Linh Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần 8
Linh Phong Ngẫu
Ích đại sư soạn
Pháp sư
Thành Thời biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă
năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
19. Thọ tự[1]
* Lời chúc thọ
nhân dịp pháp
sư Tân Y thuộc Diên Thọ Viện sáu mươi tuổi
Tôi xuất gia từ năm
Nhâm Tuất (1622), qua lại giữa hai nơi Vân Thê và Song
Kính, liền được hân hạnh quen biết Sư,
thẹn được làm bạn vong niên. Bắt đầu
từ năm Canh Ngọ (1630), mỗi lần tụ họp,
liền sáng đêm quẩn quanh nói chuyện Phật pháp chẳng
dứt. Tôi lui về hưu, mong tịch mịch,
ẩn nấp trong non sâu. Hai ba học nhân theo tôi du hành, tôi đều dạy họ đến thọ
giới Sa-di nơi Sư. Tỳ-kheo Quả Hải là do
Sư chỉ bảo đến học với kẻ không
ra ǵ này! Đầu Đông năm Kỷ Măo (1639), đúng dịp
sinh nhật sáu mươi của Sư, các giới tử
mưu tính chúc thọ Sư. Tôi xét theo pháp môn xuất thế,
thấy sắc thân giống như thái hư, thấy trần
kiếp như một cái khảy ngón tay, đâu chú trọng
ca tụng đồi thấp là mênh mông, đua tranh chúc thọ
với Thế Đế ư? Thắng nghĩa Tam Bảo,
thường trụ Pháp Thân vô lượng, vô lượng,
chỗ nào để luận định “kéo dài” [tuổi thọ]?
Như Trụ Tŕ Tam Bảo là huệ mạng của chư
Phật, trước nay nhờ vào con người để
truyền. V́ thế, kinh Phạm Vơng dạy: “Phật
tánh thường trụ, giới quyển lưu thông, tam thế
nhất thiết chúng sanh, hóa hóa bất tuyệt” (Phật
tánh thường trụ, kinh điển giới luật
lưu truyền, hết thảy chúng sanh trong ba đời
được giáo hóa chẳng dứt). Kinh Đại Thừa
“phù luật, đàm thường” (đề cao luật,
đàm luận [Phật tánh] chân thường)
được gọi là “của báu cùng tột để
chuộc mạng thường trụ”, há giới pháp cam
lộ chẳng phải là diệu dược thật sự
để kéo dài mạng sống trong Phật giới, khiến
cho chín pháp giới nhanh chóng cùng đạt tới địa
vị Phật ư?
Xưa kia, pháp sư Thiệu Giác
ngao du trong biển giáo, tham học trọn khắp tông chỉ
của Đại Tô (Thiên Thai Tông) và Từ Ân (Pháp
Tướng Duy Thức). Ngoài lúc
giảng diễn, Ngài c̣n tự soạn Tỳ Ni Trân Kính Lục
để làm khuôn phép cho hậu học. Sư đồng
chân nhập đạo[2],
là trưởng tử của ngài Thiệu Giác, đối với
tánh, tướng hai tông, không ǵ chẳng bẩm thọ truyền
thừa; lại c̣n
tu tập Tỳ Ni sốt sắng hơn ngài Thiệu Giác.
Thoạt đầu, khi thọ đại giới ở Vân
Thê, Sư liền mộng thấy lên ṭa diễn pháp. Hai
mươi mấy năm, thần lặng suy nghĩ đă
lâu, cho đến khi thầy Tinh Cốc cực lực thỉnh
cầu, mới chịu phá lệ bẩm Yết Ma một
lượt. Từ đấy, hậu học ngưỡng
mộ theo về như mây, sự chẳng đặng
đừng, Sư bèn khai cam
lộ pháp thí, khiến cho trọn khắp tứ chúng đều
được nếm trải. Sư v́ trời, người,
tuyên dương thông suốt đạo hóa, mấy chục
năm qua, chưa từng tạm phế, nhưng lưỡi
chưa hề bén thức ăn sau Ngọ, thân chẳng khoác
y phục quư báu. Tánh tội và giá tội đều tịnh,
giải lẫn hạnh đều tốt đẹp. Sư lại c̣n
kiến lập nghi thức đàn tràng, công sâu Ngũ Hối,
ngồi xếp bằng tu tĩnh, thành tựu phép
Quán thập thừa. Do vậy, nếu
Sư chẳng phải là người ngăn chống
cơn sóng cuồng, nối tiếp huệ mạng của
Phật, sao có thể được như vậy?
Tôi thường cảm khái
chánh pháp của Như Lai bị ăn mòn bởi phường
“kể chuyện ăn, đếm của báu”, lại
c̣n bị gặm nhấm bởi lũ vô văn, ám chứng.
Thậm chí lũ cuồng Thiền trong hiện thời, chỉ
theo đuổi tṛ “thử tức, điểu không”! Lại
c̣n hạng tỳ-kheo dê con thường chẳng hiểu biết
mà làm thầy, đúng là bị chê cười là phường
trộm hưởng an nhàn, phóng đăng chẳng biết kiểm
điểm! Do vậy, tôi trốn lánh, né sắc, làm ra vẻ
như đui, điếc. Chỉ có Sư ngầm tu dưỡng
đă sâu dày, thanh danh càng thịnh, do nguồn sâu nên ḍng chảy
dằng dặc. Tôi biết quang minh và thọ lượng của
Sư đúng là sâu rộng như biển hương thủy
vô biên trang nghiêm, cao lớn hệt như Chủng Chủng
Quang Minh Nhụy Hương Tràng, há đồi núi rộng lớn
trong thế gian mà toan sánh ví dẫu bằng một hạt bụi,
hay một
giọt nước được ư?
* Văn chúc thọ nhân dịp
tám mươi tuổi của Trang mẫu là Ưu-bà-di Đạo
Chiêu Tô thạc nhân[3]
Mười
đời xưa nay, từ đầu đến cuối
chẳng ĺa một niệm hiện tại. Do vậy, đức
Thế Tôn nhập sát-na tế tam-muội, tám tướng
thành đạo. Đă nhanh
chóng
thị hiện, lại c̣n chỉ dạy lẫn nhau, ấy
là v́ tánh của thời kiếp chính là thật tánh. Nhưng
chỉ có người chứng thật tánh của thời kiếp
mới có thể tự hiện trọn khắp đủ
loại thời kiếp. Ngài Thiên Thai nói rất hay như
sau: “Thật sự vô lượng mà nói vô lượng;
đó là thọ mạng của Pháp Thân. Thật sự vô
lượng mà nói có hạn lượng, đó là thọ mạng
của Báo Thân. Thật sự hữu lượng mà nói vô
lượng, đó là thọ mạng của thân ứng hiện trong Tịnh
Độ. Thật sự hữu lượng mà nói có hạn
lượng, phải nên là thọ mạng của thân ứng hiện trong uế
độ”. C̣n như từ ngay nơi uế
chính là tịnh, từ ngay Ứng Hóa mà là Pháp, Báo, lại tùy
theo căn cơ mà mỗi đằng thấy khác biệt,
há có thể suy lường, bàn tán, suy tính được
chăng? Đức Tuyên Ni (Khổng Tử) nói “ḷng nhân là
thọ” th́ chẳng phải chỉ là luận định
thọ mạng của sắc thân, chẳng hư vọng
nh́n theo sự kéo dài hay rút ngắn [tuổi thọ] đă rơ
ràng rồi!
Ông Trang Tỉnh Nhất học
Nho mà hành Thiền; mẹ ông họ Tô, nay đă tám
mươi, chẳng xin lời tựa từ bậc đại
nhân hữu danh, riêng câu nệ lễ kính thưa với tôi rằng:
“Tổ phụ của con là Thiếu Đường công,
làm quan nơi đất Việt (Quảng Đông), bổng
lộc chẳng có ǵ. Cha con là Giám Đường công theo
đuổi cái học tánh mạng, thẹn chẳng làm chuyện
mưu cầu tài lợi, buôn bán. Mẹ con là vợ kế của
cha con, từ trong cảnh nghèo nàn cùng cực mà nuôi nấng
một trai, một gái do mẹ đích là Quách Thị sanh ra,
chẳng hai ḷng, lại c̣n nuôi đứa con mọn là con.
Chẳng v́ nghèo nàn mà bỏ phế học hành, càng dạy dỗ
nghiêm ngặt. Sau này, thiền sư Vĩnh Giác đến
Khai Nguyên thuyết pháp, mẹ con nói: “Hăy nên nghĩ thoát khổ”,
bèn dẫn con đến quy y. Nay cụ đă tám
mươi, con là đứa con thơ của mẹ nghèo, chẳng
biết làm thế nào để báo đáp mẹ?”
Sơn tăng cười đáp:
- Ông chẳng nghe thuở Phật
tại thế có cư sĩ Tu Lại ư? Nghèo nơi tài
sản, nhưng chẳng nghèo nơi pháp, vua Ba Tư Nặc
chẳng dám đọ giàu với ông ta. Ông lại chẳng
nghe Xương Lê (Hàn Dũ) hỏi ngài Đại Điên về
tuổi thọ ư? Ngài Đại Điên giơ xâu chuỗi
bảo: “Ngày đêm minh châu trăm lẻ tám”.
Xương Lê ngơ ngác, hỏi thủ tọa. Thủ tọa
nghiến răng. Lại hỏi ngài Đại Điên, ngài
Đại Điên cũng nghiến răng. Xương Lê
nói: “Phật pháp nguyên lai chỉ là một đạo lư”.
Đại Điên liền gọi thủ tọa, phang liên
tiếp mấy gậy đuổi ra! Ôi! Nếu hướng
tới chỗ ấy để xuyên thấu lỗ mũi của
Đại Điên và thủ tọa, không chỉ lỗ
mũi nóng của Xương Lê không có chỗ để
thoát khí, mà ngay cả lỗ mũi của tam
thế chư Phật, xương đỏ của lịch
đại tổ sư đă lạnh ngắt, cũng đều
chẳng có chỗ để thoát khí, sẽ có thể hướng
đến Trang Mẫu để chúc Vô Lượng Thọ
vậy!
* Văn chúc thọ cư
sĩ Trần Mân Chiêu nhân dịp sáu mươi tuổi
Bác Sơn
lăo sư từng bảo tôi: “Tôi mỗi dịp gặp gỡ
giảng chủ, ắt Ngài dùng Sự Sự vô ngại pháp
giới để cật vấn. Tôi tận lực đáp
lời, chỉ nói được Lư Sự vô ngại mà
thôi, chưa hề nói đến Sự Sự vô ngại”.
Tôi thưa rằng: “Sự Sự vô ngại há thật sự
ở ngoài Sự Lư vô ngại ư? Chỉ là toàn Lư thành Sự,
cho nên toàn Sự chính là Lư. Chỉ v́ toàn Sự chính là Lư, cho
nên toàn Sự liền thâu nhiếp hết thảy các Sự.
Lại như nêu ra một chót lông, ắt trọn đủ
pháp giới toàn Lư, chẳng phải là chút phần Lư của
pháp giới. Do ngoài Sự chẳng có Lư, đó là Sự Lư vô
ngại. Chót lông ấy đă trọn đủ toàn thể Lư
của pháp giới, ắt cũng sẽ thâu nhiếp trọn
khắp toàn thể Sự trong pháp giới, chẳng phải
chỉ là chút phần Sự trong pháp giới, do ngoài Lư chẳng
có Sự. Đó chính là Sự Sự vô ngại vậy”. Sư
gật đầu đồng ư. Tôi lại nói: “Đức Phật
v́ người sơ cơ ắt đàm luận sâu xa lư
tánh, muốn cho người
ấy dùng Lư để dung hội Sự, chẳng vướng
mắc nơi Sự. Nếu v́ hàng Bồ Tát thuộc địa
vị sâu, ắt sẽ rộng đàm luận sự tướng,
muốn dùng Sự để nhiếp Sự, ḥng chẳng
vướng mắc nơi Lư. Chẳng vướng mắc
nơi Sự tức là một Sự thông đạt hết
thảy Lư, gọi là Sự Lư vô ngại. Chẳng vướng
mắc nơi Lư, tức là một Sự thông đạt hết
thảy Sự, gọi là Sự Sự vô ngại”. Sư hết
sức tán thành.
Cư sĩ là người
đại hoằng hộ của ngài Bác Sơn, nay gặp
dịp sinh nhật sáu mươi tuổi, tôi thỉnh ngài
Bác Sơn cho phép v́ cư sĩ chúc thọ. Cư sĩ
đă hoằng hộ đại pháp ba mươi mấy
năm, phàm các chuyện thuộc hiện thời, các hạnh
như bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn
v.v… cũng đă tích tập rộng lớn. Ngay như đối với
chuyện hướng thượng nhất
trước, tâm ắt cũng có đôi chút tự khẳng
định. Há chẳng phải là đă nhập Sự Lư vô
ngại pháp giới ư? Đă cách Sự Sự vô ngại
chẳng xa ư?
Cư sĩ thích cờ
vây, tôi xin dùng cờ vây để làm thí dụ. Hai quân cờ
trắng đen, thua, thắng rành rành. Biết rơ “thắng,
thua đều chẳng có thật tánh”, sẽ chẳng
đối với thắng, thua mà dấy lên ngă chấp và
pháp chấp; đó là Sự Lư vô ngại. Có thể trong mỗi
nước cờ, thấu đạt cùng tận tam huyền,
tam yếu[4], ngũ vị[5],
cửu đới[6],
chín mươi sáu loại viên tướng[7],
cho đến bách pháp minh môn, lục tướng, thập
huyền, ba ngàn tánh tướng, không ǵ chẳng hiểu rơ
rốt ráo. Đó là Sự Sự vô ngại. Cư sĩ nương
theo ḷng nhân mà học tập lục nghệ [của Nho
sĩ, tức lễ, nhạc, xạ, ngự (điều
khiển ngựa), thư pháp, tính toán], là v́ muốn thâm nhập
Sự Sự vô ngại pháp giới, há chỉ dùng một môn cờ
vây để thỏa thích ư? V́ thế, tôi nói cư
sĩ ắt muốn thấu hiểu rốt ráo một
nước cờ này, cần phải lại hướng
theo tam huyền, tam yếu, ngũ vị, cửu đới,
chín mươi sáu loại viên tướng, bách pháp minh môn, lục
tướng, thập huyền, ba ngàn tánh tướng v.v… đối
với mỗi thứ, đều ra vào dạo chơi trong
các búi dây leo đó, khiến cho chẳng có mảy may nào không
thấu đạt; sau đấy
mới được thành tựu vô thượng Diệu Dịch
tam-muội. Sau đó, sẽ nắm tay Thiện Tài, xoa đỉnh
đầu Thiện Tài mà bảo rằng:
- Ta đạt được
môn giải thoát của Bồ Tát, tên là Thiện Dịch (善奕, giỏi
cờ vây). Trong mỗi nước cờ, ta thấy vô
lượng Phật, nghe vô lượng pháp, thân cận cúng
dường vô lượng chúng tăng. Lại trong mỗi
nước cờ, viên măn Niệm Xứ, Chánh Cần,
Căn, Lực, Giác Đạo, Ba Mươi Bảy Phẩm
Bồ Đề Phần Pháp. Lại từ trong mỗi
nước cờ, nhập pháp môn không, vô tướng, vô
tác, thấy trọn khắp các sát-độ của
chư Phật chẳng do hai tướng. Lại trong mỗi
nước cờ, trọn đủ Lục Độ, Tứ
Đẳng, Tứ Nhiếp, vạn hạnh, chẳng thể
nghĩ bàn tư lương phước trí. Lại trong mỗi
nước cờ, thành tựu thập lực, tứ vô sở
úy, thập bát bất cộng Phật pháp. Lại trong mỗi
nước cờ, trang nghiêm ba mươi hai tướng,
tám mươi thứ hảo, lưu xuất thân vân[8]
trọn khắp mười phương giới. Lại trong
mỗi nước cờ, hàng phục các ma, chế
phục các ngoại đạo, phá ngă chấp và pháp chấp,
hiển Nhị Không Chân Như. Lại trong mỗi nước
cờ, tùy theo các chúng sanh có đủ loại dục, đủ
loại giải, đủ loại căn tánh, đủ loại
rừng rậm tập khí phiền năo, ắt thuận theo
căn cơ của họ mà v́ họ thuyết pháp, dùng tứ
vô ngại giải, trọn đủ bốn loại Tất
Đàn của chư Phật, khiến cho các chúng sanh ai nấy
đều hoan hỷ, ai nấy đều được sanh
thiện, ai nấy đều được diệt ác, ai
nấy được an trụ trong Đệ Nhất
Nghĩa Đế. Thiện nam tử! Ta chỉ đạt
được môn Thiện Dịch tam-muội này, cho đến
vi trần sát độ, tự tha chẳng cách một
nước cờ. Mười đời xưa nay, từ
đầu đến cuối, chẳng ĺa một nước
cờ. Thích Ca Như Lai ở trong một nước cờ
ấy chuyển đại pháp luân. Di Đà Thế Tôn ở
trong một nước cờ ấy mà tịnh hóa bốn
loại cơi.
Tức là “nhĩ thuận”
của Tuyên Thánh
(Khổng Tử) liền có thể cùng với
Nhĩ Căn Viên Thông của Quán Âm nhập biển Thủ Lăng
Nghiêm Đại Định, ngơ hầu chẳng phụ
điều mong mỏi của chính cư sĩ, mà cũng chẳng
phụ điều mong mỏi của trọn khắp thiên
hạ đối với cư sĩ vậy. Đó là
lời chúc vậy!
* Văn chúc thọ nhân dịp
năm mươi tuổi của Trương Ấu Nhân
Ông Trương
Tử Thiều[9]
có tỉnh, bèn nói kệ rằng: “Tử Thiều cách vật,
Diệu Hỷ vật cách, muốn biết nhất quán, hai
cái năm trăm”. Khi tôi c̣n tại gia, tâm trộm ngờ
vực. Về sau, đọc thí dụ về măn tự và
bán tự trong kinh Đại Thừa, bỗng dưng hiểu
ư. “Cách vật” là bán tự giáo, c̣n “vật cách”
chính là măn tự giáo trong nhà Phật chúng ta. V́ Thật mà thực
hiện Quyền, tức là Bán giúp cho Măn. Khai Quyền
hiển Thật chính là Măn dung hội Bán. Bán giúp
cho Măn, ngoài Bán chẳng
có Măn. Măn dung
thông Bán, ngoài Măn chẳng
có Bán. Nhất
quán hai cái năm trăm[10],
há chẳng đúng như vậy ư?
Ấu Nhân là hậu thân của
Tử Thiều, đă ngộ “các tướng chẳng phải
là tướng”, bèn v́
Như Lai miêu tả ba mươi hai tướng gần
đến mấy vạn bức. Ngộ “các tướng
chẳng phải là tướng”, đó là bán tự giáo cách vật.
Ba mươi hai tướng, trang nghiêm Pháp Thân, há chẳng
phải là măn tự giáo vật cách ư? Mồng Một
đầu mùa Thu năm nay, ông đă hơn nửa trăm
(tṛn năm mươi tuổi), Ấu Nhân trước
đă chứng nhập pháp môn Măn Tự, th́ hai lần
năm mươi chính là một trăm, c̣n nghi chi nữa?
Trong một trăm năm ấy, lưu xuất tướng
hảo nơi thân Phật, sẽ là vô lượng, tức
là “mười đời xưa nay, từ đầu
đến cuối chẳng ĺa một niệm hiện tại!”
* Văn chúc thọ Mă Mẫu
là Ưu-bà-di Tống thái thạc nhân vào dịp cụ bảy
mươi tuổi
Thọ
lượng của Pháp Thân không khởi đầu, không kết
thúc. Thọ lượng của Báo Thân không kết thúc, có khởi
đầu. Thọ lượng của Ứng Thân tùy cơ
thị hiện. Lănh hội như thế vẫn là kiến
giải do dơi theo các ḍng mực. Nếu biết một Thể
tam thân, chẳng một, chẳng khác, sẽ biết hết
thảy thọ mạng đều chỉ là tâm lượng.
Do vậy, đạt được tâm tự tại,
đạt được pháp tự tại, thọ mạng
tự tại, có thể do một ngày mà thành bao kiếp
vĩnh viễn, có thể lấy bao kiếp vĩnh viễn
làm một ngày. Tánh của một niệm trong hiện tiền
chính là tánh của mười đời xưa nay, hết
thảy hàm linh cũng cùng có tánh này. Vô Lượng Thọ
Phật cũng có cùng một tánh này.
Người giác tánh ấy
được gọi là Phật, diễn tả tánh ấy
th́ gọi là Pháp, người thuận theo tánh ấy th́ gọi
là Tăng. Thủ hộ tánh ấy th́ gọi là “chẳng giết”,
toàn vẹn tánh ấy th́ gọi là “chẳng trộm”, giữ
ǵn tánh ấy th́ gọi là “chẳng dâm”, tuyên nói tánh ấy
th́ gọi là “chẳng nói dối”, hiểu rơ tánh ấy th́ gọi
là “chẳng uống rượu”. Chẳng quên tánh ấy th́
gọi là “niệm Phật”. Quan sát tánh ấy th́ gọi là
“niệm Pháp”. Tùy thuận tánh ấy gọi là “niệm
Tăng”. Đem tánh ấy dạy cho người khác th́ gọi
là “niệm Thí”. Dùng tánh ấy để tự làm khuôn phép th́
gọi là “niệm Giới”. Coi tánh ấy là chỗ
nương tựa rốt ráo th́ gọi là “niệm Đệ
Nhất Nghĩa Thiên”. Nếu ai tin sâu tánh ấy, bèn gọi
là “trọn đủ Tam Quy, Ngũ Giới, Lục Niệm”.
Nếu người có thể thọ Quy Giới, có thể
tu lục niệm, sẽ có thể tùy thuận, chứng nhập
tánh này.
Hiện thời, ưu-bà-di Tống
thái thạc nhân là mẹ của bảy anh em họ Mă, tuổi tṛn bảy
mươi, con cháu đầy nhà. Con cụ là cư sĩ
Quang Thế, do tin Thiền mà kiêm tin Giáo. Cư sĩ Thái
Chiêu do học Nho mà kiêm học Phật. Các người con
khác cũng như các cháu, ai nấy cũng đều thành
đạt rạng rỡ, có thể v́ cụ mà phụng
dưỡng,
khiến cụ vui sướng đúng
pháp xuất thế. Thái thạc nhân chẳng hâm mộ
điều ǵ, chỉ riêng ưa thích Quy Giới. Các vị
quân tử như Lưu, Diêu thân thiết với Quang Thế
và Thái Chiêu, tính chúc thọ thái thạc nhân, hỏi ư sơn nạp.
Nạp tăng nói: “Điều thái thạc nhân ưa thích giống
như vải thô, thức ăn đạm bạc, thường
hằng xưa nay, thanh đạm chẳng chán. Các con
cũng chẳng có sơn hào, hải vị, mà các vị quân tử cũng cần
ǵ phải t́m kiếm tủy phượng, gan rồng!”
* Văn chúc thọ Xa mẫu
Ngưu thạc nhân vào dịp cụ tám mươi tuổi
và chúc thọ cư sĩ Thứ Công sáu mươi tuổi
Một niệm
tâm hiện tiền thường hằng xưa nay, nên gọi
là Vô Lượng Thọ. Linh thông, sáng suốt, rỗng rang,
thấu triệt, nên gọi là Vô Lượng Quang. A Di
Đà Phật bất quá là vị thấu triệt trước
“cái tâm của chúng ta vốn tương đồng”
đó thôi! Do vậy, nếu chúng ta thật sự có thể
niệm nào cũng chấp tŕ A Di Đà Phật, tức là
niệm nào cũng chứng Vô Lượng Thọ, phóng Vô
Lượng Quang. Cổ thánh đă là như thế, người
hiện thời cũng thế. Chí tâm đă là như thế,
mà tán tâm cũng giống hệt như vậy. Kinh Pháp Hoa
nói: “Nhất xưng nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật
đạo” (xưng nam-mô Phật một tiếng, đều
đă thành Phật đạo). Kim khẩu của đức
đại thánh há lừa dối ta ư? Thời Mạt,
chướng nặng, hễ cầu điều huyền diệu
nào khác, [sẽ trở
thành] muốn nhanh chóng mà đâm ra chậm trễ.
Cư sĩ Xa Mật Phiên tu tịnh
nghiệp chuyên dốc, tâm chẳng hướng theo điều
ǵ khác, ngày đêm niệm Phật Di Đà năm vạn câu.
Dùng công đức ấy để ngưỡng chúc mẹ,
phát nguyện cùng chứng quả đức cứu cánh của
A Di Đà Phật. Ngưu thạc nhân cũng đă ăn
chay trường ba mươi lăm năm giống như
một ngày. Cư sĩ sanh ba trai ba gái, mà ba người con
trai lại sanh chín đứa cháu. Nay chúc thọ, chẳng dùng
ca múa thế gian, chỉ dùng Phật hiệu và tiếng tụng
kinh, khiến cho trọn khắp người trong thiên hạ
đều như quyến thuộc của họ Xa, há chẳng
phải Sa Bà chính là Thanh Thái ư? Cái thân nhân Phần Đoạn
chính là pháp lữ Bồ Đề đấy ư? Cư
sĩ nói: Tuy hiện thời con cháu đă nghe danh hiệu
Tam Bảo, muốn dùng pháp môn niệm Phật để
chúc thọ ḥng truyền lại nhiều đời, giáo hóa
vô cùng, riêng xin sơn nạp một lời. Một niệm
Vô Lượng Quang Thọ hiện tiền ai nấy đều
trọn đủ, nhưng mê muội th́ ai nấy cũng
cùng cảm thán. “Cùng trọn
đủ” th́ chẳng
khác; “cùng cảm” th́ chẳng
phải là đều có thể được! Dùng cái tâm
cùng trọn đủ để cảm cái t́nh chẳng thể
được, há riêng chẳng phải là phận làm con
ư?
* Văn chúc thọ pháp điệt
Lạc Như vào dịp bốn mươi tuổi
Mùa Hạ
năm Nhâm Tuất (1622), tôi xuất gia, đầu tiên hành
cước tới Vân Thê, liền cùng với huynh Tuyết
Hàng Tiếp kết bạn xuất thế. Cho tới mùa Hạ
năm Nhâm Ngọ (1642), huyễn ngụ tại Cô Thành, mới
quen biết pháp điệt Lạc Như. Pháp điệt
là người được Tuyết huynh thế độ.
Tŕ trai từ bé, lúc mười hai, mười ba tuổi liền
quy y với Tuyết huynh. Cho tới khi trải qua các thử
thách, kham tŕ tịnh giới, mới chịu ĺa tục, coi
xuất gia chẳng phải là chuyện nhàn rỗi, đă
hơn hẳn kẻ tầm thường ngàn vạn lần!
Gần đây, [pháp điệt] trụ tại chân núi của
ngọn Tĩnh Đạo, ḥa quang đồng trần, mà chẳng
thay đổi khuôn khổ của chính ḿnh. Lại c̣n dốc
ḷng tin tưởng pháp môn Tịnh Độ, khát ngưỡng
hâm mộ tông chỉ viên đốn. Do vậy, trong mùa
Đông năm trước, chẳng nài lao khổ, theo tôi
sang Tổ Đường nhập hội Pháp Hoa.
Tôi thường cảm khái học
nhân thời Mạt chỉ mong “lọt vào tai, thốt ra miệng”,
muốn [có
người được] như
pháp điệt chỉ cầu thọ dụng thầm lặng,
lại càng là chẳng có nhiều! Nhưng pháp môn Tịnh
Độ ắt dùng đại Bồ Đề tâm làm tông
yếu. Đại Bồ Đề tâm cố nhiên chẳng
thể dùng tánh xốc nổi để gánh vác, cũng chẳng
thể dùng sự lần khân để tự thoái thác. Xưa
kia, Khổng Tử đang ngồi, có bốn học
tṛ đứng hầu, Ngài ắt mượn lời
Tăng Điểm để giáo hóa sự chấp Có của
ba vị kia, mượn sự chấp thật của ba vị
kia để giáo hóa Tăng Điểm về sự quên bẵng
t́nh chấp[11]. Xưa kia,
Tuyết huynh sốt sắng coi pháp môn là trách nhiệm của
chính ḿnh, có phần nào giống như Tử Lộ. Lăo điệt
hiện thời điềm nhiên dùng sự ǵn giữ thanh
tĩnh làm gia phong, có phần nào giống Tăng Điểm.
Vậy th́ lăo điệt cố nhiên là thuốc của Tuyết
huynh, mà Tuyết huynh cũng chưa chắc chẳng phải
là sở học của lăo điệt. Mùa Đông năm nay,
gặp
dịp lăo điệt bước vào tuổi bốn
mươi, đồng môn là hai em Tử Nhă và Chứng Chân
đặc biệt xin tôi nói một lời chúc tụng. Tôi
nghĩ lăo điệt thật sự v́ một đại sự
nhân duyên mà xuất gia, trước nay chẳng thích a dua, cho
nên viết thẳng chuyện này để làm bằng
khoán cho vô lượng thọ vậy!
* Văn chúc thọ Trầm mẫu
Trương thạc nhân
Tôi nghe Thọ
(壽,
tuổi thọ) là thọ (受,
nhận lănh), tự tạo
cái nhân, tự thọ cái quả, chẳng phải là trời
giáng xuống, chẳng do đất vọt ra, chẳng phải
do kẻ khác ban cho. Do vậy, Tuyên Thánh nói “ḷng nhân là thọ”,
lại nói “đại đức tất đắc kỳ
thọ” (đức lớn ắt được
sống lâu); há
thọ là pháp ở ngoài tâm ư? Thọ đă chẳng phải
là pháp ở ngoài tâm; hễ nói đến cha con, vợ chồng,
thân hữu, con cháu, đều chẳng phải là pháp ở
ngoài tâm. Do vậy, con người có thể tận tâm trong
chuyện phụng sự, dưỡng dục, trung hiếu,
tiết nghĩa, sẽ tự có thể đạt
được thượng thọ. Lại có thể suy rộng
ra cái Thể vốn tịch, vốn chiếu của cái tâm ấy,
quyết đạt được, th́ cũng có
thể chứng Vô Lượng Thọ và Vô Lượng
Quang.
Mẹ của ông Trầm
Đông Khởi là Trương thạc nhân thoạt đầu
gả cho lăo cư sĩ Duyệt Hiên. Bà sanh ra Đông Khởi
chỉ mới ba tháng tuổi, Duyệt Hiên đă qua đời.
Thạc nhân giữ vững khí tiết băng tuyết, nuôi
nấng Đông Khởi cho tới tuổi trưởng
thành. Về sau, cụ mắc bệnh ngặt, Đông Khởi
sợ hăi, cắt [thịt]
bắp đùi làm thuốc khiến cho cụ
lành bệnh. Do vậy, tôi biết cái tâm của Đông Khởi
chính là tâm của Trương thạc nhân. Cái tâm của
Trương thạc nhân tức là tâm của thánh hiền
ngàn đời. Tâm của thánh hiền ngàn đời tức
là tâm của mười phương ba đời chư Phật.
Tâm của chư Phật chính là cái tâm vốn sẵn có của
mỗi người. Chớ nên vùi lấp cái tâm vốn sẵn
có ấy, mở rộng tâm ấy th́ sẽ là thánh nhân. Tột
cùng cái tâm vốn sẵn có ấy, sẽ là chư Phật.
Tham Thiền là tham cái tâm ấy, Chỉ Quán chính là quán cái tâm
ấy. Niệm Phật là niệm cái tâm ấy. “Cách vật” (trừ khử ḷng tham muốn vật chất) tức
là thấu hiểu điều ấy. “Trí tri” (thấu đạt đến tận cùng) là thấu
đạt cùng tận cái tâm ấy. “Minh minh đức” (làm sáng tỏ
đức sáng) là làm sáng tỏ cái
tâm ấy. Thạc nhân và Đông Khởi do đều có thể
chẳng vùi lấp cái tâm, đều biết mở rộng
sung măn cái tâm ấy, sung măn tới cùng cực, một niệm
tương ứng một niệm Phật, niệm niệm
tương ứng niệm niệm Phật, chứng Vô
Lượng Thọ, phóng Vô Lượng Quang, độ vô
lượng chúng sanh, thành vô thượng giác, có ǵ chẳng
phải là chuyện trong nhất tâm ư? Xưa kia, vua Ba
Tư Nặc lúc sáu mươi hai tuổi mới nghe Như
Lai nêu tỏ “tánh chẳng
sanh diệt”, liền cùng
với các đại chúng hớn hở, hoan hỷ, đạt
được điều chưa từng có! Nay thạc
nhân đă sáu mươi hai, tôi v́ bà nói pháp chẳng sanh diệt
này, thạc nhân và Đông Khởi ắt sẽ hớn hở,
hoan hỷ chẳng kém vua Ba Tư Nặc!
* Văn chúc thọ nhân dịp
cư sĩ Diêu Quảng Nhược tṛn ba mươi tuổi
Điều
trọng yếu trong Phật pháp là Giới, Định, Huệ.
Đức của Nho môn là trí, nhân, dũng. Yếu quyết
của Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hạnh. Ba điều
ấy chẳng phải là ba, tuy ba mà chỉ là một. Cái “một”
ấy chẳng phải là một, một ắt trọn
đủ ba! Có thể biết “Giới, Định, Huệ, thiếu
một điều chẳng được” th́ chính
là Trí. Tự hành Giới, Định, Huệ là Nhân. Chẳng
bị tham, sân, si đoạt mất th́ là Dũng. Biết
tam đức nơi vật (tất cả chúng sanh), nơi
ta, vốn sẵn b́nh đẳng, th́ là Tín. Dùng tam đức
trong cái nhân của ta để mong cầu tam đức
nơi cái quả, đó là Nguyện. Thẳng thừng biến
tam đức nơi cái quả thành tam đức nơi cái
nhân của ta, gọi là Hạnh. Điều này được
gọi là “tam pháp diệu”. Khổng Tử “tam thập
nhi lập” (khi ba
mươi tuổi, chí hướng đã
lập), chính là lập điều này.
Phật Thích Ca ba mươi tuổi thành đạo,
cũng chẳng vượt quá điều này mà thành!
Tôi nhớ mùa Đông năm
Nhâm Ngọ (1642), lần đầu gặp Quảng Nhược,
Quảng Nhược vừa mới hai mươi mốt
tuổi. Mùa Đông năm nay, gặp dịp sinh nhật ba
mươi tuổi của cư sĩ. Cổ nhân nói: “Đạo
khoáng vô nhai, phùng nhân bất tận” (đạo mênh mông
không bờ bến, người tài giỏi hơn ta vô tận).
Tuyên Thánh (Khổng Tử) tuy ba mươi [chí hướng]
đă lập, vẫn chẳng dám coi ḿnh là thánh nhân. Phật
Thích Ca tuy ba mươi tuổi đă thành đạo, vẫn
chẳng xả điều phước chừng bằng
mũi kim. Chỉ là lập điều này, thành điều
này, cho nên cùng tột ngằn mé vị lai, chẳng xả
điều này. Do sự rốt ráo chẳng xả ấy,
bèn gọi là “chí thành vô tức” (chí thành không ngừng
nghỉ). Hăy gắng lên! Tôi sẽ cùng cư sĩ đều
dạo chơi cơi An Thái (Cực Lạc), thờ đức
Vô Lượng Thọ làm thầy, bầu bạn cùng Quán Tự
Tại và Vô Biên Quang (Đại Thế Chí).
* Văn chúc thọ đại
pháp sư Tân Y nhân dịp Ngài bảy mươi tuổi
Sư thọ
sáu mươi tuổi, giới tử theo Húc du hành, lầm
lạc cậy Húc nói lời chúc thọ. Nay Sư bảy
mươi, cao túc lại nhờ cậy viết lời chúc
thọ. Húc vẫn nhớ mùa Xuân năm Tân Mùi (1631), cùng với
Sư lễ Đại Bi Sám ở Liên Cư. Tŕnh Quư Thanh vừa
mới kiến nghị lập Lục Niên Pháp Xă. Ở trong
Quán Đường, Húc mộng thấy một ṭa
lương đ́nh[12]
lớn nơi ngă tư, treo mười mấy chén đèn. Bỗng
chốc gió lùa tắt, chỉ c̣n một ngọn đèn, một
ḿnh chiếu sáng vằng vặc. Khi đó, tôi hư vọng
suy đoán, đấy là điềm ứng hiện nơi
Sư. Nay quả nhiên Ngài là một ngọn đèn duy nhất
tại Liên Cư! Nhưng c̣n lại một ngọn đèn ấy,
chẳng phải là ngẫu nhiên!
Sư dùng thân đồng tử
hầu hạ Thiệu ông (pháp sư Thiệu Giác), chịu
sự kềm cặp ngặt nghèo, nên mới trở thành
đại pháp khí về sau này. Sư cả đời giới
luật tinh nghiêm, phạm hạnh siêu tuyệt; sám-ma, Thiền
quán, không ǵ chẳng tu tập sâu xa. Điều càng hay khéo
là trống ḷng, thích học hỏi. Năm Nhâm Ngọ (1642),
Húc từ đất Mân (Phước Kiến) đến,
Sư liền đem sách Duy Thức Hợp Hưởng ân cần
hạ vấn[13].
Cho đến năm trước, gởi thư cho Húc, Sư
vẫn bảo Húc giảo duyệt. Sư đă giảng diễn
Duy Thức hai mươi mấy lượt, vẫn chẳng
nề hà rủ ḷng hỏi han kẻ thô lậu, nh́n lại
những kẻ hư vọng tự măn trong hiện thời,
bụng rỗng tuếch mà tâm cao ngất ngưởng là
như thế nào vậy? Kinh Dịch nói: “Khiêm tôn nhi quang,
ty nhi bất khả du” (Do khiêm cung mà được tôn
quư, tỏa rạng. Tuy hạ ḿnh mà chẳng ai có thể
vượt hơn được). Vô Lượng Quang, Vô
Lượng Thọ là ở ngay nơi đó. Tột cùng
đời vị lai, thường trụ trong thế gian,
khi kiếp phong dấy lên, ngọn đèn ấy càng sáng rực.
Kẻ hèn này chỉ đành dùng Nam Sơn, Bắc Hải
để sánh ví quang thọ của Sư vậy!
* Văn chúc thọ nhân dịp
Đạt Nguyên thiền túc sáu mươi tuổi
Xưa kia,
thiền sư Vô Dị vào Thạch Thành. Một hôm, Ngài thăng
ṭa, thầy Đạt Nguyên ở Vạn Thọ Am bước
ra khỏi đại chúng, thưa hỏi: “Như thế
nào là Vô Lượng Thọ?” Ngài Vô Dị nói: “Rồng
đen trong đầm, sóng ngập trời”. Thầy lại
hỏi: “Như vậy th́ là hữu lượng?” Ngài Vô Dị
bảo: “Một giọt nước nơi ao trời há
giống như các ḍng nước?” Sư liền lễ
bái, trở về chỗ. Khi ấy, tôi được quen
biết thầy [Đạt Nguyên] lần đầu. Tới
mùa Xuân năm Tân Mùi (1631), Sư từ bỏ chuyện trong
am, làm một vị tăng thong dong sang Vũ Lâm, lại gặp
tôi ở Liên Cư Am. Sư có chí muốn dong buồm trong biển
giáo, lại c̣n quên bẵng khí tượng của Thiền
giả trong thời gần đây. Sư thân cận Tân Y lăo
pháp chủ đă lâu, bèn bẻ găy trụ trượng[14],
ở một ḿnh nơi am Định Huệ tại Hoa Ổ.
Am lâu ngày, chẳng ngăn được mưa gió, Sư
bèn tụng một ngàn bộ kinh Pháp Hoa tại đó, thí Diệm
Khẩu một ngàn lần, suốt mấy năm giống
như một ngày, mới cảm đàn-na hộ pháp chỉnh
đốn như cũ.
Sư làm người b́nh dị,
chân thành, chẳng nhỏ nhen, chẳng cao ngạo, siêng tu hạnh
môn chân thật, bởi không chỉ đắc lực
nơi một giọt nước nơi ao trời mà thôi! Sư
tự thuật thuở đang dốc chí học tập, liền
biết thờ Phật. Tuổi sắp nhược quan
(hai mươi), Sư lễ vị
tôn túc là Biệt Truyền, xuống tóc nơi ngài Biệt
Truyền. Vị này là người đồng thời với
Tử Bách lăo nhân, độc hành, hiếm có người thừa
sự. Sư từng khất thực phụng dưỡng
thầy mười năm, sớm chiều thân cận; do vậy,
vẫn có phong cách của cổ nhân. Tuy các bậc thầy
trong thời gần đây đều chuộng tham học,
cầu thỉnh, nhưng trọn chẳng tu tập gia pháp
này. Đất nhiều, [tượng] Phật
to, nguồn xa ḍng dài, chỉ có Sư là được
như vậy.
