, thiết tha, lắng ḷng suy
tưởng chẳng thôi, bỗng trên hư không có tiếng
dạy rằng: “Nếu muốn thấy thân kim sắc,
trước hết phải tưởng thân Phật có màu
đỏ”. Ông vâng theo lời dạy, quán tưởng,
quả nhiên được nhắm mắt, mở mắt
đều thấy rơ ràng. Quang minh nơi thân Phật chiếu
sáng bốn vách của căn thất. Mọi vật trong thất
đều thành kim sắc. Xuất Định, thấy
người thế gian như màu tro xám.
Một hôm, đang trong lúc ngồi
xếp bằng, Phật quán hiện tiền, người
nhà đẩy cửa phát ra tiếng, ông bỗng giật
ḿnh xuất Định, chẳng thấy Phật nữa.
Do vậy, ngộ “Phật sanh từ tâm tưởng, vốn
chẳng đến đi”, nhưng vẫn chẳng bỏ
quán môn. Nhưng v́ bận việc quá nhiều, công phu dần
dần giảm sút, thường lấy đó làm điều
tiếc hận. Mùa Xuân năm Canh Dần (1650), ông ta thưa
với tôi: “Tới nay con mới ngộ yếu quyết
để sanh Tây là cần phải buông xuống Sa Bà”.
Tôi rất đồng ư. Bởi lẽ, tuy cư sĩ tu Phật
thân quán, vẫn nghĩ thân sau sẽ làm đế
vương hoằng pháp, hoặc làm
thiên thần hộ thế, thường bị tôi thống
thiết quở trách. Mùa Thu năm Tân Măo (1651), ông mắc bệnh
ở bụng, liền căn dặn hậu sự, bỏ
các tạp duyên, vẽ thánh tượng tiếp dẫn
để giúp cho quán lực. Tới ngày mồng Hai tháng
Chín, ông cát tường qua đời. Cư sĩ sanh
năm Mậu Tư (1588) thời Vạn Lịch, thấy thế
giới sáu mươi bốn năm. Trước sau, ông
sanh mười một người con, chỉ c̣n hai, nói với
tôi rằng: “Trong đời, con thường mộng thấy
hành quân chinh phạt, cầm cờ chỉ huy mọi người.
Chắc là sát nghiệp đời trước quá nặng. Do
vậy, sanh con nhiều mà không nuôi được!” Vợ cả
của ông là Lô Thị, pháp danh Trí Phước, đă lên Tịnh
Độ trước.
Cư sĩ mất rồi,
trưởng nữ thương nhớ khôn nguôi. Đến
thất thứ nhất, mộng thấy cư sĩ bảo:
“Ta đă ở ngoài Ngô Môn bốn mươi dặm, làm thần
hộ pháp già-lam cho một đại tùng lâm”. Phương
Ngoại Sứ nói: “Quư Thanh đă sớm tham Thiền, lại
tinh thông Duy Thức, quy tâm Tịnh nghiệp. Nổi tiếng
về Phong Thủy như thế, rốt cuộc làm thần
hộ pháp già-lam, chưa là đăng địa Bồ Tát,
chẳng thể chế phục trọn hết hiện hành
phiền năo. Cơi đời cố nhiên chẳng thiếu
Quư Thanh, nhưng đại Bồ Đề tâm chủng há
giấu được ư?”
* Tiểu truyện
chung của hai vị sư Ảnh Cừ và Đạo
Sơn
Thầy Ảnh Cừ
là con nhà họ Tôn ở Tuy Lư, xuất gia tại Thí Am ở
phủ ấy, pháp danh Thanh Chiểu. Thầy Đạo
Sơn,
tên tự là Linh Ẩn, con nhà họ Tôn ở Vũ Lâm, xuất
gia tại Phổ Đà Tĩnh Thất, pháp danh Vĩnh
Khuưch. Năm đầu niên hiệu Thiên Khải, có pháp
sư Băo Phác Liên kiêm thọ Long Tŕ thiền học, sáng lập
Tịnh Danh Am tại Vũ Khang. Hai thầy cùng tụ hội
trong một điện đường, kết t́nh
nghĩa kim lan thế ngoại. Từ đấy, như
h́nh với bóng suốt hai mươi mấy năm. Thầy
Ảnh Cừ trầm tĩnh, ít cười nói, thầy
Linh Ẩn th́ hoạt bát, hay khôi hài, tợ hồ chẳng hợp
nhau, nhưng thận trọng, kiệm ước, thanh cao,
ít thích tụ tập, th́ cùng một lối. Do vậy, bắt
đầu từ lúc theo học tại giảng ṭa cho đến
khi trụ tĩnh (tĩnh tu), chẳng khác nước ḥa với
sữa. Đă tham cứu Thiền học của ngài Băo
Phác, lại nghe Giáo từ pháp sư Cổ Đức.
Ngài Cổ Đức
là A-xà-lê thọ giới của tôi, nhưng tôi suốt đời
chẳng nhập giảng tịch, tuy là đồng môn với
hai thầy, thoạt đầu chẳng biết nhau. Tới
mùa Xuân năm Ất Hợi (1635), bị mưa kẹt lại
Tường Phù mới nghe biết [hai thầy]. Mùa Đông
năm ấy, hai thầy được xem Pháp Hoa Huyền
Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán, rất hối hận thấy
hai sách ấy quá muộn! Biết pháp môn viên đốn của
tông Thiên Thai, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh
thành Phật, đúng là chẳng khác đơn truyền
chánh ấn, nhưng Lục Tức loại trừ xen lạm,
càng đủ để cứu chữa
khuyết điểm cuồng Thiền trong thời Mạt.
Bởi lẽ, thầy Ảnh Cừ tu Thiền tọa
đă lâu, khá thông thuộc giáo điển. Thầy Linh Ẩn
từng ở trong Tịnh Danh Đường có chỗ tỉnh,
thường than Thiền học các phương lần hồi
ngoa ngụy, chẳng thể cùng đàm luận được,
chỉ gởi tâm t́nh trong câu thơ, xướng họa với
các bậc danh túc như Tuyết Kiệu, Thu Đàm, coi
đời này giống như ḥa lẫn với bọn ô
trược, sợ bị nhuốm bẩn lây, cam tâm đạm
bạc, giữ sự vắng lặng khô khan, run sợ
như trong băng tuyết lạnh lẽo, cao vời
như hạc trong mây. Nay đọc thơ của thầy,
vẫn có thể tưởng như thấy h́nh bóng của
thầy. Ngày mồng Tám tháng Chín năm Tân Tỵ (1641), thầy
Ảnh Cừ thị tịch,
hưởng thọ năm mươi lăm tuổi.
Năm sau, vào ngày Hai Mươi Lăm tháng Chín năm Nhâm Ngọ
(1642), thầy Linh Ẩn thị tịch, thọ bốn
mươi bảy tuổi. Di cốt cùng đưa vào tháp
Phổ Đồng ở Tây Khê.
Thầy Ảnh Cừ
sau khi hành cước, giữ hạnh Đầu Đà, mọi
chuyện mặc cho thầy Linh Ẩn làm, chỉ chắp
tay thầm lặng tĩnh tu mà thôi. Thầy Linh Ẩn chỉ
xuống tóc thế độ cho hai người, một vị
tên là Phước Cụ, tự Giới Tâm, theo tôi du hành
đă lâu. Vị kia tên là Phước Định, tự Chỉ
Lâm, lớn hơn Sư một tuổi, nhưng xuất gia
sau Phước Cụ, tức người hiện thời
đang đốc thúc khắc in thi cảo, cũng có thể
siêng năng lễ tụng, chẳng đọa gia phong. Hai
thầy vốn khó ḥa hợp nhất, nhưng một phen
giao du th́ t́nh bạn đạo thân thiết nhất, thường
khiến cho người khác nhớ măi chẳng quên. Trước
nay, họ chưa từng chú trọng mưu cầu lợi
lộc, chẳng lo toan việc đời. Tăng, tục
vùng Tuy Lư thường nhớ tưởng, hâm mộ phong
thái cao cả của họ, đúng là hoa Ưu Đàm trong
đời Mạt, há đợi lên pháp đàn, dựng cán
phất trần, th́ mới gọi là bậc thầy khuôn mẫu
của trời người ư?
Linh
Phong Tông Luận
Phần
7 hết
[1] Không biết từ
lúc nào, nhưng đến đời Tống đă phổ
biến một loại “tăng sĩ”, gọi là Đầu
Đà, hoặc
Hành Giả, thường để nguyên râu tóc,
mặc áo tăng sĩ, trên đầu đeo một đai sắt bịt tóc, có mảnh sắt
h́nh trăng lưỡi liềm trước
trán, tay cầm giới đao,
thường đi khắp nơi, hóa duyên và hành hiệp. Tuy mang tiếng
là Đầu Đà, nhưng họ không hề tuân thủ giới
luật của nhà Phật, cũng như không giữ một
hạnh Đầu Đà nào, lại c̣n ăn thịt,
uống rượu tùy ư.
[2] Tức
chương Thanh Tịnh Minh Hối trong kinh Thủ Lăng
Nghiêm.
[3] Đây là hội
Công Đức Bảo Hoa Phu Bồ Tát, tức hội thứ
ba mươi tư trong kinh Đại Bảo Tích.
