Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 8

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

19. Thọ tự[1]

* Lời chúc thọ nhân dịp pháp sư Tân Y thuộc Diên Thọ Viện sáu mươi tuổi

         

          Tôi xuất gia từ năm Nhâm Tuất (1622), qua lại giữa hai nơi Vân Thê và Song Kính, liền được hân hạnh quen biết Sư, thẹn được làm bạn vong niên. Bắt đầu từ năm Canh Ngọ (1630), mỗi lần tụ họp, liền sáng đêm quẩn quanh nói chuyện Phật pháp chẳng dứt. Tôi lui về hưu, mong tịch mịch, ẩn nấp trong non sâu. Hai ba học nhân theo tôi du hành, tôi đều dạy họ đến thọ giới Sa-di nơi Sư. Tỳ-kheo Quả Hải là do Sư chỉ bảo đến học với kẻ không ra ǵ này! Đầu Đông năm Kỷ Măo (1639), đúng dịp sinh nhật sáu mươi của Sư, các giới tử mưu tính chúc thọ Sư. Tôi xét theo pháp môn xuất thế, thấy sắc thân giống như thái hư, thấy trần kiếp như một cái khảy ngón tay, đâu chú trọng ca tụng đồi thấp là mênh mông, đua tranh chúc thọ với Thế Đế ư? Thắng nghĩa Tam Bảo, thường trụ Pháp Thân vô lượng, vô lượng, chỗ nào để luận định “kéo dài” [tuổi thọ]? Như Trụ Tŕ Tam Bảo là huệ mạng của chư Phật, trước nay nhờ vào con người để truyền. V́ thế, kinh Phạm Vơng dạy: “Phật tánh thường trụ, giới quyển lưu thông, tam thế nhất thiết chúng sanh, hóa hóa bất tuyệt” (Phật tánh thường trụ, kinh điển giới luật lưu truyền, hết thảy chúng sanh trong ba đời được giáo hóa chẳng dứt). Kinh Đại Thừa “phù luật, đàm thường” (đề cao luật, đàm luận [Phật tánh] chân thường) được gọi là “của báu cùng tột để chuộc mạng thường trụ”, há giới pháp cam lộ chẳng phải là diệu dược thật sự để kéo dài mạng sống trong Phật giới, khiến cho chín pháp giới nhanh chóng cùng đạt tới địa vị Phật ư?

Xưa kia, pháp sư Thiệu Giác ngao du trong biển giáo, tham học trọn khắp tông chỉ của Đại Tô (Thiên Thai Tông) và Từ Ân (Pháp Tướng Duy Thức). Ngoài lúc giảng diễn, Ngài c̣n tự soạn Tỳ Ni Trân Kính Lục để làm khuôn phép cho hậu học. Sư đồng chân nhập đạo[2], là trưởng tử của ngài Thiệu Giác, đối với tánh, tướng hai tông, không ǵ chẳng bẩm thọ truyền thừa; lại c̣n tu tập Tỳ Ni sốt sắng hơn ngài Thiệu Giác. Thoạt đầu, khi thọ đại giới ở Vân Thê, Sư liền mộng thấy lên ṭa diễn pháp. Hai mươi mấy năm, thần lặng suy nghĩ đă lâu, cho đến khi thầy Tinh Cốc cực lực thỉnh cầu, mới chịu phá lệ bẩm Yết Ma một lượt. Từ đấy, hậu học ngưỡng mộ theo về như mây, sự chẳng đặng đừng, bèn khai cam lộ pháp thí, khiến cho trọn khắp tứ chúng đều được nếm trải. Sư v́ trời, người, tuyên dương thông suốt đạo hóa, mấy chục năm qua, chưa từng tạm phế, nhưng lưỡi chưa hề bén thức ăn sau Ngọ, thân chẳng khoác y phục quư báu. Tánh tội và giá tội đều tịnh, giải lẫn hạnh đều tốt đẹp. Sư lại c̣n kiến lập nghi thức đàn tràng, công sâu Ngũ Hối, ngồi xếp bằng tu tĩnh, thành tựu phép Quán thập thừa. Do vậy, nếu Sư chẳng phải là người ngăn chống cơn sóng cuồng, nối tiếp huệ mạng của Phật, sao có thể được như vậy?

Tôi thường cảm khái chánh pháp của Như Lai bị ăn mòn bởi phường “kể chuyện ăn, đếm của báu”, lại c̣n bị gặm nhấm bởi lũ vô văn, ám chứng. Thậm chí lũ cuồng Thiền trong hiện thời, chỉ theo đuổi tṛ “thử tức, điểu không”! Lại c̣n hạng tỳ-kheo dê con thường chẳng hiểu biết mà làm thầy, đúng là bị chê cười là phường trộm hưởng an nhàn, phóng đăng chẳng biết kiểm điểm! Do vậy, tôi trốn lánh, né sắc, làm ra vẻ như đui, điếc. Chỉ có Sư ngầm tu dưỡng đă sâu dày, thanh danh càng thịnh, do nguồn sâu nên ḍng chảy dằng dặc. Tôi biết quang minh và thọ lượng của Sư đúng là sâu rộng như biển hương thủy vô biên trang nghiêm, cao lớn hệt như Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng, há đồi núi rộng lớn trong thế gian mà toan sánh ví dẫu bằng một hạt bụi, hay một giọt nước được ư?

 

* Văn chúc thọ nhân dịp tám mươi tuổi của Trang mẫu là Ưu-bà-di Đạo Chiêu Tô thạc nhân[3]         

 

          Mười đời xưa nay, từ đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm hiện tại. Do vậy, đức Thế Tôn nhập sát-na tế tam-muội, tám tướng thành đạo. Đă nhanh chóng thị hiện, lại c̣n chỉ dạy lẫn nhau, ấy là v́ tánh của thời kiếp chính là thật tánh. Nhưng chỉ có người chứng thật tánh của thời kiếp mới có thể tự hiện trọn khắp đủ loại thời kiếp. Ngài Thiên Thai nói rất hay như sau: “Thật sự vô lượng mà nói vô lượng; đó là thọ mạng của Pháp Thân. Thật sự vô lượng mà nói có hạn lượng, đó là thọ mạng của Báo Thân. Thật sự hữu lượng mà nói vô lượng, đó là thọ mạng của thân ứng hiện trong Tịnh Độ. Thật sự hữu lượng mà nói có hạn lượng, phải nên là thọ mạng của thân ứng hiện trong uế độ”. C̣n như từ ngay nơi uế chính là tịnh, từ ngay Ứng Hóa mà là Pháp, Báo, lại tùy theo căn cơ mà mỗi đằng thấy khác biệt, há có thể suy lường, bàn tán, suy tính được chăng? Đức Tuyên Ni (Khổng Tử) nói “ḷng nhân là thọ” th́ chẳng phải chỉ là luận định thọ mạng của sắc thân, chẳng hư vọng nh́n theo sự kéo dài hay rút ngắn [tuổi thọ] đă rơ ràng rồi!

Ông Trang Tỉnh Nhất học Nho mà hành Thiền; mẹ ông họ Tô, nay đă tám mươi, chẳng xin lời tựa từ bậc đại nhân hữu danh, riêng câu nệ lễ kính thưa với tôi rằng: “Tổ phụ của con là Thiếu Đường công, làm quan nơi đất Việt (Quảng Đông), bổng lộc chẳng có ǵ. Cha con là Giám Đường công theo đuổi cái học tánh mạng, thẹn chẳng làm chuyện mưu cầu tài lợi, buôn bán. Mẹ con là vợ kế của cha con, từ trong cảnh nghèo nàn cùng cực mà nuôi nấng một trai, một gái do mẹ đích là Quách Thị sanh ra, chẳng hai ḷng, lại c̣n nuôi đứa con mọn là con. Chẳng v́ nghèo nàn mà bỏ phế học hành, càng dạy dỗ nghiêm ngặt. Sau này, thiền sư Vĩnh Giác đến Khai Nguyên thuyết pháp, mẹ con nói: “Hăy nên nghĩ thoát khổ”, bèn dẫn con đến quy y. Nay cụ đă tám mươi, con là đứa con thơ của mẹ nghèo, chẳng biết làm thế nào để báo đáp mẹ?

Sơn tăng cười đáp:

- Ông chẳng nghe thuở Phật tại thế có cư sĩ Tu Lại ư? Nghèo nơi tài sản, nhưng chẳng nghèo nơi pháp, vua Ba Tư Nặc chẳng dám đọ giàu với ông ta. Ông lại chẳng nghe Xương Lê (Hàn Dũ) hỏi ngài Đại Điên về tuổi thọ ư? Ngài Đại Điên giơ xâu chuỗi bảo: “Ngày đêm minh châu trăm lẻ tám”. Xương Lê ngơ ngác, hỏi thủ tọa. Thủ tọa nghiến răng. Lại hỏi ngài Đại Điên, ngài Đại Điên cũng nghiến răng. Xương Lê nói: “Phật pháp nguyên lai chỉ là một đạo lư”. Đại Điên liền gọi thủ tọa, phang liên tiếp mấy gậy đuổi ra! Ôi! Nếu hướng tới chỗ ấy để xuyên thấu lỗ mũi của Đại Điên và thủ tọa, không chỉ lỗ mũi nóng của Xương Lê không có chỗ để thoát khí, mà ngay cả lỗ mũi của tam thế chư Phật, xương đỏ của lịch đại tổ sư đă lạnh ngắt, cũng đều chẳng có chỗ để thoát khí, sẽ có thể hướng đến Trang Mẫu để chúc Vô Lượng Thọ vậy!

 

* Văn chúc thọ cư sĩ Trần Mân Chiêu nhân dịp sáu mươi tuổi

 

          Bác Sơn lăo sư từng bảo tôi: “Tôi mỗi dịp gặp gỡ giảng chủ, ắt Ngài dùng Sự Sự vô ngại pháp giới để cật vấn. Tôi tận lực đáp lời, chỉ nói được Lư Sự vô ngại mà thôi, chưa hề nói đến Sự Sự vô ngại”. Tôi thưa rằng: “Sự Sự vô ngại há thật sự ở ngoài Sự Lư vô ngại ư? Chỉ là toàn Lư thành Sự, cho nên toàn Sự chính là Lư. Chỉ v́ toàn Sự chính là Lư, cho nên toàn Sự liền thâu nhiếp hết thảy các Sự. Lại như nêu ra một chót lông, ắt trọn đủ pháp giới toàn Lư, chẳng phải là chút phần Lư của pháp giới. Do ngoài Sự chẳng có Lư, đó là Sự Lư vô ngại. Chót lông ấy đă trọn đủ toàn thể Lư của pháp giới, ắt cũng sẽ thâu nhiếp trọn khắp toàn thể Sự trong pháp giới, chẳng phải chỉ là chút phần Sự trong pháp giới, do ngoài Lư chẳng có Sự. Đó chính là Sự Sự vô ngại vậy”. Sư gật đầu đồng ư. Tôi lại nói: “Đức Phật v́ người sơ cơ ắt đàm luận sâu xa lư tánh, muốn cho người ấy dùng Lư để dung hội Sự, chẳng vướng mắc nơi Sự. Nếu v́ hàng Bồ Tát thuộc địa vị sâu, ắt sẽ rộng đàm luận sự tướng, muốn dùng Sự để nhiếp Sự, ḥng chẳng vướng mắc nơi Lư. Chẳng vướng mắc nơi Sự tức là một Sự thông đạt hết thảy Lư, gọi là Sự Lư vô ngại. Chẳng vướng mắc nơi Lư, tức là một Sự thông đạt hết thảy Sự, gọi là Sự Sự vô ngại”. Sư hết sức tán thành.

Cư sĩ là người đại hoằng hộ của ngài Bác Sơn, nay gặp dịp sinh nhật sáu mươi tuổi, tôi thỉnh ngài Bác Sơn cho phép v́ cư sĩ chúc thọ. Cư sĩ đă hoằng hộ đại pháp ba mươi mấy năm, phàm các chuyện thuộc hiện thời, các hạnh như bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn v.v… cũng đă tích tập rộng lớn. Ngay như đối với chuyện hướng thượng nhất trước, tâm ắt cũng có đôi chút tự khẳng định. Há chẳng phải là đă nhập Sự Lư vô ngại pháp giới ư? Đă cách Sự Sự vô ngại chẳng xa ư?

Cư sĩ thích cờ vây, tôi xin dùng cờ vây để làm thí dụ. Hai quân cờ trắng đen, thua, thắng rành rành. Biết rơ thắng, thua đều chẳng có thật tánh, sẽ chẳng đối với thắng, thua mà dấy lên ngă chấp và pháp chấp; đó là Sự Lư vô ngại. Có thể trong mỗi nước cờ, thấu đạt cùng tận tam huyền, tam yếu[4], ngũ vị[5], cửu đới[6], chín mươi sáu loại viên tướng[7], cho đến bách pháp minh môn, lục tướng, thập huyền, ba ngàn tánh tướng, không ǵ chẳng hiểu rơ rốt ráo. Đó là Sự Sự vô ngại. Cư sĩ nương theo ḷng nhân mà học tập lục nghệ [của Nho sĩ, tức lễ, nhạc, xạ, ngự (điều khiển ngựa), thư pháp, tính toán], là v́ muốn thâm nhập Sự Sự vô ngại pháp giới, há chỉ dùng một môn cờ vây để thỏa thích ư? V́ thế, tôi nói cư sĩ ắt muốn thấu hiểu rốt ráo một nước cờ này, cần phải lại hướng theo tam huyền, tam yếu, ngũ vị, cửu đới, chín mươi sáu loại viên tướng, bách pháp minh môn, lục tướng, thập huyền, ba ngàn tánh tướng v.v… đối với mỗi thứ, đều ra vào dạo chơi trong các búi dây leo đó, khiến cho chẳng có mảy may nào không thấu đạt; sau đấy mới được thành tựu vô thượng Diệu Dịch tam-muội. Sau đó, sẽ nắm tay Thiện Tài, xoa đỉnh đầu Thiện Tài mà bảo rằng:

- Ta đạt được môn giải thoát của Bồ Tát, tên là Thiện Dịch (善奕, giỏi cờ vây). Trong mỗi nước cờ, ta thấy vô lượng Phật, nghe vô lượng pháp, thân cận cúng dường vô lượng chúng tăng. Lại trong mỗi nước cờ, viên măn Niệm Xứ, Chánh Cần, Căn, Lực, Giác Đạo, Ba Mươi Bảy Phẩm Bồ Đề Phần Pháp. Lại từ trong mỗi nước cờ, nhập pháp môn không, vô tướng, vô tác, thấy trọn khắp các sát-độ của chư Phật chẳng do hai tướng. Lại trong mỗi nước cờ, trọn đủ Lục Độ, Tứ Đẳng, Tứ Nhiếp, vạn hạnh, chẳng thể nghĩ bàn tư lương phước trí. Lại trong mỗi nước cờ, thành tựu thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng Phật pháp. Lại trong mỗi nước cờ, trang nghiêm ba mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo, lưu xuất thân vân[8] trọn khắp mười phương giới. Lại trong mỗi nước cờ, hàng phục các ma, chế phục các ngoại đạo, phá ngă chấp và pháp chấp, hiển Nhị Không Chân Như. Lại trong mỗi nước cờ, tùy theo các chúng sanh có đủ loại dục, đủ loại giải, đủ loại căn tánh, đủ loại rừng rậm tập khí phiền năo, ắt thuận theo căn cơ của họ mà v́ họ thuyết pháp, dùng tứ vô ngại giải, trọn đủ bốn loại Tất Đàn của chư Phật, khiến cho các chúng sanh ai nấy đều hoan hỷ, ai nấy đều được sanh thiện, ai nấy đều được diệt ác, ai nấy được an trụ trong Đệ Nhất Nghĩa Đế. Thiện nam tử! Ta chỉ đạt được môn Thiện Dịch tam-muội này, cho đến vi trần sát độ, tự tha chẳng cách một nước cờ. Mười đời xưa nay, từ đầu đến cuối, chẳng ĺa một nước cờ. Thích Ca Như Lai ở trong một nước cờ ấy chuyển đại pháp luân. Di Đà Thế Tôn ở trong một nước cờ ấy mà tịnh hóa bốn loại cơi.

Tức là “nhĩ thuận” của Tuyên Thánh (Khổng Tử) liền có thể cùng với Nhĩ Căn Viên Thông của Quán Âm nhập biển Thủ Lăng Nghiêm Đại Định, ngơ hầu chẳng phụ điều mong mỏi của chính cư sĩ, mà cũng chẳng phụ điều mong mỏi của trọn khắp thiên hạ đối với cư sĩ vậy. Đó là lời chúc vậy!

 

* Văn chúc thọ nhân dịp năm mươi tuổi của Trương Ấu Nhân

         

          Ông Trương Tử Thiều[9] có tỉnh, bèn nói kệ rằng: “Tử Thiều cách vật, Diệu Hỷ vật cách, muốn biết nhất quán, hai cái năm trăm”. Khi tôi c̣n tại gia, tâm trộm ngờ vực. Về sau, đọc thí dụ về măn tự và bán tự trong kinh Đại Thừa, bỗng dưng hiểu ư. “Cách vật” là bán tự giáo, c̣n “vật cách” chính là măn tự giáo trong nhà Phật chúng ta. V́ Thật mà thực hiện Quyền, tức là Bán giúp cho Măn. Khai Quyền hiển Thật chính là Măn dung hội Bán. Bán giúp cho Măn, ngoài Bán chẳng có Măn. Măn dung thông Bán, ngoài Măn chẳng có Bán. Nhất quán hai cái năm trăm[10], há chẳng đúng như vậy ư?

Ấu Nhân là hậu thân của Tử Thiều, đă ngộ các tướng chẳng phải là tướng, bèn v́ Như Lai miêu tả ba mươi hai tướng gần đến mấy vạn bức. Ngộ các tướng chẳng phải là tướng, đó là bán tự giáo cách vật. Ba mươi hai tướng, trang nghiêm Pháp Thân, há chẳng phải là măn tự giáo vật cách ư? Mồng Một đầu mùa Thu năm nay, ông đă hơn nửa trăm (tṛn năm mươi tuổi), Ấu Nhân trước đă chứng nhập pháp môn Măn Tự, th́ hai lần năm mươi chính là một trăm, c̣n nghi chi nữa? Trong một trăm năm ấy, lưu xuất tướng hảo nơi thân Phật, sẽ là vô lượng, tức là “mười đời xưa nay, từ đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm hiện tại!”

 

* Văn chúc thọ Mă Mẫu là Ưu-bà-di Tống thái thạc nhân vào dịp cụ bảy mươi tuổi

 

          Thọ lượng của Pháp Thân không khởi đầu, không kết thúc. Thọ lượng của Báo Thân không kết thúc, có khởi đầu. Thọ lượng của Ứng Thân tùy cơ thị hiện. Lănh hội như thế vẫn là kiến giải do dơi theo các ḍng mực. Nếu biết một Thể tam thân, chẳng một, chẳng khác, sẽ biết hết thảy thọ mạng đều chỉ là tâm lượng. Do vậy, đạt được tâm tự tại, đạt được pháp tự tại, thọ mạng tự tại, có thể do một ngày mà thành bao kiếp vĩnh viễn, có thể lấy bao kiếp vĩnh viễn làm một ngày. Tánh của một niệm trong hiện tiền chính là tánh của mười đời xưa nay, hết thảy hàm linh cũng cùng có tánh này. Vô Lượng Thọ Phật cũng có cùng một tánh này.

Người giác tánh ấy được gọi là Phật, diễn tả tánh ấy th́ gọi là Pháp, người thuận theo tánh ấy th́ gọi là Tăng. Thủ hộ tánh ấy th́ gọi là “chẳng giết”, toàn vẹn tánh ấy th́ gọi là “chẳng trộm”, giữ ǵn tánh ấy th́ gọi là “chẳng dâm”, tuyên nói tánh ấy th́ gọi là “chẳng nói dối”, hiểu rơ tánh ấy th́ gọi là “chẳng uống rượu”. Chẳng quên tánh ấy th́ gọi là “niệm Phật”. Quan sát tánh ấy th́ gọi là “niệm Pháp”. Tùy thuận tánh ấy gọi là “niệm Tăng”. Đem tánh ấy dạy cho người khác th́ gọi là “niệm Thí”. Dùng tánh ấy để tự làm khuôn phép th́ gọi là “niệm Giới”. Coi tánh ấy là chỗ nương tựa rốt ráo th́ gọi là “niệm Đệ Nhất Nghĩa Thiên”. Nếu ai tin sâu tánh ấy, bèn gọi là “trọn đủ Tam Quy, Ngũ Giới, Lục Niệm”. Nếu người có thể thọ Quy Giới, có thể tu lục niệm, sẽ có thể tùy thuận, chứng nhập tánh này.

Hiện thời, ưu-bà-di Tống thái thạc nhân là mẹ của bảy anh em họ Mă, tuổi tṛn bảy mươi, con cháu đầy nhà. Con cụ là cư sĩ Quang Thế, do tin Thiền mà kiêm tin Giáo. Cư sĩ Thái Chiêu do học Nho mà kiêm học Phật. Các người con khác cũng như các cháu, ai nấy cũng đều thành đạt rạng rỡ, có thể v́ cụ mà phụng dưỡng, khiến cụ vui sướng đúng pháp xuất thế. Thái thạc nhân chẳng hâm mộ điều ǵ, chỉ riêng ưa thích Quy Giới. Các vị quân tử như Lưu, Diêu thân thiết với Quang Thế và Thái Chiêu, tính chúc thọ thái thạc nhân, hỏi ư sơn nạp. Nạp tăng nói: “Điều thái thạc nhân ưa thích giống như vải thô, thức ăn đạm bạc, thường hằng xưa nay, thanh đạm chẳng chán. Các con cũng chẳng có sơn hào, hải vị, mà các vị quân tử cũng cần ǵ phải t́m kiếm tủy phượng, gan rồng!”

 

* Văn chúc thọ Xa mẫu Ngưu thạc nhân vào dịp cụ tám mươi tuổi và chúc thọ cư sĩ Thứ Công sáu mươi tuổi

 

          Một niệm tâm hiện tiền thường hằng xưa nay, nên gọi là Vô Lượng Thọ. Linh thông, sáng suốt, rỗng rang, thấu triệt, nên gọi là Vô Lượng Quang. A Di Đà Phật bất quá là vị thấu triệt trước “cái tâm của chúng ta vốn tương đồng” đó thôi! Do vậy, nếu chúng ta thật sự có thể niệm nào cũng chấp tŕ A Di Đà Phật, tức là niệm nào cũng chứng Vô Lượng Thọ, phóng Vô Lượng Quang. Cổ thánh đă là như thế, người hiện thời cũng thế. Chí tâm đă là như thế, mà tán tâm cũng giống hệt như vậy. Kinh Pháp Hoa nói: “Nhất xưng nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (xưng nam-mô Phật một tiếng, đều đă thành Phật đạo). Kim khẩu của đức đại thánh há lừa dối ta ư? Thời Mạt, chướng nặng, hễ cầu điều huyền diệu nào khác, [sẽ trở thành] muốn nhanh chóng mà đâm ra chậm trễ.

Cư sĩ Xa Mật Phiên tu tịnh nghiệp chuyên dốc, tâm chẳng hướng theo điều ǵ khác, ngày đêm niệm Phật Di Đà năm vạn câu. Dùng công đức ấy để ngưỡng chúc mẹ, phát nguyện cùng chứng quả đức cứu cánh của A Di Đà Phật. Ngưu thạc nhân cũng đă ăn chay trường ba mươi lăm năm giống như một ngày. Cư sĩ sanh ba trai ba gái, mà ba người con trai lại sanh chín đứa cháu. Nay chúc thọ, chẳng dùng ca múa thế gian, chỉ dùng Phật hiệu và tiếng tụng kinh, khiến cho trọn khắp người trong thiên hạ đều như quyến thuộc của họ Xa, há chẳng phải Sa Bà chính là Thanh Thái ư? Cái thân nhân Phần Đoạn chính là pháp lữ Bồ Đề đấy ư? Cư sĩ nói: Tuy hiện thời con cháu đă nghe danh hiệu Tam Bảo, muốn dùng pháp môn niệm Phật để chúc thọ ḥng truyền lại nhiều đời, giáo hóa vô cùng, riêng xin sơn nạp một lời. Một niệm Vô Lượng Quang Thọ hiện tiền ai nấy đều trọn đủ, nhưng mê muội th́ ai nấy cũng cùng cảm thán. Cùng trọn đủ th́ chẳng khác; cùng cảm th́ chẳng phải là đều có thể được! Dùng cái tâm cùng trọn đủ để cảm cái t́nh chẳng thể được, há riêng chẳng phải là phận làm con ư?

 

* Văn chúc thọ pháp điệt Lạc Như vào dịp bốn mươi tuổi

 

          Mùa Hạ năm Nhâm Tuất (1622), tôi xuất gia, đầu tiên hành cước tới Vân Thê, liền cùng với huynh Tuyết Hàng Tiếp kết bạn xuất thế. Cho tới mùa Hạ năm Nhâm Ngọ (1642), huyễn ngụ tại Cô Thành, mới quen biết pháp điệt Lạc Như. Pháp điệt là người được Tuyết huynh thế độ. Tŕ trai từ bé, lúc mười hai, mười ba tuổi liền quy y với Tuyết huynh. Cho tới khi trải qua các thử thách, kham tŕ tịnh giới, mới chịu ĺa tục, coi xuất gia chẳng phải là chuyện nhàn rỗi, đă hơn hẳn kẻ tầm thường ngàn vạn lần! Gần đây, [pháp điệt] trụ tại chân núi của ngọn Tĩnh Đạo, ḥa quang đồng trần, mà chẳng thay đổi khuôn khổ của chính ḿnh. Lại c̣n dốc ḷng tin tưởng pháp môn Tịnh Độ, khát ngưỡng hâm mộ tông chỉ viên đốn. Do vậy, trong mùa Đông năm trước, chẳng nài lao khổ, theo tôi sang Tổ Đường nhập hội Pháp Hoa.

Tôi thường cảm khái học nhân thời Mạt chỉ mong “lọt vào tai, thốt ra miệng”, muốn [có người được] như pháp điệt chỉ cầu thọ dụng thầm lặng, lại càng là chẳng có nhiều! Nhưng pháp môn Tịnh Độ ắt dùng đại Bồ Đề tâm làm tông yếu. Đại Bồ Đề tâm cố nhiên chẳng thể dùng tánh xốc nổi để gánh vác, cũng chẳng thể dùng sự lần khân để tự thoái thác. Xưa kia, Khổng Tử đang ngồi, có bốn học tṛ đứng hầu, Ngài ắt mượn lời Tăng Điểm để giáo hóa sự chấp Có của ba vị kia, mượn sự chấp thật của ba vị kia để giáo hóa Tăng Điểm về sự quên bẵng t́nh chấp[11]. Xưa kia, Tuyết huynh sốt sắng coi pháp môn là trách nhiệm của chính ḿnh, có phần nào giống như Tử Lộ. Lăo điệt hiện thời điềm nhiên dùng sự ǵn giữ thanh tĩnh làm gia phong, có phần nào giống Tăng Điểm. Vậy th́ lăo điệt cố nhiên là thuốc của Tuyết huynh, mà Tuyết huynh cũng chưa chắc chẳng phải là sở học của lăo điệt. Mùa Đông năm nay, gặp dịp lăo điệt bước vào tuổi bốn mươi, đồng môn là hai em Tử Nhă và Chứng Chân đặc biệt xin tôi nói một lời chúc tụng. Tôi nghĩ lăo điệt thật sự v́ một đại sự nhân duyên mà xuất gia, trước nay chẳng thích a dua, cho nên viết thẳng chuyện này để làm bằng khoán cho vô lượng thọ vậy!

 

* Văn chúc thọ Trầm mẫu Trương thạc nhân

 

          Tôi nghe Thọ (, tuổi thọ) là thọ (, nhận lănh), tự tạo cái nhân, tự thọ cái quả, chẳng phải là trời giáng xuống, chẳng do đất vọt ra, chẳng phải do kẻ khác ban cho. Do vậy, Tuyên Thánh nói “ḷng nhân là thọ”, lại nói “đại đức tất đắc kỳ thọ” (đức lớn ắt được sống lâu); há thọ là pháp ở ngoài tâm ư? Thọ đă chẳng phải là pháp ở ngoài tâm; hễ nói đến cha con, vợ chồng, thân hữu, con cháu, đều chẳng phải là pháp ở ngoài tâm. Do vậy, con người có thể tận tâm trong chuyện phụng sự, dưỡng dục, trung hiếu, tiết nghĩa, sẽ tự có thể đạt được thượng thọ. Lại có thể suy rộng ra cái Thể vốn tịch, vốn chiếu của cái tâm ấy, quyết đạt được, th́ cũng có thể chứng Vô Lượng Thọ và Vô Lượng Quang.

Mẹ của ông Trầm Đông Khởi là Trương thạc nhân thoạt đầu gả cho lăo cư sĩ Duyệt Hiên. Bà sanh ra Đông Khởi chỉ mới ba tháng tuổi, Duyệt Hiên đă qua đời. Thạc nhân giữ vững khí tiết băng tuyết, nuôi nấng Đông Khởi cho tới tuổi trưởng thành. Về sau, cụ mắc bệnh ngặt, Đông Khởi sợ hăi, cắt [thịt] bắp đùi làm thuốc khiến cho cụ lành bệnh. Do vậy, tôi biết cái tâm của Đông Khởi chính là tâm của Trương thạc nhân. Cái tâm của Trương thạc nhân tức là tâm của thánh hiền ngàn đời. Tâm của thánh hiền ngàn đời tức là tâm của mười phương ba đời chư Phật. Tâm của chư Phật chính là cái tâm vốn sẵn có của mỗi người. Chớ nên vùi lấp cái tâm vốn sẵn có ấy, mở rộng tâm ấy th́ sẽ là thánh nhân. Tột cùng cái tâm vốn sẵn có ấy, sẽ là chư Phật. Tham Thiền là tham cái tâm ấy, Chỉ Quán chính là quán cái tâm ấy. Niệm Phật là niệm cái tâm ấy. Cách vật (trừ khử ḷng tham muốn vật chất) tức là thấu hiểu điều ấy. Trí tri (thấu đạt đến tận cùng) là thấu đạt cùng tận cái tâm ấy. Minh minh đức (làm sáng tỏ đức sáng) là làm sáng tỏ cái tâm ấy. Thạc nhân và Đông Khởi do đều có thể chẳng vùi lấp cái tâm, đều biết mở rộng sung măn cái tâm ấy, sung măn tới cùng cực, một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật, chứng Vô Lượng Thọ, phóng Vô Lượng Quang, độ vô lượng chúng sanh, thành vô thượng giác, có ǵ chẳng phải là chuyện trong nhất tâm ư? Xưa kia, vua Ba Tư Nặc lúc sáu mươi hai tuổi mới nghe Như Lai nêu tỏ tánh chẳng sanh diệt, liền cùng với các đại chúng hớn hở, hoan hỷ, đạt được điều chưa từng có! Nay thạc nhân đă sáu mươi hai, tôi v́ bà nói pháp chẳng sanh diệt này, thạc nhân và Đông Khởi ắt sẽ hớn hở, hoan hỷ chẳng kém vua Ba Tư Nặc!

 

* Văn chúc thọ nhân dịp cư sĩ Diêu Quảng Nhược tṛn ba mươi tuổi

 

          Điều trọng yếu trong Phật pháp là Giới, Định, Huệ. Đức của Nho môn là trí, nhân, dũng. Yếu quyết của Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hạnh. Ba điều ấy chẳng phải là ba, tuy ba mà chỉ là một. Cái “một” ấy chẳng phải là một, một ắt trọn đủ ba! Có thể biết Giới, Định, Huệ, thiếu một điều chẳng được th́ chính là Trí. Tự hành Giới, Định, Huệ là Nhân. Chẳng bị tham, sân, si đoạt mất th́ là Dũng. Biết tam đức nơi vật (tất cả chúng sanh), nơi ta, vốn sẵn b́nh đẳng, th́ là Tín. Dùng tam đức trong cái nhân của ta để mong cầu tam đức nơi cái quả, đó là Nguyện. Thẳng thừng biến tam đức nơi cái quả thành tam đức nơi cái nhân của ta, gọi là Hạnh. Điều này được gọi là “tam pháp diệu”. Khổng Tử “tam thập nhi lập” (khi ba mươi tuổi, chí hướng đã lập), chính là lập điều này. Phật Thích Ca ba mươi tuổi thành đạo, cũng chẳng vượt quá điều này mà thành!

Tôi nhớ mùa Đông năm Nhâm Ngọ (1642), lần đầu gặp Quảng Nhược, Quảng Nhược vừa mới hai mươi mốt tuổi. Mùa Đông năm nay, gặp dịp sinh nhật ba mươi tuổi của cư sĩ. Cổ nhân nói: “Đạo khoáng vô nhai, phùng nhân bất tận” (đạo mênh mông không bờ bến, người tài giỏi hơn ta vô tận). Tuyên Thánh (Khổng Tử) tuy ba mươi [chí hướng] đă lập, vẫn chẳng dám coi ḿnh là thánh nhân. Phật Thích Ca tuy ba mươi tuổi đă thành đạo, vẫn chẳng xả điều phước chừng bằng mũi kim. Chỉ là lập điều này, thành điều này, cho nên cùng tột ngằn mé vị lai, chẳng xả điều này. Do sự rốt ráo chẳng xả ấy, bèn gọi là “chí thành vô tức” (chí thành không ngừng nghỉ). Hăy gắng lên! Tôi sẽ cùng cư sĩ đều dạo chơi cơi An Thái (Cực Lạc), thờ đức Vô Lượng Thọ làm thầy, bầu bạn cùng Quán Tự Tại và Vô Biên Quang (Đại Thế Chí).

 

* Văn chúc thọ đại pháp sư Tân Y nhân dịp Ngài bảy mươi tuổi

 

          Sư thọ sáu mươi tuổi, giới tử theo Húc du hành, lầm lạc cậy Húc nói lời chúc thọ. Nay Sư bảy mươi, cao túc lại nhờ cậy viết lời chúc thọ. Húc vẫn nhớ mùa Xuân năm Tân Mùi (1631), cùng với Sư lễ Đại Bi Sám ở Liên Cư. Tŕnh Quư Thanh vừa mới kiến nghị lập Lục Niên Pháp Xă. Ở trong Quán Đường, Húc mộng thấy một ṭa lương đ́nh[12] lớn nơi ngă tư, treo mười mấy chén đèn. Bỗng chốc gió lùa tắt, chỉ c̣n một ngọn đèn, một ḿnh chiếu sáng vằng vặc. Khi đó, tôi hư vọng suy đoán, đấy là điềm ứng hiện nơi Sư. Nay quả nhiên Ngài là một ngọn đèn duy nhất tại Liên Cư! Nhưng c̣n lại một ngọn đèn ấy, chẳng phải là ngẫu nhiên!

Sư dùng thân đồng tử hầu hạ Thiệu ông (pháp sư Thiệu Giác), chịu sự kềm cặp ngặt nghèo, nên mới trở thành đại pháp khí về sau này. Sư cả đời giới luật tinh nghiêm, phạm hạnh siêu tuyệt; sám-ma, Thiền quán, không ǵ chẳng tu tập sâu xa. Điều càng hay khéo là trống ḷng, thích học hỏi. Năm Nhâm Ngọ (1642), Húc từ đất Mân (Phước Kiến) đến, Sư liền đem sách Duy Thức Hợp Hưởng ân cần hạ vấn[13]. Cho đến năm trước, gởi thư cho Húc, Sư vẫn bảo Húc giảo duyệt. Sư đă giảng diễn Duy Thức hai mươi mấy lượt, vẫn chẳng nề hà rủ ḷng hỏi han kẻ thô lậu, nh́n lại những kẻ hư vọng tự măn trong hiện thời, bụng rỗng tuếch mà tâm cao ngất ngưởng là như thế nào vậy? Kinh Dịch nói: “Khiêm tôn nhi quang, ty nhi bất khả du” (Do khiêm cung mà được tôn quư, tỏa rạng. Tuy hạ ḿnh mà chẳng ai có thể vượt hơn được). Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ là ở ngay nơi đó. Tột cùng đời vị lai, thường trụ trong thế gian, khi kiếp phong dấy lên, ngọn đèn ấy càng sáng rực. Kẻ hèn này chỉ đành dùng Nam Sơn, Bắc Hải để sánh ví quang thọ của Sư vậy!

 

* Văn chúc thọ nhân dịp Đạt Nguyên thiền túc sáu mươi tuổi

 

          Xưa kia, thiền sư Vô Dị vào Thạch Thành. Một hôm, Ngài thăng ṭa, thầy Đạt Nguyên ở Vạn Thọ Am bước ra khỏi đại chúng, thưa hỏi: “Như thế nào là Vô Lượng Thọ?” Ngài Vô Dị nói: “Rồng đen trong đầm, sóng ngập trời”. Thầy lại hỏi: “Như vậy th́ là hữu lượng?” Ngài Vô Dị bảo: “Một giọt nước nơi ao trời há giống như các ḍng nước?” Sư liền lễ bái, trở về chỗ. Khi ấy, tôi được quen biết thầy [Đạt Nguyên] lần đầu. Tới mùa Xuân năm Tân Mùi (1631), Sư từ bỏ chuyện trong am, làm một vị tăng thong dong sang Vũ Lâm, lại gặp tôi ở Liên Cư Am. Sư có chí muốn dong buồm trong biển giáo, lại c̣n quên bẵng khí tượng của Thiền giả trong thời gần đây. Sư thân cận Tân Y lăo pháp chủ đă lâu, bèn bẻ găy trụ trượng[14], ở một ḿnh nơi am Định Huệ tại Hoa Ổ. Am lâu ngày, chẳng ngăn được mưa gió, Sư bèn tụng một ngàn bộ kinh Pháp Hoa tại đó, thí Diệm Khẩu một ngàn lần, suốt mấy năm giống như một ngày, mới cảm đàn-na hộ pháp chỉnh đốn như cũ.

Sư làm người b́nh dị, chân thành, chẳng nhỏ nhen, chẳng cao ngạo, siêng tu hạnh môn chân thật, bởi không chỉ đắc lực nơi một giọt nước nơi ao trời mà thôi! Sư tự thuật thuở đang dốc chí học tập, liền biết thờ Phật. Tuổi sắp nhược quan (hai mươi), lễ vị tôn túc là Biệt Truyền, xuống tóc nơi ngài Biệt Truyền. Vị này là người đồng thời với Tử Bách lăo nhân, độc hành, hiếm có người thừa sự. Sư từng khất thực phụng dưỡng thầy mười năm, sớm chiều thân cận; do vậy, vẫn có phong cách của cổ nhân. Tuy các bậc thầy trong thời gần đây đều chuộng tham học, cầu thỉnh, nhưng trọn chẳng tu tập gia pháp này. Đất nhiều, [tượng] Phật to, nguồn xa ḍng dài, chỉ có Sư là được như vậy.