* Văn chúc thọ lăo tôn túc Bạch
Pháp nhân dịp Ngài tám mươi tuổi
Từng nghe
xuất gia có ba sự nghiệp, tức là tọa thiền,
đọc tụng, làm phước. Tọa Thiền giống
như nước có vơ bị, gọi là Định luân.
Đọc tụng giống như nước có văn sự,
gọi là Huệ luân. Làm phước giống như nước
cần phải quản trị kinh doanh, gọi là Phước
luân. Ba điều này đều lấy Giới làm cơ bản,
giống như trong nước, dù là tư mă, tư lại,
hay tư nông[15] v.v… đều
tuân phụng theo luận định, hiến pháp, chưa hề
xếp Thiền, Giáo, Luật thành ba tông. Lại có ba loại
thiện tri thức, tức là giáo thọ, đồng hạnh,
và ngoại hộ. Giáo thọ dùng kẻ ngộ trước
giác ngộ người sau, quá nửa giống như dạy
học. Đồng hạnh là cùng hướng theo, mong cầu,
giúp nhau cùng tiến bộ. Chỉ có ngoại hộ thiện
tri thức ắt cần
phải am hiểu tường tận lẽ
thông, tắc, khéo léo tạo lợi ích cho nhau. V́ thế, từ
cổ, đă thường coi [ngoại hộ] là khó khăn.
Hơn nữa, nói theo ngũ phẩm quán hạnh[16]
của Pháp Hoa, đồng hạnh th́ hai phẩm đầu
có thể thực hiện, giáo thọ th́ phẩm thứ ba
có thể thực hiện. Ngoại hộ mà nếu chẳng
phải là phẩm thứ tư và phẩm thứ năm, sẽ
chẳng thể đảm nhận được!
Xưa kia, Mật Tạng
đại sư bỏ Nho học Phật, đă theo Tử
Bách đại sư xuất gia. [Tử Bách] đại
sư nói Sư (ngài Mật Tạng) mới nhập pháp môn,
chẳng có phước nghiệp, dạy Sư hăy khôi phục
chùa cổ Lăng Nghiêm ở Trường Thủy, lưu
thông kinh sách trong Đại Tạng Kinh, ḥng tiếp nối
huệ mạng của Phật, sáng lập đại sự
nhân duyên ngàn đời. Ngài Mật Tạng đă ẩn, [Tử
Bách] đại sư lại tịch, Phật điện,
kinh phường
(tàng kinh các) dần dần điêu tàn.
Tới mùa Đông năm Nhâm Tuất (1622), các vị hộ
pháp thuộc Ḥa Thành khẩn thỉnh Bạch ông (ngài Bạch
Pháp) chủ tŕ mọi
chuyện trong Thiền Đường, khiến
cho tự vũ trong sơn môn đổi mới rực rỡ,
lưu thông Đại Tạng vĩnh viễn trở thành
quy củ. Mười năm sau, Ngài dùng tài lực dư thừa
để kiến tạo chùa cổ Doanh Tuyền. Lại
trải qua sáu năm, Ngài lần lượt làm xă chủ của
Hoành Sơn và Chiêu Khánh ở Vũ Lâm, cũng như chùa U
Lan thuộc Vũ Thủy. Cho tới năm Quư Mùi (1643), Ngài
lại tới Lăng Nghiêm Đường suốt ba
năm. Khi đó, gặp lúc thay đổi triều đại,
đao binh sôi sục, mà ḷng Từ và nhẫn lực của
Sư càng thêm tràn trề. Tới mùa Hạ năm Bính Tuất
(1646), Sư thọ bảy mươi mốt tuổi, lui về
ở trong Tử Bách Viện, mùa Đông kiến tạo chùa
cổ Lậu Trạch. Giữa Thu năm Kỷ Sửu
(1649), làm chủ Đông Tháp, sửa sang, xây mới điện
vũ, chưa từng nề hà mỏi nhọc! Bởi lẽ,
Sư suốt đời miệt mài làm phước,
đáng gọi là “ba mươi năm chưa từng thay
đổi gia phong”.
Tôi thường nói Tử Bách đại
sư kế tục trùng hưng khuôn phép thơm thảo của
Vĩnh Minh “Tông, Thuyết
đều thông, giải và hạnh trọn đủ”, trừ bỏ rào
giậu giữa tánh và tướng, chỉ
quy cùng một đường lối, đả
phá thói tệ của Thiền, Giảng, hướng dẫn
t́m về nguồn cội. Nh́n vào “bán kệ công thành”[17],
đến đi tự tại, có thể nói là đă thấu
triệt nguồn đáy của pháp, chưa từng giơ
dùi, dựng đứng cán phất trần, hoặc giữ
ngôi Trụ Tŕ. Có thể nói là Ngài đă hiểu thấu
thông suốt sự sai biệt giữa Thiên Thai, Hiền Thủ,
Phương Sơn[18],
Từ Ân, chưa từng thăng ṭa vân tập, xưng là
nhân thiên sư. Miệng chẳng nếm các vị, hông
chưa từng chạm chiếu, có thể nói là hạnh
Đầu Đà thù thắng, chưa từng truyền giới,
truyền tích trượng, xưng là đại ḥa thượng!
Do chẳng dám tách Thiền, Giáo, Luật thành ba, cho nên Ngài có
thể biết sâu xa chỗ khó khăn trong chánh pháp. V́ thế,
thận trọng dường ấy!
Nếu có kẻ bàn rằng “Bạch
ông ba mươi mấy năm làm chủ tùng lâm, giảng tịch,
chưa từng thỉnh một bậc thầy hoằng
Tông, diễn Giáo, thuyết giới”, coi đó là
thiếu sót. Nào có biết chính Bạch ông trọn đủ
bản lănh to lớn, chẳng phải là kẻ lơ mơ
vậy! Một nguồn Tam Học của Ngài, [kẻ bên
ngoài] càng chẳng thể nh́n thấu được! Tông chủ
trong thiên hạ hiện thời, ai có thể thấu đạt
nguồn đáy như ngài Tử Bách ư? Pháp chủ trong
thiên hạ hiện thời, ai có thể thấu hiểu
dung thông sự sai biệt như ngài Tử Bách? Luật chủ
trong thiên hạ hiện thời, ai có thể hành hạnh
đầu đà thù thắng như ngài Tử Bách ư?
Đă thấy biển, khó thể coi trọng những chỗ
có nước khác! Bạch ông chẳng thỉnh chuyển
pháp luân v́ Ngài đă hộ tŕ chánh pháp luân, cũng chẳng nỡ
để cỏ dại xen tạp lúa mạ,
để nhạc nước Trịnh rối loạn Nhă
Nhạc[19].
Hơn nữa, ngài Tử Bách
coi việc lưu thông Đại Tạng là nhiệm vụ
cấp bách, quả thật chẳng khác nỗi khổ tâm biên
tập kinh Thi, kinh Thư, định lễ nhạc, khen ngợi
kinh Dịch,
tu chỉnh kinh Xuân Thu [của Khổng Tử]. Ngài Mật
Tạng khế hội, giống như Khổng môn có Nhan Tử.
Bạch ông kế thừa trách nhiệm ấy, mở rộng
thành vĩnh viễn, giống như Mạnh Tử. Công ấy
to lớn thay! Năm nay, Ngài đă bảy mươi bảy
tuổi, lớn hơn tôi hai mươi ba tuổi, mà tinh thần
mạnh hơn tôi bội phần, há chẳng phải là quả
báo cảm vời trong hiện tại do nối tiếp huệ
mạng của Phật ư? Từ nay, đèn pháp Đại Tạng vĩnh viễn vô tận, Ngài trụ
thế cũng vĩnh viễn vô tận, nào khác mười
sáu vị đại A La Hán vâng theo sắc mạng của
đức Phật mà ủng hộ lưu thông pháp bảo
Tam Tạng ư?
* Văn chúc thọ dành sẵn
cho dịp ngài Càn Minh sáu mươi tuổi
Phật
pháp hưng thịnh chẳng do có thể hoằng
dương rộng khắp, mà là do có thể giữ vững.
Bởi lẽ, hoằng dương rộng khắp gần
với tiếng tăm, mà tiếng tăm dẫn đến
lợi dưỡng. Do lợi dưỡng trí dẫn đến
kẻ bất chánh, dễ sanh khởi nhân duyên hữu lậu.
Mười hai năm sau khi đức Phật nhập diệt
mà c̣n như thế, huống hồ thuở mạt vận
ư? Chỉ có giữ vững th́ lánh đời mà tâm chẳng
phiền muộn, đích xác là chẳng thể dẹp trừ,
nhưng
có thể đẩy lùi cơn sóng cuồng loạn,
lưu lại một mối chánh pháp, kế thừa người
trước, mở đường cho mai sau, nối tiếp
huệ mạng của Phật. Như Lục Tổ ẩn
ḿnh trong đám thợ săn mười sáu năm, ngài Kinh
Khê suốt đời chẳng lên pháp ṭa, nhưng đạo
của Tào Khê, Thiên Thai đều lưu truyền thiên cổ,
há chẳng phải là lẽ chứng nghiệm minh xác cho sự
tồn tại của Phật pháp ư?
Tôi sanh muộn màng, chẳng
được hưởng sự kèm cặp của bậc
tiền bối, thẹn làm pháp quyến của ngài Hám
Sơn, học tập theo di trước th́ là Giới của
ngài Vân Thê, Thiền của Tử Bách và Lục Tổ, huệ
của Kinh Khê, Trí Giả. Hiềm rằng chướng nặng,
tập khí mạnh mẽ, chưa đạt tới Pháp Nhẫn,
chỉ khai danh tự Phật nhăn, trộm soạn thuật
Pháp Hoa Thai Tông Hội Nghĩa, ngơ hầu chẳng bị
Pháp Hoa chuyển!
Mùa Hạ năm Tân Măo (1651), tôi kết hạ
ở Trường Can, trong ngày giải Hạ, đă có lời
thề nhất quyết không nhận lời thỉnh.
Nhưng Càn công đă thỉnh làm đạo tràng Pháp Hoa vào
mùa Đông năm Ất Mùi (1655) trước khi tôi lập lời
thề. Thoạt đầu, tôi dự định vào núi bốn
năm, may ra công phu hơi tiến bộ, pháp vận
cũng có thể văn hồi đôi chút. Do đó, chẳng dám
quyết liệt từ chối. Nào ngờ đă hơn hai
năm, vẫn mờ mịt như cũ, lại thêm sự
đấu tranh trong pháp môn đă bắt đầu, những
kẻ tài hèn sức mọn khác ai nấy đều ở mỗi
phương, viện cớ diễn giáo, hoằng tông, thâu vớt
mối lợi nhỏ nhặt, hết sức chẳng nỡ
nghe! Lúc này, nếu chẳng gấp dũng mănh thoái lui, gần
như là nước càng sâu, lửa càng nóng đó ư?
Càn công (ngài Càn Minh) là bậc kỳ
túc ở Trường Can, thọ giới nơi thiền
sư Bác Sơn, cũng học tập theo di trước của
ngài Vân Thê, xuất gia tại Đại Báo Ân Tự,
cũng học tập theo di trước của ngài Hám
Sơn. Chân thật dốc sức nơi luật hạnh,
siêng tŕ tụng, là bậc lỗi lạc trong pháp môn vậy,
coi trọng lời hứa, chuộng phước nghiệp,
là gương mẫu cho trời, người. Thầy sốt
sắng lo xa cho pháp môn, quả thật giống như tôi,
quyết chẳng đem chuyện “nói năng ắt giữ chữ tín, hành xử ắt kiên quyết giữ trách
nhiệm” mà trách
tôi. Tôi cũng nào dám chấp tiểu tiết thô thiển,
khăng khăng thực hiện lời hứa để lưu
tiếng xấu cho pháp môn ư? Tới ngày Mười
Lăm tháng Hai năm Bính Thân (1656), Ngài sẽ bước vào
tuổi sáu mươi. Cuối mùa Xuân năm nay, tôi mới
trở về Linh Phong, từ nay đến sinh nhật của
Ngài chưa đầy hai năm, sao có thể đến
chúc mừng? Do vậy, tính khắc in ba bản trước
tác đối với kinh Lăng Già, luận Khởi Tín và
Tuyển Phật Phổ, cậy hai tṛ là Kiên Mật và
Thương Huy đến trông coi việc ấy, xin dùng
công đức lưu thông pháp bảo để chúc thọ
trước cho Ngài. Ngài do có được công tích ấy, [chúng sanh đối
với] huệ mạng của chư Phật
sẽ trăm đời chẳng bị mê lầm,
đều được vô lượng quang minh của
Ngài gia bị. So với một trăm ngày giảng diễn
[kinh Pháp Hoa như tôi đă hứa trước kia] chỉ
là ứng với tai mắt của ngàn người, công
đức lớn hay nhỏ sao mà sánh bằng
được?
Huống hồ Ngài và tôi t́nh
nghĩa vượt ngoài cơi đời, hoằng nguyện Bồ
Đề trần kiếp chẳng quên lăng. C̣n nhớ
năm xưa, sửa chữa tháp Báo Ân, Ngài đảm gánh
vác trách nhiệm chánh yếu, chẳng phiền quyên mộ rộng
khắp, chẳng chú trọng phan duyên, chỉ dùng chân tâm thật
hạnh, hoàn thành [sự nghiệp ấy] trong khoảng khảy
ngón tay. So với nhân duyên tu bổ tháp của pháp sư
Tuyết Lăng thuở ấy, sự ít hơn một nửa mà
công gấp bội. Chuyện hiểu tường tận
pháp thế gian và xuất thế gian, biết sâu xa ư chỉ
“vô trụ sanh tâm”, chẳng cần phải đợi
tôi nói nữa! Tôi kính chúc Ngài vô lượng thọ dường
ấy, Ngài ắt chấp thuận là đúng vậy.
20. Tháp chí minh[20]
* Bài minh ở mộ tháp của
luật sư Tiều Vân
Tôi ở
Giang Ngoại[21]
được nghe Tiều Vân quan chủ do khổ hạnh
thật tu, được Bát Mân[22]
kính ngưỡng. Mùa Đông năm Mậu Dần (1638), tôi
qua Hồng Đường, đến Ôn Lăng, những
kẻ ngu phu hoặc người lao động đều
nói Ngài thiết tha v́ đại chúng, siêng năng công khóa của
chính ḿnh. Chẳng bao lâu, nghe tin Ngài mất, hận ḿnh duyên
bạc, chẳng được gặp gỡ, giãi bày nỗi
niềm trong bài văn ngắn để tỏ
ḷng thương nhớ. Hai năm sau, tức năm Canh Th́n
(1640), tôi tới Chương Nam, cao túc Như Điền
tuân theo di mạng, tạo tháp thờ toàn thân Ngài ở rặng
Thạch Thất, thỉnh tôi viết bài minh.
Xét ra, Sư là con nhà họ Châu
ở Tân An thuộc Trừng Ấp, xuất gia tại chùa
Khai Nguyên thuộc đất Chương, pháp danh là Chân
Thường, Tiều Vân là biệt hiệu của Ngài. Thuở
bé, Ngài lấy ngói, sành, tre, gỗ, xếp thành b́nh và tích
trượng. Cha biết chí Ngài, cho phép con vào chùa. Chùa là
đạo tràng của thiền sư La Hán Sâm. Khi Sư xuống
tóc, đă có tâm ngưỡng mộ ngài La Hán Sâm. Sư tham yết
lăo nhân Nam Sơn Nhàn Tịch, bẩm thọ yếu chỉ
Thi La
(Giới học), học hỏi pháp môn Tịnh
Độ. Ngài đă kiến tạo cái đ́nh để
thí trà [cho người qua lại] ở đầu non Đồi
Vân. Cứ vào cuối tháng, có một con hổ đi trên
đường. Sư dùng trượng gơ nó, bảo: “Đây
là con đường trọng yếu để qua lại,
hăy cẩn thận đừng để người khác
ghét bỏ”. Hổ bèn lánh đi.
Kế đó, Sư trụ tại
thạch thất ở Tam Thai, nồi sành, giường dây,
tụng niệm công khóa, lặng lẽ tĩnh tọa. Trải
qua ba năm, Ngài tính đi sang nơi khác, nghe trên không trung có
tiếng lưu lại. Sư bèn xây dựng điện Phật,
cất tăng liêu, đặt tên cho vách núi ấy là Nhàn Vân
Thạch Thất v́ Nhàn Tịch lăo nhân từng cư trụ
tại đó. Sư bế quan, ngồi thẳng tắp, ăn
ngủ đều quên, đạo phong ngày một rạng rỡ,
đàn tín ngày một kéo về đông hơn. Do vậy, kiến
tạo Hoa Nghiêm Đường, mở Tiếp Chúng Xá để
khoản đăi mười phương, tận tâm, tận
lễ, liền cảm luật sư Ngũ Đài Vô
Tĩnh làm bạn chẳng thỉnh, chống tích trượng
đến trước quan pḥng, truyền giới Cụ
Túc cho Sư. Từ đấy, Sư nhóm họp Tam Sơn
Đại Tạng, lập tháp Bích Chi, tham yết pháp sư
Vô Tận ở Thiên Mỗ, thân cận Phổ Môn Đại
Sĩ nơi Phổ Đà, cho đến dạo khắp Nam
Hoa, tạc tượng Lục Tổ bằng chiên đàn, lại
trở về Thạch Thất, rồi lại hành cước
nhiều năm. Do thấy Luật học thưa thớt,
hoang phế, Sư lên Ngũ Đài ở miền Bắc,
thưa hỏi về tâm địa. Sau đấy, mở
ra cam lộ giới phẩm, ở các nơi như Ôn
Lăng, Cổ Phủ, một mực dùng Tịnh Độ
làm chỉ quy. Sư suốt đời chuyên dốc khổ
hạnh, tâm tiếp nhận trọn khắp, đối với
các bậc Thiền giảng danh tiếng, càng trống ḷng
[học hỏi] chẳng gián đoạn. Ấy là v́ Sư
yêu chuộng tiếp nhận điều hay của người
khác; tuổi
càng cao, đức càng khiêm cung. Do vậy, chẳng phẩy
bụi, dựng thẳng cán phất trần, mà có thể
nâng đỡ Tông, Giáo trong buổi suy vong. Sư thọ tám
mươi ba tuổi, pháp lạp năm mươi năm,
thế độ chừng ấy người, giới tử
chẳng phải chỉ là con số vạn. Minh rằng:
- Bậc tiên triết đă
khuất, t́nh người ngày một nhạt, phô
trương theo hư huyễn, ai ôm ḷng lo xa? Phật quốc
nơi Hải Nam, ch́m đắm thành g̣ hoang. Cạo trọc,
chẳng thọ giới. Binh, nô và tù ngục[23]. Bỗng
sanh cụ Tiều Vân, làm thuyền trong sông ái, rộng thả
bè tiếp độ, độ thoát lũ đang mê. Đi
trọn khắp thiên hạ, tập hợp kế thù thắng.
Lại nêu ra Thi La, Lạc Bang để hoành siêu, chẳng
giống như các phương, chứng rùa, làm ba ba[24]!
* Bài minh nơi tháp thờ móng
tay, tóc, y bát của Tử Trúc Lâm Chuyên Ngu đại sư
Chuyên Ngu
đại sư thuộc Tử Trúc Lâm tại Kim Lăng tọa
thoát vào tháng Sáu giữa mùa Hạ năm Bính Tuất (1646).
Môn nhân dùng chum sành đựng toàn thân Ngài, thờ ở mặt
Nam nơi núi của [Tử Trúc] Lâm.
Năm sau, đệ tử thỉnh [di thể] về Vân
Cư. Do vậy, Tăng, tục tại Kim Lăng đem
móng tay, tóc, y bát của Ngài lưu lại, dựng
tháp cúng dường ở mặt Nam của núi, cậy Húc
viết bài minh. Húc hổ thẹn học vấn chưa vững
vàng như Sư, lời lẽ chẳng đủ có sức
nặng. Nhưng người biết nhau, quư ở chỗ
biết tâm. Húc đă lầm mang nhục được kính
yêu, đă vượt ngoài lẽ thường t́nh, đâu
dám nại cớ học thức kém cỏi để chối
từ!
Kính xét theo niên phổ, Sư
húy là Quán Hành (觀衡), Chuyên
Ngu (顓愚) là tên tự
của Ngài. Sư là người Bá Châu, phủ Thuận
Thiên, thuộc họ Triệu. Trong bốn anh em, Sư là con
thứ. Mẹ mộng thấy Đại Sĩ dẫn bé
trai vào cửa, bà vội ôm lấy, tỉnh giấc bèn có
nghén. Sư sanh vào giờ Hợi ngày Mười Tám tháng Tám
năm Kỷ Măo (1579) đời Vạn Lịch, sanh ra có bọc
trắng, h́nh dạng khác với kẻ b́nh phàm. Lúc mười
hai tuổi, Sư liền ăn chay, thích thờ phụng
Quán Âm Đại Sĩ. Khi mười ba tuổi, Sư thong
dong mang chí hướng xuất trần. Lúc mười bốn
tuổi, Sư kiên quyết muốn nhập đạo. Cha
mẹ không cho phép, bèn lén trốn đi. Trên đường,
Sư gặp gỡ thầy Huệ Nhân thuộc chùa Viên Chiếu
ở Ngũ Đài Sơn, bèn khẩn cầu thế độ,
nương tựa thầy suốt bốn năm. Khi mười
tám tuổi, nghe danh của Không Ấn đại sư thuộc
Sư Tử Quật núi Thanh Lương, bèn thầm lặng
đến tham yết, dốc ḷng thành, chuyên gắng phụng
sự, hầu hạ suốt ba năm, thưa hỏi để
giải trừ điều nghi trong tâm, ngưỡng học
đức tột cùng của thầy, từ đầu
đến cuối đều như một ngày.
Lúc hai mươi hai tuổi, Sư theo ngài
Không Ấn vào Yên Đô (Bắc Kinh), hầu thầy trong giảng
tịch Lăng Nghiêm, thọ Bồ Tát Giới, tham yết
Tử Bách đại sư. Sư tự nghĩ “học
tập nghĩa học chưa phải là chuyện của bậc
đại trượng phu xuất gia”, bèn lẳng lặng
đi về phương Nam, tham yết hai vị đại
sư là Tuyết Lăng và Vân Thê, trụ một ḿnh nơi ngọn Hoa Đảnh
của Thiên Thai, đọc kinh Lăng Nghiêm, phá các lưới
nghi. Khi đó, Cao Minh Vô Tận đại sư lên Hoa Đảnh,
t́m kiếm dấu vết để lại của ngài Trí
Giả, thấy Sư trơ trọi trong lều tranh, thiếu
niên tinh tấn, bèn nghỉ lại, tṛ chuyện suốt
đêm. Ba năm sau, Sư dời sang trụ tại rặng
Càn Cương thuộc Khuông Sơn. Mỗi bữa ăn, hễ
nghỉ ngơi bèn tĩnh tọa mấy ngày. Tới năm
thứ ba, Sư kinh hành dưới trăng, chợt tỉnh
ngộ. Ba mươi tuổi, Sư vào Tào Khê, lễ Lục
Tổ. Tháng Tư mùa Hạ năm sau, tham yết Hám Sơn
đại sư tại Đoan Châu, vừa gặp đă khế
hợp. Giữa Thu, Sư từ tạ rời đi, lên Nam
Nhạc, trụ tại ngọn Thạch Lẫm.
Lúc ba mươi ba tuổi, Sư
ăn nhầm thảo ô[25],
trúng độc gần chết, ĺa núi để chữa trị.
Hám Sơn đại sư đặc biệt tới Nam Nhạc,
than rằng: “Thiền môn suy vi, may có được một
người rưỡi học nhân thật sự v́ sanh tử
để cùng qua lại, hơi an ủi nỗi cô quạnh.
Nay người ấy mắc bệnh này, phải chăng
là trời, rồng chán chường pháp môn ư?” Lúc ba
mươi tám tuổi, Sư kết Ngũ Đài Am tại
Thiệu Lăng, thân cận Hám Sơn đại
sư ở Hồ Đông, tham yết, hầu hạ nửa
tháng. Đại sư dùng pháp ngữ chỉ dạy, đại
ư: “Thân bệnh
đă lành, đừng mắc Thiền bệnh. Bởi
lẽ, thân bệnh
của chúng sanh vốn là do chấp trước, nhưng
Thiền bệnh cũng vốn là chấp trước. Nếu
pháp chấp chẳng quên, kiến chấp của chính ḿnh vẫn
c̣n, đó cũng là bệnh! Cần phải thẳng
thừng nhất loạt khạc bỏ công huân chấp
giữ đối với tham Thiền và tri kiến huyền
diệu trước kia, trọn chớ nên bị
chúng dưỡng thành gốc bệnh!”
Lời này cực thiết tha,
nói thành mấy ngàn chữ, nay quyển sổ tay do Ngài
đích thân ghi chép được thờ trong Lâm. V́ thế,
biết thầy Chuyên Ngu trước nay khai thị học
nhân tùy thuận
căn cơ viên măn sống động, chẳng giống
các phương khác chấp chết cứng một con mèo chết[26].
Ngài đắc lực nơi Hám Sơn đại sư,
đúng là chẳng cạn! Sư từng hỏi Hám Sơn
đại sư về cách thọ giới, đại
sư đáp: “Lăo hủ chưa duyệt Luật bộ,
đối với các giới tướng chưa thật sự
hiểu tường tận. Nay chỉ tuân theo kinh Phạm
Vơng, lấy pháp môn tâm địa làm tông, dùng mười trọng
giới làm trọng tâm. Kế đó, đối với bốn
mươi tám giới khinh, vẫn chưa thể nói cặn
kẽ, chỉ đành dạy hành nhân cứ mỗi nửa
tháng tụng tŕ mà thôi! Học nhân trong thời gần
đây, hiểu biết nông cạn, tâm thô thiển, nhiều
hư, ít thật, cầu người thật sự có thể
chuyên ṛng ǵn giữ như cổ nhân chẳng dễ thấy
được! Nhưng người hoằng Luật vốn
chẳng phải là học nhân, phần nhiều chuyên chú trọng
bịa đặt, khó thể lấy làm chuẩn. Nếu ở
chỗ ông có Đại Tạng Kinh, mong hăy kiểm Luật
Bộ tường tận để chỉ dạy cho tôi
th́ mong lắm thay!”
Khi ấy,
Sư cũng chẳng rảnh để duyệt Luật,
chỉ đề cao bốn loại thanh tịnh minh hối (bốn điều
dạy sáng suốt thanh tịnh) của
kinh Lăng Nghiêm nhằm khai thị hậu học, khiến
họ tŕ tâm giới, kiêm dạy họ chuyên lễ Quán Âm Đại
Sĩ. Sư có trước tác Viên Thông Sám Pháp được
lưu truyền rộng răi nhất. Sư trụ tại
Ngũ Đài Am, suốt hai mươi năm, chân không
bước ra khỏi cửa. Sư độ đệ tử
hơn một ngàn người, người được
thọ kư thự danh[27]
gần ba vạn người. Tới lúc Sư năm
mươi chín tuổi, đặc biệt lên chùa Ngũ
Nhũ ở Khuông Sơn quét tháp của Hám Sơn đại
sư, kiến lập đạo tràng Báo Ân. Đại chúng
trong chùa thỉnh Ngài làm chủ pháp tịch, Sư cố từ
tạ chẳng thể. Giữa Thu, Sư rời Khuông
Sơn, lên Vân Cư, lễ tổ tháp, đại chúng trong
chùa cũng kiên quyết giữ Sư làm chủ pháp tịch.
Sáng hôm sau, Sư lặng lẽ rời khỏi, giữa
đường đổ bệnh, chẳng thể đi.
Tỳ-kheo trong núi qua lại kiền thành cầu thỉnh,
Sư lại lên Vân Cư. Tới mùa Thu khi Ngài sáu
mươi lăm tuổi, Sư ĺa núi, lên thuyền, núi bèn
chấn động. Sư có túc duyên sâu dày với núi ấy!
Mùa Đông năm ấy, Sư nghỉ tại thành Bạch
Đầu. Tháng Mười mùa Đông năm kế đó,
Sư trác tích[28]
tại Tử Trúc Lâm. Lâm vốn là khu đất hoang ở
phía Bắc thành, Sư trụ tại đó chẳng lâu sau,
đă đông đảo thành chốn tùng lâm giảng tịch.
Sư phát tâm sâu xa v́ đại sự sanh tử; do đó,
đối với cha mẹ, sư trưởng, đều
chẳng từ tạ mà đi. Nhưng bản tánh chí hiếu,
mỗi dịp gặp ngày giỗ của cha mẹ, sư
trưởng, đều lập đạo tràng truy tiến,
ắt tột bậc chí thành, dốc cạn ḷng buồn
thương, luyến mộ. Người khác nh́n vào, không
ai chẳng bị cảm động.
Suốt đời, Sư
dung nghi cổ kính, chất phác, chẳng chuộng tô vẽ.
Vẻ mặt đầy đặn, đầu phẳng,
tai to, râu tóc tua tủa, tóc ngắn phủ vai, ánh mắt
loang loáng chiếu rực mọi người. Ngài suốt
đêm ngồi nơi chỗ trống, chẳng sợ gió to,
hoặc dông tố, vẫn ngồi dưới một cái dù
to. V́ thế, người học gọi Ngài là Tán Cư ḥa thượng.
Y phục chẳng hề có một tấc lụa. Mỗi
ngày chỉ một bữa cháo, bữa cơm, trọn chẳng
ăn vặt. Mỗi khi làm lụng, đều siêng gắng
hơn kẻ khác. Xử sự th́ trên là từ vương
công, đại nhân, dưới là đối đăi với
nông dân, kẻ chăn nuôi, lễ tiết chẳng khác,
cười nói ôn tồn, từ ái như gió Xuân; nhưng
người học hễ thấy Ngài, chẳng ra oai mà đều bị nhiếp phục. Hễ
đến nơi đâu, chỉ một đôi giày cỏ
bèn đi, đến chẳng thông báo trước, đi chẳng
tạ từ trước. Nơi Ngài trụ tích, Tăng, tục
tụ tập như mây, cầu giới, hỏi đạo,
chưa hề bỏ trống ngày nào! Nhưng
Ngài chưa hề tự lập tông phong, chẳng kiến lập
môn đ́nh. Bởi lẽ, Ngài đă đắc Giáo của
Không Ấn đại sư, đắc Thiền của Hám
Sơn đại sư, lại c̣n quy hướng dung hội
vào Tịnh Độ của Vân Thê đại sư. Do vậy,
pháp ngữ khai thị của Ngài thẳng thừng, nhanh
chóng, rộng lớn giống như ngài Tử Bách; Thiền ngữ
ứng hợp căn cơ nhẹ
nhàng, phương tiện, sống động viên dung giống
như Triệu Châu. Hơn nữa, nhăn giới tuy rất
cao rộng, khóe miệng chẳng tùy tiện thốt lời
khinh bạc, khiêm quang thịnh đức, ḷng rỗng rang
ôm ư niệm từ bi, thật sự khiến cho
người khác tận mắt thấy đạo nghĩa
tồn tại. Ngài trước tác Lăng Nghiêm Kim Cang Tứ
Y Giải và Tử Trúc Lâm Toàn Tập lưu hành trong cơi đời.
Pháp lạp năm mươi bốn năm, Ngài thọ sáu
mươi tám tuổi, lớn hơn Húc hai mươi tuổi,
lại c̣n đích thân hầu Hám Sơn đại sư,
đúng là bậc tiền bối tôn túc trong pháp môn. Ngài không
chỉ rủ ḷng kết bạn vong niên, mà mỗi lần gởi
thư hỏi, c̣n nói ngược lại là “nhục giáo mỗ
mỗ” (làm nhục thầy phải rủ ḷng dạy dỗ trò điều
này, điều nọ). Than ôi! Húc quả thật không chỗ
nào dung nỗi hổ thẹn, sợ hăi, chắp tay, rơi
lệ, minh rằng:
- Phật
pháp như biển cả, ngầm chảy tưới
trăm sông. Người đạt biết mênh mông. Kẻ
mê, câu nệ giọt. Ba tông tranh chân vạc. Năm cánh chia
đơn truyền[29]. Chẳng
có chí siêu phương, ai trừ tội đấu tránh?
Sư nương nguyện Phổ Môn, thương trược
thế, hành Quyền. Dũng mănh thoát lưới ái, học
Giáo, c̣n tu Thiền. Phóng sanh rộng Đàn độ. Nói giới
kết duyên sâu. Từ dung ấm ngày Đông. Cơ biện
chói trời Hạ. Đức trọng như núi cả, rỗng
rang tợ
vực sâu. Vết chân trọn hoàn vũ, bản
lănh vượt ngôn từ. Nắm tay niệm Đại
Sĩ, buông tay ngự sen vàng. Xá-lợi trấn Tổ Quật.
Móng, tóc lưu phước điền. Chiếu cuộc
đất Thạch Thành, vĩnh viễn trăm ngàn năm!
21. Văn tế
* Bài văn đốt
hương cúng sư bá Vô Tận
Kẻ chẳng
ra ǵ này thoạt đầu đến Thai Lănh, liền
được thấy từ huy, chỉ khâm phục đức
hạnh ôn ḥa, cung kính, chứ chưa thấy bờ mé
nơi biển pháp, cam ḷng noi theo đường lối ám
chứng, coi thường nghĩa học. Do [kiến chấp]
môn đ́nh mà mê muội đối với chỗ sâu thẳm,
tạo tội nơi ư địa chẳng ít! Về sau, xuất
nhập Thiền lâm, tận mắt thấy thói tệ trong
đương thời, mới biết chẳng do tông Thiên
Thai, sẽ chẳng thể uốn nắn sai phạm ấy!
Giáo pháp Thiên Thai c̣n th́ Phật pháp c̣n, giáo pháp Thiên Thai mất
th́ Phật pháp mất; đúng là chẳng lừa dối
chúng ta. V́ thế, tôi đối với lăo bá vẫn c̣n bán
tín, bán nghi. Kể từ sau khi kết bạn thâm giao với
Trù huynh (thầy Quy Nhất Trù), tôi mới bắt đầu
hướng về, nhưng lăo bá đă sanh về ao báu mất
rồi, chỉ tăng thêm ḷng đau buồn, ngưỡng
mộ suông. Trộm nghe phương cách giáo hóa của Ngài,
ôm ḷng hổ thẹn, hối hận, toan tính bù đắp bằng
cách nào đây?
Than ôi! Dây đàn của thầy
đă dứt bặt âm vang, dă can (chó rừng) tranh nhau
gào rống. Kẻ diễn giáo bỏ rượu tinh thuần,
giữ lấy bă hèm. Kẻ tham Tông hành cước trước
rồi mới t́m ṭi bến bờ! Ai có thể y giáo khởi
quán, gột rửa thói kém hèn “kể chuyện ăn,
đếm của báu”? Biết đường lối rồi mới
hành cước, giải thoát khỏi phận tu mù, luyện
đui? Lăo bá quả thật là trụ cột giữa ḍng,
là vầng mặt trời rực rỡ giữa trời,
thương xót tôi là đứa trẻ người non dạ,
chẳng được thấm pháp nhũ khi Ngài c̣n sống,
chẳng tu chút cúng dường nhỏ mọn nào sau khi Ngài đă
khuất bóng. Kính dùng ba lọn hương đốt trên
cánh tay, thấu hiểu sám-ma sâu xa. Ba lọn hương
đốt trên cánh tay, [nguyện Ngài] duỗi
tay ấn từ xa. Chỉ mong lăo bá chẳng rời Tịch
Quang mà hiện
giác ngộ trong tam hữu,
soi xét nỗi niềm bảo vệ đứa con côi trong
pháp môn, ban ân Chỉ Quán cho kẻ sơ tâm. Nếu cơ cảm
chẳng sai, ắt sẽ mỉm cười mà nhiếp thọ.
* Văn phúng điếu ngài Bất
Vong
Tỳ-kheo
Trí Húc ở núi Linh Phong, nghe ngài Bất Vong Âm qua đời,
kính tụng Phạm Vơng Giới Kinh một quyển, mười
quyển phẩm Không trong kinh Kim Quang Minh, và chân ngôn Diệt
Định Nghiệp một ngàn lần, lại c̣n viết
điếu văn hướng vọng mà truy điệu rằng:
Than ôi! Bậc thánh hiền ngàn
đời ắt từ bậc hào kiệt mà ra, nhưng hào
kiệt ngàn đời, ắt lấy thánh hiền làm
đích. Bỏ chuẩn mực của thánh hiền, đề
cao ư khí của hào kiệt, lầm mất rồi! Ngỡ ư
khí của hào kiệt là phẩm cách của thánh hiền,
càng lầm hơn! Ngài là bậc tự mong thành hào kiệt, tuy
bỏ lỡ cơ hội sát cánh với tôi, nhưng tâm can
đă chấp thuận tôi, tôi cũng hứa với Ngài mong
muốn tiến tới địa vị thánh hiền. Ngài
cũng tự hứa trọn chẳng ĺa bỏ hào kiệt.
Tới khi hành Pháp Hoa tam-muội, tôi tới yết kiến
quan pḥng của Ngài,
trò chuyện suốt đêm. Khi
đó, tôi được Ngài hâm mộ cũng là do Ngài
ưu ái. Ngài thoạt đầu lầm lẫn đối
với cách nói viên dung, lầm lạc bảo “thừa cấp
mà giới có thể hoăn”, cũng như nhắc nhở Ngài
về giấc mộng “cưỡi hạc vượt biển,
bỗng găy một cánh”, mới biết “giới cũng phải
nên gấp”, “hễ chưa đạt được giới
th́ tức là thừa”. Do vậy, tuy hành Sự sám, lư cảnh
chẳng tỏ lộ. Huống hồ đă đánh mất
phương tiện điều thân thì tiến
tu nơi đạo
đều mặc t́nh theo ư ḿnh! Chướng nặng tạo
từ trước, hối hận, lao chao bức bách sau
đó. Bạn lành cách biệt nơi núi khác, sự hiểu
biết do nghe pháp chỉ hạn cuộc nơi văn tự.
Dùng đó để diệt tội, ngộ tâm, khó lắm
thay!
Nhưng điều Ngài
chưa thấu triệt là cội nguồn của thừa
và giới, điều Ngài chẳng mê là nhân quả xuất
thế. Do chưa thấu triệt cội nguồn, cảm
bệnh ngặt trong hiện tại mà mất.
Do chẳng
mê nhân quả, chắc chắn có thể tránh khỏi cái quả
dị thục trong tương lai. Tôi buồn đau v́ Ngài,
Ngài cũng có thể tự an ủi trong chốn âm thầm.
Than ôi! Tu hành trong thời Mạt, nhiều bại, ít thành, Ngài
tin chắc chắn oai lực của Pháp Hoa và nguyện luân
của A Di Đà Phật, nhanh chóng trừ niềm riêng ái kiến,
mau về bến sen vàng. Cho đến khi tôi báo tận, Ngài
sẽ x̣e tay tiếp đón, cùng thân cận đấng từ
tôn, cùng vâng giữ phạm âm, nh́n lại điện
đường chốn Tây Hồ, ở cạnh tượng
Tiếp Dẫn, dốc ḷng thành phát lộ, kết minh tận
tâm can, có thể nói là nhân quả xen lẫn nhau, lâu bền
chẳng quên vậy!
* Văn tế điện hai
sư huynh Ảnh Cừ và Linh Ẩn
Than ôi! Cơi
đời cố nhiên có chuyện yêu mến nhau mà chẳng
hiểu biết nhau. Sự yêu mến ấy chẳng phải
là yêu mến theo lẽ đạo. Cũng có khi hiểu biết,
yêu mến nhau, nhưng chẳng biết mong mỏi, nhắc
nhở lẫn nhau. Vậy th́ sự hiểu biết ấy
chẳng phải là hiểu biết thật sự. Hai huynh
hiểu nhau, yêu mến nhau, mong mỏi, nhắc nhở nhau; hai
mươi mấy năm, như h́nh với bóng. Tôi với
hai huynh là bạn bè tâm đầu ư hợp chỉ từ mùa
Xuân năm Ất Hợi (1635). Nhớ khi đó, chưa hề
có ư nghĩ quen biết nhau, nhưng v́ trời đổ
mưa dầm, ba người chúng ta ngoài ư muốn giới
thiệu với nhau. Do đó, huynh Linh Ẩn làm thơ rằng:
“Chỉ thử thập nhật vũ, khuynh dư bán thế
hoài” (Mười ngày mưa dầm ấy, khiến tôi nhớ
nửa đời).