[4] Xuất phát từ
thành ngữ “Kỷ nhân ưu thiên” (người nước
Kỷ lo trời sập) vốn xuất phát từ thiên
Thiên Thụy trong sách Liệt Tử, nhằm trào phúng người
lo chuyện không đâu. Kỷ là một nước chư
hầu từ đời nhà Thương cho đến thời
Chiến Quốc, tồn tại hơn một ngàn năm.
Vua nước này họ Tự, là hậu duệ của
Đại Vũ. Sau khi vua Thành Thang diệt nhà Hạ,
đă phong cho con cháu nhà Hạ là Đông Lâu Công làm vua đất
Kỷ (nay là Kỷ huyện thuộc tỉnh Hà Nam). Sử
chỉ chép vị vua đầu tiên của nước Kỷ
được phong dưới thời Tây Châu là Đông Lâu
Công. Nước Kỷ hoàn toàn diệt vong bởi nước
Sở vào năm 445 trước công nguyên dưới thời
Kỷ Giản Công (Tự Xuân).
[5] “Lỗ ngư” và “hợi thỉ” đều là những
từ ngữ chỉ sự sai sót trong khi sao chép, v́ chữ
Lỗ (魯) rất gần với
chữ Ngư (魚), Hợi (亥) và Thỉ (豕) khá giống nhau, nếu
không chú ư sẽ bị chép sai chữ.
[6] Ở đây có
hai thành ngữ:
1) “Tuyên Ni sở
phủ” là một câu trong thiên Ung Dă sách Luận Ngữ: “Tử
kiến Nam Tử, Tử Lộ bất duyệt, phu tử
thỉ chi viết: - Dư sở phủ giả,
thiên yếm chi, thiên yếm chi” (Khổng Tử
đến gặp Nam Tử, Tử Lộ không vui. Khổng
Tử chỉ lên trời, thề: “Nếu ta có điều
ǵ sai trái, trời sẽ ghét bỏ ta”). Nam Tử là vợ Vệ
Linh Công, nổi tiếng dâm đăng. Tử Lộ không vui v́
nghĩ Khổng Tử gặp người dâm đăng
như vậy sẽ bị tổn hại
danh tiếng, không đúng với cách hành xử, hoặc cho
rằng Khổng Tử muốn cầu cạnh để
có một chức quan nên gặp bà ta. Tổ dùng thành ngữ
này ở đây với ngụ ư: Mọi chuyện phải
nh́n cho thấu đáo, đừng chấp nhặt vào h́nh
tướng bề ngoài rồi có thành kiến.
2) “Ung ngoại
vận ung” (ngoài ṿ, chuyển ṿ) là một câu trong bài Thuyền
Tử Khúc của ḥa thượng Xuy Vạn nhằm nhắc
nhở mọi người đừng chấp trước
đối với tam giáo. Theo Ngài, tam giáo giống như ba
cái ṿ, nếu chuyển một cái ṿ vào giữa, tức là chỉ
biết những ǵ chứa đựng trong cái ṿ ấy, chẳng
biết hai cái ṿ kia. Ngụ ư: Đối với mọi việc,
phải biết nh́n toàn thể, đừng hạn cuộc
tầm nh́n.
[7] Anh nhi hạnh,
bệnh hạnh, thiên hạnh, phạm hạnh, và thánh
hạnh là năm hạnh của
thánh nhân được nhắc đến trong kinh Đại
Bát Niết Bàn. Ngụ ư chư Phật, Bồ Tát, thánh hiền
thuận theo căn tánh của chúng sanh mà nói các phương tiện giống như nói lá vàng là tiền hoặc vàng để dụ
cho trẻ nín khóc. C̣n bệnh hạnh là các phương tiện
thuận theo căn bệnh phiền năo của chúng sanh mà
nói ra phương tiện đối trị thích hợp.
[8] Trong phẩm Ly
Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm, nơi điện Phổ
Quang Minh trong đạo tràng Bồ Đề A Lan Nhă nước
Ma Kiệt Đề, Phổ Huệ Bồ Tát thưa hỏi
Phổ Hiền Bồ Tát về cảnh giới của Bồ
Tát. Do vậy, Phổ Hiền Bồ Tát bèn nói cảnh giới
rộng lớn của Bồ Tát như chỗ y chỉ, kỳ
đặc tưởng, mười hạnh, mười thứ
siêng tinh tấn v.v…
[9] Dạ Lang là một
vương quốc cổ của người Tây Nam Di
đă có từ thời Chiến Quốc, tồn tại cho
đến năm 27 trước Công Nguyên, thuộc khu vực
Quư Châu hiện thời. Thời Hán Vũ Đế,
Đường Mông sang sứ Nam Việt Quốc (của
Triệu Đà) đă phát hiện nước Dạ Lang.
Vũ Đế bèn t́m cách ép Dạ Lang làm chư hầu, Dạ
Lang Hầu lúc đó là Đa Đồng, tự xưng là Dạ
Lang Vương không phục, nói: “Hán và ta, ai lớn hơn?”
Từ đó, xuất phát thành ngữ “Dạ Lang tự
đại” ngụ ư chê trách kẻ kiêu căng, tự
măn, kiến thức hẹp ḥi.
[10] Thái A là một
trong mười thanh bảo kiếm thời cổ (Hiên
Viên, Trạm Lư, Xích Tiêu, Thái A, Thất Tinh, Long Uyên, Can
Tương, Mạc Da, Ngư Trường, Thuần Quân và
Thừa Ảnh). Tương truyền thanh kiếm này do hai
nhà đúc kiếm trứ danh là Âu Dă Tử nước Việt
và Can Tương nước Ngô hợp sức đúc thành.
Do tin đồn vua Sở nắm giữ kiếm Thái A mà
nước Tấn đă xua quân vây kinh thành nước Sở
suốt ba năm để ép vua Sở giao nộp kiếm
Thái A.
[11] Đương
Dương là thành phố thuộc cấp huyện ở tỉnh
Hồ Bắc. Thành phố này chính là huyện
Đương Dương do Bạch Khởi thiết lập
đời Tần Chiêu Tương Vương khi đem
quân đánh Sở. Ở đây, có một ngôi chùa nổi tiếng
là chùa Ngọc Tuyền. Đó là đạo tràng của Thần
Tú đại sư. Trí Giả đại sư cũng từng
trụ ở đây tu Giáo Quán, và mộng thấy Quan Công hiện
thân xin quy y, phát thệ làm hộ pháp cho Phật giáo.
[12] Thiện
Giới chính là Bồ Tát Thiện
Giới Kinh, do pháp sư Cầu Na Bạt
Đà La dịch vào thời Lưu Tống,
gồm chín quyển, chia thành ba mươi
phẩm. Kinh trần thuật đức Phật
tại vườn Cấp Cô Độc nói pháp
sám hối bằng cách xưng danh ba mươi
lăm vị Phật (đây là cơ sở
để soạn ra Hồng Danh Bảo Sám về sau).
Khi đó, ngài Ưu Ba Ly xuất Định,
nói ra quyết định Tỳ Ni. Kế đó,
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nêu ra
cứu cánh Tỳ Ni. Sau này, Di Lặc
Bồ Tát dựa theo kinh này để soạn
Thập Địa Luận. Bản kinh Địa Trì
chính là một phần của Thập Địa
Luận. Kinh này còn có một bản dịch khác,
cũng gọi là Bồ Tát Thiện Giới
Kinh, chỉ nói về sáu giới trọng
và bốn mươi tám giới khinh, do
ngài Huyền Trang dịch. Xét ra, bản dịch
của ngài Huyền Trang chỉ là bản dịch
khác của phẩm Giới trong kinh Bồ Tát
Thiện Giới do ngài Cầu Na Bạt Đà
La dịch.
[13] Tâm Địa
Quán có tên gọi đầy đủ là
Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán
Kinh gồm tám quyển, chia thành mười ba
phẩm, do ngài Bát Nhã dịch vào
đời Đường. Trong kinh này
đức Phật vì các vị Đẳng
Giác Bồ Tát như Văn Thù, Di Lặc
v.v… trần thuật hàng xuất gia trụ A Lan Nhã
hãy nên quán tâm địa, diệt vọng
tưởng như thế nào để thành
Phật đạo.
[14] Kinh nói Phật
Thích Ca đă thị hiện thành Phật tám ngàn lần trong
cơi Sa Bà để độ chúng sanh.
[15] Nguyên văn “lang
hàm cửu cố, bán châu cẩn tŕnh”: Lang hàm là cái hộp
hay rương nhỏ đựng sách bằng gỗ. Do thời
cổ, khổ giấy có hạn, mỗi quyển sách chỉ
chừng bốn mươi hay năm mươi trang, kinh
sách in hay chép gồm nhiều quyển, để khỏi thất
lạc, phải làm một cái hộp gỗ đựng các
quyển của cùng một bản kinh gọi là “lang hàm”.
Đôi khi cái hộp được trang trí, cẩn đá
quư, châu báu rất đẹp đẽ. Câu này có ư nói chúng
sanh ch́m đắm vào h́nh tướng bề ngoài, mê muội
nơi văn tự, h́nh tướng của bản kinh, chẳng
thấy được viên châu hay chỉ thấy phần
nào của viên châu (tức nội dung siêu tuyệt của bản
kinh). Do vậy, Tổ phải
chú giải với ước vọng người đọc
nhờ đó mà lănh hội thật nghĩa của bản
kinh, không chấp trước văn tự hay h́nh thức.