 

* Văn chúc thọ lăo tôn túc Bạch Pháp nhân dịp Ngài tám mươi tuổi

         

          Từng nghe xuất gia có ba sự nghiệp, tức là tọa thiền, đọc tụng, làm phước. Tọa Thiền giống như nước có vơ bị, gọi là Định luân. Đọc tụng giống như nước có văn sự, gọi là Huệ luân. Làm phước giống như nước cần phải quản trị kinh doanh, gọi là Phước luân. Ba điều này đều lấy Giới làm cơ bản, giống như trong nước, dù là tư mă, tư lại, hay tư nông[15] v.v… đều tuân phụng theo luận định, hiến pháp, chưa hề xếp Thiền, Giáo, Luật thành ba tông. Lại có ba loại thiện tri thức, tức là giáo thọ, đồng hạnh, và ngoại hộ. Giáo thọ dùng kẻ ngộ trước giác ngộ người sau, quá nửa giống như dạy học. Đồng hạnh là cùng hướng theo, mong cầu, giúp nhau cùng tiến bộ. Chỉ có ngoại hộ thiện tri thức ắt cần phải am hiểu tường tận lẽ thông, tắc, khéo léo tạo lợi ích cho nhau. V́ thế, từ cổ, đă thường coi [ngoại hộ] là khó khăn. Hơn nữa, nói theo ngũ phẩm quán hạnh[16] của Pháp Hoa, đồng hạnh th́ hai phẩm đầu có thể thực hiện, giáo thọ th́ phẩm thứ ba có thể thực hiện. Ngoại hộ mà nếu chẳng phải là phẩm thứ tư và phẩm thứ năm, sẽ chẳng thể đảm nhận được!

Xưa kia, Mật Tạng đại sư bỏ Nho học Phật, đă theo Tử Bách đại sư xuất gia. [Tử Bách] đại sư nói Sư (ngài Mật Tạng) mới nhập pháp môn, chẳng có phước nghiệp, dạy Sư hăy khôi phục chùa cổ Lăng Nghiêm ở Trường Thủy, lưu thông kinh sách trong Đại Tạng Kinh, ḥng tiếp nối huệ mạng của Phật, sáng lập đại sự nhân duyên ngàn đời. Ngài Mật Tạng đă ẩn, [Tử Bách] đại sư lại tịch, Phật điện, kinh phường (tàng kinh các) dần dần điêu tàn. Tới mùa Đông năm Nhâm Tuất (1622), các vị hộ pháp thuộc Ḥa Thành khẩn thỉnh Bạch ông (ngài Bạch Pháp) chủ tŕ mọi chuyện trong Thiền Đường, khiến cho tự vũ trong sơn môn đổi mới rực rỡ, lưu thông Đại Tạng vĩnh viễn trở thành quy củ. Mười năm sau, Ngài dùng tài lực dư thừa để kiến tạo chùa cổ Doanh Tuyền. Lại trải qua sáu năm, Ngài lần lượt làm xă chủ của Hoành Sơn và Chiêu Khánh ở Vũ Lâm, cũng như chùa U Lan thuộc Vũ Thủy. Cho tới năm Quư Mùi (1643), Ngài lại tới Lăng Nghiêm Đường suốt ba năm. Khi đó, gặp lúc thay đổi triều đại, đao binh sôi sục, mà ḷng Từ và nhẫn lực của Sư càng thêm tràn trề. Tới mùa Hạ năm Bính Tuất (1646), Sư thọ bảy mươi mốt tuổi, lui về ở trong Tử Bách Viện, mùa Đông kiến tạo chùa cổ Lậu Trạch. Giữa Thu năm Kỷ Sửu (1649), làm chủ Đông Tháp, sửa sang, xây mới điện vũ, chưa từng nề hà mỏi nhọc! Bởi lẽ, Sư suốt đời miệt mài làm phước, đáng gọi là “ba mươi năm chưa từng thay đổi gia phong”.

Tôi thường nói Tử Bách đại sư kế tục trùng hưng khuôn phép thơm thảo của Vĩnh Minh Tông, Thuyết đều thông, giải và hạnh trọn đủ, trừ bỏ rào giậu giữa tánh và tướng, chỉ quy cùng một đường lối, đả phá thói tệ của Thiền, Giảng, hướng dẫn t́m về nguồn cội. Nh́n vào “bán kệ công thành”[17], đến đi tự tại, có thể nói là đă thấu triệt nguồn đáy của pháp, chưa từng giơ dùi, dựng đứng cán phất trần, hoặc giữ ngôi Trụ Tŕ. Có thể nói là Ngài đă hiểu thấu thông suốt sự sai biệt giữa Thiên Thai, Hiền Thủ, Phương Sơn[18], Từ Ân, chưa từng thăng ṭa vân tập, xưng là nhân thiên sư. Miệng chẳng nếm các vị, hông chưa từng chạm chiếu, có thể nói là hạnh Đầu Đà thù thắng, chưa từng truyền giới, truyền tích trượng, xưng là đại ḥa thượng! Do chẳng dám tách Thiền, Giáo, Luật thành ba, cho nên Ngài có thể biết sâu xa chỗ khó khăn trong chánh pháp. V́ thế, thận trọng dường ấy!

Nếu có kẻ bàn rằng Bạch ông ba mươi mấy năm làm chủ tùng lâm, giảng tịch, chưa từng thỉnh một bậc thầy hoằng Tông, diễn Giáo, thuyết giới, coi đó là thiếu sót. Nào có biết chính Bạch ông trọn đủ bản lănh to lớn, chẳng phải là kẻ lơ mơ vậy! Một nguồn Tam Học của Ngài, [kẻ bên ngoài] càng chẳng thể nh́n thấu được! Tông chủ trong thiên hạ hiện thời, ai có thể thấu đạt nguồn đáy như ngài Tử Bách ư? Pháp chủ trong thiên hạ hiện thời, ai có thể thấu hiểu dung thông sự sai biệt như ngài Tử Bách? Luật chủ trong thiên hạ hiện thời, ai có thể hành hạnh đầu đà thù thắng như ngài Tử Bách ư? Đă thấy biển, khó thể coi trọng những chỗ có nước khác! Bạch ông chẳng thỉnh chuyển pháp luân v́ Ngài đă hộ tŕ chánh pháp luân, cũng chẳng nỡ để cỏ dại xen tạp lúa mạ, để nhạc nước Trịnh rối loạn Nhă Nhạc[19].

Hơn nữa, ngài Tử Bách coi việc lưu thông Đại Tạng là nhiệm vụ cấp bách, quả thật chẳng khác nỗi khổ tâm biên tập kinh Thi, kinh Thư, định lễ nhạc, khen ngợi kinh Dịch, tu chỉnh kinh Xuân Thu [của Khổng Tử]. Ngài Mật Tạng khế hội, giống như Khổng môn có Nhan Tử. Bạch ông kế thừa trách nhiệm ấy, mở rộng thành vĩnh viễn, giống như Mạnh Tử. Công ấy to lớn thay! Năm nay, Ngài đă bảy mươi bảy tuổi, lớn hơn tôi hai mươi ba tuổi, mà tinh thần mạnh hơn tôi bội phần, há chẳng phải là quả báo cảm vời trong hiện tại do nối tiếp huệ mạng của Phật ư? Từ nay, đèn pháp Đại Tạng vĩnh viễn vô tận, Ngài trụ thế cũng vĩnh viễn vô tận, nào khác mười sáu vị đại A La Hán vâng theo sắc mạng của đức Phật mà ủng hộ lưu thông pháp bảo Tam Tạng ư?

 

* Văn chúc thọ dành sẵn cho dịp ngài Càn Minh sáu mươi tuổi

 

          Phật pháp hưng thịnh chẳng do có thể hoằng dương rộng khắp, mà là do có thể giữ vững. Bởi lẽ, hoằng dương rộng khắp gần với tiếng tăm, mà tiếng tăm dẫn đến lợi dưỡng. Do lợi dưỡng trí dẫn đến kẻ bất chánh, dễ sanh khởi nhân duyên hữu lậu. Mười hai năm sau khi đức Phật nhập diệt mà c̣n như thế, huống hồ thuở mạt vận ư? Chỉ có giữ vững th́ lánh đời mà tâm chẳng phiền muộn, đích xác là chẳng thể dẹp trừ, nhưng có thể đẩy lùi cơn sóng cuồng loạn, lưu lại một mối chánh pháp, kế thừa người trước, mở đường cho mai sau, nối tiếp huệ mạng của Phật. Như Lục Tổ ẩn ḿnh trong đám thợ săn mười sáu năm, ngài Kinh Khê suốt đời chẳng lên pháp ṭa, nhưng đạo của Tào Khê, Thiên Thai đều lưu truyền thiên cổ, há chẳng phải là lẽ chứng nghiệm minh xác cho sự tồn tại của Phật pháp ư?

Tôi sanh muộn màng, chẳng được hưởng sự kèm cặp của bậc tiền bối, thẹn làm pháp quyến của ngài Hám Sơn, học tập theo di trước th́ là Giới của ngài Vân Thê, Thiền của Tử Bách và Lục Tổ, huệ của Kinh Khê, Trí Giả. Hiềm rằng chướng nặng, tập khí mạnh mẽ, chưa đạt tới Pháp Nhẫn, chỉ khai danh tự Phật nhăn, trộm soạn thuật Pháp Hoa Thai Tông Hội Nghĩa, ngơ hầu chẳng bị Pháp Hoa chuyển!

Mùa Hạ năm Tân Măo (1651), tôi kết hạ ở Trường Can, trong ngày giải Hạ, đă có lời thề nhất quyết không nhận lời thỉnh. Nhưng Càn công đă thỉnh làm đạo tràng Pháp Hoa vào mùa Đông năm Ất Mùi (1655) trước khi tôi lập lời thề. Thoạt đầu, tôi dự định vào núi bốn năm, may ra công phu hơi tiến bộ, pháp vận cũng có thể văn hồi đôi chút. Do đó, chẳng dám quyết liệt từ chối. Nào ngờ đă hơn hai năm, vẫn mờ mịt như cũ, lại thêm sự đấu tranh trong pháp môn đă bắt đầu, những kẻ tài hèn sức mọn khác ai nấy đều ở mỗi phương, viện cớ diễn giáo, hoằng tông, thâu vớt mối lợi nhỏ nhặt, hết sức chẳng nỡ nghe! Lúc này, nếu chẳng gấp dũng mănh thoái lui, gần như là nước càng sâu, lửa càng nóng đó ư?

Càn công (ngài Càn Minh) là bậc kỳ túc ở Trường Can, thọ giới nơi thiền sư Bác Sơn, cũng học tập theo di trước của ngài Vân Thê, xuất gia tại Đại Báo Ân Tự, cũng học tập theo di trước của ngài Hám Sơn. Chân thật dốc sức nơi luật hạnh, siêng tŕ tụng, là bậc lỗi lạc trong pháp môn vậy, coi trọng lời hứa, chuộng phước nghiệp, là gương mẫu cho trời, người. Thầy sốt sắng lo xa cho pháp môn, quả thật giống như tôi, quyết chẳng đem chuyện nói năng ắt giữ chữ tín, hành xử ắt kiên quyết giữ trách nhiệm mà trách tôi. Tôi cũng nào dám chấp tiểu tiết thô thiển, khăng khăng thực hiện lời hứa để lưu tiếng xấu cho pháp môn ư? Tới ngày Mười Lăm tháng Hai năm Bính Thân (1656), Ngài sẽ bước vào tuổi sáu mươi. Cuối mùa Xuân năm nay, tôi mới trở về Linh Phong, từ nay đến sinh nhật của Ngài chưa đầy hai năm, sao có thể đến chúc mừng? Do vậy, tính khắc in ba bản trước tác đối với kinh Lăng Già, luận Khởi Tín và Tuyển Phật Phổ, cậy hai tṛ là Kiên Mật và Thương Huy đến trông coi việc ấy, xin dùng công đức lưu thông pháp bảo để chúc thọ trước cho Ngài. Ngài do có được công tích ấy, [chúng sanh đối với] huệ mạng của chư Phật sẽ trăm đời chẳng bị mê lầm, đều được vô lượng quang minh của Ngài gia bị. So với một trăm ngày giảng diễn [kinh Pháp Hoa như tôi đă hứa trước kia] chỉ là ứng với tai mắt của ngàn người, công đức lớn hay nhỏ sao mà sánh bằng được?

Huống hồ Ngài và tôi t́nh nghĩa vượt ngoài cơi đời, hoằng nguyện Bồ Đề trần kiếp chẳng quên lăng. C̣n nhớ năm xưa, sửa chữa tháp Báo Ân, Ngài đảm gánh vác trách nhiệm chánh yếu, chẳng phiền quyên mộ rộng khắp, chẳng chú trọng phan duyên, chỉ dùng chân tâm thật hạnh, hoàn thành [sự nghiệp ấy] trong khoảng khảy ngón tay. So với nhân duyên tu bổ tháp của pháp sư Tuyết Lăng thuở ấy, sự ít hơn một nửa mà công gấp bội. Chuyện hiểu tường tận pháp thế gian và xuất thế gian, biết sâu xa ư chỉ “vô trụ sanh tâm”, chẳng cần phải đợi tôi nói nữa! Tôi kính chúc Ngài vô lượng thọ dường ấy, Ngài ắt chấp thuận là đúng vậy.

 

20. Tháp chí minh[20]

* Bài minh ở mộ tháp của luật sư Tiều Vân

 

          Tôi ở Giang Ngoại[21] được nghe Tiều Vân quan chủ do khổ hạnh thật tu, được Bát Mân[22] kính ngưỡng. Mùa Đông năm Mậu Dần (1638), tôi qua Hồng Đường, đến Ôn Lăng, những kẻ ngu phu hoặc người lao động đều nói Ngài thiết tha v́ đại chúng, siêng năng công khóa của chính ḿnh. Chẳng bao lâu, nghe tin Ngài mất, hận ḿnh duyên bạc, chẳng được gặp gỡ, giãi bày nỗi niềm trong bài văn ngắn để tỏ ḷng thương nhớ. Hai năm sau, tức năm Canh Th́n (1640), tôi tới Chương Nam, cao túc Như Điền tuân theo di mạng, tạo tháp thờ toàn thân Ngài ở rặng Thạch Thất, thỉnh tôi viết bài minh.

Xét ra, Sư là con nhà họ Châu ở Tân An thuộc Trừng Ấp, xuất gia tại chùa Khai Nguyên thuộc đất Chương, pháp danh là Chân Thường, Tiều Vân là biệt hiệu của Ngài. Thuở bé, Ngài lấy ngói, sành, tre, gỗ, xếp thành b́nh và tích trượng. Cha biết chí Ngài, cho phép con vào chùa. Chùa là đạo tràng của thiền sư La Hán Sâm. Khi Sư xuống tóc, đă có tâm ngưỡng mộ ngài La Hán Sâm. Sư tham yết lăo nhân Nam Sơn Nhàn Tịch, bẩm thọ yếu chỉ Thi La (Giới học), học hỏi pháp môn Tịnh Độ. Ngài đă kiến tạo cái đ́nh để thí trà [cho người qua lại] ở đầu non Đồi Vân. Cứ vào cuối tháng, có một con hổ đi trên đường. Sư dùng trượng gơ nó, bảo: “Đây là con đường trọng yếu để qua lại, hăy cẩn thận đừng để người khác ghét bỏ”. Hổ bèn lánh đi.

Kế đó, Sư trụ tại thạch thất ở Tam Thai, nồi sành, giường dây, tụng niệm công khóa, lặng lẽ tĩnh tọa. Trải qua ba năm, Ngài tính đi sang nơi khác, nghe trên không trung có tiếng lưu lại. Sư bèn xây dựng điện Phật, cất tăng liêu, đặt tên cho vách núi ấy là Nhàn Vân Thạch Thất v́ Nhàn Tịch lăo nhân từng cư trụ tại đó. Sư bế quan, ngồi thẳng tắp, ăn ngủ đều quên, đạo phong ngày một rạng rỡ, đàn tín ngày một kéo về đông hơn. Do vậy, kiến tạo Hoa Nghiêm Đường, mở Tiếp Chúng Xá để khoản đăi mười phương, tận tâm, tận lễ, liền cảm luật sư Ngũ Đài Vô Tĩnh làm bạn chẳng thỉnh, chống tích trượng đến trước quan pḥng, truyền giới Cụ Túc cho Sư. Từ đấy, Sư nhóm họp Tam Sơn Đại Tạng, lập tháp Bích Chi, tham yết pháp sư Vô Tận ở Thiên Mỗ, thân cận Phổ Môn Đại Sĩ nơi Phổ Đà, cho đến dạo khắp Nam Hoa, tạc tượng Lục Tổ bằng chiên đàn, lại trở về Thạch Thất, rồi lại hành cước nhiều năm. Do thấy Luật học thưa thớt, hoang phế, Sư lên Ngũ Đài ở miền Bắc, thưa hỏi về tâm địa. Sau đấy, mở ra cam lộ giới phẩm, ở các nơi như Ôn Lăng, Cổ Phủ, một mực dùng Tịnh Độ làm chỉ quy. Sư suốt đời chuyên dốc khổ hạnh, tâm tiếp nhận trọn khắp, đối với các bậc Thiền giảng danh tiếng, càng trống ḷng [học hỏi] chẳng gián đoạn. Ấy là v́ Sư yêu chuộng tiếp nhận điều hay của người khác; tuổi càng cao, đức càng khiêm cung. Do vậy, chẳng phẩy bụi, dựng thẳng cán phất trần, mà có thể nâng đỡ Tông, Giáo trong buổi suy vong. Sư thọ tám mươi ba tuổi, pháp lạp năm mươi năm, thế độ chừng ấy người, giới tử chẳng phải chỉ là con số vạn. Minh rằng:

- Bậc tiên triết đă khuất, t́nh người ngày một nhạt, phô trương theo hư huyễn, ai ôm ḷng lo xa? Phật quốc nơi Hải Nam, ch́m đắm thành g̣ hoang. Cạo trọc, chẳng thọ giới. Binh, nô và tù ngục[23]. Bỗng sanh cụ Tiều Vân, làm thuyền trong sông ái, rộng thả bè tiếp độ, độ thoát lũ đang mê. Đi trọn khắp thiên hạ, tập hợp kế thù thắng. Lại nêu ra Thi La, Lạc Bang để hoành siêu, chẳng giống như các phương, chứng rùa, làm ba ba[24]!

 

* Bài minh nơi tháp thờ móng tay, tóc, y bát của Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu đại sư

 

          Chuyên Ngu đại sư thuộc Tử Trúc Lâm tại Kim Lăng tọa thoát vào tháng Sáu giữa mùa Hạ năm Bính Tuất (1646). Môn nhân dùng chum sành đựng toàn thân Ngài, thờ ở mặt Nam nơi núi của [Tử Trúc] Lâm. Năm sau, đệ tử thỉnh [di thể] về Vân Cư. Do vậy, Tăng, tục tại Kim Lăng đem móng tay, tóc, y bát của Ngài lưu lại, dựng tháp cúng dường ở mặt Nam của núi, cậy Húc viết bài minh. Húc hổ thẹn học vấn chưa vững vàng như Sư, lời lẽ chẳng đủ có sức nặng. Nhưng người biết nhau, quư ở chỗ biết tâm. Húc đă lầm mang nhục được kính yêu, đă vượt ngoài lẽ thường t́nh, đâu dám nại cớ học thức kém cỏi để chối từ!

Kính xét theo niên phổ, Sư húy là Quán Hành (觀衡), Chuyên Ngu (顓愚) là tên tự của Ngài. Sư là người Bá Châu, phủ Thuận Thiên, thuộc họ Triệu. Trong bốn anh em, Sư là con thứ. Mẹ mộng thấy Đại Sĩ dẫn bé trai vào cửa, bà vội ôm lấy, tỉnh giấc bèn có nghén. Sư sanh vào giờ Hợi ngày Mười Tám tháng Tám năm Kỷ Măo (1579) đời Vạn Lịch, sanh ra có bọc trắng, h́nh dạng khác với kẻ b́nh phàm. Lúc mười hai tuổi, Sư liền ăn chay, thích thờ phụng Quán Âm Đại Sĩ. Khi mười ba tuổi, Sư thong dong mang chí hướng xuất trần. Lúc mười bốn tuổi, Sư kiên quyết muốn nhập đạo. Cha mẹ không cho phép, bèn lén trốn đi. Trên đường, Sư gặp gỡ thầy Huệ Nhân thuộc chùa Viên Chiếu ở Ngũ Đài Sơn, bèn khẩn cầu thế độ, nương tựa thầy suốt bốn năm. Khi mười tám tuổi, nghe danh của Không Ấn đại sư thuộc Sư Tử Quật núi Thanh Lương, bèn thầm lặng đến tham yết, dốc ḷng thành, chuyên gắng phụng sự, hầu hạ suốt ba năm, thưa hỏi để giải trừ điều nghi trong tâm, ngưỡng học đức tột cùng của thầy, từ đầu đến cuối đều như một ngày.

Lúc hai mươi hai tuổi, theo ngài Không Ấn vào Yên Đô (Bắc Kinh), hầu thầy trong giảng tịch Lăng Nghiêm, thọ Bồ Tát Giới, tham yết Tử Bách đại sư. Sư tự nghĩ “học tập nghĩa học chưa phải là chuyện của bậc đại trượng phu xuất gia”, bèn lẳng lặng đi về phương Nam, tham yết hai vị đại sư là Tuyết Lăng và Vân Thê, trụ một ḿnh nơi ngọn Hoa Đảnh của Thiên Thai, đọc kinh Lăng Nghiêm, phá các lưới nghi. Khi đó, Cao Minh Vô Tận đại sư lên Hoa Đảnh, t́m kiếm dấu vết để lại của ngài Trí Giả, thấy Sư trơ trọi trong lều tranh, thiếu niên tinh tấn, bèn nghỉ lại, tṛ chuyện suốt đêm. Ba năm sau, Sư dời sang trụ tại rặng Càn Cương thuộc Khuông Sơn. Mỗi bữa ăn, hễ nghỉ ngơi bèn tĩnh tọa mấy ngày. Tới năm thứ ba, Sư kinh hành dưới trăng, chợt tỉnh ngộ. Ba mươi tuổi, Sư vào Tào Khê, lễ Lục Tổ. Tháng Tư mùa Hạ năm sau, tham yết Hám Sơn đại sư tại Đoan Châu, vừa gặp đă khế hợp. Giữa Thu, Sư từ tạ rời đi, lên Nam Nhạc, trụ tại ngọn Thạch Lẫm.

Lúc ba mươi ba tuổi, Sư ăn nhầm thảo ô[25], trúng độc gần chết, ĺa núi để chữa trị. Hám Sơn đại sư đặc biệt tới Nam Nhạc, than rằng: “Thiền môn suy vi, may có được một người rưỡi học nhân thật sự v́ sanh tử để cùng qua lại, hơi an ủi nỗi cô quạnh. Nay người ấy mắc bệnh này, phải chăng là trời, rồng chán chường pháp môn ư?” Lúc ba mươi tám tuổi, Sư kết Ngũ Đài Am tại Thiệu Lăng, thân cận Hám Sơn đại sư ở Hồ Đông, tham yết, hầu hạ nửa tháng. Đại sư dùng pháp ngữ chỉ dạy, đại ư: Thân bệnh đă lành, đừng mắc Thiền bệnh. Bởi lẽ, thân bệnh của chúng sanh vốn là do chấp trước, nhưng Thiền bệnh cũng vốn là chấp trước. Nếu pháp chấp chẳng quên, kiến chấp của chính ḿnh vẫn c̣n, đó cũng là bệnh! Cần phải thẳng thừng nhất loạt khạc bỏ công huân chấp giữ đối với tham Thiền và tri kiến huyền diệu trước kia, trọn chớ nên bị chúng dưỡng thành gốc bệnh!

Lời này cực thiết tha, nói thành mấy ngàn chữ, nay quyển sổ tay do Ngài đích thân ghi chép được thờ trong Lâm. V́ thế, biết thầy Chuyên Ngu trước nay khai thị học nhân tùy thuận căn cơ viên măn sống động, chẳng giống các phương khác chấp chết cứng một con mèo chết[26]. Ngài đắc lực nơi Hám Sơn đại sư, đúng là chẳng cạn! Sư từng hỏi Hám Sơn đại sư về cách thọ giới, đại sư đáp: “Lăo hủ chưa duyệt Luật bộ, đối với các giới tướng chưa thật sự hiểu tường tận. Nay chỉ tuân theo kinh Phạm Vơng, lấy pháp môn tâm địa làm tông, dùng mười trọng giới làm trọng tâm. Kế đó, đối với bốn mươi tám giới khinh, vẫn chưa thể nói cặn kẽ, chỉ đành dạy hành nhân cứ mỗi nửa tháng tụng tŕ mà thôi! Học nhân trong thời gần đây, hiểu biết nông cạn, tâm thô thiển, nhiều hư, ít thật, cầu người thật sự có thể chuyên ṛng ǵn giữ như cổ nhân chẳng dễ thấy được! Nhưng người hoằng Luật vốn chẳng phải là học nhân, phần nhiều chuyên chú trọng bịa đặt, khó thể lấy làm chuẩn. Nếu ở chỗ ông có Đại Tạng Kinh, mong hăy kiểm Luật Bộ tường tận để chỉ dạy cho tôi th́ mong lắm thay!”

          Khi ấy, Sư cũng chẳng rảnh để duyệt Luật, chỉ đề cao bốn loại thanh tịnh minh hối (bốn điều dạy sáng suốt thanh tịnh) của kinh Lăng Nghiêm nhằm khai thị hậu học, khiến họ tŕ tâm giới, kiêm dạy họ chuyên lễ Quán Âm Đại Sĩ. Sư có trước tác Viên Thông Sám Pháp được lưu truyền rộng răi nhất. Sư trụ tại Ngũ Đài Am, suốt hai mươi năm, chân không bước ra khỏi cửa. Sư độ đệ tử hơn một ngàn người, người được thọ kư thự danh[27] gần ba vạn người. Tới lúc Sư năm mươi chín tuổi, đặc biệt lên chùa Ngũ Nhũ ở Khuông Sơn quét tháp của Hám Sơn đại sư, kiến lập đạo tràng Báo Ân. Đại chúng trong chùa thỉnh Ngài làm chủ pháp tịch, Sư cố từ tạ chẳng thể. Giữa Thu, Sư rời Khuông Sơn, lên Vân Cư, lễ tổ tháp, đại chúng trong chùa cũng kiên quyết giữ Sư làm chủ pháp tịch. Sáng hôm sau, Sư lặng lẽ rời khỏi, giữa đường đổ bệnh, chẳng thể đi. Tỳ-kheo trong núi qua lại kiền thành cầu thỉnh, Sư lại lên Vân Cư. Tới mùa Thu khi Ngài sáu mươi lăm tuổi, Sư ĺa núi, lên thuyền, núi bèn chấn động. Sư có túc duyên sâu dày với núi ấy! Mùa Đông năm ấy, Sư nghỉ tại thành Bạch Đầu. Tháng Mười mùa Đông năm kế đó, Sư trác tích[28] tại Tử Trúc Lâm. Lâm vốn là khu đất hoang ở phía Bắc thành, Sư trụ tại đó chẳng lâu sau, đă đông đảo thành chốn tùng lâm giảng tịch. Sư phát tâm sâu xa v́ đại sự sanh tử; do đó, đối với cha mẹ, sư trưởng, đều chẳng từ tạ mà đi. Nhưng bản tánh chí hiếu, mỗi dịp gặp ngày giỗ của cha mẹ, sư trưởng, đều lập đạo tràng truy tiến, ắt tột bậc chí thành, dốc cạn ḷng buồn thương, luyến mộ. Người khác nh́n vào, không ai chẳng bị cảm động.

Suốt đời, Sư dung nghi cổ kính, chất phác, chẳng chuộng tô vẽ. Vẻ mặt đầy đặn, đầu phẳng, tai to, râu tóc tua tủa, tóc ngắn phủ vai, ánh mắt loang loáng chiếu rực mọi người. Ngài suốt đêm ngồi nơi chỗ trống, chẳng sợ gió to, hoặc dông tố, vẫn ngồi dưới một cái dù to. V́ thế, người học gọi Ngài là Tán Cư ḥa thượng. Y phục chẳng hề có một tấc lụa. Mỗi ngày chỉ một bữa cháo, bữa cơm, trọn chẳng ăn vặt. Mỗi khi làm lụng, đều siêng gắng hơn kẻ khác. Xử sự th́ trên là từ vương công, đại nhân, dưới là đối đăi với nông dân, kẻ chăn nuôi, lễ tiết chẳng khác, cười nói ôn tồn, từ ái như gió Xuân; nhưng người học hễ thấy Ngài, chẳng ra oai mà đều bị nhiếp phục. Hễ đến nơi đâu, chỉ một đôi giày cỏ bèn đi, đến chẳng thông báo trước, đi chẳng tạ từ trước. Nơi Ngài trụ tích, Tăng, tục tụ tập như mây, cầu giới, hỏi đạo, chưa hề bỏ trống ngày nào! Nhưng Ngài chưa hề tự lập tông phong, chẳng kiến lập môn đ́nh. Bởi lẽ, Ngài đă đắc Giáo của Không Ấn đại sư, đắc Thiền của Hám Sơn đại sư, lại c̣n quy hướng dung hội vào Tịnh Độ của Vân Thê đại sư. Do vậy, pháp ngữ khai thị của Ngài thẳng thừng, nhanh chóng, rộng lớn giống như ngài Tử Bách; Thiền ngữ ứng hợp căn cơ nhẹ nhàng, phương tiện, sống động viên dung giống như Triệu Châu. Hơn nữa, nhăn giới tuy rất cao rộng, khóe miệng chẳng tùy tiện thốt lời khinh bạc, khiêm quang thịnh đức, ḷng rỗng rang ôm ư niệm từ bi, thật sự khiến cho người khác tận mắt thấy đạo nghĩa tồn tại. Ngài trước tác Lăng Nghiêm Kim Cang Tứ Y Giải và Tử Trúc Lâm Toàn Tập lưu hành trong cơi đời. Pháp lạp năm mươi bốn năm, Ngài thọ sáu mươi tám tuổi, lớn hơn Húc hai mươi tuổi, lại c̣n đích thân hầu Hám Sơn đại sư, đúng là bậc tiền bối tôn túc trong pháp môn. Ngài không chỉ rủ ḷng kết bạn vong niên, mà mỗi lần gởi thư hỏi, c̣n nói ngược lại là “nhục giáo mỗ mỗ” (làm nhục thầy phải rủ ḷng dạy dỗ trò điều này, điều nọ). Than ôi! Húc quả thật không chỗ nào dung nỗi hổ thẹn, sợ hăi, chắp tay, rơi lệ, minh rằng:

          - Phật pháp như biển cả, ngầm chảy tưới trăm sông. Người đạt biết mênh mông. Kẻ mê, câu nệ giọt. Ba tông tranh chân vạc. Năm cánh chia đơn truyền[29]. Chẳng có chí siêu phương, ai trừ tội đấu tránh? Sư nương nguyện Phổ Môn, thương trược thế, hành Quyền. Dũng mănh thoát lưới ái, học Giáo, c̣n tu Thiền. Phóng sanh rộng Đàn độ. Nói giới kết duyên sâu. Từ dung ấm ngày Đông. Cơ biện chói trời Hạ. Đức trọng như núi cả, rỗng rang tợ vực sâu. Vết chân trọn hoàn vũ, bản lănh vượt ngôn từ. Nắm tay niệm Đại Sĩ, buông tay ngự sen vàng. Xá-lợi trấn Tổ Quật. Móng, tóc lưu phước điền. Chiếu cuộc đất Thạch Thành, vĩnh viễn trăm ngàn năm!

 

21. Văn tế

* Bài văn đốt hương cúng sư bá Vô Tận

 

          Kẻ chẳng ra ǵ này thoạt đầu đến Thai Lănh, liền được thấy từ huy, chỉ khâm phục đức hạnh ôn ḥa, cung kính, chứ chưa thấy bờ mé nơi biển pháp, cam ḷng noi theo đường lối ám chứng, coi thường nghĩa học. Do [kiến chấp] môn đ́nh mà mê muội đối với chỗ sâu thẳm, tạo tội nơi ư địa chẳng ít! Về sau, xuất nhập Thiền lâm, tận mắt thấy thói tệ trong đương thời, mới biết chẳng do tông Thiên Thai, sẽ chẳng thể uốn nắn sai phạm ấy! Giáo pháp Thiên Thai c̣n th́ Phật pháp c̣n, giáo pháp Thiên Thai mất th́ Phật pháp mất; đúng là chẳng lừa dối chúng ta. V́ thế, tôi đối với lăo bá vẫn c̣n bán tín, bán nghi. Kể từ sau khi kết bạn thâm giao với Trù huynh (thầy Quy Nhất Trù), tôi mới bắt đầu hướng về, nhưng lăo bá đă sanh về ao báu mất rồi, chỉ tăng thêm ḷng đau buồn, ngưỡng mộ suông. Trộm nghe phương cách giáo hóa của Ngài, ôm ḷng hổ thẹn, hối hận, toan tính bù đắp bằng cách nào đây?

Than ôi! Dây đàn của thầy đă dứt bặt âm vang, dă can (chó rừng) tranh nhau gào rống. Kẻ diễn giáo bỏ rượu tinh thuần, giữ lấy bă hèm. Kẻ tham Tông hành cước trước rồi mới t́m ṭi bến bờ! Ai có thể y giáo khởi quán, gột rửa thói kém hèn “kể chuyện ăn, đếm của báu”? Biết đường lối rồi mới hành cước, giải thoát khỏi phận tu mù, luyện đui? Lăo bá quả thật là trụ cột giữa ḍng, là vầng mặt trời rực rỡ giữa trời, thương xót tôi là đứa trẻ người non dạ, chẳng được thấm pháp nhũ khi Ngài c̣n sống, chẳng tu chút cúng dường nhỏ mọn nào sau khi Ngài đă khuất bóng. Kính dùng ba lọn hương đốt trên cánh tay, thấu hiểu sám-ma sâu xa. Ba lọn hương đốt trên cánh tay, [nguyện Ngài] duỗi tay ấn từ xa. Chỉ mong lăo bá chẳng rời Tịch Quang mà hiện giác ngộ trong tam hữu, soi xét nỗi niềm bảo vệ đứa con côi trong pháp môn, ban ân Chỉ Quán cho kẻ sơ tâm. Nếu cơ cảm chẳng sai, ắt sẽ mỉm cười mà nhiếp thọ.

 

* Văn phúng điếu ngài Bất Vong

 

          Tỳ-kheo Trí Húc ở núi Linh Phong, nghe ngài Bất Vong Âm qua đời, kính tụng Phạm Vơng Giới Kinh một quyển, mười quyển phẩm Không trong kinh Kim Quang Minh, và chân ngôn Diệt Định Nghiệp một ngàn lần, lại c̣n viết điếu văn hướng vọng mà truy điệu rằng:

Than ôi! Bậc thánh hiền ngàn đời ắt từ bậc hào kiệt mà ra, nhưng hào kiệt ngàn đời, ắt lấy thánh hiền làm đích. Bỏ chuẩn mực của thánh hiền, đề cao ư khí của hào kiệt, lầm mất rồi! Ngỡ ư khí của hào kiệt là phẩm cách của thánh hiền, càng lầm hơn! Ngài là bậc tự mong thành hào kiệt, tuy bỏ lỡ cơ hội sát cánh với tôi, nhưng tâm can đă chấp thuận tôi, tôi cũng hứa với Ngài mong muốn tiến tới địa vị thánh hiền. Ngài cũng tự hứa trọn chẳng ĺa bỏ hào kiệt. Tới khi hành Pháp Hoa tam-muội, tôi tới yết kiến quan pḥng của Ngài, trò chuyện suốt đêm. Khi đó, tôi được Ngài hâm mộ cũng là do Ngài ưu ái. Ngài thoạt đầu lầm lẫn đối với cách nói viên dung, lầm lạc bảo “thừa cấp mà giới có thể hoăn”, cũng như nhắc nhở Ngài về giấc mộng “cưỡi hạc vượt biển, bỗng găy một cánh”, mới biết “giới cũng phải nên gấp”, “hễ chưa đạt được giới th́ tức là thừa”. Do vậy, tuy hành Sự sám, lư cảnh chẳng tỏ lộ. Huống hồ đă đánh mất phương tiện điều thân thì tiến tu nơi đạo đều mặc t́nh theo ư ḿnh! Chướng nặng tạo từ trước, hối hận, lao chao bức bách sau đó. Bạn lành cách biệt nơi núi khác, sự hiểu biết do nghe pháp chỉ hạn cuộc nơi văn tự. Dùng đó để diệt tội, ngộ tâm, khó lắm thay!

Nhưng điều Ngài chưa thấu triệt là cội nguồn của thừa và giới, điều Ngài chẳng mê là nhân quả xuất thế. Do chưa thấu triệt cội nguồn, cảm bệnh ngặt trong hiện tại mà mất. Do chẳng mê nhân quả, chắc chắn có thể tránh khỏi cái quả dị thục trong tương lai. Tôi buồn đau v́ Ngài, Ngài cũng có thể tự an ủi trong chốn âm thầm. Than ôi! Tu hành trong thời Mạt, nhiều bại, ít thành, Ngài tin chắc chắn oai lực của Pháp Hoa và nguyện luân của A Di Đà Phật, nhanh chóng trừ niềm riêng ái kiến, mau về bến sen vàng. Cho đến khi tôi báo tận, Ngài sẽ x̣e tay tiếp đón, cùng thân cận đấng từ tôn, cùng vâng giữ phạm âm, nh́n lại điện đường chốn Tây Hồ, ở cạnh tượng Tiếp Dẫn, dốc ḷng thành phát lộ, kết minh tận tâm can, có thể nói là nhân quả xen lẫn nhau, lâu bền chẳng quên vậy!

 

* Văn tế điện hai sư huynh Ảnh Cừ và Linh Ẩn

 

          Than ôi! Cơi đời cố nhiên có chuyện yêu mến nhau mà chẳng hiểu biết nhau. Sự yêu mến ấy chẳng phải là yêu mến theo lẽ đạo. Cũng có khi hiểu biết, yêu mến nhau, nhưng chẳng biết mong mỏi, nhắc nhở lẫn nhau. Vậy th́ sự hiểu biết ấy chẳng phải là hiểu biết thật sự. Hai huynh hiểu nhau, yêu mến nhau, mong mỏi, nhắc nhở nhau; hai mươi mấy năm, như h́nh với bóng. Tôi với hai huynh là bạn bè tâm đầu ư hợp chỉ từ mùa Xuân năm Ất Hợi (1635). Nhớ khi đó, chưa hề có ư nghĩ quen biết nhau, nhưng v́ trời đổ mưa dầm, ba người chúng ta ngoài ư muốn giới thiệu với nhau. Do đó, huynh Linh Ẩn làm thơ rằng: “Chỉ thử thập nhật vũ, khuynh dư bán thế hoài” (Mười ngày mưa dầm ấy, khiến tôi nhớ nửa đời).

Ôi! Lạ lùng thay! Mùa Đông năm ấy, tôi mắc bệnh ngặt, hai huynh tận lực chữa trị, chẳng khác anh em, hoặc mẹ con vậy. Cho tới khi tôi trụ tại núi Cửu Tử, sang chơi Bát Mân, hai huynh tưởng nhớ tôi giống như tôi tưởng nhớ hai huynh vậy. Mùa Xuân năm nay, tôi từ Mân Trung nghe huynh Ảnh Cừ khuất núi, đau xé tâm can, niệm Phật mười vạn câu để truy điệu. Vào tháng Năm trong mùa Hè, tôi rời Thiều Thành. Đến tháng Bảy trong mùa Thu, huynh Linh Ẩn đội nắng gắt đến thăm, ân cần đàm luận đại sự xuất thế. Chưa đầy hai tháng, huynh bỗng mang bệnh ngặt, vội viết thư gọi tôi đến, tôi bươn bả sang thăm. Đi chưa được trăm dặm, huynh đă bỏ tôi đi trước!