Ôi! Lạ lùng thay! Mùa Đông
năm ấy, tôi mắc bệnh ngặt, hai huynh tận lực
chữa
trị, chẳng khác anh em, hoặc mẹ con vậy.
Cho tới khi tôi trụ tại núi Cửu Tử, sang
chơi Bát Mân, hai huynh tưởng nhớ tôi giống
như tôi tưởng nhớ hai huynh vậy. Mùa Xuân năm
nay, tôi từ Mân Trung nghe huynh Ảnh Cừ khuất núi,
đau xé tâm can, niệm Phật mười vạn câu để
truy điệu. Vào tháng Năm trong mùa Hè, tôi rời Thiều
Thành. Đến tháng Bảy trong mùa Thu, huynh Linh Ẩn đội
nắng gắt đến thăm, ân cần đàm luận
đại sự xuất thế. Chưa đầy hai
tháng, huynh bỗng mang bệnh ngặt, vội viết
thư gọi tôi đến, tôi bươn bả sang thăm. Đi
chưa được trăm dặm, huynh đă bỏ tôi
đi trước!
Than ôi! Tôi tự xét chính ḿnh giải
lẫn hạnh đều hoang phế, tỳ vết chẳng
phải chỉ một điều, được các huynh
lầm tin tưởng, chấp thuận quá mức thường
t́nh. Lại c̣n căn dặn, muốn tôi diễn giảng
danh nghĩa tựa đề kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật. Tôi đă vâng mạng, lại niệm Phật
mười vạn câu để làm trợ duyên tăng thượng.
Than ôi! Đang trong lúc bệnh tật quấn thân mà ư ân cần
đối với đại sự sanh tử vẫn y hệt.
Như nay tôi chẳng ra tṛ giống ǵ, [trộm nghĩ tôi] giống
như phân,
đất màu giúp cho lúa tốt th́ chắc
là được! Thường nghĩ huynh Ảnh Cừ trầm
tĩnh, huynh Linh Ẩn hào sảng, đều kham thiên cổ.
C̣n như giới hạnh trong sạch, huệ tánh dĩnh
ngộ, sức chánh tín mạnh mẽ, tâm siêng khổ xuất
thế, đúng là kham “ngay lập tức siêu Phật, vượt
Tổ”, nhưng đại nguyện chưa trọn, chí cứu
tế c̣n xa vời, là v́ lẽ nào vậy? Nói chung là do Thân Kiến
hơi nặng, lần khân thời gian, chưa thể
thường qua lại dạo chơi trên mũi kiếm nhọn
sắc, chẳng chịu vươn tay, giơ chân nơi gai
góc, ngói, sỏi, đến nỗi Vô Sanh Pháp Nhẫn ắt
phải chờ đến lúc hoa nở tại Tịnh
Độ mới lănh hội. Nhưng thân hư huyễn này
chẳng thể bảo đảm, dẫu cho yêu tiếc, chưa
từng bền chắc chút nào! Ôm nỗi oán vào mồ, ai nói
chẳng phải là đúng như vậy ư? Hai huynh
đúng là chớp mắt thấy thấu suốt, cảnh
tỉnh, chẳng c̣n t́nh chấp sót thừa. Khảy ngón
tay, hoa sen sẽ nở, chẳng c̣n phải đợi một
kiếp, hay nửa kiếp, cho đến sát trần kiếp!
Sau đấy, sẽ v́ tôi ngưỡng bạch từ tôn,
thường dùng huệ quang chiết phục, thâu nhiếp
tâm tôi, hễ tôi huyễn duyên đă tận, sẽ x̣e tay
đón rước. Đó là điều tôi mong mỏi sâu
đậm nơi hai huynh vậy!
* Văn tế trước
tháp thờ móng tay, tóc, y bát của Chuyên Ngu đại sư
Than ôi!
Người chẳng khó yêu mến nhau, mà khó ở
chỗ hiểu nhau. Ngài thật sự hiểu biết tôi! Cơi
đời dẫu có một hai người đă yêu mến
lại c̣n hiểu nhau, nhưng [hiếm gặp người có
cùng] chí hướng, tiết tháo d́u dắt nhau, Húc
tuy chẳng dám mơ tưởng
đức như non Thái của Ngài, may là ba sự đại
lược chẳng trái nghịch: Chuộng chất phác, gạt
bỏ văn chương hư huyễn, chẳng chịu
cẩu thả chiều theo thói đời. Chú giải
kinh luận, tán dương giới luật, chẳng chịu
“treo đầu dê, bán mỡ chó” (懸羊頭而賣狗脂, huyền dương đầu nhi
mãi cẩu chỉ), cam tâm đạm bạc, chịu
cô quạnh, chẳng bị ràng buộc bởi gông cùm nơi
tùng lâm, giảng tịch, gạt bỏ trói buộc. Than ôi!
Bậc kỳ túc trong pháp môn như Ngài mà Húc được
biết, yêu kính, lại c̣n chí hướng, tiết tháo ứng
hợp như thế, thỏa ḷng mong tưởng của
tôi. Sở chứng của Ngài sâu hay cạn, Húc chẳng thể
suy lường, nhưng đối với những chỗ
mà tôi ái mộ nhất trong đời Ngài, xin ghi ra đại
lược:
Trong các bậc tri thức hiện
thời, hiếm có người chẳng bị danh tướng
lôi kéo, bị lợi nhử mà dựa dẫm bậc quyền
thế, có địa vị. Cổ nhân nói người
như Ngài là “biết tự yêu thương chính ḿnh”, cũng
chẳng được mấy ai! Trong số các vị tri
thức hiện thời, hiếm ai chẳng dùng tài khéo chụp
bắt cái hư huyễn, khư khư giữ lấy sự
hiểu biết nông cạn, khiến chúng sanh kinh sợ! Chứ
b́nh đạm, chân thật, ổn thỏa, thích đáng
như Ngài có được mấy ai? Trong số các vị
tri thức hiện thời, hiếm có ai chẳng ăn mặc
xa xỉ, chiếm cứ nhà cửa hoa lệ, buông lung t́nh
ư, chứ áo rách, giày cỏ, lều tranh, thềm đất
như Ngài có được mấy ai? Trong số các vị
tri thức hiện thời, hiếm có ai chẳng chọn lựa
kỹ càng kẻ theo hầu, tiền hô hậu ủng, chứ
như
Ngài tự làm mọi việc nặng nề, chẳng
mong an hưởng, há có được mấy ai? Trong số
các vị tri thức hiện thời, hiếm có kẻ nào
chẳng ḥa lẫn với thói ô trược, mà cứ tự
cho là “phương
tiện quyền biến, khéo léo, từ bi thuận theo thói
tục”. Chứ
như Ngài chẳng chịu cẩu thả, tham yết các
phương, cam chịu tiếng chê cười là “kẻ cố
chấp, câu nệ”, há có
được mấy ai?
V́ thế, hễ nghe đến
phong thái của Ngài, kẻ ương bướng bèn biết
kiềm chế, chẳng xen lạm, kẻ hèn yếu sẽ
tự lập, chẳng nghiêng ngả. Bá Di hẹp ḥi, cho nên
thành bậc thánh thanh cao, há có giống như kẻ uổng
thước làm tầm, dối trá được một buổi, thân tuy còn, danh
đă ch́m đắm trước mất rồi!
Húc thường xót xa chánh pháp của Như Lai bị bại
hoại bởi phường “nghe lỏm, nói ṃ”, hễ
nghe lọt vào tai bèn thốt ra miệng. Lại bại hoại
bởi lũ người bề ngoài mạnh mẽ mà trong
tâm khiếp nhược, cốt dê, da cọp! Cha lo báo cừu,
con ắt cướp bóc, càng bắt chước theo, lẽ
nào chẳng theo hướng ấy? Móng tay, tóc, y, bát của
Ngài may là vẫn c̣n, tức là đạo phong của Ngài
chưa diệt, ắt có người nghe thấy sẽ
hưng khởi, ngơ hầu cùng ngăn chặn cơn sóng cuồng
trong đời Mạt đấy ư?
* Văn tế duy-na Tại
Dung
Than ôi! Ông
theo tôi du hành theo lệnh của Chuyên Ngu đại sư.
Thoạt đầu, ông nghe Đại Thừa Chỉ
Quán
trở về, thầy Chuyên Ngu tra hỏi
ý
nghĩa chánh yếu, ông có thể đáp đại
lược. Do vậy, thầy Chuyên Ngu lại bảo ông
lên Tổ Đường, tôi liền phiền ông giúp lo liệu
tăng sự. Nhưng điều tôi đánh giá cao ở
ông là không chỉ có thể nghe kinh, mà c̣n có thể đảm
nhiệm chức sự. Nghe ông và thầy Chuyên Ngu cùng trụ
tại Vân Cư, nỗ lực lo liệu mọi việc chẳng
tiếc thân mạng. Khi thầy Chuyên Ngu mắc bệnh, tiết
trời nóng bức mà ông chẳng cởi đai hơn sáu
mươi ngày, dẫu kẻ đại hiếu phụng sự
cha mẹ cũng chẳng hơn được! Thầy
Chuyên Ngu mất, ông lại dùng chức sự để
nghiên cứu giáo lư. Tôi lại bị bệnh nặng, ông hầu
hạ chẳng khác phụng sự thầy Chuyên Ngu. Than ôi!
Ông do tâm địa như thế, tinh thần như thế,
há nên chưa tṛn ba mươi tuổi mà đă qua đời?
Chẳng trách ông quyến luyến, chẳng muốn ruổi
về Tây!
Tuy vậy, kiến địa
của ông chưa lớn, xa. Bọn chúng ta từ vô thỉ
tới nay, xả thân, thọ thân, há chỉ bằng số lượng các vi trần trong biển
các cơi nước? Nay may mắn gặp gỡ thầy sáng,
bạn lành, nghe Tây Phương Tịnh Độ là
phương tiện vô thượng viên đốn, hoành
siêu thù thắng lạ lùng, chỉ sợ trở về nhà
c̣n trễ tràng! [Thế mà] cứ ắt muốn từ trong
huyễn thân trăm năm này, thực hiện học vấn,
mở tùng lâm, ṭa giảng, nổi danh khắp thiên hạ rồi
mới thỏa ḷng, chưa hề nghĩ Tây Phương có
đại học vấn, có tùng lâm, giảng ṭa to lớn,
nổi danh trọn khắp mười phương ba đời,
há có nên v́ muốn nhanh chóng đạt được điều
nhỏ nhoi mà gây hại cho điều to lớn ư? Ông
đă trọn đời tận tâm thờ thầy, giữ
đạo hiếu, cùng với thiện căn từ vô thỉ,
mỗi mỗi đều nhiếp thủ hiện tiền,
hồi hướng biển đại nguyện của A
Di Đà Phật, quyết chí tiến thẳng về thế
giới Cực Lạc chẳng c̣n ngờ vực chi nữa!
Chẳng lâu sau, huyễn duyên của tôi sẽ tận, rất
mong ông sẽ theo tam thánh, dẫn tôi cùng tắm trong ao bảy
báu!
* Văn tế Liễu Nhân hiền
đệ
Than ôi! Liễu
Nhân v́ sao đến nỗi này? Ông từ bé đă phát nguyện,
rốt cuộc chẳng măn nguyện này ư? Tôi cho rằng
ông là ngọc đă thành, ông chẳng kịp gặp lại
tôi ư? Than ôi! Tôi vừa mới truy điệu Thập Tử,
nhớ đến ông, ông lại khiến tôi phải truy
điệu ư? Chao ơi! Kể từ khi ông gặp tôi,
đă hai mươi lăm năm rồi. Ông theo tôi du hành mười
chín năm. Những sở trường của ông, tôi đều
biết trọn. Sở đoản của ông, tôi cũng biết
trọn hết. Tôi gấp muốn trừ sở đoản
của ông, ông bèn nghi sợ, bỏ tôi mà đi. Tôi ắt muốn
thành tựu sở trường của ông, cho nên luôn luôn lễ
bái, tŕ tụng, để bảo vệ ông, nhưng rốt
cuộc ông chẳng thể tự bảo vệ. Than ôi!
Đấy là túc nghiệp đấy chăng? Hay là hiện
duyên vậy?
C̣n nhớ lúc ông và Triệt
Nhân mới theo hầu tôi, tôi liền rát miệng
khuyên hai người làm thầy lẫn nhau: Ông nên làm thầy
hướng dẫn Triệt Nhân lập chí, Triệt Nhân nên
làm thầy hướng dẫn ông chất phác, chân thật.
Sau đấy, Triệt Nhân sở trường Luật học,
rốt cuộc do chẳng chất phác, chân thật mà táng
thân. Chẳng nói ông hơi hiểu tông Thiên Thai, cũng rốt
cuộc do chẳng lập chí mà chết nơi quan pḥng
ư? Sức phiền năo mạnh mẽ, đấy là chỗ
sở đoản của tôi. Tín tâm, hổ thẹn, là
ưu điểm của tôi. Chẳng chấp thuận tông giáo
các phương là sở đoản của tôi. Riêng trọn
đủ con mắt Tông, Giáo, chẳng chịu tự cho là
đủ, hằng ngày nghiên cứu, học hỏi để
mỗi ngày đều tiến, đó là sở trường
của tôi. Kẻ khéo học bèn học lấy ưu điểm
của tôi, bỏ sở đoản. V́ thế, Khổng Tử
“kiến hiền tư tề” (thấy người hiền
mong được bằng), “kiến bất hiền nhi
tự tỉnh” (thấy kẻ chẳng hiền bèn tự
phản tỉnh), chọn lựa điều tốt lành
để noi theo; sửa đổi điều chẳng
lành. Ông bèn chẳng học ḷng hổ thẹn của tôi, chẳng
theo tôi nghiên cứu, cầu học, tiến nhập, há đáng
gọi là “khéo học” ư?
Than ôi! Ông nửa đường
bỏ dở, tội thật sự do tôi, chẳng do ông!
Riêng thương xót ông c̣n thơ dại, chí chưa toại.
Buồn cho sư thúc của ông khổ tâm thành tựu, chẳng
đạt được thành tựu to lớn. Buồn
cho ông đối với đại pháp viên đốn vừa
mới nhập môn, chẳng thể thăng đường
nhập thất. Buồn cho ông mắc bệnh ngặt, mất
trong khi bế quan, chẳng biết lâm chung chánh niệm có hiện
tiền hay chăng? Buồn thay các ông là những
người có thể trở thành rường,
cột, lại nối tiếp nhau qua đời, chẳng
v́ tôi giữ ǵn một mối. Than ôi! Pháp môn suy vi, chẳng
phải là một ngày, chúng sanh chướng nặng cùng cực.
Ḷng Từ của
đức Phật như vầng mặt trời, nhưng kẻ
mù từ lúc lọt ḷng chẳng nh́n thấy. Ḷng Từ của
đức Phật như mưa, nhưng chậu
úp chẳng dính nước! Ông đă hơi thấy
được, mà cũng hơi dính thấm, sao lại bỏ
nửa chừng, chẳng gắng công nữa! Tôi v́ ông lễ
sám, v́ ông tụng kinh, ông linh thiêng chẳng xa, hăy nên biết
ḷng tôi, hoan hỷ lănh thọ, giúp ông sanh về Tây. Ông đă
sanh về Tây, hăy v́ tôi bạch Phật, nguyện dùng huệ
quang chiếu vào hang tối của tôi, khiến cho tôi khai hiểu,
chỉ có điều thiện, không lầm lỗi. Sáng tối
mạng tận, sớm về tịnh vực, cùng ông quán bảy
báu, tám đức, tự hành sớm viên măn, hóa độ
người khác chẳng cùng cực. Hư không có thể
tiêu, nguyện luân chẳng dứt. Than ôi, buồn thay!
Thượng hưởng!
* Văn tế đại pháp
sư Tân Y
Than ông! Tông
lẫn Thuyết trong cơi đời bị mờ mịt
đă lâu rồi! Cổ nhân thấu đạt cội nguồn
Tông, Thuyết; do vậy, tuy tách ra mà có thể càng hợp.
Người hiện thời thâu tóm những thứ
tương tự với Tông, Thuyết, nên dẫu hợp
lại mà càng tách ĺa. Chuyện này đáng khóc ṛng, than dài, nào
chỉ là ba hoặc bảy thất mà thôi! Húc sanh ra cũng
muộn màng, chẳng được thân cận Vân Thê lăo
nhân và Thiệu Giác tôn giả, c̣n may mắn được
làm bạn vong niên của lăo sư gần ba mươi
năm, chẳng khác được thấy hai vị tôn túc
Vân Thê và Thiệu Giác. Hiện thời, pháp đạo sai
ngoa, mỗi ngày một tệ hơn. Sắc tía loạn màu
son, tiếng Trịnh loạn Nhă Nhạc, rất giống
như khắc phân người coi là chiên đàn. Chỉ
riêng cậy vào lăo sư do tuổi cao, đức rộng ngầm
trấn giữ, hoằng pháp, hoằng giới, dùng thân làm
khuôn mẫu, lời ăn tiếng nói như kinh. Chính là chẳng
cần như Mạnh Kha khéo biện luận, dă can, chồn,
cáo giảo hoạt
đă tự tan hồn! Nay sao bất hạnh Ngài
thị tịch nhanh như thế này?
Năm trước, tôi đă
phỏng
theo hoa chúc[30],
cứ tưởng một hai năm vẫn c̣n được
thấy từ nhan, giăi bày tâm sự, mà nay rốt cuộc chẳng
thể được nữa, há chẳng đau đớn
ư? Lăo sư từ lâu xét thấu nỗi khổ tâm của
Húc; v́ thế, phá lệ rủ ḷng giao du với Húc. Nay Ngài lại
ngự cao trên đài sen, huệ nhăn mở toang, ắt càng bội
phần hiểu nỗi gian khổ của Húc. Cơi đời
này mờ mịt, Húc nào dám mong mỏi có người khác làm
bạn tri kỷ nữa ư? Lại đọc lời di
chúc của lăo sư, mỗi chữ kham làm kim nạo vàng [để trừ
khử màng mộng nơi mắt] trong
đời Mạt. Các hiền nhân môn đệ nhất
định có thể chân thành tuân theo, hoằng dương
rộng lớn, tự lợi, lợi lạc người
khác, pháp nào cũng đều trọn đủ. Có thể
nói việc độ người đă hoàn tất, chẳng
c̣n nuối tiếc ǵ nữa! Hiềm rằng pháp nhật
đă mất, cả cơi đời đều mù ḷa, há lẽ
nào Húc chẳng v́ kẻ hậu học chưa được
độ mà dấy ḷng bi cảm ư?
22. Tụng
* Một trăm bài ca tụng
kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm (kèm theo lời
tựa)
Sát hải nhập vi trần,
chẳng phải là “nhất, đa tương tức”
(một và nhiều chính là lẫn nhau). Chót lông bày pháp giới,
chẳng liên quan “lớn, nhỏ
dung thông”. Chỉ do
pháp vốn sẵn là như thế. Do vậy, chẳng dung
nghĩ bàn. Chia thành phàm, thánh, so đo cạn, sâu, rất
giống như hoa đốm trên hư không kết quả!
Quét sạch ngôn ngữ, kiêng kỵ tu chứng, vô duyên cớ cấm
thạch nữ[31]
sanh con! Thấy sao Mai bèn liễu ngộ, trồng thành hai
cái lông mày trên mắt. Phô bày, tuyên dương trọn khắp
chúng hội, vẽ thành ngàn màu sắc trên hư không.
Nhưng tuy đối với mọi sự trong hiện tiền,
t́m một trần chẳng có dấu vết, chẳng
phương ngại Thật Tế lư địa, rạng
ngời vạn pháp cùng phô bày. Đại ư? Dứt bặt
giả danh đối đăi. Phương ư? Diệt mất
tướng viên măn hay một phần khác biệt. Quảng
là ngằn mé trong một lỗ chân lông. Đẳng là hư
không chẳng cùng tận. Phật tức là từ ngay nơi
phàm tâm bé nhỏ mà chính là diệu giác chân thường. Hoa
là nhân quả đồng thời. Nghiêm chính là Năng, Sở
chẳng hai. Do vậy, dù thông hay biệt, đều có thể
tuân theo đường lối, có thể tŕ. Mười giới
đều tuân theo, ba đời cùng một lối. Một
hoàn [hương] mà các hương đều đủ; uống
một giọt liền nếm trọn các sông. Thỉnh trọn
khắp lồng đèn treo trên cột nơi đường,
nghe xong bèn giữ lấy dây leo rườm rà!
1) Phẩm thứ nhất: Thế
Chủ Diệu Nghiêm
Tụng rằng: - Vạn quốc y quan bái miện
lưu, ngự diên hương nhiễm tú la cừu. Bất
quan Thượng Uyển chi điều mậu. Na tín
thương khung vũ lộ châu. Đạp phá ba đào hồn
thị thủy. Chức thành lũ tuyến mạn xưng
trừu. Mạc hiềm sơn cốc tuyền
thanh tiểu, đại hải hà thường trạch tế
lưu.
(Áo mũ
muôn bang bái kiến vua, lụa là xiêm áo ngát sân chầu. Chẳng
nh́n Thượng Uyển hoa tươi tốt. Nào biết
trời xanh sương móc tuôn? Đạp nát sóng trào, toàn
nước cả. The, lụa do tơ khéo dệt thành. Chớ
ngại suối êm nơi hốc núi, biển thẳm chưa
từng chọn các ḍng).
2) Phẩm thứ hai: Như
Lai Hiện Tướng
Tụng rằng:
- Chúng xỉ quang minh biến sát trần. Thập
phương vân tập, chủ trung tân. Mi gian, túc hạ,
xuất hoàn nhập. Cực quả ưng tri tức chánh
nhân. Liên hiện hà tằng ly bổn tế. Thắng âm ninh
phục thị tha nhân? Ân cần thính thủ già-đà cú. Bạch
cổ ly nô tri tối thân.
(Răng ngọc
quang minh trọn sát trần, mười phương chủ
bạn nhóm như mây. Giữa mày tỏa sáng, chân thâu lại.
Nên biết cực quả tức chánh nhân. Sen hiện há nào
ĺa Bổn Tế? Âm thanh hay diệu lại do ai? Ân cần
nghe nhận lời kệ báu. Trâu trắng, mèo đen biết
rất thân).
3) Phẩm thứ ba: Phổ Hiền
Tam Muội
Tụng rằng:
- Vận thủy ban sài túc khả ngu. Tàng thân tam-muội a
thùy vô? Nghĩ cầu Phật thủ lai ma đảnh. Phiên
muội y trung như ư châu. Xích kính biến hàm không giới ảnh.
Thốn vân kham sái sát trần khô. Lao tha y chánh đồng
tuyên kệ. Hoán xuất thương minh nguyệt ảnh
cô.
(Gánh nước,
chở củi đủ sướng vui. Khắp thân tam-muội
thiếu
ai đâu? Mong cầu tay Phật đến xoa
đỉnh. Chéo áo quên luôn Như Ý châu. Gương
bé
trọn soi hư
không giới. Tấc mây tưới đẫm
sát trần khô. Nhọc công y chánh cùng tuyên kệ. Kêu gọi
trời xanh lẻ bóng trăng).
4) Phẩm thứ tư: Thế
Giới Thành Tựu
Tụng rằng: - Đại giác không sanh hải nhất âu. Nhất
âu niêm khởi hải toàn thâu. Hưu tương thập sự
vi tha sự, nhận khước hồ tu thất khước
đầu.
(Đại giác hư không
sanh bọt
nước, một bọt thâu tṛn cả biển khơi.
Đừng coi mười sự là chi khác, cứ nhận
râu ria, quên mất đầu).
5) Phẩm thứ năm: Hoa Tạng
Thế Giới
Tụng rằng:
- Tỵ khổng hạ thùy, nhăn t́nh hoành bố. Mao khiếu
linh lung. B́ phu liên phụ. Địa chủng vô thù. Sâm la thảo
thụ. Sư tử toàn oai. Hề phân tượng, thố?
Dục tri Hoa Tạng trang nghiêm. Bất ly sát-na an trụ.
Nghĩ hướng tâm ngoại mịch huyền. Muội
khước giới nhĩ tánh cụ.
(Lỗ
mũi rủ xuống, tṛng mắt đặt ngang. Lỗ
chân lông lóng lánh. Da dẻ nối liền nhau. Địa chủng
chẳng sai biệt. Cỏ lẫn cây um tùm. Sư tử trọn
oai thế. Nào phân chia thỏ, voi? Muốn biết Hoa Tạng
trang nghiêm, chẳng ĺa sát-na an trụ. Toan t́m huyền diệu
ngoài tâm, mê mất cái tâm tánh trọn).
6) Phẩm thứ sáu: Tỳ Lô
Giá Na
Tụng rằng:
- Diêm Phù bổn thị luân vương địa. Kỷ
độ chinh tru thỉ định cương. Tằng
thính hồ già[32] nguyệt
hạ khúc, bất tu hạc lệ[33] diệc
bi thương.
(Diêm Phù vốn
đất của luân vương, mấy phen chinh phạt
vững biên cương. Dưới trăng nghe sáo Hồ
văng vẳng, chẳng cần tiếng hạc cũng bi
thương).
7) Phẩm thứ bảy:
Như Lai danh hiệu
Tụng rằng:
- Thập thiên danh hiệu nhậm tha hô. Na cá nam nhi bất
trượng phu? Tá vấn nhi kim thuyết pháp giả,
Văn Thù hoàn hữu kỷ Văn Thù?
(Mười ngàn danh hiệu mặc
người kêu, có gă trai nào chẳng trượng phu? Thử
hỏi những ai đang thuyết pháp, Văn Thù c̣n có mấy
Văn Thù?)
8) Phẩm thứ tám: Tứ
Thánh Đế
Tụng rằng: - Dược
bệnh tương liên đầu tự đa. Nhất
phiên đề khởi, nhất phiên ngoa. Vô sanh, vô lượng
quy vô tác. Đại hải tùng lai cụ chúng ba.
(Thuốc, bệnh liên quan lắm
mối manh. Một phen nhắc tới, một phen lầm.
Vô sanh, vô lượng quy vô tác. Biển cả trước
nay sẵn sóng ṃi).
9) Phẩm thứ chín: Quang Minh
Giác
Tụng rằng: - Cố
viên tiêu tức đoạn đa thu. Mộng khỏa tầm
tư lệ vị thâu. Kinh trập nhất thanh đề
điểu loạn. Bất kham lăm kính bội sanh sầu.
(Tin quê vắng
bặt đă nhiều năm. Trong mơ tưởng nhớ,
lệ khôn cầm. Sấm Xuân vừa động, chim kêu loạn.
Nh́n gương chẳng nỡ, lại thêm sầu).
10) Phẩm thứ mười:
Bồ Tát Vấn Minh
Tụng rằng: - Bạch
tuyết dương xuân ḥa giả hy, đệ huynh thả
tự hiệp huân tŕ. Hoa Châu thê tử tam niên khốc, dẫn
đắc Tề nhân tận trứu my.
(Tuyết trắng chớm Xuân
thật hiếm hoi. Anh em ḥa tấu khúc huân tŕ[34].
Hoa Châu thê tử ba năm khóc, dẫn kẻ đất Tề
thảy nhíu mi).
11) Phẩm thứ mười
một: Tịnh Hạnh
Tụng rằng:
- Bổng đả thạch nhân đầu, lăo ông nhập
tràng ốc. Liên nhi tước phạn vị vi xú. Thượng
đại nhân thư khuyến thục độc. Nhất
triêu độc đáo khả tri lễ, cẩm tú văn
chương sung măn phúc.
(Gậy
phang đầu người đá, ông cụ vào trường
học. Thương con mớm cơm chưa hề gớm,
dâng sách đại
nhân khuyên đọc nhuần. Mai kia đọc hiểu,
thông hiểu lễ. Văn chương gấm hoa đầy
ắp ḷng).
12) Phẩm thứ mười
hai: Hiền Thủ
Tụng rằng:
- Nhận ảnh mê đầu lịch kiếp hành. Cuồng
tâm hiết xử, tỵ phân minh. Thần
châu niêm xuất tùy quân dụng. Y bất tàm hề, thực
bất canh.
(Lầm
bóng, mê đầu, bao kiếp đi. Cuồng tâm vừa dứt,
mũi rành rành. Thần châu nêu tỏ tùy người dụng.
Áo chẳng nuôi tằm, chẳng cấy cày).
13) Phẩm thứ mười
ba: Thăng Tu Di Sơn Đảnh
Tụng rằng:
- B́nh địa phong ba tẩm sát nhân. Mạn truyền bất
động hựu cao thăng. Phật thân sung măn vô lai khứ.
Kim tiết hưu giao trước nhăn t́nh.
(Đất
bằng sóng gió giết phăng người. Tục truyền
bất động lại cao thăng. Phật thân đầy
ắp không đi, đến. Mảy vàng thôi chớ cộm con
ngươi).
14) Phẩm thứ mười
bốn: Tu Di Đảnh Thượng Kệ Tán
Tụng rằng:
- Thành quần tác đội lộng tinh hồn. Phá tận
gia tư, diệt tận môn. Xướng đắc lư liên
liên lư khúc, đại gia phù khởi cựu sa bồn.
(Kết
đoàn lập đội bỡn tinh hồn. Phá sạch gia
tài, diệt sạch môn. Xướng khúc ê a liên tục hát. Cùng
nâng cát cũ chứa đầy bồn).
15) Phẩm thứ mười
lăm: Thập Trụ
Tụng rằng:
- Cù Đàm nhất chỉ bất khẳng xuyết.
Ương Quật Ma La truy bất hiết. Hốt nhiên
phóng hạ thủ trung đao, thất khước
nương sanh nhất đầu phát.
(Cù Đàm một
ngón chẳng chịu
khuyết, Ương Quật Ma La đuổi chẳng
ngừng. Đao nắm trong tay bỗng buông xuống, mất
sạch đầu tóc do mẹ sanh).
16) Phẩm thứ mười
sáu: Phạm Hạnh
Tụng rằng: - Đả
phá nhất dũng tố nhất dũng. Điên tiên thử
thoại phi lung đồng. Bà Dương đại chiến
định Giang Nam. Thánh hoàng dă lại tam quân dũng.
(Đập
vỡ một thùng, tạo một thùng. Lời của tiên
điên chẳng luông tuồng. Bà Dương đại chiến[35],
Giang Nam vững. Vua thánh cũng cậy quân anh hùng).
17) Phẩm thứ mười
bảy: Sơ Phát Tâm Công Đức
Tụng rằng: - Tam tế
mịch tâm bất khả đắc, nghĩ tùng hà xứ phát
Bồ Đề? Đông phong nhất dạ
truyền Xuân tín, hoa măn viên lâm, tuyền măn khê.
(Ba đời
t́m tâm chẳng thể được. Toan từ chốn
nào phát Bồ Đề? Đêm Đông gió lộng, báo Xuân tới.
Hoa đầy
vườn
rừng, suối tràn trề).
18) Phẩm thứ mười
tám: Minh Pháp
Tụng rằng: - Tử hiếu,
phụ tâm khoan. Thần hiền, quân vị an. Sáng nghiệp
cố bất dị. Thủ thành vưu tự nan. Xa luân
điểu dực dụ. Minh nguyệt chiếu nhân hàn.
(Con hiếu, cha an ḷng. Tôi hiền,
ngôi vua vững. Lập nghiệp bền, chẳng dễ.
Ǵn giữ càng khó hơn. Bánh xe như đôi cánh, trăng
sáng soi lạnh người).
19) Phẩm thứ mười
chín: Thăng Dạ Ma Thiên Cung
Tụng rằng:
- Thiên danh Thời Phần, địa như vân. Khổng
tước, nga vương hóa cửu văn. Đặc
địa nhậm công
cánh thùy điếu. Khiên phiên hải để lăng phân vân.
(Trời
tên Thời Phần[36],
đất như mây. Nghe công, ngỗng chúa hóa lâu rồi. Buông
cần để mặc ông chờ đợi. Lật nhào
đáy biển, sóng tầng tầng).
20) Phẩm thứ hai
mươi: Dạ Ma Cung Trung Kệ Tán
Tụng rằng:
- Luật lữ cung thương vô biệt điều,
đô du hỷ khởi thánh minh thời, Nghiêu thiên, Thuấn
nhật đồng khâm đới. Khước thán Sào, Do tổng
bất tri.
(Luật lữ
cung thương[37]
không điệu khác, đều cùng vui hưởng thánh minh
thời. Ngày Nghiêu, tháng Thuấn cùng vâng giữ, than thở Sào,
Do[38]
trọn chẳng hay).
21) Phẩm thứ hai
mươi mốt: Thập Hạnh
Tụng rằng:
- Vạn hủy trang nghiêm công đức lâm. Điểu
đề, hoa lạc, ảnh sâm sâm. Dạ hành bất hứa
minh tu đáo. Tài xuất môn lai, thảo dĩ thâm.
(Cây cỏ
trang nghiêm rừng công đức. Chim kêu, hoa rụng, bóng xen
dày. Đi đêm không chắc trời sáng tới. Vừa ra
khỏi cửa, cỏ rậm dày).
22) Phẩm thứ hai
mươi hai: Thập Vô Tận Tạng
Tụng rằng:
- Khắc gia tu thị phá gia nhi. Tát bát hoàng kim tự lạn
nê. Ngạ sát Đặng Thông do mạng bạc. Thiên triêu
vũ lộ bổn vô tư.
(Tan nhà là bởi
con phá của. Quăng vứt vàng ṛng tựa bùn nhơ.
Đặng Thông[39]
chết đói do mạng bạc. Trời tuôn mưa móc vốn vô tư).
23) Phẩm thứ hai
mươi ba: Thăng Đâu Suất Thiên Cung
Tụng rằng: - Mại tận
phong lưu bất trước tiền. Đào hoa như diễm,
liễu như yên. Sanh ca họa phảng hàm minh nguyệt.
Kiến thuyết kim niên tự cựu niên.
(Mua sạch phong lưu chẳng
tốn tiền. Hoa đào như lửa, liễu mờ
sương. Đàn ca, thuyền vẽ, trăng vằng vặc. Năm nay
bèn nói hệt năm xưa).
24) Phẩm thứ hai
mươi bốn: Đâu Suất Cung Trung Kệ Tán
Tụng rằng: - Gia xú hà
lao hướng ngoại dương. Vị tằng tác tặc
tiện chiêu tàng. Biên thành đa thiểu ly gia khách. Điêu
đẩu[40]
sơ minh chuyển đoạn trường.
(Chuyện xấu trong nhà chớ
rêu rao. Chưa từng làm giặc, lại oa trữ. Thành bên
nhiều ít ĺa nhà khách. Điêu đẩu vừa khua nẫu
ruột gan).
25) Phẩm thứ hai
mươi lăm: Thập Hồi Hướng
Tụng rằng: - Thủy
măn trường đinh, hà măn thiên. Thôn trung xứ xứ khởi
hàn yên. Canh ngưu tự giải tầm quy lộ, bất dụng
sơn đồng nỗ lực khiên.
(Nước ngập ruộng
đồng, ráng[41]
đầy trời. Trong thôn chốn chốn khói mây buông.
Trâu cày tự tháo, t́m nẻo lại. Chẳng bận mục
đồng gắng sức lôi).
Lại tụng rằng: - Huyền
lương thích cổ sủy ma thành. Thuyết đắc Yên
vương dữ Triệu minh. Hà tự đương
niên Xích Đế tử. Nhập quan tiên dĩ phược
Tần Anh.
(Treo rường, đâm vế[42],
nghiền ngẫm thành. Nói chuyện vua Yên, Triệu kết
minh[43].
Nào khác như con vua Xích Đế[44],
vào ải Tần Anh[45]
trói trước tiên).
26) Phẩm thứ hai
mươi sáu: Thập Địa
Tụng rằng:
- Khôn nghi hậu trọng, đức vô cương.
Năng tải, năng sanh, trực thả phương.
Khán thủ tứ vi phi dị tánh, bất phương thập
nhạc các xưng vương. Linh lợi nạp, tế
tư lương. Vi trần sát độ âu trung ảnh. Mạc
phụ mi gian hào tướng quang.
(Đất
nên dày nặng, đức khôn ngằn. Chuyên chở, sanh
thành, lại thẳng vuông. Xem thấy tứ vi không tánh khác.
Chẳng phiền mười núi thảy xưng
vương. Tăng lanh lợi, suy lường kỹ. Vi trần
cơi hiện trong bọt nước, đừng phụ quang
minh nơi bạch hào).
27) Phẩm thứ hai
mươi bảy: Thập Định
Tụng rằng:
- Hữu xuất, hữu nhập, phi chánh định. Thí
vấn sát-na hữu hà tánh? Giả nhiêu mịch kiến Phổ
Hiền thân. Y cựu trùng thiêm Phổ Nhăn bệnh. Quân bất
kiến: Nữ tử già phu Phật tọa biên. Văn Thù
không bả thần thông chấn. Khí chư ấm cái hạ
phương lai. Bát vu đoan đích nguyên vô bính.
(Có xuất,
có nhập, chẳng chánh định. Thử hỏi sát-na có
tánh ǵ? Giả sử t́m thấy thân Phổ Hiền, như
cũ tăng thêm bệnh Phổ Nhăn. Ông chẳng thấy:
Cô gái xếp bằng bên ṭa Phật, Văn Thù chấn động
uổng thần thông. Bỏ các ấm cái mới đến
được. Bát vốn chẳng hề có cán đâu!)
28) Phẩm thứ hai
mươi tám: Thập Thông
Tụng rằng:
- Cơ lai khiết phạn, khổn lai miên. Bất dụng
an bài tín tự nhiên. Tiêu tận kỷ đa gian nhật nguyệt.
Chỉ lưu thu thủy dữ trường thiên.
(Đói th́
ăn uống, mệt th́ ngủ. Chẳng phải an bài, cứ
tự nhiên. Ngày tháng bao phen tiêu sạch hết, chỉ c̣n
nước chảy với trời xanh).
29) Phẩm thứ hai mươi
chín: Thập Nhẫn
Tụng rằng:
- Lập trùy vô địa tịnh vô trùy. Ẩm thống,
thôn thanh chỉ tự tri. Hốt giải bạch niêm nhàn hoạt
kế. Chung triêu tụ thủ hướng dư ty.
(Không đất
cắm dùi, dùi chẳng có. Uống đau, nghẹn tiếng,
tự ḿnh hay. Bỗng hiểu rành rành mưu kế sống,
suốt ngày rũ áo, có tiền thừa).
30) Phẩm ba mươi: A
Tăng Kỳ
Tụng rằng: - Giới
nhĩ tâm vương tuyệt số lượng. Tăng-kỳ
số lượng chuyển phân minh. Vi trần pháp giới
toàn thành hoại. Ngũ nhăn như hà toán đắc thanh?
(Tâm
vương bé tí bặt số lượng. Số lượng
Tăng-kỳ chuyển phân minh. Vi trần pháp giới đều
thành hoại. Ngũ nhăn tính toán sao cho rành?)
31) Phẩm ba mươi mốt:
Thọ Lượng
Tụng rằng: - Hoàng
lương nhất mộng quá danh quan. Cá sự phân minh mê
ngộ gian. Dục hướng Thắng Liên phân trú
dạ. Thả tùng Cực Lạc vấn hồi hoàn.
(Giấc mộng kê vàng vượt
ải danh. Mọi sự phân minh chỉ ngộ, mê. Thắng
Liên[46]
muốn tách đêm ngày khác, hăy từ Cực Lạc tính quay
về).
Lại tụng rằng: - Tiêu
minh my thượng đa nham cốc. Kết Đông độ
Hạ cư kham bốc. Nhậm bằng kiếp hỏa
đỗng nhiên thiêu. Thử địa thanh lương hữu
dư duyên.
(Tiêu minh[47]
nơi mày nhiều hang hốc. Kết Đông, độ Hạ,
chuyên bói toán. Bỗng dưng kiếp hỏa thiêu rụi hết,
cơi này trong mát vẫn thừa duyên).
32) Phẩm thứ ba
mươi hai: Chư Bồ Tát Trụ Xứ
Tụng rằng:
- Sắc sắc trần trần tận đạo tràng.
Hà lao oan nhục biệt thành sang. Trám tha vô số si nam nữ,
Đông tẩu Tây tŕ muội cố hương.
(Mỗi sắc,
mỗi trần, đạo tràng cả! Tội ǵ khoét thịt
tạo vết thương? Vô số kẻ si t́m lẽ
khác, Đông Tây rảo chạy quên quê nhà).
33) Phẩm thứ ba
mươi ba: Phật Bất Tư Nghị Pháp
Tụng rằng: - Nhất
niệm duyên khởi vô sanh, cửu giới không hoa bại hoại.