[16] Đây là cách
phân định đặc tánh của bốn thời giáo
đầu theo tông Thiên Thai:
1) Hoa Nghiêm kiêm:
Hoa Nghiêm nói chủ yếu về Viên Giáo, nói kèm về Biệt
Giáo.
2) A Hàm đản:
Thời A
Hàm chỉ nói về Tạng Giáo.
3) Phương
Đẳng đối: Thời Phương
Đẳng tương thông cả bốn giáo Tạng,
Thông, Biệt, Viên, nhằm đối
trị tột cùng các phiền năo, chấp trước.
4) Bát Nhă đới:
Thời
Bát Nhã chủ yếu nói về Viên Giáo,
nhưng đôi khi kèm theo Thông và Biệt Giáo, nên gọi là
Đới (kèm theo).
[17] Lư Bạch
(701-762), tự là Thái Bạch, hiệu là Thanh Liên cư
sĩ, là một đại thi nhân thuộc đời Thịnh
Đường. Cùng với Đỗ Phủ, ông trở
thành biểu tượng cho Đường thi. Do thích uống
rượu và tài làm thơ, ông được người
đương thời gọi là Tửu Tiên, hay Trích Tiên
Nhân. Trong tác phẩm nổi tiếng về thơ Đường
là Đường Thi Tam Bách Thủ (ba trăm bài thơ
Đường) do Tôn Thù biên soạn, có đến bốn mươi hai bài là
thơ của ông.
Thôi Hạo (?-754) là một thi nhân đời Đường,
quê ở Biện Châu (nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà
Nam), không được ghi chép nhiều về tiểu sử.
Chỉ biết ông đỗ Tiến Sĩ năm Khai Nguyên thứ
mười (722), từng
làm Giám Sát Ngự Sử, rồi làm thuộc hạ của
Tiết Độ Sứ Hà Đông, huyện úy huyện Phù
Câu, Thái Bộc Tự Thừa. Chức quan cao nhất của ông là Tư Huân Viên Ngoại
Lang, tức là đường
quan trường của ông khá lận đận. Thơ của ông hay, nhưng bị
thất lạc nhiều, chỉ c̣n giữ được
bốn mươi hai bài. Bài thơ nổi tiếng nhất
của ông chính là bài thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng Hạc Lâu là một ṭa lầu trên núi Xà Sơn thuộc
Vũ Xương, thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc),
là một trong bốn ngôi lầu nổi tiếng của
đất Giang Nam. Hoàng Hạc Lâu hiện thời có năm
tầng, cao 50,4 mét. Ṭa lầu này được xây từ
năm Hoàng Vũ thứ hai (223) đời Đông Ngô do sắc
lệnh của vua nước Ngô thời
ấy là Tôn Quyền. Ṭa lầu này bị
thiêu hủy và xây lại nhiều lần (riêng trong thời
Minh - Thanh, ngôi lầu này đă bị bảy lần phá hủy
v́ chiến tranh, loạn lạc). Ngôi lầu hiện thời
được xây dựng lại vào năm 1985 trên nền
cũ. Theo truyền thuyết, tiên nhân Vương Tử An
thích tu tiên, từng thấy trên lầu này có vị tiên
cưỡi hạc vàng giáng xuống, cùng họ
Vương uống rượu. Sau đó cỡi hạc bay
đi mất. V́ thế, lầu này có tên gọi là Hoàng Hạc
Lâu. Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hạo như sau: “Tích
nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, thử địa
không dư Hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất
phục phản, bạch vân thiên tải không du du, t́nh xuyên lịch
lịch Hán Dương thụ, phương thảo thê thê
Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Thi
sĩ Tản Đà dịch như sau: “Hạc vàng
ai cưỡi đi đâu? Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu
c̣n trơ! Hạc vàng đi mất từ xưa, ngh́n
năm mây trắng bây giờ c̣n bay. Hán Dương sông tạnh cây bày, băi xa Anh Vũ xanh dày
cỏ non. Quê hương khuất bóng hoàng hôn, trên sông khói
sóng cho buồn ḷng ai?”
[18] Quang Trạch (467-529) là vị Tăng sống
vào đời Nam Triều. Bảy tuổi xuất gia, có
pháp hiệu là Pháp Vân. Sư cùng với
Tăng Mân và Trí Tạng, được
xưng tụng là “ba vị đại pháp sư đời
Lương”. Sư thường trụ tích tại chùa Quang
Trạch ở Giang Tô, nên người đời thường
gọi Sư là Quang Trạch. Sư khéo giảng Pháp Hoa, tác
phẩm chú sớ kinh Pháp Hoa của Sư được gọi
là Quang Trạch Sớ, có tên gọi đầy đủ là
Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kư.
[19] Khi giảng
đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tổ Trí Giả đă
dùng chín mươi ngày để giảng ư nghĩa chữ
Diệu, kinh sách thường gọi chuyện này là “cửu
tuần đàm diệu”. Tuần (旬) là mười
ngày, không phải
là tuần lễ thường dùng trong
tiếng Việt.
[20] Chương An
Quán Đảnh (561-632) là cao tăng sống vào đời
Tùy, họ Ngô, có tên tự là Pháp Vân, pháp hiệu Quán Đảnh,
người huyện Chương An, tỉnh Chiết
Giang. Ngài là đồ đệ đắc ư của tổ
Trí Giả, được tông Thiên Thai tôn xưng là đệ
tứ tổ. Ngài xuất gia lúc bảy tuổi, tôn ngài Huệ
Chửng chùa Nhiếp Tịnh làm thầy. Hai mươi tuổi
thọ Cụ Túc Giới. Năm 584, Ngài vào chùa Quang Trạch,
theo hầu tổ Trí Giả. Khi tổ giảng kinh Pháp Hoa,
Ngài ghi lại lời giảng, tạo thành sách Pháp Hoa
Văn Cú. Khi Tổ sang chùa Ngọc Tuyền rồi chùa Thiền
Chúng, cũng như trở về Thiên Thai, Ngài luôn theo hầu
Tổ, tận lực ghi chép lời giảng của Tổ.
Riêng Ngài cũng trước tác các bộ Niết Bàn Huyền
Nghĩa, Niết Bàn Kinh Sớ, Quán Tâm Luận Sớ, Tứ
Niệm Xứ, Quốc Thanh Bách Lục.
[21] Có thể tạm
hiểu “thủ quyển” (手卷) như một thứ sổ
tay hay bút kư của một người nào đó, nhằm ghi chép
những điều tâm đắc trong học hỏi, hoặc
đơn giản chỉ là những ghi chú trọng yếu
trong quá tŕnh học tập.
[22] Đây là hai từ
ngữ được nhắc đến trong sách Trung Dung:
“Quân tử giới thận hồ ư sở bất
đổ, khủng cụ hồ kỳ sở bất
văn, mạc kiến hồ ẩn, mạc hiển hồ
vi. Cố quân tử thận kỳ độc dă. Hỷ nộ
ai lạc chi vị phát, vị chi trung. Phát nhi giai trung tiết,
vị chi ḥa. Trung dă giả, thiên hạ chi đại bổn.
Ḥa dă giả, thiên hạ chi đạt đạo dă” (Quân
tử cẩn thận, dè dặt nơi người khác chẳng
thấy, kiêng dè nơi người khác chẳng nghe thấy.
Chỗ ẩn giấu nhất dễ hiển lộ nhất,
chỗ vi tế nhất dễ hiện rơ nhất. Do vậy,
quân tử phải cẩn thận hành vi dù chỉ có một
ḿnh. Khi mừng, giận, buồn, vui chưa phát tiết th́
gọi là Trung. Đă biểu lộ ra mà có thể giữ
đúng chừng mực th́ gọi là Ḥa. Trung là cội gốc
to lớn của thiên hạ. Ḥa là đạo phải hành
chung của cả thiên hạ). Chúng tôi chuyển ngữ
đoạn này theo cách diễn giải
trong sách Tứ Thư B́nh Giải.
[23] Sơn nạp:
Ông tăng ở trong chốn núi non. Đây là từ
ngữ khiêm xưng.
[24] Ngũ Truyện
là năm phần chú giải của kinh Dịch trong Thập
Dực (do có mười phần trong Thập Dực). Không
rơ Ngũ Truyện ở đây là nói cụ thể những
phần nào, v́ Thập Dực có đến bảy phần
được gọi là Truyện, tức Thoán Truyện,
Tượng Truyện, Hệ Từ Truyện, Thuyết
Quái Truyện, Tự Quái Truyện, Tạp Quái Truyện, và
Văn Ngôn Truyện.
[25] Kinh Dịch
lưu hành hiện thời là Châu Dịch (do kinh Dịch theo
truyền thuyết có ba loại là Liên Sơn, Quy Tàng và Châu Dịch,
nhưng chỉ c̣n Châu Dịch lưu truyền). Châu Dịch
theo truyền thuyết thì là bản kinh Dịch do Châu Văn
Vương (Cơ Xương) chú giải. Do kinh Dịch
có sáu
mươi bốn quẻ, nên được
chia làm hai phần: Thượng Kinh giảng ba mươi
quẻ, Hạ Kinh giảng ba mươi bốn quẻ.
[26] Mười
nhân theo Duy Thức là tùy thuyết nhân, quán đăi nhân, khiên dẫn
nhân, sanh khởi nhân, nhiếp thọ nhân, dẫn phát nhân,
định biệt nhân, đồng sự nhân, tương
vi nhân, và bất tương vi nhân. Bốn duyên là
nhân duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, và tăng
thượng duyên.