Than ôi! Tôi tự xét chính ḿnh giải lẫn hạnh đều hoang phế, tỳ vết chẳng phải chỉ một điều, được các huynh lầm tin tưởng, chấp thuận quá mức thường t́nh. Lại c̣n căn dặn, muốn tôi diễn giảng danh nghĩa tựa đề kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Tôi đă vâng mạng, lại niệm Phật mười vạn câu để làm trợ duyên tăng thượng. Than ôi! Đang trong lúc bệnh tật quấn thân mà ư ân cần đối với đại sự sanh tử vẫn y hệt. Như nay tôi chẳng ra tṛ giống ǵ, [trộm nghĩ tôi] giống như phân, đất màu giúp cho lúa tốt th́ chắc là được! Thường nghĩ huynh Ảnh Cừ trầm tĩnh, huynh Linh Ẩn hào sảng, đều kham thiên cổ. C̣n như giới hạnh trong sạch, huệ tánh dĩnh ngộ, sức chánh tín mạnh mẽ, tâm siêng khổ xuất thế, đúng là kham “ngay lập tức siêu Phật, vượt Tổ”, nhưng đại nguyện chưa trọn, chí cứu tế c̣n xa vời, là v́ lẽ nào vậy? Nói chung là do Thân Kiến hơi nặng, lần khân thời gian, chưa thể thường qua lại dạo chơi trên mũi kiếm nhọn sắc, chẳng chịu vươn tay, giơ chân nơi gai góc, ngói, sỏi, đến nỗi Vô Sanh Pháp Nhẫn ắt phải chờ đến lúc hoa nở tại Tịnh Độ mới lănh hội. Nhưng thân hư huyễn này chẳng thể bảo đảm, dẫu cho yêu tiếc, chưa từng bền chắc chút nào! Ôm nỗi oán vào mồ, ai nói chẳng phải là đúng như vậy ư? Hai huynh đúng là chớp mắt thấy thấu suốt, cảnh tỉnh, chẳng c̣n t́nh chấp sót thừa. Khảy ngón tay, hoa sen sẽ nở, chẳng c̣n phải đợi một kiếp, hay nửa kiếp, cho đến sát trần kiếp! Sau đấy, sẽ v́ tôi ngưỡng bạch từ tôn, thường dùng huệ quang chiết phục, thâu nhiếp tâm tôi, hễ tôi huyễn duyên đă tận, sẽ x̣e tay đón rước. Đó là điều tôi mong mỏi sâu đậm nơi hai huynh vậy!

 

* Văn tế trước tháp thờ móng tay, tóc, y bát của Chuyên Ngu đại sư

 

          Than ôi! Người chẳng khó yêu mến nhau, mà khó ở chỗ hiểu nhau. Ngài thật sự hiểu biết tôi! Cơi đời dẫu có một hai người đă yêu mến lại c̣n hiểu nhau, nhưng [hiếm gặp người có cùng] chí hướng, tiết tháo d́u dắt nhau, Húc tuy chẳng dám mơ tưởng đức như non Thái của Ngài, may là ba sự đại lược chẳng trái nghịch: Chuộng chất phác, gạt bỏ văn chương hư huyễn, chẳng chịu cẩu thả chiều theo thói đời. Chú giải kinh luận, tán dương giới luật, chẳng chịu “treo đầu dê, bán mỡ chó” (懸羊頭而賣狗脂, huyền dương đầu nhi mãi cẩu chỉ), cam tâm đạm bạc, chịu cô quạnh, chẳng bị ràng buộc bởi gông cùm nơi tùng lâm, giảng tịch, gạt bỏ trói buộc. Than ôi! Bậc kỳ túc trong pháp môn như Ngài mà Húc được biết, yêu kính, lại c̣n chí hướng, tiết tháo ứng hợp như thế, thỏa ḷng mong tưởng của tôi. Sở chứng của Ngài sâu hay cạn, Húc chẳng thể suy lường, nhưng đối với những chỗ mà tôi ái mộ nhất trong đời Ngài, xin ghi ra đại lược:

Trong các bậc tri thức hiện thời, hiếm có người chẳng bị danh tướng lôi kéo, bị lợi nhử mà dựa dẫm bậc quyền thế, có địa vị. Cổ nhân nói người như Ngài là “biết tự yêu thương chính ḿnh”, cũng chẳng được mấy ai! Trong số các vị tri thức hiện thời, hiếm ai chẳng dùng tài khéo chụp bắt cái hư huyễn, khư khư giữ lấy sự hiểu biết nông cạn, khiến chúng sanh kinh sợ! Chứ b́nh đạm, chân thật, ổn thỏa, thích đáng như Ngài có được mấy ai? Trong số các vị tri thức hiện thời, hiếm có ai chẳng ăn mặc xa xỉ, chiếm cứ nhà cửa hoa lệ, buông lung t́nh ư, chứ áo rách, giày cỏ, lều tranh, thềm đất như Ngài có được mấy ai? Trong số các vị tri thức hiện thời, hiếm có ai chẳng chọn lựa kỹ càng kẻ theo hầu, tiền hô hậu ủng, chứ như Ngài tự làm mọi việc nặng nề, chẳng mong an hưởng, há có được mấy ai? Trong số các vị tri thức hiện thời, hiếm có kẻ nào chẳng ḥa lẫn với thói ô trược, mà cứ tự cho là phương tiện quyền biến, khéo léo, từ bi thuận theo thói tục. Chứ như Ngài chẳng chịu cẩu thả, tham yết các phương, cam chịu tiếng chê cười là kẻ cố chấp, câu nệ”, há có được mấy ai?

V́ thế, hễ nghe đến phong thái của Ngài, kẻ ương bướng bèn biết kiềm chế, chẳng xen lạm, kẻ hèn yếu sẽ tự lập, chẳng nghiêng ngả. Bá Di hẹp ḥi, cho nên thành bậc thánh thanh cao, há có giống như kẻ uổng thước làm tầm, dối trá được một buổi, thân tuy còn, danh đă ch́m đắm trước mất rồi! Húc thường xót xa chánh pháp của Như Lai bị bại hoại bởi phường nghe lỏm, nói ṃ”, hễ nghe lọt vào tai bèn thốt ra miệng. Lại bại hoại bởi lũ người bề ngoài mạnh mẽ mà trong tâm khiếp nhược, cốt dê, da cọp! Cha lo báo cừu, con ắt cướp bóc, càng bắt chước theo, lẽ nào chẳng theo hướng ấy? Móng tay, tóc, y, bát của Ngài may là vẫn c̣n, tức là đạo phong của Ngài chưa diệt, ắt có người nghe thấy sẽ hưng khởi, ngơ hầu cùng ngăn chặn cơn sóng cuồng trong đời Mạt đấy ư?

 

* Văn tế duy-na Tại Dung

 

          Than ôi! Ông theo tôi du hành theo lệnh của Chuyên Ngu đại sư. Thoạt đầu, ông nghe Đại Thừa Chỉ Quán trở về, thầy Chuyên Ngu tra hỏi ý nghĩa chánh yếu, ông có thể đáp đại lược. Do vậy, thầy Chuyên Ngu lại bảo ông lên Tổ Đường, tôi liền phiền ông giúp lo liệu tăng sự. Nhưng điều tôi đánh giá cao ở ông là không chỉ có thể nghe kinh, mà c̣n có thể đảm nhiệm chức sự. Nghe ông và thầy Chuyên Ngu cùng trụ tại Vân Cư, nỗ lực lo liệu mọi việc chẳng tiếc thân mạng. Khi thầy Chuyên Ngu mắc bệnh, tiết trời nóng bức mà ông chẳng cởi đai hơn sáu mươi ngày, dẫu kẻ đại hiếu phụng sự cha mẹ cũng chẳng hơn được! Thầy Chuyên Ngu mất, ông lại dùng chức sự để nghiên cứu giáo lư. Tôi lại bị bệnh nặng, ông hầu hạ chẳng khác phụng sự thầy Chuyên Ngu. Than ôi! Ông do tâm địa như thế, tinh thần như thế, há nên chưa tṛn ba mươi tuổi mà đă qua đời? Chẳng trách ông quyến luyến, chẳng muốn ruổi về Tây!

Tuy vậy, kiến địa của ông chưa lớn, xa. Bọn chúng ta từ vô thỉ tới nay, xả thân, thọ thân, há chỉ bằng số lượng các vi trần trong biển các cơi nước? Nay may mắn gặp gỡ thầy sáng, bạn lành, nghe Tây Phương Tịnh Độ là phương tiện vô thượng viên đốn, hoành siêu thù thắng lạ lùng, chỉ sợ trở về nhà c̣n trễ tràng! [Thế mà] cứ ắt muốn từ trong huyễn thân trăm năm này, thực hiện học vấn, mở tùng lâm, ṭa giảng, nổi danh khắp thiên hạ rồi mới thỏa ḷng, chưa hề nghĩ Tây Phương có đại học vấn, có tùng lâm, giảng ṭa to lớn, nổi danh trọn khắp mười phương ba đời, há có nên v́ muốn nhanh chóng đạt được điều nhỏ nhoi mà gây hại cho điều to lớn ư? Ông đă trọn đời tận tâm thờ thầy, giữ đạo hiếu, cùng với thiện căn từ vô thỉ, mỗi mỗi đều nhiếp thủ hiện tiền, hồi hướng biển đại nguyện của A Di Đà Phật, quyết chí tiến thẳng về thế giới Cực Lạc chẳng c̣n ngờ vực chi nữa! Chẳng lâu sau, huyễn duyên của tôi sẽ tận, rất mong ông sẽ theo tam thánh, dẫn tôi cùng tắm trong ao bảy báu!

 

* Văn tế Liễu Nhân hiền đệ

 

          Than ôi! Liễu Nhân v́ sao đến nỗi này? Ông từ bé đă phát nguyện, rốt cuộc chẳng măn nguyện này ư? Tôi cho rằng ông là ngọc đă thành, ông chẳng kịp gặp lại tôi ư? Than ôi! Tôi vừa mới truy điệu Thập Tử, nhớ đến ông, ông lại khiến tôi phải truy điệu ư? Chao ơi! Kể từ khi ông gặp tôi, đă hai mươi lăm năm rồi. Ông theo tôi du hành mười chín năm. Những sở trường của ông, tôi đều biết trọn. Sở đoản của ông, tôi cũng biết trọn hết. Tôi gấp muốn trừ sở đoản của ông, ông bèn nghi sợ, bỏ tôi mà đi. Tôi ắt muốn thành tựu sở trường của ông, cho nên luôn luôn lễ bái, tŕ tụng, để bảo vệ ông, nhưng rốt cuộc ông chẳng thể tự bảo vệ. Than ôi! Đấy là túc nghiệp đấy chăng? Hay là hiện duyên vậy?

C̣n nhớ lúc ông và Triệt Nhân mới theo hầu tôi, tôi liền rt miệng khuyên hai người làm thầy lẫn nhau: Ông nên làm thầy hướng dẫn Triệt Nhân lập chí, Triệt Nhân nên làm thầy hướng dẫn ông chất phác, chân thật. Sau đấy, Triệt Nhân sở trường Luật học, rốt cuộc do chẳng chất phác, chân thật mà táng thân. Chẳng nói ông hơi hiểu tông Thiên Thai, cũng rốt cuộc do chẳng lập chí mà chết nơi quan pḥng ư? Sức phiền năo mạnh mẽ, đấy là chỗ sở đoản của tôi. Tín tâm, hổ thẹn, là ưu điểm của tôi. Chẳng chấp thuận tông giáo các phương là sở đoản của tôi. Riêng trọn đủ con mắt Tông, Giáo, chẳng chịu tự cho là đủ, hằng ngày nghiên cứu, học hỏi để mỗi ngày đều tiến, đó là sở trường của tôi. Kẻ khéo học bèn học lấy ưu điểm của tôi, bỏ sở đoản. V́ thế, Khổng Tử “kiến hiền tư tề” (thấy người hiền mong được bằng), “kiến bất hiền nhi tự tỉnh” (thấy kẻ chẳng hiền bèn tự phản tỉnh), chọn lựa điều tốt lành để noi theo; sửa đổi điều chẳng lành. Ông bèn chẳng học ḷng hổ thẹn của tôi, chẳng theo tôi nghiên cứu, cầu học, tiến nhập, há đáng gọi là “khéo học” ư?

Than ôi! Ông nửa đường bỏ dở, tội thật sự do tôi, chẳng do ông! Riêng thương xót ông c̣n thơ dại, chí chưa toại. Buồn cho sư thúc của ông khổ tâm thành tựu, chẳng đạt được thành tựu to lớn. Buồn cho ông đối với đại pháp viên đốn vừa mới nhập môn, chẳng thể thăng đường nhập thất. Buồn cho ông mắc bệnh ngặt, mất trong khi bế quan, chẳng biết lâm chung chánh niệm có hiện tiền hay chăng? Buồn thay các ông là những người có thể trở thành rường, cột, lại nối tiếp nhau qua đời, chẳng v́ tôi giữ ǵn một mối. Than ôi! Pháp môn suy vi, chẳng phải là một ngày, chúng sanh chướng nặng cùng cực. Ḷng Từ của đức Phật như vầng mặt trời, nhưng kẻ mù từ lúc lọt ḷng chẳng nh́n thấy. Ḷng Từ của đức Phật như mưa, nhưng chậu úp chẳng dính nước! Ông đă hơi thấy được, mà cũng hơi dính thấm, sao lại bỏ nửa chừng, chẳng gắng công nữa! Tôi v́ ông lễ sám, v́ ông tụng kinh, ông linh thiêng chẳng xa, hăy nên biết ḷng tôi, hoan hỷ lănh thọ, giúp ông sanh về Tây. Ông đă sanh về Tây, hăy v́ tôi bạch Phật, nguyện dùng huệ quang chiếu vào hang tối của tôi, khiến cho tôi khai hiểu, chỉ có điều thiện, không lầm lỗi. Sáng tối mạng tận, sớm về tịnh vực, cùng ông quán bảy báu, tám đức, tự hành sớm viên măn, hóa độ người khác chẳng cùng cực. Hư không có thể tiêu, nguyện luân chẳng dứt. Than ôi, buồn thay! Thượng hưởng!

 

* Văn tế đại pháp sư Tân Y

 

          Than ông! Tông lẫn Thuyết trong cơi đời bị mờ mịt đă lâu rồi! Cổ nhân thấu đạt cội nguồn Tông, Thuyết; do vậy, tuy tách ra mà có thể càng hợp. Người hiện thời thâu tóm những thứ tương tự với Tông, Thuyết, nên dẫu hợp lại mà càng tách ĺa. Chuyện này đáng khóc ṛng, than dài, nào chỉ là ba hoặc bảy thất mà thôi! Húc sanh ra cũng muộn màng, chẳng được thân cận Vân Thê lăo nhân và Thiệu Giác tôn giả, c̣n may mắn được làm bạn vong niên của lăo sư gần ba mươi năm, chẳng khác được thấy hai vị tôn túc Vân Thê và Thiệu Giác. Hiện thời, pháp đạo sai ngoa, mỗi ngày một tệ hơn. Sắc tía loạn màu son, tiếng Trịnh loạn Nhă Nhạc, rất giống như khắc phân người coi là chiên đàn. Chỉ riêng cậy vào lăo sư do tuổi cao, đức rộng ngầm trấn giữ, hoằng pháp, hoằng giới, dùng thân làm khuôn mẫu, lời ăn tiếng nói như kinh. Chính là chẳng cần như Mạnh Kha khéo biện luận, dă can, chồn, cáo giảo hoạt đă tự tan hồn! Nay sao bất hạnh Ngài thị tịch nhanh như thế này?

Năm trước, tôi đă phỏng theo hoa chúc[30], cứ tưởng một hai năm vẫn c̣n được thấy từ nhan, giăi bày tâm sự, mà nay rốt cuộc chẳng thể được nữa, há chẳng đau đớn ư? Lăo sư từ lâu xét thấu nỗi khổ tâm của Húc; v́ thế, phá lệ rủ ḷng giao du với Húc. Nay Ngài lại ngự cao trên đài sen, huệ nhăn mở toang, ắt càng bội phần hiểu nỗi gian khổ của Húc. Cơi đời này mờ mịt, Húc nào dám mong mỏi có người khác làm bạn tri kỷ nữa ư? Lại đọc lời di chúc của lăo sư, mỗi chữ kham làm kim nạo vàng [để trừ khử màng mộng nơi mắt] trong đời Mạt. Các hiền nhân môn đệ nhất định có thể chân thành tuân theo, hoằng dương rộng lớn, tự lợi, lợi lạc người khác, pháp nào cũng đều trọn đủ. Có thể nói việc độ người đă hoàn tất, chẳng c̣n nuối tiếc ǵ nữa! Hiềm rằng pháp nhật đă mất, cả cơi đời đều mù ḷa, há lẽ nào Húc chẳng v́ kẻ hậu học chưa được độ mà dấy ḷng bi cảm ư?

 

22. Tụng

* Một trăm bài ca tụng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (kèm theo lời tựa)  

 

Sát hải nhập vi trần, chẳng phải là “nhất, đa tương tức” (một và nhiều chính là lẫn nhau). Chót lông bày pháp giới, chẳng liên quan lớn, nhỏ dung thông. Chỉ do pháp vốn sẵn là như thế. Do vậy, chẳng dung nghĩ bàn. Chia thành phàm, thánh, so đo cạn, sâu, rất giống như hoa đốm trên hư không kết quả! Quét sạch ngôn ngữ, kiêng kỵ tu chứng, vô duyên cớ cấm thạch nữ[31] sanh con! Thấy sao Mai bèn liễu ngộ, trồng thành hai cái lông mày trên mắt. Phô bày, tuyên dương trọn khắp chúng hội, vẽ thành ngàn màu sắc trên hư không. Nhưng tuy đối với mọi sự trong hiện tiền, t́m một trần chẳng có dấu vết, chẳng phương ngại Thật Tế lư địa, rạng ngời vạn pháp cùng phô bày. Đại ư? Dứt bặt giả danh đối đăi. Phương ư? Diệt mất tướng viên măn hay một phần khác biệt. Quảng là ngằn mé trong một lỗ chân lông. Đẳng là hư không chẳng cùng tận. Phật tức là từ ngay nơi phàm tâm bé nhỏ mà chính là diệu giác chân thường. Hoa là nhân quả đồng thời. Nghiêm chính là Năng, Sở chẳng hai. Do vậy, dù thông hay biệt, đều có thể tuân theo đường lối, có thể tŕ. Mười giới đều tuân theo, ba đời cùng một lối. Một hoàn [hương] mà các hương đều đủ; uống một giọt liền nếm trọn các sông. Thỉnh trọn khắp lồng đèn treo trên cột nơi đường, nghe xong bèn giữ lấy dây leo rườm rà!

 

1) Phẩm thứ nhất: Thế Chủ Diệu Nghiêm

 

Tụng rằng: - Vạn quốc y quan bái miện lưu, ngự diên hương nhiễm tú la cừu. Bất quan Thượng Uyển chi điều mậu. Na tín thương khung vũ lộ châu. Đạp phá ba đào hồn thị thủy. Chức thành lũ tuyến mạn xưng trừu. Mạc hiềm sơn cốc tuyền thanh tiểu, đại hải hà thường trạch tế lưu.

          (Áo mũ muôn bang bái kiến vua, lụa là xiêm áo ngát sân chầu. Chẳng nh́n Thượng Uyển hoa tươi tốt. Nào biết trời xanh sương móc tuôn? Đạp nát sóng trào, toàn nước cả. The, lụa do tơ khéo dệt thành. Chớ ngại suối êm nơi hốc núi, biển thẳm chưa từng chọn các ḍng).

 

2) Phẩm thứ hai: Như Lai Hiện Tướng

 

          Tụng rằng: - Chúng xỉ quang minh biến sát trần. Thập phương vân tập, chủ trung tân. Mi gian, túc hạ, xuất hoàn nhập. Cực quả ưng tri tức chánh nhân. Liên hiện hà tằng ly bổn tế. Thắng âm ninh phục thị tha nhân? Ân cần thính thủ già-đà cú. Bạch cổ ly nô tri tối thân.

          (Răng ngọc quang minh trọn sát trần, mười phương chủ bạn nhóm như mây. Giữa mày tỏa sáng, chân thâu lại. Nên biết cực quả tức chánh nhân. Sen hiện há nào ĺa Bổn Tế? Âm thanh hay diệu lại do ai? Ân cần nghe nhận lời kệ báu. Trâu trắng, mèo đen biết rất thân).

 

3) Phẩm thứ ba: Phổ Hiền Tam Muội

 

          Tụng rằng: - Vận thủy ban sài túc khả ngu. Tàng thân tam-muội a thùy vô? Nghĩ cầu Phật thủ lai ma đảnh. Phiên muội y trung như ư châu. Xích kính biến hàm không giới ảnh. Thốn vân kham sái sát trần khô. Lao tha y chánh đồng tuyên kệ. Hoán xuất thương minh nguyệt ảnh cô.

          (Gánh nước, chở củi đủ sướng vui. Khắp thân tam-muội thiếu ai đâu? Mong cầu tay Phật đến xoa đỉnh. Chéo áo quên luôn Như Ý châu. Gương bé trọn soi hư không giới. Tấc mây tưới đẫm sát trần khô. Nhọc công y chánh cùng tuyên kệ. Kêu gọi trời xanh lẻ bóng trăng).

         

4) Phẩm thứ tư: Thế Giới Thành Tựu

 

Tụng rằng: - Đại giác không sanh hải nhất âu. Nhất âu niêm khởi hải toàn thâu. Hưu tương thập sự vi tha sự, nhận khước hồ tu thất khước đầu.

(Đại giác hư không sanh bọt nước, một bọt thâu tṛn cả biển khơi. Đừng coi mười sự là chi khác, cứ nhận râu ria, quên mất đầu).

 

5) Phẩm thứ năm: Hoa Tạng Thế Giới

 

          Tụng rằng: - Tỵ khổng hạ thùy, nhăn t́nh hoành bố. Mao khiếu linh lung. B́ phu liên phụ. Địa chủng vô thù. Sâm la thảo thụ. Sư tử toàn oai. Hề phân tượng, thố? Dục tri Hoa Tạng trang nghiêm. Bất ly sát-na an trụ. Nghĩ hướng tâm ngoại mịch huyền. Muội khước giới nhĩ tánh cụ.

          (Lỗ mũi rủ xuống, tṛng mắt đặt ngang. Lỗ chân lông lóng lánh. Da dẻ nối liền nhau. Địa chủng chẳng sai biệt. Cỏ lẫn cây um tùm. Sư tử trọn oai thế. Nào phân chia thỏ, voi? Muốn biết Hoa Tạng trang nghiêm, chẳng ĺa sát-na an trụ. Toan t́m huyền diệu ngoài tâm, mê mất cái tâm tánh trọn).

 

6) Phẩm thứ sáu: Tỳ Lô Giá Na

 

          Tụng rằng: - Diêm Phù bổn thị luân vương địa. Kỷ độ chinh tru thỉ định cương. Tằng thính hồ già[32] nguyệt hạ khúc, bất tu hạc lệ[33] diệc bi thương.

          (Diêm Phù vốn đất của luân vương, mấy phen chinh phạt vững biên cương. Dưới trăng nghe sáo Hồ văng vẳng, chẳng cần tiếng hạc cũng bi thương).

 

7) Phẩm thứ bảy: Như Lai danh hiệu

 

          Tụng rằng: - Thập thiên danh hiệu nhậm tha hô. Na cá nam nhi bất trượng phu? Tá vấn nhi kim thuyết pháp giả, Văn Thù hoàn hữu kỷ Văn Thù?

(Mười ngàn danh hiệu mặc người kêu, có gă trai nào chẳng trượng phu? Thử hỏi những ai đang thuyết pháp, Văn Thù c̣n có mấy Văn Thù?)

 

8) Phẩm thứ tám: Tứ Thánh Đế

 

Tụng rằng: - Dược bệnh tương liên đầu tự đa. Nhất phiên đề khởi, nhất phiên ngoa. Vô sanh, vô lượng quy vô tác. Đại hải tùng lai cụ chúng ba.

(Thuốc, bệnh liên quan lắm mối manh. Một phen nhắc tới, một phen lầm. Vô sanh, vô lượng quy vô tác. Biển cả trước nay sẵn sóng ṃi).

 

9) Phẩm thứ chín: Quang Minh Giác

 

Tụng rằng: - Cố viên tiêu tức đoạn đa thu. Mộng khỏa tầm tư lệ vị thâu. Kinh trập nhất thanh đề điểu loạn. Bất kham lăm kính bội sanh sầu.

          (Tin quê vắng bặt đă nhiều năm. Trong mơ tưởng nhớ, lệ khôn cầm. Sấm Xuân vừa động, chim kêu loạn. Nh́n gương chẳng nỡ, lại thêm sầu).

 

10) Phẩm thứ mười: Bồ Tát Vấn Minh

 

Tụng rằng: - Bạch tuyết dương xuân ḥa giả hy, đệ huynh thả tự hiệp huân tŕ. Hoa Châu thê tử tam niên khốc, dẫn đắc Tề nhân tận trứu my.

(Tuyết trắng chớm Xuân thật hiếm hoi. Anh em ḥa tấu khúc huân tŕ[34]. Hoa Châu thê tử ba năm khóc, dẫn kẻ đất Tề thảy nhíu mi).

 

11) Phẩm thứ mười một: Tịnh Hạnh

 

          Tụng rằng: - Bổng đả thạch nhân đầu, lăo ông nhập tràng ốc. Liên nhi tước phạn vị vi xú. Thượng đại nhân thư khuyến thục độc. Nhất triêu độc đáo khả tri lễ, cẩm tú văn chương sung măn phúc.

          (Gậy phang đầu người đá, ông cụ vào trường học. Thương con mớm cơm chưa hề gớm, dâng sách đại nhân khuyên đọc nhuần. Mai kia đọc hiểu, thông hiểu lễ. Văn chương gấm hoa đầy ắp ḷng).

 

12) Phẩm thứ mười hai: Hiền Thủ

 

          Tụng rằng: - Nhận ảnh mê đầu lịch kiếp hành. Cuồng tâm hiết xử, tỵ phân minh. Thần châu niêm xuất tùy quân dụng. Y bất tàm hề, thực bất canh.

          (Lầm bóng, mê đầu, bao kiếp đi. Cuồng tâm vừa dứt, mũi rành rành. Thần châu nêu tỏ tùy người dụng. Áo chẳng nuôi tằm, chẳng cấy cày).

 

13) Phẩm thứ mười ba: Thăng Tu Di Sơn Đảnh

 

          Tụng rằng: - B́nh địa phong ba tẩm sát nhân. Mạn truyền bất động hựu cao thăng. Phật thân sung măn vô lai khứ. Kim tiết hưu giao trước nhăn t́nh.

          (Đất bằng sóng gió giết phăng người. Tục truyền bất động lại cao thăng. Phật thân đầy ắp không đi, đến. Mảy vàng thôi chớ cộm con ngươi).

 

14) Phẩm thứ mười bốn: Tu Di Đảnh Thượng Kệ Tán

         

          Tụng rằng: - Thành quần tác đội lộng tinh hồn. Phá tận gia tư, diệt tận môn. Xướng đắc lư liên liên lư khúc, đại gia phù khởi cựu sa bồn.

          (Kết đoàn lập đội bỡn tinh hồn. Phá sạch gia tài, diệt sạch môn. Xướng khúc ê a liên tục hát. Cùng nâng cát cũ chứa đầy bồn).

 

15) Phẩm thứ mười lăm: Thập Trụ

 

          Tụng rằng: - Cù Đàm nhất chỉ bất khẳng xuyết. Ương Quật Ma La truy bất hiết. Hốt nhiên phóng hạ thủ trung đao, thất khước nương sanh nhất đầu phát.

          (Cù Đàm một ngón chẳng chịu khuyết, Ương Quật Ma La đuổi chẳng ngừng. Đao nắm trong tay bỗng buông xuống, mất sạch đầu tóc do mẹ sanh).

 

16) Phẩm thứ mười sáu: Phạm Hạnh

 

Tụng rằng: - Đả phá nhất dũng tố nhất dũng. Điên tiên thử thoại phi lung đồng. Bà Dương đại chiến định Giang Nam. Thánh hoàng dă lại tam quân dũng.

          (Đập vỡ một thùng, tạo một thùng. Lời của tiên điên chẳng luông tuồng. Bà Dương đại chiến[35], Giang Nam vững. Vua thánh cũng cậy quân anh hùng).

 

17) Phẩm thứ mười bảy: Sơ Phát Tâm Công Đức

 

Tụng rằng: - Tam tế mịch tâm bất khả đắc, nghĩ tùng hà xứ phát Bồ Đề? Đông phong nhất dạ truyền Xuân tín, hoa măn viên lâm, tuyền măn khê.

          (Ba đời t́m tâm chẳng thể được. Toan từ chốn nào phát Bồ Đề? Đêm Đông gió lộng, báo Xuân tới. Hoa đầy vườn rừng, suối tràn trề).

 

18) Phẩm thứ mười tám: Minh Pháp

 

Tụng rằng: - Tử hiếu, phụ tâm khoan. Thần hiền, quân vị an. Sáng nghiệp cố bất dị. Thủ thành vưu tự nan. Xa luân điểu dực dụ. Minh nguyệt chiếu nhân hàn.

(Con hiếu, cha an ḷng. Tôi hiền, ngôi vua vững. Lập nghiệp bền, chẳng dễ. Ǵn giữ càng khó hơn. Bánh xe như đôi cánh, trăng sáng soi lạnh người).

 

19) Phẩm thứ mười chín: Thăng Dạ Ma Thiên Cung

 

          Tụng rằng: - Thiên danh Thời Phần, địa như vân. Khổng tước, nga vương hóa cửu văn. Đặc địa nhậm công cánh thùy điếu. Khiên phiên hải để lăng phân vân.

          (Trời tên Thời Phần[36], đất như mây. Nghe công, ngỗng chúa hóa lâu rồi. Buông cần để mặc ông chờ đợi. Lật nhào đáy biển, sóng tầng tầng).

 

20) Phẩm thứ hai mươi: Dạ Ma Cung Trung Kệ Tán

 

          Tụng rằng: - Luật lữ cung thương vô biệt điều, đô du hỷ khởi thánh minh thời, Nghiêu thiên, Thuấn nhật đồng khâm đới. Khước thán Sào, Do tổng bất tri.

          (Luật lữ cung thương[37] không điệu khác, đều cùng vui hưởng thánh minh thời. Ngày Nghiêu, tháng Thuấn cùng vâng giữ, than thở Sào, Do[38] trọn chẳng hay).

 

21) Phẩm thứ hai mươi mốt: Thập Hạnh

 

          Tụng rằng: - Vạn hủy trang nghiêm công đức lâm. Điểu đề, hoa lạc, ảnh sâm sâm. Dạ hành bất hứa minh tu đáo. Tài xuất môn lai, thảo dĩ thâm.

          (Cây cỏ trang nghiêm rừng công đức. Chim kêu, hoa rụng, bóng xen dày. Đi đêm không chắc trời sáng tới. Vừa ra khỏi cửa, cỏ rậm dày).

 

22) Phẩm thứ hai mươi hai: Thập Vô Tận Tạng

 

          Tụng rằng: - Khắc gia tu thị phá gia nhi. Tát bát hoàng kim tự lạn nê. Ngạ sát Đặng Thông do mạng bạc. Thiên triêu vũ lộ bổn vô tư.

          (Tan nhà là bởi con phá của. Quăng vứt vàng ṛng tựa bùn nhơ. Đặng Thông[39] chết đói do mạng bạc. Trời tuôn mưa móc vốn vô tư).

 

23) Phẩm thứ hai mươi ba: Thăng Đâu Suất Thiên Cung

 

Tụng rằng: - Mại tận phong lưu bất trước tiền. Đào hoa như diễm, liễu như yên. Sanh ca họa phảng hàm minh nguyệt. Kiến thuyết kim niên tự cựu niên.

(Mua sạch phong lưu chẳng tốn tiền. Hoa đào như lửa, liễu mờ sương. Đàn ca, thuyền vẽ, trăng vằng vặc. Năm nay bèn nói hệt năm xưa).

 

24) Phẩm thứ hai mươi bốn: Đâu Suất Cung Trung Kệ Tán

 

Tụng rằng: - Gia xú hà lao hướng ngoại dương. Vị tằng tác tặc tiện chiêu tàng. Biên thành đa thiểu ly gia khách. Điêu đẩu[40] sơ minh chuyển đoạn trường.

(Chuyện xấu trong nhà chớ rêu rao. Chưa từng làm giặc, lại oa trữ. Thành bên nhiều ít ĺa nhà khách. Điêu đẩu vừa khua nẫu ruột gan).

 

25) Phẩm thứ hai mươi lăm: Thập Hồi Hướng

 

Tụng rằng: - Thủy măn trường đinh, hà măn thiên. Thôn trung xứ xứ khởi hàn yên. Canh ngưu tự giải tầm quy lộ, bất dụng sơn đồng nỗ lực khiên.

(Nước ngập ruộng đồng, ráng[41] đầy trời. Trong thôn chốn chốn khói mây buông. Trâu cày tự tháo, t́m nẻo lại. Chẳng bận mục đồng gắng sức lôi).

Lại tụng rằng: - Huyền lương thích cổ sủy ma thành. Thuyết đắc Yên vương dữ Triệu minh. Hà tự đương niên Xích Đế tử. Nhập quan tiên dĩ phược Tần Anh.

(Treo rường, đâm vế[42], nghiền ngẫm thành. Nói chuyện vua Yên, Triệu kết minh[43]. Nào khác như con vua Xích Đế[44], vào ải Tần Anh[45] trói trước tiên).

 

26) Phẩm thứ hai mươi sáu: Thập Địa

 

          Tụng rằng: - Khôn nghi hậu trọng, đức vô cương. Năng tải, năng sanh, trực thả phương. Khán thủ tứ vi phi dị tánh, bất phương thập nhạc các xưng vương. Linh lợi nạp, tế tư lương. Vi trần sát độ âu trung ảnh. Mạc phụ mi gian hào tướng quang.

          (Đất nên dày nặng, đức khôn ngằn. Chuyên chở, sanh thành, lại thẳng vuông. Xem thấy tứ vi không tánh khác. Chẳng phiền mười núi thảy xưng vương. Tăng lanh lợi, suy lường kỹ. Vi trần cơi hiện trong bọt nước, đừng phụ quang minh nơi bạch hào).

 

27) Phẩm thứ hai mươi bảy: Thập Định

 

          Tụng rằng: - Hữu xuất, hữu nhập, phi chánh định. Thí vấn sát-na hữu hà tánh? Giả nhiêu mịch kiến Phổ Hiền thân. Y cựu trùng thiêm Phổ Nhăn bệnh. Quân bất kiến: Nữ tử già phu Phật tọa biên. Văn Thù không bả thần thông chấn. Khí chư ấm cái hạ phương lai. Bát vu đoan đích nguyên vô bính.

          (Có xuất, có nhập, chẳng chánh định. Thử hỏi sát-na có tánh ǵ? Giả sử t́m thấy thân Phổ Hiền, như cũ tăng thêm bệnh Phổ Nhăn. Ông chẳng thấy: Cô gái xếp bằng bên ṭa Phật, Văn Thù chấn động uổng thần thông. Bỏ các ấm cái mới đến được. Bát vốn chẳng hề có cán đâu!)

 

28) Phẩm thứ hai mươi tám: Thập Thông

 

          Tụng rằng: - Cơ lai khiết phạn, khổn lai miên. Bất dụng an bài tín tự nhiên. Tiêu tận kỷ đa gian nhật nguyệt. Chỉ lưu thu thủy dữ trường thiên.

          (Đói th́ ăn uống, mệt th́ ngủ. Chẳng phải an bài, cứ tự nhiên. Ngày tháng bao phen tiêu sạch hết, chỉ c̣n nước chảy với trời xanh).

 

 29) Phẩm thứ hai mươi chín: Thập Nhẫn

 

          Tụng rằng: - Lập trùy vô địa tịnh vô trùy. Ẩm thống, thôn thanh chỉ tự tri. Hốt giải bạch niêm nhàn hoạt kế. Chung triêu tụ thủ hướng dư ty.

          (Không đất cắm dùi, dùi chẳng có. Uống đau, nghẹn tiếng, tự ḿnh hay. Bỗng hiểu rành rành mưu kế sống, suốt ngày rũ áo, có tiền thừa).

 

30) Phẩm ba mươi: A Tăng Kỳ

 

           Tụng rằng: - Giới nhĩ tâm vương tuyệt số lượng. Tăng-kỳ số lượng chuyển phân minh. Vi trần pháp giới toàn thành hoại. Ngũ nhăn như hà toán đắc thanh?

          (Tâm vương bé tí bặt số lượng. Số lượng Tăng-kỳ chuyển phân minh. Vi trần pháp giới đều thành hoại. Ngũ nhăn tính toán sao cho rành?)

 

31) Phẩm ba mươi mốt: Thọ Lượng

 

Tụng rằng: - Hoàng lương nhất mộng quá danh quan. Cá sự phân minh mê ngộ gian. Dục hướng Thắng Liên phân trú dạ. Thả tùng Cực Lạc vấn hồi hoàn.

(Giấc mộng kê vàng vượt ải danh. Mọi sự phân minh chỉ ngộ, mê. Thắng Liên[46] muốn tách đêm ngày khác, hăy từ Cực Lạc tính quay về).

Lại tụng rằng: - Tiêu minh my thượng đa nham cốc. Kết Đông độ Hạ cư kham bốc. Nhậm bằng kiếp hỏa đỗng nhiên thiêu. Thử địa thanh lương hữu dư duyên.

(Tiêu minh[47] nơi mày nhiều hang hốc. Kết Đông, độ Hạ, chuyên bói toán. Bỗng dưng kiếp hỏa thiêu rụi hết, cơi này trong mát vẫn thừa duyên).

 

32) Phẩm thứ ba mươi hai: Chư Bồ Tát Trụ Xứ

 

          Tụng rằng: - Sắc sắc trần trần tận đạo tràng. Hà lao oan nhục biệt thành sang. Trám tha vô số si nam nữ, Đông tẩu Tây tŕ muội cố hương.

          (Mỗi sắc, mỗi trần, đạo tràng cả! Tội ǵ khoét thịt tạo vết thương? Vô số kẻ si t́m lẽ khác, Đông Tây rảo chạy quên quê nhà).

 

33) Phẩm thứ ba mươi ba: Phật Bất Tư Nghị Pháp

 

Tụng rằng: - Nhất niệm duyên khởi vô sanh, cửu giới không hoa bại hoại. Đa niên khô mộc lạn đằng. Quán hội thành tinh tác quái. Chánh hứa nghĩ nghị tư lương. Bất hứa chiêm quy măi quái.

(Nhất niệm duyên khởi vô sanh, chín giới hoa đốm hư nát. Gỗ khô lâu, hư nát dây leo, quen thói thành tinh tác quái. Được phép toan tính, suy lường, chẳng được bói toán, xủ quẻ).