Đa niên khô mộc lạn đằng. Quán hội thành tinh
tác quái. Chánh hứa nghĩ nghị tư lương. Bất
hứa chiêm quy măi quái.
(Nhất niệm duyên khởi
vô sanh, chín giới hoa đốm hư nát. Gỗ khô lâu, hư nát
dây leo, quen thói thành tinh tác quái. Được phép toan tính,
suy lường, chẳng được bói toán, xủ quẻ).
34) Phẩm thứ ba
mươi bốn: Như Lai Thập Thân Tướng Hải
Tụng rằng: - Phật
thuyết phi thân thị đại thân. Bách hoa chi thượng
lộ toàn Xuân. Si nhân
do kế cửu thập thất. Độc thắng tầm
thường tứ bát luân.
(Phật nói chẳng thân là thân
to, trăm cành hoa lộ cả mùa Xuân. Kẻ si vẫn chấp
chín mươi bảy[48],
riêng trội tầm thường băm hai luân).
35) Phẩm thứ ba
mươi lăm: Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Đức
Tụng rằng: - Thiên bức
luân quang viên măn vương. Ngục trung Bồ Tát tỵ
ngang tàng. Tam trùng thập địa tuy viên đốn. Độn
trí nhân gian phóng dật lang.
(Luân
vương ngàn căm, vua viên măn, Bồ Tát trong ngục vẫn
ngang tàng. Ba tầng thập địa tuy viên đốn,
vùi dập nhân gian kẻ buông lung).
36) Phẩm thứ ba
mươi sáu: Phổ Hiền Hạnh
Tụng rằng:
- Nhất niệm vô sân tức Phổ Hiền. Thuyết thời
dung dị, dụng thời nan. Thế gian đa thiểu lộng
trào khách. Bất giải xanh thuyền thiển thủy than.
(Một niệm
chẳng sân tức Phổ Hiền. Nói th́ dễ ợt, hành
không dễ. Thế gian bao kẻ đang đùa cợt, chẳng
biết chống thuyền nơi băi nông).
37) Phẩm thứ ba
mươi bảy: Như Lai Xuất Hiện
Tụng rằng: - Biến
giới bổn vô tàng tích địa. Gia thân vô cố thường
vi túy. My gian hào tướng bả tinh linh. Khẩu lư quang
minh tác lỵ mị. Phân minh mại lộng ốc trung kim.
Đới lụy nhi tôn hướng ngoại thứ. Giả
nhiêu nhập đắc thủ trung lai. Minh triêu bất thị
kim triêu sự.
(Khắp cơi không nơi giấu
vết tích, người thân vô cớ thường khuấy
đảo. Hào tướng giữa mày chọc tinh linh. Quang
minh nơi miệng làm ma quái. Rành rành bán sạch vàng trong nhà,
nhọc công con cháu ra ngoài kiếm. Nếu như nắm chặt
được trong tay, ngày mai chẳng phải chuyện hôm
nay).
38) Phẩm thứ ba
mươi tám: Ly thế gian
Tụng rằng: - Hoa chi tùy
xứ đoản trường. Xuân sắc nguyên vô cao hạ.
Xúc trước nhất khổng hào mao. Nhạ đắc
thông thân hại phạ. Túng nhiên b́nh tả vân hưng. Chung
nan thuyết tận giả thoại. Liên hoa bổn tự
thủy sanh. Bất dụng miêu không tác họa.
(Cành hoa tùy chốn dài hay ngắn,
xuân sắc vốn nào có thấp, cao? Chạm phải lỗ
chân lông bé tí. Khiến cho toàn thân phải sợ run. Dẫu
cho nghiêng b́nh trút mây đùn. Trọn khó nói hết lời
đăi bôi. Hoa sen vốn tự sanh từ nước. Chẳng
nhọc vẽ vời lên hư không).
39) Phẩm thứ ba
mươi chín: Nhập Pháp Giới
Tụng rằng: - Sư tử
tần thân tam-muội. Tùng lai hà tằng phú cái. Tọa tại
thủy trung khát tử. Chỉ nhân úy nịch vi hại. Tự
tùng nhận đắc lang quân. Cánh bất duyên đồ khất
cái. Thố tử giác thượng phiên thân. Ô quy mao lư tác hội.
Bằng tha thủy tận sơn cùng. Thốn bộ bất
cư môn ngoại.
(Sư tử tần thân tam-muội.
Trước nay chưa hề phủ che. Ngồi trong nước
mà đành chết khát. Chỉ v́ sợ chết đuối
mắc hại. Kể từ khi nhận biết được
chàng, chẳng lê gót ăn mày bên đường. Trên sừng,
con thỏ xoay ḿnh. Lông rùa đen sanh ḷng hiểu biết. Dẫu
cho nước cạn non cùng, chẳng ra khỏi cửa nửa
bước).
40) Phổ Hiền Hạnh Nguyện
Phẩm
Tụng rằng:
- Thập đại nguyện vương. Đạo quy
Cực Lạc. Mạt hậu lao quan. Ḥa bàn trực thác.
Nghĩ nghị trù trừ. Thiên thác vạn thác. Thuyết
tánh đàm tâm. Vô thằng tự phược. Thân đổ
Như Lai Vô Lượng Quang. Phương tri thử ngữ
phi hy hước. Kư ngữ tham huyền học ngữ
lưu. Hưu tương hướng thượng gian
xuyên tạc.
(Mười
đại nguyện vương, dẫn về Cực Lạc.
Ải kiên cố cuối cùng, được thẳng
thừng bày giăi. Trù từ toan tính, ngàn lỗi vạn lầm.
Nói tánh bàn tâm, không dây tự buộc. Đích thân thấy
Như Lai Vô Lượng Quang, mới biết lời này chẳng
đùa bỡn. Gởi lời tham cứu nơi huyền học.
Thôi đừng dùi mài lẽ hướng thượng).
41) Văn Thù Bồ Tát trong rừng
Sa La thuộc đạo tràng Trang Nghiêm ở phía Đông
Phước Thành
Tụng rằng: - Chúng sanh trụ
địa vô minh. Chư Phật căn bản thật trí.
Tùng lai đản nhất nguyệt chân. Vân hà hữu thị,
phi thị? Kư phát Vô Thượng Bồ Đề, khởi
cánh mê danh thất nghĩa. Lịch tận yên thủy bách
thành, thốn bộ bất tằng tương ly.
(Chúng sanh trụ địa vô
minh, chư Phật căn bản Thật Trí. Trước
nay chỉ một vầng trăng thật, há nào c̣n có
đúng hay sai? Đă phát tâm Bồ Đề vô thượng,
há c̣n mê danh mất nghĩa ư? Trải trọn trăm
thành khói nước, nửa bước chưa hề tách
ĺa).
42) Pháp môn Ức Niệm Nhất
Thiết Chư Phật Cảnh Giới Trí Huệ Quang Minh
Phổ Kiến (nghĩ nhớ cảnh giới
trí huệ quang minh thấy trọn khắp của hết
thảy chư Phật) của tỳ-kheo Đức Vân
trên núi Diệu Phong nước Thắng Lạc
Tụng rằng:
- Diễn Nhă Đạt Đa cuồng thỉ định,
thập phương quốc độ minh như kính. Kính
trung hiện xuất vô số đầu. Nhất thanh hoán
trước thanh thanh ứng.
(Diễn
Nhă Đạt Đa cuồng mới định, mười
phương cơi nước sáng như gương. Trong
gương, vô số đầu cùng hiện. Một tiếng
kêu to, muôn tiếng
vang).
43) Pháp môn Phổ Nhăn của tỳ-kheo
Hải Vân nước Hải Ngạn
Tụng rằng:
- Đại hải cảnh giới tùy tư niệm,
dũng xuất Như Lai quang xán lạn. Nhất cú nan
tương hải mặc thư. Lưu dữ vô văn tác
châm biếm.
(Cảnh giới
biển cả theo suy niệm, trào vọt Như Lai quang chói
ḷa. Một câu biển mực khó ghi trọn, giữ lại
châm biếm kẻ chẳng nghe).
44) Pháp môn giải thoát Phổ
Tốc Tật Cúng Dường Chư Phật Thành Tựu Chúng
Sanh (nhanh chóng cúng dường trọn khắp
chư Phật, thành tựu chúng sanh) của tỳ-kheo Thiện Trụ thuộc
xóm Hải Ngạn bên đường Lăng Già
Tụng rằng:
- Đại địa bổn lai vô thốn thổ. Không
trung hành trụ vị vi nan. Kỷ đa bi trí trang nghiêm sự.
Nhất chẩm Nam Kha mộng dục tàn.
(Đại
địa vốn không một tấc đất. Đi,
đứng trên không há khó chi? Trang nghiêm bi trí bao nhiêu chuyện.
Một giấc Nam Kha mộng sắp tàn).
45) Pháp môn Diệu Âm Đà-la-ni Quang Minh của
Di Già thuộc thành Tự Tại nước Đạt Lư Tỵ
Trà
Tụng rằng:
- Đao tác luân vương thân dận, tọa thọ công
cô mô huấn. Truyền lai luân tự trang nghiêm, ban hướng
cửu châu bách quận.
(Tham làm thân
quyến của luân vương, ngồi nghe bố mẹ
răn khuôn phép. Luân tự truyền lại để trang
nghiêm, ban tặng chín châu và trăm quận).
46) Pháp môn Như Lai Vô
Ngại Trang Nghiêm Giải Thoát của trưởng giả
Giải Thoát trong xóm Trụ Lâm
Tụng rằng: - Vô biên Phật
sát trang nghiêm. Thanh tịnh thân trung hiển hiện. Bi hoan ly hợp
măn tràng. Cứu cánh giai tùng nhất tuyến. Thuyết phá chỉ
thị tự tâm. Miễn sử biệt cầu thần biến.
(Vô biên cơi
Phật trang nghiêm, hiển hiện nơi thân thanh tịnh.
Buồn vui, ĺa hợp, đầy ắp chốn. Rốt
ráo đều từ một mạch thôi. Nói toạc chỉ
là tự tâm, đừng cầu thần biến chi khác).
47) Phổ Nhăn Xả Đắc
tam-muội của tỳ-kheo Hải Tràng nơi nước
Ma Lợi Già La ở ŕa Diêm Phù Đề
Tụng rằng: - Thù h́nh dị
trạng. Biến thể xuất sanh, lục nguyệt lục
nhật, bá lộng tinh linh. Hoán tác Bát Nhă, anh nhi táng minh.
(H́nh trạng khác lạ, sanh ra
khắp thể, sáu tháng, sáu ngày, chi phối tinh linh. Gọi
vang Bát Nhă, trẻ thơ bị mù).
48) Môn Ly Ưu An Ổn Tràng Giải
Thoát của ưu-bà-di Hưu Xả nơi vườn Phổ
Trang Nghiêm xứ Hải Triều
Tụng rằng: - Kiến văn đồng trụ
bất đường quyên. Hấp tận Tây Giang vị
túc truyền. Hướng nhược thán dương tàm
quán tẩu. Thiết Vi sơn ngoại hữu hương
tuyền.
(Thấy,
nghe cùng trụ chẳng phí uổng. Hút sạch Tây Giang chẳng
đủ truyền. Nh́n biển than dài, quán tẩu[49]
thẹn. Thiết Vi ngoài núi, suối đầy
hương).
49) Môn Vô Thắng Tràng Giải
Thoát của tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa nước Na La Tố
Tụng rằng: - Ma đảnh
chấp thủ, Đông bôn Tây tẩu. Trát đắc nhăn
lai. Thiên trường địa cửu. Lạc hoa hồng
xứ tượng vương hồi. Phương thảo
lục thời sư tử hống.
(Xoa đầu, nắm tay,
Đông Tây rảo chạy, chỉ trong chớp mắt, trời
đất dài lâu. Chỗ hoa rụng thắm, voi chúa ngoái.
Khi cỏ thơm xanh, sư tử gầm).
50) Môn Vô Tận Luân Giải
Thoát của Bà-la-môn Thắng Nhiệt xóm Y Sa Na
Tụng rằng:
- Đao sơn hỏa tụ túc thanh an. Chỉ thị toàn
thân đầu nhập nan. Biền đắc nhất
điều cùng tánh mạng. Độc lâu khổng
lư dạ quang hàn.
(Non đao,
đống lửa, mát an vui. Gieo cả thân vào vẫn khó
khăn. Gộp vào cùng tận toàn thân mạng, lân tinh lóe lạnh
lỗ đầu lâu).
51) Môn Bát Nhă Ba La Mật Phổ
Trang Nghiêm của đồng nữ Từ Hạnh thành
Sư Tử Phấn Tấn
Tụng rằng: - Thanh tịnh
Pháp Thân. Tường bích, ngơa lịch. Chủng chủng dị
môn, hà mạc, hà thích? Dục tri bách vạn đà la ni. Hảo
hướng trang nghiêm cung điện mịch.
(Pháp Thân thanh tịnh. Vách
tường, ngói, sỏi. Đủ loại môn khác, nào thân,
nào sơ? Muốn biết trăm vạn đà-la-ni, khéo hướng
cung điện trang nghiêm t́m kiếm).
52) Môn Tùy Thuận Đăng
Giải Thoát của tỳ-kheo Thiện Kiến nước
Tam Nhăn
Tụng rằng: - Phong ḥa,
nhật noăn, ngư tầm nhị. Dương liễu,
đào hoa giáp ngạn tân. Đa thiểu Trường An mỹ
công tử, biên biên cừu mă tích phương xuân.
(Gió êm, ngày ấm,
cá t́m mồi. Dương liễu, hoa đào xen rực bờ.
Trường An bao nhiêu trai trẻ đẹp, áo lông, xe ngựa
rập rờn, tiếc nuối tiết Xuân thơm).
53) Pháp môn Nhất Thiết Công
Xảo Đại Thần Thông Trí Quang Minh (môn hết
thảy trí quang minh thần thông to lớn khéo léo) của
đồng tử Tự Tại Chủ nơi bến sông
nước Danh Văn
Tụng rằng:
- Đồng tử vô liêu, tụ sa vi hư. Toán lai, toán khứ.
Hữu danh vô nghĩa. Âu diệt không vô. Thị nhất, thị
nhị. Tuy nhiên nhẫm ma cử dương, bất miễn
nhăn trung thiêm thích.
(Bé trai nhàn
rỗi, gom cát để chơi. Đếm đi, đếm
lại, hữu danh vô nghĩa. Bọt tan rỗng không. Là một,
là hai. Dẫu cho nêu tỏ sao đi nữa, chẳng khỏi
thêm gai vào mắt thôi).
54) Môn Vô Tận Phước
Đức Tạng Giải Thoát của ưu-bà-di Cụ Túc
thuộc Hải Trụ đại thành
Tụng rằng: - Nhất
khí kỷ hà, thập giới cúng phổ. Thôn thời trướng
sát nhân thiên. Phún thời ngạ sát Phật, Tổ. Vấn
thủ đồng nữ thập thiên, tất cánh tác hà khứ
thủ.
(Một bát lớn cỡ nào?
Cúng trọn mười pháp giới! Khi nuốt, ph́nh chết
trời người. Khi nhả, đói chết Phật, Tổ.
Hỏi lấy đồng nữ mười ngàn[50],
rốt cuộc giữ lấy thế nào?)
55) Môn Tùy Ư Xuất Sanh Phước
Đức Tạng Giải Thoát của cư sĩ Minh Trí
thuộc thành Đại Hưng
Tụng rằng:
- Ngưỡng thị hư không. Sở tu tất hạ.
Phân minh các tự đới lai. Hà cố hướng tha thù
tạ? Thức phá giả điểm cơ quan. Tiện giải
phùng duyên bất tá.
(Ngước nh́n hư không,
đồ cần dùng ắt rơi xuống. Rành rành
đưa tới từng phần. Cớ ǵ cảm tạ kẻ
khác? Kẻ thấu suốt bật chốt cơ quan, liền
hiểu gặp duyên chẳng mượn).
56) Môn Vô
Lượng Phước Đức Bảo Tạng Giải
Thoát của trưởng giả Pháp Bảo Kế thuộc
đại thành Sư Tử Cung
Tụng rằng: - Tấu nhạc
thiêu hương hồi hướng nhân. Thập trùng lâu các
báo phân minh. Khả liên ca vũ tràng trung khách. Hoang khước
lương điền bất khẳng canh.
(Tấu nhạc, đốt
hương, nhân hồi hướng. Mười tầng lầu
gác, báo phân minh. Đáng thương kẻ ở nơi ca múa.
Ruộng tốt bỏ hoang, chẳng chịu cày).
57) Pháp môn
Linh Nhất Thiết Chúng Sanh Phổ Kiến Chư Phật
Hoan Hỷ (khiến cho hết thảy
chúng sanh thấy trọn khắp chư Phật hoan hỷ) của
trưởng giả Phổ Nhăn thành Phổ Môn nước
Đằng Căn
Tụng rằng: - Tri bệnh
thức dược, tương thác tựu thác, ḥa hợp
chư hương. Vô tác vi tác. Chỉ khủng thành đông
lăo mẫu lai, bất dụng hứa đa nhàn lạc sách.
(Biết bệnh, biết thuốc.
Đem lầm đáp lỗi, ḥa hợp các hương, vô
tác thành hữu tác. Chỉ sợ bà cụ thành đông[51]
đến, chẳng dùng nhiều thứ rườm rà).
58) Môn
Như Huyễn Giải Thoát của vua Vô Yếm Túc thành
Đa La Tràng
Tụng rằng:
- Tùng cổ hộ sanh tu thị sát, trực giao sát tận
thỉ an cư. Từ bi, sân khuể, lưỡng thiệt
ngữ. Mộ tứ triêu tam phủ quần thư.
(Từ cổ,
hộ sanh cần phải giết. Sao cho giết sạch mới
an cư. Từ bi, sân khuể, lời đâm thọc. Sáng
ba, chiều bốn, an lũ khỉ).
59) Đại
Từ Tràng Hạnh của vua Đại Quang thành Diệu
Quang
Tụng rằng:
- Tăng mẫu chỉ đông, Tăng Sâm my túc. Phi nhân
thiên tánh tương quan, chỉ vi nhất ban b́ nhục. Tài
thiệp nghĩ nghị tư lượng. Bất thí Đại
Đường, Thiên Trúc.
(Tăng mẫu
đau ngón tay, Tăng Sâm sẽ nhăn mày. Chẳng do thiên
tánh liên quan, chỉ là một bề da thịt. Vừa toan
nghĩ ngợi, suy lường, nào khác Đại
Đường, Thiên Trúc).
60) Cầu
Nhất Thiết Pháp Vô Yếm Túc tam-muội (tam-muội cầu hết
thảy các pháp không chán đủ) tam-muội của Ưu-bà-di
Bất Động tại vương đô An Trụ
Tụng rằng: - Đường
vũ quang minh phổ diệu. Vụ biến thâm sơn
văn báo. Tự tại b́nh đẳng tổng tŕ. Bất
ly âm thanh tiếu mạo. Tham quán Phật sát đạo tràng,
khước bị phù vân lung trạo.
(Điện đường
quang minh chói khắp. Sương biến núi sâu thành beo vằn.
Tự tại b́nh đẳng tổng tŕ, chẳng ĺa âm
thanh, vẻ cười. Quán sát đạo tràng cơi Phật,
đều bị phù vân bao phủ).
61) Chí Nhất
Thiết Xứ Bồ Tát Hạnh (Bồ
Tát hạnh đến trọn khắp mọi nơi) của
ngoại đạo Biến Hành thành Vô Lượng Đô
Tát La
Tụng rằng: - Tiểu
nhi đề khốc chỉ nhân cơ, niêm đắc mạn
đầu đương mễ tư. Nhất băo tự
nhiên vô bệnh thống, bất lao tha xứ biệt tầm
y.
(Trẻ con gào khóc chỉ v́
đói, bánh nếp
dùng thay cho mạn đầu. Hễ
no, tự nhiên chẳng đau bệnh. Chẳng nhọc chốn
khác t́m thầy thuốc).
62) Cách
điều chế hương của trưởng giả
Ưu Bát La Hoa nước Quảng Đại
Tụng rằng:
- Trưởng giả như hà quán dục hương, bất
tri thùy xứ đắc chân phương. Thiên nhai hải
giác đa tri kỷ. Mạc thán cô linh lạc dị hương.
(Trưởng
giả v́ sao quen chế hương? Chốn nào mà có
được chân phương[52]?
Góc biển ven trời nhiều tri kỷ. Đừng than
cô quạnh chốn quê người).
63) Đại
Bi Tràng Hạnh của thuyền sư Bà Thi La nơi đại
thành Lâu Các
Tụng rằng:
- Bạo hổ phùng hà[53] ngô bất
dữ! Trường
niên đà thủ tối tri cơ. Ba Tư đáo ngạn
nhân phong tiện. Tất đắc minh châu măn tải quy.
(Đấu
cọp, lướt sông, ta chẳng quản, bao năm lèo
lái vững vàng thay. Ba Tư đến bến do thuận
gió, ắt được minh châu chở khẳm về).
64) Pháp môn
Chí Nhất Thiết Xứ Tu Bồ Tát Hạnh Thanh Tịnh
của trưởng giả Vô Thượng Thắng thành Khả
Lạc
Tụng rằng:
- Vô y, vô tác sính thần thông, thùy tín hương phong xứ
xứ đồng. Mại tận chuyết thời lưu
hạ xảo. Lô hoa y cựu túc ngư ông.
(Vô y, vô tác,
lộ thần thông, gió thơm khắp chốn vốn tương
đồng. Mua
hết vụng rồi, để khéo lại,
ông chài như cũ ẩn hoa lau).
65) Thành Tựu
Nhất Thiết Trí Giải Thoát của tỳ-kheo-ni Sư
Tử Tần Thân thành Ca Lăng Ca Lâm nước
Thâu Na
Tụng rằng: - Nhất hữu
đa chủng, nhị vô lưỡng ban, chúng hội bất
trách, viên lâm bất khoan. Y chánh nhiễu toàn vô lượng
táp. Minh tinh sơ dũng dạ canh lan.
(Một có nhiều thứ, hai
chẳng tách đôi. Chúng hội chẳng hẹp, vườn
rừng chẳng to. Y chánh nhiễu quanh vô lượng
lượt. Sao Mai vừa
lố, đêm liền tan).
66) Ly Tham Dục
Tế Giải Thoát của cô Bà Tu Mật Đa thành Bảo
Trang Nghiêm nước Hiểm Nạn
Chiên
đàn thụ hạ túc ngoan xà. Liên hoa tŕ bạn phong sung tắc.
Tằng hướng Tung sơn xă lư lai. Thỉ tri điệt pháp tùng
tha đắc.
(Dưới
cội chiên
đàn, rắn độc cuộn. Bên ao sen thắm, ong bu
đầy. Từng đến dự trong Tung Sơn xă, mới
biết cách té do người khác).
67) Bất
Bát Niết Bàn Tế Giải Thoát của cư sĩ Bệ
Sắt Chỉ La thành Thiện Độ
Tụng rằng:
- Nhất ṭa chiên đàn Phật tháp. Tín thủ tùy thân khai
hạp. Kiến đắc tam thế phân minh. Dă thị
không hoa tạp đạp. Minh triêu tiện thị tân niên.
Kim dạ thả xưng tàn lạp!
(Một ṭa
tháp Phật gỗ chiên đàn, tiện tay đóng mở cửa
tháp. Trông thấy ba đời phân minh, vẫn là hoa đốm
đạp loạn. Sáng mai vừa đúng tân niên. Đêm nay
vẫn kêu cuối
Chạp).
68) Đại
Bi Hạnh Giải Thoát Môn của Quán Tự Tại Bồ
Tát núi Bổ Đát Lạc Ca
Tụng rằng:
- Dao kiến liên mang xướng thiện lai. Dă tri niên lăo
tích anh hài. Đăi tha lập đức dương danh nhật,
thỉ tín nhi kim măn diện hôi.
(Vừa thấy
vội vàng xướng “thiện lai”. Cũng hay già cả
tiếc anh hài. Đợi ngày lập đức vang danh tiếng,
mới hiểu tro
đang lấm mặt rồi).
69) Phổ
Môn Tốc Tật Hành Giải
Thoát của Đông phương Chánh Thú Bồ Tát
Tụng rằng:
- Tằng văn trước ngoa thủy thượng lập.
Mă đáo Trường An ngoa vị thấp. Tẩu biến
hư không tận vị lai, Phổ Hiền mao lư cao tương
ấp.
(Từng
nghe mang hia đứng trên nước. Ngựa đến
Trường An, hia
chưa ướt. Đi khắp hư không đến vị
lai, vái nhau trong sợi lông Phổ Hiền).
70) Vân Vơng
Giải Thoát của Đại Thiên Thần thành Đọa
La Bát Để
Tụng rằng:
- Trường thư tứ thủ thủ hải thủy,
tẩy diện vô đoan mô trước chủy, tá bà sam tử
bái bà niên, cô nhi bổn thị Triệu gia tử.
(Duỗi
dài bốn tay vốc nước biển, rửa mặt bỗng
dưng sờ đúng miệng. Mượn áo của bà chúc
thọ bà, cô nhi vốn là con họ Triệu).
71) Pháp môn Bất
Khả Hoại Trí Huệ Tạng của địa thần
An Trụ Chủ tại Bồ Đề Đạo Tràng
Tụng rằng: - Bảo tạng
tương tùy túc thiện căn. Lao tha chỉ thị ngữ
ôn ôn. Phân minh phước địa sanh linh chủng. Kỷ
cá nam nhi giải báo ân?
(Kho báu theo người: Thiện
căn cũ. Nhọc ai chỉ bảo nói lao xao. Rành rành
đất phước sanh linh chủng, mấy kẻ nam
nhi hiểu báo ân?)
72) Phá Nhất
Thiết Chúng Sanh Si Ám Pháp Quang Minh Giải Thoát của chủ
dạ thần Bà San Bà Diễn Để thành Ca Tỳ La
Tụng rằng: - Nhật một
Tây thùy, điểu túc lâm. Măn thiên tinh đẩu ánh giang sầm.
Ngư ông luân tuyến thùy tương tận. Điếu
đắc kim lân đại kỷ tầm.
(Trời ngả bóng chiều,
chim về rừng. Đầy trời
sao chiếu rực bên sông. Ngư ông thả sạch dây câu
cá, câu được cá vàng to cỡ nào?)
73) Tịch
Tĩnh Thiền Định Lạc Phổ Du Bộ Giải
Thoát của chủ dạ thần Phổ Đức Tịnh
Quang trong Bồ Đề Đạo Tràng
Tụng rằng:
- Cổ kính ma lai triệt thể minh. Sơn hà quốc thổ
bỉnh nhiên tŕnh. Bất nhân tẩu biến thiên nhai lộ,
khởi tín cư gia cước để khinh.
(Gương
cổ mài rồi, toàn thể sáng. Núi sông, cơi đất hiện
rành rành. Chẳng do rảo gót khắp thiên hạ, há tin ở
nhà gót nhẹ tênh).
74) Đại
Thế Lực Phổ Hỷ Tràng Giải Thoát của chủ
dạ thần Hỷ Mục Quán Sát Chúng Sanh ở bên phải
Bồ Đề Đạo Tràng
Tụng rằng: - Vị
đáo tửu gia hương thập lư. Khai tôn chuyển
giác túy huân huân. Bất tri tích nhật canh vân khổ, tiện
nghĩ vô tiền xa kỷ cân.
(Chưa
đến quán rượu, hương mười dặm.
Nâng chén liền say lúy túy luôn. Chẳng biết xưa kia cày
cuốc khổ, chỉ nghĩ không tiền mua mấy cân).
75) Môn Phổ
Hiện Nhất Thiết Thế Gian Điều Phục
Chúng Sanh Giải
Thoát của chủ dạ thần
Phổ Cứu Chúng Sanh Diệu Đức
Tụng rằng: - Mănh hỏa
hà năng thiêu đắc mộc? Mộc trung xuất hỏa
tự năng thiêu. Mi gian quang chiếu quân khán thủ. Hỏa
chủng truyền lai thị kỷ triêu?
(Lửa mạnh cớ sao thiêu
cháy gỗ? Lửa từ gỗ bốc tự thiêu ngay. Hăy
nh́n giữa mày đang tỏa sáng. Hỏa chủng truyền
ra được mấy hôm?)
76) Môn Niệm
Niệm Xuất Sanh Quảng Đại Hỷ Trang Nghiêm Giải Thoát của chủ
dạ thần Tịch Tĩnh Âm Hải
Tụng rằng:
- Thụ căn y địa, quả y không. Bồi đắc
căn thâm, quả thật phong. Ba Lợi Chất Đa nhân
bất tín, chư thiên nhật dạ ấp hương
phong.
(Rễ cây
nương đất, quả nương không. Rễ
được vun sâu, quả trái oằn. Ba Lợi Chất
Đa[54]
người chẳng tín, chư thiên sáng tối ủ
hương phong).
77) Thậm
Thâm Tự Tại Diệu Âm Giải Thoát của chủ dạ
thần Thủ Hộ Nhất Thiết Thành Tăng Trưởng
Oai Lực
Tụng rằng: - Hồng
chung tùy khấu tiện tùy minh. Thanh tánh hà quan tứ tánh
sanh? Đỗ khẩu dă tri phi đắc dĩ. Bất
kham trùng cử tự quần manh.
(Hồng chung vừa gơ, tiếng
liền ngân. Thanh tánh chẳng do tứ tánh sanh. Bịt miệng
cũng hay bất đắc dĩ, chẳng kham nhắc lại
tợ quần manh).
78) Bồ
Tát Xuất Sanh Quảng Đại Hỷ Quang Minh Giải Thoát
của chủ dạ thần Khai Phu Nhất Thiết Thụ
Hoa
Tụng rằng: - Hiền kỳ
hiền, nhi thân kỳ thân. Lạc kỳ lạc, nhi lợi
kỳ lợi. Thừa lưu tuyên hóa bất vi thời, tiện
thị tuần lương phương chánh sứ.
(Hiền với người
hiền, thân người thân. Vui cùng nỗi vui, lợi
điều lợi. Thừa dịp giáo hóa chẳng trái thời,
chính là tuân theo cách tốt lành).
79) Giáo Hóa
Chúng Sanh Linh Sanh Thiện Căn Giải Thoát của chủ
dạ thần Đại Nguyện Tinh Tấn Lực Cứu
Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh
Tụng rằng: - Ma ni hiện
sắc nguyên phi sắc. Nhật ảnh vô lai thị khứ
lai. Mộng lư đọa hà tuy thị vọng. Nhất phiên
đề khởi diệc thiêm ai.
(Ma ni hiện sắc vốn
phi sắc[55], bóng nhật
chẳng trôi, hiện
đến đi. Trong mộng lọt sông tuy là vọng. Một
phen nhắc tới,
cũng thêm buồn).
80) Môn giải
thoát Bồ Tát trong vô lượng kiếp thị hiện thọ
sanh tự tại trọn hết thảy các chốn của
thần Diệu Đức nơi vườn Lam Tỳ Ni
Tụng rằng:
- Thập chủng thọ sanh tạng. Tích niên hành hóa
trướng. Thảo thời một phân văn. Toán thời
hữu đa dạng. Trực giao trừ tận toán bàn
châu. Thập xích nguyên lai thị nhất trượng.
(Mười
thứ thọ sanh tạng, năm xưa tính sổ sách, kết
toán chẳng một xu. Lúc tính có nhiều thứ. Khiến
cho trừ sạch hạt bàn tính. Mười thước vốn
là một trượng thôi).
81) Quán Sát Bồ
Tát Tam Muội Hải Giải Thoát của Thích Nữ Cù Ba
thành Ca Tỳ La
Tụng rằng: - Trần
kiếp truy tùy phi ngẫu nhiên. Nhiễm nhân duyên thị tịnh
nhân duyên. Uyên ương trướng lư điều cầm
sắt. Hoán tỉnh hàn nha thụ thượng miên.
(Trần kiếp
theo đuổi chẳng ngẫu nhiên, nhiễm nhân duyên là tịnh
nhân duyên. Trong trướng uyên ương, ḥa cầm sắt,
gọi tỉnh trên cành quạ ngủ mê).
82) Môn Đại
Nguyện Trí Huyễn Giải Thoát của Phật
Mẫu Ma Da
Tụng rằng: - Vô sanh vô bất
sanh. Huyễn pháp nguyên phi pháp. Phúc đồng thế giới
khoan. Thân tự phù vân yểu, điều ngự thiên nhân
sư. Thâu lai tố nhất hạp. Nghĩ tương phổ
nhăn quán. Xích ế sanh mi tiệp.
(Vô sanh, vô bất
sanh, huyễn pháp vốn phi pháp. Bụng rộng như thế
giới, thân tợ áng mây mờ. Điều ngự thiên
nhân sư, thâu trọn vào một hộp[56].
Toan dùng phổ nhăn nh́n, mống đỏ sanh mí mắt).
83) Vô Ngại
Niệm Thanh Tịnh Trang Nghiêm Giải Thoát của cô Thiên Chủ Quang con
gái Chánh Niệm
Thiên Vương
Tụng rằng: - Quá khứ
vô biên sự, hà lao cánh ức tri. Chỉ nhân sanh xứ thục,
thục xứ cánh nan di.
(Quá khứ vô biên chuyện, sao
nhọc ḷng nghĩ biết? Chỉ do chỗ sống chín,
chỗ chín càng khó dời).
84) Đồng
tử sư Biến Hữu thành Ca Tỳ La
Tụng rằng: - Mậu vi
nhân sư, thi vị khoáng chức, vấn tha pháp môn, thôi
hướng tử tức. Nhược bất khám phá, nhất
tiền bất trị!
(Lầm làm thầy người,
chiếm chỗ, bỏ chức, hỏi pháp môn khác, đẩy
sang con cháu. Nếu chẳng khám phá, chẳng đáng một
đồng).
85) Bồ
Tát Tự Trí của đồng tử Thiện Tri Chúng Nghệ
Tụng rằng: - Thiên lại,
địa lại, hưu giao thác hội, nhập đắc
môn lai, bất phương tại ngoại.
(Sáo trời, kèn đất, thôi
đừng hiểu lầm, vào được trong cửa,
chẳng ngại ở ngoài).
86) Vô Y Xứ
Đạo Tràng Giải Thoát của Ưu-bà-di Hiền Thắng
tại thành Bà Huyên Na
Tụng rằng:
- Hữu tận, vô tận, vô y, hữu y, đạo tràng
tam-muội, vân sử hoa phi.
(Hữu tận,
vô tận, vô y, hữu y, đạo tràng tam-muội, mây trôi,
hoa bay).
87) Vô
Trước Niệm Thanh Tịnh Trang Nghiêm Giải Thoát của
trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát thành Ốc
Điền
Tụng rằng: - Kư danh vô trước,
hà cánh cần cầu? Nhược ngôn nhất xuyến, chung
thành lưỡng đầu.
(Đă gọi “chẳng vướng”,
sao lại siêng cầu? Nếu nói một chuỗi, trọn
thành hai đầu).
88) Tịnh
Trí Quang Minh Giải Thoát của trưởng giả Diệu
Nguyệt
Tụng rằng:
- Trạch hữu quang minh, hề xưng tịnh trí, tuy bất
thuyết minh, tảo tương độn trí.
(Nhà có quang
minh, sao gọi tịnh trí? Tuy chẳng nói rơ, đă sớm bỏ
xó).
89) Vô Tận
Tướng Giải Thoát của trưởng giả Vô Thắng
Quân thành Xuất Sanh
Tụng rằng:
- Kiến vô lượng Phật, đắc vô lượng
tạng, vấn thủ Thiện Tài, thị tướng,
phi tướng?
(Thấy vô
lượng Phật, đắc vô lượng tạng, hỏi
han Thiện Tài: Tướng hay phi tướng?)
90) Thành Nguyện
Ngữ Giải Thoát của bà-la-môn Tối Tịch Tĩnh tại
xóm Pháp
Tụng rằng: - Yết
đế yết đế, trừ minh quyết ế, túc
chỉ huyết can, bào thai lạc địa.
(Yết
đế, yết đế. Trừ tối, bóc màng, ngón
chân khô máu, bào thai rớt đất).
91) Huyễn
Trụ Giải Thoát của đồng tử Đức
Sanh và đồng nữ Hữu Đức tại thành Diệu
Ư Hoa Môn
Tụng rằng:
- Hải ngoại thanh sơn vân ngoại nghê. Thể trung
quyền thật mạn phân chi. Đồng điều sanh,
bất đồng điều tử. Cánh vấn Long Hoa
điều ngự sư.
(Non xanh
ngoài biển, mống mây trùm. Quyền, Thật nơi Thể
há tách ĺa. Cùng một nhành sanh, chẳng cùng chết. Lại
hỏi Long Hoa điều ngự sư).
Lại tụng
rằng: - Quả giác nhân tâm sự bất thù, đinh ninh
chung thỉ ư vô dư. Tằng vi lăng tử phương liên
khách, bất thị Ba Tư mạc hiến châu.
(Quả
giác, nhân tâm sự khác ǵ. Đinh ninh đầu cuối ư
không thừa. Từng là lăng tử đáng thương xót,
chẳng phải Ba Tư, chẳng hiến châu).
92) Nhập
Tam Thế Nhất Thiết Cảnh Giới Bất Vong Niệm
Trí Trang Nghiêm Tạng Giải Thoát (môn giải
thoát trang nghiêm tạng vào trong hết thảy
cảnh giới ba đời mà chẳng quên mất ư niệm)
của Di Lặc Bồ Tát nơi Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm
Tạng Lâu Các trong vườn Đại Trang Nghiêm nước
Hải Ngạn
Tụng rằng:
- Càn Thát Bà thành kính lư tŕnh. Vô biên sắc tượng bội
phân minh. Khứ lai đàn chỉ gian gia cụ, vị miết
đồ lao trừng nhăn t́nh.
(Trong
gương đă hiện Thát Bà thành, vô biên sắc tượng
rơ muôn phần. Đến, đi vốn sẵn nơi tay khảy,
chẳng tốn công lao liếc mắt nh́n).
93) Nơi
thành Tô Ma Na nước Phổ Môn, Văn Thù Sư Lợi duỗi
tay
phải xoa đỉnh đầu
[Thiện Tài] từ xa
Tụng rằng: - Nhược
lai dĩ, cánh bất lai. Nhược kiến dĩ, cánh bất
kiến. Hốt nhiên mô trước tỵ đầu.
Đoan đích cao cao tại diện.
(Nếu đă đến, sẽ
chẳng đến. Nếu đă thấy, sẽ chẳng
thấy. Bỗng dưng ṃ trúng sống mũi. Rành rành cao
cao nơi mặt).
Lại tụng
rằng: - Thân kinh bách chiến định phong
cương. Biến giới thành b́nh phản cố
hương. Mă thượng kỷ đa kinh hiểm sự.
Bất kham thuyết hướng Dạ Lang vương.
(Thân qua
trăm trận, vững biên cương. Khắp cơi thanh
b́nh, về cố hương. Trên ngựa trải bao niềm
kinh hiểm, chẳng kham nói với Dạ Lang vương).
94) Phổ
Hiền Bồ Tát ở trước ṭa Như Lai
Tụng rằng:
- Sát sát trần trần tánh bổn dung. Phi quan tác ư hiển
thần thông. A thùy thân thượng vô mao khổng, nhẫn
sử già b́nh[57] cục thái
không.
(Mỗi
cơi, mỗi trần tánh dung thông, chẳng do tác ư hiển thần
thông. Lỗ lông thân thể ai không có. Hư không há chỉ ở
trong b́nh?)
95) Thiện
Tài Bồ Tát một đời viên măn
Tụng rằng: - Lịch đại tương
truyền cựu tổ cơ. Phân minh trĩ tiểu bị
tha khi. Kinh thành phủ huyện đô tằng tố. Thổ
địa thành hoàng đáo xứ kỳ. Chung tụng tổng
chi phi đắc dĩ. Doanh lai na biệt hữu tiện
nghi. Sầu nhân mạc dữ vô sầu thuyết. Thuyết
dữ vô sầu tổng bất tri.
(Đời
sẵn tương truyền nề nếp tổ, rơ ràng non
trẻ bị người lừa. Kinh thành, phủ huyện
đều thưa kiện, khắp chốn van cầu các thần
kỳ. Rốt cuộc kiện thưa không kết quả.
Dẫu thắng há được tiện nghi ǵ? Người
sầu đừng kể kẻ không sầu. Kể kẻ
không sầu, họ biết chi?)
96) Tụng
chung toàn bộ [bản kinh]
Độc
biến thần nông Bản Thảo thư. Căn hành hoa quả
biện vô dư. Thải lai kiện kiện đô kham dụng.