[27] Ngũ quả là
đẳng lưu quả, dị thục quả, ly hệ
quả, sĩ dụng quả, và tăng thượng quả.
[28] Nguyên văn “thừa
hoan tất hạ”. Đây là thành ngữ miêu tả con cái
hiếu thuận, phụng dưỡng, yêu kính cha mẹ. “Thừa
hoan” hàm nghĩa con cái biết đoán ư làm đẹp ḷng cha mẹ. “Tất hạ” (dưới đầu
gối) là thường quây quần bên cha mẹ.
[29] Niêm Tụng tức
là nêu ra lời phê b́nh hoặc tán thán một sự kiện
hay một công án nào đó.
[30] Đây là một
công án nổi tiếng trong nhà Thiền, được gọi
là “Triệu Châu trà”. Triệu Châu Tùng Thẩm (778-897) là
một vị cao Tăng cuối đời Đường.
Xuất gia từ bé, Sư từng tham học
với ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện. Có một vị
Tăng đến bái yết. Sư hỏi: “Ông đă từng
đến đây hay chưa?”
Đáp: “Đă đến”. Sư bảo: “Uống trà
đi!” Lại có một vị Tăng khác đến,
Sư hỏi: “Trước kia đă đến đây hay
chưa?” Thưa: “Chưa ạ”. Sư bảo: “Uống trà
đi!” Vị tăng chủ tŕ nội vụ trong Thiền thất ngạc nhiên, hỏi: “V́ sao đă đến hay
chưa đến, thầy đều bảo uống trà
đi?” Sư bảo: “Ông cũng uống trà đi”.
[31] Mười hai
loài chúng sanh gồm: Noăn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hữu
sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu
sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, và phi vô tưởng.
[32] Câu này nói theo ư của
Quán Kinh Diệu Tông Sao: “Hăy nên biết nghĩa Lục Tức
chẳng chuyên tại Phật, mà hết thảy tam thừa,
nhân, thiên giả thật, dưới là đến sắc,
tâm của bọ hung, địa ngục đều cần
phải từ Lục Tức mà biện định trước
sau, tức là từ lư bọ hung cho đến cứu cánh bọ
hung”. Ư nói: Đối với mỗi sự vật, mỗi
huyễn tượng, đều có thể biện định
Lục Tức. Tổ Ngẫu Ích mượn ư này để
nói đối với hoa, chim, hay Bát Nhă được thêu
đều có thể phỏng theo đó mà biện định
Lục Tức (Lư Tức, Danh Tự Tức, Quán Hạnh Tức,
Tương Tự Tức, Phần Chứng Tức và Cứu
Cánh Tức).
[33] Đây là một
câu chuyện về Tào Tháo (được nhắc đến
trong Thế Thuyết Tân Ngữ của Lưu Nghĩa Khánh, rất có thể là chuyện bịa đặt ra). Theo
đó, Ngụy Vũ Đế (Tào Tháo) hành quân, lạc đường, không t́m được nguồn
nước. Quân sĩ đều khát nước, Tào Tháo liền sai người truyền lệnh rằng:
“Đằng trước có rừng mơ, rất sai trái,
chua ngọt đều có, có thể giải khát”. Binh sĩ
nghe nói, đều nuốt nước miếng. Nhờ vậy
mà tiếp tục hành tŕnh đến được
đích.
[34] Cận Thể
là một lối thơ, c̣n gọi là Cách Luật. Thể
thơ này được phát triển từ thời Nam Bắc Triều đến đầu đời Đường
mới hoàn bị, quy luật gieo vần, bằng trắc, đối ngẫu
(chẳng hạn chia thành ngôn đối, sự
đối, chánh đối, phản đối v.v…) rất nghiêm ngặt.
Do thể thơ này thịnh hành đời Đường
nên gọi là Cận Thể để so với Cổ Thể
(thơ ca trước thời Đường). Do quy luật
khá ngặt nghèo, nên c̣n gọi là Luật Thi, thường là
tám câu, hoặc bốn câu (tuyệt cú). Nếu nhiều
hơn tám câu, sẽ gọi là Bài Luật. Đa số các bài
thơ Đường tuân theo lối này, nếu đọc theo âm
Hán Việt, sẽ thấy rất rõ quy luật
hòa thanh, vận điệu, trong khi đọc theo
giọng tiếng Phổ Thông hiện thời, rất
nhiều bài sẽ không còn thấy rõ
sự chặt chẽ trong luật bằng
trắc và gieo vần của thơ Cận Thể!
[35] Đây là một
câu nói trích từ thiên Đại Tông Sư sách Mạnh Tử:
“Tuyền hạc, ngư tương dữ xử ư lục,
tương hu dĩ thấp, tương nhu dĩ mạt, bất
như tương vong ư giang hồ” (khi nước
suối khô cạn, cá nằm ở đáy suối, chỉ
có thể nhả bọt để giúp nhau ẩm ướt, ḥng kéo dài hơi tàn. Như thế, vẫn chẳng bằng
sớm thoát khỏi khổ nạn, thong dong nơi sông, hồ).
Chúng tôi chuyển ngữ câu này theo cách diễn giải trong
trang nhà Cổ Thi Văn Vơng.
[36] Thước Ca
La (Cakra) c̣n phiên âm là Chước Ca La, Thước Yết
La, dịch nghĩa là kiên cố, luân, hoặc tinh tấn.
Trường Thủy Sớ giảng: “Thước Ca La
là kiên cố bất hoại, c̣n dịch là Luân”. Huệ
Lâm Âm Nghĩa giảng: “Thước Ca La là tinh tấn”.
[37] Sơn Cốc
chính là Hoàng Đ́nh Kiên (1045-1105), tự Lỗ Trực, hiệu
là Sơn Cốc đạo nhân, Dự Chương tiên sinh
là một thi nhân, thư pháp gia nổi tiếng thời Bắc
Tống. Ông được coi là tổ sư của Giang
Tây thi phái, là một trong tứ đại thư pháp gia
đời Tống (Tô Thức, Hoàng Đ́nh Kiên, Mễ Phất
và Thái Tương). Ông vừa tin Phật giáo vừa hâm mộ
Đạo giáo, nổi tiếng hiếu thảo. Dẫu làm
quan vẫn đích thân rửa bô cho cha mẹ.
[38] Lục Ngũ
Đài tên thật là Quang Tổ, tự Dữ Thằng,
người huyện B́nh Hồ, tỉnh Chiết Giang. Do có
chí hướng về Phật pháp, nên lấy hiệu
là Ngũ Đài cư sĩ, làm quan đến chức Lại
Bộ Thượng Thư đời Gia Tĩnh. Ông thoạt
đầu học Nho, nhưng khi đọc các ghi chép về
Minh Thái Tổ và Minh Thành Tổ, nhận thấy họ rất
sùng đạo Phật, liền thắc mắc
đạo Phật sao lại cao hơn đạo Nho
được, bèn xem kinh Phật. Đă giác ngộ
liền tận lực hoằng dương, hộ tŕ Phật
pháp. Khi ông gặp Tử Bách đại sư nhân dịp
Ngài đến Gia Ḥa (thuộc Giang Tô) để khôi phục
Lăng Nghiêm Giảng Tự, đôi bên tâm đầu ư hợp.
Em ông là Lục Vân Đài cũng hết sức giúp đỡ đại sư khôi phục Ngũ
Ṭa Thiền Đường.
[39] Châu Nguyên Giới
tên là Chi Phiên, đỗ Tiến Sĩ thời Vạn Lịch nhà Minh, làm quan đến
chức Lễ Bộ Thị Lang. Ông nổi danh về tài
thư pháp, vẽ tranh sơn thủy theo phong cách của Mễ
Phất đời Tống, từng soạn Kim Lăng Tứ
Thập Cảnh Đồ Khảo để giải thích
các cảnh đẹp tại Kim Lăng. Khi được
phái sang sứ Triều Tiên, tài thư họa của ông khiến cho người Triều Tiên nể phục, đua nhau
đem vàng, bạc, đồ quư đ̣i xin chữ của
ông.
[40] Theo Tây Kinh Tạp
Kư (do Cát Hồng biên soạn), tương
truyền rằng trong cung của Tần Thủy Hoàng có một
tấm gương, rộng bốn thước, cao năm
thước chín tấc, có thể soi tỏ
ngũ tạng, lục phủ của con người, soi rơ
tâm người tà hay chánh. Về sau, từ ngữ “Tần
kính cao huyền” (gương Tần treo cao) được
dùng để sánh ví sự sáng suốt có thể phân biệt
đúng sai, thiện ác.
[41] Ngài Hiền Thủ
nhằm giảng rơ tứ vô ngại cũng như những
điều huyền diệu trong giáo nghĩa của kinh Hoa
Nghiêm đă lập ra lục tướng
viên dung và mười huyền môn của kinh Hoa Nghiêm. Do các khái niệm này quá phức tạp, chúng tôi chỉ
nêu tên gọi cho đỡ rườm rà. Lục tướng
viên dung (c̣n gọi là lục tướng duyên khởi) gồm
tổng tướng, biệt tướng, đồng
tướng, dị tướng, thành tướng và hoại
tướng. Mười huyền môn là đồng thời
cụ túc tương ứng môn (môn đồng thời trọn
đủ tương ứng), quảng hiệp tự tại
vô ngại môn (môn rộng hẹp tự tại vô ngại),
nhất đa tương dung bất đồng môn (môn một
và nhiều dung thông lẫn nhau, nhưng bất đồng),
chư pháp tương tức tự tại môn (môn các pháp
chính là lẫn nhau tự tại), ẩn mật hiển liễu
câu thành môn (ẩn kín và hiển lộ đều thành tựu),
vi tế tương dung an lập môn, nhân đà la vơng pháp giới
môn, thác sự hiển pháp sanh giải môn (nhờ vào sự
để hiển thị pháp khiến sanh tín giải), thập thế
cách pháp dị thành môn (môn mười
đời cách biệt, thành tựu khác nhau), và chủ bạn
viên dung cụ đức môn.