 

34) Phẩm thứ ba mươi bốn: Như Lai Thập Thân Tướng Hải

 

Tụng rằng: - Phật thuyết phi thân thị đại thân. Bách hoa chi thượng lộ toàn Xuân. Si nhân do kế cửu thập thất. Độc thắng tầm thường tứ bát luân.

(Phật nói chẳng thân là thân to, trăm cành hoa lộ cả mùa Xuân. Kẻ si vẫn chấp chín mươi bảy[48], riêng trội tầm thường băm hai luân).

 

35) Phẩm thứ ba mươi lăm: Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Đức

 

Tụng rằng: - Thiên bức luân quang viên măn vương. Ngục trung Bồ Tát tỵ ngang tàng. Tam trùng thập địa tuy viên đốn. Độn trí nhân gian phóng dật lang.

          (Luân vương ngàn căm, vua viên măn, Bồ Tát trong ngục vẫn ngang tàng. Ba tầng thập địa tuy viên đốn, vùi dập nhân gian kẻ buông lung).

 

36) Phẩm thứ ba mươi sáu: Phổ Hiền Hạnh

 

          Tụng rằng: - Nhất niệm vô sân tức Phổ Hiền. Thuyết thời dung dị, dụng thời nan. Thế gian đa thiểu lộng trào khách. Bất giải xanh thuyền thiển thủy than.

          (Một niệm chẳng sân tức Phổ Hiền. Nói th́ dễ ợt, hành không dễ. Thế gian bao kẻ đang đùa cợt, chẳng biết chống thuyền nơi băi nông).

 

37) Phẩm thứ ba mươi bảy: Như Lai Xuất Hiện

 

Tụng rằng: - Biến giới bổn vô tàng tích địa. Gia thân vô cố thường vi túy. My gian hào tướng bả tinh linh. Khẩu lư quang minh tác lỵ mị. Phân minh mại lộng ốc trung kim. Đới lụy nhi tôn hướng ngoại thứ. Giả nhiêu nhập đắc thủ trung lai. Minh triêu bất thị kim triêu sự.

(Khắp cơi không nơi giấu vết tích, người thân vô cớ thường khuấy đảo. Hào tướng giữa mày chọc tinh linh. Quang minh nơi miệng làm ma quái. Rành rành bán sạch vàng trong nhà, nhọc công con cháu ra ngoài kiếm. Nếu như nắm chặt được trong tay, ngày mai chẳng phải chuyện hôm nay).

 

38) Phẩm thứ ba mươi tám: Ly thế gian

 

Tụng rằng: - Hoa chi tùy xứ đoản trường. Xuân sắc nguyên vô cao hạ. Xúc trước nhất khổng hào mao. Nhạ đắc thông thân hại phạ. Túng nhiên b́nh tả vân hưng. Chung nan thuyết tận giả thoại. Liên hoa bổn tự thủy sanh. Bất dụng miêu không tác họa.

(Cành hoa tùy chốn dài hay ngắn, xuân sắc vốn nào có thấp, cao? Chạm phải lỗ chân lông bé tí. Khiến cho toàn thân phải sợ run. Dẫu cho nghiêng b́nh trút mây đùn. Trọn khó nói hết lời đăi bôi. Hoa sen vốn tự sanh từ nước. Chẳng nhọc vẽ vời lên hư không).

 

39) Phẩm thứ ba mươi chín: Nhập Pháp Giới

 

Tụng rằng: - Sư tử tần thân tam-muội. Tùng lai hà tằng phú cái. Tọa tại thủy trung khát tử. Chỉ nhân úy nịch vi hại. Tự tùng nhận đắc lang quân. Cánh bất duyên đồ khất cái. Thố tử giác thượng phiên thân. Ô quy mao lư tác hội. Bằng tha thủy tận sơn cùng. Thốn bộ bất cư môn ngoại.

(Sư tử tần thân tam-muội. Trước nay chưa hề phủ che. Ngồi trong nước mà đành chết khát. Chỉ v́ sợ chết đuối mắc hại. Kể từ khi nhận biết được chàng, chẳng lê gót ăn mày bên đường. Trên sừng, con thỏ xoay ḿnh. Lông rùa đen sanh ḷng hiểu biết. Dẫu cho nước cạn non cùng, chẳng ra khỏi cửa nửa bước).

 

40) Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm

 

          Tụng rằng: - Thập đại nguyện vương. Đạo quy Cực Lạc. Mạt hậu lao quan. Ḥa bàn trực thác. Nghĩ nghị trù trừ. Thiên thác vạn thác. Thuyết tánh đàm tâm. Vô thằng tự phược. Thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang. Phương tri thử ngữ phi hy hước. Kư ngữ tham huyền học ngữ lưu. Hưu tương hướng thượng gian xuyên tạc.

          (Mười đại nguyện vương, dẫn về Cực Lạc. Ải kiên cố cuối cùng, được thẳng thừng bày giăi. Trù từ toan tính, ngàn lỗi vạn lầm. Nói tánh bàn tâm, không dây tự buộc. Đích thân thấy Như Lai Vô Lượng Quang, mới biết lời này chẳng đùa bỡn. Gởi lời tham cứu nơi huyền học. Thôi đừng dùi mài lẽ hướng thượng).

 

41) Văn Thù Bồ Tát trong rừng Sa La thuộc đạo tràng Trang Nghiêm ở phía Đông Phước Thành

 

Tụng rằng: - Chúng sanh trụ địa vô minh. Chư Phật căn bản thật trí. Tùng lai đản nhất nguyệt chân. Vân hà hữu thị, phi thị? Kư phát Vô Thượng Bồ Đề, khởi cánh mê danh thất nghĩa. Lịch tận yên thủy bách thành, thốn bộ bất tằng tương ly.

(Chúng sanh trụ địa vô minh, chư Phật căn bản Thật Trí. Trước nay chỉ một vầng trăng thật, há nào c̣n có đúng hay sai? Đă phát tâm Bồ Đề vô thượng, há c̣n mê danh mất nghĩa ư? Trải trọn trăm thành khói nước, nửa bước chưa hề tách ĺa).

 

42) Pháp môn Ức Niệm Nhất Thiết Chư Phật Cảnh Giới Trí Huệ Quang Minh Phổ Kiến (nghĩ nhớ cảnh giới trí huệ quang minh thấy trọn khắp của hết thảy chư Phật) của tỳ-kheo Đức Vân trên núi Diệu Phong nước Thắng Lạc

 

          Tụng rằng: - Diễn Nhă Đạt Đa cuồng thỉ định, thập phương quốc độ minh như kính. Kính trung hiện xuất vô số đầu. Nhất thanh hoán trước thanh thanh ứng.

          (Diễn Nhă Đạt Đa cuồng mới định, mười phương cơi nước sáng như gương. Trong gương, vô số đầu cùng hiện. Một tiếng kêu to, muôn tiếng vang).

 

43) Pháp môn Phổ Nhăn của tỳ-kheo Hải Vân nước Hải Ngạn

 

          Tụng rằng: - Đại hải cảnh giới tùy tư niệm, dũng xuất Như Lai quang xán lạn. Nhất cú nan tương hải mặc thư. Lưu dữ vô văn tác châm biếm.

          (Cảnh giới biển cả theo suy niệm, trào vọt Như Lai quang chói ḷa. Một câu biển mực khó ghi trọn, giữ lại châm biếm kẻ chẳng nghe).

 

44) Pháp môn giải thoát Phổ Tốc Tật Cúng Dường Chư Phật Thành Tựu Chúng Sanh (nhanh chóng cúng dường trọn khắp chư Phật, thành tựu chúng sanh) của tỳ-kheo Thiện Trụ thuộc xóm Hải Ngạn bên đường Lăng Già

 

          Tụng rằng: - Đại địa bổn lai vô thốn thổ. Không trung hành trụ vị vi nan. Kỷ đa bi trí trang nghiêm sự. Nhất chẩm Nam Kha mộng dục tàn.

          (Đại địa vốn không một tấc đất. Đi, đứng trên không há khó chi? Trang nghiêm bi trí bao nhiêu chuyện. Một giấc Nam Kha mộng sắp tàn).  

 

45) Pháp môn Diệu Âm Đà-la-ni Quang Minh của Di Già thuộc thành Tự Tại nước Đạt Lư Tỵ Trà

 

          Tụng rằng: - Đao tác luân vương thân dận, tọa thọ công cô mô huấn. Truyền lai luân tự trang nghiêm, ban hướng cửu châu bách quận.

          (Tham làm thân quyến của luân vương, ngồi nghe bố mẹ răn khuôn phép. Luân tự truyền lại để trang nghiêm, ban tặng chín châu và trăm quận).

 

46) Pháp môn Như Lai Vô Ngại Trang Nghiêm Giải Thoát của trưởng giả Giải Thoát trong xóm Trụ Lâm

 

Tụng rằng: - Vô biên Phật sát trang nghiêm. Thanh tịnh thân trung hiển hiện. Bi hoan ly hợp măn tràng. Cứu cánh giai tùng nhất tuyến. Thuyết phá chỉ thị tự tâm. Miễn sử biệt cầu thần biến.

          (Vô biên cơi Phật trang nghiêm, hiển hiện nơi thân thanh tịnh. Buồn vui, ĺa hợp, đầy ắp chốn. Rốt ráo đều từ một mạch thôi. Nói toạc chỉ là tự tâm, đừng cầu thần biến chi khác).

 

47) Phổ Nhăn Xả Đắc tam-muội của tỳ-kheo Hải Tràng nơi nước Ma Lợi Già La ở ŕa Diêm Phù Đề

 

Tụng rằng: - Thù h́nh dị trạng. Biến thể xuất sanh, lục nguyệt lục nhật, bá lộng tinh linh. Hoán tác Bát Nhă, anh nhi táng minh.

(H́nh trạng khác lạ, sanh ra khắp thể, sáu tháng, sáu ngày, chi phối tinh linh. Gọi vang Bát Nhă, trẻ thơ bị mù).

 

48) Môn Ly Ưu An Ổn Tràng Giải Thoát của ưu-bà-di Hưu Xả nơi vườn Phổ Trang Nghiêm xứ Hải Triều

 

          Tụng rằng: - Kiến văn đồng trụ bất đường quyên. Hấp tận Tây Giang vị túc truyền. Hướng nhược thán dương tàm quán tẩu. Thiết Vi sơn ngoại hữu hương tuyền.

          (Thấy, nghe cùng trụ chẳng phí uổng. Hút sạch Tây Giang chẳng đủ truyền. Nh́n biển than dài, quán tẩu[49] thẹn. Thiết Vi ngoài núi, suối đầy hương).

 

49) Môn Vô Thắng Tràng Giải Thoát của tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa nước Na La Tố

         

Tụng rằng: - Ma đảnh chấp thủ, Đông bôn Tây tẩu. Trát đắc nhăn lai. Thiên trường địa cửu. Lạc hoa hồng xứ tượng vương hồi. Phương thảo lục thời sư tử hống.

(Xoa đầu, nắm tay, Đông Tây rảo chạy, chỉ trong chớp mắt, trời đất dài lâu. Chỗ hoa rụng thắm, voi chúa ngoái. Khi cỏ thơm xanh, sư tử gầm).

 

50) Môn Vô Tận Luân Giải Thoát của Bà-la-môn Thắng Nhiệt xóm Y Sa Na

 

          Tụng rằng: - Đao sơn hỏa tụ túc thanh an. Chỉ thị toàn thân đầu nhập nan. Biền đắc nhất điều cùng tnh mạng. Độc lâu khổng lư dạ quang hàn.

          (Non đao, đống lửa, mát an vui. Gieo cả thân vào vẫn khó khăn. Gộp vào cùng tận toàn thân mạng, lân tinh lóe lạnh lỗ đầu lâu).

 

51) Môn Bát Nhă Ba La Mật Phổ Trang Nghiêm của đồng nữ Từ Hạnh thành Sư Tử Phấn Tấn

 

Tụng rằng: - Thanh tịnh Pháp Thân. Tường bích, ngơa lịch. Chủng chủng dị môn, hà mạc, hà thích? Dục tri bách vạn đà la ni. Hảo hướng trang nghiêm cung điện mịch.

(Pháp Thân thanh tịnh. Vách tường, ngói, sỏi. Đủ loại môn khác, nào thân, nào sơ? Muốn biết trăm vạn đà-la-ni, khéo hướng cung điện trang nghiêm t́m kiếm).

 

52) Môn Tùy Thuận Đăng Giải Thoát của tỳ-kheo Thiện Kiến nước Tam Nhăn

         

Tụng rằng: - Phong ḥa, nhật noăn, ngư tầm nhị. Dương liễu, đào hoa giáp ngạn tân. Đa thiểu Trường An mỹ công tử, biên biên cừu mă tích phương xuân.

          (Gió êm, ngày ấm, cá t́m mồi. Dương liễu, hoa đào xen rực bờ. Trường An bao nhiêu trai trẻ đẹp, áo lông, xe ngựa rập rờn, tiếc nuối tiết Xuân thơm).

 

53) Pháp môn Nhất Thiết Công Xảo Đại Thần Thông Trí Quang Minh (môn hết thảy trí quang minh thần thông to lớn khéo léo) của đồng tử Tự Tại Chủ nơi bến sông nước Danh Văn

 

          Tụng rằng: - Đồng tử vô liêu, tụ sa vi hư. Toán lai, toán khứ. Hữu danh vô nghĩa. Âu diệt không vô. Thị nhất, thị nhị. Tuy nhiên nhẫm ma cử dương, bất miễn nhăn trung thiêm thích.

          (Bé trai nhàn rỗi, gom cát để chơi. Đếm đi, đếm lại, hữu danh vô nghĩa. Bọt tan rỗng không. Là một, là hai. Dẫu cho nêu tỏ sao đi nữa, chẳng khỏi thêm gai vào mắt thôi).

 

54) Môn Vô Tận Phước Đức Tạng Giải Thoát của ưu-bà-di Cụ Túc thuộc Hải Trụ đại thành

 

Tụng rằng: - Nhất khí kỷ hà, thập giới cúng phổ. Thôn thời trướng sát nhân thiên. Phún thời ngạ sát Phật, Tổ. Vấn thủ đồng nữ thập thiên, tất cánh tác hà khứ thủ.

(Một bát lớn cỡ nào? Cúng trọn mười pháp giới! Khi nuốt, ph́nh chết trời người. Khi nhả, đói chết Phật, Tổ. Hỏi lấy đồng nữ mười ngàn[50], rốt cuộc giữ lấy thế nào?)

 

55) Môn Tùy Ư Xuất Sanh Phước Đức Tạng Giải Thoát của cư sĩ Minh Trí thuộc thành Đại Hưng

 

          Tụng rằng: - Ngưỡng thị hư không. Sở tu tất hạ. Phân minh các tự đới lai. Hà cố hướng tha thù tạ? Thức phá giả điểm cơ quan. Tiện giải phùng duyên bất tá.

(Ngước nh́n hư không, đồ cần dùng ắt rơi xuống. Rành rành đưa tới từng phần. Cớ ǵ cảm tạ kẻ khác? Kẻ thấu suốt bật chốt cơ quan, liền hiểu gặp duyên chẳng mượn).

 

56) Môn Vô Lượng Phước Đức Bảo Tạng Giải Thoát của trưởng giả Pháp Bảo Kế thuộc đại thành Sư Tử Cung

 

Tụng rằng: - Tấu nhạc thiêu hương hồi hướng nhân. Thập trùng lâu các báo phân minh. Khả liên ca vũ tràng trung khách. Hoang khước lương điền bất khẳng canh.

(Tấu nhạc, đốt hương, nhân hồi hướng. Mười tầng lầu gác, báo phân minh. Đáng thương kẻ ở nơi ca múa. Ruộng tốt bỏ hoang, chẳng chịu cày).

 

57) Pháp môn Linh Nhất Thiết Chúng Sanh Phổ Kiến Chư Phật Hoan Hỷ (khiến cho hết thảy chúng sanh thấy trọn khắp chư Phật hoan hỷ) của trưởng giả Phổ Nhăn thành Phổ Môn nước Đằng Căn

 

Tụng rằng: - Tri bệnh thức dược, tương thác tựu thác, ḥa hợp chư hương. Vô tác vi tác. Chỉ khủng thành đông lăo mẫu lai, bất dụng hứa đa nhàn lạc sách.

(Biết bệnh, biết thuốc. Đem lầm đáp lỗi, ḥa hợp các hương, vô tác thành hữu tác. Chỉ sợ bà cụ thành đông[51] đến, chẳng dùng nhiều thứ rườm rà).

 

58) Môn Như Huyễn Giải Thoát của vua Vô Yếm Túc thành Đa La Tràng

 

          Tụng rằng: - Tùng cổ hộ sanh tu thị sát, trực giao sát tận thỉ an cư. Từ bi, sân khuể, lưỡng thiệt ngữ. Mộ tứ triêu tam phủ quần thư.

          (Từ cổ, hộ sanh cần phải giết. Sao cho giết sạch mới an cư. Từ bi, sân khuể, lời đâm thọc. Sáng ba, chiều bốn, an lũ khỉ).

 

59) Đại Từ Tràng Hạnh của vua Đại Quang thành Diệu Quang

 

          Tụng rằng: - Tăng mẫu chỉ đông, Tăng Sâm my túc. Phi nhân thiên tánh tương quan, chỉ vi nhất ban b́ nhục. Tài thiệp nghĩ nghị tư lượng. Bất thí Đại Đường, Thiên Trúc.

          (Tăng mẫu đau ngón tay, Tăng Sâm sẽ nhăn mày. Chẳng do thiên tánh liên quan, chỉ là một bề da thịt. Vừa toan nghĩ ngợi, suy lường, nào khác Đại Đường, Thiên Trúc).

 

60) Cầu Nhất Thiết Pháp Vô Yếm Túc tam-muội (tam-muội cầu hết thảy các pháp không chán đủ) tam-muội của Ưu-bà-di Bất Động tại vương đô An Trụ

 

Tụng rằng: - Đường vũ quang minh phổ diệu. Vụ biến thâm sơn văn báo. Tự tại b́nh đẳng tổng tŕ. Bất ly âm thanh tiếu mạo. Tham quán Phật sát đạo tràng, khước bị phù vân lung trạo.

(Điện đường quang minh chói khắp. Sương biến núi sâu thành beo vằn. Tự tại b́nh đẳng tổng tŕ, chẳng ĺa âm thanh, vẻ cười. Quán sát đạo tràng cơi Phật, đều bị phù vân bao phủ).

 

61) Chí Nhất Thiết Xứ Bồ Tát Hạnh (Bồ Tát hạnh đến trọn khắp mọi nơi) của ngoại đạo Biến Hành thành Vô Lượng Đô Tát La

 

Tụng rằng: - Tiểu nhi đề khốc chỉ nhân cơ, niêm đắc mạn đầu đương mễ tư. Nhất băo tự nhiên vô bệnh thống, bất lao tha xứ biệt tầm y.

(Trẻ con gào khóc chỉ v́ đói, bánh nếp dùng thay cho mạn đầu. Hễ no, tự nhiên chẳng đau bệnh. Chẳng nhọc chốn khác t́m thầy thuốc).

 

62) Cách điều chế hương của trưởng giả Ưu Bát La Hoa nước Quảng Đại

 

          Tụng rằng: - Trưởng giả như hà quán dục hương, bất tri thùy xứ đắc chân phương. Thiên nhai hải giác đa tri kỷ. Mạc thán cô linh lạc dị hương.

          (Trưởng giả v́ sao quen chế hương? Chốn nào mà có được chân phương[52]? Góc biển ven trời nhiều tri kỷ. Đừng than cô quạnh chốn quê người).

 

63) Đại Bi Tràng Hạnh của thuyền sư Bà Thi La nơi đại thành Lâu Các

 

          Tụng rằng: - Bạo hổ phùng hà[53] ngô bất dữ! Trường niên đà thủ tối tri cơ. Ba Tư đáo ngạn nhân phong tiện. Tất đắc minh châu măn tải quy.

          (Đấu cọp, lướt sông, ta chẳng quản, bao năm lèo lái vững vàng thay. Ba Tư đến bến do thuận gió, ắt được minh châu chở khẳm về).

 

64) Pháp môn Chí Nhất Thiết Xứ Tu Bồ Tát Hạnh Thanh Tịnh của trưởng giả Vô Thượng Thắng thành Khả Lạc

 

          Tụng rằng: - Vô y, vô tác sính thần thông, thùy tín hương phong xứ xứ đồng. Mại tận chuyết thời lưu hạ xảo. Lô hoa y cựu túc ngư ông.

          (Vô y, vô tác, lộ thần thông, gió thơm khắp chốn vốn tương đồng. Mua hết vụng rồi, để khéo lại, ông chài như cũ ẩn hoa lau).

 

65) Thành Tựu Nhất Thiết Trí Giải Thoát của tỳ-kheo-ni Sư Tử Tần Thân thành Ca Lăng Ca Lâm nước Thâu Na

 

Tụng rằng: - Nhất hữu đa chủng, nhị vô lưỡng ban, chúng hội bất trách, viên lâm bất khoan. Y chánh nhiễu toàn vô lượng táp. Minh tinh sơ dũng dạ canh lan.

(Một có nhiều thứ, hai chẳng tách đôi. Chúng hội chẳng hẹp, vườn rừng chẳng to. Y chánh nhiễu quanh vô lượng lượt. Sao Mai vừa lố, đêm liền tan).

 

66) Ly Tham Dục Tế Giải Thoát của cô Bà Tu Mật Đa thành Bảo Trang Nghiêm nước Hiểm Nạn  

 

          Chiên đàn thụ hạ túc ngoan xà. Liên hoa tŕ bạn phong sung tắc. Tằng hướng Tung sơn xă lư lai. Thỉ tri điệt pháp tùng tha đắc.

          (Dưới cội chiên đàn, rắn độc cuộn. Bên ao sen thắm, ong bu đầy. Từng đến dự trong Tung Sơn xă, mới biết cách té do người khác).

 

67) Bất Bát Niết Bàn Tế Giải Thoát của cư sĩ Bệ Sắt Chỉ La thành Thiện Độ

 

          Tụng rằng: - Nhất ṭa chiên đàn Phật tháp. Tín thủ tùy thân khai hạp. Kiến đắc tam thế phân minh. Dă thị không hoa tạp đạp. Minh triêu tiện thị tân niên. Kim dạ thả xưng tàn lạp!

          (Một ṭa tháp Phật gỗ chiên đàn, tiện tay đóng mở cửa tháp. Trông thấy ba đời phân minh, vẫn là hoa đốm đạp loạn. Sáng mai vừa đúng tân niên. Đêm nay vẫn kêu cuối Chạp).

 

68) Đại Bi Hạnh Giải Thoát Môn của Quán Tự Tại Bồ Tát núi Bổ Đát Lạc Ca

 

          Tụng rằng: - Dao kiến liên mang xướng thiện lai. Dă tri niên lăo tích anh hài. Đăi tha lập đức dương danh nhật, thỉ tín nhi kim măn diện hôi.

          (Vừa thấy vội vàng xướng “thiện lai”. Cũng hay già cả tiếc anh hài. Đợi ngày lập đức vang danh tiếng, mới hiểu tro đang lấm mặt rồi).

 

69) Phổ Môn Tốc Tật Hành Giải Thoát của Đông phương Chánh Thú Bồ Tát

 

          Tụng rằng: - Tằng văn trước ngoa thủy thượng lập. Mă đáo Trường An ngoa vị thấp. Tẩu biến hư không tận vị lai, Phổ Hiền mao lư cao tương ấp.

          (Từng nghe mang hia đứng trên nước. Ngựa đến Trường An, hia chưa ướt. Đi khắp hư không đến vị lai, vái nhau trong sợi lông Phổ Hiền).

 

70) Vân Vơng Giải Thoát của Đại Thiên Thần thành Đọa La Bát Để

 

          Tụng rằng: - Trường thư tứ thủ thủ hải thủy, tẩy diện vô đoan mô trước chủy, tá bà sam tử bái bà niên, cô nhi bổn thị Triệu gia tử.

          (Duỗi dài bốn tay vốc nước biển, rửa mặt bỗng dưng sờ đúng miệng. Mượn áo của bà chúc thọ bà, cô nhi vốn là con họ Triệu).

 

71) Pháp môn Bất Khả Hoại Trí Huệ Tạng của địa thần An Trụ Chủ tại Bồ Đề Đạo Tràng

 

Tụng rằng: - Bảo tạng tương tùy túc thiện căn. Lao tha chỉ thị ngữ ôn ôn. Phân minh phước địa sanh linh chủng. Kỷ cá nam nhi giải báo ân?

(Kho báu theo người: Thiện căn cũ. Nhọc ai chỉ bảo nói lao xao. Rành rành đất phước sanh linh chủng, mấy kẻ nam nhi hiểu báo ân?)

 

72) Phá Nhất Thiết Chúng Sanh Si Ám Pháp Quang Minh Giải Thoát của chủ dạ thần Bà San Bà Diễn Để thành Ca Tỳ La

 

Tụng rằng: - Nhật một Tây thùy, điểu túc lâm. Măn thiên tinh đẩu ánh giang sầm. Ngư ông luân tuyến thùy tương tận. Điếu đắc kim lân đại kỷ tầm.

(Trời ngả bóng chiều, chim về rừng. Đầy trời sao chiếu rực bên sông. Ngư ông thả sạch dây câu cá, câu được cá vàng to cỡ nào?)

 

73) Tịch Tĩnh Thiền Định Lạc Phổ Du Bộ Giải Thoát của chủ dạ thần Phổ Đức Tịnh Quang trong Bồ Đề Đạo Tràng

 

          Tụng rằng: - Cổ kính ma lai triệt thể minh. Sơn hà quốc thổ bỉnh nhiên tŕnh. Bất nhân tẩu biến thiên nhai lộ, khởi tín cư gia cước để khinh.

          (Gương cổ mài rồi, toàn thể sáng. Núi sông, cơi đất hiện rành rành. Chẳng do rảo gót khắp thiên hạ, há tin ở nhà gót nhẹ tênh).

 

74) Đại Thế Lực Phổ Hỷ Tràng Giải Thoát của chủ dạ thần Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh ở bên phải Bồ Đề Đạo Tràng

 

Tụng rằng: - Vị đáo tửu gia hương thập lư. Khai tôn chuyển giác túy huân huân. Bất tri tích nhật canh vân khổ, tiện nghĩ vô tiền xa kỷ cân.

          (Chưa đến quán rượu, hương mười dặm. Nâng chén liền say lúy túy luôn. Chẳng biết xưa kia cày cuốc khổ, chỉ nghĩ không tiền mua mấy cân).

 

75) Môn Phổ Hiện Nhất Thiết Thế Gian Điều Phục Chúng Sanh Giải Thoát của chủ dạ thần Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức

 

Tụng rằng: - Mănh hỏa hà năng thiêu đắc mộc? Mộc trung xuất hỏa tự năng thiêu. Mi gian quang chiếu quân khán thủ. Hỏa chủng truyền lai thị kỷ triêu?

(Lửa mạnh cớ sao thiêu cháy gỗ? Lửa từ gỗ bốc tự thiêu ngay. Hăy nh́n giữa mày đang tỏa sáng. Hỏa chủng truyền ra được mấy hôm?)

 

76) Môn Niệm Niệm Xuất Sanh Quảng Đại Hỷ Trang Nghiêm Giải Thoát của chủ dạ thần Tịch Tĩnh Âm Hải

 

          Tụng rằng: - Thụ căn y địa, quả y không. Bồi đắc căn thâm, quả thật phong. Ba Lợi Chất Đa nhân bất tín, chư thiên nhật dạ ấp hương phong.

          (Rễ cây nương đất, quả nương không. Rễ được vun sâu, quả trái oằn. Ba Lợi Chất Đa[54] người chẳng tín, chư thiên sáng tối ủ hương phong).

 

77) Thậm Thâm Tự Tại Diệu Âm Giải Thoát của chủ dạ thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng Oai Lực   

 

Tụng rằng: - Hồng chung tùy khấu tiện tùy minh. Thanh tánh hà quan tứ tánh sanh? Đỗ khẩu dă tri phi đắc dĩ. Bất kham trùng cử tự quần manh.

(Hồng chung vừa gơ, tiếng liền ngân. Thanh tánh chẳng do tứ tánh sanh. Bịt miệng cũng hay bất đắc dĩ, chẳng kham nhắc lại tợ quần manh).

 

78) Bồ Tát Xuất Sanh Quảng Đại Hỷ Quang Minh Giải Thoát của chủ dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thụ Hoa

 

Tụng rằng: - Hiền kỳ hiền, nhi thân kỳ thân. Lạc kỳ lạc, nhi lợi kỳ lợi. Thừa lưu tuyên hóa bất vi thời, tiện thị tuần lương phương chánh sứ.

(Hiền với người hiền, thân người thân. Vui cùng nỗi vui, lợi điều lợi. Thừa dịp giáo hóa chẳng trái thời, chính là tuân theo cách tốt lành).

 

79) Giáo Hóa Chúng Sanh Linh Sanh Thiện Căn Giải Thoát của chủ dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh

 

Tụng rằng: - Ma ni hiện sắc nguyên phi sắc. Nhật ảnh vô lai thị khứ lai. Mộng lư đọa hà tuy thị vọng. Nhất phiên đề khởi diệc thiêm ai.

(Ma ni hiện sắc vốn phi sắc[55], bóng nhật chẳng trôi, hiện đến đi. Trong mộng lọt sông tuy là vọng. Một phen nhắc tới, cũng thêm buồn).

 

80) Môn giải thoát Bồ Tát trong vô lượng kiếp thị hiện thọ sanh tự tại trọn hết thảy các chốn của thần Diệu Đức nơi vườn Lam Tỳ Ni

 

          Tụng rằng: - Thập chủng thọ sanh tạng. Tích niên hành hóa trướng. Thảo thời một phân văn. Toán thời hữu đa dạng. Trực giao trừ tận toán bàn châu. Thập xích nguyên lai thị nhất trượng.

          (Mười thứ thọ sanh tạng, năm xưa tính sổ sách, kết toán chẳng một xu. Lúc tính có nhiều thứ. Khiến cho trừ sạch hạt bàn tính. Mười thước vốn là một trượng thôi).

 

81) Quán Sát Bồ Tát Tam Muội Hải Giải Thoát của Thích Nữ Cù Ba thành Ca Tỳ La

         

Tụng rằng: - Trần kiếp truy tùy phi ngẫu nhiên. Nhiễm nhân duyên thị tịnh nhân duyên. Uyên ương trướng lư điều cầm sắt. Hoán tỉnh hàn nha thụ thượng miên.

          (Trần kiếp theo đuổi chẳng ngẫu nhiên, nhiễm nhân duyên là tịnh nhân duyên. Trong trướng uyên ương, ḥa cầm sắt, gọi tỉnh trên cành quạ ngủ mê).

 

82) Môn Đại Nguyện Trí Huyễn Giải Thoát của Phật Mẫu Ma Da

 

Tụng rằng: - Vô sanh vô bất sanh. Huyễn pháp nguyên phi pháp. Phúc đồng thế giới khoan. Thân tự phù vân yểu, điều ngự thiên nhân sư. Thâu lai tố nhất hạp. Nghĩ tương phổ nhăn quán. Xích ế sanh mi tiệp.

          (Vô sanh, vô bất sanh, huyễn pháp vốn phi pháp. Bụng rộng như thế giới, thân tợ áng mây mờ. Điều ngự thiên nhân sư, thâu trọn vào một hộp[56]. Toan dùng phổ nhăn nh́n, mống đỏ sanh mí mắt).

 

83) Vô Ngại Niệm Thanh Tịnh Trang Nghiêm Giải Thoát của cô Thiên Chủ Quang con gái Chánh Niệm Thiên Vương

 

Tụng rằng: - Quá khứ vô biên sự, hà lao cánh ức tri. Chỉ nhân sanh xứ thục, thục xứ cánh nan di.

(Quá khứ vô biên chuyện, sao nhọc ḷng nghĩ biết? Chỉ do chỗ sống chín, chỗ chín càng khó dời).

 

84) Đồng tử sư Biến Hữu thành Ca Tỳ La

 

Tụng rằng: - Mậu vi nhân sư, thi vị khoáng chức, vấn tha pháp môn, thôi hướng tử tức. Nhược bất khám phá, nhất tiền bất trị!

(Lầm làm thầy người, chiếm chỗ, bỏ chức, hỏi pháp môn khác, đẩy sang con cháu. Nếu chẳng khám phá, chẳng đáng một đồng).

 

85) Bồ Tát Tự Trí của đồng tử Thiện Tri Chúng Nghệ

 

Tụng rằng: - Thiên lại, địa lại, hưu giao thác hội, nhập đắc môn lai, bất phương tại ngoại.

(Sáo trời, kèn đất, thôi đừng hiểu lầm, vào được trong cửa, chẳng ngại ở ngoài).

 

86) Vô Y Xứ Đạo Tràng Giải Thoát của Ưu-bà-di Hiền Thắng tại thành Bà Huyên Na

         

          Tụng rằng: - Hữu tận, vô tận, vô y, hữu y, đạo tràng tam-muội, vân sử hoa phi.

          (Hữu tận, vô tận, vô y, hữu y, đạo tràng tam-muội, mây trôi, hoa bay).

 

87) Vô Trước Niệm Thanh Tịnh Trang Nghiêm Giải Thoát của trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát thành Ốc Điền

 

Tụng rằng: - Kư danh vô trước, hà cánh cần cầu? Nhược ngôn nhất xuyến, chung thành lưỡng đầu.

(Đă gọi “chẳng vướng”, sao lại siêng cầu? Nếu nói một chuỗi, trọn thành hai đầu).

 

88) Tịnh Trí Quang Minh Giải Thoát của trưởng giả Diệu Nguyệt

 

          Tụng rằng: - Trạch hữu quang minh, hề xưng tịnh trí, tuy bất thuyết minh, tảo tương độn trí.

          (Nhà có quang minh, sao gọi tịnh trí? Tuy chẳng nói rơ, đă sớm bỏ xó).

 

89) Vô Tận Tướng Giải Thoát của trưởng giả Vô Thắng Quân thành Xuất Sanh

 

          Tụng rằng: - Kiến vô lượng Phật, đắc vô lượng tạng, vấn thủ Thiện Tài, thị tướng, phi tướng?

          (Thấy vô lượng Phật, đắc vô lượng tạng, hỏi han Thiện Tài: Tướng hay phi tướng?)

 

90) Thành Nguyện Ngữ Giải Thoát của bà-la-môn Tối Tịch Tĩnh tại xóm Pháp

 

Tụng rằng: - Yết đế yết đế, trừ minh quyết ế, túc chỉ huyết can, bào thai lạc địa.

          (Yết đế, yết đế. Trừ tối, bóc màng, ngón chân khô máu, bào thai rớt đất).

 

91) Huyễn Trụ Giải Thoát của đồng tử Đức Sanh và đồng nữ Hữu Đức tại thành Diệu Ư Hoa Môn

 

          Tụng rằng: - Hải ngoại thanh sơn vân ngoại nghê. Thể trung quyền thật mạn phân chi. Đồng điều sanh, bất đồng điều tử. Cánh vấn Long Hoa điều ngự sư.

          (Non xanh ngoài biển, mống mây trùm. Quyền, Thật nơi Thể há tách ĺa. Cùng một nhành sanh, chẳng cùng chết. Lại hỏi Long Hoa điều ngự sư).   

          Lại tụng rằng: - Quả giác nhân tâm sự bất thù, đinh ninh chung thỉ ư vô dư. Tằng vi lăng tử phương liên khách, bất thị Ba Tư mạc hiến châu.

          (Quả giác, nhân tâm sự khác ǵ. Đinh ninh đầu cuối ư không thừa. Từng là lăng tử đáng thương xót, chẳng phải Ba Tư, chẳng hiến châu).

 

92) Nhập Tam Thế Nhất Thiết Cảnh Giới Bất Vong Niệm Trí Trang Nghiêm Tạng Giải Thoát (môn giải thoát trang nghiêm tạng vào trong hết thảy cảnh giới ba đời mà chẳng quên mất ư niệm) của Di Lặc Bồ Tát nơi Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng Lâu Các trong vườn Đại Trang Nghiêm nước Hải Ngạn

 

          Tụng rằng: - Càn Thát Bà thành kính lư tŕnh. Vô biên sắc tượng bội phân minh. Khứ lai đàn chỉ gian gia cụ, vị miết đồ lao trừng nhăn t́nh.

          (Trong gương đă hiện Thát Bà thành, vô biên sắc tượng rơ muôn phần. Đến, đi vốn sẵn nơi tay khảy, chẳng tốn công lao liếc mắt nh́n).

 

93) Nơi thành Tô Ma Na nước Phổ Môn, Văn Thù Sư Lợi duỗi tay phải xoa đỉnh đầu [Thiện Tài] từ xa

 

Tụng rằng: - Nhược lai dĩ, cánh bất lai. Nhược kiến dĩ, cánh bất kiến. Hốt nhiên mô trước tỵ đầu. Đoan đích cao cao tại diện.

(Nếu đă đến, sẽ chẳng đến. Nếu đă thấy, sẽ chẳng thấy. Bỗng dưng ṃ trúng sống mũi. Rành rành cao cao nơi mặt).

          Lại tụng rằng: - Thân kinh bách chiến định phong cương. Biến giới thành b́nh phản cố hương. Mă thượng kỷ đa kinh hiểm sự. Bất kham thuyết hướng Dạ Lang vương.

          (Thân qua trăm trận, vững biên cương. Khắp cơi thanh b́nh, về cố hương. Trên ngựa trải bao niềm kinh hiểm, chẳng kham nói với Dạ Lang vương).

 

94) Phổ Hiền Bồ Tát ở trước ṭa Như Lai

 

          Tụng rằng: - Sát sát trần trần tánh bổn dung. Phi quan tác ư hiển thần thông. A thùy thân thượng vô mao khổng, nhẫn sử già b́nh[57] cục thái không.

          (Mỗi cơi, mỗi trần tánh dung thông, chẳng do tác ư hiển thần thông. Lỗ lông thân thể ai không có. Hư không há chỉ ở trong b́nh?)

 

95) Thiện Tài Bồ Tát một đời viên măn

 

Tụng rằng: - Lịch đại tương truyền cựu tổ cơ. Phân minh trĩ tiểu bị tha khi. Kinh thành phủ huyện đô tằng tố. Thổ địa thành hoàng đáo xứ kỳ. Chung tụng tổng chi phi đắc dĩ. Doanh lai na biệt hữu tiện nghi. Sầu nhân mạc dữ vô sầu thuyết. Thuyết dữ vô sầu tổng bất tri.

          (Đời sẵn tương truyền nề nếp tổ, rơ ràng non trẻ bị người lừa. Kinh thành, phủ huyện đều thưa kiện, khắp chốn van cầu các thần kỳ. Rốt cuộc kiện thưa không kết quả. Dẫu thắng há được tiện nghi ǵ? Người sầu đừng kể kẻ không sầu. Kể kẻ không sầu, họ biết chi?)

 

96) Tụng chung toàn bộ [bản kinh]

 

          Độc biến thần nông Bản Thảo thư. Căn hành hoa quả biện vô dư. Thải lai kiện kiện đô kham dụng. Khán khứ ban ban tổng bất thù. Tất tử chỉ ưng tật thượng húy. Khả sanh chung lại dược tương phù. Đại hoàng năng bổ, sâm năng tả. Mạc hiệu dung y thủ nhất ngung.