Khán khứ ban ban tổng bất thù. Tất tử chỉ
ưng tật thượng húy. Khả sanh chung lại
dược tương phù. Đại hoàng năng bổ,
sâm năng tả. Mạc hiệu dung y thủ nhất ngung.
(Đọc
trọn Bản Thảo của Thần Nông. Rễ, thân, hoa,
quả hiểu trọn xong. Lấy bất cứ ǵ
đều dùng được, tùy thuộc mỗi thứ
khác biệt nhau. Ắt chết chỉ do thuốc kỵ bệnh,
hồi sanh do thuốc giúp nhau thôi. Đại hoàng để
bổ, sâm để tả[58].
Đừng như thầy thuốc dốt khư khư).
* Ba mươi mốt bài tụng
về hai mươi lăm pháp Viên Thông trong kinh Đại
Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm (và lời
tựa)
Nhất
Chân quên h́nh bóng đối đăi, bảy hoa tám nứt[59]
găy Chiên Đàn. Chư thánh đánh mất lỗ mũi, muôn
ngàn sai biệt quy vào Bột Hải[60],
chánh lệnh hoàn toàn được đề ra. Dẫu cho
song gỗ nơi lều tranh, há dung chuột, sẻ xuyên
qua? Một đường nối liền, dẫu
ngươi ở trong điện Hàm Nguyên, thứ dân
cũng có thể qua lại! Do vậy nói: Hễ đạt
được th́ trâu đen, ḅ trắng động đất
kinh trời, hễ mất (chẳng thấu hiểu) th́
chư Phật Như Lai nhíu mày, nheo mắt. Đại Phật
Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương tam-muội, hai
mươi lăm pháp Viên Thông từng tiếng trống bôi
thuốc độc, chôn vùi hết sạch đại mạng
căn của
Căn Trần Thức. Mỗi pháp đều
là đề hồ, rưới tỉnh huyết mạch
đạo Không, Giả, Trung. Có thể nói toàn thân là bệnh,
toàn thân là thuốc. Chỗ này có huyệt bèn châm kim. Dẫu
cho bệnh lậm cao hoang, khó tránh diệu thủ của Kỳ
Bà. Nặn bánh thành viên, có thể khiến trẻ đói thôi
khóc. Luyện tô thành rượu, có thể kham chữa cố
tật ngặt nghèo. Lại thấy ngựa gỗ hư gió, đừng
nói “trâu đất vào biển”. Chạm vào chỗ đau, bản
thân có khổ, bản thân biết. Đào được của
báu, mọi người có phước, mọi người
hưởng. Do vậy, đối với mỗi pháp Viên
Thông, đều
có một bài tụng để làm bóng roi cho người lợi
căn[61] vậy.
1) Kiều Trần Na do âm thanh
của Phật mà ngộ hiểu Tứ Đế
Tụng rằng:
- Lộc Uyển sơ trần môn ngoại xa. Chư thiên,
ngạ quỷ biện hà sa. Đông phong nhất dạ truyền
Xuân tín, khai tận hoàng mai lănh thượng hoa.
(Lộc Uyển
mới bày xe ngoài cửa. Chư thiên, ngạ quỷ luận
hà sa. Đêm Đông gió thổi
báo Xuân tới. Sườn non nở trọn khắp mai vàng).
2) Ưu Ba Ni Sa Đà ngộ
tánh của các sắc do từ bất tịnh
Tụng rằng: - Khổi lỗi
đăng tràng bố Yển Sư. Sở vương nhất
nộ thể phân ly. Mục thành tùng thử vô tiêu tức. Tọa
thính hàn lâm đề tử quy.
(Con rối
lên đài, Yển Sư[62]
hăi. Bị vua nổi giận, thể chia ĺa. Mắt nh́n từ
đó không tin tức, ngồi lặng nghe rừng vẳng
cuốc kêu).
3) Đồng tử
Hương Nghiêm do quán hương mà ư chấp tiêu trừ
Tụng rằng:
- Ấu phụ sơ trang ỷ thúy lâu. Tân lang hiểu khởi
thượng hàm tu. Vô đoan triệu tác chinh Liêu tướng.
Hướng nguyệt hồ già khởi mộ sầu.
(Vợ trẻ
điểm trang dựa lầu thúy, sáng dậy chàng rể vẫn
thẹn thùng, bỗng bị sai làm tướng đánh Liêu.
Nghe sáo, ngắm trăng, chiều sầu buông).
4) Dược Vương,
Dược Thượng do nếm vị mà giác ngộ
Tụng rằng: - Thường
biến Sa Bà dược vạn thiên, cá trung hà vị khả
diên niên? Thần Nông nha xỉ đô linh lạc, báo đạo
tỳ sương tối trị tiền.
(Nếm trọn
Sa Bà ngàn vạn thuốc, tăng thọ vị nào có thể
dùng? Thần Nông răng lợi đều rơi rụng, bèn
bảo tỳ sương rất đáng tiền).
5) Bạt
Đà Bà La bỗng ngộ cái nhân của nước
Tụng rằng:
- Bác phá hư không huyết tịnh lưu. Thạch nhân phủ
chưởng bích sơn đầu. Xuân quang phủ kiến
hoa thành thị. Nhất diệp ngô đồng dĩ đáo
Thu.
(Bóc toạc
hư không, máu chảy lan. Người đá vỗ tay
đầu núi biếc. Cảnh Xuân vừa thấy,
như
tranh vẽ. Một lá ngô đồng đă đến
Thu).
6) Ma Ha Ca Diếp chỉ dùng
không tịch để tu diệt tận
Tụng rằng:
- Lục trần biến hoại nhăn bồi hoa. Không tịch
đồ truyền nguyệt lư tha. Vi tiếu chí kim tang chứng
tại. Thái b́nh thiên hạ sự như ma.
(Sáu trần
hư nát, mắt thêm ḷa. Thuyền trăng vắng lặng,
c̣n truyền măi. Cười mỉm ẩn tàng niềm
chứng ngộ. Thái b́nh thiên hạ, sự như gai).
7) Lạc Kiến Chiếu Minh tam-muội của
ngài A Na Luật Đà
Tụng rằng: - Thất mục
phiên thành hữu kiến, chiếu minh hề tự duyên trần.
Thước phá đại thiên thế giới. Hoát khai vô lậu
chân tinh. Tâm nhăn câu quải bích thượng. Đào hoa, mai
hoa tiếu nhân.
(Mù mắt đâm ra thành có thấy,
chiếu minh nào giống với duyên trần. Phá rỗng
đại thiên thế giới, mở toang vô lậu chân
tinh. Tâm, mắt đều treo trên tường vách. Hoa
đào, hoa mai cười với người).
8) Châu Lợi Bàn Đặc Già
điều ḥa hơi thở ra vào, đạt được
đại vô ngại
Tụng rằng:
- Thiên địa do như thác thược, bất tu nhất
cú già-đà, sanh trụ dị diệt vô tánh, b́nh trầm Phật
quốc sơn hà. Tự tùng đả thất tỵ khổng,
tranh thuyết An Na Bát Na.
(Đất
trời ví như ống bễ, chẳng cần một câu
kệ đâu! Sanh, trụ, dị, diệt vô tánh. Lặng trầm
Phật quốc, sơn hà. Lỗ mũi kể từ khi
đánh mất. Sổ Tức tranh nhau biện bác suông).
9) Kiều Phạm Bát Đề,
pháp môn nhất vị tâm địa thanh tịnh.
Tụng rằng:
- Hữu thời, đề hồ, độc dược.
Hữu thời, độc vị cam lồ. Chỉ nhân lộng
xảo thành chuyết, bất miễn tương mê tác ngộ.
Hoán xuất b́nh lư đại phu, trực giao thủ chỉ
vô thố.
(Có lúc đề
hồ là độc dược. Có khi chất độc lại
cam lồ. Chỉ v́ biến khéo thành thô vụng, chẳng khỏi
coi mê là ngộ thôi! Gọi ra thầy thuốc trong b́nh, chỉ
khiến chân tay quờ quạng).
10) Tất Lăng Già Bà Tha, thuần
giác bỏ thân
Tụng rằng:
- Nê lư quả nhiên hữu thích, thống ngoại hà thường
kiến thân. Hư không bách tạp phấn toái, bạch vân
hoành phong độ tân. Dục tri bất thống tiêu tức,
bả miết manh quy giảo thân.
(Trong bùn quả
nhiên có gai góc, ngoài cái đau chớ hề thấy thân?
Hư không trăm thứ nghiền vụn nát. Mây trắng
che ngang bến cũ rồi. Muốn hay tin tức không
đau đớn, rùa mù, vích[63]
què so sánh nhau).
11) Tu Bồ Đề bao kiếp
lâu xa biết Không
Tụng rằng: - Giới tử
Tu Di tắc tắc. Hà xứ chuyển thân xuất tức? Ngẫu nhiên
giải đắc tàng cơ, đàn chỉ huyễn thành bách
ức. Tương tùy thụ đảo đằng khô, tiếu
phá Sắc Không, Không Sắc.
(Hạt cải phủ lấp
Tu Di. Chỗ nào xoay ḿnh thở ra? Ngẫu nhiên hiểu điều
ẩn giấu, khảy tay huyễn thành trăm ức. Cây
đổ, dây leo khô héo theo. Cười toang Sắc
Không, Không Sắc).
12) Xá Lợi Phật tâm thấy
phát quang
Tụng rằng: - Cửu
duyên bất tá nhất linh cô, cánh hướng kim bề triệt
thể khô. Trạc hạt
nhăn t́nh minh cá sự. Sát trần thân độ kính trung đồ.
(Chín duyên chẳng
cậy một linh thông. Lại cậy kim vàng nạo khắp
thân. Tṛng mắt sạch mống nh́n rơ sự; sát trần,
thân cơi rơ như gương).
13) Phổ Hiền Bồ Tát
tâm nghe bèn sáng tỏ
Tụng rằng:
- Mao đoan sát hải đồng hoàng cổ, đặc
địa lao tha bạch tượng vương. Kim xí thực
long như thực miến, nhất ban dă thị tắc
cơ tràng.
(Sát hải
đầu lông như dối gạt, riêng phải nhọc
nhằn bạch tượng vương. Cánh vàng nuốt rồng
như nuốt miến, thảy đều cũng chỉ
để no ḷng).
14) Tôn Đà La Nan Đà quán vết
trắng ở chót mũi
Tụng rằng:
- Khổ hồ điềm qua nhất khái niêm. Cánh
tương vô vị bạch đằng thiêm. Túng nhiêu đỗng
chiếu thập phương giới. Tỵ khổng y
nhiên kiểm thượng tiêm.
(Mướp
đắng, dưa ngọt nhất loạt bày. Bạch
đằng[64] vô vị lại
chen thêm. Dẫu cho chiếu thấu mười
phương cơi, mũi vẫn chon von trên mặt người).
15) Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử
do sư tử hống mà thành A La Hán
Tụng rằng:
- Nghĩa thân giảo tỷ văn thân thiết. Xuất
tiết hà như dụng tiết thân? Dă can tích
niên tằng đảm liệt, nhu dương mạn
nghĩ hiệu tần thân.
(Nghĩa
thân[65]
thân thiết trội văn thân, gỡ chêm sao bằng dùng
chêm đóng? Năm
xưa chó rừng từng vỡ mật, dê con toan bắt
chước duỗi ḿnh).
16) Ưu Ba Ly tŕ giới tu thân
Tụng rằng:
- Tŕ phạm khai giá, tam tụ thành. Thức xoa[66] hà pháp bất
viên minh. Bất quy thủ dược tùy dược tùy quân
dụng. Vô tác thùy lưu phàm thánh t́nh.
(Tŕ, phạm,
khai, giá ba tụ thành. Có học pháp nào chẳng viên minh? Thuốc
chữa nứt da nên khéo dụng. Vô tác há c̣n chấp thánh, phàm?)
17) Đại Mục Kiền
Liên tâm quang phát khởi, tuyên thuyết
Tụng rằng: - Trừng trược
thành thanh bất giảo tŕ. Hoàng hà nhập hải chánh bôn
tŕ. Huề lai tịnh khí quân tu thức. Mạc phụ Tung Sơn
bích nhăn sư.
(Lắng
đục thành trong chẳng ngại lâu. Hoàng hà vào biển
gấp tuôn ḍng. Đem đồ đựng sạch, ông nên
biết. Đừng phụ Tung sơn tăng mắt xanh[67]).
18) Ô Sô Sắt Ma Hỏa Quang
tam-muội
Tụng rằng: - Nhất tinh
tiện khả liệu Tu Di. Hưu bả huỳnh quang vấn
Lỗ Tề. Niêm khởi xứng chùy hồn thị thiết.
Không giao tích kiếp trụy ô tŕ.
(Đốm
lửa hay thiêu rụi Tu Di. Đom đóm đừng
đem hỏi Lỗ Tề. Quả cân, đ̣n cân đều
là sắt. Đừng nên bao kiếp đọa ao lầy).
19) Tŕ Địa Bồ Tát bồi phẳng
đất, tâm khai
Tụng rằng:
- Viên dung tuyệt đăi diệu
liên hoa. Tu thị hoàn tha cổ tác gia, mă hậu lư tiền
vô số khách. Đẳng nhàn đồng giá bạch
ngưu xa.
(Viên dung
đối đăi bặt hoa sen. Vẫn phải giao cho cổ
tác gia[68].
Lừa trước, ngựa sau, vô số khách. Xe trâu trắng
kéo cưỡi thong dong).
20) Nguyệt Quang đồng tử
tu tập Thủy Quán
Tụng rằng: - Nhất
trích nguyên lưu triệt để thanh. Vô đoan do bị
thủy đương t́nh. Độc lâu khô tận toàn
thân lộ. Tẩm sát tùng lai Phật dữ sanh.
(Một giọt
suối nguồn trong triệt để. Bỗng dưng nước
vẫn chấp nơi t́nh. Đầu lâu khô quắt, toàn
thân lộ[69]. Dần khử
xưa nay Phật, chúng sanh).
21) Lưu Ly Quang Pháp
Vương Tử quán tánh của các thứ động
Tụng rằng: - Dữ
đoạt toàn cơ ám lư minh. Thu thu thiên giới khí trung
thanh. Xuân phong xuy tán hàn oai hậu. Thắng hữu mai hoa ánh
thủy tinh.
(Cho, đoạt
hoàn toàn ngầm hiểu rơ, ngàn cơi vi vu tiếng vật reo.
Gió xuân xua sạch khí lạnh sót, hoa mai chiếu rực mặt
hồ trong).
22) Hư Không Tạng Bồ
Tát quán hư không vô biên
Tụng rằng:
- Hối muội t́nh vong không giới tiêu. Mao đoan sát hải
cảnh thiên hào. Bảo châu viên kính nhàn gia cụ. Hà vật
niêm lai giá bất cao?
(Mê tối,
vong t́nh, hư không tiêu. Đầu lông biển cơi cảnh
riêng nhiều. Sẵn có bảo châu, gương sáng đó. Lấy
vật nào ra giá chẳng cao?)
23) Di Lặc Bồ Tát duy tâm thức
định
Tụng rằng:
- Thằng thượng vô xà tánh tự ma. Thú chân đoạn
vọng chuyển hu tà. Phong đ́nh ba tức trừng
như kính. Xứ xứ thanh quang ánh tử hà.
(Thừng
không phải rắn, tánh là gai. Hướng chân, đoạn
vọng chuyển xoay ṿng. Gió im, sóng lặng, trong như
kính. Chốn chốn lặng trong ánh ráng chiều).
24) Đại Thế Chí Pháp
Vương Tử Niệm Phật tam-muội
Tụng rằng: - Phục tận
Hiên Kỳ[70]
bách thảo hoàn. A Già nhất vị tín thần đan. Ngũ
tông bát giáo hoành la liệt. Vị tử thâu tâm thục khẳng
xan.
(Uống sạch
trăm loại thuốc nổi danh, A Già Đà dược
quả thần đan. Năm tông, tám giáo, bày la liệt.
Chưa dứt thâu tâm[71]
ai chịu dùng?)
25) Quán Thế Âm Bồ Tát do
Văn Tư Tư nhập tam-ma-địa
Tụng rằng:
- Tửu bệnh hoàn tu tửu dược y, thôi môn lạc
cữu chánh đương thời. Thần thông diệu dụng
tầm thường sự. Mạc sử trùng tài nhăn
thượng mi!
(Bệnh do
rượu dùng rượu làm thuốc, đẩy cửa
trật khớp đúng lúc rồi. Thần thông diệu dụng
đâu kỳ lạ, trên mắt đừng chồng thêm
đôi mày).
26) Thập phương Như
Lai phóng quang cùng ấn chứng
Tụng rằng:
- Đại địa mịch lai thuần thị dược.
Kỳ Bà không thủ khiết lam hồi. Tùng kim triệt thể
quang minh tạng. Thỉ giác tùng tiền sự khả ai!
(Đại
địa tính ra toàn là thuốc. Kỳ Bà xách giỏ rỗng
quay về[72]. Từ nay
thấu triệt quang minh tạng. Mới hiểu chuyện
xưa quá đáng thương).
27) Văn Thù Sư Lợi chọn
lựa pháp Viên Thông
Tụng rằng:
- Hải thác sơn hào nan liệu cơ. Văn Thù tước
phạn ủy anh nhi. Đa môn nhất lộ quân khán thủ.
Nhân bất ḥa hề gia đạo suy.
(Hải vị
sơn hào sao khỏi đói? Văn Thù nhai mớm đút con
thơ. Nhiều cửa một đường, anh có thấy?
Người hễ bất ḥa, gia đạo suy).
28) A Nan và đại chúng đạt
được sự khai thị to lớn
Tụng rằng:
- Lôi vũ vô tư vạn hủy tô. Cố hương
tha quốc lộ ninh vu. Thôi khai trường dạ sơn
hà chẩm. Bệnh khởi tinh thần dă giảo cù.
(Mưa, sấm vô tư,
thảo mộc tươi. Quê nhà, đất khách há ṿng vèo.
Sông núi gối đầu, xua đêm dài. Bệnh khỏi,
tinh thần cũng tổn hao).
29) Tánh tỳ-kheo-ni thành A La Hán
Tụng rằng:
- Hoăn trị bổn hề, cấp trị tiêu. Vô đoan
nha chủng sạ thành tiêu. Kính trung bán lộ nương
sanh diện. Kim nhật phương tri hành xứ dao.
(Hoăn th́ trị
gốc, gấp trị ngọn. Bỗng dưng mầm mộng
chợt cháy tiêu. Gương bỗng thoáng lộ mặt chân
thật. Hành xứ xa xôi mới biết thôi!)
30) Hóa Phật trên đỉnh
đầu trùng tuyên thần chú
Tụng rằng:
- Vạn chủng danh hương đảo nhất hoàn.
Hồ ngôn, Hán ngữ tối nghi tham. Đảnh quang chiếu
phá hư không dă. Thính thủ tiền tam dữ hậu tam.
(Muôn thứ
danh hương nghiền một hoàn. Lời Hồ, tiếng
Hán rất nên tham. Đảnh quang chiếu thấu hư
không giới. Nghe nhận tiền tam với hậu tam[73]).
31) Kim Cang Tạng Vương
phát nguyện hộ tŕ
Tụng rằng: - Từ oai
chiết nhiếp túc lương mô. Đồng thể bi tâm
thống thiết phu. Diệt độ dĩ tri vô khả
diệt. Đại gia thả bả sát can phù.
(Từ oai chiết nhiếp
gương tốt đẹp. Đồng thể bi tâm
đau cắt da. Đă biết diệt độ chẳng
thể diệt. Mọi người cùng nâng đỡ Phật
môn).
* Ba mươi ba bài tụng
các phẩm trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa (kèm theo lời
tựa)
Hoa chen chúc,
gấm cuộn tṛn, chẳng lập mảy trần. Đỏ
từng điều, tịnh trơ trọi, muôn pháp cùng
phơi bày. Trọn hết bốn mươi chín năm khổ
tâm giảng nói của đức Cù Đàm, chẳng nêu ra
được. Dựa vào một ngàn bảy trăm chổi
sắt của liệt tổ, vẫn chẳng thâu thập
được! Trừ phi ṃ đúng sống mũi của
chính ḿnh, mới có thể lật nhào khuôn sáo cũ từ
trước tới nay. Trong rừng gai góc, quen thói vung tay
đi ngang. Nơi đất trắng sạch, chẳng ngại
xoay thân vượt thẳng. Chỉ có thiền sư Thiên
Thai Trí Giả phát khởi diệu ngộ nơi Đại
Tô, thấy Linh sơn nơi từ ngữ. Dẫu xoay tṛn sức
Đà La Ni, tuyên tứ biện tài chẳng thể nghĩ
bàn, xét đến chỗ quy hướng của Quyền,
Thật, xiển dương chỗ sâu tột của Bổn,
Tích. Năm tầng huyền nghĩa, đỉnh đầu
phá vỡ đầu lâu lạnh. Bốn điều giải
thích trong Văn Cú, kim găm khắp thân chảy máu nơi lỗ
chân lông. Khoét mù nhục nhăn của người giảng giải,
phá toang cái ải tăm tối của người hành Thiền.
Dây đàn
bằng gân sư tử rung lên, chim, thú đều trốn
sạch. Cái trống bôi thuốc độc vừa gơ; xa, gần
đều chết. Riêng dùng viên âm trác tuyệt, kẻ hiểu
biết chậm lụt như mù. Biển nghĩa mênh mông, chiếc
thuyền lá sắp lật. Sơn tăng chẳng tiếc
lông mi[74],
mỗi phẩm bèn nêu ra một bài tụng, đại để
giống như giúp vua Kiệt làm chuyện bạo ngược.
Nơi đất bằng lại thêm dây leo, chẳng biết nhổ cọc,
rút đinh, sẽ bị táng thân, mất mạng!
1) Dùng pháp và dụ để đặt
tên [kinh]
Tụng rằng: - Tâm Phật,
chúng sanh bát bất khai, tam huyền, tam yếu sự nan sai,
nhất hành niêm tác kim thân dụng. Nhạ đắc đầu
đà tiếu măn tai.
(Tâm, Phật,
chúng sanh chẳng tách rời. Tam huyền, tam yếu khó suy
lường. Nâng một cành hoa, đức Phật dạy.
Khiến vị đầu đà toét miệng cười).
2) Dùng Thật Tướng làm
Thể
Tụng rằng:
- Hàm cái càn khôn vị túc kỳ, tứ vi nguyên bất cách
căn chi. Phân minh cử tự chư phương dă. Hựu
đạo Như Lai chỉ tự tri.
(Trời
đất khít khao há lạ gì? Tứ vi vốn chẳng
ĺa cành, rễ. Từa tựa các phương bày rơ rệt.
Lại nói Như Lai chỉ tự hay).
3) Dùng nhân quả Nhất Thừa
làm Tông
Tụng rằng: - Chúng
lưu tiệt đoạn sự như hà? Trích trích quy
nguyên bất giảo đa. Đạp biến thập
phương hương thủy hải. Ngoa đầu kỷ
xứ phạm thanh ba.
(Các ḍng cắt
đứt chuyện ra sao? Từng giọt về nguồn
chẳng kể nhiều. Dạo khắp mười
phương biển hương thủy. Sóng trong mấy
chỗ ướt đầu giày).
4) Dùng đoạn nghi sanh tín làm Dụng
Tụng rằng:
- Trục lăng tùy ba tối khả liên. Minh trung hữu ám ư
thiên huyền. Tỳ Lam xuy tán vân thiên đóa. Phóng xuất cô
luân nhất dạ viên.
(Theo sóng
đuổi sóng quá đáng thương. Trong sáng có tối, ư
riêng huyền. Tỳ Lam[75]
thổi nát mây ngàn đóa, riêng lộ vầng trăng đêm
thật tṛn).
5) Vô lượng đề hồ
làm giáo tướng
Tụng rằng:
- Phân minh nhất dạng ngưu thân vị, chuyển biến
phiên phiên bất tá công. Băo thực hội tu tỳ lực
kiện. Mạc giao thương khước tiểu nhi
đồng.
(Phân minh một
dạng vị sữa lành, chuyển biến nhiều phen chẳng
tốn công. Sức nhờ tỳ mạnh ăn no
đủ, đừng khiến trẻ thơ bị tổn
thương).
6) Phẩm thứ nhất: Tự
Phẩm
Tụng rằng:
- Bạch hào thư chiếu bán đề thời, vạn
bát Đông phương lạp ấn nê. Nghĩ hướng
Văn Thù biện đoan đích, trùng tài nhăn thượng
lưỡng hành mi. Thả đạo tác ma sanh thị toàn đề?
Đốt! Phùng nhân thiết kỵ thác cử.
(Bạch
hào phóng quang trong khoảnh khắc, một vạn tám ngàn cơi
phương Đông, hiển hiện như ấn sáp in bùn.
Toan hướng Văn Thù hỏi đầu mối. Trên mắt
cấy thêm hai lông mày. Hăy nói hoàn toàn chuyện ǵ vậy? Ôi
chao! Gặp người kỵ nhất đừng nêu sai
chuyện)
7) Phẩm thứ hai:
Phương Tiện
Tụng rằng:
- Tần thân xuất quật oai
phong biệt. Tượng thố bác lai đồng kiến
huyết. Thùy tri tích nhật kim cang vương. Kim nhật
phiên thành hệ lư quyết.
(Vươn
ḿnh, ra khỏi hang, oai phong thật khác biệt. Voi, thỏ
đâm vào đều thấy máu. Ai hay kim cang vương thuở
trước, ngày nay biến thành cọc buộc lừa).
8) Phẩm thứ ba: Thí Dụ
Tụng rằng: - Môn ngoại
hà lao mịch đại xa. Thác tương tam giới nhận
vi gia. Hỏa quang thiêu lạn hư không dă. Thùy giải hồi
đầu khiếu a da?
(Ngoài cửa nhọc gì kiếm
xe to, lầm xem tam giới
chính là nhà. Hư không ánh lửa đều thiêu rụi, ai biết
quay đầu để gọi cha?)
9) Phẩm thứ tư: Tín Giải
Tụng rằng:
- Khách tác tùng lai phi tiện nhân, phấn trừ vị tận
tự mê tân, khước liên ngũ thập dư niên biệt,
thử nhật tương phùng giác bội thân.
(Trước
nay khách chẳng phải nghèo hèn. Quên nẻo v́ chưa dọn
sạch phân. Xót thay cách biệt nửa thế kỷ, nay được
gặp gỡ, thân bội
phần).
10) Phẩm thứ năm:
Dược Thảo Dụ
Tụng rằng:
- Địa vũ hà tằng hữu nhị tâm? Căn,
hành, hoa, quả mạn sâm sâm. Tứ vi chung thỉ nguyên vô
biệt. Mạc hướng chi điều đại tiểu
tầm.
(Mưa,
đất bao giờ có nhị tâm? Rễ, thân, hoa, quả trổ
um tùm. Tứ vi đầu cuối vốn chẳng khác.
Đừng theo cành, nhánh, lớn, nhỏ t́m).
11) Phẩm thứ sáu: Thọ
Kư
Tụng rằng:
- Thể lộ kim phong thụ diệp điêu. Tứ nhân
sanh tử cửu đồng điều. Vũ môn vô số
kim lân dược. Mạc hướng trừng ba nguyệt
ảnh kiều.
(Thân
phơi gió thu, lá xơ xác. Bốn người sanh tử
đă lâu rồi. Vũ môn vô số cá chép vượt. Đừng
ngóng bóng trăng nơi sóng trong).
12) Phẩm thứ bảy: Hóa
Thành Dụ
Tụng rằng:
- Trần điểm kiếp tiền tằng phục
độc. Chí kim do giác tự ma mộc. Đàn chỉ quy
lai giảo thị tŕ. Si nhân hoàn vấn Tây Thiên Trúc. Tây Thiên Trúc,
hóa thành bảo sở thùy gia ốc? Thác nhận tha phương
ngũ bách tuần. Cùng niên cánh tuế không lao lục. Thả
vấn chỉ kim tại thập ma xứ? Đốt! Khán
cước hạ, thác thác!
(Trần
điểm kiếp trước từng uống độc,
đến nay vẫn thấy thường tê bại. Khảy
tay trở về vẫn c̣n chậm, người si c̣n hỏi
Tây Thiên Trúc. Tây Thiên Trúc: Hóa thành, chốn báu, nhà ai vậy? Lầm
tưởng ngoài năm trăm do-tuần. Trọn năm suốt
tháng nhọc nhằn suông! Thử hỏi đến nay là chốn
nào? Ôi chao! Hăy nh́n dưới gót chân, lầm mất rồi!)
13) Phẩm thứ tám: Ngũ
Bách Đệ Tử Thọ Kư
Tụng rằng: - Thành quần
tác đội luyện cơ hàn. Y lư minh châu sát dục xuyên.
Khả tích nhi kim túy ngọa khách, tái phùng thân hữu thị
hà niên?
(Kết
đoàn họp đội luyện đói lạnh, minh châu
trong áo gấp mặc vào. Đáng tiếc đến nay vẫn
say ngủ, gặp lại thân hữu biết thuở nào?)
14) Phẩm thứ chín: Thọ
Học Vô Học Nhân Kư
Tụng rằng: - Đại
tiểu đô lô nhất vơng thâu, hà mô do dục thoán tiền
lưu, nhiêu tha bàn kết thương minh quật, y cựu
hoàn thôn Lữ Vọng câu.
(Lớn, nhỏ
đều cùng thâu một ḷ, cóc con lại muốn trốn
ḍng sao? Dù cho làm tổ trong biển thẳm, vẫn bị Tử
Nha như cũ câu).
15) Phẩm thứ mười:
Pháp Sư
Tụng rằng:
- Đại địa tùng lai y thủy luân. Cao nguyên xuyên
tạc mạc từ tân. Trước y tọa ngọa tầm
thường sự. Hoàn đạo Như Lai thị biệt
nhân?
(Đại
địa trước nay nương thủy luân. Cao nguyên
đục khoét chẳng ngại ngần. Mặc áo, ngồi,
nằm: Tầm thường sự! Vẫn nói Như Lai kẻ
khác ư?)
16) Phẩm thứ mười
một: Kiến Bảo Tháp
Tụng rằng:
- Cổ Phật bà tâm sự thái đa. Thổ điền
tam biến ư như hà? Tuy nhiên minh đắc thanh tiền
cú. Bất miễn trùng thiêm lăng thượng ba.
(Cổ Phật
rát ḷng chuyện quá nhiều. Cơi biến ba lượt ư ra sao? Câu
trước thanh âm tuy hiểu rơ, chẳng khỏi sóng chồng
thêm sóng thôi).
17) Phẩm thứ mười
hai: Đề Bà Đạt Đa
Tụng rằng: - Toái thân phấn
cốt kết thành cừu. Bất thị oán gia, bất tụ
đầu. Nhất lạp bảo châu quang xán lạn. Nam
phương hựu khởi vị lai sầu.
(Nát thịt, tan xương, kết
oán cừu. Chẳng phải oán gia, chẳng gặp nhau. Một
hạt bảo châu quang chói rực. Phương Nam lại
khởi vị lai sầu).
18) Phẩm thứ mười
ba: Tŕ
Tụng rằng: - Thử độ, tha
phương ba lăng khoát. Trường niên đà thủ tinh
thần biệt. Cự ngao nhất đáp thượng câu
lai. Bàng ngạn do liên phong lực xế.
(Phương
khác, cơi này sóng cao vút, bao năm bẻ lái tinh thần vững,
lưỡi câu mắc phải con ngao to, bên bờ vẫn
thương sức gió cuốn).
19) Phẩm thứ mười
bốn: An Lạc Hạnh
Tụng rằng:
- Hộ mạng linh đan chỉ nhất hoàn, thân kinh
bách chiến sóc phong hàn. Minh châu giải kế thân thâu đắc.
Huyễn vơng quang trung mộng vị tàn. Chỉ kim hoàn hữu
tác mộng giả ma? Khả liên Đại Đường
quốc lư, tận tỉnh tỉnh địa.
(Linh đan
hộ mạng chỉ một viên, thân trải trăm trận
gió Bấc căm. Búi tóc tháo châu, đích thân được.
Trong lưới huyễn quang, mộng chửa tàn. Nay c̣n nằm
mộng nữa hay chăng? Đáng thương trong nước
Đại Đường, hăy hết sức tỉnh ngộ).
20) Phẩm thứ mười
lăm: Tùng Địa Dũng Xuất
Tụng rằng:
- Quán tác bạch niêm nan nhận mịch. Nhất ban thủ
đoạn, lưỡng
ban đao. Mạc hiềm tử lăo phụ thiên thiểu. Mă
phúc lư thai tri kỷ tao?
(Xem xét bạch
niêm[76],
khó nhận t́m. Một tầng mánh khóe, hai tầng đao.
Đừng hiềm cha trẻ, con già khọm. Bụng ngựa,
thai lừa biết mấy phen?)
21) Phẩm thứ mười
sáu: Như Lai Thọ Lượng
Tụng rằng: - Mạc
ngôn cá sự vô đầu vĩ. Đặc địa lao
tha sổ sát trần. Hảo dược đản giao
chư tử phục. Bệnh trừ thỉ đổ kiếp
tiền Xuân.
(Đừng bảo chuyện
này không đầu đuôi! Riêng nhọc lẽ khác bao sát trần.
Thuốc hay chỉ để các con uống. Bệnh trừ
mới thấy Xuân trước kia).
22) Phẩm thứ mười
bảy: Phân Biệt Công Đức
Tụng rằng: - Thái không
trượng xích thùy kham trắc? Bằng tỷ y hy cửu
vạn tŕnh. Tạc dạ mi mao ngẫu cơ cấp, ngộ
tương Hoa Tạng chử doanh đang.
(Hư không
trượng thước, ai lường được?
Chín vạn cao bay hiếm chim bằng. Đêm qua lông mày bỗng
vội rụng, ngộ ra Hoa Tạng nấu đầy niêu).
23) Phẩm thứ mười
tám: Tùy Hỷ Công Đức
Tụng rằng: - Ma-ni
vũ bảo chánh tương tương. Bán thế cơ
hư thử dạ vong. Mạc quái thành biên đa lữ mộng.
Kỷ nhân tằng khứu phản hồn hương.
(Ma ni tuôn
báu,
tiếng leng keng. Đói rã nửa đời
quên
khuấy rồi. Chớ trách bên thành nhiều
kẻ mớ. Mấy ai từng ngửi phản hồn
hương).
24) Phẩm thứ mười
chín: Pháp Sư Công Đức
Tụng rằng: - Vô vị
chân nhân lục bất thâu. Phóng quang động địa chuyển
sanh sầu. Ly vi ngữ mặc gian gia cụ, hà xứ triều
thanh phi hải lưu.
(Vô vị
chân nhân lục bất thâu[77].
Phóng quang rúng đất, bỗng thêm sầu. Ĺa im, ĺa nói, của
nhà sẵn. Chốn nào biển chẳng sóng vang rền?)
25) Phẩm thứ hai
mươi: Thường Bất Khinh Bồ Tát
Tụng rằng:
- Ác thủy kiêu nhân tội bất khinh. Đốn giao b́nh
địa tử thi hoành. Độc bi vị nhập A Tỳ
giả, kim nhật do khai quỷ nhăn t́nh[78].
(Nước
ác xối người, tội nặng thay! Khiến cho b́nh
địa tử thi đầy. Riêng thương chưa
đọa A Tỳ ngục, tà thuyết vẫn c̣n đang
nói nhăng).
26) Phẩm thứ hai
mươi mốt: Như Lai Thần Lực
Tụng rằng: - Hiên thiên yết
địa dục hà vi? Cá sự nguyên vô thành dữ khuy. Nhận
thủ chỉ âm tịnh thiệt tướng. Mạc
tương hoàng diệp dụ anh nhi.
(Lật trời,
đảo đất để làm chi? Mọi sự thành,
bại vốn có ǵ? Cứ ngỡ âm thanh là tướng
lưỡi, đừng đem lá úa dụ con thơ).
27) Phẩm thứ hai
mươi hai: Chúc Lụy
Tụng rằng: - Niên lăo
t́nh thiên luyến tử tôn, kỷ nhân năng đắc khởi
gia môn? Ân cần kư thủ Linh Sơn sắc, lâu cốt minh
cơ báo thử ân.
(Già cả
t́nh riêng luyến cháu con. Mấy ai hưng thịnh
được gia môn? Ân cần nhớ kỹ Linh Sơn sắc,
khắc thịt ghi xương báo ân này).
28) Phẩm thứ hai
mươi ba: Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự
Tụng rằng: - Nhiên thân,
nhiên tư thí trung tối. Diệu pháp hà thường cách khổ
công? Thán tức Đông Thi lụy Tây Tử. Nhân ế phế
phạn hoàn thành phong. Linh lợi hán, mạc thông thông. Kinh
vương thâu nhập vô phùng tháp, vạn biệt thiên sai
nhất lộ thông.
(Đốt
tay, thiêu ḿnh, thí cao nhất. Diệu pháp chưa hề chẳng
khổ công! Than thở Đông Thi lụy Tây Tử[79].
Do nghẹn bỏ ăn, thành thói rồi. Người lanh lợi,
đừng qua lại vùn vụt. Kinh vương thâu vào tháp
kín bưng, ngàn sai vạn biệt một đường
thông).
29) Phẩm thứ hai
mươi bốn: Diệu Âm Bồ Tát
Tụng rằng: - Thập
giới hoằng kinh tán diệu âm, sắc thân phổ hiện
khứ, lai, kim. Quy Sơn ngũ tự thâm thâm ư. Lưu dữ
chư phương tác nhăn châm.
(Mười giới hoằng
kinh tán diệu âm. Sắc thân hiện khắp cổ, kim,
lai. Năm chữ Quy Sơn[80]
ư sâu thẳm, để lại các phương ḥng răn
ḿnh).
30) Phẩm thứ hai
mươi lăm: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn
Tụng rằng: - Tự
tùng chứng đắc viên thông thường. Quán
tương sanh Phật đồng xoa tụ. Dược
châu thân, độc thiên cổ. Dữ lạc hội tu tiên bạt
khổ. Thanh thanh chỉ khiếu Quán Thế Âm. Hà thời thức
khước chủ trung chủ. Yếu thức chủ ông
dă bất nan. Lộ đầu tận xứ tu hồi vũ.
Nhất phiên đậu nhập vô úy thành. Bất tiếu
cánh vấn Vân Môn phổ.
(Kể từ chứng đắc
viên thông thường, quán chúng sanh, Phật như chuỗi
hạt. Thân dược châu, trống trời bôi thuốc
độc. Muốn ban vui, trước phải biết dẹp
khổ. Từng tiếng chỉ gọi Quán Thế Âm, bao giờ
nhận biết chủ của chủ? Muốn biết chủ
nhân cũng chẳng khó. Đường đi hết nẻo
nên quay lại. Một phen vào được thành Vô Úy. Chẳng
nhọc thưa hỏi Vân Môn phổ).
31) Phẩm thứ hai
mươi sáu: Đà La Ni
Tụng rằng: - Yên vũ
mông mông độ cổ thôn. Dạ thâm ngột ảnh tự
nhân h́nh. Thiên sư nhất đạo linh phù đáo. Đàn
chỉ phù tang dĩ dục minh.
(Mưa khói
mông lung qua thôn cổ. Đêm sâu, gốc cụt ngỡ h́nh
người. Một đạo bùa thiêng thiên sư ném. Khảy
tay trời đă sắp b́nh minh).
32) Phẩm thứ hai
mươi bảy: Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự
Tụng rằng: - Họa xuất
tư môn thật khả ai. Phá gia vong quốc vị xưng
tai. Nhất hồi truy ức sơn trung nhật, quư sát tùng
tiền măn diện hôi.
(Họa từ
trong nhà, đáng buồn thay! Tan nhà mất nước, vẫn
chưa buồn. Bỗng dưng nhớ lúc c̣n trong núi, thẹn
thùng khi trước mặt tro bôi).
33) Phẩm thứ hai
mươi tám: Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát Phẩm
Tụng rằng: - Tạc dạ
lôi kinh Sa Kiệt La, đốn linh vũ điểm như
xa trục. Tu du tẩm một Phạm vương cung. Sổ
trích không lao Thủ La mục. Tứ pháp trùng phu vạn cổ
truyền. Trần trần sát sát đăng tương tục.
(Đêm qua sấm rền cung rồng
biển. Mưa xối to bằng trục bánh xe. Khoảnh khắc
Phạm cung ch́m ngập nước. Mấy giọt chẳng
phiền mắt Thủ La[81].
Diễn lại bốn pháp[82]
truyền muôn thuở. Trần trần, cơi cơi, đèn măi truyền).
* Bạch ngưu thập tụng
(có trích dẫn
và trần thuật. Các bài tụng này nếu vẽ đồ
h́nh, cần phải mỗi mỗi đều đúng
như các câu trong bài tụng và các chữ nhỏ ghi sau bài tụng.