[42] Thời Chiến
Quốc, các khanh đại phu có những viên chức giúp việc
riêng gọi là “gia thần”. Khi vua chư hầu suy yếu,
các khanh đại phu nổi lên thao túng chính quyền, địa
vị của gia thần (giống như quản gia,
thư kư, quản kho… trong các gia tộc lớn) được
nâng cao, gọi là “bồi thần”, thậm chí họ trực
tiếp nắm quyền quản trị đất nước
(gọi là “chấp mạng”). Ở đây, từ ngữ
này được dùng với ư nghĩa châm biếm những
kẻ thiếu hẳn sự tu tập, hàm dưỡng, do
xu phụ người quyền quư hoặc quan chức, khéo
ăn nói, lạm xưng là bậc tông tượng trong nhà
Phật, nắm giữ các chức sắc cai quản
Tăng lữ, giống như bọn bồi thần thời
Chiến Quốc.
[43] Nguyên văn “thứ
thủ nhập giao bồn”, là một thành ngữ trong
Thiền lâm sánh ví kẻ vướng mắc trong văn tự,
ngôn ngữ chẳng thoát ra khỏi được. “Giao bồn” là đồ chứa
đựng chất keo dính. Hễ gục đầu vào
đó sẽ dính cứng ngắc trong ấy, không thoát ra
được. Ư nói: Những kẻ cậy tài biện luận,
thùng rỗng kêu to, cứ ngỡ chính ḿnh là bậc thông gia,
do không hiểu ư chỉ của năm mươi ba lần
tham học của Thiện Tài, bèn chê bai là Thiện Tài
vướng mắc trong từ ngữ “phát Bồ Đề
tâm, tu Bồ Tát hạnh” bèn lẩn quẩn hỏi han,
tham yết thiện tri thức.
[44] Nguyên văn “cổ
thần” (động đậy hai môi), tức là nói tắt
của “dao thần cổ thiệt” (động môi múa
lưỡi), tỷ dụ chuyện khêu chọc thị phi.
Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này với dụng ư tự
trào, coi chuyện Ngài giảng giải
cho đại chúng về ư nghĩa kinh văn tại Tổ
Đường và Trường Can như người ngủ
mê nói mớ mà thôi.
[45] Tây Hữu đạo
nhân là biệt hiệu của tổ Ngẫu Ích, ngụ ư:
Thật sự có cơi Tây Phương Tịnh Độ, thật
sự có A Di Đà ở phương Tây. Tây Hữu Nghệ
Dư (西有寱餘) nghĩa là lời nói mớ
trong khi mộng mị của Tây Hữu đạo nhân.
[46] Thiều quốc
sư là ngài Đức Thiều (891-972), Sư họ Trần,
quê ở Xử Châu (nay là thành phố Lệ Thủy, tỉnh Chiết Giang), xuất gia lúc mười bảy
tuổi. Mười tám tuổi, thọ Cụ
Túc Giới. Ngài tham học với thiền sư Đầu
Tử Đại Đồng và thiền sư Long Nha Cư
Độn. Sau đó, đắc pháp nơi ngài Thanh
Lương Văn Ích, được phó chúc nối pháp của
tông Pháp Nhăn. Trung Ư Vương của nước Ngô Việt
khi làm thứ sử Thai Châu, nghe danh Sư đă đến
hỏi đạo, tôn làm thầy. Về sau, Trung Ư
Vương làm vua, bèn tôn Sư là quốc sư. Sư
được coi là hậu thân của Trí Giả đại
sư. Ngài lưu lại núi Thiên Thai hoằng dương Phật
pháp nên gọi là Thiên Thai Thiều quốc sư, chứ
Sư không thuộc tông Thiên Thai.
[47] Ngũ Quư chính là thời Ngũ Đại Thập Quốc (kéo dài từ
năm 907 cho đến năm 979), tức là giai đoạn
kể từ nhà Đường diệt vong cho đến
khi Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) thống nhất
Trung Hoa. Do khi đó có năm triều đại lớn nối
tiếp nhau, nên gọi là Ngũ
Đại. Ngoài ra, do có mười nước nhỏ, hoặc thần phục
các triều đại lớn, hoặc độc lập
(như Bắc Thục), nên gọi là Thập
Quốc. Ngũ Đại là:
1) Hậu
Lương (907-923) do Lương Thái Tổ (Châu Ôn) sáng lập,
đóng đô ở Khai Phong, truyền được ba
đời vua.
2) Hậu
Đường (923-937), do Đường Trang Tông (Lư Tồn
Úc) sáng lập, đóng đô ở Lạc Dương, truyền
được bốn đời vua.
3) Hậu Tấn
(936-947) do Tấn Cao Tổ (Thạch Kính Đường)
sáng lập, đóng đô ở Khai Phong, truyền được
hai đời vua.
4) Hậu Hán
(947-951) do Hán Cao Tổ (Lưu Trí Viễn) sáng lập,
đóng đô ở Khai Phong, truyền được hai
đời vua. Đây là triều đại tồn tại
ngắn ngủi nhất, trước sau chỉ có bốn
năm.
5) Hậu Châu
(951-960) do Châu Thái Tổ (Quách Oai), đóng đô ở Khai
Phong, chỉ truyền được ba đời
vua.
Thập Quốc
là Ngô (do Dương Hành Mật sáng lập), Nam Đường
(do Lư Biện sáng lập), Ngô Việt (do Tiền Lưu sáng
lập), Mân (do Vương Thẩm Tri sáng lập), Bắc
Hán (do Lưu Mân sáng lập), Tiền Thục (do Vương
Kiến sáng lập), Hậu Thục (do Mạnh Tri Tường
sáng lập), Kinh Nam (do Cao Quư Hưng sáng lập), Sở (do
Mă Ân sáng lập), và Nam Hán (do Lưu Tập sáng lập). Trong
đó, chỉ có nước Ngô Việt tồn tại lâu nhất
(907-978) và các vua Ngô Việt được coi là sáng suốt,
yêu dân nhất.
[48] Đậu thạch
(鋀石) từ
ngữ chỉ quặng đồng chưa tinh luyện, hoặc
đồng trong tự nhiên chưa tinh luyện.
[49] Bạch
sán (白粲) vốn
là một h́nh phạt được thiết lập từ
thời Tần - Hán, phụ
nữ phạm tội bị phạt lựa bỏ các tạp
chất như sạn, cát, hạt cỏi, trấu ra khỏi
gạo trắng, phơi sảy để có được
loại gạo tinh sạch dùng trong cúng tế. Loại gạo
đă được lựa sạch ấy cũng gọi
là Bạch Sán.
[50] Cỏ
lồng vực (bại thảo, 稗草) có tên khoa học là Echinochloa
crus-galli (c̣n gọi là cockspur grass, barnyard millet, water grass), có
h́nh dạng giống lúa, lá dài, gốc lá hơi tím, gié hạt
dài vươn cao, có hạt giống như hạt kê.
Đây là một giống cỏ tăng trưởng nhanh và
nếu không chú ư, toàn bộ lúa trên cánh đồng sẽ bị
chúng xâm lấn, gây nên mất mùa.
[51] Hoàng Dư Khảo
là tên gọi tắt của bộ sách Quảng Hoàng Dư Khảo,
gồm mười lăm quyển. Đây là một
tác phẩm trọng yếu về địa lư Trung
Hoa do Trương Nguyên Biện biên soạn
vào thời Minh, dựa trên bản thảo Hoàng
Dư Khảo của cha ḿnh là Trương Thiên Phục.
Sách miêu tả đặc điểm địa lư của
mười ba tỉnh và hai kinh thời Minh, cũng như địa vực, khí hậu, thủy thổ miền biên thùy
và phong tục tập quán từng nơi.
[52] Trường An
Chí gồm hai mươi ba quyển, trong đó ba quyển
cuối là bản đồ, do Mẫn Cầu soạn vào
đời Bắc Tống. Sách này là tổng tập nghiên cứu
về cung thất, nội thành, phường thị, các huyện phụ thuộc
của Trường An trải suốt các thời điểm
lịch sử.
[53] Lạc-xoa (lakṣa) là một trăm
ngàn. Từ ngữ này c̣n được phiên âm là Lạc Sa,
La Khất Sử.