          (Đọc trọn Bản Thảo của Thần Nông. Rễ, thân, hoa, quả hiểu trọn xong. Lấy bất cứ ǵ đều dùng được, tùy thuộc mỗi thứ khác biệt nhau. Ắt chết chỉ do thuốc kỵ bệnh, hồi sanh do thuốc giúp nhau thôi. Đại hoàng để bổ, sâm để tả[58]. Đừng như thầy thuốc dốt khư khư).

 

* Ba mươi mốt bài tụng về hai mươi lăm pháp Viên Thông trong kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm (và lời tựa)

 

          Nhất Chân quên h́nh bóng đối đăi, bảy hoa tám nứt[59] găy Chiên Đàn. Chư thánh đánh mất lỗ mũi, muôn ngàn sai biệt quy vào Bột Hải[60], chánh lệnh hoàn toàn được đề ra. Dẫu cho song gỗ nơi lều tranh, há dung chuột, sẻ xuyên qua? Một đường nối liền, dẫu ngươi ở trong điện Hàm Nguyên, thứ dân cũng có thể qua lại! Do vậy nói: Hễ đạt được th́ trâu đen, ḅ trắng động đất kinh trời, hễ mất (chẳng thấu hiểu) th́ chư Phật Như Lai nhíu mày, nheo mắt. Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tam-muội, hai mươi lăm pháp Viên Thông từng tiếng trống bôi thuốc độc, chôn vùi hết sạch đại mạng căn của Căn Trần Thức. Mỗi pháp đều là đề hồ, rưới tỉnh huyết mạch đạo Không, Giả, Trung. Có thể nói toàn thân là bệnh, toàn thân là thuốc. Chỗ này có huyệt bèn châm kim. Dẫu cho bệnh lậm cao hoang, khó tránh diệu thủ của Kỳ Bà. Nặn bánh thành viên, có thể khiến trẻ đói thôi khóc. Luyện tô thành rượu, có thể kham chữa cố tật ngặt nghèo. Lại thấy ngựa gỗ hư gió, đừng nói “trâu đất vào biển”. Chạm vào chỗ đau, bản thân có khổ, bản thân biết. Đào được của báu, mọi người có phước, mọi người hưởng. Do vậy, đối với mỗi pháp Viên Thông, đều có một bài tụng để làm bóng roi cho người lợi căn[61] vậy.

 

1) Kiều Trần Na do âm thanh của Phật mà ngộ hiểu Tứ Đế

 

          Tụng rằng: - Lộc Uyển sơ trần môn ngoại xa. Chư thiên, ngạ quỷ biện hà sa. Đông phong nhất dạ truyền Xuân tín, khai tận hoàng mai lănh thượng hoa.

          (Lộc Uyển mới bày xe ngoài cửa. Chư thiên, ngạ quỷ luận hà sa. Đêm Đông gió thổi báo Xuân tới. Sườn non nở trọn khắp mai vàng).

 

2) Ưu Ba Ni Sa Đà ngộ tánh của các sắc do từ bất tịnh

 

Tụng rằng: - Khổi lỗi đăng tràng bố Yển Sư. Sở vương nhất nộ thể phân ly. Mục thành tùng thử vô tiêu tức. Tọa thính hàn lâm đề tử quy.

          (Con rối lên đài, Yển Sư[62] hăi. Bị vua nổi giận, thể chia ĺa. Mắt nh́n từ đó không tin tức, ngồi lặng nghe rừng vẳng cuốc kêu).

 

3) Đồng tử Hương Nghiêm do quán hương mà ư chấp tiêu trừ

 

          Tụng rằng: - Ấu phụ sơ trang ỷ thúy lâu. Tân lang hiểu khởi thượng hàm tu. Vô đoan triệu tác chinh Liêu tướng. Hướng nguyệt hồ già khởi mộ sầu.

          (Vợ trẻ điểm trang dựa lầu thúy, sáng dậy chàng rể vẫn thẹn thùng, bỗng bị sai làm tướng đánh Liêu. Nghe sáo, ngắm trăng, chiều sầu buông).

 

4) Dược Vương, Dược Thượng do nếm vị mà giác ngộ

 

Tụng rằng: - Thường biến Sa Bà dược vạn thiên, cá trung hà vị khả diên niên? Thần Nông nha xỉ đô linh lạc, báo đạo tỳ sương tối trị tiền.

          (Nếm trọn Sa Bà ngàn vạn thuốc, tăng thọ vị nào có thể dùng? Thần Nông răng lợi đều rơi rụng, bèn bảo tỳ sương rất đáng tiền).

 

 5) Bạt Đà Bà La bỗng ngộ cái nhân của nước

 

          Tụng rằng: - Bác phá hư không huyết tịnh lưu. Thạch nhân phủ chưởng bích sơn đầu. Xuân quang phủ kiến hoa thành thị. Nhất diệp ngô đồng dĩ đáo Thu.

          (Bóc toạc hư không, máu chảy lan. Người đá vỗ tay đầu núi biếc. Cảnh Xuân vừa thấy, như tranh vẽ. Một lá ngô đồng đă đến Thu).

 

6) Ma Ha Ca Diếp chỉ dùng không tịch để tu diệt tận

 

          Tụng rằng: - Lục trần biến hoại nhăn bồi hoa. Không tịch đồ truyền nguyệt lư tha. Vi tiếu chí kim tang chứng tại. Thái b́nh thiên hạ sự như ma.

          (Sáu trần hư nát, mắt thêm ḷa. Thuyền trăng vắng lặng, c̣n truyền măi. Cười mỉm ẩn tàng niềm chứng ngộ. Thái b́nh thiên hạ, sự như gai).

 

7) Lạc Kiến Chiếu Minh tam-muội của ngài A Na Luật Đà

 

Tụng rằng: - Thất mục phiên thành hữu kiến, chiếu minh hề tự duyên trần. Thước phá đại thiên thế giới. Hoát khai vô lậu chân tinh. Tâm nhăn câu quải bích thượng. Đào hoa, mai hoa tiếu nhân.

(Mù mắt đâm ra thành có thấy, chiếu minh nào giống với duyên trần. Phá rỗng đại thiên thế giới, mở toang vô lậu chân tinh. Tâm, mắt đều treo trên tường vách. Hoa đào, hoa mai cười với người).

 

8) Châu Lợi Bàn Đặc Già điều ḥa hơi thở ra vào, đạt được đại vô ngại

 

          Tụng rằng: - Thiên địa do như thác thược, bất tu nhất cú già-đà, sanh trụ dị diệt vô tánh, b́nh trầm Phật quốc sơn hà. Tự tùng đả thất tỵ khổng, tranh thuyết An Na Bát Na.

          (Đất trời ví như ống bễ, chẳng cần một câu kệ đâu! Sanh, trụ, dị, diệt vô tánh. Lặng trầm Phật quốc, sơn hà. Lỗ mũi kể từ khi đánh mất. Sổ Tức tranh nhau biện bác suông).

 

9) Kiều Phạm Bát Đề, pháp môn nhất vị tâm địa thanh tịnh.

 

          Tụng rằng: - Hữu thời, đề hồ, độc dược. Hữu thời, độc vị cam lồ. Chỉ nhân lộng xảo thành chuyết, bất miễn tương mê tác ngộ. Hoán xuất b́nh lư đại phu, trực giao thủ chỉ vô thố.

          (Có lúc đề hồ là độc dược. Có khi chất độc lại cam lồ. Chỉ v́ biến khéo thành thô vụng, chẳng khỏi coi mê là ngộ thôi! Gọi ra thầy thuốc trong b́nh, chỉ khiến chân tay quờ quạng).

 

10) Tất Lăng Già Bà Tha, thuần giác bỏ thân

 

          Tụng rằng: - Nê lư quả nhiên hữu thích, thống ngoại hà thường kiến thân. Hư không bách tạp phấn toái, bạch vân hoành phong độ tân. Dục tri bất thống tiêu tức, bả miết manh quy giảo thân.

          (Trong bùn quả nhiên có gai góc, ngoài cái đau chớ hề thấy thân? Hư không trăm thứ nghiền vụn nát. Mây trắng che ngang bến cũ rồi. Muốn hay tin tức không đau đớn, rùa mù, vích[63] què so sánh nhau).

 

11) Tu Bồ Đề bao kiếp lâu xa biết Không

 

Tụng rằng: - Giới tử Tu Di tắc tắc. Hà xứ chuyển thân xuất tức? Ngẫu nhiên giải đắc tàng cơ, đàn chỉ huyễn thành bách ức. Tương tùy thụ đảo đằng khô, tiếu phá Sắc Không, Không Sắc.

(Hạt cải phủ lấp Tu Di. Chỗ nào xoay ḿnh thở ra? Ngẫu nhiên hiểu điều ẩn giấu, khảy tay huyễn thành trăm ức. Cây đổ, dây leo khô héo theo. Cười toang Sắc Không, Không Sắc).

 

12) Xá Lợi Phật tâm thấy phát quang

 

Tụng rằng: - Cửu duyên bất tá nhất linh cô, cánh hướng kim bề triệt thể khô. Trạc hạt nhăn t́nh minh cá sự. Sát trần thân độ kính trung đồ.

          (Chín duyên chẳng cậy một linh thông. Lại cậy kim vàng nạo khắp thân. Tṛng mắt sạch mống nh́n rơ sự; sát trần, thân cơi rơ như gương).

 

13) Phổ Hiền Bồ Tát tâm nghe bèn sáng tỏ

 

          Tụng rằng: - Mao đoan sát hải đồng hoàng cổ, đặc địa lao tha bạch tượng vương. Kim xí thực long như thực miến, nhất ban dă thị tắc cơ tràng.

          (Sát hải đầu lông như dối gạt, riêng phải nhọc nhằn bạch tượng vương. Cánh vàng nuốt rồng như nuốt miến, thảy đều cũng chỉ để no ḷng).

 

14) Tôn Đà La Nan Đà quán vết trắng ở chót mũi

 

          Tụng rằng: - Khổ hồ điềm qua nhất khái niêm. Cánh tương vô vị bạch đằng thiêm. Túng nhiêu đỗng chiếu thập phương giới. Tỵ khổng y nhiên kiểm thượng tiêm.

          (Mướp đắng, dưa ngọt nhất loạt bày. Bạch đằng[64] vô vị lại chen thêm. Dẫu cho chiếu thấu mười phương cơi, mũi vẫn chon von trên mặt người).

 

15) Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử do sư tử hống mà thành A La Hán

 

          Tụng rằng: - Nghĩa thân giảo tỷ văn thân thiết. Xuất tiết hà như dụng tiết thân? Dă can tích niên tằng đảm liệt, nhu dương mạn nghĩ hiệu tần thân.

          (Nghĩa thân[65] thân thiết trội văn thân, gỡ chêm sao bằng dùng chêm đóng? Năm xưa chó rừng từng vỡ mật, dê con toan bắt chước duỗi ḿnh).

 

16) Ưu Ba Ly tŕ giới tu thân

 

          Tụng rằng: - Tŕ phạm khai giá, tam tụ thành. Thức xoa[66] hà pháp bất viên minh. Bất quy thủ dược tùy dược tùy quân dụng. Vô tác thùy lưu phàm thánh t́nh.

          (Tŕ, phạm, khai, giá ba tụ thành. Có học pháp nào chẳng viên minh? Thuốc chữa nứt da nên khéo dụng. Vô tác há c̣n chấp thánh, phàm?)

 

17) Đại Mục Kiền Liên tâm quang phát khởi, tuyên thuyết

 

Tụng rằng: - Trừng trược thành thanh bất giảo tŕ. Hoàng hà nhập hải chánh bôn tŕ. Huề lai tịnh khí quân tu thức. Mạc phụ Tung Sơn bích nhăn sư.

          (Lắng đục thành trong chẳng ngại lâu. Hoàng hà vào biển gấp tuôn ḍng. Đem đồ đựng sạch, ông nên biết. Đừng phụ Tung sơn tăng mắt xanh[67]).

 

18) Ô Sô Sắt Ma Hỏa Quang tam-muội

 

Tụng rằng: - Nhất tinh tiện khả liệu Tu Di. Hưu bả huỳnh quang vấn Lỗ Tề. Niêm khởi xứng chùy hồn thị thiết. Không giao tích kiếp trụy ô tŕ.

          (Đốm lửa hay thiêu rụi Tu Di. Đom đóm đừng đem hỏi Lỗ Tề. Quả cân, đ̣n cân đều là sắt. Đừng nên bao kiếp đọa ao lầy).

 

19) Tŕ Địa Bồ Tát bồi phẳng đất, tâm khai

 

          Tụng rằng: - Viên dung tuyệt đăi diệu liên hoa. Tu thị hoàn tha cổ tác gia, mă hậu lư tiền vô số khách. Đẳng nhàn đồng giá bạch ngưu xa.

          (Viên dung đối đăi bặt hoa sen. Vẫn phải giao cho cổ tác gia[68]. Lừa trước, ngựa sau, vô số khách. Xe trâu trắng kéo cưỡi thong dong).

 

20) Nguyệt Quang đồng tử tu tập Thủy Quán

 

Tụng rằng: - Nhất trích nguyên lưu triệt để thanh. Vô đoan do bị thủy đương t́nh. Độc lâu khô tận toàn thân lộ. Tẩm sát tùng lai Phật dữ sanh.

          (Một giọt suối nguồn trong triệt để. Bỗng dưng nước vẫn chấp nơi t́nh. Đầu lâu khô quắt, toàn thân lộ[69]. Dần khử xưa nay Phật, chúng sanh).

 

21) Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử quán tánh của các thứ động

 

Tụng rằng: - Dữ đoạt toàn cơ ám lư minh. Thu thu thiên giới khí trung thanh. Xuân phong xuy tán hàn oai hậu. Thắng hữu mai hoa ánh thủy tinh.

          (Cho, đoạt hoàn toàn ngầm hiểu rơ, ngàn cơi vi vu tiếng vật reo. Gió xuân xua sạch khí lạnh sót, hoa mai chiếu rực mặt hồ trong).

 

22) Hư Không Tạng Bồ Tát quán hư không vô biên

         

          Tụng rằng: - Hối muội t́nh vong không giới tiêu. Mao đoan sát hải cảnh thiên hào. Bảo châu viên kính nhàn gia cụ. Hà vật niêm lai giá bất cao?

          (Mê tối, vong t́nh, hư không tiêu. Đầu lông biển cơi cảnh riêng nhiều. Sẵn có bảo châu, gương sáng đó. Lấy vật nào ra giá chẳng cao?)

 

23) Di Lặc Bồ Tát duy tâm thức định

 

          Tụng rằng: - Thằng thượng vô xà tánh tự ma. Thú chân đoạn vọng chuyển hu tà. Phong đ́nh ba tức trừng như kính. Xứ xứ thanh quang ánh tử hà.

          (Thừng không phải rắn, tánh là gai. Hướng chân, đoạn vọng chuyển xoay ṿng. Gió im, sóng lặng, trong như kính. Chốn chốn lặng trong ánh ráng chiều).

 

24) Đại Thế Chí Pháp Vương Tử Niệm Phật tam-muội

 

Tụng rằng: - Phục tận Hiên Kỳ[70] bách thảo hoàn. A Già nhất vị tín thần đan. Ngũ tông bát giáo hoành la liệt. Vị tử thâu tâm thục khẳng xan.

          (Uống sạch trăm loại thuốc nổi danh, A Già Đà dược quả thần đan. Năm tông, tám giáo, bày la liệt. Chưa dứt thâu tâm[71] ai chịu dùng?)

 

25) Quán Thế Âm Bồ Tát do Văn Tư Tư nhập tam-ma-địa

 

          Tụng rằng: - Tửu bệnh hoàn tu tửu dược y, thôi môn lạc cữu chánh đương thời. Thần thông diệu dụng tầm thường sự. Mạc sử trùng tài nhăn thượng mi!

          (Bệnh do rượu dùng rượu làm thuốc, đẩy cửa trật khớp đúng lúc rồi. Thần thông diệu dụng đâu kỳ lạ, trên mắt đừng chồng thêm đôi mày).

 

26) Thập phương Như Lai phóng quang cùng ấn chứng

 

          Tụng rằng: - Đại địa mịch lai thuần thị dược. Kỳ Bà không thủ khiết lam hồi. Tùng kim triệt thể quang minh tạng. Thỉ giác tùng tiền sự khả ai!

          (Đại địa tính ra toàn là thuốc. Kỳ Bà xách giỏ rỗng quay về[72]. Từ nay thấu triệt quang minh tạng. Mới hiểu chuyện xưa quá đáng thương).

 

27) Văn Thù Sư Lợi chọn lựa pháp Viên Thông

 

          Tụng rằng: - Hải thác sơn hào nan liệu cơ. Văn Thù tước phạn ủy anh nhi. Đa môn nhất lộ quân khán thủ. Nhân bất ḥa hề gia đạo suy.

          (Hải vị sơn hào sao khỏi đói? Văn Thù nhai mớm đút con thơ. Nhiều cửa một đường, anh có thấy? Người hễ bất ḥa, gia đạo suy).

 

28) A Nan và đại chúng đạt được sự khai thị to lớn

 

          Tụng rằng: - Lôi vũ vô tư vạn hủy tô. Cố hương tha quốc lộ ninh vu. Thôi khai trường dạ sơn hà chẩm. Bệnh khởi tinh thần dă giảo cù.

          (Mưa, sấm vô tư, thảo mộc tươi. Quê nhà, đất khách há ṿng vèo. Sông núi gối đầu, xua đêm dài. Bệnh khỏi, tinh thần cũng tổn hao).

 

29) Tánh tỳ-kheo-ni thành A La Hán

 

          Tụng rằng: - Hoăn trị bổn hề, cấp trị tiêu. Vô đoan nha chủng sạ thành tiêu. Kính trung bán lộ nương sanh diện. Kim nhật phương tri hành xứ dao.

          (Hoăn th́ trị gốc, gấp trị ngọn. Bỗng dưng mầm mộng chợt cháy tiêu. Gương bỗng thoáng lộ mặt chân thật. Hành xứ xa xôi mới biết thôi!)

 

30) Hóa Phật trên đỉnh đầu trùng tuyên thần chú

 

          Tụng rằng: - Vạn chủng danh hương đảo nhất hoàn. Hồ ngôn, Hán ngữ tối nghi tham. Đảnh quang chiếu phá hư không dă. Thính thủ tiền tam dữ hậu tam.

          (Muôn thứ danh hương nghiền một hoàn. Lời Hồ, tiếng Hán rất nên tham. Đảnh quang chiếu thấu hư không giới. Nghe nhận tiền tam với hậu tam[73]).

 

31) Kim Cang Tạng Vương phát nguyện hộ tŕ

 

Tụng rằng: - Từ oai chiết nhiếp túc lương mô. Đồng thể bi tâm thống thiết phu. Diệt độ dĩ tri vô khả diệt. Đại gia thả bả sát can phù.

(Từ oai chiết nhiếp gương tốt đẹp. Đồng thể bi tâm đau cắt da. Đă biết diệt độ chẳng thể diệt. Mọi người cùng nâng đỡ Phật môn).

 

* Ba mươi ba bài tụng các phẩm trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa (kèm theo lời tựa)     

 

          Hoa chen chúc, gấm cuộn tṛn, chẳng lập mảy trần. Đỏ từng điều, tịnh trơ trọi, muôn pháp cùng phơi bày. Trọn hết bốn mươi chín năm khổ tâm giảng nói của đức Cù Đàm, chẳng nêu ra được. Dựa vào một ngàn bảy trăm chổi sắt của liệt tổ, vẫn chẳng thâu thập được! Trừ phi ṃ đúng sống mũi của chính ḿnh, mới có thể lật nhào khuôn sáo cũ từ trước tới nay. Trong rừng gai góc, quen thói vung tay đi ngang. Nơi đất trắng sạch, chẳng ngại xoay thân vượt thẳng. Chỉ có thiền sư Thiên Thai Trí Giả phát khởi diệu ngộ nơi Đại Tô, thấy Linh sơn nơi từ ngữ. Dẫu xoay tṛn sức Đà La Ni, tuyên tứ biện tài chẳng thể nghĩ bàn, xét đến chỗ quy hướng của Quyền, Thật, xiển dương chỗ sâu tột của Bổn, Tích. Năm tầng huyền nghĩa, đỉnh đầu phá vỡ đầu lâu lạnh. Bốn điều giải thích trong Văn Cú, kim găm khắp thân chảy máu nơi lỗ chân lông. Khoét mù nhục nhăn của người giảng giải, phá toang cái ải tăm tối của người hành Thiền. Dây đàn bằng gân sư tử rung lên, chim, thú đều trốn sạch. Cái trống bôi thuốc độc vừa gơ; xa, gần đều chết. Riêng dùng viên âm trác tuyệt, kẻ hiểu biết chậm lụt như mù. Biển nghĩa mênh mông, chiếc thuyền lá sắp lật. Sơn tăng chẳng tiếc lông mi[74], mỗi phẩm bèn nêu ra một bài tụng, đại để giống như giúp vua Kiệt làm chuyện bạo ngược. Nơi đất bằng lại thêm dây leo, chẳng biết nhổ cọc, rút đinh, sẽ bị táng thân, mất mạng!

 

1) Dùng pháp và dụ để đặt tên [kinh]

 

Tụng rằng: - Tâm Phật, chúng sanh bát bất khai, tam huyền, tam yếu sự nan sai, nhất hành niêm tác kim thân dụng. Nhạ đắc đầu đà tiếu măn tai.

          (Tâm, Phật, chúng sanh chẳng tách rời. Tam huyền, tam yếu khó suy lường. Nâng một cành hoa, đức Phật dạy. Khiến vị đầu đà toét miệng cười).

 

2) Dùng Thật Tướng làm Thể

 

          Tụng rằng: - Hàm cái càn khôn vị túc kỳ, tứ vi nguyên bất cách căn chi. Phân minh cử tự chư phương dă. Hựu đạo Như Lai chỉ tự tri.

          (Trời đất khít khao há lạ gì? Tứ vi vốn chẳng ĺa cành, rễ. Từa tựa các phương bày rơ rệt. Lại nói Như Lai chỉ tự hay).

 

3) Dùng nhân quả Nhất Thừa làm Tông

 

Tụng rằng: - Chúng lưu tiệt đoạn sự như hà? Trích trích quy nguyên bất giảo đa. Đạp biến thập phương hương thủy hải. Ngoa đầu kỷ xứ phạm thanh ba.

          (Các ḍng cắt đứt chuyện ra sao? Từng giọt về nguồn chẳng kể nhiều. Dạo khắp mười phương biển hương thủy. Sóng trong mấy chỗ ướt đầu giày).

 

4) Dùng đoạn nghi sanh tín làm Dụng

 

          Tụng rằng: - Trục lăng tùy ba tối khả liên. Minh trung hữu ám ư thiên huyền. Tỳ Lam xuy tán vân thiên đóa. Phóng xuất cô luân nhất dạ viên.

          (Theo sóng đuổi sóng quá đáng thương. Trong sáng có tối, ư riêng huyền. Tỳ Lam[75] thổi nát mây ngàn đóa, riêng lộ vầng trăng đêm thật tṛn).

 

5) Vô lượng đề hồ làm giáo tướng

 

          Tụng rằng: - Phân minh nhất dạng ngưu thân vị, chuyển biến phiên phiên bất tá công. Băo thực hội tu tỳ lực kiện. Mạc giao thương khước tiểu nhi đồng.

          (Phân minh một dạng vị sữa lành, chuyển biến nhiều phen chẳng tốn công. Sức nhờ tỳ mạnh ăn no đủ, đừng khiến trẻ thơ bị tổn thương).

 

6) Phẩm thứ nhất: Tự Phẩm

 

          Tụng rằng: - Bạch hào thư chiếu bán đề thời, vạn bát Đông phương lạp ấn nê. Nghĩ hướng Văn Thù biện đoan đích, trùng tài nhăn thượng lưỡng hành mi. Thả đạo tác ma sanh thị toàn đề? Đốt! Phùng nhân thiết kỵ thác cử.

          (Bạch hào phóng quang trong khoảnh khắc, một vạn tám ngàn cơi phương Đông, hiển hiện như ấn sáp in bùn. Toan hướng Văn Thù hỏi đầu mối. Trên mắt cấy thêm hai lông mày. Hăy nói hoàn toàn chuyện ǵ vậy? Ôi chao! Gặp người kỵ nhất đừng nêu sai chuyện)

 

7) Phẩm thứ hai: Phương Tiện

 

          Tụng rằng: - Tần thân xuất quật oai phong biệt. Tượng thố bác lai đồng kiến huyết. Thùy tri tích nhật kim cang vương. Kim nhật phiên thành hệ lư quyết.

          (Vươn ḿnh, ra khỏi hang, oai phong thật khác biệt. Voi, thỏ đâm vào đều thấy máu. Ai hay kim cang vương thuở trước, ngày nay biến thành cọc buộc lừa).

 

8) Phẩm thứ ba: Thí Dụ

 

Tụng rằng: - Môn ngoại hà lao mịch đại xa. Thác tương tam giới nhận vi gia. Hỏa quang thiêu lạn hư không dă. Thùy giải hồi đầu khiếu a da?

(Ngoài cửa nhọc gì kiếm xe to, lầm xem tam giới chính là nhà. Hư không ánh lửa đều thiêu rụi, ai biết quay đầu để gọi cha?)

 

9) Phẩm thứ tư: Tín Giải

 

          Tụng rằng: - Khách tác tùng lai phi tiện nhân, phấn trừ vị tận tự mê tân, khước liên ngũ thập dư niên biệt, thử nhật tương phùng giác bội thân.

          (Trước nay khách chẳng phải nghèo hèn. Quên nẻo v́ chưa dọn sạch phân. Xót thay cách biệt nửa thế kỷ, nay được gặp gỡ, thân bội phần).

 

10) Phẩm thứ năm: Dược Thảo Dụ

 

          Tụng rằng: - Địa vũ hà tằng hữu nhị tâm? Căn, hành, hoa, quả mạn sâm sâm. Tứ vi chung thỉ nguyên vô biệt. Mạc hướng chi điều đại tiểu tầm.

          (Mưa, đất bao giờ có nhị tâm? Rễ, thân, hoa, quả trổ um tùm. Tứ vi đầu cuối vốn chẳng khác. Đừng theo cành, nhánh, lớn, nhỏ t́m).

 

11) Phẩm thứ sáu: Thọ Kư

 

          Tụng rằng: - Thể lộ kim phong thụ diệp điêu. Tứ nhân sanh tử cửu đồng điều. Vũ môn vô số kim lân dược. Mạc hướng trừng ba nguyệt ảnh kiều.

          (Thân phơi gió thu, lá xơ xác. Bốn người sanh tử đă lâu rồi. Vũ môn vô số cá chép vượt. Đừng ngóng bóng trăng nơi sóng trong).

 

12) Phẩm thứ bảy: Hóa Thành Dụ

 

          Tụng rằng: - Trần điểm kiếp tiền tằng phục độc. Chí kim do giác tự ma mộc. Đàn chỉ quy lai giảo thị tŕ. Si nhân hoàn vấn Tây Thiên Trúc. Tây Thiên Trúc, hóa thành bảo sở thùy gia ốc? Thác nhận tha phương ngũ bách tuần. Cùng niên cánh tuế không lao lục. Thả vấn chỉ kim tại thập ma xứ? Đốt! Khán cước hạ, thác thác!

          (Trần điểm kiếp trước từng uống độc, đến nay vẫn thấy thường tê bại. Khảy tay trở về vẫn c̣n chậm, người si c̣n hỏi Tây Thiên Trúc. Tây Thiên Trúc: Hóa thành, chốn báu, nhà ai vậy? Lầm tưởng ngoài năm trăm do-tuần. Trọn năm suốt tháng nhọc nhằn suông! Thử hỏi đến nay là chốn nào? Ôi chao! Hăy nh́n dưới gót chân, lầm mất rồi!)

 

13) Phẩm thứ tám: Ngũ Bách Đệ Tử Thọ Kư

 

Tụng rằng: - Thành quần tác đội luyện cơ hàn. Y lư minh châu sát dục xuyên. Khả tích nhi kim túy ngọa khách, tái phùng thân hữu thị hà niên?

          (Kết đoàn họp đội luyện đói lạnh, minh châu trong áo gấp mặc vào. Đáng tiếc đến nay vẫn say ngủ, gặp lại thân hữu biết thuở nào?)

 

14) Phẩm thứ chín: Thọ Học Vô Học Nhân Kư

 

Tụng rằng: - Đại tiểu đô lô nhất vơng thâu, hà mô do dục thoán tiền lưu, nhiêu tha bàn kết thương minh quật, y cựu hoàn thôn Lữ Vọng câu.

          (Lớn, nhỏ đều cùng thâu một ḷ, cóc con lại muốn trốn ḍng sao? Dù cho làm tổ trong biển thẳm, vẫn bị Tử Nha như cũ câu).

         

15) Phẩm thứ mười: Pháp Sư

 

          Tụng rằng: - Đại địa tùng lai y thủy luân. Cao nguyên xuyên tạc mạc từ tân. Trước y tọa ngọa tầm thường sự. Hoàn đạo Như Lai thị biệt nhân?

          (Đại địa trước nay nương thủy luân. Cao nguyên đục khoét chẳng ngại ngần. Mặc áo, ngồi, nằm: Tầm thường sự! Vẫn nói Như Lai kẻ khác ư?)

 

16) Phẩm thứ mười một: Kiến Bảo Tháp

 

          Tụng rằng: - Cổ Phật bà tâm sự thái đa. Thổ điền tam biến ư như hà? Tuy nhiên minh đắc thanh tiền cú. Bất miễn trùng thiêm lăng thượng ba.

          (Cổ Phật rát ḷng chuyện quá nhiều. Cơi biến ba lượt ư ra sao? Câu trước thanh âm tuy hiểu rơ, chẳng khỏi sóng chồng thêm sóng thôi).

 

17) Phẩm thứ mười hai: Đề Bà Đạt Đa

 

Tụng rằng: - Toái thân phấn cốt kết thành cừu. Bất thị oán gia, bất tụ đầu. Nhất lạp bảo châu quang xán lạn. Nam phương hựu khởi vị lai sầu.

(Nát thịt, tan xương, kết oán cừu. Chẳng phải oán gia, chẳng gặp nhau. Một hạt bảo châu quang chói rực. Phương Nam lại khởi vị lai sầu).

 

18) Phẩm thứ mười ba: Tŕ

 

Tụng rằng: - Thử độ, tha phương ba lăng khoát. Trường niên đà thủ tinh thần biệt. Cự ngao nhất đáp thượng câu lai. Bàng ngạn do liên phong lực xế.

          (Phương khác, cơi này sóng cao vút, bao năm bẻ lái tinh thần vững, lưỡi câu mắc phải con ngao to, bên bờ vẫn thương sức gió cuốn).

 

19) Phẩm thứ mười bốn: An Lạc Hạnh

 

          Tụng rằng: - Hộ mạng linh đan chỉ nhất hoàn, thân kinh bách chiến sóc phong hàn. Minh châu giải kế thân thâu đắc. Huyễn vơng quang trung mộng vị tàn. Chỉ kim hoàn hữu tác mộng giả ma? Khả liên Đại Đường quốc lư, tận tỉnh tỉnh địa.

          (Linh đan hộ mạng chỉ một viên, thân trải trăm trận gió Bấc căm. Búi tóc tháo châu, đích thân được. Trong lưới huyễn quang, mộng chửa tàn. Nay c̣n nằm mộng nữa hay chăng? Đáng thương trong nước Đại Đường, hăy hết sức tỉnh ngộ).

 

20) Phẩm thứ mười lăm: Tùng Địa Dũng Xuất

 

          Tụng rằng: - Quán tác bạch niêm nan nhận mịch. Nhất ban thủ đoạn, lưỡng ban đao. Mạc hiềm tử lăo phụ thiên thiểu. Mă phúc lư thai tri kỷ tao?

          (Xem xét bạch niêm[76], khó nhận t́m. Một tầng mánh khóe, hai tầng đao. Đừng hiềm cha trẻ, con già khọm. Bụng ngựa, thai lừa biết mấy phen?)

 

21) Phẩm thứ mười sáu: Như Lai Thọ Lượng

 

Tụng rằng: - Mạc ngôn cá sự vô đầu vĩ. Đặc địa lao tha sổ sát trần. Hảo dược đản giao chư tử phục. Bệnh trừ thỉ đổ kiếp tiền Xuân.

(Đừng bảo chuyện này không đầu đuôi! Riêng nhọc lẽ khác bao sát trần. Thuốc hay chỉ để các con uống. Bệnh trừ mới thấy Xuân trước kia).

 

22) Phẩm thứ mười bảy: Phân Biệt Công Đức

 

Tụng rằng: - Thái không trượng xích thùy kham trắc? Bằng tỷ y hy cửu vạn tŕnh. Tạc dạ mi mao ngẫu cơ cấp, ngộ tương Hoa Tạng chử doanh đang.

          (Hư không trượng thước, ai lường được? Chín vạn cao bay hiếm chim bằng. Đêm qua lông mày bỗng vội rụng, ngộ ra Hoa Tạng nấu đầy niêu).

 

23) Phẩm thứ mười tám: Tùy Hỷ Công Đức

 

Tụng rằng: - Ma-ni vũ bảo chánh tương tương. Bán thế cơ hư thử dạ vong. Mạc quái thành biên đa lữ mộng. Kỷ nhân tằng khứu phản hồn hương.

          (Ma ni tuôn báu, tiếng leng keng. Đói rã nửa đời quên khuấy rồi. Chớ trách bên thành nhiều kẻ mớ. Mấy ai từng ngửi phản hồn hương).

 

24) Phẩm thứ mười chín: Pháp Sư Công Đức

 

Tụng rằng: - Vô vị chân nhân lục bất thâu. Phóng quang động địa chuyển sanh sầu. Ly vi ngữ mặc gian gia cụ, hà xứ triều thanh phi hải lưu.

          (Vô vị chân nhân lục bất thâu[77]. Phóng quang rúng đất, bỗng thêm sầu. Ĺa im, ĺa nói, của nhà sẵn. Chốn nào biển chẳng sóng vang rền?)

 

25) Phẩm thứ hai mươi: Thường Bất Khinh Bồ Tát

 

          Tụng rằng: - Ác thủy kiêu nhân tội bất khinh. Đốn giao b́nh địa tử thi hoành. Độc bi vị nhập A Tỳ giả, kim nhật do khai quỷ nhăn t́nh[78].

          (Nước ác xối người, tội nặng thay! Khiến cho b́nh địa tử thi đầy. Riêng thương chưa đọa A Tỳ ngục, tà thuyết vẫn c̣n đang nói nhăng).

 

26) Phẩm thứ hai mươi mốt: Như Lai Thần Lực

 

Tụng rằng: - Hiên thiên yết địa dục hà vi? Cá sự nguyên vô thành dữ khuy. Nhận thủ chỉ âm tịnh thiệt tướng. Mạc tương hoàng diệp dụ anh nhi.

          (Lật trời, đảo đất để làm chi? Mọi sự thành, bại vốn có ǵ? Cứ ngỡ âm thanh là tướng lưỡi, đừng đem lá úa dụ con thơ).

 

27) Phẩm thứ hai mươi hai: Chúc Lụy

 

Tụng rằng: - Niên lăo t́nh thiên luyến tử tôn, kỷ nhân năng đắc khởi gia môn? Ân cần kư thủ Linh Sơn sắc, lâu cốt minh cơ báo thử ân.

          (Già cả t́nh riêng luyến cháu con. Mấy ai hưng thịnh được gia môn? Ân cần nhớ kỹ Linh Sơn sắc, khắc thịt ghi xương báo ân này).

 

28) Phẩm thứ hai mươi ba: Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự

 

Tụng rằng: - Nhiên thân, nhiên tư thí trung tối. Diệu pháp hà thường cách khổ công? Thán tức Đông Thi lụy Tây Tử. Nhân ế phế phạn hoàn thành phong. Linh lợi hán, mạc thông thông. Kinh vương thâu nhập vô phùng tháp, vạn biệt thiên sai nhất lộ thông.

          (Đốt tay, thiêu ḿnh, thí cao nhất. Diệu pháp chưa hề chẳng khổ công! Than thở Đông Thi lụy Tây Tử[79]. Do nghẹn bỏ ăn, thành thói rồi. Người lanh lợi, đừng qua lại vùn vụt. Kinh vương thâu vào tháp kín bưng, ngàn sai vạn biệt một đường thông).

 

29) Phẩm thứ hai mươi bốn: Diệu Âm Bồ Tát

 

Tụng rằng: - Thập giới hoằng kinh tán diệu âm, sắc thân phổ hiện khứ, lai, kim. Quy Sơn ngũ tự thâm thâm ư. Lưu dữ chư phương tác nhăn châm.

(Mười giới hoằng kinh tán diệu âm. Sắc thân hiện khắp cổ, kim, lai. Năm chữ Quy Sơn[80] ư sâu thẳm, để lại các phương ḥng răn ḿnh).

 

30) Phẩm thứ hai mươi lăm: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn

 

Tụng rằng: - Tự tùng chứng đắc viên thông thường. Quán tương sanh Phật đồng xoa tụ. Dược châu thân, độc thiên cổ. Dữ lạc hội tu tiên bạt khổ. Thanh thanh chỉ khiếu Quán Thế Âm. Hà thời thức khước chủ trung chủ. Yếu thức chủ ông dă bất nan. Lộ đầu tận xứ tu hồi vũ. Nhất phiên đậu nhập vô úy thành. Bất tiếu cánh vấn Vân Môn phổ.

(Kể từ chứng đắc viên thông thường, quán chúng sanh, Phật như chuỗi hạt. Thân dược châu, trống trời bôi thuốc độc. Muốn ban vui, trước phải biết dẹp khổ. Từng tiếng chỉ gọi Quán Thế Âm, bao giờ nhận biết chủ của chủ? Muốn biết chủ nhân cũng chẳng khó. Đường đi hết nẻo nên quay lại. Một phen vào được thành Vô Úy. Chẳng nhọc thưa hỏi Vân Môn phổ).

 

31) Phẩm thứ hai mươi sáu: Đà La Ni

 

Tụng rằng: - Yên vũ mông mông độ cổ thôn. Dạ thâm ngột ảnh tự nhân h́nh. Thiên sư nhất đạo linh phù đáo. Đàn chỉ phù tang dĩ dục minh.

          (Mưa khói mông lung qua thôn cổ. Đêm sâu, gốc cụt ngỡ h́nh người. Một đạo bùa thiêng thiên sư ném. Khảy tay trời đă sắp b́nh minh).

 

32) Phẩm thứ hai mươi bảy: Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự

 

Tụng rằng: - Họa xuất tư môn thật khả ai. Phá gia vong quốc vị xưng tai. Nhất hồi truy ức sơn trung nhật, quư sát tùng tiền măn diện hôi.

          (Họa từ trong nhà, đáng buồn thay! Tan nhà mất nước, vẫn chưa buồn. Bỗng dưng nhớ lúc c̣n trong núi, thẹn thùng khi trước mặt tro bôi).

 

33) Phẩm thứ hai mươi tám: Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát Phẩm

 

Tụng rằng: - Tạc dạ lôi kinh Sa Kiệt La, đốn linh vũ điểm như xa trục. Tu du tẩm một Phạm vương cung. Sổ trích không lao Thủ La mục. Tứ pháp trùng phu vạn cổ truyền. Trần trần sát sát đăng tương tục.