Nếu có chút ǵ chẳng phù hợp, sẽ hết sức
trái nghịch tông chỉ. Đồ h́nh thứ chín là viên
tướng
(một vòng tròn), hoặc hoàn
toàn chẳng vẽ viên tướng, chỉ để một
bức vẽ trống không cũng được).
Trước
kia có hai loại tranh chăn trâu lưu hành trong cơi đời.
Một là từ lúc chưa chăn cho đến cả hai
(trâu và mục đồng) đều mất, mười
con trâu [được vẽ] từ đen đến trắng
dần, cho
tới chẳng còn [trâu lẫn người
chăn] nữa. Loại kia vẽ từ
lúc t́m trâu cho đến khi vào trong cơi triền phược,
cũng vẽ mười con trâu, từ đầu đến
cuối đều màu trắng. Tuy nói là “đại đồng
tiểu dị”, nhưng chỉ thú cố nhiên tự khác
biệt. Trong khi rảnh rang giữa buổi Thiền Quán,
tôi ngẫu nhiên dung thông, sửa đổi đôi chút, viết
thành mười bài tụng, chẳng dám mong khác biệt cổ
nhân, chỉ mong tự t́m một đường lối cho
cái tâm tối tăm vậy.
1) Bạch
ngưu nguyên bất viễn sơn đồng. Vô nại
sơn đồng diện hướng Đông. Liễu lục
đào hồng không luyến tích.
Ngưng mâu trần kiếp hảo manh manh.
(Trâu trắng
vốn chẳng xa mục tử, hiềm rằng mục
đồng hướng về Đông. Liễu biếc,
đào hồng, suông tiếc nuối. Lặng nh́n trần kiếp
mịt mờ sao!)
Chú:
Trâu trắng ở phía Tây, mặt hướng về
Đông. Mục đồng ở phía Đông, mặt hướng về
phía Đông. Trên
đây là mất trâu, tương ứng với Lư Tức Phật.
Nghĩa là hết thảy chúng sanh đều có trí huệ
và đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng
tưởng, chấp
trước mà chẳng chứng đắc.
2) Chủ
nhân hốt vấn mục đồng ngưu. Hồi thủ
mang mang hà xứ cầu? Lại hữu lai nhân chỉ văng lộ,
bạch ngưu đoan đích tại Tây đầu.
(Chủ
nhân bỗng hỏi trẻ: “Trâu đâu?” Quay đầu
ngơ ngác chỗ nào t́m? Nhờ có người đến
chỉ đường kiếm, trâu trắng quả nhiên tại
phía Tây).
Chú:
Chủ
nhân hỏi trâu ở đâu? Trẻ chăn trâu ngơ
ngác. Lại có người từ
phương Tây đến, dùng tay chỉ về
phía xa. Trên đây là t́m trâu, tức Danh Tự Tức
Phật. Tức là từ kinh điển, hoặc từ thiện
tri thức, mới
nghe lư “tâm, Phật, chúng sanh cả ba chẳng sai biệt”,
phát tâm nguyện cầu, trở về nguồn cội.
3) Mộ
trực truy tầm lộ tiệm Tây, hoang nguyên đạp
phá thị ngưu đề. Nhất hồi chiêm thị tri
đoan đích, tín bộ tiền hành bất phục mê.
(Thẳng lối truy t́m dần
hướng Tây, đồng hoang giẫm nát vết
chân trâu. Ngắm nghía một hồi, biết đầu mối,
vững bước theo đường chẳng bị mê).
Chú: Đồng
tử vội hướng theo phía Tây mà đi, trong ruộng
có nhiều vết chân trâu. Trên đây là thấy dấu chân
trâu, tương ứng với Quán Hạnh Tức Phật,
chính là địa vị Ngũ Phẩm trong Viên Giáo,
nương theo viên giải mà tu viên quán, chế phục
trọn vẹn Ngũ Trụ phiền năo.
4) Hoành
xuyên cửu thập lục yên thôn. Hốt đổ
ngưu vương lộ địa tôn. Tùng thử cước
ngấn khinh khoái dă. Giả nhiêu khí cấp bất tu luận.
(Xuyên ngang
chín sáu thôn mây khói, bỗng thấy ngưu vương nằm giữa
đồng. Từ đấy, vết chân mau chóng hẳn. Dẫu
phải thở gấp chẳng thèm màng).
Chú:
Trâu trắng nằm ẩn trong ruộng, trẻ chăn trâu
từ xa trông thấy, ḷng hoan hỷ. Trên đây là thấy
trâu, tương ứng với Tương Tự Tức Phật,
tức là địa vị Thập Tín trong Viên Giáo.
Tương Tự: Đắc pháp tánh lư thủy, sáu căn
thanh tịnh, Kiến Tư rơi rụng trước,
chứng Vị Bất Thoái. Trần Sa cũng rơi rớt,
chứng Hạnh Bất Thoái, nhưng vẫn chưa chứng
Vô Công Dụng Đạo.
5) Thủy
cùng sơn tận bất từ lao. Sấn đáo ngưu
biên công dĩ cao. Thán tức vô đoan thành cửu biệt,
nhi kim phương đắc giải thiên thao.
(Nước
tận non cùng, chẳng ngại nhọc, vội đến
bên trâu công đă cao. Than thở bỗng dưng xa cách mãi, tới
nay mới khỏi nỗi ưu phiền).
Chú:
Trâu trắng thong dong đứng dậy, trẻ chăn trâu
vui sướng vỗ lưng trâu. Trên đây là “đă có
được trâu”, tương ứng với Phần Chứng
Tức Phật, tức là địa vị Sơ Phát Tâm Trụ
trong Viên Giáo, phá một phần vô minh, chứng một phần
Tam Đức, nhập tạng bí mật, sanh trong nhà Như
Lai, đạt được Niệm Bất Thoái, cho đến
Thập Trụ đều thuộc vào đây.
6) Tuyết
sơn hương thảo thậm cam ph́. Thanh lănh lưu tuyền
khả liệu cơ. Bất tiện giá miêu doanh dă lục,
thản nhiên băo túc độ dư huy.
(Cỏ
thơm non Tuyết rất ngon bùi, ḍng suối lạnh trong
để đỡ ḷng, chẳng chuộng mạ non xanh biếc
ruộng, thản nhiên no đủ tháng ngày trôi).
Chú:
Trẻ chăn trâu ngồi thảnh thơi trên đá, trâu trắng
uống nước suối tự vui sướng. Trên
đây là thủ hộ chăn dắt, vẫn là địa
vị Phần Chứng Tức Phật, tức Thập Hạnh
trong Viên Giáo, một hạnh là hết thảy các hạnh, xứng
tánh công đức.
7) Tịch
dương tương tận văn hà hy. Tựu lộ hoàn
gia bất dụng huy. Nhất khúc Vô Sanh xuy đoản
địch, dư huy do tự chiếu đ́nh vi.
(Bóng chiều
sắp tắt, ráng chiều thưa. Theo lối về nhà chẳng
thúc
roi. Thổi khúc Vô Sanh bằng sáo ngắn, tà
dương c̣n rọi khắp sân nhà).
Chú:
Bóng chiều tà ngả dần trên núi, trâu trắng về nghỉ.
Trẻ cưỡi trên lưng trâu, thổi sáo tự vui thú.
Trên đây là “cưỡi trâu về”, cũng là Phần Chứng
Tức Phật, chính là nguyện hạnh Thập Hồi
Hướng pháp giới trong Viên Giáo, Lư và Sự tự nhiên
dung hợp, hồi nhập biển pháp giới b́nh đẳng.
8) Bạch
ngưu hà xứ bổn vô tung. Mục thụ cao ca minh nguyệt
phong. Vạn tượng quang hàm thu lộ lănh. Quế chi do
tự ảnh trùng trùng.
(Trâu trắng nơi nào không
tung tích, trẻ đứng ca vang đỉnh sáng trăng. Vạn
tượng trăng soi sương thu lạnh, cành quế
tự soi bóng tầng tầng).
Chú:
Trăng sáng trên trời, mục đồng vỗ tay tự
ca. Trên đây là “quên trâu”, cũng tức là Phần Chứng
Tức Phật, nghĩa là Thập Địa trong Viên Giáo,
thuần trí, quên lư, giống như đại địa có
thể sanh ra hết thảy Phật pháp, gánh vác pháp giới
chúng sanh đều cùng phổ nhập trí địa của
tam thế Như Lai.
9) Dật
Đa đàn chỉ các môn khai, tiếu sát đương
niên tiểu Thiện Tài, yên thủy bách thành không tự lịch.
Nhân ngưu tuyệt tích mộng sơ hồi.
(Di Lặc
khảy tay cửa gác mở, cười chết năm
xưa bé Thiện Tài, khói nước trăm thành uổng
công trải, người
trâu tuyệt tích, mộng quay về).
Chú:
Người lẫn trâu đều chẳng thấy. Chỉ
có một tướng h́nh tṛn. Trên đây là “song mẫn”
(đôi bên cùng mất), tương ứng với Căn Bản
Trí của Cứu Cánh Tức Phật, tức là Thỉ Giác
và Bổn Giác chẳng hai, Lư và Trí như một, chứng thấu
triệt tánh tam vô sai biệt, cũng chẳng có năng chứng
và sở chứng để có thể đạt được!
10) Y hy hà
xứ hiện nhân ngưu. Thùy thủ tương
tương nhập thị du. Tá vấn nhân ngưu hoàn tự
tích, vân hà vô thất diệc vô cầu?
(Mơ hồ nơi nào hiện
người, trâu? Thơng tay vào chợ dạo chơi thôi. Thử
hỏi người trâu c̣n như cũ, cớ sao chẳng
mất cũng không cầu?)
Chú:
Trẻ tiến về phía Đông, trâu trắng theo sau. Trên
đây là vào trong chốn triền phược, tương ứng
với Hậu Đắc Trí của Cứu Cánh Tức Phật,
nghĩa là môn Phổ Hiền hạnh sau khi đă đắc
Phật quả cho đến tột ngằn mé vị lai,
đại dụng thường sẵn như vậy, có thể
cùng lưu nhập chín pháp giới rộng độ các hàm
thức, thật sự chẳng c̣n thêm ǵ vào cái Thể “đôi
bên cùng mất”.
* Sáu bài tụng kính đáp sáu
câu hỏi của Cao Phong đại sư (có phần
tiểu tự)
Cao Phong
đại sư gắng công nơi hạnh Đầu
Đà, tận lực chống đỡ tổ đạo
đang suy vi. Có người tham học, ắt sẽ dạy
đốt ngón tay, thọ giới trước, rồi mới
trao truyền tâm yếu. Ngài có chí làm trụ đá giữa
cơn sóng cuồng cũng rất tha thiết. Nay trong quán
thất, Ngài để lại các lời hỏi, không ǵ chẳng
do bệnh mà phát thuốc, nện vào chỗ
đau nhức. Các Thiền đức gần đây thường
hiểu theo Sắc, cô phụ ư Tổ chẳng biết nhiều
cỡ nào? Tôi chẳng nề hà sơ sài, ngu muội, kính cẩn
đáp lời, kèm thêm một bài tụng. Đề hồ
và thuốc độc, thuốc độc hay đề hồ,
mặc cho người có lưỡi tự biện định.
1) Hỏi: Người đã đạt
đại triệt để, vốn thoát sanh tử, do
đâu mà mạng căn chẳng đoạn?
Kính đáp: Vẫn c̣n có cái triệt
để tồn tại.
Tụng rằng:
- Lư cực t́nh vong thoái bộ nan, chuyển thân nhất cú
cát đằng phồn, thạch nhân phủ chưởng ca
minh nguyệt. Kư ngữ Thiền lưu mạc lăng khan.
(Lư cực,
t́nh vong, lùi bước khó. Một câu xoay chuyển, dây leo
rườm. Người đá vỗ tay hát trăng sáng, gởi
gắm ḍng Thiền, chớ nh́n suông!)
2) Hỏi:
Công án của Phật, Tổ, chỉ là một
đạo lư, do ǵ mà hiểu rơ và chẳng hiểu rơ?
Kính
đáp: V́ là một cái.
Tụng rằng: - Thiên sai vạn
biệt thế lung khung. Tiều tử hưu thương
cùng dữ thông. Trắc khán thị phong, hoành khán lănh. Chỉ
nhân thân tại thử sơn trung.
(Ngàn sai muôn
khác, đời khúc khuỷu. Ông tiều thôi bàn cùng với
thông. Nh́n xéo thành ngọn, ngang thành rặng, chỉ do thân ở
tại non này).
3) Hỏi:
Người đại tu hành hăy nên tuân theo Phật hạnh,
do đâu mà chẳng giữ Tỳ Ni?
Kính đáp: Tà pháp khó chống
đỡ.
Tụng rằng:
- Giải thoát phiên thành kinh cức nhân, ám trung xúc bảo mạn
thương thân. Tùng lai tạt nhập Ba Ly thất, Phạm
Vơng quang lưu kiếp ngoại xuân.
(Giải
thoát trở thành nhân gai góc. Trong tối đụng báu, tổn
thương thân. Ưu Ba Ly thất từ khi nhập, Phạm
Vơng
rạng ngời vĩnh hằng xuân).
4) Hỏi:
Mặt trời rực rỡ giữa không trung, không đâu
chẳng chiếu, do đâu mà bị mảnh mây che lấp?
Kính
đáp: - Chớp mắt.
Tụng rằng:
- Duyên kiến nhân minh bị ám khi. T́nh không hà ngại phiến
vân di. Dục tùng giá chiếu phân tân chủ. Khởi tá Tỳ
Lam nỗ lực xuy?
(Do thấy
duyên sáng, bị tối lừa, trời quang nào ngại mảnh
mây dời? Muốn từ giá chiếu, chia khách, chủ; há
mượn Tỳ Lam thổi cuốn đi?)
5) Hỏi:
Ai nấy đều có bóng dáng riêng, nửa bước chẳng
rời, v́ sao chẳng đạp được?
Kính đáp: Đạp
được th́ chẳng phải là bóng dáng.
Tụng rằng: - Nhận ảnh
mê chân, tối khả liên, bất kham hốt hậu hựu
chiêm tiền. Văn lai Diễn Nhă cuồng tâm hiết, đồng
tử Nam tuân
cước để xuyên.
(Lầm bóng, mê chân, rất
đáng thương. Chẳng kham thấy trước lại
nh́n sau. Chiều hôm Diễn Nhă tâm cuồng dứt, đồng
tử về Nam gót đă ṃn).
6) Hỏi:
Khắp đại địa là hố lửa, đạt
được tam-muội ǵ mà chẳng bị đốt
cháy? Kính đáp: Hỏa Quang
tam-muội.
Tụng rằng:
- Hỏa quang tam-muội tối phân thanh. Thiết kỵ
tùng tha mịch hóa thành. Phanh thục Pháp Thân đông chí hậu.
Hoàng chung hợp tấu nhất Dương sanh.
(Hỏa
Quang tam-muội rất trong lành, rất kỵ hóa thành t́m chốn
khác, nấu chín Pháp Thân sau Đông Chí, hoàng chung[83]
hợp tấu khúc dương sanh).
* Kệ tụng tam quán liên hoa (có phần
dẫn khởi)
Nhất Tâm
Tam Quán chính là Diệu Pháp Liên Hoa, vốn chẳng nhất
định là ba, há nên tách ra để viết kệ tụng?
Nhưng cũng chẳng phải nhất định là một,
đành hư vọng tách ra. Mong độc giả đừng
v́ từ ngữ mà hiểu lầm ư.
1) Không quán
liên hoa
Tụng rằng:
- Mịch tâm, mịch Phật liễu vô tung. Nhất diệp
hà hương khỏa thái không. Tiêu tận Niết Bàn sanh tử
mộng. Tương khan nhưng tại bảo tŕ trung.
(T́m tâm, t́m
Phật, chẳng tung tích, một cánh sen thơm phủ thái không.
Sanh tử, Niết Bàn tiêu sạch mộng. Ao báu vẫn nh́n
trọn ở trong).
2) Giả
quán liên hoa
Tụng rằng: - Nhụy
Tràng diệp diệp hàm trần giới, quang ảnh
tương thôn thục khả cùng. Lịch tận Phổ
Hiền mao khổng hậu. Thỉ tri sanh trưởng
Phước Thành đông.
(Nhụy
Tràng[84]
từng cánh trần sa cơi. Quang, bóng giao nhau há thể cùng?
Chân lông Phổ Hiền đi khắp cả, mới hay sanh
tại Phước Thành đông).
3) Trung quán
liên hoa
Tụng rằng:
- Kiếm thụ đao sơn địch diện tŕnh. Liên
hoa thanh xích bội phân minh (xét ra trong kinh nói có địa
ngục Ưu Bát La, cơi này dịch là Thanh Liên Hoa. Lại có
địa ngục Ba Đầu Ma, cơi này dịch là Hồng
Liên Hoa, cho nên nói [như thế]). Giá Na thân độ tùng
lai biến, nghĩ nghị tư lương chuyển tự
manh.
(Rừng kiếm,
non đao bày trước mặt, hoa sen xanh đỏ rơ muôn
phần. Thân, cơi Giá Na từ đấy trọn; suy tưởng,
so lường tự hóa đui).
* Bài tụng về hai
mươi cảnh của chùa Linh Phong Bắc Thiên Mục (có lời
tựa)
Núi Linh
Phong, thời cổ gọi là Bắc Thiên Mục. Mùa
Đông năm Tân Mùi (1631), tôi vào núi kết giới, liền
có kệ rằng: “Linh Phong nhất phiến thạch, tín
khả thỉ thiên thu” (Một phiến đá Linh Phong,
tin thề nguyện ngàn năm). Mùa Thu năm Giáp Thân (1644), từ
Tuy Lư vào núi, lại có câu thơ rằng: “Linh Phong phiến
thạch cựu minh tân” (Lại làm mới lời kết
giao với phiến đá Linh Phong). Nào ngờ
mùa Xuân năm Ất Dậu (1645), ngẫu nhiên sang chơi Thạch
Thành, cho đến cuối Thu năm Kỷ Sửu (1649) mới
được về nghỉ trong núi. Cúi, ngửa đều
là đá và suối, đối với những chỗ đại
khái là đẹp đẽ nổi trội nhất, đều
ghi lại đại lược. Đại khái có hai
mươi chỗ, tạm coi là hóa thành cho trọn hơi
tàn. [Những chỗ ấy] cố nhiên chẳng phải là
lạc độ, trọn chẳng thay đổi!
1) Thứu
lănh dao truyền chỉ nhất chi. Do lai ngô đạo quư
văn tri, đản tùng Long Thọ thông tiêu tức, bất
hướng Hoàng Mai mịch phá y.
(Non Thứu
truyền xa chỉ một nhành, trước nay đạo
cả quư văn tri. Tin tức chỉ từ Long Thọ hiểu.
Y rách Hoàng Mai kiếm nữa chi!)
(Đại
Hùng phong là ngọn cao chót vót trong các ngọn núi, là ngọn
chánh của mạch núi).
2) Ưng cứ
Đương Dương hiển biệt truyền. Giảo
lai nhưng thị chánh trung thiên. Mă câu đạp sát nhân vô số.
Tất cánh hoàn tha Hoài Hải hiền.
(Chiếm cứ
Đương Dương riêng hiển truyền. So cùng ngọn
chánh, vẫn là phụ. Vó ngựa đạp chết người
vô số. Rốt cuộc vẫn thua Hoài Hải hiền).
(Ngọn
Bách Trượng ở phía Đông ngọn Đại Hùng,
vách núi cheo leo chót vót, nh́n xuống muôn cây trúc).
3) Đại
hác phong xuy táp địa hàn. Phù dung tước xuất thúy
nan khan, kỷ phiên đảo nhạc khuynh tưu hậu.
Phương thức cô nguy khước tự an.
(Khe lớn,
gió lùa, đất lạnh căm. Nhức mắt xanh ŕ hoa
phù dung. Mấy phen đảo khe, lật núi rồi. Mới
biết cô nguy[85]
vẫn tự an).
(ngọn
Độc Lập, ở phía Tây của Đại Hùng, vách
đá cao ngàn nhận như cổng trời, c̣n gọi là Hải
Nhật Tràng).
4) Cửu
phẩm hà tu nhất nhất cầu. Giới thừa câu cấp
dĩ tiền thâu. Tu Ma[86] khứ
thử tuân phi viễn, xúc mục tiêu tâm kư ngọc phù.
(Chín phẩm
cần chi mỗi mỗi cầu? Giới thừa đều
gấp đă thâu rồi. Cực Lạc cách đây đâu xa mấy.
Mắt ngó, tâm ghi, gởi ngọc phù).
(ngọn
Ngũ Liên ở trước ngọn Độc Lập.
Năm ngọn núi bày hàng ở phía Tây của chùa, đều
giống như hoa sen xanh).
5) Tú xuất
song song tốn tụ cao, bất tùy Xuân sắc túy tiên
đào. Sơn trung bạc hữu thiên trù cúng, dung hướng
nhân gian vấn tử bào[87].
(Vượt trỗi song song ngọn
vót cao, chẳng do Xuân sắc, say tiên đào. Trong non, ít có
thiên trù cúng, lân la bám víu kẻ
quan cao).
(Ngọn Nhị
Nhũ ở phía Đông Nam chùa, xoay hướng về chùa,
t́nh giống như mẹ hiền).
6) Độ
tha hà tất khởi phong ba? Mạc quái Tề Đông truyền
sự ngoa. Túng sử thiết thuyền chung bất lạn,
kỷ nhân năng thính Khuất Nguyên ca.
(Độ người sao cứ
dấy phong ba? Đừng trách Tề Đông[88]
thích nói ngoa. Nếu
như thuyền sắt không hề nát, nghe Khuất
Nguyên ca được mấy người?)
(Hẻm núi Thần Châu, thế
tục gọi là Linh Phong Nham Khoát, hai bên vách núi chót vót,
tương truyền là chỗ thuyền trôi).
7) Hư không vi cứ, đại
địa phu. Vô vấn tự thuyết thanh hữu vô. Hoán
tỉnh si Thiền kế ly tuyệt, đản quán nhất
nặc hoàn nhất hô.
(Hư không làm giá[89],
đất làm dùi. Chẳng hỏi tự nói tiếng có
không? Lay tỉnh si Thiền bặt chấp trước, chỉ
thấy một dạ, lại gọi kêu)
(Thiên Cổ
B́nh: Ở giữa hai ngọn núi Đại Hùng và Bách
Trượng. Khi đi, mỗi bước đều có tiếng,
chấn động cả hang núi).
8) Lưỡng
giản tuyền thanh giáp trúc cương. Hoảng nghi la
đới duệ lâm lang. Kinh hành phạn hậu vô dư sự,
nhất nhậm già phu tống tịch dương.
(Tiếng
hai khe suối len vách trúc, bỗng ngờ the lụa rủ
ngọc châu. Ăn xong, kinh hành, chẳng ǵ khác. Mặc ḷng
tĩnh tọa tiễn chiều tà).
(Ngọc
Bích B́nh: Ở phía Đông của Tạng Đường,
trúc rậm, đá lớn, đi và ngồi đều
được).
9) Văn
thuyết tùng lai đạo bất cô. Vạn duân tùng lư ngọa
quỳnh châu. Phượng hề vị khẳng cam suy
đức. Tảo hướng thâm lâm tỵ vơng cô.
(Nghe đạo
trước nay chẳng lẻ loi, gốc quỳnh[90]
nằm ẩn giữa rừng măng. Phượng chẳng
cam ḷng thua kém đức, sớm hướng rừng
sâu tránh lưới giăng).
(Ánh Bích B́nh
ở phía Tây của Tạng Đường, đối diện
với Ngọc Bích B́nh, đều phát xuất từ ngọn
Đại Hùng, như hai cánh hoa sen xanh, là nội hộ của
phạm sát).
10) Bất
thị nhân duyên, bất tự nhiên. Đại hùng đặc
địa lộ ngôn thuyên. Sát trần diễn thuyết tuy
vô ẩn. Thủy tánh chung tu ẩm giả truyền.
(Chẳng
phải nhân duyên, chẳng tự nhiên. Đại Hùng riêng bộc
lộ ngôn thuyên. Sát trần diễn thuyết tuy không ẩn,
tánh nước do người uống tự hay).
(Bí Tạng
Nham ở mặt Bắc của Ánh Bích B́nh, gồm ba khối
đá lớn như ba điểm của chữ Y, chẳng
dọc, chẳng ngang, chẳng ngang hàng, chẳng khác biệt,
mặt trước có thể kết lều tranh nhỏ).
11) Tứ
tánh vô sanh, bát bất cai. Thùy tương Tông, Thuyết,
cưỡng phân khai? Đản khán trích trích quy
thương hải, thỉ tín nguyên tùng A Nậu lai.
(Bốn tánh vô sanh, bát bất[91]
thâu. Ai đem Tông Thuyết cưỡng ĺa nhau? Chỉ nhìn mỗi giọt quy
biển thẳm, mới tin vốn từ Vô Nhiệt
Tŕ).
(Suối
Long Thọ, tên cũ là Long Tuyền. [Nơi này] cầu
mưa thiêng nhất, được chép trong Nhất Thống
Chí; do vậy, núi có tên ấy. Nơi này ở giữa hai ngọn
núi Đại Hùng và Bách Trượng, kham biểu thị
Trung Đạo như Long Thọ Đại Sĩ tạo Trung
Quán Luận, truyền tâm ấn của Phật. Vị
nước suối thuần chánh, thấm nhuần vô cùng).
12) Bách
Trượng phong đầu hàm súc thâm, linh nhiên Đông quốc
thấm Thiền tâm. Duy Ma trích thủ nan phi viễn, vị
hứa tham phu trước ư châm.
(Đầu
non Bách Trượng chất chứa sâu, lạnh lùng Đông
quốc ư Thiền đẫm, Duy Ma bẻ hái không xa lắm,
chẳng chịu kẻ tham chấp xen vào).
(Suối
Hoan Hỷ ở phía Đông của ngọn Bách Trượng,
Đông, Hạ chẳng hề cạn, uống vào có vị
thơm ngọt).
13) Nhẫn
độ trần lao bất khả phệ, Năng Nhân cách
ngoại thùy ân tế, dẫn thủ châu vương thập
tứ chi, lai hướng sơn trung tuyên diệu kệ.
(Sa Bà trần
lao chẳng đáng ngán, Thích Ca riêng rủ ân tế độ,
mười bốn chi dẫn đến châu vương[92],
hướng vào trong núi tuyên kệ mầu).
(Suối An
Dưỡng ở phía Tây của ngọn Đại Hùng, vị
nước ngon ngọt nhất ví như đề hồ).
14) Lịch tận thanh
sơn sổ thập tằng, doanh khoa liêu tựu thử
trung trừng. Trường không như tẩy, tiêu cô ảnh,
bất hướng ô lưu biệt mịch bằng.
(Trải khắp non xanh mấy
chục tầng, đầy tràn tụ lại, nước trong veo. Hư
không như rửa, riêng in bóng. Chẳng hướng ḍng
nhơ để kết bầy).
(Ao Tháo Nguyệt (trăng tắm)
ở sườn Tây của Ngọc Bích B́nh, do tích tụ
nước từ Long Tuyền mà h́nh thành).
15) Vị
tất thần châu thị hư trám. Tọa văn tuyền thủy
nhật nam nam, Măn Từ cửu dĩ thành sư hống, ám
chứng đồ tương khẩu thiệt giam.
(Róc rách suối tuôn nghe suốt
buổi, chưa hẳn thuyền thần chuyện bỡn
đùa. Măn Từ thành tựu sư tử hống, ám chứng
cuồng Thiền thảy ngậm tăm).
(Đàm Kinh
Thạch (đá bàn luận kinh) c̣n gọi là Thần Châu Thạch
(神舟石, đá thuyền thần) ở
bên trái suối An Dưỡng, có thể ngồi được
mấy người, nước suối luôn tuôn chảy róc
rách).
16) Đại
Hùng cửu khiếm nhi tôn trái. Phách thủ Tu Di an thử giới.
Tân Đầu vị cảm hướng không toàn. Mễ Phất[93] bất
phương tần hạ bái.
(Đại
Hùng thiếu nợ cháu con lâu, chẻ lấy Tu Di vững
cơi này. Tân Đầu[94]
chưa dám hư
không chuyển, Mễ Phất nào ngại nhiều lượt
thăm).
(Già Phu Thạch
(跏趺石, tảng đá ngồi xếp
bằng) ở sườn núi ngọn Đại Hùng.
Tương truyền khi mưa to, gió lớn, tảng đá
này từ đầu non rơi xuống, đúng vào góc
Đông Bắc của Tạng Đường. Cỏ cây
chen nhau che phủ, có thể ngồi được mấy
người, nh́n ra xa là rặng núi phía trước, mấy
tầng xanh biếc trùng điệp cùng vây quanh).
17) Cử
thế hôn hôn sỉ độc tinh, loạn sơn thâm xứ
thả mai h́nh. Dạ lai phong vũ tồi tàn hủy, chỉ
hữu tu hoàng bất cải thanh.
(Cả
đời mờ mịt, thẹn riêng tỉnh, vùi thân non
sâu đá chất chồng, đêm qua mưa gió tan cây cỏ,
chỉ có trúc dài vẫn biếc xanh).
(Vạn
Trúc Ổ, tên cũ là Thượng Pḥng Ổ, nay có tinh xá
đặt tên là Nhiếp Hương Cư).
18) Tàng
thân chi xứ một tung tích, một tung tích xứ mạc
tàng thân. Đông phong ngộ báo Xuân quang hảo, hương
sắc phân minh cử tự nhân.
(Chỗ ẩn
ḿnh chẳng c̣n tung tích, chỗ không tung tích chớ náu ḿnh.
Gió Đông lầm báo cảnh Xuân đẹp, hương sắc
phân minh tựa người bày).
(Thiên Mai Ổ
ở phía Đông của Vạn Trúc Ổ, đá h́nh dạng
kỳ lạ nhấp nhô, ít có người đến
đó. Mơ dại mọc vô số. Khi hoa nở, cả
sườn núi trắng muốt, gió đưa hương
thơm lan xa).
19) Hà tất
cao khoa Kê Túc sơn? Cá trung phu tọa diệc
an nhàn. Thuần Dương phi kiếm tâm cơ thác, hảo
hướng Hoàng Long vấn quá quan.
(Sao cứ
khoe khoang núi Kê Túc? Tĩnh tọa nơi đây cũng an
nhàn! Thuần Dương phóng kiếm tâm cơ bậy, khéo
hỏi Hoàng Long vượt ải thôi)[95].
(Động
Kim Tiên, tên cũ là Tiên Động, ở phía dưới suối
Long Thọ, được chép trong Nhất Thống Chí.
Thường là chỗ các vị tăng khổ hạnh ở).
20) Độc
cứ Đông Nam tối thượng đầu. Không trung
hải khoát nhất phù âu. Nhiêu quân tiên nhập Như Lai huệ,
tranh nại quần cơ nhiếp vị châu.
(Riêng chiếm
Đông Nam góc cao nhất, một bọt nổi giữa biển
hư không. Để
ông nhập trước Như Lai huệ, hiềm nỗi quần
cơ chửa
trọn thâu).
(Động
Hoa Nghiêm ở bên trái ngọn Nhị Nhũ, [cửa động]
mở ra phía Đông Nam, hễ mặt trời mọc bèn chiếu
trước).
* Sáu bài kệ tụng vấn
đáp trong Pháp Hoa Đường
1) Hỏi:
Bước nào cũng chưa từng ĺa chấp điều
khác, v́ sao chẳng nêu ra điều tương tự?
Đáp: Hễ nêu ra th́ chẳng
phải là tương tự.
Tụng rằng: - Diễn
Nhă mê đầu hướng kính tŕ, cuồng hô lịch kiếp
vị tằng si. Triêu lai mô trước nương sanh tỵ,
đáo để song song lưỡng hạ thùy.
(Diễn Nhă soi gương, mê
đầu, chạy. Gọi cuồng, bao kiếp chẳng hề
si! Nay sờ
đúng mũi sanh từ mẹ, hai lỗ song song hướng
xuống thôi).
Lại đáp: Rành rành là nêu
tương tự.
Tụng rằng:
- Phân minh cử tự bất tranh sai, bộ bộ hà tằng
ly trước tha. Cánh vấn chi hồ tịnh giả dă. Hồ
nhân nguyệt hạ xuy hồ già.
(Rơ ràng
tương tự chẳng sai đâu, mỗi bước chớ
hề ĺa chấp tha. C̣n hỏi chi điều hư huyễn
nữa! Dưới trăng người Hồ thổi sáo
Hồ).
2) Hỏi:
Nói rành rẽ, phân minh, do đâu mà vận dụng “chẳng
chấp điều khác?”
Đáp: Nói
tới cùng là chuyện ǵ?
Tụng rằng: - Gia thường
trà phạn nhật tam xan, nhất băo hồn vong cơ dữ
hàn, chỉ khủng tiễn năng tri thử vị. Biệt
đồ phượng năo dữ long can.
(Cơm nước thường
ngày ba bữa đủ. Hễ no, đói rét sẽ quên ngay.
Chỉ sợ hiếm người biết được
vị, riêng mong óc
phượng với gan rồng).
Lại đáp: Mỗi bước
chưa từng ĺa.
Tụng rằng: - Phân minh bộ
bộ bất tằng ly. Nhật dụng tầm thường
tận thị y. Quái để Xuân quang biến đào lư,
Đông phong tiêu tức kỷ năng tri?
(Rành rành mỗi bước chẳng
hề ĺa, mọi chuyện thường ngày nó đó thôi!
Đừng lạ tiết Xuân đào, mận khắp. Gió
Đông tin báo mấy người hay?)
3) Hỏi: Tam thân và tam tự
tánh là đồng hay biệt?
Đáp: Hăy nói xem là đồng
hay biệt?
Tụng rằng:
- Tam tánh, tam thân biệt
phục đồng. Phân minh chỉ thị bất tu dung.
Độc liên thôn lư tam gia khuyển. Nguyệt hạ nhai
sài phệ thảo tùng.
(Ba tánh, ba
thân, biệt lại đồng. Rành rành chỉ bảo
đừng lẫn lộn. Riêng thương ba chó trong thôn
xóm, dưới trăng oăng oẳng sủa cây suông).
4) Hỏi: Hết
thảy các pháp đều có thể tạo thành bốn câu.
Lại như ba thân th́ đối với mỗi thân, lập
thành bốn câu như thế nào?
Đáp: Bốn câu rành rành rồi!
Tụng rằng: - Vô tánh
duyên sanh xúc xứ thông. Hữu vô t́nh lư hỗ hàm dung. Nhất
vi diệc tất tồn phương phận. Lung thống
như hà đạt thử tông?
(Vô tánh duyên sanh chạm liền
thông. Có, không t́nh lư vốn dung nhau. Tế vi ắt cũng
c̣n ngằn mé, mờ mịt th́ sao hiểu bổn tông?)
* Hai mươi bài tụng nhân
cuộc vấn đáp đêm Trừ Tịch
1) Vấn:
Như thế nào là v́ Thật hành Quyền?
Đáp: Mọi
nhà có lối thấu Trường An.
Tụng rằng:
- Trị thủy công thành định vĩnh đồ.
Hoang yếu hầu điện các phân phù. Thủy Hoàng thôn
tính phi lương sách. Biếm nhăn Tần Anh dĩ hiến
phù.
(Trị lụt
công thành, cơ
nghiệp vững. Hoang vu điện gác mỗi phân chia. Thủy
Hoàng thôn tính, thành kế vụng. Chớp mắt Tần Anh
đọa ngục tù).
Lại
đáp: Bệnh nhiều th́ thuốc nhiều.
Tụng rằng: - Bệnh
đa, dược diệc đa. Tu thị vấn Kỳ
Bà. Hoàng Long thang nhất vị, na đắc khởi trầm
kha.
(Bệnh
nhiều, thuốc cũng nhiều. Cần thưa hỏi Kỳ
Bà. Canh Hoàng Long một vị, nhưng khỏi bệnh trầm
kha).
2) Hỏi:
Như thế nào là khai Quyền hiển Thật?
Đáp: - Mượn áo của
bà để chúc Tết bà!
Tụng rằng:
- Lễ đáo hà lao mạn phí tiền? Đại gia cung
kính hạ tân niên. Diện môn hoan hỷ, tâm an lạc. Bất
tiện vô hoài dữ cát thiên.
(Lễ tới,
cần chi phải tốn tiền? Mọi người cung
kính chúc tân niên. Mặt mày hoan hỷ, tâm vui sướng, chẳng
mộ Vô Hoài với Cát Thiên[96]).
Lại
đáp: - Các ông b́nh đẳng, tâm b́nh đẳng.
Tụng rằng: - Tử
đẳng, tâm diệc đẳng. Huống phục
tư vô tận. Châu cấp bổn phi nan. Chỉ sầu bất
tự khẳng.
(Ta b́nh đẳng, tâm cũng b́nh đẳng,
huống hồ của cải cũng vô tận. Châu cấp
vốn có khó khăn ǵ? Chỉ lo chẳng tự chịu mà thôi).
3) Hỏi:
Như thế nào là Bổn và Tích tuy khác, nhưng chẳng
nghĩ bàn như nhau?
Đáp:
Năm nào cũng là chim vàng
anh hót, liễu xanh ŕ.
Tụng rằng: - Xuân quang
nhất độ, nhất phiên tân. Trám đắc kiều
nô khởi oán t́nh. Độc hữu Đông thôn Vương
đại thư, y y do ức cựu thời nhân.
(Mỗi độ Xuân về lại
mới toanh. Khiến ḷng hầu gái bỗng xôn xao, thôn
Đông riêng có Vương đại tỷ, người
cũ bao năm vẫn nhớ nhung).
Lại
đáp: Muôn thuở đầm biếc hiện bóng trăng
trên không.
Tụng rằng:
- Vạn cổ bích đàm nguyệt. Doanh khuy thời xuất
một. Lao lộc phi hữu vô. Đại biện chung tu nột.
(Trăng in
đầm biếc đã ngàn năm, mọc lặn khuyết
đầy chẳng lúc ngơi. Vớt lấy, chẳng
là không hay có. Biện bác mà sao cứ ngập ngừng?)
4) Hỏi: Như thế nào là
“nếu khởi tâm quán, Bổn lẫn Tích đều mất
sạch”? Đáp: Tượng
Phật bằng đất đem bồi
đường lớn.
Tụng rằng:
- Lộ biên quật thổ thành tôn tượng. Yếu tẩu
hoàn
tương tôn tượng điền.
Chỉ khủng bàng nhân mi đọa lạc, mạn đồng
viện chủ oán Thiên Nhiên.
(Đào
đất bên tường, nặn thành tượng. Muốn
đi, lại lấy
tượng lấp đường. Chỉ sợ kẻ
ngoài mày rụng sạch, khác nào viện chủ oán Thiên Nhiên[97]).
Lại
đáp: Hai con trâu đất đấu nhau, rơi xuống
biển.
Tụng rằng:
- Nê ngưu đấu nhập hải, mộc nhân tề
khát thải, kham tiếu thạch nữ nhi? Do hướng ba
gian đăi!
(Trâu đất
đấu nhau, lọt xuống biển. Người gỗ
đều đói ăn. Nực cười con thạch nữ,
vẫn đợi trong sóng trào).
5) Hỏi: Như
thế nào là Chỉ Quán bất nhị?
Đáp: Trời tối tăm,
đất vây hăm!
Tụng rằng:
- Hỗn độn tạc khai phân lưỡng nghi. Thành
h́nh, thành tượng mạn sai nghi. Hư không tiêu vẫn tri
hà hứa. Chánh thị ngoa truyền Bàn Cổ thời!
(Hỗn
độn khoét rời thành lưỡng nghi. Thành h́nh, thành
tượng chẳng sai nghi. Hư không tiêu mất là chi rứa?
Tức thời Bàn Cổ[98]
vẫn thường đồn).
Lại
đáp: Gương cổ treo trên đài cao.
Tụng rằng:
- Cổ kính quải cao đài, hà phương Hồ, Hán
lai? Tú công không phất thức, phất xứ chuyển
đa hỹ!
(Gương cổ treo đài
cao, ngại ǵ Hồ, Hán đến? Thần Tú lau chùi suông, chỗ
lau lại càng nhiều!)
6) Hỏi: Như thế nào
phàm phu đầy dẫy triền phược có thể biết
tạng bí mật của Như Lai?
Đáp: Mấy chỗ báo cừu,
thân chẳng chết!
Tụng rằng:
- Nhất tự chùy Tần Bác Lăng sa, chuyển phùng Hoàng
Thạch di kiều tà, tố thư tuy tác Lưu gia dụng,
dữ Xích Tùng du lộ vị xa.