[54] Hiên (軒) là một kiểu
nhà, trước và sau đều có mái xây cao, có rèm che phủ. Đôi khi, Hiên chỉ đơn giản
là một căn pḥng nhỏ hay dăy nhà nhỏ, được
xây dựng ngoài kiến trúc chính với dụng ư hóng mát, hoặc
tạo một nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi
hay dưỡng thần, hoặc tập trung sáng tác, tu tập
v.v…
[55] Tức ư
nghĩa mở rộng của câu thơ “hiếu tử bất
quỹ, vĩnh tích nhĩ loại” trong bài Kư Túy thuộc
thiên Đại Nhă của kinh Thi. Trịnh Huyền chú giải:
“Hành vi của hiếu tử chẳng có lúc nào cạn kiệt,
lan tỏa tới con cái và ḍng họ,
tức là sẽ dạy rộng răi khắp thiên hạ”. Về sau, chữ
Tích Loại (锡类) được
dùng với ư nghĩa rộng thực hiện điều
thiện cho mọi người.
[56] Khổng Tử
là người nước Lỗ, thuộc phương
Đông, nên Đông Lỗ chỉ đạo Nho. Tây Càn (quẻ
Càn thuộc về phương Tây trong Bát Quái) là từ ngữ
chỉ Ấn Độ nói chung, và đạo Phật nói
riêng.
[57] Ác xoa có nghĩa
là xâu chuỗi, tràng hạt. Ác xoa vốn là tên gọi khác của
cây Rô Nại Ra Xoa (Rudrāksa), là một
loại cây có tên khoa học là Eleocarpus Ganitrus, ta thường
dịch là Kim Cang Tử. Quả của nó có ba hạt mọc
trên cùng một đế, khi rơi xuống đất, sẽ tụm lại một chỗ. Do vậy, thường
dùng để sánh ví ba loại Hoặc, Nghiệp, Khổ
thường liên quan mật thiết với nhau. Hạt Ác
Xoa thường dùng làm xâu chuỗi để tụng niệm.
[58] Thập thân là
mười thân của Phật theo kinh Hoa Nghiêm gồm sắc
thân, báo thân, pháp thân, nguyện thân, lực thân, thọ dụng
thân, giáo hóa thân, bất động thân, trí huệ thân, và
công đức thân.
[59] Truy (錙) và Thù (銖) đều là
đơn vị đo lường cực nhỏ, dùng
để ví dụ sự việc cực vi tế. Truy là một
phần tư của một Lượng, Thù là một phần
hai mươi tư của một lượng.
[60] Tạp Hoa là cách
dịch khác của chữ Hoa Nghiêm.
[61] Ngũ diệp là năm tông phái Thiền của Trung
Hoa, tức Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhăn và Quy
Ngưỡng. Sở dĩ gọi là Ngũ Diệp là do dựa
theo bài kệ truyền pháp của tổ Đạt Ma: “Ngô
bổn lai tư độ, truyền pháp cứu mê t́nh, nhất
hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành” (Ta
vốn đến cơi này, truyền pháp cứu mê t́nh, một
hoa x̣e năm cánh, kết quả tự nhiên thành). C̣n có một
cách giải thích khác: Phải hiểu ngũ diệp nghĩa
là trải qua năm đời tổ sư kể từ tổ
Đạt Ma chỉ đơn truyền, đến đời
thứ sáu là Lục Tổ, Thiền học mới
được hoằng dương mạnh mẽ.
[62] Sám hối cầu thấy tướng tốt lành
để chứng nghiệm tội chướng tiêu trừ.
[63] “Tận tâm tri tánh” là một khái niệm xuất phát từ thiên Tận
Tâm sách Mạnh Tử: “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ
tánh dă. Tri kỳ tánh, tắc tri thiên hỹ”. Câu này
được Khổng Dĩnh Đạt giảng như
sau: Dốc cạn hết sự suy khảo, tư duy để
hành thiện như thế, sẽ hiểu rơ bản tánh của
con người. Đă hiểu rơ bản tánh của con
người th́ sẽ hiểu biết mạng trời.
[64] Học vấn tư biện là bốn
giai đoạn đầu trong quá tŕnh học tập theo
quan điểm của sách Trung Dung. Nói cụ thể
hơn, năm giai đoạn trong quá
tŕnh học vấn là “bác học, thẩm vấn, thận
tư, minh biện, đốc hành” (học rộng, t́m
hiểu tường tận, suy nghĩ cẩn thận, biện
định rơ ràng, dốc sức thực hiện). “Bác học”
tức là khi học một vấn đề, phải t́m
ṭi rộng răi mọi khía cạnh, mọi tri thức liên
quan để tránh rơi vào cách nh́n phiến diện, lệch lạc. “Thẩm vấn” là suy xét cặn kẽ các kiến
thức đă thu thập, lật đi lật lại vấn
đề, suy
xét từng khía cạnh
để loại bỏ những quan điểm sai trái.
Thông qua “thận tư” tức là phán đoán khách quan
để đạt tới một kết luận hoàn chỉnh.
Minh biện là kết quả dựa trên thẩm vấn và
thận tư để xác quyết kết luận ta
đă đạt được không sai lầm, và vạch
ra những quan điểm sai lầm.
[65] Tuyển nhă (雋雅) bao
hàm hai ư nghĩa:
1) Lời nói ưu nhă, trang nghiêm,
đẹp dẽ.
2) Người cao nhă, thoát tục.
[66] Nam Cung Quát tự
là Tử Dung, c̣n gọi là Nam Dung, hoặc Nam Cung Tử,
người nước Lỗ, là một trong bảy
mươi hai đệ tử đắc ư của Khổng
Tử. Khổng Tử khen Nam Cung Quát là người có đức
hạnh, đă gả cháu gái (con của Mạnh B́, tức
anh Khổng Tử) cho. Nam Cung Quát từng hỏi Khổng
Tử: “Nghệ thiện xạ, Ngạo đăng châu, câu bất
đắc kỳ tử nhiên. Vũ Tắc cung giá nhi hữu
thiên hạ” (Hậu Nghệ giỏi bắn tên, Hàn Ngao giỏi
thủy chiến, đều chết bất đắc kỳ
tử. C̣n vua Vũ và Hậu Tắc đích thân cày cấy
mà có được thiên hạ). Khổng Tử không
đáp, Nam Cung Quát lui ra. Khổng Tử khen: “Quân tử
tai nhược nhân! Thượng đức tai nhược
nhân” (Bậc quân tử như thế đó, người
có đức cao trọng như thế đó).
[67] Điện
này ở bên cạnh Bồ Đề Đạo
Tràng (Tịch Diệt đạo tràng) tại
nước Ma Kiệt Đề (Magadha), còn gọi
là Phổ Quang Pháp Đường. Đây
chính là nơi đức Phật giảng
hội thứ hai, thứ bảy và thứ
tám trong chín hội của kinh Hoa Nghiêm.
[68] Nguyên lưu (源流): Sự khởi đầu và phát
triển của một sự việc.
[69] Thù Tứ chính là Thùy thủy và Tứ
thủy, là hai con sông ở Khúc Phụ (quê hương của
Khổng Tử).
[70]
Mười tám vị cao hiền tại Đông Lâm
Liên Xã là Huệ Viễn đại sư, pháp
sư Huệ Vĩnh, pháp sư Huệ Tŕ, pháp
sư Đạo Sanh, tôn giả Phật Đà Da Xá
(Buddhayaśas), tôn giả Phật Đà Bạt
Đà La (Buddhabhadra), pháp sư Huệ Duệ,
pháp sư Đàm Thuận, pháp sư Đạo Kính,
pháp sư Đàm Hằng, pháp sư Đạo Bính,
pháp sư Đàm Tiên, cư sĩ Lưu Di Dân, cư
sĩ Lôi Thứ Tôn, cư sĩ Tôn Bính, cư sĩ Vương
Dă, cư sĩ Vương Thuyên, và cư sĩ Châu
Tục Chi.
[71]Xương Lê là ngoại hiệu của
Hàn Dũ (768-824). Hàn Dũ tự
là Thoái Chi, sống vào đời Đường, làm quan tới
chức Binh Bộ Thị Lang rồi
làm Lại Bộ Thị
Lang đời Đường Hiến Tông. Do quê cha ở
Xương Lê, nên ông thường tự xưng là Hàn
Xương Lê. Ông đả kích đạo Phật, do phản
đối vua Hiến Tông rước xương Phật,
bị đày đi làm thứ sử Triều Châu. Đến
Triều Châu, do giao du với Đại Điên ḥa thượng,
ông t́m hiểu đạo Phật rồi ngưỡng mộ đạo
Phật. Ông c̣n nổi tiếng do viết bài tế Cá Sấu với
mục đích đuổi cá sấu khỏi vùng đó.
Hối Am là ngoại hiệu của
Châu Hy (1130-1200), một trong những lănh tụ của Lư Học
đời Tống. Ông này vay mượn nhiều từ ngữ
và khái niệm của đạo Phật để giải
thích đạo Nho, đề xướng Lư Học (Tống
Nho) rồi ngược
ngạo đả kích đạo Phật.
[72] Vơng cực (罔极) là ân cha mẹ. Vơng cực có
nghĩa là “chẳng có cùng cực, vô cùng vô tận”, dựa theo ư hai câu
thơ trong bài thơ Lục Nga thuộc phần Tiểu Nhă
của kinh Thi: “Dục báo thâm ân, hạo thiên vơng cực”
(muốn báo ân sâu, mênh mang trời cao).
[73] Thủ khám (守龕): Khám là một cấu trúc nhỏ, thường bằng
gỗ có điêu khắc để thờ bài vị hoặc
tượng thần (có thể hiểu thô thiển là trang
thờ). Thủ khám hiểu theo nghĩa hẹp là thờ phụng,
cúng tế trong thời gian thủ tang.