(Đêm qua sấm rền cung rồng biển. Mưa xối to bằng trục bánh xe. Khoảnh khắc Phạm cung ch́m ngập nước. Mấy giọt chẳng phiền mắt Thủ La[81]. Diễn lại bốn pháp[82] truyền muôn thuở. Trần trần, cơi cơi, đèn măi truyền).

 

* Bạch ngưu thập tụng

 

          (có trích dẫn và trần thuật. Các bài tụng này nếu vẽ đồ h́nh, cần phải mỗi mỗi đều đúng như các câu trong bài tụng và các chữ nhỏ ghi sau bài tụng. Nếu có chút ǵ chẳng phù hợp, sẽ hết sức trái nghịch tông chỉ. Đồ h́nh thứ chín là viên tướng (một vòng tròn), hoặc hoàn toàn chẳng vẽ viên tướng, chỉ để một bức vẽ trống không cũng được).

          Trước kia có hai loại tranh chăn trâu lưu hành trong cơi đời. Một là từ lúc chưa chăn cho đến cả hai (trâu và mục đồng) đều mất, mười con trâu [được vẽ] từ đen đến trắng dần, cho tới chẳng còn [trâu lẫn người chăn] nữa. Loại kia vẽ từ lúc t́m trâu cho đến khi vào trong cơi triền phược, cũng vẽ mười con trâu, từ đầu đến cuối đều màu trắng. Tuy nói là “đại đồng tiểu dị”, nhưng chỉ thú cố nhiên tự khác biệt. Trong khi rảnh rang giữa buổi Thiền Quán, tôi ngẫu nhiên dung thông, sửa đổi đôi chút, viết thành mười bài tụng, chẳng dám mong khác biệt cổ nhân, chỉ mong tự t́m một đường lối cho cái tâm tối tăm vậy.

          1) Bạch ngưu nguyên bất viễn sơn đồng. Vô nại sơn đồng diện hướng Đông. Liễu lục đào hồng không luyến tích. Ngưng mâu trần kiếp hảo manh manh.

          (Trâu trắng vốn chẳng xa mục tử, hiềm rằng mục đồng hướng về Đông. Liễu biếc, đào hồng, suông tiếc nuối. Lặng nh́n trần kiếp mịt mờ sao!)

          Chú: Trâu trắng ở phía Tây, mặt hướng về Đông. Mục đồng ở phía Đông, mặt hướng về phía Đông.  Trên đây là mất trâu, tương ứng với Lư Tức Phật. Nghĩa là hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng, chấp trước mà chẳng chứng đắc.

          2) Chủ nhân hốt vấn mục đồng ngưu. Hồi thủ mang mang hà xứ cầu? Lại hữu lai nhân chỉ văng lộ, bạch ngưu đoan đích tại Tây đầu.

          (Chủ nhân bỗng hỏi trẻ: “Trâu đâu?” Quay đầu ngơ ngác chỗ nào t́m? Nhờ có người đến chỉ đường kiếm, trâu trắng quả nhiên tại phía Tây).

          Chú: Chủ nhân hỏi trâu ở đâu? Trẻ chăn trâu ngơ ngác. Lại có người từ phương Tây đến, dùng tay chỉ về phía xa. Trên đây là t́m trâu, tức Danh Tự Tức Phật. Tức là từ kinh điển, hoặc từ thiện tri thức, mới nghe lư “tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”, phát tâm nguyện cầu, trở về nguồn cội.

          3) Mộ trực truy tầm lộ tiệm Tây, hoang nguyên đạp phá thị ngưu đề. Nhất hồi chiêm thị tri đoan đích, tín bộ tiền hành bất phục mê.

(Thẳng lối truy t́m dần hướng Tây, đồng hoang giẫm nát vết chân trâu. Ngắm nghía một hồi, biết đầu mối, vững bước theo đường chẳng bị mê).

 Chú: Đồng tử vội hướng theo phía Tây mà đi, trong ruộng có nhiều vết chân trâu. Trên đây là thấy dấu chân trâu, tương ứng với Quán Hạnh Tức Phật, chính là địa vị Ngũ Phẩm trong Viên Giáo, nương theo viên giải mà tu viên quán, chế phục trọn vẹn Ngũ Trụ phiền năo.

          4) Hoành xuyên cửu thập lục yên thôn. Hốt đổ ngưu vương lộ địa tôn. Tùng thử cước ngấn khinh khoái dă. Giả nhiêu khí cấp bất tu luận.

          (Xuyên ngang chín sáu thôn mây khói, bỗng thấy ngưu vương nằm giữa đồng. Từ đấy, vết chân mau chóng hẳn. Dẫu phải thở gấp chẳng thèm màng).

          Chú: Trâu trắng nằm ẩn trong ruộng, trẻ chăn trâu từ xa trông thấy, ḷng hoan hỷ. Trên đây là thấy trâu, tương ứng với Tương Tự Tức Phật, tức là địa vị Thập Tín trong Viên Giáo. Tương Tự: Đắc pháp tánh lư thủy, sáu căn thanh tịnh, Kiến Tư rơi rụng trước, chứng Vị Bất Thoái. Trần Sa cũng rơi rớt, chứng Hạnh Bất Thoái, nhưng vẫn chưa chứng Vô Công Dụng Đạo.

          5) Thủy cùng sơn tận bất từ lao. Sấn đáo ngưu biên công dĩ cao. Thán tức vô đoan thành cửu biệt, nhi kim phương đắc giải thiên thao.

          (Nước tận non cùng, chẳng ngại nhọc, vội đến bên trâu công đă cao. Than thở bỗng dưng xa cách mãi, tới nay mới khỏi nỗi ưu phiền).

          Chú: Trâu trắng thong dong đứng dậy, trẻ chăn trâu vui sướng vỗ lưng trâu. Trên đây là “đă có được trâu”, tương ứng với Phần Chứng Tức Phật, tức là địa vị Sơ Phát Tâm Trụ trong Viên Giáo, phá một phần vô minh, chứng một phần Tam Đức, nhập tạng bí mật, sanh trong nhà Như Lai, đạt được Niệm Bất Thoái, cho đến Thập Trụ đều thuộc vào đây.

          6) Tuyết sơn hương thảo thậm cam ph́. Thanh lănh lưu tuyền khả liệu cơ. Bất tiện giá miêu doanh dă lục, thản nhiên băo túc độ dư huy.

          (Cỏ thơm non Tuyết rất ngon bùi, ḍng suối lạnh trong để đỡ ḷng, chẳng chuộng mạ non xanh biếc ruộng, thản nhiên no đủ tháng ngày trôi).

          Chú: Trẻ chăn trâu ngồi thảnh thơi trên đá, trâu trắng uống nước suối tự vui sướng. Trên đây là thủ hộ chăn dắt, vẫn là địa vị Phần Chứng Tức Phật, tức Thập Hạnh trong Viên Giáo, một hạnh là hết thảy các hạnh, xứng tánh công đức.

          7) Tịch dương tương tận văn hà hy. Tựu lộ hoàn gia bất dụng huy. Nhất khúc Vô Sanh xuy đoản địch, dư huy do tự chiếu đ́nh vi.

          (Bóng chiều sắp tắt, ráng chiều thưa. Theo lối về nhà chẳng thúc roi. Thổi khúc Vô Sanh bằng sáo ngắn, tà dương c̣n rọi khắp sân nhà).

          Chú: Bóng chiều tà ngả dần trên núi, trâu trắng về nghỉ. Trẻ cưỡi trên lưng trâu, thổi sáo tự vui thú. Trên đây là “cưỡi trâu về”, cũng là Phần Chứng Tức Phật, chính là nguyện hạnh Thập Hồi Hướng pháp giới trong Viên Giáo, Lư và Sự tự nhiên dung hợp, hồi nhập biển pháp giới b́nh đẳng.

          8) Bạch ngưu hà xứ bổn vô tung. Mục thụ cao ca minh nguyệt phong. Vạn tượng quang hàm thu lộ lănh. Quế chi do tự ảnh trùng trùng.

(Trâu trắng nơi nào không tung tích, trẻ đứng ca vang đỉnh sáng trăng. Vạn tượng trăng soi sương thu lạnh, cành quế tự soi bóng tầng tầng).

          Chú: Trăng sáng trên trời, mục đồng vỗ tay tự ca. Trên đây là “quên trâu”, cũng tức là Phần Chứng Tức Phật, nghĩa là Thập Địa trong Viên Giáo, thuần trí, quên lư, giống như đại địa có thể sanh ra hết thảy Phật pháp, gánh vác pháp giới chúng sanh đều cùng phổ nhập trí địa của tam thế Như Lai.

          9) Dật Đa đàn chỉ các môn khai, tiếu sát đương niên tiểu Thiện Tài, yên thủy bách thành không tự lịch. Nhân ngưu tuyệt tích mộng sơ hồi.

          (Di Lặc khảy tay cửa gác mở, cười chết năm xưa bé Thiện Tài, khói nước trăm thành uổng công trải, người trâu tuyệt tích, mộng quay về).

          Chú: Người lẫn trâu đều chẳng thấy. Chỉ có một tướng h́nh tṛn. Trên đây là “song mẫn” (đôi bên cùng mất), tương ứng với Căn Bản Trí của Cứu Cánh Tức Phật, tức là Thỉ Giác và Bổn Giác chẳng hai, Lư và Trí như một, chứng thấu triệt tánh tam vô sai biệt, cũng chẳng có năng chứng và sở chứng để có thể đạt được!

          10) Y hy hà xứ hiện nhân ngưu. Thùy thủ tương tương nhập thị du. Tá vấn nhân ngưu hoàn tự tích, vân hà vô thất diệc vô cầu?

(Mơ hồ nơi nào hiện người, trâu? Thơng tay vào chợ dạo chơi thôi. Thử hỏi người trâu c̣n như cũ, cớ sao chẳng mất cũng không cầu?)

          Chú: Trẻ tiến về phía Đông, trâu trắng theo sau. Trên đây là vào trong chốn triền phược, tương ứng với Hậu Đắc Trí của Cứu Cánh Tức Phật, nghĩa là môn Phổ Hiền hạnh sau khi đă đắc Phật quả cho đến tột ngằn mé vị lai, đại dụng thường sẵn như vậy, có thể cùng lưu nhập chín pháp giới rộng độ các hàm thức, thật sự chẳng c̣n thêm ǵ vào cái Thể “đôi bên cùng mất”.

 

* Sáu bài tụng kính đáp sáu câu hỏi của Cao Phong đại sư (có phần tiểu tự)

 

          Cao Phong đại sư gắng công nơi hạnh Đầu Đà, tận lực chống đỡ tổ đạo đang suy vi. Có người tham học, ắt sẽ dạy đốt ngón tay, thọ giới trước, rồi mới trao truyền tâm yếu. Ngài có chí làm trụ đá giữa cơn sóng cuồng cũng rất tha thiết. Nay trong quán thất, Ngài để lại các lời hỏi, không ǵ chẳng do bệnh mà phát thuốc, nện vào chỗ đau nhức. Các Thiền đức gần đây thường hiểu theo Sắc, cô phụ ư Tổ chẳng biết nhiều cỡ nào? Tôi chẳng nề hà sơ sài, ngu muội, kính cẩn đáp lời, kèm thêm một bài tụng. Đề hồ và thuốc độc, thuốc độc hay đề hồ, mặc cho người có lưỡi tự biện định.

1) Hỏi: Người đã đạt đại triệt để, vốn thoát sanh tử, do đâu mà mạng căn chẳng đoạn?

Kính đáp: Vẫn c̣n có cái triệt để tồn tại.

          Tụng rằng: - Lư cực t́nh vong thoái bộ nan, chuyển thân nhất cú cát đằng phồn, thạch nhân phủ chưởng ca minh nguyệt. Kư ngữ Thiền lưu mạc lăng khan.

          (Lư cực, t́nh vong, lùi bước khó. Một câu xoay chuyển, dây leo rườm. Người đá vỗ tay hát trăng sáng, gởi gắm ḍng Thiền, chớ nh́n suông!)

          2) Hỏi: Công án của Phật, Tổ, chỉ là một đạo lư, do ǵ mà hiểu rơ và chẳng hiểu rơ?

Kính đáp: V́ là một cái.

Tụng rằng: - Thiên sai vạn biệt thế lung khung. Tiều tử hưu thương cùng dữ thông. Trắc khán thị phong, hoành khán lănh. Chỉ nhân thân tại thử sơn trung.

          (Ngàn sai muôn khác, đời khúc khuỷu. Ông tiều thôi bàn cùng với thông. Nh́n xéo thành ngọn, ngang thành rặng, chỉ do thân ở tại non này).

          3) Hỏi: Người đại tu hành hăy nên tuân theo Phật hạnh, do đâu mà chẳng giữ Tỳ Ni?

Kính đáp: Tà pháp khó chống đỡ.

          Tụng rằng: - Giải thoát phiên thành kinh cức nhân, ám trung xúc bảo mạn thương thân. Tùng lai tạt nhập Ba Ly thất, Phạm Vơng quang lưu kiếp ngoại xuân.

          (Giải thoát trở thành nhân gai góc. Trong tối đụng báu, tổn thương thân. Ưu Ba Ly thất từ khi nhập, Phạm Vơng rạng ngời vĩnh hằng xuân).

          4) Hỏi: Mặt trời rực rỡ giữa không trung, không đâu chẳng chiếu, do đâu mà bị mảnh mây che lấp?

Kính đáp: - Chớp mắt.

          Tụng rằng: - Duyên kiến nhân minh bị ám khi. T́nh không hà ngại phiến vân di. Dục tùng giá chiếu phân tân chủ. Khởi tá Tỳ Lam nỗ lực xuy?

          (Do thấy duyên sáng, bị tối lừa, trời quang nào ngại mảnh mây dời? Muốn từ giá chiếu, chia khách, chủ; há mượn Tỳ Lam thổi cuốn đi?)

          5) Hỏi: Ai nấy đều có bóng dáng riêng, nửa bước chẳng rời, v́ sao chẳng đạp được?

Kính đáp: Đạp được th́ chẳng phải là bóng dáng.

Tụng rằng: - Nhận ảnh mê chân, tối khả liên, bất kham hốt hậu hựu chiêm tiền. Văn lai Diễn Nhă cuồng tâm hiết, đồng tử Nam tuân cước để xuyên.

(Lầm bóng, mê chân, rất đáng thương. Chẳng kham thấy trước lại nh́n sau. Chiều hôm Diễn Nhă tâm cuồng dứt, đồng tử về Nam gót đă ṃn).

          6) Hỏi: Khắp đại địa là hố lửa, đạt được tam-muội ǵ mà chẳng bị đốt cháy? Kính đáp: Hỏa Quang tam-muội.

          Tụng rằng: - Hỏa quang tam-muội tối phân thanh. Thiết kỵ tùng tha mịch hóa thành. Phanh thục Pháp Thân đông chí hậu. Hoàng chung hợp tấu nhất Dương sanh.

          (Hỏa Quang tam-muội rất trong lành, rất kỵ hóa thành t́m chốn khác, nấu chín Pháp Thân sau Đông Chí, hoàng chung[83] hợp tấu khúc dương sanh).

 

* Kệ tụng tam quán liên hoa (có phần dẫn khởi)

 

          Nhất Tâm Tam Quán chính là Diệu Pháp Liên Hoa, vốn chẳng nhất định là ba, há nên tách ra để viết kệ tụng? Nhưng cũng chẳng phải nhất định là một, đành hư vọng tách ra. Mong độc giả đừng v́ từ ngữ mà hiểu lầm ư.

          1) Không quán liên hoa

          Tụng rằng: - Mịch tâm, mịch Phật liễu vô tung. Nhất diệp hà hương khỏa thái không. Tiêu tận Niết Bàn sanh tử mộng. Tương khan nhưng tại bảo tŕ trung.

          (T́m tâm, t́m Phật, chẳng tung tích, một cánh sen thơm phủ thái không. Sanh tử, Niết Bàn tiêu sạch mộng. Ao báu vẫn nh́n trọn ở trong).

          2) Giả quán liên hoa

Tụng rằng: - Nhụy Tràng diệp diệp hàm trần giới, quang ảnh tương thôn thục khả cùng. Lịch tận Phổ Hiền mao khổng hậu. Thỉ tri sanh trưởng Phước Thành đông.

          (Nhụy Tràng[84] từng cánh trần sa cơi. Quang, bóng giao nhau há thể cùng? Chân lông Phổ Hiền đi khắp cả, mới hay sanh tại Phước Thành đông).

          3) Trung quán liên hoa

          Tụng rằng: - Kiếm thụ đao sơn địch diện tŕnh. Liên hoa thanh xích bội phân minh (xét ra trong kinh nói có địa ngục Ưu Bát La, cơi này dịch là Thanh Liên Hoa. Lại có địa ngục Ba Đầu Ma, cơi này dịch là Hồng Liên Hoa, cho nên nói [như thế]). Giá Na thân độ tùng lai biến, nghĩ nghị tư lương chuyển tự manh.

          (Rừng kiếm, non đao bày trước mặt, hoa sen xanh đỏ rơ muôn phần. Thân, cơi Giá Na từ đấy trọn; suy tưởng, so lường tự hóa đui).

 

* Bài tụng về hai mươi cảnh của chùa Linh Phong Bắc Thiên Mục (có lời tựa)

 

          Núi Linh Phong, thời cổ gọi là Bắc Thiên Mục. Mùa Đông năm Tân Mùi (1631), tôi vào núi kết giới, liền có kệ rằng: “Linh Phong nhất phiến thạch, tín khả thỉ thiên thu” (Một phiến đá Linh Phong, tin thề nguyện ngàn năm). Mùa Thu năm Giáp Thân (1644), từ Tuy Lư vào núi, lại có câu thơ rằng: “Linh Phong phiến thạch cựu minh tân” (Lại làm mới lời kết giao với phiến đá Linh Phong). No ngờ mùa Xuân năm Ất Dậu (1645), ngẫu nhiên sang chơi Thạch Thành, cho đến cuối Thu năm Kỷ Sửu (1649) mới được về nghỉ trong núi. Cúi, ngửa đều là đá và suối, đối với những chỗ đại khái là đẹp đẽ nổi trội nhất, đều ghi lại đại lược. Đại khái có hai mươi chỗ, tạm coi là hóa thành cho trọn hơi tàn. [Những chỗ ấy] cố nhiên chẳng phải là lạc độ, trọn chẳng thay đổi!

          1) Thứu lănh dao truyền chỉ nhất chi. Do lai ngô đạo quư văn tri, đản tùng Long Thọ thông tiêu tức, bất hướng Hoàng Mai mịch phá y.

          (Non Thứu truyền xa chỉ một nhành, trước nay đạo cả quư văn tri. Tin tức chỉ từ Long Thọ hiểu. Y rách Hoàng Mai kiếm nữa chi!)

          (Đại Hùng phong là ngọn cao chót vót trong các ngọn núi, là ngọn chánh của mạch núi).

2) Ưng cứ Đương Dương hiển biệt truyền. Giảo lai nhưng thị chánh trung thiên. Mă câu đạp sát nhân vô số. Tất cánh hoàn tha Hoài Hải hiền.

          (Chiếm cứ Đương Dương riêng hiển truyền. So cùng ngọn chánh, vẫn là phụ. Vó ngựa đạp chết người vô số. Rốt cuộc vẫn thua Hoài Hải hiền).

          (Ngọn Bách Trượng ở phía Đông ngọn Đại Hùng, vách núi cheo leo chót vót, nh́n xuống muôn cây trúc).

          3) Đại hác phong xuy táp địa hàn. Phù dung tước xuất thúy nan khan, kỷ phiên đảo nhạc khuynh tưu hậu. Phương thức cô nguy khước tự an.

          (Khe lớn, gió lùa, đất lạnh căm. Nhức mắt xanh ŕ hoa phù dung. Mấy phen đảo khe, lật núi rồi. Mới biết cô nguy[85] vẫn tự an).

          (ngọn Độc Lập, ở phía Tây của Đại Hùng, vách đá cao ngàn nhận như cổng trời, c̣n gọi là Hải Nhật Tràng).

          4) Cửu phẩm hà tu nhất nhất cầu. Giới thừa câu cấp dĩ tiền thâu. Tu Ma[86] khứ thử tuân phi viễn, xúc mục tiêu tâm kư ngọc phù.

          (Chín phẩm cần chi mỗi mỗi cầu? Giới thừa đều gấp đă thâu rồi. Cực Lạc cách đây đâu xa mấy. Mắt ngó, tâm ghi, gởi ngọc phù).

          (ngọn Ngũ Liên ở trước ngọn Độc Lập. Năm ngọn núi bày hàng ở phía Tây của chùa, đều giống như hoa sen xanh).

          5) Tú xuất song song tốn tụ cao, bất tùy Xuân sắc túy tiên đào. Sơn trung bạc hữu thiên trù cúng, dung hướng nhân gian vấn tử bào[87].

(Vượt trỗi song song ngọn vót cao, chẳng do Xuân sắc, say tiên đào. Trong non, ít có thiên trù cúng, lân la bám víu kẻ quan cao).

          (Ngọn Nhị Nhũ ở phía Đông Nam chùa, xoay hướng về chùa, t́nh giống như mẹ hiền).

          6) Độ tha hà tất khởi phong ba? Mạc quái Tề Đông truyền sự ngoa. Túng sử thiết thuyền chung bất lạn, kỷ nhân năng thính Khuất Nguyên ca.

(Độ người sao cứ dấy phong ba? Đừng trách Tề Đông[88] thích nói ngoa. Nếu như thuyền sắt không hề nát, nghe Khuất Nguyên ca được mấy người?)

(Hẻm núi Thần Châu, thế tục gọi là Linh Phong Nham Khoát, hai bên vách núi chót vót, tương truyền là chỗ thuyền trôi).

7) Hư không vi cứ, đại địa phu. Vô vấn tự thuyết thanh hữu vô. Hoán tỉnh si Thiền kế ly tuyệt, đản quán nhất nặc hoàn nhất hô.

(Hư không làm giá[89], đất làm dùi. Chẳng hỏi tự nói tiếng có không? Lay tỉnh si Thiền bặt chấp trước, chỉ thấy một dạ, lại gọi kêu)

          (Thiên Cổ B́nh: Ở giữa hai ngọn núi Đại Hùng và Bách Trượng. Khi đi, mỗi bước đều có tiếng, chấn động cả hang núi).

          8) Lưỡng giản tuyền thanh giáp trúc cương. Hoảng nghi la đới duệ lâm lang. Kinh hành phạn hậu vô dư sự, nhất nhậm già phu tống tịch dương.

          (Tiếng hai khe suối len vách trúc, bỗng ngờ the lụa rủ ngọc châu. Ăn xong, kinh hành, chẳng ǵ khác. Mặc ḷng tĩnh tọa tiễn chiều tà).

          (Ngọc Bích B́nh: Ở phía Đông của Tạng Đường, trúc rậm, đá lớn, đi và ngồi đều được).

          9) Văn thuyết tùng lai đạo bất cô. Vạn duân tùng lư ngọa quỳnh châu. Phượng hề vị khẳng cam suy đức. Tảo hướng thâm lâm tỵ vơng cô.

          (Nghe đạo trước nay chẳng lẻ loi, gốc quỳnh[90] nằm ẩn giữa rừng măng. Phượng chẳng cam ḷng thua kém đức, sớm hướng rừng sâu tránh lưới giăng).

          (Ánh Bích B́nh ở phía Tây của Tạng Đường, đối diện với Ngọc Bích B́nh, đều phát xuất từ ngọn Đại Hùng, như hai cánh hoa sen xanh, là nội hộ của phạm sát).

          10) Bất thị nhân duyên, bất tự nhiên. Đại hùng đặc địa lộ ngôn thuyên. Sát trần diễn thuyết tuy vô ẩn. Thủy tánh chung tu ẩm giả truyền.

          (Chẳng phải nhân duyên, chẳng tự nhiên. Đại Hùng riêng bộc lộ ngôn thuyên. Sát trần diễn thuyết tuy không ẩn, tánh nước do người uống tự hay).

          (Bí Tạng Nham ở mặt Bắc của Ánh Bích B́nh, gồm ba khối đá lớn như ba điểm của chữ Y, chẳng dọc, chẳng ngang, chẳng ngang hàng, chẳng khác biệt, mặt trước có thể kết lều tranh nhỏ).

          11) Tứ tánh vô sanh, bát bất cai. Thùy tương Tông, Thuyết, cưỡng phân khai? Đản khán trích trích quy thương hải, thỉ tín nguyên tùng A Nậu lai.

(Bốn tánh vô sanh, bát bất[91] thâu. Ai đem Tông Thuyết cưỡng ĺa nhau? Chỉ nhìn mỗi giọt quy biển thẳm, mới tin vốn từ Vô Nhiệt Tŕ).

          (Suối Long Thọ, tên cũ là Long Tuyền. [Nơi này] cầu mưa thiêng nhất, được chép trong Nhất Thống Chí; do vậy, núi có tên ấy. Nơi này ở giữa hai ngọn núi Đại Hùng và Bách Trượng, kham biểu thị Trung Đạo như Long Thọ Đại Sĩ tạo Trung Quán Luận, truyền tâm ấn của Phật. Vị nước suối thuần chánh, thấm nhuần vô cùng).

          12) Bách Trượng phong đầu hàm súc thâm, linh nhiên Đông quốc thấm Thiền tâm. Duy Ma trích thủ nan phi viễn, vị hứa tham phu trước ư châm.

          (Đầu non Bách Trượng chất chứa sâu, lạnh lùng Đông quốc ư Thiền đẫm, Duy Ma bẻ hái không xa lắm, chẳng chịu kẻ tham chấp xen vào).

          (Suối Hoan Hỷ ở phía Đông của ngọn Bách Trượng, Đông, Hạ chẳng hề cạn, uống vào có vị thơm ngọt).

          13) Nhẫn độ trần lao bất khả phệ, Năng Nhân cách ngoại thùy ân tế, dẫn thủ châu vương thập tứ chi, lai hướng sơn trung tuyên diệu kệ.

          (Sa Bà trần lao chẳng đáng ngán, Thích Ca riêng rủ ân tế độ, mười bốn chi dẫn đến châu vương[92], hướng vào trong núi tuyên kệ mầu).

          (Suối An Dưỡng ở phía Tây của ngọn Đại Hùng, vị nước ngon ngọt nhất v như đề hồ).

14) Lịch tận thanh sơn sổ thập tằng, doanh khoa liêu tựu thử trung trừng. Trường không như tẩy, tiêu cô ảnh, bất hướng ô lưu biệt mịch bằng.

(Trải khắp non xanh mấy chục tầng, đầy tràn tụ lại, nước trong veo. Hư không như rửa, riêng in bóng. Chẳng hướng ḍng nhơ để kết bầy).

(Ao Tháo Nguyệt (trăng tắm) ở sườn Tây của Ngọc Bích B́nh, do tích tụ nước từ Long Tuyền mà h́nh thành).

          15) Vị tất thần châu thị hư trám. Tọa văn tuyền thủy nhật nam nam, Măn Từ cửu dĩ thành sư hống, ám chứng đồ tương khẩu thiệt giam.

(Róc rách suối tuôn nghe suốt buổi, chưa hẳn thuyền thần chuyện bỡn đùa. Măn Từ thành tựu sư tử hống, ám chứng cuồng Thiền thảy ngậm tăm).

          (Đàm Kinh Thạch (đá bàn luận kinh) c̣n gọi là Thần Châu Thạch (神舟石, đá thuyền thần) ở bên trái suối An Dưỡng, có thể ngồi được mấy người, nước suối luôn tuôn chảy róc rách).

          16) Đại Hùng cửu khiếm nhi tôn trái. Phách thủ Tu Di an thử giới. Tân Đầu vị cảm hướng không toàn. Mễ Phất[93] bất phương tần hạ bái.

          (Đại Hùng thiếu nợ cháu con lâu, chẻ lấy Tu Di vững cơi này. Tân Đầu[94] chưa dám hư không chuyển, Mễ Phất nào ngại nhiều lượt thăm).

          (Già Phu Thạch (跏趺石, tảng đá ngồi xếp bằng) ở sườn núi ngọn Đại Hùng. Tương truyền khi mưa to, gió lớn, tảng đá này từ đầu non rơi xuống, đúng vào góc Đông Bắc của Tạng Đường. Cỏ cây chen nhau che phủ, có thể ngồi được mấy người, nh́n ra xa là rặng núi phía trước, mấy tầng xanh biếc trùng điệp cùng vây quanh).

          17) Cử thế hôn hôn sỉ độc tinh, loạn sơn thâm xứ thả mai h́nh. Dạ lai phong vũ tồi tàn hủy, chỉ hữu tu hoàng bất cải thanh.

          (Cả đời mờ mịt, thẹn riêng tỉnh, vùi thân non sâu đá chất chồng, đêm qua mưa gió tan cây cỏ, chỉ có trúc dài vẫn biếc xanh).

          (Vạn Trúc Ổ, tên cũ là Thượng Pḥng Ổ, nay có tinh xá đặt tên là Nhiếp Hương Cư).

          18) Tàng thân chi xứ một tung tích, một tung tích xứ mạc tàng thân. Đông phong ngộ báo Xuân quang hảo, hương sắc phân minh cử tự nhân.

          (Chỗ ẩn ḿnh chẳng c̣n tung tích, chỗ không tung tích chớ náu ḿnh. Gió Đông lầm báo cảnh Xuân đẹp, hương sắc phân minh tựa người bày).

          (Thiên Mai Ổ ở phía Đông của Vạn Trúc Ổ, đá h́nh dạng kỳ lạ nhấp nhô, ít có người đến đó. Mơ dại mọc vô số. Khi hoa nở, cả sườn núi trắng muốt, gió đưa hương thơm lan xa).

          19) Hà tất cao khoa Kê Túc sơn? Cá trung phu tọa diệc an nhàn. Thuần Dương phi kiếm tâm cơ thác, hảo hướng Hoàng Long vấn quá quan.

          (Sao cứ khoe khoang núi Kê Túc? Tĩnh tọa nơi đây cũng an nhàn! Thuần Dương phóng kiếm tâm cơ bậy, khéo hỏi Hoàng Long vượt ải thôi)[95].

          (Động Kim Tiên, tên cũ là Tiên Động, ở phía dưới suối Long Thọ, được chép trong Nhất Thống Chí. Thường là chỗ các vị tăng khổ hạnh ở).

          20) Độc cứ Đông Nam tối thượng đầu. Không trung hải khoát nhất phù âu. Nhiêu quân tiên nhập Như Lai huệ, tranh nại quần cơ nhiếp vị châu.

          (Riêng chiếm Đông Nam góc cao nhất, một bọt nổi giữa biển hư không. Để ông nhập trước Như Lai huệ, hiềm nỗi quần cơ chửa trọn thâu).

          (Động Hoa Nghiêm ở bên trái ngọn Nhị Nhũ, [cửa động] mở ra phía Đông Nam, hễ mặt trời mọc bèn chiếu trước).

 

* Sáu bài kệ tụng vấn đáp trong Pháp Hoa Đường

 

          1) Hỏi: Bước nào cũng chưa từng ĺa chấp điều khác, v́ sao chẳng nêu ra điều tương tự?

Đáp: Hễ nêu ra th́ chẳng phải là tương tự.

Tụng rằng: - Diễn Nhă mê đầu hướng kính tŕ, cuồng hô lịch kiếp vị tằng si. Triêu lai mô trước nương sanh tỵ, đáo để song song lưỡng hạ thùy.

(Diễn Nhă soi gương, mê đầu, chạy. Gọi cuồng, bao kiếp chẳng hề si! Nay sờ đúng mũi sanh từ mẹ, hai lỗ song song hướng xuống thôi).

Lại đáp: Rành rành là nêu tương tự.

          Tụng rằng: - Phân minh cử tự bất tranh sai, bộ bộ hà tằng ly trước tha. Cánh vấn chi hồ tịnh giả dă. Hồ nhân nguyệt hạ xuy hồ già.

          (Rơ ràng tương tự chẳng sai đâu, mỗi bước chớ hề ĺa chấp tha. C̣n hỏi chi điều hư huyễn nữa! Dưới trăng người Hồ thổi sáo Hồ).

          2) Hỏi: Nói rành rẽ, phân minh, do đâu mà vận dụng chẳng chấp điều khác?       

          Đáp: Nói tới cùng là chuyện ǵ?

Tụng rằng: - Gia thường trà phạn nhật tam xan, nhất băo hồn vong cơ dữ hàn, chỉ khủng tiễn năng tri thử vị. Biệt đồ phượng năo dữ long can.

(Cơm nước thường ngày ba bữa đủ. Hễ no, đói rét sẽ quên ngay. Chỉ sợ hiếm người biết được vị, riêng mong óc phượng với gan rồng).

Lại đáp: Mỗi bước chưa từng ĺa.

Tụng rằng: - Phân minh bộ bộ bất tằng ly. Nhật dụng tầm thường tận thị y. Quái để Xuân quang biến đào lư, Đông phong tiêu tức kỷ năng tri?

(Rành rành mỗi bước chẳng hề ĺa, mọi chuyện thường ngày nó đó thôi! Đừng lạ tiết Xuân đào, mận khắp. Gió Đông tin báo mấy người hay?)

3) Hỏi: Tam thân và tam tự tánh là đồng hay biệt?

Đáp: Hăy nói xem là đồng hay biệt?

          Tụng rằng: - Tam tánh, tam thân biệt phục đồng. Phân minh chỉ thị bất tu dung. Độc liên thôn lư tam gia khuyển. Nguyệt hạ nhai sài phệ thảo tùng.

          (Ba tánh, ba thân, biệt lại đồng. Rành rành chỉ bảo đừng lẫn lộn. Riêng thương ba chó trong thôn xóm, dưới trăng oăng oẳng sủa cây suông).

          4) Hỏi: Hết thảy các pháp đều có thể tạo thành bốn câu. Lại như ba thân th́ đối với mỗi thân, lập thành bốn câu như thế nào?

Đáp: Bốn câu rành rành rồi!

Tụng rằng: - Vô tánh duyên sanh xúc xứ thông. Hữu vô t́nh lư hỗ hàm dung. Nhất vi diệc tất tồn phương phận. Lung thống như hà đạt thử tông?

(Vô tánh duyên sanh chạm liền thông. Có, không t́nh lư vốn dung nhau. Tế vi ắt cũng c̣n ngằn mé, mờ mịt th́ sao hiểu bổn tông?)

 

* Hai mươi bài tụng nhân cuộc vấn đáp đêm Trừ Tịch

         

          1) Vấn: Như thế nào là v́ Thật hành Quyền?

          Đáp: Mọi nhà có lối thấu Trường An.

          Tụng rằng: - Trị thủy công thành định vĩnh đồ. Hoang yếu hầu điện các phân phù. Thủy Hoàng thôn tính phi lương sách. Biếm nhăn Tần Anh dĩ hiến phù.

          (Trị lụt công thành, cơ nghiệp vững. Hoang vu điện gác mỗi phân chia. Thủy Hoàng thôn tính, thành kế vụng. Chớp mắt Tần Anh đọa ngục tù).

          Lại đáp: Bệnh nhiều th́ thuốc nhiều.

Tụng rằng: - Bệnh đa, dược diệc đa. Tu thị vấn Kỳ Bà. Hoàng Long thang nhất vị, na đắc khởi trầm kha.

          (Bệnh nhiều, thuốc cũng nhiều. Cần thưa hỏi Kỳ Bà. Canh Hoàng Long một vị, nhưng khỏi bệnh trầm kha).

          2) Hỏi: Như thế nào là khai Quyền hiển Thật?

Đáp: - Mượn áo của bà để chúc Tết bà!

          Tụng rằng: - Lễ đáo hà lao mạn phí tiền? Đại gia cung kính hạ tân niên. Diện môn hoan hỷ, tâm an lạc. Bất tiện vô hoài dữ cát thiên.

          (Lễ tới, cần chi phải tốn tiền? Mọi người cung kính chúc tân niên. Mặt mày hoan hỷ, tâm vui sướng, chẳng mộ Vô Hoài với Cát Thiên[96]).

          Lại đáp: - Các ông b́nh đẳng, tâm b́nh đẳng.

Tụng rằng: - Tử đẳng, tâm diệc đẳng. Huống phục tư vô tận. Châu cấp bổn phi nan. Chỉ sầu bất tự khẳng.

(Ta b́nh đẳng, tâm cũng b́nh đẳng, huống hồ của cải cũng vô tận. Châu cấp vốn có khó khăn ǵ? Chỉ lo chẳng tự chịu mà thôi).

          3) Hỏi: Như thế nào là Bổn và Tích tuy khác, nhưng chẳng nghĩ bàn như nhau?

          Đáp: Năm nào cũng là chim vàng anh hót, liễu xanh ŕ.

Tụng rằng: - Xuân quang nhất độ, nhất phiên tân. Trám đắc kiều nô khởi oán t́nh. Độc hữu Đông thôn Vương đại thư, y y do ức cựu thời nhân.

(Mỗi độ Xuân về lại mới toanh. Khiến ḷng hầu gái bỗng xôn xao, thôn Đông riêng có Vương đại tỷ, người cũ bao năm vẫn nhớ nhung).

          Lại đáp: Muôn thuở đầm biếc hiện bóng trăng trên không.

          Tụng rằng: - Vạn cổ bích đàm nguyệt. Doanh khuy thời xuất một. Lao lộc phi hữu vô. Đại biện chung tu nột.

          (Trăng in đầm biếc đã ngàn năm, mọc lặn khuyết đầy chẳng lúc ngơi. Vớt lấy, chẳng là không hay có. Biện bác mà sao cứ ngập ngừng?)

4) Hỏi: Như thế nào là “nếu khởi tâm quán, Bổn lẫn Tích đều mất sạch”? Đáp: Tượng Phật bằng đất đem bồi đường lớn.

          Tụng rằng: - Lộ biên quật thổ thành tôn tượng. Yếu tẩu hoàn tương tôn tượng điền. Chỉ khủng bàng nhân mi đọa lạc, mạn đồng viện chủ oán Thiên Nhiên.

          (Đào đất bên tường, nặn thành tượng. Muốn đi, lại lấy tượng lấp đường. Chỉ sợ kẻ ngoài mày rụng sạch, khác nào viện chủ oán Thiên Nhiên[97]).

          Lại đáp: Hai con trâu đất đấu nhau, rơi xuống biển.

          Tụng rằng: - Nê ngưu đấu nhập hải, mộc nhân tề khát thải, kham tiếu thạch nữ nhi? Do hướng ba gian đăi!

          (Trâu đất đấu nhau, lọt xuống biển. Người gỗ đều đói ăn. Nực cười con thạch nữ, vẫn đợi trong sóng trào).

          5) Hỏi: Như thế nào là Chỉ Quán bất nhị?

Đáp: Trời tối tăm, đất vây hăm!

          Tụng rằng: - Hỗn độn tạc khai phân lưỡng nghi. Thành h́nh, thành tượng mạn sai nghi. Hư không tiêu vẫn tri hà hứa. Chánh thị ngoa truyền Bàn Cổ thời!

          (Hỗn độn khoét rời thành lưỡng nghi. Thành h́nh, thành tượng chẳng sai nghi. Hư không tiêu mất là chi rứa? Tức thời Bàn Cổ[98] vẫn thường đồn).

          Lại đáp: Gương cổ treo trên đài cao.

          Tụng rằng: - Cổ kính quải cao đài, hà phương Hồ, Hán lai? Tú công không phất thức, phất xứ chuyển đa hỹ!