(Chùy đập
vua Tần Bác Lăng Sa[99],
chân cầu gặp gỡ cụ Hoàng Thạch. Sách báu dựng
nghiệp cho Lưu gia. Theo Xích Tùng đi nẻo chẳng
xa).
Lại
đáp: Chân thọt nhiều năm nắm chắc bánh lái.
Tụng rằng:
- Chuyên tâm lao bả đà. Bả túc nan hành lộ. Khán phong tiện
sử phàm. Thương minh khoảnh khắc quá.
(Chuyên tâm
nắm chắc bánh lái, chân thọt khó thể đi
đường. Nh́n hướng gió, bèn căng buồm. Khoảnh
khắc vượt biển khơi).
7) Hỏi:
Như thế nào là khi sơ phát tâm liền thành Chánh Giác?
Đáp: Ở
ngàn ṣng, đánh bại bọn cờ bạc bèn giàu.
Tụng rằng:
- Sao thô đảm tráng đổ tràng hùng, phá tận hàn
toan sĩ tử phong. Nhất trịch tiện thâu thiên ức
giới. Đào Châu tuy phú vị kham đồng.
(Ngọn
to, gan lớn, tay cờ
bạc, phá sạch kẻ chơi đang cay cú, vừa gieo
liền thâu ngàn ức cơi. Đào Châu[100]
tuy giàu, chưa sánh bằng).
Lại
đáp: Một sợi dây gắn móc câu bạc chiếu sáng
khắp cơi đất.
Tụng rằng:
- Ngân câu quang biến địa, nhất tuyến thiên
biên lệ. Sơ dạ lậu thanh hàn. Ảnh hướng
thiên giang tư.
(Móc bạc
sáng ngời đất, một dây chói rực trời. Đầu
đêm tiếng lậu lạnh. Bóng hiện trong ngàn sông)
8) Hỏi:
Như thế nào là chẳng đoạn sanh tử mà nhập
Niết Bàn?
Đáp: Trâu dưới Đại
Quy Sơn mập mạp.
Tụng rằng:
- Bất thị oan gia, bất tụ đầu.
Tự thân hữu trái, tự thân thù. Mục đồng nhược
giải thâm thâm ư, mạc bả thằng tiên cưỡng hệ
lưu.
(Chẳng phải oan gia, chẳng
gặp nhau. Chính ḿnh mắc nợ, tự ḿnh đền. Mục
đồng nếu hiểu ư sâu đậm,
chẳng lấy thừng, roi cưỡng buộc trâu).
Lại
đáp: Biển nước thơm giữa bảy rặng
núi vàng sóng ngập trời!
Tụng rằng:
- Hương thủy lăng thao thiên, tiềm lưu chú bách
xuyên. Thùy năng thường nhất trích, khước bệnh
thả diên niên.
(Nước
thơm sóng ngập trời, ngầm tuôn rót trăm sông. Ai nếm
được một giọt, hết bệnh lại thọ
thêm).
9) Hỏi:
Như thế nào là nối tiếp huệ mạng của
Phật?
Đáp:
Chúng sanh vẫn đáng thương y như cũ.
Tụng rằng:
- Quả nhiên y cựu khả liên sanh, trụ trụ xanh
xanh trực đáo minh. Phổ thỉnh đại gia đồng
trước lực, mạc giao đảo khước bồ
đào bằng.
(Chúng sanh như cũ
đáng thương thay! Chống chống
chèo chèo đến sáng trưng. Xin khắp mọi người
cùng dốc sức, kẻo đừng kéo đổ mất
giàn nho).
Lại
đáp: Đói th́ ăn cơm.
Tụng rằng: - Phật mạng
bất khả đoạn. Cơ lai tu khiết phạn. Nhất
nhật yếu lưỡng xan. Mạc học ngạ tử
hán.
(Phật mạng chẳng thể
đoạn. Đói th́ phải ăn cơm. Một ngày cần
hai bữa, đừng học kẻ chết đói).
10) Như thế nào là sử dụng
được trong ngày Ba Mươi tháng Chạp?
Đáp: Ngựa bạc, tiền
vàng đón Táo thần.
Tụng rằng: - Ngân mă, kim
tiền tiếp Táo thần. Ân cần lễ bái chúc kiền
tâm. Nhất môn ḥa khí sanh thiên phước. Tứ quư b́nh an chỉ
vạn kim.
(Ngựa bạc,
tiền vàng đón Táo quân. Ân cần lễ bái, tỏ
ḷng thành. Một nhà ḥa khí sanh ngàn phước. Bốn quư
b́nh an đáng muôn vàng).
Lại
đáp: - Mệt rồi th́ ngủ!
Tụng rằng:
- Lạp tận, sự thanh nhàn, khổn lai
tiện đả miên. Nhất mộng do vị túc. Bộc
trúc khánh tân niên.
(Cuối Chạp,
việc thanh nhàn. Mệt rồi cứ ngủ kh́. Giấc mộng
c̣n chưa đủ. Pháo trúc mừng tân niên).
* Hai bài tụng trả lời
câu hỏi của Như Mẫu
1) Hỏi:
Có người hỏi tổ sư: “Trăm năm sau sẽ
đi về chỗ nào?” Tổ bảo: “Đi làm bò
đực trong nhà đàn việt”. “Người
học có làm theo hay
không?” Nói: “Cần đóng đinh một nhánh cỏ cây”. Ḅ
đực th́ chẳng hỏi, như thế nào là một
nhánh cỏ cây?
Đáp: Chính là tự ḿnh
ăn.
Tụng rằng:
- Sanh tử lộ mang mang. Luân hồi chánh vị
ương, tu đinh nhất hành thảo, thiết vật
tá tha lương.
(Nẻo
sanh tử mịt mờ, luân hồi vẫn chẳng xong, cần
đóng một nhánh cỏ,
chớ vay lương thực người).
2) Hỏi:
Quy Sơn gặp Hàn Sơn, Thập Đắc. Thập
Đắc rống ba tiếng như hổ, lại c̣n
giơ nhánh cây nói: “Người gọi cái này là cái ǵ vậy?”
Ư chỉ như thế nào?
Đáp: Quên mất rồi!
Tụng rằng:
- Lưỡng độ niêm lai nhất tổng vong. Hà tu
b́nh địa biệt thương lượng? Đồng
điều sanh, bất đồng điều tử. Sầu
thính hàn nha độ tịch dương.
(Hai lượt nêu ra,
quên tuốt rồi. Cần chi đất phẳng riêng bàn bạc?
Cùng sanh, há có cùng nhau chết? Quạ kêu chiều tối vẳng
sầu thương).
* Bài tụng lễ tháp xá-lợi (tháp ở
Phong Nam thuộc Hấp Huyện. Ngô Đại Niên thuộc
gia đ́nh Tôn Sán Như)
Vô lượng
Giới, Định, Huệ, trang nghiêm tịnh Pháp
Thân. Pháp Thân phi phi sắc. Phi sắc vị
khả danh. Toái tác bát hộc châu. Khỏa khỏa
toàn tánh chân. Thị dĩ quảng lưu bố,
tại xứ trình quang minh. Thiện tai Đại
Niên ông! Hoạch thử xuất thế trân, thiện
căn bất khả tận. Cắng cổ
hằng tân tân. Chiếu thử chánh tín gia,
doãn tác Bồ Đề trinh. Ninh duy nhất gia
bảo, thiên nhân sở phụng tôn. Đảnh lễ
thành duyên chủng, phân minh lạc độ tân.
(Vô lượng
Giới, Định, Huệ, trang nghiêm tịnh Pháp Thân. Pháp
Thân chẳng phi sắc. Phi sắc chẳng thể gọi.
Đập nát tám hộc châu, từng viên vẹn chân tánh. Do
vậy, rộng lưu truyền. Khắp chốn tỏa
quang minh. Lành thay, ông Đại Niên! Có xuất thế trân
này, thiện căn chẳng thể tận. Tự cổ
luôn mới mẻ, chiếu trong nhà chánh tín, tạo thành cội
Bồ Đề. Của gia bảo duy nhất, người,
trời cùng tôn trọng. Đảnh lễ thành duyên chủng.
Phân minh bến Lạc Độ).
23. Minh[101]
* Bài minh tại Phạm Vơng Thất
Vấn dư hà
sở thỉ? Hằng tham Phạm Võng chỉ.
Tọa đoạn bách phi nguyên, phương tri duy
thị thử. Bất ly tối sơ tâm. Tức
thị Xá Na tủy. Tiệm đốn ninh hữu
kỳ, Nhất, đa khởi dị quỹ? Nghiệm
quả dũ minh nhân. Thác sự ích hiển
Lý. Mạc vị phù nang vi, kham tá trung lưu
chỉ. Đế quán tâm địa môn, ưng tín
thất phi nhĩ!
(Hỏi
tôi lập thệ nào? Luôn tham cứu ư chỉ, của bản
kinh Phạm Vơng. Chặt đứt trăm nguồn
sai, mới biết chỉ là đó. Chẳng ĺa tâm tối
sơ, chính là Xá Na tủy! Tiệm, đốn, há chia nẻo?
Một, nhiều nào khác đường! Nghiệm quả
càng rơ nhân; cậy Sự thêm hiển Lư. Đừng bảo phao
nhỏ bé, kham chống chọi giữa ḍng. Quán chắc tâm
địa môn. Hăy tin “thất” chẳng vậy!)
* Bài minh cạnh ṭa Đức
Lâm
Dĩ băng
sương chi tháo tự lệ, tắc
phẩm nhật thanh cao. Dĩ khung lung chi lượng
dung nhân. Tắc đức nhật quảng
đại. Dĩ thiết tha chi nghị thủ
hữu. Tắc học vấn nhật tinh. Dĩ
thận trọng chi hạnh lợi sanh, tắc
đạo phong nhật viễn. Cố viết: Trung dĩ
hành kỷ, thứ dĩ cập vật.
Hựu viết: Tu kỳ thiên tước, nhi nhân
tước tùng chi.
(Dùng tiết
tháo băng sương tự gắng, phẩm đức
ngày một thanh cao. Dùng lượng trời thẳm dung
người, đức sẽ ngày càng rộng lớn. Dùng
t́nh giồi mài kết bạn, học vấn ngày càng tinh
ṛng. Dùng hạnh thận trọng lợi sanh. Đạo
phong ngày càng sâu xa. Do vậy nói: Dùng trung hậu để
rèn ḿnh, dùng khoan dung lợi chúng. Lại nói: Tu được
thiên tước, nhân tước sẽ theo sau).
* Bài minh cho tịnh xă
Trì giới vi
bổn, Tịnh Độ vi quy. Quán tâm vi yếu,
thiện hữu vi y.
(Tŕ giới
làm gốc, Tịnh Độ nương về, quán tâm trọng
yếu, nương cậy bạn lành).
* Bốn bài minh về gậy
chống
1) Trung hư nhi thật,
tiết lệ nhi ôn. Trợ nhĩ thần túc, du
hý pháp môn. Truy di tung ư tiền mại,
đạo cảnh tùng chi hậu côn (cây gậy
chống bằng gỗ của huynh Quy Nhất).
(Giữa rỗng
mà chắc, tiết cứng nhưng ôn ḥa. Giúp thần túc của
ông. Du hư các pháp môn. Dơi theo vết người trước.
Cho đàn em noi bóng)
2) Phóng khứ trụ địa,
kình thiên. Niêm lai, kháp đầu phanh não.
Đồng thượng Tu Di phong, cộng hành
Trường An đạo. Đốt! Nhược
phi bát thảo tịnh chiêm phong, bất nhị pháp
môn hà xứ thảo? (Tặng
Tương Thủy Tân)
(Buông ra chống
đất, nâng trời. Cầm lấy, gơ đầu, phang
năo. Cùng trên đỉnh Tu Di, cùng đi đường
Trường An. Ôi! Nếu chẳng vạch cỏ mà ngóng gió, pháp
môn Bất Nhị kiếm nơi nào?)
3) Hữu thủ bất
ngang, hữu chỉ bất vụ, tương dục
hà tiền, thoái hậu nhất bộ (tặng
huynh Linh Ẩn).
(Có đầu
chẳng ngửa. Có ngón chẳng chạy. Muốn tiến về
trước, thoái lui một bước).
4) Nhân vị nhĩ hư, ngã tri nhĩ
thật. Ngã phù nhĩ hành. Nhĩ vi ngã
bật. Tương đối vô ngôn, phi thiên ý mật.
Mộ nhập thiên phong, y nhiên nhất thất (tự
dùng gỗ làm gậy chống).
(Người
nói ngươi hư, ta biết ngươi thật. Ta cầm
ngươi đi, ngươi giúp ta bước. Đối
diện lặng thinh, ngàn ư chẳng trọn. Vào thẳng ngàn ngọn,
nghiễm nhiên một thất).
* Bài minh nơi Tịnh Tín
Đường
Ngã sở trụ
đường, giai đanh Tịnh Tín. Luân
tướng sơ khai, phá nghi tiền trận.
Ngũ Hối công thành. Chí tâm phát nhận. Nhị
Quán viên dung, tùy cơ thiện tấn. Bình
đẳng Pháp Thân, tam-muội trung tuấn.
Quán sát kỷ tâm, niệm Phật tâm ấn.
Quyết định ưng ly, tạp loạn cấu
tận. Tam nhẫn, tứ Phật, khang trang phi
tuấn!
(Điện
đường ta trụ, đều tên Tịnh Tín. Luân
tướng vừa mở. Phá nghi: trận đầu.
Ngũ Hối:
công thành. Chí tâm: Giao chiến. Nhị Quán viên dung, tùy cơ
khéo tiến. Pháp Thân b́nh đẳng. Tam-muội lỗi lạc.
Quán sát tâm ḿnh: Tâm ấn niệm Phật. Quyết định
nên ĺa, tạp loạn, cấu tận. Tam nhẫn, tứ Phật,
mênh mông chẳng khó khăn!)
* Bài minh cho Phạm Vơng Thất (thứ
hai)
Ngã sở trụ
thất, tức danh Phạm Võng. Thập
phương Phật pháp, do như quán
chưởng. Văn tự tánh ly, phi
mặc, phi hưởng. Cánh ngôn “bất lập”.
Vô đoan thành lưỡng, tâm địa pháp
môn, giới quang sâm sảng, tánh tu giao thành,
Thật Tướng tư lãng. Pháp, Báo,
Hóa Thân, Thể phương thả quảng. Hoa
Tạng trang nghiêm, kính trung hiện tượng.
(Cái thất
tôi ở, tên là Phạm Vơng. Mười phương Phật
pháp, như nh́n bàn tay. Văn tự tánh lìa, chẳng
lặng, chẳng vang. Nếu nói “chẳng lập”, vô cớ
thành hai! Pháp môn Tâm Địa, giới quang dày đặc,
tánh tu xen thành. Thật Tướng tự rạng, Pháp. Báo,
Hóa Thân, Thể phương lại quảng. Hoa Tạng
trang nghiêm, hiện bóng trong gương).
* Bốn bài minh về cái gậy
trúc vuông
1) Tàng hư ư
thật, ngụ viên nhi phương. Trụ thiên táp
địa, tùy quân cử dương. Đốt!
Chuyển thân hà xứ tầm tung tích? Mộ
trực quy gia dạ vị ương (tặng
Bảo Nhất).
(Chứa
hư nơi thật, trong tṛn mà vuông. Chống trời, giáp
đất. Mặc ông nêu bày. Ôi! Xoay người chốn nào
t́m tung tích? Thẳng lối về nhà đêm chưa tàn).
2) Trực trung
thằng, phương trung củ. Dục vấn do lai,
tân trung thức chủ (tặng
huynh Như Thị).
(Trong thẳng
có chừng mực, trong vuông có quy củ. Muốn hỏi
nguyên do, từ khách biết chủ).
3) Bất tồn quỹ
tắc, liêu thị phương ngung. Kiên vân
đới nguyệt, dật trần nhi xu (tặng Tri Bốc).
(Chẳng
giữ khuôn phép, nêu bày góc cạnh. Gánh mây, đội trăng,
lánh trần mà đi)
4)
Mẫu
ngoan nhữ thể, mẫu lộ nhữ đoan.
Xả chi lật lật, dụng chi sách sách!
(tự đề).
(Mẹ khắc thành thân
ngươi. Mẹ lộ liễu, ngươi đoan
chánh. Bỏ th́ run rẩy, dùng th́ lề rề).
* Bài minh cái gậy chống
Hữu thời
trụ địa kình thiên. Tắc đoạn
thánh phàm tỵ khổng. Hữu thời
đảm vân hà nguyệt, khiêu khai Phật, Tổ
nhãn tình. Dục vấn hà niên cốt
đổng, y hy yên thủy bách thành.
(Có lúc chống
đất, đỡ trời. Nghẹt cứng lỗ
mũi phàm, thánh. Có khi gánh mây, vác trăng; khêu mở tròng mắt Phật,
Tổ. Muốn hỏi đồ cổ năm nào? Khói
nước trăm thành y hệt!)
* Ba bài minh về chiếc
đũa
1) Pháp vị doanh
xỉ, bất phiền nhiễm chỉ, ly khước
đơn truyền. Bạch niêm hao thỉ.
(Pháp vị
ngập răng, chẳng phiền bẩn tay. Ĺa khỏi
đơn truyền, khéo nêu khởi đầu!)
2) Dụng hữu
đãi, Thể vô tam. Nhĩ tri vị, ngã hà
tham?
(Dụng
c̣n đối
đãi, chứ Thể chẳng ba,
ngươi biết vị, ta tham ǵ?)
3) Đơn bất
lập, chích nan kình, tá trù hoạch,
nghĩ điều canh.
(Đơn
chẳng lập, chiếc khó chống, mượn để
tính toán. Tính điều ḥa canh).
* Bài minh cạnh chỗ ngồi
của Vương Học Cổ
Hạo
nhiên chi khí, nhân giai tánh cụ. Hà dĩ
dưỡng chi, tập nghĩa thị vụ. Nghĩa
phi khả tập, viên xưng chánh lộ. Thản thản
châu hành, bất
ưu bất cụ. Lập mạng tri thiên,
phi vực khí số. Bế môn tạo xa, xuất
môn hợp độ. Đạo chi sở tồn, phi
hủy
hà cố? Đạo chi bất
lục, vinh danh hà mộ? Thục mị chung tịch,
đàn chỉ tiện ngụ. Nam minh Bắc
minh, nhậm nhĩ du ngụ. Sủy bỉ hôn
manh, dăng xu si phụ. Hạ tắc hỷ phong, Đông năi tham
úc. Ngộ tánh thành tu, lực
dụng tư dụ. Ma-ni tại tràng, chúng bảo phổ
chú. Thử ngoại
tầm huyền, ngũ thập bách bộ.
(Khí mênh
mông, ai nấy tánh đều sẵn có. Dùng ǵ để
dưỡng? Chăm chú học tập nghĩa. Nghĩa chẳng
thể noi theo, bèn gọi là chánh lộ. B́nh thản đi khắp,
chẳng lo, chẳng sợ. Lập mạng, biết trời.
Chẳng phải khí số của một vùng. Đóng
cửa chế xe. Ra cửa hợp lẽ. Đạo
được tồn tại, chẳng hủy, sao lo? Đạo
chẳng ghi chép, vinh danh có ǵ đáng hâm mộ? Ngủ say suốt
đêm, khảy tay liền tỉnh. Biển Nam, biển Bắc,
mặc t́nh chơi, ở. Cười kẻ mù
tối, ruồi bâu, nhặng đậu. Hè th́ ưa gió,
Đông bèn tham ấm. Ngộ tánh thành tu. Lực dụng dồi
dào. Ma-ni trên
tràng, các báu rưới khắp, t́m huyền diệu ngoài lẽ
đó, năm mươi,
trăm bước).
* Bốn bài minh về Tứ
Vô Lượng Tâm
1) Thị
nhân chi thiện, do kỷ chi thiện. Thị kỷ
chi thiện, do nhân chi thiện. Niệm niệm
đồng quán, cắng cổ vô gián. Pháp giới
giai du tứ đức thành, phương măn tối sơ
hoằng thệ
nguyện (Từ).
(Thấy
điều lành của người, như điều thiện
của ḿnh. Thấy điều thiện của ḿnh, như
người khác làm lành. Niệm nào cũng quán vậy,
xưa nay chẳng gián đoạn. Pháp giới dạo chơi thành
tứ đức, hoằng nguyện tối sơ mới vẹn
toàn).
2) Thị
nhân chi ác, do kỷ chi ác. Thị kỷ
chi ác, do nhân chi ác. Mănh tỉnh lực trừ,
vô linh quư tạc. Pháp giới chúng sanh tam độc
trừ, bỉ ngă đồng quy vô thượng giác (bi).
(Thấy
người khác làm ác, như chính ḿnh làm ác. Thấy chính ḿnh
làm ác, như người khác làm ác. Mạnh mẽ tận lực
trừ, khiến cho chẳng thẹn hổ. Pháp giới
chúng sanh trừ Tam Độc. Ta, người cùng quy Vô
Thượng Giác).
3) Thị
nhân chi lạc, do kỷ chi
lạc. Thị
kỷ chi
lạc, do nhân chi lạc. Sở dục dữ cộng,
tật đố vĩnh khước. Pháp giới
đồng hân pháp hỷ sung, bất hướng thiên không
tầm lược thược (hỷ).
(Thấy
người được vui sướng, như chính ḿnh
được sướng. Thấy ḿnh được vui
sướng, như người khác sướng vui. Muốn
họ cùng được hưởng, ghen tỵ vĩnh viễn
trừ. Pháp giới cùng vui pháp hỷ tràn. Chẳng hướng
Thiên Không t́m đường nẻo).
4) Thiện
ác tánh cụ,
thiện ác tánh không, hà
hỷ hà nộ, như không ngự phong. Mặc tŕ
cơ cảm, diệu ứng vô cùng, đại viên kính trí
chiếu bất b́, khởi tự Quyền Thừa
tác ư thông (Xả).
(Thiện
ác tánh sẵn đủ. Tánh thiện ác là không. Ǵ mừng,
ǵ là giận? Như gió lùa hư không. Thầm giữ để
cơ cảm. Diệu ứng chẳng tận cùng. Đại
viên kính trí chiếu chẳng mệt, há giống Quyền Thừa
tác ư thông?)
* Bài minh ở Diệu Nghiêm Thất,
v́ Dung Am mà soạn
Vong thô tư diệu,
bất sức tư nghiêm. Thận nhĩ u độc,
tự mục dĩ khiêm. Can Tương phỉ
lợi, khẩu phủ thành tiêm. Quân tử tự
phản, huệ nhật phổ chiêm.
(Quên thô nên
diệu. Chẳng tô vẽ nên nghiêm. Thận trọng nơi
thanh vắng, thận trọng dẫu một ḿnh. Dùng khiêm tự
chăn giữ. Gươm Can Tương chẳng sắc, búa miệng
thật sự
bén. Quân tử tự phản tỉnh, huệ nhật
chiếu rạng khắp!)
* Bài minh giới tâm, giới
phương
Hối quá bất
như phòng quá. Tích phước vưu nghi
tích phước, Phật pháp thâm diệu vô
cùng, thiết vật tự khí tự
cục. Nhược yếu thục xứ tiệm
sanh, tiên tu sanh xứ tiệm thục.
(Hối lỗi
chẳng bằng ngừa lỗi. Tiếc phước càng hơn chứa
phước nhiều. Phật pháp sâu mầu vô cùng. Chớ
tự bỏ, tự hạn cuộc. Nếu muốn chỗ
chín dần thành sống, trước phải khiến chỗ
sống thành chín).
* Bài minh ở Cấn Lục
Cư
Nhất niệm mê
vọng, lục trần đốn trần. Kết căn
bàn thác, lưu dật bôn trần. Tạo nghiệp
chiêu khổ, tam hữu thuân tuần, toại kinh khoáng
kiếp, mang phất vấn tân. Cấu thử thống
khổ, ngộ thân phi thân. Bạt vọng nội phục,
bất kiến kỳ nhân, tư bất xuất vị, thứ
ky phản chân.
(Một niệm
mê vọng, sáu trần chóng bày. Gốc lỗi kết sâu, bôn
ba trần cảnh. Tạo nghiệp chuốc khổ. Tam hữu
quẩn quanh, trải bao nhiêu kiếp, mờ mịt chẳng
hỏi bến về! Tạo nỗi đau khổ ấy,
ngộ thân chẳng phải thân. Dẹp vọng, chế phục
tâm, chẳng thấy có ai khác. Nghĩ chẳng ra khỏi chỗ,
ngơ hầu quay lại Chân!)
24. Châm[102]
* Bài châm về mười hai
sự thuộc Chỉ Quán
Pháp
vô lai khứ, vọng tình đồ nhiễu,
liễu hành phi hành, đại chuyết chí
xảo (Hành).
(Pháp chẳng
đến, đi, vọng t́nh quấy nhiễu, hiểu
hành chẳng hành, vụng to thành khéo).
Trung lập bất
ỷ, vị thị thâm Thiền, liễu trụ phi trụ,
năi tri bất thiên (Trụ).
(Đứng
giữa, chẳng lệch, chưa phải Thiền
sâu. Hiểu trụ chẳng trụ, mới biết chẳng
lệch).
Thân tâm vị
vong, chung thành điệu hối, liễu tọa phi tọa, nhập
tam-muội hải (ngồi).
(Thân tâm
chưa quên, trọn thành lao chao. Hiểu ngồi chẳng
ngồi. Nhập biển tam-muội).
Vạn
thiện vị viên, nhẫn đọa si ngục. Liễu ngọa
phi ngọa, mộng hành năi túc
(nằm).
(Vạn
thiện chưa viên, nhẫn đọa si ngục. Hiểu
nằm
chẳng nằm. Mộng đi bèn đủ).
Ban sài vận
thủy, Thể tự
như như, vô tác nhi tác, bạch ngưu đại xa (tác).
(Vác củi,
gánh nước, Thể tự như như. Vô tác mà tác, xe
trâu trắng lớn).
Danh tự
tánh Không, hà
pháp hà ngữ?Bất thủ
ư thủ, chư Phật sở hứa (ngữ).
(Danh tự
tánh không. Pháp ǵ? Ngữ ǵ? Chẳng chấp vào Thủ,
chư Phật chấp thuận).
Không hoa thủy nguyệt,
hà khứ hà lai? Vô kiến phi kiến, thiết
vật loạn sai (thấy Sắc).
(Hoa trên
không, trăng dưới nước. Ǵ là đến,
đi? Chẳng “thấy, không thấy”, đừng
suy đoán lung tung).
Không cốc
truyền hưởng, chánh pháp hằng tuyên. Văn sở
văn tận, quán hoa dũng tuyền (nghe tiếng).
(Hang trống
vọng tiếng, chánh pháp luôn tuyên. Nghe, cái nghe hết. Chuỗi
hoa vọt trào).
Chiên đàn, y lan, hà mỹ
hà tệ?
Tỵ khổng y nhiên, dĩ siêu nhân thế (ngửi
hương).
(Chiên
đàn, y lan, ǵ là đẹp
xấu? Lỗ mũi y hệt, vượt khỏi
đời người (ngửi hương).
Mộng
hưởng tô đà, tỉnh bất thức vẫn, đoạn
thực tánh
Không, hề lao hân uẩn? (nếm vị).
(Mộng
hưởng tô đà[103],
tỉnh chẳng lau mép. Đoạn thực tánh Không. Vui,
chán uổng công!).
Ly kư phi hữu,
hợp diệc hà quan? Vô thống, thống giác, đao
hỏa nhàn nhàn (cảm nhận).
(Ĺa đă
chẳng có, hợp há liên quan? Chẳng đau, biết
đau, đao lửa giăng giăng).
Pháp do tâm sanh, tâm tùy pháp
huyễn, mịch chi vô tung, nguyệt trầm cổ
giản (biết pháp).
(Pháp do tâm sanh,
tâm do pháp huyễn, t́m chẳng tung tích. Trăng ch́m khe
cũ).
25. Từ
* Bài từ cầu mưa
Xuân khổ vũ, hạ
khổ tình. Nhất vũ, nhất tình, duy
thức sở trình. Thức vô chủ
tể, tùy nghiệp sở oanh. Hu ta nghiệp
hề, đồng phận tương thành. Cảm
thử khốc độc, dân phất liêu sanh. Phỉ
long vương chi thất đức, khởi thiên
đế chi phất tình? Do dư đức chi
bất loại hề, vi thệ khải chi thâm
hoằng. Kim kiệt chí nhi hối quá hề,
khấu Đại Sĩ chi túc minh, bi hạ dân cho
mạc chửng hề. Vân tứ hiệp nhi lôi oanh,
bái cam tuyền ư đại địa hề,
tỷ khê giản dĩ uyên hoằng. Nông hân hoạch
ư thâu thật hề, đạo nhị tích nhi an
bình. Hà Tam Bảo chi ân tế hề, tiệm
khử tà dĩ quy chánh, tịnh kiều
thỉnh ư thiên long hề, giám dư hoài chi
khẩn thành, đồng phụ bật ư Bồ
Đề hề, cộng thuyên tạo hồ giác
thành.
(Xuân khổ
v́ mưa, hạ khổ v́ tạnh. Một tạnh, một
mưa, chỉ phô duy thức. Thức chẳng có chủ tể.
Tùy nghiệp vấn vít. Than ôi nghiệp kia, đồng phận
cùng thành. Cảm nỗi khổ tột! Dân không lẽ sống,
há do long vương thất đức, nào phải Thiên
Đế vô t́nh? Do đức ta chẳng ra ǵ, trái nghịch
thệ nguyện sâu rộng. Nay dốc chí hối lỗi,
van Đại Sĩ nhớ lời thề xưa, xót
thương dân chẳng
được cứu vớt, hợp mây bốn phía rền
tiếng sấm, rắc suối ngọt xuống đại
địa, khiến cho khe suối ngập tràn. Nhà nông vui mừng
thâu hoạch dư dật. Kẻ mót thóc cũng b́nh an. Gánh
đội ân Tam Bảo cứu vớt, dần dần bỏ tà
theo chánh! Lại dốc ḷng thỉnh trời, rồng, xét
ḷng tôi thành khẩn, cùng giúp rập Bồ Đề, cùng kiến
tạo ṭa thành giác ngộ).
Linh Phong Tông Luận Phần 8
[1] Thọ tự (壽序) chính là các bài văn chúc thọ.
Thể loại này đă có từ thời Nam Tống, đến
giữa thời Minh trở đi, rất thịnh hành,
nhưng hầu như chỉ thấy sử dụng nhiều
ở Giang Nam.
[2] Đồng chân nhập đạo (童真入道):
Đi tu từ bé.
[3] Thạc nhân (碩人)
có nghĩa là người hiền
đức. Đây là phong hiệu dành cho
vợ quan Thị Lang trở lên. Ở đây,
bà Tô được gọi là Thạc Nhân
với ý nghĩa ca ngợi bà là
người hiền đức.
[4] Đây là cách phân định ư
nghĩa giáo học do tông Lâm Tế đề xướng:
Trong mỗi một câu, có ba tầng huyền môn. Mỗi huyền
môn đều có ba điều trọng yếu. Tam huyền
cụ thể là:
1) Thể trung huyền: Thông
qua ngôn ngữ, phá trừ vọng tưởng, thoát ĺa các
tướng.
2) Cú trung huyền: Siêu việt
ư thức phân biệt, do ly mà phản chiếu, tịch quang
vô vi.
3) Huyền trung huyền: Trở
về cảnh giới bổn nguyên, có đặc tánh vô công
dụng.
Mỗi huyền môn có ba tầng
trọng yếu là sơ yếu, trung yếu và thượng
yếu.
Tông Lâm Tế chủ
trương dựa trên tam huyền mà có ba giai đoạn
tu hành:
1) Hiểu rơ mỗi huyền
có tam yếu để tự cứu, thể nhận bổn
chân Phật tánh.
2) Thông qua hai huyền sáu yếu
để bảo trì trạng thái rỗng rang, linh
thông, vô trụ.
3) Thấu triệt tam huyền
cửu yếu để đại tới trạng thái vô
ngại trong các oai nghi.
[5] Ngũ vị là năm địa
vị của Bồ Tát dựa theo cách phán định của
tông Duy Thức:
1) Tư lương vị: Hàm
nhiếp các điều thiện hữu lậu để
đạt tới Phật quả (bao gồm các địa
vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi
Hướng).
2) Gia hạnh vị: Chỉ
hàng Bồ Tát thuộc địa vị Tứ Gia Hạnh
(Noăn, Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất). Dùng
phước trí tư lương để gia công dụng
hạnh ḥng nhập Kiến Đạo (Hoan Hỷ Địa).
3) Thông đạt vị (c̣n gọi
là Kiến đạo vị): Tức Sơ Địa Bồ
Tát, đă thấu hiểu Chân Như, trí chiếu nơi Lư,
thấy Trung Đạo.
4) Tu tập vị (c̣n gọi
là Tu Đạo vị): Từ Nhị Địa đến
Thập Địa Bồ Tát, đă kiến đạo,
đoạn trừ chướng, lại lần lượt
tu tập các địa vị thăng tấn.
5) Cứu cánh vị: Tức
địa vị Diệu Giác Phật.
[6] “Cửu đới” tức
các phán định giáo nghĩa do ngài Phù Sơn Pháp Viễn
Viên Giám đề xướng. Do khái niệm quá rườm
rà, chỉ xin nêu ra danh mục như sau: Phật chánh pháp
nhăn tạng đới, Phật pháp tạng đới, lư
quán đới, sự quán đới, lư sự tung hoành
đới, khuất khúc thùy đới, diệu diệp
kiêm đới, kim châm song tỏa đới, và b́nh hoài
thường thật đới.
[7] Ngài Quy Sơn Linh Hựu lập
ra đồ h́nh gồm chín mươi sáu loại viên tướng,
tương truyền là do ngài Nam Dương Huệ Trung quốc
sư thiết lập để biểu thị giáo
nghĩa. Đồ h́nh gồm chín mươi sáu h́nh tṛn nhằm biểu thị các tướng trạng khác
nhau của chân lư.
[8] Thân thể số lượng
rất nhiều không thể tính xuể, nên dùng chữ Vân
(mây) để sánh ví.
[9] Trương Tử Thiều
(1092-1159), tên thật là Cửu Thành, tên tự là Tử Thiều,
hiệu Vô Cấu và Hoành Phố cư sĩ, là một học
giả thời Bắc Tống, làm quan đến chức
Tri Châu của Ôn Châu, chơi thân với thiền sư Đại
Huệ Tông Cảo. Ông để lại trước tác gồm
hai bộ Hoành Phố Tập (hai mươi quyển) và
Trung Dung Thuyết (ba quyển).
[10] Ở
đây, Tổ chơi chữ. Nhất quán (一貫) là
đạo lý xuyên suốt, có thể hiểu thô
thiển là tất cả Phật pháp không ra
ngoài Chân Như; đó là nhất quán.
Nhưng trong cách nói thông dụng thì “nhất
quán” còn có nghĩa là một xâu tiền
gồm một ngàn đồng. Do vậy mới
nói “nhất quán là hai cái năm trăm”.
[11] Đây là một câu chuyện
trích trong thiên Tiên Tấn của sách Luận Ngữ. Khổng
Tử lúc đó có bốn học tṛ đứng hầu là
Tăng Điểm, Nhiễm Hữu, Tử Lộ và Công Tây
Hoa đứng hầu. Khổng Tử hỏi về chí
hướng, Tăng Điểm thưa: “Mạt xuân giả, xuân phục kư thành, quán giả
ngũ lục nhân, đồng tử lục thất nhân, dục
hồ Nghi, phong hồ Vũ Hu, vịnh nhi quy” (Vào lúc cuối mùa Xuân, y phục
mùa Xuân đă chuẩn bị xong, năm sáu kẻ trưởng
thành, sáu bảy đứa bé con, đến bên sông Nghi
tắm, lên hóng gió trên đài Vũ Hu, ca hát mà trở về).
Khổng Tử thở dài bảo: “Ngô dữ Điểm
dă” (ta cũng giống như Điểm vậy). Theo các
nhà chú giải, trong khi các học tṛ khác như Nhiễm Hữu,
Tử Lộ, và Công Tây Hoa đều biểu lộ muốn
làm quan, kinh doanh, hay dùng lễ nhạc giáo hóa dân chúng,
Tăng Điểm dường như chẳng có chí hướng
ǵ, nhưng thật ra, Tăng Điểm đă mô tả
đơn giản cảnh tượng dân chúng an ổn, vui
sướng, thế giới đại đồng, là giấc
mộng mà Khổng Tử luôn ấp ủ.
[12] Lương đ́nh (涼亭)
theo truyền thống là một kiến trúc thường cất
bằng gỗ, hoặc trụ đá, nhưng rùi, kèo bằng
gỗ, lợp ngói, mái cong. Đình
có h́nh bát giác, hoặc h́nh vuông, bốn phía
để trống, trong ấy có
đặt bàn ghế để ngồi hóng mát.
[13] Hỏi ư hoặc tham khảo
ư kiến người nhỏ tuổi, học thức kém
hơn ḿnh th́ gọi là “hạ vấn”.
[14] Ư nói không làm trụ tŕ hay lănh
chúng.
[15] “Tư”
có nghĩa là trông nom, quản trị. Tư Mã
là chức quan trông coi quân sự, binh bị,
tương đương với Binh Bộ
Thượng Thư sau này. Tư Lại là
chức quan trông coi việc bổ nhiệm, thăng
thưởng, hoặc trừng phạt các
quan viên, tương đương với Lại
Bộ Thượng Thư. Tư Nông là chức
quan coi việc nông nghiệp, khai khẩn v.v…
[16] Chính
là tùy hỷ, đọc tụng, thuyết
pháp, kiêm hành Lục Độ và chánh
hành Lục Độ.
[17] Tử Bách đại sư từng
nói “nếu ai hiểu được nửa bài kệ của
Tỳ Xá Phù Phật, th́ đạo nghiệp đă thành
công”.
[18] Phương Sơn là hiệu
của trưởng giả Lư Thông Huyền.
[19] Thời Xuân Thu, nhạc nước
Trịnh có nhiều dâm thanh, tức
là nhạc rên rỉ, ủy mị, diễm tình quá
mức đến nỗi gần như phong thái dâm đăng. Do vậy, tất
cả các loại nhạc không đứng đắn, tà mị
đều gọi là “Trịnh thanh”, “Trịnh âm”, hoặc
“Trịnh nhạc”. “Trịnh nhạc loạn Nhă” tức
là âm thanh của nhạc nước Trịnh rối loạn
Nhă Nhạc của nhà Châu, hàm nghĩa “tà mị,
bất chánh rối loạn lẽ chánh đáng”.
[20] “Tháp chí minh” là
một thể loại văn tự dùng để khắc
lên bia hoặc tường nơi mộ tháp, mục đích
chủ yếu là trần thuật duyên khởi kiến tạo
tháp, công hạnh của người được chôn cất
hay được tưởng niệm tại đó. Thông
thường, một bài tháp chí minh bao gồm các yếu
tố như duyên khởi kiến tạo, người đứng
ra kiến tạo, thời gian kiến tạo, công dụng
của tháp, và những chi tiết phụ thuộc khác
như kết cấu, vật liệu, phong cách v.v… của
tháp.
[21] Giang Ngoại
tức Giang Nam, tức vùng đất ở
phía Nam sông Trường Giang. Do nhìn từ
Trung Nguyên (phần đất giữa Hoàng Hà và
Trường Giang) thì Giang Nam ở ngoài
Trường Giang nên gọi là Giang Ngoại.
[22] Năm 221 trước Công
Nguyên, Tần Thủy Hoàng thiết lập quận Mân Trung (thuộc
địa bàn tỉnh Phước Kiến hiện thời),
quận lỵ đặt tại Đông Dă (nay là Phước
Châu). V́ thế, nơi này thường được gọi
là đất Mân. Tới niên hiệu Khai Nguyên đời
Đường, triều đ́nh lập ra Phước Kiến
Kinh Lược Sứ để cai quản vùng này. Từ
đấy mới h́nh thành danh xưng Phước Kiến.
Thời Bắc Tống, triều
đình chia Phước Kiến
Hành Chánh Khu thành sáu châu là Phước, Kiến, Tuyền, Chương, Đinh, Nam Kiếm, và
hai “quân” (军) là Thiệu Vũ và Hưng Hóa.
Quân (không phải quận) là đơn vị hành chánh nhỏ
hơn châu (tuy vẫn cùng cấp). Sáu
châu và hai quân ấy được gọi chung là Bát Mân. Trong niên
hiệu Hồng Vũ đời Minh, triều đ́nh lại chia Phước Kiến thành tám phủ là
Phước Châu, Kiến Ninh, Diên B́nh, Thiệu Vũ,
Hưng Hóa, Tuyền Châu, Chương Châu, và Đinh Châu,
nhưng vẫn gọi là Bát Mân như cũ.