[74] Theo phần Yên Sách trong Chiến Quốc Sách, xưa
kia, có một vị vua t́m cầu thiên lư mă, hứa trả
ngàn vàng, nhưng suốt ba năm chẳng có được.
Thị thần xin vua cho đi t́m, vua chấp thuận.
Người ấy t́m ba tháng, nghe nơi nọ có thiên lư mă
bèn t́m đến, tiếc thay ngựa đă chết, bèn trả
năm trăm lạng vàng mua đầu ngựa đem dâng
cho vua. Vua hết sức giận dữ, quở sao lại
phí vàng mua đầu ngựa chết. Người ấy giải
thích: “Người khác nghe chuyện này, biết bệ hạ thật tâm t́m ngựa, dẫu đầu ngựa chết vẫn
trân trọng mua bằng năm trăm lạng th́ chẳng mấy
chốc sẽ có người dâng thiên lư mă”. Quả nhiên,
chưa đầy một năm, có người đem dâng vua ba thớt thiên lư mă.
[75] Ṭ ṿ là một loại ong hay bắt các loài côn trùng khác,
chích nọc cho tê liệt, đẻ trứng lên thân chúng rồi
xây tổ bằng đất bao quanh. Khi trứng nở ra, ấu
trùng sẽ ăn thịt con trùng bị kư sinh đó, trưởng
thành bèn đục tổ bay ra. Cổ nhân tưởng lầm
con côn trùng đó biến thành ṭ ṿ, bèn đặt chuyện
là ṭ ṿ bắt côn trùng về nhốt vào tổ, rủ rỉ
kêu “giống ta, giống như ta”, con trùng đó sẽ dần
dần biến thành ṭ ṿ. Họ gọi chuyện này là “minh
linh chú tử” (ṭ ṿ dặn ḍ [loài côn trùng khác] biến
thành giống như
ḿnh).
[76] Đức Thế Tôn có nói một
bài kệ như thế này: “Yo ca vassasataṃ jīve,
apassaṃ udayabbayaṃ. Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo,
passato udayabbayaṃ” (dịch sang tiếng Hán là: “Nhược
nhân thọ bách tuế, bất tri sanh diệt pháp, bất
như nhất nhật trung, hiểu liễu sanh diệt sự”,
nghĩa là: Nếu có người sống đến
trăm tuổi mà chẳng hiểu pháp sanh diệt, chẳng
bằng chỉ sống được một ngày mà hiểu
rơ pháp sanh diệt). Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt,
theo Tỳ Nại Da Tạp Sự, quyển bốn mươi, ngài A Nan nghe một vị Tăng tụng
bài kệ ấy như sau: “Nhược nhân thọ bách tuế,
bất kiến thủy bạch hạc, bất như nhất
nhật trung, đắc kiến thủy bạch hạc”.
Ngài A Nan giật ḿnh, v́ do âm tiếng Phạn gần giống
nhau, vị Tăng ấy
không suy xét, nên đă
đọc sai chữ udayabbayaṃ thành một từ
ngữ gần giống với chữ “thủy bạch hạc”
(trong tiếng Pali, tức udaka-baka), bèn dạy vị ấy
đọc cho đúng, nhưng vị ấy không nghe, bảo
đệ tử ngài A Nan đă già, trí nhớ lạng quạng:
“A Nan đă già nua, chẳng có sức ghi nhớ, thường
nói lời sai lầm, chẳng cần phải tin ổng”
rồi vẫn cứ đọc như vậy, kiên quyết
không sửa đổi. Khi câu chuyện này được
truyền sang Trung Hoa, lại bị diễn giải từ “thủy
bạch hạc” (水白鶴) thành “thủy lăo hạc”
(水老鶴) hoặc “thủy lạo hạc”
(水潦鶴). Tổ dùng câu chuyện này để
minh họa sự cố chấp của một số hành
nhân, nhất quyết không sửa đổi dù được
thiện tri thức chỉ điểm chỗ sai trong từ
ngữ hoặc văn bản.
[77] Nguyên văn “bất quy thủ dược” (不龜手藥). Đây là một câu chuyện ngụ ngôn trích từ phần
Tiêu Dao Du của sách Trang Tử. Theo đó, nước Tống có người chế
ra phương thuốc khiến cho da không bị nứt nẻ
v́ trời lạnh. Do vậy, gia đ́nh người ấy
đời đời làm nghề giặt lụa, giặt vải.
Có người nghe biết, đ̣i mua lại bằng một
trăm lạng vàng. Gia đ́nh thương nghị: “Chúng ta
đời đời giặt lụa, chỉ kiếm
được mấy đồng, nay bán được một
trăm lạng vàng, bán phứt đi
cho rồi”. Người ấy mua xong, dâng lên vua Ngô. Nước
Ngô và Việt đánh nhau, thường là thủy chiến.
Quân Ngô nhờ có thuốc chống da nứt nẻ, sinh long
hoạt hổ, đánh bại nước Việt, biến
Việt thành thuộc địa. Người đó
được vua phong đất thưởng công. Ư nói:
Tuy cùng một phương thuốc, người nước
Tống chỉ biết dùng để tay khỏi bị nứt nẻ khi giặt lụa, người khác biết
dùng vào chiến trận. Ở đây, Tổ mượn
chuyện này để nói con người ai cũng có ḷng
nhân, nhưng Nho và Đạo chỉ biết vận dụng
vào chuyện nhỏ nhặt.
[78] Phật Tổ Thống Kỷ là một
bộ sử Phật giáo do ngài Chí Bàn soạn vào đời Tống. Sách hoàn thành vào năm
1269, gồm năm mươi bốn quyển. Khởi
đầu bằng Thích Ca Mâu Ni Phật Bổn Kỷ, tức
là chép từ năm hai mươi sáu đời Châu Chiêu
Vương (1027 trước Công Nguyên) cho tới năm Hàm
Thuần thứ năm (1269) đời Tống Độ
Tông, ghi lại tường tận sự truyền thừa
Phật giáo tại Trung Hoa. Sách chủ yếu dựa theo
quan điểm của tông Thiên Thai, tuy có xen lẫn quan
điểm của các tông khác. Sách trích dẫn hơn hai trăm loại
thư tịch, văn từ bóng bẩy, mạch lạc, mô
phỏng thể tài trong Sử Kư của Tư Mă Thiên.
[79] Hàm Hanh là niên hiệu của Đường Cao Tông sử
dụng từ năm 670 đến năm 674. Đường
Cao Tông có lẽ là hoàng đế thích đổi niên hiệu
nhất, trước sau ông dùng mười bốn niên hiệu
khác nhau, khởi đầu là Vĩnh Huy (chỉ dùng năm năm) cho đến niên hiệu cuối
cùng là Hoằng Đạo (chỉ vừa đổi
được một năm th́ vua mất). Năm niên hiệu
cuối cùng là Điều Lộ, Vĩnh Long, Khai Diệu,
Vĩnh Thuần, Hoằng Đạo, mỗi niên hiệu chỉ sử dụng đúng một
năm.
[80] Thái Sơn Phủ Quân tức là thần
núi Thái Sơn (ngọn núi đứng đầu trong ngũ
nhạc), c̣n gọi là Đông Nhạc Đại Đế.
Trong Đạo giáo, vị này có tôn hiệu là Đông Nhạc
Thái Sơn Thiên Tề Đại Sanh Nhân Thánh Đại
Đế, thường được gọi là Đông Nhạc
Gia, hoặc Đông Nhạc Đế Quân, đứng đầu
trong Ngũ Nhạc Đại Đế, chưởng quản
cơi âm. Về nguồn gốc của vị thần này, Cát Hồng
cho rằng ông là Phục Hy Thái Hạo. C̣n Phong Thần Diễn
Nghĩa lại bảo ông chính là đại tướng
Hoàng Phi Hổ của Trụ Vương đă thành thần
sau khi mất.
[81] Tần Trang Tương Vương tên thật là Doanh
Tử Sở, con của Tần Vương Doanh Trụ và Hạ
Cơ. Thuở nhỏ, ông bị đưa sang đất Triệu
làm con tin. Lă Bất Vi là một con buôn gian hùng, nói “không ǵ có
lời bằng buôn vua”, bèn bỏ tiền để chuộc
Doanh Tử Sở đưa về đất Tần, thuyết
phục Hoa Dương phu nhân (chánh thất của vua Tần)
nhận Doanh Tử Sở làm con nuôi. Khi Doanh Trụ mất,
Doanh Tử Sở được nối ngôi, tức Tần
Trang Tương Vương. Trước đó, Lă Bất
Vi đă đem một người thiếp là Triệu
Cơ đă có thai từ trước gả cho Doanh Tử Sở
(khi ông này c̣n đang khốn đốn tại đất
Triệu). Do vậy, Tần Thủy Hoàng (Doanh Chính, con trai
trên danh nghĩa của Tần Trang Tương Vương)
thật ra là con của Lă Bất Vi.
[82] Hàm Thuần
là niên hiệu của Tống Độ Tông (Triệu Kỳ)
từ năm 1265 đến năm 1274.
[83] Tức là hai vị kinh sư đảm nhiệm vai
tṛ tả bạch và hữu bạch trong đàn tràng.
[84] Ĺa quê nhà đến trú ngụ tại một nơi
khác trong một thời gian dài th́ gọi là “lưu ngụ”.
[85] Phương ngoại là từ ngữ
để gọi người xuất gia. Tổ dùng từ
ngữ Phương Ngoại Sứ để tự
xưng.