(Gương cổ treo đài cao, ngại ǵ Hồ, Hán đến? Thần Tú lau chùi suông, chỗ lau lại càng nhiều!)

6) Hỏi: Như thế nào phàm phu đầy dẫy triền phược có thể biết tạng bí mật của Như Lai?

Đáp: Mấy chỗ báo cừu, thân chẳng chết!

          Tụng rằng: - Nhất tự chùy Tần Bác Lăng sa, chuyển phùng Hoàng Thạch di kiều tà, tố thư tuy tác Lưu gia dụng, dữ Xích Tùng du lộ vị xa.

          (Chùy đập vua Tần Bác Lăng Sa[99], chân cầu gặp gỡ cụ Hoàng Thạch. Sách báu dựng nghiệp cho Lưu gia. Theo Xích Tùng đi nẻo chẳng xa).

          Lại đáp: Chân thọt nhiều năm nắm chắc bánh lái.

          Tụng rằng: - Chuyên tâm lao bả đà. Bả túc nan hành lộ. Khán phong tiện sử phàm. Thương minh khoảnh khắc quá.

          (Chuyên tâm nắm chắc bánh lái, chân tht khó thể đi đường. Nh́n hướng gió, bèn căng buồm. Khoảnh khắc vượt biển khơi).

          7) Hỏi: Như thế nào là khi sơ phát tâm liền thành Chánh Giác?

          Đáp: Ở ngàn ṣng, đánh bại bọn cờ bạc bèn giàu.

          Tụng rằng: - Sao thô đảm tráng đổ tràng hùng, phá tận hàn toan sĩ tử phong. Nhất trịch tiện thâu thiên ức giới. Đào Châu tuy phú vị kham đồng.

          (Ngọn to, gan lớn, tay cờ bạc, phá sạch kẻ chơi đang cay cú, vừa gieo liền thâu ngàn ức cơi. Đào Châu[100] tuy giàu, chưa sánh bằng).

          Lại đáp: Một sợi dây gắn móc câu bạc chiếu sáng khắp cơi đất.

          Tụng rằng: - Ngân câu quang biến địa, nhất tuyến thiên biên lệ. Sơ dạ lậu thanh hàn. Ảnh hướng thiên giang tư.

          (Móc bạc sáng ngời đất, một dây chói rực trời. Đầu đêm tiếng lậu lạnh. Bóng hiện trong ngàn sông)

          8) Hỏi: Như thế nào là chẳng đoạn sanh tử mà nhập Niết Bàn?

Đáp: Trâu dưới Đại Quy Sơn mập mạp.

          Tụng rằng: - Bất thị oan gia, bất tụ đầu. Tự thân hữu trái, tự thân thù. Mục đồng nhược giải thâm thâm ư, mạc bả thằng tiên cưỡng hệ lưu.

(Chẳng phải oan gia, chẳng gặp nhau. Chính ḿnh mắc nợ, tự ḿnh đền. Mục đồng nếu hiểu ư sâu đậm, chẳng lấy thừng, roi cưỡng buộc trâu).

          Lại đáp: Biển nước thơm giữa bảy rặng núi vàng sóng ngập trời!

          Tụng rằng: - Hương thủy lăng thao thiên, tiềm lưu chú bách xuyên. Thùy năng thường nhất trích, khước bệnh thả diên niên.

          (Nước thơm sóng ngập trời, ngầm tuôn rót trăm sông. Ai nếm được một giọt, hết bệnh lại thọ thêm).

          9) Hỏi: Như thế nào là nối tiếp huệ mạng của Phật?

          Đáp: Chúng sanh vẫn đáng thương y như cũ.

          Tụng rằng: - Quả nhiên y cựu khả liên sanh, trụ trụ xanh xanh trực đáo minh. Phổ thỉnh đại gia đồng trước lực, mạc giao đảo khước bồ đào bằng.

          (Chúng sanh như cũ đáng thương thay! Chống chống chèo chèo đến sáng trưng. Xin khắp mọi người cùng dốc sức, kẻo đừng kéo đổ mất giàn nho).

          Lại đáp: Đói th́ ăn cơm.

Tụng rằng: - Phật mạng bất khả đoạn. Cơ lai tu khiết phạn. Nhất nhật yếu lưỡng xan. Mạc học ngạ tử hán.

(Phật mạng chẳng thể đoạn. Đói th́ phải ăn cơm. Một ngày cần hai bữa, đừng học kẻ chết đói).

10) Như thế nào là sử dụng được trong ngày Ba Mươi tháng Chạp?

Đáp: Ngựa bạc, tiền vàng đón Táo thần.

Tụng rằng: - Ngân mă, kim tiền tiếp Táo thần. Ân cần lễ bái chúc kiền tâm. Nhất môn ḥa khí sanh thiên phước. Tứ quư b́nh an chỉ vạn kim.

          (Ngựa bạc, tiền vàng đón Táo quân. Ân cần lễ bái, tỏ ḷng thành. Một nhà ḥa khí sanh ngàn phước. Bốn quư b́nh an đáng muôn vàng).

          Lại đáp: - Mệt rồi th́ ngủ!

          Tụng rằng: - Lạp tận, sự thanh nhàn, khổn lai tiện đả miên. Nhất mộng do vị túc. Bộc trúc khánh tân niên.

          (Cuối Chạp, việc thanh nhàn. Mệt rồi cứ ngủ kh́. Giấc mộng c̣n chưa đủ. Pháo trúc mừng tân niên).

 

* Hai bài tụng trả lời câu hỏi của Như Mẫu

 

          1) Hỏi: Có người hỏi tổ sư: “Trăm năm sau sẽ đi về chỗ nào?” Tổ bảo: “Đi làm bò đực trong nhà đàn việt. “Người học có làm theo hay không?” Nói: “Cần đóng đinh một nhánh cỏ cây”. Ḅ đực th́ chẳng hỏi, như thế nào là một nhánh cỏ cây?

Đáp: Chính là tự ḿnh ăn.

          Tụng rằng: - Sanh tử lộ mang mang. Luân hồi chánh vị ương, tu đinh nhất hành thảo, thiết vật tá tha lương.

          (Nẻo sanh tử mịt mờ, luân hồi vẫn chẳng xong, cần đóng một nhánh cỏ, chớ vay lương thực người).

          2) Hỏi: Quy Sơn gặp Hàn Sơn, Thập Đắc. Thập Đắc rống ba tiếng như hổ, lại c̣n giơ nhánh cây nói: “Người gọi cái này là cái ǵ vậy?” Ư chỉ như thế nào?

Đáp: Quên mất rồi!

          Tụng rằng: - Lưỡng độ niêm lai nhất tổng vong. Hà tu b́nh địa biệt thương lượng? Đồng điều sanh, bất đồng điều tử. Sầu thính hàn nha độ tịch dương.

          (Hai lượt nêu ra, quên tuốt rồi. Cần chi đất phẳng riêng bàn bạc? Cùng sanh, há có cùng nhau chết? Quạ kêu chiều tối vẳng sầu thương).

 

* Bài tụng lễ tháp xá-lợi (tháp ở Phong Nam thuộc Hấp Huyện. Ngô Đại Niên thuộc gia đ́nh Tôn Sán Như)

 

          Vô lượng Giới, Định, Huệ, trang nghiêm tịnh Pháp Thân. Pháp Thân phi phi sắc. Phi sắc vị khả danh. Toái tác bát hộc châu. Khỏa khỏa toàn tánh chân. Thị dĩ quảng lưu bố, tại xứ trình quang minh. Thiện tai Đại Niên ông! Hoạch thử xuất thế trân, thiện căn bất khả tận. Cắng cổ hằng tân tân. Chiếu thử chánh tín gia, doãn tác Bồ Đề trinh. Ninh duy nhất gia bảo, thiên nhân sở phụng tôn. Đảnh lễ thành duyên chủng, phân minh lạc độ tân.

(Vô lượng Giới, Định, Huệ, trang nghiêm tịnh Pháp Thân. Pháp Thân chẳng phi sắc. Phi sắc chẳng thể gọi. Đập nát tám hộc châu, từng viên vẹn chân tánh. Do vậy, rộng lưu truyền. Khắp chốn tỏa quang minh. Lành thay, ông Đại Niên! Có xuất thế trân này, thiện căn chẳng thể tận. Tự cổ luôn mới mẻ, chiếu trong nhà chánh tín, tạo thành cội Bồ Đề. Của gia bảo duy nhất, người, trời cùng tôn trọng. Đảnh lễ thành duyên chủng. Phân minh bến Lạc Độ).

 

23. Minh[101]

* Bài minh tại Phạm Vơng Thất

 

          Vấn dư hà sở thỉ? Hằng tham Phạm Võng chỉ. Tọa đoạn bách phi nguyên, phương tri duy thị thử. Bất ly tối sơ tâm. Tức thị Xá Na tủy. Tiệm đốn ninh hữu kỳ, Nhất, đa khởi dị quỹ? Nghiệm quả dũ minh nhân. Thác sự ích hiển Lý. Mạc vị phù nang vi, kham tá trung lưu chỉ. Đế quán tâm địa môn, ưng tín thất phi nhĩ!

(Hỏi tôi lập thệ nào? Luôn tham cứu ư chỉ, của bản kinh Phạm Vơng. Chặt đứt trăm nguồn sai, mới biết chỉ là đó. Chẳng ĺa tâm tối sơ, chính là Xá Na tủy! Tiệm, đốn, há chia nẻo? Một, nhiều nào khác đường! Nghiệm quả càng rơ nhân; cậy Sự thêm hiển Lư. Đừng bảo phao nhỏ bé, kham chống chọi giữa ḍng. Quán chắc tâm địa môn. Hăy tin “thất” chẳng vậy!)

 

* Bài minh cạnh ṭa Đức Lâm

 

          Dĩ băng sương chi tháo tự lệ, tắc phẩm nhật thanh cao. Dĩ khung lung chi lượng dung nhân. Tắc đức nhật quảng đại. Dĩ thiết tha chi nghị thủ hữu. Tắc học vấn nhật tinh. Dĩ thận trọng chi hạnh lợi sanh, tắc đạo phong nhật viễn. Cố viết: Trung dĩ hành kỷ, thứ dĩ cập vật. Hựu viết: Tu kỳ thiên tước, nhi nhân tước tùng chi.

(Dùng tiết tháo băng sương tự gắng, phẩm đức ngày một thanh cao. Dùng lượng trời thẳm dung người, đức sẽ ngày càng rộng lớn. Dùng t́nh giồi mài kết bạn, học vấn ngày càng tinh ṛng. Dùng hạnh thận trọng lợi sanh. Đạo phong ngày càng sâu xa. Do vậy nói: Dùng trung hậu để rèn ḿnh, dùng khoan dung lợi chúng. Lại nói: Tu được thiên tước, nhân tước sẽ theo sau).

 

* Bài minh cho tịnh xă

 

          Trì giới vi bổn, Tịnh Độ vi quy. Quán tâm vi yếu, thiện hữu vi y.

(Tŕ giới làm gốc, Tịnh Độ nương về, quán tâm trọng yếu, nương cậy bạn lành).

 

* Bốn bài minh về gậy chống

 

          1) Trung hư nhi thật, tiết lệ nhi ôn. Trợ nhĩ thần túc, du hý pháp môn. Truy di tung ư tiền mại, đạo cảnh tùng chi hậu côn (cây gậy chống bằng gỗ của huynh Quy Nhất).

(Giữa rỗng mà chắc, tiết cứng nhưng ôn ḥa. Giúp thần túc của ông. Du hư các pháp môn. Dơi theo vết người trước. Cho đàn em noi bóng)

2) Phóng khứ trụ địa, kình thiên. Niêm lai, kháp đầu phanh não. Đồng thượng Tu Di phong, cộng hành Trường An đạo. Đốt! Nhược phi bát thảo tịnh chiêm phong, bất nhị pháp môn hà xứ thảo? (Tặng Tương Thủy Tân)

(Buông ra chống đất, nâng trời. Cầm lấy, gơ đầu, phang năo. Cùng trên đỉnh Tu Di, cùng đi đường Trường An. Ôi! Nếu chẳng vạch cỏ mà ngóng gió, pháp môn Bất Nhị kiếm nơi nào?)

3) Hữu thủ bất ngang, hữu chỉ bất vụ, tương dục hà tiền, thoái hậu nhất bộ (tặng huynh Linh Ẩn).

(Có đầu chẳng ngửa. Có ngón chẳng chạy. Muốn tiến về trước, thoái lui một bước).

4) Nhân vị nhĩ hư, ngã tri nhĩ thật. Ngã phù nhĩ hành. Nhĩ vi ngã bật. Tương đối vô ngôn, phi thiên ý mật. Mộ nhập thiên phong, y nhiên nhất thất (tự dùng gỗ làm gậy chống).

(Người nói ngươi hư, ta biết ngươi thật. Ta cầm ngươi đi, ngươi giúp ta bước. Đối diện lặng thinh, ngàn ư chẳng trọn. Vào thẳng ngàn ngọn, nghiễm nhiên một thất).

 

* Bài minh nơi Tịnh Tín Đường

 

          Ngã sở trụ đường, giai đanh Tịnh Tín. Luân tướng sơ khai, phá nghi tiền trận. Ngũ Hối công thành. Chí tâm phát nhận. Nhị Quán viên dung, tùy cơ thiện tấn. Bình đẳng Pháp Thân, tam-muội trung tuấn. Quán sát kỷ tâm, niệm Phật tâm ấn. Quyết định ưng ly, tạp loạn cấu tận. Tam nhẫn, tứ Phật, khang trang phi tuấn!

          (Điện đường ta trụ, đều tên Tịnh Tín. Luân tướng vừa mở. Phá nghi: trận đầu. Ngũ Hối: công thành. Chí tâm: Giao chiến. Nhị Quán viên dung, tùy cơ khéo tiến. Pháp Thân b́nh đẳng. Tam-muội lỗi lạc. Quán sát tâm ḿnh: Tâm ấn niệm Phật. Quyết định nên ĺa, tạp loạn, cấu tận. Tam nhẫn, tứ Phật, mênh mông chẳng khó khăn!)

 

* Bài minh cho Phạm Vơng Thất (thứ hai)

 

          Ngã sở trụ thất, tức danh Phạm Võng. Thập phương Phật pháp, do như quán chưởng. Văn tự tánh ly, phi mặc, phi hưởng. Cánh ngôn “bất lập”. Vô đoan thành lưỡng, tâm địa pháp môn, giới quang sâm sảng, tánh tu giao thành, Thật Tướng tư lãng. Pháp, Báo, Hóa Thân, Thể phương thả quảng. Hoa Tạng trang nghiêm, kính trung hiện tượng.

(Cái thất tôi ở, tên là Phạm Vơng. Mười phương Phật pháp, như nh́n bàn tay. Văn tự tánh lìa, chẳng lặng, chẳng vang. Nếu nói “chẳng lập”, vô cớ thành hai! Pháp môn Tâm Địa, giới quang dày đặc, tánh tu xen thành. Thật Tướng tự rạng, Pháp. Báo, Hóa Thân, Thể phương lại quảng. Hoa Tạng trang nghiêm, hiện bóng trong gương).

 

* Bốn bài minh về cái gậy trúc vuông

 

          1) Tàng hư ư thật, ngụ viên nhi phương. Trụ thiên táp địa, tùy quân cử dương. Đốt! Chuyển thân hà xứ tầm tung tích? Mộ trực quy gia dạ vị ương (tặng Bảo Nhất).

          (Chứa hư nơi thật, trong tṛn mà vuông. Chống trời, giáp đất. Mặc ông nêu bày. Ôi! Xoay người chốn nào t́m tung tích? Thẳng lối về nhà đêm chưa tàn).

          2) Trực trung thằng, phương trung củ. Dục vấn do lai, tân trung thức chủ (tặng huynh Như Thị).

          (Trong thẳng có chừng mực, trong vuông có quy củ. Muốn hỏi nguyên do, từ khách biết chủ).

          3) Bất tồn quỹ tắc, liêu thị phương ngung. Kiên vân đới nguyệt, dật trần nhi xu (tặng Tri Bốc).

(Chẳng giữ khuôn phép, nêu bày góc cạnh. Gánh mây, đội trăng, lánh trần mà đi)

          4) Mẫu ngoan nhữ thể, mẫu lộ nhữ đoan. Xả chi lật lật, dụng chi sách sách! (tự đề).

(Mẹ khắc thành thân ngươi. Mẹ lộ liễu, ngươi đoan chánh. Bỏ th́ run rẩy, dùng th́ lề rề).

 

* Bài minh cái gậy chống

 

          Hữu thời trụ địa kình thiên. Tắc đoạn thánh phàm tỵ khổng. Hữu thời đảm vân hà nguyệt, khiêu khai Phật, Tổ nhãn tình. Dục vấn hà niên cốt đổng, y hy yên thủy bách thành.         

(Có lúc chống đất, đỡ trời. Nghẹt cứng lỗ mũi phàm, thánh. Có khi gánh mây, vác trăng; khêu mở tròng mắt Phật, Tổ. Muốn hỏi đồ cổ năm nào? Khói nước trăm thành y hệt!)

 

* Ba bài minh về chiếc đũa

 

          1) Pháp vị doanh xỉ, bất phiền nhiễm chỉ, ly khước đơn truyền. Bạch niêm hao thỉ.

(Pháp vị ngập răng, chẳng phiền bẩn tay. Ĺa khỏi đơn truyền, khéo nêu khởi đầu!)

          2) Dụng hữu đãi, Thể vô tam. Nhĩ tri vị, ngã hà tham?

(Dụng c̣n đối đãi, chứ Thể chẳng ba, ngươi biết vị, ta tham ǵ?)

          3) Đơn bất lập, chích nan kình, tá trù hoạch, nghĩ điều canh.

(Đơn chẳng lập, chiếc khó chống, mượn để tính toán. Tính điều ḥa canh).

 

* Bài minh cạnh chỗ ngồi của Vương Học Cổ

         

          Hạo nhiên chi khí, nhân giai tnh cụ. Hà dĩ dưỡng chi, tập nghĩa thị vụ. Nghĩa phi khả tập, viên xưng chánh lộ. Thản thản châu hành, bất ưu bất cụ. Lập mạng tri thiên, phi vực khí số. Bế môn tạo xa, xuất môn hợp độ. Đạo chi sở tồn, phi hủy hà cố? Đạo chi bất lục, vinh danh hà mộ? Thục mị chung tịch, đàn chỉ tiện ngụ. Nam minh Bắc minh, nhậm nhĩ du ngụ. Sủy bỉ hôn manh, dăng xu si phụ. Hạ tắc hỷ phong, Đông năi tham úc. Ngộ tánh thành tu, lực dụng tư dụ. Ma-ni tại tràng, chúng bảo phổ chú. Thử ngoại tầm huyền, ngũ thập bách bộ.

(Khí mênh mông, ai nấy tánh đều sẵn có. Dùng ǵ để dưỡng? Chăm chú học tập nghĩa. Nghĩa chẳng thể noi theo, bèn gọi là chánh lộ. B́nh thản đi khắp, chẳng lo, chẳng sợ. Lập mạng, biết trời. Chẳng phải khí số của một vùng. Đóng cửa chế xe. Ra cửa hợp lẽ. Đạo được tồn tại, chẳng hủy, sao lo? Đạo chẳng ghi chép, vinh danh có ǵ đáng hâm mộ? Ngủ say suốt đêm, khảy tay liền tỉnh. Biển Nam, biển Bắc, mặc t́nh chơi, ở. Cười kẻ mù tối, ruồi bâu, nhặng đậu. Hè th́ ưa gió, Đông bèn tham ấm. Ngộ tánh thành tu. Lực dụng dồi dào. Ma-ni trên tràng, các báu rưới khắp, t́m huyền diệu ngoài lẽ đó, năm mươi, trăm bước).

 

* Bốn bài minh về Tứ Vô Lượng Tâm

 

          1) Thị nhân chi thiện, do kỷ chi thiện. Thị kỷ chi thiện, do nhân chi thiện. Niệm niệm đồng quán, cắng cổ gián. Pháp giới giai du tứ đức thành, phương măn tối sơ hoằng thệ nguyện (Từ).

(Thấy điều lành của người, như điều thiện của ḿnh. Thấy điều thiện của ḿnh, như người khác làm lành. Niệm nào cũng quán vậy, xưa nay chẳng gián đoạn. Pháp giới dạo chơi thành tứ đức, hoằng nguyện tối mới vẹn toàn).

          2) Thị nhân chi ác, do kỷ chi ác. Thị kỷ chi ác, do nhân chi ác. Mănh tỉnh lực trừ, vô linh quư tạc. Pháp giới chúng sanh tam độc trừ, bỉ ngă đồng quy vô thượng giác (bi).

(Thấy người khác làm ác, như chính ḿnh làm ác. Thấy chính ḿnh làm ác, như người khác làm ác. Mạnh mẽ tận lực trừ, khiến cho chẳng thẹn hổ. Pháp giới chúng sanh trừ Tam Độc. Ta, người cùng quy Vô Thượng Giác).

          3) Thị nhân chi lạc, do kỷ chi lạc. Thị kỷ chi lạc, do nhân chi lạc. Sở dục dữ cộng, tật đố vĩnh khước. Pháp giới đồng hân pháp hỷ sung, bất hướng thiên không tầm lược thược (hỷ).

(Thấy người được vui sướng, như chính ḿnh được sướng. Thấy ḿnh được vui sướng, như người khác sướng vui. Muốn họ cùng được hưởng, ghen tỵ vĩnh viễn trừ. Pháp giới cùng vui pháp hỷ tràn. Chẳng hướng Thiên Không t́m đường nẻo).

          4) Thiện ác tnh cụ, thiện ác tnh không, hà hỷ hà nộ, như không ngự phong. Mặc tŕ cơ cảm, diệu ứng vô cùng, đại viên kính trí chiếu bất b́, khởi tự Quyền Thừa tác ư thông (Xả).

(Thiện ác tánh sẵn đủ. Tánh thiện ác là không. Ǵ mừng, ǵ là giận? Như gió lùa hư không. Thầm giữ để cơ cảm. Diệu ứng chẳng tận cùng. Đại viên kính trí chiếu chẳng mệt, há giống Quyền Thừa tác ư thông?)

 

* Bài minh ở Diệu Nghiêm Thất, v́ Dung Am mà soạn

 

          Vong thô tư diệu, bất sức tư nghiêm. Thận nhĩ u độc, tự mục dĩ khiêm. Can Tương phỉ lợi, khẩu phủ thành tiêm. Quân tử tự phản, huệ nhật phổ chiêm.

(Quên thô nên diệu. Chẳng tô vẽ nên nghiêm. Thận trọng nơi thanh vắng, thận trọng dẫu một ḿnh. Dùng khiêm tự chăn giữ. Gươm Can Tương chẳng sắc, búa miệng thật sự bén. Quân tử tự phản tỉnh, huệ nhật chiếu rạng khắp!)

 

* Bài minh giới tâm, giới phương

 

          Hối quá bất như phòng quá. Tích phước vưu nghi tích phước, Phật pháp thâm diệu vô cùng, thiết vật tự khí tự cục. Nhược yếu thục xứ tiệm sanh, tiên tu sanh xứ tiệm thục.

(Hối lỗi chẳng bằng ngừa lỗi. Tiếc phước càng hơn chứa phước nhiều. Phật pháp sâu mầu vô cùng. Chớ tự bỏ, tự hạn cuộc. Nếu muốn chỗ chín dần thành sống, trước phải khiến chỗ sống thành chín).

 

* Bài minh ở Cấn Lục Cư

 

          Nhất niệm mê vọng, lục trần đốn trần. Kết căn bàn thác, lưu dật bôn trần. Tạo nghiệp chiêu khổ, tam hữu thuân tuần, toại kinh khoáng kiếp, mang phất vấn tân. Cấu thử thống khổ, ngộ thân phi thân. Bạt vọng nội phục, bất kiến kỳ nhân, tư bất xuất vị, thứ ky phản chân.

(Một niệm mê vọng, sáu trần chóng bày. Gốc lỗi kết sâu, bôn ba trần cảnh. Tạo nghiệp chuốc khổ. Tam hữu quẩn quanh, trải bao nhiêu kiếp, mờ mịt chẳng hỏi bến về! Tạo nỗi đau khổ ấy, ngộ thân chẳng phải thân. Dẹp vọng, chế phục tâm, chẳng thấy có ai khác. Nghĩ chẳng ra khỏi chỗ, ngơ hầu quay lại Chân!)

 

24. Châm[102]

* Bài châm về mười hai sự thuộc Chỉ Quán

         

Pháp vô lai khứ, vọng tình đồ nhiễu, liễu hành phi hành, đại chuyết chí xảo (Hành).

(Pháp chẳng đến, đi, vọng t́nh quấy nhiễu, hiểu hành chẳng hành, vụng to thành khéo).

          Trung lập bất ỷ, vị thị thâm Thiền, liễu trụ phi trụ, năi tri bất thiên (Trụ).

(Đứng giữa, chẳng lệch, chưa phải Thiền sâu. Hiểu trụ chẳng trụ, mới biết chẳng lệch).

          Thân tâm vị vong, chung thành điệu hối, liễu tọa phi tọa, nhập tam-muội hải (ngồi).

(Thân tâm chưa quên, trọn thành lao chao. Hiểu ngồi chẳng ngồi. Nhập biển tam-muội).

Vạn thiện vị viên, nhẫn đọa si ngục. Liễu ngọa phi ngọa, mộng hành năi túc  (nằm).

          (Vạn thiện chưa viên, nhẫn đọa si ngục. Hiểu nằm chẳng nằm. Mộng đi bèn đủ).

Ban sài vận thủy, Thể tự như như, vô tác nhi tác, bạch ngưu đại xa (tác).

          (Vác củi, gánh nước, Thể tự như như. Vô tác mà tác, xe trâu trắng lớn).

          Danh tự tnh Không, hà pháp hà ngữBất thủ ư thủ, chư Phật sở hứa (ngữ).

(Danh tự tánh không. Pháp ǵ? Ngữ ǵ? Chẳng chấp vào Thủ, chư Phật chấp thuận).

          Không hoa thủy nguyệt, hà khứ hà lai? Vô kiến phi kiến, thiết vật loạn sai (thấy Sắc).

(Hoa trên không, trăng dưới nước. Ǵ là đến, đi? Chẳng thấy, không thấy, đừng suy đoán lung tung).

          Không cốc truyền hưởng, chánh pháp hằng tuyên. Văn sở văn tận, quán hoa dũng tuyền (nghe tiếng).

(Hang trống vọng tiếng, chánh pháp luôn tuyên. Nghe, cái nghe hết. Chuỗi hoa vọt trào).

          Chiên đàn, y lan, hà mỹ hà tệ? Tỵ khổng y nhiên, dĩ siêu nhân thế (ngửi hương).

(Chiên đàn, y lan, ǵ là đẹp xấu? Lỗ mũi y hệt, vượt khỏi đời người (ngửi hương).

          Mộng hưởng tô đà, tỉnh bất thức vẫn, đoạn thực tánh Không, hề lao hân uẩn? (nếm vị).

(Mộng hưởng tô đà[103], tỉnh chẳng lau mép. Đoạn thực tánh Không. Vui, chán uổng công!).

          Ly kư phi hữu, hợp diệc hà quan? Vô thống, thống giác, đao hỏa nhàn nhàn (cảm nhận).

(Ĺa đă chẳng có, hợp há liên quan? Chẳng đau, biết đau, đao lửa giăng giăng).

           Pháp do tâm sanh, tâm tùy pháp huyễn, mịch chi vô tung, nguyệt trầm cổ giản (biết pháp).

(Pháp do tâm sanh, tâm do pháp huyễn, t́m chẳng tung tích. Trăng ch́m khe cũ).

 

25. Từ

* Bài từ cầu mưa

 

          Xuân khổ vũ, hạ khổ tình. Nhất vũ, nhất tình, duy thức sở trình. Thức vô chủ tể, tùy nghiệp sở oanh. Hu ta nghiệp hề, đồng phận tương thành. Cảm thử khốc độc, dân phất liêu sanh. Phỉ long vương chi thất đức, khởi thiên đế chi phất tình? Do dư đức chi bất loại hề, vi thệ khải chi thâm hoằng. Kim kiệt chí nhi hối quá hề, khấu Đại Sĩ chi túc minh, bi hạ dân cho mạc chửng hề. Vân tứ hiệp nhi lôi oanh, bái cam tuyền ư đại địa hề, tỷ khê giản dĩ uyên hoằng. Nông hân hoạch ư thâu thật hề, đạo nhị tích nhi an bình. Hà Tam Bảo chi ân tế hề, tiệm khử tà dĩ quy chánh, tịnh kiều thỉnh ư thiên long hề, giám dư hoài chi khẩn thành, đồng phụ bật ư Bồ Đề hề, cộng thuyên tạo hồ giác thành.

(Xuân khổ v́ mưa, hạ khổ v́ tạnh. Một tạnh, một mưa, chỉ phô duy thức. Thức chẳng có chủ tể. Tùy nghiệp vấn vít. Than ôi nghiệp kia, đồng phận cùng thành. Cảm nỗi khổ tột! Dân không lẽ sống, há do long vương thất đức, nào phải Thiên Đế vô t́nh? Do đức ta chẳng ra ǵ, trái nghịch thệ nguyện sâu rộng. Nay dốc chí hối lỗi, van Đại Sĩ nhớ lời thề xưa, xót thương dân chẳng được cứu vớt, hợp mây bốn phía rền tiếng sấm, rắc suối ngọt xuống đại địa, khiến cho khe suối ngập tràn. Nhà nông vui mừng thâu hoạch dư dật. Kẻ mót thóc cũng b́nh an. Gánh đội ân Tam Bảo cứu vớt, dần dần bỏ tà theo chánh! Lại dốc ḷng thỉnh trời, rồng, xét ḷng tôi thành khẩn, cùng giúp rập Bồ Đề, cùng kiến tạo ṭa thành giác ngộ).

          Linh Phong Tông Luận Phần 8



[1] Thọ tự (壽序) chính là các bài văn chúc thọ. Thể loại này đă có từ thời Nam Tống, đến giữa thời Minh trở đi, rất thịnh hành, nhưng hầu như chỉ thấy sử dụng nhiều ở Giang Nam.

[2] Đồng chân nhập đạo (童真入道): Đi tu từ bé.

[3] Thạc nhân (碩人) có nghĩa là người hiền đức. Đây là phong hiệu dành cho vợ quan Thị Lang trở lên. Ở đây, bà Tô được gọi là Thạc Nhân với ý nghĩa ca ngợi bà là người hiền đức.

[4] Đây là cách phân định ư nghĩa giáo học do tông Lâm Tế đề xướng: Trong mỗi một câu, có ba tầng huyền môn. Mỗi huyền môn đều có ba điều trọng yếu. Tam huyền cụ thể là:

1) Thể trung huyền: Thông qua ngôn ngữ, phá trừ vọng tưởng, thoát ĺa các tướng.

2) Cú trung huyền: Siêu việt ư thức phân biệt, do ly mà phản chiếu, tịch quang vô vi.

3) Huyền trung huyền: Trở về cảnh giới bổn nguyên, có đặc tánh vô công dụng.

Mỗi huyền môn có ba tầng trọng yếu là sơ yếu, trung yếu và thượng yếu.

Tông Lâm Tế chủ trương dựa trên tam huyền mà có ba giai đoạn tu hành:

1) Hiểu rơ mỗi huyền có tam yếu để tự cứu, thể nhận bổn chân Phật tánh.

2) Thông qua hai huyền sáu yếu để bảo tr trạng thái rỗng rang, linh thông, vô trụ.

3) Thấu triệt tam huyền cửu yếu để đại tới trạng thái vô ngại trong các oai nghi.

[5] Ngũ vị là năm địa vị của Bồ Tát dựa theo cách phán định của tông Duy Thức:

1) Tư lương vị: Hàm nhiếp các điều thiện hữu lậu để đạt tới Phật quả (bao gồm các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng).

2) Gia hạnh vị: Chỉ hàng Bồ Tát thuộc địa vị Tứ Gia Hạnh (Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất). Dùng phước trí tư lương để gia công dụng hạnh ḥng nhập Kiến Đạo (Hoan Hỷ Địa).

3) Thông đạt vị (c̣n gọi là Kiến đạo vị): Tức Sơ Địa Bồ Tát, đă thấu hiểu Chân Như, trí chiếu nơi Lư, thấy Trung Đạo.

4) Tu tập vị (c̣n gọi là Tu Đạo vị): Từ Nhị Địa đến Thập Địa Bồ Tát, đă kiến đạo, đoạn trừ chướng, lại lần lượt tu tập các địa vị thăng tấn.

5) Cứu cánh vị: Tức địa vị Diệu Giác Phật.

[6] Cửu đới tức các phán định giáo nghĩa do ngài Phù Sơn Pháp Viễn Viên Giám đề xướng. Do khái niệm quá rườm rà, chỉ xin nêu ra danh mục như sau: Phật chánh pháp nhăn tạng đới, Phật pháp tạng đới, lư quán đới, sự quán đới, lư sự tung hoành đới, khuất khúc thùy đới, diệu diệp kiêm đới, kim châm song tỏa đới, và b́nh hoài thường thật đới.

[7] Ngài Quy Sơn Linh Hựu lập ra đồ h́nh gồm chín mươi sáu loại viên tướng, tương truyền là do ngài Nam Dương Huệ Trung quốc sư thiết lập để biểu thị giáo nghĩa. Đồ h́nh gồm chín mươi sáu h́nh tṛn nhằm biểu thị các tướng trạng khác nhau của chân lư.

[8] Thân thể số lượng rất nhiều không thể tính xuể, nên dùng chữ Vân (mây) để sánh ví.

[9] Trương Tử Thiều (1092-1159), tên thật là Cửu Thành, tên tự là Tử Thiều, hiệu Vô Cấu và Hoành Phố cư sĩ, là một học giả thời Bắc Tống, làm quan đến chức Tri Châu của Ôn Châu, chơi thân với thiền sư Đại Huệ Tông Cảo. Ông để lại trước tác gồm hai bộ Hoành Phố Tập (hai mươi quyển) và Trung Dung Thuyết (ba quyển).

[10] Ở đây, Tổ chơi chữ. Nhất quán (一貫) là đạo lý xuyên suốt, có thể hiểu thô thiển là tất cả Phật pháp không ra ngoài Chân Như; đó là nhất quán. Nhưng trong cách nói thông dụng thì “nhất quán” còn có nghĩa là một xâu tiền gồm một ngàn đồng. Do vậy mới nói “nhất quán là hai cái năm trăm”.

[11] Đây là một câu chuyện trích trong thiên Tiên Tấn của sách Luận Ngữ. Khổng Tử lúc đó có bốn học tṛ đứng hầu là Tăng Điểm, Nhiễm Hữu, Tử Lộ và Công Tây Hoa đứng hầu. Khổng Tử hỏi về chí hướng, Tăng Điểm thưa: “Mạt xuân giả, xuân phục kư thành, quán giả ngũ lục nhân, đồng tử lục thất nhân, dục hồ Nghi, phong hồ Vũ Hu, vịnh nhi quy” (Vào lúc cuối mùa Xuân, y phục mùa Xuân đă chuẩn bị xong, năm sáu kẻ trưởng thành, sáu bảy đứa bé con, đến bên sông Nghi tắm, lên hóng gió trên đài Vũ Hu, ca hát mà trở về). Khổng Tử thở dài bảo: “Ngô dữ Điểm dă” (ta cũng giống như Điểm vậy). Theo các nhà chú giải, trong khi các học tṛ khác như Nhiễm Hữu, Tử Lộ, và Công Tây Hoa đều biểu lộ muốn làm quan, kinh doanh, hay dùng lễ nhạc giáo hóa dân chúng, Tăng Điểm dường như chẳng có chí hướng ǵ, nhưng thật ra, Tăng Điểm đă mô tả đơn giản cảnh tượng dân chúng an ổn, vui sướng, thế giới đại đồng, là giấc mộng mà Khổng Tử luôn ấp ủ.

[12] Lương đ́nh (涼亭) theo truyền thống là một kiến trúc thường cất bằng gỗ, hoặc trụ đá, nhưng rùi, kèo bằng gỗ, lợp ngói, mái cong. Đình có h́nh bát giác, hoặc h́nh vuông, bốn phía để trống, trong ấy có đặt bàn ghế để ngồi hóng mát.

[13] Hỏi ư hoặc tham khảo ư kiến người nhỏ tuổi, học thức kém hơn ḿnh th́ gọi là “hạ vấn”.

[14] Ư nói không làm trụ tŕ hay lănh chúng.

[15] “Tư” có nghĩa là trông nom, quản trị. Tư Mã là chức quan trông coi quân sự, binh bị, tương đương với Binh Bộ Thượng Thư sau này. Tư Lại là chức quan trông coi việc bổ nhiệm, thăng thưởng, hoặc trừng phạt các quan viên, tương đương với Lại Bộ Thượng Thư. Tư Nông là chức quan coi việc nông nghiệp, khai khẩn v.v…

[16] Chính là tùy hỷ, đọc tụng, thuyết pháp, kiêm hành Lục Độ và chánh hành Lục Độ.

[17] Tử Bách đại sư từng nói “nếu ai hiểu được nửa bài kệ của Tỳ Xá Phù Phật, th́ đạo nghiệp đă thành công”.

[18] Phương Sơn là hiệu của trưởng giả Lư Thông Huyền.

[19] Thời Xuân Thu, nhạc nước Trịnh có nhiều dâm thanh, tức là nhạc rên rỉ, ủy mị, diễm tình quá mức đến nỗi gần như phong thái dâm đăng. Do vậy, tất cả các loại nhạc không đứng đắn, tà mị đều gọi là “Trịnh thanh”, “Trịnh âm”, hoặc “Trịnh nhạc”. “Trịnh nhạc loạn Nhă” tức là âm thanh của nhạc nước Trịnh rối loạn Nhă Nhạc của nhà Châu, hàm nghĩa tà mị, bất chánh rối loạn lẽ chánh đáng.

[20] Tháp chí minh là một thể loại văn tự dùng để khắc lên bia hoặc tường nơi mộ tháp, mục đích chủ yếu là trần thuật duyên khởi kiến tạo tháp, công hạnh của người được chôn cất hay được tưởng niệm tại đó. Thông thường, một bài tháp chí minh bao gồm các yếu tố như duyên khởi kiến tạo, người đứng ra kiến tạo, thời gian kiến tạo, công dụng của tháp, và những chi tiết phụ thuộc khác như kết cấu, vật liệu, phong cách v.v… của tháp.

[21] Giang Ngoại tức Giang Nam, tức vùng đất ở phía Nam sông Trường Giang. Do nhìn từ Trung Nguyên (phần đất giữa Hoàng Hà và Trường Giang) thì Giang Nam ở ngoài Trường Giang nên gọi là Giang Ngoại.