[23] Nguyên văn “khôn bất bẩm
giới, binh, nô, ngục tù”, “khôn” (髡) là một loại h́nh phạt
thời cổ, cạo trọc đầu của người
phạm lỗi, đeo ṿng sắt vào đầu. Do tăng
sĩ chỉ cạo tóc, chẳng quan tâm thọ giới, giữ
giới, nên Tổ than thở người cạo đầu
chẳng khác với binh lính, nô, hay kẻ phạm tội bị
phạt giam trong tù ngục!
[24] Nguyên văn “chứng
quy tác miết” (證龜作鱉, chứng
minh con rùa là ba ba) tức là bịa
đặt, ngụy tạo lập luận để
bênh vực cho những tà thuyết của
chính mình.
[25] Thảo ô, tên khoa học là Aconitum Carmichaelii,
c̣n gọi là Ô Đầu, Thổ Phụ Tử, Đoạn
Tràng, Khổ Ô Uế, Hề Độc, Kê Độc, Lang,
Độc Công, Độc Bạch Thảo, là một loại
thảo dược, rễ có chất kịch độc.
Cây có thể mọc cao tới một mét hai tấc, có hoa
màu tím hoặc màu xanh dương nhạt rất đẹp,
nhưng không có hương. Khi ăn nhầm củ nó, sẽ
bị tê dại mặt mũi, miệng mũi bỏng rát,
bụng như có lửa đốt, dần dần tay chân
tê bại, rối loạn nhịp tim, toát mồ hôi, choáng
váng, khó thở, rối loạn nhận thức. Chất
độc cũng có thể xâm nhập
nếu dùng tay trần để
bẻ lá
cành của nó!
[26] Tức công án “Nam Tuyền trảm miêu” trong nhà Thiền. Các thiền sinh của ngài
Nam Tuyền Phổ Nguyện v́ tranh chấp một con mèo mà
căi cọ. Ngài Nam Tuyền bèn nắm cổ con mèo, bảo:
“Nếu các thầy có thể v́ con mèo mà nói một lời,
tôi sẽ không giết con mèo này. Hăy thử nói một câu!”
Đại chúng lặng thinh. Khi đó, Nam Tuyền bèn chém chết
con mèo. Khi đó, một đệ tử khác là Triệu Châu
Tùng Thẩm từ bên ngoài trở về, đại chúng thuật
chuyện, Sư đến gặp ngài Nam Tuyền. Nam Tuyền
nhắc lại câu hỏi, Triệu Châu bèn cởi giày rơm,
đội lên đầu bỏ đi. Nam Tuyền nói: “Nếu
thầy có mặt lúc ấy, đă cứu được
con mèo!”
[27] Tức các đệ tử gửi
thư xin quy y, được Ngài đặt pháp danh, chứ
không trực tiếp gặp mặt xin thọ Tam Quy, Ngũ
Giới.
[28] Trác tích (卓錫) là cắm tích trượng, tức
vị Tăng ở lại một nơi nào đó trong một
thời gian dài.
[29] Ư nói Thiền, Giáo, Luật
h́nh thành thế đối lập, phủ định lẫn
nhau. Năm tông phái chính của Thiền Tông tự coi ḿnh là
chân truyền độc nhất, đả phá lẫn nhau,
không quan tâm dung thông.
[30] Hoa chúc (華祝) là điển tích
người được phong ở Hoa Châu
đã dùng ba lời nguyện trường
thọ, phú quý và nhiều con cháu
để chúc tụng vua Nghiêu. Về sau, “hoa
chúc” chỉ đơn giản nghĩa là
chúc tụng những lời tốt đẹp
nhất khi mừng thọ.
[31] Người nữ không sanh nở,
chẳng thể có con cái th́ gọi là “thạch nữ”.
[32] Hồ già (胡笳) là một loại sáo của
dân di mục phương Bắc được truyền
nhập vào Trung Hoa, trở thành một nhạc khí thổi
trọng yếu dùng trong ḥa tấu. Loại sáo này làm bằng gỗ, dài nửa mét, phần
dưới có ba lỗ để thoát âm. Một đầu
hơi loe ra, đầu kia có gắn lưỡi gà để
thổi. Khi thổi, hai tay cầm sáo dựng thẳng. Dùng
ngón trỏ và ngón giữa để bịt hay mở các lỗ
phát âm, đặt miệng sáo nơi môi dưới, âm thanh
phát ra theo giai điệu ngũ cung. Tiếng sáo hồn hậu,
nhu ḥa, trầm lắng, nên rất được ưa
thích.
[33] Nguyên văn “hạc
lệ” (鶴唳),
nghĩa đen là tiếng hạc
kêu. Trong văn học, thường dùng chữ “hạc lệ”
để chỉ đêm dài, riêng đối với thành ngữ
“phong thanh hạc lệ” là nói tới cuộc chiến
Ph́ Thủy vào năm Thái Nguyên thứ tám (383) thời
Đông Tấn. Khi đó, Phù Kiên nhà Tiền Tần xua quân tấn công Đông Tấn, đại bại. Tàn
quân trên đường tháo chạy, thần hồn nát thần
tính, nghe tiếng gió, tiếng hạc kêu ngỡ là tiếng
truy binh, nên họ giày xéo nhau mà chạy.
[34] Huân tŕ (壎篪) là hai nhạc khí thuộc loại thổi, thường dùng để ḥa tấu.
Huân là loại sáo làm bằng đất nung, bằng đá,
hoặc xương thú. Về sau, thường làm bằng
sứ. Huân có h́nh quả trứng, trên đỉnh có lỗ
để kề miệng thổi. Quanh thân của Huân có lỗ, tối đa là mười lỗ
để người thổi dùng các ngón tay điều chỉnh
hơi thoát ra. Huân khá tương tự với Ocarina
của phương Tây. Tŕ là loại sáo trúc thổi ngang.
Huân và Tŕ khi ḥa tấu sẽ rất hài ḥa, nên thường
ví như t́nh anh em đằm thắm.
[35] Bà Dương đại chiến
là cuộc chiến kéo dài từ ngày Ba
Mươi tháng Tám đến
ngày mồng Bốn tháng Mười năm 1363 tại
hồ Bà Dương. Trong cuộc chiến ấy, Châu Nguyên
Chương đánh bại Trần Hữu Lượng, khẳng
định vững vàng địa vị lănh tụ kháng chiến
chống Nguyên của Châu Nguyên Chương tại Giang Nam, ổn
định vững vàng t́nh thế chánh trị tại miền
Nam Trung Hoa, mở đường cho cuộc Bắc Phạt
sau đó, thành công đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung Hoa, chấm dứt nhà Nguyên.
[36] Dạ Ma dịch nghĩa là Thời
Phần.
[37] Luật Lữ
là mười hai ống trúc dùng để chuẩn định
âm giai trong nhạc lư thời cổ. Khởi
tính từ âm thấp nhất,
sáu ống sáo mang số lẻ được gọi là Luật
(tức Hoàng Chung, Thái Thốc, Cô Tẩy, Nhuy Tân, Di Tắc,
Vô Xạ), sáu ống mang số chẵn (Đại Lữ,
Giáp Chung, Trung Lữ, Lâm Chung, Nam Lữ, Ứng Chung)
được gọi là Lữ. Sau này, từ ngữ Luật
Lữ được dùng để chỉ âm nhạc nói
chung. Cung, Thương là hai âm đầu (hai notes nhạc
trong hệ thống nhạc Ngũ Âm).
[38] Sào Do là gọi tắt của
Sào Phụ (巢父) và Hứa Do, hai ẩn sĩ
thời cổ. Sào Phụ không rơ tên là ǵ, do kết tổ
để sống trên cây, nên người
đương thời gọi ông là Sào Phụ. Vua Nghiêu nghe
tiếng Hứa Do là người hiền, muốn truyền
ngôi cho. Hứa Do bèn lánh sang Dĩnh Thủy, ở ẩn
dưới chân Cơ Sơn. Vua Nghiêu lại vời ông ra làm trưởng quan Cửu Châu. Hứa Do không
muốn nghe, bèn rửa tai bên sông Dĩnh Thủy. Sào Phụ
dẫn trâu đến uống nước sông, thấy vậy,
hỏi nguyên cớ. Biết chuyện, Sào Phụ dẫn
trâu đi nơi khác, bảo là sợ bẩn miệng trâu!
[39] Đặng Thông là người
ở Thục Quận đời Tây Hán, vốn là một gă
chèo thuyền. Về sau, do được Hán Văn
Đế (Lưu Hằng) sủng ái, ông ta được phong làm Thượng Đại
Phu. Do thầy bói nói rốt cuộc Đặng Thông sẽ
chết đói, Hán Văn Đế liền thưởng riêng cho hắn một ṭa núi có kho đồng để đảm
bảo hắn luôn giàu có. Do đắc tội với thái tử
Lưu Khải, nên khi Lưu Khải lên ngôi (tức Hán Cảnh
Đế) đă tịch thâu tất cả tài sản của
Đặng Thông, đuổi hắn ra khỏi nhà. Cuối
cùng, Đặng Thông chết đói.
[40] Điêu đẩu (刁斗) là một dụng cụ thời cổ, chủ yếu
dùng trong quân đội. Điêu đẩu làm bằng đồng,
có cán, có thể chứa được một thăng gạo.
Ban ngày dùng làm nồi nấu cơm. Ban đêm dùng làm dụng
cụ để gơ báo canh giờ.
[41] Ráng là một hiện tượng
tự nhiên, tức các đám mây do ánh nắng
mặt trời chiếu vào sẽ có màu sắc hồng hoặc
vàng.
[42] “Huyền lương, thích
cổ” là một thành ngữ chỉ sự gắng công học
hành để đạt tới tŕnh độ cao hơn. “Huyền
lương” (buộc tóc lên xà nhà): Theo Thái B́nh Quảng
Lăm, đời Hán có Tôn Kính do đọc sách hay ngủ gật,
bèn dùng dây buộc búi tóc lên rường nhà. Mỗi khi ngủ
gục, đầu gục xuống, bụi tóc sẽ bị
giật đau nhói bèn tỉnh ngủ. Theo Chiến Quốc
Sách, Tô Tần v́ muốn học thành tựu, khi đọc
sách nếu mệt mỏi muốn ngủ, bèn dùng dùi đâm
vào đùi để tỉnh ngủ. Đó là “thích cổ”
(đâm vào bắp vế).
[43] Nước Yên vào cuối thời,
do nước Tần xui xiểm, thừa dịp vua nước
Triệu vừa mất, xua quân đánh Triệu, chiếm
được ba thành. Điền Đan nước Tề
mang quân cứu Triệu rồi xua quân đánh Yên báo thù. Sau
trận chiến Trường B́nh, quân Yên đại bại.
Mấy năm sau, Yên lại sai quân đánh Triệu, bị thất
bại. Quân Triệu bao vây kinh đô, vua Yên phải cắt
đất nghị ḥa. Do đó, mối “kết minh” giữa
Triệu và Yên chỉ có h́nh thức, chẳng thật.
[44] Tương truyền, Lưu
Bang (Hán Cao Tổ) là con vua Xích Đế (Viêm Đế, tức
Nam Phương Thượng Đế trong Đạo
Giáo). Theo dă sử, năm 209 trước Công Nguyên, Lưu
Bang vâng lệnh áp giải tù nhân đến Ly Sơn, giữa
đường có không ít người bỏ trốn. Khi
đó, pháp luật của nhà Tần quy định: Để
tội nhân trốn thoát cũng là tử tội. Do vậy,
Lưu Bang bỏ trốn. Có mười mấy người
theo Lưu Bang bỏ trốn. Trên đường, họ gặp một con rắn trắng to lớn nằm
ngang đường, Lưu Bang liền rút gươm chém chết rắn. Đột
nhiên có một bà già ôm xác rắn khóc, nói: “Con ta là con của
Bạch Đế, hóa thành rắn trắng nằm trên
đường, bị con vua Xích Đế giết chết!”
[45] Lưu Bang tấn công vào Quan
Trung, diệt nhà Tần. Khi đó, Tần Nhị Thế
(Doanh Hồ Hợi) đă bị Triệu Cao bức tử.
Triệu Cao tự xưng đế, nhưng quần thần
không phục, trong cung lại có địa chấn, Triệu
Cao sợ, bèn lập Doanh Tử Anh lên làm vua bù nh́n, tức Tần
Tam Thế. Thân thế của Tử Anh không rơ ràng, có thuyết
nói ông là con của thái tử Phù Tô (đă bị Hồ Hợi
lập mưu giết chết), có thuyết nói ông là anh của
Nhị Thế, có thuyết nói ông là em của Tần Thủy
Hoàng, tức chú của Tần Nhị Thế. Lại có thuyết
nói ông là em của Nhị Thế. Khi Lưu Bang đánh bại
quân Tần, Tử Anh biết t́nh thế không thể
cứu văn, bèn buộc ngọc tỷ truyền quốc vào cổ,
ngồi trên xe gỗ mộc, mang ấn tín ra đầu
hàng.
[46] Thắng Liên tức là thế
giới Thắng Liên Hoa của Hiền Thắng Phật.
Theo phẩm Thọ Lượng của kinh Hoa Nghiêm, một
kiếp trong cơi Sa Bà là một ngày đêm trong cơi Cực Lạc.
Một kiếp trong cơi Cực Lạc là một ngày đêm
trong cơi Ca Sa Tràng của Kim Cang Kiên Phật. Một kiếp
trong cơi Ca Sa Tràng là một ngày đêm trong cơi Bất Thoái Chuyển
Âm Thanh của Thiện Thắng Quang Minh Liên Hoa Khai Phu Phật.
Cho đến trải qua trăm vạn A-tăng-kỳ thế
giới, thế giới cuối cùng là cơi Thắng Liên Hoa.
[47] Theo truyền thuyết, tiêu
minh (蟭螟) là một loài trùng cực nhỏ. Sách Băo Phác Tử nói:
“Con tiêu minh ẩn thân trong lông mày của con muỗi, lại
cười nhạo chim đại bàng cánh phủ rợp trời”.
[48] Phẩm này nêu ra chín
mươi bảy tướng đại nhân nơi thân Phật,
trong khi hiểu theo cách thông thường th́ thân Phật chỉ
có ba mươi hai tướng thù thắng.
[49] Quán tẩu (灌叟): Ông lăo chuyên lo việc tưới
cây trong vườn.
[50] Ưu-bà-di Cụ Túc có mười
ngàn đồng nữ theo hầu. Trong nhà bà chỉ có một
cái bát, không có vật dụng chi khác. Bà dùng vật dụng xuất hiện từ
trong cái cái bát ấy để
cúng dường trọn khắp mười phương,
bố thí cho mọi
người đều có thức ăn no đủ, trọn
đủ các vật dụng ưa thích. Người tu hạnh
Nhị Thừa ăn thức ăn từ bát ấy sẽ
chứng La Hán hoặc Bích Chi Phật, người tu Bồ
Tát hạnh sẽ thành Đẳng Chánh Giác.
[51] Thuở
Thích Ca Mâu Ni Phật hoằng dương tại
Xá Vệ, nơi phía Đông thành ấy, có
một bà lão rất nghèo, không nơi
nương tựa, mọi người gọi
bà ta là Thành Đông Lão Mẫu, chưa
hề được nghe Phật pháp. Tôn giả A
Nan xót thương cầu đức Phật
hóa độ bà ta. Đức Phật nói
Ngài chẳng thể hóa độ bà.
Các đệ tử không tin, đức Phật
liền thị hiện thân Phật vây quanh bốn phía
bà lão. Bà ta bưng kín mắt không
chịu nhìn. Phật quang vẫn chiếu soi, bà ta
bỏ chạy, chui vào rương đóng
nắp kín để lẩn trốn. Cuối
cùng, đức Phật quán thấy chỉ
có ngài La Hầu La hóa độ được,
bèn sai tôn giả đến hóa độ, quả
nhiên độ được bà ta. Thậm
chí, sau khi nghe ngài La Hầu La thuyết pháp, bà
bèn chứng quả Tu Đà Hoàn.
[52] Phương cách điều
chế tốt đẹp.
[53] “Bạo hổ, phùng hà” (暴虎馮河) có
nghĩa là tay không đấu với cọp dữ, và có thể chẳng dùng thuyền bè mà lướt
trên mặt nước để vượt sông.
[54] Ba Lợi Chất Đa (Pārijāta, pārijātaka,
pāriyātraka) là tên của
một
cái cây trên cung trời Đao Lợi, dịch nghĩa là Viên
Sanh Thụ, Trú Độ Thụ, hoặc Hương Biến
Thụ, Thiên Thụ Vương. Cây nở hoa đỏ rực,
có búp dài. Cây mọc ở góc Đông Bắc thành Thiện Kiến
của trời Đao Lợi. Cây to bảy do-tuần, cao một
trăm do-tuần. Cành lá vươn ra bốn phía đến
năm mươi do-tuần. Rễ, thân, cành, lá, hoa, quả
đều có mùi thơm, lan tỏa khắp thiên cung. Do vậy
gọi là Hương Biến Thụ (cây thơm trọn khắp).
Trên cây, có thiên thần
tên là Mạn Đà thường tấu thiên nhạc, nên chư thiên thường tụ tập
vui chơi dưới gốc cây ấy.
[55] Ma ni như ư châu vốn không
có màu, để gần vật nào liền
có màu sắc giống
như vật đó.
[56] Ma Da phu nhân trong vô lượng
kiếp trước, vào kiếp Tịnh Quang, ở trong thế giới Tu Di Đức, bà có tên
là Từ Đức, đă làm thần thủ hộ đạo
tràng Măn Nguyện Quang Minh của Ly Cấu Tràng Phật. Khi
Ly Cấu Tràng Bồ Tát sắp thành Phật, ác ma Kim Sắc
Quang cùng vô lượng quyến thuộc đến quấy
nhiễu. Chuyển luân vương Đại Oai Đức
đă đắc Bồ Tát thần thông tự tại, liền biến hóa binh chúng bao vây quân ma, khiến chúng nó kinh sợ, tan chạy. Do vậy, Ly Cấu
Tràng Bồ Tát tự tại thành Phật. Thần đạo
tràng thấy vậy hoan hỷ, coi Chuyển Luân Vương
là con trai của ḿnh, phát nguyện: “Chuyển Luân Vương này bất
luận sanh chỗ nào, tôi đều làm mẹ của vua
cho tới khi Ngài thành Phật”. Do vậy, bà cũng nguyện trở thành mẹ của mười
phương chư Phật.
[57] Già B́nh (伽缾) tức là cái b́nh làm thành h́nh
chim Ca Lăng Tần Già. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật
đă dùng cái b́nh này để tỷ dụ hư không chẳng
có hạn cuộc: “A Nan! Thí như hữu nhân
thủ Tần Già b́nh, tắc kỳ lưỡng khổng,
măn trung ḱnh không, thiên lư viễn hành, dụng hướng tha
quốc. Thức Uẩn đương tri diệc phục
như thị. A Nan! Như thị hư không, phi bỉ
phương lai, phi thử phương nhập. Nhược
bỉ phương lai giả, tắc bổn b́nh trung kư trữ
không khứ, ư bổn b́nh địa ưng thiểu
hư không. Nhược thử phương nhập, khai khổng
đảo b́nh, ưng kiến không xuất. Thị cố,
đương tri Thức Uẩn hư không, bổn phi nhân duyên, phi tự
nhiên tánh” (A Nan! Ví như có
người lấy cái b́nh Tần Già, bịt kín hai lỗ,
để hư không chứa đầy trong b́nh, đi xa
ngàn dặm, mang sang nước khác. Hăy nên biết Thức Uẩn
cũng giống như thế! A Nan! Hư không như vậy
chẳng do phương kia đến, chẳng do
phương này vào. Nếu do phương kia đến, cái
b́nh ấy đă chứa hư không mang đi, hư không nơi
chỗ ban đầu của cái b́nh phải giảm bớt.
Nếu từ phương này mà vào, khi mở nút, đổ
[hư không trong b́nh] ra, phải thấy hư không đổ
ra. V́ thế, hăy nên biết Thức Uẩn và hư không vốn
chẳng có nhân duyên, chẳng phải là tánh tự nhiên).
[58] Bổ và Tả là hai khái niệm
về phương pháp trị liệu nhằm điều
chỉnh âm, dương trong cơ thể con người,
khôi phục sự cân bằng khí huyết. Bổ có nghĩa
là “bồi bổ, tăng cường”, áp
dụng cho trường hợp thân thể hư nhược,
huyết khí không đủ,
tức hư chứng. Tả là “giảm bớt, thanh trừ”, áp
dụng cho các thật chứng, tà khí bế tắc.
[59] Nguyên văn “thất hoa bát
liệt”, đây là một thành ngữ chỉ nhiều sự
việc vụn vặt, chi ly, rườm rà.
[60] Bột Hải là một phần
của Thái B́nh Dương, c̣n gọi là Bắc Hải, hay
Trực Lệ Hải Loan, được coi là “nội hải”
v́ nó nằm giữa bán đảo Liêu Đông và quần
đảo Giao Đông, bao quanh bởi các tỉnh Liêu Ninh, Hà
Bắc, thành phố Thiên Tân, Sơn Đông. Câu này có ư nói: Dù
cho trăm sông, ngàn rạch khác nhau, nhưng hễ đổ
vào Bột Hải, sẽ thành nước có cùng một vị.
[61] Đây là một tỷ dụ
lấy từ Cảnh Đức Truyền Đăng Lục.
Theo đó, đối với ngựa giỏi trong thế
gian, chỉ cần thấy bóng roi của người
điều khiển đă chạy, không cần phải dùng
roi đập, hoặc dùng đinh ngựa thúc mới chạy.
Cũng ví như kẻ lợi căn, chỉ cần nhắc
nhở, gợi ư là họ đă giải ngộ, y giải
khởi hạnh, không cần phải rèn cặp.
[62] Theo thiên Thang Vấn sách Liệt
Tử, thời Châu Mục Vương có một người
thợ khéo tên là Yển Sư, giỏi chế tạo con rối
có thể nhảy múa, ca hát như người thật. Vua rất
thích, truyền gọi sủng thiếp là Thịnh Cơ ra
xem. Ca múa xong, con rối c̣n liếc mắt đưa t́nh với
các cung nữ hầu hạ. Mục Vương nổi giận
toan giết Yển Sư. Yển Sư kinh hăi, lập tức
tách rời con rối, th́ thấy chỉ là da, gỗ, keo,
sơn, than v.v… kết hợp lại, Mục Vương mới
nguôi giận.
[63] Đúng ra phải là ba ba,
nhưng v́ gượng ép vần nên chúng tôi dùng chữ Vích
(một loại rùa biển to) để thay thế.
[64] Bạch đằng (white
wisteria) là một loại hoa trắng, mọc thành chùm dài, rất
thơm. Chùm hoa có thể dài tới 60 cm, thường nở
hoa vào cuối mùa Xuân cho đến đầu Hạ.
[65] Văn thân tức là các chữ.
Mỗi chữ riêng biệt th́ gọi là Văn, từ hai chữ
trở lên hợp thành một ư nghĩa th́ gọi là Văn
Thân. Nghĩa Thân là ư nghĩa được biểu thị
bởi Văn Thân.
[66] Thức xoa (Śikṣa) là Học, tức các pháp phải học
trong giới luật.
[67] Tổ Bồ Đề Đạt
Ma ngồi nh́n vào vách trên ngọn Thiếu Lâm của Tung
Sơn suốt chín năm. Người đương thời
gọi Ngài là “bích nhăn Hồ tăng” (vị Tăng
người Hồ mắt biếc).
[68] Tác gia ở đây là người
đă có thành tựu, đă thật sự chứng nhập.
[69] Đây là
câu chuyện của ngài Nguyên Hiểu (Wonhyo), một
vị cao tăng của vương quốc Tân La (cổ
Hàn quốc). Tuy đã nổi danh là uyên
bác, học rộng, nhưng Ngài vẫn quyết
chí sang Trung Hoa cầu pháp. Năm Canh Thân (660),
cùng với ngài Nghĩa Sương (Euisang),
Ngài rời Khánh Châu đến lãnh thổ
của vương quốc Bách Tế (Baekje) để
sang đất Đường. Khi đến vùng
phụ cận Hoa Thành (Hwaseong), trời sụp
tối, lại gặp bão, Ngài nghỉ đêm
tại một hang động. Quá khát, Ngài thấy
một dòng nước nhỏ gần đó
bèn vốc lấy uống, cảm thấy
nước ngon ngọt lạ thường.
Sáng ra, Ngài mới biết đó là
nước chảy từ hốc mắt
của những đầu lâu, bèn nôn thốc nôn
tháo. Ngài lại lưu lại một đêm
nữa do dông bão, và cảm thấy bất
ổn vì biết mình đang qua đêm tại
nghĩa địa. Trầm tư quán
tưởng, Ngài tỏ ngộ “hết thảy
do tâm tạo, tất cả pháp đều là
Phật pháp”, và bỏ ý định sang
đất Trung Hoa cầu pháp.
[70] Hiên Kỳ là gọi gộp
chung Hiên Viên Hoàng Đế và Kỳ Bá. Hai vị này
được coi là thỉ tổ của Trung Y. Tác phẩm
Hoàng Đế Nội Kinh tương truyền là tác phẩm
ghi chép cuộc vấn đáp về y thuật giữa Hoàng
Đế và Kỳ Bá, tạo thành cơ sở lư luận và
chữa trị của Trung Y. Người học Trung Y bắt
buộc phải nghiên cứu tác phẩm này.
[71] Thâu tâm
tức là cái tâm trông ngóng, luôn kiếm
cách chiếm lợi (thường gọi hoa
mỹ là “tu tắt”), hoặc không chuyên tâm
nhất ý vào một môn nào, chuyên chạy theo
phong trào.
[72] Theo kinh Nại Nữ Kỳ
Hoặc Nhân Duyên, danh y Kỳ Bà từng sang nước
Đức Xoa Thi La (Taksaśilā) để học y. Trong quá
tŕnh học y, có lần thầy ông giao cho ông một
cái giỏ, bảo ông đi t́m khắp nơi, hễ thấy
cây cỏ nào không làm thuốc
được th́ hái đem về cho thầy. Ông đi t́m kiếm
măi, nhưng hầu như thảo mộc nào
cũng có thể làm thuốc, cuối cùng đành xách giỏ rỗng không trở về.
[73] Ngài Văn Hỷ (có thuyết
nói là Vô Trước) đến chiêm bái Ngũ Đài, cầu
thấy Văn Thù Bồ Tát. Bồ Tát bèn hóa ra một cái
chùa để tiếp đăi. Văn Hỷ vào chùa,
được một ông già tiếp đón, hỏi:
“Sư từ đâu tới?” Đáp: “Từ phương
Nam”. Ông già hỏi: “Phương Nam Phật pháp trụ tŕ ra
sao?” Văn Hỷ đáp: “Thời Mạt Pháp, tỳ-kheo ít
giữ giới luật”. Văn Hỷ hỏi: “Ở đây trụ tŕ thế nào?” Ông già đáp: “Phàm thánh
đồng cư, rắn rồng lẫn lộn”. Lại hỏi:
“Chúng nhiều hay ít?” Ông già đáp: “Tiền tam tam, hậu
tam tam” (Cũng xấp xỉ như thế đó).
[74] Nguyên văn “bất tích mi
mao”. Đây là một thành ngữ có ư nói: V́ thành tựu
mục đích mà chẳng tiếc thân, sẵn sàng trả
giá to lớn. Thành ngữ này dựa theo ư kinh Đại Thừa
nói kẻ thuyết pháp lầm lẫn đến nỗi
báng pháp, báng giới, mắc quả báo giống như
người bị phong cùi, rụng sạch lông mày. Do vậy,
“chẳng tiếc rụng sạch lông mày” hàm
nghĩa hy sinh bản thân, dẫu chịu quả báo nặng
nề, vẫn không tiếc sức thực hiện.
[75] Tỳ Lam (Vairambhaka) còn phiên
âm là Tỳ Lam Bà Phong, Tùy Lam Phong, Toàn Lam
Phong, dịch nghĩa là Tấn Tốc Phong,
Hằng Khởi Phong, chỉ loại gió
mạnh mẽ khiến cho vũ trụ hình thành
hoặc bị hủy diệt.
[76] Bạch niêm (白拈) là một thuật ngữ Phật
giáo. Bạch hàm nghĩa “trống rỗng, không có ǵ”.
Niêm là “lấy đồ vật”. Do
vậy, Bạch Niêm hàm nghĩa là trộm lấy đồ
vật không lưu lại dấu vết, tay nghề trộm
cắp rất cao. Ư nghĩa này được dùng trong nhà
Thiền với ư ca ngợi tài tiếp dẫn khéo léo của
bậc tông tượng, có thể dẫn dắt, chỉ
điểm hành nhân chứng ngộ nhanh chóng.
[77] Đây là một công án của
thiền sư Vân Môn Văn Yển. Khi có người hỏi
“Pháp Thân là ǵ?” Sư đáp: “Lục bất thâu”, hàm ư:
Pháp Thân vượt ngoài các khái niệm chấp trước
như lục căn, lục trần, lục thức v.v… Tức
là Chân Như pháp tánh chẳng hề bị hạn cuộc
trong bất cứ khái niệm đối đăi nào.
[78] “Lộng quỷ nhăn t́nh”
(nhướng con mắt quỷ) là thuật ngữ Thiền
lâm dùng để sánh ví kẻ rêu rao, tuyên truyền tà tri tà
kiến.
[79] Tây Tử tức là Tây Thi, mỹ
nhân nổi tiếng thời Chiến Quốc. Tương
truyền, Tây Thi đẹp đến nỗi khi đau bụng, nhăn mày vẫn đẹp năo nùng. Láng giềng
có cô gái tên Đông Thi thấy vậy, bắt chước
nhăn nhó đến nỗi ông chồng sợ hăi muốn
ngất, hàng xóm kinh sợ bỏ trốn. Ở đây, Tổ
có ư nói: Phải hiểu ư nghĩa chân thật của việc
Dược Vương Bồ Tát thiêu thân cúng dường,
hoặc đốt cánh tay cúng tháp, đừng mù quáng làm
theo!
[80] Đây là một câu pháp ngữ
của tổ Quy Sơn Linh Hựu. Một hôm, Sư thượng
đường bảo: “Một trăm năm sau lăo
tăng làm con trâu ở dưới núi, bên hông trái viết
năm chữ ‘Quy Sơn mỗ giáp tăng’ (ông Tăng X… ở
Quy Sơn). Ngay khi đó, gọi ông tăng Quy Sơn là con
trâu, hay gọi con trâu là ông Tăng ở Quy Sơn, rốt
cuộc phải gọi như thế nào mới đúng?” Ngài
Ngưỡng Sơn bước ra lễ bái, lui khỏi tổ
đường.
[81] Thủ La là nói tắt của
Ma Hê Thủ La Thiên (Maheśvara),
tức là Đại Tự Tại Thiên. Vị này chính là thần
Śiva (Thấp Bà Thiên), c̣n
được biết đến với các danh xưng Mạc
Ha Ca La, Ma Hê Thấp Phạt Ra, Y Xá Na Thiên, hoặc
Thương Yết La Thiên.
[82] Tức bốn pháp để
hành nhân được lănh hội kinh Pháp Hoa do Phổ Hiền
Bồ Tát thưa hỏi đức Phật. Xin xem chi tiết
trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát của
kinh Pháp Hoa.
[83] Hoàng chung là luật
thứ nhất trong thập nhị luật
(mười hai ống sáo tương ứng
với notes nhạc trong cổ nhạc Trung Hoa), đứng
đầu sáu luật Dương). Theo quy định,
ống sáo Hoàng Chung dài chín tấc. Cao
độ tương ứng với note C trong
nhạc hiện đại.
[84] Theo kinh Hoa Nghiêm, thế giới
Hoa Tạng được cấu tạo
bởi vô số phong luân nhiều như bụi nhỏ,
phong luân dưới cùng gọi là B́nh Đẳng Trụ,
phong luân trên cùng gọi là Thù Thắng Oai Quang Tạng. Phong
luân trên cùng này có khả năng nâng đỡ biển
hương thủy. Trong biển
ấy, có một hoa sen lớn tên là Chủng Chủng Quang
Minh Nhụy Hương Tràng. Thế giới Liên Hoa Tạng
(Kusuma-tala garbhavyùhàla-kàraloka-dhàtu-samudra, gọi tắt là Hoa Tạng)
nằm ở trong hoa sen lớn này. Chung quanh có núi Kim Cang Luân
bao bọc. Mặt đất đều do kim cang tạo
thành, bằng phẳng, bền chắc, tột bậc thanh
tịnh trang nghiêm. Trong thế giới ấy, cũng có các
biển hương thủy nhiều như bụi
nhỏ không thể kể xiết. Chung quanh mỗi biển
hương thủy, có bốn đại châu và vô lượng
vô số sông hương thủy. Trong mỗi biển
hương thủy cũng có bất khả thuyết vi trần
số thế giới chủng. Trong mỗi thế giới
chủng, lại có bất khả thuyết vi trần số
thế giới. Biển hương thủy ở chính giữa
thế giới Liên Hoa Tạng gọi là Vô Biên Diệu Hoa
Quang. Từ trong biển hương thủy ấy, mọc
một bông sen lớn. Trong đó, có hai mươi tầng bất
khả thuyết vi trần số thế giới phân bố
khắp mười phương. Thế giới Sa Bà và Cực
Lạc cùng nằm trong tầng mười ba của bông sen mọc giữa biển Vô
Biên Diệu Hoa Quang.
[85] Cô nguy: Trơ trọi không ai cứu
giúp trong cảnh nguy hiểm.
[86] Tu Ma là nói tắt của chữ
Tu Ma Đề, tức phiên âm của Sukhāmatī
(Cực Lạc).
[87] Tử bào: Áo bào tía. Từ thời
Đường trở đi, quan viên từ thất phẩm
trở lên mới được mặc áo bào (áo dài tay rộng)
màu tía. Đến đời Tống, quy định ngặt
nghèo hơn, từ Chánh Nhị Phẩm trở lên mới
được mặc áo bào tía. Do đó, Tử Bào
thường được hiểu là quan cao chức cả.
[88] Ư nói “Tề Đông dă nhân”
(kẻ hoang dă nơi vùng Tề Đông). Thời cổ, vùng
Đông nước Tề bị coi là nơi biên
cương hoang dă, gần với các sắc dân thiểu số
(gọi chung là Đông Di). Người Hoa có thành kiến cho rằng người vùng Tề
Đông thích nói ngoa, hay đồn
thổi.
[89] Nguyên văn là “cứ” (虡), chính là cái giá gỗ để đặt trống. Do ở
đây nói đến Thiên Cổ B́nh (đài trống trời)
nên sánh ví hư không như giá treo trống.
[90] Quỳnh (璚) là một loại ngọc quư có màu đỏ thắm.
[91] Bát bất: Bất sanh, bất
diệt, bất đoạn, bất thường, bất
nhất, bất dị, bất lai, bất xuất.
[92] Do suối có tên là An Dưỡng
mà An Dưỡng là cách dịch khác của thế giới Cực
Lạc, nên tổ sánh ví suối này giống như ao báu
trong cơi Cực Lạc. Theo Quán Kinh, từ giữa mỗi ao
báu trong cơi Cực Lạc có Ma Ni châu vương, phun ra
nước bát công đức, chia thành mười bốn
nhánh. Nước từ các
nhánh đó tùy ư lên xuống, luồn trong các cánh hoa, lại
chảy ṿng lên các cây báu quanh ao, phát ra pháp âm vi diệu.
[93] Mễ
Phất (1051-1197), thoạt đầu tên là Phiết,
tên tự là Nguyên Chương, hiệu là
Tương Dương Mạn Sĩ, Hải Nhạc
Ngoại Sứ và Lộc Môn Cư Sĩ,
người xứ Thái Nguyên, sống vào
đời Bắc Tống là một họa gia
kiêm lý luận gia nổi tiếng về thư họa.
Do có tài thư họa, ông được vua
xuống chiếu vời ra giữ chức
Thư Họa Học Bác Sĩ, hàm Nam Cung Viên Ngoại
Lang.
[94] Tức ngài Tân Đầu Lô Phả
La Đọa.
[95] Đây là câu chuyện đạo
sĩ Lữ Động Tân (Thuần Dương Chân Nhân)
tranh luận với thiền sư Hoàng Long Huệ Nam để
xem Đạo hay Phật ưu việt. Do không thắng nổi Hoàng Long, Thuần
Dương tức giận làm phép phóng kiếm toan giết
chết ngài Hoàng Long, nhưng không làm ǵ được Ngài.
Cuối cùng, ông ta được ngài Hoàng Long điểm hóa.
[96] Tương truyền, lănh tụ
của hai bộ tộc Vô Hoài Thị và Cát Thiên Thị là khởi
đầu của các đế vương thời cổ.
Xă hội thời ấy thuần phác, dân cư an lạc.
[97] Đây là công án thiền sư
Đơn Hà Thiên Nhiên chẻ tượng Phật để
đốt thay củi sưởi ấm. Viện chủ
sợ quá rụng sạch cả lông mày, hỏi “Sư
làm ǵ thế?” Sư đáp: “Tôi chẻ tượng Phật
t́m xá-lợi”.
[98] Trong thần
thoại Trung Quốc, thuở khai thiên lập
địa, khi trời đất còn mờ
mịt, chưa tách rời nhau, tự nhiên sanh
ra một vị thần tên là Bàn Cổ,
vừa sanh ra có hình hài con người.
Bàn Cổ đã dùng búa và đục
tách rời trời đất, sinh ra muôn
vật và nhân loại. Tương truyền Bàn
Cổ có ba người con là Phục Hy,
Nữ Oa và Hoa Tư.
[99] Năm 218 trước Công
Nguyên, khi Tần Thủy Hoàng tuần du, xa giá đến Bác Lăng Sa (nay là huyện Nguyên
Dương, thành phố Tân Hương, tỉnh Hà Nam), có
thích khách vung chùy nặng hơn trăm cân đập vào xe,
toan giết chết Thủy Hoàng. Nhưng do đập nhầm
cỗ xe khác, cho nên Thủy Hoàng thoát chết. Thủy Hoàng sai
người truy bắt dữ dội, nhưng không t́m
được người chủ mưu. Kẻ chủ
mưu chính là Trương Lương. Tổ tiên của
Trương Lương năm đời làm tướng
nước Hàn; do vậy, ông muốn báo mối thù nhà Tần
đă diệt quốc nước Hàn. Về sau,
Trương Lương được gặp Hoàng Thạch
Công dưới chân cầu, được
Hoàng Thạch Công trao truyền binh thư. Ông trở thành mưu
sĩ bậc nhất, tiến cử Hàn Tín làm nguyên soái,
cũng như vạch ra những sách lược khiến
cho Lưu Bang chiến thắng, lập ra nhà Hán. Sau khi thành
công, ông khôn khéo không nhận quan chức, giả bệnh, tu
tiên nên không bị Hán Cao Tổ (Lưu Bang) nghi kỵ sát hại
như những vị khai quốc công thần khác.
[100] Đào Châu tức là Phạm
Lăi. Sau khi thành công giúp Việt Vương Câu Tiễn khôi phục
nước Việt, diệt nước Ngô, do biết Câu
Tiễn là kẻ hẹp ḥi, Phạm
Lãi bèn mang Tây Thi trốn
sang nước Tề, đổi tên là Chi Di Tử B́, sống
ở vùng biển, tận lực khẩn hoang canh tác và buôn
bán, chẳng được mấy năm, giàu nứt đố
đổ vách. Tề Vương nghe tiếng ông là người
hiền, thích bố thí, nhân từ, muốn phong ông làm Tướng
Quốc. Ông lại chia hết gia tài cho người nghèo, trốn
sang đất Đào, nên
được gọi là Đào Châu Công, lại kinh doanh cực
kỳ thành công, giàu nhất nh́ thiên hạ.
[101] Minh (銘) có nghĩa là các văn tự được
khắc trên gỗ, đá, kim loại, với dụng ư biểu
dương công đức. Về sau phát triển thành một
thể loại văn chương riêng, ngoài ư nghĩa biểu
dương, trần thuật, c̣n có tác dụng răn nhắc,
thường sử dụng kèm thêm trong các bài văn bia.
[102] Châm (箴) là một thể loại văn
chương, tác dụng chủ yếu là răn nhắc, cảnh
tỉnh.
[103] Tô đà:
Một thứ thực phẩm chế từ
chất lạc (bơ) thời cổ Ấn Độ,
được coi là một trong các thức
ăn ngon lành.