[86] Hiếu Liêm
là danh xưng để gọi học vị
Cử Nhân thời Minh - Thanh. Hiếu Liêm hàm
nghĩa “hiếu thuận với cha mẹ, tôn
trưởng, liêm khiết, chánh trực, có
tài năng”. Danh xưng Hiếu Liêm được
đặt ra vào năm Nguyên Quang nguyên niên (134
trước công nguyên) thời Hán Vũ
Đế theo kiến nghị của Đổng Trọng
Thư. Vua xuống chiếu mỗi năm các quận
chọn ra một người hiếu hoặc liêm
khiết để khảo hạch, nếu
người ấy có thực tài sẽ
bổ ra làm quan. Khoa thi này về sau trở
thành một khoa thi trọng yếu. Người
được đề cử sẽ đến
kinh đô, được thực tập trong
các cơ quan để tập quen việc triều
chánh. Sau đấy mới được
cử đi làm quan tại các địa
phương. Theo quy chế đời Minh - Thanh,
người đỗ kỳ thi Hương
được gọi là Cử Nhân, còn
gọi là Hiếu Liêm, Phát Giải, Phát
Đạt, Hương Tiến Sĩ, Hương Tiên
Tiến, Hương Tiến v.v…
[87] “Nhập cận” (入覲) là từ ngữ chỉ chư hầu
hoặc quan chức ở nơi xa, vào mùa Thu, về kinh đô chầu vua. Về sau, “nhập cận” được dùng để chỉ
quan lại ở tỉnh ngoài về kinh báo cáo sự t́nh với
vua, hoặc được vua gọi về chầu.
[88] Nguyên văn “cảo đới”
(縞帶) là cái đai lưng kết bằng lụa trắng.
Đó là nói về cách phục sức của học tṛ thời
cổ. Như vậy, nói “kết cảo đới” nghĩa
là ước nguyện làm học tṛ.
[89] Nhạc gia quân: Quân đội của
Nhạc Phi nổi tiếng thiện chiến, kỷ luật
cao.
[90] Thành ngữ “thanh xuất ư
lam, nhi thắng ư lam” (màu xanh phát xuất từ màu
chàm, nhưng vượt trội màu chàm).
[91] Tụng Trửu
là danh xưng hàm ư tự khiêm. Do khi xưa, ngài Châu Lợi
Bàn Đặc căn tánh quá ngu độn, không thể thuộc
nổi một bài kệ nào. Đức Phật xót
thương, dạy Ngài tụng tŕ hai chữ “tảo trửu”
(chổi quét), thế mà Ngài nhớ chữ đầu, quên
chữ sau, măi không thuộc được. Đức Phật
bảo Ngài quét dọn, cứ nhẩm hai chữ ấy. Cho
đến một ngày kia, Ngài thấu hiểu ư nghĩa sâu
thẳm trong hai chữ ấy, chứng đắc A La Hán. Ở
đây, sư Như Thị tự xưng là Tụng Trửu
nhằm sánh ví căn tánh của ḿnh cũng hết sức
ngu độn, chỉ biết tụng hai chữ “tảo
trửu” giống như ngài Châu Lợi Bàn Đặc, chứ
không hiểu kinh điển, giáo nghĩa chi cả!
[92] Tàng Lục tỳ-kheo:
Cũng là có ư khiêm xưng, giống như con rùa gặp nguy
hiểm bèn giấu kín sáu chi (bốn
chân và đầu, đuôi) trong mai. Ư nói, Ngài chỉ biết
pḥng hộ sáu căn thụ động trước ngoại
cảnh, chưa thể quán thấu triệt “tội tánh vốn
không”.
[93] Tự Bộ (祠部): Ở đây là nói tới quan chức
thuộc Tự Bộ Tào, trực thuộc quyền cai quản
của Lễ Bộ Thượng
Thư. Cơ quan này chủ quản lễ nghi, thiết lập
các quy định tế tự, thờ phụng cho tông miếu.
Đời Đường, chức trách của cơ quan này rất rộng,
ngoài quản trị lễ nghi, c̣n kiêm thiên văn, y dược,
lịch pháp, kỵ húy, bói toán, quản trị tăng ni. Đến đời Minh, vai tṛ
của Tự Bộ Tào
chỉ còn rút gọn
thành quản trị chuyện lễ nghi, tế tự của triều
đ́nh.
[94] Vạn Hộ Hầu: Nghĩa đen của từ này
là chức quan được ăn lộc của một vạn
gia đ́nh, tức một vạn gia đ́nh phải nộp
thuế cho viên quan này. Thoạt đầu, đây chỉ là
danh xưng chung để gọi chức quan rất cao.
Đến đời Kim, thiết lập riêng một chức
quan là Vạn Hộ Hầu, trực thuộc Xu Mật Viện,
đóng tại các hành tỉnh. Đến đời Minh chỉ
c̣n là danh tự chỉ chung quan cao tước cả. “Thế
tập” là cha truyền, con nối, tức là khi cha mất,
con cả sẽ được thừa kế chức
tước ấy.
[95] Địu (襁褓, cưỡng băo) tức một mảnh vải dày, có dây buộc để
mẹ buộc con vào lưng cho tiện làm việc.
[96] Trần Tôn
Túc húy là Đạo Minh, là con cháu
họ Trần ở Mục Châu, Giang Nam. Lúc Sư
sanh ra, ánh sáng đỏ chiếu rực
khắp nhà, mây lành phủ trên hư không cả
mười ngày mới tan. Sư hình
dáng thanh kỳ, biện luận hơn
người. Do vào chùa Khai Nguyên lễ Phật,
thấy Tăng chúng như bạn cố tri, bèn xin
cha mẹ cho xuất gia. Sư tham học, khế nhập
ý chỉ của ngài Hoàng Bá. Suốt
mấy chục năm, người đến tham
học với Sư, không ai chẳng khâm phục.
Sư không tuân theo thói thường, nên bị
kẻ nông cạn chê bai, nhưng những
người cao sâu đều ngưỡng mộ
Sư, gọi Sư là Trần Tôn Túc. Về sau, do
thấy cha mẹ đã già, Sư về chùa
Khai Nguyên, ở riêng một căn phòng, bện
hài bằng cỏ bồ để lấy tiền
nuôi mẹ, không hề lạm dụng một xu, một
hạt gạo của nhà chùa. Do vậy,
được tôn là hiếu tử. Khi
giặc đến xâm phạm nơi ấy, Sư
đem chiếc hài do mình bệnh treo ở
cổng thành. Giặc toan vứt đi, dốc
hết sức chẳng vứt
được, bảo: “Mục Châu có bậc
đại thánh nhân”, bèn bỏ sang thành
khác. Ở đây, Tăng tục ca ngợi
pháp sư Tân Y hiếu thảo giống như Trần
Tôn Túc nên mới đặt tên cho cái
thất ấy là Mục Đường (tòa
nhà của ngài Trần Tôn Túc tại Mục
Châu).
[97] Đây là một thành ngữ “dữ mộc thạch
cư, dữ lộc thỉ du” (ở cùng gỗ đá,
chơi cùng nai, lợn). Từ ngữ này phát xuất từ
thiên Tận Tâm sách Mạnh Tử, có hai nghĩa:
1) Ở cùng với người vô
tri, chưa được giáo hóa, v́ nai và lợn là những
động vật thường thấy trong rừng thời
cổ.
2) “Lộc thỉ” chỉ kẻ trí huệ thiếu
khuyết.
Ở đây, Tổ dùng từ ngữ
này phiếm chỉ tôn giả Diệu Viên ẩn ḿnh trong
đám người vô tri, ngầm giáo hóa họ.
[98] Kham Dư (堪輿) c̣n gọi là Phong Thủy, tức là
thuật quán sát các nhân tố như h́nh thế,
phương vị, khí tràng v.v… của cuộc đất
để chọn lựa hoàn cảnh tốt đẹp cho
cư trụ hoặc an táng. Kham nghĩa là thế đất
nhô lên. Dư là nghiên cứu địa h́nh, địa vật.
Do chú trọng các yếu tố hài ḥa giữa khí tràng, địa
thế, và hướng nước chảy, nên c̣n gọi là
Phong Thủy.
[99] Tư Mă Đầu Đà có thuyết nói là Lưu Tiềm,
quê ở Nam Khang Phủ, sống vào đời Tống, từng
giữ chức quan Tư Mă, tinh thông Phong Thủy, Địa
Lư, nhưng dùng đó để độ đời. Trong
khi chọn đất cho thân chủ, ông đem đạo
lư nhân nghĩa, nhân quả khuyên dụ gia chủ. Ông có soạn
các bộ sách Địa Lư Thiết Án, Đạt Tăng Vấn
Đáp, Tư Mă Thủy Pháp để giảng giải thuật
Địa Lư. Có thuyết lại nói ông là người sống
đời Đường, từng tham yết
thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, bảo ở Hồ
Nam có một ngọn núi có thể làm chỗ ở cho một
ngàn năm trăm vị thiện tri thức, nhưng ngài
Bách Trượng không phải là chủ nhân của ngọn
núi ấy, vị thủ tọa là Hoa Lâm Giác cũng không phải.
Cho tới khi ông thấy vị Điển Tọa là Linh Hựu
(tức ngài Quy Sơn), bèn bảo vị này sẽ
là chủ nhân núi đó. Quả nhiên về sau đúng như
vậy.