[22] Năm 221 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng thiết lập quận Mân Trung (thuộc địa bàn tỉnh Phước Kiến hiện thời), quận lỵ đặt tại Đông Dă (nay là Phước Châu). V́ thế, nơi này thường được gọi là đất Mân. Tới niên hiệu Khai Nguyên đời Đường, triều đ́nh lập ra Phước Kiến Kinh Lược Sứ để cai quản vùng này. Từ đấy mới h́nh thành danh xưng Phước Kiến. Thời Bắc Tống, triều đình chia Phước Kiến Hành Chánh Khu thành sáu châu là Phước, Kiến, Tuyền, Chương, Đinh, Nam Kiếm, và hai quân () là Thiệu Vũ và Hưng Hóa. Quân (không phải quận) là đơn vị hành chánh nhỏ hơn châu (tuy vẫn cùng cấp). Sáu châu và hai quân ấy được gọi chung là Bát Mân. Trong niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, triều đ́nh lại chia Phước Kiến thành tám phủ là Phước Châu, Kiến Ninh, Diên B́nh, Thiệu Vũ, Hưng Hóa, Tuyền Châu, Chương Châu, và Đinh Châu, nhưng vẫn gọi là Bát Mân như cũ.

[23] Nguyên văn “khôn bất bẩm giới, binh, nô, ngục tù”, “khôn” () là một loại h́nh phạt thời cổ, cạo trọc đầu của người phạm lỗi, đeo ṿng sắt vào đầu. Do tăng sĩ chỉ cạo tóc, chẳng quan tâm thọ giới, giữ giới, nên Tổ than thở người cạo đầu chẳng khác với binh lính, nô, hay kẻ phạm tội bị phạt giam trong tù ngục!

[24] Nguyên văn “chứng quy tác miết” (證龜作鱉, chứng minh con rùa là ba ba) tức là bịa đặt, ngụy tạo lập luận để bênh vực cho những tà thuyết của chính mình.

[25] Thảo ô, tên khoa học là Aconitum Carmichaelii, c̣n gọi là Ô Đầu, Thổ Phụ Tử, Đoạn Tràng, Khổ Ô Uế, Hề Độc, Kê Độc, Lang, Độc Công, Độc Bạch Thảo, là một loại thảo dược, rễ có chất kịch độc. Cây có thể mọc cao tới một mét hai tấc, có hoa màu tím hoặc màu xanh dương nhạt rất đẹp, nhưng không có hương. Khi ăn nhầm củ nó, sẽ bị tê dại mặt mũi, miệng mũi bỏng rát, bụng như có lửa đốt, dần dần tay chân tê bại, rối loạn nhịp tim, toát mồ hôi, choáng váng, khó thở, rối loạn nhận thức. Chất độc cũng có thể xâm nhập nếu dùng tay trần để bẻ lá cành của nó!

[26] Tức công án Nam Tuyền trảm miêu” trong nhà Thiền. Các thiền sinh của ngài Nam Tuyền Phổ Nguyện v́ tranh chấp một con mèo mà căi cọ. Ngài Nam Tuyền bèn nắm cổ con mèo, bảo: “Nếu các thầy có thể v́ con mèo mà nói một lời, tôi sẽ không giết con mèo này. Hăy thử nói một câu!” Đại chúng lặng thinh. Khi đó, Nam Tuyền bèn chém chết con mèo. Khi đó, một đệ tử khác là Triệu Châu Tùng Thẩm từ bên ngoài trở về, đại chúng thuật chuyện, Sư đến gặp ngài Nam Tuyền. Nam Tuyền nhắc lại câu hỏi, Triệu Châu bèn cởi giày rơm, đội lên đầu bỏ đi. Nam Tuyền nói: “Nếu thầy có mặt lúc ấy, đă cứu được con mèo!”

[27] Tức các đệ tử gửi thư xin quy y, được Ngài đặt pháp danh, chứ không trực tiếp gặp mặt xin thọ Tam Quy, Ngũ Giới.

[28] Trác tích (卓錫) là cắm tích trượng, tức vị Tăng ở lại một nơi nào đó trong một thời gian dài.

[29] Ư nói Thiền, Giáo, Luật h́nh thành thế đối lập, phủ định lẫn nhau. Năm tông phái chính của Thiền Tông tự coi ḿnh là chân truyền độc nhất, đả phá lẫn nhau, không quan tâm dung thông.

[30] Hoa chúc (華祝) là điển tích người được phong ở Hoa Châu đã dùng ba lời nguyện trường thọ, phú quý và nhiều con cháu để chúc tụng vua Nghiêu. Về sau, “hoa chúc” chỉ đơn giản nghĩa là chúc tụng những lời tốt đẹp nhất khi mừng thọ.

[31] Người nữ không sanh nở, chẳng thể có con cái th́ gọi là “thạch nữ”.

[32] Hồ già (胡笳) là một loại sáo của dân di mục phương Bắc được truyền nhập vào Trung Hoa, trở thành một nhạc khí thổi trọng yếu dùng trong ḥa tấu. Loại sáo này làm bằng gỗ, dài nửa mét, phần dưới có ba lỗ để thoát âm. Một đầu hơi loe ra, đầu kia có gắn lưỡi gà để thổi. Khi thổi, hai tay cầm sáo dựng thẳng. Dùng ngón trỏ và ngón giữa để bịt hay mở các lỗ phát âm, đặt miệng sáo nơi môi dưới, âm thanh phát ra theo giai điệu ngũ cung. Tiếng sáo hồn hậu, nhu ḥa, trầm lắng, nên rất được ưa thích.

[33] Nguyên văn “hạc lệ” (鶴唳), nghĩa đen là tiếng hạc kêu. Trong văn học, thường dùng chữ “hạc lệ” để chỉ đêm dài, riêng đối với thành ngữ “phong thanh hạc lệ” là nói tới cuộc chiến Ph́ Thủy vào năm Thái Nguyên thứ tám (383) thời Đông Tấn. Khi đó, Phù Kiên nhà Tiền Tần xua quân tấn công Đông Tấn, đại bại. Tàn quân trên đường tháo chạy, thần hồn nát thần tính, nghe tiếng gió, tiếng hạc kêu ngỡ là tiếng truy binh, nên họ giày xéo nhau mà chạy.

[34] Huân tŕ (壎篪) là hai nhạc khí thuộc loại thổi, thường dùng để ḥa tấu. Huân là loại sáo làm bằng đất nung, bằng đá, hoặc xương thú. Về sau, thường làm bằng sứ. Huân có h́nh quả trứng, trên đỉnh có lỗ để kề miệng thổi. Quanh thân của Huân có lỗ, tối đa là mười lỗ để người thổi dùng các ngón tay điều chỉnh hơi thoát ra. Huân khá tương tự với Ocarina của phương Tây. Tŕ là loại sáo trúc thổi ngang. Huân và Tŕ khi ḥa tấu sẽ rất hài ḥa, nên thường ví như t́nh anh em đằm thắm.

[35] Bà Dương đại chiến là cuộc chiến kéo dài từ ngày Ba Mươi tháng Tám đến ngày mồng Bốn tháng Mười năm 1363 tại hồ Bà Dương. Trong cuộc chiến ấy, Châu Nguyên Chương đánh bại Trần Hữu Lượng, khẳng định vững vàng địa vị lănh tụ kháng chiến chống Nguyên của Châu Nguyên Chương tại Giang Nam, ổn định vững vàng t́nh thế chánh trị tại miền Nam Trung Hoa, mở đường cho cuộc Bắc Phạt sau đó, thành công đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa, chấm dứt nhà Nguyên.

[36] Dạ Ma dịch nghĩa là Thời Phần.

[37] Luật Lữ là mười hai ống trúc dùng để chuẩn định âm giai trong nhạc lư thời cổ. Khởi tính từ âm thấp nhất, sáu ống sáo mang số lẻ được gọi là Luật (tức Hoàng Chung, Thái Thốc, Cô Tẩy, Nhuy Tân, Di Tắc, Vô Xạ), sáu ống mang số chẵn (Đại Lữ, Giáp Chung, Trung Lữ, Lâm Chung, Nam Lữ, Ứng Chung) được gọi là Lữ. Sau này, từ ngữ Luật Lữ được dùng để chỉ âm nhạc nói chung. Cung, Thương là hai âm đầu (hai notes nhạc trong hệ thống nhạc Ngũ Âm).

[38] Sào Do là gọi tắt của Sào Phụ (巢父) và Hứa Do, hai ẩn sĩ thời cổ. Sào Phụ không rơ tên là ǵ, do kết tổ để sống trên cây, nên người đương thời gọi ông là Sào Phụ. Vua Nghiêu nghe tiếng Hứa Do là người hiền, muốn truyền ngôi cho. Hứa Do bèn lánh sang Dĩnh Thủy, ở ẩn dưới chân Cơ Sơn. Vua Nghiêu lại vời ông ra làm trưởng quan Cửu Châu. Hứa Do không muốn nghe, bèn rửa tai bên sông Dĩnh Thủy. Sào Phụ dẫn trâu đến uống nước sông, thấy vậy, hỏi nguyên cớ. Biết chuyện, Sào Phụ dẫn trâu đi nơi khác, bảo là sợ bẩn miệng trâu!

[39] Đặng Thông là người ở Thục Quận đời Tây Hán, vốn là một gă chèo thuyền. Về sau, do được Hán Văn Đế (Lưu Hằng) sủng ái, ông ta được phong làm Thượng Đại Phu. Do thầy bói nói rốt cuộc Đặng Thông sẽ chết đói, Hán Văn Đế liền thưởng riêng cho hắn một ṭa núi có kho đồng để đảm bảo hắn luôn giàu có. Do đắc tội với thái tử Lưu Khải, nên khi Lưu Khải lên ngôi (tức Hán Cảnh Đế) đă tịch thâu tất cả tài sản của Đặng Thông, đuổi hắn ra khỏi nhà. Cuối cùng, Đặng Thông chết đói.

[40] Điêu đẩu (刁斗) là một dụng cụ thời cổ, chủ yếu dùng trong quân đội. Điêu đẩu làm bằng đồng, có cán, có thể chứa được một thăng gạo. Ban ngày dùng làm nồi nấu cơm. Ban đêm dùng làm dụng cụ để gơ báo canh giờ.

[41] Ráng là một hiện tượng tự nhiên, tức các đám mây do ánh nắng mặt trời chiếu vào sẽ có màu sắc hồng hoặc vàng.

[42] “Huyền lương, thích cổ” là một thành ngữ chỉ sự gắng công học hành để đạt tới tŕnh độ cao hơn. “Huyền lương” (buộc tóc lên xà nhà): Theo Thái B́nh Quảng Lăm, đời Hán có Tôn Kính do đọc sách hay ngủ gật, bèn dùng dây buộc búi tóc lên rường nhà. Mỗi khi ngủ gục, đầu gục xuống, bụi tóc sẽ bị giật đau nhói bèn tỉnh ngủ. Theo Chiến Quốc Sách, Tô Tần v́ muốn học thành tựu, khi đọc sách nếu mệt mỏi muốn ngủ, bèn dùng dùi đâm vào đùi để tỉnh ngủ. Đó là “thích cổ” (đâm vào bắp vế).

[43] Nước Yên vào cuối thời, do nước Tần xui xiểm, thừa dịp vua nước Triệu vừa mất, xua quân đánh Triệu, chiếm được ba thành. Điền Đan nước Tề mang quân cứu Triệu rồi xua quân đánh Yên báo thù. Sau trận chiến Trường B́nh, quân Yên đại bại. Mấy năm sau, Yên lại sai quân đánh Triệu, bị thất bại. Quân Triệu bao vây kinh đô, vua Yên phải cắt đất nghị ḥa. Do đó, mối “kết minh” giữa Triệu và Yên chỉ có h́nh thức, chẳng thật.

[44] Tương truyền, Lưu Bang (Hán Cao Tổ) là con vua Xích Đế (Viêm Đế, tức Nam Phương Thượng Đế trong Đạo Giáo). Theo dă sử, năm 209 trước Công Nguyên, Lưu Bang vâng lệnh áp giải tù nhân đến Ly Sơn, giữa đường có không ít người bỏ trốn. Khi đó, pháp luật của nhà Tần quy định: Để tội nhân trốn thoát cũng là tử tội. Do vậy, Lưu Bang bỏ trốn. Có mười mấy người theo Lưu Bang bỏ trốn. Trên đường, họ gặp một con rắn trắng to lớn nằm ngang đường, Lưu Bang liền rút gươm chém chết rắn. Đột nhiên có một bà già ôm xác rắn khóc, nói: “Con ta là con của Bạch Đế, hóa thành rắn trắng nằm trên đường, bị con vua Xích Đế giết chết!”

[45] Lưu Bang tấn công vào Quan Trung, diệt nhà Tần. Khi đó, Tần Nhị Thế (Doanh Hồ Hợi) đă bị Triệu Cao bức tử. Triệu Cao tự xưng đế, nhưng quần thần không phục, trong cung lại có địa chấn, Triệu Cao sợ, bèn lập Doanh Tử Anh lên làm vua bù nh́n, tức Tần Tam Thế. Thân thế của Tử Anh không rơ ràng, có thuyết nói ông là con của thái tử Phù Tô (đă bị Hồ Hợi lập mưu giết chết), có thuyết nói ông là anh của Nhị Thế, có thuyết nói ông là em của Tần Thủy Hoàng, tức chú của Tần Nhị Thế. Lại có thuyết nói ông là em của Nhị Thế. Khi Lưu Bang đánh bại quân Tần, Tử Anh biết t́nh thế không thể cứu văn, bèn buộc ngọc tỷ truyền quốc vào cổ, ngồi trên xe gỗ mộc, mang ấn tín ra đầu hàng.

[46] Thắng Liên tức là thế giới Thắng Liên Hoa của Hiền Thắng Phật. Theo phẩm Thọ Lượng của kinh Hoa Nghiêm, một kiếp trong cơi Sa Bà là một ngày đêm trong cơi Cực Lạc. Một kiếp trong cơi Cực Lạc là một ngày đêm trong cơi Ca Sa Tràng của Kim Cang Kiên Phật. Một kiếp trong cơi Ca Sa Tràng là một ngày đêm trong cơi Bất Thoái Chuyển Âm Thanh của Thiện Thắng Quang Minh Liên Hoa Khai Phu Phật. Cho đến trải qua trăm vạn A-tăng-kỳ thế giới, thế giới cuối cùng là cơi Thắng Liên Hoa.

[47] Theo truyền thuyết, tiêu minh (蟭螟) là một loài trùng cực nhỏ. Sách Băo Phác Tử nói: “Con tiêu minh ẩn thân trong lông mày của con muỗi, lại cười nhạo chim đại bàng cánh phủ rợp trời”.

[48] Phẩm này nêu ra chín mươi bảy tướng đại nhân nơi thân Phật, trong khi hiểu theo cách thông thường th́ thân Phật chỉ có ba mươi hai tướng thù thắng.

[49] Quán tẩu (灌叟): Ông lăo chuyên lo việc tưới cây trong vườn.

[50] Ưu-bà-di Cụ Túc có mười ngàn đồng nữ theo hầu. Trong nhà bà chỉ có một cái bát, không có vật dụng chi khác. Bà dùng vật dụng xuất hiện từ trong cái cái bát ấy để cúng dường trọn khắp mười phương, bố thí cho mọi người đều có thức ăn no đủ, trọn đủ các vật dụng ưa thích. Người tu hạnh Nhị Thừa ăn thức ăn từ bát ấy sẽ chứng La Hán hoặc Bích Chi Phật, người tu Bồ Tát hạnh sẽ thành Đẳng Chánh Giác.

[51] Thuở Thích Ca Mâu Ni Phật hoằng dương tại Xá Vệ, nơi phía Đông thành ấy, có một bà lão rất nghèo, không nơi nương tựa, mọi người gọi bà ta là Thành Đông Lão Mẫu, chưa hề được nghe Phật pháp. Tôn giả A Nan xót thương cầu đức Phật hóa độ bà ta. Đức Phật nói Ngài chẳng thể hóa độ bà. Các đệ tử không tin, đức Phật liền thị hiện thân Phật vây quanh bốn phía bà lão. Bà ta bưng kín mắt không chịu nhìn. Phật quang vẫn chiếu soi, bà ta bỏ chạy, chui vào rương đóng nắp kín để lẩn trốn. Cuối cùng, đức Phật quán thấy chỉ có ngài La Hầu La hóa độ được, bèn sai tôn giả đến hóa độ, quả nhiên độ được bà ta. Thậm chí, sau khi nghe ngài La Hầu La thuyết pháp, bà bèn chứng quả Tu Đà Hoàn.

[52] Phương cách điều chế tốt đẹp.

[53] “Bạo hổ, phùng hà” (暴虎馮河) có nghĩa là tay không đấu với cọp dữ, và có thể chẳng dùng thuyền bè mà lướt trên mặt nước để vượt sông.

[54] Ba Lợi Chất Đa (Pārijāta, pārijātaka, pāriyātraka) là tên của một cái cây trên cung trời Đao Lợi, dịch nghĩa là Viên Sanh Thụ, Trú Độ Thụ, hoặc Hương Biến Thụ, Thiên Thụ Vương. Cây nở hoa đỏ rực, có búp dài. Cây mọc ở góc Đông Bắc thành Thiện Kiến của trời Đao Lợi. Cây to bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần. Cành lá vươn ra bốn phía đến năm mươi do-tuần. Rễ, thân, cành, lá, hoa, quả đều có mùi thơm, lan tỏa khắp thiên cung. Do vậy gọi là Hương Biến Thụ (cây thơm trọn khắp). Trên cây, có thiên thần tên là Mạn Đà thường tấu thiên nhạc, nên chư thiên thường tụ tập vui chơi dưới gốc cây ấy.

[55] Ma ni như ư châu vốn không có màu, để gần vật nào liền có màu sắc giống như vật đó.

[56] Ma Da phu nhân trong vô lượng kiếp trước, vào kiếp Tịnh Quang, ở trong thế giới Tu Di Đức, bà có tên là Từ Đức, đă làm thần thủ hộ đạo tràng Măn Nguyện Quang Minh của Ly Cấu Tràng Phật. Khi Ly Cấu Tràng Bồ Tát sắp thành Phật, ác ma Kim Sắc Quang cùng vô lượng quyến thuộc đến quấy nhiễu. Chuyển luân vương Đại Oai Đức đă đắc Bồ Tát thần thông tự tại, liền biến hóa binh chúng bao vây quân ma, khiến chúng nó kinh sợ, tan chạy. Do vậy, Ly Cấu Tràng Bồ Tát tự tại thành Phật. Thần đạo tràng thấy vậy hoan hỷ, coi Chuyển Luân Vương là con trai của ḿnh, phát nguyện: Chuyển Luân Vương này bất luận sanh chỗ nào, tôi đều làm mẹ của vua cho tới khi Ngài thành Phật. Do vậy, bà cũng nguyện trở thành mẹ của mười phương chư Phật.

[57] Già B́nh (伽缾) tức là cái b́nh làm thành h́nh chim Ca Lăng Tần Già. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đă dùng cái b́nh này để tỷ dụ hư không chẳng có hạn cuộc: “A Nan! Thí như hữu nhân thủ Tần Già b́nh, tắc kỳ lưỡng khổng, măn trung ḱnh không, thiên lư viễn hành, dụng hướng tha quốc. Thức Uẩn đương tri diệc phục như thị. A Nan! Như thị hư không, phi bỉ phương lai, phi thử phương nhập. Nhược bỉ phương lai giả, tắc bổn b́nh trung kư trữ không khứ, ư bổn b́nh địa ưng thiểu hư không. Nhược thử phương nhập, khai khổng đảo b́nh, ưng kiến không xuất. Thị cố, đương tri Thức Uẩn hư không, bổn phi nhân duyên, phi tự nhiên tánh” (A Nan! Ví như có người lấy cái b́nh Tần Già, bịt kín hai lỗ, để hư không chứa đầy trong b́nh, đi xa ngàn dặm, mang sang nước khác. Hăy nên biết Thức Uẩn cũng giống như thế! A Nan! Hư không như vậy chẳng do phương kia đến, chẳng do phương này vào. Nếu do phương kia đến, cái b́nh ấy đă chứa hư không mang đi, hư không nơi chỗ ban đầu của cái b́nh phải giảm bớt. Nếu từ phương này mà vào, khi mở nút, đổ [hư không trong b́nh] ra, phải thấy hư không đổ ra. V́ thế, hăy nên biết Thức Uẩn và hư không vốn chẳng có nhân duyên, chẳng phải là tánh tự nhiên).

[58] Bổ và Tả là hai khái niệm về phương pháp trị liệu nhằm điều chỉnh âm, dương trong cơ thể con người, khôi phục sự cân bằng khí huyết. Bổ có nghĩa là bồi bổ, tăng cường, áp dụng cho trường hợp thân thể hư nhược, huyết khí không đủ, tức hư chứng. Tả là giảm bớt, thanh trừ, áp dụng cho các thật chứng, tà khí bế tắc.

[59] Nguyên văn “thất hoa bát liệt”, đây là một thành ngữ chỉ nhiều sự việc vụn vặt, chi ly, rườm rà.

[60] Bột Hải là một phần của Thái B́nh Dương, c̣n gọi là Bắc Hải, hay Trực Lệ Hải Loan, được coi là “nội hải” v́ nó nằm giữa bán đảo Liêu Đông và quần đảo Giao Đông, bao quanh bởi các tỉnh Liêu Ninh, Hà Bắc, thành phố Thiên Tân, Sơn Đông. Câu này có ư nói: Dù cho trăm sông, ngàn rạch khác nhau, nhưng hễ đổ vào Bột Hải, sẽ thành nước có cùng một vị.

[61] Đây là một tỷ dụ lấy từ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục. Theo đó, đối với ngựa giỏi trong thế gian, chỉ cần thấy bóng roi của người điều khiển đă chạy, không cần phải dùng roi đập, hoặc dùng đinh ngựa thúc mới chạy. Cũng ví như kẻ lợi căn, chỉ cần nhắc nhở, gợi ư là họ đă giải ngộ, y giải khởi hạnh, không cần phải rèn cặp.

[62] Theo thiên Thang Vấn sách Liệt Tử, thời Châu Mục Vương có một người thợ khéo tên là Yển Sư, giỏi chế tạo con rối có thể nhảy múa, ca hát như người thật. Vua rất thích, truyền gọi sủng thiếp là Thịnh Cơ ra xem. Ca múa xong, con rối c̣n liếc mắt đưa t́nh với các cung nữ hầu hạ. Mục Vương nổi giận toan giết Yển Sư. Yển Sư kinh hăi, lập tức tách rời con rối, th́ thấy chỉ là da, gỗ, keo, sơn, than v.v… kết hợp lại, Mục Vương mới nguôi giận.

[63] Đúng ra phải là ba ba, nhưng v́ gượng ép vần nên chúng tôi dùng chữ Vích (một loại rùa biển to) để thay thế.

[64] Bạch đằng (white wisteria) là một loại hoa trắng, mọc thành chùm dài, rất thơm. Chùm hoa có thể dài tới 60 cm, thường nở hoa vào cuối mùa Xuân cho đến đầu Hạ.

[65] Văn thân tức là các chữ. Mỗi chữ riêng biệt th́ gọi là Văn, từ hai chữ trở lên hợp thành một ư nghĩa th́ gọi là Văn Thân. Nghĩa Thân là ư nghĩa được biểu thị bởi Văn Thân.

[66] Thức xoa (Śikṣa) là Học, tức các pháp phải học trong giới luật.

[67] Tổ Bồ Đề Đạt Ma ngồi nh́n vào vách trên ngọn Thiếu Lâm của Tung Sơn suốt chín năm. Người đương thời gọi Ngài là “bích nhăn Hồ tăng” (vị Tăng người Hồ mắt biếc).

[68] Tác gia ở đây là người đă có thành tựu, đă thật sự chứng nhập.

[69] Đây là câu chuyện của ngài Nguyên Hiểu (Wonhyo), một vị cao tăng của vương quốc Tân La (cổ Hàn quốc). Tuy đã nổi danh là uyên bác, học rộng, nhưng Ngài vẫn quyết chí sang Trung Hoa cầu pháp. Năm Canh Thân (660), cùng với ngài Nghĩa Sương (Euisang), Ngài rời Khánh Châu đến lãnh thổ của vương quốc Bách Tế (Baekje) để sang đất Đường. Khi đến vùng phụ cận Hoa Thành (Hwaseong), trời sụp tối, lại gặp bão, Ngài nghỉ đêm tại một hang động. Quá khát, Ngài thấy một dòng nước nhỏ gần đó bèn vốc lấy uống, cảm thấy nước ngon ngọt lạ thường. Sáng ra, Ngài mới biết đó là nước chảy từ hốc mắt của những đầu lâu, bèn nôn thốc nôn tháo. Ngài lại lưu lại một đêm nữa do dông bão, và cảm thấy bất ổn vì biết mình đang qua đêm tại nghĩa địa. Trầm tư quán tưởng, Ngài tỏ ngộ “hết thảy do tâm tạo, tất cả pháp đều là Phật pháp”, và bỏ ý định sang đất Trung Hoa cầu pháp.

[70] Hiên Kỳ là gọi gộp chung Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá. Hai vị này được coi là thỉ tổ của Trung Y. Tác phẩm Hoàng Đế Nội Kinh tương truyền là tác phẩm ghi chép cuộc vấn đáp về y thuật giữa Hoàng Đế và Kỳ Bá, tạo thành cơ sở lư luận và chữa trị của Trung Y. Người học Trung Y bắt buộc phải nghiên cứu tác phẩm này.

[71] Thâu tâm tức là cái tâm trông ngóng, luôn kiếm cách chiếm lợi (thường gọi hoa mỹ là “tu tắt”), hoặc không chuyên tâm nhất ý vào một môn nào, chuyên chạy theo phong trào.

[72] Theo kinh Nại Nữ Kỳ Hoặc Nhân Duyên, danh y Kỳ Bà từng sang nước Đức Xoa Thi La (Taksaśilā) để học y. Trong quá tŕnh học y, có lần thầy ông giao cho ông một cái giỏ, bảo ông đi t́m khắp nơi, hễ thấy cây cỏ nào không làm thuốc được th́ hái đem về cho thầy. Ông đi t́m kiếm măi, nhưng hầu như thảo mộc nào cũng có thể làm thuốc, cuối cùng đành xách giỏ rỗng không trở về.

[73] Ngài Văn Hỷ (có thuyết nói là Vô Trước) đến chiêm bái Ngũ Đài, cầu thấy Văn Thù Bồ Tát. Bồ Tát bèn hóa ra một cái chùa để tiếp đăi. Văn Hỷ vào chùa, được một ông già tiếp đón, hỏi: “Sư từ đâu tới?” Đáp: “Từ phương Nam”. Ông già hỏi: “Phương Nam Phật pháp trụ tŕ ra sao?” Văn Hỷ đáp: “Thời Mạt Pháp, tỳ-kheo ít giữ giới luật”. Văn Hỷ hỏi: “Ở đây trụ tŕ thế nào?” Ông già đáp: “Phàm thánh đồng cư, rắn rồng lẫn lộn”. Lại hỏi: “Chúng nhiều hay ít?” Ông già đáp: “Tiền tam tam, hậu tam tam” (Cũng xấp xỉ như thế đó).

[74] Nguyên văn “bất tích mi mao”. Đây là một thành ngữ có ư nói: V́ thành tựu mục đích mà chẳng tiếc thân, sẵn sàng trả giá to lớn. Thành ngữ này dựa theo ư kinh Đại Thừa nói kẻ thuyết pháp lầm lẫn đến nỗi báng pháp, báng giới, mắc quả báo giống như người bị phong cùi, rụng sạch lông mày. Do vậy, chẳng tiếc rụng sạch lông mày hàm nghĩa hy sinh bản thân, dẫu chịu quả báo nặng nề, vẫn không tiếc sức thực hiện.

[75] Tỳ Lam (Vairambhaka) còn phiên âm là Tỳ Lam Bà Phong, Tùy Lam Phong, Toàn Lam Phong, dịch nghĩa là Tấn Tốc Phong, Hằng Khởi Phong, chỉ loại gió mạnh mẽ khiến cho vũ trụ hình thành hoặc bị hủy diệt.

[76] Bạch niêm (白拈) là một thuật ngữ Phật giáo. Bạch hàm nghĩa trống rỗng, không có ǵ. Niêm là lấy đồ vật. Do vậy, Bạch Niêm hàm nghĩa là trộm lấy đồ vật không lưu lại dấu vết, tay nghề trộm cắp rất cao. Ư nghĩa này được dùng trong nhà Thiền với ư ca ngợi tài tiếp dẫn khéo léo của bậc tông tượng, có thể dẫn dắt, chỉ điểm hành nhân chứng ngộ nhanh chóng.

[77] Đây là một công án của thiền sư Vân Môn Văn Yển. Khi có người hỏi “Pháp Thân là ǵ?” Sư đáp: “Lục bất thâu”, hàm ư: Pháp Thân vượt ngoài các khái niệm chấp trước như lục căn, lục trần, lục thức v.v… Tức là Chân Như pháp tánh chẳng hề bị hạn cuộc trong bất cứ khái niệm đối đăi nào.

[78] “Lộng quỷ nhăn t́nh” (nhướng con mắt quỷ) là thuật ngữ Thiền lâm dùng để sánh ví kẻ rêu rao, tuyên truyền tà tri tà kiến.

[79] Tây Tử tức là Tây Thi, mỹ nhân nổi tiếng thời Chiến Quốc. Tương truyền, Tây Thi đẹp đến nỗi khi đau bụng, nhăn mày vẫn đẹp năo nùng. Láng giềng có cô gái tên Đông Thi thấy vậy, bắt chước nhăn nhó đến nỗi ông chồng sợ hăi muốn ngất, hàng xóm kinh sợ bỏ trốn. Ở đây, Tổ có ư nói: Phải hiểu ư nghĩa chân thật của việc Dược Vương Bồ Tát thiêu thân cúng dường, hoặc đốt cánh tay cúng tháp, đừng mù quáng làm theo!

[80] Đây là một câu pháp ngữ của tổ Quy Sơn Linh Hựu. Một hôm, Sư thượng đường bảo: “Một trăm năm sau lăo tăng làm con trâu ở dưới núi, bên hông trái viết năm chữ ‘Quy Sơn mỗ giáp tăng’ (ông Tăng X… ở Quy Sơn). Ngay khi đó, gọi ông tăng Quy Sơn là con trâu, hay gọi con trâu là ông Tăng ở Quy Sơn, rốt cuộc phải gọi như thế nào mới đúng?” Ngài Ngưỡng Sơn bước ra lễ bái, lui khỏi tổ đường.

[81] Thủ La là nói tắt của Ma Hê Thủ La Thiên (Maheśvara), tức là Đại Tự Tại Thiên. Vị này chính là thần Śiva (Thấp Bà Thiên), c̣n được biết đến với các danh xưng Mạc Ha Ca La, Ma Hê Thấp Phạt Ra, Y Xá Na Thiên, hoặc Thương Yết La Thiên.

[82] Tức bốn pháp để hành nhân được lănh hội kinh Pháp Hoa do Phổ Hiền Bồ Tát thưa hỏi đức Phật. Xin xem chi tiết trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát của kinh Pháp Hoa.

[83] Hoàng chung là luật thứ nhất trong thập nhị luật (mười hai ống sáo tương ứng với notes nhạc trong cổ nhạc Trung Hoa), đứng đầu sáu luật Dương). Theo quy định, ống sáo Hoàng Chung dài chín tấc. Cao độ tương ứng với note C trong nhạc hiện đại.

[84] Theo kinh Hoa Nghiêm, thế giới Hoa Tạng được cấu tạo bởi vô số phong luân nhiều như bụi nhỏ, phong luân dưới cùng gọi là B́nh Đẳng Trụ, phong luân trên cùng gọi là Thù Thắng Oai Quang Tạng. Phong luân trên cùng này có khả năng nâng đỡ biển hương thủy. Trong biển ấy, có một hoa sen lớn tên là Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng. Thế giới Liên Hoa Tạng (Kusuma-tala garbhavyùhàla-kàraloka-dhàtu-samudra, gọi tắt là Hoa Tạng) nằm ở trong hoa sen lớn này. Chung quanh có núi Kim Cang Luân bao bọc. Mặt đất đều do kim cang tạo thành, bằng phẳng, bền chắc, tột bậc thanh tịnh trang nghiêm. Trong thế giới ấy, cũng có các biển hương thủy nhiều như bụi nhỏ không thể kể xiết. Chung quanh mỗi biển hương thủy, có bốn đại châu và vô lượng vô số sông hương thủy. Trong mỗi biển hương thủy cũng có bất khả thuyết vi trần số thế giới chủng. Trong mỗi thế giới chủng, lại có bất khả thuyết vi trần số thế giới. Biển hương thủy ở chính giữa thế giới Liên Hoa Tạng gọi là Vô Biên Diệu Hoa Quang. Từ trong biển hương thủy ấy, mọc một bông sen lớn. Trong đó, có hai mươi tầng bất khả thuyết vi trần số thế giới phân bố khắp mười phương. Thế giới Sa Bà và Cực Lạc cùng nằm trong tầng mười ba của bông sen mọc giữa biển Vô Biên Diệu Hoa Quang.

[85] Cô nguy: Trơ trọi không ai cứu giúp trong cảnh nguy hiểm.

[86] Tu Ma là nói tắt của chữ Tu Ma Đề, tức phiên âm của Sukhāmatī (Cực Lạc).

[87] Tử bào: Áo bào tía. Từ thời Đường trở đi, quan viên từ thất phẩm trở lên mới được mặc áo bào (áo dài tay rộng) màu tía. Đến đời Tống, quy định ngặt nghèo hơn, từ Chánh Nhị Phẩm trở lên mới được mặc áo bào tía. Do đó, Tử Bào thường được hiểu là quan cao chức cả.

[88] Ư nói “Tề Đông dă nhân” (kẻ hoang dă nơi vùng Tề Đông). Thời cổ, vùng Đông nước Tề bị coi là nơi biên cương hoang dă, gần với các sắc dân thiểu số (gọi chung là Đông Di). Người Hoa có thành kiến cho rằng người vùng Tề Đông thích nói ngoa, hay đồn thổi.

[89] Nguyên văn là “cứ” (), chính là cái giá gỗ để đặt trống. Do ở đây nói đến Thiên Cổ B́nh (đài trống trời) nên sánh ví hư không như giá treo trống.

[90] Quỳnh () là một loại ngọc quư có màu đỏ thắm.

[91] Bát bất: Bất sanh, bất diệt, bất đoạn, bất thường, bất nhất, bất d, bất lai, bất xuất.

[92] Do suối có tên là An Dưỡng mà An Dưỡng là cách dịch khác của thế giới Cực Lạc, nên tổ sánh ví suối này giống như ao báu trong cơi Cực Lạc. Theo Quán Kinh, từ giữa mỗi ao báu trong cơi Cực Lạc có Ma Ni châu vương, phun ra nước bát công đức, chia thành mười bốn nhánh. Nước từ các nhánh đó tùy ư lên xuống, luồn trong các cánh hoa, lại chảy ṿng lên các cây báu quanh ao, phát ra pháp âm vi diệu.

[93] Mễ Phất (1051-1197), thoạt đầu tên là Phiết, tên tự là Nguyên Chương, hiệu là Tương Dương Mạn Sĩ, Hải Nhạc Ngoại Sứ và Lộc Môn Cư Sĩ, người xứ Thái Nguyên, sống vào đời Bắc Tống là một họa gia kiêm lý luận gia nổi tiếng về thư họa. Do có tài thư họa, ông được vua xuống chiếu vời ra giữ chức Thư Họa Học Bác Sĩ, hàm Nam Cung Viên Ngoại Lang.

[94] Tức ngài Tân Đầu Lô Phả La Đọa.

[95] Đây là câu chuyện đạo sĩ Lữ Động Tân (Thuần Dương Chân Nhân) tranh luận với thiền sư Hoàng Long Huệ Nam để xem Đạo hay Phật ưu việt. Do không thắng nổi Hoàng Long, Thuần Dương tức giận làm phép phóng kiếm toan giết chết ngài Hoàng Long, nhưng không làm ǵ được Ngài. Cuối cùng, ông ta được ngài Hoàng Long điểm hóa.

[96] Tương truyền, lănh tụ của hai bộ tộc Vô Hoài Thị và Cát Thiên Thị là khởi đầu của các đế vương thời cổ. Xă hội thời ấy thuần phác, dân cư an lạc.

[97] Đây là công án thiền sư Đơn Hà Thiên Nhiên chẻ tượng Phật để đốt thay củi sưởi ấm. Viện chủ sợ quá rụng sạch cả lông mày, hỏi Sư làm ǵ thế? Sư đáp: Tôi chẻ tượng Phật t́m xá-lợi.

[98] Trong thần thoại Trung Quốc, thuở khai thiên lập địa, khi trời đất còn mờ mịt, chưa tách rời nhau, tự nhiên sanh ra một vị thần tên là Bàn Cổ, vừa sanh ra có hình hài con người. Bàn Cổ đã dùng búa và đục tách rời trời đất, sinh ra muôn vật và nhân loại. Tương truyền Bàn Cổ có ba người con là Phục Hy, Nữ Oa và Hoa Tư.

[99] Năm 218 trước Công Nguyên, khi Tần Thủy Hoàng tuần du, xa giá đến Bác Lăng Sa (nay là huyện Nguyên Dương, thành phố Tân Hương, tỉnh Hà Nam), có thích khách vung chùy nặng hơn trăm cân đập vào xe, toan giết chết Thủy Hoàng. Nhưng do đập nhầm cỗ xe khác, cho nên Thủy Hoàng thoát chết. Thủy Hoàng sai người truy bắt dữ dội, nhưng không t́m được người chủ mưu. Kẻ chủ mưu chính là Trương Lương. Tổ tiên của Trương Lương năm đời làm tướng nước Hàn; do vậy, ông muốn báo mối thù nhà Tần đă diệt quốc nước Hàn. Về sau, Trương Lương được gặp Hoàng Thạch Công dưới chân cầu, được Hoàng Thạch Công trao truyền binh thư. Ông trở thành mưu sĩ bậc nhất, tiến cử Hàn Tín làm nguyên soái, cũng như vạch ra những sách lược khiến cho Lưu Bang chiến thắng, lập ra nhà Hán. Sau khi thành công, ông khôn khéo không nhận quan chức, giả bệnh, tu tiên nên không bị Hán Cao Tổ (Lưu Bang) nghi kỵ sát hại như những vị khai quốc công thần khác.

[100] Đào Châu tức là Phạm Lăi. Sau khi thành công giúp Việt Vương Câu Tiễn khôi phục nước Việt, diệt nước Ngô, do biết Câu Tiễn là kẻ hẹp ḥi, Phạm Lãi bèn mang Tây Thi trốn sang nước Tề, đổi tên là Chi Di Tử B́, sống ở vùng biển, tận lực khẩn hoang canh tác và buôn bán, chẳng được mấy năm, giàu nứt đố đổ vách. Tề Vương nghe tiếng ông là người hiền, thích bố thí, nhân từ, muốn phong ông làm Tướng Quốc. Ông lại chia hết gia tài cho người nghèo, trốn sang đất Đào, nên được gọi là Đào Châu Công, lại kinh doanh cực kỳ thành công, giàu nhất nh́ thiên hạ.

[101] Minh () có nghĩa là các văn tự được khắc trên gỗ, đá, kim loại, với dụng ư biểu dương công đức. Về sau phát triển thành một thể loại văn chương riêng, ngoài ư nghĩa biểu dương, trần thuật, c̣n có tác dụng răn nhắc, thường sử dụng kèm thêm trong các bài văn bia.

[102] Châm () là một thể loại văn chương, tác dụng chủ yếu là răn nhắc, cảnh tỉnh.

[103] Tô đà: Một thứ thực phẩm chế từ chất lạc (bơ) thời cổ Ấn Độ, được coi là một trong các thức ăn ngon lành.